Cập nhật mới

Tiểu Thuyết Sherlock Holmes (toàn tập)

Sherlock Holmes (Toàn Tập)
C2 Bộ mặt vàng vọt


BỘ MẶT VÀNG VỌT

THE YELLOW FACE (1893)

Memoirs of Sherlock Holmes

Những hồi ức về Sherlock Holmes

Một lần vào đầu xuân, Holmes và tôi cùng đi dạo trong công viên.

Những chiếc lá xuân đầu tiên nhú lên các cành cây du, những cái chồi dính dính của hàng cây dẻ đang cựa quậy thành mấy chiếc lá non đẹp.

Chúng tôi đi suốt hai tiếng liền.

Khi quay trở về thì đã gần năm giờ.

"Thưa ông," Chú bé giúp việc vừa mở cửa vừa nói "Có một vị khách đến.

Ông ta hỏi ông."

"Khách đi rồi à?"

Holmes hỏi.

"Vâng, thưa ông!"

"Sao cháu không mời ông ta vào nhà ngồi chơi một lát?"

"Dạ có, ông ấy có vào nhà."

"Ông ta đợi lâu không?"

"Nửa tiếng.

Khách rất sốt ruột.

Suốt thời gian ở đây ông ta cứ đi đi lại lại khắp phòng.

Cuối cùng, ông ấy chạy ngoài hành lang và than thở "Không biết đến khi nào ông Holmes mới về?".

Cháu đáp ngay: "Một lát nữa thôi!".

Ông ta nói: "Được, tôi sẽ chờ, nhưng tôi sẽ không chờ ở đây, mà ở nơi không khí thoáng đãng kia!

Chốc nữa tôi sẽ quay trở lại".

Thế là ông ấy đi thẳng."

"Giỏi!

Cháu đã làm được việc."

Holmes nói và chúng tôi bước vào căn phòng của mình "Tuy nhiên, thật là bực mình!

Tôi đang buồn chán vì thiếu việc làm.

Suy từ sự nôn nóng của người ấy thì chắc công việc này quan trọng đây.

Ồ!

Chiếc tẩu của ông ta?

Chiếc tẩu tuyệt vời với cái tay cầm dài cứng như vậy."

Holmes xoay xoay chiếc tẩu trong tay và xem xét nó với vẻ thận trọng.

Anh dùng ngón tay trỏ gõ gõ vào nó tựa như giáo sư giải phẫu học đang giảng về một thứ xương nào đó.

Rồi nói tiếp:

"Chủ nhân của nó hẳn là một người vạm vỡ, thuận tay trái, có bộ răng tốt, và là người phong lưu"

"Chỉ vì thấy ông ta có chiếc tẩu đắt giá mà cậu cho rằng đó là một người giàu có hay sao?"

Holmes khẽ khàng gõ chiếc tẩu thuốc trong lòng bàn tay của mình:

"Bởi vì ông ta có thể mua thứ thuốc lá hảo hạng, loại Grosvenor giá 8 pence mỗi ounce, đắt gấp hai lần thuốc bình thường."

"Cậu còn kết luận nào không?"

"Anh ta có thói quen hút thuốc lá dưới ngọn đèn bàn hoặc đèn bằng khí ga: chiếc tẩu cháy xém.

Nó bị cháy chỉ ở phía phải: Vậy chủ nhân của nó là người thuận tay trái.

Hãy thử châm tẩu thuốc bằng bàn đèn đi.

Bởi anh không thuận tay trái, cho nên tự nhiên anh đưa phần trái của tẩu thuốc đến gần ngọn lửa.

Sau đó anh ta cắn xuyên qua bót.

Chỉ một người khỏe mạnh và có bộ răng tuyệt vời mới có thể làm được chuyện đó...

Song nếu tớ không lầm thì kia là tiếng từng bước chân của ông ta ngoài cầu thang!"

Chưa đầy một phút sau, cách cửa rộng mở.

Một người đàn ông khoảng 30 tuổi, cao lớn bước vào phòng.

Ông ta mặc bộ com-lê màu thẫm bằng thứ vải tốt được cắt khéo léo.

Tay cầm một chiếc mũ phớt màu xám rộng vành.

"Xin thứ lỗi!"

Ông ta nói có phần hơi luống cuống "Hẳn là tôi cần gõ cửa.

Nhưng quả thực tôi hơi bối rối."

Ông ta đưa tay lên xoa xoa trán như một người đầu óc bị choáng váng.

"Ông đã mất ngủ đến hai đêm rồi."

Holmes từ tốn nói "Điều đó làm hao kiệt thần kinh nhiều hơn so với làm việc.

Xin được phép đề nghị, tôi có thể giúp ông được gì không?"

"Tôi muốn được ông khuyên giải, thưa ông..."

"Ông muốn tôi giúp ông với tư cách một người tư vấn, một thám tử hay sao?"

"Vâng.

Ông là người từng trải việc đời.

Và tôi muốn ông chỉ bảo cho tôi những việc tôi cần làm."

Ông ta nói những câu ngắn, mạnh và đứt quãng.

"Ông Grant Munro thân mến..."

Holmes bắt đầu nói.

Vị khách của chúng tôi nhỏm phắt dậy.

"Sao?

Ông biết tên tôi à?"

Ông ta kêu lớn.

"Nếu ông muốn ẩn danh" Holmes mỉm cười nói "thì đừng viết tên mình trên mảnh vải lót của chiếc mũ, hoặc là đừng xoay chiếc mũ lại để người nói chuyện với mình thấy hàng chữ đó.

Tôi muốn nói rằng tại căn phòng này. anh bạn của tôi và tôi đã từng nghe nhiều bí mật đáng kinh ngạc.

Và chúng tôi đã đem lại niềm thư thái cho bao tâm hồn đầy lo âu.

Chúng tôi rất vội, bởi vậy xin ông nhanh chóng kể cho tôi nghe tất cả những gì đã xảy ra."

Vị khách lại lấy tay xoa trán.

Ông ta có vẻ khó khăn khi bắt đầu câu chuyện.

Mỗi cử chỉ, mỗi nét mặt đều chứng tỏ ông ta là một người kín đáo, giữ ý và kiêu hãnh.

Ông ta có thiên hướng che đậy những vết thương lòng của mình hơn là phơi bày ra.

Nhưng đột nhiên ông ta giận dữ vung tay lên, tựa như quẳng tính dè dặt vào một hướng nào đó.

"Tôi cưới vợ đã ba năm, chúng tôi hoàn toàn hạnh phúc.

Không hề giấu giếm nhau điều gì, cả ý nghĩ lẫn hành động.

Thế nhưng, từ thứ hai vừa rồi, chúng tôi trở thành xa lạ với nhau, và tôi muốn biết vì sao như vậy.

Tôi biết rõ chưa bao giờ nàng yêu tôi bằng lúc này.

Nhưng, nếu điều bí ẩn chắn giữa chúng tôi chưa được tháo gỡ thì mối quan hệ tốt đẹp giữa chúng tôi sẽ không tồn tại."

"Cám ơn ông đã cho tôi biết sự thực, ông Munro."

"Effie đến Hoa Kỳ sống ở thành phố Atlanta lúc còn rất trẻ.

Tại đó nàng kết hôn với Hebron, một luật sư có tiếng trong vùng.

Họ sống hạnh phúc và có một mụn con.

Nhưng sau một trận dịch sốt vàng da đã giết chết chồng và con, nàng trở về Anh quốc sống với người dì ở Middlesex.

Tôi thấy cần phải nhắc lại rằng sau cái chết của chồng, nàng thừa hưởng một gia tài chừng bốn ngàn rưỡi bảng nằm trong ngân hàng.

Hàng năm nàng nhận được bảy phần trăm tiền lãi.

Nàng chỉ sống với người dì chừng nửa năm thì tôi gặp nàng.

Chúng tôi yêu nhau và sau vài tuần thì làm phép cưới.

Lúc đó nàng hai mươi lăm tuổi.

Tôi là người buôn hoa quả.

Lãi suất của tôi độ chừng tám trăm bảng một năm, bởi thế chúng tôi sống khá phong lưu: một biệt thự tốt ở Norbury.

Thị trấn này không khác thôn quê cho lắm.

Tại đó có hai ngôi nhà và một khách sạn cao hơn biệt thự của chúng tôi một chút.

Còn ngay phía trước mặt chúng tôi có một biệt thự đứng tách riêng ra.

Ngoài những ngôi nhà ấy không còn một công trình xây dựng nào ở gần ga hơn nữa.

Khi tôi lập gia đình, vợ tôi đã chuyển giao cho tôi toàn bộ tài sản của nàng.

Tôi không đồng ý, vì ngại rằng nếu tôi bị thất bại trong công việc làm ăn, thì vốn liếng của nàng mất hết.

Nhưng nàng vẫn nằng nặc đòi làm theo ý mình.

Đột nhiên, cách đây hơn một tháng, nàng nói với tôi như thế này:

- Jack này, lúc anh nhận tiền của em, anh nói rằng vào bất kỳ lúc nào em cũng có thể lấy lại số tiền đó.

- Tất nhiên, vì đây là số tiền của em.

- Em đang cần một trăm bảng.

- Để làm gì?

- Anh yêu!

- Nàng luống cuống trả lời - Anh nói anh là chủ ngân hàng của em...Thế mà, có bao giờ các chủ ngân hàng hỏi khách rút tiền để làm gì?

- Nếu em cần thì có ngay đây thôi.

- Vâng.

Em cần.

- Em sẽ không nói ư?

-

Sau này sẽ nói.

Còn bây giờ thì không.

Tôi buộc phải vui lòng với câu trả lời như thế.

Từ đây trở đi, nàng không giấu tôi một điều gì nữa.

Tôi đưa séc cho nàng và không nghĩ gì thêm về câu chuyện đó.

Như tôi vừa nói với ông, có một biệt thự nằm cách không xa ngôi nhà của chúng tôi.

Hai căn nhà chỉ cách nhau có một bãi cỏ.

Để đến ngôi biệt thự, người ta phải đi theo một con đường và sau đó rẽ vào lối mòn.

Ngay phía sau biệt thự, là một cánh rừng thông nhỏ.

Tôi rất thích đi dạo trong cánh rừng.

Suốt tám tháng ròng, trong ngôi biệt thự không có người ở.

Tôi lấy làm tiếc là ngôi nhà lại bỏ không như vậy.

Đó là một tòa lâu đài hai lầu xinh xắn, với những cột hành lang cổ kính.

Nhiều lần khi dừng lại trước ngôi nhà, tôi tự nghĩ: "Thật là một dinh cơ nhỏ nhắn, đầm ấm biết bao!".

Thế rồi, vào buổi chiều thứ hai tuần trước.

Trong khi đi dạo, tôi nhìn thấy một chiếc xe chở hàng có mui chạy trên đường.

Sau đó trên bãi cỏ phía trước thềm chất đống những tấm thảm và các đồ đạc khác.

Rõ ràng ngôi biệt thự đã được cho thuê.

Tôi đi quanh ngôi nhà, trong một khuôn cửa sổ có một khuôn mặt đang theo dõi tôi.

Từ xa, tôi không thể nhìn rõ bộ mặt ấy, nhưng tôi cảm thấy ở đó có một cái gì trái tự nhiên, phi-nhân-tính.

Do ấn tượng này, tôi muốn đến gần hơn để biết ai đang theo dõi mình.

Nhưng đúng vào lúc đó, khuôn mặt màu vàng xám xịt đó tự nhiên biến mất.

Hình như có ai đứng phía sau kéo người ấy vào.

Tôi đứng chừng năm phút nữa, rồi quyết định trèo lên bậc tam cấp, gõ cửa.

Ngay lập tức, một người đàn bà cao nghệu với dáng vẻ không hài lòng ra mở cửa.

- Ông cần gì?

- Bà ta hỏi với giọng người Scotland the thé.

- Tôi là láng giềng của bà, ở ngay cạnh đây.

Tôi thấy bà mới đến.

Liệu tôi có thể giúp bà được điều gì chăng?

- Khi nào cần, chúng tôi sẽ gọi!

- Bà ta nói và đóng sầm của lại.

Suốt buổi tối, mặc dù tôi cố gắng nghĩ về một điều gì khác, nhưng ý nghĩ của tôi vẫn cứ trở về với bộ mặt thập thò trong cửa sổ và người đàn bà xấc xược đó.

Tôi không nói gì cho vợ tôi biết.

Nàng là người đàn bà dễ buồn phiền.

Chỉ tới lúc đi ngủ, tôi nhận xét qua quýt với nàng là ngôi nhà bên cạnh đã có người ở.

Nàng làm thinh.

Đêm hôm ấy, giữa giấc ngủ, tôi mang máng cảm thấy chung quanh mình đang có một cái gì đó diễn ra.

Điều sau đây từ từ đến trong ý thức của tôi: Vợ tôi thức dậy, bắt đầu choàng áo ngoài và đội mũ.

Trong giấc ngủ, tôi sẵn sàng biểu lộ một cái gì tựa như phản đối hoặc ngạc nhiên.

Nhưng, sau khi hé mắt ra, dưới ánh sáng của ngọn nến, tôi thấy mặt nàng xanh mét, nàng thở hổn hển lúc cài áo khoác ngoài vào người và lén lút nhìn vào giường; yên chí là tôi đang ngủ, nàng thận trọng lẻn ra khỏi phòng.

Một thoáng sau, tôi nghe có tiếng cót két của chiếc cửa ra vào.

Tôi ngồi dậy đập tay mạnh vào thành giường để biết chắc là mình đang thức.

Tôi rút chiếc đồng hồ ở dưới gối: ba giờ sáng.

Vợ tôi làm gì giữa đêm hôm thanh vắng này?

Tôi ngồi thừ ra đến hai mươi phút, cố gắng tìm ra một lời giải thích nào đó.

Nhưng càng suy nghĩ lại càng khó hiểu.

Tôi càng lúng túng hơn khi cánh cửa ra vào lại khẽ mở và có tiếng bước chân của vợ tôi trên cầu thang.

- Em ở đâu đấy, Effie?

- Tôi hỏi, khi nàng bước vào.

Toàn thân nàng run lên.

Nàng khẽ kêu lên một tiếng, sự xúc động và tiếng kêu này khiến tôi lo sợ hơn tất cả.

Trong tiếng kêu ẩn chứa một điều tội lỗi.

Vợ tôi luôn luôn là người đàn bà trung thực.

Bởi thế, tôi lạnh cả người khi nàng len lén đi vào phòng mình.

- Anh không ngủ hay sao, Jack?

- Nàng thốt lên trong nụ cười gượng gạo - Em tưởng rằng không gì có thể khiến anh thức.

- Em đã ở đâu?

- Tôi lạnh lùng hỏi.

- Em hiểu anh đã ngạc nhiên như thế nào - Nàng nói khi nàng cởi cúc áo khoác.

Ngoài ra, tôi còn nhận thấy những ngón tay của nàng run lẩy bẩy - Trước đây em chưa bao giờ nghĩ rằng có một chuyện gì xảy ra với em.

Chuyện chỉ có thế này: Đột nhiên em bắt đầu cảm thấy ngột thở.

Em cần không khí trong lành.

Em đã ra đứng cạnh cửa chừng vài phút, và bây giờ em lại cảm thấy bình thường.

Khi nói những lời này, nàng không quay về phía tôi và giọng của nàng không như mọi khi.

Chẳng còn nghi ngờ gì nữa: nàng đã nói dối.

Tôi không trả lời, quay mặt vào tường với nỗi đau đớn trong tim.

Vợ tôi đã giấu giếm tôi điều gì?

Nàng đã đi đâu?

Từ đó cho đến sáng, tôi luôn cựa mình, trằn trọc, gắng tìm một lời giải thích đáng tin cậy hơn.

Ngày hôm ấy, tôi phải ra thành phố.

Thế nhưng tôi lo lắng đến mức không làm được việc gì.

Vợ tôi hình như cũng lo lắng.

Trong lúc ăn sáng, chúng tôi không trao đổi với nhau một lời.

Và ngay sau đó tôi đi đến cung điện Crystal, ở đó một giờ đồng hồ và trở về Norbury lúc một giờ trưa.

Khi qua tòa biệt thự, tôi dừng lại giây lát, nhìn vào khung cửa sổ?

Đột nhiên, cánh cửa mở rộng và vợ tôi từ trong đó bước ra.

Tôi ngây người khi nhận ra nàng.

Trong khoảnh khắc tôi cảm thấy vợ tôi muốn ẩn mình vào trong nhà.

Tuy nhiên, khi biết mọi sự trốn chạy đều vô hiệu, nàng bắt đầu bước về phía trước và mỉm cười:

- Ôi Jack!

- Nàng nói - Em rẽ vào vì muốn biết có thể giúp những người láng giềng của chúng ta được điều gì không?

Tại sao anh lại nhìn em như vậy?

- Ban đêm em ở đây phải không?

- Anh muốn nói gì vậy?

- Nàng kêu lên.

- Em đã đến đây, anh tin chắc như vậy!

Sao em tới thăm họ vào lúc nửa đêm.

- Chưa khi nào em ở đây cả.

- Sao em lại nói dối - Tôi bắt đầu kêu lên - Thậm chí giọng nói của em cũng bị thay đổi khi nghe anh hỏi.

Phải chăng em đã có những điều bí ẩn đối với anh...

Anh sẽ vào biệt thự này và sẽ tự mình khám phá ra tất cả.

- Đừng!

Đừng!

Anh!.

Nàng thở hổn hển khi không đủ sức che giấu nỗi khiếp đảm của mình.

Lúc tôi tới gần cánh cửa, nàng đã túm lấy tay tôi, kéo tôi ra với một sức mạnh không ngờ.

- Em van anh, đừng vào!

- Nàng la lên - Em thề rằng sớm hay muộn rồi em cũng kể cho anh nghe tất cả.

Nhưng sau, sau này đã...

Nếu anh vào ngôi nhà này, một tai họa sẽ xảy ra.

Tôi gắng vùng thoát khỏi tay nàng thì nàng lại càng túm lấy tôi với những lời cầu xin điên cuồng.

- Hãy tin em - Nàng kêu lên - Hãy tin em chỉ lần này nữa thôi!

Anh sẽ không bao giờ hối tiếc đâu.

Còn nếu như em có giấu anh chuyện gì thì cũng chỉ vì anh mà thôi.

Chúng ta sẽ cùng trở về nhà đi, rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đấy.

Còn nếu anh đi vào ngôi nhà này ngoài ý muốn của em thì mối quan hệ của chúng ta sẽ chấm dứt.

Giọng nói của nàng chứa một sự tuyệt vọng chân thật đến nỗi tôi phải dừng lại trước cửa ngôi nhà.

- Anh chỉ tin em với một điều kiện - Cuối cùng tôi nói - Anh muốn tất cả sẽ được mau chóng kết thúc.

Em có thể giữ kín bí mật của mình, nhưng hãy hứa với anh là phải ngừng ngay mọi cuộc thăm viếng ban đêm và sẽ không làm một điều gì lén lút nữa.

- Em xin hứa - Nàng thốt lên với tiếng thở phào nhẹ nhõm - Mọi chuyện sẽ diễn ra như ý.

Nào, hãy đi về nhà đi!

Nàng vừa nắm lấy tay áo tôi vừa kéo tôi ra khỏi biệt thự.

Nhân thể tôi ngoảnh trông lên khung cửa sổ phía trên và tôi lại thấy khuôn mặt màu vàng tái ngắt đang theo dõi chúng tôi.

Có thể có mối liên hệ nào giữa vợ tôi với con người này vậy?

Hoặc nàng đã có mối quan hệ gì với người đàn bà thô lỗ hôm trước?

Sau chuyện đó tôi ở nhà luôn hai ngày liền.

Hình như vợ tôi nghiêm chỉnh tuân theo các giao ước giữa chúng tôi.

Nàng không ra khỏi nhà.

Thế nhưng, sang ngày thứ ba thì không thể có lời nguyền nào giữ nổi nàng.

Vào ngày hôm đó tôi đi ra thành phố và trở về trên chuyến tàu hỏa hai giờ bốn mươi phút, nghĩa là về sớm hơn thường lệ.

Khi tôi bước vào nhà thì chị hầu phòng chạy ra gặp tôi với bộ mặt đầy vẻ sợ hãi.

- Bà chủ đâu?

- Tôi hỏi.

- Hình như bà đi dạo chơi.

Tôi sinh nghi, chạy bổ lên lầu để biết chắc là nàng có ở nhà hay không.

Tôi vô tình nhìn qua cửa sổ và thấy chị hầu phòng băng qua bãi cỏ để tới ngôi biệt thự.

Tôi hiểu ngay.

Run lên vì phẫn nộ, tôi lao nhanh xuống phía dưới, bước qua bãi cỏ, quyết chấm dứt vĩnh viễn chuyện này.

Tôi trông thấy vợ tôi cùng người hầu gái đang chạy theo lối mòn về nhà.

Thế nhưng tôi không đứng lại nói chuyện với họ.

Tôi thề phải khám phá ra bí mật này.

Không hề gõ cửa, tôi xoay tay nắm cánh cửa, chạy vào hành lang.

Lầu một thật im ắng.

Ở nhà bếp, ấm trà đang sôi trên lửa, còn con mèo đen thì đang nằm cuộc tròn.

Không thấy bóng dáng người đàn bà tôi gặp trước đây.

Tôi chạy bổ sang phòng khác: cũng trống không.

Tôi băng mình lên phía trên.

Không có ai trong hai phòng.

Toàn bộ ngôi nhà không một bóng người.

Từ đồ đạc đến cách bài trí đều tuềnh toàng và phàm tục, trừ mỗi một căn phòng mà qua cửa sổ của nó tôi đã nhìn thấy bộ mặt khủng khiếp trước đây.

Đó là căn phòng được xếp đặt ngăn nắp và trang nhã.

Tất cả mối hoài nghi của tôi đã chuyển thành lòng căm giận mãnh liệt và cháy bỏng khi tôi nhìn thấy bức ảnh toàn thân của vợ tôi trên lò sưởi.

Bức ảnh này được chụp theo yêu cầu của tôi cách đây ba tháng.

Tôi ở đó đủ thời gian cần thiết để xác định đây quả thực là một ngôi nhà hoàn toàn trống rỗng.

Khi ấy, tôi rời ngôi nhà với một nỗi đau đớn trong tim.

Lúc quay về nhà, vợ tôi bước tới gần tôi.

Nhưng tôi đau lòng và căm giận tới mức không buồn nói chuyện với nàng.

Tôi đi qua chỗ nàng, cố lảng tránh để vào phòng mình.

Tuy vậy nàng vẫn theo kịp trước khi tôi đóng cửa lại.

- Rất tiếc là em đã vi phạm lời cam kết.

Nhưng giá như anh rõ mọi chuyện thì chắc anh sẽ tha thứ cho em.

- Hãy kể đi!

- Không kể được, Jack ạ.

- Chừng nào em chưa nói ai sống trong căn biệt thự ấy và em đã trao bức ảnh cho ai thì anh sẽ không bao giờ tin em - Tôi nói lớn và sau khi vùng thoát khỏi nàng, tôi đi ra khỏi nhà.

Chuyện đó xảy ra vào ngày hôm qua, ông Homles ạ!

Ngày hôm nay tôi không về nhà.

Sự giả dối của nàng đã khiến tôi lo ngại.

Sáng nay tôi nghĩ đến ông."

Nãy giờ Holmes ngồi im lặng, chống tay lên cằm hồi lâu.

Cuối cùng anh hỏi:

"Ông có cam đoan rằng ông đã nhìn thấy bộ mặt của người đàn ông trong cửa sổ không?"

"Lần nào tôi cũng đứng khá xa, nên không dám cả quyết điều đó."

"Có điều nó gây cho ông một ấn tượng khó chịu chứ?"

"Nó có vẻ chết chóc và bất động đến ghê sợ Khi tôi đến gần thì nó lập tức biến mất."

"Bà nhà xin ông 100 bảng hồi nào?"

"Cách đây hai tháng."

"Có khi nào ông thấy bức ảnh người chồng trước của vợ ông không?"

"Không.

Chẳng bao lâu sau khi ông ta chết, ở Atlanta đã xảy ra một vụ cháy lớn, mọi giấy tờ đều bị thiêu hủy."

"Tuy nhiên bà nhà hẳn có giấy khai tử của ông ta chứ?"

"Vâng, nàng có nhận được bản sao sau vụ cháy."

"Có bao giờ ông gặp bất kỳ một ai đã biết vợ ông ở Mỹ không?"

"Không."

"Chắc bà có nhận được thư ở bên đó?"

"Theo tôi biết thì không."

"Cảm ơn ông!

Tôi muốn được suy ngẫm một chút.

Có lẽ những người sống trong biệt thự đã dự đoán trước về việc đột nhập của ông, nên họ đi khỏi trước khi ông tới.

Nếu thế thì rất có thể họ sẽ quay trở về và chúng ta sẽ dể dàng lý giải mọi chuyện.

Vậy ông hãy trở lại Norbury tiếp tục theo dõi các cửa sổ của tòa biệt thự.

Nếu ông thấy họ sống trong đó thì đừng có xộc vào, mà hãy đánh điện cho chúng tôi.

Một giờ sau khi nhận được điện, chúng tôi sẽ có mặt."

"Còn nếu vẫn chưa có người ở thì sao?"

"Nếu thế, ngày mai tôi sẽ đến.

Chúng tôi sẽ cùng ông bàn bạc.

Xin tạm biệt!"

"Watson thân mến, có thể đây là một câu chuyện thật tồi tệ."

Holmes nói sau khi tiễn chân ông Munro ra khỏi cửa "Cậu nghĩ sao?"

"Đây là một chuyện hoàn toàn nhơ nhuốc."

"Quả vậy, đây là sự dọa nạt để cầu lợi.

Nếu không đúng thế thì tớ rất mực sai lầm."

"Thế ai là kẻ dọa nạt?"

"Người sống trong căn phòng đầy đủ tiện nghi ấy, người đã giữ bức ảnh của người đàn bà trên lò sưởi.

Bộ mặt màu vàng cạnh cửa sổ không hiểu vì lẽ gì đó, cứ bám chặt lấy tớ.

Và tớ quyết không bỏ qua vụ này."

"Cậu có giả thiết nào chưa?"

"Mới chỉ là giả thiết bước đầu thôi!

Trong tòa biệt thự có đức ông chồng đầu tiên của người đàn bà này."

"Vì sao cậu nghĩ như thế?"

"Khi người chồng hiện tại định vào nhà, bà đã sợ hết hồn.

Tại sao vậy?

Theo tôi, sự thật là thế này: Người đàn bà đã lấy chồng ở Mỹ.

Sau đó anh ta trở thành người đáng ghét đối với bà.

Chúng tôi giả thiết ông ta có thể bị bệnh phong hoặc có thể thành kẻ ngu đần.

Rốt cuộc bà bỏ ông ta, và trở về nước Anh, thay tên và bắt đầu sống lại từ đầu.

Bà đi bước nữa hồi ba năm về trước và đã coi địa vị của mình là hoàn toàn vững chắc.

Thế nhưng nơi ở của bà bị phát hiện hoặc bởi người chồng đầu tiên, hoặc bởi người đàn bà trâng tráo gắn bó với người bệnh.

Họ viết thư cho bà ta, đe dọa là sẽ đến tố giác bà.

Bà ta dùng 100 bảng để đưa cho họ im.

Do vậy mà họ đã đi đến đó.

Khi người chồng vô tình nói cho bà hay về sự xuất hiện của những người mới tới ở tòa biệt thự.

Bà ta đã đoán được đó chính là những kẻ đang săn lùng bà.

Sau khi chờ chồng mình ngủ say, bà chạy tới đó thuyết phục họ để bà được sống yên lành.

Lần đầu không đạt, bà lại tới chỗ họ vào sáng hôm sau.

Nhưng vừa ra khỏi nhà thì bắt gặp chồng.

Bà hứa với chồng là sẽ không vào đó nữa.

Tuy vậy, hai ngày sau, hy vọng được thoát khỏi những người láng giềng lại bùng lên trong lòng bà.

Không kìm hãm nổi, bà toan trở lại mặc cả với họ.

Bà đã trao bức ảnh của mình là theo đòi hỏi của họ.

Giữa lúc chuyện trò, người hầu gái chạy tới báo cho họ biết là ông chủ đã về nhà.

Khi ấy, người vợ đã dẫn họ theo lối cửa sau, có lẽ ra ngoài rừng thông bên cạnh.

Như vậy người khách của chúng ta chỉ thấy một ngôi nhà trống không mà thôi."

"Theo tớ đấy mới chỉ là phỏng đoán."

"Đúng vậy!

Nhưng nó soi sáng hết thảy!

Nếu các sự kiện mới nổi lên mà không thể giải thích được, chúng ta sẽ có đủ thời gian để chuyển qua xem xét giả thiết của tôi.

Chúng ta chưa thể bắt tay vào cuộc nếu chưa nhận được tin tức của ông ta từ Norbury."

Chúng tôi không phải chờ đợi lâu.

Bức điện đã đến ngay sau bữa điểm tâm.

"Biệt thự có người.

Lại nhìn thấy bộ mặt trong cửa sổ.

Gặp lúc 7 giờ.

Không tiến hành chừng nào các ông chưa đến".

Ông ta đợi chúng tôi tại sân ga, mặt xanh xao, cả người run rẩy.

"Họ còn ở đấy, ông Holmes ạ!"

Ông nói sau khi cầm tay bạn tôi "Tôi trông thấy ánh sáng trong tòa nhà khi đi qua đó."

"Kế hoạch của ông thế nào?"

"Tôi muốn đột nhập vào đó.

Nếu chính mắt mình trong thấy một kẻ nào đó trong nhà, tôi yêu cầu các ông trở thành nhân chứng."

"Ông kiên quyết như vậy?"

"Cương quyết!"

"Thôi được, ông có lý.

Bất kỳ sự thật nào cũng tốt hơn tình trạng không rõ ràng như hiện giờ.

Cố nhiên chúng ta vi phạm luật, nhưng việc này nên làm như thế."

Đêm hôm ấy trời tối đen như mực.

Khi chúng tôi từ đường lớn rẽ vào lối mòn thì trời bắt đầu mưa lâm râm, ông Munro lao mình về phía trước, chúng tôi theo sau.

"Lửa sáng của ngôi nhà tôi ở đằng kia kìa!"

Ông vừa chỉ vào ngọn lửa lấp ló giữa lùm cây vừa lầu bầu nói.

"Còn đây là tòa biệt thự, tôi sẽ vào đó."

Chúng tôi rẽ vào lối mòn và tiến sát đến tòa nhà.

Cánh cửa ra vào hé mở.

Một vệt sáng nổi rõ trên nền đất đen.

Có một cửa sổ trên gác thượng sáng rõ.

Chúng tôi thấy vệt thẫm chuyển động theo rèm cửa.

"Tên súc sinh ở đó đấy!"

Munro thốt lên "Chính các ông trông thấy nó là ai rồi!

Bây giờ hãy theo tôi."

Chúng tôi tiến đến gần cửa chính.

Đột nhiên từ trong bóng tối, một người đàn bà bước ra, dang hai tay ra phía trước, van nài:

"Trời ơi!

Không nên, anh!"

Bà kêu lên "Em biết thế nào anh cũng sẽ đến.

Hãy bình tĩnh lại.

Anh yêu quý!

Hãy một lần nữa tin vào em và rồi anh sẽ không bao giờ hối hận đâu!"

"Từ lâu tôi đã tin bà!"

Ông lãnh đạm trả lời "Hãy buông tôi ra, tôi cần vào trong đó!

Còn đây là những người bạn của tôi.

Họ đến để giúp tôi chấm dứt vĩnh viễn cái việc tồi tệ này."

Ông gạt bà sang một bên, và chúng tôi cùng bước theo.

Lúc ông ta đẩy cửa thì có một bà già chạy ra, toan cản đường.

Munro đẩy bà ta ra.

Một loáng sau chúng tôi đã leo lên cầu thang.

Munro vượt lên phía trước, nhìn thẳng căn phòng sáng choang chạy tới.

Chúng tôi theo sát ông.

Đấy là căn phòng đầy đủ tiện nghi được xếp đặt ngay ngắn.

Hai ngọn nến đang cháy trên lò sưởi.

Trong góc phòng, một người nào đó đang xoay lưng lại phía chúng tôi.

Rõ ràng là một cháu gái bé nhỏ.

Cháu mặc váy đỏ và đeo găng tay trắng.

Đột nhiên cháu quay về phía chúng tôi và kêu lên vì kinh ngạc và hãi hùng.

Bộ mặt cháu thật là kỳ quái: nhợt nhạt và bất động như mặt người chết.

Holmes bật cười lấy tay xoa tóc cháu bé.

Cái mặt nạ rơi xuống.

Trước mặt chúng tôi là một con bé da đen.

Cháu mỉm cười vui vẻ.

Hàm răng trắng toát.

Vẻ mặt kinh ngạc của chúng tôi khiến cháu phì cười.

Tôi cười hả hê với nỗi vui sướng của cháu.

Nhưng Munro xấu hổ, ép chặt tay vào ngực, không rời mắt khỏi cháu.

"Thế này là thế nào?"

Ông ta kêu lên.

Người đàn bà với khuôn mặt quả quyết và kiêu hãnh bước vào phòng, lên tiếng.

"Ông ép tôi phải nói ra tất cả những gì ngoài mong muốn của mình.

Tôi buộc lòng vậy.

Chồng tôi chết ở Atlanta nhưng đứa bé thì còn sống."

"Đứa con của bà?"

Bà ta gỡ từ cổ ra một sợi dây chuyền có treo một kỷ vật.

"Ông chưa bao giờ trông thấy ông ta à?"

"Chưa."

Bà ta bấm nút, nắp bật ra.

Trong có bức chân dung của một người có khuôn mặt mang những nét của gốc người Phi thông minh, sáng đẹp đến lạ lùng.

Đầu tiên ông nói với tôi là tòa biệt thự đã có người thuê.

Lúc đó tôi không sao ngủ được vì xúc động.

Rốt cuộc tôi đã lẻn ra ngoài khi biết là ông đang ngủ say.

Thế nhưng ông đã phát hiện ra, và chính là điểm khởi đầu cho những nỗi bất hạnh của tôi.

Ba ngày sau đó, người bảo mẫu và đứa trẻ chỉ vừa kịp chạy qua cửa sau thì ông đã ập vào nhà ...

Bây giờ ông đã biết hết rồi, ông quyết định như thế nào tùy ông."

Bà ta nắm chặt lấy tay mình, buồn bã chờ đợi câu trả lời.

Munro không nói lời nào, đến bế đứa bé lên, hôn nó và sau khi chìa tay ra cho vợ mình cầm, ông bước ra khỏi cửa, ngọt ngào nói:

"Tốt hơn chúng ta về nhà.

Anh là một người không được tốt lắm.

Effie ạ!

Song anh cho rằng anh tốt hơn là em nghĩ về anh."

Holmes và tôi bước theo sau họ trên con đường mòn.

Holmes kéo tay áo tôi lại:

"Thôi!

Chúng ta ở London sẽ có ích lợi hơn ở Norbury."

Anh không nói thêm một lời nào về chuyện đó.

Tuy nhiên vào tối hôm đó, lúc đã khuya anh cầm ngọn nến nhỏ vào phòng ngủ và nói:

"Watson thân mến!

Nếu một lúc nào đó, cậu thấy tớ trở nên quá tự tin, hoặc làm việc ít hơn so với sự đòi hỏi của công việc thì hãy nói nhỏ vào tai tớ: "Norbury!".

Tớ sẽ vô cùng cảm tạ.

Hết

Đơn vị tiền tệ của Anh

khoảng 28 gram

Nguyên văn: pound (đơn vị tiền tệ của Anh)
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
C3 Người làm thuê cho nhà môi giới chứng khoán


NGƯỜI LÀM THUÊ CHO NHÀ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN

THE STOCK BROKER'S CLERK (1893)

Memoirs of Sherlock Holmes

Những hồi ức về Sherlock Holmes

Sau đám cưới ít lâu, tôi đã mở được phòng mạch của riêng mình tại khu Paddington.

Phòng mạch này của Farquhar, một người quen cũ, nhượng lại phân nửa cho tôi.

Suốt ba tháng sau ngày mở phòng mạch, tôi rất ít có thời gian rỗi để ghé thăm Holmes mặt dù phòng mạch của tôi cách phố Baker không xa.

Bởi vậy vào một buổi sáng tháng 6, tôi rất ngạc nhiên khi nghe tiếng chuông gọi cửa.

Tiếp theo đó là cái giọng lanh lảnh của anh bạn già.

- Watson thân mến!

- Holmes reo lên khi bước vào phòng khách - Tôi vui mừng được gặp lại anh.

Bà Watson đã hoàn toàn qua khỏi những xúc động nhỏ trong vụ "Dấu bộ tứ" chưa?

- Cám ơn anh, vợ chồng tôi đều mạnh giỏi. – Tôi trả lời, nồng nhiệt bắt tay anh.

Khi ngồi vào cái ghế xích đu, Holmes nói tiếp:

- Ông bác sĩ còn quan tâm đến những vấn đề về lý luận của chúng ta chứ?

- Đúng vậy.

Tối hôm qua tôi còn chúi mũi vào những ghi chú cũ để sắp xếp lại một vài kết quả mà chúng ta đã đạt được.

- Bộ sưu tập đã đầy đủ chưa?

- Chưa đâu!

Tôi mong nó được phong phú thêm, với nhiều kinh nghiệm mới hơn nữa.

- Như ngày hôm nay chẳng hạn?

- Phải.

Nếu như anh muốn như thế.

- Và đáp tàu tới tận Birmingham?

- Chắc chắn rồi.

- Thế còn các thân chủ?

- Nhiều lần, tôi chăm sóc cho thân chủ của đồng nghiệp láng giềng.

Nay bắt ông ấy "trả nợ".

- Thế là ổn rồi!

- Holmes reo lên, buông mình lọt sâu xuống ghế.

- Tôi nghĩ rằng anh vừa mới không đuợc khỏe.

Những đợt lạnh giữa mùa hè thường gây ra những rắc rối nho nhỏ.

- Đúng vậy.

Tôi phải ở trong nhà suốt 3 ngày hồi tuần trước.

Tuy nhiên tôi nghĩ là tôi đã không còn dấu tích gì của chuyện đó nữa.

- Vậy mà có đấy.

Anh trông khá khỏe mạnh.

- Thế thì sao?

Làm sao anh biết đuợc chuyện đấy?

- Anh bạn thân mến, anh biết là tôi có những phương pháp của tôi.

- Anh suy diễn nó à?

- Tất nhiên!

- Từ đâu mới được?

- Từ đôi dép anh đang đi đấy.

Tôi liếc nhìn xuống đôi dép kiểu mới mà tôi đang mang.

- Thế nào mà...?

Holmes ngắt lời tôi khi tôi còn chưa kịp hỏi xong:

- Những đôi dép của anh còn rất mới.

Anh không thể có nó hơn vài tuần.

Tuy nhiên, dưới đế lại có những vệt xém nho nhỏ.

Lúc đầu tôi nghĩ rằng, có lúc nó bị ướt và anh đã hong chúng cho khô.

Nhưng, chỗ gần cái quai dép vẫn còn có nguyên tờ nhãn của cửa hiệu.

Nếu đôi dép bị uớt thì tờ nhãn sẽ bị bong ngay.

Chỉ có thể có một cách lý giải là anh đã ngồi duỗi chân vào lò sưởi.

Một người đàn ông ít khi nào ở trạng thái như thế trong những ngày ẩm ướt của tháng 6 trừ phi anh ta không được khỏe.

Như mọi khi, những suy diễn của Holmes lập tức trở nên đơn giản khi được giải thích.

Anh đọc thấy điều này trên khuôn mặt tôi và nở một nụ cuời thoáng có vẻ cay đắng:

- Tôi sợ là tôi đã giải thích quá nhanh chóng - anh nói - Một số sự việc diễn ra mà không có nguyên nhân còn gây nhiều ấn tượng hơn.

Anh đã sẵn sáng đi Birmingham rồi chứ?

- Sẵn sàng.

Mà vụ gì vậy?

- Tôi sẽ kể trên tàu.

Thân chủ của tôi đang chờ trên chiếc xe ngựa ở bên ngoài.

Anh đi ngay nhé?

- Chờ tôi một chút.

Tôi nguệch ngoạc vài chữ gửi ông bạn láng giềng, leo lên cầu thang để báo cho nhà tôi biết, rồi trở xuống.

- Ông hàng xóm của anh cũng là một bác sĩ - Holmes vừa nói vừa chỉ vào tấm biển đồng thau.

- Vâng.

Anh cùng thực tập chung với tôi.

- Người chủ cũ à?

- Không.

Cũng như tôi.

Cả hai cùng đặt phòng mạch trong ngôi nhà này.

- Và anh đang giữ cái tốt nhất...

- Tôi nghĩ là vậy.

Nhưng làm sao anh biết?

- Dựa trên các bậc cửa, cậu bé ạ.

Bên anh sâu hơn bên kia đến 3 inch.

Anh Watson, đây là ông Hall Pycroft, thân chủ của chúng ta.

Cho ngựa chạy đi bác xà ích!

Người ngồi trước mặt tôi còn trẻ, có thân hình cân đối nước da sáng.

Khuôn mặt cởi mở, lương thiện và hàng ria mép vàng hoe xoăn lại.

- Chúng ta có 70 phút trước khi tới nơi - Holmes báo - Tôi yêu cầu thân chủ vui lòng thuật lại cho bạn tôi biết nỗi gian truân rất lý thú của ông.

Người trẻ tuổi nhìn tôi với một ánh mắt tinh nghịch, rồi nói:

- Trước đây tôi làm việc ở hãng Coxon and Woodhouse, nhưng vào đầu mùa xuân vừa qua, hãng đó bị phá sản.

Hai mươi bảy người như chúng tôi đều bị thất nghiệp.

Tôi gõ cửa xin việc nhiều nơi, nhưng đều thất bại.

Trước kia, tại hãng cũ, tôi lĩnh 3 bảng mỗi tuần và dành dụm được 70 bảng.

Chẳng bao lâu, tôi chỉ còn đủ tiền mua tem để viết thư gửi tới những nơi "cần người".

Nhưng vẫn chẳng có tin vui nào.

Sau cùng, tôi được biết công ty Mawson and William's, công ty môi giới chứng khoán lớn tại phố Lombard, có một chỗ đang khuyết người.

Theo lời rao đăng trên báo thì phải trả lời bằng thư.

Tôi vội gửi đến đó đủ các giấy chứng nhận khả năng chuyên môn cùng bản lý lịch, nhưng lòng không hy vọng lắm.

Thư phúc đáp, nói rằng tôi có thể tới nhận việc ngay nếu ngoại hình của tôi coi được.

Khởi đầu lương tôi cao hơn ở hãng cũ mà công việc thì như nhau.

Ngay buổi tối của ngày nhận thư hồi âm, tôi đang hút một điếu xì gà, trong lòng thư thái, thì người chủ nhà chợt leo lên phòng tôi, đem theo một tấm danh thiếp trên đó có hàng chữ: "Arthur Pinner, đại lý tài chính".

Tôi chưa bao giờ nghe nói đến cái ông Pinner đó, nhưng tôi vẫn mời ông lên.

Đó là một người tầm thước, tóc nâu, mắt đen, cái mũi có dáng vẻ là dân Do Thái.

ông nói ngắn gọn, tựa như một người biết rõ giá trị của thời giờ.

- Ông là Hall Pycroft?

- Vâng, chính tôi.

Tôi đẩy ghế mời ông ngồi.

- Mới đây ông làm việc cho hãng Coxon and Woodhouse phải không?

- ông ta hỏi tiếp.

- Vâng.

- Và giờ đây được hãng Mawson thâu dụng?

- Thưa vâng.

- Ông còn nhớ ông Parker, quản lý ở hãng Coxon chứ?

Ông ấy nói rất tốt về ông.

- Tất nhiên, tôi rất vui khi nghe chuyện đó.

Ở văn phòng, tôi luôn luôn làm việc cần mẫn, nhưng tôi chẳng bao giờ ngờ được thiên hạ nói nhiều về tôi đến thế.

- Ông có trí nhớ tốt đấy chứ?

- ông ta hỏi tôi.

- Cũng tạm được!

- Tôi nói một cách khiêm nhường.

- Ông vẫn tiếp xúc với thị trường chứng khoán trong những ngày ông không có việc làm?

- Sáng nào tôi cũng đọc thông báo của các chứng khoán.

- Đó là cách người ta làm giàu đấy nhé!

Ông sẽ không giận, nếu như tôi thử thách ông.

Các cổ phần Ayrshires hôm nay trị giá bao nhiêu?

- 106,25 đổi lấy 105,78.

- Thế còn công trái hợp nhất của New Zealand?

- 104.

- Và những công trái Broken Hills của nước Anh?

- 7 đổi lấy 7,6.

- Tuyệt vời - ông ta giang hai cánh tay ra mà reo lên - Chính tôi cũng sẽ trả lời đến thế thôi.

Chú em này, chú thật quá giỏi để vào làm cho hãng Mawson.

- Quả vậy - Tôi nói với ông Pinner - Nhưng người khác không đánh giá tôi như ông.

Tôi sẽ làm hết sức mình để khỏi phụ lòng ông.

- Hừ, anh bạn thân mến!

Anh phải bay lên cao hơn mới được chứ.

Hãy cho tôi biết, bao giờ anh đến trình diện tại hãng Mawson?

- Thứ hai.

- Tôi sẵn lòng chi một số tiền nhỏ để anh không đi làm cho hãng Mawson.

- Không đến Mawson sao?

- Đừng đến!

Ngày thứ hai anh sẽ làm giám đốc thương mại của công ty trách nhiệm hữu hạn Franco-Midland, chuyên kinh doanh hàng kim khí, có 134 chi nhánh trong các thị trấn và làng mạc tại Pháp, chưa kể tới các chi nhánh ở Brussels và San Remo.

Tôi như bị hụt hơi.

Tôi thì thầm:

- Nhưng tôi chưa bao giờ nghe nhắc đến công ty đó?

- Chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

Tất cả điều đó đã được giữ rất bí mật.

Vốn hoàn toàn do các tư nhân đóng góp: ông anh tôi, Harry Pinner là quản trị viên được ủy nhiệm.

Anh đã yêu cầu tôi tìm một người trung hậu... có nghĩa là một người trẻ tuổi, năng động, đầy nghị lực.

Parker đã nói với tôi về anh.

Vì thế tối nay tôi mới tới đây.

Chúng tôi chỉ có thể trả cho anh mức lương khởi điểm là 500 bảng.

- Năm trăm bảng một năm à?

- Tôi hét lên.

- Chỉ là để bắt đầu.

Anh còn được một khoản hoa hồng là 1% trên tất cả mọi thương vụ.

Với khoản hoa hồng đó, lương của anh coi như được tăng gấp đôi.

- Nhưng tôi không biết kinh doanh hàng kim khí.

- Suỵt, chàng trai ơi, anh biết rành nghề đó qua những con số.

Tiếng vo vo trong đầu làm tôi ù cả tai.

Tôi rất muốn giữ cho mình bình tĩnh, nhưng quả thật là khó.

- Hãng Mawson chỉ trả cho tôi có 200 bảng, nhưng Mawson là một doanh nghiệp đứng đắn.

Thật ra, tôi biết quá ít về công ty của ông nên...

- A, được lắm!

Hoan hô!

- ông ta kêu lên trong một trạng thái như xuất thần - Anh đúng là người mà chúng tôi cần.

Người ta chẳng thể lừa dối nổi anh và anh đã rất có lý.

Cầm lấy này, đây là tờ giấy bạc 100 bảng.

Nếu anh nghĩ là chúng ta có thể thỏa thuận với nhau, anh chỉ việc nhét khoản tạm ứng đó vô túi.

- Ông rộng rãi quá.

Khi nào tôi bắt đầu nhận việc?

- Ngày mai, lúc một giờ, anh hãy có mặt ở Birmingham.

Trong túi tôi có sẵn một lá thư mà anh sẽ trao lại cho anh tôi.

Anh sẽ gặp anh ấy ở 126B phố Corporation, là nơi đặt văn phòng tạm của công ty.

- Thật vậy ư, tôi không biết lấy gì đền ơn ông.

- Có gì đâu.

À, mà tôi muốn thu xếp với anh.

Anh có sẵn giấy không?

Tốt.

Anh hãy viết: "Tôi ký tên dưới đây...

đồng ý nhận chức vụ giám đốc thương mại tại công ty kinh doanh hàng kim khí Franco-midland, với số lương tối thiểu là 500 bảng mỗi năm".

Tôi làm theo điều ông yêu cầu và ông ta nhét tờ giấy vào túi.

- Còn một chi tiết nữa - ông ta lại nói - Anh có ý định như thế nào đối với nhà Mawson?

- Tôi sẽ viết thư từ chối.

- Đó là điều mà tôi không muốn.

Anh hãy mường tượng là tôi và nhà Mawson đã tranh nhau mời cho được anh.

Ông ấy đã kết tội tôi là muốn phỉnh phờ anh để làm cho anh rời bỏ hãng ông ta.

Tới phút cuối, tôi mất bình tĩnh, đã nói với ông ta: "Nếu như ông muốn thuê được những người giúp việc giỏi thì ông phải trả lương cao".

Ông ta đáp: "Người đó thà lãnh lương thấp ở chỗ chúng tôi hơn là lãnh lương cao của ông!".

Tôi tức tối, trả miếng liền: "Tôi dám đánh cuộc với ông năm bảng rằng anh ấy sẽ nghe những lời đề nghị của tôi và ông sẽ mất anh ấy".

Ông ta bảo tôi: "Bắt đấy?

Chúng tôi đã moi anh ta lên từ cảnh đê hèn, anh ta sẽ không buông rơi chúng tôi đâu".

- Đồ xấc xược!

Tôi đã thấy hắn bao giờ đâu!

Vả chăng tại sao tôi lại bận tâm đến hắn?

Nếu ông muốn tôi không viết cho hắn, thì tôi sẽ không viết?

- Tốt!

Như vậy là đã hứa với nhau rồi nhé! – ông ta nói với tôi khi xô ghế đứng lên - Đây là khoản ứng trước 100 bảng và đây là lá thư.

Ngày mai lúc một giờ.

Xin chúc anh một đêm an lành.

Thưa bác sĩ Watson, tôi hài lòng biết bao với cơ may này!

Sáng hôm sau, tôi vội vã đến Birmingham và tìm tới địa chỉ đã được dặn.

Tôi đến trước giờ hẹn 15 phút.

Địa chỉ 126B là một dãy hành lang giữa hai cửa hàng lớn, dẫn tới một cầu thang xoáy trôn ốc, trên đó có nhiều phòng cho thuê, dùng làm văn phòng các công ty.

Tên những người thuê nhà được viết bằng vôi trên một tấm bảng, nhưng tôi không thấy có tên công ty Franco-Midland.

Tôi sững sờ, tự hỏi vụ này phải chăng là một sự phỉnh lừa...

Thế rồi có một người hiện ra và ngỏ lời với tôi.

Người đó rất giống với người mà tôi đã gặp trong buổi tối hôm trước, nhưng không có râu mà mái tóc lại có màu sáng hơn.

- Có phải ông là Hall Pycroft?

- Phải.

- A, tôi chờ ông đây, ông đến hơi sớm một chút.

Sáng nay tôi có nhận được thư của em tôi.

Chú ấy ca ngợi ông hết lời.

- Tôi đang tìm văn phòng ông.

- Chúng tôi chưa kịp cho ghi tên lên bảng.

Thôi, ông hãy theo tôi, chúng ta bàn công việc.

Tôi theo ông ta lên lên tít trên cầu thang, sát dưới mái nhà lợp đá đen.

Tới hai căn phòng nhỏ trống trếnh, đầy bụi bậm, không trải thảm và không có màn che cửa, ông ta đẩy tôi vào.

Tôi đã nghĩ tới một văn phòng lớn với những cái bàn bóng loáng, những nhân viên xếp hàng đằng sau, như tôi vẫn quen từ thuở nào.

Thế là tôi bàng hoàng ngắm nhìn hai cái ghế tựa lung lay và một cái bàn nhỏ mà, cũng với một cuốn sổ và một cái giỏ đựng giấy vụn.

Đó là tất cả đồ đạc trong nhà.

- Đừng có nản lòng, Pycroft - ông ta nói lớn khi trông thấy cái vẻ mặt thất vọng của tôi - Thủ đô La Mã đâu có được dựng lên trong một ngày?

Chúng ta có rất nhiều vốn liếng, dẫu rằng chúng ta không có một văn phòng loè loẹt.

Hãy ngồi xuống và cho tôi coi lá thư.

Tôi đưa lá thư ra.

Ông ta đọc hết sức cẩn thận.

- Dường như anh đã tạo ra một ấn tượng rất mạnh nơi chú em tôi - ông nói khi đặt lá thư xuống - Chú ấy có tài phán đoán.

Mong anh coi như đã được thu nhận thực sự.

- Tôi phải làm việc gì?

- Anh sẽ sắp xếp kho hàng lớn của chúng ta bên Paris, là nơi sắp tung ra thị trường một loạt đồ sành và đồ gốm Anh trong những cửa hàng lớn thuộc 134 đại lý của hãng ta ở bên Pháp.

Việc mua hàng sẽ được thực hiện xong trong tuần này.

Từ nay tới đó anh sẽ ở lại Birmingham và anh sẽ trở thành hữu ích.

- Bằng việc gì?

Thay cho câu trả lời, ông ta rút trong ngăn kéo ra một cuốn sách lớn màu đỏ.

- Đây là cuốn danh sách những cư dân ở Paris, và nghề nghiệp của họ.

- ông nói với tôi - Anh có thể mang cuốn sách này về nhà, ghi tên tất cả những nhà đại kim khí và địa chỉ của họ.

Bản danh sách sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều.

- Chắc chắn là nó đã có trong những cuốn sách niên giám chứ?

- Không thể tin vào những cuốn niên giám đó.

Hệ thống đó khác với phương thức của chúng ta.

Anh hãy làm và đem cho tôi bản danh sách do anh lập ra vào sáng thứ hai tuần tới, lúc giữa trưa.

Hẹn gặp lại.

Tôi quay về nhà trọ, trong lòng xốn xang những tình cảm mẫu thuẫn nhau.

Một bên tôi có chỗ làm, trong túi đang có 100 đồng bảng; còn bên kia là cái văn phòng nghèo nàn.

Nhưng dầu sao đi nữa, tôi đã có tiền, rồi muốn ra sao thì ra.

Thế là tôi bắt tay vào việc.

Suốt ngày chủ nhật tôi cúi gằm trên cuốn danh sách, thế mà qua ngày thứ hai tôi chỉ mới tới được vần H.

Tôi quay lại gặp ông chủ tôi.

Vẫn gặp nhau trong căn phòng trống trải.

ông bảo tôi cứ tiếp tục và hãy quay trở lại vào ngày thứ tư.

Thứ tư tôi vẫn chưa làm xong.

Tôi ráo riết làm việc, cho tới thứ sáu, có nghĩa là ngày hôm qua.Thế là tôi đem danh sách tới cho ông Harry.

- Cám ơn anh nhiều lắm!

- ông ta nói - Danh sách này rất hữu ích cho tôi.

- Tôi đã mất khá nhiều thì giờ.

- Giờ đây, - ông ta nói tiếp - Tôi yêu cầu anh lập cho tôi bản danh sách những nhà bán hàng trang trí nội thất, bởi vì những cửa hàng đó thường bán cả đồ kim khí nữa.

- Được lắm.

- Tối mai, anh đến đây lúc bảy giờ để cho tôi biết là anh đã làm được đến đâu.

Đừng có làm việc quá sức đấy.

Hai giờ đi nghe nhạc trong buổi tối sẽ không làm hại anh.

Thế là ông ta bắt đầu vừa cười vừa nói với tôi và tôi chợt nhìn thấy cái răng thứ hai bên mé trái được bịt vàng, rất xấu xí.

Sherlock Holmes xoa xoa hai bàn tay vào nhau, dáng vẻ rất thích thú, trong lúc tôi ngơ ngác nhìn người thanh niên.

- Phải, ông quả có lý khi tỏ ra sững sờ, bác sĩ Watson - Anh ta nói với tôi - Tuy nhiên chuyện là như thế đó.

Khi tôi nói chuyện với cái ông kia ở London thì ông ta cười trước cái ý kiến là tôi sẽ không đi tới hãng Mawson.

Lần đó tôi đã để ý thấy cái răng bịt vàng của ông ta rất chính xác, nó y hệt như cái răng mà tôi đã thấy ngày hôm qua.

Khi tôi nghĩ rằng giọng nói và dáng dấp cũng như nhau, và chỉ có những nét đặc trưng là khác nhau (có thể đã do tác dụng của một lưỡi dao cạo hoặc một mái tóc giả), thì tôi tự nhủ rằng chắc chắn đây hai người chỉ là một mà thôi.

Tất nhiên là có thể có hai anh em giống nhau, nhưng không giống tới mức có cùng một cái răng được bịt vàng theo cùng một cách...

Trên đường về, tôi không biết mình đang đi bằng chân hay bằng đầu nữa.

Tôi quay trở lại khách sạn, nhúng đầu vào trong nước lạnh và cố suy nghĩ.

Tại sao hắn ta lại bắt tôi rời London xuống Birmingham?

Tại sao hắn lại đến Birmingham trước tôi?

Tại sao hắn viết thư gửi cho chính hắn?

Tôi chẳng hiểu nổi điều gì.

Và bất thình lình tôi biết rằng những điều tối đen đối với tôi có thể lại sáng như ban ngày đối với ông Holmes.

Thế rồi tôi đã đến đây".

Khi câu chuyện chấm dứt, có một khoảng thời gian im lặng khá lâu.

Sherlock Holmes nháy mắt ra hiệu với tôi, ngả người vào gối đệm.

- Không dở, phải không Watson?

Trong vụ này có một chi tiết làm tôi ưng ý.

Vậy thì một cuộc nói chuyện với ông Harry sẽ hấp dẫn đấy nhỉ?

- Nhưng phải làm thế nào?

- Tôi hỏi.

- Ồ, rất dễ!

- Pycroft reo lên một cách vui vẻ - Hai ông là hai người bạn của tôi, cùng đi tới đó tìm việc làm.

Có gì là không bình thường khi tôi giới thiệu hai ông với viên quản trị được ủy nhiệm kia chứ?

- Rất tuyệt!

- Holmes nói - Tôi muốn nhìn tận mặt nhân vật đó và thử tìm hiểu trò chơi của y.

Tối hôm đó, lúc 7 giờ, chúng tôi đi bộ đến văn phòng công ty.

- Chẳng cần đến sớm làm chi - Thân chủ của chúng tôi giải thích - Chắc là hắn chỉ tới đó để gặp một mình tôi thôi.

Ủa kìa!

Hắn đang đi trước chúng ta kìa.

Anh ta chỉ cho chúng tôi thấy một người tóc hoe, ăn mặc bảnh bao, đang rảo bước trên vỉa hè bên kia.

Hắn nhìn một thằng bé bán báo đang rao toáng lên những tin tức giật gân, rồi thình lình hắn xông vào giữa những cỗ xe và xe buýt để mua một tờ báo và biến khuất sau một khung cửa.

- Chỗ đó đấy!

- Pycroft kêu lên - Hắn đang leo lên văn phòng.

Hai ông hãy lại đó với tôi.

Chúng tôi leo năm tầng lầu, Pycroft gõ lên một cánh cửa hé mở.

- Cứ vào!

Lúc đó chúng tôi thấy mình đang ở trong một căn phòng trống tuếch.

Ngồi trước cái bàn duy nhất là người đàn ông mà chúng tôi đã thấy ngoài đường phố, tờ báo trải rộng dưới mắt.

Khi người đó ngửng lên, tưởng chừng như tôi chưa bao giờ trông thấy một khuôn mặt nào mang theo những dấu vết rã rời hơn.

Vầng trán bóng đẫm mồ hôi, đôi mắt long lanh một tia nhìn hoang dại, ông ta như không còn nhận ra người giúp việc của mình nữa.

- Ông có vẻ bị đau, thưa ông chủ?

- Người thanh niên nói lớn.

- Phải, tôi không được khoẻ - Người kia trả lời, cố gắng trấn tĩnh lại.

ông ta thè lưỡi liếm môi trước khi hỏi: - Các ông đây là ai vậy?

- Đây là ông Harris ở Bermondsey, ông này là Price ở tại đây - Pycroft trả lời trơn tru - Đây là hai anh bạn tôi, những người giàu kinh nghiệm nhưng nay lại bị thất nghiệp.

Tôi hy vọng ông sẽ sử dụng khả năng của họ trong công ty.

- Có thể lắm chứ - Người đọc báo nói với nụ cười dễ sợ - Phải, chúng tôi có thể làm được cái đó cho hai ông.

Thế ông làm nghề gì, thưa ông Harris?

- Tôi làm kế toán - Holmes trả lời.

- Thế à?

Vừa đúng lúc chúng tôi đang cần một người giữ sổ sách.

Thế còn ông, thưa ông Price?

- Thư ký hành chính - Tôi trả lời.

- Công ty sẽ thu nhận ông.

Tôi sẽ báo tin, khi nào chúng tôi quyết định.

Và giờ đây, tôi mong các ông hãy để cho tôi được yên, được ở đây một mình.

Những lời sau chót vọt ra khỏi miệng người đó tựa hồ như sự gò bó lâu ngày, mà ngày nay bất thình lình sự câu thúc bỗng bị vỡ tan tành.

Holmes và tôi trao đổi một tia nhìn và Pycroft tiến một bước lên phía cái bàn, anh nói:

- Thưa ông, ông quên mất rằng ông đã hẹn tôi đến đây để cho tôi những chỉ thị hay sao.

- Chắc chắn rồi - Người nọ trả lời bằng một giọng bình tĩnh hơn - Các ông có thể chờ tôi một lát...

Hắn đứng lên trong một dáng điệu rất lịch sự, nghiêng mình khi đi ngang qua chúng tôi, mở một cánh cửa ở phía đầu bên kia văn phòng rồi khép lại sau lưng hắn.

- Như vậy có nghĩa là gì?

- Holmes thì thào - Liệu hắn có vuột thoát khỏi tay chúng ta chăng?

- Không thể được!

- Pycroft trả lời.

- Tại sao?

- Cánh cửa này mở vào một căn phòng trong.

- Không có lối ra sao?

- Không có lối ra nào khác.

- Phòng có bày đồ đạc không?

- Cho đến ngày hôm qua thì nó còn trống trơn.

- Thế thì hắn có thể làm gì trong đó nhỉ?

Một cái gì đó vuột khỏi tôi trong vụ án này?

Điều gì đã làm cho hắn run sợ đến thế?

- Hắn nghi chúng ta là cảnh sát.

- Tôi nói.

- Đúng vậy!

- Pycroft nói.

Holmes lắc đầu.

- Hắn đã nhợt nhạt trước khi chúng ta vô đây.

Rất có thể là...

Câu nói của anh bị ngắt ngang bởi một tiếng "tốc tốc" khá mạnh từ trong cánh cửa phòng bên vọng ra.

- Ma xúi quỷ giục gì mà hắn lại gõ vào cánh cửa của hắn như vậy?

- Pycroft kêu lên.

Thêm lần nữa và thêm nhiều tiếng "tốc tốc" mạnh hơn nữa.

Chúng tôi bực dọc.

Tôi quay lại phía Holmes và thấy anh im lìm, nghiêng mình xuống phía trước với một sự kích động mãnh liệt.

Bất chợt chúng tôi nghe một thứ tiếng "òng ọc" và một tiếng gõ trên gỗ dữ dội.

Holmes nhảy vọt qua căn phòng như một kẻ điên loạn và đẩy mạnh cánh cửa.

Nó được đóng chặt từ bên trong.

Chúng tôi hợp sức dốc toàn lực xô mạnh vào cánh cửa.

Một cái bản lề long ra, rồi tiếp theo là một cái khác nữa; sau chót cánh cửa bật tung.

Chúng tôi xông bừa lên những mảnh vụn.

Căn buồng rỗng không.

Chúng tôi bối rối một giây.

Trong một góc, cái góc gần nhất với căn phòng là nơi mà chúng tôi đứng chờ đợi còn có một cánh cửa thứ hai.

Holmes nhảy vọt tới, mở cánh cửa đó ra.

Dưới đất có vương vãi tấm áo vét và áo gi-lê.

Móc vào một cái móc gần sau cánh cửa, dùng những dải đeo quần của chính mình quấn vào quanh cổ, nhà quản trị đã tự treo cổ mình lên.

Đầu gối hắn co quắp, tiếng những gót chân động vào cánh cửa là tiếng động làm ngắt ngang câu chuyện của chúng tôi.

Trong một thoáng, tôi đã đỡ lấy thân mình hắn, nâng lên, Holmes và Pycroft tháo gỡ những dải dây ra.

Chúng tôi khiêng hắn sang phòng bên.

Hắn nằm dài ở đó, mặt hắn có màu sạm của da đen.

Theo từng nhịp thở, đôi môi đỏ của hắn phồng lên rồi xẹp xuống.

- Anh nghĩ sao, Watson?

- Holmes hỏi.

Tôi cúi nghiêng mình xuống để tiến hành cuộc khám nghiệm ngắn.

Mạch đập yếu và không đều.

Nhưng sự hô hấp của y lại bớt đứt khúc và đôi mi mắt run run hiện ra một chút lòng trắng.

- Chậm một chút nữa là rồi đời!

Nhưng giờ đây thì hắn sẽ sống.

Làm ơn mở cửa sổ ra và mang nước lại đây.

Tôi mở cổ áo hắn ra, rẩy nước lên mặt hắn và làm hô hấp nhân tạo.

Lát sau hắn phát ra một hơi thở dài và bình thường.

- Chỉ còn là vấn đề thời gian thôi.

- Tôi nói khi bỏ mặc hắn nằm đó.

Holmes đứng gần bên hai cái bàn, hai bàn tay thọc sâu trong túi quần và cái cằm gục xuống ngực:

- Giờ đây chúng ta phải mời cảnh sát tới.

Tuy nhiên, tôi ưa thích giao lại cho cảnh sát một vụ đã được làm sáng tỏ.

- Tất cả vụ này là khó hiểu - Pycroft vừa gãi đầu kêu lên - Tại sao bọn chúng lại muốn cho tôi lên và giữ tôi lại đây?

Thế rồi sao nữa?

- Hừ!

- Holmes buông ra với giọng mất kiên nhẫn - Tất cả đã rõ ràng rồi.

Ngoại trừ cái hành động đột ngột sau chót này.

- Vậy ông đã hiểu những gì còn lại?

- Phần còn lại, là một sự hiển nhiên.

Anh nghĩ sao Watson?

- Tôi chẳng hiểu gì hết.

- Ồ, coi nào, những nguyên nhân đầu tiên đều dẫn tới có một kết luận thôi mà!

- Thế thì, lập luận của anh là gì?

- Tất cả nội vụ dựa trên hai điểm.

Điểm thứ nhất là bản xác nhận mà người ta buộc Pycroft phải viết và sau đó anh phải làm trong cái công ty quỷ quái này.

Anh không thấy tầm quan trọng của điều đó hay sao?

- Không.

- Xem nào!

Tại sao bọn chúng lại cần đến những giấy đó.

Đâu phải cần làm cho đúng phép, bởi vì những thu xếp thuộc loại này thông thường là lời nói.

Vậy thì tại sao nó được là một ngoại lệ?

Anh há chẳng thấy sao, anh bạn trẻ của tôi, rằng họ mong muốn thu được một mẫu chữ viết của anh để từ đó họ sẽ có được cái họ cần có.

- Tôi chẳng hiểu gì cả.

- Một người nào đó muốn tập viết giống kiểu chữ của anh và hắn ta cố kiếm cho ra một bản mẫu.

Và giờ đây, nếu chúng ta chuyển qua điểm thứ hai, ta sẽ thấy rằng điều thứ hai làm sáng tỏ cho điểu thứ nhất.

Điểm thứ hai là như thế này: Pinner yêu cầu anh đừng có viết thư xin thôi việc, vì ông ta muốn để cho ông giám đốc hãng Mawson tin rằng có một ông Pycroft mà ông ta chưa từng gặp mặt lần nào, sẽ tới nhận việc vào buổi sáng thứ hai.

- Lạy Chúa - Thân chủ của chúng tôi kêu lớn - Tôi khờ khạo nhất trên đời.

- Giờ đây thì anh đã ước lượng được tầm quan trọng về bản xác nhận chữ viết tay của anh chưa?

Giả sử có ai đó tới nhận chỗ làm dành cho anh và rằng ai đó lại có một kiểu chữ viết rất khác biệt với kiểu chữ mà anh viết trong đơn dự tuyển thì sự gian trá ắt hẳn là sẽ bị khám phá ra.

Nhưng nếu tên vô lại có kiểu chữ viết giống anh thì địa vị của hắn đã được an toàn, bởi vì tôi phỏng đoán là chẳng một ai trong hãng đó biết mặt anh.

- Không một ai!

- Pycroft rên rỉ.

- Muốn cho anh không suy nghĩ nhiều về điều đó, muốn kéo anh ra khỏi mọi sự tiếp xúc để anh không có khả năng tìm hiểu được là có một người trùng tên trùng họ với anh đang làm việc tại hãng Mawson, chúng đưa cho anh một số tiền lớn và gửi anh tới Midland, là nơi chúng bắt anh phải làm việc bù đầu, khiến anh không thể trở về London mà khám phá ra cái mưu mô nhỏ bé của chúng.

Tất cả mọi việc đều đơn giản.

- Nhưng tại sao người này lại làm ra vẻ là anh ruột của y?

- Trong âm mưu này, chúng phải có hai người.

Kẻ kia đang giả danh anh làm việc ở văn phòng, còn gã này thì chơi trò tuyển dụng anh.

Vả lại, hắn không thể nào tìm cho anh một chủ nhân mà lại không có ông chủ, tức là một nhân vật thứ ba.

Đó là điều hắn không muốn chút nào.

Vậy là hắn đóng luôn vai anh ruột của hắn (ông chủ) bằng cách hoá trang.

Anh không thể nào nhận ra, nếu không có "cái răng vàng".

Pycroft giơ hai bàn tay lên cao mà kêu lên:

- Thế là trong lúc tên Pycroft thật ở đây thì cái gã Pycroft giả-mạo-kia làm trò gì ở hãng Mawson?

Chúng ta phải làm sao, ông Holmes?

- Cần phải đánh điện cho hãng Mawson.

- Ngày thứ bảy họ đóng cửa nghỉ vào buổi trưa.

- Không hề gì.

Ở đó thế nào cũng có người gác cổng hoặc bảo vệ.

- Phải đó!

Họ có thuê một người bảo vệ thường trực để giữ gìn các tủ sắt chứa những cổ phần.

Tôi nhớ đã nghe nói tới việc đó trong khu City.

- Tốt lắm.

Chúng ta sẽ đánh điện cho người bảo vệ để hỏi xem tất cả có an toàn không và xem có một người nào mang tên anh làm việc trong hãng đó không.

Việc này thì khá rõ ràng, còn việc kém rõ ràng là tại sao một tên vô lại chỉ vì trông thấy chúng ta mà lại đi treo cổ.

- Tờ báo - Một giọng nói kèn kẹt phát ra phía sau chúng tôi.

Tên vô lại đã ngồi dậy, tay y xoa bóp một cách nôn nóng các vết lằn đỏ lõm sâu quanh cổ.

- Tờ báo?

Đúng thế!

- Holmes kêu lớn lên trong tâm trạng kích thích cực độ - Tôi đã ngu ngốc làm sao.

Anh trải rộng tờ báo trên mặt bàn và một tiếng kêu chiến thắng vang lên.

- Đây là tờ báo xuất bản tại London, tờ Evening Standard.

Hãy xem những tít này.

"Một tội ác trong khu City.

Án mạng trong hãng Mawson and William's.

Một vụ xếp đặt để hại người.

Bắt được tên tội phạm".

Watson, anh hãy đọc bài báo thật to cho chúng tôi nghe đi.

"Từ ít lâu nay, Mawson and William's, những nhà môi giới chứng khoán rất nổi tiếng, đảm nhiệm việc cất giữ những phiếu cổ phần mà tổng số vượt quá một triệu sterling.

Vị giám đốc rất có ý thức về trách nhiệm của mình, đã cho đặt những két sắt kiểu mới nhất và một giám thị có vũ trang giữ nhiệm vụ canh gác ngày cũng như đêm trong ngôi nhà.

Tuần lễ vừa qua, một nhân viên mới, có tên là Pycroft được công ty thu dụng.

Anh chàng này không ai khác hơn là Beddington, kẻ làm giả nổi tiếng và là kẻ trộm.

Bằng những phương pháp còn chưa được xác minh, y đã mượn tên giả, xin được một chỗ trong hãng, y lạm dụng địa vị của mình để lấy dấu nhiều ổ khoá khác nhau và tìm biết nơi đặt những két sắt.

Ở hãng Mawson, nhân viên rời sở làm vào trưa thứ bẩy.

Trung sĩ Tuson, thuộc sở cảnh sát khu City, đã lấy làm ngạc nhiên khi thấy một người có xách theo cái túi du lịch đi xuống những bực thềm vào hồi 1 giờ 20.

Ông nghi ngờ và theo dõi người đó.

Với sự phụ giúp của cảnh sát viên Pollock, ông đã bắt giữ người nọ.

Ngay tức khắc, ông phát hiện ra một vụ trộm rất táo bạo.

Gần 100.000 bảng Anh trái phiếu ngành đường sắt Mỹ, và một lượng lớn những chứng khoán khác, được kiểm kê trong cái túi.

Cuộc xét nghiệm hiện trường đưa tới việc phát hiện tử thi của người bảo vệ bất hạnh, bị gấp làm hai rồi bị nhét và trong cái két sắt lớn nhất từ phía sau.

Em y, thường sát cánh với y, lại không thấy xuất hiện trong vụ này.

Hiện nay cảnh sát đã mở cuộc điều tra xem y đang ở đâu."

- Vậy thì, chúng ta có thể giúp cảnh sát một tay - Holmes nói, liếc nhìn cái thân hình đang co rúm gần bên cửa sổ.

Hết

Nguyên văn: Franco-Midland Hardware Company, Limited

Nguyên văn: By Jove
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
C4 Con tàu Gloria Scott


CON TÀU GLORIA SCOTT

THE GLORIA SCOTT (1893)

Memoirs of Sherlock Holmes

Những hồi ức về Sherlock Holmes

Một buổi tối mùa đông, khi hai chúng tôi ngồi bên lò sưởi Sherlock Holmes nói:

- Đây là những tài liệu có liên quan đến vụ đắm tàu Gloria Scott, anh nên quan tâm tới nó.

Trong số các tài liệu này có một lá thư đã làm cho ông quan tòa Peace Trevor đờ người ra vì kinh hãi.

Từ một ngăn kéo, anh moi ra một cái hộp nhỏ đã phai màu, sau khi tháo sợi dây cột ngoài, anh đưa cho tôi một lá thư ngắn, viết nguệch ngoạc:

"Dụng cụ trò chơi ở London đã đi từ từ quá xa.

Người quản lý Hudson kể đã nói nhận tất cả bẫy ruồi trốn đi và để giữ con gà mái còn mạng sống".

Khi đọc thư xong, tôi ngước mắt lên, bắt gặp Holmes cười rúc rích:

- Dường như anh hơi lúng túng đấy?

- Tôi chẳng hiểu vì sao một tin nhắn như vậy lại có thể làm cho người nhận đờ người ra vì kinh hoàng; trái lại, tôi thấy nó...

- Đúng thế!

Ấy thế mà người nhận thư đã ngã vật xuống như vừa bị trúng một phát súng.

- Anh khơi dậy óc tò mò của tôi rồi đấy.

Nhưng tại sao anh bảo rằng tôi nên quan tâm đến vụ này.

- Bởi vì nó là vụ đầu tiên của tôi.

Trước đây tôi đã từng tìm cách gợi ý để Holmes kể cho tôi nghe về lý do anh lựa chọn nghề thám tử nhưng chưa bao giờ Holmes lại ở trong một trạng thái vui vẻ như lần này.

Anh ngồi hẳn vào trong chiếc ghế bành, trải những tờ giấy lên đùi mình, kéo nhẹ một hơi tẩu.

- Anh chưa hề nghe tôi nhắc tới Victor Trevor phải không?

Anh ấy là người bạn duy nhất mà tôi có trong hai năm theo học ở trường cao đẳng.

Anh Watson, tôi là người thích nhốt mình trong phòng riêng để hiệu đính những phương pháp lý luận của riêng tôi, vì thế tôi ít có bạn bè.

Tôi quen với Victor, trong lúc đi dự một buổi lễ đạo, và con chó săn của anh ta bất chợt cắn vào mắt cá chân tôi.

Tôi phải nằm yên trong mười ngày và Victor thường đến thăm tôi.

Thoạt đầu anh chỉ ở lại tán gẫu trong một lát.

Nhưng rồi những chuyến tới thăm kéo dài và chúng tôi mau chóng thân nhau.

Đó là một chàng trai khỏe mạnh, nóng nảy, thông minh và có nghị lực.

Sau cùng vào kỳ nghỉ hè, anh mời tôi về nhà thân phụ anh ở Donnithorpe, thuộc vùng Norfolk, chơi trong một tháng.

Ông già Trevor là quan tòa tòa án hòa giải và là điền chủ.

Donnithorpe là một xóm nhỏ ở ngay phía bắc Langmere, trong vùng có nhiều hồ và đầm lầy.

Ngôi nhà kiểu xưa, với những cây rầm làm bằng gỗ sồi và tường xây bằng gạch; một lối đi vào nhà hai bên có trồng cây, trong những bụi dương xỉ, người ta săn được nhiều vịt trời; cá cũng đáng chú ý; tủ sách thì nhỏ nhưng chứa toàn sách hay.

Bố Trevor goá vợ, và bạn tôi là con trai duy nhất của ông.

Người cha không học nhiều nhưng trí nhớ rất tốt.

Ông còn được trời phú cho một sức khoẻ đáng kể.

Ông đọc ít, nhưng đã đi nhiều nơi và đi xa.

Đó là một ông già hoạt bát, có mái tóc muối tiêu, một bộ mặt rám nắng và cặp mắt màu xanh sắc sảo, đôi lúc tạo cho ông một dáng vẻ hung hãn.

Tuy nhiên ông nổi tiếng là người tốt bụng và từ thiện.

Tại tòa, ông nổi tiếng vì lòng khoan dung, độ lượng.

Một buổi tối, sau bữa ăn, chúng tôi đang ngồi trước ly rượu và anh Victor bắt đầu nói về những thói quen quan sát suy diễn mà tôi đã lập thành một phương thức riêng dù chưa biết nó sẽ được sử dụng như thế nào trorng cuộc sống.

Ông cụ thì cho rằng Victor đã quá phóng đại khi thuật lại hai hoặc ba kỳ tích của tôi đã hoàn thành.

- Coi nào, cậu Holmes - Ông cụ Trevor nói với tôi vừa cười thật vui vẻ - Cậu hãy thử suy diễn ra điều gì đó về tôi xem: tôi là một đề tài tuyệt hảo đấy.

- Cháu không thể nói nhiều về bác được.

Tuy nhiên trong thời gian gần đây bác có lo sợ về một cuộc tấn công nhằm vào cá nhân.

Nụ cười tắt ngấm trên môi, ông cụ nhìn tôi vẻ ngạc nhiên:

- Thực thế.

Này Victor, sau khi toà xử phạt cái băng kẻ săn bắn trái phép, bọn chúng đã thề sẽ thanh toán chúng ta.

Và mới đây ngài Edward Holly vừa bị tấn công.

Từ đó, ta không ngừng cảnh giác; nhưng cha tự hỏi không biết làm sao mà bạn con lại biết được điều đó.

- Bác có một cây gậy đẹp.

Căn cứ theo dấu ghi trên gậy cháu nhận thấy là bác chỉ mới sử dụng nó được một năm.

Nhưng bác đã tốn công khoét cái núm tròn đầu gậy rồi đem đổ chì vào đó: nó là một vũ khí.

Từ đó cháu suy ra rằng nếu như bác không lo ngại về một mối nguy hiểm nào đó, thì bác đề phòng như vậy làm gì?

- Thế còn cái gì nữa?

- Bác vừa hỏi vừa cười.

- Hồi còn trẻ, bác đã chơi quyền Anh.

- Giỏi thật.

Làm sao mà cháu đoán ra?

Có phải vì mũi tôi không còn thẳng thớm chăng?

- Không phải, vì đôi tai của bác.

Tai bác sệ xuống và có bề dày, vốn chỉ thấy ở tai những võ sĩ quyền Anh.

- Có gì khác nữa chăng?

- Những chỗ chai trên đôi bàn tay bác cho biết bác đã đào xới đất rất nhiều.

- Gia tài của tôi đều đến từ cánh đồng có vàng.

- Bác đã tới New Zealand.

- Chính xác.

- Bác đã từng sống một thời bên Nhật Bản.

- Tuyệt.

- Và bác đã kết thân rất thân mật với một người có tên viết tắt là J.A... rồi sau đó bác tìm cách quên hẳn đi.

Ông già Trevor đứng lên thật khó khăn, chăm chú nhìn tôi bằng cặp mắt mà sự biểu lộ trở thành thô bạo, hung tợn rồi chúi mũi xuống bàn: bác đã ngất đi, cứng đờ.

Anh Watson, anh có hình dung ra con trai bác ấy và tôi bị hoảng hốt đến ngần nào.

Tuy nhiên, ngay sau khi chúng tôi cởi cúc áo và tưới nước lạnh lên mặt bác, thì bác nấc lên hai hoặc ba lần rồi lại ngồi dậy.

- A!

Các con của ta - Bác nói với chúng tôi và cố gượng cười - Ta đã không làm cho các con phải hoảng sợ đấy chứ?

Ta không biết con đã tìm ra bằng cách nào, Holmes ạ, nhưng ta có cảm tưởng rằng tất cả các thám tử chính thức so với con đều chỉ là trẻ nít.

Chính đó là nghề nghiệp của con, con nhớ nhé!

Đó là lời khuyên kèm theo một sự đánh giá được phóng đại về những khả năng của tôi, nó đã khiến tôi tin rằng mình có thể kiếm sống được vào "trò tiêu khiển đơn giản" ấy.

Tuy nhiên, trong lúc đó thì tôi chỉ quan tâm đến sức khỏe của bác ấy.

- Cháu mong là đã không lỡ lời để làm phiền bác?

- Tôi thì thầm.

- Do đâu mà cháu lại biết chuyện đó và cháu còn biết thêm về điều gì?

Lúc đó bác nói với tôi bằng giọng bông lơn nhưng sâu thẳm, trong ánh mắt bác vẫn còn ẩn náu một nỗi kinh hoàng.

- Hồi nãy, khi bác xắn tay áo để bắt cá, cháu thấy những chữ viết tắt "J.A" được xăm ở khuỷu tay.

Những chữ đó hãy còn thấy rõ, nhưng đã bị xoá mờ đi đến một nửa; rõ ràng bác đã tìm cách làm cho chúng biến đi.

Hiển nhiên thuở xưa, đó là những chữ rất thân yêu mà về sau bác muốn quên chúng.

- Cặp mắt mới tinh làm sao - Bác kêu lên và thốt ra một tiếng thở dài nhẹ nhõm – Nhưng thôi, chúng ta đừng nhắc tới chuyện đó nữa.

Trong tất cả những hồn ma bóng quế thì bóng ma của những mối tình là tồi tệ hơn cả.

Chúng ta hãy sang bên phòng chơi bi da và hút một điếu thuốc.

Kể từ ngày hôm đó, cụ Trevor thường có một thoáng nghi ngờ tôi.

Con cụ cũng nhận ra điều đó.

Anh nói:

- Anh đã làm cho ông già bở vía, ông chẳng còn hiểu là anh biết những gì và không biết những gì.

Ông cụ không có ý cho tôi thấy sự nghi ngờ, tôi tin chắc như thế, nhưng cảm tưởng đó lại thấm vào tôi mạnh mẽ khiến nó cứ luôn hiện ra trong tất cả mọi lúc, mọi nơi.

Sau cùng, tôi thấy nên rút ngắn chuyến nghỉ hè.

Tuy nhiên, vào buổi sáng trước ngày tôi lên ra về, lại xảy ra một việc quan trọng.

Chúng tôi đang ngồi trên những chiếc ghế đặt ngoài vườn, sưởi nắng và ngắm mặt hồ.

Bỗng cô hầu gái tới báo là ngoài cửa có người muốn gặp cụ Trevor.

- Ai vậy?

- Chủ nhà hỏi.

- Ông ta không chịu nói tên.

- Thế thì hắn muốn gì?

- Ông ấy chỉ nói là người quen biết và muốn gặp bác trong chốc lát.

- Cô đưa người đó vào đây.

Chúng tôi thấy xuất hiện một người nhỏ bé, dáng điệu xun xoe, bước chân lết dài.

Gã mặc áo vét không cài khuy, cổ tay áo có dính hắc ín, áo sơ mi kẻ sọc vuông màu đen và đỏ, quần lao động, chân đi giày lớn đã mòn gót.

Hắn có bộ mặt gầy, rám nắng, quỷ quyệt, miệng luôn luôn cười, phô ra một hàng răng khập khểnh.

Những bàn tay quắt lại, cứ nắm nửa chừng, như những thủy thủ thường có thói quen như vậy.

Trong lúc gã nặng nề đi ngang qua bồn cỏ, tôi nghe thấy bác Trevor cố nén một tiếng kêu nhỏ, vội vàng đứng lên và chạy vào trong nhà.

Bác trở ra ngoài ngay sau đó, khi bác đi ngang qua bên, tôi ngửi thấy mùi rượu brandy nồng nặc.

- Thế nào, ông bạn?

Tôi có thể làm gì để giúp ông đây?

- bác ấy nói.

Gã thủy thủ đứng lên nhìn bác với đôi mắt nheo lại.

Cặp môi mềm nhão của y cong lên.

- Bác không nhận ra tôi sao?

- Úi chà, chính là Hudson đây mà - Bác Trevor kêu lên với một giọng ngạc nhiên.

- Hudson đây, thưa bác, đã hơn ba mươi năm qua, tôi không gặp bác.

Giờ đây bác đang sống trong nhà cao cửa rộng, trong lúc tôi vẫn còn phải đi mót những đồ hộp đồ ăn trong các thùng rác.

- Suỵt, ông bạn.

Rồi anh sẽ thấy là tôi không quên những người cũ đâu - Bác Trevor nói, và tiến tới bên gã thủy thủ, hạ thấp giọng, nói với y vài lời lại cất cao giọng: - Hãy xuống nhà bếp ăn uống.

Chắc chắn là tôi sẽ tìm cho anh được một việc làm.

- Xin cám ơn.

Tôi vừa trải qua hai năm trên một con tàu chở hàng và tôi mong được nghỉ ngơi ít lâu.

Tôi nghĩ rằng tôi có thể thu xếp hoặc với ông Beddoes hoặc với bác đây.

- Anh biết địa chỉ của ông Beddoes hả?

- Bác Trevor kêu lên.

- Nhờ trời, tôi biết chỗ ở của mọi bạn cũ - Gã thủy thủ trả lời.

Thế rồi y theo cô hầu gái xuống nhà bếp.

Bác Trevor nói với chúng tôi rằng bác từng là bạn cùng tàu với hắn trong chuyến đi tới những vùng đất có vàng.

Đoạn ông cụ bỏ vào nhà.

Một tiếng đồng hồ sau, khi chúng tôi đi vào, đã thấy ông cụ say như chết, nằm dài trên trường kỷ trong phòng ăn.

Việc đó để lại cho tôi một cảm tưởng xấu và tôi nhận thấy sự hiện diện của tôi sẽ làm cho bạn tôi ngượng nghịu.

Ngày hôm sau, tôi trở về London, lại ru rú trong căn phòng của mình và tiến hành thí nghiệm hoá học.

Tuy nhiên, vào lúc kỳ nghỉ hè sắp hết, tôi nhận được một bức điện của Victor yêu cầu tôi trở lại Donnithorpe.

Tôi lại lên đường, ngược lên miền Bắc.

Victor chờ tôi ở nhà ga.

Mới thoạt nhìn, tôi hiểu ngay là anh vừa trải qua hai tháng quá nhiều buồn bực.

Anh gầy đi, đánh mất tính vui vẻ có duyên.

- Ông già sắp chết - Anh nói với tôi ngay từ đầu.

- Đâu có thể?

Mà chết vì bệnh gì?

- Một cú sốc thần kinh.

Suốt ngày hôm nay, ba tôi cận kề cái chết.

- Nguyên nhân?

- Anh hãy lên xe đi!

Dọc đường chúng ta sẽ nói chuyện.

Anh còn nhớ cái gã tìm tới nhà ngay trước bữa anh ra về chứ?

- Nhớ rất rõ.

- Anh có biết gã đó là ai không?

- Tôi không biết.

- Quỷ dữ đó, Holmes ạ.

Tôi nhìn chòng chọc vào mặt anh với vẻ kinh ngạc.

- Đúng đấy, kể từ khi hắn tới nhà, chúng tôi không còn yên tĩnh lấy một giờ.

Kể từ ngày đó, ông già cũng chẳng bao giờ còn ngẩng đầu lên được nữa.

Và giờ đây, mạng sống của ông như ngàn cân treo sợi tóc.

- Hắn ta nắm giữ quyền lực gì vậy?

- À, tôi cần biết điều đó?

Cha tôi trung hậu đến thế, độ lượng đến thế, tử tế đến thế.

Làm sao ông lại rơi vào móng vuốt của tên đạo tặc đó?

Tôi đặt nhiều hy vọng vào anh.

Vào lời khuyên của anh, anh Holmes.

Chúng tôi đi như bay trên con đường bằng phẳng và trắng phau, trước mặt chúng tôi trải dài ra tất cả các vùng hồ và đầm lầy đang long lanh dưới ánh sáng đỏ của buổi hoàng hôn.

Giữa một lùm cây bên tay trái nhô lên những ống khói cao và cây cột cờ: đó là nhà bác Trevor.

- Cha tôi đã cho gã Hudson làm vườn, y có vẻ không bằng lòng, ông lại cho hắn làm quản gia.

Ngôi nhà như của chính hắn, hắn muốn làm gì tuỳ thích.

Các cô hầu gái than phiền về sự rượu chè vô độ và về những cử chỉ thô tục của hắn, ông già tăng lương để cho họ im tiếng.

Hudson lấy con thuyền và khẩu súng tốt nhất của cha tôi để đi săn thỏ.

Cái tên đểu cáng đó, ngạo mạn đó, xảo trá đó sẽ bị tôi nện đến hai chục lần rồi nếu như y đồng trang lứa với tôi.

Nhưng tôi đã tự kiềm chế, để khỏi làm cho ông già buồn.

Than ôi!

Cái con thú đó càng lúc càng quấy rầy, hắn luôn luôn xía nhiều hơn vào những chuyện chẳng dính dáng gì tới hắn.

Một hôm, hắn dám đối đáp hỗn xược với cha tôi ở ngay trước mặt tôi.

Tôi tóm lấy vai y và tống cổ y ra khỏi phòng.

Hắn lỉnh đi, mặt tái xanh, với những ánh mắt ngầm đe dọa.

Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra sau đó giữa cha tôi và hắn, nhưng ngày hôm sau, ông già tìm gặp tôi và yêu cầu tôi xin lỗi Hudson.

Tôi từ chối thẳng thừng và tôi hỏi vì sao cha tôi lại chịu đựng một tên vô lại như thế.

- Con không biết là ta đang lâm vào cảnh khó xử đến nhường nào.

Nhưng rồi con sẽ biết, Victor.

Ta sẽ nói cho con biết, rồi muốn ra sao thì ra.

Con sẽ không bao giờ nghĩ xấu về cha chứ, con của ta?

Ông giam mình trong văn phòng ông suốt cả ngày hôm đó.

Qua khuôn cửa sổ, tôi nhìn thấy ông: ông đang cắm cúi viết.

Buổi tối hôm đó sau bữa ăn, con quỷ nói với chúng tôi là y sắp đi.

Y có giọng nói líu lưỡi của người sắp say:

- Tôi chán Norfolk rồi.

Tôi sẽ đi xuống Hampshire gặp ông Beddoes.

Tôi mong rằng chuyến đi này sẽ làm hài lòng ông.

Cái câu nói móc họng đó khiến cho tôi giận sôi lên.

Ba tôi hỏi:

- Tôi hy vọng là anh không vì giận dỗi mà bỏ đi chứ, Hudson?

Gã nọ ném về phía tôi một tia nhìn hắc ám:

- Tôi đã không được xin lỗi.

Lúc đó ba tôi quay sang phía tôi.

- Victor, con hãy nhìn nhận rằng con đã đối xử thô bạo với người này, phải thế không nào?

Tôi phải kìm nén mà trả lời:

- Trái lại, con tin rằng cả hai cha con ta đã hết sức kiên nhẫn đối với ông ta.

Y gầm lên:

- À ra thế, anh nghĩ như vậy đó?

Được lắm, anh bạn nhỏ của tôi.

Rồi anh cứ giương mắt lên mà xem?

Y lẩn ra khỏi phòng và nửa tiếng đồng hồ sau, y đã rời khỏi nhà.

Ba tôi ở trong một tình trạng tồi tệ.

Nhưng đúng vào lúc mà ba tôi tìm lại được một chút lòng tin thì xảy ra cú đánh sau cùng.

- Bằng cách nào vậy?

- Cú đánh khác thường nhất trần đời.

Hôm qua, một lá thư được gửi tới.

Thư mang con dấu của bưu cục Fordingham.

Ba tôi đọc thư, giơ hai bàn tay ôm lấy đầu, rồi ông bắt đầu chạy vòng vòng trong phòng khách.

Khi tôi đặt được ba tôi nằm xuống tràng kỷ, miệng ông và mí mắt ông co rúm sang một bên.

Bác sĩ chạy tới ngay tức khắc.

Nhưng cha tôi đã hôn mê.

- Anh làm cho tôi lo sợ, Trevor - Tôi thốt lên - Nhưng, trong thư nói cái gì mà lại gây ra một thảm họa tới nhường đó?

- Chẳng có gì cả.

Tin nhắn thật là phi lý, tầm thường.

Nhưng đó chính là điều tôi lo sợ...

Xe ngựa đã chạy quanh khúc đường vòng trên lối đi vào nhà.

Trong ánh sáng chạng vạng của buổi chiều tà, chúng tôi thấy các bức mành trong nhà đều đã được buông xuống.

Chúng tôi vội vã đi về phía cửa ra vào.

Một người mặc đồ đen vượt qua ngưỡng cửa, ông ta dừng lại khi thấy chúng tôi.

- Chuyện xảy đến vào lúc nào vậy, thưa bác sĩ?

- Victor hỏi.

- Ngay sau lúc ông vừa lên đường.

- Cha tôi có tỉnh lại không?

- Chỉ tỉnh trong chốc lát trước khi tắt thở.

- Cụ có trối trăng điều gì không?

- Ông cụ chỉ nói một câu: "Các giấy tờ để trong ngăn kéo dưới căn phòng Nhật Bản".

Victor leo lên, đi cùng với ông bác sĩ về phía buồng người chết.

Tôi ở lại trong căn phòng, cảm thấy bị buồn như chưa bao giờ từng buồn đến vậy.

Quá khứ của cụ Trevor là thế nào?

Cụ từng là võ sĩ quyền Anh, cụ đã đi đây đi đó cụ đã trở thành người đi tìm vàng.

Và do đâu mà cụ lại rơi vào quyền lực của cái tay thủy thủ gớm ghiếc kìa?

Tại sao cụ lại ngất xỉu khi tôi nhắc đến những chữ viết tắt trên cánh tay, tại sao cụ lại chết vì khiếp sợ khi nhận được một lá thư gửi từ Fordingham?

Rồi tôi nhớ ra là Fordingham ở trong vùng Hampshire, và rằng cái nhà ông Beddoes cũng nằm trong vùng Hampshire.

Như vậy lá thư có thể đến từ tên thủy thủ Hudson, báo tin là hắn đã tiết lộ điều gì bí mật, tội lỗi dường như có từ thuở trước, hoặc giả lá thư đó do Beddoes báo cho biết một kẻ hợp tác ngày xưa rằng sự phản bội này sắp xảy ra đến nơi.

Cho tới đấy, sự việc thật là sáng tỏ.

Nhưng trong trường hợp này, làm sao mà tin nhắn lại có thể tầm thường, vô lý theo lời của Victor?

Có lẽ anh ấy đã đọc không kỹ, hiểu không thấu.

Hoặc giả tin nhắn đó đã được soạn thảo theo một trong những hệ mật mã khéo léo đã được hiểu theo nghĩa khác.

Tôi cần phải có lá thư đó.

Suốt một tiếng đồng hồ, tôi ngồi suy nghĩ trong bóng tối, cho tới lúc một cô hầu gái mặt đầm đìa nước mắt mang tới một ngọn đèn và theo sau là Victor.

Anh ngồi xuống trước mặt tôi, đẩy ngọn đèn tới sát mép bàn và đưa cho tôi một lá thư viết nguệch ngoạc, trên một tờ giấy màu xám và tôi đọc:

"Dụng cụ trò chơi ở London đã đi từ từ quá xa.

Người quản lý Hudson kể đã nói nhận tất cả bẫy ruồi trốn đi và để giữ con gà mái còn mạng sống".

Tôi đọc lại lần nữa, rất chăm chú, một nghĩa thứ hai chắc hẳn phải được che giấu trong sự phối hợp kỳ lạ của những từ này.

Phải chăng đã có một ý nghĩa được thoả thuận từ trước trong những từ như "bẫy ruồi" hoặc "con gà mái".

Chính đó là điểm mấu chốt của vụ này.

Sự có mặt của tên Hudson tại nhà ông cụ đã cho tôi biết rằng người viết bức thư, chính là ông Beddoés chứ không phải là gã thủy thủ.

Tôi thử đọc ngược, nhưng những chữ cuối "giữ con gà mái còn mạng sống" đã làm tôi nản chí.

Rồi tôi thử tìm những chữ xen kẽ, kể cả những cụm từ "dụng cụ trò chơi ở London" cũng như "đã đi từ từ quá xa" cũng chẳng soi sáng cho tôi được một tí nào.

Cuối cùng, bất thình lình, chìa khóa hiện ra với tôi.

Tôi thấy là chữ đầu tiên của mỗi nhóm chữ là cần giữ lại, điều đó cho ta một chuỗi câu đã xô đẩy ông lão Trevor đến chỗ tuyệt vọng.

Lời cảnh cáo thật ngắn.

Tôi dịch cho bạn tôi hiểu:

"Trò chơi đã đi quá xa.

Hudson đã nói tất cả.

Trốn đi để giữ mạng sống."

Victor vùi đầu trong hai bàn tay run rẩy.

Anh nói với tôi:

- Tôi nghĩ rằng đó là điều chính xác.

Nhưng như thế nó còn tồi tệ hơn là cái chết, bởi điều đó còn có nghĩa là sự ô danh.

Nhưng những từ "người quản lý" và "con gà mái" có nghĩa là gì?

- Chẳng có nghĩa gì, nhưng chúng ta sẽ biết nhiều hơn nếu chúng ta khám phá ra người gửi.

Anh thấy chứ: người đó đã bắt đầu viết: "Trò chơi...

đi quá xa...

Hudson...

đã nói..." vân vân.

Sau đó để thuận theo nguyên tắc của mật mã, người đó đã lấp đầy những chỗ trống bằng một vài từ tiếp theo sau.

Đương nhiên người đó đã dùng những từ đầu tiên chợt tới trong ý nghĩ.

Và nếu như có nhiều từ liên quan tới các con vật, anh có thể tin chắc rằng người đó là một người ham săn bắn hoặc là một người đam mê với việc chăn nuôi.

Anh biết gì về ông Beddoes này?

- Giờ đây tôi chợt nhớ lại là mỗi mùa thu, ông già tôi lại được mời đến săn bắn trên vùng đất của ông Beddoes.

- Vậy thì ông ấy là người đã gửi thư đến đây: Điều còn lại là tìm hiểu sự bí mật mà gã thủy thủ Hudson treo lơ lửng trên đầu ông cụ.

- Than ôi, Holmes - Anh ta kêu lên - Tôi quả lo sợ đó là một bí mật về tội lỗi và ô nhục: Đây là tờ khai mà ba tôi vừa viết.

Tôi tìm thấy trong ngăn kéo trong căn phòng Nhật Bản.

Anh hãy đọc cho tôi nghe.

Tôi không đủ can đảm để đọc.

Bên ngoài ông cụ viết "Chi tiết về chuyến đi trên tàu Gloria Scott kể từ lúc tàu rời cảng Falmouth ngày 8 tháng 10 năm 1855 cho đến lúc tàu bị phá hủy ở 15 độ 20 phút độ vĩ Bắc và 25 độ 14 phút độ kinh Tây ngày 6 tháng 11".

Bản khai này được viết dưới hình thức viết thư.

Đây là nội dung:

"Con yêu quý của ta,

Giờ đây sự ô danh đang tới, làm đen tối những năm cuối cùng đời cha.

Với tất cả lòng chân thành, cha nói với con rằng cha không sợ hãi pháp luật, không sợ mất địa vị trong xã hội; chính cái ý tưởng rằng con sẽ xấu hổ vì đã có một người cha như ta, đã làm tan nát cõi lòng ta.

Nhưng nếu các nỗi nhục nhã đã giáng xuống đời ta, thì lúc đó cha muốn con được đọc lá thư này, ngõ hầu con hiểu rõ là cha đáng chê trách đến nhường nào; còn nếu như tất cả đều yên lành và nếu tình cờ lá thư này không bị hủy đi và rơi vào trong tay con, thì cha xin con hãy ngừng đọc ở nơi đây, đưa nó vào ngọn lửa và không còn dành cho nó một ý nghĩ nhỏ nhoi nào nữa.

Còn nếu như con tiếp tục đọc, thì đó là cha đã bị lột mặt nạ và bị đem ra khỏi nhà.

Trong trường hợp này hoặc trường hợp kia, cha không cần giấu giếm con điều khi cả.

Do đó con hãy coi mỗi từ trong những lời cha nói trong thư là những sự thật chân thành.

Ta xin thề như thế.

"Con yêu quý, cha không phải là Trevor.

Khi còn trẻ, cha tên là James Armitage.

Giờ đây thì con hiểu cú sốc mà cha đã chịu cách đây vài tuần khi người bạn đồng song của con nói với cha về mấy chữ J.A.

Dưới cái tên Armitage, cha đã vào làm việc trong một ngân hàng tại London.

Dưới cái tên James Armitage, cha đã bị tuyên cáo có tội không tuân thủ luật lệ của đất nước, và bị kết án lưu đày chung thân.

Đừng có nghĩ quá xấu về cha.

Ta cần trả một món nợ danh dự nên đã biển thủ tiền bạc của ngân hàng.

Lúc đó, cha tin chắc là cha có thể bồi hoàn trước khi người ta phát hiện ra số tiền bị thiếu.

Nhưng người ta kiểm tra sổ quá sớm, nên đã làm lộ ra số tiền thiếu hụt.

Vụ đó xảy ra vào ngày sinh nhật thứ 33 của ta, cha bị xiềng như kẻ tội phạm cùng với 37 tên tù khổ sai khác trên con tàu Gloria Scott, sắp sửa lên đường sang châu Úc.

Đó là vào năm 1855.

Cuộc chiến ở Crimée đang hồi sôi động.

Những con tàu cũ kỹ chở tù khổ sai đã được dùng làm tàu chở quân ngoài Hắc Hải.

Vì vậy, chính phủ buộc phải sử dụng những con tàu nhỏ bé hơn để đưa những người tù đi lưu đày nơi viễn xứ.

Tàu Gloria Scott trước là thương thuyền buôn trà với Trung Quốc, nó đã quá già nua.

Tàu có trọng tải 500 tấn.

Thêm vào 38 người đáng bị treo cổ, một đoàn thủy thủ 36 người, 18 người lính, một đại úy, 3 trung úy, một y sĩ, một cha tuyên úy và 4 bảo vệ.

Tóm lại nó chở một chuyến hàng trên 100 con người.

"Những vách ngăn giữa các xà-lim nhốt tù không làm bằng gỗ sồi rắn chắc như trong các tàu dành riêng để chở tù: chúng mỏng và dễ gãy.

Người ngồi ở bên cạnh mé đằng sau cha, là một anh chàng còn trẻ, bộ mặt sáng láng, không để râu hàm, không cả râu má, anh ta có một cái mũi dài thon, cái đầu có dáng vô tư lự và khi bước đi, thân hình đu đưa.

Chắc chắn là anh ta cao không dưới 6 feet rưỡi; thật kỳ lạ khi ở giữa mấy chục bộ mặt buồn bã và chán nản lại có một cái đầu biểu lộ sự quả quyết và nghị lực.

Cha hài lòng có anh ta ở bên cạnh và càng sung sướng hơn nữa khi, trong sự im lặng chán ngắt của đêm đen, cha nghe một tiếng thì thầm sát bên tai: "Đã khoét được một cái lỗ trong tấm ván ngăn cách hai xà-lim".

- Xin chào anh bạn - Anh ta nói - Tên anh là gì nhỉ?

Tại sao lại ở đây?

- James Armitage.

Còn anh là ai?

- Tôi là Jack Prendergast - Anh ta bảo cha - Rồi ra anh sẽ kính trọng tên tôi.

Cha sực nhớ đã nghe nói đến vụ án của anh ta, bởi vì vụ đó đã làm xôn xao khắp nước.

Đó là một người con nhà gia thế và có nhiều tài, nhưng anh ta mắc phải những thói quen tệ hại, và bằng một phương pháp lừa đảo tài tình, anh đã lột hết của cải của một số nhà buôn giàu có ở London.

- A, a!

Thế ra anh còn nhớ đến tôi đấy?

- Anh ta hỏi cha một cách kiêu hãnh.

- Nhớ rất rõ!

- Thế thì anh còn nhớ một chi tiết kỳ lạ trong vụ án của tôi?

- Chi tiết nào?

- Tôi có gần 25 vạn, đúng thế không nào?

- Đó là điều thiên hạ nói.

- Nhưng người ta không lấy lại được một đồng xu nào hết, phải không?

- Phải.

- Vậy thì anh thử nghĩ xem, số tiền đó hiện đang ở đâu?

- Tôi không biết.

- Ở ngay giữa ngón tay trỏ và ngón tay cái tôi đây này - Anh ta kêu lên - Tôi có nhiều đồng bảng, hơn là số tóc trên đầu anh.

Và nếu như anh có tiền, và biết cách tiêu tiền thì anh có thể làm được bất cứ điều gì?

Thế thì có thể nào một gã "làm được mọi chuyện" lại chịu kéo lê đôi ghệt của y trong cái hầm hôi thối của con tàu này chăng?

Không đâu.

Một gã như thế, rất chăm lo cho chính hắn và cho những bạn bè của hắn.

Anh hãy bám sát riết lấy hắn đi và thề trên Kinh Thánh, anh sẽ không phải than phiền về hắn đâu.

"Đó là cách nói của anh ta.

Thoạt đầu cha tin là những lời nói như thế không có nghĩa gì.

Nhưng một lát sau, khi anh ta đã thử thách ba và bắt cha hứa giữ im lặng với tất cả sự trang trọng có thể có, anh ta nói cho cha biết là đang có một âm mưu để chiếm lấy con tàu.

Một tá những phạm nhân đã chuẩn bị ngầm âm mưu đó từ trước khi lên tàu.

Prendergast là thủ lĩnh của nhóm đó.

- Tôi có một người hợp tác - Anh ta bảo cha - Một gã dũng cảm hiếm có, trung thành như cái vòng đai đối với thùng tôn-nô vậy.

Và rất nhiều tiền.

Một tay nhà giàu.

Anh có biết nó đang ở đâu không?

Chính là ông cha tuyên úy trên tàu này.

Anh ấy đã lên tàu với chiếc áo lễ đen và các giấy tờ hợp pháp.

Anh ấy có đủ tiền để mua đứt từ sống tàu cho tới cái đỉnh cột buồm.

Đoàn thủy thủ tận tụy với anh ấy cả xác lẫn hồn.

Anh ấy đã trả tiền mặt trước cho họ trước khi họ ký giấy cam kết.

Có hai tay bảo vệ, thêm Mereer, phó thuyền trưởng.

Anh ấy hứa là sẽ mua luôn thuyền trưởng.

- Thế thì chúng ta phải làm gì?

- Ba hỏi.

- Chúng ta sẽ cho một vài tên trong số bọn lính một vài tấm áo đỏ hơn thứ áo mà thợ may quân phục đã cấp phát cho họ...

- Nhưng họ có vũ khí mà?

- Thì mỗi đứa chúng ta cũng có một cặp súng lục.

Nếu chúng ta không cướp được tàu này, thì chúng ta phải trở lại trường làng thôi.

Đêm nay anh sẽ nói với người bạn của anh ở phía bên kia và tìm hiểu xem nó đáng được tin cậy hay không.

"Người bị nhốt bên cạnh cha là một chàng trai bị kết tội giả mạo.

Anh ta tên là Evans, cũng sẵn sàng tham dự vào cuộc nổi loạn.

Khi chưa ra khỏi mũi Nam nước Anh, trong tàu chỉ còn có hai người tù không hay biết cái âm mưu cướp tàu.

Một gã nhu nhược nên bọn cha không dám kêu gọi, gã kia bị mắc bệnh.

Trong đoàn thủy thủy có năm tên gia nhập vào chuyến phiêu lưu này.

Ông cha tuyên-úy-giả qua lại các xà-lim để khích lệ bọn ta, ông ta đeo một cái bao đen được gọi là "bao chứa những quyển sách đạo", ông ta thường lui tới lui ra, nên sang ngày thứ ba, bọn ba đã có một cái giũa, một cặp súng lục, một cân thuốc súng và hai chục đồng tiền vàng.

Tất cả được bó chặt, giấu dưới gầm giường.

Hai trong số những tay bảo vệ nhận lệnh của Prendergast, viên trung úy, phó thuyền trưởng là cánh tay phải của anh ta.

Những người chống lại: viên đại úy, hai viên phó thuyền trưởng khác, hai người bảo vệ, trung úy Martin cùng với 18 người lính dưới quyền của ông ta, thêm vào ông y sĩ.

Tuy nhiên, bọn ta đã quyết định không sao lãng bất cứ một sự phòng ngừa nào và tiến hành cuộc tấn công bất ngờ, vào ban đêm; nhưng rồi nó lại xảy ra sớm hơn dự liệu.

"Một buổi tối, gần ba tuần sau ngày lên đường, viên y sĩ đi thăm một trong những tù nhân bị bệnh.

Vừa bàn tay xuống dưới ghế nằm của người bệnh, ông nhận ra hình dáng khẩu súng lục.

Nếu ông ta lặng thinh và lên báo cáo thì vụ âm mưu sẽ bị khám phá ra nhưng ông ta thốt lên một tiếng kêu ngạc nhiên và mặt mày tái mét.

Thân chủ của ông ta đoán ra ngay cái mà ông ta đã phát hiện.

Y túm lấy ông, nhét giẻ vào miệng ông và trói gô ông bên dưới ghế nằm.

Trước đó, viên y sĩ đã mở cánh cửa dẫn lên boong tàu, vì vậy tất cả tù nhân hăm hở vượt qua cửa đó.

Hai lính canh bị hạ, viên hạ sĩ đang chạy tới xem có chuyện gì đã xảy ra cũng bị hạ.

Ở lối vào các ca-bin, có hai người lính bị giết trong lúc đang gắn lưỡi lê lên trên đầu súng.

Bọn ta chạy vội vào trong ca-bin của thuyền trưởng nhưng lúc bọn ba đẩy cánh cửa ra, thì đã thấy ông ta gục đầu trên tấm bản đồ Đại Tây Dương trên mặt bàn, còn ông cha tuyên úy thì đứng ngay bên cạnh, khẩu súng lục trong tay hãy còn bốc khói.

Hai viên trung úy bị toán thủy thủ bắt giữ.

Tất cả đã giải quyết xong.

"Ca-bin hạng sang ở sát hai bên ca-bin của đại uý; bọn ta ùa vào đó ngồi xệp xuống trên những ghế dài bọc nệm, đua nhau nói cùng một lượt.

Wilson, ông cha tuyên úy giả, đập vỡ một cái rương, để moi ra một chai rượu vang, đập bể cổ chai và rót đầy các cốc không chân.

Vào lúc bọn ba nâng cốc lên để cụng ly, một loạt súng nổ vang, cả ca-bin tràn ngập khói đến mức ba không còn trông thấy được phía bên kia của cái bàn.

Khi khói đã tan, Wilson và 8 người tù khổ sai lăn lộn trên mặt bàn.

Bọn ta bị quang cảnh làm cho tê liệt, và sẽ đầu hàng nếu như Prendergast không có ở đó.

Hắn rống lên như một con bò mộng, rồi nhảy xổ ra khỏi cửa cùng với tất cả những người sống sót ùa theo sau.

Trực diện với bọn ba, mé đuôi tàu có viên trung úy và 10 người lính.

Những khung gắn kính phía trên cái bàn trong ca-bin đã được hé mở ra và họ đã bắn qua khe hở.

Trước khi họ kịp nạp đạn thì bọn ta đã nhào lên.

Họ kháng cự kịch liệt nhưng số quân ít hơn.

Trong năm phút, tất cả đều hoàn tất.

Prendegast vùng vẫy như một con quỷ: y gom những người lính lại rồi quẳng họ xuống biển, chẳng cần biết họ đã chết hay còn sống.

Một trung sĩ bị thương vẫn cố bơi một hồi lâu, cho tới khi một người trong bọn ta mủi lòng thương hại, nhắm bắn một phát vào sọ.

Khi cuộc chiến kết thúc, kẻ thù của bọn ta chỉ còn lại có năm người, hai người bảo vệ, hai viên trung úy và ông y sĩ.

"Thế là nổ ra cuộc tranh cãi lớn.

Rất nhiều người hài lòng vì đã giành lại được tự do; với họ thế là đủ; họ không muốn giết thêm người.

Tám người trong bọn ta là 3 thủy thủ và 5 tù khổ sai, tỏ ý không muốn dự vào cuộc tàn sát sắp diễn ra.

Nhưng không thể làm lung lay quyết tâm của Prendegast và của những người cùng chia sẻ ý kiến với anh ta.

Phe anh ta quả quyết rằng cơ may duy nhất để bảo đảm an toàn là phải nhổ cỏ tận gốc rễ và rằng anh ta sẽ không để cho một cái lưỡi còn sống có khả năng làm chứng chống lại bọn ba.

Chỉ thiếu chút nữa là "nhóm tám người" cũng chịu chung với kẻ bị bắt giữ, nhưng sau chót anh ta bảo nhóm tám người hãy lấy một cái xuồng mà bỏ đi.

Nhóm của cha đồng ý vì đã chán ngán cái cảnh tượng quá tàn bạo đó.

Họ phát cho mỗi người trong bọn ta những bộ quần áo của thủy thủ, một thùng nước, một két thịt bò muối, một két bánh bích-quy và một cái la bàn.

Prendegast dẫn nhóm tám người đến trước một tấm bản đồ, dặn dò rằng hãy nhận mình là những thủy thủ bị trôi dạt vì con tàu bị đắm ở vị trí 15 độ vĩ Bắc và 25 độ kinh Tây.

Xong anh ta cắt dây buộc chiếc xuồng và để cho nó trôi theo dòng nước...

"Con thân yêu của ta, giờ đây ta sắp kể tới cái phần gây ngạc nhiên hơn cả trong câu chuyện.

Trong cuộc nổi loạn, các thủy thủ đã kéo thấp cái trục căng buồm mũi.

Khi bọn ba đã rời xa con tàu thì họ lại dựng nó lên để đón một cơn gió đông bắc nhẹ.

Chiếc xuồng của tám người nhì nhằng vượt qua những đợt sóng dài nhẹ.

Evans và cha - vốn là những người có học thức hơn cả bọn - ngồi ở đằng sau tàu để quyết định hướng đi.

Sau chót, vì gió bắc thổi nhiều hơn, Evans quyết định đi về hướng Sierra Leone.

Bất thình lình, trong lúc ngó về con tàu đó, ba thấy một cụm khói đen bốc lên cuồn cuộn, khói giăng ra tựa như một cái cây khổng lồ.

Vài giây sau đó, một tiếng nổ long trời.

Khi khói đã bị gió lùa đi, ba không còn thấy dấu vết của con tàu Gloria Scott đâu nữa.

Ngay tức khắc, nhóm 8 người chuyển hướng và chèo cật lực tới nơi mà một làn khói đen hãy còn bảng lảng trên mặt nước.

"Phải mất một tiếng đồng hồ, bọn cha mới tới được chỗ đó.

Những mảnh vụn của một cái ca-nô, những mảnh thùng và những thanh gỗ dài nhấp nhô trên sóng.

Không tìm ra được một dấu hiệu nào của sự sống, bọn cha vừa quay xuồng lại thì chợt nghe thấy có tiếng kêu cứu: cách xa một quãng, trên một miếng ván, có một người nằm thẳng cẳng.

Bọn ba kéo người đó lên thuyền.

Đó là một thủy thủ trẻ, tên là Hudson: hắn bị bỏng, và kiệt sức đến mức phải đợi đến sáng hôm sau, hắn mới đủ sức thuật lại các sự việc đã xảy ra.

- Sau khi các ông bỏ đi rồi, Prendergast ra lệnh hành hình 5 tù nhân còn sống sót: Hai người bảo vệ bị hạ sát và liệng xuống biển.

Rồi đến lượt viên trung úy thứ ba.

Sau đó, Prendergast đi xuống dưới tàu và tự tay mình cắt cổ họng ông y sĩ.

Chỉ còn lại có viên trung úy thứ nhất vẫn là người gan dạ và cương quyết.

Khi ông ta thấy Prendergast tiến lại gần, trong tay có con dao đẫm máu và ông ta tự gỡ dây trói ra (ông ta nới lỏng được từ trước) và nhảy từ trên boong xuống khoang hầm sau.

Một tá những tù khổ sai có trang bị súng lục tục xuống tìm bắt ông ta.

Chúng thấy ông đang ngồi bên một thùng thuốc súng mở sẵn, trong tay cầm một bao diêm.

Thùng đó là một trong số 100 thùng thuốc súng mà con tầu chở theo.

Ông ta thề là sẽ cho nổ tung tất cả, nếu ông bị hành hạ, thế rồi, vài phút sau, con tầu bị nổ.

Tôi nghĩ là thùng thuốc súng bị nổ là do một phát súng bắn trượt, hơn là do que diêm của ông trung úy.

Nhưng dù cho nguyên cớ là gì đi nữa, tầu Gloria Scott đã bị triệt hạ, cũng như cái tên vô lại đã nắm quyền chỉ huy con tàu.

"Con thân yêu, đó là câu chuyện về cái vụ khủng khiếp, trong đó ba có tham gia.

Ngày hôm sau, nhóm 9 người được một con thuyền hai cột buồm nhận ra.

Lúc đó thuyền đang trên đường đi sang châu Úc và viên thuyền trưởng đã tin rằng nhóm của cha là những người còn sống sót khi một con tàu chở khách đã bị đắm.

Sau một chuyến đi an toàn, con tàu hào hiệp đó đổ bọn ba lên cảng Sydney là nơi Evans và ba thay tên đổi họ và cùng nhau đi tới những vùng đất có vàng, chen lấn trong đám dân tứ chiếng từ thập phương kéo tới nơi đó.

Bọn ta đã vĩnh viễn từ bỏ căn cước đầu tiên của đời mình.

"Cha không cần thuật lại phần tiếp theo.

Cha đã làm giàu, đã đi đây đi đó rồi lại trở về nước Anh như những nhà thực dân giàu có về tậu đất đai ở quê nhà.

Trong hơn 20 năm, cha đã sống một cuộc đời yên bình và hữu ích với hy vọng là quá khứ đã hoàn toàn bị chôn vùi.

Con hãy hình dung ra điều mà cha cảm nhận khi người thủy thủ vừa chợt hiện ra là cha nhận được ngay tức khắc đó là Hudson.

Cha không biết nhờ đâu mà hắn tìm ra cha, hắn quyết tâm lợi dụng sự sợ hãi của cha.

Giờ thì con đã hiểu trong một chừng mực nào đó, con sẽ thông cảm với nỗi khiếp sợ cứ mãi ở trong cha, kể từ khi hắn rời khỏi nhà ta với những lời đe dọa để tìm tới bên nạn nhân khác của hắn".

Ở phía dưới lá thư có mấy hàng chữ run rẩy:

"Beddoes đã cho ba biết bằng mật mã rằng H.

đã tiết lộ tất cả.

Đức Chúa nhân từ, xin Người hãy thương xót linh hồn chúng con?".

- Watson thân mến, đó là thiên truyện kể mà tôi đã đọc cho anh bạn Victor nghe trong đêm hôm ấy.

Anh Victor tan nát cõi lòng, bỏ sang vùng Terai để trồng chè, ở đó anh rất thành công.

Còn về gã thủy thủ và về Beddoes, từ đó tôi chẳng được tin tức gì về họ.

Cả hai biến mất hoàn toàn.

Không có một cáo buộc nào gửi đến cảnh sát.

Hudson có thể lẩn tránh đâu đó vì cảnh sát không tin vào cáo buộc của hắn đối với Beddoes.

Tuy nhiên, tôi tin rằng, bởi bước đường cùng, có thể Beddoes đã khử Hudson và sau đó đã lẩn trốn ra nước ngoài.

Với số tài sản kếch sù của ông ta, việc đó không có gì gọi là quá khó.

Đó chính là những nét chính của trường hợp này, và nếu chúng có ích cho những ghi chép của anh, thì tôi chắc chắn rằng chúng sẽ rất thích hợp.

Hết

Nguyên văn: "The supply of game for London is going steadily up.

Head-keeper Hudson, we believe, has been now told to receive all orders for fly-paper and for preservation of your hen-pheasant s life".

"The game is up.

Hudson has told all.

Fly for your life".

Khoảng 2 m.
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
C5 Bộ nghi lễ nhà Musgrave


BỘ NGHI LỄ NHÀ MUSGRAVE

THE MUSGRAVE RITUAL (1893)

Memoirs of Sherlock Holmes

Những hồi ức về Sherlock Holmes

Trong tính cách của Sherlock Holmes có một đặc điểm kỳ lạ bao giờ cũng làm cho tôi ngạc nhiên: mặc dù trong công việc đòi hỏi trí não phải làm việc nhiều, anh vẫn là một người cẩn thận, quần áo của anh bao giờ cũng tươm tất, chỉnh tề và tao nhã.

Trong những lĩnh vực khác thì anh là người xuề xòa thiếu ngăn nắp; những thói quen của anh có thể làm cho bất cứ người nào sống với một mái nhà, đôi lúc cũng phải bực.

Không phải tôi là người quá nghiêm khắc, công việc bận rộn ở Afghanistan chỉ tổ làm cho lối sống du mục của tôi ngày càng phát triển; càng làm cho tôi trở thành bừa bãi, cẩu thả; mà điều này đối với một bác sĩ thì không thể tha thứ được.

Nhưng tính cẩu thả của tôi cũng có một thời gian nhất định: khi thấy một người để những điều xì gà của mình trong chiếc thùng dùng để chứa than đá; những bức thư đang chờ được trả thì bị một con dao nhíp hờ hững đè lên; chiếc bảng gỗ thì treo trên lò sưởi, thì ai mà không điên tiết cho được.

Thú thật, tôi có cảm giác, dường như tôi là một mẫu người mực thước về tính cách và đạo đức.

Tôi bao giờ cũng quan niệm rằng, bắn súng là trò giải trí, mà người ta chỉ luyện tập ở ngoài trời một cách tự do.

Khi Holmes bắt đầu ham thích luyện môn bắn súng, mà lại luyện tập trên ghế bành, tay cầm khẩu súng lục và băng đạn, bắt đầu luyện tập bằng cách lấy đầu đạn vạch lên tường đối diện cặp chữ lồng "K.V".

Tôi thấy công việc đó không làm cho căn phòng tốt hơn, không khí trong phòng ấm hơn, cũng không hề làm cho hình dáng bên ngoài của ngôi nhà đẹp lên chút nào.

Căn phòng của chúng tôi bao giờ cũng đầy ắp những đồ vật kỳ dị, có dính líu tới hóa học hoặc một câu chuyện hình sự nào đó.

Các vật kỷ niệm ấy bao giờ cũng nằm rải rác ở những chỗ mà ít ai ngờ tới nhất; chẳng hạn đựng trong bồn chứa dầu, đôi lúc còn nằm ở chỗ không thích hợp nhất.

Nhưng, giấy má của Holmes làm cho tôi đau đầu hơn cả.

Anh không bao giờ tiêu huỷ những tài liệu, đặc biệt những tài liệu có dính líu đến công việc phá án mà anh có tham dự.

Những việc sắp xếp những giấy má ấy đối với anh là cả một công việc cực kỳ khó khăn, đòi hỏi một nghị lực phi thường; không quá một lần trong năm anh nhiều thì giờ để làm công việc ấy.

Hình như trong một chuyện nào đó, tôi đã ghi là tiềm năng to lớn trong người Sherlock Holmes xuất hiện khi nào anh bắt tay vào giải quyết những cuộc khám phá tuyệt vời, điều đó làm cho tên tuổi của anh lừng danh.

Nguồn năng lượng của anh thay đổi theo chu kỳ hững hờ, cho đến lúc kiệt sức hoàn toàn.

Khi ấy anh nằm dài trên giường đọc những quyển sách ưa thích trong mấy ngày liền, thỉnh thoảng anh đứng lên với lấy chiếc viôlông để kéo vài bản nhạc du dương.

Chính thế, nên đống giấy má từ tháng này sang tháng khác ngày một nhiều thêm; tất cả các góc nhà đều chất đầy những cặp ghi chép.

Đốt những ghi chép kia thì không bao giờ được phép làm, ngoài chủ nhân nó ra.

Vào một buổi chiều mùa đông, hai chúng tôi ngồi bên cạnh chiếc lò sưởi.

Tôi bạo mồm nói khích Sherlock Holmes là từ lâu không thấy anh ghi chép vào sổ của mình những nguồn tin; rồi anh có nên bỏ ra một tiếng đồng hồ để sửa sang lại căn phòng của mình cho khang trang hơn không.

Anh phải thừa nhận tôi nói đúng.

Anh sốt sắng chạy ngay về phòng ngủ, rồi khệ nệ bê một chiếc thùng sắt tây to tướng ra.

Sau khi đặt nó xuống giữa phòng, anh ngồi xuống ghế và từ từ mở nắp ra.

Tôi thấy chiếc hòm sắt chứa đầy một phần ba những cặp sách đựng giấy tờ, được cẩn thận buộc bằng những dải băng màu đỏ.

- Watson, ở đây không ít những chuyện lý thú, - anh lên tiếng và âu yếm nhìn tôi.

- Nếu cậu mà biết những gì đang nằm trong thùng sắt tây này có lẽ cậu sẽ đề nghị tớ hãy lôi ra một tập giấy nào đó chứ không phải đặt thêm vào đây những giấy má mới.

- Có phải là những số liệu về công việc trước kia của cậu không?

- Tôi hỏi - Tớ nhiều khi lấy làm tiếc cho việc không có những số liệu ghi chép về những việc đã qua.

- Đúng, anh bạn yêu quý của tớ ạ!

Tất cả những thứ này đều xảy ra từ trước, trước khi tớ có một người bạn chuyên viết tiểu sử những vụ án, người có ý định làm rạng rỡ tên tuổi của tớ.

Bằng những động tác mềm mại, khéo léo anh lôi hết tập này, đến tập khác.

- Không phải tất cả mọi chuyện đều được kết thúc êm đẹp đâu, Watson ạ, - Anh nói.

- Nhưng trong số đó có một vài chuyện thú vị, làm đau đầu tớ không ít.

Ví dụ như: vụ giết chết Tarleton; câu chuyện của ngài Vamberry - một nhà buôn rượu vang; còn đây là một sự kiện của bà già người Nga.

Đây là chuyện kỳ lạ của chiếc nhẫn bằng nhôm; rồi bảng chi tiêu tỉ mỉ về anh chàng Ricoletti chân cong với người vợ đáng sợ của ông.

Còn đây...

đây rõ ràng là một chuyện mê ly, hấp dẫn.

Anh thọc tay xuống sát đáy thùng và lôi ra một chiếc hộp bằng gỗ có nắp đậy, giống như chiếc hộp đựng đồ chơi trẻ em.

Anh mở hộp, lấy ra một tờ giấy đã nhàu nát, một chiếc chìa khóa bằng đồng kiểu cũ; một thanh gỗ có cuốn một cuộn dây nhỏ; và ba chiếc vòng bằng kim loại đã bị han rỉ.

- Thế nào anh bạn, cậu có thích những thứ trang sức này không?

- Anh hỏi, và mỉm cười với khuôn mặt ngơ ngác của tôi.

- Bộ sưu tập đầy tính hấp dẫn và kích thích sự hiếu kỳ.

- Rất hấp dẫn, còn câu chuyện của nó thì càng kích thích tò mò của cậu hơn.

- Chẳng lẽ, những vật kỷ niệm này đều có lịch sử?

- Hơn thế nữa, tự nó đã nói lên lịch sử rồi.

- Cậu định ám chỉ điều gì?

Sherlock Holmes trải các vật ra bàn, anh ngồi xuống ghế và ngắm nghía bằng cặp mắt sáng ngời, lấp lánh dầy hứng thú.

- Tớ đã giữ những vật này làm kỷ niệm về câu chuyện có liên quan đến "Bộ nghi lễ nhà Musgrave".

Tôi đã nghe Holmes nói nhiều về câu chuyện này, nhưng chưa hề có dịp hỏi anh cặn kẽ mọi chi tiết.

- Cậu hãy kể cho tớ nghe mọi chuyện về vụ này đi.

- Tôi đề nghị.

- Thế cứ để nguyên những đồ bỏ đi ở đây à?

Chúng ta phải thu dọn chứ?

- Anh thâm thúy hỏi lại - Sự yêu thích ngăn nắp, gọn gàng của cậu vứt ở đâu rồi.

Nói thế thôi, tớ cũng rất muốn cậu bổ sung vụ này vào bộ biên niên sư của mình, bởi một lẽ nó có những tình tiết khá nổi tiếng trong làng hình sự, không những chỉ riêng ở nước Anh, mà có thể cả những nước khác nữa.

Bộ sưu tập những chiến công nhỏ của cậu sẽ không được trọn bộ nếu thiếu việc miêu tả, ghi chép câu chuyện lịch sử hoàn toàn có thật này...

Chắc cậu còn nhớ, chuyện xảy ra với "Gloria Scott" và đoạn đối thoại với ông già bất hạnh.

Số phận của ông ta đã có lần tớ kể cho cậu.

Ông là người đầu tiên gợi ý cho tớ về nghề nghiệp, mà sau này nó đã trở thành sự nghiệp của cuộc đời tớ.

Hiện nay tên tuổi của tớ đã nổi tiếng, không chỉ trong dân chúng mà cả giới hình sự.

Nhưng riêng việc giải quyết những vấn đề tranh cãi thì những người am hiểu đều đánh giá tớ ở bậc thấp.

Khi chúng ta mới quen nhau, tớ đã có một vốn sống tương đối phong phú.

Cậu có thể tưởng tượng được không?

Lần đầu tớ vất vả biết bao, phải trải qua một thời gian dài tớ mới định hướng được.

Bước đầu tới Luân Đôn, tớ đến ở tại hẻm Montague nằm sau góc Viện bảo tàng British, tớ liền lao vào công tác nghiên cứu.

Tớ nghiên cứu tất cả các lĩnh vực kiến thức, vì nó rất có lợi cho nghề nghiệp tớ sau này.

Dần dần, những người đến gặp tớ để nhờ giúp đỡ: phần lớn họ đến là do bạn bè, sinh viên ngày trước giới thiệu, vì trong những năm cuối của trường đại học người ta đã bàn tán không ít về phương pháp của bản thân tớ.

Việc thứ ba, người ta đã nhờ tớ giải quyết việc của họ hàng nhà Musgrave.

Hàng loạt sự kiện xảy ra một cách lý thú, các sự kiện khác tiếp theo làm cho tớ một phen điêu đứng và lúng túng; đó là nấc thang đầu tiên của con đường danh vọng và cũng là viên gạch đầu tiên để xây lên địa vị của tớ hiện nay.

Reginald Musgrave là bạn học cùng trường trung học với tớ, theo một quan tiệm nào đó thì tớ và anh ta có một tình thân bằng hữu.

Anh ta quá rụt rè nhút nhát, đôi khi bạn bè cho rằng, anh ta làm cao, nên anh ta ít tiếng trong đám bạn bè.

Bề ngoài anh ta đúng là một nhà quý tộc nòi; khuôn mặt thanh tú, mũi to, mắt hơi lồi; phong cách tuy hơi cẩu thả, nhưng vẫn giữ được vẻ tao nhã, thanh lịch.

Thực ra, đó là một người còn sót lại của một dòng dõi vua chúa, đời này có lẽ là đời cháu chắt gì đó; vào thế kỷ thứ XVI dòng họ Musgrave ở miền Bắc, tách ra và thành lập ở phía tây Sussex; cơ ngơi Hurlstone - đó là dinh thự của dòng họ Musgrave, là một trong những ngôi nhà cổ kính nhất vùng này.

Hình như, dinh thự nơi anh ta sinh ra cũng mang nét hình hài của anh ta.

Mỗi khi nhìn khuôn mặt trắng xanh của anh ấy, với những đường nét hơi thô, cùng phong thái đạo mạo thì bao giờ tớ cũng liên tưởng tới những mái vòm hình chóp, khung cửa hình vuông và tất cả những nét rơi rớt lại của nền kiến trúc phong kiến.

Có đôi lúc chúng tôi tâm sự với nhau, lần nào anh ta cũng thích thú những phương pháp quan sát tinh tế và cách đánh giá, nhận xét chính xác của tớ.

Suốt bốn năm, chúng tôi không gặp nhau.

Chợt một buổi sáng anh ta tới thăm tớ ở Montague.

Anh ấy chẳng thay đổi mấy, ăn mặc rất bảnh bao - anh ta vốn là người thích ăn diện, và bây giờ vẫn giữ phong thái chững chạc đàng hoàng vốn có.

- Cậu vẫn khỏe chứ Musgrave?

Sau khi bắt tay thân mật, tớ hỏi.

- Chắc cậu cũng biết, cha tớ vừa qua đời - Anh ta nói.

- Chuyện ấy xảy ra đã gần hai năm rồi, cậu hiểu cho tớ, lúc bấy giờ tớ phải đứng ra đảm đương gánh vác việc cai quản cơ ngơi Hurlstone rất vất vả.

Hơn nữa, tớ là đại biểu của một vùng, bận ơi là bận.

Còn cậu, nghe đâu đã sử dụng khả năng hiếm có của mình để giúp đỡ mọi người có phải không?

- Đúng đấy, - Tớ trả lời - tớ có ý định dùng trí tuệ của mình để kiếm mẩu bánh mì.

- Rất sung sướng được biết như vậy, bởi vì lời khuyên bảo của cậu bây giờ đối với tớ thật quý giá.

Ở chỗ tớ đã xảy ra một chuyện mà cảnh sát đành bó tay.

Câu chuyện làm đau đầu mọi người.

Cậu có thể hình dung tớ nghe anh ta như thế nào không, Watson.

Đây chính là trường hợp mà tớ đã cháy ruột, cháy gan chờ đợi ròng rã trong những tháng ngày thất nghiệp, cuối cùng nó đã đến với tớ.

Từ đáy lòng, bao giờ tớ cũng tin rằng, tớ có thể đạt kết quả ở những nơi mà kẻ khác bó tay; và đây chính là dịp để tớ thử nghiệm chính bản thân mình.

- Cậu hãy kể cặn kẽ cho tớ nghe với!

- Tôi thốt lên.

Sherlock tiếp tục:

- Tớ mời anh bạn Reginald Musgrave một điếu thuốc, anh ta ngồi đối diện với tớ và châm thuốc.

- Cần nói với cậu, - Anh ta mào đầu - mặc dù tớ chưa vợ, nhưng tớ vẫn phải giữ lại ở dinh thự Hurlstone một biên chế hoàn chỉnh số người phục vụ giúp việc.

Dinh thự rất to, được xây cất quá vụng về, không hợp lý và vì thế cần có người trông coi thường xuyên để đề phòng trộm cắp.

Hơn nữa, chỗ tớ có một khu rừng cấm, cứ đến mùa săn chim trĩ, thì trong nhà tập trung cả một hội lớn, đòi hỏi không ít người phục vụ.

Tất cả có tám người, người hầu, người làm bếp, thêm hai người xà ích và một thằng bé để chạy thư từ, tất nhiên không kể người thợ làm vườn và những người giám mã.

Trong số những người phục vụ ấy, có anh chàng Brunton là người phục vụ lâu nhất.

Lúc bố tớ mời anh ta về, anh ta chỉ là một thầy giáo trẻ thất nghiệp; chẳng bao lâu, với nghị lực phi thường, tính cách mạnh mẽ, anh ta nghiễm nhiên trở thành một người không thể thiếu được trong nhà tớ.

Đó là một gã đàn ông cao to, đẹp trai, có vầng trán đẹp đẽ.

Tuy anh ta làm việc ở nhà tớ được hai mươi năm, nhưng anh ta chưa đến bốn mươi tuổi.

Một điều rất lạ, tại sao với hình thức hấp dẫn và năng khiếu hiếm có như thế, hơn nữa anh ta lại nói được vài ba thứ tiếng, biết chơi hầu hết các loại nhạc cụ, lại cam chịu một địa vị quá ư thấp hèn?

Anh ta sống không đến nỗi tồi, lúc nào cũng vui vẻ và không có ý định thay đổi cách sống.

Người hầu này bao giờ cũng thu hút sự chú ý của khách khứa.

Nhưng trong con người hoàn hảo này vẫn có thiếu sót: anh ta là người có tính lăng nhăng, quan hệ yêu đương bừa bãi.

Cậu biết đấy, trong địa hạt chúng tớ, anh ta thực hiện vai sở khanh không có gì là khó.

Khi vợ anh ta còn sống mọi việc đều tốt đẹp.

Nhưng khi vợ anh ta mất, thì anh ta gây cho chúng tớ không ít phiền toái.

Thú thật vài tháng trước chúng tớ đã yên tâm, vì anh ta đã đính hôn với cô bé Rachel Howells một con hầu trẻ tuổi.

Nhưng sau đó, thật tệ, anh ta đã theo đuổi cô Janet Tregellis - con gái của một người thợ săn già lành nghề.

Rachel - một cô gái có lòng tự trọng cao, nhưng rất nóng nảy và tính khí thì thất thường, như người dân vùng Welsh, hơn nữa cô ta bị bệnh viêm màng não nằm liệt giường liệt chiếu.

Cô ta mới hồi phục, và đi lại như một cái bóng, người cô ta chỉ còn lại đôi mắt.

Đó là tấn kịch đầu tiên xảy ra ở dinh thự Hurlstone của chúng tớ.

Nhưng tiếp theo là một chuyện tày trời hơn đã xóa nhòa chuyện cũ trong ký ức chúng tớ.

Đó là việc, người hầu trai Brunton đã bị đuổi ra khỏi nhà một cách nhục nhã.

Vụ đó xảy ra như thế này: Tớ đã kể cho cậu nghe rồi.

Brunton là một người rất thông minh, có lẽ chính sự thông minh đã là nguyên nhân làm hư hỏng anh ta.

Anh ta hay tò mò đến những đồ vật không hề dính dáng đến anh ta.

Tớ chưa bao giờ nghĩ rằng, anh ta lại có thể đi xa đến như thế, sự việc xảy ra làm tớ sáng mắt ra.

Ngôi nhà chúng tớ xây dựng thật luộm thuộm phía trong nhiều đường đi ngang dọc.

Tuần trước chính xác hơn là vào đêm thứ năm tuần trước, vì đã trót uống một ly cà phê quá đậm sau bữa ăn nên tớ nằm trằn trọc mãi đến hai giờ sáng.

Tớ không thể nào ngủ được, bèn ngồi dậy, thắp nến để đọc tiếp cuốn tiểu thuyết.

Nhưng cuốn sách lại để quên ở phòng đọc, tớ khoác áo choàng đi vào lấy cuốn sách.

Muốn đi đến phòng đọc, tớ phải đi xuống một đoạn cầu thang nối, cắt ngang qua hành lang để đến phòng đọc và phòng để vũ khí.

Tớ giật mình, ngạc nhiên khi nhìn thấy ánh sáng leo lắt chiếu qua cách cửa mở toang của thư viện.

Trước khi đi ngủ, chính tay tớ đã tắt đèn, đóng cửa cẩn thận.

Tớ nghĩ, có lẽ kẻ trộm đã lọt vào nhà; các bức tường của tất cả hành lang của dinh thự Hurlstone được treo đầy các loại vũ khí kỳ dị - đấy là chiến lợi phẩm của tổ tiên chúng tớ.

Tớ vớ lấy một cây mã tấu dựng trên tường và đặt cây nến xuống nền nhà, rồi rón rén đi trên mấy đầu ngón chân, liếc nhìn qua cánh cửa bỏ trống của thư viện.

Thằng hầu Brunton, ăn mặc chỉnh tề, đang ung dung ngồi trong chiếc ghế bành.

Trên đùi hắn có một tờ giấy trông như một tấm bản đồ địa lý; hắn ngắm nghía với vẻ đăm chiêu và trầm ngâm suy nghĩ rất lung.

Sững sờ vì quá kinh ngạc, tớ đứng im quan sát hắn.

Trong phòng được thắp một ngọn nến đang cháy dở, chợt Brunton đứng lên, đi tới chỗ chiếc tủ mở ra một ngăn kéo lấy ra một tờ giấy và trở về chỗ cũ, trải tờ giấy xuống bàn bên cạnh mẩu nến, và bắt đầu quan sát.

Kiểu cách nghiên cứu thản nhiên những giấy má trong gia đình tớ của hắn làm tớ vô cùng căm phẫn.

Không chịu đựng được nữa, tớ bèn bước vào.

Brunton vừa dừng lại ngước lên, thì hắn nhìn thấy tớ đang đứng trước cửa.

Hắn vội vàng đứng dậy, mặt mày tái nhợt vì sợ hãi, và vội vội vàng vàng nhét tờ giấy như tấm bản đồ vào túi.

- Hay ho nhỉ!

- Tớ lên tiếng - Anh lạm dụng lòng tin của tôi mới khéo làm sao?

Từ ngày mai anh buộc phải thôi việc.

Hắn cúi xuống, bò lết lại chỗ tớ không nói một lời nào.

Mẩu nến còn nằm trên bàn, rọi le lắt những ánh sáng, tớ liếc nhìn tờ giấy mà Brunton lôi ra từ ngăn kéo.

Tớ vô cùng ngạc nhiên, đấy không phải là giấy tờ quan trọng, mà chỉ là bản sao các câu hỏi và câu trả lời.

Chúng tớ quen gọi là "Bộ nghi lễ nhà Musgrave".

Đã vài ba thế kỷ nay, mỗi người đàn ông trong dòng họ chúng tớ, khi đến tuổi trưởng thành, đều phải thực hiện lễ chế ấy.

Nó chỉ có ý nghĩa đối với các thành viên trong gia đình này, nhưng ngoài đời nó không có một ý nghĩa thực tế nào hết.

- Với tờ giấy ấy, chúng ta sẽ bàn sau.

- Tớ đề nghị với Musgrave.

- Nếu cậu cho là cần thiết - Anh ta nói có phần lưỡng lự - tớ sẽ kể tiếp các sự kiện.

Sau khi dùng chìa khóa; khóa tủ lại, tớ định đi ra, chợt Brunton đến trước mặt tớ.

- Thưa ngài Musgrave.

- Anh ta thốt lên bằng một giọng khàn khàn vì hồi hộp - Tôi không chịu đựng nổi nỗi nhục nhã này!

Tôi là một kẻ nhỏ nhen, nhưng tôi có lòng tự trọng, nỗi nhục này sẽ làm tôi chết mất.

Cái chết của tôi nằm trong lương tâm ngài, nếu ngài cố tình đẩy tôi vào con đường cùng cực, tuyệt vọng tôi cắn rơm, cắn cỏ lạy ngài nếu ngài thấy rằng sau hành động đê tiện của tôi ngài không thể dùng tôi được thì mong ngài hãy cho tôi thời hạn một tháng để tôi có thể nói với mọi người là tôi tự nguyện ra đi, chứ không phải là do bị đuổi.

Dưới con mắt của mọi người quen biết và thân thuộc với tôi, tôi không thể chịu đựng được.

- Anh không xứng đáng để mọi người tôn trọng như vậy, anh Brunton ạ - Tớ trả lời hắn.

- Hành động của anh tôi không thể ngờ được.

Nhưng tôi chiếu cố cho anh, vì anh phục vụ trong gia đình tôi cũng khá lâu, tôi sẽ không bêu riếu anh trước mặt mọi người.

Tuy thế, một tháng thì quá nhiều.

Anh có thể ra đi trong vòng một tuần, với lý do nào thì tùy anh.

- Thưa ngài, có một tuần thôi ư?

- Anh ta thốt lên đầy thiểu não - Ôi! mong ngài rộng lượng cho thêm hai tuần thôi cũng được!

- Sau một tuần.

- Tôi lặp lại - Đối với anh như, vậy là quá nhân nhượng rồi.

Sau khi cúi đầu nhận tội, hắn chậm rãi bước ra như một kẻ đã chết hoàn toàn, còn tớ tắt nến, quay về phòng mình.

Trong vòng hai ngày sau đó, Brunton đã thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của mình.

Tớ cũng không nhắc anh ta về sự việc đã xảy ra, và nóng lòng mong đợi hắn sẽ nghĩ cách gì để che đậy chuyện nhục nhã của mình nhưng, sang ngày thứ ba, trái với thông thường, không thấy hắn đến nhận việc.

Sau bữa ăn sáng, trong khi bước ra khỏi phòng tớ đã tình cờ thấy con hầu Rachel Howells.

Tớ đã nói với cậu là cô này vừa mới ốm dậy, trông cô ta có vẻ phờ phạc, đến nỗi tớ cũng phải trách cô vì cô đã làm việc khi chưa bình phục.

- Cô cứ nghỉ cho khỏe đã - Tớ nói.

- Chờ khi nào khỏe hẳn bắt tay vào việc cũng không muộn.

- Em đã khỏe hẳn rồi, thưa ông chủ.

- Cô ta đáp.

- Chúng tôi phải chờ xem bác sĩ kết luận như thế nào?

- Tớ chống chế.

- Cô hãy dừng ngay công việc và đi tìm Brunton nói anh ta đến gặp tôi.

- Anh Brunton bỏ trốn rồi ạ.

- Cô ta đáp.

- Bỏ trốn!

- Vâng, anh ta biệt tích, không một ai nhìn thấy.

Cô ta đứng dựa hẳn vào tường và cười hô hố trong một cơn động kinh.

Còn tớ, trong lúc lo sợ vì cái động kinh bất ngờ, tớ chạy đến rung chuông kêu người đày tớ.

Người ta đã mang cô gái vào phòng, cô ta vẫn tiếp tục cười rất man rợ và khóc sướt mướt.

Tớ vẫn tiếp tục tìm Brunton: Nhưng anh ta đã mất tích - điều đó không còn nghi ngờ gì nữa, giường chiếu của anh ta vẫn còn nguyên vẹn, không ai nhìn thấy anh ta kể từ lúc anh ta quay về phòng mình chiều tối hôm qua.

Nhưng không thể tưởng tượng nổi, bằng cách nào anh chuồn được khỏi nhà: tất cả cửa sổ, cửa ra vào đều được khóa từ bên trong.

Quần áo, đồng hồ ngay cả tiền bạc của Brunton vẫn còn đầy đủ trong phòng anh ta, chỉ có một bộ đồ đen, bộ anh ta hay mặc là không thấy; đôi dép dùng trong nhà cũng không có, chỉ còn một đôi ủng.

Trong đêm hôm khuya khoắt Brunton bỏ đi đâu và chuyện gì đã xảy ra với anh ta.

Cậu biết không?

Chúng tớ đã lùng sục khắp mọi xó xỉnh, nhưng không hề thấy một dấu vết nào của anh ta.

Tớ xin nhắc lại, dinh thự của tớ thật sự rối rắm, đặc biệt những mái vòng cũ kỹ hoang vắng không người ở, nhưng chúng tớ cũng cứ lùng sục từng nơi một; thậm chí cả những gác xép.

Mọi cố gắng của chúng tớ điều không mang lại kết quả gì.

Thật đơn giản, tớ không thể tin là anh chàng Brunton đã ra đi, mà để lại tất cả tài sản, tớ nghĩ rằng, anh ta mất tích.

Tớ cũng đã mời cảnh sát địa phương tới giúp.

Nhưng cảnh sát cũng không khám phá được gì mới.

Trước khi xảy ra vụ mất tích, có một trận mưa, do vậy mọi quan sát các dấu vết ở bãi cỏ, con đường đều vô nghĩa.

Tình thế nan giải như vậy đó.

Cô Retten Howells liên tiếp trong hai ngày cứ tỉnh tỉnh mê mê và lên những cơn động kinh thật khủng khiếp.

Cô ta khó ở đến nỗi chúng tớ phải cho một người hộ lý luôn luôn túc trực bên cạnh.

Đêm thứ ba sau ngày Brunton bị mất tích, cô hộ lý thấy người bệnh đã ngủ, nên cô ta cũng thiu thiu một giấc.

Sáng sớm hôm sau, khi thức dậy cô hộ lý giật mình khi nhìn thấy chiếc giường trống trơn, cửa sổ thì mở toang, bệnh nhân thì biến mất.

Người ta lập tức gọi tớ dậy, tớ lấy hai xà ích rồi bổ đi tìm.

Chúng tớ dễ dàng xác định hướng đi của cô hầu gái.

Bắt đầu từ cửa sổ, cho đến một cái ao dọc theo bãi cỏ các dấu vết rất rõ, khi đến con đường rải sỏi thì mọi dấu vết biến mất.

Cái ao lớn này có chỗ sâu đến 8 foot, cậu thử hình dung xem, khi chúng tớ nhìn thấy đôi tất của cô gái đáng thương đang trôi lững lờ trên mặt nước.

Chúng tôi vội vàng lấy câu liêm để vớt xác kẻ chết đuối; nhưng vô vọng, đáy ao không có xác một người nào.

Thay vào đó, chúng tớ bị bất ngờ bởi vớt lên được một chiếc bao tải bằng vải gai, trong bao tải được nhét đầy những mảnh vụn kim loại cũ, đã han rỉ, mất hết màu sắc; các mảnh đó đùng đục mờ mờ như các mảnh sành, và cũng hơi giống thủy tinh.

Không còn vật gì khác, mặc dù chúng tớ đã cật lực tìm kiếm cả ngày hôm qua.

Chúng tớ đã tiến hành gạn hỏi, chất vấn mọi người nhưng vẫn không biết Brunton và Rachel Howells hiện nay ở đâu.

Cảnh sát địa phương bất lực, lắc đầu; và cuối cùng tớ chỉ có hy vọng cuối cùng là nhờ đến cậu, Sherlock Holmes ạ.

Cậu biết không, Watson, tớ đã lắng nghe câu chuyện với sự thú vị.

Tớ có tham vọng sẽ kết dính các sự kiện thành chuỗi thống nhất, để lần tìm một sợi chỉ dẫn đường, sợi chỉ xuyên suốt mọi hành động, nhằm tìm giải đáp của một bài toán hóc búa.

Người hầu trai biệt tích, cô hầu gái cũng biến luôn.

Có một thời gian cô hầu gái đã yêu say đắm anh chàng hầu trai, nhưng sau đó lại thù ghét anh ta.

Cô bé ấy là người vùng Welsh, tính khí rất mãnh liệt nên tình yêu mặn nồng thiết tha.

Sau khi anh chàng Brunton bị mất tích, tâm trạng cô ta bị kích động dữ dội.

Cô ta đã ném xuống ao một bao tải đựng toàn đồ kỳ quặc.

Mỗi sự kiện đều làm cho chúng ta phải suy nghĩ, nhưng không có sự kiện nào trong đó chỉ ra được thực chất của vấn đề.

Tớ phải tìm đầu sợi chỉ trong mớ bòng bong ở đâu?

Nhưng tớ thoáng ngờ một mắt xích trong cả chuỗi rối rắm kỳ lạ ấy...

- Musgrave!

- Tớ nói - Tôi cần xem tờ giấy mà anh chàng Brunton đã nghiền ngẫm, thậm chí vì nó mà anh ta dám xăm mình đi một nước cờ liều để rồi phải mất việc.

- Thực ra, "bộ nghi lê" của chúng tôi, chỉ toàn là điều nhảm nhí.

- Anh ta nói - Cái quý duy nhất của nó là tính chất đồ cổ, lịch sử.

Tôi có mang theo bản sao chép để phòng, nếu cần anh cứ xem.

Anh ta đưa cho tớ chính mảnh giấy này, tờ giấy mà tớ đang cầm trên tay đây, Watson.

Bộ nghi lễ - Ý nghĩa của nó đại loại như một kỳ thi sát hạch, mà mỗi người đàn ông trong dòng họ Musgrave đều phải trải qua khi đến tuổi vị thành niên.

Tớ sẽ đọc cho cậu nghe những câu hỏi và câu trả lời theo thứ tự ghi chép.

"Cái này đang thuộc về ai?"

"Về người đã ra đi".

"Cái này sẽ thuộc về ai?"

"Về người sẽ đi đến".

"Cái này đã có từ tháng mấy?"

"Tháng thứ sáu, tính từ tháng thứ nhất trở đi"

"Mặt trời ở đâu" "Trên ngọn cây sồi".

"Bóng của nó ở đâu?".

"Ở dưới gốc cây du"

"Cần bước mấy bước?"

"Về phía bắc - 10 và 10; đi về phía đông - 5 và 5; về phía nam - 2 và 2; về phía tây - 1 và 1, và đi xuống dưới".

"Chúng ta sẽ hiến dâng cái gì cho việc ấy" "Tất cả những gì mà chúng ta có".

"Vì cái gì mà chúng ta hiến dâng?"

"Vì trách nhiệm, nghĩa vụ"

- Trong nguyên bản không thấy ghi ngày tháng - Musgrave nhận xét - Nhưng theo lối viết và ngữ pháp thì tôi đoán khoảng giữa thế kỷ XVII.

Tôi e rằng những tài liệu này không giúp được gì cho anh trong việc giải quyết điều bí ẩn ở dinh thự tôi.

- Cũng có thể, nhưng nó đặt ra trước mắt chúng ta một câu đố thứ hai.

- Tớ trả lời.

- Một câu đố gợi trí tò mò một cách thích thú.

Nếu ta giải được câu đố này thì có khả năng khám phá ra đáp số của bài toán thứ nhất.

Tớ hy vọng, cậu sẽ không giận tớ Musgrave ạ, người hầu trai của cậu là một người thông minh, khôn ngoan và nhậy bén, thấu hiểu mọi vấn đề hơn hẳn chủ anh ta đến mười lần.

- Thú thật, tôi không hiểu anh định nói cái gì?

- Musgrave trả lời.

- Tôi nghĩ, tờ giấy này không có một chút ý nghĩa thực tế nào hết.

- Riêng tôi, thì cho rằng nó rất quan trọng, có lẽ Brunton có suy nghĩ giống tôi.

Chắc là anh chàng hầu trai kia đã nhìn thấy tờ giấy này trước đêm mà anh bắt quả tang anh ta.

- Hoàn toàn có thể, chúng tôi không giấu kín cái gì.

- Chính xác hơn, lúc ấy anh ta chỉ muốn xem để nhớ nội dung.

Theo tôi hiểu, anh ta đã cầm trên tay một tấm bản đồ, đang so sánh với bản chép tay.

Khi nhìn thấy anh, thì anh ta vội vàng nhét bản đồ vào túi.

- Đúng, anh ta cần xem tờ tiết lễ có tính chất gia giáo của chúng tôi để làm gì?

Sự đam mê khờ dại kia chẳng dẫn đến kết quả nào hết?

- Tôi thiết nghĩ chúng ta có khả năng tìm được đáp số không đến nỗi khó khăn.

- Tớ đáp, nếu anh đồng ý, chúng ta sẽ đi chuyến tàu đầu tiên đến Sussex và mổ xẻ thật kỹ vụ này tại hiện trường.

Chúng tớ có mặt tại dinh thự Hurlstone trong ngày hôm ấy.

Cậu đã thấy bức tranh họa ngôi nhà này chưa?

Cậu đã đọc được những đoạn người ta miêu tả về nó chưa?

Tớ nói cho cậu rõ, dinh thự này có hình dáng "L" một mái dài, trông ra dáng hơi hiện đại, còn một mái ngắn cũn cỡn trông rất cổ kính.

Có thể vì, đó là chiếc bào thai đã sản sinh ra tất cả.

Ngay phía trên cánh cửa hẹp, nặng nề ở ngay trung tâm có khắc năm xây dựng "1607".

Nhưng những nhà am hiểu lịch sử và kiến trúc thì cho rằng, những thanh xà gỗ, đá lát nền còn cổ kính lâu đời hơn nhiều.

Ở thế kỷ trước, người ta thấy những bức tường dày quái dị, cửa sổ thì bé tẹo nằm ngay phần chính ngôi nhà, đã thôi thúc chủ nhân phải xây thêm một mái nhà mới, mái nhà cũ chỉ dùng làm kho và hầm chứa, phần còn lại thì bỏ trống.

Xung quanh dinh thự có một công viên bao bọc, ở trong trồng nhiều loại cây cổ thụ che mắt rất tuyệt.

Còn cái hồ, hay cái ao như người khách đã nhắc tới, nằm cuối hàng cây, cách nhà chừng 200 yard.

Lúc bấy giờ, tớ cứ đinh ninh rằng không hề có ba bài toán riêng biệt, mà chỉ tồn tại lột câu đố duy nhất.

Nếu tớ thành công việc giải mã bộ nghi lễ nhà Musgrave, chắc chắn tớ sẽ tìm ra chiếc chìa khóa để khám phá vụ mất tích của Brunton và Howells.

Tớ tập trung toàn bộ năng lực và thời gian lao vào công việc.

Tại sao Brunton lại giao đầu miệt mài nghiên cứu.

Bộ nghi lễ có nội dung thật kỳ lạ và hơi ngớ ngẩn?

Rõ ràng anh ta đã đọc được ý nghĩa của nó, ý nghĩa này đã đánh lạc hướng nhiều thế hệ chủ nhân khu dinh thự.

Điều này, không thể là cái gì khác ngoài việc anh ta hy vọng sẽ được món hời riêng cho bản thân mình.

Món hời này là gì?

Vì sao lại làm thay đổi số phận anh ta?

Khi đã nghiên cứu kỹ tờ giấy, tớ đã sáng tỏ được một điều: các con số có liên quan đến một địa điểm nào đó có khả năng giấu vật gì đó đã được nhắc tới ở phần đầu bộ nghi lễ.

Nếu chúng ta phát hiện được điểm đó, thì chúng ta sẽ tìm được con đường đúng đắn để vạch ra điều bí mật - bí mật này đã được tổ tiên anh chàng Musgrave, biến thành mật mã theo kiểu gia phả.

Để tiến hành công việc tìm kiếm, trong tay chúng ta đã có hai vật làm chuẩn.

Đó là cây sồi và cây du.

Về cây sồi thì không còn gì để nghi ngờ.

Ngay trước mặt ngôi nhà, bên trái con đường, có một cây sồi cổ thụ, ra dáng già lão ất.

Đó là một cây sồi vĩ đại, đồ sộ nhất mà bây giờ tớ mới có dịp nhìn thấy.

- Khi viết "Bộ nghi lễ" này, cây sồi này đã có chưa?

- Tớ hỏi Musgrave.

- Cậu nói gì?

Theo tớ nó có từ thời trung cổ kia - Anh ta trả lời.

- Thân nó to dễ đến 23 feet.

Một điểm chính được sáng tỏ.

- Ở đây ngày trước có cây du cổ thụ nào không?

- Tớ hỏi.

- Cách đây không xa có một cây khá to, nhưng mười năm trước đây một cơn sét đã đánh trúng nó, người ta đã đào gốc nó lên rồi.

- Anh còn nhớ chỗ nó mọc chứ?

- Tất nhiên, tôi nhớ.

- Còn những cây du khác, quanh đây có nhiều không?

- Cây cổ thụ thì không, còn cây con rất nhiều.

- Tôi muốn biết cây du đã mọc ở đâu.

Chúng tớ đi đến bằng xe kéo, anh bạn của tớ không bước vào nhà, mà dẫn tớ tới ngay chỗ cây du trước kia đã sống, bây giờ ở đó là một bãi cỏ xanh rì.

Vị trí này bằng nửa đường giữa cây sồi và ngôi nhà.

Công việc tìm kiếm của chúng tớ rất trôi chảy tốt đẹp.

- Chà, gay go thật, làm sao chúng ta xác định được độ cao của cây du?

- Tớ hơi chán nản hỏi.

- Ngay bây giờ tôi có thể trả lời cho anh: Nó cao 64 foot.

- Làm sao cậu biết chính xác thế?

- Tớ ngạc nhiên thốt lên.

- Ngày trước, ông giáo đại học của tớ, có ra bài tập về môn lượng giác; ông bắt tớ xác định độ cao, đo chiều dài... vì thế, khi còn nhỏ tớ đã đo các cây và những vật được xây dựng trong dinh cơ này.

Một kết quả đến quá bất ngờ.

Một nguồn tin đến với tớ nhanh hơn dự tính.

- Cậu làm ơn cho tớ biết, thằng hầu của cậu có bao giờ hỏi một câu đại loại như tớ hỏi không?

- Tớ hỏi.

Musgrave nhìn tôi ngạc nhiên.

- Nghe cậu nhắc chuyện này - Anh ta nói.

- Tớ nhớ lại cách đây vài tháng Brunton có hỏi tôi về độ cao cây du đó.

Anh ta giải thích rằng, có một trận cãi vã, cá độ về cây du với một người đày tớ khác...

Điều này, chứng tỏ tớ đã đi đúng hướng, Watson ạ.

Tớ nhìn lên mặt trời, trời đã chuyển về chiều.

Tớ nghĩ khoảng một giờ nữa mặt trời sẽ nằm chếch đúng trên ngọn cây sồi cổ thụ.

Điều kiện thứ nhất ghi trên tờ giấy sẽ được thực hiện.

Điểm nào dính líu đến bóng cây du?

Ở đây họ muốn chỉ bóng xa nhất của nó.

Tớ phải xác định điểm cuối của bóng cây du, xem nó sẽ ngả đến đâu khi mặt trời đứng ngay trên ngọn cây sồi.

- Chuyện này không đơn giản phải không Holmes?

Vì cây du không còn ở đấy nữa.

- Tất nhiên là khó.

Nhưng tớ biết, nếu Brunton làm được thì tớ cũng phải làm được.

Hơn nữa đấy không phải là chuyện khó như cậu tưởng đâu.

Tớ cùng với Musgrave đi vào trong phòng của anh ta, rồi chặt lấy một cái cọc nhỏ, buộc vào đó một sợi dây; đánh dấu từng đoạn, mỗi đoạn bằng một yard.

Sau đó, tớ nối hai chiếc cần câu lại và trong tay tớ có một đoạn dài 64 foot.

Tớ cũng cùng anh bạn tớ đi đến chỗ cây du mọc.

Mặt trời vừa vặn lơ lửng trên ngọn sồi.

Tớ cắm đoạn cây của tớ xuống đất xác định bóng của nó ngả theo hướng nào, và đo bóng của nó đúng 9 foot.

Hướng của chúng thì trùng nhau rồi.

Tớ đo khoảng cách ấy, bóng cây du trong tính toán dẫn tớ đến một điểm gần sát bức tường của ngôi nhà, tớ đóng cọc làm dấu.

Watson, cậu có biết tớ sung sướng như thế nào không?

Cách cây cọc của tớ 2 inch, tớ nhìn thấy có một cái lỗ hình côn!

Tớ hiểu đấy là điểm làm dấu của Brunton khi anh ta tiến hành đo tính.

Tớ đã lần theo dấu vết của anh ta.

Từ điểm xuất phát ấy tớ bắt đầu đếm bước, trước đó tớ đã dùng la bàn để xác định phương hướng.

Mười bước và thêm mười bước nữa tớ hiểu mỗi chân bước mười bước.

Theo phương bắc, tớ bước hai mươi bước, dọc theo bức tường tớ đóng cọc làm dấu, sau đó trước năm bước, rồi sau năm bước nữa theo hướng đông, rồi hai bước và hai bước theo hướng nam.

Đến đây tớ đứng ngay trước một cánh cửa cũ kỹ.

Chỉ còn lại một bước và một bước nữa theo hướng tây, nhưng như thế tớ buộc phải đi xuyên qua hành lang lát toàn bằng đá tảng.

Chẳng lẽ, đây chính là điểm ghi trong gia phả?

Trong đời chưa bao giờ tới gặp phải một chuyện đau khổ và đáng buồn như vậy, Watson ạ.

Trong một giây, tớ có ý nghĩ hãy tính toán của mình bị nhầm lẫn chỗ nào chăng?

Mặt trời chiếu rực rỡ, soi rõ nền của hành lang, những tấm đá lát cũ kỹ được trát xi măng kín mít, tất nhiên hàng trăm năm nay chưa hề suy chuyển.

Rõ một điều là Brunton chưa đụng đến đấy.

Tớ gõ gõ một vài chỗ trên nền đá, nhưng khắp nơi đều nghe thấy tiếng kêu giống nhau; không có một dấu hiệu nào chứng tỏ có vết nứt hoặc khe hở.

Rất may, anh chàng Musgrave đã bắt đầu hiểu ra ý nghĩa việc làm của tớ.

Lúc này, anh ta ít hồi hộp, lo lắng hơn tớ.

Anh lấy tờ gia phả ra để kiểm nghiệm lại các phép tính của tớ.

- Và chui xuống nữa!

- Anh ta chợt reo lên.

- Anh đã quên mất câu "... và chui xuống".

Tớ vỡ lẽ ra tất cả.

Có nghĩa là phải đào đất để tìm nhưng lúc ấy tớ bỗng trở nên thông thái lạ thường và biết rằng mình đã nhầm.

- Như vậy có nghĩa, ở đây có một tầng ngầm?

- Tớ thốt lên.

- Đúng, nó được xây đồng thời với ngôi nhà.

Nào, nhanh chóng đi - xuống, đi qua cánh cửa này!

Musgrave nói.

Dọc theo cầu thang xoắn chôn ốc xây bằng đá, chúng tớ đi xuống hầm ngầm.

Anh bạn của tớ quẹt diêm châm cây đèn lớn để trên chiếc thùng phi.

Trong khoảnh khắc, chúng tớ đều khẳng định là mình đã đi đúng hướng.

Chúng tớ cũng nhận thấy, có người nào đó đã đến đây trước chúng tôi chỉ mới hai, ba ngày.

Ở tầng hầm này, người ta chất đầy củi; những thanh củi trước kia trải đầy mặt đất, giờ đã được dồn sát chân tường, giải phóng một khoảng không gian ở giữa.

Ở đây có một phiến đá rộng, to và nặng nề đang nằm chình ình.

Giữa phiến đá được gắn một cái vòng bằng sắt đã hoen rỉ; trong vòng sắt có ai đã buộc một chiếc khăn quàng cổ, vải ca rô trông còn khá tốt.

- Quỷ tha ma bắt, cái khăn của Brunton!

Nhưng sao nó lại ở đây?

- Musgrave thốt lên ngạc nhiên và giận dữ - Tớ đã trông thấy hắn quàng chiếc khăn này ở cổ.

Nhưng thằng đểu cáng, mất dạy làm gì ở đây kia chứ?

Theo đề nghị của tớ, người ta cho mời hai viên cảnh sát địa phương đến.

Với sự có mặt của họ, tớ toan nhấc phiến đá lên.

Nhưng với sức lực của tớ phiến đá chỉ hơi nhấc khe khẽ.

Nhờ sự giúp đỡ của viên cảnh sát, tớ mới làm nổi công việc dịch chuyển phiến đá sang một bên.

Dưới phiến đá là một cái hố đen ngòm, toang hoác miệng; tất cả chúng tớ đều nhòm vào.

Musgrave quỳ xuống, và đưa thấp ngọn đèn xuống miệng hố.

Chúng tớ trông thấy chiếc hầm hình vuông chật hẹp, sâu độ 7 foot, rộng mỗi bên độ 4 foot.

Một chiếc rương nhỏ, làm bằng gỗ được nẹp bốn góc bằng đồng, nằm dưới hầm.

Một chiếc khóa cũ kỹ trông ngồ ngộ, đang lắc lư trong ổ khoá.

Bụi phủ đầy chiếc rương, hơi ẩm mốc đã làm phần gỗ phía trong mục nát.

Vài đồng xu bằng kim khí - giống như những đồng xu cậu trông thấy ở đây, đó là những đồng bạc thời xưa, lăn lóc nằm dưới đáy rương.

Ngoài mấy thứ đó ra, trong rương không còn bất kỳ vật nào.

Tuy thế trong mấy phút đầu, chúng tớ không chú ý lắm đến rương, mà tất cả cặp mắt đều đổ dồn vào vật đang nằm bên cạnh rương.

Một người đàn ông, mặc đồ đen đang ngồi chồm hổm, đầu gục xuống, hai tay ôm chặt lấy rương.

Khuôn mặt của người đó trắng bệch và biến dạng không thể nào nhận ra.

Nhưng, khi chúng tớ dựng anh ta lên, Musgrave phán đoán theo tầm vóc kích thước, quần áo, tóc tai của kẻ bất hạnh và đã nhận ra đấy chính là anh chàng Brunton bị mất tích.

Brunton chết trước đó vài ngày, nhưng trên người anh ta không tìm thấy dấu vết thương tích...

để có thể làm sáng tỏ số phận bi đát của anh ta.

Khi chúng tớ lôi được xác chết lên khỏi hầm, chúng tớ lại đứng trước một bài toán hóc búa, không kém phần đau đầu, so với giải đáp mà chúng tớ vừa khám phá ra...

Thú thật với cậu, Watson ạ!

Tớ rất nản lòng và chán chường trước hết quả của công cuộc tìm kiếm.

Tớ chỉ nghĩ rằng, tìm được địa điểm bí mật đã ghi trong gia phả lâu đời, thì mọi việc sẽ được sáng tỏ; nhưng khi đứng đúng chỗ cần tìm, thì mọi bí mật của nhà Musgrave vẫn còn quá mù mịt.

Thật ra, tớ đã làm rõ việc Brunton mất tích, nhưng tớ phải giải quyết một vấn đề, để làm sáng tỏ một điều; Bằng cách nào số phận của Brunton lại bi đát đến như thế: còn người hầu gái kia có đóng vai trò gì không?

Tớ ngồi xuống một chiếc thùng gỗ kê trong góc, suy tính trong óc mọi tình tiết của câu chuyện đã xảy ra...

Watson, cậu biết phương pháp của tớ trong những trường hợp tương tự: Tớ đặt mình vào trường hợp kẻ hành động; trước hết cần nắm được trình độ suy luận và mức độ thông minh của anh ta.

Tớ sẽ tưởng tượng mình là kẻ đó thì mình sẽ hành động ra sao?

Chuyện này có đơn giản hơn, vì Brunton là kẻ có bộ óc không phải là tầm thường, tớ không phải mất công lắm để tính toán mức độ chênh lệch giữa trình độ suy luận của anh ta so với tớ.

Brunton biết có một vật quý giá đang được cất giấu ở đâu đó.

Anh ta đủ trí thông minh đế xác định được chính xác vị trí.

Anh ta biết chắc chắn rằng, tấm đá che miệng hầm rất nặng, một người thì không tài nào nhấc nổi.

Sau đó, anh ta sẽ làm gì?

Anh ta không thể cầu cứu người lạ được.

Nếu tìm được một người mà anh ta tin tưởng, thì dẫu sao, khi đóng chặt cánh cổng từ bên ngoài, anh ta cũng thừa hiểu mình đi một bước quá liều lĩnh.

Tốt hơn hết, nên tìm một người ở ngay trong dinh thự nhà Musgrave.

Nhưng Brunton cần tìm ai bây giờ?

Người hầu gái kia đã có một thời yêu thương anh ta.

Người đàn ông, dù có những hành động đáng trách với người phụ nữ, nhưng anh ta vẫn tin rằng, tình yêu dành cho anh ta không phải là đã hết.

Khi gặp cô hầu gái Rachel, Brunton đã làm lành với cô ta, và thuyết phục để cô ta đồng lõa với hắn.

Chờ khi đêm đã khuya, họ cùng nhau xuống tầng hầm, và hợp sức để đẩy tảng đá.

Đến phút này, hành động của bọn họ rõ ràng như chính tớ đã quan sát bằng cặp mắt mình.

Nhưng trong hai kẻ thủ phạm, có một phụ nữ, rõ ràng đấy không phải là một công việc nhẹ nhàng; tớ với anh chàng cảnh sát phải chật vật lắm mới đẩy được tảng đá sang một bên.

Họ đã làm gì để giảm nhẹ công việc.

Đúng, tớ cũng phải làm như họ đã làm.

Tớ chăm chú nhìn vào đống củi lăn lóc, và tớ tìm thấy ngay cái tớ đang mong đợi.

Có một khúc củi dài khoảng 3 foot đã bị hơi vặn gẫy ở một đầu, một cây khác thì bị bẹp dí: rõ ràng nó bị một vật nặng đè lên.

Có thể, trong lúc nâng tấm đá, Brunton và cô hầu đã lèn những thanh củi vào khe hở; khi cái lỗ chưa đủ để chui vào, họ đã lèn thêm một cây củi nữa, cây này được dựng đứng nên vì thế nó mới bị vặn gãy ở đoạn cuối - chính tảng đá đã đè toàn bộ trọng lượng lên thanh củi.

Những giả thiết của tớ hoàn toàn có căn cứ hẳn hoi.

Tớ phải suy xét thế nào đây, để có thể dựng lại toàn bộ bức tranh của tấn thảm kịch ban đêm?

Nhất định chỉ có một người lọt vào hầm, và kẻ đó chắc phải là Brunton.

Còn cô gái, có lẽ đã đứng ở phía trên chờ đợi.

Brunton đã mở nắp chiếc rương và lấy hết mọi thứ chuyển lên trên cho cô gái, điều này không thể chối cãi vì chiếc rương còn lại rỗng không...

Tiếp theo, cái gì đã xảy ra?

Có thể, sự khao khát trả thù anh chàng bội tình đang bùng cháy trong lòng cô gái nóng tính kia, khi cô nhìn thấy tính mạng của người tình bội bạc đang nằm trong tay mình.

Cũng có thể, tình cờ cây gỗ ngã xuống, và tảng đá đã nhốt chặt Brunton trong hầm - trong một chiếc quan tài bằng đá.

Nếu như chiều hướng thứ hai, thì Rachel chỉ có lỗi là đã làm thinh, không báo cho mọi người biết chuyện đã xảy ra.

Hoặc cô ta đã cố ý rút cây gỗ lèn lên, làm cho tấm đá rơi xuống chỗ cũ?

Hoặc là thế này, hoặc là thế khác.

Nhưng tớ mường tượng thấy trước mặt tớ người phụ nữ kia: Sau khi giấu chặt trong ngực vật quý giá mới tìm thấy được; cô ta chạy như bay theo cầu thang xoắn ốc để tránh không phải nghe thấy những tiếng rên vì ngạt thở và những tiếng đập cầu cứu tuyệt vọng của người tình lường gạt.

Đấy chính là nguyên nhân đã làm cho cô ta hoảng hốt, nhợt nhạt, kích động và nổi lên những tràng cười điên loạn vào sáng hôm sau.

Vật gì đã nằm trong chiếc rương kia?

Cô gái đã làm gì với những vật đó?

Không nghi ngờ gì nữa, đó chính là những mảnh kim loại cũ kỹ và những tấm đá vụn, mà cô ta đã kịp ném xuống ao để nhằm che giấu tội lỗi của mình...

Tớ đã ngồi bất động chừng hai mươi phút.

Musgrave người nhợt nhạt; vẫn đứng cầm ngọn đèn soi xuống hầm là nhìn ngơ ngẩn.

- Đấy là những đồng tiền của thời vua Charles đệ nhất 1 - Anh nói và chìa cho tớ xem vài ba đồng xu tròn tròn.

- Anh thấy không, tôi đã đoán chính xác thời gian ra đời của "Bộ nghi lễ".

- Đây chưa phải là hết.

Chúng ta sẽ phải tìm một vật còn sót lại của đế chế Charles đệ nhất!

- Tớ thốt lên, khi nhớ lại hai câu hỏi đầu ghi trong gia phả.

- Anh cho tôi xem vật đã chứa trong bao tải, mà anh tìm thấy dưới đáy ao.

Chúng tôi cùng bước về phòng Musgrave, anh ta đổ ra trước mặt tớ một đống những mảnh vụn.

Tớ ngắm kỹ những thứ của nợ đó, và bỗng hiểu ra vì sao Musgrave coi nó không ý nghĩa gì hết; bởi vì kim loại thì bị đen, còn mảnh đá thì bị mất hết màu sắc và đục lờ mờ.

Tớ lấy ống tay áo lau chùi một mảnh, nó bỗng sáng lấp lánh như một ngọn lửa trong lòng bàn tay tớ.

- Chắc anh hiểu, - Tớ nói với Musgrave - Tập đoàn của nhà vua vẫn tiếp tục thống trị nước Anh, ngay cả khi nhà vua đã chết.

Rất có thể, trước lúc bỏ chạy những thành viên tập đoàn Charles đệ nhất - là vua nước Anh, đã bị lật đổ và xử tử - thống trị đã cất giấu những vật quý giá nhất ở một nơi bí mật, với hy vọng sẽ quay về khi tình hình yên ổn.

- Ông cố nội tôi - ngài Ralph Musgrave, có một vị trí quan trọng trong triều đình và là cánh tay phải đắc lực của vua Charles đệ nhị, trong thời gian nhà vua còn phiêu bạt.

- À?

- Tớ thốt lên, - Thật tuyệt vời, mắt xích cuối cùng đã tìm ra.

Xin chúc mừng cậu Musgrave!

Sau cuộc thăng trầm, gian truân, đày ải, anh đã nghiễm nhiên trở thành chủ nhân của một thánh vật, nó có một giá trị vô cùng to lớn, bởi bản thân nó là một của quý.

Nhưng nó còn có một ý nghĩa quan trọng hơn là tính lịch sử vô cùng quý giá của nó.

- Vật gì vậy?

- Anh ta hỏi tới và hồi hộp vô cùng.

- Đấy chính là chiếc vương miện của các nhà vua nước Anh.

- Vương miện?!

- Đúng.

Vương miện.

Anh hãy nhớ câu ghi trong gia phả thế này: "Cái này thuộc về ai?"

- "Về người đã ra đi".

Lời này được viết khi Charles đệ nhất bị chết.

"Cái này sẽ thuộc về ai?".

"Về người lên thay".

Câu này có ý nói về Charles đệ nhị.

Việc lên ngôi đã được tiên đoán từ trước, không còn nghi ngờ gì nữa, chiếc vương miện đã bị hỏng, mất hết hình thù oai nghiêm của nó, đã từng đội trên đầu các ông vua từ triều đại Stuarts.

- Nhưng làm sao nó lại biến được xuống đáy ao?

- Câu hỏi này không thể trả lời trong một phút.

Thế là tớ phải lần lượt kể lại cho Musgrave nghe toàn bộ quá trình, từ những giả thiết cho đến những dẫn chứng của mình.

Khi tớ kết thúc câu chuyện thì trời bắt đầu nhá nhem, và trên bầu trời xuất hiện mặt trăng soi sáng, bàng bạc rạng rỡ.

- Nhưng tại sao, khi quay về với vua Charles đệ nhị đã không lấy lại vương miện của mình?

- Musgrave hỏi và nhét tất cả những mảnh thánh vật quý báu vào bao tải.

- Anh nêu lên một vấn đề mà chúng ta không tài nào giải đáp được.

Có lẽ, ông Ralph Musgrave, người nắm được bí mật này, trước khi chết đã trao lại cho người kế tiếp, nhưng vì sao đó không ai giải thích được nội dung, ý nghĩa.

Từ đó đến nay, "Bộ nghi lễ" gia phả kia được lưu truyền từ đời cha cho đến đời con.

Cuối cùng đã lọt vào tay một kẻ có khả năng khám phá ra điều bí ẩn, nhưng kẻ đó phải trả cho nó một cái giá quá đắt...

Watson, câu chuyện về "Bộ nghi lễ của nhà Musgrave" chỉ có thế.

Cho đến bây giờ, chiếc vương miện vẫn nằm ở dinh thự Hurlstone, mặc dù chủ nhân của nó đã phải vất vả, chi phí một món tiền khá lớn; trong lúc người ta chưa được phép chính thức giữ chiếc vương miện ở bên cạnh.

Nếu cậu muốn ngắm nhìn chiếc vương miện, cậu chỉ cần hô tên của tớ lên thì người ta ngay lập tức cho cậu xem liền.

Còn người hầu gái đã biệt âm vô tín.

Có khả năng cô nàng đã từ giã nước Anh và suốt đời mang theo kỷ niệm về hành động phạm pháp của mình.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
C6 Vụ án ở Reigate


VỤ ÁN Ở REIGATE

THE REIGATE PUZZLE (1893)

Memoirs of Sherlock Holmes

Những hồi ức về Sherlock Holmes

Ngày 14 tháng 4 năm 1887 tôi nhận được một bức điện gửi từ Lyon báo tin Holmes bị ngã bệnh, phải nằm liệt giường ở khách sạn Dulong.

Trong vòng 24 giờ, tôi đã sang nước Pháp, tới tận bên giường anh và thấy bệnh không trầm trọng.

Thể trạng anh cứng cáp như sắt thép nhưng cũng không chịu nổi trước một cuộc điều tra kéo dài hai tháng; trong thời gian đó, mỗi ngày anh phải làm việc trên 15 tiếng đồng hồ: anh còn xác nhận là có lúc anh không được nghỉ ngơi lấy một tiếng đồng hồ trong 5 ngày liên tiếp.

Ba ngày sau đó, chúng tôi quay về nhà ở phố Baker.

Nhưng đại tá Hayter, người bạn thân mà tôi đã chăm sóc bên xứ Atghanistan, đã tậu được một ngôi nhà ở gần Reigate, trong hạt Surrey, và ông thường mời tôi và Holmes tới đó để đổi gió.

Khi Holmes được biết đại tá là người độc thân thì anh liền đồng ý.

Thế là, một tuần sau ngày trở về London, chúng tôi tới nhà đại tá Hayter.

Buổi tối hôm đến nơi, chúng tôi quây quần trong phòng trưng bày vũ khí.

Holmes nằm dài trên ghế trường kỷ, trong lúc Hayter và tôi xem bộ sưu tập súng.

Đại tá nói:

- Nhân đây, tôi sẽ đem lên lầu một trong những khẩu súng lục này để phòng ngừa trường hợp chúng ta cần báo động.

- Báo động ư?

- Tôi kêu lên.

- Phải, mới đây ông già Acton đã bị trộm tới viếng đêm thứ hai tuần qua.

Thiệt hại thì không đáng kể, nhưng tên trộm vẫn chưa bị bắt.

- Không có hướng điều tra nào sao?

- Holmes hỏi, liếc nhìn ông đại tá.

Cdisk of corkho tới nay thì không.

Nhưng đây là một vụ không đáng kể, một vụ trộm vặt ở thôn quê, hoàn toàn không đáng làm cho ông phải bận tâm sau cái vụ quốc tế lớn lao kia.

Holmes khua tay như gạt bỏ lời khen ngợi, nhưng nụ cười của anh lại chứng tỏ là anh lấy thế làm khoái chí.

- Không có chi tiết đặc trưng nào sao?

- Không.

Bọn trộm đã lục tung cái thư viện.

Tất cả căn phòng đã bị đảo lộn tùng phèo, các ngăn kéo bị mở tung, giấy tờ bị ném tung toé.

Các món bị mất chỉ có: một cuốn sách, hai cây đèn nến bọc quý kim, một phong vũ biểu nhỏ bằng gỗ sồi và một cuộn dây mảnh.

- Một lô hàng kỳ lạ!

- Tôi thì thầm.

- Ồ, hiển nhiên là bọn trộm đã vội quơ lấy những gì mà chúng có thể mang theo.

Trên ghế trường kỷ, Holmes buông ra một tiếng làu bàu:

- Cảnh sát địa phương hẳn rút ra một điều gì đó chứ!

Coi nào, thật rõ ràng là...

Nhưng tôi giơ một ngón tay lên:

- Anh tới đây là để nghỉ ngơi, anh chớ có lao mình vào một vấn đề nào, trong lúc hệ thần kinh còn đang rã rời.

Holmes nhún vai, ném về phía ông đại tá một tia nhìn mang dấu cam chịu rồi câu chuyện chuyển sang những đề tài bớt nguy hiểm hơn.

Tuy nhiên chúng tôi đang dùng điểm tâm thì người quản gia của đại tá ùa vào trong phòng.

- Ông đã hay tin gì chưa, thưa ông?

Ở đằng nhà cụ Cunningham đó, thưa ông!

Ông đại tá bất động với tách cà phê trong tay, lơ lửng giữa mặt bàn và miệng ông.

- Trộm à?

- Một vụ giết người!

Ông đại tác nghiến răng và rít lên:

- Mẹ kiếp!

Ai bị giết?

Ông tòa hòa giải hay là con ông ta.

- Gã đánh xe ngựa.

Một phát trúng tim.

Chết mà chẳng nói lấy nửa lời.

- Ai đã giết anh ta?

- Kẻ trộm.

Hắn đã biến mất.

Hắn vừa bẻ gãy cửa sổ gian bếp phụ thì William tới đó.

William đã mất mạng khi bảo vệ của cải cho chủ mình.

- Lúc đó là mấy giờ?

- Vào khoảng nửa đêm.

- Tốt.

Lát nữa, chúng tôi sẽ tới đó.

- Ông nói với giọng rất thản nhiên.

Ông chờ cho người quản gia ra khỏi phòng rồi mới nói thêm:

- Chuyện tồi tệ!

Ông già Cunningham là một nhân vật rất có thế lực ở đây, hơn nữa, ông là một người trung hậu.

Ông sẽ đau khổ, bởi vì người đánh xe là một người đầy tớ rất tốt.

Chắc là cũng cùng những tên trộm cướp đã tới viếng nhà Acton.

- Và là kẻ đã ăn trộm cái sưu tập quá đặc biệt đó ư?

- Holmes hỏi với vẻ ngẫm nghĩ.

- Đúng vậy.

- Hừm!

- Thoạt nhìn sự việc ra vẻ kỳ cục.

Thông thường một băng trộm cắp hoạt động tại một vùng không hề thực hiện hai lần trong cùng một thành phố, cách nhau có vài ngày.

Tối qua, khi ông nói cần đề phòng, tôi đã nghĩ rằng Riegate là giáo khu sau chót ở nước Anh bị bọn trộm để ý tới.

- Nếu vấn đề là do một tên chuyên nghiệp ở địa phương thì hiển nhiên hai gia đình Acton và Cunningham là những nhà lớn nhất trong xứ này mà.

- Và là những nhà giàu có nhất chứ?

- Họ giàu từ trước, song từ nhiều năm qua, chủ nhân của cả hai nhà đã dấn vào một cuộc tranh tụng kéo dài và nay họ bị sạt nghiệp, ấy là theo ý tôi.

Ông già Acton hiện đòi lại phần nửa cơ nghiệp của nhà Cunningham.

Ở cả hai bên, các luật gia đều đòi thù lao thật đắt...

- Nếu là một tên vô lại ở trong vùng lân cận, hẳn người ta sẽ tóm cổ hắn dễ dàng.

Holmes nói, cố nén một tiếng ngáp.

Anh đừng có lo sợ, anh Watson!

Tôi chẳng can thiệp vào chuyện này đâu.

- Thanh tra Forrester đến, thưa ông!- người quản gia loan báo khi mở cửa ra.

Người đại diện của cảnh sát còn rất trẻ, trông có vẻ đàng hoàng, bước vào trong phòng.

- Xin chào, thưa đại tá.

Tôi hy vọng làm phiền đại tá?

Nhưng chúng tôi được biết là ông Holmes đang có mặt nơi đây...

Ông đại tá chỉ vào bạn tôi.

Viên thanh tra nghiêng mình chào.

- Thưa ông Holmes, chúng tôi mong rằng ông sẵn lòng cùng đi ít bước với tôi.

- Số mệnh đã chống lại anh rồi, Watson ơi!

- Holmes vừa kêu lên vừa cười.

- Chúng tôi đang bàn luận về vụ án thì ông tới đó, ông thanh tra.

Ông có thể cho chúng tôi biết vài chi tiết không?

Khi tôi thấy Holmes ngồi ngả vào thành ghế dựa với một trong những tư thế được anh ưa thích thì tôi thất vọng.

- Chúng tôi không có một dấu vết nào trong vụ Acton.

Nhưng chắc chắn là cả hai vụ đều do cùng một băng nhóm gây ra.

Người phạm tội đã bị nhận diện.

- A!

- Vâng, nhưng hắn chuồn đi như một cơn gió, sau khi đã nổ súng vào William Kirwan.

Cụ Cunningham đã trông thấy y từ cửa sổ phòng cụ và con trai cụ, ông Alec Cunningham, cũng đã trông thấy từ cánh cửa sau, dành cho người giúp việc.

Hồi 23 giờ 45 phút thì có tiếng báo động.

Cụ Cunningham vừa vào giường, còn Alec thì đang hút thuốc.

Cả hai đều nghe tiếng anh William kêu cứu.

Ông Alec chạy vội xuống.

Cánh cửa sau mở rộng.

Khi tới chân cầu thang, ông thấy bên ngoài có hai người đang đánh nhau.

Một trong hai người nổ một phát súng, người kia gục xuống, kẻ sát nhân nhảy bổ ra vườn và leo vượt hàng rào.

Cụ Cunningham từ khuôn cửa sổ phòng mình, cũng thấy tên cướp nhảy ra tới đường, và mất dạng.

Ông Alec đứng lại để xem có thể cứu giúp gì được cho người hấp hối, khiến cho kẻ sát nhân có thời giờ trốn thoát.

Ngoài chi tiết hắn là người tầm thước và mặc vải sẫm, chúng tôi không còn chỉ dấu đặc biệt nào khác.

- Anh chàng William làm gì tại đó?

Anh ta nói được điều gì trước khi chết không?

- Không một lời.

Anh ta ở cùng với bà mẹ trong nhà người gác cổng, đó là một người giúp việc tận tụy; có lẽ anh đã đi về phía ngôi nhà để xem mọi việc có bình thường không.

Tất nhiên khi hành động như vậy thì ai cũng sẽ phải nâng cao cảnh giác.

Khi tên trộm vừa tông mở cánh cửa - khoá cửa đã bị phá - thì William nhào lên người hắn.

- William có nói gì với mẹ trước khi ra khỏi nhà không?

- Bà mẹ rất già lại điếc.

Không tài nào moi được từ nơi bà một điều chỉ dẫn nào!

Cái chết của con trai đã quật sụp bà.

Tuy nhiên, có một nguyên tố cực kỳ quan trọng.

Ông hãy coi đây!

Viên thanh tra rút ra từ cuốn sổ tay một mảnh giấy nhỏ bị rách vàmở rộng ra trên đầu gối.

- Mẩu giấy này được tìm thấy giữa hai ngón tay cái và ngón tay trỏ của nạn nhân.

Dường như đây là một góc của một tờ giấy lớn hơn.

Con số ghi trên mẩu giấy này là giờ mà William bị hạ sát.

Kẻ sát nhân đã giật lấy phần còn lại của tờ giấy; nếu không, William đã có thể giành lấy nguyên vẹn tờ giấy rồi:

- ...Vào lúc 11 giờ 45... sẽ được biết... nhiều ... rất hữu ích....[AT QUARTER TO TWELVE...LEARN WHAT...MAY]

Holmes cầm lấy tờ giấy.

- Cứ cho đây là một cuộc hẹn.

- Viên thanh tra nói tiếp - Chúng ta có thể ngờ rằng, gã William mặc dù có tiếng là lương thiện, đã thông đồng với tên trộm.

Gã đã gặp tên trộm ở đó, hoặc đã giúp tên trộm cạy cửa, rồi sau đó hai đứa gây lộn với nhau...

- Miếng giấy này hữu ích biết bao!

- Holmes thì thầm sau khi quan sát nó rất kỹ, - chúng ta bị ngập sâu trong nước hơn là tôi tưởng.

Anh vùi đầu trong hai bàn tay giữa lúc viên thanh tra cười thỏa mãn trước sự chú tâm của chuyên gia nổi tiếng ở London.

Holmes nói ngay sau đó:

- Điều nhận xét sau chót của ông thật là tài tình, tờ giấy này mở cho chúng ta...

Lần nữa anh lại gục mặt vào trong lòng hai bàn tay và anh khép kín mình trong vài phút vào tư tưởng của anh.

Khi anh ngẩng đầu lên, tôi ngạc nhiên thấy cặp mắt anh long lanh như trước những ngày chưa bệnh.

Anh nhảy cẫng lên với tất cả năng lực cũ của mình:

- Tôi đang nói gì với ông nhỉ: tôi muốn xem xét những chi tiết của vụ án.

Nếu được ông cho phép, thưa đại tá, tôi sẽ đi dạo một vòng cùng với ông thanh tra để kiểm soát lại một vài ý nghĩ bông lông của tôi.

Tôi sẽ trở về trong nửa tiếng.

Một tiếng rưỡi đã trôi qua.

Viên thanh tra quay lại có một mình nói:

- Ông Holmes đang đi bách bộ ngoài đồng và muốn chúng ta đi tới ngôi nhà.

- Tới nhà cụ Cunningham sao?

- Vâng, thưa ông.

- Để làm gì?

Viên thanh tra nhún vai.

- Tôi không biết.

Giữa chúng ta với nhau, tôi nghĩ rằng ông Holmes chưa được hoàn toàn bình phục.

Ông cư xử một cách kỳ lạ, sôi động.

- Ông không cần phải lo âu.

Anh ấy luôn luôn có phương pháp trong sự điên rồ - Tôi nói.

- Ông Holmes đầy nhiệt tình đòi đi, thưa đại tá.

Nếu hai vị sẵn sàng, chúng ta cũng nên đến đó.

Chúng tôi gặp lại Holmes ngoài trời.

Anh đi từng bước dài trên đường, cằm gục xuống ngực, hai bàn tay thọc sâu trong túi quần.

Anh nói:

- Vụ án có tầm lợi ích đây.

Anh Watson, chuyến đi chơi vùng quê này sẽ là một thành công đáng kể.

Tôi đã hưởng một buổi sáng thú vị.

- Ông đã đi tới nơi xảy ra vụ án à?

- Đại tá hỏi.

- Phải.

Ông thanh tra và tôi.

- Đưa tới thành công chứ?

- Quả vậy, chúng tôi đã thấy nhiều điều khác nhau rất lý thú.

Thoạt tiên, chúng tôi đã xem thi hài của kẻ bất hạnh: anh ta chết vì một viên đạn súng lục, như các anh đã được cho biết.

- Anh nghi ngờ chuyện đó sau?

- Ồ, luôn luôn nên kiểm tra tất cả.

Việc quan sát của chúng tôi đã không vô ích.

Sau đó chúng tôi có trao đổi với cụ Cunningham và con trai cụ.

Alec hướng dẫn chúng tôi tới nơi mà kẻ sát nhân đã chuồn qua khi vượt hàng rào, trốn chạy.

Rất đáng quan tâm.

- Tất nhiên.

- Chúng tôi đã gặp bà mẹ đau khổ nhưng không thu thập được điều gì.

Bà đã quá yếu.

- Và kết quả cuộc điều tra cho thấy là...

- ... tội ác này không tầm thường.

Thưa ông thanh tra, giờ đây chúng ta đã đồng ý với nhau về mẩu giấy trên đó có viết giờ chết của nạn nhân?

- Mẩu giấy đó chẳng cho chúng ta một điều chỉ dẫn, thưa ông Holmes.

- Nó cho chúng ta thấy rõ: người viết bức thư đã lôi William ra khỏi giường trong đêm hôm khuya khoắt.

Nhưng phần còn lại của tờ giấy hiện ở đâu?

- Tôi đã quan sát mặt đất rất kỹ với hy vọng tìm ra mẩu giấy đó.

- Viên thanh tra thì thào.

Mảnh giấy đã được giựt ra khỏi bàn tay người chết.

Bởi vì tờ giấy đã kết tội y nên y đã nhét vội nó vào túi mà không hề để ý thấy một góc bị thiếu.

Nếu thu hồi được phần còn lại của tờ giấy, thì chúng ta sẽ kết thúc vấn đề.

- Đúng.

Nhưng phải làm thế nào bây giờ.

- Điều đó đáng tốn công.

Còn một điểm này nữa.

Lá thư đã được gởi tới cho William.

Người viết thư đã không tự mình trao cho người nhận; nếu không, hắn dùng lời nói chứ viết thư làm gì.

Vậy ai đã chuyển bức thư?

Hoặc lá thư đã được gửi tới qua đường bưu điện?

- Tôi đã cho điều tra về điểm đó, - viên thanh tra trả lời.

- Hôm qua William có nhận được một lá thư trong chuyến phát thư buổi chiều.

Anh ta hủy cái bao thư.

- Tuyệt vời!

- Holmes kêu lên khi vỗ lên lưng viên thanh tra.

- Ông đã gặp nhân viên đưa thư.

Thật thích thú khi được làm việc chung với ông!

Tốt!

Đây là nhà người gác cổng.

Thưa đại tá, xin cho phép tôi được chỉ cho ông thấy nơi xảy ra tội ác.

Chúng tôi đi ngang qua căn biệt thự nhỏ, nơi người đánh xe đã ở và leo lên một lối đi vào hai bên có trồng cây sồi, đưa tới một ngôi nhà cổ kính.

Một cảnh sát viên đứng gác ở cửa sau.

- Xin ông vui lòng mở cửa ra.

- Holmes nói.

- Giờ đây, các bạn trông thấy cái cầu thang này: chính từ những bậc thang đó mà cụ Cunningham đã trông thấy hai người vật lộn nhau tại nơi chúng ta đang đứng.

Ông cụ đứng ở cửa sổ này, cái thứ hai bên tay trái, và cụ đã trông thấy kẻ sát nhân bỏ chạy ngay bên trái bụi cây.

Alec cũng trông thấy y nữa.

Sau đó, Alec đã chạy tới quỳ xuống bên người bị thương.

Nền đất rất rắn, như các bạn có thể ghi nhận: không có dấu vết nào để hướng dẫn chúng ta.

Trong lúc anh nói, có hai người đi xuống lối vào vườn, sau khi đã đi vòng quanh nhà.

Một người lớn tuổi, có một cái đầu mạnh mẽ, nhưng có nét nhăn sâu, mí mắt nặng trĩu. người kia là một thanh niên lanh lợi.

- Thế nào, vẫn còn bàn về việc đó à?

- Anh ta nói với Holmes.

- Những người từ London đến, phải là những người không thể đánh bại.

Nhưng quý vị không tiến tới được bao nhiêu.

- Cần phải cho chúng tôi một ít thì giờ.

- Holmes trả lời bằng một giọng vui vẻ hồn nhiên.

- Quý vị sẽ cần nhiều thời giờ nữa đây!

- Alec nói dõng dạc.

- Dường như chúng ta không có một chỉ dẫn nhỏ nhoi nào.

- Mỗi một, viên thanh tra trả lời, chúng ta sẽ tìm thấy...

Lạy chúa tôi!

Này ông Holmes, ông làm sao vậy?

Ông Holmes!

Bộ mặt Holmes có một dáng vẻ đáng ghê sợ.

Mắt anh đảo lộn tròng, nét mặt bị cơn đau làm cho quặn lại, khi buông ra một tiếng rên rỉ, anh té lăn xuống đất.

Hoảng hốt, chúng tôi khiêng anh vào trong bếp, đặt anh vào một ghế bành rộng và anh ngồi đó thở nặng nề trong vài phút.

Cuối cùng, sau khi đã cáo lỗi về sự yếu đuối của mình, anh lại đứng lên, nói:

- Tôi vừa mới qua một cơn bệnh nặng.

Tôi vẫn còn dễ bị những cơn cấp phát thần kinh đột ngột đó.

- Ông muốn về nhà bằng cỗ xe độc mã của tôi không?

- Cụ Cunningham đề nghị.

- Tôi phải ở đây để xác minh một điểm.

- Điểm gì?

- Thế này: Không biết William đã tới trước hay là chỉ tới sau khi tên trộm đã lọt vào nhà.

Quý vị đã nói rằng tuy cánh cửa bị cậy phá, nhưng kẻ trộm chưa lọt vào bên trong.

- Điều đó là hiển nhiên rồi.

- Cụ Cunningham trả lời một cách nghiêm trang.

- Coi nào, Alec vẫn còn chưa vào giường chắc chắn là cháu nó đã nghe thấy tiếng động.

- Cậu ấy ngồi ở đâu?

- Trong phòng tắm của tôi, đang hút thuốc và nhìn qua cửa sổ - Ông cụ trả lời.

- Cửa sổ nào?

- Holmes nói tiếp

- Cửa sổ cuối cùng bên trái, kế bên cửa sổ phòng cha tôi.

- Aléc đáp.

- Đèn nơi phòng anh và nơi phòng ông cụ vẫn còn thắp sáng cả chứ?

- Không còn nghi ngờ gì cả.

- Rõ ràng là có vài điểm kỳ lạ trong vụ này.

- Holmes cười nói.

- Một kẻ trộm vào nhà trong lúc đèn vẫn còn sáng và cả hai người trong gia đình còn thức.

Y phải cực kỳ bình tĩnh.

- Nếu vụ án mà không kỳ lạ, thì chúng tôi nhờ ông làm chi!

- Alec nói: - Kẻ trộm đã không lấy đồ trước khi bị William bắt gặp, bằng cớ là chúng tôi đâu có mất món gì và hiện trường cũng không bị bừa bộn.

- Cái đó còn tùy thuộc vào bản chất của những món đồ.

- Holmes trả lời.

- Chúng ta đang đối phó với một kẻ trộm thuộc loại đặc biệt và hành động theo cách đặc biệt, chẳng hạn như, cái lô hàng ở nhà cụ Acton chỉ là một cuộn dây mành, một cái phong vũ biểu....

- Chúng tôi phó thác hoàn toàn nơi ông, thưa ông Holmes - Cụ Cunningham nói.

- Mở đầu, tôi muốn cụ treo một giải thưởng.

Tôi đã soạn sẵn một mẫu, cụ có ưng ký tên không?

50 bảng là đủ.

- Tôi sẵn lòng thưởng 500.

- Ông tòa hòa giải nói, sau khi cầm lấy tờ giấy mà Holmes đưa cho cụ.

- Nhưng giấy này chưa được đúng.

Cụ nói thêm khi đọc lướt qua nội dung.

- Tôi viết nó khá vội...

- Coi này!

Sao ông lại bắt đầu như vậy: "Xét rằng, vào hồi 0 giờ 45 phút, một mưu toan..."

Nó là hồi một khắc trước nửa đêm, 11 giờ 45, nếu ông ưa thế.

Sự nhầm lẫn đó khiến tôi buồn.

Holmes nổi tiếng là chính xác về các sự việc.

Nhưng con bệnh đã làm anh như đãng trí.

Trong một lúc, anh bị bối rối.

Viên thanh tra nhướn lông mày lên.

Alec thì phá ra cười.

Ông già sửa chỗ viết sai và trả tờ giấy lại cho Holmes, nói:

- Ông cho in càng sớm càng tốt.

Ý kiến của ông thật là tuyệt hảo.

- Holmes cẩn thận đặt tờ giấy vào trong bóp, rồi nói: - Ta cùng đi khắp nhà để tìm xem cái tên trộm kỳ quặc kia đã mang đi món đồ nào.

Trước đó, Holmes quan sát cánh cửa đã bị cạy phá.

Một con dao cứng hoặc một cây kéo được cắm sâu vào ổ khóa và ổ khóa đã bị bung ra.

Những dấu vết trên gỗ hãy còn thấy rõ.

- Như vậy là cụ không cần cho đặt then chặn cửa?

- Holmes hỏi.

- Chúng tôi thấy không cần phải làm như vậy.

- Cụ có nuôi chó không?

- Có, chó được cột ở phía bên kia nhà.

- Các gia nhân đi ngủ vào lúc nào?

- Khoảng mười giờ.

- Thông thường thì William đi ngủ vào giờ đó, phải không?

- Phải.

- Thật kỳ lạ!

Vào đúng đêm đó, anh ta lại thức khuya hơn thường lệ.

Giờ đây, thưa cụ, chúng tôi sẽ rất hân hạnh nếu được phép vô thăm nhà cụ.

Một hành lang lát đá, đưa tới một cầu thang bằng cây dẫn thẳng lên lầu một của ngôi nhà.

Trên bậc thềm dẫn lên một cầu thang thứ hai đi đến tiền sảnh, người ta trông thấy ở đó nhiều cánh cửa phòng khách cũng như cửa nhiều phòng, trong số đó có cửa phòng cụ Cunningham và phòng Alec.

Holmes bước chậm rãi, quan sát kỹ.

Cứ theo vẻ mặt anh, tôi biết anh đang theo một hướng điều tra nóng bỏng.

- Ông hảo tâm của tôi ơi!

- Cụ Cunningham kêu lên, vẻ mất kiên nhẫn.

- Điều này không cần thiết đâu.

Phòng của tôi là đây, nơi cuối cùng những bậc thang, và phòng con trai tôi là phòng kế cận.

Nếu kẻ trộm lên đây thì cha con tôi đã nghe tiếng động do hắn gây ra rồi.

- Ông hãy điều tra theo hướng khác thôi.

- Alec nói với nụ cười.

- Tuy nhiên, tôi xin quý vị lượng thứ cho cái ý thích thất thường của tôi.

Chẳng hạn như tôi muốn biết tầm nhìn từ những khuôn cửa sổ kéo dài tới tận đâu.

Phòng của anh Alec đây ạ?

- Holmes hỏi khi đẩy cánh cửa ra.

- Và đây là phòng tắm mà anh đang ngồi hút thuốc thì có tiếng báo động.

Cánh cửa sổ mở ra cái gì đây?

Anh băng ngang phòng, mở một cánh cửa và liếc nhìn sang căn phòng ở sát bên.

- Giờ đây ông đã được thỏa mãn?

- Cụ Cunningham hỏi với vẻ hỏm hỉnh.

- Xin cảm ơn.

Tôi đã thấy tất cả những gì muốn biết.

- Nếu thật là cần thiết, chúng ta có thể vào trong phòng tôi.

- Nếu không làm phiền cụ quá đáng...

Ông tòa hòa giải nhún vai và ông dẫn chúng tôi vào trong phòng riêng của ông, đồ đạc đủ tiện nghi.

Trong lúc chúng tôi đi ngang phòng tới hướng khuôn cửa sổ, Holmes chậm bước lại để sánh ngang tôi đi ở cuối toán.

Ở chân giường có kê một cái bàn vuông nhỏ, trên có đặt một bình nước và một giỏ cam.

Khi đi ngang cái bàn, Holmes cúi xuống và hất đổ cái bàn.

Bình nước vỡ tan và trái cây văng tung toé.

- Đồ quỷ, Watson.

- Anh kêu lên một cách lạnh lùng.

- Thế là anh đã ngược đãi tấm thảm rồi!

Hoàn toàn bối rối, tôi cúi xuống và bắt đầu tìm lượm trái cây.

Hẳn là vì một duyên cớ nào đó nên Holmes mới muốn để tôi cáng đáng cái trách nhiệm về sự vụng về này.

Những người khác cũng lượm trái cam và dựng cái bàn thẳng đứng trở lại.

- Coi kìa!

- Viên thanh tra kêu lên.

- Ông ấy đi đâu vậy?

Holmes đã biến mất.

- Quý ông hãy đợi tôi ở đây.

- Alec nói.

- Cái ông này coi bộ thần kinh không bình thường.

Hãy đi với con đi, ba!

Cả hai chạy vội ra khỏi phòng.

Còn ba chúng tôi cứ đứng đó, sững sờ nhìn nhau.

- Mẹ kiếp, tôi bắt đầu tin rằng cậu Alec có lý.

- Viên thanh tra thì thầm.

- Có thể đây là hậu quả về căn bệnh của ông ấy, nhưng dù sao thì cũng...

Bỗng ông ngưng mặt.

Một tiếng kêu, gần như một tiếng hét, vang lên.

- Cứu tôi với!

Sát nhân!

Như người điên, tôi phóng ra thềm cầu thang, bởi vì tôi đã nhận ra giọng Holmes.

Những tiếng kêu cứu đã biến thành tiếng rên rỉ khàn khàn, không thành tiếng.

Chúng thoát ra từ căn phòng mà chúng tôi đã vào thăm trước hết.

Tôi lao vào trong, rồi chạy vào phòng tắm.

Hai cha con Cunningham đang cúi trên cơ thể lả đi của Holmes.

Người con dùng hai bàn tay siết chặt cổ họng Holmes, ông bố thì vặn cổ tay anh.

Trong chớp mắt chúng tôi đã lôi được hai cha con ra.

Holmes đứng lên, xanh xao, lảo đảo.

- Hãy bắt giữ những người này, ông thanh tra!

- Anh hổn hển nói.

- Về tội gì?

- Tội ám sát người đánh xe của họ.

Viên thanh tra ngơ ngác nhìn anh.

- Coi nào, coi nào, ông Holmes, ông đâu muốn nói rằng...

- Không à?

Ông hãy nhìn họ mà xem!

- Holmes kêu lên.

Ông già Cunningham đờ người ra, tưởng chừng như hóa đá, khuôn mặt nhăn sâu, in hằn một nét tàn nhẫn sâu xa.

Người con trai đã mất hết thói ba hoa, thói nhạo báng, trong cặp mắt đen của anh ta lóe lên ính hung dữ của một con thú hoang, nguy hiểm.

Viên thanh tra đi ra cửa và rút cái còi ra.

Hai cảnh sát kéo tới nơi ngay đó.

- Thưa cụ Cunningham, - viên thanh tra nói.

- Tôi hy vọng rằng chuyện này sẽ chấm dứt bằng sự chứng minh về sự vô tội của cụ.

Nhưng cụ cũng có thể thấy rằng...

A, anh muốn vậy sao?

Hãy buông ngay cái đó ra coi!

Ông vung tay về phía trước và một khẩu súng lục rớt xuống sàn nhà.

- Giữ lấy tang vật này!

- Holmes nói khi đặt bàn chân lên khẩu súng.

- Nó sẽ có ích trong phiên tòa.

Đây mới là cái chúng ta cần có hơn hết!

Anh giơ lên cao một mảnh giấy nhỏ đã bị vò nát.

- Phần còn lại của lá thư?

- Viên thanh tra reo lên.

- Chính nó.

- Ông tìm ra nó ở đây vậy?

- Ở chỗ mà tôi tin chắc là sẽ tìm ra nó.

Tôi sẽ giải thích.

Thưa đại tá, ông và Watson có thể trở về nhà.

Tôi cũng sẽ về trong một giờ nữa.

Ông thanh tra và tôi, còn phải nói chuyện với các phạm nhân.

Sherlock Holmes đã giữ lời.

Khoảng một giờ sau, anh bước vào phòng hút thuốc của ông đại tá.

Anh đi cùng với một ông lão mà anh giới thiệu là cụ Acton.

Holmes tươi cười nói:

- Thưa quý vị, ngay từ đầu, tôi thấy chìa khóa của vấn đề là mẩu giấy nằm trong tay nạn nhân.

Nếu chuyện kể của Alec là thật và nếu kẻ trộm bỏ trốn ngay tức khắc, thì hắn đã không giựt và làm rách tờ giấy.

Nếu không phải như vậy thì thủ phạm chính là Alec, bởi vì trước khi ông già xuống, nhiều gia nhân khác hẳn đã chạy tới.

Đó là một chi tiết đơn giản nhưng ông thanh tra đã bỏ qua, bởi vì ông ấy cho rằng những vị chức trọng quyền cao trong địa hạt chẳng liên can gì tới vụ án.

Thế là tôi nghiên cứu thật kỹ cái mẩu giấy.

Nó đây này.

Nó gợi ra một ý nào không?

- Toàn chữ không đều.

- Ông đại tá nói.

- Ông bạn thân mến ơi, - Holmes kêu lên, - nó đã được viết bởi hai người, mỗi người viết một chữ: Nhìn cách gạch ngang khá rõ nét trên chữ "t" trong những từ "phút" thì quý vị sẽ tin chắc rằng toàn chữ do hai người viết.

Một cuộc phân tích ngắn cho phép quý vị xác nhận rằng những từ "sẽ được biết" và "nhiều" được viết bởi một bàn tay rắn rỏi, trong lúc từ "hữu ích" lại được viết bởi một bàn tay yếu hơn.

- Sáng như ban ngày!

- Ông đại tá kêu lên.

- Tại sao lại quái gở khi cần đến hai người để viết một lá thư.

- Đây là một vụ bỉ ổi.

Một trong hai người có tính rất đa nghi, đã quyết định mỗi người có một phần bằng nhau về điều gì sẽ xảy ra.

Nhưng trong hai người, kẻ viết những chữ "một" và chữ "rất" là kẻ xúi giục gây ra vụ này.

- Do đâu ông đi tới cái kết luận đó?

- Tôi so sánh đặc tính của hai chữ.

Quý vị hãy quan sát thật cẩn thận mẩu giấy này: người có bàn tay rắn rỏi đã viết trước, và chừa lại những khoảng trống để cho người kia điền vào.

Nhưng những khoảng trống đó không phải lúc nào cũng đủ chỗ cho kẻ viết sau.

Người có bàn tay yếu hơn đã gặp khó khăn, chẳng hạn như khi ông ấy viết chữ "giờ" vào khoảng giữa hai chữ "một" và "bốn".

"Một" và "bốn" rõ ràng là những chữ đã được viết từ trước.

Vậy người được phép viết trước, là người chủ mưu.

- Tuyệt vời!

- Cụ Acton kêu lên.

- Hẳn quý vị đã biết rằng thông thường người ta có thể xem xét nét bút mà đoán ra tuổi của một người, chênh lệch chừng mươi năm.

Tôi nói thông thường, bởi vì có nhữngtrường hợp do bệnh hoạn hoặc do suy yếu cơ thể thì kết quả sẽ khác đi.

Nhưng trong vụ này, khi quan sát chữ rắn rỏi của một người (dấu gạch ngang trên các chữ t rất rõ) và nét chữ ngập ngừng của người kia (những chữ t gần như mất hẳn nét ngang) chúng ta có thể xác định rằng trong hai người này, một người còn trẻ và một người tuổi đã cao, tuy hãy còn tráng kiện.

- Tuyệt vời!

- Cụ Acton kêu lên lần nữa.

- Tuy nhiên, giữa hai nét chữ này có những điểm giống nhau.

Thường thì những sự giống nhau đó xuất phát từ hai chữ "e" Hy Lạp mà cả hai cùng viết giống nhau.

Nhưng những nét giống nhau khác kém khẳng định hơn cũng cho thấy cùng điểm đó.

Tôi tuyệt đối tin chắc rằng có "một nét chữ gia đình" trong hai nét chữ viết này.

Thế là tôi vững tin rằng cha con ông Cunningham là tác giá của bức thư.

Tôi đi tới nhà đó cùng với ông thanh tra.

Tôi thấy rõ vết thương trên xác chết, đã gây ra bởi một phát súng lục bắn cách xa hơn bốn mét.

Trên quần áo nạn nhân không có những vết sạm đen gây ra bởi thuốc súng.

Vậy là Alec đã nói dối khi khai rằng hai người đang đánh lộn thì súng nổ.

Mặt khác, hai cha con đều đồng ý về cái nơi mà "hung thủ" đã bỏ chạy ra đường.

Ở chỗ đó có một vài hố ngập bùn, nhưng không hề có những dấu chân: nghĩa là chẳng hề có một kẻ xa lạ nào can dự vào vụ án.

Tôi lại còn phải khám phá cái động cơ của tội ác kỳ cục này.

Trong mục đích đó, trước hết tôi phải tìm hiểu vụ trộm xảy ra nơi nhà cụ Acton.

Ông đại tá đã nói rằng một vụ tranh tụng đã làm cho cụ Acton với cha con Cunningham kình địch nhau.

Ngay lập tức, tôi đoán là họ đã xông vào thư viện nhà cụ với ý định lấy trộm một tài liệu quan trọng khả dĩ giúp họ chiếm phần thắng ở phiên tòa.

- Tuyệt vời!

- Cụ Acton lại kêu lên y như hai lần trước.

- Ý định của họ thật rõ.

Tôi có đủ giấy tờ để được hưởng phần nửa cơ nghiệp của nhà đó.

Nếu họ cướp những giấy tờ ấy, thì chúng tôi nguy mất.

- Chúng ta tới đích rồi vậy!

- Holmes cười nói.

- Đó là một mưu toan khá lều lĩnh do Alec đề xướng.

Lục soát khắp nơi mà không tìm ra được cái gì, họ đã làm như những tên trộm tầm thường để đánh lạc hướng cảnh sát.

Chính vì thế mà họ đã quơ lấy bất cứ cái gì họ thấy.

Tất cả điều đó đã khá sáng tỏ, nhưng tôi còn muốn thu hồi lại phần còn thiếu của lá thư.

Tôi tin chắc rằng Alec đã nhét vào trong túi áo ngủ.

Vả chăng, anh ta còn có thể để nó vào đâu? tất cả vấn đề là tìm hiểu xem nó có còn ở đó không?

Vì thế tất cả chúng ta đều đi vào trong nhà.

Cha con nhà Cunningham đã gặp chúng tôi ở bên ngoài, gần bên cánh cửa nhà bếp.

Cần phải tuyệt đối không làm cho họ nhớ lại sự hiện hữu của tờ giấy đó; nếu không, họ sẽ hủy nó đi ngay tức khắc.

Viên thanh tra sắp ám chỉ đến tờ giấy khi giải thích với họ về tầm quan trọng của nó.

Lúc đó "tình cờ" tôi bị mệt và đề tài của câu chuyện được thay đổi.

- Trời đất thánh thần ơi!

- Ông đại tá cười vang.

- Đóng trò khéo tuyệt vời!

- Tôi kêu lên khi nhìn Holmes với lòng khâm phục.

- Có những trò hề hữu ích, - Holmes trả lời.

- Khi đứng lên, tôi đã có sẵn một mưu mẹo: làm cho ông già Cunningham viết ra 2 chữ "giờ" và "phút" để có thể so sánh nó với 2 chữ giờ và phút viết trên mẩu giấy.

- Ồ, tôi ngu xuẩn làm sao!

- Tôi kêu lên.

- Lúc đó tôi có nhìn thấy rõ lòng trắc ẩn của anh đối với tôi!

- Holmes cười nói.

- Tôi lấy làm tiếc đã gây cho anh một nỗi buồn nho nhỏ.

Khi lên lầu, tôi vào trong phòng, thấy cái áo ngủ treo ở đằng sau cánh cửa, tôi xô ngã một cái bàn để chuyển hướng sự chú ý của họ trong chốc lát và vội vã đi khám xét các túi áo.

Tôi vừa mới tìm ra được tờ giấy thì hai cha con nhào lên tôi.

Tôi thật sự tin rằng họ chủ tâm giết tôi, nếu các bạn không tới kịp; người con thì siết cổ, còn người cha vặn tay tôi để tôi phải buông tờ giấy ra.

Sau đó, tôi đã nói chuyện tới ông Cunningham để làm sáng tỏ cái động cơ gây ra tội ác.

Ông cụ tỏ ra biết điều, trong lúc Alec vẫn cứ hung hăng như loài quỷ dữ.

Cụ Cunningham thú nhận rằng William đã bí mật theo dõi hai cha con ông trong cái đêm họ đã ăn trộm nơi nhà cụ Acton.

William đe dọa và đòi tiền họ.

Nhưng Alec không thuộc hạng người dễ khuất phục.

Thế là William đã bị gài bẫy và bị giết.

Nếu cha con nhà Cunningham thu hồi được nguyên vẹn lá thư (trong đó họ hẹn giờ gặp nhau), và nếu họ không sơ sớt một vài chi tiết nhỏ, thì chẳng bao giờ họ bị nghi ngờ gì cả.

- Thế còn cái lá thư trứ danh đó đâu?

- Tôi hỏi.

Sherlock Holmes đặt nó trước mặt chúng tôi khi ráp hai mảnh giấy lại.

Chúng tôi đọc được:

"Nếu anh tới vào lúc 11 giờ 45 ở cửa sau, anh sẽ biết được một điều làm anh ngạc nhiên nhiều và nó sẽ rất hữu ích cho anh cũng như cho cả Annie Morrison.

Nhưng chớ có tiết lộ với bất cứ người nào".

- Anh Watson, có điều là chúng ta chưa biết các mối liên hệ giữa Alec Cunningham, William Kirwan và Annie Morrison là như thế nào; nhưng rõ ràng kỳ nghỉ ngắn ngày của chúng ta ở nông thôn rất là thành công.

Ngày mai, tôi sẽ trở về nhà, hoàn toàn khỏe khoắn...

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
C7 Kẻ dị dạng


KẺ DỊ DẠNG

THE CROOKED MAN (1893)

Memoirs of Sherlock Holmes

Những hồi ức về Sherlock Holmes

Một buổi tối, tôi ngủ gà ngủ gật trên một cuốn tiểu thuyết.

Nhà tôi đã lên trên lầu.

Tiếng then cài cánh cửa ra vào báo cho tôi biết là những người giúp việc đã lui về.

Tôi còn chờ thêm chút nữa rồi mới đứng lên khỏi ghế.

Đúng vào lúc đó, tiếng chuông vang lên.

Tôi nhìn đồng hồ: 11giờ 45.

Muộn thế này thì chỉ có thể là khách, một ca bệnh sẽ làm tôi phải thức thâu đêm.

Hơi cáu kỉnh, tôi ra phòng ngoài dể mở cửa: Sherlock Holmes!

"A Watson!"

Anh reo lên.

"Tôi đến thăm quá muộn".

- Có gì đâu.

Vào đi chứ!

- Anh tỏ vẻ ngạc nhiên...

Anh có thể cho tôi ngủ nhờ đêm nay không?

- Sẵn sàng.

Anh ăn tối?

- Không, xin cảm ơn, tôi đã dùng rồi, ở ga Waterloo.

Tôi đưa cái túi đựng thuốc cho anh.

Anh im lặng hút.

Tôi biết rõ là chỉ có một vụ quan trọng mới có thể đưa anh tới dây vào một giờ muộn như vậy.

Vậy là tôi kiên nhẫn chờ anh vào chuyện.

- Ngày mai anh tới Aldershot được không?

- Tôi nhờ một bác sĩ bạn thay tôi chăm sóc các bệnh nhân.

- Tốt lắm!

Tôi muốn đáp chuyến tàu mười một giờ mười ở ga Waterloo.

- Rất thuận tiện cho tôi.

- Vậy thì, nếu anh chưa buồn ngủ, tôi xin tóm tắt những sự việc và những gì cần làm.

- Trước khi anh tới, tôi đã ngủ gà ngủ gật nhưng bây giờ thì hoàn toàn tỉnh táo.

- Đó là vụ ám sát đại tá Barclay thuộc sư đoàn Royal Mallows ở Aldershot.

Sự việc xảy ra cách đây hai ngày.

"Royal Mallows là một trong những trung đoàn Ái Nhĩ Lan nổi tiếng trong quân đội Anh.

Tối thứ hai vừa qua, trung đoàn đặt dưới quyền chỉ huy của đại tá James Barclay, một lính già can đảm đã được lên lon nhờ vào lòng dũng cảm.

Barclay lấy vợ khi ông còn là trung sĩ.

Ông kết hôn với cô Nancy, con gái trung sĩ trưởng đội trong cùng đơn vị.

Vợ chồng Barclay đã thích nghi mau chóng với địa vị mới của họ.

Bà vợ sống ăn ý với các bà vợ sĩ quan cũng như chồng bà đối với các bạn đồng đội.

Tôi xin nói thêm bà là một phụ nữ rất đẹp và cho mãi đến bây giờ, sau ba chục năm lập gia đình, sự xuất hiện của bà còn gây ấn tượng mạnh.

Thoạt nhìn, cặp vợ chồng này đã được hưởng một hạnh phúc hiền hòa.

Tôi đã đến hỏi ông thiếu tá Murphy, thì ông này đoan chắc với tôi là ông chẳng bao giờ thấy có sự bất hòa trong gia đình đó.

Tôi hỏi ông cặn kẽ hơn.

Thiếu tá nói rằng sự gắn bó của ông Barclay đối với vợ thì lớn mạnh hơn là sự gắn bó của bà Barclay đối với chồng.

Nếu phải xa vợ trong một ngày, ông rất buồn phiền; nhưng bà vợ thì không chứng tỏ một sự mãnh liệt đến thế.

Dẫu sao, trong trung đoàn, họ vẫn được coi như là một cặp vợ chồng lý tưởng.

Dường như là đại tá Barclay có một tính khí khác thường.

Bình thường, ông là một quân nhân già, vui tính, hăng hái.

Nhưng đôi khi ông cũng hung bạo và thù hằn.

Tuy vậy, bà vợ không bao giờ chịu đựng những tật xấu đó.

Có một điều khác là: theo định kỳ, một tâm trạng gì đó như trầm uất lại giáng xuống ông.

Viên thiếu tá mà tôi hỏi chuyện đã ghi nhận điều đó và họ đã lấy làm ngạc nhiên.

Nó theo ông thiếu tá thì nụ cười biến mất trên mặt ông Barclay tựa hồ như có một bàn tay vô hình đã xua đuổi nó.

Và các hiện tượng đó xảy ra trong những buổi họp mặt xã giao cũng như tại bàn ăn của sĩ quan ở đơn vị.

Có khi trong nhiều ngày liên tục, ông như bị giày vò bởi sự ưu sầu đen tối nhất.

Sư đoàn Royal Mallows hạ trại tại Andershot từ vài năm qua.

Các sĩ quan lập gia đình thì ngủ ngoài doanh trại.

Ông đại tá đã chọn một biệt thự, cách trại Bắc chưa tới bốn trăm mét, nhưng mặt nhà phía Tây cách đường cái hai mươi lăm mét.

Gia nhân gồm có bác xà ích và hai người hầu gái.

Vợ chồng Barclay không con, rất ít khi tiếp khách trong nhà.

Tóm lại, có năm người sống trong biệt thự đó.

Bà Barclay là một tín đồ Thiên Chúa Giáo.

Bà rất bận rộn với CLB Thánh Georges và hết lòng với việc lo cấp quần áo cho những người nghèo trong vùng.

Tối hôm đó, một buổi họp được khai mạc vào lúc 8 giờ.

Bà vội vàng ăn bữa tối để kịp đi họp.

Khi rời khỏi nhà, bà báo cho chồng biết là bà sẽ không vắng mặt lâu.

Theo lời chứng của người xà ích, bà đón một cô láng giềng còn trẻ Morrison, rồi cả hai cùng đi.

Buổi họp kéo dài bốn mươi phút.

Tới chín giờ mười lăm phút, bà cho ngừng xe để cô gái xuống trước cửa và về nhà cô.

Ngôi biệt thự của đại tá có một căn phòng được dùng làm phòng khách nhỏ, có cửa hướng ra ngoài đường.

Từ bên ngoài, muốn vào phòng đó phải băng qua một bãi cỏ tròn, đường kính ba mươi mét.

Nó được ngăn cách với con đường bằng một bức tường thấp, phía trên có gắn lưới sắt, bà đại tá đã vào nhà qua ngả đó.

Bà thắp đèn và gọi chuông rồi sai cô hầu phòng đem tới một tách trà: đó là điều trái ngược với những thói quen của bà.

Ông đại tá ở lại trong phòng ăn; biết vợ mình đã về nhà, ông đi sang phòng khách nhỏ để gặp bà.

Bác xà ích trông thấy ông đi ngang qua gian tiền sảnh rồi vào trong đó.

Mười phút sau khi được lệnh, cô hầu phòng đem trà lên cho bà chủ, cô ngạc nhiên nghe ông chủ và bà chủ cãi nhau kịch liệt.

Cô gõ cửa, không có tiếng trả lời.

Cô muốn mở cửa nhưng cánh cửa đã bị khóa từ bên trong.

Cô hối hả chạy xuống bếp, báo động với bà bếp.

Thế rồi hai người đàn bà cùng bác đánh xe vào trong gian tiền sảnh, gióng tai lên mà nghe cuộc cãi lộn.

Cả ba người đều nhất trí rằng họ chỉ nghe thấy có hai giọng nói: giọng của ông đại tá và của bà vợ.

Những câu của ông Barclay thì thô bạo, nói với giọng thất thanh, khiến người nghe không hiểu được.

Còn những câu nói của bà Barclay thì lại còn ác liệt hơn nữa:

Ba người giúp việc nghe rõ ràng: "Anh là một thằng hèn!"

Bà không ngớt lặp đi lặp lại câu đó.

Và bà còn nói: "Biết làm sao bây giờ?

Hãy trả lại cho tôi được tự do!

Không bao giờ ta còn có thể thở chung một bầu không khí với mi!

Đồ hèn!"

Bất chợt người đàn ông hét lên một tiếng khủng khiếp rồi tiếp đó là tiếng đổ ngã, tiếng thét xé tai của bà chủ.

Bác đánh xe lao mình vào cánh cửa, cố sức bật nó ra.

Bên trong những tiếng thét nối tiếp nhau.

Người đánh xe không phá được cánh cửa và hai người tớ gái lại quá lo sợ nên chẳng giúp được gì.

Một ý kiến chợt lóe lên trong trí bác.

Bác bỏ ra ngoài, đi vòng ngôi nhà, ngang qua bãi cỏ trên đó có mở ra cánh cửa sổ sát đất.

Cửa mở rộng, bác vào trong phòng khách nhỏ.

Bà chủ đã ngưng kêu gào.

Bà nằm im trên đi-văng; ông đại tá thì hai chân vắt ngang trên cái tay dựa của ghế bành, đầu gục xuống đất; ông chết trong một vũng máu.

Người đánh xe định mở cửa ra.

Nhưng chìa khóa không có trong ổ khóa và cũng không thấy để ở đâu trong căn phòng.

Vậy là bác lại nhảy qua cửa sổ sát đất, đi mời một cảnh sát và một y sĩ, rồi trở lại.

Bà Barclay được chuyển sang phòng riêng của bà, vẫn còn hôn mê.

Thi hài ông đại tá được đặt nằm dài trên ghế trường kỷ.

Và người ta tiến hành cuộc điều tra.

Vết thương trên người nạn nhân là một vết đứt dài bảy centimét ở phía sau đầu, được gây ra bởi một loại hung khí có mũi nhọn.

Trên sàn nhà, gần bên xác chết, người ta tìm thấy một thứ như cây gậy ngắn bằng gỗ rắn, có một cái cán bằng xương: ông đại tá có một bộ sưu tập lớn những khí giới mà ông đã đem về từ nhiều quốc gia khác nhau, tại những nơi mà ông đã tham chiến.

Cảnh sát cho rằng cây gậy đó là một trong những vũ khí sưu tập của ông.

Nhưng các gia nhân thì nói là trước đó, họ chưa từng trông thấy nó.

Cảnh sát không khám phá ra được điều gì khác.

Và đây là việc quái lạ mà chưa ai có thể giải thích được: trên người bà Barclay, trên người nạn nhân, cũng như ở bất cứ chỗ nào trong phòng khách nhỏ, người ta không thể tìm thấy cái chìa khóa.

Cần phải gọi một người thợ khóa từ Aldershot tới để mở cánh cửa ra.

Trường hợp tình hình bế tắc như vậy, thiếu tá Murphy mời tôi xuống Aldershot để phụ giúp cảnh sát.

Trước khi quan sát căn phòng, tôi thẩm vấn nhiều gia nhân, nhưng không thâu đạt được gì hơn là những điều mà tôi vừa trình bày với anh.

Tuy nhiên, cô hầu phòng có cung cấp cho tôi một chi tiết đáng chú ý: số là khi nghe tiếng cãi cọ, cô ta xuống bếp và đi lên cùng với hai người đầy tớ khác.

Nhưng cô nói rằng lúc đầu, khi chỉ có mình cô, những giọng nói của ông bà chủ bị nghẹt đến mức cô gần như chẳng thể nào hiểu được điều gì và rằng chính là do những ngữ điệu nhiều hơn là những tiếng nói mà cô hiểu ra rằng hai người đang cãi nhau.

Tôi dồn dập đặt nhiều câu hỏi.

Sau chót cô nhớ rằng có hai lần cô đã nghe thấy bà chủ thốt lên cái tên "David".

Điểm đó có tầm quan trọng cao để soi sáng cho chúng ta về những nguyên cớ gây ra cãi vã.

Một điều gây ra cảm tưởng sâu đậm cho mọi người là: những nét nhăn nhó của ông đại tá.

Theo lời chứng của họ, vẻ mặt ông có một nét biểu lộ sự khiếp sợ và sự kinh hoàng chưa từng thấy.

Rõ ràng là ông biết mình sắp chết và rằng sự trông thấy cái chết đã làm cho ông kinh hoàng.

Điều đó, phù hợp với lý thuyết của cảnh sát: ông đại tá hẳn đã thấy vợ mình chuẩn bị giết mình.

Và cái việc cú đánh đã được giáng xuống từ đằng sau cũng không mâu thuẫn với lý thuyết đó, bởi vì ông đại tá rất có thể quay mình để né tránh cú đánh.

Về phía bà Barclay, người ta không có một tin tức nào cả.

Bà bị một cơn cấp phát sốt thuộc não và tạm thời bị mất lý trí.

Cảnh sát đã cho biết là cô Morrison (người đã cùng đi với bà Barclay vào buổi tối hôm đó), quả quyết là cô không biết chút gì về nguyên cớ đã gây ra cơn tức giận của bạn mình.

Anh Watson, khi tập hợp những dữ kiện đó, tôi đã chú ý đến việc mất cái chìa khóa.

Căn phòng đó đã được lục soát hết sức kỹ lưỡng mà chỉ uổng công.

Do đó cái chìa khóa đã bị lấy.

Nhưng cả ông đại tá lẫn bà vợ đều không lấy.

Vậy thì một người thứ ba hẳn đã vào trong phòng và cái người thứ ba đó đã chỉ có thể vào được qua ngả cửa sổ sát đất.

Ngay tức khắc tôi đã tin rằng một cuộc quan sát kỹ căn phòng khách nhỏ và bãi cỏ có thể phát hiện ra một dấu vết nào đó của nhân vật bí mật kia.

Tôi không bỏ sót một dấu vết nào.

Và sau chót tôi đã tìm ra nhiều dấu vết.

Đã có một người ở trong căn phòng khách nhỏ.

Người đó đã đi qua bãi cỏ từ ngoài đường vào.

Tôi phát hiện 5 dấu chân rất rõ: một trên đường, ở nơi mà người đó đã leo lên đường, hai trên bãi cỏ, và hai trên ván sàn gần khuôn cửa sổ mà qua đó người lạ đã vào trong phòng.

Chắc chắn là người đó đã chạy băng qua bãi cỏ, bởi vì dấu những ngón chân thì sâu hơn dấu những gót chân.

Nhưng không phải người đó đã làm cho tôi ngạc nhiên đến bối rối.

Chính là cái đi kèm với người đó."

- Cái đi kèm?

Holmes rút từ túi áo ra một tờ giấy lụa lớn và mở ra một cách thận trọng trên đầu gối anh.

- Anh nghĩ sao về cái này?

Tờ giấy phủ đầy những tranh vẽ phỏng sao lại những dấu chân một con vật nhỏ.

Có năm ngón chân, có móng dài.

Mỗi dấu lớn bằng một cái muỗng dùng để ăn món tráng miệng.

- Đây là một con chó.

- Tôi nói.

- Con chó làm sao leo lên được những tấm riđô?

Tôi đã phát hiện ra những dấu vết này trên một tấm riđô.

- Thế thì một con khỉ?

- Không phải.

- Thế thì là cái gì?

- Đây không là con chó, không là con mèo, cũng chẳng là con khỉ, cũng chẳng là con vật nào mà ta biết.

Tôi đã thử hình dung ra con vật đó theo các kích thước của dấu chân nó.

Đây là bốn dấu chân ở một nơi mà con vật đứng bất động.

Giữa chân trước và chân sau cách nhau vào khoảng 50cm.

Anh hãy thêm vào đó chiều dài của cái cổ và của cái đầu thì anh sẽ có một con vật mà chiều dài thân mình chưa tới sau mươi phân, và nó có thể còn ngắn hơn thế nữa, hoặc dài hơn nếu nó có một cái đuôi.

Nhưng khi con vật di chuyển, ta có chiều dài của bước chân nó.

Dấu bước chân là mười centimét.

Vậy là con vật này có cái thân mình dài với những chân rất ngắn.

Tóm lại, đó là một thú leo được lên tấm riđô và là con thú ăn thịt.

- Làm sao mà anh suy diễn ra được điều đó?

- Bởi vì đã leo lên những tấm riđô.

Ở khuôn cửa sổ có treo một lồng chim hoàng yến.

Dường như mục tiêu của nó khi leo lên riđô là để bắt con chim.

- Thế thì con vật đó là gì?

- Đó là một loại chồn hạt dẻ, mõm nhọn, lớn hơn những con chồn mà tôi đã từng thấy.

- Nhưng nó dính dáng gì đến tội ác?

- Điều đó cũng lại tối tăm.

Nhưng chúng ta biết là có một người đứng trên đường và rình mò cuộc cãi vã của hai vợ chồng, bởi vì những mành sáo còn chưa buông xuống và ngọn đèn còn được thắp sáng.

Chúng ta cũng còn biết là người đó đã chạy băng ngang bãi cỏ, đã vào trong phòng khách nhỏ, có đem theo một con thú bí mật, và y đã đánh ông đại tá (nếu không, thì vừa lúc trông thấy y, ông đại tá đã té bật ngửa xuống thanh gác củi và bị tét đầu).

Sau chót y bỏ đi với chiếc chìa khóa cửa.

- Những khám phá của anh làm cho nội vụ tối tăm hơn, thay vì làm cho nó được sáng tỏ!

- Anh có lý!

Nhưng tôi đã làm cho anh thức quá khuya!

Vậy ngày mai, trên đường đi Aldershot, tôi sẽ kể tiếp.

- Cảm ơn!

Anh cứ kể tiếp.

- "Khi ra khỏi nhà vào hồi bảy giờ rưỡi, bà Barclay không giận hờn gì chồng; người đánh xe đã nghe bà nói chuyên với ông đại tá theo lối thân tình.

Mặt khác, ngay sau khi về nhà, bà đã vào trong căn phòng và kêu người hầu pha trà; bất cứ người phụ nữ nào bị bồn chồn cũng đều làm như vậy, và ngay sau khi ông đại tá hiện ra là bùng nổ.

Thế mà cô Morrison đã không rời khỏi bà trong suốt khoảng thời gian đó, cho nên mặc dù cô ta có chối cãi, nhưng chắc chắn cô có biết một cái gì đó.

Ý nghĩ đầu tiên của tôi là có sự dan díu giữa cô Morrison và ông lính già, và cô này hẳn đã ít nhiều thổ lộ với người vợ.

Điều đó giải thích rõ về cơn tức giận khi trở về nhà cũng như những lời chối bỏ của cô gái trong cuộc.

Và điều đó cũng không mâu thuẫn lắm với những từ mà 3 người giúp việc nghe được.

Nhưng lại có một người tên là David, lại có sự trìu mến của ông đại tá đối với vợ, và sau chót còn có sự lẻn vào của một người đàn ông khác.

Thật khó mà chọn ra đường để tiến hành điều tra.

Dù sao đi nữa, tôi không thiên về việc cô Morrison có "tình ý" với ông đại tá, nhưng tôi lại vững tin rằng chính cô ấy là người biết rõ sự bí mật vì sao bà Barclay thình lình thay đổi tính khí.

Vậy là tôi tìm tới nhà cô Morrison, giải thích rằng tôi tin chắc là cô biết rõ những sự việc, và tôi đã báo cho cô biết là bà Barclay sẽ bị đặt vào ghế của bị cáo về tội ám sát chồng, nếu nội vụ được làm sáng tỏ.

Morrison là một cô gái bé nhỏ, thanh khiết, có cặp mắt e lệ và mái tóc vàng hoe.

Sau khi nghe chuyện, cô ngồi suy tư trong một lúc, rồi quay sang phía tôi và với dáng vẻ của người đã có một quết định dứt khoát:

- Tôi đã hứa với bạn tôi rằng tôi sẽ không nói ra bất cứ điều gì.

Nhưng nay bà ấy lâm trọng bệnh và đang trên bờ của sự tù tội, vậy thì tôi không thể làm thinh.

Thưa ông, tối thứ hai đó chúng tôi từ Hội quán trở về.

Lúc ấy vào khoảng chín giờ kém mười lăm.

Khi băng ngang qua đường Hudson - một con đường rất lớn và rất yên tĩnh - tôi thấy một người đàn ông tiến lại phía chúng tôi: lưng rất còng và đeo một cái hộp chéo qua vai, đầu cúi thấp và bước đi với hai đầu gối co gấp lại.

Ông ta ngước mắt lên đúng vào lúc chúng tôi bước vào trong cái vòng ánh sáng của ngọn đèn đường.

Ngay tức khắc, ông ta đứng lại và kêu lên bằng một giọng khủng khiếp: "Lạy Chúa tôi, đây đúng là Nancy!"

Bà Barclay bỗng tái mét.

Bà hẳn đã sụp xuống nếu con quái vật đó không đỡ lấy bà.

Tôi chực kêu cứu, nhưng bà lại dịu dàng nói với người đàn ông.

- Henry, em cứ tin rằng anh đã chết từ ba chục năm qua.

- Tôi đã từng bị chết!

- Người kia trả lời.

Thật là kinh khủng khi nghe cái ngữ điệu trong tiếng nói của ông ta.

Ông có một bộ mặt rám nắng, đáng lo ngại, với một ánh chói trong tia mắt.

Tóc, râu má đã lấm tấm những sợi xám.

Những nếp nhăn, những vết nhăn hằn trên mặt ông.

- Hãy đi tiếp một quãng, em gái!

- Bà Barclay bảo tôi.

- Chị muốn nói chuyện với ông đây.

Không có gì phải lo sợ cả.

Bà nói với vẻ quả quyết, nhưng bà vẫn còn tái xanh.

Tôi đi trước một quãng để cho hai người tự do nói chuyện trong vài phút.

Sau đó bà đi xuống phố.

Cặp mắt bà long lanh.

Tôi thấy người dàn ông khốn khổ đứng lại bên ngọn đèn đường và vung nắm đấm lên không khí, tựa hồ như ông ta bị điên vì tức giận.

Bà không nói một lời nào cho tới khi chúng tôi về đến cửa nhà tôi.

Lúc đó bà mới nắm lấy bàn tay tôi, yêu cầu tôi đừng nói gì với bất cứ ai về cuộc gặp gỡ này.

- Đó là một người quen cũ của chị, nay lại hiện ra.

Tôi hứa, bà ôm hôn tôi.

Giờ đây vì lợi ích của bà, tất cả chuyện đó phải được biết đến.

Anh Watson, những lời khai của Morrison như là ánh sáng trong đêm.

Tất cả những gì trước đây không lợi ích liên lạc với nhau thì nay lại ràng buộc nhau trong một trật tự bình thưòng.

Tôi chỉ còn việc tìm gặp cái người dị dạng đó.

Nếu anh ta còn ở Aldershot thì việc đó sẽ dễ dàng.

Ban ngày tôi dò hỏi và buổi tối hôm đó, tôi đã biết địa chỉ.

Đó là Henry Wood ở trọ trong cùng một đường phố và bà Barclay đã gặp ông ta.

Ông ta chỉ mới tới đó có năm ngày.

Tôi đến gặp bà chủ nhà trọ và tự xưng là nhân viên mới đến thu những phiếu thuộc cảnh sát và bà ta đã bép xép:

- Cái ông Henry Wood là nhà ảo thuật và nghệ sĩ diễn rong.

Ông ta đi diễn quanh các trại lính và các quán cà phê buổi chiều.

Trong cái hộp, có một con vật đã làm cho bà chủ nhà trọ phải nhiều phen sợ bở vía: đó là con thú mà ông đem ra trình diễn.

Bà ấy còn cho biết đôi lúc ông nói một thứ tiếng lạ hoắc và hai đêm vừa qua ông ta cứ rên rỉ và khóc lóc ở trong phòng.

Về tiền bạc, ông sòng phẳng, nhưng dẫu sao trong số tiền ứng trước thì ông đã trả cho bà một đồng florin giả.

Bà đưa cho tôi xem; đó là một đồng rupi Ấn Độ.

Giờ đây, sự thật hoàn toàn sáng tỏ rằng: hai người đàn bà chia tay nhau, người dị dạng đã đi theo họ trong khoảng cách xa, ông ta chứng kiến cảnh cãi cọ giữa hai vợ chồng, ông ta vội vã chạy vào trong phòng khách nhỏ và con thú mà ông ta mang theo đã trốn ra khỏi hộp.

Nhưng ông ta là người duy nhất có thể cho chúng ta biết những gì đã xảy ra."

- Và anh có ý định hỏi ông ta?

- Tất nhiên!

Nhưng hỏi trước mặt một người chứng.

- Người chứng sẽ là tôi.

- Phải, điều đó làm sáng tỏ vấn đề.

Nhưng nếu ông ta từ chối, chúng ta buộc lòng đưa nội vụ cho cảnh sát.

- Liệu ông ta còn ở đó không?

- Một trong những chú nhóc của tôi đã lảng vảng trước nhà trọ và nếu ông ta bỏ đi thì chú bé sẽ bám sát ông ta như một con đỉa.

Ngày mai chúng ta sẽ gặp lại chú bé.

Nhưng trong lúc chờ đợi, chính tôi là kẻ gây ra tội ác nếu tôi còn bắt anh thức lâu hơn nữa.

Chúng tôi tới nơi xảy ra tấm thảm trạng vào hồi giữa trưa rồi tới đường Hudson ngay lập tức.

- Đây là đường Hudson.

A!

Kìa, chú nhỏ tới báo cáo.

- Ông ta vẫn còn ở đó, thưa ông!

- Một cậu bé vừa chạy tới vừa kêu lên với chúng tôi.

- Tốt!

- Holmes nói khi vuốt ve má chú bé.

- Lại đây, Watson.

Chúng ta tới nơi rồi.

Holmes đưa vào tấm thiếp trên đó chỉ vài lời ngỏ ý muốn được gặp ông Henry Wood về một việc quan trọng.

Ngay sau đó chúng tôi được mời vào nhà.

Mặc dù đang mùa nóng nực, ông ta vẫn thu mình bên ngọn lửa và căn phòng đúng là một cái lò.

Henry Wood hoàn toàn dị hình và co rúm trên một cái ghế đáp nhựa.

Nhưng khuôn mặt ông hướng về chúng tôi, thuở trước hẳn là rất điển trai.

Ông nhìn chúng tôi với vẻ nghi hoặc.

Không nói mà cũng chẳng đứng lên, ông chỉ cho chúng tôi hai cái ghế dựa.

- Ông từ bên Ấn Độ về, tôi nghĩ thế?

- Holmes hỏi với một giọng nhã nhặn.

- Tôi tới về cái vụ nho nhỏ mà ông đã biết: cái chết của đại tá Barclay.

- Vụ đó thì can hệ gì tới tôi?

- Tôi cũng mong muốn sự việc như thế.

Bởi vì nếu nội vụ không được làm sáng tỏ thì bà Barclay - vốn là một người bạn cũ của ông - sẽ bị gán cho tội giết người.

Người đó giật nẩy mình, kêu lên:

- Tôi không biết ông là ai, cũng chẳng hiểu vì sao ông lại biết được điều đó.

- Người ta chỉ còn chờ đợi bà tỉnh lại để bắt giam bà.

- Lạy Chúa!

Ông là cảnh sát hả?

- Không.

- Thế thì sao ông lại can thiệp vô?

- Tôi can thiệp là để cho công lý được thể hiện.

- Ông có thể tin nơi tôi, bà ấy vô tội.

- Thế thì chính ông là phạm tội.

- Không.

Tôi không gây ra tội ác.

- Vậy, ai giết đại tá James Barclay?

- "Chúa giết ông ta.

Nhưng ông hãy nhớ lấy điều này: nếu như tôi có đập vỡ óc y ra thì cũng rất đáng với cái tội của y.

Ông muốn tôi khai à?

Được, tôi chẳng có gì phải hổ thẹn cả.

Đây, hiện giờ trên lưng tôi có một cái bướu lạc đà và những xương sườn xiêu vẹo.

Nhưng đã có một thời, hạ sĩ Henry Wood này là người đẹp trai nhất trong trung đoàn bộ binh 117.

Thuở đó, chúng tôi ở bên Ấn Độ, tại vùng Bhurtee.

Barclay là trung sĩ trong cùng một đại đội với tôi.

Còn người đẹp của trung đoàn...

Đúng thế!

Là Nancy Devoy; thân phụ cô là trung sĩ trưởng đội.

Hai chàng trai cùng yêu cô và chỉ có một được cô yêu thương: Tôi.

Tôi đã chiếm được trái tim cô, nhưng cha cô lại ưa Barclay hơn.

Tôi là một người mạo hiểm, một tay phiêu lưu, còn Barclay là người có học và người ta đã dự đoán trước là anh sẽ thành sĩ quan.

Nhưng Nancy lại tha thiết yêu tôi và tôi tin là tôi sẽ lấy được nàng.

Than ôi, cuộc nổi loạn của lính bản địa Cipayes bùng nổ và khắp xứ ngập chìm trong máu lửa!

Toàn thể trung đoàn, thêm phân nửa đội pháo binh, một đại đội lính người Sikhs và nhiều người thường dân cùng đàn bà, trẻ con bị bao vây trong miền Bhurtee.

Tới tuần thứ hai thì nước bắt đầu khan hiếm.

Cần phải liên lạc với đoàn quân của tướng Neill đang ngược lên xứ đó.

Đó là cơ may duy nhất.

Tôi tự ý tình nguyện lẻn ra khỏi vòng vây và báo cho tướng Neill biết về tình trạng nguy ngập của chúng tôi.

Đề nghị của tôi được chấp thuận.

Tôi bàn bạc với trung sĩ Barclay, là người biết rõ thực địa hơn bất cứ ai.

Ông ta đã vẽ cho tôi một bản đồ để ra khỏi vòng vây.

Tới 10 giờ tối tôi lên đường.

Có cả ngàn sinh mạng cần được cứu sống, nhưng thật tâm tôi chỉ nghĩ đến có một người: Nàng.

Con đường men theo một dòng nước cạn: tôi hy vọng là đi như thế sẽ thoát được sự canh chừng của bên địch.

Nhưng trong lúc đang bò, tôi rơi vào tay sáu tên lính gác đang chờ đợi tôi.

Trong hai giây, tôi bị choáng váng vì một cú đánh rồi bị trói.

Cú đánh đó làm cho tôi đau đớn trong lòng người hơn là ở trên đầu, bởi vì tôi nghe quan Cipayes nói với nhau rằng chính Barclay đã cho một đầy tớ địa phương đến báo tin cho họ, nhờ vậy họ mới bắt được tôi.

Ngày hôm sau, vùng Bhurtee được quân của tướng Neill giải cứu, nhưng quân nổi loạn đem tôi theo chúng trong cuộc rút lui.

Tôi bị tra tấn.

Tôi đào thoát.

Tôi bị bắt lại và bị hành hạ thành người tàn phế.

Một phần quân phiến loạn bỏ trốn qua Népal; tôi phải theo đoàn đó.

Chúng tôi còn đi xa hơn, đi tới tận Darjeeling.

Ở đó dân sơn cước giết quân phiến loạn và tôi trở thành nô lệ của họ.

Tôi lại bỏ trốn nữa.

Nhưng thay vì đi về hướng Nam, tôi lại ngược lên hướng Bắc, đến xứ người Afghans.

Tôi lang thang ở đó trong mười năm, rồi trở xuống Punjab là nơi tôi đã sống với dân địa phương, kiếm ăn bằng cách làm trò ảo thuật.

Tôi làm sao dám trở về nước Anh.

Thà cứ để cho Nancy và các bạn cũ cứ giữ mãi cái hồi ức về một gã Henry Wood đã chết với một cái lưng thẳng, hơn là thấy tôi trong một cái hình thể của một kẻ dị dạng gớm ghiếc như vậy.

Họ tin chắc là tôi đã chết.

Như thế lại càng hay!

Tôi nghe nói Barclay đã cưới Nancy và đã được thăng cấp trong trung đoàn.

Nhưng khi về già, người ta tha thiết nhớ cố hương.

Trong những năm dài, rồi những năm dài, tôi đã đeo đuổi theo hình ảnh bao đồng cỏ xanh và các hàng rào bên nước Anh.

Sau cùng tôi muốn nhìn lại chúng một lần chót trước khi lìa đời".

- Câu chuyên của ông thật là cảm động - Sherlock Holmes nói - Tôi đã biết có cuộc gặp mặt giữa ông và bà Barclay.

Ông đã đi theo bà ấy về nhà, nhìn qua cánh cửa sổ, ông thấy họ cãi nhau, chắc hẳn là người vợ trách móc ông chồng về câu chuyện ngày xưa.

Những tình cảm cá nhân của ông lúc đó đã thắng, ông lièn chạy băng qua bãi cỏ và vào trong phòng.

- Đúng.

Thưa.

Và khi thấy tôi, y té gục đầu xuống thanh gác củi.

Nhưng y đã chết trước khi gục xuống: tôi trông thấy cái chết trên mặt y, cũng rõ ràng như tôi đọc sách này.

Việc nhìn thấy tôi tựa như viên đạn súng lục bắn thẳng vào trái tim tội lỗi của y.

- Rồi sau đó?

- Nancy ngất đi.

Tôi rút trong bàn tay nàng cái chìa khóa, định mở cửa đi tìm người cấp cứu.

Nhưng tôi nảy ra cái ý định nên để nàng lại đó, còn mình thì bỏ trốn.

Tôi nhét cái chìa khóa vào túi và đánh rơi cây gậy trong lúc đuổi theo Teddy đang lên lên tấm riđô.

Khi tôi nhốt được nó vào trong cái hộp, tôi chạy đi với tốc độ nhanh nhất.

- Teddy là ai?

- Holmes hỏi.

Henry cúi xuống và lôi ra một con vật bé nhỏ xinh đẹp màu đỏ lạt, mảnh mai và mềm mại, một cái mũi dài màu hồng và cặp mắt đỏ tuyệt đẹp.

- Một con chồn đen.

- Vâng, người ta gọi như thế, hoặc còn gọi nó là cầy ăn rắn.

Tôi gọi nó là con bắt rắn.

Tôi có nuôi một con rắn hổ đã bẻ hết răng nanh, và mỗi tối Teddy lại bắt rắn để mua vui cho những người trong xứ.

Còn có chuyện gì ông muốn biết nữa không, thưa ông?

- Rất có thể là chúng tôi sẽ cần đến ông, nếu bà Barclay bị gặp khó khăn.

- Trong trường hợp đó, xin ông hãy tuyệt đối tin cậy nơi tôi!

- Giờ đây, ông đã vừa ý khi biết rằng trong ba mươi năm qua, lương tâm ông đại tá đã không ngừng cắn rứt về cái hành vi phản bội của mình.

A, ông thiếu tá Murphy đang đi bên kia đường.

Xin chào, ông Wood.

Chúng tôi đuổi kịp ông thiếu tá.

- A, Holmes - Thiếu tá reo lên - ông đã biết tin gì chưa.

- Chuyện gì vậy?

- Cuộc điều tra đã kết thúc.

Y sĩ chứng nhận rằng nạn nhân chết vì chứng ngập máu.

Tóm lại đây chỉ là một vụ thật tầm thường.

- Ồ, rất tầm thường!

- Holmes cười và trả lời.

- Mình đi thôi, anh Watson! người ta chẳng còn cần đến chúng ta nữa.

Trong lúc đi ra nhà ga, tôi nói với Holmes:

- Có một điều tôi vẫn chưa rõ: người chồng tên là James và người kia là Henry, tại sao bà ấy lại nói đến tên David?

- Đó là một từ ngữ dùng để oán trách.

- Để oán trách?

- Trong kinh Thánh, nhân vật David thỉnh thoảng lại sa đọa, hắn đã hành động y hệt như trung sĩ James Barclay vậy.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
C8 Bệnh nhân thường trú


BỆNH NHÂN THƯỜNG TRÚ

THE RESIDENT PATIENT (1893)

Memoirs of Sherlock Holmes

Những hồi ức về Sherlock Holmes

Trời đang tiết tháng Mười, một ngày nặng nề, mưa nhiều.

Mành cửa được buông xuống nửa vời.

Holmes nằm cuộn mình trên ghế tràng kỷ để đọc đi đọc lại lá thư mà anh vừa nhận được.

Về phần tôi, thời gian ở bên Ấn Độ đã tập cho tôi chịu đựng được nóng hơn là chịu lạnh.

Nhưng tờ báo lại chẳng có gì đáng đọc.

Mọi người đã bỏ đi khỏi thủ đô và tôi thèm muốn đi nghỉ mát ở bờ biển, nhưng không đủ tiền.

Holmes quá mải mê, không tiện nói chuyện, tôi bèn liệng tờ báo, ngồi thoải mái trong ghế bành và chìm vào trong một giác mơ.

Bất thình lình giọng nói của anh chen vào trong tư tưởng tôi:

- Buổi tối đem đến một chút mát mẻ.

Ta đi dạo thành phố nhé.

Tôi tán thành ngay.

Trong ba tiếng đồng hồ, chúng tôi đi lang thang, chăm chú vào cái kính vạn hoa ngàn đời thay đổi không ngừng của cuộc sống trong đại lộ và khu bờ sông.

Cuộc nói chuyện của Holmes luôn luôn gây thích thú.

Chúng tôi trở về phố Baker lúc 10 giờ.

Một xe ngựa bốn bánh đậu trước cửa nhà chúng tôi.

- "Hừm!

Một bác sỹ... tôi nhận thấy thế" Holmes nói.

"Ông này hành nghề chưa bao lâu, nhưng rất bận rộn.

Ông tới hỏi ý kiến chúng ta".

Ánh sáng lung linh đằng sau khuôn cửa sổ chứng tỏ người khách đang chờ đợi chúng tôi.

Tôi theo Holmes vào nhà.

Một người xanh xao có bộ mặt dài và để râu má vàng hoe đứng lên khi chúng tôi bước vào.

Ông ta chưa quá bước mươi hoặc ba mươi bốn tuổi, đang nhìn nhớn nhác.

Đó là thái độ của một người rụt rè và dễ kích động: bàn tay trắng mà ông tì lên lò sưởi khi đứng dậy khỏi ghế hẳn thích hợp với một nghệ sĩ hơn là một y sĩ.

Ông ta ăn mặc đàng hoàng với quần áo màu sẫm.

Một cái áo rơ-đanh-gốt đen, quần màu sẫm, thắt cà vạt trang nhã.

- "Xin chào bác sỹ!"

Holmes vui vẻ nói.

"Tôi vui mừng được thấy bác sỹ không phải chờ chúng tôi quá lâu".

- Vậy là ông đã nói chuyện với người đánh xe của tôi?

- Không.

Ngọn đèn nến trên bàn đã nói.

Xin mời ông ngồi xuống và xin cho biết tôi có thể giúp ông điều gì.

- Tôi là bác sỹ Percy Trevelyan ở số 403 phố Brood.

- Có phải ông là tác giả của một cuốn sách chuyên khảo về các thương tổn thần kinh không?

- Tôi hỏi.

Niềm vui sướng làm cho cặp má xanh xao của ông ta trở thành có mầu sắc.

- "Tôi ít khi được nghe nhắc tới cuốn sách đó" ông trả lời.

"Nhà xuất bản nói nó bán rất ế.

Ông cũng là bác sỹ?"

- Bác sỹ quân y đang nghỉ phép.

- Tôi muốn chuyên về bệnh thần kinh, nhưng chúng ta buộc phải "có gì lấy nấy".

Nhưng đó là chuyện ngoài đề.

Thưa ông Holmes, muột chuỗi sự việc xảy ra nơi nhà tôi đã khiến tôi tới đây để xin ông một lời khuyên.

Holmes ngồi xuống và mồi tẩu thuốc.

- Hoan nghênh ông đã đến.

Câu chuyện như thế nào?

- Tôi theo học đại học London và các giáo sư đã coi tôi như một đối tượng có nhiều hứa hẹn.

Sau khi tốt nghiệp, tôi tiếp tục chuyên tâm vào việc nghiên cứu chứng giản huyết: sau chót, tôi được tặng giải thưởng và một huân chương cho cuốn sách chuyên khảo về những thương tổn thần kinh mà bạn ông vừa nhắc tới hồi nãy.

"Nhưng chướng ngại chính ngăn chặn con đường lập nghiệp của tôi là sự thiếu vốn.

Muốn khởi nghiệp, tôi bắt buộc phải định cư tại một trong mười hai con đường trong khu sang trọng Cavendish: tiền thuê nhà rất cao và một số đồ đạc đắt giá, lại còn phải nuôi kẻ ăn người ở, phải nuôi một con ngựa và một cỗ xe coi được.

Điều đó vượt quá khả năng của tôi.

Tôi hy vọng sẽ ăn uống dè sẻn trong mười năm, mới có thể gắn được tấm bảng hiệu lên trước cửa nhà mình.

Nhưng một buổi sáng, có một người khách tên là Blessington đến tìm tôi.

Tôi vừa mới mời ông ta ngồi xuống là ông ta liền nói một hơi:

- Ông có phải là cái ông Percy Trevelyan, người vừa được trao giải thưởng không?.......

Tôi nghiêng mình.

- "Hãy thẳng thắn trả lời tôi", người khách nói tiếp.

"Rồi ông sẽ không phải hối tiếc.

Tài năng của ông sẽ còn đưa ông tiến xa hơn nữa.

Ông có khéo xử sự không?"

Tôi không thể mỉm cười trước câu hỏi.

- Tạm được.

- Và không có các thói hư tật xấu đấy chứ?

Không có những tính ham.... uống rượu chẳng hạn?

- Nhưng mà, thưa ông!

- Tôi kêu lên.

- Rất tốt!

Hoàn toàn tốt!

Nhưng tôi buộc phải đặt ra những câu hỏi đó.

Ông có tài, có đức, tại sao không lo lập nghiệp.

Tôi nhún vai.

- "Coi nào, coi nào", người khách nói.

"Trong đầu ông có nhiều thứ hơn là ở trong bóp.

Ông nghĩ sao nếu tôi bố trí cho ông mở phòng mạch ở đường Brook?"

Tôi nhìn người khách với vẻ ngạc nhiên.

- "Ồ, nếu như tôi làm việc đó, thì chính là vì lợi ích của tôi, chứ chẳng phải để làm vừa lòng ông đâu".

Người khách kêu lên.

"Tôi sẽ hết sức thành thật với ông.

Tôi có vài ngàn bảng và tôi muốn đầu tư.

Phải, tôi muốn đầu tư vào đầu óc ông".

- Như thế nào?

- Cách đầu tư này ăn chắc.

- Nhưng tôi phải làm gì.

- Tôi mướn nhà.

Tôi sắm đồ đạc.

Tôi trả lương cho kẻ hầu hạ.

Nghĩa là tất cả mọi khoản chi tiêu.

Ông chỉ ngồi trong cái ghế bành nơi phòng khám bệnh.

Ông chia cho tôi 3/4 tiền thu được, ông hưởng 1/4 còn lại.

Tôi nhận lời, tới ngụ tại đường Brook và bắt đầu hành nghề, làm theo những điều kiện mà ông ta đưa ra.

Ông ta tới ở trong nhà tôi như một người khách trọ được hưởng bổng lộc.

Tôi nhận thấy ông ta bị yếu tim và tình trạng sức khỏe của ông ta cần được chăm sóc thường xuyên.

Ông ta sửa đổi hai căn phòng trên lầu thành phòng khách và phòng ngủ để dùng riêng.

Đó là một con người kỳ quặc: ông trốn tránh xã hội và ít khi đi ra phố.

Tối nào cũng vậy, cứ đúng giờ là ông ta lại vào phòng mạch tôi, xem sổ khám bệnh, rồi chia tiền cho tôi và cất kỹ số còn lại vào cái két sắt đặt trong phòng.

Việc đầu tư của ông ta có kết quả.

Một vài thành công trong những ca bệnh khó đã mau chóng đưa tôi lên hàng đầu.

Trong hai năm, tôi đã làm cho ông ta trở thành người giàu có.

"Cách đây vài tuần, ông ta tới gặp tôi trong một trạng thái cực kỳ bồn chồn.

Ông nói với tôi về một vụ trộm vừa mới xảy ra trong khu West End.

Ông cho tôi hay là trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ nữa, then cửa an toàn sẽ được đặt vào các cửa sổ và cửa ra vào nhà tôi.

Sự căng thẳng thần kinh của ông kéo dài khoảng chừng một tuần.

Luôn luôn ông đứng rình bên cửa sổ và không ra khỏi nhà để đi dạo chơi như ông vẫn làm đều đặn trước bữa ăn tối.

Nhìn thái độ ông, tôi suy luận rằng ông đang có một mối sợ hãi kinh khủng đối với một ai đó hoặc một cái gì đó.

Tôi nêu ra với ông vài câu hỏi, nhưng ông tỏ vẻ hờ hững tới mức tôi không muốn tìm hiểu thêm nữa.

Thời gian trôi qua, mối lo sợ của ông dường như tan biến dần.

Ông đã nối lại những thói quen ngày trước.

"Cách đây hai ngày, tôi nhận được một lá thư không đề ngày tháng và không ghi địa chỉ người gửi. nội dung như sau: "Một thành viên thuộc giới quý tộc Nga sẽ rất sung sướng được Bác sỹ nhận chăm sóc.

Từ nhiều năm qua, người này bị chứng giản huyết.

Khi được biết bác sỹ rất giỏi về môn này, bệnh nhân muốn đến khám bệnh vào chiều mai, lúc 6 giờ 45 phút.

"Lá thư đó làm tôi thích thú bởi vì sự khó khăn chính trong việc nghiên cứu về bệnh giản huyết là căn bệnh này ít có bệnh nhân để thực tập.

Vậy là tôi có mặt ở phòng mạch vào giờ hẹn.

Thân chủ tôi là một người đứng tuổi, gày gò, ung dung.

Bề ngoài khá tầm thường: chẳng có chút nào giống với cái ý nghĩ mà chúng ta thường có về một nhà quý phái Nga.

Nhưng tôi lại ngạc nhiên nhiều hơn về người cùng đi.

Đó là một thanh niên cao lớn, đẹp lạ lùng, với bộ mặt rầu rĩ và dữ tợn, một thân hình mạnh khoẻ.

Khi hai người vào phòng, người trẻ tuổi đang giang vòng tay đỡ lấy ông già rồi đặt ngồi xuống với một sự âu yếm và dịu dàng.

- "Tôi xin được thứ lỗi, thưa bác sỹ", anh ta nói với tôi bằng tiếng Anh với một giọng nói yếu ớt "Tôi phải cùng đi với cha tôi, vì cha tôi rất yếu".

Sự hiếu thảo đó làm tôi cảm động.

- Phải chăng ông muốn ở lại bên ông cụ trong lúc tôi chẩn bệnh.

- Ồ, không!

Không đời nào", anh ta kêu lên, tay phác ra một cử chỉ hoảng sợ.

"Tôi sẽ rất đau buồn khi phải thấy ba tôi trong những cơn cấp phát kinh hoàng đó.

Hệ thần kinh của tôi rất nhạy cảm.

Tôi xin ngồi ở phòng đợi".

"Người thanh niên bỏ ra ngoài.

Tôi nói chuyện với người bệnh và ghi chú.

Ông già không thông minh, những câu trả lời của ông thường tối nghĩa, tôi cho là ông không đủ từ ngữ tiếng Anh.

Tuy nhiên, bất thình lình, trong lúc tôi đang lúi cúi ghi chép, thì ông ngưng không trả lời.

Tôi ngửng đầu lên, thấy ông ta ngồi thẳng trong ghế bành mà ngó nhìn tôi, mặt ông tái mét, cứng đơ: con bệnh lại tái phát.

Tôi đếm số mạch đập và đo nhiệt độ của người bệnh, cơ bắp đã cứng.

Tôi không phát hiện ra điều bất thường đặc biệt nào.

Trạng thái của ông phù hợp với điều mà những cuộc quan sát trước đó đã cho tôi biết.

Bệnh này trị bằng cách cho xông chất nitrat amyl.

Tôi tự nhủ rằng mình đang gặp một cơ hội tuyệt vời để chứng tỏ sự hữu hiệu.

Vì chai thuốc đặt ở tầng dưới trong phòng thí nghiệm, tôi để thân chủ ngồi đó, chạy đi lấy.

Phải mất năm phút mới tìm ra nó: khi trở lại phòng mạch thì người bệnh đã bỏ đi.

"Tôi chạy ra ngoài.

Người con trai cũng đã bỏ đi.

Cánh cửa ra vào được khép lại, nhưng không đóng kín.

Người đầy tớ, kẻ đưa khách vào, mới vào làm và lại hơi đần độn.

Y cứ ở bên dưới và chỉ lên lầu để chỉ đường cho người bệnh hoặc khi tôi gọi chuông.

Y chẳng nghe thấy gì và chúng tôi lúng túng trong sự bí mật hoàn toàn. sau đó một lát, ông Blessington trở về sau khi đi dạo.

Tôi không nói với ông một lời nào về sự việc xảy ra.

"Tôi đinh ninh mình sẽ chẳng bao giờ gặp lại người Nga nọ cùng cậu con trai!

Thế mà chiều nay họ lại tới phòng mạch tôi.

Tôi phải xin lỗi ông nhiều vì đã bỏ đi bất thình lình ngày hôm qua, thưa bác sỹ!

- Thân chủ của tôi nói.

- Quả thật việc đó làm tôi hơi ngạc nhiên...

- Khi ra khỏi cơn cấp phát, đầu óc rối rắm, tôi không còn nhớ gì về điều đã xảy ra trước đó.

Tôi thấy mình tỉnh lại trong một căn phòng lạ, thế là tôi bỏ đi và tôi đã đi ngoài phố như đi trong sương mù.

- "Còn tôi", người con trai nói thêm, "khi thấy ba tôi đi ra ngoài, tôi tưởng là cuộc khám bệnh đã xong.

Tôi chỉ biết sự thật khi đã về tới nhà".

- "Vậy thì", tôi cười, "chẳng có gì là phiền hà cả.

Bây giờ, ông có thể lui ra ngoài phòng khách, tôi tiếp tục chẩn đoán cho thân phụ ông".

Trong vòng nửa tiếng đồng hồ, tôi khám xong, kê toa.

Sau đó ông ra về, vịn tay vào người con trai.

"Một lát sau, Blessington về nhà và leo lên phòng.

Liền ngay sau đó, tôi nghe tiếng chân ông lao xuống cầu thang và ùa vào trong phòng mạch tôi như một viên đại bác.

- Ai đã vào phòng tôi?

- Ông ta hét lên.

- Không ai cả.

- Ông nói dối!

Hãy lên mà xem!

"Tôi bỏ qua lời lẽ lỗ mãng của ông ta.

Khi lên tới nơi, ông chỉ cho tôi thấy nhiều vết chân trên tấm thảm màu nhạt.

- Đây đâu có phải là các dấu chân của tôi - Ông ta kêu toáng lên.

"Quả thật đó là những dấu chân mới có.

Nó lớn hơn dấu chân của ông ta.

Buổi chiều đó trời mưa nhiều, khách đến nhà tôi đều là bệnh nhân.

Vậy là, trong lúc tôi đang khám bệnh cho người cha, thì anh thanh niên đã rời phòng đợi và đã leo lên phòng của ông Blessington.

Không có nơi nào bị đụng tới hoặc bị lấy đi, nhưng rõ ràng căn phòng đã bị xâm nhập.

"Blessington bị kích động cực kỳ mạnh mẽ.

Ông ngồi sụp xuống ghế bành và khóc.

Phải rất lâu tôi mới làm ông tỉnh lại đôi phần.

Ông ta khuyên tôi đến đây để gặp ông, thưa ông Holmes.

Nếu ông vui lòng đi cùng với tôi, có thể ông sẽ trấn an được ông ấy".

Holmes, đã nghe câu chuyện kể dài dòng ấy với một sự chú tâm mãnh liệt.

Khi người khách chấm dứt, Holmes không nói một lời, đưa cái mũ cho tôi rồi anh đi theo thân chủ.

Mười lăm phút sau, chúng tôi dừng lại trước ngôi nhà của bác sỹ.

Một người đầy tớ mở cửa và chúng tôi leo ngay lên cái cầu thang rộng có trải thảm.

Ngọn đèn trên thềm cầu thang đột ngột bị gió thổi tắt.

Từ trong bóng tối, một giọng nhỏ, run rẩy vọng tới chúng tôi.

- Ông Blessington, ông quá đáng rồi đấy.

- Bác sỹ Percy kêu lên.

- "Ồ, thế ra là ông đấy à, bác sỹ?

"Giọng nói thốt ra có kèm theo một tiếng thở dài nhẹ nhõm.

"Nhưng còn những người kia, ông có bảo đảm cho họ không?".

Blessington quan sát tỉ mỉ chúng tôi.

- "Tốt.

Được rồi."

Sau cùng ông ta nói, "Các ông có thể lên.

Tôi xin lỗi nếu sự đề phòng đã làm quý ông khó chịu".

Ông ta đốt gas lên và chúng tôi thấy trước mặt mình là một người kỳ lạ.

Ông ta rất mập, nước da bệnh hoạn.

Mỗi tay cầm một khẩu súng lục; ông nhét súng vào túi khi chúng tôi tiến lên.

- Xin chào ông Holmes.

Tôi thật rất mang ơn ông đã cất công đến đây.

Bác sỹ đã cho ông biết về vụ xâm nhập tồi tệ vào nhà tôi?

- Có, hai người đó là ai vậy, tại sao họ lại định hại ông?

- Thế thì, đó là...

Thật là khó nói.

Tôi chẳng biết trả lời ông ra làm sao, thưa ông Holmes.

- Nói cách khác, ông không biết họ là ai?

- Xin mời vào.

Xin vui lòng đi ngang qua đây.

Ông dẫn chúng tôi vào trong phòng ông.

Đó là một căn phòng đẹp, đồ đạc bày biện một cách thích đáng.

- "Quý ông thấy cái này chứ?".

Ông nói khi chỉ vào một cái hộp đen lớn để ở dưới chân giường.

"Tôi chưa bao giờ giàu có.

Trọn đời, tôi chỉ đầu tư vào mỗi một việc như bác sỹ Percy sẽ nói cho quý ông rõ.

Tôi chẳng bao giờ tin một chủ ngân hàng nào cả, thưa ông Holmes.

Chút ít vốn mọn mà tôi có được để cất giấu trong cái rương này, vậy là ông hiểu điều tôi cảm nhận khi có những kẻ vô danh lẻn vào nhà tôi."

Holmes nhìn kỹ Blessington với con mắt dò hỏi và lắc đầu.

- Tôi không thể giúp gì cho ông nếu ông tìm cách nói dối tôi.

- Anh nói.

- Tôi đã nói tất cả rồi.

Holmes xoay gót với một cử chỉ chán ghét:

- Xin chút anh một đêm an lành, bác sỹ Percy.

- Ông bỏ đi mà chẳng nói với tôi điều gì ư?

- Blessington kêu lên với một giọng kiệt quệ.

- Thưa ông, tôi chỉ có một lời khuyên: đó là hãy nói sự thật.

Một phút sau, chúng tôi đã ra tới ngoài phố và chúng tôi lại trên đường về nhà.

- Anh Watson, tôi rất tiếc đã làm anh phải ra khỏi nhà vì một cuộc dạo chơi của những người điên.

Thực ra, đây là một chuyện lý thú đấy.

Holmes nói.

- Tôi chẳng hiểu gì hết!

- Có hai người...

Có thể hơn hai người... oán thù gã này, cái chàng trai nọ đã hai lần lẻn vào phòng của Blessington trong lúc người đồng lõa kiềm giữ bác sỹ trong phòng mạch.

- Thế còn bệnh giản huyết?

- Một chứng-bệnh-giả và đó là một chứng rất dễ bắt chước.

Tôi đã từng bắt chước chứng đó.

Tôi, người đang nói với anh đây này.

- Thế rồi sao?

- Bọn chúng mà đến khám bệnh muộn như thế là vì lúc đó trong phòng đợi không còn khách.

Tuy nhiên, giờ đó lại trùng hợp với một thói gàn của Blessington.

Vậy là bọn chúng biết rõ thói quen hàng ngày của ông ta.

Nếu chúng chỉ muốn "xoáy" một món nhỏ thôi thì hẳn chúng đã để lại dấu vết của chuyến ăn hàng.

Vả chăng, tôi có khả năng đọc được trong mắt một người để biết là người đó lo sợ cho mạng sống của mình.

Ông ấy có hai kẻ ham trả thù đến thế mà lại không biết họ là ai ư?

Không.

Ông ta phải biết họ.

Nhưng ông ta đã nói dối.

Có thể là ngày mai chúng ta sẽ gặp lại ông ta trong một trạng thái cởi mở hơn!

- Liệu có giả thiết nào khác không?

Liệu có thể nào câu chuyên người Nga bị bệnh với con trai ông ta chỉ là sản phẩm tưởng tượng của bác sỹ Percy không?

Dưới ánh sáng một ngọn đèn đường thắp bằng khí đốt, tôi thấy Holmes cười với vẻ thích thú.

- Chàng trai đã để lại những vết chân rất rõ ràng: giày của anh ta có mũi vuông chứ không nhọn như giày của Blessington và giày đó lớn hơn giày của ông bác sỹ tới 3 inch.

Vậy dấu chân trên các tấm thảm là không hề bị lầm lẫn.

Nhưng tốt hơn chúng ta nên đi ngủ, bởi vì sáng sớm mai sẽ có tin mới.

Sáng hôm sau, vào hồi 7 giờ rưỡi, trong ánh sáng lời mờ đầu tiên của buổi sớm mai, tôi đã thấy Holmes mặc áo ngủ đứng ngay đầu giường tôi.

Anh nói:

- Watson!

Một cỗ xe đang đợi chúng ta.

- Để làm gì?

- Về vụ ở đường Brook.

- Anh nhận được tin mới?

- Nghiêm trọng, nhưng chưa rõ ràng.

Anh tới kéo tấm mành sáo lên, đoạn quay lại bên tôi

- Anh hãy xem cái này.

Đây là một miếng giấy nhỏ bứt ra từ mọt cuốn sổ tay, với những từ đơn giản này: "Vì lòng kính Chúa, xin hãy tới ngay tức khắc.

P". viết nguệch ngoạc bằng bút chì.

Ông bạn bác sỹ đã không có đủ thì giờ!

Đi thôi, đây là một lời kêu gọi khẩn cấp.

Mười lăm phút sau, chúng tôi trở lại nhà bác sỹ Percy.

Ông chạy ra đón chúng tôi.

Vẻ mặt kinh hoàng.

- Ồ, một vụ như thế này!

- Ông kêu lên khi giơ hai bàn tay ôm lấy trán.

- Chuyện gì vậy?

- Blessington đã tự tử.

Holmes huýt sáo.

- Phải, ông ấy đã treo cổ trong đêm.

- Bác sỹ Percy nói.

Ông bác sỹ dẫn chúng tôi vào căn phòng đợi.

- "Tôi không còn biết làm gì hơn", ông nói với chúng tôi.

"Cảnh sát đang ở trên lầu.

Tôi bị kiệt quệ đến lúc chết được".

- Ông phát hiện chuyện đó vào lúc nào?

- Mỗi buổi sáng người hầu đem lên phòng ông ấy một tách trà.

Vào khoảng bảy giờ, cô vào trong phòng, thấy ông ấy đang toòng teng ngay giữa phòng.

Holmes ngồi yên lặng một hồi lâu, đắm chìm trong suy tư, lo lắng.

- Nếu được ông cho phép, tôi sẽ lên trên đó để coi sự việc.

Chúng tôi vào trong phòng, quang cảnh thật chẳng lấy gì làm đẹp!

Treo lơ lửng và đu đưa trên cái móc, người chết chẳng còn chút gì là dáng người.

Cổ ông ta giãn ra như một con gà giò bị nhổ lông, làm tăng thêm sự phì nộn trong phần còn lại của cơ thể.

Trên người ông ta chỉ có một cái áo ngủ dài.

Cạnh xác ông có một viên thanh tra đang đứng viết trên một cuốn sổ tay.

- "A, ông Holmes!"

Ông thanh tra nói khi thấy bạn tôi.

"Tôi vui mừng được gặp ông".

- Chào anh, Lanner".

Holmes đáp.

"Tôi không quấy rầy đấy chứ?

Anh có biết những tình huống trước khi vụ này xảy ra không?

- Có

- Quan điểm của anh như thế nào?

- Theo tôi.

Blessington đã tự tử trong một cơn sợ hãi.

Ông ta đã ngủ say trên giường, ông nhìn đây này: dấu vết của thân thể lún khá sâu.

Ông ta đã treo cổ vào lúc năm giờ sáng.

Dường như đây là một hành động hoàn toàn cố ý.

- Cứ xét theo sự cứng đờ của các cơ thì cái chết đã xảy ra lúc 3 giờ.

- Tôi nói.

- Không có gì đặc biệt ở trong phòng sao?

- Holmes hỏi.

- Trên cái bàn nhỏ ở chậu rửa, có một cái vặn đanh ốc và vài con đanh ốc.

Ông ta hẳn cũng đã hút nhiều trong đem.

Đây là bốn mẩu xì gà mà tôi vừa lấy trong lò sưởi ra.

- Hừm!

Anh đã coi cái hộp đựng xì gà của ông ấy chưa?

Holmes hỏi.

- Không.

Không thấy nó đâu cả.

- Thế thì ống đựng xì gà đâu?

- Nó ở trong túi áo vét của ông ta.

Holmes mở ống ra và ngửi hơi của điếu xì gà duy nhất.

- Điếu này là xì gà Havana đây!

Những điếu kia là xì gà do người Hà Lan nhập từ những thuộc địa của họ bên Đông Ấn.

Anh cầm lấy bốn mẩu thuốc và quan sát chúng qua kính lúp.

- Hai điếu này được hút qua mọt cái đót, hai điếu kia thì được hút trực tiếp bằng miệng.

Hai điếu được cắt đầu bằng một con dao nhíp rất bén, hai điếu kia thì được cắn đầu bằng một hàm răng rất tốt.

Đây không phải là một vụ tự sát.

Đây là một vụ ám sát được dự mưu từ lâu và được thực hiện một cách khéo léo.

- Không thể được!

- Viên thanh tra kêu lên.

- Tại sao lại không thể được?

- Tại sao lại ám sát một người bằng cách treo cổ?

- Đó điều chúng ta cần phải chứng minh.

- Người ta lọt vào nhà bằng cách nào?

- Qua lối cửa ra vào.

- Buổi sáng, những then chặn đã được cài.

- Chúng đã được cài lại sau khi họ đã bỏ đi..

- Làm thế nào ông biết được?

- Tôi đã thấy những dấu vết của họ.

Xin hứ lỗi cho tôi trong chốc lát: tôi sắp cung cấp cho ông những thông tin chính xác hơn.

Anh đi ra phía cửa, xoay xoay ổ khóa và quan sát nó.

Đoạn anh rút cái chìa khóa cắm ở phía trong ra và chăm chú nhìn nó.

Sau đó anh quan sát liên tục tấm thảm, những cái ghế, lò sưởi, xác chết và cuộn dây thừng.

Anh tỏ ra hài lòng, yêu cầu viên thanh tra và tôi, cởi dây đưa người bất hạnh xuống, đặt lên một tấm vải trải giường.

- Sợi dây này ở đâu ra?

- Holmes hỏi.

- "Nó đã được cắt ra trong cuộn dây này", bác sỹ Percy trả lời khi kéo từ dưới gầm giường ra một cuộn dây thừng.

"Ông ta lo sợ hoả hạn một cách không lành mạnh và ông luôn giữ cuộn dây này gần mình, ngõ hầu gặp trường hợp cầu thang nhà đã bị cháy thì ông có thể trốn thoát qua ngả cửa sổ".

- "Đây là điều giúp cho bọn chúng bớt vất vả" Holmes thì thào trong lúc suy nghĩ thật lung.

"Phải, sự việc rất đơn giản.

Tới buổi chiều tôi sẽ giải thích tận tường nội vụ với các ông.

Tôi xin mang theo tấm ảnh của Blessington đang đặt trên mặt lò sưởi đây".

- Nhưng ông chưa cho chúng tôi biết gì hết.

- Bác sỹ Percy kêu lên.

- Bọn chúng có ba người: chàng thanh niên, ông già và một người thứ ba mà tôi chưa tìm ra.

Hai người đầu, chính là những người đã giả trang thành những nhà quý tộc Nga.

Chúng được một kẻ đồng lõa đưa vào nhà.

Nếu ông muốn có một lời khuyên, thưa ông thanh tra, thì ông hãy bắt giữ người đầy tớ trẻ tuổi, mới vào giúp việc.

- "Không thấy thằng quỷ đó đâu cả".

Bác sỹ trả lời.

"Cô hầu phòng và bà bếp đã kiếm nó cả buổi sáng nay".

Holmes nhún vai...

- Y không giữ một vai trò quan trọng lắm trong tấn thảm kịch này.

Thây kệ!

Ba người đã leo lên cầu thang, nhón trên đầu ngón chân, người già dẫn đầu, người trai trẻ đi sau và một người vô danh đi cuối đoàn...

- Holmes ơi!

- Tôi reo lên.

- Ồ, một chút nghi ngờ nhỏ nhặt cũng bị cấm đoán dây, chỉ việc nhìn các dấu chân chồng lên nhau cũng thấy rõ.

Vậy là bọn họ leo lên tới phòng ông Blessington.

Cửa đã khóa.

Dùng cọng dây kẽm, chúng đã mở ra.

Chẳng cần dùng kính lúp, ta cũng nhận thấy, qua những vết xước, trên cái khe răng ổ khóa này là nơi sức ép đã được nhấn xuống.

Khi đã vào phòng, đầu tiên chúng nhét giẻ vào miệng Blessington.

Có thể là ông đang ngủ.

Có thể là ông bị đờ người vì khiếp sợ.

Có điều là ông đã không kêu lên được tiếng nào.

Mặt khác, những bức tường này lại rất dày, có thể ông đã kêu cứu, nhưng chẳng ai nghe.

"Sau khi đã kiềm chế ông xong.

Chúng bình tĩnh ngồi thảo luận.

Rất có thể là dưới hình thức một phiên tòa.

Cuộc thảo luận ắt hẳn đã kéo dài trong một thời gian, bởi vì những điếu xì gà đã được hút trong khoảng thời gian đó.

Người lớn tuổi hơn ngồi trên cái ghế dựa đan lát này.

Người trẻ hơn, chỗ kia: anh ta đã vẩy tàn thuốc vào cái tủ com-mốt.

Về phần người thứ ba, y đi đi lại lại.

Có lẽ Blessington vẫn ngồi ở trên giường, nhưng về điểm này tôi không chắc lắm.

Để kết thúc, chúng tóm lấy và treo cổ ông lên.

Vụ này đã đựơc suy tính kỹ vì chúng đã mang theo một thứ như cái ròng rọc có thể được dùng làm giá treo cổ.

Cái vặn con ốc cùng những con ốc này dự liệu dùng gắn cái giá đó.

Nhưng khi chúng trông thấy cái móc của bộ đàn treo, chúng mừng lắm.

Khi công việc đã làm xong, chúng bỏ đi và thanh chặn cửa được một đứa gài trở lại sau lưng chúng."

Tất cả chúng tôi đã lắng nghe với một sự chú tâm say sưa bản tóm tắt những việc xảy ra trong đêm. những suy diễn của Holmes khởi đi từ những tiền đề quá tinh tế và quá chi tiết khiến cho ngay cả khi anh đã chỉ cho chúng tôi thấy, chúng tôi vẫn còn gặp khó khăn khi theo cái dòng suy luận của anh.

Viên thanh tra gấp gáp bỏ ra ngoài để thúc đẩy sự truy lùng người đầy tớ trẻ.

Holmes và tôi trở về phố Baker để ăn điểm tâm.

Xong bữa, anh nói:

- Tôi sẽ trở về đây vào lúc 3 giờ.

Viên thanh tra và ông bác sỹ sẽ có mặt nơi đây vào giờ đó.

Tôi hy vọng có thể trình bày rành mạch với họ về vấn đề đã hoàn toàn đựơc làm sáng tỏ.

Các vị khách của chúng tôi có mặt vào giờ đã hẹn, thế nhưng anh bạn tôi lại chỉ trở về vào lúc 3 giờ 45.

Nhìn anh, tôi biết ngay là mọi việc đều mỹ mãn.

- Có gì mới lạ không ông thanh tra?

- Chúng tôi đã bắt được người đầy tớ.

- Tuyệt vời!

Còn tôi, tôi đã bắt được ba người kia.- Tôi chỉ bắt được danh tánh của chúng mà thôi.

Cái người được gọi là Blessington, là kẻ rất quen biết với cảnh sát, còn những người tấn công y cũng vậy.

Đó là Biddle, Hayward và Moffat.

- Cái băng đã đánh cướp tại ngân hàng Worthingdon đó hả?

- Viên thanh tra kêu lên.

- Đúng thế.

- Như vậy, Blessington chính là Sutton.

- Đúng thế.

- Vậy thì tất cả đều đã rõ ràng!

- Viên thanh tra kết luận.

- Percy và tôi, chúng tôi nhìn lẫn nhau: chúng tôi chẳng hay biết gì về chuyện đó hết.

- Trong vụ nổi cộm về ngân hàng Worthingdon có năm người tham dự: bốn tên vừa kể và người thứ năm, tên là Cartwright.

Người bảo vệ tên là Tobin thì bị hạ sát; bọn trộm bỏ trốn với bảy ngàn bảng.

Chuyện xảy ra vào năm 1875.

Tất cả năm tên đều bị bắt giữ, nhưng chứng cớ lại thiếu.

Tên Sutton đã bán đứng bạn bè, Cartwright bị xử giảo, còn ba người kia bị phạt tù mười lăm năm.

Vài năm trước khi mãn hạn tù, chúng bắt đầu tìm kiếm tên phản bội.

Khi vừa được phóng thích, chúng tìm cách trả thù: hai lần chúng tìm cách đến gần sát hắn, nhưng hai lần đều bị thất bại.

Đến lần thứ ba này mới thành công.

Ông có thấy cần hỏi thêm tôi một lời giải thích nào khác nữa không, bác sỹ Percy.

- "Ông đã làm sáng tỏ nội vụ một cách đáng khâm phục".

Ông bác sỹ trả lời.

"Chẳng còn chút nghi ngờ gì, cái ngày mà Blessington bị rối loạn quá mức là ngày hắn vừa đọc báo, thấy tin mấy người bạn cũ vừa được phóng thích.

- Đúng vậy.

Chuyện vụ trộm là điều bịa đặt.

- Tại sao hắn không muốn thổ lộ với ông?

- Bởi vì, hắn biết rõ về tính hay trả thù của những người bạn cũ.

Hắn cố che giấu căn cước đích thực của hắn càng lâu càng tốt.

Đó là những sự kiện liên quan tới người khách trọ đựơc hưởng bổng lộc và ông bác sỹ ở đường Brook.

Cảnh sát chẳng tóm được tên nào.

Người ta tin tưởng rằng bọn chúng đã đáp tàu Norah Creina, và con tàu này đã chìm cách đây vài năm ở ngoài khơi Bồ Đào Nha.

Thiếu chứng cớ, gã đầy tớ được tha, và sự "Bí mật ở đường Brook" hoàn toàn ở lại trong trí nhớ của những người đọc báo.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
C9 Người thông ngôn Hy Lạp


NGƯỜI THÔNG NGÔN HY LẠP

THE GREEK INTERPRETER (1893)

Memoirs of Sherlock Holmes

Những hồi ức về Sherlock Holmes

Chưa bao giờ tôi thấy Holmes nhắc tới gia đình và quãng đời thơ ấu của anh.

Tôi thì tôi coi anh như một người kỳ dị cá biệt.

Lòng ghét cay ghét đắng đàn bà, sự ghê sợ có thêm những người bạn mới, sự khăng khăng không nhắc đến những người bạn thân là đặc tính của anh.

Tôi đã tin rằng anh là trẻ mồ côi và là kẻ "vô gia đình", nhưng ngày nọ tôi ngạc nhiên khi nghe anh nói về người anh của anh.

Một buổi chiều hè, sau lúc uống trà, câu chuyện có vẻ rời rạc.

Từ những câu lạc bộ chơi golf, chúng tôi chuyển tới tranh luận về sự lai giống cùng những khả năng di truyền.

Cái khả năng quan sát và suy diễn mà anh có được là do anh được giáo dục có hệ thống.

"Tổ tiên tôi là những người điền chủ nhỏ ở nông thôn, những người đã sống một cuộc sống phù hợp với giai cấp xã hội của họ.

Tuy nhiên tôi lại chọn một lối sống hoàn toàn khác hẳn, có thể là do bà nội tôi là em gái Vernet, một họa sỹ người Pháp.

Nghệ thuật trong dòng huyết thống có thể nảy nở thành những phong cách rất khác nhau."

- Nhưng làm thế nào mà anh biết được những đức tính đó là di truyền?

- Bởi vì anh Mycroft của tôi thừa hưởng những đức tính đó ở một mức độ cao hơn tôi nhiều.

- Nếu ở đây có một người nào đó có nhiều thiên tư hơn anh, thì tại sao người ta chưa biết đến anh ấy.

Phải chăng anh khiêm tốn mà nói như vậy?

Holmes cười với tất cả chân tâm.

- Anh bạn thân mến!

Đó là sự thật.

- Thế sao anh ấy lại không nổi danh.

- Anh ấy rất nổi tiếng tại Câu lạc bộ.

- Câu lạc bộ nào?

- Câu lạc bộ Diogenes.

Tôi hoàn toàn không biết gì về hội quán đó.

Holmes rút đồng hồ trong túi ra:

- Câu lạc bộ Diogenes là hội quán kỳ lạ nhất ở London, và Mycroft luôn luôn đến đó trong khoảng từ 4 giờ 45 đến 7 giờ 40.

Bây giờ là 6 giờ, ta đến đó chơi.

Năm phút sau, chúng tôi đã ra ngoài đường.

Holmes nói:

- Anh ngạc nhiên khi thấy Mycroft có khả năng suy diễn giỏi hơn tôi nhưng không trở thành thám tử chứ gì?

Tôi xin trả lời thắc mắc đó: Mycroft không thể làm thám tử được,..

- Nhưng anh đã nói là...

- ... anh ấy quan sát và suy diễn giỏi hơn tôi.

Nếu nghệ thuật của nhà thám tử chỉ gồm có mỗi một việc ngồi nhà mà suy luận thì anh tôi sẽ là một cảnh sát giỏi nhất trên đời.

Nhưng tiếc thay, anh ấy lại thiếu tham vọng và nghị lực.

Anh chẳng buồn bỏ công kiểm tra những điều đã khám phá được.

Tôi đã thẩm vấn anh một vài vụ và anh đã giúp tôi thành công.

- Như vậy, đó không phải là nghề của anh ấy hay sao?

- Không, đó chỉ là một thú tiêu khiển của anh ấy mà thôi.

Nhờ có năng khiếu khác thường về những con số, anh được người ta mời vào việc kiểm tra tài khoản trong các bộ.

Anh làm việc đều đặn như một cái đồng hồ: sáng đi tới Câu lạc bộ, chiều trở về nhà...

Suốt năm, anh không làm bất cứ một việc nào khác và chẳng cần xuất hiện ở bất cứ nơi nào, ngoại trừ Câu lạc bộ Diogenes, nằm ngay trước nhà của anh.

- Câu lạc bộ đó rất xa lạ với tôi.

- Đương nhiên.

Ở London có nhiều người không thích giao du với ai cả.

Câu lạc bộ Diogenes được lập ra để giành riêng cho những người ấy.

Không một thành viên nào của Câu lạc bộ Diogenes chịu quan tâm tới bất kỳ một bạn đồng sự nào.

Ngoại trừ trong phòng khách dành cho người lạ, còn thì không một ai được nói chuyện, dù với bất cứ lý do nào; vi phạm tới lần thứ ba, kẻ ba hoa đó có thể bị trục xuất.

Anh tôi là một trong những người sáng lập ra Câu lạc bộ đó.

Vừa đi vừa nói, lát sau chúng tôi đã tới Pall Mall.

Holmes dặn tôi giữ yên lặng, rồi đi trước, dẫn tôi vào trong tiền sảnh.

Qua một tấm vách bằng kính, tôi thấy một phòng rộng mênh mông và bày biện đồ đạc sang trọng, bên trong có nhiều người, mỗi người ngồi ở một góc, đọc nhật báo, hoặc tạp chí.

Holmes đưa tôi tới một phòng khách nhỏ hơn, để tôi ở đó một phút, rồi trở lại cùng với một người; có thể đó là anh của Holmes.

Mycroft lớn hơn và mạnh khỏe hơn Holmes nhiều, cặp mắt xám lợt, tia nhìn sắc sảo, sâu thẳm, tràn ngập một sự linh hoạt.

- "Tôi sung sướng được gặp ông, thưa ông", Mycroft nói với tôi trong lúc chìa ra một bàn tay rộng.

"Tôi nghe thiên hạ nhắc tới Sherlock ở khắp nơi kể từ khi ông viết về chú ấy trên báo".

Quay sang phía Holmes, anh nói tiếp "À, tuần qua, anh có ý mong gặp chú về cái vụ Manor House.

Chú bị khó khăn, phải thế không?"

- Không.

Em đã giải quyết xong vụ đó rồi.

- Holmes cười, trả lời.

- Đúng là Adams.

- Phải, chính hắn.

- Anh đã tin chắc ngay từ đầu mà.

Hai anh em ngồi bên nhau trong chỗ khuôn cửa sổ nhô ra.

Mycroft nói tiếp:

- Đây là một nơi lý tưởng cho kẻ nào muốn tìm hiểu nhân loại.

Hãy nhìn những cái mẫu tuyệt đẹp kia mà coi!

Hãy nhìn hai gã đang đi về hướng chúng ta.

- Người ghi điểm billiard và người kia?

- Phải.

Chú nghĩ sao về người kia?

Hai người kia dừng lại ngay trước khuôn cửa sổ, một trong hai người có vài vết phấn viết bảng trên túi áo gi-lê.

Người kia rất nhỏ con, tóc nâu, đội cái nón hất về đằng sau và dưới cánh tay có cắp nhiều gói đồ.

- Một cựu quân nhân.

- Và mới vừa được giải ngũ - Mycroft nhận xét.

- Anh ta đã phục vụ bên Ấn Độ.

- Như một hạ sĩ quan.

- Trong pháo binh.

- Và góa vợ.

- Nhưng có một đứa con, chú nó.

Nhiều đứa con.

- Coi nào.

Điều đó hơi quá đáng chăng.

- Tôi cười, nói xen vào.

- Một người có cái tư thế đó, cái dáng và quyền thế đó và cái da bị mặt trời nung đó, thì anh ta phải là "một quân nhân" có "cấp bậc hạ sĩ quan" và đã "từ Ấn Độ trở về".

- Holmes nói một hơi.

- Ông ta vừa mới được giải ngũ bởi vì hiện giờ ông ta vẫn còn "mang giày nhà binh".

- Mycroft giải thích.

- Ông ta không có một lối đi của kỵ binh, ấy thế mà ông ta lại đội mũ lệch sang một bên, bởi vì một bên vầng trán có màu sậm hơn bên kia; thân hình ông ta không phải là của một công binh.

Vậy thì ông là "lính pháo binh" - Holmes nói tiếp.

- Ông ta đang có tang lớn: chúng ta có thể suy diễn ra là ông ta mất một ai đó rất gần gũi.

Việc phải đi mua sắm chứng tỏ là "vợ ông đã chết".

Ông ta đi mua nhiều món linh tinh cho các con.

Có một cái lúc lắc cho con nít chơi, vậy là một trong những đứa con ông ta còn rất nhỏ.

Vợ ông ta hẳn đã từ trần từ khi sinh con.

Việc ông ta kẹp dưới cánh tay một cuốn truyện tranh cho thấy là "ông ta còn có một đứa con khác".

Tôi bắt đầu tin rằng Mycroft quả thật có nhiều thiên tư sắc bén hơn Holmes.

Holmes liếc mắt nhìn tôi và mỉm cười.

Mycroft nói:

- Này chú, người ta vừa đưa tới anh một vấn đề rất hợp với chú.

Anh không có can đảm nghiên cứu nó tận tường, nhưng nếu chú muốn nghe.

- Em rất vui sướng!

Mycroft viết vài dòng chữ trên một tờ giấy, gọi chuông, rồi đưa lá thư cho một người hầu.

- Tôi mời ông Melas lại đây.

Ông ấy ở tầng lầu bên trên lầu tôi, tôi chỉ biết sơ thôi.

Đó là một nhà ngữ học người Hy Lạp, làm thông ngôn trong các tòa án và làm hướng dẫn cho những tay nhà giàu Đông Phương.

Một lát sau, một người thấp và béo lùn đến, ông ta có nước da màu ôliu và mái tóc đen.

Ông nồng nhiệt siết tay Holmes.

- "Cảnh sát chẳng bao giờ tin những lời khai của tôi", ông nói bằng một giọng giễu cợt.

"Họ cho rằng tôi phịa ra câu chuyện đó".

- Tôi vểnh tai lên mà nghe ông đây!

Holmes nói.

- "Chuyện xảy ra vào ngày hôm kia.

Tôi biết rất nhiều thứ tiếng.

Nhưng vì tôi là người Hy Lạp nên được yêu cầu dịch tiếng Hy Lạp nhiều hơn cả.

Tôi thường bị gọi vào những lúc "ngoài giờ" vì du khách tới muộn.

Buổi tối ngày thứ hai, ông Latimer tới giật chuông nhà tôi và yêu cầu tôi đi theo ông trong một cỗ xe ngựa thuê đang đợi trước cửa.

- "Một người Hy Lạp đã tới gặp tôi để bàn công việc làm ăn", ông ta bảo tôi, "người ấy chỉ nói được tiếng mẹ đẻ.

Ông ta ngụ trong vùng Kensington".

"Trong chiếc xe ngựa sang trọng, ông Latimer ngồi trước mặt tôi.

Xe đi ngang qua bùng binh Charing và đại lộ Shaftessbury, khi tới đường Oxford, tôi đánh liều đưa ra ý kiến nên cho xe đi theo con đường ngắn nhất để tới Kensington, nhưng tôi ngưng bặt trước thái độ bất thường của người khách.

"Ông ta rút ra khỏi túi một cây dùi cui rất lớn và khua nó nhiều lần, tựa hồ như ông ta muốn thử sức nặng của nó.

Rồi ông ta đặt nó xuống bên cạnh.

Sau đó ông ta kéo kính ở hai bên xe lên: các kính đó được dán giấy kín đến mức tôi chẳng còn trông thấy gì còn ở bên ngoài.

- "Rất tiếc phải che mắt ông bạn lại, thưa ông Melas!"

ông ta nói.

"Chúng tôi không muốn cho ông biết nơi ông sẽ tới, để ông khỏi bị rắc rối về sau".

"Tôi hoàn toàn choáng váng.

Latimer còn trẻ, cường tráng với những bờ vai rộng.

Ngay cả khi anh ta không có vũ khí đi nữa, tôi cũng không thể nào địch nổi anh ta.

- Đây là một cách cư xử rất khác thường.

- Tôi ấp úng nói.

- "Tôi đã suồng sã đối với ông".

Anh ta trả lời tôi.

"Nhưng tôi sẽ đền bù cho ông.

Tuy nhiên, tôi phải báo trước, nếu ông tìm cách báo động hoặc làm bất cứ điều gì chống lại tôi thì ông sẽ hối hận đấy"!

"Anh ta nói bằng một giọng trầm tĩnh, nhưng rất ư đe dọa.

Tôi lặng thinh, không ngừng tự hỏi vì sao hắn bắt cóc tôi.

Nhưng rõ ràng mọi sự kháng cự đều vô ích.

"Xe chạy gần hai tiếng đồng hồ và tôi không hề biết hướng xe đi.

Thỉnh thoảng tiếng ầm ầm của bánh xe lăn cho tôi biết xe chạy trên mặt đường lát: nhiều lúc xe chạy êm ru, gợi ra mặt đường trải nhựa.

ánh sáng không lọt được qua cửa kính bị dán giấy và một tấm ri-đô màu xanh đã được kéo phủ tấm kính ở đằng trước.

Chúng tôi rời Pall Mall vào hồi 7 giờ kém 15 và dừng lại vào lúc 9 giờ kém 10.

Chàng trai hạ kính xe và tôi nhận ra một vòm cổng trên có một ngọn đèn lồng thắp sáng.

Khi tôi xuống xe thì cổng đã mở ra.

"Trong nhà có một có một cây đèn mà ngọn lửa quá nhỏ đến mức tôi chỉ vừa đủ phân biệt được một gian tiền sảnh thật lớn, có trang hoàng nhiều họa phẩm.

Tôi cũng quan sát thấy người ra mở cửa là một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, nhỏ bé gầy gò, đôi vai còng, mắt kiếng.

Ông ta hỏi.

- Có phải ông Melas đấy không, Harold?

- Phải.

- Xin ông đừng giận chúng tôi, chúng tôi rất cần đến ông.

Nếu ông xử sự đàng hoàng thì ông sẽ không có gì phải hối tiếc cả.

"Ông ta nói một cách đứt khúc, với nhiều tiếng cười nhỏ cắt ngang mỗi câu nói.

Tôi thú nhận là tôi sợ ông ta hơn là sợ người thanh niên.

- Ông muốn gì nơi tôi?

- Chúng tôi nhờ ông phiên dịch.

Dịch chính xác và không được thêm bớt tí gì cả.

"Ông ta lại phát ra tiếng cười nho nhỏ, rồi mở một cánh cửa ra và đưa tôi vào một căn phòng thật rộng rãi, tấm thảm rất dày, ghế bành bọc nhung, một cái lò sưởi cao màu trắng.

Dưới ngọn đèn có một cái ghế dựa: người lớn tuổi mời tôi ngồi xuống đó.

Người trẻ tuổi đã ra khỏi phòng, nhưng rồi anh ta quay lại qua một ngả cửa khác, dẫn theo một nhân vật mặc một loại áo ngủ rộng và bước đi chậm chạp.

Khi người đó tới trong vùng ánh sáng, tôi thấy ông ta cực kỳ tái mét, gương mặt hốc hác, đôi mắt lồi ra, mặt ông ta quấn chằng chịt nhiều lớp vải mỏng có phết hồ dán: ngay cả cái miệng cũng bị che kín bằng một dải rộng làm cho miệng ông bị nghẽn kín hoàn toàn.

"Cậu có cái bảng nhỏ đó không, Harold?' người lớn tuổi kêu lên trong lúc người bị quấn vải buông rơi mình xuống một cái ghế dựa.

"Đã cởi trói cho ông ấy chưa?

Tốt.

Đưa cho ông ấy cây viết chì.

Chúng tôi sẽ đặt ra những câu hỏi, thưa ông Melas, và ông ấy sẽ viết ra các câu trả lời.

Trước hết, xin ông hỏi xem ông ấy có sẵn sàng ký giấy không".

- Đôi mắt người lạ phóng ra những tia lửa.

Không bao giờ ông ta chịu viết trên bảng đen.

- Không ký với bất cứ điều kiện nào hay sao?

- Tôi dịch, sau khi bọn kia nêu ra câu hỏi.

- Tôi chỉ ký khi mà cô ấy làm lễ cưới trước mặt tôi, do một linh mục Hy Lạp mà tôi quen biết đứng chủ lễ.

Người nọ thốt ra nụ cười hiểm độc:

- Thế thì, anh biết cái gì chờ đợi anh chứ?

- Tôi chẳng sợ cái gì cả.

"Đó là một mẩu những câu hỏi và câu trả lời trong cuộc nói chuyện kỳ lạ, phân nửa hỏi, phân nửa viết.

Một cách đều đặn, tôi phải hỏi xem ông ta có chịu nhượng bộ và ký tên vào bản cam kết không.

Cũng không kém đều đặn, tôi luôn luôn nhận được câu trả lời phẫn nộ.

Nhưng ngay sau đó một ý nghĩ chợt đến với tôi.

Tôi tự ý thêm những câu ngắn (do chính mình nghĩ ra) vào sau những câu hỏi: thoạt đầu thật vô hại, ngõ hầu để thử xem hai tay bạo ngược đó có biết chút ít tiếng Hy Lạp không.

Khi thấy chúng không có phản ứng nào, tôi chơi bạo hơn.

Cuộc đối thoại của chúng tôi lúc đó giống như thế này:

- Anh sẽ chẳng được lợi ích nếu cứ ngoan cố mãi.

Ông là ai?

- Tôi cóc cần.

Tôi là một người lạ ở London.

- Ông thí mạng đó.

Ông đã ở đây từ bao lâu?

- Thây kệ.

Ba tuần.

- Những của cải đó sẽ không bao giờ còn thuộc về ông nữa.

Ông bị đau ra sao?

- Của cải sẽ không rơi vào tay bọn vô lại.

Bọn chúng bỏ đói tôi.

- Ông sẽ được tự do, nếu như ông chịu ký.

Nhà này là nhà nào?

- Tôi sẽ không bao giờ ký.

Tôi không biết.

- Ông chẳng giúp ích được chút nào cho cô ấy đâu.

Ông tên là gì?

- Cô ấy cứ việc đến đây nói cho tôi biết!

Kratides.

- Ông sẽ gặp cô ấy nếu ông chịu ký.

Ông từ đâu tới.

- Thế thì tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại cô ấy.

Từ Athènes

Thưa ông Holmes, chỉ cần thêm năm phút nữa là tôi có thể làm sáng tỏ câu chuyện, nhưng ngay lúc đó, cánh cửa lại mở ra và một người đàn bà bước vào.

Cô ta cao, mảnh mai, tóc nâu và mặc một cái áo trắng rộng thùng thình.

- "Harold", cô ta kêu lên với một âm tiết tồi.

"Em không thể ở nơi đó được nữa.

Em cảm thấy quá cô đơn.

Ồ, anh Paul đây mà!'

"Cô ấy nói câu sau chót bằng tiếng Hy Lạp.

Cùng lúc, nạn nhân trong một nỗ lực mạnh mẽ, đã bứt lớp vải mỏng có phết hồ dán trên đôi môi ra và hét lên:

- Sophy!

Em!

"Ông lao vào trong vòng tay người phụ nữ.

Hai người chỉ ôm nhau trong một thoáng, bởi vì người trẻ tuổi đã nắm lấy người đàn bà, đẩy ra khỏi phòng, trong lúc người già kia túm lấy người tù nhân và dẫn ra ngã cửa kia.

Còn lại mình tôi.

Tôi đứng lên, suy nghĩ xem tôi có thể nào tìm ra nơi đây là đâu.

Nhưng thật may là tôi đã không động đậy.

Vừa ngước mắt lên, tôi thấy người đứng tuổi đang quan sát tôi.

- Thế là đủ rồi, ông Melas!

Chúng tôi đánh giá cao những phẩm chất của ông.

Tôi nghiêng mình.

- "Đây là 5 sovereigns".

Ông ta nói, khi tiến lại bên tôi.

"Một món thù lao trọng hậu.

Nhưng ông hãy nhớ đấy!"

Ông ta nói thêm, tay vỗ nhẹ lên vai tôi và buông ra tiếng cười nho nhỏ.

"Nếu ông nói ra chuyện này với bất cứ ai... với bất cứ ai, ông nghe rõ chưa?

Thì lúc đó Chúa cũng không cứu nổi ông.

Xe đang chờ ông".

Tôi gần như bị ném ra căn phòng ngoài, rồi vào trong cỗ xe.

Một lần nữa tôi lại thấy cây cối và thửa ruộng.

Gã Latimer ngồi trước mặt tôi.

Sau một chuyến đi bất tận, chúng tôi dừng lại:

- Ông hãy xuống đây, thưa ông Melas.

Tôi rất tiếc phải bỏ ông xuống cách nhà ông quá xa, nhưng tôi không được quyền chọn lựa.

"Anh ta mở cánh cửa xe và tôi có vừa đủ thì giờ để nhảy xuống, bởi vì người đánh xe đã quất roi vào con ngựa và cỗ xe phóng đi thật nhanh.

Tôi nhìn chung quanh, thấy mình đang ở trong một đồng cỏ, rải rác có những bụi kim tước.

Đằng xa có một dãy nhà, rải rác đó đây những ánh sáng hắt ra ngoài khuôn cửa sổ trên những tầng lầu.

Nhìn về phía bên kia, tôi thấy những tín hiệu đèn đỏ của đường sắt.

"Cỗ xe đã vượt ngoài tầm mắt.

Tôi đang phân vân không biết mình đang ở đâu thì chợt thấy một người tiến tới.

Đó là một phu khuân vác ở nhà ga.

- Xin ông vui lòng cho tôi biết đây là đâu?

- Hạt Wandsworth.

- Làm sao đáp tàu đi London.

- Cách đây hai cây số.

Nếu đi nhanh thì còn kịp chuyến chót.

"Thưa ông Holmes, chuyến phiêu lưu của tôi kết thúc như vậy đó".

Chúng tôi ngồi yên lặng hồi lâu.

Sau cùng Holmes liếc sang Mycroft.

- Anh có thấy một hướng điều tra nào không?

Mycroft lấy tờ báo Daily News trên mặt bàn:

- "Một phần thưởng được tặng cho người nào biết chỗ ở của công dân Hy Lạp tên là Paul Kratides, từ Athènes tới; và là người không biết nói tiếng Anh.

Một phần thưởng khác sẽ được đổi lấy bất cứ tin tức nào liên quan đến một phụ nữ Hy Lạp tên là Sophy.

Trả lời về X2473.

Tất cả các nhật báo đều đăng lời nhắn tin này.

Cho tới nay chưa có hồi âm".

- Thế còn đại diện của nước Hy Lạp?

- Tôi đã tới hỏi thăm.

Người ta chẳng biết gì hết.

- Một bức điện gửi cho cảnh sát ở Athènes, thế nào?

- "Sherlock có tất cả nghị lực của gia đình" Mycroft nói với tôi.

"Vậy thì, hãy nhận lấy trách nhiệm và hãy báo cho anh biết tin, nếu chú thành công".

- Em sẽ báo tin cho anh biết cũng như sẽ báo cho ông Melas rõ.

Trong khi chờ đợi, thưa ông Melas, ông hãy đề phòng cẩn thận.

Trên đường, Holmes dừng lại bưu cục và đánh đi nhiều bức điện tín.

- Anh Watson, chúng ta đã không lãng phí buổi tối nay.

Vấn đề này có vài dữ kiện không kém tầm thường.

- Anh giải quyết được chứ?

- Khi đã biết được phân nửa mà không khám phá ra nốt phần còn lại, thì còn bất hạnh nào hơn!

- Cô gái Hy Lạp đó đã bị chàng trai người Anh tên là Harold Latimer bắt cóc - Tôi nói.

- Bắt cóc từ đâu?

- Từ Athènes.

Sherlock lắc đầu nói:

- Người thanh niên đó không nói được một tiếng Hy Lạp, còn cô gái nói được tiếng Anh.

Vậy là cô ta đã sống trong một thời gian ở nước Anh, nhưng còn hắn thì không sang Hy Lạp.

- Được.

Thế thì chúng ta giả thiết rằng cô ấy lưu lại nước Anh và gã lưu manh dụ dỗ được cô ta.

- Tôi nói.

- Rất có lý.

- Anh ruột cô ta tới nước Anh để can thiệp, nhưng ông rơi vào tay bọn chúng.

Chúng giam giữ ông, dùng vũ lực buộc ông phải ký vào một văn kiện chuyển tài sản của cô gái cho chúng, bởi vì ông ta là người quản lý tài sản đó.

Ông từ chối.

Để có thể đạt tới sự thoả hiệp, chúng cần có một người thông ngôn và chúng đã chọn ông Melas, sau khi đã dùng một người khác từ trước đó.

Cô gái không biết là anh cô đã tới đây và cô chỉ biết được sự kiện này nhờ sự tình cờ.

- "Hoan hô, Watson".

Holmes kêu lên.

"Anh đã gần đoán ra.

Chúng ta nắm tất cả mọi quân bài, chỉ còn lo ngại chúng dùng bạo lực".

- Làm sao tìm ra sào huyệt chúng?.

- Nếu cô gái tên là Sophy Kratides, chúng ta sẽ dễ dàng tìm ra cô.

Bởi vì gã Harold đã làm quen với cô ít ra đã được vài tuần.

Nếu họ ở cùng một nơi thì tin nhắn của Mycroft được hồi âm.

Chúng tôi về tới nhà.

Holmes lên cầu thang trước và cửa mở, anh rất ngạc nhiên khi thấy Mycroft đang ngồi trong ghế bành và bình thản hút thuốc.

- Vào đi, Sherlock.

Hãy vào đi, ông Watson".

Mycroft nói, khi thấy chúng tôi.

"chú không ngờ là tôi chịu dấn thân vào vụ này, phải thế không Holmes?

Vụ này làm tôi thích thú".

- Anh đến đây bằng gì?

- Xe ngựa.

- Có tin gì mới chăng?

- Anh đã nhận được hồi âm.

- A!"

- Phải, thư trả lời tới anh vài phút, sau khi các chú ra về.

- Thư nói gì?

- Mycroft rút ra một tờ giấy.

- Nó đây này.

Tôi xin đọc nhé.

"Thưa ông, để trả lời cho tin nhắn của ông về ngày hôm nay, tôi cho ông biết rằng tôi hiểu rất rõ về người phụ nữ ấy.

Nếu ông đến gặp tôi, tôi sẽ cho ông biết vài chi tiết liên quan tới câu chuyện đau buồn của cô ấy.

Hiện nay cô đang ở tại biệt thự Myrtles tại Beckenham. người bạn tận tâm của ông J.DavenPorlockt".

Ông ấy viết từ Hạ Brixton.

Này Holmes, em có nghĩ rằng chúng ta nên đi tới không?

- Mạng sống của anh cô ta quan trọng hơn câu chuyện đau buồn của cô ta.

Chúng ta cần tới ngay Scoland Yard để tìm thanh tra Gregson và cùng nhau đi tới Bekenham.

Một cái chết đang được tính từng giờ!

- Chúng ta tới rủ ông Melas đi cùng.

Biết đâu chúng ta chẳng cần tới một người thông ngôn.

- Tôi gợi ý.

- "Ý kiến tuyệt vời!"

Holmes nói.

"Hãy sai người đi tới một cỗ xe".

Holmes mở ngăn kéo và nhét khẩu súng lục vào túi.

- "Phải", anh nói để trả lời cho tia nhìn của tôi.

"Chúng ta phải đối phó với một băng nhóm đáng sợ".

Màn đêm buông xuống khi chúng tôi tới Pall Mall. chúng tôi gọi chuông căn hộ của ông Melas.

- Bà vui lòng cho tôi biết ông Melas có ở nhà không?

- Mycroft hỏi.

- "Tôi không biết ông đi đâu", người đàn bà mở cửa cho chúng tôi trả lời.

"Tôi chỉ biết là ông ấy đã ra đi cùng với một ông trong một cỗ xe".

- Ông kia có xưng tên không?

- Không, thưa ông.

- Có phải người đó là một thanh niên tóc nâu, vạm vỡ?

- Đó là một người nhỏ con, mang mắt kiếng, gày gò nhưng rất ngộ nghĩnh: ông ta cứ cười luôn trong khi nói.

- "Đi thôi!"

Holmes kêu lên với chúng tôi.

"Chuyện nghiêm trọng lắm rồi"!

Trong lúc chúng tôi cho xe chạy tới trụ sở của Scotland Yard, anh nói với chúng tôi:

- Bọn cướp đã bắt cóc Melas, rất có thể là chúng còn cần tới ông.

Nhưng sau khi dùng ông xong rồi, chúng sẽ trừng phạt ông.

Tới Scoland Yard, phải mất một giờ, chúng tôi mới tiếp xúc được với thanh tra Gregson, rồi sau đó vội vã tới ngay biệt thự Myrtles: ngôi nhà lớn tối tăm, nằm trên một thửa đất cách xa đường.

Sau khi cho xe ngựa về, chúng tôi đi trên lối vào nhà.

- Các cửa sổ đều không có ánh đèn và cái tổ đã trống trơn.

- Holmes nói.

- Tại sao anh lại nói vậy?

- Cách đây gần một tiếng đồng hồ, một cỗ xe chở đầy hành lý đã đi ngang qua đây: nó từ trong nhà chạy ra.

Viên thanh tra cất tiếng cười vang:

- Ngọn đèn ở hàng rào đã chỉ cho tôi thấy những vết bánh xe, nhưng còn hành lý thì...

- Ông hãy quan sát những vết của cùng những bánh xe đó, trong chiều ngược lại: những vết đi ra cánh đồng thì hằn rõ hơn trong nền đất.

Vậy là xe phải chịu đựng một trọng tải nặng hơn rất nhiều.

- "Thế là ông đã đi xa hơn tôi", viên thanh tra nhún vai mà trả lời.

"Cánh cửa này chẳng dễ gì mở được.

Nhưng trước hết, chúng ta hãy thử gọi cửa xem sao?

Ông dùng búa gõ rất dữ dội, giật mạnh dây chuông, nhưng không có kết quả.

Holmes lỉnh đi.

Vài phút sau, anh trở lại, nói:

- Một cửa sổ đã mở.

- "Thật may mà anh lại đứng về phía cảnh sát ..." viên thanh tra quan sát và khâm phục cái cách mà Holmes nạy then móc cửa sổ ra.

Chúng ta có thể vào nhà mà không cần được mời".

Chúng tôi lần lượt vào trong một gian phòng lớn, hiển nhiên là nơi ông Melas đã được đưa vào.

Viên thanh tra thắp đèn.

Trên bàn có hai cái ly, một chai brandy đã cạn và vài món ăn dư.

- Cái gì vậy nhỉ?

- Đột nhiên Holmes hỏi.

Chúng tôi giỏng tai lên nghe ngóng, đứng bất động.

Từ một nơi nào đó trên lầu vọng xuống một tiếng rên rỉ nhỏ, nghẹn.

Holmes vội leo lên, viên thanh tra và tôi bám theo bén gót, anh Mycroft cũng đuổi theo chúng tôi.

Lên tới thềm cầu thang lầu hai, chúng tôi thấy có ba cánh cửa: tiếng kêu xé ruột phát ra từ phía sau cánh cửa giữa.

Cánh cửa bị đóng, nhưng chìa khóa lại cắm ở bên ngoài.

Holmes mở cửa, lao vào, nhưng rồi anh quay ra ngay sau đó và giơ tay chặn lấy cuống họng.

- "Khói quá!"

Anh kêu lên.

"Chúng ta chờ một chút".

Liếc vào bên trong, chúng tôi thấy ở giữa phòng có một ngọn lửa xanh, bốc lên từ một cái giá ba chân đồng.

Ngọn lửa vẽ trên sàn nhà một vòng tròn nhỏ, nhợt nhạt; chúng tôi nhận ra hai bóng người co quắp dựa vào tường.

Holmes leo lên bậc thang trên cao để hít thở không khí ít khói, đoạn trở vào phòng, mở một cửa sổ ra và liệng cái giá ba chân nóng rực xuống dưới vườn.

- "Trong một phút nữa, chúng ta có thể vào được", anh hổn hển nói khi trở ra ngoài.

"Làm sao có ngọn nến nhỉ?

Không khí như vầy không thể đánh diêm quẹt được.

Mycroft, anh hãy cầm lấy cây đèn lồng đứng ngay cửa, rọi sáng để chúng tôi khiêng họ ra ngoài.

Nào!

Chúng ta xông vào!"

Chúng tôi nín thở, túm lấy những kẻ bất bạnh, lôi họ ra ngoài cầu thang.

Cả hai đều bất tỉnh.

Một trong hai người là viên thông ngôn Hy Lạp.

Ông bị trói ở chân và ở tay, một con mắt sưng vù.

Người kia cũng bị trói tương tự, cao và gầy trơ xương, mặt ông ta trông kỳ quái với những dải vải mỏng có phết hồ dán.

Khi chúng tôi đặt ông ta xuống đất thì ông ta ngừng rên rỉ: ông đã chết, Melas thì còn sống.

Câu chuyện của Melas rất đơn giản: người khách đến kêu cửa, khi nhìn thấy cây dùi cui, ông đã khiếp sợ, đành để cho bị bắt cóc một lần thứ hai, bị đem về Beckenham và phải làm thông ngôn cho một cuộc đối thoại còn bi thảm hơn cuộc nói chuyện lần đầu: Sau chót, thấy rõ là không thể nào lay chuyển được con mồi, chúng đưa ông về chỗ giam cũ.

Sau khi nói với ông Melas rằng chúng đã đọc được tin nhắn trên các báo; chúng nện một cú dùi cui, và ông bị ngất đi... cho tới lúc chúng tôi đến cứu ông.

Chúng tôi khám phá ra được vụ này nhờ người viết thư ở Hạ Brixton.

Người này cho biết rằng thiếu phụ bất hạnh thuộc một gia đình Hy Lạp giàu có và cô sang nước Anh ở chơi nơi nhà bạn bè.

Cô gặp Harold, gã này thuyết phục cô bỏ trốn theo y.

Các bạn cô ngao ngán báo tin cho anh cô ở Athènes rồi sau đó họ không còn bậm tâm gì nữa.

Nhưng khi vừa tới nước Anh, anh của cô rơi vào tay Harold và Wilson Kemp.

Hai tên lưu manh đó giam giữ ông và ra sức ép buộc ông ký tên vào một văn kiện chịu từ bỏ tài sản của hai anh em ông.

Chúng đã giam giữ ông và ngụy trang ông bằng những dải vải mỏng có phết hồ dán, ngỡ tưởng cô em gái không nhận ra người anh, trong trường hợp cô nhìn thấy ông.

Tuy nhiên, cái trực giác của người đàn bà giúp cô nhận ra anh mình.

Thế là đến phiên cô bị cầm giữ trong nhà người đánh xe ngựa và cô vợ y.

Khi hai tên bất lương biết rằng bí mật của chúng bị phát giác và người bị chúng giam khăng khăng không chịu ký tên, thì chúng bỏ trốn cùng với cô gái.

Nhưng trước khi bỏ đi, chúng ra tay trả thù con người đã cả gan thách thức chúng.

Vài tháng sau, một bản tin kỳ lạ đánh đi từ Budapest được đăng trên các báo.

Tin cho hay hai người Anh du hành cùng một thiếu phụ đã có một kết cuộc bi thảm.

Cả hai người đàn ông đều bị đâm chết.

Cảnh sát Hungary cho rằng hai người đó đã gây lộn với nhau và đã giết nhau...

Holmes thì cho rằng những nỗi thống khổ của hai anh em người Hy Lạp đã được trả thù.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
C10 Bản hiệp ước hải quân


BẢN HIỆP ƯỚC HẢI QUÂN

THE NAVAL TREATY (1893)

Memoirs of Sherlock Holmes

Những hồi ức về Sherlock Holmes

Tháng 7, ngay sau đám cưới của tôi, là một tháng đáng ghi nhớ bởi 3 vụ phá án của Sherlock Holmes mà tôi có tham gia.

Điều thú vị là những vụ án này có liên quan đến từng vấn đề trong xã hội theo một cách trình tự: gia đình, quốc gia và cuối cùng là quần chúng.

Trong vụ án mà tôi sắp kể lại dưới đây, nó minh họa một cách rõ nét cho phương pháp phân tích và những mối liên hệ sâu xa của Holmes.

Tôi vẫn còn giữ những ghi chép của ông Dubugue của sở cảnh sát Paris và ngài Fritz von Waldbaum, chuyên viên nổi tiếng của Dantzig, cả hai đều mất khá nhiều công sức để tiếp cận vụ việc.

Tuy nhiên, có nhiều vấn đề còn trong vòng bảo mật.

Bản ghi chép dưới đây của tôi sẽ trình bày một số yếu tố quan trọng, có thể sẽ dẫn đến những biến cố của quốc gia.

Nó chỉ có thể được phép công khai về sau này, khi những yếu tố bảo mật không còn hiệu lực.

Lúc còn đi học tôi rất thân với Percy Phelps, cũng trạc tuổi tôi nhưng học trên tôi hai lớp.

Là học sinh ưu tú giành được nhiều giải thưởng và một học bổng ở Cambridge; thuộc dòng dõi danh giá: ông cậu của anh là huân tước Holdhurst.

Ở tại trường, cái quan hệ họ hàng ấy chẳng đem lại cho anh cái gì.

Trái lại, chúng tôi còn thấy thích thú khi lôi anh ra sân chơi và đá vào mông anh vài cú.

Nhưng lúc ra đời thì khác hẳn: ảnh hưởng của ông cậu đã đưa anh lên một địa vị tốt ở Bộ ngoại giao.

Thế rồi tôi quên bẵng anh, cho tới khi nhận được lá thư dưới đây.

"Briarbrae, Working.

Watson thân mến,

Hy vọng cậu chưa quên tôi, Phelps "Nòng nọc" thời học trung học.

Có thể cậu cũng đã biết rằng tôi đang nắm giữ một chức vụ quan trọng ở Bộ ngoại giao và được tin cẩn.

Nhưng gần đây một bất hạnh xảy đến, phá tan sự nghiệp của tôi.

Không có cách nào để diễn tả sự việc khủng khiếp đó.

Trừ phi tôi có thể kể một cách tường tận trực tiếp với cậu.

Ngoài ra, tôi lại vừa ra khỏi một cơn sốt viêm não, phải nghỉ ngơi 9 tuần lễ và vẫn còn đang rất yếu.

Cậu có thể mời ông Holmes tới nhà tôi được không?

Tôi mong được biết ý kiến ông ấy về vụ này, tuy nhà chức trách đã khẳng định rằng chẳng còn gì để mà tìm kiếm nữa.

Tôi mong ông ấy đến đây càng sớm càng hay.

Mỗi phút dài như cả tiếng đồng hồ kể từ lúc chuyện đó xảy ra.

Cậu nhớ nói rõ với ông ấy rằng nếu tôi không hỏi ý kiến sớm hơn, đó không phải là vì tôi nghi ngờ tài năng của ông ấy mà vì tôi đã mất lý trí.

Giờ đây tôi đã tỉnh táo lại, nhưng chưa dám suy nghĩ nhiều, sợ bệnh tái phát.

Cậu thấy đó, tôi suy nhược đến độ phải đọc thư này cho người khác viết.

Cậu hãy cố mời ông Holmes đến đây giúp tôi.

Bạn học cũ của cậu.

Percy Phelps".

Tôi xúc động đến nỗi, dù cho việc đó có khó khăn đến mấy tôi cũng vẫn làm.

Vợ tôi đồng ý là không nên để lỡ một phút nào.

Thế là tôi vội vàng tới ngôi nhà cũ ở phố Baker, và đưa lá thư ra.

Holmes chăm chú đọc.

- Thư chẳng cho chúng ta biết chi nhiều?

- Holmes nói, lúc đưa trả lại tôi.

- Hầu như chẳng có gì.

- Ấy thế mà tuồng chữ thì lại đáng chú ý.

- Nhưng đâu có phải là anh ấy viết.

- Đúng.

Đó là chữ của đàn bà.

- Chữ đàn ông chứ - Tôi phản đối.

- Không.

Thư này do đàn bà viết.

Đó là một phụ nữ có cá tính hiếm có.

Anh xem, việc bắt đầu một sự khảo sát, đó là cần biết rằng khách hàng của bạn thường xuyên tiếp xúc với những người nào, hoặc tốt hoặc xấu, hoặc một môi trường khác thường.

Vụ này gây hứng thú cho tôi rồi đó.

Nếu anh đã sẵn sàng, chúng ta đi Working ngay tức khắc, để gặp nhà ngoại giao và người đàn bà viết thư.

Chúng tôi bắt kịp ngay chuyến tàu ở ga Waterloo.

Chưa đầy một giờ sau, chúng tôi đã tới giữa khu rừng thông ở Working.

Nhà bạn tôi nằm giữa một khu đất mênh mông, cách nhà ga khoảng năm phút đi đường.

Chúng tôi được mời vào trong một phòng khách sang trọng, nơi đó có người đàn ông vạm vỡ đón tiếp chúng tôi với một lòng hiếu khách nhất.

Ông ta gần 40 tuổi, nhưng cặp má thật hồng hào và đôi mắt rất vui khiến ông giữ được sắc mặt của một đứa bé mũm mĩm và tinh nghịch.

- Tôi vui mừng khi thấy quý ông đã tới - ông ta nói, nồng nhiệt bắt tay chúng tôi - Suốt buổi sáng nay, Phelps không ngớt lo âu.

Bố mẹ Phelps yêu cầu tôi tiếp quý ông, bởi vì mỗi lần nhắc đến câu chuyện là hai cụ đau buồn.

- Chúng tôi chưa được biết gì cả - Holmes nhận xét - Cứ theo tôi thấy, ông không phải là thành viên trong gia đình.

Người tiếp chuyện chúng tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, rồi sau khi đã đưa mắt lên nhìn bộ quần áo, ông ta bật cười:

- A, ông đã thấy chữ "J.H" thêu trên áo của tôi?

Lúc đầu, tôi c tưởng ông là nhà tiên tri.

Tôi là Joseph Harrison.

Vì Phelps sắp cưới em gái Annie của tôi nên tôi sẽ là anh vợ cậu ấy.

Quý ông sẽ gặp em gái tôi trong phòng của Phelps, cô ấy đã chăm sóc Phelps suốt 2 tháng nay.

Chúng ta tới đó ngay.

Phelps đang rất sốt ruột.

Gian phòng được trang trí nửa như một phòng khách của phụ nữ, nửa như phòng ngủ.

Nhiều hoa được trưng bày với phong cách nhã nhặn khắp các căn phòng.

Trên một trường kỷ kê bên một cửa sổ mở rộng, một thanh niên xanh xao, đang nằm dài.

Một thiếu nữ ngồi cạnh anh ta, đứng lên khi thấy chúng tôi bước vào.

- Em ra ngoài, phải thế không Percy?

- Cô hỏi.

Phelps giơ tay ra, níu cô lại.

- Cậu khoẻ chứ, Watson?

- Anh ta nói với giọng thân mật - Tôi khó nhận ra cậu với bộ ria kia.

Chắc đây là ông Sherlock Holmes?

Sau khi giới thiệu xong, chúng tôi ngồi xuống ghế.

Người anh của vị hôn thê lẩn đi, nhưng em gái thì ở lại, tay cô trong tay người bệnh.

Cô thật rất đáng chú ý: hơi thấp và đầy mình, làn da không bóng láng, cặp mắt đen lớn sẫm tối của phụ nữ Ý và một mái tóc mun đen như hạt huyền.

- Tôi không muốn làm ông mất thì giờ - Anh bắt đầu nói - Khi gượng ngồi dậy, tôi xin đi thẳng vào vấn đề.

Tôi đã thành công mỹ mãn.

Nhưng ngay trước ngày lễ thành hôn, một bất hạnh đã giáng xuống đầu tôi.

"Tôi làm việc tại Bộ ngoại giao và nhờ có Huân tước Holdhurst, tôi mau chóng đạt tới một chức vị có trách nhiệm.

Khi cậu tôi được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ ngoại giao, ông giao cho tôi nhiệm vụ tế nhị và tôi đã hoàn thành một cách mỹ mãn.

Ông đã tới chỗ tuyệt đối tin tưởng vào những khả năng và sự kín đáo của tôi

Cách đây hai tháng rưỡi, chính xác là ngày 23 tháng 5, cậu tôi gọi tôi tới văn phòng, báo cho tôi biết rằng tôi sắp nhận một nhiệm vụ mới.

Ông đặt lên bàn một cuộn giấy màu xám, nói:

- Đây là bản chính của bản hiệp ước bí mật giữa Anh và Ý.

Thật không may là một số chi tiết linh tinh đã lọt vào tay báo giới.

Không thể để lọt thêm một chi tiết nhỏ nào nữa.

Các tòa đại sứ Pháp và Nga sẽ chi rất nhiều tiền để được biết nội dung của văn kiện này.

Nó không được đưa ra khỏi bàn giấy của ta, nhưng ta cần có một bản sao.

Bàn giấy cháu có khóa chứ?

- Dạ có.

- Thế thì cháu hãy cầm bản hiệp ước về và cất kỹ nó.

Ta sẽ cho những chỉ thị để tối nay cháu có thể ở lại trong văn phòng, sau khi các bạn đồng sự của cháu đã ra về, cháu sẽ chép một cách yên tĩnh.

Khi chép xong, cháu cất bản chính cùng với bản sao vào trong ngăn kéo có khóa và sáng mai cháu sẽ tận tay đem cả hai đến cho ta.

Tôi nhận lấy những tài liệu và..."

- Xin lỗi - Holmes nói - Chỉ có mình ông trong cuộc nói chuyện đó thôi chứ?

- Vâng, chỉ có hai người.

- Trong một gian phòng lớn?

- Mỗi cạnh 30 feet.

- Hai người ở giữa phòng.

- Phải.

- Và hai người nói thấp giọng.

- Cậu tôi luôn luôn nói thấp giọng.

Về phần tôi, hầu như tôi chỉ nói có 2 tiếng.

- Cám ơn ông - Holmes nới, nhắm mắt lại - Xin ông vui lòng kể tiếp

"Tôi chờ cho các nhân viên khác ra về.

Một nhân viên khác là Charles Gorot còn ở nán lại để làm cho xong một cái gì đó.

Tôi để anh ta ở lại và ra phố ăn bữa tối.

Khi tôi trở về thì anh ấy đã đi.

Tôi vội chép bản hiệp ước cho xong, bởi vì Joseph, anh vợ tôi đang ở London, sẽ đáp chuyến tàu 11 giờ để đi tới đây.

Nội dung bản hiệp ước xác định vị trí của nước Anh đối với Liên minh tay ba.

Nó cũng dự kiến cho đường lối chính trị mà nước Anh sẽ đi theo trong trường hợp hạm đội Pháp có ưu thế hơn hạm đội của Ý.

Văn kiện này hoàn toàn đề cập đến các vấn đề thuộc về hải quân.

Bên dưới có chữ ký của những nhân vật cao cấp.

Sau khi đọc xong, tôi bắt đầu chép.

Văn kiện này rất dài, bằng tiếng Pháp và gồm 26 điều khoản.

Tôi chép thật nhanh nhưng tới 9 giờ chỉ mới được có 9 điều khoản.

Lúc đó tôi biết là bị nhỡ chuyến tàu 11 giờ.

Tôi thấy người mình mụ đi, một phần vì thức ăn khó tiêu, một phần vì làm việc cả ngày.

Tôi bắt đầu thèm một tách cà phê.

Ở dưới chân cầu thang có một nhân viên phục vụ, ông thường pha cà phê cho các viên chức phải trực đêm.

Tôi giật chuông, gọi ông ta lên.

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy người bước vào phòng tôi là một người đàn bà luống tuổi, to lớn đeo tạp dề.

Bà ta nói rằng chồng bà ta đang bận...

Tôi bảo bà đem cà phê lên cho tôi.

Tôi chép thêm được 2 điều khoản nữa.

Rồi càng lúc càng thêm buồn ngủ, tôi đứng lên, đi đi lại lại trong phòng cho giãn gân giãn cốt.

Vẫn chưa có cà phê và tôi tự hỏi vì sao lâu quá như vậy?

Tôi mở cửa, đi vào hành lang nối liền nơi tôi làm việc tới một cầu thang xoáy ốc ở mé dưới là căn phòng nhỏ của người phục vụ.

Lưng chừng cầu có một bực thềm, với một hành lang khác thẳng góc với hành lang này.

Cái hành lang thứ hai, qua một cầu thang nhỏ, dẫn tới một cánh cửa dành cho nhân viên phục vụ hoặc những viên chức vào từ phố Charles.

Tôi xuống cầu thang và thấy người phục vụ ngủ vùi trong phòng; ấm nước đặt trên ngọn đèn cồn sôi sùng sục, nước tràn ra cả sàn nhà.

Tôi lay ông ta thì có tiếng chuông reo phía trên đầu tôi và ông ta cũng giật mình thức giấc.

- Ông Phelps, thưa ông!

- Anh ta nói.

- Tôi xuống để xem cà phê xong chưa.

- Tôi ngủ thiếp đi, thưa ông.

Ông ta nhìn tôi rồi ngước mắt nhìn lên cái chuông vẫn còn kêu vang, sau cùng ông nói:

- Ông đang ở đây, vậy ai gọi chuông?

- Gọi chuông?

- tôi lặp lại.

- Cái chuông nào?

- Cái chuông trong văn phòng ông đó.

Tôi có cảm tưởng như có một bàn tay lạnh giá bóp tim tôi.

Tôi leo lên cầu thang, nhảy từng bốn bước một, tôi chạy trong hành lang; không có ai trong văn phòng tôi cả.

Tất cả vẫn y nguyên như khi tôi bỏ ra ngoài.

Bản sao chép của hiệp ước còn đó, nhưng nguyên bản thì đã biến mất.

Holmes nhỏm dậy trên ghế và xoa hai bàn tay vào nhau.

- Vậy lúc đó ông làm gì?

- Holmes hỏi.

- Tôi đoán rằng kẻ trộm đã lẻn vào qua ngả cửa nhỏ và lối cầu thang thứ hai.

Nếu không, thì tôi đã gặp y rồi.

- Ông có chắc là người đó không ẩn nấp trong văn phòng hoặc trong hành lang chứ?

- Không thể nào được?

Ngay đến một con chuột cũng không thể ẩn mình trong văn phòng tôi hoặc trong hành lang.

Không có một chỗ nào để nấp cả.

- Cám ơn, xin ông tiếp tục.

- Bấy giờ người phục vụ cũng đã chạy lên.

Chúng tôi cùng chạy bổ vào hành lang thứ hai và tuột xuống cầu thang chật hẹp trổ ra phố Charles.

Bên dưới, cánh cửa đó đóng lại nhưng không khóa.

Chúng tôi mở cửa và chạy ra ngoài.

Lúc đó tháp chuông nhà thờ điểm 3 tiếng: 10 giờ thiếu 15.

- Chi tiết này hết sức quan trọng - Holmes nói và ghi vội vào cổ tay áo anh.

"Đêm đó trời tối, và có một cơn mưa nhỏ.

Không thấy bóng một ai, nhưng ở cuối phố Charles, xe cộ vẫn đi lại nườm nượp như mọi ngày.

Chúng tôi chạy trên vỉa hè, tới góc đường, gặp một cảnh sát đang đứng gác.

- Vừa xảy ra một vụ trộm - Tôi kêu lên với ông ta - Một tài liệu quan trọng vừa bị đánh cắp tại Bộ ngoại giao.

Ông có thấy người nào đi ngang qua đây không?

- Tôi đứng gác ở đây đã 15 phút và chỉ thấy có mỗi một người đi qua: một bà to lớn, luống tuổi, đầu choàng khăn san.

- Đó là bà vợ tôi - Người phục vụ vội nói - Không có một ai khác đã đi qua đây sao?

- Không một ai.

- Thế thì kẻ trộm hẳn đã bỏ trốn qua đầu bên kia - người phục vụ kêu lên, sau khi kéo vào tay áo tôi.

Nhưng điều đó không làm tôi hài lòng, và sự nài nỉ lại càng làm cho tôi thêm hồ nghi.

- Bà ấy đi lối nào?

- Tôi hỏi.

- Tôi không biết, thưa ông.

Tôi chỉ thấy bà ấy đi ngang qua, đi rất nhanh - Người cảnh sát báo cáo.

- Bao lâu rồi?

- Ồ, chưa lâu lắm.

- Năm phút?

- Không tới năm phút đâu.

- Ông chỉ phí thì giờ - Người phục vụ kêu lên - Và mỗi một phút là đáng kể.

Tôi đã nói với ông rằng vợ tôi chẳng liên can gì đến vụ này hết.

Tốt hơn chúng ta nên tới đầu phía đằng kia.

Nếu ông không đi, thì tôi đi.

Nói xong, ông ta bỏ chạy về hướng ngược lại.

Nhưng tôi đã bắt kịp ngay và tôi nắm lấy cổ tay ông ta.

- Nhà ông ở đâu?

- Số 16 đường Ivy Lance ở Brixton.

Nhưng thưa ông Phelps, ông hãy tới đầu phố bên kia để thử xem chúng ta có biết được điều gì chăng.

Cùng với người cảnh sát, chúng tôi chạy lại đầu đằng kia.

Nhưng chúng tôi chỉ thấy đường phố chật ních một dòng lưu thông dày đặc.

Những người qua đường hối hả, tìm chỗ trú mưa.

Chẳng có những người thơ thẩn đi chơi rong để chúng tôi có thể hỏi thăm.

Thế là chúng tôi quay trở lại Bộ.

Lùng khắp cầu thang và hành lang, nhưng không có kết quả.

Cái hành lang dẫn tới văn phòng tôi có lót một tấm thảm bằng vải nhựa.

Chúng tôi đã quan sát kỹ lưỡng nhưng chúng tôi không tìm thấy một dấu chân nào!"

- Trời mưa suốt buổi tối đó?

- Trời mưa lúc 7 giờ.

- Thế thì tại sao người đàn bà vào trong văn phòng ông lúc 9 giờ mà lại không để lại các dấu bùn?

- Tôi sung sướng thấy ông nhấn mạnh trên điểm đó.

Ngay lúc đó nó cũng đã làm tôi chú ý.

Nhưng mấy bà quét dọn trong nhà có thói quen khi tới Bộ, thường tháo giày ra trong căn phòng nhỏ của người phục vụ để thay bằng đôi giày vải nhẹ.

- Thế là rõ rồi.

Vậy là không có dấu vết nào cả trong lúc bên ngoài trời vẫn có mưa.

Sau đó ông làm gì?

- Chúng tôi quan sát văn phòng.

Không có một lối cửa bí mật nào, còn các cửa sổ thì cao hơn mặt đất tới 30 feet.

Vả chăng cả hai cửa sổ đều đã đóng kín từ bên trong.

Tôi dám đem mạng sống mà đánh cá rằng kẻ cắp đã lẻn qua ngả cửa chính.

- Thế còn lò sưởi?

- Không dùng đến.

Sợi dây giật chuông treo ngay bên phải bàn giấy để với lấy nó.

Nhưng tại sao một kẻ phạm tội lại muốn giật chuông?

Điều này quả thật khó hiểu.

- Sau đó thì ông làm gì?

Các ông đã quan sát căn phòng, thử xem kẻ lén đột nhập có để lại dấu vết nào không?

Không có tàn thuốc, hoặc một cái bao tay mà y có thể đánh rơi, hoặc một cây trâm cài tóc, hoặc bất cứ một cái gì đó.

- Hoàn toàn không có một cái gì hết.

- Không có cái mùi gì sao?

- Chúng tôi không nghĩ tới điều này.

- Một mùi thuốc hút có thể giúp chúng ta nhiều trong cuộc điều tra.

- Tôi không hút thuốc.

Cho nên nếu có một mùi thuốc ắt hẳn tôi đã ngửi thấy.

Không, tuyệt đối không có một dấu vết nào.

Cái việc xác định duy nhất là vợ người phục vụ hối hả rời khỏi hiện trường.

Người cảnh sát và tôi đều đồng ý là cần phải tóm lấy người đàn bà đó, trước khi bà ta tẩu tán tài liệu.

Trong thời gian đó, Scotland Yard đã được báo động.

Thám tử Forbes đã tới ngay sau đó và nắm lấy nội vụ với lòng hăng hái nhất.

Chúng tôi mướn một cỗ xe ngựa và nửa giờ sau tới địa chỉ đã được biết.

Một cô gái ra mở cửa: đó là con gái lớn của bà Tangey.

Mẹ cô chưa về tới.

Cô đưa chúng tôi vào trong căn phòng phía trước để chờ bà.

Mười phút sau, có tiếng gõ cửa.

Và lúc đó chúng tôi đã mắc phải lỗi lầm nghiêm trọng.

Thay vì chúng tôi ra mở cửa thì chúng tôi lại để cho cô gái làm việc đó.

Chúng tôi nghe cô nói: "Mẹ ơi, có hai ông đang đợi mẹ".

Liền đó, chúng tôi nghe tiếng những bước chân bước vội ngoài hành lang.

Forbes đã mở cánh cửa ra và cả hai chúng tôi đều nhào về phía căn phòng ở cuối nhà bếp, nơi mà người đàn bà đã tới trước chúng tôi.

Bà ấy nhìn chằm chặp vào chúng tôi với cặp mắt ngờ vực, rồi bất chợt bà ấy nhận ra tôi và hết sức ngạc nhiên.

- Nhưng...

Nhưng đây là ông Phelps ở Bộ Ngại giao mà!

- Vậy bà tưởng chúng tôi là ai, khi bà bỏ chạy?

- Người đi cùng với tôi hỏi bà.

- Tôi cứ tưởng các ông là cảnh sát.

Chúng tôi đang gặp khó khăn với một nhà buôn.

- Chúng tôi tin rằng bà đã lấy một tài liệu quan trọng ở Bộ ngoại giao và vội vã vào đây để giấu nó.

Bà phải đi về trụ sở của Scotland Yard.

Bà ta phản đối và kháng cự, nhưng uổng công.

Một cỗ xe ngựa lớn được gọi đến và cả ba chúng tôi lên xe.

Trước đó chúng tôi quan sát khắp gian bếp, đặc biệt là cái lò, để xem bà ta có tẩu tán tài liệu trong thời gian ngắn ngủi chỉ có mình bà ở trong bếp.

Không có dấu vết tàn tro hoặc mẩu giấy nào.

Ngay khi về tới Scotland Yard, bà ta được giao cho một nữ cảnh sát.

Thời gian chờ đợi cuộc khám xét dường như dài bất tận: tim tôi như hấp hối.

Sau chót, người nữ cảnh sát tới báo cáo rằng bà không mang theo cái gì trong người.

Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy hiện ra một nỗi khủng khiếp.

Cho đến lúc đó, tôi vẫn tin chắc là mình sẽ thâu lại được bản hiệp ước.

Nhưng giờ đây chẳng còn gì để làm nữa.

Nó thật là thê thảm.

Thưa ông Holmes, cậu Watson sẽ cho ông biết là hồi còn đi học, tôi là một đứa bé nhạy cảm, dễ kích động.

Tôi nghĩ tới cậu tôi, tới nỗi nhục nhã mà tôi sắp bắt ông phải hứng chịu, tôi phải hứng chịu và tất cả những ai thân cận với tôi đều phải liên quan.

Tôi không biết điều gì đã xảy đến với tôi.

Dường như thần kinh tôi bị kích động quá mãnh liệt.

Tôi còn nhớ một cách mơ hồ rằng một toán nhân viên cố tìm cách làm cho tôi bình tĩnh lại.

Một người trong toán đó đã dẫn tôi ra ga và đưa tôi về đây.

Mẹ tôi tan nát cõi lòng vì buồn phiền.

Anh bạn Joseph đã bị tống ra khỏi căn phòng xinh đẹp này để nó được biến thành bệnh xá.

Trong 9 tuần, tôi cứ nằm đây trong cơn mê sảng, bị giày vò bởi chứng sốt viêm não.

Nếu không có cô Harrison và ông bác sĩ đã tận tình chăn sóc thì chắc tôi đã chết rồi.

Cô là người điều dưỡng ban ngày.

Ban đêm một nữ điều dưỡng chuyên nghiệp khác thức chanh chừng tôi.

Dần dà trí nhớ trở lại với tôi.

Việc đầu tiên tôi làm là đánh điện cho ông Forbes.

Ông ta tới đây, nói rằng vẫn chưa có một mấu chốt nào được phát hiện.

Người phục vụ và bà vợ đã bị thẩm vấn đến cùng vẫn không đem lại một ánh sáng nhỏ nhoi nào.

Thế là những mối nghi ngờ được chuyển sang Gorot, là người đã làm việc đến khuya hôm đó ở văn phòng.

Việc anh ta ở lại Bộ và cái tên gốc Pháp của anh ta là hai điểm duy nhất có thể làm anh ta bị nghi ngờ.

Nhưng rõ ràng tôi chỉ ghi chép khi anh ta đã ra về.

Rốt cuộc người ta chẳng tìm ra được cái gì và nội vụ dừng lại ở đó.

Vậy là tôi hướng về ông, thưa ông Holmes.

Ông là nguồn hy vọng cuối cùng của tôi.

Nếu ông không thành công thì danh dự và sự nghiệp của tôi vĩnh viễn sụp đổ.

Bị kiệt sức vì câu chuyện kể dài, người bệnh lại nằm xuống.

Người nữ tá cho anh uống một thứ thuốc nào đó.

Holmes vẫn ngồi yên, đầu ngả ra đằng sau, hai mắt nhắm nghiền lại để tập trung tư tưởng.

Sau cùng anh nói:

- Bản tường trình của ông thật quá minh bạch.

Tuy nhiên có một điểm mà tôi cho là rất quan trọng.

Ông có nói với bất cứ ai về việc ông được giao phó cho làm công việc đó không?

- Tôi không nói với ai cả.

- Ngay với cô Harrison?

- Không.

Tôi không trở về Working trong khoảng thời gian từ lúc nhận được lệnh tới lúc bắt đầu ghi chép.

- Không một ai tình cờ gặp ông?

- Không một ai.

- Có ai trong những thành viên thuộc gia đình ông lại biết con đường đi tới văn phòng ông không?

- Ồ, có.

Tất cả đều biết.

- Nếu ông không nói với người nào về bản hiệp ước, thì những câu hỏi đó quả là thừa.

- Tôi đã không nói điều gì, với bất cứ ai!

- Ông biết gì về người phục vụ.

- Chỉ biết ông ta là cựu quân nhân.

- Trung đoàn nào?

- Ồ, người ta nói với tôi...

Coldstream Guards!

- Cám ơn.

Tôi sẽ được Forbes cho biết những chi tiết.

Nhà cầm quyền thu thập tài liệu giỏi nhưng không sử dụng chúng theo cách tốt nhất.

Anh đi từ bên giường ra khuôn cửa sổ mở rộng và nâng lên một bông hoa đã rủ, chiêm ngưỡng nét hài hòa của màu đỏ và màu xanh.

- Tất cả những thực phẩm đều thực sự cần thiết cho đời sống chúng ta.

Nhưng đóa hoa hồng này là một món xa hoa.

Hương thơm và sắc màu của nó là một sự tô điểm cho cuộc sống.

Chính lòng nhân từ của Thượng đế đã tạo cho con người những cái dư thừa ấy, và vì thế chúng ta phải hy vọng nhiều nơi những đóa hoa.

Phelps và cô y tá nhìn Holmes với nét mặt đầy vẻ ngạc nhiên và thất vọng.

Holmes đã đắm chìm vào mơ mộng và bông hồng trên tay.

Sau vài phút im lặng, cô thiếu nữ chen vào.

- Ông có một phương cách nào để giải đáp cái bí ẩn này không, thưa ông Holmes?

- Cô hỏi với một thoáng chua chát trong giọng nói.

- Ồ, điều bí ẩn à?

- Holmes lặp lại khi bất thình lình bị lôi trở về với thực tại - Quả thật đây là một vấn đề rắc rối, nhưng tôi sẽ chú tâm đến.

Tôi sẽ thông báo cho cô biết.

- Ông có thấy một dấu vết nào không?

- Quý vị đã cho chúng tôi biết tới 7 vấn đề.

Nhưng tôi phải kiểm tra lại chúng, trước khi có thể bày tỏ ý kiến.

- Ông có nghi ngờ ai không?

- Tôi nghi...

- Ai?

-...

Rằng tôi đã rút ra những kết luận của mình một cách quá nhanh.

- Vậy thì ông hãy trở lại London và kiểm tra lại chúng.

- Lời khuyên của cô thật là chí lý, thưa cô Harrison.

- Holmes nói khi đứng lên.

- Watson, tôi tin rằng chúng ta chẳng có thể làm gì khá hơn.

Ông Phelps, ông đừng có quá hy vọng.

Vấn đề rất là rối rắm.

- Tôi sẽ sống trong cơn sốt cho tới lúc được gặp lại ông.

- Nhà ngoại giao kêu lên.

- Thế thì ngày mai tôi sẽ trở lại bằng cùng một chuyến tàu.

Nhưng rất có thể là bản tường trình của tôi sẽ không mấy lạc quan.

- Khi được biết là có người đang cố làm một cái gì đó, tôi có thêm một chút khí lực.

Nhân đây, tôi vừa nhận được thư của Huân tước Holhurst.

- Thế à?

Ông ta nói gì vậy?

- Một lá thư lạnh nhạt, nhưng không khô khan.

Ông lặp lại là vụ này có tầm quan trọng hàng đầu và thêm rằng ông sẽ không ký một quyết định nào về tương lai của tôi trước khi tôi được bình phục và có khả năng để sửa chữa cái tai họa do tôi gây ra.

- Vậy thì, đó là người biết điều và đầy lòng nhân hậu - Holrnes nói - Ta đi thôi, Watson, chúng ta còn có cả một ngày để làm việc.

Ông Joseph tiễn chúng tôi ra ga và ngay đó chúng tôi lên tàu.

Holmes chìm đắm trong suy tư sâu lắng.

Anh chỉ mở miệng khi tới vùng phụ cận London.

- Anh chàng Phelps không uống rượu chứ?

- Tôi nghĩ là không.

- Tôi cũng vậy.

Nhưng cần phải tính đến mọi tình huống bất trắc có thể xảy ra.

Anh chàng đó đang lún mình trong những làn nước thật sâu, và tất cả vấn đề là liệu chúng ta có thể kéo anh ta lên bờ được chăng.

Anh nghĩ sao về cô Harrison?

- Cô là người có cá tính riêng.

- Đúng, nhưng hoặc là một cá tính hướng về điều thiện, hoặc là tôi bị lầm to.

Cô ta và người anh là con của một người thợ cả xưởng rèn ở bên Northumberland.

Phelps đính hôn với cô trong một chuyến đi vào mùa đông năm ngoái và cô đã cùng anh mình tới đây để được giới thiệu với gia đình bên chồng.

Rồi thì tai họa nổ ra và cô ở lại để chăm sóc cho hôn phu, trong lúc ông anh Joseph, thấy mình được chăm chút một cách đầy đủ, nên cũng ở lại luôn.

Anh thấy đó, có lúc tôi làm vài cuộc điều tra hoàn toàn biệt lập.

Nhưng ngày hôm nay chúng ta đi tìm...

- Các bệnh nhân của tôi.

- Ồ, nếu anh thấy những công việc của anh lại lý thú hơn thì...

- Holmes nói với một giọng trách cứ.

- Tôi định nói với anh rằng các bệnh nhân của tôi có thể không cần đến tôi trong hai hay ba ngày, bởi vì lúc này đang mùa ít việc.

- Tuyệt vời!

- Anh kêu lên, lấy lại tính khí vui vẻ - Thế thì chúng ta cùng nhau chăm lo cái vụ này.

Tôi nghĩ là khởi đầu chúng ta cần phải gặp Forbes để có những chi tiết mà chúng ta cần biết.

Rồi chúng ta sẽ biết cần tấn công theo chiều hướng nào.

- Anh đã nói là có một dấu vết?

- Chúng ta có nhiều dấu vết.

Nhưng sau cuộc điều tra, ta sẽ kiểm tra lại giá trị của các điểm đó.

Vụ án khó giải thích nhất, là vụ án được thực hành không mục đích.

Vụ án này ở đây có một mục đích.

Nó đưa lại lợi ích cho ai?

Có ông đại sứ nước Pháp này, ông đại sứ nước Nga này, và có cả người trả giá cao hơn hai ông đại sứ đó, và còn có huân tước Holdhurst nữa.

- Huân tước Holdhurst?

- Thật không tưởng tượng nổi một chính khách bị rơi vào hoàn cảnh như thế mà lại không tiếc nuối về sự biến mất của một tài liệu quan trọng đến nhường đó.

- Nhưng huân tước Holdhurst là một chính khách có một quá khứ khả kính.

- Nhưng chúng ta không thể chỉ mới thoạt nhìn mà gạt bỏ nó.

Ngày hôm nay chúng ta sẽ tới đó, để xem ông nói với chúng ta điều gì.

Trong lúc chờ đợi, tôi đã cho phát động cuộc điều tra rồi.

- Thế à?

- Phải.

Từ ga Working tôi đã đánh hai bức điện cho các tờ báo ở London.

Lời nhắn tin này sẽ được đăng tải trên các báo phát hành vào chiều nay.

Anh đưa cho tôi một tờ giấy xé ra từ cuốn sổ tay.

Trên đó được viết bàng bút chì: "Thưởng 10 bảng cho người nào biết số xe của cỗ xe ngựa đã đổ một người khách xuống cổng hoặc gần cổng Bộ ngoại giao trên phố Charles, vào hồi 10 giờ kém 15 đêm 23 tháng 5.

Trả lời về 221B, phố Baker".

- Kẻ trộm đi xe ngựa đến à?

- Nếu ông Phelps không lầm lẫn khi khai rằng không có một chỗ ẩn nấp nào trong văn phòng cũng như ngoài hành lang thì người khách tất phải từ bên ngoài vào.

Nếu người đó tới vào một đêm ẩm ướt mà không để lại một vết chân nào trên vải nhựa lót nhà (được quan sát vài phút sau khi y đi qua), thì chắc chắn là y đã tới bằng xe ngựa.

- Điều đó có thể chấp nhận được.

- Có thể dấu vết này sẽ dẫn chúng ta đến một nơi nào đó.

Nhưng, còn có hồi chuông, chi tiết lố lăng nhất trong vụ này.

Tại sao y lại gọi chuông?

Có phải tên trộm làm thế để tỏ thái độ anh hùng?

Hoặc có một ai khác đi cùng với kẻ trộm đã giật chuông để ngăn chặn vụ trộm?

Hoặc việc đó chỉ là ngẫu nhiên?

Hoặc đó là...

- Holmes lại rơi vào trạng thái suy tư thầm lặng.

Nhưng tôi thấy dường như có một giả thiết mới bất chợt hình thành trong óc anh.

Chúng tôi xuống tàu vào hồi 3 giờ 20.

Sau khi đã nuốt vội vàng một miếng ở quầy ăn nhà ga, chúng tôi đi thẳng tới Scotland Yard.

Forbes là một người thấp nhỏ, gương mặt thông minh và những đường nét kiên quyết, nhưng kém dễ thương.

Cuộc tiếp xúc thật lạ lùng và thái độ của ông còn lạ lùng hơn nữa khi ông được biết mục đích chuyến viếng thăm của chúng tôi.

- Đã từ lâu tôi biết phương pháp làm việc của ông, thưa ông Holmes - ông ta nói với một giọng mỉa mai cay độc - Ông luôn luôn sử dụng những tin tức mà cảnh sát cung cấp cho ông và rồi tìm cách tự mình kết thúc vụ án để làm mất uy tín của những cơ quan công quyền.

- Trái lại - Holmes đáp - Trong 53 vụ, tên tôi chỉ xuất hiện có 4 lần, và cảnh sát đã lấy về phần mình 49 vụ.

Tôi không trách ông vì ông chưa biết đến điều đó, bởi lẽ ông còn trẻ và thiếu kinh nghiệm.

Nhưng nếu như ông muốn nổi danh trong cái vụ mới này, ông cần phải cộng tác với tôi, chớ không phải chống lại tôi.

- Tôi không mong gì hơn là có được một vài thành tích - ông thanh tra thay đổi giọng nói - Cho tới nay, thật sự tôi không thâu đạt được chút gì.

- Ông đã áp dụng những biện pháp nào?

- Khi theo dõi ông Tangey, chúng tôi biết ông ấy là một người dũng cảm và rất tốt.

Nhưng bà vợ thì chẳng ra gì.

Tôi có cảm tưởng là bà ấy biết rất nhiều, nhưng chẳng muốn nói ra.

- Ông cũng cho theo dõi bà ấy chứ?

- Phải.

Bà ấy uống rượu, và nhân viên của chúng tôi đã hai lần ngồi bên bà khi bà đã quá chén, nhưng cũng không moi ra được điều gì.

- Những kẻ môi giới đã tới nhà họ phải không?

- Phải, nhưng họ đã thanh toán cái món nợ cho nhà buôn xong rồi.

- Tiền do đâu mà có?

- Tiền lương hưu của ông chồng.

Họ chẳng có vẻ gì là có tiền cả.

- Bà ta giải thích ra sao về cú chuông gọi của ông Phelps kêu đưa cà phê lên?

- Bà nói rằng chồng bà rất mệt và bà muốn làm đỡ cho chồng.

- Điều đó phù hợp với việc ít lâu sau người chồng ngủ vùi trong phòng.

Vậy là chẳng có gì chống lại họ, ngoại trừ tính nết của bà vợ.

Ông có hỏi tại sao bà hối hả ra về trong đêm tối đó?

- Bà đã ra về muộn hơn ngày thường và muốn trở về nhà ngay.

- Ông có cho bà ta biết ông và ông Phelps đã đi sau bà ta tới 20 phút mà lại đến nhà trước bà không?

- Bà ta giải thích rằng đi xe ngựa phải nhanh hơn đi bộ.

- Bà ta có giải thích cái lý do đã khiến cho bà ta ngay khi vừa về tới nhà đã chạy vội vào trong bếp không?

- Tiền để trả nợ nằm trong bếp.

- Ít ra thì bà có câu trả lời cho mọi chuyện.

Ông có hỏi bà ta xem, khi ra khỏi trụ sở Bộ, bà có gặp ai không, hoặc có thấy ai thơ thẩn bên phía phố Charles không?

- Bà chỉ trông thấy có người cảnh sát thôi.

- Vậy thì tôi thấy ông đã thẩm vấn bà ta rất kỹ càng!

Thế ông còn làm những gì khác?

- Nhân viên Gorot đã được theo dõi trong suốt 9 tuần qua, nhưng không có kết quả gì.

Không có gì chống lại ông ta.

- Và còn gì nữa?

- Nói thật, chúng tôi chẳng có gì để mà tiến hành.

- Ông nghĩ gì về cái chuông trong lúc ông Phelps ở trong phòng của người phục vụ?

- Tôi xin thú thật là tôi còn chưa hết ngạc nhiên.

Phải là một kẻ to gan lớn mật mới vừa ăn trộm vừa báo động.

- Đúng, thật là kỳ cục!

Tôi xin cảm ơn ông về tất cả những chỉ dẫn đó.

Ta đi thôi, Watson.

- Bây giờ chúng ta đi đâu?

- Tôi hỏi khi đã ra bên ngoài.

- Chúng ta tới huân tước.

Chúng tôi gặp may: Huân tước Holdhurst vẫn còn ở trong văn phòng ông.

Holmes cho trình danh thiếp và ngay đó chúng tôi được mời vào.

Nhà chính khách đón tiếp chúng tôi với vẻ mặt lịch sự.

Ông mời chúng tôi ngồi trong hai ghế bành sang trọng kê hai bên lò sưởi.

Đứng trên tấm thảm giữa hai chúng tôi, ông có một dáng thật đẹp với thân hình cao mảnh, bộ mặt nhọn và trầm tư.

- Tên ông đối với tôi rất quen thuộc, thưa ông Holmes?

- ông cười nói - Và đương nhiên tôi không thể làm như không biết lý do của chuyến viếng thăm này.

Nhưng tôi muốn được biết ông hành động vì lợi ích của ai, nếu như tôi có thể tự cho phép đặt ra với ông câu hỏi đó.

- Vì lợi ích của ông Percy Phelps.

- A!

Vì đứa cháu của tôi ông thừa biết rằng tôi rất thích câu: Luật pháp không chừa bất cứ ai.

- Nhưng nếu tôi tìm ra tập tài liệu đó?

- A!

Vấn đề sẽ lại khác hẳn!

- Có một hoặc hai câu hỏi mà tôi mong muốn được đặt ra với huân tước!

- Tôi sẽ sung sướng được thông báo cho ông điều gì tôi có thể nói, trong phạm vi quyền hạn của tôi.

- Có phải ngài đã ban những chỉ thị sao chép bản văn tại gian phòng này.

- Phải.

- Thế thì không một ai có thể nghe được lời ngài?

- Phải.

- Ngài có nói với một người nào đó rằng ngài có ý định chép lại bản hiệp ước không?

- Không.

- Ngài tuyệt đối tin chắc như vậy chứ?

- Tuyệt đối.

- Thế thì, bởi vì ngài không bao giờ nói đến, bởi vì ông Phelps không bao giờ nói đến, bởi vì không một ai ngoài hai cậu cháu ngài biết được, nên sự có mặt của kẻ trộm trong văn phòng là hoàn toàn do ngẫu nhiên.

Kẻ đó đã thấy mình bỗng nhiên gặp cơ may.

Và y đã lấy trộm.

Nhà chính khách mỉm cười nói:

- Điều đó đã vượt khỏi phạm vi của tôi.

Holmes suy nghĩ trong một lát:

- Theo chỗ tôi biết, ngài e sợ rằng sự phổ biến bản hiệp ước sẽ kéo theo nhiều hậu quả trầm trọng.

Ông bộ trưởng sa sầm nét mặt:

- Đúng thế.

- Nhưng những hậu quả đó chưa xảy ra?

- Chưa.

- Nếu bản hiệp ước đã lọt tới Bộ ngoại giao Pháp hoặc Nga thì hẳn là ngài đã nghe thấy tiếng vọng?

- Hẳn là như thế - Huân tước nhăn mặt, nói.

- Gần 10 tuần lễ đã trôi qua mà ngài vẫn còn chưa nghe thấy một động tĩnh nào.

Vậy phải chăng vì một lý do nào đó, bản hiệp ước vẫn chưa đến đó?

Huân tước nhún vai:

- Chúng ta không thể tin rằng tên ăn trộm đem bản hiệp ước về nhà rồi đóng khung treo lên tường.

- Có thể là y đợi một cuộc đấu giá.

- Nếu y đợi quá lâu thì y sẽ chẳng còn được cái gì.

Trong vài tháng, bản hiệp ước sẽ không còn gì là bí mật cả.

- Phải chăng tên trộm đã đột nhiên ngã bệnh.

- Một cơn sốt viêm não, chẳng hạn?

- Nhà chính khách hỏi, phóng lên người Holmes một tia nhìn sắc sảo.

- Tôi đã không dám nói như thế - Holmes điềm tĩnh trả lời - Giờ đây, thưa ngài, chúng tôi đã làm ngài tốn nhiều thì giờ, và chúng tôi xin từ giã.

- Tôi xin cầu chúc ông tất cả sự thành công, cho dù kẻ phạm tội là ai?

- ông Bộ trưởng nói khi tiễn chúng tôi ra cửa.

- Một cá tính cao quý!

Nhưng ông ấy phải tranh đấu để bảo vệ cương vị mình.

Ông ấy chẳng giàu có gì cả và có nhiều việc phải làm.

Chắc hẳn anh đã thấy là đôi giày của ông đã phải thay đế.

Anh Watson, anh hãy trở lại với công việc của anh, nhưng nhớ trở lại Working vào ngày mai.

Sáng hôm sau, tôi đi cùng anh xuống Working.

Anh cho tôi biết là anh không nhận được hồi âm cho lời nhắn tin trên các tờ báo và anh cũng chẳng có gì để cho tôi biết thêm.

Chúng tôi gặp lại Phelps, anh ta đã khá hơn buổi tối hôm trước, đã có thể đứng lên được.

- Ông có tin gì mới không?

- Phelps hỏi ngay tức khắc.

- Như đã tiên liệu bản báo cáo của tôi là tiêu cực - Holmes đáp.

- Nhưng ông không nản chí chứ?

- Không.

- Nếu chúng ta kiên trì thì sự thật sẽ thắng.

- Cô Harrison nói.

- Ở đây, chúng tôi có nhiều điều để nói với ông hơn - Phelps nói khi ngồi xuống trường kỷ.

- Tôi hy vọng ông đã có tin gì mới.

- Chúng tôi đã gặp một biến cố...

Gương mặt Phelps trở thành rất nghiêm trọng và ở đằng sau tia nhìn của anh, là sự sợ hãi.

- Tôi bắt đầu tin rằng tôi là mục tiêu của một âm mưu quỷ quái nào đó.

- A!

- Holmes kêu lên.

- Điều đó khó mà tin nổi, bởi vì tôi không có kẻ thù nào.

Tuy nhiên, sau đêm qua, tôi đã đi tới một kết luận như thế.

- Mong ông kể cho nghe.

- Trước hết, đó là đêm đầu tiên không có người canh chừng trong phòng tôi.

Tôi cảm thấy mình khoẻ mạnh đến mức không còn cần đến cô y tá nữa.

Tuy nhiên, tôi không tắt đèn trong khi ngủ.

Vào khoảng 2 giờ sáng, tôi đang ngủ thì bị đánh thức bởi một tiếng động nhẹ.

Một tiếng động giống như tiếng con chuột gây ra khi nó gặm tấm ván.

Tôi nằm yên để lắng nghe, với cảm tưởng đó chỉ là một con chuột nhắt.

Rồi tiếng động lại mạnh hơn và từ của sổ vang lên một tiếng động gọn của kim khí.

Tôi ngồi dậy.

Chẳng còn nghi ngờ gì nữa: một người nào đó đang cố nhét một dụng cụ qua khe hở giữa các khung của và cái tiếng động lớn là do then móc cửa sổ bị đẩy ra.

Trong 10 phút, tôi không nghe thấy gì hơn: tựa hồ như người ta muốn kiểm tra xem tiếng động có đánh thức tôi dậy không.

Rồi một tiếng kêu cọt kẹt và cánh của mở ra từ từ.

Tôi không biết cách tự chủ để chờ xem sự việc ra sao, nên đã nhảy ra khỏi giường.

Một người đàn ông ngồi xổm bên khuôn cửa sổ.

Tôi không nhìn rõ y vì y chuồn đi như một tia chớp, một tấm áo choàng che kín phần dưới mặt y.

Một điều mà tôi tin chắc, là trong tay y có cầm một con dao dài.

- Thế rồi sau đó ông làm gì?

- Tôi định gọi chuông và đánh thức cả nhà dậy.

Nhưng chuông thì đặt trong bếp còn các gia nhân thì ngủ tuốt trên cao.

Tôi la lên.

Joseph chạy xuống và anh báo động cho những người còn lại trong nhà.

Joseph và người hầu phòng tìm thấy những dấu chân trong cái bồn hoa ở mé dưới cửa sổ, nhưng thời tiết khô ráo của mùa này đã khiến họ không còn theo được dấu vết trên bãi cỏ.

Tuy nhiên có một chỗ trên hàng rào gỗ dọc theo con đường là nơi có những dấu vết.

Họ cho rằng có ai đó đã nhảy qua và đã làm cho hàng rào bị hư.

Tôi chưa báo với cảnh sát địa phương, bởi vì tôi mong được biết ý kiến ông trước đã.

Câu chuyện kể của Phelps đã tạo ra một tác dụng khác thường nơi Holmes.

Anh đứng lên khỏi ghế và đi đi lại lại trong phòng trong một trạng thái bị kích động.

- Hoạ vô đơn chí!

- Phelps cười , kết luận.

- Ông có thể đi dạo một vòng quanh nhà với tôi được chăng?

- Holmes nói.

- Tôi rất mong được hưởng chút nắng trời.

Joseph sẽ cùng đi.

- Và cả em nữa - cô Harrison nói.

- Cô cứ ngồi ngay tại cái chỗ mà cô đang ngồi đây - Holmes kêu lên.

Cô thiếu nữ ngồi xuống, bất mãn.

Anh cô nhập bọn, và bốn người chúng tôi ra khỏi nhà.

Chúng tôi đi dọc theo bãi cỏ để tới khuôn cửa sổ.

Quả thật ở đó có những dấu chân trên bồn hoa, nhưng những dấu đó đã bị làm rối và không còn rõ nữa.

Holmes cúi nghiêng xuống trong chốc lát rồi đứng lên và nhún vai:

- Chẳng ai rút ra từ đây dược một cái gì!

Chúng ta hãy đi quanh nhà để xem vì sao căn phòng này lại được chọn lựa.

- Căn phòng được nhìn thấy rõ hơn từ ngoài đường - ông Joseph gợi ý.

- À phải, đương nhiên ở đây có một cánh cửa ắt hẳn hắn định cạy phá.

Cửa này dùng để làm gì?

- Đây là lối vào của những người giao hàng, ban đêm được khóa lại.

- Trước đây đã có lần nào báo động tương tự không?

- Chưa bao giờ - Phelps đáp.

- Trong nhà ông có cất giữ những bát đĩa hoặc đồ dùng bằng bạc khiến cho kẻ trộm dòm ngó chăng?

- Chẳng có món đồ đắt tiền nào cả.

Holmes đi dạo, tay đút trong túi, và dáng vẻ vô tư lự đó hoàn toàn trái ngược với các thói quen của anh.

- Nhân đây, - anh nói với Joseph, - ông đã tìm ra một chỗ mà từ đó kẻ trộm đã leo lên hàng rào.

Chúng ta tới đó coi qua?

Người thanh niên dẫn chúng tôi đến một nơi mà thanh trên của hàng rào đã bị nứt rạn.

Một mẩu gỗ nhỏ hãy còn vướng trên đó.

Holmes rút mẩu gỗ ra và quan sát kỹ lưỡng.

- Ông tin là cái này mới có từ đêm qua?

Tôi có cảm tưởng là nó có từ lâu rồi, phải thế không?

- Rất có thể là như ông nói.

- Tôi không thấy nơi nào mà một ai đó lại nhảy từ phía bên kia sang.

Không, chúng ta không thu được một tin tức nào ở đây: Hãy trở về phòng để bàn chuyện.

Phelps đi rất chậm và vịn vào cánh tay người anh vợ tương lai.

Holmes băng thật mau qua bãi cỏ và chúng tôi tới khuôn cửa sổ trước hơn hai người kia.

- Thưa cô Harrison - Holmes nói với một giọng nghiêm trọng - Cô phải ở lại đây suốt ngày, không được rời khỏi phòng một giây phút nào cả.

Việc này rất quan trọng.

- Chắc chắn rồi, bởi vì ông muốn thế, thưa ông Holmes - Cô thiếu nữ trả lời, vẻ ngạc nhiên.

- Khi đi ngủ, cô hãy khóa cửa phòng từ bên ngoài và cô hãy cất giữ chìa khóa.

Cô hứa với tôi sẽ làm như thế chứ?

- Nhưng còn Phelps?

- Anh ấy sẽ đi London cùng với chúng tôi.

- Và ông buộc tôi phải ở lại nơi đây?

- Vì anh ấy.

Cô giúp cho anh ấy.

Mau lên!

Hãy hứa đi.

Cô gật đầu vào lúc hai người kia đi tới ngang tầm chúng tôi.

- Tại sao em lại cứ phiền muộn trong căn phòng đó, Annie?

- Anh cô kêu lên - Hãy đi dạo một vòng dưới nắng đi.

- Không, cám ơn Joseph.

Em hơi bị nhức đầu.

Phòng này lại mát mẻ và thoải mái nên em thích lắm.

- Giờ đây ông đề nghị điều gì, thưa ông Holmes?

- Phelps hỏi.

- Nếu ông có thể cùng đi tới London với chúng tôi thì điều đó sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều.

- Ngay tức khắc sao?

- Trong vòng một tiếng đồng hồ nữa.

- Tôi hoàn toàn mạnh khoẻ.

Ông sẽ yêu cầu tôi ở lại London trong đêm nay?

- Tôi đang định đề nghị như vậy.

- Nếu vị khách đêm qua trở lại tìm gặp tôi thì y sẽ thấy con chim đã bay rồi.

Thưa ông Holmes, ông có muốn anh Joseph cùng đi không, để chăm sóc tôi?

- Ồ không!

Anh bạn Watson là bác sĩ, anh ấy sẽ chăm sóc cho ông.

Chúng ta sẽ dùng bữa ở đây, sau đó chúng ta sẽ cùng đi London.

Tất cả được thu xếp như anh đã đề nghị.

Cô Harrison xin lỗi không thể ra khỏi phòng.

Tôi không hiểu được cái dự định của bạn, ngoài cái việc anh muốn tách xa hai người đã hứa hôn.

Nhưng sau khi đã cùng với chúng tôi ra ga và đã đưa chúng tôi lên toa tàu rồi, Holmes báo cho chúng tôi biết là anh phải ở lại Working:

- Còn có hai hoặc ba điều mà tôi muốn làm cho sáng tỏ.

Sự vắng mặt của ông, thưa ông Phelps, sẽ có một tầm lợi ích nào đó.

Anh Watson, khi về tới London, anh đưa Phelps về phố Baker và ở bên anh bạn cho tới lúc tôi trở về.

Là bạn cũ, hai anh hẳn có rất nhiều chuyện để nói với nhau.

Ông Phelps có thể ngủ trong phòng của tôi.

Tôi sẽ trở về nhà dùng bữa điểm tâm.

- Nhưng còn việc điều tra của chúng ta ở London thì sao?

- Phelps hỏi, cáu kỉnh.

- Chuyện đó có thể đợi đến ngày mai.

- Ông có thể báo cho gia đình tôi biết là tôi sẽ trở về vào tối mai - Phelps kêu lên, vào lúc con tàu chuyển bánh.

- Đâu có ai trông thấy tôi ở nhà anh.

- Holmes đáp, vui vẻ vẫy tay.

Phelps và tôi tán chuyện trong lúc đi đường.

- Anh ấy muốn thu thập một đầu mối liên quan tới vụ trộm đêm vừa qua.

Riêng tôi, tôi không cho đó là một tên trộm bình thường.

- Thế ý anh ra sao?

- Có lẽ cậu sẽ nói rằng đó là do hệ thần kinh của tôi bị mệt mỏi, nhưng tôi thật sự tin rằng có một âm mưu chính trị triển khai quanh tôi và những kẻ chủ mưu lại còn muốn ám hại tôi.

Điều đó nghe ra có vẻ phi lý, nhưng cậu cứ xem sự việc thì rõ.

Tại sao kẻ trộm lại cạy phá cửa sổ một phòng ngủ trong đó không có cái gì để mà đánh cắp cả, và tại sao y lại tới với một con dao lớn?

- Đó có thể chỉ là dụng cụ mà kẻ trộm dùng để cạy cửa.

- Nó chính là một con dao.

Tôi đã thấy lưỡi dao lóe lên một cách rõ ràng.

- Nhưng chẳng hiểu vì sao anh lại bị theo dõi với một sự ác tâm tới nhường đó!

- A!

Đó chính là vấn đề.

- Nếu Holmes tin lời anh nói là chính xác thì anh ấy hẳn tiến được một bước lớn về sự nhận dạng kẻ đã đánh cắp bản hiệp ước về hải quân.

Thật vô lý khi giả thiết rằng anh có tới hai kẻ thù, một kẻ đánh cắp tài liệu và một kẻ muốn ám hại anh.

- Nhưng ông Holmes đã nói rằng ông ấy sẽ không trở về nhà tôi.

- Anh ấy chưa bao giờ hành động mà không có lý do chính đáng.

Hãy tin lời chúng tôi.

Tới đó câu chuyện của chúng tôi chuyển sang những đề tài khác.

Bữa đó là một ngày kiệt sức đối với tôi.

Phelps hãy còn yếu sau cơn bệnh dài ngày và nôn nóng.

Tôi cố gắng làm cho Phelps quan tâm tới những vấn đề xã hội, tất cả những cái gì có thể làm cho anh khuây khỏa, nhưng tôi chỉ uổng công.

Anh luôn luôn quay lại với bản hiệp ước bị mất.

Anh tự hỏi Holmes đang làm gì, huân tước sẽ xử trí ra sao, sáng mai chúng tôi sẽ nhận được những tin tức nào.

Đến tối, anh trở thành hoàn toàn khó chịu.

- Cậu có tin ở Holmes không?

- Phelps hỏi.

- Anh ấy đã hoàn thành được nhiều vụ đáng kể.

- Nhưng có bao giờ anh ấy làm sáng tỏ được một việc đen tối như vụ này chưa?

- Ồ, có chứ?

- Nhưng không có vấn đề mà những tầm lợi ích lớn lao đến thế bị lâm nguy?

- Cái đó tôi không biết.

Trái lại, anh ấy đã hoạt động thay cho ba gia đình trị vì ở châu Âu trong những vụ trọng đại.

- Tôi chẳng còn biết nghĩ sao nữa.

Cậu có tin là anh ấy có hy vọng không?

Cậu có tin là anh ấy chắc sẽ thành công không?

- Anh ấy không nói gì hết.

- Dấu hiệu xấu?

- Chính khi anh ấy ở trên một hướng tốt, anh mới ít nói.

Bạn thân mến ơi, sự bực dọc chẳng được việc gì.

Anh hãy đi ngủ, ngõ hầu được tỉnh táo.

Bạn tôi theo lời khuyên của tôi, nhưng bản thân tôi cũng trằn trọc mãi.

Tôi đã đặt ra cả trăm câu hỏi.

Tại sao Holmes lại ở lại Working?

Tại sao anh lại yêu cầu cô Harrison ở nguyên trong phòng người bệnh suốt ngày hôm đó?

Tại sao anh lại không báo cho gia đình Phelps biết việc anh ở lại?

Tôi hành hạ bộ óc mình cho tới khi hai mắt sụp xuống vì mệt mỏi.

Tôi thức giấc vào lúc 7 giờ và tôi đi ngay sang phòng Phelps: suốt đêm qua anh không ngủ.

Câu hỏi đầu tiên của anh là chuyến trở về của Holmes.

- Holmes đã hứa là Holmes giữ lời.

Và giờ giấc đối với anh ấy là giờ giấc: không sớm quá mà cũng không muộn quá.

Tôi nói đúng, bởi không lâu sau lúc 8 giờ, một cỗ xe ngựa dừng lại trước nhà và bạn tôi ra khỏi xe.

Đứng trên cửa sổ, chúng tôi thấy bàn tay trái anh bị quấn băng; bộ mặt anh thật u tối, nhợt nhạt.

Anh vào trong nhà, nhưng vài giây đã trôi qua, tôi mới thấy anh lên tới cầu thang.

- Anh ấy có vẻ như một người bại trận?

- Phelps kêu lên.

Tôi buộc phải nhìn nhận là Phelps có lý.

Tôi nói:

- Cuối cùng, chìa khóa của sự bí mật chắc chắn là ở đây, ở London.

Phelps thốt ra một tiếng rên rỉ:

- Tôi không biết chìa khóa đó là cái gì.

Nhưng tôi đã hy vọng biết bao về chuyến trở về của ông ấy.

Hôm qua tay ông ta đâu có bị băng bó?

Có chuyện gì xảy ra vậy?

- Anh không bị thương đấy chứ, Holmes?

- Tôi hỏi, khi anh bước vào phòng khám.

- Suỵt!

Một vết xước do tôi vụng về mà ra.

Vụ của ông, thưa ông Phelps, là một trong những vụ hắc ám nhất mà chưa bao giờ tôi nắm trong tay.

- Có vượt quá sức ông không?

- Đó là một sự gian truân rất lý thú.

- Chuyện gì đã xảy ra?

- Để ăn điểm tâm xong đã, bạn Watson thân mến.

Tôi đoán chừng rằng không có hồi âm nào cho lời nhắn của tôi liên quan tới cỗ xe ngựa?

Ừ phải, đâu cứ lần nào tấn công là cũng thắng.

Bàn ăn đã dọn sẵn và bà Hudson đem trà và cà phê tới.

Holmes háu ăn, tôi tò mò, còn Phelps thì ở độ chót của sự ủ rũ

- Bà Hudson quả rất khéo léo - Holmes nói khi thấy đĩa thịt gà nấu cà ri - Nghệ thuật nấu ăn của bà không được đa dạng, nhưng với tư cách là một phụ nữ xứ Scotland, bà biết thế nào là một bữa điểm tâm.

Anh có món sò đằng đó không, Watson?

- Trứng chiên jambon.

- Tốt, ông dùng món gì nào, ông Phelps: gà nấu cà ri, trứng hay là ông muốn tự mình chọn lấy món ăn?

- Cám ơn, tôi chẳng nuốt nổi cái gì.

- Ô, coi nào!

Hãy dùng cái món này, để ngay trước mặt ông đó.

- Xin cám ơn, tôi không thể nào ăn được!

- Thế thì - Holmes nói với một cái nháy mắt tinh nghịch - ông nhường nốt món đó cho tôi chứ?

Phelps mở cái vung ra và anh thốt lên một tiếng kêu.

Mặt anh trở thành trắng bệch.

Ở giữa cái liễn đựng thức ăn có một cuộn giấy nhỏ màu xám xanh.

Anh vồ lấy cuộn giấy, chăm chăm nhìn vào nó, đứng lên và múa may trong phòng.

Anh hét lên vì sung sướng.

Đoạn anh rơi xuống một ghế bành và kiệt sức.

- Thôi chứ!

Thôi chứ - Holmes nói khi vỗ nhẹ lên vai anh - Tôi biết ông đã mòn mỏi chờ đợi.

Phelps nắm lấy bàn tay anh và hôn nó:

- Chúa phù hộ cho ông!

Ông đã cứu được danh dự cho tôi.

- Danh dự của tôi cũng bị lâm nguy, nếu tôi thất bại trong vụ này.

Phelps nhét bản tài liệu vào túi trong của áo vét.

- Tôi không dám làm gián đoạn lâu hơn bữa điểm tâm của hai ông, nhưng tôi lại mong muốn được biết, ông đã thu hồi được nó như thế nào.

Sherlock Holmes uống một tách cà phê và lưu ý đến món trứng chiên jambon.

Sau đó, anh đứng lên, mồi một mẩu thuốc và ngồi thoải mái trong chiếc ghế bành:

- Sau khi đã tạm biệt các bạn ở nhà ga, tôi đi ngang qua vùng đồng quê ở Surrey, tới một làng nhỏ tên là Riphey.

Tới đó, tôi uống trà ở lữ quán và chế đầy bầu nước, nhét bánh sandwich vào đầy túi.

Tôi ở lại đó cho tới chiều tối.

Đoạn tôi quay trở lại Working vào đúng lúc mặt trời lặn.

Tôi đợi cho con đường vắng hẳn bóng người rồi mới leo lên hàng rào về nhà.

- Nhưng cửa song sắt mở mà?

- Phelps nói.

- Đúng.

Nhưng tôi có những sở thích đặc biệt trong lãnh vực này.

Tôi đã chọn cái chỗ có ba cây thông và, nhờ những cành nhánh của ba cây đó che chở mà tôi lọt được vào trong mà không một ai trông thấy.

Tôi náu mình giữa những bụi cây, rồi bò từ bụi này sang bụi kia.

Các bạn cứ coi tình trạng thảm hại của hai đầu gối quần tôi thì đủ.

Sau chót, tôi tới được lùm cây đỗ quyên đối diện với cửa sổ phòng ông Phelps.

Tới đó tôi ngồi xổm xuống và chờ đợi.

Tấm mành còn chưa được buông xuống; tôi trông thấy cô Harrison ngồi đọc sách bên cạnh bàn.

Tới 10 giờ 15, cô gấp sách lại, cột những cánh cửa lá chập lại và lui ra.

Tôi nghe tiếng cô khép cánh cửa và cảm thấy gần như chắc chắn cô đã xoay chìa khóa trong ổ khóa.

- Chìa khóa?

- Phelps ngạc nhiên.

- Phải.

Tôi đã cho cô Harrison những chỉ thị để khóa cửa lại từ bên ngoài và đem theo chìa khóa ấy về phòng ngủ.

Cô đã làm theo lời dặn dò của tôi đúng từng ly từng tý, cô đi ra, các ngọn đèn bị thổi tắt.

Đêm rất đẹp trời, nhưng tôi mệt mỏi.

Ở Working, tháp chuông một giáo đường báo từng khắc.

Sau chót, vào khoảng 2 giờ sáng, bất thình lình tôi nghe thấy một tiếng động nhỏ của một cái then cài bị người ta đẩy ra và tiếng kêu cọt kẹt của một cái chìa khóa.

Một lát sau, cánh cửa bên dành cho những người giao hàng mở ra và ông Joseph xuất hiện dưới ánh trăng.

- Joseph?

- Phelps kêu lên.

- Ông ta để đầu trần, nhưng trên vai có vắt một cái áo choàng đen.

Ông ta nhón gót đi trong bóng tối, dọc theo bức tường.

Khi tới trước cửa sổ, ông lùa một con dao dài xen qua khung cửa sổ và đẩy then móc cửa sổ lên.

Thế rồi ông mở thật rộng cánh cửa sổ ra và dùng con dao ông lùa nó qua khe hở giữa những cửa lá chập, nậy cái thanh lên và tách chúng ra.

Từ chỗ mai phục, tôi nhìn vào trong phòng thật rõ.

Ông ta đốt hai cây nến, đặt trên mặt lò sưởi, đoạn lật cái góc tấm thảm gần cánh cửa ra vào lên.

Liền đó ông cúi xuống và rút ra một miếng ván chân tường, lấy ra cuộn giấy, đặt một miếng ván chân tường lại, phủ tấm thảm lại như trước, thổi tắt những ngọn nến và rơi vào trong hai cánh tay tôi đang chờ đợi sẵn.

Mẹ kiếp, hắn ta hung dữ cầm dao xông thẳng vào tôi.

Tôi phải đốn ngã hắn xuống đất tới hai lần.

Hắn đã làm đứt mạch máu ở ngón tay tôi.

Tất cả chuyện đó xảy ra trước khi tôi có thể chế ngự được hắn.

Hắn chỉ còn có thể nhìn đời bằng một con mắt thôi, nhưng từ con mắt đó, hắn đã ném cho tôi một tia nhìn giết người!

Nói tóm lại, sau cùng hắn chịu giao trả cho tôi tập tài liệu.

Khi đã thu hồi lại được bản hiệp ước, tôi để cho hắn đi nhưng sáng nay tôi đã gửi cho Forbes vài chi tiết.

Nếu Forbes nhanh tay bắt kịp con chim thì anh ta cứ tự xoay xở lấy: nhưng nếu anh ta lại thấy cái tổ đã trống rỗng thì càng hay.

Tôi có cảm tưởng rằng cả huân tước lẫn ông Phelps, chẳng ai muốn đưa vụ này ra tòa?

- Vậy là trong mấy tuần lễ, giấy tờ bị đánh cắp đã ở trong phòng tôi?

- Đúng vậy!

- Và Joseph là một tên vô lại?

- Hừm!

Tôi được anh ta cho biết anh ta đã thua đậm khi chơi ở thị trường chứng khoán, và anh ta dám làm bất cứ chuyện gì để tạo dựng lại địa vị của mình.

Anh ta chẳng cần quan tâm chi tới hạnh phúc của em gái mình và cũng cóc cần đến danh tiếng của ông.

Phelps lún xuống trong ghế bành.

- Những điều ông nói làm tôi choáng váng.

- Tôi bắt đầu nghi ngờ Joseph, vì trong đêm xảy ra vụ trộm, ông đã có ý định trở về cùng với anh ta.

Mặt khác, thật là tự nhiên khi anh ta tới rủ ông cùng về, bởi vì anh ta biết đường vào văn phòng ông.

Rồi khi được biết có người muốn bẻ khoá cửa sổ để vào phòng ngủ của ông, trong cái phòng mà không một ai, ngoài Joseph, có thể cất giấu một cái gì đó, thì những nghi ngờ của tôi chuyển thành một sự tin chắc.

Vậy thì kẻ muốn đột nhập phải là kẻ biết rõ những chuyện xảy ra trong nhà.

- Tôi mù quáng biết chừng nào!

- Những sự việc được tóm tắt như thế này: Joseph vào trong Bộ ngoại giao qua ngả phố Charles, anh ta đi thẳng tới văn phòng ông đúng vào lúc ông vừa bỏ ra ngoài.

Vì thấy không có ai, anh ta đã giật chuông.

Trong lúc gọi chuông, anh ta trông thấy tờ giấy trải trên mặt bàn.

Chỉ lướt qua, anh ta thấy ngay là thần may mắn đã mỉm cười với mình.

Anh ta vội nhét nó vào túi rồi bỏ đi.

Anh ta trở về Working bằng chuyến tàu đầu tiên để xem cất giấu vào trong một chỗ mà anh ta cho là nơi cất giấu thật tốt, với ý định đến ngày hôm sau hoặc ngày hôm sau nữa sẽ lấy để đưa ra làm tiền.

Nhưng bất thình lình ông lại trở về.

Anh ta không được báo trước, và bị đuổi ra khỏi căn phòng trước đó dành cho anh ta.

Và từ đó cho mãi tới ngày hôm qua, lúc nào trong phòng cũng có hai người, khiến anh ta không thể lấy lại được kho báu.

Cái tình huống đó hẳn đã làm cho anh ta điên lên được.

Anh ta đã thử lấy cắp nó đêm hôm trước, nhưng đã thất bại bởi vì ông đã thức giấc.

Ông hãy nhớ lại là buổi tối hôm trước, ông đã không uống thuốc ngủ như mọi khi.

- Đúng vậy.

- Anh ta đã phải thu xếp để cho thuốc nước phải có công hiệu, và anh ta tin rằng ông sẽ không thức dậy.

Tôi tin chắc rằng anh ta sẽ làm lại mưu toan đó khi tôi đưa ông về London.

Tôi đã yêu cầu cô Harrison không rời phòng suốt ngày hôm đó để anh ta không thể ra tay trước chúng ta.

Tôi nghi là giấy tờ ở trong phòng, nhưng tôi không muốn tự mình tìm kiếm.

Để cho anh ta lấy chúng ra, thì tôi đỡ mất công biết bao.

- Tại sao anh ta lại muốn vào phòng qua ngả cửa sổ, trong lúc mà anh ta có thể vào bằng cửa chính?

- Muốn tới được cửa ra vào chính, anh ta phải qua trước bảy căn phòng ngủ.

Phần khác, anh ta có thể bỏ chạy trốn qua ngả vườn.

- Anh ta không có ý định giết người sao?

Con dao có thể chỉ là một dụng cụ để đào tường khoét gạch thôi ư?

Có thể lắm!

- Holmes nhún vai trả lời.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
C11 Công việc cuối cùng của Sherlock Holmes


CÔNG VIỆC CUỐI CÙNG CỦA SHERLOCK HOLMES

THE FINAL PROBLEM (1893)

Memoirs of Sherlock Holmes

Những hồi ức về Sherlock Holmes

Tôi vô cùng đau đớn khi viết lên những dòng cuối cùng của thiên phóng sự có liên quan đến những thiên tài hiếm có của người bạn vô cùng thân thiết đối với tôi, anh Sherlock Holmes.

Thú thật, tôi muốn im lặng, không muốn nhắc đến sự kiện đã để lại trong lòng tôi một nỗi cô đơn hoang vắng, trống trải, không biết lấy gì để bù đắp cho nỗi mất mát lớn lao này, mặc dù câu chuyện xảy ra đã hai năm rồi.

Những lá thư cuối cùng của ngài đại tá James Moriarty, trong đó ông ta muốn bảo vệ danh dự cho người anh trai quá cố của mình, buộc lòng tôi phải cầm lấy bút mực.

Tôi tự đặt cho mình trách nhiệm phải giới thiệu trước công chúng tất vả những sự kiện xảy ra theo đúng như trong thực tế.

Chỉ một mình tôi là người có may mắn chứng kiến, biết được toàn bộ sự thật ấy điều này làm tôi thấy xúc động.

Giờ đây không còn lý do gì để che giấu sự thật.

Theo tôi được biết, chỉ có ba thông báo sau đây là được đăng trên báo chí: một mẩu tin đăng trên "Tạp chí Geneva" ngày 6-5-1891, một bức điện của hãng thông tin Reuter đăng trên báo từ ngày 7-5; cuối cùng là những thông báo mới đây.

Trong số những thông báo đó, thì thông báo thứ nhất và thứ hai quá tórn tắt; thông báo bóp méo sự thật một cách trắng trợn.

Trách nhiệm của tôi là làm sao nói cho toàn thế giới biết, những sự kiện đã xảy ra giữa giáo sư Moriarty và Sherlock Holmes đúng như sự thật của nó.

Có lẽ bạn đọc còn nhớ, ngay sau khi tôi lấy vợ và ra phòng mạch, mối quan hệ mật thiết giữa tôi và Sherlock Holmes đã có thay đổi trong một chừng mực nào đó.

Tôi bận bịu với công việc chữa bệnh.

Còn anh vẫn ghé lại chỗ tôi khi cần có người bạn đồng hành cùng tham gia giải quyết những công việc khám phá của mình, nhưng ngày càng thưa dần, ít dần.

Vì thế trong năm 1890 tôi chỉ thu thập được có ba bài về chuyện phá án của anh.

Mùa đông năm ấy và chớm xuân 1891, báo chí đăng tin Holmes được chính phủ Pháp mời sang giải quyết một chuyện rất quan trọng; qua hai bức điện anh gửi cho tôi từ Narbonne và Nimes, tôi đinh ninh cuộc viếng thăm của anh ở nước Pháp chắc sẽ còn kéo dài.

Vì vậy tôi vô cùng ngạc nhiên khi vào lúc chập tối ngày 24 tháng 4, anh đột ngột xuất hiện trong phòng làm việc của tôi.

Đầu tiên đập vào mắt tôi là dáng hình anh gầy gò xanh xao hơn mọi khi rất nhiều.

- Đúng, tớ đã tiêu hao gần hết sức lực của mình - Anh đáp, như muốn thanh minh cho cái nhìn e ngại của tôi.

- Trong thời gian gần đây, tớ túng bấn quá.

Tớ kéo tấm rèm lại được chứ?

Căn phòng chỉ thắp một chiếc đèn bàn, thông thường tôi vẫn đọc dưới ngọn đèn này.

Rón rén đi dọc theo bức tường, Holmes đi vòng khắp căn nhà và kéo kín các tấm rèm, vén kín một cách kỹ lưỡng không để hở một cỗ trống nào.

- Cậu đang có chuyện phải lo sợ hả?

- Tôi hỏi.

- Đúng, tớ rất sợ.

- Sợ cái gì?

- Một loại súng hơi.

- Anh bạn yêu quý ơi, cậu muốn ám chỉ cái gì?

- Watson, chắc cậu biết tớ khá rõ đấy, từ lâu cậu đã biết tớ không phải là một con thỏ.

Đừng cho là có mối nguy hiểm đang đe dọa cậu.

Nó chỉ là một hành động mù quáng, không phải là một hành động anh hùng.

Cậu cho tớ xin que diêm.

Anh châm thuốc hút, và dường như khói thuốc lá làm anh tươi tỉnh hẳn lên.

- Trước hết tớ cần phải xin lỗi vì cuộc viếng thăm quá muộn, - Anh lên tiếng.

- Ngoài ra tớ xin phép được làm một việc hơi bất nhã, thứ hai là sẽ trèo qua bức tường sau vườn nhà cậu.

Tớ định đi ra bằng cách như vậy đấy.

- Những chuyện ấy có ý nghĩa gì vậy?

- Tôi hỏi.

Anh chìa cánh tay lại sát ngọn đèn, tôi trông thấy hai khớp ngón tay bị xây sát và rớm máu.

- Cậu thấy đấy, không phải là chuyện đùa đâu.

- Anh vừa cười vừa nói.

- Cái này có thể làm mất cả bàn tay như không.

Vợ cậu đâu rồi?

Có ở nhà không?

- Không, cô ấy đi thăm người quen.

- Hay quá!

Nghĩa là cậu ở nhà một mình.

- Chỉ một mình.

- Nếu thế thì, tớ dễ dàng mời cậu cùng đi với tớ qua biên giới trong vòng một tuần lễ.

- Đi đâu vậy?

- Đi đâu mà chả được, tớ thì thế nào cũng được.

Tất cả những chuyện này tôi thấy kỳ quặc thế nào ấy.

Trong khuôn mặt trắng bệch, mệt mỏi của anh, tôi cảm thấy hệ thống thần kinh của anh đang ở trạng thái căng thẳng tột độ.

Qua cái nhìn của tôi anh biết rằng tôi không hiểu.

Chống cùi chỏ lên bắp đùi và xiết chặt các ngón tay lại với nhau, anh bắt đầu giải thích cho tôi nghe tình hình của công việc.

- Tớ nghĩ là cậu chưa được nghe nói gì về giáo sư Moriarty?

- anh hỏi.

- Chưa.

- Đó là một người đại tài về việc giữ kín tung tích của mình.

Hắn ta đã thiết lập một mạng lưới khắp thành London.

Thậm chí chưa ai nói về hắn.

Riêng chuyện này cũng đáng liệt hắn ta vào bậc đàn anh trong giới hình sự.

Watson, tớ có thể nói chắc rằng, nếu tớ chiến thắng con người này, tức là làm được việc vạch mặt chỉ tên hắn ta ra trước xã hội thì đó đúng là một thành công lớn trong sự nghiệp của tớ.

Lúc ấy, tớ sẽ kết thúc bước đường công danh của mình và tớ sẵn sàng chuyển sang nghiên cứu các lĩnh vực khác yên tĩnh hơn.

Nói riêng với cậu nhé.

Hai sự việc cuối cùng đã tạo cho tớ khả năng thuyết phục vương quốc Scandinavia và nước cộng hòa Pháp cho tớ những công cụ, điều kiện tiến hành một cuộc đổi mới, hợp với sở thích của tớ hơn.

Lúc đó tớ sẽ toàn tâm nghiên cứu trong lĩnh vực hóa học.

Nhưng tớ chưa thể ngồi yên trong chiếc ghế bành của mình, một khi con người kia, cái tay giáo sư Moriarty đang tự do tung hoành ngang dọc trên các đường phố ở London.

- Hắn ta đã phạm những tội ác gì?

- Ôi!

Hắn có một tiểu sử thật khác thường!

Hắn xuất thân trong một gia đình tốt, được đào tạo đến nơi đến chốn, hắn có một tài năng hiếm có về toán học.

Khi tròn 21 tuổi, hắn đã viết xong một luận văn về nhị thức Newton, làm cho tên tuổi của hắn nổi tiếng khắp châu Âu.

Sau đó, hắn được phụ trách khoa toán trong một trường đại học tổng hợp của nước Anh.

Một tương lai xán lạn, rạng rỡ đang chờ đón hắn.

Nhưng hắn bỗng biến mất một cách lạnh lùng và trở thành một tên hung đồ độc ác.

Trong huyết quản của hắn dòng máu của kẻ phạm tội đang chảy.

Do có trí óc thông minh hiếm có nên hành động độc ác của hắn càng nguy hiểm.

Trong trường đại học, những lời đồn đại không hay về hắn đã bay đi khắp nơi, cuối cùng buộc lòng hắn phải rời bỏ trường để đến cư trú tại London.

Ở đấy hắn ta bắt đầu chuẩn bị một đội ngũ những tên ăn cắp, lưu manh chuyên nghiệp trẻ tuổi.

Đó là những điều tớ biết về hắn.

Chính cậu biết đấy, không ai nắm vững giới hình sự ở London này bằng tớ.

Cách đây không lâu, tớ bắt đầu cảm thấy là ở sau lưng của bọn tội phạm, có một thế lực không lường được đang bảo vệ, che chở cho chúng - một thế lực hùng mạnh, có tổ chức đang hoạt động trái với pháp luật, được núp dưới những bộ mặt giả tạo.

Rất nhiều lần, trong các trường hợp khác nhau, qua những vụ ăn cắp hoặc giết người, tớ đều nhận thấy sự có mặt của cái thế lực ấy.

Bằng con đường tính toán rất logic, tớ đã phát hiện ra dấu vết của nó, ngay cả trong những vụ chưa được khám phá, hay trong những vụ án đã tìm ra, mà bản thân tớ không trực tiếp tham gia, tớ đều thấy thấp thoáng thế lực đó.

Trong nhiều năm, tớ có ý định xé toạc bức bình phong che đậy tội ác kia, và đã đến lúc tớ lần theo đầu mối của cuộn dây, bắt đầu một công cuộc gỡ dần từng mối rối ren, cho đến khi nào phanh ra, tóm được cái nút cuối cùng dẫn tới vị giáo sư Moriarty - một nhà toán học lỗi lạc.

Hắn như một Napoléon trong giới tội phạm hình sự, hắn là một nhà tổ chức lãnh đạo gần một nửa số vụ độc ác và tất cả các vụ phạm pháp chưa được khám phá đã xảy ra trong thành phố này.

Phải thừa nhận đó là một thiên tài, một triết gia, một con người có đầu óc suy luận những vấn đề có tính chất trừu tượng.

Hắn có một bộ óc thuộc loại thông thái số một.

Hắn ngồi bất động như một con nhện trong mạng tơ của mình, trong mạng nhện có hàng nghìn sợi dây, hắn sẽ tóm lấy, giải quyết khi có một sự rung động nho nhỏ của từng sợi dây.

Rất hãn hữu, hắn mới trực tiếp hành động, hắn chỉ tổ chức, xây dựng kế hoạch.

Tay chân của hắn thì rất nhiều, và được tổ chức đến nơi đến chốn.

Nếu có ai cần ăn cắp một tập tài liệu, cần đột nhập vào nhà, cần giết, thủ tiêu một người nào đó... thì chỉ cần trình bày nguyện vọng đó với giáo sư.

Ngay lập tức một vụ án sẽ được chuẩn bị và thi hành.

Bọn tay chân của hắn có thể sẽ bị bắt, trong những trường hợp như vậy, bao giờ hắn cũng tung tiền ra mua chuộc hoặc nhờ người bảo lãnh.

Nhưng tên chỉ huy chính, cầm đầu, bao giờ cũng nằm ngoài diện nghi vấn.

Tổ chức ấy là như vậy, bằng con đường suy luận tớ đã xác định được bộ máy hoạt động của nó.

Tớ đã dồn toàn bộ sức lực của mình để phát hiện và quyết bẻ gãy nó.

Nhưng tay giáo sư cũng rất láu cá, hắn luôn thay hình đổi dạng, nguy trang rất khéo và được bảo vệ vững chắc đến nỗi mặc dù tớ tập trung mọi cố gắng nhưng vẫn không sao có đủ chứng cớ để buộc tội hắn trước tòa.

Watson thân mến, cậu rất biết khả năng của tớ, thú thật với cậu là phải mất 3 tháng ròng rã, cuối cùng tớ mới tìm thấy đối thủ xứng đáng của mình.

Những việc làm phạm pháp của hắn gây cho tớ một nỗi lo lắng, sợ hãi thì bây giờ đã nhường chỗ cho sự kính nể trước năng lực tài ba của hắn.

Tuy vậy; cuối cùng hắn cũng sơ hở, mặc dù một sơ hở không đáng kể, đáng lý hắn không nên để xảy ra sự sơ hở đó mới phải bởi tớ đang bám riết hắn như một con đỉa.

Tớ đã lợi dụng sơ hở ấy, sau khi dùng nó làm xuất phát điểm cho cuộc tấn công tay đôi, tớ bắt đầu giăng xung quanh hắn một cái bẫy.

Hiện nay cái bẫy ấy hầu như đã chuẩn bị xong; sau ba ngày nữa, nghĩa là đúng vào tối thứ hai, mọi chuyện sẽ được giải quyết.

Ngài giáo sư cùng với những kẻ cầm đầu băng đảng ấy sẽ rơi vào tay tòa đại hình.

Còn sau đó một công cuộc hình sự lớn nhất thế kỷ chúng ta sẽ bắt đầu: Bức màn đã che giấu hơn 40 vụ án sẽ được vén lên; tất cả những tên tội phạm sẽ bị trừng trị đích đáng.

Nhưng cần phải khẩn trương, chỉ cần một tính toán sai lầm là chúng nó sẽ trượt khỏi bàn tay chúng ta vào đúng thời điểm cuối cùng.

Mọi việc sẽ tốt đẹp nếu tớ có thể hành động một cách kín đáo, sao cho tay giáo sư Moriarty không hề biết về chuyện này.

Nhưng hắn là một tên thâm hiểm và xảo quyệt.

Mỗi cử động của tớ nhằm đưa hắn vào tròng, hắn đều biết hết.

Hắn đã nhiều lần mưu toan phá vỡ, để thoát khỏi cái lưới mà tớ đã giăng, nhưng mỗi lần như vậy, tớ đều tìm cách cản trở không cho hắn thực hiện ý đồ.

Nếu cứ miêu tả cặn kẽ, tỉ mỉ cuộc chiến đấu thầm lặng và đem xuất bản thì sẽ có một quyển sách hồi hộp nhất và tuyệt vời nhất trong làng sách về thể loại trinh thám.

Chưa bao giờ tớ phải căng thẳng như bây giờ; cũng chưa bao giờ tớ phải chật vật đối phó với địch thủ của mình như hiện nay.

Đòn của hắn rất mạnh và tớ đỡ lại bằng một sức còn mạnh hơn: Sáng nay, tớ đã đi đến một quyết định và chỉ cần thêm 3 ngày nữa để dứt điểm công việc.

Tớ đang ngồi trong phòng của mình, đang suy đi tính lại nước cờ, thì bỗng cánh cửa bật mở.

Trước mặt tớ là tay giáo sư Moriarty đang đứng sừng sững.

Watson ạ, thần kinh của tớ khá vững, nhưng phải thú thật với cậu, tớ không thể nào nén được tiếng thở ra khi nhìn thấy trước mặt mình con người đã chiếm toàn bộ ý nghĩ của tớ.

Hình dáng bên ngoài của hắn không có gì thay đổi, vì tớ đã quen thuộc từ trước.

Hắn ta rất gầy và cao lêu ngêu.

Trán hắn dô nhưng rộng, da trắng trẻo, cặp mắt sâu hoắm trông rất sắc.

Khuôn mặt được cạo nhẵn thín, nhìn hắn có phần khổ hạnh.

Đôi vai hơi còng, có lẽ do ngồi nhiều bên bàn làm việc, còn cái đầu thì nhô tới trước trông như một con rắn, ngó bên này, nghiêng bên kia.

Cặp mất cú vọ của hắn như đâm xuyên vào người tớ.

"Hộp sọ của ngài chưa đến nỗi bị vỡ như tôi đã nghĩ".

Cuối cùng hắn lên tiếng.

"Thưa ngài Holmes, bỏ khẩu súng đã lên đạn ở trong túi áo choàng của mình là một thói quen nguy hiểm".

Đúng như thế thật, khi hắn ta bước vào, tớ hiểu ngay là một mối nguy đang đe dọa tớ.

Khả năng duy nhất để tớ tự cứu mình, đó là tớ buộc phải im lặng mãi mãi.

Vì vậy, tớ nhanh như chớp, đã chuyển khẩu súng lục từ ngăn kéo bàn vào túi áo choàng và ngay lập tức cho tay vào cò súng.

Sau khi bị hắn điểm huyệt, tớ đã lôi khẩu súng ra khỏi túi áo, kéo quy lát và để trước mặt.

Moriarty tiếp tục cười và nheo nheo cặp mắt, nhưng có một cái gì đấy trong mắt hắn ta đã làm cho tớ phải cảnh giác và buộc tớ phải đến gần khẩu súng của mình.

"Rõ ràng là ngài chưa biết tôi".

Hắn ta lên tiếng.

"Ngược lại," tớ phản đối, "tôi cảm thấy ngài khó mà hiểu nổi tôi đã biết ngài.

Xin mời ngài ngồi, nếu ngài có việc gì muốn nói với tôi, tôi có thể dành cho ngài năm phút".

"Những gì tôi muốn nói với ngài, chắc ngài đã đoán được" Hắn ta lạnh lùng đáp.

"Ngài vẫn cương quyết giữ lập trường của mình?"

"Hoàn toàn không thay đổi".

Hắn đút tay vào túi, còn tớ vội vàng chộp lấy khẩu súng trên bàn.

Nhưng hắn chỉ rút ra từ trong túi một quyển sổ ghi chép, trong đó có ghi nguệch ngoạc những con số ngày tháng gì đó.

"Ngài đã cản đường của tôi từ ngày mồng 4 tháng giêng," hắn ta tiếp.

"Ngày 23, ngài đã làm cho tôi một phen hú vía, và giữa tháng hai ngài lại làm cho tôi một cú hoảng hồn.

Cuối tháng 3, ngài đã làm đảo lộn mọi kế hoạch của tôi.

Hiện nay, vì những vụ liên tiếp của ngài, tôi đã rơi vào một tình thế có thể mất hết tự do.

Không thể tiếp tục như vậy được".

"Ngài định làm gì?"

Tớ hỏi lại.

"Thưa ngài Holmes, ngài hãy chấm dứt công việc của mình," hắn ta nói và lắc đầu "Ngài hãy từ bỏ công việc đó".

"Đến hết ngày thứ hai kia".

Tớ đáp.

"Đủ rồi, thưa ngài Holmes.

Ngài là một người khá thông minh, tất nhiên ngài hiểu tôi, tôi muốn giải lao đầu óc một chút, trong lúc theo dõi cách thức hành động của ngài.

Mong ngài hiểu cho tôi lấy làm buồn phiền, nếu như ngài cứ cố tình buộc tôi phải dùng những biện pháp không hay đối với ngài.

Ngài phải tránh ra một bên, ngài hãy tin là tôi nói rất chân thành".

"Hiểm nguy, đó là người bạn đồng hành không thể thiếu được trong nghề nghiệp của tôi".

Tớ đáp.

"Đấy không phải chỉ là sự nguy hiểm, mà là sự tiêu diệt không thể tránh khỏi," hắn ta phản đối, "Ngài đứng ra cản đường không phải chỉ một người, mà là cả một tổ chức hùng mạnh, mà toàn bộ sức mạnh của nó, với trí thông minh của ngài, ngài không thể nào hiểu nổi đâu.

Mong ngài hãy tránh ra một bên, thưa ngài Holmes.

Bằng không ngài sẽ bị trừng trị".

"Tôi sợ rằng," tớ đứng dậy và đáp, "từ buổi nói chuyện thú vị của chúng ta, tôi có thể bỏ mất một công việc quan trọng, nó sẽ đưa tôi đến vị trí khác".

Hắn ta cũng đứng dậy, lặng thinh nhìn tớ và buồn bã lắc đầu.

"Biết làm sao được!"

Cuối cùng hắn lên tiếng.

"Tôi rất lấy làm tiếc, nhưng tôi đã làm mọi việc mà tôi có thể làm được.

Tôi biết từng đường đi nước bước trong công việc của ngài.

Đến ngày thứ hai, ngài sẽ không còn cử động được nữa rồi.

Đó là cuộc đọ sức giữa hai chúng ta, thưa ngài Holmes.

Ngài hy vọng sẽ cho tôi ngồi vào chiếc ghế bị cáo.

Tôi nói cho ngài biết, điều đó sẽ không bao giờ xảy ra.

Ngài hy vọng sẽ thắng tôi.

Tôi xin nói cho ngài biết rằng không đời nào ngài đạt được điều đó.

Nếu ngài có đủ sức mạnh để giết tôi, thì tôi xin thề với ngài rằng cả ngài nữa sẽ cùng chết với tôi".

"Thưa ngài Moriarty, ngài đã dùng quá nhiều lời để tán tụng tôi một cách quá đáng, cho nên tôi cũng muốn đáp lại bằng những lời lẽ tán tụng như thế.

Nhân danh cho công lý, vì sự phồn vinh của xã hội, tôi rất vui lòng chấp thuận điều kiện thứ hai, mặc dù tôi hy vọng ở điều thứ nhất".

"Điều thứ nhất tôi không thể hứa với ngài được, nhưng điều thứ hai tôi sẵn sàng hứa".

Hắn ta đáp và cười man rợ.

Sau khi quay cái lưng khòm về phía tớ, hắn bước ra, nhưng còn quay lại nheo nheo con mắt nhìn tớ.

Cuộc gặp gỡ đặc biệt của tớ với tay giáo sư Moriarty là như vậy!

Thú thật với cậu, cuộc gặp gỡ này làm cho tớ khó chịu.

Phong thái mềm mại, chính xác của hắn làm cho cậu sẽ tin vào lòng chân thật của hắn, mà lòng chân thật ấy không bao giờ có ở những kẻ tội phạm tầm thường.

Đấy không phải là một kẻ thích khoe khoang những điều rỗng tuếch.

Tất nhiên cậu sẽ hỏi tớ: "Tại sao không đi báo cáo cho Sở cảnh sát?".

Vấn đề là ở chỗ, không phải tự tay hắn hành động, mà chính bọn tay chân của hắn mới là người thực hiện.

Tớ tin như vậy, vì tớ có đầy đủ chứng cứ.

- Có kẻ đã tấn công vào cậu hay sao?

- Anh bạn Watson thân mến!

Giáo sư Moriarty không phải thuộc hạng người thích để công việc nằm lâu trong sọt rác.

Sau khi hắn cút khỏi, khoảng gần 24 giờ đêm, tớ có việc phải ghé phố Oxford.

Trong khi băng qua đường ở chỗ góc phố Bentinck và phố Welbeck, tớ trông thấy một cỗ xe song mã đang phóng như bay đâm thẳng vào tớ.

Tớ vừa kịp nhảy lui lại bước lên vệ đường, chỉ chậm trễ trong vòng một phần mười giây, có lẽ tớ đã bị bẹp dí rồi.

Chiếc xe rẽ ngoặt và biến mất.

Lúc ấy tớ quyết định không nên bước xuống khỏi vỉa hè, nhưng từ trên mái nhà ở chỗ phố Vere có một viên gạch bay tới và vỡ thành từng mảnh vụn ngay dưới chân tớ.

Tớ liền gọi cảnh sát và ra lệnh khám xét ngay nơi xảy ra sự việc.

Ở trên mái nhà có chất mấy chồng gạch chuẩn bị cho công việc sửa chữa; và bọn chúng muốn khẳng định viên gạch kia là do gió thổi bay tới thôi.

Tớ biết rõ thủ đoạn của chúng, nhưng lại không đủ bằng chứng để buộc tội.

Tớ gọi một cỗ xe và đi đến nhà người anh trai ở phố Pall Mall, sống tại đó cả ngày hôm nay, rồi từ đó tớ đi thẳng tới chỗ cậu.

Dọc đường có một thằng cầm dùi cui đểu cáng xông vào tớ.

Tớ đã tóm hắn nộp cho cảnh sát giam giữ.

Tớ bảo đảm với cậu là, không một ai có thể khám phá ra mối liên hệ giữa một tên, mà những chiếc răng cửa đã bị tớ dùng tay đánh gãy trong ngày hôm nay với một tên giáo sư dạy toán mà có lẽ giờ đây đang giảng cách giải bài tập cho học sinh trên chiếc bảng cách đấy 10 dặm.

Bây giờ chắc cậu đã hiểu, vì sao khi vào phòng cậu, trước tiên tớ phải kéo kín các tấm rèm che cửa sổ, và vì sao tớ phải xin phép cậu đi ra khỏi nhà không phải bằng cổng trước, mà bằng một lối nào đó ít bị chú ý hơn.

Tôi đã nhiều lần khâm phục lòng can đảm của bạn tôi, nhưng hôm nay khi anh ngồi kể lại những sự việc vừa mới xảy ra trong ngày một cách điềm tĩnh, tôi lại càng đặc biệt kính nể anh hơn.

- Có lẽ, cậu nên ở lại ngủ qua đêm với tớ.

- Tôi đề nghị.

- Không được bạn thân mến.

Tớ sẽ là một người khách nguy hiểm cho cậu.

Tớ đã suy tính kỹ lưỡng kế hoạch hành động, và mọi việc sẽ kết thúc tốt đẹp.

Hiện nay công việc đang ở giai đoạn cuối, cảnh sát có thể tiến hành bắt bớ mà không cần tớ phải tham gia.

Tớ chỉ cần trong thời gian xét hỏi.

Thời gian chờ đợi cảnh sát hành động cũng chỉ còn vài ba ngày nữa, tốt nhất là tớ nên đi đâu đó.

Tớ rất sung sướng nếu cậu cùng đi qua biên giới với tớ.

- Hiện nay bệnh nhân của tớ không nhiều, - Tôi đáp, - Anh bạn đồng nghiệp sẵn sàng thay tớ, tớ sẽ cùng đi với cậu.

- Ngay sáng sớm ngày mai cậu có thể đi được không?

- Được, nếu cần.

- Ôi, hoàn toàn rất cần bây giờ cậu hãy nghe kỹ lời dặn của tớ.

Watson, yêu cầu cậu hãy làm đúng không được sai một ly nào, bởi hai chúng ta đang tiến hành một cuộc đối đầu chống lại một tên bợm tài năng nhất và một tập đoàn tội phạm lớn nhất, hùng mạnh nhất ở châu Âu.

Cậu hãy lắng nghe đây!

Hành lý không được đề địa điểm hẹn nhận, ngay bây giờ cậu nhờ một người tin cẩn nhất mang ra ga Victoria.

Sáng sớm ngày mai, cậu phải sai người giúp việc gọi một cỗ xe, nhưng cậu phải dặn họ là hãy bỏ qua chiếc xe đầu tiên cũng như chiếc xe thứ hai mà anh ta bắt gặp.

Cậu ngồi vào cỗ xe và đi tới phố Strand, đến cầu nối Lowther.

Cần nói thêm là cậu đừng đọc địa chỉ cho người xà ích mà viết lên giấy đưa cho ông ta và dặn ông ta tuyệt đối không được vứt mảnh giấy đó xuống đường.

Cậu hãy trả tiền trước; khi chiếc xe vừa dừng lại cậu hãy nhẩy ngay vào chỗ cầu nối tính toán sao cho đúng 9 giờ 15, cậu có mặt bên kia cầu.

Ngay cạnh vỉa hè cậu sẽ nhìn thấy một cỗ xe không lớn lắm.

Người đánh xe bận chiếc áo khoác màu đen, cổ áo được kẹp bằng một đường viền màu đỏ.

Cậu hãy ngồi vào xe và đi đến nhà ga đúng lúc tàu chuẩn bị chuyển bánh.

- Thế tớ sẽ gặp cậu ở đâu?

- Tại nhà ga, người ta sẽ dành cho chúng mình một buồng hai người hạng nhất.

- Nghĩa là chúng ta sẽ gặp nhau ở trong toa?

- Đúng thế.

Tôi đã hoài công để thuyết phục Holmes ở lại ngủ với tôi.

Tôi biết rằng anh sợ gây ra chuyện không hay cho gia đình người bạn thân thiết của mình.

Đấy là nguyên nhân duy nhất khiến anh phải vội vã ra đi.

Sau khi đã vội vàng căn dặn mọi cách thức thực hiện chương trình hành động cho ngày mai, anh đứng lên và cùng tôi đi ra ngoài vườn.

Anh trèo qua hàng rào, đi ngay ra hẻm Mortimer, huýt sáo gọi một chiếc xe.

Tôi lắng nghe tiếng lọc cọc của bánh xe đang xa dần.

Sáng ngày hôm sau, tôi làm đúng theo lời Holmes căn dặn với tất cả sự thận trọng cảnh giác cần thiết khi gọi một cỗ xe.

Cỗ đó không thể nào là một cái bẫy được.

Sau khi ăn sáng xong, tôi đi đến địa điểm đã được quy ước trước.

Khi xe tiến đến chiếc cầu Lowther, tôi lao vào trong cầu với sự nhanh nhẹn hiếm có.

Khi trông thấy cỗ xe đang đứng đợi tôi đúng như Holmes mô tả, tôi vừa kịp ngồi vào xe thì người xà ích tầm thước, bịt kín bằng chiếc áo ấm màu đen liền ra roi quất ngựa.

Chỉ một loáng đã đến ga Victoria.

Tôi vừa bước xuống ngựa thì người xà ích đánh xe quay lại, và phóng như bay, thậm chí không thèm quay nhìn tôi.

Mọi việc đều tiến triển đúng như ý định.

Hành lý của tôi đã có sẵn ở nhà ga; và tôi cũng không khó khăn gì tìm thấy căn buồng mà Holmes đã chỉ dẫn, bởi nó là buồng duy nhất được treo tấm biển "đã có người".

Bây giờ chỉ còn một việc làm tôi lo lắng nhất, đó là sự vắng mặt của Holmes.

Tôi nhìn lên đồng hồ nhà ga, chỉ còn 7 phút nữa là tàu xuất phát.

Thật vô ích khi tôi lục kiếm trong đám người ra đi và những người đưa tiễn thân hình gầy gò của anh bạn tôi.

Anh không có trong đám người ấy.

Tôi đã giết thời gian, bằng cách giúp một cha cố người Ý trông rất đáng kính, khi ông ta, bằng một giọng lơ lớ tiếng Anh, đang cố gắng giải thích cho người phu khuân vác rằng hành lý của ông cần được gởi thẳng đến Paris.

Sau đó tôi dạo quanh sân ga một lần nữa và quay về buồng mình.

Ở đó tôi gặp lại ông cha cố người Ý lọm khọm, mà tôi mới làm quen.

Mặc dù vé của ông không phải vào phòng này, nhưng người phu khuân vác vẫn cứ đẩy vào chỗ tôi.

Thật vô ích để giải thích cho người bạn đường không mời của tôi hiểu rằng, cuộc đột nhập của ông đã làm tôi bực bội như thế nào, tôi nói tiếng Ý còn tồi hơn là ông nói tiếng Anh.

Vì vậy tôi chỉ biết nhún vai và lo lắng nhìn qua cửa sổ, sốt ruột chờ đợi Holmes.

Một nỗi lo sợ bao trùm lấy tôi; sự vắng mặt của anh có nghĩa là có chuyện gì đã xảy ra đêm qua.

Các cánh cửa lên xuống đã được khép chặt, tiếng còi tàu đã vang lên, đúng lúc ấy bỗng dưng...

- Watson thân mến, thậm chí cậu không thèm hạ cố đoái hoài chào tớ một lời.

Một giọng phát ra ngay bên cạnh tôi.

Tôi nhìn quanh, toàn thân lạnh toát.

Bây giờ cha cố đứng ngay trước mặt tôi.

Trong một giây phút những nếp nhăn của ông bỗng giãn ra, chiếc mũi kéo dài ra khỏi chiếc cằm, môi dưới thôi không đưa ra phía trước nữa, còn miệng thì như đang thì thầm, cặp mắt lờ đờ bây giờ đã sáng lên ánh lửa thường ngày; chiếc lưng khòm được vươn thẳng.

Nhưng tất cả những việc ấy kéo dài chỉ vòng một khoảnh khắc, và Holmes lại vụt biến đi nhanh chóng, cũng giống như khi anh xuất hiện.

- Lạy Chúa đáng kính!

- Tôi thốt lên, - Cậu làm tớ hoảng cả hồn.

- Chúng ta cần thận trọng đến mức tối đa.

- Anh thì thầm, - Tớ có đủ chứng cớ để nghĩ là tụi chúng nó đã lần được theo dấu vết.

Kìa!

Chính thằng Moriarty ở kia kìa!

Holmes vừa nói xong thì tàu chuyển bánh.

Tôi nhìn qua cửa sổ về phía sau, trông thấy một người cao cao, đang tức tối xô đẩy chen lấn đám đông và vẫy vẫy tay như níu đoàn tầu lại.

Tuy nhiên mọi chuyện đã muộn rồi.

Vận tốc con tàu đang tăng dần và chẳng mấy chốc nhà ga đã nằm lại khá xa phía sau.

- Cậu thấy không, - Holmes nói và cười, - Mặc dù chúng ta cảnh giác tới mức tối đa, nhưng cũng phải chật vật lắm mới thoát khỏi được bọn người kia đấy.

Anh đứng dậy cởi chiếc áo thụng màu đen và chiếc mũ ra, - những thứ thuộc vẻ hình kì dị của anh - và cho tất cả vào một chiếc túi du lịch.

-Watson, cậu có đọc báo buổi sáng không?

- Không.

- Nghĩa là cậu không hay biết tí gì về chuyện xảy ra tại hẻm Baker của chúng ta à?

- Đêm hôm qua, chính xác hơn là vào gần sáng ngày hôm nay, chúng nó đã tập kích nhà tớ, nhưng gây tổn thất không đáng kể.

- Làm thế nào bây giờ?

Điều ấy thật quá quắt không thể nào chịu nổi.

- Hình như, sau khi tên đặc phái viên dùng dùi cui xông vào tớ bị bắt, tụi chúng nó đã mất hẳn dấu vết về tớ.

Lúc đầu chúng cho rằng tớ sẽ quay về nhà.

Nhưng sau đó chúng đã đánh hơi và theo cậu từng bước.

Chính điều này đã dẫn thằng Moriarty đến ga Victoria.

Trên đường đi tới nhà ga, không biết cậu có sơ suất gì không?

- Tớ đã làm đúng như cậu dặn.

- Cậu thấy cỗ xe ngay vị trí chứ?

- Đúng, chiếc xe đã đợi tớ ở chỗ ấy.

- Thế cậu có nhận ra người xà ích không?

- Không.

- Đấy là anh trai tớ, Mycroft.

Trong công việc như vậy tốt nhất là không cho người ngoài cuộc biết những điều bí mật của mình.

Còn bây giờ chúng ta phải tìm cách đối phó với Moriarty.

- Tớ nghĩ, chúng mình đi chuyến tàu này làm sao hắn ta có thể đuổi kịp?

- Watson thân mến!

Tớ đã nói với cậu, hắn là một người có trí tuệ cao, hắn có một trình độ ngang với tớ.

Chẳng lẽ, ví như tớ là một người đuổi theo, lúc ấy một cản trở không đáng kể như vậy sẽ làm tớ bó tay hay sao?

Tại sao cậu đánh giá hắn quá thấp như vậy?

- Nhưng hắn có thể làm gì được bây giờ?

- Làm điều mà trong trường hợp đó tớ cũng làm.

- Cậu hãy cho tớ biết cậu sẽ hành động ra sao?

- Tớ sẽ thuê hẳn một chuyến tàu tốc hành dành riêng cho tớ.

- Nhưng dẫu sao cũng vẫn chậm trễ.

- Không trễ chút nào.

Chuyến tàu của chúng ta sẽ dừng lại ở Canterbury, ở đó chúng ta phải đợi tàu thủy ít ra cũng phải mất 15 phút.

Và hắn sẽ bắt gặp chúng ta ở đấy.

- Nên nhớ hắn là thằng tội phạm chứ không phải là chúng ta.

Vậy nếu hắn mang xác đến đây, chúng ta sẽ ra lệnh bắt giữ.

- Làm như vậy sẽ đổ xuống sông, xuống biển những công lao của ba tháng làm việc cật lực của tớ.

Chúng ta chỉ bắt được một con cá to, còn những con cá nhỏ khác sẽ tìm đường chạy thoát.

Thứ hai này tất cả bọn chúng sẽ lọt vào tay cảnh sát.

Bây giờ chúng ta không được phép bắt bớ.

- Thế chúng ta làm gì?

- Chúng ta cần đi đến Canterbury.

- Sau đó?

- Sẽ đi Newhaven, và từ đó sẽ đi Dieppe.

Moriarty cũng sẽ làm điều này, mà trong trường hợp ấy tớ cũng làm như vậy.

Hắn đi đến Paris, đánh dấu những chiếc va li của chúng ta, nằm đợi ở phòng gởi hành lý hai ngày.

Còn chúng ta trong thời gian ấy sẽ mua một cặp bao dệt bằng thảm và sẽ đi buôn bán các mặt hàng công nghệ phẩm ở các địa phương mà chúng ta sẽ đi ngang qua.

Rồi chúng ta sẽ bình tĩnh ghé thăm đất nước Thụy Điển, qua cửa ngõ thành phố Luxembourg và Basle.

Tôi là một nhà du lịch dày dặn kinh nghiệm, vì thế không bao giờ tôi cho phép mình buồn rầu vì chuyện mất mát hành lý.

Nhưng thú thực, tôi không chịu nổi ý nghĩ là chúng tôi sẽ né tránh tên tội phạm có một tiền sử quá kinh khủng, toàn là những chuyện rùng rợn, dã man.

Tuy thế Holmes là người hiểu rõ tình thế hơn tôi.

Và chúng tôi đã đến Canterbury.

Ở đây chúng tôi được biết còn một giờ nữa mới có tàu thủy đi Newhaven.

Tôi lặng lẽ nhìn chiếc tàu chở hành lý của chúng tôi đang khuất dần từ xa.

Lúc đó, Holmes cầm lấy tay áo tôi và chỉ về phía con đường sắt.

- Cậu thấy đấy, nhanh như chớp!

- Anh ta lên tiếng.

Từ xa, trong cánh rừng Kent, một dòng khói nhỏ bốc lên.

Có một con tàu chỉ kéo có một toa đã xuất hiện chỗ khúc cua trước khi vào nhà ga.

Chúng tôi vừa kịp nấp sau những kiện hàng, chiếc tàu đã rú lên một tiếng đinh tai nhức óc chạy băng qua chỗ chúng tôi và phả vào mặt chúng tôi một luồng hơi nóng bỏng.

- Đã đến!

- Holmes thốt lên và đưa cặp mắt nhìn vào toa tàu đang chạy từ từ và dừng lại trên đường ray.

- Cậu thấy không, sự thông thái của anh bạn cũng có một giới hạn đấy chứ.

Nếu hắn rút ra kết luận đúng như tớ đã làm và hành động thích hợp với nó thì có lẽ mọi chuyện thật quá phi thường.

- Hắn sẽ làm gì nếu hắn đuổi kịp chúng ta?

- Còn nghi ngờ gì nữa, hắn muốn giết tớ.

Kệ thây hắn, tốt nhất là tớ không nên đợi đến lúc hắn ta hạ tay xuống.

Bây giờ chỉ còn một vấn đề nan giải nhất: chúng ta nên ăn sáng ở đây hay là cứ chịu mang bụng đói đến Newhaven?

Ngay đêm hôm ấy, chúng tôi đã đi đến Brussels và lưu lại đấy hai ngày.

Sang sáng thứ ba đến Strasbourg.

Sáng thứ hai, Holmes đã đánh một bức điện cho cảnh sát London, và đến tối khi quay về khách sạn, chúng tôi đã thấy bức điện trả lời.

Holmes lật xem bức điện, và tức tối ném nó vào lò.

- Đáng lý ra, tớ phải tiên liệu trước chuyện đó mới phải - Anh ta rền rĩ.

- Nó đã tẩu thoát, đã lọt lưới!

- Moriarty?

- Cảnh sát đã tóm gọn cả băng, nhưng chỉ triêng hắn ta lại lọt lưới!

Bởi tớ đã đi khỏi, bọn cảnh sát kia làm sao địch nổi hắn, mặc dù tớ rất tin là đã cung cấp cho cảnh sát tất cả các đầu mối.

Watson, có lẽ tốt nhất cậu nên quay về nước Anh.

- Tại sao vậy?

- Bây giờ tớ là một người bạn đường nguy hiểm.

Con người ấy đã bị mất hết tất cả.

Nếu trở lại Anh quốc hắn sẽ bị bắt ngay.

Theo tớ được biết về tính cách của hắn thì bây giờ hắn đang tập trung tất cả nỗ lực của mình để trả thù tớ.

Hắn đã trắng trợn nói điều đó với tớ trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi hôm ấy.

Tớ tin đó không phải là một lời dọa suông.

Tớ thành thật khuyên cậu hãy trở về nước Anh.

Nhưng tôi là một cựu chiến binh, là bạn cũ lâu đời của Holmes, tất nhiên tôi không thể nào ra đi trong giây phút này và mặc lòng để anh ở lại một mình.

Khi ngồi ăn trong nhà hàng của khách sạn Strasbourg, chúng tôi đã tranh luận về chuyện này hơn nửa giờ.

Ngay ngày hôm đó, chúng tôi đi đến Geneva.

Suốt một tuần chúng tôi đi lang thang khắp thung lũng Rhone, và bỏ lại đằng sau thị trấn Leuk; chúng tôi vượt qua những con sông còn phủ đầy một lớp băng cứng; tiếp tục tiến qua Interlaken, đến Meiringen.

Một cuộc dạo chơi đầy thú vị.

Màu xanh của mùa xuân đang mơn mởn, dưới đất, trên đầu chúng tôi là một màn tuyết trắng bao phủ.

Nhưng tôi biết Holmes không khi nào sao lãng mối đe dọa đang treo trên đầu anh.

Trong những xóm làng trù phú, ấm cúng, hay trên các con đường mòn quạnh hiu dọc sườn núi đâu đâu tôi cũng bắt gặp cái nhìn rất nhanh và chòng chọc của anh, như muốn xem xét từng khuôn mặt của từng người mà anh gặp.

Rõ ràng anh hoàn toàn tin vào mối nguy hiểm không thể tránh khỏi đang từng bước đuổi theo chúng tôi.

Tôi vẫn nhớ mãi một trường hợp thế này: Chúng tôi đi qua vùng Gemmi và đang dạo dọc bờ hồ Daubensee, bỗng có một tảng đá lớn từ bên phải đang lao xuống và rơi xuống hồ ngay sau lưng chúng tôi.

Holmes vội lao lên tít trên đỉnh ngọn tháp chăm chú quan sát, theo dõi.

Người phiên dịch nói cho anh yên tâm là chuyện đá lở vào mùa xuân là một hiện tượng rất bình thường ở vùng này.

Holmes không nói gì, nhưng đã cười với tôi với dáng điệu của một người biết trước sự kiện này từ lâu.

Trái với sự lo lắng của mình, anh không chút nào tỏ ra rầu rĩ u phiền.

Ngược lại, chưa bao giờ tôi thấy anh đang trong một tâm trạng phấn chấn vui vẻ như hôm ấy.

Anh đã lặp đi lặp lại nhiều lần một điều là nếu tay giáo sư Moriarty bị vạch trần trước xã hội, anh sẽ vui lòng chấm dứt công việc của mình.

- Watson, tớ cảm thấy tớ hoàn toàn có quyền để nói rằng tớ đã sống một cuộc đời không phải là vô ích.

- Anh nói.

- Và thậm chí ngay bây giờ con đường đời của tớ kết thúc, tớ cũng có phần nào khuây khỏa trong lòng: Nhờ tớ mà bầu không khí của thành London được trong sạch hơn.

Tớ đã tham gia hơn một nghìn vụ án và đảm bảo với cậu tớ chưa bao giờ lạm dụng uy tín, ảnh hưởng của mình để giúp đỡ những việc phi nghĩa.

Thật ra, trong thời gian gần đây, công việc lôi cuốn, hấp dẫn tớ hơn là nghiên cứu những câu đố mà bản thân thiên nhiên đặt ra trước mặt; cũng như những vấn đề cấp thiết cần được giải quyết mà trách nhiệm của bộ máy chính quyền quá non nớt không thể đảm nhận nổi.

Watson, vào ngày mà tớ kết thúc đường công danh của mình bằng một cú bắt sống tóm gọn, cũng có khi sẽ phải tiêu diệt một tên phạm pháp nguy hiểm nhất và tài ba nhất châu Âu, thì lúc ấy, cuốn sổ ghi chép những hồi ký của cậu sẽ đi đến chỗ kết thúc.

Giờ tớ đang cố gắng để hoàn thành nốt công việc chưa được nói đến, sao cho thật chính xác.

Tớ cố gắng nắm thật kỹ những tình tiết, điều này không phải là dễ.

Nhưng tớ đặt ra cho mình trách nhiệm là không bỏ sót chi tiết nào là nhỏ nhặt.

Ngày 3 tháng 5, chúng tôi đến làng Meiringen, và dừng trú ở khách sạn "Anh quốc".

Ông chủ khách sạn là một người vui nhộn, thích pha trò và nói tiếng Anh rất sõi, bởi ông đã từng làm bồi bàn ở khách sạn "Grosvenor" ở Anh gần ba năm.

Mồng 4 tháng 5, sau buổi trưa, theo lời khuyên của ông chủ, cả hai chúng tôi rủ nhau lên núi dạo chơi, với ý định sẽ ngủ lại ở làng Rosenlaui.

Ông ta cũng khuyên chúng tôi nên tham quan thưởng thức thác Reichenbach nằm lưng chừng ngọn núi; nhưng gần đấy một chút là khu vực đáng sợ nhất.

Một dòng thác lũ do những tảng băng tan đang tuôn xối xả xuống một vực thẳm không đáy, bọt nước tung như hơi khói bốc lên từ một ngôi nhà.

Một khe rãnh: nơi dòng thác đổ vào, được chất đầy những tảng đá to tướng đen đủi như than.

Ở phía dưới, trong lòng độ sâu không thể nào đo được ấy là các khe bị thu hẹp lại, biến thành cột cái giếng đang sôi ầm ầm, giếng này luôn luôn được bổ sung thêm nước từ trên róc xuống với một sức mạnh kinh khủng đã làm cho nước bắn tung toé trở lại, hất ngược lên tới mỏm núi cao.

Tất cả những cảnh tượng ấy, làm cho con người cảm thấy choáng ngợp, làm cho ta điếc tai, bởi những tiếng gầm không ngớt.

Chúng tôi đã leo lên theo con đường có hình dáng một nửa vòng tròn; nhờ vậy mà những nhà du lịch có thể nhìn thấy quang cảnh thác nước.

Con đường kết thúc một cách đột ngột, không còn đường nào đi tiếp.

Vì vậy, người nào đã leo lên rồi, buộc lòng phải quay lại chính con đường đã đi lên.

Vừa lúc chúng tôi quay xuống, thì bỗng dưng trông thấy một thằng bé Thuỵ Điển.

Thằng bé chạy lại chỗ chúng tôi, trên tay cầm một bức thư.

Trên phong bì có đóng dấu của khách sạn, nơi chúng tôi thuê trọ.

Dường như đó là bức thư do ông chủ khách sạn viết và gởi cho tôi.

Ông ta viết rằng: Chúng tôi vừa ra khỏi khách sạn vài phút, có một bà người Anh đi đến, bà ta đang nằm trong giai đoạn cuối cùng của bệnh lao phổi.

Bà ta sống qua mùa đông ở Davos, bà định đến thăm bạn bè ở Lucerne.

Nhưng trên đường đi bỗng bà ta ho ra máu.

Hình như bà ta không còn sống được bao lâu nữa, cùng lắm chỉ trong vài tiếng đồng hồ.

Nhưng đối với bà ta không có gì an ủi động viên bằng việc được trông thấy một người bác sĩ người Anh ở bên cạnh.

Nếu tôi đi đến với bà ta thì....

ở đoạn tái bút, ông ta còn nói thêm, chính ông ta sẽ đội ơn tôi rất nhiều, nếu tôi đồng ý quay lại khách sạn, bởi người đàn bà kiên quyết cự tuyệt không muốn thuê nhờ một bác sĩ người Thụy Điển.

Tôi không thể nào từ chối, không thể nào thoái thác yêu cầu của một bạn đồng hương đang chết dần chết mòn nơi đất khách quê người.

Nhưng cùng lúc ấy tôi rất lo ngại nếu bỏ mặc Holmes ở lại một mình.

Cuối cùng chúng tôi quyết định như sau: thằng bé mang thư đến sẽ là người phiên dịch và bạn đường với anh, còn tôi sẽ quay lại xóm Meiringen.

Bạn tôi còn muốn ở lại nơi thác nước một lúc; sau đó sẽ đi băng qua mấy ngọn đồi để đi đến Rosenlaui, và ở đấy tối tôi sẽ gặp anh.

Khi đi ra được một đoạn, tôi quay lại nhìn; Holmes đang đứng, cúi nhìn xuống tảng đá, hai tay bắt chéo sau lưng.

Lúc bấy giờ, tôi đâu có hay rằng không bao giờ tôi còn gặp bạn tôi nữa.

Đến chân núi, tôi còn nhìn lên một lần nữa, tôi không còn nhìn thấy thác nước, nhưng tôi dõi theo con đường dẫn tới thác nước chạy dọc theo sườn núi.

Có một người đàn ông đang gấp gáp trên con đường đi lên.

Hình như bóng đen sậm của ông ta trông rất rõ trên nền xanh rực rỡ kia.

Tôi ngờ ngợ ra cái dáng đi tất bật của ông ta, nhưng chính tôi lúc ấy cũng rất vội đến bệnh nhân của mình, nên chỉ một thoáng tôi đã quên con người ấy.

Gần một giờ sau tôi đến khách sạn ở Meiringen, ông chủ khách sạn đang đứng ở cửa.

- Thế nào?

- Tôi đến gần ông ta và lên tiếng hỏi.

- Hy vọng là tình hình bà ấy không quá bi đát?

Nét mặt ông ta lộ rõ vẻ ngạc nhiên, sửng sốt cặp lông mày rướn lên.

Tim tôi bỗng thót lại, nhói đau.

- Nghĩa là không phải ngài đã viết cái này?

- Tôi lấy bức thư trong túi ra và hỏi.

- Ở khách sạn có một bà bệnh nhân người Anh không?

- Tất nhiên là không.

- Ông ta thét lên.

- Có chuyện gì thế?

Ngoài phong bì đóng dấu khách sạn tôi?

À, tôi nhớ ra rồi!

Có lẽ bức thư này do một người Anh cao cao đã viết.

Ông ta đến khi hai ngài vừa bước ra.

Ông ta nói rằng....

Nhưng tôi không tài nào ngồi nghe những lời giải thích dài dòng của ông ta.

Bị một nỗi lo sợ bao trùm, tôi vội vàng cắm đầu cắm cổ chạy theo con đường tắt dẫn đến chân núi.

Tôi mất gần trọn một giờ để chạy xuống núi, và hoặc dù tôi đã dồn tất cả sức lực của mình để chạy, nhưng cũng mất đứt hai giờ đồng hồ tôi mới đến được thác nước ban nãy.

Chiếc gậy của Sherlock Holmes vẫn nằm bên cạnh tảng đá, còn anh thì không thấy đâu.

Tôi đã gọi, đã gào thét tên anh, nhưng vô ích.

Câu trả lời duy nhất là tiếng vọng dội lại tiếng gào thét của tôi từ những tảng đá dốc dựng đứng bao quanh.

Khi thấy cây gậy, tôi lạnh toát cả người: nghĩa là Holmes không đi đến Rosenlaui.

Anh đang còn quanh quẩn đâu đây, trên con đường mòn bề rộng chỉ có 3 foot, được bọc bởi một phía bức tường đá dựng đứng.

Kẻ thù đã gặp anh tại đây.

Thằng bé người Thụy Điển cũng biến mất.

Có lẽ thằng bé đã bị tên Moriarty mua chuộc để cho hai kẻ đối mặt với nhau.

Còn chuyện gì đã xảy ra?

Ai có thể nói được!

Tôi đứng yên như vậy chừng hai phút, hết sức bối rối vì sợ hãi, và cố trấn tĩnh lại.

Tôi nhớ lại những phương pháp của bạn tôi, và tôi thử đem ra vận dụng, với hy vọng sẽ làm sáng tỏ những gì tang thương đã xảy ra.

Than ôi!

Chuyện ấy mới dễ làm sao?

Trong lúc chuyện trò chúng tôi chưa đi hết lối mòn, và cây gậy rơi vào đúng chỗ chúng tôi dừng lại.

Mảnh đất đen màu mỡ, chưa bao giờ khô vì quanh năm suốt tháng những giọt nước tung tóe bắn lên.

Ngay cả con chim đậu cũng để lại dấu nữa là.

Có hai hàng bước chân còn in rõ nét ở đoạn cuối chỗ lối mòn.

Những vết chân này đều đi ra xa, còn dấu quay trở lại không thấy đâu hết.

Cách mấy bước chân nữa là tới chỗ vực, toàn bộ đất ở đây bị giày xéo, dẫm nát và đào bới tung lên.

Những cây dương xỉ mọc gần vực thẳm đã bị dẫm lên và dây bẩn.

Tôi nằm sấp xuống và bắt đầu nhìn chăm chú vào dòng nước đang gào thét.

Bây giờ tôi đã trông thấy những tảng đá vừa mới được bóng lên do ai dẫm lên.

Tôi gào thét nhưng những tiếng vang dội đã lấn át hết giọng hét của tôi.

Thật may mắn, lời chào cuối cùng của bạn tôi đã đến với tôi.

Chiếc gậy nằm lại được dựng nghiêng vào vách đá, và ngay phía trên có một vật gì đó lấp lánh sáng.

Tôi đưa tay với lấy, và thấy đó là hộp đựng thuốc bằng bạc mà Holmes vẫn hay mang nó trong người.

Khi tôi cầm lên có vài tờ giấy nằm phía dưới bỗng rơi xuống đất.

Tôi nhặt lên.

Đó là ba tờ giấy được xé từ một quyển sổ tay, và trên đó có đề dòng chữ gởi cho tôi.

Địa chỉ ghi khá rõ nét, chữ rõ ràng, chững chạc, dường như Holmes đang viết nó trong phòng.

"Watson thân mến, điều ghi trong mẩu thư này là do sự nhã ý của ngài Moriarty.

Tớ ngồi viết cho cậu mấy dòng.

Ông ta đang đợi tớ để giải quyết dứt điểm những vấn đề có liên quan đến tới cả hai.

Ông ta đã kể qua loa cho tớ nghe cách thức mà ông ta đã đánh lạc hướng cảnh sát nước Anh, và nắm được cuộc hành trình của chúng mình.

Tất cả những điều đó, một lần nữa khẳng định nhận xét của tớ về khả năng hiếm có của ông ta là đúng.

Tớ thật thích thú, khi nghĩ rằng có thể vạch trần những việc làm không hay, những việc dính líu đến sự tồn tại của con người này.

Nhưng tớ sợ rằng, điều đó có thể cũng phải trả một cái giá khá đắt.

Việc này có thể làm cho bạn bè tớ buồn, đặc biệt là cậu, Watson ạ!

Cần nói thêm với cậu là cuộc đời tớ đã đến lúc đi đến tột đỉnh của nó rồi, tớ không thể nào mong ước kết cục tốt hơn.

Cũng nói cho cậu hay, bức thư từ khách sạn Meiringen - đó là cái bẫy, chuyện này tớ không mảy may nghi ngờ.

Sau khi cậu ra đi, tớ hoàn toàn yên tâm không còn ân hận gì hết.

Cậu hãy chuyển cho ngài thanh tra Patterson những giấy má cần thiết dùng để vạch mặt băng cướp ấy.

Hiện nay những tài liệu đó nằm ở trên bàn, trong chiếc hộp dưới chữ "M".

Chiếc phong bì màu xanh với dòng chữ "Moriarty".

Trước khi từ giã nước Anh, tớ đã kịp làm tất cả những gì cần thiết và gởi nó ở đằng anh trai tớ Mycroft.

Nhờ cậu gửi lời chào thân thiết của tớ tới vợ cậu.

Người bạn chung thủy của cậu Sherlock Holmes"

Những gì còn lại có thể gói gọn trong hai câu.

Sau công việc khám xét hiện trường, người ta đều thống nhất cho rằng cuộc vật lộn giữa hai địch thủ đã kết thúc như thế này: Cả hai cùng bị rơi xuống vực thẳm mà vẫn không chịu buông tay ra.

Người ta cũng có ý định tìm kiếm tử thi, nhưng cũng không mang lại kết quả gì.

Thân thể của một tên tội phạm nguy hiểm nhất và của một người bảo vệ công lý trứ danh nhất sẽ vĩnh viễn nằm dưới vực sâu thẳm, quanh năm nước sôi réo ầm ĩ.

Người ta cũng không tìm thấy thằng bé con người Thụy Điển đâu cả.

Có lẽ đó là một trong số những đặc phái viên do Moriarty tuyển chọn.

Còn băng cướp độc ác có lẽ ở Luân Đôn mọi người vẫn còn nhớ, những chứng cứ do Holmes thu thập khá đầy đủ đã vạch mặt chỉ tên tất cả tổ chức ấy; và người ta đã khám phá ra đầu đảng cũng như linh hồn của tổ chức ấy chính là tay giáo sư Moriarty mà đáng lẽ phải bị còng bằng chiếc gông sắt.

Trong quá trình ấy bản thân con người đáng sợ kia còn chưa được làm sáng tỏ.

Nếu buộc lòng tôi phải nói lên toàn bộ sự thật về quá trình phạm pháp của hắn thì điều này sẽ động viên một số người bào chữa thiếu lương tâm và trách nhiệm, họ sẽ mưu toan minh oan cho hắn bằng những đòn công kích chống lại một con người, mà con người đó bao giờ tôi cũng cho rằng: một người cao thượng nhất, sáng suốt nhất trong những người mà tôi quen biết.

Kết Thúc (END)
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D1 Ngôi nhà bỏ trống


NGÔI NHÀ BỎ TRỐNG

THE ADVENTURE OF THE EMPTY HOUSE (1903)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Vào mùa xuân năm 1894, cả thành phố Luân Đôn đều bàn tán xôn xao về vụ ám sát bá tước Ronald Adair trẻ tuổi.

Vụ ám sát xảy ra trong một bối cảnh khác thường và đầy bí ẩn.

Đông đảo công chúng đều biết đến những tình tiết của vụ án, theo cách đánh giá chủ quan của cảnh sát.

Nhưng vì lý do nào đó, phần lớn những tình tiết phải giấu kín.

Mười năm trôi qua, hiện giờ tôi mới có khả năng bổ sung thêm những mắt xích còn thiếu trong chuỗi sự kiện đầy bí ẩn kia.

Bản thân vụ án đã là một điều lý thú; nhưng những hậu quả không lường trước được đối với tôi còn quan trọng hơn gấp nghìn lần.

Nhưng hậu quả này, làm cho tôi bàng hoàng, chấn động hơn tất cả những gì mà tôi từng gặp trong đời mình; dù cuộc đời của tôi nếu không có sự kiện ấy thì cũng đã chứng kiến nhiều cuộc trinh thám ly kỳ.

Thậm chí ngay bây giờ, sau nhiều năm, tôi vẫn còn cảm giác run sợ, khi nghĩ lại câu chuyện xa xưa, và tôi vẫn bị một nỗi hoài nghi, thảng thốt, vui buồn lẫn lộn bao trùm và xâm chiếm toàn bộ tâm hồn.

Tôi mong các bạn độc giả, vẫn thường quan tâm tới những mẩu chuyện của tôi về những việc làm và những suy luận của một con người tuyệt vời hãy tha thứ cho tôi, vì việc tôi không chia sẻ với các bạn điều khám phá của mình.

Tôi tự đặt cho mình một nghĩa vụ là phải báo cho các bạn tất cả sự thật, một khi tôi không còn bị ràng buộc bởi chuyện cấm đoán xuất phát từ chính ý muốn của bạn tôi.

Câu chuyện ngăn cấm được phát ra cũng vừa mới đây, ngày mồng ba tháng trước.

Trong thời gian tôi và Sherlock Holmes còn gắn bó mật thiết với nhau tôi đã quan tâm một cách sâu sắc tới những chuyện hình sự.

Kể từ khi anh biệt tăm mất tích, tôi trở thành kẻ thường xuyên theo dõi trên các báo chí tất cả các vụ án chưa được khám phá.

Đôi lúc, để thỏa mãn tính hiếu kỳ, tôi đã có ý định tham gia vào chuyện phá án, tôi sử dụng những phương pháp, thủ thuật như của bạn tôi thường làm, mặc dù còn lâu tôi mới đạt được trình độ ấy.

Tuy thế, không có vụ án nào lại làm cho tôi hồi hộp, lo âu bằng câu chuyện tang thương của Ronald Adair.

Trong số tài liệu điều tra, có đoạn nói thế này:

"Vụ ám sát đã được tính toán từ trước và được một người hoặc một nhóm người lạ thực hiện".

Sau khi đọc xong lời nhận xét như vậy, tôi càng thấy thấm thía hơn bao giờ hết rằng cái chết của Sherlock Holmes đã gây cho Tổ quốc chúng ta một tổn thất to lớn biết nhường nào.

Trong chuyện này, nhất thiết phải có những tình tiết làm cho Sherlock Holmes chú ý; và như vậy hoạt động của cảnh sát sẽ được bổ sung đầy đủ và đạt kết quả hơn nếu như họ có sự giúp sức của bộ óc thông minh và đôi mắt quan sát tinh tế của nhà thám tử sành sỏi nhất Châu Âu này.

Sau khi đi thăm bệnh nhân cả ngày về, tôi lại tập trung vào những suy nghĩ làm tôi nhức đầu, đó là câu chuyện của Adair, nhưng tôi không thể nào tìm ra được một lời giải đáp thỏa đáng.

Tôi đánh bạo lặp lại những gì mà mọi người đã biết, tôi cũng muốn nêu lên những dữ kiện theo dạng đã được thông báo cho công chúng biết, sau khi kết thúc cuộc điều tra.

Ngài Ronald Adair là con trai thứ hai của bá tước Maynooth - Bá tước Maynooth là tổng đốc toàn quyền một khu vực thuộc địa của người Anh ở Áo.

Người mẹ của Adair đã từ Áo đến nước Anh để giải phẫu mắt, cắt bỏ cái vây mọc ở mắt; và đã cùng cậu con trai Adair và cô con gái Hilda sống ở Park Lane, số nhà 427.

Chàng thanh niên thường giao du với những người tốt, và hình như không có địch thủ nào; cũng chưa làm gì đáng chê trách.

Đã có thời chàng đã đính hôn với tiểu thư Edith Woodley ở bang Carstairs, nhưng trước khi xảy ra vụ án mạng vài tháng thì cả chú rể lẫn cô dâu đã quyết định chia tay nhau: không ai hối hận về chuyện này cả.

Nói chung, cuộc đời của chàng thanh niên trai trẻ chỉ bó hẹp trong quan hệ gia đình và trong giới thượng lưu.

Tính tình anh ta điềm đạm, thói quen và sở thích không có gì xấu.

Thế nhưng một cõi chết bất ngờ nhất và kỳ lạ nhất đã chợp đi một nhà quý tộc trẻ vô tư.

Chuyện đó xảy ra vào khoảng 23 giờ 10 phút đến 23 giờ 20 phút ngày 30 tháng 3 năm 1894.

Ronald Adair là một người thích cờ bạc, nhưng chưa bao giờ tỏ ra vượt quá giới hạn.

Anh ta là thành viên của ba câu lạc bộ: Baldwin, Cavendish và Bagathel.

Người ta đã điều tra và xác định rằng, trong ngày bị giết, sau bữa cơm chiều, Ronald đã chơi một ván bài ở câu lạc bộ Bagathel.

Thậm chí, trước bữa cơm chiều anh ta cũng có chơi ở đấy rồi.

Những người cùng chơi với anh ta là: ngài Murray, ngài John Hardy và ngài đại tá Moran.

Adair bị thua mất năm bảng Anh.

Gia tài của anh ta khá lớn, nên việc thua bạc như vậy không làm cho anh ta bận tâm chút nào.

Anh ta hầu như ngày nào cũng chơi và thường là được bạc.

Những lời khai của các nhân chứng đã làm sáng tỏ thêm một chuyện.

Là khoảng một tháng rưỡi trước khi bị giết, Adair cùng chơi với ngài đại tá Moran, một buổi tối đã ăn của ngài Godfrey Milner và huân tước Balmoral 420 bảng.

Đấy là tất cả những gì biết được về những tuần cuối cùng của đời anh ta.

Vào buổi tối bất hạnh đó, anh ta từ câu lạc bộ trở về nhà đúng 22 giờ đêm.

Mẹ và em gái anh ta đi vắng: họ đi thăm người quen chưa về.

Người hầu gái thề rằng, cô ta đã nghe thấy anh ta bước vào phòng của mình.

Căn phòng ấy nằm trên tầng hai, cửa sổ hướng ra đường phố, anh dùng làm phòng tiếp khách.

Trước khi bá tước trẻ tuổi về, người hầu gái vừa nhóm lò sưởi xong, lò sưởi vẫn còn bốc khói nghi ngút, cô ta phải mở toang các cửa sổ để thoáng khói.

Trước 23 giờ 20 phút không hề nghe một động tĩnh nào phát ra từ căn phòng của bá tước.

Lúc ấy bà Maynooth và cô con con gái về đến nhà.

Bà Maynooth muốn ghé lại chỗ cậu con trai để chúc cậu ngủ ngon, nhưng cánh cửa phòng đã được khóa chặt bên trong; mặc cho người ta gào thét, đập cửa, không một ai lên tiếng.

Thấy vậy người mẹ hô hoán lên, bắt người nhà phải phá cửa.

Chàng thanh niên xấu số đang nằm gục dưới sàn nhà, ngay cạnh chiếc bàn.

Đầu anh ta bị một viên đạn súng lục bắn thủng, trông thật khủng khiếp.

Nhưng rất kỳ lạ là trong phòng không thấy một thứ vũ khí nào hết.

Trên bàn có hai tờ ngân phiếu trị giá 10 bảng Anh và 17 đồng bảng Anh với 10 silinh, bằng bạc có, bằng vàng có.

Những đồng bạc được xếp thành từng chồng nhỏ với từng loại giá trị khác nhau.

Bên cạnh những đồng bạc là một tờ giấy có ghi những con số và ngang hàng với những con số đó là tên những người bạn cùng câu lạc bộ của Adair.

Từ dữ kiện này có thể rút ra một nhận xét:

Trước khi chết, chàng trai đã tính toán những ván thua, thắng bạc của mình.

Sau khi nghiên cứu kĩ các dữ kiện, công việc càng trở nên rối rắm, mù mịt hơn.

Một điều làm chúng ta khó hiểu: vì sao chàng trai phải khóa chặt cửa từ bên trong?

Thực ra kẻ giết người cũng có thể khóa cửa, rồi trèo qua cửa số để tẩu thoát.

Nhưng dưới những cánh cửa sổ là những bồn hoa hồng lại không hề bị dẫm nát; hơn nữa từ cửa sổ đến mặt đất phải đến 20 foot.

Không một cây hoa nào bị giày xéo, làm nát.

Ngay cả lớp đất giữa nhà và con đường cũng không hề có một dấu vết nào.

Rõ ràng là chính Adair đã tự tay khóa cửa.

Nhưng sao cái chết lại đột ngột dội vào đầu anh ta?

Cứ giả thiết rằng tên sát nhân đã bắn qua cửa sổ, thì đó phải là một phát súng rất đặc biệt, vì chỉ bằng một viên đạn súng lục đã giết chết chàng trai ngay lập tức với một khoảng cách quá xa như vậy thì đâu phải chuyện dễ dàng?

Hơn nữa, Park Lane là một đường phố nhộn nhịp, đông người qua lại; cách nhà 100 acđơ có một trạm xe ngựa.

Không một người nào nghe thấy tiếng súng nổ.

Vậy mà, có một người bị ám hại nằm xuống chỉ với một viên đạn súng lục bắn xuyên thủng đầu?

Xét theo vết thương thì chính viên đạn kia là nguyên nhân gây ra tử vong.

Bối cảnh vụ án đầy bí ẩn ở Park Lane là như vậy!

Một vụ giết người có ẩn số đầy bí hiểm bởi thiếu hoàn toàn những nguyên do xác đáng, logic.

Anh bạn trẻ Adair không hề có địch thủ, còn tiền nong cũng như giấy tờ quý giá khác thì không hề suy suyển.

Suốt ngày tôi suy đi, nghĩ lại trong óc tất cả những dữ kiện ấy, với tham vọng cố đặt ra cho nó một giả thiết có phần nào phù hợp và đủ sức thuyết phục.

Tôi cố gắng tìm ra "điểm ít khả năng bị bác bỏ nhất" điều mà người bạn xấu số của tôi luôn luôn lấy làm kim chỉ nam cho các công cuộc khám phá.

Tôi thành thật thú nhận mình hoàn toàn không đạt được ý đồ đó.

Buổi chiều tôi thơ thẩn, lang thang trong công viên: khoảng 18 giờ, bỗng dưng tôi đi đến góc phố giữa đường Park Lane và đường Oxford không hề có ý định trước.

Tôi thấy một nhóm người vô công rồi nghề đang túm năm tụm ba, nhòm ngó vào một chiếc cửa sổ ngôi nhà đã xảy ra vụ án mạng đầy bí ẩn.

Một gã đàn ông cao, gầy đeo kính râm to, - tôi nghĩ chắc là một thám tử giả dạng - đang thử nêu một giả thiết về án mạng, những người tò mò bao quanh ông ta chật cứng, chăm chú lắng nghe.

Tôi cũng định xán lại, nhưng khi nghe loáng thoáng những nhận định, phán đoán ngu xuẩn, tôi có cảm giác kinh tởm và thối lui.

Vô tình tôi đụng phải một ông già gù lưng đứng phía sau, mấy cuốn sách mà ông ta đang kẹp nách bị rơi ra.

Trong lúc cúi xuống nhặt giúp mấy cuốn sách cho ông lão, tôi chợt đọc thấy một tên sách "Sự ra đời và việc sùng bái cỏ cây".

Tôi thoáng nghĩ: thật là một con mọt sách tội nghiệp; chắc vì để kiếm sống, hoặc vì yêu thích nghệ thuật, nên đã cố sưu tầm những cuốn sách quý hiếm.

Tôi định nói vài câu xin lỗi cho sự vô tình của mình đã làm rơi những vật mà chủ nhân của nó nâng niu, trân trọng; nhưng ông già càu nhàu, tức tối và khinh khỉnh quay đi.

Chỉ một loáng cái lưng gù gù và bộ râu quai nón bạc trắng của ông đã lẩn vào đám đông.

Những quan sát ở ngôi nhà 427 phố Park Lane đã giúp tôi được chút ít trong công việc khám phá lời giải đáp mà tôi quan tâm.

Ngôi nhà được ngăn cách với đường phố bằng một bức tường thấp, trên tường có chăng dây thép.

Dây thép cao chưa đến 5 foot.

Mọi người dễ dàng lọt được vào vườn.

Nhưng trèo lên cửa sổ thì khó thực hiện được, vì không có ống thoát nước, không hề có một cái gờ nào nhô ra, cho nên ngay cả một nhà thể thao điêu luyện nhất cũng không thể trèo lên theo bức tường được.

Càng thấy mơ hồ hơn, tôi quay về phố Kensington để về nhà.

Tôi bước vào phòng mình chưa đầy 5 phút thì người hầu gái đã báo với tôi là có một người khách muốn gặp tôi.

Tôi thật sửng sốt và ngạc nhiên, vì đó không phải ai xa lạ, mà chính là ông già gù gù, thích sưu tầm sách quý tôi gặp lúc chiều.

Bộ tóc bạc phau, trùm gần kín khuôn mặt nhăn nheo, nhọn hoắt của ông.

Ông kẹp ở nách có đến một tá những cuốn sách loại quý:

- Chắc ngài rất ngạc nhiên vì sự có mặt của tôi?

- Ông ta hỏi với giọng the thé rất kì dị.

Tôi thú nhận là ông ta đoán đúng.

- Ngài thấy không, tôi là một người lịch sự.

Tôi lững thững đi theo con đường mà ngài đi, tôi chợt thấy ngài bước vào ngôi nhà này.

Tôi tự nhủ với mình là cần ghé lại gặp con người lịch thiệp kia để xin lỗi.

Nếu tôi có thô thiển lố bịch với ngài, thì thú thật tôi cũng không có ý định làm cho ngài bực dọc.

Tôi mang ơn ngài rất nhiều, vì ngài đã hạ cố cúi nhặt giúp tôi những cuốn sách.

- Chuyện nhỏ nhặt ấy, không nên bận tâm làm gì.

- Tôi đáp.

- Ngài cho phép tôi được hỏi, làm sao ngài biết được tôi là người như thế nào?

- Tôi cũng xin mạnh dạn nói với ngài rằng tôi là hàng xóm láng giềng với ngài.

Tiệm sách bé nhỏ của tôi nằm ở góc phố Church, tôi rất hân hạnh nếu được ngài ghé lại chơi.

Có lẽ ngài cũng là người ham mê sách?

Tôi xin giới thiệu với ngài đây là cuốn "Những giống chim ở British", "Catullus", "Cuộc chiến tranh thiêng liêng".

Ngài mua đi, tôi sẵn sàng bán giá rẻ.

Năm tập này, vừa vặn đủ lấp kín chỗ trống ở ngăn thứ hai tủ sách của ngài.

Tôi thấy hình như giá sách của ngài không được đẹp mắt lắm thì phải, thưa ngài?

Tôi ngoái cổ để nhìn lại giá sách, khi quay lại thì tôi không thể tin ở mắt mình được nữa: Sherlock Holmes đang đứng ngay bên chiếc bàn của tôi và đang cười.

Tôi khuỵu xuống vài giây.

Tôi ngơ ngác nhìn anh, và sau đó thì, có lẽ đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, tôi đã bị ngất.

Tôi chỉ mang máng nhớ là có một đám mây xám đang nhập nhòa trước mắt.

Khi đám mây tan biến đi, tôi thấy cổ áo của mình bị mở phanh ra và tôi ngửi thấy thoang thoảng mùi rượu Cô nhắc.

Holmes vẫn đứng đấy trên tay cầm chai rượu, đầu hơi cúi xuống.

- Watson thân mến!

- Một giọng nói khá thân thuộc cất lên - nghìn lần tớ xin lỗi cậu.

Tớ không ngờ cái ấy lại gây cho cậu một xúc động mạnh như vậy.

Tôi nắm lấy tay anh.

- Holmes!

- Tôi thốt lên.

- Có phải thật cậu không?

Chẳng lẽ cậu vẫn còn sống ư?

Không thể nào tin được, làm sao cậu vượt lên được cái thác nước khủng khiếp ấy?

- Hãy đợi chút đã.

- Anh nói.

- Không biết cậu đã bình tĩnh lại chưa?

Rõ ràng sự xuất hiện quá đường đột của tớ đã làm cho cậu choáng váng.

- Tớ đã bình tĩnh lại rồi.

Nhưng thú thật với cậu, tớ không còn tin vào mắt mình nữa.

Thật hú vía!

Chẳng lẽ chính cậu đấy ư?

Không phải ai khác đang đứng trong phòng tớ đấy chứ?

Tôi lại nắm lấy cánh tay anh và bóp nắn cánh tay gân guốc.

- Đúng rồi, chính là cậu rồi, không còn nghi ngờ gì nữa, - Tôi tiếp.

- Bạn yêu mến của tôi ơi!

Tớ hạnh phúc biết bao khi được gặp lại cậu!

Hãy ngồi xuống cái đã, và hãy kể vắn tắt cho tớ nghe, bằng cách nào cậu thoát khỏi vực thẳm kia?

Holmes ngồi xuống đối diện với tôi, với dáng điệu quen thuộc như xưa, anh lấy thuốc ra châm hút.

Anh vẫn đang mặc chiếc áo đã sờn với dạng của người bán sách cũ, nhưng những thứ dùng để cải trang như bím tóc bạc, túi đựng sách cũ...

đã nằm trên bàn.

Tôi có cảm giác anh gầy hơn xưa, cái nhìn của anh có vẻ sắc sảo hơn.

Khuôn mặt trắng xanh nhợt nhạt của anh chứng tỏ trong thời gian qua, anh đã nếm nhiều khổ cực, đã trải qua một chặng đường đời khắc khổ không có lợi cho sức khỏe.

- Watson, được duỗi thẳng người ra thật khoan khoái!

- Anh lên tiếng,

- Một người cao lớn như tớ, không dễ dàng gì mà rút đi một foot; và bắt buộc giữ tình trạng đó suốt mấy tiếng đồng hồ.

Bây giờ, chúng ta sẽ đề cập đến những vấn đề cực kỳ nghiêm trọng...

Tớ muốn cầu cứu sự giúp đỡ của cậu, nếu cậu không phản đối.

Cả hai chúng mình sẽ phải thức trắng suốt đêm nay với một công việc nặng nhọc đầy nguy hiểm.

Tốt nhất, nên để chuyện cuộc phiêu lưu của tớ đến lúc công việc kia giải quyết xong xuôi.

- Nhưng tớ đang cháy ruột, cháy gan vì tò mò.

Holmes, tớ nóng lòng được cậu kể ngay bây giờ.

- Cậu có đồng ý đi với mình đêm nay không?

- Đi bất cứ nơi đâu, bất kỳ lúc nào, tùy cậu.

- Hoàn toàn như ngày xưa.

Chúng ta vẫn còn kịp giải lao cho thư thả trước lúc lên đường...

Nào, bây giờ tớ bắt đầu câu chuyện về cái thác nước.

Nguyên nhân đơn giản làm cho tớ lên được khỏi vực thẳm, là tớ chưa hề bị rơi xuống đó.

- Cậu không bị rơi xuống vực à!

- Đúng thế, Watson ạ, không hề bị rơi.

Thế nhưng, mẩu thư tớ viết cho cậu hoàn toàn là sự thật.

Khi bóng dáng độc ác của giáo sư Moriarty xuất hiện trên lối mòn chật hẹp, chặn ngăn con đường giải thoát duy nhất của tớ, lúc ấy tớ nghĩ, mọi chuyện đối với tớ như vậy là đã chấm dứt.

Trong đôi mắt màu nâu của hắn, tớ đọc được quyết định không thể nào lay chuyển nổi về số phận của tớ.

Tớ trao đổi với hắn vài ba câu, hắn lịch sự cho phép tớ được viết một mẩu tin ngắn ngủi, cậu đã nhận được bức thư.

Tớ để lá thư cùng hộp thuốc và cây gậy lại, còn tự mình đi theo lối mòn tiến về phía trước.

Moriarty đi theo sau tớ từng bước một.

Khi đến đoạn cuối cùng của lối mòn, tớ dừng lại, bởi có đi tiếp cũng không còn đường nào hết.

Hắn không thèm lấy ra một thứ vũ khí gì, vội lao vào tớ và hắn dùng đôi tay dài ngoằng của mình chộp lấy tớ.

Hắn biết, cuộc đời của hắn đã tới số, hắn chỉ cần thực hiện một việc là trả thù tớ.

Không thèm buông ra, tớ với hắn giằng co ngay bên mép vực thẳm.

Nhưng, nhờ tớ biết vài miếng võ Judo Nhật Bản, khoản này đã giúp tớ không ít trong công việc, tớ kịp thoát ra khỏi người hắn.

Hắn thét lên nghe thật man rợ, loạng choạng vài giây, hai tay chới với trong không trung.

Mặc dù hắn cố gắng hết sức, nhưng vẫn không thể giữ nổi thăng bằng và ngã xuống.

Đứng trên bờ vực thẳm, tớ nhìn theo rất lâu xem hắn bị rơi xuống vực như thế nào?

Tớ thấy hắn va vào gờ của một tảng đá và chìm nghỉm dưới nước.

Tôi lắng nghe Holmes kể với tâm trạng hồi hộp vô cùng.

Còn anh vẫn thản nhiên, vừa kể vừa thả khói thuốc một cách khoan thai.

- Nhưng còn các vết chân!

- Tôi thốt lên.

- Chính tớ, bằng mắt mình đã trông thấy rõ rành rành hai dãy bước chân cùng đi lên theo lối mòn, dấu quay lại không hề có.

- Chuyện ấy xảy ra như thế này.

Trong giây phút, khi giáo sư Moriarty rơi xuống vực; tớ hiểu rằng, vận may đã đến với tớ một cách không ngờ.

Tớ biết rằng không phải chỉ có một mình Moriarty đang tìm cách giết tớ.

Ít nhất phải có ba tên đồng bọn, cái chết của thủ lĩnh sẽ đốt cháy trong tim bọn nó một sự khao khát trả thù.

Đó là một lũ người cực kỳ nguy hiểm.

Trong tương lai, sẽ có một tên nào đó trong bọn chúng thực hiện mưu đồ làm hại tớ.

Nếu chúng nghĩ rằng tớ đã chết, thì chúng sẽ hành động trắng trợn hơn, ít đề phòng và dễ dàng để lộ tung tích, lúc ấy, sớm hay muộn rồi tớ cũng có ngày tiêu diệt được chúng nó.

Chỉ đến lúc này, tớ mới thông báo cho mọi người biết tớ vẫn còn sống!

Bộ não của con người làm việc rất nhanh, Moriarty chưa kịp xuống tới đáy của vực nước Reichenbach tớ đã nghĩ xong kế hoạch đối phó rồi.

Tớ đứng lên và quan sát bức tường đá sừng sững ở sau lưng.

Trong đoạn miêu tả về cái chết tang thương của tớ, mà tớ rất thú vị đọc sau đó vài tháng, cậu cho rằng: bức tường đá hoàn toàn dựng đứng và trơn tuột.

Không phải đúng hết như vậy.

Trên tảng đá có vài chỗ gờ nhô ra, có thể đặt chân, bám vào được.

Ngoài ra dựa vào các dấu hiệu, tớ tin sẽ có một cái hốc nào đấy ở trên cao...

Mỏm đá khá cao, rõ ràng không thể nào trèo lên đỉnh được, và cũng không thể đi theo lối mòn ẩm ướt mà không để lại dấu vết.

Thực ra tớ cũng có thể mang giày cho gót lộn ngược cũng được, như tớ đã từng làm trong những trường hợp tương tự; nhưng ba dấu giày cùng đi theo một hướng, không thể tránh khỏi sự nghi ngờ rằng cố ý đánh lừa được.

Vì vậy tốt nhất cứ liều leo lên cao.

Điều này không phải là dễ, thác nước đang réo ầm ĩ phía dưới.

Tớ có cảm giác tiếng nói của Moriarty đang gọi tớ từ đáy vực thẳm vọng đến bên tai.

Đôi lúc, khi một nắm cỏ nằm lại trên bàn tay, hoặc bàn chân bị trượt theo cái gờ đá ẩm ướt láng lầy, tớ nghĩ rằng mọi việc đã kết thúc.

Nhưng tớ vẫn tiếp tục bò lên, cuối cùng tớ bò lên chỗ nứt lở khá sâu mọc đầy rêu xanh.

Ở đây, tớ có thể nằm duỗi tay, duỗi chân mà không sợ ai nhìn thấy, tớ nghỉ một lát cho sảng khoái.

Tớ đã nằm ở đấy, trong lúc đó, cậu và những người được cậu mời tới, đã hoài công dựng lên bức tranh về cái chết của tớ.

Cuối cùng, sau khi đã rút ra kết luận hoàn toàn sai lầm về những diễn biến đã xảy ra, cậu quay về khách sạn, còn tớ nằm lại một mình.

Tớ hình dung cuộc phiêu lưu của tớ đã kết thúc, nhưng một việc khá bất ngờ đã xảy ra, chứng tỏ là có một chuyện không kém phần ly kỳ đang chờ đợi tớ.

Có một hòn đá to vỡ ra chợt bay vèo qua đầu tớ, rơi xuống lối mòn rồi rơi xuống vực.

Lúc đầu tớ cứ nghĩ đó là một chuyện tình cờ.

Nhưng, sau khi nhìn lên trên, tớ trông thấy một cái đầu của người đàn ông in trên nền trời đang tắt dần nắng.

Đúng giây phút ấy, một hòn đá khác bay tới ngay sát cái hõm mà tớ đang nằm, cách đầu tớ chỉ vài inch.

Tình thế đối với tớ đã quá rõ.

Moriarty không phải chỉ đến một mình.

Tên đồng bọn của hắn cũng khá nguy hiểm, thằng này chắc đứng cảnh giới, khi thằng Moriarty xông vào tấn công tớ.

Từ xa, hắn đã chứng kiến cái chết của thủ lĩnh mình và thấy kẻ thù của hắn đã thoát nạn.

Sau khi chờ đợi một lúc, hắn chạy vòng lên đỉnh bằng hướng khác và mưu toan thực hiện việc mà Moriarty đã không thành công.

Watson, tớ suy tính chuyện này rất nhanh.

Sau khi nhìn quanh, tớ lại trông thấy bộ mặt dữ tợn của hắn và hiểu rằng, hắn là kẻ đã ném thêm viên đá nữa.

Tớ quyết định bò xuống đến lối mòn.

Tớ không biết, trong trạng thái bình thường, tớ có làm nổi chuyện ấy hay không?

Tuột xuống khó gấp cả nghìn lần lúc leo lên.

Nhưng không hơi đâu mà đắn đo, suy tính.

Khi đó tớ đang treo người, hai tay bám vào mép của khe đá.

Một viên đá thứ ba bay vù qua đầu tớ.

Tụt được nửa đường, bỗng tớ trượt chân một cái, nhưng dẫu sao, tớ cũng đã đến lối mòn.

Người bị rách bươm, thấm đầy máu, ba chân bốn cẳng tớ cắm đầu cắm cổ chạy.

Trong đêm tối tớ chạy xuyên rừng, xuyên núi 10 dặm và một tuần sau tớ có mặt ở Florence và tin chắc rằng: không một người nào trên đời này biết được số phận của tớ.

Chỉ một người biết được bí mật, đó là anh trai tớ - Mycroft.

Nghìn lần xin lỗi cậu, Watson.

Nhưng tớ bắt buộc phải làm như vậy, cứ để mọi người tưởng tớ chết thật là được rồi.

Nếu không, không bao giờ cậu có thể viết lên những điều khẳng định chắc chắn về cái chết của tớ, nếu cậu không tin rằng đó là sự thật.

Trong ba năm ấy, đôi lần tớ định viết thư cho cậu, nhưng mỗi lần như vậy, tớ đành phải dằn lòng, vì sợ rằng mối mật thiết quá ư chặt chẽ giữa cậu và tớ sẽ dễ làm cho cậu có sơ suất, và sẽ lộ điều bí mật của tớ.

Vì sao chiều nay tớ phải tránh mặt cậu, khi cậu làm rơi sách của tớ?

Tớ thật liều lĩnh, nếu như cậu kêu lên vì kinh ngạc hoặc vì vui mừng, mọi người sẽ nhìn chằm chằm vào tớ chuyện đó sẽ dẫn đến hậu quả không thể cứu chữa được.

Còn phải nói cho anh Mycroft, thì cực chẳng đã tớ mới thú thật mà thôi, bởi tớ rất cần một món tiền để tiêu sài.

Công việc ở Luân Đôn giải quyết rất tệ, tệ hơn là tớ mong đợi.

Sau khi ra tòa, trong băng của Moriarty, còn hai tên đang nằm ngoài vòng pháp luật.

Đó là hai tên cướp rất nguy hiểm, cả hai thằng đều là kẻ tử thù của tớ.

Vì thế, tớ đã đi chu du trong hai năm ở vùng Tibet, và đến thăm thành phố Lhassa, thậm chí còn bỏ cả mấy ngày đến thăm giới tu hành tăng lữ.

Có lẽ cậu đã đọc bài báo nói về vụ chấn động lớn của một người Na Uy, mang tên Sigerson, nhưng cậu làm sao có thể nghĩ rằng, bài ấy là của bạn mình.

Tớ còn đi thăm vài nơi ở vương quốc Ả Rập, chuyến đi thăm do tớ đề nghị lên ngài Bộ trưởng bộ ngoại giao.

Sau khi quay về Châu Âu, tớ ở lại thăm nước Pháp vài tháng, ở đây tớ tham dự vào công cuộc nghiên cứu, phân tích những chất lấy từ một vùng than đá.

Việc này tớ làm ở một phòng thí nghiệm thuộc miền Nam nước Pháp - Montpellier, sau khi kết thúc tốt đẹp thí nghiệm và biết được hiện nay ở Luân Đôn chỉ còn sống sót một kẻ thù không đội trời chung của tớ, tớ suy tính chuyện trở về.

Lúc đó tớ nghe tin vụ ám sát đầy bí ẩn ở phố Parka Leyn và nóng lòng ra đi.

Tớ cũng đã nghiên cứu kỹ vụ này rồi.

Đáp số của vụ án mạng sẽ giúp tớ thực hiện ý định của riêng mình.

Thế là, tớ vội vã quay về Luân Đôn.

Tự tớ đến hẻm Baker, và đã làm cho bà Hudson bị một phen hoảng sợ, lên cơn thần kinh.

Anh trai tớ vẫn trông nom căn phòng và mọi giấy tờ vẫn nguyên vẹn như lúc tớ ra đi.

Ngày hôm nay, lúc 14 giờ, tớ đã ghé vào căn phòng cũ của mình, ngồi vào chiếc ghế bành thân quen, và chỉ mong ước một điều duy nhất là làm sao cho người bạn cũ Watson của mình được cùng ngồi ung dung trong một chiếc ghế bành khác mà anh ta vẫn thường ngồi.

Câu chuyện kinh hoàng tôi đã được nghe trong buổi tối tháng tư là như vậy đấy.

Tôi khó lòng tin đó là sự thật.

Mặc dù chính mắt tôi đã trông thấy thân hình cao, gầy và khuôn mặt thông minh, cương nghị của người bạn mà tôi nghĩ rằng, không bao giờ tôi còn gặp lại.

Không biết bằng cách nào, Holmes đã rõ cái chết của vợ tôi, sự thương cảm được thể hiện trong giọng nói của anh:

- Làm việc!

Đó là cách tốt nhất để khuây khỏa nỗi đau khổ, Watson yêu quí - Anh động viên an ủi tôi.

- Khuya hôm nay, có công việc đang chờ chúng mình.

Người có diễm phúc hoàn thành sứ mệnh một cách tốt đẹp có thể mạnh dạn tuyên bố rằng, anh ta đã sống một cuộc đời không phải là uổng phí, vô ích.

Tôi đã mất công để thuyết phục anh giải thích cho rõ.

- Đến sáng mai, cậu sẽ được nghe, được thấy đầy đủ, - Anh đáp.

- Còn bây giờ không cần nói tới chúng ta còn khối chuyện để tâm sự.

Cậu biết đấy, đã ba năm rồi chúng mình không được nhìn thấy nhau.

Hy vọng chúng ta sẽ tâm sự đến 21 giờ 30 phút, rồi sẽ lên đường, đón nhận một cuộc phiêu lưu đầy thú vị trong một ngôi nhà bỏ trống.

Như ngày xưa, khi tôi ngồi cùng với anh trong một cỗ xe đúng giờ đã định, tôi sờ soạng khẩu súng ngắn nằm trong túi, tim đập liên hồi vì hồi hộp đón chờ những sự kiện chưa lường trước được.

Holmes thì trầm ngâm, đăm chiêu suy nghĩ.

Khi ánh sáng của ngọn đèn đường hắt vào khuôn mặt khắc khổ của anh, tôi thấy anh khẽ ngước đôi lông mày, còn cặp môi mỏng thì mím chặt, chứng tỏ anh đang suy nghĩ rất căng thẳng.

Tôi không biết, chúng tôi đang săn đuổi con thú ranh mãnh nào đây trong khu rừng rậm của thế giới tội phạm tại Luân Đôn.

Nhưng tất cả dáng điệu của một người thợ săn đầy lão luyện như báo cho tôi rằng, cuộc trinh thám này sẽ là cuộc trinh thám nguy hiểm nhất, ác liệt nhất.

Nụ cười mỉa mai thường xuyên xuất hiện trên gương mặt đăm chiêu của bạn tôi không hứa hẹn một điều gì tốt đẹp cho con thú chúng tôi đang săn đuổi.

Tôi đinh ninh rằng, thế nào chúng tôi cũng ghé về hẻm Baker, nhưng Holmes lại ra lệnh cho người xà ích dừng xe ở góc phố Cavendish.

Trong lúc bước xuống xe, anh cẩn thận quan sát, nhìn soi mói vào từng ngóc ngách; kiểm lại xem có cái đuôi nào bám sau không.

Chúng tôi bước vào một cái ngách trông rất lạ.

Holmes luôn luôn làm cho tôi thán phục về sự hiểu biết tường tận khá nhiều góc hẻm ở Luân Đôn.

Anh ung dung tự tin bước vào một góc tối đầy chuồng ngựa, đi qua những cái sân hôi hám, nhớp nhúa; tôi không thể tin sự tồn tại có mặt của những thứ ấy.

Cuối cùng chúng tôi lọt vào một cái hẻm chật hẹp, có hai dãy nhà cũ kỹ, tối tăm ở hai bên.

Đường này dẫn chúng tôi ra phố Manchester, rồi đến phố Blandford.

Holmes nhanh nhẹn nhảy sang một lối hẹp khác, đi qua một hộc cửa bằng gỗ, lọt vào cái sân vắng vẻ.

Anh dùng chìa khóa mở cửa sau một ngôi nhà.

Chúng tôi bước vào, ngay lập tức anh khóa trái cửa lại.

Dù trời rất tối, nhưng tôi hiểu ngay là ngôi nhà này không có người ở.

Nền nhà không lót thảm, kêu lên răng rác; lạo xạo dưới chân, tôi vô ý chạm phải những bức tường, nhiều tờ giấy dán tường bị bong ra treo trên đầu chúng tôi.

Những ngón tay gầy, lạnh lẽo của Holmes bóp chặt bàn tay tôi, anh dẫn tôi theo một hành lang dài, cuối cùng trước mắt chúng tôi hiện ra một cái vòm cửa sổ nửa cong, nửa thẳng đứng kín đáo, nằm trên chỗ cửa ra vào.

Bỗng dưng Holmes quay về bên phải, và chúng tôi lọt vào một căn phòng hình vuông rộng lớn nhưng bị bỏ hoang; các góc, xó hoàn toàn tối om, nhưng ở giữa phòng thì được lờ mờ ánh sáng ngọn đèn đường.

Cạnh cửa sổ không có một ngọn đèn nào, còn tấm kính trên cửa sổ thì bị một lớp bụi dày bao phủ.

Chúng tôi nhận ra nhau khá chật vật.

Holmes đặt tay lên vai tôi, và cúi sát môi vào tai tôi.

- Cậu có biết chúng ta đang ở đâu không?

- Anh thầm thì hỏi.

- Dường như trong hẻm Baker, - Tôi vừa nhìn vào tấm kính mờ đục vừa nói.

- Đúng như vậy, chúng ta đang đứng ở nhà Kem đem, đối diện với căn buồng trước kia của chúng mình.

- Chúng mình đến đây làm gì?

- Đến đây để nhìn hình dạng tuyệt vời của ngôi nhà kia.

Không biết có nên tiến sát vào cánh cửa sổ không?

Nhưng hãy thật thận trọng, đừng để ai phát hiện ra cậu.

Cậu thử nhìn vào cửa sổ của buồng cũ chúng mình đi, nơi đó đang mở ra những cuộc trinh thám đầy thú vị.

Cậu thử xem, tớ đã mất khả năng làm cậu kinh ngạc chưa, sau ba năm trời phiêu bạt?

Tôi nhẹ nhàng, cẩn tắc tiến về phía trước, nhìn vào khung cửa sổ vô cùng thân thuộc...

Bỗng nhiên tôi thốt lên một tiếng kinh ngạc, bức rèm được buông xuống, đèn sáng rực rỡ, có một người ngồi trên chiếc ghế bành kê ở giữa phòng, hắt bóng rất rõ lên nền sáng của cánh cửa sổ.

Từ đầu, đến đôi vai rộng, cho đến khuôn mặt xương xương, cái đầu hơi xoay nghiêng, tạo nên một dáng dấp mờ ảo, những bà cụ rất thích được vẽ kiểu ấy...

Không còn gì nghi ngờ, đấy chính là một bản sao hoàn hảo chính xác con người Sherlock Holmes.

Tôi kinh ngạc đến nỗi phải đưa tay lên sờ vào người anh để khẳng định anh vẫn đứng bên cạnh tôi.

Holmes cười không thành tiếng.

- Thế nào?

- Anh hỏi.

- Chuyện này khó tin được!

- Tôi thì thầm nói.

- Dường như, năm tháng không cướp đi khả năng sáng tạo của mình, còn thói quen cũng không vì thế bị khô mòn, - Anh nói.

Tôi cũng bắt gặp trong giọng nói anh một niềm vui sướng, kiêu hãnh của nhà họa sĩ đang thưởng thức công trình tuyệt tác của mình.

- Cậu thấy có thật giống mình không?

- Tớ nghĩ rằng, đây chính là cậu đang ngồi.

- Vinh dự này thuộc về ngài Meunier ở Grenoble.

Ông ta đã tạc tượng tớ trong vòng có vài ba ngày.

Nó được làm bằng sáp.

Những phần còn lại tớ tự sắp đặt khi tớ quay về hẻm Baker sáng sớm hôm nay.

- Nhưng cậu làm thế nhằm mục đích gì?

- Tớ có nguyên nhân chính đáng.

Tớ muốn một số người nào đó cứ đinh ninh là tớ đang ngồi ở nhà, trong khi ấy, thực tế tớ lại ngồi ở một nơi khác.

- Có nghĩa là cậu nghĩ rằng, có một bọn nào đó đang rình mò căn hộ ư?

- Tớ biết, có kẻ đang rình mò căn nhà.

- Kẻ đó là ai?

- Những kẻ thù của tớ.

Cái băng đầy hấp dẫn mà tên thủ lĩnh đã vĩnh viễn nằm chôn vùi dưới đáy thác nước Reichenbach.

Cậu biết đấy, chỉ có bọn nó mới biết chính xác là tớ vẫn còn sống.

Chúng nó tin chắc, dù sớm hay muộn rồi tớ cũng quay về căn phòng cũ của mình.

Tụi nó chưa chịu từ bỏ ý định theo dõi rình rập để hại tớ.

Sáng nay chúng đã thấy tớ quay về nhà.

- Làm sao cậu đoán được điều đó?

- Trong lúc nhìn qua cửa sổ, tớ nhận ra một thằng thám thính của chúng.

Tên của hắn là Parker, chuyên ăn cướp, giết người, đồng thời còn là một nhà tổ chức thiên tài.

Tớ chú ý đến thằng này ít thôi.

Một thằng khác làm cho tớ chú ý nhiều hơn, đáng gờm hơn là thằng núp sau lưng tên Parker.

Đó là kẻ thân cận nhất của tay Moriarty.

Chính hắn đã dùng đá ném tới tấp vào tớ từ ngọn núi đá.

Hắn là một tên tội phạm ranh ma, xảo quyệt nhất, nguy hiểm nhất hiện nay ở Luân Đôn.

Chính hắn đêm nay sẽ đi săn tớ, và hắn đâu ngờ rằng, chúng ta lại săn hắn.

Kế hoạch của Holmes dần dần làm cho tôi sáng tỏ.

Từ chỗ ẩn nấp thuận tiện này, chúng tôi có khả năng theo dõi tất cả những ai có ý đồ theo dõi chúng tôi.

Dáng dấp bóng người thấp thoáng bên cửa sổ là một miếng mồi, còn chúng tôi là những tay thợ săn.

Vai kề vai, chúng tôi đứng lặng im trong bóng tối chăm chú ngắm nhìn những bóng người lượn qua lượn lại.

Đêm ấy, thời tiết rất xấu, trời trở lạnh tê tái, gió thổi dọc theo dãy phố một cách dữ dội, gay gắt.

Người đi lại ngoài đường khá đông, hầu như ai bước đi cũng rất vội, họ đều cố kéo cổ áo hoặc mũ che kín mũi cho đỡ lạnh.

Tôi có cảm giác một người nào đó cứ đi qua đi lại sát ngôi nhà, đặc biệt có hai người làm cho tôi nghi ngờ hơn cả.

Họ làm như thể tránh gió, nên bước vào một cánh cổng cách chúng tôi không xa.

Tôi định bụng sẽ báo cho Holmes biết, nhưng anh trả lời tôi với một giọng bực bội rồi tiếp tục theo dõi động tĩnh ngoài đường.

Thỉnh thoảng anh co chân cho đỡ mỏi hoặc lấy ngón tay gõ gõ vào bức tường.

Tôi thấy anh có vẻ không vui, hình như sự việc xảy ra không hoàn toàn đúng như kế hoạch.

Trời chuyển về khuya, đường phố tĩnh mịch vắng vẻ Holmes đi lại trong phòng, anh bồn chồn lo lắng, hồi hộp.

Vừa máy miệng định nói một điều gì nhưng tôi lại một lần nữa sửng sốt, kinh ngạc.

- Bức tượng cử động kìa!

- Tôi thốt lên.

Rất rõ, bóng hình kia quay về phía chúng tôi, không phải bên hông, mà là quay hẳn lưng lại.

Năm tháng không làm cho tính cách của Holmes thay đổi chút nào, anh vẫn là người điềm đạm, nhẫn nại, luôn thể hiện trí thông minh, đầu óc suy luận sắc sảo, nhìn nhận rất tinh tế.

- Phải làm như thật, - Anh đáp.

- chẳng lẽ tớ lại là một kẻ ngu ngốc không có bộ não hay sao?

Đặt trong phòng một hình nộm bất động không xua được ruồi thì quả là rất lộ liễu, phải chăng nhờ nó mà có thể đánh lừa được những kẻ ranh ma nhất Châu Âu ư?

Chúng mình thu lu trong xó xỉnh này đã hai giờ đồng hồ, trong lúc đó bà Hudson đã thay đổi vị trí bức tượng tám lần.

Cứ mười lăm phút một lần, với điều kiện là bà sẽ không để in bóng mình cho người ngoài trông thấy.

Bỗng nhiên anh im lặng, nín thở.

Trong cảnh nhá nhem, tôi trông thấy anh rướn cổ lên trong tư thế chờ đợi rất căng thẳng.

Đường phố đã hoàn toàn vắng ngắt.

Có lẽ, hai tên đứng nấp trong hẻm vẫn còn.

Nhưng tôi không tài nào nhìn thấy chúng.

Xung quanh tôi một màn đen và sự im ắng bao trùm.

Trong bóng đêm, màu vàng của cánh cửa sổ được chiếu sáng rực cùng với bóng của hình người ngồi giữa phòng, càng nổi bật rõ nét.

Không gian im ắng đáng sợ, tôi nghe thấy iếng thở khò khè của Sherlock, chắc anh rất hồi hộp cho kế hoạch của mình.

Bỗng nhiên anh ấn sâu tôi vào góc căn phòng, chỗ tối nhất, và lấy tay bịt miệng tôi lại, bằng cách này anh muốn nhủ tôi phải tuyệt đối im lặng.

Lúc này, tôi thấy những ngón tay của anh run run.

Chưa bao giờ tôi được chứng kiến anh bị kích động, căng thẳng đến tột độ như vậy.

Đường phố vẫn tạnh ngắt, yên ả không có gì xảy ra hết.

Bỗng nhiên, tôi nghe thấy một âm thanh khe khẽ, rì rầm vang đến tai tôi, âm thanh mà đôi tai cực nhậy của Holmes đã nghe thấy trước.

Tiếng động không phải phát ra từ hẻm Baker, mà chính trong ngôi nhà chúng tôi đang nấp.

Cửa ra vào được mở ra, rồi đóng lại.

Có tiếng bước chân rón rén vang lên khe khẽ ngoài hành lang.

Người đi cố giữ cho bước chân khỏi kêu to, nhưng trong căn nhà hoang này nó vẫn dội lên những âm thanh khá to.

Holmes đứng dựa sát vào tường, tôi cũng làm theo và nắm chặt khẩu súng ngắn, căng mắt nhìn vào bóng tối.

Tôi nhận ra lờ mờ bóng dáng một người đàn ông, bóng đen hơi sẫm hơn so với tấm khung hình chữ nhật của cánh cửa đã mở.

Hắn đứng im ở đó chừng một phút, rồi nhảy xuống và rón rén tiến về phía trước.

Mọi cử chỉ hành động của hắn đều chứa đựng một mối đe dọa.

Thân hình dữ tợn của hắn đứng cách chúng tôi có ba bước.

Tôi lên gân cốt, chuẩn bị đối phó với cuộc tấn công.

Nhưng hắn không hề biết có chúng tôi ở đây.

Hắn đi ngang qua chỗ chúng tôi đứng, suýt nữa thì chạm phải nhau.

Hắn rón rén tiến đến gần cửa sổ rất thận trọng không hề một tiếng động, hắn nhấc cánh cửa lên cao nửa foot.

Khi hắn trèo lên để mở chốt cửa, ánh sáng đèn đường hắt qua tấm kính bẩn thỉu soi rõ bộ mặt hắn, một bộ mặt dễ làm cho chúng ta kích động cao độ.

Cặp mắt cháy lên một cách man rợ, nét mặt biến dạng kinh khủng.

Hắn không còn trẻ trung gì nữa, có một chiếc mũi quặp như mỏ diều hâu, trán hói khá cao, bộ râu bạc trắng rất dài.

Mũ của hắn được kéo xuống tận gáy, chiếc áo bành tô hở cúc, để hở ra một khoảng trắng trước ngực - chiếc yếm hồ trắng.

Bộ mặt rám nắng, đen đủi hằn đầy những vết nhăn sâu hoắm.

Trong tay hắn cầm một vật đại loại như cây ba-toong, nhưng khi hắn đặt xuống nền nhà, nó phát ra một tiếng kêu "keng" của kim khí.

Hắn lôi từ trong túi ra một vật gì đó khá lớn: hắn loay hoay với đồ ấy chừng vài phút; cho đến khi một âm thanh kim khí phát ra, có lẽ, hắn kéo một chiếc lò xo hay cái then chốt.

Ngồi bằng đầu gối, hắn tiến về phía trước và với tất cả sức nặng của bản thân, hắn đè lên một đòn bẫy.

Chúng tôi nghe thấy một âm thanh dài dữ dội, có phần kêu to hơn lúc trước.

Hắn đứng thẳng người lên, tôi trông thấy trong tay hắn không phải cái gì xa lạ mà là khẩu súng săn, có cái báng kỳ lạ, xấu xí.

Hắn mở khóa, kéo cò bấm và đặt một vật gì vào bên trong xong cài chốt lại.

Hắn quỳ xuống, đặt đầu nòng súng lên bệ cửa sổ, bộ râu dài của hắn chấm sát tận nòng, cặp mắt hắn long lanh dữ tợn.

Hắn đặt súng tỳ vào vai và thở ra khoan khoái: tấm bia đang đứng trước mặt hắn - tấm bia kỳ lạ, bóng dáng đen đen soi rõ trên nền sáng.

Hắn lưỡng lự một lát sau đó đặt tay lên cò súng, một tiếng "vù" là lạ phát ra, tiếp theo là tiếng kính vỡ loảng xoảng.

Ngay lúc đó Holmes bỗng nhảy bổ ra như một con hổ, anh chộp ngay lưng kẻ vừa bắn và quật hắn ta úp mặt xuống sàn.

Nhưng một giây sau, kẻ bị quật ngã đã đứng dậy được, với một sức mạnh không ngờ hắn tóm lấy cổ Holmes.

Tức thì, tôi dùng báng súng nện mạnh vào đầu kẻ hành hung, hắn ngã xuống, tôi nằm đè lên.

Lúc đó Holmes thổi còi.

Ngoài đường một tốp người đã chạy tới, có hai cảnh sát quân phục đầy đủ, cùng một vị thám tử, từ cổng chính bước vào phòng.

- Có phải Lestrade đó không?

- Holmes hỏi.

- Tôi đây, thưa ngài Holmes.

Tôi định tự mình sẽ giải quyết việc này.

Rất vui mừng lại được gặp ngài ở Luân Đôn.

- Sự giúp đỡ nhỏ mọn, không đáng kể của chúng tôi chắc không cản trở các ngài?

Trong một năm có ba vụ án mạng không được phát hiện, cũng hơi nhiều đấy Lestrade ạ.

Nhưng câu chuyện bí mật ở Molesey, ngài tiến hành không đến nỗi nào... nghĩa là ngài giải quyết vụ ấy không đến nỗi tồi.

Chúng tôi đứng lên.

Còn tên hung thủ thì thở hổn hển trong cánh tay của hai viên cảnh sát lực lưỡng.

Một đám đông những kẻ rỗi việc bắt đầu tụ tập ngoài đường.

Holmes tiến đến bên cửa sổ, đóng lại.

Lestrade châm hai ngọn nến vừa mang tới, còn các vị cảnh sát thì bật công tắc đèn pin bỏ túi.

Tôi có dịp quan sát kẻ sát nhân kỹ càng hơn.

Hắn có bộ mặt rất đàn ông, trông rất đáng ghét.

Vầng trán như một triết gia, cái cằm như của một người thích nói những lời ngọt ngào, êm dịu.

Những cái đó, chứng tỏ con người hắn cũng có một khả năng làm những điều tốt lành, cũng như làm những điều ác độc.

Nhưng cặp mắt dữ dằn màu ánh thép, bộ lông mi rậm, cái nhìn trâng tráo, chiếc mũi quặp ác thú và những nếp hằn sâu trên trán đã tự tố cáo lên bản chất của hắn, những dấu hiệu báo trước cho xã hội biết những dã tâm nguy hiểm.

Hắn không thèm nhìn lên bất cứ người nào trong số chúng tôi.

Cái nhìn của hắn như cắm chặt vào khuôn mặt của Sherlock Holmes, hắn nhìn với một sự kinh ngạc và hằn học.

- Con quỷ!

- Hắn lẩm bẩm.

- Một con quỷ ranh ma, xảo quyệt!

- Đại tá, - Holmes nói, và sửa lại cổ áo bị nhàu, - Những người bạn chí cốt lại gặp nhau, như lời người xưa thường nói.

Tôi chưa có dịp gặp lại ngài sau lần ngài đã theo dõi tôi một cách trắng trợn.

Ngài hẳn còn nhớ, khi tôi nằm ở khe hở của núi đá tại thác nước Reichenbach.

Ngài đại tá có lẽ đang bị thôi miên, hắn không thể nào bứt cái nhìn ra khỏi Sherlock Holmes.

- Con quỷ, con quỷ có thật!

- Hắn cứ lặp đi, lặp lại câu nói đó.

- Tôi chưa kịp giới thiệu cho các vị - Holmes lên tiếng.

- Các vị biết không, đây là ngài đại tá Sebastian Moran, một cựu sĩ quan trong đội quân của hoàng gia đóng ở Ấn Độ, và là một thợ săn thú dữ tài ba, có một thời nổi tiếng oanh liệt ở những vùng thuộc địa Đông phương.

Tôi nghĩ, tôi không nhầm ngài đại tá ạ, có phải về số hổ báo săn bắn được, hiện nay ngài đang giữ kỷ lục phải không?

Tên tù binh thật vất vả lắm mới kìm được cơn phẫn nộ, hắn tiếp tục nín thinh.

Chính hắn cũng đã giống một con hổ rồi, cặp mắt của hắn long lên dữ tợn, ria mép cũng xù lên.

- Tôi rất ngạc nhiên vì sự đánh lừa quá ư đơn giản đã đưa một thợ săn dày dạn kinh nghiệm vào tròng, - Holmes tiếp tục, - Đối với ngài điều này đâu còn là mới mẻ.

Chẳng lẽ, chưa bao giờ ngài buộc một con dê dưới một gốc cây, còn ngài thì leo lên cây rậm rạp với khẩu súng săn hoặc carbin trong tay, để chờ con cọp dẫn xác đến con mồi hay sao?

Ngôi nhà bỏ trống này là cái cây của tôi, còn ngài là con hổ của tôi.

Tôi nghĩ rằng, đôi khi ngài cũng phải dùng những phát đạn dự trữ trong trường hợp, cùng một lúc có nhiều con hổ xuất hiện, hoặc hãn hữu cũng có đôi lúc ngài bắn trượt chứ.

Mấy vị này, - Anh nói và chỉ vào chúng tôi - là những phát súng dự phòng của tôi.

Sự so sánh của tôi chính xác đấy chứ?

Bất thình lình, đại tá Moran tức tối chồm lên phía trước, nhưng hai người cảnh sát đã kịp giữ hắn lại.

Bộ mật của hắn thể hiện nỗi hằn học, nhìn vào đó chúng tôi thấy kinh khủng, gớm ghiếc.

- Thú thật, ngài đã mang đến cho tôi một món quà nho nhỏ, - Holmes tiếp tục công kích.

- Tôi không ngờ, chính ngài cũng muốn sử dụng ngôi nhà bỏ trống này, quả thật thuận lợi.

Tôi nghĩ thế nào ngài cũng hành động từ ngoài phố, ở đấy có anh bạn Lestrade của tôi cùng những thủ hạ của anh ta đã đợi chờ ngài sẵn.

Trừ chi tiết ấy ra, còn mọi việc đều tiến triển đúng như tôi dự định.

Đại tá Moran quay sang phía Lestrade.

- Không kể những cái ấy, ngài có đủ chứng cớ, cơ sở để bắt tôi, hay là ngài không có đủ cơ sở?

- Hắn ta nói, - Tôi không thể nào chịu đựng nổi những lời lẽ nhạo báng của con người kia.

Nếu tôi ở trong tay luật pháp, thì cứ để pháp luật giải quyết.

- Điều này công bằng thôi, - Lestrade nhận xét.

- Trước khi chúng tôi ra về, ngài còn muốn nói điều gì nữa không, thưa ngài Holmes.

Holmes nhặt khẩu súng hơi đồ sộ lên, và quan sát cơ cấu của khẩu súng.

- Khẩu súng có một không hai này mới tuyệt làm sao - Anh thốt lên.

- Bắn không nghe tiếng kêu, nhưng có sức công phá và hủy diệt rất lớn.

Tôi biết một nhà cơ khí người Đức, tên là Von Herder.

Ông ta đã thiết kế khẩu súng này theo đơn đặt hàng của ngài giáo sư Moriarty.

Từ lâu tôi đã nghe tiếng tăm khẩu súng, nhưng chưa bao giờ có vinh dự được cầm nó trên tay.

Tôi đặc biệt lưu ý ngài về khẩu súng này, và cả cách nạp đạn cho nó nữa, thưa ngài Lestrade.

- Ngài không phải bận tâm, thưa ngài Holmes, chúng ta còn dịp quay lại vấn đề này.

- Khi tất cả mọi người tiến sát đến cánh cửa ra vào, Lestrade đáp - Đó là tất cả những gì ngài muốn nói?

- Vâng, tất cả, nhưng ngài định khép tên này vào tội gì?

- Còn tội gì nữa, thưa ngài?

Chẳng hạn như tội mưu sát ngài Sherlock Holmes.

- Ôi!

Không phải như vậy đâu!

Tôi không muốn dính líu vào vụ này.

Chỉ có ngài mới được lãnh trọng trách làm công việc bắt bớ tuyệt vời này, ngài đã tốn công sức để tiến hành.

Xin chúc mừng ngài Lestrade!

Với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa khả năng hiếm có và lòng quả cảm, đầy mưu lược, cuối cùng ngài đã bắt được kẻ kia.

- Người kia là ai vậy?

Hắn ta là ai, thưa ngài Holmes.

- Người mà, cả ngành cảnh sát đã hoài công tìm kiếm, truy nã.

Đại tá Sebastian Moran, kẻ mà vào đêm 30 tháng trước đã bắn chết ngài Ronald Adair bằng khẩu súng hơi, bắn qua cửa sổ tầng hai ngôi nhà 427, phố Park Lane.

Chúng ta cần lời buộc tội như vậy...

Còn bây giờ, Watson, nếu cậu không sợ gió lùa từ cánh cửa sổ bị vỡ kính, thì chúng ta sẽ cùng nhau ngồi trong phòng tớ, và hút với nhau điếu thuốc.

Tớ hy vọng sẽ làm cho cậu khuây khỏa phần nào.

Nhờ sự quan tâm thường xuyên của anh Mycroft Holmes và sự chăm sóc tận tụy của bà Hudson, căn hộ của chúng tôi vẫn như xưa, không hề có gì thay đổi.

Thú thật, khi bước vào, tôi lấy làm ngạc nhiên vì sự tươm tất hiếm có, mọi thứ thân thuộc quen biết đều nằm ở vị trí cũ.

Ở góc dành riêng cho những thí nghiệm hóa học, một chiếc tủ bằng gỗ thông vẫn như xưa, vẫn những vết ố do a-xít mạnh.

Trên giá những chồng sách tra cứu, những mẩu tin cắt từ các tờ báo vẫn được sắp xếp ngay hàng thẳng lối.

Ôi, tôi chỉ muốn ném hết những thứ chết tiệt kia vào lửa cho rảnh!

Khi tôi nhìn hết một lượt, thì những bản biểu đồ, hộp đựng đàn viôlông, chiếc hộp Ba Tư đựng thuốc lá lại hiện lên trước mắt tôi.

Hai người có mặt trong phòng.

Một là bà Hudson chạy vồn vã đón mừng chúng tôi với nụ cười lấp láy trên môi.

Người thứ hai, người mặc đồ màu cũ kỹ, đã đóng một vai rất quan trọng trong những sự kiện đêm hôm qua.

Đó là bức tượng bằng sáp của bạn tôi, đã được tô màu, được tạc thật khéo léo do một bàn tay điêu luyện nhào nặn, trông giống như thật.

Bức tượng được đặt trên một chiếc ghế đẩu không cao, được khoác chiếc áo bành tô cũ của Sherlock Holmes trông rõ khéo, từ ngoài đường nhìn vào thì khó ai tưởng đó là tượng.

- Bà đã thực hiện tất cả chỉ dẫn của tôi một cách tuyệt vời.

- Holmes nói.

- Tôi phải bò bằng đầu gối để tiến sát bức tượng, như ngài chỉ bảo thưa ngài.

- Tốt, bà đã làm việc đó không thể chê vào đâu được.

Bà có thấy viên đạn đâm vào đâu không?

- Có thưa ngài.

Tôi sợ viên đạn làm hỏng mất bức tượng đẹp đẽ của ngài.

Nó xuyên qua đầu và cắm vào tường.

Tôi nhặt nó lên từ tấm thảm.

Nó đây.

Holmes chìa cho tôi xem đầu đạn.

- Đầu đạn súng lục mềm mại, Watson, cậu hãy nhìn xem.

Thật là cự phách!

Có ai dám nghĩ viên đạn này lại được bắn ra từ khẩu súng hơi?

Rất tuyệt, bà Hudson, xin cảm ơn bà vì sự giúp đỡ...

Còn bây giờ, Watson, cậu hãy ngồi vào vị trí cũ của mình như thuở nào.

Tớ muốn tâm sự với cậu đôi điều.

Anh cởi chiếc áo khoác ra, rồi lấy chiếc áo choàng trên bức tượng khoác vào.

Trước mặt tôi lại xuất hiện một Sherlock Holmes ngày xưa.

- Thần kinh của người thợ săn già vẫn còn vững, cặp mắt vẫn còn tinh.

- Anh nói và cười, vừa nhìn cái sọ của bức tượng bằng sáp bị bắn thủng.- Bắn trúng chính giữa gáy và làm chảy não.

Đúng là một tay thiện xạ của rừng nhiệt đới ở Ấn Độ.

Tớ nghĩ rằng, ở Luân Đôn này địch thủ của hắn không phải là nhiều.

Trước kia cậu có bao giờ nghe tên hắn hay chưa?

- Không, tớ chưa từng nghe.

- Ừ nhỉ, thế mà tớ quên!

Cách đây không lâu, cậu đã thú nhận, thậm chí cậu còn chưa nghe đến tên giáo sư Moriarty, đó là một bộ óc của thế kỷ chúng ta.

May quá, cậu lấy giúp tớ cặp đựng tài liệu theo đõi tiểu sử...

Sau khi ngồi lại ngay ngắn, thả người thoải mái trong chiếc ghế bành và khoan khoái thở ra từng đụn khói thuốc, Holmes lơ đễnh lật từng trang giấy.

- Vần chữ "M", tớ có một bộ sưu tầm khá hoàn chỉnh, - Anh nói.

- Chỉ một cái tên Moriarty, cũng đủ làm cho vần "M" trở nên nổi tiếng.

Còn cái tên Morgan là một tên ghê tởm.

Tên Merridew, có một trí nhớ khó ai sánh kịp.

Tên Mathews - chính là tên làm gãy chiếc răng nanh bên trái của tớ ở phòng đợi nhà ga Charing Cross.

Còn đây là anh bạn của chúng mình ngày hôm nay.

Anh đưa cho tôi tập tài liệu, tôi đọc:

"Moran Sebastian, đại tá nghỉ hưu.

Từng phục vụ trong trung đoàn công biệt số một ở Bangalore.

Sinh năm 1840 tại Luân Đôn.

Con trai của ngài Augutus Moran - người được thưởng huân chương British, một thám tử cũ của Anh.

Ở Persia, Sebastian từng tốt nghiệp trường trung học Eton và đại học tổng hợp Oxford.

Từng làm liên lạc cho các hội, tập đoàn Jowaki, Afghan, Charasiab, Sherpur và Cabul.

Là tác giả của các cuốn sách "Cuộc đi săn mãnh thú ở miền Tây Himalayas" (1881); và "Ba tháng sống trong rừng nhiệt đới" (1884).

Địa chỉ đường Conduit.

Tham gia các câu lạc bộ Anh - Ấn: Tankerville, câu lạc bộ chơi bài Bagatelle".

Ngoài lề được ghi bằng nét chữ của Holmes:

"Một tên nguy hiểm nhất của Luân Đôn, đứng sau Moriarty".

- Thật kỳ lạ!

- Tôi lên tiếng, và đưa trả Holmes cặp tài liệu.

- Dường như cuộc đời của hắn là bước đường của một người lính trung thành.

- Cậu nói đúng.

- Holmes đáp.

- Trước kia hắn không hề làm việc gì xấu xa.

Hắn là con người có bộ thần kinh bằng thép, ở Ấn Độ đến bây giờ vẫn lưu truyền một huyền thoại kể rằng: Anh ta đã bò trong lòng một con sông cạn, đã cứu thoát một người khỏi những móng vuốt của một con hổ bị thương.

Có những cây gỗ, lúc đầu mọc, phát triển bình thường, rồi đến một độ cao xác định nào đó, bỗng nhiên phát hiện trong quá trình phát triển của mình một sự biến đổi kỳ quặc so với mức bình thường.

Đối với con người cũng xảy ra điều tương tự.

Theo thuyết của tớ, mỗi cá nhân trong quá trình phát triển, đều lặp lại lịch sử phát triển của tất cả tổ tiên.

Tớ cho rằng, mỗi một biến động bất ngờ về phía lương thiện hay độc ác đều phụ thuộc vào điều kiện khách quan tác động rất mạnh; muốn biết được quá khứ của một người, cần phải lục xem trong gia phả người ấy; và suy luận rộng ra, tiểu sử của một con người, đó như là một mẩu nhỏ trong tiểu phẩm cả tiểu sử của toàn bộ gia đình.

- Thôi được, nhưng tớ thấy cái lý thuyết của cậu hơi viển vông.

- Tớ sẽ chấm dứt câu chuyện.

Có những nguyên nhân này, hoặc nguyên nhân khác, đã đẩy đại tá Moran đi theo con đường ngu xuẩn.

Khi còn ở Ấn Độ có một kẻ đê tiện đã dựng lên câu chuyện nào đó gây căng thẳng cho ông ta, nhằm chống ông ta một cách kịch liệt, đến nỗi ông ta không thể nào ở lại được nữa.

Ông ta xin về hưu, trở lại đất Luân Đôn, và tại đây ông ta đã bước vào con đường tội lỗi.

Giáo sư Moriarty đã phát hiện ra ông ta, trong một thời gian dài ông ta là cánh tay phải của Moriarty.

Thằng giáo sư này cung cấp tiền nong cho ngài đại tá tiêu xài một cách phóng khoáng.

Nhưng rất hãn hữu mới cần tới sự giúp đỡ của hắn.

Chỉ trong hai hoặc ba trường hợp khó khăn mà những tên tội phạm bình thường không thể đảm đương nổi.

Có lẽ, cậu còn nhớ cái chết kỳ quặc của bà Stewart ở Lauder năm 1887?

Không nhớ à?

Tớ chắc chắn chuyện này không thể không có tay Moran nhúng vào, mặc dù không có chứng cớ để buộc tội hắn ta.

Ngài đại tá có nghệ thuật giấu mình một cách tài tình.

Khi cả băng của Moriarty bị tóm hết, thì chỉ riêng hắn là không làm sao lôi cổ ra toà được.

Watson, cậu còn nhớ buổi tối, khi tớ đến chỗ cậu, tớ phải kéo rèm cẩn thận không?

Tớ sợ phát súng bắn ra từ khẩu súng hơi đặc biệt.

Lúc bấy giờ cậu cho tớ là kỳ quặc, nhưng tớ biết mình cần phải làm gì.

Tớ đã nghe nói về khẩu súng đặc biệt kia rồi.

Hơn nữa, tớ biết khẩu súng đang nằm trong tay một nhà thiện xạ.

Khi tớ với cậu đi sang Thụy Điển, Moran và Moriarty đã đuổi theo chúng ta, và chính hắn đã làm cho tớ bàng hoàng trong mấy phút ở khe lở của thác Reichenbach.

Cậu biết không, khi còn ở bên Pháp tớ vẫn thường xuyên theo dõi tin tức trên báo chí Anh, tớ hy vọng sẽ tìm ra đầu mối nào đó để bắt hắn ta phải ngồi vào lồng sắt.

Khi hắn còn nhởn nhơ dạo chơi trên đất Luân Đôn thì tớ chưa thể tính chuyện về được.

Cả ngày lẫn đêm, mối đe dọa kia cứ ám ảnh tớ, dứt khoát hắn sẽ tìm mọi cách để giết tớ.

Tớ phải làm gì?

Chẳng lẽ gặp trực tiếp và bắn chết hắn?

Tớ không thể làm như vậy được.

Vì lúc ấy, chính tớ sẽ bị ngồi vào ghế bị cáo.

Trực tiếp đến báo với tòa?

Không ích lợi gì, vì tòa sẽ không đủ chứng cớ để xét xử, chẳng lẽ xử hắn bằng những vấn đề nghi vấn?

Tớ bất lực hoàn toàn, không có cách nào để giải thoát được.

Tớ đã trải qua một quá trình kiên trì không mệt mỏi theo dõi hắn bằng tin tức các vụ án, bởi tớ tin như đinh đóng cột rằng dù sớm hay muộn tớ cũng phanh phui ra hắn.

Vụ ám sát đầy bí ẩn anh chàng Ronald Adair đã dẫn đến sự chín muồi của những ngày kiên trì mong đợi, giờ khởi hành đã đến.

Không biết tớ có dám khẳng định Moran đã bắn chết chàng Ronald hay không?

Hắn ta đã cùng chơi bài với chàng thanh niên, và bám gót anh ta từ câu lạc bộ về nhà, sau đó bắn chết chàng trai qua cửa sổ đã mở.

Đúng, không còn nghi ngờ gì nữa.

Chỉ một đầu đạn, cũng đủ chứng cớ để ngài đại tá Moran chui vào giá treo cổ.

Ngay lập tức tớ quay về Luân Đôn.

Tên cận vệ của Moran đã phát hiện ra tớ, hắn kịp thời thông báo cho Moran.

Thằng này thế nào cũng biết mối liên hệ giữa vụ án mạng và sự quay về của tớ, hắn sẽ lo lắng mất ăn mất ngủ.

Tớ tin, hắn sẽ khử tớ ngay lập tức, không chậm trễ.

Chắc chắn hắn sẽ dùng thứ vũ khí giết người độc đáo - khẩu súng hơi.

Tớ phải chuẩn bị đón hắn, thế là bức tượng bằng sáp được ra đời không chê vào đâu được.

Tớ báo trước cho bên cảnh sát, để họ giúp một tay (với con mắt tinh ranh cậu đã phát hiện ra hai viên cảnh sát thấp thoáng chỗ cổng ra vào).

Tớ chọn địa điểm rất thuận tiện cho việc quan sát, nhưng thú thật tớ không ngờ đối thủ của tớ cũng chọn đúng vị trí ấy để tấn công.

Tất cả chỉ có thế, Watson.

Chắc cậu đã hiểu mọi chuyện.

- Chưa hết, - Tôi nói.

- cậu chưa giải thích cho tớ chuyện vì sao ngài đại tá Moran lại bắt buộc phải thủ tiêu anh chàng Adair?

- Anh bạn của tôi ơi, chúng ta lại rơi vào lĩnh vực đoán mò rồi, trong lĩnh vực này chỉ có logic không thì quả là quá ít ỏi.

Mỗi người có thể xây dựng riêng cho mình một giả thuyết, dựa trên cơ sở những dữ kiện đang tồn tại.

Giả thuyết của cậu cũng có khả năng trùng với giả thuyết của tớ.

- Có nghĩa là, cậu đã nghĩ ra giả thuyết?

- Theo tớ nghĩ, giải thích những dữ kiện đã có không khó.

Qua điều tra, người ta đã xác lập là trước lúc xảy ra vụ án không lâu, đại tá Moran và anh chàng Adair đã cùng ở một hội chơi bài và ăn được một món tiền khá lớn.

Nhưng Moran đã chơi không trung thực.

Từ lâu, tớ được biết hắn là một tay cờ bạc gian lận.

Có lẽ, trong ngày xảy ra vụ án, Adair đã cảnh cáo Moran vì những trò gian lận.

Anh chàng Adair đã giáp mặt với đại tá, chắc có dọa sẽ tố cáo hắn, nếu như hắn không tự nguyện rời bỏ câu lạc bộ và từ nay về sau không được chơi cái trò ma cô ma cậu nữa.

Một chàng trai miệng còn hơi sữa như Adair, lại dám công khai dọa tố cáo buộc tội một con người đáng tuổi cha chú của anh ta, hơn nữa hắn còn chiếm một địa vị sang trọng trong xã hội!

Có lẽ, đúng hơn, anh ta đã nói riêng với Moran, không có người làm chứng.

Nhưng với Moran, một con người chuyên sống bằng bạc bịp, nếu bị khai trừ ra khỏi câu lạc bộ thì khác nào bị cắt đường sinh sống?

Đó là nguyên nhân để hắn giết Adair, và giết vào chính thời điểm anh chàng trai trẻ chưa kịp sử dụng kết quả cuộc chơi không trung thực; chưa kịp tính phần thắng của anh ta là bao nhiêu và anh ta cần phải trả lại những người thua cuộc là bao nhiêu.

Anh ta đã khóa chặt cửa lại để không muốn mẹ và em gái thấy anh ta đang tính toán và thắc mắc về những cái tên ghi trong tờ giấy và những chồng tiền đặt trên bàn.

Sao, theo cậu, lời giải thích của tớ có phù hợp hay không?

- Tớ cho rằng, cậu đã nói trúng tim đen hắn.

- Cuộc điều tra xét hỏi sẽ chứng minh cho lời giải thích của tớ đúng hay sai.

Từ đây đại tá Moran không còn là mối lo ngại cho chúng ta, và khẩu súng hơi kỳ diệu của Von Herder sẽ trang điểm cho bộ sưu tập của Viện bảo tàng Scotland Yard.

Từ nay, không còn ai quấy rầy ngài Sherlock Holmes tham gia vào công việc giải quyết những câu chuyện bí ẩn, nhưng đầy lý thú.

Cuộc sống phức tạp ở Luân Đôn trở nên phong phú và bình yên, êm ả hơn.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D2 Nhà thầu khoán ở Norwood


NHÀ THẦU KHOÁN Ở NORWOOD

THE ADVENTURE OF THE NORWOOD BUILDER (1903)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Holmes đã trở về London từ nhiều tháng qua.

Theo lời yêu cầu của Holmes, tôi về ở chung với anh trong một căn phòng cũ.

Một bác sĩ trẻ, tên là Vemer hứa sang lại căn nhà nhỏ bé của tôi với cái giá cao nhất mà tôi đánh bạo đưa ra.

Sau này tôi mới biết Vemer là người bà con với Holmes và chính Holmes đã bỏ tiền ra.

Sáng nay, Holmes ngồi lọt thỏm trong cái ghế bành và hờ hững mở rộng tờ báo.

Nhưng ngay sau đó một cú giật chuông hung tợn vang lên, tiếp theo là một người đập mạnh vào cánh cửa bằng nắm đấm.

Cánh cửa vừa được mở ra, thì vang lên những bước chân hối hả.

Holmes đặt tờ báo xuống, trong phòng khách chợt xuất hiện một thanh niên xanh mét, cặp mắt ngơ ngác, đầu tóc bù xù thở hổn hển.

Anh ta lần lượt nhìn chúng tôi.

- Tôi xin quý ông thứ lỗi.

Xin đừng hiểu lầm tôi: Tôi gần như bị điên.

Thưa ông Holmes, chính tôi đây?

Con người bất hạnh John Hector McFarlane là tôi.

- Hãy hút một điếu thuốc lá đi ông McFarlane!

- Holmes nói, tay chìa ra một hộp thuốc.

- Tôi tin chắc rằng trước những triệu chứng như vậy thì bác sĩ Watson đây, sẽ sẵn lòng cho ông uống một liều thuốc.

Tiết trời mấy bữa nay thật là nóng nực.

Giờ đây, nếu ông cảm thấy được bình tĩnh hơn, thì tôi sẽ sung sướng khi thấy ông ngồi xuống và nói cho chúng tôi biết ông là ai và ông muốn gì.

Ông đã báo cho tôi rõ danh tính ông tựa hồ như tôi phải biết đến nó, nhưng tôi bảo đảm với ông rằng ông còn độc thân, ông là luật gia, hội viên hội Tam điểm và mắc bệnh hen suyễn, ngoài ra tôi không biết gì hơn về ông.

- Vâng, tôi là tất cả những thứ đó, thưa ông Holmes, và hơn thế nữa, vào lúc này đây, tôi là người bất hạnh nhất ở London.

Ông Holmes ơi, xin ông hãy cứu tôi.

Nếu cảnh sát ập đến bắt tôi trước khi tôi kịp kể xong câu chuyện thì vui lòng xin với cảnh sát hãy để cho tôi có đủ thì giờ nói với ông tất cả sự thật.

Tôi sẽ yên tâm vào tù, nếu tôi biết là ông giúp tôi ở bên ngoài.

- Chuyện cảm động đấy... và lý thú nữa!

Vì sao ông sắp bị bắt?

- Về tội ám sát ông Jonas Oldacre ở Hạ Norwood.

Người khách vươn một bàn tay run rẩy tới tờ Daily Telegraph còn để trên đầu gối Holmes.

- Nếu ông đã đọc, thì hẳn ông đã đoán vì sao tôi đến đây.

Hiện nay tôi là đầu đề để mọi người bàn tán.

- Anh ta chỉ cho chúng tôi trang giữa của tờ báo.

- Đây này.

Được ông cho phép, tôi sẽ đọc cho ông nghe: Đây là những hàng tít: Vụ án ở Norwood.

Một nhà thầu khoán nổi danh bị mất tích.

Một vụ ám sát?

Một vụ hỏa hoạn do ác tâm?

Kẻ sát nhân đang bị truy lùng.

Họ đã theo tôi!

Tôi sắp bị bắt.

Mẹ tôi sẽ tan nát cõi lòng.

Bà sẽ chết vì buồn tủi?

- Anh ta vặn hai bàn tay trong một cơn tuyệt vọng.

Người bị kết tội vì đã sử dụng bạo lực đó, có thân hình cân đối, tinh thần đã kiệt quệ, đôi mắt đầy vẻ sợ hãi, không râu, 27 tuổi, ăn mặc đứng đắn và ăn nói như một người Anh có giáo dục.

- Anh Watson, anh vui lòng đọc bài cho tôi nghe - Holmes nói.

- "Trong đêm qua, tại vùng Hạ Norwood đã xảy ra một tội ác nghiêm trọng.

Ông Jonas Oldacre, độc thân, 52 tuổi, ngụ tại Deep Den House, thường bị người chung quanh xem là một người kỳ quặc, bí ẩn v̀ không cởi mở; đã mắc nạn.

Ông là một nhà thầu khoán đã giải nghệ sau khi đã tạo được một gia sản kha khá.

Ở phía sau ngôi nhà ông có một khoảng đất trong chất đầy gỗ xây dựng.

Lúc 12 giờ đêm qua, người ta báo động cháy.

Lính cứu hỏa kéo tới, nhưng gỗ quá khô, bốc cháy dữ dội, người ta không sao dập tắt được ngọn lửa, mãi cho tới khi cả đống gỗ biến thành tro.

Người ta tìm thấy trong căn phòng cạnh đám cháy một chiếc giường không có người ngủ, cái két trong phòng đã bị mở, nhiều giấy tờ vương vãi trên sàn nhà. cảnh sát cũng phát hiện có dấu vết vật lộn và nhiều vết máu còn thấy rõ trong phòng, và một cây gậy bằng gỗ sồi cũng bị vấy máu.

Nhân chứng cho biết tối hôm đó, ông Oldacre đã tiếp ông John Hector McFarlane, một cố vấn pháp luật trẻ từ London đến, người hùn vốn của văn phòng pháp luật Graham & McFarlane, ở số 426 Gresham Buildings.

E.C.; ở trong phòng.

Cây gậy là của người khách.

Cảnh sát đã nắm được chứng cứ của tội ác.

Dù sao đi nữa cần phải chờ đợi những sự triển khai tiếp".

Tin giờ

"Vào lúc báo lên khuôn, chúng tôi được tin cảnh sát đã phát lệnh tạm giam ông John Hector McFarlane, bị tình nghi sát hại ông Jonas Oldacre.

Cuộc điều tra ở Norwood đã làm sáng tỏ thêm một số điều thật đặc biệt.

Không những sảnh sát đã tìm thấy dấu vết của một cuộc vật lộn đẫm máu trong căn phòng của nhà thầu khoán; mà giờ đây người ta còn biết là cánh cửa sổ của gian phòng đó đặt ở tầng một, đã bị mở ra, có nhiều dấu vết cho thấy một vật to lớn đã bị lôi kéo tới đống gỗ, và sau cùng người ta đoán chắc rằng những mẩu vụn của thân người bị đốt cháy đã được nhận ra giữa đống tro tàn.

Cảnh sát tin rằng nạn nhân bị đánh chết trong phòng, những giấy tờ của ông bị đánh cắp, và thi hài ông bị lôi tới đống gỗ rồi kẻ gây án đã châm lửa đốt.

Cuộc điều tra được ủy thác cho thanh tra Lestrade, thuộc Scotland Yard, một người rất có năng lực".

Sherlock Holmes đã lắng nghe tôi đọc, hai mắt nhắm nghiền, những ngón tay chắp lại.

- Vụ án đưa ra vài chi tiết lý thú.

Trước hết, thưa ông McFarlane, làm thế nào ông còn được tự do, bởi vì những dáng vẻ bên ngoài dường như cho thấy ông là người có tội.

- Tôi ở Torrington Lodge, Blackheath, cùng với cha mẹ tôi.

Tối hôm qua, vì cần làm việc muộn với ông Jonas Oldacre, tôi đã nghỉ đêm tại một khách sạn ở Norwood, và từ đó tôi đã đi thẳng tới văn phòng.

Tôi không hề hay biết về vụ này, lúc lên xe lửa, lấy báo ra đọc tôi hết sức kinh hoàng và chỉ còn có mỗi ý định: Đặt sinh mạng tôi vào tay ông.

Một người đã theo dõi tôi từ nhà ga London Bridge và chắc chắn là...

Ồ!

Ai vậy kìa?

Có người giật chuông và những bước chân nặng nề ngay sau đó leo lên cầu thang.

Ông bạn Lestrade hiện ra trên ngưỡng cửa.

Phía trên bờ vai ông, nhô lên vài cảnh sát mặc cảnh phục.

- Phải ông John Hector McFarlane đây không?

- Lestrade hỏi

Thân chủ của chúng tôi đứng lên, tái mét.

- Tôi bắt giữ ông về tội ám sát ông Jonas Oldacre ở Norwood.

McFarlane quay về chúng tôi với một gương mặt tuyệt vọng, đoạn anh ta lại ngã ngồi xuống.

- Xin hãy chậm chậm một chút, ông Lestrade.

- Holmes nói - Chúng tôi gặp nhau chưa được nửa tiếng đồng hồ và ông này sắp kể cho chúng tôi nghe câu chuyện có thể giúp chúng ta nhìn thấy rõ.

- Tất cả đều quá rõ!

- Lestrade nói với giọng buồn bã.

- Tuy nhiên, nếu được ông cho phép, tôi sẽ quan tâm đến câu chuyện kể của anh ta.

- Thưa ông Holmes, tôi thật khó lòng từ chối ông điều gì.

Nhưng tôi phải ở đây, bên cạnh phạm nhân.

- Lestrade nhìn đồng hồ - Ông có nửa tiếng để nói.

- Trước hết, tôi xin nói ngay rằng tôi không biết gì về ông Jonas Oldacre, ngoại trừ tên ông ta, cha mẹ tôi có quen biết ông ấy, nhưng từ lâu, hai cụ không còn gặp ông ấy nữa.

Vì vậy nên tôi rất ngạc nhiên khi vào khoảng ba giờ chiều ngày hôm qua, ông ấy đến văn phòng tôi trong thành phố.

Ông nắm trong tay nhiều tờ giấy gỡ từ một cuốn sổ, viết nguệch ngoạc.

Mấy thứ giấy đó đây, quý ông có thể xem đi.

McFarlane đặt những thứ đó lên bàn tôi, rồi nói tiếp:

- "Đây là bản... chúc thư của tôi?", ông Jonas nói, "Thưa ông McFarlane, tôi muốn soạn thảo nó theo thể bản thảo nháp do luật định.

Tôi ngồi ở đây trong lúc ông làm".

Tôi liền bắt tay vào công việc.

Nhưng tôi kinh ngạc biết bao khi thấy ông ta làm chúc thư để tặng tài sản cho tôi.

Ông Jonas Oldacre là một người nhỏ bé, có cặp lông mày bạc.

Mỗi lần tôi ngước mắt lên nhìn về phía ông, tôi lại bắt gặp tia mắt ông chăm chú nhìn tôi với một dáng vẻ vui thích.

Tôi thật khó mà tin vào những giác quan của mình khi đọc những điều khoản của bản chúc thư.

Nhưng ông đã giải thích với tôi là ông không lấy vợ, rằng ông không còn ai thân thích trong gia đình, rằng ngày xưa ông đã quen biết cha mẹ tôi, rằng ông luôn luôn nghe nói về tôi như một thanh niên rất đáng khen, và rằng ít ra tiền bạc của ông sẽ vào những bàn tay thành thạo.

Hiển nhiên là tôi chỉ có ấp úng những lời cảm tạ.

Bản di chúc soạn xong, được ký tên và người thư ký của tôi đã đứng ra làm chứng.

Sau đó ông Jonas Oldacre báo cho tôi biết là ông có nhiều hợp đồng cho thuê nhà đất, những chứng thư cấu thành tài sản, những quyển cầm đồ thế nợ, những phiếu cổ phần... và ông muốn giải thích cho tôi rõ về những giấy tờ đó.

Ông bảo là ông sẽ không được an tâm trước khi công việc được giải quyết xong và yêu cầu tôi đi về nhà ông ngay trong tối hôm đó, đem bản di chúc và sắp đặt tất cả cho có ngăn nắp.

"Nhưng hãy nhớ, con trai của ta!

Không một lời nào với ba má con trước khi mọi việc đâu vào đấy!

Chúng ta dành cho họ điều ngạc nhiên nhỏ bé này", ông nhấn mạnh tới điều đó và ông đã buộc tôi phải hứa lời danh dự.

Tôi gửi một bức điện về nhà để báo tin rằng có việc quan trọng không biết chừng nào mới xong.

Ông Oldacre muốn ăn tối với tôi vào lúc 9 giờ.

Tôi gặp vài khó khăn mới tìm ra nhà ông và tôi tới nơi khoảng 9 giờ rưỡi.

Tôi đã gặp ông...

- Xin lỗi!

- Holmes ngắt lời - Ai mở cửa cho ông vào?

- Một bà trung niên, chắc là người quản gia.

- Và cũng chính bà ta đã báo tin ông đến, tôi đoán chừng như vậy

- Quả đúng thế!

- Xin ông vui lòng kể tiếp.

McFarlane lau vầng trán xâm xấp mồ hôi.

-...

Tôi được đưa vào phòng khách; nơi đó bữa ăn được dọn sẵn.

Ăn xong, ông Jonas Oldacre đưa tôi sang phòng ông, trong đó có một két sắt lớn.

Ông mở két, lấy ra một mớ những giấy tờ và chúng tôi cùng nhau xem xét.

Khi xem xong thì đã nửa đêm, ông bảo tôi khỏi cần làm phiền người hầu và ông đã đưa tôi ra, qua đường cửa sổ luôn luôn mở rộng trong suốt thời gian đó.

- Bức mành có được hạ xuống không?

- Holmes hỏi.

- Nó đã được hạ xuống lưng chừng, ông ấy đã kéo mành lên để có thể mở cửa sổ ra.

Tôi không thấy cây gậy; ông bảo tôi: "Đừng quá lo ngại, con ạ; giờ đây rồi chúng ta sẽ gặp nhau luôn.

Tã giữ cây gậy của con cho tới khi con tới lấy lại".

Lúc đó đã quá muộn nên tôi không trở về Blackheah được và phải trọ qua đêm ở khách sạn.

Tôi không còn biết điều gì hơn nữa, ngoài cái tin đăng trong tờ báo này.

- Ông có cần đặt câu hỏi nào không, thưa ông Holmes?

- Lestrade hỏi, cặp lông mày đã nhướn lên hai, ba lần.

- Không trước khi tôi tới Blackheath.

- Chắc ông muốn nói tới Norwood?

- Lestrade chữa lại câu nói.

- Ồ phải!

Chắc chắn đó là Norwood mà tôi muốn nói.

- Holmes nói với một nụ cười bí ẩn.

Lestrade đã có hơn một lần quan sát thấy Holmes với dáng tò mò.

- Tôi rất muốn nói với ông một lời, thưa ông Holmes!

Này ông McFarlane, chiếc xe ngựa đang chờ ông ở dưới đường.

Người thanh niên đứng lên và sau một tia nhìn cầu khẩn, rời khỏi phòng.

Cảnh sát dẫn anh ta xuống xe, nhưng Lestrade ở lại với chúng tôi.

Holmes đã cầm lấy xấp giấy hợp thành bản nháp của bản di chúc và anh quan sát chúng một sự quan tâm thấy rõ.

- Tài liệu kỳ lạ, phải thế không, Lestrade?

- Anh ta nói, tay đặt tập giấy xuống.

Tới lượt Lestrade xem các giấy tờ, ông rất ngạc nhiên.

- Tôi chỉ có thể đọc được những dòng đầu, những dòng ở đoạn giữa và một hoặc hai dòng ở đoạn cuối: chúng thật rõ như là chữ in.

Trong các chỗ khác, chữ viết thật xấu và đây là đoạn mà tôi chẳng hiểu tí gì.

- Anh nghĩ sao về điều đó?

- Holmes hỏi.

- Nói thật...

- Thế còn ông, ông nghĩ sao?

- Tài liệu này đã được viết ra trên chiếc xe lửa.

Nét chữ dễ đọc viết tại nhà ga, chữ xấu trên các đoạn đường giữa những nhà ga, và các chữ không đọc được viết khi tàu chạy trên những chỗ bẻ ghi.

Những tờ giấy này đã được viết trên một đường tàu ngoại ô, bởi vì nó có một chuỗi liên tục những chỗ bẻ ghi.

Cứ giả thiết rằng suốt chuyến đi đó đã được dành cho việc soạn thảo tờ di chúc, thì đây là một chuyến tàu tốc hành và nó chỉ đừng lại có một lần giữa Norwood và London Bridge.

- Ông quá giỏi, thưa ông Holmes!

Bản chúc thư đã được viết bởi Jonas Oldacre ngày hôm qua, trong lúc đi đường.

Thật là kỳ lạ!

Tại sao ông ấy viết một chứng từ quan trọng một cách vội vã như vậy?

- Nhưng làm như thế, là có khác nào viết ra bản án tử hình cho chính mình?

- Lestrade nói.

- Ồ, ông tin vậy sao?

- Ông không tin à?

- Tôi thấy vụ việc còn chưa được sáng tỏ.

- Nếu vụ này mà chưa sáng tỏ thì vụ nào mới sáng tỏ, đây là một thanh niên bất thình lình được biết rằng nếu ông già đó chết thì anh ta sẽ được hưởng một gia tài.

Anh ta làm gì đây?

Anh ta không nói với ai biết, nhưng thu xếp để có thể gặp ông già ngay buổi tối hôm đó.

Anh ta chờ cho bà già kia đi ngủ, rồi ra tay giết ông già, đem thiêu xác, sau đó đi tới một khách sạn gần đó để nghỉ trọ.

Những vết máu trong phòng và trên cây gậy đều rất mờ.

Rất có thể là anh ta đã không thấy những vết máu đó, và anh ta yên chí rằng mình không để lại dấu vết nào.

- Nếu ông đặt mình vào cương vị của chàng trai đó, thì liệu ông có tính ra tay ngay vào cái buổi tối đó hay không.

Cái buổi tối mà bản chúc thư vừa được ký.

Hơn nữa liệu ông có chọn cái ngày mà có một người hầu đã đưa ông vào nhà và báo với chủ?

Sau chót liệu ông có chuẩn bị tất cả mọi sự dự phòng khả dĩ che dấu được cái tử thi đó không?

Rằng ông có chịu để cái can của mình ở tại đó không?

Coi nào, Lestrade, hãy thú nhận rằng điều đó khó xảy ra.

- Về cái can, thưa ông Holmes.

Ông biết rõ rằng một can phạm thường luôn luôn mắc phải những điều bất cẩn mà một người bình tâm sẽ không làm.

Chắc chắn y đã sợ hãi và không dám trở lại trong phòng.

Xin ông hãy đề nghị với tôi một giả thiết khác, khớp với sự việc hơn.

- Tôi có thể cung cấp cho ông hàng nửa tá, - Holmes trả lời - Chẳng hạn như đây là một: ông già đưa ra những giấy tờ có giá trị.

Một kẻ đầu đường xó chợ đi ngang qua đó ngó qua cửa sổ lúc bức màn chỉ buông xuống nửa vời, thấy mớ giấy tờ.

Lúc McFarlane ra về gã đầu đường xó chợ lẻn vào, chụp lấy một cái can và giết ông già Oldacre, đem cái xác đi đốt, rồi đào tẩu.

- Tại sao gã đầu đường xó chợ đem đốt cái xác?

- Lestrade hỏi.

- Để chôn vùi một chứng cớ - Holmes đáp - Rất có thể là kẻ đầu đường xó chợ muốn che giấu một vụ trả thù mà y là thủ phạm.

- Thế tại sao hắn lại không lấy cái gì?

- Bởi vì đó là những giấy tờ mà y không thể hưởng lợi được.

Lestrade lắc đầu, nhưng với một sức mãnh liệt được dằn xuống.

- Vậy thì, thưa ông Sherlock Holmes, ông hãy đi tìm gã đầu đường xó chợ của ông.

Trong lúc chờ đợi, chúng tôi sẽ tạm giam người của chúng tôi.

Tương lai sẽ cho biết ai là người có lý.

Ông chỉ cần thận trọng điểm này, thưa ông Holmes: Không một giấy tờ nào bị mất, còn người bị cầm tù và người được sở hữu những giấy tờ đó.

Holmes ngạc nhiên, anh nói:

- Đúng như lời ông nói, tương lai sẽ trả lời dứt khoát.

Xin tạm biệt, Lestrade.

Trong ngày hôm nay, tôi sẽ ghé Norwood để xem ông đã tiến tới đâu.

Sau khi viên thám tử ra về, Holmes đứng lên và chuẩn bị với tâm trạng vui vẻ công việc anh sắp làm trong ngày.

- Anh Watson, tôi tới Blackheath.

- Tại sao không tới Norwood?

- Tối nay sẽ cho anh biết một điều gì đó có lợi cho chàng trai.

Lúc anh trở về thì khuya, vẻ mặt đầy âu lo và mệt mỏi.

Trong một tiếng đồng hồ, anh bấm phím cây vĩ cầm để xoa dịu nỗi buồn phiền của mình.

Sau chót, anh đặt cây đàn xuống và thuật cho tôi những rủi ro của anh.

- Tôi đã giữ thái độ vững vàng trước mặt Lestrade nhưng tận trong đáy lòng tôi lại tin rằng lần này anh ta theo đúng hướng còn chúng ta thì lạc hướng.

- Anh có đi Blackheath không?

- Có!

Người cha đã đi tìm con.

Bà mẹ ở nhà.

Bà có cặp mắt xanh, run lên vì sợ hãi và phẫn nộ.

Bà ta nhất quyết cho rằng con bà không phải là thủ phạm.

Nhưng bà không hề xót thương lão Oldacre.

Trái lại, bà nói về lão với một nỗi cay đắng khiến cho vô tình bà lại củng cố cho lập luận của cảnh sát.

"Lão ta giống một con khỉ hung ác và lắm mưu mẹo.

Ngay lúc còn ấu thơ, lão đã độc ác như loài thú dữ".

"Vậy là bà đã biết ông ấy từ thuở nhỏ", tôi hỏi

"Phải, tôi biết rất rõ!

Đó là một gã si tình, đã đeo đuổi tôi.

Tôi đã đính hôn với y, nhưng khi tôi biết y đã thả một con mèo vào trong chuồng chim, thì tôi liền hủy bỏ hôn ước".

Bà ta đi lục tìm trong một ngăn tủ và đã đưa tôi xem tấm hình chụp một người đàn bà, bị bôi lem luốc và bị khía rách bằng lưỡi dao nhíp.

"Đây là ảnh tôi.

Buổi sáng ngày cử hành hôn lễ của tôi, y đã gởi tấm hình này cho tôi cùng với những lời nguyền rủa đồi bại".

"Vậy thì ít ra ông ta cũng đã tha thứ cho bà, bởi vì ông đã để lại gia tài cho con bà?"

"Con tôi cũng như tôi, chúng tôi không thèm nhận một chút nào của Jonas Oldacre, dù còn sống hay đã chết!

Chính thượng đế đã trừng phạt hắn!

Con trai tôi vô tội!".

Sau đó tôi đã thử khơi mào hai hoặc ba ý nghĩ, nhưng chẳng rút ra được điều gì nên tôi đi tới ngôi nhà xảy ra tội ác.

Deep Dene House là một biệt thự lớn, kiểu mới, xây bằng gạch đứng sừng sững trên thửa đất, phía trước nhà trải dài một bãi cỏ với những cây nguyệt quế.

Về phía tay mặt và cách xa đường một quãng có một cái sân chứa gỗ xây dựng, là nơi đã phát hỏa.

Tôi đã vẽ một bản sơ đồ hiện trường trong cuốn sổ tay.

Cánh cửa sổ bên trái này là cửa sổ của phòng ông Oldacre.

Từ ngoài đường, người ta có thế nhìn vào trong.

Đó là điều an ủi duy nhất mà tôi đã đem về.

Lestrade không có ở đó, nhưng người phụ tá đã tiếp đón tôi nồng hậu.

Cảnh sát vừa thực hiện một khám phá lớn.

Họ đã dành cả buổi sáng để lục lọi trong đống tro: ngoài những mẫu vụn của xác người bị cháy thành than, họ còn tìm thấy những phiến tròn nhỏ bằng kim khí phai màu.

Tôi đã quan sát cẩn thận.

Thấy đó là những cái cúc quần dài.

Một số những cúc đó có chữ "Hyams": đó là tên người thợ may quần áo cho Jonas Oldacre.

Tôi sải bước trên bãi cỏ để tìm các dấu vết nhưng tiết trời rất khô, đất rắn như sắt.

Tất cả những gì tôi có thể thấy là một xác chết hoặc một kiện hàng cồng kềnh nào đó đã được kéo ngang qua một bờ rìa cây song song với đống gỗ.

Việc đó phù hợp với cảnh sát.

Tôi bò trên bãi cỏ giữa cái nắng tháng tám.

Một tiếng đồng hồ sau đó, tôi đứng lên, chẳng tiến thêm được chút nào.

Sau thất bại đó, tôi đi vào trong phòng và khám nghiệm các hiện trường.

Những vết máu rất mờ nhạt nhưng rõ ràng đó là những vết máu tươi.

Cây can đã được để sang một bên, trên đó cũng có những vết máu mỏng.

Đúng là cây can của McFarlane.

Trên tấm thảm, tôi lấy được dấu chân của hai người nhưng không có dấu chân của một người thứ ba nào: thêm một điểm nữa cho cảnh sát.

Tôi quan sát các món cất giữ trong két sắt, rất nhiều giấy tờ đã được lôi ra và để ở trên bàn, trong những bao thư có gắn xi niêm phong mà một hoặc hai bao đã được cảnh sát khui ra, tôi thấy chúng không đưa ra một giá trị lớn lao nào, và tài sản trong ngân hàng của ông Jonas cho thấy ông không khá lắm.

Nhưng tôi có cảm tưởng là không phải tất cả mọi giấy tờ đều nằm ở đó.

Các giấy tờ nhận quyền sở hữu là những cái đáng chú ý hơn cả, nhưng tôi không tìm ra nó.

Nếu chúng ta thấy chúng, thì chúng ta sẽ đánh đổ lý luận của Lestrade, bởi vì có ai đi đánh cắp một giấy xác nhận chủ quyền mà y sẽ được thừa kế trong nay mai.

Không còn cách nào khác, tôi thử cầu may với mụ đầy tớ.

Bà ta tên là Lexington.

Đó là một người nhỏ bé, tóc hung, cặp mắt ngờ vực và không thực thà.

Nhưng mụ ngậm miệng như hến.

Đúng, chính mụ đã đưa anh chàng McFarlane vào nhà, lúc 9 giờ rưỡi.

Mụ đi ngủ vào lúc 10 giờ rưỡi.

Phòng mụ ở đầu nhà phía bên kia và mụ đã chẳng nghe thấy gì.

Ông McFarlane đã để lại trong gian tiền sảnh cái mũ và cây can của ông.

Chính tiếng báo động hỏa hoạn đã đánh thức mụ dậy.

Ông chủ già nua của mụ chắc chắn là đã bị ám sát.

Ông chủ có kẻ thù nào không?

Ai mà chẳng có kẻ thù, phải không?

Nhưng ông Oldacre rất kín đáo và những mối quan hệ của ông chỉ là những vụ giao tiếp về công việc làm ăn.

Bà ta đã thấy những cái cúc của áo, quần mà ông chủ đã mặc tối hôm trước.

Gỗ rất khô, cháy như bùi nhùi gặp gió.

Cũng như những người lính cứu hỏa, mụ đã ngửi thấy mùi thịt nướng.

Mụ không biết gì hết về các giấy tờ, cũng như những công việc nặng của ông chủ mụ.

Trái lại, đó là một bản tường trình hoàn toàn tiêu cực.

Ấy thế mà...

ấy thế mà...

Anh siết bàn tay này vào bàn tay kia để tạo thêm sức mạnh cho sự vững tin mà anh sắp bày tỏ.

- Ấy thế mà tôi biết rằng tất cả điều đó là giả dối.

Tôi cảm nhận thấy nó trong tận tủy xương tôi.

Có một cái gì đó còn chưa chịu ló ra và mụ gia nhân biết một cái gì đó.

Trong mắt mụ, tôi đọc thấy một thứ giống như chỉ dấu của một lương tâm tội lỗi.

Tốt hơn là chẳng nên nói đến chuyện đó nữa, Watson.

Nếu một sự may mắn mà không tới giúp chúng ta thì vụ ở Norwood sẽ không có mặt trên bản tưởng thưởng những thành công của bọn mình.

- Cái dáng vẻ bề ngoài lương thiện của "can phạm" há chẳng gây ấn tượng tốt với đoàn bồi thẩm hay sao?

- Watson, anh có nhớ cái tên sát nhân Bert Stevens, kẻ đã muốn chúng ta cứu thoát hắn vào năm 1887 không.

Anh có thấy người nào có những cử chỉ dịu hiền, kẻ nào giống như những đứa con gương mẫu trong một gia đình lương thiện hơn hắn chăng?

- Đúng thế!

- Nếu chúng ta không đưa ra được một giả thiết nào khác thì chàng trai đó bị tiêu.

Chỉ có một chi tiết nhỏ liên quan đến giấy tờ.

Khi nhìn vào tập ngân phiếu tôi nhận thấy là trong năm vừa qua, nạn nhân có chi trả cho một ông Cornelius nào đó một số tiền rất lớn.

Thú thật là tôi mong muốn được biết ông Cornelius là ai, mà một nhà thầu khoán đã ngừng hành nghề lại có những dịch vụ quan trọng đến thế.

Liệu ông ta có giữ một vai trò nào trong vụ này chăng?

Cornelius có thể là một nhà môi giới chứng khoán, nhưng chúng ta lại không tìm thấy một phiếu cổ phần nào tương ứng với những khoản chi đó.

Tôi thiếu những chỉ-dấu khác, giờ đây tôi phải tìm kiếm bên phía ngân hàng về việc gã Cornelius đã lãnh các chi phiếu đó.

Nhưng tôi e sợ rằng, vụ này sẽ kết thúc bằng sợi dây thòng lọng mà Lestrade sẽ choàng quanh cổ của chủ chúng ta.

Tôi không biết trong đêm đó Holmes có ngủ được hay không, nhưng khi tôi gặp lại anh trong bữa điểm tâm, thì tôi thấy anh xanh xao, mệt nhoài, những quầng trĩu nặng quanh mắt, làm cho cặp mắt lộ ra trong sáng hơn.

Chung quanh ghế bành anh ngồi tấm thảm vương đầy những mẩu tàn thuốc và những ấn bản đầu tiên của nhật báo mới phát hành buổi sáng sớm.

Một bức điện tín nằm trên mặt bàn.

- Anh nghĩ sao về bức điện này?

- Holmes hỏi - Bức điện được gởi từ Norwood:

"Chứng cớ quan trọng vừa được tìm thấy.

Tội lỗi của McFarlane đã được xác minh.

Khuyên ông nên bỏ việc điều tra.

Lestrade"

- Thế là chuyện trở thành nghiêm trọng rồi đây - Tôi nói.

- Đó là tiếng gáy ò o nhỏ bé của Lestrade - Holmes trả lời với một nụ cười cay đắng - Tuy nhiên, hãy còn quá sớm để mà bỏ cuộc.

Anh hãy dùng điểm tâm đi, rồi chúng ta sẽ lên đường.

Chúng tôi đi Norwood.

Một đám đông những kẻ hiếu kỳ vây quanh ngôi nhà Deep Den House.

Lestrade đón chúng tôi với một vẻ mặt rạng rỡ và một thái độ thắng cuộc.

- Thế nào, ông Holmes, ông có đem theo bằng chứng rằng chúng tôi đã lầm lẫn không?

Ông có tìm ra tên đầu đường xó chợ chưa?

- ông ta kêu lên.

- Tôi chưa rút ra được một kết luận nào - Holmes đáp.

- Nhưng ngay ngày hôm qua, chúng tôi đã có một kết luận rồi!

Chúng tôi!

Scotland Yard đây này!

Và giờ đây câu kết luận đã kiểm chứng.

Ông phải nhìn nhận rằng lần này chúng tôi đã hơi nhanh hơn ông một chút, thưa ông Holmes?

- Ông quả thật có dáng vẻ của một người vừa nhận một ân sủng của Thượng đế!

- Holmes nói.

Lestrade buông ra một tràng cười ầm ĩ.

- Ông mong chúng tôi bị thua.

Nhưng không ai có thể chiến thắng trong tất cả mọi trường hợp, phải thế không, bác sĩ?

Hai ông hãy lại đây, lại đây để thấy rõ tác giả của tội ác chính là John McFarlane.

Ông ta dẫn chúng tôi tới một gian tiền sảnh sẩm tối.

- Đây là nơi mà chàng trai đã đi qua để lấy cái mũ, sau khi gây ra tội ác, xin quý ông hãy nhìn cái này.

Ông bật một que diêm và chỉ vào một vết máu trên tường, ông đưa que diêm sát lại gần hơn: lúc đó tôi thấy còn hơn là một vết: đó là một dấu ngón tay cái in thật rõ.

- Ông hãy dùng kính lúp mà quan sát nó thưa ông Holmes.

- Phải, đó là việc mà tôi đang làm đây.

- Ông dư biết là không có hai dấu tay giống nhau?

- Đúng vậy.

- Thế thì ông hãy so sánh cái dấu này với bản sao lại ngón tay cái trên bàn tay phải của McFarlane được lấy từ dấu vết máu trên tay để lại.

Tôi chẳng cần tới một kính lúp cũng nhận ra rằng hai dấu đó y hệt nhau.

Thế là quyết định!

- Lestrade reo lên.

- Phải, thế là quyết định!

- Tôi lặp lại

- Quyết định!

- Holmes nói.

Một ngữ điệu nào đó trong giọng nói của Holmes khiến tôi giỏng tai lên.

Tôi quay lại để nhìn Holmes.

Mặt anh không còn như trước nữa, nó để lộ một niềm vui lớn trong lòng anh.

Cặp mắt anh sáng như hai ngọn đèn pha.

Tôi có cảm tưởng là Holmes phải phấn đấu dữ dội để cố nén một tiếng cười ngạo nghễ.

Sau chót, anh thì thào:

- Ai mà tin được nhỉ.

Một chàng trai dáng dấp dễ thương đến thế!

đây là một bài học để chúng ta đừng tin vào những cảm tưởng ban đầu, phải thế không, Lestrade?

- Phải, tôi biết có những kẻ thường quá tự tin, thưa ông Holmes - Lestrade nói, sự hỗn xược của ông ta tăng lên.

- Chàng trai đó đã phải ấn ngón tay cái của bàn tay phải vào tường, trước khi gỡ lấy cái mũ móc trên cái áo choàng à?

Một hành động rất tự nhiên...

- Bề ngoài Holmes thật là bình tĩnh, nhưng tất cả thân hình anh lại vặn vẹo dưới ảnh hưởng của một cơn kích thích bị kiềm chế.

Anh nói thêm:

- Ông Lestrade, ai phát hiện điều này?

- Bà Lexington, người đã báo động cho nhân viên trực gác tối qua.

- Nhân viên trực gác của ông ở đâu?

- Trong căn phòng đã xảy ra tội ác: chúng tôi canh gác để không cho ai đụng tới cái gì cả.

- Nhưng tại sao ngày hôm qua, cảnh sát không thấy vết máu này?

- Có thể nói ngay rằng, chúng tôi không tiến hành một cuộc xét nghiệm tỉ mỉ gian tiền sảnh.

Vả chăng, nơi đó lại không được sáng sủa, phải thế không?

- Không hẳn thế.

Tôi nghĩ rằng không có gì để nghi ngờ, và rằng dấu vết chưa chắc đã có từ hôm qua.

Lestrade chăm chú nhìn Holmes, tưởng chừng như ông nghĩ rằng Holmes đã mất trí.

Thú thật là chính tôi cũng ngạc nhiên bởi cái khía cạnh hơi phi lý trong sự nhận xét của Holmes.

- Ông có nghĩ là đêm qua McFarlane đã ra khỏi xà lim để làm tăng thêm những lời buộc tội vốn đã đè nặng lên anh ta không?

- Lestrade nói.

- Tôi mời các anh chuyên gia giám định xem đây có phải là dấu ngón tay của anh ta không?

- Đây đúng là dấu ngón tay của anh ta.

- Thế thì đủ rồi!

- Lestrade ngắt lời.

- Khi tôi có đủ chứng cứ, tôi đi tới kết luận.

Nếu ông có điều gì muốn nói, ông sẽ gặp tôi trong phòng khách, là nơi tôi sắp viết bản báo cáo.

- Anh Watson, công việc dường như rất tệ hại, ấy thế mà tôi lại phát hiện ra một cái gì đó thật là kỳ cục.

Nó không cho mình được thất vọng.

- Tôi thật vui khi nghe anh nói thế.

- Tôi trả lời.

- Tôi rất sợ là vụ án đã được giải quyết xong.

- Không, nó chưa được giải quyết đâu.

Có một nhược điểm nằm ở trong cái bằng chứng mà ông Lestrade đã đưa ra.

- Nhược điểm ở chỗ nào?

- Ở chỗ này đây: vào ngày hôm qua, khi quan sát tiền sảnh, tôi không hề thấy cái dấu tay này.

Anh Watson, một cuộc dạo chơi nho nhỏ dưới ánh nắng sẽ không gây thiệt hại cho chúng ta.

Tinh thần bị lộn xộn, nhưng tâm thần lại được sưởi ấm bởi một nguồn hy vọng mới, tôi theo Holmes đi vòng quanh khu vườn.

Holmes quan sát ngôi nhà dưới tất cả mọi góc cạnh trước khi trở vào và đi thăm bên trong từ dưới tầng hầm lên tới cái vựa sát mái nhà.

Phần lớn những căn phòng không có bày đồ đạc, nhưng Holmes quan sát chúng một cách cực kỳ tỉ mỉ.

Sau chót, khi đứng tại bực thềm mà phía trên nó là nơi dẫn đến ba căn phòng không có người ở, anh suýt la lên vì vui mừng.

- Đây là lúc nên cho Lestrade biết bí mật.

Anh chàng đã thích thú khi cười nhạo chúng ta.

Viên thanh tra sở Scotland Yard đang cặm cụi viết.

- Tôi tin là ông đang soạn thảo bản báo cáo về vụ án?

- Holmes hỏi.

- Đúng vậy.

- Ông không nghĩ là còn quá sớm chăng?

Tôi không thể bắt tôi đừng nghi ngờ, bạn Lestrade?

Thanh tra Lestrade đã biết Holmes rất rõ, nên không dám coi thường với câu nói đó.

Ông đặt cây viết xuống và nhìn Holmes với vẻ tò mò.

- Ông nói sao?

- Có một nhân chứng quan trọng mà ông đã không thấy.

- Ông có thể giới thiệu người đó với tôi không?

- Dễ thôi!

- Xin hãy làm đi!

- Ông có bao nhiêu nhân viên ở đây?

- Ba người.

- Tuyệt vời!

Mấy người đó đều là những tay cao lớn, khỏe mạnh và có giọng nói thật lớn chứ?

- To con và khỏe mạnh thì có.

Nhưng vì sao lại cần có giọng nói thật lớn chứ?

- Rồi ông sẽ hiểu thôi và còn nhiều điều nhỏ bé khác nữa.

Mong ông vui lòng gọi người của ông lại.

Tôi sẽ ráng sức.

Năm phút sau, ba người cảnh sát đã tập hợp trong gian phòng trước.

Holmes nói với họ.

- Dưới dãy nhà phụ, có rất nhiều rơm.

Mong các ông vui lòng mang tới đây hai bó.

Anh Watson, tôi tin là anh có mang diêm quẹt theo.

Thưa ông Lestrade, ông có sẵn lòng đi cùng với tôi lên bực thềm trên cao kia chăng?

Trên bực thềm được nói đến, mở ra một dãy hành lang rộng chạy dài theo ba gian phòng ngủ bỏ trống.

Tới một đầu, Sherlock Holmes bố trí chúng tôi đứng theo hàng dọc.

Các nhân viên thật hớn hở và Lestrade nhìn kỹ bạn tôi với tình cảm xen kẽ sự thích thú, sự lo âu và sự mỉa mai.

Holmes tới đứng trước mặt chúng tôi với dáng vẻ một nhà ảo thuật đang chuẩn bị làm trò.

- Ông có sẵn lòng phái một trong những nhân viên của ông đi lấy một xô nước không?

Hãy đặt rơm ở đây, trong hành lang này, nhưng đừng đặt sát vào tường.

Bây giờ tôi tin là chúng ta đã sẵn sàng.

Lestrade đỏ mặt lên vì giận dữ:

- Tôi tự hỏi không biết ông có chế giễu chúng tôi không, thưa ông Sherlock Holmes.

Trong trường hợp ông biết một điều gì đó ông có thể nói toạc ra mà chẳng cần đến cái trò dàn cảnh kỳ cục này.

- Tôi có những lý do đúng đắn để hành động như vậy.

Có thể ông còn nhớ là hồi nãy ông đã hơi chế giễu tôi, khi mặt trời ra vẻ chiếu sáng phe ông.

Giờ đây xin cho phép tôi được chủ tọa một nghi lễ nho nhỏ.

Anh Watson, anh có sẵn lòng mở một cửa sổ ra và ném một cây diêm đang cháy vào cái đống rơm không?

Tôi làm theo điều anh yêu cầu.

Bị cuốn hút bởi luồng gió lùa, một dải khói xám tỏa ra trong dãy hành lang, trong lúc rơm khô nổ lách tách dưới ngọn lửa.

- Giờ đây chúng tôi sắp giới thiệu người làm chứng đó với ông, ông Lestrade.

Tôi có thể yêu cầu tất cả quý ông cùng kêu lên hai tiếng: Cháy nhà!.

Nào Một, hai, ba...

- Cháy nhà!

- Cả sáu người cùng hét toáng lên.

- Cảm ơn.

Mong quý ông lặp lại.

- Cháy nhà!

- Thêm một lần nữa, và cùng một lúc.

- Cháy nhà!

Tiếng kêu của chúng tôi lớn đến đỗi ở đầu đằng kia hạt Norwood cũng phải nghe thấy.

Bất thình lình từ trong một bức tường phẳng ở cuối dãy hành lang, một cánh cửa mở tung ra, và một người nhỏ bé nhảy ra như một con thỏ vọt ra khỏi hang.

- Tuyệt!

- Holmes nói với một giọng thật bình tĩnh - Watson, mong anh hãy trút xô nước lên đống rơm.

Cám ơn.

Thế là đủ.

Lestrade, xin cho phép tôi được giới thiệu với ông: đây là ông Jonas Oldacre.

Viên thám tử sững sờ, nhìn chằm chằm vào người mới tới đang hấp háy mắt và đang lần lượt ngó nhìn toán chúng tôi và vào ngọn lửa đang dần dần lịm tắt.

Ông ta có một cái đầu ghê tởm: mưu mô, thói hư, tật xấu, và lòng độc ác.

- Thế là thế nào?

- Lestrade hỏi, sau khi đã tìm lại được việc sử dụng cái lưỡi - Ông làm gì trong khoảng thời gian đó?

Oldacre thất ra một tiếng cười ngượng nghịu, nhưng ông lùi lại trước bộ mặt đe dọa của Lestrade.

- Tôi không làm gì tai hại cả.

- Không tai hại à?

Ông đã làm tất cả những gì cần làm để cho một người vô tội phải bị treo cổ.

Nếu không có Sherlock Holmes thì ông đã thành công trong cái mưu mô ác độc đó rồi.

Kẻ gian ác bắt đầu khóc rấm rứt:

- Thưa ông tôi xin đoán chắc với ông rằng đây chỉ là một trò đùa, không hơn không kém.

- Một trò đùa hả?

Nhưng tôi, tôi không sẵn lòng cười đâu?

Hãy đưa ông này vào trong phòng khách cho tới khi tôi xuống...

Thưa ông Holmes.

- Nhà thám tử nói tiếp, sau khi Jonas đã được đưa đi cùng với ba cảnh sát.

- Tôi không thể nói ra trước mặt các thuộc viên, nhưng trước mặt bác sĩ Watson, tôi xin thành thật nhìn nhận rằng ông đã thành công.

Đây là một trong những cú đẹp nhất trong sự nghiệp của ông...

ông đã cứu được mạng sống cho người vô tội và đã ngừa trước một vụ tai tiếng lớn lao có thể làm tiêu tan danh tiếng Lestrade này trong sở Scotland Yard.

Holmes mỉm cười, vỗ lên vai Lestrade

- Thay vì danh tiếng bị tiêu tan, tên tuổi ông bạn tốt của tôi sẽ được lẫy lừng thêm nữa.

Ông bạn chỉ cần sửa lại vài chi tiết trong bản báo cáo mà ông đang viết đó, và tất cả mọi người sẽ hiểu là chẳng có ai có thể đem phấn mà ném vào mắt thanh tra Lestrade.

- Bộ ông không muốn tôi nêu tên ông ra?

- Phải!

Và bây giờ chúng ta hãy đến xem cái hang của con chuột đi.

Một bức vách ngăn bằng lát nan và trát thạch cao đã được sắp xếp trên 6 bộ chiều dài ở cuối hành lang, với một cánh cửa được che giấu một cách khéo léo, ánh sáng đến từ các khe hở của những tấm nan lát.

Có vài ba món đồ, thức ăn và nước uống ở bên trong, cũng như có nhiều cuốn sổ và tài liệu.

Holmes nói:

- Nhà thầu khoán này đã tự làm lấy cái chỗ ẩn náu nhỏ bé này mà chẳng cần đến một kẻ đồng lõa ngoại trừ cái mụ đầy tớ quý hóa mà tôi sẽ mau chóng nhét vào trong cái đáy hai túi của tôi, nếu tôi ở địa vị ông, ông Lestrade.

- Tôi sẽ theo lời khuyên của ông.

Nhưng làm thế nào mà ông lại biết được chỗ này, thưa ông Holmes?

- Tôi có ý nghĩ là lão già quỷ quyệt này trốn ngay trong nhà mình.

Khi sải bước trong hành lang, tôi khám phá ra rằng nó ngắn hơn dãy hành lang tương tự ở phía dưới mất 6 bộ.

Ngay tức khắc, tôi đoán ra được nơi lão trốn.

Tôi tự nhủ là hắn không đủ vững tinh thần để không nhúc nhích trong lúc có báo động cháy nhà.

Tất nhiên là chúng ta có thể xông vào bắt hắn nhưng tôi lại thích hắn phải tự mình chường ra.

Vả chăng tôi cũng muốn chọc quê ông một chút chơi, vì hồi nãy ông đã chế nhạo tôi.

- Vậy thì, ông đã ăn miếng trả miếng rồi đấy nhé.

Một hòa nhé.

Nhưng làm thế nào mà ông biết được con quỷ đó ở trong nhà?

- Dấu lăn tay!

Ông đã bảo với tôi rằng đó là một bằng chứng quyết định.

Đúng, ông có lý, nhưng nó quyết định cho sự ngược lại.

Tôi đã biết ngày hôm qua trên tường không có dấu vết đó.

Vậy thì nó đã được thêm vào trong đêm khuya.

- Bằng cách nào?

- Khi những xấp giấy đã được niêm phong, Jonas Oldacre yêu cầu McFarlane kiểm tra một trong những con dấu bằng cách ấn ngón tay cái lên trên sáp mềm.

Điều đó đã xảy ra thật nhanh và thật tự nhiên đến nỗi chàng trai không còn nhớ gì nữa.

Ngay chính cả lão quỷ này cũng không chắc đã nghĩ đến là về sau sẽ còn sử dụng cái dấu vết tay đó.

Nhưng khi trốn trong hang, hắn đã nghiền ngẫm lại nội vụ và bất chợt thấy được tầm quan trọng của sự buộc tội McFarlane, nếu hắn sử dụng cái dấu tay đó.

In lại một dấu tay trên xi, bôi máu vào nó, rồi đem in lại nó trên tường, hoặc do chính tay hắn hoặc qua trung gian của mụ quản gia, chỉ là trò trẻ con đối với cái tên vô lại đó.

Nếu như ông chịu bỏ công ra mà xem xét các tài liệu mà y đã đem cất trong cái hang của y, tôi dám cá với ông là ông sẽ tìm thấy con dấu niêm với vết lăn tay ở bên.

- Tuyệt vời!

- Lestrade reo lên - Thật rất rõ ràng.

Nhưng tại sao lại có một sự đánh lừa ác hiểm đến như thế, thưa ông.

Tôi không thể ghìm được một nụ cười: tất cả sự tự mãn đến xấc xược của viên thanh tra đã rớt xuống, người ta dám nói đây là một cậu học trò đang hỏi ý kiến ông thầy.

- Hắn là một nhân vật rất thâm, rất ác, rất ham trả thù.

Thuở xưa, hắn đã bị bà mẹ của McFarlane hủy bỏ lời hứa hôn, hắn coi đó là một điều bị lăng nhục, và để lòng hận thù, hắn muốn được trả món thù xưa, nhưng chưa có cơ hội.

Trong hai năm gần đây, những vụ kinh doanh của hắn đã gặp những tình huống xấu, hắn khó mà trả được nợ.

Hắn quyết định quịt nợ, và vì mục đích ấy, hắn đã viết những chi phiếu lớn cho một ông tên là Cornelius.

Tôi chưa theo dõi những chi phiếu đó, nhưng tôi dám đánh cuộc là chúng đã được phát hành cho người nhận đó trong một tỉnh lẻ là nơi mà thỉnh thoảng hắn đến đó sống một cuộc sống khác.

Hắn đã có ý định thay tên đổi họ, rút lấy tiền và rồi bỏ đi nơi khác sinh sống.

Cornelius chính là tên giả của hắn.

- Rất có lý.

- Hắn cho rằng nếu hắn bị mất tích trong một trận hỏa hoạn thì sẽ thoát được tất cả mọi sự truy tố, cùng lúc hắn sẽ thực hiện được một cuộc trả thù khủng khiếp đối với người phụ nữ năm xưa, bằng cách làm cho đứa con trai duy nhất của bà vào tù.

Và hắn đã thực hiện điều này như một bậc thầy: Ngón khéo của bản chúc thư, động cơ gây tội ác, cuộc viếng thăm bí mật mà cha mẹ chàng trai không biết, sự đánh xoáy cây can, vết máu, những mẫu vụn bị cháy thành than của thịt động vật, những cái nút áo, nút quần...

Tất cả đều đáng khâm phục.

Hắn đã giăng lưới khéo đến nỗi cho tới sáng này tôi còn chưa biết thoát ra bằng cách nào.

Nhưng hắn đã không biết dừng lại.

Hắn lại còn muốn siết chặt thêm nữa sợi dây thòng lọng vốn đã quấn lấy cổ chàng trai, cho nên hắn đã bị mất hết.

Chúng ta xuống thôi, Lestrade.

Tên vô lại ngồi trong phòng khách của chính y, bị kèm sát bởi hai viên cảnh sát.

Hắn rên rỉ:

- Đó chỉ là một trò đùa thôi mà, thưa ngài "Đại Lượng".

Tôi ẩn trốn là để muốn biết người ta nghĩ gì về tôi, sau khi "chết".

- Đoàn bồi thẩm sẽ quyết định việc đó - Lestrade trả lời.

- Và chắc chắn là ông sẽ được biết rằng các chủ nợ của ông Cornelius...

- Holmes nói thêm.

Lão già giật nẩy mình và hướng đôi mắt dữ tợn của y về phía bạn tôi:

- Một ngày nào đó, tôi sẽ trả món nợ này.

Holmes nở một nụ cười khoan dung.

- Trong vài năm tới, ông sẽ rất bận rộn.

Nhân đây xin cho hỏi một câu: Ông đã ném cái gì vào trong đống gỗ cùng với cái quần cũ của ông?

Một con chó chết?

Những con thỏ?

Hay là cái gì?

Ông không muốn nói ra ư?

Ồ!

Ông thật khó thương biết bao!

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D3 Những hình nhân nhảy múa


NHỮNG HÌNH NHÂN NHẢY MÚA

THE ADVENTURE OF THE DANCING MEN (1903)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Holmes ngồi vài giờ một cách lặng lẽ, chăm chú với các phản ứng hóa học để điều chế ra một chế phẩm có mùi rất khó chịu.

Cái lưng dài và cong, cái đầu như được cắm vào ngực, trông Holmes giống như một con chim khổng lồ màu xám.

- Này Watson, - anh nói một cách thình lình, - Anh không định đầu tư mạo hiểm vào Nam Phi sao?

Tôi bắt đầu ngạc nhiên.

Tuy tôi không lạ gì những suy luận của Holmes, nhưng cái cách thâm nhập bất thình lình vào cả những suy nghĩ của tôi thì tôi không thể nào hiểu nổi.

- Làm sao anh biết được vậy?

- Tôi hỏi.

Holmes quay lại, chiếc ống nghiệm bốc khói vẫn cầm trên tay, đôi mắt lóe lên một ánh tinh nghịch.

- Watson, hãy thú nhận là anh bị giật nảy người.

- Tôi?

- Tôi nghĩ là anh nên xác nhận trên giấy về hiệu ứng đó.

- Tại sao?

- Bởi vì chỉ trong năm phút nữa anh sẽ nói rằng nó đơn giản một cách vô lý.

- Tôi hứa là tôi sẽ không nói điều đó.

- Anh thấy đấy, Watson thân mến của tôi - Holmes đặt chiếc ống nghiệm vào cái giá, và bắt đầu tư thế thuyết trình như một giáo sư ở trong lớp học - Thật ra không khó lắm để xây dựng một chuỗi gồm các suy luận có liên quan đến cái trước nó và sự đơn giản bên trong nó.

Khi như vậy, điều đơn giản đánh đổ tất cả các suy luận, liên kết giữa yếu tố bắt đầu và kết thúc có thể sản sinh, thậm chí có thể gây ra một sự bất ngờ.

Như lúc này, thật không khó lắm, với một dấu vết nhỏ giữa ngón trỏ và ngón cái của bàn tay trái, tôi có thể suy luận chắc chắn là anh không định đầu tư khai thác vàng.

- Tôi không nhìn thấy sự liên hệ nào cả.

- Có vẻ là như vậy.

Nhưng tôi có thể nhanh chóng cho anh thấy một liên hệ gần gũi.

Những đoạn thiếu của chuỗi móc xích rất đơn giản.

1.

Anh có vết phấn giữa ngón trỏ và ngón cái bàn tay trái khi anh trở về từ câu lạc bộ tối qua.

2.

Anh chỉ có vết phấn ở đó khi anh chơi billiards.

3.

Anh không bao giờ chơi billiards, trừ khi với Thurston.

4.

Bốn tuần trước anh có kể tôi nghe Thurston có một cơ hội đầu tư ở Nam Phi trong một tháng sau và anh ta muốn anh cùng hùn vốn.

5.

Quyển séc của anh bỏ trong ngăn kéo của tôi, khóa lại, nhưng anh đã không hỏi về chìa khóa.

6.

Anh không định đầu tư vào lĩnh vực này.

- Đơn giản vậy thôi sao!

- Tôi kêu lên.

- Đúng vậy đó!

- Holmes nói với một chút giễu cợt - Mọi vấn đề trở thành rất trẻ con khi nó đã được giải thích với anh.

Đây là một vấn đề chưa được giải thích.

Xem thử anh có thể làm gì với cái đó, bạn Watson thân mến.

Holmes cầm mảnh giấy trên bàn đưa cho tôi rồi quay lại với công việc phân tích hóa học.

Tôi ngạc nhiên thấy tờ giấy được vẽ những chữ tượng hình.

- Chú nhãi nào vẽ thế!

- Ý kiến của anh vậy à?

- Cái này là cái gì?

- Ông Hilton Cubitt ở Riding Thorpe Manor, hạt Norfolk cũng muốn biết đó là cái gì.

Ông đã chuyển nó cho chúng ta ngay từ chuyến thư đầu tiên, còn ông sẽ đến đây bằng tàu hỏa.

Anh có thấy chuông reo không?

Có lẽ ông ta đến đấy.

Tiếng những bước chân nặng nề vang lên ở cầu thang.

Lát sau, một người cao lớn, bảnh bao, má ửng hồng bước vào phòng.

Sau khi bắt tay chúng tôi, ông định ngồi xuống ghế.

Đột nhiên ông chú ý ngay đến mảnh giấy có những ký hiệu ngộ nghĩnh tôi mới xem xong và đặt trên bàn.

- Ông nghĩ sao về cái này, ông Holmes.

Người ta nói rằng ông là người ưa thích những chuyện bí ẩn.

- Đây thực sự là những hình vẽ rất bí ẩn.

Thoạt nhìn có thể coi nó là trò nghịch ngợm của trẻ con.

Người lớn nào có thể vẽ những hình người nhảy múa rời rạc như vậy?

Thế nhưng vì sao ông lại cho rằng mảnh giấy quái đản này có một ý nghĩa quan trọng?

- Tôi sẽ không gán cho nó một ý nghĩa nào cả, nếu không có chuyện vợ tôi.

Nàng đã chết ngất khi nhìn thấy nó.

Holmes khẽ nâng tờ giấy lên.

Đó là một mảnh giấy được xé ra từ một cuốn sổ tay.

Những hình ảnh như thế này được vẽ bằng bút chì trên mặt giấy.

Holmes chăm chú xem tờ giấy, thận trọng gập lại và cất vào trong ví.

- Câu chuyện hứa hẹn nhiều điều bí ẩn khác thường.

Trong thư, ông đã kể rồi, song xin ông vui lòng kể lại chuyện ấy cho người bạn của tôi, bác sĩ Watson đây nghe.

- Trước hết, tôi xin nói là tôi không phải là một người giàu có, dù dòng họ của tôi được coi là dòng quý tộc danh tiếng nhất ở Norfolk từ 5 thế kỷ nay.

Năm ngoái, khi đi dự hội ở London, tôi trọ lại trong một ngôi nhà trưng bày đồ gỗ ở quảng trường Russel và vị linh mục của địa phương chúng tôi cũng dừng chân tại đó.

Một cô gái trẻ người Mỹ là Elsie Patrick, cũng sống trong ngôi nhà này.

Chúng tôi nhanh chóng trở nên thân nhau.

Chưa đầy một tháng tôi đã yêu nàng.

Chúng tôi làm phép cưới ở nhà thờ rồi cùng nhau đến sống tại Norfolk.

Với tôi, nàng rất thành tâm và thẳng thắn.

Elsie nói rằng tôi có quyền từ chối lễ cưới nếu tôi muốn:

"Cuộc đời trước đây của em có nhiều chuyện thật không vui.

Em muốn quên đi tất cả.

Em không muốn trở lại quá khứ của mình.

Nếu lấy em thì có nghĩa là anh lấy một người đàn bà chưa hề làm điều gì đáng phải hổ thẹn cả.

Anh hãy tin vào lời em nói, và cần cho phép em không đả động gì tới quãng đời quá khứ của em.

Nếu không được như vậy, anh hãy quay trở về Norfork đi!

Em sẽ tiếp tục sống cô độc như trước đây".

Nàng đã nói với tôi như vậy vào hôm trước lễ cưới.

Tôi đã đồng ý.

Chúng tôi thành vợ chồng được một năm nay.

Thời gian trôi đi thật êm đềm.

Thế nhưng cách đây một tháng, vào cuối tháng 6.

Vợ tôi nhận được một lá thư gởi từ Mỹ.

Mặt nàng xanh tái.

Nàng đọc xong lá thư rồi ném vào lửa.

Nàng không nhắc lại chuyện đó, và tôi cũng không hỏi, vì tôn trọng lời hứa của mình!

Có điều, từ đấy trở đi, nàng không bình tâm được lấy một phút.

Gương mặt nàng luôn tỏ ra khiếp đảm.

Có thể thấy rõ rằng nàng đang mong đợi cái gì đó.

Rồi cách đây gần một tuần, tôi đã nhìn thấy trên bậu cửa sổ những hình nhảy múa như trên mảnh giấy này.

Chúng được vẽ bằng phấn.

Tôi nghĩ cậu bé làm ở tàu ngựa đã vẽ chúng.

Nhưng cậu ta thề thốt rằng cậu không biết gì cả.

Chúng xuất hiện vào ban đêm.

Tôi lau sạch đi, và vô tình nhắc tới chúng trong một lần nói chuyện với nàng.

Nàng yêu cầu tôi chỉ cho nàng coi, nếu tôi lại trông thấy những hình nhân như thế.

Suốt một tuần liền, không thấy chúng xuất hiện.

Thế rồi sáng hôm qua, tôi nhặt được mảnh giấy này trên chiếc đồng hồ mặt trời ngoài vườn.

Tôi chỉ cho nàng coi và lập tức nàng ngất xỉu đi.

Từ giờ phút ấy, nàng sống chập chờn như trong mơ.

Đôi mắt nàng tràn đầy nỗi khiếp sợ.

Còn tôi thì khác, ông sẽ nói cho tôi biết cần phải làm gì.

Tôi không giàu có, nhưng sẵn sàng tiêu đến đồng xu cuối cùng để bảo vệ nàng.

Tình yêu thương và lòng chung thủy với vợ được ghi lại trên từng nét mặt nhỏ nhất của khuôn mặt ông.

Holmes nghe hết câu chuyện với sự chăm chú sâu sắc.

Sau đó anh trầm ngâm hồi lâu.

Cuối cùng, anh nói:

- Ông không thẳng thắn yêu cầu vợ ông nói hết ra những bí ẩn hay sao, thưa ông Cubitt?

Hilton Cubitt lắc lắc cái đầu đồ sộ của mình:

- Lời hứa, ông Holmes ạ!

Nếu Elsie muốn, thì nàng đã kể cho tôi nghe rồi.

Còn nếu không muốn, tôi không ép nàng.

- Nếu vậy, tôi sẽ hết lòng giúp ông.

Hãy nói cho tôi biết có người nào ở nơi khác đến sống cạnh gia đình ông không?

- Không.

- Tôi biết ông sống ở một nơi rất hẻo lánh.

Sự xuất hiện của bất kỳ người lạ nào không thể không để lại dấu vết.

- Nếu có người lạ mặt nào ở ngay cạnh nhà tôi, tất nhiên tôi đã biết.

Có điều, cách không xa từ chỗ chúng tôi có vài làng ven biển với những bãi tắm lớn.

Các điền chủ đã cho những người từ xa đến thuê các phòng nghỉ khang trang.

- Trong những hình vẽ kỳ quái này chắc chắn ẩn chứa một ý nghĩa nào đấy.

Theo ý tôi, ông cần trở lại Norfolk, chú ý theo dõi tất cả những gì diễn ra chung quanh.

Còn khi ông phát hiện ra ở nơi nào đó những hình nhân nhảy múa mới, thì ông cần chép y lại một cách tỷ mỉ nhất.

Đáng tiếc là ông đã không sao lại những hình người được vẽ bằng phấn trên bậu cửa!

Hãy dò xét tất cả những người quen biết xuất hiện ở cạnh nhà.

Và khi nhận ra được một chút gì mới, ông hãy đến ngay chỗ tôi.

Nếu thấy cần thiết, tôi sẵn sàng đến chỗ ông...

Sau cuộc gặp gỡ nói trên, Holmes thường hay trầm ngâm suy nghĩ.

Nhiều lần tôi trông thấy anh chăm chăm xem những hình người ngộ nghĩnh được vẽ trên đá.

Tuy nhiên, chỉ sau hai tuần, anh lại bắt đầu trò chuyện với tôi về chuyện này.

Lúc tôi sửa soạn bước ra khỏi nhà, anh đột nhiên ngăn tôi lại:

- Tốt hơn là anh hãy ở nhà.

- Vì sao?

- Sáng nay tôi nhận được điện của Hilton Cubitt.

Ông ấy có ý định đi London vào lúc 10 giờ.

Chỉ vài phút sau nữa, ông ta sẽ đến đây.

Theo bức điện, tôi hiểu rằng ông đã có những tin tức cực kỳ quan trọng.

Chúng tôi chờ đợi không lâu thì vị điền chủ đã từ sân ga phóng thẳng đến chỗ tôi.

Mặt ông ta lộ rõ vẻ âu lo.

- Câu chuyện làm tôi bực mình, ông Holmes ạ!

Ông ta buông mình xuống ghế bành và nói.

- Thật là quá khổ tâm khi ta cảm thấy bị những người xa lạ vô hình toan đẩy ta vào một hiểm họa nào đấy, còn khủng khiếp hơn nữa khi nhận ra rằng từ ngày này qua ngày khác, những con người đó dần dần hủy diệt người thân của ta.

Nàng đã giấu tôi?

- Bà ấy đã nói với ông điều gì phải không?

- Không nói điều gì cả.

Có lúc nàng như muốn kể cho tôi nghe hết thảy, chúng tôi không đủ cương quyết.

Tôi toan giúp nàng, thì tôi vụng về đến mức chỉ làm nàng sợ hãi thêm.

Nàng bắt đầu hay nói về chuyện chúng tôi thuộc một dòng họ lâu đời như thế nào, mọi người trong dòng họ kính trọng tôi ra sao, chúng tôi tự hào về lương tâm trong sạch của mình như thế nào.

Lần nào cũng vậy, tôi cảm thấy nàng muốn nói thêm một điều gì, nhưng rồi lại thôi.

- Ông có phát hiện ra cái gì không?

- Rất nhiều, ông Holmes ạ Tôi đưa đến cho ông hàng đống những hình nhân nhảy múa mới đây.

Nhưng quan trọng nhất là cái này.

- Ai vẽ chúng thế.

- Tôi nhìn thấy nó sau giờ làm việc.

Nhưng hãy cho phép tôi kể theo trình tự.

Sau khi từ chỗ ông trở về, ngay sáng hôm sau, tôi đã tìm thấy những hình người nhảy múa mới.

Chúng được vẽ bằng phấn trên cánh cửa sổ màu đen của kho chứa củi nằm cạnh bãi cỏ.

Tôi sao chép lại tất cả.

Đây, chúng đây!

Ông ta rút tờ giấy, mở ra và đặt lên bàn.

Những chữ tượng hình như thế này được vẽ trên mặt giấy.

- Tuyệt vời!

Thật tuyệt vời!

Hãy tiếp tục đi!

- Khi vẽ lại xong, tôi xóa chúng.

Thế mà hai ngày sau, trên cánh cửa ấy lại xuất hiện hàng mới.

Chúng đây!

Holmes bật cười vì vui sướng:

- Tài liệu của chúng ta được tăng lên mau chóng.

- Sau 3 ngày, trên chiếc đồng hồ mặt trời lại xuất hiện một lá thư nhỏ nằm ở dưới một viên đá.

Chúng đây!

Ông thấy không, những hình vẽ ở trên đó chính là hình vẽ ở lá thư đầu tiên.

Thế là tôi quyết định rình người đã vẽ.

Suốt từ một đến hai giờ khuya, tôi cầm súng lục, ngồi ở cạnh 1 cửa sổ và nhìn ra khu vườn đầy ánh trăng.

Tôi nghe thấy tiếng những bước chân sau lưng mình.

Ngoái cổ lại, tôi nhận ra vợ tôi trong bộ quần áo dài mặc ở nhà.

Nàng năn nỉ tôi trở vào giường nằm.

Tôi thành thực nói với nàng rằng tôi muốn xem ai là người làm trò tinh nghịch ấy.

Nàng nói rằng đây chỉ là một trò đùa vớ vẩn, không đáng quan tâm đến.

- Nếu chuyện đó làm anh bực bội như thế, thì chúng ta hãy cùng ra đi.

Khi ấy sẽ không một ai quấy rầy chúng ta nữa.

- Sao kỳ vậy?

Nếu làm vậy, cả dòng họ sẽ chế nhạo chúng ta.

- Hãy đi nghỉ thôi!

Sáng mai chúng ta sẽ bàn tiếp chuyện đó vậy.

- Nàng nói.

Tự nhiên khuôn mặt nàng tái xám đi (tôi nhận ra điều này thậm chí ngay cả dưới ánh trăng).

Bàn tay nàng bám chặt vào vai tôi.

Có một cái gì động đậy trong bóng tối của kho chứa củi.

Một bóng đen gập người từ góc vườn trườn ra rồi ngồi lại trước cửa.

Tôi giật lấy khẩu súng lục, chạy lao người về phía trước.

Nhưng vợ tôi đột nhiên ôm chầm lấy tôi, giữ tôi đứng lại.

Tôi càng cố giẫy ra, nàng càng bám lấy tôi táo tợn hơn.

Cuối cùng, tôi dứt được ra.

Song lúc đẩy cửa chạy tới kho chứa củi thì bóng đen đã biến mất.

Tôi lùng sục khắp vườn vẫn không tìm ra dấu hắn.

Sáng hôm sau, tôi lại xem xét cửa kho củi thì dưới hàng chữ mà tôi đã có dịp nhìn thấy, lại xuất hiện thêm vài hình người mới.

- Ông có chép lại không?

- Có chứ!

Ông ta cho chúng tôi coi một mảnh giấy khác.

Những hình người nhảy múa mới có dáng vẻ như sau.

- Những hình người này được vẽ thêm vào hàng chữ trước đây hay được vẽ riêng ra?

- Holmes hỏi, vẻ xúc động.

- Chúng được vẽ trên thang gỗ, phía dưới cánh cửa.

- Thật tuyệt.

Điều này đối với chúng ta hệ trọng hơn tất cả.

Nó gieo niềm hy vọng.

Ông Hilton Cubitt, ông hãy tiếp tục câu chuyện lý thú này!

- Tôi rất giận vợ tôi vì nàng đã ngăn không cho tôi lùng bắt tên vô lại.

Tôi muốn nhờ năm sáu chàng trai rình trong bụi cây, chờ dịp nện cho nó một trận nên thân.

- Căn bệnh quá trầm trọng sẽ không được chữa khỏi bằng thứ thuốc thông thường đâu.

Ông có thể lưu lại London trong bao lâu?

- Holmes hỏi.

- Tôi phải trở về ngay hôm nay.

Nàng rất lo và đã yêu cầu tôi quay về càng sớm càng tốt.

- Ông hoàn toàn có lý.

Song, giá như ông có thể ở lại thì sau một hoặc hai ngày gì đó, tôi sẽ cùng đi với ông.

Dầu sao cũng phải để những mảnh giấy này lại cho tôi.

Theo thói quen nghề nghiệp, Holmes gắng tỏ ra thật bình tĩnh.

Nhưng tôi nhận thấy anh đang xúc động.

Đôi vai rộng của Hilton Cubitt vừa khuất sau cánh cửa, anh bạn tôi đã chạy bổ đến bàn, trải các mảnh giấy ra.

Trong vòng hai tiếng, anh đã viết hết từ tờ này đến tờ khác la liệt những con số và chữ cái.

Công việc này cuốn hút anh tới mức hình như anh quên mất sự có mặt của tôi trong phòng.

Cuối cùng, anh hài lòng kêu lên, nhổm phắt dậy, vừa xoa xoa hai tay vừa chạy khắp phòng.

Sau đó anh chuyển đi một bức điện dài.

- Có lẽ sáng mai tôi và anh sẽ cùng đi Norfolk.

Chắc chắn cuốn sách của anh sẽ phong phú thêm nhờ có câu chuyện ly kỳ này.

Óc tò mò hành hạ tôi, nhưng tôi biết Holmes chỉ nói khi nào thấy cần thiết.

Thế là tôi nén lòng chờ đợi.

Thế nhưng không có điện trả lời.

Suốt hai ngày liền, Holmes phập phồng lắng nghe từng tiếng chuông reo.

Chiều ngày thứ hai chúng tôi nhận được thư của Hilton Cubitt.

Ông ta cho biết ở chỗ ông tất cả đều yên tĩnh nhưng sáng nay, trên giá đỡ của chiếc đồng hồ mặt trời đã xuất hiện hàng chữ dài nhất.

Bản sao chép chính xác dòng chữ này được đính kèm lá thư.

Hàng chữ được vẽ như thế này.

Holmes gập người trước bản vẽ kỳ quái.

Bất thình lình anh nhổm phắt dậy, kêu lên ngạc nhiên và giận dữ.

Khuôn mặt lo âu của anh trở nên cau có:

- Chúng ta đã để cho công việc đi quá xa mất rồi!

Buổi chiều có chuyến tàu nào đi tới North Walsham?

Tôi liếc nhìn vào bảng giờ tàu.

Chuyến cuối cùng vừa mới rời ga.

- Vậy thì sáng mai chúng ta ăn điểm tâm sớm và bắt chuyến tàu đầu tiên.

- Holmes nói.

- Sự có mặt của chúng ta ở đó là rất cần thiết.

Người khách hàng của chúng ta đang sa vào mạng lưới cực kỳ nguy hiểm!

Chúng tôi vừa mới xuống North Walsham thì người xếp ga đã chạy tới hỏi:

- Các ông là những thám tử từ London tới?

- Sao ông lại nghĩ vậy?

- Bởi vì viên thanh tra Martin cũng từ Norwich qua đây.

Các ông là bác sĩ?

Bà ta vẫn còn sống, các ông sẽ còn kịp để cứu bà ta...

Holmes cau có và lo ngại:

- Chúng tôi sẽ đến Ridling Thorpe Manor.

Nhưng chưa rõ chuyện gì đã xảy ra ở đó?

- Một chuyện khủng khiếp - Người xếp ga nói - Ban đầu bà ta bắn ông ấy, rồi sau đó tự bắn mình.

Những người hầu gái kể như vậy.

Ông ta đã chết và bà ấy cũng sẽ chết.

Than ôi!

Holmes nhảy lên xe ngựa.

Anh hoàn toàn im lặng trong suốt trình.

Tôi ít có dịp thấy anh rơi vào một tâm trạng âu sầu đến thế.

Ngay từ đầu, tôi đã thấy anh hết sức lo ngại lúc xem qua những tờ báo buổi sáng.

Thế nhưng lúc này, khi những nỗi lo sợ tồi tệ nhất của anh đã được xác nhận thì anh như hóa đá.

Anh ngồi ngả người về phía sau, đắm mình trong những ý tưởng buồn bã.

Trong khi ấy, chúng tôi đi qua một trong những nơi kỳ thú nhất của nước Anh.

Cư dân trong vùng sống thưa thớt.

Nhưng theo mỗi bước chân đi nổi bật lên trên cánh đồng xanh mướt là những chiếc tháp cao, to, xác nhận niềm vinh quang của miền Đông nước Anh xưa kia.

Cuối cùng, bác xà ích dùng roi chỉ cho chúng tôi coi hai mái nhà nhọn đầu giữa thôn quê:

- Thái ấp Ridling Thorpe đấy!

Đến gần ngôi nhà, tôi để ý thấy phía trước có một cái kho chứa củi màu đen nằm sau cái sân um tùm và chiếc đồng hồ mặt trời đặt trên bệ.

Một người lanh lợi với bộ ria tỉa tót cẩn thận vừa nhảy từ xe hai bánh xuống.

Đó là viên thanh tra Martin.

Ông ta kinh ngạc khi trông thấy người bạn tôi.

- Thưa ông Holmes, tội ác đã được thực hiện vào lúc 3 giờ sáng.

Do đâu mà ông biết được và đã đến đây cùng một lúc với chúng tôi?

- Tôi đoán ra và đi đến để ngăn chặn tội ác.

- Ông có những tài liệu mà chúng tôi không có?

- Tôi chỉ có những tin tức nhận được từ những hình người nhảy múa.

Tôi đã đến muộn, không ngăn chặn được nó.

Ông có cần tiến hành điều tra cùng với tôi không?

Hay ông thích để tôi tự tìm hiểu lấy?

- Được tiến hành cùng với ông là một vinh dự lớn đối với tôi, ông Holmes ạ.

- Viên thanh tra thành thật trả lời.

- Trong trường hợp này, tôi muốn lắng nghe những lời khai của các nhân chứng, và tận mắt xem hiện trường.

Thanh tra Martin thông minh đến mức cho phép Holmes xử sự theo cách riêng của mình.

Bác sĩ địa phương, vừa trong phòng bà Hilton Cubitt bước ra.

Ông nói rằng sức khỏe của bà chưa hết hy vọng, viên đạn chỉ mới sượt vào não.

Về câu hỏi bà ta tự bắn vào người hay do một người nào khác bắn thì ông không dám quyết đoán.

Ở bất kỳ trường hợp nào, phát súng cũng được bắn từ một cự ly rất gần.

Người ta chỉ tìm thấy trong phòng một khẩu súng ngắn và hai vỏ đạn.

Ông Hilton Cubitt bị bắn thẳng vào tim.

Có thể giả thiết rằng trước tiên ông ta bắn vợ và sau đấy bắn mình.

Cũng có thể giả thiết chính bà vợ gây tội ác đầu tiên, vì khẩu súng ngắn nằm trên vạt áo của bà.

- Ông khám xét nạn nhân chưa?

- Holmes hỏi.

- Chưa.

Chúng tôi chỉ mới nâng bà lên và chuyển đi.

- Ông ở đây lâu chưa, bác sĩ?

- Từ 4 giờ sáng.

- Có ai khác ngoài ông ở đây không?

- Có.

Giám định viên.

- Ông đã hành động một cách thận trọng.

Ai gọi ông đến?

- Chị hầu phòng Saunders.

- Chị ta là người đầu tiên báo động phải không?

- Chị ấy và bà King, người nấu bếp.

- Bây giờ họ ở đâu?

- Có lẽ ở trong bếp.

- Chúng ta sẽ bắt đầu nghe các lời khai của họ.

Gian phòng cũ kỹ được ghép bằng gỗ sồi với những cánh cửa cao biến thành phòng điều tra.

Holmes ngồi xuống ghế, mặt lạnh lùng.

Tôi đọc trong ánh mắt của anh ý chí kiên quyết, nếu cần có thể hiến cả cuộc đời mình để con người kia được toại nguyện.

Trong phòng, ngoài tôi ra còn có thanh tra Martin, ông bác sĩ và một cảnh sát nông thôn.

Lời khai của hai người đàn bà chính xác ở mức độ cao: Tiếng súng đã đánh thức họ dậy.

Sau chừng một phút, họ nghe phát súng thứ hai.

Bà King đã chạy bổ tới chỗ cô Saunders.

Họ cùng xuống cầu thang.

Cửa phòng bị mở toang, cây nến chiếu sáng trên bàn.

Chủ nhân nằm úp mặt xuống nền nhà ở giữa phòng, tắt thở.

Vợ ông đang quằn quại cạnh cửa sổ, đầu tựa vào tường.

Máu đỏ khắp nửa mình.

Bà ta vẫn thở, nhưng không thể nói được.

Ngoài hành lang cũng như trong phòng đều có khói và phảng phất mùi thuốc súng.

Cửa sổ bị đóng lại bằng chốt phía trong.

Cả hai người đàn bà đều hoàn toàn khẳng định điều này.

Ngay lập tức, họ đi gọi bác sĩ và cảnh sát.

Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của người coi ngựa và chú bé làm ở chuồng ngựa, họ đưa bà chủ bị thương sang phòng bà.

Bà mặc bộ áo quần dài.

Còn người chồng thì mặc đồ trong nhà, phía ngoài choàng áo ngủ.

Vợ chồng họ không bao giờ to tiếng với nhau.

Mọi người cho họ là cặp vợ chồng thân ái nhất.

Trả lời thanh tra viên Martin, hai người phụ nữ nói rõ rằng tất cả song cửa sổ đều bị khóa lại từ phía bên trong, rằng không một ai có thể thoát ra khỏi nhà.

Khi trả lời Holmes, hai người đều nhớ lại rằng họ ngửi thấy mùi thuốc súng ngay sau khi chạy ra từ phòng mình ở lầu hai.

Holmes nói với ông thanh tra:

- Chúng ta hãy chú ý tới sự việc này; còn bây giờ, cần xem xét căn phòng đã diễn ra tội ác.

Đó là một căn phòng rất bé.

Các giá sách choán hết ba phía tường, bàn làm việc đặt cạnh cửa sổ quay ra vườn.

Chúng tôi để ý trước tiên đến thi thể kẻ bất hạnh nằm sóng soài trên nền, áo quần xộc xệch, chứng tỏ ông đã bị dựng dậy từ giường một cách vội vã.

Viên đạn xuyên qua trái tim, kẹt lại trong người.

Trên bộ quần áo cũng như hai bàn tay không có dấu tích của thuốc súng; bác sĩ nói rằng trên người ông Cubitt, chỉ có dấu vết của thuốc súng ở mặt, chứ không có trên bàn tay.

- Việc không có dấu vết của thuốc súng ở bàn tay chẳng chứng tỏ điều gì, nhưng sự hiện diện của nó trên mặt lại chứng minh tất cả: Anh sẽ không làm vấy bẩn bàn tay khi anh bắn.

Bây giờ, có thể đưa thi thể ông Cubitt ra được rồi.

Bác sĩ, có lẽ ông sẽ không tìm được các viên đạn bắn bà Cubitt.

- Holmes nói.

- Muốn vậy, buộc phải tiến hành một ca mổ nghiêm túc.

Trong khẩu súng còn 4 viên đạn, ngoài này có 2 phát súng và 2 vết thương.

Thật ra không khó khăn gì khi xác định số phận của từng viên đạn.

- Xin làm ơn xác định giùm số phận của viên đạn xuyên qua rìa khung cửa sổ kia kìa!

Anh đột nhiên quay người lại và dúng ngón tay chỉ vào lỗ thủng ở thanh nối phía dưới của khung cửa sổ.

Viên thanh tra kêu lên:

- Tài thật ông phát hiện ra cái đó bằng cách nào vậy?

- Tôi tìm ra vì tôi có ý đi tìm nó.

- Tài tình thật!

- ông bác sĩ nói - Ông hoàn toàn có lý, nghĩa là phát súng thứ ba, và đã có người thứ ba.

Nhưng hắn là ai?

Hắn đã biến đi đâu?

- Ông thanh tra, các nữ hầu nói rằng lúc chạy ra từ phòng mình, họ đã ngửi thấy mùi thuốc súng và tôi đã nói với ông rằng ra cần lưu ý đến điều đó.

- Tôi nhớ.

Nhưng tiếc thay tôi không nắm được ý của ông.

- Điều đó chứng tỏ cả cửa ra vào lẫn cửa sổ đều bị mở toang.

Nếu không, khói thuốc không thể lan tỏa khắp nhà với một tốc độ nhanh như thế.

Chỉ có gió lùa mới thổi khói thuốc bay xa đến như vậy.

Trong phòng này, các cửa vào lẫn cửa sổ được mở ra trong khoảnh khắc.

- Tại sao?

- Bởi vì ngọn nến này hãy còn sáng.

- Đúng vậy - Viên thanh tra kêu lên.

- Khi biết chắc vào thời gian xảy ra vụ án, các cửa sổ bị mở ra, tôi đã kết luận rằng có người thứ ba tham dự vào: Người đứng ở phía ngoài và bắn qua cửa sổ.

Còn viên đạn nhắm bắn vào người thứ ba thì có thể đã ghim vào khung cửa sổ.

Tôi đã nhìn thấy và thực tế đã tìm ra dấu tích của viên đạn.

- Nhưng cửa sổ được đóng lại bằng cách nào?

- Chắc chắn người đàn bà đã đóng lại, đóng lại một cách vô ý thức...

Nhưng cái gì thế này?

Trên bàn có một chiếc ví phụ nữ.

Chiếc ví nhỏ nhắn làm bằng da cá sấu được ngăn bằng một lớp bạc lộng lẫy.

Holmes mở ví, trút các thứ lên bàn.

Trong đó có tất cả 20 phiếu tín dụng, 50 bảng Anh.

- Hãy cầm lấy!

Những thứ này sẽ được chuyển tới trong phiên tòa.

- Holmes nói và chuyển cho viên thanh tra.

- Bây giờ cần làm sáng tỏ viên đạn thứ ba hướng tới người nào?

Lỗ thủng ở khung cửa sổ cho thấy người ta bắn tới từ phòng này.

Tôi muốn thảo luận lại với bà King...

Bà nói rằng phát súng nổ lớn đã đánh thức bà dậy.

Ý bà muốn nói phát súng đầu nổ to hơn phát thứ hai phải không?

- Tôi đang ngủ, cho nên tôi khó mà bàn luận được.

Tôi chỉ cảm thấy tiếng nổ rất to.

- Bà không cho rằng cả hai phát súng hầu như nổ cùng một lúc chứ?

- Tôi không thể phân tích được điều đó.

- Tôi tin là đúng như vậy.

Ông thanh tra, trong căn phòng này, chúng ta không biết gì hơn được nữa đâu.

Nếu các ông đồng ý, chúng ta sẽ cùng ra ngoài vườn và sẽ cùng xem xét ở đấy có điều gì thú vị không.

Ngay phía dưới cửa sổ căn phòng có một bồn hoa, khi đến đó, chúng tôi cùng kêu to lên.

Hoa bị xéo nát.

Những vết chân in hằn lên trên mảnh đất xốp rất rõ.

Đó rõ ràng là những vết chân đàn ông to bè rất dài và sắc.

Holmes chân lướt trên cỏ, trên lá như chó săn lùng sục chim bị thương.

Đột nhiên anh kêu lên sung sướng.

Anh cúi xuống và nhặt lên một khối trụ nhỏ bằng đồng.

- Tôi biết mà!

Đây chính là viên đạn thứ ba.

Vẻ sửng sốt in hằn trên nét mặt ông thanh tra.

Rõ ràng ông thán phục tốc độ và tài nghệ của Holmes.

Lúc đầu ông ta bảo vệ ý kiến của mình, thế nhưng chẳng bao lâu ông thực sự thích thú vì đã bị Holmes chinh phục hoàn toàn.

- Ông nghi ai?

- Viên thanh tra hỏi.

- Còn chờ một chốc nữa thôi, sau đấy tôi sẽ giải thích cho ông rõ hết thảy.

- Ông Holmes, chỉ mong sao kẻ sát nhân không được thoát.

- Mọi mối liên hệ của tội ác này đã nằm gọn trong tay tôi.

Thậm chí nếu bà quý tộc không bao giờ tỉnh lại nữa, chúng ta vẫn khôi phục lại được tất cả những gì đã xảy ra vào đêm hôm qua và giành được công lý.

Trước hết, tôi muốn biết cạnh đây có khách sạn nào tên là Elrige không?

Người ta lấy khẩu cung các gia nhân trong nhà, nhưng không một ai nghe thấy tên một khách sạn như vậy.

Chỉ có chú bé làm ở tàu ngựa đột nhiên nhớ tới một người có họ là Elrige ở gần East Ruston, cách đây vài dặm.

- Trang trại của ông ta rất biệt lập à?

- Vâng, rất biệt lập.

- Có lẽ ở đó người ta chưa biết chuyện gì đã xảy ra ở đây?

- Có lẽ thế, thưa ông.

Holmes ngẫm nghĩ, và trên khuôn mặt anh bỗng xuất hiện một nụ cười tinh quái:

- Thắng yên ngựa đi, chú bé tài giỏi!

Tôi muốn chú chuyển thư đến điền trang Elrige.

Anh rút túi ra vài mảnh giấy có những hình người nhảy múa.

Anh ngồi xuống bàn, trải rộng chúng ra trước mặt, rồi mải miết với công việc.

Cuối cùng anh trao bức thư cho cậu bé.

Yêu cầu cậu chuyển đến tận tay người có tên trong địa chỉ, và không được phép trả lời bất kỳ câu hỏi nào.

Tôi liếc nhìn địa chỉ.

Nó được viết bằng chữ cong queo chính xác, không giống chút nào với nét chữ rõ ràng lúc bình thường của Holmes.

Bức thư chuyển cho ông Abe Slaney trang trại Elrige, East Ruston ở Norfolk.

- Ông thanh tra, tôi cần chuyển điện cho đoàn hộ tống.

Bởi, nếu điều tôi suy nghĩ đúng, thì ông sẽ phải áp tải một tên tội phạm cực kỳ nguy hiểm đến nhà tù.

Chú bé có thể chuyển luôn bức điện của ông.

Còn chúng ta, Watson ạ, chúng ta sẽ trở lại thành phố bằng chuyến tàu sau bữa ăn trưa, vì vào chiều hôm nay tôi cần phải kết thúc một sự phân tích hóa học kỳ thú.

Công việc hiện đang đi nhanh tới kết thúc.

Khi cậu bé đưa thư phi ngựa đi Sherlock Holmes cho triệu tập gia nhân lại.

Anh cho biết, ai muốn viếng thăm bà Hilton Cubitt thì mau chóng rời khỏi phòng khách và không được báo cho bà biết những gì đã xảy ra ở đây.

Anh đòi hỏi thi hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh.

Sau đấy anh trở vào phòng khách và nói thêm rằng, lúc này mọi chuyện sẽ được tiến hành không có sự tham gia của chúng tôi, chúng tôi chỉ ngồi và chờ xem con thú nào sẽ sa vào bẫy mà thôi.

Người bác sĩ lui tới chỗ bệnh nhân của mình.

Chỉ có tôi và viên thanh tra ở lại với Holmes.

- Tôi sẽ giúp các ông dùng một giờ chờ đợi này một cách lý thú và bổ ích.

Holmes vừa nói vừa kéo ghế lại gần bàn và trải rộng ra trước mặt nhiều mảnh giấy với những hình người nhảy múa khác nhau.

- Anh Watson ạ, tôi cần phải chuộc lỗi lầm của mình, tôi đã gợi trí tò mò của anh đến thế.

Còn đối với ông, ông thanh tra, việc này là một bài học nghề nghiệp tuyệt vời.

Trước hết, tôi cần kể cho ông nghe cuộc gặp gỡ của tôi với ông Hilton Cubitt tại nhà tôi.

Thế rồi anh kể vắn tắt cho viên thanh tra nghe những việc mà chúng ta biết.

- Trước mắt chúng ta là những bức vẽ ngộ nghĩnh.

Có thể chúng sẽ gợi ra những nụ cười, nếu chúng không phải là những dấu hiệu báo trước một bi kịch.

Hầu như tôi đã biết tất cả những loại chữ viết bí mật.

Tôi là tác giả một bản chuyên khảo, trong đó tôi phân tích 160 hệ thống các chữ viết khác nhau, nhưng tôi phải thú nhận rằng hệ thống các chữ viết này hoàn toàn xa lạ đối với tôi.

Nhưng kẻ phát minh ra hệ thống chữ viết này chắc hẳn muốn cho người ta có cảm giác rằng đó chỉ là những hình vẽ trẻ con.

Tuy nhiên, tôi chắc rằng những hình vẽ này là ký hiệu của những chữ cái, tôi áp dụng những quy tắc thường dùng để đọc các chữ viết bí mật.

Nhìn hình, tôi chưa hiểu được gì ngoài cái điều này: Ký hiệu được vẽ kế bên đây, là một chữ E.

Thật vậy, bạn vui lòng nhớ kỹ cho: hình người đứng, hai bàn chân áp sát mặt đất, đôi tay đưa lên trời, na ná như hình vẽ bên đây, là chữ E.

Như các bạn đã biết, E là chữ được dùng nhiều nhất trong bảng chữ cái của tiếng Anh: ngay cả trong một câu ngắn, người ta cũng thường gặp nó.

Trong số 15 ký hiệu của hình (1) tôi đã thấy có tới 4 ký hiệu gần giống nhau.

Đó là các con chữ thứ 4 , thứ 6 , thứ 9 và thứ 14.

Vậy việc suy diễn 4 ký hiệu đó là chữ E, là một điều hợp lý.

Sự thật là trong vài trường hợp, hình vẽ có mang một lá cờ, trong những trường hợp khác thì không.

Nhưng, nhìn cách phân phối những hình nhân cầm lá cờ, tôi thấy dường như chúng được dùng để phân biệt những-cụm-con-chữ của một câu, nghĩa là những hình nhân lá cờ làm nhiệm vụ của một dấu chấm câu vậy.

Như vậy chúng ta có hình nhân này thay cho chữ E

Nhưng đến đây tôi bắt đầu đụng phải một điều khó khăn: sau chữ E, các chữ khác trong bảng chữ cái rất khó xếp hạng về sự xuất hiện nhiều hay ít trong tiếng Anh.

Trên nguyên tắc, thứ tự ưu tiên đó được xếp hạng đại khái như nhau: T trước, rồi tới A và kế đó là O, I, N, S, H, R, D và L.

Nhưng T, A, O và I thường được dùng nhiều như nhau.

Nếu tôi cố gắng thử phối hợp chúng với nhau theo nhiều cách cho đến khi nào thấy được bức hình nhảy múa có một ý nghĩa, thì tôi sẽ tốn khá nhiều thời gian.

Vậy tôi phải chờ đợi có thêm nhiều câu khác:

trong các hình (2), (3) và (4) toàn là những câu ngắn.

Đặc biệt hình số (4) có 5 con chữ mà tôi cho rằng nó chỉ là một từ (vì lẽ không có lá cờ)

Khi nhìn kỹ các hình thân này, tôi thấy có 2 hình nhân là chữ E.

Đó là hình thứ nhì và thứ tư.

Một từ có 5 con chữ mà trong đó có 2 chữ E nằm ở vị trí thứ nhì và tư, là từ nào?

Nó có thể là:

SEVER (phân chia)

LEVER (đòn bẩy)

NEVER (không bao giờ)

Không còn nghi ngờ gì nữa, vì lẽ đây là một câu trả lời: chữ NEVER (Không bao giờ) là chữ có thể đúng nhất.

Và trong trường hợp này, chúng ta có thể nghĩ rằng đây là một câu trả lời do bà Cubitt viết.

Để kiểm tra lại các suy đoán của mình, tôi bèn cho rằng nếu 5 con chữ của hình (4) là NEVER thì 3 con chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm phải lần lượt là N, V và R.

Nhưng khó khăn vẫn còn nhiều.

May mắn là tôi nảy ra một ý nghĩ giúp tôi nắm được chìa khóa của nhiều chữ cái khác.

Tôi nghĩ rằng những lời kêu gọi này xuất phát từ một người trước kia đã từng có liên hệ mật thiết với bà Cubitt.

Một từ gồm 2 con chữ E cách nhau bởi ba con chữ cái khác như trong hình (3) thì từ đó rất có thể là chữ ELSIE, nhất là từ này nằm ở cuối một câu.

Vậy, đó có thể là một lời kêu gọi bà Elsie.

Thế là tôi nắm thêm được những ký hiệu của những chữ cái L, S và I.

Nhưng lời kêu gọi này có thể có ý nghĩa gì?

Từ đi trước từ "Elsie" chỉ có 4 con chữ và tận cùng bằng con chữ E.

Từ này chắc phải là "Come" (hãy đến).

Để kiểm tra xem có đúng như thế không, tôi thử tất cả những thế khác gồm có 4 con chữ đều tận cùng bằng E, nhưng không có chữ nào phù hợp với ý nghĩa của câu này.

Vậy là tôi nắm được ký hiệu của những chữ cái C, O và M.

Tới đây tôi có thể đọc bức hình (1).

Tôi phân chia nó ra thành từng từng chữ và thay thế những dấu chấm vào các hình chưa biết.

Tôi đạt được kết quả như sau:

.M .ERE ..E SL.NE.

Con chữ đầu tiên phải là chữ A thì mới có nghĩa.

Nó trở thành:

AM HERE A.E SLANE.

Đây quả là một khám phá rất quý báu, bởi vì ký hiệu này xuất hiện đến 3 lần trong câu ngắn này.

Tôi thay thế những chữ cái vào chỗ các hình chưa biết thì có

AM HERE ABE SLANEY[1]

Bây giờ tôi nắm được ký hiệu của rất nhiều chữ cái và có thể bắt đầu đọc đến hình (2).

Tôi có được :

A.

ELRI.ES

Câu này chỉ có thể có một ý nghĩa nào đó, nếu tôi lần lượt thay chữ T và một chữ G vào chỗ của hai dấu chấm và tôi có "AT ELRIGES"; đây chắc hẳn là một ngôi nhà hay một cái quán, nơi tác giả của câu văn đang ở.

Thanh tra Martin và tôi, cả hai cùng há mồm nghe những lời giải thích của Holmes, những lời giải thích đã giúp anh vượt qua được tất cả những khó khăn.

- Rồi sao nữa, thưa ông?

- Viên thanh tra hỏi.

- Tôi có đủ lý do để cho rằng tên Abe Slaney này là một người Mỹ, bởi vì Abe là tên Mỹ, và tất cả bi kịch đều bắt nguồn từ một lá thư bên Mỹ gởi sang.

Tôi cũng có những lý do mạnh mẽ để tin rằng tất cả vụ này xoay quanh một bí mật tội lỗi.

Việc người đàn bà nói bóng gió đến quá khứ của bà và việc bà từ chối không cho chồng biết cái quá khứ, để cho tôi kết luận như thế.

Tôi bèn gởi một bức điện tín cho ông bạn Wilson Hargreave của tôi, thuộc sở cảnh sát New York, hỏi ông ta có biết cái tên Abe Slaney là ai không.

Câu trả lời là: "Tên lưu manh nguy hiểm nhất ở Chicago".

Ngay trong buổi sáng ngày mà tôi nhận được câu trả lời đó, ông Cubitt đã đến, cho tôi xem "tấm hình nhảy múa" cuối cùng của Slaney.

Thay thế những hình nhân bằng những con-chữ-cái đã biết, tôi có được câu này

ELSIE .RE.ARE TO MEET THY GO.

Chỉ có hai chữ P và một chữ D mới bổ sung được câu này một cách có ý nghĩa:

ELSIE PREPARE TO MEET THY GOD

Đó là lý do vì sao tôi tức tốc đi ngay đến Norfolk cùng với ông bạn Watson.

- Thật là có lợi vô cùng khi được làm việc với ông!

- Thanh tra Martin nói bằng một giọng đầy phấn khởi - Tuy nhiên, nếu tên Abe Slaney này đã bỏ trốn trong khi tôi đang ngồi ở đây chắc chắn tôi sẽ bị nhiều chuyện rắc rối lớn.

- Ông đừng sợ: hắn không trốn đâu.

- Làm sao ông biết?

- Nếu hắn trốn là hắn sẽ tự thú nhận là mình có tội.

- Vậy chúng ta đi bắt hắn.

- Chốc nữa hắn sẽ đến đây.

- Tại sao hắn lại đến?

- Tại vì tôi viết thư mời hắn.

- Nhưng không thể được, ông Holmes.

Tại sao hắn lại chịu đến đây chỉ vì có lời yêu cầu của ông?

- Lá thư tôi viết sẽ có hiệu quả.

Kìa, hắn đã đến kìa!

Một người đàn ông tiến theo lối đi đưa đến cửa lớn.

Thân hình cao lớn, vạm vỡ, nước da sạm nắng, trên gương mặt của hắn nổi bật một hàm râu đen xồm xoàm và một chiếc mũi quặp to lớn.

Hắn đi một cách hiên ngang như thể ngôi nhà này đã thuộc về hắn rồi, một cây can quơ qua quơ lại trong không khí.

- Này các ông - Holmes nói bằng giọng bình tĩnh - Chúng ta nên thủ thế sẵn đằng sau cánh cửa.

Với một tên cướp chúng ta phải hết sức cẩn thận.

Ông thanh tra, xin vui lòng để tôi ra tay trước.

Cánh cửa mở ra, hắn bước vào.

Ngay lúc đó, Holmes dí súng dưới mũi hắn và Martin còng tay hắn lại.

Động tác này diễn ra quá bất ngờ và quá nhanh chóng khiến Slaney chưa kịp phản ứng gì.

Hắn nhìn chúng tôi bằng đôi mắt giận dữ rồi cất lên một tràng cười chua chát:

- Thế là tôi rơi vào bẫy của các ông.

Nhưng các ông hãy nghe đây, tôi đến đây là vì lá thư của bà Hilton Cubitt.

Các ông đừng nói với tôi là bà ấy tiếp tay với các ông để làm ra cái bẫy này.

- Bà Hilton Cubitt bị thương rất nặng, có thể nguy đến tính mạng.

Tiếng thét rùng rợn của Slaney vang dội khắp cả ngôi nhà:

- Ai đã làm cho Elsie bé nhỏ của tôi bị thương?

Tôi có đe dọa nàng.

Nhưng không bao giờ tôi đụng đến một sợi tóc xinh đẹp của nàng!

Các ông hãy thú thật rằng nàng không bị thương?

- Người ta đã thấy bà bị thương rất nặng bên cạnh tử thi của chồng bà.

Tên tội phạm rơi xuống ghế tràng kỷ, vừa rên vừa đưa hai bàn tay bị còng lên ôm lấy đầu, im lặng trong năm phút.

Rồi hắn ngẩng đầu lên, gương mặt đượm một vẻ tuyệt vọng, lạnh lùng:

- Nếu tôi có bắn vào người đàn ông thì hắn cũng có bắn vào tôi, vậy không có vấn đề ám sát.

Nhưng nếu các ông nghĩ rằng tôi đã bắn vào người đàn bà, thì rõ ràng các ông không hiểu tôi, cũng như không hiểu nàng.

Tôi xin thề với các ông rằng trên thế giới này không có tình yêu nào mãnh liệt hơn tình yêu của tôi đối với nàng!

Trước đây, nàng đã hứa hôn với tôi.

Tên người Anh kia là ai?

Tại sao hắn lại chen vào giữa nàng và tôi?

Chỉ có tôi mới có quyền hạn đầu tiên đối với nàng, và tôi đến đây là chỉ để đòi lại người yêu của tôi thôi.

- Bà ấy đã trốn ông, khi bà ấy biết ông là hạng người như thế nào.

- Holmes nói bằng một giọng nghiêm khắc.

- Bà ấy đã trốn khỏi nước Mỹ, để không gặp ông nữa, và bà ấy đã kết hôn tại nước Anh, với một người đàn ông lương thiện.

Ông đã tìm ra được dấu vết của bà ấy, bắt bà ấy đi theo ông.

Hành động của ông đã đưa đến cái chết cho một người đàn ông cao quý và làm cho vợ ông ta phải tự sát.

Ông Abe Slaney, ông sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật!

- Nếu Elsie chết, tôi cóc cần những gì ở trên đời này nữa!

Abe Slaney đáp, vừa mở lòng bàn tay ra để cho chúng thấy một miếng giấy nhàu nhỏ đang nằm trong đó.

- Các ông hãy nhìn xem cái này!

- Hắn kêu lên, đôi mắt thoáng hiện một vẻ nghi ngờ - Các ông không làm cho tôi sợ đâu, các ông biết chứ!

Nếu Elsie đang ở trong tình trạng như các ông vừa nói thì ai đã viết thư này?

Hắn ném miếng giấy lên bàn.

- Tôi.

Chính tôi đã viết bức thư đó - Holmes đáp.

- Ông ư?

Trên thế giới không có ai ngoài băng chúng tôi biết được bí mật của những hình nhân nhảy múa.

Làm sao ông viết được lá thư này?

- Những gì một người đã phát minh ra được thì một người khác cũng có thể khám phá ra được.

- Holmes đáp - Đây là một chiếc xe sẽ đưa ông đến Norwich, ông Slaney.

Nhưng trước đó, ông còn có đủ thì giờ để sửa chữa phần nào tội lỗi mà ông đã làm.

Ông có biết rằng bà Hilton Cubitt đang bị nghi ngờ đã ám sát chồng bà không.

Nếu tôi không có ở đây, nếu tôi không may mắn tìm ra được điều bí mật của ông, bà ấy sẽ bị buộc vào tội sát nhân.

Điều tối thiểu mà ông có thể làm được cho bà ấy là xác minh bà ấy không có trách nhiệm gì cả, trực tiếp hay gián tiếp, về cái chết bi thảm này.

- Tôi không đòi hỏi gì hớn.

- Slaney đáp - Hơn nữa, sự thật hoàn toàn sẽ là lời biện hộ tốt nhất cho tôi.

- Tôi có bổn phận báo trước cho ông biết rằng những điều mà ông sẽ nói có thể được sử dụng để buộc tội ông!

- Thanh tra cảnh sát Martin kêu lên.

Slaney nhún vai:

- Vì nàng, tôi bất chấp tất cả.

Tôi với cô ấy quen biết nhau từ thuở nhỏ.

Lúc ấy, chúng tôi gồm có người trong một băng ở Chicago; ông già nàng là đại ca của chúng tôi.

Ông già Patrick là một người thông minh!

Chính ông ấy đã phát minh ra lối chữ viết bí mật này, một lối chữ viết mà mới nhìn qua, người ta cứ tưởng là một trò chơi trẻ con.

Elsie có biết vài phương pháp làm việc của chúng tôi, nhưng nàng không thể cùng đi với chúng tôi được.

Nàng có một bản chất lương thiện nên nàng chống lại lối sống bất lương của chúng tôi.

Vì vậy, nàng đã rời bỏ chúng tôi và đến London.

Nàng là người yêu bé nhỏ của tôi và được hứa gả cho tôi.

Tôi tin rằng sẽ làm cho nàng thay đổi ý nghĩ nếu tôi chuyển qua nghề khác.

Nhưng nàng vẫn lẩn tránh tôi.

Chỉ sau khi nàng kết hôn với tên người Anh này, tôi mới biết nàng đang ở đâu.

Tôi đã viết thư cho nàng, nhưng nàng không trả lời.

Sau đó, tôi đến đây, và khi những lá thư đã trở nên vô ích, tôi đã đặt những thông báo này ở những nơi nàng có thể đọc thấy.

Tôi ở vùng này đã được một tháng.

Tôi thuê một căn phòng ở tầng một của nông trại Elrige, nơi tôi có thể ra vào hàng đêm mà không ai trông thấy, cũng không ai hay biết.

Tôi đã làm đủ mọi cách để thúc đẩy Elsie ra đi với tôi.

Tôi biết nàng có đọc những lời nhắn của tôi, bởi vì có một lần nàng đã ghi câu trả lời "Không bao giờ" ở bên dưới.

Cơn tức giận nổi lên, tôi bắt đầu đe dọa nàng.

Nàng bèn gửi cho tôi một lá thư năn nỉ tôi, yêu cầu tôi rời khỏi vùng này, bảo rằng nàng sẽ vô cùng đau đớn nếu danh dự của chồng nàng bị ô uế vì một vụ tai tiếng.

Nàng bảo rằng nàng sẽ xuống dưới nhà vào lúc 3 giờ sáng, khi chồng nàng ngủ say, và sẽ nói chuyện với tôi đằng sau chiếc cửa sổ, nếu tôi hứa sau đó sẽ ra đi.

Nàng đã đến đúng hẹn, đứng đằng sau cánh cửa sổ và mang theo một túi tiền.

Nàng muốn dùng tiền bạc để buộc tôi phải ra đi.

Điều này đã làm cho tôi nổi điên lên.

Tôi liền nắm lấy tay nàng, gắng hết sức kéo nàng ra ngoài cửa sổ.

Đúng lúc đó, chồng nàng từ trên lầu chạy xuống, tay cầm súng lục.

Elsie đã ngã xuống sàn nhà, chỉ còn lại hai chúng tôi đối diện với nhau.

Tôi rút khẩu súng của tôi ra với ý định làm cho ông ta phải để cho tôi chạy thoát.

Nhưng ông ta đã nổ súng.

Tôi liền bắn trả lại gần như cùng một lúc.

Ông ta ngã gục xuống và tôi bỏ chạy băng qua khu vườn.

Tôi nghe có tiếng cửa sổ đóng lại phía sau tôi.

Thưa các ông, đó là sự thật hoàn toàn và tôi không biết gì hơn nữa, ngoại trừ sau đó có một cậu bé cưỡi ngựa đến nông trại trao cho tôi bức thư bảo tôi đến đây.

Và tôi đã rơi vào tay các ông, như một thằng ngốc.

Một chiếc xe đã đến cùng với hai cảnh sát vận sắc phục, trong khi Slaney thuật lại câu chuyện.

Viên thanh tra đứng lên, nói với kẻ phạm tội.

- Nào, chúng ta hãy đi.

Đã đến giờ rồi.

- Tôi có thể gặp nàng một chút được không?

- Không.

Bà ấy hiện đang hôn mê.

Thưa ông Sherlock Holmes, nếu trong tương lai tôi có một vụ quan trọng nào khác phải điều tra, tôi sẽ rất sung sướng được có ông ở bên cạnh!

Đứng trong khung cửa sổ, chúng tôi nhìn theo chiếc xe mỗi lúc một xa dần.

Khi quay đầu lại, tôi trông thấy miếng giấy nhỏ mà Slaney đã ném lên bàn lúc nãy.

Đó là bức thư mà Holmes đã gởi cho anh ta.

- Anh hãy thử đọc nó đi, Watson!

- Holmes mỉm cười nói với tôi.

Bức thư chỉ có một hàng hình nhân nhảy múa:

- Nếu bạn sử dụng cái chìa khóa những ký hiệu mà tôi đã giải thích với bạn, - Holmes nói tiếp, - bạn sẽ thấy câu này có nghĩa là "Come here at once".

Tôi tin chắc hắn ta không thể từ chối lời kêu gọi này, bởi vì hắn không thể nghi ngờ câu này do một người nào khác viết, ngoài người phụ nữ đó.

Và thế là chúng ta đã biến những con người nhảy múa, trước kia phục vụ cho tội ác, nay trở thành những kẻ phục vụ cho luật pháp.

Chuyến xe lửa sẽ khởi hành lúc 3 giờ 40.

Tôi muốn ăn tối tại nhà mình.

Vụ này thế là đã được Holmes giải quyết một cách tài tình.

Tưởng cũng nên biết số phận của hai kẻ còn sống sót trong tấn bị kịch: Abe Slaney bị tòa đại hình Norwich kết án tử hình, nhưng sau đó được giảm xuống thành khổ sai chung thân, bởi vì Hilton Cubitt bắn trước.

Về phần bà Hilton Cubitt, bà đã được cứu sống, và sau một thời gian thì bình phục.

Bà không tái giá, hiến dâng đời mình cho những công cuộc từ thiện, và chăm lo quản trị gia sản của chồng.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D4 Cô gái đi xe đạp


CÔ GÁI ĐI XE ĐẠP

THE ADVENTURE OF THE SOLITARY CYCLIST (1903)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Chúng tôi đã làm quen với cô Violet Smith vào ngày thứ Bảy, ngày 23-4-1895.

Chuyến tới thăm của cô đã làm cho Holmes phật ý, bởi vì vào lúc đó anh đang bị ngập trong một vấn đề rắc rối của vụ John Vincent Harden, nhà triệu phú thuốc lá nổi tiếng.

Anh luôn muốn tập trung giải quyết vụ án, không bị xao lãng bởi những việc khác.

Nhưng cô gái cho biết chỉ có vũ lực mới có thể đuổi cô ra khỏi căn hộ chúng tôi, trước khi cô nói ra tất cả.

Holmes đành mời cô ta ngồi xuồng.

- Cô tới đây không phải vì vấn đề thuộc về sức khỏe.

Một người đi xe đạp như cô hẳn phải có thừa sức mạnh.

Ngạc nhiên, cô kiểm tra lại thân mình từ đầu đến chân.

- Tôi thấy chỗ sần sùi nhẹ ở một gót chân, gây ra bởi sự chà sát với bàn đạp.

- Vâng, tôi đi xe đạp nhiều, và điều này có liên quan tới việc đã đưa tôi tới gặp ngài ngày hôm nay.

Bạn tôi nắm lấy bàn tay đã tháo bao tay của cô gái và quan sát nó với vẻ chăm chú.

- Cô tha lỗi cho.

Nhưng đó là điều thuộc phạm vi công việc của tôi - Anh nói, buông bàn tay cô ra - Suýt nữa thì tôi lầm cô với một thư ký.

Cô không đánh máy, cô là nhạc sĩ.

Anh thấy chứ, Watson, đầu ngón tay giống như cái bay?

Đó là một nét chung cho tất cả mọi nghề.

Nhưng lại có tính tinh thần - Anh nói thêm khi dịu dàng nâng bàn tay về phía có ánh sáng - Tiểu thư đây là một nhạc sĩ.

- Vâng, thưa ông Holmes.

Tôi là cô giáo dạy nhạc...

- ...Ở nông thôn, xét theo nước da mặt cô.

- Vâng, ở gần Farnham, hạt Surrey.

- Một vùng tuyệt đẹp và lý thú.

Anh còn nhớ chứ, Watson?

Nhưng, thưa cô Violet, chuyện gì đã xảy ra?

- Cha tôi đã mất.

Tên ông là James Smith, nhạc trưởng của nhà hát Imperial cổ xưa.

Mẹ tôi và tôi không có một bà con thân thuộc nào còn sống, ngoại trừ chú tôi, ông Ralph Smith, là người bỏ sang châu Phi 25 năm trước và từ đó bặt tin.

Khì cha tôi mất, chúng tôi rất nghèo khó.

Nhưng một bữa, người ta báo cho chúng tôi biết là có một lời nhắn tin, đăng trên tờ Times, tìm địa chỉ của chúng tôi.

Chúng tôi vội vã đến ngay văn phòng luật sư được đăng trong lời nhắn tin.

Ở đó, chúng tôi gặp lại ông Carruthers và ông Woodley là hai người vừa từ Nam Phi trở về.

Họ bảo rằng chú tôi là bạn họ, ông đã chết vài tháng trước đó trong cảnh nghèo khó và trước phút lâm chung, ông có yêu cầu họ tìm kiếm những người bà con, xem họ có túng bấn không.

Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên là ông chú đó, trong lúc còn sống, chẳng bao giờ quan tâm tới chúng tôi nay sao lại ân cần đến thế, ông Carruthers giải thích rằng chú tôi chỉ mới hay tin về cái chết của ông anh và rằng chú ấy cảm thấy có bổn phận đối với mẹ con tôi.

- Xin lỗi - Holmes ngắt lời - Cuộc nói chuyện đó xảy ra từ bao giờ?

- Từ tháng 12 năm ngoái.

Cách nay 4 tháng.

- Xin vui lòng kể tiếp.

- Ông Woodley cho chúng tôi cái cảm tưởng về một nhân vật xấu.

Ông ta luôn luôn nháy mắt với tôi...

Đó là một người trẻ tuổi, bộ mặt phì nộn có một hàng ria màu đỏ, mái tóc ép sát, chải một đường ngôi ngay chính giữa.

Tôi dám nói là anh Cyril chẳng ưa gì khi thấy tôi gặp ông ta.

- Ờ, thế ra ý trung nhân của cô tên là Cyril - Holmes cười, nói.

Thiếu nữ đỏ mặt, rồi bắt đầu cười.

- Vâng, Cyril Morton, kỹ sư điện.

Chúng tôi sẽ làm lễ thành hôn vào cuối mùa hè.

Ông Woodley là một người gây ác cảm một cách thảm hại, nhưng ông Carruthers thì dễ ưa hơn.

Ông ta lớn tuổi hơn, tóc nâu, không để râu và rất kín đáo.

Ông ta có những thái độ lịch sự và một nụ cười dễ thương.

Ông ta hỏi về cuộc sống của chúng tôi, mời tôi dạy nhạc cho cô con gái của ông.

Tôi trả lời là tôi không muốn xa mẹ tôi.

Ông nói rằng tôi có thể trở về nhà vào cuối tuần.

Ông đề nghị thù lao hàng năm là một trăm đồng bảng.

Tôi đồng ý và tới nhà ông ta, ở Chiltern Grange, cách Farnham chừng 6 dặm.

Ông Carruthers góa vợ, nhưng có một bà quản gia luống tuổi là bà Dixon, coi sóc công việc trong nhà.

Con gái ông thật duyên dáng.

Ông rất yêu âm nhạc.

Mỗi cuối tuần, tôi đều về thăm mẹ.

Nhưng rồi gã Woodley ria đỏ tới sống với ông trong một tuần.

Tuần đó đối với tôi dài như ba tháng.

Hắn tán tỉnh tôi, khoe khoang của cải, bảo rằng nếu tôi ưng lấy hắn, thì tôi sẽ có những viên kim cương đẹp nhất London.

Sau cùng, khi nghe trả lời rằng tôi không muốn có quan hệ gì với hắn thì hắn đã ôm chặt lấy tôi, thề sẽ không buông ra chừng nào tôi chưa hôn hắn.

Lúc đó, ông chủ tôi vào phòng và giật tôi ra khỏi vòng tay con quỷ đó.

Gã lưu manh quay lại xô chủ nhà ngã xuống và đánh ông bị thương.

Ngày hôm sau, ông Carruthers tới ngỏ lời xin lỗi tôi và hứa rằng sẽ không bao giờ để xảy ra chuyện tương tự như vậy.

Kể từ đó, tôi không còn gặp lại con quỷ ấy nữa.

Thưa ông Holmes, tuần nào cũng vậy, trưa thứ Bảy tôi đạp xe về tới nhà ga Farnham để đáp chuyến tàu 12 giờ 22 đi London.

Từ Chiltern Grange đến Farnham có đoạn đường khoảng 1 dặm là trảng cỏ, nằm giữa cánh rừng vây bọc lâu đài Charlington.

Không thể nào tìm thấy ở bất cứ nơi đâu một khúc đường hoang vu hơn nơi này.

Không có một ai ở xung quanh đó cho đến đoạn đồi Crooksbury.

Hai tuần trước, khi qua đó, lúc tình cờ quay đầu lại, tôi thấy đi xe đạp ở cách sau tôi chừng 200 yard.

Đó là một người đàn ông trung niên và có râu ngắn.

Tôi quay nhìn trở lại trước khi tới Farnham, nhưng người đó đã biến mất.

Khi đi làm vào ngày thứ Hai, tôi lại thấy người đi xe đạp đó trên cùng đoạn đường ấy.

Tuần vừa qua, tôi còn ngạc nhiên hơn nữa vì tôi lại thấy người đó vào trưa thứ Bảy và sáng thứ Hai.

Chắc chắn là ông ta luôn luôn đạp sau tôi một khoảng cách nào đó.

Thật là kỳ lạ!

Tôi kể chuyện cho ông Carruthers nghe, ông tỏ ra quan tâm và sau đó bảo tôi rằng ông đã đặt mua một con ngựa và một cỗ xe độc mã nhẹ, để sau đó, tôi không còn đi trên những con đường hoang vắng mà không có người đi theo.

Lẽ ra con ngựa và cỗ xe phải có trong tuần này rồi nhưng không rõ lý do gì mà hàng lại chưa được giao và tôi vẫn phải đạp xe đi tới nhà ga.

Sáng hôm nay, khi tới ngang đoạn có cái khoảng trống, người đi xe đạp đã có mặt!

Ông ta đứng cách tôi một khoảng khá xa, khiến tôi không thể nào phân biệt được rõ nét mặt ông ta.

Nhưng tôi tin chắc đó là một người mà tôi chưa từng quen biết.

Ông ta mặc đồ đen, đội mũ cát bằng da.

Cái tôi trông thấy duy nhất là bộ râu đen của ông ta.

Ngày hôm nay tôi không sợ hãi và bị óc tò mò thôi thúc.

Tôi đạp chậm, ông ta cũng đạp chậm.

Tôi ngừng lại, ông ta cũng ngừng lại.

Tới một khúc quanh trên đường thình lình tôi đạp hết tốc lực, rồi ngay khi vừa qua khúc đường cong, tôi phanh gấp, xuống xe và chờ đợi.

Nhưng ông ta không xuất hiện.

Tôi quay trở lại và nhìn sang phía bên kia khúc quanh.

Trải ra trước mắt tôi, trên 1 dặm đường, nhưng chẳng thấy ông ta đâu.

Điều kỳ lạ hơn hết, chính là không có con đường phụ nào để ông ta trốn vào đó...

Holmes cười rúc rích và xoa hai bàn tay vào nhau.

- Thú vị thật!

Từ lúc cô đi tới khúc quanh và lúc đứng nhìn con đường hoang vắng chừng mấy phút?

- Hai hoặc ba phút.

- Vậy thì người đó không thể bỏ trốn trên đường mà lại không bị trông thấy.

Cô tin chắc rằng không có con đường phụ nào, không có chỗ rẽ nào?

- Chắc chắn như vậy.

- Vậy thì người đó đã theo một lối mòn ở bên phải hoặc bên trái con đường.

- Chắc chắn không lên phía trảng cỏ, tôi ắt hẳn đã phải trông thấy ông ta.

- Vậy thì theo phép loại suy, chúng ta đi tới kết luận là ông ta đã đi về hướng lâu đài Charlington nằm bên trong một thửa đất biệt lập ở phía bên kia con đường.

Không có gì khác nữa chứ?

- Không.

Holmes giữ im lặng trong chốc lát.

- Vị hôn phu của cô ở đâu?

- Anh ấy làm việc tại Midland Electrical Company ở Coventry.

- Ngẫu nhiên, có lần nào anh ấy tới thăm cô bất ngờ không?

- Ồ, nếu có, thì tôi phải nhận ra anh ấy chứ!

- Trước đó có nhiều người "để ý" tới cô không?

- Trước khi tôi quen với Cyril, thì có.

- Và từ đó đến nay?

- Chỉ có cái con người thô bỉ nọ.

- Không ai khác nữa sao?

Cô gái lúng túng.

- Ai?

- Holmes hỏi.

- Ồ, có thể là tôi hình dung ra những điều... không có thật.

Dường như là...

ông chủ tôi.

Ông ấy quan tâm nhiều tới tôi.

Buổi tối, tôi chơi đàn và tôi đệm cho ông ấy.

Ông ấy không bao giờ thổ lộ điều gì.

Nhưng đàn bà luôn đoán thấy...

- A!

- Holmes nói với một vẻ mặt nghiêm trọng - Ông ta làm gì để mưu sinh?

- Ông ấy rất giàu có.

- Không xe không ngựa mà?

- Ít ra ông ta cũng sung túc.

Mỗi tuần, ông ấy đi London hai hoặc ba lần, ông quan tâm nhiều tới những cổ phần mỏ vàng ở Nam Phi.

- Cô cứ cho tôi biết rõ tất cả những yếu tố mới trong việc của cô.

Lúc này, tôi rất bận, nhưng tôi vẫn cố gắng giúp cô.

Trong khi chờ đợi, muốn làm điều gì, cô cần báo cho tôi biết trước.

Xin chào, thưa cô.

Khi cô ta đi rồi, Holmes bập từng hơi dài trên cái tẩu thuốc suy tư của mình.

- Một cô gái xinh đẹp như vậy tất phải có nhiều người theo đuổi.

Nhưng tại sao người ấy chỉ theo đuổi trên một đoạn đường hoang vắng.

Đây hẳn là một mối tình thầm lặng.

- Điều kỳ lạ chính ở chỗ người theo đuổi lại chỉ xuất hiện trên một đoạn đường duy nhất.

- Chính thế.

Chúng ta phải tìm hiểu xem ai ở trong tòa nhà Charlington, quyền lợi nào để kết hợp Carruthers với Woodley, bởi vì hai người đó khác nhau như hai thái cực.

Cũng cần khám phá xem vì sao họ tỏ ra quá chăm chú đến cô gái.

Và còn điều này nữa, làm sao người ta dám trả cho một cô giáo dạy nhạc gấp đôi số thù lao bình thường, mà người đó lại không có xe, cũng không có ngựa, trong lúc nhà hắn cách nhà ga tới 6 dặm!

Kỳ cục.

Rất kỳ cục!

- Anh đi tới đó chăng?

- Không phải tôi, mà là anh.

Rất có thể đây chỉ là một mối tình đầu thầm vụng, chẳng có tầm lợi ích nào, mà tôi thì đang dở dang công việc.

Thứ Hai, anh sẽ tới Farnham rất sớm, nấp gần bên cái trảng, đích thân quan sát và anh sẽ hành động theo ý anh.

Sau khi đã thu lượm tin tức về những người ở tòa nhà Charlington, anh sẽ trở về nói cho tôi biết.

Sáng thứ Hai cô gái sẽ trở về bằng chuyến tàu rời Waterloo vào lúc 9 giờ 50.

Vậy là tôi đáp chuyến tàu 9 giờ 13.

Xuống ga Farnham, tôi đi tới trảng cỏ, con đường ngoằn ngoèo trên cái trảng rất quang đãng và một hàng rào những cây thông vây quanh một công viên tuyệt đẹp.

Có một lối vào chính bằng đá, hai cây cột được đặt trên những biểu tượng huy hiệu đã xơ xác.

Ngoài cái cổng cho xe ra vào này, tôi quan sát thấy nhiều chỗ trống giữa hàng rào từ đó mở ra nhiều lối mòn.

Từ đường nhìn xuống thì không thấy ngôi nhà, nhưng dãy nhà phụ thì đã bị đổ nát.

Cái trảng phủ đầy những bụi kim tước nở hoa rực rỡ dưới nắng sớm.

Tôi đứng sau một bụi cây, từ đó, tôi có thể canh chừng cái cổng và một dải đường dài cả hai bên.

Con đường hoang vắng.

Nhưng một lát sau, tôi thấy một người đi xe đạp đến từ đường đối nghịch với đường mà tôi đã tới.

Người đó mặc đồ đen, bộ râu đen.

Khi ông ta tới đầu khu đất nhà Charlington thì xuống xe và dắt xe chui qua một lỗ hổng ở hàng rào, tôi không còn thấy ông ta nữa.

Khoản 15 phút sau, một xe đạp khác hiện ra.

Cô gái đến từ hướng nhà ga.

Khi tới gần hàng rào, cô ngó nhìn chung quanh.

Một lát sau, người đàn ông ló ra khỏi chỗ ẩn nấp, nhảy lên xe đạp và bám theo cô gái.

Trong cái phong cảnh mênh mông, chỉ có hai bóng người chuyển động.

Cô thiếu nữ ngồi thẳng trên xe và gã đàn ông đằng sau cô, còng lưng trên tay lái xe và mỗi cú nhấn lên bàn đạp có một cái gì lén lút.

Thình lình cô gái quay ngược lại.

Cô giảm bớt tốc độ.

Người đàn ông chạy chậm.

Cô ngừng lại, ông nọ cũng ngừng lại.

Lúc đó cô gái quay ngược xe lại và đâm thẳng vào ông ta.

Người đàn ông cũng nhanh nhẹn như cô và bỏ chạy hết tốc lực.

Ngay sau đó, cô lại ngược lên con đường, đầu ngẩng cao, chẳng còn bận tâm tới con người thầm lặng theo dõi cô.

Ông ta cũng quay trở lại, vẫn giữ cùng khoảng cách như trước, và khúc quanh của con đường che khuất hai người...

Tôi nán lại trong chỗ ẩn nấp.

Lát sau, người đàn ông lại hiện ra, ông đạp chậm chạp, đi ngang qua cái cổng rồi nhảy xuống xe, ở giữa những thân cây, bàn tay như đang nắn lại cái cà vạt, rồi lại leo lên xe và bỏ đi qua ngả dẫn đến ngôi nhà.

Tôi chạy qua bên đường và núp vào tấm màn cây.

Đằng xa tôi nhận ra mơ hồ một ngôi nhà cổ xưa màu xám tua tủa những ống khói kiểu cổ.

Lối đi vào băng ngang một lùm cây rậm rạp.

Người đi xe đạp đã mất dạng.

Tôi ra ga Farnham, lòng thanh thản.

Nhà đại diện địa ốc ở địa phương không cho tôi biết một tin tức nào về tòa nhà Charlington và ông ta bảo tôi tới một công ty rất nổi tiếng ở Pall Mall.

Trước khi trở về nhà, tôi ghé qua công ty đó và được nhân viên đón tiếp một cách lịch sự.

Họ nói tôi tới muộn mất một chút, tòa nhà Charlington đã được ông Williamson thuê từ một tháng nay.

Nhân viên cáo lỗi khi không thể cho tôi biết gì nhiều hơn về những công việc của thân chủ không dính dáng gì đến họ.

Sherlock Holmes chăm chú nghe bản báo cáo, không nói một lời khen ngợi nhỏ bé nào.

Trái lại bộ mặt anh càng lúc càng tối sầm lại theo đà câu chuyện kể.

- Lẽ ra anh phải nấp đằng sau hàng giậu, như vậy anh đã thấy rõ cái nhân vật đáng chú ý đó.

Thế nhưng anh lại đứng cách xa người đó cả trăm yard và anh cũng chẳng cho tôi biết gì hơn cô Smith.

Cô gái tưởng người đó xa lạ đối với cô...

Tôi tin chắc rằng cô biết rõ người đó.

Nếu không, tại sao người đó lại cố ý không cho cô xáp tới gần.

Người đó gò mình trên tay lái là để dấu cái mặt của mình!

Anh Watson, anh đã xoay xở một cách thật là tồi.

Lạ chưa!

Người đó đi vào trong tòa nhà Charlington, rồi vì muốn biết người đó là ai, anh đã đi tới gặp một đại lý địa ốc tại London.

- Đúng ra tôi phải làm gì?

- Tôi kêu lên với vẻ bực bội.

- Phải tới quán rượu gần nhất.

Ở đó người ta ba hoa đủ thứ trên đời và người ta kể cho anh biết tất cả những cái tên, từ tên người chủ nhà cho tới tên cô hầu rửa chén.

Williamson!

Cái tên ấy chẳng cho tôi biết gì hết.

Nếu ông ta có tuổi thì ông ta chẳng thể chạy nước rút khi một thiếu nữ đuổi theo ông ta.

Chuyến đi của anh chỉ là sự xác nhận những lời kể của cô gái.

Có một mối liên hệ giữa người đi xe đạp và tòa lâu đài Charlington chăng?

Xem nào, xem nào, đừng có tỏ ý giận dỗi như vậy!

Từ nay đến thứ Bảy, chúng ta sẽ thu nhận được khá hơn, tôi sẽ đích thân mở vài cuộc điều tra nhỏ...

Sáng hôm sau, chúng tôi nhận được thư của cô gái thuật lại vắn tắt những sự việc mà tôi đã chứng kiến.

Nhưng tầm lợi ích của tờ giấy lại trong khoản tái bút.

"Thưa ông Holmes, ông chủ tôi đã ngỏ lời cầu hôn với tôi và ông ấy đã tiếp nhận lời từ chối của tôi với sự đứng đắn và tử tế.

Nhưng tình huống đã hơi căng thẳng".

- Cô gái nhỏ bé của chúng ta đã bị lún trong những làn nước sâu.

- Holmes bình thản nói với vẻ ngẫm nghĩ - Vụ này dám triển khai khác hẳn với dự đoán ban đầu của tôi.

Tôi đi tới đó.

Holmes trở về nhà vào lúc tối khuya với một cái môi bị dập và trên trán có một cục u.

Anh tươi cười:

- Tôi đã tìm thấy cái quán ăn đó, và tới ngồi bên quầy rượu, tay chủ quán bép xép đã cho tất cả những tin tức mà tôi muốn có Williamson là người có bộ râu trắng và ông sống một mình với vài gia nhân trong tòa lâu đài Charlington.

Người ta nói rằng ông ấy đã từng là hoặc đang là mục sư.

Nhưng kể từ khi ông tới đó, một hai việc xảy ra đã khiến cho thiên hạ nghi ngờ cái tính chất thầy tu của ông.

Tôi có dò hỏi ở một tổ chức tăng lữ thì được biết đã có một người mang tên đó được thụ phong, nhưng đã bị lột áo từ lâu.

Ngoài ra, chủ quán còn cho tôi biết, cứ cuối tuần lại có những người khách tới tòa nhà ("những kẻ ham mê, thưa ông") và đặc biệt một ông có bộ ria màu đỏ, sống luôn ở đó.

Chúng tôi đang nói tới khúc quanh thú vị của câu chuyện thì có người tới quầy rượu.

Chính "gã ria đỏ".

Hắn ta uống bia ở phòng trong và đã nghe cuộc đối thoại của chúng tôi.

- Anh là ai?

Anh muốn gì?

Tại sao anh lại đặt những câu hỏi đó.

Gã có một lối nói thật nhanh, văn vẻ, đầy những tính thật kịch liệt.

Gã chấm dứt tràng chửi rủa bằng một cú đánh tạt bằng mu bàn tay mà tôi không né kịp.

Những phút tiếp theo sau đó là "quyền Anh chính thống" chống lại gã tiều phu đánh đấm loạn xạ.

Tôi đã thoát ra như anh thấy đó.

Còn gã Woodley thì phải về nhà bằng xe.

Tối thứ Năm, chúng tôi lại nhận được một lá thư của thân chủ chúng tôi.

"Thưa ông Holmes, tôi đã nghỉ dạy đàn nhà ông Carruthers.

Những số lương cao không bù được cho những phiền muộn.

Thứ Bảy này, tôi sẽ về London luôn.

Sau cùng, ông Carruthers đã có chiếc xe nhỏ nhờ thế mà tôi sẽ bớt gặp nguy hiểm hồi đi đường".

Cái lý do đích thực của sự bỏ việc là sự tái xuất hiện của gã Woodley ấy.

Ông ta vẫn xấu xa đến gớm ghiếc, nhưng giờ đây ông ta còn khủng khiếp hơn nhiều.

Thiên hạ đồn rằng ông ta đã gặp một tai nạn, mặt mày bị làm biến dạng.

Tôi chỉ thoáng thấy ông ta qua thuôn cửa nầy, ở quanh quẩn trong vùng, bởi vì ông ta không ngủ ở đây, ấy thế mà sáng nay tôi nhìn thấy ông ta lẻn vào trong lùm cây.

Tôi sẽ thích hơn nếu như có một con cọp được thả vào trong đó.

Tôi không hiểu vì sao mà một người như ông Carruthers lại có thể chịu đựng nổi hắn một phút?

Tóm lại, mọi nỗi phiền muộn của tôi sẽ chấm dứt vào thứ Bảy này.

- Tôi hy vọng như thế, Watson ạ.

- Holmes nói với vẻ nghiêm trọng - Một rắc rối đang vờn chung quanh cô gái đó, chúng ta không thể để cho ai làm hại cô trong chuyến đi cuối cùng này.

Watson, chúng ta phải có mặt ở đó vào sáng thứ Bảy để có thể ra tay kịp thời.

Cho tới lúc đó, tôi vẫn không coi câu chuyện này là quan trọng.

Đây đâu phải là lần đầu tiên mà một người đàn ông bám theo một thiếu nữ, và nếu người đó không đủ can đảm để ngỏ lời với cô gái, mà cũng chẳng dám xuất hiện trước cô ta thì đó không phải là kẻ đáng sợ.

Tuy nhiên hắn chưa hề dùng bạo lực đối với cô gái, thậm chí hắn đã tới nhà Carruthers mà vẫn không lộ mặt ra để làm phiền cô ta.

Người đàn ông đi xe đạp chắc chắn ở trong thành phần những người say mê "buổi cuối tuần" như lời người chủ quán đã nói.

Nhưng ông ta là ai?

Ông ta muốn gì?

Cái bí mật là ở đó.

Tuy nhiên, sự nghiêm túc trong thái độ của Holmes, cũng như việc anh nhét một khẩu súng vào trong túi trước khi đi Farnham, khiến cho tôi nghĩ rằng có thể một thảm trạng sắp xảy ra.

Đêm qua trời có mưa.

Buổi sớm mai rực rỡ.

Cái trảng dài mút tầm mắt bên một phía đường, rất đẹp, với những bụi kim ngân đang nở rộ hoa.

Holmes và tôi vừa đi vừa hít sâu những ngụm lớn không khí trong lành.

Trên một sườn đồi cao, nổi lên giữa đám cây sồi là một tòa nhà.

Holmes chỉ tay về con đường đất màu đỏ, chạy ngoằn ngoèo giữa cái trảng màu nâu và cánh rừng màu xanh.

Từ xa, một vết đen hiện ra, một cỗ xe chạy về hướng chúng tôi, Holmes thốt ra một tiếng reo sốt ruột:

- Nếu đó là cỗ xe độc mã nhẹ, thì cô gái hẳn đã đáp một chuyến tàu sớm hơn.

Watson, tôi e rằng cô ấy đã vượt qua cái góc nguy hiểm trước khi chúng ta gặp cô.

Trong lúc leo lên triền dốc, chúng tôi không còn trông thấy cỗ xe ở mé dưới, nhưng chúng tôi tiến bước rất nhanh.

Tôi đã bị tụt lại đằng sau Holmes.

Anh đã bỏ xa tôi khoảng 100 yard khi anh chợt đứng sững lại, vung nắm đấm lên trong một cử chỉ đau đớn và tuyệt vọng.

Cùng lúc đó hiện ra một cỗ xe độc mã trống rỗng do một con ngựa chạy nước kiệu, với những dây cương kéo lê dưới đất, đi ra khúc quanh và chạy nhanh về phía chúng tôi.

- Muộn quá!

Muộn mất rồi!

- Holmes kêu lên khi hổn hển bước tới bên tôi - Tôi đã không đi chuyến tàu trước.

Đây là một vụ bắt cóc!

Một vụ giết người!

Chặn đường!

Ghìm ngựa lại!

Nhảy lên!

Holmes cho ngựa quay đầu lại, bồi cho nó một cú roi thật mạnh và chúng tôi lao trên đường.

Khi ra khỏi khúc quanh, khoảng giữa tòa nhà và cái trảng dài trước mặt chúng tôi, tôi nắm lấy cánh tay Holmes la lớn.

- Người đó kìa!

Một người đi xe đạp chạy về hướng chúng tôi như một tay đua.

Bất chợt ông ngửng bộ mặt nhiều râu lên, và cặp mắt long lanh, nhìn chúng tôi chằm chặp.

- Hãy dừng lại!

- Ông ta kêu lên khi đặt ngang cái xe đạp như muốn chặn đường chúng tôi - Hãy ngừng lại!

- Ông ta hét lên khi rút trong túi ra một khẩu súng lục - Hãy ngừng lại!

Nếu không, tôi sẽ bắn chết con ngựa!

Holmes quăng dây cương cho tôi, nhảy xuống xe, hỏi ngay:

- Cô Violet Smith đâu?

- Ông đang ở trong cỗ xe của cô ấy ông hẳn phải biết cô ấy đang ở đâu.

- Người có râu trả lời.

- Chúng tôi đã gặp chiếc xe này trên đường đi.

Không có ai trên đó cả.

Chúng tôi đã quay lại để tìm cách giúp cô ấy.

- Làm sao bây giờ?

- Người lạ kêu lên với vẻ tuyệt vọng.

- Chúng bắt cô ấy, cái tên cướp Woodley và con người đê tiện kia?

Lại đây ông bạn, lại đây!

Chúng ta sẽ đi cứu cô ấy.

Như một con thú bị hoảng hốt, ông ta chạy vùn vụt tới một lỗ hổng trong hàng giậu.

Holmes theo sau ông và tôi theo sau Holmes.

- Chúng đã đi qua lối này.

- ông nói, tay chỉ vào dấu của những bàn chân in trên con đường mòn lầy.

Ô, ô!

Hãy dừng lại!

Ai ở trong bụi cây này?

Một chàng trai trạc 17 tuổi, ăn vận như một cậu giữ ngựa với quần đùi bằng da và chân đi ghệt, nằm co gập lại, trên đầu có một vết chém.

Cậu ta bị ngất đi, nhưng còn sống.

Tôi xem xét vết thương, cú chém chưa chạm tới xương.

- Đây là Peter.

Chú ấy đưa cô ấy ra ga.

Những tên cướp này đã chặn xe lại và đã đánh cậu ấy.

Hãy để cậu ấy ở đây.

Vết thương nhẹ, không sao đâu.

Cần phải cứu cô ấy.

- râu đen nói.

Chúng tôi vội chạy xuống con đường mòn ngoằn ngoèo giữa những thân cây, khi đã tới lùm cây bao quanh ngôi nhà thì Holmes ngăn chúng tôi lại.

- Họ không vào nhà.

Những dấu chân của họ quay sang hướng trái...

Ở đây, bên cạnh những cây nguyệt quế.

Trong khi anh nói, tiếng kêu xé tai của một phụ nữ thoát ra từ một khu rừng trước mặt chúng tôi.

Tiếng kêu bị làm cho tắt đột ngột.

- Qua ngả này.

Qua ngả này.

Bọn chúng đang ở trong sân.

- Người lạ kêu lên khi xông vào những lùm cây.

- Quân chó má!

Bọn hèn mạt!

Hãy theo tôi.

Quý ông!

Muộn mất rồi!

Mẹ kiếp!

Chúng tôi đột ngột nhập vào một khoảng rừng trống.

Ở đầu đằng kia, dưới bóng một cây sồi già, có ba người đang tụ lại.

Một thiếu nữ tái mét, miệng bị một tấm khăn bịt kín.

Trước mặt cô là một gã côn đồ có hàm ria đỏ, hai chân đứng xoạc cẳng, một tay chống nạnh, tay kia vung vẩy một cái roi ngựa.

Đứng giữa hai người là một ông già râu xám, có choàng một cái áo lễ, chắc chắn là vừa làm xong nghi lễ kết hôn, bởi vì khi chúng tôi tới thì ông ta nhét cuốn kinh Thánh vào trong túi; ông vỗ tay nhiều lần thật mạnh lên lưng chàng rể.

- Họ đã được làm lễ cưới - Tôi ấp úng.

- Lại đây!

- Người hướng dẫn chúng tôi kêu lên - Các ông hãy lại đây!

Ông ta nhào vào trong chỗ rừng thưa, Holmes và tôi bám theo sát gót.

Cô gái lảo đảo vào thân cây, tìm một chỗ dựa.

Mục sư Williamson cúi chào chúng tôi với thái độ mỉa mai và Woodley tiến lên phía trước, buông ra một tràng cười hớn hở.

- Đằng ấy có thể gỡ bộ râu ra, Bob.

Tớ nhận ra đằng ấy.

Đằng ấy và mấy bồ của đằng ấy đến đúng lúc để tớ giới thiệu bà vợ tớ.

Câu trả lời của người hướng dẫn thật là kỳ lạ.

Ông gỡ bộ râu đen ra, ném nó xuống đất, chĩa khẩu súng vào tên cướp trẻ vừa bước lại gần ông vừa vung vẩy cây roi.

- Phải.

Ta là Bob Carruthers.

Mi thừa biết là ta sẽ làm gì nếu mi ngược đãi cô ấy.

- Muộn mất rồi, Bob.

Cô ấy đã là vợ tôi.

- Không, cô ấy là vợ góa của mi!

Ông nổ súng một vết máu hiện ra trên áo gilet của Woodley.

Hắn xoay tròn người, thốt ra một tiếng kêu và té bật ngửa xuống, mặt tái xanh.

Ông mục sư tuôn ra một tràng chửi rủa thô tục và rút ra một khẩu súng lục, nhưng nòng súng của Holmes nằm trên gáy ông ta, trước đó một phần trăm giây.

- Đủ rồi - Holmes nói, giọng lạnh lùng - Hãy buông súng xuống.

Phiền anh Watson lượm nó lên!

Và dí sát đầu lão.

Cám ơn ông Carruthers, hãy đưa khẩu súng cho tôi.

Coi nào, hãy đưa đây!

- Ông là ai?

- Tôi là Sherlock Holmes.

- Chúa ơi!

- Tôi đại diện cho cảnh sát tới lúc họ đến đây.

Lại gần đây, anh kia...

Holmes gọi một người sai vặt ngơ ngác vừa ló đầu ra bên bờ khu rừng thưa.

- Hãy lại đây.

Hãy phi nước đại mà đem tờ giấy này tới Farnham.

Anh viết nguệch ngoạc vài chữ trên một tờ giấy xé trong cuốn sổ tay ra.

- Chú hãy đưa tờ giấy này cho một sĩ quan ở ty cảnh sát, tôi phải giữ quý khách này cho tới khi cảnh sát đến.

Williamson và Carruthers khiêng Woodley vào trong nhà.

Tôi đến đỡ cô gái đang kinh hoàng, rồi đến khám cho tên ria đỏ.

- Y sẽ sống!

- Thế nào - Carruthers kêu lên, nhảy ra khỏi ghế - Tôi lên gác kết liễu mạng sống của nó để cô thiếu nữ này, vị thiên thần này, khỏi bị ràng buộc suốt đời với tên vô lại.

- Không bao giờ cô ấy là vợ của Woodley.

Trước hết Williamson tiến hành một lễ cưới "không hợp lệ".

- Tôi đã được thụ phong - "Mục sư" kêu lên.

- Nhưng sau đó, ông đã hoàn tục...

- Một ngày làm mục sư, trọn đời là mục sư.

- Không ai nghĩ như thế.

Lại còn giấy phép?

- Nó hiện đang ở trong túi tôi.

- Vậy là ông đã xoay ra một tờ giấy giả.

Dầu sao đi nữa, một cuộc hôn nhân mà bị cưỡng ép thì không là một cuộc hôn nhân.

Đây là một hành vi phản bội rất nghiêm trọng như ông sẽ thấy.

Ông sẽ có thời gian để suy tư về việc đó trong 10 năm, nếu như tôi nhớ đúng.

Về phần ông, ông Carruthers, ông nên giữ yên khẩu súng ở trong túi.

- Tôi bắt đầu tin như vậy, thưa ông Holmes.

Nhưng tôi yêu cô ấy.

Đây là lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng tôi biết thế nào là tình yêu...

Tôi trở nên điên cuồng trước ý nghĩ là cô bị rơi vào tay tên vô lại nhất Nam Phi, kẻ bại hoại nhất từ Kimberley đến Johannesburg.

Kể từ khi cô gái này vào giúp việc cho tôi thì tôi đã không dám để cô đi ngang ngôi nhà, nơi tôi biết hai tên cướp này đang trú ẩn.

Tôi ngồi xe đạp đi theo để bảo vệ và giữ khoảng cách xa và tôi phải mang râu giả để cô không nhận được ra tôi.

- Nhưng sao ông không báo cho cô ấy biết trước về nỗi nguy hiểm đang đe dọa cô ấy?

- Tôi sợ cô ấy bỏ đi luôn.

Dù cô ấy không yêu tôi, nhưng hàng ngày được nhìn thấy cô ở trong nhà, được nghe giọng nói của cô, thì tôi cũng đã hạnh phúc lắm rồi.

- Ông gọi thứ tình cảm đó là tình yêu à?

Đó là lòng ích kỷ.

- Có thể là cả hai cùng một lúc.

Mặt khác, với tụi vô lại đang ở kế bên, tất nhiên cần có một người bảo vệ trên đoạn đường vắng.

Nhưng tới khi hai bức điện được gửi đi thì tôi biết là tôi buộc phải làm một cái gì đó.

- Bức điện nào?

Carruthers rút trong túi ra một bức điện tín.

- Nó đây!

Bức điện thật ngắn và rõ: "Lão già đã chết".

- Hừm!

- Holmes nói - Giờ đây thì tôi đã rõ mọi việc diễn tiến ra làm sao, vì sao bọn chúng buộc phải ra tay gấp sau khi có bức điện này.

Nhưng trong lúc chờ đợi cảnh sát tới, có thể ông nói cho tôi biết thêm chăng?

Lão thầy tu hoàn tục, vẫn còn khoác áo lễ, la lớn.

- Bob, nếu tố giác, tao sẽ giết mày.

Nếu mày bán đứng bạn bè cho cái tên cớm mặc thường phục này, thì mày có thể đánh dấu cái ngày hôm nay bằng một chữ thập đen.

- Đừng có nổi nóng, thưa ngài mục sư.

Holmes ngắt lời trong lúc mồi một điếu thuốc lá.

- Những điểm liên quan tới ngài đều đã sáng tỏ, tôi chỉ hỏi vài chi tiết để thỏa mãn óc tò mò mà thôi.

Nhưng nếu ngài thấy khó trả lời, thì chính tôi sẽ kể lại câu chuyện.

Thoạt đầu ba người trong bọn mấy người từ Nam Phi về đây để chơi trò vừa rồi.

Ba người là Williamson, Carruthers và Woodley.

- Hãy gạt tên tôi ra!

- Lão già nói - Tôi chỉ quen biết hai người này từ hai tháng nay và chưa bao giờ tôi đặt chân sang Nam Phi cả.

Hãy nhét cái đó vào trong tẩu của ông và hút nó đi, thưa ông bạ-gì-cũng-can-thiệp-vào.

- Gã đã nói sự thật.

- Carruthers xác nhận.

- Các anh đã biết ông Ralph Smith bên Nam Phi.

Và biết ông ta không còn sống được bao lâu nữa.

Các ông đã tìm ra cô cháu gái ông ấy, là người sẽ được thừa hưởng gia tài...

Đúng thế.

Carruthers gật đầu, Williamson chửi thề.

- Cô ấy là bà con gần với ông ta hơn cả, và các anh biết là ông già đó không làm bản chúc thư nào cả.

- Ông ấy không biết đọc mà cũng không biết viết - Carruthers thì thào.

- Thế là hai anh đi tìm người thừa kế gia tài.

Các anh muốn rằng một trong hai người sẽ thành hôn với cô gái đó và người kia cũng sẽ được chia phần.

Tôi không hiểu lý do nào mà Woodley lại được chỉ định làm người chồng.

- Chúng tôi đã đánh bài trong chuyến đi.

- Carruthers nói.

- Ông đã thuê cô gái vào làm công trong nhà và Woodley phải cố tán tỉnh cô.

Nhưng cô gái rất ghét anh ta.

Mặt khác, thỏa hiệp của hai ông lại có phần khập khiễng, do việc ông si tình cô gái.

Ông không thể nào chịu đựng được cái ý nghĩ rằng tên côn đồ kia trở thành chồng cô ta.

- Đúng vậy!

- Đã xảy ra một cuộc cãi vã giữa hai người.

Woodley đã bỏ ông mà đi, và y dàn dựng những kế hoạch nóng mà không cho ông biết.

- Phải.

Từ đó, hễ khi nào có hắn là có tôi.

Hắn đã thu thập được cái tên thầy tu hoàn tục này.

Và tôi biết hai đứa đã thuê căn nhà này, bởi vì nó ở gần con đường mà cô gái phải đi qua để tới nhà ga.

Chính vì thế nên tôi đã canh chừng cô gái.

Ngày hôm kia, Woodley tới thăm tôi với bức điện là Ralph Smith đã qua đời.

Hắn hỏi tôi có còn ý định giữ nguyên lời hứa của bản giao kèo không.

Tôi trả lời: không.

Hắn hỏi tôi có ý định kết hôn với cô gái và chia cho hắn cái phần cướp được không.

Tôi trả lời là cô gái không chịu lấy tôi.

Hắn bảo tôi: Trước hết, phải làm cho cô ta kết hôn, rồi sẽ tính sau.

Tôi nói rằng không ai được dùng bạo lực đối với cô gái.

Hắn bỏ đi, miệng không ngớt chửi thề.

Tôi vội vàng đi lấy xe ngựa để đưa cô ra ga, nhưng vẫn đạp xe theo sau.

Nhưng, cô đã vượt trước tôi và sự bất hạnh đã xảy ra.

Holmes đứng lên, ném tàn thuốc vào lò sưởi.

- Anh Watson, tôi đã thật xuẩn ngốc!

Khi báo cáo, anh đã chỉ cho tôi thấy rằng anh đã trông thấy người đi xe đạp nắn lại cái cà vạt trong lùm cây, thì lẽ ra tôi phải thấy vấn đề ngay tức khắc.

Tuy nhiên, chúng ta có thể khen ngợi lẫn nhau rằng mình đã đi đến kết quả cuối cùng của một vụ không kém tầm thường.

Kìa, ba cảnh sát địa phương đang đi trong lối vào và có cả chú bé đánh xe ngựa nữa.

Anh Watson, anh có thể khám sức khỏe cho cô Smith và bảo cô rằng chúng ta sẽ đưa cô về nhà mẹ cô.

Một bức điện gửi cho một kỹ sư trẻ ở Midland là môn thuốc rất hữu hiệu.

Về phần ông Carruthers, ông đã làm những gì có thể làm để chữa lại những tội lỗi của mình.

- Đây là danh thiếp của tôi, nếu như lời làm chứng của tôi mà có thể giúp ích cho ông được đôi phần trong vụ xử, thì tôi sẵn lòng tới.

Cô Violet Smith đã được thừa kế một tài sản lớn, và giờ đây cô là bà Cyril Morton, phu nhân của người hùn vốn thứ nhất trong công ty Morton & Kenedy.

Sau phiên tòa, Williamson ôm "bảy cuốn lịch", còn Woodley lãnh mười cuốn.

Trong nhà đá, chúng có đủ thời giờ nhìn từng tờ giấy bay đi và suy ngẫm về các việc mình đã làm.

Còn về Carruthers, tuy không có ghi lại, nhưng với việc tấn công Woodley, kẻ vô lại có tiếng, thì một án phạt nhẹ cũng là đủ để thực hiện công lý.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D5 Câu chuyện tại ký túc xá


CÂU CHUYỆN TẠI KÝ TÚC XÁ

THE ADVENTURE OF THE PRIORY SCHOLL (1904)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Tấm danh thiếp của Thorneycroft Huxtable vừa được đưa đến trước vài giây, theo sau nó là một người cao lớn xuất hiện.

Cánh cửa chưa kịp đóng lại sau lưng, ông đã với tay về phía bàn, đứng sững lại trên nền nhà, và ngã sóng soài lên trên tấm da gấu.

Chúng tôi nhổm phắt dậy, Holmes kê gối ngồi xuống dưới đầu cho ông, còn tôi thì đưa ly brandy kề môi ông.

- Điều gì xảy đến với ông ta vậy, Watson?

- Holmes hỏi.

- Kiệt sức.

Có lẽ vì đói và mệt.

- Vé khứ hồi đến Mackleton, phía bắc nước Anh - Holmes rút ra một tấm vé đường sắt từ trong chiếc túi nhỏ đựng đồng hồ của ông ta, và nói:

- Bây giờ chưa đến 12 giờ.

Ông ta phải ra đi từ rất sớm.

Mí mắt hơi tấy lên của vị khách khẽ động đậy, thế rồi đôi mắt xám của ông dán vào chúng tôi bằng một cái nhìn vô nghĩa.

Lát sau, tiến sĩ Huxtable khó nhọc đứng dậy, mặt đỏ lên vì xấu hổ:

- Hãy thứ lỗi cho tôi, ông Holmes, Cơn ngất này là hậu quả của một sự chấn động thần kinh.

Không, xin cảm ơn ông.

Chỉ cần cốc sữa với bánh biscuit thì tất cả sẽ qua khỏi thôi ông Holmes, tôi đến đây mời ông đi cùng với tôi.

- Để khi nào ông hoàn toàn hồi sức đã.

- Tôi thấy dễ chịu rồi ông Holmes, tôi khẩn khoản mời ông đi Mackleton ngay.

Holmes lắc đầu:

- Chúng tôi rất bận.

Tôi đã nhận tiền trước cho việc điều tra khác rồi.

Lúc này chỉ một việc cực kỳ quan trọng mới có thể buộc tôi rời khỏi London.

- Cực kỳ quan trọng!

- Vị khách của chúng tôi vung tay lên - Lẽ nào ông không biết gì về vụ bắt cóc người con trai duy nhất của công tước Holdernesse?

- Sao?

Cái ông cựu bộ trưởng đấy à?

- Phải, Chúng tôi đã dốc hết sức mình để chuyện đó không lên mặt báo.

Thế nhưng, hôm qua có một tờ báo đã loan tin.

Tôi nghĩ những tin này đã bay đến ông.

Holmes với lấy tập sách chỉ dẫn trên giá, tìm đến chữ H.

- "Holdernesse...

Công tước thứ sáu,...

Nam tước Beverley, Bá tước Carston, chà, một danh sách dễ sợ!

Hầu tước Hallamshire từ 1900.

Cưới Edith, con gái ngài Charles Appledore, 1888.

Họ chỉ có 1 con và là người thừa kế duy nhất, Huân tước Saltire.

Chủ sở hữu 250.000 mẫu Anh lãnh địa trong vùng Lancashire và xứ Wales.

Địa chỉ: Carlton House Terrace; Holdernesse Hall, Hallamshire; lâu đài Carston, Bangor, Wales.

Lãnh đạo Bộ Hải quân năm 1872; Tổng thư ký Hội đồng...

Đây là con người nổi tiếng, và là một trong những người nổi tiếng nhất của Hoàng gia...".

- Một trong những người nổi tiếng nhất, và có thể còn là một trong những người giàu có nhất nữa, Ông Holmes, xin cho phép được nói rằng: Ngài hứa sẽ trao tấm séc 5.000 bảng cho người nào chỉ ra nơi cất giấu con ngài, và 1.000 bảng cho ai chỉ ra kẻ bắt cóc đứa bé.

- Quả là hào phóng!

- Holmes nói.

- Watson!

Chúng ta sẽ đi theo tiến sĩ.

Còn ông, tiến sĩ Huxtable, hãy kể cho chúng tôi nghe chuyện gì đã xảy ra.

Vị khách nốc cạn cốc sữa, rồi nói:

- Tôi là người sáng lập và là hiệu trưởng khu học xá Huxtable's Sidelights ở Horace.

Khu học xá dành cho học sinh của tôi là một trường học tốt nhất nước.

Huân tước Leverstoke, Bá tước Blackwater, ngài Cathcart Soames...

Rất nhiều gia đình quý tộc đã gửi con đến đây.

Nhưng 3 tuần tước, công tước Holdernesse đã nhờ ông James Wilder, thư ký của ngài, đưa huân tước Saltire, người con trai 10 tuổi và là người thừa kế duy nhất của Ngài, đến học ở chỗ chúng tôi.

Không ngờ đây lại là điểm bắt đầu vận rủi nhất của đời tôi.

Cậu bé đến vào ngày 1 tháng 5.

Chẳng bao lâu, cậu bé đã quen dần với nề nếp của chúng tôi.

Cần lưu ý rằng trước đó, ở tại nhà, cậu bé sống không được thoải mái, hai ông bà không còn sống chung với nhau, nữ công tước đã dọn đến miền Nam nước Pháp, còn đứa con thì hướng về người mẹ.

Lần cuối cùng người ta trông thấy cậu là vào tối ngày 13 tháng 5.

Căn phòng dành cho cậu ở gác ba, còn căn phòng lớn bên cạnh có hai cậu bé khác ngủ.

Vào cái đêm đó, hai cậu bé này không nhìn thấy, cũng như không nghe thấy gì cả.

Thật ra cậu bé không rời khỏi phòng bằng cửa chính.

Cửa sổ ở chỗ cậu ta mở toang, cây thường xuân với những nhánh rất rậm rạp quấn quanh tường.

Trên mặt đất chúng tôi không tìm thấy dấu vết nào, nhưng chắc chắn là cậu đã bò qua cửa sổ.

Sáng ngày 14 tháng 5, lúc 7 giờ, người ta phát hiện ra chuyện này.

Giường của cậu không trải chăn.

Trước lúc đi, cậu ta còn kịp mặc bộ đồng phục học sinh.

Không có ai vào phòng cậu ban đêm.

Còn nếu như từ đó vọng ra những tiếng kêu hay những âm thanh vật lộn thì chắc người học sinh lớn hơn ở phòng ngủ bên cạnh tất sẽ nghe thấy.

Ngày sau đó tôi triệu tập tất cả ký túc xá lại.

Đến lúc đó chúng tôi tin rằng cậu bé không đi một mình.

Ông Heidegger, giảng viên tiếng Đức đã vắng mặt, căn phòng của anh ở chái nhà đối diện với gác ba.

Cửa sổ của căn phòng cũng trông ra ngoài bãi cỏ.

Giường chiếu của anh ta không được dọn dẹp, áo sơ mi và đôi tất chân của anh để bừa bãi trên sàn nhà.

Ông ta bò qua cửa sổ bíu vào những nhánh thường xuân, tụt xuống dưới.

Ông giáo sư này vào trường tôi hai năm trước đây, do sự tiến cử đáng tin cậy nhất.

Nhưng ông ta là một người trầm lặng, hay cau có và không gây được cảm tình của mọi người.

Hôm nay là ngày 16 tháng 5.

Từ ngày 13 tháng 5, chúng tôi đã không còn tin tức nào về kẻ chạy trốn.

Đầu tiên tôi liên lạc với công tước, hiện đang ở Holdernese Hall, cách trường vài dặm, hy vọng vì nhớ nhà mà huân tước Saltire đã trở về với cha.

Thế nhưng cậu ta không có ở đấy.

Công tước vô cùng lo ngại.

Ông Holmes, tôi van ông, hãy hiến toàn bộ sức lực cho vụ này.

Sherlock Holmes rút cuốn sổ tay từ túi ra, và ghi vào đấy một điều gì đó để cần được ghi nhớ.

- Ông đã phạm một sai lầm lớn là không đến đây ngay.

- Holmes thốt lên nghiêm khắc - Điều này sẽ gây nhiều rắc rối cho cuộc điều tra, chẳng hạn bãi cỏ và dây thường xuân trên tường đều có thể cho ta biết nhiều điều quan trọng.

- Công tước đã gắng giữ kín việc này.

Ngài sợ những nỗi bất hòa trong gia đình mình trở thành đầu đề cho những lời đàm tiếu.

- Nhà chức trách địa phương đã tiến hành điều tra?

- Rồi, nhưng không đem lại kết quả.

- Có lẽ công việc điều tra hiện trường vẫn chưa được tiến hành đến nơi đến chốn?

- Tự nhiên cảnh sát ngừng cuộc điều tra!

- Như thế nghĩa là ba ngày đã trôi qua một cách vô ích.

Điều này thật đáng buồn.

- Ông rất có lý.

- Dẫu sao tôi vẫn sẵn lòng bắt tay vào việc.

Ông đã xác định mối quan hệ giữa cậu bé và người giáo viên chưa?

- Không có mối quan hệ nào giữa họ cả.

- Ông ta có dạy cậu ta không?

- Không.

- Các xe đạp đều không bị đụng đến sao?

- Không.

- Ông tin chắc vậy à?

- Phải.

- Ông có nghĩ rằng người thầy dạy tiếng Đức đã ra đi bằng xe đạp với cậu bé?

- Cố nhiên, không.

- Vậy lúc ấy ông giải thích chuyện đó ra sao?

- Có thể họ lấy xe để đánh lạc hướng.

Sau đấy họ giấu xe đạp vào một nơi nào đấy, còn chính họ lại đi bộ.

- Cũng có thể.

Nhưng đó là cách đánh lạc hướng kỳ quái.

Các xe đạp vẫn ở trong kho chứa à?

- Vâng

- Phải chăng ông ta đi bằng xe đạp rồi sau đó giấu xe đạp đi, chứ ông ta không đi bộ?

- Ông hoàn toàn có lý.

- Không, lý luận này có chỗ chưa ổn.

Song, việc mất một chiếc xe có thể là khởi điểm cho sự điều tra.

Chỉ còn một câu hỏi này nữa: Có ai đến thăm cậu bé trước ngày cậu mất tích không?

- Không.

- Có thể có lá thư gửi cho cậu ta?

- Có một lá thư.

- Ai gửi?

- Cha cậu ta.

- Ông mở hộp thư của học sinh chứ?

- Không.

- Thế tại sao ông cho rằng lá thư là của cha cậu ta?

- Trên phong bì có gia huy và địa chỉ được viết bằng chính nét chữ nguệch ngoạc của công tước.

Ngoài ra chính công tước cũng nhớ là đã viết thư cho con.

- Cậu bé nhận được các lá thư khi nào?

- Những ngày sau cùng không có lá thư nào gửi cho.

- Từ Pháp có ai gửi cho cậu ta không.

- Không.

Một lần cũng không.

- Tất nhiên ông hiểu tôi đang hướng tới cái gì rồi: Hoặc là người ta dùng sức mạnh để cướp cậu ta hoặc là cậu ta tự đi theo ý muốn của mình.

Còn nếu không một ai đến chỗ cậu ta thì sự tác động chính là ở lá thư.

Tôi coi trọng việc biết ai là người liên lạc thư tín với cậu ta

- Chỉ có người cha viết thư cho cậu ta thôi.

- Bức thư của người cha đến đúng vào ngày cậu bé chạy trốn.

Mối quan hệ giữa cha và con ra sao?

Có tồi không.

- Ngài bị cuốn hút vào những công việc quốc gia đại sự, nhưng Ngài quan hệ với người con cũng không đến nỗi tồi.

Tuy vậy, trái tim của đứa trẻ hoàn toàn hướng về người mẹ.

- Bản thân cậu bé có nói như thế không?

- Không.

- Vậy ai nói?

Công tước nói chăng?

- Ồ, tất nhiên là không.

- Thế thì do đâu ông biết được điều đó?

- Tôi phải trò chuyện với viên thư ký của công tước, James Wilder.

Ông ta đã tiết lộ với tôi về tâm trạng của huân tước Saltire.

- Hiểu rồi.

Nhân tiện xin hỏi luôn, bức thư cuối cùng của công tước đã được tìm thấy trong phòng của cậu bé sau khi cậu bé mất tích phải không?

- Không, cậu ta cầm theo người.

Ông Holmes, có lẽ đã tới lúc chúng ta cần ra ga rồi.

- Bây giờ tôi phái người đi gọi xe.

Sau 4 giờ nữa, chúng tôi sẽ sẵn lòng giúp ông.

Ông tiến sĩ, nếu ông có ý định đánh điện về nhà thì hãy làm sao cho mọi người nghĩ rằng cuộc điều tra vẫn còn đang tiến hành ở Liverpool, trong thời gian đó, tôi sẽ yên ổn làm một cái gì đó ở ngay cạnh trường ông.

Khi chúng tôi đi tới cạnh trường thì trời đã tối hẳn.

Một tấm danh thiếp nằm trên bàn ở phòng chờ.

Người hầu phòng thì thầm với ông hiệu trưởng.

Và thế là ông ta quay trở lại chỗ chúng tôi với một vẻ thật xúc động.

Ông ta nói:

- Công tước đang ở đây.

Công tước và ông Wilder hiện đang chờ tôi trong phòng làm việc.

Chúng ta cùng vào đi.

Tôi sẽ giới thiệu các ông với công tước.

Tôi có biết người hoạt động nhà nước danh tiếng này qua các bức ảnh.

Nhưng con người thật của ông thì không giống các bức ảnh.

Ông trông nhợt nhạt như xác chết.

Đứng cạnh ông là người thư ký riêng Wilder.

Đó là một chàng trai có vóc người tầm thước, bộ mặt linh hoạt, đôi mắt thông minh.

Anh ta bắt đầu câu chuyện bằng một giọng rất quả quyết, thậm chí cay độc.

- Tiến sĩ Huxtable!

Tôi đã ở chỗ ông ngay từ sáng nay.

Song, đáng tiếc là tôi đến muộn và đã không thể ngăn cản chuyến đi của ông.

Như mọi người cho biết thì ông đến chỗ thám tử Sherlock Holmes để ủy thác cho ông ấy điều tra vụ này.

Công tước tỏ ra ngạc nhiên khi ông chưa xin ý kiến Ngài mà đã dám hành động như vậy!

- Khi cảnh sát đã không đưa tới cái mà...

- Công tước không hề tin vào điều đó.

- Nhưng, thưa ông...

- Ông tiến sĩ!

Công tước không muốn chuyện này lan rộng ra để dễ dàng khắc phục tình trạng này.

Tiến sĩ hoảng sợ, lúng túng nói.

- Ông Sherlock Holmes có thể trở về London bằng chuyến tàu sáng.

- Tôi không có ý định như vậy đâu, tiến sĩ ạ.

- Holmes cười một cách nhã nhặn - Vòm trời phương Bắc sảng khoái và xinh đẹp nên tôi quyết định nghỉ ngơi một vài ngày trên những bình nguyên này.

Tôi sẽ tiêu khiển trong những điều kiện cho phép tại vườn nhà ông, hay ở khách sạn nông thôn.

Điều này cố nhiên chỉ tùy thuộc vào ông.

Nhưng, đúng lúc ấy giọng nói trầm trầm của viên công tước đã kịp thời vang lên, cứu thoát ông tiến sĩ.

- Tiến sĩ Huxtable!

Đáng lẽ ông cần trao đổi với tôi thì hơn.

Tuy nhiên, nếu ông đã thổ lộ tất cả công việc này với ông Holmes thì chối từ sự giúp đỡ của ông ấy là một hành vi ngu ngốc.

Ông Holmes, ông chẳng việc gì phải tới khách sạn.

Tôi sẽ vui lòng đón ông về nghỉ ngay tại nhà chúng tôi.

- Xin cảm tạ Ngài!

Nhưng theo yêu cầu của công việc, tôi cần phải ở lại đây, ngay tại nơi đã xảy ra biến cố.

- Tôi không muốn ép buộc ông đâu, ông Holmes ạ.

Song nếu ông thấy cần thu thập những tin tức nào đó ở tôi hay ở ông Wilder, chúng tôi rất sẵn lòng.

- Có lẽ tôi phải đến thăm Ngài tại lâu đài Holdernesse.

Còn bây giờ, tôi chỉ muốn biết Ngài giải thích việc biến mất một cách đầy bí ẩn của con Ngài như thế nào?

- Thật khó trả lời quá, thưa ông.

- Xin lỗi Ngài, nếu tôi đụng phải vấn đề khiến Ngài cảm thấy khó chịu.

Thế nhưng không còn cách nào hơn.

Ngài có cho rằng nữ công tước đã lôi kéo cậu bé không?

Viên cựu bộ trưởng chần chừ rồi nói:

- Không, tôi không nghĩ như vậy!

- Thế thì có thể có kẻ nào bắt cóc cậu bé để chuộc tiền chăng?

- Không, thưa ông.

- Còn một câu hỏi nữa, thưa ngài.

Tôi được biết: Ngài đã viết thư cho con trai Ngài vào đúng cái ngày mà cậu bé biến mất, phải không?

- Không, chuyện đó xảy ra vào ngày hôm trước.

- Hoàn toàn chính xác.

Có điều cậu bé đã không nhận được thư vào chính ngày hôm đó?

- Phải.

- Trong lá thư đó chắc không có điều gì có thể làm cậu bé xúc động hoặc đem lại cho cậu ta ý nghĩ chạy trốn chứ?

- Tất nhiên không, thưa ông!

- Chính tay ông đã gửi lá thư, phải không?

Viên thư ký ở phía sau công tước bực tức trả lời:

- Công tước không có thói quen tự mình chuyển thư từ cho người nhận.

Lá thư ấy được lưu lại trên bàn, cùng với những lá thư khác trong phòng làm việc.

Và tôi đã nhét tất cả vào thùng bưu chính.

- Ông có tin chắc là trong số các lá thư ấy chắc chắn có bức thư chuyển cho cậu bé không?

- Tất nhiên!

Tôi đã nhìn thấy nó.

- Ngài đã viết bao nhiêu lá thư vào ngày hôm ấy, thưa công tước?

- Hai mươi hoặc ba mươi gì đấy.

Tuy nhiên theo tôi, chúng ta đã phần nào đi ra ngoài thực chất của công việc rồi đây!

- Không.

Tại sao như thế được?

- Holmes nói.

- Chính tôi đã khuyên cảnh sát hướng sự điều tra xuống phía Nam nước Pháp - Công tước tiếp tục - Xin nhắc lại, tôi không cho rằng nữ công tước có khả năng đẩy con trai tới hành động kỳ lạ ấy được.

Nhưng do tính bướng bỉnh, cộng với sự xúi bậy và hỗ trợ của anh chàng người Đức, đứa bé có thể chạy tới chỗ mẹ mình.

Còn bây giờ, tiến sĩ Huxtable, xin được phép từ biệt ông.

Tôi cảm thấy Holmes còn muốn hỏi một vài câu nữa song viên công tước đã kết thúc câu chuyện, hình như ông ta e ngại rằng mỗi câu hỏi mới sẽ lại soi rọi ánh sáng không thương tiếc vào phần cuộc đời được ông che đậy kỹ lưỡng.

Ngay sau khi họ đi khỏi, Holmes liền bắt tay vào việc.

Sự quan sát căn phòng của cậu bé không đem lại kết quả gì ngoài kết luận dứt khoát là cậu ta chạy trốn qua phía cửa sổ.

Trong phòng của người giáo viên cũng không tìm thấy gì mới.

Dây trường xuân phía dưới cửa sổ không chịu nổi sức nặng của cậu bé.

Soi đèn trên bãi cỏ, chúng tôi nhận ra ở đó có những vết giày hằn sâu, cỏ bị xéo nát: đó là bằng chứng duy nhất về cuộc chạy trốn ban đêm.

Để tôi ở lại một mình, Sherlock Holmes bỏ đi, và anh trở về khoảng 12 giờ đêm.

Anh thu được tấm sơ đồ địa phương ở đâu đó.

Anh trải nó trên giường rồi đặt cây đèn vào chính giữa và bắt đầu xem xét.

Thỉnh thoảng anh dùng chiếc tẩu thuốc chỉ cho tôi coi những điểm cần lưu ý.

- Tôi muốn anh chú ý tới một vài chi tiết có thể mang ít nhiều ý nghĩa trong quá trình điều tra.

Hãy nhìn vào tấm sơ đồ này!

Ô chữ nhật có nét gạch chéo này là trường học.

Chúng ta sẽ cắm kim găm vào đó.

Còn đây là đường nhựa.

Nó chạy qua khu trường theo hướng đông - tây.

Trong khoảng một dặm không có những con đường nhánh từ đây đi các hướng khác.

Nếu họ đi bằng dường bộ thì không thể không đi qua con đường này.

- Đúng vậy!

- Còn chỗ này, từ 12 giờ đêm đến 6 giờ sáng có cảnh binh túc trực: đây là ngã ba đầu tiên ở hướng đông của con đường.

Người cảnh binh không rời trạm gác lấy một chút.

Anh ta khẳng định rằng chắc chắn anh ta sẽ nhận ra người đàn ông và cậu bé nếu họ có đi qua đấy.

Tôi đã nói chuyện với anh ta hồi tối và theo tôi, chúng ta có thể tin vào lời của anh ta.

Thế nghĩa là về phía đông của con đường được loại trừ ra.

Còn bây giờ chúng ta xem tình hình ở phía tây xem sao.

Ở đó có khách sạn "Bò Mộng".

Nữ chủ nhân đang bị bệnh.

Bà phái người đi Mackleton để mời bác sĩ.

Nhưng vị bác sĩ này lại đang đi thăm một bệnh nhân khác.

Mãi đến sáng sớm hôm sau, ông ta mới tới được chỗ bà.

Vậy là ở khách sạn, trong khi chờ đợi bác sĩ, suốt đêm mọi người không ngủ được.

Thỉnh thoảng người ta nhìn ra ngoài đường xem bác sĩ đã đến chưa.

Theo lời của người này thì không một ai đi qua khách sạn cả.

Nếu tin theo lời của họ thì phần đường phía tây sẽ không còn làm chúng ta nghĩ ngợi gì nữa.

Vì vậy, những người chạy trốn đã chọn một con đường khác.

- Họ đi bằng xe đạp chăng?

- Tôi hỏi.

- Đúng vậy!

Nếu những kẻ chạy trốn không đi trên đường cái, thì họ hoặc là đi theo hướng bắc, hoặc là đi theo hướng nam của ngôi trường.

Vậy chúng ta thử cân nhắc hai giả thiết này xem sao.

Phía nam khu trường có một cánh đồng rộng lớn.

Cánh đồng bị phân cách thành những mảnh nhỏ.

Mỗi mảnh được ngăn với mảnh khác bởi hàng rào xây bằng đá.

Không có khả năng qua đó bằng xe đạp.

Vậy cần loại trừ giả thiết này.

Chúng ta sang phía bắc.

Ở đây, chúng ta trông thấy một cánh rừng nhỏ, được gọi là Mũi dao lệch".

Phía sau khu rừng chừng 10 dặm có một cánh đồng hoang kéo dài, càng về hướng bắc càng nhiều gò đống.

Chênh chếch phía trái cánh đồng là lâu đài Holdernesse: theo đường cái đến nơi này phải mất 10 dặm, còn theo đường chim bay mất chừng 6 dặm.

Cánh đồng này hiu quạnh và vắng vẻ.

Vài trại chăn nuôi trâu bò nằm rải rác trên đó.

Cừu, bò và chim đầm lầy, đó là cư dân duy nhất của vùng này.

Xa hơn còn có một đường nhựa chạy qua.

Dọc theo con đường này có chừng hai, ba biệt thự, một nhà thờ và một khách sạn.

Phía sau là những quả đồi cao và dốc.

Tôi tin là cần phải hướng sự tìm kiếm của chúng ta về phía đó.

- Nhưng còn xe đạp?

- Tôi nhắc lại.

- Những người đi xe đạp cừ khôi không chỉ đi trên đường cái.

Hơn nữa ở cánh đồng lại có những con đường mòn.

Vả lại, đêm hôm đó trăng lại rất sáng.

Vậy còn có gì khó đâu?

Có tiếng gõ cửa khẩn cấp, tiến sĩ Huxtable bước vào phòng ông cầm chiếc mũ cát màu xanh với phù hiệu trắng trên lưỡi trai, ông ta reo lên:

- Thật là may mắn!

Thế là chúng ta đã lần ra dấu vết của cậu bé.

- Các ông tìm thấy ở đâu?

- Ở chỗ những người du mục.

Bọn bắt cóc lưu lại trong trại du mục trên cánh đồng.

Hôm nay, cảnh sát bất thình lình ập tới chỗ họ, lục soát trong xe.

Và họ tìm thấy cái này.

- Nó rơi vào tay họ bằng cách nào vậy?

Họ nói những gì?

- Họ thề rằng đã tìm thấy chiếc mũ trên cánh đồng vào sáng ngày 14 tháng 5.

Không, quân vô lại ấy đã bị tống giam cả rồi.

Tiến sĩ bước ra khỏi căn phòng.

- Thế là được rồi, ở đây nếu cảnh sát không bắt được những người du mục thì họ không làm được gì cả.

Hãy nhìn vào sơ đồ này, Watson.

Con suối này chảy qua cánh đồng.

Ở khoảng giữa khu trường và lâu đài nó hóa thành đầm lầy.

Tiết trời bây giờ hanh khô, vậy tìm kiếm dấu vết sẽ không khó lắm.

Có thể còn lưu lại một cái gì đó giữa đầm lầy.

Ngày hôm sau khi thức giấc vào lúc mờ sáng, tôi nhận ra bóng dáng cao gầy của Holmes cạnh giường tôi.

Anh mặc áo quần tề chỉnh.

- Tôi đã khảo sát bãi cỏ và kho để xe đạp.

Sau đó tôi đi dạo ở khu rừng "Mũi dao lệch".

Hãy dậy đi, Watson!

- Gương mặt bạn tôi ửng đỏ, đôi mắt sáng lên như vẫn thường thấy ở những người mong mỏi bắt tay vào công việc ưa thích.

Lòng tràn đầy hy vọng, chúng tôi đi đến cánh đồng than bùn.

Ở đó có rất nhiều con đường ngang dọc bị đàn cừu giẫm mòn.

Chẳng bao lâu chúng tôi đi tới cánh đồng cỏ đã hóa thành đầm lầy ngăn cách chúng tôi với tòa lâu đài.

Nếu chạy về nhà, thì cậu bé không thể đi qua cánh đồng này được!

Tại đây tất cả phải lưu lại những dấu vết của cậu và những dấu vết của ông giáo người Đức.

Nhưng chúng tôi không thấy những dấu vết như vậy.

Holmes đi dọc theo bên rìa của cánh đồng cỏ.

Anh chăm chú quan sát từng vệt sần trên bề mặt cánh đồng.

Ở đây có rất nhiều vết chân cừu.

Đi tiếp vài dặm nữa chúng tôi thấy vết móng chân bò cái.

- Bế tắc rồi!

- Holmes buồn bã đưa mắt nhìn quanh cánh đồng - Tại đây còn có những bãi lầy và giữa bãi lầy này có một lối đi hẹp.

Hãy nhìn kìa!

Cái gì thế này?

Chúng tôi bước vào lối mòn có in hình một dải đen đen.

Những vết bánh xe đạp in rõ trên lối mòn ẩm ướt.

- Xe đạp đây rồi!

- Tôi reo lên.

Nhưng Holmes lắc đầu.

- Một chiếc xe đạp nào đấy chứ không phải chiếc xe đạp chúng ta đang tìm.

Tôi biết tới 42 lốp xe đạp khác nhau.

Vết lốp này là của hãng "Dunlop" và lại còn có miếng "ghệt" nữa.

Lốp xe của ông giáo người Đức do hãng "Palmer" sản xuất, có những đường vạch dọc kia.

Một giảng viên dạy toán đã nói cho tôi biết điều đó.

Cho nên, không phải giáo viên người Đức mà là một người khác đã qua đây.

- Nghĩa là

- Ôi!.

Giá như cậu bé có xe đạp?

Người ta cam đoan với chúng ta là cậu bé không có xe.

Những dấu vết này, được bắt đầu từ khu trường.

- Hay là ta theo hướng tới trường.

- Không phải!

Vết bánh xe sau luôn sâu hơn vì nó phải chịu trọng lượng lớn hơn.

Đây này!?

Ở một vài chỗ, vết bánh xe sau đã xóa lấp vết bánh xe trước.

Không, người đi xe đạp chắc phải đi ra từ khu trường.

Cũng có thể người này không có quan hệ gì với sự truy tìm của chúng ta.

Song, chúng ta hãy cứ theo dấu vết này mà đi ngược lại vậy.

Chúng tôi đã làm như thế.

Khi tới chỗ con đường mòn rẽ ngoặt từ vạt đất bị hóa lầy, đột nhiên vết lốp xe đạp biến mất.

Con suối nhỏ cắt ngang lối mòn, và ở bờ bên kìa, vết xe đạp lại xuất hiện, mặc dầu có những con bò cái đã xéo lên chúng.

Sau đấy, con đường mòn ăn sâu vào cánh rừng "Mũi dao lệch".

Cánh rừng hầu như tiếp liền ngay với tòa nhà của trường, rõ ràng người đi xe đạp đã xuất phát từ cánh rừng này.

Holmes ngồi xuống một tảng đá, tay chống cằm.

Anh ở trong thế hoàn toàn bất động.

Cuối cùng, anh nói:

- Thôi được!

Một kẻ có đầu óc phòng xa cố nhiên có thể thay bánh xe đạp để đánh lẫn dấu vết.

Ta hãy tạm gác vấn đề nan giải này lại và hãy quay lại chỗ đầm lầy.

Chúng tôi tiếp tục xem xét tỉ mỉ phần đất lầy lội của cánh đồng.

Chẳng bao lâu chúng tôi nhận ra còn một lối mòn khác nữa.

Holmes đi tới gần lối mòn và vui sướng reo lên.

Những vết mảnh chạy dài ở phía giữa lối mòn.

Đó là dấu lốp xe đạp của Palmer.

- Ông giáo người Đức đã qua đây!

- Holmes thốt lên xúc động.

- Xỉn chúc mừng anh !

- Thế nhưng còn lâu nữa mới tới được kết quả cuối cùng, đừng bước vào lối mòn.

Hãy đi theo vết này.

Có lẽ chỉ chốc lát nữa thôi nó sẽ đột ngột kết thúc.

Tuy vậy ở phần này của cánh đồng vẫn luôn gặp phải những chỗ sình lầy.

Và mặc dầu lốp xe đạp thỉnh thoảng bị iến mất nhưng sau đó chúng tôi lại tìm thấy nó.

Holmes nói:

- Anh hãy để ý xem ở đây, người đi xe đạp vào pédale không.

Điều này thật dễ thấy.

Anh nhìn vào những vết lốp xe trước và sau mà coi, chúng đều rõ như nhau.

Đó là do người đi xe đã dồn trọng lượng về phía trước như những tay đua vẫn thường làm.

Trời!

Anh ta ngã kìa!

Trên lối mòn có một vệt loang dài và rộng.

Xa hơn một chút thấy có những vết giày, và sau đó vệt lốp xe đạp lại xuất hiện.

Holmes nhặt một cành cây có hoa bị gãy từ dưới đất lên.

Những bông hoa màu vàng bị vấy vệt đỏ.

Trên lối mòn trong bụi cây, những vết máu khô thẫm lại.

- Công việc tồi quá!

Rất tồi!

Thôi Watson, không đi về hướng này nữa.

Hãy lui về phía kia vậy.

Nào, xem ta có thể tìm được gì ở đây nào?

Anh ta ngã, bị thương...

đứng dậy...

Rồi lại ngồi lên xe... tiếp tục đi.

Có một đàn bò đi qua lối mòn này, nhưng không phải bò đực đã húc anh ta?

Có điều không gặp những vết khác ở đây.

Đi lên phía trước Watson.

Những vết máu, những vết lốp xe đạp.

Hãy cứ theo những dấu vết này.

Sự truy tìm của chúng tôi không kéo dài.

Vết xe đột nhiên bắt đầu rẽ theo lối mòn bóng lên vì ẩm ướt.

Tôi đưa mắt về phía trước.

Bất thình lình những ánh kim loại lóe lên ngay trước mặt tôi.

Chúng tôi lôi từ lùm cây ra một chiếc xe đạp của hãng "Palmer".

Một pédale bị uốn cong, tay lái và bánh trước bê bết máu.

Cách không xa có một chiếc giày trồi lên trên cỏ.

Chúng tôi chạy bổ đến đó và nhìn thấy người lái xe đạp bất hạnh: người cao, để râu, đeo kính.

Mắt kính phải bị vỡ.

Một quả đấm trời giáng vào sọ là nguyên nhân gây ra cái chết.

Sau khi bị thương anh còn có thể đi xe đạp được vài yard nữa.

Anh ta không mang tất, còn sau lần áo vét, chúng tôi nhận ra chiếc áo ngủ.

Không còn hoài nghi gì nữa.

Đây là giảng viên người Đức.

Holmes thận trọng xoay thi thể trở lại để xem xét.

Cuối cùng, Holmes lo âu, nói:

- Thú thật, tôi không rõ bây giờ chúng ta phải làm gì.

Sự tìm kiếm đã kéo dài đến mức không thể mất thời giờ thêm nữa, chúng ta cần báo cho cảnh sát.

Lẽ nào lại có thể để người bất hạnh nằm ở đây

- Hãy viết vài chữ cho tôi.

- Nhưng thiếu sự trợ giúp của anh, tôi không thể tiến hành công việc được.

Kìa!

Có ai đang gạt than bùn kia kìa!

Hãy nhờ người ấy đi mời cảnh sát tới đây.

Tôi thực hiện ngay yêu cầu của Holmes, và anh nhờ người chủ trại ấy chuyển giấy cho tiến sĩ Huxtable.

- Thế đó, Watson ạ.

Sáng nay chúng ta đã tìm được hai dấu vết.

Dấu thứ nhất là lốp xe đạp hãng Palmer, nó dắt chúng ta tới nạn nhân.

Dấu thứ hai là lốp xe đạp bì "ghệt" của hãng Dunlop.

Trước khi tìm hiểu dấu vết thứ hai này, chúng ta hãy lưu ý rằng cậu bé đã tự ý bỏ chạy.

Cậu ta bò qua cửa sổ và lẻn đi một mình hoặc cùng với người báo tin cho mình.

- Có lý.

- Cậu bé đã có chuẩn bị để chạy trốn, nên ăn mặc đầy đủ.

Nhưng ông thầy người Đức mặc áo quần vội vã nên đã bỏ chạy mà không kịp mang tất chân.

- Chắc chắn như vậy.

- Cái gì buộc ông ta nhảy qua cửa sổ?

Chính là việc ông ta nhìn thấy cậu bé chạy trốn.

Ông muốn đuổi kịp và đưa cậu bé trở lại.

Ông ta vớ lấy xe đạp của mình, đuổi theo cậu bé và chết trên đầm lầy.

- Rất có lý.

- Rượt theo cậu bé, một người đàn ông chỉ cần chạy theo là đủ rồi.

Thế mà ông thầy người Đức, theo ý kiến của tiến sĩ Huxtable, là một tay đi xe đạp cừ khôi, lại làm khác?

Ông ta chạy vào kho lấy xe đạp của mình.

Từ đó có thể rút ra kết luận thế này: Ông ta nhận thấy cậu bé sử dụng một phương tiện di chuyển ưu việt hơn đôi chân của ông ta.

Nói cách khác, cậu bé đã lấy xe đạp của một ai đó phải không?

Chúng ta hình dung kết cục của cuộc tẩu thoát ấy như thế này: Ông thầy người Đức chết cách ngôi trường 5 dặm.

Cần lưu ý là ông ta chết vì quả đấm của một người có đôi tay rắn khỏe.

Nghĩa là cậu bé có người bạn dường và họ đào tẩu nhanh tới mức một tay lái xe đạp cừ khôi chỉ đuổi kịp họ ở dặm đường thứ năm.

Tại nơi xảy ra tấn thảm kịch, tìm thấy những dấu vết của móng bò cái và chỉ có vậy thôi?

Tôi đi một đường vòng rộng chừng 50 bộ vẫn không tìm thấy một lối mòn nào khác.

Người lái xe đạp thứ hai không có liên quan gì tới vụ giết người, và ở đây không có vết chân người.

- Này Holmes!

Điều đó thật khó tin!

- Hoan hô!

Kết luận thật chí lý!

Trong sự trình bày các sự kiện của tôi có một cái gì đó thật khó tin.

Đúng thế, tôi có sai lầm.

Song, trong suốt thời gian điều tra, anh luôn ở bên tôi và chính mắt anh đã nhìn thấy tất cả.

Vậy tôi sai lầm ở chỗ nào?

- Có thể anh ta bị thương vào đầu trong khi ngã.

- Ở giữa đầm lầy này sao?

- Tôi rối trí mất rồi, Holmes ạ.

- Chúng ta đã từng giải đáp được những câu hỏi còn hóc búa hơn thế.

Chỉ cần vận dụng chúng một cách khôn khéo nữa thôi...

Nào, hãy tiếp tục đi Watson!

Chiếc lốp xe hãng "Palmer" đã nói hết cho chúng ta rồi đấy.

Giờ thử xem chiếc lốp xe "ghệt" hãng Dunlop sẽ đưa chúng ta đến đâu?

Chúng tôi đi theo vết này.

Nhưng chẳng bao lâu những quả đồi thoai thoải phủ những lùm cây thấp đã giăng dài trước mặt chúng tôi.

Con suối đã ở lại đằng sau.

Đi tiếp sẽ không có ý nghĩa gì cả, bởi vì những vết lốp xe hãng Dunlop có thể dẫn đến lâu đài Holdernesse với những chiếc tháp to nhô tên về phía trái, hoặc có thể đưa tới những túp nhà màu sáng thấp lè tè mà sau lưng có con đường cái chạy qua.

Lúc chúng tôi chỉ còn cách quán trọ "Gà Chọi" chừng vài bước, đột nhiên Holmes kêu lên một tiếng, nắm lấy vai tôi cho khỏi ngã, làm như một chân bị sái.

Anh cà nhắc bước đến trước cửa khách sạn, nơi có một người đàn ông đang ngồi.

- Xin chào ông Reuben Hayes!

- Holmes nói.

- Ông là ai?

Sao biết tên tôi?

- ông ta hỏi, sau khi ném ra một cái nhìn hằn học và ngờ vực.

- Tên ông được ghi ở tấm biển ngay trên đầu ông kia kìa.

Xin cho chúng tôi biết ông có chiếc xe ngựa nào không?

- Không.

- Tôi không thể bước nổi nữa.

- Nếu không bước nổi, thì đừng có bước.

- Vậy tôi di chuyển bằng cách nào được?

- Bằng nạng vậy!

Cái gã Reuben Hayes thật bất lịch sự.

Thế mà Holmes đã chịu đựng được.

Anh nói:

- Hỡi ông chủ đáng mến!

Xin hãy nghe đây, ông không thấy điều gì rủi ro đã xảy ra với tôi ư?

Chúng tôi phải đến nơi chúng tôi cần.

Vậy bao giờ chúng tôi mới đến được?

- Bao giờ đến à?

Tôi không quan tâm đến chuyện đó.

- Tôi đến đấy vì một việc quan trọng.

Hãy cho tôi mượn xe đạp của ông, tôi sẽ đền ơn trọng hậu.

Chủ nhà vểnh tai nghe.

- Ông cần đi đâu?

- Đến lâu đài Holdernesse.

- Không phải đến thăm công tước chứ?

Chủ khách sạn hỏi, vừa chế nhạo vừa nhìn vào bộ áo quần cáu bẩn của chúng tôi.

Holmes phá lên cười thân thiện:

- Công tước sẽ đón tiếp chúng tôi một cách niềm nở.

- Tại sao?

- Vì chúng tôi có những tin tức tốt về đứa con của Ngài

Gã đàn ông giật mình:

- Phải chăng các ông đã tìm thấy?

- Từ Liverpool, người ta đã cho biết rằng cậu ta hiện đang ở đấy.

Thế đó, rồi sẽ tìm được thôi!

Một bóng đen chợt thoáng qua bộ mặt lởm chởm râu của ông ta.

Và ông ta tự nhiên trở nên tốt bụng:

- Tôi từng là người đánh xe ngựa cho công tước.

Rồi đột nhiên Ngài ngược đãi tôi.

Rồi Ngài thanh toán tiền cho tôi và không dùng tôi nữa.

Song dầu sao tôi cũng rất vui, bởi huân tước trẻ tuổi đã được tìm thấy ở Liverpool.

Thôi được, tôi sẽ giúp các ông chuyển tin tức này tới lâu đài.

- Xin cám ơn!

Chúng tôi sẽ ăn tối, rồi ông cho chúng tôi mượn xe đạp chứ?

- Tôi không có xe đạp.

Holmes nhìn người chủ khách sạn đầy ngụ ý.

- Tôi nói với ông là tôi không có xe đạp.

Các ông sẽ đi bằng xe ngựa vậy?

- Chủ quan trọ nhấn mạnh.

- Thôi được!

Ông cho chúng tôi ăn cái đã rồi sẽ bàn chuyện đó sau.

Khi chúng tôi còn lại một mình trong nhà bếp, chân Holmes tự dưng hết đau.

Đã chiều tối, chúng tôi cảm thấy đói mà vẫn không rời khỏi bàn.

Đắm chìm trong ý nghĩ của mình, một vài lần Holmes yên lặng đi đến gần chiếc cửa sổ trông ra phía sau ngập ngụa rác rưởi.

Ở một góc sân, chỗ đóng móng ngựa, một thiếu niên lem luốc đang làm việc.

Còn góc sân khác là chuồng ngựa.

Sau một lần đi tới cửa sổ như thế.

Holmes ngồi xuống bàn và đột nhiên nhổm phắt dậy, kêu to:

- Rõ rồi Watson!

Tôi đã tìm ra rồi!

Anh có nhận ra các vết móng bò cái sáng nay không.

- Có ở đâu?

- Khắp nơi!

Trên đầm lầy cạnh chỗ người bị giết.

- Đúng.

- Còn bây giờ, ở đây có nhiều bò cái không?

- Tôi không thấy một con nào cả.

- Kỳ lạ thật.

Khắp mọi nơi đều có vết móng bò cái, mà ở đây không có một con nào cả.

- Vâng, đúng vậy!

- Bây giờ anh hãy cố nhớ xem anh đã trông thấy những vết này trên lối mòn như thế nào?

- Tôi chưa hiểu.

- Hãy nhớ lại xem.

Đôi lúc nó như thế này...

- Anh bắt đầu xếp những mẫu vụn bánh mì trên bàn.

- và đôi lúc lại như thế này...

Ở một chỗ khác lại như thế này...

Anh có nhớ không?

- Không.

- Còn tôi thì nhớ và sẵn lòng đưa tay lên thề.

Tuy vậy chúng ta sẽ còn quay trở lại và sẽ kiểm tra lại ngay tại chỗ.

Tôi có quẫn trí không nếu tôi không rút ra được những kết luận thỏa đáng từ điều đó.

- Những kết luận gì?

- Những kết luận như thế này: bò cái mà lại đi y như ngựa nước kiệu, nước đại và nước một.

Mưu chước quỷ quyệt này lẽ nào không phải của tên chủ quán kia?

Ngoài sân không có ai cả, trừ cậu bé ở xưởng đóng móng ngựa.

Chúng ta thử đột kích, xem tình hình ở đó ra sao.

Trong chuồng có hai con ngựa bẩn thỉu, lông bù xù đang đứng, Holmes nâng chân sau của một con lên và cười lớn:

- Những cái móng thì cũ nhưng được đóng cách đây không lâu.

Những cái móng cũ, còn đinh đóng thì lại mới.

Bây giờ ta sẽ quan sát xưởng đóng móng ngựa xem sao.

Cậu thiếu niên bận bịu với công việc của mình nên không chú ý đến chúng tôi.

Holmes nhanh nhẹn nhìn quanh khu xưởng ngập đầy sắt vụn và dăm bào.

Bất thình lình có những bước chân vọng lại từ phía sau.

Quay lại, chúng tôi nhìn thấy người chủ nhà.

Đôi lông mày ông ta giao vào nhau thành một đường kẻ dài, đôi mắt lóe lên những tia sáng độc ác.

Ông ta cầm lăm lăm một chiếc dùi cui bịt sắt tiến về phía chúng tôi với vẻ hăm dọa đến mức tôi rút khẩu súng lục từ trong túi ra.

- Quân chó đẻ!

- ông ta kêu lên - Bọn bay làm gì ở đây?

- Hãy rộng lòng tha thứ, ông Reuben Hayes!

- Holmes điềm tĩnh nói - Phải chăng ông sợ chúng tôi tìm ra một cái gì đấy liên quan tới công việc đó?

Ông ta trấn tĩnh lại, cong môi lên trong một nụ cười giả tạo.

- Hãy tìm đi, xin mời.

Tìm thấy cái gì, đó là việc của các anh.

Nhưng tôi không thích thấy người lạ tự ý sục sạo khắp sân nhà tôi.

Vì vậy, hãy trả tiền và tránh xa đây càng nhanh càng tốt.

- Chớ giận chúng tôi, ông chủ.

Quả thực chúng tôi chỉ muốn nhìn những con ngựa của ông thôi.

Vậy mà có lẽ chúng tôi phải đi bộ đến lâu đài.

Từ đây tới đó không xa lắm thì phải?

- Đúng hai dặm đường.

Đi theo con đường kia kìa!

Nhớ rẽ trái!

Ông ta tiễn chúng tôi ra khỏi sân bằng một cái nhìn u ám.

Chúng tôi đi theo con đường ấy không xa, bởi vì Holmes dừng lại ở chỗ rẽ đầu tiên khi biết chắc là bây giờ không một ai còn nhìn thấy chúng tôi.

- Cuộc đón tiếp vừa rồi thật là nồng nhiệt.

Càng rời xa khách sạn, tôi càng cảm thấy lạnh lẽo hơn.

- Không, đi khỏi đây bây giờ là quá sớm?

- Tôi cho rằng cái lão chủ khách sạn ấy biết tất cả.

- Tôi chưa từng thấy một bộ mặt nào hung ác hơn thế.

Một kẻ ác độc thực sự?

Còn những con ngựa và xưởng đóng móng ngựa thì thế nào?

Thật là một nơi đáng lưu ý, cái "con gà trống ưa ẩu đả" ấy?

Nào chúng ta hãy quan sát xem cái gì đã xảy ra ở đây.

Phải bí mật và thận trọng.

Quả đồi thoai thoải ở phía sau chúng tôi rắc đầy những tảng đá xám.

Lúc bắt đầu trèo lên phía trên sườn đồi, để nhìn về phía lâu đài, bất chợt tôi trông thấy một người đi xe đạp đang lao nhanh trên đường.

- Hãy cúi thấp xuống, Watson - Holmes kêu lên, sau khi lấy bàn tay nặng trịch ấn vào vai tôi.

Chúng tôi vừa kịp ẩn mình vào sau tảng đá thì người đó đã lao vút qua.

Một khuôn mặt tái mét thấp thoáng trước mặt tôi.

Mỗi nét nhỏ của khuôn mặt anh ta đều lộ vẻ kinh hãi: mồm há rộng, cái nhìn chết cứng của đôi mắt trợn trừng một cách man dại.

Đó chính là bức biếm họa kỳ quặc của James Wilde mà chúng tôi mới biết hôm qua.

- Viên thư ký của công tước!

- Holmes nói nhỏ - Hãy nhanh lên!

Chúng ta xem anh ta làm gì ở đây.

Nhảy lên trên một tảng đá, chúng tôi men theo sườn dốc đi lên.

Từ đó chúng tôi nhìn thấy cửa quán trọ.

Chiếc xe đạp của Wilder dựng tại cạnh tường ở trong nhà, không một ai nhìn qua các cửa sổ.

Mặt trời khuất sau các đỉnh tháp cao của lâu đài.

Hoàng hôn buông xuống cánh đồng.

Chẳng bao lâu, trong bóng đêm dày đặc của khách sạn, một chiếc xe đạp hai bánh với những cây đèn thắp sáng ở bên cạnh được đẩy ra từ tàu ngựa.

Chỉ một phút sau, ngựa đã phi như bay qua chúng tôi, hướng về phía Chesterfield.

- Như thế là thế nào?

- Holmes thầm thì.

- Tựa như cuộc tẩu thoát vậy.

- Trên xe chỉ có một người đi thôi!

Tôi nhìn thấy rõ mà.

Nhưng người đó không phải Wilder, bởi vì anh ta đang ngồi kia kìa!

Bóng dáng người thư ký in rõ giữa khung cửa sáng bừng.

Anh ta rướn cổ về phía trước, nhìn vào bóng đêm, rõ ràng đang ngóng chờ ai đó.

Vài phút trôi qua.

Cuối cùng, trên đường có những bước chân vọng lại.

Trong ánh sáng đổ xuống từ những cánh cửa ra vào, thấp thoáng bóng của một người khác nào đó nữa.

Rồi cánh cửa khép lại.

Toàn bộ quán trọ lại chìm vào trong bóng tối.

Thế rồi, ở một trong những cửa sổ phía trên, ngọn đèn bàn được thắp sáng.

- Có khách lạ tới thăm quán "Gà Chọi".

- Holmes nói.

- Vào quán từ một hướng khác?

- Đúng rồi.

Cả hai đều là khách mời của ông chủ.

Ông James Wilder cần gì trong cái sào huyệt này, lại vào thời gian muộn màng như vậy.

Ông ta hẹn gặp ai ở đây chăng?

Hãy mạnh dạn lên, Watson!

Chúng ta sẽ quan sát họ gần hơn một chút nữa.

Chúng tôi tụt xuống đường, nhẹ nhàng tới gần những cánh cửa của khách sạn.

Xe đạp của Wilder vẫn đứng tựa vào tường như trước.

Holmes quẹt diêm và soi vào bánh sau của xe đạp.

Tôi nghe thấy tiếng kêu khe khẽ đầy vẻ ngạc nhiên của Holmes khi ánh lửa soi vào mảng "ghệt" trên lốp xe đạp của hãng Dunlop.

Cửa sổ có đèn sáng ở ngay trên đầu chúng tôi.

- Cần ghé nhìn trong đó dù chỉ thấy chút ít thôi Watson!

Giá anh đứng tựa vào tường công kênh tôi lên.

Một thoáng sau, Holmes đã đứng trên vai tôi ngay và tức khắc lại tụt xuống dưới.

- Đi thôi, bạn thân mến.

Ngày hôm nay thế là đủ rồi?

Chúng ta đã làm tất cả những gì có thể làm được.

Chúng ta về trường ngay.

Suốt quãng thời gian chúng tôi lê bước chậm chạp theo cánh đồng, hầu như Holmes không hé răng nói lấy nửa lời.

Không rẽ vào khu trường, chúng tôi đến thẳng ga để chuyển điện tín.

Khuya hôm đó, tôi nghe thấy Holmes an ủi ông tiến sĩ.

Ông ta bị sửng sốt bởi cái chết bi thảm của người giáo viên.

Sau đấy Holmes quay trở về phòng.

- Mọi chuyện đều diễn ra tốt đẹp.

Tối mai chúng ta sẽ có lời giải đáp - Holmes nói với tôi.

Sáng hôm sau, lúc 11 giờ, chúng tôi đã ở trên con đường trồng cây nổi tiếng của lâu đài.

Người hầu phòng ra đón và dẫn chúng tôi vào phòng làm việc của công tước.

Anh ta đã đứng ngay trước mặt chúng tôi.

Anh ta rất khiêm tốn và lịch sự, nhưng trong đôi mắt né tránh của anh ta thoáng hiện nỗi khiếp sợ.

- Các ông muốn thăm công tước phải không.

Ngài không được khỏe.

Ngài bị đau bởi tấn thảm kịch mà ông tiến sĩ đã báo cho chúng tôi biết.

- Ông Wilder, tôi cần gặp công tước.

- Nhưng Ngài không rời khỏi phòng mình được.

- Vậy tôi sẽ đến chỗ Ngài!

- Ngài đang trên giường.

- Dù thế nào tôi cũng xin được tiếp kiến Ngài!

Giọng điệu lạnh lùng không cho phép phản đối của Holmes đã khiến viên thư ký tin rằng đôi co với con người này chỉ bằng thừa.

- Thôi được ông Holmes, tôi sẽ báo có ông đến.

Đôi mắt của công tước hỏm sâu hơn, hai tay khuỳnh khuỳnh của ông lộ vẻ thiếu cương quyết, ông như già hơn so với ngày hôm qua.

Với vẻ lịch sự đến tao nhã, ông cúi chào chúng tời và ngồi xuống ghế bành.

- Tôi nghe đây, ông Holmes!

Thế nhưng Holmes lại nhìn chằm chằm vào viên thư ký đang đứng cạnh chủ nhân.

- Sự có mặt của ông Wilder khiến tôi bị ít nhiều gò bó, thưa ngài!

Mặt viên thư kí tái ngắt đi.

Anh ta ném vào Holmes một cái nhìn thật độc ác.

- Nếu ngài muốn...

- Được, được, cứ để chúng tôi ở đây...

Được rồi ông Holmes!

Ông có điều gì muốn nói với tôi, phải không?

Holmes khép cửa lại đằng sau viên mới nói:

- Thưa ngài!

Theo lời của tiến sĩ Huxtable, tôi và bác sĩ Watson được biết ngài có hứa sẽ trả tiền thù lao cho công việc mà ngài đang quan tâm.

Tôi muốn trực tiếp được nghe Ngài nói điều đó.

- Có.

- Người ta nói là Ngài sẽ trả 5.000 bảng cho ai chỉ ra nơi con trai Ngài đang ở.

- Phải.

- Và 1.000 bảng cho ai chỉ ra kẻ đang giam giữ huân tước.

- Vâng.

- Cố nhiên, điều này ngụ ý rằng không chỉ là kẻ bắt cóc mà còn là kẻ có âm mưu bắt cóc.

- Đúng, đúng!

- Không kìm được lòng mình, công tước thốt lên - Ông Holmes, nếu ông làm sáng tỏ bí mật này, ông sẽ không than phiền về tính keo kiệt của tôi.

Holmes cọ cọ hai tay vào nhau một cách thèm thuồng.

Điều này khiến tôi ngạc nhiên vì trước đó tôi hiểu anh như một người có những đòi hỏi bình thường nhất.

- Tập séc của Ngài đang ở trên bàn thì phải.

Xin Ngài ghi cho tôi tấm séc 6.000 bảng Anh.

Ngân phiếu xin chuyển vào tài khoản vãng lai của tôi tại chi nhánh ngân hàng Capital & Counties ở phố Oxford.

Công tước ưỡn thẳng người trong ghế bành, dò xét bạn tôi bằng cái nhìn lạnh như tiền.

- Ông đùa đấy à, ông Holmes.

Đây không phải là đề tài thích hợp cho sự bông đùa.

- Thưa ngài!

Tôi luôn luôn nghiêm túc.

- Điều đó có nghĩa thế nào?

- Điều đó có nghĩa là tôi biết nơi trú chân của con trai ngài và cũng biết một người đáng lưu ý.

- Con tôi đâu?

- Trong quán trọ "Gà Chọi", cách cổng lớn của công viên ngài hai dặm.

Ít ra cậu nhà đã ở đó vào ngày hôm qua.

Công tước ngả người vào ghế bành.

- Vậy ông kết tội ai?

Holems bước nhanh về phía trước, đụng tay vào viên công tước.

- Tôi kết tội Ngài!

Còn bây giờ, thưa Ngài, xin ngài làm ơn đưa cho tôi tấm séc 6000 bảng Anh.

Từ ghế bành, công tước nhổm phắt dậy, thế rồi đột nhiên hai tay ông chới với tựa như ông đang gắng đứng vững bên bờ vực thẳm.

Sau đó, bằng sức mạnh của ý chí sắt đá và bằng sự trợ giúp của tính kiềm chế quý tộc, ông ta lại ngồi xuống ghế, tay ôm lấy mặt.

Một phút... rồi một phút nữa trôi qua...

- Hãy nói thẳng ra, ông biết gì nào?

- Con người bất hạnh ấy hỏi, không hề cất đầu lên.

- Tối hôm qua, tôi trông thấy Ngài và cậu nhà.

- Ngoài bạn ông ra, còn có ai biết chuyện đó nữa không?

- Tôi chưa nói cho ai biết cả.

Năm ngón tay run rẩy của viên công tước mở tập séc ra rồi cầm lấy bút.

- Tôi không bội ước đâu, ông Holmes ạ.

Mặc dầu số tiền này chỉ để trả cho những tin tức mà thôi, ngoài nỗi cay đắng ra, chúng không mang lại cho tôi điều gì khác nữa.

Nhưng khi đưa ra lời ban thưởng, tôi đâu có thể ngờ là các sự kiện lại xoay chuyển như thế!

Tuy vậy, tôi hy vọng ông và bạn ông là những người biết điều.

- Tôi chưa hiểu ngài muốn nói gì, thưa ngài?

- Được, tôi sẽ nói trắng ra vậy ông Holmes ạ, nếu những tình tiết của việc này không một ai biết, ngoài hai ông ra, thì số tiền không chỉ có thế.

Tôi phải cho ông 12.000 bảng Anh.

Không đúng vậy sao?

Nhưng Holmes mỉm cười và lắc đầu:

- Ồ!

Thưa Ngài!

Không thể dễ dàng thu xếp chuyện đó.

Một ai đó phải trả lời về cái chết của người thầy giáo.

- Thế nhưng James không can dự vào đấy.

Giết người, đấy là công việc của tên bạo chúa.

- Tội còn lại thì nhìn nhận như thế này, thưa ngài: Khi một người đứng trước con đường dẫn đến tội ác, thì anh ta cần phải gánh lấy trách nhiệm đạo đức do những hậu quả hành động của mình gây ra.

- Trách nhiệm đạo đức?

Đúng!

Nhưng đừng bắt anh ta phải trả lời trước pháp luật.

Không thể khép một người vào tội sát nhân nếu anh ta không có mặt vào lúc giết người; cũng không thể khép người ấy vào tội sát nhân khi việc giết người đã khiến anh ta công phẫn chẳng kém gì ông.

Sau khi biết chuyện đó, anh ta không chịu nổi sự day dứt của lương tâm và thú nhận ngay với tôi tất cả.

Sau đấy, anh ta tuyệt giao với kẻ sát nhân, ông Holmes!

Hãy cứu anh ta!

Hãy cứu đi!

Tôi van ông đấy!

Tính kiềm chế quý tộc của viên công tước biến mất.

Với bộ mặt méo xệch, viên đại thần chạy loang quăng khắp phòng, đôi tay ông vung vẩy một cách mạnh mẽ.

Cuối cùng, ông tự trấn tĩnh lại, ngồi xuống và nói:

- Tôi đánh giá cao việc ông đã đến đây.

Nào, ít ra ta cũng bàn bạc xem cần áp dụng những biện pháp nào để giúp tôi khỏi bị lăng nhục.

- Nhưng chỉ khi chúng ta đã cởi mở với nhau đến tận cùng.

Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được nếu tôi biết chính xác các chi tiết của công việc này.

Ngài khẳng định rằng ông James Wilder không phải là kẻ giết người?

- Đúng, kẻ giết người đã lẩn trốn.

Holmes lạnh lùng mỉm cười:

- Thưa Ngài!

Hôm qua, vào lúc giờ đêm, Reuben Hayes đã bị bắt tại Chesterfield theo chỉ thị của tôi.

Viên chỉ huy cảnh sát ở đấy đã báo tin cho tôi vào sáng nay trước lúc tôi đến đây.

Công tước ngả người ra sau ghế, ngạc nhiên nhìn bạn tôi.

- Khả năng của ông liệu có giới hạn không, ông Holmes?

- ông ta thốt lên - Thế nghĩa là Reuben Hayes đã bị bắt.

Thôi được có thể đó là điều mừng.

Nhưng liệu việc hắn ta bị bắt có ảnh hưởng gì tới số phận của James không?

- Tới viên thư ký của ngài?

- Không, tới con tôi.

Lần này Holmes thật sự ngạc nhiên:

- Thưa Ngài!

Ngài có thể giải thích chi tiết tất cả chuyện đó được không?

- Ông nói đúng.

Chỉ có lòng thành mới có thể làm giảm nhẹ tình trạng căng thẳng mà James đã đặt cả hai chúng tôi vào đó.

Lúc còn trẻ, tôi ngỏ lời cầu hôn với người đàn bà yêu dấu, nhưng nàng cự tuyệt vì lo ngại rằng cuộc hôn nhân như thế sẽ hủy hoại con đường công danh của tôi.

Nếu nàng còn sống thì tôi đã không lấy một người nào khác.

Nhưng nàng đã mất và để lại cho tôi một đứa con trai.

Đó là James.

Tôi nuôi nấng cháu và không công khai thừa nhận mình là cha.

Tuy nhiên, cháu đã được giáo dục tốt nhất.

Khi đã lớn khôn, cháu vẫn thường xuyên sống cùng chúng tôi.

Tình cờ cháu biết được bí mật của tôi và từ đấy cháu gắng lạm dụng quyền làm con của mình bằng mọi cách.

Điều này đẩy tôi vào tình trạng lo ngại bị tố giác.

Sự hiện diện của cháu ở lâu đài đã là nguyên nhân của sự tuyệt giao giữa tôi và vợ tôi.

Và điều sau đây mới thật nặng nề.

Ngay khi nhìn đứa bé, từ ngày đầu tiên, cháu đã căm ghét Arthur, tức huân tước Saltire, người thừa kế hợp pháp của tôi, một cách dữ dội nhất.

Chắc ông sẽ hỏi tại sao do những chuyện ấy mà tôi vẫn tiếp tục giữ James ở nhà mình.

Câu trả lời của tôi sẽ thế này: Vì khi nhìn nó, tôi trông thấy bóng dáng của mẹ nó, một hình bóng không thể xóa nhòa trong tôi.

Từ biệt cháu ư?

Tôi không đủ sức làm việc đó nhưng cuối cùng, tôi bắt đầu lo sợ cháu sẽ gây ra một chuyện gì đấy với huân tước Saltire.

Và thế là tôi chuyển đứa bé đến ký túc xá của tiến sĩ Huxtable

James tiến hành mọi công việc của tôi, do vậy cháu biết Hayes, người đã từng là tá điền của tôi.

Chúng đã kết bạn với nhau.

Sau khi quyết định bắt cóc huân tước Saltire, cháu biến tên này thành kẻ đồng lõa của mình.

Ông còn nhớ là tôi đã viết một bức thư cho Arthur trước ngày nó chạy trốn?

James đã mở phong bì ra, bỏ vào đó mẩu thư yêu cầu Arthur gặp mình ở cánh rừng "Mũi dao lệch" cách không xa khu trường.

Thằng bé đã đi đến đó vì thư có vẻ như được viết theo yêu cầu của vợ tôi.

James đến khu rừng thưa bằng xe đạp.

Sau đấy chính cháu đã làm Arthur tin rằng bà mẹ đang buồn phiền vì huân tước, rằng bà cách đây không xa, rằng nếu huân tước đi tới khi rừng này vào lúc nửa đêm thì người dẫn đường và ngựa sẽ chờ ở đó.

Thằng bé bất hạnh bị sa vào bẫy đúng giờ hẹn, cậu đi đến khu rừng thưa và nhận ra Hayes ở đấy.

Hayes cưỡi một con ngựa và Arthur ngồi lên yên một con ngựa Poney rất nhỏ con.

Nhưng Hayes phát giác có người đang đuổi theo.

Hắn dùng dùi cui đánh vào người đuổi theo vài lần.

Anh ta đã chết vì thương tích.

Hayes đưa Arthur tới khách sạn của mình, Nhốt cậu bé ở trên lầu, bắt bà Hayes, một người đàn bà phúc hậu nhưng hoàn toàn lệ thuộc vào người chồng, coi giữ đứa bé.

James hành động như vậy là vì mù quáng, vì căm phẫn.

Cháu cho rằng tất cả thái ấp của tôi cần được chuyển giao cho cháu, rằng cháu không thể bình tâm để bàn về quyền thừa kế tài sản đang tồn tại ở chỗ chúng tôi.

Cháu yêu cầu tôi để cho cháu quyền thừa kế thái ấp.

Chỉ có như vậy cháu mới trả Arthur lại cho tôi.

Cháu biết rất rõ là không đời nào tôi lại giao cháu cho cảnh sát.

Nhưng những sự kiện đã đảo lộn nhanh tới mức cháu không thể thực hiện kế hoạch của mình.

James hoảng sợ khi biết người thầy giáo đã chết.

Chúng tôi biết chuyện đó vào ngày hôm qua do tiến sĩ báo.

Bức điện đã đẩy James vào tình trạng lo sợ.

Tôi kết tội cháu thẳng thừng.

Cháu thành thật nhận lỗi nhưng cố van nài tôi trì hoãn hai ngày để tên tòng phạm được cứu thoát.

Tôi đã nhân nhượng như đã từng nhân nhượng cháu trong mọi trường hợp.

Khi đó James lao đến quán trọ, báo cho Hayes biết trước và giúp hắn chạy trốn.

Tôi không thể đi đến đấy lúc còn sáng, tôi chờ tối hẳn mới đến chỗ Arthur.

Thằng bé vẫn bình an vô sự.

Nhưng vụ giết người đã gieo một ấn tượng khủng khiếp xuống đứa bé.

Nhớ lời hứa bất đắc dĩ tôi phải để Arthur ở lại quán trọ chừng ba ngày.

Bởi vì không thể báo những điều này cho cảnh sát mà lại không tố giác kẻ giết người, và khi Hayes bị bắt thì sẽ khốn khổ, ông Holmes, tôi đã nói hết sự thật, giờ mong ông rộng lượng giúp tôi.

- Được, thưa Ngài.

Trước pháp luật, tình trạng của Ngài là cực kì nghiêm trọng.

Ngài giúp kẻ giết người chạy trốn, vì James Wilder đã lấy tiền từ túi Ngài giúp cho hắn tẩu thoát.

Viên công tước nghiêng đầu im lặng.

- Đúng, tình trạng rất nghiêm trọng.

- Thế nhưng dưới con mắt của tôi thì cách cư xử của Ngài với cậu bé còn đáng lên án hơn.

Ngài đã để cậu bé sống trong cái nhà gian phi suốt ba ngày!

- Chúng đã cam đoan với tôi là...

- Lẽ nào lại tin vào lời thề của hạng người ấy.

Nếu chúng giấu biệt cậu bé vào một nơi nào đó thì sao?

Chiều ý đứa con trai tội lỗi, Ngài đã buộc đứa trẻ vô tội phải chịu cảnh nguy hiểm.

Không, không thể biện hộ cho hành động của Ngài được!

Viên đại thần kiêu hãnh vốn không quen nghe những lời chống đối như thế, nhất là ngay trong dinh thự của mình.

Mặt ông ta đỏ lên, song lương tâm buộc ông ta phải câm lặng.

- Tôi sẽ giúp ông nhưng với điều kiện: Hãy gọi người hầu lại đây và yêu cầu anh ta thực hiện mệnh lệnh của tôi.

Không nói lấy một lời, công tước đưa tay ấn nút chuông điện.

Một người đầy tớ bước vào phòng.

- Huân tước Saltire đã được tìm thấy!

- Holmes nói với người hầu - Công tước ra lệnh hãy mau chóng đưa một cỗ xe ngựa đến quán trọ "Gà Chọi" rước huân tước về.

- Còn bây giờ - Holmes nói khi người hầu đã chạy ra khỏi phòng làm việc, mặt rạng rỡ lên vì sung sướng.

- Chúng ta có thể đối xử một cách khoan dung với dĩ vãng.

Tôi không thấy cần thiết báo cho chính quyền về tất cả những gì tôi đã biết.

Còn Hayes thì đấy là chuyện khác.

Giá treo cổ đang chờ hắn.

Tôi sẽ không nhúng tay để cứu mạng sống của hắn.

Còn việc hắn lộ bí mật của Ngài hay không, tôi không biết.

Tuy nhiên, Ngài có thể gợi ý để hắn nói những điều vô nghĩa ngoài trách nhiệm của hắn.

Ở sở cảnh sát người ta sẽ kết án hắn bắt cóc chú bé để nhận tiền chuộc.

Nếu ở đó người ta không dò xét gì sâu hơn thì họ sẽ không đến đây.

Có điều việc ông James Wilder vẫn còn lưu lại ở nhà Ngài là việc không tốt.

- Cháu sẽ vĩnh viễn rời khỏi lâu đài và sẽ lên đường sang nước Úc!

- Thưa Ngài, Ngài không cố gắng hòa giải với công tước phu nhãn và thu xếp ổn thỏa cuộc sống gia đình hay sao?

- Sáng nay tôi đã viết thư cho nữ công tước rồi?

- Nếu vậy, - Holmes vừa nói vừa đứng dậy - Tôi và bạn tôi có thể xin chúc mừng Ngài.

Chỉ còn một vấn đề tôi chưa được rõ lắm.

Những con ngựa của Hayes được đóng móng thế nào để người ta có thể lầm lẫn vết móng của nó với vết móng của bò cái?

Ai đã mách hắn làm chuyện đó?

Không phải ông Wilder chứ?

Đôi lông mày của công tước nhíu lại ông im lặng đến một phút.

Thế rồi, ông mở cửa phòng bên cạnh hiện đang được dùng làm bảo tàng của gia đình ông.

Ông dẫn chúng tôi đến gần chiếc tủ trưng bày ở góc của căn phòng, chỉ cho chúng tôi xem những hàng chữ dưới tấm kính.

"Những chiếc móng ngựa sắt này đã được tìm thấy trong các cuộc khai quật tại một khu vực thuộc vùng Holdernesse.

Chúng được dùng cho ngựa nhưng người ta đã rèn chúng dưới hình thức móng bò cái được tách đôi ra.

Rõ ràng, vào thời trung cổ, các quan đại phu phong kiến khi đi cướp bóc đã sử dụng biện pháp này nhằm đánh lạc hướng những người đuổi bắt".

Holmes nâng nắp kính lên rồi lấy tay xoa vào một trong những cái móng ngựa.

Bàn tay anh dính vết bẩn đen thẫm: bùn đầm lầy vẫn chưa kịp khô hẳn.

- Cám ơn Ngài.

Đấy là điều thứ hai ở chỗ Ngài khiến tôi đặc biệt quan tâm.

- Thế còn điều thứ nhất?

Holmes gập tấm séc làm đôi, thận trọng vào giữa cuốn sổ của mình.

- Tôi là người không thật giàu có lắm!

Anh nói và nhét cuốn sổ tay sâu hơn vào trong túi trong...

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D6 Peter Hắc Ám


PETER HẮC ÁM

THE ADVENTURE OF BLACK PETER

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Chưa khi nào tôi thấy bạn tôi vui vẻ, phấn khởi, tràn đầy sinh lực như buổi sáng hôm nay, một buổi sáng của năm 1895.

Tên tuổi của anh ngày càng nổi tiếng, công việc làm ăn ngày càng bận bịu.

Từ sự tôn trọng, kính nể đối với những bí mật của người khác, tôi không cho phép mình rẻ rúng những cái tên của những con người tuyệt vời, đặc sắc mà có lúc gặp cảnh éo le đã phải tới gõ cửa ngôi nhà tồi tàn của chúng tôi ở hẻm Baker.

Cần nói thêm, Holmes như một nhà họa sĩ lỗi lạc, đã làm việc thì lao vào chỉ vì tình yêu, lòng say mê nghệ thuật không hề biết mệt mỏi.

Tôi chưa hề nghe (trừ trường hợp duy nhất đối với ngài công tước xứ Holdernesse) anh yêu cầu món tiền thưởng nào cho công lao vô bờ bến của mình.

Anh là một người vô tư đến nỗi không ít trường hợp anh đã từ chối giúp đỡ những kẻ giầu sang phú quý: nếu như không thấy trong việc điều tra khám phá những bí mật của họ một cái gì là say mê, lôi cuốn, hấp dẫn.

Trong khi đó anh dành thời gian hàng tuần lễ để nghiên cứu công việc cho những người nghèo khổ; nếu như việc ấy trông chừng hắc búa và gay cấn, làm cho anh phải đem hết khả năng nghề nghiệp của mình ra sử dụng.

Trong năm 1895 đáng ghi nhớ ấy, Holmes đã giải quyết một loạt những vụ việc quan trọng, lý thú, muôn hình muôn vẻ khác nhau.

Bắt đầu từ chuyện tìm hiểu nguyên nhân cái chết đột ngột của Hồng y Giáo chủ Tosca (theo đề nghị chính thức của tòa thánh Vatican) và kết thúc bằng việc bắt giam tên tội phạm Wilson.

Tiếp theo những vụ trọng đại nổi đình, nổi đám kia là sự việc đau lòng xảy ra ở phố Woodman's Lee: Thuyền trưởng Peter Carey bị giết trong một cảnh tượng khủng khiếp nhất và bí hiểm nhất.

Tập ghi chép của tôi về hoạt động của Sherlock Holmes sẽ hẫng lớn nếu trong đó thiếu câu chuyện rùng rợn quá sức tưởng tượng này.

Suốt trong tuần đầu của tháng 7 bạn tôi hay đi và đi rất lâu, làm tôi phải hiểu là anh đang bận một chuyện gì đó.

Trong những ngày này vài ba người trông dáng cau có, thô thiển đã ba bốn bận tới lui.

Họ nói là họ muốn gặp thuyền trưởng Basil.

Điều đó làm cho tôi hiểu ra là Holmes đang đóng giả một cái tên để tiến hành một vụ điều tra mới.

Ở một số nơi trong London, Holmes có ít ra là năm chỗ ở bí mật, nơi mà anh có thể thay hình đổi dạng, không ai có thể phát hiện ra, Holmes không hề thổ lộ cho tôi những công chuyện mới mẻ kia; còn tôi thì không bao giờ có chuyện thóc mách đi hỏi những điều thầm kín của anh.

Lần đầu tiên Holmes, không theo lệ thường, đã báo cho tôi biết hiện giờ anh đang tiến hành công việc theo hướng nào.

Trước bữa ăn sáng, anh ra khỏi nhà; nhưng khi tôi vừa mới ngồi vào bàn, đã thấy anh chạy xộc vào phòng, không kịp bỏ mũ xuống, ở nách anh cặp một đồ dùng để xiên cá, trông giống như chiếc dù khá lớn.

- Quỷ tha ma bắt cậu đi Holmes!

- Tôi thốt lên, - Không lẽ cậu định dạo chơi ở London với của nợ ấy hay sao?

- Không, tớ vừa ghé lại chỗ người bán thịt.

- Từ chỗ người bán thịt về?

- Không những thế mà còn về nhà với tâm trạng sảng khoái nữa chứ.

Cậu biết không, trước bữa ăn nên tập thể dục một tí, có lợi cho sức khỏe lắm.

Cậu thử đoán xem bài thể dục buổi sáng của tớ vừa rồi là gì?

- Tớ không hơi đâu mà đi đoán cái chuyện nhảm nhí ấy của cậu.

Holmes bỗng phá lên cười và rót cà phê ra tách.

- Cậu có nhìn thấy căn phòng phía sau của tiệm Allardyce, ở trên trần có treo một con lợn thịt vừa mới mổ xong, còn nguyên vẹn, và một gã đàn ông cởi trần trùng trục, đang toát mồ hôi cầm cái xiên này chọc tấm thịt kia.

Gã đàn ông ấy chính là tớ.

Nhưng than ôi!

Mình tớ với một cú đâm không thể nào chọc thủng nổi tấm thịt ấy được.

Cậu có muốn thử sức một tí không?

- Chẳng được tích sự gì.

Nhưng cậu làm thế để làm gì?

- Tớ nghĩ rằng, chuyện này có dính líu tới việc bí hiểm đã xảy ra ở Woodman's Lee...

A, chào ngài Hopkins, tối hôm qua tôi có nhận được bức điện của ngài, và đang đợi ngài đây.

Mời ngài vào, và xin mời ngài dùng bữa sáng, với chúng tôi một thể.

Một người đàn ông gày gò, nhanh nhẹn, trạc ba mươi tuổi bước vào phòng.

Anh ta mặc trong người một chiếc áo len giản dị, nhưng trông điệu bộ của anh ta dễ thấy rằng anh ta có thói quen mặc quân phục.

Tôi nhận ra ngay anh chàng Stanley Hopkins, viên thanh tra trẻ tuổi của Sở cảnh sát, mà theo lời nhận xét của Holmes, là một người có năng lực hơn cả.

Ngược lại, Hopkins tự cho mình là học trò của Holmes - người thám tử lão luyện, dày dạn kinh nghiệm và luôn luôn thán phục những phương pháp đầy tính khoa học của anh.

Bộ mặt của Hopkins trông có vẻ cau có, quàu quạu anh ta ngồi phịch xuống ghế bành, dáng điệu rầu rĩ thảm hại.

- Mời ngài cứ tự nhiên, cảm ơn ngài, tôi cũng vừa ăn sáng xong.

Tôi đã ngủ lại thành phố, vì phải đến đây để trình bày một số vấn đề với ngài.

- Ngài sẽ trình bày những vấn đề gì?

- Thưa ngài, về chuyện thất bại của tôi.

- Việc của ngài không tiến triển thêm chút nào sao?

- Thưa ngài, không.

- Không lẽ lại như thế?

Kiểu này tôi buộc lòng phải nhúng tay vào giải quyết thôi.

- Vì Chúa, tôi mong ngài giúp đỡ!

Lần đầu tiên người ta giao cho tôi công việc khá quan trọng, tôi không đủ sức đảm đương.

Xin ngài cố gắng giúp cho!

- Thôi được, tôi cũng đã nắm trong tay một số dữ kiện của cuộc điều tra.

Ngài có suy nghĩ gì về túi đựng thuốc tìm thấy nơi xảy ra vụ án?

Trong đó liệu có tìm ra chìa khóa để mở và giải đáp những điều bí ẩn hay không?

Hopkins dường như ngạc nhiên:

- Thưa ngài, túi đựng thuốc lá là của người bị giết.

Bên trong túi có ghi mấy chữ cái viết tắt và nó được làm bằng loại da hải cẩu.

Người bị giết trước đây nhiều năm đã làm nghề săn bắn hải cẩu.

- Nhưng trong người ông ta không tìm thấy một chiếc tẩu thuốc nào hết!

- Đúng vậy, thưa ngài, chúng tôi không tìm thấy chiếc tẩu thuốc ở đâu cả.

Rõ ràng là ông ta hút rất ít.

Cũng có thể ông ta giữ thuốc để mời bạn bè.

- Không thể chối cãi điều đó.

Tôi muốn đề cập tới vấn đề này cũng chỉ vì, nếu tôi là người thân chinh điều tra vụ án, tôi sẽ lấy cái túi đựng thuốc lá làm xuất phát điểm cho việc điều tra, thăm dò tiếp theo.

Tuy vậy, bạn tôi, bác sỹ Watson đây chưa được nghe kể về chuyện này, và tôi cũng không từ chối được nghe lại lần nữa.

Ngài hãy kể tóm tắt cho chúng tôi nghe những gì thật quan trọng.

Hopkins lôi từ trong túi ra một tờ giấy nhỏ.

- Tôi có nắm được một đôi điều về cuộc đời của ngài thuyền trưởng Peter Carey đã chết.

Ông ta sinh năm 1845, nghĩa là đã 50 tuổi.

Ông ta được đánh giá là một trong những tay săn hải cẩu, cá voi can đảm nhất và thành đạt nhất.

Năm 1883 ông ta đã chỉ huy một chiếc thuyền săn chạy bằng buồm mang tên "Sea Unicorn" ra đi từ Dundee, cũng trong năm ấy ông ta thực, hiện một loạt chuyến đi thành công.

Năm sau ông ta xin từ chức.

Sau đó đi chu du khắp nơi trong vòng vài ba năm.

Cuối cùng mua một biệt thự nhỏ "Woodman's Lee" bên cạnh Forest Row, Sussex.

Ông ta đã sống 6 năm ở đây.

Và chết cách đây đúng một tuần.

Ông ta là một người khác thường.

Trong cuộc sống thường lặng lẽ, rầu rĩ, hay cau có và khó tính vô cùng.

Gia đình của ông gồm có vợ và cô con gái 20 tuổi.

Công việc trong nhà do hai cô hầu gái trông nom lo liệu.

Những người hầu gái kia được thay đổi thường xuyên; có lẽ họ sống trong đó không được dễ chịu cho lắm, họ không thể nào chịu được trong thời gian dài.

Carey rất hay uống rượu, mỗi khi cơn nghiện nổi lên, ông ta trở thành một con quỷ dữ tợn.

Đã có lần giữa đêm khuya ông ta đuổi vợ con ra khỏi nhà, và đưa nắm đấm ra dọa họ, rượt họ chạy khắp cả vùng.

Và họ la hét ầm ĩ đến nỗi làm cho những người ở làng bên phải thức giấc.

Có lần ông ta bị gọi ra tòa vì tội đã đánh trọng thương một cha cố già, khi ông này định giáo huấn tu tỉnh, hối cải cho lão ta.

Tóm lại, thưa ngài Holmes, khó tìm thấy một người nào nguy hiểm hơn lão Peter Carey.

Tôi được nghe người ta nói, trong lúc còn chỉ huy con tàu, tính tình của lão ta cũng như vậy.

Ở giới thủy thủ gọi lão ta là Peter "hắc ám", không phải chỉ do bộ mặt của lão đen đủi và bộ râu rậm đen, mà còn là do tính cộc cằn, hung dữ, điên rồ của lão; tính ấy đã làm cho mọi người phát sợ.

Không có gì là khó hiểu khi mọi người căm ghét và tránh xa lão ta, và tôi không hề nghe một lời xót thương cho cái chết của lão.

Thưa ngài Holmes!

Có lẽ ngài đã được đọc bản điều tra ghi trong biên bản nói về ngôi nhà của người ấy, nhưng chắc bạn ngài chưa nghe nói về nó thì phải.

Cách ngôi nhà chính không xa, tay thuyền trưởng đã dựng cho mình một căn nhà phụ bằng gỗ; mà ông ta luôn mồm gọi là "cabin"; cứ đêm đến, ông ta lại ra đấy ngủ.

Đó là một chiếc lều một phòng nhỏ nhắn, diện tích độ 16x10 feet; ông ta luôn giữ chìa khóa trong người, không muốn cho bất cứ một ai lọt vào đó; ông tự mình dọn dẹp, tự mình trải khăn, trải giường.

Trên hai bức tường của ngôi nhà có đục hai cửa sổ nhỏ.

Cả hai cửa sổ bao giờ cũng đóng kín mít, có một cửa sổ trông ra con đuờng làng.

Có lần trong căn nhà này đèn thắp suốt đêm, những người qua đuờng ngạc nhiên tự hỏi: tay Peter đang làm cái gì trong đó?

Chính cửa sổ ấy - thưa ngài Holmes đã giúp chúng tôi xác định một vài chi tiết đáng luu ý trong quá trình điều tra.

Hẳn ngài còn nhớ, người thợ đập đá tên là Slater đã đi qua Forest Row vào khoảng một giờ đêm trước khi xảy ra vụ giết người 2 ngày, đã dừng lại trước cơ ngơi của lão Carey, ông ta nhìn theo vệt sáng xuyên qua những đám cây.

Anh ta thề là đã trông thấy bóng dáng người đàn ông hiện lên rất rõ trên nền chiếc trèm che cửa sổ.

Nhưng đó không phải là bóng của Peter Carey, vì anh chàng Slater biết khá rõ lão Carey này.

Người đàn ông kia cũng để râu, nhưng râu người này ngắn hơn, thả xuống chứ không như râu lão Carey.

Người thợ đập đá khẳng định như vậy.

Cần nói thêm là, trước đó anh ta đã ngồi trong quán rượu suốt 2 giờ đồng hồ, và khoảng cách từ đuờng cái tới cửa sổ cũng khá xa.

Những điều anh ta nói là vào ngày thứ hai, còn vụ giết người lại xảy ra vào ngày thứ tư.

Thứ ba Peter Carey ở trong tình trạng sợ hãi nhất, lão ta hoàn toàn say mềm, không còn biết gì nữa, lão như một con thú dữ bị thương, thật dữ dằn và nguy hiểm vô cùng.

Lão ta đi lang thang quanh nhà; đám đàn bà con gái hễ nghe thấy tiếng của lão là chạy vào nhà đóng nhặt cửa lại.

Cho đến tối mịt lão ta mới trở về "cabin" của mình.

Cô con gái ngủ trong buồng bao giờ cũng mở cửa sổ.

Gần hai giờ sáng, từ phía "cabin" bỗng vang lên một tiếng kêu khủng khiếp, cô con gái không lấy đó làm vấn đề quan trọng, vì cho rằng, lão Carey trong lúc say rượu vẫn thường la hét, chửi rủa om sòm.

Bảy giờ sáng, sau khi thức dậy người đầy tớ phát hiện ra cánh cửa của ngôi nhà của lão Carey bị mở toang ra, nhưng vì vốn sợ lão cho nên mãi tới trưa vẫn không ai dám bén mảng tới gần chỗ lão ta.

Khi nhìn

vào cánh cửa bị mở toang họ trông thấy một cảnh tượng rùng rợn và hoảng sợ đến run người.

Họ ba chân bốn cẳng chạy vào làng.

Một tiếng đồng hồ sau, tôi có mặt tại hiện trường và bắt tay vào điều tra.

Ngài biết đấy, thần kinh của tôi rất vững, nhưng thú thật tôi cũng thấy choáng váng khi nhìn vào căn nhà bé nhỏ đó.

Toàn bộ người lão ta bị một đàn ruồi bu đen kịt; nền nhà, mấy bức tường trông như là một lò sát sinh.

Tay thuyền trưởng đã gọi căn nhà này là "cabin" cũng không ngoa.

Khi bước vào đó, ngài có cảm tưởng như đang ở trên con tàu ở cuối phòng kê một chiếc giường gỗ bé nhỏ; bên cạnh là cái rương, trên mấy bức tường treo đầy những tấm bản đồ đuờng biển, bức ảnh chụp con tàu "Sea Unicorn"; một chồng họa báo, ảnh về ngành đóng tàu chất đầy trên giá sách.

Tất cả những thứ ấy giống y như buồng chỉ huy của một thuyền trưởng.

Trong mớ hỗn độn đó, nguời thuyền trưởng, khuôn mặt méo xệch, trông như bộ mặt của một tên vi phạm, đang bị hành hạ dưới địa ngục, bộ râu rậm đen láy dựng đứng lên trong cơn vật lộn giãy chết.

Bộ ngực nở nang bị chiếc lao bằng thép đâm thủng.

Ngọn lao xiên cá đâm suốt cả người và găm sâu vào tường bằng gỗ.

Lão Carey bị dính chặt vào bức tường, trông như một con bọ hung bị người ta dùng kim băng găm vào bìa carton.

Tất nhiên lão ta bị chết đúng vào giây phút phát ra tiếng gào thét ghê rợn.

Tôi đã làm quen với phương pháp điều tra của ngài, ngay lập tức tôi đem ra ứng dụng.

Sau khi ra lệnh cho mọi người giữ nguyên hiện trường, tôi chăm chú xem xét kỹ lưỡng mảnh đất từ bên ngoài cửa, và tấm sàn ở trong phòng.

Nhưng không phát hiện được dấu vết gì cả.

- Ngài định nói là ngài không trông thấy dấu vết?

- Thề với ngài, ở đấy không hề có một dấu vết nào hết.

- Anh bạn Hopkins thân mến ơi, tôi đã từng khám phá, điều tra nhiều vụ án; nhưng chưa bao giờ gặp phải tên tội phạm nào có cánh cả.

Một khi kẻ tội phạm đi bằng chân, thì hắn ta nhất thiết phải để lại ít nhất một dấu vết nào đó.

Và người nắm vững các phương pháp điều tra một cách khoa học nhất định sẽ phát hiện ra sự thay đổi không đáng luu ý nhất trong sự sắp xếp đồ dùng xung quanh.

Tôi không thể nào tin vào chuyện trong căn phòng ngập đầy kia lại không để lại những dấu vết có thể giúp chúng ta truy lùng ra chân dung tên tội phạm...

Cũng cần nói thêm, từ biên bản điều tra tôi thấy vài ba chỗ thậm chí ngài không chịu chú ý tới.

Tay thanh tra non trẻ cau mặt lại.

Lời nhận xét khá sắc bén của Sherlock Holmes đã làm cho anh ta sáng mắt lên.

- Tôi đã làm một chuyện ngu ngốc, thưa ngài Holmes, là đã không mời ngài tham gia ngay từ đầu vụ án.

- Anh ta thú nhận.

- Thế nhưng, đến bây giờ vẫn còn khả năng cứu vãn được tình thế.

Vâng, trong phòng còn một vài vật đáng chú ý.

Bắt đầu có lẽ từ ngọn lao xiên cá được dùng để giết tên thuyền trưởng.

Có người nào đó đã lấy ngọn lao xuống khỏi bức tường.

Hai ngọn lao treo trên hai cái móc, còn móc sắt thứ ba bỏ không.

Trên cán ngọn lao cá có khắc dòng chữ "SS.

Sea Unicorn, Dundee.".

Điều đó chứng tỏ, vụ án mạng đã xẩy ra trong một cơn tức giận và kẻ giết người đã vơ lấy thứ vũ khí đầu tiên mà hắn với được.

Còn về việc lão Carey ăn mặc nghiêm chỉnh, đàng hoàng khi mà vụ giết người được thực hiện vào lúc hai giờ sáng, thì chứng tỏ lão Carey đã hẹn gặp gỡ với tên sát nhân.

Một chai rượu Rum và hai chiếc ly bẩn còn nằm trên bàn đã chứng minh cho điều đó.

- Đúng.

- Holmes đáp, - Hai nhận xét trên của ngài có thể chấp nhận được.

Thế ở trong phòng ngoài rượu Rum ra còn loại rượu nào khác không?

- Vâng, có ạ.

Trên rương có một chiếc khay, trên đó có hai chai ruợu brandy và whisky.

Những thứ ấy không có ý nghĩa gì.

Cả hai chai còn đầy rượu.

Nghĩa là họ chưa đụng đến.

- Dẫu sao, sự có mặt của hai thứ rượu kia cũng có một ý nghĩa nhất định nào đó.

- Holmes phản lại.

Theo ý ngài, còn vật nào ngài thấy có dính líu đến vụ án này?

- Trên bàn còn một túi đựng thuốc lá.

- Chính xác, nằm ở đâu?

- Ở ngay chính giữa bàn.

Nó được làm bằng loại da hải cẩu thô và cứng.

Bên trong có đề hai chữ cái "P.C".

Trong túi còn độ một nửa ounce thuốc lá loại nặng mà các thủy thủ thường dùng.

- Rất tuyệt.

Còn gì nữa không?

Stanley Hopkins lôi trong túi ra một quyển sổ ghi chép bìa vàng xám.

Tấm bìa đã bị rách nham nhở, còn những trang giấy ghi chép bên trong đã bị vàng ố và bạc màu.

Ngay trên trang đầu đề có mấy chữ viết tắt "J.

H.

N." và năm "1883".

Holmes đặt quyển sổ xuống bàn và bắt đầu quan sát tỉ mỉ.

Trong lúc đó tôi và Hopkins nhìn qua vai anh.

Trên trang thứ hai chúng tôi trông thấy mấy chữ cái "C.

P.

R.,"; tiếp theo trang 2, ba trang sau toàn là những con số chằng chịt.

Ở những trang khác ghi mấy chữ "Argentine,", "Costa Rica,", "Sau Paulo" và tiếp theo là những cột chữ số và những dấu hiệu nào đó.

- Ngài có suy nghĩ gì về những dòng ghi chép này?

Holmes hỏi.

- Dường như đó là ghi chép của công ty giao dịch.

Tôi cho chữ "J.H.N" là chữ viết tắt của người giao dịch viên, còn "C.P.R" có lẽ là tên của người bạn hàng anh ta.

- Hoặc chữ "C.P.R" có nghĩa thế này "Canadian Pacific Railway," - Holmes có ý kiến khác.

Stanley Hopkins lẩm bẩm và tự vỗ vào trán mình.

- Tôi mới ngốc nghếch làm sao!

- Anh ta thốt lên.

- Tất nhiên ngài nói đúng.

Bây giờ chúng ta chỉ còn nhiệm vụ giải mã mấy chữ "J.H.N".

Tôi đã xem xét tất cả những giấy tờ lưu trữ của công ty trong năm 1883.

Tôi không tìm thấy một người giao dịch nào có tên với những chữ cái như thế kia.

Dẫu sao tôi cũng đã chọn đúng huớng.

Thật ra thưa ngài, hoàn toàn có khả năng đó là chữ viết tắt của người đã đến thăm lão Carey trong đêm khuya hôm ấy.

Nói cách khác, đó là tên của kẻ giết người chăng?

Còn quyển sổ tay này, trong đó liệt kê nhiều giấy tờ giá trị như vậy có thể giúp chúng ta tìm ra những nguyên nhân, động cơ dẫn tới vụ án mạng.

Dựa theo nét mặt của Sherlock, tôi thấy rõ một điều là anh hoàn toàn bị bất ngờ với sự phát hiện mới mẻ này.

- Tôi sẵn sàng thừa nhận những nhận xét của ngài có giá trị, - Anh nói.

- Cuốn sổ ghi chép này trong biên bản điều tra không thấy nói đến, nên phần nào đã làm thay đổi nhận định ban đầu của tôi.

Trong giả thuyết về vụ án của tôi không có chỗ cho nó.

Còn ngài định đi tìm kiếm những chủ nhân của mấy tờ giấy giá trị này phải không?

Holmes tiếp tục xem xét tấm bìa của cuốn sổ dưới chiếc kính lúp phóng đại.

- Ở đây có một vết bẩn, - anh lên tiếng.

- Vâng, thưa ngài đó là vết máu.

Tôi đã nói với ngài là cuốn sổ được nhặt từ dưới sàn nhà.

- Vết máu dính ở mặt trên hay mặt dưới?

- Ở mặt dưới nằm dí dưới sàn nhà.

- Nghĩa là, quyển sổ này rơi xuống nền nhà sau khi xảy ra vụ giết người.

- Đúng vậy, thưa ngài Holmes.

Tôi nghĩ kẻ giết người trong lúc vội vội vàng vàng đã đánh rơi nó.

Cuốn sổ nằm ngay chỗ cửa ra vào.

- Có khả năng...

Ngài có tìm thấy một tờ nào trong số những giấy tờ giá trị kia trong đống tài sản của kẻ bị chết hay không?

- Không thấy, thưa ngài.

- Ngài có đủ cơ sở để nghĩ rằng đây là một vụ cướp bóc hay không?

- Thưa ngài không, dường như không có vật gì bị cướp đi.

- Có trời mới biết được!

Trường hợp này thú vị thật.

Ở đấy có con dao hả?

- Con dao còn nằm trong vỏ, người ta không kịp rút nó ra.

Nó nằm ngay dưới chân kẻ bị giết.

Bà vợ người quá cố nói rằng con dao này là của chồng

Holmes trầm ngâm suy nghĩ:

- Thôi được, - anh đáp, - tôi nghĩ, có lẽ tôi phải đi đến đó và xem xét tại chỗ.

Stanley Hopkins vui sướng thốt lên:

- Cám ơn ngài!

Điều đó sẽ gỡ bớt được gánh nặng trên người tôi.

Holmes dí ngón tay dọa dọa viên thanh tra:

- Mọi việc sẽ đến giản hơn rất nhiều, nếu như được giải quyết cách đây một tuần.

- Anh nói.

- Nhưng cho đến bây giờ cuộc thăm viếng của tôi vẫn có thể mang lại một ích lợi nào đó cho vụ án.

Watson, nếu cậu không bận việc gì, thì tớ thật sung sướng được ra đi với cậu.

Hopkins, ngài đi gọi ngay xe ngựa, chúng ta sẽ cùng đi đến Forest Row trong nửa giờ nữa.

Sau khi xuống một trạm xe nhỏ bé, chúng tôi còn phải đi tiếp vài ba dặm nữa trên một con đuờng xuyên qua cánh rừng rậm rạp.

Khu vực khỉ ho cò gáy này, trong một thời gian dài 60 năm là những pháo đài của Anh Quốc.

Những khu rừng bát ngát đã bị đốn trụi, bởi ở đây đã mọc lên những nhà máy luyện gang thép đầu tiên trong nước; để nấu quặng thì cần gì tới rừng.

Ngày nay, nền công nghiệp đã chuyển về những vùng giàu có của miền Bắc, chỉ có cánh rừng là đã bị thưa đi, và những rãnh, luống đồ sộ còn in dấu nằm lại trên mặt đất, như nhắc nhở chúng ta nhớ về một thời sôi động đã qua.

Trong một khoảng trống trên triền dốc xanh rì của ngọn đồi là một dãy nhà dài, xây bằng những tảng đá không được gọt giũa, có một con đuờng quanh co uốn khúc dẫn tới ngôi nhà.

Con đuờng này hắt lên lấp lánh giữa những cánh đồng.

Gần con đuờng, từ ba phía bị những bụi cây sum suê bao kín, một chiếc lều bé nhỏ trơ trọi ở đó, quay cửa sổ và cửa ra vào như tò mò ngắm nhìn những kẻ qua đuờng.

Chính ở đây đã xảy ra vụ giết người.

Stanley Hopkins dẫn chúng tôi vào nhà giới thiệu với một người đàn bà tóc bạc trắng đang cau có - bà vợ góa của kẻ quá cố.

Một khuôn mặt phờ phạc, những nếp nhăn sâu hoắm và cái nhìn đầy kinh hãi của cặp mắt sưng húp cùng với hàng mi mọng đỏ chứng tỏ bà ta đã phải trải qua những năm tháng đầy tủi nhục và đắng cay uất hận.

Cô con gái, một cô gái tóc vàng, vóc dáng xanh xao, hừng hực cặp mắt lấp lánh, tuyên bố cô ta rất sung sướng vì cái chết của người cha; và rất đội ơn đôi bàn tay của ai đó đã đem đến cái chết cho ông ấy.

Peter Carey đã gây nên một không khí ngột ngạt, sợ hãi trong gia đình.

Chúng tôi cảm thấy dễ chịu khi đi duới bầu trời tự do trên con đuờng mòn dẫn ngang qua cánh đồng do thuyền trưởng quá cố đã tạo nên.

Ngôi nhà được xây dựng quá sơ sài, vật liệu toàn bằng gỗ với hai mái gỗ nhẹ và hai cửa sổ, một cửa sổ nằm ngay bên cạnh cửa chính, còn cửa sổ kia nằm đối diện.

Stanley Hopkins lấy ra chiếc chìa khóa và tra vào ổ khóa.

Bỗng nhiên anh ta dừng lại, trên nét mặt lộ rõ sự ngạc nhiên sửng sốt và chăm chú căng thẳng.

- Có ai đó muốn nạy ổ khóa này.

- Anh ta nói.

- Điều này không còn nghi ngờ gì nữa.

Cánh cửa bị cào xước, những vết xước trắng hiện lên khá rõ trên lớp sơn, dường như có một người nào đó vừa mới cào vào.

Holmes nhìn vào cửa sổ:

- Cánh cửa sổ cũng bị ai đó cố tình mở, nhưng rõ ràng là không mở được.

Điều này chứng tỏ kẻ cạy cửa không phải là một tay thuộc loại chuyên nghiệp.

- Chuyện này thật kỳ cục.

- Viên thanh tra nói.

- Tôi có thể khẳng định với ngài, tối hôm kia những vết này chưa hề có.

- Hay là một kẻ ngố nào đó trong làng ra đây vì tò mò cũng nên?

- Tôi thử đề xuất ý kiến.

- Không thể như thế đâu.

Trong truờng hợp vừa xảy ra vụ chết chóc, hiếm có người dám lảng vảng ghé đến sân ngôi nhà, chứ chưa nói chuyện cả gan dám cạy khóa căn phòng "cabin".

Những kẻ gan dạ như vậy khó tìm lắm.

Còn ngài, ngài nghĩ gì về sự việc này thưa ngài Holmes?

- Tôi cho là chúng ta đã gặp may.

- Ngài cho rằng người ấy sẽ quay lại đây lần nữa hay sao?

- Rất có khả năng.

Hắn ta đã dùng con dao nhíp nhỏ xíu để cạy cửa, cái đó không giúp gì cho hắn, hắn ta sẽ làm gì bây giờ?

- Tối hôm sau sẽ trở lại vời một dụng cụ thích hợp hơn.

- Ngài nói đúng.

Thật là ngốc, nếu chúng ta không ngồi chờ hắn ở đây.

Bây giờ ngài cho phép tôi được ngắm nhìn "cabin" bên trong.

Những vết tích của chuyện tang thương đã được dọn dẹp, nhưng giường, bàn ghế kê trong phòng vẫn để y nguyên chỗ cũ; như đêm xảy ra vụ giết người.

Trong vòng 2 giờ, Holmes đã xem xét tỉ mỉ từng vật một, nhưng dựa theo nét mặt của anh có thể đoán công cuộc tìm kiếm này không mang lại kết quả gì.

Chỉ một lần anh dừng công việc điều tra tỉ mỉ của mình lại.

- Hopkins, ngài có lấy một vật gì để trên giá sách hay không?

- Không, tôi không hề đụng tới một vật gì hết.

- Nếu vậy, ở đây có cái gì đã bị lấy đi, trong góc giá sách ở chỗ kia bụi bám hơi ít hơn một chút.

Có lẽ có một quyển sách hay một cái hộp nào đó đã nằm ở đấy...

Thôi tạm đủ.

Chúng ta hãy đi dạo trong khu rừng tuyệt diệu này, để cùng nhau thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên, ngắm chim, ngắm hoa.

Hopkins, chúng ta sẽ gặp lại ở đây, không biết tối nay chúng ta có được hân hạnh làm quen với anh chàng nạy khóa kia hay không?

Đúng 12 giờ khuya, chúng tôi tổ chức một cuộc phục kích.

Hopkins thì muốn để trống cửa không có khóa, nhưng Holmes lại lo ngại chuyện đó sẽ làm cho kẻ kia đề phòng, bởi ổ khóa không phức tạp cho lắm, chỉ cần một con dao chắc chắn một chút là có thể cạy được.

Holmes cũng đề nghị chúng tôi không nên ngồi trong nhà phục kích, mà ngồi bên ngoài, dưới những lùm cây mọc cạnh cánh cửa sổ thứ hai.

Bằng cách đó chúng tôi có thể theo dõi truy kích kẻ kia.

Nếu như hắn thắp đèn lên thì chúng tôi dễ dàng biết được mục đích nào dẫn hắn tới đây.

Cuộc chờ đợi quả là căng thẳng và kéo dài hành hạ chúng tôi.

Thần kinh run lên bần bật như một người thợ săn run rẩy khi ngồi rình con mãnh thú đang bị cái khát dày vò, tìm đến con suối để uống nước.

Con mãnh thú nào sẽ xuất hiện ở đây?

Một con hổ dữ với những chiếc răng bén ngọt, hay là một con chó núi nhút nhát, chỉ dám tấn công những con vật yếu đuối và không có khả năng tự vệ?

Chúng tôi ngồi núp trong bụi cây, hoàn toàn im lặng.

Lúc đầu tiếng bước chân của những người đi dạo muộn vọng đến chỗ chúng tôi ngồi, nhưng rồi những âm thanh ấy cũng im bặt.

Cuối cùng cả không gian im ắng đến ghê sợ bao trùm lên chúng tôi.

Chỉ còn tiếng gõ của chiếc đồng hồ nhà thờ như nhắc nhở chúng tôi thời gian đang trôi qua.

Cơn mưa nhỏ đang nhỏ giọt xuống những cành lá làm mái che mưa cho chúng tôi.

Tiếng chuông báo hiệu đã 2 giờ 30 sáng điểm gióng giả.

Cái giờ tối tăm mịt mùng lạnh lùng nhất của buổi bình minh sắp bắt đầu.

Bất ngờ chúng tôi giật thót người, toàn thân bỗng lạnh toát khi nghe thấy tiếng kêu răng rắc tuy khẽ, nhưng khá rõ từ cánh cổng bằng gỗ.

Có một người nào đó đang đi theo con đuờng mòn.

Sự im lặng kéo dài lại bao phủ.

Tôi nghĩ đó là dấu hiệu giả.

Thình lình từ sau ngôi nhà vang lên tiếng những bước chân rón rén, thận trọng; lát sau tiếng kêu leng keng của kim khí vang lên.

Người này định cạy cửa!

Lần này anh ta hành động có vẻ khéo léo hơn, cũng có thể dụng cụ trong tay anh ta tốt hơn.

Sau đó vang lên tiếng động và hình như cái khoeo của ổ khóa bị bật ra.

Người này bật diêm lên, ánh lửa của ngọn nến chiếu sáng khắp căn phòng.

Qua lớp rèm mỏng manh, chúng tôi trông thấy tất cả những gì xảy ra bên trong.

Người khách ban đêm là một gã đàn ông trẻ tuổi trông gầy gò, ốm yếu.

Bộ ria mép đen nhánh làm nổi bật bộ mặt nhợt nhạt chết chóc của anh ta.

Anh ta trên dưới 20 tuổi.

Tôi chưa thấy người này rơi vào tình trạng thảm thương như thế bao giờ.

Anh ta há hốc mồm giơ cả hàm răng ra có lẽ vì quá lo sợ, toàn thân anh ta run lên bần bật.

Anh ta ăn bận rất lịch sự, đứng đắn, một chiếc áo bludông túi chéo may bằng loại dạ tốt; chiếc quần thể thao ngắn cũn cỡn, đầu đội một chiếc mũ nỉ.

Chúng tôi thấy anh ta ngơ ngác lo lắng nhìn xung quanh, sau đó, đặt cây nến xuống bàn, khuất một góc.

Từ góc đó, anh ta cầm lên một cuốn sách - đó là tập họa báo đóng tầu.

Cúi người xuống sát bàn, anh ta lật nhanh từng tờ cho đến khi nhìn thấy dòng chữ mà anh ta cần tìm.

Đến lúc đó anh ta tức giận đấm xuống cuốn tạp chí, rồi đặt nó và chỗ cũ và tắt nến.

Anh ta chưa kịp xoay người chạy ra khỏi cổng thì đã bị Hopkins chộp lấy áo.

Tôi nghe thấy tiếng kêu dữ dội, đầy sợ hãi, tuyệt vọng.

Kẻ bẻ khóa đã hiểu rằng: anh ta đã bị bắt.

Chúng tôi thắp đèn lên.

Anh ta run rẩy, quằn quại trong gọng kìm của người thám tử.

- Anh bạn yêu quý, - Hopkins lên tiếng, - Ngài là ai và ngài đến đây làm gì?

Chàng thanh niên cố gắng trấn tinh lại.

- Các ngài có phải là những thám tử?

- Anh ta hỏi lại.

- Các ngài nghĩ rằng tôi có dính líu tới cái chết của thuyền trưởng Peter Carey?

Xin thề với các ngài chuyện này tôi không hề dính líu tới.

- Điều đó sẽ được xác minh sau, - Hopkins đáp.

- Truớc hết ngài cho biết quý danh?

- John Hopley Neligan.

Tôi nhận thấy Holmes và Hopkins đưa mắt nhìn nhau.

- Ngài cần gì ở đây?

- Tôi có thể tin rằng các ngài sẽ không tiết lộ điều bí mật của tôi?

- Nhất định sẽ phải tiết lộ, chứ biết làm sao!

- Vậy lý lẽ nào buộc tôi phải nói?

- Nếu ngài không nói, ngài sẽ gặp khó khăn ở tòa.

Chàng thanh niên giật bắn người.

- Vậy thì tôi sẽ nói, - Anh chàng nhượng bộ.

- Tại sao phải giấu giếm nhỉ?

Nhưng tôi thấy kinh tởm với ý nghĩ là câu chuyện ô danh ngày xưa bị đưa ra cho thiên hạ chê cười.

Có bao giờ các ngài nghe thấy ai nói về Dawson và Neligan chưa?

Dựa trên nét mặt của Hopkins, tôi hiểu là anh ta không hay biết gì về chuyện ấy; còn Holmes sôi nổi hẳn lên và đáp:

- Ngài định ám chỉ những ông chủ của nhà băng miền tây phải không?

Họ đã bị phá sản hàng triệu bạc; làm khánh kiệt hết nửa bang Cornwall và ngài Neligan đã biệt tích.

- Đúng nhu vậy.

Neligan, đó là cha tôi.

- Cuộc vỡ nợ thực tế chỉ liên quan tới một mình cha tôi.

Ông Dawson đã từ bỏ công việc khá lâu.

Lúc bấy giờ tôi mới 10 tuổi, nhưng tôi cũng đủ khôn để cảm thấy nỗi tủi nhục và nỗi sợ hãi hùng cho cơ sự đã xảy ra.

Mọi người đều cho rằng cha tôi đã vơ vét tất cả giấy tờ quý giá rồi bỏ chạy.

Điều đó không đúng sự thật.

Cha tôi tin chắc một điều, nếu người ta gia hạn cho ông một khoản thời gian để kịp đổi chứng khoán lấy tiền, thì mọi việc dứt khoát sẽ trôi chảy và ông sẽ thanh toán đầy đủ chu tất cho những người gửi tiền.

Cha tôi đã ra đi trên một chiếc thuyền nhỏ để đến Na Uy trước khi đi lệnh bắt ông được ban bố.

Tôi vẫn còn nhớ cái đêm cuối cùng khi cha tôi chia tay mẹ tôi, ông có để lại cho chúng tôi một bản thống kê những giấy tờ chứng khoán mà ông đã mang theo.

Ông thề rằng nhất định sẽ khôi phục danh dự lại cho mình và sẽ không để cho một ai trong số những người tín nhiệm mình phải chịu cảnh đau khổ, thiệt thòi.

Từ đó đến nay chúng tôi không hề được tin tức gì về người cha xấu số nữa.

Cả chiếc thuyền và cha tôi đều mất tích một cách bí ẩn.

Tôi và mẹ tôi đều tin chắc rằng, cha tôi đã an nghỉ vĩnh viễn dưới đáy đại dương.

Chúng tôi có một người bạn rất trung thành, một người đã có mối liên hệ công việc trước kia với cha tôi.

Cách đây không lâu, ông ta đã cho tôi hay, một số giấy chứng khoán do cha tôi giữ ngày trước đã xuất hiện trên thị trường London.

Các ngài có thể tưởng tượng nổi sự sửng sốt của chúng tôi như thế nào không?

Tôi đã mấy tháng trời ròng rã để lần theo các dấu vết các tờ chứng khoán kia và cũng đã nếm nhiều mùi thất bại, gặp không ít nỗi gian truân vất vả.

Cuối cùng tôi đã xác định được những tờ chứng khoán kia là do thuyền trưởng Peter Carey chủ nhân của ngôi nhà nhỏ này bán ra.

Tất nhiên, tôi đã tiến hành tìm hiểu về ông ta.

Tôi được biết ông ta đã chỉ huy chiếc tàu săn cá voi trên đuờng quay về đúng vào lúc cha tôi trên đuờng đi Na Uy.

Mùa thu năm ấy thời tiết khá xấu, trên biển hay xuất hiện những cơn bão bất ngờ.

Có lẽ chiếc thuyền của cha tôi đã bị trôi dạt về phương bắc, ở đó con tàu của thuyền trưởng Peter Carey đã bắt gặp nó.

Nếu đúng nhu vậy, thì cha tôi đã bị biến mất đi đâu?

Nếu ông Peter Carey có thể làm sáng tỏ cho tôi hiểu được tại sao những tờ chứng khoán kia lại xuất hiện trên thị trường, thì tôi sẽ có đầy đù khả năng để chứng minh là cha tôi đã không hề đem bán những tờ chứng khoán kia, ông đã mang theo nó không nhằm một mục đích tu lợi nào hết.

Tôi đã đi đến Sussex với hy vọng gặp được người thuyền trưởng, nhưng vào đúng thời điểm ấy ông ta đã gặp một cái chết thật khủng khiếp.

Trong biên bản điều tra, tôi đã đọc được đoạn mô tả căn phòng "cabin" của ông ta, ở đấy có nói tới những tờ tạp chí, ảnh cũ về ngành hàng hải.

Tôi bỗng nảy ra ý nghĩ, nếu tôi may mắn đọc được những tờ tạp chí kia thì có thể sẽ biết được điều gì đã xảy ra trên chiếc tàu "Sea Unicorn" của tháng 8 năm 1883; qua đó tôi sẽ biết được số phận bí hiểm của cha tôi.

Đêm hôm qua, tôi đã định vào nhà để xem những tờ tạp chí, nhưng không tài nào mở được cánh cửa.

Hôm nay việc làm của tôi đạt kết quả hơn, nhưng tôi đã phát hiện ra là những trang giấy có hên quan đến tháng ấy đã bị xé mất.

Sau đó thì các ngài đã tóm gáy tôi.

- Chỉ có thế thôi ư?

- Hopkins hỏi.

- Vâng, mọi việc chỉ có thế.

- Cặp mắt của chàng thanh niên lướt nhanh lên nhìn chúng tôi, sau khi trả lời xong câu hỏi.

- Ngài còn gì để nói nữa không?

Chàng thanh niên lưỡng lự.

- Xin hết ạ.

- Trước đêm hôm qua ngài đã đến đây lần nào chưa?

- Chưa ạ.

- Thế ngài định giải thích việc này ra sao?

- Hopkins quát lên và chìa ra cho chàng thanh niên cuốn sổ tay với những chữ viết tắt tên họ của người thanh niên, và có vết máu dính ở bìa quyển sổ.

Cậu ta hoảng hốt và lấy tay che kín mặt lại.

- Ngài nhặt được cuốn sổ này ở đâu?

- Anh ta rên rỉ.

- Thế mà tôi không hay biết...

Tôi cứ nghĩ là đánh mất ở khách sạn.

- Đủ rồi!

- Hopkins lạnh lùng đáp.

- Nếu ngài còn muốn nói điều gì, thì để ra tòa hẵng nói tiếp.

Còn bây giờ hãy cùng tôi đến sở cảnh sát...

Ngài Holmes, tôi vô cùng đội ơn ngài và bạn của ngài đã quá bước đến đây để giúp đỡ tôi.

Có lẽ sẽ không cần sự có mặt của ngài ở tòa án làm gì.

Tôi sẽ tự giải quyết công việc cho đến cuối, không cần đến ngài nữa.

Nhưng dẫu sao tôi cũng đội ơn ngài rất nhiều.

Ở Khách sạn Brambletye người ta đã dành cho hai ngài hai phòng, vậy chúng ta có thể cùng nhau đến đó nghỉ đêm nay.

- Watson, cậu nghĩ như thế nào về tất cả chuyện này?

- Holmes hỏi, khi chúng tôi trên đuờng quay về vào sáng hôm sau.

- Tớ trông cậu có vẻ không hài lòng cho lắm thì phải?

- Ồ!

Không đâu, Watson thân mến.

Tớ hoàn toàn hài lòng, nhưng tớ không thể khen anh chàng Stanley Hopkins được, cách thức của anh ta không thế nào chấp nhận được.

Tớ lấy làm buồn lòng cho anh ta.

Tớ mong đợi ở anh ta nhiều hơn thế kia.

Thông thường bao giờ cũng có đáp số thứ hai, và cần phải tìm cho ra cái đáp số ấy.

Đó là nguyên tắc đầu tiên của công tác điều tra hình sự.

- Đáp số thứ hai là đáp số nào vậy?

- Điều này đang nằm trong nguyên lý phá án của chính bản thân tớ.

Có thể nó không mang lại kết quả gì.

Tớ không thể nói cho cậu một điều gì được nhưng tớ sẽ tiến hành theo con đuờng đó đến cùng.

Tại hẻm Baker có vài bức thư đang đợi Holmes.

Anh chộp lấy một lá thư, bóc ra và hoan hỉ cười lớn tiếng:

- Watson, thật tuyệt!

Phương án thứ hai bắt đầu.

Chúng mình còn mẫu in sẵn để đánh điện hay không?

Cậu hãy ghi cho tớ bức điện với nội dung sau đây: "Gởi ngài Sumner - Đại lý hàng hải, đại lộ Ratcliff - Gởi cho tôi ba người, có mặt vào mười giờ sáng ngày mai.

- Basil".

Basil là tên của tớ ở ba vùng.

Bức điện thứ hai: Thanh tra Stanley Hopkins, 46 phố Lord, Brixton.

Hãy đến vào ngày mai,10 giờ 30, dùng bữa cơm sáng.

Quan trọng.

Nếu không đến được, hãy đánh điện báo ngay.

- Sherlock Holmes.

"...Watson, đồ quỷ quái này theo đuổi tớ suốt 10 ngày ròng rã, bây giờ tớ muốn bứt ra khỏi vòng tay siết chặt của nó.

Ngài mai, tớ hy vọng chúng ta sẽ kết thúc chuyện này - Vĩnh viễn kết thúc".

Chính xác đúng giờ hẹn, tay thanh tra Hopkins xuất hiện và cả ba chúng tôi cùng ngồi vào bàn ăn thịnh soạn do bà Hudson dọn lên.

Viên thanh tra trai trẻ hoan hỉ trước thắng lợi ban đầu của mình.

- Ngài hoàn toàn tin tưởng vào lời lý giải của mình là đúng phải không?

- Holmes nói.

- Còn sao nữa!

Trường hợp này rõ như ban ngày.

- Theo tôi, vụ này chưa phải là kết thúc.

- Ngài làm cho tôi ngạc nhiên đấy, thưa ngài Holmes!

Ngài còn định đòi hỏi những gì ở tôi nữa?

- Không lẽ lời lý giải của ngài đã bao hàm tất cả các mặt của vẫn đề?

- Không nghi ngờ gì nữa.

Tôi được biết là anh bạn trẻ Neligan đã đi đến khách sạn Brambletye đúng vào ngày đã xảy ra vụ án.

Anh ta đi đến đó giả vờ như là người đi chơi golf.

Phòng của anh ta nằm ở gác một và anh ta có thể bỏ đi, một khi anh ta muốn.

Trong đêm hôm ấy anh ta đã đi đến Woodman's Lee, và đã gặp lão Peter Carey, sau đó hục hặc với lão kia, rồi dùng ngọn lao để giết chết lão ta.

Vì kinh sợ bàn tay nhuốm máu của mình, anh ta bỏ chạy và đã đánh rơi quyển sổ tay.

Anh ta mang cuốn sổ theo vì muốn đối chiếu những tờ chứng khoán ở nơi tay Peter Carey.

Ngài có lẽ đã phát hiện một số dòng ghi trong cuốn sổ được đánh chữ thập?

Đó là những chứng khoán đã bị đem bán ra trên thị trường London.

Nhưng phần lớn số ấy còn nằm trong tay Carey.

Anh chàng Neligan, theo như anh ta thú nhận, đã mơ tưởng muốn chiếm lại những thứ ấy, hy vọng sẽ thanh toán nợ nần cho người cha.

Sau khi bỏ chạy một thời gian anh ta không đủ can đảm để quay lại, nhưng cuối cùng đã quyết định nắm thêm một số tin tức cần thiết nên đã quay lại.

Đơn giản và dễ hiểu, có đúng như vậy không?

Holmes cười và lắc đầu.

- Tôi thấy trong giả thiết của ngài có một thiếu sót: giả thiết ấy hoàn toàn khó có thể tin.

Có bao giờ cậu thử dùng ngọn lao để xiên qua một xác người chưa?

Chưa hả?

Ngài nên chú ý đến chi tiết quan trọng này.

Anh bạn Watson của tôi có thể kể cho ngài biết việc tôi mỗi buổi sáng đã luyện tập công việc ấy như thế nào.

Đây không phải là là một việc nhẹ nhàng, mà cần phải có một cánh tay khỏe mạnh, lực lưỡng và rèn luyện thử thách nhiều.

Tay thuyền trưởng đã bị giáng một đòn khá mạnh đến nỗi ngọn lao cắm sâu vào tường, sau khi đã xuyên thủng cả thân hình Carey.

Chẳng lẽ ngài cho rằng anh chàng ốm yếu kia có đủ sức gây nên một đòn kinh khủng như thế?

Kẻ trong đêm khuya vắng đã cùng với lão Peter Carey uống rượu rum là ai?

Hình bóng của người nào đã in trên bức rèm trước đó hai ngày?

Hopkins, chúng ta nên tìm kẻ nào đó còn đang ẩn náu, nguy hiểm hơn.

Trong lúc Holmes nói, khuôn mặt của tay thám tử ngày càng giãn ra.

Tất cả những tính toán và niềm hy vọng của anh ta đã bị sụp đổ.

Nhưng anh ta không dễ gì chịu đầu hàng.

- Ngài không thể bác bỏ được, thưa ngài Holmes, việc anh chàng Neligan đã có mặt trong đêm hôm ấy; chứng minh hùng hồn là cuốn sổ tay bị đánh rơi.

Theo tôi nghĩ, đối với tòa, bấy nhiêu thôi cũng đủ lắm rồi; mặc dù trong giả thiết có đôi chỗ chưa chắc chắn, theo như ngài nghĩ.

Cái chính là tên tội phạm của tôi đã bị tóm, còn kẻ "tội phạm nguy hiểm" của ngài, tôi không trông thấy ở đâu cả.

- Tôi nghĩ rằng, tên giết người bây giờ đang buớc lên cầu thang nhà tôi, - Holmes bình tĩnh đáp, - Watson, tớ cảm thấy là cậu nên chuẩn bị sẵn khẩu súng lục, - Holmes đứng lên và đặt tờ giấy xuống bàn.

- Mọi việc đã chuẩn bị xong xuôi, chúng ta sẵn sàng hành động.

- Anh nói thêm.

Những giọng nói sỗ sàng, thô tục vang lên sau đánh cửa.

Bà Hudson mở cửa ra và nói với Holmes có ba người đàn ông muốn gặp thuyền trưởng Basil.

- Hãy cho từng người một lên gặp tôi, - Anh trả lời.

Người đầu tiên bước vào là một người bé thấp tròn lẳn, cặp má ửng hồng, bộ râu quai nón rậm rì đã bạc.

Holmes lấy ra một bức thư.

- Ngài cho biết quý danh?

- Anh hỏi.

- James Lancaster.

- Tôi lấy làm tiếc thưa ngài Lancaster, nhưng chỗ này đã có người nhận làm rồi.

Gởi ngài ít tiền vì đã làm phiền đến ngài.

Ngài hãy ghé qua ngồi đợi ở phòng bên cạnh một lát.

Người thứ hai trông cao lớn như cây sào, bộ tóc láng mượt, bộ mặt trông rất ốm yếu.

Ông ta tên là Hugh Pattins, ông ta cũng chỉ nhận được một lời từ chối và ít tiền cùng với một lời khuyên chờ đợi.

Người thứ ba có ngoại hình hoàn hảo.

Bộ tóc chổi rễ và bộ râu cứng bao trùm lấy bộ mặt dữ tợn trông như bộ mặt của con chó bull.

Cặp mắt nâu can đảm lấp lánh dưới cặp lông mày cứng rậm.

Hắn ta chào xong và đứng đó trong tư thế của người đi biển, chiếc mũ bị vò nát trong tay.

- Tên anh là gì?

- Holmes hỏi.

- Patrick Cairns.

- Thợ xiên cá phải không?

- Vâng, 26 năm kinh nghiệm.

- Ở Dundee à ?

- Vâng, thưa ông.

- Ngài có đồng ý phục vụ trên tàu thám hiểm không?

- Vâng, thưa ngài.

- Anh muốn nhận lương bao nhiêu?

- Tám bảng trong một tháng.

- Ngay bây giờ có thể xuất hành được hay không?

- Nhận xong những trang bị đồ nghề là tôi đi ngay.

- Giấy tờ có mang theo người không?

- Vâng, có đây.

Hắn ta lấy ra mớ giấy má đã nhàu nát, Holmes xem xong trả lại cho hắn.

- Tôi cần con người như thế này.

- Anh nói.

- Bản giao kèo nằm trên bàn kia.

Hãy ký vào đây.

Tay thủy thủ khệnh khạng bước ngang qua căn phòng và cầm lấy bút.

- Ký vào đây phải không?

- Hắn ta hỏi và cúi xuống sát bàn.

Holmes ghé sát vào vai hắn và đưa tay ra kéo cổ hắn lên.

- Bây giờ mọi việc đều ổn thỏa, - Anh nói.

Tôi nghe thấy tiếng "keng" của kim khí, và tiếng gào thét của con bò mộng giãy giụa.

Trong lúc ấy cả Holmes và tên thủy thủ không buông nhau ra, lộn nhào mấy vòng trên nền nhà.

Tay thủy thủ quả có một sức lực phi thường.

Thậm chí đã bị Holmes còng khóa số tám, hắn ta vẫn đủ sức để quật lại Holmes.

Nhưng tôi và Hopkins đã chạy lại giúp sức, chỉ đến khi nòng súng lạnh toát của tôi kề vào thái dương hắn mới chịu hiểu ra là chống cự cũng vô ích.

Chúng tôi dùng dây trói chân hắn, rồi đứng lên thở hổn hển vì cuộc vật lộn.

- Tôi phải xin lỗi ngài Hopkins.

- Holmes lên tiếng - Món trứng bác, tôi e rằng đã nguội mất.

Nhưng tôi nghĩ rằng kết quả mỹ mãn của vụ án sẽ làm cho ngài cảm thấy ngon miệng.

Stanley Hopkins bỗng ngây người, bàng hoàng sửng sốt và đầy bất ngờ.

- Nói chuyện ấy làm gì nữa!

- Anh ta lúng búng trong miệng và cảm thấy xấu hổ đỏ cả mặt.

- Tôi là một kẻ ngu dốt, bất tài.

Không bao giờ tôi quên rằng mình chỉ là một học trò của ngài, còn ngài là một người thầy vĩ đại của tôi.

Thậm chí cho đến bây giờ, khi được chứng kiến kết quả của ngài, tôi vẫn không thể hiểu nổi ngài đã tiến hành như thế nào và ý nghĩa ra sao?

- Thôi được, - Holmes độ lượng đáp.

- Chúng ta sẽ cùng nhau rút kinh nghiệm trong mỗi sai lầm của mình.

Giờ đây ngài nên ghi xương khắc cốt không bao giờ coi thường phương án hai.

Ngài đã bị anh chàng Neligan làm cho choáng ngợp, nên không bao giờ còn nhìn thấy tên Patrick Cairns.

Ngài thỏa mãn khá sớm nên mới quên kẻ giết chết lão Peter Carey.

Giọng khàn khàn của tay thủy thủ ngắt lời Holmes:

- Ngài hãy nghe đây!

Tôi không hề thương xót và trách cứ về việc các ngài đã đối xử thô bạo với tôi nhưng dẫu sao cũng nên gọi những sự kiện theo đúng tên của nó.

Ngài nói "kẻ giết chết Peter Carey", tôi đính chính lại tôi giết lão ta chỉ vì để tự vệ.

Điều này khác nhau khá xa đấy.

Có thể, các ngài không tin tôi?

Có thể các ngài cho là tôi đơm đặt bịa chuyện?

- Không hề có, - Holmes đáp.

- Chúng tôi sẵn sàng nghe tất cả những gì mà ngài định nói.

- Tôi sẽ nói ngắn gọn.

Có trời làm chứng, những điều tôi nói ra đều là sự thực.

Tôi đã biết Peter Carey.

Khi hắn ta cầm lấy con dao, tôi chộp ngay lấy ngọn lao, bởi tôi hiểu một trong hai chúng tôi phải có kẻ chết.

Vậy là hắn đã chết, như vậy có thể gọi tôi là kẻ sát nhân?

Đối với tôi cái chết không có nghĩa lý gì hết.

Nhưng tôi thích được lên thiên đàng bằng sợi dây treo cổ hơn bằng con dao do chính tay thằng Peter hắc ám đâm vào tim.

- Làm thế nào mà ngài lại lọt được vào nhà ông ta?

- Holmes hỏi.

- Tôi sẽ kể tất cả theo thứ tự.

Cho tôi được ngồi xuống, như vậy nói sẽ dễ hơn.

Chuyện xảy ra vào tháng 8 năm 1883.

Hồi đó Peter Carey là ông chủ của con tàu "Sea Unicorn" còn tôi chỉ là tay lao dự phòng của lão ta.

Chúng tôi đã vượt qua những đám băng dày đặc và trên đuờng quay về một cơn gió ngược đã vỗ mạnh vào tàu chúng tôi; cơn bão kéo dài suốt một tuần không ngớt.

Bất ngờ chúng tôi chạm phải một chiếc thuyền con: Chiếc thuyền bị trôi dạt về phương bắc.

Trên thuyền chỉ vẻn vẹn có một người: người đó không phải là một thủy thủ.

Những người còn lại có lẽ cho rằng chiếc thuyền sẽ bị chìm nên đã xuống hết xuồng cấp cứu, hy vọng ghé vào bờ biển Na Uy.

Chắc rằng họ đã chết hết.

Chúng tôi đã kéo người kia lên tàu của mình.

Bọn thủy thủ bàn tán xôn xao trong ca bin của thuyền trưởng khá lâu.

Toàn bộ hành lý của người kia được vớt lên tàu vẻn vẹn chỉ có một hộp sắt tây.

Theo tôi biết thì tên người đó chúng tôi không ai rõ.

Đến đêm hôm sau, người đó bỗng mất tích giống như là anh ta chưa hề có mặt ở đây.

Mọi người bàn tán, có lẽ anh ta bị rơi xuống biển hoặc tự anh ta nhảy xuống.

Vì trong đêm tối hôm ấy có một cơn bão lớn nổi lên...

Chỉ có một người được biết cái gì đã xảy ra với kẻ xấu số kia - người đó là tôi.

Trong đêm tối đen nhu mực, 2 ngày trước khi chúng tôi nhìn thấy ngọn hải đăng Shetland, chính mắt tôi đã trông thấy lão thuyền trưởng Peter tóm lấy chân anh chàng kia ném xuống biển.

Tôi không hé cho ai một lời nào về chuyến đó.

Tôi nghĩ cứ để xem sao.

Tàu chúng tôi tới Scotland, không một ai nhắc tới câu chuyện người lạ mặt cả, và cũng không có ai đề ý tới số mạng của anh ta.

Con người tình cờ bị chết!

Không ai lấy đó làm thích thú.

Sau đó Peter Carey xin nghỉ hưu.

Nhiều năm trôi qua, tôi mới biết được hắn ta đang trú ngụ ở đâu.

Tôi nghĩ hắn ta gây ra tội ác tày trời cũng chỉ vì chiếc hộp sắt tây kia.

Bây giờ thì chắc chắn hắn ta phải trả tiền cho tôi, để tôi lờ tịt đi câu chuyện tội ác.

Qua một người thủy thủ, người này đã gặp lão Peter ở London, tôi được biết hắn đang sống ở đây.

Tôi liền đi đến đó với hy vọng sẽ kiếm chác được món gì đấy.

Trong đêm đầu tiên hắn hứa sẽ cho tôi một món tiền lớn đủ cho tôi sống hết cuộc đời không phải vất vả với nghề thủy thủ nữa.

Cuộc ngã giá cuối cùng chúng tôi sẽ gặp lại nhau sau hai đêm nữa.

Tôi lại đến và thấy hắn đang say ruợu.

Tâm địa thật xấu xa bỉ ổi.

Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau, ôn lại quãng đời xa xưa.

Hắn ta càng uống nhiều chừng nào, thì bộ mặt của hắn càng làm cho tôi căm ghét chừng ấy.

Tôi trông thấy ngọn lao gác trên tường, và nghĩ dại có khi cần đến cho mình.

Hắn cũng không chịu được nữa.

Hắn chộp lấy con dao lớn và xông vào tôi, phun nước bọt vào người tôi, văng những lời thô tục xúc phạm đến tôi.

Tôi thấy hắn chuẩn bị một hành động giết người.

Nhưng hắn chưa kịp rút con dao ra, tôi đã nhanh tay hơn lấy ngọn lao đóng chặt hắn vào tường.

Hắn gào thét thật thảm thiết.

Bộ mặt của hắn cho đến tận bây giờ tôi không thể nào quên được và vẫn ám ảnh tôi, không sao tôi chợp mắt được.

Máu chảy ra như suối, còn tôi thì cứ ngây ra như ngỗng đực.

Xung quanh im lặng như tờ, tôi cảm thấy yên tâm.

Nhìn quanh, tôi thấy hộp sắt tây để trên giá sách.

Tôi cũng có quyền như lão Peter?

Tôi cầm lấy hộp sắt tây vội vã bước ra khỏi nhà.

Do bộp chộp, tôi đã để quên gói thuốc của mình ở trên bàn.

Còn bây giờ tôi sẽ kể cho các ngài nghe phần lạ lùng nhất của câu chuyện này.

Vừa bước ra khỏi nhà, tôi nghe thấy tiếng bước chân của ai đó.

Tôi trốn vào một lùm cây.

Tôi thấy có một người đi đến căn phòng của lão Peter.

Khi bước vào nhà, anh ta bỗng hét lên như người bị hớp hồn và bỏ chạy thục mạng.

Còn tôi thì đánh lừa tất cả mọi người, cuốc một mạch hơn mười dặm đến Tunbridge Wells và leo lên tàu hỏa đi London.

Khi tôi mở chiếc hộp ra, trong đó không còn một cái gì hết, ngoài mớ giấy tờ, mà tôi chần chừ chưa chịu đem đi bán.

Tôi không còn quyền lực gì đối với tên Peter hắc ám kia, tôi lang thang thơ thẩn quanh London không một xu dính túi.

Tôi còn nghề thủy thủ trong tay.

Tôi đã trông thấy dòng thông báo tìm người lao cá với số lương khá hậu hĩ.

Tôi lập tức đến gặp sở giao dịch và người ta đã chỉ tôi đến đây.

Đấy là tất cả những gì tôi được biết.

Mặc dù tôi có tội giết người, nhưng đáng lẽ công lý phải biết ơn tôi, tôi đã tiết kiệm cho nhà nước khoản chi phí để mua một dây thòng lọng.

- Lời khai khá chặt chẽ, - Holmes nói và đứng dậy.

- Hopkins, tôi nghĩ, ngài hãy mau chóng thả chàng trai đã bị bắt ra ngay.

Và căn phòng này không hợp với ngài Patrick Cairns một chút nào.

- Tôi không có cách nào để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với ngài, thưa ngài Holmes, - Hopkins đáp.

Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa thể hiểu, bằng cách nào ngài đã đạt được những kết quả như vậy.

- Đơn giản thôi.

Ngay từ đầu tôi đã đi đúng huớng, trước đó tôi không được biết về cuốn sổ tay, nó đã đánh lạc hướng cả ngài lẫn tôi.

Nhưng dẫu sao, khi nghe chuyện này tôi đã đi theo một khả năng được chọn.

Một người lực lưỡng, khỏe mạnh, biết sử dụng ngọn lao, uống rượu rum và bao đựng thuốc lá làm bằng da hải cẩu, với một loại thuốc lá khá nặng.

Tất cả những sự vật đó, làm cho tôi nghĩ ngay tới những người đi biển.

Tôi khẳng định, hai chữ viết tắt "P.C", chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Bao đựng thuốc không phải là của Peter Carey, bởi ông ta rất ít hút thuốc.

Trong "cabin" của ông ta lại không hề tìm thấy tẩu thuốc.

Ngài hẳn còn nhớ khi tôi hỏi trong phòng còn rượu nào khác hay không?

Ngài nói có brandy và whisky nhưng chưa uống tới.

Vậy ai là người uống rượu rum, một khi trong tay có sẵn brandy và whisky? có phải chỉ những người dân đi biển không nào?

Tôi tin chắc rằng, ngoài dân đi biển ra không có ai vào đây.

- Làm cách nào ngài tìm ra được ông này?

- Ôi!

Cái đó thật đơn giản.

Tay thủy thủ kia chỉ có thể từ trong số những người cùng đi biển với lão Peter Carey trên con tàu "Sea Unicorn".

Theo chỗ tôi được biết, Peter Carey không đi trên một con tàu nào khác nữa.

Tôi mất ba ngày để đánh điện đi Dundee nhằm mục đích xác định lại danh sách những người đã đi trên tàu "Sea Unicorn" trong năm 1883.

Và tôi được biết trong số những người thợ xiên cá có một người tên là Patrick Cairns trùng với các chữ cái trên bao đựng thuốc lá.

Hướng điều tra của tôi coi như đã hoàn thành.

Tôi nghĩ rằng, người này nhất định đang ở London và tìm cách chạy trốn khỏi nước Anh.

Vì thế tôi bỏ mấy ngày ở East End bịa ra chuyện thám hiểm Nam Cực, đặt một số điều kiện béo bở đối với những người thợ săn cá và họ sẽ làm việc dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng Basil.

Kết quả thì...

Như ngài thấy đấy.

- Thật kỳ diệu biết bao.

- Hopkins thán phục.

- Ngài phải thả ngay anh chàng Neligan.

- Holmes nói.

- Tôi cho rằng ngài nên có lời xin lỗi vì hành động của mình đối với anh ta.

Cần phải trả lại cho anh ta chiếc hộp sắt tây ấy.

Tất nhiên những chứng khoán đã bị Peter Carey bán, coi như không còn nữa...

Xe đã đến.

Hopkins, ngài có thể đem ông ta đi.

Nếu cần sự có mặt của tôi ở tòa, ngài hãy điện sang Na Uy cho tôi biết, địa chỉ chính xác của tôi sẽ báo cho ngài sau.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D7 Tên tống tiền ngoại hạng


TÊN TỐNG TIỀN NGOẠI HẠNG

THE ADVENTURE OF CHARLES AUGUSTUS MILVERTON (1904)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Dù chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước nhưng tôi vẫn ngại kể lại.

Suốt một thời gian dài, tôi không thể nào công bố sự việc, dù là theo cách dè dặt và kín đáo nhất.

Nhưng giờ đây, khi đương sự đã nằm ngoài tầm kiểm soát của luật pháp cõi trần, tôi nhận thấy nếu tiết chế, tôi có thể kể câu chuyện mà không phương hại đến ai.

Đây là câu chuyện về trải nghiệm độc nhất vô nhị trong sự nghiệp của cả Sherlock Holmes lẫn tôi.

Xin độc giả thứ lỗi vì tôi buộc phải che giấu ngày tháng hay bất cứ chi tiết nào giúp truy ra sự việc thực.

Một chiều đông lạnh giá, Holmes và tôi ra ngoài đi dạo rồi về nhà vào khoảng 6 giờ.

Khi Holmes vặn đèn lên, ánh sáng vừa khéo soi tỏ một tấm danh thiếp trên bàn.

Anh liếc nhìn rồi kêu lên một tiếng ghê tởm và ném nó xuống sàn.

Tôi nhặt lên đọc:

CHARLES AUGUSTUS MILVERTON

Văn phòng: APPLEDORE TOWERS, HAMPSTEAD

"Hắn là ai?"

Tôi hỏi.

"Kẻ xấu xa nhất London", Holmes ngồi duỗi chân trước lò sưởi và trả lời.

"Mặt sau tấm danh thiếp có đề gì không?"

Tôi lật tấm danh thiếp lại và đọc, "Sẽ đến lúc 6 giờ 30 - C.A.M."

"Hừ!

Hắn sắp đến rồi.

Watson này, anh có bao giờ thấy rờn rợn khi đứng trước lũ rắn trong sở thú, những sinh vật có nọc độc với thân mình trơn tuồn tuột, mắt trắng dã, mặt bèn bẹt và gớm ghiếc không?

Milverton cho tôi cái cảm giác như vậy đấy.

Từ hồi làm nghề này tới giờ, tôi đã phải tiếp xúc với năm chục tên sát nhân, nhưng ngay cả kẻ đồi bại nhất cũng chưa từng khiến tôi thấy ghê tởm như gã này.

Ấy vậy mà tôi lại phải làm việc với hắn...

Nói đúng ra, hắn đến đây theo lời mời của tôi."

"Nhưng hắn là ai?"

"Để tôi cho anh hay, Watson.

Hắn là vua tống tiền, cầu Chúa phù hộ cho người nào, mà nhất lại là phụ nữ, bị Milverton nắm được bí mật có thể làm hại đến thanh danh!

Bằng gương mặt tươi cười và trái tim vô cảm, hắn sẽ lần hồi vắt kiệt họ đến tận xương tủy.

Tên này là thiên tài theo một cách riêng, và có thể làm nên tên tuổi nếu làm một nghề nào tử tế hơn.

Phương pháp của hắn là thế này: Hắn công khai rằng sẵn lòng trả những khoản tiền lớn để mua mấy bức thư có thể làm những kẻ giàu sang hay người có danh vọng phải lao đao.

Hắn mua chúng từ đám người hầu phản trắc, hoặc từ mấy tên vô lại chỉ biết chải chuốt để chiếm được tình yêu và lòng tin của những người đàn bà nhẹ dạ.

Hắn vung tiền để có được những thứ ấy.

Tôi tình cờ được biết hắn từng trả bảy trăm bảng để mua một mẩu thư chỉ vỏn vẹn hai dòng, sau đó khiến một gia đình quý tộc phải lụn bại.

Mọi lá thư được rao bán đều đến tay Milverton, và trong cái thành phố lớn này có hàng trăm người sẽ tái mặt đi khi nghe tới tên hắn.

Không ai biết gọng kìm của hắn có thể chụp xuống ai, vì hắn quá giàu và quá xảo quyệt nên chẳng cần lo tới chuyện lao động kiếm sống.

Hắn thường thủ con bài hàng năm trời để thả ra vào lúc tiền cược lớn nhất.

Tôi vừa nói hắn là kẻ xấu xa nhất London và tôi muốn hỏi anh câu này: Sao chúng ta có thể so sánh tên côn đồ trong cơn nóng giận bột phát dùng dùi cui đánh vợ với cái kẻ thích dùng các phương pháp để giày vò tâm hồn và thần kinh người khác, chỉ để làm phình to cái hầu bao vốn đã đầy của hắn?"

Tôi hiếm khi nghe bạn mình nói với cảm xúc mãnh liệt như vậy.

"Nhưng", tôi nói, "pháp luật phải trừng trị hắn chứ?"

"Theo lí thuyết là thế, nhưng thực tế lại khác.

Chẳng hạn, một phụ nữ sẽ được gì khi tống hắn vào tù vài tháng nhưng cuộc đời cô ta lại bị hủy hoại ngay sau đó?

Nạn nhân của hắn không dám trả đòn.

Chỉ khi nào hắn tống tiền một người hoàn toàn trong sạch, chúng ta mới có thể bắt hắn, nhưng hắn gian giảo như quỷ sứ ấy!

Không, ta phải tìm cách khác để đấu với hắn."

"Vậy vì sao hắn đến đây?"

"Vì tôi nhận được ủy thác giúp một thân chủ giải quyết trường hợp đáng thương của cô.

Đó là tiểu thư Eva Blackwell, thiếu nữ xinh đẹp mới bước chân vào xã hội thượng lưu.

Nửa tháng nữa, cô ấy sẽ kết hôn cùng bá tước Dovercourt.

Con quỷ Milverton có được vài lá thư tiểu thư viết trong lúc nông nổi cho một tay điền chủ trẻ tuổi, nghèo túng sống ở một miền quê.

Watson, nội dung thư không có gì thái quá, nhưng có thể khiến đám cưới đổ bể.

Nếu tiểu thư Eva không chịu trả một khoản tiền lớn, hắn sẽ gửi những lá thư đến tay ngài bá tước.

Tôi được giao nhiệm vụ gặp mặt hắn và... cố thương lượng để mua lại với giá thấp nhất."

Đúng lúc đó, tiếng bánh xe lọc cọc từ dưới đường vọng lên.

Khi nhìn xuống, tôi thấy một cỗ xe song mã oai vệ, có hai bóng đèn lấp loáng bên hông đôi con tuấn mã lông màu hạt dẻ óng mượt.

Một người hầu mở cửa, rồi một người đàn ông thấp lùn, phốp pháp, khoác áo lông cừu bước xuống.

Ngay phút sau, hắn đã bước vào phòng.

Charles Augustus Milverton ở độ tuổi năm mươi, trông có vẻ trí thức, gương mặt tròn trịa và nhẵn nhụi, trên môi lúc nào cũng thường trực một nụ cười giả tạo, còn đôi mắt xám sắc sảo của hắn loang loáng sau cặp kính gọng vàng.

Tôi hẳn sẽ nghĩ hắn trông cũng hiền hậu nếu không thấy cái giả dối trong nụ cười thường trực và ánh nhìn chòng chọc ra từ đôi mắt láo liên soi mói kia.

Giọng hắn cũng thớ lợ hệt như sắc mặt khi hắn bước tới và chìa bàn tay nhỏ múp míp, lí nhí buông mấy lời tiếc nuối rằng lúc trước đến nhưng không gặp được chúng tôi.

Holmes không đếm xỉa đến bàn tay chìa ra kia.

Anh lạnh lùng nhìn hắn.

Nụ cười của Milverton nở rộng, sau đó hắn nhún vai, cởi áo khoác, cẩn thận choàng lên lưng ghế rồi ngồi xuống.

"Có cả ông đây sao?"

Hắn phẩy tay về hướng tôi.

"Vậy có kín đáo không?

Có ổn không?"

"Bác sĩ Watson là bạn và cộng sự của tôi."

"Tốt lắm, ông Holmes.

Tôi phản đối cũng chỉ vì quyền lợi của thân chủ ông thôi.

Vấn đề rất tế nhị..."

"Bác sĩ Watson biết chuyện rồi."

"Vậy ta vào việc thôi, ông nói ông đại diện cho tiểu thư Eva.

Cô ta trao ông quyền chấp nhận điều kiện của tôi chứ?"

"Điều kiện thế nào?"

"Bảy ngàn bảng,"

"Còn nếu chúng tôi không giao được tiền?"

"Ông thân mến ơi, tôi thật đau lòng khi phải bàn chuyện đó.

Nhưng nếu đến ngày 14 mà tiền chưa đến tay tôi, vậy cô ta đừng mơ tới cái đám cưới hôm 18 nữa."

Nụ cười vốn đã khiến chúng tôi khó chịu của hắn càng thêm phần tự mãn.

Holmes nghĩ ngợi một lát.

"Tôi thấy", cuối cùng anh nói, "hình như ông nhìn nhận mọi chuyện quá ư hiển nhiên.

Tất nhiên tôi đã rõ nội dung mấy bức thư.

Tiểu thư Blackwell sẽ nghe theo lời tư vấn của tôi.

Tôi sẽ khuyên cô ấy cho vị hôn phu của mình biết mọi chuyện rồi trông mong vào lòng bao dung của ngài ấy?"

Milverton cười tủm tỉm.

"Vậy ông chưa biết tính bá tước rồi", hắn nói.

Nhìn vẻ bối rối trên mặt Holmes, tôi biết điều Milverton vừa nói là thật.

"Trong mấy lá thư có gì nguy hại?"

Anh hỏi.

"Mấy lá thư sống động... sống động lắm", Milverton trả lời.

"Lời lẽ trong thư rất bay bướm quyến rũ, nhưng tôi dám cam đoan bá tước Dovercourt sẽ không thích đâu.

Song vì ông nhìn nhận theo hướng khác nên ta sẽ không bàn thêm nữa.

Đây chỉ là chuyện làm ăn thôi mà.

Nếu ông thấy thân chủ của ông nên nói cho bá tước biết về mấy lá thư, vậy ông không cần dại dột mà trả một món tiền lớn để lấy lại chúng."

Hắn đứng lên và cầm cái áo khoác lông cừu.

Holmes tím mặt vì giận và bẽ bàng.

"Chờ đã", anh nói.

"ông hấp tấp quá.

Tất nhiên chúng tôi sẽ cố hết sức để tránh tai tiếng trong một chuyện nhạy cảm thế này."

Milverton lại ngồi xuống.

"Tôi chắc chắn ông sẽ nhìn vấn đề dưới góc độ đó mà", hắn ngâm nga.

"Mặt khác", Holmes nói tiếp, "tiểu thư Eva cũng không giàu có gì.

Tôi cam đoan với ông rằng hai ngàn bảng đã vắt kiệt nguồn tài chính của tiểu thư, và cái giá ông phát ra vượt quá khả năng của cô ấy.

Vì vậy, mong ông hãy giảm đòi hỏi xuống, và trả lại thư với cái giá tôi nêu lúc trước.

Đó là số tiền lớn nhất cô ấy có thể trả."

Nụ cười của Milverton nở rộng hơn còn mắt hắn sáng lên nét hài hước.

"Tôi biết ông nói thật về nguồn lực của tiểu thư", hắn nói.

"Nhưng mặt khác, ông phải công nhận rằng đám cưới của tiểu thư là dịp thích hợp để bạn bè bà con làm gì đó cho cô ta.

Có lẽ họ chưa biết nên tặng món quà cưới nào cho tương xứng.

Tôi xin cam đoan với họ rằng mấy bức thư nho nhỏ này sẽ đem lại niềm vui lớn hơn mấy giá nến và đĩa đựng bơ ở London."

"Không thể được", Holmes nói.

"Trời, vậy thì tiếc quá!"

Milverton kêu lên, rút ra một cuốn sổ dày cộp.

"Sao các quý cô lại khờ dại không chịu cố gắng một chút nhỉ?

Nhìn cái này này!"

Hắn giơ một phong bì thư có in một dấu gia huy.

"Nó là của... mà thôi, tôi không nên nói ra cái tên trước sáng mai.

Nhưng đến lúc đó, nó đã tới tay đức ông chồng của một quý cô rồi.

Đấy cũng vì cô ta không chịu trích một khoản tiền nho nhỏ trong cái gia tài khổng lồ của mình!

Quả là đáng tiếc.

Này, ông còn nhớ chuyện hôn trước của tiểu thư Miles với đại tá Dorking bị hủy đột ngột không?

Chỉ hai ngày trước đám cưới, tờ Morning Post đã đăng một mẩu tin vắn loan tin hôn lễ bất thành.

Tại sao vậy nhỉ?

Nếu tôi nhận được hai ngàn bảng có phải mọi chuyện đều êm xuôi không?

Hôn nhân đổ bể chẳng phải đáng tiếc lắm sao?

Còn giờ tôi thấy một người hiểu lý lẽ như ông lại trù trừ về giá cả khi mà tiền đồ và danh dự của nữ thân chủ đang lung lay.

Ông làm tôi ngạc nhiên đấy, ông Holmes ạ."

"Điều tôi nói là thật", Holmes trả lời.

"Tiểu thư không thể kiếm đâu ra chỗ tiền ấy.

Chấp nhận mức giá tôi đề nghị sẽ tốt cho ông hơn.

Nếu ông hủy hoại cuộc đời cô gái ấy, ông đâu được lợi lộc gì?"

"Ấy, ông lầm rồi, ông Holmes.

Nếu vụ tai tiếng này vỡ lở, nó sẽ gián tiếp làm lợi cho tôi trong một chừng mực đáng kể.

Tôi có tám hay mười vụ tương tự sắp tới lúc thu lời.

Gương tiểu thư Eva rành rành trước mắt sẽ khiến họ biết điều hơn.

Ông hiểu rõ quan điểm của tôi rồi chứ?"

Holmes bật dậy khỏi ghế.

"Vòng ra sau lưng hắn đi, Watson!

Đừng để hắn thoát.

Thưa ông, đề nghị ông cho chúng tôi xem cuốn số đó có gì."

Milverton lùi nhanh như chuột qua đầu kia căn phòng, rồi đứng dựa lưng vào tường.

"Ông Holmes, ông Holmes ơi," hắn nói, lật vạt áo khoác để lộ báng súng lục nhô ra từ túi trong.

"Tôi tưởng sẽ thấy ông làm gì đó độc đáo hơn kia.

Thiên hạ rất hay giở trò này, nhưng họ đã bao giờ làm gì được tôi đâu.

Tôi cam đoan với ông là tôi được vũ trang đến tận răng, tôi sẵn sàng dùng vũ khí, vì luật pháp sẽ ủng hộ tôi.

Hơn nữa, ông nhầm to rồi, tôi không mang mấy bức thư đó theo đâu!

Tôi đời nào lại ngu ngốc vậy.

Còn giờ, thưa quý vị, chiều nay tôi có vài cuộc hẹn nho nhỏ, mà đường về Hampstead lại xa."

Hắn bước tới, mặc áo khoác, tay để trên súng, rồi quay ra cửa.

Tôi nhấc một chiếc ghế lên, nhưng Holmes lắc đầu nên tôi lại đặt xuống.

Cúi chào và mỉm cười, đôi mắt sáng lên niềm đắc thắng, Milverton rời phòng, ít phút sau, chúng tôi nghe thấy tiếng cửa xe ngựa đóng sầm lại và tiếng bánh xe lọc cọc lăn trên đường.

Suốt nửa giờ sau đó, Holmes ngồi bất động, im lặng và trầm tư bên lò sưởi, hai bàn tay đút sâu trong túi quần, đầu cúi gục, còn mắt đăm đăm nhìn tàn lửa.

Thế rồi, với điệu bộ của người đã đưa ra quyết định cuối cùng, anh bật dậy đi vào phòng ngủ.

Lát sau, một chàng công nhân trẻ có chòm râu dê, dáng điệu ngông nghênh và vênh váo xuất hiện.

Sau khi kê cái tẩu bằng đất nung bên ngọn đèn để châm thuốc, anh liền xuống đường.

Trước khi khuất hẳn trong bóng đêm, anh dặn tôi một câu: "Watson, lát nữa tôi về."

Tôi hiểu anh đã bắt đầu chiến dịch đánh trả Charles Augustus Milverton nhưng tôi không đoán trước được cái kết cục của nó.

Suốt mấy hôm, Holmes cứ đi cả ngày rồi trở về trong bộ dạng này, nhưng ngoài một câu nói rằng anh đang ở Hampstead và chuyện đó không uổng công, tôi chẳng biết gì về việc anh làm.

Cuối cùng, vào một buổi chiều giông bão, gió gào thét và quất rầm rập bên cửa sổ, anh trở về từ chuyến đi sau chót và sau khi thoát khỏi lớp hóa trang, anh ngồi trước lò sưởi và lẳng lặng sung sướng cười một mình.

"Anh cho rằng tôi không phải mẫu người của gia đình, phải không, Watson?"

"Đúng vậy!"

"Vậy anh sẽ rất ngạc nhiên khi biết tôi đã đính hôn."

"Ôi, bạn thân mến!

Xin chúc m..."

"Với cô hầu của Milverton."

"Trời ơi, Holmes!"

"Tôi cần thông tin, Watson à."

"Nhưng anh đi quá xa rồi thì phải?"

"Nhưng đó là một nước cờ vô cùng cần thiết.

Tôi vào vai thợ sửa ống nước rất có tiền đồ, tên Escott.

Chiều chiều tôi đi dạo rồi trò chuyện với cô ta.

Trời, mấy cuộc chuyện trò thật là...

Tuy nhiên, tôi đã có những gì mình cần.

Tôi biết rõ nhà của Milverton như lòng bàn tay."

"Nhưng còn thiếu nữ ấy, Holmes?"

Anh nhún vai.

"Chuyện đặng chẳng đừng thôi, Watson thân mến ạ.

Khi trong ván bài có một khoản tiền cược như vậy, ta phải chơi hết mình.

Nhưng tôi mừng vì có một tình địch sẵn sàng thế chỗ khi tôi quay lưng ra đi.

Tối nay thật tuyệt vời!"

"Anh thích tiết trời này sao?"

"Nó hợp ý tôi.

Watson này, tối nay tôi định đột nhập nhà Milverton."

Tôi nín thở, lạnh cả người khi nghe câu ấy được thong thả thốt ra bằng giọng điệu cương quyết.

Như ánh chớp giữa đêm trong tích tắc soi tỏ mọi đường nét trong toàn cảnh, tôi dường như cũng thoáng thấy mọi hệ lụy có thể phát sinh từ một hành động như vậy - bị phát giác, bắt bớ, sự nghiệp danh giá tan tành bởi thất bại và nhục nhã ê chề, rồi số phận của bạn tôi sẽ phụ thuộc vào lòng độ lượng của Milverton khả ố.

"Trời ơi, Holmes ơi, hãy nghĩ xem anh đang làm gì," tôi kêu lên.

"Bạn thân mến ơi, tôi đã cân nhắc rồi.

Tôi chưa hành động xốc nổi bao giờ, tôi sẽ không dùng đến phương cách mạnh bạo và quả là nguy hiểm như thế nếu còn cách nào khác.

Ta hãy nhìn vấn đề cho rõ ràng và thẳng thắn.

Tôi nghĩ anh sẽ công nhận rằng hành động này tuy phạm pháp nhưng lại chính đáng về mặt đạo đức.

Đột nhập vào nhà hắn cũng không hơn gì dùng vũ lực đoạt lấy sổ tay của hắn - việc ấy thì anh đã sẵn lòng giúp tôi"

Tôi suy đi nghĩ lại một hồi.

"Phải", tôi nói.

"Nó còn chính đáng về mặt đạo đức chừng nào mục đích của chúng ta chỉ là lấy đi thứ mà Milverton dùng vào chuyện phi pháp."

"Đúng.

Vì nó chính đáng về mặt đạo đức nên giờ tôi chỉ phải cân nhắc về mặt rủi ro cá nhân thôi.

Chắc hẳn một quý ông không nên đặt nặng vấn đề này khi có một người phụ nữ khẩn cầu anh ta giúp, đúng không?"

"Anh sẽ rơi vào một tình thế khó khăn đấy."

"À, đó là một phần của rủi ro.

Tôi chẳng còn cách nào khác để lấy lại mấy bức thư.

Tiểu thư tội nghiệp không có tiền mà cũng chẳng thể thổ lộ nỗi niềm cùng người nhà.

Mai là hạn chót rồi, nếu đêm nay tôi không lấy được mấy bức thư, kẻ bất lương kia sẽ y lời mà hủy hoại cuộc đời cô ấy.

Do vậy, một là tôi bỏ mặc số phận thân chủ mình, hai là phải hạ lá bài chót này.

Còn nói riêng giữa chúng ta thôi, Watson à, đây là cuộc quyết đấu đầy tinh thần thượng võ giữa Milverton và tôi.

Như anh thấy đó, hắn đã thắng trong trận đấu khẩu đầu tiên, tôi phải đấu tới cùng vì lòng tự trọng và thanh danh của bản thân nữa!"

"Thôi được.

Tuy tôi không thích, nhưng có lẽ phải thế thôi", tôi nói.

"Bao giờ chúng ta bắt đầu?"

"Anh sẽ không đi."

"Vậy anh cũng không được đi", tôi nói.

"Tôi dám lấy danh dự ra thề với anh - và trước nay tôi chưa từng nuốt lời - nếu anh không để tôi cùng tham gia cuộc phiêu lưu này, tôi sẽ bắt xe tới thẳng đồn cảnh sát để tố giác anh."

"Anh không giúp được tôi đâu."

"Làm sao anh biết?

Anh đâu thể lường trước chuyện sẽ xảy ra!

Anh thích nói gì thì tùy, nhưng ý tôi đã quyết.

Đâu chỉ mình anh mới có lòng tự trọng và thanh danh!"

Nãy giờ Holmes có vẻ khó chịu, nhưng giờ trán anh dãn ra, rồi anh vỗ vai tôi.

"Được rồi, bạn thân mến, vậy cũng được.

Ta đã chung phòng mấy năm rồi nên nếu được chung xà lim với nhau âu cũng là cái thú.

Anh biết không, Watson, tôi không ngại thú thật với anh rằng bấy lâu nay tôi luôn nghĩ mình có thể trở thành một tay trộm khét tiếng.

Đây là cơ hội đời cho tôi một lần để thỏa cái suy nghĩ ấy.

Nhìn này!"

Anh lấy trong ngăn kéo ra một hộp da nhỏ gọn, mở và khoe ra mấy món đồ nghề sáng loáng.

"Đây là bộ đồ nghề bẻ khóa hảo hạng, tối tân, có xà beng cỡ nhỏ mạ kền, mũi khoan kính đầu kim cương, chùm chìa khóa vạn năng, cùng nhiều thứ khác.

Đây là đèn bão của tôi.

Mọi thứ đều đâu vào đấy cả rồi.

Anh có giày êm chưa?"

"Tôi có một đôi giày mềm đế cao su."

"Tuyệt.

Còn mặt nạ?"

"Tôi lấy lụa đen làm hai cái là được."

"Anh có thiên khiếu làm công việc này đấy.

Tốt lắm, anh làm mặt nạ đi.

Ta sẽ ăn chút gì rồi mới xuất phát.

Giờ là 9 giờ 30.

Tới 11 giờ ta sẽ đi xe đến Church Row.

Từ đó, chúng ta sẽ đi bộ mười lăm phút đến cơ ngơi Appledore Towers của Milverton.

Như vậy chúng ta sẽ bắt tay vào việc trước lúc nửa đêm.

Ngày nào cũng vậy, cứ đúng 10 giờ 30, Milverton sẽ về phòng và ngủ say như chết.

Nếu may mắn, chúng ta sẽ mang mấy lá thư của tiểu thư Eva về đây lúc 2 giờ sáng."

***

Holmes và tôi mặc áo đuôi én, trông ra dáng người đi xem hát trên đường về nhà.

Tại phố Oxford, chúng tôi vẫy một cỗ xe ngựa rồi tới một địa chỉ ở Hampstead.

Tại đây, chúng tôi trả tiền xe, cài kín cổ áo choàng rộng vì trời thì rét căm căm, còn gió như muốn thổi bạt cả hai, và bắt đầu đi men vùng đất hoang.

"Ta phải xử lí thật khéo", Holmes nói.

"Mấy tài liệu này được để trong két sát tại thư phòng, mà phòng đó lại ở trước phòng ngủ của hắn.

Tuy nhiên, như mọi gã nhỏ con béo lùn phát đạt khác, hắn ngủ say lắm.

Agatha - vị hôn thê của tôi bảo đảm - gia nhân thường nói đùa rằng có sấm nổ bên tai cũng chẳng làm ông chủ tỉnh giấc được.

Hắn có một tay thư kí hết lòng lo cho hắn và cứ ngồi lì cả ngày trong thư phòng.

Chính vì vậy mà ta phải tới vào ban đêm.

Hắn còn nuôi một con chó dữ thường sục sạo trong vườn suốt đêm.

Hai ngày qua tôi gặp Agatha vào lúc tối muộn, cô ta phải nhốt nó lại để tôi an toàn chạy khỏi nhà.

Nhà ấy đây rồi, chính cái căn nhà lớn nằm trong khuôn viên riêng đấy!

Qua cổng, giờ rẽ phải đi qua đám nguyệt quế.

Ta đeo mặt nạ được rồi.

Anh thấy không, chẳng có tia sáng nào hắt qua mấy ô cửa sổ.

Mọi chuyện đang diễn ra rất tuyệt đây!"

Sau khi đeo mặt nạ bằng lụa đen, chúng tôi trở thành hai kẻ nguy hiểm nhất London.

Chúng tôi len lẻn tiến lại gần ngôi nhà tối om và im lìm.

Hàng hiên lát đá chạy dọc bên hông nhà có cửa sổ và hai cửa lớn.

"Phòng ngủ của hắn ở đây", Holmes nói khẽ.

"Cửa này mở thẳng vào thư phòng.

Đi đường này nhanh hơn, chỉ có điều cửa vừa được cài then vừa được khóa nên ta không thể đi vào mà không gây kinh động.

Lại đằng này.

Có một nhà kính mở vào phòng khách."

Chỗ này đã khóa, nhưng Holmes cắt đi một khoanh kính rồi mở khóa bên trong.

Loáng cái anh đã khép cửa lại sau lưng cả hai, và chúng tôi thành hai kẻ phạm trọng tội dưới quan điểm của luật pháp.

Không khí ấm áp, ngột ngạt trong nhà kính cùng mùi hương nồng nàn đến ngào ngạt của những loài hoa cỏ lạ xộc vào mũi chúng tôi.

Trong bóng tối, anh chụp tay tôi thoăn thoắt dẫn qua mấy luống bụi cây.

Holmes có khả năng phi thường được chuyên cần rèn luyện là nhìn tốt trong bóng tối, vẫn nắm tay tôi, anh mở một cánh cửa, và tôi lờ mờ biết chúng tôi đã bước vào một căn phòng lớn còn đậm mùi khói xì gà.

Anh dò dẫm giữa những bàn ghế, mở một cánh cửa nữa và rồi khép lại sau lưng.

Giơ tay ra tôi sờ thấy mấy áo khoác móc trên tường, nên đoán mình đang ở trong một hành lang.

Chúng tôi đi dọc theo, rồi Holmes khẽ mở một cửa bên phải.

Cái gì đó nhảy xổ vào chúng tôi khiến tôi thót cả tim, nhưng tôi muốn bật cười khi nhận ra đó là con mèo.

Trong gian phòng này có một lò sưởi đang bập bùng cháy, và không khí nơi đây cũng nồng nặc khói thuốc.

Holmes rón rén bước vào, chờ tôi theo, rồi khẽ khàng đóng cửa lại.

Chúng tôi đang ở trong thư phòng của Milverton, và một portièrè * ở đầu kia che đi lối vào phòng ngủ của hắn.

* Nguyên văn tiếng Pháp: Rèm cửa.

Lửa trong lò sưởi soi sáng căn phòng.

Tôi thoáng thấy một cái công tắc ở gần cửa, nhưng thấy không cần thiết phải bật lên.

Một bên lò sưởi có tấm rèm nặng trịch che đi ô cửa sổ chúng tôi đã thấy từ phía ngoài.

Phía bên kia là cửa thông ra hàng hiên.

Chính giữa phòng là một cái bàn làm việc với chiếc ghế xoay bọc da đỏ bóng lừ.

Đối diện là một tủ sách lớn, trên đặt tượng bán thân nữ thần Athena bằng đá cẩm thạch.

Trong góc, giữa tủ sách và tường, có một két sắt cao màu xanh lá, ánh lửa hắt lại từ mấy núm đồng thau sáng loáng trên mặt két.

Holmes mon men lại nhìn, rồi anh rón rén tới cửa phòng ngủ, đứng nghiêng đầu nghe ngóng.

Bên trong không có lấy một tiếng động.

Trong khi đó, tôi chợt nghĩ rằng mình nên kiểm tra cái cửa dẫn ra hiên để đảm bảo đường lui.

Tôi sững sờ khi thấy cửa không khóa mà cũng chẳng cài then!

Tôi chạm vào tay Holmes, nên anh xoay đầu nhìn hướng đó.

Anh giật mình và cũng ngạc nhiên như tôi.

"Tôi chẳng thích chuyện này chút nào", anh thì thầm vào tai tôi.

"Tôi không dự trù việc này.

Nhưng dù sao đi nữa, ta cũng không được phí thời gian."

"Tôi phụ được gì không?"

"Có, anh canh cửa.

Nếu có người đến, anh hãy cài then lại, và ta có thể thoát ra qua cửa vừa đi vào.

Còn nếu như họ vào bằng lối đó, ta có thể thoát qua cửa hiên nếu đã xong việc, hoặc nấp sau rèm cửa sổ nếu chưa xong.

Anh hiểu chứ?"

Tôi gật rồi làm theo lời anh bảo.

Cảm giác sợ hãi ban đầu đã qua, lúc này tuy phạm pháp nhưng trong tôi lại bừng lên nhiệt huyết sôi nổi mà trước đây khi ở địa vị người bảo vệ luật pháp tôi chưa từng cảm thấy.

Mục tiêu cao cả trong sứ mệnh của chúng tôi, ý thức được tính cao thượng và không vụ lợi của nó, cùng sự bất lương của đối thủ, tất thảy khiến cuộc phiêu lưu đầy tinh thần thượng võ này thêm phần thú vị.

Tôi không hề thấy tội lỗi, mà còn phấn khích trước những hiểm nguy có thể chờ đón chúng tôi.

Tôi sung sướng cảm phục nhìn Holmes trải hộp đồ nghề ra rồi chọn dụng cụ với sự chính xác điềm tĩnh của một bác sĩ phẫu thuật đang thực hiện ca mổ khó.

Tôi biết mở két sắt là sở thích đặc biệt của anh, và tôi hiểu anh vui sướng thế nào khi đối đầu với con quỷ màu vàng xanh đã nuốt trọn trong bụng thanh danh của biết bao người phụ nữ tử tế này.

Vén gấu áo đuôi én lên - anh đã vắt áo choàng lên ghế - Holmes bày ra hai cái khoan, một cái xà beng nhỏ và mấy chiếc chìa khóa vạn năng.

Tôi đứng ở cửa giữa, mắt liếc sang hai cửa kia, sẵn sàng cho bất kì tình huống khẩn cấp nào.

Mặc dầu vậy, tôi vẫn chưa biết sẽ làm gì nếu chúng tôi bị xen ngang.

Trong nửa giờ, Holmes dồn toàn bộ sức lực vào công việc, đặt dụng cụ này xuống, cầm cái khác lên, sử dụng từng thứ với sức mạnh và sự khéo léo như một thợ máy lành nghề.

Cuối cùng tôi nghe một tiếng cách, cánh cửa to màu xanh lá bật mở và tôi thoáng thấy có mấy gói giấy ở bên trong, gói nào cũng được buộc chặt, niêm phong và ghi chú gì đó.

Holmes lấy một gói, nhưng vì khó mà đọc trong ánh lửa chập chờn nên anh rút cây đèn bão nhỏ ra.

Bật đèn điện quá nguy hiểm khi Milverton đang ở phòng bên.

Chợt tôi thấy anh dừng lại nghe ngóng rồi nhoáng một cái, anh đã đóng cửa két sắt lại, với lấy áo choàng, đút đồ nghề vào mấy túi áo, rồi chuồn ra sau rèm cửa sổ và ra hiệu cho tôi làm theo.

Sau khi đã tới nấp cạnh anh, tôi mới nghe thấy điều gì đã đánh động các giác quan nhạy bén của anh.

Từ đâu đó trong nhà vẳng tới một tiếng cửa đóng sầm lại, tiếp đó là tiếng lầm bầm xen lẫn tiếng bước chân thình thịch càng lúc càng rõ.

Tiếng động phát ra từ hành lang ngoài phòng này.

Cuối cùng nó dừng lại tại cửa.

Cửa mở.

Tiếng cách gọn lỏn vang lên khi đèn điện bật sáng.

Cửa lại khép, và cái mùi nồng nồng khó chịu của xì gà loại nặng xộc vào mũi chúng tôi.

Người kia tiếp tục đi tới đi lui, chỉ cách chúng tôi dăm bước.

Sau cùng, cái ghế cót két kêu lên khi người kia ngồi dựa vào, và tiếng chân cũng dừng.

Tiếp đó là tiếng chìa khóa lách cách tra vào ổ và tôi nghe thấy tiếng giấy loạt soạt.

Vừa rồi tôi chẳng dám nhìn ra, nhưng giờ tôi rón rén vén rèm để nhìn hé ra.

Cảm thấy sức nặng của một bên vai Holmes tì bên người, tôi biết anh cũng đang quan sát như tôi.

Ngay trước mặt, và gần như chỉ cách một cánh tay, là tấm lưng rộng tròn của Milverton.

Rõ là chúng tôi đã nhầm về giờ giấc sinh hoạt của hắn: Hắn chưa hề vào phòng ngủ.

Có lẽ hắn đã ở trong một phòng hút thuốc hay phòng bi-a ở cánh bên kia của tòa nhà mà chúng tôi không thấy cửa sổ.

Cái đầu to bè, mái tóc hoa râm với khoảng hói sáng lên dưới ánh đèn hiện ra ngay trước tầm mắt chúng tôi.

Hắn ngả người trên chiếc ghế bọc da đỏ và duỗi dài chân.

Điếu xì gà đen dài vểnh lên bên mép.

Hắn mặc áo khoác màu rượu vang, cổ áo viền nhung đen.

Hắn đang cầm một tài liệu pháp lí dài, và vừa uể oải đọc vừa nhả từng vòng khói thuốc.

Cứ nhìn cái dáng điệu ung dung và thoải mái kia, tôi chẳng nghĩ hắn sẽ rời đi sớm.

Tôi thấy bàn tay Holmes cầm lấy tay mình và lắc nhẹ như trấn an rằng mọi chuyện đang trong tầm kiểm soát của anh, và rằng anh vẫn bình tĩnh.

Tôi không rõ anh có thấy cái tôi nhìn thấy rành rành từ chỗ này, rằng cửa két sắt chưa đóng kín, và Milverton có thể nhận ra điều đó bất cứ lúc nào.

Tôi thầm quyết định rằng nếu gã vô lại kia nhận thấy sự khác thường đó, tôi sẽ vọt ra, chụp áo choàng lên đầu Milverton, giữ chặt hắn, rồi để phần còn lại cho Holmes.

Nhưng Milverton chẳng hề ngước lên: Hắn đang chú tâm vào tài liệu trong tay, lật tờ này sang tờ khác để đọc những biện luận của luật sư.

Tôi nghĩ chắc phải xem tài liệu và hút xì gà xong, hắn mới vào phòng ngủ.

Tuy nhiên, một biến cố bất ngờ xảy đến đã chuyển hướng ý nghĩ của chúng tôi sang một chuyện khác hẳn.

Tôi đã đế ý thấy Milverton đôi lần nhìn đồng hồ đeo tay, có lần hắn còn đứng lên rồi ngồi xuống, cho thấy hắn đang sốt ruột.

Tuy vậy, tôi không hề nghĩ hắn hẹn gặp ai vào một giờ lạ lùng thế này, cho đến khi một tiếng động nho nhỏ từ hàng hiên bên ngoài vọng tới.

Milverton bỏ giấy tờ xuống rồi ngồi thẳng trên ghế.

Tiếng động lặp lại, rồi có tiếng gõ cửa khe khẽ.

Milverton đứng lên mở cửa.

"Cô đến muộn cả nửa tiếng đồng hồ đấy."

Hắn nói cộc lốc.

Thảo nào mà cửa không khóa và Milverton thức khuya!

Có tiếng vải vóc loạt soạt khe khẽ.

Lúc trước, khi Milverton quay về phía chúng tôi, tôi đã khép rèm lại nhưng giờ lại liều hé ra lần nữa.

Hắn đã ngồi xuống, và điếu xì gà vẫn vểnh lên bên mép hắn.

Đứng trước mặt hắn, dưới ánh đèn điện sáng tỏ, là một người phụ nữ cao ráo, mảnh mai, đeo mạng che mặt và kéo cổ áo choàng cao tới tận cằm.

Cô ta thở dồn dập, và thân hình thướt tha run lên vì xúc động mãnh liệt.

"Chao ôi", Milverton nói, "cô làm tôi mất một đêm yên giấc rồi đấy.

Tôi hi vọng là bõ công.

Cô không tới lúc khác được hử?"

Người phụ nữ lắc đầu.

"Thôi được, nếu cô không thể thì có nghĩa là không thể.

Nếu bá tước phu nhân là một bà chủ khắt khe thì đấy là dịp cho cô trả thù bà ta đấy.

Cô gái tội nghiệp, cô sợ gì chứ?

Được rồi!

Bình tĩnh nào!

Ta vào việc thôi."

Hắn lấy một lá thư trong hộc bàn làm việc ra.

"Cô nói là cô có năm lá thư có thể dùng để thương lượng với bá tước phu nhân d'Albert.

Cô muốn bán.

Tôi muốn mua.

Giờ chỉ còn phải tính sao cho thuận mua vừa bán nữa thôi.

Nhưng tất nhiên, tôi muốn kiểm tra.

Nếu chúng quả là hàng tốt...

Trời, là cô sao?"

Người phụ nữ không nói không rằng, vén mạng che mặt lên và kéo vành áo che cằm xuống.

Một gương mặt ngăm ngăm, sắc sảo, mĩ miều nhìn thẳng vào mặt Milverton trên gương mặt ấy là cái mũi khoằm, cặp lông mày đen, đậm nét trên đôi mắt sáng, cứng rắn, và đôi môi mỏng đanh lại thành một nụ cười nguy hiểm.

"Là ta đây", cô ta nói, "người bị ông hủy hoại cuộc đời đây."

Milverton cười, nhưng giọng run run sợ hãi.

"Cô bướng bỉnh quá mà", hắn nói.

"Sao cô phải dồn tôi đến nước dùng những biện pháp cực đoan như thế?

Tôi xin cam đoan tôi không có ý làm hại dù chỉ một con ruồi, nhưng ai có việc nấy, và tôi phải làm gì đây?

Tôi đã nêu ra cái giá vừa khả năng của cô lắm rồi.

Ấy thế mà cô chẳng chịu trả."

"Thế nên mi gửi mấy lá thư cho chồng ta, và ông ấy - con người cao thượng nhất đời mà ta chẳng xứng buộc dây giày dưới chân - đã bắn vỡ trái tim hào hiệp của mình mà chết.

Mi nhớ rằng đêm qua khi bước qua cánh cửa kia, ta đã năn nỉ xin mi thương tình, vậy mà mi cười vào mặt ta hệt như mi đang cố cười lúc này đây, nhưng trái tim hèn nhát của mi làm sao giúp mi cười nổi chứ?

Phải, mi không ngờ sẽ gặp lại ta, nhưng chính đêm qua đã dạy ta biết làm sao để một mình đối mặt với mi.

Nào, Charles Milverton, mi còn gì để nói?"

"Đừng nghĩ cô dọa được tôi", hắn nói và đứng lên.

"Tôi chỉ cần cao giọng lên gọi gia nhân tới bắt cô là xong.

Nhưng tôi sẽ tha thứ cho cơn tức giận hoàn toàn tự nhiên này.

Hãy rời phòng như khi cô đến, và tôi sẽ không nói gì thêm."

Người đàn bà luồn tay vào ngực áo, và nụ cười chết chóc vẫn in trên đôi môi mỏng.

"Mi sẽ không còn hủy hoại cuộc đời ai được nữa.

Mi sẽ không còn bóp nát trái tim ai được nữa.

Ta sẽ cứu thế gian này khỏi một kẻ lòng lang dạ sói.

Nhận lấy này, đồ chó săn, nữa này!

Nữa này!

Nữa này!"

Cô ta rút một khẩu súng lục rồi xả hết viên đạn này đến viên đạn khác vào người Milverton, họng súng cách ngực hắn chưa đầy hai foot.

Hắn co người lại rồi đổ gục xuống bàn, ho sặc sụa và quơ cào giữa đám giấy tờ.

Đoạn hắn lảo đảo đứng lên, lại lĩnh thêm một phát đạn nữa.

Lần này hắn đổ vật xuống sàn.

"Mi giết ta rồi", hắn gào lên rồi nằm bất động.

Người phụ nữ nhìn kĩ rồi gí gót lên bộ mặt ngửa lên của hắn.

Cô ta lại nhìn, nhưng không thấy hắn nhúc nhích nữa.

Tôi nghe tiếng sột soạt và làn gió đêm lùa vào căn phòng ấm áp, và người báo thù đã đi mất.

Chúng tôi có can thiệp cũng không cứu nổi gã đàn ông khỏi số mệnh của mình.

Nhưng khi người đàn bà trút hết viên đạn này đến viên đạn khác vào Milverton, tôi toan phóng ra thì bàn tay lạnh lẽo, chắc nịch của Holmes nắm chặt cổ tay tôi.

Tôi hiểu trọn ý nghĩa của cái nắm tay cản ngăn, cương quyết đó: Rằng đây không phải chuyện của chúng tôi, rằng công lí đã có cách để bắt kẻ bất lương chịu tội, và rằng chúng tôi có nhiệm vụ cùng mục tiêu không thể lơ là.

Nhưng khi người phụ nữ vừa rời phòng, Holmes liền lặng lẽ thoăn thoắt tới cửa ra hành lang.

Anh xoay chìa trong ổ.

Cùng lúc chúng tôi nghe tiếng nói và tiếng chân hối hả vang trong nhà.

Tiếng súng đã đánh thức người nhà dậy.

Rất mực điềm tĩnh, Holmes nhanh nhẹn qua chỗ két sắt, ôm đầy tay những bó thư, rồi trút tất cả vào lò sưởi.

Phải mất mấy chuyến như thế anh mới trút sạch thư trong két.

Có người xoay nắm đấm và dộng thình thình vào cửa.

Holmes mau lẹ đưa mắt nhìn quanh.

Lá thư của sứ giả thần chết, còn lấm tấm máu của Milverton, vẫn đang ở trên bàn.

Holmes ném nó vào giữa đám giấy tờ đang cháy hừng hực.

Sau đó, anh rút chìa khóa cửa hiên, lách ra theo sau tôi, rồi khóa lại từ bên ngoài.

"Lối này, Watson", anh nói.

"Ta có thể trèo qua tường vườn ở phía này."

Tôi không thể tin nổi cuộc báo động lan nhanh đến vậy.

Ngoái lại nhìn, tôi thấy cả tòa nhà rộng lớn đã rực sáng ánh đèn.

Cửa trước mở ra, mấy bóng người chạy ra ngoài.

Cả khu vườn lố nhố người, và khi chúng tôi rời hàng hiên, một gã tri hô rồi đuổi theo sát gót.

Có vẻ Holmes rất rành cơ ngơi này nên anh len lỏi thoăn thoắt giữa những lùm cây thấp bé, tôi bám sát gót anh, còn kẻ đầu tiên truy đuổi hổn hển theo sau chúng tôi.

Một bức tường cao sáu foot chắn lối, nhưng anh vọt lên và nhảy qua.

Đang làm theo tôi bỗng cảm thấy bàn tay kẻ sau lưng chộp lấy mắt cá chân, nhưng tôi giãy ra được, rồi leo qua đầu tường mọc đầy cỏ.

Tôi ngã chúi xuống giữa đám bụi cây.

Holmes đỡ tôi dậy ngay, rồi cả hai cùng phóng qua vùng đất hoang Hampstead mênh mông.

Chắc chúng tôi phải chạy được tầm hai dặm Holmes mới dừng lại nghe ngóng.

Sau lưng chúng tôi, bốn bề tĩnh lặng.

Chúng tôi đã cắt đuôi những kẻ đuổi theo.

***

Buổi sáng sau trải nghiệm khác thường như tôi đã kể, chúng tôi vừa dùng xong điểm tâm và đang hút tẩu thì Lestrade của Sở Cảnh sát London, trong bộ trang phục lịch lãm, bước vào phòng chúng tôi.

"Xin chào, ông Holmes," ông ta nói.

"Xin chào.

Không biết ông có bận lắm không?"

"Vẫn đủ thì giờ nghe ông nói chuyện."

"Tôi nghĩ nếu ông không bận việc gì quan trọng, biết đâu ông sẽ muốn giúp chúng tôi xử lí một vụ hết sức khác thường vừa xảy ra đêm qua tại Hampstead."

"Trời đất!"

Holmes nói.

"Chuyện gì vậy?"

"Án mạng, một vụ án mạng hết sức kịch tính và khác thường.

Tôi biết ông thích những thứ như thế, tôi cũng rất biết ơn nếu ông quá bộ xuống Appledore Towers và cho chúng tôi được nhờ tới lời khuyên của ông.

Đây không phải một vụ án bình thường.

Chúng tôi đã để mắt đến Milverton lâu rồi, và nói riêng thôi nhé: Hắn là quân bất lương.

Thiên hạ biết hắn nắm giữ một số giấy tờ để tống tiền người khác.

Nhưng toàn bộ số giấy tờ này đã bị hung thủ đốt sạch.

Không có món đồ quý nào bị trộm mất, vì có lẽ bọn tội phạm là người có địa vị cao, và chúng chỉ muốn ngăn tai tiếng phơi bày trước bàn dân thiên hạ."

"Bọn sao?"

Holmes nói.

"Phải, chúng có hai tên và suýt bị bắt tại trận.

Chúng tôi đã có dấu chân của chúng cùng đặc điểm mô tả, tôi dám cá mười ăn một là sẽ lần ra chúng thôi.

Gã thứ nhất nhanh chân quá, nhưng gã thứ hai bị người làm vườn tóm và phải vùng vẫy mới thoát được.

Gã đó tầm thước, trông khỏe mạnh, hàm vuông, cổ dày, có ria mép, đeo mặt nạ che mặt."

"Miêu tả mơ hồ quá", Sherlock Holmes nói.

"Tôi nghe có vẻ như tả Watson vậy."

"Đúng vậy", viên thanh tra rất khoái chí.

"Ta cũng có thể mô tả bác sĩ Watson như thế."

"Lestrade, tôi e là không giúp được ông rồi", Holmes nói.

"Tôi biết Milverton và tôi xem hắn là một trong những kẻ nham hiểm nhất London.

Hơn nữa, tôi cho rằng pháp luật không thể phán xét một số việc con người ta làm để báo thù.

Không, tranh luận cũng vô ích.

Ý tôi đã quyết.

Lần này tôi đồng tình với bọn tội phạm hơn là nạn nhân, và tôi sẽ không nhận vụ này."

Holmes không nói với tôi tiếng nào về án mạng chúng tôi đã chứng kiến, nhưng tôi quan sát thấy suốt buổi sáng, anh luôn đăm chiêu, và theo ánh mắt mông lung và bộ dạng lơ đãng, tôi có cảm giác anh đang cố nhớ lại điều gì.

Đang ăn dở bữa trưa, anh bỗng đứng phắt dậy.

"Trời ơi, Watson, tôi biết rồi!"

Anh kêu lên.

"Lấy mũ đi!

Đi với tôi!"

Anh hối hả chạy hết phố Baker rồi dọc theo phố Oxford, cho đến khi gần đến rạp xiếc Regent.

Ở đây, bên trái có một ô kính cửa tiệm trưng đầy chân dung những nhân vật lỗi lạc và giai nhân thời nay.

Holmes dán mắt vào một bức hình, và khi nhìn theo, tôi thấy chân dung một phu nhân mang nét đẹp vương giả, uy nghi mặc triều phục, đội vương miện nạm kim cương quý phái.

Tôi nhìn cái mũi khoằm thanh tú, đôi mày sắc sảo, đôi môi mỏng và cái cằm nhỏ ánh lên nét cứng cỏi.

Sau đó, tôi nín thở khi đọc tước vị lâu đời của nhà quý tộc và chính khách cao cấp là phu quân quá cố của mệnh phụ ấy.

Tôi và Holmes nhìn nhau, anh đưa ngón tay lên môi rồi chúng tôi quay đầu rời xa ô cửa kính.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D8 Sáu bức tượng Napoleon


SÁU BỨC TƯỢNG NAPOLEON

THE ADVENTURE OF THE SIX NAPOLEONS (1904)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Ông Lestrade, thanh tra Scotland Yard, buổi tối thỉnh thoảng ghé thăm chúng tôi và Sherlock Holmes rất hoan nghênh những buổi tối ấy, vì nhờ đó mà anh có được mối liên hệ thường xuyên với Scotland Yard.

Để đền đáp lại cho những tin tức mà Lestrade đem đến, Holmes luôn chăm chú lắng nghe mọi tình tiết về các vụ án mà viên thanh tra này đang phụ trách điều tra.

Đôi lúc, như hoàn toàn vô tình, anh biết cách đưa ra những lời khuyên và gợi ý rút từ vốn tri thức và kinh nghiệm phong phú của anh.

Riêng tối hôm đó Lestrade, sau khi nói về thời tiết và tin các báo, không nói thêm gì nữa, chỉ làm thinh.

Holmes nhìn xoáy vào ông.

- Ông có vụ nào đáng chú ý không?

- Holmes hỏi.

- Ồ không, ông Holmes ạ, chẳng có gì đặc biệt cho lắm.

- Vậy thì ông cứ kể cho tôi nghe đi.

Lestrade cười:

- Khó mà giấu nổi ông điều gì, ông Holmes ạ.

Đúng là tôi đang nghĩ đến một chuyện, nhưng nó thật vớ vẩn nên tôi cứ phân vân không biết có nên làm phiền ông không.

Mặt khác, việc này lại rất đặc biệt, chắc chắn như thế.

Tôi biết ông vốn rất thích tất cả những chuyện khác thường.

Nhưng theo tôi, chuyện này nên để bác sỹ Watson quan tâm hơn là tôi với ông.

- Bệnh tật gì không?

- tôi hỏi.

- Chứng điên.

Mà lại là một bệnh điên kỳ quặc nữa.

Các ông chắc không tưởng tượng được bây giờ mà lại có người căm ghét Napoleon Đệ nhất đến mức hễ thấy bất cứ một hình tượng nào của ông ta là đập vỡ cho bằng được.

Holmes ngả người trên ghế.

- Chuyện này không thuộc lĩnh vực của tôi, - anh nói.

- Đúng thế, thì tôi đã nói mà.

Nhưng khi thằng cha đó phạm tội ăn trộm để đập nát những pho tượng không phải của hắn, thì câu chuyện đã chuyển từ tay bác sỹ sang tay cảnh sát rồi.

Holmes lại ngồi thẳng dậy.

- Ăn trộm à!

Câu chuyện đã thú vị hơn rồi.

Xin ông kể chi tiết cho tôi nghe với.

Lestrade rút cuốn số ghi chép công vụ ra, và lật từng trang để nhớ lại cho rành mạch.

- Vụ thứ nhất chúng tôi được báo là cách đây bốn hôm.

Sự việc xảy ra tại cửa hiệu ông Morse Hudson làm nghề bán tranh, tượng ở đường Kennington.

Người phụ việc vừa rời khỏi cửa hiệu một lát thì nghe có tiếng loảng xoảng.

Anh ta vội quay vào và thấy pho tượng bán thân Napoleon vẫn bày trên quầy cùng với các tác phẩm nghệ thuật khác đã vỡ tan tành trên sàn nhà.

Anh ta chạy vụt ra đường nhưng không thấy ai, tuy có nhiều người qua đường nói rằng họ trông thấy một người từ trong cửa hiệu chạy ra.

Pho tượng thạch cao nọ không đáng giá là bao, và toàn bộ sự việc đó chỉ như một trò trẻ con không đáng phải mở cuộc điều tra.

- Nhưng vụ thứ hai thì nghiêm trọng hơn và cũng kỳ quặc hơn.

Chuyện mới xảy ra đêm qua.

Ở đường Kennington, cách cửa hiệu Morse Hudson vài trăm yard là nhà một bác sỹ có tiếng, tên là Barnicot.

Tuy nhà ở đường Kennington, bác sỹ này có một phòng mổ ở đường Hạ Brixton, cách đấy 2 dặm.

Bác sỹ Barnicot là người rất hâm mộ Napoleon.

Nhà ông đầy sách và tranh của vị hoàng đế Pháp này.

Mới đây ông mua được ở cửa hiệu Morse Hudson hai bức tượng bán thân Napoleon bằng thạch cao do nhà điêu khắc người Pháp Devine tạc.

Ông bày một bức trong đại sảnh của căn nhà trên đường Kennington, còn bức kia ông đặt trên mặt lò sưởi tại phòng mổ ở Hạ Brixton.

Sáng nay, từ trên gác bước xuống, bác sỹ Barnicot phải sửng sốt khi phát hiện ra đêm qua nhà ông bị kẻ trộm đột nhập, song trong nhà không mất gì cả, ngoài bức tượng bán thân bằng thạch cao đặt ở đại sảnh.

Tên trộm đã mang pho tượng ra khỏi nhà và đập nát vào bức tường ngoài vườn, vì sáng ra người ta thấy mảnh tường vỡ nằm vung vãi dưới chân tường.

Holmes xoa tay nói:

- Chuyện này quả là rất mới lạ.

- Tôi vẫn nghĩ là ông sẽ thích chuyện này mà.

Nhưng tôi vẫn chưa kể hết.

Bác sỹ Barnicot phải đến phòng mổ lúc mười hai giờ trưa.

Đến nơi, ông thấy cửa sổ phòng mổ đã bị phá tung từ đêm qua và khắp sàn vung vãi những mảnh vỡ của pho tượng thứ hai.

Pho tượng bị đập vụn ngay tại chỗ.

Trong cả hai vụ đều không có manh mối gì về tên tội phạm (hay kẻ điên rồ) đã làm ra vụ này.

Đấy sự việc là như vậy đấy, ông Holmes ạ.

- Tôi muốn biết hai pho tượng bị đập vụn của bác sỹ Barnicot có giống hệt với pho tượng bị phá tan tại cửa hiệu ông Morse Hudson không?

- Những pho tượng đó đều đúc từ một khuôn ra mà.

- Điều đó bác bỏ cái giả thuyết cho rằng kẻ đập tượng hành động do căm thù Napoleon: vậy thì việc kẻ đó bắt đầu bằng ba bản sao của cùng một pho tượng bán thân, khó lòng có thể là do một sự trùng hợp ngẫu nhiên.

- Chính tôi cũng nghĩ như ông, - Lestrade nói, - Tuy nhiên, Morse Hudsson là người bán tượng ở khu vực đó của London và suốt mười năm qua cửa hiệu ông ta chỉ có duy nhất ba pho tượng kia.

Cho nên tuy ông nói ở London có hàng trăm pho tượng Napoleon, nhưng cũng rất có thể ba pho tượng kia là những pho tượng duy nhất trong vùng đó.

Vì vậy, cái người điên sống trong vùng mới khởi sự bằng chính ba pho tượng ấy.

- Tôi chỉ xin nhận xét là hắn hành động tuy rất kỳ lạ nhưng có tuân theo một nguyên tắc nào đấy.

Chẳng hạn, ở đại sảnh trong nhà bác sỹ Barnicot, nơi mà tiếng động có thể làm cho chủ nhà thức giấc, hắn đã đem pho tượng ra ngoài rồi mới đập vỡ.

Còn ở phòng mổ ít nguy hiểm hơn, hắn đã đập vụn pho tượng ngay tại chỗ.

Vụ này có lẽ như nhố nhăng, nhưng một số vụ hay nhất của tôi khi mới khởi đầu cũng không có chút gì hứa hẹn.

Vì vậy, tôi sẽ rất biết ơn ông, Lestrade, nếu ông báo cho tôi bất cứ tiến triển mới nào trong vụ này.

Các sự kiện tiếp theo của vụ án mà bạn tôi đang trông chờ xảy ra nhanh và dưới một hình thức bi đát hơn chúng tôi tưởng tượng nhiều.

Sáng hôm sau, tôi còn đang mặc quần áo trong phòng ngủ thì Holmes gõ cửa bước vào, tay cầm một bức điện.

Anh đọc to lên:

"Đến ngay nhà số 131, đường Pitt, Kensington, Lestrade".

- Thế là thế nào nhỉ?- Tôi hỏi.

- Không rõ.

Cái này có thể hiểu thế nào cũng được.

Nhưng tôi nghi đây là câu chuyện về những pho tượng kia.

Nhưng trong trường hợp này, có lẽ anh bạn đập phá tượng của chúng ta đã chuyển hoạt động sang một khu khác của London.

Cà phê đã pha sẵn cho anh ở trên bàn và xe ngựa đã đợi sẵn ngoài cửa rồi.

Nửa giờ sau chúng tôi đã có mặt ở đường Pitt.

Lúc chúng tôi đến gần, một đám người hiếu kỳ đã tụ tập trước ngôi nhà.

Holmes huýt sáo:

- Thế này thì ít ra cũng là một vụ mưu sát.

Nếu không thì dân vô công rồi nghề ở London không tụ tập đông đến thế.

Ồ, Lestrade đang đứng bên khung cửa sổ trước nhà kia kìa.

Chúng ta sẽ biết hết mọi việc ngay thôi.

Lestrade với vẻ mặt trịnh trọng bước ra đón chúng tôi và dẫn vào phòng khách.

Chúng tôi thấy một người đàn ông đứng tuổi, mặc áo choàng nội tẩm, đang đi đi lại lại trong phòng.

Vẻ băn khoăn lo lắng, Lestrade giới thiệu đó là chủ nhà - ông Horace Harker, một nhà báo.

- Chuyện pho tượng Napoleon lại tiếp diễn, - Lestrade nói - Tối qua ông tỏ ra quan tâm tới chuyện này, ông Holmes, nên tôi nghĩ ông sẽ vui lòng có mặt khi giờ đây vụ việc đã dẫn đến một sự kiện đáng buồn như thế này.

- Sự kiện gì vậy?

- Án mạng.

Ông Harker, phiền ông kể lại cho các vị đây nghe đầu đuôi câu chuyện vừa xảy ra.

Người đàn ông mặc áo choàng quay về phía chúng tôi.

- Tôi đã nghe tiếng ông, ông Holmes ạ, - ông nói, - và nếu ông làm sáng tỏ được sự việc kỳ lạ này thì tôi cũng thấy mình được đền bù hậu hĩnh cho cái công trình bày tất cả những việc vừa xảy ra.

Mọi việc đều như xoay quanh cái pho tượng bán thân Napoleon tôi mua bốn tháng trước đây.

Tôi mua được với giá rẻ tại hiệu Harding Brothers, gần nhà ga High Street.

Tôi hay viết bài về đêm và thường ngồi làm việc đến tận sáng sớm.

Hôm nay cũng vậy.

Tôi ngồi làm việc trong phòng mình ở mặt sau tầng thượng, gần ba giờ sáng bỗng nghe có tiếng động dưới nhà.

Tôi lắng tai nghe nhưng chẳng thấy động tĩnh gì nữa, nên tôi nghĩ đó là tiếng động từ ngoài phố đưa vào.

Nhưng độ năm phút sau, bỗng có tiếng hét hết sức khủng khiếp - tôi chưa bao giờ nghe thấy một âm thanh nào ghê rợn đến thế ông Holmes ạ.

Tiếng hét đó sẽ vang mãi trong tai tôi cho đến suốt đời.

Người tê dại đi vì hãi hùng, tôi ngồi bất động vài phút, sau đó tôi cầm lấy cái que sắt thông lò và bước xuống nhà.

Vừa bước vào phòng này tôi thấy cửa sổ mở toang và pho tượng đặt trên mặt lò sưởi đã biến mất.

Tôi không hiểu tại sao tên trộm lại lấy đi một vật như thế, vì pho tượng thạch cao ấy có đáng giá gì đâu.

Như các ông thấy đấy, bất cứ người nào nhảy một bước dài từ cửa sổ này xuống, đều có thể ra đến bậc lên xuống ở cửa chính.

Tên trộm rõ ràng đã ra dùng cách ấy, nên tôi đi vòng ra cửa chính và mở cửa.

Tôi bước ra ngoài, và trong bóng tối tôi vấp chân suýt ngã đè lên một xác chết đang nằm đó.

Tôi chạy vào nhà đem đèn ra.

Cổ họng kẻ bất hạnh bị đâm một vết rộng hóac, quanh xác chết máu loang đầy.

Người bị giết nằm ngửa, hai đầu gối co lên, miệng há hốc ra trông rất gớm ghiếc.

Từ nay trở đi hắn sẽ hiện lên thường xuyên trong những cơn ác mộng của tôi.

Tôi chỉ còn kịp gọi cảnh sát, và sau đó chắc là tôi đã ngất đi, vì tôi không còn hay biết gì nữa cho đến khi tôi tỉnh lại trong đại sảnh.

Tôi mở mắt nhìn lên thì thấy một viên cảnh sát đang đứng bên.

- Thế người bị giết là ai?

- Holmes hỏi.

- Chẳng có gì cho biết người ấy là ai, - Lestrade nói.- Các ông sẽ được nhìn thấy cái xác, nhưng cho đến nay thì chúng tôi chưa làm gì được.

Đó là một người cao lớn, da rám nắng, khỏe mạnh, chưa đến ba mươi tuổi.

Tuy ăn mặc nghèo khổ, anh ta không có dáng dấp dân lao động.

Có một con dao nằm trong vũng máu cạnh xác anh ta.

Tôi không rõ đó là con dao mà hung thủ đã dùng để gây án hay là con dao của nạn nhân.

Trên quần áo anh ta chẳng thấy có tên tuổi gì, còn trong túi áo cũng chẳng có gì ngoài một quả táo, một sợi dây, một tấm bản đồ London và một bức ảnh.

Nó đây này.

Đó là một tấm ảnh chụp nhanh bằng loại máy ảnh cỡ nhỏ.

ảnh chụp một người đàn ông linh lợi, nét mặt gãy gọn, có cặp lông mày rậm.

- Thế còn pho tượng thì sao?

- Holmes hỏi sau khi xem kỹ bức ảnh.

- Tôi vừa nhận được tin về pho tượng này ngay trước lúc các ông đến.

Người ta tìm thấy nó trong vườn, trước một ngôi nhà không có người ở tại đường Campden House.

Nó đã bị đập vụn ra từng mảnh.

Tôi đang định đến đó xem đây.

Các ông cùng đi chứ?

- Tất nhiên.

Tôi phải đến đấy xem qua một lượt.

- Holmes xem xét tấm thảm và cái cửa sổ.

Chỗ tìm thấy những mảnh vỡ của pho tượng cách ngôi nhà chỉ vài trăm mét.

Pho tượng của Napoleon bị đập vụn, nằm trên bãi cỏ.

Holmes nhặt lên vài mảnh vụn và xem xét kỹ lưỡng.

Qua nét mặt chăm chú của anh, tôi tin là rốt cục anh cũng lần ra được manh mối.

- Ông nghĩ sao?

- Lestrade hỏi.

Holmes nhún vai.

- Chúng ta còn phải hết hơi với vụ này - anh nói.

- Nhưng dù sao thì ... chúng ta cũng đã có được vài đầu mối để tìm tiếp.

Dưới mắt tên tội phạm kỳ quặc kia thì pho tượng bán thân rẻ tiền này còn đáng giá hơn cả mạng người.

Đó là điểm thứ nhất.

Điểm thứ hai cũng thật kỳ lạ.

Nếu mục đích duy nhất của hắn là đập vỡ pho tượng, tại sao hắn không đập ngay trong nhà hay ngay sau khi ra khỏi nhà?

- Hắn hoảng hốt khi chạm trán với người khác, đến nỗi giết người đó.

Hắn hầu như không ý thức được hắn đang làm gì nữa.

- Ừ, ông nói có lý.

Song tôi muốn các ông đặc biệt lưu ý đến vị trí căn nhà này, nơi mà pho tượng đã bị đập nát trong vườn.

Lestrade đưa mắt nhìn quanh.

- Đây là ngôi nhà không có người ở nên hắn biết sẽ không bị ai bắt gặp trong vườn.

- Phải.

Nhưng từ đầu phố đến đây còn có một ngôi nhà bỏ không nữa mà, hắn phải đi qua để đến đây.

Tại sao hắn không đập pho tượng ở đó?

Hắn thừa hiểu rằng đi xa thêm mỗi mét là tăng thêm nguy cơ bị phát hiện cơ mà?

- Tôi xin chịu thôi.

- Lestrade nói.

Holmes chỉ lên ngọn đèn đường phía trên đầu chúng tôi.

- Ở đây hắn mới nhìn thấy rõ, còn ở đằng kia thì không.

Đó chính là lý do hắn phải đến tận đây.

Viên thanh tra thốt lên:

- Bây giờ tôi mới nhớ lại pho tượng của bác sỹ Barnicot bị đập vỡ cách chỗ ngọn đèn đỏ nhà ông không bao xa.

Chúng ta phải xử lý thế nào với sự việc này, ông Holmes?

- Ghi nhớ nó.

Sau này chúng ta có thể gặp phải một tình tiết buộc ta trở lại với nó đấy.

Giờ ông định tiến hành những bước gì nữa, ông Lestrade?

- Theo tôi, thiết thực hơn cả là xác minh xem người bị giết là ai.

Việc này thì không khó.

Khi đã biết được anh ta là ai rồi, chúng ta có thể bắt tay vào điều tra xem đêm qua anh ta làm gì ở đường Pitt, kẻ nào đã gặp và giết anh ta trên bậc thang trước cửa nhà ông Horace Harker.

Ông thấy như vậy có được không?

- Được lắm.

Nhưng tôi thì tôi sẽ tiếp cận vụ này một cách khác.

- Vậy ông sẽ làm thế nào?

- Ồ, ông không nên để tôi ảnh hưởng đến ông một chút nào.

Tôi đề nghị là ông cứ theo cách của ông, còn tôi sẽ theo cách của tôi.

Sau đó sẽ đối chiếu những điều đã ghi nhận được với nhau.

- Tốt lắm.

- Lestrade nói.

- Này anh Watsson, tôi nghĩ trước mắt chúng ta sẽ là một ngày bận rộn đấy.

Tôi sẽ rất vui, ông Lestrade ạ, nếu sáu giờ chiều này ông có thể thu xếp đến thăm chúng tôi ở Baker Street.

Còn bức ảnh tìm thấy trong túi áo nạn nhân tôi xin được giữ cho đến lúc đó.

Tối nay có lẽ tôi phải nhờ ông giúp một tay nếu những suy luận của tôi cho thấy là tôi đúng.

Từ giờ đến lúc đấy xin tạm biệt và chúc ông may mắn.

Tôi và Holmes cùng đi bộ đến High Street và rẽ vào hiệu Harding Brothers, nơi đã bán pho tượng nọ.

Một người phụ việc trẻ trong hiệu cho chúng tôi hay là ông Harding mãi đến chiều mới về, còn anh ta thì không thể giúp chúng tôi biết được điều gì.

Mặt Holmes đầy vẻ thất vọng và buồn bực.

- Chúng ta đành phải quay lại đây chiều nay thôi.

Watson ạ, vì đến lúc đó ông Harding mới có mặt ở đây, - cuối cùng anh nói.

- Tất nhiên anh đã đoán ra là tôi đang cố lần theo dấu vết mấy pho tượng kia cho đến tận đầu mối, để xem tại sao gã điên nọ lại quan tâm đến chúng như vậy.

Bây giờ chúng ta đến phố Kennington gặp ông Morse Hudson, thử xem ông ta có biết điều gì có thể làm sáng tỏ vụ này chăng.

Chúng tôi đi xe ngựa mất một giờ thì đến được cửa hiệu bán tranh của Morse Hudson.

Ông là một người thấp bé, mập mạp, mặt đỏ, phong thái có vẻ nóng nảy.

- Vâng, thưa ngài.

Hắn đập vỡ ngay tại quầy của tôi, thưa ngài, - ông nói. chúng tôi đóng thuế để được gì, nếu bạ ai cũng có thể vào nhà phá phách đồ đạc.

Vâng, thưa ngài, chính tôi đã bán cho bác sỹ Barnicot hai pho tượng.

Tôi mua của ai những pho tượng ấy ư?

Tôi không hiểu chuyện đó có can hệ gì đến sự việc.

Thôi được, ngài đã muốn biết thì tôi xin nói.

Tôi mua tại hãng Gelder và Công ty trên đường Church, Stepney.

Tôi có mấy pho tượng ư?

Ba pho - hai cộng một là ba - hai pho tôi bán cho bác sỹ Barnicot, còn một pho nữa bị đập nát ngay giữa ban ngày ban mặt tại quầy hàng của tôi.

Tôi có biết người trong ảnh này không ư?

Không, tôi không biết.

À có, tôi có biết.

Hắn là Beppo, người Ý.

Hắn làm được một vài việc cho cửa hiệu tôi.

Hắn biết chạm khắc đôi chút, và làm vài việc sai vặt trong hiệu.

Hắn đi khỏi hiệu tuần trước và từ đó tôi chẳng nghe thấy tăm hơi gì về hắn nữa.

Không, tôi không biết hắn ta từ đâu đến.

Hắn rời hiệu tôi đi đâu tôi cũng chẳng hay.

Tôi chẳng có gì xung khắc với hắn khi hắn làm việc ở đây.

Hắn đi khỏi đây hai ngày trước khi pho tượng bị đập vỡ.

- Ồ, những điều Morse Hudson cho chúng tôi biết thật đáng giá, chúng ta không thể mong muốn gì hơn thế, - Holmes nói khi chúng tôi rời cửa hiệu.

- Chúng ta đã biết được tay Beppo này dính dáng đến cả hai vụ: cả ở Kennington lẫn ở Kensington, thật đáng công đi mười dặm đường đến đây.

Anh Watson, bây giờ chúng ta đi đến hãng Gelder và Công ty, khu Stepney, đến tận xuất xứ của mấy pho tượng.

Tôi tin là ở đấy chúng ta sẽ biết được một điều gì đó giúp chúng ta điều tra vụ này.

Chúng tôi tìm ra cái xưởng tạc tượng ấy trên một con đường rộng chạy dọc bờ sông.

Bên ngoài xưởng là một khoảng sân rộng ngổn ngang những sản phẩm bằng đá đủ loại, bên trong có một căn phòng lớn với năm mươi công nhân đang tạc tượng và đúc tượng theo khuôn.

Chủ xưởng, một người Đức cao lớn, tiếp chúng tôi rất lịch sự và trả lời rõ ràng mọi câu hỏi của Holmes.

Sổ sách cho thấy: xưởng ông đã sản xuất hàng trăm pho tượng bán thân Napoleon bằng thạch cao; tất cả đều được đúc ra từ một khuôn, dùng pho tượng cẩm thạch của nhà điêu khắc Devine làm mẫu.

Ba sản phẩm trong một lô hàng riêng gồm sáu pho tượng đã đem giao cho ông Morse Hudson khoảng một năm trước; số còn lại thì bán cho hiệu Harding Brothers, ở Kensington.

Sáu pho tượng trong lô hàng đó chẳng có gì khác với những pho tượng còn lại.

Ông không hình dung nổi vì lẽ gì lại có kẻ chỉ muốn đập vỡ những pho tượng ấy.

Trong thâm tâm ông thấy ý định đó quả thật nực cười.

Mỗi pho tượng đều được đúc từ hai khuôn, khuôn này đúc nửa mặt bên phải, khuôn kia - nửa bên trái; sau đó ghép hai nửa lại với nhau, thế là được một pho tượng hoàn chỉnh.

Công việc này thường do mấy tay thợ người Ý đảm nhiệm, ngay tại phòng chúng tôi đang đứng.

Làm xong họ đặt những sản phẩm đó lên cái bàn kê ngoài lối đi cho khô, sau đó cất vào kho.

Đấy là tất cả những gì ông có thể cho chúng tôi biết.

Nhưng tấm ảnh đã gây cho ông chủ xưởng một ấn tượng mạnh mẽ.

Ông đỏ mặt giận dữ.

- Vâng, thật sự tôi biết hắn rất rõ, - ông hét to lên.- Từ trước đến giờ chỉ có một lần duy nhất cảnh sát đến xưởng tôi chính là vì thằng này đây.

Chuyện đó xảy ra hơn một năm nay rồi: hắn dùng dao đâm một tay người Ý khác ở ngoài phố rồi chạy bổ vào xưởng tôi để trốn cảnh sát đang đuổi bắt phía sau.

Hắn bị tóm cổ ngay tại đây.

Tên hắn là Beppo.

Tôi không hề biết họ của hắn.

Tuy thế hắn là một tay thợ khá - một trong những tay giỏi nhất đấy.

- Hắn bị kết án gì?

- Người bị hắn đâm không chết, cho nên người ta chỉ xử hắn một năm tù ngồi.

Tôi tin rằng giờ hắn đã được tự do, nhưng hắn chẳng dám thò mặt về đây.

Người em họ của hắn đang làm việc ở chỗ tôi.

Hy vọng anh ta có thể mách cho ông biết Beppo hiện ở đâu.

- Không, không, - Holmes kêu lên, - ông đừng nói gì với em họ của hắn cả, tôi xin ông đừng nói gì!

Việc này rất hệ trọng.

Càng đi sâu vào tôi càng thấy nghiêm trọng.

Trong cuốn sổ của ông tôi thấy ghi là những pho tượng đó được bán ngày ba tháng sáu năm ngoái.

Ông có thể cho chúng tôi biết ngày Beppo bị bắt được không?

- Tôi có thể tính gần đúng dựa theo bản danh sách tính tiền công, chủ xưởng đáp lại.

- Đúng, - ông lại lên tiếng sau một hồi lật tìm trong mớ giấy tờ, - hắn được trả tiền công lần cuối vào ngày hai mươi tháng năm.

- Cảm ơn ông, - Holmes nói.

- Tôi nghĩ không nên làm mất thì giờ và lạm dụng lòng kiên nhẫn của ông nữa.

Còn bây giờ, anh Watson, chúng ta quay về Kensington xem ông chủ hiệu Harding Brothers kể được những gì cho chúng ta về vụ này.

Ông Harding là một người nhỏ bé, nhanh nhẹn, tỉnh trí và nhanh miệng.

- Vâng, thưa ngài, tôi đã đọc được chuyện này trên các báo buổi chiều.

Ông Horace Harker là một trong những khách hàng của chúng tôi. chúng tôi bán cho ông ấy pho tượng nọ cách đây mấy tháng.

Ba pho tượng loại này chúng tôi đã đặt mua tại hãng Gelder và Công ty, ở Stepney và đã bán hết.

Bán cho ai ư?

Để tôi xem sổ sách bán hàng và trả lời ngài ngay thôi.

Đúng, trong này có ghi đầy đủ.

Một pho bán cho ông Harker, ông thấy đấy, một pho nữa bán cho ông Josiah Brown ở Biệt thự Laburnum, Laburnum Vale, Chiswick và pho thứ ba bán cho ông Sandeford ở Hạ Grove, Reading.

Không, tôi chưa bao giờ thấy người đàn ông trong bức ảnh ngài đưa tôi xem.

Trong hiệu tôi có nhân viên nào người Ý không ư?

Thưa ngài, có, có mấy người tôi thuê làm công và quét dọn.

Bọn họ có thể liếc nhìn quyển sổ bán hàng này nếu thích.

Chẳng có lý do gì đặc biệt để giữ bí mật cả.

Chà, vụ này quả là kỳ lạ.

Tôi hy vọng ông sẽ cho tôi biết những gì ông phát hiện được.

Holmes ghi chép vài điểm.

Tôi thấy anh đắc ý ra mặt.

Nhưng anh chẳng giải thích gì, chỉ giục tôi nhanh chân kẻo trễ hẹn với Lestrade.

Quả nhiên, khi chúng tôi về đến phố Baker, viên thanh tra đã đợi sẵn ở đấy và đang đi đi lại lại, vẻ sốt ruột.

- Công việc thế nào rồi, ông Holmes?

- ông ta lên tiếng hỏi.

- Chúng tôi đã bận rộn suốt ngày và thật là không uổng công chút nào - bạn tôi giải thích - Giờ tôi có thể lần theo dấu vết của từng pho tượng từ lúc mới được đúc trong khuôn ra.

- Các pho tượng à!

- Lestrade thốt lên.

- Thôi được, thôi được, ông Holmes, ông có phương pháp của riêng ông, song tôi cho là ngày vừa qua tôi khám phá được nhiều điều hơn ông.

Tôi đã xác minh được người bị giết là ai và tìm ra nguyên nhân gây án.

- Tuyệt vời.

- Ngài thanh tra Hill, người chuyên theo dõi kiều dân Ý sống tại khu phố Italia, vừa trông thấy đã nhận ngay ra hắn.

Hắn tên là Pietro Venucci, quê ở Napoli, là một trong những tay đâm thuê chém mướn sừng sỏ nhất London.

Hắn có liên hệ với bọn Mafia, như ông biết đấy, một tổ chức chính trị bí mật.

Giờ ông thấy đấy, vụ này bắt đầu sáng tỏ.

Kẻ giết hắn có lẽ cũng người Ý và là thành viên Mafia.

Tay này chắc đã vi phạm luật lệ như thế nào đó.

Pietro rình tìm hắn.

Tấm ảnh ta tìm thấy trong túi áo hắn có lẽ là của chính tay này, hắn mang theo để không giết nhầm người khác.

Hắn theo dõi địch thủ, khi thấy tên này lẻn vào nhà, hắn đừng ngoài đợi tên này trở ra và trong cuộc ẩu đả với địch thủ hắn đã bị tử thương.

Ông nghĩ thế nào về điều này, ông Holmes?

Holmes vỗ tay tán đồng.

- Tuyệt, ông Lestrade, thật là tuyệt!

- Anh thốt lên.

- Nhưng tôi chưa rõ ông lý giải như thế nào việc mấy pho tượng bị đập nát.

- Lại mấy pho tượng!

Ông không gạt bỏ được mấy pho tượng ấy ra khỏi đầu sao.

Rốt cục, đấy chỉ là chuyện vớ vẩn.

Chính vụ án mạng mới là cái chúng ta thật sự quan tâm, và tôi có thể nói với ông là tôi đã nắm được mọi đầu mối.

- Thế bước tiếp theo ông định làm gì?

- Hết sức đơn giản.

Tôi cùng ngài Hill đến khu phố Italia, tìm cho ra tên trong ảnh nọ và bắt hắn vì tội giết người.

Ông cùng đi với chúng tôi chứ?

- Có lẽ không đâu.

Tôi có cách đơn giản hơn nhiều.

Tôi rất mong đêm nay ông cùng đi với chúng tôi, tôi có thể sẽ giúp ông bắt được hắn.

- Ở khu phố Italia ư?

- Không.

Theo tôi, tìm bắt hắn ở Chiswick là chắc hơn cả.

- Ông Lestrade, nếu đêm nay ông đi cùng tôi đến Chiswick thì tôi hứa ngày mai sẽ đi với ông đến khu phố Italia.

Hoãn lại một tí đâu có hại gì.

Anh Watson, trong lúc chờ đợi, anh làm ơn bấm chuông gọi giúp người đưa thư vì tôi muốn gửi gấp một bức thư rất hệ trọng.

Tối hôm đó Holmes lục tìm các chồng nhật báo cũ chất đầy ắp cả một phòng trong nếp nhà hai chúng tôi đang ở.

Cuối cùng rồi anh cũng ra với chúng tôi, mặt rạng rỡ vẻ đắc thắng, nhưng anh chẳng hé răng nói gì với cả tôi lẫn viên thanh tra về những kết quả vừa khám phá.

Tôi đã theo sát anh từng bước chân trong suốt tiến trình điều tra vụ này.

Vì vậy, tuy chưa thể biết rõ mục tiêu cuối cùng chúng tôi đang theo đuổi, tôi vẫn hiểu mười mươi rằng Holmes hy vọng sẽ tóm được tên tội phạm đang cố tìm mọi cách đoạt hai pho tượng còn lại, mà một, theo tôi nhớ, hiện đang nằm tại Chiswick.

Không còn ngờ vực gì nữa, mục đích chuyến đi của chúng tôi đêm nay là bắt quả tang hắn ta.

Tôi chẳng ngạc nhiên khi Holmes nhắc tôi nên mang theo cả khẩu súng ngắn ưa thích của tôi.

Mười một giờ, một chiếc xe ngựa đã đậu trước cổng nhà.

Chúng tôi lên xe, đến một nơi nằm bên kia cầu Hammer Smith.

Sau một quãng đi bộ, chúng tôi đã đến một con đường yên tĩnh với những tòa nhà đẹp mắt, xây trên từng khoảng đất riêng, cách biệt nhau.

Nhờ ánh đèn đường, tôi đọc được hai chữ Laburnum Lodge trên cổng hậu một tòa nhà.

Chủ nhân chắc chắn đã đi nghỉ, vì toàn bộ ngôi nhà đang chìm trong bóng tối, ngoại trừ một khung cửa sổ ngay bên trên cửa chính dẫn vào tiền sảnh, hắt một quầng sáng lẻ loi xuống một lối đi trong vườn.

Một dãy rào gỗ ngăn khu vườn với đường phố, hắt một dải bóng tối dày dặc vào phía trong.

Chúng tôi chọn đó làm nơi ẩn nấp.

- Tôi e là anh sẽ phải đợi lâu đấy, - Holmes rỉ tai tôi.

- Nhưng tôi dám đánh cược hai ăn một là chúng ta sẽ được đền bù xứng đang cho những nỗi vất vả mà chúng ta đã trải qua.

Nhưng hóa ra chúng tôi chẳng phải đợi lâu như Holmes đã nghĩ, và kết cục thật bất ngờ và kỳ lạ.

Thình lình, không có một tiếng động nào báo trước, cánh cổng vườn bật mở, và một bóng đen nhanh nhẹn, khéo léo chạy vụt vào theo lối mòn trong vườn.

Chúng tôi thấy cái bóng đó lướt qua cái quầng sáng trên cửa sổ hắt xuống cửa chính, và biến mất vào bóng tòa nhà.

Bốn bề im ắng khá lâu.

Chúng tôi nín thở chờ đợi, rồi một tiếng động khẽ vọng tới: cánh cửa sổ mở ra.

Tiếp đó, không còn nghe một tiếng động nào nữa, và tất cả lại lặng ngắt một hồi lâu.

Bóng đen nọ lẻn vào nhà.

Bỗng chúng tôi thấy một ánh đèn lóe sáng trong phòng.

Cái hắn tìm chắc không có ở đó, vì chúng tôi lại thấy ánh đèn lóe sáng tại một chỗ khác, rồi một chỗ khác nữa.

- Nào, chúng ta hãy tới cửa sổ để ngỏ.

Chúng ta sẽ tóm hắn lúc hắn leo ra, - Lestrade khẽ nói.

Nhưng chúng tôi chưa kịp tới nơi dự tính thì gã nọ đã xuất hiện.

Khi hắn ra đến quầng sáng, chúng tôi thấy hắn đang cắp trong nách một vật màu trắng.

Hắn đưa mắt nhìn quanh.

Quay lưng về phía chúng tôi, hắn đặt vật đang cắp dưới nách xuống, và ngay sau đó, bỗng vang lên một tiếng đập mạch, rồi tiếp theo là những tiếng lại xạo.

Hắn mải miết với việc đang làm đến mức không nghe thấy tiếng bước chân chúng tôi lướt trên mặt cỏ.

Holmes nhảy chồm lên lưng hắn như một con hổ, và chỉ một chớp mắt sau, Lestrade và tôi đã tóm lấy cổ tay hắn.

Khi chúng tôi lật ngửa hắn lại, tôi thấy hắn đang nhìn chúng tôi một cách hằn học.

Và tôi nhận ra kẻ bị bắt chẳng phải ai khác, mà chính là người đàn ông trong ảnh.

Nhưng Holmes chẳng hề quan tâm đến kẻ bị bắt.

Anh chỉ chăm chú xem pho tượng Napoleon mà gã nọ vừa lấy trộm trong nhà ra.

Pho này cũng giống như pho mà chúng tôi thấy sáng nay, và cũng đã bị đập vụn từng mảnh.

Thận trọng, Holmes đưa từng mảnh vỡ ra chỗ sáng xem xét, nhưng những mảnh thạch cao đó xem ra chẳng khác gì nhau.

Anh vừa xem xong thì ánh đèn trong tiền sảnh bỗng sáng rực.

Cửa mở, và từ trong nhà bước ra một người đàn ông vui vẻ, ăn mặc tề chỉnh, tự giới thiệu mình là chủ nhà.

- Ông chắc hẳn là ông Josiah Brown?

- Holmes nói.

- Vâng, thưa ngài.

Còn ngài chắc hẳn là ngài Holmes?

Tôi đã nhận được thư ngài do người đưa thư chuyển tới, và tôi đã làm đúng như lời ngài dặn trong thư.

Chúng tôi đã khóa chặt các cửa phòng và đợi mọi diễn biến.

Tôi rất mừng là ngài đã tóm được hắn.

Tôi hy vọng các ngài sẽ quá bộ vào nhà nghỉ một lát trước lúc ra về.

Nhưng Lestrade sốt ruột, chỉ muốn đưa gấp tên trộm về đồn cho chắc ăn, nên chỉ vài phút sau, ba chúng tôi và tên trộm đã yên vị trên xe về lại London.

Tên trộm không hề hé răng thốt ra một lời nào, mà chỉ hằn học nhìn chúng tôi từ sau mái tóc rũ xuống trán.

Có một lần, khi tay tôi nằm trong tầm với, hắn vụt cúi xuống định ngoạm.

Chúng tôi lưu lại đồn cảnh sát khá lâu để chờ kết quả khám xét người hắn, nhưng chảng tìm thêm đựoc gì ngoài một vài đồng xu trong túi và một con dao dài, trên cần còn nguyên vết máu chưa kịp xỉn lại.

- Thôi ổn rồi, - Lestrade nói khi chia tay chúng tôi.

- Ngài Hill biết mặt tất cả các kiều dân khu này, nên sẽ cho chúng ta biết họ tên hắn.

Ông sẽ thấy giả thuyết của tôi về bọn Mafia là chính xác một trăm phần trăm.

Dù sao tôi cũng biết ơn ông đã mách giúp tôi cách tóm cổ hắn.

Có điều,tôi vẫn chưa hiểu hết làm thế nào mà ông biết nơi hắn sẽ xuất đầu lộ diện.

- Tôi e rằng muốn giải thích phải đợi dịp khác, vì bây giờ đã khuya quá rồi, - Holmes nói.

- Hơn nữa, vẫn còn một vài tình tiết tôi chưa khám phá ra, và đây là một trong những vụ đáng để chúng ta thực hiện đến nơi đến chốn.

Nếu ngày mai, ông chịu khó ghé lại nhà tôi vào lúc sáu giờ, tôi nghĩ tôi có thể cho ông thấy: cho tới lúc này ông vẫn chưa hiểu hết điểm mấu chốt của vụ này.

Đó mới chính là những điểm khiến vụ này là vụ án độc đáo nhất lịch sử tội phạm.

Tối hôm sau, khi gặp lại nhau, Lestrade đã cho chúng tôi biết hàng loạt thông tin về kẻ bị bắt.

Hóa ra tên hắn là Beppo, còn họ thì không rõ.

Có thời, hắn từng là thợ đúc tượng giỏi, làm ăn lương thiện.

Nhưng về sau hắn đã gây nên những vụ phạm pháp.

Hắn từng hai lần ngồi tù, một lần vì ăn cắp vặt, lần sau thì như các ông đã biết, vì tội đâm trọng thương một đồng bào của hắn.

Hắn rất thạo tiếng Anh.

Nhưng lý do nào khiến hắn đập nát những pho tượng thì chưa rõ: hắn không chịu trả lời bất cứ câu hỏi nào về chuyện này.

Cảnh sát đã phát hiện được rằng những pho tượng mà hắn đập nát có thể đều do chính tay hắn làm ra, vì hắn từng làm loại công việc này tại hãng Gelder và Công ty.

Tất cả những thông tin này, phần nhiều chúng tôi đều biết cả rồi, nhưng Holmes vẫn lịch thiệp lắng nghe; có điều tôi vốn biết rõ anh, nên tôi hiểu rằng ý nghĩ anh đang đổ dồn vào một chuyện khác.

Bỗng anh đứng bật dậy, mắt sáng rực khi nghe vang lên tiếng chuông gọi cửa dưới nhà.

Một phút sau, có tiếng chân bước lên cầu thang, rồi một người đàn ông đứng tuổi, mặt đỏ gay, bước vào, tay phải xách theo một cái túi.

Ông ta đặt cái túi lên bàn, rồi lên tiếng:

- Đây có phải là nhà ngài Holmes không?

Bạn tôi mỉm cười cúi chào.

- Nếu tôi không nhầm, ông là Sandeford ở Reading?

- anh lên tiếng.

- Vâng, thưa ngài, có lẽ tôi đến hơi muộn, nhưng không có chuyến tàu nào thuận tiện hơn.

Trong thư ông có yêu cầu tôi nhượng lại pho tượng bán thân mà tôi đang sở hữu.

- Quả đúng như vậy.

- Tôi có đem theo thư ông đây.

Ông viết: "Tôi muốn có một bản sao pho tượng bán thân Napoleon do Devine tạc và tôi sẵn sàng trả mười bảng để mua lại pho tượng ông hiện sở hữu."

Có đúng vậy không ạ?

- Chính thế.

- Tôi rất ngạc nhiên khi đọc thư ông, vì tôi không thể hình dung được nhờ đâu mà ông biết được tôi có pho tượng như thế.

- Ông ngạc nhiên là phải thôi, nhưng chuyện này có thể giải thích hết sức đơn giản.

Ông Harding, chủ hiệu Harding Brothers nói là đã bán phúc bản cuối cùng của pho tượng cho ông, và có cho tôi biết địa chỉ của ông.

- Thì ra là vậy.

Thế thì tôi có mang theo pho tượng như ông đã yêu cầu.

Nó đây này!

- Ông ta đã mở túi xách và mãi lúc này chúng tôi mới được thấy trên bàn chúng tôi một pho tượng nguyên vẹn, chứ từ trước đến giờ chúng tôi chỉ toàn thấy những mảnh vụn.

Holmes rút trong túi ra một tờ giấy và đặt lên bàn tờ giấy bạc mười bảng.

- Ông Sandeford, ông làm ơn ký vào tờ giấy này trước sự chứng kiến của các vị đây.

Trong giấy xác nhận rằng ông chuyển nhượng cho tôi mọi quyền lợi có thể có đối với pho tượng.

Cám ơn ông Sandeford.

Đây, xin ông nhận lấy tiền và chúc ông một buổi tối tốt lành.

Khi vị khách đã đi khuất, Holmes liền lôi trong ngăn kéo ra một tấm vải trắng tinh và trải lên bàn.

Rồi anh đặt pho tượng vừa mua vào chính giữa tấm vải.

Xong xuôi, anh giơ cao gậy, giáng một cái thật mạnh vào đỉnh đầu Napoleon.

Pho tượng vỡ vụn ra từng mảnh.

Holmes háo hức cúi xuống xem xét các mảnh vỡ.

Lát sau, anh reo lên đắc thắng và giơ cao một mẩu thạch cao bọc bên ngoài một vật tròn tròn sẫm màu.

- Thưa các vị, anh reo lên - xin được giới thiệu với các vị viên ngọc đen nổi tiếng của dòng họ Borgias.

Lestrade và tôi ngồi lặng người đi một lúc, rồi cả hai cùng vỗ tay hệt như vừa xem xong một vở kịch.

Má Holmes vốn tái nhợt giờ vụt ửng hồng.

Anh cúi chào chúng tôi như một diễn viên bậc thầy đáp lại lòng ngưỡng mộ của khán giả.

Chỉ trong những khoảnh khắc đó Holmes mới tỏ ra là một nhân viên rất người, rất thích được ngưỡng mộ và thán phục, chữ không phải là một cái máy giỏi suy luận.

- Vâng, thưa các ngài, - anh nói - đây chính là viên ngọc lừng danh Thế giới.

Tôi đã có cái may mắn được theo dõi hành trình của viên ngọc quý từ phòng ngủ của Quận công xứ Colonna trong khách sạn Darce, nơi nó bị mất, cho tới khi nó chui vào pho tượng cuối cùng trong số sáu pho Napoleon do hãng Gelder và Công ty tại Stepney đúc ra.

Ông Lestrade, chắc ông còn nhớ vụ scandal nổ ra sau ngày viên ngọc quý này mất tích, và những nỗ lực tìm kiếm vô vọng của cảnh sát London.

Chính tôi cũng được mời đến làm cố vấn cho họ trong vụ này, nhưng tôi đã không làm sáng tỏ được gì.

Người ta nghi cho cô hầu gái của Quận chúa.

Cô này người Ý, và người ta cũng phát hiện ra rằng cô ta có một người anh ở London, nhưng chúng tôi không tìm ra được bất cứ một mối liên hệ nào giữa hai người.

Cô ta tên là Lucretia Venucci, và tôi tin chắc rằng chính gã Pietro bị giết cách đây hai hôm là anh cô ta.

Tôi dò tìm ngày tháng trong đống báo cũ và thấy rằng viên ngọc bị mất đúng hai ngày trước hôm Beppo bị bắt vì tội mưu sát.

Hắn bị bắt ngay tại xưởng Gelder và Công ty đúng vào thời điểm những pho tượng kia đúc ra.

Beppo đang giữ viên ngọc.

Có thể hắn đánh cắp của Pietro, hoặc hắn là tòng phạm của Pietro, hoặc hắn làm trung gian giữa Pietro và em gái hắn ta.

Thực ra khả năng nào là đúng, đối với chúng ta không hệ trọng.

Cái chính là hắn có viên ngọc và đang giữ viên ngọc trong người lúc bị cảnh sát truy đuổi.

Hắn đến cái xưởng làm tượng mà hắn đang làm việc, và hắn biết mình chỉ còn vài phút để giấu cái báu vật vô giá ấy, nếu không cảnh sát sẽ tìm thấy nó khi khám xét người hắn.

Lúc sáu pho tượng Napoleon bằng thạch cao đang hong ở lối đi, trong đó có một pho còn mềm.

Vốn là một tay thợ giỏi, trong chớp mắt Beppo đã tạo được một cái hốc nhỏ, ấn viên ngọc vào đó, rồi với vài động tác hắn đã có thể trám ngay được cái hốc kia.

Quả không còn một nơi cất giấu nào tốt hơn.

Không một ai có thể tìm ra viên ngọc được nữa.

Nhưng Beppo bị kết án một năm tù, và trong thời gian đó sáu pho tượng kia được bán đi khắp London.

Ra tù, hắn không thể biết báu vật nọ hiện nằm trong pho tượng nào.

Bây giờ chỉ còn cách đập vỡ từng pho một mới biết được vì dù có lắc mạnh viên ngọc cũng không gây được tiếng động nào: khi thạch cao còn ướt, viên ngọc có thể bị dính chặt ở bên trong, và sự thực quả đúng như vậy.

Nhưng Beppo không nản lòng.

Hắn thực hiện một cuộc tìm kiếm thật tài tình.

Qua người em họ làm cho Gelder, hắn biết được những pho tượng ấy đã được bán cho hãng nào.

Hắn cố xin một chân ở hiệu Morse Hudsson và nhờ đó đã lần ra được dấu tích của ba pho.

Tiếc thay trong cả ba pho ấy đều không thấy có viên ngọc.

Sau đó, nhờ một nhân viên người Ý, hắn đã dò ra được ba pho còn lại hiện ở đâu.

Pho thứ nhất ở nhà ông Harker.

Tại đây Beppo bị Pietro theo dõi.

Tên này vốn coi hắn như kẻ chịu trách nhiệm về vụ mất viên ngọc, Beppo đã hạ sát tên này trong trận ẩu đả sau đó.

- Nếu chúng đồng lõa với nhau thì tại sao Pietro lại phải mang theo tấm ảnh?- tôi hỏi.

- Đó là một phương tiện để hỏi dò người khác xem họ có nhận ra người trong ảnh không.

Lý do chỉ có vậy.

Sau khi gây án mạng, tôi đoán chắc Beppo nhất định phải hành động khẩn trương hơn, chứ không thể chần chừ.

Hắn sợ cảnh sát khám phá được điều bí mật của hắn, nên hắn phải làm gấp trước khi bị cảnh sát biết.

Tất nhiên ở thời điểm đó, tôi chưa thể nói rằng hắn không tìm thấy viên ngọc.

Tôi cũng chưa thể kết luận đích xác rằng hắn đang tìm viên ngọc.

Nhưng tôi biết chắc rằng hắn đang tìm một vật gì đó, vì hắn phải mang pho tượng qua mấy nhà liền để tìm một chỗ nào đó có ánh đèn.

Bấy giờ chỉ còn hai pho, nên dĩ nhiên hắn phải tìm pho ở London trước tiên.

Vì thế tôi phải báo trước với chủ nhà để tránh một thảm kịch thứ hai.

Và ở đó chúng ta đã thu được kết quả mỹ mãn.

Lúc này, dĩ nhiên, tôi đã biết chắc cái mà chúng ta đang theo đuổi chính là viên ngọc Borgias.

Tên kẻ bị giết đã giúp tôi tìm ra mối liên hệ giữa các sự việc với nhau.

Cuối cùng chỉ còn một pho tượng độc nhất - pho ở Reading - và chắc chắn viên ngọc phải nằm ở đó.

Tôi đã mua nó từ tay chủ nhân trước sự chứng kiến của các vị, và viên ngọc giờ này đã ở đây.

Chúng tôi ngồi im lặng một lúc.

- Ấy đấy - Lestrade lên tiếng - tôi đã từng được chứng kiến ông xử lý nhiều vụ án, ông Holmes ạ, nhưng từ lúc hành nghề tới giờ, tôi chưa hề được thấy một vụ được xử lý một cách tài tình như vụ này.

Nếu ngày mai ông có nhã ý quá bộ đến Scotland Yard thì tôi tin rằng không một ai, kể từ ông thanh tra già nhất đến anh nhân viên trẻ nhất, không lấy làm sung sướng được bắt tay ông.

- Cám ơn ông!

- Holmes nói.

- Cám ơn ông!

- Và khi anh quay đi, tôi có cảm giác anh xúc động hơn bất cứ lúc nào mà tôi từng được chứng kiến.

Lát sau, anh đã lại trở thành con người có cách suy nghĩ lạnh lùnh và thực dụng như cũ.

- Watson, cất giúp tôi viên ngọc vào chỗ an toàn - anh nói.

Tạm biệt ông Lestrade.

Nếu sau này ông có gặp một vấn đề nhỏ nhặt nào, tôi sẽ lấy làm sung sướng được góp với ông một vài ý nhỏ để giúp ông tìm giải pháp.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D9 Ba sinh viên


BA SINH VIÊN

THE ADVENTURE OF THE THREE STUDENTS (1904)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Trong năm 1895, Sherlock Holmes và tôi tới ngụ tại một thành phố lớn có nhiều trường đại học.

Lúc đó chúng tôi trọ trong một nhà cho thuê có đồ đạc, gần một thư viện, để Holmes nghiên cứu một đề tài mà anh thích.

Một buổi tối, chúng tôi tiếp ông Hilton Soames, giám thị và giảng viên tại trường trung học St.

Luke.

- Thưa ông Holmes, một chuyện rất khổ tâm vừa xảy ra ở St.

Luke.

Và nếu không có sự may mắn đưa ông tới đây thì không biết xoay sở ra sao.

- Tôi đang bận, và mong không bị mất tập trung.

Tôi thật lòng muốn ông nhờ tới cảnh sát thì hơn.

- Không.

Không thể được!

Khi luật pháp đã khởi động thì chẳng có cách gì làm cho nó ngừng lại.

Mà nhà trường thì không muốn bị mang tai mang tiếng.

Ông là người duy nhất có thể giúp chúng tôi, thưa ông Holmes.

Tính nết Holmes đã không khá hơn kể từ khi anh rời bỏ bầu không khí quen thuộc của con đường Baker.

Không có những cuốn sách to lớn, những cuộc phân tích hóa học, sự bừa bộn quen thuộc của anh, thì anh không được thoải mái.

Vả chăng anh đã nhún vai để bày tỏ một sự không đồng ý.

Ngay đó người khách không ngừng tuôn ra những câu nói hối hả.

- Thưa ông Holmes, ngày mai bắt đầu cuộc thi lấy học bổng.

Tôi là một trong số các giám khảo về môn tiếng Hy Lạp.

Tôi chọn đề thi là một bài dịch khá dài mà chưa một thí sinh nào dịch qua.

Bản văn được đem đi in.

Tất nhiên là thí sinh nào biết được và chuẩn bị bài làm thì sẽ có nhiều hi vọng hơn.

Chính vì thế mà chúng tôi luôn luôn giữ thật kỹ.

Hôm nay, vào lúc 3 giờ, các bản in thử được nhà in gửi đến tôi.

Tôi phải đọc lại thật cẩn thận để bản văn được hoàn toàn đúng ngữ pháp.

Tới 4 giờ rưỡi, tôi vẫn đọc chưa xong.

Thế mà tôi lại bận đi dự tiệc ở bên ngoài trường.

Tôi để các bản in thử trên bàn giấy và vắng mặt khoảng một tiếng đồng hồ.

Những cánh cửa ở trường là cửa kép: bên ngoài làm bằng gỗ sồi và bên trong là lớp thảm bồi.

Khi trở về, tôi ngạc nhiên khi thấy có chìa khóa gắn trong ổ.

Thoạt đầu tôi ngỡ là mình để quên chìa khóa!

Nhưng tôi lục tìm trong các túi, chìa khóa của tôi vẫn ở trong túi.

Cái chìa khóa thứ hai do người hầu của tôi, tên là Bannister giữ.

Ông này đã sống với tôi suốt 10 năm và là người ngay thẳng.

Chìa khóa đó, đúng là chìa khóa của ông ta.

Ông ta đã vào phòng tôi để xem tôi có muốn uống trà không, và khi đi ra, ông đã để quên...

Bannister hẳn đã vào trong phòng vài phút sau khi tôi đã đi ra ngoài.

Trong bất cứ ngày nào khác, sự việc đó không có gì quan trọng.

Nhưng hôm nay, thì nó rất là thảm hại.

Nhìn lên bàn giấy, tôi thấy ngay là đã có người lục lọi giấy tờ của tôi.

Những bản in thử in trên ba tờ giấy dài.

Tôi đã để chúng cùng một chỗ.

Và giờ đây tôi thấy ba tờ nằm ba nơi: một tờ nằm trên sàn nhà, một tờ ở gần cửa sổ và một tờ nằm ở vị trí cũ.

Holmes hơi nhổm người dậy.

- Tờ thứ nhất nằm trên sàn nhà, tờ thứ hai ở gần cửa sổ và tờ thứ ba nằm ở vị trí cũ?

- Anh hỏi.

- Đúng vậy, thưa ông Holmes.

Ông làm tôi kinh ngạc đấy!

Làm sao ông biết được điều đấy?

- Mong ông cứ tiếp tục câu chuyện.

- Trong một lúc lâu, tôi tự nhủ là Bannister đã tự tiện xem giấy tờ của tôi.

Ông ta đã đoan chắc với tôi là không.

Vậy thì có ai đó, khi đi ngang trước cửa phòng tôi, thấy cái chìa khóa và đoán rằng tôi đi ra ngoài nên người đó bước vào xem các bản in thử.

Thật là một điều tệ hại, khi mà một sinh viên được biết trước đề thi, một lợi thế lớn của anh ta trong cuộc đua giành học bổng với các bạn đồng học.

Bannister gần như ngất đi khi chúng tôi khám phá ra rằng những bản in thử bị đổi chỗ.

Tôi đã cho ông ta uống vài giọt brandy và để ông ta ngồi xuống ghế rồi khám xét thật tỉ mỉ căn phòng.

Trên cái bàn nhỏ gần cửa sổ, tôi tìm thấy những miếng gỗ vỏ bút chì được gọt.

Còn có một mẩu ruột bút chì bị gãy.

Rõ ràng là kẻ ranh mãnh đã chép vội chép vàng bài thi.

Vì luống cuống y đã làm gấy cây bút chì và đã gọt lại.

- Tuyệt vời.

Ông đã gặp may!

- Holmes kêu lên.

- Chưa hết.

Tôi có một cái bàn rất mới, được phủ bằng lớp da màu đỏ rất đẹp.

Mặt bàn thật trơn và sạch.

Thế mà tôi đã bắt gặp một vết đứt dài 3 inch; không phải là vết xước mà là một vết đứt; ở trên mặt bàn có một cục bột đen nhỏ, trong đó có vài hạt nhỏ giống như là mạt cưa.

Tôi tin chắc là những dấu vết đó do kẻ chép đề thi để lại.

Tôi không thấy dấu chân nào mà cũng chẳng thấy dấu vết nào khác có thể tìm ra đó là ai.

Giữa lúc tôi hoàn toàn nản chí thì sực nhớ ra ông đang ở trong thành phố này.

Xin hãy giúp tôi, ông Holmes!

Cuộc thi sẽ phải bị hoãn lại cho đến khi nào các đề thi mới được in xong.

Tất nhiên tôi phải giải thích lý do bằng cách khai ra sự thật.

Như vậy một vụ tai tiếng sẽ nổ ra.

Tôi mong muốn được dàn xếp công việc theo cách kín đáo nhất.

- Tôi rất sung sướng được lo vụ này - Holmes nói, đứng lên và mặc áo choàng ngoài vào - Có ai tới thăm ông sau khi những bản in thử được đem tới không?

- Có.

Daulat Ras, một sinh viên người Ấn ở cùng trong một cầu thang; anh ta đã vào phòng và hỏi tôi vài chi tiết về cuộc thi.

- Anh ta là thí sinh?

- Vâng.

- Lúc đó các tờ giấy để trên bàn giấy của ông?

- Nó còn được quấn thành cuộn.

- Nhưng người ta có thể đoán ra đó là những bản in thử?

- Chắc chắn là như vậy.

- Không có người nào khác vào phòng ông hay sao?

- Không.

- Có ai đoán biết là các đề thi dang có tại đó?

- Không một ai, ngoại trừ nhà in.

- Ông Bannister cũng không biết chứ?

- Phải.

Tất cả mọi người đều không biết!

- Bây giờ Bannister ở đâu?

- Ông ta bị bệnh.

Tôi để ông ta lại trong ghế bành.

Tôi vội vàng đi tới đây.

- Ông để cửa mở à?

- Tôi cất giấy tờ vào trong ngăn tủ có khóa.

- Nếu người sinh viên Ấn Độ mà không đoán biết cuộn giấy đó là những bản in thử thì người đụng tới đề thi là người đã tình cờ bắt gặp, mà trước đó, họ không hề biết là đề thi có mặt ở đó.

- Dường như vậy.

Holmes cười một cách khó hiểu.

Anh nói:

- Vậy thì, hãy tới nhà ông xem sao, thưa ông Soames.

Căn phòng được dùng làm văn phòng của ông giáo có một cửa sổ thấp, gắn lưới sắt, nó nhìn ra cái sân cũ của trường.

Một cửa ra vào mở ra trên cầu thang đá.

ông giám học ở tầng một.

Ba sinh viên ở các tầng trên, mỗi người một tầng.

Khi chúng tôi tới hiện trường, gần như đã vào đêm.

Holmes quan sát kỹ khuôn cửa sổ từ mé ngoài.

Anh đứng nhón chân, nghển cái cổ dài ra mà ngó vào trong phòng.

- Hắn đã vào trong phòng qua ngả cửa chính.

Màng lưới sắt của cửa sổ ắt hẳn đã không cho y đi xuyên qua đây - Ông giám học nói.

- Thật vậy sao?

- Holmes nói khi ném một tia nhìn kỳ lạ về phía thân chủ - Thế thì chúng ta nên vào trong xem xét tiếp.

Ông giám học mở cửa chính ra và dẫn chúng tôi vào trong văn phòng.

Chúng tôi đứng lại trên ngưỡng cửa trong lúc Holmes quan sát tấm thảm, anh nói:

- Ở đây chúng ta chẳng tìm ra được dấu vết nào.

Trời quá khô ráo!

Ông Bannister dường như đã bình phục.

Ông đã để ông ấy lại trong ghế bành.

Cái ghế nào?

- Cái ghế gần bên cửa sổ.

- Giờ đây các ông có thể vào được rồi - Holmes nói.

- Tôi đã xem xong tấm thảm.

Trước hết chúng ta hãy quan sát cái bàn nhỏ.

Hiển nhiên là người nọ đã lấy những bản in thử, tờ này tiếp tờ kia.

Người đó ngồi vào cái bàn nhỏ gần bên cửa sổ, bởi vì từ đó, hắn có thể canh chừng việc ông trở về qua ngả cửa chính mà bỏ trốn.

- Sự thật thì hắn không thể làm thế.

Bởi vì tôi trở về qua ngả cửa nhỏ, phía bên kia.

- A, đó là điều rất hay!

Xin hãy cho tôi xem ba tờ giấy thi.

Không có dấu vết ngón tay.

Không!

Thoạt đầu hắn lấy tờ giấy này và đã chép.

Hắn cần phải mất bao nhiêu thời gian để làm công việc này?

Tối thiểu cũng mất 15 phút.

Đoạn hắn vứt tờ giấy đã chép xong xuống đất, rồi lấy tờ thứ hai.

Hắn hẳn đã chép được một nửa của tờ giấy thứ hai thì thấy ông về, nên hắn phải bỏ trốn, rất hấp tấp, bởi vì hắn không kịp xếp lại các tờ giấy này như cũ.

Ông không nghe thấy những tiếng chân hối hả trên cầu thang khi ông trở về qua ngả cửa ngoài sao?

- Không.

- Hắn đã viết hết sức vội vã nên làm gãy đầu bút chì, và hắn phải vót lại.

Điều này rất đáng chú ý, Watson.

Cây bút chì này có một chiều dài bình thường và ruột bút chì thật mềm.

Vỏ bên ngoài màu xanh đậm.

Tên nhà sản xuất được khắc bằng chữ nhũ màu bạc.

Cái mẩu còn lại dài gần 1 inch.

Thưa ông Soames, hãy tìm một cây bút thuộc loại đó, và ông sẽ tìm ra được người cần tìm.

Tôi còn dám nói rằng hắn có một con dao nhíp lớn, rất cùn.

Ông giáo sư hơi bị choáng ngợp trước dòng thác những thông báo đó.

- Tôi theo kịp ông về một số điểm, nhưng về cái chiều dài thì ...

Holmes đưa cho ông ta coi một mẩu vỏ bút chì trên có những chữ NN mà không có bất cứ một chữ nào khác tiếp theo sau.

- Ông thấy chứ?

- Không ngay đến giờ đây cũng chưa ...

- Anh Watson, những chữ NN này có thể là gì?

Hai chữ cuối của một từ.

Anh đã biết rằng Johann Faber là nhà sản xuất bút chì.

Cây bút chì còn lại một khúc ngắn tiếp theo chữ Johann ...

Anh nghiêng cái bàn nhỏ dưới ánh sáng đèn điện.

- Nếu người đó viết trên giấy mỏng thì tôi sẽ tìm thấy dấu vết kiểu chữ của y trên cái mặt phẳng nhẵn bóng này.

Nhưng không, tôi không thấy gì hết.

Hãy thử xem cái bàn giấy của ông.

Tôi đồ chừng đám nhỏ này là đống chất đen lợt mà ông đã nói với tôi.

Hình chóp và rỗng.

Ông nói đúng, những hạt mạt cưa ở bên trong.

Điều này thật là đáng chú ý!

Và vết đứt, đúng là một vết rách, bắt đầu bằng một vết xước mỏng và chấm dứt bằng một cái lỗ rách xơ ra.

Cánh cửa này dẫn tới đâu?

- Vào phòng ngủ của tôi.

- Kể từ lúc xảy ra câu chuyện, ông có vào trong phòng đó lần nào không?

- Không.

Ngay tức khắc, tôi tới đằng nhà ông.

- Tôi mong muốn được xem qua.

Căn phòng thật duyên dáng, với cái kiểu kiến trúc cổ này!

Chờ một chút, để tôi quan sát cái sàn nhà này...

Tôi không thấy gì cả.

Còn tấm ri-đô này?

Ông treo quần áo ở đằng sau.

Nếu ai đó muốn nấp trong căn phòng này thì y sẽ trốn vào đây, bởi cái giường thì quá thấp và phòng vệ sinh thì không đủ rộng.

Chẳng có ai đâu, chắc vậy?

Theo cái cách mà Holmes nhấc tấm ri-đô lên, tôi hiểu là anh sẵn sàng ứng phó với mọi sự.

Thật ra, góc nhà đó không chứa đựng cái gì khác hơn là vài bộ quần áo treo trên những cái mắc áo.

Holmes xoay gót và bất thình lình cúi xuống.

- Này!

Cái gì đây nhỉ?

- Anh reo lên.

Đó là một cái tháp nhỏ chất đen, giống hệt với cục nhỏ mà chúng tôi đã thấy trên bàn ở văn phòng.

Holmes nhặt lên và quan sát nó.

- Người khách của ông đã để lại những dấu vết ở trong phòng ngủ cũng như văn phòng ông đây này.

- Hắn vào đây để làm gì?

- Ông quay về theo một ngả mà hắn không tiên liệu được, và hắn chỉ được báo động khi ông đến trước cánh cửa.

Hắn bèn quơ lấy tất cả những gì có thể tố giác hắn và hối hả chui vào phòng ngủ của ông đế trốn.

- Vậy trong suốt thời gian tôi nói chuyện với Bannister trong văn phòng, người đó đã ở trong phòng ngủ của tôi hay sao?

Chắc chắn phải còn khả năng khác, thưa ông Holmes.

Tôi không biết liệu ông đã quan sát cửa sổ phòng ngủ của tôi hay chưa?

- Những ô vuông hình thoi, sườn bằng que chỉ, ba miếng kính rời, một xoay trên những bản lề khá lớn đủ cho một người có thể lách mình qua.

- Đúng vậy.

Và nó mở ra một góc sân.

Người đó đã vào phòng qua ngả cửa sổ, để lại những dấu vết trong phòng mà y đã đi qua, đoạn bỏ theo cửa chính để ngỏ mà ra ngoài.

Holmes lắc đầu nói:

- Ông đã bảo với tôi rằng có ba sinh viên sử dụng cái cầu thang này và thường hay đi ngang trước cửa phòng ông?

- Vâng.

- Và cả ba đều dự thi? .

- Vâng.

- Ông có nghi ngờ người nào không?

- Đây là một vấn đề rất tế nhị.

- Tôi chẳng muốn phát biểu chút nào khi chưa có chứng cớ.

- Tầng lầu một là anh Gilchrist, một người hoàn hảo và là một lực sĩ đẹp.

Anh ta chơi trong đội bóng bầu dục và khúc côn cầu của nhà trường, là tay vô địch môn chạy vượt rào và nhảy xa.

Thân phụ anh là ngài Jabez Gilchrist, một nhà quý tộc bị phá sản trên các trường đua ngựa.

Người con trai đó nghèo nhưng làm việc chăm chỉ và thông minh.

Tầng lầu hai là nơi Daulat Ras cư ngụ.

Anh chàng Ấn Độ này rất trầm tĩnh và kín đáo.

Anh học tập tốt, nhưng tiếng Hi Lạp thì yếu.

Anh chăm học và có phương pháp.

Tầng lầu chót có Miles McLaren.

Anh ta rất siêng học, một trong những học sinh sáng suốt nhất của trường.

Nhưng anh ta lại thất thường, nghịch ngợm, vô nguyên tắc.

Trong năm thứ nhất, anh ta suýt bị đuổi học vì một vụ đánh bài.

Trong suốt quý này, anh ta đã đi chơi rong và ắt hẳn anh phải nhắm tới kỳ thi với nỗi kinh hoàng.

- Vậy là ông nghi anh ta?

- Tôi không dám đi xa tới thế.

Nhưng một người có hành vi như thế sẽ dễ bị người khác nghi ngờ.

- Giờ đây, tôi muốn gặp ông Bannister.

Đó là một người bé nhỏ, trạc 50 tuổi: Nước da trắng, không râu; tóc hoa râm, mặt tròn trịa, có thoáng qua những chứng giật gân mặt và các ngón tay cứ luôn luôn bắt chéo vào nhau rồi lại buông ra.

- Chúng tôi đang điều tra về cái vụ không may mắn đó, Bannister!

- Chủ ông ta nói.

- Vâng, thưa ông.

- Hẳn ông đã để cái chìa khóa lại trên cửa?

- Holmes hỏi ông ta.

- Vâng, thưa ông.

- Phải chăng là sự khác thường, khi ông lơ đễnh đúng vào cái ngày mà những tài liệu lại để ở trong phòng?

- Thật hoàn toàn đáng tiếc, thưa ông.

- Ông vào đây lúc mấy giờ?

- Khoảng bốn giờ rưỡi, giờ chủ tôi dùng trà.

- Ông ở lại trong bao lâu?

- Khi thấy ông chủ không có ở đây, tôi bỏ đi ngay.

- Ông có nhìn vào các giấy tờ để trên bàn không?

- Không, thưa ông.

- Làm thế nào mà ông lại có thể để cái chìa khóa ở trong ổ khóa?

- Tôi đang bưng khay trà.

Tôi tự nhủ là sẽ quay lại lấy chìa.

Thế rồi tôi quên luôn.

- Cánh cửa bên ngoài có một bộ phận đóng tự động không?

- Không, thưa ông!

- Thế là nó vẫn mở suốt trong thời gian đó.

- Vâng.

- Bất cứ ai từ trong phòng cũng có thể đi ra bằng cửa đó.

- Vâng.

- Khi ông chủ trở về và cho gọi ông, thì ông rất bối rối?

- Vâng.

Tôi hầu hạ ở đây đã lâu và một việc như vậy chưa bao giờ xảy ra.

Tôi gần như bị ngất xỉu.

- Tôi biết.

Ông ngồi tại đâu khi ông bắt đầu cảm thấy khó thở?

- Ở đây gần bên cánh cửa.

- Thật là kỳ cục.

Ông tới ngồi trong cái ghế bành đằng kia, trong góc này.

Tại sao ông không ngồi ở những cái ghế khác?

- Đối với tôi điều đó không có gì là quan trọng.

Miễn sao tôi được ngồi xuống...

- Tôi thật sự tin là anh ta không dính dấp vào vụ này, thưa ông Holmes - Giám học nói.

- Ông vẫn ngồi đó khi chủ ông đã bỏ đi?

- Chỉ trong một hay hai phút.

Đoạn tôi đóng cửa lại rồi leo lên phòng tôi.

- Cám ơn, thế là đủ - Holmes trả lời - Ồ, còn một điều này nữa: ông không nói với một trong ba sinh viên rằng có một biến cố vừa xảy ra chứ?

- Tôi không nói một lời nào.

- Rất tốt.

Giờ đây, chúng ta hãy đi dạo trong chốc lát ngoài sân.

Ba ô vuông màu vàng lấp lánh ánh sáng ở phía trên chúng tôi.

- Ba con chim của ông đều đang ở trong tổ - Holmes nói khi ngước lên nhìn - Này chuyện gì xảy ra vậy?

Một trong ba người tỏ ra khá dao động?

Đó là người sinh viên Ấn Độ chợt hiện ra trên bức mành cửa.

Anh ta đi đi lại lại trong phòng.

- Tôi muốn được nhìn thấy họ gần hơn một chút - Holmes nói.

- Dạ được.

Mấy phòng đó nằm trong cái phần cổ xưa nhất của nhà trường và thỉnh thoảng chúng tôi đưa khách tới đó tham quan.

Các ông hãy cùng đi với chúng tôi.

- Cần nhất là đừng có gọi tên!

- Holmes thì thầm khi chúng tôi gõ cửa phòng Gilchrist.

Một thanh niên to con, dong dỏng cao, mái tóc màu gai, mở cửa và ngỏ lời chúc mừng khi được biết mục đích chuyến viếng thăm của chúng tôi.

Phòng anh không thiếu những di tích của lối kiến trúc xưa.

Holmes bị lôi cuốn mãnh liệt bởi một trong những di tích đó, khiến muốn anh vẽ lại trên cuốn sổ tay; anh làm gẫy bút chì, hỏi mượn chủ nhà một cái bút chì và sau cùng hỏi mượn một con dao nhíp dể gọt lại.

Việc đó xảy ra trong phòng của người sinh viên Ấn Độ.

Nhưng mưu toan thứ ba của chúng tôi bị thất bại.

Cánh cửa không mở ra và chúng tôi chỉ nhận được một tràng những lời lẽ kém nhã nhặn.

- Tôi cóc cần biết các ông là ai!

Đi chỗ khác mà xem!

Tôi bận học thi, các ông nghe rõ chưa?

- Một người không vui tính - Người hướng dẫn chúng tôi nói, trong lúc xuống cầu thang - Tất nhiên anh ta không biết tôi là người đã gõ cửa.

Tuy nhiên anh ta cư xử một cách bất lịch sự và đáng nghi ngờ.

Câu trả lời của Holmes lại khá bất ngờ:

- Ông có thể cho tôi biết chiều cao đích xác của anh ta không?

- Anh ta cao hơn người Ấn Độ nhưng thấp hơn Gilchrist?

Tôi nghĩ là 5 bộ 6...

- Điều đó rất quan trọng.

Và giờ đây, thưa ông Soames, xin chúc ông một đêm an lành - Holmes nói.

Người hướng dẫn chúng tôi bày tỏ nỗi ngạc nhiên và lòng tuyệt vọng của ông.

- Lẽ nào ông lại bỏ rơi tôi một cách đột ngột đến thế.

Ngày mai thi rồi.

Tối nay tôi buộc phải làm một cái gì đó minh bạch, dứt khoát.

Tôi không thể giữ nguyên kỳ thi nếu người ta đã đụng vào những bản in thử đó.

- Hãy cứ giữ nguyên.

Sáng mai tôi sẽ đến đây thật sớm và chúng ta sẽ bàn lại vấn đề.

Rất có thể là lúc đó tôi đã nắm được những yếu tố mới, khả dĩ giúp ông thoát ra khỏi cảnh ngộ này.

Từ đây tới đó, ông đừng thay đổi gì cả.

- Được lắm, thưa ông Holmes.

- Ông cứ yên tâm.

Tôi đem về hai cục hình chóp đen cùng những mẩu vỏ bút chì.

Xin chào ông.

Khi ra tới sân, chúng tôi quan sát những khuôn cửa sổ một lần nữa.

Người Ấn Độ vẫn tiếp tục sải bước trong phòng.

Hai người kia thì không nhìn thấy.

Khi ra tới đầu đường, Holmes hỏi:

- Anh Watson, một trò chơi ba người.

Anh hãy chọn lựa đi!

Người nào?

- Cái nhân vật thô bạo ở trên cao.

Anh ta là người "có tiếng" hơn cả.

Cái anh chàng Ấn Độ cũng khéo vờ vĩnh.

Tại sao anh ta lại cứ sải bước trong phòng.

- Rất nhiều người đi bách bộ để thử cố học thuộc lòng một cái gì đó.

- Anh chàng đã nhìn chúng ta với sự chán ghét...

- Nếu có một bọn người lạ đột nhập vào phòng anh vào buổi tối trước ngày thi, anh sẽ có thái độ như thế nào?

Cái bút chì, con dao nhíp, tất cả đều được hết.

Duy gã nọ là bắt tôi phải suy nghĩ.

- Gã nào?

- Bannister.

Ông ta chơi trò gì?

- Tôi có cảm tưởng rằng ông ta rất thật thà.

- Cả tôi cũng thế.

Và đó chính là điều khiến tôi phải suy nghĩ.

Tại sao một người lương thiện đến thế mà lại...?

Đây là một cửa hàng giấy bút lớn: Chúng ta tìm kiếm từ nơi này.

Trong thành phố chỉ có bốn cửa hàng giấy bút lớn.

Holmes đưa những mẩu vỏ bút chì ra và hỏi mua thứ bút đó.

Lần nào người ta cũng đưa ra một thứ bút mà Holmes tìm kiếm.

Bạn tôi nhún vai với một cử chỉ nhẫn nhục vui vẻ.

- Không may rồi.

Chúng ta chẳng đi tới đâu cả.

Chín giờ rồi bạn ơi!

Sau bữa ăn tối muộn màng, Holmes không đã động gì tới vụ đó nữa.

Tám giờ sáng, anh vào phòng tôi.

- Tới giờ đi St.

Luke rồi.

Anh có thể bỏ bữa điểm tâm được không?

- Được thôi, có gì mới không?

- Có.

- Anh rút ra được những kết luận gì?

- Tôi đã giải quyết xong vấn đề.

Tôi ra khỏi giường hồi 6 giờ, làm việc cật lực trong hai tiếng đồng hồ và đi bộ 5 dặm đường để đi tìm một cái gì đó.

Anh hãy coi cái này!

Trên lòng bàn tay Holmes có ba cái chóp nhỏ bằng đất sét đen, sền sệt.

- Ngày hôm qua chỉ có hai thôi mà?

- Và sáng hôm nay, có thêm một cái nữa.

Nơi xuất phát của cái thứ ba cũng là nơi xuất phát của hai cái kia.

Nào, chúng ta hãy đi gặp ông bạn Soames.

Ông thầy đáng thương đang ở trong một tình trạng bồn chồn trong phòng ngủ của ông.

Chỉ còn vài giờ nữa là cuộc thi bắt đầu và ông còn đang tự hỏi không biết nên giải thích tất cả hay cứ để mặc cho kẻ phạm tội dự thi.

Ông nhạy ùa về phía Holmes với hai cánh tay dang thẳng, nói:

- Tôi sợ ông nản chí.

Cuộc thi có tiến hành không?

- Cứ tiến hành.

- Nhưng, tên vô lại đã..?

- Hắn sẽ không dự thi.

- Ông biết hắn là ai?

- Biết.

Bởi vụ này cần phải được giữ kín, nên chúng ta sẽ lập ra một thứ như "tòa án đặc biệt" nhỏ.

Mong ông ngồi đây, Watson ngồi vào đây.

Tôi ngồi vào ghế bành của ông ở chính giữa.

Chúng ta đủ oai nghiêm để làm cho một tâm hồn phạm tội phải sững người vì sợ hãi?

Xin ông vui lòng gọi chuông.

Bannister vào phòng và suýt té ngửa vì ngạc nhiên và hốt hoảng trước cảnh đó.

Holmes nói với Bannister:

- Mong ông vui lòng đóng cánh cửa đó lại.

Giờ đây, ông hãy nói về việc đã xảy ra hôm qua.

Bannister tái mét tới tận chân tóc:

- Tôi đã thưa tất cả rồi.

- Ông không còn gì để nói thêm sao?

- Không, thưa ông.

- Trong trường hợp này, tôi phải gợi ra với ông vài ý kiến.

Ngày hôm qua khi ngồi trên cái ghế bành này, có phải ông đã chọn cái chỗ đó cất để ý che giấu một đồ vật có thể tiết lộ người đã vào phòng này không.

Bộ mặt Bannister tím ngắt.

- Không, thưa ông.

- Đó chỉ là một gợi ý?

- Holmes nói với giọng ngọt ngào - Tôi không có khả năng chứng minh điều đó.

Nhưng có điều chắc chắn là ngay khi ông Soames vừa xoay lưng đi, thì ông đã đưa người trốn trong phòng ngủ ra ngoài.

Bannister liếm cặp môi khô:

- Không có ai cả, thưa ông.

- A!

Thật đáng tiếc!

Cho tới giây phút này, ông vẫn có thể nói ra sự thật, nhưng tôi biết là ông đã nói dối.

Bộ mặt của Bannister chỉ còn bộc lộ một sự thách thức buồn bã.

- Không có ai cả, thưa ông.

- Coi nào, ông Bannister.

- Không, thưa ông, không có ai cả.

- Thôi được, ông hãy tới đứng gần bên cửa ra vào phòng ngủ.

Bây giờ, thưa ông Soames, tôi mong ông leo lên phòng chàng trai Gilchrist, yêu cầu cậu ta xuống đây.

Một lát sau, ông thầy cùng với cậu sinh viên bước vào.

Đó là một thanh niên đẹp trai, lực lưỡng, mảnh và cao, mềm mại, dáng đi linh hoạt, vui mắt, anh ta có bộ mặt cởi mở.

Cặp mắt xanh của anh chăm chú nhìn chúng tôi trước khi đặt lên Bannister với một dáng vẻ rụng rời.

- Hãy đóng cửa lại - Holmes nói - Giờ đây, ông thấy là chúng ta hoàn toàn tách biệt với bên ngoài.

Không một ai nghe chúng ta nói chuyện.

Vậy thì chúng ta có thể nói chuyện với tất cả lòng thẳng thắn.

Chúng tôi muốn biết, làm thế nào mà ông, một người trọng danh dự, lại phạm vào một lỗi lầm như trong ngày hôm qua?

Chàng thanh niên lảo đảo và ném lên Bannister một tia nhìn oán trách.

- Nhưng, thưa ông Gilchrist, tôi đã không nói gì hết - Người đầy tớ kêu lên.

- Nhưng bây giờ thì ông đã nói - Holmes trả lời - Coi nào, chàng trai!

Sau cái điều vừa thoát ra khỏi cổ họng Bannister, địa vị của ông hẳn là bớt đẹp.

Ông chỉ còn có một cơ may: Thành thật nhận lỗi.

Trong một lúc, Gilchrist giơ một bàn tay lên thử chế ngự mối cảnh xúc và bất thình lình anh ta quỳ gối xuống bên cạnh bàn, vùi mặt vào trong hai bàn tay và khóc nức nở.

Holmes dịu dàng nói:

- Coi nào, coi nào.

Lỗi lầm là bản chất của con người, có thể anh thích để cho tôi nói thay anh?

Anh sẽ đính chính nếu tôi bị lầm lẫn.

Anh đồng ý chứ?

Tốt.

Thưa ông Soames, kể từ lúc ông nói rằng không có ai biết những bản in thử ở trong văn phòng ông, thì vụ này đã làm cho tôi thích thú.

Chúng ta có thể gạt bỏ người thợ in, bởi vì nếu muốn, anh ta có thể chép những bản văn đó ngay trong nhà mình.

Tôi cũng loại bỏ người Ấn Độ: Nếu những bản in thử còn quấn thành cuộn, anh ta không thể đoán được rằng, đó là cái gì.

Mặt khác, có thể có sự trùng hợp như thế này: Một người nào đó đã vào trong văn phòng ông và tình cờ nhìn thấy đề thi đang nằm ở trên bàn!

Tôi cũng gạt bỏ luôn giả thiết đó.

Cái người vào đây phải là người đã biết nơi này đang có bản in thử.

Vì sao người ấy biết được?

Khi tôi tới gần bàn giấy của ông, tôi quan sát khung cửa sổ.

Ông đã làm tôi cười khi ông tin rằng có một ai đó đã lẻn vào văn phòng bằng ngả đó.

Một giả thiết như thế thật là phi lý.

Tôi đã tính chiều cao cần thiết mà người đó có thể đi ngang cửa nhà này và người ấy phải biết trước loại giấy tờ nào đang nằm trên bàn ông.

Tôi cao 6 bộ và chỉ cần hơi gắng sức là tôi đã trông thấy xấp giấy trên bàn.

Vậy, nếu một trong ba sinh viên của ông, người có thân hình thật cao, là mục tiêu của sự tìm kiếm.

Tuy nhiên, lúc đứng trong văn phòng, tôi không rút ra được điều gì, nhưng ông đã mô tả với tôi rằng Gilchrist là một nhà vô địch chạy vượt rào và nhảy xa.

Thế là tôi hiểu tất cả.

Nhưng tôi cần có những chứng cớ xác minh.

Chàng thanh niên này đã tập nhảy suốt buổi chiều trên sân thể thao.

Anh trở về, mang theo đôi giày nhảy, là thứ có gắn những mũi nhọn, như ông đã thấy.

Khi đi ngang qua cửa phòng ông, nhờ thân hình cao, anh đã trông thấy nhưng bản in thử đó để trên bàn, còn trên cánh cửa thì có chìa khóa để quên.

Một sự thôi thúc đẩy anh vào phòng và để xem coi đó có phải là đề thi của ngày hôm sau không?

Nếu bị bắt gặp, anh có thể nói rằng anh tới để hỏi ông thầy một câu gì đó.

Khi thấy đó đúng là đề thi, thì anh đành chịu thua sự cám dỗ.

Anh để đôi giày có gắn mũi nhọn lên bàn.

Thế anh đã để cái gì lên trên cái ghế bành kê gần bên cửa sổ này?

- Đôi bao tay - Chàng trai trả lời.

Holmes nhìn Bannister với tư thế của người thắng cuộc.

- Anh đặt đôi găng tay lên thành ghế và lấy từng tờ giấy để chép lại.

Anh nghĩ rằng ông thầy sẽ trở về qua lối cổng chính, và anh sẽ trông thấy.

Thế nhưng ông thầy lại trở về qua cổng nhỏ.

Bất thình lình, anh nghe thấy tiếng gõ của thầy ở đằng sau cánh cửa.

Anh vội vàng quơ lấy đôi giày nhảy và bỏ trốn trong phòng ngủ, bỏ quên đôi bao tay trên thành ghế.

Vết khắc trên mặt bàn in nhẹ ở một bên, nhưng lại hằn rõ trong hướng đi tới phòng ngủ.

Điều đó cho thấy thủ phạm đã trốn trong phòng.

Đất bám chung quanh một mũi nhọn vương lại trên bàn, một mẩu đất thứ hai tuột ra và rơi xuống trong phòng.

Sáng nay tôi đã tới sân nhảy và thấy hố đó đầy thứ đất đen dính chắc này.

Tôi mang về một ít và tôi cũng ghi nhận rằng người ta đã rắc mạt cưa lên trên mặt đất để các lực sĩ khỏi bị trượt chân.

Tôi nói có đúng không, ông Gilchrist?

Chàng sinh viên đứng lên.

- Đúng, thưa ông.

- Nhưng anh không có gì để nói thêm sao?

- Ông Soames kêu lên.

- Có, thưa thầy.

Tôi có nhiều điều để nói thêm.

Nhưng sự khám phá ra đó đã làm tôi kinh ngạc.

Tôi có một lá thư gửi thầy.

Tôi viết vào giữa một đêm mà lương tâm không yên ổn.

Thư đó đây.

Đây là câu đầu tiên: "Tôi quyết định không dự thi; người ta đã đề nghị với tôi một chỗ làm trong sở cảnh sát ở Rhodésia; tôi sẽ sang Nam Phi ngay tức khắc".

- Tôi thật sung sướng được biết anh không có ý định lợi dụng một sơ sót của tôi.

Nhưng tại sao anh lại đổi ý?

Gilchrist chỉ vào Bannister nói:

- Đây là người đã đưa tôi trở lại con đường ngay thẳng.

- Coi nào, Bannister!

- Holmes kêu lên - Sau điều tôi vừa giải thích, ông hiểu rõ rằng chính ông đã để cho chàng trai này đi ra khỏi phòng, bởi ông đã ở lại một mình trong phòng và ông đã khóa cửa lại sau khi bỏ đi.

Ông có muốn cho chúng tôi biết tại sao ông hành động như vậy không.

- Thưa ông, một thời, tôi đã phục vụ như người quản gia nơi nhà thân phụ của chàng trai.

Khi cụ bị phá sản, tôi trở thành nhân viên thuộc trường này, nhưng tôi không bao giờ quên được ông chủ cũ.

Tôi đã chăm sóc con trai cụ hết sức mình để tưởng nhớ một thời êm đềm xa xưa.

Hôm qua, khi tôi vào trong văn phòng này, cái đầu tiên mà tôi trông thấy, đó là đôi bao tay của cậu đặt trên ghế bành.

Tôi biết, nếu ông giám học cũng trông thấy chúng, là cậu bị phát hiện.

Thế nên tôi bèn "ngất xỉu" trên cái ghế bành này và không gì có thể làm tôi động đậy, mãi cho tới khi ông Soames đi ra.

Người chủ trẻ của tôi đã rời khỏi chỗ ẩn nấp và thú nhận với tôi.

Thuở xưa, tôi đã từng đặt cậu ấy ngồi trên đầu gối tôi.

Về phần tôi, thật là tự nhiên khi tôi làm đủ mọi cách để cứu cậu ấy?

Mặt khác, tôi nói với cậu rằng chẳng nên làm như thế.

Ông có chê trách tôi không, thưa ông Holmes.

Holmes đứng lên nồng nhiệt nói với Bannister và ông Soames rằng vấn đề đã được giải quyết êm đẹp.

Quay sang chàng trai, Holmes tiếp:

- Về phần anh, người bạn trẻ, tôi tin chắc rằng ở một chân trời xa xôi kia, một tương lai xán lạn đang chờ đón anh.

Hết
 
Sherlock Holmes (Toàn Tập)
D10 Cái kính kẹp mũi bằng vàng


CÁI KÍNH KẸP MŨI BẰNG VÀNG

THE ADVENTURE OF THE GOLDEN PINCE-NEZ (1904)

The Return of Sherlock Holmes

Sherlock Holmes trở về

Những ngày cuối tháng 11-1894.

Buổi tối thật buồn.

Holmes đang dùng kính lúp để cố đọc những gì còn sót lại của một câu văn viết trên da cừu, trong lúc tôi say mê đọc một cuốn chuyên luận về phẫu thuật.

Bên ngoài gió gào rú, mưa dông mạnh.

Tôi tới bên cửa số nhìn xuống đường phố vắng tanh.

Những ngọn đèn đường chiếu sáng một mặt đường bùn lầy.

Một chiếc xe ngựa chạy tới, làm nước văng tung toé.

Holmes đặt kính lúp xuống và gấp mảnh da cừu lại:

- Thật may mắn là bọn mình không phải đi ra ngoài.

Tôi đã ngán cái trò tìm đoán này: thật tội nghiệp cho đôi mắt!

Ồ, có chuyện gì thế?

Nổi bật trên tiếng gió vù vù, tiếng móng ngựa đập đôm đốp dọc theo nhà rồi tiếng bánh xe ngừng lại, kêu cọt kẹt khi cọ vào vỉa hè.

Chiếu xe ngựa đậu lại trước nhà chúng tôi.

- Ông này muốn gì đây?

- Tôi kêu lên khi thấy một người đàn ông từ trên xe bước xuống.

- Muốn gì à?

Người đó muốn chúng ta.

Và chúng ta muốn những cái áo choàng ngoài, những khăn choàng cổ, những đôi giày cao su và tất cả những gì mà loài người đã phát minh ra để bảo vệ trước thời tiết xấu.

Hãy chạy xuống dưới, và mở cửa ra mau, bởi vì vào giờ này tất cả những người có đạo đức đều đi ngủ cả rồi!

Khi ánh sáng ngọn đèn trong gian tiền sảnh chiếu rõ người khách, tôi nhận ra ngay đó là Stanley Hopkins, một thanh tra trẻ tuổi.

- Ông ấy có nhà không?

- Anh ta ném cho tôi câu hỏi khi bước vào.

- Hãy lên đi!

- Holmes trả lời từ phía trên - Chắc đêm nay anh không ấp ủ những ý đồ đen tối chống lại chúng tôi?

Viên thanh tra leo vội lên cầu thang, từng bốn bậc một.

Nước trên áo mưa của anh ta chảy ròng ròng.

Tôi giúp anh ta cởi nó ra, trong lúc Holmes khơi cao ngọn lửa.

- Hãy đến gần ngọn lửa mà sưởi ấm đôi chân.

Đây là một điếu xì-gà.

Bác sĩ ta sẽ sẵn lòng làm một chén thuốc, trong có nước sôi và một quả chanh.

Có chuyện gì quan trọng lắm nên luồng gió độc địa này mới thổi anh tới đây?

- Ông đã đọc tin giờ chót của các báo chưa?

Về vụ án Yoxley đó mà.

- Anh nói đi!

- Được.

Đó là bản tin vắn, đầy rẫy những sai lầm.

Chuyện đó xảy ra trong vùng Kent, cách Chatham 7 dặm và cách đường xe lửa 3 dặm.

Người ta báo cho tôi bằng điện tín vào lúc 3 giờ 15, tôi tới Yoxley Old Place vào hồi 5 giờ.

Tôi đã mở cuộc điều tra, rồi quay trở về Charing Cross bằng chuyến xe lửa cuối cùng và đi thẳng tới đây.

- Vậy là anh chưa thấy rõ vụ này?

- Holmes hỏi.

- Đây là vụ rối rắm nhất trong tất cả những vụ mà tôi đã đảm trách.

Không có động cơ gây ra tội ác; có người bị chết, nhưng không sao hiểu được tại sao có người muốn giết anh ta?

Holmes mồi một điếu xì-gà và ngồi nép vào trong ghế bành.

- Chúng tôi nghe anh đây.

- Cách đây vài năm, một người đứng tuổi, giáo sư Coram đến mua một căn nhà ở vùng quê Yoxley Old Place.

ông ta đau ốm, tàn tật, một nửa thời gian nằm liệt trên giường, nửa thời gian còn lại chống gậy đi quanh nhà.

ông được láng giềng yêu quý.

Họ thường tới thăm ông và coi ông như nhà thông thái.

Đám gia nhân gồm có người quản gia lớn tuổi, bà Marker, và người hầu gái Susan Tarlton.

Đó là hai phụ nữ trung hậu.

Ông giáo sư viết một cuốn sách.

Năm vừa qua, ông thuê một thư ký.

Hai người đầu không làm được việc, người thứ ba là một thanh niên tốt nghiệp đại học, đã đáp ứng được những mong muốn của giáo sư.

Mỗi sáng, anh ghi chép lại những gì ông chủ đọc; và buổi chiều, anh đọc kỹ những câu trích dẫn có quan hệ với công việc ngày hôm sau.

Không thể nào tìm ra được một điều gì đó chống lại anh chàng Willoughby Smith này, hoặc là lúc anh ta hãy còn nhỏ, hoặc là lúc anh ta theo học ở đại học.

Tôi đã xem các bằng cấp và những lá thư tiến cử.

Anh ta luôn luôn là người trầm tĩnh, siêng năng, thật thà và đứng đắn.

Ấy thế mà anh đã bị giết sáng nay trong văn phòng của giáo sư và những tình huống đã chỉ dẫn một cách dứt khoát rằng đây là một vụ ám sát.

Gió vẫn gào thét bên cửa sổ.

Chúng tôi ngồi sát gần ngọn cửa, trong lúc viên thanh tra khai triển câu chuyện.

- Trong khắp nước Anh, chúng ta sẽ không gặp một ngôi nhà nào cách biệt và thoát ra khỏi những ảnh hưởng bên ngoài như căn nhà đó.

Nhiều tuần lễ đã qua mà không một người lạ nào vượt qua hàng rào sắt quanh nhà.

Ông giáo sư bị cuốn hút vào trong công việc Chàng thanh niên không quen biết ai trong lối xóm, nghĩa là anh ta sống y như ông chủ.

Hai người đàn bà không bị một mối quan hệ nào lôi họ ra khỏi nhà.

Người làm vườn là một quân nhân về hưu tên là Mortimer.

Ông ta không ở trong nhà, nhưng sống trong một căn nhà nhỏ ba gian ở đầu đằng kia khu vườn. .

Người hầu gái khai rằng, sáng nay, trong khoảng từ 11 đến 12 giờ, bà đang treo những tấm màn trong căn phòng ở trên cao, mé trước nhà.

Giáo sư còn ngủ.

Bà quản gia thì đang bận rộn tận cuối căn nhà.

Willoughby Smith đã đi tới phòng ngủ mà anh dùng như là văn phòng riêng.

Nhưng bà ta lại nghe tiếng bước chân anh đi ra, bước dọc theo hành lang và đi xuống văn phòng ở ngay mé dưới, nơi bà đang làm việc.

Bà không trông thấy anh, không nghe thấy tiếng cánh cửa văn phòng đóng lại, nhưng ít lâu sau, một tiếng kêu kinh hoàng đã vang lên trong căn phòng phía dưới.

Một tiếng thét chói tai và quá khác thường khiến cho bà không phân biệt được là tiếng của đàn ông hay đàn bà.

Cùng lúc đó có tiếng té ngã vang lên, làm rung chuyển cả ngôi nhà, rồi sau đó hoàn toàn im lặng.

Bà ta sững người, nhưng sau đó lấy lại can đảm và chạy xuống nhà dưới.

Cánh cửa văn phòng đóng kín.

Bà mở ra.

Anh chàng Willoughby Smith nằm sóng sượt dưới đất.

Thoạt tiên bà không thấy một vết thương nào; nhưng khi bà thử đỡ ông lên thì có máu chảy ở dưới cổ.

Vết thương thật nhỏ nhưng cái động mạch nhánh đã bị cắt đứt.

Hung khí là một con dao nhíp loại nhỏ, dùng để cắt xi gắn niêm phong, một loại dùi mà thỉnh thoảng người ta còn bắt gặp trong những căn phòng cổ xưa có cán bằng ngà và một cái lưỡi sắc.

Nó là một trong những vật dụng văn phòng của giáo sư.

Thoạt đầu bà ta tưởng Willoughby Smith đã chết, nhưng khi bà lấy nước trong một cái bình rưới lên đầu anh thì anh mở mắt ra; anh thì thào: "Giáo sư!

Chính là bà ta đó!".

Nói xong, anh chết.

Bà hầu phòng quả quyết rằng chính tai bà nghe rõ câu nói đó.

Giữa lúc ấy, bà quản gia cũng tới nơi xảy ra tội ác.

Bà này đã để người hầu gái ở lại bên cạnh xác chết và bà vội vàng chạy lên phòng ông chủ để báo tin.

Ông giáo sư đang ở trong phòng, ngồi dậy, bị dao động một cách khủng khiếp.

Bà Marker làm chứng rằng giáo sư vẫn còn mặc quần áo ngủ và ông không thể mặc quần áo được, nếu không có sự phụ giúp của người làm vườn.

Ông giáo sư khai rằng ông đã nghe thấy tiếng kêu, nhưng ông không biết gì khác.

Ông không thể nào giải thích được những lời nói sau cùng của người thư ký trẻ: "Giáo sư!

Chính là bà ta đó!".

Ông cho rằng đó là do tác dụng của sự mê sảng.

Ông tin rằng chàng thanh niên không có kẻ thù nào.

Giáo sư phái người làm vườn đi trình cảnh sát địa phương.

Một lát sau, viên cảnh sát trưởng đã triệu tôi tới.

Không có cái gì bị dời chỗ.

Những mệnh lệnh nghiêm ngặt đã được ban ra để không cho một ai đi lại trên những lối đi trong vườn dẫn tới nhà.

Thưa ông Holmes, đây là cơ hội mơ ước để ông đem ứng dụng những lý thuyết của ông, nó tuyệt đối không thiếu một thứ gì...

- Chỉ thiếu có ông Sherlock Holmes.

- Bạn tôi nói trong một nụ cười gần có phần chua chát - Được, chúng tôi xin nghe phần tiếp theo.

Vậy anh đã làm gì?

- Trước lết, tôi mong ông liếc qua cái sơ đồ này.

Anh ta mở bản phác họa và trải nó ra trên đầu gối Holmes.

Tôi đứng lên và quan sát nó qua bạn tôi.

- Nó rất sơ sài.

Sau này ông sẽ tự mắt quan sát phần còn lại.

Giờ đây, điểm thứ nhất: Nếu kẻ sát nhân đã vào trong nhà, thì y đi qua lối nào?

Chắc là đi qua lối vào trong vườn và qua cánh cửa dành cho người giúp việc, từ đó đi thẳng tới văn phòng.

Tất cả mọi ngả đường khác đều đưa ra những khó khăn lớn.

Lối y bỏ trốn cũng được thực hiện qua ngả đó, bởi vì trên hai lối ra khác của căn phòng, một bị chặn bởi Susan đang chạy tới và lối kia dẫn thẳng vào phòng của giáo sư.

Vậy là tôi chú tâm vào lối đi trong vườn, bị làm nhão bởi một cơn mưa.

Tôi không tìm thấy một dấu chân nào trên lối đi.

Ngược lại, có ai đó đã men theo lối đi bằng cách bước trên cỏ khiến cho không để lại những dấu vết.

Tôi đã không thế tìm ra một dấu chân rõ ràng nào, nhưng cỏ bị rạp xuống: hẳn là cỏ bị bàn chân của kẻ sát nhân đạp lên, bởi vì người làm vườn cũng như hai bà già kia, không ai đi dạo trong vườn vào buổi sáng và còn ban đêm thì trời đã đổ mưa.

- Lối đi này dẫn tới đâu?

- Holmes hỏi.

- Tới con đường.

- Chiều dài là bao nhiêu?

- Gần 100 yard.

- Ở cái chỗ mà lối đi đụng vào hàng rào, ắt hẳn anh thu thập được những dấu vết?

- Ở đó, lối đi lại được lát đá.

- Thế còn trên con đường, phía bên kia hàng rào?

- Đúng là một vũng bùn.

- Tốt.

Hãy trở lại với những dấu vết trên cỏ: chúng đi về hướng nào?

- Không thể nói được.

Không có những đường viền.

- Một bàn chân lớn hay một bàn chân nhỏ?

- Không thể nào xác định được!

Holmes thở dài, mất kiên nhẫn:

- Vấn đề này còn khó hiểu hơn là đọc trên miếng da cừu!

Thế rồi, anh đã làm gì?

- Tôi biết chắc là có một ai đó từ bên ngoài đã vào trong nhà.

Sau đó tôi quan sát cái hành lang.

Nó được lót một tấm thảm đan bằng sợi dừa: không một dấu vết nào.

Cuộc khám xét đó đã đưa tôi vào ngay trong căn phòng.

Đồ đạc chính là một cái bàn lớn đặt trên hai chồng ngăn kéo được nói liền với nhau bằng một thứ như tủ buýp-phê.

Các ngăn kéo đều mở, cái tủ buýp-phê bi khoá.

Dường như những ngăn kéo không bao giờ đóng lại và chúng không chứa những đồ vật đáng giá nào.

Trong tủ buýp-phê có vài tờ giấy quan trọng, nhưng dường như người ta đã không đụng tới và ông giáo sư khai với tôi là không một giấy tờ nào bị mất cả.

Chắc chắn là không có vụ trộm nào xảy ra.

Thi hài của chàng trai gần bên cái tủ.

Vết thương ở bên tay phải gần cổ và trổ từ sau ra trước; khó mà kết luận rằng đây là một vụ tự tử.

- Ngoại trừ trường hợp mà anh ta bị ngã xuống trúng con dao.

- Holmes nói.

- Rất đúng!

Nhưng chúng tôi lại tìm thấy con dao ở cách thi hài khá xa, vậy là giả thiết đó không đứng vững.

Vả lại còn có những lời trăn trối của nạn nhân.

Và sau chót, đây là bằng chứng rất quan trọng mà người chết đã nắm chắc trong bàn tay phải co quắp lại.

Stanley Hopkins rút từ trong túi ra một cái hộp nhỏ.

Anh ta mở rộng tờ giấy và trưng ra một cái kính kẹp mũi bằng vàng với hai mẩu dây bằng lụa đen đang đong đưa.

Anh nói thêm:

- Willoughby Smith có một thị lực hoàn hảo!

Vậy cái kính kẹp mũi này đã được giật ra từ trên mặt hoặc trên người của kẻ sát nhân.

Holmes cầm lấy và quan sát nó chăm chú.

Anh đặt kính lên mũi, thử đọc, đi tới bên cửa sổ và nhìn xuống đường phố, đoạn anh gỡ nó ra và đặt dưới ánh đèn.

Sau cùng, anh bật ra một tiếng cười nhỏ, đến ngồi vào bàn và viết vài hàng trên một tờ giấy rồi dưa cho Stanley Hopkins.

- Đây là cái mà tôi có thể làm cho anh.

Chúng ta sẽ thấy là nó có ích hay không.

Viên thanh tra ngạc nhiên, cất cao giọng, đọc tờ giấy:

"Người ta tìm kiếm một bà có dáng vẻ lịch thiệp, ăn vận thanh lịch.

Bà có cái mũi dày một cách dị thường và hai mắt sát gần hai bên mũi.

Bà có vầng trán nhăn, hai bờ vai đã còng.

Chắc chắn là trong những tháng gần đây bà đã đến hiệu kính ít nhất hai lần.

Vì những tiệm kính không nhiều lắm, ắt hẳn không khó khăn gì dể tìm ra dấu vết của bà".

Holmes cười trước cái vẻ ngơ ngác của Hopkins.

Anh nói:

- Cặp kính kẹp mũi rất dễ cho ta suy diễn.

Về việc cái kính là của một phụ nữ, tôi suy diễn từ sự mảnh dẻ của cái kính và từ những lời nói sau cùng của nạn nhân.

Về điều dáng vẻ thanh tao và lịch thiệp: cái kính này làm bằng vàng, cho thấy chủ nó giàu sang, tất nhiên bà phải ăn mặc thanh lịch.

Hai cái kẹp của kính quá rộng, chứng tỏ rằng cái mũi của bà này rất nở ở dưới đáy.

Tôi có một khuôn mặt hẹp, dài, ấy thế mà tôi không thể nhìn vào chính giữa hoặc gần trung tâm những tròng mắt này.

Vậy thì đôi mắt của bà ta được đặt sát bên sống mũi.

Một phụ nữ mà thị lực đã bị suy giảm đến như thế suốt đời, thì chắc chắn có chăng nét đặc trưng về cơ thể hợp với thị lực đó, như là một vầng trán nhăn, và những bờ vai bị còng.

- Đúng!

Tôi theo dõi rất sát những suy diễn của anh, ngoại trừ một điều: làm thế nào mà anh biết bà ta đã hai lần đi tới tiệm kính?

- Tôi hỏi.

Holmes cầm cặp kính kẹp mũi trong bàn tay.

- Những cái kẹp được viền bằng những vòng nhỏ xíu bằng bần, ngõ hầu làm dịu sức ép trên mũi.

Một trong những cái vòng đó bị phai mầu và hơi cũ, nhưng cái kia thì mới.

Vậy là một cái đã bị rơi và bà đã thay cái khác.

Theo ý tôi, cái vòng cũ hơn cũng không lâu tới quá vài ba tháng.

Và bởi chúng giống y như nhau, tôi suy luận ra rằng bà đó đã trở lại lần thứ hai ở cùng một nơi.

- Ông thật tuyệt vời!

- Hopkins kêu lên, miệng há hốc vì khâm phục - Tôi có trong tay tất cả những sự hiển nhiên đó mà tôi chẳng hề suy luận ra một điều nhỏ.

- Bạn thân mến, bạn còn có điều gì khác để nói với chúng tôi không?

- Không.

Ông cũng đã biết như tôi...

Và có thể còn nhiều hơn tôi nữa.

Chúng tôi đã điều tra về sự có mặt có thể có của một người đàn ông hoặc một người đàn bà xa lạ; hoặc ở trên đường hoặc ở tại nhà ga: không có kết quả!

Điều làm tôi băn khoăn là sự thiếu hụt những động cơ gây ra tội ác.

- À!

Chỗ đó, tôi không có khả năng giúp được anh.

Nhưng ngày mai, chúng ta gặp nhau tại hiện trường, được không?

- Ta tới Yoxley Old Place từ 8 đến 9 giờ.

- Chúng ta sẽ đáp chuyến tàu đó.

Này, Hopkins, cũng gần một giờ sáng rồi.

Cái trường kỷ kê trước lò sưởi thuộc quyền sử dụng của anh đó.

Sáng hôm sau chúng tôi xuống tàu ở một ga xép cách Chatham vài cây số.

Thời gian thắng một con ngựa vào đôi càng xe độc mã đủ để chúng tôi quất một bữa điểm tâm xoàng xĩnh.

Khi tới Yoxley Old Place chúng tôi làm việc ngay.

Một cảnh sát viên đón chúng tôi ở hàng rào quanh vườn.

- Thế nào, có gì mới không Wilson?

- Không, thưa ông.

- Người ta vẫn chưa báo gì về một người lạ trong xứ à?

- Không, thưa ông.

Ở dưới ga, họ tin chắc là không có một người lạ nào đã tới hoặc đã đi.

- Anh đã điều tra trong các quán ăn và các nhà trọ?

- Tất cả mọi người đều theo đúng luật lệ với những lý do vắng mặt đều chấp nhận được và đã kiểm tra.

- Từ đây đi Chatham không xa lắm.

Bất cứ ai cũng có thể xuống đó và đáp tàu mà chẳng bị ai để ý tới...

Đây là lối đi trong vườn mà tôi đã nói với ông, thưa ông Holmes.

- Ở phía nào có những dấu vết ở trên cỏ?

- Qua đây!

Trong cái dải chật hẹp giữa lối đi và những khoảng đất trồng hoa trong vườn.

- Đúng, đúng!

Có một ai đó đã đi qua ngả này.

Người đàn bà xa lạ của chúng ta hẳn đã bước đi rất thận trọng, bởi vì phía này bà hẳn để lại một dấu vết trên lối đi và trên phía bên kia một dấu vết còn rõ hơn nữa, trên khoảng đất trồng hoa thật mềm, phải không?

- Bà ta phải là người điềm tĩnh một cách khác thường.

Bất thình lình Holmes tập trung tư tưởng.

- Anh nói là bà ta đã đi ra qua ngả này?

- Vâng, không có một lối đi nào khác.

- Trên cái dải cỏ này à?

- Chắc chắn rồi.

- Hừm!

Vậy đúng là một kỳ tích rất đáng chú ý...

Rất đáng chú ý!

Thôi!

Chúng ta hãy đi xa hơn.

Cái cánh cửa vườn này thường được mở rộng, tôi đoán thế.

Vậy là bà khách chỉ có việc vào.

Vì nghĩ về một vụ ám sát không có trong đầu bà ta; nếu không, thì bà đã mang theo một vũ khí nào đó thay vì sử dụng con dao nhíp trên bàn giấy.

Bà ta đã đi trong hành lang, không để lại dấu vết khi đi qua trên cái chiếu dệt bằng sợi dừa.

Rồi thì bà ta tới trong văn phòng này...

Bà ta đã ở nơi đây bao lâu?

- Chừng 15 phút thôi.

Bà Marker khẳng định như vậy.

- Người đàn bà xa lạ đi vào trong văn phòng này và làm gì?

Bà ta đi tới cái tủ.

Tại sao?

Không phải để tìm một cái gì đó trong những ngăn kéo.

Nếu trong ngăn kéo mà có một cái gì quan trọng thì ắt hẳn chúng đã được khóa lại.

Không, bà ta đã tìm một cái gì đó trong tủ buýp-phê bằng gỗ này.

Coi này, thế còn cái vết xước này, đây này.

Này Watson, hãy đánh cho tôi một que diêm.

Tại sao anh lại không nói với tôi về cái vết xước này, Hopkins?

Cái vết mà Holmes quan sát bắt đầu từ mặt đồng hồ bên mé phải có khóa và nó kéo dài khoảng 4 inch trên nước véc-ni.

- Tôi đã thấy nó.

Nhưng chúng ta luôn luôn thấy chung quanh một lỗ khóa có những vết xước giống như vết này.

- Vết này hoàn toàn mới...

Rất mới.

Anh hãy nhìn xem chỗ bị cào xước này, màu đồng mới bóng làm sao.

Một vết xước cũ hẳn đã lên màu của mặt có khóa.

Hãy dùng kính lúp của tôi mà coi.

Chúng ta nhận thấy lớp véc-ni ở chỗ này, giống như đất ở mỗi bên của một luống cày.

Bà Marker có ở đây không nhỉ?

Một bà đứng tuổi, có nét mặt ủ ê, bước vào.

- Sáng hôm qua bà có quét bụi cái bàn giấy này không?

- Có.

- Bà có để ý thấy cái vết xước này không?

- Không, tôi không thấy nó.

- Ai giữ chìa khoá tủ này?

- Ông giáo sư gắn nó trong sợi dây đeo đồng hồ của ông.

- Đó có phải là một cái chìa thông thường không?

- Không, chìa khóa hiệu Chubb.

- Tốt lắm bà Marker, bà có thể về.

Thế là chúng ta đã tiến được chút đỉnh.

Người nữ khách của chúng ta vào trong phòng, tiến lại gần bàn giấy, và mở ra hoặc thử tìm cách mở tủ ra.

Trong lúc vội vã rút cái chìa khoá ra, bà đã gây nên vết xước trên cánh cửa.

Willoughby Smith tóm lấy bà, nhưng bà quơ lấy món đồ đầu tiên nằm trong tầm tay, tình cờ lại là con dao nhíp, và đâm vào anh ta để anh buông bà ra.

Không ngờ cú đâm lại làm chết người.

Willoughby Smith gục xuống và bà bỏ trốn: có thể bà đã lấy được món đồ hoặc chưa lấy được.

Thế còn bà hầu phòng Susan có ở đấy không?

Bà Susan ơi, có thể nào có ai đó lại có thể ra khỏi cửa này sau khi bà đã nghe thấy tiếng kêu không?

- Không thể nào được.

Khi họ xuống cầu thang, tôi ắt hẳn đã trông thấy ai đó trong hành lang.

Hơn nữa, người ta đã không mở cửa ra, nếu mở cửa ra thì tôi đã nghe thấy rồi.

- Thế là giải quyết dứt một điểm.

Không còn nghi ngờ chút nào về việc người đàn bà đó đã bỏ đi bằng cùng một con đường mà bà ta đã vào.

Cánh cửa dẫn thẳng tới phòng của giáo sư à?

Không có lối nào qua ngả phòng của giáo sư sao?

- Không, thưa ông.

- Vậy thì chúng ta hãy theo lối đó và tới làm quen với ông giáo sư.

Ồ, Hopkins!

Đây là điều rất quan trọng: Hành lang dẫn vào phòng giáo sư cũng được trải chiếu đan bằng sợi dừa phải không?

- Phải, nhưng có gì là quan trọng.

- Tôi thấy chi tiết đó rất là đáng chú ý.

Anh hãy vào và giới thiệu tôi.

Đằng cuối của dãy hành lang có vài bậc thềm dẫn đến một cánh cửa.

Người hướng dẫn chúng tôi gõ cửa, rồi chúng tôi đẩy nhau vào trong phòng của ông giáo sư.

Đây là một căn phòng rất lớn, sách chất đầy trên các kệ và nằm chồng đống trong tất cả mọi xó góc, hoặc xếp chồng dưới những tầng giá dọc theo căn phòng.

Cái giường kê chính giữa.

Chủ nhà ngồi dựa lên những cái gối.

Một bộ mặt trơ xương, nhìn nghiêng như chim đại bàng hướng về chúng tôi, cặp mắt đen sắc sảo nép mình trong những hốc mắt sâu và được che chở bởi đôi lông mày rậm sệ xuống.

Mái tóc và bộ râu ông đều bạc phơ như tuyết, chỉ khác là râu chung quanh miệng bị vàng khè một cách kỳ lạ.

Một điếu thuốc lá đang tàn dần giữa cái mớ lông trắng đó và không khí trong phòng thật ngột ngạt vì khói thuốc.

Ông chìa một bàn tay ra bắt tay Holmes: những ngón tay ông cũng bám đầy chất nicotine.

- Ông hút thuốc chứ, thưa ông Holmes?

- Ông nói bằng một thứ tiếng Anh không chê vào đâu được dẫu rằng có ẩn tàng một âm tiết xa lạ - Tôi xin mời ông hút một điếu.

Còn ông, thưa ông?

Thuốc hút và công việc, đó là tất cả những gì còn nơi tôi.

Holmes đã mồi điếu thuốc và anh ném những tia nhìn lén qua khắp căn phòng.

- Thuốc hút và công việc của tôi, nhưng giờ đây chỉ còn lại có thuốc hút.

Than ôi, sự đứt đoạn mới nguy hại làm sao!

Nào ai có thể ngờ một tai họa như vậy?

Một thanh niên xứng đáng được quý mến đến thế!

Tôi đoán chắc với ông là chỉ sau vài tháng khởi công, anh ấy đã trở thành một cộng sự viên đáng phục.

Ông nghĩ sao về chuyện này

- Tôi chưa nghĩ gì.

- Tôi sẽ mang ơn ông rất nhiều, nếu như ông làm sáng tỏ được vụ này.

Với một người tàn phế ham chuộng sách như tôi, vụ này làm tôi bị tê liệt luôn: tôi tin rằng tôi đã bị mất ngay cả đến năng lực suy nghĩ.

Nhưng ông là chuyên gia phá án những vụ bí mật, ông có khả năng giữ được thế quân bình trong bất kỳ tình huống nào.

Chúng tôi thật may mắn có ông ở gần bên!

Trong lúc ông giáo sư nói, Holmes đi đi lại trong một phần căn phòng.

Tôi nhận thấy anh hút thuốc nhanh chóng khác thường.

- Đây là một vố quá nặng nề!

- ông nói tiếp - Đây là tác phẩm lớn của đời tôi, cái chồng giấy mà ông trông thấy xếp trên mặt bàn cạnh đó, tôi đã phân tích những tài liệu tìm thấy trong các tu viện giáo phái Coptic ở Syrie và ở Ai Cập; tác phẩm của tôi sẽ làm đảo lộn các nền móng của tôn giáo đã được phát hiện.

Giờ đây, xét vì sức khoẻ suy nhược và sự mất mát người cộng sự, tôi tự hỏi không biết rồi ra tôi có thể hoàn tất được nó hay chăng.

Chúa ơi, ông Holmes, thế là ông hút thuốc còn nhiều hơn tôi nữa?

- Tôi là một người sành điệu!

- Holmes nói, khi lấy một điếu thuốc thứ tư trong hộp và nối vào cái mẩu còn cháy của điếu thuốc trước - Thưa giáo sư, tôi tin rằng vào giờ xảy ra tội ác, ông đang nằm trên giường và rằng ông không biết gì cả.

Tôi chỉ muốn nêu ra với ông một câu hỏi: theo ý ông, người thanh niên đã muốn nói gì trước khi trút hơi thở cuối cùng qua câu: Giáo sư...

Chính là bà ta đó.

Ông giáo sư lắc đầu.

- Susan là một người đàn bà quê mùa và ông thừa biết sự ngốc nghếch của loại người đó.

Tôi nghĩ rằng trong cơn mê sảng, anh chàng tội nghiệp đã thì thầm vài từ rời rạc và rằng chị ta đã dựa vào đó mà tạo ra một câu chẳng có ý nghĩa gì cả.

- Ông không có một lời giải thích riêng tư nào để đề xuất với chúng tôi hay sao?

- Có thể là một tai nạn.

Có thể là...

Có thể là một vụ tự tử.

Mấy người trẻ tuổi giữ kín những mối lo âu và những nỗi khổ đau của họ...

Một chuyện yêu đương lỡ làng.

- Nhưng còn cặp kính kẹp mũi?

- A!

Tôi chỉ là một nhà trí thức.

Một người chỉ biết nghiên cứu và mơ mộng.

Tôi không có khả năng giải thích những sự việc thực tiễn của đời sống.

Nhưng ít ra chúng ta cũng biết rõ rằng những bằng chứng của tình yêu có thể có những hiện tượng bề ngoài thật lạ lùng.

Dù thế nào đi nữa, xin ông hãy dùng thêm điếu thuốc nữa.

Thật là thích thú khi gặp người biết thưởng thức chúng đến thế.

Một cây quạt, một đôi găng tay, cặp kính đeo mắt...

Ai biết được là một người sắp chấm dứt cuộc sống ràng buộc cho món đồ nào một giá trị tượng trưng?

Ông đây đã xác nhận với tôi là có những dấu chân trên cỏ: dù sao, trên một chi tiết tương tự, một sự nhầm lẫn luôn luôn là điều có thể xảy ra!

Còn về con dao nhíp, nó có thể bị kẻ bất hạnh ném đi, khi anh ta ngã xuống.

Có thể là các ông thấy tôi là ấu trĩ, nhưng cứ theo tôi thấy, thì Willoughby Smith đã tự sát.

Holmes dường như bị ngạc nhiên về cái lý thuyết mà anh vừa nghe.

Anh tiếp tục sải bước trong gian phòng, vừa suy nghĩ vừa hút hết điếu thuốc này sang điếu thuốc khác.

Sau cùng, anh nói:

- Thưa giáo sư, xin cho tôi biết ông cất giữ cái gì trong phần chính giữa bàn giấy ông?

- Chẳng có gì có thể gợi lòng tham của kẻ trộm.

Những giấy tờ của gia đình, những lá thư của bà vợ...

Những bằng cấp mà nhiều viện Đại học đã trao tặng cho tôi.

Đây là chìa khoá, ông hãy tự mình xem lấy.

Holmes đón lấy cái chìa khoá và quan sát nó trong một lát.

Đoạn anh giao trả cho người giữ.

- Không!

Tôi không tin là nó có thể giúp ích cho tôi được điều gì nhiều.

Tôi ưa thích được xuống dưới vườn một cách bình thản để suy nghĩ về tất cả nội vụ, ngõ hầu có thể rút ra được một điều gì từ cái lý thuyết về sự tự sát mà ông đã triển khai.

Tới hai giờ trưa, chúng tôi sẽ quay lại và chúng tôi sẽ tường trình với ông về tất cả những gì có thể xảy ra.

Holmes tập trung tư tưởng một cách lạ lùng.

Chúng tôi im lặng đi bách bộ trong vườn, rồi thì tôi không thể ngăn mình hỏi xem anh có một hướng điều tra nào không.

- Cái đó tuỳ thuộc vào những điếu thuốc lá mà tôi vừa hút.

Có thể là tôi bị lầm.

- Làm thế nào mà...?

- Rồi anh sẽ thấy.

Nếu tôi bị lầm thì cũng chẳng có gì là tai hại lắm.

Đương nhiên, chúng ta vẫn còn cái hướng tiệm kính, nhưng tôi theo những hướng đi tắt, mỗi khi tôi thấy có con đường đó.

A!

Đây là bà Marker tốt bụng.

Chúng ta hãy nói chuyện với bà.

Không đầy hai phút, anh đã chinh phục được người đàn bà này, anh tán chuyện với bà cứ y như anh đã quen biết bà từ nhiều năm qua.

- Vâng, đúng như ông nói đó.

Cụ chủ hút thuốc thật là kinh khủng.

Suốt ngày và đôi khi suốt đêm.

Buổi sáng, tôi đã thấy phòng cụ...

Tội nghiệp ông Smith đáng thương, ông cũng là một người hay hút thuốc nhưng không hút nhiều như giáo sư.

Sức khoẻ của cụ....

Nói thật, tôi không biết là cụ khoẻ hay yếu hơn!

- Nhưng hút thuốc nhiều thì đâu còn ăn ngon miệng được?

- Vậy thì tôi chẳng hiểu gì hết.

- Tôi đoán chừng rằng ông giáo sư ăn ít?

- Ồ, cái đó cũng còn tùy?

- Tôi cam đoan là sáng nay cụ đã không dùng bữa điểm tâm và cụ cũng chẳng ăn thật thà trong bữa, sau những điếu thuốc mà tôi thấy cụ đã hút.

- Ông bị lầm rồi!

Sáng nay, cụ đã ăn rất nhiều, cụ dặn bữa trưa dọn một dĩa lớn món sườn non!

Tôi là người đầu tiên ngạc nhiên, bởi vì kể từ hôm qua, sau lúc tôi trông thấy ông Smith nằm sóng soài trên đất, thì tôi không đụng tới bất cứ nón ăn nào.

Úi cha, thế gian phải có người thế này người thế khác chứ, đúng vậy không?

Cho nên cụ giáo sư đã không vì thế mà ăn mất ngon.

Suốt buổi sáng, chúng tôi đi thơ thẩn trong vườn.

Stanley Hopkins xuống dưới làng để kiểm tra một lời đồn đại về một người đàn bà lạ mặt mà sáng nay lũ trẻ đã trông thấy trên con đường từ Chatham tới.

Về phần Holmes, tôi chưa bao giờ thấy anh thờ ơ trước một vụ như vụ này.

Ngay cả cái tin mà Hopkins đem về cho biết rằng cảnh sát đã thẩm vấn những đứa trẻ và rằng mấy em đó đã trông thấy một người đàn bà có nhận dạng giống hệt với người mà Holmes đã miêu tả, cũng không lôi anh ra khỏi sự lãnh đạm.

Ngược lại, anh dỏng tai lên nghe bà Susan, trong lúc hầu bàn, báo cho anh biết rằng buổi sáng trước ông Smith đã đi ra khỏi nhà và chỉ trở về chừng nửa tiếng đồng hồ trước khi xảy ra thảm trạng.

Bất thình lình, Holmes đứng lên và xem đồng hồ, rồi nói:

- Hai giờ rồi!

Chúng ta phải lên gặp giáo sư.

Ông già vừa dùng xong bữa trưa và cái đĩa đựng thức ăn trống trơn, chứng tỏ sự ngon miệng mà bà Marker đã ghi nhận.

Điếu thuốc lá đang phì phèo trong miệng ông.

Ông đã thay quần áo và ngồi trong ghế bành ở một góc bên ngọn lửa.

- Thế nào, ông Holmes, ông đã làm sáng tỏ được sự bí ẩn được chưa?

Ông đẩy cái hộp thuốc lá lại phía Holmes.

Cùng lúc đó, Holmes cũng duỗi tay ra.

Hai tay của hai người đã làm đổ tung cái hộp.

Trong một lúc lâu, tất cả chúng tôi đều quỳ xuống đất để nhặt những điếu thuốc lá đã văng vào trong những xó góc rất khó tìm.

Khi đứng lên, tôi thấy đôi mắt Holmes long lanh và cặp má anh đã hồng lên: anh đang giương ra lá cờ quyết đấu.

Anh trả lời câu hỏi của ông chủ nhà:

- Có, tôi đã làm sáng tỏ được điều bí ẩn.

Stanley Hopkins và tôi chăm chú nhìn anh với vẻ ngạc nhiên.

Trên những nét khổ hạnh của ông giáo sư có thoáng qua một cái gì như một nét cười ngạo.

- Đúng vậy ư?

Trong vườn à?

- Không, ở đây.

- Ở đây?

Bao giờ?

- Ngay lúc này!

- Chắc chắn là ông đang đùa cợt rồi, vụ này quá nghiêm trọng, nên không hợp với sự đùa cợt.

- Tôi đã rèn và đã thử từng mắt một trong sợi xích của tôi, thưa giáo sư; và tôi tin chắc rằng sợi xích đó vững chắc.

Vì động cơ nào mà giáo sư tuân theo, hoặc giáo sư thủ một vai trò nào trong tấn thảm kịch này, thì tôi chưa có khả năng để nói rõ.

Trong vài phút nữa, chắc chắn là tôi sẽ được nghe chính miệng giáo sư nói ra.

Trong khi chờ đợi, tôi sẽ lặp lại những sự việc theo ý giáo sư, để giáo sư biết là tôi còn cần được chỉ bảo thêm điều nào.

Ngày hôm qua, một người đàn bà đã vào trong văn phòng giáo sư.

Bà ấy đã tới với ý định lấy một số tài liệu ở trong bàn giấy.

Bà ấy có một chìa khoá riêng.

Cái chìa khoá của giáo sư không phải là chiếc chìa khóa đã tạo ra một vết xước trên mặt đánh véc-ni của ổ khóa.

Vậy giáo sư không phải là một tòng phạm.

Bà nọ đã tới để đánh cắp tài liệu của ông và ông không hay biết gì về những ý định của bà ta.

Ông giáo sư thả khỏi cặp môi một đám mây khói thật dày:

- Điều đó cũng lý thú như là bổ ích!

Ông không có gì để thêm vào sao?

Bởi vì ông đã theo dõi người đàn bà tới đó, ông có thể nào cho chúng tôi biết là bà ta đã ra sao không?

- Thoạt đầu, bà ta bị người thư ký của ông tóm bắt và bà ta đã đâm anh ta để bỏ trốn.

Tôi nghiêng về việc coi cái thảm hoạ này như một việc rủi ro, bởi vì tôi tin chắc rằng người đàn bà này không có ý định gây ra một vết thương trầm trọng đến thế.

Nếu là kẻ sát nhân thì họ phải có khí giới.

Kinh hoàng về việc mà bà đã làm, bà bỏ trốn như một người điên.

Nhưng trong lúc giành giật, bà ta bị mất cái kính kẹp mũi.

Vì bị cận thị quá nặng, bà đã đi lầm đường.

Bà đi theo một hành lang mà cứ tưởng rằng đó là hành lang đã đưa bà vào đây.

Cả hai hành lang đều được lót chiếu đan bằng sợi dừa.

Và khi bà nhận ra sự sai lầm thì đã quá muộn và bà hiểu rằng lối rút lui của bà đã bị chặn.

Bà không thể quay gót trở lại.

Bà cũng không thể đứng mãi một chỗ.

Bà phải tiếp tục tiến lên phía trước, tiến lên trong hành lang, leo lên một cầu thang đẩy một cánh cửa ra: bà thấy mình lọt vào trong phòng ông.

Ông già miệng há hốc nhìn Holmes.

Sự sửng sốt và sự sợ hãi trộn lẫn trên gương mặt.

Ông cố gắng buông ra một tràng cười lớn và nhún nhường.

- Hoàn hảo, thưa ông thầy bói!

Nhưng rất lấy làm tiếc, bên trong cái "mu rùa" của ông có một khuyết tật nhỏ: tôi ở trong phòng này suốt cả ngày.

- Tôi biết điều đó, thưa giáo sư.

- Holmes đáp.

- Và ông muốn hỏi vì sao tôi nằm ở đây mà không nhận thấy người đàn bà đã bước vào phòng tôi?

- Giáo sư đã nói chuyện với người đàn bà đó.

Ngài đã nhận ra bà ta.

Ngài đã giúp bà ta ẩn mặt.

Lần nữa, ông giáo sư lại phá ra cười.

Ông đã đứng hẳn lên.

Đôi mắt lấp lánh như hai cục than hồng, kêu lớn lên:

- Ông Sherlock Holmes, ông điên rồi!

Ông nói toàn những điều tầm bậy tầm bạ!

Tôi mà lại giúp cho bà ta trốn thoát ư?

Thế thì bây giờ bà ta ở đâu?

- Bà ấy ở đây này!

- Holmes nói, tay chỉ vào một tủ sách cao kê trong một góc phòng.

Tôi thấy ông già giơ hai cánh tay lên.

Một sự co giật kinh khủng làm cho mặt ông ta biến dạng.

Ông buông mình xuống ghế bành.

Cùng lúc đó, cái tủ sách mở tung và một người đàn bà từ bên trong vọt ra.

- Ông đã có lý!

- Bà ta kêu lên với một âm tiết xa lạ - Ông đã nói đúng!

Tôi đây!

Mặt bà dơ dáy.

Nhưng, trông bà ta có một cái gì đó nó toát lên sự kính trọng và sự cảm phục!

Stanley Hopkins đã đặt một bàn tay lên cánh tay bà ta và bắt giữ bà, nhưng bà gạt anh ta ra một cách nhẹ nhàng với vẻ mặt nghiêm khắc khác thường.

Ông già ngồi khuỵu xuống trong ghế bành, nhìn bà với đôi mắt tuyệt vọng.

Bà già nói:

- Thưa ông, tôi là tù nhân của ông!

Từ chỗ ẩn nấp, tôi đã nghe tất cả và tôi biết là quý ông đã hiểu được sự thật.

Chính tôi đã giết chàng trai đó.

Nhưng như ông đã nói, đó là do rủi ro.

Tôi còn không biết là trong tay mình có một con dao, bởi vì trong tuyệt vọng, tôi đã chốp lấy vật đầu tiên mà tôi thấy trên bàn.

- Thưa bà, tôi tin chắc sự việc là như vậy.

Tôi thấy bà không được khoẻ trong người.

Bà ta đã tái xanh, dưới lớp bụi bặm, mặt bà trắng bệch.

Bà ngồi xuống trên mép giường, trở lại bình tĩnh:

- Tôi chỉ còn có một chút thời gian.

Nhưng tôi muốn cho quý ông biết rõ sự thật.

Tôi là vợ của người đàn ông này.

Ông ta không phải là người Anh.

Ông ta là người Nga.

Nhưng tôi sẽ không nói tên ông ta.

Lần đầu tiên ông già cựa quậy, kêu lên:

- Chúa sẽ ban phước lành cho em, Anna!

Bà nhìn ông, khinh bỉ:

- Tại sao phải bám víu cuộc đời khốn khổ hả Sergey.

Nó đã làm hại những người tốt, chứ đâu chỉ riêng ông?

Tôi không làm thay đổi được gì, nhưng tôi đã có được sự thanh thản khi tôi bắt đầu bước quá ngưỡng cửa của cái nhà đáng ghét này.

Nhưng tôi sẽ nói hoặc sẽ là quá muộn.

Tôi chính là vợ của người đàn ông này.

Khi chúng tôi lấy nhau, ông ta đã 50 tuổi, còn tôi là một thiếu nữ xuẩn ngốc.

Chuyện đó xảy ra bên nước Nga, trong một trường đại học...

Mà tôi sẽ không nêu tên ra!

- Chúa ban phước lành cho em, Anna!

- Lão già lặp lại trong một tiếng thì thầm.

- Lúc đó, chúng tôi là những nhà cách mạng: ông ấy, tôi và nhiều người khác nữa.

Khi một sĩ quan cảnh sát đã bị giết chết thì liền đó có nhiều vụ bắt bớ.

Để cứu mạng mình và để lĩnh một món tiền thưởng lớn, chồng tôi đã phản bội ngay chính vợ mình và các đồng chí của mình.

Vậy là tất cả chúng tôi đã bị bắt theo sự chỉ điểm của chồng tôi.

Một vài người trong chúng tôi bị đưa lên đoạn đầu đài và nhiều người khác bị đày sang Sibérie.

Tôi ở trong đám những người đó, nhưng tôi không bị tù chung thân.

Chồng tôi tới định cư tại nước Anh với số tiền dơ bẩn.

Nhưng ông ta biết rõ rằng nếu tổ chức của chúng tôi biết nơi cư trú của ông thì công lý sẽ được thực thi ngay.

Ông lão vươn tay ra, rút lấy một điếu thuốc:

- Em tùy ý sử dụng số phận đời anh đó, Anna!

Em luôn luôn tốt với anh mà!

- Trong số các đồng chí thuộc tổ chức, có một người đã từng là bạn trai tôi.

Anh ấy cao thượng, vô tư và gắn bó: tất cả những cái mà chồng tôi không được như thế.

Anh ấy ghét bỏ bạo lực.

Anh ấy đã viết thư cho tôi để thuyết phục tôi đứng về "phe ôn hòa".

Chồng tôi đánh cắp lấy những lá thư của anh ấy và cuốn sổ nhật ký của tôi.

Ông đã đem giấu chúng đi, tìm cách làm cho chàng trai đó bị xử bắn.

Nhưng Alexey chỉ bị lưu đầy sang Sibérie, hiện đang lao động trong một hầm muối.

Hãy nghĩ tới việc đó, tên hèn nhát!

Ngày hôm nay, vào cái giờ mà ta đang nói đây, con người cao đẹp kia đang sống như một nô lệ.

Còn ta, ta là người nắm giữ mệnh mi trong tay, thế mà ta lại để cho mi được sống.

- Em luôn luôn là một tâm hồn cao thượng, Anna!

- Lão già kêu lên, khi rít trên điếu thuốc lá.

Bà đứng lên, nhưng lại ngã về phía sau với một tiếng kêu đau đớn nhỏ:

- Tôi cần phải nói cho xong.

Khi mãn hạn tù, tôi bắt đầu đi tìm cuốn sổ tay và những lá thư mà một khi nó tới được chính phủ Nga, chắc chắn anh ấy sẽ được trả tự do.

Tôi đã biết lão già này sang nước Anh.

Sau nhiều tháng truy lùng, tôi tìm ra nơi trốn tránh của y.

Tôi đã biết là y vẫn còn giữ cuốn sổ tay, bởi vì trong lúc tôi còn bị lưu đày ở Sibérie, tôi đã nhận được một lá thư của y đầy những lời trách móc và những câu trích dẫn rút ra từ trong cuốn nhật ký.

Nhưng y là một người hèn hạ, chắc sẽ không trả lại cho tôi.

Vậy thì tôi phải đích thân đi lấy lại thôi.

Với mục đích đó, tôi thuê một thám tử tư vào trong nhà này làm thư ký riêng.

Đó là người thư ký thứ hai của mi đó, tên tồi?

Cái người đã rời bỏ mi thật vội vã.

Anh ta đã biết những giấy tờ đó được cất giữ trong phần giữa của bàn giấy mi và anh đã lấy cái dấu chìa khoá.

Anh ta không muốn đi xa hơn.

Anh ta thông báo cho ta biết sơ đồ căn nhà và bảo ta rằng buổi sáng, trước lúc giữa trưa, văn phòng luôn luôn trống vắng vì người thư ký sẽ phải làm việc tại trong phòng này cùng với mi.

Tôi đã thu hết can đảm đi lấy lại cuốn sổ.

Tôi vừa lấy lại được những giấy tờ và đóng cái tủ lại thì người thanh niên nắm lấy tay tôi.

Tôi đã từng gặp anh ta buổi sáng.

Chúng tôi đã gặp nhau trên đường và tôi đã xin anh cho biết giáo sư ở đâu.

Lúc đó tôi không biết anh ta làm việc ở đây.

- Đúng thế!

- Holmes nói - Người thư ký đã quay về nhà và đã nói với ông chủ về người đàn bà mà anh vừa gặp.

Rồi thì, trong hơi thở sau cùng, anh đã cố đưa tin rằng chính bà là người đàn bà mà anh ta vừa nói với ông chủ.

- Hãy để cho tôi nói hết!

- Bà ta nói với một giọng khẩn thiết trong lúc mặt bà co lại một cách đau đớn - Tôi vùng vẫy và anh ta ngã xuống, lập tức tôi vội chạy ra khỏi phòng, nhưng tôi đã đi lạc vào trong phòng của tên hèn này.

Y đe doạ là sẽ tố giác tôi.

Tôi nói nếu y làm thế, mạng sống của y sẽ bị chấm dứt.

Nếu y bỏ rơi tôi lại cho luật pháp thì tôi sẽ bỏ rơi y cho tổ chức.

Y buộc lòng phải che chở cho tôi.

Y ném tôi vào trong cái chỗ trốn lánh tối tăm này.

Y dùng bữa trưa trong phòng, ngõ hầu có thể nuôi tôi.

Y thoả thuận rằng khi cảnh sát rời khỏi nhà, thì y sẽ để cho tôi trốn đi trong ban đêm với điều kiện là tôi không trở lại nữa.

Nhưng ông Holmes đã ngăn trở dự định của chúng tôi...

Bà rút từ trong vạt áo ra một gói nhỏ và nói thêm:

-...

Và giờ đây, đây là cái sẽ cứu Alexey.

Tôi xin gởi gắm gói này vào lòng tôn trọng danh dự và lòng yêu công lý của ông.

Hãy cầm lấy, và trao lại cho toà Đại sứ nước Nga.

Giờ đây, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, và...

- Ngừng lại!

-Holmes kêu lên.

Anh đã nhảy chồm tới và giật ra một cái lọ nhỏ.

-Muộn quá rồi!

- Bà thì thầm khi lăn xuống giường - Quá muộn rồi!

Tôi đã uống thuốc độc trước khi ra khỏi nơi trú ẩn.

Đầu tôi quay cuồng!

Tôi chết đây!

Hãy nhớ đến cái gói.

Trên đường về London, Holmes giải thích cho chúng tôi biết rằng nếu chàng trai không tóm bắt được cái kính kẹp mũi thì không biết bao giờ chúng tôi mới tìm ra đáp số.

Anh nói:

- Nhìn những tròng kính, tôi biết chủ cặp kính bị cận thị nặng, như thế khi mất kính thì bà ta dễ lạc đường.

Khi anh bảo tôi hãy tin là bà đã đi trên một dải cỏ hẹp mà không để lại dấu chân, tôi trả lời rằng việc đó hẳn là một kỳ tích.

Tôi thật sự nghĩ rằng kỳ tích đó không thể nào thực hiện nổi; nếu không, thì bà ta phải có một cặp kính thứ hai.

Vậy là tôi phải xem xét nghiêm túc cái giả thiết theo đó bà ta chưa ra khỏi nhà.

Khi nhận thấy hai dãy hành lang giống hệt nhau, tôi nghi bà có thể bị lầm đường và trong trường hợp này bà đã vào phòng ông giáo sư.

Do đó tôi đi theo giả thiết này.

Tôi đã kiểm tra rất kỹ căn phòng khi hy vọng tìm ra một nơi trú ẩn.

Tấm thảm được chải kỹ và liền một tấm nên tôi đã bỏ ý nghĩ về một cánh cửa mở xuống hầm.

Có thể có một nơi kín đáo đằng sau các cuốn sách.

Như các anh đều biết, điều đó thường gặp trong những thư viện xưa.

Mặt khác, tôi thấy những cuốn sách được xếp thành đống trên sàn gác, ngoại trừ trước một tủ sách.

Sự dọn dẹp gọn ghẽ đó có thể tạo ra một lối đi vào.

Tôi không thấy một dấu vết nào để hướng dẫn tôi, nhưng tấm thảm màu sẫm nên tôi đã hút thật nhiều thuốc lá rồi vung vẩy tàn thuốc xuống trước cái tủ sách bị nghi ngờ.

Đó là một mánh khoé đơn giản nhưng lại tỏ ra hữu hiệu.

Tôi đi xuống dưới nhà, tìm cách thu thập tin tức.

Thật may bà giúp việc cho tôi biết giáo sư đã ăn rất nhiều, đó là điều phải nghi ngờ trong trường hợp ông nuôi một người thứ hai.

Sau đó chúng ta lên phòng và sau khi lật đổ cái hộp đựng thuốc lá, tôi có cơ hội khám xét cái sàn ván.

Lúc đó, căn cứ theo những dấu vết để lại trên tàn thuốc lá, tôi nhận thấy rõ, rằng trong lúc chúng ta vắng mặt, người nữ tù đã ra khỏi nơi trú ẩn...

Vậy thì, Hopkins, chúng ta đã tới ga công trường Charing Cross và tôi có lời khen anh đã thành công trong vụ án này.

Chắc hẳn là anh về Scotland Yard?

Này Watson, về phần chúng ta, chúng ta hãy thuê xe ngựa đi tới toà đại sứ Nga.

Hết
 
Back
Top Bottom