Cập nhật mới

Tiểu Thuyết [QUYỂN THƯỢNG+HẠ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh

[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 119: Từng biết


Tiêu Trì Dã nói: "Rửa tai xin nghe."

Thẩm Trạch Xuyên bị hắn ôm nóng quá, mồ hôi hơi rịn ra chút, y nói: "Chuyện cởi áo tháo đai lưng mà nói ra thì còn gì là thú vị."

Tiêu Trì Dã nắm ngược lại ngón tay đang muốn chạy trốn của Thẩm Trạch Xuyên, cười một chốc rồi hỏi: "Nói ra không thú vị?

Vậy ngươi nghe nhé, ta nói cho."

Thẩm Trạch Xuyên lại nhìn xuống sổ.

Tiêu Trì Dã nắm ngón tay Thẩm Trạch Xuyên, cũng nhìn sổ cùng y: "Ta còn chưa nói mà, sao lại đã nóng rồi?"

Thẩm Trạch Xuyên liếc Tiêu Trì Dã, lặng lẽ làm khẩu hình: Tại ngươi đấy.

Tiêu Trì Dã nhìn Thẩm Trạch Xuyên thật lâu, thế rồi hắn bỗng cúi xuống vùi mặt vào gáy Thẩm Trạch Xuyên.

Hết thảy những cảm xúc vừa rồi đã bị dáng hình của Thẩm Trạch Xuyên hòa tan ra thành nước, chúng chảy dọc theo lồng ngực Tiêu Trì Dã, rồi lan đi khắp cả người Tiêu Trì Dã, biến thành một dòng chảy xiết sục sôi khác.

Nhưng dẫu cho bên trong hắn sóng cả có đang cuồn cuộn đến đâu, khi ôm Thẩm Trạch Xuyên, dù chỉ dùng nhiều lực hơn một xíu thôi hắn cũng không dám.

Phát đạp ấy nằm lặng lẽ qua những năm tháng ở Khuất đô, theo dòng chảy của thời gian, quỷ quyệt biến thành từng cơn đau sau mỗi lần động tình của Tiêu Trì Dã.

Yêu hận vẩn đục đã được gột rửa trong cơn mưa tầm tã, hóa thành hồ nước trong thấu đáy.

Tiêu Trì Dã thu lại mũi nhọn trồi lên, cúi đầu thần phục trước hai chữ "tình ái".

Thẩm Trạch Xuyên buông tay ra, sau đó lại đan mười ngón tay vào tay Tiêu Trì Dã.

Y nghiêng đầu cụng nhẹ vào đầu Tiêu Trì Dã đang bất động, hỏi: "Ngủ rồi à?"

Tiêu Trì Dã ngẩng đầu lên, giọng hơi khàn: "Ta yêu ngươi lắm."

Thẩm Trạch Xuyên khẽ giật mình.

Tiêu Trì Dã nhìn y, lặp lại từng chữ một: "Ta yêu ngươi lắm."

Thẩm Trạch Xuyên run lên trong phút chốc, y nói: "Ta—"

Tiêu Trì Dã không chờ được nữa, hắn nghiêng đầu hôn Thẩm Trạch Xuyên, hôn ngấu nghiến như thể muốn trao hết tình yêu không thể biểu đạt bằng lời trong lồng ngực cho Thẩm Trạch Xuyên.

Cơn gió mát trong sân đình lay động màn trúc, bóng hoa trong nắng đổ dài dưới hiên.

Ánh dương vàng rực xuyên qua vật cản, tiến vào rải đầy một khoảnh sân.

***

Trường săn Bắc Nguyên cách Từ châu không xa, lại còn thông với đường cái nên Lãng Đào Tuyết Khâm chạy nửa ngày là đến.

Hôm sau Tiêu Trì Dã dẫn Thần Dương và Đinh Đào đi xem đất, Thẩm Trạch Xuyên đã chỉnh lý xong sổ sách Từ châu trong khoảng thời gian này, đưa ra một ít sửa đổi trong chuyện quân phòng vệ Từ châu cùng với Chu Quế và Khổng Lĩnh.

"Tuy cũng nghĩ là sẽ có không ít người đến ghi danh, nhưng không ngờ lại nhiều đến vậy!"

Chu Quế phấn khởi ra mặt, "thế này thì sang năm có thể mở rộng phạm vi khai khẩn rồi."

"Bên ngoài thiếu lương thực, mà Từ châu thì có thể cung cấp, đối với rất nhiều người đang rơi vào cảnh cùng đường khốn khó thì đó chính là đưa than ngày tuyết, không chỉ giải quyết vấn đề cấp bách cho bọn họ mà còn tránh cho bọn họ khỏi phải lên rừng làm thổ phỉ."

Khổng Lĩnh cũng không giấu nổi sự vui mừng, ông bảo Thẩm Trạch Xuyên, "Chuyện quân bị phải làm phiền đồng tri rồi."

"Ta trông tình hình thế này chỉ sang năm sau là Từ châu sẽ hết nạn thổ phỉ thôi."

Chu Quế đã thức trắng cả đêm qua để trù tính một đống thứ, "Nếu chúng ta có thể giải quyết vấn đề hộ cả hai châu Đôn, Đoan nữa thì thổ phỉ núi Lạc sẽ tự động sụp đổ."

"Việc chiêu mộ đã đạt được hiệu quả ban đầu, nhưng đại nhân cũng không thể chỉ dựa vào mỗi nó được.

Từ châu gánh nổi lượng lương thực lớn đến vậy là bởi vì từ trên xuống dưới Từ châu đều đồng tâm hiệp lực trong suốt năm năm qua.

Đoan châu ở gần Biên Sa, dù bọn họ có muốn tập trung khai khẩn cũng không được."

Thẩm Trạch Xuyên còn tính đến cả những phương diện khác, "Huống hồ bây giờ ngai vàng còn đang bỏ trống, thời loạn dễ sinh kiêu hùng nhất, núi Lạc có Lôi Kinh Chập, chắc gì Trà châu đã không có.

Từ châu chỉ mới tập tễnh những bước đầu thôi mà, chưa cần phải vội làm gì."

"Đúng thế," Khổng Lĩnh gật đầu, "ưu tiên hiện giờ là giải quyết vấn đề hộ tịch, nhiều người là dân chạy đến từ vùng khác, không mang theo giấy tờ chứng minh, nếu muốn thường trú ở Từ châu thì phải có thân phận."

Thẩm Trạch Xuyên thoáng im lặng một chốc, rồi nói: "Thời Vĩnh Nghi, Đông Cung cật lực thúc đẩy nhập tịch hoàng sách, đã được các tầng lớp châu phủ, tri huyện, thôn trấn các nơi kiểm tra đối chiếu.

Nay Từ châu thưa dân, đã thoát khỏi sự kiểm soát của Đại Chu rồi thì có thể xóa bỏ ba bộ sách tịch ban đầu, Từ châu tự mình phân hộ tịch mới, vẫn cấm dân lang bạt vào thành.

Chừng nào sách tịch đã được chứng thực thì Từ châu có thể dựa vào đó để thu thuế, các khoản chi thu về sau cũng sẽ minh bạch hơn."

"Nếu thế mấy hôm nay có thể bắt tay vào làm luôn," Chu Quế hơi dừng lại, nói, "giờ chỉ lo quân phòng vệ Khải Đông thôi."

"Lâu thế rồi," Khổng Lĩnh cũng nói, "mà sao chẳng nghe được một tí tin tức gì về Khải Đông nhỉ?"

Thẩm Trạch Xuyên cũng đã nhận ra vài điều trong lúc chờ đợi.

Nếu Khuất đô muốn ngăn Tiêu Trì Dã về Ly Bắc thì chỉ cần lập tức điều Thích Trúc Âm đi là có thể chặn đường Tiêu Trì Dã ở biên giới Trung Bác một tháng trước.

Nhưng Khuất đô lại không làm thế, bọn họ thả một tên Hàn Cận chỉ biết đánh trận trên giấy ra, tên con đích này của Hàn gia bị cấm quân bắt làm tù binh ở ngoài thành Đan, giờ hẵng còn đang giam trong ngục.

Theo cách phân chia của năm quận Khải Đông thì lẽ ra chỉ trong vòng nửa tháng là Thích Trúc Âm đã triệu tập được mười vạn quân rồi, thế mà đến tận bây giờ nàng vẫn chưa đến.

Lúc Thẩm Trạch Xuyên rời Chu phủ, trời đã sẩm tối.

Y tính thời gian, chắc Tiêu Trì Dã vẫn đang trên đường về thành nên cũng không vội về nhà ngay.

Lúc bước xuống thềm thấy trước mặt sáng choang, Phí Thịnh cầm đèn lồng soi đường cho Thẩm Trạch Xuyên.

Thẩm Trạch Xuyên bận suốt mấy hôm nay nên chưa nói chuyện với Phí Thịnh lần nào.

Ngày nào Phí Thịnh cũng ra sức làm thân với đám Thần Dương, chịu khó bưng trà rót nước cho Kỷ Cương thì thôi rồi.

Tên này là một tay lão luyện lăn ra từ trong Khuất đô, hắn xăng xái cầm đèn lồng cho Thẩm Trạch Xuyên, lúc đi đường cũng không mở miệng cắt ngang mạch suy nghĩ của Thẩm Trạch Xuyên, nhìn bề ngoài cứ như kiểu chỉ cần được xách đèn lồng cho Thẩm Trạch Xuyên đã là đủ thỏa mãn rồi.

Trên đường có vài người, Phí Thịnh đang cẩn thận dẫn đường thì bỗng nghe thấy Thẩm Trạch Xuyên cất tiếng: "Sáng nay Hầu gia ra ngoài, nghe nói ngươi cũng tự tiến cử."

Phí Thịnh bình tĩnh đáp: "Tôi thấy vết thương của Cốt Tân chưa lành nên định đi theo Hầu gia thay hắn chuyến này."

Thẩm Trạch Xuyên nhìn đường, không nói gì nữa.

Về đến trạch thì Kiều Thiên Nhai nhận lấy đèn lồng.

Trong sân còn có cả Cốt Tân, chưa đến lượt trực của Phí Thịnh nên hắn tự giác đi về.

"Chủ tử lạnh nhạt với hắn," Kiều Thiên Nhai nói, "chỉ sợ hắn hiểu ý rồi lại đâm oán giận thôi."

Thẩm Trạch Xuyên ngoái đầu lại lúc bước vào hành lang dài, thấy Phí Thịnh ở đằng kia đã bước vào trong cửa, y nói: "Ta muốn dùng hắn, nhưng chưa chắc hắn đã để ý đến ta.

Phẩm hàm của hắn trong Cẩm y vệ cao hơn ngươi, Hàn Thừa coi như là cây đại thụ chống lưng của hắn.

Trước khi tiên đế đột ngột qua đời, hắn vẫn là cánh tay đắc lực của Hàn Thừa, Hàn Thừa muốn giết hắn ắt phải có lý do, mà cái lý do này, hắn đến Từ châu cũng được vài ngày rồi mà mãi vẫn không có ý định nói cho ta."

Thẩm Trạch Xuyên đứng lại, nở một nụ cười với Kiều Thiên Nhai.

"Ở Khuất đô hắn dám chơi liều đánh cược vốn chẳng phải hướng về phía ta, mà là hướng về phía Sách An.

Sách An là con thứ của Ly Bắc vương, lúc đó thế tử bị trọng thương, người ngoài ai cũng nghĩ Sách An trở về là để thế chỗ Tiêu Phương Húc.

Phí Thịnh đã sinh xích mích với Hàn Thừa, thay vì thỏa hiệp thì thà rời Khuất đô luôn còn hơn, đến Ly Bắc tìm một con đường khác.

Cái thân phận ân nhân cứu mạng này cũng đủ để hắn sống yên ổn ở Ly Bắc."

Kiều Thiên Nhai có biết chút ít về Phí Thịnh, hắn nói: "Giờ Cốt Tân bị thương bất tiện, hôm nay hắn tự tiến cử chính là vì muốn thế chỗ Cốt Tân.

Tiếc là Hầu gia cứng rắn nên mới không chịu cho hắn cơ hội ấy."

Nhưng Phí Thịnh đã tính toán cả rồi, hắn ân cần như vậy với Kỷ Cương chính là để chừa lại một đường lui cho mình.

Hôm nay hắn tự tiến cử cũng chỉ để thử mà thôi, hắn đã hiểu ý của Tiêu Trì Dã rồi nên mới chuyển đối tượng sang Thẩm Trạch Xuyên.

"Tên này có tài thật," Thẩm Trạch Xuyên nói, "cũng phải ngang ngửa Cốt Tân, nếu bỏ đi không dùng thì phí lắm."

Vừa đi vừa nói, bọn họ đã đến sân đình, Cốt Tân đang định bảo người mang đồ ăn lên thì Thẩm Trạch Xuyên bảo hắn từ từ.

"Về ngay bây giờ thôi," Thẩm Trạch Xuyên quay lại, "ngươi ra cửa đón đi."

Nào ngờ đi nguyên nửa buổi đêm mà mãi chưa thấy Tiêu Trì Dã về.

Thẩm Trạch Xuyên vẫn chưa ngủ, đến lúc nến đã cháy hết một nửa mới nghe thấy động tĩnh ở trước nhà.

Tiêu Trì Dã sải bước vào trong nhưng không vào nhà ngay.

Người hắn đang đầy bụi bặm nên đứng luôn trong sân cởi áo ngoài, quay lại nhìn người đằng sau lưng, nhưng miệng thì lại gọi: "Lan Chu."

Ánh mắt Thẩm Trạch Xuyên băng qua vai Tiêu Trì Dã, thấy Thần Dương và Cốt Tân đang dìu một người đi vào.

Sân không đủ sáng, Thẩm Trạch Xuyên không nhìn ra được người kia là ai.

Áo choàng của người này bị xé nham nhở, ống quần bên dưới cũng thủng lỗ chỗ, mang một đôi giày cỏ đã rách bươm, chân bê bết bùn.

Người nọ đứng không vững mà phải dựa hẳn vào Thần Dương và Cốt Tân, miệng thì lảm nhảm mê sảng gì đó.

Đầu tóc bù xù, nhếch nhác không tả nổi.

Thẩm Trạch Xuyên gắng nhìn qua ánh sáng yếu ớt, thế rồi thoắt cái, y chợt nghĩ tới điều gì đó, bèn hỏi: "Dư đại nhân?"

Người kia run lên, giãy giụa mấy cái rồi bàng hoàng bước về phía trước trong ánh đèn tù mù.

Hai mắt hắn lộ ra qua mái đầu rối nùi, trông thấy Thẩm Trạch Xuyên, hắn sửng sốt mất một lúc lâu, sau đó nuốt nước bọt mấy lần, mấp máy môi, rồi bất chợt khóc rống lên.

"Mệt chết ông rồi!"

Dư Tiểu Tái khóc lạc cả giọng, hắn hùng hục lau mặt gào lên, "đồng tri!

Nguyên phụ không còn!

Ta cũng muốn chết lắm!

Đi đâu cũng phải trốn chui trốn nhủi.

Sống thôi mà sao khổ quá vậy!"

Thẩm Trạch Xuyên ngỡ ngàng, y bước tới, trầm giọng hỏi: "Sao Hải các lão lại không còn?"

Tiếng nghẹn ngào tắc nghẹn trong họng Dư Tiểu Tái, hắn muốn đáp, nhưng chỉ có tiếng khóc bật ra.

Hắn khóc đến xé ruột gan, gần như ngã vật ra đất, đầu lắc nguầy nguậy, cuối cùng từ trong cơn đau đớn vật vã, hắn mới khản giọng nói bằng giọng phổ thông: "Nguyên phụ...

Nguyên phụ tử gián vô ích..."

"Dẫn hắn đi cho hắn bình phục một lát đã, thay đồ mới cho hắn."

Tiêu Trì Dã bình tĩnh nói, "Cốt Tân đến nhà bếp bảo bưng ít canh đến đây."

Tiếng khóc thê lương ấy lởn vởn mãi chẳng hề tiêu tan, Thẩm Trạch Xuyên đứng chôn chân ở nơi ấy.

Dẫu y có dự đoán cả trăm nghìn điều cũng không thể đoán được Hải Lương Nghi sẽ chết.

Hải Lương Nghi là châm thần định hải của Khuất đô, năm đó hai đảng Hoa, Phan quyền lực ngập trời đến vậy mà ông vẫn có thể ngồi vững vàng trong nội các.

Nay Lý Kiến Hằng vừa mới chết, cho dù Hàn Thừa có muốn nâng đỡ con cháu nhà mình lên thì Hải Lương Nghi cũng nên là người đầu tiên cho vị trí đại thần thác cô cả trong lẫn ngoài triều dã.

Tiêu Trì Dã đỡ cánh tay Thẩm Trạch Xuyên, để y hoàn hồn lại từ cơn thẫn thờ.

Tiêu Trì Dã nói: "Ta tìm thấy hắn trong đám thổ phỉ ngoài phía Tây trường săn, khó khăn lắm hắn mới chạy thoát khỏi Khuất đô, sau khi chạy khỏi thành Đan thì bị thổ phỉ cướp nên phải đi bộ chân đất về Từ châu.

Hắn có mang một bức thư theo người, là Sầm Dũ gửi ngươi.

Hắn biết tin tức Khuất đô và cả tin tức Khải đông."

***

Vào nhà rồi mà Dư Tiểu Tái vẫn còn cần người đỡ.

Hắn đói lả cả người, chưa kể chuyện vội, ôm bát cơm ăn hùng hục như hổ đói đã.

Hắn ăn mà nước mắt hẵng còn chảy, ăn mà cứ như ăn cướp, để rồi bị nghẹn ho khù khụ.

Đến lúc cơn đói hơi dịu xuống, hắn mới lấy khăn sạch đắp lên mặt, lau một lúc.

"Còn may mắn sống để mà gặp được đồng tri.

Thư của Sầm đại nhân ở trong ngực áo ta đây, ta giữ khư khư bên mình suốt đường đi đấy, sợ bị thổ phỉ cướp."

Dư Tiểu Tái quỳ xuống, chật vật cất lời, "Trước khi kể lại mọi chuyện, ta phải báo cho hai vị trước, tân đế sắp lên ngôi là nữ."
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 120: Đô sự


Trong triều đình không có chỗ cho nữ nhân.

Đạo trời xua các nàng vào khuê các, trở thành những món đồ dễ vỡ trong hồng lâu tiểu viện, nhận được tất cả sự bảo vệ cưng chiều từ vua tôi cha con, đến lúc gả đi chính là những bình sứ bị định giá rồi chuyền tay từ nơi này đến nơi khác, chẳng cần chi cái chí đầu đội trời chân đạp đất.

Thái hậu Hoa Hạc Vĩ có xuất thân danh giá, bà là con gái của quý môn Hoa gia, trước tuổi cập kê chưa từng thấy bầu trời ngoài kia, sau tuổi cập kê vẫn chỉ ở sâu trong tường viện.

Từ tay chồng bà giành được thứ quyền lực bực nhất thế gian này, ấy nhưng bà không hề bước qua lằn ranh ấy, mà lại buông rèm châu, cẩn thận ngồi ngay ngắn đằng sau nó.

Đại soái Thích Trúc Âm cũng xuất thân danh giá chẳng kém, nàng là con gái của nhà tướng Thích gia, trước khi ra trận cũng đã được định sẵn một tấm chồng, sau khi ra trận lại chẳng ai dám lấy.

Không nhận được phần thưởng nào xứng đáng, chỉ có nhượng bộ trước đài ngọc long, bộ Lễ bảo nàng không xứng được hưởng đặc quyền thờ cúng trong miếu đường sau khi qua đời, cái tên Thích Trúc Âm mãi bị trói buộc với đứa con gái nhỏ ở Khải Đông.

Chỉ cần đám con trai của Thích Thời Vũ vẫn còn cố tranh giành, chức đại soái binh mã vẫn sẽ không đến lượt nàng.

Ban đầu Tiết Tu Trác không có ý định nâng đỡ Linh Đình, lúc hắn biết hoàng tự là nữ, nỗi thất vọng cùng cực đã khiến hắn thay đổi chiến lược ngay tức thì.

Song đến lúc nhìn thấy Linh Đình, hắn lại đổi ý.

Bởi vì Linh Đình quá giống Quang Thành đế.

Chỉ cần là lão thần có tuổi đã từng gặp qua Quang Thành đế, liếc mắt một cái là có thể nhìn ra ngay xuất thân của Linh Đình — đây là đứa con riêng sinh ra từ loạn luân trong Lý thị.

Thời Vĩnh Nghi, Đông Cung sụp đổ, lý do duy nhất Quang Thành đế rời cung chính là để thăm Tần vương bị bệnh, và cả người vợ không có sức phản kháng, xinh đẹp như hoa của Tần vương.

Trong những năm Vĩnh Nghi về sau, Quang Thành đế không sủng ái phi tần nào, sau khi ông ngã bệnh, Hoa Hạc Vĩ thân là Hoàng hậu đã lập tức độc chiếm tiền triều và hậu cung, ngăn không cho ông sinh thêm hoàng tự.

Giữa muôn vàn lớp tường vây trùng trùng điệp điệp, Quang Thành đế đặt ánh mắt lên người con dâu.

Tiếc thay, Tần vương phi lại sinh con gái.

Quang Thành đế tựa như một con sư tử già kiệt quệ, sau khi hay tin này, đến cả mí mắt ông còn không nâng, hùng tâm tráng chí hoàn toàn đoạn tuyệt.

Không biết Tần vương có nghe được gì trong phủ hay không mà chẳng bấy lâu sau bệnh chết, trước khi chết đã vứt Linh Đình ra khỏi Khuất đô, nhưng dường như phận nàng đã định, lại được Hương Vân nhặt về.

Lúc Tiết Tu Trác mới tìm thấy Linh Đình, phong thái cử chỉ của nàng cục mịch thô tục, đã mười mấy tuổi đầu rồi.

Tiết Tu Trác muốn kéo nàng về lại vị trí hoàng tự, nếu không có quyết tâm lột xác thì chắc chắn sẽ không làm được.

Hồi đầu rất khó, nàng đã lãng phí mất quá nhiều thời gian ở phường Hương Vân, phải xóa cho kỳ hết những dấu vết thừa thãi ấy, nếu chính bản thân nàng không đủ kiên định thì Tiết Tu Trác có năng lực thông thiên đi chăng nữa cũng không làm được.

Nhưng Linh Đình lại từng bước một tự "uốn nắn" bản thân.

Nàng cạo đi từng tí từng tí những thứ tục tằn phù phiếm trên người mình, hồi đầu không biết nhiêu chữ nên nàng thức trắng đêm khổ học, nét bút không đẹp sẽ dùi mài luyện tập không kể ngày đêm.

Ngỡ như nàng là hơi sức cuối cùng mà ông trời để lại cho giang sơn Lý thị, để trong cái thế cục lụn bại ấy, Tiết Tu Trác thấy được một tia sáng mong manh.

Mấy tháng trước, mưa phùn ẩm thấp giăng khắp cây hợp hoan, khi Tề Huệ Liên cự tuyệt Tiết Tu Trác trên gác, Linh Đình đang ngồi ngay ngắn ở bàn viết chữ.

Nàng ghì bút mạnh đến nỗi như thể sắp viết rách cả tờ giấy.

Linh Đình viết xong, nghiêng đầu nhìn cơn mưa đang tí tách nhỏ giọt.

Nàng nhìn hồi lâu, mặt không cảm xúc.

Chốc lát sau Tiết Tu Trác đến dùng cơm với Linh Đình, nàng ngồi ở ghế dưới, ăn rất chuẩn phép tắc.

Tiết Tu Trác đặt nặng việc im lặng trong bữa ăn, trước nay bọn họ không bao giờ nói chuyện khi ăn.

Ăn xong thì hắn kiểm tra bài Linh Đình, đây là việc ưu tiên mỗi ngày, Linh Đình phải trả lời rành mạch lưu loát.

Tiết Tu Trác không đánh mắng nàng, nhưng lại nghiêm khắc hơn bất kỳ ai.

"Tiên sinh," Linh Đình cúi đầu im lặng một lát mới hỏi, "ta phải đổi tiên sinh sao?"

Tiết Tu Trác xếp lại sách, nói điềm nhiên: "Chuyện này ngươi không cần lo."

Linh Đình không nói gì, nàng chống người, nghe thấy Tiết Tu Trác đứng dậy đi ra ngoài cửa.

Nàng bỗng quay sang nhìn Tiết Tu Trác, hỏi một câu: "Bởi vì ta là con gái ư?"

Tiết Tu Trác dừng bước, quay lại, cũng nhìn Linh Đình.

Ánh mắt của Linh Đình không hề né tránh, sự điềm tĩnh của nàng không khác gì Tiết Tu Trác.

"Ta là con gái," Linh Đình nói, "nếu tiên sinh mới không chịu dạy ta vì lý do này, vậy thì xin hãy cho ta được gặp ông ta một lần."

Tiết Tu Trác lại quay đi, xỏ giày vào.

Cơn mưa bên ngoài dần nặng hạt, hắn nói: "Không phải, ngươi với ông ta không có duyên thầy trò mà thôi, ta vẫn sẽ tiếp tục dạy ngươi."

"Duyên phận là thứ không thể phó mặc nhất, thánh sư khó tìm, ta không muốn bỏ lỡ một vị tiên sinh như thế," Linh Đình chống người đứng dậy, "tiên sinh."

Nhưng Tiết Tu Trác chẳng đoái hoài, cũng chẳng buồn đáp.

Hắn vén rèm lên, người hầu đang chờ bên ngoài vội vàng mở ô, hắn không để người hầu chạm vào chồng sách, bước xuống thềm đi mất.

Linh Đình đứng yên tại chỗ, qua khe hở rèm, nàng thấy bóng lưng Tiết Tu Trác nhoáng qua vài cái rồi biến mất vào làn mưa, nàng hiểu đây là sự từ chối câm lặng của Tiết Tu Trác.

Cho dù người khác có đánh giá thế nào về Tiết Tu Trác, trong mắt Linh Đình, bên dưới bộ mặt ôn hòa nho nhã của hắn chỉ độc sự bình tĩnh cực đoan, thậm chí hắn còn hơi có chút tự phụ, sẽ không chịu để người khác điều khiển, cũng rất khó nghe lời người khác.

Linh Đình đành bỏ cuộc, nàng lại về chỗ ngồi, mở sách luận Tiết Tu Trác để lại ra, chép lại chữ của Tiết Tu Trác.

Nhưng nàng sẽ không bao giờ có thể viết giống, bởi lẽ nàng không thể nhu hòa thu mình lại, nét bút của nàng tựa như mũi đao thép, vĩnh viễn không vòng vo.

***

Mấy tháng sau, ông mặt trời đổ lửa xuống đài ngọc long, triều thần quỳ kín mít trên ấy, bọn họ là quan viên hàn môn do Hải Lương Nghi cầm đầu.

Sau tháng Sáu, Hàn Thừa đưa một bé trai từ trong gia tộc của gã về, tuyên bố nó chính là hậu duệ của Lý thị.

Dưới sự chăm sóc tận tụy của Diêu Ôn Ngọc, bệnh tình của Hải Lương Nghi dần chuyển biến tích cực, việc đầu tiên ông làm lúc lên triều chính là dùng thân phận nguyên phụ nội các để bãi bỏ tấu chương của Hàn Thừa, đồng thời yêu cầu kiểm nghiệm công khai danh tính của đứa trẻ.

Song các hoàng đế của Lý thị đã từ trần cả, chỉ dựa vào mỗi Thái hậu thì cũng không thể xác thực rốt cuộc đứa bé ấy có phải là con của Lý thị hay không.

Hai phe rơi vào ngõ cụt, không bên nào chịu nhượng bộ.

"Thời Vĩnh Nghi, ta là đồng tri tám đại doanh kiêm tướng lĩnh hàng đầu dưới trướng Quang Thành gia, ta có mang theo thư riêng do chính Quang Thành gia ủy thác, nguyên phụ, thế mà còn chưa đủ à?" dạo này Hàn Thừa lên cơ nên còn dám phản bác lại Hải Lương Nghi ở ngay trên triều đình.

Sau khi ngã bệnh, sức khỏe Hải Lương Nghi đã không còn bì được trước đây, chỉ cần đứng lâu một lát thôi là tim sẽ đập nhanh, tay bị run.

Ông bước ra khỏi hàng rồi nói: "Nói mà không có chứng cứ, nếu Chỉ huy sứ chịu công khai thư cho mọi người, giao cho nội các kiểm định thì chúng ta đâu cần đấu khẩu ngay giữa triều đình thế này."

Hàn Thừa thầm cười khẩy, giờ đang không có hoàng tự, ngai vàng bị bỏ trống mới là việc mà Hải Lương Nghi nên lo, ông ta cương quyết không nhượng bộ như vậy thì khẳng định là đã tìm được một ứng cử viên rồi.

Gã bèn đáp trả: "Nay đế vị đã bỏ không hơn một tháng, nguyên phụ còn muốn chờ gì nữa?

Nội các bàn đi bàn lại thế mà vẫn không bàn ra được quyết sách gì à?"

Người Hải Lương Nghi vã mồ hôi, ông hơi tức ngực, phải nghỉ lấy hơi rồi mới nói tiếp: "Bọn ta đã sắp xếp lại gia phả, tìm được con thứ của cháu của Yến vương đang ở Hòe châu, đây là huyết mạch có thể lần theo của Lý thị.

Theo luật thì người có thể kế vị lúc này chỉ có ông ta mà thôi."

"Yến vương là Hòe châu vương năm Vạn Tuyên, dòng đích đã chết trận ở ải Lạc Hà, tất cả dòng thứ bên dưới đều thuộc chi bên, nếu xem xét cẩn thận thì sao có thể coi là huyết mạch của Lý thị được?

Con thứ của cháu của Yến vương đã gần bảy mươi tuổi rồi, sao còn có thể nắm quyền được nữa?"

Hàn Thừa mỉm cười, "chưa kể đường xá xa xôi khúc khuỷu gập ghềnh, làm khổ lão ta như thế thì lão ta chịu sao thấu?

Nguyên phụ, chuyện này không thể cứng nhắc được!"

Hai bên giằng co đấu đá mãi không ngừng, bên ngoài còn có học sinh của Quốc Tử giám đang quỳ.

Thái hậu ngồi đằng sau rèm châu lắng nghe một hồi rồi mới cất tiếng: "Tuy việc này cấp bách, nhưng vẫn còn chỗ để thương nghị.

Các lão, phụ tá nội các, chuyện này ai gia sẽ không làm qua loa, nếu ngươi phản đối thì có thể đến Minh Lý đường trao đổi trực tiếp với ai gia, cho các học sinh giải tán đi."

Bà nói rất nhẹ nhàng, nhưng Hải Lương Nghi nghe được sự không hài lòng.

Tuy Hàn Thừa cật lực nâng đỡ đứa trẻ kia, nhưng dâng tấu thì vẫn lấy danh nghĩa đồng tri tám đại doanh chứ không lôi kéo quan viên thế gia ủng hộ.

Thứ nhất là để sau khi sự thành, Hàn gia sẽ có thể trở thành chỗ dựa duy nhất của tân đế, thứ hai là để tránh hiềm.

Hai chữ tránh hiềm này cực kỳ quan trọng.

Hoa Tư Khiêm với Phan Như Quý đều thua bởi vì không biết tránh hiềm, cấu bè kết phái là việc tối kỵ trong triều đình.

Thời gian Thái hậu lên nắm quyền lại không hề ngắn, giờ bà không khác gì Hoàng đế, điều bà kỵ nhất chính là quần thần tụ họp, tạo thành một lực lượng có thể cưỡng ép bà đưa ra quyết sách, bởi vậy bà không hề cất nhắc quan viên hàn môn để lấy lòng, cũng không hề cất nhắc quan viên thế gia để củng cố quyền lực.

Dường như bà hiểu Đại Chu đã đi đến một bước đường nào đó rồi, thay vì lại gửi gắm kỳ vọng vào một con bù nhìn như mấy năm trước thì thà tự mình lo liệu còn hơn.

Hải Lương Nghi bệnh mất hai tháng, trong khoảng thời gian đó chúng quan viên hàn môn lo bóng lo gió mãi.

Khổng Tưu, Sầm Dũ đã nhiều lần chủ trì bàn bạc riêng, liên tục thượng tấu xin Thái hậu để Hải Lương Nghi về triều làm việc.

Không chỉ có vậy, học sinh của Thái học cũng dám cả gan bàn luận quốc sự, vừa sang tháng Sáu đã manh nha tin đồn Thái hậu cướp quyền tự trị.

Thái hậu không nói thẳng mặt Hải Lương Nghi, nhưng lại tăng tần suất thăm viếng của nội hoạn lên, đây là một kiểu thúc giục trá hình, cho nên khi tháng Sáu vừa mới sang, bệnh tình chỉ vừa khá lên chút là Hải Lương Nghi đã vào triều ngay.

Tuy rằng suốt mấy chục năm nay ông quả quyết mình không hề kết đảng, không có bè phái, song tự ông đã trở thành hướng gió của hàn sĩ trong thiên hạ, đây là chuyện mà ông có muốn chối cũng không chối nổi, chính ông đã trở thành một cái "thế" hùng mạnh nào đó rồi.

Hải Lương Nghi ngã bệnh một cái, người trong thiên hạ lập tức hoang mang.

Ông bác bỏ tấu chương của Hàn Thừa, Thái hậu còn chưa hồi đáp, quan viên và chúng học sinh đã quỳ được một ngày.

Ông đã vô tình trở thành tâm bệnh của Thái hậu, thậm chí sức uy hiếp còn hơn cả tên Hàn Thừa ngang ngược kia.

Hải Lương Nghi gượng đỡ mình, nói: "Học sinh của Quốc Tử giám vốn có quyền nghị sự, triều đình chính là nơi cả thiên hạ hướng con mắt về, có bàn mới có kế sách.

Nay Thái hậu cần mẫn chủ chính, tự lo toan mọi việc, nhưng lập quan viên chính là để san sẻ hỗ trợ bề trên, quản lý bề dưới.

Bọn họ biết lo lắng cho quốc sự là cái phúc của Đại Chu, huống hồ chuyện của trữ quân lại chẳng phải chuyện nhà.

Thần cho rằng để bọn họ ở đây mới có thể bàn chuyện tân đế."

Nội đường không oi bức, màn trúc treo khắp các ngóc ngách che đi băng vụn.

Hải Lương Nghi thậm chí còn thấy hơi lạnh.

Đáp xong câu đó, ông chỉ cúi đầu đứng, Thái hậu sau rèm lặng yên một hồi lâu, đến lúc chân Hải Lương Nghi đã mỏi nhừ rồi, bà mới chậm rãi đáp.

"Các lão nói có lý, ai gia sẽ nghe ngươi.

Về chuyện con cháu của Yến vương, ai gia vẫn chưa được xem gia phả nên chưa thể kết luận ngay được.

Nhưng người của Hàn Thừa đã đến rồi, ngươi muốn Đại lý tự hay là bộ Hình hỗ trợ điều tra?

Ai gia nghe ngươi cả đấy."

===

• Tác giả có lời muốn nói:

Nếu lý do một nhân vật lên sàn không đủ thuyết phục, hành động không đủ hợp lý, vậy thì cho dù người đó là nam hay là nữ cũng đều sẽ không thể biến chuyển sự sụp đổ của những sự kiện đi trước.

Lúc mới lập sơ đồ tư duy của nhân vật là mình đã nghĩ nhân vật nữ có thể sẽ bị mổ xẻ, nhưng thật sự không ngờ có người lại bảo cho các nàng vào liệu có đủ tính chính kịch hay không.

Lúc Thích Trúc Âm xuất hiện có người còn bảo đó là nhân vật Mary Sue mà mình tự đưa vào, nhưng thật ra năm ngoái có đăng mấy đoạn ngắn của Thương Tiến Tửu lên Weibo, các nhân vật xuất hiện lúc đó đã có sẵn Thích Trúc Âm với Linh Đình rồi.

Nhân vật nữ xuất hiện mà không hợp lý, vậy đổi thành nhân vật nam thì chắc chắn sẽ hợp lý ư.
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 121: Lương Nghi


Sau khi tan triều, Hải Lương Nghi không để ai đỡ.

Đám Khổng Tưu biết các lão quật cường nên chỉ dám đi theo sau, nhìn Hải Lương Nghi tự mình tập tễnh lê từng bước chân, chầm chậm đi xuống.

Quan bào của Hải Lương Nghi tắm nắng chiều, tựa vết sẹo tan ra trong ánh dương rực rỡ.

Giờ này năm ngoái, ông đang dẫn đầu bách quan vào triều, khí thế sục sôi nhường ấy, nay đã chẳng tìm được chút khí phách phấn chấn nào trên người ông nữa.

Hải Lương Nghi bước đến bậc cuối cùng rồi dừng lại.

Ông chậm rãi quay đầu nhìn các viên quan trên bậc thềm, rồi lại nhìn ánh sáng cuối cùng còn sót trên mái hiên cong của Minh Lý đường.

"Trời sắp tối rồi," Hải Lương Nghi nói nhẹ nhàng, "các ngươi đi đường cẩn thận."

Chẳng biết vì sao, Khổng Tưu bỗng thấy sợ hãi giây phút ấy.

Ông bước lên trước một bước, muốn đỡ Hải Lương Nghi, cất tiếng gọi hơi nghẹn ngào: "Thầy!"

Hải Lương Nghi khoát tay, xoay người đi ra cổng cung.

Huyết mạch của cháu của Yến vương là chiến tuyến cuối cùng của Hải Lương Nghi, nhìn ánh tà dương bị lầu cao vùi dập, cảm giác lực bất tòng tâm trào dâng trong cõi lòng ông.

Ông biết con của Hàn thị đăng cơ sẽ có ý nghĩa thế nào, ba mươi năm đánh một trận chiến này, ông kiên định cầu hòa lại chẳng mang lại được thắng lợi gì.

Ông chỉ có thể nỗ lực đốt cháy mình, ném bộ xương già cỗi này vào ngọn lửa dữ, mong rằng những đốm lửa bắn ra có thể nhen nhóm bầu trời đêm đã lặng ngắt từ lâu.

Đại Chu bước vào đêm đen đằng đẵng, dường như là ông ngọn đuốc duy nhất còn sót lại, chỉ là đến tận bây giờ ông vẫn chẳng thể thừa nhận, Tề Huệ Liên và những con người khác đường cùng đích với ông đã thua cả rồi.

Ông nhìn những bậc kỳ tài ấy tựa sao băng, từng chòm từng chòm nối đuôi rơi xuống, cuối cùng chỉ còn lại một con người nhạt nhòa như ông.

Ba mươi năm trước, Hải Lương Nghi không màng thắng thua.

Ba mươi năm sau, Hải Lương Nghi lại dốc toàn tâm sức.

Ông kiên định bước đi trên con đường của mình, ông muốn kiềm chế Tề Huệ Liên cấp tiến một cách gay gắt, nhưng ông không làm được.

Chẳng ai biết, cái đêm mà toàn bộ quan lại của Đông cung bị giết ấy là giây phút đau đớn nhất cả đời này của Hải Lương Nghi.

Màn đêm đã buông, Hải Lương Nghi mới đi tới cổng cung đã thở phì phò.

Ông nâng tay áo lau mồ hôi, thấy Diêu Ôn Ngọc đang đứng chờ ông cạnh cỗ kiệu.

Diêu Ôn Ngọc lại gần dìu ông lên kiệu, ông ngồi xuống, lúc Diêu Ôn Ngọc sắp buông rèm, ông bảo Diêu Ôn Ngọc: "Nguyên Trác, ta có một nỗi băn khoăn chưa hoàn thành, ngày mai con hãy đến thành Vu một chuyến thay ta, đêm nay thu xếp hành lý đi."

***

Mấy hôm sau vào triều, Thái hậu đã miễn đứng cho Hải Lương Nghi.

Nhưng bà càng chiêu đãi hiền tài như vậy, nghĩa là sự bất bình của bà với Hải Lương Nghi lại càng tăng.

Bởi vì mấy hôm nay ngôn quan Đô sát viện đều châu đầu vào mắng Hàn Thừa lên bờ xuống ruộng.

Lời kêu gọi công khai kiểm chứng danh tính của con trai Hàn gia lại càng gay gắt, cơn sóng triều vây kín quanh Hải Lương Nghi đã buộc Thái hậu phải nhượng bộ.

Thái hậu mất ngủ cả đêm, sự do dự của bà đẩy Hàn Thừa vào đường cùng, Hàn Thừa cũng dần hiểu ra, Thái hậu đang tính mượn đao giết người, chỉ cần bản thân gã không kham nổi gánh nặng ấy mà bỏ mạng dưới những lời chỉ trích, Thái hậu sẽ có thể lập tức giúp con của Hàn gia lên ngôi, chặt tận gốc cơ hội tiếm quyền của Hàn Thừa.

Đến lúc đó, bà ta có thể dồn hơi sức sang đấu đá với hàn môn, dù là lạnh nhạt với Hải Lương Nghi hay thay nguyên phụ nội các thì bà ta cũng đều có thể làm nhiều hơn hiện tại.

Hàn Thừa nào chịu buông tha, quyền lực ngay trong tầm tay mà lại phải chắp tay dâng cho người khác như vậy, gã có cam chịu thì cũng phải cam chịu đến chết Hải Lương Nghi mới thôi!

"Hiện giờ tình hình đang bất ổn, Ly Bắc lăm le ở phía Đông Bắc, Trung Bác rục rịch ở phía Đông, nếu nội các cứ trì hoãn mãi chuyện trữ quân, không có tân đế thì chẳng lẽ thiên hạ lại đi răm rắp nghe theo nguyên phụ hay gì?"

Hàn Thừa đã phải sủi bọt mép trong suốt mấy ngày đấu võ mồm kịch liệt, gã thình lình phất tay áo, "ta thấy nguyên phụ đang kéo bè kết cánh, cản trở lập trữ, ý đồ này phải tiêu diệt!"

"Ngươi ngậm máu phun người!"

Sầm Dũ thân cầm đầu ngôn quan, gay gắt bác lại, "việc lập trữ đã phải thương thảo liên tục mấy ngày nay, chỉ huy sứ thì mãi không chịu công khai kiểm chứng danh tính của hoàng tự, rốt cuộc ai mới là người ngăn cản lập trữ đây?

Trước đây thiên hạ đang đồng lòng quy thuận, nếu không phải tại chỉ huy sứ cố tình vây bắt Định Đô hầu Tiêu Trì Dã thì Khuất đô đời nào rơi vào cảnh này!

Nếu truy cứu trách nhiệm, ngươi phải đứng đầu tiên đấy!"

"Được lắm!"

Hàn Thừa cười lạnh, chỉ vào Sầm Dũ, "Tiêu Trì Dã ám sát tiên đế, ta thân là chỉ huy sứ Cẩm y vệ kiêm Tổng đốc của tám đại doanh, bắt hắn là lẽ đương nhiên!

Ngươi bảo ta làm sai, tức là nói hắn ám sát là đúng!

Ngươi qua lại thân thiết với hai tên Tiêu Trì Dã, Thẩm Trạch Xuyên, Sầm Tầm Ích, đến bộ Hình cũng còn không điều tra được tường tận nhà ngươi!

Khổng Bạc Nhiên, hai người các ngươi không hổ là bạn thân đồng môn, Hàn Thừa ta thật sự rất ngưỡng mộ!"

Cơn phẫn nộ hiển hiện trên gương mặt Khổng Tưu, ông gắt: "Ngươi nói bậy nói bạ cái gì đấy?

Rốt cuộc Tiêu Trì Dã có ám sát tiên đế hay không vẫn còn đang điều tra, chỉ dựa vào mỗi lời nói suông của Hàn Thừa ngươi mà đòi bộ Hình khỏi cần làm nữa à.

Chưa kể bữa tư yến của chúng ta đó, Hàn Thừa ngươi không ở đấy chắc?

Ngươi cũng nốc kha khá rượu đấy!"

Hàn Thừa đáp trả: "Ta là Cẩm y vệ, thính ký mọi lúc mọi nơi chính là trách nhiệm của ta, đám trọng thần các ngươi lén lút tụ họp, ta mà không tham gia thì sao có thể nghe chính xác được?

Ta đã cho người ghi chép lại toàn bộ chi tiết buổi trò chuyện đêm đó cho Thái hậu rồi, ta trong sạch!

Các ngươi dám không?"

Trước đây Phan Tường Kiệt từng được Tiêu Trì Dã giúp đỡ, đợt này ở triều chỉ toàn ngoan ngoãn cụp đuôi, sợ bị vạ lây.

Hàn Thừa lại đương lúc quyền lực, gã chỉ đâu lão phải đi đấy.

Thấy bọn họ lại bắt đầu om sòm, lão mấp máy môi tí rồi rón rén lui lại mấy bước nhỏ, không dám chen miệng, quyết định làm con rùa rụt cổ.

Các bên càng lúc càng gay gắt, mồm miệng Sầm Dũ thuộc loại đỉnh cao, vùi dập Hàn Thừa từ trong ra ngoài không ra người ngợm gì nữa, dẫu Hàn Thừa có muốn nhịn cũng tức nổ phổi, run run tay chỉ vào Sầm Dũ.

Song gã vẫn giữ được cái đầu lạnh, gã bèn nhắm mắt quỳ bịch xuống đất, đánh liều òa khóc.

"Thái hậu!"

Hàn Thừa quỳ rạp xuống khóc tu tu, "Thái hậu!

Lòng thần như trăng, sáng trong thanh khiết!

Vây bắt Tiêu Trì Dã là lỗi của ta, ám sát tiên đế là lỗi của ta, đến cả bây giờ không có trữ quân cũng là lỗi của ta!

Ta là bề tôi, cam nguyện chết vì vua!

Có tội, sẽ đều là tội của Hàn Thừa ta!

Giết một mình ta hay giết cả nhà ta, chủ tử phán thế nào, ta sẽ chịu thế ấy!"

Khổng Tưu cảm thấy tên này mặt còn dày hơn tường thành rồi, ông lập tức giơ tay cởi mũ cánh chuồn xuống, nói: "Ta hổ thẹn vì phải đứng cùng hàng với tên tiểu nhân này!

Nếu không thể công khai kiểm chứng danh tính của hoàng tự, cái chức quan này, Khổng Bạc Nhiên ta khỏi làm cũng được!"

Thái hậu chợt đứng bật dậy, vén rèm lên, lạnh lùng quét mắt qua bọn họ một lượt, cuối cùng bà dừng lại trên người Hàn Thừa: "Triều đình đang nghị sự, ngươi khóc lóc cái gì?

Đứng dậy!" rồi bà nhìn Khổng Tưu, "dù gì ngươi cũng đã có thâm niên trong nội các, coi như là thứ phụ, là người chủ trì triều chính quốc gia, mới hở ra cái đã đòi lấy từ chức ra ép buộc, là muốn dọa ai gia vâng lời, hay là muốn mua danh trục lợi, tự lòng ngươi rõ nhất!

Từ lúc ai gia thay mặt thiên tử đến nay, bất kể chuyện lớn nhỏ gì cũng đều phải cặn kẽ tham vấn nội các, còn chuyện nào không minh bạch nữa?

Sao mà ngươi cứ phải bức ép riết thế hả!"

Quần thần đồng loạt quỳ xuống.

"Tổ tiên đã quy định hậu cung không được tham gia vào triều chính, đằng này ai gia lại năm lần bảy lượt vượt quyền, vốn đã hổ thẹn với tổ tiên lắm rồi.

Lần này Kiến Hằng đột ngột lâm bệnh qua đời, nếu không phải vì các ngươi liên tục thỉnh cầu thì đời nào ai gia chịu nhúng tay vào triều sự?

Giờ không có hoàng đế, ai gia không có con dưới gối, chỉ là phận góa chồng không con..." nói tới đó, mắt Thái hậu rơm rớm nước, "hồi Quang Thành gia còn sống, đã bao giờ ai gia phải chịu uất ức đến vậy chưa?!"

Như thể bị tình cảm sâu nặng của đế hậu làm động lòng, Hàn Thừa quỳ rạp xuống ôm mặt khóc tỉ tê: "Hồi Quang Thành gia còn sống, thần cũng chưa bao giờ phải chịu sự đối xử như vậy.

Ta biết mình là kẻ thấp hèn nông cạn, chẳng hơn gì hạng vũ phu, nào dám đứng ngang hàng với chư vị đại thần nội các, càng không dám tranh đua với nguyên phụ sáng như trăng, ta vì trung thành tôn yêu Lý thị nên mới dám đưa hoàng tự vào triều.

Nguyên phụ, cớ gì phải đến mức này?!"

Hàn Thừa liên tiếp dẫn lửa lên người Hải Lương Nghi, Khổng Tưu tức anh ách, khó nhọc lên tiếng: "Thái hậu...

Tấm lòng của nguyên phụ có trời cao chứng giám.

Chuyện lập trữ không phải chuyện nhỏ, hiện giờ khó khăn đang chồng chất, Đại Chu đã đến thời khắc khủng hoảng, nếu không cẩn thận, chỉ sợ hậu hoạn sẽ vô biên..."

"Điều ấy ai gia cũng hiểu, thế nên mới phải liên tục triệu tập các vị đại nhân đến đây thương nghị mấy hôm nay đấy."

Thái hậu chậm rãi bình tĩnh lại, "Sau Quang Thành gia, hoàng tự lụi tàn, đến nay lại chẳng tìm được một vị trữ quân nào nữa.

Ải càng khó lại càng phải đồng tâm hiệp lực.

Hàn Thừa, ngươi giao thư riêng của Quang Thành gia ra đây, để chư vị ở đây công khai kiểm chứng đi!"

Hàn Thừa làm gì có thư riêng ủy thác gì đâu?

Gã sống chết không chịu đưa, chính là bởi vì so với Hải Lương Nghi, Thái hậu còn giỏi kì kèo hơn.

Một khi Hải Lương Nghi nhả ra, làn sóng quan viên hàn môn sẽ tan rã ngay tắp lự, Thái hậu sẽ không che giấu nổi ý định nắm quyền nữa, đến lúc đó sẽ chỉ có thể lựa chọn để đứa bé Hàn gia trong tay gã lên ngôi, gã sẽ trở thành đại thần thác cô thực thụ, thời kỳ hưng thịnh của Hàn gia ở ngay trong tầm mắt.

Giờ Thái hậu đang muốn bức chết gã đầu tiên, gã hiểu, nên lại càng gào khóc thảm thiết.

Hàn Thừa vỗ ngực giậm chân: "Chư vị đã nghi ngờ lòng trung thành của ta thì thà bảo ta chết luôn đi cho rồi!

Em trai ta, đứa em trai ruột thịt của ta!

Vì bắt tên Tiêu Trì Dã kia mà bây giờ còn đang bị gông cổ ở Từ châu.

Ta vì tiên đế mà hỏng mất một mắt, vì Quang Thành gia mà đã ba lần ăn đao thép, lẽ nào ta đang vì ý đồ cá nhân mà lừa gạt người tài hèn sức mọn trong thiên hạ hay sao?!"

Đám bọn họ ngươi qua ta lại cũng chỉ mỗi bài ý đồ cá nhân, tiếng gào khóc lẫn thóa mạ ngập triều đường, chẳng ai thèm nhắc đến con cháu của Yến vương, Khổng Tưu quỳ, nhưng lòng đã lạnh ngắt.

Hôm nay Hải Lương Nghi không mở miệng nói một câu nào, ông tì tay ghế, bất chợt đứng dậy.

Vô số ánh mắt đổ dồn về phía ông, quan viên hàn môn mong chờ nguyên phụ có thể xoay chuyển cục diện, tái định thế thời, quan viên thế gia im lặng chờ thời cơ, tất cả đều chú mục vào Hải Lương Nghi, hệt như hồi trước.

Hải Lương Nghi bắt đầu ho, bàn tay xương xẩu của ông run run cầm khăn che máu.

Ông khẽ nuốt nước bọt, chậm rãi nhìn khắp đại điện, rồi chậm rãi nhìn những gương mặt ấy, cuối cùng ông nhìn Thái hậu.

"Năm đó Lý thị lên ngôi, thiên hạ cuối cùng cũng thống nhất sau mấy năm chinh phạt.

Suốt trăm năm qua, các thế hệ quần thần của Đại Chu đều dốc lòng dốc sức, cúc cung tận tụy.

Những năm đầu thời Vĩnh Nghi, Tề Huệ Liên Du châu liên tiếp trúng tam nguyên, Thái học bắt đầu hưng thịnh.

Tam sư của Diêu gia tuy xuất thân từ thế gia, nhưng lại khuyến khích ngôn luận, không giới hạn đề bạt hiền sĩ.

Các học sinh hàn môn vẫn đang trong triều ngày hôm nay, phần lớn vào triều từ thời ấy."

Khổng Tưu cúi đầu, giữa dòng hồi tưởng, ông không nén được tiếng rấm rứt nghẹn ngào.

"Nhưng sự hưng thịnh của Vĩnh Nghi chỉ là phù dung sớm nở tối tàn, mười năm sau, long thể của Quang Thành gia ôm bệnh.

Sau đó, thế gia một lần nữa trỗi dậy, định kiến huyết thống ly gián Thái học, từ thời Vĩnh Nghi tới thời Hàm Đức, Khuất đô không hề có hàn sĩ vào triều, đây là triều đình của thế gia."

Phan Tường Kiệt thẹn chín mặt, cúi đầu không hé răng.

Hàn Thừa định nói gì đó, nhưng Hải Lương Nghi chợt cao giọng: "Thời Hàm Đức, quốc khố rỗng không, thần thỉnh cầu Hoa Tư Khiêm giao sổ sách ra, ông ta bắt tay với các quan viên thế gia lúc ấy còn đang làm Thượng thư các bộ trốn tránh không giao ra, chiếu lệ hết lần này đến lần khác!

Cùng năm đó Quyết Tây gặp thiên tai, nơi chốn lầm than, thần lại ép Hoa Tư Khiêm giao sổ sách ra, ông ta úp úp mở mở, chẳng bao lâu sau Trung Bác bại trận, kho lương của sáu châu bị vét rỗng chỉ sau một đêm chiến tranh!

Những sổ sách ấy, đến tận hôm nay, Hoa Tư Khiêm vẫn chưa hề công bố rõ ràng!

Là lỗi của ông ta, hay là lỗi của các chư vị ở đây đã đổ dầu vào lửa?!"

Phan Tường Kiệt sửng sốt, vội vàng đáp: "Chuyện đó lúc ấy Đại lý tự đã—"

"Thần Hải Nhân Thời, sau khi quay lại đã liên tục tiến gián, yêu cầu công khai xác minh danh tính của hoàng tự Hàn thị.

Hàn Thừa lại dùng dằng lần lữa, đến giờ vẫn không chịu giao thư riêng được ủy thác ra, không còn cách nào khác, thần đã chủ trì nội các tìm lại hoàng phả, cuối cùng tấu xin Thái hậu chọn huyết mạch của Yến vương Hòe châu làm Thái tử, nhưng vô ích."

Thái hậu hơi chùn bước trước giọng nói hùng hồn ấy, tấm rèm châu rơi "rào" lên người bà, bà ngỡ ngàng nhìn Hải Lương Nghi.

Hải Lương Nghi đang rực cháy, ngọn lửa giận bị đè nén suốt ba chục năm trời trong lồng ngực ông thời khắc này lại rừng rực cháy lên luồng khí phách từng lụi tàn, cháy đến mức cả triều đường phải khiếp sợ, ông nói: "Quốc gia suy bại, đây là lỗi của ta làm nguyên phụ!

Cả đời ta đã can gián vì vua, buộc phải không sợ!

Nếu sống không thể can gián, vậy thì hôm nay, ta sẽ chết để can gián Đại Chu!

Trữ quân có thể lập, nhưng tuyệt đối không thể lập con của Hàn gia!

Trữ quân có thể lập—"

Chuyện xảy ra nhanh hơn cả lời nói, tay áo phất lên của Hải Lương Nghi tựa chiếc lá rụng rực cháy, cưỡi gió tung bay trước mắt tất cả mọi người, rồi ngay sau đó là một tiếng kêu kinh thiên động địa, máu văng tung tóe.

Cả triều đường tĩnh lặng như tờ, tay chân Thái hậu lạnh ngắt, suýt nữa đã ngã phịch ra đất.

Ánh mắt bà chật vật lần theo dòng máu vừa tóe ra, lần đến người Hải Lương Nghi.

Chẳng mấy chốc, tiếng kêu thất thanh của quan viên cả triều dậy lên, Khổng Tưu gần như lê gối tới đỡ Hải Lương Nghi.

"Nhân Thời..." giọng Thái hậu run rẩy, "Cớ gì...

Cớ gì phải..."

Đòn này đã hoàn toàn chặt đứt đường lui của Hàn Thừa, Hải Lương Nghi lấy cái chết để thổi bùng lên cơn thịnh nộ của văn sĩ thiên hạ, con của Hàn gia sẽ vĩnh viễn không được làm hoàng đế.

Kẻ nào dám chống lại thiên hạ, tự bêu danh mình, kẻ đó sẽ chính là cái gai trong mắt văn nhân thiên hạ mai sau.

Song, ngay cả Hàn Thừa cũng bàng hoàng chết lặng trên mặt đất, có nằm mơ gã cũng không ngờ được, Hải Lương Nghi lại có thể quyết tuyệt đến nhường ấy.

Mặt Hải Lương Nghi nhơ nhớp máu, ông ngửa đầu nhìn trần điện cao không với tới.

Cả đời ông chỉ mưu cầu ổn hòa, vậy mà đến phút chót, ông lại gay gắt tiến lên, biến thành vầng mặt trời rực rỡ cháy bùng của Đại Chu, đốt lên vô vàn tia sáng giữa đêm trường tối tăm.

Con hạc trắng trên ngực áo ông nhuốm màu đỏ, bằng nhịp đập phập phồng còn sót lại, ông siết chặt lấy tay Khổng Tưu.

"Bạc Nhiên..."

Hải Lương Nghi thì thào, "... ta...

đã tận lực rồi."

===
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 122: Hoàng nữ


Nói tới đó, Dư Tiểu Tái nằm rạp xuống khóc nức nở, không tiếp tục nổi nữa.

Chúng văn sĩ bọn họ đời này vào làm quan chẳng muốn đổ máu đào tuẫn lòng son, bỏ mình vì nghĩa như Tề Huệ Liên, mà chính là muốn chèo chống gian truân, bình trời định đất như Hải Lương Nghi, nhưng tòa lầu chênh vênh này đã cất tiếng sụp đổ long trời lở đất trong mưa dông bão tố.

Chỉ qua một đêm, nghiến nát chí khí ngút trời của ngàn vạn con người, để tiếng than khóc bao trùm toàn Đại Chu.

Thẩm Trạch Xuyên lặng lẽ nghiêng đầu, lắng nghe những âm thanh bên ngoài tường viện.

Chẳng biết bao lâu sau, Dư Tiểu Tái mới ngừng khóc, hắn lấy khăn ấm bưng mặt một lúc rồi nói: "Nguyên phụ tử gián, Hàn Thừa đã bị dồn đến đường cùng, nhưng gã không chịu từ bỏ như thế.

Lúc đó tâm tình Thái học kích động, kiệu của Hàn Thừa sau khi bãi triều bị chặn lại ở phố Thần Vũ rồi bị học sinh phá nát.

Tám đại doanh phong tỏa Thái học, tống giam mấy học sinh cầm đầu vào chiếu ngục, còn cắt cả cơm, các học sinh mới tuyệt thực tỏ chí."

Dư Tiểu Tái không kìm nổi cơn xúc động, lại ứa nước mắt.

"Ta cứ tưởng văn nhân trong thiên hạ sẽ chết hết như thế đấy, nào ngờ đêm đó khi trông thấy những ngọn đuốc nối đuôi nhau thắp lên trên núi Cảnh Dật ở Thái học, ta mới hiểu được ý đồ sâu xa của nguyên phụ.

Lửa đã bùng lên nơi đồng hoang, hòng dẹp đặng lửa giận của chúng học sinh trong thiên hạ, Thái hậu lại đòi Hàn Thừa bức thư riêng ủy thác một lần nữa, đuổi luôn cả đứa con của Hàn thị giả làm hoàng tự ra khỏi cung.

Hàn Thừa không thể không nhượng bộ, gã cam kết ba ngày sau sẽ công khai kiểm chứng thư."

"Thư làm giả không có con dấu của Quang Thành đế, nội các dựa vào đó bác bỏ trữ quân mà Hàn Thừa nâng đỡ.

Thái hậu thấy thế đã đồng ý gặp hậu duệ của Yến vương Hòe châu, xác lập người được chọn làm trữ quân.

Nhưng Hòe châu cách xa Khuất đô, đúng như Hàn Thừa nói, con của cháu của Yến vương đã hơn bảy mươi tuổi, vừa đi đường xa vất vả lại còn phải trải qua nhiều biến cố, cuối cùng qua đời trước khi đến Khuất đô."

"Việc lập trữ quân hoàn toàn rơi vào bế tắc.

Hàn Thừa ma mưu quỷ kế, dùng tám đại doanh để uy hiếp nội các.

Gã lại dâng tấu lần thứ hai thỉnh cầu tám thành tham gia phụ tá chính sự, đòi Thái hậu lập một 'nghị sự các' riêng, những người được chọn tham gia không một ai không phải là quan viên thế gia.

Thái hậu không hồi đáp lại tấu chương ấy, Bạc Nhiên đại nhân vâng theo di chí của nguyên phụ, thượng tấu chấp nhận kế hoạch 'nghị sự các', song yêu cầu cắt bỏ binh quyền của Hàn Thừa, lấy lý do văn không can gián võ để tước đoạt tám đại doanh từ Hàn Thừa.

Nhưng Hàn Thừa không đồng ý, thành thử nội các cũng không phê duyệt, hai bên lại thỏa hiệp thất bại."

Không có hoàng tự để lập, đó là điểm chí mạng trong tử cục Khuất đô.

Chúng quan viên nội các do Khổng Tưu dẫn đầu nhượng bộ trước đề nghị tám thành phụ tá là nhằm tiếp tục chính sách cầu hòa của Hải Lương Nghi.

Bọn họ không có thế lực quân sự, Khải Đông thì đang nằm trong tay Thái hậu, Ly Bắc từ sau Tiêu Trì Dã đã không còn vâng lệnh Khuất đô, Khổng Tưu chỉ có thể nhượng bộ, cái then chốt cuối cùng chính là tước được binh quyền của Hàn Thừa, dẫu nó không thể rơi vào tay bọn họ thì cũng không thể như trước đây, giao toàn quyền tuần phòng Khuất đô cho thế gia nữa.

"Đúng lúc đó, Tiết Tu Trác thượng tấu."

Dư Tiểu Tái nở nụ cười cay đắng trong ánh sáng yếu ớt, "Hắn làm dậy ngàn lớp sóng chỉ với một viên đá...

Quá khéo."

Tiêu Trì Dã nghe đến tên Tiết Tu Trác thì thoáng đảo mắt sang nhìn Thẩm Trạch Xuyên.

Thẩm Trạch Xuyên im lặng giây lát, hơi nghếch cằm trông ra ngoài cửa sổ, đầu mày nhíu chặt, một lát sau mới nói: "Hồi đó ngươi nói đúng, tên này thật sự rất giỏi.

Tin về hoàng tự dễ dàng lan đến tai chúng ta, để rồi kích động cả ta lẫn ngươi mất bình tĩnh.

Sau khi đến Trung Bác ta cứ nghi người giết đám thiếu nam là Hàn Thừa, mà giờ xem ra Hàn Thừa cũng chỉ như Hề Hồng Hiên mà thôi, đều là quân cờ bỏ của Tiết Tu Trác.

Sai một ly đi một dặm, là ta đã quá khinh địch."

Cục diện bế tắc trong triều đình kéo dài chưa đến nửa tháng, làn sóng chỉ trích Hàn Thừa của Thái học đã chuyển hướng sang việc cho tám thành phụ tá, rất nhiều học sinh quá khích càng lúc càng bất mãn với chính sách bảo thủ của Khổng Tưu, khi chấp bút viết văn tưởng nhớ Hải Lương Nghi, bọn họ còn tưởng nhớ cả Tề Huệ Liên, nguyên phụ mà bọn họ mong đợi không phải như Khổng Tưu bây giờ.

Thái hậu phải nhượng bộ trong việc con của Hàn thị, điều này đã khiến học sinh trong thiên hạ nhận ra được sức mạnh của số đông.

Bọn họ tựa muôn vàn giọt nước ngưng tụ về từ bốn phương tám hướng, cuối cùng kết thành đại dương mênh mông, họ còn tin rằng sức mạnh ấy có thể lật đổ bức tường cao kia, cơ hội diệt trừ tệ nạn thế gia đang nằm ngay trước mắt.

Bởi vì Khổng Tưu đã chấp nhận đề nghị tám thành làm chứng của Hàn Thừa, hướng gió Thái học như bầu trời tháng Tư, xoay chuyển trong nháy mắt.

Đầu tiên là trước cửa Khổng phủ bị người ta dán những bài văn lên án dữ dội, sau đó những ngôn từ từng được dùng để chỉ trích Hàn Thừa đều đổ hết lên người Khổng Tưu.

Chúng học sinh càng lúc càng quả quyết rằng các sĩ tử hàn môn do Khổng Tưu cầm đầu quá yếu đuối nên mới khiến Hải Lương Nghi phải tự lực cánh sinh trong nội các, để rồi cuối cùng chọn cách tiến gián quyết liệt như vậy.

Bọn họ liệt kê toàn bộ các triều quan thời Vĩnh Nghi, đồng thời lần lượt điều tra xem những quan viên đó có từng có quan hệ với quan viên thế gia hay không, tin Sầm Dũ bày tiệc mời Hàn Thừa lan đi nhanh như lửa, nhất thời kích động các học sinh, bọn họ gán cái danh "ngụy quân tử" cho Sầm Dũ, Khổng Tưu, thậm chí cho cả Thượng thư bộ Binh Trần Trân.

Kiệu của Sầm Dũ lúc đương vào triều bị người ta phá, ông đứng ở cổng cung, mặt bê bết máu, chỉ lên trời nói mình chưa bao giờ thông đồng với thế gia, kết quả bị hất đầy phân lên người.

Sầm Dũ không dám tin đây là học trò mới chẳng mấy lâu hồi trước của mình, ông ở Đô sát viện hai mươi năm, số quan viên từng thanh tra nhiều không kể xuể, đến cả Quang Thành đế ông còn dám vạch tội, thế mà ông chưa bao giờ nghĩ sẽ có một ngày mình bị chửi là tên tiểu nhân xun xoe nịnh hót.

Diêu gia trước đây luôn là tấm gương thanh liêm, một nhà ba sư huy hoàng rực rỡ bực nào, dẫu rằng sau thời Hàm Đức không còn ai trong triều nữa, song sức ảnh hưởng vẫn vượt xa họ của y, được tôn kính rộng rãi trong cả thế gia lẫn hàn môn.

Chúng cựu thần cả mới và cũ như Hải Lương Nghi, Tề Huệ Liên, hay Khổng Tưu đều từng được Diêu gia đề điểm, sự hưng thịnh của Thái học trong những năm phục hưng của triều Vĩnh Nghi cũng là nhờ chính sách chiêu mộ nhân tài không phân biệt của thái gia Diêu gia.

Ấy thế mà nay từ đường của Diêu gia xây ở phía Đông Khuất đô bị người ta đập vỡ cửa sổ, nếu không nhờ Khổng Tưu điều người đi canh giữ thì e ngay đêm đó đã bị phóng hỏa.

Ngọn lửa này thậm chí còn lan đến cả Diêu Ôn Ngọc, y thân là học trò của Hải Lương Nghi, vậy mà lại không chịu nhập sĩ làm quan, lần trước lúc Thái học nổi dậy, phê phán Phan Như Quý y cũng không xuất hiện, thù mới chất chồng lên hận cũ, bọn họ xé nát những áng văn bọn họ từng ngợi ca, ví Diêu Ôn Ngọc với một tên trộm, tên trộm đến từ thế gia đã đánh cắp học thức đạo đời của Hải Lương Nghi.

Khuất đô loạn lạc tan hoang, hễ tám đại doanh định xuất binh đàn áp là các học sinh sẽ tuyệt thực chống trả, đã chết mất bốn năm người nên Hàn Thừa cũng chẳng dám manh động nữa.

Thích Trúc Âm ở Khải Đông xa xôi đang lo việc quận Biên lúc này cũng không thoát, đám cưới Hoa, Thích diễn ra ngay tháng sau, những áng văn hùng hồn bộc bạch nỗi lòng tuôn trào đến Khải Đông như tuyết, vốn đại soái bị mắc chứng mất ngủ, giờ cứ lúc nào muốn ngồi vào bàn nghỉ ngơi là sẽ bảo Thích Vĩ đọc cho nàng nghe, chửi càng xót tai nàng càng ngủ ngon.

Ngọn lửa Đại Chu cháy thật, nhưng lại không cháy như Hải Lương Nghi đã dự đoán.

Khắp đêm đen đầy rẫy những tên lạc gắn mồi lửa, bọn họ phân rạch ròi địch ta, đòi hỏi hà khắc, đen trắng rõ ràng, không có trung gian, chỉ có ngươi chết ta vong.

Khổng Tưu kiên quyết không cáo ốm, ngặt nỗi vào chầu dần dần biến thành một việc nguy hiểm.

Có một hôm nọ ông bải hoải ra ngoài, vẫn còn đang ở tít sâu trong viện thì bỗng thấy một kẻ lạ hoắc bước ra từ trong sân, giơ kiếm quát tháo xả rủa đòi lấy mạng Khổng Tưu đền tội.

Ông đường đường là quan nội các, trước đây hay tiếp mấy học sinh bên ngoài nên trong nhà xưa giờ chẳng bố trí canh phòng, nào có hay đến hôm nay lại bị người ta cầm kiếm tấn công, đúng là chuyện cười thiên hạ, hài hước làm sao!

Ba tấu chương của Tiết Tu Trác được dâng lên vào đúng lúc ấy, nội dung hắn viết hệt cơn sóng động trời, chỉ trong nháy mắt đã dập tắt ngọn lửa phừng phừng, rồi ngay sau đó hóa thành dòng thăng trầm cuồng liệt, trở thành tâm hướng của học sinh trong toàn thiên hạ.

Trong tấu chương hắn nói sau khi trải qua trăm cay nghìn đắng, cuối cùng hắn đã tìm được hoàng nữ lưu lạc bên ngoài của Quang Thành đế, không chỉ có con dấu của Tần vương làm chứng mà còn có cả nhân chứng liên quan hẳn hoi, có thể chứng thực huyết thống của nàng, đồng thời còn đề nghị kiểm chứng công khai trên triều.

Nữ nhân làm chủ cũng giống như âm dương bấp bênh, trăng trời đảo lộn, đây là chuyện chưa từng có tiền lệ trong suốt mấy trăm năm qua.

Tấu chương của Tiết Tu Trác khiến cả triều đình xôn xao, thậm chí cả Khổng Tưu cũng còn không đỡ nổi.

Ngay sau đó, Tiết Tu Trác dâng lên tấu chương thứ hai.

Trong tấu chương này hắn kể toàn bộ đầu đuôi, người con gái này lưu lạc đến một hộ nhà nông ở Khuất đô, vì từ bé đã thông minh hơn người nên rất được người nhà yêu quý.

Tuy nhà bần cùng, song cũng sẵn sàng để huynh trưởng dạy nàng đọc sách biết chữ.

Nàng là di mạch của Quang Thành đế, đương nhiên phải khác với người bình thường, người trong nhà thường thấy cầu vồng trên trời và mây tím phủ trong nhà, thành thử càng quan tâm đến nàng, không dám thờ ơ.

Nàng không chỉ thông minh mà còn rất lương thiện.

Láng giềng gặp khó, người già thiếu ăn, nàng bèn cắt bớt phần ăn của chính mình, tự tay săn sóc, láng giềng gần xa ai cũng khen ngợi nàng, chuyện này cũng có nhân chứng.

Còn về phần phong thái thế nào thì đợi đến lúc nàng vào điện để mọi người tự kiểm chứng.

Tấu chương này đã lan truyền bên ngoài, có người dán ở Thái học, thậm chí còn lan đi khắp các phố phường ngóc ngách Khuất đô.

Hoàng nữ quý giá, người có thể xứng với cái danh này hiện giờ chỉ có Hoa tam tiểu thư bên Thái hậu mà thôi, đặt hai người cạnh nhau lại càng khiến bá tánh bình dân xót thương vị hoàng nữ này.

Ở quán trà tửu lâu đâu đâu cũng có người chuyên môn kể chuyện truyền kỳ về vị hoàng nữ lưu lạc chốn dân gian, tâng thiên phú dị bẩm nọ lên đến mức như thần tiên hạ phàm.

Nàng xuất thân từ dân gian, nhà mấy đời làm nông, có rất nhiều điểm tương đồng với các học sinh Thái học nay, đã vậy còn rất trọng nhân nghĩa, yêu thương láng giềng, thấu hiểu được những nỗi khổ của muôn dân, nhất thời ngay cả các học sinh cũng đều hướng về phía nàng.

Đúng lúc ấy, Tiết Tu Trác dâng lên bản tấu chương then chốt thứ ba.

Hắn nói anh của hoàng nữ cũng là học sinh hàn môn, từng vào đô năm Hàm Đức nguyên niên, song vì vướng huyết thống dòng dõi nên không đỗ đạt, sau khi về đã nhụt chí qua đời.

Hoàng nữ và anh trai có tình cảm sâu nặng, bởi thế chuyện này đã biến thành nỗi đau trong lòng nàng, trên đường đến Khuất đô nàng nhiều lần hỏi hắn về bệnh tình của Hải các lão.

Khi hắn kể Hải các lão khổ nhọc đến nhường nào vì quốc sự, hoàng nữ nghe mà rơi nước mắt, nói "Nếu ta mà là nam nhân, sao có thể để các lão phải vất vả đến mức ấy chứ".

Hắn là con thứ của thế gia, cũng từng phải nếm trải sự khắc nghiệt của đích thứ, nhưng lại không có được ý chí như hoàng nữ, bởi vậy hổ thẹn vô cùng.

Cuối cùng, Tiết Tu Trác nói, nếu thiên hạ không có luật tuyển quan phải ưu tiên con đích, ưu tiên dòng dõi, vậy thì thiên hạ cũng không có tổ tiên nào nói tuyển lập trữ quân phải ưu tiên con trai — huống hồ Đại Chu đến nước này đã chẳng còn lựa chọn nào khác nữa rồi.

Các học sinh phấn khởi, cuối cùng bọn họ cũng đã tìm được một ứng cử viên phù hợp.

Những định kiến đích thứ dòng dõi cản trở bọn họ thành danh, bọn họ tự thấy mình đồng cảm được với cảnh đời của hoàng nữ.

Lý Kiến Hằng là một hoàng đế ăn trắng mặc trơn, hắn nào hiểu cơ cực là gì, thói chơi bời lêu lổng của hắn đã nhiều lần bị Đô sát viện lên án, nhưng hoàng nữ trời ban này thì khác một trời một vực, dường như nàng là người con gái tốt đẹp nhất thế gian, nàng có một trái tim biết thương xót hàn sĩ thiên hạ, nàng chính là Quan thế âm hạ phàm để phổ độ chúng sinh.

Giữa những hồi tranh luận ầm ĩ thâu đêm, Tiết Tu Trác thâm tàng bất lộ đã chiến thắng.

===
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 123: Diên Thanh


Dư Tiểu Tái nói đến đó thì trà trên bàn đã nguội ngắt.

Hắn tiếp tục: "Ta không hiểu, ban đầu các học sinh cực đoan như vậy với quan viên hàn môn cơ mà, thế mà tại sao chỉ trong có một đêm đã đồng loạt hướng về Tiết Tu Trác, chẳng nhẽ so với Khổng Thượng thư chuyên cần quốc sự, xuất thân quận Thương thì Tiết Tu Trác con thứ Tiết thị lại có thể tận tâm tận lực vì hàn môn hơn sao?

Nguyên phụ dốc sức lót đường cho bọn ta, đâu có ngờ đến cuối cùng lại vẫn để thế gia trên cơ."

"Chưa chắc Tiết Tu Trác sẽ để thế gia trên cơ," Tiêu Trì Dã hất trà nguội đi, "ván cờ này là hắn đánh úp, người của hai phe không ai kịp trở tay.

Lúc trước Thái hậu vòng vo với Hàn Thừa cũng là tại vì trong tay không có ai, rõ ràng Tiết Tu Trác không hề hé lộ điều gì cho đám lão già thế gia do Thái hậu cầm đầu, vả lại trước khi tiên đế băng hà, hắn còn thí tốt Hàn Thừa.

Nói cách khác, chính hắn đã đắc tội thế gia, việc này hắn hiểu rõ hơn ai hết."

Dư Tiểu Tái rầu rĩ nói: "Dọc đường đi ta nghĩ nát cả óc mà không hiểu rốt cuộc hắn có ý định gì.

Nếu như hắn chỉ muốn được một đời hưng thịnh thì tân đế này căn cơ bất ổn, lại còn là con gái, cho dù Tiết gia có phất lên đi chăng nữa thì cũng đâu thể tồn tại lâu dài dưới áp lực từ quân của Thái hậu."

Vô số chuyện lướt qua trong đầu Thẩm Trạch Xuyên, y trầm ngâm một hồi lâu mới nói: "Nếu muốn thăm dò ý đồ của một người thì không thể bỏ qua manh mối để lại.

Thời Hàm Đức ở trường săn Nam Lâm, Hoa Tư Khiêm bị ép làm phản, người lên kế hoạch chính là Hải các lão và Tiết Tu Trác, lúc đó Tiết Tu Trác đã nhậm chức Đô cấp sự trung khoa hộ, điều tra sổ sách của bọn họ.

Ngươi bảo trước khi tử gián Hải các lão đã từng nhắc đến việc này, nếu thế thì ta đoán nội tình vụ án Trung Bác binh bại Tiết Tu Trác cũng biết.

Sau đó hắn có thể hợp lực với bố chính sứ Quyết Tây Giang Thanh Sơn để thẩm tra, đủ sức hạ bệ Hoa Tư Khiêm e là cũng vì nguyên cớ ấy.

Giờ xem ra tên này không cùng một giuộc với Ngụy Hoài Cổ, bởi vì ngay từ đầu hắn đã tấn công thế gia rồi."

"Ta từng nghe Hề Hồng Hiên nói về hắn rằng cả ngày hắn chỉ bận rộn chính vụ.

Sau đó ta nhậm chức bắc trấn phủ Cẩm y vệ, chỉnh lý lại những vụ án do Cẩm y vệ và Đại lý tự hợp tác điều tra thì phát hiện sau khi thuyên chuyển từ khoa hộ sang Đại lý tự, quả thật hắn đã xử lý rất nhiều vụ án.

Hải các lão là người ngay thẳng liêm chính, không phải không dưng lại liên tục đi đề bạt Tiết Tu Trác đâu, ngay cả Sầm đại nhân cũng từng nhắc đến Tiết Tu Trác với ta nhiều lần rồi, thế đã đủ thấy từ lúc nhập sĩ đến giờ, hắn cũng coi như là nổi bật trong lớp nhân tài mới."

Dư Tiểu Tái như được khai sáng, hắn nói: "Chẳng giấu gì đồng tri, đây chính là cái chỗ mà ta không nghĩ ra đấy, trước giờ tiếng tăm của Tiết Tu Trác vẫn cực kỳ tốt đẹp, ngay cả ngôn quan Đô sát viện cũng rất hiếm khi khiển trách hắn.

Lúc đô sát hắn cũng được xuất sắc, chuyện này rõ như ban ngày vậy, thế nên ta mới không hiểu nổi những việc mà hắn đang làm.

Bởi ngay từ hồi trước đã thấy hắn đâu phải loại cơ hội như Phan Như Quý."

Tiêu Trì Dã hơi ngả về sau, gối tay ra sau đầu bảo Thẩm Trạch Xuyên: "Đúng thật, lúc ở Khuất đô mình cũng từng nói chuyện về Tiết Tu Trác rồi.

Diêu Ôn Ngọc từng bảo cho dù hắn không được Hải các lão nhận làm học trò nhưng lại rất được Hải các lão coi trọng, hồi Diêu Ôn Ngọc làm lễ cập quán, để hắn bưng quan chính là vì lý do này.

Mấy năm đầu lúc hắn mới vào làm quan, sách luận hắn viết toàn về xóa bỏ định kiến của thế gia, hy vọng Thái học do Hoa Tư Khiêm quản lý sẽ có thể khôi phục lại sự cường thịnh như hồi Diêu Thái sư.

Ngươi biết rồi đấy, nội các khi đó ngoại trừ Hải Lương Nghi ra thì toàn bộ còn lại đều là triều quan xuất thân từ thế gia, sáu bộ bên dưới cũng thế, thậm chí từng có thời Khuất đô ưu tiên tuyển quan theo dòng họ, đến cả thằng cháu thứ mười ba một chữ bẻ đôi không biết của Hoa gia cũng còn lên được chức cao trong bộ Binh, chõ mũi vào công việc của cấm quân.

Hồi đó Khổng Tưu vẫn đang xây dựng lý lịch ở bộ Hình, Lương Thôi Sơn mà ngươi từng cất nhắc ở bộ Hộ hồi đó cũng suốt ngày bị giáng chức, vô vọng thăng tiến."

Thẩm Trạch Xuyên chậm rãi gật đầu: "Lúc đó hắn được nhậm chức Đô cấp sự trung bộ Hộ cũng là vì Hoa Tư Khiêm muốn tống cổ hắn đi.

Đô cấp sự trung là chức vụ trọng yếu có quan hệ mật thiết với Hoàng thượng, nhưng khi đó Hàm Đức đế không thể chủ chính, chức này có làm được trò trống gì hay không hoàn toàn phụ thuộc vào Hoa Tư Khiêm đứng đầu nội các.

Phong cách làm việc của Tiết Tu Trác cũng bắt đầu thay đổi từ lúc đó, đi từ cấp tiến hồi trước sang kín đáo hơn, cuối cùng thành cái kiểu mà chúng ta đã biết sau này."

Dư Tiểu Tái càng nghe càng hãi, mới hỏi: "Nhưng nếu hắn theo phe hàn môn thì sao không nói gì với chúng ta?

Hàn Thừa..."

"Hắn cũng từng tận tâm đưa Lý Kiến Hằng lên ngôi, nhưng hắn sớm nhận ra Lý Kiến Hằng thiếu hẳn sự mạnh mẽ quyết đoán.

Lý Kiến Hằng rất ba phải khi các phe giằng co nhau lúc đó, các quan viên hàn môn do Hải các lão đứng đầu thậm chí còn không tiêu diệt nổi Thái hậu."

Thẩm Trạch Xuyên nghiêng đầu, viên ngọc nhỏ trên tai phải chìm vào bóng tối, y nói, "Lần công kích này, học sinh Thái học liên tục nhắc sự nhu nhược của quan viên hàn môn, e đây cũng chính là lý do Tiết Tu Trác không còn tin tưởng hàn sĩ nữa.

Chính sách bảo thủ của Hải các lão cho Đại Chu một hơi thở thoi thóp, nhưng ông ta cũng cho thế gia cơ hội phục hồi, thế gia lại thay phiên nhau, giống như lần này đấy, Ngụy Hoài Cổ vừa ngã là Hàn Thừa đứng dậy ngay, đây không phải là kết quả mà Tiết Tu Trác mong muốn—"

Thẩm Trạch Xuyên bỗng dừng lại, nheo mắt.

"Thảo nào hắn lại bắt tiên sinh."

Tề Huệ Liên là người cầm đầu phe cấp tiến, ông bắt tay ngay vào việc khi vừa vào Đông Cung, Thái tử sống chẳng được bao lâu, vậy mà lại có thể hoàn thành việc nhập tịch hoàng sách, đó chính là nhờ các liêu thuộc Đông Cung không màng dư luận, chuyên cần miệt mài.

Nếu Tiết Tu Trác muốn cải cách con đường kiên trì cầu hòa thời Hải Lương Nghi làm chủ thì đương nhiên sẽ tìm đến sự trợ giúp của Tề Huệ Liên.

Nhưng Tề Huệ Liên lại từ chối, bởi vậy Tiết Tu Trác giao Tề Huệ Liên cho Hàn Thừa.

Thẩm Trạch Xuyên mím chặt môi, mặt nghiêng lạnh như tiền trong ánh nến, y nói: "Để đạt được mục đích mà không từ một thủ đoạn nào, kẻ này không tin bất kỳ ai, hắn vẫn muốn dùng tân đế để duy trì Đại Chu, thế nên mới không ngần ngại đắc tội các lão thần thế gia.

Hắn muốn Khuất đô phải thay máu, ở Khuất đô chúng ta đánh bại đám Ngụy Hoài Cổ, giờ những chỗ trống đó đều để cho hắn thí vào.

Dư đại nhân, ngươi nói sai rồi, bản tấu có thể kích động học sinh trong thiên hạ của hắn không phải hoàng nữ tốt đẹp thế nào, mà chính là câu cuối cùng."

Thiên hạ không có luật tuyển quan phải ưu tiên con đích, ưu tiên dòng dõi!

Thế gia bành trướng ở lớp quan lại tầng thượng, biến Đại Chu thành triều đình của tám họ.

Hoàng đế Lý thị có cương quyết hay không được minh chứng ở việc hàn môn có thể phá thủng tầng tầng lớp lớp bao vây của tám họ được hay không, sau thời Vĩnh Nghi, bọn họ đã bước vào thời kỳ đóng băng, thời kỳ ấy quá dài, thứ mà bọn họ cần gấp rút là một vị quân chủ hết lòng vì hàn sĩ, bất kể nam hay nữ, chỉ cần người ấy có thể khơi dậy được tấm lòng của hàn sĩ, gánh vác được kỳ vọng của hàn sĩ sau khi Tề Huệ Liên, Hải Lương Nghi lần lượt qua đời, người ấy sẽ được ủng hộ.

Điều mà Thái hậu giáng xuống hàn môn sau khi lên nắm quyền không chỉ là sự đào thải ngày một nghiêm trọng, mà còn cả sự nhu nhược đã ăn sâu vào lòng người của hoàng đế Lý thị.

Sở dĩ các học sinh hà khắc đến vậy với Khổng Tưu, Sầm Dũ là bởi bọn họ không thể chịu được việc nhượng bộ liên tục trước triều đình nữa, đến Hải Lương Nghi nhẫn nhịn cả đời cũng quyết tử gián, vậy thì tại sao Khổng Tưu vẫn còn muốn nhẫn nhịn?

Cải cách thiên hạ đang ở ngay trước mắt, chính là bây giờ!

Không làm thì chính là bàng quan!

Nhưng bây giờ thực sự là thời cơ tốt ư?

Thẩm Trạch Xuyên không nghĩ vậy.

Vì sao Hải Lương Nghi phải nhẫn nhịn?

Bởi vì thế gia đã trở thành căn bệnh trầm kha của Đại Chu, lẽ ra phải róc xương chữa bệnh ở ngay từ đầu thời Vĩnh Nghi, kết quả trước khi Hải Lương Nghi ra tay, Trung Bác lại thua trận, Đại Chu giống như một lão già tuổi bóng xế bị người ta đạp cho một cú ngay giữa eo, đạp đến nỗi miệng phọt máu, vết thương bên ngoài đã khó lành, mà tổn thương bên trong còn khó lành hơn nữa.

Trước khi tử gián ông đã chất vấn triều đình rằng đây là lỗi do chư vị đã đổ dầu vào lửa, nhưng "chư vị" ấy có bao gồm cả ông không?

Nếu như lúc đó ông không cưỡng ép Hoa Tư Khiêm.

Nếu như lúc đó ông có thể dùng thái độ mềm mỏng hơn nữa để ứng phó.

Liệu có phải Trung Bác sẽ không gặp thảm kịch đồ thành không?

Hải Lương Nghi không biết, nhưng chuyện này ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức chủ chính của ông ở giai đoạn sau của thời Hàm Đức.

Ông dùng thái độ hòa hoãn hơn hẳn để thâm nhập vào triều đình, ông không dám manh động nữa, ông có những tư tưởng và giác ngộ thời cuộc, nhưng những điều ấy lại là những điều mà chúng học sinh chân ướt chân ráo không hiểu.

Có thể Tiết Tu Trác không có khả năng dẫn dắt hướng gió của học sinh trong thiên hạ, nhưng hắn chắc chắn là ngư ông, đứng giữa sóng gió tính toán thời điểm quăng lưới thuận lợi nhất, bao nhiêu năm lăn lộn chốn quan trường của hắn không hề công cốc, thậm chí hắn còn hiểu mối bất hòa giữa hàn sĩ và triều quan hơn cả Thẩm Trạch Xuyên.

Nếu phe lão thần đã châm ngòi chiến tranh thì ngọn lửa càn quét ngày hôm nay cũng đã bén đến đám bọn họ rồi.

Tiết Tu Trác từng nhiều lần bái nhập môn hạ Hải Lương Nghi, không thành công.

Cuối cùng hắn tìm đến sự trợ giúp của Tề Huệ Liên, cũng không thành công.

Hắn như tảng đá chây lì trong màn đấu đá giữa hai phe, số hắn đã định trước sẽ tự lực cánh sinh đấu tranh trong máu lửa, đây là một kẻ tàn nhẫn không buông tha cho cả chính bản thân mình.

Vẻ tàn độc hiện lên trong mắt Thẩm Trạch Xuyên, y đang nếm trải mùi vị đánh bại.

Y bị trục xuất khỏi Khuất đô như con chó hoang lạc nhà cụp đuôi tót đít chạy, bị đánh đến nỗi gần như không chống đỡ nổi.

Tiết Tu Trác có thể gạt bỏ Hề Hồng Hiên vào đúng thời điểm, đã thế trước khi Thẩm Trạch Xuyên kịp ra tay còn vét rỗng kho bạc của Hề gia, chứng tỏ hắn đã chuẩn bị cho ngày này từ lâu rồi.

Thế mà khi đó Thẩm Trạch Xuyên đang làm gì?

Y vẫn còn đang ngây thơ cho rằng chỉ dựa vào miệng lưỡi sắc bén là đã đủ để chia rẽ thế gia, rõ ràng Tiết Tu Trác đã lộ mũi nhọn ngay từ án lụa cấm quân rồi.

Thẩm Trạch Xuyên đã thua một lần, y còn sống, tức là phải đánh trận chiến này tới cùng, y không thể chấp nhận việc mình kế thừa toàn bộ tâm huyết của Tề Huệ Liên chỉ để thua liên tục.

Bọn họ đi từ Khuất đô không bóng khói lửa đến biên cương điêu linh chia năm xẻ bảy, y phải đứng dậy ngay tức thì, bằng không thời thế loạn lạc này sẽ không có chỗ dung thân cho y, trong lớp tân tài khắc nghiệt không có kẻ yếu đuối, điều kiện tiên quyết để có thể cùng ngồi xuống điềm tĩnh thương thảo về niềm tin chính là y phải có tư cách thách thức đối phương.

Tiêu Trì Dã nhìn mặt bên trầm tĩnh của Thẩm Trạch Xuyên, bỗng hỏi Dư Tiểu Tái: "Ngươi thấy nữ đế chưa?"

Dư Tiểu Tái đang móc từ trong túi áo ra thư của Sầm Dũ gửi Thẩm Trạch Xuyên, nghe thế thì hơi ngớ ra giây lát, đoạn đáp: "Vẫn chưa, trước khi ta rời Khuất đô thì bộ Lễ đã bắt đầu chuẩn bị lễ đăng cơ rồi.

Thái hậu muốn triệu kiến hoàng nữ, nhưng Tiết Tu Trác lại từ chối."

Ngón tay đang rủ xuống của Tiêu Trì Dã quơ nhẹ mấy cái, nói: "Xem ra hắn cũng không chắc chắn trăm phần trăm, thôi thì rửa mắt chờ xem vậy, nhìn xem nữ đế hắn nuôi trong bốn năm ngắn ngủi rốt cuộc có phải con cọp giấy chọc phát là ngã hay không, có thể giễu võ giương oai ở Khuất đô đến bao giờ."

Thẩm Trạch Xuyên lấy lại tinh thần, im lặng giây lát rồi nói: "Chỉ mong là không phải Lý Kiến Hằng thứ hai thôi."

Tiêu Trì Dã dựa lâu bị mỏi, bèn ngồi thẳng người dậy hỏi Dư Tiểu Tái: "Còn chưa biết tên nàng là gì, nếu dựa theo hoàng phổ thì chẳng lẽ tên là Lý Kiến Đình à?"

Biểu cảm Dư Tiểu Tái trở nên lạ lùng, hắn thò tay vạch một nét lên chiếu: "Đọc thì thế, nhưng không phải tự của tiên đế đâu, mà là Kiếm Đình, Lý Kiếm Đình."

Thẩm Trạch Xuyên ngạc nhiên, cùng nhìn Tiêu Trì Dã.

===

Lý Kiến Đình: 李建婷.

Chữ "Đình" – "婷" trong đây có nghĩa là xinh đẹp.

Lý Kiếm Đình: 李剑霆.

Chữ "Đình" – "霆" này là sấm sét.

"剑" chính là thanh kiếm.
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 124: Định cục


Trời đã tờ mờ sáng, Dư Tiểu Tái dù gì cũng là văn nhân nên khó gắng gượng, Thẩm Trạch Xuyên bèn bảo Thần Dương dẫn Dư Tiểu Tái đi nghỉ trước, chuyện còn lại để hôm khác bàn.

Dư Tiểu Tái cũng không cưỡng cầu, để lại thư của Sầm Dũ cho Thẩm Trạch Xuyên rồi lui đi.

Tiêu Trì Dã đi tắm, Thẩm Trạch Xuyên mở thư của Sầm Dũ ra đọc trong ánh nến.

Nắng sớm từ ngoài sân đình rọi vào, Thẩm Trạch Xuyên đọc đến đoạn về quận Biên, chờ thêm một lát nữa mà vẫn chưa thấy Tiêu Trì Dã quay vào.

Y bèn đặt thư xuống, vén màn trúc lên, men theo hành lang hẹp đi vào trong, vòng qua bình phong ngó một cái thì thấy Tiêu Trì Dã đang ngủ trong bể.

Tiêu Trì Dã hơi mệt, mới đầu chỉ đang nghĩ mông lung về chuyện gì đó thôi, ai dè mải nghĩ ngủ quên luôn, má chợt lành lạnh, hắn tỉnh dậy ngay.

Thẩm Trạch Xuyên vốc nước lên, sờ Tiêu Trì Dã một cái, nói: "Ngâm lâu lạnh đấy, về ngủ đi."

Tiêu Trì Dã đứng dậy, nước bắn tung tóe.

Hắn cúi xuống vùi đầu vào ngực Thẩm Trạch Xuyên, cà cà cọ cọ làm cho nửa người Thẩm Trạch Xuyên sũng nước, giọng tiu nghỉu: "Ngươi bế ta đi."

Thẩm Trạch Xuyên giơ tay nhéo gáy Tiêu Trì Dã một cái: "Thế này không phải làm khó ta à?"

Tiêu Trì Dã: "Thế thì ta bế ngươi."

Thẩm Trạch Xuyên đá luôn giày đi, quàng tay qua cổ vẫn còn ướt của Tiêu Trì Dã, giọng hơi lười biếng: "Lên luôn."

Tiêu Trì Dã ngẩng đầu, áp trán vào trán Thẩm Trạch Xuyên rồi bế y lên, đoạn bảo: "Xem trường săn Bắc Nguyên rồi, duyệt, chỉnh trang lại một tí là có thể xây doanh trại, cơ mà tháp lầu thì phải xây mới lại hết, toàn bạc là bạc không."

Bên này không có đèn, ánh sáng nhập nhờ.

Thẩm Trạch Xuyên chỉ cách Tiêu Trì Dã có một xíu, y nói: "Đi về phía Tây trường săn Bắc Nguyên chính là thành Đan, sau này nếu phải đụng mặt với tám đại doanh thì không thể làm ăn qua quýt chỗ này được."

"Không vội."

Tiêu Trì Dã dùng thêm tí sức, bế Thẩm Trạch Xuyên về phòng.

Thẩm Trạch Xuyên hiểu thế này là Tiêu Trì Dã không định dùng đến chỗ bạc của mình, chi tiêu của cấm quân không thể lúc nào cũng dựa vào Từ châu được, Tiêu Trì Dã lại còn sắp về Ly Bắc, thiếu tiền đồng nghĩa thiếu sức mạnh, e là chính hắn cũng đang suy nghĩ việc này.

"Sầm Dũ đặc biệt bảo Dư Tiểu Tái đưa thư cho ngươi thì chắc là có việc cần nhờ rồi."

Tiêu Trì Dã lên giường, không buồn cởi áo choàng mà cứ vậy dựa luôn lên gối, nửa ôm Thẩm Trạch Xuyên, tì cằm lên đỉnh đầu Thẩm Trạch Xuyên, "Có việc gì vậy?"

Thẩm Trạch Xuyên đã đọc xong thư, y gối lên người Tiêu Trì Dã, gập thư lại rồi nói: "Sầm Dũ hy vọng ngươi có thể làm cầu nối giữa Khuất đô và Ly Bắc, cho mọi người thêm một cơ hội."

Tiêu Trì Dã khép hờ mắt: "Hiện giờ bọn họ là người phải đi cầu cạnh nên mới chịu cúi mình.

Nếu sau này nội các mà hòa thuận với Thái hậu, Ly Bắc sẽ lại phải đưa một người vào, không phải ta, mà chính là Tuân nhi."

Thế tôn Tiêu Tuân năm nay đã sáu tuổi, Tiêu Trì Dã còn chưa gặp nó bao giờ, song thế cũng chẳng ảnh hưởng gì đến tình yêu hắn dành cho cháu mình, chuyện này tóm lại không được.

Thẩm Trạch Xuyên nói khẽ: "Sầm Dũ cũng biết cái đó khó, thế nên mới hy vọng ta có thể xuôi Nam đến Khải Đông một chuyến, thuyết phục Thích Trúc Âm dừng đám cưới Hoa Thích lại."

"Quanh năm Sầm Dũ chỉ ở Khuất đô, không hiểu tình hình ở Khải Đông, việc cưới xin không phải do đại soái quyết."

Tiêu Trì Dã nói, "Đó là Thích Thời Vũ muốn cưới Hoa Hương Y chứ không phải Thích Trúc Âm nàng muốn cưới.

Thích Thời Vũ là một con cáo già, thấy hướng gió không ổn, không muốn để Khải Đông nối gót Ly Bắc nên bèn kết hôn cách họ với Khuất đô.

Mấy người Sầm Dũ cho được Thích Thời Vũ cái gì?

Hải Lương Nghi vừa chết, nữ đế lên ngôi, mọi cam kết trước kia giờ chỉ là một mớ giấy vụn, bọn họ không có bất kỳ cái gì nào để suy suyển Thích Thời Vũ cả..."

Tiêu Trì Dã càng nói giọng càng nhỏ.

Thẩm Trạch Xuyên đếm nhẩm mấy lần, quay ra nhìn hắn, quả nhiên hắn đã ngủ mất rồi.

Thẩm Trạch Xuyên lại mở lá thư kia ra, ánh mắt dừng giây lát trên chữ "quận Biên" rồi đóng lại.

Bởi vậy nên Tiêu Trì Dã ngon giấc.

***

Tiết Tu Trác lại không ngủ.

Suốt mấy ngày nay hắn toàn nghỉ luôn trong thư phòng, chuyện hoàng nữ có thể thuyết phục được học sinh, song lại không thuyết phục được các triều thần lão luyện già đời.

Khổng Tưu cảm thấy việc Tiết Tu Trác lợi dụng chiều hướng dư luận để đả kích nội các là một hành vi không quân tử, ông đã dâng liên tiếp mấy tấu chương phản đối sự đồng thuận ngầm của Thái hậu, nhưng cũng chỉ là muối bỏ biển, không hề nhận được hồi đáp.

Tâm cơ thâm sâu, mưu đồ không nhỏ.

Khổng Tưu nghĩ mình đã nhìn nhầm rồi, ông ném tám chữ này vào mặt Tiết Tu Trác rồi chẳng chịu nói thêm một lời nào với Tiết Tu Trác nữa.

Bất luận hoàng nữ có lên ngôi được hay không, các triều viên do Khổng Tưu cầm đầu đều không đạt được bất kỳ lợi ích gì trong ván cờ này.

Bọn họ và Hàn Thừa đấu đá nhau, mất đi trụ cột, Hàn Thừa đã sắp sửa nhượng bộ rồi, thế mà giữa chừng lại nhảy ra Tiết Tu Trác, đưa tới chẳng phải hoàng tử, mà là một hoàng nữ, nói ngắn gọn là bao công sức đổ sông đổ bể hết.

Sầm Dũ chưa chịu thua, những lời công kích đến từ nhóm ngôn quan còn gay gắt hơn cả Tiết Tu Trác tưởng tượng.

Hắn cho rằng Đại Chu đã đến mức phải để hoàng nữ lên ngôi, thế chẳng phải hắn đang ám chỉ vận nước đã tuyệt, thiên hạ đã cùng, cho nên mới có cái chuyện âm dương đảo lộn, đen trắng không phân như vậy hay sao?

Năm xưa Thích Trúc Âm chỉ coi như thụ phong đại soái thôi mà đã bị chỉ trích dồn dập, bây giờ bộ Lễ đang phải bới móc từng li từng tí một cho nữ đế đăng cơ, rất nhiều chỗ không tham khảo được ở đâu.

Tiếng chỉ trích ở triều đình không hề ngưng, tấu chương buộc tội Tiết Tu Trác đã lên đến hơn mấy chục bức.

"Nhìn lên xem có nữ nhân không? [1]" nay Phan Lận dẫn đầu bộ Hộ, hắn coi như con cháu thế gia của Phan Tường Kiệt phái lão thần, là người có phản ứng kịch liệt nhất trên triều, "trăm năm Đại Chu tồn tại chưa từng có trữ quân là nữ!

Lẽ trời là đạo trời, tuy thứ hệ của Yến vương đã tạ thế nhưng vẫn có hậu duệ.

Cho dù huyết mạch hoàng gia khó tìm, Thái hậu cũng có thể tạm thay mặt thiên tử, chúng ta tìm tiếp!"

Tiết Tu Trác đứng một mình giữa trung tâm hai phái triều quan phân cách rạch ròi với nhau, bình tĩnh đáp lại: "Thứ hệ của Yến vương sau này đều mang họ ông ta, lẽ nào giang sơn của Lý thị cũng phải đổi họ theo ông ta hay sao?

Thái hậu thay mặt thiên tử xác thực là lẽ hiển nhiên, nếu hậu cung có thể chủ chính, vậy thì tại sao trữ quân nữ lại không thể?"

"Ngươi đang đổi trắng thay đen!"

Sầm Dũ quay sang nhìn Tiết Tu Trác, "Thái hậu chủ chính chỉ là đại diện cho thiên tử, chứ không phải thay thế quyền lực của thiên tử, chỉ cần trữ quân lên ngôi, hậu cung đương nhiên sẽ trao trả lại quyền hành!

Nhưng đây là hoàng nữ lên ngôi, nếu sau này có hoàng tự, nàng cũng sẽ có thể trả lại quyền hành sao?!"

Hàn Thừa tái mét mặt, tự trong thâm tâm cũng biết mình đã bị Tiết Tu Trác lừa mất rồi.

Thái hậu và phe lão thần thế gia bất mãn, bởi lẽ thái độ mà Tiết Tu Trác đang thể hiện ra không phải là phục tùng nghe lệnh, hắn nắm khư khư hoàng nữ trong tay, nghĩa là sau khi hoàng nữ đăng cơ, hắn sẽ có thể có được ảnh hưởng khắp triều chính, đây chính là một sự phản bội đối với phe lão thần.

Hàn Thừa thấy Thái hậu ngồi sau rèm châu mãi không lên tiếng, bèn nói: "Vả chăng hoàng nữ trước giờ chỉ ở khuê phòng, sao có thể gánh vác trọng trách cai quản đại sự quốc gia được?

Theo ta thấy, sau lễ đăng cơ, Thái hậu vẫn nên chủ chính."

Khổng Tưu nghe thấy vậy thì chỉ muốn mặc kệ luôn cho xong, trận đấu này chẳng khác gì hồ dán, bây giờ phe nào cũng bất mãn.

Hoàng nữ lên ngôi bọn họ không hài lòng, Thái hậu chủ chính thì cũng có một phe không hài lòng, nhưng ngoài như vậy thì còn làm thế nào được nữa đây?

Để tám thành phụ tá chính sự học sinh cũng không hài lòng!

Khổng Tưu cũng muốn cầu xin ông trời mau mau thả một hoàng tử xuống đây cho!

Mười mấy năm trước là bọn họ có mắt như mù, không để Quang Thành đế sinh nhiều hơn, nếu mà còn hoàng tự thì việc gì phải đến mức này?

Tiết Tu Trác giơ tay lên chỉ vào tảng đá cổ ngoài điện, nói: "Tổ tiên đã nói rõ sáu chữ 'Hậu cung không được can chính', chứ không phải 'Hoàng nữ không thể chủ chính'!

Hôm nay chư công lên án ta, vậy thì ta cả gan xin hỏi, hiện giờ theo ý chư công phải làm thế nào?

Bãi truất hoàng nữ, nâng họ ông ta lên, hay là bỏ trống đế vị, Thái hậu chủ chính!"

Tiếng xôn xao rộ lên cả triều, nhưng không một ai đưa ra được một kiến giải xác đáng.

Hồi sắc lập Lý Kiến Hằng cũng vậy, mỗi một bước đi của bọn họ cũng đều như bị đẩy tới bên bờ vực, chẳng còn một con đường khác.

Nếu Tiết Tu Trác đứng ra bảo mình vẫn còn hoàng nữ sớm mấy ngày thì cho dù là Thái hậu hay nội các sẽ đều có cách ứng phó, cũng sẽ đều chịu ôn hòa với hắn, khổ nỗi hắn lại nhè trúng vào tử huyệt của hai phe, nhất quyết cầm trịch quyền chủ động trong tay mình.

Bây giờ hắn đang nắm giữ hoàng nữ, lại được thêm dư luận thiên hạ chống lưng, ai dám động vào hắn vào lúc này chứ?

Khổng Tưu nhượng bộ, ông biết cứ đôi co như thế sẽ chẳng đem lại lợi ích gì cho Đại Chu hay bọn họ, ông nói: "Ta nghĩ Chỉ huy sứ có một câu rất đúng, đó là hoàng nữ trước giờ chỉ ở khuê phòng, cho dù có lên ngôi thì cũng phải chuẩn bị giáo khóa dạy kinh ở ngự tiền, trong thời gian đó vẫn để Thái hậu chủ chính, nội các phụ chính."

Bọn họ phải đứng vững ở mặt trận cuối cùng, chính là biến mình thành ranh giới quyết định liệu nữ đế có thể độc lập tham chính được hay không.

Ý của Khổng Tưu rất rõ ràng, chỉ khi nội các cho rằng nữ đế có thể thì nàng mới có thể, nếu không nàng sẽ mãi mãi chỉ là một học sinh ngồi trên hoàng vị.

Đây cũng là một loại uy hiếp đối với Thái hậu, nếu Thái hậu dám nâng đỡ Hàn gia giống như đã nâng đỡ Hoa, Phan trong năm Vĩnh Nghi, bọn họ sẽ ngay lập tức để nữ đế chủ chính, ép Thái hậu lui về hậu cung.

Thái hậu ngồi trầm mặc sau rèm châu, một hồi lâu sau mới lên tiếng: "Ai gia thay mặt thiên tử ngày đêm sợ hãi, nếu giờ đã có trữ quân được chọn, vậy thì ai gia còn tiếp tục thay mặt thiên tử sẽ không thỏa đáng.

Sau lễ đăng cơ, ai gia sẽ lui về Phật đường, dừng hỏi thế sự."

Bà muốn dùng lui để tiến, tất cả mọi người chỉ có thể quỳ xuống, sơn hô: "Thái hậu là mẫu nghi thiên hạ, vạn vạn không thể tự coi nhẹ mình."

Tiết Tu Trác quỳ trong đó, lưng đã ướt sũng.

Nhưng hắn chỉ dập đầu, không hề phản bác Khổng Tưu.

***

Sau khi ngủ một giấc, Tiêu Trì Dã thấy người sảng khoái hẳn, song tin tức đập ngay vào mặt lại là quận Biên làm phản.

Hắn vừa mới ăn sáng xong, còn đang ngồi khoanh chân cho Mãnh ăn ở dưới hiên, nghe thấy tin ấy thì quay đầu lại cùng Mãnh nhìn Thẩm Trạch Xuyên.

Dư Tiểu Tái quỳ ngồi bên cạnh, thấy thế vội vàng nói: "Lúc hay tin ta cũng sợ hết hồn.

Lục tướng quân là tướng tài cơ mà, sao lại có thể làm phản cơ chứ?

Khổng Thượng thư mới lập tức yêu cầu bộ Binh kiểm tra quân vụ quận Biên, Cẩm y vệ thẩm tra thái giám giám đốc, mất gần một tháng mới biết, té ra quân lương phát cho quận Biên lúc trước là lương mốc."

Tiêu Trì Dã đớ người, hắn đứng bật dậy, che mất ánh sáng trong phòng, nói: "Lương mốc?

Lúc đó chỉ bảo quân lương Khải Đông cắt một nửa thôi chứ có bảo bọn họ lấy lương rởm để bù đâu."

Đợt đó chiến sự Ly Bắc khẩn cấp, nhưng quận Biên cũng phải đánh nhau với Biên Sa, Tiêu Trì Dã có gấp đến mấy cũng sẽ không để ai nhét lương mốc cho Lục Quảng Bạch.

Hắn phái cả Thần Dương lẫn Cốt Tân đi giám sát song song chính là vì sợ có người dám động tay động chân vào quân lương, nhưng đâu ngờ lại có người sẽ động đến quận Biên.

"Hèn gì đại soái mãi không đến đánh ta," Tiêu Trì Dã nâng tay đỡ Mãnh, vẻ mặt nghiêm trọng, "nàng đã mất Lục Quảng Bạch, Khuất đô cũng không dám tùy tiện để nàng lên Bắc đối phó với chúng ta nữa, phải có nàng bịt lỗ hổng quận Biên, nhưng Lục Quảng Bạch..."

Đó là Lục Quảng Bạch đấy!

Lòng Tiêu Trì Dã chùng xuống, hắn nói: "Tất cả hai vạn quân của quận Biên đều là lính bộ, Lục Quảng Bạch không có chỗ nào khác để đi ngoài dẫn quân thâm nhập vào đại mạc.

Đại mạc lại là địa bàn của kỵ binh Biên Sa, hắn sẽ mất ngay ưu thế đánh phục kích của hắn ở quận Biên, phải thay đổi phong cách đánh giặc quen thuộc của hắn, tại sao hắn lại không đi ải Tỏa Thiên chứ!"

Ải Tỏa Thiên hay Thiên Phi Khuyết đều được, ải Tỏa Thiên là quân của Phùng gia, cả hai nơi này đều coi như thuộc hạ cũ của Tả Thiên Thu.

Giờ Tả Thiên Thu đang làm tướng ở Ly Bắc, em gái của Lục Quảng Bạch Lục Diệc Chi lại là vợ của Tiêu Ký Minh, hắn mà đến hai chỗ này, chẳng ai sẽ bạc đãi hắn.

Nhưng tại sao hắn lại nhất quyết phải đi về phía Đông?

Ở đại mạc chỉ có mười hai bộ Biên Sa.

===

[1]: Nguyên văn "Tất cả quan sĩ trong triều đều là phụ nhân" — Hải Thụy.
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 125: Mãnh Ngu


Chẳng mấy chốc là qua tháng Sáu, quân phòng vệ Từ châu đã bước đầu thành hình, đã đến lúc Tiêu Trì Dã tiếp tục đi về phương Bắc.

Trong hai tháng ở Trung Bác, hắn chưa từng gửi cho Ly Bắc một bức thư riêng nào, Ly Bắc cũng chưa từng gửi cho hắn một bức thư nhà nào.

Thời gian Mãnh đi săn ngày càng dài, Tiêu Trì Dã biết nó bay về phương Bắc.

Hắn đứng trong sân đình nhìn mặt trời dần lặn, mãi cho đến khi Thẩm Trạch Xuyên ở sau lưng gõ nhẹ một cái lên khung cửa.

Tiêu Trì Dã quay lại, tắm trong ánh chiều tà nhìn Thẩm Trạch Xuyên.

Thẩm Trạch Xuyên cảm thấy hình như Tiêu Trì Dã lại cao lớn hơn một chút rồi, bờ vai rộng ấy gánh lên sức nặng của vầng dương đang lặn, hắn đã cường tráng hơn nhiều so với sáu năm trước.

Thẩm Trạch Xuyên ngắm một lát, Tiêu Trì Dã hơi nghiêng người, bảo: "Mình đi cưỡi ngựa đi."

Không như lần trước, lần này Tiêu Trì Dã nghiêm túc hẳn.

Hắn đỡ Thẩm Trạch Xuyên lên Lãng Đào Tuyết Khâm, từ đạp yên đến kéo cương, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ hắn đều giảng giải cho Thẩm Trạch Xuyên nghe.

Dường như cái gì hắn cũng muốn để dành cho Thẩm Trạch Xuyên, ngựa của hắn, ưng của hắn, tấm lòng của hắn.

Họ men theo con đường rừng bên ngoài thành Từ châu, thong dong cưỡi ngựa về phía Bắc.

Vệt nắng còn sót lại cuối chân trời đã tắt, muôn vì tinh tú trải ngút ngàn sau lưng.

Dãy núi mạn Bắc cỏ cây màu mỡ, Lãng Đào Tuyết Khâm chạy lên, Tiêu Trì Dã ghìm cương bảo Thẩm Trạch Xuyên trong gió: "Phía cuối chính là núi Hồng Nhạn."

Thẩm Trạch Xuyên phóng tầm mắt qua muôn trùng mây đêm, ở đằng xa là bầu trời mênh mông.

Y chỉ thấp thoáng trông thấy phần lưng hùng vĩ gồ lên của núi Hồng Nhạn, nó giống như một con rồng dài vắt ngang ở cuối chân trời, vạch ra đường ranh uốn lượn ở nơi tận cùng Đại Chu.

Trung Bác có thể nhìn thấy đường viền của nó, nhưng lại không thể chạy tới bên cạnh nó, nó bồi dưỡng vùng thổ nhưỡng bao la ở cực Bắc Đại Chu, nó là bức tường vạn dặm trồi lên từ đất mẹ Ly Bắc.

Thẩm Trạch Xuyên lắng nghe tiếng gió gầm thét, đó là thứ gió khác hoàn toàn với gió ở Khuất đô, cuốn tay áo y lên tựa một con chim trắng đang giương cánh.

"Đó là tiếng gọi của núi Hồng Nhạn đấy, nó cũng nhớ ta.

Khi chúng ta đến gần nó sẽ nghe thấy tiếng dài và trong hơn nhiều."

Tiêu Trì Dã để Lãng Đào Tuyết Khâm chạy, họ rong ruổi trong gió, băng qua đồng cỏ hoang cuồn cuộn tựa sóng như những cánh chim đang bay về núi Hồng Nhạn.

Mãnh vỗ cánh đuổi theo sau, liệng vòng xuống rồi bay vút lên từ trong một bụi cỏ.

Tiêu Trì Dã bỗng nói vào tai Thẩm Trạch Xuyên: "Ta muốn đưa ngươi đi gặp nó."

Viên ngọc nhỏ bên tai Thẩm Trạch Xuyên bị hơi thở của hắn hun nóng, y nhìn về phía trước, nói: "Tiêu Sách An..."

Tiêu Trì Dã nghiêng đầu, Thẩm Trạch Xuyên nói gì đó, nhưng gió lớn quá nên Tiêu Trì Dã không nghe rõ.

Hắn không chịu bỏ qua, bèn xích lại gần một chút ra hiệu cho Thẩm Trạch Xuyên nhắc lại.

Thẩm Trạch Xuyên nói: "Chạy nữa quá cảnh mất!"

"Thì quá cảnh," Tiêu Trì Dã chẳng buồn dừng lại, "ta đưa ngươi về nhà, gặp cha với đại ca — ngươi vừa nói gì cơ?"

Thẩm Trạch Xuyên hô trong gió: "Quạt, của, ta, đâu!"

Tiêu Trì Dã mò tay vào Thẩm Trạch Xuyên rồi bất thình lình ghìm cương lại.

Lãng Đào Tuyết Khâm cất vó hí lên, khung cảnh trước mắt Thẩm Trạch Xuyên xốc lộn, ụp một tiếng, cả hai đã ngã vào cỏ lăn mấy vòng xuống sườn đồi.

Tiêu Trì Dã dùng hai tay bọc người ta lại, lúc dừng lại cũng không thèm đứng dậy, mà lại dang tay chen xuống dưới người Thẩm Trạch Xuyên, nói: "Ngươi lừa ta."

Thẩm Trạch Xuyên véo má hắn, hỏi lại: "Ai lừa ngươi?"

Khóe miệng Tiêu Trì Dã nhếch lên, hắn nhìn Thẩm Trạch Xuyên chăm chú, hờn dỗi nói: "Ngươi lừa ta, ngươi là cái đồ lừa đảo, đồ xấu xa, đồ bạc tình..."

Thẩm Trạch Xuyên bứt cỏ dại trát đầy lên mặt hắn.

Tiêu Trì Dã cũng chẳng hề tránh, hắn vươn tay ôm cứng còng lấy Thẩm Trạch Xuyên, ấn lưng người ta vào ngực mình, vừa thở hồng hộc vừa xấu xa tuyên bố: "Đời này ta có chết cũng phải chết cùng ngươi."

Thẩm Trạch Xuyên bị ấn dúi hẳn cả đầu vào hõm cổ Tiêu Trì Dã, y giãy giụa mấy lần không ra mới khó chịu kêu lên: "Tiêu nhị, nghẹt thở chết ta là ngươi thành mưu sát chồng đấy."

Tiêu Trì Dã nói: "Vậy thì ngươi nhắc lại câu vừa rồi một lần nữa đi."

Thẩm Trạch Xuyên thở hổn hển mấy hơi, cuối cùng mới hấp hé đôi mắt từ dưới tay Tiêu Trì Dã, cất giọng nói dạt dào tình cảm: "Tiêu nhị, nghẹt—"

Tiêu Trì Dã xoa đầu Thẩm Trạch Xuyên một lát, nựng đỏ ửng hai má y lên, vò rối mù cả mái tóc đen của y, trông chẳng còn ra dáng Thẩm đồng tri nữa, hắn oán hận: "Thẩm Trạch Xuyên!"

Trong miệng Thẩm Trạch Xuyên dính cỏ, y hỏi: "Hả?"

Tiêu Trì Dã bưng hai má y lên, muốn hôn y, nhưng đến lúc sắp hôn thì lại dừng lại, lạnh lùng nói: "Ngươi hôn ta đi."

Thẩm Trạch Xuyên cứ hơi ngước đầu như thế, nhịn giây lát mới nói: "Ngươi buông tay ra đi."

Tiêu Trì Dã: "Không buông, tự nghĩ cách đi."

Thẩm Trạch Xuyên không chạm tới, y bèn mím chặt môi, bấu víu lấy vạt áo hắn gắng sức kéo xuống rồi thơm chóc một cái.

Mặt Tiêu Trì Dã vẫn lạnh tanh.

Thẩm Trạch Xuyên vẫn phải với, Tiêu Trì Dã bèn cúi xuống hôn, tới nỗi y phải ngửa hẳn ra đằng sau, cắn cũng không nương tay một xíu nào.

Eo Thẩm Trạch Xuyên bị giữ, lúc ngửa người cổ đau, y nheo mắt khẽ hít vào một hơi.

Trên dưới chớp mắt đảo lộn, Thẩm Trạch Xuyên chìm trong cỏ, lúc bị tiến vào y có thể nhìn thấy muôn vàn đốm sao rải khắp trời.

Y bật ra âm thanh khó kìm nén, níu lấy một lọn tóc của Tiêu Trì Dã, quấn quanh ngón tay đang cong siết lại.

Biển sao lấp lánh trước mắt, vỡ tan ra trong gió, y chếnh choáng nhìn Tiêu Trì Dã, cảm thấy sói con hung hăng hơn bình thường.

"Tiêu nhị..."

Thẩm Trạch Xuyên kéo dài hai chữ này.

Tiêu Trì Dã cúi người xuống bao phủ y, chặn lại cả gió và sao.

"Ta yêu ngươi."

Dạo này Tiêu Trì Dã có vẻ thích thủ thỉ bên tai thế này, càng gần nhà hắn lại càng hay làm nũng như vậy.

Hắn chiếm giữ Thẩm Trạch Xuyên, cũng bị Thẩm Trạch Xuyên chiếm giữ.

Hắn chẳng tiếc rẻ chi lời yêu ấy, mỗi một lần nói ra đều khiến Thẩm Trạch Xuyên nghiến chặt răng, không kìm đặng cơn run rẩy.

Thẩm Trạch Xuyên vừa như thở dài, lại vừa như đang ngâm nga, kề sát Tiêu Trì Dã trong lời nỉ non rời rạc.

Tiêu Trì Dã thỏa thích buông thả ở đường biên Ly Bắc, bên dưới lớp xiêm áo ngỡ như chỉnh tề ấy lại là sự phóng đãng chỉ hai người biết.

Hắn quay lưng về núi Hồng Nhạn, trong tiếng gió thổi hồn vào cơn mơ, hắn bóc trần sự bá đạo hung hăng của mình.

Thẩm Trạch Xuyên hôn Tiêu Trì Dã, dần dần quên đi biển sao.

Y được nâng lên tầng mây, rồi lại rơi vào trong gió, cuối cùng tan chảy trong vòng tay Tiêu Trì Dã.

***

Lúc Thẩm Trạch Xuyên tỉnh dậy, trời đã hửng sáng.

Nắng mai mong manh xuyên qua rèm trúc, y vươn tay ra sờ hơi ấm còn sót bên cạnh.

Tiêu Trì Dã đã ra khỏi thành từ sáng sớm, tấm áo choàng cũ để lại vẫn đang treo trên mắc áo, trong phòng đốt hương xua muỗi, hơi ấm của hoan ái hãy còn vương trên người Thẩm Trạch Xuyên.

Thẩm Trạch Xuyên dang tay chiếm chỗ của hai người, y còn chưa nhắm mắt lại đã chợt chống người bật dậy, vội vàng mặc quần áo xỏ guốc gỗ rồi đẩy cửa ra.

"Nhanh," màu đỏ còn vương trên khóe mắt Thẩm Trạch Xuyên rất rõ, y khàn giọng bảo Đinh Đào đang ngồi dưới hiên, "mau phi ngựa đưa giáp tay mới cho Sách An."

Vì bị bỏ lại nên Đinh Đào hơi chán chường, cậu đang ngồi khoanh chân hí hoáy xả giận bên cạnh cái ao nhỏ, nghe thế không buồn cất bút đi đã đứng dậy toan chạy đi ngay.

Kiều Thiên Nhai tay nhanh mắt lẹ túm lấy cổ áo Đinh Đào, bảo Thẩm Trạch Xuyên: "Hầu gia cầm theo rồi."

Thẩm Trạch Xuyên bị hơi lạnh buổi sáng xốc tỉnh, y gõ nhẹ guốc gỗ, vừa gật đầu toan vào nhà thì Kiều Thiên Nhai lại nói thêm: "Cơ mà chỉ mang theo một cái thôi, cái còn lại bảo để lại cho chủ tử."

Thẩm Trạch Xuyên đứng yên giây lát, nhưng không nói gì.

Y thấy trời sắp sáng nên không định ngủ thêm nữa, bèn hỏi: "Cấm quân để lại bao nhiêu người?"

Kiều Thiên Nhai đáp: "Hai nghìn người, tất cả ở trường săn Bắc Nguyên."

"Lập danh sách đi, cấm quân không thể lẫn với quân của Từ châu được."

Thẩm Trạch Xuyên kéo áo, "Thành Phong tiên sinh muốn trao đổi kỹ việc mua bán lương thực giữa Từ châu với Trà châu, ngươi đi bảo ông ấy hôm nay chúng ta sẽ bàn."

Kiều Thiên Nhai chưa đi vội, hắn móc một bức thư từ trong ngực áo ra: "Chủ tử, Cát Thanh Thanh ở Quyết Tây có thư."

"Đúng lúc lắm," Thẩm Trạch Xuyên nói, "đội thuyền ở cảng Vĩnh Nghi không gặp trở ngại gì chứ?

Cửa hàng của Hề gia không liên quan đến chúng ta, giữ trật tự bên ngoài không đến lượt bọn họ phải làm, nhưng Tiết Tu Trác lại chỉ cuỗm kho bạc, trong khi những cửa hàng phát tài này thì lại để lại cho ta, ta đoán chưa chắc hắn đã cam lòng đâu."

"Khuất đô lại chẳng thấy có động tĩnh gì, Tiết Tu Trác có tính mọi nước đi cũng không thể phân thân ra được, không có ai lo liệu cửa hàng ở Quyết Tây hộ hắn."

Kiều Thiên Nhai thả Đinh Đào ra, nói, "Cơ mà ý của Cát Thanh Thanh là, Khuất đô không làm phiền hắn, mà là Nhan thị Hà châu."

Nhan thị Hà châu chiếm cứ đường thủy Trà châu, là một đại phú thương ở phía Nam Khuất đô.

Cờ của Lôi Thường Minh phất lên nổi cũng là nhờ có Nhan thị chống lưng cho Lôi Kinh Chập.

Thẩm Trạch Xuyên nhớ bọn chúng, nghe thế thì cũng không bất ngờ.

"Ta biết rất ít về Nhan thị," Thẩm Trạch Xuyên nói, "ở Khuất đô cũng không có mấy tin tức về bọn họ."

Đinh Đào nghe vậy nhảy cẫng lên, cậu nói: "Công tử, tôi biết!

Người chống lưng cho Lôi Kinh Chập là đại đương gia hiện tại của Nhan thị, một kẻ tên là Nhan Hà Như.

Người ta đồn gã kính sang ưa giàu, không có kiệu ngàn vàng thì sẽ không chịu ra ngoài.

Tên này không chỉ đeo vàng đâu, mà cả bàn tính mang theo người cũng là bàn tính vàng ngọc luôn!

Cực kỳ, cực kỳ, cực kỳ giàu!"

Đinh Đào xoắn xuýt hết lên, chữ cực kỳ nói đến trẹo cả lưỡi, cậu bèn giơ quyển sổ nhỏ cho Thẩm Trạch Xuyên xem.

Lấy bút lông quẹt ra một hình người nhỏ đang giơ cao bàn tính, cả người chỉ mặc mỗi tiền, một luồng khí chất giàu có đập ngay vào mặt.

"Ngươi nghe tin từ đâu vậy?"

Kiều Thiên Nhai hỏi.

Đinh Đào chỉ về phía nhà tù: "Lần trước chủ tử đánh thổ phỉ có dẫn về một thằng đần, sắp cao bằng Tân ca rồi, khỏe như trâu ấy.

Ta dùng mấy viên kẹo để dụ nó nhả tin ra, thằng này ngu lắm, miễn được cho ăn là cái gì cũng nói."

Thẩm Trạch Xuyên nhớ láng máng Tiêu Trì Dã từng nhắc đến thật, bèn hỏi: "Thổ phỉ còn lại không phải đã đưa về hết rồi sao?"

"Rồi ạ," Đinh Đào gật đầu, "nhưng mà chủ tử bảo nó ngu quá, quay về cũng không sống nổi nên thà để lại ở chỗ chúng ta còn hơn."

Thẩm Trạch Xuyên vẫn muốn biết thêm về Nhan thị, y bèn bảo: "Dẫn hắn tới."

***

Sáng tinh mơ Triêu Huy cho ưng ăn, hắn đeo bao tay đi đến từng con một, đỡ móng nhọn của chúng nó rồi đút thịt cho chúng ăn.

Công việc này ở chỗ khác sẽ có ưng nô chuyên dụng làm, nhưng ở Ly Bắc đến tận đời của Tiêu Trì Dã vẫn chỉ chuộng tự mình làm, tự mình thuần phục ưng mình nuôi.

Triêu Huy đút đến con "Ngu" của Tiêu Ký Minh thì phát hiện trên lưng nó có một vết cào tả tơi, trụi nguyên một mảng lông.

"Bị sao đây?"

Triêu Huy đỡ Ngu, rẽ lông ra nhìn, rồi hỏi binh lính bên cạnh, "nó đánh nhau với con nào à?"

Người lính đang xách theo túi thịt đi mấy bước theo Triêu Huy thưa: "Chịu tướng quân ạ, mấy bữa trước nó đi săn, lúc bay vòng qua phía Nam về đã thấy bị thương rồi, tôi bảo đại phu xem thử thì bảo là vết thương kiểu này cũng là bị chim dữ cào."

Triêu Huy nhìn vết thương nọ: "Lạ nhỉ, ưng của ai mà lại hung mãnh thế..."

Trong nháy mắt, Triêu Huy bị một chữ chấn động, hắn bỗng ngoái đầu nhìn về phương Nam.

Gió vẫn thổi, trên bầu trời chẳng có dấu vết của con ưng gộc nào.

Trời Ly Bắc vẫn xanh.

===
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 126: Lịch Hùng


Người nào tên nấy, Lịch Hùng là một con gấu con thứ thiệt[1].

Nó ở trong ngục gần nửa tháng, ngày nào cũng ngồi khoanh chân quay mặt ra chấn song thô lố nhìn cửa, chờ Lôi Kinh Chập đến đón nó.

Các cai ngục thấy nó còn nhỏ tuổi thì cũng thích trêu nó, nó vừa khỏe vừa kháu, bị người ta trêu mà cũng không giận, mỗi tội sức ăn thì kinh thôi rồi, một bữa có thể ăn bằng ba người.

1.

Cai ngục mở cửa cho Lịch Hùng, Lịch Hùng vội vàng lê xích hỏi: "Đại ca đến đón ta à?"

Cai ngục vỗ một cái lên lưng Lịch Hùng, không tiếp chuyện nó.

Kiều Thiên Nhai bố trí xe ngựa đến đón nó, cai ngục sợ nó làm ầm trên đường nên còn đeo cả cùm lên chân Lịch Hùng.

Lịch Hùng không quen ngồi xe ngựa, xóc quá làm nó choáng đầu hoa mắt, khổ lắm mới tới nơi, vừa xuống xe nhìn thấy cổng lớn của trạch cái là nó không chịu dịch một bước nào nữa.

"Ta không vào đâu," Lịch Hùng đứng chôn chân y như cây cột, mấy người ùa vào đẩy cũng không nhúc nhích, "cái viện này lớn quá, ta vào thì đại ca lại không tìm được ta."

Hôm nay trời oi, người đứng đây mà mồ hôi chảy ròng ròng.

Cai ngục sợ làm mọi người phật lòng, cuống lên như con quay, bèn dỗ Lịch Hùng: "Ngươi cứ vào đi đã, vào rồi bọn ta sẽ đưa ngươi ra mà."

Lịch Hùng thấy tên này lúc nói chuyện con ngươi cứ láo liên y chang con chồn, trông giống một tên đểu giả, nó khó chịu lắc đầu, sống chết không chịu động đậy.

Cai ngục dỗ mãi mà không suy suyển nổi, đành quyết đánh liều, mấy người cùng ra sức dồn lưng Lịch Hùng để ủn nó vào.

Gót chân Lịch Hùng sượt trên mặt đất, nó bị đẩy thì cáu, bèn hét lên một tiếng, vung tay gào: "Ta không vào đâu, không vào đâu!"

Mấy người sau lưng bị Lịch Hùng đủn lui hết cả đám, cai ngục nhìn cánh tay đang quăng quật của nó, sợ sợi dây xích kia không giữ được, bèn sấp ngửa la lên: "Giữ nó xuống, đừng có để nó quấy!"

Thấy đám bọn họ bổ nhào về phía mình, Lịch Hùng buộc phải đứng trung bình tấn, cả người vững vàng dằn xuống như một ngọn núi, khuôn mặt đen nhẻm hừng hực phẫn nộ.

Cai ngục dùng hết sức bình sinh, dè đâu Lịch Hùng chẳng mảy may xê dịch, thời gian cứ tiêu tốn dần ngoài cửa.

Kỷ Cương đang đi bộ từ ngoài vào, Phí Thịnh theo bên cạnh.

Từ đằng xa ông đã nhìn thấy mấy người đang chen chúc ở cửa, đương chắp tay sau lưng định hỏi thì thấy mấy cai ngục "Oái" một tiếng, bị Lịch Hùng xô ngã ngửa một loạt.

"Sức siêu khỏe!"

Phí Thịnh buột miệng khen, nhìn sắc mặt Kỷ Cương.

Kỷ Cương là người đánh Kỷ gia quyền, coi trọng nhất là sức, quả nhiên hai mắt ông sáng lên, hỏi: "Thằng bé này từ đâu ra đây?"

Phí Thịnh mau mắn bước lên, chẳng cần hỏi, chỉ cần nhìn quần áo của cai ngục đã đoán được đại khái.

Trước tiên hắn nắm thanh đao Tú Xuân ở bên hông, rồi ngay sau đó lại bỏ ra, đưa chân nhấc sợi xích trên mặt đất lên, nói: "Tránh ra, để ông đây trói nó!"

***

Vốn Thẩm Trạch Xuyên đang ở trong phòng chờ nhóm Khổng Lĩnh đến, nghe thấy tiếng động ở trước sân mới vén rèm lên, thấy Kỷ Cương bước vào trước thì không khỏi ngớ ra: "Sư phụ, sao thế ạ?"

Kỷ Cương đưa lồng chim của mình cho Kiều Thiên Nhai để Kiều Thiên Nhai treo lên trong hành lang.

Ông cúi người xuống chiếc lu đồng vốc mấy vốc nước, rửa tay, đoạn đáp: "Nhặt được một thằng bé trước lúc vào, con xem xem có phải người con cần đó không?"

Vừa dứt lời thì Phí Thịnh lôi xích vào, kéo theo một thằng nhóc vạm vỡ như đang kéo một con trâu.

Thằng bé này vẫn còn đương cáu tiết giằng co, giật Phí Thịnh về phía mình, dù gì Phí Thịnh cũng là đồng tri Cẩm y vệ, thế mà kéo mấy bước này thôi mà mồ hôi cũng ướt sũng áo.

"A," Đinh Đào thò đầu ra từ trong nhà hô to, "là nó đấy, Lịch Hùng!"

Thẩm Trạch Xuyên hỏi: "Có chuyện gì vậy?"

Phí Thịnh toan đáp, nào ngờ sợi xích sắt kia bỗng giật thẳng cái, cả người hắn ngã ngửa về đằng sau, chớp mắt bị lôi ngược lại.

Lịch Hùng kéo xích, lại còn giãy nứt luôn cả cùm gỗ, nó kéo lê Phí Thịnh trong sân.

Lưng Phí Thịnh sượt qua khóm hoa, bùn bắn bét lên cổ, hắn đang muốn thể hiện, khổ nỗi lại nhận ra mình chẳng giữ yên được thằng nhóc này.

Chuyện xảy ra nhanh tới mức không ai kịp phản ứng, Kiều Thiên Nhai toan nhảy vào, nhưng Kỷ Cương lại giơ một tay ngăn lại, quát: "Đào!"

Đinh Đào vâng, nhét cuốn sổ vào ngực rồi lanh lẹ nhảy phóc ra.

Cậu nhảy ra ngoài lan can hành lang, Phí Thịnh vẫn còn đang bị kéo lê, Đinh Đào đuổi theo mấy bước, cậu biết mình không kéo được thằng nhóc kia nên bèn giơ chân bất thình lình giẫm xuống xích, kêu: "Lịch Hùng—"

Nào ngờ trượt một cái, chân mắc luôn vào dây xích.

Lịch Hùng kéo xích, Đinh Đào tức thì cà mông ngã ngửa ra đằng sau.

Cậu rất nhanh trí dùng hai tay che đầu, cùi chỏ đè lên hai má, ngã cái "bịch" xuống đất bùn tơi xốp, lăn lộn mấy vòng, thân cây hoa đâm vào tay, may được giáp tay da chó mới bảo vệ.

Phí Thịnh móc chân vào một tảng đá, bị sợi xích đang quấn quanh cánh tay siết đau điếng.

Hắn cắn chặt răng lật người dậy, gần như ngồi xổm xuống kéo về phía sau, gân xanh nổi lên, không kìm được bật chửi: "Sức gấu à!"

Đinh Đào bật dậy như con cá chép, chạy mấy bước rồi bỗng nhảy lên đạp lan can bổ thẳng xuống lưng Lịch Hùng.

Một tay cậu túm cổ áo Lịch Hùng, hai chân quặp cứng gáy Lịch Hùng, vung quả đấm nhưng không giáng xuống mà hô: "Buông ra!"

Vai Lịch Hùng trĩu xuống, lực nhảy bổ vào của Đinh Đào làm cử động nó chuệnh choạng, nó hơi khom mình để đứng vững lại, rồi tức thì thả dây xích ra, thò một tay ra đằng sau định túm Đinh Đào xuống.

Nhưng tay thò được giữa chừng thì lại bị xích kéo căng lại, không khỏi nổi giận, nó bèn giẫy nửa người tính văng Đinh Đào xuống.

Đinh Đào y như con khỉ, người cậu không tuột xuống, nhưng cuốn sổ trong ngực lại rơi ra.

Khinh công của Đinh Đào là giỏi nhất, đây không phải do người ngoài dạy mà là cha cậu dạy.

Nhà họ làm cận vệ ở Ly Bắc, đi đâu cũng mang một cuốn sổ nhỏ theo người, chuyện lớn chuyện nhỏ đều ghi hết vào.

Cuốn sổ ấy thậm chí còn quan trọng hơn cả mạng sống của bọn họ, để không đánh rơi sổ trên chiến trường, cha của Đinh Đào còn luyện cả khinh công chuyên dùng để chạy trốn, đáng tiếc cuối cùng cha cậu lại mất mạng khi đang truy tìm cuốn sổ, bị cắt cổ khi hẵng còn đang sống sờ sờ.

Thấy quyển sổ tuột xuống, Đinh Đào cuống lên thò tay ra tóm thì bị Lịch Hùng bắt được.

Lịch Hùng giữ tay Đinh Đào, coi Đinh Đào như con cá vớt được dưới suối, nghiêng mình vật cậu xuống đất qua vai.

Một âm thanh nặng nề vang lên, cả tấm lưng Đinh Đào đập rầm xuống đất, cậu đau đến mất cả tiếng, nhưng hai chân lại lẹ làng kẹp lấy cuốn sổ.

Lịch Hùng đã túm chặt cổ áo Đinh Đào, lại một lần nữa lôi Đinh Đào từ dưới đất lên lơ lửng giữa không trung, Đinh Đào dồn hết sức vào chân, bất chấp bị đánh, một tay vẫn phải bắt lấy cuốn sổ trước, rồi ngay giây sau lại bị quật tiếp xuống đất.

Lần này Đinh Đào không chịu được nữa, cậu sặc tới nỗi ho khù khụ liền mấy tiếng, cảm thấy dịch trong dạ dày mình sắp trào ngược ra ngoài.

Cậu giơ chân ngoắc lên vai tay Lịch Hùng, xoay người lấy lực lật Lịch Hùng ngã xuống đất.

Sợi xích trói Lịch Hùng bị gãy, nó lăn dậy, trừng mắt vung nắm đấm thẳng vào mặt Đinh Đào.

Vung được giữa chừng thì cả cánh tay bỗng cảm thấy nặng như đeo đá, trong nháy mắt tưởng như đụng phải một tấm thép, sức lực kinh hồn nọ tắc tị.

Kỷ Cương dùng một tay chặn nắm đấm của Lịch Hùng, quát: "Lùi lại!"

Lịch Hùng không muốn, nhưng hai chân dường như không chịu tuân lệnh, bất ngờ bị một ông lão tóc bạc đánh lui mấy bước, cơ thể vừa đứng dậy còn chưa vững nên lại ngã phịch mông xuống đất.

Kỷ Cương phất tay áo, kéo Đinh Đào từ dưới đất dậy.

Đinh Đào nhét cuốn sổ lại vào trong ngực áo rồi mách: "Ông ơi!

Nó đánh con đau quá!"

Kỷ Cương phủi đất trên lưng Đinh Đào trước: "Ta đã bảo ngươi rồi, chỉ dùng mánh lới khôn lỏi để thoát thân thì sớm muộn gì cũng phải ăn đủ!

Dậy một cái là phải cho nó 'tay không đấu bò' ngay, sao ngươi còn do dự?"

Đinh Đào ấm ức, vừa lau mồ hôi trên mặt vừa cự nự: "Nó còn ăn kẹo của con mà, hôm qua còn xưng anh em với con nữa."

Lúc này Kiều Thiên Nhai mới khoanh tay dựa cột huýt Phí Thịnh một tiếng: "Lão Phí, ngươi bó tay à."

Phí Thịnh cởi phăng luôn chiếc áo ngoài nhem nhuốc ra, vừa cười vừa chửi: "Sao cháu trai không đi thử tí đi?

Sức thằng nhóc này quá trời."

Thẩm Trạch Xuyên hơi kinh ngạc, người khỏe nhất mà y từng gặp chính là Tiêu Trì Dã, chẳng cần đồ trợ giúp, chỉ dựa vào mỗi lực cánh tay đã có thể kéo được cung bá vương nặng năm chục cân, một tay nâng y lên ngựa xuống sông đều không thành vấn đề.

Nhưng kể cả có là Tiêu Trì Dã thì lúc bằng tuổi Lịch Hùng cũng không đáng sợ thế này.

"Cha ngươi với mẹ ngươi, ai là người Biên Sa?"

Kỷ Cương kéo Đinh Đào ra sau lưng, bước lên mấy bước hỏi Lịch Hùng.

Mông Lịch Hùng bị ngã đau, xích đi tong rồi nhưng cái cùm trên chân nó thì vẫn còn.

Vốn nó đã chẳng muốn vào, lại còn bị Phí Thịnh chọc giận, mới nãy còn bị Kỷ Cương đánh hạ, trong khi Đinh Đào vừa vào dưới hiên là đã có người dỗ, nó mới bặm môi ngửa đầu khóc toáng lên, giãy chân đành đạch gào: "Sao các ngươi lại bắt nạt ta!"

Thẩm Trạch Xuyên rủ tay áo bảo Kỷ Cương: "Vẫn còn là trẻ con."

Kỷ Cương nhìn vai của Lịch Hùng, nói: "Vừa nãy xem nó đánh nhau thấy không có quy củ gì cả, chỉ dựa độc vào sức...

Thế mà cũng chật vật ra phết.

Thằng bé này, ngươi nói thật cho ta, có phải cha mẹ ngươi có một người là người Biên Sa không?"

Lịch Hùng không thèm để ý đến Kỷ Cương, nó chẳng nghe lọt tai một cái gì hết, chỉ ngoác mồm khóc thê thảm.

Từ bé tí nó đã đi theo Lôi Kinh Chập, giờ không có Lôi Kinh Chập, nó chẳng khác nào cây củ cải bị vứt ra giữa đường, hoang mang hoảng hốt, không nơi nương tựa.

Tiếng khóc ấy làm Thẩm Trạch Xuyên nhức đầu, đêm qua y ngủ không ngon, đứng lâu thấy mệt, bèn bảo Đinh Đào: "Đưa thêm kẹo của ngươi cho nó đi."

Đinh Đào càng ấm ức, cậu lề mề thò tay vào trong túi áo, cuối cùng moi ra được một bọc giấy dầu, nói: "...

Chảy mất rồi."

Kiều Thiên Nhai vân vê đóa hoa rơi xuống đất rồi cắn vào răng, cười cười nhìn Lịch Hùng, bước qua lan can đến đứng trước mặt nó, khua khua tay hỏi: "Ca ca tháo cùm cho ngươi rồi bảo người lấy thức ăn cho ngươi ăn nhé.

Ngươi muốn ăn cơm hay ăn mì?"

Lịch Hùng ợ một cái, nước mũi bóng loáng trên mặt, sụt sịt đáp: "Ta ăn thịt."

***

Rèm trúc vén một nửa, trong phòng mát rượi.

Lịch Hùng ngồi khoanh chân một mình trước cái bàn nhỏ, dùng tay cầm thịt ăn ngấu nghiến.

Đinh Đào nhìn lén chồng đĩa, cảm thấy mình sắp đếm hết nổi rồi.

"Mẹ nó khả năng cao là phụ nữ bị kỵ binh Biên Sa bắt, ven sông Trà Thạch loạn lắm, mấy năm trước thường xảy ra chuyện như vậy, quân phòng vệ Đoan châu cũng không muốn vượt biên đuổi theo."

Kỷ Cương nửa nghiêng người nhìn Lịch Hùng, "Có điều thể chất vượt trội như thế này thì e là cha nó cũng không phải người bình thường, chẳng biết sao lại rơi vào tay thổ phỉ nữa."

"Nếu quả thật có huyết thống Biên Sa thì bị bỏ rơi thật ra lại không lạ."

Thẩm Trạch Xuyên nhớ lại sức mạnh của Lịch Hùng lúc vừa rồi, "Trong các vụ án ở Khuất đô, năm nào cũng có báo cáo có người bị bắt cóc ở biên giới, Đoan châu là nhiều nhất, những cô gái bị bắt nếu có thai thì bộ Biên Sa sẽ không chịu nuôi, mà sẽ vứt họ về ven bờ sông Trà Thạch, nhưng gia đình ban đầu cũng không chịu nhận nữa."

Phí Thịnh mới thay áo sạch, thấy Kiều Thiên Nhai không lên tiếng thì nói: "Nếu nó tình cờ rơi vào tay thổ phỉ thì cũng đành, chỉ sợ là thổ phỉ đặc biệt nuôi nó thôi."

"Thế cũng không đúng," Kỷ Cương khẽ lắc đầu, "ngươi chưa từng gặp người Biên Sa, bọn họ cũng như chúng ta thôi, không phải ai cũng vạm vỡ thế này đâu.

Ngươi nhìn thiết kỵ Ly Bắc xem, muốn nhập ngũ không chỉ yêu cầu hộ tịch mà còn yêu cầu cả thể chất, thế nhưng cũng đâu có mấy ai cường tráng như Ly Bắc vương.

Ta cảm thấy cha của thằng nhóc này không giống người bình thường cho lắm, chỉ riêng cái thể chất này thôi đã đủ để nắm một chức quan trong kỵ binh Biên Sa rồi, nhưng trong số những tướng lĩnh Biên Sa gần Trung Bác mà ta biết không có ai như vậy cả."

"Ê nhóc," Kiều Thiên Nhai húp canh nguội, "thịt ngươi cũng ăn rồi, trả lời đi."

Trong mồm Lịch Hùng vẫn còn thịt, không rảnh nói chuyện.

Nó giương mắt liếc một vòng người, cuối cùng dừng lại trên người Thẩm Trạch Xuyên, ậm ờ gì đó.

Đinh Đào nằm bò ra nghe một lúc lâu rồi ngoái đầu bảo Thẩm Trạch Xuyên: "Công tử, nó hỏi tại sao người lại đeo khuyên tai...

Công tử thích đeo thì đeo thôi, sao cái đó mà ngươi cũng hỏi...

Ô, trước đây ngươi từng thấy cái như thế à...

Khác á?

Tóm lại là khác chứ gì...

Ừ rồi...

Ngọc của công tử không phải đồ mua đâu...

Ngươi từng thấy rồi á?"

Lịch Hùng nuốt thịt xuống, không buồn lau miệng, nhìn Thẩm Trạch Xuyên nói: "Ta từng thấy ngươi rồi, ở 'Cách Đạt Lặc' ở sông Trà Thạch!"
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 127: Kền kền


Kỷ Cương đứng phắt dậy quát: "Nói láo!"

Lịch Hùng bị Kỷ Cương đánh mà vẫn không sợ Kỷ Cương, nó nói chắc như đinh đóng cột: "Ta không có nói láo, ta thấy y rồi, ở Cách Đạt Lặc có tranh của y mà.

Hồi xưa đại ca ở đó, ta nhớ rõ ràng luôn!"

Phí Thịnh thấy không ổn, hắn tự biết mình còn chưa trở thành tâm phúc của Thẩm Trạch Xuyên, có một số chuyện hắn không thể ngồi đây mà nghe được, bèn đứng dậy nói: "Tôi thấy nó ăn cũng sắp xong rồi, chủ tử, tôi đi bảo nhà bếp không cần đưa thêm thịt nữa nhé."

Phí Thịnh vừa lui ra, Thẩm Trạch Xuyên lập tức mời Kỷ Cương ngồi xuống rồi bảo Lịch Hùng: "Ngươi nhìn cho kỹ xem, có chắc chắn là tranh vẽ ta không?"

Hai ngón tay Lịch Hùng siết chặt chiếc khăn đang lau miệng, nó lại nhìn kỹ Thẩm Trạch Xuyên một lát nữa mới ngập ngừng tiếp lời: "Hơi giống...

Mà cũng hơi không giống..."

Đầu Thẩm Trạch Xuyên lóe một cái, y khều chiếc thìa đang cắm trong bát canh, rủ mắt hỏi: "Bức tranh mà ngươi thấy vẽ một nữ nhân đúng không."

Lịch Hùng sực ngộ ra: "Đúng rồi, đó là nữ nhân, ngươi là nam nhân."

Trong chớp mắt, vô vàn suy đoán lướt qua đầu Thẩm Trạch Xuyên, y vừa nhìn quả ô mai bị khuấy trong canh vừa nhớ lại lời Chu Quế từng nói, nghĩ ngay đến mẹ đẻ Bạch Trà, và cả Lôi Kinh Chập vừa mới quay về Đôn châu.

"'Cách Đạt Lặc' là chỗ nào?"

Thẩm Trạch Xuyên điềm nhiên hỏi.

***

"Cách Đạt Lặc nằm ở phía Đông sông Trà Thạch, thuộc lãnh thổ của Biên Sa.

Hồi đầu đó là chỗ nghỉ chân tạm thời cho bọn thổ phỉ trốn quân phòng vệ Trung Bác, sau đó chúng bắt đầu buôn bán con gái nhà lành, bị quân phòng vệ hai châu do anh tôi Đàm Đài Long chỉ huy tiêu diệt, những kẻ còn sống thì đầu quân cho kỵ binh Biên Sa, hồi đó chỗ ấy bị bộ Liệu Ưng của Biên Sa đóng chiếm."

Đàm Đài Hổ ngửa cổ nhìn Mãnh lao vượt tầng mây, nói, "Lôi Kinh Chập xuất thân từ đó đấy, sau khi rời Chu gia hắn không có chỗ để đi, muốn lập nghiệp với bọn thổ phỉ Trung Bác nên mới đến Cách Đạt Lặc.

Nhưng chẳng biết sao mà hắn lại không lập nổi phỉ đảng ở đó, cuối cùng lại quay về Đoan châu, bắt tay với Lôi Thường Minh thì mới bắt đầu phất lên."

"Bởi vì sau khi Đàm Đài Long tiêu diệt thổ phỉ Cách Đạt Lặc, bộ Liệu Ưng Bắc tiến, nhóm thổ phỉ đi theo bọn chúng hồi đầu cũng Bắc tiến theo."

Thần Dương ngồi xổm dưới đất, vò một nắm đất khô, "Bộ Liệu Ưng bây giờ là kỵ binh dự bị của bộ Hãn Xà, tất cả chim cắt[1] của người Biên Sa đều do bộ Liệu Ưng thuần dưỡng.

Ban đầu địa vị của bọn chúng trong mười hai bộ Biên Sa không cao, chỉ ngang 'ưng nô' thôi.

Nhưng hai mươi năm trước, bộ Liệu Ưng xuất hiện một vị 'Nga Tô Hòa Nhật'."

1.

Đàm Đài Hổ không phải người Ly Bắc, không hiểu ý nghĩa của cái tên này.

Cốt Tân bên cạnh giải thích: "Nghĩa là 'anh hùng' đấy."

"Ngươi có biết Biên Sa là do nhiều bộ tộc tạo thành không?"

Thần Dương ngoảnh lại cười một tiếng với Đàm Đài Hổ, "chỉ tộc nào có 'Nga Tô Hòa Nhật' xuất hiện mới được coi là một trong mười hai bộ, điều trùng hợp là, vương gia của chúng ta và vị Nga Tô Hòa Nhật này sinh cùng năm.

Vương gia thành lập thiết kỵ Ly Bắc ở ải Lạc Hà, vị Nga Tô Hòa Nhật này chinh phục ba bộ Liệu Ưng, Câu Mã, Trường Thứu ở đại mạc, ông ta dựa vào chim cắt để đánh bại lão Xà vương của bộ Hãn Xà ở phía Bắc, kể từ đó trở thành 'Đại Nga Tô Hòa Nhật' duy nhất thống lĩnh bốn bộ Biên Sa kể từ thời Vĩnh Nghi, đồng thời cũng trở thành kẻ thù trường kỳ của Ly Bắc."

Đàm Đài Hổ sửng sốt: "Lẽ nào là..."

Chẳng biết Tiêu Trì Dã đứng sau lưng bọn họ từ bao giờ, hắn ngửa cổ nốc cạn nước trong bị, vừa buộc lại vừa đáp: "Chính là A Mộc Nhĩ."

Bọn họ lui ra, Tiêu Trì Dã giẫm lên ụ đất, trông về núi Hồng Nhạn ở phương xa.

"A Mộc Nhĩ là người có khả năng lên làm đại quân của Biên Sa nhất hiện giờ, lão ta có dã tâm thu phục mười hai bộ."

Sống mũi Tiêu Trì Dã rất cao, lúc nghiêng đầu hơi đổ bóng lờ mờ.

Hắn nói tiếp: "Lão ta gầy dựng nên đội kỵ binh mạnh nhất Biên Sa, trở thành người tiến công sâu nhất vào Đại Chu từ trước đến giờ.

Lão Hổ, kỵ binh Biên Sa mà ngươi thấy bây giờ thực ra là kỵ binh Biên Sa sau khi A Mộc Nhĩ cải cách.

Lão kết hợp ngựa của bộ Câu Mã với chim cắt của bộ Liệu Ưng, làm giảm chiều cao của bộ Hãn Xà nhưng lại tăng tốc độ của bộ Hãn Xà, đồng thời hoàn chỉnh bố trận có thể cân sức Ly Bắc trên không trung."

"Giảm chiều cao?"

Đàm Đài Hổ nhìn về phía Lãng Đào Tuyết Khâm, hỏi, "chủ tử, ngựa chiến của Ly Bắc khác của bộ Hãn Xà sao?"

"Đương nhiên là khác rồi," Tiêu Trì Dã bật cười, nhưng nụ cười của hắn rất nhạt, "hồi xưa cha muốn bắt kịp tốc độ của bộ Hãn Xà nên mới mở trại ngựa ở ải Lạc Hà, không dùng ngựa chiến từ ải Tỏa Thiên nữa.

Ngựa chiến của thiết kỵ Ly Bắc hiện nay được bắt đầu nuôi từ chính lúc đó, rất khỏe, đều là ngựa hoang dưới chân núi Hồng Nhạn, cũng là giống ngựa mà bộ Hãn Xà từng dùng.

Nhưng sau đó A Mộc Nhĩ sớm nhận ra bất lợi, lão nghĩ nếu dùng chung ngựa thì loại ngựa chuyên chở nặng của thiết kỵ Ly Bắc sẽ mạnh hơn, một khi thiết kỵ Ly Bắc tháo giáp thì tốc độ của bộ Hãn Xà sẽ không còn là lợi thế nữa.

Bởi vậy lão ta bỏ đàn ngựa ở núi Hồng Nhạn của bộ Hãn Xà, thay bằng giống ngựa lùn của bộ Câu Mã."

Lãng Đào Tuyết Khâm phe phẩy đuôi, đi vòng quanh Tiêu Trì Dã gặm cỏ.

"Chúng ta ăn đủ vì lũ ngựa lùn đó đấy," Thần Dương vạch một đường cao hơn Đàm Đài Hổ một chút, "ngựa của bộ Câu Mã làm thiết kỵ Ly Bắc không trở tay kịp."

Đàm Đài Hổ không hiểu, hắn ở Đăng châu rồi lại đến cấm quân, nhưng cả hai quân này đều không phải chủ lực kỵ binh nên hắn không hiểu ngựa lùn thì có gì mạnh.

"Quả thật là nhanh kinh hồn," ánh mắt Tiêu Trì Dã hơi lạnh, hắn nhớ lại một thoáng chớp nhoáng in hằn trong ký ức hắn rất nhiều năm về trước, "đám ngựa này vừa dữ vừa khỏe, tuy thể trạng thấp bé nhưng sức chịu đựng lại cực bền.

Bộ Câu Mã đánh với quận Biên suốt bấy lâu nay, người ngoài không hiểu, tưởng là Lục Quảng Bạch chỉ có tiếng chứ không có tài, không xứng đứng trong hàng tứ tướng thiên hạ, nhưng cho người khác ngồi thử vào cái vị trí đó là biết ngay, đội quân mà bộ binh của hắn tập kích ban đêm để tiêu hao không phải kỵ binh thông thường, mà là kỵ binh nhanh nhất trần đời.

Khải Đông đóng giữ ở phía Nam nhiều năm với binh lực lớn gấp bội mà mãi không làm suy yếu được bộ Câu Mã, chính là vì không đuổi kịp, đây cũng chính là nguyên do Khuất đô không chịu để Lục Quảng Bạch xuất quân.

Hồi bọn chúng xuất hiện ở thảo nguyên Ly Bắc đã suýt nữa đánh tan tác thiết kỵ Ly Bắc mới thành lập, việc cha tăng tải trọng đã khiến thiết kỵ Ly Bắc trở thành con mồi dưới loan đao của bộ Hãn Xà sau khi thay ngựa, để giải quyết vấn đề này, cha lựa chọn tiếp tục gia tăng, biến thiết kỵ Ly Bắc thành một bức tường sắt di động."

Cuồng phong cuốn dạt dào qua thảo nguyên, Tiêu Trì Dã rơi vào trầm tư.

"Lão Hổ, sáu năm trước kỵ binh Biên Sa có thể đánh xuyên một mạch qua Trung Bác, không thể không kể đến việc thay đổi ngựa chiến của A Mộc Nhĩ.

Nếu bọn chúng vẫn còn dùng ngựa hoang dưới núi Hồng Nhạn như trước đây thì sẽ không có quân nhu, cũng sẽ không có sức bền dai như vậy.

Lũ ngựa này không chỉ nhanh mà còn lì, chạy trên sa mạc cũng không hề giảm tốc độ, phối hợp với chim cắt giữ vai trò trinh sát tiên phong, đối với quân phòng vệ Trung Bác đây chính là họa trời giáng."

Thực ra đây cũng là vấn đề mà Tiêu Trì Dã trăn trở sau án Trung Bác binh bại.

Lúc ở Ly Bắc theo Tiêu Ký Minh ra trận, hắn nhớ rất rõ cấu tạo hiện giờ của bộ Hãn Xà, thậm chí đã băn khoăn không chỉ một lần, nếu hắn là cha, lúc đối mặt với đội quân tinh nhuệ như thế, ngoài tăng tải trọng ra thì còn biện pháp nào nữa?

Hắn chờ đợi câu trả lời của đại ca, lựa chọn của Tiêu Ký Minh là dát mỏng áo giáp của thiết kỵ Ly Bắc, tăng tính cơ động của thiết kỵ Ly Bắc, song Tiêu Trì Dã không thỏa mãn.

Hắn là con sói tham lam, hắn không thể từ bỏ ưu thế hiện giờ của thiết kỵ Ly Bắc.

Nhưng đây cũng chẳng phải vấn đề chỉ nghĩ là giải quyết được, bởi vậy trước khi vào Khuất đô, Tiêu Trì Dã đã chọn xuôi Nam theo quân, tận mắt chứng kiến thảm trạng ở Trung Bác, gặp cả bộ binh của Lục Quảng Bạch.

"Ta không đuổi kịp, bọn chúng nhanh quá."

Lục Quảng Bạch sáu năm trước ngồi xổm dưới đất vẽ bản đồ cho Tiêu Trì Dã xem, "Nhưng quận Biên cừ lắm, đài lửa hiệu vạn dặm có thể truyền tin cực nhanh, trong đêm tối, bọn ta chính là cái 'bị', chỉ cần khép chặt miệng là bọn chúng sẽ không thể tự do tiến lùi, đội ngũ bị cắt đứt ngã xuống thì có nhanh đến mấy nữa cũng chỉ có thể trở thành con ruồi không đầu."

Tả Thiên Thu cũng từng nói: "A Dã, 'Công là cơ hội để thủ, thủ là kế để công' [1], lý do Thiên Phi Khuyết có thể đứng vững không phải là vì ta làm tướng mạnh cỡ nào, mà là vì trời ban cho Thiên Phi Khuyết ưu thế địa lý đủ mạnh.

Nhưng Thiên Phi Khuyết là bị ép phải thủ, bởi vì quân của bọn ta mà ra ngoài là sẽ chào thua ngay trước thế tấn công của kỵ binh Biên Sa, ta là tướng quân trốn sau cổng thành.

Trên đời này đội quân có thể dùng hai chữ 'tấn công' để đấu với mười hai bộ Biên Sa chỉ có thiết kỵ Ly Bắc mà thôi, ta đã bảo cha con vô số lần, đừng bao giờ để thiết kỵ Ly Bắc trở thành một tấm lá chắn thực thụ, nó sẽ khiến Đại Chu mất tiệt cây trường thương.

Nếu một ngày nào đó con trở thành tướng quân, hãy nhớ kết hợp cả cơ hội và chiến thuật, chiến trường là nơi thoắt biến thoắt hóa, một khi rơi vào tiết tấu nhanh chậm của đối phương là sẽ mất sạch ưu thế.

Con phải nắm chắc cơ hội, nhẫn nại là bài học thiết yếu, đôi khi chính một đòn vô hại lại là mở đầu cho quá trình kiệt sức, đã đấm thì phải đấm trúng vào điểm yếu."

Nhưng quá khó.

Tiêu Trì Dã vẫn chưa nghĩ ra cách nào ưu việt hơn cha anh hắn, hắn thậm chí không thể đánh du kích như Lục Quảng Bạch, song hắn không quên nổi lời cảnh báo của Tả Thiên Thu, hơn nữa trong thâm tâm hắn cũng nghĩ vậy — thiết kỵ Ly Bắc không thể chỉ làm một tấm lá chắn, bọn họ trải qua vô số lần chắt lọc đến ngày hôm nay không phải chỉ để chìm đắm trong vinh quang của quá khứ.

Trong mắt Tiêu Trì Dã, đẩy lùi kỵ binh Biên Sa rất dễ, nhưng muốn đẩy lùi A Mộc Nhĩ thì quá khó.

Bởi lẽ kỵ binh Biên Sa đang mạnh lên không ngừng dưới sự dẫn dắt của A Mộc Nhĩ, người đàn ông này có tiếng nói tuyệt đối trong bốn bộ, sau lưng lão ta không có bất kỳ mối băn khoăn nào, lão ta tựa con kền kền sinh ra ở đại mạc, nhìn chết miếng thịt Đại Chu béo bở, thậm chí còn liên tục thử xâm phạm.

Tiêu Phương Húc cải tiến thiết kỵ Ly Bắc, lão ta cải tiến ngay bộ Hãn Xà.

Tiêu Ký Minh cải tiến thiết kỵ Ly Bắc, lão ta lại tiếp tục cải tiến bộ Hãn Xà.

Sự hiểu biết của lão về đàn sói Ly Bắc khác hẳn người bình thường, từ góc độ nào đó bọn họ chính là tri kỷ, thậm chí lão còn hiểu thiết kỵ Ly Bắc hơn hầu hết người Ly Bắc.

Tầm mắt của Tiêu Trì Dã bị núi Hồng Nhạn ngăn trở, giống như hắn luôn bị ngăn trở bởi cha anh, dẫu chưa từng gặp tận mặt A Mộc Nhĩ, hắn đã coi đối phương là đối thủ mà hắn phải đánh bại.

Đó là con kền kền dày dạn, còn Tiêu Trì Dã là con sói chân ướt chân ráo về nhà.

Mãnh bỗng phóng vụt xuống, mang theo luồng gió sượt qua mặt các cận vệ.

Nó đậu xuống vai Tiêu Trì Dã, vết máu trên bộ móng nhọn hoắt quệt ra mấy đường lởm chởm, nó đã vượt qua tầm vóc mọi người từng tưởng tượng, người đỡ được nó chỉ có Tiêu Trì Dã — và Thẩm Trạch Xuyên luôn đối xử hết mực dịu dàng với nó.

Tiêu Trì Dã thu lại mạch suy nghĩ đương lang thang, hắn ra hiệu cho Thần Dương khỏi cần lấy túi thịt, quay lại nhìn Mãnh, bảo: "Nó đi săn no rồi."

Có điều hôm nay Mãnh hơi lạ, nó quắc mắt nhìn chòng chọc bầu trời, lúc Tiêu Trì Dã cong ngón tay vuốt ve nó cũng không hề dời mắt đi.

Tiêu Trì Dã nhìn lên theo.

Đất trời tĩnh lặng, một con rắn dài xông ra từ bụi cỏ tựa cơn gió dữ, nó vừa ngoác cái miệng to như chậu máu ra, Mãnh đã lại bay vút lên không trung, xuyên thủng cuồng phong quắp lấy con chim cắt đang toan lao ra khỏi bụi cỏ, lúc đối phương định giương cánh nó bỗng lao vút lên, đến lúc nó mang con chim cắt đến trước mặt Tiêu Trì Dã, con chim cắt lạc đàn ấy đã bị xé xác.

Tiêu Trì Dã bỗng nhảy lên ngựa, đương lúc kéo cương hãy còn nhìn xung quanh, cuối cùng ánh mắt dừng lại ở hướng Đông, nhíu mày.

Hắn chỉ vừa mới tiến vào ranh giới Ly Bắc, thậm chí còn chưa đến trạm dịch Ly Bắc, tại sao chim cắt của bộ Biên Sa lại xuất hiện ở đây?

"Tiếng trống," Cốt Tân ngẩng đầu theo hướng gió, "chủ tử, ở phía Đông!"

"Đó là doanh Biên Bác, cũng là doanh tuần tra, bọn họ có mã đạo tiếp tế nối thẳng với đường lương mã Đông Bắc."

Thần Dương cũng cấp tốc lên ngựa, trước khi vung roi thì nhớ đến gì đó, hắn kinh ngạc quay đầu bảo Tiêu Trì Dã, "Phía Đông doanh Biên Bác là doanh Sa Tam, đó là chỗ vương gia thay quân tiền tuyến, ở đó còn có ngựa chiến dự bị quanh năm của Ly Bắc dùng để cung ứng cho chiến trường phía Bắc lúc khẩn cấp—"

Kỵ binh Biên Sa đã đánh đến đây rồi ư?

Doanh Sa Tam thì sao?

Ly Bắc vương thì sao?

Tiêu Trì Dã siết chặt dây cương, đánh ngựa lao đi.

===

[1]:《Đường Thái Tông và Lý Vệ Công hỏi đáp》
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 128: Địch tập


Doanh Biên Bác là khu vực tiếp tế quan trọng trên đường biên Ly Bắc, để đảm bảo thể lực của binh mã tiền tuyến luôn dồi dào, Tiêu Ký Minh lần lượt xây doanh Sa Nhất, Sa Nhị, Sa Tam ở phía Đông Nam Ly Bắc với mục đích làm bình phong cho doanh Biên Bác.

Doanh Biên Bác dự trữ quân lương và quân trang cung cấp cho tiền tuyến hàng năm, ở đây còn có trại ngựa, ngựa chiến ở nơi này là thớt ngựa dự bị để đổi cho tiền tuyến.

Sáng sớm trời hãy còn tờ mờ, Ô Tử Dư đã dậy.

Hắn đứng ở cửa lều để thân binh xối nước lên đầu mình, bảo: "Tiền tuyến đánh căng quá, mở mắt ra là chạy, nhắm mắt vào đã nằm vật xuống, ta chưa tắm nửa tháng nay rồi."

Thân binh đưa khăn cho hắn, hắn dùng khăn lau mặt.

"Hai ngày này tổn thất khá lớn, ba hôm nữa chúng ta còn phải lên Bắc đổi quân với Quách Vi Lễ, Đồ Đạt Long Kỳ cũng đã bị lũ trọc Biên Sa khoét mất, trận này đánh đến tận cửa nhà rồi."

Ô Tử Dư là tướng quân trẻ tuổi nhất trong trong hàng ngũ cấp tướng ở Ly Bắc hiện giờ, hồi xưa hắn là cận vệ trong vương phủ, can tội uống rượu gây rối nên bị Tiêu Ký Minh cách chức cũ rồi xếp vào quân đội.

Hắn đánh trận không quá giỏi, song vận chuyển quân nhu, phân phối lương thực thì lại rất tài tình.

Hồi đầu xuân Ly Bắc thiếu quân lương, hắn lừa được một lô lương từ tay thổ phỉ Trung Bác, cứu nguy cho đội giao chiến tiên phong.

Lúc Thần Dương vận chuyển lương thực đến Ly Bắc, người hắn gặp chính là Ô Tử Dư.

Hắn đi theo Tiêu Phương Húc suốt hai tháng nay, chạy đến mức sắp què cả chân, khó khăn lắm mới tranh thủ được lúc nghỉ ngơi ở doanh Biên Bác, binh lính dưới trướng cũng đã rã rời.

"Mới đầu cứ tưởng vương gia đến thì tiêu diệt bộ Hãn Xà sẽ dễ như bỡn cơ," thân binh nhận lấy khăn bẩn của Ô Tử Dư, vò trong chậu nước, "ai ngờ càng đánh càng khó, đường biên đã lui đến tận rìa doanh Sa Nhất rồi, cứ cái đà này thì doanh Biên Bác sau này phải dịch lại mất."

Ô Tử Dư lấy khăn ướt lau cổ, tay để trần, hắn nhìn về phía Đông: "Nếu doanh Biên Bác mà dịch lại thì bày bố của thế tử ở phía Đông Nam sẽ vứt sạch.

Nơi đó là căn nguyên ba doanh có thể duy trì tác chiến bình thường, không bỏ được."

Thân binh bê chậu hất nước đi: "Lương khô chúng ta cũng không ăn mãi được, binh lính thì thôi không nói, nhưng trong các doanh trại còn có quân thợ, đều phải ăn cơm cả.

Nếu Nhị công tử không tạo phản mà ở yên ở Khuất đô làm Định Đô hầu thì cứ đánh cũng được, nhưng giờ hắn đã giết hoàng đế, Quyết Tây không cấp quân lương nữa, lương dự trữ ở đường lương mã Đông Bắc cũng chẳng cầm cự được bao lâu."

Ô Tử Dư đắp khăn lên mặt, hé mắt nhìn bầu trời giữa những giọt nước, không đáp lại lời than oán của thân binh.

Thân binh đặt chậu xuống: "Tướng quân, ăn sáng bằng bánh bao với trà sữa nhé.

Sữa ngon mới chuyển từ hậu phương tới đấy, không để lâu được, phải uống nhanh lên.

Để tôi bảo đều bếp pha trà thô với váng sữa thật dày, người—"

Ô Tử Dư dựng ngón trỏ ra hiệu cho thân binh trật tự.

Hắn nghe thấy tiếng té nước cùng tiếng đi lại nhốn nháo khắp xung quanh, nhìn lên không trung quang đãng, hắn chưa nghe thấy tiếng tuýt cho ưng đi tuần hôm nay.

Hắn bèn lắng tai nghe một lát nữa rồi hỏi: "Đội đi tuần tối qua về chưa?"

Thân binh đang dội nước rửa chân, nghe thế thì ngẩng lên, cũng nhìn lên trời nói: "Vẫn chưa đến giờ, từ doanh Sa Tam vòng về ít nhất cũng phải đến giờ Thìn ba khắc (7h45)."

"Tại sao ta không nghe thấy còi hiệu ưng tuần?"

"Không thả," thân binh hơi ngập ngừng, "tối qua lúc về trại bọn tôi mệt quá nên không báo ngay cho tướng quân, tất cả ưng mang về lần này đều bị thương, bị chim cắt của kỵ binh Biên Sa ở chiến địa cào khiếp quá, đến cả 'Hống' cũng dính chưởng.

Người nuôi ưng thương tụi nó, chúng ta cũng về lại đây rồi nên hôm nay cho miễn ưng tuần để đại phu chữa trị cho tụi nó."

Ưng khó nuôi, lúc luyện ưng phải đủ kiên nhẫn, ưng đủ tiêu chuẩn làm trinh sát toàn trăm con mới chọn ra được một, dù không phải ưng gộc song bọn chúng cũng quý báu chẳng kém.

Lần này Tiêu Phương Húc đánh giặc ở tiền tuyến, người đánh không suôn sẻ, ưng đánh cũng không suôn sẻ.

Ở Ly Bắc, ngựa với ưng đều là anh em tốt, gắn bó sâu đậm với thiết kỵ, dù con nào bị thương thì người sẽ đều không vui.

Ô Tử Dư bỏ khăn ra, cong ngón tay huýt một cái, một con ưng lao từ trên nóc lều xuống.

Bởi vì Ô Tử Dư không mặc áo nên con ưng không đậu xuống người hắn mà đậu lên cái cọc phơi quần áo.

Ô Tử Dư nói: "Để 'Xích' của ta đi đi, đang trong thời chiến, miễn ưng tuần thì chẳng khác nào mất một con mắt, kể cả đang ở doanh Biên Bác đi nữa cũng không thể lơ là được."

Thân binh nói: "...

Xích đã đi tuần nửa tháng trên chiến trường rồi, tướng quân..."

"Biết làm sao đây," Ô Tử Dư vốn có chất giọng thô khàn, hắn ngẩng lên nhìn Xích chăm chú, giọng lại dịu dàng khôn xiết, "đi đi."

Xích giương cánh bay vút lên không trung, liệng mấy vòng trên doanh Biên Bác rồi lao về vầng mặt trời đằng Đông.

Ô Tử Dư để tay trần bước vào lều, dặn: "Bầy ngựa chiến đi theo chúng ta cũng phải thay đi, ngựa dự bị ba ngày nữa phải dẫn lên Bắc.

Quách Vi Lễ bị bộ Hãn Xà phá thủng hàng phòng ngự ở Đồ Đạt Long Kỳ, hy sinh mất một nhóm anh em, rất nhiều ngựa bị mắc kẹt trong đầm lầy, ông ta đã gửi ba quân báo xin gấp ngựa mới rồi."

Thân binh vẫn chưa xỏ giày vào, đi theo đằng sau đáp: "Sáng sớm đã bảo người chuẩn bị rồi, nhưng bầy ngựa này là bầy cuối cùng rồi đấy ạ.

Chưa sang thu thì ngựa chiến của chúng ta ở đại cảnh cũng chưa đến."

"Ta sẽ bảo ông ta."

Ô Tử Dư mặc áo vào.

Quách Vi Lễ là người do đích thân Tiêu Ký Minh đề bạt lên, ông ta biết đánh trận, song ông ta hợp cho Tiêu Ký Minh dùng nhất.

Bởi lẽ chuỗi mệnh lệnh của Tiêu Ký Minh cũng như một cái xích, nó có thể lôi Quách Vi Lễ lại mỗi lần ông ta xông lên, tránh cho quân chủ lực chịu thiệt hại nặng nề, ông ta cũng phục Tiêu Ký Minh nhất.

Giờ thống soái đã đổi thành Tiêu Phương Húc, lối đánh khác nhau, không có ai lôi ông ta lại nên càng thua nhiều.

Ô Tử Dư lui về với một đống trang bị cần phải sửa chữa của tiền tuyến.

Thiết kỵ Ly Bắc hao quân trang khủng khiếp, vì phụ thuộc cực nhiều vào quân nhu nên quân thợ có tận hơn mười nghìn người.

Các quân thợ này phân bố rải rác ở các đại doanh, bọn họ phải ngày đêm sửa chữa trang bị cho thiết kỵ theo tình hình chiến sự.

Áo giáp của Ô Tử Dư cũng đã mòn nghiêm trọng, hắn đến lều của quân thợ để kiểm tra trước, lúc đi hỏi thân binh mấy lần vẫn không thấy tin Xích về.

Đến gần trưa, tia lửa tóe ra từ trong lò, bên trong nóng tới độ không thở nổi.

Trời quá nóng, nóng đến khốn khổ.

Gió bên ngoài lều cũng chỉ toàn là gió nóng, Ô Tử Dư đầu đầm đìa mồ hôi nhìn mặt đất, cái nóng như lồng hấp này đã làm không ít quân thợ bị say nắng.

Ô Tử Dư kêu người xối nước lạnh mà chẳng thấm vào đâu.

"Bảo nhà bếp nấu đỗ đi, có bao nhiêu nấu bấy nhiêu."

Ô Tử Dư vùi mặt vào khăn lạnh, dặn thân binh, "Sửa chữa trang bị không được chậm trễ, vương gia còn đang phải mặc giáp nứt đấy."

Thân binh gật đầu vâng, vì nóng nên hắn banh cổ áo, không mặc giáp.

Hắn vừa định quay đi thì bỗng cảm thấy có mấy giọt nước rơi vào mặt, hắn khó hiểu: "Sao lại mưa..."

Trên cổ Ô Tử Dư cũng dính nước, nhưng nước này lại sền sệt.

Hắn ngẩng mặt lên, trông thấy cái bóng của Xích lao ra từ vầng dương cháy bỏng rồi bất thình lình bổ nhào xuống.

Nhưng Xích phi được nửa đường thì bỗng có hai con chim cắt vọt ra từ giữa không trung, hợp lực quặp lấy Xích rồi lại bay vút lên.

Xích phát ra tiếng kêu thảm thiết, nó bị xé tan tác, lông bay lả tả.

Ô Tử Dư gần như đứng bật dậy ngay tức thì, trên chòi canh ở đằng xa đã có người hô: "Địch tấn công—"

Tiếng trống dồn vang nện một đòn chí mạng vào ngực Ô Tử Dư.

Hắn lập tức hạ lệnh: "Mặc giáp vào, bộ Liệu Ưng đánh úp đấy, không phải kỵ binh của bộ Hãn Xà đâu — đừng có hoảng!"

Lều đồng loạt vén lên, từ mặc đồ đến cài giáp, thiết kỵ Ly Bắc đều làm không rối một bước nào.

Bọn họ dần dần biến từ từng cá nhân riêng lẻ thành sắt thép bọc trong bộ giáp cứng nặng nề, tác phong nhanh nhẹn đâu vào đấy.

"Đội sáu nghiêm thủ chuồng ngựa, đội ba nghiêm thủ kho lương.

Nếu đội tiên phong do ta dẫn đầu tử trận, doanh Biên Bác khắc sẽ thất thủ.

Ngươi mà thấy tình hình nguy cấp thì khỏi đợi tiếp, lập tức mở chuồng ngựa, dẫn quân thợ đi men mã đạo đến đường lương mã Đông Bắc, ở đó còn ba đại doanh Liễu Dương của Triêu Huy."

Trong lúc nói, Ô Tử Dư đã nhìn thấy Xích rơi xuống đất, cái màu đỏ quạch kinh hoàng ấy khiến hắn sững sờ phút chốc, rồi ngay sau đó hắn quay ngoắt đi, kéo thân binh lại dặn, "Doanh Biên Bác thất thủ, ngựa với quân thợ có thể đi, nhưng lương thì không được đi, cần thì đốt sạch, một hạt gạo cũng không được để lại cho bộ Liệu Ưng!

Về nhà đi, đại cảnh còn có thế tử trấn giữ!"

Theo lẽ thường thì lúc tình hình bất ổn, đáng ra chủ tướng phải rút lui theo quân, còn quân tiên phong thì bỏ lại để câu giờ.

Song Ô Tử Dư đoán trận tập kích này quy mô không hề nhỏ, lũ Biên Sa đã có thể đi vòng qua doanh Sa Tam ở phía trước doanh Biên Bác thì tức chỉ có hai khả năng, một là bọn chúng đi đường tắt, lặng lẽ mò tới, hai là cả Tiêu Phương Húc lẫn Tả Thiên Thu đều đã tử trận, tiền tuyến đã sụp đổ, doanh Sa Tam thậm chí không kịp gửi quân báo về, toàn quân đã bỏ mạng.

Bất luận là khả năng nào cũng đều không thể khinh thường những kẻ đánh úp lần này.

Ô Tử Dư không dám giao thời gian cho người khác, hắn phải tự mình thủ ở đây.

Ô Tử Dư vừa đội mũ vừa bước qua hàng ngũ: "Địch tấn công ở—"

Ô Tử Dư còn chưa dứt lời, một tảng đá to bằng một vòng tay người đã lao từ giữa không trung xuống, nện đánh ruỳnh vào chính giữa chiếc chòi canh vừa mới dựng, chòi canh chưa cả kịp phát ra tiếng sập đã đổ thẳng xuống một chiếc lều.

"Máy bắn đá!" thân binh ở đằng sau gào lên, "tướng quân, bọn chúng đi vòng từ phía Nam lên!"

"Bọn chó thổ phỉ!"

Ô Tử Dư nhổ toẹt một cái, "lên ngựa!

Bọn chúng mang theo vũ khí hạng nặng di chuyển bất tiện, đi đường vòng không dám đánh động, không có ngựa lùn của bộ Câu Mã, bọn này không chạy được đâu!"

Nhưng tức thì một tràng tiếng hí vang lên từ chuồng ngựa, cùng với đám ngựa chiến cuống cuồng chạy tán loạn còn có cả loan đao và ánh lửa.

Đối phương cũng có chung ý tưởng với Ô Tử Dư, giết hết lũ ngựa không cướp được, thiêu hủy lương thực không mang đi được, cứ thế, nhu yếu phẩm cho phía Bắc Ly Bắc sẽ lập tức trở nên khan hiếm.

Lương thực có thể nghĩ cách để điều thêm, nhưng không có bầy ngựa chiến này thì doanh thường trú của Quách Vi Lễ sẽ không thể chiến đấu.

"Đệt mẹ chúng mày..."

Ô Tử Dư chậm rãi nắm lấy chuôi đao, "để đội sáu mang ngựa đi trước!"

Thân binh xoay người lên ngựa, lúc đến gần bạt chuồng ngựa thì cả chuồng đang cháy rừng rực, hắn dẫn người xông thẳng vào.

Yên ngựa bỗng oằn xuống, thân binh nghĩ thầm chết bỏ, ngay tức khắc con ngựa bên dưới hắn bị đánh úp hất tung vó lên, đang quặp dưới bụng nó như con nhện là một tên lính Biên Sa.

Tên lính Biên Sa rút dao găm gài bên chân ra, đâm vào bụng con ngựa.

Dao găm gặp áo giáp chỉ cào ra vệt trắng, không thể đâm thủng.

Con ngựa đã đứng xuống, thân binh lăn xuống dưới ngựa rồi tuốt đao lao vào tên lính Biên Sa.

Giáp của thiết kỵ Ly Bắc quá nặng, tên lính Biên Sa bị xô trượt sõng soài trên mặt đất.

Song giáp cho người không cứng như giáp cho ngựa, thân binh chém đứt đầu đối phương nhưng mình cũng ăn một dao.

Đám lính Biên Sa này hệt một đàn châu chấu, trước thiết kỵ Ly Bắc như thú hoang bị nhốt, bọn chúng lựa chọn tử chiến cả bầy.

Mũ Ô Tử Dư vừa mới đội vào đã bị hất ra, hắn bị mấy tên liền bao vây, ngọn lửa ở chuồng ngựa đã lan đến cả những con ngựa không chạy thoát, những tiếng hí ấy đều là máu, khé đến mức hai lỗ tai Ô Tử Dư đau nhói.

Hắn không phải một tướng thiện chiến, binh lính dưới trướng cũng là đội vận chuyển dự bị cho thiết kỵ Ly Bắc.

Bọn họ mới rời chiến trường mấy hôm trước, cơ thể bải hoải không thể chống chọi nổi đợt tấn công dữ dội thế này, huống chi hắn còn phải chia người ra để bảo vệ quân thợ Ly Bắc trọng yếu ngang ngựa chiến.

Thân binh lại lên ngựa, hắn thúc ngựa xô đổ hàng rào trong chuồng ngựa đang cháy phừng phừng, bầy ngựa chiến bên trong ùa ra trong chớp mắt.

Ô Tử Dư nói: "Cho quân thợ lên ngựa, cởi giáp ra mau đến mã đạo..."

Tiếng của Ô Tử Dư hãy còn đang lơ lửng, lưng bỗng oằn xuống.

Hắn bị hai người đè xuống, ngay sau đó bị lật lại trên mặt đất.

Phần đầu đã mất mũ sắt bảo vệ đập cốp xuống đất, chỉ một giây sau cổ đã bị tròng dây thừng, hai tên hợp lực kéo hắn đi.

Ô Tử Dư túm lấy sợi dây đang thít chặt quanh cổ, họng hắn đã bị siết đến mức biến giọng mà vẫn khò khè nói cố về phía bóng lưng thân binh: "Đến... khụ, đến doanh... bảo Triêu Huy lên Bắc..."

Mồ hôi chảy vào cay xè khiến Ô Tử Dư gần như không mở nổi mắt.

Giữa làn khói bụi mù mịt, hắn càng lúc càng khó thở, hắn nhìn bầu trời trong veo chuyển vàng, lũ chim cắt đã xé xác Xích đang chao liệng bên trên.

"Đệt..." cơn bi phẫn của Ô Tử Dư trào dâng, nước mắt mơ hồ ứa ra từ đôi mắt bị mồ hôi chảy xót, hắn dùng hết sức bình sinh mà chửi, "...

Đệt!"

Hắn bị kéo đến cạnh biển lửa, tiếng vó ngựa hỗn loạn.

Ô Tử Dư va vào đá, hắn bám lấy lan can, lửa đốt đau quằn quại.

Lũ cắt trên bầu trời bỗng bay tán loạn, thế rồi một con ưng thét lên xé gió lao thẳng lên trời, Mãnh quắp chuẩn vào lưng con chim cắt trên không trung, hai bên ác chiến một phen.

Cùng lúc ấy tiếng ngựa chiến từ xa vang đến gần, Ô Tử Dư bị sặc khói nên không nhìn rõ, chỉ láng máng thấy một thân hình cường tráng ngồi vững vàng trên lưng ngựa.

Lòng bàng hoàng, hắn cất tiếng gọi: "Vương gia!"

Mắt cá chân Ô Tử Dư bị túm, nghe thấy tiếng hô của Thần Dương: "Kéo ra!"

Cổ Ô Tử Dư nghẹn thít lại, hắn vội vàng kêu ú ớ: "Kéo, kéo con cu!

Cổ, cổ ông còn đang bị siết đây!"

Lúc bấy giờ Thần Dương mới buông tay ra, vớ đao hạ ngọt một nhát xuống cổ Ô Tử Dư, Ô Tử Dư dựng đứng cả lông tơ, cứ thế tròng cổ lôi ra ngoài.

Hắn lăn người dập lửa rồi thở phì phò ngước mắt lên, người đang ngồi ngược nắng trên lưng ngựa xoay người xuống ngựa, đặt ngón tay lên môi huýt một tiếng dài.

Mãnh vứt con chim cắt xuống từ giữa không trung, lông chim bị xé bay tứ tán, con chim cắt phát ra tiếng kêu thảm thiết.

Bộ móng nhọn hoắt như đao bỗng quặp vào người con chim cắt, nó xé gió phóng vù tới bên cạnh Tiêu Trì Dã rồi giẫy móng quẳng con chim cắt xuống đất.

"Không phải cha," Tiêu Trì Dã giơ tay đỡ Mãnh, ngoảnh mặt nhìn Ô Tử Dư, "là Nhị công tử của ngươi đây."

===
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 129: Mồ mộng


Vốn thân binh đã ra khỏi doanh địa, nhưng rồi lại thấy cấm quân xông ùa vào như đàn sói hổ.

Sự phấn khích của đội quân này áp đảo hẳn nỗi sợ, đến tận bây giờ bọn họ chưa từng được đánh một trận đã đời nào, dù ở Khuất đô hay ở Trung Bác bọn họ cũng đều chịu kiềm hãm, hiếm lắm mới gặp được tám đại doanh do Hàn Cận lãnh đạo, thế mà đối phương lại chẳng khác gì cọng mì, bóp một cái là nát bét.

Giờ cuối cùng cũng được đụng độ binh lính Biên Sa, luồng sức mạnh ấy điên cuồng vọt lên, cấm quân vừa tuốt đao ra đã lao vù tới.

Bộ Liệu Ưng của Biên Sa không đông người đến mà dựa vào máy bắn đá để đánh úp doanh Biên Bác, thắng lợi đã nằm ngay trong tầm mắt, vậy mà tự dưng lại bị một đội quân nhảy ra giữa chừng đánh cho không kịp trở tay.

Cấm quân ở Khuất đô quanh năm, đánh nhau cũng chỉ toàn đánh trên đường phố, đao không dài như đao của thiết kỵ Ly Bắc song đâm thì lại rất hiểm.

Trước khi Tiêu Trì Dã nhậm chức Tổng đốc cấm quân, bọn họ là một đội quân không hoàn chỉnh, chủ lực của bọn họ có một biệt danh khác ở Khuất đô là 'Hạng lươn nhà lính[1]', giỏi lăn lộn nhất mà cũng giỏi chây ì nhất.

Nói cách khác, đây là một đội quân ranh ma.

Bọn họ không phải bức tường nghiêm chỉnh như thiết kỵ Ly Bắc, miễn có thể đâm thủng quân địch thì phương pháp thọc ba chỗ hiểm[2] bọn họ cũng dùng.

1.

2.

Lúc này Biên Sa lại thành phe bị đánh úp, thân binh vòng về chặn đứng đường lui của bọn chúng, những kẻ ngoài rìa vội vàng mang máy bắn đá rút lui, quân Biên Sa còn đang trong doanh Biên Bác chỉ có thể tử chiến với cấm quân.

Đến lúc Ô Tử Dư đứng dậy được, lửa đã lụi bớt.

Thần Dương xách đao đi kiểm tra thi thể, bảo Tiêu Trì Dã: "Chủ tử, đúng là người của bộ Liệu Ưng."

"Máy bắn đá là vũ khí hạng nặng, di chuyển bất tiện, bọn chúng muốn mang theo đi đường thì sẽ không chạy nhanh được đâu."

Tiêu Trì Dã bảo Đàm Đài Hổ, "Lão Hổ dẫn kỵ binh đuổi theo đi."

Ô Tử Dư thấy thế mới bảo: "Ngựa của ta vẫn chạy được, huynh đệ cưỡi của ta này."

Đàm Đài Hổ cảm ơn rồi xoay người lên ngựa.

Cốt Tân quay đầu ngựa lại, nói: "Lão Hổ đi cùng ta đi, hai mình cùng đuổi."

Bọn họ dẫn người đi, doanh Biên Bác cũng bị thiêu trụi một nửa.

Tiêu Trì Dã đang đi xem chuồng ngựa với kho lương, Ô Tử Dư theo sau không rời nửa bước, gọi: "Nhị công tử..."

"Tuy doanh Biên Bác là doanh tuần tra nhưng cũng là doanh dự trữ.

Nơi này còn cách đường biên một đoạn, phía Đông có doanh Sa Tam bảo trợ, dọc đường có trạm gác và kiểm tra."

Tiêu Trì Dã hơi nheo mắt vì nắng, lại nhìn Ô Tử Dư, "Thế mà để bọn chúng mò đến tận sau lưng, đội tuần tra của các ngươi đâu?"

Ô Tử Dư nhận ra Tiêu Trì Dã, ngày xưa hắn cũng được tuyển vào vương phủ với Triêu Huy và Thần Dương, lúc làm cận vệ cho Tiêu Ký Minh đã từng gặp Tiêu Trì Dã.

Nhưng Tiêu Trì Dã hồi đó với Tiêu Trì Dã bây giờ như hai con người khác vậy, vóc người cao vượt trội khiến ánh mắt của Tiêu Trì Dã hơi có vẻ đường bệ, bị nhìn chằm chằm thế này, Ô Tử Dư bỗng cảm thấy mình lùn đi rất nhiều.

Ô Tử Dư lỉnh mắt đi, đáp: "Đội tuần tra tối qua chưa về."

"Đội tuần tra tối qua chưa về, làm chủ tướng mà đến trưa cũng không nhận ra điều bất thường."

Tiêu Trì Dã như đang tán gẫu, hắn mang lại áp lực rất lớn cho người khác, thế mà thái độ lại khá ôn hòa, "Doanh Sa Nhất doanh là vùng giao chiến, doanh Biên Bác là nơi tiếp tế nhu yếu phẩm cho doanh Sa Tam, nơi này mà có bất kỳ biến động nhỏ nào cũng sẽ đều ảnh hưởng đến tác chiến ở tiền tuyến, ngươi lỏng tay phết nhỉ."

Ô Tử Dư hiểu ý lời này.

Tiêu Trì Dã không giữ chức trong quân đội Ly Bắc, quân hàm duy nhất của hắn hiện giờ là Tổng đốc cấm quân ở Khuất đô, đã thế lại còn là một Tổng đốc đã mất đi sự công nhận của Khuất đô, bởi vậy hắn không có lập trường để khiển trách Ô Tử Dư.

Song giọng hắn càng bình thản thì lại càng khiến Ô Tử Dư hổ thẹn gấp bội lần.

Tin Nhị công tử sắp về Ly Bắc đã lan truyền hơn hai tháng ở Ly Bắc, lính nhỏ thì không nói làm gì, đám tướng lãnh có quân cấp phẩm hàm bọn họ đều ấp ủ tâm tư riêng.

Trong các tướng hiện giờ của thiết kỵ Ly Bắc, ngoại trừ một số ít là những bậc lão làng từ thời Tiêu Phương Húc, tất cả còn lại đều là hậu bối do Tiêu Ký Minh đề bạt lên.

Tiêu Ký Minh bị thương, không biết đến bao giờ mới có thể quay về vị trí cũ.

Nhị công tử trở lại có thế chỗ Tiêu Ký Minh không?

Đủ thứ tin đồn ầm ĩ rộ lên.

Nhưng dù định dựa dẫm vào Tiêu Trì Dã hay khăng khăng bài xích Tiêu Trì Dã, bọn họ cũng đều đang chờ Tiêu Trì Dã trở về, trưng ra bộ mặt thật.

Sáu năm bảo dài không dài mà bảo ngắn cũng chẳng ngắn, tin đồn liên quan đến Nhị công tử thì vô số kể, Ô Tử Dư cũng đang quan sát Tiêu Trì Dã.

"Bọn ta là đội mới rút về từ chiến trường doanh Sa Nhất hôm qua, nhiệm vụ chính là trù tính quân trang, vận chuyển lương thực cho chiến địa."

Ô Tử Dư dừng lại phút chốc, "Đội canh phòng ban đầu của doanh Biên Bác đi thay cho doanh Sa Nhất rồi nên ở đây tạm thời không có quân chủ lực, doanh Biên Bác lại nằm sau doanh Sa Tam, thực sự không ngờ..."

Giọng Ô Tử Dư nhỏ dần, hắn thấy bầu không khí không ổn, cái cảm giác hơi áp lực kia còn bí bách hơn cả mặt trời đổ lửa.

Hắn vội vàng nhìn Tiêu Trì Dã, họng khẽ nhúc nhích, chẳng dám nói tiếp nữa.

Mãnh thoáng nghiêng đầu nhìn Ô Tử Dư chằm chặp, cái mỏ như móc sắt của nó hãy chưa lau sạch.

Gáy Tiêu Trì Dã phơi bỏng dưới ánh nắng chói chang, hắn nâng tay kia lên che lại, hơi ngẩng đầu, vẫn nhìn chuồng ngựa, hỏi: "Các ngươi không phải thiết kỵ Ly Bắc ư?"

Ổ Tử Dư trầm mặc đứng yên.

Tay trái của Tiêu Trì Dã rất vững, sức nặng của Mãnh cộng giáp tay đối với hắn chẳng là gì, nhưng hắn không cho Mãnh nghỉ quá lâu, đến lúc Thần Dương kiểm xác xong thì Tiêu Trì Dã đã cho Mãnh bay lần nữa.

"Chủ tử," Thần Dương nghển cổ nhìn Mãnh, "có cần phái một đội đi theo không?"

"Bọn Biên Sa đánh úp mang máy bắn đá theo, muốn tránh tuần tra của doanh Sa Tam sẽ rất khó, nhưng bọn chúng mò đến được đây thì chứng tỏ doanh Sa Tam đã thất thủ rồi."

Tiêu Trì Dã không cười, "Cha có thể để đội vận chuyển lui về doanh Biên Bác thì khả năng cao là vẫn chưa biết doanh Sa Tam đã bị công phá, Mãnh đang đi truyền tin cho doanh Sa Nhất.

Chúng ta nghỉ đêm nay, ngày mai đi doanh Sa Tam."

"Nhị công tử không có kỵ binh và nhu yếu phẩm, tiếp tục đi về phía Đông sẽ đụng mặt binh lính Biên Sa.

Nếu bọn chúng đã có thể tiêu diệt doanh Sa Tam mà không gây động tĩnh thì rất có khả năng đám đang thủ ở đó chính là bộ Hãn Xà chuyên mãnh công."

Ô Tử Dư không nhịn được bật thốt, "Trước mắt cứ chờ tiếp viện từ ba đại doanh Liễu Dương ở đằng sau vẫn an toàn hơn, giờ ta cho người đi truyền tin, thế tử chắc chắn sẽ phái Triêu Huy tới."

"Nếu hôm qua ngươi truyền tin cho ba đại doanh Liễu Dương ngay khi vừa đến doanh Biên Bác thì trước hoàng hôn ngày mai vẫn còn có cơ hội.

Giờ mới đưa tin thì ngựa chiến có phi nước đại đến đường lương mã Đông Bắc cũng phải mất một ngày một đêm, Triêu Huy chạy từ đại cảnh đến ba đại doanh Liễu Dương lại mất thêm một ngày một đêm nữa.

Chờ hắn đến đây thì Biên Bác doanh đã bị san bằng rồi."

Tiêu Trì Dã chỉ vào chỗ chòi canh bị sập, "Bây giờ phải dựng lại chòi canh, đừng xây quay mặt về phía Đông, xoay sang phía Đông Nam ấy.

Kiểm lại lương với ngựa chiến, ưu tiên để quân thợ sửa tường phòng ngự bị máy bắn đá phá của doanh trại."

"Nếu công tử lo quân Biên Sa lại đến thì giờ nên chuyển lương thực và ngựa chiến đến đường lương mã Đông Bắc chứ."

Ô Tử Dư bắt kịp bước chân Tiêu Trì Dã, "Không kịp xây lại Biên Bác doanh đâu, doanh Sa Tam chỉ cách đây có mười mấy dặm thôi, ngựa của bộ Hãn Xà chạy trong một ngày là tới."

Tiêu Trì Dã bước lên lan can, bật lên rồi nhảy sang đầu bên kia, hắn quay lại ra hiệu cho Ô Tử Dư đừng đi theo mình, thuận miệng hỏi một câu: "Thật không?"

Ô Tử Dư không hiểu ý Tiêu Trì Dã, hắn vội vàng nói: "Giờ chỉ có thể bỏ doanh Biên Bác, cố gắng giảm thiểu hao tổn nhu yếu—"

Tiêu Trì Dã vừa đi lùi vừa nói: "Ồ, thế ngươi không có một tí ý định đuổi theo nào luôn hả?"

Lúc này vầng dương đã bắt đầu ngả bóng, Ô Tử Dư đứng ở phía hoang tàn, ánh mắt của Tiêu Trì Dã khiến hắn bối rối.

Vết bỏng trên lưng hắn bị nắng thiêu đau nhói, hắn cau mày nhìn Tiêu Trì Dã quay đi, không kiềm được hô với: "Không đánh được đâu Nhị công tử, ta đã bảo rồi, ta là đội vận chuyển..."

Tiêu Trì Dã không đáp, vẫn quay lưng về phía Ô Tử Dư vẫy vẫy tay, ý rõ mồn một rằng Ô Tử Dư im đi được rồi.

Hắn đứng cạnh kho lương đổ nát, mặt lạnh như tiền, môi mím chặt.

Cứ đứng yên như vậy thật lâu.

***

Tiêu Phương Húc ngồi bệ vệ trong lều, ngửa cổ dốc nốt ngụm trà sữa cuối cùng.

Trà sữa pha từ trà thô bỏ thêm muối, đã để nguội, váng sữa âm ẩm trong miệng thoảng mùi sữa thơm.

Tay vai ông để trần, quân y đang bôi thuốc.

"A Mộc Nhĩ là một đối thủ giỏi," Tiêu Phương Húc cử động vai sau khi băng bó xong, "ta đã quan sát bộ Hãn Xà hơn mười năm rồi, thế mà không ngờ bọn chúng lại tấn công mạnh như thế.

Người già rồi phản xạ cũng khắc chậm, ta kém xưa nhiều quá."

"Ly Bắc ấy, ưu điểm nổi bật mà nhược điểm cũng rõ ràng."

Tả Thiên Thu nắm một vốc cát lên, rồi lại nhìn chúng lọt xuống, "A Mộc Nhĩ thay đổi chiến lược tấn công là vì ông, trước kia với Ký Minh lão ta tuyệt đối không dám tiến công mạnh như vậy đâu.

Ký Minh dụng binh giỏi, tất cả doanh trại bố trí ở đường biên đều liên kết với nhau, lúc thiết kỵ ra ngoài đánh địch, sau lưng sẽ đeo sợi xích, làm thế là để tiếp viện cho Ký Minh, một khi tình thế lật ngược thì Ký Minh có thể kéo quân chủ lực về bất cứ lúc nào, tránh tổn thất nặng nề.

Giờ Ký Minh lui, đổi lại về ông, tốc độ truyền tin giữa các doanh trại này đâm ra chậm hơn hẳn, mà phong cách của ông cũng khác hẳn với Ký Minh, quân tiên phong không dám xông lên mạnh như thế, quân dự bị cũng bị loạn mất nhịp độ vốn có, A Mộc Nhĩ bỏ qua thời cơ này được chắc?"

Tiêu Phương Húc đứng dậy mặc áo vào, cơ bắp cuồn cuộn sau lưng chằng chịt sẹo.

Ông bảo mình già rồi, vậy mà cơ thể đem lại cảm giác áp bách cực độ ấy còn rắn chắc hơn xưa.

Ông khoác áo choàng vào rồi bắt đầu mặc giáp, tỉ mẩn từng bước một.

"Nếu Đại Chu vẫn đang trong thời kỳ phục hưng, Ký Minh sẽ là thống soái tốt nhất của thiết kỵ Ly Bắc, nó làm tương đối xuất sắc, nó là người duy nhất có thể duy trì đỉnh cao của Ly Bắc."

Tiêu Phương Húc giắt đao vào hông, vẻ mặt ông trầm tĩnh, "Nhưng Đại Chu đã trên đà rạn nứt, kế 'tường' bấy lâu nay của chúng ta không còn phù hợp với thiết kỵ Ly Bắc nữa rồi.

A Mộc Nhĩ là đại Nga Tô Hòa Nhật mà ông trời ban cho Biên Sa, lão ta chu du khắp các bộ, ôm tham vọng khai thiên lập địa, chính sách lược bảo thủ của Ký Minh đang cho lão đủ thời gian để phát triển.

Thiên Thu, hai ta phải nhìn thẳng vào một chuyện, đó là Biên Sa đã không còn là các bộ nhỏ rời rạc phải dựa vào cướp bóc để duy trì kế sinh nhai nữa, bọn họ là trăm con sông đổ về một nguồn, dưới sự dẫn dắt của A Mộc Nhĩ đã trở thành đại dương mênh mông.

Ông đã bao giờ nghĩ tới chưa, đến lúc A Mộc Nhĩ thống nhất được mười hai bộ, Biên Sa sẽ trở thành con quái thú khổng lồ đủ khả năng thôn tính Đại Chu.

Muốn đánh lão thì chỉ có thể tranh thủ lúc này mà thôi."

"Ta là 'giáo' của Ly Bắc, Ký Minh là 'khiên' của Ly Bắc.

Sau khi cắt giảm tải trọng, thiết kỵ Ly Bắc cũng càng lúc càng có xu hướng tự hài lòng, thiết kỵ mất đi khát vọng chiến thắng cũng chẳng khác nào chó sói không ăn thịt nữa, sớm muộn gì cũng sẽ có ngày nó bị những đội quân khác thay thế."

Lúc nói tới đây, mặt Tiêu Phương Húc không biểu cảm.

"Ký Minh nếm mùi thua cuộc, chuyện ấy đối với nó hay với thiết kỵ Ly Bắc đều không phải là chuyện xấu.

Lúc mới mười mấy tuổi ta đã cho nó vào quân đội, không phải kỳ vọng nó sẽ duy trì cái gọi là vinh quang bất bại.

Trên chiến trường không có thần thoại, ta cũng sẽ thua, phải cho thiết kỵ Ly Bắc bây giờ ngộ ra sớm chút, rằng thứ chúng ta cần không phải là luôn luôn thắng, mà là thắng, dẫu có thua cũng phải nhanh chóng bò dậy, tay chân chưa gãy thì vẫn đánh tiếp được.

Ta với Ký Minh đều đã hoàn thành nghĩa vụ của mình, giờ đã đến lúc để Ly Bắc 'đói' rồi."

Tiêu Phương Húc dừng lại hồi lâu, ánh mắt ông sâu thăm thẳm.

"Thiết kỵ Ly Bắc cần gấp rút một thống soái mới, người này phải khác bọn ta, thậm chí phải trái ngược hoàn toàn.

Người này phải xé bỏ lớp vỏ nho nhã mà Ký Minh đã dựng nên, phải vừa tham lam vừa hung mãnh, để thiết kỵ Ly Bắc đói cồn cào mà tìm về lại bản tính của sói."
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 130: Ngọc châu


Lúc doanh Biên Bác bị tập kích, Thẩm Trạch Xuyên vừa mới chợp mắt được một lát.

Kiều Thiên Nhai ngồi dưới hiên gảy đàn của hắn, Đinh Đào và Lịch Hùng đang tụm đầu vào lu đồng chọc cá.

Trong nhà yên tĩnh, nắng hắt lên nửa bờ vai Thẩm Trạch Xuyên, đêm qua y và nhóm Chu Quế mới quyết định chi tiết việc nhập tịch hoàng sách, sáng sẽ bắt đầu kiểm kê dự trữ kho lương của Từ châu, mùa thu sắp đến, nếu muốn buôn bán với Trà châu thì bây giờ chính là thời điểm tốt nhất.

Bận bịu mãi đến qua giờ Ngọ, y mới tranh thủ ngủ một lát ở bàn.

Chẳng biết bao lâu sau thì dậy.

Thẩm Trạch Xuyên ngả người dựa vào ghế thái sư, ngón tay xoa bóp giữa mày một lúc cho tỉnh hẳn mới gọi Kiều Thiên Nhai.

"Đám thổ phỉ nửa tháng trước quay về núi Lạc hết rồi, Lôi Kinh Chập có động tĩnh gì không?"

Thẩm Trạch Xuyên chống bút viết tiếp trang chưa viết xong lúc nãy.

"Có động tĩnh thì cũng phải mấy hôm nữa mới truyền đến chỗ chúng ta," Kiều Thiên Nhai tự mình kéo ghế ra ngồi xuống, nói, "vả lại Hầu gia cũng đã an bài chu đáo cả rồi, Lôi Kinh Chập quay về núi Lạc sẽ thành bia chịu trận, chỉ giải quyết vấn đề nội bộ ở núi Lạc không thôi cũng ngốn cả tháng."

Thẩm Trạch Xuyên không nói gì, chỉ tiếp tục viết, Kiều Thiên Nhai cảm thấy y có hơi lơ đãng, bèn bảo: "Đêm qua chủ tử ngủ có hai canh giờ, sau cơm tối còn phải đến Chu phủ nghị sự với bọn họ ở thư phòng, tranh thủ bây giờ nghỉ ngơi một chút cũng không sao."

Thẩm Trạch Xuyên nói: "Tí về ngủ tiếp.

Có phải Phí Thịnh đang rảnh không?

Nếu hắn muốn làm việc thì việc này để hắn làm đi."

Kiều Thiên Nhai vân vê ngón tay: "Mấy hôm nay tôi cũng đang nghĩ chuyện này, người đã lơ hắn hơn tháng rồi, còn lơ tiếp thì chỉ sợ hắn đâm ra ấm ức mất."

"Tên này rất nhanh trí, hắn biết Sách An không thèm hắn nên mới ở lại Từ châu.

Chu Quế với Khổng Lĩnh kiêng kỵ hắn xuất thân Cẩm y vệ nên không dám dùng hắn, thành thử hắn chỉ có thể đi theo sư phụ, mong dựa hơi sư phụ để kiếm một chân ở chỗ ta."

Thẩm Trạch Xuyên đặt bút xuống cho hong khô mực, nói tiếp, "Giờ Cốt Tân về Ly Bắc rồi, đúng là thiếu chân điều tra thật."

Lúc đám Kiều Thiên Nhai đến Từ châu, các Cẩm y vệ rời đô cũng nối đuôi tới theo.

Nhưng nhóm Cẩm y vệ này tụ tập lại cũng chỉ được hơn trăm mống, một nửa trong số đó là thuộc hạ cũ của Phí Thịnh.

Thẩm Trạch Xuyên vứt Phí Thịnh sang một bên, ban đầu là bởi Phí Thịnh không có ý định đi theo y, ánh mắt hắn đã sớm hướng về Tiêu Trì Dã.

Tiếc nỗi Tiêu Trì Dã lại không muốn nên Phí Thịnh mới đành phải tìm đến lựa chọn thứ hai, ở lại bên Kỷ Cương, nghe Kỷ Cương răm rắp.

Ở Từ châu Phí Thịnh không tham gia vào một việc nào, nhưng lúc nào cũng có thể để Thẩm Trạch Xuyên nhìn thấy mình, ý tứ quá rõ ràng.

Phí Thịnh nhìn rất chuẩn, dù Thẩm Trạch Xuyên sẽ lơ hắn đi một thời gian, nhưng đến cuối cùng vẫn sẽ phải dùng hắn, bởi vì hắn quan sát nhất cử nhất động của Thẩm Trạch Xuyên, biết Thẩm Trạch Xuyên đang thiếu người.

Kiều Thiên Nhai hơi ghé lại gần, cách bàn hỏi: "Chủ tử muốn bảo hắn tra cái gì?"

"Hai chuyện," Thẩm Trạch Xuyên nói, "một là muốn hắn thính ký giá cả trà gạo ở các châu Trung Bác và Hòe châu mọi lúc mọi nơi, Từ châu ở giữa định giá theo, nếu muốn không lỗ thì phải nắm rõ giá cả ở những vùng này.

Trước kia Cẩm y vệ ở Khuất đô cũng đảm nhiệm thính ký, việc này hắn có thể bố trí người đi làm.

Hai là muốn hắn điều tra Lôi Thường Minh, Lôi Kinh Chập rốt cuộc có quan hệ thế nào với Nhan thị Hà châu, nhất là Lôi Thường Minh, ta muốn biết tường tận về cuộc đời tên này."

Kiều Thiên Nhai nghe vậy lại hơi ngạc nhiên: "Lôi Thường Minh chỉ là bia sống Lôi Kinh Chập cắm bên ngoài thôi mà, sao chủ tử không điều tra Lôi Kinh Chập mà lại muốn điều tra kỹ Lôi Thường Minh?"

Thẩm Trạch Xuyên dừng lại giây lát mới nói: "Vừa rồi lúc ngủ ta có nhớ lại dáng vẻ trước khi chết của Lôi Thường Minh.

Cảm thấy tên này hơi quái.

Phong tục đeo khuyên tai rất thịnh hành ở Khuất đô và trong tám đại gia tộc thế gia, Lịch Hùng là trẻ mồ côi Lôi Kinh Chập nuôi lớn, nó không hay giao du với những người này, ngày xưa chỉ thấy có một lần nên không nhớ rõ cũng không lạ.

Nhưng Lôi Thường Minh là trùm phỉ núi Lạc, qua lại với cả châu phủ và chỉ huy sứ quân phòng vệ hai châu Đôn, Đoan, thậm chí còn từng quen tiểu công tử Nhan Hà Như của phú thương Nhan thị Hà châu, lẽ ra hắn phải thấy nhiều nam nhân đeo khuyên tai rồi mới phải, thế mà trước khi chết hắn cứ liên tục nhìn viên ngọc của ta..."

Thẩm Trạch Xuyên khẽ nhíu mày, y có thể hồi tưởng rõ ràng vẻ mặt của Lôi Thường Minh trước khi chết, nếu Lịch Hùng không nhắc đến câu kia thì y cũng đã chẳng để ý đến, ánh mắt vừa điên cuồng vừa mê muội của Lôi Thường Minh trước khi chết rõ ràng đang xuyên qua viên ngọc này để nhìn đến một người khác.

Chuyện này vốn không có gì to tát, ai nghe xong cũng chẳng để bụng.

Bởi vì viên ngọc của Thẩm Trạch Xuyên không hiếm, nó chỉ là thứ Tiêu Trì Dã dùng đồ thừa mài ra lúc chạy trốn, so với tráp khuyên tai mà hắn cho Thẩm Trạch Xuyên lúc còn ở Khuất đô thì chả đáng một xu.

Nó có thể khiến người ta nhìn ra "yêu thương" chỉ qua một ánh liếc là bởi nó vừa tròn vừa mượt, với thế gia, cho đứa bé được cưng nựng nhất nhà đeo ngọc châu mang ý nghĩa "nhuận phúc".

Song Thẩm Trạch Xuyên để ý đến điều tinh tế hơn, trực giác mách bảo y trong đó còn thứ mà y phải đào sâu, liên quan đến cậu cháu Lôi thị, vẫn còn một vài bí mật mà cả Chu Quế lẫn Khổng Lĩnh đều không biết.

Lịch Hùng quấn sợi dây đỏ quanh cái lu đồng, tay chân nó lóng nga lóng ngóng làm tuột dây suốt.

Đinh Đào bắt cá, nước bắn lên người Lịch Hùng.

Lịch Hùng bỗng hậm hực kéo đứt phựt sợi dây rồi ném vào người Đinh Đào, mặt nó nhăn tít lại: "Ta muốn đi tìm anh ta."

Đinh Đào vẫn đang xắn tay áo, nói: "Thôi đi, anh ngươi thì có gì tốt đẹp?

Thà ngươi nhận ta với Kiều Nguyệt Nguyệt làm anh còn hơn, đi theo công tử nhà ta không tốt hả?

Công tử nhà ta tháng nào cũng cho kẹo, trước nay chưa bao giờ khất lương lần nào đâu đấy nhé."

"Ta không muốn bạc," Lịch Hùng đứng phắt dậy, "ta muốn anh ta cơ."

Đinh Đào liếc vào gian chính, thấy rèm đang vén lên một nửa, Kiều Thiên Nhai vẫn đang bàn bạc với Thẩm Trạch Xuyên, cậu bèn xắn tay áo xuống bảo: "Ta dẫn ngươi đi ăn thịt nhá."

"Ta không ăn đâu!"

Chẳng biết tại sao tự dưng Lịch Hùng lại nổi nóng, nó cuống cuồng vò đầu bứt tai la lên, "Sao các ngươi không thả ta đi?

Ta phải ra khỏi thành, ta phải về núi Lạc mà!"

Đinh Đào cảm thấy Lịch Hùng rất giống con gấu, cấm có nói lí được với nó, khổ nỗi đánh nhau thì cậu lại không phải đối thủ của nó.

Thấy Lịch Hùng sắp sửa làm loạn lên, Đinh Đào bỗng nhanh trí nói: "Ngươi nhớ anh ngươi như thế thì chắc hắn phải lợi hại lắm nhỉ?"

Lịch Hùng: "Anh ta là hảo hán đệ nhất núi Lạc, đương nhiên là lợi hại rồi."

Đinh Đào vỗ tay đánh bép cái: "Hảo hán núi Lạc thì là cái thá gì?

Có lợi hại bằng chủ tử công tử nhà ta không?

Ta không tin hắn là anh hùng đâu!"

Y như rằng, Lịch Hùng cáu lên đùng đùng, nó lừ Đinh Đào: "Chủ tử công tử của ngươi mới không lợi hại ấy!

Y gầy như thế, anh ta tung một quyền là có thể lấy mạng y luôn."

Đinh Đào thầm hứ một tiếng trong lòng, dù hơi không vui song vẫn cố tỏ vẻ rất vui: "Gớm, lợi hại thế cơ á.

Anh ngươi tên là Lôi Kinh Chập phải không?

Cậu hắn là Lôi Thường Minh, ta biết thừa nhé."

Lịch Hùng vốn đã ghen tị sẵn với Đinh Đào, không thể chịu lép vế trong chuyện này được, nó muốn chứng minh Lôi Kinh Chập mạnh hơn Tiêu Trì Dã với Thẩm Trạch Xuyên, bèn nói gấp: "Lôi Thường Minh cũng lợi hại, lật ngược được cả người bé nhá, nhưng anh ta còn lợi hại hơn Lôi Thường Minh nhiều!"

Thấy nó đã cắn câu, Đinh Đào bèn nhanh chóng tiếp lời: "Lật ngược người bé là cái chiêu gì?"

Lịch Hùng chỉ thuận miệng nhắc đến thôi, thấy Đinh Đào hỏi vậy, nó mới vắt óc cố gắng nhớ lại cuộc đời của Lôi Thường Minh.

Đầu nó như có đèn kéo quân chạy qua, nói: "Lật ngược người bé chính là lật ngược tụi con nít lại đó, Lôi Thường Minh khoái làm cái chuyện đó lắm."

Đột nhiên nó lại nghĩ tới gì đó, bèn bảo, "A!

Ta nhớ ra rồi, khuyên tai, khuyên tai vừa trắng vừa tròn, đứa con nít Lôi Thường Minh lật ngược cũng đeo đó!"

***

Sau khi ăn xong Thẩm Trạch Xuyên ra ngoài, đương lúc thay áo khoác, y nghe thấy tiếng Đinh Đào và Lịch Hùng vừa chạy vừa la hét om sòm ngoài sân.

Thị nữ cúi người lui ra cửa, toan dặn hai đứa đừng làm ồn, Thẩm Trạch Xuyên mới quay lại bảo: "Không sao, cứ để hai đứa nó chơi đi."

Kiều Thiên Nhai đang định để đàn xuống cái bàn nhỏ dưới hiên, thấy thế lại sợ hai nhóc củ cải nghịch quá trớn rồi xô hỏng đàn của hắn, thế là bèn mang về phòng mình.

Lúc Thẩm Trạch Xuyên sắp ra viện, Đinh Đào đi theo sau, muốn nói gì đó, nhưng thấy đã muộn rồi nên lại nuốt vào, chỉ vin cửa bảo: "Nếu trời tối thì để tôi cầm đèn đi chờ công tử."

Thẩm Trạch Xuyên vẫy tay với Đinh Đào, đợi cậu đi đến bên cạnh rồi mới dặn: "Lát nữa ăn cơm xong, các ngươi đến viện của gia gia đi, gia gia muốn dạy các ngươi hai mươi bốn thức của Kỷ gia quyền.

Muộn nhất là giờ Hợi một khắc ta sẽ về."

Đinh Đào gật đầu rồi tiễn Thẩm Trạch Xuyên đến cửa, lòng có hơi níu kéo.

Buổi chiều cậu đã nghe được một đống chuyện, chẳng biết là Lịch Hùng lừa cậu hay là thật nữa, giờ trời sắp tối rồi nên cậu đâm ra cũng hơi sợ.

Thẩm Trạch Xuyên vừa đi khỏi, cậu đã sấp ngửa dẫn Lịch Hùng chạy đi tìm Kỷ Cương, trong viện đó có kha khá cận vệ với Cẩm y vệ đang ở, có nhiều người thì cậu sẽ không sợ.

Thẩm Trạch Xuyên đến Chu phủ, thư phòng đốt đèn sáng trưng, bên trong có mấy phụ tá đang ngồi.

Đêm hè trời ngốt, cả ba mặt thư phòng đều mở cửa sổ, đốt cả nhang xua muỗi, người càng đông càng bí.

Khổng Lĩnh sợ Thẩm Trạch Xuyên không quen nên bảo người mở cả hai cánh cửa ra.

"Đây là lương thực mới tính xong hôm nay, mời đồng tri xem thử."

Chu Quế trình sổ lên cho Thẩm Trạch Xuyên, đứng yên nói, "Sắp sang thu rồi, theo như bọn ta thấy, bàn việc buôn bán với Trà châu bây giờ là thích hợp nhất."

"Mùa thu năm ngoái, đội buôn của Hà châu với Quyết Tây đều phải đi qua Trung Bác để vận chuyển hàng đến chợ buôn giữa Ly Bắc và bộ Hồi Nhan.

Nhưng năm nay chiến sự gay gắt, bọn họ không buôn được nên khả năng cao sẽ đến Trà châu để làm bù."

Khổng Lĩnh hơi nhấc áo lên ngồi xuống, nói, "Nếu chúng ta chậm hơn bọn họ thì dù có hạ giá lương thực rẻ cách mấy, đến lúc đó Trà châu cũng chẳng còn tiền để mà mua nữa, cho nên việc này phải làm sớm."

"Đúng là thế."

Thẩm Trạch Xuyên xem kỹ lượng lương thực, "Trước mắt đây là việc cần kíp nhất, nếu thuận lợi, đời sống Từ châu năm sau sẽ cải thiện hẳn.

Trước đây chưa từng có mối làm ăn nào như vậy, thương nhân Quyết Tây, Hà châu cũng không dự liệu được, nhưng trước đây người của chúng ta đã từng đề cập đến chuyện làm ăn rồi, bọn họ ít nhiều cũng phải nghe được phong thanh.

Đây là một bát canh thịt hấp dẫn, chuyện chia tiền chia người chưa chắc bọn họ đã bằng lòng."

"Khó chính là ở chỗ đấy," Chu Quế nói, "chưa bàn đến có thể đàm phán suôn sẻ với châu phủ Trà châu và thổ phỉ hay không vội, chỉ riêng đề phòng người ngoài thôi cũng phải đau đầu rồi.

Quân phòng vệ Từ châu chúng ta mới lập chưa được một tháng, thao trường còn chưa xong, lính cũng chưa được huấn luyện, nếu bị đối phương bày mưu cướp lương thì cũng chẳng đánh lại được người ta."

Thẩm Trạch Xuyên chờ mấy hôm nay chính là để Chu Quế nói ra những lời này.

Y đóng cuốn sổ lại, ngón tay đặt yên bên trên, nói: "Từ châu hiện giờ không có tướng, việc huấn luyện binh lính cả ta lẫn chư vị đều không thạo.

Nhưng cấm quân có để lại một ít quân canh giữ trường săn ở trường săn Bắc Nguyên, nếu đại nhân đồng ý, chi bằng để bọn họ huấn luyện quân phòng vệ trước xem sao.

Chúng ta phải trao đổi trước với Trà châu về việc cấp thêm lương, đã quyết ai đi thương lượng chưa?

Để ta bảo Kiều Thiên Nhai dẫn Cẩm y vệ theo để bảo vệ cho."

Chu Quế nhìn sang Khổng Lĩnh rồi lại nhìn trở lại, đáp: "Ta không thể rời Từ châu nên chỉ để Thành Phong đi được thôi, dẫn theo vài bút thiếp giỏi tính toán nữa.

Đồng tri chịu phái người đi bảo vệ thì quả thật không thể tốt hơn rồi."

Chu Quế không biết, còn lòng Khổng Lĩnh lại tỏ như gương.

Ông ổn định tinh thần lại rồi bảo Thẩm Trạch Xuyên: "Nhưng trong chuyện mua bán thì ta cũng chỉ là tay mơ thôi, chẳng biết bên đó có ai lành nghề không, đâm ra giờ cũng lo...

Muốn xin đồng tri ban cho một cái diệu kế phòng thân."

Thẩm Trạch Xuyên cười: "Thành Phong tiên sinh khiêm tốn quá, ta nào có diệu kế gì?

Nếu được, ta sẽ đi chuyến này với Thành Phong tiên sinh."

Sao Chu Quế dám để Thẩm Trạch Xuyên dắt mình vào hang cọp, câu "đến trong một ngày" của Tiêu Trì Dã vẫn còn văng vẳng bên tai ông đây này!

Ông vội vàng lên tiếng: "Đồng tri—"

Nhưng Khổng Lĩnh đã hành lễ, đáp lại vô cùng cảm kích: "Có đồng tri bên cạnh, ta có người có thể tin cậy rồi."

Người này cao tay thật.

Thẩm Trạch Xuyên nhìn Khổng Lĩnh, trưng ra vẻ mặt hòa nhã.

Quá thông minh.

===
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 131: Mạng nhện


Giờ đã vào cuối tháng Sáu, ngày khởi hành định vào tháng Bảy.

Sau khi Thẩm Trạch Xuyên rời đi, các phụ tá mới lui ra, Chu Quế hỏi Khổng lĩnh: "Sao ông lại cứ muốn đồng tri đi vậy?

Trà châu loạn như thế, nhỡ đồng tri mà gặp chuyện bất trắc thì Từ châu hết cách giải thích với Hầu gia.

Vốn ta định để ông đi, trên đường cải trang thành thương buôn, chúng ta còn có thể cậy chút tình nghĩa với châu phủ Trà châu La Mục."

Khổng Lĩnh rót trà thảo mộc, nghe thế ông gật đầu, uống một ngụm rồi mới nói: "Giờ đồng tri đi cùng thì cũng có thể cải trang thành thương buôn lúc đi mà, còn có cả Cẩm y vệ đi theo, an toàn hơn chúng ta tự lên kế hoạch nhiều."

Chu Quế chỉ chỉ Khổng Lĩnh: "Ông đúng là khôn ba năm dại một giờ, đồng tri... tướng mạo như thế thì cải trang thành thương buôn kiểu gì?

Đi đường chỉ cần ai lanh mắt là nhìn ra ngay không phải người bình thường."

Khổng Lĩnh ngậm lá trà trong miệng, ông nhìn một lát, thấy Chu Quế không hiểu thật thì mới nói: "Ông mới đúng là đồ khờ, ta hỏi ông nhé, từ tái thành lập quân phòng vệ Từ châu đến trù tính buôn bán với Trà châu hiện giờ, có việc nào không phải đề nghị của đồng tri không?

Đúng, Từ châu đang hưởng lợi từ người ta thật, nhưng trên đời này làm gì có chuyện há miệng chờ sung."

Chu Quế cự: "Ta không hiểu chắc?

Ta hiểu chứ!

Quân phí vẫn chưa trả được thì chúng ta lấy lương thực để tiếp tế cho cấm quân, còn đưa cả trường săn Bắc Nguyên cho, thế cũng tạm coi như hết nợ rồi còn gì?

Đồng tri đối tốt với Từ châu, Từ châu cũng đang cố hết sức báo đáp mà."

Khổng Lĩnh nuốt lá trà đã nhai đắng xuống, nói: "Giờ chúng ta chưa trả được thì sau này lại càng không trả được.

Hầu gia dẹp thổ phỉ núi Lạc, cho Từ châu đủ thời gian để trùng kiến, hiện giờ đến quân lương nửa năm của hai vạn cấm quân chúng ta còn không cung cấp nổi.

Cho trường săn Bắc Nguyên, ta nói ông nghe, chỗ đó mai mốt sẽ chính là doanh trại kiêm thao trường của cấm quân, bất kể chúng ta tính làm gì với nó thì trong mắt người khác, Từ châu đã thuộc về cấm quân rồi.

Chưa kể một khi buôn bán thành công với Trà châu, ông định trả đồng tri khoản lãi ấy kiểu gì?

Huống hồ đồng tri còn bảo sẽ phái Kiều Thiên Nhai đi theo bảo vệ ta, mà Kiều Thiên Nhai là ai chứ?

Hồi trước ở Khuất đô làm đồng tri Cẩm y vệ, phẩm hàm so ra còn cao hơn cả ông đấy, bao năm chúng ta vào đô, thấy người ta thì không những phải xuống kiệu hành lễ mà còn phải nép sang một bên nhường đường.

Đồng tri để hắn bảo vệ ta, thường dân như ta nhận nổi chắc?

Đến Trà châu như thế thì rốt cuộc là Kiều Thiên Nhai chỉ đạo hay là ta chỉ đạo?

Thế mà chưa gì ông đã đồng ý ngay cho được!

Nên ta mới bảo ông khờ lắm."

Chu Quế chưa bao giờ làm đô quan, ngay từ đầu ông đã nhậm chức ở Trung Bác.

Thầy của ông cũng là quý nhân của ông, Chu Quế làm đốc lương bên dưới, làm rất khá mà học vấn cũng cao, thầy mến tài ông nên đã gả con gái cho Chu Quế, thành ra Chu Quế tránh được rất nhiều điều bẩn thỉu chốn quan trường.

Sau đó ông dựa vào tư lịch để lên đến chức châu phủ Từ châu, trước án Trung Bác binh bại, con đường làm quan cũng coi như thuận buồm xuôi gió.

Ông không giống những người như Lương Thôi Sơn, bị quan viên thế gia đạp cho không ngóc đầu dậy nổi ở Khuất đô, ông không phải chịu cái tội tình ấy, thế nên quả thực có vô vàn những điều lắt léo mà ông không hiểu thật.

Chu Quế nghe ngớ cả người, hơi ngần ngừ: "Tại ta cũng lo mà, ông dẫn theo người đi thương lượng làm ăn thì ta phải lo an toàn chứ.

Quân phòng vệ mới xây, cấm quân thì cũng đi rồi, giờ chỉ có Cẩm y vệ của đồng tri còn giúp ích được thôi."

Khổng Lĩnh: "Ban đầu đồng tri bảo ở lại Từ châu là bởi vì lúc đó chúng ta không tin được cấm quân.

Trước khi Hầu gia đi, ông với ta đã hết nghi từ lâu rồi, thế mà đồng tri vẫn ở lại.

Y đang 'mưa dầm thấm lâu' với Từ châu đấy, chỉ sợ y đã quyết xong trước cả khi đến Từ châu rồi, bây giờ hai ta mới tỉnh ra thì cũng đã muộn."

Sau mấy ngày chung đụng, Chu Quế chỉ cảm thấy Tiêu Trì Dã nói thì không hay, nhưng xử lý công việc lại hết sức gãy gọn, nên giữ thể diện thì sẽ giữ, là người đặt lời nói ngay ngoài mặt.

Nhưng Thẩm Trạch Xuyên lại khác, khi Thẩm Trạch Xuyên đàm luận với bọn họ, mình thì ngồi ghế trên mà lại rất khiêm nhường với các phụ tá, với Khổng Lĩnh thì tôn xưng "Thành Phong tiên sinh", có chuyện đều có thể thương lượng, khiến người ta cảm thấy y rất cung kính khiêm tốn, biết chiêu hiền đãi sĩ.

Sau một thời gian dài, Chu Quế đã không còn phòng bị nữa.

Chu Quế đứng dậy, tay hẵng túm áo choàng, mãi không thốt nổi một lời.

Ông có chậm hiểu đến mấy thì cũng biết Thẩm Trạch Xuyên tận tụy giúp đỡ như thế, là bởi đã coi Từ châu là đồ nắm chắc trong lòng bàn tay rồi.

Ông bàng hoàng: "Nếu đồng tri... quả thực chịu hồi sinh Từ châu, chức châu phủ này ta nhường cho y cũng được."

Khổng Lĩnh nhìn ra ngoài màn đêm, có con bướm đêm bị ánh sáng từ thư phòng thu hút, nó lao xuống mái hiên, nhưng lại xông thẳng vào mạng nhện ẩn núp bên dưới mái ngói cong cong.

Khổng Lĩnh trầm ngâm chốc lát, bảo: "Chu Quế à, đã đến lúc bỏ hai chữ 'châu phủ' đi được rồi.

Hải Lương Nghi vừa mới đi, phái ổn hòa của Khuất đô ngay lập tức bị học sinh công kích, cũng không có ai có thể một tay duy trì được nền hòa bình của Đại Chu.

Thiên hạ này sụp đổ rồi, nếu ví Khuất đô là 'hươu', vậy thì Từ châu chính là 'thỏ', nếu không có sói hổ bảo lãnh thì Từ châu sẽ là miếng thịt trong mắt sài cẩu Trung Bác, ông với ta không chống chọi được với chúng đâu."

Thuở trẻ Chu Quế với Khổng Lĩnh là bạn đồng môn, sánh vai bấy nhiêu năm, rất ít khi Chu Quế thấy ông nghiêm túc như vậy, bởi vậy ông đáp: "Ta biết ông đã phải lo toan nhiều, chỉ mong đồng tri có thể cáng đáng nổi kỳ vọng bây giờ thôi...

Ta sợ người như thế."

Khổng Lĩnh hồi tưởng lại cái đêm nhìn thấy Lôi Thường Minh, Thẩm Trạch Xuyên bảo lật mặt cái là lật mặt được ngay, thản nhiên cười nói ngay giữa biển đao, câu nào nói cũng rất thật, đến cả cặp mắt cũng ánh vẻ chân thành, không chỉ Lôi Thường Minh tin mà đến ông cũng đã tin.

Chính sau lần đó, ông mới bắt đầu dè chừng Thẩm Trạch Xuyên.

Khổng Lĩnh thu mắt về, hơi lo lắng: "Đêm nay ta lộ mũi nhọn quá, coi như đã vượt qua ranh giới mất rồi, chỉ sợ đồng tri ghi nhớ thôi.

Ta là cố vấn của ông, không nên phô trương trước mặt đồng tri...

Sau này vẫn phải cẩn thận chút."

***

Hai người nói chuyện rất lâu trong thư phòng, Thẩm Trạch Xuyên thì quay về trạch.

Kỷ Cương đã ngủ nên Thẩm Trạch Xuyên không cho người tới làm phiền nữa, quay về đình viện.

Lúc băng qua hành lang, y thấy Phí Thịnh đang mang theo người gác đêm ngoài sân.

Chờ Thẩm Trạch Xuyên vào trong, Phí Thịnh mới thoáng thả lỏng.

Kiều Thiên Nhai chia ít thuốc lá còn thừa cho Phí Thịnh, ít lâu sau thấy gian chính tắt đèn thì bảo người thổi tắt cả đèn lồng trong sân.

"Không có Hầu gia bên cạnh, chủ tử bị khó ngủ."

Kiều Thiên Nhai khẽ bảo dưới tán cây, "Ngủ cũng không ngon nữa, sau nửa đêm mà nghe thấy tiếng động gì thì cũng đừng để ai vào quấy rầy."

Phí Thịnh nghĩ cái là hiểu ngay.

Hắn rút tẩu thuốc ra, phả một hơi vào bóng tối: "Hiểu rồi, hố tử thần Trà Thạch là ác mộng, cảm ơn."

Kiều Thiên Nhai lại không rút ra, hắn chống tay lên thân cây, nghe tiếng ếch kêu trong ao một lúc rồi nói: "Ngươi ngồi không lâu rồi, chủ tử cảm thấy làm cận vệ thôi thì phí, có hai nhiệm vụ, sáng mai ta sẽ bảo sư phụ đưa yêu bài cho ngươi."

Phí Thịnh thừa hiểu, thế này là Thẩm Trạch Xuyên sẽ dùng hắn, song không định đặt hắn bên mình, ít nhất thì không thay thế được Kiều Thiên Nhai.

Hắn cúi đầu rít một hơi, dập tẩu vài cái rồi cười: "Được, ta đang mong đây.

Cơ mà nói qua cho ta nghe cái, nhiệm vụ gì?"

Kiều Thiên Nhai nhìn Phí Thịnh: "Thính ký, việc đơn giản thôi."

Phí Thịnh hỏi: "Việc còn lại là gì?"

"Điều tra hai tên Lôi thị, đặc biệt là Lôi Thường Minh, cuộc đời gã ra sao phải báo hết cho chủ tử."

Kiều Thiên Nhai bật cười, "Bảo ngươi đi làm chuyện này là phí tài đấy.

Lẽ ra Đinh Đào làm cũng được, nhưng nó còn nhỏ, sợ nó làm việc thiếu suy xét nên vẫn phải tìm đến ngươi.

Mấy cái này ngươi thạo mà, thế nào?"

Phí Thịnh cũng gật đầu cười: "Miễn là lệnh của chủ tử, không gì là không thể."

Kiều Thiên Nhai nói tiếp: "Thế ta thì sao, cũng có một việc muốn nhờ ngươi đây."

Phí Thịnh rút tẩu thuốc: "Huynh đệ với nhau cả, gì khách sáo thế.

Việc gì?"

Kiều Thiên Nhai thu tay về: "Ta muốn nhờ ngươi lúc ra ngoài thính ký thì điều tra tung tích một người hộ ta."

Phí Thịnh để ý, liếc Kiều Thiên Nhai mấy lần: "Ai?"

Kiều Thiên Nhai đáp: "Diêu Ôn Ngọc."

***

Canh ba nửa đêm, cấm quân vẫn chưa nghỉ.

Ô Tử Dư và Thần Dương đang uống trà sữa, quân y đang bôi thuốc cho hắn, hắn cứ ngồi xổm dưới đất hỏi Thần Dương: "Rốt cuộc là Nhị công tử định làm gì?"

Thần Dương đang chỉnh lại danh sách quân thợ của doanh Biên Bác, đáp: "Đấy là việc chủ tử quyết, ngươi hỏi ta làm gì?"

Ô Tử Dư: "Đều là người quen lâu năm mà bật mí một tí cũng không được à?"

Thần Dương đánh số danh sách, tay mải làm việc mà mắt vẫn thản nhiên nhìn Ô Tử Dư: "Nếu ngươi đang nói về quan hệ cá nhân thì chúng ta chỉ là bạn ăn chơi.

Nếu ngươi đang nói về quân vụ thì ta phải gọi ngươi là tướng quân chiến doanh.

Ngươi hợp cả hai với nhau thì rốt cuộc ta phải trả lời ngươi kiểu gì?"

Ô Tử Dư mặc áo vào: "Thế này đi, để ta nói rõ cho ngươi hiểu.

Nhị công tử muốn tiến Đông để đánh doanh Sa Tam đã bị chiếm, ta thấy không ổn, không làm được.

Các thiết kỵ Ly Bắc ở doanh Biên Bác hiện giờ là quân của ta, bọn ta không phải lính đánh tiên phong, bọn ta là đội vận chuyển lên chiến địa, chơi tí với bộ Liệu Ưng thì còn được chứ nếu muốn đánh bộ Hãn Xà thì xin lỗi, ta sẽ mang người về ngay lập tức."

Thần Dương gật đầu: "Cảm phiền không tiễn."

Ô Tử Dư chậc một tiếng, mặt hắn đã lộ vẻ mất kiên nhẫn: "Ngươi đang làm cái gì vậy?"

Thần Dương bỏ danh sách ra: "Ngươi có hỏi chủ tử ta những câu như thế thì hắn cũng đáp y hệt thôi.

Ngươi muốn đi chứ gì, được, cứ đi đi."

Ô Tử Dư: "Ta bảo đi không phải vì sợ đánh với bộ Hãn Xà, mà là vì bây giờ không đánh nổi, tội gì phải lấy trứng chọi đá nhỉ?

Ngựa chiến với quân thợ ở doanh Biên Bác đều là báu vật của Ly Bắc, cứ hao phí vào lũ Biên Sa thì được ích gì?

Nhanh chóng đưa bọn họ đến đường lương mã Đông Bắc, chúng ta sẽ được tiếp viện từ ba đại doanh Liễu Dương, sau đó lại quay về thì vẫn kịp."

"Kịp," Tiêu Trì Dã vén rèm lên, cúi người đi vào, vừa lau nước trên tay vừa nói, "sao ngươi lại kết luận như thế?

Nói ta nghe xem nào."

Tiêu Trì Dã vừa vào cái, Ô Tử Dư cảm thấy lều tối đi hẳn.

Quân y dọn hòm, hành lễ với Tiêu Trì Dã rồi lui ra.

Ô Tử Dư hơi lúng túng, không dám nhìn Tiêu Trì Dã nữa.

Tiêu Trì Dã ném khăn cho Thần Dương, đi vòng qua ngồi xuống bên cạnh bếp lò.

Bên trên vẫn đang đun trà sữa, lâu lắm rồi Tiêu Trì Dã chưa uống, Cốt Tân đằng sau đi tới rót cho Tiêu Trì Dã một bát.

Căn lều lặng đi, Ô Tử Dư cảm thấy khó xử.

Hắn có mắc lỗi trước mặt Tiêu Ký Minh thì cũng không phải kiềm nén như trước mặt Tiêu Trì Dã.

Tiêu Trì Dã uống một hớp rồi hỏi Ô Tử Dư: "Còn sữa tươi không?"

Ô Tử Dư vội lắc đầu: "Hết rồi, còn mỗi bình này thôi, còn lại để dành cho doanh Biên Bác uống cho đỡ thèm."

"Có trà thô không?"

Ô Tử Dư "Có" tiếng: "Đồ tăng lực sao có thể không có được?

Trong kho nhiều lắm, nếu người thích thì để tôi bảo người lấy cho."

Tiêu Trì Dã chống tay nhìn Ô Tử Dư: "Ngươi cứ việc ở yên đây cả đêm, trước bình minh ta vẫn sẽ đi thôi.

Để người ta đánh cho chạy trối chết thế, các ngươi không phải thiết kỵ Ly Bắc à?"

Đây là lần thứ hai Ô Tử Dư nghe Tiêu Trì Dã nói "thiết kỵ Ly Bắc các ngươi" hôm nay, hắn cố nén giận giây lát, đang toan mở miệng thì Tiêu Trì Dã lại bảo: "Thay đồ đi, Cốt Tân, lát nữa đóng hòm, trước sáng mai sai người đưa đến Từ châu, tiện thể báo luôn cả tin bình an cho Lan Chu nhé."

Ô Tử Dư nào biết "Lan Chu" là ai, nghe cái giọng điệu đó đã thấy Tiêu Trì Dã chẳng để bụng đánh giặc gì mà chỉ chăm chăm đưa trà cho người ta rồi.

Hắn không nhịn được thốt lên: "Nhị công tử—"

"Bàn quân vụ thì đừng có gọi Nhị công tử, ta là Tổng đốc cấm quân Tiêu Sách An.

Ta hỏi ngươi có phải thiết kỵ Ly Bắc hay không, ngươi không cho ta một câu trả lời quả quyết.

Ly Bắc không có 'đội vận chuyển' riêng biệt nào cả, Ly Bắc chỉ có thiết kỵ Ly Bắc thôi.

Lính của ngươi cưỡi ngựa chiến giống đội tiên phong, đeo trường đao giống đội tiên phong."

Tiêu Trì Dã nhìn xoáy vào Ô Tử Dư, nốc cạn bát trà sữa, rồi thoáng chế giễu, "Chủ tướng của Ly Bắc chỉ đến cỡ này thôi à?"

===

• Tác giả có lời muốn nói:

Sáu châu Trung Bác là: Từ châu, Đôn châu, Đoan châu, Đăng châu, Trà châu, Phàn châu.

Tám thành Khuất đô là: Thành Tuyền, thành Đan, thành Xuân, thành Thuyên, thành Địch, thành Tấn, thành Vu, thành Tha.

Năm quận Khải Đông là: Quận Thương, quận Xích, quận Sách, quận Trừ, quận Biên.

Hòe châu nằm sau lưng ải Lạc Hà, phía Tây Bắc thành Tuyền.

Hà châu nằm phía Nam thao trường núi Phong, đường biên có thể nối thẳng đến dãy núi của ải Tỏa Thiên.

Mặc dù hai châu này cũng được gọi là "châu", nhưng không nằm trong phạm vi Trung Bác, tham khảo thêm ở án quân lương trong quyển thượng.

Du châu ở Quyết Tây, Quyết Tây còn có Bạch Mã châu, Cầm châu với mười ba thành, gồm cả hai bến cảng lớn.

Hiện giờ trong mười hai bộ Biên Sa đã xuất hiện: Bộ Liệu Ưng, bộ Câu Mã, bộ Hãn Xà, bộ Trường Thứu.

Tham khảo chương 43 ở quyển thượng, Sách An đã nhắc đến bộ Hồi Nhan đã quy hàng Đại Chu từ trước, chính là bộ nhỏ hoạt động ở đường ranh hỗ thị.

Các doanh trại của Ly Bắc đã xuất hiện bây giờ lần lượt là: Doanh thường trú, doanh Biên Bác, doanh Sa Nhất, doanh Sa Nhị, doanh Sa Tam, ba đại doanh Liễu Dương.
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 132: Binh thành


Ô Tử Dư chạy từ chiến trường đến doanh Biên Bác, dọc đường có qua doanh Sa Tam và cả doanh thường trú, song trong mắt chúng chủ tướng ở các doanh tác chiến này, hắn vẫn chưa được tính là "chủ tướng".

Trong những vấn đề liên quan tới quân vụ, tác dụng duy nhất của hắn chỉ có đưa lương.

Năm Hàm Đức thứ tám hỗ thị Ly Bắc bị bộ Hãn Xà tập kích, đội ngũ ứng chiến nhanh nhất chính là đội vận chuyển do Ô Tử Dư lãnh đạo, đó là trận duy nhất hắn từng đánh.

"Chủ lực của doanh Biên Bác xuất quân lên Bắc thì ngươi chính là chủ tướng của doanh Biên Bác.

Giờ cấm quân sẽ đi thám thính doanh Sa Tam, ta mong nhận được sự trợ giúp của doanh Biên Bác."

Tiêu Trì Dã đặt bát xuống, nói, "Trận tập kích lần này của bộ Liệu Ưng hiển nhiên đã ấp ủ từ lâu, cắt đứt mã đạo của doanh Sa Tam, doanh Biên Bác sẽ ngay tức thì mất đi tai mắt và bình phong.

Bây giờ ngươi mà rút lui thì đúng là có thể bảo vệ được quân nhu, tuy nhiên vùng giao chiến lấy doanh Sa Nhất làm đường ranh sẽ bị quân Biên Sa bao vây hoàn toàn.

Ba đại doanh Liễu Dương của Triêu Huy có đông đến mấy cũng phải chia làm hai đội, để một đội vòng qua đại cảnh đến chiến trường phía Đông Bắc trước để tiến hành tiếp viện từ xa.

Đến lúc đó có còn thừa quân nhu đi chăng nữa thì quân trên tiền tuyến cũng chết cả rồi."

Sở dĩ Tiêu Ký Minh chọn doanh Biên Bác làm khu vực tiếp tế là bởi có mã đạo nối liền nó, doanh Sa Tam, và đường lương mã Đông Bắc, vừa có thể nhanh chóng cung cấp quân nhu, cũng vừa có thể nhanh chóng tiếp viện binh lực.

Một khi mất đi nơi này, Tiêu Phương Húc ở tiền tuyến sẽ mất đi quân chi viện, đường lương mã Đông Bắc không có mã đạo nối thẳng lên phía Đông Bắc, Triêu Huy sẽ phải đi đường vòng, nhanh lắm cũng phải mất bốn ngày.

Trong vòng bốn ngày này, phía Đông Tiêu phương Húc là bộ Hãn Xà, phía Nam là bộ Liệu Ưng, không có tiếp viện, không có quân nhu, lũ Biên Sa dùng kế xa luân chiến[1] cũng đủ để đánh gục đội quân tinh nhuệ đã thấm mệt vì chiến tranh dài kỳ của Tiêu Phương Húc.

1.

Lửa giận trong Ô Tử Dư đã bị dập tắt, hắn trầm mặc giây lát mới nói: "Ba đại doanh Liễu Dương trong tay Triêu Huy là một trong những đội quân tinh nhuệ của thiết kỵ Ly Bắc, bộ Liệu Ưng đánh úp ở đây cũng không ngăn được hắn đâu, hắn có thể bỏ qua Đông Bắc ở xa hơn mà đi thẳng đến chiến trường từ đây mà."

"Ba đại doanh Liễu Dương là quân tinh nhuệ của Ly Bắc, đã giao chiến nhiều với bộ Hãn Xà nhất, A Mộc Nhĩ tuyệt đối hiểu bọn họ chẳng kém gì ngươi với ta.

Ngươi biết Triêu Huy có thể phá vây chạy đến chiến trường từ nơi này thì A Mộc Nhĩ trước khi đánh úp cũng phải nghĩ tới rồi.

Hôm nay thời cơ tập kích đang tốt thế này mà lão ta lại chỉ phái bộ Liệu Ưng tới, ngươi đoán xem lão ta đang nghĩ gì?"

Ô Tử Dư tối sầm mặt.

Trong ba mươi sáu kế, có một kế gọi là lạt mềm buộc chặt, hôm nay quân của Ô Tử Dư bị tập kích ở doanh Biên Bác, thân binh trong lúc nguy cấp sẽ mang quân nhu chạy đến đường lương mã Đông Bắc.

Lúc Triêu Huy nhận được lô quân nhu vô cùng trọng yếu này thì đã muộn, tiếp viện từ xa là điều bất khả nhất, hắn chỉ có thể quay sang doanh Biên Bác đã bị đánh chiếm, căn cứ theo số lượng bộ Liệu Ưng mà thân binh cung cấp để điều chỉnh tương ứng.

Lúc hắn đến nơi, A Mộc Nhĩ rất có thể đã rút lui toàn bộ bộ Liệu Ưng, thay kỵ binh tinh nhuệ của Biên Sa vào đây để mai phục sẵn, Triêu Huy sẽ phải đối mặt với đợt tấn công toàn lực của A Mộc Nhĩ.

Dù thắng hay thua, Triêu Huy đều sẽ bị vướng chân ở doanh Biên Bác, Tiêu Phương Húc trên chiến trường sẽ rơi vào cảnh không viện trợ, A Mộc Nhĩ quá hiểu thiết kỵ Ly Bắc.

"Triêu Huy mà không đến thì chúng ta cũng chẳng thắng được.

Lương thảo trên chiến trường ngốn khiếp lắm, chẳng cần bao nhiêu ngày, vương gia vẫn sẽ phải khổ chiến mà thôi."

Ô Tử Dư cất bước tới giá sách, rút tập bản đồ xuống, trải rộng ra đất, "Doanh Sa Tam giáp với doanh Sa Nhị, đến lúc A Mộc Nhĩ đột kích lên phía Bắc thì sẽ thành đánh sau lưng vương gia."

Đàm Đài Hổ vừa tắm xong, hắn treo áo choàng lên đi chân trần vào, thấy bọn họ đang vây quanh tấm bản đồ thì cũng ngồi xổm xuống ngó.

"Làm gì bây giờ," Ô Tử Dư ngước mắt nhìn Tiêu Trì Dã, "chúng ta tiến cũng thua mà lùi cũng thua, có làm gì cũng đều nằm cả trong dự liệu của A Mộc Nhĩ."

Đàm Đài Hổ sờ vết sẹo trên mặt: "Đâu phải, lão có biết cấm quân đâu, bọn ta là đội quân mà lão không lường được."

Hắn vừa nói vừa chỉ vào doanh Sa Tam, "Chỗ này gần núi Lạc ở Trung Bác, toàn thổ phỉ, lần này bộ Liệu Ưng có thể tránh được ưng tuần của thiết kỵ Ly Bắc, mang được cả máy bắn đá hạng nặng đi vòng đến phía Nam của doanh Biên Bác để đánh lén, đảm bảo có thổ phỉ trợ giúp.

Có rất nhiều cái lắt léo ta không hiểu, cơ mà đồng... công tử nói mấy cái hợp lý lắm."

Tiêu Trì Dã hơi nhíu mày: "Lan Chu nói gì?"

"Người thông minh không làm chuyện thừa thãi."

Mặt Đàm Đài Hổ nghiêm túc, "Vì sao A Mộc Nhĩ phải hao tâm tổn sức ngăn cản Triêu Huy?

Nếu lão ta đánh thuận lợi với vương gia ở chiến địa thì cần gì phải chia quân đến chỗ này."

Tiêu Trì Dã hơi cúi người nhìn bản đồ, khẽ xoay chiếc nhẫn ban chỉ: "Đúng, A Mộc Nhĩ lên kế hoạch thế này, chứng tỏ lão ta ở chiến địa đánh cũng cực chẳng kém.

Giờ đã vào tháng Bảy rồi, nếu chiến sự kéo đến tận mùa thu mà không có tiến triển gì thì A Mộc Nhĩ sẽ phải đối mặt với mùa đông khắc nghiệt.

Toàn bộ lương thực dự trữ của Biên Sa năm nay đã đổ hết lên chiến trường, chiến tranh kéo dài càng lâu lại càng bất lợi Biên Sa."

Ô Tử Dư nhớ đến điều gì đó.

Vừa lúc Tiêu Trì Dã lên tiếng: "Đại ca vừa bị thương là A Mộc Nhĩ thay đổi ngay sách lược tác chiến trong mấy năm gần đây.

Lúc ta còn ở Từ châu, nghe bảo kỵ binh Biên Sa đã đánh đến tận Đồ Đạt Long Kỳ.

Trước đây kỵ binh của bọn chúng đánh xong là chạy luôn, nhưng lần này thì không.

Bọn chúng không những không chạy mà còn tiếp tục tiến lên toàn lực.

A Mộc Nhĩ mất kiên nhẫn ở đại mạc rồi, lão ta đang từng bước một xâm chiếm Ly Bắc hòng chiếm đoạt thảm cỏ và doanh trại của chúng ta.

Cho nên chỉ riêng ở phương diện này, doanh Biên Bác đã cực kỳ trọng yếu, mất đi nơi này, Ly Bắc sẽ phải lui lại một bước dài, toàn bộ doanh Sa Tam sẽ bị tiêu diệt, cái gọi là phòng tuyến của chúng ta ở phía Đông sẽ sụp đổ hoàn toàn.

Nhưng nếu giữ được doanh Biên Bác thì sẽ có thể giúp cha hồi phục tinh thần, có cha trên chiến trường, A Mộc Nhĩ đừng hòng đẩy được đường biên này."

Nói tới đó, Tiêu Trì Dã chỉ vị trí doanh Biên Bác cho Ô Tử Dư.

"Chỉ cần ngươi chống chọi được trận tuyết đầu năm nay là đã đủ để giáng cho A Mộc Nhĩ một đòn trí mạng.

Cho dù thế nào đi chăng nữa, đều không thể bỏ doanh Biên Bác, vạch một đường Nam Bắc ở đây, chúng ta chỉ có thể đi về phía trước, tuyệt đối không thể lui về phía sau nữa."

Ô Tử Dư xê đôi chân đang ngồi xổm, ngậm tăm nhìn bản đồ một lúc lâu, mãi đến khi cả hai chân hắn đã tê rần, hắn mới dằn lòng nói: "Nếu tổng đốc đã quyết đi thì ngựa chiến còn thừa ở doanh Biên Bác có thể để cho cấm quân dùng."

"Cấm quân không phải kỵ binh, không cần ngựa chiến.

Với lại ngựa chiến của Ly Bắc nặng quá, lúc chạy ồn lắm, không hợp để đánh úp."

Tiêu Trì Dã đảo mắt một vòng, nhìn Đàm Đài Hổ, Thần Dương, Cốt Tân mỗi người một lần rồi cuối cùng quay về Ô Tử Dư, "Lần này để cấm quân chào hỏi A Mộc Nhĩ nhé."

***

Hôm sau khi bình minh còn chưa ló dạng, cấm quân đã lên đường.

Cốt Tân đang bị thương nhưng vẫn đảm nhiệm trinh sát.

Đàm Đài Hổ đi theo Tiêu Trì Dã, chỉ có Thần Dương ở lại doanh Biên Bác.

Ô Tử Dư không hiểu, song trông Thần Dương không có vẻ oán trách gì thì cũng chẳng lắm mồm thắc mắc.

Giờ này sương mù hẵng chưa tan, cấm quân đi trên cỏ chưa được bao lâu đã bị sương phủ ướt giáp.

Bọn họ không đi mã đạo mà đi đúng cái đường bộ Liệu Ưng đã rút lui.

"Chỗ này cách biên giới Trung Bác có xa mấy đâu, chủ tử, sao lại không thấy có trạm dịch nhỉ?"

Đàm Đài Hổ trông về phía Nam, "Vượt qua bãi cỏ này, chạy thêm một ngày một đêm nữa là sẽ đến núi Lạc."

"Tất cả phòng ngự của thiết kỵ Ly Bắc đều được lập nên vì kỵ binh Biên Sa," Tiêu Trì Dã xách đao nghiêng người nhìn một hồi, "trước kia thổ phỉ không dám bén mảng đến đây, giờ thì khác rồi."

"Mẹ kiếp, đứa nào ăn bám lũ trọc Biên Sa toàn rặt lũ hèn."

Đàm Đài Hổ lùa cỏ, căm hận chửi.

Tốc độ hành quân của cấm quân không chậm, lúc vào lãnh thổ doanh Sa Tam thì đã xế chiều.

Cốt Tân nằm yên trong cỏ một lúc lâu.

Đàm Đài Hổ bò đằng sau, đợi ít phút mà chẳng nhìn thấy gì ở phía trước, bèn hỏi: "Thấy gì không?"

Cốt Tân gạt cỏ ra, nói: "Ô Tử Dư nói đúng, doanh Sa Tam có kỵ binh của bộ Hãn Xà, phân ngựa toàn phân mới.

Bọn chúng bố trí tuần tra xung quanh doanh trại, cảnh giác hơn ở doanh Biên Bác nhiều."

Cốt Tân vừa nói vừa trở mình, nheo mắt nhìn trời.

"Không có tiếng còi hiệu cũng không có chim cắt, bộ Liệu Ưng đánh lén doanh Biên Bác hôm qua quả nhiên chỉ để đánh lừa thôi."

"Ở đây khó đánh quá," Đàm Đài Hổ nói, "tầm nhìn quanh doanh trại rộng, toàn cỏ là cỏ, chúng ta mà đến lại gần thêm tí nữa thì hết chỗ trốn."

"Đây chính là doanh Sa Tam," Cốt Tân mò lấy thuốc lá trong ngực áo, bỏ thẳng vào miệng nhai, "không chỉ không có chỗ trốn, mà bao ngoài doanh còn có hàng rào kẽm gai, đằng trước đằng sau bày khung cản ngựa[2], bốn góc có cả chòi canh."

2.

"Đi vào bằng đường mương thì sao?"

Đàm Đài Hổ vừa nói vừa ngoái lại thì thào với Tiêu Trì Dã, "dù gì con người cũng phải ăn uống mà."

Tiêu Trì Dã không đáp, Cốt Tân xem chừng hơi lúng túng, hắn cúi đầu nằm bò xuống, khe khẽ lầm bầm trong cỏ: "Ngày xưa có mương thông ra bên ngoài thật, sau chủ tử đánh giặc ở rặng Đông núi chẳng phải cũng dùng chính chiêu này để thọc bọn Biên Sa đấy còn gì?

Thế tử cảm thấy đây là lỗ hổng, cho nên lúc về đã bịt kín mương ở các doanh trại rồi."

Đàm Đài Hổ chẳng nói gì nữa, cũng nằm xuống.

Việc chọn địa điểm để dựng trại lúc hành quân rất quan trọng, nhà xí càng quan trọng nữa, mương rãnh bẩn thỉu kiểu này không thể xây cạnh kho lương thảo và các lều, hoặc là đào sâu, hoặc là đào thông ra ngoài.

Doanh Sa Tam là một doanh thường dùng, dĩ nhiên thông ra ngoài sẽ tiện hơn.

Có điều trước kia Tiêu Trì Dã từng dùng một nhúm kỵ binh mà mò được tận vào doanh trại của bộ Biên Sa, đánh cho quân Biên Sa lúc ấy thua liểng xiểng từ bên trong, để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc cho Tiêu Ký Minh, bởi vậy cho chắc ăn, mương cống trong doanh trại của Ly Bắc đã đào lại toàn bộ cho sâu hơn, xử lý đều đặn đúng kỳ hạn.

Nào ai hay thay đổi ấy lại trở thành nan đề Tiêu Trì Dã để lại cho mình mấy năm sau.

Lần này phải đánh sao đây?

Tiêu Trì Dã nhìn sắc trời, nói: "Đừng lo...

Có cách rồi."
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 133: Chín năm


Giờ Dậu canh ba, mặt trời lặn đằng Tây.

Hồ Hòa Lỗ đang ăn cơm, hắn là chủ tướng Biên Sa đã tập kích doanh trại phía Đông Nam của Ly Bắc, xuất thân từ bộ Trường Thứu, tuổi gần bốn mươi, đương đúng độ tráng niên.

Sau khi A Mộc Nhĩ thống lĩnh bốn bộ, hắn không chỉ trở thành con nuôi của A Mộc Nhĩ, mà còn trở thành chủ tướng đắc lực dưới quyền A Mộc Nhĩ, điều trùng hợp là, đội quân bị Tiêu Trì Dã đánh úp ở rặng Đông núi chín năm trước chính là do hắn lãnh đạo.

Hồ Hòa Lỗ nóng tính và nhỏ mọn, song lại tương đối nhạy bén, lúc đánh trận rất biến tiến thối.

Quách Vi Lễ thua dưới tay hắn, hai người lăng mạ phỉ nhổ nhau trước mặt toàn quân không chỉ một lần.

Sở dĩ hắn được A Mộc Nhĩ điều xuống phía Đông Nam, một là vì Đồ Đạt Long Kỳ đã bị đánh hạ, hai là vì hắn đánh dã chiến tương đối mạnh, đã từng vây Quách Vi Lễ trong đầm lầy nguyên một ngày một đêm, đánh tan tác quân chủ lực của Quách Vi Lễ, làm sụt giảm sĩ khí của doanh thường trú.

"Nga Tô Hòa Nhật muốn ta nhân từ với quân thợ Ly Bắc, nhưng bọn chúng có chịu nghe lời đâu, nuôi chúng nó chỉ tổ phí lương thực."

Hồ Hòa Lỗ róc sạch thịt dê, bảo phó tướng bằng tiếng Biên Sa, "Ta muốn chuyển toàn bộ trang bị và lương thực ở đây đi rồi giết hết đám quân thợ này, ở phía Đông vẫn còn quân của bộ Trường Thứu, có thể giữ tạm nhu yếu phẩm cho Nga Tô Hòa Nhật mà."

"Trước khi ngươi lên đường, Nga Tô Hòa Nhật đã đặc biệt dặn không được tổn thương đến quân thợ rồi."

Phó tướng Ba Âm là một hán tử da ngăm đen, tuổi không nhỏ, song bởi vì đi theo Hồ Hòa Lỗ nên mãi không có cơ hội thăng tiến.

Y quay sang khuyên Hồ Hòa Lỗ: "Nga Tô Hòa Nhật rất coi trọng đám quân thợ này, ngươi đừng chọc giận ngài."

Hồ Hòa Lỗ vứt con dao găm trong tay vào khay rồi lấy khăn lau tay, đứng dậy nhìn ra ngoài qua khe hở vén lên dưới lều.

"Nhưng bọn chúng chọc giận ta," Hồ Hòa Lỗ hơi khom lưng dòm các quân thợ đang bị trói trên bãi đất trống bên ngoài, "ngươi cũng hiểu tiếng Đại Chu còn gì, bọn chúng chửi ta là 'Phổ Thập Hòa', là tên đồ tể ở rặng Đông núi, xong còn đòi đệt cả mẹ ta nữa."

Ba Âm nói: "Bọn chúng bị phơi ở đây bốn ngày, không được ăn, nước cũng không được uống, đến chim cắt của bộ Liệu Ưng bây giờ cũng cần ăn thịt để sống.

Trong binh pháp của Đại Chu có nói đấy, nếu muốn bọn chúng thần phục, ngoài khiến chúng sợ thì còn phải khiến chúng biết ơn nữa.

Ngươi đã làm bọn chúng sợ, kế tiếp có thể cho bọn chúng nước, cho bọn chúng cơm, cởi trói cho bọn chúng, sau đó ra vẻ ôn hòa săn sóc, bọn chúng sẽ cảm kích ngươi, cũng sẽ cảm kích cả Nga Tô Hòa Nhật."

Hồ Hòa Lỗ sờ râu lún phún trên cằm, hắn quyết định làm theo.

Ngặt nỗi hắn đưa nước thì bị hất đổ, những tiếng mắng chửi đeo đẳng đến tận giờ Hợi hẵng còn chưa dứt.

Hồ Hòa Lỗ ngủ không ngon, hắn quyết định mặc kệ cách của người Đại Chu mà đi dùng cách của chính mình, bởi vậy hắn sai người lột da quân thợ nào lên tiếng như lột da dê rồi treo lên cọc cắm ngoài bãi đất.

"Tiêu Phương Húc ăn không đủ no ở chiến địa," Hồ Hòa Lỗ đứng trên bãi đất, đưa tay vẽ một vòng xuống bụng, nói bằng tiếng Đại Chu, "đói bụng thì làm sao đánh giặc được?

Trông các ngươi thì mập như này, ta phơi khô rồi đưa cho lão ta là đẹp cả đôi đường."

Hồ Hòa Lỗ dùng roi để dạy dỗ những người này, quân thợ không thể đánh trận chẳng có giá trị gì trong mắt hắn, thậm chí hắn còn cảm thấy giữ lại quân thợ là vướng chân, giết sạch một mẻ là tốt nhất.

Hắn treo đầu của chủ tướng doanh Sa Tam lên chòi canh, làm thịt ngựa chiến của tù binh.

Nếu không phải vì kiêng dè A Mộc Nhĩ thì hắn đã chẳng thèm ở lại Sa Tam doanh đợi lệnh, hắn đã đánh hạ doanh Sa Tam rồi, hắn chỉ muốn xông lên, làm người đầu tiên trong mười hai bộ Biên Sa công phá được đường lương mã Đông Bắc.

Giờ Sửu canh ba, vạn vật yên tĩnh.

Quân bộ Liệu Ưng đánh lén doanh Biên Bác hôm qua không thành công, Hồ Hòa Lỗ nổi cơn tam bành, để trừng phạt, quân của bộ Liệu Ưng không được ăn cũng không được ngủ mà bị bắt đi gác đêm.

Binh lính đứng trên chòi canh thấm mệt không chống đỡ nổi, buồn ngủ díp cả mắt.

Lúc này, trời đêm tĩnh mịch, chỉ có gió thổi đìu hiu.

Binh lính trên chòi canh dụi mắt, nương vào ánh sáng leo lét từ cây đuốc, nhìn thấy ngọn cỏ phất phơ trong gió ở phía xa doanh trại.

Tường của doanh Sa Tam xây rất cao, hơn nữa còn khá vững chắc, tầm nhìn của chòi canh bị hạn chế nên không nhìn được động tĩnh bên dưới chân tường.

Binh lính ngáp một cái, nghe thấy tiếng xào xạc.

Hắn cứ tưởng là tiếng gió thổi qua cỏ, nhưng âm thanh ấy nhanh chóng trở nên dày đặc, như cơn sóng triều kề sát bên tai.

Lỗ tai của binh lính khẽ động, hắn bèn với người khỏi lan can chòi canh, phóng mắt ra bên ngoài doanh trại.

Trời quá tối, một hàng cánh tay bất thình lình thò lên gò tường, rồi trong nháy mắt, một hàng người nhảy lên.

Đôi bên ngẩng mặt nhìn nhau, cả hai đều hơi sững sờ.

Binh lính của bộ Liệu Ưng phản ứng rất nhanh, bốn mắt còn đương thao láo đã lập tức thổi một tiếng còi hiệu dài.

Tiếng còi truyền khắp doanh Sa Tam, Hồ Hòa Lỗ vừa mới ngủ đã bật dậy, cấp tốc xỏ ủng.

Hồ Hòa Lỗ vén lều lên ngựa ngay tức thì.

Ba Âm cản hắn lại: "Chúng ta còn chưa biết tình hình cụ thể của quân địch mà, cứ hấp tấp đuổi theo như thế, e là có mai phục đấy!"

Hồ Hòa Lỗ do dự phút chốc, nhưng trong phút chốc ấy, một cơn mưa tên tuôn ra từ trên tường thành.

Hắn giận tím mặt xô Ba Âm ra: "Doanh Biên Bác toàn lũ phế vật, thiết kỵ Ly Bắc không có quân tinh nhuệ trú đóng ở đây, bọn chúng định lợi dụng bóng đêm để đánh lén, phá rối bài bố của ta.

Lên ngựa nhanh, ngựa chiến của Ly Bắc không địch nổi với chúng ta đâu!"

"Lệnh của Nga Tô Hòa Nhật còn chưa đến!"

Ba Âm túm dây cương của Hồ Hòa Lỗ, cuống cuồng kêu, "Quá kỳ lạ!

Doanh Biên Bác quả thực không có quân, thế mà bọn chúng lại dám chủ động đánh chúng ta, chắc chắn là có chuẩn bị sẵn!

Hồ Hòa Lỗ, đây là bẫy!

Chúng ta không nên ra ngoài doanh Sa Tam, bọn chúng không phá được pháo đài này đâu!"

Hồ Hòa Lỗ đánh ngựa phi đi mất, kéo theo Ba Âm chạy lảo đảo mấy bước, hắn hung hăng chỉ roi ngựa vào Ba Âm: "Ngươi đọc sách của bọn chúng đến ngu rồi!

Mẹ kiếp đi mà giữ trại của ngươi, bọn ta là hùng ưng truy chiến ở thảo nguyên, ở lại đây mới thua!"

Nhóm đang leo tường không quá năm trăm người, nhưng bọn họ lại chiếm được đại cung nhô lên trên đầu tường, thành ra quân Biên Sa không trèo lên được.

Hồ Hòa Lỗ nhanh mắt nhìn thấy dây thừng móc vào gò tường, nhìn thấy cả đám lính lạ đang lũ lượt trèo vào thành.

"Đây không phải thiết kỵ Ly Bắc," Ba Âm nhảy phắt lên ngựa ở đằng sau, đuổi theo Hồ Hòa Lỗ hô lớn, "đây không phải thiết kỵ Ly Bắc!"

Nhưng Hồ Hòa Hồ nào có quan tâm đối phương là ai, đối thủ của hắn ở đường ranh Đồ Đạt Long Kỳ là một trong những tướng tinh nhuệ của thiết kỵ Ly Bắc Quách Vi Lễ, đánh tiếp xuống Đông Nam lại hạ được cả doanh Sa Tam, hắn là thần tướng được thiên thần Cách Đạt Lặc phù hộ, hắn nghĩ thần thoại về sự bất khả chiến bại của mình đang nằm ngay trong tầm mắt rồi, hắn còn đủ sức để đánh một trận với chủ lực của Triêu Huy nữa kia.

Cổng treo của doanh trại nặng nề kéo lên, Hồ Hòa Lễ dẫn quân tinh nhuệ phi ngựa xông ra ngoài, nhưng nghênh đón Hồ Hòa Lỗ lại chẳng phải gió đêm mềm mại, mà là ánh lửa vụt cùng tên bay.

Mã đạo bên ngoài doanh trại bị chất đầy cỏ khô, lửa bùng lên nhưng không cháy lớn, theo đó là từng đụn khói dày đặc cuồn cuộn, hoàn toàn cản Hồ Hòa Lỗ đi tiếp lên mã đạo.

Hồ Hòa Lỗ bị sặc không thúc ngựa được, trận hình của kỵ binh Biên Sa vỡ tan tành trong làn khói mù mịt.

Trời tối nên không nhìn rõ con đường trước mắt, Hồ Hòa Lỗ sợ đi tiếp sẽ có binh mai phục, hắn bèn quay đầu ngựa dẫn kỵ binh đi vòng qua mã đạo, chạy đến phía đồng cỏ.

Ai ngờ phi chưa được bao lâu, vó ngựa bỗng sụt xuống.

Giống ngựa lùn của bộ Câu Mã rất nhanh, kỵ binh đằng trước bị vấp bổ nhào cả người lẫn ngựa, kỵ binh đằng sau không kịp ghìm cương mà xông thẳng tới, nhất thời tất cả lao dúi dụi vào nhau.

Lúc Hồ Hòa Lỗ lăn vào cỏ, hắn nhìn thấy mấy cái hố ngựa sụt mới đào trên mặt đất, còn có cả kẽm gai.

Kẽm gai thì hắn chẳng lạ, món đó được rải sẵn quanh doanh Sa Tam, chỉ là không ngờ lại có kẻ bí mật chuyển đến dưới chân mình.

"Rút lui!"

Ba Âm đuổi theo đằng sau, "Là mai phục!"

Hồ Hòa Lỗ bò dậy, bỗng nghe thấy một tiếng rống vang trời.

Đàm Đài Hổ đã nằm chờ trong cỏ từ lâu tuốt đao xông dậy, hơn ngàn cấm quân vùng lên trong cỏ như một làn sóng, lao vào đánh với kỵ binh Biên Sa bị ngã ngựa.

Đàm Đài Hổ đã chờ cả đời để đánh với kỵ binh Biên Sa, hắn không nhận ra Hồ Hòa Lỗ, nhưng hắn nhận ra những con ngựa này.

Khi lưỡi đao va vào nhau, thảm cảnh đồ thành của Trung Bác sau khi đại bại hiển hiện ngay trước mắt.

Y như tên mình, Đàm Đài Hổ tựa con hổ dữ xuống núi, vừa gầm thét vừa liên tục đẩy lui Hồ Hòa Lỗ.

Kỵ binh Biên Sa đã quen đánh với thiết kỵ Ly Bắc, lợi thế của cấm quân nhanh chóng trở nên nổi bật.

Bọn họ không chú trọng lề lối như thiết kỵ Ly Bắc, trong cái ổ cỏ đen nhánh này, đao của bọn họ đâm hiểm hơn bất kỳ kẻ nào.

Lính tinh nhuệ của Hồ Hòa Lỗ đã mất ngựa, đối mặt với mã tấu ngắn hơn đao của thiết kỵ Ly Bắc, chúng lại không thể ứng phó như bình thường.

Trọng lượng kinh hồn của thiết kỵ Ly Bắc đã biến mất, trên mặt đất, tốc độ ra đao của cấm quân nhanh chẳng kém gì loan đao của Biên Sa.

Nhưng Hồ Hòa Lỗ nhanh chóng phát hiện ra đội quân này hết sức thưa thớt, thậm chí còn không tạo nổi vòng vây quanh hắn.

Mặc dù Đàm Đài Hổ đánh rất mạnh nhưng hoàn toàn chỉ dựa vào nhiệt huyết, lũ này không hề có viện binh giữa vùng đồng nội bạt ngàn nơi đây, cái gọi là mai phục cũng chỉ là mấy hố ngựa sụt mà thôi.

Hồ Hòa Lỗ điên lên, hắn chém ngã một người rồi lao vào chặn lại Đàm Đài Hổ đang xông tới, gầm lên: "Hóa ra chỉ là lũ chuột nhắt!"

Đàm Đài Hổ bị thương, hắn đạp văng Hồ Hòa Lỗ ra, lau mồ hôi và máu, vẫn liều mạng tấn công.

Đàm Đài Hổ càng đánh, Hồ Hòa Lỗ lại càng tin chắc đối phương không có hậu viện, bằng không lẽ ra chúng phải đến viện trợ từ lâu rồi.

Hai phe ác chiến khoảng nửa canh giờ, cuối cùng Đàm Đài Hổ chật vật rút lui.

Bọn họ không có ngựa, chỉ có thể vội vàng chạy trối chết trong cỏ.

Lúc bấy giờ máu giết chóc của Hồ Hòa Lỗ đã dâng cao, nào có chuyện hắn chịu để cho Đàm Đài Hổ chạy?

Hắn lập tức chỉnh lại ngựa chiến rồi dẫn quân đuổi sát nút.

Hắn vung loan đao chửi những tiếng mơ hồ trong gió đêm, màn chọc khoáy của cấm quân đã chọc điên hắn, hắn quyết sẽ dùng bọn họ để tế đao.

Đàm Đài Hổ lết cánh tay bị thương, chạy thục mạng không ngoái đầu.

Hắn thở phì phò như con trâu, giữa đường suýt ngã mấy lần.

Hồ Hòa Lỗ đuổi riết không tha ở ngay đằng sau, Đàm Đài Hổ chậm hơn ngựa, chẳng mấy chốc, kỵ binh đã ở ngay sau mông hắn.

Đàm Đài Hổ xách đao che phần mông xém chút nữa đã bị chém, mồ hôi đẫm lưng áo, hắn gào về phía đồng cỏ trống trải trước mặt: "Ta đệt cả tổ tông nhà ngươi!"

Cuối chân trời bỗng vang lên tiếng trống trận rung trời chuyển đất, chấn động đến inh tai tất cả.

Hồ Hòa Lỗ thấy sai sai, hắn lập tức ghìm cương, kỵ binh đi theo nhìn tứ phía.

Lúc nhúc người đứng dậy từ thảm cỏ xung quanh, đầu đội cỏ nấp trong bóng tối khiến Hồ Hòa Lỗ nhất thời không đếm hết được.

Ngựa của Hồ Hòa Lỗ bồn chồn đạp vó, hắn nhìn về phía trước, một loạt cây đuốc lần lượt đốt lên từ hướng Đàm Đài Hổ đang chạy kéo dài đến ngút tầm mắt Hồ Hòa Lỗ, tựa một con rồng dài dằng dặc.

Tiếng trống dồn dập khiến Hồ Hòa Lỗ cảm thấy nguy cấp, hắn lập tức vỡ ra mình đã mắc bẫy, ở đây có quân chủ lực của Ly Bắc, hơn nữa số lượng còn vượt xa bọn chúng.

"Rút lui," Hồ Hòa Lỗ kéo đầu ngựa gấp rút hô, "rút lui!"

Ngựa của Hồ Hòa Lỗ vừa cất vó chạy, hắn đã nghe thấy tiếng ngựa phi ngay bên cạnh.

Lãng Đào Tuyết Khâm một người một ngựa xông lên đầu hàng truy đuổi.

Hồ Hòa Lỗ quay qua nhìn, nhất thời sợ vỡ mật, suýt thì hắn tưởng Tiêu Phương Húc đang ở đây.

Nhưng Tiêu Trì Dã cao hơn Tiêu Phương Húc, phi vùn vụt trong bóng đêm nhập nhoạng, Hồ Hòa Lỗ nhìn thấy rõ cặp mắt khác hẳn cặp mắt của Tiêu Phương Húc, trong ấy là sự tham lam kinh hồn.

Hồ Hòa Lỗ thấy gáy mình lạnh ngắt, ánh mắt ấy khiến hắn chợt sinh ra ảo giác không chạy thoát nổi.

Răng nanh sắc nhọn cận kề gang tấc, hòng thoát khỏi áp lực ấy, hắn ra sức quất ngựa.

Hồ Hòa Lỗ nhớ ra rồi, chín năm trước ở rặng Đông núi, hắn đã bị con sói con này cắn, binh lực gấp bội lần đã thua trước chàng thiếu niên bầy nhầy nhớp nhúa lúc ấy.

Con ngựa bị đau lao như điên, phá loạn hàng ngũ kỵ binh.

Hồ Hòa Lỗ đã nhìn thấy doanh Sa Tam, hắn định cầu viện Ba Âm, nhưng hắn vừa mới há miệng đã thấy trời đất quay cuồng, đầu lăn bịch xuống cỏ.

Tiêu Trì Dã đã vọt vào trong hàng ngũ kỵ binh, đao Lang Lệ chém văng máu.

Máu nóng tung tóe lên hai má hắn, lúc ghìm cương ngựa, hắn giơ ngón tay cái đeo nhẫn ban chỉ lên quệt sạch vết máu trên mặt.

Ngựa của Hồ Hòa Lỗ vẫn đang lao đi, cái xác không đầu lắc lư bên trên tuột xuống, cắm thẳng xuống trước doanh trại, máu chảy lênh láng ra đất.

===

TIÊU SÁCH AN HOT QUÁ ĐI MẤT THÔI!!!!!!
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 134: Mộng Chính


Hồ Hòa Lỗ được coi là người có khả năng trở thành Nga Tô Hòa Nhật nhất ở bộ Trường Thứu, tuy hắn là một kẻ hung tàn, nhưng lại tương đối thiện chiến.

Quân của hắn được cấu thành từ các lính tinh nhuệ ở các bộ Biên Sa, những kỵ binh này chỉ sợ chứ không kính trọng Hồ Hòa Lỗ, song chính vì sợ nên lúc này mới thấy chấn động.

Chỉ chớp mắt mấy cái, Hồ Hòa Lỗ đã bị chém ngã ngựa, ngã xuống cùng hắn còn có cả sĩ khí của kỵ binh Biên Sa.

Hồ Hòa Lỗ hấp tấp kết luận còn rất đông viện binh Ly Bắc đằng sau, điều ấy cũng đã dập hoàn toàn quyết tâm đánh tiếp của những kỵ binh Biên Sa đã mất đi chủ tướng.

Bọn chúng chạy toán loạn quanh Tiêu Trì Dã ở trung tâm.

Vô số ngọn đuốc tạo thành một đường dài dồn từ sau lưng tới, tựa hồ dẫn theo cả trăm vạn hùng binh.

Bên trong doanh Sa Tam còn có Cốt Tân đánh úp, Ba Âm bị vây cả hai mặt, y thấy Tiêu Trì Dã nhởn nhơ thì cũng tưởng Tiêu Trì Dã dẫn theo chủ lực của Ly Bắc.

Cái chính là khi Ba Âm ngoái lại nhìn, những ngọn đuốc sau lưng tựa những bóng hình mập mờ trải tít tắp trên thảm cỏ, chừng như có thể dàn thẳng đến tận chân mây.

Ba Âm không định giẫm lên vết xe đổ, y ghìm cương lùi lại mấy bước, hạ lệnh bỏ trại tháo chạy.

Kỵ binh Biên Sa cuống cuồng rút lui, thậm chí chưa kịp nhặt xác cho Hồ Hòa Lỗ đã lủi vào màn đêm.

Tiêu Trì Dã vẫn đứng nguyên tại chỗ, Đàm Đài Hổ dẫn quân hô đánh giết, giả vờ đuổi theo mấy dặm, lúc Ba Âm không dám quay đầu lại thì cấp tốc rút về doanh Sa Tam.

Khi Ba Âm ngoái lại, vẫn có thể nhìn thấy những ngọn đuốc chạy dài ấy.

Nếu Ba Âm chịu nhìn kỹ hơn, hoặc có thể bình tĩnh lại, y sẽ phát hiện ngay sơ hở trong trận đêm nay.

Thực lực của Hồ Hòa Lỗ rất xuất sắc, nhưng đúng như lời hắn nói, hắn là chủ tướng đánh dã chiến, để hắn thủ trại đánh phòng ngự chính là lẫn đầu lộn đuôi.

Nếu hắn chịu nghe theo lời khuyên của Ba Âm, ở yên trong Sa Tam doanh, nhanh gọn giải quyết tốp cấm quân nhỏ của Cốt Tân thì hắn đã có thể chiếm cơ trên.

Doanh Sa Tam đóng cổng lại sẽ thành tường đồng vách sắt, Tiêu Trì Dã không có quân nhu hay vũ khí đánh thành, hoàn toàn không có cách nào tiến đánh.

Nhưng Hồ Hòa Lỗ đã bị tràng thắng lợi liên tiếp từ đầu xuân năm nay đập tan sự thận trọng, không chịu nổi khi bị lừa, thấy Cốt Tân trèo tường thì tưởng là doanh Biên Bác đánh lén, thấy đuốc nhiều không đếm xuể thì tưởng là viện binh của thiết kỵ Ly Bắc, cuối cùng thấy Tiêu Trì Dã thì lòng đã rối mù, chưa đánh đã thua.

Tiêu Trì Dã xách đầu Hồ Hòa Lỗ lên, ngắm nghía bộ mặt xồm xoàm râu ria một lát, không nhớ nổi tên này là ai.

Hắn đưa đầu cho Đàm Đài Hổ, Đàm Đài Hổ không chịu nhận, hắn lại đưa cho Cốt Tân: "Gom hết xác trong doanh lại, các anh em Ly Bắc thì chôn đằng trước, lính Biên Sa thì chôn xa hơn tí.

Trời nóng đừng để xác ra ngoài lâu, kẻo lại sinh dịch bệnh."

Cốt Tân nhận lấy cái đầu, nhận ra đây là Hồ Hòa Lỗ.

Hắn không ngờ Tiêu Trì Dã vừa gặp đã chém chết Hồ Hòa Lỗ, Quách Vi Lễ đánh với tên này suốt nửa đời, thế mà chỉ sau một đêm hắn đã về chầu trời.

Tiêu Trì Dã cởi đao Lang Lệ ra, hỏi: "Sao, ngươi nhận ra à?"

Cốt Tân thưa: "Tên này là Hồ Hòa Lỗ, chủ tử, chính hắn đánh lùi Quách Vi Lễ rồi chiếm Đồ Đạt Long Kỳ ở phía Bắc."

Tiêu Trì Dã đã chạy hai đêm liên tiếp, bây giờ còn có việc khác, chỉ gật đầu tỏ ý đã biết rồi để Cốt Tân đi.

Hắn gọi Đàm Đài Hổ, ném đao cho Đàm Đài Hổ bắt rồi cùng đi vào.

"Cái doanh này lớn khiếp," Đàm Đài Hổ vẫn đang ngó dáo dác, chậc mấy tiếng xuýt xoa, "tường này mà sửa lại là chẳng thua gì tường thành tử tế.

Bên trên gò còn đặt cả đại cung, bên dưới bố trí hố ngựa sụt, xa gần đều đánh được."

"Đại ca ta tốn khối bạc ở đây mà lại," Tiêu Trì Dã nhìn tường doanh, "ngươi nhớ kỹ bài bố trên tường đi, có gì không hiểu thì có thể ghi nhớ lại rồi hỏi Thần Dương hoặc Cốt Tân.

Ngày mai ta sẽ bảo quân thợ đưa bản đồ doanh trại cho ngươi, cái đấy ngươi cũng phải thuộc."

Đàm Đài Hổ vội vâng.

Ai tinh mắt đều nhìn ra được Tiêu Trì Dã đang muốn trọng dụng hắn, từ lúc rời Khuất đô đến giờ, trận nào Tiêu Trì Dã cũng dẫn Đàm Đài Hổ theo, Đàm Đài Hổ chẳng biết bao nhiêu chữ, để không phụ ơn tri ngộ này, hắn đã bỏ công sức học chữ với Thần Dương.

Tiêu Trì Dã tới gấp là để gặp quân thợ.

Hắn đã nói cặn kẽ với Ô Tử Dư, song có một điều mà hắn không nói, đó là hắn không định trả lại doanh Sa Tam.

Nơi này dễ đánh mà cũng dễ thủ, lại còn là bình phong che chắn cho doanh Biên Bác, đi lên Bắc có thể tiếp viện cho Tiêu Phương Húc, đi sang Tây có thể thông tới đường lương mã Đông Bắc, vô cùng phù hợp cho hắn.

Ai muốn giành của hắn thì tự đi mà nói với hắn.

Cuối cùng khi Tiêu Trì Dã được đặt lưng xuống thì trời đã sắp sáng.

Hắn ngủ trong lều mấy canh giờ, giữa lúc đó Thần Dương chạy đến từ Biên Bác doanh nhưng cũng không vào làm phiền.

Gần chạng vạng Tiêu Trì Dã mới ngủ dậy, lúc đang đứng cúi đầu rửa mặt bên ngoài lều, hắn nghe thấy tiếng Mãnh quay về.

Tiêu Trì Dã buộc giáp tay lên, huýt sáo một tiếng gọi Mãnh.

Mãnh liệng giây lát rồi thu cánh đậu xuống tay Tiêu Trì Dã.

Tiêu Trì Dã lấy một miếng thịt dự trữ từ trong túi ra đút cho Mãnh, lúc Mãnh đang ăn thì thấy hạt óc chó quặp ở móng Mãnh.

"Vương gia không sao rồi," Thần Dương cười, "báo bình an cho chủ tử đấy."

Nhưng Tiêu Trì Dã lại không cười, thậm chí hắn còn không vui, hắn gỡ hạt óc chó xuống vân vê chốc lát trong lòng bàn tay rồi ném cho Thần Dương: "Cha đặc biệt thả Mãnh về là để truyền quân lệnh đấy.

Ngươi mở ra đọc ta nghe đi, cái lão này xấu quá."

Thần Dương mở hạt óc chó ra, trải phẳng giấy.

Chữ viết của Tiêu Phương Húc rất ngông, bảo là mình đã sớm biết A Mộc Nhĩ sẽ phái người đi đường vòng đến doanh trại phía Đông Nam, nhưng tại sao không ứng phó trước thì lại không nhắc tới.

Còn hỏi có phải Mãnh đánh lén Ngu hay không, đánh ác quá, y hệt Tiêu Trì Dã.

Cuối cùng bảo Tiêu Trì Dã ở yên đây chờ lệnh, đừng manh động...

Tiêu Trì Dã giơ ngón tay lật lá thư lại, lướt qua mấy đoạn lê thê, rà xuống mấy câu hàm súc sau cùng.

Thần Dương hắng một tiếng, bình tĩnh đọc tiếp: "Không ai hiểu con bằng cha, lúc thư đến thì đã muộn, biết con chắc chắn sẽ đánh doanh Sa Tam.

Đã thế thì con hãy làm áp vận thay Ô Tử Dư...

Làm tướng quân quân nhu đi."

Xung quanh lặng phắc.

Đàm Đài Hổ không biết Tiêu Phương Húc, theo phán đoán của hắn, dù Ly Bắc vương không khen ngợi Tiêu Trì Dã thì cũng nên điều Tiêu Trì Dã lên chiến trường, nhanh chóng lập công chính là lời khen ngợi tốt nhất đối với Tiêu Trì Dã.

Tình hình Ly Bắc đang thế này mà lại để Tiêu Trì Dã ở phía sau làm tướng quân quân nhu, thế khác gì dằn xuống mũi nhọn mà hắn đã rút ra từ Khuất đô đâu.

Vương gia điên rồi ư?

Hay là để trấn an bè phái của thế tử, Tiêu Phương Húc không ngần ngại giấu Tiêu Trì Dã thêm chín năm nữa?

Tiêu Trì Dã mím chặt môi, nhịn hồi lâu không lên tiếng, ngoảnh đầu nhìn mặt trời lại rớt xuống bờ Tây.

***

Mấy hôm sau, đội buôn xuất phát từ Từ châu xuôi thẳng xuống Nam theo đường quan đạo Trà châu.

Khổng Lĩnh đóng giả thành quản sự, các Cẩm y vệ đóng giả thành người hầu phú gia, Thẩm Trạch Xuyên thì viện cớ bệnh lâu năm ngồi trong xe ngựa, hiếm khi lộ mặt.

Khổng Lĩnh mang theo giấy thông hành Từ châu phát nên đỡ được bao nhiêu phiền phức lúc đi đường.

Năm nay, người có thể xin được công văn chính thức từ quan phủ đều là người không thể coi nhẹ, đã thế thị vệ còn đông, thổ phỉ tầm thường không dám tùy tiện cướp bóc, chỉ sợ lại chọc phải cường hào ác bá nào.

Sau khi rời Từ châu, ăn mày trên đường nhiều hơn hẳn.

Trẻ con tám chín tuổi cũng bị ép phải kiếm kế sinh nhai bằng cách lừa lọc, mở miệng là có thể tuôn ra đủ thứ ba hoa chích chòe, thần tiên yêu quái gì cũng dám nói, dụ dỗ thương khách đi qua bỏ tiền cầu bình an.

Mấy ngày đầu thì còn ổn, mấy hôm sau trời đổ mưa, trời bỗng trở lạnh, Thẩm Trạch Xuyên bị ốm.

Dọc đường toàn lừa đảo, chỉ riêng hắc điếm[1] đã nối đuôi thành hàng, Khổng Lĩnh có dám mời đại phu thì Kiều Thiên Nhai cũng chẳng dám để đối phương lại gần Thẩm Trạch Xuyên.

Cũng may mà không nghiêm trọng, chỉ sốt hai ngày đã dần đỡ.

1.

Thời gian Thẩm Trạch Xuyên ngồi ở bàn ngày một dài, khó tránh khỏi bỏ bê việc luyện võ.

Sau khi tiễn Tề Huệ Liên, y thường xuyên cảm thấy cơ thể không chịu nổi gánh nặng nữa, hễ chuyển mùa là rất dễ bị ốm.

Chuyện này thật ra ngay từ hồi ở Khuất đô đã có dấu hiệu rồi, đợt án dịch bệnh y bảo bệnh cái là bệnh ngay.

Xe ngựa cán qua bùn lầy, đội mưa đến Trà châu.

Lúc nhận được danh thiếp của Khổng Lĩnh, châu phủ Trà châu La Mục vẫn đang trong phòng tiểu thiếp, ông ta lật qua lật lại xem tấm danh thiếp như muốn cậy hoa văn lên, nhưng mông lại không chịu nhúc nhích.

Tiểu thiếp thứ mười bốn của ông mới cưới vào có mấy hôm, dạo này đang được sủng nên không khỏi bị chiều hư.

Tiểu thiếp rút tấm danh thiếp khỏi tay La Mục, nàng đọc được vài chữ, bèn hỏi: "Khổng Lĩnh này là ai vậy?"

La Mục bế người ngồi lên đùi: "Khổng Lĩnh á?

Một tên nghèo kiết xác thôi, năm xưa đi theo Chỉ huy sứ quân phòng vệ Đôn châu Đàm Đài Long, sau đó Đàm Đài Long chết thì ông ta lại chạy theo Chu Quế."

Tiểu thiếp bị râu của La Mục cọ cho bật cười khúc khích, như sợ bị dính hơi nghèo kiết xác ấy, nàng ta vểnh ngón út ve vẩy tấm danh thiếp: "Thế sao ông ta lại quen được lão gia thế?"

La Mục tự giễu: "Bọn ta là bạn cùng thầy."

"Ái chà, thế thì phải chiêu đãi người ta ra trò mới được."

Tiểu thiếp này toàn chọc vợ cả của La Mục khó chịu, anh nàng là Thái Vực, một trong những thổ phỉ của Trà châu, là người mà La Mục dựa vào, cho nên rắp tâm tính toán cho La Mục ly hôn, định bụng mượn cớ khách đến chơi nhà để mình được chủ trì yến tiệc.

Nghĩ thế, nàng bèn vỗ vỗ tấm danh thiếp vào La Mục: "Để thiếp bày tiệc cho chàng nhé, vừa hay chàng được dịp mời ca ca đến, giết hết oai phong của bọn Từ châu đi.

Thiếp nghe nói quân lương của Ly Bắc năm nay có một đợt đến từ Từ châu đấy, bọn họ nhiều tiền lắm."

La Mục không đáp mà chỉ nói: "Phí tiền làm gì?

Nhét cho mấy cái bánh ngô rồi tống cổ đi là được rồi, cá chắc ông ta đến vay tiền, ta không gặp ông ta đâu."

Tiểu thiếp không chịu mà quàng tay làm nũng với La Mục, tấm danh thiếp tuột xuống đất.

Ánh mắt của La Mục dõi theo tấm danh thiếp, nắm nhẹ cánh tay tiểu thiếp, bảo: "Chừng nào đến Từ châu chúng ta gặp lại cũng vẫn kịp, nàng xem, thiệp rơi rồi kìa, nhặt lên đi..."

Tiểu thiếp thấy mềm không được, õng ẹo đứng dậy, phụng phịu dỗi ầm lên.

Chiếc giày thêu giẫm lên danh thiếp, nàng di nhẹ mấy cái, nói: "Ta được gả vào rồi mà chưa một lần được thay lão gia đãi khách, cũng cưới xin đàng hoàng như ai, tại sao chỉ có mình ta thấp kém hơn?

Ta mới—"

Nàng còn chưa hết câu đã thấy mặt La Mục lạnh băng, ông quát: "Ngươi tránh ra!"

Từ lúc gả cho La Mục tới giờ, Thái thị luôn được cưng lên tận mây xanh, chưa bao giờ bị ông quát, nàng lập tức giật bắn mình, sững người lùi lại mấy bước.

La Mục cúi xuống nhặt danh thiếp lên, dấu giày bên trên lau mãi không sạch.

Ông tối sầm mặt cất tấm danh thiếp đi, sau đó lại ngẩng lên kéo tay Thái thị cười trừ: "Chuyện tiền đường nàng không cần để ý làm gì, việc này tự ta sẽ bàn với đại ca.

Hôm nay ta không nán lại nữa, lát đến thăm nàng sau."

Dứt lời, chẳng chờ Thái thị hoàn hồn, ông đã tự vén rèm đi mất.

Bên ngoài vẫn còn mưa, tùy tùng mở ô ra, La Mục bước vào, nói: "Người còn ở đấy không?

Mời ông ta đến tiền đường đi, ta đi gặp ông ta giờ."

***

Lúc La Mục đến tiền đường thì Khổng Lĩnh đã chờ được một lát.

Thấy La Mục bước lên thềm, ông bèn đứng dậy đón.

Hai người vừa thấy mặt nhau đã cười, La Mục ra hiệu cho Khổng Lĩnh ngồi xuống, họ hàn huyên chốc lát rồi mới vào vấn đề chính.

"Lần này ta đến gặp ông cũng là ý của đại nhân."

Khổng Lĩnh uống trà, nói, "Mấy năm gần đây Từ châu bắt đầu khởi sắc, ruộng đồng khôi phục, lương thực coi như dồi dào, nhưng dân số của Từ châu thì lại sụt giảm nghiêm trọng, không ăn được nhiều như vậy.

Lương thực còn thừa để nguyên năm không bị chuột khoét thì cũng bị mốc."

La Mục chuyên chú nghe Khổng Lĩnh nói chuyện, thấy mặt mày ông hồng hào, tóc cũng không bạc nhiều.

Khổng Lĩnh nhìn vào mắt La Mục, lại nở một nụ cười: "Cho nên bọn ta mới nghĩ, những năm nay Trà châu vẫn mua lương thực giá cao từ Hà châu với Quyết Tây, bị lỗ nhiều quá, chi bằng hai châu chúng ta bắt mối, chúng ta cũng gần nhau, tiện đường vận chuyển, bọn ta sẵn sàng ra giá lương thấp hơn Quyết Tây, ông thấy sao?"

La Mục phát hiện lúc cười khóe mắt Khổng Lĩnh đầy nếp nhăn, ông như vừa tỉnh mộng, dời mắt đi, ngẫm nghĩ chốc lát mới bảo: "Ta hiểu đại khái ý của ông rồi, việc tốt, nhưng không làm được."

Ông thấy Khổng Lĩnh toan lên tiếng thì giơ tay ngăn lại.

"Trà châu không phải Từ châu, Chu Quế bảo làm là làm, quả thực rất quyết đoán, nhưng bao nhiêu phần quyết đoán ấy là dựa vào cha vợ ông ta đây?

Năm xưa Lưu đại nhân quyết tâm diệt phỉ ở Từ châu mới khiến Từ châu hôm nay không có nạn thổ phỉ, nhưng Trà châu thì không được."

Khổng Lĩnh cũng đã lường trước, ông trầm ngâm giây lát.

Lát sau mới cất lời: "Mộng Chính, một chút cơ hội thôi cũng không được ư?"

Nghe Khổng Lĩnh gọi tên tự của mình, La Mục lại vội vàng quay đi.

Khổng Lĩnh tưởng La Mục khó xử, bèn bảo: "Giờ Từ châu đã thành lập lại quân phòng vệ, chỉ cần mối làm ăn này thành công, từ rày về sau bọn ta cũng sẽ sẵn sàng góp sức diệt phỉ cho Trà châu.

Mộng Chính à, nay thiên hạ đại loạn, hào kiệt muôn nơi ắt phải khởi đầu từ sơn dã, chỉ cần thân còn ở trong ấy thì sẽ không tránh được phân tranh.

Ông với chúng ta vừa có nghĩa đồng môn, lại vừa có tình đồng môn, sao không nhân đây mà vùng dậy, không để thổ phỉ khống chế mình nữa?"

"Ông với Chu Quế ở Từ châu, không hiểu được cái khó của ta đâu."

La Mục quay lại, "Nếu nạn thổ phỉ ở Trà châu mà dễ giải quyết như vậy thì sao ban đầu ông không tìm đến ta, mà lại tìm đến Chu Quế?"

Khổng Lĩnh muốn giải thích, La Mục đã đứng dậy: "Lương thực hiện giờ của Trà châu đều là lương mua giá cao từ Quyết Tây, Hà châu, tất cả trùm phỉ đều có phần trong đó, ăn chính là ăn cái lãi đó.

Giờ ông lại muốn ta chuyển sang mua lương thực của Từ châu, tức là cắt đường tài của người khác.

Tóm lại không được đâu, chỉ cần có chút phong thanh nào truyền ra, cả ông lẫn ta sẽ đều gặp nguy hiểm, ông về đi thôi."

La Mục bảo người tiễn khách, cất mấy bước tới bậc cửa rồi, ông lại ngoảnh đầu.

Bao nhiêu năm rồi bọn họ chưa gặp lại nhau, vậy mà lạ lùng thay, dẫu bây giờ Khổng Lĩnh đã già thế nào, La Mục vẫn nhớ như in dáng vẻ thời đi học của Khổng Lĩnh.

Mưa dưới hiên bắn ướt vai La Mục, ông đứng như thế thật lâu.

Cả đời này Khổng Lĩnh đã bỏ lỡ rất nhiều điều, như khoảnh khắc này đây, ông đã bỏ lỡ ánh sáng nơi đôi mắt La Mục, chỉ nói: "Chuyến này ta đi là vì tình hình bắt buộc, hôm nay không được thì mai ta lại đến.

Mộng Chính, ta chắc chắn rồi, chỉ cần ông chịu thương lượng với bọn ta thôi."

La Mục im lặng, hồi lâu sau mới cất tiếng: "Ông còn dẫn theo ai nữa?

Lúc vào thành ông dùng công văn của Từ châu, gặp ta thì lại đưa danh thiếp, ông đã làm bại lộ hành tung rồi.

Ta khuyên ông chớ nên hành động dại dột, ở thêm mấy hôm nữa rồi về Từ châu đi."

Nói rồi không chờ Khổng Lĩnh đáp, ông đã vén áo đi xuống thềm.

***

Đêm xuống, Thẩm Trạch Xuyên vừa uống thuốc vừa nghe Kiều Thiên Nhai bẩm báo lại toàn bộ cuộc nói chuyện giữa hai người, không khỏi quay qua nhìn Kiều Thiên Nhai.

Kiều Thiên Nhai gật đầu vẻ hiểu ý: "Bọn họ là bạn đồng môn lâu năm, tình nghĩa ắt không như người ngoài.

Theo ý của chủ tử, vụ này nên thương lượng kiểu gì đây?

La Mục khá thú vị, mặc dù Trà châu cực kỳ hỗn loạn, nhưng ông ta vẫn đứng vững vàng không ngã, mãi mãi là châu phủ Trà châu."

"Nên thương lượng kiểu gì thì sẽ thương lượng kiểu ấy," Thẩm Trạch Xuyên bị ngạt mũi, lúc nói giọng hơi nghẹn, "nếu ông ta đứng vững thì tức là có tư tâm.

Hôm nay chỉ toàn nói những lời quang minh chính đại, song thật lòng thì chưa chắc.

Nghĩ cách tránh tai mắt đi, ta muốn gặp ông ta một lần."

===
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 135: Khuyên tai


Hôm sau mưa tạnh, trời vẫn chưa trong.

Hôm qua Thái thị bị mắng, sáng nay bèn lấy cớ ốm không dậy nổi.

Đêm La Mục cũng không ngon giấc, lúc ăn sáng xong thì có người đến bẩm báo Thái Vực gửi thiệp cho ông, bày cỗ mời ông đến.

La Mục nhận thiệp, thừa hiểu ý đồ sau lời mời hôm nay của Thái Vực.

Ông lau tay, áo choàng cũng không buồn đổi, dứt khoát nói: "Chuẩn bị kiệu đi, ta qua ngay đây, không nên để huynh trưởng phải chờ lâu."

Thái Vực là đại phỉ của Trà châu, Nhan Hà Như Hà châu gọi hắn là a gia, xưa giờ hào phóng rộng rãi, thích tài trợ cho đám giặc cỏ nên nổi tiếng được danh thơm khẳng khái.

Nhưng hắn lại không hợp với Lôi Thường Minh thổ phỉ núi Lạc, nguyên nhân vì sao thì người ngoài không biết, chỉ biết trước khi Lôi Thường Minh chết, hai tên này mà đi dự hội yến của quần hùng thổ phỉ thì sẽ lờ nhau đi.

Lúc La Mục đến Thái phủ, khách của Thái Vực đã ăn xong một lượt.

Phủ viện của Thái Vực được xây xa hoa hơn trạch của La Mục, trong nhà có hơn ngàn tôi tớ, nhưng bản thân hắn thì lại là một người không kiểu cách rườm rà, khách đa số là đạo tặc giặc cỏ nên bày cỗ cũng chỉ toàn rượu thịt, thịt nướng rượu mạnh đầy đủ.

Thái Vực vừa thấy La Mục thì ngả người vẫy tay cười: "Mộng Chính đến muộn quá, phải phạt ba chén rượu, ngồi xuống đi."

Xưa nay trước mặt Thái Vực, La Mục toàn xép nép cúi đầu, ông ngồi xuống chỗ của mình, thấy xung quanh toàn người không quen mặc đồ lạ mà cũng không hỏi nhiều.

Thái Vực đợi La Mục uống rượu xong mới hỏi: "Nghe nói hôm qua em gái ta quấy ngươi hả?"

Mặt La Mục hoang mang rõ thấy: "Huynh trưởng—"

"Dạy nó là đúng rồi!"

Thái Vực bóp cánh tay La Mục, cười, "ngươi là chồng nó, đàn ông cai quản tiền đường, nhiều việc quả thực chớ nên để nó chỉ tay năm ngón.

Ở nhà con bé láo quen thân rồi, gả ra ngoài rồi cũng không biết trên dưới.

Ngươi sau này ấy, chỗ nào cần dạy thì cứ dạy, không cần phải kiêng nể ta, càng chiều nó càng hư."

Những chuyện xảy ra trong nhà La Mục, Thái Vực đều nắm rõ như lòng bàn tay.

Lực hắn dùng để bóp tay La Mục không mạnh, song chính vì không mạnh nên mới càng cho thấy chuyện ấy dễ như bỡn.

Hắn bảo La Mục đi trái thì La Mục còn khuya mới dám đi phải.

La Mục là quan viên thi cử đường hoàng vào Khuất đô, trải qua đô sát để thuyên chuyển ra ngoài, nhưng thế thì sao nào?

Đến Trà châu này, La Mục chỉ là thằng nhãi con thôi.

Trời cao hoàng đế xa, thổ phỉ đã hoành hành Trung Bác tuốt từ thời Vĩnh Nghi, trước Trung Bác binh bại, bọn chúng chẳng coi Kiến Hưng vương Thẩm Vệ ra gì, sau Trung Bác binh bại, bọn chúng cũng chẳng coi Khuất đô ra gì nốt.

Trán La Mục rịn mồ hôi.

Thái Vực thu hết cảnh ấy vào mắt, thấy hài lòng rồi mới thu tay về, sau đó cười: "Kể cũng lạ, nửa tháng trước ta nghe nói Khuất đô sắp đổi người ngồi trên long đình, Chỉ huy sứ Cẩm y vệ Hàn Thừa cuống quá mới tự mình chạy một chuyến về quê kiếm một đứa nhỏ để sung lên làm hoàng tự, ai dè Hải các lão lại không đồng ý, đập đầu tự tử ở trên điện, máu óc bắn hết lên cả người Hàn Thừa, dọa Hàn Thừa sợ vãi ra quần."

Cả đám phá lên cười sặc sụa.

Khi tin tức truyền miệng đến đây thì Hàn Thừa đã sớm bị biến tấu thành một tên tiểu nhân khom lưng hèn hạ.

Thái Vực cười xong thì lại thở dài cảm thán: "Nhưng thổ phỉ vận hàng như chúng ta đây cũng phải biết chú trọng trung trinh nhân nghĩa, những người như các lão, ta rất kính nể!

Thường nói văn chết gián, võ tử chiến, nhưng Đại Chu đã trải qua ba triều đại, hoàng đế chết như ngả rạ, mà trọng thần khí khái như thế lại càng hiếm."

La Mục chỉ nghe mà không nói chen miệng, cũng không ngẩng mặt lên.

Như thể ông đã đặt hết tâm tư vào đồ ăn, đũa cũng chỉ dám gắp đồ trước mặt, tuy dáng dấp tướng mạo đường đường, nhưng lại mãi mang cảm giác yếu ớt.

Thái Vực không nhìn La Mục nữa, giọng hào hứng tợn: "Cơ mà e là các lão cũng chẳng ngờ được, cái long đình mà con của Hàn thị không ngồi giờ lại sắp được dâng cho một nữ nhân.

Ta thấy Đại Chu từ thuở lập nước đến giờ chưa bao giờ có chuyện như vậy, đây chẳng phải đi ngược lẽ trời, đảo lộn âm dương sao?

Đây chính là điềm báo sụp đổ của bờ cõi Đại Chu!

Ta thà nghe lời trẻ con ấu trĩ còn hơn nghe đàn bà sai khiến.

Nam nhi đầu đội trời chân đạp đất, đi lạy đàn bà thì còn ra cái thể thống gì nữa?

Khải Đông có Thích Trúc Âm, ta thấy cũng là ăn may cả, con ả gặp thời lúc Thái hậu đang nắm quyền mà thôi, không thì đến lượt ả làm thống soái chắc?

Khuất đô thì lại lòi ra nữ hoàng đế, chậc, quá loạn!"

Xung quanh nhao nhao tiếng phụ họa, một tên râu quai nón trong đó đập bàn nói: "Thái lão nói chí phải, đúng thế, nữ hoàng đế là cái khỉ gì?

Mấy người trước đây thì đúng là chán thật, nhưng nam nhân chủ chính là lẽ trời Lão Tử dạy, ta đây cũng không phục.

Nếu văn võ cả triều mà quỳ phục hành đại lễ vua tôi với ả ta thì bọn chúng là một ổ phế vật hèn nhát, bảo sao chúng ta bị mười hai bộ Biên Sa đánh bao nhiêu năm như vậy."

"Con gái mà, tam tòng tứ đức, lấy chồng mới là bổn phận.

Nếu yêu thương các nàng thì chiều chuộng chút cũng chẳng ngại, nhưng để các nàng đi đánh giặc, chủ chính thì là làm hư."

Nói tới đó, Thái Vực cảm khái, "Nghe nói đám học sinh Khuất đô cũng ủng hộ lắm, ta thấy thế là học hỏng rồi, học ngu mất rồi!

Đúng là không biết tốt xấu."

Bọn chúng nói từ chính sự Khuất đô đến quân vụ Khải Đông, rồi lại từ quân vụ Khải Đông đến chiến sự ở Ly Bắc, cuối cùng nói đến Lôi Thường Minh.

Tên râu quai nón nói: "Lôi Thường Minh cũng dựa vào mánh lới cả thôi, ăn may gặp Nhan công tử gặp nạn thì giúp một tay, lúc đó mới phất lên nổi.

Nhưng gã lại không thể lâu dài, ngang ngược quá, đòi xây quân chính quy ở núi Lạc đấy, rồi sao?

Chả phải vừa gặp cấm quân đã đi đời nhà ma đấy à?"

Thái Vực hừ lạnh một tiếng.

Đám bên cạnh bèn chêm vào: "Thái lão với Lôi Thường Minh coi như song hùng Trung Bác, nhưng gã thì xứng chỗ nào chứ?

Kém quá xa!"

Thái Vực không bị những lời nịnh nọt này lung lay, hắn dang tay thư thả ngả người xuống ghế, nói: "Các ngươi biết vì sao ta lại khinh Lôi Thường Minh không?

Ta thấy gã bẩn."

Hắn nhấn mạnh chữ cuối cùng, lúc thị nữ đi tới dâng tẩu thuốc, Thái Vực rít hai hơi rồi tiếp tục, "Hồi xưa Lôi Thường Minh làm bảo tiêu chuyển hàng, chuyện này các ngươi đều biết rồi, nhưng sau đó tại sao gã lại bỏ không làm nữa?

Gã bảo với mọi người là vì gã đã gả em gái cho Chu thị Đoan châu, muốn sống hưởng thụ nên không chịu làm việc này nữa.

Đó là nói dối, gã ấy, có một cái sở thích này."

La Mục đã đặt đũa xuống từ bao giờ.

Thái Vực vừa nhả khói vừa hồi tưởng: "Hồi ta mới vào nghề, cái lúc phải ra đời, sư phụ ta bảo làm giặc cỏ đạo tặc cũng phải chú trọng nhân nghĩa, có những cái không được động vào cũng không được làm, chúng nó tổn hại âm đức.

Bấy nhiêu năm nay ở Trà châu, thương khách có gánh nặng gia đình đi qua rất nhiều, nhưng nếu gặp mẹ góa con côi thật thì ta tuyệt đối sẽ không động vào.

Nhưng Lôi Thường Minh thì khác, trước kia làm bảo tiêu gã cũng từng hộ tống cả gia quyến, có một lần làm bảo tiêu tới Đăng châu, một nửa đàn ông đương gia đã chết, bỏ lại một mẹ một con bơ vơ, đến tiền công cũng không trả nổi, lúc đến Đăng châu thì ban đầu nhà chồng chỉ cần cháu trai, không thèm con dâu.

Người đàn bà kia không chịu xa con, tuyệt vọng quá nên định tìm đến cái chết, Lôi Thường Minh đã nhận cả hai mẹ con bọn họ về, bảo là sẽ nuôi."

"Hồi đó ta vẫn còn là cướp ở Trà châu, nghe chuyện này thì thấy Lôi Thường Minh đúng là một con người thứ thiệt, cảm thấy gã khác hẳn loại người như ta, là hiệp khách mà sư phụ từng nói.

Ta bội phục gã, lúc ra ngoài làm việc cũng để ý gã, muốn tìm một cơ hội để lạy gã.

Nhưng sau đó ta đến Đăng châu thì nghe nói gã đã rửa tay gác kiếm, tìm tới nơi mới biết cả người đàn bà lẫn đứa bé đều đã chết.

Chết thế nào?

Sau khi uống say, gã lên cơn động tay với đứa trẻ năm sáu tuổi, người đàn bà kia không chịu nên bị gã đánh chết tươi, còn đứa bé cũng chẳng sống được mấy ngày, bị giày vò không còn gì nên cũng chết."

Thái Vực xua khói, cau mày bảo thị nữ cầm tẩu đi.

"Lúc gã đến Đoan châu, cái sở thích ấy vẫn không đổi.

Tên này rất yêu tiếng, chưa bao giờ dám công khai làm chuyện đó.

Lúc Lôi Thường Minh cứu Nhan công tử, công tử còn nhỏ, khi ấy ta cũng coi như bạn của Nhan đại gia, được Nhan gia trợ giúp, tuy chưa từng gặp công tử nhưng cũng đã coi công tử như tâm can của mình.

Nghe tin, ta lập tức lên ngựa chạy liên tục suốt bốn ngày bốn đêm mới đến kịp núi Lạc để nhận công tử về.

Lúc đó công tử đeo một cái khuyên tai bằng ngọc sáng, trắng trẻo xinh đẹp như ngọc, thông minh vô cùng, vừa thấy ta đã gọi a gia, khỏi phải nói nghe mà đau lòng thế nào.

Ta thấy công tử vẫn còn lành lặn nên mới không đôi co với Lôi Thường Minh."

Về sau Lôi Thường Minh gặp lại Thái Vực cũng tự biết mình thấp kém.

Thái Vực coi thường gã, gã cũng chẳng dính dáng tới Thái Vực, mỗi người tự chiếm một bên.

"Công tử là một đứa trẻ ngoan, rất cảm kích ơn cứu mạng của Lôi Thường Minh nên mới hay giúp đỡ đám thổ phỉ núi Lạc."

Vốn hôm nay Thái Vực định hỏi La Mục chuyện liên quan đến Khổng Lĩnh, nhưng lại bị câu chuyện cũ này làm xao nhãng, đến lúc nhớ ra thì La Mục đã đi mất rồi.

***

La Mục lên kiệu, chưa đi được bao xa lại đổi hướng đến tiệm son phấn, định mua một ít mỹ phẩm đang thịnh hành ở Khuất đô về dỗ Thái thị.

Cửa tiệm son phấn lớn nhất Trà châu là do thương nhân Quyết Tây mở, La Mục là khách quen của ông chủ, ông vừa xuống kiệu, quản sự ra đón ngay, mau mắn bưng trà rót nước một mạch rồi khom lưng thưa La Mục: "Mong La đại nhân thứ lỗi, hôm nay chẳng may tiệm lại thiếu hàng, hàng tốt trong tiệm đang trữ ở cửa tiệm đằng Đông cơ, vẫn chưa đưa đến đằng chúng tôi.

Ngài xem hay là để mai chúng tôi đưa đến phủ được không ạ?"

La Mục gật đầu, nhấc bước toan đi thì lại nhớ tới dáng vẻ của Thái Vực lúc bóp tay mình vừa nãy, ông không kiềm được đổi ý, lại ngoái đầu hỏi: "Cửa tiệm nào ở đầu Đông?"

Quản sự gọi một tên chạy việc ra dẫn đường cho La Mục.

La Mục đến nơi, thấy quy mô của cửa tiệm không lớn, nhưng đúng là rất gần mã đạo, thuận tiện dỡ hàng.

Ông bước vào, thấy bên trong cũng không hề vắng.

Tên chạy việc dẫn ông vào tít trong, đằng sau có một cái viện, bảo ông dùng trà chờ một lát.

La Mục ngồi được chốc lát thì rèm vén lên, người bước vào lại là Khổng Lĩnh.

"Sao ông..."

La Mục kinh ngạc.

Nhưng Khổng Lĩnh không đáp mà chỉ vén rèm dịch người sang, một người mặc đồ trắng khẽ khom lưng bước vào phía sau.

Thẩm Trạch Xuyên vừa ngẩng lên, La Mục đã đứng dậy.

Thẩm Trạch Xuyên ngồi kiệu tới nên không bị dính mưa.

Y nhìn La Mục, ra hiệu cho La Mục ngồi xuống.

Kiều Thiên Nhai theo sau bước vào thay trà, nóng một chút mới đưa đến tay Thẩm Trạch Xuyên.

Khổng Lĩnh thấy La Mục hẵng còn đứng, bèn lên tiếng: "Mộng Chính, vị này chính là—"

"Đồng tri đại nhân," La Mục cung kính hành lễ, "nghe hiền danh của đồng tri đã lâu, học sinh La Mộng Chính cung nghe giáo huấn."

"Đã sớm nghe Thành Phong tiên sinh khen ngợi La đại nhân là người cẩn thận, mắt nhìn hơn người, hôm nay gặp mới thấy quả thật không giả."

Thẩm Trạch Xuyên khẽ mỉm cười, "Giờ ta không còn là đồng tri Cẩm y vệ nữa, đã bỏ yêu bài, không còn chức tước rồi, chỉ là dân thường áo trắng thôi, ta nên hành lễ với đại nhân mới đúng."

La Mục sao dám, cận thần thiên tử Thẩm Trạch Xuyên, chỉ riêng cái chức bắc trấn phủ Cẩm y vệ cũng đã đủ khiến châu phủ tứ phương sợ hãi.

Hồi xưa Cẩm y vệ hợp tác với ba bên bộ Hình, Đại lý tự, và Đô sát viện ra ngoài làm việc, phải xuống địa phương để kiểm tra sổ sách.

Thẩm Trạch Xuyên lại thân với Sầm Dũ của Đô sát viện và Khổng Tưu của bộ Hình, La Mục nào chỉ nghe đến mỗi tên y.

Các quan viên thuyên chuyển đến địa phương bọn họ vốn toàn người lấy rèn luyện làm đầu, chừng nào lập được thành tích, xem xét lý lịch là có thể được đề bạt tới Khuất đô, có thể làm đô quan.

Trong tay Thẩm Trạch Xuyên chính là đánh giá đô sát của bọn họ, và cả gia đình tính mạng bọn họ.

Cái cốt lõi trong đó, từ tiếng "học sinh" La Mục tự xưng đã rõ mồn một.

Thẩm Trạch Xuyên lại khác với các đồng tri trấn phủ trước đây, xuất thân của y không "chính", cha đẻ là Kiến Hưng vương Thẩm Vệ trong trận Trung Bác binh bại, năm xưa vào đô là do Cẩm y vệ lôi đi từ trong tay thiết kỵ Ly Bắc, nghe đồn phải hành hình.

Nhưng y không chỉ còn sống, mà còn khiến Thiên Sâm đế nhiều lần đặc cách đề bạt, chức bắc trấn phủ can hệ đến cả hai phe phái ở Khuất đô, Hải Lương Nghi cũng chịu đồng ý, mà tuổi y lại còn trẻ, đâm ra càng khiến người ta phải kiêng dè.

Lúc bấy giờ La Mục mới hiểu, Khổng Lĩnh bảo chắc chắn không chỉ là giả vờ, mà đúng là chắc chắn thật.

Cũng may Thẩm Trạch Xuyên chỉ nói thế thôi chứ không đứng dậy lạy thật.

La Mục thoáng bình tĩnh lại, chẳng dám ngồi xuống mà cung kính đứng cạnh Khổng Lĩnh: "Đại nhân đích thân đến Trà châu mà học sinh lại không tiếp đón từ xa, sẽ lập tức sai người..."

"Ta rời đô với Định Đô hầu, đã trở thành phản tặc với Khuất đô rồi, đại nhân thực sự không cần khách khí."

Thẩm Trạch Xuyên uống trà nóng, giọng dịu đi một chút, nói tiếp, "Ta đến Trung Bác cũng đã lâu, muốn gặp La đại nhân từ trước rồi, may mà hôm nay có Thành Phong tiên sinh đi cùng."

Khổng Lĩnh nở một nụ cười với La Mục: "Mộng Chính, không cần câu nệ làm gì.

Nay đồng tri là tâm phúc của Từ châu, lần này đến cũng nhằm giải quyết nạn thổ phỉ ở Trà châu, toàn người mình cả mà."

La Mục nhìn ông, ánh mắt không còn lộ liễu như ngày hôm qua, ông dè dặt hỏi: "Sao ông biết chắc chắn ta sẽ đến?"

"Trà châu lớn thế này, nhiều chuyện chỉ cần hỏi một chút là ra ngay ấy mà.

Lai lịch của mười bốn vị thiếp của ông lại không nhỏ, tính tình cũng không vừa, khắc sẽ chuộng son phấn Khuất đô.

Xưa nay ông vẫn luôn biết chiều lòng người khác, ông muốn dỗ phu nhân vui nên tất nhiên sẽ tự mình đi một chuyến thôi."

Khổng Lĩnh lắc đầu cười với Thẩm Trạch Xuyên, "Đồng tri không biết đấy thôi, hồi còn ở thư viện, Mộng Chính được các cô nương mê lắm.

Ông ta thì đào hoa sẵn, chưa nhập sĩ mà cũng đã rành những chuyện này rồi."

La Mục thấy Khổng Lĩnh nhắc tới thư viện thì mới hơi thả lỏng: "Hồi đi học ta rất nghiêm chỉnh nhé, suốt ngày chỉ ở cùng ông, đào hoa chỗ nào?

Có mà ông ấy, ai cũng đánh bạn, ai cũng có thể xưng huynh gọi đệ cùng."

Bọn họ vừa nói thế, bầu không khí dịu đi hẳn, Khổng Lĩnh dẫn La Mục vào chỗ ngồi.

Thẩm Trạch Xuyên ngồi ở ghế trên, lúc nói chuyện y không lấn át hùng hổ như La Mục đoán, y nói: "Ý định của bọn ta lần này, hẳn Thành Phong tiên sinh đã nói với đại nhân.

Hôm qua không tiện nói kỹ, đại nhân khó tránh khỏi có khúc mắc, hôm nay xin hãy nói thoải mái.

Khó ở đâu đều có thể thương lượng."

Thẩm Trạch Xuyên nói năng ôn hòa, mặt mày tự nhiên, nhưng câu cuối cùng hiển nhiên đã không chừa chỗ nào để mà "thương lượng".

Bên dưới thái độ tưởng chừng hòa nhã của y là sự quyết đoán không thể xoay chuyển, La Mục chỉ nghe một câu ấy thôi đã hiểu ý của Thẩm Trạch Xuyên.

Khó ở đâu đều có thể thương lượng.

Dụng ý của thương lượng là gì?

Là để hành động nhanh hơn.

Thẩm Trạch Xuyên căn bản không cho La Mục cơ hội từ chối, y vừa mở miệng đã tước hết mọi lựa chọn khác của La Mục.

La Mục lại ngẩng mặt, vẻ e dè bay sạch: "Nếu đồng tri có thể dẹp yên nạn thổ phỉ ở Trà châu, ta sẽ sẵn sàng theo đồng tri.

Nhưng Thái Vực không phải Lôi Thường Minh, đồng tri cũng không có hai vạn hùng binh như Hầu gia, chỉ dựa vào sức của một người quả thực sẽ khó làm."

Thẩm Trạch Xuyên ung dung: "Chúng ta gặp nhau hôm nay đã ngang trăm vạn hùng binh rồi."

===
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 136: Ly gián


Thẩm Trạch Xuyên nói chắc nịch như vậy là bởi Trà châu là nơi không thể dùng hùng binh để đánh hạ.

Thời Vĩnh Nghi, Đôn châu và Đoan châu là hai châu trù phú nhất Trung Bác, lúc đó Thẩm Vệ triệu tập tất cả quân phòng vệ của các châu, tiền tài lính tráng có cả mà vẫn không thể trừ tận gốc nạn thổ phỉ ở Trà châu.

Trước khi Thẩm Trạch Xuyên đến Trà châu, Chu Quế và các phụ tá của Từ châu đã làm báo cáo chi tiết về Trà châu, bọn họ đều nhất trí cho rằng đối với Trà châu, chỉ có thể dùng cái đầu mà thôi.

Thái Vực quả thực không phải Lôi Thường Minh, điểm khác biệt lớn nhất giữa thổ phỉ Trà châu và thổ phỉ núi Lạc chính là thổ phỉ Trà châu vẫn chỉ là thổ phỉ, trong khi đám ở núi Lạc đã nên bầy nên đảng, không chỉ hình thành lãnh địa mà còn có ý đồ khuếch trương ra bên ngoài, Lôi Kinh Chập núp bóng sau lưng Lôi Thường Minh hiển nhiên đã không còn thỏa mãn với việc chỉ làm một thổ phỉ nữa, hắn ôm dã tâm thay da đổi thịt, nhưng Thái Vực thì không.

Cho nên với núi Lạc phải đánh, còn với Trà châu phải mưu.

La Mục có lẽ không cần mẫn thương dân như Chu Quế, nhưng Thẩm Trạch Xuyên ngầm cho phép Khổng Lĩnh đến thăm hỏi trước là đã chứng tỏ bọn họ cần La Mục.

La Mục đã giữ chức châu phủ Trà châu suốt mười mấy năm, không có ai hiểu tình hình Trà châu hơn ông ta.

"Đại nhân được điều đến Trà châu vào thời Vĩnh Nghi vì có thành tích lẫy lừng, đã từng cố gắng khuyên Thẩm Vệ trừ phỉ, nhưng Thẩm Vệ cho rằng Đôn châu cách Trà châu khá xa, ở giữa còn có Phàn châu chắn, hành quân đường dài có nhiều bất tiện, hơn nữa phí tổn lớn, mà phần thắng thì quả thực quá nhỏ, cho nên Thẩm Vệ mới bác bỏ tấu chương can gián của đại nhân."

Lúc Thẩm Trạch Xuyên nhắc đến tên Thẩm Vệ, ngay cả mắt cũng không mảy may chớp, y nói, "Ta thấy chủ trương sau này của đại nhân bắt đầu thay đổi từ chính lúc ấy."

La Mục khoát tay: "Nhắc thành tích lẫy lừng làm gì?

Đồng tri quá khen rồi.

Sau khi đến Trà châu ta đây chưa có thành tích gì đáng nói cả.

Thời Vĩnh Nghi Trà châu nổi tiếng vì nạn thổ phỉ, lúc đó Khuất đô xem xét điều quan viên xuống, ta với Giang Thanh Sơn đều nằm trong danh sách.

Về sau ta được điều đi, lúc đến quả thật có lòng trổ tài, nhưng khó quá."

Vẻ mặt La Mục dần trầm xuống.

"Hai năm đầu, mục tiêu của ta là chấn hưng quân phòng vệ, mặc dù Thẩm Vệ không đồng ý nhưng cũng không ngăn cản.

Bộ Binh nghĩ là làm được nên đã cấp thêm quân phí cho Trà châu dựa theo tấu chương của ta, thế nên ta mới trang bị nổi cho quân phòng vệ.

Lúc đó ta mãn nguyện lắm, chỉ một lòng muốn diệt phỉ.

Nhưng đến lúc đánh thật mới nhận ra không làm được.

Nạn thổ phỉ của Trà châu có thể truy ngược về tận trước thời Vĩnh Nghi, từ tận cái hồi mà quân phòng vệ Trà châu còn chưa được thành lập đã có một bộ phận giặc cỏ rồi.

Hà châu trước đây cũng không hề sung túc như bây giờ, hồi đó Nhan thị còn chưa phát tài, thương nhân buôn trà trên con đường này chủ yếu là phú thương đến từ mười ba thành Quyết Tây, thổ phỉ Trà châu sống nhờ vào việc cướp bóc các lái buôn này, đến lúc triều đình chú ý đến thì đã muộn, thổ phỉ đã sớm mọc rễ ở Trà châu, thậm chí còn phát triển thành cả bang phái."

Bởi vậy dân Trà châu mới gan góc hơn, so với những nơi khác thì vùng này không lề lối phép tắc bằng, việc nhập tịch hoàng sách gặp nhiều thách thức ở nơi đây nhất, gần như một nửa dân chúng đều đã từng làm thổ phỉ, không thể tính là dân lành mà chỉ có thể tính thành hộ nhà lính.

Hồi quan lại Đông Cung bàn đến nơi đây, bọn họ đã tính để những người này nhập ngũ, làm quân chính quy, có quân điền và lương tháng, có thể bảo đảm gia đình tạm đủ sống qua ngày, không đến nỗi phải đi làm giặc cỏ, đi làm việc trái pháp luật, đồng thời cũng có thể hạn chế lưu chuyển nhân viên để bọn họ yên tâm cày cấy ở Trà châu, bớt phiền toái cho những vùng xung quanh, củng cố khả năng quản lý của châu phủ.

Nhưng các quan lại Đông Cung lại phạm phải một điều đại kỵ, đó chính là lý luận suông, áp dụng đường lối của các châu khác trong Trung Bác lên Trà châu mà không điều chỉnh sao cho phù hợp.

Thổ phỉ của Trà châu trở thành quân chính quy, nhưng đất đai nào dễ khai khẩn như vậy, bọn họ an phận thủ thường chưa được bao lâu đã bắt đầu vừa ăn lương quân đội vừa tiếp tục làm thổ phỉ.

Lần này đến cả thông điệp cũng chẳng cần ngụy tạo, chỉ cần lấy danh diệt phỉ là có thể xông ra cướp bóc.

Tự mình đuổi mình, mãi mãi xoay vần với triều đình.

Châu phủ được điều đến không chống chọi nổi với thế lực thổ phỉ đã nên hình nên dạng, La Mục nhanh chóng bị đánh bại, bị lũ thổ phỉ hung hăng dạy cho một trận ra trò.

Không chỉ có thế, Trà châu giai đoạn sau còn xuất hiện các trùm phỉ như Thái Vực, bọn chúng vừa trọng hiệp nghĩa giang hồ, lại vừa chịu chi tiền tiếp tế các anh em trên đường, qua lại càng nhiều tiếng càng thơm, càng được ủng hộ nhiều hơn đám văn nhân cứng nhắc, châu phủ chẳng khác gì đồ bỏ.

La Mục nói đến đó thì Thẩm Trạch Xuyên đã hiểu đại khái vì sao Thẩm Vệ lại không chịu xuất binh.

Bởi vì Thẩm Vệ không dám.

Thẩm Vệ được phong làm Kiến Hưng vương, đó chẳng qua chỉ là một cái danh êm tai mà thôi, còn nếu truy tận gốc thì lão ta với quan viên điều xuống như La Mục cũng chẳng có gì khác biệt cả, lão ta cũng là hộ dân ngoại lai.

Ban đầu lão ta không đồng ý cũng không phản đối chủ trương của La Mục mà chỉ ngóng xem, nếu La Mục thành công, lão có thể bắt chước, nếu La Mục thất bại, lão càng có thể truy cứu trách nhiệm.

Lão không chịu thò đầu ra chọc vào đám thổ phỉ ở Trà châu, bởi vì lão rất rõ ràng rằng so với La Mục, đám Thái Vực mới là "quan phụ mẫu" của Trà châu.

"Nhưng thời thế đã thay đổi," giọng Thẩm Trạch Xuyên hơi khàn, y ho nhẹ mấy cái rồi mới nói tiếp, "giờ Thái Vực ăn tiền lãi Nhan thị cho, kiếm tiền trên máu và nước mắt, đám thổ phỉ đã thành thế bọn chúng toàn ăn tiền của dân tị nạn.

Bên trong Trà châu no đủ, bên ngoài lại la liệt người chết đói, càng để lâu, đến dân thường cũng phải sinh oán."

"Chẳng giấu gì đồng tri," La Mục cân nhắc nặng nhẹ rồi cẩn thận nói, "sau khi Trung Bác binh bại, lương thực của Trà châu giảm hẳn, ít đến thảm thương.

Ban đầu nội các chuyển lương từ kho của các châu đến Quyết Tây trên danh nghĩa cứu tế, theo lý thì phải ký giấy nợ với Trung Bác.

Nhưng Thẩm Vệ chết rồi, Khuất đô mãi chẳng phái một vị chủ quản đến, sáu châu thì mạnh ai người nấy làm, chỉ duy trì kế sinh nhai thôi cũng đã đủ chật vật, chẳng hơi đâu để mà truy cứu chuyện Khuất đô nợ lương nữa, tất nhiên là có truy cứu thì cũng chẳng đi đến đâu.

Mấy năm gần đây ngày càng nhiều dân lành bí quá hóa liều, đều là vì đói quá, không còn đường nào bươn chải ngoài đi làm giặc cỏ.

Thổ phỉ Trà châu do Thái Vực cầm đầu ban đầu cũng chịu cứu tế dân nghèo đấy, nhưng sau đó Nhan thị Hà châu cũng nhúng bùn theo, muốn mượn thế lực của Thái Vực để bóp chết cơ nghiệp của Hề thị, bởi vậy mới đi buôn lương thực.

Bọn chúng bắt tay kiếm được đầy chậu đầy bát, Thái Vực có hàng núi vàng bạc, đã thế tuổi càng cao càng thích nghe nịnh, dần dà mất đi lòng hiệp nghĩa trước đây, hắn dỡ cả lều cháo, cửa hàng lương thực bên ngoài, rắp tâm làm vua cõi Trà châu, dân Trà châu than oán dậy trời, hắn đã không còn như trước nữa."

Song lạc đà gầy vẫn lớn hơn ngựa, quyền uy của Thái Vực vẫn còn dư âm ở miền Nam Trung Bác và Hà châu, tiếng "A gia" mà Nhan Hà Như gọi hắn vẫn rất có sức nặng.

La Mục lén tài trợ cho mấy bang phái nhỏ làm ăn thất bát, đối với hiện trạng ăn không đủ no của Trà châu, ông ta chỉ có thể lo lắng mà thôi.

Gian phòng rơi vào một bầu yên tĩnh ngắn ngủi, hoa nguyệt quế lấp ló qua ô cửa sổ mở hờ, sương mưa còn chưa khô.

Vòm không âm u, đã lâu rồi, La Mục chẳng còn có thể nấn ná lại nữa.

Cửa sổ đang mở nhưng Thẩm Trạch Xuyên vẫn thấy bí, chén trà bên dưới ngón tay y đã nguội ngắt, y lại cất lời mâu thuẫn với những lời vừa rồi: "Nếu Thái Vực vẫn còn duy trì cảnh giác thì phải hiểu cái gọi là than oán dậy trời chẳng qua chỉ là mưu kế của các bang phái khác mà thôi.

Đại nhân là em rể của hắn, có thể nhắc nhở hắn một chút về chuyện này."

La Mục khẽ run lên, không hiểu ý này.

Thẩm Trạch Xuyên khều nắp chén trà trắng tinh như ngọc, nói: "Lôi Thường Minh chết rồi, Thái Vực chính là đại phỉ lừng danh Trung Bác, hiện giờ chính là thời điểm hăng hái của hắn, cho dù là Trà châu hay Nhan thị hắn cũng đều không thể chấp nhận ai khác được ké phần.

Vả lại, người có tuổi sợ nhất chính là 'kém hồi xưa', nếu hắn nghĩ lòng căm phẫn của dân chúng bây giờ đều là do đám hậu bối giở trò thì chắc chắn sẽ không bỏ qua cho bọn họ."

Lúc bấy giờ La Mục mới hiểu ra, ông không khỏi thầm nhủ quá ác.

Thẩm Trạch Xuyên đang muốn khiến Thái Vực nghĩ lòng oán hận của lê dân là do nội đấu trong bang, là có kẻ cố tình khơi mào.

Một khi Thái Vực nghĩ thế, hắn sẽ giữ chặt tiền tài trong tay, chèn ép đám thổ phỉ nhỏ ngày một thậm tệ.

Đám thổ phỉ nhỏ vốn đã bất mãn sẵn, lại còn bị Thái Vực đè đầu cưỡi cổ, ba phần bất mãn cũng sẽ biến thành bảy phần, chỉ cần hai bên tích tụ thù oán là sẽ khó có thể tiếp tục liên minh, thậm chí sẽ còn đối chọi nhau gay gắt.

"Các bang phái nhỏ mà đại nhân từng lén tài trợ đều có ích, chờ đến lúc từng người bọn họ đều đã bị Thái Vực đánh, đánh tàn nhẫn rồi, ngài hãy ra tay tương trợ bọn họ, hào phóng tặng lương để bọn họ tụ tập lại, trở thành anh em đồng cam cộng khổ."

Thẩm Trạch Xuyên uống hết trà, ra hiệu cho Kiều Thiên Nhai rót thêm.

Y nhìn La Mục, nói: "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao, giống như một đàn chó rừng vậy, việc chúng ta cần làm không phải là đánh trực diện, mà là đổ dầu vào lửa."

La Mục nghe mà lạnh cả người, ông ta chỉ cần nói bóng gió mấy câu với Thái Vực là đủ để khiến Thái Vực tự phá hủy lực lượng của mình.

Kế ly gián không lạ, song Thẩm Trạch Xuyên mới đến Trà châu có một đêm đã có thể nắm rõ lai lịch của Thái Vực và Trà châu đến vậy, thành thử La Mục không khỏi nhớ tới thân phận ban đầu của Thẩm Trạch Xuyên — Cẩm y vệ.

"Chừng nào Thái Vực ngã rồi, chúng ta sẽ có thể bàn chuyện buôn bán lương thực giữa hai châu."

Thẩm Trạch Xuyên nói thản nhiên, "Quãng thời gian ngậm đắng nuốt cay này của đại nhân sẽ trở thành câu chuyện ca tụng muôn đời sau ở Trà châu.

Trăm họ được no bụng chính là thành tích lẫy lừng nhất của đại nhân, dù sang các châu khác ngài cũng vẫn sẽ là quan phụ mẫu khiến người ta phải ngưỡng mộ.

La đại nhân, đi đường cẩn thận."

***

La Mục đi chưa được bao lâu, trời đã lại đổ mưa.

Thẩm Trạch Xuyên ngồi xe quay về đình viện, lúc xuống nhìn thấy tay Kiều Thiên Nhai đang vắt áo choàng, bèn bảo: "Tháng Bảy trời vẫn còn nóng, chưa đến mức mặc đến cái này...

Ngươi cầm theo làm gì?"

Kiều Thiên Nhai che ô, đáp: "Tôi có nghĩ đến đâu, là sư phụ đặc biệt dặn đấy."

Thẩm Trạch Xuyên bước qua cửa vào, cái viện này là sai Cát Thanh Thanh ở Quyết Tây xa xôi giả vờ mua lại với mục đích làm ăn, không lớn, rất cũ.

Trước hiên có nước đọng, trong sân chẳng trồng mấy hoa cỏ.

"Sau khi đến Trung Bác ta đã bỏ bê công phu, để sư phụ phải lo lắng, về đừng báo cho người chuyện ta bị bệnh nữa."

Thẩm Trạch Xuyên vừa nói vừa ngoảnh mặt lại, cười với Khổng Lĩnh, "Vất vả cả cho Thành Phong tiên sinh rồi."

Khổng Lĩnh vội vàng nói không dám.

"Ban nãy ngồi trong phòng thấy hoa nguyệt quế trồng bên cửa sổ dưới mưa xanh tốt, rất thích mắt."

Thẩm Trạch Xuyên thuận miệng nói, "Lúc nào về nhà trồng một ít đi."

Bọn họ vừa bước lên bậc đã thấy Phí Thịnh cung kính chờ bên trong ra đón.

Hắn không dám chểnh mảng nhiệm vụ, cười tươi đón Thẩm Trạch Xuyên: "Cuối cùng chủ tử cũng về rồi."

Thẩm Trạch Xuyên: "Xem ra có tin tốt muốn báo?"

"Chủ tử anh minh," Phí Thịnh vén rèm cho Thẩm Trạch Xuyên, "trước khi đi tôi nhận được đồ Hầu gia sai người mang về, biết là vật quan trọng nên đã cấp tốc lên đường không dám dừng chân để mau chóng mang về cho chủ tử đây."

Tên này rất ưa nịnh, Kiều Thiên Nhai nghe mà buồn cười, hắn bật cười thành tiếng ở đằng sau, cứ thế chui vào theo mà trêu: "Phí Lão Thập vừa đến là ta đã thấy thú vị rồi, hay lắm, vui lắm."

Thẩm Trạch Xuyên cởi áo choàng ra, bảo: "Để ta xem."

Phí Thịnh ngó lơ Kiều Thiên Nhai, hắn nhận đồ từ thuộc hạ rồi bưng đến trước mặt Thẩm Trạch Xuyên.

Thẩm Trạch Xuyên sờ cái bị, vẫn còn lạnh.

"Hầu gia sai người mang về nhà, đặc biệt dặn phải ướp lạnh.

Trong nhà chúng ta không có băng nên đã xin của Chu đại phu nhân, tiếc là đi đường không đậy kín nên chưa đi được bao xa đã tan hết mất."

Tuy Thẩm Trạch Xuyên tò mò nhưng lại không thể hiện trước mặt mọi người.

Đầu ngón tay véo cái bị một cái, bên trong đựng đồ nước, y còn chưa kịp mở ra xem đã bị một mùi chua xộc thẳng lên mũi.

Kiều Thiên Nhai đứng gần nên cũng ngửi thấy mùi, hỏi: "Đây chẳng phải sữa bò sao?"

"Không phải chứ," Phí Thịnh thắc mắc, "Hầu gia sai người chuyển sữa bò từ xa đến làm gì?

Để qua đêm cũng khỏi uống rồi."

Bọn họ vừa nói vừa nhìn Thẩm Trạch Xuyên, Thẩm Trạch Xuyên lại không ghét cái mùi này, khóe môi y cong lên rất khẽ, nhận ra bọn họ đang nhìn mình, y mới liếc một cái: "Làm sao?"

Nào còn ai dám nói gì.

Thẩm Trạch Xuyên đóng nắp lại rồi mở ra một cái hộp khác, bên trong quả nhiên là trà thô.

Y đứng đó hồi lâu, thở dài thật khẽ, cảm thấy đúng là mình quá hiểu Tiêu Trì Dã.

Đối với người khác thì sữa bò ở đâu cũng thế cả, nhưng đối với Tiêu Trì Dã, của Ly Bắc chính là của Ly Bắc, đồ của nơi khác không thể thay thế được.

Hắn để dành ra phần ấy, dẫu thừa biết là không để được nhưng vẫn muốn sai người mang về cho Thẩm Trạch Xuyên.

Ngộ nhỡ đuổi kịp, vẫn còn uống được thì sao?

Có thứ gì ăn ngon, uống ngon, bọn họ đều phải cùng nhau nếm.

Tiêu Trì Dã nghĩ thế, người khác không hiểu, nhưng Thẩm Trạch Xuyên lại hiểu nhất.

===
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 137: Thấy thư


Thẩm Trạch Xuyên viết thư ở trong phòng, Kiều Thiên Nhai và Phí Thịnh bèn lui ra.

Phí Thịnh bị nghiện thuốc nhưng không dám hút dưới hiên, sợ lát nữa Thẩm Trạch Xuyên có gì sai bảo thì trên người lại ám mùi.

Hắn đứng yên chốc lát, thấy Kiều Thiên Nhai không xê chân thì cũng hiểu ý.

"Có chuyện đúng không," Phí Thịnh bước mấy bước ra ngoài rồi tì lên lan can dưới hành lang, nói, "ngươi nói trước đi, ngươi với 'ngọc thô Nguyên Trác' kia có quan hệ thế nào?"

"Gặp qua thôi, không quen, có chút ấn tượng."

Kiều Thiên Nhai đáp chung chung.

Kiều Thiên Nhai càng như vậy, Phí Thịnh lại càng cảm thấy có chuyện, hắn nói: "Diêu Ôn Ngọc không nhập sĩ, chỉ là dân thường, quanh năm sống tại ngoại, Hách Liên hầu muốn gặp y một lần cũng còn khó, ngươi gặp y ở đâu?"

"Có duyên ấy mà," Kiều Thiên Nhai đãi bôi, "ta cũng chẳng nhớ nữa, không phải đang nhờ ngươi dò la còn gì?"

Phí Thịnh không moi được tí gì nên cũng chẳng buồn hỏi thêm, chỉ nói đúng sự thật: "Trước khi Hải các lão xảy ra chuyện, ông từng bảo Diêu Ôn Ngọc rời Khuất đô đến thành Tấn.

Thành Tấn là quê của Diêu gia, ở đó vẫn còn học sinh của Diêu Thái sư, có thể chăm sóc y thay các lão, nhưng Diêu Ôn Ngọc lại không đi."

Kiều Thiên Nhai "Ồ" một tiếng, đứng dưới hiên nhìn làn mưa rả rích.

Phí Thịnh nói tiếp: "E là lúc đó Diêu Ôn Ngọc cũng đã nhận ra các lão bảo y đi là vì đã ấp ủ chí quyết tử, cho nên y lên xe ngựa, chỉ đi vòng một vòng rồi lại quay lại, ở trong phủ chờ các lão tan triều, nào ngờ lại chờ phải tin các lão tử gián."

Mưa bắn ướt tóc Kiều Thiên Nhai, hắn nhìn làn sương mù dần nổi lên trong sân, ánh mắt rơi xuống vũng nước, nhìn thấy chính mình.

Phí Thịnh hơi ngưng lại, thấy Kiều Thiên Nhai vẫn có vẻ bình thường thì mới nói tiếp: "Lúc các lão hạ táng, vạn người đưa tiễn, Diêu Ôn Ngọc là học trò duy nhất của ông, coi các lão như cha.

Chẳng đến mấy ngày Thái học đã bạo loạn, sách của y bị xé sạch sẽ, nếu không phải vì Khổng Tưu kịp thời đưa đi trốn thì e đến cả y cũng đã bị đám học sinh xé xác rồi.

Nhưng sau đó lại xảy ra chuyện hoàng nữ, y như thể biến mất không một dấu vết vậy, tai mắt của ta ở Khuất đô cũng không tìm được tung tích của y."

Kiều Thiên Nhai liếc sang, lặp lại: "Biến mất sao?"

"Đúng thế, biến mất."

Bàn tay đang tì lan can của Phí Thịnh vòng một vòng trong không trung, "Lúc ta với ngươi chạy trốn khỏi Khuất đô đã mất liên lạc với tai mắt, không lâu trước đây mới nối lại được, lúc đó Diêu Ôn Ngọc đã biến mất rồi.

Khuất đô là địa bàn quen thuộc nhất của Cẩm y vệ, người của ta mà bảo biến mất thì khả năng cao là đã chết rồi."

Kiều Thiên Nhai nói không ngần ngừ: "Không thể nào, Khổng Tưu vẫn còn muốn phục hưng phái ổn hòa, Diêu Ôn Ngọc chính là nhân tố trọng yếu, cả về công lẫn về tư Khổng Tưu đều sẽ không để y chết."

Phí Thịnh nhìn Kiều Thiên Nhai, chờ hắn nói xong rồi mới tiếp lời: "Ta bảo y chết cũng là có bằng chứng, ngươi nghe ta nói hết đã.

Ban đầu chỉ không tìm thấy người đâu thôi, Khổng Tưu cũng tìm y nhưng chẳng đến đâu.

Nơi cuối cùng mà y xuất hiện chính là núi Bồ Đề nơi Hải Lương Nghi được hạ táng, người của ta đi điều tra thì phát hiện một cỗ xe ngựa bị vứt chỏng chơ ở đó, y đã bị cướp.

Nhưng nếu chỉ là ăn cướp đơn thuần thì chắc chắn sẽ phải thương lượng với Khổng Tưu, ít ra cũng phải đưa ra điều kiện phù hợp mới có thể làm Diêu Ôn Ngọc phát huy tác dụng của một con tin, nhưng mà phía Khổng Tưu lại không hề nhận được bất kỳ tin tức nào.

Không chỉ Khổng Tưu, mà ngay cả Diêu thị thành Tấn cũng không nhận được bất kỳ tin tức nào."

Kiều Thiên Nhai khẽ nhíu mày: "Nếu học sinh Thái học mà không làm loạn thì y sẽ chính là tân tú của phái ổn hòa, nhưng sau khi Thái học bạo loạn, Diêu thị đã tụt dốc không phanh, y không thể đảm đương trọng trách hiệu lệnh học sinh thiên hạ nữa, với Khuất đô y chính là một quân cờ bỏ.

Giết y chung quy cũng phải có một lý do, theo ta thấy thì hoàn toàn không cần thiết."

"Nhỉ," Phí Thịnh ngoảnh lại, tỏ vẻ khó hiểu, "y không quan không chức nhưng cũng là cháu đích tôn của Diêu thị, giết y chỉ có hại chứ chẳng lợi đâu, ta cũng nghĩ không ra."

Thẩm Trạch Xuyên ở trong phòng gọi, Kiều Thiên Nhai ngừng câu chuyện rồi vén rèm bước vào, không hề nhắc đến việc này.

***

La Mục rất cẩn trọng, không nói trực tiếp với Thái Vực mà dỗ cho tiểu thiếp của ông vui rồi bảo tiểu thiếp đi theo mình đến thư phòng.

Bức thư riêng trong thư phòng được che lấp la lấp lửng, do thị nữ của Thái thị chép lại rồi bí mật chuyển đến tay Thái Vực.

Thái Vực vừa đọc đã nổi cáu, gọi ngay La Mục đến phủ, mắng cho lên bờ xuống ruộng.

"Ta thấy ngươi là người biết điều nên mới gả em gái cho ngươi.

Lúc quý phủ của ngươi gặp chuyện khó, chẳng phải lần nào Thái Vực ta cũng hào phóng giúp đỡ sao?

Ta coi ngươi như em rể, thế mà ngươi lại dám âm mưu với kẻ khác sau lưng ta!

La Mộng Chính, ngươi tự nhìn lại chính mình đi, nếu không có ta nâng đỡ thì ngươi là cái thá gì, mắt ngươi cao hơn đầu rồi đấy nhỉ!"

Thái Vực lăn lộn với dân giang hồ nên chửi người rất tục, chửi đến mức La Mục phải quỳ phục xuống trước bàn ăn năn: "Huynh trưởng đối xử với ta bao tốt, sao ta có thể lấy oán trả ân kia chứ?

Mấy là thư này toàn là thư tạp vô danh, đến từ đâu ta cũng chẳng biết, ta sợ đến nỗi đêm còn ngủ không ngon, cả ngày hoang mang nên mới phải tìm một cơ hội để báo cho huynh trưởng mà."

Thái Vực lại càng cáu tiết, lão ném thư lên bàn rồi chỉ thẳng vào La Mục: "Ngươi tìm cơ hội gì?

Ngươi ta chỉ cách nhau có một cái sân, ngươi què rồi à, không chạy được nữa à?

Ta mà không phát hiện sớm thì ngươi sẽ đi cấu kết với kẻ khác ngay đúng không!"

Thái Vực tức điên người, lão đứng dậy đi mấy bước, liên tục xoa ngực.

"Ngươi chẳng là cái thá gì đâu, La Mộng Chính ạ!

Ta đang bảo làm sao mà đầu năm nay lắm người chửi ta thế, hóa ra là các ngươi ở sau lưng thọt ta một đao!

Một lũ rác rưởi không biết nhục, hồi ông đây nổi danh, các ngươi mới chỉ là lũ ranh con vắt mũi chưa sạch thôi, xưa nay ta giúp đỡ các ngươi bao nhiêu thế mà các ngươi lại quay ra cắn ngược ta!

Sao thế?

Thấy làm lương kiếm được tiền thì ghen ăn tức ở à, hừ!

Các ngươi mà cũng xứng làm cái nghề này chắc?

Các ngươi làm được chắc, hả?"

La Mục sợ cứng người, đương muốn nói thì Thái Vực lại gầm lên: "Quỳ yên đấy!

Ra ngoài thì ta nể mặt ngươi, nghĩ đủ cách để tâng bốc ngươi, ngươi không những không quý trọng mà còn đi châu đầu với cái lũ vô ơn bạc nghĩa kia.

Ta nói cho ngươi hay, nếu không phải vì em gái ta mê mệt ngươi thì hôm nay ta đã để ngươi có đi mà không có về rồi!"

Mồ hôi La Mục vã ra như tắm, cúi đầu im thin thít.

Thái Vực đứng nhìn lưng La Mục ướt sũng mồ hôi, chỉ cười lạnh.

Nửa đời trước lão liếm máu trên đao mà sống, giờ có tuổi rồi, cuối cùng mới sống ổn định, lúc ra ngoài làm việc nào có ai không cung kính gọi lão một tiếng "Thái lão"?

Thổ phỉ lớn nhỏ ở Trung Bác đều phải nể nang lão, đến cả Lôi Thường Minh lão khinh bỉ đủ đường cũng không dám giở trò trước mặt lão.

Chẳng biết La Mục quỳ bao lâu, lửa giận trong ngực Thái Vực mới nguôi đi chút.

Trong mắt lão, La Mục là một tên nhát gan, La Mục dám giấu những bức thư này lâu đến vậy thì nhất định là đã bị đối phương xúi giục, điều này cho thấy đối phương đang âm mưu với lão thật, muốn ra tay từ người bên cạnh lão.

Thái Vực nghĩ mà hẵng còn hãi, nghĩ tiếp thì lại hận nghiến răng.

Lão tự nhận mình là người rất rộng rãi, dù ăn nhiều lãi buôn lương nhưng vẫn cho đám nhãi con bên dưới ít thịt vụn để bọn chúng không đến nỗi chết đói, nào ngờ đám chúng nó lại chẳng biết cảm kích là gì.

"Chúng bây đã vô tâm thì ta cũng đành bất nghĩa thôi."

Thái Vực ngồi xuống, cất lời cạnh ô cửa sổ rọi sáng, "Tham nhưng chưa đủ thâm, để ta lấy mấy tên ra làm ví dụ cho bọn chúng biết, Thái Vực ta già rồi, nhưng còn chưa già đến mức mặc kệ cho kẻ khác bắt nạt đâu."

Thái Vực ở đây khua chiêng gõ trống các tiểu bang phái, bệnh phong hàn của Thẩm Trạch Xuyên ở bên kia đã khá dần.

Phí Thịnh làm thính ký rất nhanh, không chỉ ghi lại giá cả hàng hóa ở Trà châu mà còn sai người đến thính ký ở cả Phàn châu.

Mấy hôm đầu, Thẩm Trạch Xuyên không để lộ tin buôn bán lương thực với Trà châu, Khổng Lĩnh chỉ ra ngoài mua hàng ở khắp Trà châu mà thôi, dường như bọn họ đặc biệt đến chỉ để lựa hàng.

Có người đến cửa dò la, Khổng Lĩnh cũng chỉ đáp qua quýt, tỏ vẻ không mấy quan tâm, những ngày sau đó người đến dò hỏi cũng ít dần.

Khổng Lĩnh theo Thẩm Trạch Xuyên ra ngoài đến cửa hàng của Hề gia.

Cửa hàng Hề gia ở đây đa số buôn hàng lậu, son phấn và dược liệu.

"Bên ngoài thành lũ lụt khắp nơi, bên trong thành lại vẫn thái bình giàu sang.

Chả cần biết có phải thời loạn hay không, người chịu khổ vẫn là bách tính."

Khổng Lĩnh ngửi thử dược liệu rồi khen, "Hàng tốt."

"Về làm ăn thì đúng là Hề Hồng Hiên vẫn biết nhìn xa trông rộng," Thẩm Trạch Xuyên nhìn cửa hàng, "người khác thường không dám mở cửa hàng như thế này ở đây đâu, không phải vì sợ bị cướp, mà chính là sợ không làm nổi.

Mấy năm nay Trung Bác cơm còn không có mà ăn, ai có thể nghĩ người quyền thế trong thành sống còn xa xỉ hơn cả thương nhân Quyết Tây cơ chứ, nơi đây thiếu chính là những cửa hàng kiểu này đấy."

"Có tiền mua tiên cũng được mà."

Khổng Lĩnh như đang cảm khái.

Thẩm Trạch Xuyên nhắc đến Hề Hồng Hiên với ông chính là đang nhắc đến kho tiền của mình, sức nặng trong đó Khổng Lĩnh ngầm hiểu, đây là lời khen ngợi dành cho sự quy thuận của ông ở Từ châu.

Khổng Lĩnh căng thẳng, ông cảm thấy hôm đó mình đã quá lỗ mãng rồi, làm người phải biết khiêm nhường, ở bên cạnh chủ tử thông minh mà lại thể hiện sự thông minh của mình chẳng phải việc tốt lành gì.

Khổng Lĩnh không đáp mà rời mắt đi chỗ khác.

Thẩm Trạch Xuyên không nói tiếp nữa, lại xem sổ một lúc, hỏi kỹ các chưởng quỹ tin tức bên Quyết Tây.

Các chưởng quỹ biếu một ít đồ chơi, đồ ngọc Thẩm Trạch Xuyên một mực từ chối, chỉ ưng mỗi cây quạt.

Nhưng y đã cầm quen quạt Tiêu Trì Dã đưa rồi nên áng thử cây quạt mới trong tay không vừa lắm, dùng tạm cũng được, song trong lòng vẫn còn băn khoăn lúc nào Tiêu Trì Dã về, chớ có quên chuyện này.

***

Trà châu tạnh mưa, Ly Bắc lại bắt đầu mưa.

Trung Bác vẫn đương nóng, Ly Bắc lại đã bắt đầu chuyển lạnh, tháng Bảy gió nổi, mưa vừa tạnh trời lại lạnh dần.

Kể từ lúc nhận được thư của Tiêu Phương Húc, tâm tình Tiêu Trì Dã chẳng khá hơn tẹo nào.

Hắn vẫn đóng quân ở doanh Sa Tam, nhưng đã kết nối phạm vi tuần tra với cả doanh Biên Bác, giám sát cả hai doanh, canh phòng khắp bốn phương.

Lẽ ra ba ngày sau Ô Tử Dư phải đưa ngựa chiến lên Bắc, song hiện giờ đã hoãn phải mấy ngày, hắn không tự chạy đi được mà phải đi theo Tiêu Trì Dã.

Sau khi nhận thư, Tiêu Trì Dã hiện chính là chủ tướng quân nhu của Ly Bắc, đi đâu không phải do hắn quyết mà phải nghe theo điều lệnh quân nhu của các bên.

Tiêu Trì Dã xuống tường doanh, đội mưa đi về lều.

Lúc bấy giờ trời đã tối, đầu bếp xúc nồi mời cơm.

Thiết kỵ Ly Bắc và cấm quân phân biệt rất rõ ràng, mỗi phe ngồi một bên quay mông về phía đối phương.

Thiết kỵ Ly Bắc là bởi liên tục nếm mùi thất bại nên đâm ra hổ thẹn, dễ nổi nóng.

Bản thân tác phong của cấm quân thì lại rất thiếu nghiêm chỉnh, tên nào cũng giỏi pha trò, cởi giáp ra là vứt luôn phép tắc nền nếp, cợt nhả, điểm này cũng không lọt mắt thiết kỵ Ly Bắc.

Tiêu Trì Dã nhận khăn lau mồ hôi từ tay Thần Dương, lều mở, không buông rèm, bằng không thì bên trong sẽ bí.

Hắn còn chưa ngồi xuống đã thấy Cốt Tân đi vào, nói: "Chủ tử, có thư của công tử."

Tiêu Trì Dã nhận lấy rồi giơ tay bảo bọn họ lui xuống, tự mình pha trà, vừa uống vừa tháo cái bọc cỡ vừa.

Bên trong chẳng có mấy đồ, ép bên dưới chiếc túi da căng cộm lên là quần áo được gấp ngay ngắn, hắn không xem mà mở túi ra trước.

Trong túi chỉ có hai thứ, một một nhánh hoa nguyệt quế bị ép đã hơi ngả vàng và một lá thư.

Thư để lâu rồi, hơi ẩm, lúc Tiêu Trì Dã cầm lên còn có thể ngửi thấy hương hoa.

Hắn nốc một hơi cạn trà rồi mở thư ra.

Thư không dài, đọc xong thì Tiêu Trì Dã cũng đã nuốt xong trà.

Hắn quay qua nhìn cửa lều, Thần Dương và Cốt Tân vẫn đang đứng đó, Tiêu Trì Dã bèn thản nhiên bảo: "Thả rèm xuống đi, ta lạnh."

Cốt Tân định bảo không phải vừa rồi còn bí sao, nhưng Thần Dương đã tháo móc thả rèm xuống.

Rèm vừa buông, Tiêu Trì Dã đã đọc đi đọc lại lá thư kia, cuối cùng hắn ngã phịch xuống giường rồi giơ thư lên đọc từng chữ một.

Xa nhau mấy ngày, biết ngươi tương tư nên tặng riêng vật nhỏ này để an ủi.

Chạm nó như chạm vào ta.

Tiêu Trì Dã chăm chú nhìn hàng chữ ấy, lại đọc lại một lần nữa.

Chạm nó như chạm vào ta.

Cổ họng Tiêu Trì Dã khô khốc, hắn bỗng cười rộ lên, ánh mắt đượm chút hung hãn.

Ở tận dưới cùng là dòng chữ thảo viết vừa nhẹ vừa nhanh: Gối đơn khó ngủ, biết bao giờ mới về giường?

Ôm ta ngủ mới ngon.

Tiêu Trì Dã buông ngón tay nhìn lên nóc lều, một lúc lâu sau hắn chợt trở mình vùi mặt vào gối.

Nhưng Thẩm Trạch Xuyên như đang nằm ngay bên cạnh hắn, cắn tai hắn thủ thỉ: "Ôm ta ngủ mới ngon..."
 
[Quyển Thượng+Hạ] Thương Tiến Tửu - Đường Tửu Khanh
Chương 138: Mưu sĩ


Lúc y ngủ dậy trời đương hửng sáng, Thẩm Trạch Xuyên ăn sáng rồi lên xe với Khổng Lĩnh đến cửa tiệm son phấn.

Tiền đường kinh doanh như bình thường, sân sau có Kiều Thiên Nhai và Phí Thịnh đứng, Cẩm y vệ canh chặt từ trong ra ngoài.

Giờ Tỵ hai khắc, kiệu của La Mục cũng đến, hôm nay ông bận một chiếc áo bào cổ chéo tay rộng màu nâu đỏ, trông hết mực bình thường.

Ông chủ rất xông xáo, vừa thấy mấy người hầu lạ mắt đi đằng sau La Mục đã cất tiếng: "Trời nắng gắt, đứng bên ngoài vất vả, đưa các ca vào phòng nghỉ ngơi uống trà đi."

Mấy người hầu liếc mắt nhìn nhau, đoán là phen này La Mục chạy không thoát rồi, rồi theo tiểu nhị đi vào phòng.

Lúc vào bọn họ đòi vén rèm lên, thế mới để mắt được đến cửa tiền đường mọi lúc.

Tiểu nhị đi bên cạnh La Mục dâng khăn mời La Mục lau tay.

La Mục cứ lau tay như bình thường, xem hàng trên quầy.

Ông chủ cười đon đả chào mời: "Lần trước đại nhân đến, chúng tiểu nhân chưa chuẩn bị đầy đủ hàng, nhưng lần này đã chuẩn bị từ sáng sớm rồi, còn có cả ít đồ ngọc chuyển từ đầu Đông ở phía sau đấy, mời ngài!"

La Mục xem chừng hơi ngần ngừ, liếc đám người hầu.

Ông chủ nói tiếp: "Cách có mấy bước chân ấy mà, không làm mất nhiều thời gian của ngài đâu.

Có ít hàng hiếm, chẳng mấy khi được cho ngài chọn trước, người ta muốn xem cũng không được ấy."

Lúc bấy giờ La Mục mới miễn cưỡng gật đầu, đi theo ông chủ ra sân sau.

Kiều Thiên Nhai đích thân vén rèm lên, La Mục cảm ơn không ngớt, cúi người đi vào rồi hành lễ với Thẩm Trạch Xuyên trước.

Hành lễ xong thì nhìn về phía Khổng Lĩnh, thấy vẻ mặt của cả hai bình thản mới ngồi xuống.

Thẩm Trạch Xuyên thấy hôm nay La Mục ăn mặc theo kiểu văn nhân, chắc là trước khi ra ngoài đã mất công lựa áo với giày, tuy sau khi vào ông ngồi rất ngay ngắn, nhưng hễ nói chuyện là sẽ vô thức nhìn về phía Khổng Lĩnh.

Khổng Lĩnh vừa mở miệng, ánh mắt ông chuyên chú ngay tức thì.

"Mấy hôm nay Thái Vực đương ra sức tấn công các bang phái nhỏ, nhưng lão vẫn biết vừa phải, lão hiểu là môi hở thì răng lạnh, cũng sợ mình mà quá trớn sẽ bị cô lập, cho nên vừa đánh các bang phái nhỏ vừa dùng kế 'giúp người bằng lương rẻ' để lôi kéo các hậu bối còn lại."

Vì có mặt Thẩm Trạch Xuyên nên La Mục phải rất kiềm chế ánh mắt, ông nói, "Kế này chính là bán lương cho bang phái nào không phá đám ở bên dưới."

Khổng Lĩnh hỏi: "Bán giá bao nhiêu?"

La Mục đáp: "Một lượng năm đấu."

Khổng Lĩnh mỉm cười: "Giá thế cũng chẳng thấp lắm, cái gọi là 'lương rẻ' chẳng qua chỉ là lão kiếm được ít hơn bên ngoài một chút thôi.

Thái Vực trước đây trọng nghĩa khinh tài, không quan tâm vàng bạc tục vật, giờ có tuổi rồi mà lại nhỏ nhen thế này."

Cái giá này không những không thể gọi là "lương rẻ" mà còn phải gọi là "lương đắt" mới đúng.

Giá gạo của Trà châu hiện giờ là một lượng bạc hai đấu gạo, Khuất đô là một lượng bạc hai thạch gạo[1], Thái Vực không chỉ kiếm lãi lớn, mà còn là lãi lớn từ việc dồn lê dân bá tánh vào đường cùng.

Giờ lão đương muốn thu phục lòng người mà cũng chỉ đổi thành một lượng bạc năm đấu gạo, có thể thấy lão tham tiền thật, không nỡ giảm nhiều quá.

1.

Thẩm Trạch Xuyên gạn bọt trà, nói: "Thái Vực cũng là đâm lao thì phải theo lao thôi, bây giờ cả trong lẫn ngoài thành đều đang than giá gạo quá cao.

Nếu lão vì thu phục thổ phỉ nhỏ mà giảm quá nhiều thì dân thường lại càng hận lão, đương nhiên lão không dám."

"Không chỉ Trà châu mà dân Phàn châu cũng hận lắm."

La Mục hiểu rõ kinh doanh của Thái Vực nhất, "Đầu năm nay, chẳng biết vì sao Lôi Thường Minh lại cắt đứt liên lạc với Nhan thị, Nhan Hà Như không tài trợ cho thổ phỉ núi Lạc nữa, thế nên bọn chúng mới nghĩ đến việc đi đánh chiếm Từ châu, cướp kho lương của Từ châu, nguyên cớ trong đó cũng là vì không mua nổi lương của Thái Vực."

"Cứ để Thái Vực bán mấy hôm đi," Thẩm Trạch Xuyên lật cây quạt lại chống xuống bàn, khẽ gật đầu, "cho dù là một lượng hai đấu hay một lượng năm đấu thì dân thường với thổ phỉ nhỏ cũng đều không ăn nổi.

Thái Vực cố gắng ban ân dĩ nhiên là vì mong bên dưới sẽ nghe lời, đừng có đối đầu với lão nữa, nhưng lão chưa cúi đủ thấp, việc này sẽ chỉ phản tác dụng mà thôi."

"Đừng nói là dân thường," Khổng Lĩnh thở dài, "đến cả hộ hoạn quan ăn bổng lộc triều đình phát hàng tháng cũng còn không mua nổi ấy.

Dọc đường chúng ta đi thấy bên ngoài Trà châu đâu đâu cũng có người bán thân ngoài đồng, con cái trong nhà bán đi hết, chỉ mong tìm được đường sống."

"Bây giờ người chẳng đáng giá bao nhiêu, bọn họ bán con cũng toàn là bán rẻ thôi."

La Mục đã sớm nghe về những chuyện này, "Huống hồ bây giờ Trung Bác làm gì còn ai chịu bỏ tiền mua người nữa?

Chỉ có kỹ viện bên Phàn châu chịu đến mua thôi, từ lương tịch bán thành tiện tịch, đến cả một đấu gạo còn chẳng đổi được."

Thẩm Trạch Xuyên không rõ tình hình ở Phàn châu, bèn hỏi: "Thức ăn Phàn châu còn chẳng có thì lấy đâu ra tiền để kinh doanh kỹ viện?"

La Mục đáp: "Cũng là thổ phỉ thôi, chuyên bán da thịt cho thổ phỉ hai nơi núi Lạc và Đăng châu, giá cực thấp, chút lời ít ỏi ấy cũng bị tú bà kỹ viện nuốt sạch."

Khổng Lĩnh khó hiểu: "Cơ mà bọn họ mua nhiều người như thế về kinh doanh thì cũng phải nuôi chứ?

Cũng mua lương từ Thái Vực luôn ư?"

La Mục lắc đầu: "Người còn rẻ mạt hơn chó, toàn ăn cỏ dại uống nước gạo, chết đói thì lại mua tiếp, đằng nào giá cũng rẻ mà, có sợ lỗ đâu."

Khổng Lĩnh ngồi thần người, vẻ đau khổ dần hiện lên trên mặt, ông nói: "Trung Bác rơi vào cảnh này, nếu triều đình chịu giúp một tay thì đã chẳng đến nỗi biến thành như vậy, năm xưa ta đã bảo Hoa Tư Khiêm..."

Trong họng ông còn nghẹn cái tên Thẩm Vệ.

La Mục như có thần giao cách cảm, sợ Khổng Lĩnh nói gì đó khó nghe rồi để lại khúc mắc trong lòng Thẩm Trạch Xuyên, ông bèn vội vàng đổi chủ đề: "Theo ý của đồng tri, tiếp theo nên làm gì?"

Thẩm Trạch Xuyên lại nói: "Nếu không phải vì Thẩm Vệ sợ không đánh, Trung Bác đã không thua triệt để như vậy.

Thành Phong tiên sinh nặng lòng vì dân, ta rất kính nể, có những lời không cần phải tránh."

Thẩm Trạch Xuyên nói chân thành như thế lại khiến La Mục đâm ra hổ thẹn.

Lòng Khổng Lĩnh chùng xuống, dạo này ông đã đi theo Thẩm Trạch Xuyên rồi mà lại vẫn tránh Thẩm Trạch Xuyên, ông là người thông minh, chịu đi theo Chu Quế là bởi hiểu rõ tính tình của Chu Quế, song đối với Thẩm Trạch Xuyên ông vẫn có chút kiêng dè, nguyên nhân sâu xa nhất trong đó chính là bởi ông cảm thấy Thẩm Trạch Xuyên rất nguy hiểm.

Chủ tử khó đoán là khó hầu hạ nhất, càng sóng yên biển lặng lại càng khiến người ta như đến gần vực sâu.

Khổng Lĩnh có thể đi theo, nhưng ông không sẵn sàng phò tá Thẩm Trạch Xuyên như phò tá Chu Quế.

Chuyến này Thẩm Trạch Xuyên đã ngầm ám chỉ nhiều lần mà Khổng Lĩnh cũng làm như không thấy, vờ như không hay.

Giờ thấy Thẩm Trạch Xuyên không những không giận mà còn xuống nước cho mình, lòng ông lại càng sợ hãi.

Thẩm Trạch Xuyên thấy vẻ mặt thấp thỏm của Khổng Lĩnh, ngón tay dài nhẹ lật cây quạt trở về, ngưng giây lát rồi mới bảo: "Cứ ém tin Từ châu đến bán lương xuống thêm mấy ngày nữa đi, đến khi bọn thổ phỉ tự chia rẽ, không chịu để Thái Vực định đoạt nữa thì truyền ra.

Đến lúc đó đừng cho xe lương dự bị vào thành mà hãy mở lều cháo ngay ngoài thành, báo tin cho dân tị nạn, Từ châu đến đây là để bán lương thực với giá bình thường."

La Mục thăm dò: "Nếu không ai có tiền thì sao?"

Thẩm Trạch Xuyên cười, nhìn La Mục: "Đó không phải là các hộ khai khẩn và quân phòng vệ Trà châu tương lai đấy sao?

Dân thường không có tiền, tiền đó đại nhân ngài đi theo Thái Vực lấy được không ít, chưa kể sau khi đá được Thái Vực, của cải của lão quá nửa phải rơi vào tay đại nhân, dùng chỗ bạc đó để làm ăn với Từ châu, đổi lấy lòng dân là có thể giải quyết được bao nhiêu vấn đề cho đại nhân sau này rồi.

Đến bây giờ ta vẫn muốn nhắc đại nhân một câu, Từ châu đến là để làm ăn chứ không phải là để thắt lưng buộc bụng giúp đỡ người khác."

Trán La Mục vã ra một lớp mồ hơi, ông lấy khăn tay lau khẽ rồi gật đầu: "Tất nhiên, tất nhiên rồi..."

***

Lần này về viện, Thẩm Trạch Xuyên không đi cùng Khổng Lĩnh.

Kiều Thiên Nhai ngồi đằng trước xe ngựa, đội nón, tay chống gối nói vọng vào rèm: "Chủ tử không muốn ông ta à?"

Thẩm Trạch Xuyên không chịu được nóng, y nhắm mắt chợp mắt trong khoang xe bí bách, nghe tiếng rao hàng trên phố một lúc mới nói: "Mềm cứng đều thử rồi, ông ta nhất quyết không chịu."

Kiều Thiên Nhai đang ngậm một cọng cỏ non trong miệng, nói: "Cũng đúng thôi, mấy lần liền trước mặt người ông ta đều giấu tài chính là vì sợ bị cưỡng cầu mà.

Hồi học xong ra trường, ông ta không nhập sĩ theo Chu Quế, La Mục mà lại muốn làm một thường dân áo trắng.

Người như ông ta sinh ra chính là để làm mưu sĩ, niềm kiêu hãnh duy nhất là có thể tự mình lựa chọn tương lai."

Thẩm Trạch Xuyên mở hờ mắt, nói: "Thẩm Lan Chu ta cũng không phải không thể thiếu ông ta."

Không phải Thẩm Trạch Xuyên muốn cưỡng cầu, mà là y quá thiếu người.

Ban đầu y cũng tưởng Khổng Lĩnh và Chu Quế là bài bố tốt nhất rồi, xếp hai người này chung một chỗ là có thể ổn định một phe, chí ít ổn định Từ châu sẽ không thành vấn đề.

Nhưng giờ bên cạnh Thẩm Trạch Xuyên chẳng có nhân tài biết bày mưu tính kế, cái y thiếu không chỉ là một đôi mắt hay một đôi tay nữa, mà là một mưu sĩ có thể giúp y tính toán toàn cục.

Khổng Lĩnh rất có tên tuổi ở Trung Bác, ông vừa là bạn đồng môn của Chu Quế lại vừa là bạn đồng môn của La Mục, chỉ nói riêng từ quan hệ cá nhân thôi, ông đã có thể thay Thẩm Trạch Xuyên thống nhất rất nhiều chuyện giữa hai châu này, chẳng hạn như lần này, ông có thể trực tiếp đệ danh thiếp đến cửa thăm hỏi.

Hồi còn làm mưu sĩ cho Đàm Đài Long, ông còn thiết lập được mạng lưới quan hệ với quân đội Đôn châu, miễn là những người này chưa chết thì mai mốt đều có chỗ dùng.

Vả lại lúc Lôi Kinh Chập bày kế lừa bọn họ, Thẩm Trạch Xuyên không chú ý tới Khổng Lĩnh là bởi Khổng Lĩnh bị lừa quá dễ dàng, nhưng lời Khổng Lĩnh nói trước thành Từ châu đã khiến Thẩm Trạch Xuyên phải lưu tâm, cho đến lúc sắp đi chuyến này, việc Khổng Lĩnh nhanh chóng quy thuận đã khiến Thẩm Trạch Xuyên hoàn toàn động lòng thu phục.

Chỉ là Khổng Lĩnh lại không hề có ý định đổi chủ.

Thẩm Trạch Xuyên quá trẻ, cảnh đời y không những gập ghềnh, y còn được Tề Huệ Liên dạy.

Tề Huệ Liên từng lên voi xuống chó ở Khuất đô, cầm đầu Đông Cung suốt mấy năm, thầy như thế sẽ dạy ra trò kiểu gì đây?

Tề Huệ Liên là đế sư, Khổng Lĩnh chẳng dám nghĩ xa hơn nữa.

Mà cốt chính là ông sợ Thẩm Trạch Xuyên, không tài nào gửi gắm được lòng tin của mình vào Thẩm Trạch Xuyên.

Trong mắt Khổng Lĩnh, Thẩm Trạch Xuyên là một người máu lạnh có thể gạt bỏ tình riêng bất cứ lúc nào.

Hôm nay nếu là Chu Quế thì ông ta tuyệt đối sẽ không nói thế với La Mục.

Thẩm Trạch Xuyên phiền muộn ngẩng lên nhìn tấm rèm đong đưa theo xe.

Từng tia nắng lập lòe qua khe rèm va vào đầu gối y, nhập nhòe trên sắc trắng.

Sau khi Tề Huệ Liên ra đi, Thẩm Trạch Xuyên chỉ mặc màu trắng.

Y chưa bao giờ hỏi Kiều Thiên Nhai sau khi y đi, Hàn Thừa đã mang thi thể của tiên sinh đến đâu.

Tiếng khóc của y đêm đó chỉ còn trong lòng bàn tay Tiêu Trì Dã, nhưng tên của Tiết Tu Trác, Hàn Thừa, Thái hậu đã khắc sâu vào lòng Thẩm Trạch Xuyên, và cả bức tường thành vững chãi nơi Khuất đô nhuốm đỏ trong cơn dông tầm tã.

Y phải đứng vững, y cần mưu sĩ.

Thẩm Trạch Xuyên nghĩ.

Một mưu sĩ có thể ngang hàng với Tiết Tu Trác.

===
 
Back
Top Bottom