Cập nhật mới

Khác Sưu Tầm Sử Việt

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
164756842-256-k708177.jpg

Sưu Tầm Sử Việt
Tác giả: pnpu_2311
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

"Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam."
( Hồ Chí Minh)

"Tại sao người Việt Nam có thể chiến đấu không biết mệt mỏi trong gần 100 năm, trong điều kiện khó khăn như thế, trong tương quan lực lượng như vậy, tại sao họ đã luôn chiến đấu và luôn vững tin rằng rồi một ngày họ sẽ thắng.

Và quả thực họ đã thắng, họ đã đợi trong suốt 9 năm ròng để có được 1 Điện Biên Phủ, và sau đó họ lại tiếp tục lên đường, chiến đấu tiếp 21 năm sau đó để thống nhất non sông."



vietnam​
 
Sưu Tầm Sử Việt
TÔI VIẾT CHO MỘT THẾ HỆ KHÔNG BIẾT CÚI ĐẦU


TÔI VIẾT CHO MỘT THẾ HỆ KHÔNG BIẾT CÚI ĐẦU

"Bác Hồ sinh năm bao nhiêu?"

- "1945 ạ!

À không...không...

1969 ạ!"

Vâng, đó là thế hệ chúng tôi, một thế hệ mà người ta gọi là "Thế hệ chỉ biết cúi đầu", chúng tôi chỉ biết cúi đầu vào chiếc smartphone của mình, đến nổi "Quang Trung là bạn chiến đấu với Nguyễn Huệ, tệ hơn là Bác Hồ sinh năm 1945 và thậm chí đến ngao ngán khi giờ đây những đứa trẻ tin vào câu truyện ngôn tình sử, những kẻ xét lại lịch sử hơn là tin vào những thứ đã được cả thế hệ cùng thời trên thế giới công nhận"... quả thật ngao ngán, nhưng thôi, tôi cũng chẳng bàn đến nguyên nhân của những sự việc này, có người đổ tại ngành giáo dục, không, tôi không cho là vậy, bởi lẽ, bản thân tôi và triệu triệu thế hệ 8X khác đã, đang và sẽ trưởng thành trong môi trường giáo dục này, và thực tế là tôi đang ngồi đây, viết lách cho các bạn đọc về lịch sử chiến tranh, thì tôi không có lý do gì để đổ tội cho ngành giáo dục cả.

Hôm nay tôi viết để tưởng nhớ một thế hệ sẵn sàng chết vì tương lai đất nước, một thế hệ vàng của dân tộc Việt Nam.

MỘT THẾ HỆ ĐÃ TRỞ THÀNH HUYỀN THOẠI

Tướng Marcel Bigeard - Cựu bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Pháp viết:

"Tôi đã thấy họ khởi đầu từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các Sư đoàn đủ quân.

Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới.

Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi dép cao su và hát vang trên đường ra trận.

Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta"

Trung tá Thủy quân Lục chiến - James G.

Zumwalt - con trai Đô đốc chỉ huy trưởng lực lượng Hải quân Mỹ tại Việt Nam đã từng viết trong cuốn "Chân trần chí thép" rằng:

"Cuốn sách này dành tặng:...

- Gần một triệu chiến binh Bắc Việt và Việt Cộng, những người đã chiến đấu vì một nước Việt Nam thống nhất, đã trải qua bao gian khó, khổ đau, bi kịch và hy sinh trong hành trình đến chiến thắng cuối cùng.

- Khoảng hai triệu công dân Việt Nam, những người tham chiến hoặc là nạn nhân của cuộc chiến tại Việt Nam, đã chấp nhận trả giá với niềm hy vọng một ngày mai các thế hệ con cháu có thể sống tự do, sau những đau khổ của cha ông..."

Trong quyển sách đó ông James đã viết thêm: "Một số ý kiến của chính quyền Mỹ cho rằng nếu tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam một cách hợp lý, không có áp lực chính trị, thì người Mỹ đã chiến thắng.

Trước khi trở lại Việt Nam vào năm 1994, tôi cũng nghĩ như vậy.

Nhưng giờ đây tôi đã nghĩ khác.

Chuyển biến trong tôi chỉ diễn ra sau khi tôi thấu hiểu được rằng người Việt Nam có một ý chí sắt đá để có thể chiến đấu đến chừng nào đạt được mục tiêu thống nhất đất nước mới thôi.

Không nơi nào mà quyết tâm được thể hiện rõ như thái độ những người sống và chiến đấu dọc Đường mòn Hồ Chí Minh và địa đạo Củ Chi.

Hiểu được quyết tâm duy trì Đường mòn cũng như bám trụ tại địa đạo Củ Chi chính là hiểu được "chí thép" của họ.

Đó chính là ý chí thép đặc trưng và rất đặc biệt của người Việt Nam, vốn đã thôi thúc họ tiến lên để giành chiến thắng trong cuộc chiến trước người Mỹ - cuộc chiến mà nước Mỹ thiếu một quyết tâm tương xứng.

Có lẽ sai lầm lớn nhất của chúng ta tại Việt Nam là đã không nhận ra rằng chúng ta đang chiến đấu với "thế hệ vĩ đại nhất" của đất nước này - một thế hệ với quyết tâm thống nhất và duy trì sự tồn tại của dân tộc, sẵn sàng đứng lên đánh đuổi hết quân ngoại xâm này đến quân ngoại xâm khác.

Tại sao người Việt Nam có thể chiến đấu không biết mệt mỏi trong gần 100 năm, trong điều kiện khó khăn như thế, trong tương quan lực lượng như vậy, tại sao họ đã luôn chiến đấu và luôn vững tin rằng rồi một ngày họ sẽ thắng.

Và quả thực họ đã thắng, họ đã đợi trong suốt 9 năm ròng để có được 1 Điện Biên Phủ, và sau đó họ lại tiếp tục lên đường, chiến đấu tiếp 21 năm sau đó để thống nhất non sông.

Tròn 30 năm, 30 năm là cả 1/3 đời người, không thể tin được rằng, có những con người có ý chí sắt đá và bền bỉ đến vậy.

30 năm đâu có hề gì, sau đó họ lại lao vào cuộc chiến để bảo vệ thành quả của 1/3 thế kỷ chiến đấu trước đó, họ đánh nhau với Khmer Đỏ, họ đánh bại và nghiền nát chúng sau đó họ chống lại quân đội Trung Quốc, nhiều người trong số họ đã ngã xuống yên nghỉ sau nhiều năm dài chinh chiến nhưng những người còn lại vẫn tiếp tục chiến đấu và chiến thắng.

Thế kỷ 20 của người Việt Nam là 1 thế kỷ đầy đau thương và hào hùng, lớp người của thế kỷ trước là lớp người của huyền thoại".

Và...

LỚP NGƯỜI HUYỀN THOẠI ĐÓ, bây giờ họ nhận lại được gì?

Trong một bài viết tôi cách đây khá lâu quá đoạn thế này:

Phố tôi có bác bán bánh mỳ bị điên.

Hay nói một mình.

Thỉnh thoảng lấy tay đấm vào đầu liên tục.

Lúc khỏe, bác sẽ bán bánh mỳ, hiền lành, cười với hàm răng chiếc còn chiếc mất.

Một bên mắt bị hỏng, hoặc có nhìn được hay không tôi không biết.

Nó đục ngầu.

Có lẽ chính vì vậy mà bác hay trả nhầm tiền.

15 nghìn cái bánh mỳ, có khi bác trả lại cả 20 nghìn.

Có người cứ thế cầm mà đi.

Lũ trẻ con cũng hay trêu bác, vì bác vừa đi vừa nói nhảm, lại hay đấm tay vào đầu.

Chúng nó trêu, hò hét cái câu gì đó mất dạy, sau đó hò nhau chạy.

Lần nào bác cũng dậm dậm chân dọa rồi lại thôi.

Bởi vì...

Bác có mảnh đạn còn găm trong đầu.

Biên giới năm 1979.

Nó không bao giờ được lấy ra?

Câu chuyện chỉ được kể khi tôi ngồi đợi vợ bác tráng trứng cho vào bánh mỳ.

Vợ bác nói: "Trở trời thế này là đầu đau lắm, nhà phải có người trông, không là đập phá đồ đạc.

Đi lang thang, người ta đánh cho thì khổ."

Câu chuyện cắt đứt mạch ở đó.

Mảnh đạn không lấy ra giống như câu chuyện không bao giờ được kể cho trọn vẹn.

Và rồi nó sẽ bị lãng quên.

Bác đã mất được 2 năm!

Mảnh đạn vẫn nằm ở đó, nhưng giờ bác có lẽ đã "ngon giấc" không còn phải chiến đấu với "nó".

Tôi ngồi nhậu.

Quán vỉa hè.

Người lính đi chiếc xe đạp cũ.

Lặng lẽ đứng nép một góc, cây sáo trúc thổi khúc nhạc quê.

Tiếng sáo bị át bởi những chiếc loa công suất lớn, bài nhạc trẻ thịnh hành, những xô bồ cười nói, chúc nhau cốc bia, chén rượu.

Vài cái bật lửa, cây bút, cái cắt móng tay trong chiếc rổ để trên yên sau xe.

Không cạnh tranh nổi với kẹo cao su chào mời tận bàn, sau bài hát đầy ngẫu hứng của ca sĩ đường phố.

Người lính già không chào mời ai.

Tôi đứng dậy xin mua chiếc bật lửa.

5 nghìn.

Tôi đưa 20 nghìn.

Chú móc bịch nilon được cuộn chặt ở túi áo trước đếm tiền trả.

Áo lính xanh đã bợt hết màu, mũ cối - chỉ sứt lỗ chỗ.

Tôi nói: "Con biếu chú."

Chú chắp tay cảm ơn.

Hỏi "Cậu có thích bài nào không?"

Tôi lắc đầu.

"Chú trước đi bộ đội ở đâu chú?"

"Quảng Trị năm 72 cậu ạ."

- Mắt chú chỉ ánh lên một chút - Rồi lại tắt.

Chú tôi, ngày tôi còn nhỏ chỉ thích được ngồi sau xe chú, chú chở đến lớp.

Kể câu chuyện bom đạn khi xưa.

Tôi rất hào hứng, trẻ con không hiểu được chuyện, chỉ thấy bom đạn bắn nhau là sướng rồi.

Tôi hỏi chú đã bắn được đứa nào chưa.

Chú không bao giờ trả lời.

Chú chỉ bảo: "Mày còn nhỏ, đừng nghĩ đến bắn giết."

Chú giải ngũ, làm nghề sửa xe máy.

Vẫn con xe xu hào cũ, áo lính lấm lem, khắp người toàn dầu mỡ.

Vợ chú ở nhà bán thêm tủ kem, lần nào chú đón tôi cũng được chiêu đãi.

Ngày tôi đi du học, chú lên chào, vẫn dúi cho tôi 500 nghìn tiền taxi đi sân bay, không nhận không được.

Chú nói chuyện với bố.

"Hôm nay giỗ Trúc, Biên, Khang, Hợi.."

- vài cái tên tôi không nhớ nổi - "Bom chết cùng một ngày, em mới ở Quảng Trị về đấy chứ."

Chú kể, uống nước trong cái hào, nắng cạn toàn xác đồng đội bên dưới.

Chú chiến đấu ở Quảng Trị, rồi lại lên đường đi Biên Giới.

Chú mất năm ngoái, tôi bay về chỉ kịp thắp nén hương tàn.

Chú bị điếc một bên tai do áp lực của bom.

Thanh niên viết đơn bằng máu để lên đường ra trận.

Có hàng vạn người không bao giờ trở về nữa.

Đất Mẹ cần.

Người ta đi giữ mảnh trời quê hương."

ĐÁNH PHÁP, ĐÁNH MỸ-NGỤY, ĐÁNH POLPOT, ĐÁNH TRUNG QUỐC!

Chắc chắn rằng, lớp người ra đi năm ấy không ai nghĩ rằng họ sẽ chiến đấu chỉ để sau này, mỗi tháng họ được nhận vài ba trăm nghìn tiền trợ cấp và vài cái giấy khen ố vàng, thậm chí, có những thương binh, liệt sĩ, đến nay cũng chẳng có trợ cấp và ghi công gì, nhưng trên hết họ chiến đấu vì đất nước, vì gia đình và vì dân tộc, chỉ vậy thôi.

Và bây giờ, hết chiến tranh rồi!

Thời đại mới rồi, lớp người đi trước dần dần bị quên lãng theo thời gian, giờ đây, họ là những ông già, bà lão - có thể còn lành lặn, có thể mất vài bộ phận cơ thể, có thể hơi chậm mạch, những người mà chỉ khi đến những ngày kỷ niệm như 27/7,22/12, 30/4 thì chúng ta lại thấy họ đóng bộ quân phục cũ mèm, bạc phếch, đeo đầy huy chương, huy hiệu lọc cọc đạp những chiếc xe đạp thành đoàn, đến trụ sở ở thôn, ở xã, hát những bài ca mà thời trẻ họ đã từng hát, kể về những điều mà chúng ta ngay cả giàu trí tưởng tượng cũng không thể khái quát nổi trong trí não bởi cái thời đó chúng ta chưa từng đến gần nó chứ đừng bảo rằng cảm nhận được!

Và rồi, chúng ta nhìn họ bằng những cái nhìn ái ngại kèm chút khinh thường và thương hại ư?

Đời quả thật bạc, người xưa có câu: "Thỏ khôn chết chó săn bị mổ làm thịt; chim bay cao hết cung tốt vất bỏ; nước địch phá xong mưu thần bị giết".

Quả không sai.

Tôi đã từng chứng kiến chuyện này thế trên xe bus, 1 nhóm các cựu chiến binh, họ từ Thanh Hóa ra Hà Nội, đi từ bến Yên Nghĩa, xuống đâu, đi đâu và làm gì thì tôi không rõ, chỉ biết rằng, đặc trưng của người miền Biển Thanh Hóa là ăn to , nói lớn, cười rất hào sảng, và họ mặc trên mình bộ quân phục cũ cũ,...

Tôi thấy trong ánh mắt của các bạn trẻ đi cùng chuyến xe bus hôm ấy là sự khinh thường, thậm chí là khinh ra mặt.

Và thế hệ này, còn bao nhiêu người thực sự biết ơn cha ông họ...

Tôi viết ra những dòng này, không phải là lên mặt dạy đời ai cả, mà chỉ muốn, những người ở thế hệ tôi, những người trẻ như tôi, sống chậm lại, chiêm nghiệm 1 chút, có thể, khi đi qua những tượng đài hoặc nghĩa trang, dành 1 chút biết ơn trong lòng mình cho những người đang nằm ở đó là được.

Lịch sử và chiến tranh đâu quá khó để tìm hiểu như các bạn nghĩ, lịch sử và chiến tranh, ở ngay xung quanh các bạn, có thể là những cựu chiến binh, có thể là những nghĩa trang hay tượng đài, và cũng có thể là những kỷ vật, mọi thứ đều là lịch sử và mọi thứ đều đáng được biết ơn và trân trọng!

Đừng để như thế hệ trẻ Ukraine!

Nguồn: Fanpage: "Tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam"

#YOUTHShare

#YOUTH+
 
Sưu Tầm Sử Việt
tóm tắt


TÓM LƯỢC 4000 NĂM LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG 1 TRANG GIẤY.

Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam

( Hồ Chí Minh)

Với phương châm không biết nhiều thì biết ít. #LichSuVietNam xin tóm lược Lịch sử nước nhà để cho bạn đọc có cái nhìn bao quát nhất về những chặng đường mà đất nước Việt Nam đã trải qua.

Vào thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên, các bộ lạc sinh sống tại vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, miền bắc Việt Nam ngày nay thống nhất lập nên nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên của người Việt.

Kinh đô đóng tại Phú Thọ ngày nay.

Vua nước Văn Lang, tất cả 18 đời, đều xưng là Hùng Vương.

Đến thế kỷ thứ II trước CN, sau cuộc kháng chiến chống lại quân Tần Thủy Hoàng (218-208), nhà nước phong kiến Trung Quốc ở phương Bắc, Thục Phán lên làm vua nước Văn Lang xưng là An Dương Vương và đổi tên nước thành Âu Lạc, xây thành ốc ở Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội) làm kinh đô.

Năm 179 trước CN, nước Âu Lạc bị nước Nam Việt của Triệu Đà xâm lược. (Triệu Đà là tướng quân của nhà Tần.

Sau khi Tần Thủy Hoàng chết, ông ta nhân cơ hội chiếm phần đất do mình được giao cai quản ở phía nam nước Tần lập nên nước Nam Việt.

Còn nhà Tần thì bị nhà Hán thay thế.) Nước Âu Lạc bị đô hộ mở đầu cho thời kỳ lịch sử đen tối, đau thương, đầy uất hận dài đằng đẵng hơn 1000 năm của dân tộc Việt Nam.

Nước Âu Lạc bị sáp nhập thành các quận, huyện của các nhà nước phong kiến phương Bắc (qua các triều đại Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường của Trung Quốc).

Trong thời gian này, tuy bị cai trị, bóc lột tàn nhẫn, hà khắc nhưng nhân dân ta không những không bị khuất phục mà còn liên tục vùng lên đấu tranh nhằm giành lại độc lập tự chủ, chống bị Hán hóa.

Sau CN, năm 40, Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh.

Cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi.

Nhưng chỉ 3 năm sau.

Đất nước lại bị rơi vào tay nhà Hán.

Nhiều cuộc khởi nghĩa lại dậy lên sau đó.

Năm 248, khởi nghĩa Bà Triệu chống quân Ngô thất bại.

Năm 542, Lý Bí khởi nghĩa thành công, giành lại đượcc độc lập từ tay nhà Lương, xưng là Lý Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân với mong muốn đất nước mãi mãi trường tồn.

Năm 545, nhà Lương đem quân sang xâm lược nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế thua trận liên tục phải rút về động Khuất Lão.

Tại đây ông bị bệnh chết.

Triệu Quang Phục lên thay.

Triệu Quang Phục lui quân về đầm Dạ Trạch thực hiện chiến tranh du kích.

Cuối cùng năm 550, Triệu Quang Phục mới giành được thắng lợi, khôi phục nước Vạn Xuân, tự xưng là Triệu Việt Vương.

Đến năm 571, Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử cướp ngôi.

Năm 602-603, Lý Phật Tử không chống được cuộc xâm lược của giặc, nước ta lại rơi vào tay nhà Tùy, rồi nhà Đường.

Năm 722, Mai Thúc Loan phất cờ khởi nghĩa nhưng thất bại.

Năm 905, Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa giành được chính quyền.

Nhà Đường công nhận chính quyền tự chủ của ông.

Năm 930, quân Nam Hán sang xâm lược nước ta.

Người đứng đầu nước ta lúc đó là Khúc Thừa Mỹ không chống lại được, bị bắt sang Nam Hán.

Các tướng lĩnh của họ Khúc tổ chức nhiều cuộc kháng chiến.

Năm 931, cuộc kháng chiến do Dương Đình Nghệ lãnh đạo thành công.

Ông được tôn làm Tiết Độ Sứ.

Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ cướp quyền lãnh đạo.

Ngô Quyền là con rể Dương Đình Nghệ khởi binh trừng phạt.

Kiều Công Tiễn cầu cứu nước Nam Hán và dĩ nhiên vua Nam Hán vui vẻ nhận lời.

Năm 938, quân Nam Hán do thái tử Hoằng Tháo kéo sang nước ta theo đường thủy định phối hợp với Kiều Công Tiễn đánh bại Ngô Quyền.

Nhưng Hoằng Tháo chưa đến nơi thì Ngô Quyền đã diệt được Kiều Công Tiễn và bố trí trận địa chờ sẵn.

Khi quân Nam Hán lọt vào trận địa mai phục của Ngô Quyền ở cửa sông Bạch Đằng thì bị đánh cho tan tác.

Hoằng Tháo chết trận, quân Nam Hán tháo chạy về nước.

Vua Nam Hán bỏ mộng xâm lược.

Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, dựng kinh đô tại Cổ Loa.

Mở ra thời kỳ độc lập tự chủ hoàn toàn cho nước ta sau hơn 1000 năm bị đô hộ bởi phong kiến phương bắc.

Năm 944, Ngô Quyền mất.

Tình hình đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn, tranh dành quyền lực giữa các phe phái tướng lĩnh và con của Ngô Quyền (Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn).

Năm 965, vị vua cuối cùng của triều Ngô là Ngô Xương Văn chết, các tướng lĩnh địa phương thi nhau cát cứ.

Đất nước bị chia cắt thành 12 sứ quân.

Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất được 12 sứ quân.

Do ông đánh đâu thắng đấy nên đuợc dân chúng tôn là Vạn Thắng Vương.

Năm 968, Vạn Thắng Vương lên ngôi Hòang Đế xưng là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, kinh đô đóng tại Hoa Lư.

Năm 979, Đỗ Thích ám hại Đinh Tiên Hoàng cùng con là Đinh Liễn.

Triều thần bắt giết Đỗ Thích, lập Đinh Toàn, 5 tuổi, lên làm vua.

Thái hậu Dương Vân Nga nhiếp chính, quyền phụ chính được giao cho Lê Hoàn.

Lúc này, nhà Tống thấy tình hình nước ta rối ren, vua còn nhỏ tuổi như vậy thì cho đó là cơ hội trời cho để thôn tính, bèn giao Hồ Nhân Bảo xua quân xâm lược.

Được tin, Thái Hậu Dương Vân Nga cùng triều thần nhất trí nhường ngôi báu cho Lê Hòan để ông có được tòan quyền mà dốc sức chống Tống.

Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi xưng là Đại Hành Hoàng Đế (Lê Đại Hành).

Ông gấp rút tổ chức lại bộ máy hành chính, chỉnh đốn quân đội chuẩn bị nghênh chiến.

Năm 981, quân Tống ồ ạt tấn công Đại Cồ Việt theo cả hai đường thủy, bộ.

Nhờ chuẩn bị tốt, và tài mưu lược.

Lê Hoàn đánh bại quân Tống, giữ yên bờ cõi.

Năm 1005, Lê Hoàn chết, các con của ông tranh nhau giành ngôi báu.

Lê Long Đĩnh thắng lên làm vua (Lê Ngọa Triều).

Ông vua này rất thích bạo lực, sa đọa và trụy lạc nên không đựơc lòng dân chúng.

Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết.

Được sự ủng hộ của nhiều người, Lý Công Uẩn tự xưng vua (Lý Thái Tổ) lập ra triều đại nhà Lý kéo dài 216 năm với 9 đời vua (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông và Lý Chiêu Hòang).

Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô về thành Đại La.

Sau đổi tên thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay).

Năm 1072, Lý Nhân Tông lên ngôi khi mới 6 tuổi.

Nhà Tống bên Trung Quốc cho là cơ hội tốt chuẩn bị lương thảo có ý xâm lược nước ta.

Vì vua còn nhỏ nên quan phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt nắm trọn binh quyền.

Năm 1075, Lý Thường Kiệt chủ trương "đánh phủ đầu" quân Tống để tự vệ trước bèn tập trung 10 vạn quân thủy bộ chia làm hai đường đánh sang đất Tống với mục đích phá hủy các kho dữ trữ lương thảo hậu cần nằm ở Ung Châu và Khâm Châu, Liêm Châu mà nhà Tống đang chuẩn bị để phục vụ cho cuộc xâm lược nước ta.

Quân Thủy đánh Khâm Châu, quận bộ đánh Ung Châu.

Bị bất ngờ nên quân Tống thua liên tiếp.

Nửa tháng sau chính quyền Tống ở trung ương mới biết được tin.

Vua Tống lập tức chuẩn bị đại binh dự định đánh thẳng vào nước ta để giải vây.

Năm 1076, tháng 3, sau sáu tháng tiến công, quân ta đã đạt được mục đích và rút về nước cũng là đề phòng bị đánh úp.

Khi đó, đại binh quân Tống còn chưa kịp lên đường.

Năm 1076, tháng 8, sau khi củng cố lực lượng, nhà Tống đem 30 vạn quân chia hai đường thủy, bộ bắt đầu xâm lược nước ta và cũng là để trả thù cho sự kiện ở trên.

Lý Thường Kiệt chọn địa điếm quyết chiến tại sông Như Nguyệt, xây dựng phòng tuyến phòng thủ tại bờ nam chờ giặc.

Năm 1077, tháng 1, quân Tống đến phòng tuyến Như Nguyệt và bị chặn đứng ở đó.

Thế trận giằng co kéo dài, binh Tống ngày một hao tổn do thiếu lương thực vũ khí vì bị quân ta đánh du kích. cuối cùng quân Tống phải chấp nhận giảng hòa rút quân về Triều Lý bắt tay xây dựng đất nước và bước vào thời kỳ hưng thịnh.

Từ 1138, triều Lý có dấu hiệu suy yếu do các vua đều lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, bị chết yểu,... quyền hành rơi vào tay ngọai tộc vốn lắm kẻ gian tham, bất tài, hại dân.

Vào cuối triều nhà Lý, các quý tộc quan lại họ Trần nổi lên là một thế lực lớn có công giúp nhà Lý bình định thiên hạ.

Năm 1225, Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng, 7 tuổi.

Quyền bính nằm cả trong tay quan điện tiền Trần Thủ Độ.

Năm 1226, dưới sức ép của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng mình là Trần Cảnh (Trần Thái Tông), cháu của Trần Thủ Độ, khi ấy cũng mới 8 tuổi.

Quyền hành vẫn trong tay Trần Thủ Độ với địa vị Thái Sư.

Trần Thủ Độ tìm mọi cách để "nhổ sạch rễ" họ nhà Lý, củng cố địa vị cho họ Trần.

Nhà Lý kết thúc ở đây.

Những việc làm của Trần Thủ Độ gây nên một cuộc khủng hoảng chính trị, gây nhiều bất bình trong dân chúng.

Thậm chí còn gây nên mâu thuẫn lớn giữa một số người trong họ Trần.

Tuy nhiên, thế lực của Trần Thủ Độ quá lớn nên mọi việc cuối cùng cũng êm xuôi.

Triều đại nhà Trần dần phát triển và kéo dài 175 năm qua 12 đời vua (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Dương Nhật Lễ, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông, Trần Thiếu Đế).

Triều Trần hưng thịnh nhất sau khi 3 lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên(Trung Quốc).

Khi ấy Mông Cổ là một đại đế quốc lớn nhất thế giới trong lịch sử có lãnh thổ bao gồm khỏang 40 nước trải dài từ bờ Thái Bình Dương cho tới Trung Đông, Đông Âu và vẫn tiếp tục bành trướng.

Uy danh của Thành Cát Tư Hãn cùng sức mạnh kỵ binh Mông Cổ đã biến đội quân này trở thành nỗi khiếp sợ của cả thế giới, đến nỗi sau này hậu thế vẫn lưu truyền câu nói: "vó ngựa Mông Nguyên đi tới đâu, cỏ xanh không mọc được tới đó."

Tuy vậy, cả 3 lần sang xâm lược Đại Việt vào các năm 1258, 1285, 1287 đều bị quân dân nhà Trần đánh cho đại bại.

Sau chiến thắng quân Mông Nguyên lần thứ 3, Đại Việt có được một thời gian dài ổn định và phát triển hưng thịnh.

Nhưng từ đời vua Trần Dụ Tông trở đi thì nước Đại Việt đã có nhiều biểu hiện suy thoái.

Vua quan bất tài, ăn chơi, sa đọa.

Ngôi báu nhà Trần đã có lúc rơi vào tay ngọai tộc, giặc giã nỗi lên như nấm, các nước lân cận đều mang quân tràn sang cướp phá...Từ đời vua Trần Nghệ Tông trở đi, Hồ Quý Ly nổi lên là một nhà chính trị có tài và được trọng dụng.

Nhờ đó nhân buổi rối ren, suy thoái của nhà Trần, Hồ Quý Ly đọat được ngôi báu.

Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi tên nước Đại Việt thành Đại Ngu, và tiến hành nhiều cuộc cải cách lớn, trong đó có việc đổi tiền đồng sang tiền giấy "thông bảo hội sao".

Tuy nhiên không phải cuộc cải cách nào cũng được lòng dân chúng.

Năm 1406, nhà nước phong kiến bên Trung Quốc lúc này là nhà Minh cử các tướng Mộc Thạnh, Trương Phụ,...

đem quân xâm lược nước Đại Ngu.

Quân quan nhà Hồ chống cự quyết liệt nhưng vì Đại Ngu lúc đó chưa ổn định, nhà Hồ chưa được dân chúng ủng hộ,... nên cuối cùng quân Minh đập tan sức kháng cự của quân Hồ.

Hồ Quý Ly cùng con trai và nhiều tướng bị bắt giải sang Trung Quốc.

Nhà Minh nhập Đại Ngu thành quận Giao Chỉ của họ.

Lúc đó nhân dân Đại Ngu mới bắt đầu khởi nghĩa ở nhiều nơi.

Năm 1407, Trần Ngỗi rồi Trần Quý Khoáng là quý tộc tôn thất nhà Trần, tiến hành khởi nghĩa chống quân Minh.

Ban đầu cũng giành được một số thắng lợi đáng kể nhưng sau đó trong nội bộ mất đoàn kết nên nghĩa quân suy yếu và bị dập tắt vào năm 1412.

Năm 1418, sau khi quy tụ được nhiều hào kiệt khắp nơi trong nước, trong đó có Nguyễn Trãi, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa tại núi Lam (thuộc Thanh Hóa ngày nay).

Ban đầu lực lượng nghĩa quân còn yếu, chừng vài nghìn người, nhưng cũng dùng mưu thắng được nhiều trận lớn gây thanh thế như ở Lạc Thủy, Mường Một...

Quân Minh tăng cường đàn áp với sự giúp đỡ của nhiều kẻ bán nước, chỉ điểm nên có lúc chúng đẩy nghĩa quân lâm vào tình trạng hiểm nghèo.

Ba lần nghĩa quân phải trốn lên núi Chí Linh, chịu cảnh đói khát, thiếu thốn trăm bề.

Ở lần thứ hai rút lên núi Chí Linh, năm 1419, nhờ 500 quân cảm tử do Lê Lai dẫn đầu đánh xông ra, mạo danh Lê Lợi để cho giặc bắt giết nên nghĩa quân mới được bảo tòan xuống núi.

Nghĩa quân Lê Lợi chiến đấu như vậy ròng rã mấy năm trời cho đến năm 1424 thì mới tạo nên chuyển biến có lợi cho mình.

Đầu năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn đã giành lại phần lớn đất nước, dồn quân Minh vào cố thủ trong 4 thành Đông Quan (Thăng Long), Chí Linh, Cổ Lộng, Tây Đô.

Tướng quân Minh lúc đó là Vương Thông phải cho người về nước xin viện Binh.

Tuy nhiên, cả hai cánh quân cứu viện, với số quân 15 vạn, do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy đều bị quân Lê Lợi tiêu diệt ngay tại cửa ải.

Liễu Thăng bị chém đầu tại trận ở ải Chi Lăng.

Mộc Thạnh hay tin thì đang đêm mang quân chạy về nước nhưng cũng bị phục đánh tơi bời.

Quân Lê Lợi giết được hàng nghìn lính, thu nhiều ngựa và vàng bạc, khí giới.

Ngày 10/12/1427, túng quẫn vì bị vây mà không có viện binh, quân Minh đang cổ thủ trong các thành đều ra hàng.

Lê Lợi tha cho 10 vạn giặc Minh và còn cấp đủ lương thực cho chúng, sửa cầu đường cho chúng rút về nước.

Cả bọn đều bái lạy.

Đầu năm 1428, Lê Lợi làm lễ lên ngôi Hoàng Đế ở thành Đông Kinh (Thăng Long) khôi phục tên nước Đại Việt mở đầu triều đại nhà Lê. (Gọi là nhà hậu Lê để phân biệt với nhà tiền Lê của Lê Đại Hành trước kia).

Nhà hậu Lê phát triển ổn định và đạt nhiều thành tựu lớn trong xây dựng đất nước qua năm đời vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông.

Đến đời vua Lê Uy Mục thì bắt đầu xuống dốc.

Năm 1527, Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi vua cho mình.

Trước đó, ông ta cậy có nhiều công nên lạm quyền, kết bè cánh và đã phế truất ngôi của Lê Chiêu Tông giao cho Lê Cung Hoàng.

Nhà Mạc thành hình.

Ở trong nước là thế nhưng khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung lại hèn kém trong ngọai giao với nhà Minh, nhún nhường nhận chức An Nam đô thống sứ do vua Minh "trao tặng" khiến nhân dân và nhiều quan lại phẫn nộ.

Năm 1530, Lê Ý ở Thanh Hóa nổi quân chống lại nhà Mạc.

Năm 1532, Nguyễn Kim Tôn con của Lê Chiêu Tông lên làm vua (Lê Trang Tông), đóng ở Thanh Hóa, nhiều quan lại của cũ của nhà Lê cũng theo về phò tá tạo nên một triều đình mới đối lập với nhà Mạc ở phía bắc.

Đại Việt lúc đó vì thế có hai triều đình ở hai miền nam - bắc.

Sau khi Nguyễn Kim chết (1546), vua Lê phong con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm lên thay.

Trịnh Kiểm tiến hành lọai trừ phe cánh của Nguyễn Kim để tập trung quyền lực vào tay mình.

Các con của Nguyễn Kim, Nguyễn Uông bị bắt giết, Nguyễn Hoàng lo sợ nên tìm cách lánh bằng cách xin trấn giữ ở vùng Thuận Hóa.

Trịnh Kiểm thuận ý cho vào.

Họ Nguyễn vào vùng đó ngấm ngầm có ý lập nên "vương quốc" riêng của mình chống lại họ Trịnh nhưng bên ngoài vẫn tỏ về thuần phục, giúp họ trịnh chống họ Mạc.

Năm 1570, Trịnh Kiểm chết.

Trịnh Tùng thay.

Năm 1592, Trịnh Tùng đem quân đánh bại nhà Mạc ở Thăng Long, thống nhất đất nước, nhà Lê khôi phục, vua Lê bấy giờ là Lê Thế Tông.

Tuy nhiên vua Lê chỉ là cái bóng.

Họ Trịnh lập ra vương phủ riêng tồn tại bên cạnh triều đình vua Lê.

Quyền lực nằm cả trong tay họ Trịnh.

Năm 1613, Nguyễn Hoàng ở phía Nam chết.

Con là Nguyễn Phúc Nguyên vâng lời cha "dạy bảo nhân dân, luyện tập binh sĩ kháng cự lại họ Trịnh" để "xây dựng cơ nghiệp muôn đời".

Năm 1627, lấy cớ Nguyễn Phúc Nguyên không chịu nộp thuế, họ Trịnh đem quân vào đánh.

Cuộc chiến giữa hai họ bắt đầu từ đó.

Đại Việt bị chia cắt thành hai "đàng" lấy sông Gianh làm ranh giới.

Đàng Ngoài tính từ bờ bắc sông Gianh trở ra bắc, Đàng Trong từ bờ nam sông Gianh trở vào nam.

Ranh giới này tồn tại suốt gần 300 năm cho đến khi Nguyễn Huệ thống nhất vào năm 1786.

Năm 1771, ở Đàng Trong, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo nông dân khởi nghĩa ở Tây Sơn.

Lúc này ở cả hai Đàng chính quyền phong kiến đều đã rất bê tha, suy tàn.

Trải qua mấy trăm năm chia cắt, chiến tranh triền miên giữa hai Đàng đã làm cho đất nước điêu tàn, kiệt quệ, nông dân vô cùng đói khổ.

Vì thế vô vàn nông dân đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

Với khẩu hiệu " Lấy của nhà giàu chia cho người nghèo", quân Tây Sơn tiến đến đâu thì dân nghèo ở đấy đều tham gia.

Thanh thế của nghĩa quân Tây Sơn lớn lên nhanh chóng.

Hầu như đánh đâu thắng đấy.

Chẳng mấy chốc chiếm toàn bộ Quy Nhơn, Quảng Ngãi.

Năm 1777, Nguyễn Nhạc tự xưng là Tây Sơn vương, đóng ở thành Đồ Bàn (Bình Định), sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đánh thành Gia Định.

Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ sau khi đánh lấy được thành, giết chết chúa Nguyễn Phúc Thuần, cắt người trấn thủ xong thì rút về Quy Nhơn.

Nguyễn Ánh là cháu của Nguyễn Phúc Khoát (chúa Đàng Trong ngày xưa, trước Nguyễn Phúc Thuần) đem quân chiếm lại thành Gia Định.

Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thái Đức.

Năm 1783, quân Tây Sơn đánh chiếm lại thành Gia Định, Nguyễn Ánh thua chạy trốn sang Xiêm (Thái Lan) cầu cứu.

Năm 1784, quân Xiêm cử Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem 2 vạn thủy quân, 300 chiến thuyền và Chiêu Thùy Biên đem 3 vạn quân bộ cùng Nguyễn Ánh tấn công Gia Định.

Đến cuối năm đó thì chiếm được nửa đất Gia Định, Tây Sơn chỉ còn giữ hai thành Gia Định, Mỹ Tho.

Đầu năm 1785, Nguyễn Ánh và quân Xiêm từ Sa Đéc tiến đánh Mỹ Tho.

Nguyễn Huệ cho quân mai phục, chặn đánh trên sông Mỹ Tho, đoạn ở Rạch Gầm- Xoài Mút.

Quân Xiêm đại bại, chỉ còn vài ngàn bộ binh rút chạy về nước.

Tây Sơn truy bắt Nguyễn Ánh nhưng không được.

Nguyễn Huệ củng cố ba quân, cử tướng trấn giữ Gia Định rồi rút ra Tây Sơn cùng với Vũ Văn Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh (một tướng Đàng Ngoài không phục Trịnh Khải, bỏ nhà Trịnh theo Tây Sơn) chiếm luôn thành Phú Xuân đang do Đàng Ngoài nắm giữ.

Rồi nhân đà thắng lợi giành lại hết các vùng đất của Đàng Trong.

Xong, lấy danh nghĩa giúp vua Lê diệt chúa Trịnh, tiến đánh luôn quân Trịnh ở Đàng Ngoài.

Năm 1786, Nguyễn Huệ chiếm được Thăng Long, lật đổ chúa Trịnh, trao lại quyền hành cho vua Lê Hiển Tông.

Vua Lê thưởng công cho Nguyễn Huệ bằng cách phong Nguyễn Huệ là Uy Quốc Công, nhường đất Nghệ An cho Tây Sơn.

Được vài hôm, Lê Hiển Tông vì bệnh nặng từ trước, qua đời.

Vua kế vị là Lê Chiêu Thống.

Sau đó, Nguyễn Huệ rút quân về phương Nam để Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại đất bắc.

Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ chia nhau cai quản từ Nghệ An trở vào.

Nguyễn Huệ sau khi chinh phục miền bắc được Nguyễn Nhạc phong làm Bắc Bình Vương, làm chủ từ Nghệ An đến Phú Xuân.

Nguyễn Lữ giữ vùng đất phía nam, Gia Định.

Nguyễn Nhạc giữ vùng Quãng Ngãi đến Bình Thuận.

Sau khi Nguyễn Huệ rút đi, miền bắc trở nên rối loạn.

Các thế lực của họ Trịnh ra sức khôi phục lại cơ đồ.

Lê Chiêu Thống phải dựa vào sức cửa Nguyễn Hữu Chỉnh để chống đỡ.

Chỉnh dẹp yên được họ Trịnh, cậy mình có công lớn nên sinh ra lộng quyền, chống lại Tây Sơn, đòi lại đất Nghệ An.

Năm 1787, Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở, Vũ Văn Nhậm ra bắc đánh Nguyễn Hữu Chỉnh.

Chỉnh cùng vua Lê bỏ chạy lên phía bắc.

Dọc đường Chỉnh bị bắt giết, Lê Chiêu Thống thoát sang đất nhà Thanh cầu cứu.

Diệt được Chỉnh, Vũ Văn Nhậm lại lộng quyền.

Nguyễn Huệ đích thân ra bắc giết chết Nhậm, đưa Ngô Văn Sở lên thay, tuyển dụng người giỏi, hiền tài để trao quyền hành.

Nhà Lê mất từ đây.

Năm 1788, vua Thanh là Càn Long cử Tôn Sĩ Nghị, Sầm Nghi Đống...

đem 20 vạn quân cùng Lê Chiêu Thống tiến vào nước ta để "tiêu diệt Tây Sơn, dựng lại nhà Lê".

Ngô Văn Sở bỏ trống Thăng Long rút về xây phòng tuyến ở Tam Điệp một mặt báo tin cho Nguyễn Huệ.

Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long quá dễ cho là Tây Sơn sợ mất mật nên trốn cả nên hống hách, coi thường Tây Sơn, cho quân cướp phá hết sức tàn bạo.

Lê Chiêu Thống cũng thực hiện việc trả thù, báo oán cũng không kém phần tàn ác.

Nguyễn Huệ nhận được tin cấp báo, ngày 22/12/1788, lập đàn tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung rồi hành quân thần tốc ra bắc.

Qua vùng Nghệ An, Thanh Hóa đều tuyển thêm quân lính.

Khi đến phòng tuyến Tam Điệp ngày 15/01/1779 đã có được đại quân hơn 10 vạn người.

Rạng sáng mùng 5 tết Kỷ Dậu, 30/01/1789, sau khi chuẩn bị kỹ càng, vua Quang Trung cho quân tấn cống thành Ngọc Hồi, cùng lúc đó cánh quân khác đánh vào đồn Khương Thượng ở Đống Đa, sát thành Thăng Long.

Ở Ngọc Hồi, trước sức tấn công mãnh liệt, mưu trí của quân Tây Sơn, mặc dù chống trả kịch liệt nhưng quân Thanh cũng nhanh chóng để mất thành, chạy tán loạn, nhưng đều bị mai phục chết nhiều vô kể.

Ở Đống Đa, quân Tây Sơn do Đô đốc Đông chỉ huy cũng giành thắng lợi lớn.

Thây giặc Thanh chất cao như núi.

Tướng giặc là Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử kéo theo nhiều bộ hạ thân tín tự sát theo, tàn quân chạy hết về Thăng Long.

Quân Tây Sơn đuổi theo truy sát vào tận Thăng Long.

Tôn Sĩ Nghị lúc đó còn đang mơ màng trong giấc mộng, giật mình tỉnh giấc thì thấy quanh mình lửa cháy khắp nơi, sáng rực trời.

Không kịp đóng yên cương, nhảy lên ngựa chạy trốn.

Quân lính tranh nhau cướp đường chạy theo tướng về hướng bắc.

Chen lấn xô đẩy qua cầu phao sông Hồng.

Cầu chịu không nổi, đứt.

Hàng vạn lính bị cuốn trôi theo nước dòng sông.

Số chạy thoát đều bị mai phục, chặn đánh tơi bời.

Trưa mùng 5, vua Quang Trung tiến vào Thăng Long giữa tiếng hò reo của ba quân và dân chúng.

Chỉ trong vòng một tuần, Vua đã từ Phú Xuân hành quân thần tốc đánh tan 20 vạn quân Thanh hùng hậu.

Vua tiến hành khôi phục đất nước với nhiều cải cách triệt để giúp đất nước phát triển nhanh chóng.

Đến năm 1792, vua Quang Trung mất, con là Quang Toản lên thay.

Năm 1793, Nguyễn Ánh từ Gia Định đem quân đánh tới tận thành Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc. (Nguyễn Ánh sau khi thất bại cùng với quân Xiêm, sống lưu vong nhiều năm, tới 1797 đã quay về chiêu mộ được nhiều binh lính, có cả người một số người Pháp do linh mục Bá Đa Lộc đưa tới, giúp sức, tái chiếm được thành Gia Định từ 1788 khi Quang Trung đang chuẩn bị đánh quân Thanh, Nguyễn Lữ chạy về Quy Nhơn).

Nguyễn Nhạc bị vây khốn phải cầu cứu Quang Toản.

Quang Toản sai tướng đem quân giải vây xong thì có ý muốn chiếm luôn.

Nguyễn Nhạc vì thế uất ức mà chết.

Nguyễn Ánh rút nhưng từ đó thường đem quân đánh phá.

Hai bên giành nhau thành Quy Nhơn mấy lần.

Sau khi Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc chết, nhà Tây Sơn do Quang Toản lãnh đạo.

Nhưng vua còn non nớt nên bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên lộng quyền gây nên nhiều mẫu thuẫn nội bộ.

Các tướng tự đánh giết lẫn nhau.

Triều đình suy yếu.

Trong khi đó Nguyễn Ánh đựơc sự giúp sức của người Pháp ngày một mạnh lên.

Năm 1801, lợi dụng hai tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng của Tây Sơn đang đánh để giành lại thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh đánh úp Phú Xuân, lấy được thành, vua Quang Toản chạy ra bắc.

Hai tướng Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng sau khi chiếm đựơc Quy Nhơn, hay tin ấy quyết định bỏ thành, mượn đường Ai Lao tính ra bắc hội quân với Quang Toản.

Dọc đường thì bị quân Nguyễn Ánh truy sát, bắt giết.

Vua Quang Toản và các tướng còn lại cũng không chống được.

Cuối cùng đều bị bắt giết.

Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn rất dã man.

Nhà Nguyễn Tây Sơn hoàn toàn bị diệt.
 
Sưu Tầm Sử Việt
(2)


Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long, đặt tên nước là Việt Nam, mở ra triều đại nhà Nguyễn kéo dài cho tới năm 1945.

Tuy nhiên từ 1858 đến 1945, Việt Nam bị thực dân Pháp Xâm lược.

Thực dân Pháp ra sức bóc lột tài nguyên, nhân, vật lực của Việt Nam, dìm các cuộc khởi nghĩa của nông dân, một số danh sĩ yêu nước trong biển máu.

Các vị vua cuối triều Nguyễn không có quyền quyết định các quốc sách.

Họ chỉ là những vị vua bù nhìn, chỉ biết lo cho thân phận mình được yên ổn.

Họ đã bất lực đầu hàng Pháp, không giúp gì được cho đất nước lại còn bóc lột dân chúng bằng lắm thứ tô thuế,... nặng nề để phục vụ cho cuộc sống xa hoa của họ.

Duy chỉ có 3 vị vua có tấm lòng yêu nước sâu sắc, đứng lên chống lại thực dân Pháp, đó là Vua Hàm Nghi, Vua Thành Thái và Vua Duy Tân.

Thế nhưng cả 3 vị Vua ấy đều bị thực dân Pháp đày sang Châu Phi, phải sống một cuộc sống vô cùng khổ cực.

Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã lật đổ được chính quyền của Pháp, Nhật, lật đổ chế độ quân chủ phong kiến của nhà Nguyễn để lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một thể chế nhà nước mới mà tất cả nhân dân lao động được làm chủ đất nước, bình đẳng với nhau, không có ai bóc lột ai cả.

Tháng 8/1945, Pháp nổ súng tái chiếm Nam Kỳ mở đường xâm lược Việt Nam lần 2.

Tháng 12/1946, Pháp ra tối hậu thư đòi Chính phủ Việt Nam ở Hà Nội, phải giải tán quân đội, giao nộp vũ khí.

Biết đã tới giới hạn cuối cùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Cử một bộ phận quân đội ở lại cầm cự với Pháp tại Hà Nội, còn lại rút hết lên vùng rừng núi phía Bắc, lập căn cứ kháng chiến.

Không đựơc đáp ứng tối hậu thư, Pháp tấn công Hà Nôi, quân Việt Nam chặn quân Pháp ở đó hơn hai tháng, khi đại quân và tài sản đã di tản lên căn cứ kháng chiến an toàn thì rút đi.

Pháp chiếm được Hà Nội và sau đó mở rộng ra khắp vùng đồng bằng bắc bộ.

Tuy nhiên không tiêu diệt được chính phủ của Hồ Chí Minh.

Pháp tuy chiếm được Việt Nam nhưng phần lớn chỉ có đủ quân để giữ các vùng đô thị.

Nhân dân Việt Nam tổ chức đánh du kích ở vùng nông thôn và rừng núi.

Pháp càng đánh càng đuối sức trong khi quân Việt Nam càng đánh càng trưởng thành và lớn mạnh.

Đến năm 1950 thì quân đội Việt Nam đã bắt đầu lấy lại thế chủ động có thể đánh những trận lớn trực diện.

Và đến năm 1953 thì Pháp đã rơi vào tình thế bị động đối phó.

Năm 1954, với nỗ lực nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường, Pháp ra sức càn quét, tăng cường bắt lính để mở rộng nguỵ quân, xin thêm viện binh, viện trợ vũ khí.

Xây dựng những cứ điểm phòng thủ ở miền bắc để thi hành kế hoạch Nava: phòng thủ ở miền bắc, bình định miền Nam, sau khi bình định miền Nam sẽ có thêm nhiều ngụy quân và thanh thế tiến ra miền bắc tiêu diệt quân bắc Việt.

Và Điện Biên Phủ là một trong những cứ điểm lớn nhất, mạnh nhất, đông quân nhất và "không thể công phá" tại Đông Dương đã được xây dựng với sự giúp đỡ của người Mỹ.

Pháp định dùng nó làm cái bẫy để nhử quân Việt Nam vào đánh để tiêu diệt.

Thế nhưng...

Tháng 5/1954, cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt hoàn toàn.

Quân Việt Minh bắt sống toàn bộ 16 nghìn quân Pháp trong đó có cả sở chỉ huy.

Cả thế giới chấn động.

Thất bại này khiến Pháp phải ký hiệp định Giơ ne vơ chấm dứt xâm lược Việt Nam, chấm dứt sự hiện diện của quân đội nước ngoài tại Việt Nam.

Pháp rút, Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam dựng nên chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp những người chống đối.

Đất nước Việt Nam lại bị chia cắt thành 2 miền nam - bắc.

Năm 1965 Mĩ trực tiếp tham chiến tại Việt Nam, gây ra một cuộc chiến tranh thảm khốc nhất trong thế kỷ XX.

Cuộc chiến của nhân dân Việt Nam chống lại Mỹ, và tay sai kéo dài từ đó tới năm 1975.

Trong suốt 20 năm đó, Mỹ và chính quyền do Mỹ dựng lên đã tìm đủ mọi cách, đủ mọi phương tiện chiến tranh hiện đại nhất để chống lại nhân dân Việt Nam nhưng cuối cùng đều bị thất bại.

Nước Việt Nam độc lập và thống nhất kể từ ngày 30/04/1975.

Năm 1976, đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhưng Việt Nam vẫn chưa được hưởng cuộc sống thanh bình thực sự.

Năm 1977, Cam-pu-chia, dưới sự cầm quyền của Khơ me đỏ, quân đội chính quy của Cam-pu-chia mở cuộc tiến công biên giới và tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, giết người man rợ, gây ra rất nhiều tội ác.

Trước đó, từ ngay sau ngày Việt Nam thống nhất (5/1975), Khơ me đỏ đã có nhiều hoạt động xâm nhập quấy rối giết hại dân thường.

Lúc này, giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng xảy ra mâu thuẫn.

Trung Quốc trở nên thân Mỹ chống Liên Xô và Việt Nam.

Nhà cầm quyền Trung Quốc đã ủng hộ lực lượng Khơ me đỏ ở Cam-pu-chia bằng cách gia tăng chuyên gia và viện trợ quân sự sang Cam-pu-chia.

Khơ me đỏ vì thế càng ngày càng mạnh tay với Việt Nam và với cả nhân dân Cam-pu-chia.

Hàng trăm nghìn dân thường Việt Nam và hàng triệu người dân Cam-pu-chia đã bị Khơ me đỏ giết hại.

Đầu năm 1979, Việt Nam tổng phản công trên toàn tuyến biên giới với Cam-pu-chia, đẩy lui Khơ me đỏ về sâu trong lãnh thổ Cam-pu-chia.

Việt Nam còn liên kết với quân cách mạng của Cam-pu-chia, tiến công giải phóng thủ đô Phnom penh cứu nhân dân Cam-pu-chia khỏi họa diệt chủng.

Trung Quốc và Khơ me đỏ tố cáo Việt Nam xâm lược Cam-pu-chia.

Đa phần quốc tế (trong đó có ASEAN) không ủng hộ Việt Nam, đòi Việt Nam rút quân về nước.

Trước sự tấn công mạnh mẽ của Việt Nam, Khơ me đỏ phải rút vào rừng rậm biên giới, lãnh thổ Thái Lan, nhờ sự giúp đỡ của Thái Lan và Trung Quốc mà cầm cự theo kiểu đánh du kích để không bị tiêu diệt.

Tháng 3 năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn bất ngờ tấn công trên toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam với tuyên bố đầy tính giang hồ của Đặng Tiểu Bình là để "dạy cho Việt Nam một bài học" và tuyên truyền với nhân dân Trung Quốc là để "phản công quân Việt Nam xâm lược".

Nhưng mục đích chính là nhằm phân tán quân chủ lực của Việt Nam, giải vây cho Khơ me đỏ đang bị vây khốn tại Cam-pu-chia.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đóng quân và hy sinh xương máu của mình ở Cam-pu-chia để bảo vệ nhân dân Cam-pu-chia, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ của Cam-pu-chia cho đến tận năm 1989, khi nhân dân Cam-pu-chia đã đủ mạnh để tự bảo vệ và giữ gìn thành quả cách mạng của mình, Việt Nam mới rút quân về nước.

Quân Trung Quốc dùng chiến thuật biển người càn quét sâu vào lãnh thổ Việt Nam, đi tới đâu là giết sạch phá sạch tới đó.

Quân đội Việt Nam với khoảng 5 sư đoàn và dân quân địa phương, bộ đội biên phòng mặc dù đã ngoan cường, anh dũng chiến đấu nhưng dần dần phải rút lui do quân Trung Quốc quá đông, một người lính Việt Nam phải chống lại từ 5 -7 tên Trung Quốc xâm lược.

Tuy nhiên, đi nhiều thì chết nhiều, quân Trung Quốc chịu tổn thất quá lớn nên chỉ hai tuần giao tranh, khi gặp Quân đoàn 2 chủ lực của Việt Nam chặn đường thì buộc phải rút chạy về nước và tuyên bố chiến thắng (!).

Kể từ đó Trung Quốc không dám tấn công bằng bộ binh sang lãnh thổ Việt Nam mà chủ yếu dùng pháo từ bên kia biên giới bắn sang quấy phá, làm tiêu hao sinh lực của Việt Nam.

Hai bên cứ đấu pháo qua lại mãi tới giữa thập niên 1980.

Ngày 14 tháng 3 năm 1988, 9 tàu chiến hải quân Trung Quốc có trang bị pháo hạm và lính thủy đánh bộ bất ngờ tấn công 3 tàu vận tải chở công binh Việt Nam đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền tại quần đảo Trường Sa, khu vực đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma.

Công binh Việt Nam đang tay không khuân gạch đá xây nhà thì bị tàu và lính Trung Quốc với hỏa lực mạnh tấn công.

Trung Quốc dễ dàng bắn chìm 3 tàu vận tải và giết chết 64 chiến sĩ Việt Nam.

Các chiến sỹ Việt Nam anh dũng, mưu trí chiến đấu giữ được Đảo Cô Lin và Len Đao.

Đảo Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm đóng từ ngày đó.

Cho đến nay, Trung Quốc đã chiếm đoạt của Việt Nam nhiều đảo tại quần đảo Trường Sa và toàn bộ quần đảo Hoàng Sa (Hoàng Sa bị chiếm trọn từ 1974 với sự bật đèn xanh của Mỹ), bất chấp các công ước quốc tế, bỏ ngoài tai những lời phản đối của Việt Nam và cộng đồng quốc tế.

Từ 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới kinh tế, đổi mới đối ngoại với phương châm muốn làm bạn với tất cả các nước.

Nhờ vậy, kinh tế - chính trị - xã hội của Việt Nam ngày càng ổn định và phát triển.

Năm 1991 Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ.

Việt Nam chính thức im tiếng súng từ đây.

Năm 1995 Việt Nam và Mĩ bình thường hóa quan hệ.

Việt Nam chính thức hội nhập sâu rộng với thế giới từ đây.

Hiện nay, Việt Nam đang được hưởng nền hòa bình sau những chặng đường dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Tuy nhiên, những thế lực thù địch vẫn đang luôn tìm cách phá hoại sự ổn định chính trị, phá hoại kinh tế, chiếm đoạt lãnh thổ, lãnh hải...của Việt Nam.

Chúng ta hãy cùng chung tay bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và sự yên bình cho dân tộc Việt Nam nhé các member.

-----

Nguồn tham khảo: vnmilitaryhistory.net

#AdmB41
 
Sưu Tầm Sử Việt
Các triều đại phong kiến VN


1.

Nhà Ngô (939 - 965)

- 26 năm

- Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội)

2.

Nhà Đinh (969 - 980)

- 12 năm

- Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình)

3.

Nhà Tiền Lê (980 - 1009)

- 29 năm

- Hoa Lư

4.

Nhà Lý (1010 - 1225)

- 215 năm

- Thăng Long

5.

Nhà Trần (1225 - 1400)

- 175 năm

- Thăng Long

6.

Nhà Hồ (1400 - 1407)

- 7 năm

- Tây Đô (Thanh Hóa)

7.

Nhà hậu Trần (1407 - 1413)

8.

Nhà Lê sơ (1428-1527)

- 99 năm

- Đông Kinh

9.

Nhà Mạc (1527- 1592)

- 65 năm

- Đông Kinh

10.

Nhà hậu Lê (1533- 1788)

- 255 năm

- Tây Đô, Thăng Long

11.

Nhà Tây Sơn (1778- 1802)

- 24 năm

- Qui Nhơn, Phú Xuân

12.

Nhà Nguyễn (1802- 1945)

- 143 năm

- Huế
 
Sưu Tầm Sử Việt
Lịch sử Việt Nam và những cái nhất


Có nhiều con làm vua nhất

Lê Duy Kỳ (1607- 1662), ông có tới 4 con trai lần lượt làm vua.

Đó là Lê Duy Hựu (hiệu là Chân Tông), Lê Duy Vũ (Huyền Tông), Lê Duy Hợi (Gia Tông), Lê Duy Hợp (Hy Tông), cả 4 vua anh em cùng cha khác mẹ này đã được lịch sử công bằng đánh giá, xếp vào hạng vua “chẳng có được tích sự gì”.

Có các con đánh giết nhau kịch liệt nhất

Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lê Lợi đều được ghi nhận là 3 ông vua có các con đánh giết nhau kịch liệt nhất nhằm tranh giành ngôi báu.

Khi Lê Hoàn chết năm 1005, 12 con trai đánh nhau suốt 8 tháng trời để cướp ngôi báu, không 1 kẻ nào lo chôn cất và tang chay cho cha.

Khi Lý Công Uẩn chết năm 1028, 3 con trai nổi binh tranh cướp ngôi báu sắp rơi vào tay anh cả, khiến tướng Lê Phụng Hiểu phải vung kiếm chém đầu 1 trong 3 kẻ nổi loạn mới tạm yên.

Trước khi chết năm 1433, Lê Lợi gạt con trưởng, chọn con trai thứ ba Bang Cơ nối ngôi; ít năm sau, con trai thứ hai Nghi Dân giết em để cướp ngôi; 8 tháng sau, Nghi Dân lại bị truất ngôi, các quan định đưa con trai thứ tư Khắc Xương lên thay, ông này lạy tạ các quan, xin được tha đừng bắt làm vua, để chỉ sống đời dân thường nuôi mẹ đẻ.

Có tên tuổi rực rỡ nhất trong thời kỳ trị nước an dân

Vua Lê Thánh Tông.

Vua là con thứ tư của Lê Thái Tông và mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao, sinh năm 1442, lên ngôi năm 1460 sau khi anh là Lê Nghi Dân bị giết, ở ngôi 37 năm, đặt 2 niên hiệu là Quang Thuận và Hồng Đức, thọ 55 tuổi.

Lê Thánh Tông có tư chất thông minh lại chăm học tập, biết nhiều lại giỏi thực hành.

Dưới triều Thánh Tông về mọi phương diện, nước ta tiến đến một trình độ cao từ trước chưa bao giờ đạt tới, thanh thế nước ta bấy giờ lừng lẫy.

Để lại dấu ấn xấu xa nhất, bị lên án về tội phản quốc

Vua Lê Chiêu Thống.

Tháng 10.1788, vua cùng hoàng thái hậu rước 30 vạn quân Thanh về giày xéo non sông.

Chiêu Thống chỉ là niên hiệu, còn miếu hiệu phải là Lê Mẫn Đế, các sử gia thể theo ký ức không tốt đẹp của nhân dân về vị vua này nên vẫn gọi là Lê Chiêu Thống.

Đây là vị vua cuối cùng của triều Lê 360 năm, sau sống lưu vong ở Trung Quốc và mất bên đó, năm 28 tuổi.

Có nhiều con nhất

Vua Minh Mạng, 142 người con.

Ngoài bà phi Hồ Thị Hoa (mẹ vua Thiệu Trị sau này), Minh Mạng còn có hàng trăm bà phi, tần khác nữa, trong đó 40 bà có con với vua, tổng cộng được 78 hoàng tử và 64 hoàng nữ.

Không kể chuyện hậu cung, Minh Mạng là một ông vua văn võ kim toàn, đưa nước Việt ta trở thành một trong những nước hùng mạnh nhất Đông Nam Á thời bấy giờ.

Vua ở ngôi 21 năm (1820- 1841), thọ 49 tuổi.

Có nhiều con nhất

Nếu như Minh Mạng theo tính số con chính thức là ông vua có nhiều con nhất với 142 con (78 trai, 64 gái) thì Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) là ông chúa có nhiều con nhất; 17 tuổi làm chúa, tuy chỉ sống đến 51 tuổi nhưng đã kịp có 146 con, trong đó có 38 con trai; quá đông con nên ông ta không sao nhớ hết tên, đứa nào vào chào, phải xưng tên, xưng tuổi.

Ông có câu thơ: “Mình tuổi thọ ít, nhưng phúc nhiều….”.

Tự Đức: vị vua thể hiện hiếu thảo nhất

Là vị vua hiếu đạo bậc nhất trong 13 vị hoàng đế triều Nguyễn.

Mẫu hậu là bà Từ Dũ được vua săn sóc, tôn kính, vâng lời hết mực.

Bà truyền bảo điều gì đáng lưu tâm, vua liền ghi ngay vào sách tùy thân mà nghiền ngẫm, gọi là “Từ huấn lục” (sách chép lời mẹ dạy).

Trải qua suốt 36 năm chấp chính ngai vàng, Tự Đức bao giờ cũng dành ngày chẵn vào cung vấn an sức khỏe mẹ, ngày lẻ thì lo việc triều nghi, chẳng vì ngồi trên chỗ vạn năng quyền thế mà lơ là phận làm con.

Không những thế, có gì lo âu, vua liền thỉnh ý để được nghe lời dạy bảo.

Chính vì thế, bà đã từng đề nghị giảm thuế má cho dân vào những khi gặp thiên tai, mất mùa, đói kém, nhà vua đều làm theo ý mẹ.

Có lần, ngày mai là đến kỳ giỗ kỵ tiên đế Thiệu Trị, thế mà hôm ấy nhà vua ham săn bắn, gặp nước lụt chảy mạnh bất ngờ, quan quân chưa dám dong thuyền hồi cung, phải mắc kẹt chốn ngoại thành rừng Thuận Trực.

Bà Từ Dũ sai quan Nguyễn Tri Phương đi rước, khi vào cung, vua biết lỗi, dâng roi, nằm xuống chờ quở phạt.

Bà giận, quay mặt chẳng nói, sau mới tha cho hình phạt, chỉ trách dạy bằng lời mà thôi.

Xem thế, đủ biết vua Tự Đức thờ mẹ rất chí hiếu.

Và có nhiều bài thơ nhất

Trong số 13 vua Nguyễn, vua Tự Đức là người uyên thâm nhất về nền học vấn Ðông Phương, nhất là Nho học.

Vua giỏi về cả sử học, triết học, văn học nghệ thuật và đặc biệt là rất sính thơ.

Vua đã để lại 600 bài văn và 4.000 bài thơ văn chữ Hán và khoảng 100 bài thơ chữ Nôm.

Thơ văn nhà vua phản ánh một con người nhân hậu, một tâm hồn đa cảm, một tư chất hâm mộ nghệ thuật.

Tư chất ấy cũng biểu lộ rõ trên nghệ thuật kiến trúc của lăng vua.

Sử cho biết chính nhà vua đã “chuẩn định” (décider) mô thức xây dựng nó.

Trong vòng La thành rộng khoảng 12 ha, gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ dàn trải thành cụm trên những thế đất phức tạp cao thấp hơn nhau chừng 10m.

Nhưng, các hệ thống thống bậc cấp lát đá thanh, các lối đi quanh co lát gạch bát tràng đã nối tất cả các công trình kiến trúc lại thành một thể thống nhất, tương quan, gần gũi.

Vua duy nhất có nhiều vợ mà không có dù chỉ 1 đứa con

Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (1829- 1883), làm vua hiệu Tự Đức, có hơn ba trăm vợ (trong đó hạ cố lấy cả 1 bà đã từng có chồng, có con với chồng trước) và cũng dùng thuốc quý “Nhất dạ, lục giao, sinh ngũ tử” (1 đêm, 6 lần gặp vợ, sinh 5 con) như ông nội của Tự Đức là Minh Mạng đã từng có đến 142 người con, nhưng cuối cùng Tự Đức vẫn là ông vua duy nhất có rất nhiều vợ mà không có 1 người con ruột nào cả.

Thân Tây và nịnh Tây nhất

Nguyễn Phúc Ưng Xụy, tức Ưng Đường, 2 tuổi vào làm con nuôi Tự Đức, 21 tuổi được Pháp chọn đưa lên làm vua, hiệu là Đồng Khánh, việc đầu tiên là ra ngay 3 đạo dụ phong cho 3 quan Tây làm “Bảo hộ quân vương”, “Bảo hộ công”, “Dực quốc công”; mọi sự lớn nhỏ đều nhất nhất làm theo lệnh Tây, đích thân ông ta ra lệnh trong cung vứt hết rượu ta, ông chỉ chuyên uống rượu Tây, ở ngôi được 3 năm thì ốm chết.

Ở Việt Nam sau này xuất hiện loại “Bánh trung thu Đồng Khánh”.
 
Sưu Tầm Sử Việt
2


Hai vua cùng ở một ngôi

Nam Tấn Vương (Ngô Xương Văn) và Thiên Sách Vương (Ngô Xương Ngập), là 2 con của Ngô Quyền, lên ngôi năm 951.

Ban đầu, 2 anh em cùng trông coi việc triều chính.

Sau, anh là Sách Vương chuyên quyền lấn át, ở ngôi được 3 năm thì mất vì bệnh; em được 14 năm thì tử trận, đất nước rơi vào loạn 12 sứ quân.

Vua duy nhất bị gọi sai tên

Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, sử gia Lê Văn Hưu ghi chuyện vua Lê Hoàn bị gọi sai tên: "Khi vua chết không có miếu hiệu vì 12 con trai đều khởi binh giành ngôi báu, đánh nhau quyết liệt suốt 8 tháng.

Các thái giám mang xác vua Lê Hoàn đi chôn, nhưng ngu tối cứ theo tục cũ bên Tàu mà gọi vua đã qua đời là Đại Hành (nghĩa là quàn tạm vào thân cây to), cúng tế cũng hô là Đại Hành, sách sử cũng cứ thế chép sai là Lê Đại Hành".

Cho đến nay, nhiều người cũng vẫn gọi lầm tên vị vua này là "Lê Đại Hành".

Ngay tại Sài Gòn hiện nay, ở vùng giáp ranh quận 10 và quận 11, cũng có 1 con đường mang tên Lê Đại Hành.

Vua duy nhất bị quên mất tên thật

Vua bị phần lớn sử sách và người đời quên mất tên thật là Đinh Hoàn (924- 979), đối chiếu trong trang 11, bản thông tin tư liệu số 19 của Thông tấn xã Việt Nam.

Năm 38 tuổi, ông được sứ quân Trần Lãm phong chức quan "bộ lĩnh" (sách báo gọi lầm tên ông là Đinh Bộ Lĩnh), 44 tuổi làm vua được 5 năm thì bị giết, con nối ngôi được 8 tháng bị phế.

200 năm sau, nhà sử học Lê Văn Hưu bắt đầu gọi ông là "tiên hoàng", con ông là "phế đế".

Ấy vậy mà ngày nay người ta vẫn tiếp tục mắc sai lầm khi đặt tên nhiều con đường mang tên Đinh Bộ Lĩnh hoặc Đinh Tiên Hoàng.

Vua duy nhất bắt dân kiêng tên của con dâu

Thường thì các vua bắt dân kiêng tên của mình, riêng Nguyễn Ánh bắt dân kiêng thêm tên Hoa của cô con dâu 16 tuổi (tức là Hồ Thị Hoa, vợ đầu của Nguyễn Phúc Đảm, sau này lên ngôi hiệu Minh Mạng); do đó chợ Đông Hoa (Huế) phải đổi tên là chợ Đông Ba, cầu Hoa (Gia Định) phải đổi tên thành cầu Bông (gần quán Hương Đồng 4 mà quán Sài Gòn hay giao lưu), trấn Thanh Hoa phải đổi tên là tỉnh Thanh Hóa, cả đến vai tuồng Phàn Lê Hoa cũng bị đổi là Phàn Lê Huê!

Ông vua có nhiều huyền thoại nhất

Do hoàn cảnh cần khuếch trương thanh thế, Lê Lợi (1385-1433) là người có nhiều huyền thoại nhất trên đường đến ngai vàng.

Bắt đầu là chuyện mộ cố tổ chôn gò đất có nhiều chim bay lượn; cha ông có nồi cháo múc cho người nghèo nồi lại đầy lên; ông có tướng mạo lạ kỳ, bả vai tả có đến 7 nốt ruồi, đi thì nhẹ nhàng mà nói lại như chuông rền; được hồn 1 sư ông trao cho thanh gươm không mài mà cứ sáng loáng; vợ lại bắt được quả ấn khắc sẵn chữ "Lê Lợi vương ấn"; lá chuối cả vùng đều rạch thủng hàng chữ "Lê Lợi vi quân"; bao phen nguy cấp đều được quỷ thần hiện lên cứu thoát.

Cuối cùng, lên ngôi rồi, đi chơi trên hồ nhỏ giữa Đông Đô, thần Rùa nổi lên nhận kiếm ông trao trả để từ đây hết chiến tranh, trở thành hồ Hoàn Kiếm...

Ăn chơi đàng điếm nhất

Chúa Trịnh Giang (1729- 1740), cho em trai tùy nghi làm việc với trăm quan, để mình rảnh rỗi thỏa sức ăn chơi **** loạn với hàng trăm cung nữ phi tần, sai người đào hầm dưới lòng đất, trốn việc chúa, xuống hầm ở với đàn bà con gái đủ loại tuổi thêm 20 năm nữa mới chết.

Từ nghèo hèn nhất và tiến nhanh nhất lên ngôi hoàng đế

Vua Mạc Đăng Dung, từng đi thi đấu vật vào làm lính chuyên cầm tán và vác lọng cho xe vua, sau đó bằng 1 cuộc ép vua Lê Cung xuống chiếu nhường ngôi cho mình lên ngôi báu, lập tức ông tế trời ở đàn Nam Giao, lấy Hải Dương làm Dương Kinh, 2 năm sau ông nhanh chóng nhường ngôi cho con để làm thái thượng hoàng.

Chết "khổ sở" nhất

Vua Mạc Mậu Hợp (1562-1592), lên ngôi lúc hơn 1 tuổi, ở ngôi 29 năm, sét đánh không chết; mất kinh thành, chạy trốn, đóng giả nhà sư vẫn bị lộ, vua xin: " Mấy ngày nay đói khát quá, cho xin 1 bình rượu uống cho đã".

Bị quân Trịnh treo sống trên cây chịu đói khát 3 ngày, rồi đem xuống chém đầu đóng vào cọc, bêu ngoài chợ 5 ngày.

Người duy nhất không làm vua nhưng có nhiều con trai làm vua nhất

Ông Nguyễn Phúc Hồng Cai, em trai của Tự Đức; vì Tự Đức không có con nên thực dân Pháp lần lượt đưa 3 con trai của ông lên làm vua với số phận khác nhau: Kiến Phúc bị đầu độc chết, Hàm Nghi bị đi đày, còn Đồng Khánh thì rất ngoan ngoãn làm tay sai cho Pháp.

Dân Huế có câu ca:

" Một nhà sinh được ba vua

Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài"

Cai trị lãnh thổ rộng nhất

Minh Mạng (1820- 1840) cai trị lãnh thổ rộng nhất, vì thời đó, triều đình nhà Nguyễn còn cai trị 1 phần đất phía đông của nước Lào (Sầm Nưa, Xavannakhet, Kham Keut, Mương Lam, Sam Teu...) lại bỏ việc "bảo hộ" Campuchia đổi thành Trấn Tây thành, nhập vào lãnh thổ Đại Nam.

Triều đại có nhiều vụ khước từ trốn tránh làm vua nhất

Nhà Nguyễn có tới 3 vụ khước từ trốn tránh làm vua.

Năm 1883, phế xong vua Dục Đức, các quan đi đón Nguyễn Phúc Hồng Dật (1846 -1883) lên ngai vàng, ông này vội chối từ: "Tôi tư chất tầm thường, không dám nhận".

Cuối năm đó, lính mang võng bắt Nguyễn Phúc Ưng Đăng về nhận ngai vàng, ông này run rẩy thưa: "Ta còn bé, sợ không làm nổi".

Sáu năm sau, các quan lại đi tìm bắt Nguyễn Phúc Bửu Lân, 8 tuổi, về làm vua; Lân hét lên sợ hãi: "Các ông mần chi rứa?

Bắt tui à?

Các ông mần chi phải đợi ả (mẹ) tui về đã!".

Lát sau bà mẹ Lân về, bà òa lên khóc, gào thét: "Lạy các quan!

Xin các quan tha cho mẹ con tui!".

Cả 3 vụ chối từ làm vua kể trên đều có kết cục đen tối: Hồng Dật làm vua được 5 tháng bị ép uống thuốc độc chết; Ưng Đăng làm vua được 8 tháng bị đổ thuốc độc chết lúc 15 tuổi; còn Bửu Lân bị Pháp vu cho là điên, gạt ra khỏi ngôi và đưa đi đày ở 1 hòn đảo giữa Ấn Độ Dương trong 31 năm, sau đó bị quản thúc ở Sài Gòn 7 năm cho đến khi chết già năm 1954.

Bắt mọi người kiêng theo diện rộng nhất

Đó là Lê Lợi, chỉ đúng 5 ngày sau khi lên ngôi, ông bắt kiêng tên người ông, tên người bà, tên cha, tên mẹ ông, tên của ông và của bà vợ đã qua đời nhiều năm trước đó, và kiêng cả tên anh của ông, cũng đã qua đời từ lâu.

Riêng tên bà vợ cũ, ông bắt dân kiêng chữ Trần, khiến bao nhiêu con cháu họ Trần cũ phải đổi sang họ Nguyễn, họ Đặng, họ Mai....Về sau, cháu nội ông là Lê Tư Thành (Thánh Tông) đính chính lại tên bà nội ông thật ra không phải là Trần, mà Lê Lợi đặt lệ kiêng chữ Trần chỉ là cốt xóa bỏ họ Trần mà thôi, không ngờ Lê Lợi lại chơi xấu dòng họ của Trần Hưng Đạo như vậy (nhờ sự đính chính này của Lê Thánh Tông, nhiều con cháu trở lại được với họ Trần cũ của mình).

Tàn bạo hạng nhất

Lê Oánh (1496-1516), cháu nội của Lê Thánh Tông, giết vua trước là Uy Mục, rồi lên ngôi báu, hiệu là Tương Dực, bắt hết cung nhân của vua quan cũ vào điện trăm nóc để gian **** suốt ngày đêm; lại bắt sư nữ cởi truồng ra chèo thuyền ở Hồ Tây để vua vui mắt.

Ở ngôi báu được 7 năm thì bị dân đâm chết, xác bị đem đốt thành tro bụi.

Loạn luân công nhiên nhất

Nguyễn Phúc Khoát (1714- 1765), tục gọi là Chúa Võ, có 18 con trai và 12 con gái, thông dâm với em con chú ruột là Nguyễn Thị Ngọc Cầu, 20 tuổi.

Cuối đời Khoát, các con trai lớn đều bị gạt, bị giết hoặc giam chết trong ngục tối (như Nguyễn Phúc Cốn, cha của Nguyễn Ánh – Gia Long sau này), để khi Khoát chết, con hoang do Ngọc Cầu đẻ ra tên là Thuần 12 tuổi dễ bề lên ngôi chúa.

Sau Thuần bị giết chết ngoài bãi hoang sông Cửu Long và cũng là kết thúc "sự nghiệp các chúa Nguyễn ở Đàng Trong".

Nổi tiếng nhân từ độ lượng nhất

Trần Hoảng, sinh năm 1240, hai mươi năm làm vua (1258-1278) hiệu là Thánh Tông, chăm lo khẩn hoang, giúp đỡ người nghèo an cư lạc nghiệp, khuyến học, mở nhiều khoa thi tuyển chọn nhân tài.

Triều đại hay bị bỏ quên và bị xem khinh nhất

Đó là nhà Mạc, có đến 10 đời vua cha truyền con nối, từ Mạc Đăng Dung đến Mạc Kính Vũ, kéo dài 150 năm từ năm 1527 đến 1677, rất giỏi trận mạc và bền chí, lớn mật.

Trong triều vua Mạc thứ 4 là Mạc Phúc Nguyên (1546- 1561) và đời thứ 5 là Mạc Hậu Hợp (1562- 1592), có chuyện cử sứ thần Lê Quang Bí sang cống tiến nhà Minh, bị giữ lại xét hỏi, nên đi về và chờ đợi hết 18 năm từ 1548 đến 1566, khi đi tóc mây xanh mướt, khi về râu tuyết bạc phơ!

Khi đi trai tráng, khi về hẩm hiu!

Triều đại truyền ngôi được lâu nhất

Nhà Hậu Lê.

Xét về danh nghĩa, họ Lê truyền ngôi được 360 năm (1428- 1788), qua 27 đời vua, chia làm 2 thời kỳ: thời Lê sơ gồm 11 vua đầu, đây là thời kỳ cường thịnh; thời Lê trung hưng gồm 16 vua sau, quyền lực dần bị lấy mất, chỉ còn danh nghĩa tượng trưng.
 
Sưu Tầm Sử Việt
1001 kiểu ra đời của các ông vua đất Việt


1001 KIỂU RA ĐỜI CỦA CÁC ÔNG VUA ĐẤT VIỆT

"Trên thực tế thì không có bà tám nào rảnh lờ đi buôn chuyện và thêm mắm dặm muối về sự ra đời của mấy ông vua có xuất thân hàn vi, cho tới khi mấy ổng trở thành vua thật" 😏😏😏

1.Lý Nam Đế

Giang hồ đồn đại bà má Lý Bí dạo ấy đẻ đến mông rồi nhưng vẫn xông xáo vác bụng đi lo chuyện bao đồng.

Giữa đường gặp bão tốc váy, sức gió cấp 12 giật cấp 13, tầm nhìn xa giảm xuống dưới 10km, khiến bà phải vào chùa trú tạm.

Giờ Thìn hôm ấy, xuất hiện ánh hào quang, rồi thì rồng vàng giáng xuống, rồi thì cu Bí ra đời.

Khả năng cao là con rồng cũng vào chùa trú bão.

2.Mai Hắc đế

Theo tài liệu bốc phét khá có uy tín trong lịch sử là Việt điện u linh, thì bà má Mai Thúc Loan khi mang bầu có nằm mơ thấy một người phụ nữ áo đỏ đến cho viên ngọc hình quả trứng, hay quả trứng hình viên ngọc gì đấy, đại khái là sáng lấp lánh.

Bà hí hửng đưa tay ra nhận thì nó rơi cái toạch xuống đất, vỡ tan tành.

Bà hết hồn kể lại cho chồng nghe.

Được cái ông chồng bà lạc quan vãi chưởng nên bảo: "Đấy là trứng của loài linh điểu, con mình đảm bảo sau này sẽ tài giỏi phi phàm."

Bà vợ lắc đầu nguầy nguậy bảo: "Nhưng vỡ trứng cmnr còn đâu."

Ông chồng đại khái vẫn lạc quan hết cỡ, bảo: "Điềm lành à nha.

Vỡ tóe lung tung là ý chỉ tiếng tăm nó vang dội, lưu đến muôn đời đó má."

Rồi ông tự nhủ, đứa trẻ sinh ra dù có chim hay không có chim thì cũng đều đặt tên là Mai Phượng.

Cuối cùng vợ ông sinh ra con giai, bị nhiều người chê tên ẻo lả nên mới đặt thêm cái tên tự là Thúc Loan.

3.Ngô Quyền

Giang hồ bảo rằng, hồi ấy bà Tịnh Phong nằm mơ thấy trên đường đi lễ về gặp một đám trẻ trâu vui đùa ríu rít, bà liền dừng lại cho kẹo.

Đứa lớn nhất cứ sà vào lòng bà rồi gọi mẹ.

Ủa vô duyên vãi chưởng, người ta con gái còn chưa chửa đẻ bao giờ.

Nhưng lúc sau bà lại thấy thinh thích.

Thế là bà bế trộm thằng nhỏ về nhà, tính nhận làm con nuôi.

Nhưng vừa về tới cổng thì nó biến cmn mất.

Khi tỉnh giấc bà hết hồn phát hiện mình có thai mà éo hiểu tại sao.

May thay lúc ấy bà lại nhớ ra mình có một ông chồng.

Hú vía.

4.Lê Đại Hành

Thời kì ốm nghén, bà Đặng thị lười vãi tè.

Cả ngày chỉ ăn rồi lăn quay ra ngủ.

Ngủ nhiều thì khắc chiêm bao vớ vẩn.

Hôm ấy bà mơ thấy cái bụng bà nở ra bông hoa sen, rồi thì hoa héo, kết đài.

Bà éo thích ăn hạt sen nên bóc chia hết cho mọi người.

Tới khi Lê Hoàn ra đời, bà thấy thằng nhỏ trông éo được bình thường.

Nhưng bà này cũng thuộc loại lạc quan vãi chưởng giống ông bố Mai Thúc Loan, nên thấy con trông bất thường thì chẳng lo lắng gì hết mà hớn hở bảo: "Thằng này mai sau ắt đại quý.

Mỗi tội tui lại chẳng được hưởng phúc của nó.

Vãi thật."

Quả nhiên mấy năm sau, vợ chồng bà rủ nhau chết hết ráo.

5.Đinh Tiên Hoàng

Ông bố Đinh Bộ Lĩnh vốn mắc chứng khó đẻ.

Vợ chồng ông lấy nhau mười năm mà vẫn không ra sản phẩm.

Bà vợ ông có sở thích đặc biệt là đi tắm tiên ở cái đầm gần nhà.

Lần ấy, vừa tuột xong cái quần thì có anh rái cá thành tinh đi qua ngó thấy, thế là xong chuyện.

Bé Đinh Bộ Lĩnh ra đời trong nỗi thấp thỏm của bà mẹ và cơn hoang mang của ông bố.

Nhưng ông Đinh Công Trứ kiểu lạc quan nghĩ mình vừa trúng số Vietlott nên cuối cùng vẫn hồn nhiên đổ vỏ.

#việt_nam_một_lịch_sử

Nguồn: Săn MỘ
 
Sưu Tầm Sử Việt
An Dương Vương


AN DƯƠNG VƯƠNG_Khai sinh Âu Lạc

Nguồn gốc của Thục Phán An Dương vương luôn là một đề tài khiến các nhà sử học xưa và nay muốn đập cái ghế, lộn cái bàn.

Giả thuyết được nhiều lượt vote nhất cho tới giờ phút này đó là An Dương Vương quê quán ở Cao Bằng, và là một người anh hùng dân tộc.

Ú... hình như ý Ad là "anh hùng người dân tộc".

Theo một truyền thuyết đọc lên muốn quắn quéo cái mồm là "Cẩu chùa cheng vùa", dịch nôm na là "Chín chúa tranh vua" của dân tộc Tày thì vào cuối thời Hùng vương, ở vùng Cao Bằng có một liên minh các bộ lạc người Tây Âu, gồm 10 xứ.

Trong đó xứ trung tâm là nơi vua ở, chính là Thục Phán.

Còn chín xứ bâu quanh thì do các chúa cai quản.

Chín chúa thấy Thục Phán thanh niên hoi thì tìm cách bắt nạt, học đòi người ta đảo chính.

Thục Phán tuy trẻ trâu nhưng lại không phải dạng vừa đâu.

Thấy các chúa có ý tạo phản, Thục Phán mới phán rằng:

- Các chú quánh nhau coi.

Ai quánh sấp mặt được tám thằng kia thì anh...

à cháu, sẽ nhường ngôi cho.

Kết quả các chúa giỏi võ như nhau, hoặc cùng dốt như nhau, nên không ai thắng.

Thục Phán lại phán:

- Các chú đọ tài nghệ đi, tự thách nhau.

Ai thắng cháu nhường ngôi.

Thế là các chúa lại đâm đầu vào thách nhau toàn chuyện trên trời dưới bể và hết sức nhảm quần.

Như dùng cung bắn trụi lá đa, làm một nghìn bài thơ con cóc, hay mài lưỡi cày thành trăm chiếc kim, bla bla...

Ừ thì các chúa cũng cố gắng bỏ công bỏ việc đi hoàn thành cho xong mấy cái chuyện nhảm quần này.

Nhưng Thục Phán vẫn không phải dạng vừa đâu.

Phán sai chín cô gái v cả xinh đẹp, tài nghệ lại giỏi giang đi mê hoặc chín chúa khiến mấy việc nhảm quần kia đổ bể khi cmn sắp thành công.

Lẽ ra nên cay vãi củ chuối.

Nhưng vấn đề là chín chúa không biết chính Thục Phán thọc gậy bánh xe, mà cứ nghĩ thất bại là do bản thân mình ngu si không tả nổi.

Kết quả chung cuộc, Thục Phán vẫn giữ ngôi, chín chúa đều tin phục.

Nội bộ êm ấm, Tây Âu lên như diều gặp gió.

Trong một diễn biến khác, quốc gia phía nam Tây Âu là Văn Lang bắt đầu suy yếu.

Thục Phán lúc này đã dậy thì thành công, cảm thấy sức trâu để lâu cũng phí, bèn dẫn quân xâm chiếm Văn Lang.

Hùng vương thứ 18, hậu duệ cuối cùng của cậu ấm Lạc Long Quân, bị Thục Phán đánh cho tơi bời.

Một truyền thuyết khác lại kể rằng Hùng Vương tự động nhường ngôi cho Thục Phán vì biết không đủ sức để chống lại quân Tần đang lăm le xâm lược.

Thục Phán hợp nhất hai mảnh đất của người Tây Âu và Lạc Việt thành một.

Nghĩ mãi không biết tên gì hay, bèn chơi trò ghép chữ, gọi luôn nước mới là Âu Lạc.

Tự xưng là An Dương Vương.

#Việt_nam_huyền_sử

#thời_an_dương_vương

Nguồn: Săn Mộ
 
Sưu Tầm Sử Việt
Triệu Đà-Bang giao với Hán triều


TRIỆU ĐÀ_Bang giao với Hán triều

Sau khi dùng mĩ nam kế chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà hí hửng tự xưng là Triệu Vũ Vương và đổi tên nước thành Nam Việt.

Khởi nghiệp thành công, tương lai xán lạn.

Nhọ thay, Triệu Đà vừa mới vỗ ngực rung đùi được một năm thì ở phương bắc đã xuất hiện thằng cha nào đó tên là Lưu Bang.

Thằng chả đánh hạ Tần, dẹp phứt Sở, thống nhất cmn thiên hạ, lại còn lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Hán Cao Tổ.

Năm thứ 11 sau khi lên ngôi, Lưu Bang ngó xuống phương nam phát hiện bố con ông Triệu Đà xưng bá một phương thì cảm thấy méo hài lòng.

Lưu Bang bèn sai sứ giả xuống Nam Việt phong vương cho Triệu Đà.

Triệu Đà vốn chảnh cún, lại thấy thâm niên công tác của mình còn nhiều hơn Lưu Bang một năm, nên sứ giả tới thì ngồi khoanh chân rung đùi chứ không dậy tiếp chỉ.

Sứ giả bực bội dọa:

- Mồ mả tám đời nhà ông vẫn còn bên Tàu á.

Tui kêu bệ hạ quật mả nhà ông rồi kéo quân sang quánh cho ông sấp mặt luôn.

Triệu Đà nghe thế thì sợ v~, vội nói:

- Úi, chế bị tê chân.

Giờ chế dậy nhận phong liền.

Mười ba năm sau, thằng cha Lưu Bang cuối cùng cũng chịu về chầu ông bà.

Nhưng vợ ổng là Lữ Trĩ, một người phụ nữ có tính cách vô cùng lồi lõm, lại vẫn sống nhăn răng.

Lữ hậu tác quái, lấn át con trai, thâu tóm triều chính.

Đánh ghen kiểu Lữ Trĩ đã trở thành một thương hiệu khủng bố của Trung Quốc.

Chồng vừa chết liền đem tình địch là Thích phu nhân đi cắt sạch chân tay, chọc mù mắt, đổ chì vào tai, rồi tống vào chuồng heo.

Sử gọi là "người lợn", Ad thì gọi là Mĩ nhân heo.

Lữ Trĩ nghe thằng nào đó bơm đểu, cấm người Hán buôn bán đồ vàng, đồ sắt với Nam Việt, lại ra chỉ thị bán ngựa thì không được bán ngựa cái, chỉ được bán ngựa đực, hay bét nhất cũng phải là ngựa bê đê.

Nói chung là không cho chúng nó đẻ trứng.

Triệu Đà thấy thế thì ức lắm.

Ngó mặt ông Tràng Sa vương trông gian gian thì lập tức nghĩ ổng bơm đểu.

Trong cơn uất ức đã tự xưng là Nam Việt Hoàng đế và đem quân đánh quận Tràng Sa (Hồ Nam ngày nay).

Lữ Trĩ gặp ca khó, không chịu suy nghĩ mà giải quyết luôn bằng nắm đấm.

Nhọ thay quân Hán xuống phương nam do méo hợp khí hậu nên tiêu chảy, cảm cúm, nổi ghẻ...

Chả mấy đã bất lực mà tháo chạy.

Từ đó tiếng tăm Triệu Đà nổi như cồn.

Đi vệ sinh cũng có xe đón rước, lễ nghi ngang Hoàng đế nhà Hán, oai như cóc cụ.

Tới khi Lữ Trĩ mất, Hán Văn đế Lưu Hằng lên ngôi.

Lưu Hằng cũng không ưa chuyện Triệu Đà xưng Đế.

Nhưng Lưu Hằng khôn hơn Lữ Trĩ, không tỏ thái độ lồi lõm mà cư xử hết sức mềm mỏng.

Lưu Hằng mail cho Triệu Đà một bức tâm thư dài lượt thượt, lời lẽ thủ thỉ thân tình.

Đại ý khuyên Triệu Đà thần phục, cứ giằng co thế này thì dân tôi cũng khổ, mà dân ông lại càng nhọ.

Triệu Đà lúc này đã tới tuổi xế chiều, tâm tình nhạy cảm, dễ xúc động.

Lại gặp ngay Lưu Hằng là thanh niên nghiêm túc, tử tế nên cảm thấy lời nào Lưu Hằng nói cũng vãi cả hợp lí.

Triệu Đà nước mắt nước mũi hai hàng, sụt sùi rep mail, hứa cải hiệu và hàng năm sẽ chuyển phát quà cho Lưu Hằng.

Sử chép, Triệu Đà làm vua tròn 70 năm, sống bền bỉ tới tận 121 tuổi, ăn hết sạch lộc của con cháu.

Mãi tới năm 137 trước công nguyên mới ngậm ngùi xuống lỗ.

#việt_nam_một_lịch_sử

#nhà_triệu
 
Sưu Tầm Sử Việt
Triệu Đà_Âu Lạc diệt vong


TRIỆU ĐÀ_ÂU LẠC DIỆT VONG

Âu Lạc được thành lập vô cùng hoành tráng, nhưng cũng xịt ngóm nhanh đến hốt hoảng.

Nguồn cơn đến từ bố con ông Triệu Đà.

Triệu Đà vốn là tướng của nhà Tần, được Tần Thủy Hoàng giao cho một đội quân be bé, xinh xinh để chinh phạt phương nam.

Tới khi Tần Thủy Hoàng ngỏm tỏi, nhà Tần diệt vong thì Triệu Đà quyết định tự ý thôi việc để đi khởi nghiệp.

Với câu châm ngôn kẹp nách: "Mình thích thì mình làm thôi", Triệu Đà xưng Đế mà đếch cần bố con thằng nào đồng ý, rồi đặt tên nước là Nam Việt mà cũng đếch cần hỏi ý kiến bố con thằng nào.

Thi thoảng buồn buồn Triệu Đà lại xuất binh chọc ngoáy Âu Lạc chơi.

Âu Lạc có anh tướng quân tên là Cao Lỗ.

Lỗ-không-thấp nghịch ngợm kiểu gì đó mà tự dưng lại chế tạo ra cái nỏ Liên Châu, bắn một phát được bao nhiêu là mũi tên.

An Dương Vương thích quá bèn cho xây dựng ngay thương hiệu Nỏ Thần, quảng cáo là lẫy nỏ được làm từ móng của Rùa Thần chính hiệu.

Mặt khác, An Dương Vương cho xây thành bằng gạch hiệu cái loa.

Gọi là Loa thành.

Loa thành có ba vòng, giữa các vòng thành có sông lớn, thuyền chiến bơi lội tung tăng.

Đội quân xâm lược của Triệu Đà chỉ cần nghe phong phanh An Dương Vương đem Nỏ Thần hiệu con rùa ra bắn thì đã hồn vía lên mây.

Lại thêm cả tòa thành hiệu cái loa, cắm đầu vào thì không biết đường đâu mà lần.

Triệu Đà ức cái nỏ hiệu con rùa và tòa thành hiệu cái loa lắm mà không làm gì được, buộc phải cắn răng tạm hòa.

Triệu Đà có một thằng con chắc-cũng-đẹp-trai tên là Trọng Thủy.

Vì Âu Lạc không biết mĩ nhân kế là cái quần gì nên Triệu Đà buộc phải gả Trọng Thủy đi.

Đắn đo mãi cuối cùng mới quyết định gả cho Mị Châu thay vì An Dương Vương.

An Dương Vương tính nông dân chất phác nên thấy Đà cầu hôn thì hớn hở đồng ý.

Trọng Thủy về làm dâu suốt ngày chỉ thích rong chơi trong thành để do thám địa hình.

Mị Châu thì mê tít Trọng Thủy.

Thủy nói gì cũng nghe, bốc phét gì cũng tin.

Thủy bảo:

- Cái nỏ hiệu con rùa xịn hén mậy.

Cho coi tí.

Châu liền hớn hở dẫn Thủy đi coi.

Thủy xem xong thì chế ra cái lẫy giả rồi đánh tráo.

Xong Thủy bảo:

- Anh nhớ ba, nhớ má, buồn đến hao gầy.

Châu bèn để Thủy về nước thăm ba, má.

Trước khi đi Thủy còn đưa Châu cái áo hiệu con ngỗng, bảo sau này lỡ lạc thì rắc lông để anh tìm.

Thủy về nước đem theo bí mật bố phòng của Loa thành cùng với cái lẫy nỏ xịn, Triệu Đà lập tức hớn hở dẫn quân sang đánh.

An Dương Vương thấy Đà tấn công tuy có bất ngờ một tẹo nhưng vẫn hết sức bình tĩnh mặc cái áo, xỏ cái quần.

Xong xuôi mới lấy Nỏ Thần ra biểu diễn.

Nhưng rất tiếc đó là hàng nhái, nhãn hiệu là con DÙA chứ không phải con RÙA, nên An Dương Vương bắn hoài không được.

Tòa thành hiệu cái loa cũng không còn ngăn được quân địch.

An Dương Vương lúc này mới hết hồn dẫn Mị Châu đi trốn.

Mị Châu ngồi sau lưng ngựa dù bị xóc tung ass vẫn cứ cố gắng rắc lông ngỗng đều đều.

Lúc cái áo hiệu con ngỗng trụi lông cũng là lúc ngựa phi tới bờ biển.

Con rùa thần ngày xưa bị bứt móng làm nỏ ngoi lên bảo: "Giặc ngồi sau kìa mậy."

An Dương Vương ngoái đi ngoái lại cũng chỉ thấy mỗi Mị Châu đang ngơ ngác ngó mình.

Chợt hiểu ra, bèn rút kiếm chém bay đầu con gái rồi theo rùa thần xuống biển.

Trọng Thủy đuổi tới nơi bở cả hơi tai, lại thấy Mị Châu chết cmn rồi thì buồn thương vô hạn.

Về nhà mắc chứng trầm cảm.

Gia đình đã thuốc men chạy chữa các kiểu nhưng vẫn không thể giúp anh hòa nhập lại với xã hội.

Có lần Trọng Thủy hoang tưởng thấy Mị Châu dưới giếng, bèn cắm đầu nhảy xuống, tàn một đời hoa.

#việt_nam_huyền_sử

#việt_nam_một_lịch_sử

#thời_an_dương_vương
 
Sưu Tầm Sử Việt
Đinh Tiên Hoàng


ĐINH TIÊN HOÀNG_Cái chết đầy uẩn khúc

Đinh Tiên Hoàng thống nhất giang sơn nhanh vãi loằn, nhưng thiên hạ nhà họ Đinh cũng sụp đổ lẹ một cách hốt hoảng.

Chuyện thâm cung bí sử xoay quanh cái chết bất thình lình của Đinh Tiên Hoàng được giang hồ mặc sức thêu dệt nên khối chuyện hay ho.

Một số thanh niên hoang tưởng cho rằng cái sự nhà họ Đinh tàn lụi có liên quan đến con ngựa đá há mỏ và ông thầy địa lí số rách năm nào.

Chuyện là sau khi đưa thằng nhỏ Đinh Bộ Lĩnh nắm xương bỏ vô mồm ngựa, ông thầy về quê bán sạch ruộng vườn, trâu bò, chuẩn bị sẵn sàng tinh thần đi làm vua bất cứ lúc nào.

Nhưng đợi mãi, đợi hoài mà vẫn không thấy ai kêu đi làm vua, mới khăn gói sang đất Nam hóng hớt tình hình.

Sang tới nơi thì thấy thằng nhãi ở truồng lội sông năm nào nay đã chễm chệ ngồi trên ngai vàng.

Rồi lúc ngó thấy mình thì cha tiên sư nó còn vẫy vào cảm ơn các kiểu.

Thầy là thầy điên tiết lắm rồi nhưng thầy vẫn cứ giả bộ thảo mai bảo: "Ây da, ngộ chúc mừng nị đã hốt được ngôi đất quý.

Nhưng mà ngựa éo có gươm là éo được tốt nghe hơm.

Ngộ cho nị thanh gươm báu nè.

Nị đem treo vô cổ ngựa nha.

Rồi nị sẽ bá nhất cái vũ trụ này luôn."

Thanh niên Đinh Bộ Lĩnh nghe thế thì thích cái tai lắm.

Tức tốc phi ngựa quên cả vệ sinh, ngủ nghỉ để về cái quê, lặn xuống cái đầm, rồi treo gươm vô cái cổ.

Thời gian trôi đi, nước sông chảy xiết, thanh gươm cứa vào cổ con ngựa, đứt cái phịch.

Thế là giang sơn nhà họ Đinh tiêu tùng.

Đấy là chuyện giang hồ đồn đại cho vui cái tai, sướng cái mồm.

Còn thuyết âm mưu được giang hồ nghĩ xoắn cả não dựa theo chính sử nó như thế này.

Trong cung bấy giờ có anh thái giám Đỗ Thích, chuyên lo việc ăn ngủ và vệ sinh cá nhân cho Đinh Tiên Hoàng.

Một đêm trăng thanh, gió thổi mát đũng quần, anh Đỗ Thích nằm ngủ ngoài bờ hiên, mơ màng thấy sao rơi trúng miệng.

Ảnh liền hoang tưởng chuyện sắp được làm vua.

Hồi còn sống, Đinh Tiên Hoàng rất khoái ăn lòng lợn.

Thế là một ngày nọ, Đỗ Thích dâng lên một đĩa lòng lợn tẩm formon.

Đinh Tiên Hoàng vừa thấy lòng lợn thì hục mặt vào ăn quên trời đất.

Tới khi phát hiện có gì đó sai sai thì cũng là lúc lăn đùng ra chết.

Đúng lúc ấy, anh con giai Đinh Liễn ghé chơi, ngó thấy ông bố anh lăn đùng ra đất thì nghi ngờ trong lòng lợn có tẩm độc, bèn bốc một miếng ăn thử.

Đỗ Thích bị bắt sau 3 ngày đào tẩu, khép vào tội giết vua, giết thái tử.

Bị tuyên án thọc lét cho đế chết.

Đấy là những chuyện ghi trong sử sách, nhưng sự thật có vẻ còn quắn quéo hơn nhiều.

Giang hồ đồn đại, hung thủ thật sự không phải anh thái giám hoang tưởng mà là bà Hoàng hậu Dương Vân Nga và người tình của bả, anh Lê Hoàn.

Hung khí thì không có gì thay đổi, vẫn là cái đĩa lòng lợn tẩm formon kia.

Anh thái giám Đỗ Thích vô tình chườn cái mẹt vào đúng cái lúc bố con anh hoàng đế lăn đùng ra đất nên bị đôi kia đổ vạ.

Trong cuộc thi "Ai chết tức tưởi hơn" thì giữa bố con anh hoàng đế và anh Đỗ Thích, thật không biết nên để anh nào giành quán quân.

Nguyên nhân của cái vụ có vẻ như giết chồng này thì cũng chỉ quanh quẩn ba cái chuyện tranh đoạt quyền lực tào lao của bọn con vua cháu chúa.

Chuyện là ban đầu thằng cả Đinh Liễn được lập làm thái tử.

Chuyện con trưởng kế vị nó là chuyện hiển nhiên vãi loằn, không ai ý kiến gì.

Nhưng khi thằng út Hạng Lang ra đời thì Đinh Tiên Hoàng lại nổi hứng truyền ngôi cho Hạng Lang.

Rồi thì thằng cả Đinh Liễn uất ức thủ tiêu thằng út Hạng Lang cho bõ tức.

Rồi thì Đinh Tiên Hoàng éo trách tội gì mà vẫn để thằng cả Đinh Liễn làm thái tử.

Bà Dương Vân Nga, má của thằng hai Đinh Toàn trộm nghĩ: "Ô hay, ông chồng nhà này vui tính vãi loằn.

Ô hay, tội lớn vầy mà vẫn yên ổn vãi chưởng.

Ô hay, cái nhà này loạn vãi shit."

Thế là bà cho loạn hẳn, thế là bà kết bè kết phái với ông Lê Hoàn, thế là bà giết quách ông chồng với thằng con trưởng cho bõ tức.

Năm 979, nhóc Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi Hoàng đế, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn làm nhiếp chính.

Giang Sơn Đại Cồ Việt tuột dần khỏi tay họ Đinh.

#việt_nam_một_lịch_sử

Nguồn: Săn Mộ
 
Sưu Tầm Sử Việt
Dương Vân Nga


DƯƠNG VÂN NGA_Lưỡng triều hoàng hậu

Về Dương hậu, Đại Việt sử kí toàn thư ghi chép theo kiểu cạn mẹ cả lời.

Không cha mẹ, không quê quán, không luôn cả tên tuổi.

Tất cả những gì chúng ta biết là bà một tay hốt trọn hai hotboy bá nhất Đại Cồ Việt.

Theo một nguồn tin éo biết từ đâu ra mà người người nhà nhà đều tin sái cổ thì bà Dương hậu tên Dương Vân Nga, là con gái ông Dương Thế Hiển.

Ông Dương Thế Hiển là ai thì cũng không cần quan tâm vì ông này có hay không cũng chẳng ảnh hưởng gì đến an ninh vũ trụ.

Theo một nguồn tin vỉa hè khác thì bà Dương hậu tên Dương Ngọc Vân, là con gái cưng của ông Dương Tam Kha.

Ông Dương Tam Kha mặc dù từ bỏ chính trường để theo đuổi niềm đam mê “làm lông”, nhưng vẫn ý thức được rằng con gái mình không thể theo cha “làm lông” suốt đời.

Vừa hay thấy thanh niên Đinh Bộ Lĩnh đẹp trai rạng ngời, tương lai rộng mở, ông bèn gả phứt cô Ngọc Vân cho anh Bộ Lĩnh.

Một nguồn tin nhảm quần hơn nữa là bà Dương hậu trước khi hốt được anh Bộ Lĩnh thì đã kịp làm má anh Ngô Nhật Khánh, làm vợ anh Ngô Xương Văn và làm con dâu anh Ngô Quyền.

Nhưng nói chung dù có chui từ đâu ra thì bà cũng vẫn sở hữu một nhan sắc lồng lộn bền vững.

Và trong bài này bà Dương hậu sẽ được gọi bằng cái tên phổ thông nhất là Dương Vân Nga.

Giang hồ đồn đại khi mới sinh ra nhỏ Nga khóc lóc ầm ĩ suốt ba tháng trời.

Có một vị cao tăng đi qua làng, nghe khóc lóc nhức cả đầu mới ghé vào xoa lưng rồi bảo: “Nín đi thôi, nín đi thôi/hai vai gánh vác cả đôi sơn hà”.

Con nhỏ nghe xong câm nín cmnl.

Cô tiểu thư nhà họ Dương càng lớn càng xinh đẹp éo thể chịu nổi.

Giang hồ đồn đại cô có gương mặt mâm điển hình, bầu bĩnh và phúc hậu.

Rồi thì mắt phượng mày ngài, rồi thì nước da trắng toát.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi cô hốt gọn được thanh niên ưu tú nhất Đại Cồ Việt lúc bấy giờ, tức anh Đinh Bộ Lĩnh.

Sự nghiệp làm hoàng hậu của cô Dương Vân Nga bắt đầu từ năm 968, khi anh Đinh Bộ Lĩnh dẹp chợ được 12 sứ quân, xưng là Đại Thắng Minh hoàng đế.

Tuy nhiên bà Dương hậu lại éo phải dưới một người, trên vạn người.

Thời ấy hoàng hậu là nghề nghiệp tương đối phổ biến.

Anh Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tuyển hoàng hậu tới tấp, có đến 5 bà trúng tuyển, mà bà nào cũng nhan sắc nghiêng nước nghiêng thùng.

Bà Dương Vân Nga cảm thấy vai trò của mình éo được quan trọng lắm.

Bà ngày đêm trăn trở, suy nghĩ làm sao mới tạo được một cú hit để đời.

Trong một diễn biến khác, anh Đinh Bộ Lĩnh vì một phút bồng bột tuôti trung niên đã phế truất Đinh Liễn, lập con trai út Hạng Lang làm thái tử.

Sau đó cu Đinh Liễn uất ức trào dâng giết chết cmn cu Hạng Lang.

Anh Đinh Bộ Lĩnh không biết đợt ấy ăn phải cái gì mà dễ tính vãi xoài.

Không thèm xử tội Đinh Liễn, lại còn tiếp tục cho Đinh Liễn làm thái tử.

Bà Dương hậu thấy thế thì tức lắm.

Thằng Hạng Lang là con út, lại mới sinh, còn chưa biết có bị thiểu năng hay không mà đã được làm thái tử, rồi lại tới cái thằng Đinh Liễn tội ác tày trời.

Trong khi thằng Đinh Toàn con trai bà thông minh sáng sủa thì lại không hề được nghĩ đến, bộ nó là cún cảnh à.

Trong tình thế ấy, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn xuất hiện như một vị thần.

Nhiều nguồn tin vỉa hè cho hay anh Lê Hoàn và chị Dương Vân Nga đã hợp tác thủ tiêu anh Đinh Bộ Lĩnh và cu Đinh Liễn bằng một đĩa lòng lợn tẩm formon.

Ông thái giám Đỗ Thích thì coi như bị sao quả tạ rới trúng đầu, bị đem ra làm bia đỡ đạn.

Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn và Hạng Lang rủ nhau chết hết ráo, Đinh Toàn trở thành đứa con duy nhất còn sót lại.

Nó không làm hoàng đế thì ai làm.

Nhưng vì Đinh Toàn mới 6 tuổi, còn nhỏ xíu, nên bà Dương thái hậu lại mướn Lê Hoàn làm nhiếp chính.

Năm 980, nhà Tống rảnh lờ kéo quân sang xâm lược.

Cả triều đình nhất trí ủng hộ Lê Hoàn lên làm hoàng đế.

Bà Dương thái hậu cảm thấy ừ cũng hợp lí nên lấy cái áo cũ anh Đinh Bộ Lĩnh hay mặc lúc còn sống, giặt giũ cẩn thận rồi choàng lên người anh Lê Hoàn.

Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Tiền Lê.

Sau khi dẹp xong quân Tống, Lê Hoàn trong cơn hứng khởi đã lập luôn bà Dương Vân Nga làm hoàng hậu.

Bà Dương Vân Nga đang hớn hở thì chợt bần thần nhận ra đù má quanh bà rốt cuộc vẫn có tới bốn bà hoàng hậu khác.

Bà Dương hậu lấy anh Lê Hoàn thì chỉ sản xuất ra được thêm một cô công chúa là Lê Thị Phất Ngân, thành ra bà bị đánh rớt khỏi cuộc chạy đua quyền lực.

Cuối đời, bà tu hành tại chùa Am Tiên.

Năm 1000, Dương thái hậu qua đời, thọ 48 tuổi.

Dù chưa bao giờ được một mình làm hoàng hậu nhưng bà cũng đã hoàn thành được một tâm nguyện là tạo ra cú hit để đời.

#việt_nam_một_lịch_sử

Nguồn: Săn Mộ
 
Sưu Tầm Sử Việt
Ỷ Lan Nguyên Phi


Ỷ LAN NGUYÊN PHI_Hậu cung sóng gió

"Nhân ngày 8/3, chúc Linh Nhân thái hậu ngày càng trẻ trung, xinh đẹp"

Lý Nhật Tôn lên ngôi ngót chục năm mà vẫn không chịu duy trì nòi giống.

Giang hồ đồn đại, Thánh Tông ngại chuyện ngoại thích chuyên quyền nên bao năm nay vẫn né tránh "khởi nghiệp" với hoàng hậu Dương Hồng Hạc.

Riết rồi người ta bắt đầu nghĩ vua đẹp trai mà lại mắc chứng khó đẻ.

Trong một diễn biến khác, nhà họ Lê ở hương Thổ Lỗi, tức Gia Lâm ngày nay, sản xuất được một cô con gái khá hay ho tên là Lê Khiết.

Cô Khiết xinh thì vừa phải thôi nhưng lại được cái thần thái ngầu lòi và đầu óc thông minh bù lại.

Dạo ấy Thánh Tông cũng bắt đầu sốt ruột về đường con cái nên cứ hôm nào triều chính rảnh rang là lại vác mặt lên chùa cầu tự.

Mùa xuân năm 1064, Thánh Tông đi cầu tự trên chùa Dâu.

Xa giá đi tới đâu là gây ách tác giao thông tới đó.

Hàng ngàn, hàng vạn trai thanh gái lịch đổ cả ra đường coi xem vua mặt ngang mũi dọc ra sao.

Cô Khiết cũng đi coi.

Nhưng cô có đầu óc, nên cô cảm thấy với nhan sắc tầm trung của mình mà chen vào kia thì chỉ tổ làm nền cho thằng khác.

Thành ra cô không chen, mà tìm một góc xa xa văng vắng cô đứng.

Cô chọn đứng ngay cạnh khóm lan xấu nhất nên nhan sắc tầm trung của cô được tôn lên khá nhiều, lại cộng thêm thần thái ngầu lòi nên cũng thành ra một bức tranh sơn thủy hữu tình.

Nhật Tôn bệ hạ nhìn xa xa thấy cái gì giống như là mĩ nhân tựa khóm hoa lan thì cảm thấy vô cùng hứng thú.

Tiếng sét ái tình đánh cái roẹt.

Thế là cô Khiết được đưa vào cung, lại được Nhật Tôn tặng cho cái tên Ỷ Lan để kỉ niệm lần đầu gặp gỡ.

Nhật Tôn sống qua hơn 40 cái mùa khoai sọ mới gặp được mối tình đầu nên tỏ ra yêu chiều hết mực, “khởi nghiệp” vô cùng tích cực.

Năm 1066, Ỷ Lan phu nhân cuối cùng cũng giúp Nhật Tôn bệ hạ duy trì nòi giống thành công.

Lý Càn Đức mới mở mắt 1 ngày đã được phong luôn làm thái tử.

Ỷ Lan cũng được thăng chức thành Thần phi.

Chỉ 2 năm sau, tức năm 1068, Thần phi Ỷ Lan lại tiếp tục chửa đẻ không biết mệt mỏi, sinh ra thêm một thằng cu.

Ỷ Lan lập tức được phong thành Nguyên phi, cầm đầu đám phi tần.

Là một người có cái đầu đầy sỏi, Nguyên phi Ỷ Lan không bao giờ thèm tập trung vào nhan sắc của mình, vì nó cũng chẳng được bắt mắt cho lắm, chưa kể hiện tại còn là gái 2 con, thân hình phì lũ.

Thay vào đó, Nguyên phi rất chịu khó phô trương trí tuệ siêu việt.

Thi thoảng phát ngôn được mấy câu về đạo trị quốc khiến Nhật Tôn há mồm tròn mắt thán phục.

Năm 1069, Nhật Tôn thân chinh đi dằn mặt Chiêm Thành, giao cho Nguyên phi Ỷ Lan và thái sư Lý Đạo Thành ở nhà trông coi việc nước.

Nhật Tôn đánh được Chiêm Thành nhưng bắt mãi không được vua Chiêm là Chế Củ nên bực bội dẫn quân về.

Về được nửa đường, nghe giang hồ đồn đại bà Nguyên phi trị quốc giỏi vô cùng luôn, thì tự ái nam nhi nổi lên đùng đùng, chả lẽ đàn bà trị nước được mà mình đàn ông đi đánh trận lại tay không trở về.

Thế là Nhật Tôn hùng hổ dẫn quân quay lại, quyết bắt cho bằng được Chế Củ.

Tội nghiệp Chế Củ.

Năm 1072, Nhật Tôn bệnh nặng qua đời.

Thái tử Lý Càn Đức lên ngôi, tức Lý Nhân Tông.

Bà Dương Hồng Hạc ngần này tuổi đầu rồi mà chưa được một lần khởi nghiệp, khó chịu vô cùng.

Nhưng bà vẫn chịu khó sống im hơi lặng tiếng trong cung mấy chục năm qua cũng chỉ để chờ tới giây phút này.

Dương Hồng Hạc được phong làm Thượng Dương hoàng thái hậu.

Và vì Càn Đức mới 7 tuổi, vẫn còn sửu nhi nên Thượng Dương thái hậu và Thái sư Lý Đạo Thành cùng nhau quản lý chuyện triều chính.

Nguyên phi Ỷ Lan chỉ được phong làm Hoàng thái phi và không được tham gia triều chính.

Thượng Dương thái hậu lần đầu nhiếp chính nên còn nhiều bỡ ngỡ, xử lí mọi việc hơi lộn xộn.

Bà Ỷ Lan thấy thế thì bĩu môi: “Chả chuyên nghiệp gì.”

Xong bà càng nghĩ càng tức vì mình đường đường là mẹ đẻ ra vua mà lại bị cho ra rìa.

Thế là bà tìm tới một người thừa khả năng lộng hành trong triều, và quan trọng nhất là có mối thù sâu sắc với Thượng Dương thái hậu, chính là Thái úy Lý Thường Kiệt.

Ông này ngày xưa yêu bà Hồng Hạc, sau bị bà đem thiến (giang hồ đồn đại thế).

Bài học rút ra cho chị em là chán chơi hoa rồi thì cũng chớ dại ngắt cành, kẻo sau này rước họa vào thân.

Được sự giúp đỡ của Lý Thường Kiệt, bà Ỷ Lan đã làm cho Càn Đức xuống chiếu phế truất Thượng Dương thái hậu.

Thái sư Lý Đạo Thành cũng bị đày đi xa.

Bà Ỷ Lan được tôn làm Linh Nhân hoàng thái hậu, được buông rèm nhiếp chính lần thứ 2 trong đời.

Dương Hồng Hạc cùng 72 cung nữ bị giam trong cung Thượng Dương.

Lý Thường Kiệt từng yêu Hồng Hạc thắm thiết nên thấy cũng tội, nhưng chợt nhớ ra chim không hót thì thôi cũng kệ.

Kết cục, Dương Hồng Hạc và 72 cung nữ bị bức chết, nói là cho đi theo Nhật Tôn cho có vợ có chồng.

Vụ này bà Ỷ Lan làm trong lúc đang ba máu sáu cơn.

Sau này càng nghĩ càng thấy tội nghiệt nặng nề.

Nhưng người thì đã lỡ tay bức chết cmnr nên chỉ còn cách tích cực xây chùa chiền, làm từ thiện để chuộc tội.

Bà Ỷ Lan sống khá thọ, tới năm 1117 mới chịu lên bàn thời ngồi bóc chuối, tổng cộng qua được 73 cái mùa khoai.

Mấy chục năm làm thái hậu, bà Ỷ Lan xây được vô số chùa chiền, tích được vô số công đức.

Nhân dân tôn bà là Quan Âm bồ tát, và còn ví như cô Tấm trong truyền thuyết dân gian.

P/s: Ỷ Lan_Hồng Hạc giống với Chân Hoàn_Nghi Tu trong Hậu cung Chân Hoàn truyện vãi ra.

Không biết tác giả Lưu Liễm Tử có từng tham khảo qua lịch sử Việt Nam không

#việt_nam_một_lịch_sử

#ỷ_lan_nguyên_phi

#thượng_dương_thái_hậu

Nguồn: Săn Mộ
 
Sưu Tầm Sử Việt
Lê Trung Tông


Lê Trung Tông bị em ruột ám sát

Lê Trung Tông (983 – 1005) tên húy là Lê Long Việt, là con trai của vua Lê Đại Hành.

Vua Lê Đại Hành có hơn 10 hoàng tử, sau khi con trưởng là thái tử Long Thâu mất, Lê Long Việt được lập làm Thái tử.

Năm Ất Tị (1005) vua Lê Đại Hành mất để lại di chiếu nhường ngôi cho con trai thứ 3 là Lê Long Việt nhưng Lê Long Việt chưa kịp đăng quang thì người anh thứ 2 là Đông Thành Vương Lê Long Tích và người em thứ 6 là Trung Quốc Vương Lê Long Kính đem quân đến đánh nhằm chiếm đoạt ngôi báu.

Trong khi đất nước không thể một ngày không có vua thì các hoàng tử nhà Tiền Lê hung hăng lao vào cuộc tương tàn kéo dài suốt 8 tháng trời khiến đất nước lâm vào cảnh hỗn loạn.

Càng về sau, phần thắng càng nghiêng về Lê Long Việt và Lê Long Tích, người anh thứ 2 và cũng là người trội nhất trong số các hoàng tử.

Tháng 10/1005, Ngân Tích thua và bị giết chết.

Long Việt lên ngôi làm vua, niên hiệu là Lê Trung Tông.

Trong cuộc nổi loạn này Lê Long Đĩnh cũng tham gia nhưng Lê Long Việt nể tình anh em ruột thịt nên tha cho.

Sau khi bình ổn được nội loạn, Lê Long Việt chính thức lên ngôi.

Nhưng làm vua chưa được 3 ngày, vua Lê Trung Tông đã bị chính người em ruột của mình là Lê Long Đĩnh thuê sát thủ vào cung ám sát, thọ 22 tuổi.

Trước đó, khi cố tình làm loạn để tranh giành ngôi báu với anh mình, Lê Long Đĩnh đã được Lê Trung Tông vì nể tình ruột thịt mà tha chết.

Tưởng em trai vì thế mà biết ăn năn, hối cải, chung sức giúp mình trị vì thiên hạ, Lê Trung Tông đâu ngờ có ngày lại bị chính người em trai mà mình thương tình tha chết ra tay sát hại.

Sau khi sát hại anh ruột của mình là vua Lê Trung Tông, Lê Long Đĩnh nghiễm nhiên trở thành người kế vị.

Cái chết của Lê Trung Tông kết thúc cuộc tranh đoạt ngôi vua kéo dài sau khi Lê Đại Hành mất.

Vậy là chỉ vì quyền lực, con người ta đã bị danh lợi che mờ mắt, mất cả tình người, đến cả anh em ruột thịt cũng còn không tha, quả là đáng buồn thay...
 
Sưu Tầm Sử Việt
Lý Long Cán


💥💥💥LÝ LONG CÁN_Thiên hạ đại loạn💣💣💣

Lý Long Cán, tức vua Lý Cao Tông, được biết đến như là dân chơi khét tiếng chốn kinh kì.

Long Cán là cậu quý tử thứ 6 của vua Lý Anh Tông.

Năm 1175, noi gương bố Tộ, Cán rỏ dớt lòng thòng lên ngôi từ khi mới 3 tuổi.

Hồi ấy vợ cả của bố Tộ muốn đưa con trai mình là Long Xưởng lên ngôi, nhưng đại thần Tô Hiến Thành cứng rắn vãi chuối lên Cán dù chưa biết gì vẫn hiên ngang bò lên được ngai báu.

Tô Hiến Thành mới dạy dỗ Cán được 4 năm thì đã vội vàng thăng.

Trước khi thăng, Tô hiến Thành dặn đi dặn lại Đỗ thái hậu để Trần Trung Tá phò trợ Cán.

Đỗ thái hậu gật gù khen hay, nhưng Tô Hiến Thành vừa thăng thì thái hậu đã nuốt cmnl, để em trai mình là Đỗ An Di lo việc chính sự.

Có xuất phát điểm gần giống với bố Tộ, nhưng trong khi bố Tộ biết vượt sướng vươn lên trở thành một minh quân thì Cán lại nỗ lực phấn đấu trở thành "rân trơi" bắc hà.

Kiểu tu mấy kiếp mới ăn may trúng giải độc đắc lúc đầu thai, được làm thiên tử, cho nên phải tranh thủ ăn chơi, hưởng lạc.

Cán ham mê tửu sắc, thích nhạc họa, săn bắn, xây dựng cung điện, đền đài vô tội vạ.

Nói chung đất kinh kì có bao nhiêu thú vui Cán đều nỗ lực tận hưởng cho bằng sạch.

Năm 1189, Cán làm một tour du lịch vòng quanh đất nước.

Trong khi những ông vua khác vi hành cốt để thấu hiểu dân tình, thì Cán lại vi hành đúng chất rong chơi, giải trí.

Hễ nơi nào Cán đi qua, nghe phong phanh có thần linh, không cần biết thần linh xịn hay tào lao, Cán đều hào phóng cho xây dựng đền miếu.

Giang hồ đồn đại, ngày ấy đói kém, kỉ cương lộn xộn, trộm cướp công khai giữa ban ngày ban mặt.

Có lần Cán đang đi chơi, bỗng nghe tiếng kêu cứu.

Cán giật mình ngỡ ngàng một tẹo rồi lại cười nói vui vẻ.

Con dân kêu cứu như đấm vào mặt mà Cán vẫn coi như bị điếc.

Năm 1197, Cán cho xây dựng cung Nghênh Thiềm.

Năm 1203, lại tiếp tục xây hàng loạt cung điện, mà cái nào cũng lộng lẫy, xa hoa tột đỉnh.

Đợt đang xây dựng dở tháp Kinh Thiên thì không dưng có con chim khách đến làm tổ.

Cao Đường Long cho là điềm báo sắp có vương triều mới thay thế nhà Lý, nên liều mạng tâu với Cán: "Trước cốt sửa đức, sau mới khởi công mới phải."

Cán băn khoăn đem chuyện này hỏi Phạm Bỉnh Di.

Phạm Bỉnh Di lấy việc nịnh bợ, chiều ý vua làm tôn chỉ sống.

Bỉnh Di phán tào lao: "Chim khách tới làm tổ, rồi lại sinh ra chim non, ấy là trời cho bệ hạ cái điềm tốt giữ được trăm đời."

Cán nghe hợp lý, càng thúc dân phu thi công gấp rút, khiến trăm họ lầm than mà không biết há mồm kêu ai.

Trăm họ lầm than, triều cương nát bét.

Mua quan bán tước còn dễ hơn đi chợ đong bát mắm, bán củ dưa hành.

Quan lại hà hiếp dân chúng, trộm cướp tung hoành ngang dọc.

Vậy mà khi các quan tâu lên, Cán lại lờ đi kiểu bố éo liên quan.

Loạn thần tặc tử hoành hành, trung thần không có nổi nửa mét đất dụng võ.

Hào trưởng khắp nơi nổi dậy, Chiêm Thành và Đại Tống lại còn tranh thủ chấm mút, làm loạn biên giới.

Đại Việt bấy giờ bị Cán vo thành một đống bầy hầy.

Bao công sức bung lụa của bố Tộ bị Cán thẳng chân đạp xuống tận đáy.

Đằng sau một hôn quân luôn thấp thoáng bóng dáng của gian thần.

Gian thần nổi bật nhất triều đình lúc bấy giờ chính là Phạm Du.

Năm 1207, hào trưởng Đoàn Thượng nổi dậy, Cán cử nhiều cánh quân đi đánh dẹp.

Đoàn Thượng cảm thấy cân không nổi nên mang mấy cân vàng sang biếu Phạm Du.

Phạm Du hớn hở nhận rồi đi mè nheo Cán tha cho Đoàn Thượng.

Cán đồng ý một cách thần kì. 🙂

Đầu năm 1209, Cán cử Phạm Du đi trấn giữ Nghệ An.

Lúc bấy giờ Nghệ An vô cùng đói kém, khốn khổ.

Phạm Du bèn tranh thủ tập hợp những thành phần thiếu ăn, thiếu mặc để chống lại triều đình.

Lần này Phạm Bỉnh Di được cử đi dẹp loạn.

Loằng ngoằng gần 2 tháng, cuối cùng Bỉnh Di cũng đánh cho Phạm Du chạy tóe khói, trốn biệt tăm biệt tích.

Mấy tháng sau, Phạm Du sai người về kinh đút lót cho quan lại, bảo tâu với Cán rằng Bỉnh Di tàn ác, giết người như ngóe.

Cán đại khái cũng phân vân dữ dội lắm, nghĩ mãi không thông bèn triệu cả Phạm Du và Bỉnh Di về triều để hỏi han cho ra lẽ.

Phạm Du đã khăn gói sẵn sàng, chỉ cần Cán ới một tiếng là lập tức phi về.

Về tới nơi bèn múa mép gièm pha, hớt lẻo các kiểu.

Bỉnh Di không biết gì nên cứ thong thả mãi mới chịu mò về.

Cha con Bỉnh Di vừa về tới nơi là lập tức bị tống vào tù ngồi bóc lịch.

Đàn em của Bỉnh Di là Quách Bốc nghe tin đại ca bị bắt oan thì điên tiết lắm, hùng hổ xông vào cung để cứu.

Phạm Du thấy thế bèn giết phứt cha con Bỉnh Di rồi đưa Cán cao chạy xa bay, lánh nạn ở Phú Thọ.

Thái tử Sảm cùng má Đàm thị và 2 em gái đến nương nhờ nhà họ Trần ở Thái Bình.

Con trai khác của Cán là Lý Thẩm chạy không kịp, lơ ngơ tưởng chết đến mông rồi, nhưng cuối cùng lại được Quách Bốc tôn lên làm vua.

Cả nhà Cán tan đàn xẻ nghé.

Thái tử Sảm muốn dựa vào nhà họ Trần để đánh Quách Bốc.

Sảm tự xưng vương, phong chức tước tá lả cho người họ Trần.

Bố Cán nghe giang hồ đồn đại thằng con trai lập triều đình riêng, trong đầu liền nảy số thành tạo phản.

Thế là Cán lập tức quẳng Quách Bốc sang một bên, sai Phạm Du liên lạc với Đoàn Thượng để đem quân đi trị tội thằng con mất dạy.

Phạm Du lúc ấy cố xếp hình cho xong với công chúa Thiên Cực nên bị trễ hẹn với Đoàn Thượng.

Cuối cùng bị bắt đem về nộp cho thái tử Sảm, bị Sảm giết chết.

Không lâu sau thì dẹp xong loạn Quách Bốc.

Họ Trần đón Cán về kinh để tránh lời gièm pha.

Phạm Du chết rồi, Cán không nơi nương tựa nên không có cửa làm mình làm mẩy, buộc phải dựa vào họ Trần.

Chỉ độ 1 năm sau, tức tháng 11 năm 1210, Cán qua đời, thọ 38 mùa khoai.

Thái tử Sảm kế vị, sử gọi Lý Huệ Tông.

Triều Lý bấy giờ chỉ còn cách ngày diệt vong một bước chân ngắn ngủi.

#việt_nam_một_lịch_sử

#lý_cao_tông

#lý_long_cán

#lý_sảm
 
Sưu Tầm Sử Việt
Lê Long Đĩnh có thật là vị vua tồi tệ nhất lịch sử?


Lê Long Đĩnh có thật là vị vua tồi tệ nhất lịch sử?

Trong chính sử Việt Nam, Lê Long Đĩnh được mô tả là người bạo - ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa.

Ông nổi danh vì những thú vui tàn ác như tra tấn tù binh bằng các cách thức mạn rợ, lấy mía để trên đầu nhà sư mà róc cho tóe máu...

Do sống dâm dục quá độ nên Lê Long Đĩnh mắc bệnh không ngồi được, đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là "Ngọa-triều".

Tuy vậy giới sử học Việt Nam gần đây đã có những cách nhìn khác về vị vua tai tiếng này.

Nhiều nguồn sử liệu khẳng định, Lê Long Đĩnh là ông vua đầu tiên cử người đi lấy kinh Đại Tạng cho Phật giáo và sư Vạn Hạnh, thiền sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu cũng như các cao tăng khác thời đó đều được Lê Long Đĩnh rất trọng vọng...

Và một ông vua đề cao Phật pháp như vậy có thể nào "lấy mía để trên đầu nhà sư mà róc" ?

Trước khi chết ở độ tuổi 24, Lê Long Đĩnh còn chăm lo việc đào kênh, mở mang đường sá và đến tận nơi xem xét rồi xuống chiếu đóng thuyền bè đi lại cho dân.

Một ông vua suốt ngày ham mê tửu sắc không đi lại được đến mức phải "ngọa triều", ông vua đó có thể làm được những chuyện ý nghĩa như vậy không?

Không chỉ vậy, trong 4 năm làm vua, Lê Long Đĩnh đã 6 lần trực tiếp cầm quân ra trận, lần cuối cùng chỉ cách 2 tháng trước khi ông mất.

Cầm quân đánh giặc liên miên như vậy phải có sức vóc, người "dâm dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được" sao có thể cáng đáng nổi?

Nguồn: www.kienthuc.net.vn
 
Sưu Tầm Sử Việt
Lê Long Đĩnh


LÊ LONG ĐĨNH_Ngọa Triều hoàng đế

Lê Hoàn lần đầu tiên được làm hoàng đế nên còn nhiều bỡ ngỡ.

Thấy Đinh Bộ Lĩnh có tới năm bà hoàng hậu thì cứ tưởng đấy là quy định, bèn tuyển hoàng hậu tới tấp, tuyển như thể chưa bao giờ được tuyển.

Chẳng mấy mà đủ năm bà.

Trong đó có một bà gọi là Chi Hậu Diệu Nữ.

Bà này sinh được 2 hoàng tử, là thằng ba Long Việt và thằng năm Long Đĩnh.

Năm 1004, thái tử, tức thằng cả Long Thâu đột nhiên lăn đùng ra chết.

Cu Long Đĩnh năm ấy 18 trăng tròn, cảm thấy mình giỏi giang hơn người, lại đẹp trai vô đối, rất phù hợp với hình tượng thái tử.

Nhân một ngày đẹp trời, cu cậu bả phấn, chuốt keo, lên đồ lồng lộn rồi đánh bạo đến xin bố cho được làm thái tử.

Lê Hoàn ngắm ngía một hồi, đại khái thấy ừ cũng hợp lí.

Nhưng khi đem ra bàn luận với quần thần thì lại bị mấy cha nội cổ hủ, lạc hậu can ngăn tới tấp, rằng thì lập thứ không lập trưởng là chẳng còn tôn tin trật tự gì ráo.

Lê Hoàn nghe léo nhéo nhức cả đầu, long nhan đại nộ.

Ừ thì ông không lập Long Đĩnh nữa, nhưng ông cũng éo lập thằng hai Long Tích đấy.

Ông đi ông lập thằng ba Long Việt cho chúng mày tức chơi.

Thằng nào còn thích phản đối nữa thì bơi hết vào đây.

Năm 1005, Lê Hoàn về chầu ông bà.

Bố vừa chôn xong, xác còn chưa kịp thối thì bốn thằng con mất nết đã tụ tập binh mã, tranh nhau cái ngai vàng, khiến Đại Cồ Việt suốt 8 tháng trời không có ai cầm đầu.

Bản danh sách "vàng" ấy gồm có thằng hai Long Tích, thằng ba Long Việt, thằng năm Long Đĩnh và thằng chín Long Kính.

Kết quả, thằng chín Long Kính vẫn trẻ trâu nên dễ dàng bị Long Đĩnh cho rớt đài.

Long Việt thì hạ đo ván thằng anh thứ hai Long Tích.

Giống nhà bà Chi Hậu Diệu Nữ đúng là ăn đứt các bà khác.

Tháng 10, Long Việt lên ngôi.

Thấy Long Đĩnh vẫn còn máu lửa lắm nhưng nghĩ đến tình cảm anh em cùng mẹ sinh ra nên không nỡ giết.

Long Việt mới ngồi trên ngai vàng được ba ngày, còn chưa ấm mông thì đã bị thằng em ruột Long Đĩnh thủ tiêu.

Huynh đệ tương tàn, gia môn bất hạnh.

Bốn thằng tranh nhau, chết mất ba thằng.

Vụ này so ra còn thảm khốc hơn vụ tranh giành của bốn thằng quý tử nhà anh Lê Thái Tông.

Quần thần thấy vua bị sát hại bị sợ bĩnh cả ra quần, ông nào ông nấy vắt giò lên cổ chạy chối chết, đặc biệt là mấy cha nội hồi trước lỡ to mồm phản đối Long Đĩnh.

Chỉ riêng có Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn là ở lại ôm xác Long Việt, khóc lóc kêu gào thảm thiết.

Tình cảm ấy khiến cho trái tim sắt đá như Long Đĩnh cũng phải tan chảy.

Long Đĩnh không những không phạt tội Công Uẩn, ngược lại còn vô cùng trọng dụng.

Cuộc đời thật lắm chuyện éo le, và đẹp trai thì lúc nào cũng có lợi.

Long Đĩnh làm vua được bốn năm thì lăn ra chết không rõ nguyên do.

Bên pháp y cũng bất lực.

Con trai anh mới mười tuổi không giữ nổi ngai vàng, bị Lý Công Uẩn soán ngôi.

Giang sơn lại một lần nữa đổi chủ.

Tương truyền, Long Đĩnh là ông vua hoang dâm vô độ, bạo ngược bậc nhất trong lịch sử Việt Nam.

Giang hồ đồn đại Long Đĩnh mê mẩn chân dài, cày bừa quá độ, hùng hục như trâu húc mả, tới nỗi bị trĩ không ngồi thiết triều được mà phải nằm.

Vì vậy mới có cái tên gọi Lê Ngọa Triều.

Nhưng Ad lại chỉ thấy Long Đĩnh hùng hục trên lưng ngựa.

Thậm chí trước khi chết 2 tháng vẫn còn tự mình xách quân đi dẹp loạn.

Thử hỏi một ông bị trĩ nặng tới mức không ngồi nổi thì cưỡi ngựa kiểu mé gì.

Gần đây người ta đồn rằng cái tên Ngọa Triều là do Công Uẩn đặt để bôi nhọ Long Đĩnh.

Chắc anh Công Uẩn vẫn để bụng chuyện anh Long Đĩnh giết anh Long Việt.

Giang hồ còn đồn Long Đĩnh róc mía trên đầu nhà sư rồi giả vờ trượt tay bổ xuống đầu.

Máu chảy tóe loe thì sung sướng cười hô hố.

Ad không biết thực hư ra sao, nhưng Ad chỉ biết Long Đĩnh từng sai người sang nhà Tống thỉnh kinh Đại Tạng về cho dân chúng đọc chơi, giết thời gian.

Nao rảnh chắc Ad sẽ viết một bộ Tống du kí, cạnh tranh với Tây du kí, Hoa du kí.

500 anh em nhớ mua ủng hộ.

Giang hồ còn đồn đại nhiều tiếng xấu nữa.

Tin cũng được, không tin cũng được.

Anh Long Đĩnh thì chẳng quan tâm đâu vì ảnh chết từ đời má nào rồi.

#Việt_nam_một_lịch_sử

Nguồn: Săn Mộ
 
Sưu Tầm Sử Việt
Lý Chiêu Hoàng


LÝ CHIÊU HOÀNG - Đoạn kết của một vương triều

Lý Chiêu Hoàng là vị nữ hoàng đầu tiên, và nhân tiện cũng là cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Cha bà là vua Lý Huệ Tông, cả đời chỉ loanh quanh bên một người đàn bà là Trần Thị Dung.

Đế vương chung tình kể cũng là của hiếm lạ, nếu không kể tới việc dẫn đến họa ngoại thích chuyên quyền và cuối đời cũng chỉ sinh được có hai cô công chúa.

Trước sức ép của quyền thần Trần Thủ Độ (có bà con và luôn tiện có tư tình với hoàng hậu Trần thị), vua Lý Huệ Tông buộc phải lập đứa nhỏ hơn là công chúa Chiêu Thánh mới lên 6 làm hoàng thái nữ và truyền ngôi cho.

Năm 1224, công chúa Chiêu Thánh lên ngôi, tôn hiệu là Chiêu Hoàng.

Bước đầu tiên trong âm mưu lật đổ nhà Lí thành công mĩ mãn.

Thừa thắng xông lên, Thủ Độ liền đưa cháu trai mình là Trần Cảnh vào cung hầu hạ, nói sang miệng là bầu bạn cùng nữ đế.

Rồi biên kịch vàng Trần Thủ Độ từ từ dựng nên màn kịch về mối tình trẻ trâu giữa thằng cháu vắt mũi chưa sạch và vị nữ đế còn đang chẫng bốn răng cửa.

Sử sách ghi vài dòng như sau:

"...Một hôm, Cảnh lúc ấy mới lên 8 tuổi, phải giữ việc bưng nước rửa, nhân thế vào hầu bên trong.

Chiêu Hoàng trông thấy làm ưa, mỗi khi chơi đêm cho gọi Cảnh đến cùng chơi, thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng lên bóng.

Có một hôm, Cảnh bưng chậu nước hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt lấy tay vốc nước té ướt cả mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn trầu thì lấy khăn ném cho Cảnh..."

Sau đó, làm như thể mối tình trẻ trâu cuối cùng cũng đơm hoa kết trái, biên kịch vàng Trần Thủ Độ sắp xếp cho Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh làm chồng.

Chắc khi ấy nữ đế còn chẳng biết chồng là cái gì, có ăn được hay không.

Sau đó, Trần Thủ Độ tiếp tục thuyết phục Chiêu Hoàng tự nguyện trên tinh thần bắt buộc xuống chiếu nhường ngôi cho chồng.

Lần này, biên kịch vàng bị diễn sâu thái quá.

Lấy danh Lý Chiêu Hoàng mà lại đi phóng bút hẳn một chiếu thư lời lẽ bay bổng, Hán Việt tùm lum, điển tích loạn xạ, vượt xa khả năng biết đọc biết viết thông thường của một nhóc tì 7 tuổi.

Nhà Lý lúc bấy giờ, suy tàn đến cùng cực, vẫn may mắn rơi vãi lại vài nhân tài kiệt xuất, hết mực trung chinh như Lý Quang Bật, Lý Long Tường.

Nhưng tất nhiên team Lý lực mỏng, cân không được team Trần.

Những quần thần phe trung lập chưa biết theo team nào, trước uy quyền đến lộng quyền của Trần Thủ Độ cũng chỉ biết cúi đầu gật gù khen phải.

Năm 1225, Trần Cảnh lên ngôi, sử gọi là Trần Thái Tông.

Giang sơn Đại Việt chính thức sang tên đổi chủ.

Triều Lý chấm dứt sau 216 năm cai trị.

Từ đây mở ra triều đại nhà Trần, triều đại tai tiếng bậc nhất, nhưng đồng thời cũng có chiến công vang dội mà khó có triều đại nào sánh kịp khi 3 lần đẩy lùi vó ngựa Nguyên Mông, đế quốc đã làm cỏ cả một dải đất rộng lớn trải dài từ Á sang Âu.

Trần Thủ Độ một tay che trời, tài năng khỏi bàn cãi.

Nhưng dù là trùm sò trong âm mưu lật đổ nhà Lý, Trần Thủ Độ cũng không ham hố đặt mông nình lên bệ rồng, mà trước sau đều một lòng phò tá vua, an phận làm một quyền thần hô mưa gọi gió.

Sau khi Trần Cảnh lên ngôi, liền phong cho Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh hoàng hậu.

Vị thế của bà tụt xuống một bậc, nhưng nhìn chung vẫn cao quý chán.

Ngày tháng chầm chậm trôi qua, mối tình trẻ trâu năm nào đã phát triển thành tình yêu nam nữ.

Đế hậu hết mực yêu thương trân trọng lẫn nhau.

Năm 1233, Chiêu Thánh hoàng hậu hạ sinh thái tử Trần Trịnh khi mới 15 tuổi.

Mọi việc tưởng chừng có vẻ viên mãn thì đùng một cái, thái tử Trịnh qua đời khi vẫn còn quấn tã.

Chuyện này kể ra cũng không có gì lạ, ở cái thời kì y học thô lậu, ở cái tuổi còn mài đũng trên ghế nhà trường, trẻ con sinh ra 10 thì đến 8 đứa dặt dẹo.

Hậu quả của lần sinh nở khi sinh lí chưa hoàn thiện kéo dài cho tới tận vài năm sau, Chiêu Thánh hoàng hậu đau ốm liên miên.

Trần Thủ Độ bắt đầu sốt ruột khi hoàng hậu đã 4 năm mà vẫn không thể sinh hạ thêm đứa nào chứ đừng mơ tới thái tử.

Trong cơn quẫn trí, hoặc quá lí trí, Trần Thủ Độ liền cùng bà Linh Từ quốc mẫu Trần Thị Dung (mẹ đẻ Chiêu Thánh, lúc này đã xách váy đi theo làm vợ Trần Thủ Độ), hai ông bà hùa nhau ép Trần Cảnh bỏ Chiêu Thánh, lập công chúa Thuận Thiên (vừa là chị dâu, vừa là chị vợ của Trần Cảnh) lên làm hoàng hậu.

Bà Trần Thị Dung thiết nghĩ phải có trái tim làm bằng sợi carbon tổng hợp, hay bét nhất cũng phải ti tan nguyên chất.

Hổ dữ còn không ăn thịt con, riêng bà này nhai con không thèm cả nhả bã.

Thuận Thiên lúc ấy còn mang thai 3 tháng với chồng là Trần Liễu (anh ruột của Trần Cảnh).

Đó là scandal loạn luân, đổ vỏ đầu tiên của nhà Trần.

Sau này nhà Trần còn nảy nở thêm vài đấng anh tài noi gương đế vương, có tư tưởng rộng rãi khoáng đạt, loạn luân trong vinh quang và đổ vỏ trong niềm hân hoan phấn khởi.

Họ Trần có khuynh hướng bị ám ảnh đến hoang tưởng bởi vấn đề ngoại thích chuyên quyền, vì họ từng dùng chính phương thức này để cướp ngôi từ tay họ Lý.

Một lô xích xông những bà hoàng hậu sau đó đều là người nội tộc.

Kết hôn cận huyết, giống nòi suy thoái nhanh đến thảm hại.

Dấu vết của những trường hợp quái thai, dị tật vương vãi tung toé khắp các trang sử vẻ vang của nhà Trần.

Nhưng đề phòng tới lui, kết cục nhà Trần vẫn mất vào tay ngoại thích, ngay sau khi người phụ nữ ngoại tộc đầu tiên (em họ Hồ Quý Ly) rờ được tay vào ngôi vị hoàng hậu.

Quay lại với Trần Cảnh và Chiêu Thánh, Trần Cảnh ban đầu vì tình yêu tuổi mới lớn với Chiêu Thánh còn làm mình làm mẩy bỏ lên Yên Tử tu hành để phản đối.

Trần Thủ Độ bèn dẫn cả đoàn bá quan văn võ lên Yên Tử xẻ gỗ đóng cọc chuẩn bị xây nhà lầu cung điện, dõng dạc tuyên bố: "Vua ở đâu, triều đình ở đó".

Trần Cảnh từ bé đến giờ chưa gặp phải ai lầy lội như ông này, tự biết nhây nữa cũng vô ích, đành nuốt ấm ức quay về.

Vụ tai tiếng này châm ngòi cho cơn phẫn uất tột độ của Hoài vương Trần Liễu.

Bị cướp vợ, cướp con một cách trắng trợn, Trần Liễu dấy binh làm loạn ở sông Cái.

Nhưng trước sự chèn ép quyết liệt của Trần Thủ Độ, cuối cùng lại phải dẹp tự ái nam nhi đến chỗ Trần Cảnh xin tha thứ.

Tự an ủi bản thân quân tử trả thù vài chục năm chưa muộn, Trần Liễu về nhà ẩn nhẫn bồi dưỡng nhân tài trăm năm hiếm có Trần Quốc Tuấn, những mong sau này ông con có thể thay ông cha cướp ngôi rửa hận.

Kết quả lại đào tạo ra một danh tướng lừng lẫy, tận trung với các vua Trần đến hơi thở cuối cùng.

Năm 1237, Chiêu Thánh bị giáng xuống thành công chúa.

Địa vị tiếp tục tụt thêm một bậc, coi như trở lại vạch xuất phát.

Chiêu Thánh công chúa sống cô độc trong cung ngót nghét 20 năm, thẳng một lèo đến 40 tuổi, hết xừ nó tuổi xuân.

Đỉnh điểm bi kịch cuộc đời của vị nữ đế là vào năm 42 tuổi (1259), khi bà bị chồng cũ gả bán.

Vua Thái Tông trong cơn hứng trí đã đem vợ cũ, tức Chiêu Thánh công chúa, ban cho công thần góa vợ Lê Tần để cảm kích ơn cứu mạng trong trận chiến với Mông Nguyên năm 1258.

Trở thành phu nhân của bầy tôi, địa vị của Chiêu Thánh lần này trượt dài mấy bậc.

Việc làm này của Trần Thái Tông tô đen sì thêm vào vết nhơ "nho nhỏ" trong cuộc đời anh minh, sáng suốt, đầy công trạng với đất nước của ông.

Dân gian còn lưu truyền mãi câu ca dao thác lời Chiêu Thánh oán trách Trần Cảnh:

"Trách người quân tử bạc tình,

Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao."

Tuy nhiên, lần bán rao này lại vô tình mang lại 20 năm hạnh phúc cuối đời cho Chiêu Thánh.

Cặp vợ chồng ngoại tứ tuần sống với nhau tròn 20 năm.

Trần Thủ Độ lúc này mới ngẩn tò te, trợn mắt nhìn vị hoàng hậu không biết đẻ năm nào sinh liền tù tì một đôi kim đồng ngọc nữ, là Thượng Vị hầu Lê Tông và Ứng Thụy công chúa Lê Ngọc Khuê.

Không biết Trần Thái Tông khi ban Chiêu Thánh cho Lê Tần có ý thức được mình đang cứu vớt cuộc đời bà không.

Hay chỉ đơn giản là: "Ông thích thế.

Ông làm vua, ông có quyền."

Chiêu Thánh công chúa mất năm 1278, khi ấy bà 61 tuổi.

Sử sách chép, khi qua đời tóc bà vẫn đen nhánh, môi vẫn đỏ như son, da vẫn tươi như hoa đào.

Vụ này hoặc là xạo một cách trắng trợn, hoặc là để lại manh mối quý giá về kỹ thuật cải lão hoàn đồng, tiền thân của phẫu thuật thẩm mỹ.

Lý Chiêu Hoàng là vị vua duy nhất trong chín đời vua Lý không được an táng tại đền Đô.

Lăng mộ của bà, đền Rồng, nằm cô quạnh bên rìa rừng Báng.

Căn nguyên bà bị kì thị cho ra đảo là vì đã đánh mất ngai vàng, trở thành tội nhân muôn đời của nhà Lý.

Nhưng dưới cái nhìn công bằng hơn cho nữ đế, nói tới tội lỗi đánh mất giang sơn vào tay đấng trượng phu, nếu Mị Châu thực sự có chút lỗi lầm thì Chiêu Hoàng lại hoàn toàn vô tội.

Thử hỏi khi 7 tuổi chúng ta đang làm gì?

Và nếu có ai đáng bị ra đảo, thì đó hẳn phải là ông nội của Chiêu Hoàng, vua Lý Cao Tông, người đã vô tư dẫn dắt triều Lý bước đi hùng dũng trên con đường dẫn tới họa diệt vong.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Sưu Tầm Sử Việt
Trần Quốc Tuấn


💥💥💥TRẦN QUỐC TUẤN_Hưng Đạo Đại vương

Phần I: Thanh niên ưu tú 🎓🎓🎓

Ông hoàng số nhọ Trần Liễu sau khi bị cướp nguyên combo vợ con thì hoàn toàn sụp đổ, lúc nào cũng cảm thấy cả thế giới như đang chổng mông vào mặt mình.

Đúng thời điểm tuyệt vọng nhất, ông hoàng Liễu chợt ngó thấy thằng con trai thứ ba Trần Quốc Tuấn.

Quốc Tuấn xuất hiện như một vị thần, trắng trẻo mũm mĩm, đẹp trai có thừa, thông minh không thiếu.

Ông hoàng Liễu chợt cảm thấy như mặt trời chân lí chói qua tim.

Kể từ đó, ông hoàng Liễu bắt đầu dốc cạn túi vào việc mướn gia sư dạy dỗ cho thằng nhỏ.

Ngoài combo 12 môn văn hóa phổ thông, Quốc Tuấn còn được dạy võ, dạy múa, dạy đàn ca sáo nhị, dạy thể thao thể dục, dạy nhảy dây, bắn bi, đánh cờ,...

Thanh niên Quốc Tuấn 19 tuổi dậy thì phổng phao, cao to lồng lộng, văn võ toàn tài, đứng nhất nhì trong bảng xếp hạng top 10 thanh niên ưu tú của Đại Việt.

Trong một diễn biến khác, Thái Tông có cô con gái (có đứa đồn là em gái) là công chúa Thiên Thành mặt đẹp, dáng ngon, ba vòng nảy nở, có tướng vượng phu ích tử.

Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên.

Công chúa Thiên Thành bật đèn xanh, thanh niên Quốc Tuấn phóng vèo qua, thế là thành đôi thành cặp.

Thế nhưng hai thanh niên lại không thèm công khai mà chơi trò hẹn hò bí mật khiến cho khắp Đại Việt không có tòa soạn nào khui được tin tức giật gân.

Năm 1251, Thái Tông thấy công chúa Thiên Thành lớn tồng ngồng rồi mà vẫn trong hội FA, mới đem gả công chúa cho Trung Thành vương, con trai Nhân Đạo vương.

Rằm tháng Giêng, Thái Tông tổ chức cho công chúa cái lễ thành hôn to vật vã.

Hai thanh niên nhà ta lúc bấy giờ mới nhảy dựng lên thì đã quá muộn.

"À chưa muộn" Tuấn said, rồi buổi tối nhân lúc chú rể rượu chè bét nhè chưa về liền nhảy vào phòng tân hôn gạ xoạc.

Cuối hiệp một, chú rể về phòng.

Say bét nhè nhưng vẫn còn tí minh mẫn để bắt được quả tang.

Nhân Đạo vương, tức bố chú rể, tức lồng tức lộn đem trói gô thanh niên Quốc Tuấn lại đòi thiến, đòi giết.

Thanh niên Quốc Tuấn có bà má nuôi là công chúa Thụy Bà.

Trước khi đi thông dâm, thanh niên Tuấn có nhắn tin cho má.

Công chúa Thụy Bà chửi tiên sư cái thằng hãm tài.

Nhưng chửi thì chửi, thương vẫn cứ thương.

Nghĩ tới nguy cơ Quốc Tuấn bị thiến bị giết thì lo sốt vó, đêm hôm lạnh sun vẫn tức tốc vào cung gặp Thái Tông, xin Thái Tông cứu Tuấn.

Thái Tông hỏi chuyện chi.

Công chúa Thụy Bà bảo:

- Thằng Tuấn ngông cuồng, đêm lẻn vào chỗ Thiên Thành, bị Nhân Đạo vương bắt giữ rồi, e là sẽ bị hại, xin bệ hạ rủ lòng thương tới cứu.

Thái Tông kiểu ơ ủa chúng nó yêu nhau à.

Ơ ủa nói bị hại hình như sai sai.

Ơ ủa...

Nhưng thắc mắc thì thắc mắc, Thái Tông nghĩ tới tình nghĩa anh em với ông hoàng Liễu nên vẫn tức tốc mặc cái áo xỏ cái quần, rồi sai người qua phủ Nhân Đạo vương cứu Tuấn.

Sáng hôm sau công chúa Thụy Bà mang mười mâm vàng tới nhà Thái Tông xin hỏi cưới công chúa Thiên Thành cho Quốc Tuấn.

Thái Tông hỏi hôm qua đã xoạc chưa, công chúa Thụy Bà tần ngần gật đầu bảo:

- Xong hiệp một rồi.

Thái Tông nghe thế chán luôn, than:

- Một hiệp hay hai hiệp thì khác đếch gì nhau.

Không còn cách nào khác, Thái Tông buộc phải gả công chúa Thiên Thành cho Quốc Tuấn, đồng thời lấy 2000 thửa ruộng ở phủ Ứng Thiên để bù đắp sính lễ cho Nhân Đạo vương.

Nhân Đạo vương mấy hôm nay cảm thấy mất mặt bỏ mẹ ra.

Nhưng cân nhắc lợi hại, đã mất người, mất mặt rồi, không lẽ còn bỏ mất đất.

Thế là đành đội rổ ra nhận 2000 thửa ruộng cho xong chuyện.

Tháng 4 năm đó, ông hoàng Liễu ốm nặng.

Lúc lâm chung có gọi Quốc Tuấn đến trăng trối:

- Con không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết cũng không nhắm mắt.

Mười phút qua đi, Quốc Tuấn thấy ông hoàng Liễu vẫn chưa chịu trút hơi tàn thì bắt đầu sốt ruột, bèn hứa bừa cho xong chuyện.

Ông hoàng Liễu nghe con giai bảo bối hứa hẹn chắc nịch thì lập tức vui lòng nhắm mắt xuôi tay.

#việt_nam_một_lịch_sử

#trần_hưng_đạo

#trần_quốc_tuấn
 
Back
Top Bottom