Cập nhật mới

Tiểu Thuyết Sherlock Holmes (toàn tập)

Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D11 Hậu vệ cánh mất tích


HẬU VỆ CÁNH MẤT TÍCH

THE ADVENTURE OF THE MISSING THREE-QUATER (1904)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Tại phố Baker, chúng tôi đã khá quen với việc nhận được những bức điện kì quặc, nhưng tôi đặc biệt nhớ một bức tới tay chúng tôi vào một buổi sáng tháng 2 âm u khoảng bảy, tám năm về trước và khiến Sherlock Holmes lúng túng cả mười lăm phút.

Bức điện gửi cho anh, viết như thế này: Vui lòng chờ tôi.

Bất hạnh khủng khiếp.

Hậu vệ cánh phải mất tích, tuyệt đối không thể thiếu được vào ngày mai.

Overton.

"Dấu bưu điện ở Strand, gửi đi lúc 10 giờ 36 phút", Holmes nói, đọc đi đọc lại.

"Rõ ràng khi gửi ông Overton khá kích động nên kết quả là bức điện có phần thiếu mạch lạc.

Được, được, tôi dám chắc khi tôi xem xong tờ Times thì ông ta sẽ có mặt ở đây, bấy giờ ta sẽ biết cả thôi.

Trong những ngày trì trệ thế này thì việc vô nghĩa nhất cũng sẽ được hoan nghênh."

Dạo này tình hình công việc của chúng tôi quả là rất trì trệ, và tôi cũng đã biết sợ những giai đoạn nhàn hạ như vậy, vì theo kinh nghiệm, tôi biết đầu óc bạn tôi quá giàu hoạt năng đến mức nếu không có dữ liệu cho nó làm việc thì thật nguy hiểm.

Suốt nhiều năm tôi đã dần dà giúp anh cai được thói nghiện thuốc phiện có lần đã đe dọa cản trở sự nghiệp phi thường của anh.

Giờ tôi biết trong điều kiện bình thường anh không còn thèm cái thứ kích thích giả tạo ấy nữa, nhưng tôi cũng hiểu rõ rằng con quỷ vẫn chưa chết, mà chỉ đang ngủ im; tôi cũng biết nó chỉ ngủ lim dim và sắp sửa thức giấc khi mà trong những giai đoạn nhàn rỗi, tôi thấy được cái vẻ rầu rầu trên gương mặt khắc khổ cùng vẻ trầm ngâm nơi đôi mắt sâu hoắm và bí hiểm của Holmes.

Do vậy, tôi cầu Chúa phù hộ cho ông Overton này, dù ông ta có là ai đi nữa, vì đã xuất hiện cùng lời nhắn kì bí, phá tan sự bình lặng nguy hiểm đe dọa đem đến nhiều hiểm họa hơn mọi bão tố trong cuộc đời sôi nổi của bạn tôi.

Đúng như chúng tôi nghĩ, người gửi đến sau bức điện không lâu, và theo sau tấm danh thiếp của ông Cyril Overton, Cao đẳng Trinity, Cambridge, là một thanh niên lực lưỡng, một khối xương và cơ bắp chắc nịch nặng dễ đến cả trăm kí, đôi vai to bè choán hết cả chiều rộng cửa ra vào, rồi anh ta nhìn chúng tôi từ người này qua người kia, gương mặt cân đối phờ phạc vì lo lắng.

"Ông Sherlock Holmes phải không?"

Bạn tôi khẽ cúi đầu chào.

"Tôi đã xuống Sở Cảnh sát London, thưa ông Holmes.

Tôi đã gặp thanh tra Stanley Hopkins.

Ông ấy khuyên tôi đến tìm ông, ông ấy nói vụ này, theo như ông ấy thấy, thuộc chuyên môn của ông hơn là của cảnh sát chính quy."

"Xin cứ ngồi xuống và cho tôi biết có chuyện gì."

"Khủng khiếp lắm, ông Holmes, cực kì khủng khiếp!

Tôi lấy làm lạ sao tóc mình còn chưa bạc.

Godfrey Staunton - tất nhiên ông đã nghe tên anh ta rồi nhỉ?

Anh ta là cái bản lề mà cả đội xoay quanh.

Tôi thà để đội thi đấu thiếu hai cầu thủ mà có Godfrey cho hàng hậu vệ còn hơn là vắng anh ta.

Dù là chuyền bóng, chặn bóng hay rê bóng thì cũng không ai sánh kịp anh ta; hơn nữa, anh ta là cầu thủ chủ chốt và có thể giúp đội bóng của chúng tôi đoàn kết lại.

Tôi phải làm sao đây?

Đó là điều tôi hỏi ông, ông Holmes.

Chúng tôi có Moorhouse là cầu thủ dự bị số một, nhưng anh ta được huấn luyện làm tiền vệ và anh ta cứ len lỏi vào giành bóng thay vì bám ở đường biên.

Anh ta phát bóng tốt, điều đó đúng, nhưng anh ta không biết phán đoán và không thể chạy bứt tốc.

Ôi, Morton hay Johnson, mấy cầu thủ chạy bứt tốc của đội Oxford, có thể vượt anh ta dễ dàng.

Stevenson cũng nhanh đấy, nhưng anh ta không ném từ vạch hai lăm yard được, và một hậu vệ chỉ có tốc độ mà không đá cũng chẳng thể ném thì không xứng với vị trí ấy.

Không được rồi, ông Holmes, chúng tôi sẽ tiêu tùng nếu ông không giúp tôi tìm ra Godfrey Staunton."

Bạn tôi ngạc nhiên và thích thú lắng nghe bài phát biểu tràng giang đại hải, được tuôn ra hăng hái và sôi nổi lạ thường, thỉnh thoảng bàn tay chắc khỏe của người nói lại vỗ một cái vào đầu gối để nhấn mạnh từng điểm.

Khi người khách của chúng tôi đã dừng lời, Holmes mới với tay lấy quyển danh mục và tra phần S.

Nhưng chỉ có lần này là anh không đào bới được gì trong cái mỏ thông tin đa dạng đó.

"Có Arthur H.

Staunton, kẻ giả mạo giấy tờ trẻ tuổi đang phất", anh nói, "rồi Henry Staunton, kẻ mà tôi góp phần đưa đến giá treo cổ, nhưng cái tên Godfrey Staunton thì tôi chưa nghe nói bao giờ."

Đến lượt người khách của chúng tôi tỏ vẻ ngạc nhiên.

"Ủa, ông Holmes, tôi cứ nghĩ ông biết tuốt", anh ta nói.

"Nếu chưa từng nghe tên Godfrey Staunton thì tôi chắc ông cũng không biết gì về Cyril Overton?"

Holmes vui vẻ lắc đầu.

"Trời đất!"

Anh chàng vận động viên kêu lên.

"Ô hay, tôi từng là cầu thủ dự bị số một của tuyển Anh trong trận đấu với tuyển xứ Wales, và tôi làm thủ quân cho đội tuyển của trường đại học cả năm trời nay.

Nhưng chuyện đó thì có là gì!

Tôi nghĩ ở Anh không ai là không biết Godfrey Staunton, hậu vệ cừ khôi, từng tham dự giải Cambridge, Blackheath, cùng năm trận đấu quốc tế.

Trời đất!

Ông Holmes, lâu nay ông sống ở đâu vậy?"

Holmes cười trước vẻ sửng sốt ngây ngô của chàng hộ pháp trẻ.

"Anh sống trong một thế giới khác với thế giới của tôi, anh Overton, một thế giới trong sáng và lành mạnh hơn.

Công việc của tôi vươn nhánh đến nhiều lĩnh vực trong xã hội, nhưng tôi mừng mà nói là nó chưa từng chạm tới thể thao nghiệp dư, vốn là thứ tuyệt vời nhất và trong lành nhất nước Anh.

Tuy vậy, việc anh bất ngờ đến sáng nay cho tôi thấy rằng ngay cả cái thế giới trong lành và chơi đẹp đó cũng có thể có việc cho tôi làm; thế nên, anh bạn ơi, xin anh hãy ngồi xuống rồi điềm tĩnh và thong thả kể tôi nghe chính xác chuyện gì đã xảy ra, và anh muốn tôi phải giúp anh thế nào."

Gương mặt anh chàng Overton trẻ tuổi có cái vẻ khổ sở của người quen dùng cơ bắp hơn là đầu óc; nhưng dần dà, sau nhiều câu lặp đi lặp lại và cách diễn đạt tối nghĩa trong lời kể mà tôi xin lược bỏ, anh ta cũng trình bày được câu chuyện kì lạ của mình.

"Chuyện là thế này, ông Holmes.

Như tôi đã nói, tôi là thủ quân của đội bóng bầu dục trường đại học Cambridge, còn Godfrey Staunton là cầu thủ giỏi nhất trong đội tôi.

Ngày mai chúng tôi thi đấu với đội Oxford.

Hôm qua tất cả chúng tôi lên trọ tại khách sạn tư Bentley.

Lúc 10 giờ tôi đi kiểm tra thì thấy các đồng đội đã ngủ cả, vì tôi tin một chương trình tập luyện nghiêm ngặt và ngủ nhiều sẽ giúp cả đội sung sức.

Tôi nói dăm câu với Godfrey trước khi anh ta đi ngủ.

Tôi thấy anh ta có vẻ xanh xao, phiền muộn.

Tôi hỏi anh ta có chuyện gì vậy.

Anh ta nói là ổn - chỉ hơi nhức đầu.

Tôi chúc anh ta ngủ ngon rồi đi.

Nửa giờ sau, người gác cổng báo với tôi là có một kẻ trông lôi thôi lếch thếch, để râu, mang một lá thư đến tìm Godfrey.

Vì Godfrey chưa đi ngủ nên bức thư được đem lên phòng cho anh ta.

Godfrey đọc xong thì ngã ngửa ra ghế như thể rụng rời tay chân.

Người gác cổng hoảng đến mức định đi gọi tôi, nhưng Godfrey ngăn cản anh ta, uống một cốc nước rồi trấn tĩnh lại.

Đoạn Godfrey xuống lầu, nói đôi câu với người đang chờ trong tiền sảnh, rồi sau đó cả hai cùng bỏ đi.

Hình ảnh cuối cùng mà người gác cổng nhìn thấy là họ đi như chạy về hướng Strand.

Sáng nay phòng Godfrey không có ai, giường vẫn chưa nằm, còn đồ đạc thì thảy đều y như tôi thấy đêm hôm trước.

Anh ta đã bỏ đi ngay với người lạ nọ, và từ đó không còn nghe gì về anh ta nữa.

Tôi không tin anh ta sẽ còn trở lại.

Godfrey ấy, anh ta là dân thể thao, từ tận trong xương tủy, nên sẽ không thể nào bỏ tập và lừa thủ quân nếu không vì một nguyên nhân nào đó quá nghiêm trọng với anh ta.

Không, tôi có cảm tưởng như anh ta biến mất luôn rồi, và chúng tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại anh ta nữa."

Sherlock Holmes hết sức chăm chú lắng nghe câu chuyện lạ thường này.

"Anh đã làm gì rồi?"

Anh hỏi.

"Tôi đánh điện cho Cambridge để hỏi xem ở đó có nghe gì về anh ta không.

Tôi vừa nhận được hồi âm.

Không ai thấy anh ta cả."

"Anh ta có thể về lại Cambridge sao?"

"Phải, có một chuyến tàu khuya - lúc 11 giờ 15."

"Nhưng, theo như anh khẳng định thì anh ta không đi chuyến đó?"

"Không, không thấy anh ta."

"Tiếp đó anh làm gì?"

"Tôi đánh điện cho huân tước Mount James."

"Sao lại đánh điện cho huân tước Mount James?"

"Godfrey mồ côi cả cha lẫn mẹ, và huân tước Mount James là người bà con gần nhất của anh ta - một người cậu, tôi nghĩ vậy."

"Thực vậy ư!

Chuyện này đã soi sáng vấn đề ở một góc độ mới.

Huân tước Mount James là một trong những người giàu nhất Anh quốc."

"Tôi có nghe Godfrey nói vậy."

"Và bạn anh có quan hệ mật thiết với ông ta?"

"Phải, anh ta là người thừa kế của lão, mà lão thì gần tám mươi rồi, lại còn bị thống phong đầy mình.

Người ta nói lão dùng khớp ngón tay mà bôi phấn cho cơ bi-a cũng được nữa.

Cả đời lão chưa bao giờ cho Godfrey lấy một shilling, vì lão cực kì keo kiệt, nhưng rồi tất cả cũng sẽ về tay anh ta thôi."

"Anh đã nghe tin gì từ huân tước Mount James chưa?"

"Vẫn chưa."

"Nếu là đến chỗ huân tước Mount James thì bạn anh có thể có động cơ gì?"

"À, đêm trước có điều gì đó khiến anh ta lo lắng, mà nếu liên quan đến tiền nong thì có thể anh ta sẽ đến chỗ người bà con thân cận lắm tiền, mặc dù theo như tất cả những gì tôi nghe nói thì anh ta chẳng có nhiều cơ may lấy được.

Godfrey không ưa ông già.

Nếu không phải là chuyện chẳng đặng đừng thì anh ta sẽ không đi đâu."

"Thôi được, ta sẽ sớm xác minh được chuyện đó.

Nếu bạn anh định đến chỗ bà con, huân tước Mount James, vậy thì anh sẽ giải thích thế nào về chuyện gã có bề ngoài lôi thôi đến gặp lúc khuya khoắt như vậy, và tâm trạng lo âu của bạn anh do gã đó đến mà có?"

Cyril Overton đưa tay bóp trán.

"Tôi chẳng hiểu gì cả", anh ta nói.

"Được, được, tôi có một ngày rảnh rỗi, vậy nên tôi sẽ vui lòng tìm hiểu vấn đề này", Holmes nói.

"Tôi đặc biệt khuyên anh nên chuẩn bị cho trận đấu mà coi như không có mặt chàng trai đó.

Theo như anh nói, hẳn là do hoàn cảnh bất khả kháng anh ta mới bỏ đi như vậy, nên rất có khả năng là chính hoàn cảnh ấy cũng sẽ giữ chân anh ta.

Ta hãy cùng đến khách sạn, rồi xem người gác cổng có thể làm sáng tỏ thêm vấn đề này không."

Sherlock Holmes là bậc thầy trong nghệ thuật làm cho nhân chứng thuộc diện binh dân cảm thấy thoải mái, nên chẳng mấy chốc, khi được ở riêng tư trong căn phòng vắng của Godfrey Staunton, anh đã rút tỉa được tất cả những gì người gác cổng có thể nói.

Người khách đêm trước không thuộc tầng lớp nhàn nhã, cũng không phải dân lao động chân tay.

Theo người gác cổng mô tả, kẻ này chỉ là 'một gã thường thường bậc trung' trạc năm mươi, râu điểm bạc, mặt mày xanh xao, ăn mặc giản dị.

Dường như bản thân ông ta cũng đang bồn chồn.

Người gác cổng đã để ý thấy tay ông ta run run khi chìa lá thư ra.

Godfrey Staunton đã nhét mẩu giấy vào túi.

Staunton không bắt tay ông này trong tiền sảnh.

Họ nói với nhau đôi câu mà người gác cổng chỉ nghe ra được hai chữ 'thời gian'.

Rồi họ vội vã bỏ đi đúng như Holmes được nghe kể.

Theo như đồng hồ treo ở tiền sảnh thì lúc đó mới 10 giờ rưỡi.

"Để tôi nghĩ xem", Holmes nói và ngồi xuống giường của Staunton.

"Anh làm ca ngày, đúng không?"

"Phải, thưa ông, tôi hết ca trực lúc 11 giờ."

"Tôi đoán người gác cổng ca đêm không thấy gì?"

"Không, thưa ông.

Có một đoàn hát đến muộn.

Không còn ai khác."

"Hôm qua anh trực cả ngày sao?"

"Vâng, thưa ông."

"Anh có đem thư gì đến cho anh Staunton không?"

"Có, thưa ông, một bức điện."

"A!

Thú vị đấy.

Lúc đó là mấy giờ?"

"Khoảng 6 giờ."

"Khi nhận thư thì anh Staunton đang ở đâu?"

"Ở đây, trong phòng anh ấy."

"Anh có mặt khi anh ta mở thư không?"

"Có, thưa ông, tôi chờ xem anh ấy có phúc đáp không."

"Sao, có không?"

"Có, thưa ông.

Anh ấy có viết phúc đáp."

"Anh có cầm đi không?"

"Không, anh ấy tự tay cầm đi."

"Nhưng anh ta viết khi có mặt anh?"

"Phải, thưa ông.

Tôi đứng bên cửa, còn anh ấy ngồi bên chiếc bàn đó, quay lưng lại với tôi.

Viết xong thì anh ấy nói: Được rồi, anh gác cổng, tự tôi sẽ cầm đi."

"Anh ta viết bằng gì?"

"Bút mực, thưa ông."

"Đơn điện tín là một trong mấy tờ trên bàn đây phải không?"

"Phải, thưa ông, nó nằm trên cùng đấy."

Holmes đứng lên.

Anh lấy mấy tờ đơn điện tín đi lại cửa sổ và cẩn thận kiểm tra tờ trên cùng.

"Thật tiếc là anh ta không viết bằng bút chì", anh nói, nhún vai vẻ thất vọng, ném chúng trở lại.

"Watson này, chắc chắn anh vẫn hay nhận thấy, nét chữ thường lằn xuống - chỉ vì thế mà nhiều cuộc hôn nhân êm ấm đã tan vỡ.

Song ở đây tôi không tìm thấy dấu vết gì.

Tuy vậy, tôi vui mừng khi nhận thấy anh ta viết bằng bút lông ngỗng ngòi to, nên tôi hầu như không nghi ngờ gì chuyện ta sẽ tìm thấy một dấu in nào đó trên tờ giấy thấm này.

À, đúng vậy, chắc hẳn nó đây rồi!"

Anh xé một mảnh giấy thấm và quay nó về phía chúng tôi để chúng tôi nhìn thấy dòng kí tự:

Cyril Overton vô cùng phấn chấn.

"Giơ nó lên trước gương đi!"

Anh ta kêu lên.

"Không cần đâu", Holmes nói.

"Tờ giấy mỏng, nên mặt trái sẽ cho ta biết thông tin.

Đây rồi."

Anh lật nó qua và chúng tôi đọc:

"Vậy đó chính là khúc cuối của bức điện Godfrey Staunton gửi đi trong vòng vài giờ trước khi mất tích.

Ta bị thiếu ít nhất sáu chữ trong lời nhắn, nhưng những chữ còn lại: 'Vì Chúa hãy ở bên chúng tôi!' chứng tỏ rằng chàng trai này đã thấy một mối nguy khủng khiếp đang đến gần mà ai đó có thể che chở cho anh ta.

'Chúng tôi', xin nhớ kĩ cho!

Còn một đương sự nữa.

Đó có thể là ai ngoài cái ông có râu, mặt mày xanh xao, cũng có vẻ đang trong tình trạng căng thẳng như vậy?

Nếu vậy thì mối liên hệ giữa Godfrey Staunton và người đàn ông có râu ấy là như thế nào?

Và người thứ ba mà hai kẻ kia đều mong chờ sự giúp đỡ nhằm đối phó lại mối nguy cấp bách là ai?

Phạm vi điều tra của chúng ta đã thu hẹp đến đấy."

"Ta chỉ còn phải tìm hiểu xem bức điện gửi cho ai thôi", tôi gợi ý.

"Đúng, Watson thân mến.

Suy nghĩ của anh, dù sâu sắc, nhưng cũng đã thoáng qua óc tôi.

Nhưng tôi dám nói hẳn anh cũng biết là nếu bước vào bưu điện yêu cầu xem cuống lời nhắn của người khác thì nhân viên bưu điện sẽ chẳng mấy mặn mà giúp đỡ.

Trong mấy chuyện này người ta quan liêu lắm!

Tuy nhiên, tôi không nghi ngờ gì là nếu khéo léo và ý nhị một chút thì vẫn có thể đạt được mục đích.

Tạm thời thì nhân lúc có mặt anh, anh Overton, tôi muốn được xem qua mấy giấy tờ để lại trên bàn này."

Có một số thư từ, hóa đơn và sổ tay mà Holmes lật lên xem xét bằng mấy ngón tay thoăn thoắt, căng thẳng và ánh mắt dò xét, lanh lợi.

"Ở đây không có gì", cuối cùng anh nói.

"Nhân tiện, tôi chắc là bạn anh trẻ trung, khỏe mạnh - anh ta không có gì bất ổn chứ?"

"Tuyệt đối ngon lành."

"Có bao giờ anh thấy anh ta đau ốm gì không?"

"Không một ngày nào.

Anh ta từng nằm liệt giường vì bị đá vào ống quyển, có lần bị trật xương bánh chè, nhưng những chuyện đó chẳng là gì cả."

"Có lẽ anh ta không khỏe mạnh như anh tưởng.

Tôi nghĩ có thể anh ta đang âm thầm chịu đựng một căn bệnh nào đó.

Nếu anh ưng thuận thì tôi sẽ bỏ túi một vài tờ trong số này, phòng khi chúng có liên quan đến việc điều tra của chúng tôi sau này."

"Khoan, khoan!"

Một giọng cáu kỉnh vang lên, và khi chúng tôi ngước lên thì thấy một lão già nhỏ thó, dị hợm, cắn cảu và nhăn nhó xuất hiện ở cửa.

Lão ta mặc đồ đen bạc phếch, đội cái mũ chóp cao có vành rất rộng và đeo chiếc cà vạt trắng lòng thòng - nhìn tổng thể trông lão như một mục sư cực kì quê mùa hay một kẻ khóc mướn của dịch vụ tang lễ.

Vậy mà, mặc dù bề ngoài lôi thôi và thậm chí kì cục, giọng lão lại có vẻ đanh thép còn cử chỉ vô cùng nhanh nhẹn buộc ta phải chú ý.

"Ông là ai, thưa ông, và ông có quyền gì mà động vào giấy tờ của quý ông này?"

Lão già hỏi.

"Tôi là thám tử tư, và tôi đang cố lí giải việc anh ta mất tích."

"Ồ, thế hả, thế hả?

Vậy ai chỉ thị cho ông, hả?"

"Anh này, bạn anh Staunton, do bên Sở Cảnh sát London giới thiệu đến chỗ tôi."

"Còn anh là ai?"

"Tôi là Cyril Overton."

"Vậy thì anh chính là người đánh điện cho tôi.

Tôi là huân tước Mount James.

Tôi đã tức tốc bắt xe ở Bayswater đến đây ngay.

Vậy là anh đã thuê thám tử?"

"Phải, thưa ngài."

"Và anh sẵn sàng thanh toán phí tổn?"

"Thưa ngài, tôi tin chắc rằng khi chúng tôi tìm thấy anh Godfrey bạn tôi, anh ấy sẽ sẵn lòng chi trả."

"Nhưng nếu không bao giờ tìm thấy anh ta, hử?

Trả lời đi!"

"Trong trường hợp đó, chắc chắn người nhà anh ta..."

"Làm gì có chuyện đó!"

Lão già nhỏ thó ré lên.

"Đừng có mà trông mong ở tôi một xu nào, không một xu nào hết!

Mong ông hiểu điều đó, ông thám tử!

Tôi là người thân duy nhất của chàng trai kia, và tôi cho các vị biết là tôi không chịu trách nhiệm đâu.

Nếu anh ta có chút tiền đồ nào thì đó là nhờ tôi chưa hề phung phí tiền, mà giờ tôi cũng không định làm vậy.

Còn về mớ giấy tờ mà ông đang rất tự tiện đụng vào, tôi có thể cho ông biết là nếu ở đó có gì giá trị thì ông sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm giải thích cho những gì ông làm với chúng."

"Được lắm, thưa ngài", Sherlock Holmes nói.

"Trong khi đó thì cho phép tôi hỏi bản thân ngài có giả thuyết nào giải thích chuyện chàng trai này mất tích không?"

"Không, thưa ông, tôi không có.

Nó to con và già đầu đủ để tự lo thân, còn nếu nó ngu ngốc đến mức mất tích thì tôi hoàn toàn không lĩnh trách nhiệm đi tìm nó."

"Tôi rất hiểu lập trường của ngài", Holmes nói, mắt ánh lên vẻ tinh quái.

"Có lẽ ngài chưa hiểu hết lập trường của tôi.

Bấy lâu nay Godfrey Staunton có vẻ là người nghèo.

Nếu anh ta bị bắt cóc thì cũng không phải vì bất cứ thứ gì mà anh ta sở hữu.

Tiếng tăm về sự giàu có của ngài đã lan truyền ra nước ngoài, thưa huân tước Mount James, nên rất có thể là một băng trộm đã bắt cóc cháu ngài để moi ở anh ta chút thông tin về nhà cửa, các thói quen và kho của cải của ngài."

Mặt vị khách loắt choắt khó ưa của chúng tôi trắng bệch ra như chiếc cà vạt lão đang đeo.

"Trời đất, ông ơi, sao ông nghĩ thế!

Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bất lương như thế!

Sao trên đời lại có những thằng đều giả, vô nhân tính như vậy!

Nhưng Godfrey là đứa tử tế, một thằng tin được.

Không gì xui nó bán đứng cậu nó được đâu.

Chiều nay tôi sẽ cho đem hết đồ bạc tới nhà băng.

Trong khi đó thì đừng tiếc công, ông thám tử!

Tôi xin ông làm mọi cách để đem nó về an toàn.

Còn về tiền nong thì, thôi được, trong chừng mực năm bảng, hay kể cả là mười bảng đi nữa, nếu ông cần thì cứ tìm đến tôi."

Ngay cả khi đã được uốn nắn lối suy nghĩ, kẻ keo kiệt mang danh quý tộc này cũng không cung cấp được thông tin gì có ích cho chúng tôi, vì lão không biết gì mấy về đời tư của cháu trai.

Đầu mối duy nhất chúng tôi có được nằm trong bức điện hụt đầu hụt đuôi, và Holmes mang bản sao ấy lên đường đi tìm mắt xích thứ hai trong chuỗi suy luận của mình.

Chúng tôi đã tống tiễn huân tước Mount James, còn Overton thì đã đi hội ý với mấy thành viên khác trong đội về vận rủi đã xảy ra với họ.

Cách đó không xa có một bưu điện.

Chúng tôi dừng lại bên ngoài.

"Đáng thử lắm, Watson", Holmes nói.

"Tất nhiên, có trát thì ta có thể yêu cầu xem cuống, nhưng vẫn chưa đến mức đó.

Tôi đoán chừng ở một nơi nhộn nhịp thế này chắc họ không nhớ mặt khách.

Cứ liều thử xem."

"Tôi rất tiếc phải làm phiền cô", anh nói, kiểu ôn tồn nhất, với cô gái đằng sau lưới sắt, "trong bức điện tôi gửi hôm qua có chút sai sót nhỏ.

Tôi vẫn chưa nhận được hồi âm, nên rất lo mình đã quên đề tên.

Cô có thể cho tôi biết có đúng như vậy không?"

Cô gái lật một xấp cuống đơn.

"Lúc đó mấy giờ?"

Cô hỏi.

"Hơn 6 giờ một chút."

"Gửi cho ai?"

Holmes đặt ngón tay lên môi rồi liếc nhìn tôi.

"Mấy chữ cuối cùng là 'hãy ở bên chúng tôi'," anh thì thầm, vẻ bí mật, "Tôi rất lo vì chưa nhận được hồi âm."

Cô gái tách riêng một tờ đơn ra.

"Nó đây.

Không ghi tên", cô nói, đẩy ra trên quầy.

"Thảo nào, chính vì thế mà tôi chưa nhận được hồi âm", Holmes nói.

"Trời ơi, đúng là tôi ngu quá!

Xin chào, thưa cô, và xin đa tạ vì đã giúp tôi nhẹ đầu."

Anh tủm tỉm và xoa xoa hai bàn tay khi chúng tôi lại ra đến ngoài đường.

"Sao?"

Tôi hỏi.

"Có tiến triển rồi, Watson thân mến, có tiến triển rồi.

Tôi đã chuẩn bị sẵn bảy kế khác nhau để được liếc nhìn bức điện đó, nhưng tôi không ngờ lại thành công ngay từ lần đầu."

"Vậy anh có được gì rồi?"

"Một khởi điểm để ta điều tra."

Anh vẫy một cỗ xe ngựa.

"Nhà ga King's Cross", anh nói.

"Vậy ta sẽ đi một chuyến sao?"

"Phải, tôi nghĩ ta phải cùng xuống Cambridge thôi.

Tôi thấy dường như mọi dấu hiệu đều chỉ về hướng đó."

"Anh nói đi", tôi hỏi khi chúng tôi đi xe ngựa trên đường Gray's Inn, "anh đã nghi ngờ nguyên nhân mất tích nào chưa?

Trong tất cả các vụ của ta, tôi chưa thấy vụ nào có động cơ khó hiểu hơn.

Chắc anh không thực bụng nghĩ anh ta có thể bị bắt cóc để cung cấp thông tin hại ông cậu giàu có?"

"Watson thân mến, thú thật tôi thấy chuyện đó không phải là cách giải thích khả dĩ cho lắm.

Tuy vậy, lúc ấy tôi nghĩ chỉ có nói thế mới khiến lão già cực kì khó ưa nọ phải chú ý."

"Rõ ràng anh đã đạt được mục đích.

Nhưng còn các khả năng khác thì sao?"

"Tôi có thể nêu ra dăm ba cái.

Anh phải thừa nhận rằng thật kì lạ và đáng ngờ khi sự việc xảy ra vào đêm trước trận đấu quan trọng này, lại còn liên quan đến người duy nhất mà sự có mặt có vẻ tối quan trọng đối với thành công của đội bóng.

Tất nhiên, đó có thể là một sự trùng hợp tình cờ, nhưng thú vị.

Thể thao nghiệp dư không có cá độ, nhưng nhiều vụ cá cược bên ngoài vẫn diễn ra trong công chúng, nên có thể nó đáng để ai đó mua chuộc một cầu thủ như bọn bất lương ở trường đua mua chuộc nài ngựa.

Đó là một cách giải thích.

Cách giải thích hiển nhiên thứ hai là chàng trai này quả thực là người thừa kế một tài sản kếch sù, dù hiện nay tiền bạc của anh ta có ít ỏi thế nào nên không phải là không thể có chuyện bày mưu bắt giữ anh ta để đòi tiền chuộc."

"Mấy giả thuyết này không tính đến bức điện."

"Đúng thế, Watson.

Bức điện vẫn là thứ chắc chắn duy nhất mà ta phải giải quyết, và ta không được quên mất nó.

Chính vì muốn làm sáng tỏ mục đích của bức điện này mà giờ ta đi Cambridge.

Con đường điều tra của ta lúc này đang mù mịt, nhưng trước tối nay mà ta chưa giải được nó hay có tiến triển nào đáng kể thì mới là lạ đấy."

Khi chúng tôi tới thành phố đại học lâu đời thì trời đã tối.

Holmes bắt một cỗ xe ngựa tại nhà ga rồi dặn tay xà ích chở tới nhà bác sĩ Leslie Armstrong.

Ít phút sau chúng tôi đã dừng lại tại một tòa nhà lớn trong khu phố sầm uất nhất.

Sau khi được dẫn vào, chờ đợi một hồi cuối cùng chúng tôi cũng được mời vào phòng khám, ở đây chúng tôi thấy ông bác sĩ đang ngồi sau bàn.

Việc tôi không biết đến cái tên Leslie Armstrong cho thấy tôi đã xa rời nghề nghiệp đến mức độ nào.

Giờ tôi mới biết ông ta không chỉ là một trong những người đứng đầu khoa y của trường đại học, mà còn là nhà tư tưởng tiếng tăm của Âu châu trong nhiều ngành khoa học.

Nhưng dù không biết thành tích lẫy lừng ấy thì người ta cũng không thể không thấy ấn tượng khi thoạt nhìn người đàn ông này: Mặt to bè, vuông vức, đôi mắt trầm tư dưới cặp lông mày chổi xể, và quai hàm cứng như đúc bằng đá hoa cương.

Một người có tính cách sâu sắc, trí tuệ mẫn tiệp, nghiêm nghị, khắc khổ, độc lập, đáng nể - tôi hiểu bác sĩ Leslie Armstrong như vậy.

Ông ta cầm danh thiếp của bạn tôi trong tay, rồi ngước lên với thái độ không mấy hài lòng biểu lộ trên nét mặt thiếu thân thiện.

"Tôi đã được nghe danh ông, ông Sherlock Holmes, tôi cũng biết nghề của ông, một nghề mà tôi hoàn toàn không đồng tình."

"Thưa bác sĩ, thế thì chẳng khác nào ông đồng tình với mọi tên tội phạm trong nước", bạn tôi điềm nhiên nói.

"Nếu những nỗ lực của ông là nhằm ngăn chặn tội ác, thưa ông, thì mọi thành viên hiểu biết trong cộng đồng đều ủng hộ, dù tôi không thể nghi ngờ là bộ máy chính quy đã đủ đông đảo cho mục đích này.

Nghề nghiệp của ông đáng bị chỉ trích là ở chỗ ông rình mò bí mật cá nhân, ông đào bới những chuyện gia đình đáng ra phải che đậy, và khi ông vô tình làm mất thời gian của những người bận rộn hơn ông.

Chẳng hạn như lúc này đây, tôi nên viết một khảo luận thay vì trò chuyện với ông."

"Tôi không phủ nhận, thưa bác sĩ; ấy thế mà cuộc chuyện trò này chưa biết chừng lại quan trọng hơn khảo luận đấy.

Nhân tiện tôi có thể cho ông biết rằng việc chúng tôi đang làm trái ngược hoàn toàn với những gì mà ông vừa trách cứ rất đúng, và chúng tôi đang cố ngăn chặn để những sự việc riêng tư không bị phơi bày công khai, bởi điều đó sẽ là không tránh khỏi một khi vụ án đến tay cảnh sát.

Ông có thể xem tôi như một người tiên phong không chính quy đi trước các lực lượng chính quy ở đất nước này.

Tôi đến để hỏi ông về Godfrey Staunton."

"Hỏi gì về anh ta?"

"Ông biết anh ta, phải không?"

"Anh ta là một người bạn thân của tôi."

"Ông biết anh ta đã mất tích chứ?"

"À, ra thế!"

Vẻ mặt nghiêm khắc của giáo sư vẫn không biến đổi.

"Đêm qua anh ta đã rời khỏi khách sạn.

Đến giờ vẫn chưa nghe tin gì."

"Chắc chắn anh ta sẽ trở lại."

"Mai là trận bóng giữa các trường đại học diễn ra rồi."

"Tôi không ủng hộ mấy trò trẻ con này.

Tôi chỉ quan tâm sâu sắc đến số phận của chàng trai, vì tôi biết anh ta và mến anh ta.

Trận bóng thì không hề thuộc phạm vi hiểu biết của tôi."

"Vậy thì tôi xin ông ủng hộ tôi điều tra số phận của anh Staunton.

Ông có biết anh ta ở đâu không?"

"Đương nhiên là không."

"Từ hôm qua ông không gặp anh ta sao?"

"Không, tôi không gặp."

"Anh Staunton có phải người khỏe mạnh không?"

"Hoàn toàn."

"Có bao giờ ông thấy anh ta đau ốm gì không?"

"Không bao giờ."

Holmes bỗng xòe một tờ giấy ra trước mặt bác sĩ.

"Vậy thì ông sẽ giải thích thế nào về tờ hóa đơn đã đóng dấu thực trả mười lăm guinea mà tháng trước Godfrey Staunton thanh toán cho bác sĩ Leslie Armstrong ở Cambridge?

Tôi lấy nó trong mớ giấy tờ trên bàn của anh ta."

Bác sĩ đỏ mặt giận dữ.

"Tôi thấy không có lí do gì phải giải thích với ông, ông Holmes."

Holmes cất lại tờ hóa đơn vào sổ tay.

"Nếu ông muốn giải thích trước bàn dân thiên hạ hơn là nói với tôi thì sớm muộn gì cũng đến lúc ấy thôi", anh nói.

"Tôi đã nói là tôi có thể giữ kín cái mà người khác buộc phải công bố, nên ông thổ lộ hết với tôi thì khôn ngoan hơn đấy!"

"Tôi không biết gì về chuyện đó cả."

"Ông có nhận được tin gì của anh Staunton ở London không?"

"Tất nhiên là không."

"Ôi trời, ôi trời, lại là bưu điện!"

Holmes thở dài ngao ngán, "Lúc 6 giờ 15 chiều qua ở London, Godfrey Staunton có gửi cho ông một bức điện cực kì cấp bách - bức điện chắc chắn có liên quan đến việc anh ta mất tích - vậy mà ông vẫn chưa nhận được.

Tắc trách quá.

Nhất định tôi sẽ xuống bưu điện ở đây khiếu nại."

Bác sĩ Leslie Armstrong bật dậy khỏi ghế, khuôn mặt ngăm đen đỏ bừng vì thịnh nộ.

"Phiền ông bước ra khỏi nhà tôi, thưa ông", ông ta nói.

"Ông cứ nói với ông chủ của ông, huân tước Mount James, rằng tôi không muốn dính dáng gì đến ông ta hay mấy tay thám tử của ông ta.

Không, thưa ông, không nói thêm gì nữa!"

Ông ta giận dữ rung chuông.

"John, đưa quý ông này ra!"

Một tay hầu vênh vang nghiêm khắc dẫn chúng tôi ra cửa, và thế là chúng tôi lại ở ngoài đường.

Holmes phá ra cười.

"Bác sĩ Leslie Armstrong dứt khoát là người đầy nghị lực và cá tính", anh nói.

"Tôi chưa thấy ai là ứng cử viên sáng giá để lấp chỗ trống mà Moriarty trứ danh để lại hơn ông ta, nếu ông ta dồn tài năng theo hướng ấy.

Thôi được rồi, Watson ơi, chúng ta đang lạc lõng và chẳng có bạn bè trong thành phố không hiếu khách này, mà ta lại chưa thể đi nếu không muốn từ bỏ vụ án của mình.

Nhà trọ nhỏ ngay trước nhà Armstrong kia đặc biệt thích hợp cho các nhu cầu của ta đây.

Anh thuê một căn phòng ở mặt trước và mua các thứ cần thiết cho đêm nay đi, để tôi được rảnh tay mà dò la đôi chút."

Việc mà Holmes gọi là dò la đôi chút hóa ra lại kéo dài hơn anh tưởng, vì gần 9 giờ anh mới về quán trọ.

Nom anh xanh xao và chán nản, mình mẩy bụi bặm, kiệt sức vì đói và mệt.

Một bữa ăn tối nguội lạnh đã bày sẵn trên bàn, sau khi ăn uống no say và châm tẩu thuốc, anh lại trở về với cái nhìn phần nào hài hước và hoàn toàn triết lí như thường lệ mỗi khi công việc không như ý.

Tiếng bánh xe ngựa khiến anh đứng lên liếc nhìn ra cửa sổ.

Một cỗ xe có đôi ngựa xám đang đậu trước cửa nhà bác sĩ dưới ngọn đèn đường sáng rực.

"Nó ra ngoài ba tiếng đồng hồ", Holmes nói, "khởi hành lúc 6 rưỡi, và giờ mới về.

Vậy là bán kính tầm mười, mười hai dặm mà ngày nào ông ta cũng đi như vậy một lần, có khi hai lần."

"Đối với một bác sĩ đang hành nghề thì việc đó đâu có gì lạ."

"Nhưng Armstrong không hẳn là bác sĩ đang hành nghề.

Ông ta là giảng viên và bác sĩ tham vấn, nhưng ông ta không màng đến chuyện hành nghề, vì nó sẽ làm ông ta xao lãng công việc học thuật.

Vậy thì tại sao ông ta lại phải đi xa như thế, mà lúc đi đường hẳn là hết sức tẻ nhạt và ông ta đến gặp ai vậy?"

"Tay xà ích của ông ta..."

"Watson thân mến, làm sao tôi có thể không hỏi đến hắn ngay từ đầu?

Chẳng biết vì xấu tính hay do ông chủ xúi mà hắn ta lỗ mãng đến mức thả chó ra đuổi tôi.

Song cả chó lẫn chủ đều không thích cây gậy của tôi, và thế là hắn chẳng làm gì được.

Sau đó thì tình hình trở nên căng thẳng, nên không có chuyện dò hỏi thêm nữa.

Tất cả những gì tôi biết được đều là do khai thác từ một người địa phương thân thiện trong sân quán trọ của ta.

Chính ông ấy đã cho tôi biết các thói quen và lộ trình hằng ngày của bác sĩ.

Đúng lúc đó thì xe ngựa dừng lại ở cửa như để chứng minh cho lời vừa nói."

"Anh không đuổi kịp nó sao?"

"Tuyệt, Watson!

Tối nay anh thật sáng trí.

Ý đó quả đã thoáng qua óc tôi.

Hẳn anh cũng đã để ý thấy, kế bên nhà trọ của ta có một tiệm xe đạp.

Tôi chạy nhào vào đó, thuê chiếc xe đạp, nên có thể xuất phát khi xe ngựa còn chưa khuất hẳn tầm mắt.

Chẳng mấy chốc tôi cũng đuổi kịp, thế rồi, kín đáo đi cách xa chừng trăm yard, tôi lần theo mấy ngọn đèn trên xe cho đến khi chúng tôi ra khỏi thành phố.

Chúng tôi vừa ra giữa đường làng thì một sự việc có phần bẽ mặt xảy ra.

Xe ngựa dừng lại, bác sĩ bước xuống, thoăn thoắt đi tới chỗ tôi lúc ấy cũng đã dừng, rồi nói với tôi bằng cái giọng mỉa mai vô cùng rằng ông ta e là đường chật rồi, và ông ta hi vọng xe ngựa không cản lối xe đạp của tôi.

Không gì đáng khâm phục hơn cách ông ta diễn đạt câu đó.

Tôi liền đạp qua xe ngựa, rồi cứ theo đường cái, đi thêm vài dặm nữa, đoạn dừng lại một chỗ thuận tiện để xem xe ngựa có đi qua không.

Song không thấy bóng dáng xe đâu, nên hẳn là nó đã rẽ vào một trong nhiều đường nhánh mà tôi đã quan sát thấy.

Tôi đạp xe quay lại, nhưng vẫn không thấy xe ngựa đâu, rồi giờ thì, anh thấy đấy, nó quay về sau tôi.

Tất nhiên, ban đầu tôi không có lí do gì cụ thể để cho là những chuyến đi này liên quan đến việc Godfrey Staunton mất tích, mà chỉ thiên về điều tra trên cơ sở chung chung là lúc này, tất cả những gì liên quan đến bác sĩ Armstrong đều thuộc phạm vi cần quan tâm; nhưng thấy ông ta cứ lăm le đề phòng người khác đi theo nên tôi thấy việc này có vẻ quan trọng hơn, và chừng nào làm sáng tỏ được việc này thì tôi mới vừa lòng."

"Mai ta có thể theo dõi ông ta."

"Được không?

Chẳng dễ như anh nghĩ đâu.

Anh không quen thuộc cảnh quan vùng Cambridgeshire, đúng không?

Ở đây không có chỗ phù hợp để ẩn nấp.

Cả vùng đồng quê tôi đi qua tối nay đều bằng phẳng và trống trải như lòng bàn tay, người mà ta theo dõi lại không phải kẻ ngốc - tối nay ông ta đã chứng tỏ quá rõ.

Tôi đã đánh điện dặn Overton cho chúng ta biết bất kì diễn biến mới nào ở London theo địa chỉ này, nên tạm thời lúc này ta chỉ có thể tập trung chú ý đến bác sĩ Armstrong, cái tên mà nhờ cô gái nhiệt tình ở bưu điện, tôi đã đọc trên cuống đơn phát điện khẩn của Staunton.

Ông ta biết chàng trai này ở đâu - tôi cam đoan là thế - và nếu ông ta biết mà ta không có cách nào để tìm cho ra nhẽ thì đó là lỗi của chúng ta.

Phải thú nhận rằng lúc này ông ta đang nắm quân bài chủ, nhưng, như anh biết đấy Watson, tôi không quen để ván bài giữ nguyên tình thế ấy."

Vậy mà hôm sau chúng tôi vẫn chưa có tiến triển gì trong việc giải bí ẩn ấy.

Sau bữa điểm tâm có một lá thư được đưa đến, Holmes mỉm cười đẩy qua bàn cho tôi.

THƯA ÔNG,

Tôi có thể cam đoan với ông rằng ông đang lãng phí thời gian khi bám sát nhất cử nhất động của tôi.

Như tối qua ông đã nhận ra, sau cỗ xe song mã của tôi có một ô cửa, nên nếu ông muốn đạp xe hai mươi dặm để về lại đúng nơi xuất phát thì cứ việc đi theo.

Tiện thể, xin báo cho ông biết rằng rình mò tôi cũng không giúp được gì cho anh Godfrey Staunton, nên để giúp anh ta thì tốt nhất là ông hãy lập tức về London mà báo lại với người thuê ông rằng ông không tìm được anh ta.

Ông lưu lại Cambridge cũng chỉ phí thời gian thôi.

Kính chào,

LESLIE ARMSTRONG

"Ông bác sĩ này là một đối thủ thẳng thắn, trung thực", Holmes nói.

"Ôi, ôi, ông ta làm tôi thấy tò mò, nên quả thực trước khi chia tay ông ta tôi phải biết cho bằng được."

"Lúc này xe ngựa đang dừng trước cửa nhà ông ta", tôi nói.

"Ông ta đang lên xe kìa.

Tôi thấy khi bước vào ông ta liếc lên cửa sổ phòng ta.

Hay là tôi dùng xe đạp mà thử vận may?"

"Không, không, Watson thân mến!

Dù rất tôn trọng sự nhạy bén bẩm sinh của anh nhưng tôi không nghĩ anh là đối thủ ngang sức với vị bác sĩ đáng kính kia đâu.

Tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ đạt được mục đích của ta bằng vài chuyến thám hiểm riêng.

E là phải để anh ở lại, vì hai người lạ xuất hiện ở một vùng đồng quê im lìm lại còn hỏi han này nọ có thể khiến dân tình bàn tán.

Thành phố cổ kính này thiếu gì cảnh đẹp cho anh đi tham quan, tôi cũng hi vọng trước buổi tối sẽ đem về cho anh tin tức khả quan hơn."

Song một lần nữa bạn tôi đành phải thất vọng.

Tối đến anh quay về mệt mỏi và thất bại.

"Hôm nay lại công toi, Watson à.

Khi đã biết được hướng đi chung chung của bác sĩ, tôi dành cả ngày đi hết mấy ngôi làng ở mạn bên ấy của Cambridge, chuyện trò với các chủ quán rượu và các thông tấn xã địa phương khác.

Tôi đã đi được vài nơi, Chesterton, Histon, Waterbeach và Oakington đều đã lần lượt được thăm dò và chỗ nào cũng đáng thất vọng.

Ở cái thung lũng Im Lìm này thì một cỗ xe song mã ngày nào cũng xuất hiện khó mà lọt qua mắt người ta được.

Bác sĩ lại ghi điểm nữa rồi.

Có bức điện nào cho tôi không?"

"Có, tôi mở xem rồi.

Đây: Hỏi mượn Pompey ở chỗ Jeremy Dixon, Cao đẳng Trinity.

Tôi không hiểu gì cả."

"Ồ, thế là rõ rồi mà.

Đây là bức điện của anh bạn Overton, trả lời cho câu hỏi của tôi.

Chỉ cần gửi một lá thư cho ông Jeremy Dixon, tôi tin chắc là vận may của ta sẽ trở lại.

Mà này, có tin gì về trận đấu không?"

"Có, tờ báo địa phương số mới nhất có một bài tường thuật xuất sắc.

Oxford thắng cách biệt một cú ăn bàn và hai cú chạm vạch.

Đoạn kết bài tường thuật như sau: Thất hại của đội Cambridge có thể quy cho sự vắng mặt đáng tiếc của cầu thủ cừ khôi từng thi đấu giải quốc tế, Godfrey Staunton.

Người ta cảm nhận được sự vắng mặt của anh trong mọi khoảnh khắc của trận đấu.

Sự thiếu phối hợp của hàng hậu vệ và sự yếu kém của họ cả trong tấn công lẫn phòng ngự đã triệt tiêu toàn bộ nỗ lực của một đội mạnh và luôn luyện tập chăm chỉ.

"Vậy thì tiên đoán của anh bạn Overton là xác đáng", Holmes nói.

"Cá nhân tôi thì đồng tình với bác sĩ Armstrong, và bóng bầu dục không thuộc phạm vi hiểu biết của tôi.

Tối nay đi ngủ sớm thôi, Watson, vì tôi dự đoán mai có thể là một ngày sôi động đấy."

Sáng hôm sau, tôi thất kinh khi thoáng thấy Holmes, vì anh đang ngồi bên lò sưởi, cầm cái ống tiêm dưới da bé xíu.

Đối với tôi dụng cụ đó gắn liền với khiếm khuyết duy nhất trong bản tính của anh, nên thấy nó loang loáng trong tay anh là tôi đã lo sợ điều tồi tệ nhất.

Anh cười trước vẻ mặt kinh hãi của tôi và để nó lên bàn.

"Không, không, anh bạn, không việc gì phải hoảng.

Lần này nó không còn là một dụng cụ xấu xa, mà sẽ là chìa khóa mở ra bí ẩn của ta.

Tôi đặt mọi hi vọng vào ống tiêm này đấy.

Tôi vừa làm một chuyến thám thính nho nhỏ và mọi thứ đều thuận lợi cả.

Ăn sáng cho no đi, Watson, vì tôi định hôm nay sẽ theo dấu bác sĩ Armstrong, mà đã lên đường thì tôi sẽ không thể dừng lại nghỉ ngơi ăn uống gì được cho đến chừng nào đuổi tới tận sào huyệt của ông ta."

"Nếu vậy", tôi nói, "ta nên mang bữa sáng theo, vì ông ta sẽ khởi hành ngay thôi Xe của ông ta đã ở bên cửa rồi."

"Đừng lo.

Cứ để ông ta đi.

Ông ta có thông minh đến mấy cũng chẳng chạy tới nơi nào mà tôi không theo được.

Ăn xong thì anh xuống lầu với tôi, rồi tôi sẽ giới thiệu anh với một thám tử là chuyên gia rất sáng giá trong công việc trước mắt."

Khi xuống nhà, tôi theo Holmes vào sân chuồng ngựa, anh mở một cửa chuồng, dắt ra một con chó to bè, tai cụp, lông có hai màu nâu trắng, trông như lai giữa chó săn thỏ và chó săn cáo.

"Để tôi giới thiệu anh với Pompey", anh nói.

"Pompey là niềm kiêu hãnh của chó săn trong vùng - không chạy nhanh lắm, như hình dạng nó cho thấy, nhưng là một chú chó săn đáng tin cậy về khả năng đánh hơi.

Nào Pompey, có thể chú mày không nhanh, nhưng tao nghĩ so với hai quý ông London trung niên thì chú mày lại quá lanh lẹ, nên tao sẽ mạn phép buộc chiếc dây da này vào cổ chú mày.

Nào, anh bạn, đi nào, rồi chứng tỏ xem chú mày làm được gì."

Anh dẫn con chó băng qua đường đến cửa nhà bác sĩ.

Con chó đánh hơi xung quanh một lát, đoạn nó rít lên hăm hở, rồi chạy dọc con đường, cố giật sợi dây để chạy nhanh hơn.

Trong nửa giờ chúng tôi đã ra khỏi thành phố và rảo bước theo một đường làng.

"Anh đã làm gì vậy, Holmes?"

Tôi hỏi.

"Một phương sách cũ rích và cổ lỗ, nhưng trong dịp này thì hữu ích.

Khi sáng tôi vào sân nhà bác sĩ, phun một xi lanh tinh dầu hoa hồi lên bánh xe sau.

Con chó săn có thể theo mùi hoa hồi từ đây đến tận John O' Groat'

s đấy, nên ông bạn Armstrong sẽ phải chạy khắp Cambridge mới cắt đuôi được Pompey.

Ồ, lão khốn trí trá!

Ra là đêm nọ lão thoát được tôi bằng cách này."

Con chó chợt rẽ khỏi đường cái vào một đường làng cỏ mọc.

Sau nửa dặm thì đường thông sang một con đường rộng khác, rồi dấu vết quành gấp về bên phải, quay lại hướng thành phố mà chúng tôi vừa đi.

Con đường lượn về phía nam thành phố và tiếp tục theo hướng ngược lại hướng chúng tôi xuất phát.

"Vậy ra đường vòng này hoàn toàn là vì chúng ta sao?"

Holmes nói.

"Thảo nào tôi dò hỏi khắp mấy ngôi làng đó mà chẳng đi tới đâu.

Bác sĩ nhất định là đã chơi hết mình, nhưng sao lại phải dùng mẹo lừa tinh vi như vậy.

Bên tay phải ta là làng Trumpington.

Mà, trời ơi!

Xe song mã đang vòng ở góc đường kìa.

Nhanh lên, Watson, nhanh lên, không thì ta tiêu mất!"

Anh phóng qua cổng vào một khoảng sân, kéo Pompey đang tỏ vẻ miễn cưỡng theo.

Chúng tôi vừa tới được chỗ nấp bên hàng rào thì xe ngựa đã lạch cạch chạy ngang.

Tôi thoáng thấy bác sĩ Armstrong ngồi trong, vai thõng xuống, hai tay ôm đầu, biểu hiện nỗi đau đớn.

Thấy mặt bạn tôi sầm xuống tôi dám chắc anh cũng đã nhìn thấy.

"Tôi e cuộc tìm kiếm của ta sẽ có một kết cục bi đát", anh nói.

"Ta sẽ sớm biết được thôi.

Đi nào, Pompey!

À, đó là túp nhà nhỏ ngoài đồng!"

Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đã tới đích.

Pompey chạy lăng xăng và rít lên hăm hở bên ngoài cổng, ở đó vẫn còn thấy được mấy vết bánh xe song mã.

Một lối mòn chạy băng qua túp nhà quạnh quẽ.

Holmes cột con chó vào hàng rào, rồi chúng tôi nhanh chân bước tới.

Bạn tôi gõ cánh cửa nhỏ thô mộc, rồi lại gõ tiếng nữa, song không thấy ai đáp.

Nhưng không phải trong túp nhà nhỏ không có ai, bởi một âm thanh khẽ vẳng tới tai chúng tôi - một kiểu than vãn vì khốn khổ và tuyệt vọng, u uất không thể tả nổi.

Holmes ngập ngừng chưa quyết, đoạn anh liếc về phía con đường chúng tôi vừa đi qua.

Một cỗ xe song mã đang chạy tới, và rõ ràng mấy con ngựa xám kia rồi.

"Trời ơi, bác sĩ quay lại!"

Holmes kêu lên.

"Phải vậy thôi.

Ta buộc phải hiểu cho ra chuyện này là thế nào trước khi ông ta đến."

Anh mở cửa và chúng tôi bước vào gian chính.

Tiếng thổn thức lớn dần bên tai chúng tôi cho đến khi thành một tiếng khóc than đau đớn trầm đục, kéo dài.

Tiếng ấy vọng xuống từ trên gác.

Holmes phóng lên còn tôi theo sau.

Anh mở cánh cửa khép hờ, cả hai chúng tôi đứng thất kinh vì cảnh tượng trước mặt.

Một phụ nữ trẻ, đẹp, đã chết nằm trên giường.

Mặt cô tái nhợt, thanh thản, hai mắt xanh mở to, đục lờ, nhìn lên từ giữa một vầng tóc vàng óng.

Dưới chân giường, trong tư thế nửa ngồi, nửa quỳ, mặt áp vào vải trang phục, là một chàng trai, tấm thân rung lên vì nức nở.

Anh ta chìm trong nỗi đau sâu sắc đến mức không hề ngẩng lên cho đến khi Holmes đặt tay lên vai anh ta.

"Anh là Godfrey Staunton phải không?"

"Phải, phải, tôi đây.

Nhưng ông muộn quá rồi.

Cô ấy chết rồi."

Người này ngây dại đến mức không làm sao cho anh ta hiểu được chúng tôi không phải là bác sĩ được cử đến giúp.

Holmes đang định nói đôi câu chia buồn và giải thích nỗi hốt hoảng mà sự biến mất đột ngột của anh ta đã gây ra cho các bạn anh ta thì có tiếng chân bước trên câu thang, rồi bộ mặt nặng nề, nghiêm nghị, dò hỏi của giáo sư Armstrong đã hiện ra ở cửa.

"Quý vị", ông ta nói, "vậy là quý vị đạt được mục đích rồi và tất nhiên đã chọn một khoảnh khắc đặc biệt tế nhị để xâm nhập.

Tôi sẽ không lời qua tiếng lại ồn ào trước người đã khuất, nhưng tôi có thể cam đoan với các ông rằng nếu tôi trẻ hơn thì hành vi xấu xa của các ông sẽ không tránh được sự trừng phạt."

"Xin thứ lỗi cho tôi, bác sĩ Armstrong, tôi nghĩ chúng ta có chút hiểu lầm nhau", bạn tôi nói nghiêm trang.

"Nếu ông có thể xuống lầu với chúng tôi thì đôi bên có thể giải thích cho nhau rõ câu chuyện thương tâm này."

Phút sau, ông bác sĩ nghiêm khắc và chúng tôi đã ở phòng khách bên dưới

"Sao, thưa ông?"

Ông ta nói.

"Trước hết, tôi mong ông hiểu rằng tôi không được huân tước Mount James thuê, và trong việc này tôi không đồng tình với quý ông đó.

Khi một người mất tích thì phận sự của tôi là xác định số phận của anh ta, nhưng sau khi xong việc thì vai trò của tôi, dừng lại ở đó và miễn là không có gì phạm pháp thì tôi rất mong muốn giữ kín những tai tiếng riêng tư hơn là đem công bố.

Tôi thiển nghĩ, nếu không có gì phạm pháp trong việc này, ông có thể tuyệt đối tin tưởng ở sự kín đáo và hợp tác của tôi để đảm bảo việc này không lên báo."

Bác sĩ Armstrong bước nhanh tới và siết chặt tay Holmes.

"Ông là người tốt", ông ta nói.

"Tôi đã đánh giá sai về ông.

Tôi cảm ơn trời vì nỗi ăn năn khi để Staunton tội nghiệp lại một mình trong cảnh ngộ này đã khiến tôi quành xe lại, nhờ vậy mà được làm quen với ông.

Vì ông đã biết nhiều rồi nên rất dễ giải thích tình cảnh này.

Một năm trước, Godfrey Staunton trọ ở London một thời gian, rồi trở nên gắn bó tha thiết với con gái bà chủ nhà, sau đó anh ta cưới cô ấy.

Cô ấy vừa tử tế, xinh đẹp lại vừa thông minh, tốt bụng.

Không người đàn ông nào phải xấu hổ về một người vợ như vậy.

Nhưng Godfrey là người thừa kế của lão quý tộc bẳn tính kia nên chắc chắn là tin tức về đám cưới của anh ta sẽ chấm dứt quyền thừa kế.

Tôi biết anh chàng rất rõ, và tôi quý anh ta vì nhiều phẩm chất ưu tú.

Tôi làm tất cả những gì có thể để giúp anh ta phân biệt phải trái.

Chúng tôi làm hết sức mình để giấu kín chuyện với tất cả mọi người, vì một lời đồn đại như vậy mà loan ra thì chẳng mấy chốc ai ai cũng biết.

Nhờ căn nhà nhỏ này và tính kín đáo, cho đến nay Godfrey đã giấu giếm được.

Không ai biết bí mật của họ trừ tôi và một người hầu đáng tin, lúc này đã đi Trumpington tìm sự trợ giúp.

Nhưng một tai họa khủng khiếp đã giáng xuống khi vợ anh ta mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo, đó là bệnh lao phổi thuộc dạng cực hiếm.

Anh chàng tội nghiệp như hóa điên vì đau buồn, nhưng phải đi London để chơi trận đấu này, vì anh ta không thể bỏ thi đấu mà không giải thích bằng cách phơi bày bí mật của mình.

Tôi đã đánh điện để cố động viên anh ta, rồi anh ta hồi âm, khẩn nài tôi làm tất cả những gì có thể.

Đó chính là bức điện mà không hiểu sao ông đã thấy.

Tôi không cho anh ta biết mối nguy cấp bách ra sao, vì tôi biết anh ta sẽ không giúp gì được ở đây, nhưng tôi có đánh điện báo cho cha cô gái biết sự thật, và ông này đã rất thiếu cân nhắc khi báo cho Godfrey.

Kết quả là anh ta đến ngay trong tình trạng gần như điên loạn, và vẫn còn quỳ dưới chân giường trong tình trạng đó, cho đến sáng nay khi cái chết chấm dứt những nỗi đau khổ cho cô ấy.

Tất cả là vậy, ông Holmes, và tôi tin có thể trông cậy vào sự kín đáo của ông và bạn ông."

Holmes siết chặt tay bác sĩ.

"Đi thôi, Watson", anh nói, và thế là chúng tôi bước ra khỏi căn nhà đau buồn đó dưới ánh mặt trời nhợt nhạt ngày đông

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D12 Vụ án tại Abbey Grange


VỤ ÁN TẠI ABBEY GRANGE

THE ADVENTURE OF THE ABBEY GRANGE (1904)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Vào một buổi sáng lạnh lẽo và buốt giá của mùa đông năm 1897, tôi bỗng thức giấc vì có ai lay mạnh vai tôi.

Hóa ra là Holmes.

Ngọn nến trên tay anh soi rõ gương mặt hăm hở, mà chỉ thoáng nhìn qua cũng biết ngay là có chuyện vừa xảy ra.

- Đi thôi, Watson, đi thôi!

- anh giục - Đừng hỏi han gì cả!

Mặc ngay quần áo vào, rồi lên đường!

Mười phút sau, hai chúng tôi đã ngồi trên một chiếc xe ngựa và lóc cóc băng qua những đường phố yên tĩnh đến ga Charing Cross.

Ánh bình minh yếu ớt của một ngày đông bắt đầu ửng lên, nên thỉnh thoảng chúng tôi có thể thấy được bóng dáng lờ mờ của một người thợ đi làm sớm.

Sau khi chúng tôi uống mấy chén trà nóng ngoài ga và được yên vị trên chuyến tàu đi Kent, anh mới thấy đủ ấm người lên để nói, còn tôi thì mới đủ tỉnh trí để nghe được câu chuyện.

Holmes rút trong túi ra một mảnh giấy và đọc to lên:

"Abbey Grange, Marsham, Kent, 3.30 sáng.

Ông Holmes thân mến.

Tôi sẽ rất lấy làm sung sướng, nếu ông vui lòng trợ lực cho tôi ngay lập tức trong việc điều tra một vụ án nhiều điều thú vị.

Vụ này rất hợp với sở thích của ông.

Ông sẽ thấy tôi vẫn giữ nguyên hiện trường, đúng như lúc tôi được mời đến.

Chỉ xin ông đừng bỏ lỡ thời gian.

Người bạn trung thành của ông.

Stanley Hopkins".

- Hopkins đã bảy lần mời tôi và lần nào cũng rất thích đáng, Holmes nói.

Tôi nghĩ chúng ta sẽ có một buổi sáng thú vị.

Vụ án mạng xảy ra lúc mười hai giờ đêm qua.

- Căn cứ vào đâu mà anh có thể nói chắc như thế?

- Vào giờ tàu và cách tính thời gian.

Đầu tiên họ phải mời cảnh sát địa phương.

Tiếp đó mới trình báo với Scotland Yard.

Rồi Hopkins phải đến tận hiện trường, sau đó mới có thể đánh điện cho tôi.

Phải mất trọn một đêm mới làm dược chừng đó việc.

À, ga Chislehurst kia rồi.

Mọi chuyện rồi sẽ sớm ngã ngũ thôi.

Vượt qua quãng đường vài dặm trên một hương lộ hẹp, chúng tôi đến trước cổng một khu vườn.

Người gác cổng già vội mở cổng cho chúng tôi.

Một lối đi rộng vắt ngang khu vườn, chạy giữa hai hàng cổ thụ, dẫn đến trước một tòa nhà rộng và thấp.

Phần chính toà nhà rất cổ kính, ẩn mình dưới những dây trường xuân sum suê, nhưng những khung cửa sổ rộng cho thấy chủ nhân đã cho sửa sang lại theo kiểu dáng hiện đại.

Một bên trái xem ra mới làm thêm.

Đón chúng tôi trước cánh cửa mở rộng là viên thanh tra Stanley Hopkins, dáng trẻ trung, gương mặt lộ rõ vẻ nôn nóng.

- Ông Holmes, rất mừng là ông đã đến.

Và cả ông nữa, bác sĩ Watson.

Thực ra giá được biết sớm, chắc tôi chẳng dám làm phiền ông.

Từ khi tỉnh lại, phu nhân đã cho chúng tôi biết về vụ này một cách rành rọt đến nỗi chúng ta có lẽ chẳng còn bao nhiêu công việc để làm nữa.

Ông chắc còn nhớ băng trộm ở Lewisham?

- Sao?

Băng ba cha con nhà Randall phải không?

- Đúng vậy.

Ông bố với hai thằng con.

Rõ ràng là bàn tay của chúng.

Tôi không còn hồ nghi chút nào.

Chúng mới ra tay ở Sydenham cách đây hai tuần.

Người nhà ở đấy đã nhận diện được chúng.

Thật kỳ lạ là chúng lại dám tiến hành một vụ nữa sớm như vậy.

Nhưng đây chính là băng đó, chẳng còn nghi ngờ gì nữa.

Lần này thì nhất định chúng khó lòng thoát khỏi giá treo cổ.

Ngài Eustace Brackenstall, một trong những người giàu có nhất ở Kent, đã bị sát hại.

Chúng đã dùng chính thanh cời than trong phòng đập vỡ sọ ông.

Phu nhân Brackenstall hiện đang nằm trong phòng tiếp khách buổi sáng.

Tội nghiệp cho phu nhân, bà đã phải một phen hãi hùng.

Bà gần như chết khiếp khi tôi vừa đặt chân đến đây.

Tôi nghĩ, hai ông nên gặp phu nhân, để được nghe chính bà kể lại đầu đuôi vụ này.

Sau đó, chúng ta sẽ cùng xem xét phòng ăn.

Phu nhân Brackenstall quả là một người phụ nữ phi thường.

Mái tóc bà vàng óng, mắt xanh, dáng người thanh tú, dung nhan thật diễm lệ.

Ngay phía trên một bên mắt là một vết bầm tím, sưng vù, trông chẳng đẹp chút nào.

Bà hầu của phu nhân đang dùng nước chườm vết thương.

Còn phu nhân thì mệt mỏi nằm dài trên đi - văng, người khoác một chiếc áo choàng rộng màu xanh điểm ngân tuyến.

- Ông Hopkins, tôi đã kể hết mọi chuyện với ông rồi - bà nói, giọng mệt nhọc.

Ông không thể thay tôi thuật lại được sao?

Ấy, nếu ông thấy cần, tôi đành kể lại lần nữa với các quí ông mới tới này.

Hai vị ấy đã vào phòng ăn chưa?

- Tôi nghĩ tốt hơn cả là nên để hai ông đây nghe phu nhân kể trước đã.

- Tôi hy vọng các ông có thể dàn xếp được mọi việc.

Thật khủng khiếp khi nghĩ đến cảnh nhà tôi vẫn còn nằm nguyên đó.

- Phu nhân rùng mình, đưa tay che mặt một lát.

Khi bà đưa tay lên, ống tay áo rộng hạ xuống tận khuỷu.

Holmes thốt lên:

- Ồ, thưa phu nhân, phu nhân còn bị mấy vết thương trên tay nữa kìa!

Sao thế này?

- Hai vệt đỏ ửng nổi bật trên cánh tay trắng muốt tròn trĩnh của phu nhân.

Bà vội kéo ống tay áo xuống che đi.

- Ồ, không có gì đâu.

Mấy cái vệt này chẳng dính dáng gì đến vụ đêm qua cả.

Nếu ông và các bạn ông chịu phiền ngồi xuống, tôi xin kể hết những gì tôi biết được.

Tôi là vợ huân tước Eustace Brackenstall.

Chúng tôi kết hôn với nhau được gần một năm nay.

Cuộc hôn nhân chẳng lấy gì làm êm thấm.

Có lẽ một phần là tại tôi.

Tôi lớn lên trong khung cảnh của miền nam nước Úc, vốn tự do hơn và ít lễ nghi hơn, nên tôi không thích lối sống ở Anh quốc.

Nhưng lý do chính mà ai cũng biết là ông Eustace nhà tôi là một người nghiện rượu thâm căn cố đế.

Sống với một con người như vậy thì dù chỉ một giờ cũng đủ hiểu được thế nào là tình cảnh của tôi, một phụ nữ nhạy cảm, lại bị trói chặt cả ngày lẫn đêm với một người như thế?

Tôi xin kể với các ông chuyện đêm qua.

Tất cả người hầu kẻ hạ trong nhà này đều ở trong dãy nhà dọc mới xây.

Toàn bộ tòa nhà chính được phân thành những phòng khách; còn sau lưng là nhà bếp.

Ông nhà tôi cho bố trí phòng ngủ của hai chúng tôi trên lầu.

Người hầu gái của tôi, bà Theresa, thì ngủ trong một căn phòng ngay bên trên phòng chúng tôi.

Ngoài bà ta ra trên lầu không còn một ai; nên không một tiếng động nào có thể vọng xuống đám gia nhân ở dưới kia.

Bọn kẻ trộm chắc hẳn biết rõ điều đó; nếu không, nhất định chúng đã không dám hành động như thế.

Tối qua, ông Eustace nhà tôi về phòng riêng lúc mười rưỡi.

Đám gia nhân cũng đều lui về phòng của họ.

Chỉ còn một mình bà Theresa vẫn thức trên phòng mình, ở tầng trên cùng toà nhà, chờ xem tôi có cần sai bảo gì không.

Tôi ngồi tại căn phòng này đến quá mười một giờ, mê mải đọc sách.

Rồi tôi đảo một vòng quanh nhà, để xem mọi thứ đã ngăn nắp chưa, trước lúc lên gác.

Tôi luôn tự mình cáng đáng việc này, vì như tôi đã nói, không phải lúc nào tôi cũng có thể cậy vào nhà tôi.

Tôi xuống nhà bếp, ghé phòng viên quản gia, lên phòng khách, rồi cuối cùng là phòng ăn.

Vừa đến gần khung cửa sổ có che một tấm màn dày, tôi hiểu rằng cửa sổ để ngỏ.

Tôi kéo tấm rèm sang một bên thì thấy mình đang đứng đối mặt với một gã đàn ông to ngang, đứng tuổi, vừa đặt chân vào phòng.

Cái cửa sổ đó là thứ cửa sổ cao, kiểu Pháp, có thể dùng như một cửa ra vào thông ra vườn.

Nhờ ánh nến từ phòng ngủ tôi hắt ra, tôi thấy còn có hai tên nữa theo vào sau lưng gã kia.

Tôi lùi lại, nhưng gã đàn ông xông vào tôi ngay.

Mới đầu gã chộp cổ tay tôi, tiếp đến chẹn chặt cổ.

Tôi mở miệng định kêu, nhưng hắn đã đánh rất mạnh vào trán tôi ngay bên trên mắt, khiến tôi khuỵu xuống.

Tôi ngất đi, chắc phải một lát sau mới tỉnh lại, lúc bấy giờ tôi thấy bọn chúng đã giật đứt một sợi dây kéo chuông và trói tôi vào chiếc ghế đến mức không thể cựa quậy được, rồi một chiếc khăn tay bịt quanh miệng tôi làm cho tôi không còn cách nào kêu la.

Đúng lúc đó, người chồng bất hạnh của tôi bước vào phòng.

Chắc ông ấy nghe thấy những tiếng động khả nghi nên đã chuẩn bị sẵn sàng để ứng phó.

Ông ấy mặc sơ-mi và quần dài, tay cầm chiếc gậy ưa thích.

Ông ấy lao đến một gã trong băng trộm, nhưng một gã khác, gã đứng tuổi, đã kịp cúi xuống nhặt cái thanh cời than trong lò sưởi ra, và giáng mạnh một vố khi ông ấy đi ngang qua trước mặt gã.

Nhà tôi gục ngã, không còn rên nổi một tiếng, và nằm bất động không bao giờ còn dậy nữa.

Tôi lại ngất đi, nhưng cũng chỉ trong vài phút.

Lúc tỉnh lại, tôi thấy bọn chúng đã vơ hết từ trong tủ buýp phê ra mấy bộ đồ dọn ăn bằng bạc, mở một chai rượu cũng lôi từ đó ra.

Mỗi tên cầm một cốc.

Như tôi đã nói, một gã trong bọn đã đứng tuổi, có râu; hai đứa kia còn trẻ măng.

Chắc chúng là ba bố con.

Chúng trò chuyện với nhau khe khẽ.

Xong, chúng tới chỗ tôi, xem tôi đã bị trói chặt chưa.

Cuối cùng, chúng chuồn ra ngoài, không quên đóng chặt cửa sổ.

Mười lăm phút, tôi mới gỡ được chiếc khăn khỏi miệng.

Nhờ thế, tôi mới la lên được, gọi bà hầu gái tới giúp mình.

Chúng tôi cho người đến báo cho cảnh sát địa phương.

Họ lập tức báo lên Luân đôn.

Đó là tất cả những gì tôi có thể kể cùng quí ông, và tôi hy vọng sẽ không phải nhắc lại câu chuyện đau lòng này nữa.

- Ông có hỏi gì không, ông Holmes?

- Hopkins hỏi.

- Tôi không muốn lạm dụng lòng kiên nhẫn và thời giờ của phu nhân Brakenstall nữa - Holmes nói.

Rồi anh đưa mắt về phía bà hầu gái - Trước lúc sang phòng ăn, tôi muốn được nghe câu chuyện của bà.

- Tôi đã trông thấy bọn chúng trước lúc chúng vào nhà - bà nói.

Khi ngồi bên cửa sổ trong phòng ngủ, tôi thấy ba người đàn ông hiện ra bên cổng dưới ánh trăng, nhưng lúc đó tôi không nghĩ bọn chúng là kẻ trộm.

Hơn một tiếng sau, tôi bỗng nghe thấy tiếng bà chủ kêu, tôi mới chạy xuống và thấy bà chủ lâm vào tình cảnh đúng như bà ấy vừa kể; còn ông chủ thì nằm dưới sàn.

Cảnh đó quá đủ dể làm cho một người phụ nữ mất vía, nhất là khi bị trói chặt.

Nhưng phu nhân tôi không bao giờ thiếu can đảm cả.

Quý ông hỏi bà chủ tôi lâu quá rồi đó ạ, nên bây giờ xin quý ông cho tôi đưa bà chủ về phòng nghỉ vì mệt mỏi quá rồi.

Như một người mẹ hiền, bà hầu phòng vòng tay qua lưng chủ, đỡ bà về phòng.

- Bà ta quấn quít với phu nhân từ nhỏ tới giờ - Hopkins nói - chăm chút phu nhân từ khi còn là một hài nhi.

Sang Anh - họ lần đầu rời Úc cách đây một năm rưỡi.

Tên bà ấy là Theresa Wright.

Ông Holmes, mời ông đi lối này.

Vẻ hào hứng biến mất trên gương mặt sinh động của Holmes, và tôi hiểu ra rằng vụ này chẳng còn lôi cuốn anh chút nào nữa vì đã hết tính chất bí ẩn ly kỳ.

Một người thầy thuốc từng trải được mời tới chữa một ca cảm lạnh thông thường cũng sẽ có cảm giác giống hệt như vậy thôi.

Nhưng cảnh tượng trong phòng ăn tại Abbey Grange đủ kỳ lạ để khơi dậy sự chú ý của anh.

Phòng này rất rộng, trần cao, ghép bằng những tấm gỗ sồi có chạm trổ, trên bốn vách tường trưng bày la liệt cả một bộ sưu tập tuyệt vời những gạc nai và vũ khí kiểu cổ.

Trong góc xa nhất của căn phòng kể từ cửa ra vào là cánh cửa sổ kiểu Pháp mà chúng tôi đã được nghe kể.

Ba khung cửa sổ nhỏ hơn bên tay phải làm cho căn phòng tràn ngập ánh nắng lạnh lẽo của mùa đông.

Phía bên trái là một cái lò sưởi rộng, xây sâu vào tường, với những súc gỗ sồi nguyên khối viền quanh.

Cạnh lò sưởi có đặt một chiếc ghế bành gỗ sồi dáng nặng nề.

Luồn qua một lỗ nhỏ trên những hoa văn chạm trổ trên chiếc ghế bành ấy là một sợi thừng đỏ, được cột chặt ở cả hai bên.

Khi cởi trói cho phu nhân, người ta nới rộng sợi dây, nhưng những chỗ thắt nút vẫn chưa được tháo hẳn.

Tuy vậy tâm trí chúng tôi bị thu hút hoàn toàn vào các vật khủng khiếp, đang nằm dài trước mặt lò sưởi: xác của ông chủ nhà.

Nạn nhân là một người đàn ông cao lớn, thân hình cân đối, tuổi trạc tứ tuần.

Ông ta nằm ngửa, cằm nghếch lên, hàm răng trắng lộ rõ phía dưới hai mép hơi nhếch lên sau bộ râu đen xén ngắn.

Hai bàn tay nắm chặt đang ở tư thế còn giơ cao quá đầu.

Một chiếc gậy nặng trịch nằm vắt ngang qua giữa hai bàn tay.

Trên gương mặt đẹp trai, ngăm đen hằn rõ một vẻ căm thù ghê gớm.

Chắc ông đang ngả lưng trên giường khi nghe tiếng động, vì trên người vẫn còn mặc nguyên áo ngủ, và phía dưới gấu quần còn thấy rõ đôi chân đi đất.

Đầu ông bị một vết thương khủng khiếp.Cạnh đó nằm chơ chỏng chiếc thanh cời than bị cong lại vì cú giáng mạnh vào đầu.

Holmes xem kỹ thanh sắt và xác nạn nhân.

- Lão kia hẳn phải có sức lực phi thường, lão Randall bố ấy - anh nhận xét.

- Đúng thế - Hopkins đáp - chúng tôi đã thu thập được một vài thông tin về lão và biết rõ lão là kẻ hết sức cộc cằn.

- Tóm cổ lão ta, chắc đối với ông sẽ chẳng có gì khó khăn.

- Không khó chút nào.

Chúng tôi đã theo dõi lão từ lâu, vì lão đã tính chuồn sang Mỹ.

Bây giờ, biết bọn chúng còn ở đây, tôi nghĩ bọn chúng chỉ còn cách mọc cánh mới hy vọng trốn thoát.

Chúng tôi đã cho yết thị nhân dạng bọn chúng tại tất cả các hải cảng, và định chiều nay thì công bố giải thưởng cho ai tóm được.

Tôi thật không thể hiểu nổi tại sao bọn chúng lại làm một chuyên điên rồ như vậy, vì chúng thừa biết sẽ bị phu nhân tả lại diện mạo, và nhất định chúng tôi sẽ nhận ra chúng.

- Đúng vậy.

Tôi rất lấy làm lạ sao chúng không bắt phu nhân vĩnh viễn im lặng một thể.

- Tôi tôi dự đoán có lẽ chúng không biết là phu nhân đã tỉnh lại - tôi nói.

- Có lẽ thế.

Vì phu nhân xem ra đã bị ngất xỉu, nên chúng không thấy cần giết.

Thế còn ông chủ tội nghiệp này thì sao, ông Hopkins?

Tôi nhớ hình như có nghe đồn một số chuyện kỳ quặc về ông ta.

- Khi tỉnh rượu, ông ta là người tốt bụng, nhưng hễ quá chén rồi, thì hoá thành một con quỉ dữ.

Vào những lúc như vậy, ông ta có thể làm đủ mọi chuyện.

Có lần, ông ta đã gây nên một chuyện rắc rối: ông ta tẩm dầu hoả khắp người một con chó rồi châm lửa đốt - mà đó lại chính là con chó của phu nhân, mới lôi thôi chứ, và người ta phải chật vật lắm mới giữ kín được vụ này.

Về sau, ông ta còn ném cả một cái chai vào bà hầu phòng Theresa Wright.

Chuyện này lại gây nên rắc rối.

Nhìn chung, cái này tôi nói riêng với ông thôi, giá không có ông ấy thì cả nhà sẽ thấy dễ chịu hơn nhiều.

Ông đang nhìn gì vậy?

Holmes đang quì gối xuống sàn hết sức chăm chú xem xét những nút thắt trên sợi thừng đỏ dùng để trói phu nhân.

Tiếp đến, anh xem kỹ chỗ đầu dây sờn bị đứt ra khi bọn trộm giật sợi thừng xuống.

- Khi chúng giật sợi dây này, cái chuông dưới bếp hẳn phải vang lên rất to - anh nhận xét.

- Không một ai nghe thấy cả.

Nhà bếp nằm ngay sau nhà.

- Do đâu mà kẻ trộm biết được là sẽ không có ai nghe thấy tiếng chuông?

Sao hắn lại dám liều lĩnh giật sợi dây như vậy nhỉ?

- Đúng thế, ông Holmes, đúng thế.

Ông nêu lên chính câu hỏi mà tôi vẫn tự hỏi đi hỏi lại nhiều lần.

Không còn ngờ vực gì nữa, kẻ đó phải biết rõ nhà này và thói quen sinh hoạt của những người đang ở đây.

Chúng phải hiểu cặn kẽ tất cả gia nhân đều đang ngủ và không một ai ở dưới bếp để có thể nghe được tiếng chuông cả.

Như vậy là hắn phải quen biết rõ ai đó trong đám gia nhân.

Chuyện này không còn gì phải nghi ngờ nữa.

Nhưng trong nhà chỉ có tám gia nhân, và hạnh kiểm của họ đều rất tốt.

- Bình thường ra - Holmes nói - Người mà tôi nghi sẽ chính là kẻ bị ông Eustace ném vỏ chai rượu vào mặt: bà Theresa Wringt.

Tuy nhiên, nếu thế thì bà lại là kẻ phản chủ, người chủ mà bà ta hình như đã hầu hạ hết sức tận tụy.

Thôi được, đó chỉ là chuyện nhỏ nhặt.

Câu chuyện phu nhân kể rõ ràng là rất chính xác, nếu căn cứ vào những gì mà chúng ta đang thấy trước mắt - Anh tiến về phía khung cửa sổ kiểu Pháp, và đẩy cả hai cánh ra - Chỗ này chẳng có dấu vết gì, vả lại mặt đất lại cứng như sắt nên tôi không có hy vọng tìm thấy dấu vết.

Theo tôi, những ngọn nến trên mặt lò sưởi lúc đó đã được thắp sáng.

- Đúng thế, chính nhờ những ngọn nến đó và mấy ngọn nến trong phòng ngủ của phu nhân mà bọn trộm thấy đường.

- Thế bọn chúng đã lấy đi những gì?

- Chẳng bao nhiêu.

Mấy bộ đồ để trong tủ buýp - phê.

Phu nhân Brackenstall nghĩ rằng chắc bọn chúng đã hốt hoảng với cái chết của Sir Eustace.

Nếu không, chắc chúng đã sục sạo khắp nhà.

- Đúng thế thật.

Nhưng tôi thấy chúng đã ung dung uống rượu.

- Chắc để tự trấn tĩnh thôi.

- Đúng thế.

Ba chiếc cốc trong gụ chắc chưa ai động tới thì phải.

- Chưa.

Cả chai rượu vẫn để nguyên như khi bọn chúng bỏ lại.

- Nào, để ta xem thử.

Ồ, cái gì thế này?

- Ổn cả rồi, Watson ạ - anh nói.

Chúng ta đã khám phá được một trong những vụ án thú vị nhất trong bộ sưu tập của chúng ta.

Nhưng tôi thật tối dạ, vì suýt nữa phạm phải một sai lầm tệ hại nhất đời mình!

Bây giờ tôi nghĩ chỉ còn thiếu vài khâu bị mất nữa là tôi đã có trong tay hầu như toàn bộ chuỗi sự kiện.

- Anh đã dò ra được các hung thủ?

- Chỉ một thôi, Watson, một hung thủ thôi.

Một thôi, nhưng là một kẻ đáng gờm.

Hắn khoẻ như gấu - cái thanh cời than bị bẻ cong kia là một minh chứng.

Cao lớn, nhanh như sóc, khéo tay kinh khủng.

Ngoài ra, còn tinh khôn rất mực, vì chính hắn đã dàn dựng nên toàn bộ vở kịch tài tình này.

Có điều trên sợi dây kéo chuông kia, chính hắn đã để lại dấu vết của riêng mình, giúp chúng ta có được một đầu mối để loại bỏ hết mọi ngờ vực.

- Thế cái đầu mối đó nằm ở đâu?

- Thế thì anh nghe đây, Watson.

Nếu anh giật sợi dây chuông thì anh thử liệu xem nó sẽ đứt ở đoạn nào?

Rõ ràng nó sẽ đứt ở chỗ nối với sợi dây thép.

Vậy thì sao nó lại đứt ở cách chỗ ấy tám phân như anh đã thấy?

- Vì chỗ đó bị sờn?

- Đúng.

Đầu dây này, như chúng ta đã xem xét, quả có bị sờn thật.

Và gã nọ quả đã đủ tinh quái, nên hắn mới dùng dao để làm cho sợi dây có vẻ như bị sờn.

Nhưng đầu ở trên kia thì không.

Đứng đây, anh không thể thấy được đâu, nhưng nếu anh trèo lên lò sưởi, anh sẽ thấy rõ nó đã bị cắt, chứ chẳng có dấu hiệu nào cho thấy là bị sờn cả.

Bây giờ, anh có thể tự mình tái lập được mọi diễn tiến.

Hung thủ cần một sợi dây.

Hắn không thể giật xuống vì sợ chuông rung, đánh động mọi người.

Hắn phải làm gì?

Trèo lên lò sưởi, nhưng vẫn không với tới, nên phải tỳ đầu gối vào đầu rầm chìa, anh sẽ thấy dấu vết in lại trên lớp bụi ngoài đó, vì còn thấy hơn ít nhất tám phân nữa.

Bởi vậy, hắn phải cao hơn tôi ít nhất tám phân.

Này bây giờ anh thử nhìn xem vết gì trên mặt chiếc ghế bành gỗ sồi?

Vết gì?

- Vết máu.

- Đúng là vết máu.

Chỉ riêng chi tiết này thôi cũng đủ cho thấy: câu chuyện của phu nhân Brackenstall là chuyện bịa.

Nếu bà ta đã bị trói vào đó trước lúc hung thủ giết ông chồng.

Ước gì tôi được trò chuyện ngay bây giờ với bà vú nuôi Theresa.

Chúng ta phải thật thận trọng, nếu chúng ta muốn thu thập được những thông tin mình muốn.

Bà ta, bà vú nuôi người Úc nghiêm nghị ấy, quả là một nhân vật đáng chú ý.

Bà ta đa nghi và ít thiện ý, nên thái độ hòa nhã của Holmes phải mất một thời gian mới chiếm được thiện cảm của bà.

Bà chẳng hề giấu giếm lòng căm ghét của bà đối với ông chủ quá cố.

- Vâng, thưa ngài, quả tình ông ấy có ném cái vỏ chai vào tôi.

Tôi thấy ông ấy lăng mạ bà chủ tôi, nên tôi bảo thẳng với ông ta rằng giá anh trai bà chủ có mặt ở đây thì ông ta đừng hòng ăn nói như thế.

Vậy là tôi bị ông ấy ném thẳng cái vỏ chai vào mặt.

Ông ấy thường xử tệ với phu nhân Brakenstall, mà bà chủ tôi vốn kiêu hãnh, không bao giờ than phiền.

Bà ấy thậm chí cũng không kể cho tôi nghe những cách hành hạ của ông ta đối với bà.

Ngay cả những vết bầm trên tay mà ông thấy sáng nay cũng vậy, nhưng tôi biết rõ chính là vết đinh ghim mũ.

Ông ấy tỏ ra hết sức dịu dàng hồi chúng tôi gặp nhau lần đầu chỉ mới cách đây có mười tám tháng.

Nhưng cả hai chúng tôi lại cảm thấy mười tám tháng ấy dài chẳng khác nào mười tám năm.

Hồi đó, bà chủ tôi vừa chân ướt chân ráo tới Luân Đôn.

Vâng, đó là lần xa nhà đầu tiên, chứ trước đó phu nhân chưa bao giờ đi đâu cả.

Ông ấy đã dùng tước vị, tiền bạc và cả thủ đoạn giả dối để chiếm đoạt bà chủ.

Lấy ông ta, bà ấy đã phạm một sai lầm, và bà ấy đã trả giá xong cho sự sai lầm ấy.

Ông hỏi: chúng tôi gặp ông ấy hồi tháng nào, đúng không ạ?

Thế thì xin thưa là chúng tôi gặp ông ta ngay sau ngày đến: chúng tôi sang hồi tháng Sáu, và gặp ông ta hồi tháng Bảy.

Ông ấy cưới bà chủ tôi vào tháng Giêng năm ngoái.

Vâng bà chủ vẫn đang nằm nghỉ dưới phòng khách, và dĩ nhiên sẽ vui lòng gặp ngài.

Nhưng xin ngài đừng gạn hỏi bà ấy nhiều, vì bà ấy vừa phải chịu đựng hết thảy những gì ít người phàm trần đủ sức kham nổi.

Phu nhân Brakenstall vẫn nằm trên chính chiếc đi văng đó, nhưng trông đã đỡ thất sắc hơn hồi sáng, bà hầu phòng cũng theo vào cùng chúng tôi; và bắt tay vào thay tấm khăn chườm lên trán cô chủ.

- Tôi hy vọng - phu nhân lên tiếng - rằng ông đến đây không phải để thẩm vấn tôi lần nữa?

- Ồ, không, Holmes đáp, giọng hết sức lịch sự.

Tôi sẽ không quấy rầy bà thêm nữa đâu, thưa phu nhân Brakenstall.

Tôi chỉ muốn cất đỡ gánh nặng cho phu nhân thôi.

- Vậy ông muốn tôi phải làm gì?

- Kể hết sự thật.

- Ông Holmes!

- Ồ, không, không, phu nhân Brakenstall làm như vậy hoàn toàn vô ích.

Tôi biết chắc rằng câu chuyện của phu nhân kể là hoàn toàn sai sự thật.

Cả phu nhân Brakenstall lẫn bà hầu phòng đều chằm chằm nhìn Holmes, mặt tái đi, ánh mắt lộ vẻ sợ hãi.

- Ông thật là thô lỗ!

- bà Theresa kêu lên - Ông muốn ám chỉ bà chủ tôi đã nói dối?

Holmes đứng ngay dậy.

- Phu nhân không có gì để kể với tôi sao?

- Tôi kể hết với ông rồi còn gì.

- Mong phu nhân nghĩ lại, phu nhân Brakenstall.

Chân thật, tôi nghĩ, sẽ tốt hơn nhiều.

Một thoáng lưỡng lự lướt qua gương mặt kiều diễm của phu nhân.

Nhưng rồi một quyết định mới khiến khuôn mặt ấy cứng lại như thể đeo mặt nạ.

- Tôi đã kể hết với ông những gì mình biết.

Holmes cầm lấy mũ, nhún vai.

- Tôi rất lấy làm tiếc - anh nói.

Rồi không thốt thêm một lời nào nữa, chúng tôi rời khỏi phòng, ra về.

Trong khu vườn có một cái ao, và bạn tôi lôi tôi đi về phía đó.

Mặt ao đóng băng gần hết, và chỉ còn chừa một khoảnh nhỏ dành làm nơi trú đông cho một con thiên nga cô độc.

Holmes nhìn chòng chọc vào vũng nước nhỏ đó một lúc, rồi đi tiếp về phía cổng vườn.

Dừng chân bên cổng, Holmes ngệch ngoạc một mấu giấy ngắn, trao cho người gác cổng, nhờ chuyển lại cho ngài Stanley Hopkins.

- Chúng ta có thể hoặc trúng đích, hoặc chệnh mục tiêu, nhưng đằng nào cũng phải làm được một chút gì giúp ông bạn Hopkins, dù chỉ để thanh minh cho chuyến viếng thăm thứ hai - anh nói.

Tuy vậy tôi vẫn chưa dám tiết lộ hết bí mật với ông ấy.

Tôi nghĩ, bây giờ nơi tiếp theo mà ta cần đến để điều tra vụ này là văn phòng của hãng hàng hải Adelaide - Southampton.

Qua viên Giám đốc, Holmes nhanh chóng thu thập được mọi thông tin mà anh cần biết.

Vào tháng sáu năm 1895, hãng chỉ có duy nhất một con tàu cập bến Anh quốc.

Đó là chiếc Rock of Gibraltar, con tàu lớn và đẹp nhất hãng.

Bản danh sách hành khách cho thấy: cô Fraser xứ Adelaide cùng bà hầu của cô đã đi chuyến này.

Hiện thời con tàu đang chạy ngang qua một nơi thuộc mạn nam kênh Suez, trên hải trình sang Úc như lệ thường.

Thành phần sĩ quan trên con tàu vẫn giống hệt như hồi năm 1895, ngoại trừ một điều: viên phó thuyền trưởng, ông Jack Croker, đã được đề bạt lên cấp thuyền trưởng và chuyển sang chỉ huy con tàu mới của hãng, chiếc Bass Rock, hai ngày nữa sẽ rời Southampton.

Viên sĩ quan này hiện sống tại Sydenham, nhưng sáng nay anh ta có lẽ sẽ đến đây, và nếu chúng tôi muốn thì có thể chờ gặp anh ta.

- Không, thưa ông.

Chúng tôi không định gặp, nhưng rất lấy làm sung sướng nếu được biết thêm về lý lịch và hạnh kiểm của anh ta.

Lý lịch của anh ta tuyệt hảo.

Trong hạm đoàn, không một sĩ quan nào được đánh giá cao như thế.

Còn về hạnh kiểm, tuy anh ta là một người ngông cuồng, liều lĩnh khi lên bờ, nóng nảy, dễ bị kích động, nhưng lại la một sĩ quan đáng tin cậy lúc thi hành phận sự, cương trực, chân thành và tốt bụng.

Nắm được những thông tin đó, chúng tôi rời văn phòng hãng Adelaide - Southamton, và vòng tới sở điện tín Charing Cross.

Holmes gửi một bức điện, rồi chúng tôi lại quay về Baker Street.

Ba chiếc cốc trong tủ để cạnh nhau.

Một chiếc vẫn còn ít cặn dưới đáy.

Chai rượu đặt bên cạnh, chỉ vơi hết một phần ba, và nằm bên cạnh là cái nút chai dài ngấm rượu rất sâu.

Thái độ của Holmes bỗng đổi khác, và tôi lại thấy cặp mắt sâu và tinh của anh ánh lên vì hào hứng.

Anh giơ cao cái nút chai lên ngắm nghía rất kỹ.

- Bọn chúng mở nút chai rượu bằng cách nào nhỉ?

- anh hỏi.

Hopkins chỉ vào cái ngăn kéo đang mở nửa chừng, bên trong có vài chiếc khăn trải bàn vải lanh và một cái mở nút chai.

- Phu nhân Brackenstall có nói tới chuyện chúng dùng cái mở nút chai này không?

- Không.

Ông không nhớ à, phu nhân đã bị ngất xỉu khi chúng mở chai rượu.

- Nhớ chứ.

Thực ra cái mở nút chai này đã không được dùng đến.

Chúng mở chai rượu bằng một cái mở nút loại bỏ túi, có lẽ nằm trong một con dao nhíp, và không dài quá ba phân.

Nếu ông quan sát phần trên của cái nút thì ông sẽ thấy ngay rằng cái nút chai của bọn chúng đã phải xoáy vào ba lần mới mở được chai rượu.

Còn nếu dùng cái trong ngăn kéo kia thì chỉ cần một lần xoáy là được.

Khi tóm được gã nọ, các ông sẽ phát hiện được rằng hắn có một con dao nhíp.

- Tuyệt!

- Hopkins nói

- Nhưng, thú thực, ba cái cốc này lại khiến tôi băn khoăn.

Phu nhân Brackenstall đã từng tận mắt chứng kiến ba gã nọ uống rượu phải không.

- Có.

Phu nhân đã kể rõ rồi còn gì.

- Vậy là câu chuyện đã kết thúc.

Còn biết nói gì nữa kia chứ?

Nhưng ông phải thừa nhận rằng ba cái cốc này rất đáng để ý, thưa ông Hopkins.

Sao, ông không nhận thấy gì sao?

Thôi được, không sao cả.

Dĩ nhiên, mấy cái cốc này chỉ là chuyện ngẫu nhiên thôi.

Thôi, chào ông Hopkins.

Tôi không nghĩ rằng tôi có thể giúp ông được gì, vì với ông, vụ này coi như đã rõ cả rồi.

Khi nào ông bắt được Randall, ông nhớ báo cho tôi biết, và cũng xin ông cho biết những gì có thể xảy ra sau đó nữa.

Tôi hy vọng sẽ sớm được chúc mừng ông kết thúc vụ án thắng lợi.

Trên đường về, qua nét mặt của Holmes, tôi có thể thấy rõ là anh vẫn bị dằn vặt vì một điều gì đó mà chính mình vừa quan sát được.

Cứ mỗi lần như vậy anh lại cố gạt bỏ những ý nghĩ ấy đi và trò chuyện như thể vụ án đã rõ cả rồi.

Nhưng sau đó, mối người vực lại ám ảnh anh, và vẻ mặt anh cho thấy anh lại đang mải nghĩ về căn phòng ăn lớn rộng tại Abbey Grange.

Cuối cùng, đúng vào lúc sắp sửa rời ga, anh bỗng nhảy phắt xuống và kéo tôi xuống theo.

- Anh Watson thân mến ạ, anh thứ lỗi cho tôi nhé, - anh nói trong khi chúng tôi nhìn theo những toa cuối cùng của đoàn tàu khuất sau một khúc quanh.

Tôi rất lấy làm tiếc là gây phiền phức cho anh, nhưng thực tình tôi không thể để yên vụ án trong tình trạng như thế này.

Mọi bản năng trời cho ở trong tôi đều lên tiếng phản đối việc đó: không ổn rồi, sai to rồi.

Tôi dám quả quyết rằng mình đã đi chệch hướng, xác nhận của bà hầu phòng cũng rất đầy đủ.

Mọi chi tiết đều rất chính xác.

Vậy tôi lấy gì để bác lại?

Ba cái cốc, chỉ có vậy thôi.

Nhưng sự thể ra sao, nếu ta không tin hoàn toàn vào những chuyện ấy?

Nếu ta cứ tự xem xét sự việc một cách thận trọng, như lẽ ra ta phải làm trong trường hợp phu nhân Brackenstall không nói gì hết?

Lúc bấy giờ, chẳng lẽ ta không tìm được một cái gì cụ thể hơn để điều tra tiếp hay sao?

Dĩ nhiên là được.

Ngồi xuống đi, Watson!

Trong lúc chờ chuyến tàu quay lại Chislehurst tôi sẽ trình bày cho anh thấy những bằng chứng.

Chúng ta không nên tin vào bất cứ điều gì mà bà hầu phòng hoặc cô chủ bà ta đã nói.

Đừng để cho cái nhân cách khả ái của phu nhân Brackenstall tác động đến những nhận định của chúng ta.

- Chắc chắn là trong câu chuyện của phu nhân có những chi tiết mà nếu xem xét lại, ta sẽ thấy rất đáng nghi.

Băng trộm này vừa làm một vụ gây xôn xao cách đây hai tuần.

Một số hành tung và diện mạo của bọn chúng đã được báo chí đăng tải, nên bất cứ ai muốn dựng lên một câu chuyện trộm cắp tưởng tượng cũng đều nghĩ đến chúng.

Thực ra, những bọn kẻ trôm vừa được một vố béo bở thì thường chỉ thích ngồi yên tận hưởng món "chiến lợi phẩm" nọ, chứ không dại gì lại tiến hành một vụ mạo hiểm mới.

Việc chúng đánh một người đàn bà để buộc bà ta câm miệng cũng thật lạ đời, bởi lẽ theo tôi nghĩ, đó chính là cách chắc chắn nhất để khiến bà ta kêu ầm lên.

Cũng lạ đời là việc gì chúng phải giết một mạng người trong khi bọn chúng thừa sức bắt ông ta ngồi im mà không cần gây án mạng.

Cũng lạ đời là tại sao bọn chúng lại mãn nguyện chỉ với vài món dọn đồ ăn bằng bạc, trong khi chúng có thể vơ vét được nhiều hơn thế nhiều.

Và điều lạ đời cuối cùng là tại sao bọn chúng lại chịu vứt lại chai rượu mới uống có một ít.

Tất cả những điều vừa nói đó không khiến anh ngạc nhiên sao, Watson thân mến?

- Toàn bộ, những điều đó gộp lại thì rõ ràng là rất đáng lưu ý, nhưng nếu xét từng điểm một thì thấy chẳng có gì là lạ.

- Và bây giờ ta nói đến điều đáng chú ý nhất: mấy cái cốc uống rượu.

- Mấy cái cốc đó thì có gì là lạ?

- Người ta khai với chúng ta là cả ba đều đã uống rượu.

Anh có tin lời khai đó không?

- Sao lại không?

Vết rượu vẫn còn nguyên trong cả ba.

- Đúng.

Nhưng chỉ một là còn thấy cặn rượu dưới đáy.

Anh nên để ý chi tiết đó.

Anh giải thích thế nào về chi tiết này?

- Chiếc cốc có cặn là chiếc rót sau cùng.

- Ồ, không, không.

Chai rượu còn đầy, nên không thể có chuyện rượu ở hai cốc đầu thì trong, còn cốc thì ba thì không.

Có hai khả năng giải thích, và chỉ có thể có hai thôi.

Khả năng thứ nhất: rót xong hai cốc đầu, bọn chúng đã lắc mạnh chai, rồi mới rót cốc thứ ba, nên cặn chỉ lắng xuống cốc thứ ba.

Nhưng khó có chuyện đó lắm.

Phải, phải.

Tôi tin chắc mình hoàn toàn đúng.

- Vậy thì anh lý giải thế nào?

- Họ chỉ dùng có hai chiếc cốc, và đổ những giọt cuối cùng trong hai cốc này sang cốc thứ ba để tạo cho người ngoài cái ấn tượng là đã có ba người cùng uống với nhau.

Chính vì vậy, nên cặn rượu chỉ thấy có ở đáy chiếc cốc cuối cùng, đúng không?

Phải, tôi quả quyết sự việc đã diễn ra đúng như thế.

Nhưng nếu quả như vậy được, thì có nghĩa là phu nhân Brakenstall và bà hầu phòng của phu nhân cố tình nói dối chúng ta.

Không một lời nào trong câu chuyện họ kể còn có thể tin cậy được cả.

Họ phải có những lý do hết sức nghiêm trọng để che giấu kẻ thủ phạm đích thực, và chúng ta chỉ còn cách phải tự mình dựng lại vụ án, chứ đừng hy vọng vào bất cứ sự giúp đỡ nào từ phía họ.

Đó chính là sứ mạng mà ta phải gánh vác kể từ giờ phút này, và kìa, Watson tàu đi Chislehurst đã tới kia rồi.

Những người sống ở Abbey Grange rất sửng sốt khi thấy chúng tôi quay lại.

Stanley Hopkins đã về gặp thượng cấp để báo cáo kết quả, nên Sherlock Holmes chiếm ngay lấy phòng ăn, khoá trái cửa lại và dành trọn hai giờ đồng hồ để khám xét cẩn thận mọi thứ.

Tôi thì ngồi xuống một chiếc ghế kê ở góc phòng, hệt như một sinh viên chăm chỉ theo dõi thầy giáo thao diễn, và cố theo sát từng bước một tiến trình của cuộc khám phá thú vị kia.

Khung cửa sổ, mấy tấm rèm, chiếc thảm, chiếc ghế, rồi sợi dây - tất cả đều lần lượt được xem xét tỉ mỉ.

Thi thể huân tước Eustace đã được mang đi rồi, nhưng mọi thứ vẫn còn được giữ nguyên như chúng tôi đã thấy sáng nay.

Thế rồi, trước sự ngạc nhiên của tôi, Sherlock Holmes trèo lên mặt cái lò sưởi rộng.

Trên đầu anh lủng lẳng một đoạn dây giật chuông màu đỏ, dài chừng vài phân, vẫn còn buộc chặt vào sợi dây thép nối liền với cái chuông treo dưới nhà bếp.

Sherlock Holmes ngắm nó hồi lâu, rồi để vươn người lên cho gần thêm chút nữa, anh tì hẳn gối vào một đường gờ bằng gỗ áp trên tường.

Nhờ vậy tay anh chỉ còn cách đầu sợi dây thừng vài phân, nhưng việc đó không khiến anh chú ý bằng cái rầm chìa trên tường.

Xong xuôi, anh nhảy xuống, miệng khẽ reo lên một tiếng tỏ ý mãn nguyện.

Lần tới viên thanh tra Staley Hopkins ghé thăm chúng tôi.

Công việc của ông rõ ràng chẳng mấy suôn sẻ.

- Ông Holmes, ông quả là một pháp sư.

Thỉnh thoảng tôi nghĩ thầm ông có một sức mạnh siêu phàm.

Này, nhờ đây mà ông biết được những bộ đồ bằng bạc bị đánh cắp đó chúng đã vứt xuống đáy ao?

- Thật vậy sao?

Thế mà tôi không biết đấy.

- Nếu vậy thì tại sao ông lại dặn tôi thử mò đáy ao?

- Ông đã vớt lên được rồi chứ gì?

- Phải, đúng thế.

- Tôi rất lấy làm mừng là đã giúp được ông.

- Nhưng ông có giúp gì tôi đâu!

Ông làm cho vụ án rắc rối thêm thì có.

Làm gì có thứ kẻ trộm cố vơ vét đồ đạc bằng bạc, lại đem vứt xuống cái ao gần nhất?

- Quả là một hành vi khá kỳ quặc.

Tôi chỉ có ý là chỗ đồ bạc lấy đi chỉ để đánh lạc hướng chúng ta.

Vì thế, dĩ nhiên, bọn chúng chỉ muốn vứt bỏ nó đi cho nhanh.

- Nhưng tại sao ông lại đi đến ý nghĩ đó?

- Ồ, tôi nghĩ đó là chuyện có thể có được.

Khi chúng tẩu thoát qua cái cửa sổ kiểu Pháp, ngay trước mặt chúng đã hiện ra một cái ao.

Trên mặt ao lại có một chỗ nước chưa đóng băng đầy sức quyến rũ.

Tìm đâu ra một nơi cất giấu tốt hơn thế?

- À, một nơi cất giấu!

Hay quá - Stanley Hopkins reo lên.

Vâng, vâng, giờ thì tôi hiểu hết cả rồi!

Dọc đường sẽ có người, chúng sợ chạm trán với họ giữa lúc đang mang mấy bộ đồ ăn bằng bạc, nên chúng vội tẩu tán tang vật xuống ao, chờ dịp thuận tiện sẽ quay lại lấy lên.

Tuyệt quá, ông Holmes ạ.

Ý tưởng này đắc địa hơn ý tưởng lúc đầu.

Nhưng tôi vẫn vướng phải một trở ngại lớn.

- Trở ngại?

- Đúng thế, ông Holmes ạ.

Băng Randall vừa bị bắt sáng nay tại New york.

- Trời ơi, ông Hopkins!

Vậy thì rõ ràng giả thuyết của ông về việc bọn này gây ra vụ án mạng tại Kent tối qua đã hoàn toàn đổ vỡ.

- Ông Holmes, đó quả là một đòn chết người, thực sự chết người.

Tuy vậy, chắc là còn có nhiều băng trộm khác, ngoài bọn Randall, cũng gồm ba tên, hoặc có một băng mới nào đó nữa, mà cảnh sát chưa hề nghe nói.

- Có lẽ thế.

Rất có thể là đúng thế thật.

Nếu vậy thì ông còn phải điều tra tiếp?

- Vâng, ông Holmes.

Tôi còn chưa được nghỉ ngơi chừng nào vẫn chưa làm sáng tỏ ngọn ngành vụ này.

Tôi hy vọng ông sẽ vui lòng gợi cho tôi một ý tưởng nào hay hay?

- Thì tôi đã mách cho ông rồi đấy thôi.

- Mách gì kia?

- Phải, tôi đã nói với ông là bọn chúng cố đánh lạc hướng.

- Nhưng để làm gì, ông Holmes, để làm gì?

- À, dĩ nhiên, đó chính là vấn đề.

Nhưng ông có thể thấy là có một cái gì trong đó.

Ông không thể ở lại dùng cơm với chúng tôi à?

Vậy thì xin tạm biệt ông, và nhớ cho chúng tôi biết kết quả cuộc điều tra.

Ăn tối xong, Holmes châm một tẩu thuốc, rồi đưa chân lại gần ánh lửa đang reo vui trong lò sưởi.

Thình lình anh liếc nhìn đồng hồ.

- Tôi đang chờ một sự việc nữa xảy ra, Watson ạ.

- Bao giờ?

- Chỉ vài phút nữa thôi.

Chắc lúc này anh đang nghĩ rằng tôi đã đối xử không phải với Stanley Hopkins đúng không?

- Tôi tin vào sự phán đoán của anh.

- Một lời đáp thật tế nhị.

Watson, anh phải nhìn sự việc theo cách sau đây: những gì tôi biết chỉ mang tính chất riêng tư, còn những gì ông ta biết lại là chuyện công vụ.

Tôi có quyền phán đoán theo cách của riêng tôi; còn ông ta thì không thể.

Ông ta phải phơi bày hết thảy mọi chuyện, nếu không sẽ bị xem là không làm tròn công vụ.

Trong một vụ còn nhiều ngờ vực, tôi không thích đẩy ông ta vào một tình thế khó xử, và vì vậy, tôi phải giữ kín mọi thông tin cho tới lúc nội vụ đã được làm sáng tỏ.

- Nhưng đến bao giờ thì mới sáng tỏ?

- Sắp rồi.

Anh sắp được chứng kiến màn chót của một vở kịch nhỏ đặc sắc.

Có tiếng chân lên cầu thang, rồi cửa mở và một người đàn ông trẻ tuổi, cao lớn xuất hiện.

Khách là một chàng trai để ria vàng, mắt xanh, da rám nắng.

Anh đóng cửa lại, rồi đứng yên, hai tay nắm chặt lại như đang cố nén một cảm xúc mãnh liệt nào đó.

- Mời ông ngồi, thuyển trưởng Croker.

Chắc ông đã nhận được bức điện?

- Khách gieo phịch người xuống chiếc ghế bành, rồi đưa cặp mắt dò xét hết nhìn tôi lại nhìn Holmes.

- Tôi vừa nhận được bức điện, và đến đúng giờ ông đã chỉ định trong bức điện.

Tôi nghe nói ông có đến đằng văn phòng.

Thật chẳng có cách nào lẩn tránh được ông.

Tôi sẵn sàng nghe những lời phán xử tồi tệ nhất.

Ông định xử lý với tôi thế nào đây?

Bắt tôi?

Ông nói đi!

Chứ đừng ngồi đó mà đùa giỡn với tôi như mèo vờn chuột.

- Tôi sẽ không ngồi đây phì phèo tẩu thuốc trước mặt ông nếu tôi cho ông là một tên tôi phạm, ông có thể tin chắc như vậy - Holmes nói.

Hãy thành thực với tôi, thì ông và tôi sẽ có thể làm một việc gì tốt đẹp.

Còn nếu ông định giở trò lừa gạt tôi, thì tôi sẽ triệt hạ ông ngay.

- Xin ông cho biết: ông muốn tôi làm gì?

- Thuật lại một cách trung thực cho tôi nghe những gì đã diễn ra tại Abbey Grange tối qua, không thêm, không bớt.

Tôi đã biết đủ tới mức nếu ông kể sai sự thật dù chỉ một chút, là tôi sẽ gọi cảnh sát, và thế là vụ này sẽ vĩnh viễn vuột khỏi tầm tay tôi đấy.

Chàng thuyền trưởng đăm chiêu một lúc, rồi nắm chặt bàn tay to, rám nắng giáng mạnh một cái xuống đùi.

- Thôi, đành liều vậy - anh thốt lên.

Tôi tin ông là người trọng lời hứa, nên xin kể cho ông nghe hết câu chuyện.

Nhưng trước tiên, tôi phải nói điều này.

Tôi chẳng ân hận, mà cũng chẳng sợ hãi bất cứ điều gì.

Ví thử phải làm lại từ đâu, tôi cũng sẽ làm đúng như vậy, sẽ lấy làm tự hào vì đã làm như thế.

Nhưng hễ nghĩ tới chuyện mình sẽ gây rắc rối cho Mary Fraser, là lòng tôi lập tức thấy hãi hùng.

Tôi sẵn sàng đổi mạng sống của mình để được nhìn thấy gương mặt thân yêu của nàng một nụ cười tươi vui.

Tôi phải kể lùi câu chuyện lại một chút.

Ông hình như đã biết hết mọi chuyện; vì vậy, tôi nghĩ ông đã biết tôi gặp nàng khi nàng là một hành khách, còn tôi là phó thuyền trưởng trên tàu Rock of Gibraltar.

Ngay từ lần đầu gặp nàng, nàng đã trở thành người phụ nữ duy nhất của đời tôi.

Và càng ngày, tôi càng yêu thương nàng hơn trong suốt cuộc hành trình đó.

Tôi thường quỳ trong bóng tối và hôn lên boong tàu, vì tôi biết rằng chân nàng đã đi qua đó.

Nàng chẳng bao giờ có tình cảm đặc biệt với tôi.

Nàng cư xử với tôi tử tế, như bất cứ người đàn bà nào cũng có thể đối xử với một người đàn ông.

Tôi không có điều gì phải trách cứ nàng.

Về phía tôi là một tình yêu toàn tâm, còn về phía nàng chỉ là thiện cảm và tình bằng hữu.

Khi chúng tôi chia tay nhau, nàng vẫn là một cô gái tự do; còn tôi thì không bao giờ còn có thể thấy mình tự do được nữa.

Sau ngày trở về từ chuyến đi kế tiếp, tôi được tin nàng đã lấy chồng.

Ồ, sao nàng lại không được quyền lấy người nàng yêu kia chứ?

Tôi chẳng đau buồn gì về cuộc hôn nhân đó.

Tôi không phải là một kẻ vị kỷ.

Tôi chỉ mừng vì hạnh phúc đã mỉm cười với nàng, và khỏi chứng kiến cảnh nàng phải gắn bó đời mình với anh chàng thuỷ thủ nghèo khổ.

Tôi yêu Mary Fraser say đắm đến thế đấy!

Ồ, tôi không bao giờ nghĩ là mình sẽ được gặp lại nàng.

Nhưng rồi tôi bỗng được thăng chức sau chuyến đi mới đây.

Con tàu mới chưa được hạ thuỷ; vì vậy, tôi phải về nhà ở Sydenham vài tháng trong lúc chờ đợi.

Một hôm, đang đi dạo trên đường làng, tôi bỗng gặp Theresa Wright, bà hầu già của nàng.

Bà ta kể cho tôi nghe về nàng, về lão ta, về mọi chuyện.

Thưa quí ngài, tôi phải cho quí ngài hay rằng tôi suýt phát điên, khi biết gã chó chết nghiện ngập đó đã dám đánh nàng, thiên thần của tôi!

Tôi gặp lại bà Theresa.

Rồi gặp chính Mary, rồi lại gặp nàng lần thứ hai.

Sau đó, nàng không cho tôi gặp nữa.

Nhưng gần đây tôi có nhận được một thông báo: một tuần nữa tôi sẽ phải lên đường.

Vì thế, tôi quyết định phải gặp lại nàng lần nữa, trước khi rời Anh quốc.

Tôi bao giờ cũng coi bà Theresa như bạn, vì bà cũng yêu Mary và cũng căm ghét cái lão hung ác nọ chẳng thua kém gì tôi.

Qua bà ấy, tôi biết rõ đường đi lối lại trong nhà.

Mary thường ngồi đọc sách trong căn phòng nhỏ của nàng ở tầng trệt.

Tối qua, tôi đi vòng qua đó, rồi cào vào cửa sổ ra hiệu.

Thoạt tiên nàng không mở cửa.

Nhưng tôi biết bây giờ nàng đã thầm yêu tôi và không nỡ để tôi phải đứng trong bóng tối giá rét.

Nàng thầm bảo tôi hãy vòng ra cánh cửa sổ lớn ở phía trước.

Tôi thấy cửa đã mở sẵn, để tôi có thể trèo vào phòng ăn.

Vâng, thưa quí ngài, tôi đang đứng với nàng bên cửa sổ thì lão ta lao vào, như một thằng điên.

Lão chửi nàng một câu thậm tệ, rồi giơ cao chiếc gậy đang lăm lăm trong tay, lão vụt vào mặt nàng.

Tôi chồm tới, vớ lấy thanh cời than và giữa hai chúng tôi đã nổ ra một cuộc đọ sức sòng phẳng.

Ông nhìn đây, trên tay tôi vẫn còn nguyên dấu vết chiếc gậy của lão, vì lão ra đòn trước.

Tôi không chút ân hận.

Bởi lẽ đây là chuyện một mất một còn; hoặc là lão, hoặc là tôi.

Và hơn thế nữa: hoặc là tính mạng của lão ấy, hoặc là tính mạng của nàng, vì làm sao tôi có thể phó mặc nàng cho cái lão điên rồ ấy?

Tôi đã giết lão như vậy đấy.

Tôi có sai trái không?

Ấy, thử hỏi hai ông thì hai ông sẽ làm gì, nếu ở vào địa vị tôi?

Nàng đã thét lên khi bị lão đánh, nên bà Theresa nghe thấy vội chạy xuống.

Thấy trong tủ buýp - phê có một chai rượu, tôi liền lấy ra, mở nút, đổ vài giọt vào miệng Mary, vì nàng đang bất tỉnh do bị choáng.

Rồi cũng uống một hợp.

Bà Theresa thì bình tĩnh như không, và cách khai báo với cảnh sát chính là do tôi và bà ta nghĩ ra.

Chúng tôi buộc phải làm cho người ta tưởng vụ án mạng do bọn trộm gây nên.

Trong lúc tôi trèo lên cắt sợi dây chuông, thì bà Theresa cứ nhắc đi nhắc lại cho Mary thuộc lòng câu chuyện bịa đặt kia.

Sau đó, tôi trói nàng vào chiếc ghế, làm xơ dầu dây cho có vẻ tự nhiên.

Nếu không người ta sẽ phải tự hỏi: làm cách nào mà tên trộm có thể leo lên tận đó?

Rồi tôi vơ vội một vài bộ ấm chén, thìa đĩa bằng bạc, làm ra vẻ đây là một vụ trộm.

Tôi để Mary và bà Theresa ở lại, dặn họ chỉ hô hoán sau khi tôi đã rời khỏi nhà mười lăm phút.

Tôi vứt những bộ đồ ăn bằng bạc xuống ao và về lại Sydenham, lòng mãn nguyện vì đã làm một việc tốt thật sự.

Đó là sự thật, ông Holmes ạ, dù tôi có phải trả giá cho nó bằng tính mạng của tôi chăng nữa.

Holmes trầm ngâm hút thuốc và im lặng hồi lâu.

Rồi anh tiến đến bắt tay viên thuyền trưởng.

- Tôi biết mỗi lời ông nói ra đều đúng sự thật, - anh nói - vì ông không cho tôi biết thêm một điều gì mới lạ cả.

Ngoại trừ một thuỷ thủ không một ai có thể thắt được những nút buộc chặt đến thế khi trói phu nhân Brackenstall vào chiếc ghế bành.

Mà phu nhân thì chỉ mới gặp dân thuỷ thủ đúng một lần hồi bà đáp tàu sang Anh.

Và người đó ắt phải cùng giai tầng với bà; vì bà đã cố che chở, và điều này cho thấy bà rất yêu con người đó.

Ông thấy đấy, tôi đã dễ dàng tìm ra dấu vết ông, một khi tôi đã đi đúng đường.

- Tôi nghĩ rằng cảnh sát sẽ không bao giờ phát hiện được sự thật qua câu chuyện chúng tôi bày ra.

- Và quả nhiên họ đã không phát hiện được - và tôi không tin là họ sẽ phát hiện được.

Thuyền trưởng Croker, vụ này rất nghiêm trọng, tuy tôi sẵn lòng thừa nhận ông đã hành động như một trang quân tử.

Tôi rất có thiện cảm với ông, cho nên nếu ông chọn phương án là sẽ rời khỏi Anh quốc sau hai mươi bốn tiếng nữa, tôi xin hứa ông sẽ không bị một ai cản trở.

- Sau đó ông sẽ báo cho cảnh sát?

- Dĩ nhiên.

Sắc mặt viên thuyền trưởng vụt ửng đỏ vì phẫn nộ.

- Sao ông lại đề nghị với tôi kỳ cục như vậy?

Tôi biết rõ luật pháp nên thừa hiểu Mary sẽ bị bắt vì tội đồng loã.

Ông tưởng tôi sẽ bỏ mặc nàng để tẩu thoát một mình sao?

Ồ, không, thưa ông.

Cứ để mặc họ muốn làm gì tôi thì làm, nhưng ông Holmes, xin ông vì Chúa, hãy nghĩ cách giúp Mary tội nghiệp của tôi khỏi phải ra tòa.

Holmes lại chìa tay lần nữa cho viên thuyền trưởng.

- Tôi chỉ thử lòng ông vậy thôi.

Được rồi, tôi xin nhận cái trọng trách ông trao cho tôi, nhưng tôi đã cho Hopkins một lời gợi ý rất đáng giá, và nếu ông ấy không biết khai thác cái ý đó, thì tôi không thể làm gì hơn.

Nào, thuyền trưởng Croker, bây giờ chúng ta sẽ làm đúng thể thức của toà án.

Ông là bị cáo, còn Watson, anh là bồi thẩm đoàn, tôi không thấy ai thích hợp hơn anh để đảm nhận vai này.

Tôi là chánh án.

Vâng, thưa các vị trong bồi thẩm đoàn, các vị đã nghe lời khai, các vị thấy bị cáo có tội hay vô tội?

- Vô tội - tôi nói.

- Vậy ông được trắng án, thyền trưởng Croker ạ.

Và trong khi luật pháp chưa tìm được một con mồi nào khác, thì ông được hoàn toàn bình yên vô sự từ phía tôi.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D13 Vệt máu thứ nhì


VỆT MÁU THỨ NHÌ

THE ADVENTURE OF THE SECOND STAIN (1904)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Một buổi sáng của mùa thu, trong căn hộ chúng tôi xuất hiện hai người nổi danh khắp châu Âu...

Người thứ nhất mũi cao, mắt diều hâu, có cái nhìn trịch thượng, trông nghiêm khắc và kiêu kỳ.

Đó là huân tước Bellinger, người hai lần giữ chức Thủ tướng.

Người thứ hai tóc đen, hơi thấp, có khuôn mặt cân đối.

Người ông ta toát ra một vẻ lịch thiệp, trang nhã.

Đó là bá tước Trelawney Hope, phụ tá đặc trách đối ngoại Âu châu.

Hai vị khách ngồi cạnh đi-văng.

Đôi tay gầy gò của Thủ tướng bóp chặt lấy cái cán dù.

Ông ta hết nhìn Holmes lại nhìn tôi, buồn rầu và lo ngại.

Người phụ tá thì gảy gảy những đồ trang sức trên dây đồng hồ.

- Ông Holmes, tôi đã bị mất cắp.

Tôi báo cho Thủ tướng và ngài muốn gặp ông.

- Ông không báo cảnh sát sao?

- Không - Thủ tướng lên tiếng - Không báo và sẽ không báo.

Báo cho cảnh sát nghĩa là công bố sự việc.

Mà chúng tôi muốn né tránh việc này.

- Vì sao, thưa ngài?

- Tài liệu quan trọng tới mức nếu công bố nó, thì có thể dẫn đến một cuộc xung đột có tính quốc tế.

Có thể nới rằng vấn đề chiến tranh và hòa bình phụ thuộc vào tài liệu này.

Nếu đi truy tìm mà không giữ bí mật thì không nên truy tìm.

- Tôi hiểu.

Còn bây giờ, ông Trelawney Hope, tôi sẽ rất biết ơn ông, nếu ông kể cho tôi nghe tài liệu bí mật bị mất trong trường hợp nào.

- Đó là bức thư của một nguyên thủ nước ngoài đến cách đây sáu ngày.

Bức thư có ý nghĩa hệ trọng đến nỗi tôi quyết định không cất nó trong cái tủ chống cháy của chính phủ.

Chiều đến tôi mang nó về nhà tôi, tại Whitehall Terrace, cất trong cái tráp, đặt ở trong phòng ngủ của tôi.

Tráp này chuyên dùng để cất giữ những tài liệu quan trọng.

Chiều hôm qua, lá thư vẫn nằm ở đấy.

Khi mặc quần áo đi ăn trưa, tôi lại mở tráp ra và tài liệu vẫn còn nguyên.

Thế mà sáng nay nó biến mất.

Suốt đêm, cái tráp được đặt ngay cạnh giường trên bàn rửa mặt của tôi.

Tôi ngủ rất tỉnh, vợ tôi cũng vậy.

Cả hai chúng tới thề rằng không một ai vào phòng ban đêm cả.

- Ông ăn tối lúc mấy giờ?

- 7 giờ 30.

- Ông đi ngủ khi nào?

- Vợ tôi đi xem hát.

Tôi chờ cô ấy.

Gần 12 giờ chúng tôi đi vào phòng ngủ.

- Nghĩa là trong khoảng gần bốn giờ đồng hồ tráp không được một ai bảo vệ

- Không một ai được phép vào phòng ngủ ngoài nữ hầu phòng người hầu và vợ tôi.

Tuy nhiên, cả hai người này đều là những gia nhân đáng tin cậy.

Hơn nữa họ không hề biết trong tráp đựng thứ gì.

- Ai biết có lá thư này?

- Trong nhà tôi, không một ai biết cả.

- Thế nhưng, vợ ông biết chứ?

- Không, thưa ông!

Sáng hôm nay, khi không tìm thấy lá thư, tôi cũng không nói gì với vợ tôi cả.

Thủ tướng gật đầu tán đồng:

- Tôi biết ông luôn có một ý thức trách nhiệm rất cao.

Trong công việc này, ý thức đó còn cao hơn nữa, ngay cả với gia đình...

Người phụ tá cúi chào.

- Thật vậy, thưa ông!

Sáng hôm nay, tôi không hề nói một lời về lá thư với vợ tôi.

- Bản thân phu nhân liệu có đoán ra không?

- Không, cô ấy không thể đoán được.

Thêm vào đó, không thể có ai đoán được.

- Trước đây, có khi nào ông bị mất tài liệu không?

- Không, thưa ông.

- Có ai ở nước Anh biết lá thư này không.

- Các thành viên của nội các đã được thông báo về lá thư.

Nhưng việc yêu cầu giữ bí mật được Thủ tướng nhấn mạnh bằng lời cảnh cáo nghiêm khắc.

Nhưng ai mà ngờ rằng chỉ vài giờ sau đó, chính tôi đã làm mất nó.

Sự tuyệt vọng đã làm cho khuôn mặt của người phụ tá thay đổi nhiều.

Ông vò đầu ân hận.

Trong phút chốc, chúng tôi thoáng thấy một con người bình thường, bốc đồng, mãnh liệt, hết sức nhạy cảm.

Tuy nhiên, ngay sau đó cái nét kiêu kỳ lại hiện lên trên khuôn mặt ông ta.

Với giọng điềm tĩnh, ông tiếp:

- Ngoài các thành viên của nội các còn có hai hoặc ba quan chức của ban biết sự hiện diện của bức thư.

Còn ngoài ra, trong cả nước Anh, không một ai biết.

- Thế còn ở nước ngoài?

- Ở nước ngoài, tôi cũng tin là không một người nào biết lá thư, trừ tác giả của nó.

Ngay cả các bộ trưởng của quốc gia đó cũng không biết.

Holmes ngẫm nghĩ ít phút rồi nói:

- Bây giờ, tôi cần biết cái gì ở đằng sau tài liệu?

Vì sao việc lấy lá thư sẽ đem tới những hậu quả nghiêm trọng?

Hai nhà hoạt động chính trị nhìn nhau rất nhanh.

Thủ tướng chau mày:

- Bức thư nằm trong phong bì màu xanh da trời, dài và hẹp.

Dấu đóng trên xi màu đỏ có hình sư tử đang ở thế tiến công.

Địa chỉ được viết bằng những nét cứng và đậm...

- Những chi tiết này tất nhiên là rất thú vị và quan trọng - Holmes ngắt lời Thủ tướng - Có điều tôi cần biết về nội dung của lá thư.

Lá thư nói về chuyện gì?

- Đó là bí mật quốc gia.

Tới e không thể trả lời ông được hơn nữa, tôi chưa rõ điều ông hỏi cần thiết ở chỗ nào.

Nếu bằng tài năng hiếm thấy như người ta thường nói về ông, thì ông sẽ có thể tìm được chiếc phong bì cùng với lá thư ở trong đó.

Ông sẽ xứng đáng với lòng biết ơn của đất nước, và sẽ nhận bất kỳ phần thưởng nào mà khả năng chúng ta cho phép.

Holmes mỉm cười và đứng dậy:

- Tất nhiên ngài là một trong những người bận rộn nhất nước.

Nhưng nghề nghiệp đã tước mất khá nhiều thời gian của tôi.

Rất tiếc là trong công việc này, tôi không hữu ích cho ngài, và tôi coi sự tiếp xúc trò chuyện giữa chúng ta là sự tiêu phí thời giờ vô ích.

Thủ tướng nhổm phắt dậy.

Trong đôi mắt sâu của ông lóe lên một ngọn lửa:

- Tôi không quen...

Thưa ông!

- Ông bắt đầu nói.

Tuy nhiên sau khi tự trấn tĩnh được, ông lại ngồi xuống.

Chúng tôi ngồi im lặng đến một phút.

Sau đó ông siết chặt lấy vai mình.

- Ông Holmes, ông hoàn toàn đúng.

Thật là vô lý nếu chờ đợi sự giúp đỡ của ông mà chưa tin ông.

- Tôi tán thành với ngài!

- Nhà ngoại giao trẻ tuổi nói.

- Được, tôi sẽ nói cho ông nghe tất cả.

Tôi tuyệt đối trông cậy vào lòng trung thành và lòng yêu nước của các ông.

- Ngài có thể hoàn toàn tin vào chúng tôi.

Chuyện thế này, đó là bức thư của một vị nguyên thủ nước ngoài.

Ông ta tỏ ra lo ngại bởi sự mở rộng thuộc địa gần đây của nước ta.

Bức thư được viết vào giây phút bực bội.

Sự tìm hiểu tin tức đã chỉ rõ rằng các bộ trưởng của ông cũng không hay biết gì về lá thư.

Lời lẽ trong thư rất gay gắt, một vài câu mang tính khiêu khích.

Vì vậy, nếu lá thư được công bố, dư luận sẽ xao động, đất nước chúng ta sẽ bị cuốn hút vào một cuộc chiến tranh lớn.

Holmes viết tên một người trên mảnh giấy và đưa cho Thủ tướng coi.

- Ông ta đấy.

Bức thư có khả năng cuốn theo nó những chi phí khổng lồ, sự hủy diệt hàng trăm nghìn người - Thủ tướng nói.

- Ngài đã báo tin cho người viết lá thư chưa?

- Báo rồi.

Bức thư viết bằng mật mã và được chuyển đi.

- Nhưng rất có thể ông ta đã tính đến chuyện công bố lá thư?

- Không.

Chúng tôi có cơ sở để tin rằng ông ấy đã hiểu được tính thiếu thận trọng và sự bồng của mình.

- Việc công bố lá thư là quả đấm mạnh sẽ giáng vào ông ta.

Nếu vậy, người ta đánh cắp nó để làm gì?

- Ông Holmes, thế là ông buộc tôi phải nói tới tình hình chính trị thế giới.

Ông đã thấy châu Âu là một trại lính được vũ trang.

Có hai liên minh cân bằng về lực lượng đang tồn tại.

Nước Anh thi hành chính sách trung lập.

Nếu chúng ta bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh với một liên minh thì liên minh kia sẽ có ưu thế hơn.

Hơn thế, điều này không phụ thuộc vào việc liên minh thứ hai có tham gia hay không tham gia vào cuộc chiến...

- Vậy là những kẻ thù của vị này, những người muốn thấy có sự hiềm khích giữa ông ta với chúng ta, rất quan tâm đến lá thư?

- Đúng vậy.

- Nếu tài liệu rơi vào tay đối phương thì ai cũng có thể chuyển nó đến bất cứ chính phủ nào ở châu Âu.

Rất có thể hiện giờ bức thư đang lao đi với tốc độ chỉ có tàu thủy mới đuổi kịp?

Người phụ tá đứng cúi đầu với một tâm trạng nặng nề.

Thủ tướng nhe nhàng đặt tay lên vai ông ta:

- Nỗi bất hạnh đã xảy ra với ông bạn của tôi.

Không ai có ý định kết tội ông đâu.

Chúng ta sẽ áp dụng mọi biện pháp để phòng ngừa...

Bây giờ, ông khuyên chúng tôi nên làm gì?

Holmes lắc đầu buồn rầu:

- Thưa ngài!

Nếu tài liệu này không được hoàn lại thì chiến tranh sẽ xảy ra?

- Chắc chắn như vậy!

- Nếu vậy, hãy chuẩn bị cuộc chiến thôi.

- Đây là những lởi tàn nhẫn, ông Holmes.

- Hãy chú ý đến sự thật, thưa ngài.

Tôi không tin là bức thư bị mất sau 12 giờ khuya đâu.

Vì từ lúc ấy cho đến khi phát hiện ra, ông Hope và phu nhân đều ở trong phòng ngủ.

Thế nghĩa là tài liệu bị mất vào tối qua trong khoảng từ 7 giờ rưỡi tới 12 giờ, bởi kẻ cắp khi ở đâu, tất nhiên hắn sẽ gắng đoạt lấy nó sớm nhất.

Còn nếu tài liệu bị mất vào hôm qua thì hiện giờ nó ở đâu?

Kẻ cắp đã nhanh chóng chuyển cho người đang quan tâm.

Vậy thì chúng ta còn có cơ hội nào để tóm được hắn hoặc lần ra dấu vết của hắn trên đất nước của chúng ta.

Thủ tướng đứng dậy:

- Ông lập luận rất logic.

Tôi thấy quả thực không nên làm gì ở đây nữa.

- Ví như chúng ta cho rằng người hầu ăn cắp tài liệu?

- Họ là những gia nhân quen thuộc và đáng tin cẩn.

- Phòng ngủ ở gác ba và không có lối riêng ăn thông ra ngoài phố.

Vậy thì không ai có thể trèo lên cửa trước của căn phòng mà không bị để ý.

Nghĩa là có một người nào đó ở trong nhà đã phạm tội.

Kẻ cắp có thể chuyển nó cho ai?

Chỉ có thể chuyển cho một trong những điệp viên quốc tế mà tôi biết rõ tên của họ.

Ba người có thể nói là cầm đầu bọn này.

Tôi sẽ bắt đầu tìm xem một trong số ba người đó.

Nếu một người nào đó trong bọn họ đã đi khỏi thành phố và nhất là đã ra đi vào chiều hôm qua thì chúng ta sẽ biết tài liệu này biến đi đâu.

- Vì sao người đó phải ra đi?

- Người phụ tá hỏi - Hắn có thể mang bức thư tới một đại sứ quán nào đó ở London chứ?

- Các điệp viên này thường có những quan hệ rất căng thẳng với các đại sứ quán.

Thủ tướng gật đầu khẳng định điều đó:

- Tôi nghĩ ông rất có lý.

Hắn sẽ tự tay mình mang lá thư.

Kế hoạch hành động của ông, tôi cảm thấy tuyệt đối chính xác.

Tuy nhiên, ông Hope, ông đừng vì chuyện này mà quên đi những trách nhiệm khác của chúng ta.

Các vị khách cúi chào rất trân trọng rồi rời khỏi căn phòng.

Holmes bắt đầu im lặng.

Thời gian trôi đi.

Anh mê mải với những suy tưởng của mình.

Tôi giở các báo buổi sáng đọc bài nói về một tội ác vừa xảy ra vào chiều hôm qua.

Đột nhiên, bạn tôi nhổm phắt dậy, đặt tẩu thuốc lên lò sưởi, kêu lên:

- Đúng.

Tình thế rất căng thẳng nhưng chưa hết hy vọng.

Bây giờ cần biết ai là kẻ ăn cắp.

Suy cho cùng, chỉ có tiền mới làm bọn hắn quan tâm.

Ngân khố của nhà nước sẽ giúp tôi.

Nếu hắn bán, tôi sẽ mua...

Rất có thể hắn còn giữ bức thư.

Hắn cần biết ở đây người ta trả giá bao nhiêu trước khi đem bán ở nước ngoài.

Chỉ ba người có khả năng dự vào trò chơi này.

Đấy là Oberstein, La Rothiere, và Eduardo Lucas.

Tôi sẽ tới thăm họ.

Tôi liếc vào tờ báo buổi sáng.

- Eduardo Lucas ở phố Godolphin phải không?

- Đúng rồi.

- Anh không thể tới thăm hắn ta được?

- Tại sao?

- Hắn đã bị giết rồi.

Holmes sửng sốt, dán mắt vào tôi, vẻ hoài nghi.

Sau đó anh giật lấy tờ báo.

"Vụ giết người ở Westminster.

Chiều hôm qua, tại ngôi nhà số 16 phố Godolphin, đã xảy ra một án mạng.

Phố Godolphin là một trong những con đường yên tĩnh trải dài giữa dòng sông và tu viện Westminster.

Phần lớn những ngôi nhà ở đây được xây vào cuối thế kỷ XVIII.

Ông Eduardo Lucas nổi tiếng trong xã hội như một người dễ mến, một trong những giọng hát nam cao được ưa chuộng nhất.

Ông đã sống nhiều năm liền tại một biệt thự nhỏ trên phố này.

Ông 34 tuổi, chưa lập gia đình.

Người hầu của ông gồm người quản gia, bà Pringle và người hầu Mitton.

Bà Pringle thường không làm vào buổi chiều.

Bà ta lên phòng mình ở gác thượng rất sớm.

Còn chiều hôm đó, người hầu đi thăm một người bạn ở Hammersmith.

Từ 10 giờ, ông Lucas ở một mình trong ngôi nhà.

Cho tới bây giờ, chưa ai rõ chuyện gì đã xảy ra trong thời gian ấy.

Nhưng lúc 12 giờ kém 15, viên cảnh sát tuần tra Barrett khi đi tuần qua phố Godolphin, thấy cửa ngôi nhà số 16 bị mở toang.

ông gõ cửa, nhưng không có tiếng, ông bước vào hành lang và gõ cửa một lần nữa.

Vẫn không có ai trả lời.

Khi đó ông đẩy cửa bước vào.

Căn phòng rất hỗn độn.

Tất cả đồ gỗ bị xê dịch về một phía, một chiếc ghế nằm lỏng chỏng ở ngay giữa nhà.

Chủ nhà nằm cạnh chiếc ghế.

Ông bị giết bằng một nhát dao xuyên thẳng vào tim.

Vũ khí giết người là con dao găm Ấn Độ được lấy từ bộ sưu tập vũ khí phương Đông trang trí trên một bức tường của căn phòng.

Kẻ giết người không phải với mục đích ăn trộm, bởi vì toàn bộ đồ đạc trong nhà vẫn còn nguyên vẹn.

Ông Eduardo Lucas là một người danh tiếng.

Cái chết này đã gây ra nỗi đau xót cho các thân hữu của ông".

- Watson, anh nghĩ gì về chuyện này?

- Một sự trùng hợp kỳ lạ!

- Một trong số ba người có khả năng tham dự vào tấn kịch này đã bị chết.

Thật là một sự trùng hợp kỳ lạ!

Không.

Hai sự việc này chắc chắn có liên quan với nhau, chúng ta phải tìm cho ra mối liên hệ này.

- Nhưng rồi cảnh sát sẽ biết tất cả.

- Không.

Họ chỉ biết những gì mà mọi người đều biết ở phố Godolphin thôi?

Chỉ có chúng ta mới rõ cả hai trường hợp.

Có một điểm làm cho tôi nghi ngờ Lucas.

Phố Godolphin, Westminster chỉ nằm cách Whitehall Terrace vài bước đi bộ.

Những điệp viên khác thì sống ở cuối West End.

Cho nên, Lucas dễ nhận được tin từ nhà ông phụ tá hơn những người kia.

Đây là điểm nhỏ, nhưng nếu tính đến sự khai triển với tốc độ nhanh thì nó có thể biến thành điểm chủ yếu.

A!

Lại có điều gì mới chăng!

Bà Hudson xuất hiện, mang chiếc khay trên có một tấm danh thiếp phụ nữ.

Holmes nhìn bà, nhíu lông mày và chuyển cho tôi.

- Hãy mời phu nhân Hilda Trelawney Hope vào.

- Holmes nói.

Chỉ một thoáng sau, một trong những người phụ nữ đẹp nhất London bước vào căn hộ chúng tôi.

Tôi thường nghe nói về vẻ đẹp của người con út của công tước Belminster, nhưng không một sự mô tả nào có thể truyền đạt được vẻ duyên dáng của bà.

Tuy nhiên, vào buổi sáng mùa thu này, vẻ đẹp của bà có nét gì khang khác; khuôn mặt bà lấp lánh, nhưng ánh mắt đỏ như đang lên cơn sốt.

Cái miệng tình tứ khép chặt lại.

Bà đang cố gắng tự trấn tĩnh.

- Chồng tôi đã ở chỗ ông, phải không, ông Holmes?

- Vâng.

- Ông Holmes, tôi van ông, ông đừng nói cho chồng tôi biết là tôi đã đến đây.

Holmes cúi chào lạnh nhạt:

- Vẻ lộng lẫy của bà đặt tôi vào một tình huống rất khó xử.

Mời bà ngồi xuống đây và nói cho tôi biết bà cần gì.

Song đáng tiếc là tôi không thể đem lại những lời hứa - Holmes nói.

- Ông Holmes.

Tôi biết là ở tại nhà chúng tôi có một tài liệu nào đó đã bị thất lạc.

Nhưng vì nó đụng đến vấn đề chính trị nên chồng tôi không nói gì với tôi.

Tôi van ông, ông giải thích cho tôi biết cái gì đã xảy ra và hậu quả nó như thế nào?

- Bà đã đòi hỏi ở tôi cái điều vượt quá khả năng của tôi .

Bà ta thở dài rồi lấy tay ôm mặt.

- Bà cần hiểu tôi hơn, thưa bà!

Nếu chồng bà đã không cho bà biết việc này thì bà tìm hiểu làm chi?

Thậm chí bà cũng không nên hỏi nơi tôi.

Bà nên hỏi chồng bà.

- Tôi đã hỏi anh ấy.

Thôi, nếu ông không muốn nói thì thôi.

Nhưng mong ông vui lòng trả lời một câu hỏi khác.

- Câu hỏi như thế nào.

- Do vụ này, sinh mạng chính trị của chồng tôi có bị tổn thất không?

- Nếu công việc không được thu xếp ổn thỏa thì nó sẽ dẫn tới các hậu quả nghiêm trọng.

Bà thở dài.

- Những hậu quả ấy như thế nào?

- Tôi không đủ sức trả lời câu hỏi này.

- Nếu thế, tôi sẽ không làm phí thời giờ của ông nữa.

Tôi thực lòng muốn chia sẻ sự lo lắng với chồng tôi.

Một lần nữa, yêu cầu ông đừng nói với chồng tôi về chuyện gặp gỡ hôm nay.

Đến ngưỡng cửa, bà ngoảnh đầu lại và một lần nữa tôi nhìn thấy khuôn mặt đẹp, xúc động, đôi mắt lo sợ và cái miệng xinh xắn mím chặt lại.

Sau đó bà biến mất.

- Watson này, phái đẹp là một phần của cuộc đời anh - Holmes vừa cười vừa nói khi cánh cửa được đóng mạnh lại và tiếng sột soạt của váy phụ nữ đã im bặt - Người đàn bà này muốn gì đây?

- Bà ta lo sợ cho chồng là điều dĩ nhiên.

- Hãy hình dung lại khuôn mặt bà ta: nỗi lo sợ mất bình tĩnh và lòng kiên nhẫn.

- Đúng, bà ấy rất lo lắng.

- Đồng thời bà đã cố gắng thuyết phục chúng ta tin rằng bà ta hành động chỉ xuất phát từ lợi ích của chồng mình, và vì vậy bà ta cần biết hết thảy mọi chuyện.

Qua việc đó bà ta muốn nói gì?

Có lẽ anh cũng nhận ra là bà đã cố ý ngồi quay lưng về phía ánh sáng.

Bà không muốn để chúng ta nhìn thấy rõ mặt bà.

- Đúng vậy, bà ấy đã ngồi chính chỗ này.

- Nói chung, đàn bà thật khó hiểu.

Rất nhiều điều được che đậy ở đằng sau các hành vi bình thường nhất của đàn bà mà thôi.

Chào Watson nhé!

- Anh đi à?

- Vâng.

Tôi đến phố Godolphin vì vụ Lucas để tìm một chút manh mối nào đó.

Anh hãy tiếp khách giùm tôi nhé.

Suốt ngày hôm đó và hai ngày tiếp theo, Holmes im lặng như những hạt gạo.

Anh đi, rồi lại về, hút thuốc liên miên, kéo vi-ô-lông với những giai điệu du dương, hay trầm ngâm nghĩ, ăn bánh sandwich bất kỳ lúc nào và trả lời nhát gừng các câu hỏi của tôi.

Tôi hiểu anh chưa đem lại kết quả.

Anh không hề kể cho tôi nghe về điều gì.

Chỉ qua báo chí, tôi mới được biết người ta bắt giữ John Mitton, gia nhân của người quá cố.

Cuộc điều tra đã xác minh đây là vụ giết người có chủ tâm từ trước, thế nhưng vẫn chưa tìm ra được động cơ phạm tội.

Trong phòng có nhiều vật dụng giá trị, nhưng không mất một thứ nào.

Giấy tờ của người quá cố cũng không bị đụng đến.

Người ta xem xét chúng tỉ mỉ và xác nhận người quá cố rất quan tâm đến tình hình thế giới.

Ông ta quen biết những nhà hoạt động chính trị danh tiếng của một vài nước.

Có điều trong các tài liệu chất đầy ngăn bàn ông ta, không tìm thấy cái gì đáng quan tâm.

Đối với phụ nữ, ông ta quen nhiều nhưng không yêu một ai.

Cái chết của ông còn là một câu hỏi bí ẩn.

Việc tạm giam người hầu Mitton cũng chỉ là biểu hiện của sự bế tắc.

Không có yếu tố chống lại anh ta.

Chứng cớ ngoại phạm rất đầy đủ.

Vào chiều hôm đó, Mitton đi thăm bạn bè ở Hammersmith và về tới nhà lúc 12 giờ.

Tuy nhiên, anh đã thực sự xúc động trước tấm thảm kịch bất ngờ.

Mitton luôn có quan hệ thân tình với chủ nhà.

Một vài vật dụng của người quá cố - ví như hộp dao cạo râu - được tìm thấy trong va-li của người hầu, nhưng anh nói rõ đấy là quà của ông chủ.

Bà quản gia cũng đã khẳng định điều này.

Mitton phục vụ trong nhà Lucas được ba năm.

Đáng lưu ý là Lucas không bao giờ cho Mitton cùng đi với mình ra nước ngoài.

Đôi khi ông sống liên tục ở Paris suốt ba tháng liền, thế mà vẫn để Mitton ở lại trông nom nhà cửa.

Theo báo chí thì đã ba ngày rồi, các bí mật vẫn còn nguyên.

Mặc dầu Holmes biết nhiều hơn báo chí, song anh vẫn không kể cho tôi nghe điều gì cả.

Chỉ có một lần, nhân câu chuyện hàng ngày, anh có nói rằng thanh tra Lestrade đã đưa anh vào thực chất của vấn đề.

Do vậy tôi hiểu anh đã nắm bắt được nhiều tin tức mới.

Bước sang ngày thứ tư, có một bức điện dài từ Paris chuyển đến:

Báo "Daily Tétégraph" viết:

"Cảnh sát Paris đã vén bức màn bí mật về cái chết của ông Eduardo Lucas.

Bạn đọc còn nhớ rằng thi thể của ông được phát hiện ra trong căn phòng cùng với con dao găm, rằng mối ngờ vực đã đổ xuống đầu người hầu phòng, song anh ta đã chứng minh được tình trạng ngoại phạm.

Hôm qua, gia nhân của bà Henri Fournaye, người đang sống ở Paris, tại đường Auterlitz, đã nói với cảnh sát rằng bà chủ của mình bị điên.

Các khám nghiệm đã chứng tỏ rằng bà ta thực sự mất trí.

Trong lúc điều tra, cảnh sát xác minh là vào thứ ba vừa rồi, bà ta trở về sau chuyến đi tới London.

Có nhiều cơ sở cho rằng chuyến đi này có liên quan đến án mạng tại Westminster.

Sự đối chiếu các bức ảnh cho phép khẳng định chồng bà, ông Henri Fournaye và ông Eduardo Lucas chỉ là một, và không rõ vì sao người quá cố đã sống hai cuộc đời ở London và ở Paris.

Bà Fournaye là người gốc Âu Mỹ, có tính cách rất dễ bị kích động, do vậy thường không hoàn toàn làm chủ được mình.

Đây có thể là nguyên nhân của bi kịch đã xảy ra ở London.

Sáng thứ ba, có một người đàn bà rất giống bà ta đứng trên sân ga Charing Cross với tâm trạng bị kích động mạnh.

Cho nên, rất có thể chồng bà chết là do bà gây ra trong cơn điên loạn, hoặc cái chết ấy đã tác động đến bà, khiến bà bị mất trí, vẫn chưa có hy vọng bà sẽ khỏi bệnh.

Có nhiều tin tức cho hay rằng vào chiều thứ hai có một người đàn bà nào đó - có thể là bà Fournaye, - đã đứng quanh ngôi nhà trên đường Godolphin chừng vài tiếng đồng hồ...".

Tôi đọc bức điện cho Holmes nghe khi anh dùng xong bữa điểm tâm.

- Anh Watson, anh là người kiên nhẫn vô cùng.

Ba ngày vừa rồi tôi chưa kể điều gì cho anh nghe, chỉ vì không có gì để kể.

Ngay bây giờ các tin tức từ Paris vẫn chưa giúp chúng ta bao nhiêu.

- Thế nhưng cái chết của người ấy hiện giờ đã hoàn toàn được sáng tỏ.

- Cái chết ấy chỉ là một phần rất nhỏ so với nhiệm vụ của chúng ta.

Chúng ta phải tìm cho được bức thư và cứu châu Âu ra khỏi thảm họa chiến tranh.

Trong ba ngày vừa qua, chỉ có một sự kiện đáng lưu ý là: chưa có cái gì xảy ra cả.

Khắp châu Âu chưa có dấu hiệu bất an.

Lẽ nào bức thư bị thất lạc...

Nếu nó chưa bị thất lạc thì hiện giờ nó ở đâu?

Tại sao người ta lại cất giữ nó?

Phải chăng Lucas bị giết đúng vào cái buổi tối bị mất lá thư?

Nói chung, bức thư có ở chỗ hắn ta hay không?

Nếu có, thì vì lẽ gì lại không tìm thấy nó?

Tại sao người vợ điên loạn của Lucas lại không mang nó theo mình?

Nếu bà ta mang lá thư đi thì vì lẽ gì nó không có ở chỗ bà tại Paris?

Tôi có thể tìm nó ở đấy mà không làm cho cảnh sát Pháp nghi ngờ được chăng?

Nếu như tôi thành công trong việc này thì nghề nghiệp của tôi sẽ kết thúc một cách hiển hách...

À đây rồi.

Cái tin tức mới nhất từ những cảnh sát tiên phong - Anh liếc nhanh vào mẫu thư chuyển cho anh - A ha!

Hình như Lestrade đã tìm ra một điều gì thú vị sao đó Watson, chúng ta cùng đi đến Westminster.

Trước tiên, chúng tôi đến nơi xảy ra án mạng.

Đó là ngôi nhà cao, mặt tiền hẹp, trông không đẹp lắm.

Khuôn mặt Lestrade lấp ló qua cửa sổ.

Viên cảnh sát mở cửa ra và ông ta thân mật chào chúng tôi.

Căn phòng chúng tôi bước vào chính là nơi Lucas bị giết, có điều giờ đây dấu tích của tội ác không còn nữa, ngoài vết máu hiện rõ trên tấm thảm.

Chiếc thảm là một miếng nỉ dày, hình vuông.

Bộ sưu tập vũ khí nổi tiếng treo lơ lửng trên lò sưởi.

- Ông đã được nghe những tin tức mới từ Paris chưa?

- Lestrade hỏi.

Holmes gật đầu.

- Lần này các bạn Pháp đã nói trúng cái điều cần thiết.

Vụ giết người tất nhiên đã diễn ra đúng như họ trình bày.

Vợ ông ta gõ cửa và ông ta đưa bà vợ vào nhà.

Bà ấy đã kể cho ông ta nghe là đã tìm thấy ông ta bay bướm như thế nào, rồi sau đó mắng sa sả vào mặt chồng.

Sau đấy, nhân có con dao găm trong tay, bà nhanh chóng đi đến kết thúc.

Mọi chuyện diễn ra cố nhiên phải ngay một lúc vì tất cả chiếc ghế được chất thành đống.

Một chiếc ghế nằm trong tay ông ta, hình như ông ta có dùng chiếc ghế này để tự vệ.

Holmes nhướn lông mày:

- Ông có tin tức gì cho tôi đấy?

- Ồ, đây là chuyện khác, một chuyện đáng khả nghi.

- Chuyện gì !

- Sau khi được báo tin, chúng tôi đến đây, cẩn thận canh giữ hiện trường; đồ đạc được giữ nguyên như cũ.

Sáng hôm nay, sau khi người chết đã được mai táng và việc xem xét căn phòng này đã kết thúc, chúng tôi cho thu dọn đồ đạc trong phòng, xếp lại cho nó ngăn nắp.

Và tấm thảm này nó không được dính chặt xuống nền nhà mà chỉ đặt sơ sài trên đó.

Vô chúng tôi nâng nó lên và tìm thấy...

- Thấy?

Thấy cái gì? ...

Sự quan tâm hiện rõ trên khuôn mặt Holmes.

- Ồ!

Ông có nhận ra vết máu trên tấm thảm này không?

Quả thật phải có một lượng máu đáng kể mới thấm qua tấm nỉ như thế này.

- Phải.

- Hãy hình dung rằng trên sàn ván, ở chỗ ngay tấm thảm đặt lên mà lại không có một dấu máu nào.

- Không có dấu máu?

Sao vậy?

Phải có chứ?

- Đúng như ông nghĩ.

Vậy mà nó không có mới là kỳ lạ, - ông ta khẽ nâng rìa tấm thảm lên.

Và chúng tôi thận thấy trên sàn ván, nơi tiếp xúc với tấm thảm, không có vết máu.

- Thế nhưng, mặt dưới của tấm thảm cũng bị vấy máu nhiều như ở mặt trên kia mà.

Phải có một mặt nào đó lưu lại dấu vết trên sàn nhà chứ!

Nhận thấy vẻ ngạc nhiên của người chuyên gia nổi tiếng, Lestrade cười hì hì khoái trá:

- Vết máu trên sàn ván cũng có đấy, nhưng nó không nằm ở vị trí đó.

Hãy nhìn coi?

Vừa nói, ông ta khẽ lật phía điểm khác của tấm thảm lên.

Quả thật trên những ô vuông sáng bóng của sàn ghép gần phía cánh cửa, chúng tôi nhìn thấy một vệt đỏ loang lổ.

- Ông nói gì về điều này, ông Holmes?

- Ở đây mọi chuyện thật đơn giản.

Hai vết máu vẫn hoàn toàn trùng lên nhau.

Nhưng tấm thảm đã bị lật trở lại Vì rằng tấm thảm hình vuông và không được ghìm chặt xuống nền nhà nên chuyện đó là rất dễ.

- Ông Holmes, chuyện đó hoàn toàn hiển nhiên.

Nếu đặt tấm thảm y vào vị trí cũ thì vết bẩn, một ở mặt trên tấm thảm và một ở trên sàn ván, bắt phải chồng lên nhau.

Còn tôi xin hỏi ông: Ai đã lật tấm thảm lên?

Và người ấy lật lên để làm gì?

Holmes cố gắng kiềm chế nỗi xúc động đang xâm chiếm lấy mình.

- Ông Lestrade!

Người cảnh sát đứng ở hành lang luôn luôn trực ở đây, phải không?

- Vâng.

- Tôi khuyên ông thế này vậy: Hãy hỏi hắn đến nơi đến chốn.

Nhưng chúng tôi sẽ không chứng kiến.

Chúng tôi chờ ở đây.

Hãy nói vì sao hắn dám cả gan cho một người nào đó vào đây và để cho người ấy ở lại một mình trong phòng này.

Hãy nói với hắn là ông đã biết rõ như vậy.

Hãy đe dọa hắn.

Hãy nói rằng chỉ có sự thành thật mới có thể giúp hắn chuộc lỗi lầm.

- Tôi thề là tôi sẽ ép hắn đến cùng.

Ông chạy vào phòng bên cạnh.

Chỉ sau một phút, chúng tôi đã thấy tiếng quát tháo ầm ĩ.

- Mau lên.

Watson mau lên - Holmes cuống quít.

Tất cả sức lực siêu nhiên trong người Holmes đột ngột trỗi dậy.

Anh lật tấm thảm lên, quỳ xuống bắt đầu lần từng ô vuông gỗ lát sàn dưới chân mình.

Một ô vuông đã văng ra.

Đó là một nắp hộp nhỏ, phía dưới có một lỗ tối om.

Holmes thọc tay vào đó.

Thế nhưng, sau khi lôi chiếc hộp ra, anh bắt đầu rên lên vì buồn bực và thất vọng, chiếc hộp trống không.

- Nhanh lên Watson!

Hãy đặt nó vào chỗ cũ!

Chúng tôi vừa kịp giấu chiếc hộp và đặt tấm thảm lên thì đã nghe thấy giọng của Lestrade ở ngoài hành lang.

Khi ông ta bước vào, Holmes đã tựa vào lò sưởi với vẻ ngạo mạn, phớt đời.

- Xin lỗi, không biết điều gì đã giữ chân ông ở lại đây, ông Holmes!

Tôi thấy những chuyện này đã làm ông ngán đến tận cổ rồi.

Cuối cùng hắn phải thú nhận!

MacPherson, vào đây!

Một cảnh sát to lớn, mặt đỏ ửng rón rén bước vào căn phòng

- Chiều hôm qua một người đàn bà trẻ tuổi rẽ vào đây.

Bà nói bà bị lầm nhà.

Chúng tôi có trò chuyện với nhau một chốc.

Suốt ngày đứng một mình ở đây quả có buồn thật.

- Được rồi Vậy chuyện gì đã xảy ra?

- Bà ta muốn coi tận mắt vụ giết người mà báo chí đã đưa tin.

Đó là một người đàn bà trẻ trung và đứng đắn.

Lúc đó tôi nghĩ rằng sẽ không có gì xấu xa, nếu tôi đưa bà ta vào xem.

Nhưng sau khi trông thấy vết bẩn trên tấm thảm, bà ta đã ngã quỵ xuống, nằm bất động như một người chết.

Tôi chạy ùa vào bếp, mang nước ra, thế nhưng vẫn không làm sao cho bà ấy tỉnh lại; tôi lại chạy ra tận góc phố Ivy Plant, mua một chai brandy.

Nhưng lúc tôi bước vào phòng thì bà ta đã tỉnh dậy và đi ra.

Có lẽ bà xấu hổ khi gặp lại tôi.

- Thế không có ai đụng vào tấm thảm chứ?

- Khi tôi quay lại, tấm thảm có bị xê dịch chút xíu, bởi vì bà ta ngã lên nó mà.

Thêm vào đó, tấm thảm lại không được đóng chặt xuống nền nhà.

Sau đấy, tôi đặt nó ngay ngắn trở lại.

- Đó là bài học cho ông đấy, cảnh sát MacPherson ạ, không lừa nổi tôi đâu - Lestrade nói với vẻ quan trọng - Chắc ông nghĩ rằng việc đó sẽ không bị phát hiện.

Thế mà tôi chỉ cần ném một cái nhìn vào tấm thảm là tôi lập tức hiểu ngay là đã có một ai đó rẽ vào căn phòng này.

Thật may cho ông là đã không mất gì cả, ông chỉ phải mang tiếng xấu thôi!

Ông Holmes, rất tiếc là tôi gọi ông tới đây vì cái trò nhảm nhí này.

Thế nhưng tôi cho rằng cái vết máu thứ hai cái vết không trùng lên vết thứ nhất sẽ khiến ông thích thú.

- Cố nhiên...

- Ông cảnh sát, người đàn bà ấy vào đây chỉ một lần thôi sao?

- Vâng chỉ một lần.

- Tên bà ta là gì.

- Tôi không biết.

Bà ta nói là đi tìm việc làm, nhưng nhầm số nhà.

Bà ta rất lịch thiệp và thoải mái.

- Bà ấy có cao không?

Có đẹp không?

- Vâng bà ta hơi cao.

Cũng có thể nói là bà ta đẹp, thậm chí rất đẹp.

"Ôi !

Ông sĩ quan, xin hãy cho phép tôi liếc nhìn một chút xíu thôi!".

Phong thái bà ta dễ coi và dễ thương như thế nên tôi khó lòng từ chối.

- Bà ấy ăn mặc ra sao?

- Áo choàng dài phủ đến tận gót.

- Chuyện đó xảy ra từ lúc mấy giờ?

- Khi tôi từ tửu quán quay trở lại, thì đèn phố đã được bật sáng.

- Rất tiếc!

Ta đi thôi, Watson!

Chúng tôi bước ra, Lestrade ở lại trong phòng.

Viên cảnh sát chạy ra, mở rộng cửa cho chúng tôi với vẻ hối hận.

Holmes quay lại, đứng ở ngưỡng cửa, đưa ra một cái gì đó.

Viên cảnh sát chăm chú nhìn.

- Trời ơi!

- Ông ta kinh ngạc kêu lên.

Holmes đặt ngón tay lên môi rồi nhét vật đó vào túi.

Anh cười khanh khách, khi chúng tôi bước ra ngoài đường.

- Thật tuyệt vời.

Ta đi nào!

Bức màn đang được vén lên.

Chiến tranh sẽ không thể xảy ra được.

Danh vọng chói lọi của bá tước sẽ không bị lu mờ.

Vị nguyên thủ thiếu cẩn trọng kia sẽ ngủ ngon, Thủ tướng sẽ không phải tháo gỡ tình hình phức tạp ở châu Âu.

Lòng tôi tràn ngập niềm khâm phục đối với con người đáng khâm phục này.

- Anh đã giải bài toán ra sao?

- Bây giờ thì chưa.

Chúng ta sẽ đi thẳng tới Whitehall Terrace và sẽ kết thúc công việc.

Khi đến nhà ông phụ tá, Holmes nói rõ là anh muốn gặp phu nhân Hilda Trelawney Hope.

Chúng tôi được đưa ngay vào phòng khách.

- Ông Holmes!

- Bà ta nói, mặt ửng hồng lên vì giận dữ - ông không cao thượng chút nào.

Tôi đã nói là tôi muốn giữ bí mật chuyến viếng thăm của tôi, kẻo chồng tôi nghĩ rằng tôi nhúng tay vào công việc của anh ấy.

Bằng việc đến đây, ông đã làm tổn hại thanh danh của tôi.

- Rất tiếc là tôi không thể làm gì khác, thưa bà.

Người ta bảo tôi phải tìm cho ra tài liệu.

Tôi đề nghị bà trao nó cho tôi.

Người đàn bà đứng phắt dậy.

Đôi mắt của bà mờ đi.

Bà ta dao động dữ dội, tôi có cảm giác bà sắp ngất xỉu đi.

Nhưng không, bà ta có một nghị lực thật phi thường.

Bà ta giận dữ, quát:

- Ông đã xúc phạm đến tôi.

- Xin hãy nghe đây, thưa bà!

Giận dữ cũng vô ích.

Hãy đưa bức thư cho tôi.

Bà ta lăng xăng chạy tới máy điện thoại.

- Người quản lý sẽ đưa tiễn ông.

- Đừng gọi, thưa phu nhân Hilda.

Nếu bà làm như vậy thì mọi ý định chân thành của tôi nhằm giúp bà sẽ vô ích.

Hãy trả lại bức thư cho tôi thì mọi chuyện sẽ được ổn thỏa.

Còn nếu bà không nghe, buộc lòng tôi phải tố giác bà.

Bà ta đứng trước chúng tôi, uy nghi và kiêu hãnh, tay không rời khỏi máy điện thoại, nhưng vẫn chưa gọi.

- Ông không cao thượng đâu, ông Holmes ạ.

Ông nói là ông biết một điều gì đó, vậy ông biết điều gì?

- Thưa bà, xin bà hãy ngồi xuống.

Bà sẽ bị thương nếu bà ngã.

Tôi sẽ không nói chừng nào bà chưa ngồi.

Vâng, xin cám ơn bà!

- Ông Holmes, tôi cho ông năm phút.

- Chỉ một phút thôi.

Tôi biết bà đến gặp Eduardo Lucas, đưa lá thư cho hắn ta.

Tôi cũng biết chiều hôm qua, bà lại vào căn phòng của hắn ta, lấy lại lá thư bên dưới tấm thảm.

Mặt phu nhân Hilda trở nên tái mét.

Bà không dám nhìn Holmes.

Hơi thở bà nghẹn lại, không nói một lời.

- Ông quẫn trí rồi, ông Holmes...

Ông quẫn trí mất rồi!

- Cuối cùng bà kêu lên.

Holmes rút từ túi ra một tấm ảnh nhỏ.

Trong ảnh là hình một người phụ nữ đã được cắt riêng ra.

- Đây là tấm ảnh nhỏ.

Tôi cầm theo nó vì tôi cho rằng nó có thể sẽ hữu ích.

- Anh nói - Người cảnh sát đã nhận ra bà.

Bà ta thở dài một cách khó nhọc, đầu bà ngã xuống lưng ghế.

- Thưa bà!

Bà đang giữ bức thư.

Tôi không muốn làm bà phiền muộn.

Nhiệm vụ của tôi sẽ chấm dứt khi tôi hoàn lại lá thư cho chồng bà.

Hãy nghe lời khuyên nhủ của tôi.

Cho tới lúc đó, bà vẫn chưa chịu thua.

- Ông Holmes, tôi xin nhắc lại với ông rằng ông đang bị một thứ tưởng tượng nào đấy điều khiển.

Holmes đứng dậy khỏi ghế.

- Tôi tiếc cho bà, thưa phu nhân Hilda.

Tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được để cứu giúp bà.

Nhưng thôi.

Tùy bà.

Anh bấm chuông.

Viên quản lý bước vào.

- Ông Trelawney Hope có ở nhà không?

- Ông ấy sẽ về đến nhà sau 15 phút nữa, thưa ông.

Holmes liếc nhìn đồng hồ:

- Rất tốt, tôi sẽ chờ.

Đúng lúc viên quản lý khép cửa lại, phu nhân Hilda giang rộng hai tay, phủ phục dưới chân Holmes giàn giụa nước mắt.

- Hãy lượng thứ cho tôi, ông Holmes.

Xin đừng nói với anh ấy!

Tôi yêu anh ấy!

Tôi đau lòng nếu làm anh ấy nhiều phiền muộn.

Holmes nâng bà dậy.

- Xin cám ơn bà.

Thế là vào phút chót, bà đã nghĩ lại.

Không nên mất một giây nào nữa.

Bức thư đâu?

Bà ta lao đến bàn giấy, mở khóa và rút ra tấm phong bì dài, màu xanh da trời.

- Nó đây, ông Holmes...

- Chúng tôi cần cho nó vào chỗ cũ.

Mau lên!

Mau lên!

Cái tráp đựng tài liệu đâu?

- Trong phòng ngủ.

- Mau lên!

- Hãy để nó vào đấy.

Một phút sau, bà xuất hiện với cái tráp dẹt.

- Bà có chìa khóa thứ hai không?

Mở đi!

Phu nhân Hilda rút ra từ trong người chiếc chìa khóa nhỏ.

Tráp được mở.

Trong đó, đầy giấy tờ.

Holmes đặt chiếc phong bì vào chính giữa, kẹp vào những tài liệu khác.

Tráp được khóa và được trở lại phòng ngủ.

- Bây giờ chúng ta chuẩn bị tiếp chồng bà.

- Holmes nói - Chúng ta còn 10 phút nữa.

Tôi sẽ che giấu cho bà, thưa phu nhân Hilda.

Trong thời gian còn lại, bà hãy kể cho tôi nghe câu chuyện này đi.

- Ôi, ông Holmes!

Chặt cánh tay phải của tôi còn dễ hơn là để cho anh ấy đau khổ, dù chỉ một phút thôi.

Khắp London này, không thể có người đàn bà nào yêu chồng mình hơn tôi.

Tuy vậy, nếu chồng tôi biết rằng tôi phải làm cái điều bắt buộc phải làm, anh ấy vẫn không thể tha thứ cho tôi.

Hãy giúp tôi, ông Holmes Hạnh phúc của tôi, hạnh phúc của anh ấy, tất cả cuộc sống của chúng tôi sẽ sụp đổ hết!

- Nhanh lên, thưa bà.

Thời gian còn rất ít.

- Trước lúc xây dựng gia đình, tôi có lá thư dại dột và thiếu thận trọng.

Đó là thư của một cô gái đa cảm đang yêu.

Trong thư, không có điều gì xấu xa cả, vậy mà chồng tôi sẽ coi hành vi này là tội lỗi.

Nếu như chồng tôi đọc lá thư đó, chắc chắn anh ấy sẽ không còn tin tôi.

Nhiều năm đã trôi qua.

Tôi ngỡ rằng "chuyện lá thư" đã rơi vào quên lãng.

Thế nhưng, đột nhiên Lucas báo cho tôi biết là lá thư đã rơi vào tay ông ta và ông ta có ý định chuyển cho chồng tôi xem.

Tôi van nài ông ta, xin ông ta hãy buông tha cho tôi.

Ông ta hứa sẽ hoàn lại lá thư nếu tôi mang đến cho ông ta một tài liệu.

Ông ta nói tài liệu này hiện chồng tôi đang cất trong tráp đựng các công văn khẩn.

Ông ta biết về tài liệu này.

Lucas cam đoan với tôi là điều đó không làm tổn hại chút nào tới chồng tôi.

Nếu ông ở đó vào địa vị của tôi, ông sẽ làm gì.

- Kể tất cả cho chồng bà nghe.

- Ôi!

Không thể làm như vậy được Tôi đã đánh cắp, ông Holmes à.

Tôi lấy khuôn chìa khóa và Lucas làm được chiếc chìa khóa thứ hai.

Tôi mở tráp, lấy tài liệu và mang tới phố Godolphin.

- Rồi tại đó, chuyện gì đã xảy ra?

- Tôi gõ cửa vào giờ hẹn.

Lucas ra mở cửa.

Tôi đi theo ông ta vào phòng.

Cửa được khép hờ.

Tôi nhớ rằng khi tôi bước vào nhà thì ở ngoài đường có một người đàn bà nào đó đang đứng.

Hai lá thư nhanh chóng được trao nhau.

Đúng lúc đó, tôi nghe có tiếng động mạnh ở cạnh cửa và tiếng bước chân vang lên ở hành lang.

Lucas nhanh chóng lật tấm thảm lên, nhét tài liệu xuống đó, rồi đặt tấm thảm vào như cũ.

Tiếp theo, tôi trông thấy một bộ mặt xám đen ngây dại và nghe giọng đàn bà quát mắng bằng tiếng Pháp: "Sự chờ đợi của tao quả không vô ích.

Cuối cùng tao đã bắt gặp mày với nó".

Tôi nhìn thấy ông ta cầm chiếc ghế, còn trong tay bà ta lấp loáng một con dao găm.

Tôi lao ra khỏi nhà vì khiếp đảm.

Chỉ vào sáng hôm sau, nhờ đọc báo, tôi mới biết về vụ giết người đó.

Tối hôm ấy tôi rất mừng vì đã đốt xong lá thư thời xa xưa.

Nhưng sáng hôm sau, tôi biết một tai họa khác sắp đổ xuống đầu tôi.

Khó khăn lắm tôi mới không quỳ lạy anh ấy.

Sáng hôm sau, tôi đến chỗ ông, và đã thấy rõ rằng tình hình nghiêm trọng.

Từ giây phút đó, tôi luôn nghĩ là phải hoàn lại tài liệu cho nhà tôi.

Tài liệu đang nằm ở chỗ Lucas cất giấu.

Nếu bà ta không xuất hiện, tôi không bao giờ biết được nơi cất giấu tài liệu.

Phải đột nhập vào căn phòng đó.

Nhưng bằng cách nào?

Tôi theo dõi ngôi nhà suốt hai ngày, cánh cửa không được mở lấy một lần.

Mãi tới chiều hôm qua, tôi mới thành công.

Tôi đem tài liệu về nhà, quyết định tiêu hủy nó, và sẽ không kể cho anh ấy nghe chuyện gì xảy ra.

Bởi vì tôi không biết cách hoàn lại lá thư cho nhà tôi.

Ôi!

Tôi đã nghe thấy tiếng chân của anh ấy ở ngoài cầu thang rồi.

Ông phụ tá chạy bổ vào phòng, kêu lớn:

- Có gì mới không, ông Holmes?

Có gì mới!

- Có hy vọng!

- May quá - Nét mặt ông rạng rỡ hẳn lên - Thủ tướng đang ăn sáng với tôi.

Có thể chia sẻ nỗi hân hoan với ngài được không?

Thần kinh của ngài rất vững.

Vậy mà ngài hầu như không ngủ được, từ khi xảy ra vụ này.

Jacobs!

Hãy mời Thủ tướng đến đây.

Có gì liên quan tới mình đâu, hỡi em yêu quý!

Cứ theo ánh mắt của Thủ tướng, cứ theo sự cử động dồn dập của đôi tay ông, tôi thấy ông đang chia sẻ nỗi xúc động với người phụ tá của mình.

- Ông Holmes, tôi rất hiểu là ông muốn báo cho chúng tôi biết một điều lành?

- Sau khi thăm dò tất cả những nơi tôi có điều kiện thăm dò, tôi tin rằng chúng ta không còn gì phải lo ngại.

- Nhưng quả là không đầy đủ, ông Holmes.

Chúng ta không thể sống mãi trên núi lửa được.

Chúng ta cần biết một cách rõ ràng.

- Tôi hy vọng sẽ tìm ra bức thư, vì vậy tôi mới đến đây.

Càng nghĩ về công việc này, tôi càng tin rằng bức thư không bao giờ vượt ra khỏi ranh giới của ngôi nhà này!

- Ông Holmes!

- Nếu quả thật nó đã bị mất thì cố nhiên người ta đã công bố nó từ lâu, từ rất lâu rồi.

Nhưng vì sao có thể cho rằng bức thư được cất giấu trong ngôi nhà này?

- Chúng tôi không tin có kẻ đã lấy nó.

- Vậy nó rời khỏi tráp làm sao được?

- Tôi cũng không tin là nó đã ra khỏi cái tráp.

- Ông Holmes!

Bây giờ không phải là lúc để đùa cợt.

Tôi cam đoan với ông là trong đó không có lá thư.

- Thì ta hãy nhìn lại một lần nữa, xem sao?

- Không!

Điều đó hoàn toàn vô ích?

- Có thể ông không để ý đến nó.

- Không đời nào có chuyện ấy cả.

- Ai mà biết được?

Những chuyện tương tự như thế vẫn thường xảy ra.

Vì ở đây có lẽ còn có những tài liệu khác nữa.

Bức thư có thể bị lẫn trong số tài liệu đó.

- Bức thư nằm ở trên cùng.

- Có thể một ai đấy xóc nó lên và bức thư đã bị dịch chuyển.

- Không, không!

Tôi đã lấy tất cả ra rồi!

- Nhưng có thể dễ dàng kiểm tra lại điều đó, ông Trelawney Hope - Thủ tướng nói - Hãy lệnh mang tráp lại đây!

Ông phụ tá ấn nút chuông.

- Jacobs, hãy mang cái tráp đựng giấy tờ của tôi ra đây!

Chúng ta sẽ phí thì giờ, nhưng nếu điều đó làm ông hài lòng thì...

Chúng tôi sẽ kiểm tra lại.

Cám ơn Jacobs, hãy đặt nó xuống đây...

Chìa khóa tôi luôn móc theo dây đeo đồng hồ.

Đây mọi giấy tờ đây!

Ông xem đi.

Bức thư của huân tước Merrow, báo cáo của ngài Charles Hardy, bị vong lục từ Belgrade, các tài liệu về thuế lúa mì Đức- Nga, bức thư từ Madrid, bản báo cáo của huân tước Flowers...

Trời ơi!

Cái gì thế này?

Huân tước Bellinger!

Huân tước Bellinger!

Thủ tướng giật lấy tấm phong bì màu xanh da trời từ tay người phụ tá.

- Đúng, nó đây bức thư còn nguyên vẹn...

Xin chúc mừng ông, ông Hope ạ!

- Cám ơn ngài.

Xin cám ơn ngài!

Một sức nặng ghê gớm đã trút khỏi vai tôi!

Thế nhưng không thể hiểu nổi...

Ông Holmes, ông là phù thủy!

Do đâu ông biết được tài liệu ở đây?

- Bởi vì tôi biết rằng đối với nó không ở đâu tốt hơn là ở đây cả.

- Tôi không thể tin vào đôi mắt của mình nữa rồi!

- Ông lao vút ra khỏi phòng - Vợ tôi đâu rồi?

Hilda!

Hilda!

Chúng tôi nghe rõ giọng nói của ông vang lên ở ngoài cầu thang.

Ông Thủ tướng nheo nheo đôi mắt, rồi nhìn vào Holmes.

- Hãy nghe đây, ông Holmes - Ông nói - Ở đây ẩn giấu một điều gì đó.

Bức thư trở lại trong tráp bằng cách nào vậy?

Holmes mỉm cười quay lưng lại để lẩn tránh cái nhìn từng trải của Thủ tướng.

- Chúng ta còn có những bí mật xã giao của mình nữa.

- Holmes nói, và sau khi cầm lấy mũ, anh bước ra phía cửa...

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
E1 Đêm kinh hoàng ở điền trang Wisteria


ĐÊM KINH HOÀNG Ở ĐIỀN TRANG WISTERIA

THE ADVENTURE OF WISTERIA LODGE (1908)

His last bow

Cung đàn sau cuối

"Thưa ông Holmes,

Tôi vừa dự một cuộc phiêu lưu hoàn toàn khó tin và kỳ lạ.

Tôi muốn tham khảo ý kiến ông!

Scott Eccles.

Hộp thư lưu trữ,

Charing Cross".

- Tác giả của bức điện này là đàn ông hay đàn bà?

- Chắc là đàn ông!

Một phụ nữ đánh điện không bao giờ trả cước hồi âm!

Ông ta sẽ thân hành tới.

- Anh sẽ tiếp ông ta?

- Tôi đã thất nghiệp sau ngày đưa đại tá Carruthers vào tù.

Tôi giống như một cái máy của xe đua: xe sẽ bị rỉ sét nếu nó không làm nên chiến tích.

Tiếng bước chân vang đều đều trên cầu thang.

Rồi một nhân vật cao, lực lưỡng, râu mép um tùm bước vào, khuôn mặt nặng nề và tự mãn.

Đôi dép và cái khung kính gọng vàng cho thấy ông ta là một người bảo thủ, ngoan đạo, có ý thức công dân cao độ.

Người khách đi thẳng vào vấn đề:

- Thưa ông Holmes, chưa bao giờ tôi lâm vào một tình huống như vậy!

Thật là tủi nhục!

Tôi cần được giải thích....

Trong cơn giận dữ, mặt ông ta xệ xuống, hơi thở hổn hển.

Holmes cố gắng xoa dịu:

- Mời ông ngồi.

Trước hết, tôi xin phép hỏi tại sao tôi hân hạnh được ông nhờ vả?

- Thưa ông, chuyện này hình như không thuộc thẩm quyền cảnh sát.

Tôi không hề có cảm tình với thám tử tư, nhưng có nghe nói về ông...

- Xin cảm ơn!

Nhưng xin được hỏi câu thứ hai: Tại sao ông không đến ngay?

- Ông muốn nói gì?

Holmes nhìn đồng hồ:

- 2 giờ 15.

Điện được đánh lúc 1 giờ.

Chỉ nhìn qua cách ăn mặc của ông, tôi cũng hiểu rằng ông gặp chuyện không may ngay từ lúc vừa thức dậy.

Người khách vuốt mái tóc rối rồi mân mê cái cằm xồm xoàm.

- Đúng vậy.

Tôi quên rửa mặt.

Trước khi đến đây, tôi có tới dịch vụ cho thuê nhà và được biết tiền thuê biệt thự Wisteria đã được thanh toán sòng phẳng.

- Này ông bạn!

- Holmes vừa cười vừa trách nhẹ - Ông bạn giống y bác sỹ Watson của tôi đây: quen bắt đầu bằng cái đuôi của câu chuyện.

Mong ông bạn kể cho có lớp lang.

Người khách cau mày:

- Thưa ông, tôi sẽ tường thuật ngọn ngành câu chuyện dị thường này và ông sẽ thấy rõ tại sao tôi mất bình tĩnh đến thế!

Nhưng câu chuyện chưa bắt đầu được, vì chúng tôi nghe có tiếng náo động ở bên ngoài và bà Hudson vừa mở cửa, đưa vào hai người lực lưỡng, dáng dấp cảnh sát tuy mặc thường phục.

Một trong hai người là thanh tra Gregson của Scotland Yard.

Ông bắt tay chúng tôi rồi giới thiệu người bạn đồng hành là thanh tra Baynes thuộc Sở cảnh sát Surrey.

- Chúng tôi cùng săn một con mồi đang đi về hướng này - Nhìn người khách của chúng tôi, Baynes hỏi đột ngột - Ông là John Scott Eccles, thường trú tại Popham House, hạt Lee?

- Vâng!

- Chúng tôi đi tìm ông từ sáng.

- Đầu mối của các bạn là bức điện tín?

- Holmes hỏi.

- Vâng.

Chúng tôi kiếm ra đầu mối tại bưu điện Charing Cross và bây giờ hiện diện tại đây.

- Sao hai ông lại tìm tôi?

Các ông cần gì?

- Chúng tôi muốn biết về cái chết của ông Aloysius Garcia tại biệt thự Wisteria gần Esher đêm qua.

Người khách sửng sốt, mở to đôi mắt, mặt trắng bệch.

- Ông ấy đã chết à?

- Vâng.

- Chết cách nào?

Tai nạn?

- Án mạng.

- Ồ!

Ông không muốn nói rằng...

Ông không cho rằng tôi có liên can chứ?

- Chúng tôi tìm thấy lá thư của ông ở trong túi nạn nhân, nên chúng tôi biết rằng đêm qua ông đã ngủ tại nhà đó.

- Vâng, đêm qua tôi ngủ ở đó.

Các sổ công vụ được rút ra.

- Chậm một chút, ông Gregson!

- Holmes xen vào - Ông muốn lấy lời khai đầy đủ chứ gì?

- Và tôi báo trước rằng lời khai đó có thể buộc tội ông Scott Eccles.

- Một phút trước đây, ông này sắp sửa nói hết cho tôi nghe thì nhị vị bước vào.

Tôi đề nghị với bác sỹ Watson, hãy cho ông Eccles một ly brandy pha sô đa...

Giờ đây, yêu cầu ông Eccles tiếp tục câu chuyện.

Người khách đã uống ly rượu, hai mắt đỏ ngầu liếc về phía các quyển sổ và bắt đầu nói:

- Tôi độc thân và có nhiều bạn.

Trong số này, tôi thân với ông Melville ở Albemarle Mansion, hạt Kensington.

Vài ngày trước đây, chính trong một bữa cơm tại nhà của Melville, tôi đã kết thân với ông Garcia, người gốc Tây Ban Nha.

Ông Garcia nói tiếng Anh rất đúng giọng, người thanh lịch, khiêm tốn.

Hai ngày sau, ông ta tới thăm tôi tại Lee.

Sau một hồi chuyện trò, Garcia mời tôi về chơi vài ngày ở biệt thự Wisteria.

Biệt thự này nằm trên đường đi từ Esher tới Oxshott.

Và hôm qua, tôi đã tới Esher.

Sau đó, dùng xe ngựa đến lâu đài Wisteria.

Một người phục vụ gốc Tây Ban Nha nói tiếng Anh ra rước hành lý của tôi.

Ngoài ra, trong nhà còn có một đầu bếp có hai dòng máu, bộ dạng rất lạ lùng.

Biệt thự khá lớn, bề ngoài có vẻ già cỗi, nằm ở cuối một đại lộ có cây to bóng mát.

Khi xe ngừng trước cổng, tôi bỗng tự hỏi mình có nên sống vài ngày tại nhà một người mới quen hay không?

Đích thân Garcia ra mở cổng và nồng nhiệt chào đón tôi.

Sau đó, anh ta gọi người hầu nhỏ con, da ngăm, mặt buồn, xách valy và đưa tôi về phòng.

Tiếc thay!

Trong ngôi nhà này, việc gì cũng làm tôi chán chường.

Trong bữa cơm, tuy Garcia cố làm cho tôi vui nhưng tâm trí anh ta như để đâu đâu.

Anh ta nói năng lung tung, dùng ngón tay gõ nhẹ trên bàn rồi cắn móng tay.

Tóm lại, các dấu hiệu bực dọc mỗi lúc một tăng.

Bữa cơm thì rất tồi, cả về thức ăn lẫn cách phục vụ.

Sự hiện diện của người phục dịch câm lặng càng làm cho bầu không khí càng thêm u tịch.

Trong đêm qua, nhiều lần tôi muốn quay trở về Lee.

Cuối bữa cơm, người làm trao cho Garcia một phong thư.

Sau khi đọc xong, Garcia ngồi lặng thinh, hút thuốc liên tục.

Khoảng 11 giờ, chủ nhà mời tôi đi ngủ.

Một lát sau, anh ta hé cửa bước vào (phòng tôi tối đen như mực), hỏi xem tôi có bấm chuông không.

Tôi trả lời là không.

"Xin lỗi vì đã đánh thức anh vào lúc 1 giờ khuya như vầy".

Sau đó tôi ngủ lại.

Khi tôi thức giấc thì đã 9 giờ sáng.

Tôi ngạc nhiên vì người ta đã quên đánh thức tôi lúc 8 giờ theo lời tôi dặn.

Tôi đứng lên và bấm chuông.

Không ai trả lời.

Tôi cho là chuông hư, bèn hối hả mặc quần áo và đi xuống cầu thang để xin nước nóng.

Căn nhà vắng tanh.

Tôi kêu to ngoài hành lang.

Không một hồi âm.

Tôi chạy từ phòng này sang phòng nọ.

Tất cả đều im lặng.

Tôi đến gõ cửa phòng ngủ của Garcia.

Vẫn không có tiếng trả lời.

Tôi vặn cửa bước vào.

Phòng trống rỗng.

Họ đã bỏ đi hết: Garcia, người đầy tớ và gã đầu bếp; cả ba đã biến mất trong đêm.

Chuyến đi đến biệt thự Wisteria của tôi đã kết thúc như thế đó.

Sherlock Holmes xua tay và cười nhẹ:

- Anh Watson, anh hãy thêm câu chuyện kinh hoàng này vào trong bộ sưu tập những chuyện dị thường của anh đi!

- Đây là một cuộc phiêu lưu độc nhất vô nhị.

Ông vui lòng cho tôi biết ông làm gì sau đó - Tôi hỏi Eccles.

- Tôi xách vali, giận dữ đóng cửa và đi bộ về Esher.

Tôi dừng chân tại cơ quan làm dịch vụ cho thuê nhà và được biết chính họ đã cho thuê biệt thự đó.

Tôi nghĩ rằng họ dàn dựng cảnh này để trốn nợ.

Cuối tháng 3 mà, gần phải trả tiền nhà quý I rồi.

Nhưng người ta cho tôi biết rằng tiền thuê nhà đã được trả rồi.

Tôi bèn lên thủ đô, tới tòa đại sứ Tây Ban Nha.

Tại đây, không ai biết anh chàng Garcia cả.

Tôi lại đến nhà người đã giới thiệu tôi với Garcia.

Khốn thay, Melville lại còn lù mù hơn tôi nữa.

Cuối cùng, nhận được hồi âm của ông Holmes, tôi vội chạy tới đây ngay, vì tôi tin rằng ông Holmes có thể giải đáp được.

Nhưng giờ đây, thưa ông thanh tra, tôi biết thêm rằng câu chuyện không chấm dứt tại đó và được tiếp nối bằng một thảm kịch.

Tôi đã khai báo hết sự thật.

Tôi hoàn toàn không biết gì về những việc xảy ra cho chàng trai đó.

Ý muốn độc nhất của tôi là tận tình tiếp tay với luật pháp.

- Tôi tin điều đó, thưa ông Eccles!

- Thanh tra Gregson đáp một cách khả ái - Lời khai của ông phù hợp với các dữ kiện mà chúng tôi thu lượm được, như bức thư mà Garcia nhận được vào bữa cơm tối.

Ông có để ý thấy Garcia làm gì với lá thư đó?

- Garcia vo tròn và quăng vào lửa.

- Baynes, anh nghĩ sao?

Viên thám tử địa phương to con, má đỏ, gương mặt to tròn, có đôi mắt sáng rực, rút trong túi ra một mảnh giấy xếp đã phai màu.

- Nhờ cái lưới sắt có móc, đương sự quăng quá cao nên cục giấy rớt đằng sau lưới.

Nó còn nguyên vẹn đây.

Holmes dành cho Baynes một nụ cười của người rành việc!

- Phải sục sạo lắm mới moi ra cục giấy này!

- Thưa ông Holmes, tôi tìm ra nó theo thói quen mà!

Thưa ông Gregson, tôi xin phép đọc nó.

Viên thanh tra thủ đô gật đầu đồng ý.

Thư viết trên một góc tư tờ giấy màu kem thường, cắt bằng hai nhát kéo lưỡi cụt, xếp lại ba lần, khằn đỏ nguệch ngoạc và được ấn xuống bằng một vật dẹp và bầu dục.

Thư gửi ông Garcia, biệt thự Wisteria.

Nó chỉ có mấy hàng:

"Màu sắc của chúng ta là lục và trắng.

Màu lục được mở, màu trắng bị đóng lại.

Cầu thang lớn, hành lang thứ nhất, thứ bảy, phía tay mặt cửa có đệm.

Chúc may mắn - D".

Đó là tuồng chữ của đàn bà, sử dụng một ngòi chuốt kỹ, nhưng địa chỉ được ghi bằng một ngòi khác, hoặc bởi một người nào khác, tuồng chữ to hơn, dầy đặc hơn.

- Một bức thư kỳ lạ - Holmes nhìn mẫu giấy và tiếp - Tôi nhiệt liệt ca ngợi anh, anh Baynes ạ.

Tôi xin nêu thêm vài điểm lặt vặt có thể bổ sung cho các nhận xét của anh.

Cái đầu bầu dục chắc chắn là một nút áo vì không có vật nào khác có dạng giống như thế!

Cây kéo được sử dụng ở đây là một cây kéo cắt móng tay, mũi cong.

Tuy các đợt cắt ngắn, nhưng vẫn thấy rõ ràng có độ cong.

Viên thanh tra Surrey cười nhẹ.

- Tôi đã trình bày hết các điểm chủ yếu của sự việc.

Tuy nhiên, tôi phải thú nhận rằng lá thư này chẳng giải thích được điều gì khác hơn là có một việc sẽ xảy đến và kẻ chủ mưu là một người đàn bà.

Suốt cuộc đàm thoại này, ông Eccles ngồi không yên trên ghế, ông nói:

- Tôi quá mừng trước sự kiện ông tìm được bức thư.

Nhờ đó, lời khai của tôi được xác nhận phần nào.

Tuy nhiên, tôi xin phép lưu ý là tôi không hề biết điều gì đã xảy ra cho ông Garcia và hai người làm kia.

- Về phần ông Garcia - Gregson nói - Câu giải đáp rất đơn giản.

Sáng nay, người ta phát hiện ông ấy đã chết tại đồng cỏ Oxshott, cách nhà khoảng 1 dặm.

Cái đầu nát ngướu vì bị đập bằng bao cát hay một vật gì cùng loại.

Hiện trường là một nơi hoàn toàn hoang vắng, nhà gần nhất cách đó cũng phải tới ¼ dặm.

Có thể ban đầu, ông bị đập từ phía sau và kẻ tấn công tiếp tục đập khá lâu, sau khi ông ta đã chết!

Không một dấu chân, không một vết tích giúp ta nhận dạng kẻ sát nhân.

- Nạn nhân có bị mất gì không?

- Không, tuyệt nhiên không có dấu vết cướp bóc.

- Thật là đau đớn và khủng khiếp - Ông Eccles nói, giọng run run - Tuy nhiên cũng là một điều phiền phức đối với tôi.

Tôi liên can gì đến cuộc du ngoạn ban đêm đó?

Tại sao tôi lại dính vào một vụ quái dị như vậy?

- Dễ hiểu thôi - thanh tra Baynes đáp - Lá thư độc nhất tìm được trong túi nạn nhân là của ông, nó cho tôi biết rằng ông là khách mời trong đêm đó.

Chính phong bì của bức thư giúp chúng tôi nhận dạng xác chết.

Chúng tôi đến đó sau 9 giờ, tuyệt đối không có ai quanh đó.

Trong lúc lục soát biệt thự Wisteria, tôi đã đánh điện cho ông Gregson để truy tầm ông ở London.

Sau đó, tôi đi gặp ông Gregson và cuối cùng cả hai chúng tôi đến đây.

- Giờ đây, tôi trộm nghĩ - Gregson vừa nói vừa đứng dậy - ông Eccles nên đi theo chúng tôi về sở cảnh sát để chúng tôi lấy lời khai bằng văn bản.

- Đương nhiên, tôi đi ngay thôi.

Nhưng ông Holmes, tôi xin ông giúp đỡ.

Holmes quay qua viên thanh tra cảnh sát địa phương.

- Tôi hy vọng rằng hai ông sẽ không thấy có gì trở ngại nếu có sự cộng tác của tôi.

- Nếu được như vậy, tôi vô cùng hân hạnh.

- Tôi xin phép được hỏi xem hai ông có suy đoán được nạn nhân bị giết lúc nào không?

- Holmes hỏi.

- Nạn nhân ra đi từ 1 giờ sáng, lúc mưa bắt đầu rơi và án mạng xảy ra trong cơn mưa.

- Không thể nào như thế được, ông Baynes ạ!

- Người khách hàng của chúng tôi thét lớn - Giọng nói của Garcia dễ nhận ra lắm.

Tôi sẵn sàng thề độc rằng chính Garcia nói chuyện với tôi hồi 1 giờ khuya tại phòng ngủ của tôi.

- Một sự trùng hợp dị thường, nhưng có thể hiểu được - Holmes vừa thì thầm vừa cười.

- Căn cứ vào đâu?

- Gregson hỏi.

- Thoạt nhìn, sự việc không phức tạp lắm, tuy nó có vài đặc điểm kỳ dị.

Nhưng trước khi đưa ra một ý kiến dứt khoát, tôi cần nghiên cứu dữ kiện một cách sâu sắc hơn.

Nhân tiện xin hỏi ông Baynes, ông có thu lượm được cái gì khác, khi lục soát căn nhà không?

Viên thanh tra địa phương nhìn Holmes một cách ngạc nhiên:

- Có hai hay ba điều lý thú.

Sau khi xong việc tại sở cảnh sát, đề nghị ông đến và góp ý về các chi tiết đó.

- Tôi sẵn sàng - Holmes đáp và nhấn chuông - Bà Hudson, bà vui lòng sao lại bức điện này và nhờ ai đi gửi gấp!

Nhớ bảo họ đóng 5 shillings cho hồi âm.

Khi khách đã ra về hết, chúng tôi vẫn ngồi lặng thinh.

Holmes rít chiếc tẩu thuốc, trầm ngâm, nét mặt sa sầm trong một lúc lâu.

Thình lình, anh quay về hướng tôi:

- Nào, Watson, ý kiến của anh ra sao?

- Tôi không thể nào hiểu vì sao Eccles bị lừa.

- Tôi muốn nói về cái chết của Garcia kia!

- Có gì đâu!

Hai người hầu đã đào tẩu.

Có thể chúng là hung thủ.

- Đó là một giả thiết dễ chấp nhận.

Tuy nhiên, chính anh cũng thắc mắc tại sao chúng phải chờ tới cái đêm nhà có khách.

Ra tay đêm nào lại chẳng được!

- Thế thì tại sao chúng trốn?

- Đấy là một câu hỏi lớn!

Còn có một câu hỏi lớn khác nữa: cuộc phiêu lưu không bình thường của Eccles?

Chúng ta phải giải đáp hai câu hỏi lớn đó.

Ngoài ra, nếu giải thích được bức thư với câu cú lạ lùng thì ta có thể xem nó là giả thiết tạm thời.

Nếu các dữ kiện mới lại phù hợp thì giả thiết đó trở thành giải đáp.

- Nhưng giả thiết gì?

Holmes tựa lưng vào ghế, lim dim đôi mắt:

- Giả thiết đây là một trò đùa sẽ không thể nào đứng vững.

Việc Garcia mời Eccles đến biệt thự Wisteria là có chủ đích!

- Để làm gì?

- Ta lần lượt xét từng khâu.

Trước hết, tôi thấy tình hữu nghị giữa Garcia và Eccles không bình thường tí nào.

Nguyên nhân bắt nguồn từ người Tây Ban Nha.

Garcia lặn lội đến nhà Eccles để mời mọc.

Y muốn gì nơi Eccles?

Tôi thấy Eccles chẳng có gì quyến rũ đặc biệt.

Thông minh?

- Không!

Có tính chất linh hoạt đặc biệt?

- Không!

Thế mà tại sao Garcia lại tuyển chọn Eccles trong vô vàn những bạn hữu khác?

Có phải vì Eccles là một người Anh mà chúng hằng mong ước để gây cảm xúc nơi một người Anh khác?

Anh có để ý cả hai viên thanh tra không ai ngờ vực lời khai của người khách hàng, mặc dù nó khá dị thường.

- Nhưng người này làm chứng cho cái gì?

- Không làm chứng cho cái gì hết, nếu căn cứ theo các sự kiện tiếp diễn.

Nhưng đó là mấu chốt, nếu nhìn sự việc diễn tiến cách khác.

- Tóm lại, Eccles có thể đã được dùng làm cái cớ để che tội ác.

- Đúng vậy.

Đó là cái cớ để che đậy tội ác!

Giả sử bọn tôi tớ tại biệt thự Wisteria là thủ phạm.

Và, còn nữa...

Công việc của Garcia phải hoàn tất trước 1 giờ sáng.

Do đồng hồ bị vặn sai giờ, nên Eccles được mời đi ngủ sớm.

Khi Garcia nói với ông ta là 1 giờ sáng thì thực tế chưa quá 12 giờ đêm.

Nếu Garcia có thể thực hiện công việc và trở về nhà đúng giờ thực tế thì y có thể thoát ra khỏi mọi lời cáo buộc.

Người khách trọ kia có thể thề thốt nặng lời rằng bị cáo không rời khỏi nhà vào giờ đó.

Một đảm bảo dự phòng!

- Tốt!

Nhưng sự tan biến của bọn tôi tớ thì sao?

- Tôi chưa có đủ dữ kiện.

Hãy chờ có thêm các thông tin mới.

- Còn bức thư?

- "Màu sắc của chúng ta là lục và trắng"...

Liên quan tới một cuộc đua ngựa chăng?

"Màu lục được mở, màu trắng bị đóng lại...".

Rõ ràng là một tín hiệu.

"Cầu thang lớn, hành lang thứ I, thứ 7 phía tay mặt, cửa có đệm...".

Là nơi hẹn hò.

Có thể chúng ta sẽ tìm ra một ông chồng ghen tuông.

Bà ta đã không thêm hai tiếng "MAY MẮN" nếu không phải là chuyện dâm bôn.

Chữ "D" viết hoa có giúp ta được gì không?

- Garcia là người Tây Ban Nha, có thể nào "D" hoa là DOLORES viết tắt, một tên nữ được dùng nhiều của Tây Ban Nha.

- Giỏi, Watson rất giỏi.

Nhưng trật lất.

Một người đàn bà Tây Ban Nha nói chuyện với một người đàn ông Tây Ban Nha sẽ sử dụng tiếng Tây Ban Nha.

Còn tác giả của bức thư dùng chấm chấm thì phải là phụ nữ Anh.

Ta hãy kiên nhẫn chờ viên thanh tra khả ái!

Thôi, ta hãy cảm ơn thần may mắn giúp ta thoát khỏi vài giờ nhàm chán.

Trước khi Baynes quay lại, Holmes nhận được hồi âm của bức điện.

Anh cầm đọc và khi chuẩn bị xếp nó vào sổ con, nhìn thấy nét mặt của tôi, anh liền trao nó cho tôi và cười:

- Thư trao vào bữa cơm tối là một giấy hẹn hoặc một giấy mời.

Theo tôi, bức thư cho biết để đi đến điểm hẹn, hoặc phải leo lên cầu thang chính, kiếm cái cửa thứ bảy trong một hành lang.

Như vậy, ngôi nhà phải to rộng thênh thang và chắc chắn nhà này cách Oxshott không quá hai hay ba trăm mét, vì Garcia đã đi bộ về hướng này và hy vọng quay về biệt thự trước 1 giờ sáng.

Vì số lượng căn nhà to lớn gần kế Oxshott không nhiều, tôi đã gửi một điện tín cho dịch vụ địa ốc địa phương mà Eccles nêu tên, yêu cầu họ cung cấp danh sách.

Nè, cái đầu kia của cuộn chỉ rối chắc chắn nằm trong danh sách này.

Lúc chúng tôi cùng với thanh tra Baynes thuê xong một phòng đầy đủ tiện nghi tại khách sạn Bò Mộng thì đã gần 6 giờ.

Sau đó, ba chúng tôi lại lên đường đi tới biệt thự Wisteria.

Hôm đó, là một buổi chiều tháng 3 năm 1892, không gian u ám và giá buốt, mưa đầy trời, hoàn toàn phù hợp với không khí trong thảm kịch

Đi khoảng 3 cây số, chúng tôi đến trước một cái cổng cao mở ra một đại lộ âm u, hai bên có trồng cây dẻ.

Đại lộ này đưa đến một ngôi nhà thấp, tối tăm, tựa hồ một cục than đen nổi bật trên nền trời xám.

Đằng sau một cửa sổ nằm về bên trái của cái cửa lớn, le lói một vệt ánh sáng nhỏ.

Baynes nói:

- Có một cảnh sát viên đang canh gác tại đó.

Để tôi ra hiệu.

Ông băng qua một bãi cỏ nhỏ và gõ vào kiếng.

Qua cửa kiếng mờ sương, tôi thấy một người đàn ông nét mặt kinh hoàng, nhảy dựng khỏi ghế đặt gần lò sưởi, và tiếp đó là một tiếng la chói tai trong gian nhà.

Một phút sau, người cảnh sát mặt tái mét, tay cầm đèn cầy, thở hổn hển ra mở cửa đón chúng tôi.

- Chuyện gì vậy Walters?

- Baynes cất giọng.

Viên cảnh sát lấy khăn lau trán và thở dài nhẹ nhõm:

- Ông trở lại, tôi mừng muốn chết.

Tôi không dè rằng thần kinh của tôi rắn chắn như vừa rồi.

- Thần với chả kinh?

Té ra anh cũng có dây thần kinh?

- Thưa ông, trước hết là cái căn nhà cô tịch này; sau đó là cái chuyện lạ lùng trong nhà bếp.

Do đó, khi ông gõ vào kiếng, tôi tưởng là chuyện kinh hoàng đó lại tái diễn.

- Chuyện đó là chuyện gì?

- Con quỷ, thưa ông.

Nó ở tại cửa sổ.

- Cái gì ở tại cửa sổ và hồi nào?

- Một con quỷ đứng tại cửa sổ.

Lúc trời chạng vạng, tôi đang ngồi đọc sách trên ghế này.

Tôi không biết tại sao tôi lại ngước mặt lên, nhưng rõ ràng tôi thấy một cái đầu nhìn tôi qua khung kiếng phía dưới.

Một cái đầu quái dị!

- Tại sao anh nhát quá vậy?

- Thưa ông, tôi ý thức lắm chứ!

Tôi quả có hoảng hốt nhưng ông buộc tôi phủ nhận thì không thể được.

Không phải là một cái đầu người da đen, mà cũng không phải là một cái đầu người da trắng, cũng không phải cái đầu với màu sắc quen thuộc.

Đó là một cái đầu bằng đất sét có những vệt trắng.

Dáng vóc của nó thì gấp đôi ông.

Còn cái nhìn của nó?

Hai con mắt to tổ bố sáng rực.

Còn bộ răng của nó?

Trắng tinh như răng thú đói thịt.

Lúc đó, tôi cuống cuồng chạy ra ngoài, lục soát các bụi rậm, nhưng không thấy nó.

- Vì biết rõ trước đây anh là người dũng cảm, bằng không tôi sẽ cho anh điểm xấu.

Theo tôi, đó chỉ là ảo giác hoặc là kết quả của một sự căng thẳng thần kinh.

- Các giải pháp cho vấn đề là dễ thôi - Holmes phát biểu và cầm cây đèn cầy chiếu xuống bãi cỏ - Đúng rồi, cỡ giày 48.

Nếu tầm vóc của gã này ứng với cỡ giày thì đương nhiên đây là một tên khổng lồ.

- Nó trốn về hướng nào?

- Có lẽ giữa đám bụi rậm kia, sau đó, nó ra ngoài đường cái.

- Được - viên thanh tra thì thầm, vẻ mặt trầm ngâm - Dù với lý do gì đi nữa, hắn cũng đã biến mất rồi.

Ông Holmes, chúng ta cùng đi giáp vòng ngôi nhà.

Quan sát kỹ, Holmes thấy họ còn bỏ lại một số lượng lớn áo quần mang nhãn hiệu của công ty Marx.

Đánh điện hỏi thì cửa hàng không biết gì về người khách hàng này, ngoài việc người này đã thanh toán bằng tiền mặt.

Đồ vật riêng của Garcia không có vật gì đáng giá, vài cái tẩu thuốc, vài cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Tây Ban Nha, một khẩu súng lục đã cũ, một cây đàn guitar.

- Không có gì có ý nghĩa - Baynes nói sau khi cầm nến sục sạo trong phòng - Giờ đây chúng ta nên đặc biệt lưu tâm đến nhà bếp.

Nhà bếp nằm phía sau, tuy trần cao nhưng rất âm u.

Trong một góc, một cái đệm rơm được dùng làm giường.

Trên bàn còn la liệt nhiều đĩa thức ăn bỏ dở và dĩa dơ!

Vết tích của bữa ăn đêm qua.

- Nhìn kìa!

Ông nghĩ thế nào?

- Baynes nói

Viên thanh tra giơ cao ngọn nến chiếu sáng một vật kỳ dị đặt sau tủ ăn: đầy vết nhăn, co rút, khô đét đến nỗi khó nhận dạng.

Chỉ biết có màu đen, có vẻ bằng da và lờ mờ dáng của một thằng lùn.

Nhìn lần đầu, tôi cho đó là một đứa trẻ sơ sinh da đen ốm đói; nhìn lần sau, tôi liên tưởng tới một con khỉ, và nhìn kỹ, tôi không còn biết đấy là con thú hay con người!

- Hay lắm!

Còn gì nữa?

- Holmes nói

Baynes lặng thinh, đưa chúng tôi đến bồn rửa chén và chiếu ngọn nến vào.

Chân, cánh và thân xác một con chim lớn màu trắng không nhổ lông bị chặt khúc, bỏ tứ tán trong đó.

Holmes chỉ cái mào trên đầu:

- Một con gà trống trắng!

Cực kỳ lý thú và quái dị!

Baynes tiếp tục lặng thinh, cúi xuống bồn, lấy ra một cái xô đựng máu rồi đến bàn lấy cái tô đựng một mớ tro và cốt vụn.

- Chúng đã giết và thiêu một cái gì đó.

Pháp y sáng nay cho biết không phải là tro người.

Holmes xoa tay, cười:

- Xin khen ông thanh tra.

Tài năng của ông vượt trội tầm vóc của công tác ông được giao phó.

Đôi mắt tí tẹo của thanh tra Baynes nhấp nháy:

- Ông có lý, ở tỉnh lẻ dễ bị chột tài.

Một vụ tầm cỡ như vầy cho tôi một cơ may.

Ông nghĩ gì về mớ cốt này?

- Có lẽ là một con cừu con hoặc một con dê con.

- Còn con gà trống trắng?

- Kỳ quái!

Có một không hai!

- Nhà này chứa những người quái dị.

Một trong bọn đã chết: bạn đồng hành của anh ta đã theo đuổi và ám sát anh ta?

Trong trường hợp này, chúng ta phải truy tầm chúng, khắp nơi đều đã được thông báo.

Nhưng tôi có quan điểm khác!

- Một quan điểm trái ngược?

- Một quan điểm dẫn đường cho tôi, ông Holmes ạ.

Chỉ có tôi mới có cái nhìn này và tôi sẽ ra công tìm kiếm chúng.

Ông đã nổi danh.

Sau này tôi sẽ hãnh diện rằng chính tôi đã tự lực giải quyết bài toán không có tiếp sức của ông.

Holmes cười vui vẻ:

- Tốt thôi, ông thanh tra!

Chúng ta, mỗi người theo một con đường riêng.

Các kết quả của tôi luôn luôn để phục vụ ông.

Tất cả những gì cần xem tại nhà này, tôi đã xem xong, nhưng các nơi khác chắc cũng cần biết đến.

Tôi xin kiếu từ.

Chúc ông may mắn!

Về phần tôi, tôi tin chắc rằng Holmes đang đi trên con đường chông gai.

Thái độ bớt lãnh đạm, ánh mắt suy tư của anh cho tôi biết anh đã có dấu vết con mồi.

Theo thói quen, anh ta câm lặng suốt ngày và tôi tuyệt đối tôn trọng sự câm lặng này.

Holmes lên thủ đô vào một buổi sáng và tình cờ tôi biết anh có đến viện Bảo tàng Anh Quốc.

Ngoài ra, hết thời gian còn lại, anh đi dạo một mình, cũng có khi dừng lại, nói chuyện đôi điều với dân làng.

- Watson, chúng ta nên đi nghỉ một tuần ở miền quê để ngắm nhìn hàng rào trổ nụ xanh và hoa dẻ.

Trong chuyến đi đó, tình cờ chúng tôi gặp Baynes.

Baynes không nói nhiều tới vụ án nhưng căn cứ vào khuôn mặt hồng hào, những lời nói sơ sài, chúng tôi suy ra rằng ông ta khá hài lòng về công việc của mình.

Một buổi sáng kia, tôi điếng người khi mở tờ báo, gặp một số tựa to:

"Những điều bí mật tại Oxshott.

Đã bắt người tình nghi là hung thủ".

Holmes nhảy dựng lên khi tôi báo tin:

- Baynes đã bắt người sao?

- Đúng thế!

Và tôi đọc cho anh nghe:

"Một chấn động đã xảy ra tại Esher khi có tin rằng khuya hôm qua cảnh sát đã bắt một người có liên quan tới án mạng tại Oxshott.

Chúng ta còn nhớ rằng ông Garcia, ngụ trong biệt thự Wisteria, được phát hiện đã chết tại đồng cỏ của xã Oxshott.

Thi thể ông mang dấu vết bị hành hung.

Ngay trong đêm đó, bọn tôi tớ cũng biến mất, chứng tỏ chúng có nhúng tay vào vụ án mạng.

Người ta nói rằng, kẻ quá cố đứng tên sở hữu nhiều của cải quý giá nên đã cám dỗ lòng tham của bọn gian phi.

Thanh tra Baynes tin rằng họ không đi đâu xa mà đang ẩn nấp tại một nơi an toàn được chuẩn bị trước.

Ngay từ đầu, người ta tưởng rằng việc nhận ra chúng sẽ dễ dàng vì theo lời khai của vài thương nhân, người đầu bếp có cái bề ngoài rất dị thường của một người lai đen với khuôn mặt vàng lợt và dáng dấp châu Phi.

Ngay trong đêm đó, y bị một viên cảnh sát nhận dạng và bị săn đuổi.

Sau vụ án mạng, y lại cả gan lẩn quẩn quanh biệt thự Wisteria.

Thanh tra Baynes suy đoán y sẽ quay lại, và ông ra lệnh canh gác cẩn mật ngôi biệt thự, đồng thời bố trí người nằm phục kích ngoài rừng.

Bị lọt bẫy, hung thủ đã bị bắt sau một hồi chống trả quyết liệt.

Một cảnh sát viên bị y cắn một cách tàn tệ.

Chúng tôi tiếp tục chờ các diễn biến quan trọng sẽ tiếp nối".

- Ta nên đi gặp Baynes ngay - Holmes nói lớn và đội mũ ra đi.

Chúng tôi tới nơi đúng lúc Baynes rời khách sạn.

- Holmes!

Ông có đọc báo chứ?

- Baynes hỏi và đưa ra một tờ.

- Có chứ!

Cho phép tôi lưu ý ông.

- Lưu ý tôi?

Tôi đã nghiên cứu sự việc khá kỹ.

- Tôi không tin rằng ông đang đi đúng hướng.

Tôi mong rằng ông đừng lao vào quá sâu.

- Cám ơn ông.

- Tôi nói vì lợi ích của ông.

Tôi có cảm giác khuôn mặt lạnh lùng của Baynes đang lay động nhẹ.

- Chúng ta đã giao ước với nhau rằng mỗi bên đi một hướng và tôi đang thực hiện giao ước này.

- Ồ đúng thế - Holmes thốt lên - Xin ông đừng giận.

- Không!

Tôi tin chắc rằng ông chỉ muốn giúp tôi thôi.

Nhưng tất cả chúng ta đều có phương pháp riêng.

Ông Holmes, chúng ta nên bỏ qua chuyện này.

Lúc nào tôi cũng sẵn sàng trao đổi thông tin với ông.

Thằng lai Phi châu thiệt là dã man, nó mạnh như trâu.

Nó cắn gần đứt ngón tay cái của một đàn em tôi.

Nó ục ục như heo chứ có biết tiếng Anh đâu!

- Và ông tin rằng ông nắm bằng chứng nó giết chủ nó?

- Tôi không bao giờ nói thế cả.

Tôi đang thử các phương pháp của tôi.

Khi từ giã Baynes, Holmes nhún vai:

- Không thể nói chuyện với Baynes được!

Tôi có cảm giác rằng hắn ta sẽ trượt ngã mà thôi.

Tuy nhiên có một cái gì đó còn bí ẩn trong thanh tra Baynes.

Khi quay về khách sạn Bò Mộng, Holmes mời tôi ngồi vào ghế bành.

- Tôi sắp sửa cho anh biết tình hình, có lẽ đêm nay tôi cần sự tiếp tay của anh.

Chúng ta hãy quay trở lại bức thư mà Garcia nhận được đêm hôm ấy.

Hãy gạt bỏ cái ý tưởng của Baynes cho rằng tôi tớ của Garcia dính líu vào nội vụ.

Bằng chứng ư?

Chính Garcia dự mưu dựa vào sự hiện diện của Eccles.

Garcia thiết lập kế hoạch và đấy là kế hoạch tội ác.

Tôi nói tội ác vì chỉ có người dự định tội ác mới tìm cách chạy tội.

Nhưng ai giết y?

Chắc chắn là đối thủ của kế hoạch.

Về việc bọn tôi tớ, chúng ta có thể giải thích rằng chúng nó đều là đồng phạm.

Nếu thành công trong tội ác thì Garcia đã quay trở lại biệt thự Wisteria; sự làm chứng của Eccles sẽ giúp y khỏi bị nghi ngờ và tất cả sẽ trót lọt êm xuôi.

Nếu Garcia không về vào giờ G, điều đó có nghĩa là y đã thất bại và đã mất mạng rồi.

Do đó, theo giao ước trước, hai đệ tử sẽ ẩn trốn tại một nơi dự định để thoát khỏi sự tầm nã của cảnh sát.

Giả thiết này giải thích trọn vẹn các dữ kiện chứ gì?

- Nhưng tại sao một trong hai thằng đó lại trở lại?

- Ta có thể giả thiết rằng, chúng nó bỏ quên một cái gì đó quý giá hoặc thằng lai muốn tìm một vật riêng của nó.

Hành động đó giải thích sự cứng đầu của nó.

- Rồi sao nữa?

- Rồi đến bức thư!

Bức thư chứng tỏ rằng đầu kia của sợi dây còn có một tòng phạm khác.

Đầu kia là ở đâu?

Chắc chắn nó nằm trong một ngôi nhà lớn ở vùng này.

Số nhà lớn tại vùng này không phải là vô hạn.

Những ngày đầu tiên tới đây, tôi đã đi dạo và nghiên cứu thực vật học.

Thời gian dư thừa cho phép tôi đi về phía các ngôi nhà lớn kia thăm hỏi.

Chỉ có một ngôi nhà lôi cuốn sự chú ý của tôi.

Đó là lâu đài High Gable nổi tiếng xây dựng từ thời vua James I ở cách Oxshott khoảng 1 dặm và cách hiện trường nửa dặm.

Các ngôi nhà khác là của những người bình thường.

Còn đối với Henderson (chủ lâu đài High Gable) thì mọi người cho là một nhân vật lạ thường.

Tôi đã xoay xở để gặp chủ nhà với một cái cớ khá vững, nhưng không qua được đôi mắt của ông ta.

Đó là một người khoảng 50 tuổi, mạnh khoẻ, linh hoạt, tóc màu xám thép, lông mày đen cứng, bệ vệ như một ông vua.

Một con người dữ tợn, che giấu đằng sau khuôn mặt nhăn nheo một ý chí sắt đá.

Hoặc ông là người nước ngoài, hoặc ông đã sống nhiều tại miền nhiệt đới vì nước da vàng vọt và khô đét, nhưng rắn chắc.

Một người bạn thân kiêm thư ký của ông, là ông Lucas thì chắc chắn là người nước ngoài, da nâu, quỷ quyệt, nhưng nói năng ngọt xớt.

Tóm lại, chúng ta có tới hai băng người nước ngoài, một ở biệt thự Wisteria, một ở lâu đài High Gable.

Hai người đàn ông sống trong lâu đài High Gable luôn chia ngọt sẻ bùi với nhau.

Tuy nhiên, còn có một người khác còn quan trọng hơn nữa.

Henderson có hai cô gái, 13 và 11 tuổi.

Vú già là cô Burnet, một người đàn bà Anh, khoảng 40 tuổi.

Ngoài ra còn có thêm một số tôi tớ tin cẩn.

Cái nhóm nhỏ này tạo thành một gia đình thực sự bởi vì hễ di chuyển là toàn bộ đều đi.

Henderson đi đây đi đó nhiều nơi, ông ta mới đi High Gable cách đây vài tuần, sau một năm vắng mặt.

Ông ta giàu nứt đố đổ vách.

Còn về tùy tùng, gia nô, bồi bếp thì đông vô kể.

Tôi biết được các điều trên qua các cuộc nói chuyện với dân làng và may nhất qua tin tức của một người đầy tớ bị đuổi việc.

Chính cái phương pháp riêng của tôi đã giúp tôi gặp may tìm ra ông John Warner, người làm vườn của lâu đài High Gable.

Ông này có những thâm giao trong đám tôi tớ.

Một đám người dị thường Watson ạ!

Lâu đài có hai cánh: nhóm gia nhân và nhóm gia đình.

Người liên lạc giữa hai cánh là một đệ tử ruột của Henderson.

Henderson không bao giờ ra khỏi nhà một mình.

Người thư ký theo chân ông ta như bóng với hình.

Đám gia nhân xì xầm rằng ông chủ họ rất sợ một cái gì đó.

"Chắc chắn y đã bán linh hồn cho quỷ dữ để lấy tiền" Warner nói.

"Do đó, ông ta chờ đợi ông quỷ chủ để đòi hồn.

Nguyên quán, tên tuổi của hắn không ai biết.

Hắn rất hung bạo.

Đã hai lần Henderson đánh đập tàn nhẫn một gia nhân, nhưng chính nhờ bỏ nhiều tiền đền bù nên khỏi bị truy tố.

Giờ đây, chúng ta hãy nhận định tình hình theo các tin tức mới này.

Chúng ta có thể giả thiết rằng bức thư phát xuất từ ngôi nhà lạ thường này.

Ai viết?

Một người đàn bà trong lâu đài.

Còn ai nữa, nếu không phải là vú già, cô Burnet?

Tất cả tin tức của chúng ta đều hội tụ về hướng này.

Dù sao đây cũng chỉ là giả thiết và xét các hậu quả đương nhiên của nó.

Tuổi tác và tính khí của cô Burnet phá tan ý tưởng cho rằng có mối tình trong vụ án này.

Vì cô là người viết bức thư nên có thể cô là bạn thân và là đồng lõa của Garcia.

Cô sẽ làm gì khi hay tin Garcia chết?

Nếu Garcia là nạn nhân của một sự phản bội, đương nhiên cô ta sẽ im bặt.

Nhưng không có nghĩa là cô không căm thù bọn sát nhân và do đó, cô sẽ tận tình tiếp sức với những ai chịu ra tay phục thù giùm.

Vậy ta hãy tìm cách gặp cô ta?

Nhưng không biết cô còn sống không?

Kể từ đêm xảy ra án mạng, cô đã chết hay chỉ bị giam giữ?

Đấy là cái điểm mà chúng ta cần làm sáng tỏ.

Anh Watson, anh đã thấy được mức độ khó khăn của tình hình rồi chứ.

Lấy gì làm cơ sở để xin trát bắt giam?

Nếu chúng ta nói ra những suy diễn này cho một thẩm phán thì ông ta sẽ cười ngất.

Trong lâu đài quái dị này, ai cũng có thể vắng mặt trong một tuần, vậy thì sự vắng mặt của người vú có gì phải bận tâm.

Nhưng rõ ràng giờ này, tính mạng cô ấy có thể đang lâm nguy.

Tôi chỉ có thể canh chừng tòa nhà và đặt Watson gác ngoài cổng sắt.

Tình huống này không thể kéo dài được.

Nếu luật pháp bó tay thì chúng ta phải liều.

- Anh định làm gì?

- Tôi biết phòng cô ấy.

Ta có thể qua mái ngói của một nhà phụ mà vào phòng.

Tối nay hai anh em mình cùng bí mật leo vào.

Trong khi Holmes lý luận, có một cái gì đó không cho phép tôi từ chối.

Tôi siết chặt tay anh.

Nhưng định mạng không muốn chúng tôi liều lĩnh như thế.

Khoảng 5 giờ, bóng đêm bắt đầu lan rộng, một người cục mịch thở hổn hển bước vào căn hộ của chúng tôi.

- Họ đã ra đi.

Chuyến xe lửa chót.

Cô ấy trốn thoát và được tôi đưa đến đây bằng xe ngựa.

Cô ấy đang đứng dưới nhà.

- Hoan hô, ông Warner!

- Holmes la lớn và hết sức vui mừng - Anh Watson, các lỗ trống tự động lấp lại thật là nhanh!

Trong xe ngựa có một người đàn bà gần như thiếp đi.

Khuôn mặt hốc hác, còn mang dấu vết của thảm kịch vừa xảy ra.

Đầu cô gục xuống ngực, nhưng khi cô ngẩng lên và quay về hướng chúng tôi, tôi thấy đôi mắt cô lờ đờ, mất thần: cô ấy bị gây mê bằng thuốc phiện.

- Tôi đứng gác ngoài cổng.

Khi xe ngựa ra, tôi đi theo cho tới nhà ga.

Cô ấy giống người mộng du.

Khi họ muốn đưa cô lên xe lửa thì cô tỉnh lại và kháng cự.

Tôi cướp cô, và đưa cô tới đây.

Tôi chưa quên cái đầu của người nọ đứng ở cửa toa.

Con quỷ da vàng đó - Warner nói.

Chúng tôi đặt cô ấy nằm trên tràng kỷ.

Hai tách cà phê đậm giải được thuốc mê.

Thanh tra Baynes được mời tới.

- Hay quá!

Ông cung cấp cho tôi chính người chứng mà tôi cần!

- Viên thanh tra vừa nói vừa siết mạnh tay Holmes - Ngay từ đầu, tôi đi cùng một hướng với ông.

- Ủa, ông cũng theo dõi Henderson à?

- Nghe đây, ông bạn!

Trong lúc ông len lỏi trong các rừng thưa quanh lâu đài High Gable, thì tôi ngồi ngất nghểu trên cây cao, quan sát ông.

- Thế tại sao ông lại bắt thằng lai đen?

Baynes phì cười:

- Tôi bắt thằng lai đen là để cho y tưởng rằng chúng ta không để ý đến hắn nữa.

Tôi biết rằng hắn sẽ chuồn và như thế chúng ta có cơ may gặp cô Burnet.

Holmes để tay trên vai viên thanh tra:

- Ông đã vươn cao trong nghề nghiệp!

Ông có bản năng và trực giác.

Baynes khoái chí đỏ mặt:

- Tôi đã đặt một nhân viên mặc thường phục đứng canh tại nhà ga từ đầu tuần.

Bất cứ một người nào trong lâu đài đi đâu, anh ấy đều không bỏ qua.

Tuy nhiên, anh ấy quýnh quáng khi cô Burnet đào thoát.

Chúng ta không thể bắt con mồi, nếu không có được lời chứng của cô ấy.

- Cô ta đang tỉnh dần - Holmes vừa nói vừa nhìn người phụ nữ - Nhưng ông à, Henderson là ai vậy?

- Henderson là Don Murillo, trước kia có biệt danh là "Con cọp vùng San Pedro" - viên thanh tra đáp.

- "Con cọp vùng San Pedro"!

Tôi nhớ mồm một lịch sử của con người này.

Y có biệt danh này vì trước đây y là nhà độc tài khát máu.

Sức mạnh uy quyền đầy trong tay, nhưng rất tán tận lương tâm, y đã tròng cái ách thống khổ lên một dân tộc.

Tên của y gieo rắc sự kinh hoàng trong toàn vùng châu Mỹ.

Cuối cùng, một cuộc tổng khởi nghĩa bùng nổ lên để lật đổ y.

Nhưng bọn chúng rất xảo quyệt.

Y, hai con gái, viên thư ký đưa báu vật xuống thuyền vũ trang và trốn thoát.

Kể từ đấy, y biệt tích và báo giới châu Âu nhiều lần thắc mắc, không biết y đang ẩn núp nơi nào.

- Đúng thế!

Don Murillo là con cọp vùng San Pedro.

Chắc anh còn nhớ rằng cờ của San Pedro gồm màu lục và màu trắng!

Các màu sắc trong bức thư, Holmes ạ!

Y đổi tên là Henderson, nhưng không qua được mắt tôi.

Tôi đã theo dõi dấu vết của y khi thuyền y cập vào Barcelona năm 1886, sau khi ghé qua Madrid, Rome và Paris.

Từ lâu, các nạn nhân truy tầm y để phục thù nhưng y chỉ bị phát hiện gần đây thôi.

- Cách đây một năm - Cô Burnet nãy giờ theo dõi câu chuyện, ngồi dậy nói xen vào - Có một lần y bị mưu sát, và hình như y được một con quỷ sứ che chở nên đã thoát nạn.

Nhưng một âm mưu này thất bại với một người anh hùng phải hy sinh thì lại có một âm mưu khác tiếp diễn cho tới khi nào tên khát máu đó đền tội mới thôi.

Chắc chắn ngày mai mặt trời phải mọc.

Hai bàn tay của cô nắm chặt lại và khuôn mặt hốc hác của cô trắng bệch dưới cơn bão của sự hận thù.

- Nhưng vì sao lại có một người đàn bà Anh trong vụ này, cô Burnet - Holmes hỏi.

- Tôi phải dấn thân, bởi vì đó là phương cách duy nhất để công lý được thực thi.

Guồng máy tư pháp của nước Anh đâu có để ý đến các suối máu cuồn cuộn chảy tại San Pedro hoặc đến chiếc thuyền đầy ngọc ngà châu báu mà tên cướp đó đã vơ vét?

Dưới mắt các ông, đó là những tội ác xảy ra ở một hành tinh khác.

Còn chúng tôi, chúng tôi tận mắt mục kích các tội ác đó!

Chúng tôi biết rõ nỗi khổ của đau của một dân tộc.

Đối với chúng tôi, ở địa ngục cũng không có con quỷ nào tàn ác hơn Don Murillo.

- Quả có như thế - Holmes đáp - Tôi có nghe nói về các hành động của y.

Nhưng bản thân cô nếm mùi bạo tàn bằng cách nào?

- Thằng ăn cướp đó có chính sách ám sát.

Bất cứ ai có tài hoặc có thể trở thành địch thủ của y thì đều nằm trong danh sách bị thủ tiêu.

Tôi là bà Durando!

Chồng tôi làm sứ thần của San Pedro tại London.

Chúng tôi quen nhau tại London.

Chồng tôi có một tâm hồn cao đẹp.

Khốn thay, Murillo ghen ghét sự cao cả ấy, nó triệu hồi anh ấy về và giết chết anh ấy.

Tài sản của anh ấy bị tịch biên.

Tôi trở thành góa bụa, lòng tan nát, sống lây lất trong cơ cực.

Cuối cùng, y bị lật đổ, và phải lẩn trốn như các ông biết.

Tất cả những kẻ bị y tàn phá cuộc đời hoặc có bà con bị chính y áp bức, đều quyết tâm bắt y đền nợ máu.

Khi phát giác rằng hắn muốn trốn đi dưới tên Henderson, tôi lãnh công tác phục dịch y rồi thông báo cho các đồng chí mọi sự xê dịch của y.

Đó là nguyên nhân tôi làm bà vú già tại nhà y.

Y không bao giờ ngờ rằng người đàn bà ngồi trước mặt y vào mỗi bữa cơm chính là người đàn bà có chồng bị y giết chết.

Tôi tươi cười với y, tôi chuyên cần lo cho con y để chờ giờ hành động.

Một mưu toan đã xảy ra tại Paris, nhưng thất bại.

Hắn phải đưa cả gia đình đi khắp châu Âu, lộ trình ngoằn ngoèo để đánh lạc hướng những kẻ săn đuổi và cuối cùng trở về lâu đài này.

Nhưng tại đây cũng thế, những người "thế thiên hành đạo" đã chờ đợi y.

Biết rằng sớm muộn gì Murillo cũng quay lại High Gable, cho nên Garcia (con trai của một viên chức cao cấp cũ của San Pedro) dọn nhà đến ở gần, với hai đồng chí trung kiên gốc gác khiêm nhường, nhưng cả ba đều cùng khát khao phục hận.

Ba người dũng cảm này không thể làm gì được giữa ban ngày, bởi vì Murillo luôn luôn thận trọng tối đa.

Không bao giờ hắn đi ra ngoài mà không có sự tháp tùng của thằng Lucas (tên thật là Lopez).

Về đêm, y ngủ một mình, y luôn luôn lo âu nên luôn luôn thay phòng ngủ.

Tôi phải canh chừng sao để mở các cửa lớn và cho tín hiệu bằng ánh sáng hoặc lục lạc trắng tại cửa sổ để báo động hay chỉ dẫn cuộc đột kích.

Đêm ấy, đã được giao ước trước, tôi gửi mật thư cho Garcia.

- Nhưng kế hoạch bị trục trặc.

Lopez ngờ vực tôi.

Y bắt tôi ngay khi tôi hoàn tất bức mật thư.

Y cùng với chủ y lôi kéo tôi vào phòng.

Họ muốn giết tôi nhưng lờ mờ thấy khó né tránh hậu quả của tội ác.

Sau khi thảo luận khá lâu, họ kết luận rằng giết tôi quá nguy hiểm.

Nhưng đối với Garcia, họ quyết định thanh toán dứt khoát.

Tôi bị nhét giẻ vào miệng và bị bẻ quẹo tay cho tới khi tôi phải khai ra địa chỉ của Garcia.

Tôi thề nếu tôi biết trước rằng lời khai của tôi là án tử hình thì tôi đã không khai.

Lopez chép địa chỉ, đóng khằn bằng cái nút măng sét rồi sai người đem thư đi.

Chúng giết Garcia như thế nào, tôi không biết.

Tôi chỉ biết anh ấy chết do tay của Murillo, bởi vì Lopez vẫn đang ở cạnh tôi để canh phòng.

Tôi cho là y phục kích trong các bụi rậm hai bên đường.

Lúc đầu, y có dự định để Garcia vào lâu đài rồi mới giết như giết một tên ăn trộm bị bắt quả tang.

Nhưng họ suy nghĩ rằng hễ kẹt vào một cuộc điều tra tư pháp thì hình tích của họ bị lộ, rất nguy hiểm.

Theo họ, cái chết của Garcia sẽ làm cho những kẻ âm mưu chùn bước.

Mọi chuyện có lẽ đã êm đẹp nếu tôi không hay biết những chuyện chúng làm.

Tôi biết chắn chắn rằng cuộc đời tôi chỉ là chỉ mành treo chuông.

Chúng nhốt tôi trong phòng.

Chúng thốt ra những lời đe dọa khủng khiếp nhất và dành cho tôi những đối xử tệ hại nhất, bằng chứng là vết thương trên vai và vết bầm trên hai cánh tay tôi.

Có một lần, tôi thử kêu cứu qua cửa sổ thì tôi bị nhét giẻ vào miệng.

Suốt 5 ngày, tôi bị bỏ đói.

Hôm nay, họ cho tôi ăn cơm nhưng vừa mới nuốt một chút tôi hiểu ngay rằng tôi bị đánh thuốc mê.

Trong cơn mê, tôi cảm thấy như có lúc được dẫn đi, có lúc ngồi trong xe, sau rốt, tôi được đẩy lên xe lửa.

Khi tàu lăn bánh, tôi hơi tỉnh lại nên đã nhảy dựng lên.

Chúng nó ấn tôi xuống, và nếu không nhờ người đàn ông dũng cảm này thì tôi không bao giờ tẩu thoát được.

Chúng tôi ngồi im lặng nghe câu chuyện thương tâm này.

Chợt Holmes lên tiếng:

- Con đường chông gai của chúng ta còn dài lắm.

Công tác cảnh sát đã chấm dứt.

Công tác pháp lý bắt đầu.

- Đúng thế - Tôi tán đồng - Một luật sư giỏi biến một tội sát nhân thành một hành động tự vệ chính đáng.

Cho dù tiền tích của nghi can là cả trăm án sát nhân, nhưng chỉ có thể xử độc nhất cái án này.

Thanh tra Baynes phát biểu một cách hồ hởi:

- Tất cả chúng ta sẽ hoan hô khi chúng ta truy tố bọn chủ lâu đài High Gable ra trước tòa đại hình.

Tuy nhiên, con cọp vùng San Pedro cùng bọn đồng hành qua mặt viên cảnh sát đang theo đuổi bằng cách chui vào một căn nhà có cửa sau.

Kể từ đấy, họ biệt tăm tại Anh.

Sáu tháng sau, báo chí đăng tên hầu tước Montalva và viên thư ký Rulli bị ám sát tại khách sạn Escurial ở Madrid.

Tội ác được gán ghép cho phái Hư vô chủ nghĩa và bọn hung thủ không bao giờ bị bắt.

Thanh tra Baynes đến thăm chúng tôi tại đường Baker, mô tả khuôn mặt sô-cô-la của viên thư ký và những nét kẻ cả với đôi mắt đen và bộ lông mày đen cứng của người chủ.

Lúc đó, chúng tôi không còn nghi ngờ nữa, công lý đã thưởng phạt nghiêm minh.

- Anh Watson, đây là một vụ án hỗn độn.

Anh khó mà trình bày một cách mạch lạc đúng theo thói quen cố hữu của anh.

Địa bàn nội vụ nằm trên hai lục địa, nội dung là sự kình địch giữa hai nhóm người bí hiểm, kết cấu được tăng phần rối rắm do sự hiện diện của ông bạn Eccles của chúng ta.

Chính sự lôi cuốn Eccles vào mới làm nổi bật cái óc sáng tạo và cái biệt tài nói chuyện của Garcia.

Còn có chi tiết nào làm bận trí anh không?

- Tại sao chàng trai lai da đen quay về biệt thự Wisteria?

- Để tìm cái vật kỳ lạ trong nhà bếp.

Đó là một thổ dân trong rừng San Pedro.

Khi chạy trốn, chàng trai ấy không thể nào rời xa linh vật của mình nên hôm sau, anh ta quay về và bị bắt.

Còn thắc mắc nào không, anh Watson?

- Còn con chim bị chặt khúc, cái xô máu, mớ xương bị thiêu rụi và toàn bộ màn huyền bí trong cái nhà bếp dị kỳ?

Holmes mỉm cười rồi kiếm trong sổ tay:

- Tôi đã dành một buổi sáng để tới Viện bảo tàng Anh quốc tham khảo tài liệu.

Sau đây là một đoạn văn trích dẫn lấy từ Eckermann: "Bất cứ làm điều gì hệ trọng họ đều cúng kiến để xin quỷ thần phù hộ.

Có khi còn giết người để tế rồi sau đó ăn cỗ thịt người.

Vật hy sinh thường là một con gà trống trắng bị chặt lúc còn sống hoặc một con dê đen bị cắt cổ và thiêu xác".

Người bạn da đen của chúng ta theo đạo ma, có tín ngưỡng kỳ cục, phải không Watson?

- Holmes bổ sung rồi từ từ xếp cuốn sổ lại.

Hết

---

Nguyên văn: mile, khoảng 1600 m

James the First (1566-1625): Vua Anh, trị vì từ 1603-1625 (Nguyên văn: Jacobean)

Nguyên văn: Signora Victor Durando (phu nhân Victor Durando - tiếng Tây Ban Nha)
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
E2 Vòng tròn đỏ


VÒNG TRÒN ĐỎ

THE ADVENTURE OF THE RED CIRCLE (1911)

His last bow

Cung đàn sau cuối

- Bà Warren ạ, bà không có lý do chính đáng để ưu tư, và về phần tôi, tôi đang lưu tâm đến nhiều công việc nghiêm trọng hơn.

Sherlock Holmes nói xong, tiếp tục cúi đầu xuống quyển album lớn.

Tuy nhiên bà chủ nhà vẫn bám riết:

- Năm ngoái, ông đã thu xếp công việc cho một trong mấy người thuê nhà tôi, cái ông Fairdale Hobbs ấy!

- Vâng, một việc không đáng kể.

- Ông ấy nhắc luôn về lòng tốt của ông và về cái cách mà ông biết "làm cho ánh sáng phát bóng tối".

Tôi nhắc lại lời của ông ấy.

Tôi biết rằng hễ ông muốn là được...

Holmes nhạy cảm trước những lời "nói khéo" và cũng xúc động trước nhưng lời kêu gọi sự hảo tâm của mình.

Anh thở dài, ngẩng mặt lên, kéo lui cái ghế.

- Được, bà Warren.

Tôi lắng nghe bà đây.

Xin phép bà cho tôi hút thuốc...

Cám ơn anh, Watson!

Nếu tôi không lầm thì bà đang lo lắng vì người mướn nhà cứ ở riết trong phòng.

Có gì đâu, nếu tôi mướn phòng của bà, bà cũng không thấy tôi xuất hiện mỗi ngày!

- Có thể lắm, nhưng đây là chuyện khác.

Tôi sợ, thưa ông Holmes, sợ đến nỗi mất ngủ.

Nghe tiếng bước đi nhanh của ông ấy từ sáng tới khuya, nhưng không bao giờ thấy mặt ông ấy.

Chồng tôi cũng bực dọc như tôi, nhưng anh ấy đi làm suốt ngày.

Còn tôi, căng quá.

Tại sao ông ấy giấu mặt?

Ngoài cô gái giúp việc, ở nhà không còn ai...

Holmes nghiêng ra phía trước để đặt các ngón tay mảnh mai của anh trên vai bà chủ nhà.

Dường như anh có khả năng xoa dịu mọi trường hợp băn khoăn.

Sự sợ hãi biến khỏi đôi mắt của thân chủ: bà bình tĩnh trở lại.

- Nếu tôi chăm lo vụ này thì bà phải kể ra tất cả các chi tiết.

Bà cứ thoải mái suy nghĩ, và nhớ lại tất cả đi?

Bà có nói rằng người ấy dọn vào nhà cách nay 10 ngày và đã thanh toán tiền ăn, ở đủ 15 ngày.

- Thưa ông, ông ấy có hỏi về các điều kiện tôi đề nghị 50 shilling một tuần cho bộ xa-lông nhỏ trong một phòng ngủ đủ tiện nghi trên gác.

- Rồi sao nữa?

- Ông ấy đáp: "Tôi sẽ trả cho bà 5 bảng một tuần, nếu bà chấp thuận các điều kiện của tôi".

Ông ta trao cho tôi một tờ 10 bảng, và nói: "Bà sẽ nhận hai tuần một lần, nếu bà chấp thuận, còn không thì thôi, xin kiếu từ!".

- Điều kiện như thế nào?

- Holmes hỏi.

- Đưa cho ông ta một chìa khóa nhà.

Đâu có sao phải không ông?

Nhưng ông ta lại căn dặn thêm: khỏi phải bận tâm, và đừng bao giờ quấy rầy tôi.

- Các điều kiện như vậy không có gì bất bình thường cả!

- Đúng lý thì không.

Nhưng ông ấy ở đã 10 ngày rồi.

Vợ chồng tôi và cả cô gái giúp việc đều không gặp ông ấy.

Chúng tôi chỉ nghe tiếng bước chân lui tới, tới lui, sáng, trưa, chiều, tối.

Trừ buổi tối đầu tiên, ông ấy không bao giờ ra khỏi nhà.

- Ủa, ông ấy có ra khỏi nhà vào buổi tối đầu tiên?

- Đúng thế, thưa ông, và về rất khuya.

Sau khi trả tiền, ông ấy cho tôi hay trước rằng ông sẽ đi vắng và dặn tôi đừng gài cửa.

Nửa đêm tôi có nghe ông ấy về.

- Còn các bữa ăn?

- Ông ấy có dặn: Khi nào ông ấy nhấn chuông, chúng tôi phải mang cơm lên, đặt trên cái ghế trước cửa phòng.

Rồi nghe tiếng thứ hai thì dọn sạch.

Khi cần điều gì, ông ấy sẽ kẻ chữ in trên một mảnh giấy để trên ghế.

- Kẻ chữ?

- Đúng thế, kẻ chữ in bằng bút chì, chỉ ghi các từ cần thiết, không dư, không thừa: hoặc "XÀ PHÒNG" hoặc "BAO DIÊM", hoặc "TỜ DAILY GAZETTE".

Mỗi sáng tôi mang điểm tâm và tờ báo lên.

- Anh Watson!

- Holmes nói lớn rồi tò mò nghiên cứu các miếng giấy con con - Tự giam hãm trong nhà, điều đó không có gì lạ.

Nhưng kẻ chữ in là một việc khác mọi người?

Anh nghĩ gì về cái tật kỳ cục này?

- Hắn muốn giấu nét chữ.

- Tại sao?

Người chủ nhà trọ biết nét chữ của mình thì có sao đâu?

Ngoài ra, tại sao lại viết cụt ngủn như thế?

- Tôi cũng thắc mắc!

- Một đề tài lý thú!

Chữ được viết bằng bút chì tím, to đầu, loại thường.

Này, để ý, giấy bị xé tại đây, ngay sát chữ, đến nỗi chữ "X" của "XÀ PHÒNG" gần như biến mất.

Cần suy nghĩ, phải không anh?

- Một sự thận trọng chăng?

- Đương nhiên!

Chắc chắn có dấu tay, dấu của ngón cái, có thể làm lộ căn cước của người viết.

Này bà Warren, bà đã nói rằng ông ta là một người có râu, tầm vóc trung bình, da nâu.

Bà đoán xem ông ấy bao nhiêu tuổi?

- Thưa ông, không quá ba mươi.

- Bà có thể cố gắng moi trí nhớ để cung cấp thêm những chi tiết khác không?

- Ông ta nói tiếng Anh rất giỏi.

Theo giọng nói thì hình như là người nước ngoài.

- Ăn mặc ra sao?

- Rất đàng hoàng.

Một người thượng lưu.

Quần áo màu sẫm, không có gì đặc biệt để lưu ý.

- Ông ta không cho bà biết tên à?

- Không, thưa ông.

- Và không thư từ hay khách khứa gì sao?

- Không, thưa ông.

- Buổi sáng, bà hay cô gái giúp việc vào phòng đó?

- Không, ông ta tự quét dọn.

- Đấy là chuyện rất lạ.

Ông ta có hành lý không?

- Chỉ có một cái bị to màu nâu.

Thế thôi.

- Vậy là không có bất cứ một thứ gì đưa ra khỏi phòng.

Bà chủ nhà trọ lấy trong xách tay một phong bì.

Từ đó bà rút ra những que diêm đã cháy và một tàn thuốc để lên bàn.

- Mới sáng nay.

Để trên mâm điểm tâm.

Tôi cất giữ nó vì tôi nghe nói ông có thể suy đoán một ngàn chuyện từ những cái vô cùng vặt vãnh.

Holmes nhún vai:

- Không có nghĩa gì cả.

Đương nhiên.

Diêm đã đánh để châm thuốc.

Căn cứ theo phần cháy.

Phải một que thì mới đốt được ống tẩu hoặc một điếu xì-gà.

Mà... này!

Anh chàng có râu quai nón, râu mép, bà có nói thế, phải không?

- Đúng, thưa ông.

- Lạ lùng?

Chỉ có người cạo râu nhẵn nhụi mới hút cái điếu thuốc này.

Nhìn này, Watson!

Dù khéo léo đến đâu, bộ râu mép của anh ta cũng sẽ bị cháy!

- Có lẽ y hút qua cán.

- Không đâu.

Cái đầu điếu còn chất keo rõ ràng.

Tôi đoán rằng người này ăn rất ít, phải không, bà Warren?

- Đúng ông ta ăn ít đến nỗi tôi không biết làm sao anh ta sống được!

- Hừm.

Có lẽ phải chờ thêm yếu tố mới.

Nói cho cùng, bà không có cớ để kêu ca.

Bà đã nhận tiền cho thuê phòng, mặt khác, ông ta có gây phiền hà gì đâu.

Đó chỉ là người khách trọ bình thường.

Chúng ta không có quyền xâm phạm sự ẩn dật đó, trừ phi ta có cơ sở để quyết đoán rằng đó là cách trốn công lý.

Tôi sẽ theo dõi kỹ.

Bà hãy báo cho tôi tất cả những sự kiện mới và bà có thể tin cậy nơi tôi.

Khi bà chủ quán trọ ra về, Holmes suy nghĩ.

- Nội vụ rõ ràng có những chi tiết kỳ thú.

Có thể chỉ là một trường hợp lập dị, cũng có thể là một câu chuyện có chiều sâu mà thoạt nhìn không thể thấy.

Cái ý tưởng đầu tiên xuất hiện trong trí tôi là người hiện trọ không phải là người trả tiền thuê nhà.

- Do đâu mà anh nghĩ như vậy?

- Chuyện quái lạ là cái lần độc nhất mà người trọ đi ra ngoài ngay sau khi gửi phòng.

Ông ta trở về?

Ông ta hay là một kẻ khác?

Khi mà tất cả mọi người đều ngủ.

Ngoài ra, người thanh toán nói tiếng Anh giỏi, còn người này thì viết.

Lối hành văn cụt ngủn có thể nhằm che giấu kiến thức rất nghèo nàn về tiếng Anh.

Tôi vẫn thắc mắc rằng ở đây có sự "tráo người trọ".

- Để làm gì?

- Đấy là vấn đề.

Chúng ta sẽ đi theo hướng này...

Holmes lấy cuốn sổ lớn trong đó chữa các mục nhắn tin đăng trên các báo lớn của London.

- A!

- Vừa lật sổ Holmes vừa thốt lên - Quả là một bản hợp xướng rên la than khóc!

Một sọt rác chuyện tạp nham!

Thằng cha này cô độc, nó không thể nhận thư tín vì sợ lộ bí mật.

Vậy bằng cách nào mà tin tức vào nhà được?

Đương nhiên phải qua mục nhắn tin, đây Cái nhắn tin cắt trong Daily Gazette lúc 15 giờ này: "Người đàn bà có con trăn đen tại câu lạc bộ trượt băng Hoàng Tử".

Mẫu khác: "Đương nhiên Jimmy không muốn làm mẹ đau khổ".

Hai cái này có lẽ không dính dáng gì tới người vô danh của chúng ta.

"Người đàn bà ngất xỉu trên xe buýt đi, Brixton..." cũng chả ăn nhập gì.

"Mỗi ngày tim tôi thổn thức... rên khóc".

Anh Watson ơi.

Rên khóc một cách vô liêm sỉ!

À, đây "Nhẫn nại sẽ tìm ra cách liên lạc an toàn.

Chờ đợi ở mục nhắn tin này - G".

Tin ngày nào?

Sau ngày đến của người trọ tại nhà bà Warren hai ngày.

Nghe xuôi tai không?

Người vô danh đọc và hiểu tiếng Anh, dù viết không tốt.

Xem coi có gì nối tiếp không?

Có đây: Ba ngày sau: "Tôi chuẩn bị để thành công.

Nhẫn nại và thận trọng.

Mây mù sẽ tan - G".

Rồi bặt hẳn một tuần.

Nhưng giờ đây có chuyện chính xác hơn: "Đường đi đã trống.

Nếu tôi có dịp liên lạc bằng dấu hiệu, thì vẫn theo quy ước cũ - G".

Đó là trong tờ báo hôm qua.

Còn hôm nay thì không có gì cả, tất cả đều không thể ăn khớp hoàn toàn với người trọ tại nhà bà Warren?

Đợi một thời gian ngắn nữa, tôi tin chắc rằng nội vụ sẽ trở nên dễ hiểu hơn.

Holmes đã đoán đúng.

Sáng hôm sau, tôi thấy anh đứng quay lưng vào lò sưởi, mặt hớn hở.

- Anh nghĩ gì về cái nhắn tin này, Watson?

- Holmes vừa hỏi vừa lấy tờ báo trên bàn.

- "Tòa nhà lớn màu đỏ có phủ đá trắng.

Tầng ba.

Cửa sổ thứ nhì bên trái.

Sau hoàng hôn - G".

Cái tin này thì khá chính xác.

Tôi đề nghị sau khi ăn sáng, chúng ta sẽ đi thám sát trong vùng nhà của bà Warren...

A, chào bà Warren!

Sáng nay, bà đem đến cho chúng tôi tin tức gì đây?

Vẻ mặt giận dữ của bà báo trước là có chuyện mới và chấn động.

- Phải cho cảnh sát biết thôi, ông Holmes à.

Tôi không chịu đựng nổi, phải tống hắn ra khỏi nhà.

Tôi muốn hỏi ý kiến ông trước.

Tôi không thể nhịn được nữa!

Ông nghĩ xem, ông chồng già của tôi bị tấn công?

- Chồng bà bị đánh đập?

- Dù sao họ cũng đã mạnh tay với ông ấy!

- Ai mạnh tay?

- Chính tôi rất muốn biết điều này, nhà tôi làm nhân viên bấm giờ tại công ty Morton và Waylights ở phố Tottenham Court.

Ông phải rời nhà trước 7 giờ sáng.

Sáng nay chồng tôi chưa đi được mười bước thì hai người đàn ông từ sau đi đến, lấy một cái măng-tô phủ đầu ông, ném ông lên một xe ngựa chờ sẵn bên lề đường.

Chúng chở ông đi lòng vòng trong một giờ rồi mở cửa xe, đạp ông xuống đường.

Lồm cồm ngồi dậy, chồng tôi thấy mình đang ở phố Hampstead Heath.

Ông liền lên xe buýt và hiện thời đang nằm dài ở nhà.

Tôi tức tốc đến đây báo cáo.

- Rất hấp dẫn.

Ông ấy có quan sát bọn đó không?

Chúng ra làm sao?

Ông ấy có nghe chúng nói chuyện không.

- Không, khi hồn vía đang lên mây thì còn biết gì?

Ông cho rằng ông bị bùa, và nhớ mang máng có hai ba người đàn ông trong xe.

- Bà cho rằng việc tấn công này có liên quan đến người bí mật cư ngụ trong nhà bà?

- Chúng tôi sống tại đó đã 15 năm rồi, có bao giờ xảy ra câu chuyện như thế.

Tôi chán ngấy hắn rồi.

Tiền bạc đâu có giải quyết được mọi chuyện.

Tôi sẽ tống khứ hắn trước tối nay.

- Bà hãy chờ một chút.

Tôi bắt đầu thấy nội vụ có thể quan trọng hơn rồi đó.

Rõ ràng là người trọ nhà bà đang bị đe dọa, kẻ thù của ông ta đang rình rập gần nhà, lầm lẫn chồng bà với ông vì sương mù buổi sáng, khi biết đã lầm, họ mới thả ông nhà ra.

Nếu không lầm, thì họ đã làm gì?

- Vậy thì tôi phải hành động ra sao?

- Bà Warren hơi bình tĩnh lại.

- Tôi rất muốn gặp người khách trọ ở nhà bà - Holmes nói.

- Tôi không biết quý vị làm thế nào mà gặp ông ta, trừ khi phá cửa.

Tôi luôn luôn nghe ông ta khóa cửa ngay khi tôi mang điểm tâm lên và đi xuống lầu.

- Ít ra ông ấy cũng phải ra cửa để bưng mâm vào.

Chúng tôi ngồi rình ở đâu đó.

Bà chủ nhà trọ suy nghĩ.

- Thưa ông, đằng trước có cái kho cũ.

Tôi sẽ bố trí một cái gương, đề nghị quý ông nấp sau cánh cửa.

- Hay quá!

Mấy giờ thì ăn trưa?

- Khoảng 1 giờ.

- Vậy thì bác sĩ Watson và tôi sẽ đến đó đúng giờ.

Kính chào bà Warren!

Lúc 12 giờ 30, chúng tôi đến.

Căn nhà cao bằng gạch màu vàng, nằm tại phố Great Howe, có một đường nhỏ đâm vào mặt đông bắc của viện bảo tàng.

Vị trí gần ngã ba của nó, giúp nó nhìn bao quát con đường cùng các nhà xa hơn của đường này.

Holmes cười nhẹ đưa tay chỉ về một trong các nhà nguy nga: nó nhô ra và dễ chú ý đến.

- Thấy không Watson.

Toà nhà lớn màu đỏ có phủ đá trắng.

Đó là điểm hẹn.

Chúng ta biết chỗ, lại biết mật mã thì nhiệm vụ sẽ dễ dàng.

Trên cửa sổ có một tấm bảng đề hai chữ "cho thuê" .

Rõ ràng là một căn hộ trống và kẻ tòng phạm có thể chui vào.

Nào bà Warren, có gì mới mẻ?

- Tất cả đã sẵn sàng.

Quý vị có thể lên, tôi đưa đường.

Bà đã thu xếp một chỗ nấp tuyệt hảo.

Ngồi trong bóng tối, chúng tôi cũng thấy rõ cái cửa đối diện.

Chúng tôi vừa an vị và bà Warren vừa rời khỏi chỗ chúng tôi ẩn thì một tiếng leng keng văng vẳng báo cho chúng tôi biết rằng người khách trọ kỳ lạ đã kéo chuông.

Một thoáng sau, bà Warren xuất hiện với cái mâm.

Bà đặt nó lên cái ghế cạnh cửa, rồi nặng nề bước xuống cầu thang.

Ngồi chồm hổm trong góc cửa ép vào nhau, chúng tôi nhìn đăm đăm vào cái gương.

Đột ngột, sau khi tiếng bước chân của bà Warren xa dần, chúng tôi nghe chìa khóa khua lách cách, nắm đấm cửa xoay, hai bàn tay mảnh mai đưa ra bưng mâm cơm.

Lập tức mâm được trả về chỗ cũ và tôi thấy trong khoảnh khắc, một khuôn mặt hoảng hốt nhìn cái cửa kho hé mở.

Rồi cửa lại đóng, chìa khóa lại khua lách cách.

Tất cả lại yên tĩnh.

Holmes lay tay áo tôi, và chúng tôi rón rén xuống cầu thang.

- Tôi chúng tôi sẽ quay lại.

- Holmes nói với bà chủ trọ đang chạy lại hỏi thăm.

- Watson à, về nhà chúng ta sẽ thảo luận thoải mái hơn.

Ngồi vào ghế bành, Holmes nói:

- Đúng như tôi dự đoán, đã có sự thay thế người ở trọ.

Điều không dự đoán được đó là một người đàn bà.

- Bà ấy đã thấy chúng ta?

- Ồ, chắc chắn bà ấy có thấy một cái gì đó nên mới hoảng hốt.

Câu chuyện trở nên dễ hiểu, phải không?

Một cặp vợ chồng kiếm chỗ tị nạn tại London, để tránh một hiểm họa vừa khủng khiếp vừa gần kề.

Chúng ta có thể đo lường cái hiểm họa theo độ nghiêm ngặt của các cách đề phòng.

Người chồng vì cần làm cho kỳ được một cái gì đó, nên muốn rằng trong lúc đó, vợ ông ta phải được an toàn tuyệt đối.

Bài toán không dễ, nhưng đã được giải quyết một cách hữu hiệu đến nỗi bà chủ nhà trọ hàng ngày mang thức ăn tới mà không biết gì cả.

Các mảnh giấy kẻ bằng chủ in, rõ ràng là để giấu chữ viết của một người phái nữ, vì sợ bị bại lộ.

Do không thể liên lạc trực tiếp được, ông ta phải dùng mục nhắn tin trên báo.

Tối nay thì mọi sự đều đơn giản.

- Nhưng mà cái gốc của câu chuyện là cái gì?

- Câu hỏi khôn ngoan quá.

Anh quả là người luôn luôn thực tế.

Gốc rễ của toàn câu chuyện là gì?

Cái bài toán mà bà Warren đặt ra mỗi lúc một lan rộng, và càng tiến xa càng để lộ những dữ kiện đen tối hơn.

Kể từ phút này, ta có thể khẳng định rằng: một là, sự vụng trộm ái tình bình thường.

Bạn đã thấy nét mặt người đàn bà khi cảm thấy có hiểm họa.

Hai là đã có một sự tấn công lầm lẫn, mà ông chủ nhà trọ là nạn nhân.

Các sự báo động cùng với nhu cầu tối thiết về bí mật cho thấy tính sinh tử của vấn đề.

Mặt khác sự tấn công lầm đã cho ta thấy rằng kẻ thù không hay biết có sự tráo người trọ.

Rất là kỳ lạ, và phức tạp!

- Tại sao anh lại bận tâm đến nó làm gì?

Được lợi lộc gì?

- Nghệ thuật vị nghệ thuật mà?

Tôi đã biết rằng đôi khi anh cũng hành nghề y mà không được lời một xu?

- Để học hỏi.

- Phạm vi của học vấn là bao la.

Phải học mãi, và bài học cuối cùng mới là bài quan trọng.

Cho nên trước một trường hợp có lợi cho học vấn, thì tuy sẽ chẳng được lợi gì về tiền bạc hoặc tiếng tăm ta cũng phải tham dự thôi.

Đêm nay, cuộc điều tra sẽ tiến một bước khá dài.

Khi chúng tôi trở lại nhà bà Warren, ánh sáng lù mù của một đêm đông càng dày đặc thêm, ngả thành màu xám xịt, lốm đốm vàng do các cửa sổ và đèn đường.

Chúng tôi vào phòng khách của bà chủ trọ.

Đèn tắt, chúng tôi nhìn ra ngoài, xuyên qua cửa kính, bất chợt ở bên kia đường với một ánh sáng lấp lánh trong bóng đêm.

- Ai đó đang xê dịch trong phòng.

- Holmes thì thầm dán chặt cái đầu xương xẩu và nhọn hoắt vào cửa kính.

- Đúng thế, tôi thấy rõ cái dáng của người ấy.

Hắn cầm nến trên tay.

Hắn quan sát bên này đường.

Có lẽ hắn muốn biết chắc rằng bà ấy đang chờ đợi.

Kìa hắn bắt đầu đánh tín hiệu kia kìa.

Watson, anh cũng nên ghi các tín hiệu, để chúng ta so kết quả.

Chỉ lóe sáng một lần... chắc chắn là chữ A.

Nè... bao nhiêu lần Watson, 20 chăng?

Tôi cũng thế, vậy là chữ T...

AT khá dễ hiểu...

Một chữ T khác.

Chắc chắn đấy là khởi đầu của cái từ thứ nhì.

TENTA chấm.

Chẳng lẽ hết rồi sao?

ATTENTA?

Không có nghĩa gì cả.

Hoặc giả là AT, TEN, TA?

Cũng không rõ gì hơn, trừ khi TA là hai chữ cái của tên ai đó.

Kìa, hắn lại tiếp tục Cái gì nhỉ?

ATTE...

Sao?

Vẫn một lối mật mã?

Lạ kỳ, Watson à, vô cùng lạ kỳ.

Lại dừng.

Không.

Hắn tiếp tục AT... sao?

Hắn lặp lại lần thứ ba?

ATTENTA, ba lần?

Hắn sẽ còn đánh lại bao nhiêu lần nữa.

Không, hình như xong rồi.

Hắn rời cửa sổ rồi.

Anh nghĩ sao Watson?

- Một điệp văn mật mã.

Holmes đột ngột cười ép tiếng, biểu lộ sự thông hiểu.

- Mật mã không tối tăm lắm đâu.

Tiếng Ý đấy!

Chữ A đầu có nghĩa là điệp văn được gửi cho một người đàn bà.

Với chữ này, hắn nói: "Coi chừng!

Coi chừng!

Coi chừng!".

Đúng thế.

- Phải là một điệp văn rất khẩn cho nên hắn mới lặp lại ba lần.

Chờ xem kìa, hắn quay lại cửa sổ.

Lại một lần nữa chúng tôi thấy rõ dáng dấp lờ mờ của một người đàn ông.

Các tín hiệu được gửi tiếp nhưng nhanh hơn, nhanh đến nỗi khó theo dõi.

- PERICOLO!

Pericolo là gì, Watson?

Pericolo là hiểm nguy chứ là gì.

Đúng rồi, đó là một tín hiệu báo động.

Y lặp lại: PERI...

Chuyện gì vậy?

Ánh sáng đột ngột tắt, toàn tầng lầu chỉ còn là một băng đen bao quanh cao ốc.

Tiếng báo nguy bị cắt ngang?

Ai cắt và cắt bằng cách nào.

Cùng một ý tưởng nảy sinh trong đầu chúng tôi và Holmes nhảy dựng lên.

- Nghiêm trọng rồi, Watson ơi.

- Anh la lớn - Một màn gian ác đang diễn ra.

Tại sao bức điện văn bị gián đoạn đột ngột?

Ta phải báo cho Scotland Yard.

Nội vụ diễn tiến dồn đập.

- Anh muốn tôi đi tìm cảnh sát.

- Có lẽ nên chờ cho tình hình rõ nét hơn.

Có thể có một điều gì đó rất rắc rối.

Nào Watson, chúng ta băng qua đường và quan sát cặn kẽ hơn.

Trong khi chúng tôi nhanh chân hướng về phố Howe, tôi quay lại nhìn ngôi nhà chúng tôi vừa rời.

Đằng sau cửa sổ trên cao hiện lờ mờ bóng của một cái đầu, một người đàn bà đứng lặng nhìn chòng chọc vào bóng đêm.

Có lẽ đang chờ cái điệp văn bị đứt đoạn.

Trước cổng tòa nhà ở phố Howe, một người đàn ông, cổ áo choàng kéo cao đang dựa vào song sắt.

Khi ánh sáng của đại sảnh rọi vào mặt chúng tôi, ông nhảy dựng.

- Holmes!

- ông la lớn.

- Ủa, Gregson?

- Holmes kêu to và bắt tay người thám tử của Scotland Yard - Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu phải không Gregson?

Việc gì vậy?

- Cùng một việc thôi, nhưng sao lại có anh can dự vào?

- Qua nhiều mối chỉ, khác biệt với các đầu mối của ông nhưng thuộc cùng một cuộn.

Tình cờ tôi bắt gặp các tín hiệu.

- Tín hiệu?

- Đúng thế, từ cái cửa sổ kia.

Nửa chừng thì bị cắt đứt.

Chúng tôi băng qua đường để tìm hiểu lý do.

Nhưng ông đang thụ lý, tôi không còn lý do để tiếp tục cuộc điều tra.

- Chờ một chút!

- Gregson nhiệt tình kêu lên - Anh Holmes, tôi thú thật rằng, hễ mỗi khi có anh tham gia thì tôi cảm thấy hăng hái hơn.

Tòa nhà này chỉ có một cửa duy nhất, do đó nó chạy không thoát đâu.

- Ai vậy?

- Ha!

Ha!

Lâu lắm chúng tôi mới ghi một bàn thắng.

Viên thám tử lấy gậy động trên đất.

Người xà ích, tay cầm roi ngựa, rời xe tứ mã bước qua.

- Tôi xin phép giới thiệu ông với ông bạn Sherlock Holmes - Gregson nói với người xà ích - Đây là ông Leverton, thuộc dịch vụ cảnh sát Pinkerton của Hoa Kỳ.

- Tôi hân hạnh được biết ông!

- Holmes nói.

Người Hoa Kỳ với khuôn mặt trẻ, không râu, mảnh khảnh, điềm đạm nói:

- Tôi nghe danh ông đã lâu.

Chỉ chờ bắt được thằng Gorgiano này...

- Sao?

Gorgiano của Vòng Tròn Đỏ.

- À, té ra hắn cũng nổi tiếng tại Âu châu.

Tại Hoa Kỳ, chúng tôi đều biết rõ bản mặt hắn.

Hắn chủ mưu khoảng 50 vụ án mạng, nhưng chúng tôi chưa nắm được một bằng chứng cụ thể nào.

Tôi đã bám sát hắn từ New York.

Một tuần nay, tôi theo hắn sát gót.

Tôi chỉ còn chờ một cái cớ để thộp cổ.

Gregson và tôi đã thấy hắn lẩn trốn trong tòa nhà này.

Chỉ có một cửa ra, hắn sẽ chạy không thoát đâu.

Từ lúc hắn vào, ba người đã đi ra, nhưng không phải là hắn.

- Ông Holmes có nói với tôi về các tín hiệu - Gregson nói - Tôi tin rằng như thường lệ, ông ấy sâu sắc hơn chúng ta.

Holmes trình bày ngắn gọn.

Người bạn Hoa Kỳ bực dọc, xoắn hai bàn tay vào nhau.

- Chúng ta bị phát hiện rồi!

- Leverton la lớn.

- Căn cứ vào đâu?

- Hắn đang gởi một điệp văn cho một tòng phạm.

Bè lũ chúng ở London này đông lắm.

Chính vào cái lúc hắn đang báo động thì đột ngột bị gián đoạn.

Điều đó có nghĩa gì, nếu không phải là thình lình hắn thấy bọn chúng mình đứng ngoài đường, hoặc hắn đột ngột biết có một hiểm nguy đang đe dọa nên hắn phải ngừng ngay tức khắc.

Ông nghĩ sao, ông Holmes?

- Theo tôi, chúng ta nên leo lên liền và sẽ quyết định.

- Nhưng chúng ta không có trát bắt giam hắn?

- Hắn ở tại khu nhà bỏ trống trong những điều kiện khả nghi - Gregson đáp.

- Tạm thời thì bấy nhiêu cũng đủ.

Khi bắt hắn rồi, chúng ta sẽ chờ New York tiếp tay để chúng ta nhốt hắn.

Phần tôi, tôi nhận trách nhiệm bắt hắn ngay tức khắc.

Các thám tử của nhà nước đôi khi thiếu trí tưởng tượng, nhưng rất thừa dũng cảm.

Gregson leo lên gác, nhẹ nhàng như lúc leo lên cái cầu thang lớn của sở Scotland Yard.

Leverton đi trước, nhưng Gregson đã mạnh tay gạt anh ta qua một bên.

Những hiểm nguy của London phải là đặc quyền của người London.

Cánh cửa của căn phòng ở phía trái của tầng ba, lúc đó đang hé mở, Gregson mở toang nó ra.

Tối đen và im lặng.

Tôi bật diêm, châm đèn xách tay của viên thám tử.

Khi ngọn lửa đã sáng tỏ, chúng tôi đồng loạt kêu lên vì ngạc nhiên.

Trên sàn nhà, những dấu chân máu chảy dài từ một căn phòng cửa đóng kín.

Gregson dùng vai tung mạnh cửa, và đưa đèn lồng lên.

Chúng tôi nhón chân, nhìn chăm chăm qua vai ông.

Chính giữa căn phòng trống, xác của một người khổng lồ nằm dài trong vũng máu.

Mặt hắn nhẵn nhụi, sạm nắng, méo mó kỳ lạ.

Đầu gối co lại, hai bàn tay xòe ra và đưa cao trong sự co giật trong lúc chết.

Ở cổ, một cán dao màu trắng cắm sâu vào đó.

Cạnh bàn tay mặt của hắn một dao găm cán sừng lưỡi đôi nằm gần một chiếc bao tay da dê đen.

- Đúng là Gorgiano Đen!

- Viên thám tử Hoa Kỳ la to - Ai đó đã nhanh tay hơn chúng ta.

- Còn đây, cây nến cạnh cửa sổ, anh Holmes - Gregson cười đùa.

- Anh làm cái trò quỷ gì đó?

Lúc đó, Holmes cầm cây nến cháy đưa qua đưa lại ngay trước cửa sổ rồi nhìn vào đêm tối.

Cuối cùng, thổi cây nến và quăng nó xuống đất.

- Tôi tin tôi sẽ đóng góp một điều ích lợi.

- Holmes nói khẽ rồi đứng lặng thinh.

Trong lúc hai thám tử nhà nghề khám nghiệm tử thi, Holmes nói tiếp:

Trong lúc các anh chờ dưới đường có thấy ba người đã ra khỏi tòa nhà này?

Các anh thấy rõ không?

- Rõ.

- Các anh có để ý một anh chàng khoảng 30 tuổi, không cao, râu quai nón đen?

- Có.

Hắn ra sau cùng.

- Đó là hung thủ.

Tôi có thể cung cấp dấu hiệu đặc biệt của hắn vì chúng ta có dấu chân rõ ràng của hắn.

- Vậy là đủ rồi chứ gì?

- Chưa đủ, ông Holmes, London có tới mấy triệu người mà.

- Quả là chưa đủ.

Do đó, tôi đã mời bà này tới tiếp tay.

Tất cả chúng tôi đều quay lại.

Trong khung cửa lớn xuất hiện một người đàn bà cao lớn, rất đẹp.

Đó là người trọ tại nhà bà Warren.

Bà từ từ bước vào, mặt tái xanh vì sợ sệt.

Đôi mắt hoảng hốt nhìn đăm đăm vào kẻ nằm sõng soài trên sàn nhà.

- Các ông đã giết nó!

- Bà thì thầm - Ồ, các ông đã giết nó?

Tôi nghe bà hít không khí thật sâu, rồi nhảy tung lên và vui mừng.

Bà chạy quanh phòng, vừa múa vừa vỗ tay.

Hàng ngàn lời cảm thán bằng tiếng Ý.

- Nhưng mà quý vị?

Quý vị là cảnh sát phải không?

Quý vị đã giết Giuseppe Gorgiano phải không?

- Chúng tôi là cảnh sát, thưa bà.

Bà nhìn ngơ ngác sục sạo quanh gian phòng, hỏi:

- Còn Gennaro đâu?

Anh ấy là chồng tôi, Gennaro Lucca.

Tôi là Emilia Lucca, cả hai chúng tôi đều có nguyên quán tại New York.

Gennaro đâu?

Anh ấy vừa gọi tôi từ cửa sổ này, và tôi chạy sang ngay mà?

- Chính tôi vừa gọi bà - Holmes nói.

- Ông?

Làm sao kỳ vậy?

- Mật mã đâu có gì khó khăn.

Sự hiện diện của bà tại đây rất cần.

Tôi thấy chỉ cần đánh đi cái từ "VIENI" bằng mật mã là bà ra ngay.

Người đàn bà Ý nhìn thẳng vào Holmes với một ánh mắt lo âu.

- Tôi không hiểu vì sao ông biết được mật mã đó!

Anh ấy đã...

Bà ngừng ngang và thình lình mặt bà sáng đẹp vì kiêu hãnh và hân hoan.

- À, Tôi hiểu rồi!

Anh Gennaro đẹp và diệu kỳ của tôi đã che chở tôi khỏi các nguy biến.

Chính anh ấy đã giết con quái vật này!

Ôi, anh Gennaro, anh thật là xuất sắc!

- Thưa bà Lucca.

- Gregson kêu lên vừa đặt bàn tay lên vai bà ta một cách lạnh lùng như cách đối xử với các tên du côn.

- Hiện tại tôi không hiểu rõ bà nói gì, nhưng bà đã nói đủ để tôi có cơ sở đưa bà về Scotland Yard.

- Chờ một chút, ông Gregson.

Tôi tin rằng bà này sẽ rất nhiệt tình cung cấp mọi tin tức mà chúng ta cần.

Thưa bà, bà vui lòng hiểu cho rằng chồng bà sẽ bị bắt, sẽ ra tòa vì tội giết người.

Tất cả những gì bà nói có thể được xem là lời khai của nhân chứng.

Nếu bà nghĩ rằng ông nhà đã hành động vì những lý do chính đáng thì bà nên khai đầy đủ.

- Giờ đây thằng ác ôn này đã chết, chúng tôi còn gì phải sợ đâu.

- Bà đáp - Nó là một con quỷ, một con quái vật.

Không một ông tòa nào phạt chồng tôi.

- Vậy thì, - Holmes đề nghị - Chúng ta hãy đóng cửa này lại để hiện trường vẫn y nguyên và trở về phòng bà, nghe bà nói.

Nửa giờ sau, cả bọn chúng tôi ngồi trong cái xa-lông nhỏ.

Bà nói tiếng Anh lưu loát nhưng không chuẩn lắm.

- Tôi sinh tại Posilippo, gần thành phố Naples của nước Ý.

Tôi là con gái của Augusto Barelli, trước đây là đệ nhất thẩm phán kiêm dân biểu của vùng.

Gennaro là nhân viên của cha tôi và tôi yêu anh ấy.

Anh ấy không có nhiều tiền, cũng không có cái gì ngoài thân hình đẹp, sức mạnh và tính cương nghị.

Cha tôi không bằng lòng cho chúng tôi lấy nhau.

Cả hai chúng tôi thoát ly gia đình, đám cưới được tổ chức tại Bari, Ý.

Sau đó, tôi bán hết nữ trang để có đủ tiền đi Hoa Kỳ.

Chuyện đó xảy ra cách nay 4 năm.

Từ đó, chúng tôi liên tục ngụ tại New York.

Lúc đầu chúng tôi gặp may.

Nhờ chống trả một vài thằng du thủ du thực, chồng tôi được lòng và được sự bao bọc của một nhà quý tộc Ý có thế lực.

Tên ông ấy là Tito Castalotte, người góp vốn chính trong công ty lớn Castalotte & Zamba, chuyên nhập khẩu trái cây lớn nhất tại New Yord.

Ông Zamba là một người tàn tật nên ông Castalotte độc thân xem Gennaro như con.

Đáp lại, vợ chồng chúng tôi cũng thương yêu ông ấy như cha đẻ.

Chúng tôi đã thuê và sắm sửa một ngôi nhà tại Brooklyn.

Tương lai của chúng tôi có vẻ vững vàng thì bỗng có một đám mây đen bay tới

Một tối nọ, Gennaro đưa về nhà một người đồng hương, tên Gorgiano, cũng sinh quán tại Posilippo.

Hắn là một tên khổng lồ, quý vị đã nhìn thấy.

Trong cái thân xác khổng lồ đó là cả một con người lố bịch, hãi hùng.

Trong căn nhà nhỏ bé của chúng tôi, tiếng của hắn vang rền như sấm và có lẽ hắn chỉ cần huơ tay một cái là tất cả đều nát vụn.

Khi bị hắn nhìn, đối tượng sẽ mất hồn như bị thôi miên.

Thật là một con người khủng khiếp.

Cũng may là, hôm nay hắn đã chết.

Hắn tới lui nhiều lần.

Cứ mỗi lần hắn tới thì mặt mày của Gennaro biến sắc.

Người chồng đáng thương của tôi luôn tái mét và câm lặng ngồi nghe hắn nói điên nói sảng về chính trị và xã hội.

Gennaro không nói gì, tuy nhiên tôi là bạn tri âm của anh ấy, tôi thấy có các dấu hiệu lạ thường.

Lúc đầu tôi tưởng đó chỉ là một sự căm giận.

Nhưng dần dà tôi hiểu rằng nó là một cái gì nặng nề hơn.

Đó là sự sợ hãi: một sự sợ hãi sâu xa, kín đáo, rối loạn thần kinh.

Một đêm tôi ôm cổ anh và khẩn khoản nài nỉ anh giải thích cho tôi biết sự việc.

Chồng tôi thổ lộ rằng trong lúc chao đảo trước các sự bất công của xã hội, anh đã gia nhập vào băng nhóm Vòng Tròn Đỏ ở Naples, trực thuộc tổ chức Carbohari.

Các lời thề và những bí mật của cái băng này thật khủng khiếp.

Mắc vào đó rồi thì không có cách nào thoát ra được.

Khi chúng tôi qua Hoa Kỳ, những tưởng vĩnh viễn trốn khỏi gọng kìm.

Nhưng một hôm, chồng tôi gặp lại chính con người đã kết nạp anh tại Naples, thằng khổng lồ Gorgiano, giết người như ngóe với biệt danh "tử thần" ở miền Nam Ý.

Gorgiano chạy đến New Yord để trốn cảnh sát.

Nhưng tại đây, hắn lại thành lập một chi nhánh của cái tổ chức quái đản đó.

Gennaro đã thổ lộ hết với tôi và cho tôi xem một tờ giấy.

Trên đầu tờ giấy có vẽ một vòng tròn đỏ.

Đó là giấy mời anh dự họp băng vào ngày giờ nào đó.

Tôi có để ý mấy lúc gần đây cứ mỗi lần tới nhà, tên khổng lồ thường bắt chuyện với tôi và khi hắn nói chuyện với chồng tôi, đôi mắt khủng khiếp của hắn như cú vọ nhìn tôi đăm đăm.

Một đêm nọ, hắn tâm sự với tôi rằng hắn yêu tôi.

Tôi ở nhà một mình, Gennaro chưa về, hắn đến gần tôi, siết tôi bằng sức gấu, hôn tứ tung và nài nỉ tôi ra đi với hắn.

Tôi đang vẫy vùng thì chồng tôi về.

Anh nhảy bổ tới, nhưng gã súc sinh quật anh ấy ngã quỵ rồi tháo chạy.

Đương nhiên, hắn không bao giờ tới nhà chúng tôi nữa.

Nhưng từ đó, chúng tôi đã có một kẻ thù không đội trời chung.

Vài ngày sau thì tổ đảng họp, chồng tôi về nhà với vẻ mặt cực kỳ buồn bã.

Quỹ của băng đảng bắt nguồn từ những cuộc tống tiền những người Ý giàu có.

Chống lại là chết!

Castalotte, bạn thân và ân nhân của chúng tôi nhận được giấy mời.

Ông ta không nao núng mà còn báo cảnh sát nữa.

Tổ đảng quyết định trừng phạt.

Ông ấy sẽ bị mưu sát và nhà cửa sẽ bị đặt chất nổ.

Một cuộc rút thăm chỉ định người thi hành án.

Tên khổng lồ mỉm cười khi thấy chồng tôi thọc tay vào túi thăm.

Gennaro rút ra cái lệnh giết người có đóng triện vòng tròn đỏ.

Thế là chồng tôi hoặc phải đi giết người bạn tốt nhất hoặc phải chịu hình phạt của băng đảng.

Suốt đêm đó, chúng tôi ôm lấy nhau, an ủi nhau trước những thách đố hãi hùng đang chờ đợi.

Giờ ra tay đã được ấn định vào hôm sau.

Nhưng tới giữa trưa, vợ chồng tôi xuống tàu đi London.

Tất nhiên chúng tôi đã báo tin cho vị ân nhân và cho cảnh sát để họ bảo vệ sinh mạng cho ông ấy.

Phần còn lại, thưa quý vị, quý vị đã rõ.

Chúng tôi biết chắc rằng kẻ thù bám sát chúng tôi.

Tên cướp này quyết báo thù, nhưng chúng tôi biết rõ các trò xảo quyệt của hắn.

Chồng tôi đã khẩn trương thu xếp một chỗ trốn an toàn cho tôi.

Phần anh ấy, anh muốn liên lạc với cảnh sát Ý và Hoa Kỳ.

Chính tôi cũng không biết anh ấy ở đâu, và làm gì.

Tất cả những gì tôi hay biết điều qua mục nhắn tin trên báo.

Nhưng có một lần nhìn qua cửa sổ, tôi thấy có hai người Ý rình rập nên tôi biết rằng tên gian ác đã tìm ra nơi lẩn trốn của chồng tôi.

Cuối cùng chồng tôi nhắn tin cho tôi rằng anh ấy sẽ gửi tín hiệu cho tôi từ một cửa sổ.

Nhưng khi tín hiệu được phát ra, tôi chỉ thấy toàn là những lời cảnh giác rồi đột ngột bị gián đoạn.

Vậy là anh ấy đã biết mình bị thằng khốn nạn bám sát.

Hiện thời, thưa quý vị, vợ chồng tôi không còn gì phải sợ.

Về phía luật pháp, tòa án có kết tội chồng tôi hay không?

- Này, ông Gregson - Viên thám tử Hoa Kỳ hỏi.

- Tôi không biết quan điểm của người Anh, chứ ở New York thì tôi chắc chắn chồng bà này sẽ được mọi người khen ngợi.

- Bà ấy phải đi theo tôi và gặp ông giám đốc sở.

- Gregson trả lời.

- Nếu cảnh sát được sự xác nhận về bản tường trình của bà ấy, thì tôi tin rằng hai vợ chồng bà đều không có gì để sợ cả.

Điều tôi không thể hiểu nổi, anh Holmes à, ma quỷ nào đưa anh vào vụ này vậy.

- Vì muốn học hỏi, ông Gregson!

Chúng ta khát khao học hỏi mà!

Này Watson, anh lại có thêm một mẩu chuyện bi thương và kỳ dị để làm phong phú thêm bộ sưu tập.

Nhân tiện, chưa tới 8 giờ và người ta đang tấu nhạc tại công viên Covent, đề nghị chúng ta đến đó ngay.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
E3 Hai lỗ tai người trong hộp cactong


HAI LỖ TAI NGƯỜI TRONG HỘP CACTONG

THE ADVENTURE OF THE CARDBOARD BOX (1893)

His last bow

Cung đàn sau cuối

Hôm đó, một ngày của tháng 8, trời nóng khủng khiếp.

Con đường Baker giống như một lò lửa.

Sự phản chiếu của ánh nắng trên bức tường gạch vàng của ngôi nhà trước mặt làm nhức mắt.

Các bức mành đều kéo lên phân nửa.

Holmes nằm cuộn tròn trên trường kỷ, đọc đi đọc lại một bức thư mới vừa nhận hồi sáng.

Vì Holmes có vẻ quá suy tư, tôi bỏ tờ báo xuống và dựa lưng vào ghế, nhìn anh.

Im lặng và nóng bức.

Để phá tan bầu không khí nặng nề này, tôi lên tiếng:

- Holmes, anh có đọc một mục nhỏ trong báo hôm nay nói về một bưu kiện gởi cho cô Susan Cushing ở Croydon không?

- Tôi chưa biết gì về chuyện đó.

Tôi cầm tờ báo và đọc lớn:

"Một gói hàng ma quái

Cô Susan, ngụ tại phố Cross, là nạn nhân của một trò đùa thô lỗ.

Hồi 2 giờ chiều hôm qua, bưu tá phát cho cô một bưu kiện nhỏ, được gói bằng giấy nâu.

Bên trong là cái hộp bìa cứng đầy ắp muối hột.

Khi đổ muối ra, cô kinh hoàng thấy có hai lỗ tai người còn khá mới.

Cái hộp này gởi từ Belfast vào buổi sáng.

Người gởi không ghi tên.

Cô Susan năm mươi tuổi, sống mai danh ẩn tích, gần như không bao giờ có thư tín.

Tuy nhiên, cách đây vài năm, hồi còn ngụ tại Renge, cô có cho ba sinh viên y khoa mướn phòng.

Nhưng sau đó phải lấy phòng lại vì họ làm ồn ào và đi về bất thường.

Cảnh sát đoán rằng trò đùa này là của một trong ba sinh viên đó.

Các sinh viên này có nguyên quán tại Belfast.

Hiện nay ông Lestrade đang mở cuộc điều tra

- Tạm gác tờ báo qua một bên - Holmes nói, sau khi tôi đọc xong mẩu tin - Chúng ta hãy nói chuyện về ông bạn Lestrade.

Sáng nay tôi mới nhận được thư ông ấy.

ông ấy viết: ông Holmes, tôi nghĩ rằng vụ này hợp với sở thích của ông.

Cảnh sát chúng tôi cũng tin là sẽ làm sáng tỏ được vấn đề bí hiểm.

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cảm thấy có một vài khó khăn khi tìm một đầu mối để khởi động.

Chúng tôi đã điện cho bưu điện Belfast, nhưng hôm đó có quá nhiều bưu kiện và không ai nhớ riêng cái bưu kiện này, giả thiết cho rằng tác giả là một sinh viên y khoa là đáng tin nhất.

Nếu ông có dư thời gian để hoang phí, tôi rất hân hạnh được gặp ông.

Tôi có mặt tại nhà cô Susan hoặc tại sở suốt ngày.

Nghĩ sao đây, Watson?

Anh cảm thấy đủ sức chịu nắng và cùng tôi xuống Croydon không?

- Tôi chỉ đợi có bấy nhiêu.

- Hãy gọi một xe ngựa và bỏ thêm xì-gà vào hộp.

Lestrade đón chúng tôi tại ga.

Đi bộ năm phút, chúng tôi đến phố Cross.

Con đường rất dài, hai bên có nhà gạch hai tầng xinh xắn và sạch sẽ, bậc thang nào cũng trắng tinh.

Ở các ngưỡng cửa những mụ lắm mồm mặc tạp-dề ngồi nói xấu thiên hạ.

Đi thêm hai trăm mét Lestrade dừng lại, gõ cửa.

Một cô gái ra mở cửa.

Cô Susan đang ngồi trong phòng.

Cô có khuôn mặt điềm tĩnh, đôi mắt to, dịu hiền, tóc lốm đốm bạc, cuộn thành lọn trên đầu.

Một lưới bao tóc đan dang dở để trên đầu gối, bên cạnh chiếc ghế đẩu là một cái giỏ đầy ắp lụa đủ màu.

- Đồ quái quỉ đó đang ở ngoài kia chứ?

- Cô nói với Lestrade, khi chúng tôi bước vào - Tôi ước mong ông mang chúng đi càng sớm càng tốt.

- Chắc chắn như vậy, thưa cô.

Tôi còn chờ ông bạn Holmes đến quan sát trước sự hiện diện của cô.

- Tại sao cần phải có mặt tôi?

- Phòng khi ông ấy hỏi này nọ.

- Còn hỏi gì nữa Tôi đã nói đi nói lại nhiều lần rằng tôi chẳng biết tí gì.

- Đương nhiên, thưa cô - Holmes lấy giọng xoa dịu, can thiệp - Tôi hiểu rất rõ rằng cô vô cùng bực bội.

- Ông nói không sai, thưa ông.

Tôi là một phụ nữ thích sống ẩn dật.

Quả là một cái gì hoàn toàn mới mẻ với tôi khi bị nêu tên trên báo đấy, ông Lestrade.

Nếu quý ông muốn xem xin mời ra ngoài đó.

Lestrade chui vào chái sau vườn, lấy ra một cái hộp bằng các-tông màu vàng, một miếng giấy màu nâu và một khúc dây nhợ.

Chúng tôi ngồi xuống trên một ghế dài ở cuối lối đi.

Holmes ngắm nghía từng vật một.

- Khúc nhợ rất đáng lưu ý - Holmes nhận xét và đưa ra chỗ sáng rồi đưa lên mũi ngửi - ông nghĩ gì về khúc nhợ này, ông Lestrade?

- Nó bị thấm dầu hắc.

- Đúng như vậy.

Một khúc nhợ thấm dầu hắc?

Có lẽ anh đã để ý rằng cô Susan đã cắt nó bằng kéo, nó bị tưa ở hai đầu.

Điều này quan trọng.

- Tôi không thấy được sự quan trọng này.

Lestrade lắc đầu.

- Cái thắt nút còn nguyên và khá đặc biệt.

- Nút thắt rất khéo tay, tôi đã chú ý điểm này - Lestrade đáp một cách tự mãn.

- Về khúc nhợ đủ rồi - Holmes nói - Chúng ta hãy nhìn qua tờ giấy gói.

Giấy nâu bốc mùi cà phê, anh không ngửi thấy sao?

Tôi tin rằng điều này không ai tranh cãi.

Địa chỉ được ghi hơi nguệch ngoạc?

"Cô S.Cushing đường Cross, Croydon" bằng ngòi viết to.

Chữ y trong danh từ Croydon, lúc đầu được viết chữ i, sau đó được sửa thành y.

Tuồng chữ của một người đàn ông học vấn hạn chế, vì chưa quen thuộc lắm với thành phố Croydon.

Tốt rồi, cái hộp màu vàng dùng để đựng nửa cân thuốc lá, không có gì đặc biệt trừ hai vệt do móng tay cào ở góc trái.

Hộp đựng muối hột, loại thường dùng để muối da sống và da thuộc thỏ.

Giữa hộp muối là hai vật dị kỳ của hồ sơ chúng ta.

Vừa nói, anh vừa lấy hai lỗ tai, đặt chúng trên một miếng ván để trên đầu gối, rồi tỉ mỉ khám nghiệm.

Lestrade và tôi đứng hai bên, lần lượt nhìn khuôn mặt căng thẳng của Holmes.

Sau cùng, anh bỏ chúng vào muối trở lại và ngồi lặng thinh một lúc.

- Hai lỗ tai này không phải của cùng một người.

Holmes nói.

- Vâng, tôi có thấy.

Tuy nhiên, nếu là trò đùa của sinh viên thực tập trong phòng mổ thì tai một người hay hai người đâu có gì quan trọng.

- Quả vậy.

Nhưng đây không phải là trò đùa.

- Chắc chắn không?

- Chắc chứ.

Tại nhà thương, sinh viên thực tập trên các xác chết.

Hai lỗ tai này còn tươi.

Chúng bị cắt bằng một vật cùn, trong khi các sinh viên luôn luôn sử dụng con dao mổ rất bén.

Ngoài ra, người có chút ít kiến thức y khoa sẽ nghĩ tới chất formol hoặc cồn để ngâm, không ai dùng muối thô.

Tôi nhấn mạnh rằng đây không phải là trò đùa mà là một vụ án hình sự nghiêm trọng.

Tôi hơi lạnh xương sống khi nghe mấy từ này và nhất là khi nhìn các đường nét rắn rỏi trên khuôn mặt Holmes.

Lestrade lắc đầu:

- Một giả thiết về trò đùa thì có nhiều khe hở.

Tuy nhiên, giả thiết của ông cũng có những khe hở to tướng.

Cảnh sát chúng tôi biết rằng từ hai mươi năm qua, người phụ nữ này sống một cuộc đời rất kín đáo, đáng kính, tại Renge cũng như tại đây.

Không bao giờ bà ta vắng mặt lâu hơn một ngày.

Thế thì tại sao kẻ sát nhân lại gởi cho bà ta các bằng chứng tội ác của hắn?

- Đó là một bài toán mà ta phải giải đáp - Holmes trả lời - Phần tôi, tôi cho rằng lý luận của tôi đúng và phải có nhũng án mạng xảy ra.

Nhỏ, mảnh mai, có lỗ đeo bông thì phải là lỗ tai của đàn bà.

Cái kia là lỗ tai đàn ông, sạm nắng, phai màu nhưng vẫn có lỗ để đeo khoen.

Hai người này có lẽ đã chết, nếu không, thì chúng ta đã nghe nói về họ.

Hôm nay là thứ sáu.

Cái bưu kiện được gởi vào sáng thứ năm.

Như vậy thì thảm kịch xảy ra vào thứ tư hoặc thứ ba hoặc sớm hơn.

Nếu hai người này đã bị ám sát thì chính hung thủ đã gởi đến cho cô Susan như là một bằng chứng về tội ác đó.

Thế thì người gởi bưu kiện là đối tượng của chúng ta.

Nhưng sao lại gởi cho cô Susan?

Lý do gì?

Có thể để cho cô ấy hay rằng tội ác đã hoàn tất, hoặc có thể để dày vò cô ấy.

Trong trường hợp thứ nhì, thì cô ấy biết hung thủ là ai.

Cô ấy có biết hay không?

Tôi tin là cô ấy biết.

Nếu cô biết là ai, tại sao cô lại báo cho cảnh sát?

Nếu cô đem chôn hai lỗ tai, thì chỉ có Chúa mới biết.

Nhưng nếu cô ấy không muốn che giấu, thì cô ấy đã tiết lộ danh tánh của hắn rồi.

Thật là một múi chỉ rối.

Holmes vừa nói vừa nhìn vu vơ.

Thình lình anh nhảy dựng lên nói.

- Tôi cần hỏi cô Susan đôi điều.

- Vậy tôi xin kiếu từ.

Tôi còn phải theo dõi một vụ khác.

Theo tôi, thì ta chả moi móc thêm được gì nơi cô Susan.

Các anh nên tìm tôi lại sở - Lestrade nói.

- Trên đường ra ga, chúng tôi sẽ ghé - Holmes đáp.

Một lát sau, chúng tôi trở lại căn phòng của cô gái già, cô để cái lưới bao tóc đang đan dang dở xuống đầu gối, nhìn chúng tôi bằng đôi mắt xanh, sắc sảo nhưng khá thành thật.

- Thưa ông, tôi tin chắc rằng - Cô nới với chúng tôi - Đó là một lầm lẫn.

Tôi đã nói đi nói lại với anh chàng Scotland Yard, nhưng anh ta chỉ cười.

Tôi không có một kẻ thù nào trên đời này.

Tại sao tôi bị giễu cợt như thế này?

- Tôi đồng ý hoàn toàn với cô - Holmes lấy ghế ngồi bên cạnh và nói - Tôi tin chắc chắn rằng...

Bỗng anh dừng lại.

Tôi thấy anh nhìn chòng chọc cái hình nghiêng của cô Susan nhưng khi cô ngạc nhiên quay lại thì anh thản nhiên trở lại.

Lúc đó, tôi bắt đầu chú ý bộ tóc xẹp xuống và hoa râm của nữ chủ nhân, cái mũi nhỏ, đôi bông tai của cô, cái diện mạo bình thản của cô và thấy không có gì có thể làm cho Holmes xúc động cả.

- Có vài điều thưa ông, tôi phát ngấy các câu hỏi - Cô Susan bực dọc la lớn.

- Cô có hai em gái?

- Làm sao ông biết?

- Khi vào phòng này, tôi để ý tấm hình ba người phụ nữ treo trên lò sưởi: một người là cô, còn hai người kia giống cô lắm.

- Ông nói đúng!

Đấy là hai em gái Sarah và Mary của tôi.

- Còn đây đúng là một tấm hình khác của cô Mary (em út của cô) đứng cùng với một người đàn ông chụp tại Liverpool.

Dựa trên y phục thì đó là anh nam tiếp viên hàng hải.

Vào lúc đó, có lẽ họ chưa làm đám cưới.

- Ồ, ông có thiên khiếu quan sát khá cao.

- Nghề nghiệp của tôi!

- Ừ, ông nói đúng.

Nhưng vài ngày sau, chúng lấy nhau.

Dượng ấy là Jim đang phục vụ tuyến đi Nam Mỹ khi chụp hình.

Nhưng mê vợ đến nỗi không thể xa vợ lâu ngày, nên chuyển qua phục vụ trên một chiếc tàu Liverpool - Luân Đôn.

- À, chiếc Conqueror?

- Không, chiếc May Day, Jim có đến thăm tôi một lần tại đây trước khi hắn nhậu nhẹt trở lại.

Sau đó, hắn say bí tỉ mỗi khi lên bờ.

Hễ có tí rượu là quậy như một thằng điên.

Buồn thay cho cái ngày hắn bắt đầu nhậu trở lại.

Trước hết hắn coi thường tôi rồi gây gổ với Sarah và giờ đây, vì Mary không liên lạc thư tín với tôi nữa nên tôi chả biết chúng nó sống ra sao.

Rõ ràng là cô Susan được dịp tuôn hết nhưng ấm ức trong lòng ra.

Như các người sống ẩn dật, cô ta tỏ ra rụt rè lúc đầu, nhưng sau đó thì tỏ ra cực kỳ thèm khát bày tỏ tâm sự.

Cô cung cấp cho chúng tôi nhiều chi tiết về người em rể, rồi đến mấy sinh viên y khoa mướn nhà.

Cô kể cho chúng tôi nghe các tật xấu của họ, tên tuổi của họ và nơi họ làm việc.

Holmes chú ý nghe tất cả, thỉnh thoảng chặn lại để đặt một câu hỏi.

- Về cô em Sarah, tại sao hai cô đều độc thân mà lại không sống chung với nhau?

- Ôi, rõ ràng là ông không biết tính của Sa- ra.

Khi mới dọn về Croydon, chúng tôi ở chung với nhau.

Nhưng cách đây hai tháng, chúng tôi phải chia tay.

Tôi không muốn nói xấu em gái tôi, nhưng nó cực kỳ khó tính, lại hay xen vào chuyện của mọi người.

- Cô nói rằng hai cô em đã cãi lộn với nhau ở Liverpool?

- Đúng thế.

Tuy nhiên, có một lúc hai đứa nó thân thiết nhất trên đời này.

Nó tự động lên trên đó sống chung với vợ chồng Mary.

Nay thì Sarah luôn luôn chống đối Jim.

Khi xuống đây, Sarah vẫn mãi nói về tật say sưa, tính tình thô bạo của Jim.

Tôi nghĩ rằng Jim không chịu nổi việc Sarah xen vào gia đình của mình.

- Cám ơn cô nhiều - Holmes nói, rồi đứng dậy cúi chào - Cô vừa nói rằng cô em Sarah ngụ tại đường New ở Wallington?

Thôi xin tạm biệt, và thành thật chia buồn với cô.

Khi chúng tôi vừa ra, thì một xe ngựa chạy ngang.

Holmes gọi nó lại:

- Wallington có xa đây không?

- Thưa ông, một ngàn năm trăm mét.

- Tốt lắm, lên xe đi, anh Watson, chúng ta phải đập sắt khi nó còn nóng.

Tuy nội vụ đơn giản, nhưng vẫn còn cần vài chi tiết.

Này anh xà ích, khi nào tới bưu điện thì dừng lại nhé.

Holmes gởi một bức điện ngắn.

Xe lại lên đường, anh dựa lưng vào thành xe, mũ kéo sụp để tránh nắng.

Xe ngừng trước một ngôi nhà khá giống căn nhà của cô Su- san.

Holmes bảo xe chờ.

Khi anh gõ cửa thì một người đàn ông dáng điệu trầm ngâm, trang phục đen, đội mũ láng bóng, bước ra.

- Cô Sarah ngụ tại đây?

- Holmes hỏi.

- Cô ấy hiện đau rất nặng.

Từ hôm qua, cô bị kích động trầm trọng.

Với tư cách y sĩ, tôi không thể cho phép ông vào thăm.

Yêu cầu ông nán lại mười ngày sau.

Ông ta đóng cửa lại, và đi xuống đường.

- Có sao đâu, không là không - Holmes nói một cách hồ hởi.

- Có gặp được, cô ấy cũng không muốn nói chuyện nhiều với anh.

- Tôi cũng chả cần cô ấy nói nhiều.

Tôi chỉ muốn nhìn cô ấy thôi - Anh quay qua người lái xe - Anh hãy đưa chúng tôi tôi đến một quán ăn đàng hoàng một chút.

Anh Watson, cơm trưa xong, chúng ta đi tìm ông bạn Lestrade.

Cả hai chúng tôi đều ăn cơm khá ngon.

Holmes chỉ nói về âm nhạc.

Anh hào hứng kể lại cái cách nào mà anh mua cây đàn với năm mươi lăm si-linh trong lúc trị giá tối thiểu là năm trăm ghi-nê tại một tiệm cầm đồ Do Thái.

Cao hứng, anh nói tới nhạc sĩ vĩ cầm người Ý là Paganini.

Trong suốt một giờ, anh mê say kể các giai thoại về con người phi thường này.

Xế chiều, khi nắng hơi dịu, chúng tôi đến sở cảnh sát.

Lestrade đợi chúng tôi tại cửa.

- Có một bức điện cho ông, ông Holmes à?

- À, có hồi âm rồi?

Anh mở bức điện, liếc qua, rồi nhét vào túi.

- Mọi chuyện đều êm xuôi - Anh nói.

- Ông đã tìm ra được cái gì?

- Lestrade hỏi.

- Tôi đã tìm ra tất cả.

- Cái gì?

Ông đùa à?

- Lestrade trố mắt nhìn Holmes.

- Tôi nói rất nghiêm túc.

Một tội ác đê tiện đã xảy ra và tôi tin rằng hiện tôi đã nắm được mọi chi tiết.

- Còn hung thủ?

Holmes hí hoáy vài chữ sau lưng một danh thiếp của anh rồi đưa cho Lestrade.

- Đó là danh tích của nó.

Anh không thể bắt nó trước chiều mai.

Yêu cầu anh đừng nêu tên tôi trong vụ này vì vấn đề này tầm thường thôi.

Hai chúng tôi ra ga trong lúc Lestrade hân hoan ngắm nghía tấm danh thiếp.

Trong lúc chúng tôi vừa tán gẫu vừa hút xì-gà, Holmes nói với tôi rằng vụ án này cần phải đi ngược từ hậu quả tới nguyên nhân.

- Tôi đã viết thư yêu cầu Lestrade cung cấp các chi tiết mà chúng ta còn thiếu.

Ông ấy sẽ kiếm ra sau khi bắt được chân hung thủ.

Chắc chắn sẽ bắt được bởi vì ông ta rất kiên trì từ khi hiểu rõ mệnh lệnh, chính bản tính này giúp ông ta thăng tiến trong Scotland Yard.

- Hồ sơ của anh chưa xong à?

- Gần xong.

Chúng ta biết ai là người chủ động trong cái vụ thô bạo này.

Nhưng ta chưa biết được danh tánh của một nạn nhân.

Tất nhiên, anh đã rút ra kết luận của riêng anh rồi chứ?

- Tôi đoán rằng anh nghi anh chàng Jim?

- Nặng hơn là nghi!

- Tuy nhiên tôi chỉ thấy lờ mờ thôi!

- Ngược lại là khác, quá sáng tỏ.

Chúng ta đã tiếp cận vấn đề.

Lúc khởi sự, chúng ta đã thấy gì?

Một cô gái già bình dị, đáng kính và một cái ảnh tiết lộ cho tôi biết rằng cô ấy có hai em gái trẻ hơn.

Ngay tức khắc, tôi nghĩ rằng bưu kiện đã được gởi cho một trong hai người đó, chớ không phải gởi cho người chị cả.

Tôi đã để cái ý tưởng này qua một bên, tự nhủ rằng phải kiểm nghiệm và phản bác nó.

Rồi chúng ta đã khám nghiệm cái hộp nhỏ màu vàng.

Dây buộc thuộc loại dùng cột buồm, nhuốm mùi thơm của gió biển.

Khi tôi để ý rằng nút được thắt theo lối của thủy thủ, bưu kiện được gửi từ một hải cảng và lỗ tai người đàn ông thì có lỗ và đeo vòng theo thói quen của giới thủy thủ, thì tôi tin chắc chắn rằng các diễn viên của tấn kịch thuộc giới đi biển.

Khi tôi xem địa chỉ của bưu điện, tôi thấy người nhận là S.Cushing.

Đương nhiên người chị cả tên là Cushing và chữ đầu của hai chị em đều là chữa S hoa vậy chữ S hoa này có thể là Susan Cushing mà cũng có thể là Sarah Cushing.

Trong trường hợp này thì phải tiếp tục điều tra thêm.

Khi tôi sắp khẳng định với cô gái già rằng chắc chắn có một sự nhầm lẫn, thì tôi đột ngột ngưng lại, anh còn nhớ chứ "Là một bác sĩ, hẳn anh thừa biết rằng: không có lỗ tai nào giống hệt lỗ tai nào.

Không hề có hai lỗ tai giống hệt nhau.

Trong số báo "Nhân loại học" năm ngoái, tôi có viết lai chuyên luận ngắn về đề tài này.

Khi nhìn cô Susan, và thấy tai cô ta khá giống với một cái tai trong hộp: đường đinh ốc cùng một độ mỏng, tai trên cùng một độ cong, cái sụn bên trong cùng một độ ngoằn ngoèo.

Trên căn bản, hai lỗ tai rất giống nhau.

Tất nhiên, tôi nhận rõ tức khắc tầm quan trọng lớn lao của nhận xét này.

Rõ ràng nạn nhân là một người cùng dòng họ với cô Susan.

Tôi hỏi cô Susan về gia đình của cô thì được nghe các chi tiết mà anh vẫn còn nhớ đó.

Trước tiên, em gái kế của cô tên là Sarah, Susan và Sa- ra đã sống chung với nhau cho tới những ngày gần đây?

Đó chính là sự nhầm lẫn về địa chỉ trên bưu kiện.

Tiếp đến, chúng ta được nghe về anh Jim, lấy cô gái út, chúng ta được biết rằng có một dạo cô Sarah dọn nhà đến sống chung với gia đình chàng Jim.

Cách đây vài tháng, họ đã cắt đứt mọi liên lạc đến nỗi khi cần liên hệ với cô Sarah, Jim đã phải gởi đến địa chỉ cũ.

- Đến đây chúng ta thấy rõ vì sao anh chàng Jim dám từ bỏ mọi việc làm lương hậu để được sống gần vợ, lại thỉnh thoảng say túy lúy.

Chúng ta có đủ lý do để tin rằng vợ của Jim (tức cô Mary) đã bị giết cùng với một người đàn ông.

Ghen tuông có thể là động cơ chính của vụ giết người.

Nhưng tại sao kẻ giết người lại gởi bằng chứng tội ác đến cho cô Sarah Cushing?

Có lẽ vì khi sống tại Liverpool, cô ta đã xen vào các biến cố.

Anh nên để ý tuyến hải hành có dừng lại tại Belfast, Dublin và Waterford.

Nếu Jim phạm tội ngay trước khi lên tàu May Day, thì Belfast là điểm đầu tiên mà hắn có thể gởi các bưu kiện quỷ quái.

Tới giai đoạn này, rõ ràng chúng ta phải đưa ra một giả thiết thứ hai, dù tôi nghĩ rằng nó không vững lắm.

Một kẻ si tình bị xua đuổi có thể đã giết ông bà Jim và lỗ tai đàn ông là của Jim và lỗ tai đàn bà là của Mary.

Do đó, tôi đánh một bức điện cho bạn thân tôi là Aga, thuộc sở cảnh sát Liverpool, yêu cầu ông ấy kiểm lại xem bà Mary có ở nhà không, và ông Jim có lên tàu May Day không.

Kế đó chúng ta đi Wallington để viếng thăm cô Sarah.

Tôi hăm hở muốn biết xem cô này có cái lỗ tai giống chị mình không.

Ngoài ra, cô ấy có thể cung cấp cho chúng ta vài tin tức quan trọng.

May mắn thay, hồi âm bưu điện cho biết ba ngày nay, nhà bà Mary đóng cửa và những người láng giềng cho biết bà xuống miền Nam thăm hai người chị, trong khi đó sở hàng hải xác nhận rằng ông Jim đã xuống tàu May Day và chiều mai tàu này sẽ đến sông Thames.

Khi đến nơi, hắn sẽ bị Lestrade thộp cổ.

Khi đó chúng ta sẽ có đủ mọi chi tiết cần thiết.

Hai ngày sau, Holmes nhận được một phong bì lớn đựng một bức thư của viên thám tử và một tài liệu đánh máy gồm nhiều trang.

- Lestrade chộp hắn rồi - Holmes nói - Có lẽ anh cần biết thư nói gì?

Tôi đọc cho anh nghe.

Ông Holmes thân mến.

Thi hành kế hoạch mà chúng ta đã đề ra để kiểm chứng các giả thiết của chúng ta... (hai chữ "chúng ta" nghe ấm áp làm sao, phải không Watson), tôi đến bên Albert Dock chiều qua lúc 6 giờ và leo lên tàu May Day.

Sau khi dò hỏi, tôi phát hiện rằng trong thủy thủ đoàn có một nam tiếp viên tên là Jim.

Trong chuyến đi, người này xử sự bất bình thường.

Tôi xuống phòng hắn, và gặp hắn đang ngồi trên cái rương, hai tay ôm đầu, thân hình ngã tới ngã lui.

Đó là một người to cao, lực lưỡng, không râu, da sạm nắng.

Hắn nhảy dựng lên khi nghe tôi đọc lệnh bắt hắn.

Tôi đã đưa còi lên môi để cầu viện thì hắn sụm xuồng rồi lặng lẽ đưa cổ tay cho tôi còng.

Chúng tôi nhốt hắn vào xà lim tại sở, và có tịch thu cái khác của y, trong đó chỉ có một con dao to, theo thói quen của thủy thủ.

Lời khai của hắn được ghi bằng tốc ký và được đánh máy thành ba bản.

Chúng tôi gởi đến ông một bản.

Như tôi đã thấy ngay từ đầu, nội vụ đơn giản như trò chơi trẻ con, tuy nhiên đa tạ ông về sự giúp đỡ quý báu dành cho tôi.

Trân trọng kính chào.

Lestrade

- Hừ - Holmes nói - Nội vụ đơn giản như trò chơi trẻ con, nhưng chắc chắn ông ta đã không thấy như vậy lúc đến nhờ vả ta.

Cũng chả sao.

Bây giờ ta hãy xem Jim khai cái gì.

"Tôi thú nhận rằng tôi không sao nhắm mắt ngủ được nữa.

Thỉnh thoảng tôi thấy cái đầu của hắn, nhưng cái đầu của cô ta thì xuất hiện thường hơn.

Tôi không bao giờ còn cô độc nữa, họ luôn ở bên cạnh tôi.

Hắn thì ủ dột và nhăn nhó, còn cô ta thì luôn có cái nhìn kinh ngạc.

Tôi không muốn chạy tội đâu.

Nhưng tất cả đều do lỗi của Sarah, chị ruột của nàng.

Họ có ba chị em.

Chị cả là người đàng hoàng, tử tế.

Chị thứ nhì là một con quỷ sứ.

Cô em út là một thiên thần.

Sarah ba mươi ba tuổi.

Mary thì hai mươi chín khi lấy tôi.

Vợ chồng chúng tôi sống hoàn toàn hạnh phúc trong thành phố Liverpool.

Một ngày kia, vợ tôi mời Sarah đến ở một tuần rồi một tháng và cuối cùng thì ở luôn với vợ chồng chúng tôi.

Lúc đó, tôi không uống rượu.

Chúng tôi sống tiết kiệm và tương lai của vợ chồng chúng tôi sáng như một đồng Dollar.

Mỗi cuối tuần tôi đều ở nhà.

Khi nào tôi ra khơi trễ vì chờ chất hàng thì tôi nằm nhà cả tuần và tôi có dịp sống gần với chị vợ hơn.

Đó là một người đàn bà đẹp, cao lớn, tóc màu, linh hoạt, hung ác, với đôi mắt sáng quắc như lửa.

Nhưng khi có Mary một bên thì tôi chỉ còn biết có một mình nàng.

Tôi long trọng thề như thế.

Đôi khi tôi có để ý và thấy rằng Sarah muốn ở một mình với tôi, hoặc muốn tôi đưa đi chơi.

Một đêm nọ, tôi từ tàu trở về nhà và vợ tôi đi vắng, chỉ có Sarah ở nhà.

- Mary đi đâu?

- Tôi hỏi.

- Ồ, dì ấy đi trả tiền gì cho ai đó.

Tôi bồn chồn, đứng ngồi không yên.

- Dượng không thể cảm thấy hạnh phúc trong năm phút khi Mary đi vắng sao?

Anh chẳng nể mặt tôi chút nào khi không thể cảm thấy hài lòng với sự bầu bạn của tôi dù chỉ trong một chốc lát.

- Được rồi mà.

Tôi cả nể, đưa tay ra cho chị ta.

Tức thì chị ta ôm chặt lấy nó trong hai bàn tay bừng bừng sinh khí.

Tôi nhìn chị ta chòng chọc và chúng tôi hiểu hết, khỏi cần nói thành lời.

Tôi nhăn mặt và rút tay lại.

Chị ấy đứng sát tôi, không nói gì, rồi để tay trên vai tôi.

- Có sao đâu Jim - Chị ta nói với một nụ cười giễu cợt, rồi tung tăng ra khỏi phòng.

Khốn nạn là kể từ ngày đó.

Sarah ghét cay ghét đắng tôi.

Tôi thề là không nói ngoa.

Tôi đã ngu xuẩn để chị ấy tiếp tục sống chung với chúng tôi.

Đúng thế, tôi quả là một thằng ngu!

Tuy nhiên tôi không nói gì với Mary.

Sinh hoạt của chúng tôi vẫn diễn tiến như cũ.

Nhưng sau một thời gian, tôi nhận thấy Mary thay đổi, trước kia nàng rất ngây thơ, hoàn toàn tin tưởng vào tôi.

Giờ đây nàng trở nên kỳ dị, đa nghi.

Nàng muốn biết tôi đã đi đâu, làm gì, nhận thơ của ai, có gì trong túi và nàng đã giở một nghìn linh một trò xuẩn động khác.

Càng ngày, nàng càng quái dị, khó chịu hơn.

Vợ chồng cãi vã ồn ào chỉ vì một chuyện vớ vẩn.

Tôi chả hiểu gì cả.

Bấy giờ, Sarah thường tránh mặt tôi, nhưng hai chị em nàng thì gắn bó như bóng với hình.

Giờ đây tôi mới hiểu rằng lúc đó Sarah đầu độc vợ tôi, mưu phá gia đình tôi.

Tôi buồn, bắt đầu nhậu trở lại.

Thế là Mary có thêm một cái cớ để trách móc tôi và cái hố cách biệt giữa hai vợ chồng càng ngày càng sâu thêm.

Rồi sự xuất hiện của thằng thủy thủ Alec đã làm cho sự việc trở nên trầm trọng hơn nữa.

Hắn có tài kể chuyện.

Hắn thường xuyên đến nhà chúng tôi.

Tuy nhiên, một ngày nọ, một biến cố nhỏ làm tôi nghi ngờ và kể từ đấy tôi mất hắn sự an tâm.

Hôm đó, tôi đột ngột trở về nhà.

Khi đẩy cửa vào phòng khách, tôi thấy mặt vợ tôi đầy nét hân hoan.

Nhưng khi biết người bước vào nhà là tôi, thì nàng sa sầm mặt lại, im lặng, quay đi một cách thất vọng.

Thế là đã quá rõ, chỉ có Alec mới có bước đi giống tôi.

Nếu gặp hắn lúc đó, tôi sẽ giết hắn ngay.

Nhìn thấy ngọn lửa giận hờn trong cặp mắt của tôi, Mary chạy tới để tay lên vai tôi:

- Đừng, Jim, đừng.

- Sarah đâu rồi?

- Tôi hỏi.

- Dưới bếp.

- Sarah!

- Tôi nói lớn bước vào bếp - Từ nay thằng Alec không được phép bước vào nhà tôi nữa.

Con quỷ cái Sarah kinh ngạc nhìn tôi:

- Tại sao.

- Không được hỏi.

Đó là lệnh của tôi!

- Ồ, nếu các bạn thân của tôi không xứng đáng vào nhà này, thì cả tôi cũng không xứng đáng.

- Chị muốn gì tùy ý, nhưng nếu thằng đó mà vào đây một lần nữa, tôi sẽ gởi cho chị một cái lỗ tai kỷ niệm.

Ngay đêm đó, Sarah rời nhà tôi.

Nhưng chị ta dọn ra cách nhà tôi không bao xa và cho giới thủy thủ mướn phòng.

Alec tới đó đều đặn và Mary qua lại đó với chị mình.

Vợ tôi đến đó bao nhiêu lần, tôi không biết.

Có một lần, tôi rình theo và khi tôi bước vào nhà thì Alec trèo tường thoát thân.

Tôi nói với vợ tôi rằng tôi sẽ giết chết nàng nếu nàng tái phạm.

Sau đó, tôi dẫn nàng về nhà.

Mary khóc nức nở, mặt trắng như giấy.

Từ đó Mary lại càng ghét tôi.

Sự tuyệt vọng khiến tôi càng uống rượu nhiều và nàng càng kinh miệt tôi.

Đúng vào lúc đó, Sarah quay về sống chung với chị cả tại Croydon.

Thời gian êm ả trôi qua cho tới tuần rồi là lúc khởi đầu sự đổ nát.

Tôi lên tàu May Day để đi một tuần.

Nhưng vì tàu trục trặc, tôi phải trở về cảng trong mười hai giờ.

Tôi về nhà hy vọng thấy Mary tươi cười.

Nhưng khi tôi quẹo vào đường tối, tôi gặp một chiếc xe ngựa chạy ra và vợ tôi ở trong đó, bên cạnh có Alec.

Cả hai người đùa to tiếng, chúng không ngờ tôi đang quan sát chúng từ bên kia đường.

Tôi thú thật rằng từ lúc đó, tôi mất hẳn sự tự chủ.

Tôi chạy bộ đuổi theo chiếc xe ngựa, trên tay là một khúc gỗ sồi.

Nhưng trong khi chạy, tôi nghĩ ngợi và giảm tốc độ để quan sát đôi gian phu dâm phụ.

Chúng dừng lại tại ga.

Ở các ghi-sê người ta chen nhau.

Tôi có thể chen vào gần mà chúng không hay.

Chúng mua vé đi New Brighton.

Tôi cũng đi.

Tôi leo lên toa thứ ba sau toa của chúng.

Tại Brighton, chúng đi dạo trên bờ biển.

Tôi theo sau chúng hai trăm thước.

Cuối cùng tôi thấy chúng thuê một chiếc tàu, có lẽ chúng đi hóng mát.

Trời có sương mù nhẹ.

Cách nhau vài trăm thước không thấy nhau.

Tôi cũng thuê một chiếc xuồng và chính tôi chèo lấy.

Theo làn nước, tôi thấy xuồng của chúng tách bến.

Khi ra khỏi bờ khoảng một nghìn năm trăm mét, sương mù phủ kín, chỉ có ba chúng tôi giữa biển cả mênh mông.

Tôi không bao giờ quên khuôn mặt của chúng khi nhận ra người chèo xuồng sát bên.

Mary thét lên.

Anh chàng chỉ chửi thề như thằng điên và toan dùng chèo đập tôi.

Tôi né được và nện cho y một chèo nát đầu.

Tôi chừa cô ấy ra, dù cô ấy dâm loạn.

Nhưng khi ả ôm lấy thằng dâm phu, kêu lên: Alec!

Tôi điên người, nện cho ả một chày.

Cô ả gục bên cạnh.

Như một con thú dữ say máu.

Tôi rút dao ra.. vậy đó, tôi khai báo khá đủ.

Tôi cảm thấy một niềm hân hoan man dại khi tôi nghĩ tới lúc Sarah nhận món quà phục thù thâm độc của tôi.

Rồi tôi cột hai xác chết vào xuồng, gỡ một miếng ván ở đáy thuyền chờ cho đôi gian phu dâm phụ chìm sâu xuống đáy biển.

Tôi dự đoán rằng chủ xuồng sẽ cho là chúng đi lạc trong sương mù và phiêu dạt đâu đó ngoài đại dương.

Tôi lau chùi, chèo vào bờ, trở về tàu.

Đêm đó tôi chuẩn bị cái bưu kiện gởi cho Sarah Cushing.

Xong rồi.

Tôi đã nói hết sự thật.

Ông có thể treo cổ tôi ngay!

Tôi đang đau khổ, vì cứ mỗi lần nhắm mắt là trông thấy hai khuôn mặt đó.

Họ nhìn tôi với những cặp mắt hốt hoảng, như lúc họ chợt thấy tôi trong sương mù.

Tôi đã giết họ nhanh chóng, nhưng họ lại giết tôi từ từ.

Lại một đêm nữa.

Tôi sẽ chết hoặc phát điên trước khi trời sáng.

Lạy các ông đừng để tôi một mình trong xà lim.

- Ý nghĩa của toàn câu chuyện này là gì vậy, anh Watson - Holmes để xấp tài liệu xuống bàn, rồi trịnh trọng hỏi tôi.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
E4 Các bản vẽ tàu ngầm Bruce Partington


CÁC BẢN VẼ TÀU NGẦM BRUCE PARTINGTON

THE ADVENTURE OF THE BRUCE-PARTINGTON PLANS (1908)

His last bow

Cung đàn sau cuối

Trong tuần lễ thứ ba của tháng 2 năm 1895, một làn smù vàng dày đặc phủ lên London.

Từ thứ hai cho tới thứ năm, đứng tại các cửa sổ của đường Baker không thể nào thấy dãy nhà trước mặt.

Holmes đã sử dụng ngày đầu tiên của tuần đó để tham khảo một số tài liệu và hai ngày sau được dành cho đề tài: "Âm nhạc thời Trung cổ".

Nhưng vào ngày thứ tư, sau điểm tâm, anh thấy rằng liên tiếp mấy ngày qua, các cuộn sương mù nhớp nhúa xám xịt nặng nề đang lửng lơ trên đường phố, vẫn còn đọng lại thành từng giọt nhờn nhợt trên các cửa kính, thì cái tính dễ nổi nóng của anh bộc phát.

Anh bước sải trong phòng khách nhỏ bé, cắn móng tay, vấp chân vào đồ gỗ, nguyền ̉a sự rảnh rỗi.

- Báo chí không có tin gì hả Watson?

Tôi thừa biết rằng đối với Holmes, hai chữ "tin gì" có nghĩa là "tin về hình sự".

Hôm đó có đăng tin về một cuộc cách mạng, về một cuộc chiến có thể bùng nổ, về các lời đồn đại rằng chính phủ sẽ đổ.

Các tin tức loại này nằm ngoài phạm vi của Holmes.

Ở mục tin vặt, không mẩu tin nào đáng được lưu ý.

Holmes than thở rồi tiếp tục sải bước qua lại.

- Bọn tội phạm hình sự ở London thật là ngu.

Anh Watson, hãy nhìn qua cửa sổ mà xem.

Đâu thấy mặt người rõ ràng?

Trong sương mù dày đặc này, một thằng ăn cướp hay một thằng giết người có thể đi ngang dọc tại thủ đô như cọp giữa rừng già nhiệt đới.

Con mồi chỉ hay biết sau khi đã nằm trong nanh vuốt.

- Có nhiều vụ trộm vặt.

- Tôi nói.

Holmes hít hít một cách miệt thị:

- Cái sân khấu vĩ đại với ánh sáng bệch bạc, thuận lợi cho những vở kịch hay hơn ngàn lần.

Xã hội có diễm phúc khi tôi không có tính cướp bóc.

- Quả thật là một diễm phúc.

- Thí dụ tôi là một trong đám giang hồ tứ chiếng thì London chết với tôi.

Chỉ cần tung ra một giấy mời giả, hoặc một câu hẹn láo là xong.

May mắn sao các xứ Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... nơi mạng người được xem như cỏ rác, không có nạn sương mù này, chắc ta sẽ thoát khỏi cái đơn điệu chết người này.

Người làm bước vào với một bức điện tín.

Holmes mở ra và cười lớn:

- Ngày của những phép lạ - Holmes nói - Anh Mycroft sẽ đến.

- Sao lại gọi là phép lạ?

- Tại sao ư?

Như thể bạn gặp một xe lửa điện chạy trên một đường mòn ở đồng quê.

Mycroft có đường ray riêng mà anh ấy không bao giờ rời chúng.

Cái căn hộ tại Pall Mall, cái câu lạc bộiogène, Văn phòng nội các là các t́n xe lửa điện của anh.

Chỉ có một lần anh ấy đến đây.

Hôm nay tai họa gì đã khiến anh ấy tới đây?

- Anh ấy không giải thích sao?

Holmes đưa cho tôi bức điện tín.

"Muốn gặp em về vụ Cadogan West.

Anh sẽ đến, Mycroft".

- Cadogan West?

Cái tên này gợi lên cho tôi điều gì?

- Đối với tôi cũng chả gợi lên tý gì cả.

Nhưng trước sự kiện Mycroft phá lệ, anh có thấy tôi rối bời không?

Thực ra, anh có biết Mycroft là ai không?

- Tôi có biết anh ấy khi chúng ta giải quyết vụ "Người thông ngôn Hy Lạp".

Anh có nói rằng Mycroft có một chức vụ nhỏ trong guồng máy nhà nước.

Holmes mỉm cười:

- Lúc đó tôi chưa quen anh nhiều, nên phải giữ miệng.

Anh đúng khi tin rằng anh ấy là viên chức.

Nhưng anh cũng không sai khi nói rằng lúc ấy bản thân Mycroft là Nhà nước Anh quốc.

- Khiếp thật!

- Mycroft lĩnh lương 450 bảng một năm, là người tuyệt đối không có tham vọng gì.

Mycroft không chức tước gì, nhưng lại là người rất cần thiết cho đất nước.

- Bằng cách nào?

- Vị trí của Mycroft là vô song.

Trên đời này, anh ấy đặc biệt có bộ nhớ phi phàm.

Các kết luận của các Bộ được đệ trình mỗi ngày.

Anh ấy là bộ phận đầu não điều tiết, tổng hợp các thông tin đó.

Một ông bộ trưởng cẩn nhận xét một thông tin liên quan tới hải quân Ấn Độ, Canada?

Với tài liệu cung cấp chỉ có Mycroft mới có khả năng nhìn tổng thể và giải thích ngay sự tác động của các yếu tố.

Sơ khởi anh ấy được sử dụng như một công cụ để tiết kiệm thời gian.

Nhưng hiện thời anh ấy đã trở nên tối cần.

Trong đầu anh ấy, mọi việc được xếp theo thứ tự hẳn hoi.

Khá nhiều việc phải chờ ý kiến của anh ấy rồi mới quyết định.

Anh ấy sống trong chính giới.

Anh ấy không hề phân tâm vào chuyện nào khác trừ phi để đấu trí cho vui.

Thỉnh thoảng anh ấy cũng xen vào vài vấn đề lặt vặt của Hôm nay là ngày Thượng đế giáng trần, không biết Mycroft cần gì ở tôi?

Cadogan West là ai?

Liên quan gì đến Mycroft?

- Tôi biết rồi!

- tôi kêu lên sau khi lục lọi chồng báo - Đúng rồi, chính y.

Cadogan West là chàng thanh niên đã chết sáng thứ ba trong xe điện ngầm.

Holmes sững người, lắng nghe.

- Chắc chắn là chuyện quan trọng, Watson à.

Một cái chết, buộc anh tôi phải thay đổi thói quen thì tất nhiên không thể là cái chết bình thường.

Chắc nó có liên quan với anh ấy.

Nội vụ là tầm thường, nếu tôi nhớ không lầm.

Anh chàng từ xe điện ngầm ngã xuống.

Không hề bị mất mát gì, nên không có lý do để ngờ vực có chuyện đen tối, đúng không Watson?

- Một cuộc điều tra đã tiến hành và đã phát hiện thêm những dữ kiện mới mẻ.

Xem kỹ lại thì thấy đó là chuyện khá lạ kỳ - Tôi đáp.

- Căn cứ vào tác động của nó đối với anh tôi, tôi đồng ý rằng nó không phải là chuyện vặt vãnh.

Holmes thu mình lại trong ghế bành.

- Nào Watson, các dữ kiện mới là những gì?

- Arthur Cadogan West, 27 tuổi, độc thân, thư ký tại xưởng hải quân Woolwich.

- Viên chức?

Hèn chi liên quan tới Mycroft.

- Anh ta đột ngột rời Woolwich vào tối thứ hai.

Cô Violet Westbury, vị hôn thê của anh ta, là người gặp anh ta cuối cùng.

Anh ta từ giã cô ấy một cách đột ngột lúc 7 giờ 30 trong sương mù.

Họ không hề cãi nhau.

Hiện cô ấy chả hiểu ra làm sao cả, chỉ biết rằng xác anh ta được một công nhân xe điện ngầm phát hiện gần ga Aldgate.

- Hồi mấy giờ?

- Xác được phát hiện vào 6 giờ sáng thứ ba, nằm bên trái, xa đường sắt, tuyến phía đông gần xe, ở nơi kết thúc đường hầm.

Đầu bị vỡ, có thể do bị ngã.

Nếu xác được khiêng trong đường phố gần đó ra, thì nó đã phải đi qua cửa người bấ đứng, điều này khá rõ.

- Rất tốt.

Chuyện khá rõ.

Xô ngã hoặc bị quăng xác từ tàu xuống.

Cứ tiếp tục?

- Các tàu chạy gần đó từ Tây sang Đông có chuyến thuộc loại nội thành, có chuyến từ Willesden hay ngoại thành vào.

Có thể đoán chắc rằng khi rơi xuống, anh chàng này đi hướng Tây Đông vào lúc khá khuya.

Tuy nhiên khó xác định anh ta lên tàu lúc mấy giờ.

- Thì xem trên vé.

- Anh ta có vé đâu?

- Không có vé?

Đó mới là điều cực kỳ dị thường.

Không ai có thể vào bến xe điện ngầm mà không có vé.

Như vậy thì rất có thể anh chàng này có vé đàng hoàng, nhưng bị lấy đi để che giấu tên ga mà anh ta lên tàu.

Đó là một giả thiết.

Anh ta đã làm rơi trên toa, đó là giả thiết thứ hai.

Nhưng có một chi tiết lạ, hình như anh ta không bị lấy cắp gì phải không?

- Không, đây là danh sách đồ vật tìm thấy trong người nạn nhân: cái ví với 2 bảng 15, một cuốn chi phiếu do chi nhánh Woolwich của Nân hàng Capital & Counties phát hành.

Chính nhờ cuốn chi phiếu này mà nhận diện được.

Còn có hai vé hát của đêm đó là một gói tài liệu kỹ thuật.

Holmes lớn tiếng biểu lộ sự hài lòng:

- Chúng ta có tất cả.

Nhà nước Anh, hải quân công xưởng Woolwich, tài liệu kỹ thuật, anh Mycroft của tôi.

Dây chuyền khép kín.

Nhưng anh ấy đã tới kia, nếu tôi không lầm.

Một giây đồng hồ sau, chúng tôi đón Mycroft Holmes to lớn và oai phong, có cái trán kẻ cả, đôi mắt sắt thép linh hoạt, đôi môi thật là cương nghị.

Theo gót ông là thám tử Lestrade.

Chẳng nới chẳng rằng, viên thám tử bắt tay chúng tôi.

Mycroft Holmes cởi áo choàng và thả mình trên ghế bành.

- Một vụ vô cùng bực bội, Sherlock à.

Anh không thích thay đổi thói quen.

Tuy nhiên anh thấy cần phải đến đây?

Chưa bao giờ anh thấy Thủ tướng bối rối đến thế.

Còn tại Bộ tư lệnh hải quân họ cãi nhau như mổ bò.

Chú đã đọc báo chứ?Vừa đọc xong.

Mà tài liệu kỹ thuật gì vậy?

- À, cái chết là ở chỗ đó.

May thay, chưa tiết lộ chính xác.

Nếu biết, báo chí đã làm om sòm.

Tài liệu ở trong túi người thanh niên là các bản vẽ của tàu ngầm Bruce Pardington.

Mycroft Holmes đã nói với giọng trịnh trọng để nhấn mạnh tầm quan trọng của tài liệu.

- Các bản vẽ này có tầm quan trọng sinh tử trong tất cả các bí mật của Nhà nước.

Cách đây hai năm, một số tiền kếch xù được trích từ ngân sách quốc gia để mua độc quyền sáng chế.

Mọi biện pháp đã được áp dụng để giữ bí mật cho công việc.

Các bản vẽ cực kỳ rắc rối, được để trong một tủ sắt vô cùng chắc chắn trong một văn phòng gần công xưởng hải quân; các cửa lớn và cửa sổ đều bất khả xâm phạm.

Với bất cứ lý do nào, các bản vẽ này đều không được rời văn phòng đó.

Dù kỹ sư trưởng của hải quân có muốn tham khảo, cũng phải tới văn phòng này tại Woolwich.

Nhưng dù kỹ lưỡng đến thế, các tài liệu đó vẫn bị lọt vào túi một thư ký trẻ.

Về phương diện Nhà nước, chuyện này quả là nhục nhã.

- Lấy lại được rồi mà?

- Không!

Đâu có lấy lại được.

Trong 10 bản vẽ bị trộm tại Woolwich có 7 cái trong túi của Cadogan West.

Còn ba cái quan trọng nhất thì mất hút.

Sherlock à, chú phải dẹp mọi chuyện để lo việc này!

Suy đoán vặt vãnh các vấn đề linh tinh đâu có lý thú gì.

Chú phải giải đáp câu hỏi tại sao Cadogan West ăn cắp các bản vẽ?

Các bản vẽ bị thiếu bây giờ ở đâu?

Hắn chết trong trường hợp nào?

Xác hắn được đưa tới điểm đó bằng cách nào?

Hãy giải đáp các câu hỏi đó!

Tổ quốc sẽ ghi công chú.

- Tại sao anh không tự giải quyết lấy?

Anh có tầm nhìn xa hơn em.

- Có thể, nhưng trước tiên phải thu gom các yếu tố chi tiết.

Chú cung cấp cho tôi các tin tức này.

Tôi sẽ ngồi tại ghế bành mà tổng hợp.

Chạy đây, chạy đó, thẩm vấn các công nhân, nói năng lộn xộn, bò sát mặt đất, khám nghiệm này nọ bằng kính lúp... không phải là nghề của anh.

Chú là người độc nhất có thể xoay xở để giải quyết vụ này.

Rất có thể, chú sẽ có tên trong bảng phong tước quý tộc kỳ tới...

Holmes mỉm cười và đầu:

- Nếu em tham dự trò chơi này, thì chỉ vì thích nó, vì đầu đề của bài toán do anh đề ra có những dữ kiện lý thú.

Em sẵn sàng đảm nhận, anh vui lòng cho thêm vài yếu tố phụ.

- Trên tờ giấy này có vài yếu tố thiết yếu, cũng có kèm theo địa chỉ cần dùng.

Người quản lý các tài liệu này là ngài James Walter.

Ông có thâm niên cao, lại là một nhà quý tộc được trọng vọng tại thủ đô.

Lòng ái quốc thì không ai nghi ngờ được.

Ông là một trong hai người có chìa khóa tủ sắt đó.

Tôi có thể nói thêm rằng các bản vẽ chắc chắn nằm trong văn phòng vào giờ làm việc từ sáng thứ hai và ngài James quay về London khoảng 3 giờ, mang theo chìa khóa.

Suốt buổi tối hôm bị đánh cắp, ông lưu lại nhà đô đốc Sinclair ở quảng trường Barclay.

- Sự kiện có được kiểm chứng không?

- Có!

Đại tá Valentine Walter, em ruột của ngài James, đã làm chứng cho việc ông rời khỏi Woolwich.

Còn đô đốc Sinclair thì làm chứng cho đêm ở London.

Ngài James không còn là một yếu tố trực tiếp trong vấn đề.

- Ai giữ cái chìa khóa kia?

- Ông Sidney Johnson, thư ký cao tuổi nhất chuyên về vẽ.

Bốn mươi tuổi, có vợ, 5 con, ít nói, khó chịu, nhưng được xem là một công chức mẫu mực.

Đồng nghiệp không ưa có lẽ vì ông làm việc rất nghiêm.

Ông ấy đã khai và lời khai này chỉ được xác nhận bởi vợ ông, rằng ông không rời khỏi nhà vào tối thứ hai, sau khi từ văn phòng về và chìa khóa của ông đã không hề rời khỏi dây đeo đồng hồ.

- Anh hãy nói về Cadogan West.

- Thâm niên 10 năm và được tiếng tốt.

Anh ta nổi tiếng là người sôi động và nóng nảy, nhưng được tiếng là người chính trực và thanh liêm.

Chúng tôi không phiền trách gì về anh ấy.

Tại văn phòng, anh ấy là phụ tá của Sidney Johnson.

Mỗi ngày anh ta phải đích thân sắp xếp các bản vẽ, không một người nào khác được phép động tới chúng.

- Tối hôm đó ai đã cất các bản vẽ trong tủ sắt?

- Sidney Johns

- Như vậy thì nói tên người ta ăn trộm đâu phải là chuyện khó.

Tài liệu được tìm thấy trong người của Cadogan West, điều đó có vẻ là dứt khoát rồi phải không?

- Holmes nói.

- Đúng.

Nhưng giả thiết này bác lại nhiều điều trong bóng tối.

Trước hết, tại sao hắn ăn cắp chúng?

- Mycroft nói .

- Vì tiền, đúng không?

- Hắn có thể kiếm ra mấy ngàn bảng Anh một cách dễ dàng.

- Anh có thể đưa ra cho em một giải thích khác không?

- Không.

- Vậy thì phải chọn giả thiết của em: Cadogan West đánh cắp tài liệu, bằng cách sử dụng một chìa khóa giả.

- Như vậy phải dùng nhiều chìa khóa giả.

Vì phải mở cả cửa tòa nhà, cửa phòng nữa.

- Như vậy là y có nhiều chìa khóa đôi.

Y ăn cắp tài liệu, đem lên London bán cái bí mật của đề án, rồi thu hồi, đem trả về tủ sắt vào sáng sớm hôm sau, để không ai hay biết .

Chúng ta giả thiết rằng trên đường đi về Woolwich, hắn bị giết và bị ném khỏi toa.

- Ga Aldgate là nơi ta tìm thấy xác hắn.

Ga này nằm chệch xa ga London Bridge trên lộ trình bình thường để đi Woolwich.

- Chúng ta có thể tưởng tượng một ngàn lý do khiến y bỏ qua ga London Bridge.

Thí dụ y có thể say sưa nói chuyện với một người ngồi cùng toa: một cuộc nói chuyện có kết cục đưa tới cái chết, có thể y có mưu toan rời khỏi toa, bị ngã ra khỏi tàu và người đối thoại đóng cửa lại.

Sương mù dày đặc nào ai trông thấy gì đâu.

- Dựa vào những gì chúng ta đang có, không có lối giải thích hay hơn.

Tuy nhiên, Sherlock, chú hãy suy nghĩ lại xem, chú có bỏ sót yếu tố nào không.

Có thể, vì cần thảo luận sâu thêm, anh chàng Cadogan West quyết định mang mớ tài liệu đó lên London.

Tất nhiên hắn đã có cuộc hẹn với một điệp viên người nước ngoài.

Đằng này hắni vé xem hát, cùng đi với vị hôn thê được nửa lộ trình, rồi mới biến mất .

- Đó là hắn ngụy trang.

- Lestrade nói xen vào, tỏ ra bồn chồn trước cuộc thảo luận giữa hai anh em.

- Một sự giả đò khá dị thường, tôi đã đưa ra nhận xét thứ nhất.

Và đây là nhận xét thứ hai: nếu như anh ta có đến London và có gặp điệp viên nước ngoài, thì anh ta phải thu hồi các bản vẽ trước sáng hôm sau, nếu không thì bị bại lộ.

Anh ta đã lấy cắp mười, nhưng chỉ còn có bảy cái trong túi.

Vậy ba cái kia đâu?

Chắc chắn anh ta không dễ dãi trước sự mất mát này.

Ngoài ra tiề thưởng đâu?

Lẽ ra phải có một số tiền kếch xù trong túi hắn.

- Đối với tôi thì mọi sự đều sáng tỏ như ban ngày.

- Lestrade nói.

- Hắn đánh cắp bản vẽ để bán, đã gặp điệp viên.

Hai bên mặc cả chưa xong, hắn bỏ đi nhưng điệp viên nước ngoài lại đi theo.

Trên xe điện, người này ám sát hắn, cướp lấy các tài liệu quan trọng nhất và ném hắn khỏi toa xe.

Giả thiết này giải thích êm xuôi nhất.

- Tại sao anh ta không có vé lên tàu?

- Vé sẽ tiết lộ tên cái ga gần nhà điệp viên nhất.

Do đó người ta lấy và thủ tiêu rồi!

- Giỏi, Lestrade rất giỏi - Holmes khen - Giả thiết của anh đứng vững đó.

Nhưng nếu giả thiết đó đúng thì nội vụ được xếp lại.

Tên phản bội đã chết, và các bản đồ của tàu ngầm Bruce Pardington có lẽ hiện nằm bên kia bờ biển Manche.

Ta còn làm cái gì nữa?

- Còn các hành động!

- Mycroft la lớn và đứng dậy.

- Trực giác của tôi bác bỏ giả thiết trên.

Chú hãy vận dụng cái biệt tài của chú.

Hãy ra hiện trường!

Hãy hỏi thăm các nhân chứng.

Trong suốt đường danh vọng của chú, chưa bao giờ chú có một cơ hội tốt hơn để phục vụ đất nước!

- Được!

- Holmes nói và nhún vai - Bọn em sẽ lên đường ngay.

Còn Lestrade, ông vui lòng đi theo chúng tôi.

Trong một hoặc hai giờ, chúng ta sẽ bắt đầu thăm ga Aldgate.

Tạm biệt Mycroft.

Em sẽ gửi cho anh một báo cáo vào tối nay, nhưng em nói trước, đừng hy vọng nhiều.

Một giờ sau, Holmes, Lestrade và tôi đứng trên đường xe điện ngầm, tại đó nó ra khỏi đường hầm, ngay lối vào ga Aldgate.

Một ông lão lễ độ thay mặt cho công ty tiếp chúng tôi.

Ông nói:

- Đây là chỗ tử thi nằm.

Anh ta không thể từ trên kia rơi xuống được, bởi vì có tường cao mà.

Chỉ có thể rơi từ tàu và theo chúng tôi đoán là chuyến tàu 12 giờ đêm thứ hai.

- Các toa đã được khám nghiệm chưa.

Có vết tích của sự ẩu đả không?

- Không có vết tích đánh đấm gì cả, cũng không tìm ra vé tàu của anh ta.

- Có thấy một cửa lớn hãy còn mở không?

- Không!

- Sáng nay có thêm một nhân chứng mới.

- Lestrade nói - Một hành khách đi chuyến tàu ngang qua Aldgate lúc 11 giờ 40 tối thứ hai, khai rằng ông ta có nghe một tiếng "bịch" do một vật nặng rơi như xác người rơi xuống đất ngay trước khi tàu đến ga.

Ngay lúc ấy, vì sương mù dày đặc nên không thấy được gì.

Ông ấy chả khai báo gì cả.

Nào, ông nghĩ gì đó, ông Holmes?

Holmes đang nhìn đăm đăm đường ray vòng cng khi ra khỏi đường hầm.

Tuyến đi Aldgate là một cái nhánh nên có bộ phận bẻ ghi.

Giờ đây cái nhìn soi mói của anh chăm chăm vào cái bộ phận bẻ ghi.

Trên khuôn mặt nhọn và nhạy cảm của anh, tôi thấy miệng anh co lại, lỗ mũi run nhẹ, trán nhăn.

Anh nói thật khẽ.

- Bộ phận bẻ ghi.

Hừm, bộ phận bẻ ghi.

- Sao?

Ông nói gì?

- Hình như trên tuyến này không có nhiều bộ phận bẻ ghi?

- Đúng, ít lắm.

- Đồng thời là một khúc quanh.

Vừa có bẻ ghi vừa có khúc quanh.

Khá đơn giản.

- Sao, ông Holmes, ông đã thấy gì?

- Một ý tưởng thôi.

Tuy nhiên nội vụ trở thành hấp dẫn tột độ, nhất vô nhị!

Quả vậy, tại sao lại không có vết máu trên đường.

- Gần như là không!

- Nhưng nó là vết thương trầm trọng mà!

- Xương vỡ, nhưng vết thương bên ngoài thì không đáng kể.

- Dù sao, tôi vẫn đoán phải có vết máu.

Ta xem qua cái toa?

- Không được đâu, ông Holmes à.

Đoàn tàu đã tháo ra, các toa đã phân phối qua các tàu khác.

- Ông Holmes, - Lestrade xen vào - Các toa đã được khám nghiệm kỹ lưỡng rồi.

Tôi thân hành giám sát mà.

Holmes có cái khuyết điểm lớn là anh chịu đựng không được khi thấy người khác không sâu sắc bằng mình.

- Có lẽ là như vậy.

Không phải tôi muốn nhìn qua các toa đâu.

Watson, thôi đi.

Chúng ta không còn việc gì ở đây.

Ông Lestrade, tôi cho rằng cuộc điều tra của chúng tôi sẽ tiếp tục tại Woolwich.

Tại London Bridge, Holmes thảo một điện tín cho Mycroft.

Anh đưa cho tôi xem trước khi gửi: "Một ánh sáng lập lòe trong đêm đen, nhưng có thể tắt.

Trong khi chờ đợi, yêu cầu sai người làm cho em bản danh sách đầy đủ các điệp viên ngoại quốc nổi tiếng tại Anh cùng với các địa chỉ đầy đủ của họ.

Sherlock".

Khi ngồi trên xe lửa đi Woolwich, anh ấy nói với tôi:

- Watson à, dù việc gì xảy ra đi nữa, chúng ta cũng phải cảm ơn Mycroft đã cho chúng ta tham dự vào một vụ hứa hẹn có nhiều hấp dẫn.

Cái khuôn mặt nhọn của Holmes thể hiện một năng lực cao độ khi một yếu tố mới kích thích trí thông minh của anh.

Tôi nghĩ đến con chó trong chuồng: tai xẹp, đuôi quặp.

Vậy mà nó chạy trên đường săn mồi thì mắt sáng quắc, các thớ thịt dài, căng phồng.

Kể từ sáng nay, một sự thay đổi đã diễn ra trong Holmes.

Anh nói:

- Có chất liệu, có phạm vi hoa.

Tôi quả ngu dại vì đã không thấy ngay các khả năng của nội vụ.

- Cho tới giờ này, tôi chả thấy gì cả.

- Nên nhớ là tôi chưa thấy toàn bộ đâu, nhưng tôi hiện đi trên một đường mòn đầy triển vọng.

Người thanh niên bị giết ở một nơi khác, và xác chết nằm trên mui tàu.

- Trên mui ư?

- Lạ lắm phải không.

Có phải ngẫu nhiên mà xác chết được phát hiện ngay chỗ tàu chuyển mình và hơi nghiêng vì đang đi vòng tại bộ phận bẻ ghi?

Có phải đó là nơi dễ dàng nhất để một vật gì đó trên mui tàu phải rơi xuống?

Qua vấn đề các vết máu, nếu xác bị mất máu ở chỗ khác, thì tất nhiên không còn đủ máu để rơi rải trên đường ray.

Một yếu tố tự một mình nó cũng đã có nhiều ý nghĩa, phải không?

Kết hợp nhiều cái như vậy lại, chúng càng có nhiều ý nghĩa hơn.

- Chúng cũng giải thích sự thiếu vắng của vé tàu?

- Tôi nói lớn.

- Đúng thế!

Rất ăn khớp với nhau.

- Dù vậy, chúng ta cũng chưa thấy gì sáng tỏ.

Lời giải thích của anh làm cho các sự việc trở nên dị thường hơn.

- Có thể lắm!

- Holmes đồng ý, vẻ mặt đăm chiêu.

Holmes rơi vào một trạng thái trầm cảm cho tới khi tàu ngừng lại ga Woolwich.

Anh gọi một xe ngựa rồi rút trong túi ra tờ giấy của Mycroft.

- Chiều nay chúng ta phải đi thăm vài nơi.

Người đầu tiên là ngài James.

Viên chức nổi tiếng này ngụ trong một biệt thự đẹp có bồn cỏ chạy dài xuống tận sông Thames.

Khi chúng tôi đến, thì sương mù tan và ánh sáng yếu ớt của mặt trời đã chiếu rạng.

Một quản gia ra mở cửa.

- Ngài James đã từ trần sáng nay.

- Chúa ơi!

- Holmes kinh ngạc nói lớn.

- Ông ấy chết như thế nà

- Kính mời ông vào nhà gặp người em của ngài, đại tá Valentine.

- Vâng.

Chúng tôi được đưa vào một phòng khách không sang lắm.

Một lúc sau, chúng tôi được tiếp chuyện với một người khoảng 50 tuổi, cao lớn đẫy đà, cằm được tô điểm bằng một vòng râu đỏ hoe!

Đó là người em út của ông kỹ sư vĩ đại.

Đôi mắt hung tợn, đôi má lởm chởm những râu cạo xát, đầu tóc không chải, biểu lộ sự đau đớn đã giáng xuống cái gia đình này.

Ông nói đứt đoạn:

- Tại vụ tai tiếng ghê tởm đó.

Anh tôi có ý thức danh dự bén nhạy nên không thể trây mặt lâu hơn.

Tim ông tan nát, ông luôn hãnh diện vì sự phục vụ của mình, ông không chịu nổi sự chấn động.

- Trước đây, chúng tôi hy vọng ông ấy có thể cung cấp cho vài chỉ dẫn giúp giải quyết câu chuyện.

- Tôi tin chắc rằng anh ấy cũng chẳng hiểu gì nhiều, cũng như ông và tất cả mọi người.

Anh ấy đã thông báo cho cảnh sát tất cả những gì anh ấy biết.

Tất nhiên anh ấy tin chắc rằng Cadogan West có tội.

Phần còn lại hoàn toàn nằm ngoài sự hiểu biết của anh ấy.

- Ông không thể cung cấp cho chúng tôi một tin tức nào đem thêm ánh sáng mới cho nội vụ?

- Tự thân tôi không biết gì, ngoài những gì đã đọc hoặc nghe.

Tôi xin lỗi, xin ông thông cảm cho hoàn cảnh chúng tôi hiện giờ.

Tôi xin phép được coi cuộc nói chuyện này chấm dứt tại đây.

Trên đường về bằng xe ngựa, Holmes nói với tôi:

- Đây là một diễn biến hoàn toàn bất ngờ.

Tôi không biết rằng đây có phải là cái chết tự nhiên hay ông này đã tự sát.

Trong trường hợp thứ nhì, chúng ta có thể suy đoán rằng ông ấy hối hận vì đã sơ sót.

Ngay bây giờ, chúng ta hãy qua gia đình Cadogan West.

Ở ven ranh thành phố, một ngôi nhà bé nhỏ tươm tất che chở một bà mẹ lâm cảnh tang tóc.

Bà cụ bất hạnh này chả giúp đỡ chúng tôi được gì cả.

Cạnh bà có c mặt tái xanh, tự giới thiệu là Violet Westbury, hôn thê của chàng trai và là người cuối cùng đã gặp nạn nhân.

- Tôi chả hiểu gì cả, ông Holmes ạ.

Kể từ khi thảm kịch xảy ra, tôi có chợp mắt được đâu.

Tôi chỉ suy nghĩ ngày lẫn đêm.

Cadogan West là người trung thực, nghĩa hiệp và ái quốc nhất trên đời.

Anh ấy có thể tự chặt tay mặt hơn là bán một bí mật quốc gia.

Tất cả những ai quen biết anh ấy đều cho rằng nghi ngờ anh ấy là điều phi lý.

- Nhưng mà các dữ kiện sờ sờ ra đó, thưa cô Westbury.

- Tôi không thể hiểu được?

- Ông ấy cần tiền?

- Không đâu, anh ấy thanh đạm nên tiền lương kể như thừa thãi.

Anh ấy đã tiết kiệm đến mấy trăm bảng và chúng tôi sẽ định kết hôn vào dịp năm mới này.

- Ông ấy không có biểu lộ triệu chứng rối loạn tâm thần.

Nào, cô hãy tuyệt đối thành thật đi.

Con mắt sâu sắc của Holmes đã phát hiện một thay đổi nhỏ trong các cử chỉ của cô ta.

Cô hổ thẹn, rồi ngập ngừng.

- Dạ có.

- Cuối cùng cô khai thật - Tôi có cảm giác rằng anh ấy đang lo lắng về một chuyện gì.

- Từ hồi nào?

- Khoảng một tuần, anh ấy đăm chiêu, lo lắng.

Tôi có hỏi lý do.

Anh ấy nhìn nhận có ưu tư, nhưng liên quan tới công vụ.

"Quá nghiêm trọng để tiết lộ, dù là đối với em".

Anh ấy nói với tôi và tôi không thể biết nhiều hơn.

Holmes làm ra vẻ rất nghiêm nghị:

- Hãy nói tiếp, dù rằng cô thấy cô phản bội anh ấy.

Hiện tại tất cả chúng ta đều đang bí mà.

- Một đôi lần, tôi có cảm giác anh ấy muộn tiết lộ điều gì đóột tối nọ, anh ấy nói về tầm quan trọng của một tài liệu bí mật và tôi nhớ có nghe nói rằng gián điệp ngoại quốc chắc chắn trả nhiều tiền.

Gương mặt Holmes trở nên nghiêm nghị hơn.

- Chỉ có bấy nhiêu?

- Anh ấy nói rằng chúng ta cẩu thả đối với những chuyện cùng loại.

Bọn phản bội trộm tài liệu dễ ợt!

- Anh ấy chỉ mới tâm sự mới đây thôi ư?

- Vâng, rất mới.

- Cô hãy nói về cái đêm cuối cùng.

- Chúng tôi dự định đi xem hát.

Sương mù dày đến nỗi chúng tôi thấy rằng đi xe ngựa cũng vô ích.

Chúng tôi đi bộ.

Đang đi qua văn phòng của anh ấy, thình lình anh ấy nhảy bổ vào trong sương mù.

- Không nói năng gì cả?

- Chỉ kêu lên một tiếng thôi.

Tôi đợi, nhưng anh ấy không trở về.

Tôi bèn về nhà.

Sáng hôm sau, sau giờ mở cửa công sở, người ta tới thẩm vấn tôi.

Khoảng 12 giờ, chúng tôi hay tin dữ.

Ồ, thưa ông Holmes, nếu có khả năng, ông hãy cứu lấy danh dự của anh ấy.

Holmes lắc đầu một cách buồn thảm:

- Nào, Watson.

Chúng ta qua nơi khác, qua văn phòng, nơi mà các bản vẽ bị đánh cắp.

Khi ngồi vào xe, Holmes nói thêm:

- Tất cả đã khá bất lợi cho chàng thanh niên và các cuộc điều tra của chúng ta chỉ củng cố thêm cái cảm giác không hay này.

Dự định làm đám cưới là động cơ của tội ác.

Đương nhiên, hắn cần tiền, hắn bị ám ảnh, nên đã nói ra.

Hắn gần như đã biến cô bé thành đồng phạm khi tâm sự với cô ấy về các kế hoạch của mình.

- Dù sao cái tính khí cũng đóng một vai trò

- Tại sao hắn bỏ người vợ ở ngoài đường và nhảy bổ đi làm chuyện phi pháp?

- Có những cái phản bác đáng kể.

Đây là vụ vô cùng khó gỡ.

Ông Sidney Johnson, viên chánh thư ký tiếp chúng tôi tại văn phòng với sự tôn kính.

Đó là một người đeo kính, gầy, cau có, không thể đoán tuổi được, má đã hóp, đôi tay run run.

- Thật là khủng khiếp, ông Holmes.

- Ông có hay rằng ông sếp đã chết?

- Chúng tôi từ đằng đó tới đây.

- Tất cả đều tan vỡ: sếp chết, Cadogan West chết, tài liệu bị đánh cắp.

Khi chúng tôi đóng cửa vào tối thứ hai, sở này vẫn hoạt động như tất cả các sở khác của Chính phủ, Chúa ơi!

Nghĩ tới thật đáng tởm, thằng Cadogan West cả gan làm việc tày trời.

- Như vậy là ông cho rằng anh ta có tội?

- Tôi không thấy có giải pháp thứ hai.

Tuy nhiên tôi tin cậy y như tin cậy vào chính bản thân tôi.

- Sở đóng cửa vào mấy giờ tối thứ hai?

- Hồi 5 giờ.

- Chính ông đóng?

- Tôi luôn là người sau cùng rời khỏi sở.

- Lúc bấy giờ thì các bản vẽ ở đâu?

- Trong tủ sắt này.

Đích thân tôi để vào.

- Có người bảo vệ nào chịu trách nhiệm về tòa nhà này?

- Có chứ, nhưng ông ấy đồng thời canh chừng các tòa nhà khác nữa, ông ta là một chiến sĩ cao niên, hoàn toàn đáng tin cậy.

Ông ta không thấy gì xảy ra cả.

Đêm đó sương mù dày đặc.

- Giả dụ Cadogan West muốn vào tòa nhà sau giờ đóng cửa, y phải cần đến ba chìa khóa mới lấy được giấy tờ trong tủ sắt, phải vậy không.

- Đúng thế, chìa khóa cửa ngoài, chìa khóa phòng và chìa khóa của tủ sắt.

- Ngài James có phải là một người rất cẩn thận hay không?

- Phải, về các chìa khóa đó, ông luôn luôn móc nó vào cùng một vòng, tôi thường thấy như vậy.

- Và ông ấy luôn luôn mang chùm chìa khóa về London?

- Ông ấy nói với tôi như thế!

- Còn cái chìa khóa của ông thì không bao giờ rời khỏi ông chứ?

- Không bao giờ.

- Vậy, nếu Cadogan West là thủ phạm, hắn đã phải thuê làm những chìa khóa đôi.

Tuy nhiên chúng tôi không thấy chìa nào trong xác của y.

Ngoài ra, nếu một thư ký trong sở này muốn bán bản vẽ, chuyện giản dị là sao chép, chứ ai lại đánh cắp các bản chính như đã xảy ra?

- Để sao đúng các bản vẽ, phải có trình độ kỹ thuật cao.

- Tôi suy đoán rằng: ngài James hoặc ông, hoặc Cadogan West, các ông đều có kiến thức kỹ thuật này?

- Tất nhiên, nhưng tôi yêu cầu ông đừng mưu kéo tôi vào nội vụ, thưa ông Holmes.

Thảo luận dông dài như thế này có ích lợi gì khi mà các bản vẽ đều được tìm thấy trong người của Cadogan West.

- Chịu rủi ro khi ăn cắp các bản chính trong khi có thể sao chép một cách an toàn!

Quả là chuyện lạ!

- Lạ thật...

Tuy nhiên y đã làm điều lạ lùng đó.

- Trong vụ này, càng đi sâu càng thấy thêm khó hiểu.

Còn thiếu vắng ba bản vẽ.

Theo tôi được biết, thì đấy là ba bản chính yếu?

- Đúng thế!

- Vậy là ông đồng ý rằng người sở hữu ba bản vẽ đó, tuy thiếu bảy bản vẽ kia, vẫn có thể đóng một tàu ngầm Bruce Pardington?

- Chính đó là điều tôi đã khai tại Bộ tư lệnh Hải quân.

Nhưng hôm nay sau khi suy nghĩ lại, tôi không còn quả quyết như trước nửa.

Những cái van đôi với đường rãnh ăn khớp với nhau được vẽ trong một bản vẽ nằm trong mình Cadogan West.

Nếu không tự chế ra những cái van này, người nước ngoài không thể đóng chiếc tàu ngầm đó được Tất nhiên đó không phải là một trở ngại không thể vượt qua.

- Dù sao ba cái thiếu vắng là những cái quan trọng nhất?

- Đúng thế!

- Tôi xin phép đi tham quan một vòng, vì thấy không cần hỏi ông nữa.

Holmes khám nghiệm ổ khóa của tủ sắt, cửa lớn của căn phòng và sau cùng quan sát các cánh sắt của cửa sổ.

Chỉ khi chúng tôi quay về bồn cỏ, Holmes mới hồ hởi trở lại.

Ngoài cửa sổ có cây nguyệt quế mà nhiều nhánh có dấu vết bị bẻ quẹo hoặc bị gãy.

Holmes khám nghiệm các dấu vết này bằng kính lúp, đồng thời cũng quan sát dấu tay lờ mờ trên đó.

Cuối cùng, sau khi yêu cầu ông chánh thư ký đóng các cánh sắt của cửa sổ, Holmes lưu ý tôi rằng chúng không sít sao lắm và cho thấy từ ngoài, người ta có thể theo dõi những gì đang xảy ra bên trong.

- Các dấu vết đã hư hỏng vì chúng ta đến trễ tới ba ngày, có thể chúng chả có ý nghĩa gì cả.

Nào Watson, có lẽ không còn gì quan trọng để tìm hiểu tại Woolwich.

Kết quả thật là mỏng manh, có lẽ về London sẽ gặt hái được khá hơn.

Tuy nhiên, trước khi rời Woolwich, chúng tôi gặp một người bán vé tàu quả quyết rằng có thấy Cadogan West, mà ông ta quen mặt, đi London Bridge bằng chuyến tàu 8 giờ 15.

Đi một mình với vé hạng ba.

Nét mặt bực dọc, anh ta rối trí đến nỗi rất vụng về.

Khi nhận tiền thừa trả lại, chính ông đã phải giúp đỡ anh ta.

Dò lại trên bảng chỉ dẫn, chúng tôi nhận thấy rằng chuyến tàu 8 giờ 15 là chuyến tàu đầu tiên mà Cadogan West có thể đi, sau khi rời người vợ sắp cưới khoảng 7 giờ 30.

- Chúng ta hãy ôn lại.

- Holmes nói, sau nửa giờ im lặng suy tư - Chưa bao giờ ta gặp một vụ khó như thế này.

Mỗi lần bước thêm một bước, lại gặp thêm một bức tường.

Cuộc điều tra của chúng ta tại Woolwich đi đến một kết luận không thuận lợi cho lắm.

Các dấu vết thu lượm tại cửa sổ sẽ khớp với một giả thiết kém ảm đạm hơn.

Thí dụ, một điệp viên nước ngoài có tiếp xúc với y.

Cuộc tiếp xúc này có thể đã diễn theo các cách thức nào đó mà y thấy khó tiết lộ.

Tuy vậy, y cũng khá bạo để xì ra một chút với vị hôn thê của mình.

Giờ đây, trên đường đi xem hát với cô gái, y thấy qua sương mù, cũng chính người điệp viên đó đi về hướng văn phòng.

Tính tình nóng nảy, y quyết định ngay và đặt nhiệm vụ là trên tất cả, y theo dõi qua cửa sổ, thấy tài liệu bị ăn cắp, nên rình đuổi kẻ trộm.

Vậy là ta giải quyết được cái khúc mắc giữa ăn trộm tài liệu hay sao chép Người lạ mặt đó phải ăn cắp tài liệu vì y không thể sao chép chúng tại chỗ.

Tới đây, thì tất cả đều ăn khớp với nhau.

- Rồi sau đó?

- Sau đó, vì tình huống đặc biệt, chàng thanh niên đã phải bắt kẻ trộm và báo động.

- Tại sao y đã không làm.

- Có thể tại vì kẻ trộm là một trong các thượng cấp của y.

Giả thiết này giải thích cách xử sự của Cadogan West.

Hoặc giả rằng trong sương mù, anh ta đi lạc và đã lên đường đi London ngay để tìm kiếm kẻ trộm tại nhà nó.

Giả thiết rằng anh ta biết địa chỉ của nó.

Chuyện phải là khẩn cấp lắm, bởi vì anh ta đã bỏ cô bé đứng một mình trong sương mù.

Tới đây lối đi tẻ lạnh trở lại và một lỗ hổng to tướng nằm chắn giữa giả thiết của tôi.

Dữ kiện rằng xác của Cadogan West cùng với bảy bản vẽ trong túi được đặt trên mui một xe điện ngầm?

Trực giác buộc tôi khởi sự từ đầu kia của sợi chỉ.

Có lẽ ta nên nhận dạng đối tượng của ta và đi theo hai lối, thay vì một.

Tất nhiên có một điệp văn chờ chúng tôi tại đường Baker.

Một tổng thư văn đã trao đến.

Holmes nhìn qua rồi trao cho tôi.

- Ḅn gián điệp nhãi nhép này nhung nhúc, nhưng kẻ có khả năng làm chuyện phi thường thì không nhiều đâu.

Các tên đáng lưu ý là Adolph Meyer ở số 15 phố George Đại Đế, Westminster; Louis La Rothiere, Campden Mansions, Notting Hill và Hugo Oberstein, số 13 Caulfield Gardens, Kensington.

Anh chàng này có mặt tại London vào thứ hai, nhưng người ta đoán chắc rằng y không còn ở đây nữa.

Vui mừng khi hay tin rằng các chú có thấy một tia sáng.

Nội các nóng lòng chờ báo cáo của chú.

Đã có những lời khiển trách từ giới rất cao gửi xuống.

Tất cả quyền lực của quốc gia đều đặt dưới quyền sử dụng của chú nếu có yêu cầu.

Mycroft".

- Tôi ngại rằng - Holmes cười và nói - Toàn thể kỵ binh và bộ binh của Nữ hoàng cũng chả giúp gì được tôi trong vụ này.

Holmes trải một bản đồ lớn của London rồi cúi xuống nhìn.

-...

À, à!

- Sau đó, Holmes nói với vẻ hài lòng.

- Sự việc xoay theo một chiều thuận lợi hơn, anh Watson à!

Tôi tin chắc rằng ta sẽ gỡ rối được.

Holmes vỗ vai tôi và đột ngột cười to tiếng:

- Tôi sẽ ra ngoài để thám sát qua loa.

Tôi sẽ không làm điều gì quan trọng nếu thiếu anh.

Anh ở lại đây: chắc chắn tôi sẽ quay lại trong một hay hai giờ.

Nếu thấy quá lâu thì lấy giấy bút và bắt đầu tường thuật việc anh em mình đã cứu nguy đất nước như thế nào.

Tôi chờ suốt đêm, mỗi lúc một bồn chồn hơn.

Cuối cùng khoảng sau 9 giờ, một sứ giả đến với tờ giấy này:

"Tôi ăn tại quán Goldini Gloucester, Kensington.

Yêu cầu anh tới gặp tôi ngay.

Nhớ mang theo kìm nạy cửa của bọn ăn trộm, một đèn ló, một cây kéo và một súng lục - S H".

Tôi nhét tất cả các thứ lỉnh kỉnh vào trong áo choàng và bảo xe đưa tôi đến địa chỉ trên.

Trong cái quán cũ Ý sang trọng, Holmes đang ngồi trước một bàn tròn nhỏ.

- Đã ăn gì chưa?

Vậy thì uống cà phê với tôi, hay nhâm nhi một cốc ca-cao.

Hãy hút một điếu thuốc của chủ hiệu.

Có mang theo dụng cụ không?

- Hoan hô!

Tôi sẽ tóm tắt những gì tôi đã làm và nói qua về việc chúng ta sẽ làm.

Chắc chắn anh chưa đồng ý với tôi về việc xác chết được vứt lên mui toa.

Tôi quả quyết như thế, chứ không phải bị vứt ra từ cửa toa.

- Không phải từ cầu rơi xuống mui toa?

- Không thể được!

Nếu khám nghiệm các mui xe, anh sẽ thấy rằng chúng hơi cong, lại không có bờ ngăn.

Anh cứ tin chắc rằng xác chết được vứt lên mui toa.

- Bằng cách nào?

- Chỉ có một giải thích đúng đắn mà thôi.

Anh biết tàu chạy giữa trời xuyên qua vài chỗ của khu West End.

Tôi nhớ lờ mờ rằng, một ngày nọ khi tôi đi tàu điện ngầm, tôi thấy những cửa sổ ngay trên đầu tôi.

Nếu tàu điện ngừng ngay dưới một trong các cửa sổ này, thì vứt xác lên mui xe là chuyện dễ như trở bàn tay.

- Không thể như vậy được?

- Chúng ta bắt buộc phải nghĩ rằng khi các khả năng khác đều không hợp với thực tế, thì cái còn lại dù quái dị đi nữa, vẫn là sự thật.

Các giải thích khác đều sai hết rồi.

Khi tôi phát hiện tên điệp viên quốc tế sừng sỏ, hiện vắng mặt tại London lại ở tại một ngôi nhà trông xuống đường xe điện ngầm thì nỗi hân hoan bừng hẳn lên như anh đã ngạc nhiên.

- Chính vì thế...

- Vâng, chính vì thế mà Hugo Oberstein, số 13 Caulfield Gardens trở thành đối tượng của tôi.

Tôi đã bắt đầu làm việc tại ga Gloucester.

Một nhân viên dễ thương đã đưa tôi ra đường tàu điện ngầm và đã giúp tôi thấy rõ chẳng những cầu thang của cao ốc Caulfield Gardens ngó ra đường tàu mà tôi còn biết thêm một sự kiện quan trọng hơn là gần đó đường tàu điện gặp đường sắt, nên các đoàn tàu điện phải đậu lại vài phút.

- Thật kỳ diệu, Holmes ạ!

Vậy là anh đã giải bài toán.

- Chưa hẳn.

Ta có tiến tới, nhưng mục tiêu hãy còn xa.

Sau khi ngắm nghía các bức tường phía sau của cao ốc Caulfield Gardens, tôi đã quan sát mặt tiền và đã kiểm chứng rằng con mồi của ta đã bay thật sự.

Nhà của y mênh mông, các tầng trên, theo tôi thì không có đồ gỗ.

Oberstein sống tại đó với một gia nô độc nhất, có lẽ là một đồng phạm được sự tin cậy hoàn toàn.

Ta phải nhớ rằng: Oberstein đi vào lục địa là để thanh toán cái chiến lợi phẩm vừa rồi chứ không phải để chạy trốn.

Y không có lý do để sợ một trát bắt giam hoặc một trát lục soát.

Y không bao giờ dự kiến sẽ có một anh chàng nghiệp dư vào khám nhà.

- Hay là xin một cái trát để hợp pháp hóa việc làm của chúng ta.

- Đâu có bằng cớ cụ thể!

- Lục soát để kiếm được cái gì?

- Có thể là tìm một bức thư lý thú.

- Tôi không thích điều đó, Holmes à!

- Watson à, anh canh ngoài đường.

Còn tôi thì tự dành cái vai tội đại hình.

Không phải là lúc để chúng ta bàn tán.

Hãy nghĩ tới Mycroft tới Bộ tư lệnh Hải quân, tới nội các, tới viên chức cao cấp đang đợi tin.

Chúng ta phải hành động thôi.

Để trả lời, tôi đứng lên:

- Anh có lý!

Chúng ta phải hành động thôi.

Holmes cũng đứng lên bắt tay tôi:

- Tôi biết chắc rằng anh không bao giờ bỏ rơi tôi vào phút nguy nan.

Trong chớp nhoáng tôi đọc trong mắt anh một tình cảm gần như sự trìu mến.

Ngay sau đó anh lấy lại sự tự chủ và tỏ ra thực tế.

- Chỉ cách đây khoảng nửa dặm thôi, chúng ta cứ đi thong thả thôi.

Anh nhớ đừng có bỏ quên dụng cụ.

Việc anh bị cảnh sát bắt sẽ là một rắc rối đáng tiếc.

Tới nơi, Holmes thắp đèn lồng để chiếu sáng cái cửa

- Trở ngại đáng kể.

Nó chắc chắn được phòng vệ bằng song sắt và được đóng chốt kỹ.

Ta sẽ thoải mái hơn nếu ở ngoài sáng, có một cái vòm thấp hơn một chút để dự phòng trường hợp một cảnh sát viên quấy rầy chúng ta.

Một lát sau, cả hai chúng tôi trèo qua bức tường nhỏ, lọt vào cái sân trong nhà.

Vừa đến góc có nhiều bóng tối nhất, chúng tôi nghe bước đi của một cảnh sát viên ngay trên đầu chúng tôi.

Khi ông ta đi xa rồi, Holmes cúi xuống và đập mạnh vào cánh cửa dưới thấp cho tới khi cửa mở.

Chúng tôi lọt vào một hành lang tối om và đóng cửa lại.

Holmes đi trước để leo lên một cầu thang bằng đá trần.

Đèn lồng chiếu ánh sáng màu vàng vào một cửa sổ thấp.

- Chắc chắn là cái cửa sổ này.

Holmes đẩy mạnh.

Cùng lúc đó chúng tôi nghe tiếng gầm nhỏ, thô, dần đà lớn dần, trở thành tiếng gào thét: đó là đoàn tàu điện ngầm chạy bên dưới chúng tôi trong đêm tối.

Holmes chiếu sáng dọc bệ cửa đầy khói đen dày từ đầu máy phun lên.

Diện tích vệt đen này có chỗ bị quệt nguệch ngoạc hoặc bị xóa hẳn.

- Anh thấy chỗ chúng đặt tử thi chưa.

À Watson, cái gì kia?

Một vệt máu, chắc chắn mà.

Anh chỉ cho tôi những chỗ nhạt màu trên bệ cửa sổ.

- Kìa, một vệt máu khác trên đá cầu thang.

Chúng ta hãy ở lại đây chờ một đoàn tàu khác ngừng.

Không phải đợi lâu, đoàn kế tiếp gào rống khi ra khỏi đường hầm giống hệt đoàn trước rồi tiếng thắng ken két rít lên và đoàn tàu ngừng lại ngay bên dưới chúng tôi.

Chỉ cách khoảng 4 bộ giữa bệ cửa sổ và cái mui của toa.

Holmes nhè nhẹ đóng cửa sổ lại.

- Thực tế ăn khớp với giả thiết.

Anh nghĩ sao, Watson?

- Một kiệt tác, chưa bao giờ anh nhận xét hay đến thế!

- Nghi tôi nghĩ rằng tử thi rơi xuống từ mui.

Một suy nghĩ rõ ràng là không dở.

Và mọi việc sẽ được suy ra từ đó.

Nhưng sự khổ nhọc của chúng ta chưa dứt đâu.

Có thể tại đây chúng ta sẽ gặp một vài điều hữu ích.

Chúng tôi leo cầu thang nhà bếp, lọt vào hành lang nối liền các văn phòng của tầng hai.

Một căn phòng là ăn, giản dị tới mức khắc khổ.

Căn thứ nhì là phòng ngủ cũng chả đem lại yếu tố nào mới mẻ.

Căn cuối có vẻ hứa hẹn hơn, do đó Holmes ra công khám nghiệm nó một cách lớp lang.

Đầy dẫy sách báo của một nơi được dang làm văn phòng, Holmes nhanh chóng khám xét mỗi ngăn kéo, mỗi tủ.

Nhưng sau một giờ lục soát, không kiếm ra được gì.

- Con chó tinh khôn này đã xóa dấu vết trên đường nó đi.

Đây là cái may mắn chót của chúng ta.

Chỉ còn cái hộp nhỏ bằng sắt trắng đ̑ trên bàn giấy.

Holmes mở nó bằng một cái kéo.

Bên trong có nhiều cuộn giấy đầy số và tính.

Có cuộn giấy chữ được lặp lại liên tục: "sức ép của nước", "sức ép trên một inch vuông".

Có thể chúng liên quan tới một tàu ngầm?

Bực bội, Holmes vứt chúng qua một bên.

Còn lại trong phong bì chứa vài mẫu cắt trong báo.

Anh để chúng ra bàn, bỗng khuôn mặt của anh sáng ra.

- Có ý nghĩa gì đây, Watson.

Nè, một loạt điệp văn trong cột nhắn tin ở góc phải trên của trang báo không ngày tháng, có lẽ là tờ Daily Telegraph.

Các điệp văn khớp nhau.

Đây là cái đầu tiên:

"Tôi đợi tin tức sớm hơn.

Đồng ý về các điều kiện.

Viết thư qua địa chỉ trên thiếp.

PIERROT."

Cái kế tiếp:

"Quá rắc rối không mô tả được, cần phải làm báo cáo tường tận.

Tiền trao, cháo múc.

PIERROT.".

Rồi đến bức điện văn này:

"Cấp bách lắm rồi, tôi phải rút lại đề nghị, nếu hợp đồng không được thực hiện.

Hãy cho cái hẹn bằng thư.

Tôi sẽ xác nhận lại bằng cách nhắn tin

Cuối cùng là:

"Tối thứ hai.

Gõ hai tiếng, sau 9 giờ.

Chỉ có chúng ta mà thôi.

Đừng nghi ngại quá.

Tiền mặt khi giao hàng.

PIERROT.".

- Sự việc gần như trọn vẹn, Watson à.

Phải chi thộp được thằng ở đầu kia.

Gõ nhẹ trên bàn, Holmes suy nghĩ trong giây lát.

- Suy cho cùng, có lẽ không khó đâu.

Chúng ta chả còn gì để làm tại đây.

Ta phải đi tới báo Daily Telegraph và xứng đáng kết thúc một ngày công tác tốt đẹp.

Sáng hôm sau, Mycroft và Lestrade mau mắn đi tới điểm hẹn.

Holmes tường thuật chuyện đêm qua.

Viên thám tử chuyên nghiệp lắc đầu khi nghe việc phá cửa, đục tường của chúng tôi.

- Trong ngành cảnh sát - Lestrade thì thầm - Chúng tôi không thể làm những điều tương tự.

Đó là lý do vì sao ông thành công nhiều hơn chúng tôi.

Tuy nhiên một ngày nào đó, ông đi quá xa và sẽ gặp rắc rối đó.

- Vì Anh quốc, vì Tổ quốc, vì cái đẹp, phải không Watson.

Hai con vật hy sinh trên bàn thờ Tổ quốc.

Còn anh Mycroft, anh nghĩ sao?

- Tuyệt Sherlock, đáng phục!

Nhưng rồi đi tới đâu nữa?

Holmes cầm tờ Daily Telegtaph đang nằm trên bàn.

- Mấy anh chưa đọc cái nhắn tin của hôm nay à?

- Sao?

Lại nhắn tin?

- Đúng thế.

Đây là nội dung:

"Tối nay gõ 2 tiếng.

Chỗ hẹn cũ.

Giờ cũ.

Tối quan trọng.

Sự an toàn của bạn lâm nguy.

PIERROT."

- Chúa ơi!

- Lestrade la lớn - Y tới, ta thộp thôi.

- Đó là điều tôi nghĩ, khi tôi thuê đăng cái ắn tin.

Nếu ông vui lòng, mời ông đến gặp lại chúng tôi khoảng 8 giờ tại Caulfield Gardens.

Giải đáp đã gần kề.

Khoảng 9 giờ, tất cả chúng tôi đều ngồi trong văn phòng của tên điệp viên ngoại quốc, nhẫn nại chờ con mồi.

Một giờ trôi qua, rồi một giờ nữa, lúc 11 giờ, khi chuông nhà thờ kế cận ngân vang, chúng tôi tưởng hy vọng đã tiêu tan Lestrade và Mycroft bồn chồn trên ghế, cứ hai phút lại nhìn đồng hồ một lần, Holmes thì ngồi như phỗng đá, mắt nửa nhắm, mắt nửa mở, cảnh giác cao độ.

Thình lình anh ngẩng đầu.

- Nó đến!

- Holmes nói.

Một người rón rén đi qua cửa.

Đứng lại rồi quay ra sau, chúng tôi nghe những bước đi chậm và hai tiếng động cửa.

Ngoài lan can, đèn lồng đã được vặn thấp xuống.

Holmes mở cánh cửa trông ra đường: một bóng đen lọt vào bên trong.

Anh khép cửa lại rồi gài chốt.

Chúng tôi nghe anh nói nhỏ: "Đi lối này!".

Ngay sau đó, con mồi đứng trước mặt chúng tôi.

Holmes đi sau nó.

Khi nó quay lại thốt lên một tiếng la ngạc nhiên và sợ sệt thì đã bị Holmes tóm cổ, ấn và trong phòng.

Sau khi tên tù lấy lại bình tĩnh thì cửa đã đóng lại và Holmes tựa lưng vào cửa.

Tên tù nhìn quanh, lảo đảo rồi ngã bất tỉnh xuống sàn nhà.

Cái mũ rộng vành của nó tung ra, xuất hiện các đường nét thanh tú và chòm râu quai nón đỏ hoe của đại tá Valentine Walter.

Holmes thốt ra một tiếng huýt sáo nhỏ vì ngạc nhiên.

- Lần này thì anh có thể liệt tôi vào hạng con lừa, Watson.

Đâu phải con mồi mà tôi dự kiến.

- Ai hả?

- Mycroft háo hức hỏi.

- Em trai của ngài James Walter.

Chúng tôi dã khiêng cái xác ngất xỉu để lên tràng kỷ.

Lát sau hắn ngồi dậy nhìn quanh với khuôn mặt méo mó vì kinh hoàng và lấy tay sờ nhẹ lên trán như một người không tin vào giác quan mình.

- Nghĩa là sao?

Tôi tới đây để nói chuyện với ông Oberstein mà

- Tan vỡ hết rồi, đại tá ơi!

- Holmes đáp - Tôi thú thực không hiểu tại sao một bậc trượng phu Anh quốc có thể xử sự như vậy.

Tất cả liên lạc thư tín giữa ông với Oberstein, chúng tôi đã nắm hết.

Và các tình huống về cái chết của Cadogan West đã cho phép chúng tôi đưa ra một lời khuyên: hãy lấy lại một chút uy tín bằng sự ăn năn và thú tội thành thật.

Chúng tôi cần chính ông cho thêm vài chi tiết.

Hắn rên rỉ và lấy tay che mặt, câm miệng.

- Chúng tôi biết ông cần tiền cấp bách.

Ông thuê làm chìa khóa giã từ các chìa do anh ông giữà ông quan hệ với Oberstein.

Người này trả lời cho ông qua cột nhắn tin của tờ Daily Telegraph.

Chúng tôi biết ông tới văn phòng trong sương mù vào buổi tối thứ hai.

Ông bị Cadogan West phát hiện và theo dõi, người thanh niên cao đẹp này có cơ sở để theo dõi ông từ trước.

Cadogan West đã chứng kiến màn ăn trộm nhưng không thể báo động vì còn cho rằng có thể ông tuân lệnh anh ông đến lấy bản đồ.

Quên hẳn người yêu, Cadogan West bám sát ông trong sương mù cho tới tận nhà này.

Tại đây, Cadogan West lộ mặt và bị ông giết.

- Không!

Trước mặt Chúa, tôi thề rằng tôi không giết nó!

- Người tù của chúng tôi kêu lớn.

- Vậy thì ông cho chúng tôi biết Cadogan West đã chết như thế nào trước khi bị vứt xác trên mui tàu điện ngầm.

- Tôi xin thú thật mọi chuyện đã diễn ra đúng như ông trình bày.

Tôi phải trả một món nợ vì chơi chứng khoán.

Oberstein đề nghị đưa tôi 5000 bảng Anh, cứu tôi khỏi sự khánh kiệt.

Tuy nhiên về cái tội giết người tôi hoàn toàn vô tội.

- Yêu cầu ông nói rõ hơn.

- Mấy lúc gần đây, West nghi ngờ tôi và theo dõi tôi nhưng tôi không hay biết trước khi anh ta tới nhà này.

Sương mù bữa đó dày đặc, cách ba yard có thấy gì đâu.

Tôi gõ hai lần và Oberstein ra mở cửa.

Từ cánh cửa hé mở, West nhảy bổ tới, hỏi chúng tôi lấy bản vẽ làm gì.

Oberstein liền cầm cái dùi cui đập vỡ đầu West, ném xác người thanh niên ra ngoài hành lang.

Chúng tôi không biết phải làm sao thanh toán cái xác này, chính lúc đó Oberstein mới các chuyến tàu đậu dưới cửa sổ sau nhà.

Trước tiên, Oberstein xem xét các bản vẽ tôi mang tới.

Hắn nói:

- Ba bản này rất quan trọng, phải để lại đây.

- Không được đâu, sẽ náo loạn khủng khiếp tại Woolwich nếu tôi không mang trả lại!

- Tôi phải giữ lại, bởi vì chúng quá rắc rối, không có thời gian để sao chép.

- Tất cả đều phải được trả lại ngay trong đêm - Tôi nói.

Hắn suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Thôi được, tôi giữ lại ba bản, còn mấy bản kia, ta bỏ vào túi anh chàng này.

Khi xác chết bị phát hiện thì nó lãnh đủ hết.

Vì không thấy có giải pháp khác, chúng tôi làm như hắn gợi ý: chúng tôi rình rập nửa giờ tại cửa sổ chờ một chuyến tàu dừng lại.

Sương mù dày đặc.

Do đó chúng tôi dễ dàng vứt xác của Cadogan West lên mui xe.

Đối với tôi, công việc chấm dứt tại đấy.

- Còn anh của ông?

- Anh tôi không nói gì với tôi, dù có lần bắt gặp tôi cầm mấy cái chìa khóa của ông.

Tôi tin rằng ông ngờ vực tôi.

Qua mắt ông, tôi nghĩ rằng ông biết tôi là thủ phạm.

Như các ông biết, ông không bao giờ nhìn mặt tôi nữa.

Sự yên lặng ngự trị căn phòng.

- Đề nghị ông hãy làm nhẹ lương tâm và giảm thiểu hình phạt của mình - Mycroft nói.

- Tôi phải làm gì?

- Oberstein cùng với các bản vẽ hiện ở đâu?

- Tôi không biết.

- Thằng khốn đó không cho ông địa chỉ ư

- Hắn có dặn, nếu cần thì viết thư cho hắn tại khách sạn Le Louvre ở Paris.

- Như vậy là được rồi - Holmes nói.

- Tất cả những gì thuộc phạm vi khả năng của tôi, tôi sẽ làm hết.

Hắn là nguyên nhân của sự suy sụp của tôi.

- Đây là giấy bút, ngồi xuống viết theo lời tôi đọc: "Thưa ông, có lẽ ông đã nhận thấy ông còn thiếu một chi tiết thiết yếu.

Tôi còn giữ một bức vẽ bổ sung toàn bộ.

Tuy nhiên, tôi xin thêm 500 bảng Anh nữa.

Tôi không gửi qua bưu điện, tôi chỉ nhận vàng hoặc giấy bạc ngân hàng.

Tôi sẵn sàng đi nước ngoài để gặp ông, nhưng sự xuất ngoại của tôi chắc chắn sẽ gây ra tiếng ồn ào.

Tôi đề nghị được gặp ông 12 giờ trưa thứ bảy tại quán ăn của khách sạn Charing".

Xong rồi, có chết nó cũng tới nhà.

Hắn chạy tới.

Đó là một điểm lịch sử, lịch sử gián điệp có khi còn hấp dẫn hơn lịch sử công khai.

Oberstein vì háo hức muốn hoàn tất sự nghiệp của đời mình, đã lọt vào bẫy và bị 15 năm tù.

Trong va li của hắn, có các bản vẽ của tàu ngầm Bruce Pardington.

Hắn chuẩn bị bán đấu giá cho các hải quân châu Âu.

Đại tá Walter chết trong tù.

Còn Holmes quay về cuộc nghiên cứu âm nhạc.

Tác phẩm được phát hành bằng vốn tư, người sành nhạc khen nó là một công trình có giá trị.

Vài tuần sau, tình cờ tôi hay tin rằng Holmes đã đến thăm cung điện Windsor.

Anh mang về một viên ngọc bích tuyệt đẹp gắn trên kẹp cà vạt.

Khi tôi hỏi, anh trả lời rằng, đó là quà tặng của một mệnh phụ phu nhân kiều diễm.

Tôi biết rõ đấng mẫu nghi đó là ai và tôi tin rằng cái kẹp cà vạt đó luôn luôn nhắc nhở anh nhớ tới chuyến đi tìm bản vẽ của chiếc tàu ngầm Bruce Pardington.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
E5 Sherlock Holmes hấp hối


SHERLOCK HOLMES HẤP HỐI

THE ADVENTURE OF THE DYING DETECTIVE (1913)

His last bow

Cung đàn sau cuối

Bà Hudson, chủ nhà trọ của Sherlock Holmes là người cực kỳ kiên nhẫn.

Chẳng những căn hộ của Holmes lúc nào cung đày ấp những người quái dị, mà Holmes lại lôi thôi lếch thếch cực cùng, sự ghiền nhạc vào giờ ngủ của mọi người, thói quen tập bắn súng lục trong phòng, các cuộc thử nghiệm hóa họa vừa kỳ lạ, vừa hôi thối, các thô bạo và nguy hiểm bao quanh biến anh thành người thuê nhà bê bối nhất tại London.

Tuy nhiên anh thanh toán tiền thuê nhà một cách vương giả.

Tôi chắc chắn rằng với tiền thuê căn hộ đó trong mấy năm thì bằng với số tiền mua toàn bộ ngôi nhà của bà Hudson.

Bà này kính trọng và sợ anh; không bao giờ bà dám làm mất lòng anh.

Bà cung thương mến anh, bởi vì đối với phái yếu, Holmes cực kỳ dễ thương và lễ phép.

Vì tôi biết rõ mức độ tận tuỵ của bà Hudson, nên tôi chăm chú nghe câu chuyện bà kể tại nhà riêng của tôi trong năm thứ hai sau khi lấy vợ.

Chuyện liên quan đến tình trạng đáng thuong của nhà thám tử tư tài ba này.

-Ông gần chết rồi, thưa bác sỹ!

- Bà báo như thế - Ông suy sụp cách đây 3 ngày, ngày nào tôi cung tưởng ông không qua khỏi.

Ông không muốn đi mời bác sỹ.

Sáng nay tôi thấy xương của ông gần như đâm thủng da mặt.

Trong cơn sốt, ông nhìn tôi bằng đôi mắt rực lửa, tôi nổi nóng: Ông có cho phép hay không cung mặt, tôi đi mời bác sỹ ngay bây giờ.

Ông ấy đáp: Trong truờng hợp đó, tôi muốn bà mời anh Watson.

Tôi chạy vắt giò lên cổ tới đây ngaỵ Bác sỹ hãy đến đó mau để còn kịp vuốt mắt ông Holmes.

Tôi kinh hoàng.

Trong lúc ngồi xe ngựa tới phố Baker, tôi hỏi chi tiết, thì đuợc bà chủ nhà trả lời như sau:

-Tôi không biết gì nhiều.

Ông ấy đi điều tra ở phía dưới khu Rotherhithe, gần sông Thames và mang bệnh này về.

Ông nằm liệt giường vào ngày thứ tư và không ngồi dậy nổi.

Ba ngày nay không ăn uống gì cả.

-Sao bà không mời bác sỹ?

-Ông ấy đâu có chịu.

Ông dư biết ông khó tính mà.

Tôi đâu dám cãi lời.

Ông không còn sống mấy phút nữa đâu, chỉ nhìn sơ cũng đoán được.

Quả thật một cảnh tượng nát lòng đang chờ đợi tôi.

Dưới ánh sáng lờ mờ của một ngày sương mù tháng 2, căn phòng đã ảm đạm thê lương lại thêm cái khuôn mặt xương xẩu cạn kiệt từ trên giường đang nhìn tôi, càng làm tôi lạnh người.

Đôi mắt bốc lửa của cơn sốt, má đỏ au, những vẩy đen dán chặt vào môi, đôi tay run lập cập, tiếng rên rỉ, co giật từng cơn.

Khi tôi vào, Holmes nằm bất động hoàn toàn.

Khi nhìn thấy tôi, một ánh chớp thoáng qua trong cái nhìn của anh:

-Anh Watson, tôi đang trải qua một giai đoạn ngặt nghèo, phải không?

- Holmes nói với giọng yếu ớt.

-Anh Holmes!

-Tôi la lớn và bước tới.

-Lui, lui ngay!

- Holmes hùng hổ ra lệnh cho tôi - nếu anh tới gần, tôi sẽ mời anh ra khỏi nhà!

-Tại sao?

Đó là ý muốn của tôi

Rõ ràng bà Hudson không nói ngoa.

Anh ấy không dễ tính tí nào.

Tuy nhiên, nhìn tình trạng đó, tôi vô cùng ái ngại.

-Thiệt sao, Holmes?

-Sự nghiêm khắc của anh tan biến.

-anh không giận tôi chứ?

Đó là vì quyền lợi của anh, Watson à!

- Holmes nói rõ từng tiếng.

-Quyền lợi của tôi ư?

-Tôi biết bệnh của mình.

Đó là một bệnh thường xảy ra trong giới phu ở Sumatra; căn bệnh mà người Hà Lan rành hơn chúng tạ Nhưng cho tới nay, họ cung phải bó taỵ Có một điều chắc chắn là; nó truyền nhiễm khủng khiếp và ai mắc bệnh thì phải chết.

Holmes nói năng một cách cuồng vội.

Hai bàn tay gầy gò run rẩy, ra lệnh cho tôi đứng yên.

-Bệnh lây lan qua sự sờ mó, Watson à.

Đúng rồi qua xúc giác.

Đứng xa thì không sao.

-Vậy tôi phải dừng bước sao?

Làm sao tôi có thể tránh né nhiệm vụ với bạn cố tri?

Tôi bước tới nhưng Holmes lại giận du.

-Nếu anh đứng yên tại đó, thì tôi tiếp chuyện với anh.

Bằng không thì anh về đị

-Tôi tôn kính các biệt tài của Holmes đến nỗi tôi không bao giờ dám coi thường lệnh anh, kể cả những lệnh mà tôi không hiểu.

-Nhưng hôm đó tất cả bản năng nghề nghiệp của tôi đều trỗi dậy.

Trong tất cả các phạm vi khác, anh ấy là chủ tôi; nhưng trong căn phòng này và người bệnh này, tôi lại là chủ của anh ấy.

-Holmes à, một người bệnh chỉ là một trẻ thơ.

Anh chịu hay không cung mặc, tôi sẽ khám bệnh và chữa trị cho anh.

Anh ấy nhìn tôi đăm đăm.

-Nếu bị bắt buộc, tôi phải đuợc điều trị bởi một thầy thuốc mà tôi tin tưởng.

-Anh không tin vào tài năng của tôi?

-Vào tình bạn của anh thì tin chứ, nhưng nghĩ cho kỹ, anh chỉ là một bác sỹ tổng quát, kinh nghiệm rất hạn chế và học vị rất tầm thường.

Thật xót xa phải nói như thế.

Anh không cho tôi chọn lựa.

Tôi đau xót lắm.

-Nói năng nhu thế là bất xứng, Holmes .

Chính cái cách nói năng của anh đã cho tôi thấy tình trạng tâm thần của anh.

Nhưng nếu anhkhông tin tôi thì tôi sẽ đi tìm các danh y của thủ đô này.

-Anh quá tốt bụng!

- Holmes thất ra, vừa gầm gừ vừa rên siết - Anh muốn trình diễn sự ngu tối của anh à?

Anh biết gì, anh biết gì về sốt Tapannuli?

Anh biết gì về sự nhiễm độc đen Formosa.

-Tôi chua bao giờ nghe nói tới!

-Ở phương Đông có nhiều bệnh lạ lắm ...

Anh ngừng để thở.

-..

Tôi biết đuợc khá nhiều qua những cuộc nghiên cứu y khoa hình sự.

Do các nghiên cứu đó mà tôi bị mắc bệnh.

Anh không làm đuợc gì đâu.

-Có thể.

Tôi đuợc biết rằng bác sỹ Ainstree, cuốn tự điển sống về bệnh nhiệt đới, hiện có mặt tại London này.

Đừng bảo thủ quá.

Tôi đi tìn ông ấy ngay bây giờ.

Tôi cương quyết quay về hướng cửa.

Bỗng tôi giật mình hoảng hốt.

Chỉ trong một giây đồng hồ, người đang hấp hối nhẩy bổ ôm chặt lấy tôi, và tiếng chìa khóa kêu cái cách trong ổ khóa.

Anh ấy chập chững đi rồi ngã đùng xuống giường, cạn kiệt, thở hổn hển.

-Tha lỗi nhé.

Lỡ đến đây rồi phải ngồi đó chờ ngẫu hứng của tôi thay đổi.

Anh nói đứt quãng, luôn xen kẽ những giây phút ngừng để thở.

-..

Anh luôn lo cho tôi, tôi biết rõ.

Tôi sẽ nhượng bộ anh, nhưng cho tôi thời gian để lấy lại sức cái đã.

Bây giờ thì chưa được đâụ Mới có 4 giờ, đến 6 giờ anh đuợc ra về.

-Đó là sự xuẩn ngốc Holmes à.

-Chỉ hai giờ mà thôi, Watson!

Tôi hứa rằng tôi sẽ cho anh về lúc 6 giờ.

Gắng chờ đi.

-Tôi tin rằng tôi không có tự do chọn lựa.

Đúng thế, Watson à cám ơn!

Tôi không cần người trải drap giường đâu.

Hãy đứng ra xa, Watson à.

Ngoaì ra tôi cần đua thêm một điều kiện khác.

Anh sẽ đi cầu viện: nhưng không phải người anh nêu tên, mà người tôi chỉ định.

-Tùy anh.

Đó là hai tiếng hay nhất.

Anh có thể đọc mớ sách kia để giải khuâỵ Tôi hơi mệt.

Lúc 6 giờ, chúng ta sẽ nói chuyện trở lại.

Nhưng định mạng buột chúng tôi nói chuyện trở lại.

Vài phút đầu, tôi ngồi nhìn đăm đăm cái hình dạng người nằm trơ trơ trên giường.

Tấm ra che phủ gần hết khuôn mặt và hình như anh đang ngủ.

Rồi vì không thể đọc đuợc gì, tôi chậm rãi đi giáp phòng, nhìn chân dung các tên sát nhân nổi tiếng trang hoàng nơi các bức tường.

Cuối cùng, tôi tới trước lò sưởi.

Một mớ hổ lốn gồm có ống vố, bao da đựng thuốc sợi, ống tiêm, dao nhỏ, vỏ đạn súng lục nằm la liệt trên kê..

Truyện "Cung Đàn Sau Cuối " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

Ở ngay giữa một hộp nhỏ bằng ngà voi, có nắp, có khe trượt.

Thấy một đồ vật đẹp nên tôi thò tay cầm lấy thì ..

Đừng!

Anh la lên một tiếng vang rền như sấm, ngoài đuờng cung nghe đuợc.

Tôi nổi da gà, tóc dựng đứng.

Tôi quay lại và hoảng vía trước cái nhìn hoang dại trong khuôn mặt nhăn nhó

Để nó xuống ngay tức khắc!

Tức khắc!

Đầu Holmes rơi lại xuống gối và anh thở phào nhẹ nhõm khi tôi đã để cái hộp trên lò sưởi trở lại.

Tôi không thích người ta sờ vào đồ đạc của tôi.

Anh biết mà, anh làm tôi giận quá mức.

Bác sỹ chọc bệnh nhân phát điên.

Ngồi yên ông bạn, và để tôi nghỉ ngơi!

Biến cố này không làm tôi vui tí nào.

Sự nóng nảy thô bạo và vô cớ của Holmes, tỏ rõ sự rối loạn thần kinh.

Trong các sự sụp đổ, sự sụp đổ của tâm trí siêu việt thì rất là bi thương.

Tôi ngồi tuyệt vọng, câm như hến, chờ thời hạn quy định trôi quạ Hình như anh cũng canh giờ một cách sít sao, vì trước 6 giờ một chút, anh bắt đầu nói với giọng bực dọc.

-Anh Watson, có tiền trong túi không?

-Có.

Truyện "Cung Đàn Sau Cuối " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

-Bao nhiêu đồng silver?

-Khá đủ.

-Bao nhiêu đồng nửa crown.

-Năm.

-À, quá ít, bỏ vào hầu bao.

Còn tiền khác bỏ vào túi trái của quần dài.

Cám ơn, làm vậy có quân bình hơn.

Một sự mê sảng xuẫn động, anh ấy run lập bập, thốt ra từng tiếng giữa cơn ho thổn thức.

-Giờ thì vặn ga lên.

Canh sao khóa không bao giờ đuợc xoay quá nửa vòng.

Cám ơn, đúng vậy.

đừng!

Khỏi hạ bức sáo.

Giờ thì vui lòng để thư từ sách báo trên bàn này vừa tầm tay tôị Cám ơn!

Giờ thì mang lại đây vài thứ trong mớ hổ lốn trên lò sưởi.

Tốt lắm.

Có một cái kẹp gắp đuờng, vui lòng dùng nó để cầm cái hộp nhỏ bằng ngà đem về ở đây, giữa các tờ báo.

đuợc, giờ thì anh đi tới ông Culverton Smith, số 13 phố Hạ Burke.

Nói thật, lòng tôi không còn muốn đi kêu đồng nghiệp nữa vì Holmes mê sảng đến nỗi tôi sợ không dám bỏ anh ấy một mình.

Tôi thấy anh ta có vẻ thích đuợc gặp người vừa nêu tên.

-Tôi chưa bao giờ nghe đến tên đó - Tôi đáp.

-Có thể lắm.

Có thể anh sẽ ngạc nhiên khi biết rằng, người rành về bệnh này không phải là một bác sỹ mà là một chủ đồn điền.

Ông Culverton là một nhà trồng trọt nổi danh tại đảo Sumatra.

Hiện nay, ông ta đang có mặt ở London.

Trước đây, một bệnh dịch hoành hành trong đồn điền của ông, sự tách biệt với mọi tiếp cưu y khoa buộc ông phải đích thân nghiên cứu nó và ông đã đạt đuợc những kêt quả khả quan.

Do đó anh đến trước 6 giờ thì chắc chắn anh không gặp.

Nếu anh thuyết phục đuợc ông ấy đến đây và chia sẻ với chúng ta cái kinh nghiệm hiếm có của ông thì tôi hy vọng sẽ đuợc cứu sống.

Tôi ghi lại lời nói của Holmes như không biết những lần ngắt đoạn để thở hoặc bởi sự co giật của đôi tay, sức khỏe của anh càng tồi tệ hơn kể từ khi tôi tới thăm.

Má đỏ hơn, mắt có quầng rực lửa hơn, trán nhễ nhại mồ hôi lạnh.

-Anh cho ông ấy biết tình trạng của tôi - Holmes căn dặn - Anh mô tả cho ông ấy cảm giác chính xác của anh về tình trạng đang chờ chết và hôn mê của tôi.

Thực vậy, tôi đang thắc mắc tại sao toàn cái sàn đại dương không là một khối rắn chắc làm bằng vỏ sò, vì vỏ sò thì hằng sa số mà.

À, tôi đang nói sảng, óc chi phối óc, chuyện thiệt lạ.

Tôi vừa nói gì thế, Watson?

-Tôi phải làm gì khi gặp ông Culverton?

-Ừ, đúng rồi, tôi nhớ ra rồi!

Mạng sống của tôi tùy thuộc vào cuộc gặp gỡ này.

Cố gắng năn nỉ, nghe Watson!

Giữa ông ấy và tôi có chuyện hiềm khích đó.

Cháu trai của ông ấy, Watson ạ.

Tôi thấy có sự bất nghia nghiêm trọng.

Tôi giải thích cho ông ấy, thằng bé chết, một cái chết thê thảm.

Ông ấy ghét tôi.

Anh dỗ ngọt ông ấy, Watson, bằng mọi cách, hãy đua ông ấy tới đây.

Ông ấy có thể cứu tôi, chỉ có ông ấy mà thôi.

-Tôi sẽ đua ông ấy tới đây bằng xe ngựa, dù phải sử dụng vu lực.

Đừng!

Đừng làm như thế!

Thuyết phục thôi, và anh phải về đây truớc khi ông ấy tới.

Đặt điều nói láo sao đó để về trước.

đừng quên, anh chưa bao giờ thật hiểu về tôi đó.

Hiển nhiên là có sự tương sinh tương khắc để hạn chế sự tăng truởng của muôn loài.

Tôi và anh mỗi đứa chúng ta đã đóng vai trò của mình.

Thế giới sẽ bị xâm lăng bởi sò huyết không?

Không đâu, vì sẽ khủng khiếp lắm.

Truyền đạt cho ông ấy tất cả những gì anh nghi về tôị

Tôi ra đi, tâm trí nghi vẫn vơ về cảnh một trí thông minh siêu quần bạt chúng nói năng, ngớ ngẩn như một đứa con nít đần độn.

Anh đã trao chìa khóa cho tôị Tôi mang chìa khóa đi để Anh ấy không tự Nhốt mình.

Bà Hudson đứng đợi ngoài hành lang, run lập cập và nước mắt đầm đìa.

Khi tôi xuống cầu thang, tôi nghe tiếng cao vót và chát tai của Holmes hát một bài điên loạn.

Khi tôi gọi xe ngựa thì một người đàn ông băng qua đuờng trong sương mù.

-Ông Holmes ra sao, thưa ông?

Đó là một người quen biết lâu năm: thanh tra Morton thuộc Scotland Yard, mặc thường phục.

-Ông ấy đau nặng lắm!

Viên thám tử nhìn thẳng vào mặt tôi một cách kỳ di..

Tôi thấy rõ vẻ mặt hả dạ của ông ta.

-Tôi có biết - Ông ta thì thầm.

Chúng tôi chia tay.

Tới nơi, tôi xuống xe.

Phố Hạ Burke hai bên có nhà đẹp nằm trong một khu giữa Notting Hill và Kensington.

Nhà tôi tìm có bề ngoài hùng vi với các bancone bằng sắt, cửa lớn đồ sộ với hai cánh tay nắm bằng đồng bóng loáng.

Cảnh đuợc bổ sung một cái hài hòa bằng một quản gia đứng trên thềm, dưới ánh sáng màu hồng phát sinh từ một đèn điện để ở đằng sau.

-Vâng, ông Culverton có ở đâỵ Bác sỹ Watson ư?

Vâng, tôi sẽ trình danh thiếp của ông.

Học vị và danh tính khiêm nhường của tôi hình như không tác động gì đến ông Culverton.

Xuyên qua cánh cửa hé mở, tôi nghe một tiếng nói lớn, giọng hùng hổ, gây hấn:

-Ai?

Muốn gì?

Trời ơi!

Staples, đã bao lần tôi nói với anh rằng tôi không muốn bị Quấy rầy trong những giờ nghiên cứu.

Một tiếng nói nhỏ nhẹ của người quản gia.

-Nhưng mà tôi không tiếp y.

Tôi không để công việc của mình bị gián đoạn.

Này, nói rằng tôi vắng nhà.

Bảo ông ấy trở lại vào một buổi sáng, nếu quả thật cần gặp tôi.

Lại có tiếng thì thầm van lơn.

-Không, không, cứ chuyển lời của tôi.

Phải đến vào buổi sáng.

Không thì thôi, tôi không muốn ai quấy rầỵ

Tôi nghi tới Holmes đang nằm trên giường bệnh và có lẽ đang chờ sự giúp đỡ từng giây.

Mạng sống của Holmes tùy thuộc vào sự lanh lẹ của tôi.

Trước khi người quản gia kịp xá trước xá sau, tôi đã gạt y qua bên và lọt vào trong phòng.

Một tiếng thét lên giận dữ!

Một người đàn ông đứng lên khỏi ghế bành, gần lò sưởi.

Tôi thấy khuôn mặt to tướng màu vàng, da mỡ và thô, cằm đôi nặng trịch, mắt xám, cau có, nhấp nháy dưới đôi chân mày rậm rạp.

Chênh vênh trên một góc đầu cao, hói, một cái mu chởm bằng nhung đỏ đuợc đặt một cách xinh xinh.

Cái sọ đồ sộ.

Tuy nhiên khi nhìn xuống, ta kinh ngạc thấy người này lùn tịt.

-Cái màn gì đây?

-Ông ta la lớn - Sao lại đột kích vào đây nhu vậy?

Tôi đã bảo sáng mai tôi mới tiếp mà.

-Tôi vô cùng hối tiếc - Tôi nói - Công chuyện quá khẩn cấp!

Ông Sherlock Holmes!

Tên của Holmes đã tạo ra một hiệu quả phi thường.

Tất cả vết tích giận dữ biến khỏi khuôn mặt người đàn ông nhỏ con.

Diện mạo trở nên căng thẳng, ngóng tin:

-Ông Holmes nhờ ông tới đây?

-Tôi mới rời ông ấy.

-Ông ấy ra sao?

-Trong tình trạng tuyệt vọng.

Đó là lý do khiến tôi tới đâỵ

Chủ nhà chỉ cho tôi cái ghế, rồi quay lưng lại ngồi xuống.

Nhìn trên cái kính soi để trên lò sưởi, tôi thấy rõ mặt ông, một nụ cười ác độc, ghê tởm rực sáng.

Nhưng khi ông ta quay về hướng tôi, thì các đuờng nét của ông hoàn toàn bình thản:

-Tôi rất buồn trước cái tin này - Ông chậm rải nói - Tôi chỉ quen ông Holmes qua một vài công việc phải hợp tác với nhaụ Tôi vô cùng kính trọng tài năng và tính tình của ông ấy.

Ông ấy thích nghiên cứu tội ác, y hệt như tôi thích nghiên cứu về bệnh.

Kia là những nhà tù của tôi - Ông chỉ tay về một dãy chai lọ trên mỗi cái bàn ngang - Vài thằng trong đám sát nhân của thế giới đang thọ hình trong các lọ đó.

Do kiến thức đặc biệt của ông mà ông Holmes ước mong đuợc gặp ông.

Ông ấy coi ông là một danh tài và nghi rằng ông là ngườì duy nhất có thể cứu sống ông ấy.

Người đàn ông nhỏ con nhảy dựng lên và cái mu chỏm rơi xuống thảm.

-Sao?

Tại sao ông Holmes cho rằng tôi có thể cứu sống ông ấy?

-Tại vì ông rành về các bệnh ở Đông phuong.

-Nhung do đâu ông ấy cho rằng bệnh của mình là bệnh Đông phuong.

- Vì trong một cuộc điều tra hình sự, ông có làm việc với một công dân Trung Hoa tại bến tàu.

Ông Culverton cười khoái trá, cúi nhặt cái mu chỏm.

-A!

Đấy là nguyên nhân, đúng thế ạ?

Tôi hy vọng rằng bệnh không đến nỗi nghiêm trọng như bạn đoán.

Từ bao lâu rồi?

-Ba ngày.

-Hôn mê không?

-Thỉnh thoảng thôi.

-Ừm, ừm!

Có vẻ nghiêm trọng.

Không đáp lời kêu cứu là vô nhân đạo.

Nhưng tôi rất ghét bị quấy rầy lúc đang làm việc, bác sỹ Watson à!

Nhưng việc này có tính đặc biệt.

Tôi đi theo ông ngaỵ

Nhớ lời Holmes dặn....

-Tôi còn một cái hẹn khác.

Tôi xin khiếu từ.

Đuợc thôi, tôi sẽ đi một mình.

Tôi có địa chỉ của ông Holmes, ông yên tâm.

Trong vòng nửa giờ hay hơn một chút, tôi sẽ có mặt tại đằng đó.

Tôi buớc vào phòng của Holmes, lòng nặng triu.

Có thể có chuyện không lành xảy ra trong lúc tôi vắng mặt.

Tôi nhẹ nhõm khi biết rằng khả quan hơn.

Holmes vẫn còn dáng con ma, nhưng không còn nói bậy nữa.

Vẫn nói năng yếu ớt, nhưng sự sáng suốt và sự rạch ròi chưa giã từ anh ta.

-Sao, gặp đuợc ông ấy không?

-Có, ông ta sẽ đến.

-Tuyệt, Watson!

Tuyệt!

Anh là một sứ giả tài ba.

-Ông ấy muốn đi theo tôị

-Ý, đừng.

Không thể đuợc!

Ông âý có hỏi tôi bệnh gì không?

-Tôi có nói với ông ấy về người Trung Hoa ở khu Esat End.

Đúng nhu thế!

Anh đã làm tất cả những gì mà một người bạn tốt phải làm.

Giờ đây, anh phải tạm rời khỏi sân khấụ

-Tôi phải chờ để nghe ý kiến của ông ấy.

Đuong nhiên!

Nhưng ý kiến của ông ta sẽ thành thật và có giá trị hơn nhiều nếu ông ấy không thấy có ngưới thứ ba.

Có đủ chỗ để anh nấp sau đầu giường tôị

-Thế nào?

Đâu có chỗ nào khác đâu!

Chỗ khác sẽ bị lô..

Nhưng tại chỗ đó, ngay tại chỗ đó, tôi tin là đuợc mà ....

Thình lình, Holmes ngồi dậy và khuôn mặt hốc hác lộ vẻ hung hăng.

-Kìa có tiếng bánh xe, Watson.

Nhanh lên, nếu anh thương tôi, và nhớ ngồi im dù có việc gì xảy ra .... dù có việc gì xảy ra, nghe chưa? im lặng tuyệt đối.

Không đuợc cựa quậy, chỉ nghe thôi.

Chỉ giây lát, cái sức mạch cố hữu đột ngột tan biến hẳn rồi cái giọng chỉ huy nhường chỗ cho những lời thì thầm vô nghia của một người đang hôn mê.

Từ nơi ẩn nấp, tôi nghe tiếng bước chân đi lên cầu thang và cửa mở rồi đóng lại.

Tiếp đó, lạ lùng thay, một sự yên lặng dài ngự tri..

Thỉnh thoảng bị gián đoạn bởi tiếng rên rỉ và hơi thở nặng trịch của người bệnh.

Tôi tưởng tượng rằng khách đang đứng gần giường và quan sát Holmes.

Cuối cùng sự im lặng nặng nề đó chấm dứt.

-Holmes!

- Ông khách la lớn - Holmes!

Tiếng ông giống tiếng một ai đó đánh thức một người ngủ mệ

-Ông không nghe đuợc tiếng tôi gọi hay sao, Holmes?

Có tiếng sột soạt, như thế ông khácg đang lay mạnh đôi vai của bệnh nhân.

-Là ông đấy ư....

ông Smith ....?

- Holmes thì thào - Tôi đâu ... dám ... hy vọng ông đến.

Khách cười lớn tiếng.

-Cung là bất ngờ đối với tôi nữa.

Tuy nhiên, ông thấy không, tôi đã có mặt tại đâỵ

Than hồng, Holmes à!

Than hồng.

-Ông quả là hào hiệp ....

Tôi thán phục các kiến thức đặc biệt của ông.

Người khách cười nửa miệng.

-Ông thán phục chúng nó.

May thay ở London này chỉ có ông thán phục chúng nó.

Ông có biết bệnh ông là bệnh gì không?

-Cùng một bệnh thôi - Holmes đáp.

-A, ông nhận ra các triệu chứng của nó à?

-Tôi quá rành.

-Tôi không ngạc nhiên khi thấy các triệu chứng giống nhau.

Như vậy là tàn đời ông rồi.

Thằng Victor đáng thuong thì chết vào ngày thứ tư, tuy nó trẻ và can đảm.

Như ông đã nhận xét, là nó đã mắc một bệnh phương đông khá hiếm ngay giữa lòng London.

Một bệnh mà tôi lại là ngườ độc nhất nghiên cứu kỹ.

Một sự trùng hợp kỳ lạ, hả ông Holmes?

-Tôi dư biết ông là tác giả.

-Ồ ông biết thật sao?

Nhưng ông không thể chứng minh đuợc đâụ Ông nghi sao về một người dám rêu rao như vậy về tôi, để rồi phảỉ bò lê dưới đất van xin tôi cứu giúp khi lâm bệnh?

Tôi nghe hơi thở hổn hển của ngườì bệnh.

-Cho tôi uống nước.

- Holmes thì thào.

-Gần đi đứt rồi, ông bạn à.

Nhưng tôi không muốn ông chết trước khi chúng mình có một cuộc nói chuyện ngắn.

Đó là lý do tại sao tôi đua nuớc cho ông nè.

Coi chừng đổ!

Tốt!

Ông có hiểu tôi muốn nói gì không?

Holmes càu nhàu.

-Vui lòng giúp tôi - Holmes hổn hển nói - Tôi thề rằng tôi sẽ quên những gì tôi đã nói.

Chữa lành cho tôi thì tôi sẽ quên điều đó.

-Quên cái gì?

-Trường hợp cái chết của Victor.

Ông mớí nhìn nhận rằng ông đã giết nó.

Tôi sẽ quên chuyện đó.

-Ông quên hoặc nhớ tùy thích.

Tôi sẽ không thấy ông trong hàng ngu nhân chứng đâu.

Thay vào đó, tôi sẽ thấy ông trong một hàng ngu khác, ông bạn thân yêu.

Việc ông biết cháu tôi chết cách nào, điều đó không còn quan trọng đối với tôị Chúng ta không nói chuyện về nó mà nói chuyện về chính ông.

Đúng thế!

-Thằng cha tìm đến tôi ...

Tôi quên tên y rồi ..

Y nói với tôi rằng ông mắc bệnh tại khu East End trong giới thủy thủ.

-Tôi tin như vậy!

-Ông hãnh diện về cái óc của ông phải không, Homles?

Ông tưởng rằng ông khôn lắm, phải không?

Vậy thì hiện giờ ông đã gặp một người khôn hơn ông, duy nhất một lần!

Giờ đây ông hãy cố gắng hồi tưởng chuyện cu.

Ông không thấy trường hợp khác trong đó ông có thể mắc bệnh?

-Tôi không nghi ra, tâm trí tôi sút kém rồi.

Tôi van ông giúp tôi nhớ lại.

-Vâng, tôi sẽ giúp ông.

Tôi sẽ giúp ông hiểu một cách dễ dàng tình trạng hiện nay của ông và tại sao ông lâm vào tình trạng này?

Tôi cho ông biết điều này trước khi ông chết.

-Hãy cho tôi một cái gì đó để giảm đaụ

Đau nhói phải không?

Đúng rồi. bọn cu-li thét lên lúc gần chết!

Đau nhói nhu bị rút gân, tôi chắc chắn mà?

Đúng, đúng!

Gân tôi đang bị rút!

-Này!

Nghe đây!

Ông có nhớ một biến cố bất thường xảy ra không bao lâu trước khi có các triệu chứng này?

-Không, không nhớ gì cả.

-Suy nghi lại xem?

-Bệnh gần chết mà suy nghi cái gì?

-Tôi cố gắng giúp ông, ông có nhận đuợc một vật gì gởi qua bưu điện không?

-Qua bưu điện?

Đúng, một cái gói, có không nào?

-Tôi mệt quá rồi, tôi không nói nữa đâu!

-Nghe đây, ông Holmes.

Có một tiếng động như thể y lay động người sắp chết và tôi phải tự kìm mình để không chạy ra.

-Ông phải nghe tôi, ông có nhớ một cái hộp?

Một cái hộp bằng ngà voi?

Nó đến hôm thứ tư, ông đã mở nó ra ...

ông nhớ không?

-Vâng, tôi có mở nó ra, có một lò xo nhọn đầu bên trong.

Một trò chơi khăm ....

-Không phải trò đùa đâu.

Đến chết mới biết!

Đồ ngu ngốc, tự chuốc lấy cái chết!

Ai bảo ông cản đuờng tôi?

Nếu ông để tôi yên, tôi hại ông làm gì?

-Tôi nhớ ra rồi - Holmes bập bẹ - Cái lò xo ... nó đâm tôi chảy máu.

Cái hộp kia ... trên bàn đó.

Đúng cái này.

Chúa ơi!

Tôi sẽ bỏ túi đem về.

Như vậy là đâu còn bằng cớ gì nữa.

Giờ đây, ông đã biết sự chết và đừng có ân hận nhé!

Ông biết quá nhiều về cái chết của Victor Savage.

Tôi đã giúp ông đi theo nó.

Gần kề rồi Holmes à.

Tôi sẽ ngồi đây chờ ông chết.

Tiếng nói của Holmes bây giờ quá nhỏ không thể nghe đuợc.

-Cái gì?

- Culverton nói - Hết ánh sáng sao?

À, bóng đèn của âm ti bắt đầu buông xuống, phải chăng?

Đúng thôi. tôi sẽ thắp đèn sáng choang để nhìn thấy rõ lúc ông chết ...

Ông băng qua căn phòng và đèn rực sáng căn phòng

-Ông bạn thân còn cần sự giúp đỡ nhỏ mọn nào khác?

-Một điếu thuốc và một que diêm!

Suýt chút nữa thì sự mừng rỡ và kinh ngạc xô tôi ra khỏi nơi trú ẩn.

Holmes nói với âm thanh bình thường, tuy còn yếu.

Nhưng tôi nhận rõ tiếng của anh ấy.

Một sự yên lặng kéo dài, và tôi đoán rằng Culverton trố mắt tròn xoe nhìn người bệnh.

-Thế nghia là gì?

- Y nói một cách cụt ngủn và chát chúa.

-Cách tốt nhất để diễn xuất - Holmes nói - Là phải nhập vai.

Ông có tin rằng đã ba ngày nay tôi không uống gì, trừ cốc nước mà ông có lòng tốt mới đua cho.

Nhung đối với điếu thuốc thì quả khó khăn hon!

À, có thuốc đây.

Tôi nghe thấy tiếng diêm quẹt.

-Tôi khỏe nhiều rồi.

Hay quá!

Bước chân của một người bạn thân chăng?

Những bước chân vang dội đẵng xa lại.

Cánh cửa mở, thanh tra Morton xuất hiện.

Đâu vào đó cả rồi.

Đây chính danh là thủ phạm!

-Holmes nói.

Viên cảnh sát nói lên vài sáo ngữ cần thiết rồi kết luận:

-Tôi bắt ông về tội giết một người tên Victor Savage.

-Và ông còn có thêm một tội danh mưu sát một ngườì mang tên Sherlock Holmes nữa -Holmes vừa nhận xét vừa cườì nhẹ - Ngoài ra trong túi măng -tô của tù nhân còn có một cái hộp nhỏ mà ta nên lấy lại.

Nó sẽ hữu ích vào lúc tòa xử.

Có một tiếng động của sự xô đẩy nhẹ, tiếng va chạm của đồ sắt và một tiếng kêu đau.

-Cựa quậy chỉ làm ông đau đớn hơn mà thôi!

-Viên thanh tra của sảnh sát nói - Vui lòng đứng yên.

Tôi nghe tiếng lách cách của đôi còng khóa lại.

-Gài bẫy hay thật -Tiếng nói giọng cao thốt lên - Chính ông Holmes mới là người ra tòa chứ không phải tôi; ông ấy mời tôi đến chữa bệnh, nên tôi mới đến.

Giờ đây ông cứ nói láo đị nói láo tùy thích ông đi Holmes ạ!

Tuy nhiên lời nói của tôi vẫn có giá trị hơn lời nói của ông.

Truyện "Cung Đàn Sau Cuối " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

-Chúa ơi - Holmes nói lớn - Tôi quên hẳn đi chứ.

Ông bạn Watson thân yêu!

Anh ra đây!

Tôi xin lỗi anh 1000 lần!

Tôi không giới thiệu anh với ông Culverton vì hai người đã gặp nhau lúc đầu hôm.

Có xe ngựa bên dưới không?

Tôi sẽ xuống sau, xin phép thay quần áo!

Tôi cung sẽ có ích phần nào cho quý vị tại sở cảnh sát.

Trong lúc nốc một cốc rươụ vang, ăn bánh biscuit và mặc quần áo, Holmes nói với tôi:

-Chưa bao giờ đói nhu hôm nay.

Nhu anh biết, tôi không đều đặn lắn về ăn uống, do đó đối với tôi, sự nhịn đói không tác động mạnh như đối với nhiều người khác.

Tuy nhiên tôi cần dàn cảnh để bà Hudson tưởng lầm mà đi báo động với anh, và tới phần anh thì thông báo cho Culverton Có phiền anh không, anh Watson?

Nên nhớ rằng trong các biệt tài của anh, sự ngụy trang không có chỗ đứng.

Nếu anh không bị tôi bịp thì anh không có khả năng thuyết phục Culverton đến đuợc.

Do biết tính khí thú vật của y, tôi chắc rẵng y sẽ tới để chiêm ngưỡng kiệt tác của mình.

-Còn cái vẻ bề ngoài.

Holmes!

Khuôn mặt thây ma?

-Nhịn ăn, nhịn uống ba ngày liền thì làm sao còn đẹp trai đuợc, Watson.

Ngoài ra lấy khăn lau thấm nước quẹt một cái là xong thôi.

Một ít vaseline trên trán, cà dược trong mắt, son trên má và vấn mảnh sáp trên môi là khá đạt.

Trang điểm là một đề tài mà tôi thường có ý muốn viết ra một lược thảo.

Nói lung tung về đồng nửa crown, về sò huyết hoặc bất cứ cái quái dị sẽ làm cho ngườì ta lầm tưởng mình đang nói sảng.

-Nhưng tại sao anh không muốn tôi đến gần, bởi vì đâu có rủi ro truyền nhiễm?

-Còn phải hỏi!

Bộ anh tưởng tôi coi nhẹ tài năng y khoa của anh à?

Cho anh đến gần, để anh nhận ra màn kịch này sao?

Đứng xa bốn thước thì gạt anh đuợc.

Nếu không gạt anh đuợc thì ai sẽ đi thuyết phục Culverton tới nạp mình?

Còn cái hộp, đụng tới nó đâu đuợc.

Nhìn nó, anh sẽ thấy một cái lò so nhọn đầu có thể bung ra như lưỡi rắn lục.

Chính bằng một dụng cụ tương tự mà thằng bé Victor đáng thuong bị giết chết.

Thư từ của tôi như anh biết khá tạp nhạp, nên tôi luôn thận trọng khi nhận các bưu kiện.

Tôi ngụy trang có tài tình không?

Khi làm việc xong tại sở cảnh sát, ta đi chén nhé.

Hết

---

thuộc Indonesia
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
E6 Quý bà mất tích


QUÝ BÀ MẤT TÍCH

THE DISAPPEARANCE OF LADY FRANCES CARFAX (1911)

His last bow

Cung đàn sau cuối

- Đúng kiểu Thổ phải không?

- Holmes bất chợt hỏi trong khi nhìn chằm chằm vào đôi giày bốt của tôi.

Tôi đang chống một cây gậy, và tôi nghĩ là nó đã thu hút ý nghĩ của anh ấy.

- Đồ Anh đó chứ!

- Tôi hơi ngạc nhiên - Tôi mua nó ở tiệm Latimer, phố Oxford

Holmes mỉm cười, với một vẻ kiên nhẫn mệt mỏi.

- Ý tôi nói là cái nhà tắm hơi kiểu Thổ!

Tại sao anh lại đến đó, vừa đắt vừa không thoải mái bằng nghỉ ngơi ở nhà.

- À, mấy hôm trước tôi cảm thấy hơi bị nhức mỏi.

Tắm hơi kiểu Thổ, theo y học, sẽ là một cuộc vệ sinh toàn diện nhất.

Mà Holmes này!

Tôi không nghi ngờ gì về mối liên hệ logic giữa đôi giầy bốt với các nhà tắm Thổ, nhưng anh có thể nói rõ và chi tiết hơn được không?

- Bài học về suy luận anh cũng đã biết rồi mà - Holmes nói, với một chút giễu cợt trong ánh mắt - Tôi sẽ minh họa cho anh thấy rõ hơn nếu anh liên tưởng đến việc anh đi bằng chiếc xe ngựa nào lúc sáng nay.

- Tôi không thích anh minh họa.

Anh có thể giải thích được không - Tôi bắt đầu cáu.

- Bravo, Watson!

Một lời khuyên rất logic.

Rồi, đầu tiên tôi biết được gì.

Trước hết là chiếc xe ngựa.

Anh có để ý là trên tay và vai áo choàng bên trái của anh có vệt nước bị bắn lên không?

Nếu anh ngồi giữa chiếc xe ngựa thì sẽ không bị điều này!

Rõ ràng là anh ngồi một bên!

Và điều đó có nghĩa là có người ngồi cạnh anh.

- Điều đó hiển nhiên.

- Nhìn chung, không có điều gì vô lý.

- Nhưng còn đôi giầy ống và cái nhà tắm?

- Cũng dễ như ăn kẹo.

Anh có thói quen đi giày theo một cách nhất định.

Tuy nhiên tôi nhìn thấy cách buột giày không giống với cách thường làm của anh.

Anh đoán ra điều gì rồi chứ?

Có người buột giày cho anh.

Chỉ có thể là thợ đóng giày hoặc chú nhóc phục vụ ở nhà tắm.

Nhưng không thể là thợ đóng giày trong khi đôi giày anh gần như mới nguyên.

Như vậy chỉ còn lại cái nhà tắm.

Có điều gì vô lý không?

Nhưng, cho tất cả cái đó, cái nhà tắm Thổ đã phục vụ một mục đích khác.

- Ý anh nói

- Anh nói là anh làm vậy vì anh cần một sự thay đổi.

Cho phép tôi gợi ý rằng anh một ý nhé.

Tại sao ở Lausanne làm thế, Watson thân mến?

Những vé hạng nhất và những chi tiêu hoang phí?

- Sự sang trọng!

Nhưng sao?

Holmes tựa lưng vào ghế và rút sổ tay ra.

- Một trong các hiểm nguy lớn trong xã hội là người đàn bà cô đơn đi du lịch.

Bà phiêu bạt từ nơi này sang nơi khác, sống tại khách sạn hoặc tại các nhà trọ tư nhân.

Bà giống như một chú gà con đi lạc giữa bầy chồn cáo.

Khi bị nhốt rồi thì ít ai hay biết.

Đó là trường hợp mà tôi nghi là đã xảy ra cho quý bà Frances Carfax.

- Đó là bà nào vậy?

- Tôi hỏi.

- Quý bà Frances, là người duy nhất còn sống của gia đình cố hầu tước De Rufton.

Bà được thừa kế nhiều của cải gồm đồ nữ trang Tây Ban Nha rất xưa bằng bạc hoặc bằng kim cương mài rất khéo.

Những kim cương mà bà gắn bó đến nỗi không chịu gửi cho ngân hàng, trái lại bà mang theo mình đi khắp thế giới.

- Chuyện gì đã xảy đến cho bà vậy?

- À, chuyện gì ư.

Bà còn sống hay đã chết.

Đó là bài toán của chúng ta.

Bà có những thói quen đều đặn.

Từ 4 năm nay, cứ 15 ngày là viết thư cho bà Dobney, người quản gia già ở Camberwell.

Chính bà Dobney đến gặp tôi.

Gần 5 tuần rồi, chả có tin tức gì của bà ta cả.

Bức thư cuối cùng được viết từ khách sạn National ở Lausanne.

Hình như vị mệnh phụ kia rời khách sạn mà không để lại địa chỉ.

Gia đình giàu có này đang rất lo lắng, những số tiền vô cùng lớn lao đặt dưới quyền sử dụng của chúng ta để làm sáng tỏ vấn đề.

- Bà Dobney có phải là nguồn tin tức độc nhất hay không.

Quý bà Frances chắc chắn còn có những người nhận thư khác?

- Chỉ có một người nhận thư độc nhất, đó là ngân hàng.

Các sổ chi phiếu của họ là những nhật ký gọn gàng.

Ngân hàng của bà ấy là ngân hàng Sylvester.

Tôi có kiếm tra lại tài khoản của bà.

Cái chi phiếu áp chót bà ký để thanh toán ở Lausanne.

Kể từ đấy, bà chỉ ký thêm một chi phiếu.

- Ký cho ai và ký từ đâu?

- Cho cô Marie Devine, nhưng không thấy ghi nơi ký.

Tiền được ghi tại ngân hàng Credit Lyonnais ở Montpellier cách nay chưa tới ba tuần.

Đó là một chi phiếu 50 bảng Anh. .

- Marie Devine là ai?

- Người hầu của bà ta.

Chúng ta hiện chưa biết tại sao cô ta được chi phiếu này?

Tuy nhiên các sự tra cứu của anh chắc chắn sẽ làm sáng tỏ cái bí mật này.

- Sự tra cứu của tôi?

- Anh biết rằng, tôi chưa có thể rời London khi mà lão già Abrahams vẫn còn sống trong kinh hoàng.

Lại nữa, cơ quan Scotland Yard sẽ cảm thấy bị bỏ rơi nếu tôi đi vắng và sự vắng mặt của tôi sẽ làm cho giới sát nhân cựa quậy.

Vậy là anh Watson, anh phải đi, và nếu cần hỏi ý kiến của tôi thì tôi sẵn sàng trả lời, dù ngày hay đêm.

Tôi chỉ lấy giá rẻ là 2 penny cho một lời khuyên.

Hai ngày sau, tôi tới khách sạn National ở Lausanne.

Nơi đây tôi được ông Moser đón tiếp nồng hậu.

Vị giám đốc này cho tôi biết quý bà Frances ở tại khách sạn nhiều tuần lễ và được nhiều người ái mộ.

Bà vẫn đẹp, có thể lúc còn trẻ, bà là một hoa khôi.

Ông Moser không biết gì về số nữ trang của bà.

Nhưng các nhân viên thì có để ý tới cái rương nặng trịch trong phòng của bà luôn được khóa kỹ.

Cô hầu Marie Devine cũng được yêu mến như bà chủ.

Cô ấy vừa hứa hôn với một nam bồi phòng tại khách sạn nên tôi xin địa chỉ của cô dễ dàng.

Cô ngụ tại số 2 Rue de Trajan, tỉnh Montpellier của Pháp.

Tôi ghi chép kỹ lưỡng và tự hào rằng dù cho Holmes có ở đây anh cũng không thu lượm tin tức nhiều hơn.

Còn một điểm vẫn mù mờ.

Tôi không thu lượm được chi tiết nào giải thích sự ra đi đột ngột của bà mệnh phụ ở Lausanne, bà rất sung sướng.

Mọi người tin rằng bà sẽ ở lại suốt mùa này trong căn hộ xa hoa, ngó ra hồ.

Bà ra đi vào một ngày đẹp trời, không hề báo trước, bỏ hẳn một tuần lễ tiền khách sạn.

Jules Vibart, vị hôn phu của cô hầu là người độc nhất đưa ra một giả thiết.

Anh cho rằng sự ra đi đột ngột này có liên hệ với sự thăm viếng trước đó một hay hai ngày của một anh chàng to con, râu quai nón đen

- Một thằng mọi!

Một thằng mọi thật sự - Jules Vibart nói với tôi.

- Ông ta ở đâu đó trong thành phố.

Người ta thấy y nói chuyện một cách say đắm với bà mệnh phụ trong một cuộc đi dạo trên hồ, rồi y có đến khách sạn.

Bà ấy từ chối gặp y.

Đó là một người Anh, không ai biết tên.

Ngay sau đó mệnh phụ dọn nhà.

Vị hôn thê của Jules Vibart cũng chú ý đến mối tương quan giữa cuộc viếng thăm và sự dọn nhà.

Jules Vibart không đưa ra được cái động cơ khiến Marie bỏ bà chủ.

Nếu muốn biết, tôi phải đi Montpellier hỏi ngay cô ta.

Chương đầu các điều tra của tôi kết thúc như thế.

Tôi dành chương hai cho nơi mà quý bà Frances Carfax, sau khi rời Lausanne.

Trong chiều hướng này, tôi vấp phải một bí ẩn.

Nếu bà ta giấu lộ trình, tại sao hành lý được ghi rõ ràng là đi Baden?

Và cả bà lẫn hành lý cũng đi tới cái thành phố nước khoáng này, theo một lộ trình rất ngoằn ngoèo.

Tôi được biết điều này qua ông giám đốc công ty du lịch địa phương.

Do đó tôi lên đường đi Baden sau khi gửi cho Holmes một bản tường trình.

Tôi đã nhận một hồi âm ca ngợi đượm mùi hài hước.

Tại Baden, tôi tìm ra vết tích của bà không khó lắm.

Bà ta ở khoảng 15 ngày tại Englischer Hof.

Trong khi lưu ngụ tại đó, bà làm quen với ông bà tiến sĩ Shlessinger: đó là một gia đình truyền giáo từ Nam Mỹ về.

Giống như nhiều người đàn bà cô đơn khác, người đàn bà này tìm quên nỗi buồn trong tôn giáo.

Nhân cách của tiến sĩ, lòng mộ đạo và sự tận tụy của ông, cộng với việc ông đang tĩnh dưỡng sau một cơn bệnh mà ông vướng phải trong khi đi truyền đạo, tạo ra một cảm giác rất tốt đẹp nơi bà.

Theo tường thuật của giám đốc khách sạn thì sáng nào ông cũng ngồi phơi nắng trên ghế dài ngoài hàng hiên mỗi bên một người đàn bà canh chừng.

Sau khi bình phục, ông cùng vợ lên đường đi London và quý bà Frances Carfax cũng rời khách sạn để đi theo họ.

Chuyện đó xảy ra cách đây ba tuần và kể từ đó, ông giám đốc không có tin tức gì nữa.

Về phần cô nữ hầu, cô đã ra đi vài ngày trước, khóc như cha chết và báo cho các nữ bồi phòng khác rằng cô rời bà chủ một cách vĩnh viễn.

Trước khi cô đi, tiến sĩ Shlessinger đã thanh toán tiền lương cho toàn nhóm.

Đã kết luận, ông giám đốc còn tiế lộ rằng ông không phải là người duy nhất lo lắng cho số phận của quý bà Frances Carfax.

- Cách đây khoảng một tuần, có một người khác tới đây hỏi tôi những câu hỏi tương tự.

- Ông ấy có tiết lộ danh tánh không?

- Tôi hỏi.

- Không.

Nhưng tôi biết là người Anh, một người Anh hơi khác thường.

- Một thằng mọi, phải không?

Tôi vừa nói vừa ra dấu theo cách thức của ông bạn nổi tiếng của tôi.

- Đúng thế.

Đó là cái từ rất tương xứng với y.

Ông hãy tưởng tượng một con người đồ sộ, râu ria xồm xoàm, da đồng.

Đúng ra, y nên ngụ tại một quán trọ đồng quê hơn là tại một khách sạn danh tiếng.

Một người cứng cát và hung hãn.

Một người mà tôi không bao giờ dám dậm chân.

Bí mật dần dà lộ rõ từng đường nét, y hệt một dáng đi từ từ thoát ra khỏi sương mù, một người đàn bà mộ đạo bị săn đuổi bởi một anh chàng ma quái và kiên gan.

Bà ấy sợ y, bằng không thì bà đâu có trốn khỏi Lausanne.

Y đã đuổi theo bà ta.

Chóng chầy cũng đuổi kịp.

Kịp rồi chưa?

Có có phải là lý do khiến bà im bặt.

Các người khổ ải tháp tùng bà có khả năng che chở bà khỏi sự hung bạo của thằng mọi thô lỗ?

Ý đồ gớm ghiếc nào làm động lực cho cuộc săn lùng này?

Đó là bài toán tôi phải giải đáp.

Tôi viết thư cho Holmes, thông báo sự nhanh chóng và nghiêm túc mà tôi đã vận dụng để đi vào cội rễ của nội vụ.

Đáp lại tôi nhận được một lá thư bảo tôi mổ xẻ lỗ tai trái của tiến sĩ Shlessinger.

Holmes có tật hay pha trò, đôi khi lố bịch, nên tôi không bận tâm với cái trò giễu cợt sai chỗ này.

Nói cho đúng, khi tôi vừa đến Montpellier và đang đi tìm cô hầu Marie thì thư của Holmes đến nơi.

Tìm lại và khai thác cô này là không khó đối với tôi.

Là một người tận tình, cô gái này chỉ rời chủ sau khi biết chắc rằng chủ không có gì nguy hiểm và cũng vì gần ngày lấy chồng.

Cô tâm sự rằng chủ của cô có tỏ ra cáu kỉnh với cô lúc ở Baden.

Có lần cô đã hỏi bà chủ xem có ngờ vực sự lương thiện của mình không.

Chính sự việc này góp phần làm dễ dàng sự chia tay.

Mệnh phụ Frances có cho cô 50 bảng Anh làm quà đám cưới

- Tôi nghi ngờ kẻ vô danh kia đã khiến bà chủ tôi bỏ Lausanne qua Baden.

Chính tôi thấy y nắm cổ tay của bà chủ tôi một cách lộ liễu trong cuộc du ngoạn trên hồ.

Y có vẻ hung hãn, dữ tợn.

Cô còn cho rằng vì sợ y mà mệnh phụ Frances phải tháp tùng theo vợ chồng tiến sĩ Shlessinger qua London.

Không bao giờ bà tiết lộ tí gì với cô cả.

Tuy nhiên qua nhiều dấu hiệu, cô hầu biết rằng bà chủ mình đang sống trong tình trạng sợ hãi.

Nói tới đó, cô đột ngột đứng dậy, khuôn mặt bấn loạn vì ngạc nhiên và sợ hãi.

- Nhìn kìa!

- Cô kêu lên - Thằng khốn đang đi săn mồi.

Nó là người mà tôi vừa nói đến.

Qua cửa sổ của phòng khách nhỏ, tôi thấy một người cao lớn, râu đen ưỡn ra trước, chầm chậm đi xuôi theo đường phố, mắt nhìn các số nhà.

Rõ ràng, y đang tìm cô hầu.

Tôi nhảy bổ ra và kè y ngay.

- Ông là người Anh?

- Thí dụ là thế đi.

- Y gầm gừ.

- Tôi có thể biết được quí danh?

- Không được?

Tôi cụt hứng, nhưng vẫn dõng dạc hỏi:

- Bà Frances Carfax hiện ở đâu?

Y trố mắt nhìn tôi, hỏi lại:

- Ông đã làm gì bà ấy?

Tại sao ông săn đuổi bà ấy.

Tôi yêu cầu được trả lời.

Anh ta gào thét lên vì giận dữ rồi vồ lấy tôi.

Tôi đấm đá không tệ, nhưng y mình đồng da sắt, lại hung hăng như cọp.

Y thộp cổ tôi và tôi sắp ngã thì một công dân Pháp râu ria lởm chởm trong đồng phục xanh, từ quán rượu chạy ra, tay cầm cây gậy ngắn, đập mạnh vào cánh tay trước của hung thủ.

Y buông tôi ra, đứng im nhìn tôi trừng trừng và muốn vồ lấy tôi một lần nữa.

Thình lình y cười chế nhạo, bỏ tôi lại và đi vào cái biệt thự tôi vừa chạy ra.

Tôi quay lại, cám ơn người cứu mạng đứng cạnh tôi trên lề đường.

- Nào, Watson!

- Người này nói - Anh quậy rối bời, làm ơn quay về London với tôi bằng chuyến tốc hành đêm nay.

Một giờ sau, Sherlock Holmes với trang phục thường nhật ngồi trong phòng khách sạn của tôi.

Anh giải thích cho tôi sự có mặt bất ngờ và đúng lúc của anh.

Anh rời London, hóa trang thành công nhân, ngồi trong quán rượu chờ tôi.

- Anh Watson, anh đã tiến hành một cuộc điều tra lớp lang một cách kỳ diệu.

Tôi không thấy anh có một sơ hở nào cả.

Tuy nhiên, tất cả hoạt động của anh có thể được tóm tắt như vầy: anh đã báo động tứ tung để chẳng kiếm ra được cái gì cả.

- Có thể anh đã hơn tôi?

- Bị chạm tự ái, tôi đáp.

- Không phải "có thể" mà là "chắc chắn".

Đây là bá tước Philip Green, một đồng hương và hiện đang ngụ cùng một khách sạn với anh.

Chính ở ông, tôi chờ đợi một khởi điểm cho một cuộc điều tra tốt hơn.

Trong một cámâm nhỏ, một bản đồ được trình lên cho chúng tôi.

Người mang mâm là nhân vật râu ria xồm xoàm mới đánh tôi ngoài đường.

Ông này nhảy dựng lên khi thấy tôi.

- Nghĩa là sao, ông Holmes.

Nhận được lời nhắn của ông, tôi tới đây ngay.

Nội vụ có gì hên quan tới cái ông này?

- Tôi xin giới thiệu cùng ông, người bạn cố tri và cộng tác viên của tôi, bác sĩ Watson, đã tiếp tay với chúng ta trong vụ này.

Người lạ đưa bàn tay đồ sộ, sạm nắng và thốt ra vài lời xin lỗi.

- Tôi hy vọng đã không làm ông bị thương.

Khi nghe ông cáo buộc tôi quấy phá bà ấy, tôi điên tiết, lúc đó tôi không tự chủ được.

Thôi, điều trước tiên tôi muốn rõ là vì sao ông biết được sự dính líu của tôi.

- Tôi có tiếp xúc với bà nữ quản gia của mệnh phụ.

- Bà lão Susan Dobney đội cái mũ nhỏ?

Tôi nhớ rõ lắm!

- Bà ấy nhớ ra ông trong những ngày xa xưa đầy thú vị, lúc ông chưa đi Nam Phi.

- À, vậy là ông hiểu câu chuyện của tôi.

Tôi không còn phải che giấu ông điều gì.

Tôi thề với ông, ông Holmes à, trên đời này chưa có người đàn ông nào thương một người đàn bà hơn mối tình tôi dành cho Frances.

Lúc đó tôi là một thằng mọi con, tôi biết.

Nhưng tôi không tệ hơn nhiều đứa cùng tuổi.

Nhưng cô ấy có tâm trí thuần khiết như tuyết, nên cô hay biết vài tội lỗi của tôi lúc thiếu thời, cô không muốn nói chuyện với tôi nữa.

Tuy vậy cô ấy thương tôi: đó là cái kỳ diệu?

Cô thương tôi đủ để cô mãi mãi sống độc thân.

Thời gian sau, khi tôi đã làm nên sự nghiệp tại Barbeton, tôi đi tìm lại cô ta và năn nỉ.

Tôi được biết cô chưa lấy chồng.

Tôi gặp cô ta tại Lausanne và cố gắng thuyết phục.

Con tim cô ấy đã hơi xiêu lòng, nhưng ý chí của cô vẫn sắt đá.

Khi tôi muốn gặp cô trở lại thì cô đã rời bỏ thành phố.

Tôi tới Baden và biết được rằng cô hầu của cô ấy ở lại Montpellier này.

Tôi thô bạo vì tôi sinh trưởng trong một môi trường thô bạo, nên khi nghe bác sĩ Watson hỏi tôi không tự kiềm chế được.

Nhưng vui lòng cho tôi biết Frances đã ra sao rồi?

- Phải đoán mò thôi - Sherlock Holmes đáp - Về London, ông ngụ tại đâu, thưa ông Green?

- Tại khách sạn Lang ham.

- Vậy tôi đề nghị ông quay về London và hãy sẵn sàng đón nhận mọi tình huống.

Tôi không dám nuôi nhưng hy vọng hão huyền, nhưng ông nên vững tin rằng, tất cả những gì có thể làm được sẽ được làm cho mệnh phụ.

Hiện giờ tôi không thể nói gì hơn.

Watson chuẩn bị va-lđi.

Tôi đã điện cho bà Hudson để sẵn đĩa nhỏ, đĩa lớn, chuẩn bị đón hai lữ khách đói khát sẽ về đến vào sáng mai, lúc 7 giờ 30.

Một điện tín chờ chúng tôi tại đường Baker.

Sau khi đọc xong, Holmes trao cho tôi.

Nó chỉ có mấy chứ:

"Bị răng cưa hay rách.

Xuất xứ từ Baden".

- Nội dung gì lạ vậy?

- Có lẽ anh còn nhớ câu hỏi của tôi về cái lỗ tai trái của nhà truyền giáo.

Anh đâu có trả lời

- Tôi đã rời Baden, làm sao dò hỏi được?

- Đúng thôi.

Chính vì lẽ đó mà tôi đặt câu hỏi với viên giám đốc khách sạn Englischer Hof và được trả lời như thế.

- Nó báo việc gì?

- Nó cho biết rằng chúng ta đang đương đầu với một anh chàng xảo quyệt và nguy hiểm.

Tu sĩ, tiến sĩ Shlessinger, nhà truyền đạo tại Nam Mỹ, tên thật của hắn là Holy Peters, một trong các thằng ăn cướp táng tận lương tâm nhất mà đất Australia đã sinh ra...

Biệt tài của hắn là dụ dỗ các cô, các bà cô đơn bằng... tín ngưỡng.

Vợ của hắn là một người Anh tên Fraser.

Bọn họ nồi nào úp vung nấy.

Hắn có cái tai dị hình do bị cắn trong một cuộc ẩu đả vì rượu.

Như vậy thì mệnh phụ đáng thương đã lọt vào tay cặp vợ chồng yêu quái này.

- Chết cũng là một giả thuyết!

- Nếu bà ấy chưa chết, thì chắc chắn bị nhốt kỹ đến nỗi không thể viết thư cho bà Dobney hoặc cho các bạn bè khác.

Có thể bà ấy chả bao giờ đến London?

- Có thể bà ấy chỉ đi ngang qua thôi.

Chúng hiểu rằng một người ngoại quốc như chúng khó bịp được cảnh sát Anh.

Nhưng cũng có thể bọn này biết rõ rằng London là nơi tốt nhất để nhốt một ai đó!

Bản năng của tôi bảo tôi rằng bà ấy ở London.

Cho tới giờ này, vì chưa có phương cách để biết rõ địa điểm, chúng ta đành phải chờ.

Đêm nay tôi sẽ đi một vòng và thông báo cho ông bạn Lestrade hay.

Nhưng cả cảnh sát lẫn nhóm của Holmes cũng không đủ sức làm sáng tỏ sự bí ẩn.

Giữa mấy triệu người dân London thì việc kiếm ba người đó chẳng khác nào mò kim đáy biển.

Thử nhắn tin trên báo: vô hiệu?

Theo đuổi chăng đi tới đâu.

Canh chừng các sào huyệt của giới sát nhân: vô ích.

Nhưng một tuần sau, ánh sáng đã lóe lên.

Một món nữ trang bằng bạc và một vài viên kim cương kiểu cổ ở Tây Ban Nha được đem đến cầm thế tại đường Westminster.

Người đem cầm, theo người ta trình bày với chúng tôi, có dáng cao, to, cạo râu nhẵn nhụi, ra vẻ là nhà tu.

Tên và địa chỉ y cho, chắc chắn là giả.

Người ta không để ý đến cái lỗ tai, đại để thì sự mô tả tương ứng với các đặc điểm của Shlessinger.

Lúc 3 giờ, người bạn râu quai nón xồm xoàm ngụ tại khách sạn Langham lại tới thăm để lấy tin: đó là lần thứ ba trong một giờ sau khi có chỉ dẫn mới.

Ông ta tiều tụy vì âu lo.

- Phải chi tôi được giao phó một nhiệm vụ gì đó?

- Ông ta cứ than thở liên tục như thế.

Cuối cùng Holmes xoa dịu:

- Nó đã đi cầm nữ trang, chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ chộp được thôi?

- Điều đó có nghĩa là Frances chả có gì nguy hại, phải không.

Holmes nghiêm túc lắc đầu:

- Nếu chúng nhốt bà ấy từ hôm đó đến nay, thì đương nhiên chúng không thể thả bà ấy ra.

Tàn đời chúng còn gì!

Do đó chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận sự tệ hại nhất.

- Tôi có thể làm gì?

- Chúng quen mặt ông không?

- Không.

- Có thể nó sẽ lại ra hiệu cầm đồ.

Trong trường hợp đó, chúng ta lại bắt đầu làm việc.

Hơn nữa, tại hiệu cầm đồ cũ, người ta không tò mò, hỏi han gì, nên nếu nó thiếu tiền, nó sẽ quay lại đó.

Tôi sẽ giới thiệu ông với hiệu này và họ sẽ để cho ông ở lại cửa hiệu của họ.

Nếu con mồi dẫn xác đến, ông theo nó về nhà.

Nhưng phải kín đáo và nhất là không được hung bạo.

Tôi muốn ông lấy danh dự thề rằng sẽ không làm gì nếu chưa được phép của tôi.

Trong hai ngày, bá tước Philip Green (ông ta vốn là con của một vị đô đốc danh tiếng, người chỉ huy hạm đội biển Azof trong cuộc chiến Crimé) không mang tin tức gì về.

Tối ngày thứ ba, ông chạy xống xộc vào phòng khách của chúng tôi, mặt tái xanh, mọi bắp thịt trong cơ thể đồ sộ đều run rẩy.

- Có kết quả, có không

Trong niềm phấn chấn, ông ấy nói năng không đầu đuôi.

Holmes xoa dịu vài câu rồi mời ngồi vào ghế bành.

- Nào, vui lòng truyền đạt tin tức cho chúng tôi theo thứ tự hẳn hoi.

- Bà vợ đến, cách đây chưa đầy nửa giờ.

Lần này là bà vợ, nhưng cái đồ đeo ở cổ đem đi cầm, lần này cũng giống cái trước.

Bà ấy cao lớn, tái xanh, với đôi mắt láu lỉnh.

- Đúng là con mẹ ấy.

- Nó rời cửa hiệu, tôi đi theo.

Nó ngược phố Kenstington, vào một cửa hiệu mai táng?

- Rồi sao nữa?

- Holmes hỏi với tiếng nói run run.

- Con mụ ấy đang nói chuyện với người đàn bà ngồi sau bàn giấy thì tôi bước vào. ‍uộn rồi đó", tôi nghe con quỷ cái nói đại loại. như thế.

Người đàn bà trong cửa hiệu năn nỉ: "Ông ấy sẽ về kịp.

Chút nữa thôi ông ấy có xin thêm thời gian, bởi vì đây là cái kiểu rất đặc biệt".

Cả hai mụ đều ngừng nói và nhìn tôi.

Tôi giả vờ hỏi giá cả này nọ rồi cáo từ.

- Tốt lắm, rồi sao nữa?

- Mụ ấy cũng đi, tôi ẩn nấp sau một cái cổng.

Tôi nghĩ rằng mụ ta có ngờ vực nên mụ có nhìn quanh, rồi lên xe ngựa.

May mắn là tôi cũng gọi được một cái xe để đuổi theo.

Mụ ấy xuống tại số 3 quảng trường Poultney.

Tôi núp vào một góc và nhìn kỹ căn nhà.

- Có thấy ai không?

- Cửa sổ không được thắp sáng, trừ một cái ở tầng dưới.

Bức mành được kéo xuống, do đó tôi chả thấy gì bên trong.

Tôi đứng đó, chưa biết phải làm gì thì một xe thùng có phủ mui ngừng lại; bên trong có hai người.

Họ leo xuống, khiêng một cái hòm ra khỏi xe, leo lên bực thềm .

- Con mụ vợ mở cửa.

Tôi đứng không xa lắm.

Mụ thấy tôi và tôi tin rằng mụ ấy nhận ra tôi.

Tôi thấy mụ ta giật mình rồi lật đật đóng cửa lại.

Tôi nhớ lời đã hứa với ông, ên trở về báo cáo.

- Nhiệm vụ của ông hoàn thành mỹ mãn.

- Holmes nói và nguệch ngoạc vài chữ trên một tờ giấy.

- Chúng ta không thể làm gì nếu không có trát tòa.

Ông phục vụ chính nghĩa của chúng ta bằng cách mang giấy này tới nhà cầm quyền và xin trát tòa.

Sẽ có khó khăn đó!

Tuy nhiên tôi nghĩ rằng sự bán nữ trang là cũng đủ bằng cớ, Lestrade sẽ lo chi tiết.

- Nhưng trong khi chờ đợi, chúng có thể giết cô ấy.

Cái hòm nghĩa là thế nào?

Mua cho ai?

Nếu không phải là cho bà ấy?

- Chúng ta sẽ làm tất cả những gì có thể làm được.

Ông bạn, chúng ta không để mất một giây phút nào.

Hãy tin cậy nơi chúng tôi.

- Giờ đây, Watson à!

- Holmes nói, sau khi người khách hàng của chúng tôi xuống cầu thang.

- Ta vận dụng lực lượng chính qui.

Phần chúng ta, như thường lệ là những người không chính qui, thi hành chương trình hành động riêng.

Tình huống ngặt nghèo đến nỗi chúng ta phải sử dụng những biện pháp liều lĩnh.

Đi mau đến quảng trường Poultney.

Trong lúc xe ngựa chạy nhanh dọc tòa nhà Quốc hội rồi vượt cầu Westminster, Holmes ôn lại sự nối tiếp của các sự kiện.

- Bọn cướp này lường gạt người đàn bà khốn khổ này, đưa về London sau khi thuyết phục bà ấy cho cô bồi phòng nghỉ việc.

Nếu bà ấy có viết thư thì thư bị giữ lại.

Qua trung gian của một đồng phạm, chúng mua một cái nhà có đồ đạc.

Tới nơi, chúng cầm tù mệnh phụ và đoạt lấy nữ trang.

Chúng đã bắt đầu bán và cho là an toàn vì tin rằng có ai mà để ý tới số phận của bà ấy!

Nếu chúng thả bà ra, bà sẽ tố cáo chúng.

Vậy là phải nhốt bà ấy.

Vì không thể nào nhốt mãi mãi được, nên phải giết chết.

- Rõ ràng là vậy.

- Tuy nhiên, hãy lý luận hướng khác.

Giờ đây chúng ta không khởi đầu từ người đàn bà mà từ cái hòm.

Màn này chứng tỏ rằng, người đàn bà bất hạnh đã chết.

Nó cho thấy một đám ma hợp lệ, có giấy phép chôn đàng hoàng.

Trong trường hợp chúng đã giết mệnh phụ, chúng đã vùi xác đâu đó ngoài vườn.

Đằng này tất cả đều hợp lệ, công khai.

Tại sao?

Chắc chắn là tại vì chúng đã làm bà ấy chết một cách có thể gạt pháp lý, có lẽ thuốc độc.

Nhưng chúng không khờ dại để một y sĩ tới gần bà ta, trừ khi đó là một tòng phạm.

- Giả thuyết này khó tin lắm?

- Chúng làm giấy giả được không?

- Nguy hiểm cho chúng lắm.

Không, tôi không tưởng tượng chuyện đó bao giờ.

Dừng lại, bác xà ích!

Đây là cửa hiệu mai táng, vì chúng ta vừa đi qua tiệm cầm đồ.

Anh vào đi, Watson.

Dáng dấp anh gây tin tưởng hơn.

Hỏi xem mấy giờ ngày mai thì động quan.

Bà chủ nhà đáp mau mắn là 8 giờ ngày mai.

- Thấy không, Watson.

Đâu có gì bí hiểm!

Sáng như ban ngày!

Họ không sợ gì cả.

Tôi không thấy có giải pháp nào hay hơn là tấn công ngay.

Anh có vũ khí không?

- Một cây gậy!

- Chả sao, chúng ta đủ sức mạnh mà.

Kẻ có chính nghĩa mạnh gấp ba.

- Holmes nói.

- Chúng ta không thể chờ cảnh sát.

Bà xà ích, cho chúng tôi xuống.

Bây giờ chúng ta cũng thử thời vận như đã từng làm đôi lần trong quá khứ.

Anh giật chuông tại cửa ngôi nhà lớn tăm tối.

Cửa mở liền.

Một người đàn bà cao lớn và tái xanh xuất hiện dưới ánh sáng yếu ớt của hành lang.

- Các ông cần gì?

- Mụ nói cộc lốc và nhìn kỹ chúng tôi trong bóng tối.

- Tôi muốn gặp tiến sĩ Shlessinger - Holmes đáp.

- Ở đây không có ai tên như vậy cả.

Mụ ấy đáp, định đóng cửa, nhưng Holmes đã lọt vào trong cái cửa hé mở.

- Tốt thôi.

Vậy thì chúng tôi muốn nói chuyện với người đàn ông ngụ tại nhà này, dù y mang tên giả nào đi nữa.

- Holmes nói một cách cương quyết.

Mụ ấy lưỡng lự rồi mở toang cửa

- Mời vào!

Trên đời này, chồng tôi chả sợ ai cả.

Mụ ta ra đóng cửa lại và đưa chúng tôi vào một xa-lông nhỏ bên trái, mụ ta vặn thêm gas cho đèn sáng trước khi vào nhà trong.

- Chút nữa, ông ấy sẽ ra.

- Mụ ta nói.

Chúng tôi vừa mới nhìn quanh cái căn phòng bụi bặm bị mối đục thì cửa mở, đưa vào một người đàn ông cao lớn, đầu sói, không râu.

Khuôn mặt đồ sộ, hơi đỏ, má phệ và một vẻ nhân từ giả trá, ông ta nói giọng nhợt nhạt:

- Quí vị lầm rồi.

Tôi tin chắc rằng người ta đã chỉ đường sai.

Đề nghị quí vị xuống sân, chút nữa...

- Đủ rồi, chúng tôi không có thời gian - Holmes cắt ngang - Anh là Henry Peters, nguyên quán ở Adélaide, gần đây thì mang tên tiến sĩ Shlessinger, nguyên quán ở Baden và Nam Mỹ.

Tôi chắc chắn về điều này như 1 với 1 là 2.

Peters nhảy dựng lên, nhìn cay độc vào mặt chúng tôi.

- Ông không là gì cả đối với tôi, ông Holmes à.

Ông tới nhà tôi làm gì vậy?

- Tôi muốn biết ông đã làm gì mệnh phụ Frances Carfax, người rời Saden cùng với vợ chồng ông.

- Tôi cũng muốn được ông cho biết bà này hiện ở đâu - Peters vẫn lạnh lùng nói.

- Bà nợ tôi 100 bảng và để trả nợ, bà để lại cho tôi hai món nữ trang mạo hóa mà con buôn không thèm nhìn.

Bà ấy quyến luyến vợ tôi khi chúng tôi ở Baden...

Đúng là lúc đó tôi mang tên khác.

Bà ấy bám sát chúng tôi qua đây.

Tôi đã thanh toán giùm tiền khách sạn và chi phí này nọ.

Qua tới đây, bà ấy biến đâu mất?

Và như tôi đã nói, bà để lại cho chúng tôi hai món nữ trang vô giá trị để trừ nợ.

Nếu ông tìm ra bà ta, tôi cũng sẽ thưởng tiền cho ông.

- Tôi muốn kiếm bà ấy - Sherlock Holmes nói: - Và tôi sẽ lục nát căn nhà này cho tới khi tìm ra bà ấy mới thôi.

- Trát tòa đâu

Holmes đưa khẩu súng lục ra.

- Tạm dùng trát này trong khi chờ cái khác tốt hơn.

- Thế à?

Ông chỉ là một thằng ăn trộm trèo tường.

- Nếu ông muốn!

- Holmes trả lời một cách vui vẻ - Bạn đồng hành của tôi cũng là một kẻ cướp nguy hiểm.

Và cả hai chúng tôi sẽ viếng thăm nhà ông.

Người đối thoại của chúng tôi mở cửa la to:

- Đi kiếm một cảnh sát, Annie.

Có tiếng chân đàn bà chạy ngoài hành lang.

Cửa cổng mở ra rồi đóng lại.

- Thời gian có hạn - Holmes nói với tôi.

- Này Peters, nếu ông ngăn cản, ông sẽ gặp những rắc rối lớn.

Cái hòm đâu rồi?

- Hỏi làm gì?

- Có một xác chết trong đó!

Tôi muốn xem cái xác đó.

- Không bao giờ, nếu không được sự đồng ý của tôi.

- Vậy thì khỏi cần xin phép.

Bằng một cử động nhanh nhẹn, Holmes đẩy Peters qua bên và đi vào hành lang.

Một cửa đang hé mở, chúng tôi bước vào, đó là phòng ăn.

Holmes vặn gas để tăng thêm ánh sáng rồi giở nắp hòm.

Dưới đáy hòm có một hình dạng người hốc hác, ánh sáng chiếu rọi một khuôn mặt già cỗi nhăn nheo.

Không một sự tàn ác nào, không một bệnh nào có thể biến mệnh phụ Frances ra nông nỗi này.

Mặt của Holmes bộc lộ sự ngạc nhiên, nhưng đồng thời cũng chắc chắn có một sự nhẹ nhõm.

- Cám ơn Chúa!

- Anh nói thầm - Đây là người khác!

- Rõ ràng là ông lại lầm lạc nữa rồi, ông Holmes.

- Peters đi theo chân chúng tôi và nói lớn

- Người chết này là ai?

- Là vú già của nhà tôi, tên là Rose Spender.

Chúng tôi đưa bà cụ từ trạm xá nhà dưỡng lão Brixton về.

Chúng tôi có mời bác sĩ Horsom ở số 13 Firbank Villas...

Ghi địa chỉ này cho kỹ, ông Holmes nhé!

Bà cụ được chăm sóc tận tình đúng theo lòng bác ái của Chúa.

Ba ngày sau, bà cụ chết.

Giấy cho chôn ghi là do già cỗi, nhưng đó chỉ là ý kiến của bác sĩ.

Còn ông, đương nhiên ông biết nhiều hơn.

Chúng tôi giao cho công ty mai táng Stimson đường Kenmington.

Tám giờ sáng mai thì làm lễ.

Có cái gì mờ ám đâu, ông Holmes?

Ông hố lớn rồi.

Phải chi chụp hình được cái bản mặt đáng tức cười của ông khi giở nắp hòm?

Ông tưởng ông sẽ gặp quý bà Frances Carfax, nhưng ngược lại, ông chỉ thấy bà lão 90 tuổi.

Dưới những mũi tên của đối thủ, Holmes giữ được khuôn mặt điềm đạm, nhưng sự co bóp của hai bàn tay biểu lộ sự bồn chồn:

- Tôi sẽ lục soát nhà ông - Holmes nói.

- A, ông tưởng...

- Chủ nhà kêu to trong lúc có tiếng nới đàn bà và những bước đi nặng nề vang dội ở ngoài hành lang.

- Để coi!

Đi lối này, quý ông!

Hai người này dùng vũ lực vào nhà tôi và tôi đuổi không chịu đi.

Xin giúp tôi đuổi họ ra.

Một đội trưởng và một nhân viên cảnh sát đang đứng ở ngưỡng cửa.

Holmes đưa tấm thiệp của mình ra.

- Đây là tên và địa chỉ của tôi.

Còn đây là bạn thân của tôi, bác sĩ Watson.

- Chúng tôi biết ông nhiều.

Tuy nhiên, hai vị không thể nán lại đây, nếu không có trát tòa.

- Đương nhiên tôi biết điều đó.

- Bắt ông ấy đi - Peters la to.

- Chúng tôi biết rõ nhiệm vụ của chúng tôi - Viên đội trưởng uy nghiêm nói.

- Ông Holmes, ông phải rời khỏi nơi đâ

- Vâng.

Giây lát sau, chúng tôi đã ra tới đường.

Holmes đã lấy lại sự bình tĩnh, nhưng tôi thì sôi sục vì giận và nhục.

Viên đội trưởng tháp tùng chúng tôi.

- Rất tiết, thưa ông Holmes.

Đó là luật.

- Đúng thôi, ông đội ông không thể làm khác.

- Tôi tin ông có lý do vững vàng khi vào đó.

Tôi có thể giúp gì cho ông?

- Một người đàn bà mất tích, ông thượng sĩ à!

Chúng tôi tin bà ấy ở trong nhà đó.

Tôi đang chờ trát, không lâu lắm đâu.

- Tôi sẽ đứng canh, ông Holmes à.

Nếu có gì mờ ám, tôi không bỏ qua đâu.

Mới 9 giờ, chúng tôi bắt đầu cuộc săn đuổi.

Trước tiên, chúng tôi thuê xe đến viện dưỡng lão Brixton, và được biết vài ngày trước đây có hai nhà từ tâm đến xin một bà lão đần độn có thể trước kia là tôi tớ của họ và được cho phép chở bà đi.

Cái chết của bà này không làm cho ai ngạc nhiên cả.

Kế đó, chúng tôi qua nhà của y sĩ ông ta đã được mời đến, đã chứng kiến bà lão chết vì già cỗi; sau đó ông có khám tử thi và ký phép cho chôn.

Holmes nói:

- Tôi đảm bảo với quý anh rằng tất cả đều một trăm phần trăm hợp lệ; không có cái gì mờ ám cả.

Trong nhà không có gì khả nghi.

Duy có một điều lạ là họ không túng thiếu mà họ lại không dám thuê gia nhân?

Sau rốt chúng tôi đi tới Scotland Yard.

Có những khó khăn về thủ tục xin trát tòa.

Không thể xin được chữ ký của quan tòa trước ngày mai.

Cái ngày hôm đó kết thúc như vậy, trừ một chuyện này: Khoảng 12 giờ đêm, viên thượng sĩ báo cho biết rằng ông có thấy đằng sau cửa sổ của cái nhà đáng nghi ngờ ấy một ánh lửa lập lòe đi qua lại, nhưng không ai ra vào cả.

Chúng tôi chỉ biết phải nhẫn nại

Sherlock Holmes quá cáu kỉnh và bực dọc.

Tôi đi ngủ, mặc anh ta kéo thuốc liên tục.

Cặp chân mày rậm của anh đã nối liền nhau thành một đường thẳng.

Mấy ngón tay dài nhạy cảm của anh gõ nhẹ trên tay ghế bành.

Anh đang tìm tất cả các giải pháp có thể cho các bí ẩn.

Nhiều lần trong đêm, tôi nghe bước chân anh đi qua lại trong căn hộ.

Cuối cùng sau khi tôi thức dậy, anh nhảy bổ vào phòng tôi.

- Mấy giờ thì động quan.

Tám giờ phải không?

Bây giờ là 7 giờ 20 rồi.

Watson à!

Tôi đã sử dụng ra sao cái óc tí xíu mà trời ban cho!

Nhanh lên, nhanh lên!

Một vấn đề sống chết, và cơ may để chết là một trăm trên một.

Nếu ta tới muộn, tôi sẽ không tha thứ cho tôi về chuyện đó.

Năm phút sau, chúng tôi ngồi trong xe ngựa.

Mặc dù tài xế đánh ngựa tới tấp, khi đi ngang đồng hồ Big Ben, cây kim chỉ 8 giờ kém 25 và đổ vang 8 giờ khi chúng tôi xuống xe ở Brixton.

Tuy nhiên mọi người cũng đều đi trễ.

Lúc 8 giờ 10 xe tang còn đậu trước cổng nhà.

Khi con ngựa sùi bọt mép của chúng tôi ngừng lại, ba người khiêng quan tài đã ra đến ngưỡng cửa.

Holmes ào ào chạy tới trước mặt họ để cản đường.

- Lui lại.

- Anh la lớn vào bọn đạo tì rồi đặt tay trên vai người gần nhất.

- Đem quan tài trở vào nhà tức khắc?

- Ông muốn gì nữa?

Tôi hỏi ông một lần nữa?

Ông có trát tòa không?

- Peters thét lên giận dữ.

- Trát trên đường đi tới đây, cái hòm này sẽ ở lại trong nhà cho tới khi có trát tòa tới.

Tiếng nói của Holmes đượm nồng quyền uy đến nỗi các đạo tì khựng lại.

Peters lẩn trốn vào nhà.

Họ tuân theo lệnh Holmes.

- Nhanh lên, Watson tuộc-nơ-vít đây - Holmes thét lên khi hòm được đặt trên bàn - Còn đây một cái tuộc-nơ-vít khác cho bạn.

Thưởng một bảng nếu nắp được mở trong vòng một phút!

Không ngập ngừng gì hết Ra tay!

Tốt!

Một cái nữa!

Một cái nữa.

Cùng nhau kéo nó lên.

Tốt.

À, hay lắm.

Kết hợp sức mạnh, chúng tôi giở được nắp hòm.

Từ trong bốc ra mùi thuốc mê nồng nặc.

Một xác được trải dài, đầu bịt băng thấm nhựa thuốc phiện.

Trong nhấp nháy, Holmes gỡ hết, để lộ một khuôn mặt cứng đơ của một người đàn bà đẹp, cỡ 40 tuổi.

Anh lấy tay dựng đứng phần thân và duy trì nó ở thế ngồi.

- Bà ấy sống không, Watson.

Còn tồn tại tia sinh lực nào không?

Chúng ta đã đến quá trễ.

Trong nửa giờ, chúng tôi có cảm giác là trễ, do hiệu quả của thuốc mê hoặc do bị làm ngạt thở thật sự, mệnh phụ Frances có thể đã tới mức không còn hy vọng gì nữa.

Cuối cùng nhờ hô hấp nhân tạo, chích ê-te và nhờ tất cả những gì mà khoa học có thể có.

Một làn sương nhẹ trên kính và sự nhấp nháy của mi mắt báo cho chúng tôi biết rằng sự sống từ từ trở lại.

Một xe ngựa ngừng trước nhà.

Holmes kéo sáo lên.

- Lestrade cầm trát tòa tới.

- Holmes loan báo - Ông ấy sẽ kiếm bắt các con mồi đang lẩn trốn và đây...

Những bước đi nặng nề ngoài hành lang.

- Và đây là một người có nhiều quyền hơn chúng ta, để chăm sóc mệnh phụ này.

Kính chào ông Green.

Tôi nghĩ rằng ta nên chở mệnh phụ đi nhà thương càng sớm càng tốt.

Trong khi chờ đợi, bà lão vẫn có thể đi tiếp con đường tới nơi an nghỉ cuối cùng.

- Anh Watson, có anh nên ghi thêm câu chuyện này vào mớ hồ sơ của anh.

Nó minh họa sự sơ sót tạm thời mà dù cái tâm trí quân bình nhất trên đời cũng mắc phải.

Những sơ hở tương tự thường xảy ra cho mọi người.

May mắn cho kẻ nhận ra kịp và kịp thời sửa chữa.

Tôi có quyền kiêu hãnh về điều này.

Đêm trước, tôi cứ thắc mắc rằng, đâu đó một chỉ dẫn, một câu nói lạ tai, một nhận xét kỳ dị đã đến với tôi nhưng tới đã gạt bỏ chúng.

Rồi thình lình trong ánh sáng lờ mờ của buổi bình minh, các lời đó trở lại trong ký ức tôi.

Đó là nhận xét của bà chủ cửa hàng mai táng, như Philip Green tường thuật lại.

"Bà ấy nói:

- Ông ấy sẽ về đến ông ấy có xin thêm thời gian, bởi vì cái kiểu đặc biệt."

Bà ấy nói về cái hòm, như vậy là kích thước vượt ra ngoài lệ thường.

Tại sao?

Thình lình tôi nhớ đến chiều sâu của nó và cái hình người bé nhỏ khô đét bên trong.

Tại sao một cái hòm rộng mênh mông mà chỉ để chứa một cái xác tí tẹo, nếu không phải để chứa thêm một cái xác thứ hai?

Hai xác sẽ được chôn với một giấy phép độc nhất.

Rõ như ban ngày, thế mà đầu óc tôi rối mù?

Quả là một may mắn nhỏ nhoi nếu tìm ra bà ta trong tình trạng còn sống, nhưng cuối cùng quả có may thật.

Theo tôi biết, mấy người đó không dám tự mình cầm dao cầm súng giết ai.

Họ có thể chôn bà mệnh phụ mà không ai hay biết tí gì.

Anh Watson, anh có thể dựng lại quang cảnh một cách dễ dàng.

Anh đã quan sát cái xó hãi hùng trên gác, nơi mà mệnh phụ bị nhất lâu ngày?

Họ cho bà ấy ngửi thuốc mê tối đó, đưa bà ấy xuống, cho thêm thuốc mê vào hòm để chắc chắn rằng bà không thể tỉnh lại, rồi vặn ốc cái nắp hòm.

Mưu chước tinh vi thật?

Một mưu chước mới mẻ trong lịch sử tội ác.

Nếu cái nhà cựu truyền giáo này không bị Lestrade còng tay thì chắc chắn sau này ta sẽ nghe thêm những chiến tích kinh rợn hơn!

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
E7 Bàn chân của quỷ


BÀN CHÂN CỦA QUỶ

THE ADVENTURE OF THE DEVIL'S FOOT (1910)

His last bow

Cung đàn sau cuối

Sau những lần phá án ly kỳ nhất, đến năm 1897, con người mình đồng da sắt đã bắt đầu biểu lộ vài triệu chứng mệt mỏi.

Tháng 3 năm đó, bác sĩ Moore Agar ở phố Harley ra lệnh cho Holmes phải nghỉ ngơi hẳn, nếu muốn tránh một sự suy thoái tâm thần nghiêm trọng.

Holmes chưa bao giờ để ý đến sức khoẻ của mình, nhưng khi nghe dọa sẽ vĩnh viễn mất khả năng làm việc, anh liền đi thay đổi không khí.

Do vậy vào đầu mùa xuân năm 1897, hai chúng tôi đến ngụ trong một biệt thự nhỏ bé gần vịnh Poldhu, ở mỏm cực của bán đảo Cornwall.

Nơi thích hợp cho tính khí u buồn của con bệnh.

Qua các cửa sổ của ngôi nhà nhỏ, tường trắng, chúng tôi nhìn thấy trọn cái vòng bán nguyệt thê lương của vịnh Mounts, từ lâu đài là cửa đi của các thuyền buồm, với những mỏm đá ngầm.

Ở phía đất liền, quang cảnh cũng khá ảm đạm.

Đó là một vùng rừng chồi mầu nâu.

Xa xa, tháp chuông của một nhà thờ đánh dấu vị trí của một ngồi làng cổ.

Khắp nơi trên rừng chồi này, người ta tìm thấy các dấu vết của một chủng tộc diệt vong với những kiến trúc quái dị bằng đá, những mô đất hình thù kỳ lạ chứa đựng tro của người chết và những công trình quái đản có thể là những đài tưởng niệm tử sĩ trong thời kỳ xa xưa.

Cái nơi huyền bí này kích thích mạnh mẽ tư tưởng của Holmes.

Anh dành khá nhiều thời giờ để đi dạo và suy ngẫm, lưu tâm đến ngôn ngữ xưa ở vùng Cornwall.

Đối với anh, nó cùng tộc với ngôn ngữ của người Chaldée mà các thương nhân Phoenic đưa vào đó trên đường đi bán thiếc.

Trước đây, khi Holmes vừa nhận được một bưu kiện sách triết và đang bắt đầu viết luận án thì ngẫu nhiên chúng tôi lọt vào mảnh đất thơ mộng này.

Tôi buồn rầu , nhưng Holmes thì vui vẻ vô cùng: Một bài toán với nhiều diễn biến và nhiều bí hiểm đang chờ đợi anh .

Chúng tôi lọt vào một chuỗi biến cố làm rung chuyển không chỉ ở vùng Cornwall mà ở cả nước Anh nữa.

Người ta gọi đó là "Nỗi kinh hoàng của vùng Cornwall".

Tôi có nói rằng tại vùng đất Cornwall này, rải rác đó đây có những cái tháp làm dấu vị trí các ngôi làng.

Làng Tredannick Wollas có nhà cửa qui tụ quanh một nhà thờ cổ rêu phong.

Linh mục chánh xứ Roundhay, 40 tuổi, là một người dễ thương, có biết chút ít về khảo cổ học.

Ông hiểu tất cả các ngõ ngách của địa phương và thườngời chúng tôi uống trà tại tòa chánh xứ.

Nơi đây chúng tôi được giới thiệu với nhà quí tộc Mortimer Tregennis, người thuê một căn hộ trong tòa nhà mênh mông của chánh xứ.

Ông có dáng người gầy, da màu nâu, mang kiếng và còng lưng như bị tật.

Tôi nhớ hôm đó trong cuộc thăm viếng ngắn ngủi tại tòa chánh xứ, nhân vật này ít nói u buồn, rụt rè và hình như đang ưu tư về chuyện riêng.

Ngày thứ ba, 16 tháng 3, không lâu sau bữa cơm sáng, lúc chúng tôi đang hút một điếu thuốc trước khi ra rừng dạo chơi theo lệ thường, thì hai người đàn ông ấy đến.

Linh mục chánh xứ nói với giọng xúc động:

- Thưa ông Holmes, đêm hôm qua xảy ra sự việc bi thảm, làm chấn động nhất từ trước đến nay.

Chúng tôi xem sự có mặt của ông tại đây, xứ đạo này, là phước lành, vì kiểm lại trên toàn nước Anh, ông là người duy nhất mà chúng tôi cần trong giây phút này.

Tôi nhìn nhà tu hành với cái nhìn thiếu thiện cảm.

Nhưng Holmes vứt thuốc, ngồi ngay ngắn lại.

Anh chỉ cái ghế dài.

Hai người khách ngồi sát bên nhau.

Ông Mortimer Tregennis tự chủ hơn vị tu sĩ, nhưng đôi mắt u buồn rực sáng và hai bàn tay run rẩy, cho thấy rằng ông ấy cũng xúc động như linh mục.

- Ai nói, cha hay là tôi?

- ông hỏi cha xứ.

- Thưa cha!

- Holmes nói - Chính cha phát hiện sự việc nên tôi đề nghị cha trình bày.

Tôi lần lượt quan sát nhà tu hành, rõ ràng ông đã rất vội vã khi mặc quần áo, còn người ở trọ ăn mặc rất chỉnh tề.

Vị linh mục nói:

- Đêm qua, ông Tregennis đây đến chơi với hai người anh là Owen, George và cô em Brenda của ông tại Tredannick Wartha, trên rừng chồi.

Ông về lúc hơn 10 giờ.

Ba người còn lại tiếp tục đánh bài trong phòng ăn.

Mọi người đều khoẻ mạnh và vui vẻ.

Sáng nay, ông dậy sớm, đang đi dạo về hướng đó, thì xe của bác sĩ Richards đuổỉ theo, cho biết rằng mình vừa nhận được một lời mời khẩn cấp từ Tredannick Wartha.

Tất nhiên ông Mortimer Tregennis liền leo lên xe cùng đi.

Khi tới đó, ông thấy tình trạng dị thường.

Hai anh trai, cô em gái vẫn còn ngồi tại bàn, y hệt như lúc ông ra về.

Các quân bài vẫn ở trước mặt họ, đèn nến cháy cạn chén, nhưng cô em gái tựa lưng vào ghế, chết cứng.

Còn hai người anh trai thì ngồi la cười và hát như hai thằng điên.

Cả ba, một chết và hai điên, đều biểu lộ trên mặt họ cùng một sự kinh hoàng vô cùng ghê rợn.

Trong nhà không có ai, trừ bà già Porter, người nấu bếp kiêm quản gia.

Bà này khai rằng mình ngủ ngon lành, chẳng nghe tiếng động nào trong đêm.

Không vật gì bị đánh cắp hoặc bị dời chỗ.

Người ta đoán mò lung tung về tính chất của sự kinh hoàng.

Holmes lặng thinh hồi lâu, chìm đắm trong cái thảm kịch quái dị.

- Tôi sẽ đảm trách nội vụ.

Cha đã tới đó chưa, thưa cha?

- Chưa.

Khi ông Mortimer Tregennis tường thuật các chi tiết đó, ngay tức khắc chúng tôi chạy tới đây

- Nơi xảy ra thảm kịch cách đây bao xa?

- Khoảng một dặm.

- Như vậy thì chúng ta sẽ đi bộ.

Nhưng trước khi đi, tôi muốn hỏi ông Mortimer Tregennis vài câu.

Ông này ngồi im, mặt tái xanh, đường nét căng, nhìn Holmes một cách lo âu, hai bàn tay co giật điên hồi.

Đôi môi trắng bệch run rẩy từ khi nghe kể về biến cố lạ lùng giáng xuống đầu các em của ông.

Ông ta nói một cách nhiệt thành:

- Tôi sẽ thành thật trả lời ông.

- Xiin ông hãy kể về tối hôm qua.

- Tối hôm qua, tôi ăn cơm tối với cha chánh xứ và anh cả của tôi là George đề nghị đánh bài.

Chúng tôi bắt đầu chơi lúc 9 giờ.

Tôi đứng dậy ra về lúc 10 giờ kém 15.

Lúc tôi về, mọi người vẫn ngồi quanh bàn, vui tươi hớn hở.

- Ai mở cửa cho ông về?

- Lúc đó bà Porter đã đi ngủ.

Do đó chính tôi mở và đóng cửa chính.

Cửa sổ cạnh bàn họ đánh bài thì đóng rồi.

Nhưng bức mành không có kéo xuống.

Cửa lớn và cửa sổ sáng nay vẫn như cũ.

Vậy là không có lý do để nói rằng có một kẻ vô danh đã lẻn vào nhà.

Nhưng hai anh tôi đã điên vì sợ, còn Brenda thì đã chết.

- Theo như ông tường thuật thì các sự kiện này quả là phi thường.

Nếu tôi không lầm thì ông không thể giải thích được tấn thảm kịch này?

- Holmes nói.

- Quỷ sứ, thưa ông Holmes!

Chỉ có quỷ sứ!

- ông Mortimer Tregennis kêu lên - Sức mạnh của con người không thể làm được như thế.

- Nếu câu chuyện thuộc bình diện siêu nhân, tôi phải bó tay.

Nhưng chúng ta thử vận dụng tất cả các giả thiết tự nhiên trước sự chấp nhận giả thiết huyền bí.

Thưa ông Tregennis, dù ít dù nhiều, ông đã không sống chung với gia đình phải không?

Những người kia sống chung với nhau, còn ông thì ở riêng

-Vâng, thưa ông Holmes, chúng tôi là một gia đình khai mỏ thiếc ở Redruth.

Chúng tôi đã bán cái xí nghiệp của mình cho một công ty và kiếm được một số tiền khá lớn dành cho tuổi già.

Tôi không phủ nhận rằng sự chia chác có gây ra vài bực dọc trong một thời gian.

Nhưng giờ đây, tất cả đã đi vào quên lãng.

Và anh em chúng tôi đã trở lại thân thiế với nhau.

- Hãy suy nghĩ thêm về cái đêm đoàn tụ!

Ông không nhớ một sự kiện nào có thể soi sáng cái bi kịch sao?

Cố nhớ đi, ông Tregennis, chỉ cần một chỉ dẫn nhỏ nhất cũng có ích cho tôi.

- Tôi không thấy gì cả.

- Không khí của gia đình cũng bình thường như mọi ngày?

- Chưa bao giờ họ vui như thế.

- Các anh và em gái của ông có vẻ gì lo lắng không?

Họ có biểu lộ một mối lo sợ mơ hồ về một mối hiểm nguy nào đó không?

- Tuyệt đối không!

- Vậy là ông không có chi tiết gì để giúp tôi?

Mortimer Tregennis suy nghĩ nghiêm túc trong giây lát.

- Tôi có nhớ một điều.

Trong lúc chúng tôi ngồi quanh bàn, tôi quay lưng ra cửa sổ, còn anh George thì nhìn ra cửa sổ.

Có một lần tôi thấy anh nhìn đăm dăm qua vai tôi đến nỗi tôi phải quay đầu ra sau và cùng nhìn.

Bức mành thì kéo lên, cửa sổ thì đóng kín.

Tôi không thấy gì xa hơn các bụi cây trên bồn hoa.

Và hình như tôi thấy một cái gì đó đang di động.

Tôi không thể nói chính xác đó là một con người hay một con thú, nhưng tôi tin là có một sự lạ.

Tôi có hỏi xem anh ấy nhìn cái gì thì anh cho biết cũng có cảm giác như tôi.

- Ông không có kiểm chứng tại chỗ?

- Không.

Câu chuyện ngừng tại đó.

- Ông đã rời họ và không cảm thấy có điều gì sắp xảy ra

- Tuyệt đối không.

- Tôi không hiểu rõ nhờ đâu ông hay tin sớm thế

- Tôi luôn luôn thức sớm, và thường thường tôi đi bộ một lúc trước khi dùng điểm tâm.

Sáng nay mới vừa ra khỏi nhà thì ông bác sĩ đuổi kịp bằng xe.

Ông cho tôi biết rằng bà lão Porter sai một thằng bé chạy tới mời tôi.

Tôi nhảy tót lên cạnh ông và cùng đi.

Ngay khi tới nơi, chúng tôi đến cái căn phòng ghê rợn.

Nến và lò sưởi đã tắt từ lâu.

Họ ngồi trong bóng tối cho tới mặt trời mọc.

Bác sĩ cho tôi biết, em gái tôi chết cách đó ít nhất là 6 giờ.

Không thấy có dấu vết nào của bạo hành.

Cô ấy cúi đầu, ngồi chết trong ghế bành, George và Owen đang ca hát và thốt ra những âm thanh rời rạc như hai con khỉ khổng lồ.

Tôi không thể chịu đựng được cảnh tượng này.

Chính gương mặt bác sĩ cũng trắng bình như tấm "ra", gần ngất xỉu và chúng tôi còn phải lo chăm sóc ông ấy nữa.

- Kỳ lạ thật!

- Holmes đứng dậy và lấy nón - Thực là kỳ lạ!

Tôi nghĩ rằng ta nên tức tốc đi tới Tredannick Wartha.

Tôi thú thật là ít khi gặp một bài toán quái dị như vậy.

Chúng tôi đã chọn một con đường hẹp, ngoằn ngoèo quanh co để đến hiện trường.

Nghe tiếng lộc cộc của xe ngựa trước mặt chạy tới, chúng tôi nép sát lề.

Khi xe đó chạy ngang qua, chúng tôi thấy một khuôn mặt đang nhăn nhó, bị biến dạng một cách kinh dị, mắt trợn trắng, răng nghiến ken két.

- Các anh tôi!

- Mortimer Tregennis kêu lên, mặt mày tái mét - Người ta mang họ đi Helston!

Nhìn chiếc xe gập ghềnh xa dần, chúng tôi tiếp tục lộ trình.

Căn nhà rộng và sáng sủa, khu vườn mênh mông được tô điểm bằng hoa xuân.

Cái cửa sổ của phòng khách nhỏ ngó ra vườn.

Chính từ thửa vườn đó, ông Mortimer Tregennis nhìn thấy cái "quỉ quái" nào đó.

Holmes chậm rãi và nghĩ ngợi, đi dạo qua các bồn hoa trên lối đi trước khi vào nhà.

Anh trầm tư đến nỗi vấp phải bình tưới, lật nhào nó, làm ướt chân chúng tôi.

Vào bên trong, bà lão Porter đón tiếp chúng tôi.

Bà ta mau mắn trả lời tất cả các câu hỏi của Holmes: suốt đêm bà không hề nghe tiếng động nào.

Đến sáng lúc vào xa-lông, bà ngất xỉu trước cảnh rùng rợn quanh cái bàn.

Sau khi hoàn hồn, bà mở cửa sổ cho khí trời của buổi sáng tràn vào, rồi bà đi dọc lối đi, sai một thằng bé trong trang trại đi mời bác sĩ.

Bà không còn muốn ở thêm tại đây một ngày nào nữa.

Ngay chiều nay bà sẽ ra đi, trở về với gia đình ở St.

Ives.

Chúng tôi leo lên cầu thang để nhìn xác cô gái.

Trước đây, cô Brenda Tregennis là một cô gái rất đẹp.

Nhưng bây giờ người ta vẫn còn thấy mặt cô nhăm nhúm, vết tích của sự co giật hoảng sợ.

Từ phòng của cô, chúng tôi xuống sa-lông, hiện trường của bi kịch.

Tro và đất còn trong lò sưởi.

Trên bàn có bốn khúc đèn nến cháy dở và bộ bài.

Ghế dựa thì đã được xếp sát tường.

Ngoại trừ chuyện đó, tất cả còn y nguyên.

Holmes đi qua đi lại trong phòng.

Anh lên tiếp ngồi vào cái ghế sau khi đặt chúng trở lại vị trí của đêm qua.

Anh kiểm chứng những cái gì có thể thấy được ngoài vườn, khám nghiệm sàn trước và lò sưởi.

- Tại sao lại đốt lò sưởi?

Chật chội như thế này mà lại đốt lò sưởi, nhất là vào một đêm xuân?

Ông Mortimer Tregennis giải thích rằng đêm đó lạnh và ẩm.

Đó là lý do lửa được đốt lên sau khi ông ta về.

- Ông sẽ làm gì bây giờ, thưa ông Holmes?

- ông ta hỏi.

Holmes nhoẻn miệng cười rồi để bàn tay anh trên vai tôi:

- Watson!

Có lẽ tôi phải hút lại cái món thuốc lá, độc dược mà anh đã bài bác.

Giờ đây chúng ta đi về, bởi vì tại đây tôi không tìm được yếu tố nào mới mẻ và hữu ích.

Thưa ông Tregennis, tôi sẽ liên lạc với ông và cha chánh xứ.

Trong khi chờ đợi, tôi chúc cả hai người một buổi sáng an hành.

Về tới biệt thự Poldhu, Holmes nằm co ro trong ghế bành, chung quanh khói thuốc mịt mù, lặng thinh, chân mày cau lại, trán nhăn mặt, mắt nhìn vu vơ.

Cuối cùng anh đặt cái tẩu xuống và đứng lên.

- Watson này!

Chúng ta cùng nhau đi dạo dọc các tảng đá vôi và kiếm những mũi tên bằng đá lửa có kết quả hơn là đi tìm đáp số cho bài toán này.

Bắt trí óc làm việc mà không có nguyên liệu đủ, thì giống hệt như cho máy nổ chạy mà không đổ xăng vào.

Chúng ta hãy rà soát lại tình hình một cách bình thản trong lúc đi dạo.

Tôi bắt đầu khẳng định rằng cả anh lẫu tôi không ai chấp nhận cái giả thiết có yêu quái.

Chỉ còn lại cái sự kiện ba người là nạn nhân của sự can thiệp của người trần.

Vậy thì thảm kịch xảy ra lúc nào?

Nếu tin theo lời thuật lại của người kể chuyện thì tai họa xảy ra ngay sau khi Mortimer Tregennis về.

Đó là một điều quan trọng.

Trong tất cả các sự phỏng đoán thì phải vài phút sau: Các lá bài hãy còn trên bàn, giờ đi ngủ đã qua lâu rồi.

Tuy nhiên họ vẫn ngồi y chỗ, bàn ghế vẫn y nguyên.

Tôi lặp lại rằng tai biến đã xảy ra ngay sau khi ông ta ra về và trước 11 giờ đêm.

Như vậy là chúng ta phải kiểm lại các hành động của Mortimer Tregennis sau khi ông rời sa-lông.

Các hành động của ông này đều có vẻ thoát khỏi mọi ngờ vực.

Anh hiểu rằng qua việc lật đổ cái bình tưới, tôi lấy được dấu chân rất rõ của ông ta.

Cát ẩm của lối đi tạo thuận lợi cho công việc này.

Đêm trước cũng ẩm, anh nhớ không, nhờ vậy, dựa vào một dấu, tôi có thể phân biệt và theo dõi và đường đi của anh chàng.

Anh chàng có vẻ đi nhanh về phía tòa chánh xứ.

Vậy thì khi anh chàng này mất dạng rồi, thì ai đến đó hốt hồn các tay bài.

Làm sao nhận dạng người này và xác định nguyên nhân gây ra tội ác.

Ta có thể loại trừ bà lão Porter ra?

Có thể nào chứng minh rằng có một người bò sát cửa sổ và tạo ra hiệu quả làm ai cũng sợ phát điên?

Cái gợi ý độc nhất về hướng này phát xuất từ anh chàng Mortimer Tregennis rằng anh của ông ta thấy một cái gì động đậy ngoài vườn.

Đó là điều nực cười, vì đêm đó mưa, có mây, tối đen như mực.

Bất cứ ai tới đó với ý định hù dọa cũng đều phải dán mặt vào cửa kính.

Phía ngoài, dưới cửa sổ có một bồn hoa có bề ngang 3 bộ.

Tôi không kiếm ra một dấu chân nào.

Trong trường hợp này, khó tưởng tượng ra một kẻ vô danh đã có thể tại ra một cảm giác hãi hùng như thế.

Mặt khác, cho tới nay, chúng ta chưa tìm ra một động cơ nhỏ nhoi nào giải thích được mưu toan vừa quái đản vừa rắc rối.

Anh thấy rõ những khó khăn của chúng ta chứ, Watson?

- Rõ ràng là khó!

- Tôi đáp.

- Tuy nhiên, tôi tin rằng trong hồ sơ lưu trữ của anh, anh có thể tìm ra vài vụ án cũng tối tăm tương tự.

Trong khi chờ đợi, chúng ta tạm xếp vụ này, chờ có thêm tin tức chính xác và dùng thời gian còn lại của buổi sáng này để săn đuổi con người thời đồ đá mới.

Có lẽ tôi đã ca tụng cái khả năng siêu thoát tâm thần của Holmes.

Tuy nhiên chưa bao giờ anh làm tôi kinh ngạc hơn buổi sáng mùa xuân đó tại vùng Cornwall.

Trong suốt 2 giờ liền, Holmes thuyết trình về người Celtes, về các đầu mũi tên, về cái mảnh vỡ của lọ một cách lưu loát như không hề bận tâm về một bài toán hóc búa.

Lúc xế chiều, khi chúng tôi về nhà, có một người khách đến.

Chúng tôi nhận ra khách từ xa.

Thân hình khổng lồ, khuôn mặt xương, đôi mắt hung ác, mũi quặp, bộ tóc muối tiêu, râu quai nón vàng óng ở đuôi.

Tướng mạo này quen thuộc tại London, cũng như tại châu Phi.

Đó là bác sĩ Leon Sterndale, nhà săn sư tử và một nhà thám hiểm lừng danh.

Chúng tôi có biết ông ta đang có mặt trong vùng và đôi lần có thấy thoáng qua dáng dong dỏng cao của ông nổi bật trong rừng chồi.

Ông không làm quen với chúng tôi, chúng tôi cũng không làm quen với ông vì ai cũng trọng sự thanh vắng của nhau.

Ông sống đời ẩn dật, tại một nơi sâu trong của khu rừng Beauchamp Arriance, chìm đắm trong sách vở và bản đồ.

Ông tự lo việc nội trợ, và có vẻ không để ý đến việc của người chung quanh.

Tôi rất kinh ngạc khi nghe ông hỏi Holmes một cách nồng nhiệt xem có tiến được bước nào trong việc giải thích cái thảm kịch.

- Ông Holmes, cảnh sát địa phương hoàn toàn bối rối.

Nhưng do kinh nghiệm dồi dào của ông, ông có thể đưa ra một giả thiết hợp lý.

Về phần tôi, lý do độc nhất khiến tôi tò mò là vì trong nhiều lần lui tới vùng này, tôi có quen gia đình Tregennis.

Có thể nói rằng tôi xem họ như anh em của mình.

Sự bất hạnh đó không khỏi làm tôi đau buồn.

Tôi đã đến cảng Plymouth để chuẩn bị xuống tàu đi châu Phi.

Nhưng sáng nay khi nghe tin, tôi vội vàng quay trở về để tiếp tay với các nhà điều tra.

Holmes trố mắt:

- Ông bỏ vé tàu vì chuyện này?

- Tôi đi chuyến sau.

- Ông thật là tốt bụng.

- Chúng tôi là anhh em mà.

- Đúng vậy!

Các nạn nhân có họ hàng với ông.

Hành lý của ông đều đã lên tàu rồi chứ gì?

- Chỉ một phần, phần lớn vẫn còn tại khách sạn.

- Tôi hiểu rồi.

Biến cố này chưa được báo chí đăng tải?

- Chưa, nhưng tôi có nhận một điện tín.

- Tôi xin phép được biết tên người gởi?

Một bóng mờ thoáng qua trán của nhà thám hiểm.

- Ông quá tò mò, thưa ông?

- Nghề nghiệp mà?

Phải cố gắng lắm, bác sĩ Sterndale mới lấy lại bình tĩnh.

- Tôi không thấy có lý do để giấu ông, cha xứ là người đánh điện cho tôi.

- Cám ơn, để trả lời câu hỏi của ông, tôi xin nói rõ với ông rằng tôi chưa giải thích được trọn vẹn nội vụ.

Tuy nhiên, tôi hy vọng sẽ đi tới một kết luận.

- Ông có thể nói chính xác rằng các ngờ vực của ông có hướng hẳn về một phía nào không?

- Không, tôi không thể nói chính xác với ông được.

- Như vậy là tôi đã mất thời giờ vô ích.

Tôi không còn lý do để kéo dài cuộc thăm viếng này.

Nói xong người khách chia tay với chúng tôi.

Không đầy 5 phút sau, Holmes cũng ra đi, bám theo ông ta.

Mãi cho tới tối, khi về thì bước đi uể oải.

Qua diện mạo, tôi đoán biết chả có gì tiến bộ hơn.

Holmes liếc qua cái điện tín nằm chờ, rồi liệng nó vào lửa, nói:

- Của khách sạn Plymouth.

Tôi biết tên của khách sạn qua cha xứ và tôi đánh điện để nắm chắc rằng bác sĩ Sterndale Leon không nói dối.

Hình như ông ta có ngủ đêm tại đó, và có một số hành lý lên tàu trong khi ông ta quay về đây để chứng kiến cuộc điều tra.

Anh nghĩ gì, hả Watson?

- Tại sao ông ấy để ý đến cuộc điều tra một cách tha thiết thế?

- Đúng!

Đó là một sợi chỉ ma chúng ta chưa lần đến.

Vì tôi tin rằng chúng ta chưa qui tụ đủ các yếu tố.

Khi đủ rồi thì các khó khăn của chúng ta chỉ còn là kỷ niệm.

Sáng hôm sau, tôi đang cạo râu ở cửa sổ thì nghe tiếng vó ngựa chạy vội vã.

Đến cửa chúng tôi, xe ngừng lại.

Vị linh mục nhảy ngay xuống đất, lao vào lối đi trong vườn hoa.

Chúng tôi chạy ra đón.

Ông rối trí đến nỗi không nói được rõ ràng và câu chuyện bị đứt đoạn.

- Chúng tôi hiện là nạn nhân của quỷ.

Xứ đạo của tôi luôn bị quỷ phá, Satan thân chinh!

Chúng tôi lọt vào quyền năng của quỷ dữ...

Ông lăng xăng hoa tay múa chân.

Cuối cùng, ông đưa cái tin bất ngờ.

- Ông Mortimer Tregennis đã chết đêm qua.

Triệu chứng giống hệt như các người trước.

Holmes nhảy dựng lên.

- Cho chúng tôi quá giang!

- Vâng!

- Thưa cha!

Chúng tôi hoàn toàn thuộc quyền sử dụng của cha.

Nhanh lên!

Nhanh lên!

Tôi phải tới đó trước khi người ta xáo trộn hiện trường.

Người ở trọ chiếm hai căn phòng trên gác, cả hai đều ở một góc.

Căn dưới là phòng khách.

Bên trên là phòng ngủ.

Hai phòng ngó ra sân gôn nhỏ trải dài cho tới tận cửa sổ.

Chúng tôi tới đó trước cả pháp y và cảnh sát.

Chưa có cái gì bị đụng tới hoặc dời chỗ.

Phòng bốc mùi rất khó chịu.

Cô gái làm công vào trước mở cửa sổ, nếu không thì không tài nào thở nổi.

Có thể do cái đèn dầu đang cháy dở bốc khói mù mịt trên cái bàn giữa phòng.

Cạnh bàn, xác chết được đặt ngồi dựa vào ghế.

Chòm râu quai nón nhọn chĩa ra phía trước, cặp mắt kính lật ngược trên trán; cái khuôn mặt gầy gò màu nâu hướng ra cửa sổ và cũng bị méo mó vì kinh hoàng y hệt như khuôn mặt xác chết của cô em.

Tay chân bị còng queo và các ngón tay cong lên như ông ấy đã trải qua một cơn khiếp đảm cùng cực.

Ông mặc áo quần đầy đủ nhưng chúng tôi được biết ông đã ngủ trên giường và cái chết thê thảm xảy ra vào sáng sớm.

Ngay khi vượt ngưỡng cửa của căn hộ, Holmes hoạt động năng nổ.

Anh đi ra ngoài bồn hoa nhảy cửa sổ trở vào, đi vòng quanh sa-lông; leo lên phòng ngủ trên gác như con chó săn hùng hổ khi đã tìm ra con mồi.

Holmes nhìn quanh vào phòng rồi mở cửa sổ, có điều gì như kích thích anh thêm vì anh chồm ra ngoài và thốt ra những lời thích thú!

Rồi anh lại tụt xuống cầu thang và nhảy cửa sổ, úp mặt sát cỏ, leo trở lên phòng một lần nữa.

Holmes tỉ mỉ khám xét cái thuộc loại làm theo chuẩn, rồi dùng bàn chân đo đạc.

Anh dùng kính lúp khám nghiệm tấm thiếc bên trên cái bóng đèn, cào cào một tí tro còn dính ở phần trên vào một phong bì rồi kẹp vào cuốn sổ con khi pháp y và cảnh sát xuất hiện.

Anh ra hiệu cho mục sư rồi tất cả chúng tôi đi ra ngoài.

Anh nói:

- Tôi sung sướng loan báo rằng các cuộc điều tra của tôi không hoàn toàn tiêu cực.

Tôi không thể nán lại để thảo luận nội vụ với cảnh sát.

Tôi thỉnh cầu cha xứ chuyển lời chào của tôi đến viên thanh tra và lưu ý ông ta về cái cửa sổ phòng ngủ và cái đèn trong sa-lông.

Hai cái đó tách riêng ra gợi cho ta nhiều ý.

Gộp lại, chúng đưa ta tới kết luận.

Nếu cảnh sát muốn biết hơn, tôi sẵn sàng gặp bất cứ người đại diện nào của họ.

Còn bây giờ, Watson à, chúng ta sẽ có việc làm ích lợi hơn tại chỗ khác.

Có thể cảnh sát không thích sự chõ mũi của một tay nghiệp dư, hoặc có thể vì họ tự cho đã đi đúng hướng; nên trong hai ngày đầu, chúng tôi không nghe nói về họ.

Trong khi đó Holmes hút thuốc liên tục và suy ngẫm miên man, nhất là anh thường một mình đi bộ ngoài đồng.

Một thí nghiệm hé lộ cho tôi thấy hướng đi của cuộc điều tra.

Anh mua một cái đèn giống y cái đèn chiếu sáng phòng của Mortimer Tregennis, đổ vào đó loại dầu giống y dầu dùng tại tòa chánh xứ rồi kỹ lưỡng đo thời gian dầu cháy.

Anh lại làm một cái thì nghiệm khác có tính chất khó chịu hơn, tôi còn nhớ hoài.

- Anh còn nhớ không, Watson?

Chỉ có một điểm tương đồng duy nhất giữa các lời tường thuật mà chúng ta được nghe.

Đó là sự tác động của không khí trong phòng trên người đầu tiên bước vào.

Anh còn nhớ Mortimer Tregennis có nói rằng bác sĩ gần ngất xỉu, té xuống ghế bành.

Anh cũng còn nhớ rằng bà lão có nói rằng chính bà cũng xỉu khi bước vào phòng.

Còn trong trường hợp mới đây, chắc chắn anh chưa quên cái không khí cực kỳ khó chịu của căn phòng của Mortimer Tregennis khi chúng ta đến, dù cô người làm đã mở cửa rồi.

Cô này như tôi được biết đã nhuốm bệnh về chuyện này.

Watson à, anh hãy nhìn nhận rằng, những sự kiện này rất có ý nghĩa.

Trong cả hai trường hợp, không khí đều bị nhiễm độc.

Trong cả hai trường hợp đều có sự cháy đang tiếp diễn trong phòng...

Trong trường hợp thứ nhất, có bếp lửa; trong trường hợp thứ hai có cái đèn.

Bếp là cần vì trời quá lạnh.

Nhưng mà đèn, nếu dựa vào số dầu tiêu thụ thì được thắp khá lâu sau khi mặt trời mọc.

Chắc chắn có một tương lai giữa ba chuyện: sự cháy, không khí ngạt thở và cuối cùng là hai cái điên và hai cái chết.

Sáng tỏ chưa nào?

- Hình như đã sáng tỏ.

- Chúng ta có thể chấp nhận nó làm giả thiết xuất phát.

Theo đó ta có thể cho rằng trong cả hai trường hợp, một chất gì đó đã cháy và tạo ra một chất khí cực kỳ độc hại.

Đúng thế!

Trong thí dụ thứ nhất, liên quan tới gia đình Tregennis, chất này được bỏ vào bếp lửa.

Cửa sổ đóng, lửa đương nhiên theo khói vào trong ống khói.

Hiệu quả chắc chắn kém độc hại so với trường hợp thứ hai trong đó chất độc không có lối thoát.

Kết quả thực tế cho thấy rằng sự suy đoán của ta không sai.

Trong trường hợp thứ nhất, chỉ có người đàn bà có lẽ vì thể chất yếu nhất nên gục chết, còn hai người anh thì chỉ điên, tạm thời hay vĩnh viễn chịu hiệu quả sơ khởi của chất độc.

Trong trường hợp thứ hai, có một chất độc dễ cháy đã giết chết người.

Theo hướng này, tôi lục lọi trong phòng của Mortimer Tregennis với hy vọng kiếm ra chất đó.

Đương nhiên phải khám nghiệm cái miếng thiếc che hoặc cái bóng đèn.

Tại hai nơi này, tôi thấy có tro trắng viền bột nâu chưa cháy hết.

Tôi có lấy phân nửa số bột nâu này, bỏ vào một bì.

- Tại sao chỉ phân nửa vậy, Holmes?

- Tôi không có quyền thọc gậy bánh xe của cảnh sát.

Tôi có để lại cho họ toàn thể bằng chứng của những gì tôi đã thấy.

Với một chút xíu thông minh, họ sẽ kiếm ra.

Giờ đây, chúng ta sẽ thắp cái đèn của chúng ta.

Phải nhớ mở cửa sổ để khỏi chết sớm.

Anh hãy ngồi gần cửa sổ...

À, anh muôn tận mắt thấy rõ mọi việc ư?

Được lắm!

Tôi để cái ghế bành của anh để hai đứa mình cùng cách đều với chất độc, mặt đối mặt...

Cửa lớn hả?

Ta để nó hé mở.

Giờ đây, chúng ta có thể canh chừng lẫn nhau và hãy ngưng cuộc thí nghiệm nếu các triệu chứng có vẻ báo động.

Hiểu rõ không?

Tốt!

Vậy thì tôi lấy cái bột trong phong bì và rắc nó trên cái đèn đang cháy.

Xong rồi!

Giờ đây, Watson ạ!

Ta hãy ngồi xuống chờ các biến cố diễn biến.

Vừa ngồi vào ghế bành thì mũi tôi ngửi mùi xạ hương, vừa nặng vừa khó chịu, muốn buồn nôn.

Ngay cái hít đầu tiên, tôi mất hẳn sự kiểm soát của não bộ và trí tưởng tượng.

Một đám mây đen ngòm và dày cộm bắt đầu quay trước mắt tôi.

Tâm trí nhắc tôi có sự hiện diện của đám mây đó.

Những hình thù mờ ảo quay cuồng trong đám mây đen.

Mỗi một cái nhìn có vẻ báo hiệu về một cái gì hung tợn sẽ tới, báo trước rằng một quái vật khó tả, xâm nhập vào tôi Một cơn kinh hoàng lạnh xương sống xâm chiếm tôi.

Rồi tôi cảm thấy tóc dựng đứng lên, mắt muốn lồi khỏi tròng, mồm há hốc, lưỡi cứng lại như da thuộc.

Tôi thử kêu lên.

Tôi nghe thấy tiếng nói của tôi như xa xôi và lạ tai.

Cùng lúc đó, tôi thấy mặt của Holmes trắng như ma; cứng như xác chết, đầy đủ các triệu chứng của kinh hoàng, đầy đủ các đường nét tôi đã thấy trên các nạn nhân.

Thấy được Holmes thì tôi hơi tỉnh.

Tôi nhảy khỏi ghế bành, ôm chầm lấy Holmes, khập khiễng dìu nhau ra cửa, nhảy lăn xuống bồn cỏ nằm sát bên nhau, đăm đăm nhìn mặt trời sáng rực.

Sự hồi tỉnh trí nhớ về với chúng tôi.

Ngồi trên cỏ, chúng tôi lau trán ướt đẫm mồ hôi và khám nghiệm lẫn nhau, không khỏi rùng mình về cuộc thí nghiệm vừa qua.

- Lấy danh dự mà nói, Watson à!

- Holmes nới có phần ấp úng - Tôi vừa cám ơn vừa xin lỗi anh.

Cuộc thử nghiệm đó đối với một người đã nguy hiểm rồi, đằng này đến hai người.

Tôi xin lỗi!

- Anh dư biết rằng - Tôi nói với sự xúc động - Được tiếp tay với anh làm cho tôi vui và hãnh diện vô cùng.

- Có người sẽ liệt chúng ta vào hạng người điên ngay từ khi chúng ta chưa lao mình vào cái thí nghiệm hãi hùng ấy.

Thú thực tới không ngờ hiệu quả có thể đột ngột và nghiêm trọng đến thế!

Anh chạy vào nhà, trở ra với cái đèn đang cháy sáng trên tay, rồi liệng nó vào bụi gai.

- Nên làm cho phòng thoáng khí!

Tôi nghĩ bây giờ anh đã thấy rõ ràng diễn biến của các thảm kịch?

- Rõ.

- Tuy nhiên, nguyên nhân hãy còn mịt mù.

Hãy đến ngồi dưới vòm cây và nghiêm chỉnh thảo luận về nội vụ.

Cái chất độc dường như vẫn còn trong cuống họng của tôi...

Tóm lại, Mortimer Tregennis là thủ phạm trong thảm kịch thứ nhất, và nạn nhân trong thảm kịch thứ hai.

Ta hãy nhớ lại rằng chuyện tranh chấp trong gia đình được tiếp nói bằng một sự giải hoà.

Cuộc tranh chấp đạt tới mức độ nào và cuộc giải hoà có thành thật không?

Chúng ta không biết gì cả.

Tôi nhớ lại Mortimer Tregennis với cái đầu chồn, đôi mắt gian giảo đằng sau cặp kính và theo tôi thì y không phải là loại người dễ dàng tha thứ cho bất cứ ai.

Ngoài ra, anh còn nhớ các lời khai về cái gì đó quậy quọ ngoài vườn?

Chính lời khai này đã một thời đánh lạc hướng chúng ta về nguyên nhân đích thực của tấn thảm kịch.

Chắc chắn y phải có một động cơ.

Cuối cùng, nếu không phải y liệng chất độc đó vào lửa thì ai khác đây?

Thảm kịch xảy ra ngay sau khi y ra về.

Nếu có ai khác vào nhà thì gia đình đã phải rời bàn...

Mặt khác tại cái vùng Cornwall yên bình này, khách không đến sau 10 giờ đêm.

Do đó chúng ta có thể nhận rằng tất cả các yếu tố đều qui kết Mortimer Tregennis là thủ phạm.

- Rồi sau đó y tự tử?

- Suy luận của anh không nghịch lý đâu.

Người bị lương tâm cắn rứt vì tội tày đình có thể do ăn năn lại giáng cho chính mình cái vận đen mình đã đem lại cho kẻ khác.

Tuy nhiên, những mâu thuẫn vững chãi bác bỏ giả thiết này.

May thay, có một người độc nhất tại nước Anh này biết rõ sự thật và tôi đã thu xếp để chiều nay chúng ta được nghe đích thân ông ấy nói chuyện.

à, ông ấy tới hơi sớm đó.

Bác sĩ Sterndale hãy vào đây?

Hai chúng tôi mới tiến hành một thí nghiệm hóa học, do đó phòng khách của chúng tôi không xứng đáng để tiếp đón một khách quý.

Tôi nghe cửa vườn kêu kĩu kịt: dáng vóc đồ sộ của nhà thám hiểm châu Phi nổi tiếng xuất hiện trên lối đi.

Với vẻ ngạc nhiên, ông đi về hướng cái vòm cây, nơi chúng tôi đang ngồi.

- Ông có cho mời tôi, hở ông Holmes?

Hồi nãy tôi có nhận tờ giấy và tôi đã đến đây.

Tôi không hiểu tại sao tôi phải tuân lời ông?

- Shi cuộc nói chuyện này chấm dứt, chúng ta sẽ hiểu rõ cái điểm đó.

Trong khi chờ đợi, tôi hết sức cám ơn sự thuận tình đầy lễ độ của ông.

Mong ông miễn chấp sự tiếp đãi ông giữa trời; vì ông bạn thân Watson của tôi và tôi gần hoàn tất một chương trình phụ cho cái mục mà báo chí gọi là "Nỗi kinh hoàng của vùng Cornwall".

Do đó trong tạm thời, chúng tôi chọn một bầu không khí thuần khiết.

Vì vấn đề mà chúng ta phải thảo luận liên quan đến ông một cách rất riêng tư, nên ta tìm chỗ vắng vẻ, tránh "tai vách mạch rừng".

Nhà săn thú gỡ điếu xì gà ra khỏi miệng rồi nhìn Holmes đăm đăm.

- Thưa ông, chuyện gì lại liên quan đến tôi một cách rất riêng tư?

- Về việc giết Mortimer Tregennis!

- Holmes đáp.

Gương mặt của Sterndale đỏ như gạch, mắt toé lửa, các mạch máu nổi u và sôi cục, cái trán căng phồng, ông ta tiến bước về phía Holmes, hai nắm tay xiết chặt...

May thay, ông ngừng lại và qua một cố gắng vượt bậc, lấy lại bình tĩnh tâm thần.

Nhưng cái bình tĩnh mà ông biểu lộ đối với tôi có vẻ còn nguy hiểm hơn sự nổ bùng của giận dữ.

- Tói sống giữa những người thổ dân và xa luật pháp quá lâu, đến nỗi trong một chừng mực nào đó, tôi thay trời làm luật!

Xin ông nên nhớ điều đó?

Trong thâm tâm, tôi không muốn hại ông.

- Thưa bác sĩ Sterndale, tôi cũng không muốn hại ông.

Bằng chứng là tuy có nắm một cái gì đó, tôi thưa chuyện với bác sĩ, chứvới cảnh sát.

- Holmes từ tốn đáp.

Sterndale ngồi xuống, có lẽ đây là lần đầu tiên trong cuộc đời phiêu lưu của ông, ông bị chế ngự.

Nhìn thái độ của Holmes ông thấy Holmes có một sự tự tin và một quyền lực bất khả bại: Trong khi nói chuyện, hai bàn tay to kềnh của ông liên tục xoè ra và nắm lại.

- Ông muốn sao?

Nếu ông muốn hù tôi thì ông đã chọn sai đối tượng.

Đập mạnh quanh bụi cây là vô ích, thẳng vào đề đi, ông muốn nói gì?

- Ông sẽ biết thôi.Lý do khiến tôi nói là vì tôi hy vọng sự thành thật của tôi được bác sĩ đáp lại.

Bước thứ hai của tôi hoàn toàn tuỳ thuộc vào tchất của sự biện minh của ông.

- Sự biện minh của tôi?

- Đúng vậy, thưa ông.

- Biện minh về việc gì?

- Để khỏi bị cáo buộc về tội giết chết Mortimer Tregennis.

Sterndale lấv mùi xoa lau trán.

- Xưa nay ông thành công là nhờ cái khả năng hù dọa phi phàm?

- Hù dọa - Holmes cương quyết trả lời - Là từ phía ông, chứ không phải từ phía tôi, thưa bác sĩ.

Để chứng minh điều đó, tôi sẽ kể cho ông nghe vài dự kiện làm cơ sở cho cái kết luận của tôi.

Dựa trên việc ông rời Plymouth mà về đây và trên sự gởi một phiếu hành lý đi châu Phi trước, tôi kết luận tức khắc rằng ông là một trong các yếu tố mà tôi phải xét tới, khi diễn lại tấn thảm kịch.

- Tôi đã trở về vì...

- Tôi còn nhớ các lý do ông nêu ra.

Nhưng đối với tôi, các lý do đó không có sức thuyết phục.

Ông có tới đây hỏi xem tôi ngờ vực ai, tôi từ chối trả lời.

Ông đứng ngoài chờ đợi một lúc rồi đi về nhà.

- Làm thế nào ông biết được?

- Tôi đi theo ông.

- Tôi có thấy ai đâu?

- Nghề nghiệp mà!

Ông ngủ một đêm không ngon lành tại biệt thự của ông.

Và ông đã nghĩ ra vài kế hoạch mà ông bắt đầu thực hiện sáng hôm sau.

Sáng hôm sau, lúc mở cửa, ông lượm một mớ sỏi đỏ gần cổng sắt.

Sterndale rùng mình và rồi nhìn Holmes một cách kinh ngạc.

- Rồi ông nhanh bước về tòa chánh xứ, cách nhà ông khoảng 1 dặm.

Tôi xin nói thêm rằng hôm đó ông mang đôi giày tennis như đôi này.

Tớ tòa chánh xứ, ông băng qua vườn cây ăn trái và hàng rào ngang để đến dưới cửa sổ của phòng ông Tregennis.

Sáng rồi nhưng chưa ai thức cả.

Ông móc sỏi trong túi và liệng lên cửa sổ bên trên.

Sterndale nhảy dựng lên.

- Tôi tin rằng ông là hiện thân của quỷ sứ!

- ông ấy la to.

- Phải liệng hai hoặc có thể ba đợt thì ông ta mới ra của sổ.

Ông ra dấu kêu xuống.

Ông ta lật đật mặc quần áo đi xuống.

Ông leo cửa sổ mà vào.

Một cuộc nói chuyện ngắn ngủi xảy ra; trong lúc đó ông đi tới đi lui.

Rồi ông ra ngoài, đóng cửa sổ lại, đứng ở bồn cỏ, hút xì gà và chờ cái điều chắc chắn phải xảy ra.

Sau cùng, khi ông ta chết rồi, ông rút lui bằng con đường đã dùng dể đi tới.

Giờ đây, thưa bác sĩ Sterndale, làm sao biện minh cho việc làm của ông?

Động cơ nào thúc đẩy ông vậy?

Nếu ông dối tôi, tôi quả quyết rằng nội vụ sẽ không tuỳ thuộc vào một mình tôi đâu.

Khuôn mặt người khách tái xanh, ông lấy tay ôm đầu.

Rồi trong một cử chỉ bốc đồng, ông rút từ trong túi một cái ảnh, liệng nó trên chiếc bàn thô sơ dưới vòm lá:

- Đó là lý do tại sao tôi giết người!

Đó là tấm ảnh bán thân của một cô gái xinh đẹp.

Holmes cúi xuống nhìn kỹ.

- Cô Brenda Tregennis?

- Vâng, Brenda Tregennis, chính nàng.

Từ mấy năm nay, tôi yêu nàng.

Từ mấy năm nay nàng cũng yêu tôi.

Đó là lý do tôi lui tới nghỉ ngơi tại Cornwall khiến nhiều người thắc mắc; tôi muốn gần thần tượng của tôi.

Tôi không thể cưới cô ta, vì tôi có vợ, vợ tôi bỏ tôi lâu rồi, tuy nhiên vì luật pháp Anh quốc lằng nhằng quá, tôi không ly dị được.

Trong nhiều năm ròng rã, nàng vẫn chờ.

Trong nhiều năm ròng rã tôi cũng chờ.

Một thổn thức làm rung rinh dáng bộ đồ sộ của ông.

Ông lấy tay để lên cuống họng rồi tiếp tục kể:

- Cha xứ có biết.

Hai chúng tôi có tâm sự với cha.

Cha có thể cho ông biết rằng Br đúng là một thiên thần.

Đó là lý do vì sao ông ấy đã đánh điện cho tôi, và tại sao tôi quay về.

Một mớ hành lý hoặc cuộc sống giàu sang ở châu Phi có ý nghĩa gì trước cái tin nàng đã thọ nạn.

Đó là động cơ mà ông thiếu, ông Holmes à!

- Ông hãy nói tiếp đi!

Bác sĩ rút trong túi ra một cái gói, rồi đặt nó trên bàn.

Trên gói có mấy chữ "Radix pedis diaboli", bên dưới thì có nhãn đỏ cho biết nó là thuốc độc.

Ông đẩy cái gói đó về phía tôi.

- Tôi đoán rằng ông là bác sĩ, thưa ông.

Ông có nghe về cây thuốc này chưa?

- Rễ cây chân quỷ?

Chưa, chưa bao giờ?

- Không có can chi đến kiến thức nghề nghiệp của ông.

- ông ta nói - Tôi tin rằng ngoài cái mẫu mà tôi gặp tại Buda, không có mẫu nào khác tại châu Phi đâu.Nó chưa được ghi vào sách thuốc hay sách độc dược.

Loại rễ cây này có một cái tên ngông do một nhà truyền đạo kiêm thực vật học đặt ra.

Nó được các phù thủy Tây Phi sử dụng làm thuốc độc để trừng phạt và họ giữ bi mật về cách điều chế.

Cái mẫu này tôi kiếm được tại Ubangi trong một trường hợp rất đặc biệt.

Ông mở cái gói và để lộ một mớ bột màu đỏ nâu giống thuốc lá.

- Rồi sao nữa, thưa ông?

- Holmes lãnh đạm hỏi.

- Do tình yêu đối với cô em mà tôi trở thành bạn của anh em nhà Tregennis.

Tuy nhiên tranh chấp tiền bạc đã làm cho Mortimer bực bội.

Tuy nhiên mối bất hòa đã được dàn xếp nhanh chóng.

Sau này tôi vẫn tới lui y hệt như đối với mấy người kia.

Y xảo quyệt già dặn, những đặc điểm khiến tôi nghi ngờ sự trung tín của y.

Nhưng không có lý do gì để tôi cãi lộn công khai với y.

Một ngày nọ, cách đây hai tuần, y đến tôi và tôi cho y xem vài vật lạ ở châu Phi.

Trong số này có bột rễ chân quỷ.

Tôi có tiết lộ cho y cái tính chất dị thường của nó, đặc biệt là cái khả năng kích thích tế bào não bộ nắm quyền chỉ huy các cảm xúc sợ sệt.

Tôi có nói với y rằng sự điên loạn hoặc sự chết chắc chắn sẽ đến với người thổ dân xui xẻo bị thầy cúng của bộ tộc trừng phạt bằng thứ này.

Tôi có giải thích cho y rằng khoa học châu Âu không thể phát hiện ra lối hại người này.

Bằng cách nào y đã lấy cắp, tôi không biết.

Tôi không rời phòng giây lát nào cả, nhưng tôi chắc chắn vào một lúc nào đó, có thể vào lúc tôi mở ngăn kéo hoặc cúi xuống các tủ kính.

Tôi nhớ y có hỏi về hiện tượng và thời gian thuốc thấm.

Tôi không ngờ y có những ý đồ đen tối.

Tôi quên hẳn cuộc thăm viếng này cho tới khi cái điện tín của cha chánh xứ.

Thằng khốn tưởng rằng tôi đã lên tàu và sẽ ở châu Phi vài năm.

Nhưng tôi quay trở lại ngay tức khắc.

Khi tôi dò qua các chi tiết, tôi biết ngay rằng thuốc độc của tôi đã bị y sử dụng.

Tôi đến thăm ông lần đó là để chắc ăn rằng không thể có giả thiết khác được.

Quả nhiên đúng thế.

Mortimer Tregennis là thủ phạm.

Có lẽ y nghĩ rằng nếu tất cả anh em trong gia đình đã điên, thì một mình y hưởng hết tài sản của họ.

Y đã sử dụng bột chân quỷ làm cho hai em trai điên và giết em gái của y, Brenda, người yêu duy nhất của tôi.

Phải trị tội y bằng cách nào?

Đưa ra luật pháp ư?

Bằng chứng đâu?

Tôi biết rằng các dữ kiện là đúng nhưng làm sao thuyết phục một đoàn hội thấm quê mùa dốt nát.

Tâm hồn tôi khát khao một sự phục thù.

Sau một đêm trằn trọc, tôi rời nhà rất sớm.

Biết trước là sẽ khó đánh thức y, tôi mới lấy một mớ sỏi để liệng lên cửa sổ.

Y đã đi xuống và để cho tôi vào nhà y qua cửa sổ phòng khách.

Tôi đã trình bày cho y biết tội ác của y.

Tôi cho y biết tôi đến với tư cách vừa làm phán quan, vừa làm người đao phủ.

Tên khốn kiếp sụp xuống ghế khi thấy cái súng lục của tôi.

Tôi thắp đèn, bỏ thuốc độc lên trên, rồi đứng bên ngoài cửa sổ, sau khi nói với y rằng: "Nếu mi rời căn phòng, ta sẽ bắn mi ngay!".

Năm phút sau y chết.

Holmes ngồi lặng thinh một hồi.

- Ông có những dự định gì?

- Cuối cùng Holmes hỏi.

- Tôi dự định chết già tại Trung Phi.

Tôi chỉ mới hoàn thành nửa công trình tại đó.

- Bác sĩ hãy đi đi và hoàn tất cái phân nửa còn lại..

- Holmes nói - Tôi không phải là người phá rối bác sĩ.

Bác sĩ Sterndale đứng dậy, cúi đầu một cách cung kính, rời khỏi vòm lá

- Watson này, cuộc điều tra của chúng ta có tính độc lập, lối xử thế của ta cũng phải độc lập.

Anh sẽ tố cáo người đó không?

- Chắc chắn là không!

- Tôi chưa bao giờ yêu, Watson à!

Tuy nhiên nếu tôi yêu và người đàn bà tôi yêu chết thê thảm như thế, có thể tôi cũng đã xử sự giống hệt người săn sư tử của chúng ta.

Biết đâu được?

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
E8 Cung đàn sau cuối


CUNG ĐÀN SAU CUỐI

HIS LAST BOW

His last bow

Cung đàn sau cuối

Lúc đó là 9 giờ tối ngày 2 tháng 8, cái tháng 8 khủng khiếp trong lịch sử thế giới.

Có thể nói rằng cơn giận dữ của Thượng đế đang đè mạnh lên một thế giới suy đồi.

Sự yên lặng nặng nề và sự hồi hộp ngóng trông dang trối bồng bềnh trong không trung oi bức và im lìm.

Mặt trời dã lặn, nhưng ở chân trời phía Tây kéo dài một màu đỏ giống một vết thương còn chảy máu.

Bên trên, vô vàn ngôi sao đang rực sáng và bên dưới, đèn dầu của tàu bè nhấp nháy ở ngoài vịnh.

Hai người Đức đứng dựa vào bao lơn bằng đá của sân thượng.

Cái nhà thấp nằm thườn thượt sau lưng họ.

Họ nhìn cái vòng cung to của bờ biển dưới chân đá bờ vôi kỳ vĩ, châu đầu trao đổi các câu chuyện bí mật.

Đứng từ dưới nhìn lên, đầu đỏ rực của hai điếu xì gà giống như đôi mắt của quỷ dữ đang rập rình lúc đêm về.

Một con người siêu việt, có thể nói về Von Bork như vậy!

Hắn là tay cao thủ nhất trong đám điệp viên của hoàng đế Đức quốc.

Hắn được giao phó một số sứ mạng quan trọng ở A.

Tài ba của hắn nổi bật trong tâm trí đám người quyền thế, nhất là người bạn đồng hành của hắn lúc đó, nam tước Von Herling, bí thư trưởng sứ quán.

Chiếc xe Benz 100 mã lực của nam tước đang chễm chệ đậu trên đường chờ chở hắn về London.

Viên bí thư nói:

- Theo dự đoán của tôi, trong tình hình này, có lẽ ông nên quay về Berlin trong tuần này.

Khi về tới đó, ông sẽ ngạc nhiên trước các cuộc đón tiếp, bởi vì tôi biết rõ cấp cao nhất đánh giá thế nào về công việc mà ông đã thực hiện được tại nước Anh.

Nam tước là một người cao, to, nói năng chậm rãi, đầy tự tin, nên đã thành công lớn trong sự nghiệp chính trị.

Von Bork cười vang:

- Họ rất dễ gạt!

Không thể kiếm đâu ra một dân tộc ngây ngô hơn dân tộc này.

- Tôi không biết!

- Gã kia đáp với vẻ vô tư - Họ có những cái giới hạn kỳ quặc mà ta không nên vượt qua.

Cái ngây ngô bên ngoài của họ là một cái bẫy đối với người lạ đó.

Cảm giác ban đầu là người Anh mềm như bún.

Nhưng khi vấp phải một cái gì chắc như đá, ta phải biết ta đã chạm mức rồi.

Thí dụ các quy ước về đảo quốc của họ, chúng ta không thể coi thường được.

- Ông muốn nói đến cái "nghi thức" và những cái tạp nham cùng loại?

- Von Bork hỏi rồi thở dài.

- Tôi muốn nói đến cái định kiến của người Anh trong tất cả các cái thể hiện kỳ quặc của nó.

Đây, tôi xin kể cho ông nghe một trong những sự ngộ nhận tai hại nhất của tôi.

Ông đã thấy tôi thành công tới mức nào rồi.

Tôi vừa nhậm chức thì liền được dự tiệc cuối tại một biệt thự đồng quê của một ông bộ trưởng.

Mọi người không ai giữ miệng giữ mồm cả.

Von Bork gật đầu:

- Tôi có dự.

- Đúng thế!

Và đương nhiên tôi có gởi về Berlin một bản tóm lược tin tức đã thu nhặt được trong buổi tiệc đó.

Khốn nạn cho tôi, ông thủ t của chúng ta lại chuyển qua một nhận xét cho biết rằng ông đã biết những gì đã được nói tại buổi chiêu đãi.

Ai có thể mường tượng đầy đủ cái nỗi khổ mà tôi phải chịu do vụ này.

Do đó tôi có thể cam đoan với ông rằng, người Anh không mềm đâu.

Phải hai năm sau tôi mới quên được cái scandal này.

Còn ông... nhà đóng kịch...

- Không!

Đừng gọi tôi là người đóng kịch.

Đóng kịch dính liền với giả tạo.

Ngược lại, tôi hoàn toàn tự nhiên.

Tôi bẩm sinh là một vận động viên mà.

Tôi thích thể thao.

- Là một nhà thể thao, hiệu năng của ông tăng rõ ràng.

Ông chơi du thuyền với họ.

Ông đi săn với họ.

Ông ngang tài với họ trong bất cứ môn nào, chơi bốn môn phối hợp, ông đoạt giải nhất.

Tôi còn nghe ông chấp nhận đánh quyền Anh với các sĩ quan trẻ của họ.

Kết quả là gì?

Người ta phần nào coi nhẹ ông.

Ông trở thành ông già nghiền thể thao: một người Đức uống rượu mạnh nguyên chất, đêm nào cũng đi nhảy, trác táng, trụy lạc.

Cái biệt thự ở đồng quê của ông là một trung tâm phát sinh phân nửa tệ đoan cho nước Anh.

Còn nhà thể thao là một tay điệp viên tài ba nhất.

- Ngài nam tước ơi!

Tôi tin chắc chắn rằng bốn năm làm việc tại Anh không thể là bốn năm vô ích.

Tôi chưa cho ông xem cái kho của tôi.

Vui lòng vào đây!

Cửa lớn của phòng làm việc mở ngay ra sân chơi.

Von Bork đẩy cửa bước vào trước, vặn đèn.

Sau khi cái dáng vóc đồ sộ đi sau đã vào thì cửa đóng chặt, tấm màn dày trên cửa sổ có lưới được kéo kỹ.

Sau khi các biện pháp an toàn đã được thực hiện và kiểm tra lại, hắn quay về phía khách:

- Một số giấy tờ không còn tại đây.

Hôm qua, vợ tôi và lũ gia nhân đã mang đi một số nào không quan trọng.

Phần còn lại, tôi yêu cầu tòa đại sứ bảo vệ chúng.

- Tên của ông đã nằm trong danh sách tùy tùng riêng của ngài đại sứ thì có khó khăn gì đối với ông và hành lý còn lại.

Nhưng, có thể chúng ta khỏi phải đi.

Anh quốc có thể bỏ mặc Pháp.

Chúng ta chắc chắn giữa hai nước không có một hiệp ước ràng buộc nào?

- Còn với Bỉ thì sao?

- Đúng còn có nước Bỉ nữa!

Von Bork lắc đầu.

- Tôi tiên đoán Anh quốc không thể ngồi yên.

Họ liên minh với Bỉ bằng một hiệp ước đàng hoàng.

Cái nhục đó, họ không quên được đâu?

- Ít ra, họ có hoà bình một thời gian.

- Còn vấn đề danh dự?

- Hừ, ông bạn thân mến, chúng ta hiện sống trong thời đại thực dụng.

Danh dự là một quan niệm thời Trung cổ.

Mặt khác, Anh quốc chưa sẵn sàng.

Cái dự chi đến 50 triệu đủ để làm họ sáng mắt.

Thỉnh thoảng có người tuyên bố sẽ lưu tâm giải quyết mối hiểm họa.

Rải rác có những sự bực dọc và tuyên bố sẽ tìm cách xoa dịu nước Đức hiếu chiến.

Nhưng ông có thể tin lời tôi rằng các điểm chính như tích trữ quân nhu, chuẩn bị đối phó với chiến tranh tàu ngầm, tổ chức làm chất nổ mạnh thì chưa rục rịch gì cả.

Làm sao Anh quốc có thể can thiệp được khi chúng ta làm họ mất thì giờ vào vụ Ireland, vụ phụ nữ đòi quyền bầu cử và... một ngàn lẻ một chuyện khác.

- Họ càng phải nghĩ tới tương lai nữa chứ?

- À, đó là vấn đề khác rồi.

Tôi đoán rằng ta đã có kế hoạch cụ thể về Anh quốc nên tin tức mà ông nắm được có tầm quan trọng sinh tử.

Đối với nước Anh, thì hoặc là hôm nay, hoặc là ngày mai.

Nếu họ thích hôm nay, chúng ta đã sẵn sàng.

Nếu là ngày mai, chúng ta lại càng sẵn sàng hơn.

Theo ý tôi thì đánh giặc mà có đồng minh thì hay hơn là đơn thương độc mã.

Thôi đó là chuyện của họ.

Tuần lễ này là tuần lễ quyết định.

Anh có nói về mớ tài liệu...

Trong góc phòng đầy kệ sách, một bức màn phủ kín.

Von Bork vén lên, một tủ sắt to có đóng đai đồng lộ ra.

Gã người Đức lấy một chìa khoá nhỏ khỏi dây đồng hồ, rọ rạy ổ khoá hồi lâu và cánh cửa nặng nề mở ra.

- Hãy nhìn đây!

- Hắn nói và lui lại một bước.

Ánh đèn chiếu sáng bên trong và viên bí thư sứ quán nhìn đăm đăm các ngăn đầy ắp tài liệu.

Mỗi ngăn đều có mang nhãn.

Mắt ông ta chạy từ ngăn này qua ngăn khác.

"Chỗ cạn lội qua được", "Phòng vệ duyên hải", "máy bay", "Ireland", "Ai Cập", "Các đồn lũy Portsmouth", "Eo biển Manche", "Rosythe".

Mỗi ngăn đầy ắp bản đồ và tài liệu.

- Vĩ đại!

- Viên bí thư sứ quán thì thầm, ông ta để xì gà xuống, vỗ tay nhè nhẹ.

- Chỉ trong bốn năm thôi, thưa nam tước, không tệ đối với một kẻ nhậu nhẹt, chơi bời, thể thao, phải không?

Tuy nhiên cái quý nhất là bộ tài liệu sắp được mang đến, và chúng ta đã sẵn sàng để đón tiếp nó.

Y chỉ tay vào một ngăn có ghi 5 chữ: "Truyền tin trong hải quân".

- Hình như ông đã có một hồ sơ về vấn đề này?

- Đã lỗi thời rồi!

Bộ tư lệnh Hải quân đã được báo động, chả biếdo đâu mà họ đã đổi tất cả các mật mã.

Cú nặng quá, thưa nam tước.

Đó là thất bại tệ hại nhất của tôi từ trước tới nay!

Tuy nhiên nhờ xấp chi phiếu và nhờ chàng Altamont gan dạ, mọi việc sẽ biến đổi ngay đêm nay.

Nam tước nhìn đồng hồ đeo tay rồi thở ra thất vọng.

- Nói thật là tôi không thể chờ lâu hơn được nữa.

Tôi hy vọng đem cái tin vui ấy về.

Cái gã Altamont không hẹn giờ chính xác sao?

Von Bork đưa cho ông xem một điện tín.

"Sẽ đến đúng hẹn tối nay và sẽ mang các bu-gi-lửa mới - Altamont".

- Bu-gi-lửa?

- Gã đóng kịch làm chuyên viên về xe hơi; còn tôi là chủ ga ra.

Theo mật mã của chúng tôi thì mỗi tin tức hắn mang lại đều được đặt tên theo các phụ tùng của xe hơi.

Nếu hắn nói "radiator" thì hiểu là thiết giáp hạm, "bơm dầu" thì hiểu là tuần dương hạm; và bu-gi-lửa thì hiểu là các tín hiệu của hải quân.

- Điện tín đánh đi từ Portsmouth lúc 12 giờ.

- Viên bí thư xem xét điện tín rồi nói - Nhân tiện xin hỏi: ông cho hắn bao nhiêu?

- Năm trăm bảng cho cái công tác đặc biệt này.

Đương nhiên hắn còn có lương nữa.

- Gã như là con hạm.

Bọn phản quốc rất hữu ích nhưng tôi luôn chi trả cho chúng một cách miễn cưỡng.

- Tôi thì luôn rất hào phóng với Altamont.

Hắn làm việc rất đạt.

Nếu tôi hậu hĩ, hắn sẽ giao hàng tốt.

Mặt khác hắn đâu phải là kẻ phản quốc.

Chúng ta ghét Anh quốc không thấm vào đâu so với mối thù của tên Mỹ gốc Ireland này.

- Ủa, hắn gốc Ireland sao?

- Cứ nghe hắn nói chuyện thì biết được nguyên quán của hắn.

Đôi khi tôi cũng không hiểu hắn lắm.

Hắn ghét tiếng Anh lẫn vua Anh.

Ông nhất định ra về sao?

Chờ thêm vài phút nữa thôi!

- Rất tiếc, tôi đã nán lại quá lâu rồi, hẹn ông vào sáng sớm ngày mai.

Lấy được bộ mật mã truyền tin của hải quân Anh, ông có thể đề chữ "kết thúc quang vinh" cho nhiệm kỳ phục vụ của ông tại đây.

Sao?

Đây là rượu Tokay à?

Viên bí thư chỉ một chai đóng nút kỹ và đầy bụi đặt trên một cái mâm cùng với hai ly.

- Xin mời ông nhâm nhi trước khi lên đường.

- Không đâu, cám ơn nhiều!

Liên hoan à?

- Altamont rất sành rượu chát và hắn rất thích rượu Tokay.

Thằng cha này khó tính, tôi phải điếu đóm nó kỹ lắm.

Dày công lắm đó!

Hai người đã ra tới sân.

Cuối sân, tài xế của nam tước đã cho máy nổ.

- Tôi đoán kia là đèn của Harwich, - viên bí thư vừa mặc áo mưa vừa nói.

- Thật là im ắng!

Có thể trước 8 giờ, tại đây sẽ có những đèn khác và bờ biển Anh quốc là một nơi kérn yên lành hơn.

Bầu trời cũng sẽ không hoàn toàn thanh bình nếu các "Zeppelin" dũng cảm của ta không sai hẹn.

Nè, ai ở đàng kia vậy?

Đằng sau họ, một cửa sổ duy nhất còn thắp đèn.

Bên cái đèn để trên bàn, một bà lão, khuôn mặt hồng hào đội mũ trùm, đang cặm cụi đan len.

Thỉnh thoảng bà ừng tay để vuốt ve một con mèo đen to ngồi trên ghế đẩu gần kề.

- Đó là Martha, người hầu độc nhất mà tôi còn giữ.

Viên bí thư cười nhẹ.

- Bà ta vô tư lự!

Sung sướng thật!

Thôi chào ông Von Bork.

Vẫy tay từ giã, ông ta leo lên xe và sau đó hai đèn trước của xe chiếu sáng trong đêm khuya.

Ông ta ngả lưng dựa vào các gối ở băng sau của một chiếc xe hơi lộng lẫy và tâm trí mê mải tưởng tượng đến cái thảm kịch gần kề tại châu Âu, không để ý chiếc Ford con mà ông gặp trong làng.

Von Bork từ từ về văn phòng.

Đi ngang qua sân, hắn thầy bà lão đã tắt đèn đi ngủ.

Không khí lúc này mới lạ đối với hắn.

Ngôi nhà bao la này chưa bao giờ im ắng và tối đen như thế này.

Hắn luôn sống cùng gia đình với một đoàn gia nhân rình rang.

Nhưng hắn cũng cảm thấy nhẹ nhõm khi nghĩ rằng họ đều ở nơi an toàn, ngoại trừ người lão bộc.

Hắn bắt đầu đốt sạch một mớ tài liệu cho tới khi gương mặt thanh tú ửng đỏ.

Rồi hắn lấy một va-li da, xếp vào đó mớ tài liệu quý giá trong tủ sắt.

Khi hắn vừa bắt đầu thì có tiếng xe dừng trước nhà.

Hắn không nén được một tiếng la vì thoái trí, gài va-li lại, khoá tủ sắt rồi hối hả chạy ra sân.

Hắn tới nơi đúng vào lúc một chiếc xe con dừng lại trước cổng sắt.

Một người đàn ông bước xuống nhanh chân tiến về phía hắn.

Trong xe chỉ còn người tài xế to con, râu kẽm, đang chờ.

- Sao?

- Von Bork nóng lòng hỏi.

Thay vì trả lời, người khách chỉ hãnh diện huơ huơ một gói nhỏ bọc giấy nâu.

- Tối nay, ông có thể hồ hởi bắt tay tôi.

Này, tôi mang cái bánh cho ông.

- Các tín hiệu?

- Như đã nói trong bức điện, tất cả các cách truyền tin: semaphore, mật mã đèn, mã Marconi...

Bản sao!

Không phải bản chính!

Nguy hiểm lắm!

Nhưng hạng tốt, hàng đúng qui cách ông cứ tin vào tôi.

Người mới tới vỗ thật mạnh vào vai Đức với một sự thân thiện thô lỗ khiến gã này nhăn nhó.

- Mời vào!

Tôi ở nhà chỉ có một mình, chỉ còn chờ anh.

Đương nhiên chỉ nên lấy bản sao!

Nếu một bản chính mà thiếu thì toàn bộ sẽ như không.

Nhưng anh có chắc đúng là chính hiệu hay không?

Người Mỹ gốc Ireland đã bước vào văn phòng và thả mình, sải tay, sải chân trên ghế bành: con người gầy, khoảng 60 tuổi, mặt xương và râu dê ngắn.

Có thể lầm là bức kí hoạ chú Sam.

ở một bên mép ngậm một điếu xì gà tắt nửa chừng.

Ngồi xuống xong tay này quẹt một que diêm để mồi lại.

- Một sự di chuyển nhỏ đang được chuẩn bị chăng?

- Người Mỹ nhìn quanh vừa suy nghĩ vừa nói - Nè , ông...

Mắt ông ta rơi vào cái tủ sắt mà bức màn không che kín.

- Tất cả tài liệu đều cất vào đây à?

- Đương nhiên!

- Kềnh càng kệch cợm vậy à?

Ông lại được liệt vào hạng gián điệp tầm cỡ sao?

Ồ!

Bất cứ một tên trộm Mẽo tầm thường cũng mở được với đồ khui hộp.

Nếu tôi biết trước rằng thư từ tôi viết đều bị tống vào chỗ quái quỷ này, tôi đã không dại mà viết một dòng!

- Dù có tài ba cách mấy, không một thằng ăn trộm nào mở được tủ sắt này - Von Bork đáp.

- Không một dụng cụ nào làm suy suyển loại kim khí này ư?

Có ổ khoá không?

- Khoá đôi!

Anh có hiểu tôi muốn nói gì không?

- Cho tôi biết một chút!

- Người Hoa Kỳ mỉm cười, nói.

- Muốn mở tủ, phải biết một chữ và một con số...

- Á, à!

Tuyệt vời!

- Đâu chỉ có đơn giản như vậy.

Tôi đặt thợ cách đây bốn năm.có biết lúc đó tôi lựa chữ gì và số gì không?

- Chịu thua!

- Tôi đã chọn tháng "Tám" và "1914".

Đúng y chang như thực tế bây giờ!

Khuôn mặt của người Mỹ gốc Ireland biểu lộ một sự ngạc nhiên, thán phục.

- Tuyệt diệu, ông là một nhà tiên tri kỳ tài.

- Tại nước tôi, ít người có khả năng tiên đoán cái ngày này?

Tuy nhiên nó chình ình đây nè, ngày mai tôi đóng lại và chuồn êm.

- Này, ông còn phải lo cho tôi nữa chứ.

Tôi sẽ không lưu lại cái xứ sở chết toi này đâu.

Theo tôi dự kiến, nước Anh sẽ nhảy dựng lên và phát điên trong vòng 8 ngày.

Tôi thích đi qua bên kia biển Manche ngay từ bây giờ.

- Nhưng mà anh là công dân Hoa Kỳ?

- Đúng vậy, Jack James cũng là dân Mỹ nhưng vẫn bị bỏ tù.

Không thể kêu gọi tình cảm của cảnh sát Anh với cái lý rằng mình là công dân Hoa Kỳ.

"Ở đây, luật Anh chi phối", tôi sẽ được trả lời như vậy.

Nhân tiện nói luôn, hình như quý ông không làmì để che chở cho các điệp viên của mấy ông?

- Anh nói sao?

- Von Bork hỏi lại một cách cáu kỉnh.

- Quý ông là chủ nhân phải không nào?

Quí ông phải thu xếp sao cho họ khỏi bị kẹt.

Họ bị sụp và quí ông làm gì để kéo họ ra, như trường hợp của James?

- Hoàn toàn do lỗi của hắn.

Anh không rành hắn bằng tôi đâu.

- Jack James có cái đầu lợn, tôi đồng ý với ông Còn trường hợp Hollisi?

Tội nghiệp!

Những ngày chót nó có hơi điên.

Làm sao không loạn trí khi phải đóng kịch từ sáng tới chiều với cả một trăm người sẵn sàng tố cáo nó với cảnh sát.

Giờ đây còn có Steiner...

Von Bork rùng mình tái mé

- Chuyện gì xảy ra với Steiner?

- Bị thộp rồi!

Cảnh sát lục soát kho của y đêm qua.

Nếu may mắn thì thoát được án tử hình.

Đó là lý do tại sao tôi muốn đào thoát qua lục địa cùng với ông.

Von Bork là một người sắt đá, luôn tự chủ, nhưng cái tin này tác động mạnh đến hắn:

- Làm sao chúng biết được sự thật về Steiner được?

Quả là một vố nặng!

- Rồi đây ông còn gặp một vố nặng hơn bội phần vì tôi linh cảm rằng chúng đang bám sát tôi.

- Không thể thế được ?

- Tôi tin chắc như thế!

Bà chủ nhà trọ của tôi đã được cảnh sát viếng thăm.

Họ hỏi thăm bà ấy về tôi.

Tôi không còn đường nào khác hơn là chuồn càng sớm càng tốt.

Nhưng tôi muốn biết tại sao cảnh sát hay biết Steiner là điệp viên thứ năm bị tóm kể từ khi tôi cộng tác với ông.

Tôi biết ai sẽ là người thứ sáu, ông giải thích sự việc đó ra sao?

Ông không hổ thẹn khi người của ông bị thộp cổ liên tiếp như vậy sao?

Von Bork đỏ sẫm mặt.

- Anh dám nói chuyện với tôi bằng cái giọng như vậy à?

- Nếu tôi không nói thẳng, thưa ông, tôi sẽ không cộng tác với ông đâu.

Tôi sẽ nói thẳng với ông những gì tôi nghĩ.

Đối với các ông, những chính trị gia người Đức, thì khi điệp viên đã hoàn tất công tác, họ có vào nhà đá quý ông cũng không chút áy náy nào cả.

Von Bork nhảy xổm lên.

- Anh dám ngầm nói rằng tôi giao nộp điệp viên của tôi?

- Tôi chưa nói tới đó, thưa ông!

Nhưng có một thằng mách lẻo đâu đây, ông có trách nhiệm nhận dạng nó.

Tôi chuẩn bị đi về nước Hà Lá nhỏ của tôi càng sớm càng tốt.

Von Bork cố đè nén cơn giận, nói:

- Chúng ta liên minh với nhau quá lâu.

Giờ đây, lúc sắp chiến thắng thì lại tranh cãi?

Anh đã hoàn thành một công tác tuyệt vời.

Anh đã chịu nhiều rủi ro mà tôi không thể quên.

Bằng mọi cách, hãy qua Hà Lan.

Tại đó anh có thể đáp tàu thủy để đi New York.

Trong vòng một tuần nữa, thì không còn tuyến đường nào an toàn cả.

Giờ đây, tôi xin tiếp nhận cuốn sách và xếp vào hành lý.

- Còn tiền?

- Sao?

- Phần thưởng 500 bảng Anh!

Chàng pháo thủ này vô cùng ham ăn.

Tôi phải cho y thêm 100 dollar phụ trội.

Do đó tôi chỉ trao cái gói khi có thêm tiền.

Von Bork cười một cách cay độc:

- Hình như anh cho rằng tôi là người không có danh dự?

Anh muốn lấy tiền trước khi trao sách?

- Ông muốn sao bây giờ?

Chúng ta "tiền trao cháo múc" mà?

- Được thôi, tùy anh!

Hắn ngồi vào bàn, viết một chi phiếu, xé nó khỏi tập, nhưng vẫn cầm trên tay:

- Suy cho cùng, bởi vì chúng ta đã đi tới cái mức cạn tàu ráo máng nên tôi không thể tin anh, cũng như anh đã không tin tôi.

Hắn quay lại phía gã người Mỹ:

- Chi phiếu ở trên bàn, tôi xin xem nội dung trong cái gói, trước khi ông cầm phiếu chi.

Gã người Mỹ làm thinh, trao cái gói cho hắn.

Von Bork tháo dây, gỡ hai lớp giấy gói, rồi trố mắt trước cuốn sách nhỏ màu xanh, bìa mang mấy chữ mạ vàng: "Sách dạy nuôi ong".

Tên trùm gián điệp không có thời gian để ngắm nghía lâu:bàn tay sắt bóp cổ y và một miếng bọt biển thấm thuốc mê đập vào cái mặt đang nhăn thó của y.

- Thêm một cốc nữa nhé, Watson?

- Sherlock Holmes đưa chai Tokay lên mời.

- Rượu ngon, Holmes à!

- Ngon tuyệt!

Ông bạn trên ghế dài kia cho biết nó được lấy ra từ hầm rượu riêng của hoàng đế Franz Josef.

Vui lòng mở cửa sổ vì mùi thuốc mê làm rượu mất ngon.

Cửa tủ sắt hé mở.

Holmes rút ra tất cả các bộ hồ sơ, xem xét kỹ lưỡng rồi xếp chúng vào va-li của Von Bork.

Gã người Đức vẫn nằm dài trên tràng kỷ, ngáy khò khò, tay chân đều bị trói.

- Chúng ta không cần gấp gáp, Watson ạ!

Không có ai quấy rầy ta cả.

Anh muốn nhấn chuông?

Đâu có ai khác trong nhà, ngoại trừ bà lão Martha, người đã đóng trọn vai trò của mình.

Chính bà ta là mật báo viên cho tôi.

À, bà Martha, bà sẽ sung sướng khi hay tin mọi chuyện đã kết thúc tốt đẹp!

Bà lão xuất hiện tại ngưỡng cửa.

Bà cúi mình và nhoẻn miệng cười, rồi quay về phía người đang nằm sóng soài trên tràng kỷ.

- Ông ta khoẻ mà, chả đau ốm gì đâu!

- Tôi cũng mừng cho ông ấy,, ông Holmes à!

Ông ấy là một ông chủ tốt bụng.

Ông ấy muốn tôi đi theo vợ ông ấy qua Đứ hôm qua.

Nhưng điều đó sai với kế hoạch của ông.

- Nếu bà đi, tôi sẽ không hài lòng tí nào!

Bà lưu lại tôi mới an tâm, nhờ bà thông tin đó!

- Viên bí thư sứ quán hôm nay có đến đây ông ạ.

- Đúng, chúng tôi có gặp xe y.

- Tôi những tưởng hắn sẽ ngồi hoài và ông sẽ vướng khi gặp y.

- Không hề gì!

Hai chúng tôi đã chờ suốt nửa giờ mới thấy đèn bà tắt và biết rằng đường xá đã thông thương.

Bà có thể lên London thăm tôi tạ

- Tốt lắm, thưa ông.

- Bà đã chuẩn bị đầy đủ?

- Vâng, thưa ông!

Von Bork đã bỏ bưu điện 7 lá thư.

Như thường lệ, tôi có ghi các địa chỉ.

- Tốt lắm!

Mai tôi sẽ xét vấn đề đó.

Chúc bà ngủ ngon!

Sau khi bà lão đã đi khuất, Holmes nói tiếp:

- Mớ tài liệu này không quan trọng lắm đâu.

- Như vậy chúng vô dụng?

- Tôi không nói thế!

Tài liệu này sẽ cho ta biết người Đức biết được cái gì.

Một số lớn tài liệu này có được là do bàn tay của tôi, toàn là tài liệu giả mạo.

Tuổi già của tôi sẽ có niềm vui nho nhỏ nếu tôi thấy được một tuần dương hạm của Đức ngược dòng Solent dựa theo bản đồ mìn mà tôi cung cấp.

Còn anh, Watson?

Holmes ngừng lại, nắm vai người bạn cố tri, nói:

- Hồi nãy tôi làm lơ, để anh ở lại xe.

Nhìn kỹ anh, tôi thấy qua năm tháng, anh vẫn khoẻ.

Anh vẫn là cậu thanh niên luôn luôn vui tính mà tôi đã quen.

- Tôi cảm thấy trẻ hơn 20 năm, Holmes à!

Ít ra tôi cảm thấy sung sướng lúc nhận được điện tín của anh bảo đem xe hơi đợi anh tại Harwick.

Về phần anh, anh cũng đâu có thay đổi gì nhiều, trừ cái râu dê gớm.

- Đó là những sự hy sinh cho đất nước, bạn ơi.

- Holmes đáp vừa vuốt chòm râu dê dưới cằm - Ngày mai thì con dê này chỉ còn là một kỷ niệm.

Cắt tóc đàng hoàng, chăm sóc thẩm mỹ cái mặt và xuất hiện lại ở khách sạn Claridge.

- Nhưng anh đã tự ý hưu trí rồi mà.

Chúng tôi được tin anh đã sống đời ẩn dật bên bầy ong mật và sách vở tại một nông trại nhỏ thuộc South Downs mà.

- Quả vậy!

Đó là thành quả của cđời bình lặng của tuổi vãn niên...

- Holmes lấy cuốn sách trên bàn và đọc nguyên cái tựa: "Sách dạy nuôi ong với một vài quan sát về sự sẻ đàn của ong chúa".

- Đó là kết quả của nhiều đêm suy tư và nhiều ngày làm việc.

Tôi đã theo dõi thế giới nhỏ của ong mật cũng như đã theo dõi thế giới lưu manh tại London.

- Nhưng do đâu mà anh phải tái xuất giang hồ?

- À, tôi vẫn còn chưa hết ngạc nhiên.

Tôi đã dễ dàng cưỡng lại các sự vận động của ông Bộ trưởng ngoại vụ.

Nhưng khi Thủ tướng đích thân xuống tại ngôi nhà hèn mọn của tôi...

Watson à!

Anh chàng nằm trên tràng kỷ có phần cao tay hơn người của ta.

Y thuộc loại thượng thặng.

Tình hình rối beng và không ai biết tại sao.

Ở phía ta, có điệp viên bị nghi ngờ, có điệp viên bị bắt, nhưng bí ẩn vẫn còn đó.

Cần phải khẩn cấp phanh phui.

Vì đất nước, tôi ra nhận công tác.

Tôi tốn hai năm cố gắng nhưng đó là hai năm đầy thích thú.

Tôi khởi sự bằng việc đi hành hương qua Chicago, gia nhập một hội kín Ireland.

Nhờ đó tay chân của Von Bork để ý và đề bạt lên.

Từ đó tôi được tin cậy.

Và nhờ đó, phần lớn các kế hoạch của y bị phá vỡ và các điệp viên kỳ tài của y lần lượt sa lưới.

Tôi canh chừng, Watson ạ, tôi chờ lúc trái chín...

Này, ông ơi, tôi hy vọng rằng ông không thấy mệt lắm!

Von Bork, sau cái ngáp, chớp mắt, có nghe câu chót của Holmes.

Y tuôn một dây chửi thề bằng tiếng Đức.

Trong lúc người tù chửi thề, Holmes tiếp tục khui các tài liệu...

- Tuy không có nhiều nhạc tính, nhưng tiếng Đức là ngôn ngữ có khả năng thể hiện cao độ nhất.

À, à!

- Holmes tiếp tục nói trong lúc nhìn một bức vẽ - Đây là đầu mối để bắt thêm một con mồi khác!

Tôi không ngờ rằng Ủy viên hải quân là thằng chó chết đó.

Tuy nhiên y cũng có bii5 tôi rình rập từ lâu.

Người tù ngồi dậy một cách khó khăn, rồi nhìn kẻ chiến thắng với một thái độ thù hận và kinh ngạc.

- Anh sẽ biết tay tôi, Altamont.

Sự nghiệp cả đời tôi!

Anh sẽ biết tay tôi!

- Cũng cái bài hát cũ rích, biết bao lần tôi đã nghe nó.

Giáo sư Moriarty, đại tá Sebastian Moran...

Thế mà tôi vẫn sống nhăn, vẫn lo cho con ong mật.

Người tù vùng vẫy mư thoát khỏi dây trói, nhìn Holmes với cặp mắt sát nhân và la lớn:

- Đồ trời tru đất diệt!

Đồ phản bội!

- Không đúng đâu, tôi không tệ đến thế đâu!

- Holmes cười và nói - Nếu ông có thể đoán ra tôi.

Altamont nguyên quán Chicago không bao giờ có mặt trên đời này.

Đó và tên giả của tôi.

- Vậy ông là ai?

- Tôi là ai, điều này đâu có gì quan trọng.

Tuy nhiên vì ông muốn biết thì tôi phải cho ông biết.

Đây không phải là lần đầu tôi gặp các thành viên của gia đình ông.

Trước đây tôi có một số giao dịch làm ăn tại Đức và tên tôi có lẽ khá quen thuộc với ông.

- Tôi rất muốn biết cái tên đó.

- Chính tôi đã tiếp tay hoàn thành sự ly thân giữa Irène Adler và quốc vương Bohême quá cố, khi hoàng đế Đức gửi người anh họ Heinrich của ông đến gặp tôi.

Cũng chính tôi tránh cho anh cả của mẹ ông, bá tước Von und Zu Grafenstein khỏi bị mưu sát.

Chính tôi là...

Von Bork ngồi ngay dậy.

- Người đó quả là độc nhất vô nhị trên đời này...

- Xin cám ơn!

- Holmes nghiêng người nói.

Von Bork than thở, rồi nằm xuống ghế dài, nói tiếp.

- Vậy mà phần lớn tin tức lại đến với tôi qua ông!

Chúng có giá trị gì đâu?

Tôi đã đóng góp được gì?

Cuộc đời tôi bị tiêu tan một cách vĩnh viễn.

Vì tuyệt vọng, Von Bork tự bóp cuống họng mình.

- Ông Von Bork, suy cho cùng, ông đã làm hết mình cho đất nước ông; tôi đã hết mình cho đất nước tôi Còn gì hợp tự nhiên hơn!

Ngoài ra...

Holmes để nhẹ tay mình lên vai con người ngã quỵ

- Ngoài ra dù sao cũng còn đỡ hơn là bị quật ngã bởi một đối thủ không tương xứng.

Tài liệu hiện ở trong va-li, Watson à!

Nếu có thể, anh giúp đưa người tù đi.

Chúng ta về London ngay bây giờ.

Mỗi người nắm một cánh tay, chúng tôi đưa Von Bork xuôi con đường trong vườn, con đường mà cách đó vài giờ hắn đã đi một cách rất tự hào.

- Tôi hy vọng rằng ông đã được an vị đúng mức tiện nghi mà hoàn cảnh cho phép - Holmes nói, khi tất cả đã sẵn sàng chờ khởi hành - Tôi xin phép mồi một điếu xì gà đặt vào miệng ông?

Tất cả nhưng cái xoa dịu này đều đụng phải cơn thịnh nộ của gã người Đức.

- Ông Sherlock Holmes, nếu chính phủ ông bao che các hành vi của ông thì đó là một hành động chiến tranh!

- Ông muốn nói sao về các hành vi của tôi và chính phủ Anh?

- Ông là một thám tử tư.

ông không có giấy phép bắt tôi.

Cách làm việc của ông đều hoàn toàn bất hợp pháp và có tính lăng nhục.

- Hoàn toàn bất hợp pháp ư?

Bắt cóc một công dân Đức?

Và tước đoạt giấy tờ cá nhân của ông ta?

- Đúng thế, tôi thấy rằng hai ông đã nhận ra sự việc.

Đi ngang qua làng tôi sẽ kêu...

- Ông bạn thân mến!

Nếu ông làm một điều ngu xuẩn như thế, có thể ông sẽ tăng số lượng bảng hiệu quán ăn trong làng.

"Quán thằng Phổ bị treo cổ".

Người Anh chúng tôi thì kiên nhẫn lắm.

Nhưng hiện nay có hơi nổi nóng đó, tất hơn là đừng trêu chọc nó!

Ông Von Bork, ông sẽ đi theo chúng tôi một cách êm thấm và nhẹ nhàng cho tới Scotland Yard.

Ở đó ông có thể cùng với ông bạn nam tước Von Herling, rồi hai ngài xem xét lại coi hai ngài có tên trong đoàn tuỳ tùng riêng của đại sứ Đức không?

Về phần anh Watson, London không quá xa đối với cái xe già cỗi của anh.

Tôi có một chi phiếu 500 bảng Anh trong túi, tôi muốn lãnh càng sớm càng tốt, vì người viết phiếu hoàn toàn có quyền chống đối, nếu y được tự do đến ngân hàng!

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
F1 Người khách hàng nổi tiếng


NGƯỜI KHÁCH HÀNG NỔI TIẾNG

THE ADVENTURE OF THE ILLUSTRIOUS CLIENT (1924)

The Case Book of Sherlock Holmes

Tàng thư của Sherlock Holmes

Holmes và tôi đều thích tắm hơi.

Trên lầu của cao ốc tại đại lộ Northumberland có một cái góc tách biệt chứa tràng kỷ song đôi, chúng tôi choán 2 ghế này vào - ngày 3-9- 1902.

Tôi hỏi Holmes ở đây có gì vui không.

Để trả lời, anh thò cánh tay dài ra khỏi các tấm "ra" để lấy một cái bì thư trong áo choàng treo gần đó.

- Cái này là của một người gây rối.

Tuy nhiên, cũng có thể đây là một vấn đề sống chết.

Tôi chả biết ngoài nội dung của nó.

Nội dung bức thư như sau:

"Ngài đa-mê-ry ngợi khen và sẽ tới nhà ông Sherlock Holmes vào lúc 4 giờ chiều mai.

Ngài muôn tham khảo ý kiên ông Holmes về một vấn đề rất tế nhị và quan trọng.

Do đó ngài hy vọng ông Holmes cố gắng thu xếp để được rảnh rỗi và xác nhận sự đồng ý qua điện thoại tại câu lạc bộ Carlton".

- Đương nhiên là tôi đã đồng ý tiếp đón ông ta.

Anh có biết gì về cái ông đa-mê-ry này không?

- Tên ông ta là chìa khóa vạn năng để bước vào xã hội thượng lưu.

- Tôi thì biết nhiều hơn một chút.

Ông ta nổi tiếng về cái tài thu xếp những việc tế nhị mà báo chí không đề cập.

Là một người hào hoa phong nhã và có thiên khiếu về ngoại giao, ông ta cũng thực sự cần chúng ta.

- Chúng ta?

- Đúng thế, nếu anh đồng ý.

- Tôi rất hân hạnh.

- Vậy đúng 4 giờ nhé.

Lúc đó tôi ngụ tại một căn hộ ở đường Hoàng hậu Anne, nhưng tôi tới đường Baker sớm hơn giờ hẹn.

Ngài đa-mê-ry tỏ ra rất đúng giờ.

Đó là một người to béo, lương thiện, hơi đua đòi một chút, khuôn mặt cá nhẵn, có giọng nói dễ nghe.

Đôi mắt sáng tỏa rộng sự trung thực, đức tính hòa nhã lộ rõ trên đôi môi tươi cười.

Cái mũ màu lợt, áo vét đen ngòm.

Tất cả các chi tiết của y phục, từ hột trân châu trên cà-vạt cho đến đôi ghệt màu xanh tím bên trên đôi giày bóng loáng đã minh họa tính tỉ mỉ trong cách ăn mặc.

Căn phòng nhỏ hẹp có vẻ bị đè bẹp khi nhà đại quý tộc bước vào.

- Đương nhiên tôi cũng muốn gặp cả bác sĩ Watson - ông vùa nói vừa cúi đầu lễ độ - Sự hợp tác của ông ấy cực kỳ hữu ích, bởi vì lần này, thưa ông Holmes, chúng tôi phải đương đầu với một kẻ nguy hiểm nhất âu châu

- Tôi đã gặp nhiều đối thủ từng được gán cái danh hiệu "cao thủ".

Holmes trả lời và cười.

- Mời ngài dùng thuốc.

- Vậy ngài cho phép tôi nhé.

- Đối thủ của ngài có nguy hiểm hơn cả cố giáo sư Mô-ri hoặc hơn cả đại tá Mô-ran không?

- Ông đã nghe nói đến hầu tước Ru-nê?

- Tên sát nhân người Áo?

Ngài đa-mê-ry tháo bao tay và cười to:

- Ông là bậc kỳ tài.

Như vậy là ông đã biết thành tích của y?

Nghề nghiệp bắt tôi phải theo dõi kỹ các vụ án tại lục địa.

Tôi tin chắc rằng hắn đã giết vợ trong cái gọi là "Tai nạn tại đèo Splugen".

Tôi cũng biết hắn hiện ở Anh và chẳng chóng thì chầy hắn cũng tạo ra việc làm chống tôi.

Nhưng hầu tước Ru-nê đã giở trò gì mới.

Tôi đoán là không phải cái thảm kịch xưa diễn lại.

- Không đâu, chuyện không nghiêm trọng hơn.

Trừng trị kẻ gây tội ác là quan trọng, nhưng ngăn ngừa một tội ác lại càng quan trọng hơn.

Thật là khủng khiếp, thưa ông Holmes!

Khi chứng kiến sự chuẩn bị một biến cố ghê tởm, một tình huống bẩn thỉu, thấy trước kết quả tai hại mà ta không làm gì được để ngăn ngừa.

Có ai lọt vào một cảnh ngộ đau đớn như thế chưa?

- Chuyện hiếm có!

- Vậy là ông cảm thông với người khách hàng mà tôi làm đại diện.

- Tôi không ngờ ông chỉ là người trung gian.

Vậy ai là chủ chính?

- Tôi khẩn khoản xin ông đừng hỏi thêm.

Tên ông ấy cần được giữ bí mật.

Tất nhiên ông sẽ được thù lao trọng hậu.

- Tôi rất tiếc - Holmes nói - Thưa ngài, tôi sợ rằng tôi phải từ chối đề nghị của ngài.

Người khách vô cùng bối rối.

Gương mặt tối sầm vì thất vọng.

- Ông Holmes.

Ông đặt tôi vào một hoàn cảnh khó xử.

Nhưng tôi đoán chắc rằng ông sẽ hãnh diện mà đảm nhiệm công việc, nếu tôi cung cấp đầy đủ chi tiết của nội vụ.

Nhưng vì tôi đã hứa là tôi sẽ không để lộ tên nhân vật.

Và vì vậy, tôi chỉ xin trình bày tất cả những gì tôi được phép tiết lộ.

- Nếu ông muốn?

Nhưng ông nên nhớ, tôi không hứa hẹn gì cả.

- Đồng ý, chắc ông đã nghe nói về tướng Mê- vin.

Ông ấy có một cô gái tên là Vi-ô-lét, trẻ đẹp vẹn toàn.

Chính cô gái ngây thơ này cần được đưa ra khỏi nanh vuốt của loài quỷ dữ.

- Vậy là hầu tước Ru-nê hốt hồn con bé rồi?

- Hắn đẹp trai, có giọng nói đường mật, dáng vẻ tiểu thuyết và kỳ dị của hắn làm mê hoặc cô bé.

Người ta đồn hắn đã chinh phục không biết bao nhiêu cô gái.

- Nhưng làm thế nào hắn lại quen được với cô gái ấy.

- Họ gặp nhau trong một chuyến đi chơi bằng tàu trên biển Địa Trung Hải.

Ru -nê bám sát và cuối cùng chinh phục được con chim non.

Cô ta mê mệt hắn.

Ngoài hắn ra, cô ta chả thiết đến cái gì khác.

Mọi phương cách đã được thử để chừa bệnh, nhưng vô ích.

Tóm lại, cô ta dự trù lấy hắn vào tháng tới.

Cô ta đã trưởng thành và cô ta có ý chí sắt đá.

Vậy ta làm sao ngăn cản chuyện này?

- Cô ta có biết những chuyện hắn làm hồi còn ở nước áo không?

- Hắn có kể cho cô nghe những điều tai tiếng trong quá khứ của hắn, nhưng luôn luôn trong chiều hướng của một hánh tử đạo.

Cô ta chỉ nghe có một chiều.

- Tiếc thay, vì vô ý, ông đã tiết lộ danh tính của vị khách hàng của ông.

Đó là tướng Mê-vin.

Người khách nhỏm mạnh trên ghế.

- Tôi không phủ nhận, nhưng chuyện buồn này đã làm ông tướng mất hẳn tinh thần.

Gân cốt cứng cáp tại trận địa đã rêu rã, ông đã trở thành một người bất lực trước thằng người áo này.

Tôi là bạn tri kỷ của ông ấy.

Tôi xem con bé đó như là con tôi ngay từ hồi nó còn mặc váy ngắn.

Tôi thấy không có lý do để cho Scotland Yard can thiệp vào.

Chính do ông tướng gợi ý mà tôi tới tìm ông với điều kiện là ông ta không xuất đầu lộ diện trong nội vụ.

Gương mặt Holmes sáng rực với một nụ cười tinh nghịch:

- Tôi cam kết với ông điều đó.

Tôi sẵn sàng ra tay.

- Nhưng làm sao tiếp xúc với ông, khi cần?

- Luôn luôn có thể tìm ra tôi qua trung gian của câu lại bộ Carlton.

Trong trường hợp khẩn cấp, đây là số điện thoại riêng của tôi: XX-31.

Holmes ghi chép, vẫn ngồi yên và cười ranh mãnh.

Cuốn sổ tay vẫn còn để mở trên đầu gối.

- Địa chỉ hiện tại của Ru-nê, xin ông vui lòng.

Biệt thự Vernon, gần Kingston.

Nhà lớn lắm.

Hắn ta phất trong mấy cú đầu cơ tài chính gần đây.

Do đó bội phần nguy hiểm.

- Hiện hắn ở tại Luân Đôn?

- Ngoài nhưng điều vừa mới nói, ông có thể cho thêm những thông tin dồi dào hơn về anh chàng này không?

- Hắn mê ngựa, mê gái.

Hắn sưu tập sách và tranh.

Hắn lại có ý thức thẩm mỹ cao nên hắn rất có uy tín về việc đánh giá các đồ sứ Trung Hoa và có viết một cuốn sách về nghệ thuật này.

- Một bộ óc phức tạp- Holmes nói - Tất cả các tội phạm lừng lẫy đều có bộ óc phức tạp.

Ngài có thể thông báo với khách hàng của ngài rằng tôi đích thân chăm lo vụ này.

Tôi tin rằng chúng ta sẽ tìm ra giải quyết.

Sau khi khách ra về, Holmes chìm đắm trong suy tư làm như không biết có sự hiện diện của tôi.

Cuối cùng anh trở về với thực tại.

- Anh Watson, có gì mới?

- Tôi đoán anh sẽ đi gặp con bé đó ngay.

- Ông tướng còn không làm cô bé động lòng thì tôi, một người xa lạ, sẽ làm được gì.

Tuy nhiên, nếu mọi phương cách đều thất bại thì tôi sẽ tính sau.

Còn bây giờ, ta phải bắt đầu dưới một góc cạnh khác.

Có thể Si-oen sẽ giúp được tôi.

Cho tới nay, tôi chưa có dịp nêu tên Si-oen bởi vì tôi chưa nói đến các vụ án bị phanh phui trong giai đoạn cuối của cuộc đời Holmes.

Vào các năm đầu của thế kỷ này, Si-oen trở thành một phụ tá có tài năng.

Trước đó, Si-oen bị để ý dưới dạng một thằng ác ôn nguy hiểm, bị nằm nhà đá hai năm tại Parkhurst.

Sau đó anh ta ăn năn, hối cải và liên minh với Holmes.

Anh ta trở thành người được gài trong bọn côn đồ khét tiếng của Luân Đôn.

Si-oen cung cấp cho Holmes những tin tức đôi khi có tính quyết định.

Nếu anh ta làm mật báo cho cảnh sát, thì sẽ bị lột mặt nạ ngay.

Nhưng vì anh ta hợp tác trong những vụ việc mà kết quả sau cùng không phải là việc truy tố ra tòa nên các bạn cũ của anh ta không hề hay biết.

Nhờ hào quang hai năm khổ sai, Si-oen lọt vào tất cả các hộp đêm, các sòng bài với cái bộ óc phong phú cũng như năng khiếu quan sát, Si-oen trở thành một mật báo viên lý tưởng.

Khó mà theo dõi tất cả các xoay xở của Holmes, bởi vì về phần tôi, tôi cũng có những nhiệm vụ nghề nghiệp phải chu toàn.

Anh ấy sẽ gặp tôi tại Simpson.

Tại đây, ngồi trước một bàn nhỏ gần cửa sổ, anh báo cho tôi vài tin tức đồng thời quan sát làn sóng người đi đường trong khu náo nhiệt Strand.

Si-oen đã đi săn mồi - Holmes nói với tôi - Có thể y sẽ mang về vài cái rác rưởi móc từ những xó xỉnh tối tăm nhất của xã hội đen.

Chính trong cái mớ rác rưởi đó, chúng ta sẽ sục sạo và khám phá ra các bí mật của đối tượng.

- Cô bé đã không nhìn nhận những sự việc đã có, thì cái phát hiện mới mẻ của anh sẽ có tác dụng gì?

- Biết đâu, Watson.

Tâm trí của người đàn bà là những bài toán khó hiểu.

Một tội giết người có thể được bỏ qua, nhưng một vi phạm vặt vãnh có thể làm đau nhói con tim.

Hầu tước Ru-nê có nói với tôi...

- Hắn có nói chuyện với anh?

- À, tôi chưa thông báo các dự định của tôi cho anh.

Thì đây, tôi thích cận chiến.

Tôi thích mặt đối mặt với đối thủ để tận mắt nhìn rõ, xem "cái cốt" của hắn là con gì.

Sau khi giao việc cho Si-oen, tôi đã kêu một chiếc xe ngựa, đến Kingston và phải nói rằng hầu tước rất khả ái.

- Hắn nhận ra anh?

- Trước đó, tôi đã đưa ra danh thiếp.

Đó là một đồi thủ tuyệt hảo, lạnh như băng, nới năng ngọt lịm, nhưng nọc độc thì như nọc rắn hổ mang.

Theo tôi, hắn thực sự thuộc giai tầng quý tộc và tội ác.

Hắn lịch sự mời bạn uống trà nhưng sẵn sàng bỏ thuốc độc hại.

Vâng, tôi khoái nghiên cứu hầu tước Ru-nê.

- Anh nói hắn rất dễ thương!

- Dễ thương như mèo, dễ thương mà giết người như ngóe.

Cái cách hắn đón tiếp tôi làm tỏ lộ bản chất của hắn.

- Tôi cũng đoán rằng thế nào tôi cũng gặp ông, ông Holmes à- Hắn nói với tôi - Có thể tướng Mê-vin đã thuê ông để ngăn cản đám cưới giữa tôi với con gái ông ta

Tôi đáp: - Vâng!

- Thưa ông - Hắn nói tiếp với tôi.

- Ông chỉ làm tổn hại cái danh tiếng khá xứng đáng của ông.

Ông không thể nào thành công trong vụ này.

Ông lao mình vào một việc vô bổ, lại nguy hiểm.

Ông cho phép tôi mạnh mẽ khuyên ông nên rút lui tức khắc?

- Lạ chưa - Tôi đáp.

- Đó lại chính là lời tôi dự định khuyên ông.

Tôi kính trọng cái khối óc của ông, thưa hầu tước, và mấy phút sơ giao cũng chưa làm sút giảm sự kính trọng đó.

Chúng ta hãy nói chuyện giữa người lớn với nhau.

Không ai muốn lùi về quá khứ và gây phiền hà cho ông.

Quá khứ là quá khứ?

Ông hiện đang bơi trong một khúc sông trong lành.

Nếu ông ngoan cố tiến hành đám cưới, ông sẽ đụng chạm tới một số người có quyền thế.

Họ sẽ ra tay phá ông cho tới khi ông bị đuổi khỏi nước Anh này.

Ông khôn thì nên để yên cho cô bé.

Ông đâu có được thoải mái khi mà một vài giai đoạn trong quá khứ của ông được tiết lộ cho cô ta?

Vị hầu tước có vài sợi lông thẩm mỹ lòi dưới mũi như ăng-ten của một côn trùng.

Chúng lay động vì khoái trá khi ông ta nghe tôi nói và ông ta cười nhẹ rồi trả lời.

- Xin tha thứ cho sự hả hê của tôi, ông Holmes.

Tuy nhiên làm sao không cười khi thấy ông đánh bài mà không cầm bài, không một lá bài, thưa ông Holmes?

ông tuyệt đối không có một lá bài, nói chi đến nước bài?

- Ông tin như vậy à?

- Theo tôi biết là như vậy.

Ông cho phép tôi giảng giải đầy đủ.

Bài tôi tốt đến nỗi tôi có thể bày ra giữa bàn.

Tôi có cái may mắn là chinh phục trọn vẹn tình yêu của cô bé.

Cô ta yêu tôi, mặc dù tôi đã cho cô biết tất cả các giai đoạn rủi ro trong quá khứ của tôi.

Tôi cũng có dặn cô ta rằng vài kẻ mưu mô, vài kẻ nguy hiểm sẽ tới gặp và kể cho cô ta nghe các chuyện đó.

Tôi đã cảnh giác cô ta và chỉ cách cho cô ta tiếp đón bọn đó.

Ông có nghe đến cái hiệu quả sau thôi miên không, thưa ông Holmes!

Ông sẽ thấy nó một cách cụ thể.

Tôi chắc chắn cô ta không từ chối tiếp ông đâ.

Cô ta nuông chiều tất cả ý muốn của cha ngoại trừ một chi tiết nhỏ.

- Anh Watson, sau đó tôi kiếu từ với tất cả sự bình tĩnh và lạnh lùng.

Nhưng khi vừa nắm lấy hột xoài mở cửa, tôi bị chận lại:

- Nhân tiện nói luôn, thưa ông Holmes, ông có quen ông Le Trun thám tử người Pháp không?

- Có!

- Ông có biết việc gì đã xảy ra cho y không?

- Hình như y bị vài thằng du đãng ở Montmarte đánh đòn và bị tật suốt đời.

- Đúng.

Một trùng hợp lạ lùng, y xen vào công chuyện của tôi cách đó một tuần!

Đừng xen vào chuyện của tôi, thưa ông Holmes, sẽ xui xẻo cho ông Lời khuyên chót của tôi.

Ông đi đường ông, tôi đi đường tôi, chúc một đêm an lành?

- Tay hầu tước này có vẻ nguy hiểm - Cực kỳ nguy hiểm.

Tôi từng biết rõ nhiều tên khoác lác, nhưng thằng này thuộc loại ít nói.

- Anh có bị bắt buộc phải bận tâm về hắn đâu.

Hắn lấy cô bé đó thì có sao đâu?

- Vì chắc chắn hắn đã giết chết người vợ sau cùng, nên ta cần phải ngăn cản cuộc hôn nhân mới này.

Mặt khác, phải làm theo lệnh của khách hàng.

Nhưng thôi, đừng có thảo luận điều này.

Khi uống cà phê xong, anh đi theo tôi, bởi vì Si-oen sẽ đến báo cáo công việc.

Si-oen đã đến phố Baker khi chúng tôi tới nơi.

Đó là một tên khổng lồ, mặt hơi đỏ và thô, đôi mắt cực kỳ linh hoạt là dấu hiệu độc nhất của bộ óc xảo quyệt.

Chắc chắn anh ta đã lặn ngụp trong giai tầng cặn bã.

Thật thế, cạnh Si-oen, trên ghế dài còn có một thiếu phụ trẻ trung mảnh khảnh, tóc đỏ hoe, khuôn mặt thê lương, tái mét, bị tội lỗi và ưu phiền tàn phá đến nỗi người ta mường tượng được những năm tháng khủng khiếp mà nàng đã trả

- Tôi xin giới thiệu cô Kít-ti - Si-oen nói và lay động bàn tay béo phị.

- Những gì cô ấy biết...

Cô ấy sẽ tự động nói ra.

Tôi chộp được cô ấy, thưa ông Holmes, không đầy một giờ sau khi nhận được giấy của ông.

- Tìm tôi không khó - Cô gái nói - Ai cũng có thể tìm ra tôi tại địa ngục của Luân Đôn.

Chúng tôi là những bạn tâm giao.

Nhưng mà, quỷ thần ơi, còn một thằng nữa thằng này lẽ ra phải ở một tầng địa ngục tệ hơn, nếu có công lý trên cõi trần này.

Đó là cái thằng mà ông đang bận tâm, thưa ông Holmes.

Holmes cười:

- Tôi xin dự phần vào nguyện ước của cô, cô Kít-ti?

- Nếu tôi có thể giúp ông tống nó đến cái nơi mà nó phải ở theo luật, thì tôi rất sẵn sàng.

Người khánh nữ nói một cách hăng hái.

Sự hận thù cao độ thoáng qua trên các đường nét căng thẳng và trong đôi mắt rực sáng.

- Ông khỏi phải bận tâm về quá khứ của tôi, thưa ông Holmes.

Quá khứ của tôi chẳng có gì hay ho.

Tôi chỉ là con chuột nhắt trong nanh vuốt của con mèo Ru-nê.

Chờ khi tôi có thể kéo nó...

- cô vung hai bàn tay một cách điên dại -... kéo nó xuống tới một cái hố, nơi mà nó đã đạp quá nhiều người xuống.

- Cô biết chuyện gì rồi?

- Si-oen đã nói với tôi.

Thằng điếm hiện chạy theo một con nghe đáng thương và lần này thì hắn muốn cưới cô ta làm vợ.

Phần ông, ông chắc đã biết quá nhiều về con quỷ cái này!

- Cô bé mất trí rồi.

Cô ấy yêu nó như điên như dại.

Cô ấy đã được cho hay, nhưng cô ấy không chịu nghe tí gì.

- Được cho hay về vụ ám sát?

- Vâng

- Chúa ơi.

Con bé cừ thật?

Ông không nhét bằng chứng vào cặp mắt ngu đần của nó?

- Cô có chịu giúp chúng tôi soi sáng cô ta không?

- Còn gì nữa.

Tôi chưa phải là bằng chứng bằng xương bằng thịt sao?

Tôi sẽ kể cho cô ta nghe cái cách tôi bị Ru-nê đối xử.

- Cô sẽ nói?

- Sao lại không?

- Nên thử làm coi.

Thằng khốn đó đã thú nhận phần lớn các tội lỗi của nó và cô ta đã tha thứ cho nó rồi.

Tôi không tin rằng. cô ta chịu trở lại vấn đề.

- Tôi sẽ chứng minh rằng nó chưa thú hết tội - Cô Kít-ti nói lớn tiếng.

- Tôi có biết sơ qua về hai hoặc ba cái án mạng chưa bị phanh phui.

Hắn nói với cái giọng êm như nhung, rồi thản nhiên nhìn tôi và tiết lộ: Nó chết được một tháng rồi.

Hắn không nói nhiều, và tôi cũng không chú ý lắm.

Vì yêu hắn, bất cứ cái gì hắn làm, tôi cũng thích thú, y hệt như con bé ngu đần đáng thương kia.

Chỉ có một chuyện làm cho tôi kinh hoảng.

Quỷ thần ơi?

Hắn có một cuốn sách đóng bằng da nâu, có ổ khóa đóng kín và có huy hiệu của hắn trên bìa.

Hình như đêm đó hắn say, nếu không thì hắn đâu có cho tôi xem?

- Sách gì?

- Hắn sưu tập đàn bà.

Hắn hãnh diện về bộ sưu tập đàn bà của hắn như người ta hãnh diện về những bộ sưu tập tiền xưa hoặc các loại tem.

Hắn ghi đầy đủ trong sách đó những hình chụp lén, tên họ, và biết bao chi tiết khác.

Đủ hết?

Một cuốn sách mà không một người đàn ông nào, ngay cả giới cặn bã cũng không nhẫn tâm làm thế!

Nhưng Ru-nê đã viết: "Các linh hồn mà tôi đã hủy diệt".

Nhưng thôi, tôi không bình luận nữa, bởi lẽ cuốn sách đó không ích gì cho ông.

Còn nếu nó hữu dụng thì làm sao lấy nó được?

- Nó ở đâu?

- Làm sao mà biết, bởi vì tôi đã tuyệt giao với hắn hơn một năm rồi.

Khi còn sống chung, thì tôi biết nó được giấu ở đâu.

Về nhiều phương diện, hắn giống một con mèo, hắn có cái tính sạch sẽ và chính xác của mèo.

Do đó, có thể quyển ấy ở trong tủ đồ gỗ.

Chỗ trong văn phòng riêng của hắn.

- Tôi đã vào đó rồi - Holmes đáp.

- Ủa, rồi hả.

Vậy ông đâu phải là tay mơ.

Có lẽ hắn đang gặp phải một tay kỳ phùng địch thủ rồi.

Văn phòng mà ông vào có cái tủ buýt phê lớn chứa đồ sứ Trung Hoa đặt giữa hai cửa sổ sau cái bàn, có cái cửa đi qua văn phòng riêng, nơi hắn cất giấy tờ và một ngàn lẻ một thứ khác.

- Ông ta không sợ ăn trộm à?

- Ru-nê đâu phải đồ thỏ đế.

Đương nhiên hắn dư sức bảo vệ mạng sống và tài sản của hắn.

Ban đêm thì có cả một hệ thống chuông báo động.

Mặt khác trong nhà hắn có cái thứ gì đáng giá để quyến rũ bọn ăn trộm đâu?

Ngoại trừ mớ đồ sứ Trung Hoa.

- Đồ vô giá trị- Si-oen mạnh mẽ nói lớn - Không một thằng cha, con mẹ chợ trời nào chịu mua một món đồ cua nó.

- Đồng ý- Holmes nói - Nào cô Kít-ti, đề nghị cô quay lại chiều mai lúc 5 giờ.

Để tôi suy nghĩ về đề nghị đi gặp con bé của cô.

Tôi sẽ xem xét coi có thể thu xếp một cuộc hẹn được không.

Tôi thành thực cám ơn sự cộng tác của cô.

Có lẽ tôi khỏi cần phải nhắc lại rằng người khách hàng của tôi rất hào phóng.

- Không - Cô gái la to - Tôi không đến đây vì tiền.

Lôi được thằng khốn đó xuống bùn là tôi hả dạ!

Nhét nó sâu xuống bùn và chân tôi đạp lên để giẫm nát cái mặt đáng nguyền rủa của nó!

Tôi không muốn cái gì khác.

Tôi sẽ gặp ông vào ngày mai và bất cứ lúc nào.

Si-oen biết cách kiếm ra tôi.

Phải tới chiều hôm sau, tôi mới gặp Holmes tại quán ăn quen thuộc ở Strand.

Anh nhún vai khi được hỏi xem cuộc hội ngộ có kết quả không?

Holmes kể lại:

- Ông tướng điện thoại cho hay rằng mọi sự đã chuẩn bị xong.

Kít -ti rất đúng hẹn, leo lên xe ngựa đi chung với tôi.

Xe cho chúng tôi xuống lúc 5 giờ 30 tại tư dinh đồ sộ của ông tướng.

Một người hầu mặt đồng phục đưa chúng tôi khách lớn.

Con bé đang ngồi đợi.

Cô ta mặt tái xanh, nghiêm trang, sắt đá và lạnh lùng như tuyết.

Tôi không biết cách mô tả cô bé, anh Watson?

Có thể trước khi câu chuyện kết thúc, anh sẽ gặp cô ta, chừng đó anh sẽ sử dụng năng khiếu văn sĩ của anh.

Cô bé đẹp, cái đẹp thanh thoát.

Trong các kiệt tác của những nhà danh họa Trung Cổ, tôi gặp những khuôn mặt giống khuôn mặt của cô ta.

Làm thế nào một con thú dữ có thể đặt vuốt của nó trên một con người như thế!

Chuyện đó khó hiểu đối với tôi.

Anh biết rằng những cái khác cực thì hút lẫn nhau, người thiên về tâm linh bị cuốn hút bởi người ác thú tánh.

Đương nhiên là cô ta biết lý do của cuộc thăm viếng của chúng tôi.

Sự có mặt của cô Kít-ti làm cho cô ngạc nhiên một phút.

Tuy vậy, cô ta vẫn chỉ hai ghế bành với vẻ mặt của một bà trưởng tu viện tiếp nhận hai người cùi trước đây đi ăn mày.

Cô ta nói giọng như vang dội ư một tảng băng.

- Thưa ông, tôi có được nghe nhiều về phương danh của ông.

Ông tới đây, theo tôi hiểu là để vu khống vị hôn phu của tôi, hầu tước Ru-nê.

Chỉ vì chiều theo ý cha tôi mà tôi tiếp ông, và tôi xin báo cho ông biết trước rằng không một lời nào của ông sẽ có ảnh hưởng đến các quyết định của tôi.

- Cô ta làm tôi đau nhói.

Ngay lúc đó, tôi coi cô ta như con gái của tôi.

Tôi hăng say biện giải, mô tả cho cô ta các tình huống địa ngục của một người đàn bà chỉ biết rõ tim người đàn ông sau khi đã lấy nhau, một người đàn bà phải chịu sự nhơ khổ của đôi bàn tay đẫm máu và đôi môi tanh tưởi.

Tất cả các lời nói của tôi không thể đem lại một phút xúc động trên cái nhìn xa xăm của cô ta.

Tôi nhớ lại những gì thằng ác ôn nói về cái tác động sau thôi miên.

Quả vậy, ta có thể tưởng tượng rằng cô bé đanh sống bên trên trái đất trong một sự mê sảng.

- Tôi đã nhẫn nại nghe ông nói, thưa ông Holmes.

Hiệu quả của lời ông là đúng như hiệu quả mà tôi đã cho ông biết trước.

Tôi biết rằng chồng chưa cưới của tô đã trải qua rất nhiều cơn giông tố của những phê phán rất bất công.

Ông là người cuối cùng trong một loạt người vu khống.

Có thể ông có mỹ ý với tôi, mặc dù tôi biết ông là người làm việc có thù lao, ông có thể bảo vệ quyền lợi của hầu tước cũng như quyền lợi các kẻ thù của hầu tước.

Nhưng đó là quyền tự do của ông.

Phần tôi, tôi muốn ông hiểu dứt khoát rằng, tôi thương anh ấy, anh ấy cũng thương tôi, còn dư luận đối với tôi thì chỉ như chó sủa lỗ không.

Nếu bản chất quý phái của anh ấy đôi khi có sai sót, thì có thể Chúa đã thu xếp để tôi đến nâng anh ấy lên vai vế cũ.

Quay qua phía cô Kít-ti cô ta nói thêm.

"tôi không hiểu tại sao có sự hiện diện của thiếu phụ trẻ tuổi này".

Tôi sắp trả lời thì con bé bụi đời xen vào như cơn lốc.

Anh hãy tưởng tượng cảnh lửa gặp băng, mặt đối mặt.

"Tôi sẽ nói với cô, tôi là ai?"

Kít-ti nhảy dựng khỏi ghế và la lớn, miệng méo xẹo vì điên tiết.

- "Tôi là tình nhân cuối cùng của thằng đó.

Tôi là một trong một trăm người đàn bà bị thằng đó cám dỗ, mê hoặc, tàn phá cuộc đời rồi liệng vào đống rác.

Đống rác, đối với cô có thể là nấm mồ, có lẻ lại hay hơn.

Tôi nhắc lại, đồ ngu như chó, lấy nó, cô sẽ tiêu tùng!

Hoặc nó đập nát tim cô hoặc nó vặn cổ cô? kết quả sẽ là cái chết chắc chắn.

Hôm nay, không phải vì thương cô mà tôi nói.

Cô sống hay cô chết mặc xác cô.

Chính vì muốn phục thù rứa hận.

Không nên nhìn tôi một cách miệt thị như thế, người đẹp ơi!

Bởi vì người đẹp có thể sa sút một cách tệ hại hơn, không lâu lắm đâu.

- Tôi không muốn phải nói những chuyện như thế này.

Tôi lặp lại một lần chót rằng tôi biết ba giai đoạn của cuộc đời của vị hôn phu của tôi.

Trong đó anh ấy đã vướng phải thành phần đa mưu và tôi vững tin rằng anh ấy thành thật hối cải những sai trái cũ.

- Ba giai đoạn- Người nữ đồng hành của tôi thét to - Đồ ngu!

Đồ ngu cực kỳ

- Ông Holmes, tôi yêu cầu ông chấm dứt cuộc nói chuyện này.

Tôi vâng lệnh bố tôi mà tiếp ông, chứ tôi đâu bị bắt buộc phải nghe các lời nói mê sảng của người nà

Cô Kít-ti chửi thề như bắp rang, nhào ra phía trước, nếu tôi không nắm được cổ tay cô, thì cô Kít-ti đã chụp tóc con gái ông tướng.

Tôi kéo cô ta ra hướng cửa và nhanh nhẹn đẩy cô ta lên xe ngựa, tránh được một sự tụ tập của những người hiếu kỳ.

Về phần tôi, tuy tỉnh táo hơn, nhưng tôi cũng muốn phát điên khi vấp phải một thái độ cao ngạo của người đàn bà đang cố cứu mạng.

Vậy là tôi đã báo cáo tình hình đầy đủ rồi đó.

Đương nhiên, tôi phải mở ra một hướng đi khác.

Tôi vẫn phải giữ nên lạc với anh, anh Watson!

Có phần chắc là tôi dành cho anh một vai trong vở kịch tới.

Tôi đoán biết màn tới do họ chủ động đó.

Holmes đã đoán đúng đòn thù của họ giáng trả.

Đúng ra là của thằng điếm đó.

Tôi điếng người khi đọc tin nhỏ trên một tờ nhật báo.

Sự việc xảy ra giữa đại khách sạn Grand Hotel và nhà ga Charing Cross.

Một anh què giò bày một tờ báo buổi chiều in hàng tít rất lớn bằng chữ đen trên nền vàng:

"Sherlock Holmes bị mưu sát".

Tôi đứng như phỗng đá một lúc lâu.

Sau đó hình như tôi giật tờ báo từ tay người bán, và không trả tiền báo rồi tức tối chui vào trước cửa một tiệm thuốc tây để đọc:

"Chúng tôi đau đớn hay tin ông Sherlock Holmes là nạn nhân của một cuộc mưu sát.

Hiện tại mọi dự đoán về tình trạng sức khỏe của ông là quá sớm.

Biến cố xảy ra khoảng 12 giờ tại đường Regent, gần quán cà phê Royal.

Hai người dùng gậy đập tới tấp trên thân và đầu ông Holmes.

Các bác sĩ cho rằng đây là trường hợp nghiêm trọng.

Ông được chở vào nhà thương Charing Cross nhưng ông nằng nặc đòi chở về nhà tại đường Baker.

Những kẻ tấn công ăn mặc rất đàng hoàng.

Họ thoát thân bằng cách chạy vào quán cà phê Royal rồi đi ra bằng cửa sau và tan biến trên đường phố đông người.

Đương nhiên họ thuộc giai tầng tội ác đã biết bao lần bị khốn khổ bởi tài năng của ông Sherlock Holmes".

Tôi nhảy lên một xe ngựa, bảo chạy tới phố Bak

Tại cửa có xe của ngài Lê-ly đang chờ.

Khi vào hành lang, tôi gặp nhà giải phẫu nổi tiếng này.

- Bệnh không có gì nguy kịch - Bác sĩ Lê-ly nói với tôi - Rách da đầu hai chỗ, trầy trụa tứ tung.

Phải vá nhiều.

Tôi có chính mooc-phin, cần để ông ấy nghỉ ngơi, nhưng ông có thể vào gặp vài phút.

Tôi hối hả bước vào căn phòng tối om.

Holmes gọi tôi.

Bức sáo được kéo xuống ba phần tư nhưng có một tia sáng mặt trời lọt vào, nhờ đó tôi thấy rõ có vết máu thoát ra lớp băng trắng trên đầu Holmes.

Tôi ngồi gần anh, lắc đầu.

- Không gì đâu, Watson.

Đừng giữ cái bộ mặt đưa ma đó - Holmes nói với giọng yếu ớt - Không nặng như người ta nói đâu?

- Thật là may!

- Tôi đánh gậy cũng không tệ, như anh biết, tôi đỡ được nhiều cú.

Họ 2 người, tôi thua là do cái người thứ hai này.

- Đương nhiên là do tên hầu tước khốn nạn đó giựt dây.

Nếu anh cho phép, tôi sẽ xé xác nó ngay?

- Ta không thể làm gì trước khi cảnh sát thộp cổ mấy tên đồng phạm của nó.

Chúng chuẩn bị kế hoạch chuồn hay lắm.

Hãy chờ một lúc.

Tôi có kế hoạch mới.

Việc thứ nhất phải làm là tung tin rằng bệnh trạng của tôi là rất nguy kịch.

May mắn lắm thì sống thêm một tuần.

Hãy phao tin rằng tôi đã nói sảng nói điên.

- Còn ngài Lê-ly.

- Ồ, khỏi lo, ông ấy phịa còn dữ hơn nữa.

Tôi lo chuyện đó cho.

- Còn gì nữa không.

- Còn chứ.

Cảnh giác Si-oen, bảo hắn đem cất giấu con bé bụi đời vào nơi an toàn.

Bọn chúng sẽ làm thịt con bé.

Khẩn trương lên, ngay đêm nay nay

- Tôi đi ngay.

-Còn gì nữa không?

- Để cái tẩu và bao thuốc trên bàn giùm.

-Tốt lắm!

Mỗi sáng anh tới đây, chúng ta sẽ hoạch định kế hoạch hành động.

Ngay đêm đó tôi thu xếp với Si-oen để gởi cô Kít-ti qua vùng ngoại ở Paris chờ tới lúc sóng lặng gió yên.

Trong suốt sáu ngày, công chúng lầm tưởng Holmes đang thoi thóp, chờ chết.

Các bản thông báo sức khỏe rất là bi quan, còn báo chí thì công bố những tin tức ảm đạm.

Trong khi đó Holmes bình phục nhanh chóng.

Ngày thứ bảy, người ta tháo chỉ các chỗ may.

Cũng tối hôm đó họ loan một tin mà tôi phải thông báo ngay cho Holmes.

Trong đám hành khách trên con tàu rời Liverpool vào sáng thứ sáu, có tên của hầu tước Ru-nê.

Hắn có những việc tài chính quan trọng phải giải quyết tại Hoa Kỳ trước ngày kết hôn đang gần kê.

Sau khi nghe tin này, nét mặt Holmes tái mét.

- Thứ sáu.

Holmes la lớn - Vậy chỉ còn có ba ngày thôi.

Thằng ác ôn này muốn chạy trốn.

Không được đâu, Watson?

Tôi muốn anh làm một cái di để giúp tôi.

- Thì tôi tới đây là để giúp anh.

- Vậy anh dành 24 giờ tới để nghiên cứu kỹ lưỡng các đồ sứ trung Hoa.

Holmes không giải thích thêm.

Tôi cũng không đặt một câu hỏi nào.

Mấy năm sống với anh tập cho tôi thói quen răm rắp vâng lời.

Nhưng khi đã rời phòng của anh, đi dọc đường Baker, tôi không biết làm sao chấp hành mệnh lệnh.

Cuối cùng tôi đi đến thư viện ở quảng trường Saint-james, trình bày của tôi cho người bạn thân tên là La-may, phó quản thủ thư viện và quay về nhà với một cuốn sách đồ sộ kẹp ở nách.

Suốt đêm, suốt sáng hôm sau, tôi học được cả ngàn chuyện và nhồi nhét vào đầu cả ngàn cái tên.

Đầu óc nặng trĩu dưới gánh nặng của tài liệu này.

Chiều hôm sau tôi đến nhà Holmes.

Anh đang ngồi trên chiếc ghế bành, đầu quấn băng.

- Nếu tin theo các báo chí thì anh đang hấp hối?

- Đấy chính là điều tôi muốn phổ biến rộng rãi, còn anh đã học bài kỹ chưa?

- Ít ra tôi có thể hiểu một số điều.

- Hoan nghênh!

Anh thấy đủ sức tranh luận một cách khôn ngoan về đề tài đó chưa?

- Dư sức.

- Vậy, vui lòng lấy giúp tôi cái hộp trên lò sưởi?

Holmes mở nắp, để lộ ra một đồ vật nhỏ được gói kỹ trong miếng lụa Đông phương.

- Phải cầm cho cẩn thận.

Đây là dĩa sứ đá trứng đời nhà Minh.

Cho tới nay chưa có ai làm hay hơn.

Có đủ bộ.

Hình như không có bộ thứ hai, ngoài bộ ở Hoàng cung Bắc Kinh.

Nhìn đồ vật này, một người sành điệu sướng phát điên.

- Tôi phải làm gì?

Holmes đưa cho tôi một danh thiếp trên đó có in hàng chữ "Bác sĩ Hin Barton, 369 Half Moon Street".

- Đêm nay anh mang tên này và đến nhà hầu tước Ru- nê.

Tôi biết vài thói quen của hắn.

Lúc 8 giờ 30 có thể hắn rảnh.

Anh hãy gởi danh thiếp báo trước.

Anh nói với hắn rằng anh mang tới một mẫu của bộ sứ đời nhà Minh, hiếm có.

Anh đóng vai bác sĩ thì dễ thôi, nhưng anh cần đóng vai người sưu tập nhiều hơn.

Bộ đồ sứ này tình cờ lọt vào tay anh, anh có nghe đồn nó thích đồ sứ, và anh sẵn sàng bán với giá cao

-Bao nhiêu?

- Câu hỏi khôn ngoan đó.

Anh sẽ bị lộ diện mau chóng nếu không biết giá cả của món hàng.

Mẫu này do ông tướng của chúng ta mang lại.

Anh không nói ngoa khi khẳng định là không có cái thứ hai trên thế giới này.

- Tôi có thể đề nghị bộ đồ sứ được đánh giá bởi một chuyên viên?

- Anh tuyệt hảo hôm nay.

Vì tế nhị, anh không định giá mà đề nghị mời chuyên viên.

- Nhưng chắc gì nó tiếp tôi?

- Tiếp chứ.

Hắn là một tay chơi đồ cổ, anh quên rồi sao?

Hãy ngồi xuống, tôi đọc cho anh chép!

Khỏi cần xin hồi ám, chỉ báo sẽ đến và cho biết lý do.

Ngay đêm đó, với cái đá quý giá trên tay và tấm danh thiếp mang tên bác sĩ Barton trong túi, tôi lao mình vào một cuộc phiêu lưu.

Ngồi nhà và khoảnh đất chung quanh cho thấy rằng hầu tước Ru-nê giàu sụ, đúng như ngài James đã nói.

Những con đường dài uốn khúc giữa các bồn hoa lạ đưa tới một cái sân vuông rải sỏi, có dựng nhiều bức tượng.

Cơ ngơi này được sắp đặt bởi một ông vua vàng của Nam Mỹ vào thời cực kỳ phát đạt.

Một quản gia ăn mặc nghiêm chỉnh mở cửa cho tôi, rồi giao cho một gia nhân mặc toàn đồ nhung sang trọng.

Cuối cùng hầu tước tiếp tôi.

Ông ta đứng gần cái tủ cao, đặt giữa hai cửa sổ, chứa một phần bộ sưu tập đồ sứ Trung Hoa.

Khi tôi vào, ông quay mặt về hướng tôi, tay cầm một lọ nhỏ màu náu.

- Mời bác sĩ ngồi.

Tôi đang ngắm nghía các báu vật của tôi và tự hỏi không biết có thể thực sự thêm vào đó một cái nữa không?

Cái mẫu nhỏ đời Đường này thuộc thế kỷ thứ VII có thể làm ông thích.

Tôi chắc chắn ông chưa bao giờ thấy một sự khéo tay nào và một sự pha trộn màu nào hài hòa hơn.

Ông có mang theo cái đĩa đời Minh đấy

Tôi mở gói một cách cẩn thận và đưa cái đĩa ra.

Hắn liền ngồi vào bàn, kéo cái đèn lại gần và quay đá qua lại, xem xét mọi khía cạnh.

Trong lúc đó, ánh sáng màu vàng chiếu sáng khuôn mặt hắn cho phép tôi ngắm hắn một cách thoải mái.

Hắn thực sự đẹp trai, chiều cao trung bình nhưng dáng người thanh nhã, mềm mại.

Khuôn mặt sạm nắng, vẻ Đông phương, đôi mắt to đen nhánh, mơ màng, có sức cuốn hút đàn bà một cách dễ dàng.

Tóc và râu màu đen, râu kẽm, ngắn, mảnh mai, chải chuốt.

Giọng nói hấp dẫn, điệu bộ sang trọng.

Tôi đoán hắn chỉ ngoài ba mươi, nhưng thực ra, như sau này mới biết, hắn đã bốn mươi hai rồi.

- Rất đẹp!

-Rất là đẹp.

- Hắn khen luôn miệng.

- Ông có một bộ sáu cái?

Có một điều là tôi chưa bao giờ nghe nói về cái bộ đĩa tuyệt trần này.

Tôi biết tại Anh quốc có một bộ có thể sánh với bộ này.

Nhưng chắc chắn họ không bán.

Thưa bác sĩ, bác sĩ vui lòng tha thứ cho sự tò mò của tôi và cho tôi biết do đâu bác sĩ có được bộ này?

- Ông thích nó thật à?

Tôi hỏi với một vẻ bình thản.

- Tôi đã biết nó là thứ thiệt.

Về trị giá của nó, tôi đành phó thác cho sự định giá của một chuyên gia.

- Rất là bí hiểm - Hắn thì thầm, với đôi mắt đen lấp lánh một tia sáng ngờ vực.

- Khi muốn mua những đồ vật có giá trị lớn như thế này, ai cũng muốn phăng cho tới ngọn ngành.

Cái đĩa đẹp, quý, là điều không ai chối cãi.

- Tôi không mảy may ngờ vực.

Nhưng tôi phải cân nhắc nhiều điều...

Bác sĩ không có quyền bán nó.

- Tôi bảo đảm!

- Thế thì tôi phải xét lại giá trị của lời bảo đảm

- Các ngân hàng của tôi sẽ trả lời cho ông về uy tín của tôi.

- Được thôi!

-Dù vậy việc buôn bán này có hơi dị thường!

- Ông mua hay không, tùy ông - Tôi nói với vẻ cực kỳ bất cần - Tôi tới ông trước tiên, tại vì tôi được biết ông là người sành sỏi, chứ việc buôn bán này đâu có khó gì?

- Ai nói với ông rằng tôi là người sành sỏi?

- Tôi biết ông có viết một cuốn sách về đề tài này ông đọc rồi?

- Chưa.

- Chúa ơi.

Càng lúc tôi càng rồi trí hơn.

Ông là người sành sỏi kiêm nhà sưu tập.

Ông có một đồ vật giá trị lớn trong bộ sưu tập, thế mà ông không chịu khó đọc cuốn sách độc nhất giúp ông tìm hiểu ý nghĩa và giá trị của cái đồ vật này.

ông giải thích điều đó như thế nào?

- Tôi rất bận.

-Tôi là thầy thuốc.

Tôi có khách hàng phải phục vụ.

- Đó không phải là lời giải đáp!

Nếu ham chơi đồ cổ, người ta luôn dành thời gian cho nó bằng mọi cách.

Trong thư, ông có nói ông là người sành sỏi.

- Đúng vậy.

- Vậy tôi hỏi ông vài câu để kiểm nghiệm.

Tôi buộc lòng phải nói với bác sĩ rằng cái màn buôn bán này mỗi lúc mỗi lù mù.

Nào, ông biết gì về nhà Bắc nguy và vị trí của họ trong lịch sử đồ gốm?

Tôi nhảy dựng khỏi cái ghế bành và giả đò nổi giận:

- Điều này không còn dung thứ được nữa.

ông à?

- Tôi la lớn - Tôi tới đây vì dành ưu tiên cho ông, chứ không phải để bị hạch hỏi.

Kiến thức của tôi đồ sứ có thể thua sút ông, nhưng tôi từ chối trả lời những câu hỏi được đặt ra một cách xấc xược!

Hắn nhìn tôi đăm đăm, cái tính thơ mộng trong đôi mắt của hắn đã biến mất.

Rồi đột ngột, đôi mắt này rực lửa.

Tôi thấy sự ngời sáng của bộ răng trắng của hắn giữa cặp môi tàn nhẫn.

- Anh chơi trò gì.

Anh tới đây để dò xét tôi, anh mưu toan gạ gẫm tôi.

Hình như Holmes đã gần chết và y sai anh đến đây canh chừng tôi.

Anh vào đây dễ dàng, nhưng anh sẽ thấy ra khỏi đây rất khó.

Hắn nhảy dựng lên, tôi lùi lại, chuẩn bị đối phó.

Có lẽ lúc đầu hắn có nghi ngờ, qua cuộc thẩm vấn, hắn thấy rõ hơn.

Hắn thọc tay vào hộc tủ, lục lạo túi.

Thình lình một tiếng động vang lên làm hắn dừng lại để nghe.

- À- Hắn la lên rồi chạy vào căn phòng phía sau lưng.

Tôi chạy ra đến cửa.

Cửa sổ của căn phòng thứ hai ngó ra vườn bị mở toang hoác.

Bên cạnh cửa sổ này, Sherlock Holmes xuất hiện như một con quỷ, sau đó, Holmes nhảy ra ngoài.

Tôi nghe tiếng chân anh giẫm lên các nhánh nguyệt quế ngoài vườn.

Chủ nhà nhảy theo, miệng gào thét như con cọp dữ.

Và lúc đó chỉ trong một giây, tôi thấy rõ một cánh tay đàn bà ló ra khỏi các cành nguyệt quế.

Thình lình Ru-nê la thất thanh.

Tiếng la rợn người.

Hắn lấy hai bàn tay bụm mặt vừa gào vừa chạy vào phòng, đụng đầu vào tường, ngã sụm xuống thảm, cuộn tròn, quằn quại, rên la vang dội trong căn nhà mênh mông.

- Cho tôi nước lã!

-Cho tôi nước!

- Hắn la liên tục.

Tôi vớ lấy bình nước trên bàn, hối hả chạy tới.

Cùng lúc viên quản gia và nhiều người bồi phòng khác cũng chạy tới.

Tôi còn nhớ rằng một người trong bọn ngất xỉu khi nhìn thấy gương mặt của hắn bị tàn phá một cách dữ dội.

Acid đang ngậm nhấm khuôn mặt hắn, đang chảy thành giọt xuống tai và xuống cằm.

Một con mắt đã trắng đục con kia thì đỏ và sưng lên.

Cái diện mạo mà ban nãy tôi tấm tắc khen thầm thì giờ đây nó giống nhưtranh đẹp bị nhòe, tèm nhem, trông rất gớm ghiếc!

Một cách ngắn gọn, tôi trình bày những gì đã xảy ra.

Vài người bồi phòng nhảy qua cửa sổ, lục lọi ngoài vườn nhưng trời tối đen và mưa bắt đầu rơi.

- Chính là Kít- ti.

Ồ, con quỷ cái đó sẽ phải đền tội!

Đúng, nó sẽ phải đền tội.

ôi!

Đau quá, không thể nào chịu nổi!

- Hầu tước Ru-nê la vang.

Tôi rửa mặt hắn bằng dầu, áp bông gòn vào da cháy rồi chích cho hắn một mũi thuốc giảm đau.

Hắn bấu vào tay tôi, như thể tôi có quyền năng đem lại sự sống cho đôi mắt đang nhìn tôi chòng chọc.

Có thể tôi đã khóc trước cái đại họa này, nếu tôi quên được cái lòng lang dạ thú của hắn.

Chính cái dã tâm của hắn là nguồn gốc của mối đại họa hôm nay.

Tôi ghê tởm khi cảm thấy đang bị hắn bấu víu để cầu cứu...

Bác sĩ chuyên môn của gia đình hắn đã đến, tôi được nhẹ nhõm.

Tất nhiên một thanh tra cảnh sát không thể chậm chân.

Tôi trình cái danh thiếp thật của tôi ở Scotland Yard, mọi người đều biết tôi y như biết Sherlock Holmes.

Rồi tôi rời cái nhà xui xẻo này.

Không đầy một giờ sau, tôi đã về tới đường Baker.

Holmes đang ngồi trong ghế bành quen thuộc, lắng tai nghe một cách kinh hoàng.

Tôi mô tả sự thay đổi hình dạng của Ru-nê.

- Có vay thì phải trả.

Vay sao, trả vậy!

- Nói xong Holmes với tay lấy cuốn sách nâu để trên bàn.

- Đây là cuốn sách mà con bé bụi đời đã nói với chúng ta.

-Nếu Vi-ô-lét khăng khăng không hủy bỏ sự đính hôn thì ta chịu thua thôi.

-Nhưng cô ta sẽ hủy bỏ cuộc đính hôn!

-Bắt buộc thôi, bất cứ người đàn bà nào có lòng tự trọng, cũng đều phải khuất phục lẽ phải.

- Cuốn sổ tình?

- Cuốn sổ tình dục thì đúng hơn.

Ngay khi con bé Kít-ti cho biết, tôi hiểu ngay đó là một vũ khí lợi hại.

Tôi lặng yên, không phát biểu gì vì sợ con bé không giữ miệng được.

Tuy nhiên tôi suy tính lại mãi.

Tiếp đến tôi bị tấn công, đó là cơ hội để làm cho Ru-nê lầm tưởng mà không đề phòng gì về phía tôi.

Mọi việc trôi qua êm đẹp.

Tôi tưởng đây mình còn phải chờ lâu.

Không ngờ hắn dự định đi Mỹ.

Tôi phải khẩn trương vì hắn sẽ không chịu để cuốn sổ này tại đây.

Rất khó mà ăn trộm ban đêm, bởi vì hắn có một hệ thống báo động.

Nhưng cướp đoạt vào ban ngày thì được, với điều kiện phải làm sao cho tâm trí của hắn bị chi phối.

Đó chính là lý do tại sao anh và cái đá phải nhập cuộc.

-Khổ nỗi tôi phải biết chính xác cuốn sách nằm ở đâu.

Mặt khác, tôi không có nhiều thời gian, bởi vì kiến thức của anh về đồ sứ Trung Hoa không có bao nhiêu.

Đó là lý do tôi cho mời con bé bụi đời vào phút chót.

Có Chúa mới đoán được con bé giấu vật gì trong áo choàng của nó!

Tôi lầm tưởng nó chỉ đến vì công việc của tôi, đâu có dè nó còn nghĩ tới chuyện riêng tư của nó.

- Thằng ác ôn biết chính anh sai tôi đi!

- Tôi cũng khá lo.

Nhưng anh đã cầm cự đủ thời gian để tôi chộp được cuốn sách!

Kìa!

Ngài James ngài tới, tôi mừng hết lớn.

Huân tước James thích thú nghe kể lại tất các biến cố.

- Một kỳ công!

Đại kỳ công - Huân tước la to - Nếu thương tích của hắn tệ hại như bác sĩ Watson mô tả thì cái kế hoạch phá đám cưới sẽ thành công, đâu cần tới cuốn sách bẩn thỉu này?

Holmes lắc đầu:

- Đàn bà loại như cô Vi-ô-lét không xử sự bình thường như chúng ta dự đoán.

Cô ta càng thương hắn bội phần, dưới các đường nét ghê tởm ở mặt của người tử vì đạo.

Không đâu, chính cái mặt đạo đức của hắn cần được tiêu hủy chứ không phải cái mặt thể chất.

Cuốn sách này sẽ làm cho cô ta bừng tỉnh.

Tôi không thấy có giải pháp thứ hai.

Đây chính là chữ viết của tên khốn nạn đó.

Cô ta không thể phủ nhận.

James mang cuốn sách về, cùng với cái đá quý giá.

Tôi cũng cáo từ.

Chiếc xe ngựa đang chờ, ông ấy nhảên, ra lệnh ngắn gọn cho người xà ích phóng xe nhanh.

Dù ông ta cố lấy vạt áo choàng che phủ huy hiệu trên cửa xe, tôi cũng có đủ thời gian để nhận dạng cái huy hiệu đó.

Tôi há hốc mồm, quay vào và đến phòng của Holmes.

- Tôi đã phát hiện khách hàng của mình là ai - Tôi la lớn, hãnh diện vì cái tin tức mới của tôi!

Nè, Holmes!

- Đấy là một người bạn trung thực và nghĩa khí - Holmes chân ngang bằng cách khoát tay làm dấu.

Ba ngày sau, nhật báo The Morning Post loan báo rằng cuộc hôn nhân giữa hầu tước Ru-nê và cô Vi-ô-lét bị hủy bỏ.

Số báo đó cũng tường thuật vụ cô Kít-ti ra tòa vì tội tạt acid.

Nàng được hưởng trường hợp giảm kinh nên bản án không nặng lắm.

Sherlock Holmes thì suýt bị truy tố vì tội trộm.

Nhưng khi mục tiêu là tốt, và khách hàng là một thế gia vọng tộc, luật pháp của Anh quốc cũng co giãn và có nhân tính.

Holmes khỏi ngồi vào ghế bị cáo.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
F2 Người lính bị vảy nến


NGƯỜI LÍNH BỊ VẢY NẾN

THE ADVENTURE OF THE BLANCHED SOLDIER (1926)

The Case Book of Sherlock Holmes

Tàng thư của Sherlock Holmes

Watson bảo tôi hãy thử tường thuật một trong các cuộc phiêu lưu của hai chúng tôi.

Sở dĩ như vậy là vì tôi luôn mồm chê bai cái bài tường thuật của Watson là nông cạn, thường thiên về mục đích thỏa mãn công

Nhưng khi cầm viết trên tay, tôi lại thấy phải trình bày câu chuyện sao cho độc giả bị lôi cuốn.

Câu chuyện tôi đang viết đây có lẽ sẽ thành công vì nó là một trong những chuyện dị thường nhất trong bộ sưu tập của tôi, tuy không được Watson chú ý tới.

Tôi có thói quen ngồi quay lưng ra cửa sổ, khách ngồi ở ghế trước mặt, làm như vậy gương mặt họ được ánh sáng chiếu thật rõ.

Ông Dodd có vẻ lúng túng, không biết bắt đầu câu chuyện bằng cách nào.

Tôi cũng không gợi ý cho ông nói, vì ông càng bối rối, tôi càng có nhiều thời gian để quan sát.

Sau cùng, tôi đưa ra vài kết luận.

- Ông từ Nam Phi về, ông là...

- Thưa đúng?

- ông ấy đáp lại trong sự ngạc nhiên.

- Chí nguyện quân trong Đoàn ky binh Hoàng gia?

- Thưa đúng.

- Có lẽ là trung đoàn Middlesex?

- Ông quả là một phù thủy, thưa ông Holmes?

Sự kinh ngạc của khách làm tôi cười.

- Khi một hào kiệt dáng dấp hùng dũng bước vào phòng khách này, với một khuôn mặt quá sạm nắng so với người chính quốc, và khi khách để mù soa trong tay áo, chứ không phải trong túi, thì việc đoán gốc gác của khách đâu có gì khó.

Ông để râu quai nón ngắn, chứng tỏ rằng ông đâu phải là một chiến sĩ hiện dịch.

Ông lại mặc đồng phục của một kỵ binh.

Còn về trung đoàn Middlesex thì căn cứ vào danh thiếp của ông, tôi biết rằng ông là nhân viên hối đoái ở phố Throgmorton.

Cái góc đường này thì không thể đưa tới đơn vị nào khác hơn?

- Không gì qua lọt sự nhận xét của ông!

- Thưa ông Dodd, đâu phải sáng nay ông đến đây để thảo luận về khoa học quan sát.

Có chuyện gì tại Tuxbury old Park vậy?

- Thưa ông...

- Trong thư, ông xin gặp tôi, và lời lẽ khẩn thiết đến nỗi tôi chắc chắn đã có một cái gì đột ngột và quan trọng xảy ra.

- Đúng thế.

Tôi viết thư hồi xế trưa, nhưng từ lúc đó đến giờ, nhiều biến cố đã xảy ra.

Phải chi đại tá âm-vô đã không đuổi tôi ra khỏi cửa...

- Đuổi ra khỏi cửa?

- Vâng.

Đại tá âm-vô là hiện thân của quân kỷ, nói năng thô bạo.

Nếu không vì tình bằng hữu với Gô-rây, tôi đã không nhịn đâu.

Tôi đốt thuốc và dựa lưng ra sau một cách thoải mái.

- Có lẽ ông nên giải thích rõ hơn?

- Tôi đầu quân hồi tháng giêng 1901 (cách nay đúng 2 năm) và gặp Gô-rây.

Nó tình nguyện trước tôi.

Hai đứa ở cùng một đội.

Nó là con trai độc nhất của đại tá âm-vô

.

Trong toàn trung đoàn, không có đứa nào tốt hơn nó.

Chúng tôi trở thành đôi bạn thân, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi.

Rồi trong một cuộc đụng độ gần đồi Diamond, nó bị một viên đạn của súng bắn voi.

Tôi có nhận được hai lá thư của nó.

Cái thứ nhất gởi từ bệnh viện Cap, cái thứ nhì gởi từ Southampton.

Rồi sau đó bặt tin luôn.

Khi chiến tranh chấm dứt, tất cả đều được giải ngũ.

Tôi viết thư cho bố nó, hỏi thăm nó ở đâu.

Tuyệt nhiên, không có hồi âm.

Tôi phải đợi, rồi lại viết lá thư khác.

Lần này thì được phúc đáp: "Nó đi chu du thế giới, có thể phải cả năm mới về".

Thư ngắn và lời lẽ cộc lốc như thế đấy?

Tôi không vừa lòng thưa ông.

Gô-rây tốt bụng lắm.

Nó không thể bỏ rơi bạn bè như thế này.

Ngoài ra, tôi còn biết rằng nó thừa kế một tài sản kếch xù, và giữa bố nó và nó có trục trặc.

Do đó tôi quyết định tìm hiểu sự việc.

Nhưng vì cần sắp xếp nên tuần rồi tôi mới có thời giờ lấy hồ sơ Gô-rây ra và nhất quyết bỏ hết mọi công chuyện, chỉ chú tâm vào việc này mà thôi.

Ông Dodd thuộc loại người để kết bạn, thứ không phải để gây thù.

Đôi mắt xanh của ông nghiêm khắc và khi nói chuyện thì hai hàm của ông khít lại.

- Rồi ông làm gì?

- Đầu tiên tôi gởi một lá thư cho mẹ nó.

Phải nói thẳng là tôi ớn cái ông già cộc lốc đó lắm:

"Gô-rây là bạn thí thân của cháu, cháu không thể nào quên được các kỷ niệm chung.

Nếu có dịp, cháu sẽ kể lại cho bác nghe một cách chi tiết.

Cháu muốn tới nhà bác, thăm hai bác và hỏi thăm tin tức của bạn cháu.

Bác có thấy bất tiện không?".

Sau đó, tôi nhận được một lá thư rất dễ thương.

Bà cụ mời tôi đến nhà chơi.

Tôi đến đó vào ngày thứ hai.

Căn nhà của ông bà đại tá ở tại Tuxbury Old Park.

Xuống xe lửa, không có xe ngựa, tôi phải xách va-li đi bộ.

Đó là một ngôi nhà bao la lọt giữa một cái vườn mênh mông.

Lão quản gia Ráp, già nua và rêu rã như ngôi nhà, vợ lão trước kia là vú em của Gô-rây.

Gô-rây có nói với tôi về bà này nó thương bà như mẹ ruột.

Do đó tôi đặc biệt lưu ý tới bà dù rằng cái bề ngoài của bà khá dị thường.

Thân mẫu của Gô-rây là một người đàn bà nhỏ thó, nhanh nhẹn khả ái.

Chỉ có ông cụ là không thể nào ưa được.

Tôi được đưa vào văn phòng.

Ông ngồi sau bàn: một con người dềnh dàng, lưng hơi gù, da sạm đen, râu quai nón màu tro. lỗ mũi có mạch máu hồng nổi cộm lên như mỏ kền kền.

Cặp mắt hung tợn màu tro dưới hai đám lông mày rậm rạp chòng chọc nhìn tôi.

Tôi hiểu tại sao ít khi Gô-rây đề cập tới bố nó.

- Sao, người bạn- ông hỏi tôi với giọng rốn ràng - Tôi muốn biết rõ các nguyên nhân thật của cuộc thăm viếng này?

- Thưa bác, cháu đã nói rõ trong thư.

- Đúng thế.

Ông nói rằng ông quen Gô-rây ở châu Phi.

Chúng tôi không có cách nào khác hơn là phải tin theo lời ông.

- Tôi còn giữ thư của nó trong tú

- Ông cho tôi xem?

- Ông liếc sơ hai cái thư rồi trả lại.

- Rồi sao nữa?

- Cháu rất quý Gô-rây.

Nhiều sự ràng buộc và vô số kỷ niệm đã hợp nhất chúng cháu lại.

Đương nhiên cháu phải ngạc nhiên trước sự bặt tin của nó và phải tìm xem hiện giờ nó ra sao.

- Tôi nhớ mang máng là đã viết thư cho ông biết rồi mà.

Từ Nam Phi trở về, sức khỏe của nó suy sụp trầm trọng, vợ chồng tôi quyết định cho nó nghỉ ngơi hoàn toàn thay đổi hẳn không khí.

Tôi khẩn khoản yêu cầu ông bạn giải thích cho các bạn khác của nó.

- Cháu xin ghi nhớ.

Tuy nhiên cháu xin biết tên chiếc tàu và hãng hàng hải để có thể gởi cho nó một lá thư.

Thỉnh cầu của tôi có vẻ vừa gây bối rối vừa chọc giận người chủ nhà.

Ông cụ chau mày và gõ nhẹ cộp cộp trên bàn như một người đánh cờ đang bị chiếu bí.

- Ông bạn thân mến, nhiều người sẽ bực bội trước cái cù nhầy của ông bạn và nghĩ rằng ông nói dai như đỉa đói.

- Thưa bác, tất cả chỉ vì thân tình với con trai bác.

- Đúng.

Tôi ghi nhận điều đó.

Nhưng tôi yêu cầu ông đừng hỏi thêm.

Mỗi gia đình đều có chuyện riêng tư mà người ngoài không thể nào hiểu nổi.

Bà nhà tôi rất thích nghe về cuộc đời quân ngũ của Gô-rây mà ông bạn khá rành, nhưng xin ông bạn hãy làm lơ hẳn cái hiện tại và tương lai của nó.

- Thưa ông Holmes, như vậy là tôi phải chấp nhận và tự nguyện giải quyết sự mù mờ về số phận của Gô-rây.

Tối hôm đó, bầu không khí khá tẻ nhạt.

Ba người trầm lặng ăn cơm trong một gian phòng âm u, đèn đóm lù mù.

Bà cụ háo hức muốn nghe tôi kể về con trai của bà, còn ông đại tá thì có vẻ u sầu.

Cuộc thả luận này làm tôi phật ý đến nỗi có dịp tôi liền cáo lui về phòng.

Đó là một phòng trống trơn và cũng thê lương như phần còn lại của ngôi nhà.

Tuy nhiên sau thời gian ngủ trên đồi cỏ Nam Phi, tôi đâu còn khó tánh về vấn đề chỗ ngủ nữa.

Tôi vạch màn cửa ngắm cảnh vườn đêm dưới ánh trăng lưỡi liềm.

Kế đó tôi ngồi gần lò sưởi và cố gắng đọc một cuốn tiểu thuyết để tiêu khiển.

Lão Ráp mang thêm than đến.

- Tôi sợ ông bị thiếu than trong đêm khuya.

Gió thì buốt, phòng thì rộng...

Ông lão lưỡng lự như muốn nói điều gì.

Khi tôi nhìn lên thì thấy ông đang đứng trước mặt tôi, vẻ đăm chiêu.

- Thưa ông, xin ông tha thứ cho cái tội nghe lén những gì ông nói về cậu Gô-rây trong bừa cơm tối.

Ông biết không, vợ tôi là vú của cậu ấy, còn tôi thì phần nào như bố nuôi của cậu vậy.

Đương nhiên chứng tôi có để ý đến cậu ấy.

Ông có nói cậu ấy đối xử đẹp, phải không.

- Nó là người dũng cảm nhất trung đoàn.

Có lần nó cứu tôi thoát chết.

Không có nó, tôi đâu còn sống đến ngày nay.

Ông lão quản gia xoa đôi tay gân guốc.

- Thật đúng với tính cách của cậu ấy.

Cậu ấy luôn can đảm.

Ông ơi, không có cây cổ thụ nào ngoài vườn mà câu ấy không leo.

Ngay từ thuở đó, nó cũng đã là một cậu bé dũng cảm... và thưa ông, lớn lên cũng đã là một người đàn ông dũng cảm?

Tôi nhảy dựng lên, la lớn:

- Ông vừa nói "đã là"...

Vậy nó đã chết rồi sao?

Gô- rây ra sao rồi?

Tôi nắm cứng vai ông lão, nhưng ông vùng ra.

- Tôi không hiểu ông muốn nói gì, thưa ông.

Đề nghị ông hỏi ông chủ.

Ông chủ biết đó.

ông lão sắp rời phòng, tôi nắm cánh tay ông, níu ông lại, năn nỉ.

- Mong ông trả lời một câu thôi; bằng không, tôi giữ ông lại suốt đêm: Gô-rây chết rồi ư?

- Ông lão không thể nhìn thẳng vào mặt tôi.

Ông ấy tựa như một con thỏ bị thôi miên.

Câu trả lời vuột khỏi môi ông!

- Thà cậu ấy chết còn hơn!

Câu nói vừa đột ngột vừa hãi hùng?..

Ông vuột khỏi tay tôi, hối hả chạy ra khỏi phòng.

- Thưa ông Holmes, câu trả lời của ông lão hình như cũng chả giải thích được gì nhiều.

Chắc chắn là bạn tôi đã bị kẹt trong một vụ hình sự.

Nếu không thì cũng là một cái gì nhục nhã làm nguy hại đến danh dự của gia đình ông đại tá khiến ông phải tống cậu con đi xa.

Gô-rây thích phiêu lưu, nên có thể bị bạn bè lôi kéo dễ dàng.

Nếu vậy, nhiệm vụ của tôi là phải tìm để giúp nó.

Trong lúc tôi đang nghĩ ngợi thì bỗng Gô-rây xuất hiện trước mặt tôi...

Người khách hàng của tôi ngừng nói vì xúc động sâu xa..

- Ông hãy nói tiếp.

Vấn đề này có những dữ kiện hết sức đặc biệt.

- Nó đứng ở phía ngoài cửa sổ!

Phía ngoài.

Nó áp sát mặt vào cửa kiếng.

Hồi nãy tôi có nói là tôi ngắm trăng.

Sau đó, tôi kéo màn nửa chừng.

Hình dáng nó nằm gọn trong phần cửa sổ trống.

Đây là loại cửa sổ lớn nên tôi thấy rõ nó từ đầu xuống gần hết chân.

Nhưng gương mặt của nó làm tôi xúc động mạnh!

Chưa bao giờ tôi thấy ai trắng bạch như thế.

Khi thấy tôi nhìn nó, nó tức khắc nhảy lùi ra sau và biến mất trong đêm khuya.

Thưa ông Holmes, có một cái gì đó làm tôi thắc mắc vô cùng.

Tôi đứng đó, trố mắt nhìn?

Nhưng đã xông pha trận mạc trong 2 năm, tôi không hoảng hốt lắm, nên khi Gô-rây vừa đi khỏi thì tôi đã đứng tại cửa sổ.

Cửa kẹt, nên tôi mở hơi lâu.

Cuối cùng tôi ra được ngoài vườn.

Tôi chạy dọc theo hướng nó chạy.

Lối đi thì dài, mà trời lại mờ.

Tôi thấy một cái gì đang di động lờ mờ trước mặt tôi.

Tôi tiếp tục chạy, kêu ngay tên nó, nhưng không có kết quả.

Cuối lối đi tôi đứng trước một ngả rẽ năm sáu đường mòn đi về nhiều phía.

Tôi đứng đó, chần chừ.

Chính lúc này tôi nghe rõ ràng tiếng một cửa lớn đang đóng lại.

Không phải đàng sau lưng tôi ở trong nhà chính, mà là ở trước mặt tôi, đâu đó trong bóng tối.

Tôi nghe khá rõ, vậy là Gô-rây chạy trốn tôi?

Chính nó đóng cửa lại sau khi đã vào nhà.

Làm gì bây giờ.

Qua một đêm không ngủ, tôi hy vọng tìm ra một giả thiết có thể giải thích suôn sẻ các dữ kiện.

Hôm sau, tôi thấy ông đại tá dễ chịu hơn, và sẵn dịp bà vợ ông nhắc rằng chung quanh vùng này có những nơi hay hay, tôi bèn xin phép họ được lưu lại thêm một đêm nữa.

Tôi đã biết chắc chắn rằng Gô-rây đang lẩn trốn không xa- Cái tư dinh bát ngát và nhiều hang hóc đến nỗi cả một trung đoàn ky binh có thể tìm đủ chỗ núp an toàn.

Nó có chừa một bí mật nào thì rất khó mà phát hiện.

Nhưng mà cái cửa tôi nghe đóng không phải của căn nhà chính.

Tôi lục lạo khu vườn, đi lung tung một cách tùy tiện, vì ông bà chủ nhà đều bận rộn công việc.

Có nhiều căn nhà phụ nhỏ.

Nhưng ở cuối vườn, có một cái nhà cô lập, khá bề thế, rất tiện lợi khi làm nhà ở cho một người làm vườn hay một người canh bọn ăn trộm.

Phải chăng tôi đã nghe tiếng cửa của căn nhà phụ này đóng lại- Tôi giả vờ khoan thai tới gần, như thể đang đi thăm toàn khu đất.

Ngay lúc đó, một người đàn ông nhỏ con, râu quai nón, nhanh nhẹn, trang phục màu đen, mũ lông nón tròn, xuất hiện trước cửa.

Lạ lùng thay, vừa ra khỏi cửa, ông ta vội vàng khóa cửa lại, và bỏ chìa khóa vào tủi, nhìn chòng chọc vào tôi, hỏi:

- Ông tới đây chơi vài ngày.

Tôi nói rõ danh tính rồi cho biết tôi là bạn thân của Gô-rây.

- Rất tiếc rằng nó đã đi du lịch, phải chi nó có ở nhà, nó sẽ mừng lắm.

Tôi nói bâng quơ

- Chắc chắn như vậy?

Ông ấy trả lời hơi lấp lửng.

Tuy nhiên, tôi đề nghị ông trở lại đây vào một lúc khác thuận tiện hơn.

Ông ta chỉ nói bấy nhiêu rồi bỏ đi.

Khi tôi quay lại thì thấy ông ấy đứng lẫn trong đám nguyệt quế, mắt canh tôi.

Khi đi ngang qua đó, tôi để ý thật kỹ ngôi nhà nhỏ với cửa sổ kéo màn dày.

Thoạt nhìn, có vẻ đó là một căn nhà trống vắng.

Tôi có cảm giác đang bị theo dõi nên tôi lững thững đi về phòng của mình.

Đêm đến, khi trời đã tối đen và mọi nơi đều im vắng, tôi lén nhảy qua cửa sổ, rón rén đi tới căn nhà huyền bí.

Tôi đã nói với ông rằng các cửa sổ đều kéo màn thật dày.

Giờ đây các cửa lại đóng kín mít.

Tuy nhiên, xuyên qua một khe hở của cửa sổ, một ánh đèn leo lét lôi cuốn sự tò mò của tôi.

May mắn cho tôi màn không kéo kín hẳn.

Qua khe hở, tôi thấy rõ bên trong.

Đó là một căn phòng khá vui, có một cái đèn lớn và một ngọn lửa sưởi.

Trước mặt tôi là người đàn ông lùn mà tôi đã gặp hồi sáng, ông ta đang ngồi hút thuốc và đọc báo.

Một người thứ nhì ngồi quay lưng ra cửa sổ và tôi thề độc rằng đó là Gô-rây.

Tôi không thấy rõ mặt, nhưng tôi nhớ độ cong của đôi vai.

Nó tì cùi chỏ, thái độ cực kỳ u sầu, quay lưng ra phía lò sưởi.

Trong lúc tôi chưa biết phải phản ứng ra sao thì có người vỗ vai tôi: đại tá âm-vô!

- Hãy đi theo tôi, ông bạn - ông cụ ra lệnh cho tôi với tiếng nói nhỏ nhẹ, rồi ông lặng thinh, đi về nhà chính.

Tôi đi theo ông tới phòng của tôi.

Khi đi ngang qua hành lang?

đại tá lấy một cái đồng hồ báo thức. ‸ giờ rưỡi có tàu về Luân Đôn.

Xe ngựa chờ sẵn ngoài cửa lúc 8 giờ ".Ông cụ giận run, mặt trắng bệch.

Thú thật tôi cũng cảm thấy mình vừa lọt vào một tình huống khó xử nên chỉ ấp úng biện bạ

- Không dông dài làm gì - ông cụ nói cụt ngủn như thế - ông bạn đã khiếm nhã, đột nhập vào đời tư của kẻ khác.

Ông bạn được tiếp như một thượng khách nhưng lại xử sự như một thằng gián điệp.

Tôi không muốn gặp ông bạn lại lần thứ hai.

Lúc đó tôi mất nhẫn nại và có phần thất kính:

- Tôi đã nhìn thấy con trai ông và tôi chắc chắn ông giấu nó với đời.

Tôi không hiểu gì về lý do khiến ông buộc nó mai danh ẩn tích nhưng tôi biết chắc chắn rằng nó mất tự do.

Tôi cho ông biết trước, thưa đại tá, khi tôi chưa an tâm về sự an ninh của nó!

Tôi vẫn cố gắng tối đa để làm sáng tỏ vấn đề.

Ông già nhìn tôi với đôi mắt đầy ác cảm rồi ông quay lưng, rời khỏi phòng tôi.

Về phần tôi, tôi đi chuyến xe 8 giờ 30 và đi thẳng tới đây xin ông chỉ dạy và giúp đỡ.

Đó là bài toán mà khách trình bày cho tôi.

Bài toán có nhiều khó khăn nghiêm trọng.

Tuy nhiên, nó có nhiều chi tiết lý thú.

- Về tôi tớ?

- Tôi hỏi - Nhà đó có bao nhiêu người?

- Theo tôi, thì chỉ có người lão quản gia và bà vợ.

Đời sống tại nhà đó khá đạm bạc.

Trong căn nhà phụ, không có tôi tớ sao?

- Cái lão có râu quai nón, thuộc một giai tầng xã hội cao hơn.

- Rất là lý thú.

Ông có để ý xem coi có phần cơm nước được đưa từ tòa nhà này sang tòa nhà khác không?

- Tôi nhớ có thấy lão Ráp xách giỏ đi về hướng căn nhà đó.

Tôi không nghĩ rằng đó là một giỏ thức ăn.

- Ông đã mở cuộc điều tra xung quanh chưa?

- Có.

Tôi đã nói chuyện với người trưởng ga và người chủ quán của làng.

Tôi chỉ đơn giản hỏi họ có biết gì về người bạn Gô-rây của tôi không.

Cả hai đều khẳng định với tôi rằng nó đang đi chu du thế giới.

Sau chiến tranh, hình như nó có về rồi lại ra đi.

Câu chuyện hiển nhiên được những người chung quanh chấp nhận, không thắc mắc.

- Họ không tỏ vẻ nghi ngờ gì hay sao?

- Không.

- Câu chuyện đáng được lưu tâm.

Được.

Tôi sẽ cùng đi với ông tới Tuxbury Old Park.

- Ngay hôm nay?

- Lúc này tôi đang bận một việc cần thiết khác.

Đầu tuần sau, tôi mới cùng với ông Dodd đi lên Bedford.

Trên đường đi, chúng tôi còn ghé rước một người nghiêm nghị, có mái tóc đen màu xám bạc mà tôi đã thu xếp trước.

Tôi nói với Dodd:

- Tôi xin giới thiệu một ông bạn cũ.

Sự hiện diện của ông ấy có lẽ là thừa, trừ khi tình thế xoay chiều thì sự có mặt đó sẽ rất hữu ích.

Dodd có vẻ ngạc nhiên nhưng không nói gì.

Trên xe hơi, tôi hỏi Dodd, một việc mà tôi muốn cả người bạn đồng hành của chúng tôi cùng nghe.

- Ông có nới rằng ông thấy rõ mặt ông Gô-rây ở cửa sổ.

- Nó áp mũi sát vào kiếng, ánh sáng của đèn chiếu rõ mồn một.

- Có thể là một ai khác giống ông ta.

- Không đâu.

Chắt chắn là nó.

- Nhưng ông nói gương mặt của Gô-rây có thay đổi?

- Chỉ nước da thôi!

Làm sao tả gương mặt nó bây giờ?

Mặt nó trắng như bụng cá.

- Trắng toàn thân không?

- Không đâu.

Tôi không cho là như vậy.

Tuy nhiên tôi chỉ thấy cái tnó khi nó áp sát vào cửa.

- Ông có gọi ông ấy không?

- Lúc ấy tôi điếng người.

Tôi có đuổi theo nó, như đã nói với ông, nhưng vô ích thôi.

Sau một cuộc hành trình dài bằng xe ngựa, chúng tôi đến nơi.

Chính lão quản gia Ráp mở cửa cho chúng tôi.

Tôi đã mướn nguyên xe này và có dặn ông bạn thân cùng đi hãy ngồi lại ngoài xe.

Ráp ăn mặt trong y phục qui ước nhưng khác lạ là có đeo đôi bao tay da màu nâu, ông lão lật đật cởi ra để lên bàn ở ngay cửa.

Như Watson từng nhận xét: tôi được trời cho những giác quan bất bình thường.

Một cái mùi yếu nhưng dai dẳng cũng làm xốn xang mũi tôi.

Hình như nó phát ra từ cái bàn.

Vừa bước vào, tôi lại quay ra sau để nón lên bàn và làm rớt nó.

Khi cúi xuống lượm, tôi ghé mũi gần đôi bao tay.

Rõ ràng là mùi dầu hắc.

Giờ đây hồ sơ tôi đã đầy đủ.

Than ôi.

Khi đích thân tôi kể chuyện, thì tôi lại phơi bày các cái mánh của tôi, ngược lại Watson thì giấu nhem các khâu này.

Đại tá âm-vô không có ở trong phòng.

Tuy nhiên khi Ráp đem tin tới thì đại tá nhanh chóng ra ngay.

Chúng tôi nghe được bước chân nhanh và nặng của ông đi ngoài hành lang.

Ông mở mạnh cửa, ào ào đi vào văn phòng, râu quai nón xồm xoàm, khuôn mặt hơi cáu.

Chưa bao giờ tôi gặp mặt ông lão khủng khiếp như thế!

Ông cầm trên tay tấm danh thiếp của chúng tôi, xé thành một nghìn mảnh.

- Này cái ông tào lao, tôi đã nói với ông rằng tôi không muốn thấy cái bản mặt đáng nguyền rủa của ông lần thứ hai.

Nếu ông bất tuân, tôi có quyền sử dụng bạo lực.

Tôi giết ông chết.

Thật đó, tôi sẽ giết ông.

Còn ông...

Đại tá quay lại phía tôi.

Lời đó dành luôn cho cả ông nữa.

Tôi có biết cái nghề hạ lưu của mấy ông.

Hãy phát triển tài năng của ông đi chỗ nào khác, không phải chỗ này?

- Tôi sẽ không bao giờ rời khỏi nơi đây - Người khách hàng của tôi dằn từng tiếng - Trước khi nghe chính miệng Gô-rây nói rằng nó không bị áp bức

Người chủ nhà cực kỳ giận dữ, bấm chuông vang trời.

- Ráp.

Hãy điện thoại cho cảnh sát quận, yêu cầu viên thanh tra đưa tới đây hai cảnh sát viên.

Bảo với họ rằng hiện có 2 kẻ cắp đang đục tường tại nhà mình.

- Cho tôi vài giây - Tôi nói xen vào - ông Dodd, ông phải biết rằng đại tá âm-vô có quyền làm như thế.

Chúng ta không có một tư cách pháp lý nào tại đây.

Ngược lại, tôi cũng khẩn thiết xin đại tá nhìn nhận rằng mọi việc làm của ông Dodd đều vì cậu con trai của đại tá.

Tôi tin rằng nếu tôi được nói chuyện 5 phút với đại tá, tôi sẽ làm ông thay đổi quan điểm.

- Tôi không bao giờ để cho người kh́c ảnh hưởng đến mình - Người chiến sĩ già đáp - Ráp, hãy thi hành lệnh tôi.

Còn đợi gì nữa?

Gọi cảnh sát cho mau!

- Đại tá sẽ không bao giờ làm điều đó- Tôi nói vừa tựa lưng vào cánh cửa lớn - Sự can thiệp của cảnh sát sẽ gây ra cái tai họa mà đại tá muốn tránh.

Tôi lấy sổ tay ra rồi viết một từ, vỏn vẹn một từ, rồi trao cho đại tá.

- Chính đó là nguyên nhân khiến chúng tôi tới đây hôm nay - Tôi nói thêm.

Đại tá đăm chiêu nhìn tờ giấy, và mọi bực bội đều biến khỏi gương mặt ông, trừ sự kinh ngạc.

- Làm sao ông biết được?

Đại tá ấp a ấp úng rồi ngồi phịch xuống ghế dựa.

Đại tá ngồi trầm tư, lấy bàn tay gân guốc mân mê vài sợi râu, rồi chậm rãi nói:

- Vâng, quý ông muốn gặp Gô-rây thì quý ông sẽ được gặp.

Nhưng nên nhớ là tôi không hề cho phép, chính quý ông đã cưỡng chế tôi.

- Ráp.

Hãy báo trước cho Gô-rây và ông Kent biết rằng trong 5 phút nữa, chúng tôi sẽ đến đó.

Sau khi, năm phút đã trôi qua, chúng tôi băng qua vườn, đi đến căn nhà bí mật.

Ông lão lùn có râu quai nón đứng trước cửa, có vẻ sửng sốt:

- Chuyện gì mà đột ngột vậy.

Thưa đại tá, tất cả các kế hoạch của ta bị hỏng hết?

- Đành chịu vậy, ông Kent.

Chúng ta bị bắt buộc.

Gô-rây có thể tiếp khách không.

- Có.

Ông lão quay lại, đưa chúng tôi vào một phòng trang hoàng rất nhiều thứ đồ gỗ.

Một người đàn ông đứng quay lưng ra lò sưởi.

Khi nhìn thấy người đó, Dodd dang tay nhào tới.

- Ồ, bạn Gô-rây, thật là...

Nhưng người kia làm dấu xua đuổi.

- Đừng sờ tôi.

Hãy giữ khoảng cách!

Đúng, mày có thể mở mắt nhìn tao cho thỏa thích.

Nhưng tao không còn là thằng binh nhất âm-vô sáng giá thuộc đội B nữa, phải không.

Quả vậy, bề ngoài của nó rất dị thường.

Người ta có thể đoán ra rằng trước kia anh ta rất đẹp trai, với khuôn mặt bị sạm nắng bởi mặt trời Nam Phi.

Còn bây giờ trên khuôn mặt màu nâu, những vết trắng đã làm cho da anh bị phai màu từng mảng.

- Đó là lý do tại sao tao không ra tiếp khách.

- Tao không phiền gì mày đâu, nhưng tao thích gặp mày một mình.

- Thật quá bất ngờ đối với tao.

- Tao muốn biết chắc rằng mày được vui vẻ, Gô-rây.

- Tao nhận ra mày ngay lúc mày tới ngó qua cửa sổ.

Sau đó thì lòng tao không còn bình thản nữa.

- Lão Ráp cho tao hay tin và tao không thể không tới nhìn mày.

Tao hy vọng mày không thấy tao.

Tao chạy hụt hơi nghe cửa sổ mở.

- Vì lý do nào?

- Ồ, câu chuyện ngắn gọn thôi - Gô-rây vừa nói vừa đốt thuốc - Mày còn nhớ trận đánh vào một buổi sáng nọ ở trên tuyến đường sắt phía Đông?

Mày biết tao bị thương chứ?

- Đúng, tao có hay tin, nhưng không biết chi tiết khác.

- Ba đứa bọn tao bị lạc bầy.

Địa thế trắc trở.

Bọn tao đi thám sát, bị lọt ổ phục kích.

Hai thằng kia tử thương.

Tao bị bắn vào vai bằng viên đạn bắn voi.

Tuy vậy tao bám cứng vào ngựa, nó phi khoảng mười cây số trước khi tao té xỉu lăn cù dưới chân ngựa.

Khi tao tỉnh lại thì đã tối rồi.

Tao đứng lên, nhưng thấy quá mệt.

May thay có một cái nhà gần đó: căn nhà khá lớn có hàng hiên và rất nhiều cửa sổ.

Trời lạnh ghê gớm, cái lạnh kinh khủng, khác hẳn với cái lạnh khô ráo và lành mạnh ở Anh.

Tao bước đi khập khiễng, lê lết, mơ mơ màng màng.

Tao nhớ mang máng là đã leo lên một bực thềm, bước vào một căn phòng rộng mênh mông có nhiều giường, tao đã bò lên đó.

Cái giường rêu rã nhưng tao bất cần.

Tao kéo "ra" đắp cái thân đang run cầm cập.

Một lát sau, tao ngủ thiếp đi.

Khi tỉnh dậy thì trời đã sáng.

Tao có cảm giác rằng thay vì lọt vào được một khu nhà an toàn thì tao lại sa vào cảnh ác mộng.

Ánh nắng châu Phi ào ào tuôn xuống, xuyên qua các cửa sổ không màn che.

Trước mắt tao có một người đàn ông rất lùn, nhỏ xíu, cái đầu thật to, đang bập bả bập bẹ tiếng Hòa Lan, hai tay múa may lung tung.

Sau lưng hắn là một đám đông.

Khi nhìn kỹ, tao thấy họ không có dáng vẻ của một người bình thường: tất cả đều cong queo, méo mó, sưng phù.

Không ai nói tiếng Anh.

Cái thằng lùn đầu to đang giận dữ.

Nó gào thét như con thú, nó thộp tao bằng hai tay mất hình dạng, toan vứt tao xuống đất, dù máu từ vết thương của tao chảy lai láng, nó cũng mặc kệ.

Con quái vật tí teo này mạnh như bò mộng.

Tao chưa biết phải đối xử ra sao thì một người có tuổi thốt ra vài câu dõng dạc bằng tiếng Hòa Lan, và tên lùn bỏ đi.

Ông già mới quay sang tao, kinh ngạc nhìn tao, hỏi:

- Anh đến đây bằng cách nàoTôi thấy anh kiệt sức và cái vai bị thương này cần được chăm sóc.

Tôi là y sĩ, tôi sẽ băng lại cho anh.

Nhưng anh hiện ở nhà thương của người cùi và anh mới vừa ngủ trên giường họ.

Có lẻ mày đâu cần tao phải kể lể dông dài hơn nữa.

Ông y sĩ này cố nói với tao rằng mặc dù cơ thể ông đã được miễn nhiễm, ông cũng không bao giờ dám làm như tao.

Sau đó, ông cho dời tao qua một căn phòng đặc biệt và đối xử với tao rất tử tế.

Tám ngày sau, tao được di tản qua tổng y viện.

Khi về đến nhà thì những triệu chứng bất thường xuất hiện; những gì mày thấy trên mặt tao....

- Làm sao bây giờ.

Tao ngụ tại căn nhà cô lập này.

Gia đình có hai gia nhân có thể tin cậy hoàn toàn.

Lại có một căn nhà nhỏ để tao sống.

Để giữ bí mật tuyệt đối, y sĩ Kent bằng lòng ở chung với tao.

Nếu lộ ra một tí xíu sẽ bị sang cái địa ngục khác.

Cả tao, cả mày, Jim... cả mày cũng không biết được rằng, tại sao bố tao đã nhượng bộ này.

Đó là điều tao không bao giờ hiểu được.

Đại tá chỉ tay vào tôi, nói:

- Ông này ép buộc ba.

Rồi ông ấy mở ra tờ giấy ghi chữ "cùi" - Ba thấy hình như ông ấy đã biết quá nhiều nên tốt hơn hết là nói cho ông ấy rõ tất cả.

- Và giờ đây, tôi đã biết hết rồi - Tôi nói - Rồi đây có thể ć những điều tốt đẹp xảy đến.

Tôi nghĩ rằng chỉ có ông Kent mới biết rõ bệnh nhân.

Thưa ông, tôi xin phép hỏi ông, trong trường hợp này, bệnh của bạn tôi có gốc nhiệt đới hay bán nhiệt đới?

- Tôi chỉ có những hiểu biết thông thường của một y sĩ - Kent trả lời giọng lạnh nhạt.

- Thưa ông, tôi không hề nghi ngờ chuyên môn của ông.

Chắc ông sẽ chấp nhận một ý kiến thứ hai đó là với trường hợp này, ông sợ người ta

- Đúng thế!

- Viên đại tá trả lời.

- Tôi đã dự đoán cái tình huống này.

Tôi có dẫn theo một người bạn thân: với người này, quý vị có thể tin rằng bí mật của chúng ta vẫn được bảo vệ.

Trước kia, tôi có giúp ông ấy một việc.

Giờ đây đương nhiên ông ấy sẽ sẵn lòng cho chúng ta một ý kiến, đồng thời cũng là của một chuyên gia.

Đó là Uyn-đơ, ngài Uyn-đơ.

Mặt mày của ông Kent sáng rực vì ông mà được hầu chuyện với Uyn-đơ thì cũng giống như một binh nhì được nói chuyện với đại tướng.

- Tôi vô cùng hân hạnh - Bác sĩ Kent đáp.

- Vậy thì tôi sẽ mời ngài Uyn-đơ đến tận đây, ông hiện chờ ngoài xe.

Trong khi chờ đợi, đề nghị đại tá đưa chúng tôi lên văn phòng của ông.

Tại đây tôi sẽ giải thích.

Giờ đây, tôi quả thấy thiếu vắng Watson.

Watson biến hóa tài nghệ giản dị của tôi khi tôi tự thuật, tôi không hưởng được cái ngón nghề này.

Mặc kệ.

Tôi sẽ tường thuật hầu quý độc giả cái tiến trình tư duy y hệt như khi tôi trình bày nó cho các thính giả của tôi.

Sau đó tôi bước vào phòng của đại tá có cả bà mẹ Gô-rây tham dự.

Tôi nói:

- Cái tiến trình đó, khi quý vị đã loại trừ những gì không thể chấp nhận, thì cái còn lại sẽ là chân lý, dù nó có vẻ khó tin thật.

Có nhiều giả thiết.

Trong trường hợp này, ta lần lượt xét từng cái một, cho tới khi gặp cái nổi cộm.

Ngay từ phút đầu, tôi đã có ba lời giải thích về sự cách ly chàng trai trong một căn nhà thuộc lãnh địa của tổ phụ.

Thứ nhất là y trốn vì một tội đại hình.

Thứ hai là vì y bị điên nên cần nhốt lại để khỏi bị đưa vào nhà thương điên.

Thứ ba là y bị bệnh truyền nhiễm nên cần phải cô lập.

Lời giải thích thứ nhất không thể đứng vữ.

Nếu người thanh niên này phạm tội đại hình, mà chưa bị phát hiện, thì gia đình sẽ phải tống y ra nước ngoài càng sớm càng tốt!

Ai dại gì giấu y tại nhà?

Bệnh điên thì dễ chấp nhận nhất.

Sự hiện diện của một người thứ hai trong ngôi nhà nhỏ đó có thể được giải thích rằng: người thanh niên cần được canh chừng.

Sự kiện người hộ vệ khóa cửa khi ra ngoài củng cố thêm cho giả thiết này; nhưng mặt khác anh chàng đã có thể đi ra khỏi căn nhà nhỏ, lần mò tới căn nhà chính để nhìn thoáng qua người bạn thân?

Ngoài ra luật pháp đâu có cấm giam giữ người điên tại nhà nếu người này được chăm sóc đúng theo y tế và chính quyền được báo cáo đều đặn.

Vậy thì làm sao giải thích cái quyết tâm giữ bí mật tuyệt đồi?

Lại một lần nứa lý thuyết bệnh điên không khớp với thực tế.

Vậy chỉ còn có giả thiết thứ 3.

Trong giả thiết thứ ba này, tất cả các dữ kiện dị thường đều được giải thích thỏa đáng: Bệnh cùi không phải là hiếm hoi tại Nam Phi.

Anh chàng bị lây.

Gia đình không muốn đưa bệnh nhân vào trại cùi.

Do đó phải giữ bí mật tuyệt đối để tránh sự đồn đại của quần chúng và sự can thiệp của nhà cầm quyền, một y sĩ tận tụy và được trả lương trọng hậu sẽ chấp nhận chăm sóc bệnh nhân.

Do đó, đâu có lý do gì cấm cản bệnh nhân đi dạo khi màn đêm buông xuống.

Da bị trắng là một hiệu quả thông thường của căn bệnh.

Thế là tôi quyết định hành động như thể giả thiết này đã được xác nhận và chứng minh từ trước.

Khi tới đây, tôi để ý rằng lão bộc Ráp mang bao tay có khử trùng, thì các ngờ vực chót của tôi tiêu tan hẳn.

Thưa đại tá, chỉ một từ mà thôi, cũng đủ cho đại tá thấy rằng bí mật của đại tá đã bị lộ.

Còn việc tôi viết, thay vì nói, là nhằm bảo dám với đại tá sự kín miệng của chúng tôi.

Tôi đang hoàn tất bài phân tích ngắn này thì cửa mở và khuôn mặt khắc khổ của nhà khoa học tài danh về da xuất hiện.

Lần đầu tiên ông cởi bỏ bộ mặt lạnh lùng.

Cái nhìn của ông rực sáng tình người.

Ông đi về hướng đại tá, bắt tay ông ấy.

-Nghề này của tôi thường là báo tin buồn - ông nói - Nhưng lần này, thì ngược lại.

Con trai của đại tá không mắc bệnh cùi.

- Sao

- Đó là một trường hợp cổ điển của một bệnh gần giống như bệnh cùi, hay bệnh vảy nến, một bệnh ngoài da.

Da tróc vảy, khó coi.

Bệnh dai dẳng, tuy nhiên có thể chữa được và chắc chắn không lây.

Đúng thế, thưa ông Holmes, thật là một sự trùng hợp dị thường!

Tôi không bao giờ hy sinh tiếng tăm của tôi để tuyên bố mà là vì trách nhiệm...

Nhưng bà cụ xỉu kìa?

Đề nghị bác sĩ Kent lo cho bà sớm tỉnh lại sau cú sốc vì tin mừng này.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
F3 Viên đá Mazarin


VIÊN ĐÁ MAZARIN

THE ADVENTURE OF THE MAZARIN STONE (1921)

The Case Book of Sherlock Holmes

Tàng thư của Sherlock Holmes

Bác sĩ Watson sung sướng vô cùng khi một lần nữa được quay trở về căn hộ trên gác ở phố Baker, nơi xuất phát của biết bao cuộc phiêu lưu kỳ thú.

Ông nhìn các bản đồ phác họa trên tường, cái bàn loang lổ vì acid, và ngổn ngang những hóa chất để thí nghiệm, cái bao vĩ cầm dựng ở một góc, cái xô than vẫn được dùng để đựng cái ống vố và thuốc lá.

Cuối cùng ông nhìn thấy khuôn mặt tươi cười của Billy, chú hầu nhỏ sâu sắc và tế nhị người đã giúp khỏa lấp cái hố sâu đơn côi và cô quạnh của nhà thám tử đại tài.

- Không có thay đổi gì nhiều lắm hả Billy?

Cả cháu cũng không có thay đổi, tôi hy vọng ông ấy cũng thế.

Billy ái ngại nhìn về hướng phòng ngủ đóng kín.

- Có lẽ ông ấy đang ngủ.

Đã 7 giờ tối và cái ngày hè hôm đó rất đẹp.

Bác sĩ Watson khá quen với thời khóa biểu bất thường của người bạn cố tri, nên không hề ngạc nhiên chút nào.

- Nghĩ̀ ông ấy đang theo dõi một vụ nào đó?

- Đúng vậy, thưa ông.

Một vụ mà ông ấy phải dốc toàn tâm toàn trí.

Cháu lo cho sức khỏe của ông ấy lắm.

Ông ấy tái mét, gầy đi, bỏ ăn.

"Chừng nào ông mới thấy đói, hả ông Holmes?", bà Hudson thường hỏi thế.

"Bảy giờ rưỡi ngày mốt", ông ấy trả lời như vậy.

Bác sĩ thừa biết là ông ấy lo lắng tới mức nào một khi lo vào một vụ.

- Biết!

- Ông ấy đang bám theo ai đó.

Hôm qua ông ấy ra đi người ta lầm tưởng là một công nhân đi kiếm việc làm.

Hôm nay ông ấy giả làm đàn bà, ông ấy ngụy trang hay lắm.

Mới đầu tôi còn bị lầm, nhưng bây giờ thì quen rồi.

Billy cười nhoẻn, tay chỉ về cây dù to tướng dựa vào cái ghế dài.

- Để ngụy trang làm một bà lão đó.

- Thuộc loại chuyện gì?

Billy hạ giọng như thể sắp sửa tiết lộ một bí mật lớn của quốc gia.

- Cháu xin kể, thưa ông, nhưng phải tuyệt đối giữ miệng.

Đó là vụ Viên kim cương của Hoàng gia.

- Vụ trộm kim cương trị giá khoảng 100.000 bảng Anh?

- Đúng thế, thưa ông.

Phải kiếm cho ra, ông biết không?

Ông thủ tướng và ông bộ trưởng nội vụ đều đến ngồi tại ghế dài này.

Ông Holmes tiếp họ rất lịch sự, trấn an họ và hứa sẽ cố gắng tối đa.

Có cả huân tước Cantlemere...

- Thế à?

- Đúng thế, thưa ông.

Ông có biết ông này không?

Một mẫu người sắt đá, nếu cháu được phép nói thực lòng.

Cháu khoái ông thủ tướng nhất, ông bộ trưởng cũng thế.

Cháu có cảm giác đó là những người cần mẫn, lễ độ.

Còn ngài huân tước, cháu không thể chịu đựng được!

Ông Holmes cũng cùng một quan điểm với cháu, ông ạ.

Hầu tước không tin tài của ông Holmes, chống đối việc sử dụng ông Holmes, và còn cầu mong ông Holmes thất bạ

- Ông Holmes biết không?

- Ông Holmes luôn luôn biết tất cả những gì cần phải biết...

- Vậy thì chúng ta hy vọng ông Holmes sẽ thắng và huân tước Cantlemere sẽ thất bại.

Này Billy, cái màn căng ở cửa sổ để làm gì?

- Ông Holmes mới móc nó cách đây ba ngày và có để một cái ngồ ngộ ở đàng sau.

Billy tiến tới, kéo cái màn ngăn cách căn phòng với cửa sổ.

Bác sĩ Watson không thể đè nén một tiếng la vì ngạc nhiên.

Một mẫu tượng lớn như thật của Sherlock Holmes, mặc áo ngủ, mặt hướng ra cửa sổ, nhìn xuống như thể đang đọc một cuốn sách vô hình.

Billy gỡ cái đầu ra, rồi giơ cao lên.

- Ông Holmes luôn luôn cho đổi góc độ để có vẻ sống động.

Chỉ khi nào bức sáo kéo xuống, cháu mới dám sờ tới nó.

Khi bức sáo kéo lên, đứng bên kia đường, ông sẽ nhìn thấy rõ ông Holmes!

- Có lần chúng tôi cũng đã sử dụng cái màn này.

- Với cháu thì đây là lần đầu!

- Billy nói, tay kéo bức sáo để ngó ra đường - Phía bên kia đường có người rình.

Cháu thấy rõ một người tại cửa sổ, ông nhìn thử xem.

Bác sĩ Watson mới vừa bước tới thì cánh cửa phòng mở, cho thấy cái dáng vóc lêu nghêu của Holmes.

Khuôn mặt bơ phờ, nhưng bước đi vẫn nhanh nhẹn như thường ngày.

Holmes bước tới của sổ, kéo bức sáo xuống.

- Đủ rồi Billy!

Nguy hiểm đấy!

Sao hả Watson?

Gặp anh tại căn hộ thân ái này là thích thú vô cùng.

Anh tới đúng lúc đấy!

- Hình như vậy!

-Có thể lui, Billy...

Tôi lo cho thằng bé quá, Watson à.

Đâu có thể để cho nó chịu nguy hiểm

- Nguy hiểm gì?

- Chết bất đắc kỳ tử!

Tôi đang đợi đêm nay.

- Đợi cái gì?

- Bị ám sát!

- Thật sao?

- Tuy nhiên, trong khi chờ chết, ta phải hưởng một chút tiện nghi phải không.

Rượu chưa bị cấm.

Cái ống quẹt và hộp xì gà vẫn nằm tại vị trí cũ.

Anh hãy ngồi trên ghế bành để tôi nhìn anh thêm một lần nữa.

Tôi hy vọng anh chưa tập xong cái thói quen ghét cái tẩu và cái mùi thuốc khen khét của tôi.

Mấy bữa rày, nhờ nó mà khỏi ăn cơm.

- Tại sao lại không ăn?

- Năng lực sẽ bén nhọn hơn nếu ta ăn chay.

- Nhưng còn cái hiểm họa?

- À.

Trong trường hợp mà sự đe dọa trở thành hiện thực, anh hãy nhớ lấy tên và địa chỉ của kẻ sát nhân đem nộp cho Scotland Yard.

Tôi xin chúc lành cho anh!

Hắn là bá tước Negretto Sylvius.

Chép cái tên đi, Watson, chép đi!

136 Moorside Gardens N.W.

Xong chưa?

Khuôn mặt của bác sĩ Watson đầy lo âu.

- Cho tôi tham gia với.

Tôi rảnh hoàn toàn trong 48 giờ.

- Đạo đức của anh chưa tiến, Watson ạ.

Ngoài các tật xấu khác, nay anh có thêm tật nói dối.

Rõ ràng anh có dáng vẻ của một bác sĩ rất bận rộn.

- Không đến nỗi thế đâu.

Nhưng anh không thể nhờ cảnh sát bắt hắn sao?

- Được chứ !

- Thế thì tại sao không nhờ cho rồi?

- Tại vì hiện tôi chưa biết viên kim cương nằm tại đâu.

- Billy có nói với tôi về viên kim cương trên vương miện.

- Đúng thế!

Đó là viên đá Mazarin.

Tôi đang thả mồi câu cá.

Nhưng tôi lại không có viên đá.

- Và bá tước Sylvius là một trong những con cá đó?

- Đúng thế!

Đó là một con cá mập.

Thằng kia là Sam Merton, biết đánh quyền Anh.

Thằng Sam không tệ đâu, nhưng nó bị bá tước xỏ mũi.

Nó chỉ là một con cá chốt ngu đần đang vẫy vùng trong lưới của tôi.

- Bá tước Sylvius hiện ở đâu?

- Suốt buổi sáng nay tôi đứng sát bên hắn.

Anh có thấy tôi ụy trang thành một bà lão chưa, Watson?

- Chưa bao giờ có bà lão nào quyến rũ như sáng nay.

Hắn còn cầm dù giùm tôi trong một lúc.

"Xin phép bà!".

Hắn nói với tôi, giọng pha Ý.

Hắn có cái dịu dàng của miền Nam trong cử chỉ lúc hắn vui, nhưng khi buồn, hắn là hiện thân của quỷ sứ.

- Có thể xảy ra thảm kịch?

- Có lẽ!

Tôi đã theo hắn tới cửa hiệu của lão Straubenzee.

Tay này làm một cây súng hơi, tôi đoán thế.

Và tôi có đủ cơ sở để nghĩ rằng cây súng đó hiện giờ đang đặt tại cửa sổ trước nhà.

Anh đã thấy hình nộm của tôi rồi đó.

Hình nộm có thể ăn đạn bất cứ lúc nào.

Ủa!

Có gì vậy Billy?

Billy mang vào một tấm danh thiếp đặt trên mâm.

Holmes vừa nhìn vừa nhướng mày và cười thích thú.

- Đích thị là cái gã đó!

Bất ngờ quá!

Anh ta cầm cây củi ngay phía đang cháy, chì thật.

Anh biết rằng hắn nổi tiếng là thợ săn mồi to?

Anh ta định sẽ kết thúc đẹp đẽ bảng thành tích của mình, sau khi ghi được thêm tên tôi vào đó.

- Ta báo cho cảnh sát!

- Chưa cần!

Anh nhìn kỹ ra ngoài cửa sổ xem có ai thơ thẩn phía đó không?

Watson dạn dĩ vén bức màn.

- Một thằng to con đứng gần cửa lớn.

- Sam Merton đó.

Hắn trung thành nhưng ngu dại.

Ông ta hiện ở đâu rồi, Billy?

- Tại phòng khách, thưa ông.

- Khi ta bấm chuông thì cháu mời ông ấy lên.

Dù không thấy ta cũng cứ đưa vào.

- Vâng!

Watson đợi của lớn đóng rồi mới quay qua phía Holmes.

- Coi chừng, Holmes, có thể nó tới giết anh.

- Chuyện đó không làm tôi ngạc nhiên!

- Tôi xin được ở cạnh anh.

- Anh làm vướng tay, vướng chân tôi.

- Tôi không thể bỏ mặc anh được.

- Anh để tôi một mình mà anh vẫn có vai trò.

Thằng cha này tới vì một lý do riêng của nó.

Nhưng có thể nó sẽ ở lại vì lý do của tôi.

Holmes lấy sổ tay nguệch ngoạc vài dòng.

- Anh thuê xe ngựa chạy đến Scotland Yard, trao cái này cho Youghal, thuộc Ban truy nã đại hình rồi quay lại đây với cảnh sát.

Màn bắt bá tước sẽ xảy ra sau đó!

- Được!

- Trước khi anh về tới, có lẽ kiếm ra cục đá.

Anh vừa bấm chuông vừa nói:

- Chúng ta hãy đi vào phòng ngủ, phương án thứ hai đôi khi khá hữu ích.

Ngoài ra tôi cũng muốn nhìn con cá mập của tôi trong khi nó không thấy tôi.

Vài phút sau Billy đưa bá tước Sylvius vào.

Nhà đi săn, nhà thể thao và người hào hoa nổi tiếng to béo có nước da sạm nắng, với một bộ râu xum xuê màu đen bao bọc một cái miệng hung ác, môi mỏng, mũi dài và cong như mỏ chim ó.

Khi cửa đóng lại sau lưng, ông ta quan sát căn phòng với một cái nhìn hung tợn, mắt đăm đăm nhìn mỗi món đồ gỗ như sợ một cái bẫy.

Ông ta giựt mình khi thấy cái đầu lạnh lùng của một người đang ngồi trên ghế bành trước cửa sổ.

Lúc đầu gương mặt chỉ thể hiện sự kinh ngạc, nhưng sau đó, một tia hy vọng đen tối chiếu sáng trên đôi mắt khát máu.

Ông ta nhanh chóng nhìn quanh rồi rón rén, cây gậy nặng nề giơ lên nửa chừng.

Ông ta tới gần cái vóc dáng bất động, co mình để lấy đà thì một tiếng nói lạnh lùng từ cửa phòng ngủ vọng tới.

- Đừng đập nó, thưa bá tước!

Vị bá tước kinh ngạc.

Hắn lại nâng cây gậy lên nhưng trước cái nhìn sắt thép và nụ cười chế nhạo, hắn thấy cần phải hạ tay xuống.

- Đó là một công trình nghệ thuật nhỏ đẹp!

- Holmes nói, vừa tiến tới hình nộm - Nhà vẽ kiểu áo quần Tavernier của nước Pháp nặn ra nó đó.

Ông ấy cũng khéo tay trong việc nắn sáp như ông bạn Straubenzee của ngài khéo tay trong việc sản xuất súng hơi.

- Súng hơi?

Ông muốn nói gì?

- Hãy để nón và gậy trên cái bàn tròn này.

Cám ơn, xin vui lòng ngồi xuống, cởi súng lục luôn, được không?

Cũng chả sao, nếu ngài muốn ngồi đè lên!...

Ngài tới đúng lúc quá, tôi khát khao có được 5 phút riêng với ngài.

Gã bá tước làu bàu, chân mày sụ xuống, vẻ dọa nạt.

- Tôi cũng vậy, tôi muốn nói chuyện với ông.

Tôi không phủ nhận rằng tôi có dự định hạ ô

- Tôi cũng lờ mờ thấy rằng trong đầu ngài đang nung nấu một dự án loại đó.

Không hiểu tại sao ngài lại dành cho tôi quá nhiều sự lưu tâm?

- Tại vì ông theo chúng tôi, tại vì ông sai người theo dõi tôi.

- Người của tôi, tôi thề là không có chuyện đó.

- Láo toét!

Tôi bị theo dõi và tôi sai người theo dõi lại chúng nó.

Đó là một trò chơi có thể chỉ cần hai đối thủ.

- Thưa bá tước, ngài tiếp xúc thẳng với tôi có hay hơn không.

Do nghề nghiệp tôi phải thân thiện phần nào với các tên ăn cướp trên thế giới.

Còn ngài, thưa bá tước Sylvius, lui tới với bọn nó là coi không được.

- Đúng vậy.

- Hoan nghênh!

Tuy nhiên ngài lầm khi cho ai đó là nhân viên của tôi.

Gã cười lớn một cách miệt thị.

- Đâu phải chỉ có một mình ông là người có tài quan sát sắc bén.

Hôm qua là một người thất nghiệp già.

Hôm nay là một bà lão, suốt ngày chúng bám tôi sát gót.

- Thật vậy sao?

Ngài nói quá!

Tới phiên ngài, ngài lại ca tụng cái trò ngụy trang vặt vãnh của tôi.

- Là ông?

Chính là ông?

Holmes nhún vai.

- Trong góc kia là cái dù mà ngài có nhã ý xin cầm giùm...

- Nếu tôi biết, thì không bao giờ...

- Thì không bao giờ tôi trở về nhà được chứ gì.

Tôi biết rõ mà!

Tất cả chúng ta đều bỏ lỡ cơ hội, rồi sau đó lại hối tiếc.

Nhờ ngài không nhận ra tôi mà chúng ta còn gặp nhau hôm nay

Đôi chân mày của gã bá tước sụp xuống một cách nặng nề hơn.

- Những lời ông nói chỉ làm cho không khí ngột ngạt thêm.

Ông theo dõi tôi để làm gì vậy?

- Tôi cần tìm ra một viên kim cương màu vàng?

Hầu tước ngả lưng ra sau cười một cách gượng gạo.

- Tôi thề...

- Thật ra ngài biết tại sao tôi bám theo ngài.

Hôm nay ngài đến đây là để dò xem tôi biết sự việc tới mức độ nào và nếu cần, ngài sẽ ra tay thủ tiêu ti?

Phải khách quan mà nói, ngài thủ tiêu tôi là điều tôi cần, bởi vì tôi đã biết hết, trừ một chi tiết nhỏ mà chính ngài sẽ tiết lộ.

- Thật ư?

- Phải.

Đôi mắt của Holmes chĩa thẳng vào mắt gã bá tước, teo lại như hai mũi dùi bằng thép.

- Ngài quả là một miếng nước đá trong suốt.

Tôi thấy rõ cho tới tận đáy lòng ngài.

- Như vậy ông biết viên kim cương đó ở đâu Holmes.

Gã vỗ tay rồi đưa một ngón tay mỉa mai.

- Vậy là ngài biết, như ngài vừa nhìn nhận.

- Tôi có nhìn nhận cái gì đâu?

- Nào, thưa bá tước Sylvius, ngài nên tỏ ra biết điều.

Bằng không, ngài sẽ gặp nguy hiểm.

Gã bá tước nhìn lên trần nhà.

Holmes nhìn ông ta một cánh chăm chú như người đánh cờ đang chiếu bí đối thủ rồi mở ngăn kéo, lấy ra một c sổ tay dày cộm.

- Ngài có biết tôi nắm ai trong cuốn sách này không?

- Không.

- Chính ngài.

- Tôi?

- Đúng vậy!

Trọn vẹn tiểu sử của ông trong này, không sót một điều gì?

- Cầu Chúa tha thứ!

- gã bá tước la to - Sự nhẫn nại của tôi có giới hạn, thưa ông Holmes.

- Vâng, đầy đủ ở trong này, thưa bá tước.

Các sự kiện có liên quan tới cái chết của bà lão Harold, người để lại cho ông lãnh địa Blymer mà sau đó ngài bán đi để nướng hết trong sòng bạc.

- Ông đang nằm mơ?

- Và nguyên cả cuộc đời của cô Minnie Warrender nữa!

- Ông chả làm được gì với những cái đó.

- Còn đây, câu chuyện hay hơn.

Cuộc đánh cướp trên tàu hỏa sang trọng La Riviera vào ngày 13-2-1892.

Và đây là cái chi phiếu giả mà ngài dùng rút tiền tại ngân hàng tín dụng Lyonnais cũng hồi năm 1892.

- Không, điểm này ông nói sai?

- Thì tôi đúng trong cái điểm khác.

Nào, thưa bá tước, trong khi đánh bài, mà đối thủ nắm hết các lá lớn, thì ngài nên bỏ bài đi.

- Đâu là cái mối liên quan giữa cuộc nói chuyện tầm phào này với viên kim cương?

- Từ từ, thưa bá tước.

Tôi có một mớ tin tức có hại cho ngài đó, nhất là tôi có cả một hồ sơ hoàn chỉnh để tố cáo ngài và vệ sĩ của ngài trong vụ này

- Tôi có lời khai của anh xà-ích chở ngài đi Whitehall, và của anh xà ích chở ngài từ đó về .

Tôi có lời khai của người đại diện thương mại thấy ngài đứng gần tủ kiếng, tôi có luôn lời khai của ông Ikey Sanders, người không chịu cho ngài cầm cái đó.

Đủ chưa?

Các mạch máu trên trán của bá tước phồng to lên.

Hai bàn tay sạm nắng, lông lá co thắt lại; ông ta muốn nói, nhưng chữ nghĩa đi đâu mất hết.

- Tôi đã đập bài xuống bàn rồi.

Tôi còn thiếu một lá.

Đó là lá bài "viên kim cương".

Nó ở đâu?

- Ông sẽ không bao giờ biết!

- Ngài bá tước!

Ngài hãy biết điều!

Hãy nắm vững tình thế!

Ngài sẽ ngồi nhà đá 25 năm.

Sam Merton cũng thế!

Ngài sẽ được gì trong 25 năm đó!

Không được gì cả!

Tuy nhiên, nếu ngài chịu hoàn trả thì tôi sẽ thỏa hiệp với tội ác.

Chúng tôi không cần ngài lẫn Sam.

Chúng tôi cần cục đá.

Hãy trả nó lại cho chúng tôi thì ngài sẽ trở về nhà trong tự do và mãi mãi tự do, miễn là sống trong đàng hoàng.

- Nếu tôi từ chối thì sao?

- Thì sẽ rất tiếc!

Billy đã xuất hiện khi nghe chuông reo.

- Ngài bá tước, tôi đề nghị cho bạn thân của ngài tham dự vào cuộc nói chuyện này.

Nói cho đúng, anh ta cũng đang bị lâm nguy.

Nè Billy, ở trước cửa lớn có một anh chàng to con và xấu trai.

Cháu mời anh ta lên đây.

- Nếu ông ta từ chối thì sao, thưa ông.

- Báo cho anh ta hay là bá tước cần gặp.

Anh ta sẽ lên ngay.

- Ông sẽ làm gì?

Gã bá tước hỏi khi Billy đi khuất.

- Bạn thân của tôi là bác sĩ Watson mới ra về.

Tôi có khoe với ông ấy rằng trong ưới của tôi có một con cá mập và một con cá chốt.

Giờ đây, tôi giở lưới.

Tôi tóm cả hai con.

Gã bá tước ngồi thẳng lưng lên và đưa tay ra sau lưng.

Holmes chĩa về hướng về y một đồ vật nổi cộm trong túi áo ngủ của mình.

- Ông sẽ không chết trên giường, ông Holmes!

- Tôi cũng thường đoán như vậy.

Tuy nhiên có cần phải chết trên giường không?

Chắc ông sẽ chết đứng, chứ không chết nằm đâu.

Nhưng hãy chấm dứt các sự đoán mò bệnh hoạn này, tại sao không dứt khoát chọn lấy sự vui vẻ của hiện tại?

Một tia chớp của mắt thú dữ sáng lóe trong cái nhìn của tên tội phạm.

Holmes chuẩn bị ứng phó với mọi tình huống.

Đối thủ có vẻ kiêng dè.

- Mân mê cây súng lục chả có ích gì!

Holmes nói một cách bình thản.

- Ngài thừa hiểu rằng ngài không thể bắn, dù tôi có dành cho ngài đủ thời gian.

Súng lục là những dụng cụ dơ và ồn, thưa bá tước.

Nên sử dụng súng hơi.

Ủa, hình như có bước đi nhẹ của người bạn đáng nể?

Chào ông Merton.

Đứng ngoài đường nãy giờ mỏi chân chưa?

Tên võ sĩ quyền Anh là một thanh niên cốt cách nặng nề, vẻ mặt thì vừa ngu vừa lì.

Hắn đứng một cách vụng về ngoài cửa, trơ mắt ếch nhìn quanh.

Thái độ của Holmes làm hắn ngạc nhiên.

Hắn nhận thấy mang máng rằng thái độ đó không thân thiện nhưng không biết phải chống trả như thế nào.

Hắn quay qua ông chủ của hắn.

- Việc gì thế, bá tước?

Thằng cha này muốn gì?

Giọng nói của hắn nghiêm trọng và khàn khàn.

Gã bá tước vươn vai, Holmes trả lời thay.

- Để tóm tắt tình hình, ông Merton, tôi có thể nói rằng mọi chuyện đã tới hồi kết cuộc.

Tên võ sĩ tiếp tục hỏi

- Thằng cha này nói đùa hả?

Phần tôi, tôi không cười được đâu.

- Tôi ái ngại lắm!

- Holmes nói - Tôi có thể đoán chắc rằng càng khuya, ông sẽ càng bớt vui.

Bây giờ, nghe tôi đây, thưa bá tước Sylvius.

Tôi rất bận, tôi không có thì giờ để hoang phí.

Tôi đi vào phòng tôi.

Tôi yêu cầu ngài xem đây như nhà ngài trong lúc tôi vắng mặt.

Ngài có thể giải thích rõ tình hình cho bạn ngài nghe.

Tôi sẽ chơi một bản nhạc bằng vĩ cầm.

Năm phút nữa, tôi sẽ quay lại để lấy câu trả lời dứt khoát của ngài.

Ngài hãy lựa chọn: hoặc ngài hoặc viên đá?

Holmes ôm cây vĩ cầm, rời khỏi phòng.

Một lát sau các nốt nhạc rên rỉ đầu tiên của điệu nhạc u buồn nhất trỗi lên từ phòng bên.

- Chuyện gì vậy?

- Merton hỏi với vẻ âu lo - Hắn biết cục đá?

- Hắn biết quá nhiều điều liên quan tới cục đá.

Tao sợ rằng hắn biết hết rồi.

- Chúa ơi!

Khuôn mặt của tên võ sĩ Anh tái xanh.

- Ikey Sanders đã mách lẻo.

- Nếu có tố cáo chúng ta, tôi thề sẽ phanh thây nó.

- Điều đó chả ích gì cho chúng ta.

Điều cần bây giờ là quyết định phải làm gì?

- Chờ một chút!

Gã võ sĩ nói, rồi nhìn một cách ngờ vực về phía cửa.

- Con chim lạc bầy mà lại ra lệnh này nọ.

Hắn có nghe lén không.

- Làm sao vừa nghe vừa chơi vĩ cầm?

- Đúng vậy.

Có thể có người đằng sau bức màn.

Phòng này sao có nhiều màn quá!

Nhìn qua nhìn lại, Merton thấy cái hình nộm tại cửa sổ.

Hắn điếng người, không nói nên lời.

- Tuyệt!

Đó là bức tượng.

- gã bá tước giải thích!

- Giả hả?

Giống y như thật!

Còn mớ màn này, dùng làm gì, thưa bá tước.

- Ồ, bỏ qua mấy cái màn đó đi, đừng phí thời giờ.

Chúng ta không còn nhiều đâu.

Hắn có thể tống mình vào tù, vì viên đá đó.

- Nếu Ikey Sanders tố cáo, thì ta có thể bị nguy.

- Tuy nhiên, hắn ta sẽ làm ngơ nếu chúng ta nói cho hắn biết viên đá hiện ở đâu.

- Sao?

Trả lại ư?

Từ bỏ 100.000 bảng Anh?

- Phải chọn lựa thôi.

Merton gãi đầu.

- Hắn ta chỉ có một mình.

Ta chỉ cần vào phòng, thanh toán hắn là xong mọi chuyện.

Còn gì mà sợ?

Gã bá tước ra dấu bảo đừng.

- Hắn ta có súng trong người.

Vả chăng, giết hắn rồi làm sao trốn thoát.

Hơn nữa, có thể hắn đã nộp đầy đủ bằng cớ về chúng ta cho cảnh sát rồi.

Một tiếng động mơ hồ ở phía cửa sổ.

Hai người im lặng, ngóng tai, nhưng ở cửa sổ, hình nộm vẫn ngồi ở ghế bành, Merton nói:

- Cái tiếng đó ở ngoài đường.

Giờ đây, là phần việc của ông, ông chủ.

Ông có đầu óc, chắc sẽ tìm ra kế để chúng ta thoát chân.

Nếu viên đá là vô dụng thì ông nói thẳng với hắn đi.

- Tao đã bịp những tay cừ hơn hắn ta nhiều!

- gã bá tước nói.

- Viên đá đang ở trong túi tao.

Tao không chịu cái rủi ro giao nộp nó.

Ngay đêm nay, nó có thể ra khỏi nước Anh và bị c thành 4 miếng tại Amsterdam trước ngày chủ nhật này.

Hắn ta không biết gì về Van Seddar đâu.

- Vậy mà tôi tưởng Van Seddar sẽ ra đi vào tuần tới.

- Đúng ra là thế!

Nhưng theo tình hình mới, nó phải đi trên chuyến tàu tới.

Hoặc mày, hoặc tao phải mang viên đá ra tới phố Lime gặp Van Seddar.

- Nhưng viên đá giả chưa làm xong mà?

- Cứ cầm đá thật mà đi vậy.

Ta đâu còn thì giờ.

Lại một lần nữa, với cái năng khiếu ngửi thấy sự nguy hiểm, gã bá tước dừng lại, nhìn về hướng cửa sổ.

Đúng rồi, tiếng động hồi nãy phát sinh từ ngoài đường.

- Về phần gã Holmes - ông ấy nói tiếp - Tao sẽ gạt hắn một cánh dễ dàng.

Hắn sẽ không làm cho chúng ta bị bắt đâu, nếu hắn còn hy vọng lấy lại được viên đá.

Chúng ta sẽ hứa với hắn rằng hắn sẽ nhận được cục đá.

Chúng ta cho hắn trật đường rầy.

Đến khi hắn hay biết thì cục đá đã qua tới Hà Lan và chúng ta đã cao bay xa chạy.

- Tuyệt vời!

- Merton la lớn.

- Mày hãy lên đường về bảo thằng Hà Lan nhanh lên.

Phần tao, tao sẽ đi gặp con đỉa đó, sẽ cầm chân nó bằng một màn xưng tội giả.

Tao sẽ bịa với nó rằng viên đá hiện đang ở Liverpool.

Trời ơi, âm nhạc trời đánh, nhức óc quá!

Trong lúc nó lục lạo tại Liverpool, thì viên đá đã qua tới Hà Lan, còn chúng ta thì đang bềnh bồng trên biển cả.

Lại đây!

Đây là viên đá.

- Tôi tự hỏi tại sao ông dám để nó trong túi mình?

- Vậy để ở đâu bây giờ?

Nếu chúng ta đánh cắp nó tại Whitehall thì thằng khác cũng có thể đánh cắp nó tại nhà tao.

- Cho tôi xem nó một chút.

Gã bá tước nhìn người đồng phạm với vẻ hơi coi thường, và tỏ ý chê cái bàn tay bẩn thỉu

- Mày cho rằng tao sẽ giữ nó luôn sao?

Hãy tới gần cửa sổ để nhìn thấy báu vật cho rõ ràng hơn.

Đưa ra ánh sáng đó, Sam à!

- Xin cám ơn hai bạn!

- Chỉ nhảy một cái, Holmes rời khỏi ghế bành của hình nộm và giựt lấy cái báu vật ngàn vàng, một tay cầm nó, một tay chĩa súng lục.

Hai tên trộm đi thụt lùi, mặt cắt không còn chút máu.

Trước khi chúng hoàn hồn, Holmes đã nhấn chuông.

- Hỡi các bạn, hãy tuyệt đối tránh bạo lực.

Các bạn hãy quý trọng các đồ gỗ của tôi.

Các bạn không có lối thoát đâu.

Cảnh sát đang ở dưới nhà.

Quá ngạc nhiên, gã bá tước không còn giận dữ mà chỉ sợ hãi:

- Ông Holmes, ông tài giỏi thật!

- Sự ngạc nhiên của ngài là hoàn toàn hợp lý.

Ngài đâu thể ngờ rằng trong phòng tôi còn có cái cửa thứ 2 trổ ra sau cái màn này.

Khi tôi dời hình nộm đi, tôi sợ bị lộ quá chừng, nhưng vận may đã mỉm cười với tôi, và tôi có cơ hội nghe cuộc đối thoại đặc biệt của hai vị.

- Chúng tôi nhìn nhận là mình đã thua, thưa ông Holmes.

Tôi cho rằng ông là quỷ hiện hình.

- Gã bá tước nói tỏ dấu bị khuất phục.

- Không!

Tôi chỉ là anh em của quỷ!

- Holmes đáp với một nụ cười lễ độ.

Trí óc đần độn của Sam Merton bắt đầu hiểu ra.

Có những bước đi nặng nề ở cầu thang, phá vỡ sự yên lặng.

- Kỳ tài!

Nhưng còn tiếng đàn?

Tôi còn nghe tiếng đàn mà?

- Merton nói.

- Anh nghe đúng trăm phần trăm!

- Holmes đáp - Tiếng vĩ cầm tiếp tục thánh thót.

Máy quay đĩa hát là một phát minh kỳ diệu!

Cảnh sát xuất hiện, các tội phạm bị còng, bị đưa xuống xe ngựa chờ dưới đường.

Bác sĩ Watson khen Holmes về cành nguyệt quế mới th vào cái vương miện của anh ta.

Nhưng cuộc nói chuyện giữa hai người bị gián đoạn vì Billy đang mang danh thiếp vào.

- Huân tước Cantlemere, thưa ông.

- Đưa ông ấy lên, Billy.

Đây là nhà quý tộc sáng giá, đại diện cho những quyền thế lớn.

Đó là một nhân vật tuyệt hảo, rất trung thực, nhưng "hơi xưa" một chút.

Ta sẽ nịnh cụ ấy một chút rồi đùa cụ ấy chơi.

Ông không biết chuyện gì vừa xảy ra đâu.

Cánh cửa mở, một người gầy gò bước vào, khuôn mặt khắc khổ, được tô điểm bằng bộ râu mép to và đen không tương xứng với đôi vai cong và cái thân hình mảnh khảnh.

Holmes tiến tới và bắt lấy một bàn tay mềm nhũn.

- Kính chào huân tước Cantlemere.

Thời tiết còn lạnh nhưng trong một căn hộ thì nhiệt độ không đến nỗi nào.

Đề nghị ngài cởi bỏ áo choàng.

- Cám ơn!

Tôi thấy không cần thiết.

Holmes đặt một bàn tay trên cánh tay áo choàng.

- Xin ngài cho phép!

Bạn tôi, bác sĩ Watson, sẽ trách rằng những thay đổi thời tiết như vầy là quái gở?

- Tôi cảm thấy được, ông Holmes à!

Tôi không ở lâu đâu!

Tôi đến xem cuộc điều tra của ông đến đâu rồi.

- Thưa ngài, rất là khó khăn.

- Tôi đã biết trước rằng ông sẽ nói là rất khó khăn.

- Một nụ cười chế nhạo hé lộ trong lời nói và thái độ của nhà quí tộc già.

- Cuối cùng mỗi một chúng ta sẽ phát hiện ra các hạn chế của bản thân mình, thưa ông Holmes.

Tuy nhiên, sự mở mắt của ông cũng chữa lành một sự tự mãn.

- Đúng vậy, thưa ngài!

Tôi rất ân hận.

- Tôi đã thấy trước rồi mà !

Holmes mỉm nụ cười tinh nghịch:

- Tuy nhiên có một điểm đặc biệt mà tôi hy vọng được ngài giúp đỡ?

- Mãi tới bây giờ ông mới nói, tôi e là hơi trễ đó.

Tôi đã ngỡ rằng phương pháp làm việc của ông sẽ giúp giải quyết tất cả.

Nhưng thôi, dù sao tôi cũng sẵn sàng giúp ông.

- Thưa huân tước, chúng ta có thể lập hồ sơ về bọn trộm.

- Khi nào ta bắt được chúng kìa!

- Đúng vậy, nhưng mà vấn đề là làm sao còng kẻ tàng trữ đồ gian?

- Có quá chủ quan và quá sớm không.

- Phải lập hồ sơ mới được.

Theo ngài, phải làm sao để truy tố kẻ tàng trữ?

- Trường hợp họ bị bắt quả tang đang giữ viên đá!

- Điều đó, theo ngài, là đủ để bắt nhốt kẻ tàng trữ chứ gì?

- Đương nhiên!

Holmes vốn ít cười lớn tiếng, nhưng lần này thì cười hô hố.

- Nếu thế thì, kính thưa ngài, tôi cảm thấy đau lòng phải nhờ cảnh sát bắt ngài.

Huân tước nổi trận lôi đình.

- Ông suồng sã quá lố đó, ông Holmes.

Trong 50 năm nay, tôi chưa hề gặp một sự bỡn cợt nào tương tự.

Tôi đang rối đầu vì quốc gia đại sự; tôi không thích và cũng không có thời giờ để đùa cợt một cách xuẩn ngốc như vậy.

Tôi cần nhắc lại cho ông biết rằng không bao giờ tôi tin vào khả năng của ông.

Luôn luôn tôi chủ trương phải giao việc này cho cảnh sát công.

Trân trọng cáo từ ông!

Holmes nhanh nhẩu nhảy ra, chân lại ở cửa

- Xin chờ một chút, thưa ngài!

Sự ra đi với viên đá Mazarin là một tội ác tầy đình so với tội chỉ tàng trữ trong một thời gian ngắn.

- Đã quá mức chịu đựng của tôi rồi đó.

Hãy để cho tôi đi qua!

- Ngài hãy thọc tay vào túi áo choàng của ngài xem!

- Ông muốn nói gì?

- Ngài cứ làm như vậy đi!

Nhà quý tộc bỗng điếng người, mắt nhấp nháy hên hồi, cà lăm cà cặp.

Viên đá to màu vàng đang nằm trong tay run rẩy của ông.

- Chúa ơi!

Cái gì đây, ông Holmes?

- Quá đột ngột, quá chấn động, phải không, thưa huân tước.

Xin ngài tha lỗi, tôi đã quá lố, khi bỏ cục đá vào túi ngài ngay từ đầu cuộc nói chuyện.

Ông huân tước già nhìn đăm đăm vào khuôn mặt rạng rỡ của Holmes.

- Thưa ông Holmes, tôi rất kinh ngạc.

Quả thật là viên đá Mazarin!

Chúng tôi mang ơn ông vô cùng.

Ông đùa dai và thất kính, nhưng mà ông đã nhìn nhận.

Phần tôi, tôi xin rút lại tất cả những gì đã nói về biệt tài siêu việt của ông.

Nhưng...

- Sau này tôi sẽ nói các chi tiết, thưa huân tước.

Tôi tin chắc rằng cái thú vị mà ngài tìm thấy trong việc tường thuật cái kết quả vui vẻ về viên đá trong hoàng gia sẽ bù đắp cái thất kính vừa rồi của tôi.

Billy, hãy đưa ngài huân tước xuống và báo cho bà Hudson hay rằng tôi rất hạnh phúc nếu được bà cho thầy trò ta một bữa ăn tối thịnh soạn.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
F4 Biệt thự Ba đầu hồi


BIỆT THỰ BA ĐẦU HỒI

THE ADVENTURE OF THE THREE GABLES (1926)

The Case Book of Sherlock Holmes

Tàng thư của Sherlock Holmes

Tôi cho rằng không có cuộc phiêu lưu nào của chúng tôi mà khởi sự một cách đột ngột và hồi hộp như vụ án ở biệt thự Ba đầu hồi.

Tôi không gặp Homles đã ba ngày và tôi không biết anh ấy đang chuyển các hoạt động về hướng nào.

Nhưng sáng hôm đó anh nói dữ lắm.

Anh vừa mời tôi ngồi vào cái ghế bành cạnh lò sưởi, thì khách đến.

Cửa mở, một gã da đen đồ sộ ào ào bước vào.

Hắn mặc một bộ đồ màu xám, cà vạt màu da cam, khuôn mặt to, mũi xẹp, đôi mắt đầy ác cảm.

Hắn lần lượt nhìn tôi, Homles.

- Trong hai ông, ông nào là ông Homles?

Homles giơ cao cái tẩu và uể oải cười nhoẻn miệng.

- Ủa, ông đấy hả?

Người khách bước nhẹ đi để vòng qua cái bàn.

- Này, ông Homles, ông hãy đặt chân vào nơi khác thì hơn.

Hãy để cho người ta tự giải quyết lấy nhưng công việc của họ, ông hiểu chưa?

- Hãy tiếp tục nói nữa đi, tôi thích ng ông nói.

- Ờ, thích nghe hả?

Tôi cho ông dựng tóc gáy thì sẽ bớt thích.

Trước đây tôi đã hạ được một vài người cùng loại với ông.

Và họ không hề thích được tôi chăm sóc.

Nhìn cái này đây, ông Homles!

Người khách đưa một quả đấm đồ sộ dưới mũi bạn tôi.

Homles quan sát quả đấm đó kỹ, với vẻ chăm chú thật sự.

- Ông bẩm sinh như vậy, hay là ông để nó mọc lên từ

Có lẽ vì sự lạnh lùng như băng giá của Homles hoặc vì tiếng động nhẹ do tôi gây ra khi cầm cái que cời than lên, người khách hạ giọng.

- Đó, tôi đã thẳng thắn cảnh cáo cho ông rồi đó.

Tôi có một người bạn thân ở bên phía Harrow...

Ông hiểu tôi muốn nói gì chứ?

Và anh ta không muốn ông làm kỳ đà cản mũi.

Hiểu chưa?

Ông không phải là luật pháp.

Tôi cũng không phải là luật pháp.

Nhưng nếu ông xen vào thì tôi cũng xen vào.

Đừng quên điều đó.

- Chính tôi cũng muốn gặp anh mấy bữa rày.

Nhưng tôi không mời anh ngồi vì tôi không ưa cái mùi của anh.

Anh có phải là Steve Dixie, biệt danh Máy nghiền không?

- Chính là tôi.

Tôi sẽ nhét cái tên đó vào họng ông, nếu ông làm gấy chân tôi.

- Thật là uổng nếu ông mất một cái quyến rũ nhất của ông - Homles trả lời và nhìn vào đôi chân đồ sộ của khách.

- Nhưng tôi hiện đang nghĩ tới cái chết của anh thanh niên Perkins trước cửa của bar Holborn...

Ủa?

Anh về à?

Gã đen đua nhảy dựng lên rồi thối lui, gương mặt xám xịt.

- Tôi không có thì giờ nghe ông lải nhải.

Tôi dính dáng gì với thằng Perkins đó, ông Homles?

Vào lúc nó bị rắc rồi, tôi đang tập dượt tại câu lạc bộ Bull Ring ở Birmingham.

- Anh sẽ nói rõ chuyện đó với cảnh sát - Homles nới - Phần tôi, tôi đã theo dõi cả anh lẫn Barney Stockdale.

- Ồ, ông Homles?...

- Thôi đủ rồi!

Đi đi!

Khi tôi cần tới anh, tôi sẽ báo.

- Xin kiếu!

Tôi hy vọng ông không phiền về sự thăm viếng của tôi?

- Cái đó còn tùy.

Anh vui lòng cho biết ai sai anh tới?

- Ồ, đâu có gì là bí mật, chính cái anh chàng mà ông vừa nêu tên

- Và ai ra lệnh cho nó sai anh tới đây?

- Tôi thề là tôi không biết chi cả.

Anh ấy chỉ bảo tôi: "Steve, anh hãy đi gặp ông Homles và báo cho ông ấy biết rằng tính mạng ông ấy sẽ lâm nguy nếu ông ấy đứng về phía Harrow".

Vừa dứt lời, người khách hối hả chạy ra khỏi phòng.

Homles cười thầm, rảy tro ra khỏi cái tẩu.

- Tôi mừng là anh khỏi phải chê cái đầu quắn đó, anh Watson.

Tuy nhiên nó chỉ là một người vô hại, có bắp thịt nhưng ngu dốt.

Nó thuộc băng của Spencer John và có dự phần trong vài vụ nhớp nhúa mà tôi sẽ nhìn tới khi có thời gian.

Trưởng trực tiếp của nó là Barney thì ma lanh hơn.

Đó là một băng chuyên về tấn công, dọa nạt.

Điều tôi muốn biết là ai đã chi tiền để giựt dây trong vụ này.

- Nhưng tại sao hắn lại dọa anh?

- Vì vụ Harrow Weald.

- Tôi không biết tí gì về vụ đó.

- Đây là bức thư của bà Maberley.

Chúng ta sẽ điện thoại báo trước rồi đến đó ngay.

Tôi đọc lá thư.

"Thưa ông Holmes,

Mấy bữa nay tôi gặp một loạt biến cố dị thường liên quan tới căn nhà này và tôi mong muốn được ông khuyên bảo.

Ngày mai, tôi ở nhà suốt ngày.

Xuống ga Weald, đi bộ một chút là tới.

Dường như ông chồng vô vàn tiếc thương của tôi, Mortimer Maberley, từng là một trong những khách hàng của ông.

Trân trọng

Mary Maberley

Biệt thự Ba đầu hồi,

Harrow Weald"

- Anh Watson, giờ đây, nếu anh rảnh, chúng ta đi xuống đó.

Đó là một biệt thự bằng gỗ và gạch, cất trong đất riêng, vốn là một đồng cỏ.

Ba cục u mảnh mai bên trên các cửa sổ cao biện minh cho cái tên ba đầu hồi.

Đằng sau nhà, lưa thưa vài cây ngô cằn cỗi, toát ra sự nghèo nàn và thê lương.

Tuy nhiên nhà đầy đủ đồ gỗ, và người đàn bà tiếp chúng tôi có vẻ là một người dễ thương, có tuổi, có học và lịch lãm.

- Tôi nhớ ông nhà rất rõ, thưa bà!

- Homles nói - Tuy nhiên lâu quá rồi nên tôi không còn nhớ là vụ việc vặt vãnh nào.

- Có thể tên thằng Douglas, con trai tôi, quen thuộc với ông hơn?

Homles chăm chú nhìn bà chủ nhà:

- Chúa ơi!

Bà là mẹ của Douglas Maberley ư?

Tôi không quen anh ấy bao giờ.

Tuy nhiên, toàn thể London đều biết tên anh ấy.

Một người tuyệt diệu.

Hiện giờ anh ấy ở đâu?

- Cháu đã chết, thưa ông?

Cháu được bổ nhiệm làm tùy viên sứ quán tại Roma, và chết ở đó hồi tháng rồi, vì chứng sưng phổi.

- Xin thành thật chia buồn với bà.

Tôi không ngờ anh ấy lại vắn số đến thế.

Chưa bao giờ tôi biết một người yêu đời đến thế.

Anh ấy sống cuồng nhiệt.

- Quá cuồng vội, thưa ông Homles.

Đó là nguyên nhân đưa đến cái chết.

Ông còn nhớ cháu chớ: hào hoa, phong nhã cực kỳ.

Tuy nhiên, ông không thấy cháu lúc nó u sầu, tuyệt vọng.

- Thất tình ư?

- Một con quỷ cái!

Tuy nhiên hôm nay không phải tôi mời ông đến đây để than vãn về đứa con đáng thương ấy.

- Thưa bà, bác sĩ Watson và tôi chờ lệnh bà.

- Thưa ông Homles, nhiều biến cố rất dị thường đã diễn ra tại đây.

Tôi dọn về nhà này được một năm, vì chủ trương ẩn dật nên tô không quen nhiều với các láng giềng.

Cách đây 3 ngày, tôi tiếp một nhân viên địa ốc.

Ông ấy nói rằng một khách hàng của ông ấy rất thích căn nhà này.

Nếu tôi bằng lòng thì vấn đề tiền bạc không phải là chuyện khó khăn.

Tôi nhận thấy sự vận động này khá dị thường, vì xung quanh đây có biết bao nhà trống để bán hoặc cho thuê.

Tuy nhiên, tôi có bị lôi cuốn bởi lời đề nghị đó.

Tôi đưa ra một giá, cao hơn giá mua là 500 bảng.

ông ấy không mặc cả, nhưng nói thêm rằng khách của ông thích mua luôn cả đồ gỗ và ông yêu cầu tôi ra giá.

Một phần đồ gỗ đó là của gia đình để lại, rất tốt.

Do đó, tôi làm tròn con số.

Ông ấy chấp nhận ngay.

Tôi luôn mơ được đi du lịch đó đây: lần này lời to; nhờ nó tôi sẽ có tiền sống đàng hoàng tới ngày.

Hôm qua, nhân viên địa ốc đó quay lại với văn tự bán nhà làm sẵn.

Tôi đưa cho luật sư của tôi là ông Sutro xem qua.

Ông này nói: "Văn tự rất kỳ lạ.

Bà phải thấy rằng nếu bà ký thì bà sẽ không có thể lấy ra được cái gì, kể cả các vật dụng cá nhân?"

Khi nhân viên địa ốc quay lại vào buổi tối, tôi lưu ý ông ta về điều này, và tôi nhắc lại rằng tôi chỉ bán đồ gỗ mà thôi.

- Không được.

Giá mua gồm luôn vật dụng lặt vặt của cá nhân bà.

- Cả quần áo và nữ trang của tôi nữa sao?

- Chúng tôi chấp thuận cho bà linh động về các vật dụng cá nhân.

Nhưng không một thứ gì lấy ra khỏi nhà mà không được kiểm trước vị khách hàng rất hào phóng của tôi.

Tuy vậy, ông ấy có nhưng sở thích bệnh hoạn và lối xử sự quái dị.

Đối với ông ta thì hoặc là có tất cả, hoặc là không có gì hết.

- Như vậy thì, tôi chọn giải pháp.

Không gì hết - Tôi nói với ông ta.

Nội vụ ngừng tại đó, nhưng nó dị thường đến nỗi tôi nghĩ rằng...

Một sự gián đoạn cũng quái dị lại xảy ra.

Homles giơ tay lên cao, yêu cầu sự yên lặng.

Rồi anh băng qua căn phòng, đột ngột mở cửa và kéo vào một người đàn bà cao lêu nghêu, da bọc xương.

Bà này vùng vẫy như một con gà giò bị kéo ra khỏi

- Buông tôi ra?

Ông làm gì thế - Mụ ấy la lên.

- Chuyện gì vậy, Susan?

- Thưa bà, tôi lên để hỏi các ông khách có ăn cơm trưa không, thì bị ông này vồ lấy.

- Tôi biết chị này đứng đây hơn năm phút rồi, nhưng vì không muốn cắt ngang một bài tường thuật hấp dẫn.

Chị có bị suyễn sơ sơ phải không, chị Susan.

Hơi thở của chị quá to, làm sao nhận lãnh công tác loại này?

Susan quay qua Homles với một cái nhìn u buồn, nhưng ngơ ngác.

- Ông là ai?

Ông sử dụng quyền gì mà quấy phá tôi như vậy?

- Chỉ vì tôi muốn đặt một câu hỏi có sự hiện diện của chị.

Thưa bà chủ, bà có tâm sự với ai về dự định viết thư và xin tham khảo ý kiến tôi hay không?

- Không tâm sự với ai cả, thưa ông.

- Ai đã bỏ cái thư đó?

- Susan.

- Đương nhiên rồi!

Giờ đây, Susan, chị viết thư và báo trước cho ai biết về cái ý định của bà chủ mời tôi đến đây.

- Ông nói sảng?

Tôi không thông báo tin tức gì cho ai hết.

- Nghe đây, Susan?

Người bệnh suyễn thường không sống lâu.

Nói láo thì sa địa ngục đó.

Chị đã viết thư cho ai?

- Susan - Bà chủ la lớn - Chị tệ lắm, chị đã phản bội tôi.

Bây giờ tôi nhớ lại rằng chị có nói chuyện với ai đó tại hàng rào.

- Chuyện riêng tư của tôi

- Phải chăng với Barney Stockdale?

- Homles hỏi.

- Ủa, ông đã biết, sao còn hỏi?

- Trước đây, tôi còn ngờ ngợ.

Giờ đây, thì chắc chắn rồi.

Này Susan, tôi sẽ biếu chị 12 bảng nếu chị tiết lộ người đứng đằng sau Barney.

- Người ta cho tôi 1000 bảng mỗi lần.

ông chỉ đề nghị có 10!

- Một ông giàu sụ?

Không phải hả?

Chị cười à?

Vậy là một bà rồi!

Đúng rồi!

Vậy chị có thể tiết lộ tên người đàn bà đó để lấy 10 bảng.

- Phải gặp ông ở địa ngục trước đã?

- Ồ, Susan!

Chị nới gì kỳ lạ vậy.

- Tôi đi đây.

Tôi chán hết thảy mấy người.

Mai tôi sẽ đến lấy va li

Susan đi về hướng cửa.

- Tạm biệt, Susan.

Nhớ uống thuốc an thần nhé.

Coi chừng đó?

Homles nói tiếp và không còn tươi cười khi người đàn bà đã đóng mạnh cửa lại

- Bọn họ làm việc khá nhanh: thư của bà mang dấu bưu điện 10 giờ tối.

Susan thông báo ngay cho Barney, nhờ vậy Barney có thời giờ đi kiếm người chỉ huy, để nhận chỉ thị.

Thưa bà, ai là chủ trước của căn nhà này?

- Một sĩ quan hải quân hưu trí tên là Ferguson.

- Bà có biết gì đặc biệt về ông này không

- Thưa không.

- Tôi nghi rằng ông ta đã chôn một cái gì tại đây.

Thời đại này, khi cần giấu kho báu, người ta sử dụng két sắt tại ngân hàng.

Nhưng trên trần thế mênh mông này luôn luôn có người lập dị.

- Trước tiên, tôi nghĩ đến một kho tàng bị chôn.

Tuy nhiên, tại sao lại cần đồ gỗ của bà?

Bà có một bức họa của Rapheal hoặc một ấn bản đặc biệt nào về Shakespeare mà không hay biết?

- Không, tôi chỉ có một bộ đồ trà cổ thôi!

- Không hợp lý lắm!

Tại sao chúng không công khai cái chúng muốn?

Nếu chúng cần bộ ấm trà cổ thì chúng có thể đề nghị một mức giá hợp lý hơn là mua một mớ lằng nhằng.

Không, tôi cho rằng có một cái gì đó bà có mà chính bà cũng không biết.

- Tôi cũng nghĩ vậy - Tôi nói.

- Bác sĩ Watson cũng đồng ý đấy.

- Vậy, thưa ông Holmes, làm thế nào để biết được?

- Bây giờ chúng ta thử phân tích các sự kiện để có thể tím ra các manh mối.

Bà đã ở đây một năm rồi.

- Cũng được gần 2 năm.

- Tốt!

Trong suốt thời gian đó, không ai hỏi han gì.

Bây giờ, thình lình trong ba, bốn ngày nay lại có người yêu cầu.

Điều đó có nghĩa là gì?

- Chỉ có một ý - tôi nói - là vật đó mới chỉ ở trong nhà gần đây thôi.

- Đúng rồi!

Bây giờ, thưa bà Maberley, gần đầy có vật gì được gửi cho bà không?

- Không.

Tôi chưa hề mua sắm gì trong một năm nay.

- Quả vậy!

Điều đó rất đáng chú ý.

Tốt, tôi nghĩ chúng ta đã có một manh mối có thể phát triển cho đến khi chúng ta có rõ ràng hơn dữ liệu.

Luật sư của bà là người có khả năng chứ?

- Ông Sutro là người rất khá.

- Bà có người hầu gái nào khác, ngoài Susan không?

- Tôi còn một cô hầu gái thôi

- Bà hãy cố gắng mời luật sư Sutro ngủ một hoặc hai đêm tài nhà.

Có thể bà cần được bảo vệ.

- Vì sao vậy?

- Tôi không thể phát hiện món đồ mà người ta muốn lấy, nên tôi phải đi từ đầu kia.

Nói rõ hơn là tôi tìm nhân vật chính trong tấn kịch này.

Ông nhân viên địa ốc có để lại địa chỉ không?

- Chỉ có tên và nghề nghiệp.

Haines-Johnson, nhân viên địa ốc và chuyên gia.

- Có lẽ ta sẽ không tìm thấy tên ông ta trong Niên giám Danh thiếp.

Vậy tôi đề nghị bà báo ngay cho tôi mọi diễn biến kế tiếp.

Bà hãy tin tôi.

Khi chúng tôi đi ngang qua cửa chính, đôi mắt Homles đập xuống mớ rương và va li chất đống trong một góc.

- Milano, Lucerne.

A!

Hành lý này từ Ý gởi về?

- Đó là đồ đạc của thằng Douglas đáng thương của tôi?

- Bà chưa khui ra.

Bà nhận về được bao lâu rồi?

- Tuần trước.

- Vậy mà bà đã nói với tôi rằng...

Vậy là cái mắt xích mà tôi thiếu là đây rồi!

Có thể mấy cái rương này chứa một đồ vật quý giá?

- Không lẽ, thưa ông Homles.

Douglas chỉ sống nhờ đồng lương và một khoản phụ cấp nhỏ.

Làm sao nó có khả năng mua bán vật gì?

Homles suy nghĩ hồi lâu.

- Yêu cầu bà làm ngay cho?

- Cuối cùng Homles nói - Hãy đưa mớ hành lý này lên phòng bà.

Khám nghiệm chúng càng sớm càng tốt và nhớ lập bản kiểm kê.

Mai tôi quay lại.

Đúng là biệt thự "Ba đầu hồi" bị canh gác.

Khi chúng tôi đi hết đường mòn ở nơi cao ráo thì gặp gã võ si quyền Anh đang đứng núp trong bóng mát.

Chúng tôi bị bất ngờ.

Tại cái chỗ quạnh hiu này, nó có vẻ bất thường và dễ sợ.

Homles thọc tay vào túi.

- Ông kiếm súng lục hả, ông Homles?

- Không đâu, bạn Steve.

Kiếm chai dầu.

- Ông là người kỳ lạ.

- Tôi tin rằng anh không đùa với tôi, khi tôi nói chuyện rất đàng hoàng với anh.

Sáng nay tôi đã cảnh cáo anh rồi mà.

- Thưa ông, tôi luôn nhớ lời ông dặn và tôi không còn muốn nói tới vụ ông Perkins.

Nếu tôi có thể giúp gì ông, tôi sẵn lòng thôi.

- Vậy thì cho tôi biết ai đứng đằng sau vụ này.

- Tôi thề trước Chúa, thưa ông Homles.

Hồi sáng tôi đã nói sự thật.

Tôi không biết đâu.

Chủ tôi là Barney ra lệnh cho tôi.

Thế thôi.

- Vậy thì anh nhớ kỹ rằng cái bà trong nhà này và tất cả những gì dưới cái mái này đều đặt dưới sự che chở của tôi.

Đừng quên nhé, bạn Steve!

- Nghe rõ.

- Tôi nghĩ rằng tôi đã làm cho hắn tự lo cứu mạng hắn, - Holmes nói khi chúng tôi tiếp tục đi - Giờ đây hắn sẽ bán đứng chủ hắn nếu hắn biết "người bí ẩn".

May là tôi biết đường đi nước bước của băng Spencer John, mà Steve là thành viên.

Đây là phần việc của Langdale Pike.

Tôi phải đi tìm ông ta ngay.

Holmes biệt tích luôn ngày đó, nhưng tôi biết anh ấy sử dụng thời gian này làm gì vì tôi biết Langdale Pike là ai.

Ông ta là quyển từ điển sống về các vụ scandal trong xã hội.

Ông ta lờ đờ ngồi hằng giờ trong một câu lạc bộ ở phố Saint James, và là một cái máy thu và phát tất cả các vụ động trời.

Hình như thu nhập hàng tháng của ông ta là 4.000 bảng do đem bán các tin tức scandal cho các nhật báo.

Đôi khi Holmes cũng cung cấp tin cho Langdale Pike.

Để đền đáp, anh chàng này cũng thỉnh thoảng làm mật báo cho Holmes.

Khi tôi gặp Holmes vào sáng sớm hôm sau, tôi thấy anh hoàn toàn thỏa mãn.

Nhưng một bất ngờ lại xả đến.

Đó là cái điện tí với nội dung như sau:

"Yêu cầu tới ngay.

Nhà của khách hàng bị trộm.

Đêm qua cảnh sát đã đến.

Sutro".

Holmes huýt sáo:

- Biến động xảy ra nhanh hơn tôi dự kiến.

Đằng sau nội vụ là một nhân vật quyền thế lớn, anh Watson à?

Biến động này không làm tôi sửng sốt sau khi thu lượm tin tức xong.

Đương nhiên ông Sutro này chỉ là một luật sư.

Tiếc rằng tôi không nhờ anh ngủ lại để canh gác.

Ông nội này tỏ ra cù lần quá.

Thôi, ta đi tới Harrow Weald.

Biệt thự "Ba đầu hồi", không còn là một cái nhà cao ngạo như hôm qua.

Một nhóm vô công rồi nghề vây quanh hàng rào trong lúc hai cảnh sát viên khám xét hai cửa sổ và các bồn hoa.

Vào trong nhà, chúng tôi được một người cao niên tóc hoa râm tiếp đón và tự giới thiệu là luật sư của bà Maberley.

Ông thanh tra cảnh sát lăng xăng, chào mừng Holmes như bạn cố tri.

- Tôi ngại rằng không có gì để phải nhờ đến cái tài xuất chúng của ông.

Đây chỉ là một vụ trộm xoàng, thuộc phạm vi của đám cảnh sát xoàng xĩnh này.

- Tôi tin chắc rằng nội vụ đang nằm trong tay của những người có thực tài - Holmes nói - Ông có tin rằng đây chỉ là một vụ trộm đơn thuần?

- Đúng vậy.

Chúng tôi biết khá rõ về các nghi can và chúng tôi biết phải tới đâu để tóm cổ chúng.

Đó là cái băng Barney Stockdale với thằng mọi to con... chúng nó lảng vảng trong xóm này mấy bữa rày.

- Hoan hô!

Chúng đã lấy cắp những gì?

- Hình như chúng không lấy gì nhiều.

Bà Maberley và cả nhà bị bỏ thuốc mê.

Nhưng bà ấy đến kìa.

Bà chủ nhà có vẻ tái xanh và suy yếu, vịn vai người hầu đi vào phòng.

- Ông đã cho tôi một lời khuyên rất đúng.

Thưa ông Holmes - Bà vừa nói vừa cười một cách buồn thảm - Tiếc thay, tôi đâu có nghe theo.

Tôi ngại không dám làm phiền luật sư Sutro và tôi không

- Tôi mới nghe nói về điều đó sáng nay mà thôi?

- ông luật sư nói lớn.

- Ông Holmes có khuyên tôi mời một người bạn ngủ lại ban đêm.

Tôi coi thường lời khuyên này.

Do đó, tôi phải trả giá cho sự bất cẩn này.

- Bà có vẻ khá mệt mỏi - Holmes nói - Tuy nhiên xin bà vui lòng kể lại cho tôi nghe đầu đuôi câu chuyện.

- Tất cả đều được ghi trong này rồi - ông thanh tra cảnh sát vừa đập tay vào một cuốn sổ lớn vừa nói.

Tuy nhiên nếu bà Maberley không quá mệt...

- Thật ra thì cũng không có gì nhiều để mà tường thuật.

Chắc chắn con nhỏ Susan đã vẽ đường đi nước bước cho bọn chúng!

Chúng đi đứng như người trong nhà.

Có một giây lát, tôi ý thức bị đặt miếng bông có thuốc mê trên miệng.

Nhưng tôi quên hẳn thời gian bị hôn mê.

Khi tôi tỉnh lại thì có một người đàn ông đứng bên cạnh, một người đàn ông khác đang đứng dậy cầm một cái gói lấy từ trong hành lý của con trai tôi.

Mớ hành lý này bị mở một phần và rơi lung tung trên sàn nhà.

Khi chúng chạy, tôi có nhảy lên và nắm tay được một đứa.

- Bà đã làm một điều khá nguy hiểm - Ông thanh tra cảnh sát nói thầm.

- Tôi bám vào nó, nhưng nó vuột ra và thằng kia đập tôi ngất xỉu.

Mary nghe tiếng động, chạy ra cửa sổ báo động.

Cảnh sát tới, nhưng bọn trộm đã cao bay xa chạy.

- Chúng lấy gì?

- Tôi tin rằng không có gì quý lắm đâu.

Tôi chắc chắn không có cái gì đáng giá trong hành lý của con trai tôi.

- Bọn chúng có để lại vết tích gì không?

- Có một tờ giấy tôi giựt được từ thằng mà tôi nắm tay.

Giấy nhàu nát dưới sàn nhà, nội dung do chính con trai tôi viết.

- Tờ giấy này chả có ích lợi gì cho cuộc điều tra - ông thanh tra nói - Tuy nhiên vì nó có nằm trong tay của kẻ

- Đúng thế - Holmes nói - Cho tôi xem thử?

Ông thanh tra rút trong quyển sổ của ông một tờ giấy đã xếp lại

- Không bao giờ tôi bỏ sót một chi tiết nào - Holmes nói một cách trịnh trọng - Trong 25 năm hành nghề, tôi đã học hỏi nhiều lắm.

Có thể tìm thấy trong đó một dấu tay hoặc là một cái gì đó hữu ích.

Holmes khám nghiệm tờ giấy.

- Ông nghĩ sao, ông thanh tra?

- Hình như là đoạn kết cuộc của một cuốn tiểu thuyết.

- Chắc chắn là cái kết cuộc của một câu chuyện thường!

- Holmes nêu ý kiến - Ông có để ý các con số trên đầu trang là 245.

Vậy thì 244 trang kia đâu?

- Tôi đoán kẻ trộm đã cuỗm rồi.

- Dù sao cũng là chuyện lạ, kẻ trộm trèo tường vào, chỉ để đánh cắp mớ giấy đáng vứt vào sọt rác.

Ông có thắc mắc không, ông thanh tra?

- Có chứ.

Tôi cho rằng trong lúc vội vã, chúng đã gặp gì chôm nấy.

- Tại sạo chúng lại để ý tới đồ đạc của con trai tôi?

- Bà Maberley hỏi.

- Tại vì không có gì đáng giá dưới tầng trệt thì phải lên lầu thử thời vận.

Ông nghĩ sao, ông Holmes?

- Tôi còn phải suy nghĩ thưa ông thanh tra.

Hãy ra cửa sổ, Watson.

Đứng cạnh nhau, chúng tôi cùng đọc tờ giấy.

Bản văn bắt đầu ở giữa câu:

"...mặt chảy máu lai láng vì bị cắt và bị đánh thương không thấm vào đâu so với sự rướm máu của con tim nó, khi nó thấy cái khuôn mặt kỳ diệu - cái khuôn mặt mà nó tôn thờ - chứng giám sự ưu tư và nhục nhã của nó.

Cô cười nụ.

Chúa ơi.

Cô ta cười được?

Đồ quỷ cái!

Chính đó là lúc mối tình tắt lịm và nảy sinh sự thù hận.

Con người phải sống vì một mục đích gì đó.

Nếu tôi không sống để được nụ hôn của cô, cô nàng ơi, thì chắc hẳn cô sẽ bị tiêu vong vì sự phục thù quyết liệt của tôi".

- Câu cú gì quá lạ lùng - Holmes cười và trả tờ giấy lại - Đang ở ngôi thứ ba (nó) rồi bỗng đột ngột chuyển ông ngôi thứ nhất (tôi).

Tác giả mê viết tự thuật đến nỗi vào phút chót tưởng tượng mình là nhân vật chính.

- Văn sọt rác!

- ông thanh tra nói thì thầm rồi cất tờ giây vào cuốn sô - Ủa, ông về sao ông Holmes?

- Nội vụ đã được nhà cầm quyền lưu tâm rồi tôi có lý do gì để nấn ná lâu hơn.

Thưa bà Maberley, bà có nói với tôi rbà thích đi du lịch?

- Đó là giấc mơ xưa nay của tôi.

- Bà thích đi đâu?

- Ồ, nếu có đủ tiền, tôi muốn đi khắp thế giới.

- Bà thấy đúng đó.

Hãy chu du thế giới!

Xin tạm biệt bà.

Có thể tối nay, bà sẽ nhận được một lá thư của tôi.

Khi ra về, đi ngang cửa sổ, tôi thấy ông thanh tra cười và lắc đầu "có học thì phải điên điên?".

Đó là cái mà tôi đọc được trên môi của ông thanh tra.

- Anh Watson, giờ đây ta lên đường đi đến cái giai đoạn chót của chuyến đi ngắn này?

- Holmes nói với tôi.

Chúng tôi trở về khu trung tâm London.

- Tôi nghĩ rằng vụ này có thể giải quyết thật nhanh, tuy nhiên tôi thích anh đi theo, bởi vì nên có nhân chứng khi thương lượng với một người đàn bà có tầm cỡ như Isadora Klein.

Chúng tôi đi xe ngựa tới quảng trường Grossvener.

Holmes đột ngột ra khỏi cơn suy tư:

- Anh Watson, tôi đoa trong trí anh mọi sự đã sáng như ban ngày rồi, phải không?

- Chưa đâu!

Tôi đoán rằng chúng ta đang đi tới người đàn bà giật dây chuyện này?

- Đúng vậy?

Cái tên Isadora Klein không nhắc cho anh nhớ tới cái gì sao?

Nàng đẹp nghiêng nước nghiêng thành, là một người Tây Ban Nha thuần chủng, nàng có dòng máu của những nhà chinh phục.

Nàng lấy Klein, lão già người Đức biệt danh là Vua Đường.

Nhờ đó nàng nổi danh là người góa phụ đẹp nhất và giàu nhất thế giới.

Nàng có phiêu lưu một lúc, có nhiều nhân tình, trong số đó có cả Douglas Maberley, một trong những chàng hào hoa phong nhã nhất của London.

Theo lời đồn thì nàng và chàng có cái gì đậm đà hơn là một cuộc giao du ong bướm.

Anh chàng này thì không thể là một con ong, con bướm, mà là một mẫu người cao đẹp, hy sinh tất cả và cũng đòi được hy sinh tất cả.

Khốn thay, nàng thuộc loại đàn bà không chịu vấn vương.

Sau khi thỏa mãn, là đoạn tuyệt.

Nếu chàng ta u mê thì cô nàng biết cách mở mắt chàng.

- Vậy đây là chuyện tình của Douglas?

- Tôi mới nghe tin rằng nàng sẽ kết hôn với quận công Lomond, nhỏ tuổi hơn nàng rất nhiều.

Mẹ của quận công có thể coi thường sự so le tuổi tác, nhưng bà không thể coi thường một scandal tình ái lăng nhăng.

Do đó cô nàng cần phải...

Mà, tới rồi?

Đó là một trong những căn nhà đẹp nhất ở khu West End.

Một người hầu đưa tay nhận danh thiếp của chúng tôi, cứng đơ như người máy rồi quay lại cho hay rằng nữ chủ đi vắng.

- Được, - Holmes nói - Chúng tôi chờ vậy.

- Đi vắng, có nghĩa là đi vắng với hai ông - Người máy nói.

- Được - Holmes lặp lại - Có nghĩa là chúng tôi khỏi phải chờ lâu.

Chú em vui lòng trình thiệp này cho nữ chủ của chú em.

Holmes ngoáy vài ba chữ trên giấy, xếp lại rồi đưa cho người giúp việc.

- Anh viết gì vậy?

- Chỉ có năm chữ: "Vậy thì đến" Tôi tin rằng nàng sẽ ra tiếp chúng ta.

Một phút sau, chúng tôi được đưa vào phòng khách của cảnh 1001 đêm.

Tôi nghĩ rằng nữ chủ đã tới cái tuổi mà sắc đẹp vô song phải sóng đôi với sự chiếu sáng mờ ảo.

Khi chúng tôi bước vào, nàng đứng dậy khỏi tràng kỷ.

Vóc dáng cao, đi đứng bệ vệ như nữ hoàng, khuôn mặt thì cực kỳ giả tạo, đôi mắt đen Tây Ban Nha sắc bén như dao.

- Các ông đường đột như vầy để làm gì?

Cái danh thiếp hỗn láo này có nghĩa gì.

- Nàng hỏi và vẫy vẫy cái thiệp.

- Thưa bà, tôi thấy khỏi cần giải thích.

Tôi quá tôn kính trí thông minh tuyệt vời của bà.

Mặc dù cái trí thông minh đó đã cùn đi mấy bữa nay!

- Chuyện gì vậy, thưa ông?

- Dễ thường mấy tên anh hùng rơm do bà thuê mướn có thể dọa nạt, ngăn cấm được tôi làm nhiệm vụ nghề nghiệp.

Không ai dại gì chọn cái nghề như tôi nếu bẩm sinh họ không thích nguy hiểm.

Phải chăng chính bà đã buộc tôi nghiên cứu vụ anh chàng thanh niên Douglas Maberley.

- Tôi không hiểu gì về những lời ông vừa nói .

Tôi có dính dáng gì đến mấy tay anh hùng rơm nào đó!

Holmesquay mặt đi như mệt mỏi.

- Rõ ràng là tôi đánh giá sai cái trí thông minh của bà.

Thôi Xin tạm biệt.

- Hãy đứng lại, ông đi đâu?

- Tới Scotland Yard.

Chúng tôi chưa ra tới cửa chính thì nàng đã chạy theo và nắm cánh tay của Holmes.

Từ sắt thép nàng chuyển qua nhung lụa ngay.

- Kính mời hai vị ngồi.

Chúng ta nói chuyện thêm một chút nữa.

Tôi cảm thấy tôi có thể thành thật với ông, thưa ông Holmes, ông có tình cảm của người quý phái.

Bản năng đàn bà phát hiện điểm này nhanh lắm.

Tôi muốn xem ông là bạn tri âm tri kỷ.

- Tôi không ể hứa chuyện "có đi có lại", thưa bà.

Tôi không phải là luật pháp, nhưng tôi đại diện cho lẽ phải trong chừng mực mà các khả năng khiêm nhường của tôi cho phép.

Tôi sẵn sàng nghe bà và tôi sẽ cho bà biết tôi sẽ hành động ra sao.

- Có lẽ tôi đã cực kỳ ngu muội khi sai người đi hù dọa một người dũng cảm như ông?

- Thưa bà, cái ngu muội là bà đã tự đặt mình trong tay một băng lưu manh; sau này chúng có thể tống tiền bà, hoặc tố cáo bà.

- Không, tôi không ngu muội đến thế!

Vì tôi đã hứa sẽ thành thật với ông, tôi xin khẳng định với ông rằng ngoại trừ Barney và vợ nó là Susan, không ai khác biết danh tánh người giật dây.

Hai đứa này, thì ai còn lạ gì...

Nàng cười nụ, quẹo cái đầu làm dáng một cách vô cùng quyến rũ .

- Tôi hiểu.

Bà thử thách chúng rồi à?

- Chúng nó là những con chó ngoan, lăng xăng chạy theo chủ.

- Cái loại khốn nạn đó, không chóng thì chầy chúng sẽ cắn ngược lại chủ.

Chúng sẽ bị bắt vì cái tội trộm.

Cảnh sát đang truy lùng chúng.

- Chúng phải gánh lấy hậu quả một mình thôi.

Tôi không ra tòa vì vụ này đâu.

- Trừ khi tôi đưa bà ra!

- Không đâu, ông sẽ không làm như thế.

Ông là người mã thượng.

Chuyện bí mật của phụ nữ mà.

- Trước tiên, bà phải trả lại cái bản thảo.

Nàng bật cười và đi về hướng lò sưởi, lấy que cời than quậy tán loạn.

- Phải trả lại à?

Trong lúc đứng trước mặt chúng tôi với một nự cười thách thức, nàng có vẻ bướng bỉnh và hấp dẫn đến nỗi tôi đoán rằng trong đám tộiHolmes phải đương đầu, chỉ có nàng là người làm cho Holmes nhức đầu nhất, tuy rằng tôi biết rõ anh là người chai như đá.

- Đó là điều làm cho đời bà tiêu tan - Holmes nói một cách lạnh lùng - Bà là người rất nhanh tay, nhưng trong vụ này, bà đi hơi xa.

Nàng liệng que cời than, la to:

- Ông thật là khắc nghiệt.

Tôi xin phép kể hết câu chuyện.

- Tôi cho rằng bà có quyền đó.

- Nhưng tôi thiết nghĩ ông phải hiểu chuyện đó theo quan điểm của một người đàn bà đột ngột nhận chân rằng tất cả tham vọng của cuộc đời mình có thể bị tiêu tan vào phút chót.

Một người đàn bà như thế có đáng trách hay không, lúc bà ấy xoay xở để tự vệ?

- Tội gốc do ai phạm vậy?

- Đồng ý với ông.

Douglas đẹp trai thật đó, nhưng khốn thay nó không phù hợp với các dự tính của tôi.

Nó muốn lấy tôi.

Lấy tôi, thưa ông Holmes.

Nó là một thằng trung lưu, nghèo kiết xác.

Vì tôi trót trao thân, nó nghĩ rằng tôi phải mãi mãi là của nó.

Không thể nào chịu đựng được Cuối cùng tôi phải làm cho nó hiểu?

- Bằng cách thuê côn đồ hạ nó dưới cửa sổ của bà.

- Ông có vẻ biết hết mọi việc.

Đúng như thế!

Barney và tay chân đã đuổi nó, và tôi nhìn nhận, đã xử sự hơi thô lỗ.

Kế đó, nó làm gì?

Không bao giờ tôi ngờ rằng một người đàn ông có thể trù tính một chuyện hèn hạ đến thế.

Nó viết một cuốn sách trong đó nó tường thuật đời tư của nó.

Đương nhiên, trong đó tôi là con sói, nó là con cừu non.

Nó kể từng li từng tí, đương nhiên dưới nhưng tên khác.

Tuy nhiên, ở London này ai mà không nhận ra chúng tôi?

Ông thử xét xem?

- Suy cho cùng, nó có quyền đó?

- Như thể không khí Ý đã thâm nhập vào huyết quản của nó, tiêm vào máu cái nọc ác độc kỳ cựu của dân tộc Ý.

Nó có viết thư cho tôi, có gởi cho tôi một bản thảo để tôi đau khổ vì lo sợ.

Nó tiết lộ nó có hai bản: một bản cho tôi và một bản cho nhà xuất bản.

- Làm sao bà biết nhà xuất bản từ chối?

- Tại vì tôi đã dò hỏi và biết nhà xuất bản là ai.

Rồi thình lình ngay sau đó tôi nghe Douglas chết.

Còn bản thảo kia có thể bị xuất bản, tôi cảm thấy không an tâm.

Bản này chắc chắn nằm trong đồ đạc của Douglas sẽ được chở về trả cho mẹ nó.

Tôi vận dụng ngay cái băng lưu manh.

Susan xin vào làm tôi tớ cho bà Maberley.

Tôi muốn hành động một cách lương thiện thôi.

Thật thế, tôi sẵn sàng mua ngôi nhà với tất cả những thứ gì nó chứa.

Tôi chấp thuận cái giá bà ấy đưa ra.

Tôi chỉ dùng phương án hai khi mà phương án thứ nhất bị thất bại.

Giờ đây, ông xét xem, dù rằng tôi quả có nghiệt ngã với Douglas, tôi có thể làm gì khác khi mà tương lai tôi lâm nguy?

Holmes vươn vai.

- Được.

Tôi đoán rằng tôi sẽ thỏa hiệp với tội ác.

Đi chu du thế giới hạng nhất tốn bao nhiêu, thưa bà?

Người thiếu phụ trẻ nhìn anh ta với nét hoảng hốt.

- Không hơn 5.000 bảng đâu.

- Không, tôi không tin là đắt đến thế.

Được Yêu cầu bà vui lòng ký một chi phiếu, với số tiền đó tôi sẽ lo gởi nó đến tận tay bà Maberley.

Bà cần cho bà cụ đó đổi gió.

Trong khi chờ đợi, bà...

Holmes giơ một ngón tay cảnh cáo.

- Coi chừng chơi dao có ngày đứt tay!

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
F5 Ma cà rồng vùng Sussex


MA CÀ RỒNG VÙNG SUSSEX

THE ADVENTURE OF THE SUSSEX VAMPIRE (1924)

The Case Book of Sherlock Holmes

Tàng thư của Sherlock Holmes

Holmes đọc kỹ một bức thư rồi cười và trao cho tôi.

- Anh Watson, anh nghĩ sao về những chuyện pha trộn cái hiện đại với cái trung cổ, cái thực tế với cái ma quái cổ sơ Đây là một chuyện tiêu biểu?

Tôi đọc thư.

"46 Old Jewry, ngày 19 tháng 1 1 l/ụ ma cà rồng.

Thưa ông, Khách hàng của chúng tôi, ông Robert Ferguson, thuộc công ty Ferguson và Muirhead, buôn trà tại Mincing Lanh, có gởi thư hỏi chúng tôi vài câu về ma cà rồng.

Vì công ty chúng tôi không chuyên về chuyện này, chúng tôi chuyển theo đây lá thư của Robert gạ cho ông.

Chúng tôi không quên sự thành công của ông trong các vụ đã qua.

Trân trọng hình chào ông, '

Morrison, Morrison và Dodd."

-Chúng ta biết gì về ma cà rồng?

-Chúng ta mà cũng đi điều tra về ma cà rồng hay sao?

- Có việc để làm còn hơn là phải ngồi không?

- Quả thật người ta đưa chúng ta vào không khí của chuyện cổ tích.

Anh Watson, xin vui lòng với lấy cuốn sách!

Và chúng ta cùng xem mục "ma" nói gì?

Tôi quay ra sau, với lấy cuốn sách tham khảo đưa cho Holmes.

Anh đặt nó trên đầu gối, rồi từ từ đọc danh sách các vụ điều tra trước đây.

- Chuyến đi của con tàu Gloria Scott.

Vụ nhớp nhúa!

Victor Lynch, người mạo hóa.

Thằn lằn có nọc.

Người đẹp của gánh xiếc..

Đủ cả.

Nghe đây, Watson!

Ma- cà-rồng ở Hung-ga-ri, Ma-cà-rồng ở Transyvanie?

Holmes lật nhanh các trang giấy, cắm cúi đọc, nhưng chỉ một lát sau thì vứt cuốn sách, rồi thốt lên một câu thất vọng:

- Chả có gì.

Đọc làm gì các chuyện xác chết đi dạo nếu không bị đóng cọc giữa tim và ghim chặt vào cái hòm?

Chuyện điên rồ?

- Nhưng mà ma-cà-rồng đâu bắt buộc phải là người chết.

Người sống vẫn có thể là ma-cà-rồng.

Tôi có đọc một chuyện quái vật hút máu trẻ em để trường sinh bất tử.

Anh có lý.

Chuyện này eo trong danh mục của tôi, nhưng chả lẽ mình lại nghe theo những chuyện nhảm nhí đó Thế giới này đủ rộng để chúng ta hoạt động, đâu cần đến chuyện ma quái.

Nhưng, lá thư của ông ta có lẽ cọ những tin tức chính xác hơn.

Holmes lấy lá thư thứ hai ở trên bàn, đọc nó rồi cười thích thú.

Đọc xong, anh yên lặng hồi lâu, lá thư rung rung trên tay.

Cuối cùng anh đột ngột rời khỏi giấc mơ.

' - Cheeseman's Lamberley.

Lamberley nằm ở đâu, anh Watson?

- Trong vùng Sussex, phía nam của Horsham.

Đâu có xa nhỉ?

- Còn Cheeseman's?

- Tôi không biết.

Ở đó có nhiều ngôi nhà xưa hằng mấy thế kỷ, mang tên những người có công xây cất chúng,.. như là: Odley's, hoặc Harvey's, hoặc Camton' s.

Con người bằng xương bằng thịt thì đã bị trôi vào quên lãng nhưng tên họ vẫn sống trong căn nhà của họ.

- Đúng thế.

Tôi có cảm giác rằng chúng ta sẽ biết rõ hơn về Cheesemanls Lamberley.

Đúng như tôi đã hy vọng, Robert Ferguson gởi bức thư này.

ông ta quen với anh đấy.

ông ta quen tôi?.

- Đọc đi

Holmes đưa thư cho tôi.

"46 Old Jewry, ngày 19 tháng 1 1

Thưa ông Holmes, Các luật sư của tôi khuyên tôi tiếp xúc với ông, nhung đây là một câu chuyện rất khó trình bày.

Nó liên quan tới một người bạn của tôi.

Tôi nhân danh người này mà tiếp xúc với ông.

Cách nay năm năm, ông bạn tôi cưới một bà vợ người xứ Pérou.

Cô gái rất xinh đẹp, nhưng cách sông và tôn giáo khác nhau, không mấy chốc đã làm xuất hiện những khác biệt về tình cảm giữa người chồng với người vợ.

Tình yêu của người chồng nguội lạnh, và anh ta không khỏi tự hỏi xem việc kết hôn vừa rồi có phải là một sai lầm không!

Đau khổ hơn cả, chính là việc nàng rất yêu thương anh ta và theo các biểu hiện bên ngoài thì nàng rất quyên luyến anh ta.

Giờ đây, ta hãy đi vào điểm chính.

Thư này chỉ có mục đích cho ông biết tình hình một cách khái quát và hỏi xem ông có vui lòng giúp đỡ không.

Vợ bạn tôi bắt đầu biểu hiện một nét quái dị, hoàn toàn trái ngược với cái dịu dàng và nét khả ái tự nhiên của nàng.

Chồng nàng có một đứa con trai với người vợ trước.

Thằng bé năm nay được 15 tuổi.

Tuy bị tật do một tai nạn lúc nhỏ, nó vẫn rất đẹp và hiếu thảo.

Đã hai lần vợ của bạn tôi bị bắt gặp đang đánh đập thằng bé.

Có lần nàng đánh nó bằng gậy, đánh mạnh đến nỗi hiện nay một cánh tay của nó bị yếu đi.

Nhưng chuyện đó không thấm vào đâu so với cái cách mà nàng đã cư xử với chính con trai nàng, chưa tròn một tuổi.

Cách đây một tháng, người vú để cháu bé nằm một vài phút ở trong phòng.

Bỗng bà ta nghe đứa bé la thất thanh, bèn vội chạy vào, bà thấy mẹ ruột của đứa bé cúi xuống cắn ngay gần cổ nó, vết thương nhỏ lồ lộ, máu còn chảy.

Kinh hoàng, người vú muốn báo cho người cha, nhưng người mẹ năn nỉ và biếu cho người vú 5 đồng bảng đề bà này giữ bí mật.

Nàng không hề giải thích gì về hành động đó và nội vụ trôi qua.

Nhưng làm sao xóa được cảm giác kinh tởm trong tâm trí người vú.

Từ đó, bà vú canh nữ chủ một cách nghiêm ngặt và luôn luôn túc trực bên đũa bé.

Bà thấy rằng trong khi bà canh người mẹ thì người mẹ cũng canh bà và mỗi lần bà phải rời đứa bé thì người mẹ vội vã tới gần.

Nếu ngày lẫn đêm, người vú canh giữ thì ngày lẫn đêm, người mẹ rình rập bà vú.

Đương nhiên ông thấy là khó. tin nhưng tôi mong ông hiểu đây là chuyện có thật..

Cuối cùng, cái ngày khủng khiếp đã đến: thần kinh của người vú không còn chịu đựng được sự căng thẳng, bà bèn nói huỵch tẹt với người cha.

Thưa ông Holmes, bạn tôi thừa biết rằng vợ nó yêu thương nó rất mực và là một bà mẹ rất tận tuy, ngoại trừ các sự bạc đãi dành cho đứa con ghẻ.

Do đó nó không tin!

Nó bảo bà vú từ nay trở đi đừng có nói bậy bạ nữa.

Nhưng trong lúc hai người đang bàn chuyện với nhau thì lại vang lên tiếng la của đứa bé.

Người vú và ông bà chủ hối hả chạy vào phòng.

Bạn tôi thấy vợ nó đứng dậy và máu từ trên cổ của đứa bé chảy vuông tấm ga.

Bạn tôi hốt hoảng, kéo mặt vợ ra ánh sáng.

Có vệt máu trên môi nàng.

Rõ ràng chính nàng uống máu của đứa bé.

Câu chuyện hiện ngừng tại điểm này.

Người mẹ hiện nằm ì trong phòng.

Tuyệt đối không giải thích một tí nào.

Bạn tôi gần như điên.

Nó, cũng như tôi, chúng tôi chẳng biệt gì về ma-cà-rồng.

Chúng ta có thể cùng nhau tìm hiểu được không Thưa ông Holmes, ông có tiếp tôi không ông có đồng ý dùng cái tài năng siêu việt của ông để cứu giúp một người đang bấn loạn tinh thần Nếu chấp nhận, ông đánh điện cho Ferguson và tôi sẽ đến vào ' 10 giờ ngày mai.

Trân trọng Robert Ferguson

TB: Tôi còn nhớ ông bạn thân Watson chơi bóng bầu dục ở đội Blackheath.

Tôi là thằng trung vệ của đội Richmond.

Đó là điểm tự giới thiệu độc nhất mà tôi có thể đưa ra trong hiện tại."

Đương nhiên là tôi nhớ y - Tôi nói và để thư xuống Rô-be-mập, thằng trung vệ giỏi nhất của đội Richmond.

Lúc nào nó cũng vui vẻ.

Tôi mường tượng được cảnh nó lo âu cho bạn nó.

Holmes liếc mắt nhìn tôi và lắc đầu..

- Tôi không bao giờ thấy được hết khả năng của anh, anh Watson.

Anh có nhiều khả năng tiềm tàng lắm.

Nè! anh nhờ người đi gởi bức điện tín này, vì a người tốt bụng: "ông Rô-be, chúng tôi vui vẻ xét trường hợp của ông".

Trường hợp của thằng Rô- be!.

' - Đừng để nó lầm tưởng rằng cơ sở này được điều hành bởi những thằng ngốc.

Đây đúng là trường hợp của chính nó.

Thuở xưa, Rô-be là một lực sĩ cao lêu nghêu, dẻo' dai, chạy nhanh như gió.

Trên đời này không gì đau đớn cho bằng khi phải chứng kiến "cái ngày già" của một lực sĩ mà mình quen biết lúc thịnh. thời.

Lưng đã còng, tóc rụng gần hết, vai đã xệ.

Chào anh Watson - Nó nói với giọng vẫn còn nồng nàn ấm áp - Anh không còn giống hẳn con người cua "Công viên Con Nai già".

ôi cũng có thay đổi chút ít.

Nhưng chính mấy ngày qua mới làm tôi già đi thực sự.

Điện tín của ông, thưa ông Holmes, dạy tôi biết rằng khỏi cần đóng kịch là đại diện của ai cả?

Nói thẳng nói thật thì có lợi cho công việc hơn.

- Holmes đáp.

- Đúng vậy.

Nhưng ông hãy tưởng tượng cái khó của tôi khi phải nói về người đàn bà mà tôi rất mến yêu.

Tôi có thể làm gì bây giờ?

Tố cáo với cảnh sát?

Nhưng tôi cũng cần phải bảo vệ hai thằng con trai nữa?

Nàng điên rồi, phải không ông Holmes?

Một tật xấu di truyền?

Có bao giờ ông gặp một trường hợp tương tự không ông hãy giúp tôi, tôi tuyệt vọng rồi!

Không có gì lạ lùng lắm đâu ông.

Rô-be!

Giờ đây ông hãy ngồi xuống, hãy lấy lại bình tĩnh.

Tôi cần nhưng câu trả lời chính xác và gọn ghẽ.

Phần tôi, tôi bảo đảm với ông rằng tôi sẽ tìm ra giải đáp.

Trước hết ông hãy cho tôi biết, ông đã quyết định nhưng gì?

Vợ ông còn ở cạnh mấy đứa con thứ?

- Chúng tôi đã cãi nhau dữ dội.

Đó là một người đàn bà rất yêu chồng.

Nàng đau khổ biết bao khi tôi phát hiện ra cái bí mật kinh tởm của nàng.

Nàng không nói gì.

Tôi trách móc, nàng không hề trả lời, chỉ nhìn tôi một cách tuyệt vọng rồi chạy vào nằm luôn.

Từ đó, nàng từ chối gặp tôi.

Nàng có một tớ gái phục vụ từ trước khi lấy tôi Cô ta tên là Đô-Lo.

Đúng ra là một cô bạn thân.

Chính Đô Lo mang cơm cho nàng.

- Hiện thời đứa bé không có gì nguy ngập phải không?

- Bà vú thề với tôi là sẽ không bao giờ rời nó, dù ngày hay đêm.

Tôi có thể tin tưởng vào bà ta.

Tôi hơi lo cho thằng Jack đấy bị xử tệ hai lần như tôi đã nói trong thư.

- Nàng có cắn Jack đâu?

- Nhưng nàng đánh đập nó một cách tàn bạo.

Việc này tệ hại hơn bởi vì Jack là một kẻ tàn tật.

Khuôn mặt của Rô-be dịu đi.

- Theo tôi thì ai cũng phải động lòng trước tình trạng đáng thương của nó.

Vì nó té nên nó bị trật xương sống.

Nó vô cùng hiếu thảo, thưa ông Holmes.

Holmes đem cái thư hôm trước ra đọc lại.

- Nhà ông gồm có những ai?

Hai tôi tớ mới vào làm.

Một thằng bé giữ ngựa ngủ lại đêm.

Vợ tôi, thằng Jack, đứa bé sơ sinh, cô Đô-Lo và bà vú ,tất cả chỉ có bấy nhiêu thôi.

- Tôi đoán rằng lúc cưới vợ, anh chưa biết về vợ anh nhiều lắm đâu?

- Ạ - Tôi quen nàng có vài tuần! ,

- Đô-Lo phục vụ bà ấy bao lâu rồi?

- Vài năm..

- Như vậy Đô-Lo hiểu rõ vợ anh hơn anh?

- Ông có lý.

Ạ Holmes ghi vài chữ..

- Tôi sẽ hữu í tại Lamberley hơn là ở tại đây.

Trường hợp này đặc biệt, cần phải hỏi từng người.

Nếu vợ ông vẫn còn nằm trong phòng thì ông phải tránh, không để sự hiện diện của chúng tôi làm bà ấy bực bội hoặc buồn phiền.

Chúng tôi sẽ ngụ tại quán của làng.

Rô-be cảm thấy nhẹ nhõm.

- Chính đó là điều tôi mong mỏi.

Lúc 2 giờ sẽ có chuyến tàu tại ga Vitoria, nếu ông có thể đi.

- Chúng tôi sẽ đi chuyến đó.

Đương nhiên, Watson sẽ đi theo tôi.

Nhưng trước khi lên đường, tôi cần biết chính xác vài chi tiết.

Người đàn bà bất hạnh đó, đã bị bắt quả tang xử sự tệ hại với hai đứa bé?

Đúng.

- Nhưng hai cái xử tệ này không giống nhau, phải không?

- Bà ấy đập Jack.

Một lần đập bằng gậy, lần sau thì bằng tay, mà rất là tàn tệ.

- Bà ấy có giải thích không?

- Nàng chỉ nói là ghét nó.

Nàng nói đi nói lại nhiều lần như thế.

- Mẹ ghẻ mà!

Chúng tôi gọi là ghen với người quá cố.

-Bà ấy có bản chất ghen dữ dội?

-Đúng!

-Ghen quá lố!

-Còn thằng bé..

Nó đã mười lăm tuổi, có thể nó có trí tuệ rất phát triển vì thân xác nó bị hành hạ.

Nó có giải thích cho ông biết tại sao nó bị đánh như thế không?

- Không, nó bảo nó không làm gì nên tội?

- Thường ngày thì hai người ấy hòa thuận với nhau chứ?

- Không!

-Không bao giờ eo sự êm thấm giữa mẹ ghẻ con chồng!

-vậy tại sao ông nói nó rất mực hiếu thảo?

- Trên đời này tôi chưa thấy có thằng con trai nào quyến luyến bố nó như Jack.

Cuộc đời tôi là cuộc đời của nó.

Nó mê say theo dõi những gì tôi nói hay làm.

Holmes lại ghi chép và suy nghĩ một lát.

- Hai cha con ông rất thân nhau trước khi ông tục huyền.

Cái tang làm cho hai người gần gũi nhau hơn, phải không?.

- Đúng vậy!

Thằng bé hiếu thảo như thế, có lẽ nó rất quý những kỷ niệm về mẹ nó.

- Phải.

- Chắc chắn đó là một thằng bé rất lý thú.

Xin hỏi thêm một chi tiết khác về các lần thằng bé bị đánh.

Việc đồi xử với bé sơ sinh và với Jack xảy ra cùng một ngày?

- Lần đầu thì đồng thời, nàng như là nổi điên vậy; nàng như muốn đổ nổi điên lên cả hai đứa.

Lần thứ nhì thì chỉ một mình Jack lãnh đủ.

Bà vú không nhận thấy đứa sơ sinh bị thương tích gì?.

- Rất rắc rối.

-Tôi thưa hiểu ông muốn nói gì

Tôi có thói quen đặt giả thiết tạm và chờ thời gian hoặc yếu tố mới chứng minh cho giả thiết đó ông Rô-be, chúng ta đâu có tài như thần thánh.

Tôi ngại rằng anh bạn Watson của ông đã khoác lác quá nhiều khi nói về các phương pháp khoa học của tôi.

ông cứ tin chắc là chúng tôi sẽ lên chuyến xe hai giờ tại ga Victoria.

Đêm đó trời đầy sương mù.

Sau khi để hành lý tại quán trọ, chúng tôi đi xe ngựa, băng qua vùng đất sét Sussex, dọc theo một con đường ngoằn ngoèo để đến cái trang trại cổ lỗ và cô lập.

Khắp nơi, cũ kỹ và đổ nát!

Rô-be đưa chúng tôi vào một phòng rộng thênh thang, có một lò sưởi đồ sộ kiểu năm 1670 đang cháy bừng bừng..

Tôi nhìn căn phòng, một sự pha trộn về thời đại và lục địa.

Tường gần như bị che khuất bởi những chạm trổ trên gỗ từ đời ông trại chủ thứ nhất cánh đây ba thế kỷ.

Phần dưới có những bức tranh bằng sơn nước hiện đại, đúng thẩm mỹ.

Trên cao, treo lủng lẳng một bộ sưu tập đẹp mắt về công cụ và vũ khí Nam Mỹ.

Holmes tò mò đứng lên chăm chú quan sát chúng.

Lát sau anh quay lại, đôi mắt đăm chiêu.

- Ồ ồ?

- Anh la to.

Một con chó xù tai quặp, rời cái thúng ở trong kẹt, lê lết tiến tới chủ nó.

Chân sau nó kéo lê khó khăn, đuôi lệt bệt dưới đất.

Nó tới liếm tay của Rô-be.

- Có chuyện gì vậy, ông Holmes?

- Con chó sao vậy?

- Nó bị bại xui, nay sắp lành rồi!

- Phải vậy không, Ca-lo?

Con chó run rảy như tán đồng, quơ nhẹ cái đuôi lệt bệt, đôi mắt buồn nhìn chúng tôi.

Nó biết chúng tôi thảo luận về trường hợp của nó.

- Chuyện xảy ra đột ngột hay sao?

Chi sau một đêm thôi.

- Lâu chưa?.

- Cách nay khoảng bốn tháng!

- Rất lý thú!

- Rất bổ ích?

- Ông thấy gì, ông Holmes?

- Một sự xác nhận?

- Xác nhận điều gì.

Đối với ông chỉ là một thắc mắc, còn với tôi là vấn đề sống chết .

Vợ tôi có thể là kẻ giết người' con tôi đang lâm nguy, thưa ông Holmes, ông không nên đùa giỡn với tôi.

Người cầu thủ bóng bầu dục run rẩy, Holmes để nhẹ một tay lên vai ông ta.

- Tôi biết rằng dù sự việc như thế nào, ông cũng đau khổ.

Do đó, tôi sẽ giúp ông tối đa.

Hiện nay tôi không thể nói nhiều hơn, nhưng trước khi ra về, tôi hy vọng có thể nói ra chính xác hơn.

- Cầu xin ơn trên tiếp tay với ông.

Xin phép hai ông cho tôi lên thăm xem có gì mới không Trong mấy phút ông ta vắng mặt, Holmes lại ngắm nghía các vật lạ trên tường.

Khi chủ nhà quay lại nét mặt bơ phờ của ông cho thấy không có tiến bộ gì!

Một cô gái lêu nghêu, khuôn mặt sạm nắng đi theo sau ông.

- Trà đã pha xong chưa, cô đô-lo- ông chủ nhà nói Hãy lo cho xong để bà ấy cần gì là có ngay' Bà nhà đau nặng lắm - Con bé nhìn ông chủ một Cánh lo lắng - Bà không muốn ăn.

Bà cần được một y sĩ.

chăm sóc.

Tôi sợ lắm, vì tôi eo biết gì về y khoa đâu?

" Rô-be nhìn tôi.

Qua đôi mắt, tôi hiểu anh ta muốn hỏi ý tôi.

- Tôi sung sướng giúp đỡ anh!

- Bà nhà chịu gặp bác sĩ Watson không

- Tôi đưa ông ấy lên - Cô Đô-Lo nói.

- Tôi đi theo cô ngay.

Cô gái cuống cuồng vì bị xúc động mạnh.

Tôi đi theo lên cầu thang và dọc một hành lang cổ lối đưa đến một cái cửa to.

Cô tớ gái 'tra chìa vào ổ khóa.

Hai cánh cửa gỗ sồi đồ sộ kêu răng rắc trên mấy cái bản lề.

Tôi bước vào, cô ta bám theo và cánh cửa được đóng ngay lại.

Trên giường, một người đàn bà nằm dài, rõ ràng đang sốt dữ dội.

Nàng không tỉnh hẳn.

Tuy nhiên, khi tôi vào, tôi vẫn thấy đôi mắt đẹp đang kinh hoàng nhìn tôi.

Thấy người lạ mặt đến gần, nàng an lòng, gục trở lại xuống gồi rồi thở dài.

Tôi nói vài câu trấn an, rồi bắt mạch và lấy nhiệt độ.

Tôi có cảm giác rằng bệnh tình của nàng là hậu quả của một sự kích thích tâm thần!

- Bà như vầy đã hai ngày nay.

Tôi sợ bà chết - Cô Đô Lo nói..

Bà Rô-be quay về phía tôi, hỏi:

- Chồng tôi đâu?

- Ở dưới nhà.

-ông muốn vào thăm bà.

- Tôi sẽ không bao giờ chịu gặp ông ta.

Rồi nàng nới luôn miệng như đang trong cơn mê.

- Một con quỷ, một con quỷ' ?

Tôi phải làm gì với con quỷ này

- Tôi có thể giúp bà, hoặc về mặt này hoặc về mặt nọ

- Không?

Không ai giúp tôi được.

Dù có làm gì, cũng đã tan nát cả rồi.

- Thưa bà, chồng bà rất thương yêu bà.

ông hiệp đau khổ nhiều về chuyện vừa xảy ra.

Bà lại quay về hướng tôi, đôi mắt đẹp tuyệt trần!

- Ông ấy thương tôi?

Đúng!

Phần tôi, bộ tôi không thương ông ấy sao?

Thà hy sinh còn hơn là làm cho tim ông ấy tan nát?

Đáp lại, ông ấy lại liệt tôi vào các lọai người mà ông ấy dám nghĩ

- Ông ấy đau khổ dữ dội vì không hiểu nổi sự việc!

- Làm sao hiểu nổi?

- Nhưng phải tin tôi chứ?

- Bà có muốn gặp ông ấy không?

- Không, tôi không thể quên các lời khủng khiếp đó.

Tôi không thể xua đuổi cái nhìn đó trên mặt ông ta.

Tôi không muốn gặp ông ta.

Giờ đây, ông hãy đi đi!

ông không thể cứu tôi được đâu.

Ông vui lòng nhắn với ông ấy một điều: trả con tôi cho tôi?

Tôi có quyền đối với con tôi?

Đó là điều độc nhất mà tôi muốn nói với ông ấy.

Tôi xuống nhà.

Rô-be và Holmes đang ngồi bên bếp lửa.

Chủ nhà buồn bã nghe tôi thuật lại.

- Đâu có thể đưa đứa bé lên đó được

Rô-be nói

- Biết nàng nổi cơn lúc nào.

Làm sao quên được cảnh nàng ngẩng đầu lên với máu me đầy miệng?

Cảnh này làm ông ta rùng mình' - Đứa bé được an toàn khi ở với bà vú - ông ta nới tiếp - Để yên đứa bé tại đó đi?

Một tớ gái dọn trà ra.

Trong lúc cô rói trà, cửa mở và một cậu bé trai bước vào phòng.

Mặt tái mét, tóc hoe, mắt xanh.

Khi nhìn thấy cha nó, nó nhảy bổ tới, ôm lấy cổ âu yếm.

-Ồ, ba- Nó la lớn - Con không ngờ ba đã về rồi.

Nếu biết con đã đi đón ba.

ô, gặp lại ba, sung sướng làm sao!

Rô-be khôn khéo từ từ thoát ra khỏi sự ôm ấp này.

- Con trai của ba- ông ta vừa nói vừa xoa đầu cậu bé một cách trìu mến - Ba về từ sớm vì hai bác đây - ông Holmes và bác sĩ Watson - chấp thuận đến chơi với chúng ta một đêm..

- Thám tử Sherlock Holmes?

- Đúng rồi.

Thằng bé nhìn chúng tôi đăm đăm, nhưng hình như thiếu thiện cảm.

- Còn thằng bé kế của ông, ông Rô-be?

- Holmes hỏi - Chúng tôi muốn xem mặt cháu nhỏ.

- Con nói với bà vú đem em xuống đây!

Rô-be ra lệnh.

Thằng bé bước ra.

Dáng đi dị thường, lê lết, triệu chứng của xương sống yếu kém.

Một lúc sau, nó quay lại.

Theo sau nó là một người đàn bà dong dỏng cao, tay bế một đứa bé rất đẹp, mắt đen, tóc vàng óng.

Rô -be bế thằng bé, nâng mu nó.

- Không ai đủ can đảm làm cho đứa be đau?

- Ông ta thì thầm và nhìn cái thẹo nhỏ màu đỏ trên cuống ho của đứa bé.

Vào lúc đó tôi tình cờ nhìn Holmes thì thấy mặt anh ấy se lại.

Đôi mắt lạnh lùng của anh nhìn người cha và đứa bé, sau đó lại đăm đăm nhìn vào một điểm bên ngoài căn phòng.

Tôi chắc anh đang quan sát cái gì ở bên ngoài, dường như Holmes đang tập trung thị giác vào cánh cửa sổ.

Rồi Holmes cười nụ và lại tiếp tục nhìn đứ a b é.

Trên cái cổ hồng hào của nó, có một vết đỏ nhỏ.

Không nói lời nào, anh nhìn kỹ cái vết này.

Cuối cùng anh bắt tay nó?.

Cháu bé đã có một điểm dị thường khi bước vào đời Bà vú, tôi muộn gặp riêng bà...

Holmes kéo bà vú ra một góc và trang trọng nói chuyện với bà ấy..

- Tôi hy vọng nỗi lo âu của bà đã kết thúc rồi.

Sau đó, bà vú có vẻ thuộc loại người bướng bỉnh và lầm lì, bế bé đi ra khỏi phòng.

- Bà vú là người như thế nào?

- Holmes hỏi.

Tuy bề ngoài trông không dễ thương, nhưng bà ta có quả tim vàng và thương thằng bé lắm.

- Còn cháu Jack!

- Cháu thương bà vú không?

Đột ngột Holmes quay sang Jack.

Mắt nó vốn lay động, linh hoạt bỗng sa sầm ngay.

Nó lắc đầu.

- Jack là một người đam mê, biết thương, biết ghét - Rô -be vừa nói vừa ôm con trai"May thay, tôi thuộc nhóm người nó thương ...

Thằng bé bắt đầu nói líu lo với bố rồi rúc đầu vào nách bố.

ông này đẩy ra.

- Thôi con đi chơi - Rô-be nói một cách êm ái.

Nhìn con ra đi âu yếm, rồi quay về hướng Holmes, ông ta nói:

Tôi đã đưa hai ông vào một vụ kỳ lạ.

Theo quan điểm của ông, chắc chắn ông thấy vụ này cực kỳ tế nhị và phức tạp.

- Chắc chắn là tế nhị - Holmes vừa nói vừa cười - Nhưng không phức tạp lắm.

Khởi sự là suy luận.

Khi sự suy luận này được xác nhận từng điểm bởi một loạt biến cố ngẫu nhiên, thì ta eo thể kết luận rằng mục đích ta đã ' đạt Trong thực tế, tôi đã có kết luận trước khi ra đi và mấy bước sau này chỉ là nhưng kiểm khứng.

Rô-be để bàn tay to tướng trên trán của mình.

- Thưa ông Holmes, nếu ông đã tìm thấy chân lý, xin đừng để tôi hồi họp.

- Tôi phải làm gì?

- Tôi bắt buộc phải giải thích.

Tuy nhiên ông có đồng ý cho tôi giải quyết nội vụ theo lối của tôi không?

là bà có thể tiếp chúng ta không, anh Watson?

- Bà ấy bệnh nhưng rất biết điều.

- Được.

-Phải có sự hiện diện của bà ấy, chúng ta mới có thể làm sáng tỏ mọi việt.

Ta hãy lên trên đó.

-Nàng đâu chịu gặp tôi.

- Rô-be la lớn.

- Chịu chứ sao không - Holmes nói,iết vài dòng trên một tờ giấy - Anh Watson, anh được đặc quyền, xỉn anh vui lòng trao tờ giấy này cho bà Rô-be.

Tôi leo lên cầu thang trao tờ giấy cho cô Đô-Lo này thận trọng chỉ hé cửa mà thôi.

Một phút sau, tôi nghe một tiếng la ở trong phòng.

Tiếng la trộn lẫn sự vui m và ngạc nhiên.

Cô đô-lo bước ra:

- Bà ấy sẵn sàng tiếp, bà ấy sẽ lắng nghe.

Tôi gọi Rô-be và Holmes.

Khi chúng tôi vào, Rô-be tiến về phía vợ nhưng nàng dùng tay làm dấu ngăn lại.

Người chồng buông mình xuống ghế bành, trong lúc đó Holmes trịnh trọng cúi chào nữ chủ nhà rồi ngồi cạnh người chồng.

- Tôi nghe rằng cô Đô-Lo không cần ở đây

Holmes nói - Vâng, được thôi, thưa bà, nếu bà muốn, cô ấy cứ ở lại, tôi thấy không có gì bất tiện cả.

Thưa ông Rô- be! tôi là một người rất bận việc.

Do đó tôi xin vào đề ngay.

Trước hết tôi xin nói điều anh cần biết nhất: bà Rô-be rất tốt, rất tận tình với gia đình, nhưng bà lại là nạn nhân của một sự bất minh lớn lao do ông gây ra.

Rô-be nhảy dựng lên.

- Ông hãy chứng minh điều đó.

Tôi sẽ mang ơn ông. suốt đời

- Tôi sẽ chứng minh cho ông, nhưng tôi báo trước rằng sau đó ông sẽ đau đớn vô cùng!.

- Chả sao!

Tôi cần ông tẩy xóa mọi nghi ngờ đối với vợ tôi.

Trên đời này không có gì quý hơn điều đó.

- Vậy tôi sẽ tiết lộ cái lý luận của tôi trước khi tôi lên đường đến đây.

Ngay từ đầu, tôi bác bỏ ý tưởng ma-cà-rồng ở nước Anh, không bao giờ có cái tội ác này.

Tuy nhiên, ông có nêu ra một nhận xét chính xác này: ông thbà nhà ngẩng đầu khỏi cái nôi của bé với máu ở trên môi bà.

- Đúng thế!

- Có bao giờ ông nghe rằng một vết thương bị hút chưa chắc là để lấy máu mà là để chữa lành vết thương?

Trong lịch sử của Anh quốc, một nữ hoàng đã hút một vết thương để lấy chất độc ra, ông còn nhớ không?

- Thuốc độc - ông đã nhìn kỹ những kỷ vật của Nam Mỹ.

Do trực giác, tôi đã đoán biết sự hiện diện của các vũ khí trên tường.

Thuốc độc có thể phát sinh từ một người khác, tuy nhiên tôi đã nghĩ tới mấy cái vũ khí đó.

Khi tôi thấy cái ống bên cạnh cái cung bắn chim, thì tôi cho rằng điều tôi nghi ngờ là đúng.

Nếu bé sơ sinh bị chích bởi một trong các mũi tên tẩm chất độc cu-ra hay một chất độc ma quái khác, thì sự chết sẽ mau chóng xảy đến, nếu không hút nó ra kịp.

- Còn con chó?

- Khi tôi thấy nó gần như bại xui, thì tôi hiểu "ngay.

Cái cảnh tượng con chó lê lết rất ăn khớp với lý luận của tôi.

Bây giờ, ông hiểu chưa nào?

Vợ ông sợ loại chất độc này, vì bà nhà đã thấy một lần ở đâu đó, nhờ vậy bà ấy đã cứu mạng đứa bé.

Bà ấy không muốn nói hết sự thật với ông, vì bà biết rằng ông thương các con ông, sợ ông lo buồn.

- Còn Jack?

- Tôi có quan sát nó.

Lúc nãy, khi ông đưa đứa bé xuống, gương mặt của Jack được phản chiếu rõ ràng trên kiếng cửa sổ.

Tôi thấy rõ có một sự ghen tuông, thù hận ác độc.Tôi chưa hề thấy khuôn mặt hận thù nào cao độ đến thế đó - Jack là vô vàn yêu quý của tôi!

- Ông phải chấp nhận, ông Rô- be.

Đó là một thứ tình yêu. méo mó, cháu Jack quá yêu ông và quá yêu người mẹ quá cố, nên cháu có thể làm chuyện rồ dại.

Cháu dốc toàn tâm trí vào sự hận thù và ghen ghét đối với đứa bé xinh đẹp.

Cái đẹp và sức khỏe này tương phản , với tật nguyền của riêng cháu!

- Chúa ơi!

Kinh hãi quá!.

- Tôi nói đúng không, thưa bà

Bà Rô-be khóc nức nở, vùi mặt vào gối.

Bà quay về phía chồng.

- Làm sao tiết lộ với anh được.

Tôi biết anh sẽ đau khổ dường nào.

Tôi phải cắn răng chịu đựng thôi, chờ sự thực được nói ra từ cửa miệng của người khác hơn là của chính tôi.

Khi ông này có quyền năng siêu nhiên, viết giấy cho tôi hay rằng ông biết hết, tôi mừng vô hạn...

- Cái toa thuốc của tôi là phải đưa cậu Jack đi nghỉ mát một năm tại bờ biển

- Holmes vừa nói vừa đứng lên - Tuy nhiên còn một điểm chưa được sáng tỏ, thưa bà...

Chúng tôi hiểu rõ tại sao bà hung dữ với Jack: sự kiên nhẫn của một người mẹ có những hạn chế của nó.

Nhưng tại sao bà dám bỏ bê đứa bé hai ngày nay?

- Tôi đã căn dặn bà vú tường tận rồi.

- Được lắm!

Đúng như tôi đã dự đoán.

Rô-be rung động, đứng cạnh giường, dang hai tay gồ ghề run rẩy ra...

- Watson, đúng lúc ta phải rút lui

Holmes nói nhỏ vào tai tôi - Anh kéo cùi chỏ bên này, tôi thì kéo cùi chỏ bên kia của cô Đô-Lo quá thơ ngây vì trung nghĩa.

Khi khép cửa lại, Holmes nói thêm:

- Hãy để cho vợ chồng họ tự giải quyết với nhau.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
F6 Ba người họ Garridebs


BA NGƯỜI HỌ GARRIDEBS

THE ADVENTURE OF THE THREE GARRIDEBS (1924)

The Case Book of Sherlock Holmes

Tàng thư của Sherlock Holmes

Cuối tháng 6-1902, không bao lâu sau cuộc chiến tại Nam Phi, Holmes phải nằm liệt giường mấy ngày liền.

Thỉnh thoảng anh ta bị như vậy.

Nhưng sáng đó, Holmes xuất hiện, tay cầm một văn kiện dài, một tia tinh nghịch rực sáng trong đôi mắt.

- Anh Watson, đây là cơ hội để anh kiếm tiền: anh đã nghe cái họ Garrideb rồi chứ?

- Chưa.

- Vậy thì, khi anh thộp được một người mang cái họ Garrideb, anh sẽ thành triệu phú.

- Tại sao vậy?

- Chuyện dài lắm, chưa bao giờ chúng ta gặp một chuyện quái dị như vầy.

Vài phút nửa, vai chính sẽ tới đây Nhưng trong khi chờ đợi, chúng ta cần tìm một người mang cái họ Garrideb.

Tôi tìm trong cuốn danh bạ điện thoại và bỗng la to:

- Có một người nè!

Holmes cầm lấy cuốn danh bạ, đọc to.

- Narthan Garrideb, số 136, phốg Little Ryder.

Watson à, rất tiếc, đấy chính là anh chàng mà tôi đang đợi.

Địa chỉ này được ghi trong thư nè.

Ta cần một người Garrideb khác!

Bà Hudson đi vào với một danh thiếp đặt trên mâm.

Tôi lấy lên, liếc qua, và la to.

- Nó đây John Garrideb!

Cố vấn pháp luật Moorville, Kansas

Holmes cười nụ rồi nhìn cái danh thiếp.

- Tìm thằng khác, anh Watson à.

Thằng tha này cũng ở trong bàn cờ rồi.

Tôi không ngờ đã gặp y hồi sáng này.

Nhưng dù sao y cũng sẽ cung cấp cho chúng ta vài thông tin hữu ích.

Một lát sau, ông ta đã có mặt trong phòng.

Ông John Garrideb, cố vấn pháp luật, rất lạ nhưng nở nang, đôi mắt rực sáng của ông ta lôi cuốn sự chú ý của người đối thoại.

- Thưa, đây là ông Holmes?

- Ông ta hỏi rồi lần lượt nhìn đăm đăm vào mặt chúng tôi.

- À, đúng rồi!

Ảnh chụp khá lắm, thưa ông, tôi mạn phép nêu ra nhận xét này.

Tôi tin rằng ông có nhận được một lá thư của người trùng họ với tôi, ông Narthan Garrideb?

- Mời ông ngồi!

- Sherlock Holmes nói - Tôi đoán chúng ta còn phải nói chuyện lâu...

Holmes lấy một văn kiện trên giấy tốt.

- Ông tên là John Garrideb, có tên trong văn kiện này ông có sống một thời gian tại Anh quốc?

- Tại sao ông hỏi tôi câu này thưa ông Holmes?

Mắt ông ta toát ra một sự ngờ vực đột ngột.

- Toàn thể y phục của ông được may tại Anh!

Ông Garrideb cười gượng gạo.

- Làm sao ông phát hiện được điều này?

- Cái cách cắt vai của áo vét-tông, cái mũi nghếch lên của đôi giày..

Bất cứ ai khác cũng thấy được như tôi.

- À, tôi không dè rằng tôi có vẻ như một người Anh chính cống.

Công việc buộc tôi đến đây.

Do đó, toàn thể y phục của tôi đều được mua sắm tại London.

Thôi, đề nghị chúng ta chuyển đề tài qua cái văn kiện trên tay ô

- Hãy nhẫn nại, ông Garrideb, hãy nhẫn nại!

- Holmes nói nho nhỏ.

- Ủa, mà tại sao ông Narthan Garridebkhông cùng đi?

- Nhưng tại sao Narthan lại kéo ông vào vụ này?

Tại sao vụ này lại cần đến ông?

Đây là một cuộc nói chuyện hoàn toàn liên quan giữa hai người chúng tôi, thế rồi tại sao hắn nổi hứng đi mời một thám tử tiếp tay.

- Sáng kiến của ông ấy không hề nhằm chống lại ông, ông Garrideb.

Ông ấy muốn đạt mục đích mau hơn, có lợi cho cả hai ông.

Ông ta biết rằng tôi có vài phương tiện thu nhặt tin tức, ông ta chạy tới nhờ vả tôi là chuyện thường.

Gương mặt của người khách sáng lên dần.

- Tốt thôi.

Khi gặp hắn sáng nay, tôi được biết hắn có cầu cứu tới một thám tử, tôi liền xin ngay địa chỉ và chạy tới đây.

Tôi không muốn cảnh sát can thiệp vào một việc riêng tư.

Tuy nhiên nếu ông bằng lòng giúp chúng tôi kiếm ra người thứ ba, thì có gì là nguy hại?

- Đúng vậy.

Và giờ đây, thưa ông, sẵn có ông ở đây, chúng tôi ước mong được chính ông trình bày câu chuyện cho rõ ràng.

Ông bạn thân Watson của tôi chưa được biết các chi tiết.

Ông Garrideb nhìn tôi với đôi mắt thiếu thiện cảm.

- Ông ấy cần biết chuyện à?

- Chúng tôi có thói quen làm việc chung với nhau.

- Nếu vậy, tôi sẽ cố gắng trình bày cho gọn.

Nếu quý vị là người gốc ở tiểu bang Kansas, tôi khỏi phải dông dài về ông Alexander Hamilton Garrideb.

Ông ta phát tài nhờ kinh doanh địa ốc và đầu cơ chứng khoán lúa mì ở Chicago.

ông ta không có con cái nối dõi.

Nhưng ông hãnh diện về cái tên họ lạ tai của mình.

Đó là lý do khiến tôi và ông ấy quen nhau.

Tôi ngụ tại Topeka, lo về việc pháp lý.

Một ngày nọ tôi được hân hạnh tiếp ông ấy.

Ông ta kinh ngạc khi thấy có một người thứ hai mang họ ông.

Tức thì ông ta dốc lòng tìm xem trên thế giới này còn ai khác mang cùng một họ Garrideb.

"Hãy đi kiếm cho tôi một người nữa!", ông ấy bảo tôi.

Tôi trả lời rằng tôi là một người rất bận rộn, không thể dành trọn cuộc đời đi chu du thế giới để tìm vài người mang họ Garrideb.

"Chính đó là điều anh phải làm nếu chuyện đời diễn đúng như dự liệu", ông ta nói tiếp với tôi, và tôi tưởng ông ấy nói đùa thôi.

Ai dè nó có ẩn ý.

Thật vậy, ông chết trong năm đó, để lại một di chúc, di chúc kỳ dị nhất ở tiểu bang Kansas.

Ông đã chia của cải của ông thành ba phần, trao cho ba người mang họ Garrideb.

Mỗi người sẽ được 5 triệu dollar, nhưng chúng tôi chỉ có quyền được hưởng gia tài khi đã trình diện đủ ba người tại văn phòng công chứng.

Cái mồi này hấp dẫn đến nỗi tôi bỏ văn phòng cố vấn pháp luật để đi kiếm hai thằng Garrideb nữa ở Hòa Kỳ không nơi nào có.

Tôi bèn vượt Đại Tây Dương, quyết tìm khắp nước Anh này.

Bước đầu tiên, tôi kiếm được một Narthan Garrideb trong danh bạ điện thoại của London.

Tôi gặp ông ta hôm kia và cho ông ta hay chuyện đó.

Rủi thay, ông này không quen một Garrideb nam giới nào khác.

Vì chúc thư dặn: Ba người đàn ông.

Vậy chúng tôi vẫn còn thiếu một Garrideb.

Nếu ông có thể giúp chúng tôi bổ khuyết chỗ trống đó, chúng tôi sẽ đền ơn trọng hậu.

- Watson này, - Holmes vừa cười vừa hỏi tôi.

- Tôi có cho anh hay trước rằng đây không phải là chuyện tầm phào, phải không?

Thưa ông, phải chăng phương cách chắc ăn nhất để moi thêm một Garrideb nữa, là nhắn tin trên báo.

- Tôi đã làm rồi, nhưng vẫn không có hồi âm.

- À, à.

Nhân tiện, tôi xin hỏi thêm: Nghe ông từ Topeka đến, tôi mừng lắm, tôi có liên lạc thư tín với một người nay đã chết.

Đó là bác sĩ Lysander Starr.

Ông này làm thị trưởng năm 1890 đó.

- Lão bác sĩ Starr đáng mến!

- Khách nói lớn - Bên đó mọi người đều rất tôn kính ông cụ.

Thưa ông Holmes, tôi đoán rằng chúng ta nên thông tin cho nhau.

Hy vọng sẽ gặp ông trở lại vào một ngày rất gần.

Nói xong, người Hoa Kỳ kiếu từ.

Holmes đốt cái tẩu, ngồi lặng thinh hồi lâu một nụ cười kỳ lạ trên mặt

- Sao?

- Cuối cùng anh hỏi tôi - Tôi thắc mắc, anh Watson, tôi rất thắc mắc.

- Thắc mắc điều gì?

Holmes rút cái tẩu ra khỏi miệng.

- Tôi không biết động cơ nào đưa thằng cha này tới đây.

Suýt chút nữa là tôi hỏi thẳng hắn rồi.

Nhưng tôi nghĩ kịp nên để hắn lầm tưởng đã bịp được chúng ta.

Hắn mặc một cái vét-tông kiểu London, một cái quần xệ tới đầu gối!

Đồ cũ cả năm rồi!

Theo văn kiện này và theo lời của hắn thì hắn là một người Hoa Kỳ tỉnh lẻ mới vừa đến London?

Có bài nhắn tin nào của hắn trên báo đâu?

Tôi theo dõi cái mục này hằng ngày mà!

Tôi có quen với bác sĩ nào tên là Lysander Starr tại Topeka đâu.

Hắn rất là gian dối.

Tôi cho rằng hắn quả là người Hoa Kỳ, nhưng giọng nói đã bớt cứng vì lưu trú tại Anh được vài năm rồi.

Bí mật đàng sau cái màn tìm người phi lý này là cái trò gì đây?

Hắn đáng được chúng ta lưu tâm vì chắc chắn hắn là một tên đại lưu manh.

Ta cũng cần tìm biết xem người kia có cùng một băng bịp không.

Hãy liên lạc điện thoại với y xem sao.

Bên kia đầu dây tôi nghe một giọng gà mái.

- Vâng, đây là Narthan Garrideb, ông Holmes có đó không.

Tôi rất cần gặp ông Holmes.

Holmes cầm ống nghe và tôi nghe cách hành văn thường lệ của anh:

- Vâng, ông ấy có đến đây...

Từ bao lâu?

Hai ngày thôi à?...

Vâng, đương nhiên, viễn cảnh quả là hấp dẫn.

Tối nay ông có ở nhà chứ?

Tôi đoán là người cùng họ với ông sẽ không có mặt chứ?...

Tốt lắm, chúng tôi sẽ đến, vì tôi cần nói chuyện với ông.

Bác sĩ Watson cũng sẽ có mặt.

Vậy thì khoảng 6 giờ, chúng tôi sẽ đến ông.

Đừng nói gì với ông bạn Hoa Kỳ cả nhé.

Tốt lắm, kính chào ông!

Chúng tôi đến phố Little Ryder vào lúc ánh hoàng hôn buông xuống khu phố.

Ngôi nhà chúng tôi tới là một kiến trúc bao la theo lối cổ.

Khách hàng của chúng tôi đã có mặt ở gió.

Hai cửa sổ to tướng mà chúng tôi thấy thuộc cái phòng lớn, nơi chủ nhà làm việc lúc đêm khuya.

Holmes tôi cái bản đồ nhỏ ghi một tên họ lạ tai.

- Anh Watson, đây đâu phải là cái bảng mới!

- Holmes chỉ cái bảng phai màu.

- Như vậy là họ thật đó.

Căn nhà có cầu thang thang cho tất cả mọi người ở thuê.

Tại cửa chính có nhiều bảng đồng ghi tên các văn phòng hoặc cái căn hộ tư nhân.

Khách hàng của chúng tôi đích thân ra mở cửa và giải thích rằng bà giúp việc ra về hồi 4 giờ.

Ông Narthan Garrideb khoảng lục tuần, cao lêu nghêu, ưỡn ẹo, lưng còm, gầy và hói.

Ông có một khuôn mặt xương và nước da xám của người không bao giờ tập thể dục.

Căn phòng giống như một viện bảo tàng nhỏ, vừa rộng, vừa sâu; chỗ nào cũng tủ, cũng hộc, đầy nghẹt mẫu địa chất và mẫu sinh vật.

Chính giữa là một cái bàn ngổn ngang những mảnh vụn, quây quần quanh một ống đồng to tướng của một kính hiển vi.

Đàng này là một tủ kiếng đựng tiền xưa.

Đàng kia là một cái hộc đầy ắp dụng cụ bằng đá lửa.

Đàng sau cái bàn, giữa là một cái tủ lớn đựng xương hóa thạch.

Chắc chắn đây là một người nghiên cứu lung tung.

Trong lúc đứng trước mặt chúng tôi, ông cầm miếng da len chùi chùi một đồng tiền xưa.

- Thưa ông Holmes, ở đây có một chỗ ngồi.

Để tôi dẹp các cái xương này qua một bên.

Còn ông... à, thưa bác sĩ Watson!

Ông vui lòng nhích nhẹ cái lọ Nhật Bản này.

Bác sĩ của tôi khuyên tôi ra ngoài nhiều hơn, nhưng đi chơi sao được khi công việc còn lu bù!

Tôi có thể đoán chắc với hai ông rằng nếu cần kiểm kê một tủ thôi, có lẽ ba tháng cũng chưa xong.

Holmes quan sát căn phòng với cái nhìn buồn cười.

- Ông không bao giờ đi chơi thật sao?

- Thỉnh thoảng tôi đi xe ngựa tới Sotheby hoặc tới Christie là những tiệm đồ cổ mà tôi thích.

Ngoài ra, tôi không bao giờ đi đâu khác.

Nhưng thưa ông Holmes, ông có thể đoán biết cái chấn động khủng khiếp khi tôi nghe tin đó.

Chỉ cần thêm một Garrideb nữa là cuộc đời tôi huy hoàng.

Chắc chắn là chúng ta sẽ kiếm ra anh chàng đó.

Trên toàn thế giới này làm gì mà không có những Garrideb khác.

Tôi nghe nói rằng ông thường lo những công việc lạ.

Đó là lý do tại sao tôi tiếp xúc với ông.

Tôi nhìn nhận rằng anh chàng Hoa Kỳ đã không sai lầm khi trách cứ tôi không nghe theo lời y, nhưng tôi đã xử sự một cách tích cự

- Ông có lý.

Nhưng ông có thực sự muốn có một mảnh đất tại Hoa Kỳ không?

- Chác chắn là không.

Không có gì có thể thuyết phục tôi bỏ các bộ sưu tập của tôi Nhưng anh chàng Hoa Kỳ cam kết sẽ mua phần của tôi ngay khi quyền sở hữu của chúng tôi được nhìn nhận.

Hắn chịu mua với giá 5 triệu.

Hiện có khoảng một chục cái mẫu ngoài thị trường, tôi cần phải mua, nhưng không tiền.

Ông hãy tưởng tượng tôi có thể làm biết bao việc với 5 triệu Mỹ kim.

Tôi mơ ước một bộ sưu tập có tầm cỡ quốc gia.

Tôi sẽ trở thành nhà sưu tầm lớn của thời đại?

Mắt ông ta sáng rực ở đàng sau cặp kiếng.

Rõ ràng là ông Narthan Garrideb sẽ không tiếc công để tìm ra một người đồng họ.

- Tôi chỉ tới đây để làm quen với ông.

- Holmes nói - Và tôi cảm thấy không nên làm gián đoạn công việc nghiên cứu của ông lâu hơn.

Tôi không cần phải hỏi han ông nhiều, bởi vì tôi có thư ông trong túi và thư này khá rõ ràng.

Tôi đã bổ sung nó qua cuộc tiếp xúc với anh chàng Hoa Kỳ rồi.

Tôi đoán rằng trước đây ông chưa hề quen biết với anh chàng này?

- Quả vậy, chỉ mới hôm thứ ba tuần vừa rồi.

Ông ấy có cho ông biết qua về cuộc nói chuyện giữa ông ấy và tôi hôm nay không?

- Có, ông ấy đi thẳng tới nhà tôi sau khi gặp ông.

- Trước khi gặp ông, ông ấy giận dữ lắm.

- Tại sao?

- Hình như ông ấy cảm thấy bị xúc phạm.

Nhưng sau khi gặp ông, thì tươi tỉnh lại rồi.

- Ông ấy có đề nghị với ông một cách hành động nào không?

- Thưa ông, không.

- Ông ta có hỏi hoặc đã mượn được tiền của ông chưa?

- Không, thưa ông.

- Ông không biết đ mục đích của ông ta sao?

- Không, chỉ biết cái mục đích mà ông ta nói.

- Ông có cho ông ấy biết về cuộc gặp gỡ này của chúng ta bằng điện thoại không?

- Thưa ông, có.

- Tôi thấy rằng ông ấy đang thắc mắc.

- Trong các sưu tập của ông, ông có những cái mẫu giá trị lớn lắm phải không?

- Không, thưa ông.

Đó là những sưu tập tốt, nhưng không có giá trị gì ghê gớm lắm đâu.

- Ông có sợ ăn trộm không?

- Thưa ông, không.

- Ông cư ngụ ở đây được bao lâu rồi?

- Gần 5 năm.

Cuộc chất vấn của Holmes bị gián đoạn bởi một cái đấm tay dữ dội trên cửa lớn.

Thân chủ của chúng tôi vừa mở ra thì người Hoa Kỳ bước vào.

Ông tỏ ra rất bực bội.

- À, có ông đây nữa!

- ông ta vừa la to vừa vẫy một tờ nhật báo, - Tôi hy vọng đến đúng lúc, ông Narthan Garrideb, xin chúc mừng ông!

Hiện ông là một triệu phú!

Về phần ông, thưa ông Holmes, chúng tôi rất tiếc đã quấy rầy ông một cách vô ích!

Ông ta đưa tờ báo ra ông này nhìn ngay vào một cái tin có đánh dấu chữ thập.

Holmes và tôi nhìn qua vai thân chủ.

Nội dung như sau:

"Howard Garrideb.

Nhà lắp máy nông cơ, máy giặt, máy cày tay và cày hơi nước, máy đục lỗ, máy bừa, xe thực dụng trong trang trại, ước lượng về giếng

Liên lạc tại Grosveher, Aston".

- Hay quá!

- Narthan Garrideb nói - Vậy là ta có người thứ ba rồi.

- Tôi đã mở những cuộc vận động tại Birmingham.

- Người Hoa Kỳ nói - Người đại diện của tôi đã gởi cho tôi bản tin này trong một tờ báo địa phương.

Tôi đã khẩn trương viết thư cho người cùng họ và báo cho ông ta hay rằng ông sẽ gặp ông ta tại phòng của ông ta vào 4 giờ chiều mai.

- Ông muốn tôi đi gặp ông ấy à?

- Chớ sao!

Tôi là một người Hoa Kỳ và tạt qua đây thôi, làm sao người ta tin được?

Còn ông là một người Anh, có uy tín vững vàng, ông ta sẽ tin ông.

- Mấy năm nay tôi có đi đâu xa như thế bao giờ.

- Đừng ngại gì cả, ông Nathan.

Tôi đã chuẩn bị chuyến đi cho ông.

Ông khởi hành lúc 12 giờ và chắc chắn tới nơi khoảng sau 2 giờ.

Ông có thể trở về ngay trong đêm.

Công việc của ông là chỉ gặp người đó, trình bày câu chuyện và xin một chứng nhận rằng ông ấy còn sống.

- Chúa ơi!

- Y nói thêm một cách hùng hồn - Tôi phải lăn lộn từ miền Trung Hoa Kỳ qua tới đây.

Còn ông, ông chỉ bước một bước ngắn là đặt dấu chấm hết cho câu chuyện.

- Đúng vậy!

- Holmes nói xen vào.

- Tôi đồng ý hoàn toàn với ông cố vấn pháp luật.

Ông Narthan Garrideb vươn vai, vẻ mặt buồn rầu:

- Nếu ông thấy cần, thì tôi sẽ lên đường,

- Vậy là đã dàn xếp xong.

Xin ông nhớ báo cho tôi biết kết quả khi thuận tiện - Holmes nói.

- Dễ thôi!

- Người Hoa Kỳ cam kết và nhìn đồng hồ - Tôi phải đi đây.

Mai tôi sẽ đến thăm ông, ông Narthan và sẽ tiễn đưa ông lên tàu đi Birmingham.

Xin tạm biệt ông,

Gương mặt của Holmes sáng rực khi người Hoa Kỳ đi ra.

- Ông vui lòng cho tôi xem bộ sưu tập của ông, ông Garrideb - Holmes nói - Trong cái nghề của tôi không có loại kiến thức nào là dư thừa cả và phòng ông quả là một bảo tàng viện.

Narthan Garrideb đỏ mặt lên vì sung sướng:

- Thưa ông.

Nếu ông có thời gian, tôi xin đưa ông đi giáp vòng ngay bây giờ.

- Rủi là tối nay tôi bận.

- Holmes trả lời - Tuy nhiên tất cả các mẫu của ông được phân loại và dán nhãn kỹ lưỡng đến nỗi, tôi nghĩ đâu cần ông đích thân giải thích.

Nếu ông cho phép, ngày mai, tôi hân hạnh được tham quan.

- Rất sẵn sàng.

Căn hộ lúc đó khóa, nhưng trước 4 giờ chiều bà Saunders dưới tầng trệt còn ở nhà, bà ấy có thể trao chìa khóa cho ông.

- Nếu ông dặn trước bà Saunders thì thật là thuận lợi cho tôi.

Nhân tiện xin ông cho biết người chủ nhà của ông là ai vậy?

Narthan Garrideb có vẻ bỡ ngỡ trước câu hỏi này.

- Steele, ở đường Edgeware.

Mà có chuyện gì vậy ông Holmes?

- Tôi là một nhà khảo cổ hạng trung về địa ốc, - Holmes vừa nói vừa cười, - tôi thắc mắc không biết căn nhà này được cất vào thời đại nữ hoàng Anne hay vào thời các vua Georges?

- Chắc chắn là vào thời các vua Georges.

- Tôi đoán là xưa hơn một chút.

Sự kiểm nghiệm cũng không khó.

Xin tạm biệt ông Garrideb và chúc ông may mắn trong chuyến đi.

Người cho thuê nhà cư ngụ gần đó nhưng văn phòng đóng cửa nên chúng tôi quay về phố Baker.

Sau buổi cơm tối, Holmes trở về.

- Bài toán nhỏ của tôi đã tới hồi kết thúc.

Anh Watson, anh đã thấy cái giải đáp rồi chứ?

- Một chuyện không đầu không đuôi.

- Cái đầu thì khá rõ rồi.

Còn cái đuôi, ngày mai chúng ta sẽ thấy thôi.

Anh không thấy điều gì trong cái tin rao vặt sao?

- Mấy cái giếng khoan?

- À, anh để ý đến cái giếng khoan .

Hay quá, Watson!

Anh mỗi ngày một tiến bộ.

Ở nước Anh, người ta hết xài đến chúng, ở Mỹ thì còn thịnh hành.

Thành ra cái tin rao vặt này là gốc Mẽo!

- Theo tôi thì chính tay Mẽo John Garrideb này mướn đăng.

Nhưng để làm gì thì tôi không hiểu?

- Hắn "điệu hổ ly sơn", muốn ông lão này lên Birmingham.

Lẽ ra tôi nên cho ông ấy hay trước là ông ta đi mò kim đáy biển, nhưng tôi cũng cần ông ấy đi cho trống nhà.

Ngày mai anh sẽ rõ trắng đen.

Holmes thức dậy rời nhà sớm và trở về vào giờ cơm, nét mặt trầm tư.

- Anh Watson, nội vụ nghiêm trọng hơn tôi đoán.

Tôi báo trước, để anh có đủ hăng hái mà xông pha.

Có nguy hiểm đó!

- Đây đâu phải là cái nguy hiểm đầu tiên mà tôi được chia sẻ.

Nhưng lần này thì có gì đặc biệt?

- Ta đụng vào một công việc cực kỳ khó.

Tôi đã xác định lý lịch của John Garrideb, tay cố vấn pháp luật đó.

Hắn chính là Evans Sát Thủ, một kẻ giết người nổi tiếng.

- Tôi cũng chưa thấy gì rõ cả.

- Phải, nghề nghiệp của anh không bắt buộc anh phải nhớ tên từng thằng sát nhân.

Tôi có đến Scotland Yard gặp Lestrade.

Đôi khi ông ấy thiếu trực giác và thiếu tưởng tượng, tuy nhiên về mặt phương pháp và về mặt công việc cần cù, sâu sát thì Scotland Yard đoạt giải quán quân trên thế giới.

Tôi nhớ ra rằng chỉ có tàng thư của Scotland Y mới giúp ta biết tông tích anh chàng Mẽo này.

Đương nhiên là tôi đã tìm ra cái khuôn mặt hồng hào của hắn trong đám chân dung của những kẻ giết người.

Bên dưới có ghi: "James Winter, còn được gọi là Morecroft, tức là Evans Sát Thủ"...

Holmes móc từ trong túi ra một phong bì.

- Tôi có ghi nguệch ngoạc vài chi tiết trong hồ sơ của hắn: Tuổi 44, sinh tại Chicago.

Ba lần giết người tại Hoa Kỳ.

Trốn tù khổ sai nhờ thời gian xáo trộn chính trị và đến được London vào năm 1893.

Giết một người trên bàn cờ bạc tại một hộp đêm ở đường Waterloo năm 1895.

Nạn nhân chết, nhưng nhân chứng xác nhận chính hắn là thủ phạm, Nạn nhân được nhận dạng là Rodger Prescott, người nổi danh làm bạc giả tại Chicago.

Hắn ra tù năm 1901, bị cảnh sát theo dõi sát, sống đời lương thiện.

Thành phần cực kỳ nguy hiểm, Luôn có súng và sẵn sàng nhả đạn.

Đó là con mồi của chúng ta, Watson à!

Mồi ngon, anh đồng ý không?

- Nhưng hắn kiếm cái gì vậy?

- Đòn phép của hắn bắt đầu lộ nguyên hình.

Tôi có tới người cho thuê nhà.

Thân chủ của chúng ta đã ở đó từ 5 năm nay.

Trước đó thì căn nhà này bỏ trống.

Người ở trước, tên là Waldron.

Tại dịch vụ cho thuê nhà, mọi người đều nhớ rõ Waldron này, người cao to, có râu quai nón, và đen đúa.

Anh chàng đột ngột biến đâu mất, không ai nghe thấy tăm hơi gì.

Còn Prescott, nạn nhân của Killer Evans, theo Scotland Yard, lại cũng là một người nâu, cao và râu ria xồm xoàm.

Cho nên giả thiết khởi điểm là Prescott, tên cướp người Mẽo, đã sống tại căn hộ này.

Hiện nay ông bạn vô tội Narthan Garrideb của ta biến căn hộ này thành viện bảo tàng.

Ta đã tìm ra một khâu trong cái dây chuyền.

- Còn cái khâu kế tiếp?

- Hãy từ từ.

Anh lấy một khẩu súng lục ở ngăn kéo và trao cho tôi.

- Nếu tên Mẽo này hãm hại người đồng họ, thì ta phải sẵn sàng.

Anh Watson, cho phép anh ngủ trưa một giờ.

Sau đó chúng ta phiêu lưu tại phố Ryder.

Đồng hồ gõ vang bốn tiếng khi chúng tôi đến căn nhà của Narthan Garrideb.

Bà làm sắp về, bà tạo mọi dễ dãi cho chúng tôi.

Holmes hứa sẽ thu xếp gọn ghẽ trước khi rời nhà.

Bà ra đi, đóng cửa lại.

Chỉ còn hai chúng tôi tại tầng trệt.

Holmes liếc mắt quan sát căn hộ.

Trong một góc tối có một cái tủ không, kê sát giường.

Chúng tôi chui núp phía sau đó.

Holmes thì thầm tiết lộ cho tôi đại cương của kế hoạch.

- Tên Mẽo muốn cho thân chủ của mình rời khỏi căn hộ này.

Chuyện đó là rõ ràng.

Vì nhà sưu tập không bao giờ đi xa nên hắn phải vẽ vời này no như anh đã thấy.

Toàn câu chuyện về dòng họ Garrideb chỉ phục vụ cho mục đính đó.

- Quỷ quái chưa!

Nhưng để làm gì?

- Đó là điều chúng ta sẽ phát hiện.

Dự án của hắn không ăn nhập gì với thân chủ của chúng ta.

Nó chỉ liên quan tới người mà hắn đã giết.

Trong căn hộ này có thể có một bí mật phi pháp.

Lúc đầu, tôi lầm tưởng thân chủ của chúng ta có một cái gì đó quý giá.

Nhưng sự kiện Rodger Prescott với tiếng tăm trong giới giang hồ, đã ngụ tại căn hộ này, làm tôi ước đoán một nguyên nhân tồi tệ hơn.

Chúng ta chỉ còn một việc để làm thôi, đó là nhẫn nại chờ đợi.

Một lúc sau, tôi nghe có tiếng cửa mở và có tiếng chân người.

Chúng tôi co ro ngồi xổm trong bóng tối.

Kế tiếp là tiếng động khô khan ở ổ khóa.

Chàng cao bồi bước vào căn hộ, nhẹ nhàng đóng cửa lại, nhìn quanh quan sát, cởi áo choàng và tiến về phía cái bàn giữa, nhanh nhẹn đẩy cái bàn qua một bên, giở tấm đệm trải dưới bàn, cuộn nó lại, rồi rút cái xà-beng ngắn ở túi trong ra, quỳ gối và bắt đầu đào.

Một lát sau thì một lỗ vuông xuất hiện.

Evans Sát Thủ đánh diêm thắp một khúc nến và chui xuống mất hút.

Holmes rờ nhẹ cổ tay tôi.

Hai chúng tôi rón rén tới miệng lỗ.

Dù chúng tôi di chuyển nhẹ nhàng nhưng sàn nhà cũ vẫn kêu cót két dưới chân.

Cái đầu của tên Mẽo ló ra khỏi lỗ.

Nó quay về hướng chúng tôi, bộ mặt giận dữ cùng cực.

Nhưng gương mặt nó từ từ dịu lại khi thấy rõ hai họng súng.

- Được, đượ,c- Nó vừa chui lên vừa lạnh lùng nói - ông Holmes à!

Ông đã thấy cái mánh của tôi ngay từ đầu.

Tôi nhìn nhận và chịu thua ông và...

Trong một thoáng, hắn rút súng và bắn hai phát.

Tôi cảm thấy xé thịt trên đùi.

Nhưng súng của Holmes bắn vào đầu anh ta.

Tôi mơ hồ thấy Evans Sát Thủ ngã trên sàn, máu chảy đầy mặt và Holmes tước vũ khí.

Cuối cùng tay của bạn tôi ôm lấy tôi, kéo tôi đến một chiếc ghế.

- Bị thương có nặng không, Watson?

Nặng không?

Thái độ cuống quít của Holmes quả xứng đáng để tôi bị thương.

Trong một giây lát, tôi thấy đôi mắt rớm lệ và đôi môi cương nghị run bần bật.

Đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy nhịp đập mạnh của con tim cứng cỏi.

Cái phát hiện này bù đắp đầy đủ tất cả những năm tháng cộng tác khiêm tốn và bất vụ lợi của tôi.

- Không sao, Holmes à, chỉ trầy trụa sơ.

Holmes lấy dao rạch quần tôi.

- Đúng!

- Anh ấy nói lớn và thở phào nhẹ nhõm - Vết thương xoàng thôi.

Khuôn mặt của anh lại lạnh như đá.

Khi nhìn tên tù của chúng tôi đang ngồi dậy, mặt mày ngơ ngáo nghe anh nói:

- Cũng may cho mày đó.

Nếu mày giết Watson thì mày sẽ không toàn thân mà rời căn hộ này đâu.

Giờ đây mày có điều gì nói để biện minh không?

Hắn không nói, chỉ nhìn chúng tôi.

Tôi tì tay vào Holmes và hai chúng tôi cùng nhìn cái hầm nhỏ còn được chiếu sáng bởi khúc nến.

Mắt chúng tôi dừng lại trên mốt cái máy rỉ sét, nhiều cuộn giấy lớn, chai lọ và nhiều gói nhỏ cột dây cẩn thận xếp kỹ lưỡng trên một cái đàn.

- Một máy in...

Toàn bộ trang bị của tên trùm bạc giả?

- Holmes nói.

- Đúng, thưa ông!

Tên Mẽo nhìn nhận rồi ráng đứng dậy nhưng cuối cùng buông mình xuống ghế trở lại.

Đó là một tên trùm tiền giả đáng sợ nhất tại London này.

Đó là cái máy của Prescott và các gói trên bàn chứa hai trăm tờ năm bảng mà hắn đã sản xuất.

- Hai ông hãy sử dụng mớ đó, c như bù vào công lao và tha cho tôi!

Holmes cười to:

- Bọn tao không mưu sinh bằng lối này, Evans à?

Mày đã giết Prescott phải không?

- Đúng, và tôi đã lãnh 5 năm về tội này, mặc dù chính nó tấn công tôi.

Lẽ ra tôi phải được thưởng một huy chương thật to.

Không ai có thể phân biệt được tiền của Prescott với tiền của ngân hàng Anh quốc?

Nếu tôi không giết y thì London đã tràn ngập tiền giả.

Tôi là người độc nhất biết y sản xuất tại chỗ nào.

Quý ông đã hiểu rõ tại sao tôi xoay xở mọi cách để đẩy ông già bắt bươm bướm ra khỏi đây vài giờ.

Lẽ ra tôi giết chết ông ấy là gọn ghẽ hơn.

Nhưng tôi không thể hạ sát một đối thủ không võ trang.

Nói cho cùng, thưa ông Holmes, tôi đâu có tội.

- Cho tới phút này thì mày chỉ bị kết tội mưu sát.

- Holmes nói - Mày sẽ biết rõ khi qua giai đoạn hai.

Hiện điều chúng tao cần là cái thân xác quý giá của mày.

Kêu điện thoại cho Scotland Yard đi, anh Watson!

Đó là các sự kiện liên quan đến Evans Sát Thủ và cái sáng tạo tuyệt diệu của y về ba người cùng mang họ Garrideb.

Sau này chúng tôi biết rằng ông bạn khảo cổ đáng thương bị suy sụp luôn sau cái chấn động làm tan nát mộng đẹp của ông.

Tin mới nhất cho biết ông đang ở một viện an dưỡng tại Brixton.

Đó cũng là một ngày huy hoàng đối với Scotland Yard khi họ phát hiện được trang thiết bị của Prescott, tên làm bạc giả nổi tiếng.

Thực sự Evans có góp một công lớn, giúp cho nhiều viên chức cao cấp ngủ ngon.

Cái viên chức này đương nhiên sẵn lòng đóng góp để mua một huy chương to bằng cái nồi súp cho Evans vào bốn bức tường kín cho hắn suy ngẫm.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
F7 Bài toán tại cầu Thor


BÀI TOÁN TẠI CẦU THOR

THE PROBLEM OF THOR BRIDGE (1922)

The Case Book of Sherlock Holmes

Tàng thư của Sherlock Holmes

Vào một buổi sáng tháng 10, tôi vừa thay quần áo vừa ngắm những chiếc lá vàng tiêu điều cuối cùng nhởn nhơ trước gió.

Tôi rời phòng, đi ăn điểm tâm và chuẩn bị để đương đầu với sự ủ rũ của anh bạn Holmes thường bị ngoại cảnh chi phối.

Tuy nhiên, ngược lại, tôi thấy anh đã ăn gần xong và tâm trạng khi đó thì vui vẻ lạ thường.

Cái vui loại này thường báo hiệu chuyện chẳng lành.

Tôi liền hỏi:

- Lại có vụ án phải không Holmes?

- Khả năng suy luận cũng có thể bị "nhiễm", Watson ạ.

Nó giúp anh biết được những suy nghĩ của tôi.

Ðúng.

Tôi có một vụ án lý thú.

- Tôi có được dự phần vào cuộc chơi lý thú này không?

- Chúng ta sẽ thảo luận về nó sau khi anh đã thưởng thức hai quả trứng luộc quá chín của bà đầu bếp mới.

Hai quả trứng này rất dở, giống như số báo Family Herald hôm qua.

Việc luộc trứng cũng đòi hỏi sự chú ý vào tiến độ của thời gian.

Mười lăm phút sau, cái bàn được dọn sạch.

Chúng tôi ngồi đối diện với nhau, Holmes móc một lá thư trong túi ra, hỏi:

- Anh biết ông Neil Gibson, ông vua vàng không?

- Ý anh muốn nói đến ông hạ nghị sĩ Hoa Kỳ?

- Đúng thế.

Có thời ông ta là nghị sĩ của bang Western.

Nhưng bây giờ thì nổi tiếng trong giới tài phiệt.

- Ðúng thế, tôi có biết.

Có lẽ ông ta đã sống một thời gian tại Anh.

Tên của ông ấy nghe rất quen?

- Ðúng vậy.

Cách đây 5 năm, ông ấy mua một lãnh địa mênh mông trong tỉnh Hampshire.

Anh có nghe cái chết thê thảm của vợ ông ấy không?

- Có!

Tôi nhớ ra rồi.

Tuy nhiên tôi không biết chi hết.

Holmes chỉ mấy tờ báo trên ghế.

- Tôi không ngờ là tôi sẽ phải điều tra vụ này.

Quả vậy vấn đề tuy chấn động dư luận nhưng không khó khăn lắm đâu.

Cái tư cách nhân hậu của bị cáo cũng không làm giảm thiểu được tính hiển hiện của bằng chứng.

Cảnh sát và tòa án cũng đồng quan điểm này.

Nội vụ đang chờ tòa đại hình Winchester xử.

Tôi ngại rằng sẽ là công dã tràng.

Nếu không tìm ra được dữ kiện lạ và bất ngờ, thì làm sao đáp ứng nguyện vọng của thân chủ?

- Thân chủ của anh?

- Ủa?

Thì ra tôi đã nhiễm thói xấu của anh?

Kể chuyện mà bắt đầu từ cái đuôi.

Hãy đọc lá thư này.

- Tuồng chữ của thư là tuồng chữ của một người cương quyết và có tính kẻ cả.

"Khách sạn Claridge, ngày 3 tháng 10.

Thưa ông Sherlock Holmes,

Tôi không thể chứng kiến việc kết án tử hình người đàn bà tốt nhất mà không cô gắng để minh oan.

Tôi không thể giải thích, tuy tôi quả quyết rằng cô Dunbar vô tội.

Ông đã biết các dữ kiện rồi.

Cả nước đều biết, đu thảo luận nhưng không có ai lên tiếng bênh vực nàng.

Một sự bất công như thể làm tôi phát điên.

Nàng nhân hậu đến độ không giám giết một con ruồi.

Mười một giờ trưa mai, tôi sẽ đến để xem ông có thể đem lại một tia sáng nào không.

Có thể tôi được một chỉ dẫn!

Tất cả những gì tôi biết, tôi có và tôi làm đều được đặt dưới quyền sử dụng của ông.

Xin ông hãy tung hết khả năng vào vụ này.

Trân trọng.

J.

Neil Gibson".

- Vậy đó!

Holmes nói, vừa khảy tro thuốc ra khỏi cái tẩu và chuẩn bị một điếu khác.

- Tôi đang chờ ông này.Về nội dung câu chuyện, anh không có thì giờ đọc tất cả các báo.

Tôi sẽ tóm tắt trong vài câu.

Gibson là một người có thế lực tài chính lớn nhất trên thế giới.

Tính tình vừa hung bạo vừa khủng khiếp.

Ông cưới một bà vợ.

Bà này hình như không còn trẻ đẹp.

Trong nhà lại có một nữ gia sư cực kỳ quyến rũ, dạy hai đứa con nhỏ.

Ðó là ba người có liên quan.

Sân khấu là một lâu đài cổ nằm giữa một lãnh địa, xưa kia thuộc quyền sở hữu của một vương tôn công tử Anh quốc.Người ta tìm thấy bà vợ ở ngoài vườn cách nhà khoảng nửa dặm lúc gần nửa đêm, bà mặc áo dài dạ hội, quàng khăn choàng, chết vì một viên đạn súng lục bắn vào đầu.

Gần xác chết không có khí giới, không có dấu vết của kẻ sát nhân.

Ðể ý điều này, tội ác có thể được thực hiện khá khuya.

Một người gác rừng phát hiện xác chết lúc 2 giờ đêm.

Cảnh sát và pháp y khám nghiệm trước khi khiêng nạn nhân vào nhà.

Câu chuyện có cô đọng quá không, anh có nắm các điểm chính không?

- Nắm vững, nhưng tại sao lại nghi cô gia sư?

- Vì một bằng chứng rất là trực tiếp: Một khẩu súng lục thiếu một viên đạn, có cùng nòng được tìm thấy trong tủ của nữ gia sư.

Với đôi mắt bất động, Holmes lặp lại.

- Trong tủ... của... nàng!

Rồi anh trầm ngâm hồi lâu.

Tôi đoán rằng anh đang suy luận.

Tôi lặng yên để không làm gián đoạn tư tưởng của anh.

Ðột ngột anh trở về với sự thật.

- Ðúng vậy, cái súng lục được tìm thấy trong tủ của người nữ gia sư.

Mặt khác, trong tay nạn nhân còn có một miếng giấy hẹn gặp tại điểm đó do nữ gia sư ký.

Anh nghĩ sao về điều này, rõ quá chứ gì?

Còn đây là động cơ của tội ác: nghị sĩ Gibson không thiếu sức quyến rũ.

Nếu vợ y chết, ai có thể thay thế bà này, ngoài cô ta mà theo nhiều nhân chứng, cô ta đã được ông chủ săn đón dồn dập.

Tình yêu, sự nghiệp quyền thế, tất cả sẽ có được.

Watson ạ!

Rất ghê tởm!

- Ðương nhiên là rất ghê tởm.

- Cô ta cũng có thể đưa ra các bằng cớ để chứng minh mình vô tội.

Nhưng cô ta đã nhìn nhận rằng đêm đó cô có tới gần cầu Thor.

Một người dân trong làng đi ngang qua, có thấy cô tại đó.

- Ðủ để buộc tội rồi!

- Nhưng, cây cầu Thor, nơi xảy ra án mạng, là một nhịp đá độc nhất bắc ngang khúc hẹp nhất của một dòng nước dài và sâu.

Hai bên cỏ lau sậy nghẹt cứng, dân địa phương gọi là ao Thor.

Xác chết nằm ngay đầu cầu.

Ðó là những dữ kiện cốt yếu.

Nhưng kìa!

Ông Gibson tới kia!

Ông ấy đến khá sớm!

Billy mở cửa, nhưng đó không phải là Gibson mà là một người hoàn toàn khác.

Một người lùn xủn, gầy đét và nóng nảy.

Ông có đôi mắt sợ hãi và những cử chỉ ngập ngừng, xưng là Marlow Bates.

- Ông có vẻ bị dao động, ông Bates.

- Holmes nói, - Mời ông ngồi, tôi ngại rằng không thể tiếp ông lâu bởi vì tôi có một cuộc hẹn lúc 2 giờ.

- Tôi biết điều đó?

Khách nói ấp úng như người hết hơi.

- Ông Gibson sắp tới, ông ấy là chủ tôi.

Tôi là viên quản lý lãnh địa của ổng.

Thưa ông Holmes, đó là một thằng nham hiểm... cực kỳ nham hiểm.

- Ông dùng từ ngữ khá nặng đó, ông bạn?

- Không đâu, thưa ông Holmes.

Thời gian của tôi có hạn.

Tôi thà chết chớ không để ông ấy gặp tôi tại đây.

Ông ấy sẽ tới ngay bây giờ.

Nhưng tôi không thể tới sớm hơn.

Thư ký của ông ta là Ferguson vừa cho tôi hay sáng nay.

- Còn ông là quản gia của ổng?

- Tôi đã đưa đơn xin nghỉ việc rồi.

Trong vòng 15 ngày nữa, tôi chấm dứt đời nô lệ khốn nạn của tôi.

Ông ta là một người sắt đá đối với tất cả những người xung quanh ông ta.

Làm từ thiện chỗ này chỗ nọ là để che đậy những tội lỗi trong đời tư.

Nạn nhân chính của ổng lại là vợ ổng.

Ông ta quá vũ phu với bà ấy.

Bà ấy chết cách nào tôi không biết nhưng tôi chắc chắn rằng ổng đối xử rất tệ với bà ấy.

Bà ấy gốc dân vùng nhiệt đới, sinh tại Brazil, có lẽ ông đã biết điều này rồi.

- Không đâu, tôi không để ý!

- Sinh quán nhiệt đới, tính khí nhiệt đới, con gái của mặt trời và của đam mê.

Bà ấy đã yêu ổng với tình yêu của loại đàn bà đó.

Hình như trước kia bà là một bậc sắc nước hương trời, nhưng khi nhan sắc tàn phai, thì không còn kiềm chế ổng được nữa.

Tất cả chúng tôi đều thương mến bà ấy, và rất ghét ổng.

Ðấy là những gì tôi muốn nói.

Giờ đây tôi phải kiếu từ.

Ổng sắp tới rồi!

Nhìn đồng hồ của chúng tôi lần chót, người khách chạy vọt ra cửa và biến mất.

- Chúa ơi!

Holmes thốt lên sau một lúc yên lặng.

- Ông Gibson có những nhân viên trung nghĩa ngoài mức bình thường?

Những điều nhắc nhở ấy không phải là vô ích.

Giờ đây ta chỉ còn chờ chính nhân vật đó.

Ðúng giờ hẹn, một bước đi nặng nề vang dội dưới cầu thang và nhà triệu phú nổi tiếng được mời vào.

Thoạt nhìn ông ta, tôi thông cảm cho những nỗi sợ hãi và ghét bỏ của viên quản lý mà cả những lời nguyền rủa của vô số địch thủ của ông trên thương trường.

Ðôi mắt xám, lạnh lùng, tinh tế, lần lượt quan sát chúng tôi.

Ông lễ độ cúi chào tôi khi nghe Holmes giới thiệu rồi với thái độ của một đại gia, ông kéo một cái ghế về hướng Holmes, ngồi sát cạnh, gần như vai kề vai.

- Thưa ông Holmes, xin phép nói trước với ông rằng, trong vụ này, tiền bạc không là vấn đề.

Ông có thể đốt tiền nếu cần để làm cho sự thực được nổ bùng.

Cô giáo đó vô tội, nàng phải được minh oan.

Ông lãnh sứ mạng đó.

Ông hãy chính xác hóa con số!

- Thù lao của tôi được định theo một giá biểu cố định.

- Holmes lạnh lùng trả lời - Tôi không thay đổi bao giờ trừ khi tôi đặc miễn cho vài thân chủ.

- Vậy thì ông hãy nghĩ tới danh tiếng, nếu ông coi thường đồng dollar.

Nếu ông cứu được người đàn bà này, tất cả báo chí Anh, Mỹ sẽ ca tụng ông.

- Cám ơn ông.

Tôi cảm thấy không cần ăn kẹo.

Có thể ông sẽ ngạc nhiên khi biết rằng, tôi thích âm thầm làm việc và chỉ các bài toán mới lôi cuốn được tôi...

Thôi, không nên mất thời gian, ta hãy vào đề.

- Theo tôi thì đại cương của câu chuyện đã được báo chí ghi đầy đủ, tôi không có gì để bổ khuyết.

Nhưng nếu cần hiểu rõ một chi tiêu nào đó, tôi sẵn sàng tiếp tay với ông.

- Một điểm mà thôi!

- Ðiểm nào?

- Tính chất chính xác của mối quan hệ giữa ông với cô Dunbar?

Ông vua vàng giựt mình nhổm dậy khỏi ghế, nhưng lại lấy lại bình tĩnh.

- Tôi đã nghĩ rằng ông sẽ hỏi tôi một câu như thế.

- Cả hai chúng ta đều phải nghĩ như vậy.

- Như vậy tôi có thể bảo đảm với ông rằng mối quan hệ giữa chúng tôi là mối quan hệ giữa một người chủ đối với một cô áo mà chỉ nói chuyện và gặp cô ở cạnh mấy đứa nhỏ.

Holmes đứng dậy:

- Tôi là một người bận rộn, thưa ông.

Tôi không rảnh và không thích nói những chuyện vô bổ.

Xin kiếu từ ông.

Người khách của chúng tôi cũng đứng lên, và chế ngự Holmes bằng cái thân hình đồ sộ của ông.

Một tia cuồng nộ lóe lên từ dưới đôi chân mày.

- Cái quỷ quái gì vậy ông Holmes?

Ông không bằng lòng với ý kiến của tôi à?

- Vâng.

- Tôi có cảm giác là tôi đã nói rõ ràng như ban ngày, nhưng tại sao vậy?

Ông đòi thêm tiền hoặc ông sợ không muốn dính dáng vào nội vụ?

Tôi cũng có quyền được biết.

- Tôi nói rõ ngay thôi.

Chuyện này đã khá rắc rối ngay từ đầu, tôi không muốn nó bị vướng thêm khó khăn với những tin tức sai lạc.

- Nghĩa là ông bảo rằng tôi đã nói láo?

- Thưa ông, tôi đã cố gắng nói năng một cách tế nhị.

Nhưng nếu ông nhấn mạnh đến từ đó, thì tôi không phản đối ông đâu.

Tôi vội vã đứng lên vì nhà triệu phú đã điên tiết và đã đưa ra cái nắm tay to tổ bố.

Holmes trả lời ông ta bằng một nụ cười vô tư lự và đưa tay lấy cái tẩu.

- Ðừng ồn ào, ông Gibson.

Tôi nghĩ rằng sau khi ăn điểm tâm thì dù cãi vặt cũng bị xáo trộn sinh lý.

Tôi quan niệm rằng một sự đi bộ giữa khí trời bao la vào buổi sáng hoặc sự nằm nghỉ vài phút sẽ có lợi cho ông hơn.

Cố gắng lắm ông vua vàng mới kìm chế được cơn cuồng nộ.

Tôi phải ngợi khen ông ấy vì sau đó lửa cuồng nộ bị dập tắt và nhường chỗ cho một sự điềm đạm lạnh lùng, khinh miệt.

- Ðược thôi, ông đã lựa chọn.

Tôi đoán rằng ông biết cách làm ăn.

Tôi không thể ép buộc ông phụ trách vụ này.

Ông Holmes, sáng nay ông tự chuốc họa vào thân, bởi vì tôi đã từng bẻ gãy những kẻ cứng cỏi hơn ông.

Không gì có thể cản đường tôi được.

Không bao giờ!

- Tôi thường nghe những lời lẽ đe dọa.

- Holmes vừa cười vừa nói - Tôi vẫn sống, xin kiếu từ, ông Gibson.

Ông còn phải học hỏi nhiều.

Người khách giận dữ bước ra, trong khi Holmes bắt đầu hút thuốc, im lặng nhìn lên trần nhà một cách mơ màng.

- Watson không có ý kiến gì à?

- Cuối cùng anh hỏi tôi.

- Khi tôi xét một người có thói quen gạt qua một bên bất cứ chướng ngại nào và khi tôi nhớ rằng vợ của y đã trở thành một chướng ngại như ông Bates cho biết, thì hình như...

- Ðúng lắm!

Tôi cũng nghĩ như vậy.

- Nhưng mà mố quan hệ của y với cô gia sư ra sao, làm sao anh biết!

- Tôi đoán!

- Watson à!

Khi so sánh cái giọng đam mê, lời lẽ của bức thư với cái thái độ tự chủ và nghiêm nghị tại đây, tôi thấy rõ rằng tình cảm của y nghiêng về bị cáo hơn là về nạn nhân.

Muốn đi tới sự thực, cần phải biết rõ tính chất của các quan hệ giữa các diễn viên.

Anh thấy tôi đã tấn công trực diện và y đã đón nhận một cách thản nhiên.

Tôi đã bịp y khi làm bộ nắm chắc sự việc, trong khi đó thật ra tôi hãy còn ngờ vực!

- Ông ta quay lại chứ?

- Chắc chắn ông ta không thể dừng tại đó đâu.

Chuông reo phải không?

Ðúng rồi.

Tôi nhận ra bước đi của ông ta.

- Chào ông Gibson, tôi vừa nói với bác sĩ Watson rằng ông sẽ trở lại.

Ông vua vàng đi vào phòng chúng tôi một cách ít ồn hơn lúc ra đi hồi nãy.

Vết thương giáng xuống tính ngạo mạn của ông vẫn còn in rõ dấu vết trong cái nhìn của ông.

Nhưng lương tri của ông đã cho ông thấy rằng muốn thắng lợi, ông phải nhượng bộ.

- Tôi đã suy nghĩ lại, thưa ông Holmes, và tôi nhìn nhận rằng tôi quả có nóng nảy khi hiểu lầm cái nhận xét của ông.

Ông có lý khi muốn biết mọi dữ kiện, dù chúng là cái gì.

Tôi càng kính nể ông hơn bội phần.

Tôi có thể đoán chắc với ông rằng cả cô Dunbar và tôi đều không có ảnh hưởng gì đến nỗi vụ.

- Chúng tôi mới có quyền kết luận chứ!

- Ðương nhiên, giống một y sĩ, ông phải biết hết các triệu chứng trước khi chẩn đoán.

- Quả vậy, sự so sánh đó là đúng.

Bệnh nhân nào giấu đi một vài triệu chứng là lừa gạt y sĩ vì một mục đích?

- Có thể.

Tuy nhiên ông nên xét rằng đa số đàn ông đều nhột khi đột ngột bị hỏi thăm về tính chất của mối quan hệ giữa họ với một người đàn bà...

đặc biệt khi đã có một tình cảm xen vào.

Tôi tin rằng phần lớn đàn ông đều có một lãnh địa nhỏ nhoi, riêng tư trong tận đáy lòng họ và họ không muốn người khác đột nhập.

Ông đã thọc vào đó một cách khá đột ngột...

Nhưng mục đích của ông tha thứ cho ông.

Ông đã hành động như thế là vì muốn cứu cô ấy.

Tóm lại, trận đầu đã xong, bãi chiến trường rộng mở, ông có thể dò la tùy thích, ông muốn biết gì?

Sự thực ông vua vàng ngồi yên lặng một hồi lâu, như thể để sắp xếp lại tư tưởng, mặt ông sa sầm lại và trở nên nghiêm nghị hơn.

- Thưa ông Holmes, ở đời có vài chuyện khó nói ra lắ.

Tôi quen với vợ tôi lúc tôi đi đào vàng tại Brazil.

Maria Pinto là con của một viên chức chính phủ tại Manaos.

Nàng rất đẹp.

Lúc đó tôi còn trẻ và nồng nhiệt.

Bây giờ khi bình tĩnh và khách quan nhớ chuyện xưa, tôi phải nhìn nhận rằng nàng đẹp rực rỡ.

Nàng có một bản chất phong phú, sâu sắc, đam mê, trọn vẹn nhiệt đới, khác hẳn cái cô bé Hoa Kỳ mà tôi quen về trước.

Tóm lại tôi thương và cưới nàng.

Nhưng chỉ sau vài năm, cái giai đoạn mơ mộng tiểu thuyết bị chấm dứt.

Lúc đó tôi mới thấy rằng giữa chúng tôi không có cái gì giống nhau, thế là tình yêu của tôi sút giảm.

Phải chi tình yêu của nàng cũng sút giảm thì sự việc sẽ gọn ghẽ hơn.

Ðằng này, dù tôi quậy đến đâu, nàng cũng không tách xa khỏi tôi.

Tôi bèn nghiệt ngã, vũ phu với nàng, vì tôi cho rằng những cái đó sẽ giết chết tình yêu hoặc biến nó thành hận thù, thì câu chuyện sẽ dễ dàng cho cả đôi bên.

Khốn thay, không gì có thể thay đổi tình yêu của nàng được.

Nàng tôn thờ tôi trong rừng Anh quốc này y hệt như nàng đã tôn thờ tôi hồi 20 năm về trước trên bờ sông Amazone.

Tôi quậy gì thì quậy, nàng vẫn gắn bó với tôi như trong ngày đầu.

Giữa lúc đó thì cô Grace Dunbar xuất hiện.

Chúng tôi rao vặt kiếm nữ gia sư.

Cô đến và được thu dụng.

Có thể ông đã thấy hình cô ta trên báo.

Cả thế giới đều đã nhìn nhận rằng cô cũng là một người đàn bà đẹp phi phàm.

Tôi phải thành thật thú nhận rằng, tôi không thể sống dưới một mái nhà với một người đàn bà đẹp như thế, mà không có một cảm tình dành cho nàng.

Ông có trách tôi không, ông Holmes?

- Tôi không trách ông.

Tôi sẽ trách, nếu ông đã không bày tỏ nó ra, bởi vì trong một chừng mực nào đó, cô bé kia thuộc trách nhiệm bảo vệ của ông.

- Có thể!

Ông triệu phú nhìn nhận và rùng mình trước lời trách cứ.

- Tôi không đạo đức giả.

Tôi cho rằng trong suốt đời tôi, tôi chưa bao giờ thèm bất cứ cái gì khác hơn là tình yêu và cái quyền sở hữu đối với cô gái đó.

Tôi có nói với cô ta điều đó.

- Ồ, vậy là có nói rồi?

- Tôi có nói với nàng rằng nếu có thể, tôi sẽ cưới nàng.

Nhưng chuyện đó nằm ngoài quyền năng của tôi.

Tôi có nói với nàng rằng tiền bạc không đáng kể.

Tôi sẽ làm tất cả những gì trong khả năng vì hạnh phúc và tiện nghi cho nàng.

- Thật là hào phóng, ai cũng thấy thế.

Holmes vừa nói vừa cười nhạo.

- Ông Holmes!

Tôi tới đây để nhờ ông chứng minh sự vô tội của nàng, chứ không để nghe ông dạy đạo đức.

Tôi không cần sự phê bình của ông đâu!

- Chỉ vì cô bé mà tôi lưu ý đến nội vụ.

- Holmes trả lời - Giữa hai tội này, tôi không biết cái nào nặng, cái nào nhẹ: cái tội sát nhân mà cô ta bị buộc và cái tội dụ dỗ một cô gái bơ vơ thuộc trách nhiệm bảo vệ của mình.

- Tôi lấy làm lạ là lời trách móc này được đón nhận êm xuôi.

Tới bữa nay tôi mới thấy rõ vấn đề.

Tôi cám ơn Chúa rằng cái dự án của tôi không tiến triển như tôi hy vọng.

Nàng đâu chịu nghe, nàng muốn rời nhà tức khắc.

- Người khách nói.

- Thế tại sao nàng còn chần chờ?

- Trước tiên là vì sự mất việc sẽ là một đại họa đối với gia đình nàng.

Nhất là khi tôi đã thành tâm hứa với nàng là không bao giờ gây bận tâm cho nàng.

Nàng đã bằng lòng ở lại.

Tuy nhiên, còn có lý do khác: nàng biết nàng có ảnh hưởng đến tôi!

Nàng muốn sử dụng ảnh hưởng đó để làm điều tốt.

- Tôi không hiểu điều này?

- Nàng có biết sơ về chuyện làm ăn bên ngoài của tôi.

Thưa ông, tôi không thể làm nên mà không phá nát.

Chẳng những phá những con người mà phá cả cộng đồng thành phố, ngay cả các quốc gia cũng có thể bị tôi phát nát.

Ðó là một trò chơi nghiệt ngã, kẻ yếu kém phải gục chết.

Tôi luôn chơi xả láng.

Tôi không bao giờ rên, nên tôi không để ý tới những cái rên rỉ của kẻ khác.

Ngược lại, nàng nghĩ và nói luôn miệng rằng cái thừa mứa của người giàu không nên xây dựng trên sự phá sản, nghèo đói của hằng trăm ngàn người khác.

Nàng biết rằng tôi nghe lời nàng và nàng cho rằng nàng sẽ làm được một điều thiện khi có ảnh hưởng tốt đến việc làm của tôi.

Do đó nàng ở lại và vì thế thảm kịch đã xảy ra.

- Ông có thể cho tôi một vài tia sáng không?

Ông vua vàng lại im lặng một lần nữa, ông ôm đầu suy nghĩ.

- Toàn là những yếu tố bất lợi cho nàng.

Lúc đầu khi xúc động quá, mệt mỏi quá, tôi quả có ngã về hướng nghi ngờ nàng.

Nhưng lại có một giải thích khác trong đầu tôi: hiển nhiên là vợ tôi ghen khủng khiếp.

Vợ tôi thấy rõ rằng cô gái này có ở trong trí và có ở các hành động của tôi, một ảnh hưởng mà vợ tôi chưa bao giờ kiếm được.

Vợ tôi điên vì hận thù và máu của nàng bừng bừng khí nóng của vùng Amazone.

Nàng có kế hoạch giết Dunbar hoặc dọa giết bằng súng lục, mục đích làm cho Dunbar sợ, phải rời khỏi nhà này.

Có thể một cuộc ẩu đả đã xảy giữa hai người, và khẩu súng bị ướp cò, làm cho người cầm nó trên tay bị chết.

- Tôi cũng có tính tới khả năng này.

Quả thực là giả thiết độc nhất, ngoài cái sự kiện là cô gái giết người có dự mưu - Holmes nói.

- Dunbar dứt khoát không nhận.

- Ðương nhiên, nhưng liệu cô ta có thoát khỏi không.

Giả thiết tạm là khi bị kẹt trong một tình huống sợ hãi, cô gái vẫn không quên nhặt cây súng để rồi chạy về nhà, hốt hoảng liệng nó trong tủ quần áo, chả biết để làm gì.

Và khi súng bị phát hiện thì chối phăng?

Làm sao phá vỡ cái giả thiết này?

- Chính bản thân cô Dunbar mới phá vỡ được.

- Có thể!

Holmes nhìn đồng hồ.

- Tôi tin chắc rằng sáng nay chúng ta có thể xin được giấy phép và đến Winchester bằng chuyến xe tối.

Khi gặp Dunbar rồi, có thể tôi giúp được ông.

Nhưng tôi không hứa rằng các kết luận của tôi sẽ phù hợp với ý muôn của ông.

Sự xin phép thăm tội nhân không nhanh chóng như Holmes tưởng.

Thay vì đến Winchester ngay hôm đó, chúng tôi đi tới lâu đài Thor, nơi ở của ông Neil Gibson.

Ông vua vàng không đích thân dẫn đi, nhưng chúng tôi có địa chỉ của thượng sĩ Coventry, thuộc cảnh sát sở tại, là người đầu tiên thụ lý nội vụ.

Ðó là một người cao lêu nghêu, có những cử chỉ bí hiểm lạ thường, tạo cảm giác rằng ông biết hoặc ngờ vực nhiều hơn là muốn nói.

Ông tỏ ra là một cảnh sát viên đạt chuẩn, lương thiện, khiêm tốn, thú nhận mình đã lâm vào ngõ bí, cần được tiếp sức.

Dù sao đi nữa ông ấy nói với chúng tôi.

- Tôi thích có ông hơn là Scotland Yard.

Khi Scotland Yard xuống thì cảnh sát địa phương mất hết công trạng, nếu cuộc điều tra thành công, còn khi họ thất bại thì chúng tôi bị làm vật hy sinh.

Quý ông chơi lương thiện hơn, theo như người ta nói.

- Tôi không đòi được ghi công trong vụ án.

- Holmes đáp, khiến người đối thoại của chúng tôi thở ra nhẹ nhõm.

- Nếu tôi làm sáng tỏ nó, tôi không muốn tên tôi được nêu lên.

- Rõ ràng ông là người "chơi đẹp"!

Và tôi cũng có thể tin cậy cả bạn thân của ông là bác sĩ Watson, phải không?

Giờ đây, thưa ông Holmes, trước khi ra hiện trường, tôi xin đặt cho quý ông một câu hỏi.

Tôi không dám nêu nó ra với người nào khác.

Ông ấy nhìn quanh như ngại ngùng rồi nhỏ giọng:

- Quý ông có thấy nên lập hồ sơ truy tố đích danh ông Neil Gibson không?

- Tôi đã nghĩ tới điều đó?

- Quý ông chưa thấy cô Dunbar.

Về mọi phương diện, đó là một người phụ nữ tuyệt diệu.

Có thể ông ấy muốn rảnh nợ.

Mấy chàng Hoa Kỳ bắn súng lục nhanh lắm.

Súng của ổng đó!

- Sự kiện này đã được chứng minh chưa?

- Rồi, thưa ông.

Ổng có hai cây.

Khẩu súng tịch thu là một trong hai cây đó.

- Hai súng lục?

Vậy thì cái kia đâu?

- Ổng có cả một lô khí giới đủ hiệu, đủ nòng.

Quả thật, chúng tôi chưa nhận dạng được cây súng lục thứ hai.

Nhưng bao súng chắc chắn là bao đôi.

- Nếu súng tìm ra được là thành phần của một cặp, thì lẽ ra ông phải nhận dạng cái kia?

- Ồ, chúng tôi đã gom tất cả vào một góc rồi.

Nếu cần, ông hãy vào xem qua.

- Ðể sau này đã.

Giờ đây, chúng ta hãy ra hiện trường.

Cuộc nói chuyện này diễn ra trong văn phòng chật hẹp của thượng sĩ Conventry, dành cho chi cảnh sát địa phương.

Sau khi đi bộ nửa dặm, chúng tôi tới cổng phụ nhỏ của lãnh địa Thor.

Một đường đi băng ngang khu rừng nuôi chim trĩ.

Ðứng từ một cửa, chúng tôi thấy ngôi nhà hùng vĩ, nằm chênh vênh trên đỉnh đồi.

Chúng tôi đứng gần một cái ao hình số 8.

Hai bên cầu, ao chia thành những cái hồ con con.

Hướng dẫn viên của chúng tôi đứng tại đầu cầu rồi chỉ tay về một nơi trên đất.

- Xác bà Gibson nằm tại đây.

Tôi có để một cục đá làm dấu.

- Ðương nhiên ông phải đến trước khi xác được khiêng vào nhà?

- Ðúng thế, tôi được kêu tới liền.

- Ai mời ông.

- Ông Gibson.

Ngay khi được báo, ổng cùng chạy ra với các người khác và căn dặn giữ nguyên mọi nguyên trạng, chờ cảnh sát tới.

- Qua báo chí, tôi biết hung thủ đứng không xa lắm?

- Ðúng thế.

- Gần màng tang bên phải?

- Ngay sau màng tang bên phải, thưa ông.

Không có dấu vết của ẩu đả, không có dấu tay, không có khí giới!

Miếng giấy nhỏ của cô Dunbar được nạn nhân nắm chặt trong tay trái.

- Nắm chặt?

- Vâng, thưa ông, gỡ ra đổ mồ hôi hột.

- Sự kiện này vô cùng quan trọng.

Nó loại trừ cái giả thiết cho rằng ai đó đã nhét tờ giấy vào trong tay bà Gibson sau khi bà bị giết.

Chuyện lạ lùng!

Nếu tôi nhớ không lầm tờ giấy viết rất ngắn.

"Tôi sẽ ra cầu Thor, lúc 9 giờ.

G.

Dunbar".

Phải vậy không?

- Ðúng vậy, thưa ông.

- Cô Dunbar nhìn nhận có viết tờ giấy này?

- Vâng, thưa ông.

- Cô không giải thích ra sao?

- Cô ấy không giải thích gì cả, cô dành sự bào chữa của cô cho phiên tòa đại hình.

- Bài toán thật là lý thú.

- Cái mục về tờ giấy thật mù mờ phải không?

- Theo tôi thì tờ giấy ấy lại là điểm duy nhất sáng tỏ trong nội vụ.

Holmes lắc đầu.

- Tạm nhận rằng nó do chính bị cáo viết ra.

Chắc chắn nó được nhận trước đó lâu rồi.

Tạm nói là một hoặc hai giờ đi, tại sao bà đó vẫn giữ chặt nó trong tay?

Tại sao phải mang theo kỹ lưỡng đến thế, trong khi nói chuyện với cô nữ gia sư?

Ðiều này có lạ không?

- Nếu trình bày sự việc theo cách của ông thì quả là lạ, thưa ông?

- Tôi cần ngồi yên tại đây suy nghĩ một lúc - Holmes nói.

Holmes ngồi trên bờ đá của cầu, tôi thấy đôi mắt xám và linh hoạt của anh dò xét tứ hướng.

Thình lình, anh đứng lên chạy qua bao lơn đối diện, chùi cái kính lúp rút trong túi ra, và quan sát.

- Ðây là một điều kỳ lạ!

Anh nói.

- Ðúng thế, chúng tôi có thấy một vết trầy trên thành cầu.

Tôi nghĩ do một người đi đường tạo ra.

Thành cầu màu xám, nhưng tại điểm này xuất hiện một vết trầy to bằng một đồng tiền, có màu trắng.

Khám kỹ, ta có thể thấy nó trầy là do một cú đánh mạnh.

- Phải có một cái lực rất mạnh - Holmes thì thầm một cách suy tư.

Holmes dùng gậy đập lên bao lơn nhiều lần mà không để lại dấu vết!

- Một cú cực kỳ mạnh- Holmes nói tiếp - tại một điểm!

Một cú đập không phải từ trên xuống, mà từ dưới lên, bởi vì nó ở mép dưới của thành cầu.

- Nhưng nó cách xa xác chết đến 15 bộ?

- Ðúng, cách xác chết 15 bộ.

Có thể hai điều này chúng liên quan gì với nhau, tuy vậy ta cũng nên lưu ý tới chi tiết này.

Hình như chẳng còn gì để dò tìm nữa.

Không có dấu chân, thượng sĩ đã nói rồi?

- Ðất cứng như sắt, thưa ông.

Tuyệt đối không có dấu chân.

- Vậy là chúng ta có thể rút lui ngay bây giờ.

Trước hết ta hãy vào nhà nhìn qua cái mớ vũ khí mà ông nói, rồi chúng ta sẽ đi Winchester.

Tôi muốn gặp cô Dunbar trước khi tiếp tục cuộc điều tra.

- Ông Gibson chưa về, nhưng chúng tôi gặp ông Bates.

Với một cái thở ra u buồn, ông ấy chỉ một mớ súng ống đủ hiệu, đủ cỡ mà ông Gibson tích trữ.

- Ông Gibson có nhiều kẻ thù - ông quản gia nói.

- Dù ngủ, ổng cũng để cây súng nạp đạn vào trong một ngăn kéo ở đầu giường.

Có nhiều lần chúng tôi run muốn chết.

Tôi chắc chắn rằng đã hơn một lần, người đàn bà đáng thương đó mất hồn mất vía.

- Có lần nào ông mục kích tận mắt một cảnh bạo ngược của ông ta đối với vợ không?

- Không tận mắt.

Nhưng tôi có nghe ông ấy tuôn ra những lời miệt thị lạnh buốt xương, ngay cả trước mặt gia nhân.

- Nhà triệu phú của chúng tôi không sáng chói trong đời tư - Holmes nhận xét - Thôi chúng ta đi ra ga.

- Anh Watson, chúng ta đã gom vô số dừ kiện trong đó có một vài cái hoàn toàn mới.

Nhưng kết luận vẫn còn xa, mặc dù ông Bates quá tởm ông chủ, nhưng chính qua ổng mà tôi chắc chắn rằng tin dữ báo cho Gibson ở tại thư viện.

Cơm tối đã được dọn lúc 8 giờ 30 và cho đến lúc bấy giờ thì mọi chuyện vẫn bình thường.

Ðúng là tin báo nhận được khá khuya trong lúc án mạng xảy ra đúng giờ ghi trên tờ giấy.

Tuyệt đối không có bằng cớ nào chứng minh rằng ông Gibson ra khỏi nhà sau khi từ London về lúc 5 giờ.

Mặt khác, cô Dunbar nhìn nhận rằng cô có hẹn với bà Gibson ở trước cầu.

Ngoài lời khai này, cô không chịu giải thích gì thêm.

Tôi cần hỏi cô nhiều câu hỏi quan trọng.

Tôi sẽ nói rõ rằng nội vụ rất bất lợi cho cô ta, trừ một điểm.

- Ðiểm nào?

- Sự phát hiện cây súng trong tủ của cô.

- Kỳ vậy?

- Tôi nói lớn - Theo tôi đó là cái bằng cớ hùng hồn nhất.

- Không phải vậy đâu.

Ðiểm này làm tôi nghi ngờ tức khắc?

Giờ đây sau khi đã đi sâu vào vấn đề, tôi coi đó là văn bản vững chắc duy nhất để hy vọng.

Chúng ta có nhiệm vụ kiếm ra cái gì cụ thể.

Nếu thiếu, chúng ta phải coi đó là một màn lừa bịp.

- Tôi chưa hiểu?

- Giả sử anh là cô giáo đó, đang tỉnh táo dự mưu để gạt bỏ tình địch.

Anh phải lập kế hoạch cho sít sao.

Khi tội ác đã hoàn tất, tại sao anh không vứt súng vào một trong cả chục cái hồ con đầy lau lách chằng chịt.

Như vậy thì ai sẽ kiếm ra?

Ngược lại, tại sao anh lại đem súng về nhà, bỏ vào chỗ mà chắc chắn là sẽ bị lục soát đầu tiên.

Tôi không tin rằng anh ngu xuẩn tới mức đó.

- Do cuống lên, vẫn được chứ!

- Không đâu.

Không thể như vậy được.

Hãy tin tôi, khi một án mạng đã được tỉnh táo dự mưu, thì các việc che giấu cũng đã được tỉnh táo dự liệu.

- Như vậy thì có vô số điểm cần phải được giải thích thỏa đáng!

- Chúng ta làm thử xem.

Mà một khi quan điểm được thay đổi thì cái gì trước đây là điểm buộc tội sẽ trở thành một tang chứng của sự thực.

Nhưng về cây súng lục, cô giáo bảo rằng không biết, theo giả thiết mới, cô ấy nói sự thực.

Như vậy là súng được ai đó để vào tủ của cô.

Ai vậy?

Kẻ muốn cho cô chịu trách nhiệm về vụ án mạng!

Kẻ này mới chính là thủ phạm.

Lý luận theo lối này mở ra cho ta nhiều chân trời mới!

Sáng hôm sau, tháp tùng với luật sư Joyce Cummings, người biện hộ cho cô Dunbar, chúng tôi được vào phòng giam.

Theo tất cả những gì đã được nghe, tôi hy vọng sẽ gặp một thiếu nữ cực kỳ đẹp.

Nhưng tôi không bao giờ quên cái ấn tượng mà cô Dunbar đã gây ra cho tôi.

Tôi hiểu rõ tại sao chính nhà triệu phú thấy ở cô ta một quyền lực mạnh hơn quyền lực của chính ông ta.

Nhìn cái khuôn mặt cương nghị, dứt khoát, nhưng nhạy cảm, ta có cảm giác rằng dù cô có khả năng làm một cái gì mạnh bạo, cái tính khí cao đại bẩm sinh luôn luôn hướng cô đến điều thiện.

Cô có nước da ngăm, thân hình cao, dáng dấp mảnh mai.

Cô có uy đối với kẻ khác, kể cả chúng tôi.

Tuy nhiên qua ánh mắt cô, chúng tôi thấy sự tuyệt vọng của một con thú kẹt chặt trong lưới.

Khi cô hiểu ý nghĩa của sự hiện diện và sự trợ lực của bạn tôi thì má của cô hồng lại một chút và một tia hy vọng có lóe lên trong cái nhìn của cô.

- Có thể ông Gibson đã tiết lộ cho ông biết những gì đã xảy ra giữa chúng tôi?

- Cô hỏi với giọng rền vang và run run.

- Có.

Sau khi gặp cô, tôi nhìn nhận là đúng: tất cả những gì ông Gibson nói về ảnh hưởng của cô với ông ta và sự trong sáng trong mối quan hệ giữa ông ta và cô.

Nhưng tại sao chi tiết này không được tiết lộ cho dự thẩm - Holmes nói.

- Tôi đâu có ngờ rằng, chuyện khó tin như thế lại được chấp nhận.

Trước đây tôi cho rằng cứ nhẫn nại, nội vụ sẽ tự nó sáng tỏ, khỏi cần đào sâu vào những chi tiết đau lòng về đời tư của gia đình đó.

Nhưng giờ đây tôi thấy thay vì sáng tỏ, câu chuyện lại trầm trọng thêm ra.

- Thưa cô!

- Holmes nói lớn - Tôi thỉnh cầu cô đừng nuôi ảo vọng gì về hướng đó.

Luật sư Cummings sẽ cho cô biết rằng tất cả các lá bài đều bất lợi cho ta.

Nói rằng sẽ không có gì nguy hại cho cô là ác độc, là lừa bịp.

Cô hãy giúp chúng tôi để làm nổ bùng sự thật?

- Tôi sẽ không giấu gì quý ông?

- Vậy hãy cho chúng tôi rõ về mối quan hệ thực tế giữa cô và bà Gibson.

- Bà ấy ghét tôi, thưa ông Holmes.

Bà ghét tôi với tất cả bạo lực của tính khí nhiệt đới của bà.

Ðó là một người đàn bà không bao giờ ngừng ở lưng chừng.

Bà ấy thương ông bao nhiêu thì thù ghét tôi bấy nhiêu.

Có thể bà ấy đã hiểu lầm về mối quan hệ giữa tôi với ông ấy.

Tôi không hề muốn phá gia đình của bà ấy.

Bà thương chồng nhiều đến nỗi bà không thể hiểu được cái mối liên lạc trí thức, đạo lý ràng buộc chồng bà với tôi.

Bà không thể hiểu rằng chỉ vì muốn tạo ảnh hưởng tốt cho ông ấy mà tôi còn nấn ná ở trong căn nhà đó.

Giờ đây, tôi mới hiểu là tôi sai lầm khi không chịu dứt khoát.

Không thể nào biện minh sự hiện diện của tôi tại một nơi mà tôi là nguồn gốc của đại họa.

Nhưng, dù tôi đã ra đi, sự bất hạnh vẫn tồn tại ở gia đình đó.

- Cô Dunbar, tôi khẩn khoản yêu cầu cô kể cho chúng tôi nghe những gì xảy ra đêm đó.

- Thưa ông, tôi biết gì thì kể nấy, nhưng không chứng minh gì được đâu.

Nhưng có những dữ kiện thiết yếu mà tôi thấy không thể nào giải thích được.

- Nếu cô cung cấp đừ kiện cho chúng tôi thì may ra có người sẽ giải thích được.

- Sự hiện diện của tôi tại cầu Thor đêm đó do giấy mời của bà Gibson gửi lúc sáng.

Giấy này để ở bàn phòng học, bà ấy yêu cầu tôi gặp bà sau cơm tối vì bà có một điều quan trọng cần nói với tôi.

Vì bà ấy muốn rằng sự gặp gỡ đó được giữ bí mật nên thư hồi âm sẽ được đặt ở chỗ đồng hồ mặt trời ngoài vườn và bà còn yêu cầu tôi đốt bức thư của bà sau khi coi xong.

Tôi đã ném bức thư gió vào trong lò sưởi.

Bà này rất sợ chồng, ông này xử sự với bà rất thô bạo.

Do đó, tôi nghĩ bà lén lút vì giấu chồng.

- Vậy mà bà ấy lại giữ rất kỹ lá thư cô trả lời.

- Ðúng thế!

Tôi rất ngạc nhiên khi biết bà cầm trong tay!

- Rồi chuyện gì xảy ra sau đó?

- Tôi đến như đã hẹn.

Khi tôi đến nơi thì bà ấy đã có mặt ở đó.

Thú thật, lúc bấy giờ, tôi mới lường được mức độ thù hận mà người đàn bà đáng thương này dành cho tôi.

Bà ấy như điên... và tôi tin rằng bà ấy điên thật.

Sự thù hận đã dồn nén bấy lâu.

Tôi không lặp lại những gì bà đã nói với tôi.

Chỉ biết là bà đã tuôn ra những thác từ ngữ hãi hùng, những lời lẽ mà tôi không bao giờ dám lặp lại.

Tôi không trả lời tiếng nào.

Tôi bịt tai, chạy trốn.

Khi tôi bỏ đi, bà ta vẫn đứng ở đầu cầu gởi theo tôi đủ mọi lời nguyền rủa.

- Ngay tại chỗ người ta tìm ra xác chết của bà ấy?

- Cách đó vài yard.

- Nếu bà ấy bị bắn sau khi cô chạy chẳng được bao lâu thì tại sao cô không hề nghe gì cả?

- Thưa ông Holmes, thật sự thìiếng nổ làm tôi hoảng hốt đến độ chỉ muốn tìm sự bình yên trong phòng tôi thôi.

Lúc bấy giờ tôi không còn để ý đến cái gì nữa.

- Cô nói cô quay về phòng.

Từ lúc đó đến sáng cô có rời phòng không?

- Có!

Khi cái tin bà ấy bị giết loan truyền, tôi cùng chạy ra với nhiều người khác.

- Cô có trông thấy ông Gibson không?

- Có ông ấy từ cầu về.

Ông sai mời bác sĩ và cảnh sát.

- Theo cô thì ông ấy có bị chấn động chứ.

- Ông Gìbson là con người sắt đá, tự chủ cao độ.

Tôi không tin rằng ông ấy để lộ nhiều xúc động ra ngoài.

Nhưng, là người biết rõ ông ấy, tôi tin rằng ông ấy bị xúc động mạnh.

- Bây giờ, chúng ta đề cập đến điểm quan trọng nhất: cây súng lục được tìm thấy trong phòng cô, nhưng trước đó, cô có thấy cây súng này không?

- Chưa bao giờ, tôi xin thề!

- Nó bị phát hiện vào lúc nào?

- Sáng hôm sau, khi cảnh sát bắt đầu điều tra.

- Ngay giữa đống đồ đạc của cô?

- Ðúng vậy.

Trong tủ của tôi, dưới cái áo dài.

- Cô không biết nó được để lại đó từ lúc nào.

- Sáng hôm trước không có ở đó!

- Sao cô biết?

- Vì tôi có dọn dẹp, sắp đặt tủ.

- Có lẽ có ai đó đã vào phòng cô, đặt cây súng vào tủ cô để làm cho cô sẽ bị buộc tội.

- Có lẽ!

- Nhưng lúc nào?

- Có thể vào giờ cơm hoặc trong lúc tôi ở trong phòng học của đứa bé.

- Ở nơi cô nhận bức thư?

- Ðúng thế!

Tôi ở phòng học suốt buổi sáng.

- Cám ơn cô.

Cô thấy còn có gì khác có thể giúp chúng tôi không?

- Không.

- Tôi có ghi nhận một dấu vết va chạm cực mạnh trên thành cầu.

Vết tích mới toanh.

Cô có một giải thích nào cho dấu vết này không?

- Có thể chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên.

- Nó cực kỳ dị thường cô Dunbar à.

Tại sao có vết tích này lúc xảy ra án mạng?

Tại sao lại ngay chỗ đó?

Làm sao tạo ra nó được?

Phải có sự **ng chạm rất mạnh chứ.

Holmes im lặng.

Khuôn mặt nhọn của anh đột ngột có vẻ xa xăm, căng thẳng.

Sự thay đổi này cho thấy tâm trí anh đang hoạt động mạnh.

Tất cả từ luật sư, người nữ tù đến tôi không ai dám làm gián đoạn sự suy tư của anh.

Bỗng anh nhảy ra khỏi ghế, la to:

- Watson!

Ðứng lên!

Ðứng lên!

- Có gì vậy Holmes!

- Hãy an tâm, cô Dunbar thân mến!

Ông Cummings, tôi sẽ liên lạc với ông.

Với sự tiếp tay của thần công lý, tôi sẽ nộp cho ông một hồ sơ làm rung chuyển nước Anh.

Mai cô sẽ có tin, cô Dunbar.

Hãy tin tôi, my mù sẽ tan biến.

Tôi có cơ sở để hy vọng rằng ánh sáng sự thực sẽ phá tan mây mù.

Từ Winchester về Thor không bao xa, nhưng chuyến đi như đài dằng dặc vì sự nóng lòng của tôi cũng như của Holmes.

Anh ta không ngồi yên được, cứ đi tới, đi lui trong toa xe, vừa gõ nhẹ lên đệm xe.

Khi tàu gần tới nơi, anh ngồi lại, đối diện với tôi.

Trong toa hạng nhất, chỉ có hai chúng tôi.

Anh nhìn vào mắt tôi, tinh nghịch, nói:

- Watson!

Hình như dù đi dạo, anh cũng mang súng theo chứ!

- Ðúng thế!

Ðôi khi tôi cũng đãng trí về mặt này.

Tôi rút súng trong túi ra.

Ðó là một cây súng ngắn, gọn, nhưng rất công hiệu.

Holmes cầm súng, cài chốt an toàn, tháo đạn ra rồi khám xét kỹ.

- Nặng, quá nặng!

- Holmes nói - Anh biết không Watson.

Tôi cho rằng súng của anh có liên quan chặt chẽ với điều bí ẩn mà chúng ta sắp làm sáng tỏ.

- Anh đùa à?

- Tôi nói nghiêm chỉnh đấy.

Chúng ta phải thử nghiệm.

Nếu đúng thì mọi việc sẽ sáng tỏ. hãy để dành lại một viên, chỉ lắp năm viên khác vào đây và đóng cái chốt an toàn.

Xong nhé!

Tôi không có tia sáng nào trong gợi ý của Holmes mà cũng không làm cho anh làm sáng tỏ.

Và 15 phút sau chúng tôi đã có mặt tại cái lâu đài bí ẩn.

Ông thượng sĩ cảnh sát ra đón chúng tôi.

- Có dấu vết mới sao, ông Holmes?

- Tất cả tùy thuộc sự vận hành của cây súng này.

Nó đây!

Nào, ông cảnh sát, tôi cần 10 yard dây.

Một tiệm tạp hóa trong làng đã bán cho chúng tôi số dây đó.

Holmes lộ vẻ hài lòng:

- Đây là những gì chúng ta cần.

Giờ đây, chúng ta lên đường đi nốt chặng nhất của cuộc hành trình.

Mặt trời xế bóng, biến cái bưng biền gợn sóng của Hampshire thành một cảnh thu lộng lẫy.

Thượng sĩ Conventry đi cạnh chúng tôi.

Ðôi mắt thiếu tin tưởng cho thấy ông ngờ vực sự quân bình thần kinh của bạn tôi.

Khi tới gần hiện trường, tôi thấy Holmes đang căng thẳng thần kinh.

- Ðược rồi!

- Holmes nói.

Trong khi đi, anh ta cột chặt một đầu dây vào báng súng lục.

Khi tới đầu cầu, theo sự hướng dẫn của người cảnh sát, Holmes thận trọng đánh dấu dưới đất vị trí chính xác của nơi xác chết nằm.

Rồi anh lục lọi các bụi cây xung quanh, kiếm một viên đá to.

Anh cột cục đá này vào đầu kia của sợi dây và treo nó trên bao lơn cầu sao cho nó đu đưa thoải mái trên mặt nước.

Anh bèn đứng vào vị trí của xác bà Gibson, tay cầm súng, với sợi dây căng thẳng giữa báng súng và cục đá nặng.

- Vào việc!

Holmes la lớn.

Vừa nói xong, anh giơ súng ngang đầu, rồi thả ra.

Trong một giây, cây súng bị kéo bởi sức nặng của cục đá, va vào bao lơn cầu một tiếng "cạch" khô khan, văng lên cao rồi lọt xuống nước.

Cây súng vừa rời khỏi tay thì Holmes chạy tới quỳ bên cạnh cầu xem xét.

Anh hân hoan la lên:

- Chưa có chứng minh nào hoàn chỉnh hơn.

Thấy không Watson, cây súng của anh đã giải bài toán.

Vừa nói anh chỉ vào một vết trầy cùng một dạng với vết cũ trên thành cầu.

- Ðêm nay ta sẽ nghỉ tại cái quán trong làng.

Anh nói tiếp rồi nhìn viên thượng sĩ cảnh sát đang ngạc nhiên.

- Chắc ông có cái vợt để vớt cây súng của bạn tôi?

Cạnh đó ông cũng sẽ tìm thấy một cây súng nữa dính với sợi nhợ và cục đá mà người đàn bà mưu dùng để ngụy trang sự tự sát của mình và gán tội sát nhân cho một kẻ vô tội.

Ông vui lòng thông báo cho ông Gibson hay rằng tôi sẽ gặp ông ấy vào sáng mai, sau khi những điều cần thiết đã được thực hiện để minh oan cho cô Dunbar.

Giữa đêm khuya, trong lúc chúng tôi thanh thản hút thuốc trong quán, Holmes tóm lược cho tôi diễn tiến nội vụ:

- Tôi sợ rằng ghép thêm vụ án cầu Thor chả tăng thêm danh tiếng cho tôi.

Tôi quá chậm lụt, thiếu hẳn sự kết hợp giữa trí tưởng tượng và óc thực tế.

Tôi thú thật rằng cái vết trầy là một chứng tích đủ để gợi cho tôi lời giải đáp đúng.

Tôi tự chê trách là không thấy được sớm hơn.

Phải nhìn nhận cái hoạt động tinh tế và sâu sắc của người đàn bà bất hạnh ấy.

Chắc chắn bà ấy còn kết tội cô gia sư về những cử chỉ thô lỗ của chồng bà đối với bà.

Do đó bà ta có ý định tự sát.

Nhưng phải tự sát cách nào mà đối thủ của bà bị cột vào một vận mạng tồi tệ hơn cái chết của bà.

Bà ta khéo léo buộc cô Dunbar viết bức thư hồi âm.

Tờ giấy này cho thấy rõ cô gia sư chọn phạm trường.

Quyết chí làm cho giấy này phát hiện, bà giữ chặt tới phút chót.

Chỉ một điều này đủ cho cô giáo phải bị tạm giam.

Bà lại ăn cắp một trong các súng lục của chồng.

Lại giấu thêm một súng khác, giống hệt, vào buổi sáng, trong tủ cô giáo sau khi vứt bớt một viên đạn ở ngoài rừng.

Rồi bà ra cầu, bày ra cách khá tinh vi này để vứt bỏ vũ khí sau khi tự tử.

Khi cô Dunbar xuất hiện, bà ta dùng những phút chót để tuôn ra tất cả những thù hận phứa chất trong người.

Và sau khi cô Dunbar không chịu nổi sự nhục mạ, đã bỏ đi, bà ta thực hiện ý định của mình.

Mỗi khâu đã được ráp và dây chuyền đã hoàn chỉnh.

Báo chí có thể chê trách cảnh sát đã không nạo vét cái ao tức khắc.

Nhưng khung cảnh rộng mênh mông lại, chằng chịt lau sậy thì làm sao nạo vét dễ dàng, hơn nữa lại không biết để kiếm cái gì.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
F8 Người đi bốn chân


NGƯỜI ĐI BỐN CHÂN

THE ADVENTURE OF THE CREEPING MAN (1923)

The Case Book of Sherlock Holmes

Tàng thư của Sherlock Holmes

Một chiều chủ nhật đầu tháng 9-1903.

Holmes gởi cho tôi một bức điện ngắn ngủi: "Tới ngay, dầu không rảnh cũng phải đến".

Sự hiện diện của tôi đã trở thành một trong các thói quen của Holmes, giống như cây vĩ cầm, thuốc lá nặng, cái tẩu cũ kỹ, các sach tham khảo...

Khi mà công việc quá nhiều và cần một người tin cậy, thì tôi là người đầu tiên anh ấy nghĩ đến.

Nhưng không chỉ vậy, tôi còn như một viên đá mài cho tâm trí anh.

Anh thích sự có mặt của tôi, vì tôi cũng bắt chước suy luận như anh, những sai lầm của tôi, hoặc những ý kiến của tôi đôi khi làm lóe lên những gợi ý cho anh ấy.

Khi tới ngôi nhà ở phố Baker, tôi thấy anh ngồi co ro trong ghế bành: hai đầu gối co lại, miệng ngậm cái tẩu, trán đầy rẫy vết nhăn.

Chắc chắn anh đang rối trí về một bài toán hóc búa.

Anh lấy tay đẩy ghế bành cho tôi.

- Watson này, tôi đang nghĩ tới việc viết một chuyên khảo về công dụng của chó trong nghề thám tử.

- Đề tài này đã được nghiên cứu nhiều rồi.

- Có lẽ anh còn nhớ trong một vụ án mà muốn làm tăng tính giật gân, anh đã đặt tên là "Những cây dẻ đỏ".

Trong vụ ấy, ta chỉ cần quan sát kỹ tính khí của một đứa bé, mà suy đoán ra các thói quen gây tội ác của một người cha.

- Vâng, tôi còn nhớ khá rõ.

- Cái lý luận của tôi về chó cũng tương tự.

Con chó là phản ánh của đời sống gia đình.

Có bao giờ anh gặp một con chó đú đởn trong một gia đình sầu thảm, hoặc một con chó u sầu trong một gia đình hạnh phúc không.

Người càu nhàu có chó càu nhàu, người nguy hiểm có chó nguy hiểm.

Còn một con chó ngông thì có thể phản ánh một gia đình kỳ khôi.

- Hơi võ đoán đó!

- Tôi lắc đầu nói nhỏ.

Holmes nhét thuốc vào cái tẩu, không thèm để ý tới lời bình phẩm của tôi.

- Sự áp dụng những điều tôi vừa nói vào thực tế sẽ ăn khớp với cái vụ mà tôi đang điều tra.

Tôi đang tìm một câu giải đáp "Tại sao Roy, con chó loại sói trung thành của giáo sư Presbury lạiắn ông ấy?".

Tôi thả mình xuống ghế trở lại, thất vọng.

- Có phải vì cần trả lời một câu hỏi thô thiển này mà tôi bị đến đây?

Holmes liếc tôi.

- Anh bao giờ cũng vẫn thế!

- Holmes nói to - Đến bao giờ anh hiểu được rằng một hậu quả nghiêm trọng nhất lại có thể bắt nguồn từ những chuyện lặt vặt.

Không lạ sao, khi ta thoạt nghe một giáo sư cao niên, có danh vọng, có một con chó loại sói làm bạn thân nhất, rồi ông ta lại bị chính con chó ấy tấn công hai lần?

Nào, Watson anh nghĩ sao!

- Con này điên?

- Giả sử là thế, nhưng phải coi lại, vì nó không tấn công ai khác cả, nó chỉ tấn công ông chủ của nó vào những dịp rất đặc biệt.

Lạ lắm, Watson ạ!...

Nhưng chàng rể tương lai Bennett của ông ta lại đến trước hẹn.

Tiếng chuông của anh ta đó.

Tôi tưởng có thể nói chuyện với anh nhiều hơn trước khi tiếp anh ta.

Chúng tôi nghe tiếng bước chân đi nhanh nhẹn đến cầu thang, rồi những tiếng gõ cửa khô khan.

Lát sau, một người bước vào.

Đó là một người trạc 30 tuổi, cao ráo, gọn ghẽ, đẹp trai, nhưng có cái dáng của anh sinh viên rụt rè hơn là một người lịch lãm, Bennett bắt tay Holmes rồi nhìn tôi ngạc nhiên.

- Việc này rất tế nhị, ông Holmes, tôi phải dè dặt khi nói chuyện đó trước một người thứ ba.

- Ông khỏi lo!

Bác sĩ Watson đây là hiện thân của sự dè dặt, và tôi cũng thú thật với ông rằng trong vụ này tôi thực sự cần một phụ tá.

- Tùy ông, ông Holmes, xin ông thông cảm cho tôi.

- Anh Watson, đây là ông Trevor Bennett, trợ lý kỹ thuật của vị giáo sư, sống cùng nhà đồng thời là vị hôn phu của con gái duy nhất của giáo sư Presbury.

Do đó, ta biết rằng giáo sư có thể tin vào lòng trung nghĩa và tận tụy của ông.

- Thưa ông Holmes, bác sĩ Watson biết tình hình chưa?

- Tôi chưa có thời giờ để trình bày.

- Như vậy tôi phải quay lại các dữ kiện cũ trước khi qua cái mớ kia

- Tôi làm chuyện đó cho - Holmes nói chen vào - Giáo sư Presbury nổi tiếng khắp châu Âu, ông dành hết thời giờ cho việc nghiên cứu, ông không có bị tai tiếng gì.

Ông góa vợ và có một cô gái tên là Edith.

Ông có tính thực tế, năng nổ.

Cho tới cách nay vài tháng, tình hình là như thế.

Sau đó thì cuộc đời của ông bước qua một bước ngoặt.

Lúc ông 61 tuổi, ông hứa hôn với con gái của giáo sư Morphy, đồng nghiệp của ông tại bộ môn cơ thể học so sánh.

Cô thiếu nữ Alice Morphy vẹn toàn cả hai mặt thể chất vả trí tuệ nên vị giáo sư của chúng ta có đủ lý do để chết mê chết mệt.

Nhưng, gia đình không tán đồng.

- Chúng tôi thấy rằng sự đam mê này hơi lố bịch.

- Thân chủ của chúng tôi xen vào, nói rõ hơn.

- Rất đúng!

Lố bịch và dị hợm.

Tuy nhiên giáo sư Presbury giàu lắm, nên bố cô bé không phản đối đâu.

Cô bé đương nhiên nhiều tham vọng.

- Cô ấy có vẻ thản nhiên về tuổi tác, bất chấp cái lập dị của vị giáo sư.

Vào thời gian này, một chuyện nhỏ đột ngột xảy ra, làm đảo lộn nếp sống đều đặn của vị giáo sư: ông làm những điều trước đây ông chưa hề làm.

Ông ra đi mà không nói đi đâu, vắng nhà 15 ngày, rồi quay về trong trạng thái mệt nhoài.

Nhưng ngẫu nhiên thân chủ của chúng ta là ông Bennett đây, nhận được một bức thư của người bạn thời sinh viên tại Prague, Tiệp Khắc.

Lá thư báo cho biết có thấy giáo sư Presbury ở bên đó, nhưng không thể nói chuyện với nhau được.

Nhờ vậy gia đình mới biết giáo sư đi Prague.

Sau chuyến đi này, giáo sư thay đổi tính tình, ông trở nên thâm trầm, dè dặt.

Gia đình có cảm giác rằng ông không còn là người cũ nữa.

Ông đang sống dưới một bóng đen che lấp các đức tính cao đẹp của ông.

Trí thông minh của ông vẫn nguyên vẹn, các bài giảng cơ thể học so sánh vẫn tuyệt hảo như cũ.

Tuy nhiên có một cái gì rất mới, làm cho gia đình buồn lo và kinh ngạc.

Con gái ông rất thân thiết với ông, đã nhiều lần cố gắng khôi phục cái thâm tình cố cựu và đâm thủng cái mặt nạ bí mật này.

Cả ông Bennett đây cũng đã hết sức cố gắng, nhưng đành chịu thua.

Và giờ đây, tôi xin nhường lời cho ông Bennett để nói về mấy lá thư.

- Thưa bác sĩ Watson, giáo sư không hề giấu tôi điều gì.

Con trai hoặc em trai chưa chắc được ông tín nhiệ bằng.

Với tư cách là thư ký riêng, tôi được phép bóc ra và phân loại các thư tín và giấy tờ của ông.

Vài ngày sau khi từ Prague về, ông bảo tôi rằng một số thư có thể từ London về, có đánh dấu chéo dưới con tem thì phải để riêng cho ông.

Thực tế, có nhiều thư có đánh chéo, tuồng chữ của người gởi có vẻ là một người ít học.

Tôi không biết ông ấy có trả lời những lá thư này hay không, vì các lá thư hồi âm không có qua tay tôi.

- Còn về cái hộp?

- Holmes nói.

- Khi từ Prague về, giáo sư có mang một cái hộp bằng gỗ.

Đó là một điêu khắc quái đản theo kiểu Đức.

Ông để nó trong cái tủ dụng cụ.

Một hôm trong lúc tìm cái mỏ vịt, tôi nâng cái hộp lên.

Lạ lùng thay ông ấy bỗng nổi trận lôi đình và trách móc sự tò mò của tôi bằng các lời lẽ không được lịch sự.

Tình huống này xảy ra lần đầu tiên với tôi, làm tôi đau khổ.

Tôi cố giải thích rằng tôi chỉ đụng cái hộp hoàn toàn vì vô tình.

Tuy vậy suốt đêm đó, ông nhìn tôi một cách thiếu thiện cảm và tôi thấy rõ ông nghi ngờ tôi một chuyện gì đó.

Ông Bennett rút từ trong túi ra một tập nhật ký và nói thêm:

- Chuyện này xảy ra vào ngày 2 tháng 7.

- Ông đúng là một nhân chứng tuyệt hảo.

Có lẽ tôi cần đến các ngày tháng mà ông ghi - Holmes nói lớn.

- Kể từ khi tôi để ý đến những cái bất bình thường trong cánh xử thế của ông thầy, tôi tự nhủ rằng tôi có nhiệm vụ nghiên cứu trường hợp của ông.

Do đó tôi có thể xác định rằng cũng vào chính cái ngày 2-7 này mà con chó Roy tấn công ông khi ông rời văn phòng để ra hành lang.

Màn này được tái diễn vào những ngày 11-7 và 20-7.

Sau các cuộc tấn công này, chúng tôi phải nhốt Roy vào chuồng ngựa.

Đó là một con thú mà chúng tôi thương, vì nó rất yêu mến chủ...

Tuy nhiên tôi ngại việc lạm dụng sự nhẫn nại của hai ông.

Ông Bennett nói mấy tiếng sau với giọng trách móc, vì rõ ràng Holmes không chú ý nghe nữa.

Mặt anh se lại, mắt nhìn lên trần nhà.

Một lúc sau anh như tỉnh lại...

- Dị kỳ, rất dị kỳ - Anh thì thầm - Tôi các chi tiết này, ông Bennett.

Theo tôi thì chúng ta đã đến cái mấu chốt của nội vụ.

Khuôn mặt khả ái của thân chủ tôi sa sầm lại.

- Điều tôi sắp kể tiếp theo đây xảy ra vào đêm hôm kia, lúc 2 giờ sáng.

Tôi nằm, nhưng không ngủ.

Tôi nghe một tiếng động mạnh, dường như phát sinh từ hành lang...

- Vào ngày... ?

- Holmes hỏi.

Khách của chúng tôi không che giấu được sự bực dọc trước sự ngắt ngang này.

- Tôi đã nói là đêm hôm kia, tức là nhằm ngày 4-9.

Holmes cúi đầu cười.

- Ông hãy tiếp tục.

- Tôi thỉnh cầu ông thầy ngủ ở cuối hành lang.

Do đó nếu muốn đi xuống cầu thang, thì phải đi ngang qua cửa phòng tôi.

Thật là hãi hùng, thưa ông Holmes!

Hành lang tối đen, ngay giữa có một cửa sổ để lọt một ít ánh sáng.

Nhờ đó, tôi thấy ai đang đi ở ngoài đó.

Chính là ông, ông đang bò, thưa ông Holmes, đang bò!

Đúng ra là đi bằng tay và chân, cái đầu đong đưa giữa hai tay.

Giáo sư ta di chuyển khá dễ dàng.

Tôi điếng người, đứng trơ như phỗng đá khi ông tiến tới cửa phòng.

Tôi chận lại, hỏi xem để giúp đỡ.

Ông đứng dậy ngay tức khắc, chửi vào mặt tôi rồi hối hả chạy xuống cầu thang.

Tôi ngồi rình hơn một giờ, đến gần sáng mới về phòng.

- Nào, Watson, anh nghĩ sao về hiện tượng này?

- Holmes hỏi tôi với dáng điệu của một nhà sinh lý học.

- Có lẽ là đau lưng.

Theo kinh nghiệm của tôi thì khi đau lưng nặng có thể buộc mình phải bò khi di chuyển nhưng không làm đổi tính khí của con bệnh.

- Giỏi đó, Watson.

Anh luôn đưa chúng tôi trở về với thực tế.

Nhưng chúng ta khó mà chấp nhận giả thiết đau lưng vì ông ta có thể đứng thẳng tức khắc mà.

- Ông vẫn khỏe như trước giờ.

- Bennett nói.

- Mấy lúc này lại khỏe hơn trước nhiều lắm.

Nhưng mà sự việc cụ thể ràng ràng đó!

Cảnh sát chả giúp đỡ chúng tôi được gì.

Chúng tôi vô cùng lo lắng, có cảm giác đang đi tới một tai họa.

Edith cũng đồng ý với chúng tôi rằng không thể khoanh tay ngồi chờ.

- Quả là một việc quái đản.

Anh nghĩ gì đó Watson?

- Về phương diện y khoa, tôi mong đây là bệnh tâm thần.

Sự vận hành của não bộ bị xáo trộn bởi chuyện tình ái ông ta đi du lịch nước ngoài để chữa bệnh đó.

Thư từ và cái hộp có thể liên quan tới một cuộc thương lượng riêng tư, thí dụ một sự vay mượn hay những cổ phiếu mà ông cất kỹ trong cái hộp.

- Còn con chó loại sói có thể không đồng ý với cuộc thương lượng nọ.

Không đâu, Watson à!

Có chuyện khác trong nhất thời , tôi chỉ có thể gợi ý rằng...

Không ai có thể biết Sherlock Holmes sẽ gợi ý cái gì, bởi vì lúc đó cửa mở và một thiếu nữ bước vào.

Ông Bennett nhảy bổ tới, la to, giang hai tay về phía cô ta:

- Edith!

Không gì hệ trọng chứ ?

- Em cảm thấy cần ở bên anh, ồ, em sợ lắm, ở một mình đằng đó không được đâu.

- Ông Holmes, xin giới thiệu vị hôn thê của tôi.

- Hồi nãy giờ chúng ta mò mẫm đi tới kết luận đó, phải không Watson?

- Holmes vừa nói vừa cười.

- Thưa cô Presbury, tôi đoán rằng câu chuyện vừa xảy ra là một bước ngoặt mới mà cô muốn thông báo với chúng tôi?

Người khách nữ của chúng tôi tóc hoe, đẹp, thuộc mẫu người Anh quốc, mỉm cười với Holmes, rồi đến ngồi bên cạnh Bennett.

- Khi Bennett ra khỏi nhà, tôi biết ngay là anh ta tới đây vì có nói sẽ nhờ đến ông.

Thưa ông Holmes, ông có thể giúp đỡ người cha đáng thương của tôi không?

- Tôi hy vọng, thưa cô.

Tuy nhiên, hiện giờ tôi vẫn còn lờ mờ.

Cô có thể cho tôi một chút ánh sáng?

- Mới đêm qua thôi, suốtấy ông kỳ cục lắm.

Tôi chắc chắn rằng có những lúc ông ta chẳng nhớ gì về việc đã làm.

Ông cụ sống trong một giấc mơ dị thường.

Và hôm qua là một thí dụ.

Không phải cha tôi ở cạnh tôi.

Hình hài là ông ta đó, nhưng tâm hồn thì không phải là ông.

- Cô vui lòng cho biết điều gì đã xảy ra?

- Giữa đêm khuya, tôi bị đánh thức bởi tiếng chó sủa dữ dội.

Tội nghiệp Roy!

Nó bị xích gần chuồng ngựa.

Tôi cần nói thêm là tôi luôn luôn khóa cửa khi ngủ, vì chúng tôi sống trong sự sợ hãi liên tục.

Phòng tôi ở lầu 2, tấm sáo trước cửa sổ của tôi được kéo lên.

Bên ngoài trời sáng trăng.

Trong lúc tôi nằm nhìn ánh trăng sáng, lắng nghe tiếng chó sủa thì tôi rất kinh ngạc khi thấy mặt cha tôi đang quan sát tôi.

Tôi suýt chết vì ngạc nhiên và kinh hoàng.

Ông cụ dán mặt vào khung kiếng, ông dơ một tay lên như để đẩy cửa kiếng lên.

Nếu cửa sổ mở ra, có thể tôi đã điên rồi.

Không phải là một ảo giác đâu.

Thú thật, tôi im lìm trong 20 giây để canh chừng cái đầu đó.

Rồi nó biến mất, tôi không dám nhảy ra khỏi giường.

Tôi ngồi trơ ra đó, lạnh cóng và run lập cập suốt đêm.

Vào lúc ăn sáng, tôi gặp lại ông cụ nét mặt lạnh lùng, dữ tợn làm như ông không biết chuyện đêm qua.

Tôi cũng chẳng nói gì, kiếm cớ đi London và nhạy tới đây.

Holmes có vẻ ngạc nhiên một cách sâu xa.

- Thưa cô, cô có nói phòng cô ở lầu 2, ngoài vườn có cái thang dài không?

- Không có, thưa ông.

Đó là khía cạnh giản dị của câu chuyện.

Đâu có phương tiện sẵn để leo lên cửa sổ.

Thế mà ông cụ lại có mặt ở cửa sổ!

- Chuyện này xảy ra ngày 5-9, đó là một điểm gây rắc rối!

- Holmes nói.

Thiếu nữ có vẻ ngạc nhiên.

Bennett xen vào:

- Thưa ông, tôi đồng ý.

Ông hay hỏi về các ngày tháng của biến cố, chúng quan trọng ra sao?

- Có thể quan trọng, hiện tôi còn thiếu nhiều yếu tố.

- Ông đang nghĩ tới mối tương quan giữa cơn điên và các giai đoạn của mặt trăng chăng?

- Không, chắc chắn là không.

Tôi nghĩ đến một chuyện khác hẳn.

Ông vui lòng để lại cuốn nhật ký, vì tôi cần kiểm tra lại các ngày đó.

Watson này, tôi nghĩ rằng kế hoạch hành động của chúng ta rõ ràng lắm rồi.

Cô Presbury đã cho tin rằng cha cô ít nhớ hoặc không nhớ gì cả vào những ngày đó.

Do đó ta sẽ viếng ông ta như thể ông đã định hẹn với chúng ta vào cái ngày mà ông Bennett ghi chép.

Chúng ta sẽ mở chiến dịch tấn công, sau khi tiếp xúc với ông ta.

- Tuyệt vời!

- ông Bennett la lớn - Tuy nhiên tôi cũng cho hay trước rằng: Giáo sư có lúc phát cáu và hung bạo nữa.

Holmes cười:

- Có nhiều lý do vững chắc để chúng ta không nên chần chừ, những lý do hấp dẫn nếu giả thiết của tôi là đúng.

Ngày mai, thưa ông Bennett, ông sẽ gặp chúng tôi tại Camford.

Nếu tôi chưa đãng trí, ở đó có một cái quán mang tên là "Chequers" bán rượu porto không đến nỗi tệ, còn giường nệm thì sạch sẽ.

Anh Watson, tôi nghĩ rằng mấy ngày tới chúng ta có thể sống ở những nơi kém dễ chịu hơn.

Sáng thứ hai chúng tôi lên đường đi đến thành phố có trường đại học nổi tiếng.

Holmes chỉ nói công chuyện với tôi sau khi các va-li đã được đem vào khách sạn.

- Watson này, chúng ta có thể bắt chẹt ông giáo sư ngay trước giờ cơm.

Ông ta phải dạy tới 11 giờ, sau đó mới về nhà.

- Ta ra mắt ông ấy với lý do gì?

Holmes nhìn vào cuốn sổ tay.

- Đầu óc ông ta lộn xộn rồi.

Hôm nay là 26-8.

Ta cứ nói đại rằng hôm nay là ngày ông ta có hẹn với ta.

Chắc ông ấy không cãi gì đâu.

Anh có đủ trâng tráo để nói ẩu như vậy không?

- Dù sao cũng phải cố gắng.

- Hoan hô Watson!

Đó là phương châm của hãng mình.

Người địa phương chắc chắn sẽ chỉ đúng ông thầy của chúng ta.

Người địa phương đó là anh xà ích đánh xe đi qua các phân khoa đại học, quẹo vào một đại lộ mênh mông để đậu trước ngôi nhà xinh xắn, xung quanh có bồn cỏ xanh tươi.

Khi xe ngựa ngừng, một cái đầu hoa râm xuất hiện tại cửa sổ mặt tiền, nhìn chúng tôi chòng chọc xuyên qua đôi mắt kiếng gọng đồi mồi.

Chúng tôi được đưa vào gặp nhà bác học, con người đầy bí ẩn đang đứng trước mặt chúng tôi.

Thoạt nhìn, dáng dấp và cử chỉ của ông không lộ một nét lập dị nào, con người cao ráo, uy nghiêm.

Đôi mắt có lẽ là điểm đặc sắc nhất: sắc bén, thông minh đến độ xảo quyệt, ông đọc các danh thiếp của chúng tôi.

- Xin mời hai ông ngồi!

Tôi có thể giúp gì hai ông?

Holmes nở nụ cười.

- Chính đó là câu chuyện mà chúng tôi xin hỏi ông.

- Hỏi tôi, thưa ông?

- Có lẽ có sự lầm lẫn rồi.

Qua một trung gian, tôi được biết giáo sư Presbury thuộc đại học Camford cần đến các dịch vụ của tôi.

- Thật vậy sao?

Không có đâu!

Tôi có cảm giác như một tia hung hăng đang nhen nhúm trong đôi mắt to xám của ông.

- Ông vui lòng cho biết tên, họ của người báo tin.

- Rất tiếc, thưa giáo sư, chuyện mật mà.

Nếu có lầm lẫn, không sao cả.

Tôi thành thật xin lỗi đã làm phiền giáo sư.

- Đâu có dễ dàng như thế được.

Tôi cần hỏi cho cặn kẽ, ông có một giấy viết tay, thư từ hoặc điện tín để làm bằng không?

- Không, thưa ông!

- Tôi đoán là ông không dám liều mạng nói rằng tôi đã mời ông

- Tôi thích im lặng hơn.

- Holmes nói.

- Nhưng công việc đó đòi hỏi phải trả lời.

- Giáo sư Presbury nói với một giọng chua cay - Nhưng, tôi vẫn có, không cần đến mấy ông.

Ông băng qua văn phòng và bấm chuông, ông bạn Bennett xuất hiện.

- Vào đây, ông Bennett.

Hai ông này từ London tới có cảm giác rằng họ được mời đến.

Thư từ của tôi đều qua tay ông, ông có thấy thư tôi gửi cho một người tên Sherlock Holmes không?

- Không, thưa ông.

- Bennett đỏ mặt trả lời.

- Dứt khoát chưa nào?

- Giáo sư vừa nói vừa nhìn Holmes một cách thiếu thiện cảm - Giờ đây, ông...

Ông ưỡn ngực ra, xòe hai tay để lên bàn.

-...

Đối với tôi thì hình như hai ông đây ở trong một tình huống cần giải thích.

Holmes vươn vai.

- Một lần nữa, tôi xin lỗi đã quấy rầy ông một cách vô ích.

- Chưa được đâu, ông Holmes?

- ông già la to.

Diện mạo ông ta trở nên hung ác phi thường, tiếng nói vang vang như sấm sét, ông đứng chận ngang cửa đưa hai nắm tay:

- Hai ông không thể ra khỏi nơi đây một cách dễ dàng như thế!

Cơn thịnh nộ làm thay đổi hình dạng, đường nét của ông, làm ông mất hết lương tri.

Tôi tưởng đâu sẽ phải ẩu đả để thoát ra.

- Kính thưa giáo sư!

- ông Bennett nói lớn - Xin nghĩ tới vị thế của giáo sư, kính xin giáo sư nghĩ tới sự tai tiếng của mình trong trường đại học.

Ông Holmes là một nhân vật ai cũng biết tên.

Giáo sư không thể thất lễ

Miễn cưỡng, giáo sư tránh qua một bên cho chúng tôi đi qua.

Sau đó, chúng tôi đi tìm sự êm ả ở ngoài đường phố.

- Hệ thống thần kinh của nhà bác học hơi xuệch xoạc.

- Holmes nói nhỏ - Đột kích như vậy là liều lĩnh thật, nhưng tôi cần có cuộc tiếp xúc cá nhân này.

Hãy coi chừng, anh Watson.

Hình như ông cụ đi theo chúng ta.

- Chắc chắn ông ấy phải đuổi theo...

Quả thật một ai đó chạy bịch bịch sau lưng chúng tôi.

Nhưng may mắn không phải ông giáo sư mà là người cộng tác viên của ông ta.

- Tôi rất tiếc, thưa ông Holmes!

Tôi thành thật xin lỗi hai ông.

- Không sao cả, ông Bennett thân mến.

Nhưng cái lặt vặt như vậy xảy ra rất thường đối với nghề nghiệp của chúng tôi.

- Chưa bao giờ tôi thấy ông ấy ở trong tình trạng tương tự.

Giờ đây thì ông đã hiểu tại sao con gái ông ta và tôi sợ cuống cuồng.

Nhưng tâm trí ông ta rất minh mẫn.

- Quá minh mẫn đi chứ!

- Holmes nói - Tôi đã tính toán sai.

Trí nhớ của ông ta minh mẫn hơn cả mức dự đoán của tôi.

Nhân tiện, ông vui lòng chỉ cho chúng tôi cái cửa sổ của cô Presbury.

Ông Bennett rẽ một con đường xuyên qua các bụi cây và chúng tôi thấy một mặt của ngôi nhà.

- ̀a!

Căn thứ nhì bên trái.

- Tôi không thể nào leo lên đó, cho dù có dây leo bên dưới và ống nước bên trên cung cấp một điểm tựa hay một chỗ để bấu vào.

- Chính tôi đây cũng phải trầy da tróc vẩy mới lên tới đó.

- ông Bennett nói.

- Đương nhiên.

Đối với người bình thường đó là một thành tích đầy nguy hiểm.

- Tôi còn muốn nói với ông một nữa, ông Holmes.

Tôi có tên của người bạn ở London thường viết thư cho giáo sư.

Sáng nay giáo sư có gởi cho ông ta một lá thư.

Tôi có ghi lại cái địa chỉ của ông ta trên giấy thấm.

Tôi đã làm một ông việc bẩn thỉu, trong lúc được tin cậy như bạn tri âm, nhưng biết làm sao bây giờ.

Holmes đọc tờ giấy mà Bennett đưa, rồi bỏ nó vào túi :

- Dorak?

Tên gì lạ kỳ?

Hay quá, đây là một cái khâu to tướng trong cái dây chuyền.

Chiều mai chúng tôi về London, thưa ông Bennett.

Lưu lại đây chả có ích lợi gì cả.

Chúng tôi không thể bắt nhốt giáo sư được vì ông ta có phạm tội ác gì đâu và cũng không thể xích ông ta lại được, bởi vì bệnh điên của giáo sư chưa chứng minh được.

Cho tới giờ phút này không thể dự trù một biện pháp nào cả.

- Nhưng không lẽ chúng ta bó tay?

- Hãy kiên nhẫn!

Sự việc sẽ qua một bước ngoặt.

Nếu tôi tính toán không lầm, thì ngày thứ ba tới, giáo sư sẽ lên cơn.

Ngày đó, chúng tôi sẽ có mặt tại Camford.

Ngồi ở đây chờ đợi thì không thoải mái chút nào, ngoài ra tôi đề nghị cô Presbury nên nán lại ở London thêm một thời gian nữa.

- Được.

- Tóm lại cô ấy phải nán lại London cho đến khi nào bảo đảm rằng mọi hiểm nguy đã tan biến.

Từ đây tới đó, ông chớ có chọc ông ta giận, ông ấy mà vui, mọi sự sẽ êm xuôi.

- Ông ấy kìa!

- Bennett nói nhỏ.

Xuyên qua các nhánh cây, chúng tôi thấy rõ cái dáng cao dong dỏng đứng trước cửa chính, nhìn tứ phương, ông nghiêng người ra phía trước, hai tay vung vẩy, đầu quay trái rồi quay phải.

Viên thư ký vội vã thuồn, vượt các bụi rậm để về với giáo sư.

Hai người cùng nhau trở vào nhà, nói chuyện huyên thuyên và hăng say.

- Tôi đoán rằng ông cụ đang cộng hai với hai.

- Holmes nói với tôi trên đường về quán trọ - Ông ta tỏ ra có một não bộ logic đặc biệt.

Đành rằng ông hung dữ nhưng ở vị trí của ông, ông có đủ lý do để nổi điên.

Ông ta thấy có thám tử theo dõi và chắc chắn nghi ngờ con gái và con rể tương lai đã báo động.

Ông bạn Bennett của chúng ta sẽ phải trải qua những giờ phút sóng gió

Holmes dừng chân tại bưu điện để đánh một bức điện tín.

Ngay tối hôm đó chúng tôi nhận được hồi âm.

Anh cho tôi xem: "Tôi đi tới đại lộ Commercial và đã thấy Dorak rồi.

Người dễ thương, gốc Bohemia.

Sở hữu một cửa hàng lớn.

Mercier".

- Anh chưa biết Mereier - Holmes giải thích cho tôi - Tôi mới tuyển.

Anh ta sẽ lo công việc thường ngày.

Chúng ta cần biết về người mà vị giáo sư liên lạc thư tín.

Quốc tịch của người này làm tôi nhớ lại chuyến đi Prague của giáo sư.

Cám ơn Thượng đế!

- Tôi nói.

- Mãi tới nay mới gặp cái màn này khớp với cái kia.

Cho tới giờ phút này, chúng ta đứng trước một loạt dữ kiện không giải thích được và không có liên quan gì với nhau.

Thí dụ có cái tương quan gì giữa một con chó dữ và một sự lưu ngụ tại Prague hoặc giữa hai dữ kiện này với một người mà vào một đêm nào đó, sẽ di chuyển bằng bốn chân.

Holmes vừa xua tay, vừa cười.

Chúng tôi đang ngồi tại bộ xa-lông nhỏ của một khách sạn xưa, trước một chai rượu porto.

- Nào, để khởi sự, chúng ta lấy mấy ngày ra nghiên cứu cho vui.

Holmes nói rồi chúm các ngón tay lại, lấy dáng điệu của một thầy giáo làng đang lên lớp.

- Cuốn nhật ký của chàng thanh niên cho ta thấy rằng các xáo trộn bùng nổ trước tiên vào ngày 2-7 rồi cứ tái diễn 9 ngày một lần, trừ một biệt lệ.

Cái cơn kế chót là 26-8, còn cơn chót là ngày 3-9 và sắp tới sẽ là ngày 12-9?

- Tôi đồng ý.

Chúng ta đưa ra giả thiết tạm như sau:

- Cứ 9 ngày, ông ta uống một liều thuốc mạnh, có hiệu quả thoảng qua nhưng cực kỳ độc hại.

Tính khí ông già đương nhiên chịu ảnh hưởng của chất độc dược này.

Ông có thói quen này lúc ở Prague và hiện nay thì qua trung gian của một người ông ta vẫn được cung cấp thuốc.

Mạch lạc chưa, Watson?

- Còn con chó, còn cái đầu tại cửa sổ.

Còn sự di chuyển bằng bốn chân ở ngoài hành lang?

- Chúng ta đã có một khởi điểm.

Còn từ đây tới thứ ba tuần sau, vào ngày 12-9, tôi không hy vọng được cái gì mới.

Trong khi chờ đợi, chúng ta chỉ có mỗi một việc làm là giữ mối liên lạc với bạn Bennett và tận hưởng những niềm vui nhỏ tại thành phố đáng yêu này.

Sáng hôm sau, Bennett trốn ra để cho tin mới.

Đúng như Holmes dự đoán, anh ta phải trải qua những giây phút khá nhức đầu.

Tuy không trực tiếp cáo buộc về việc chúng tôi đột nhập vào nhà, nhưng ông giáo sư nói năng với anh bằng một ngôn ngữ cực kỳ thô bạo và nghi ngờ anh về các biến cố đã xảy ra.

Tuy nhiên, sáng nay ông trở lại bình thường, vẫn lên lớp một cách tuyệt hảo như thường lệ.

- Trừ những cơn khủng hoảng kỳ cục, - Bennett nói - Tôi thấy ông dạt dào sinh khí hơn bao giờ hết, và não bộ của ông vận hành tuyệt hảo.

Tuy nhiên ông không còn là người cũ, người mà chúng tôi quen thuộc.

- Theo tôi, không có chi phải sợ trong vòng một tuần.

- Holmes đáp - Tôi có nhiều việc khác nữa.

Còn bác sĩ Watson cũng có một số bệnh nhân đang chờ.

Ta dành phải hẹn nhau vào thứ ba tới, tại quán này.

Trước khi tạm biệt nhau, tôi hy vọng sẽ có khả năng giải thích hoặc đánh tan các ưu tư làm cho gia đình ông điêu đứng.

Từ đây tới đó, nhớ liên lạc với chúng tôi bằng thư.

Mấy ngày sau đó, tôi không gặp lại Holmes nữa.

Nhưng tới thứ hai, tôi nhận một điện văn ngắn, bảo tôi đến vào ngày hôm sau.

Trong lúc tàu lăn bánh về hướng Camford, Holmes báo cho tôi biết rằng không có biến cố mới xảy ra.

Sự yên ấm ng̣ trị trong gia đình, vì giáo sư Presbury đã xử thế hoàn toàn bình thường.

Khi gặp lại chúng tôi tại khách sạn vào tối hôm đó, Bennett nói:

- Hôm nay ông có nhận từ London một gói nhỏ và một cái thư có dấu chéo dưới con tem, ông không đụng tới.

Ngoài ra, không còn gì khác để báo cáo.

- Bấy nhiêu có thể là đủ rồi.

- Holmes thì thầm với một nụ cười ảm đạm.

- Ông Bennett, tôi tin rằng chúng ta sẽ đi tới kết luận này ngay đêm nay.

Nếu các suy đoán của tôi mà đúng, thì vụ này đã chín mùi rồi.

Từ giờ cho tới đó, ta phải liên tục cảnh giác.

Nếu nghe ông bò ngang cửa phònganh làm lơ đi, chỉ kín đáo theo dõi.

Bác sĩ Watson và tôi chắc chắn quanh quẩn đâu đó.

Nhân tiện cho tôi biết ai giữ chìa khóa của cái hộp nhỏ?

- Giáo sư móc nó vào dây chuyền đồng hồ.

- Vậy chúng ta phải bắt đầu nghiên cứu về hướng đó.

Kẹt quá thì bẻ ổ khóa.

Trong nhà còn người đàn ông nào khác có đủ sức khỏe không?

- Người xà ích.

- Ông ta ngủ ở chỗ nào?

- Trong chuồng ngựa.

Có lẽ chúng ta cần tới ông ta.

Hiện giờ chúng ta không thể làm gì hơn trước khi sự việc đi vào ngõ rẽ!

Tạm biệt.

Tuy nhiên, tôi đoán chúng ta sẽ gặp nhau trở lại trước khi trời sáng.

Gần nửa đêm, chúng tôi rình ngoài các bụi rậm, trước cổng nhà của giáo sư.

Đêm đẹp, nhưng lạnh, gió thổi, mây bay mau trên trời và thỉnh thoảng che khuất mặt trăng lưỡi liềm.

Nếu không vì tò mò và nóng lòng muốn chứng kiến phút chót của cái chuỗi dữ kiện quái dị thì cái phiên gác của chúng tôi sẽ chán ngắt.

- Hễ giả thiết về chu kỳ 9 ngày mà đúng - Holmes nói - Thì chắc chắn đêm nay chúng ta thấy ông giáo sư lên cơn.

Các triệu chứng tỏ lộ sau khi từ Prague về.

Ông bí mật liên lạc thư từ với một thương gia tên Dorak, đặt trụ sở tại London và là đại diện thương mại cho ai đó tại Prague.

Ông ta có nhận từ thằng cha này một gói hàng vào hôm nay.

Tất cả mấy chuyện này đều ăn khớp với nhau.

Chúng ta không biết ông ta uống cái gì.

Tại sao lại uống những thuốc gởi từ Prague tới.

Ông ta uống theo sự hướng dẫn chính xác, 9 ngày một lần.

Đây là điểm đầu tiên mà tôi để ý.

Triệu chứng dễ thấy lắm, anh có để ý các cái khớp ngón tay của ông ta không.

- Không.

- Da dày và chai chưa từng thấy.

Tiếp đến cái cổ tay áo sơ mi, đầu gối quần dài và đôi giày.

Holmes ngừng lại, vỗ trán.

- A, Watson!

Cái giả thiết của tôi khó tin nhưng chắc chắn nó đúng.

Tất cả cái dữ kiện đều chĩa về hướng này.

Vậy mà ta đâu có thấy các mối liên hệ nào giữa các dữ kiện này?

Mấy cái khớp này...

đều không được lưu ý đúng mức!

Còn con chó?

Còn đám dây leo?

Đến lúc phải núp rồi!

Coi chừng, Watson!

Ông ta kìa!

Mau lên!

Cửa chính mở từ từ.

Dáng cao dong dỏng của ông giáo sư nổi bật, ông ta mặc áo ngủ, và đứng thẳng, hơi nghiêng người về phía trước, hai tay đong đưa.

Giáo sư xuống sân.

Lúc đó, một đột biến xảy đến.

Ông ta khom người xuống, bắt đầu di chuyển bằng tay và chân, thỉnh thoảng nhảy nhót.

Ông ta đi bằng bốn chân qua mặt tiền nhà rồi quẹo vào góc thì ông ta biến mất.

Bennett lẻn ra khỏi nhà, rón rén theo sau.

- Tới đây, Watson!

- Holmes gọi nhỏ.

Chúng tôi hối hả băng qua bụi cây, đến một địa điểm có thể quan sát phía hông nhà được trăng lưỡi liềm chiếu sáng.

Rõ ràng, ông giáo sư đang co ro dưới chân bức tường đầy dây leo.

Rồi, nhanh nhẹn lạ thường, ông bắt đầu níu nhánh này, chuyền nhánh khác, chân tì chắc, tay bám chặt, hình như muốn thích thử tài leo chớ không có mục đích cụ thể nào, áo ngủ tung bay phất phới hai bên như một con dơi khổng lồ.

Ông vẽ một vệt đen vuông trên tường.

Lát sau như chán trò chơi này, ông chuyền xuống, lại ngồi bệt xuống đất.

Rồi lại đi như thú bốn chân đến chuồng ngựa.

Con chó Roy chạy ra khỏi chuồng, sủa dữ dội.

Nó kéo căng dây xích, lồng lộn như điên.

Ông giáo sư ngồi ngay gần kề, nhưng ngoài tầm sợi dây xích, chọc ghẹo chó với trăm nghìn cách.

Ông hốt cát hoặc nhặt sỏi tung vào mắt chó, lại lấy gậy chọc, đưa ngay dưới mõm chó, ông cố chọc cho chó tức giận cực độ.

Chưa bao giờ chúng tôi chứng kiến một cảnh dị thường như thế.

Người càng nặn ra những điều tàn ác để chọc ghẹo, chó càng điên tiết sủa vang, vùng vẫy bức xích.

Rồi thình lình thảm cảnh nổ bùng.

Dây buộc cổ tuột ra.

Chó nhảy đến.

Người và chó cùng nhau lăn lộn: chó gào rống, người la hét.

Chó cắn vào cổ người, ông giáo sư ngất xỉu trước khi chúng tôi chạy đến.

Nếu Bennett không chạy tới kịp, ra oai với con chó thì chính chúng tôi cũng lâm nguy luôn.

Sự lao xao làm cho anh xà ích ngủ ở trên chuồng ngựa thức giấc, chạy ra với nét mặt còn ngái ngủ và kinh hoàng.

Con chó lại bị xích.

Chúng tôi đưa ông giáo sư về phòng.

Bennett có học về y, giúp tôi băng cuống họng bị thương.

Sau nửa giờ tìm đủ mọi cách, chúng tôi cầm được vết thương nguy hiểm.

Tôi chích một mũi morphin làm cho ông ta ngủ mê man.

Tôi đề nghị mời một y sĩ chuyên môn nhưng Bennett phản đối vì không muốn chuyện xấu xa này bung ra ngoài, có hại cho thanh danh ông giáo sư và cho cô con gái.

- Đúng vậy - Holmes - Chúng ta sẽ ngăn cản mọi sự tái diễn.

Ông Bennett vui lòng giao cho tôi chiếc chìa khóa ở dây đồng hồ.

Chúng ta đi xem cái hộp bí mật, còn anh xà ích thì hãy ở cạnh người bệnh.

Trong hộp không có gì nhiều: một chai nhỏ rỗng, một chai khác còn gần đầy, một ống kim thạch, nhiều bức thư chữ viết lí nhí của một người ngoại quốc mà các phong bì đều có dấu chéo.

Tất cả đều xuất xứ từ đại lộ Commereial và ký tên là Dorak.

Chúng chứa hoặc những biên nhận hoặc báo tin một chai thuốc mới gửi đến.

Có một bao bì với chữ viết của một người có học hơn và mang bưu ấn của Prague trên một con tem của nước áo.

- Đây là giải đáp của bài toán!

- Holmes la lớn, rồi đọc to lên.

"Thưa đồng nghiệp kínhến!

Kể từ ngày được ông chiếu cố, thăm viếng, tôi suy nghĩ nhiều về trường hợp của ông.

Vì ông quá lo lắng nên tôi phải chữa trị cho ông, nhưng ông phải thận trọng, vì các kết quả mà tôi đạt được, cho thấy có kèm theo những nguy hiểm.

Nếu sử dụng loại serum của vượn-người, thì ông được an toàn hơn.

Nhưng tôi thích sử dụng loại serum của con vượn Langur.

Loại vượn này chuyên bò và leo, còn vượn-người thì đi thẳng như người.

Tôi yêu cầu ông thận trọng tối đa để bài thuốc khỏi bị tiết lộ.

Tôi còn một thân chủ khác ở Anh.

Dorak là đại diện của tôi, phụ trách lấy thuốc cho cả hai ông.

Ông nên báo cáo hàng tuần cho tôi biết.

Thân trọng kính chào

H.

LOWENSTEIN".

Sau khi nghe đọc thư xong, tôi giảng giải cho Holmes và Bennett biết

- Lowenstein.

Cái tên này làm tôi nhớ lại một bài báo kể chuyện một nhà bác học vô danh đã tìm ra thuốc trường sinh bất tử.

Lowenstein của Prague!

Lowenstein với serum trường sinh đã bị đại học y khoa cấm vì ông không tiết lộ nguồn gốc của serum.

Bennett lấy ra một cuốn động vật học, rồi đọc.

- Langur, giống khỉ to, đầu đen, sống trên cái triền núi Hymalayar, là loài khỉ leo trèo, to con nhất và giống con người nhất.

Ông Holmes, nhờ ông mà chúng tôi phăng lên ngọn ngành của tệ trạng.

- Ngọn ngành thực sự là câu chuyện chồng già vợ trẻ.

Ông giáo sư lo sợ cuộc tình duyên sẽ sớm đổ vỡ nếu ông "không còn trẻ!".

Không ngờ vì muốn trèo cao mà ông rủi ro tụt xuống thấp hơn.

Holmes ngắm nghía cái lọ cầm trên tay và suy nghiệm chất lỏng trong trẻo ở bên trong.

- Khi tôi viết xong cái thư qui trách nhiệm cho Lowenstein về tội lưu hành khất độc thì chúng ta sẽ không còn bực bội nữa.

Theo tôi thì chả còn gì để nói thêm, ông Bennett à.

Con chó nhờ cái khứu giác nhạy bén của nó nên nó cảm nhận sự thay đổi nhanh hơn anh nhiều.

Chính con khỉ, con khỉ thích leo trèo, bị Roy tấn công, chứ không phải ông giáo sư.

Còn việc ông giáo sư nhìn vào phòng con gái là hoàn toàn ngẫu nhiên.

Watson này!

Chút nữa có chuyến xe lửa đi London, tôi đề nghị chúng ta đi uống trà trước khi lên tàu.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
F9 Cái bờm sư tử


CÁI BỜM SƯ TỬ

THE ADVENTURE OF THE LIONS MANE (1926)

The Case Book of Sherlock Holmes

Tàng thư của Sherlock Holmes

Sau khi giải nghệ, tôi rút về Sussex sống cuộc đời êm ả giữa thiên nhiên.

Lúc đó, thỉnh thoảng Watson có tới thăm tôi.

Biệt thự của tôi tọa lạc tạiriền phía nam của dãy núi Downs, từ đó nhìn ra biển Manche.

Tại đó, bờ biển toàn bằng đá vôi.

Muốn xuống biển, phải theo một đường mòn độc nhất, rất dài, khúc khuỷu, quanh co, dốc thẳng đứng và trơn trượt.

Cuối đường môn này có một bãi sỏi bề ngang 100 yard, khi nước lớn cũng không bị chìm hẳn.

Đó đây có các chỗ trũng tạo thành những hồ tắm thiên nhiên đẹp mắt, nước được thay đều đặn vào lúc thủy triều lên.

Cái bãi biển lý tưởng này trải dài mấy cây số, chỉ trừ tại một điểm có cái vịnh con và ngôi làng Fulworth.

Tôi, bà lão quản gia và đám ong mật quây quần với nhau trong lãnh địa mênh mông của tôi.

Cách đó nửa dặm, là trường học "The Gables" nổi tiếng của ông Harold Stackhurst, với khoảng 20 thanh niên đang học nhiều nghề khác nhau dưới sự hướng dẫn của nhiều giáo sư.

Ông Stackhurst là một tay chèo cừ khôi thời thanh niên và có kiến thức tổng quát rất giỏi.

Chúng tôi kết bạn với nhau từ ngày tôi mới tới.

Ông là người địa phương độc nhất có thể tới nhà tôi hàn huyên ban đêm, hoặc chính tôi qua bên ông ta mà không cần mời mọc.

Khoảng cuối tháng 7-1909, một cơn bão lớn càn quét biển Manche.

Sóng lớn đập rầm rầm vào chân bờ đá vôi.

Sau khi nước rút, còn lại những cái đầm.

Vào buổi sáng, gió đã lặng, toàn thể cảnh vật được tắm rửa sạch sẽ.

Trước khung cảnh quyến rũ, điểm tâm xong, tôi đi dạo một vòng để hít thở khí trời trong lành.

Tôi men theo đường mòn đi xuống bờ biển.

Trong khi đi, tôi nghe tiếng kêu đàng sau: đó là ông Harold Stackhurst đang vẫy tay chào đón tôi.

- Trời thật đẹp, ông Holmes!

Tôi đoán thế nào cũng gặp ông tại đây.

- Ông chuẩn bị đi bơi?

- Vâng, tôi vẫn còn giữ những thói quen tốt.

- Ông vừa trả lời vừa sờ cái túi căng phồng của ông.

- Đúng vậy, McPherson ra khỏi nhà sớm lắm.

Tôi đoán cũng sẽ gặp ông ta tại đây.

Fitzroy McPherson là giáo sư khoa học, có vóc dáng đẹp nhưng tim yếu vì đau thấp khớp nặng.

Tuy vậy ông ta cũng còn là một lực sĩ, giỏi về các môn thể thao.

Mùa đông cũng như mùa hè, ông ta đều đi bơi.

Tôi cũng là tay bơi, chúng tôi thường bơi với nhau ngoài khơi.

Liền khi đó, hai chúng tôi thấy McPherson xuất hiện trên đỉnh đá vôi, khởi điểm của đường mòn.

Người ông thẳng đứng, nhưng lại lắc lư như một kẻ say rượu.

Thình hình ông giơ cao hai tla lên một tiếng thất thanh, rồi té sấp xuống đất.

Ông Stackhurst và tôi, đứng cách đó 50 yard, hối hả chạy tới, đỡ ông nằm lại.

Mắt nhắm nghiền, mặt tái mét, McPherson đang hấp hối.

Ông nói hai ba câu như muốn trối trăn... nhưng giọng quá yếu ớt.

Chúng tôi chỉ nghe các tiếng cuối cùng: "Cái bờm sư tử" .

Cái bờm sư tử?

Thật là lạ lùng và bí hiểm?

Tuy nhiên tôi chắc chắn đã nghe rõ mồn một.

Đột nhiên McPherson muốn nhổm dậy, huơ tay nhưng ngã qua một bên và trút hơi thở cuối cùng.

Ông bạn Stackhurst sợ điếng người.

Còn các giác quan của tôi đang ở tình trạng ứng chiến.

McPherson chỉ mặc một cái áo khoác mỏng, cái quần, chân mang đôi dép không cột dây.

Khi ông ngã xuống, chiếc áo khoác trên vai tuột ra, để lộ mình trần.

Chúng tôi điếng người khi nhìn thấy cái lưng đầy rẫy những đường đỏ đậm như bị roi đồng mịn quất liên hồi.

Chắc chắn chiếc roi có thể co giãn được vì các vết thương vẽ những đường cong trên vai và trên sườn.

Cằm thì nhiều máu từ vết cắn môi dưới trong cơn đau.

Trong lúc tôi quỳ cạnh xác chết, Stackhurst đứng như trời trồng thì một bóng người chiếu xuống đất: Murdoch đã đến cạnh chúng tôi.

Ian Murdoch là giáo sư toán, người cao ráo, da nâu, gầy gò, ít nói và hay giữ khoảng cách với mọi người đến nỗi không có lấy một người bạn.

Hình như ông ấy chỉ sống trong vương quốc của những con số và những hình tròn, tách biệt hẳn với đời thường.

Sinh viên cho ông ta là người kỳ cục, có lẽ sẽ trêu chọc ông cho vui nếu không gặp những lần ông đổ quạu.

Một lần nọ, vì bị con chó của McPherson quấy nhiễu, ông thộp đầu nó, quăng qua cửa sổ.

Sau thành tích này, lẽ ra Murdoch đã bị đuổi nếu ông hiệu trưởng Stackhurst không quí chuộng cái tài của Murdoch.

Đó là chân dung của nhân vật dị thường, phức tạp, đột ngột xuất hiện cạnh chúng tôi.

Murdoch có vẻ rất xúc động mặc dù chuyện con chó chứng tỏ rằng ông và người chết không hề có thiện cảm với nhau:

- Chúa ơi!

Chúa ơi!

Tôi có thể giúp được cái gì?

Tôi phải làm gì để giúp quý ông?

- Hồi nãy ông có đứng cạnh McPherson không?

Chuyện gì vậy?

- Không, hồi sáng tôi ra trễ.

Tôi đâu có tắm.

Tôi đi thẳng từ nhà ra đây.

Tôi có thể làm gì?

- Chạy ra khi cảnh sát Fulworth trình bày

Không đáp lại tiếng nào, Murdoch tức tốc chạy đi.

Đương nhiên là tôi thụ lý nội vụ.

Trong lúc đó, Stackhurst vẫn còn bàng hoàng trước thảm kịch, đang quanh quẩn bên cái xác.

Việc đầu tiên của tôi là tìm biết lúc đó có ai.

Tôi đứng ở đầu đường mòn, nhìn nguyên cả bãi biển vắng tanh.

Chỉ hai hoặc ba dáng người lờ mờ ở phía xa xa của ngôi làng Fulworth.

Sau đó, tôi từ từ đi xuôi theo đường mòn.

Thỉnh thoảng tôi gặp cùng một dấu chân đi xuống rồi lại đi lên.

Không ai khác đi ra bãi biển bằng con đường mòn này.

Tại một chỗ, tôi quan sát dấu của một bàn tay mở rộng, cái ngón chĩa theo hướng đi lên: điều này có nghĩa là khi leo lên dốc, McPherson đã bị té.

Tôi cũng thấy những lỗ thủng hình tròn: như vậy là ông ta đã nhiều lần sụp gối xuống.

Cuối đường mòn là một cái đầm lớn do nước ròng để lại.

Khăn lau của ông còn vắt trên một tảng đá.

Khăn còn xếp và khô: ông không có tắm.

Trên đám sỏi, tôi thấy vài mảng cát nhỏ ghi dấu dép và dấu chân đi đất của ông.

Sự kiện cuối cùng này chứng tỏ rằng ông ta sắp sửa xuống nước, nhưng chiếc khăn khô cho thấy ông không xuống nữa.

Bài toán là như vậy.

Thật là một chuyện lạ lùng McPherson không ở ngoài bãi biển lâu hơn 15 phút, bởi vì Stackhurst có để ý khi ông này ra khỏi nhà, ông chuẩn bị để tắm, như đôi chân đi đất chứng minh.

Nhưng ông đột ngột mặc áo quần trở lại rồi chạy đi mà không kịp gài nút.

Ra về mà không tắm hoặc ít ra là không lau khô?

Tại sao McPherson lại đổi ý?

Bị quất roi một cách man rợ, bị hành hạ đến nỗi phải cắn môi chảy máu và chỉ còn đủ sức để ngược đường mòn rồi chết!

Ai đã tấn công ông ta?

Quả có những hang động nhỏ dưới chân bờ đá vôi, nhưng mặt trời mới lên, chiếu sáng, không ai có thể dùng làm nơi ẩn náu được.

Có những dáng người xa tít trên bãi biển, nhưng họ ở quá xa, không thể dính dáng với vụ án.

Hơn nửa cái đầm mênh mông nơi mà McPherson có ý định tắm ngăn cách với những người đó.

Trên biển, vài chiếc xuồng đánh cá cũng ở khá gần.

Các ngư phủ này có thể được thẩm vấn sau này.

Như vậy có nhiều con đường mà chẳng có con đường nào đưa tới một hướng điều tra nhất định cả.

Khi tôi quay trở lại với xác chết thì một nhóm nhỏ đang bu quanh.

Đương nhiên là có Stackhurst và Murdoch mới vào làng về cùng với Anderson, viên cảnh sát địa phương.

Anh chàng này to con, râu ngạnh trê, rõ ràng thuộc nòi giống Sussex, câm lặng, chậm nhưng nhiệt tình.

Anh ta nghe chúng tôi trình bày, ghi chép và cuối cùng kéo tôi ra một bên.

- Ông Holmes à, xin ông tiếp tay.

Đối với tôi, đây là một vụ lớn lắm.

Tôi khuyên anh ta sai người đi báo cho cấp trên trực tiếp, mời pháp y, cấm không cho ai sờ mó gì và giới hạn tối đa sự tăng thêm dấu chân.

Sau đó, tôi lục túi nạn nhân, và tìm thấy một mù soa, một dao lớn và một ví nhỏ.

Trong ví này lò ra một miếng giấy con.

Tôi đưa cho viên cảnh sát.

Những dòng chữ nguệch ngoạc của phụ nữ: "Tôi sẽ có mặt tại đó, anh an tâm.

Maudie".

Có thể nào đây là một chuyện tình, một cái hẹn?

Nhưng mà hẹn tại đâu?

Lúc nào?

Viên cảnh sát để tờ giấy trở lại trong ví, rồi bỏ ví vào túi áo choàng.

Sau khi dặn dò việc lục soát chân bờ đá vôi cho thật kỹ, vì không còn gì cần kiếm nữa, tôi về nhà ăn điểm tâm.

Một lát sau, Stackhurst tới nhà cho hay rằng xác chết đã được chở về trường The Gables để điều tra.

Ông cũng mang lại vài tin tức chính xác và nghiêm trọng.

Như tôi đoán trước, người ta không kiếm được gì trong các hang động dưới chân bờ đá vôi.

Nhưng khi khám xét các giấy tờ trên bàn của McPherson; vài giấy tờ cho thấy có sự liên lạc thân mật giữa ông giáo sư khoa học trẻ tuổi này với một cô bé tên là Maud Bellamy ở làng Fulworth.

Như vậy là biết được tác giả tờ giấy trong túi nạn nhân.

- Cảnh sát đã lấy các bức thư, - Stackhurst nói - Tôi không thể mang lại đây cho ông.

Có thể nói dứt khoát với ông rằng đó là những bức thư tình.

Nhưng tôi thấy không có lý do vững chắc để móc chuyện tình này vào biến cố thê thảm, trừ khi quả có một sự hẹn hò từ phía cô bé.

- Không ai hẹn với bồ tại một hồ tắm mà bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể đến đó bất cứ lúc nào.

- Tôi bác bỏ.

- Là một sự ngẫu nhiên hoàn toàn khi không có một toán sinh viên đi theo McPherson.

- ông Stackhurst nói.

- Có phải là ngẫu nhiên thật không?

- Tôi hỏi

Stackhurst cau mày suy nghĩ rồi nói:

- Murdoch giữ họ lại để giảng một chứng minh hình học quỷ quái gì đó trước bữa ăn sáng.

Thằng khỉ!

Trông bộ mặt nó là đủ thấy nó đau xót một cách thành thật.

- Vậy mà tôi tưởng họ mặt trăng mặt trời với nhau?

- Quả có vậy, nhưng chỉ trong một thời gian mà thôi.

Kể từ một năm nay, Murdoch lại là bạn của McPherson như đối với bất cứ ai khác.

Tánh tình hắn như thế!

Bản chất không có nồng nàn với bất cứ ai.

- Tôi hiểu.

Hình như ông có kể cho tôi nghe về vụ con chó bị xử tệ.

- Vụ này được giải quyết êm xuôi rồi.

- Không còn có gì để phải trả thù?

- Không, tôi đoán chắc.

Họ trở thành bạn thân của nhau.

- Vậy thì ta phải quay về phía cô bé, ông biết cô ta không?

- Mọi người đều biết cô ta.

Đó là hoa hậu trong làng.

Hoa hậu xứng danh, ông Holmes à!

Đi đâu cũng được trầm trồ.

Tôi biết rằng McPherson bị cuốn hút.

Nhưng tôi không ngờ sự việc đi tới mức như các lá thư trao đổi cho nhau.

- Gốc gác cô ấy ra sao?

- Cô ta là con của ông già Tom Bellamy, sở hữu chủ của tất cả các tàu biển và phòng tắm của làng Fulworth.

Khởi sự chỉ là một ngư phủ thường, nhưng giờ thì phất lắm.

ông ta và cậu con trai điều khiển cơ sở.

- Hay là ta đi vào làng một vòng để xem mặt họ.

- Viện cớ gì?

- Dễ mà!

Đừng lo!

Suy cho cùng, ông giáo sư McPherson này không tự mình hành hạ mình đến mức độ man rợ như thế.

Vậy, phải có một bàn tay ở đầu roi, nếu ta đề ra giả thiết là nó giết ông ấy.

Trong cái xó biển này, ông ấy không có nhiều quan hệ lắm đâu.

Đi vòng này, chúng ta sẽ kiếm ra động cơ của vụ án, và sẽ phăng ra thủ phạm.

Làng Fulworth nằm sâu trong một cái vịnh.

Sau xóm nhà cổ và biệt thự hiện đại được cất trên thửa ruộng nghiêng, Stackhurst đưa tôi tới một trong các biệt thự này.

- Đấy là biệt thự The Haven, tên do chính Bellamy đặt.

Đối với một người khởi sự bằng số không, thì quả là không tệ.

Ơ, ơ... nhìn kìa, ông Holmes ơi!

Cửa vườn vừa mở: một người đi ra.

Chúng tôi không thể lầm lẫn trước cái dáng người cao lêu nghêu, gân guốc, ưỡn ẹo.

Đó là Murdoch.

- Ồ!

Ê!

- Stackhurst la to.

Murdoch chỉ gật đầu nhìn lấm lét như định làm lơ đi luôn, nếu không bị ông hiệu trưởng chận lại.

- Anh đi tới đó làm gì vậy?

- Stackhurst hỏi.

Mặt của Murdoch đỏ rực, nổi cáu:

- Thưa ông, tôi là nhân viên của ông, nhưng chỉ trong khuôn viên nhà trường.

Tôi đâu phải báo cáo với ông về đời tư của tôi.

Có lẽ trong một lúc nào khác, anh ta có thể phản ứng khéo léo hơn, nhưng lúc bấy giờ Murdoch mất hẳn bình tĩnh.

- Trong tình huống này, cách trả lời của ông là lếu láo ông Murdoch.

- Câu hỏi của ông hồi nãy cũng đâu có lễ phép gì!

- Đây không phai là lần đầu tiên tôi vấp phải sự ương ngạnh của ông.

Lần này là lần cuối cùng.

ông chuẩn bị càng sớm càng tốt để đi dạy nơi khác.

- Tôi cũng có ý định này.

Hôm nay tôi đã mất đi một con người độc nhất để tôi có thể sống dưới mái trường này.

Nói xong, Murdoch bỏ đi.

Ông hiệu trưởng giận sôi gan, im lặng đứng nhìn.

- Rõ ràng là không thể chịu đựng được nửa.

Ý tưởng nảy sinh trong tâm trí của tôi lúc bấy giờ mà Murdoch đã vồ lấy cơ hội để cao bay xa chạy.

Một ngờ vực mơ hồ hình thành trong đầu tôi.

Không biết cuộc viếng thăm gia đình Bellamy sẽ soi một tia sáng mới nào không?

Stackhurst bình tĩnh lại và chúng tôi tiếp tục đi về hướng biệt thự The Haven.

Ông Bellamy cỡ ngoài 40, có bộ râu quai nón màu đỏ hung rất đẹp.

Nhưng tánh khí có vẻ không đằm thắm lắm.

- Không đâu, tôi không thích chi tiết.

Con trai tôi...

Vừa nói ông vừa chỉ một thanh niên lực lưỡng đang ngồi ủ rũ, cau có trong góc phòng khách.

- Con trai tôi cũng có ý hệt như tôi.

Các dự định của ông McPherson đối với con Maud không đúng đâu?

Cái từ "kết hôn" không bao giờ được thốt ra.

Tuy nhiên cũng đã có những thư từ, những cuộc hẹn hò và những rối rắm khó khăn mà con trai tôi lẫn tôi đều bài bác.

Con bé mất mẹ.

Chúng tôi là điểm tựa độc nhất của nó.

Chúng tôi quyết tâm...

Lời nói của ông ta bị cắt ngang bởi sự xuất hiện của cô bé.

Vừa thấy cô, tôi hiểu ngay khuôn mặt đều đặn, nước da tươi mát, con người sắc nước hương trời này đã làm xao xuyến bao con tim đàn ông đã gặp cô.

Cô xô cửa bước vào, đứng trước mặt ông Harold Stackhurst với đôi mắt mở to:

- Tôi đã biết Fitzroy đã chết.

- Cô nói - Xin hai ông nói thẳng cho tôi nghe chi tiết.

- Có một anh chàng ở trường đến cho chúng tôi hay.- Người cha giải thích.

- Tôi không biết chuyện đó có liên quan gì đến em gái tôi.- Người con trai lẩm bẩm.

Maud nhìn qua anh một cách

- Thây kệ tôi, William!

Anh hãy để cho tôi giải quyết theo ý tôi.

Theo những gì tôi biết thì anh ấy bị ám sát.

Nếu tôi có thể tiếp tay tìm ra thủ phạm thì đó là việc vặt vãnh nhất mà tôi cần phải làm.

Sau đó, cô lắng nghe sự trình bày ngắn của tôi.

Qua đó tôi thấy cô ta vừa sắt đá, vừa quyến rũ.

Có lẽ cô ta đã biết mặt tôi rồi nên cô quay qua phía tôi:

- Hãy tiếp tay đưa bọn họ ra trước công lý, thưa ông Holmes.

Tôi cam kết lúc nào tôi cũng dành trọn cảm tình cho ông và sẵn sàng cộng tác với ông, dù bọn sát nhân là ai?

Tôi có cảm giác rằng trong khi nói chuyện, cô nhìn cha và anh với vẻ thách thức.

- Cám ơn cô!

- Tôi đáp - Tôi cảm phục bản năng của phụ nữ trong những vụ như thế này.

Cô có nói "họ".

Vậy là theo cô, có nhiều thủ phạm trong vụ này.

- Tôi biết rằng anh McPherson gan dạ, mạnh lắm.

Nếu họ chỉ là một người thì không thể gây cho anh ấy những vết thương như thế.

- Tôi có thể gặp riêng cô một chút được không.

- Này Maud, tao nhắc lại với mày, đừng xía mũi vào việc này.

- Người cha la to.

Cô gái nhìn tôi một cách tuyệt vọng.

- Tôi có thể làm gì bây giờ?

- Không bao lâu nữa, mọi người sẽ biết rõ các sự việc .- Tôi đáp - Cho nên tôi có trình bày tại đây cũng không sao.

Tôi thấy nên nói riêng với cô nhưng bố cô không cho phép thì ông ấy tham dự cuộc nói chuyện giữa cô và tôi.

Tôi nói về tờ giấy được tìm thấy trong túi ông McPherson.

- Bất cứ ai điều tra vụ này cũng phải hỏi về tờ giấy này.

Xin cô vui lòng cho biết thêm!

- Tôi thấy không có lý do gì để che giấu câu chuyện giữa chúng tôi.

Chúng tôi đã đính hôn, chỉ chờ làm lễ cưới.

Chúng tôi còn giữ kín vì bác của anh gần chết, có thề truất quyền thừa kế, nếu anh ấy cưới vợ trái với ý muốn của ông ta.

- Lẽ ra con phải cho ba hay.

- Người cha càu nhàu.

- Con đã tâm sự với ba rồi, nếu ba có một chút thiện cảm thì...

- Ba không muốn con gái của ba giao du với những thanh niên ngoại tịch.

- Thành kiến của ba như thế, con đâu dám cho ba hay trước chuyện kết hôn.

Còn về tờ giấy hẹn thì...?

Cô ta ngừng lại, lục trong túi áo, rút ra một tờ giấy vò nát.

-... là để hồi âm tờ giấy này.

Cô ấy đọc to: "Em thân yêu, Như thường lệ, tại điểm cũ, ở bãi biển, thứ ba, sau khi mặt trời lặn.

Đó là lúc duy nhất anh ra được.

F.M"

Rồi cô ấy nói thêm:

- Thưa ba là hôm nay đây.

Tôi dự định gặp anh ấy vào tối nay.

Tôi cầm tờ giấy và lật ngược lại.

- Bức thư ngắn này không gửi bằng bưu điện.

Cô nhận nó bằng cách nào?

- Ông cho phép tôi khỏi trả lời vì nó không liên quan tới vụ án.

Ngoài ra, tất cả những gì có liên quan, tôi sẽ trả lời đầy đủ.

Cuộc thẩm vấn không đem lại cái gì mới lạ.

Cô không tin rằng vị hôn phu của cô có một kẻ giấu mặt, tuy cô đồng ý rằng có nhiều người nhiệt tình ngấp nghé cô.

- Xin phép được hỏi cô, ông Ian Murdoch có trong số người này không?

Cô ta đỏ mặt, có vẻ lúng túng.

- Có một dạo.

Nhưng sau khi anh ấy biết rằng tôi rất thân thiết với Fitzroy thì tất cả đã thay đổi.

Lại một lần nữa, hình bóng con người lạ thường này dường như lộ rõ thêm.

Phải tìm hiểu quá khứ của anh chàng Murdoch này.

Phải lục kỹ phòng của anh ta.

Stackhurst sẽ tận tình giúp đỡ tôi vì ông ta cũng ngờ vực.

Chúng tôi từ giã biệt thự The Haven với lòng khấp khởi mừng thầm đã nắm được một đầu cuộn chỉ.

Một tuần trôi qua.

Cuộc điều tra vẫn giậm chân tại chỗ.

Stackhurst đã kín đáo dò hỏi thêm về ông giáo sư dạy toán và đã lục soát phòng ngủ của ông ta.

Nhưng không có kết quả gì.

Về phần tôi, tôi phải quay lại điểm xuất phát và cật lực làm việc, nhưng vẫn hoài công.

Trong lúc đó bỗng xuất hiện một biến cố nhỏ: vụ con chó.

Bà quản gia của tôi nghe được trước tiên.

- Một chuyện bi thương, thưa ông.

Chuyện con chó của ông McPherson.

- Một tối nọ, bà nói. với tôi như thế.

Ít khi tôi khuyến khích bà nói chuyện tào lao.

Nhưng lần này tôi nằng nặc đòi bà kể cho tôi nghe.

- Chuyện gì về con chó?

- Nó chết rồi.

Nó chết vì thương tiếc chủ nó.

- Ai nói vậy?

- Chúa ơi!

Người ta nói rùm beng.

Nó nhớ chủ, bỏ ăn cả tuần nay.

Hôm nay thì hai giáo sư trường The Gables gặp xác nó tại bãi biển.

Đúng ngay chỗ chủ nó bị giết.

"Ngay chỗ.. chủ nó bị giết".

Mấy từ này vang dội trong óc tôi.

Đột nhiên, tôi có cảm giác mơ hồ rằng đây là một chi tiết thiết yếu.

Con chó trung thành với chủ, chuyện đẹp thật.

Nhưng tại sao lại chết ở chỗ đó.

Tại sao ở cái bãi biển cô quạnh này.

Con chó cũng là một nạn nhân chăng?

Vô lý!

Tôi có một cảm giác mơ hồ như thế.

Một chặp sau, tôi tới trường gặp Stackhurst.

Theo yêu cầu của tôi, ông mời Sudbury và Blount, hai sinh viên đã phát hiện ra xác

- Đúng, nó nằm ngay bờ của cái đầm.

- Một trong hai sinh viên xác nhận với tôi - Có lẽ nó lần theo vết chân của chủ nó.

Tôi thấy xác con vật trung thành còn để trên một đệm rơm ở cửa ra vào.

Xác nó cứng đơ, đôi mắt lồi ra, chân cẳng vặn vẹo.

Sự đau đớn lộ rõ trên xác chết, dường như nó đã gào rống thảm thiết.

Sau đó, tôi đi xuống bãi tắm.

Mặt trời đã lặn.

Bờ đá vôi ngả bóng đen sì dưới mặt nước óng ánh.

Quang cảnh thật là cô tịch.

Ngoài hai con chim biển bay vòng vòng, không có một con gì khác nữa.

Dưới ánh nắng chiều đang nhạt dần, tôi còn thấy dấu chân con chó ở chung quanh hòn đá mà chủ nó để khăn lau.

Tôi đứng đó, suy ngẫm khá lâu.

Chung quanh tôi, bóng đêm càng lúc càng dày thêm.

Đầu tôi đầy ắp những ý tưởng cuồn cuộn mà tôi cảm thấy cần tìm một điểm hệ trọng quanh quẩn đâu đây tại nơi sặc mùi tử khí này.

Cuối cùng, tôi chậm rãi, nặng nề bước về nhà.

Đi hết đường mòn, lên trên bờ đá vôi, đột ngột tôi thấy lóe sáng trong đầu óc tôi cái điều thiết yếu mà tôi hằng mong muốn, một cái gì liên quan đến vụ án, tuy còn rất lờ mờ.

Tôi mường tượng thấy một giả thiết cần phải kiểm chứng.

Tôi chạy về nhà, lao lên cái gác xép nhỏ chứa đầy sách.

Lục lọi cả giờ, tôi tìm được một cuốn sách nhỏ bìa nâu mạ bạc.

Tôi ngấu nghiến đọc đi đọc lại chương sách mà tôi vừa nhớ lại.

Tôi không ngủ được cho đến khi biết chắc chắn rằng tôi nghĩ không sai.

Rồi sáng đấy, tôi gặp phải một trở ngại bực bội.

Vừa uống xong tách trà, chuẩn bị xuống bãi biển thì tôi phải tiếp thanh tra Bardle, thuộc sở cảnh sát Sussex.

Ông ấy nhìn tôi.

- Thưa ông, tôi có nghe về những kinh nghiệm vô song của ông.

Cuộc viếng thăm này không có tính chất chính thức nhưng tôi phải thú thực rằng tôi xui xẻo khi gặp cái vụ này!

Thưa ông, có cần thi hành thủ tục bắt giam hay không?

- Bắt giam ông Ian Murdoch hả?

- Vâng, thưa ông.

Nghĩ cho cùng thì ai khác bây giờ

- Ta siết vòng vây, siết, siết cho tới khi cái vòng thu hẹp lại.

- Nếu không phải là ông ấy thì ai bây giờ?

- Ông có bằng bằng chứng gì không?

- Tính tình của Murdoch.

Cái bí mật quanh con người này!

Chuyện con chó bị quăng ra cửa sổ!

Nhất là Murdoch đang chuẩn bị bỏ sở!

Không lẽ ông lại làm ngơ cho y chuồn êm với một hồ sơ bất lợi cho y như thế.

- ông thanh tra cảnh sát xúc động hỏi tôi.

- Ông có những khiếm khuyết lớn trong cái hồ sơ đó!

Buổi sáng hôm ấy, Murdoch dạy sinh viên học cho tới phút chót và chỉ sau khi phát hiện xác chết, ông ta mới tới.

Ngoài ra, ông còn phải suy nghĩ đến một sự kiện quan trọng là một mình Murdoch có thể đánh bằng roi vào một người như McPherson cho đến chết không.

Cuối cùng, còn phải xét đến dụng cụ đã gây ra các vết thương trên mình nạn nhân.

Một cái roi co giãn hay cái gì cùng loại!

Ông có khám nghiệm các dấu vết chưa?

- Tôi có thấy!

Cả pháp y nữa!

- Phần tôi, tôi đã sử dụng tới kính lúp.

Cái dấu vết có những đặc điểm lạ.

- Đặc điểm gì?

Tôi mời ông thanh tra vào văn phòng của tôi, cho ông ta xem một phóng ảnh.

- Trong những vụ như vậy, đây là cách làm việc của tôi.

- Tôi nói.

- Đương nhiên là ông lúc nào cũng nghiêm túc.

- Chúng ta hãy xét kỹ cái vết roi ở vai phải.

Ông không thấy gì đặc biệt sao?

- Không.

- Rõ ràng là các vết roi không đều, ở đây có máu chảy, chỗ kia thì không.

Trên một lằn roi khác, chúng ta cũng thấy như thế!

Tại sao

- Tôi không có ý kiến gì cả.

Còn ông?

- Hiện tôi cũng còn lờ mờ, khi ta mô tả được cái dụng cụ tạo ra vết thương thì sẽ phăng ra thủ phạm ngay.

- Tôi có ý kiến, - ông thanh tra cảnh sát nói nhỏ, ngập ngừng - Nếu là một dây thép gai nung đỏ thì mấy vết đâm là các điểm có gai.

- Sự so sánh của ông tinh ý thật.

Do đó, tôi lại nghĩ đến cái đuôi con mèo có cột nhiều nút nhọn nhỏ.

- Vậy là ông đã tìm ra!

- Trừ khi các sự kiện đó bắt nguồn từ một nguyên nhân khác, ông Bardle à, ông phải thấy rằng hồ sơ của ông không đủ để bắt người.

Ngoài ra, còn lời trối của nạn nhân: "Cái bờm sư tử" nữa.

- Ông có giả thiết nào khác không, ông Holmes?

- Có lẽ có.

Nhưng tôi không dám bàn đến khi chưa có cơ sở vững chắc.

- Chừng nào?

- Trong vòng một giờ!

Cũng có thể sớm hơn...

Ông thanh tra cảnh sát gãi cằm và nhìn tôi một cách bán tín bán nghi.

- Tôi muốn đọc những gì trong đầu ông, ông Holmes à!

Có lẽ là các thuyền đánh cá?

- Không đâu, chúng ở xa lắm!

- Vậy là thằng cha Bellamy và thằng con trai to con của y.

Hai người này cũng đang bực bội McPherson.

- Không phải đâu!

Ông sẽ không moi được gì ở tôi!

- Tôi vừa cười vừa nói - Giờ đây, ông thanh tra à, chúng ta đều công tác riêng.

Nếu ông rảnh, chúng ta hẹn gặp lại lúc 12 giờ.

Chúng tôi chuẩn bị chia tay thì một việc hãi hùng xảy ra, đánh dấu bước đầu của hồi tàn cuộc.

Cửa nhà tôi bị đẩy mạnh toang hoác và một người bước đi khập khễnh ở hành lang.

Murdoch đi cà nhắc bước vào phòng tôi, mặt mày tái xanh, tóc tai bù xù, áo quần xốc xếch.

- Brandy!

Brandy!

Nhanh lên!

Nói xong, ông ta ngã phịch xuống chiếc tràng kỷ.

Bước theo sau ông ta là Stackhurst, thở hổn hển, đầu không đội mũ, vẻ mặt hốc hác.

- Đúng thế, hãy cho ta uống Brandy.

- Stackhurst kêu lớn - Hấp hối rồi.

Đưa anh ấy tới được đây là may đó.

Dọc đường, anh ta ngất xỉu hai ba lần.

Nửa cốc rượu mạnh tạo phép lạ.

Murdoch phóng tay ngồi dậy và cởi áo vét.

- Hãy cho tôi dầu, thuốc giảm đau để xoa dịu cái đau kinh khủng này.

- Anh ta rên rỉ.

Ông thanh tra cảnh sát và tôi cùng thốt lên tiếng kêu hãi hùng khi nhìn thấy những vết roi đỏ au trên vai trần của nạn nhân, những vết roi giống hệt trên mình của Fitzroy McPherson.

Không những sự đau nhức cùng cực mà sự, hô hấp của nạn nhân thỉnh thoảng bị ngừng lại, mặt trổ màu đen, trán nhễ nhại mồ hôi và có lúc ông ta dùng tay đè mạnh lên tim như quá đau đớn.

Chúng tôi cho anh ta uống thêm Brandy.

Cứ mỗi lần uống, anh ta lại tỉnh dần.

Bông thấm dầu xà-lách hình như làm dịu được vết thương bí hiểm này.

Cuối cùng, ông ta gục đầu xuống gối, nửa ngủ, nửa xỉu, nhưng ít ra thấy bớt đau.

Chúng tôi không hỏi gì thêm được.

Ngay khi chúng tôi hơi an tâm về tình trạng sức khỏe của Murdoch thì Stackhurst quay về hướng tôi.

- Chuyện gì vậy hở Holmes?

- Ông gặp anh ta ở đâu?

- Dưới bãi biển, ngay chỗ McPherson chết.

Nếu Murdoch yếu sức như McPherson thì anh ta đâu về đến đây được.

Trong khi cố dìu anh ta, mấy lần tôi tưởng anh ta chết rồi.

Về trường thì quá xa, tôi bèn ghé vào đây.

- Ông thấy anh ta ở bãi biển?

- Tôi đang đi dạo dọc bờ đá vôi thì nghe tiếng kêu.

Anh ta đang đứng gần bờ nước, lắc lư như người say rượu.

Tôi lật đật chạy xuống, mặc áo quần qua loa rồi dìu về đây, ông Holmes.

Ông phải tận lực để làm sáng tỏ vụ này.

Với tài nghệ của ông, không lẽ ông không giúp được chúng tôi?

- Tôi tin là tôi làm được!

Hãy đi theo tôi, cả ông thanh tra nữa.

Chúng ta đi xem.

Có thể tôi giao nộp kẻ sát nhân cho ông.

Bỏ Murdoch cho bà quản gia chăm sóc, chúng tôi xuống cái đầm chết người.

Trên bãi sỏi còn quần áo, khăn lau của Murdoch.

Tôi chậm rãi đi quanh cái đầm.

Các bạn tôi theo sau.

Nước đầm không sâu, khoảng 5 bộ, trong xanh như pha lê.

Phía trong là một dãy đá tảng.

Tôi đi dọc bờ nước dưới chân dãy đá vôi, vừa nhìn kỹ xuống nước, khi tìm được điểm sâu nhất thì tôi kêu lớn, biểu lộ sự đắc thắng.

- Một con sứa!

- Tôi kêu to - Các ông hãy nhìn cái bờm của con sư tử.

Con vật dị thường mà tôi chỉ cho mọi người thấy, giống lông bờm con sư tử.

Nó đang cuộn lại như trái bóng.

Nó nằm dưới đáy đá cách mặt nước độ một yard.

Nó có những cánh lông dài màu vàng điểm ánh bạc, đang co vào, giãn ra một cách chậm chạp, nặng nề.

- Nó gây tác hại đã nhiều rồi.

Cho nó qua thế giới bên kia đi!

- Tôi kêu lớn - Hãy giúp tôi, Stackhurst.

Chúng ta trừ hậu họa.

Gần đó, có một hòn đá thật to.

Chúng tôi lăn xuống đầm.

Khi nước lặng, chúng tôi thấy con vật nằm dưới đáy hòn đá.

- Chuyện này vượt hẳn sức tôi.

- ông thanh tra cảnh sát nói lớn - Tôi sinh ra và lớn lên tại đây, nhưng chưa bao giờ biết chuyện tương tự.

Con vật này từ đâu tới chứ không có ở địa phương Sussex này.

- Đó là cái không may mắn của Sussex.

Có lẽ cơn bão đã đưa nó tới.

Thôi, hãy quay về nhà, tôi sẽ cho các ông biết kỷ niệm hãi hùng của một người gặp gỡ lần đầu cái tai ương của biển cả này

Khi trở về văn phòng, chúng tôi mừng rỡ thấy Murdoch đã khỏe hơn, tuy chưa hoàn hồn và thỉnh thoảng còn bị đau nhói.

Anh cho biết là anh không hiểu việc gì xảy ra, đơn giản là anh cảm thấy đau tận xương tủy khi bị các móc nhọn quất vào mình.

Anh đã cố gồng mình chạy lên bờ.

Tôi đưa ra cuốn sách mà tôi đã moi trên gác xép và nói:

- Đây là cuốn sách đã rọi các tia sáng đầu tiên vào một vấn đề đã nằm trong bóng tối mãi mãi.

Quyển "Out of doors" của nhà quan sát nổi tiếng J.G.

Wood.

Chính ông ta suýt chết khi gặp con vật khủng khiếp này.

Do đó, đây là một tài liệu có cơ sở vững chắc.

Cyanea Capillate là tên khoa học của thủ phạm.

Tôi xin đọc qua một đoạn:

"Nếu bạn đi tắm mà gặp một khối tròn, mềm, màu hung hung đỏ, như lông bờm sư tử điểm bạc, cuộn tròn như trái bóng thì bạn phải coi chừng, vì nó quất đau điếng người.

Những sợi dây hình như vô hình này dài đến 50 bộ".

Rồi sau đó, tác giả tường thuật việc chính ông gặp con sứa này trong khi bơi ngoài khơi bờ biển Kent.

"Cái mớ dây ấy để lại trên da tôi những vết thương màu hồng.

Nhìn kỹ, các đường này là do sự tiếp nối của hằng hà sa số mụn nhọt li ti".

Wood lại giải thích:

"Cái đau như xuyên qua ngực.

Tôi gục xuống như thể bị trúng nhiều phát đạn.

Mạch máu như ngừng lại, tim đập mạnh như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực".

Ông còn nói:

"Tôi đã uống nguyên chai brandy và hình như nhờ rượu này mà tôi còn sống".

Sau đó, quay qua phía ông thanh tra, tôi nói:

- Thưa ông thanh tra, tôi cho ông mượn cuốn sách này.

Ông sẽ thấy rõ nguyên nhân cái chết của McPherson.

- Nhờ đó, hồ sơ của được trong sạch.

- Ian Murdoch nói thêm với một nụ cười hơi gắng gượng - Tôi không phiền trách ông đâu, thưa ông thanh tra.

Và tôi cũng không phiền trách ông đâu, thưa ông Holmes.

Như vậy là nhờ vào sự kiện tôi chịu cùng một tai nạn với bạn tôi mà tôi được giải oan.

- Không đâu, ông Murdoch.

Tôi đã tìm ra hướng đi.

Phải chi đồng thời với phát hiện này, tôi có mặt ở bãi biển thì anh đã không chịu cuộc phiêu lưu hãi hùng này.

- Mà làm sao ông biết được, ông Holmes?

- Về mặt sách vở, tôi đọc lung tung, nhớ dai dẳng những chi tiết dị kỳ.

Mấy tiếng "cái bờm sư tử" của McPherson ám ảnh tôi mãi.

Tôi nhớ có đọc đâu đó một tình huống khá bất thường.

Có lẽ con sứa đó nổi trên mặt nước lúc McPherson đứng trên bờ nên các lời trối trăng của ông ta là lời cảnh giác với tôi.

- Ít ra tôi đã được phục hồi danh dự - Murdoch nói và từ từ đứng thẳng người lên.

- Tôi xin được giải thích thêm.

Quả tôi có yêu cô Maud.

Nhưng từ ngày cô chọn bạn chí thân của tôi, là McPherson thì tôi chỉ còn có một ý muốn giúp cô ấy tìm hạnh phúc.

Tôi nguyện ước được sống gần họ, làm bạn tâm tình.

Tôi thường làm con chim xanh giữa họ.

Tôi chấp nhận làm điều đó, vì tôi nắm bí mật của họ và thân thiết đến nỗi tôi hối hả báo tin buồn cho cô ấy, sợ có ai khác cướp mất công trạng.

Cô ấy không tiết lộ cái tình thân giữa cô ấy với tôi vì sợ rằng ông không hiểu được sự thành thật của tôi mà gây nên rắc rối cho tôi.

Tôi xin phép về trường.

Tôi cần phải nằm nghỉ.

Stackhurst giơ tay lên cao.

- Hai chúng ta đều buồn bực như nhau - Stackhurst nói với Murdoch - Anh tha thứ chuyện cũ của tôi.

Trong tương lai, chúng ta sẽ hiểu nhau nhiều hơn.

Khi họ cặp kè ra đi, tôi đứng lại một mình với ông thanh tra cảnh sát.

- Ông đạt mục đích - ông ta nói to - Tôi có đọc nhiều về ông, nhưng chưa tin.

Thật diệu kỳ.

Tôi bắt buộc phải gật đầu nhận một lời khen.

- Lúc đầu tôi tỏ ra chậm chạpối tiếc vô cùng.

Phải chi xác McPherson được tìm thấy dưới nước thì tôi đã nghĩ ngay tới con sứa.

Chính cái khăn lau đã đánh lạc hướng.

Đương nhiên, nạn nhân đâu còn tâm trí để lau với chùi.

Phần tôi, tôi lại nghĩ rằng McPherson không hề nhảy xuống nước.

Kết quả là tôi đã đi lạc một lúc.

Nào, thưa ông thanh tra, tôi thường qua mặt cảnh sát.

Nhưng lần này quí ông được con sứa Cyanea Capillate phục thù giùm Scotland Yard.

Hết
 
Back
Top Bottom