Huyền Huyễn Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn

Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 40: Có cá


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 6: Cá mang đèn

Chương 2: Có cá

Lúc Nguyên Diệu trở lại Phiêu Miểu Các, Bạch Cơ đang ngồi sau quầy bận rộn.

Nguyên Diệu đi qua nhìn chợt thấy kỳ quái.

Bạch Cơ đang khắc một con rối.

Bạch Cơ ngẩng đầu: “Ôi, Hiên Chi về rồi đó à?”

Nguyên Diệu nói: “Ừ, ta về rồi, hôm qua muộn quá nên ta ở lại nhà Dư huynh.”

“Ta biết. “Bạch Cơ nói.

Nguyên Diệu hỏi: “Ngươi đang khắc gì đấy?”

Bạch Cơ cúi đầu tiếp tục bận rộn làm việc, nói: “Con rối dùng khi thi hành vu cổ chú thuật. Năm đó, thời Hán Vũ Đế, trong hoàng cung thịnh hành nhất dùng loại rối này để nguyền rủa người khác.”

Thời Hán Vũ Đế, họa vu cổ* vô cùng nghiêm trọng, ngay cả Hoàng hậu Vệ Tử Phu và Thái tử Lưu Cứ đang đấu tranh quyền thế trong cung đình, bị “họa vu cổ” liên lụy nên bị Hán Vũ Đế ban chết.

*Họa Vu cổ: Vu cổ là một loại thuật phù thủy. Lúc đó, người ta cho rằng nhờ phù thủy, tế lễ dùng hình nhân gỗ đồng để chôn dưới đất, nguyền rủa người mình oán hận, người bị nguyền rủa sẽ gặp tai họa. Họa Vu cổ, là sự kiện chính trị lớn xảy ra vào năm Chinh Hòa thứ hai dưới triều Hán Vũ Đế, liên quan đến Hoàng hậu, Thái tử và dân thường, liên lụy đến hàng chục vạn người.

Nguyên Diệu mồ hôi lạnh: “Ngươi… Ngươi làm rối gỗ là muốn nguyền rủa ai?”

Bạch Cơ nói: “Đây là làm cho Vi công tử, hắn muốn nguyền rủa Bùi tướng quân.”

Nguyên Diệu nói: “Đan Dương làm bậy sao ngươi cũng làm bậy theo hắn thế? Tiểu sinh quyết không cho phép ngươi đưa thứ hại người này cho Đan Dương!”

“Ai da, Hiên Chi đừng nóng vội, giờ Vi công tử đang túng quẫn, chỉ ra mười lượng bạc, rối gỗ vu chú mười lượng bạc không chết người, nhiều lắm là để Bùi tướng quân bị phong hàn hai ngày, hoặc là tiêu chảy hai ngày mà thôi.

Nguyên Diệu tức giận nói: “Bị phong hàn, tiêu chảy cũng không được! Đây đều là việc hại người!”

“Hiên Chi, Bùi tướng quân hại Vi công tử mất ba tháng bổng lộng, để hắn bị phong hàn tiêu chảy một chút thì chỉ là trừng phạt nhỏ thôi mà.”

“Ngươi đâu phải vì trừng phạt Trọng Hoa, mà là vì mười lượng bạc kia!”

“Hì hì. “Bạch Cơ cười quỷ dị.

Nguyên Diệu nói cho Bạch Cơ biết chuyện Dư Nhuận Chi muốn hắn đưa giấy Tuyên Thành.

Bạch Cơ nói: “Có thể. Đưa một tấm đi trước đi.”

Nguyên Diệu thấy kỳ quái: “Một tấm ư?”

Bạch Cơ cười nói: “Đúng, một tấm.”

Không biết vì sao, sau khi Nguyên Diệu từ Đương Quy sơn trang trở về thì lại nhiễm phong hàn, nằm trên giường không dậy nổi. Hắn ho khan ch ảy nước mắt, cả người mệt mỏi, ốm yếu, cực kỳ khó chịu.

Nguyên Diệu run rẩy hỏi Bạch Cơ: “Ta và ngươi ngày xưa không oán, gần đây cũng không thù, ngươi sẽ không dùng rối gỗ nguyền rủa tiểu sinh chứ?”

Bạch Cơ phe phẩy quạt, nói: “Hiên Chi đừng đùa, sao ta nỡ dùng đồ đáng giá mười lượng bạc để nguyền rủa ngươi chứ?”

Nguyên Diệu cũng cảm thấy Bạch Cơ chắc chắn không nỡ bỏ ra mười lượng bạc để nguyền rủa hắn, nên cũng tin nàng.

Bạch Cơ mời một thầy thuốc đến xem bệnh cho Nguyên Diệu. Sau khi thăm khám, thầy thuốc nói rằng chỉ là bị cảm lạnh, không có gì nghiêm trọng, rồi kê cho Nguyên Diệu vài thang thuốc, dặn hắn uống thuốc và nghỉ ngơi.

Ly Nô chịu trách nhiệm sắc thuốc cho Nguyên Diệu. Nguyên Diệu luôn cảm thấy trong nước thuốc có mùi tanh của cá, nhưng cũng không tiện nói gì, vẫn cố gắng uống. Đến khi hắn uống phải một chiếc xương cá trong bát thuốc thì không chịu nổi nữa, lập tức nói: “Ly Nô lão đệ, xin đừng dùng cái nồi nấu canh cá để sắc thuốc nữa.”

Ly Nô gầm lên: “Đồ mọt sách chết tiệt, ngươi đừng kén cá chọn canh, ông đây còn chưa phàn nàn về mùi thuốc trong canh cá đấy!!”

Sau vài ngày vất vả, Nguyên Diệu đã khỏi cảm lạnh. Một buổi sáng, hắn nhớ ra phải đưa giấy vẽ cho Dư Nhuận Chi, bèn chuẩn bị xuất phát.

Nguyên Diệu nói với Bạch Cơ: “Chỉ một tờ giấy thì làm sao mà gửi đi? Trên kệ còn mấy tờ, mang hết đi thôi? Dư huynh cũng đâu phải không trả tiền.”

Bạch Cơ nói: “Điều này không liên quan đến tiền bạc. Dư tiên sinh cũng không phải muốn giấy, hắn chỉ muốn gặp lại ngươi thôi. Gửi đi cũng lãng phí, chỉ tổ uổng phí giấy tuyên tốt.”

“À? Dư huynh muốn gặp lại ta ư?”

“Phải, điều đó rất rõ ràng mà.”

“Vì sao hắn lại muốn gặp ra?”

“Vì hắn thích Hiên Chi, muốn kết giao với Hiên Chi.”

Nguyên Diệu nói: “Thật vậy sao?”

“Đúng vậy, tên của Hiên Chi rất hay, mọi người đều rất thích Hiên Chi.”

Nguyên Diệu nói: “Ta cũng rất thích Dư huynh, dù hắn là người ngoại tộc nhưng rất thân thiện.”

“Ừ.” Bạch Cơ nghiêng đầu, nhìn chiếc đèn lồ ng ở cửa Phiêu Miểu các, mỉm cười: “Tháng ba thanh minh, có cá mang đèn; quay về cố hương, xa không thể tìm. Tháng ba thanh minh, có cá mang đèn; chôn thây giữa đường, thương thay linh hồn.”

Nguyên Diệu ngạc nhiên: “Bạch Cơ đang nói gì vậy? Cái gì mà cầm đèn? Cái gì mà không thể tìm?”

“Mấy đêm qua, luôn có người hát bài đồng dao này bên ngoài Phiêu Miểu các, Hiên Chi không nghe thấy sao?”

Nguyên Diệu lắc đầu: “Có lẽ ta ngủ quá say nên không nghe thấy.”

Bạch Cơ vào lấy một chiếc chăn mỏng đưa cho Nguyên Diệu: “Có lẽ, Hiên Chi sẽ lại ở lại Đương Quy Sơn Trang, Hiên Chi mang theo nó. Đêm tháng ba rất lạnh, đắp lên để khỏi bị cảm lạnh nữa.”

Nguyên Diệu nói: “Phòng khách ở sơn trang có chăn, mềm mại lại ấm áp.”

Bạch Cơ cười: “Mang theo nó. Ta không muốn tốn tiền mời thầy thuốc cho Hiên Chi nữa.”

Nguyên Diệu mang theo chiếc chăn mỏng, ra đi.



Nguyên Diệu đến Đương Quy Sơn Trang, mọi thứ vẫn như trước đây. Tiểu đồng báo tin xong thì đưa Nguyên Diệu đi thay giày sạch, dẫn hắn đi gặp Dư Nhuận Chi. Hôm nay, sơn trang không có tiệc tùng, Dư Nhuận Chi ngồi một mình dưới mái hiên ở sân sau, gảy đàn tam huyền, hát bài đồng dao. Nguyên Diệu không hiểu nghĩa bài hát, nhưng có thể cảm nhận trong giai điệu tam huyền trong trẻo ấy hơi thoáng buồn thương.

Dư Nhuận Chi thấy Nguyên Diệu thì đặt đàn xuống, cười nói: ” Hiên Chi đến rồi.”

Nguyên Diệu nói: “Mấy ngày qua ta bị bệnh. Nên hôm nay mới đến đưa giấy tuyên được.”

Dư Nhuận Chi cười nói: “Không sao, Hiên Chi nên chú ý sức khỏe. Nào, ngồi xuống cùng uống rượu đi.”

Nguyên Diệu ngồi xuống, nói: “Nhưng, chỉ có một tờ giấy tuyên…”

“Không sao, Hiên Chi đến là tốt rồi.”

Dư Nhuận Chi và Nguyên Diệu ngồi dưới mái hiên uống rượu trò chuyện, trong sân có một cây hoa anh đào bát trùng nở rộ, cánh hoa anh đào xếp chồng lên nhau, rực rỡ như tấm thảm lụa. Gió thổi qua, những cánh hoa màu hồng nhạt bay theo gió, tựa như một giấc mơ lớn và lộng lẫy. Không xa có một hồ nước đầy ốc móng tay, ốc móng tay rơi xuống chậu đá, thỉnh thoảng phát ra tiếng “đong đong”.

Nguyên Diệu nói: “Dư huynh vừa hát bài gì vậy?”

Dư Nhuận Chi nói: “Là một bài đồng dao truyền thống của quê nhà ta. Khi nhớ nhà ta thường hát nó để vơi bớt nỗi nhớ nhà.”

Nguyên Diệu tò mò: “Quê nhà Dư huynh là nơi như thế nào?”

Dư Nhuận Chi nhìn về phía cây anh đào không xa, nói: “Quê nhà ta là một ngôi làng nhỏ ở Nara, nhũ danh của ta là ‘Sakara’, dịch ra Hán văn nghĩa là ‘Ngư"(cá). Khi còn nhỏ, ta thường chơi đùa bên bờ sông, mỗi khi đến tháng ba, tháng tư, luôn có một loại cá có vây lưng phát sáng bơi ngược dòng về quê hương của chúng. Nhiều con cá cùng nhau bơi ngược dòng, dòng sông đầy những đốm sáng, đẹp như giấc mơ. Đêm xuân, phụ mẫu thường dẫn ta và các em cùng xem cá, các em luôn cười nói, ‘Ồ, cá mang đèn về nhà rồi.’ Sau nhiều năm xa nhà, ta vẫn nhớ rõ cảnh đẹp và ấm áp đó.”

Nguyên Diệu cười nói: “Ta chỉ nghe thôi cũng cảm thấy rất đẹp rồi.”

Dư Nhuận Chi rơi lệ: “Ta đến Đại Đường nhiều năm rồi, không thể phụng dưỡng phụ mẫu, cũng không thể gặp mặt họ lần cuối, huynh đệ tỷ muội cũng không rõ sống chết. Mỗi năm vào ngày trăng tròn tháng tám, dưới ánh trăng Trường An, ta lại càng thấy thê lương, cô đơn.”

Nguyên Diệu an ủi Dư Nhuận Chi vài câu, hai người uống rượu trò chuyện tốn cả buổi chiều. Dư Nhuận Chi cho Nguyên Diệu xem một số bức tranh của hắn, Nguyên Diệu rất tán thưởng. Tranh thủy mặc của Dư Nhuận Chi rất có hồn, mang theo phong cách thiền như mây trôi nước chảy. Tranh nhân vật của hắn cũng tinh tế và sống động.

Dư Nhuận Chi dùng giấy tuyên mà Nguyên Diệu mang đến, vẽ ngay một bức “Nguyệt Dạ Anh Hoa Đồ” tặng Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu cầm bút, viết một bài thơ trên khoảng trống của bức tranh: “Thiên tâm nguyệt luân viên, hoa chi bân phân phồn. Phong quá anh xuy tuyết, xuân sắc dạ triền miên.”

*Trăng tròn giữa trời cao, hoa nở rực rỡ. Gió thổi qua, hoa anh đào rơi như tuyết, đêm xuân sắc thắm nồng.

Dư Nhuận Chi và Nguyên Diệu nhìn nhau cười, uống rượu trò chuyện.

Vì trời đã tối, Nguyên Diệu không kịp trở về Trường An, lại ở lại Đương Quy Sơn Trang.

Trăng tròn bên trời tây, đêm xuân tĩnh mịch. Dư Nhuận Chi và Nguyên Diệu đang uống rượu ngắm hoa anh đào trong sân sau, Dư Nhuận Chi đột nhiên lấy bút vẽ, màu sắc, chuẩn bị ra ngoài: “Hiên Chi hãy đi nghỉ trước, ta còn phải ra ngoài vẽ tranh.”

Nguyên Diệu ngạc nhiên: “Đêm khuya như thế này, Dư huynh định đi đâu để vẽ tranh?”

Dư Nhuận Chi cười nói: “Ta được từ bi chùa Từ Ân ủy thác, phải hoàn thành một bức tranh tường năm trăm La Hán.”

“Ban đêm đi vẽ tranh tường ư?”

“Ừ, ban ngày ta không tiện đi chùa Từ Ân.”

Nguyên Diệu thấy lạ, ban ngày Dư Nhuận Chi rất rảnh rỗi tại sao lại không tiện đi?

“Hiên Chi có muốn đi cùng không?” Dư Nhuận Chi mời Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu cũng muốn đi mở mang tầm mắt, xem Dư Nhuận Chi vẽ tranh tường, nói: “Được thôi.”

Dư Nhuận Chi và Nguyên Diệu cùng xuất phát.

Chùa Từ Ân cách Đương Quy Sơn Trang không xa, hai người đi khoảng một nén hương thì đến. Dư Nhuận Chi không đi cửa trước mà từ cửa sau vào. Một tiểu hòa thượng cầm đèn lồ ng chờ ở cửa sau, thấy Dư Nhuận Chi thì cười nói: “Dư thí chủ, ngài đến rồi.”

“Đến rồi.” Dư Nhuận Chi cười nói.

Tiểu hòa thượng nhìn Nguyên Diệu, nói: “Vị thí chủ này là…?”

Dư Nhuận Chi nói: “Đây là bạn của ta, muốn đến xem ta vẽ tranh tường.”

Tiểu hòa thượng cười nói: “Vậy à, xin mời vào.”

Tiểu hòa thượng dẫn Dư Nhuận Chi và Nguyên Diệu vào Chùa Từ Ân.

Dư Nhuận Chi nói: “Chậm nhất là năm ngày nữa, bức tranh tường sẽ được hoàn thành. Bảo Minh sư phụ không cần thức trắng đêm đợi ta vẽ tranh nữa.”

Bảo Minh cười nói: “Không đâu, Dư thí chủ chịu hoàn tất bức tranh tường cho chùa Từ Ân, đó là công đức lớn. Tiểu tăng được cầm đèn, giữ mực, cũng được hưởng chút công đức, có gì là vất vả đâu?”

Nói chuyện trong lúc, Bảo Minh dẫn Dư Nhuận Chi và Nguyên Diệu đi qua rừng tháp Phật, đến trước Tàng Kinh Các. Dưới ánh trăng, nhìn thấy trên tường phía Tây của viện cạnh Tàng Kinh Các có một bức tranh tường chưa hoàn thành. Bức tranh tường dài khoảng năm mét, rộng hơn một mét, năm trăm La Hán sống động như thật. Bức tranh tường gần như đã hoàn thành, chỉ còn ba vị La Hán ở phía bên phải chưa vẽ mắt mày, một vài hoa Ưu Đàm và hoa Sen chưa được tô màu.

Dư Nhuận Chi lập tức bắt đầu công việc, hắn chọn bút vẽ, màu sắc, chuẩn bị đầy đủ rồi bắt đầu tiếp tục công trình vẽ tranh tường. Bảo Minh cầm đèn lồ ng, chiếu sáng cho Dư Nhuận Chi.

Dư Nhuận Chi một khi đã chìm vào việc vẽ thì hoàn toàn đắm mình, không nghe thấy động tĩnh xung quanh, cũng quên mất sự hiện diện của Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu nhìn một lúc thì thấy chán, lập tức đi dạo quanh.

Bảo Minh nhẹ nhàng nói: “Thí chủ, người trong chùa đều đã ngủ, xin đừng đi lung tung.”

Nguyên Diệu đành ngồi dưới tháp Phật ngắm trăng giết thời gian.

Khoảng giữa đêm, Dư Nhuận Chi cất bút vẽ và màu lại, nói với Bảo Minh: “Tối nay vẽ đến đây thôi.”

Bảo Minh nói: “Dư thí chủ vất vả rồi.”

Dư Nhuận Chi nói với Nguyên Diệu: “Hiên Chi à, chúng ta nên về thôi.”

“Được.” Nguyên Diệu nói.

Dư Nhuận Chi, Nguyên Diệu và Bảo Minh đi theo đường cũ ra khỏi chùa, trên đường không gặp ai. Nguyên Diệu cảm thấy các tăng nhân của Chùa Từ Ân hơi bất lịch sự, dù sao Dư Nhuận Chi cũng đến vẽ tranh cho chùa, họ lại không chuẩn bị chút trà nước điểm tâm, chỉ cử mỗi Bảo Minh ra tiếp đón. Tất nhiên, Dư Nhuận Chi đi làm việc ban đêm cũng hơi không hợp lý. Nhưng dù sao, các tăng nhân cũng không nên lạnh nhạt với hắn như vậy.

Bảo Minh tiễn đến cổng chùa rồi từ biệt Dư Nhuận Chi và Nguyên Diệu.

Dư Nhuận Chi và Nguyên Diệu trở về Đương Quy Sơn Trang khi trời còn chưa sáng.

Nguyên Diệu hỏi: “Lần trước ở lại sơn trang, ta thấy Dư huynh về sớm, phải chăng cũng là đi chùa Từ Ân để vẽ tranh?”

Dư Nhuận Chi cười nói: “Đúng vậy, bức tranh tường này ta đã vẽ lâu rồi, rất tốn thời gian.”

Dư Nhuận Chi và Nguyên Diệu mỗi người đi nghỉ ngơi.

Nguyên Diệu rất mệt, vừa vào phòng khách lập tức ngã lên chiếu mà ngủ. Tất nhiên, hắn không quên đắp chiếc chăn Bạch Cơ đưa cho. Không biết tại sao, khi đắp chăn lại thấy ấm hơn đắp chăn bông.

Ngày hôm sau, sau khi ăn sáng, Dư Nhuận Chi đưa cho Nguyên Diệu một bức tranh: “Hiên Chi à, xin hãy giúp ta đưa bức tranh này cho Bạch Cơ. Ta có một việc muốn nhờ nàng ấy.”

Nguyên Diệu nói: “Được. Nhưng, Dư huynh có việc gì muốn nhờ Bạch Cơ thế?”

Dư Nhuận Chi nói: “Bạch Cơ nhìn bức tranh này sẽ hiểu.”

Nguyên Diệu nhận bức tranh, cáo từ ra về. Bức tranh được cuộn lại như cuộn trục, buộc bằng lụa đỏ, Nguyên Diệu tuy tò mò nhưng trên đường không mở ra xem.

Nguyên Diệu trở về Phiêu Miểu các, Bạch Cơ đang cắt giấy sau quầy, miệng còn ngâm nga một khúc nhạc. Khúc nhạc mà nàng ngâm nga, Nguyên Diệu cảm thấy hơi quen thuộc, hình như đã nghe ở đâu đó.

Bạch Cơ thấy Nguyên Diệu, thì cười nói: “Hiên Chi trở về rồi? Sao mắt lại có quầng thâm thế kia, chẳng lẽ đêm qua không ngủ được sao?”

Nguyên Diệu nói: “Đêm qua ta không ngủ, mà cùng Dư huynh đến chùa Từ Ân vẽ tranh tường. Sáng nay vừa nằm nghỉ một chút đã phải dậy rồi.”

Bạch Cơ cười nói: “Hiên Chi vất vả rồi.”

Nguyên Diệu bước đến bên cạnh Bạch Cơ, thấy nàng cắt một chồng giấy dầu màu vàng thành hình đèn lồ ng, trên đó dùng chu sa viết hai chữ “Quy hương”.*

*quy hương là trở về quê hương

Nguyên Diệu không khỏi tò mò: “Bạch Cơ đang làm gì thế?”

Bạch Cơ nói: “Đèn lồ ng quy hương. Hiên Chi gần đây có lẽ sẽ có một vụ làm ăn lớn đấy. Trong một năm, ta thích nhất là tết Thanh Minh và Trung Nguyên, việc kinh doanh luôn rất tốt.”

Nguyên Diệu toát mồ hôi.

“À đúng rồi, Bạch Cơ, Dư huynh nhờ ta đưa cho ngươi một bức tranh.”

“Ồ? Tranh gì thế?” Bạch Cơ khá hứng thú, nàng nhận lấy cuộn tranh, từ từ mở ra.

Trên giấy vẽ một con cá có tay đang cầm một chiếc đèn lồ ng.

Bạch Cơ cười nói: “Haha, vừa mới nói đây, quả nhiên vụ làm ăn lớn đã đến, chỉ không biết ngày nào sẽ về.”

Nguyên Diệu không hiểu lời Bạch Cơ, muốn hỏi rõ hơn nhưng Bạch Cơ đã lên lầu tìm thêm giấy dầu rồi.

Đêm qua Nguyên Diệu ngủ không ngon nên rất mệt mỏi, hắn ngáp một cái, lấy một chiếc ghế nằm ra sân sau để ngủ bù.

Trong giấc mơ, Nguyên Diệu nghe thấy nhiều người đang hát một bài đồng dao, giai điệu hơi quen thuộc, là điệu nhạc mà Dư Nhuận Chi dùng đàn tam huyền đàn, cũng là điệu nhạc mà Bạch Cơ ngâm nga khi cắt đèn lồ ng, lời bài hát bằng tiếng Hán: “Tháng ba thanh minh, có cá mang đèn; quay về cố hương, xa không thể tìm. Tháng ba thanh minh, có cá mang đèn; chôn thây giữa đường, thương thay linh hồn.”

Bài hát rất buồn, Nguyên Diệu chợt rơi nước mắt.

Khi Nguyên Diệu tỉnh dậy thì đã là buổi chiều, Bạch Cơ vẫn đang cắt đèn lồ ng, Ly Nô không biết đã đi đâu rồi.

Nguyên Diệu giúp Bạch Cơ cắt đèn lồ ng một lúc rồi đi ra chợ mua rau.

Đến chiều tối, Ly Nô trở về, nói với Bạch Cơ: “Ba ngày, hai trăm bảy mươi lăm.”

Ly Nô còn mang về một chiếc chăn. Nguyên Diệu nhìn qua, thấy rất quen, giống như chiếc chăn mà hắn đã mang đến Đương Quy Sơn Trang hôm qua nhưng quên mang về. Ly Nô đã đến Đương Quy Sơn Trang sao?

Ly Nô ném chiếc chăn về phía Nguyên Diệu, tức giận nói: “Đồ mọt sách, đừng lúc nào cũng mơ màng, đãng trí như vậy!!”

Bạch Cơ lẩm bẩm: “Ba ngày, hai trăm bảy mươi lăm, thời gian hơi gấp.”

Sau bữa tối, Bạch Cơ thắp đèn trong phòng, gọi Nguyên Diệu và Ly Nô vào cùng cắt đèn lồ ng. Nguyên Diệu và Ly Nô cắt xong đèn lồ ng, Bạch Cơ lập tức viết lên mỗi chiếc đèn lồ ng hai chữ “Quy hương”.

Nguyên Diệu không thể không hỏi: “Bạch Cơ, những chiếc đèn lồ ng này dùng để làm gì thế?”

Bạch Cơ nói: “Chỉ đường cho vong hồn về quê.”

“Tại sao phải làm nhiều như vậy?”

“Bởi vì có nhiều vong hồn muốn về quê.”

Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô bận rộn đến nửa đêm, mặc dù chưa làm xong, nhưng vì quá mệt nên đành đi ngủ.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 41: Đương Quy


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 6: Cá mang đèn

Chương 3: Đương Quy

Ngày hôm sau, việc buôn bán khá tốt, có hai lượt khách đến mua hương liệu. Bạch Cơ ở sảnh lớn tiếp khách, Nguyên Diệu ở sân sau cắt đèn lồ ng, Ly Nô đi mua rau. Nguyên Diệu cắt đèn lồ ng đến mắt mỏi tay mềm, tranh thủ lúc Bạch Cơ và Ly Nô không có mặt, đã chợp mắt một chút.

“Haha, Hiên Chi đang lười biếng à!” Giọng của Vi Ngạn vang lên từ phía sau, làm Nguyên Diệu giật mình.

Nguyên Diệu phân bua: “Ta không lười biếng. Chỉ là mặt trời quá ấm áp, không biết sao mà mắt lại nhắm thôi.”

Vi Ngạn mở quạt, cười ngâm rằng: “Tháng ba trời sao buồn, nắng xuân ấm muốn ngủ.”

Nguyên Diệu tiếp lời: “Đan Dương từ trên trời giáng xuống, làm ta sợ vỡ mật.”

Hai người nhìn nhau cười, rồi cùng cười lớn.

Bạch Cơ khẽ đi đến, phất quạt nói: “Thơ hay thơ hay, đúng là một bài thơ lười biếng. Vi công tử, hôm nay Phiêu Miểu các rất bận, không cho mượn Hiên Chi Được.”

Vi Ngạn cười ngồi bên cạnh Nguyên Diệu, nói: “Không sao, ta sẽ ở Phiêu Miểu các trò chuyện với Hiên Chi.”

Bạch Cơ nói: “Dù sao ngồi cũng là ngồi, công tử giúp cắt vài chiếc đèn lồ ng nhé.”

Vi Ngạn nói: “Ta giỏi cắt giấy nhất đó. Nhưng ta khát rồi, muốn uống trà.”

Bạch Cơ đi pha ba chén trà Vi Ngạn, mang lên.

Vi Ngạn đặt quạt xuống, uống một ngụm trà, rồi bắt đầu cắt đèn lồ ng.

Nguyên Diệu uống một ngụm trà, lấy lại tinh thần, tiếp tục cắt đèn lồ ng.

Bạch Cơ vừa uống trà, vừa giám sát Nguyên Diệu và Vi Ngạn cắt đèn lồ ng.

Vi Ngạn nói với Bạch Cơ: “Con rối mà nàng bán cho ta chẳng có tác dụng gì cả, gã họ Bùi đó vẫn sống tốt.”

Bạch Cơ uống một ngụm trà, nói: “Sao lại không hiệu quả chứ? Chắc chắn là phương pháp nguyền rủa của ngươi không đúng rồi.”

Vi Ngạn nói: “Không thể nào! Ta rất thành thạo về thuật vu chú, không thể nào sai cách được.”

Bạch Cơ nói: “Con rối của ta tuyệt đối không có vấn đề, chắc chắn là phương pháp nguyền rủa của ngươi không đúng.”

Bạch Cơ và Vi Ngạn bắt đầu trao đổi về thuật vu chú, Bạch Cơ hứng thú, Vi Ngạn hứng khởi, hai người trao đổi những kinh nghiệm về việc dùng thuật vu chú hại người.

Nguyên Diệu toát mồ hôi lạnh, hắn cảm thấy chỉ cần nghe những lời này cũng khiến hắn giảm thọ.

Cuối cùng, Bạch Cơ với kỹ thuật cao hơn đã làm Vi Ngạn bắt đầu nghi ngờ liệu có phải mình đã thực sự sai phương pháp nguyền rủa rồi không.

Vi Ngạn thở dài, nói: “Tên họ Bùi đó không chỉ không gặp vận xui, mà còn gặp may, được Thái hậu trọng dụng. Gần đây, ở chùa Từ Ân xảy ra một chuyện lạ, hắn bị phái đến đó xử lý.”

Nguyên Diệu tò mò hỏi: “Chuyện lạ gì xảy ra ở chùa Từ Ân thế?”

Vi Ngạn nói: “Chùa Từ Ân bị ma ám.”

Vi Ngạn vừa cắt đèn lồ ng, vừa chậm rãi kể lại.

Võ hậu tin Phật, nửa năm trước vào dịp sinh nhật của bà, đã triệu tập các họa sĩ nổi tiếng ở Trường An để vẽ bảy bức tranh tường cho chùa Từ Ân, dự kiến hoàn thành trong năm nay. Trong số bảy bức tranh tường có một bức “Ngũ Bách La Hán Đồ”, tác giả là họa sĩ từ Phù Tang tên Đại Xuyên Trực Nhân(Naoto Ohkawa). Đại Xuyên Trực Nhân đã đến Đại Đường hơn năm mươi năm, kỹ thuật vẽ của ông rất cao siêu, rất nổi tiếng trong giới họa sĩ Trường An. Khi Tiên đế còn tại vị, Đại Xuyên Trực Nhân từng vẽ tranh trong Đại Minh Cung, Tiên đế cũng rất ngưỡng mộ ông.

Khi bức “Ngũ Bách La Hán Đồ” vẽ được một nửa, thì đúng lúc thuyền sứ giả Phù Tang trở về nước. Đại Xuyên Trực Nhân suy nghĩ kỹ càng, cuối cùng quyết định đến Đại Minh Cung xin Võ hậu cho phép về nước. Thực ra ông cũng không muốn bỏ lại bức tranh tường vẽ dở mà rời khỏi Đại Đường, nhưng thuyền sứ giả Phù Tang vài chục năm mới đến một lần, mà ông đã hơn bảy mươi tuổi, nếu lần này không về thì e rằng cả đời sẽ không có cơ hội trở lại quê hương.

Võ hậu không trách Đại Xuyên Trực Nhân, cho phép ông về nước. Không may là thuyền sứ giả Phù Tang gặp bão trên biển và bị đắm. Tất cả những người trên thuyền, bao gồm cả Đại Xuyên Trực Nhân đều chết chìm dưới đáy biển.

Tính ra, chuyện lạ ở chùa Từ Ân xảy ra vào ngày thứ hai sau khi thuyền sứ giả Phù Tang bị đắm.

Sau khi Đại Xuyên Trực Nhân xin từ chức, Võ hậu cử họa sĩ khác thay ông vẽ tranh tường. Ngày thứ hai sau khi thuyền sứ giả Phù Tang bị đắm, khi họa sĩ thay thế Đại Xuyên Trực Nhân vẽ bức “Ngũ Bách La Hán Đồ” phát hiện các La Hán trong tranh đều có biểu cảm đau buồn và đang khóc. Họa sĩ sợ hãi, bèn gọi các nhà sư đến xem chuyện lạ này. Các nhà sư cũng rất ngạc nhiên, họ vây quanh bức tranh tường tụng kinh hồi lâu, các La Hán mới ngừng khóc và bức tranh cũng trở lại bình thường. Tuy nhiên, từ đó trở đi, họa sĩ không thể tiếp tục tô màu lên bức “Ngũ Bách La Hán Đồ”. Ngay sau đó, họa sĩ bị bệnh, buộc phải từ chức. Lại có vài họa sĩ khác đến tiếp tục vẽ bức “Ngũ Bách La Hán Đồ”, nhưng bất kể dùng cách nào thì họ vẫn không thể tô màu lên tranh. Hơn nữa, bức “Ngũ Bách La Hán Đồ” lại bắt đầu xảy ra những chuyện kỳ lạ, các La Hán không chỉ khóc mà còn hát bằng tiếng Phù Tang. Các nhà sư ở chùa Từ Ân tụng kinh để trừ tà nhưng không có tác dụng. Võ hậu ra lệnh, bảo mọi người không được quan tâm đ ến bức “Ngũ Bách La Hán Đồ” nữa.

Tuy nhiên, sau khi mọi người không quan tâm đ ến bức tranh nữa lại xảy ra những chuyện kỳ lạ hơn. Không biết ai đó đã lén vẽ lên bức tranh tường này. Mỗi sáng, bức tranh tường lại được hoàn thiện một chút, ngày qua ngày, trông có vẻ sắp hoàn thành. Các nhà sư ở chùa Từ Ân cảm thấy rất kỳ lạ, có người trốn bên cạnh bức tranh tường vào ban đêm để xem lén, thấy một nhà sư đã chết từ năm ngoái tên là Bảo Minh cầm đèn lồ ng đi khắp nơi, khiến mọi người đều rất sợ hãi.

Thấy bức “Ngũ Bách La Hán Đồ” sắp hoàn thành, trụ trì chùa Từ Ân là thiền sư Hư Không cảm thấy vật tà ma đến làm tranh Phật, không khỏi làm ô uế Phật môn nên đã báo cáo sự việc cho Võ hậu. Võ hậu hơi bối rối, không biết phải làm sao. Bùi tiên sinh tình nguyện đến chùa Từ Ân trấn ma. Khi Thái Tông tại vị, từng ban cho ông nội của Bùi Tiên sinh một thanh đao trừ tà, có thể trấn áp hàng ngàn yêu ma quỷ quái. Hiện tại, thanh đao trừ tà này nằm trong tay Bùi Tiên.

Võ hậu rất vui mừng, đồng ý với yêu cầu của Bùi Tiên.

Sắc mặt của Nguyên Diệu trở nên hơi kỳ lạ.

Sắc mặt của Bạch Cơ cũng hơi nghiêm trọng.

Vi Ngạn vừa cắt đèn lồ ng, vừa nói: “Ôi, nếu yêu quái tiếp tục quấy phá thì tốt, nếu Bùi Tiên bị yêu quái ăn thịt thì còn tốt hơn.”

Vi Ngạn cắt ba mươi chiếc đèn lồ ng, uống hết trà Dương Hiện, thấy trời đã tố nên cáo từ.

Sau khi Vi Ngạn rời đi, Bạch Cơ và Nguyên Diệu ngồi đối diện nhau trong sân, tiếp tục cắt đèn lồ ng. Gió thổi qua, hoa đào bay lả tả, cánh hoa rơi đầy lên người họ.

Nguyên Diệu nói: “Người mỗi đêm đến chùa Từ Ân vẽ bức “Ngũ Bách La Hán Đồ” hình như là Dư huynh.”

Bạch Cơ “ừ” một tiếng, không nói thêm.

“Họ có phải đã nhầm không? Dư huynh và Bảo Minh sư phụ đều là người mà.”

Bạch Cơ “ừ” một tiếng, không nói thêm.

“Bạch Cơ, ngoài “ừ” ra, thì không thể nói gì khác sao?”

Bạch Cơ ngẩng đầu, nhìn những cánh hoa đào bay lả tả: “Tối nay, có lẽ sẽ có khách đến.”

“Ai sẽ đến?” Nguyên Diệu tò mò hỏi.

Bạch Cơ thản nhiên nói: “Khi Hiên Chi cắt xong tám mươi chiếc đèn lồ ng, ta sẽ nói cho Hiên Chi biết.”

Khi Nguyên Diệu cắt xong chiếc đèn lồ ng thứ tám mươi, không cần Bạch Cơ nói, hắn cũng biết ai sẽ đến. Bởi vì, khách đã đến.

Nguyên Diệu đi mở cổng, khách đứng ngoài Phiêu Miểu các, mặc một chiếc áo Thú màu xanh lửa, đội một chiếc mũ Lập Ô, tay cầm chiếc quạt dơi, chân đi guốc gỗ. Là Dư Nhuận Chi.

Nguyên Diệu rất vui mừng: “Dư huynh, sao huynh lại đến đây?”

Dư Nhuận Chi lễ phép nói: “Ta đột nhiên gặp rắc rối nên đến tìm Bạch Cơ.”

Ánh trăng rất đẹp, tỏa ánh sáng dịu dàng như nước.

Bạch Cơ ngồi bên chiếc bàn gỗ dưới mái hiên, tiếp tục cắt đèn lồ ng. Dư Nhuận Chi ngồi đối diện Bạch Cơ, Nguyên Diệu ngồi bên cạnh Bạch Cơ. Ly Nô mang trà lạnh tới rồi biến thành một con mèo đen, chơi đùa trong bụi cỏ.

Dư Nhuận Chi cầm lấy một chiếc đèn lồ ng giấy, nói: “Đây là ‘Đèn Quy Hương’ mà ta đã đặt phải không?”

Bạch Cơ gật đầu: “Đúng vậy. Đã làm được một trăm tám mươi chiếc rồi, hai ngày nữa là xong.”

Dư Nhuận Chi nói: “Nhưng, dù ‘Đèn Quy Hương’ hoàn thành, thì ta tạm thời cũng không thể về quê được.”

Bạch Cơ ngước lên, nói: “Là vì bức tranh tường ở Chùa Từ Ân sao?”

Dư Nhuận Chi gật đầu: “Đúng vậy.”

Bạch Cơ hỏi: “Chắc chắn phải hoàn thành bức tranh tường sao?”

Dư Nhuận Chi gật đầu: “Dù sao cũng đã ở đây hơn năm mươi năm rồi, ta muốn để lại thứ gì đó ở Đại Đường.”

Bạch Cơ nói: “Tháng ba qua rồi, đợi tháng tư rời đi không tốt lắm.”

Dư Nhuận Chi cúi đầu nói: “Xin giúp ta hoàn thành bức tranh tường.”

Bạch Cơ nói: “Ta chỉ hứa sẽ đưa ông về quê, hoàn thành bức tranh tường không nằm trong giao dịch của chúng ta.”

Dư Nhuận Chi cố chấp nói: “Không hoàn thành bức tranh tường thì ta không thể về quê.”

“Haiz!” Bạch Cơ thở dài một tiếng khẽ khàng.

Im lặng một lúc, Bạch Cơ mở lời: “Ngày kia là Thanh Minh rồi, ông cần bao nhiêu đêm để hoàn thành bức tranh tường?”

Dư Nhuận Chi nói: “Một đêm là đủ. Nhưng vị Tướng quân Bùi cầm đao trừ tà canh giữ cả đêm trước ‘Ngũ Bách La Hán Đồ’, ta không thể tiếp cận được.”

“Tối mai vào giờ Tý, đợi ta ngoài chùa Từ Ân.”

“Được.”

Nguyên Diệu nhìn Dư Nhuận Chi, hỏi: “Dư huynh, huynh… huynh là người… hay là ma?”

Dưới ánh trăng, chiếc áo Thú màu xanh dương nhạt của Dư Nhuận Chi tỏa ra một lớp ánh sáng mờ, khiến ông trông có phần không thật.

Dư Nhuận Chi không trả lời trực tiếp câu hỏi của Nguyên Diệu, ông mỉm cười nhạt, nói: “Ta chưa kể với Hiên Chi nhỉ, tên Phù Tang của ta là ‘Đại Xuyên Trực Nhân’, đã đến Đại Đường năm mươi ba năm rồi.”

Nguyên Diệu kinh ngạc, cuối cùng hắn cũng hiểu tại sao lần đầu gặp Dư Nhuận Chi, khi nói chuyện với ông lại có cảm giác không đúng. Cách nói chuyện của ông như đã sống ở Đại Đường nhiều năm, kinh nghiệm phong phú, nhưng ngoại hình của ông rõ ràng không phù hợp với tuổi tác.

Dư Nhuận Chi dường như hiểu được suy nghĩ của Nguyên Diệu, nói: “Hình dáng Hiên Chi thấy bây giờ của ta là lúc ta mới đến Đại Đường, đó là thời gian ta tràn đầy sức sống.”

Nguyên Diệu kinh ngạc, cảm xúc phức tạp: “Vậy, vậy Đương Quy trang viên là thế nào? Những người bạn ta thấy ở Đương Quy trang viên… họ cũng là… ma sao?”

Dư Nhuận Chi nói: “Họ là những người bạn đã đi cùng ta trên cùng một con thuyền trở về quê nhà. Còn về Đương Quy trang viên, sau này huynh sẽ tự biết đó là gì.”

Thì ra, Dư Nhuận Chi đã chết rồi. Trong lòng Nguyên Diệu dâng lên một cảm giác không nói nên lời, hơi buồn bã, hơi trầm tư.

Bạch Cơ mỉm cười với Dư Nhuận Chi: “Ôi chao, đêm nay trăng đẹp quá, tại sao không gọi các bạn của ông tới, mọi người cùng hát hò uống rượu.”

Dư Nhuận Chi cười nói: “Được thôi, họ đều ở ngoài kia.”

Dư Nhuận Chi đứng dậy đi ra ngoài, không lâu sau, ông dẫn một nhóm người Phù Tang vào. Nguyên Diệu nhận ra những người này, là nhóm người trong Đương Quy trang viên.

Bạch Cơ mang nhạc cụ ra, Nguyên Diệu chuẩn bị rượu ngon, Ly Nô nướng vài con cá thơm, mọi người trong sân cạn chén đổi chén, ca hát nhảy múa.

Ánh trăng như nước, hoa đào bay tán loạn, Bạch Cơ và Dư Nhuận Chi cùng hát theo nhịp đàn tam huyền, Ly Nô và Lữ Dật Sĩ cùng nhảy múa, mọi người chơi trò đoán số uống rượu, tiếng cười nói vui vẻ. Nhìn cảnh tượng rôm rả này, tâm trạng của Nguyên Diệu tốt lên nhiều. Không ngờ, Nguyên Diệu bị Ly Nô và Lữ Dật Sĩ giữ chặt, ép uống vài chén rượu.

“Khụ khụ… khụ khụ khụ…” Nguyên Diệu bị sặc rượu, chảy cả nước mắt, nên hơi bực bội, mọi người lại cười ầm lên.

Cuộc vui kéo dài đến tận canh ba mới tan, trong sân bừa bãi, Bạch Cơ, Ly Nô, Nguyên Diệu ngả nghiêng ngủ dưới mái hiên. Dư Nhuận Chi, Lữ Dật Sĩ và những người khác biến mất trong màn đêm.

Ngày hôm sau khi mặt trời đã lên cao, Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Ly Nô mới tỉnh dậy. Bạch Cơ, Ly Nô nhìn thấy sân vườn bừa bãi đầy ly, đ ĩa, bình rượu, xương cá, đồng thanh nói: “Ôi chao, đúng là bừa bộn, Hiên Chi dọn dẹp đi.” “Bừa bộn quá, bừa bộn quá, mọt sách ngốc tới dọn đi.”

Nguyên Diệu không vui nói: “Tối qua mọi người đều có mặt trong bữa tiệc, tại sao lại chỉ có mình ta phải dọn dẹp?!”

Bạch Cơ bay đi: “Vì ta phải đi cắt đèn lồ ng giấy, còn hơn một trăm cái nữa.”

Ly Nô chạy mất: “Gia phải đi mua thức ăn, không đi nhanh thì cá chép to sẽ bị bán hết mất.”

Nguyên Diệu rất bực bội, nhưng cũng không có cách nào, đành một mình dọn dẹp sân sau.

Buổi chiều, Vi Ngạn lại đến tìm Nguyên Diệu giải khuây, hắn đứng dưới hành lang, nói với Nguyên Diệu: “Hiên Chi ta thực sự rất buồn bực.”

Nguyên Diệu vừa dọn dẹp xong sân sau, tâm trạng không tốt, nói: “Ta cũng rất buồn bực.”

Vi Ngạn nói: “Ta muốn đánh cho Bùi Tiên một trận.”

Nguyên Diệu nói: “Chẳng phải ngươi đã nguyền rủa Trung Hoa rồi sao? Vẫn chưa hả giận à?”

Vi Ngạn căm phẫn nói: “Nguyền rủa hoàn toàn không có tác dụng. Sáng nay, Thái hậu còn khen ngợi hắn, vì sau khi hắn đến chùa Từ Ân không xảy ra chuyện kỳ lạ nữa. Ta thực sự càng nghĩ càng giận.”

Nguyên Diệu khuyên nhủ: “Đan Dương ít nghĩ một chút thì sẽ không giận nữa.”

Vi Ngạn giận dữ nói: “Không được, ta vẫn rất giận. Ta muốn trả thù Bùi Tiên.”

Bạch Cơ cười bước tới: “Có thù báo thù, có oán báo oán, mới là việc sảng khoái. Vi công tử, ta có một cách hay để ngươi trả thù Bùi công tử, giải tỏa nỗi hận.”

Nguyên Diệu mặt ủ rũ nói: “Bạch Cơ đi cắt đèn lồ ng giấy đi, đừng đổ thêm dầu vào lửa đưa ra mưu kế tồi nữa.”

Vi Ngạn hỏi: “Lại là con rối? Nguyền rủa ư?”

Bạch Cơ liếc Nguyên Diệu một cái, rồi cười với Vi Ngạn: “Không phải, lần này trực tiếp hơn.”

Bạch Cơ ghé vào tai Vi Ngạn nói vài câu.

Vi Ngạn mở quạt, cười rất gian xảo.

Vi Ngạn hỏi Bạch Cơ: “Ngươi cần bao nhiêu bạc?”

Bạch Cơ cười nói: “Vi công tử tự tay làm, ta không lấy bạc.”

Vi Ngạn nhìn lên trời, nói: “Bây giờ đi luôn?”

Bạch Cơ cười bí ẩn: “Bây giờ đi luôn. Đêm nay, Bùi công tử chắc chắn sẽ có một đêm sống không bằng chết.”

Vi Ngạn cũng cười bí ẩn: “Chỉ nghĩ đến thôi ta đã thấy đêm nay thật tuyệt rồi.”

Bạch Cơ, Vi Ngạn nhìn nhau cười gian: “Hì hì.”

Nguyên Diệu cảm thấy lạnh sống lưng, run rẩy nói: “Cổ ngữ có câu, trên đầu ba thước có thần linh. Các người nếu làm việc ác, ông trời sẽ không tha cho các người.”

Bạch Cơ nói: “Trời cũng sẽ không tha cho Hiên Chi đâu.”

“Tại sao?” Nguyên Diệu không hiểu hỏi.

Bạch Cơ cười bí ẩn: “Vì Hiên Chi cũng phải cùng đi làm việc ác.”

Thế là, Bạch Cơ, Vi Ngạn, Nguyên Diệu ba người lên đường.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 42: Dạ Hồ


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 6: Cá mang đèn

Chương 4: Dạ Hồ

Bạch Cơ, Nguyên Diệu ngồi trên xe ngựa của Vi Ngạn rời khỏi thành Trường An, đến gần Chùa Từ Ân. Vi Ngạn đuổi xe ngựa về trước. Ba người mượn xẻng từ nhà nông gần đó, tới một khu rừng hoang vắng, tìm một chỗ trống và bắt đầu đào đất.

Vi Ngạn và Nguyên Diệu mồ hôi nhễ nhại đào đất, Bạch Cơ ngồi dưới gốc cây lớn, nhàn nhã ăn trái cây dại vừa hái.

Vi Ngạn nói: “Mệt chết mất. Bạch Cơ, ta và Hiên Chi đã đào nửa canh giờ rồi, ngươi đừng chỉ đứng nhìn, cũng nên qua giúp một tay.”

Bạch Cơ không chịu, cười nói: “Vi công tử nói đùa rồi. Ta là nữ nhi yếu đuối, vai không thể gánh, tay không thể xách, sao có thể đào đất?”

Vi Ngạn giận dữ nói: “Hiên Chi là người đọc sách, tay không có sức, chẳng phải hắn cũng đang đào sao?”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Đan Dương là công tử nhà giàu, từ nhỏ đã sống trong nhung lụa, chưa từng làm việc nặng, chẳng phải hắn cũng đang đào sao?”

Bạch Cơ che mắt nhìn về phía mặt trời lặn, chuyển đề tài: “À, tới giờ ăn tối rồi. Ta đi tìm chút đồ ăn, tiện thể tìm thêm người giúp.”

Bạch Cơ uyển chuyển rời đi, chẳng bao lâu sau nàng quay lại. nàng mang theo hơn mười người Phù Tang mặc bộ đồ Thú, đi guốc gỗ, có người mang xẻng, rổ, dây thừng, có người mang hộp đồ ăn, bình rượu.

Nguyên Diệu nhận ra những người này, là khách ở Đương Quy trang viên.

Vi Ngạn không nhận ra, ngạc nhiên hỏi: “Bạch Cơ, những người này là…?”

Bạch Cơ cười nói: “Họ là người Phù Tang sống gần đây, rất nhiệt tình, đến giúp chúng ta. Họ còn chuẩn bị bữa tối thịnh soạn cho chúng ta.”

Sau khi chào hỏi nhau, Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Vi Ngạn ngồi dưới gốc cây ăn cơm, những người Phù Tang bắt đầu đào đất. Những người Phù Tang cũng không thạo việc đào đất, nhưng đông người thì sức mạnh lớn hơn, đào nhanh hơn Vi Ngạn và Nguyên Diệu.

Các món ăn thanh đạm, rượu sake ngọt ngào thơm mát, cộng thêm làm việc mệt mỏi đói bụng, Nguyên Diệu, Vi Ngạn ăn rất vui vẻ.

Bạch Cơ cầm chén rượu sake, nhìn mặt trời lặn, khóe miệng nở một nụ cười.

Khi mặt trăng lên, người Phù Tang đốt đuốc, tiếp tục đào hố.

Vi Ngạn, Nguyên Diệu rảnh rỗi ngồi nhìn, hố sâu khoảng bảy, tám mét, Bạch Cơ ra hiệu mọi người dừng lại, đi cắt nhiều cỏ khô, lá cây ném xuống đáy hố. Tất cả xong xuôi, Bạch Cơ nói với người Phù Tang: “Xong rồi. Cảm ơn các vị.”

“Không có gì.” Người Phù Tang cúi chào rồi mang theo xẻng, rổ, dây thừng, hộp đồ ăn, bước đi dưới ánh trăng.

Vi Ngạn nhìn theo hướng người Phù Tang rời đi, hơi nghi ngờ: “Sao ta cảm thấy họ quen quen, hình như đã gặp ở đâu đó.”

Ba tháng trước, Vi Ngạn từng phụ trách sắp xếp thủ tục trở về nước cho những người Phù Tang này, tuy không giao tiếp sâu sắc, nhưng ít nhiều cũng đã gặp mặt một hai lần.

Giờ đây, người và ma đã khác biệt.

Nguyên Diệu lo Vi Ngạn nhớ ra nguyên do sẽ bị dọa sợ, vội chuyển hướng suy nghĩ của hắn: “Đan Dương, Bạch Cơ, các người vẫn chưa nói tại sao phải đào hố?”

Vi Ngạn cười gian xảo: “Cái bẫy này là để dành cho Bùi Tiên.”

Bạch Cơ cũng cười: “Dụ Bùi công tử đến đây, để hắn rơi vào hố.”

Vi Ngạn cười nói: “Tháng ba trời lạnh, hố đất càng ẩm ướt lạnh lẽo, tối nay để hắn chịu rét một đêm, cho hắn khổ sở.”

Bạch Cơ che miệng cười: “Vi công tử đúng là ác thật.”

Vi Ngạn đắc ý cười ha hả, tưởng tượng như Bùi Tiên đã rơi vào bẫy, chịu lạnh rét.

Nguyên Diệu mồ hôi lạnh: “Các người thật quá độc ác.”

Bạch Cơ cười nói: “Hiên Chi cũng là đồng phạm.”

Sau khi Vi Ngạn cười xong, mới nghĩ đến một điểm quan trọng: “Nhưng, làm sao chúng ta dụ Bùi Tiên đến đây được?”

Bạch Cơ nói: “Chuyện này không khó. Vi công tử đến Chùa Từ Ân gặp Bùi công tử, tìm một cái cớ lừa hắn đến đây là được. Che kín hố bẫy bằng cành cây, tối khuya hắn không thấy rõ, dễ dàng rơi xuống.”

Vi Ngạn suy nghĩ một chút, nói: “E rằng không được. Thứ nhất, lúc nhỏ ta thường lừa Bùi Tiên nên hắn không tin ta, e rằng sẽ không ra ngoài cùng ta. Thứ hai, Bùi Tiên là người rất trách nhiệm, hiện giờ hắn đang thực hiện nhiệm vụ của Thái Hậu ở chùa Từ Ân, chắc chắn sẽ sống chết giữ ở trước bức tranh ‘Ngũ Bách La Hán đồ’, không đi lung tung.”

Bạch Cơ nói: “Vi công tử không đi được thì để Hiên Chi đi.”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Đừng hòng bắt ta đi! Dù có đánh chết ta, ta cũng không đi hại Trọng Hoa đâu!”

Vi Ngạn nói: “Hiên Chi không biết nói dối, đi rồi ngược lại làm Bùi Tiên nghi ngờ, sinh nghi. Hay là Bạch Cơ nàng đi?”

“Ta đi?” Bạch Cơ cười: “Ta không quen biết Bùi công tử, hắn càng không đi với người lạ.”

Vi Ngạn cười gian xảo: “Bùi Tiên vừa nhìn thấy nữ nhân đẹp là mất hồn. Nàng giả làm hồ yêu để mê hoặc hắn, dụ hắn đến đây, để hắn rơi vào bẫy. Tất nhiên, ta và Hiên Chi sẽ đợi ngoài chùa Từ Ân, luôn theo dõi các người, nếu hắn dám vô lễ với ngươi, ta và Hiên Chi chắc chắn sẽ đánh hắn. Sao hả?”

Nguyên Diệu xụ mặt: “Đan Dương còn có ý kiến tồi tệ hơn không?”

Bạch Cơ nhìn bầu trời đêm, trăng đã lên cao, gần đến giờ tý. Nàng nhíu mày, nhưng lại đồng ý: “Ý kiến này cũng không tồi. Hồ yêu, đời này ta chưa từng giả làm hồ yêu, chắc chắn rất thú vị.”

“Vậy, cứ quyết định thế.” Vi Ngạn vui vẻ nói.

“Tuy nhiên.” Bạch Cơ nói: “Ta chỉ dẫn Bùi công tử ra khỏi chùa Từ Ân, dụ hắn rơi vào bẫy thì giao cho Vi công tử tự làm.”

Vi Ngạn không hiểu: “Tại sao?”

Bạch Cơ nói: “Có thể sau này Bùi công tử sẽ đến Phiêu Miểu Các mua đồ, ta không thể để lại ấn tượng xấu cho khách hàng trước.”

“Được thôi.” Vi Ngạn nói.

Vi Ngạn tìm một đoạn cây lớn để che kín miệng bẫy, còn đặt ba viên đá nhỏ làm dấu trên đường.

Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Vi Ngạn đến chùa Từ Ân.

Cổng chính Chùa Từ Ân mở toang, không đóng.

Từ khi Bùi Tiên cầm dao trừ tà, dẫn theo thị vệ đến chùa Từ Ân trấn quỷ thì cổng chính chùa Từ Ân đêm không đóng. Hai tên thị vệ đứng ở cổng, đang ngáp ngắn ngáp dài. Bạch Cơ đi ngang qua thị vệ thản nhiên đi vào Chùa Từ Ân, họ cũng không nhận ra.

Vi Ngạn, Nguyên Diệu nấp xa xa dưới một gốc cây quan sát.

Trong chùa Từ Ân, ngoài Tàng Kinh các.

Bùi Tiên đeo dao trừ tà bên hông, uy phong lẫm liệt đứng trước bức tranh “Ngũ Bách La Hán đồ”. Dưới ánh trăng bạc, dáng người oai phong của hắn như một bức tượng chiến thần.

Bùi Tiên đang tỉnh táo đứng đó, bỗng thấy sau tháp Phật không xa xuất hiện một cô nương áo trắng xinh đẹp. Cô nương áo trắng búi tóc Đà Mã*, cài xiên một chiếc trâm phượng điểm xanh vàng. Da nàng trắng như tuyết, môi đỏ như sen, dưới góc mắt trái có một nốt ruồi chu sa, đỏ như máu. nàng mỉm cười quyến rũ và vẫy tay gọi Bùi Tiên.

*sợt cái này là thấy ạ 堕马髻

Bùi Tiên lòng xao xuyến, cô nương đẹp quá. Như thể bị một bàn tay vô hình kéo đi, hắn tự nhiên bước về phía cô nương áo trắng, hỏi: “Ngươi là ai?”

Cô nương áo trắng che miệng cười khúc khích: “Ta là hồ ly.”

Bùi Tiên cười, sao chùa Từ Ân lại có hồ yêu? Hơn nữa, yêu ma quỷ quái nhìn thấy đao trừ tà của hắn đều tránh xa, làm sao dám đến chào hỏi? Cô nương này chắc chắn là người sống gần chùa Từ Ân.

“Nàng tên là gì?” Bùi Tiên hỏi.

Cô nương áo trắng không trả lời Bùi Tiên, cười khúc khích hai tiếng rồi kéo váy chạy đi.

“Này, cô nương, đừng đi, nàng tên là gì?” Bùi Tiên như bị mê hoặc, chạy theo. Không biết tại sao, hắn rất muốn biết tên nàng, cũng rất muốn giữ nàng lại. Lúc này, hắn đã quên mình phải bảo vệ bức tranh.

Cô nương áo trắng vừa cười khúc khích vừa chạy.

Bùi Tiên đuổi theo phía sau: “Cô nương đợi đã.”

Cô nương áo trắng quay đầu lại, cười với Bùi Tiên: “Hi hi, nếu tiếp tục đuổi theo ngươi sẽ bị lừa đấy.”

Bùi Tiên vẫn đuổi theo phía sau: “Chỉ cần đuổi kịp cô nương, bị lừa cũng không sao.”

Cô nương áo trắng cười bí ẩn, chạy nhanh hơn. Thân hình nàng nhẹ nhàng như con nai, chỉ vài lần rẽ đã biến mất.

Chớp mắt, Bùi Tiên thấy cô nương áo trắng đã ra khỏi cổng chùa.

Bùi Tiên không chút do dự đuổi theo.

Khi Bùi Tiên đi qua cổng chùa, hai tên thị vệ đang ngái ngủ bị giật mình tỉnh giấc: “Bùi Tướng quân, có chuyện gì vậy?”

Bùi Tiên nói: “Không có gì. Các người canh gác cho tốt, ta ra ngoài một lát.”

Bùi Tiên đuổi theo ra khỏi chùa Từ Ân. Chớp mắt, hắn lại thấy cô nương áo trắng hiện ra ở không xa trong rừng. Hắn vội vàng đuổi theo như bị mê hoặc, hắn cảm thấy nếu không đuổi kịp cô nương áo trắng thì hắn sẽ không yên lòng.

Bùi Tiên không đuổi kịp cô nương áo trắng, nhưng lại thấy Vi Ngạn và Nguyên Diệu đứng bên đường.

Bùi Tiên sững sờ, hơi lạ lùng. Hắn mặc kệ Vi Ngạn, cười với Nguyên Diệu: “Sao Hiên Chi lại ở đây?”

Nguyên Diệu định trả lời, nhưng Vi Ngạn đã cướp lời: “Ta và Hiên Chi đang đi dạo.”

Bùi Tiên nói: “Không hỏi ngươi. Ta nói chuyện với Hiên Chi.”

Vi Ngạn nói: “Ta cũng không trả lời hắn. Ta cũng nói chuyện với Hiên Chi.”

“Haiz!” Nguyên Diệu thở dài bất lực.

Bùi Tiên lại hỏi: “Hiên Chi vừa rồi ngươi có thấy một cô nương áo trắng đi qua không? Nàng ấy tự xưng là hồ ly, rất đẹp, dưới khóe mắt trái có một nốt ruồi đỏ.”

Tự xưng là hồ ly… Hiên Chi và Vi Ngạn đổ mồ hôi lạnh.

Nguyên Diệu định trả lời, nhưng Vi Ngạn lại chỉ vào khu rừng nơi đã đặt bẫy, nói: “Thấy, cô nương đó chạy vào rừng bên kia.”

Bùi Tiên không tin Vi Ngạn, hỏi Nguyên Diệu: “Có đúng không? Hiên Chi.”

Nguyên Diệu không muốn nói dối để lừa Bùi Tiên, nhưng lại không dám trái lời Bạch Cơ và Vi Ngạn, lắp bắp không nói nên lời. Cuối cùng, hắn mở miệng nói: “Hình như là chạy vào rừng bên kia, để ta cùng ngươi đi tìm.”

“Thật tốt quá.” Bùi Tiên vui mừng nói.

Bùi Tiên kéo Nguyên Diệu đi về phía rừng: “Không hiểu sao, không tìm thấy nàng ấy ta lại cảm thấy không yên lòng. Nàng ấy thật đẹp, nhìn một lần không thể không muốn nhìn thêm…”

Nguyên Diệu mồ hôi lạnh. Chắc chắn Bạch Cơ đã dùng thuật mê hồn với Bùi Tiên rồi nhỉ?!

“À này, Bùi Tiên, Kinh Phật có câu: ‘Phàm tất cả những gì có hình tướng đều là hư vọng.’ ngươi đừng để bị lừa bởi vẻ bề ngoài.”

Vi Ngạn thấy Bùi Tiên kéo Nguyên Diệu đi, hơi không vui cũng hơi lo lắng. Nguyên Diệu thuần thiện, lại ngốc nghếch, e rằng sẽ lỡ miệng, phá hỏng kế hoạch.

Vi Ngạn không để lộ cảm xúc, theo sát phía sau, chen vào giữa Nguyên Diệu và Bùi Tiên, đi bên cạnh Bùi Tiên, nói: “Bùi Tiên, Hiên Chi không giống ngươi, thấy nữ nhân đẹp là mất hồn.”

Bùi Tiên đẩy Vi Ngạn ra, kéo Nguyên Diệu, nói: “Ta nói chuyện với Hiên Chi, liên quan gì đến ngươi?”

Vi Ngạn chắn trước mặt Nguyên Diệu, nói: “Tất nhiên là liên quan đến ta, Hiên Chi là biểu huynh ta, không thể để ngươi làm hư hắn được.”

Đây là lần đầu tiên Vi Ngạn gọi Nguyên Diệu là biểu huynh, trong lòng Nguyên Diệu chợt dâng lên cảm xúc tình thân.

Bùi Tiên nói: “Ta cũng là biểu huynh của hắn, biểu huynh nói chuyện với nhau, biểu đệ đứng sang một bên đi.”

Bùi Tiên lại đẩy Vi Ngạn, lần này hơi mạnh, Vi Ngạn loạng choạng lùi vài bước, suýt ngã xuống đất.

“Vi Ngạn, ngươi dám đẩy ta?” Vi Ngạn rất tức giận.

“Ta đẩy ngươi thì sao?” Bùi Tiên khó chịu nói.

Vi Ngạn lao vào đánh Bùi Tiên, Bùi Tiên phản công, đấm trúng mắt trái của Vi Ngạn, hai người lao vào đánh nhau.

Miệng Nguyên Diệu đắng ngắt, đành phải lao vào can ngăn, khuyên: “Đừng đánh nữa, các ngươi đừng đánh nữa.”

Ba người vật lộn tiến tới, không ngờ đã đến gần miệng bẫy. Vi Ngạn không để ý đến dấu hiệu đá nhỏ, Bùi Tiên đặt chân lên bẫy, rơi xuống.

Vi Ngạn cười ha hả: “Bùi Tiên, báo ứng của ngươi đến rồi…”

Tuy nhiên, ngay sau đó, Vi Ngạn cũng bị một lực mạnh kéo xuống. Thì ra, khi Bùi Tiên rơi xuống bẫy, trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, hắn đã túm lấy chân phải của Vi Ngạn, kéo hắn cùng rơi xuống.

“Đan Dương…” Nguyên Diệu kinh hãi, đưa tay ra túm lấy Vi Ngạn.

“Nguyên Diệu…” Vi Ngạn nhanh hơn, đã túm lấy cổ áo của Nguyên Diệu. Thế là, Bùi Tiên, Vi Ngạn và Nguyên Diệu cùng lộn nhào rơi xuống bẫy. Khi ba người chạm đất, Vi Ngạn bị đè ở dưới cùng, Nguyên Diệu bị kẹp ở giữa, Bùi Tiên ở trên cùng. May mà đáy bẫy lót đầy cỏ và lá cây, rất mềm mại nên ba người không bị chết vì ngã, cũng không bị thương nặng.

Nguyên Diệu vùng vẫy đứng dậy: “Ôi chao, suýt nữa thì chết rồi.”

Vi Ngạn yếu ớt nói: “Sao ta cũng rơi xuống đây? Bùi Tiên, ta hận ngươi.”

Bùi Tiên tức giận nói: “Vi Ngạn, đây là bẫy ngươi đào để hại ta đúng không? Ha ha, báo ứng đấy, đúng là báo ứng. Ngươi cũng rơi xuống, tự làm tự chịu!”

Vi Ngạn tức giận vùng dậy đánh Bùi Tiên. Bùi Tiên không khách sáo đáp trả, hai người đánh nhau quyết liệt.

Đáy bẫy rất chật hẹp, Bùi Tiên và Vi Ngạn đánh nhau, Nguyên Diệu không thể tránh, thỉnh thoảng lại bị ai đó đấm vào, hoặc bị đá vào đầu. Hắn đành khuyên can hai người đừng đánh nhau nữa, nhưng không có kết quả.

Nguyên Diệu ôm đầu, buồn rầu nhìn lên miệng bẫy, không ngờ tự mình chuốc họa, hắn và Vi Ngạn cũng rơi xuống đây, đúng là tự làm tự chịu. Không biết Bạch Cơ có đến cứu họ không? Chắc nàng ấy sẽ đến cứu họ chứ?

Ngoài bẫy, Bạch Cơ đứng dưới một gốc cây lớn, hơi lo lắng: “Ôi chao, Hiên Chi cũng rơi xuống rồi… Có nên cứu hắn không?”

Bạch Cơ ngắt một bông hoa cúc xuân vàng, bắt đầu ngắt từng cánh hoa: “Cứu Hiên Chi, không cứu Hiên Chi, cứu Hiên Chi, không cứu Hiên Chi, cứu Hiên Chi, không cứu Hiên Chi…”

Cánh hoa cuối cùng là “không cứu Hiên Chi”.

Bạch Cơ chắp tay, nói một câu: “Thiên ý như vậy, không thể trái, Hiên Chi đừng trách ta.”, rồi vui vẻ đi về Chùa Từ Ân. Đã là giờ Tý, đêm qua Bạch Cơ đã hẹn với Dư Nhuận Chi, đêm nay để hắn vào Chùa Từ Ân hoàn thành bức “Ngũ Bách La Hán Đồ”.

Đêm đó, Nguyên Diệu đã trải qua cảm giác “sống không được, chết không xong”.

Đáy bẫy tối tăm, chật hẹp, lạnh lẽo, ẩm ướt, trong đêm xuân lạnh buốt, sương đêm làm ướt áo Nguyên Diệu, lạnh đến thấu xương, làm hắn run rẩy. Bùi Tiên và Vi Ngạn cũng không khác gì, họ một người chen chúc bên trái Nguyên Diệu, một người bên phải Nguyên Diệu, ba người dựa vào nhau để sưởi ấm. Bùi Tiên và Vi Ngạn không ngừng cãi nhau, lúc cãi vã dữ dội còn đánh nhau. Nguyên Diệu không thể ngăn cản, chỉ biết khuyên nhủ. Họ đánh nhau mệt rồi lại dựa vào Nguyên Diệu để nghỉ ngơi.

Nguyên Diệu cả đêm không thể chợp mắt, vừa lạnh, vừa mệt, vừa đau, rất khó chịu. Bùi Tiên và Vi Ngạn đều ngủ bên cạnh hắn, nhưng tai hắn vẫn vang lên tiếng cãi vã của họ, không thể ngủ được.

Nguyên Diệu ngồi chờ đến sáng.

Sáng hôm sau, Vi Ngạn và Bùi Tiên vừa tỉnh dậy lại bắt đầu cãi nhau, đánh nhau, Nguyên Diệu tức giận hét lên: “Im đi! Đừng cãi nhau nữa!!”

Tiếng hét của Nguyên Diệu đã dùng hết sức lực, xé tan sự yên tĩnh của rừng sáng sớm, làm kinh động lũ chim trong rừng.

Vi Ngạn và Bùi Tiên đều kinh ngạc, quay lại nhìn Nguyên Diệu, quên mất đánh nhau.

Lúc này, có tiếng nói vọng xuống từ trên đầu ba người: “A, Bùi Tướng quân ở đây!” “Tìm thấy Bùi Tướng quân rồi!!”

Vi Ngạn, Nguyên Diệu và Bùi Tiên ngẩng đầu nhìn lên, thấy vài cái đầu của thị vệ xuất hiện trên miệng bẫy. Đêm qua Bùi Tiên đi mãi không về, họ đã tìm Bùi Tiên rất lâu, nếu không nhờ tiếng hét của Nguyên Diệu thì họ vẫn chưa tìm thấy ba người.

Các thị vệ thả dây thừng xuống, kéo ba người lên.

Các thị vệ báo cáo với Bùi Tiên: “Bùi Tướng quân, bức “Ngũ Bách La Hán Đồ” đã hoàn thành rồi.”

“Cái gì?!!” Bùi Tiên kinh ngạc.

Bùi Tiên, Nguyên Diệu và Vi Ngạn đi vào chùa Từ Ân, đến trước bức “Ngũ Bách La Hán Đồ”, thấy một bức tranh tường rực rỡ sắc màu đã hoàn thành, năm trăm La Hán với thần thái khác nhau, sống động như thật.

Các nhà sư của chùa Từ Ân và các họa sĩ đến vẽ tranh tường đang đứng bên cạnh quan sát, một họa sĩ chỉ vào bức “Ngũ Bách La Hán Đồ”, run rẩy nói: “Ma, ma quỷ rồi! Đây là bút pháp của Đại Xuyên Trực Nhân, chắc chắn là bút pháp của hắn…”

Bùi Tiên rất buồn bực: “Sao lại như vậy?”

Vi Ngạn rất vui vẻ, nói: “Bùi Tướng quân lơ là chức trách, đáng bị phạt bổng lộc.”

Nguyên Diệu cảm thấy rất phức tạp.

Bùi Tiên, Vi Ngạn và Nguyên Diệu trở về Trường An, Bùi Tiên vào cung, Vi Ngạn về phủ, Nguyên Diệu về Phiêu Miểu các.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 43: Về quê


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 6: Cá mang đèn

Chương 5: Về quê

Khi Nguyên Diệu trở về Phiêu Miểu các, Ly Nô đang ngồi sau quầy cắt giấy làm đèn lồ ng, Bạch Cơ và Dư Nhuận Chi đang ngồi ở sân sau uống rượu cười nói.

Bạch Cơ thấy Nguyên Diệu thì vui vẻ vẫy tay: “Hiên Chi, hắn về rồi.”

Nguyên Diệu định chất vấn Bạch Cơ tại sao đêm qua bỏ mặc hắn và Vi Ngạn, khiến họ chịu khổ trong bẫy suốt đêm, nhưng thấy Dư Nhuận Chi, nên hắn không tiện nổi giận, đành nuốt xuống cơn giận. Hắn nhớ lại bức tranh tường đã hoàn thành ở chùa Từ Ân, chợt thấy sáng tỏ, Bạch Cơ đột nhiên tốt bụng giúp Vi Ngạn thiết kế bẫy Bùi Tiên, mục đích thực sự là điệu hổ ly sơn, để Bùi Tiên đi chỗ khác cho Dư Nhuận Chi hoàn thành bức “Ngũ Bách La Hán Đồ”?

Bạch Cơ nói với Nguyên Diệu: “Tối qua thấy ngươi rơi vào bẫy, ta thật sự rất lo lắng.”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Nếu đã lo lắng, tại sao ngươi không kéo ta lên?”

Bạch Cơ giải thích: “Bùi công tử, Vi công tử cũng ở đó, nếu chỉ kéo mỗi Nguyên Diệu lên thì sao được? Nếu kéo cả ba người lên, Dư tiên sinh sẽ không thể hoàn thành bức tranh tường. Vì vậy, đành để Hiên Chi chịu thiệt thôi.”

Dư Nhuận Chi cười nói: “Nhờ có Hiên Chi, ta mới có thể hoàn thành bức tranh tường, gỡ bỏ được mối bận tâm.”

Dù sao, Dư Nhuận Chi có thể hoàn thành bức “Ngũ Bách La Hán Đồ”, cũng là một việc tốt. Nguyên Diệu nghe vậy, cơn giận trong lòng cũng tan biến, tha thứ cho Bạch Cơ.

“Hắn thấy bức tranh tường của Dư huynh hoàn thành, vẽ rất đẹp.” Nguyên Diệu chân thành khen ngợi.

Dư Nhuận Chi rất vui, khiêm tốn nói: “Hiên Chi quá khen rồi. Ta chỉ muốn để lại một chút kỷ niệm ở Đại Đường thôi.”

Dư Nhuận Chi mời: “Hiên Chi cũng đến uống một ly đi. Hôm nay, có lẽ là lần cuối cùng ta uống rượu với hắn.”

Nguyên Diệu ngồi xuống bên cạnh Dư Nhuận Chi, nói: “Dư huynh định về Phù Tang rồi sao?”

“Ừ. Tối nay sẽ về.” Trên khuôn mặt Dư Nhuận Chi hiện lên nụ cười hạnh phúc.

Dư Nhuận Chi và Nguyên Diệu cùng uống một ly.

Nguyên Diệu nói: “Hôm nay hình như là Tết Thanh Minh.”

Dư Nhuận Chi cười nói: “Thanh Minh à, vừa hay về quê hương.”

Bạch Cơ hát rằng: “Tháng ba Thanh Minh, có cá mang đèn; ngược dòng về cố hương, xa không thể tìm. Tháng ba Thanh Minh, có cá mang đèn; chôn cất giữa đường, thương tiếc linh hồn.”

Dư Nhuận Chi nói: “Bài đồng dao này hát bằng tiếng Hán cũng rất hay.”

Ly Nô hớn hở chạy ra hậu viện, nói: “Chủ nhân, hai trăm bảy mươi lăm chiếc đèn quy hương đã làm xong. Tối qua ta đã cắt suốt cả đêm.”

Bạch Cơ cười nói: “Vất vả cho Ly Nô rồi.”

Ly Nô dùng đôi mắt đầy tơ máu liếc nhìn Nguyên Diệu một cái, nói: “Không còn cách nào khác, ai bảo mọt sách lại lười biếng, nên Ly Nô phải vất vả thêm một chút thôi.”

Nguyên Diệu muốn phản bác, nhưng lại không dám.

Dư Nhuận Chi hơi xúc động, dùng tay áo lau nước mắt: “Có thể về rồi, cuối cùng cũng có thể về rồi…”

Bạch Cơ cười nói: “Có thể về quê được thực sự rất tốt. Nơi đẹp nhất trên thế gian vẫn là quê hương.”

Dư Nhuận Chi rất vui mừng, rất xúc động. Ông là một họa sĩ, cách biểu đạt cảm xúc là vẽ tranh. Ông trải giấy vẽ, cầm bút vẽ một bức “chiều Thanh Minh”, Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Ly Nô đều có trong bức tranh: cỏ xanh mướt, đào hồng rực, Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Ly Nô ngồi trong hậu viện của Phiêu Miểu các dự yến tiệc, Bạch Cơ cười tươi như hoa, Nguyên Diệu mỉm cười dịu dàng, Ly Nô cười không thấy mắt.

Nguyên Diệu rất thích bức “chiều Thanh Minh” này, nhưng Bạch Cơ và Ly Nô lại không thích. Bạch Cơ chê Dư Nhuận Chi không vẽ nàng thành thiên long uy phong lẫm liệt, Ly Nô thì thấy Dư Nhuận Chi vẽ mình quá ngốc. Dư Nhuận Chi đành phải vẽ riêng cho Bạch Cơ một bức “Long Tiếu Cửu Thiên Đồ”, vẽ cho Ly Nô một bức “Hắc Miêu Bắt Chuột Đồ”. Bạch Cơ và Ly Nô mới hài lòng.

Tối qua Nguyên Diệu cả đêm không ngủ, rất mệt mỏi. Khi Dư Nhuận Chi vẽ tranh, hắn lại ngủ thiếp đi. Khi Nguyên Diệu tỉnh dậy, Dư Nhuận Chi đã mang hai trăm bảy mươi lăm chiếc đèn quy hương rời đi.

Đêm xuân gió mát, trời đầy sao.

Đêm đó, Nguyên Diệu ngủ trên giường, mơ một giấc mơ đẹp. Hắn mơ thấy cây anh đào trong Đương Quy trang viên, hoa rụng như mưa, rơi khắp nơi.

Dư Nhuận Chi, Lữ Dật Sĩ và những người khác ngồi dưới cây anh đào, gảy đàn tam huyền, hát đồng dao.

Một cơn gió thổi qua, hoa rơi như tuyết.

Dư Nhuận Chi, Lữ Dật Sĩ và những người khác hóa thành những con cá, mang đèn quy hương, bơi vào bầu trời đêm.

Cánh hoa anh đào rơi vào đèn lồ ng hóa thành ngọn lửa ấm áp, chiếu sáng con đường về quê. Một đàn cá mang đèn lồ ng bơi trên bầu trời đêm, hướng về phương Đông, đi đến Phù Tang.

Nguyên Diệu giật mình tỉnh giấc, hắn ngồi dậy, trong lòng hơi buồn bã. Hắn khoác áo ngoài, đi ra sân, muốn thổi chút gió đêm để giải tỏa tâm trạng.

Khi Nguyên Diệu đến hậu viện, phát hiện Bạch Cơ đang ngồi trên mái nhà nhìn về phía bầu trời phương Đông.

Nguyên Diệu ngạc nhiên hỏi: “Bạch Cơ đang nhìn gì vậy?”

Bạch Cơ cúi đầu, cười nói: “Ta đang nhìn cá mang đèn về quê.”

“Hả?! ” Nguyên Diệu kinh ngạc.

Bạch Cơ cười nói: “Lên đây đi, Hiên Chi. Cảnh cá mang đèn về quê rất đẹp đấy.”

Nguyên Diệu đang lo không biết làm thế nào để lên đó, một cơn gió đêm thổi qua, cuốn rơi một cây đào đỏ. Những cánh hoa đào hóa thành bậc thang, từ chân Nguyên Diệu kéo dài đến mái nhà.

Nguyên Diệu bước lên bậc thang hoa.

Nguyên Diệu ngồi xuống bên cạnh Bạch Cơ.

Bạch Cơ chỉ về phía bầu trời phương Đông, cười nói với Nguyên Diệu: “Nhìn kìa, cá đang cầm đèn về quê đấy.”

Nguyên Diệu nhìn theo hướng Bạch Cơ chỉ, không khỏi há hốc miệng. Những chiếc đèn lồ ng nối thành một dải, uốn lượn trên bầu trời đêm Trường An, tựa như một dải ngân hà lấp lánh. Những ngọn đèn như những ngôi sao rực rỡ, đẹp mê hồn.

Nguyên Diệu nói: “Chúng đang về Phù Tang sao?”

Bạch Cơ gật đầu: “Đúng vậy.”

“Dư huynh ở trong đó sao?”

“Ngọn đèn sáng nhất là của Dư huynh.”

Nguyên Diệu cố gắng tìm ngọn đèn sáng nhất, nhưng mỗi ngọn đèn đều rất sáng, hắn không thể phân biệt được. Nhưng, nghĩ đến việc Dư Nhuận Chi đang ở trong đó, đang rời đi, hắn hơi buồn bã: “Sau này, không còn gặp lại Dư huynh hư nữa, thật buồn. Nhưng, hắn có thể về quê hương mà hắn ngày đêm mong nhớ cũng là điều đáng vui mừng.”

Bạch Cơ an ủi Nguyên Diệu: “Đời người luôn luôn gặp gỡ và chia ly. Người với người như vậy, người với nơi chốn cũng vậy. Rộng lượng một chút sẽ hạnh phúc hơn.”

“Bạch Cơ cuối cùng cũng phải về quê hương sao?”

“Ừ, quê hương khác với nơi mà mình sống cả đời, khác với những nơi mình đã đi qua, cuối cùng người vẫn phải về quê hương.”

Nguyên Diệu chìm vào suy tư, rất lâu không nói gì.

Bạch Cơ hỏi: “Hiên Chi đang nghĩ gì vậy?”

Nguyên Diệu nói: “Ta đang nghĩ sau này ta già đi, chết rồi thì sẽ trở về đâu. Ta sinh ra ở Trường An, ba tuổi theo cha chuyển đến Tương Châu rồi sống ở đó, nhưng quê gốc của ta lại ở Lợi Châu. Bạch Cơ, sau này ta nên trở về đâu đây?”

Bạch Cơ nói: “Vì Hiên Chi không biết nên trở về đâu vậy thì hãy cùng ta trở về Hải Thị. Ta mang một chiếc đèn, Hiên Chi mang một chiếc đèn, chúng ta bơi về hướng Đông, bơi đến tận cùng của biển trời, đó là Hải Thị.”

Nguyên Diệu nói: “Nhưng Bạch Cơ, thể lực của ta không tốt, không thể bơi xa như vậy, ta vẫn nên bơi về Tương Châu thì gần hơn.”

Trong bầu trời đêm, những con cá mang đèn lồ ng chậm rãi đi về phía Đông, càng lúc càng xa.

Bạch Cơ nói: “Hiên Chi hát một bài đi, coi như tiễn biệt Huynh Dư.”

Nguyên Diệu suy nghĩ một lúc rồi hát: “Tháng ba Thanh Minh, có cá mang đèn; vượt đông về quê, tay trong tay cùng đi. Tháng ba Thanh Minh, có cá mang đèn; ngân hà rực rỡ, lá rụng về cội.”

Dần dần, bầu trời đêm phía Đông trăng sáng sao thưa, đã không còn thấy cá mang đèn nữa.

Bạch Cơ và Nguyên Diệu ngồi một lúc, rồi xuống đi ngủ.

Sáng hôm sau, Nguyên Diệu mở cửa Phiêu Miểu các, thấy ở cửa có một cái bọc lớn và một cuộn tranh.

Nguyên Diệu nhìn xung quanh nhưng không thấy ai.

Nguyên Diệu suy nghĩ một lúc rồi mang cái bọc và cuộn tranh vào Phiêu Miểu các, đặt lên quầy. Không biết trong bọc có gì mà rất nặng.

Nguyên Diệu tò mò mở cuộn tranh ra thì không khỏi giật mình. Trong tranh là một trang viên giữa núi non, cách bài trí không phải là phong cách của Đại Đường, trong trang viên có mấy cô nương Phù Tang xinh đẹp, hoặc soi gương trang điểm, hoặc múa lượn.

Nguyên Diệu nhận ra trang viên này, là Đương Quy trang viên. Hắn cũng nhận ra những cô nương Phù Tang trong tranh, là những cô nương mà hắn thấy lần đầu tiên đến Đương Quy trang viên.

Ánh mắt Nguyên Diệu dời xuống, ở phần ký tên của bức tranh ghi rõ: Đại Xuyên Trực Nhân. Hóa ra, Đương Quy trang viên là một bức tranh của Dư Nhuận Chi. Vậy thì hắn ngủ qua đêm tại Đương Quy trang viên, thực ra là ngủ ngoài chốn hoang dã, hèn gì lại bị cảm lạnh. Nhưng mà, Dư Nhuận Chi đã rời đi đêm qua, ai đã mang bức tranh và cái bọc này đến vậy?

Dường như để trả lời Nguyên Diệu, giọng Bạch Cơ vang lên sau lưng anh: “Chắc là sư phụ Bảo Minh mang đến.”

Nguyên Diệu quay đầu lại.

Bạch Cơ ăn mặc chỉnh tề, cười rạng rỡ đứng ở hành lang.

“Sư phụ Bảo Minh? Là vị tăng nhân đã mất năm ngoái, mỗi đêm thay Dư huynh cầm đèn soi tranh đó sao?”

“Đúng vậy.” Bạch Cơ gật đầu.

Nguyên Diệu nói: “Sư phụ Bảo Minh mang tranh và bọc này đến làm gì? Trong bọc là gì?”

“Có lẽ là làm theo lời dặn dò của Dư huynh mà mang đến. Trong bọc là thù lao của Dư huynh cho Phiêu Miểu các.” Bạch Cơ cười nói.

Bạch Cơ đi đến bên quầy, mở bọc ra, một đống thỏi vàng làm lóa mắt Nguyên Diệu.

Những thỏi vàng này khiến Nguyên Diệu nhớ lại lần đầu tiên Dư Nhuận Chi đến Phiêu Miểu các mua giấy bút, đã đưa cho hắn một thỏi.

Bạch Cơ cười nói: “A ha, thật đẹp, ta thích màu vàng nhất. Hiên Chi đếm thử xem có phải hai trăm bảy mươi lăm thỏi không. Đếm xong thì cất vào kho.”

Nguyên Diệu kinh ngạc kêu lên: “Một chiếc đèn giấy một thỏi vàng? Ngươi đúng là tham lam!”

Bạch Cơ nói: “Hiên Chi đúng là thực dụng. Nguyện vọng về quê là thiêng liêng cao cả, sao có thể dùng vàng để đo lường được?”

“Ngươi là kẻ lợi dụng người khác, dùng đèn giấy để lừa tiền, sao dám nói người khác thực dụng hả?!!” Tất nhiên, câu này chỉ tồn tại trong lòng hắn thư sinh.

“Bạch Cơ, hôm nay sao ngươi dậy sớm vậy?” Nguyên Diệu thấy hơi kỳ lạ, bình thường chưa đến khi mặt trời lên cao thì Bạch Cơ sẽ không dậy.

Bạch Cơ nói: “Hôm nay, ta phải đến Đại Minh Cung gặp Thái hậu, để giữ lại bức ‘Ngũ Bách La Hán Đồ’ cho Dư huynh. Dù hắn không yêu cầu, nhưng ta thấy bức tranh tường này rất đẹp, giữ lại cũng không tệ.”

Ly Nô nấu cháo cá làm bữa sáng, Bạch Cơ vui vẻ ăn hết rồi bay đến Đại Minh Cung.

Sau bữa sáng, Nguyên Diệu ngồi sau quầy đếm vàng, Ly Nô cứ đến làm gián đoạn khiến hắn phải đếm lại vài lần. Cuối cùng cũng đếm xong, không sai sót, Nguyên Diệu bỏ vàng vào một cái hộp gỗ, chuẩn bị cất vào kho.

Nguyên Diệu đang thu dọn vàng thì Vi Ngạn vào.

Vi Ngạn thấy Nguyên Diệu đang thu dọn vàng thì mở quạt, cười nói: “Ôi, Hiên Chi đã tích góp được nhiều vàng vậy sao?”

Nguyên Diệu cười nói: “Ta chỉ đang kiểm kê thôi. Đây là tiền bán đèn lồ ng của Bạch Cơ.”

Vi Ngạn cười đi đến bên quầy: “Bán đèn lồ ng gì mà có thể kiếm được nhiều vàng vậy, ngày mai ta cũng đi bán đèn lồ ng. Ồ, những thỏi vàng này…”

Vi Ngạn bỗng nhiên thay đổi sắc mặt.

Nguyên Diệu ngạc nhiên nói: “Đan Dương, có chuyện gì với những thỏi vàng này sao?”

Vi Ngạn cầm một thỏi vàng lên, xem xét kỹ lưỡng, sắc mặt càng thay đổi kỳ lạ: “Đây… đây là một trong những món quà Thái hậu tặng cho vua Phù Tang… xem này, mỗi thỏi vàng đều có dấu ấn hoa mẫu đơn ở góc phải. Hoa mẫu đơn tượng trưng cho Thái hậu, tượng trưng cho Đại Đường. Lúc đó, chính ta đã kiểm kê lô vàng này. Lẽ ra, những thỏi vàng này đã chìm cùng tàu của đoàn sứ giả Đường, sao lại xuất hiện ở Phiêu Miểu các?”

Nguyên Diệu mồ hôi lạnh: “Điều này… ta cũng không rõ, ngươi phải hỏi Bạch Cơ…”

Vi Ngạn ngồi đợi Bạch Cơ quay lại, không biết đang tính toán gì.

Nguyên Diệu vài lần muốn nói lại thôi. Hắn muốn nói với Vi Ngạn về nguồn gốc của những thỏi vàng này, nhưng hắn biết mình vụng về, sợ nói sai nên không nói gì.

Đến trưa, Bạch Cơ trở về.

Bạch Cơ thấy Vi Ngạn, cười nói: “Vi công tử lại đến rồi, hôm nay vẫn tìm Hiên Chi nói chuyện sao?”

Vi Ngạn cười nói: “Bạch Cơ, gần đây đèn giấy bán rất chạy, có thể kiếm được vàng từ tàu chìm. Những thỏi vàng này là quà của Thái hậu tặng vua Phù Tang, gan ngươi lớn thật đấy.”

Bạch Cơ cười ha ha hai tiếng: “Hóa ra, bị Vi công tử phát hiện rồi. Nói đến chuyện này, Vi công tử cũng cắt được ba mươi chiếc đèn giấy, cũng có phần. Hiên Chi, đưa cho Vi công tử ba mươi thỏi vàng.”

Vi Ngạn nói: “Ta không dám nhận số vàng này đâu. Nếu bị Bùi Tiên thấy, rồi lại nói vài câu bên tai Thái hậu thì ta sẽ mất mạng mất.”

Bạch Cơ cười: “Vậy ngươi muốn gì?”

Vi Ngạn mở quạt, cười nói: “Ta muốn ba mươi con rối, dùng để nguyền rủa Bùi Tiên. Và sau này, khi ta đến tìm Hiên Chi, không được thu tiền của ta nữa.”

Bạch Cơ cười nói: “Điều kiện đầu thì được, điều kiện sau thì không.”

Vi Ngạn đứng dậy: “Ta sẽ vào cung nói với Thái hậu rằng ở Chợ Tây có người ăn cắp vàng của vua Phù Tang. Không biết, liệu có thể tru di cả nhà không?”

Nguyên Diệu nhăn nhó nói: “Đan Dương nhớ nói rõ, chuyện này đều do Bạch Cơ làm, không liên quan gì đến ta và Ly Nô lão đệ.”

“Quay lại.” Bạch Cơ nói với Vi Ngạn: “Ngoại trừ trước và sau hai ngày Thanh Minh và Trung Nguyên, khi ngươi đến tìm Hiên Chi, ta sẽ không thu tiền của ngươi.”

Vi Ngạn không hiểu: “Tại sao phải loại trừ trước và sau hai ngày Thanh Minh và Trung Nguyên?”

Nguyên Diệu trả lời thay Bạch Cơ: “Bởi vì trước và sau hai ngày Thanh Minh và Trung Nguyên, Phiêu Miểu các rất bận.”

Vi Ngạn mở quạt, cười nói: “Cũng được.”

Bạch Cơ làm cho Vi Ngạn ba mươi con rối nguyền rủa để bịt miệng hắn.

Vi Ngạn dùng những con rối để nguyền rủa Bùi Tiên nhưng vẫn không có hiệu quả gì. Tuy nhiên, khi Bùi Tiên thất bại trong việc trấn áp quỷ ở chùa Từ Ân, Vi Ngạn đã nhân cơ hội dâng biểu tố cáo hắn, nói rằng hắn bị hồ yêu dụ dỗ, xao nhãng nhiệm vụ là bất kính với Võ Hậu. Võ Hậu hôm đó đúng lúc tâm trạng không tốt, nổi giận phạt Bùi tiên sinh ba tháng bổng lộc. Vi Ngạn rất vui mừng. Nhưng trên đường về nhà, Vi Ngạn bị Bùi Tiên chặn lại đánh cho một trận. Cả hai càng thêm oán hận nhau.

Bức “Ngũ Bách La Hán Đồ” ở chùa Từ Ân vì là bức tranh do ma quỷ vẽ, ban đầu dự định sẽ hủy đi với bức tường. Nhưng Võ Hậu lại thay đổi ý định, nói rằng ngay cả ma quỷ cũng có lòng hoàn thành bức tranh Phật, càng chứng tỏ Phật pháp sâu xa, được chúng sinh trong sáu cõi kính ngưỡng. Vì vậy, bức “Ngũ Bách La Hán Đồ” được giữ lại. Từ đó, chùa Từ Ân cũng không còn xảy ra chuyện lạ nữa.

***

Trăng sáng sao thưa, đêm xuân yên tĩnh, trong sân sau của Phiêu Miểu các treo đầy đèn lồ ng xanh.

Gió đêm thổi qua, ma trơi trôi dạt.

Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô ngồi dưới mái hiên cắt đèn giấy, rất bận rộn.

Nguyên Diệu nhăn nhó nói: “Bạch Cơ, còn phải cắt bao nhiêu chiếc đèn giấy nữa?”

Bạch Cơ nói: “Bảy mươi chiếc người Túc Đặc đặt đã hoàn thành, một trăm hai mươi chiếc người Ba Tư đặt mới cắt được một nửa, một trăm bảy mươi chiếc người Đại Thực đặt chưa bắt đầu, chín mươi chiếc người Thiên Trúc đặt cũng chưa bắt đầu. Hôm nay, người Cao Ly cũng đến đặt. Mọi người ai cũng đều muốn về quê mà.”

Nguyên Diệu lau mồ hôi: “Hóa ra những người nước ngoài đến Đại Đường nhưng không thể về nước nhiều đến vậy.”

“Chín tầng trời mở cung điện, vạn quốc quần áo triều mũ bái mũ quan. Sự thịnh vượng và vẻ đẹp của Đại Đường thu hút mọi người vượt hàng ngàn dặm, từ góc trời, góc đất đến Trường An. Đương đến Trường An rất không dễ dàng, hành trình đầy gian nan và nguy hiểm. Đời người có hạn, nhiều người đến Trường An rồi không thể quay lại quê hương nữa. Họ chỉ có thể về quê sau khi chết thôi.”

“Than ôi!” Nguyên Diệu thở dài, dù rất mệt nhưng vẫn tăng tốc cắt đèn giấy. Dù sao, hy vọng những người ngoại quốc chết ở Đại Đường có thể sớm đạt được tâm nguyện, về lại quê nhà.

Trong gió đêm, không biết từ đâu vang lên tiếng hát mờ ảo: “Tháng ba Thanh Minh, có cá mang đèn; vượt đông về quê, tay trong tay cùng đi. Tháng ba Thanh Minh, có cá mang đèn; ngân hà rực rỡ, lá rụng về cội.”

Trong bầu trời đêm, sao sáng lấp lánh, tựa như đàn cá mang đèn đang bơi lội, tráng lệ và đẹp đẽ.

“Thật đẹp.” Nguyên Diệu khen ngợi.

“Ừ, rất đẹp.” Bạch Cơ cười nói.

“Cá mang đèn có ăn được không?” Ly Nô tự hỏi.

Một cơn gió đêm thổi qua, cuốn rơi một cây hoa đào, hoa rụng thành bùn, lá rụng về cội.

(Hết phần cá mang đèn, thêm hai chương ngoại truyện nữa là hết quyển 1 rồi)
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 44: Ngoại truyện: Trùng yến


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Ngoại truyện: Trùng Yến

Thịnh Đường, Trường An. Đêm hè, gió nhẹ.

Trong sân sau Phiêu Miểu Các, Nguyên Diệu, Bạch Cơ, Ly Nô đang hóng mát bên giàn hoa tử đằng. Nguyên Diệu ôm gối ngồi trên ghế hồ, ôm mặt nhìn bầu trời phát ngốc. Bạch Cơ dựa vào ghế hồ, tay cầm quạt vẽ hoa Mẫu Đơn, mắt nửa nhắm nửa mở. Ly Nô hóa thành hình dáng mèo đen, nhảy vào bụi cỏ đùa nghịch với đom đóm.

Gió nhẹ thổi qua, dế khẽ kêu.

“Đêm nay, là hạ chí à…” Nguyên Diệu tự lẩm bẩm.

“Đã đến hạ chí rồi à!” Bạch Cơ đột nhiên mở to mắt, nốt ruồi lệ ở khóe mắt đỏ như máu nhỏ.

“Sao vậy? Hạ chí có gì không đúng sao?” Tiểu thư sinh ngạc nhiên hỏi.

“Ta chợt nhớ ra, hình như cần đi lấy lại một căn nhà ngoài thành.” Bạch Cơ đứng dậy, áo khoác màu trắng trăng dài trên cỏ, như nước chảy.

“Nhà gì cơ?” Nguyên Diệu nghi ngờ. Bạch Cơ có một căn nhà ngoài thành sao? Lấy lại? Lẽ nào ai đó đang ở đó? Ai? Ai dám ở trong nhà ma?!! Tiểu thư sinh vốn sống trong nhà ma, suy nghĩ rối bời.

“Nhà cho một gia đình thuê. Cuối thu năm ngoái do lũ lụt, nhà của gia đình đó bị phá hủy, đến Phiêu Miểu Các mượn một căn nhà tạm trú. Lúc đó đã hẹn hè này sẽ trả lại.” Bạch Cơ cười nói: “Đi thôi, Hiên Chi, chúng ta đi lấy nhà.”

“Đã đến giờ giới nghiêm rồi, làm sao ra khỏi thành nữa? Hơn nữa, tiểu sinh còn đang đi chân trần, đêm nay e rằng không thể đi xa, hay đợi mai mua đôi giày mới rồi cùng nàng ra ngoài thành lấy nhà!” Sau bữa tối, giày của tiểu thư sinh bị Ly Nô ném xuống giếng nên hắn vẫn chân trần.

“À, vậy à!” Bạch Cơ cười quỷ dị: “Hiên Chi đi chân trần có đau không?”

“Tất nhiên là đau.” Tiểu thư sinh ngây ngô trả lời.

“Vậy thì… đi thôi!” Bạch Cơ vui vẻ nói. Tiểu thư sinh quên mất niềm vui của Bạch Cơ là tra tấn và nô dịch hắn.

“Được, được rồi…” Nguyên Diệu không dám nói không, nước mắt tuôn rơi.

“Ly Nô!” Bạch Cơ gọi mèo đen. Mèo đen đón gió biến lớn lên, khỏe mạnh như một con hổ. Đuôi cũng biến thành chín cái, bay lượn trong gió. Trong bóng đêm, mèo yêu chín đuôi phun lửa xanh, mắt xanh sáng rực.

Bạch Cơ cưỡi lên lưng miêu yêu, áo khoác màu trắng bay trong gió đêm giống như tiên nhân: “Hiên Chi, lên đi.”

Nguyên Diệu nhìn thân hình khổng lồ của Ly Nô và ngọn lửa xanh phun ra từ miệng, sợ hãi: “Đây, đây, Ly Nô huynh…”

“Đồ ngốc, chủ nhân bảo ngươi lên thì lên, còn chần chừ gì nữa?!” Ly Nô mắng.

Nguyên Diệu vội vàng nhảy lên.

Mèo yêu chín đuôi mang Bạch Cơ, Nguyên Diệu đi về phía cổng Kim Quang. Dưới ánh trăng, yêu thú bốn chân nhẹ nhàng nhảy trên mái nhà. Nguyên Diệu ngồi sau Bạch Cơ, kinh ngạc nhìn cảnh vật xung quanh lùi nhanh, gió rít bên tai. Bức tường thành Kim Quang gần ngay trước mắt, khi mèo yêu nhảy lên lần cuối, gần như cao bằng mặt trăng trên bầu trời, họ bay qua tường thành cao ngất. Trong khoảnh khắc đó Nguyên Diệu dường như nhìn thấy cung Quảng Hàn trên mặt trăng.

Mèo yêu đáp vững vàng xuống mặt đất, tường thành hùng vĩ đã ở sau Bạch Cơ và Nguyên Diệu. Mèo yêu dừng lại trong bụi cỏ cao ngang đầu gối, Bạch Cơ bước xuống, cười quái quỷ: “Đêm nay gió mát trăng sáng, tiếp theo đi bộ thì tốt hơn.”

Bạch Cơ đi vào con đường nhỏ trong bụi cỏ.

Nguyên Diệu đi chân trần không muốn xuống đất, cầu xin Ly Nô: “Tiểu sinh không mang giày, xin Ly Nô huynh đệ chơt tiểu sinh thêm đoạn nữa.”

Mèo yêu bốc lửa, ném Nguyên Diệu xuống đất, phun lửa vào hắn: “Mọc sách ngốc không biết ngượng, gia là ngựa của ngươi à?!”

Nguyên Diệu bị lửa yêu thiêu cháy tóc, lau nước mắt: “Huynh ném giày của tiểu sinh xuống giếng, khiến tiểu sinh đi chân trần, giờ chợt tiểu sinh thêm đoạn thì có gì không được?”

Ly Nô hóa thành hình người. Một thiếu niên áo đen mắt rất nhỏ trừng mắt nhìn Nguyên Diệu, mắng: “Đáng đời, ai bảo ngươi để giày hôi bẩn gần cá khô của gia?!”

“Tiểu sinh chỉ để giày ướt dưới gốc cây, ai biết huynh giấu cá khô trong hốc cây…”

“Hừ!” Thiếu niên áo đen hừ một tiếng, vội theo Bạch Cơ, không để ý đến tiểu thư sinh.

“Đi dạo trong cánh đồng vào ban đêm đúng là thoải mái!” Một cơn gió đêm thổi qua, tay áo trắng như tuyết của Bạch Cơ khẽ tung bay, mái tóc hơi vờn nhẹ. nàng quay lại nhìn Nguyên Diệu, cười mỉm nói: “Hiên Chi thấy thế nào?”

Nguyên Diệu nhăn nhó mặt mày: “Tiểu sinh thấy rất không thoải mái. Khi nào mới tới nơi đây, chân tiểu sinh không chịu nổi nữa rồi…”

Trên con đường làng có nhiều đá vụn như dao cứa vào chân trần của Nguyên Diệu, chân hắn đã phồng rộp lên.

Bạch Cơ sờ cằm, vỗ tay: “À, ta nhớ nhầm đường rồi, đáng lẽ phải đi về hướng ngược lại. Hiên Chi, có lẽ chúng ta phải quay lại thôi.”

Bạch Cơ xoay người, nhẹ nhàng đi về đường cũ. Chàng trai áo đen lại biến thành một con mèo đen nhỏ, vui vẻ chạy trong cánh đồng.

“Meo~” Con mèo đen nhìn chàng thư sinh với ánh mắt đầy vẻ hả hê.

Nguyên Diệu muốn khóc mà không được, đành phải quay lại, cất bước theo sau. Đây là kết cục của việc bán mình làm nô lệ, trong lòng hắn chỉ muốn bóp ch ết Vi Ngạn.

“Hiên Chi đừng có mặt mày ủ rũ như vậy.” Bạch Cơ nói.

“Tiểu sinh đau chân không thể cười nổi!”

“Ly Nô cũng đâu có mang giày mà nó chạy rất vui vẻ đấy chứ!”

“Tiểu sinh sao có thể so với Ly Nô, nó là mèo, tiểu sinh là người.”

“Tại sao không thể so? Người và phi nhân đều là chúng sinh.”

“Tiểu sinh nghĩ rằng, người và phi nhân vẫn có sự khác biệt tinh tế.”

“Khác biệt tinh tế gì?”

“Ví dụ như, mang giày hay không mang giày.”

Trong lúc trò chuyện, Bạch Cơ và Nguyên Diệu đi vào một khu rừng. Dưới ánh trăng mờ ảo, một tòa nhà hoa lệ hiện ra trước mắt họ. Cổng sơn đỏ đóng chặt, hai con thú đá cúi thấp đầu, trước cổng treo hai chiếc đèn lồ ng đỏ lớn.

“Đến rồi, là nơi này.” Bạch Cơ cười nói.

Nguyên Diệu mượn ánh sáng từ đèn lồ ng nhìn lên, chỉ thấy trên tấm biển có mấy chữ lớn, nhưng đã rất mờ không thể nhận ra. Nguyên Diệu hỏi: “Người sống ở đây họ gì, tên gì? Là người như thế nào?”

“Người nhà này họ Mã.” Bạch Cơ đáp mơ hồ.

Con mèo đen biến thành chàng trai áo đen, hắn đi đến trước cổng, gõ cửa. Chẳng bao lâu, một thanh niên mặc trang phục người hầu mở cửa: “Tìm ai?”

Ly Nô lịch sự nói: “Xin báo với Mã lão thái quân rằng chủ nhân của ta theo đúng hẹn đến lấy lại căn nhà này.”

“Chủ nhân của ngài là…” Người hầu Mã gia hỏi với vẻ nghi ngờ.

Ly Nô cười: “Phiêu Miểu các, Bạch Cơ.”

“À!” Người hầu Mã gia có vẻ kinh ngạc, vội nói: “Xin chờ một chút, ta sẽ vào báo với thái quân ngay.”

Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô đứng đợi ngoài cửa, chẳng bao lâu sau, từ bên trong vang lên những tiếng bước chân gấp gáp. Hai cánh cửa gỗ được mở ra, người ra đón ngoài người hầu mở cửa lúc trước còn có năm nam nhân trung niên mặc áo màu nâu đỏ. Nhìn vào trang phục và phong thái của năm người này, có vẻ họ là chủ nhân Mã gia. Năm người trông rất giống nhau, có lẽ là huynh đệ.

Người lớn tuổi nhất khoảng năm mươi tuổi, mặt trắng có râu, hắn chắp tay với Bạch Cơ nói: “Không biết Bạch Cơ đại nhân đến đây, Mã đại hơi thất lễ, xin thứ lỗi.”

Bạch Cơ che miệng cười: “Ta đến thăm thái quân, sức khỏe của bà gần đây thế nào?”

“Mẫu thân ta khỏe mạnh, cảm ơn ngài đã quan tâm. Mẫu thân đang đợi ngài ở đại sảnh, xin mời vào, xin mời vào.” Mã đại mời Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô vào phủ.

Nguyên Diệu bước vào phủ họ Mã, trong lòng kinh ngạc. Phủ họ Mã rất lớn, dưới ánh trăng nhìn thấy lầu cao chồng chất, nếu không phải cung điện của vua chúa thì cũng là phủ đệ tiên cảnh. Đi tiếp một đoạn, Nguyên Diệu càng ngạc nhiên hơn khi thấy trong phủ đầy người. Bên cạnh núi giả, trong đình đài, trên lầu gác, bên hồ nước, đâu đâu cũng đầy người. Và tất cả đều là nam nhân. Những người này đều mặc trang phục màu nâu giống nhau, đang bận rộn vận chuyển đồ đạc. Nguyên Diệu để ý xem họ đang vận chuyển thứ gì nhưng không nhìn rõ, hắn cảm giác dường như là thức ăn, nhưng không thể nhận ra.

Bạch Cơ nhìn Mã đại và bốn người huynh đệ của ông, lạnh nhạt nói: “Ta nhớ lần trước gặp, các ngươi không chỉ có năm người đúng không?”

Mã đại thở dài, nước mắt tuôn rơi: “Đầu mùa hạ, để nhà mới có thể hoàn thành sớm, lão lục, lão thất, lão bát, lão cửu, lão thập mạo hiểm đi đến bờ sông vận chuyển bùn cát, không ngờ nước sông dâng cao, họ đều bị cuốn trôi, đến giờ sống không thấy người, chết không thấy xác, hu hu…”

“Hu hu…” Có lẽ nhắc đến chuyện đau lòng, bốn người huynh đệ của Mã đại cũng khóc theo.

Bạch Cơ an ủi: “Người tốt có số mệnh tốt. Vì không tìm thấy xác nên có lẽ họ vẫn còn sống ở đâu đó.”

Mã đại lau nước mắt: “Chúng ta cũng nghĩ vậy, nếu không nghĩ thế thì thật sự đau lòng không sống nổi.”

“Nhà mới đã hoàn thành chưa?” Bạch Cơ hỏi.

“Dự định hoàn thành vào lập hạ, nhưng vì lão lục, lão thất, lão bát, lão cửu, lão thập gặp chuyện nên trễ tiến độ. Tuy nhiên, cũng kịp hoàn thành vào mùa mang chủng. Ngài xem, mọi người đang chuyển đồ sang nhà mới, tối nay có thể trống căn nhà này rồi.”

“Ừ, vậy sáng mai ta sẽ mang căn nhà này về Phiêu Miểu các.” Bạch Cơ đáp lại một cách vô tình.

Nguyên Diệu ngỡ ngàng. Hóa ra, những người này đang bận rộn chuyển nhà. Nhưng Bạch Cơ lại quá gấp gáp, để họ ở thêm vài ngày có gì đâu, sao lại đuổi họ đi giữa đêm? Đợi đã, mang căn nhà này về Phiêu Miểu các? Căn nhà lớn thế này làm sao mang về được?

Mã đại dẫn Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô đến một đại sảnh lộng lẫy. Đại sảnh đèn đuốc sáng trưng trang trí cực kỳ sang trọng. Một bà lão rất mập mạp mặc áo dài màu đỏ thẫm thêu kim tuyến, ngồi cười mỉm trên ghế, xung quanh có rất nhiều người hầu vây quanh như các vì sao vây quanh mặt trăng. Nguyên Diệu thấy lạ, vì những người hầu bên cạnh bà lão đều là nam giới mặc áo nâu. Theo lý, ở nhà giàu, người hầu cận nữ chủ nhân thường là các nàng tỳ nữ mới đúng chứ?

Mã đại bước lên, quỳ xuống hành lễ: “Thưa mẫu thân, con đã đưa Bạch Cơ đại nhân tới.”

Mã lão thái quân khẽ gật đầu, quay sang nhìn Bạch Cơ, cười nói: “Lão thân không tiện đứng dậy chào đón, xin mời ngồi.”

Mã lão thái quân thực sự quá mập, thân hình to lớn như núi, lớp mỡ thừa gần như chiếm toàn bộ chiếc ghế. Nhìn dáng vẻ, bà không chỉ khó đứng dậy mà có lẽ cử động thôi cũng rất khó khăn.

“Lão thái quân không cần khách sáo.” Bạch Cơ cười nói. Người hầu mang đến một chiếc ghế, Bạch Cơ ngồi xuống. Nguyên Diệu và Ly Nô đứng sau lưng nàng.

Mã phu nhân nói với Bạch Cơ: “Mùa thu năm ngoái gia tộc gặp nạn, nhờ có Bạch Cơ cho mượn căn nhà này mà lão thân và các con cháu mới có chỗ trú thân, thật sự không biết cảm ơn thế nào cho đủ.”

Bạch Cơ cười đáp: “Thái quân quá lời rồi.”

Mã phu nhân cười nói: “Ân tình của Bạch Cơ, lão thân không cách nào báo đáp. Đêm nay là đêm cuối cùng trong căn nhà này, lại đúng dịp Bạch Cơ đến, chi bằng tổ chức một buổi tiệc tối để tiếp đãi Bạch Cơ?”

Sắc mặt Bạch Cơ hơi biến đổi, dường như muốn từ chối: “Chuyện này… không cần đâu…”

“Có mật hoa kính!” Mã phu nhân cười tươi nhìn Bạch Cơ.

“Vậy thì không bằng tuân lệnh.” Bạch Cơ cười đổi ý.

Nguyên Diệu ngạc nhiên. Nhìn sắc mặt của Bạch Cơ, rõ ràng là không muốn tham dự buổi tiệc này, nhưng vừa nghe nói có mật hoa kính thì lập tức đổi ý. Mật hoa kính là gì? Có thể khiến con rồng xảo trá bụng đen này động lòng?

Mã phu nhân nói với Mã Đại: “Hãy truyền lệnh tổ chức yến tiệc tại hoa sảnh để tiếp đãi khách.”

“Vâng thưa mẫu thân.” Mã Đại nhận lệnh rồi đi.

Trong lúc chờ yến tiệc, Mã phu nhân và Bạch Cơ bắt đầu trò chuyện. Có những lời Nguyên Diệu hiểu, có những lời Nguyên Diệu nghe mà không hiểu gì. Bạch Cơ hỏi Mã phu nhân: “Không biết, thái quân đã xây nhà mới ở đâu rồi?”

Mã phu nhân cười nói: “Ngay gần căn nhà này, có một cây hòe già.”

Nguyên Diệu thầm ngạc nhiên. Lúc nãy đi đến đây, hắn thấy một cây hòe già trong rừng, nhưng làm gì có ngôi nhà nào?!

Bạch Cơ cười: “Vậy thì tốt quá, dọn đồ cũng tiện lợi.”

“Phải đấy. Nhưng chủ yếu là vì phong thủy ở đây tốt, lão thân không nỡ dời đi.”

Bạch Cơ cười nói: “Thái quân vốn đã có phúc, cộng thêm phong thủy nơi này, chắc chắn con cháu sẽ hưng thịnh, gia tộc phát đạt.”

“Haha, cảm ơn lời chúc của nàng.” Mã phu nhân rất vui, bà nhìn Nguyên Diệu phía sau Bạch Cơ một cái, chợt sững sờ: “Vị công tử trẻ này là ai?”

Bạch Cơ cười nói: “Đây là gia nhân mới đến của Phiêu Miểu các. Hiên Chi, còn không mau đến chào Mã phu nhân.”

Nguyên Diệu nghe vậy, bước tới trước mặt Mã phu nhân, cúi chào: “Tiểu sinh Nguyên Diệu, tự Hiên Chi, xin chào thái quân.”

Mã phu nhân bất ngờ nắm lấy tay Nguyên Diệu, nhìn hắn, nước mắt lưng tròng: “Chàng thanh niên này thật giống với cửu nhi đã mất của lão thân. Cửu nhi mệnh khổ của ta, từ khi bị dòng nước cuốn trôi bên sông, đến nay không rõ tung tích, sống chết chưa rõ…”

Mã phu nhân khóc đến đau lòng, nghẹn ngào rồi ngất xỉu. Các nam hầu hốt hoảng, vội vã vây quanh, người bưng nước, người đấm lưng, người bấm huyệt nhân trung, tất cả nhốn nháo cả lên.

“Thái quân, tỉnh lại đi!”

“Thái quân, xin đừng đau lòng nữa!”

“Thái quân, người phải giữ gìn sức khỏe…”

Nguyên Diệu hoảng hốt, không biết chuyện gì đang xảy ra. Mã Đại vừa lau nước mắt, vừa giải thích: “Trong mười huynh đệ chúng ta, nương ta thương nhất là cửu đệ. Sau khi Cửu nhi bị nước cuốn trôi, bà cụ không ăn không uống, cả ngày rơi lệ. Nhìn kỹ, Nguyên công tử thật sự rất giống cửu đệ, nương ta tuổi đã cao, đôi lúc hơi lẫn lộn, chắc chắn là nhận nhầm hắn thành cửu đệ rồi…”

Không lâu sau, Mã phu nhân từ từ tỉnh lại, đưa tay gọi Nguyên Diệu, mắt đẫm lệ: “Cửu nhi, con cuối cùng đã về! Mau lại đây, để nương nhìn con kỹ hơn…”

Nguyên Diệu do dự. Bạch Cơ khẽ nói: “Thái quân đã nhận nhầm ngươi là Cửu nhi, ngươi cứ giả làm Cửu nhi để an ủi bà cụ đi. Chữa lành trái tim người khác cũng là một cách tích đức.”

Mã Đại dùng ánh mắt van xin nhìn Nguyên Diệu: “Nguyên công tử xin hãy làm phúc, giả làm Cửu để để an ủi nương ta một chút.”

Nguyên Diệu vốn lương thiện, lại dễ mềm lòng, không bao giờ từ chối ai. Hơn nữa, bà cụ hiền từ trước mắt này khiến hắn nhớ đến nương đã khuất, lập tức bước tới gần Mã phu nhân.

Mã phu nhân ôm chặt Nguyên Diệu vào lòng, vừa khóc vừa gọi: “Cửu nhi khổ mệnh của nương…” Nguyên Diệu bị Mã phu nhân ôm chặt, chỉ cảm thấy bị bao bọc bởi một lớp thịt mềm mại, không thể thở nổi, cũng không thể thoát ra.

Đúng lúc Nguyên Diệu sắp ngạt thở, Mã phu nhân mới buông hắn ra, giơ tay nắm lấy mặt hắn, nước mắt lưng tròng: “Cửu nhi, con gầy quá, nhìn bộ xương này không giống Cửu nhi béo trắng trước đây… Chắc con đã chịu nhiều khổ cực bên ngoài, Cửu nhi khổ mệnh của nương…”

Mã phu nhân vừa kêu đau lòng vừa khóc to, lại ôm chặt Nguyên Diệu vào lòng mà xoa. Nguyên Diệu bị Mã phu nhân xoa đến mức không còn sức lực, yếu ớt nói với Bạch Cơ: “Cứu… cứu ta…”

Bạch Cơ che miệng cười.

Mọi người đang ồn ào, một người hầu bước vào bẩm báo: “Thái quân, hoa sảnh đã chuẩn bị xong yến tiệc.”

Mã phu nhân nghe vậy, nói với Bạch Cơ: “Vậy thì đi hoa sảnh nhé?”

“Khách nghe theo chủ.” Bạch Cơ cười đáp.

Mã phu nhân không nỡ buông Nguyên Diệu, kéo hắn ngồi xuống bên cạnh: “Cửu nhi ngồi với nương.”

Nguyên Diệu bị xoa đến mức không còn sức, dựa vào Mã phu nhân ngồi, nhìn cái gì cũng mơ màng. Tám nam hầu lực lưỡng đến bên giường gỗ, cúi người nâng cả giường lẫn người, khiêng Mã phu nhân và Nguyên Diệu đi về hướng hoa sảnh.

Bạch Cơ, Ly Nô, và năm huynh đệ họ Mã theo sau.

Nguyên Diệu để chân trần đung đưa bên cạnh giường gỗ, Mã phu nhân thấy vậy, cười hiền từ nói: “Cửu nhi, con vẫn không bỏ được thói quen thích đi chân trần. Không mang giày dép cẩn thận đá nhọn trên đường làm đau chân!”

Chỉ một câu quan tâm đơn giản mà làm lòng Nguyên Diệu chua xót, ấm áp. Hắn nhớ đến nương của mình.

“Con sẽ nhớ mang giày dép, nương không cần lo lắng.” Nguyên Diệu cười đáp lời Mã phu nhân.

Mã phu nhân nghe vậy thì mắt đỏ hoe, lại ôm chặt Nguyên Diệu mà x0a nắn: “Cửu nhi, Cửu nhi, đứa con khổ mệnh của nương…”

Mọi người đến hoa sảnh, hoa sảnh đèn đuốc sáng trưng, hoa trong bình tươi tắn. Một chiếc bàn gỗ hoa lê dài khoảng bảy mét, rộng khoảng hai mét được đặt ở trung tâm hoa sảnh, trên bàn bày đầy sơn hào hải vị. Các nam hầu đặt giường La Hán của Mã phu nhân ở vị trí cao nhất. Mã phu nhân cười nói với Bạch Cơ và Ly Nô: “Mời Bạch Cơ ngồi, mời Ly Nô cũng ngồi.”

Bạch Cơ và Ly Nô ngồi vào ghế khách. Năm huynh đệ họ Mã ngồi phía dưới.

Nguyên Diệu ngồi bên cạnh Mã phu nhân, nhìn những món ăn trước mắt, trong lòng hơi kỳ lạ. Những món ăn này bày trong các đ ĩa đẹp mắt, tỏa ra mùi thơm quyến rũ, nhưng không phải là rau tươi hay hải sản, cũng không phải là những món thịt quen thuộc, hoàn toàn không thể nhận ra nguyên liệu gì được dùng để nấu nướng.

Sau rèm ngọc, vài nhạc công mặc áo nâu cầm nhạc cụ tấu lên khúc nhạc, nhẹ nhàng và du dương.

Mã phu nhân nói với Bạch Cơ: “Món ăn thô sơ, mong đừng chê bai.”

“Thái quân khách sáo rồi. Món ăn phong phú thế này, sao có thể thô lậu?” Bạch Cơ cười nói. Nhưng nàng hầu như không động đũa, chỉ uống mật hoa kính trong ly hổ phách.

Ly Nô thì ăn uống rất vui vẻ.

Mã phu nhân cười hỏi: “Mật hoa kính năm nay có hương vị thế nào?”

“Rất ngon.” Bạch Cơ cười nói: “Đêm xuân phân, ta cũng định đến hồ Nguyệt lấy ít mật hoa, nhưng tiếc là có việc bận. Đêm thứ hai đến hồ Nguyệt thì mật hoa đã hết rồi.”

“Mật hoa kính là thứ tốt. Thành Trường An có biết bao yêu ma quỷ quái hàng năm đều chờ đến đêm xuân phân, khi hoa kính nở rộ để đến hồ Nguyệt lấy mật. Người đông ít của, đi muộn thì tất nhiên không còn. Lão thân năm nay đi sớm nên lấy được không ít, ngày mai sẽ tặng nàng một ít mang về Phiêu Miểu các.”

Bạch Cơ cười nói: “Vậy xin đa tạ thái quân.”

Nguyên Diệu tò mò uống một ngụm mật hoa kính, mật có màu vàng trong, khi uống vào miệng thì mát như nước, nhưng lại mang vị ngọt khó tả, khiến người ta tinh thần sảng khoái. Nguyên Diệu vừa định uống ngụm thứ hai, Mã phu nhân thương yêu nhìn hắn: “Con trai của nương, con gầy như thế này, sao lại cứ uống nước? Nào, mở miệng ra, ăn thêm thịt đi…”

Mã phu nhân gắp một ít thịt, cứ thế nhét vào miệng Nguyên Diệu. Nguyên Diệu không từ chối được lòng nhiệt tình của bà lão, nuốt hết vào bụng, một vị tanh, béo ngậy tràn ngập trong miệng hắn.

Nguyên Diệu thắc mắc: “Những món này là gì mà sao tanh thế?”

Mã phu nhân cười tươi nói: “Con ơi, đây là những món con thích ăn mà!”

Mã phu nhân bưng một đ ĩa bạc hoa sen, bên trong là thịt trắng, lấp lánh như tuyết. Bà dùng thìa bạc múc một miếng thịt, đút vào miệng Nguyên Diệu: “Món thịt hấp này không tanh, nào con trai của nương ăn thêm vài miếng nữa đi…”

Thịt trắng tan trong miệng, mềm mại, quả thật không tanh, còn hơi ngọt thanh. Nguyên Diệu ăn thêm vài miếng, rất thích thú.

Mã phu nhân lại bưng một đ ĩa bạc hoa sáu cánh, bên trong là những thứ chiên vàng giòn. Bà dùng đũa ngà gắp một miếng, đút vào miệng Nguyên Diệu: “Con trai của nương, con gầy đến chỉ còn da bọc xương, thật tội nghiệp, lần này về, chắc chắn phải ăn nhiều một chút…”

Nói rồi, bà lại rơi nước mắt.

Nguyên Diệu thấy chua xót, không muốn làm bà buồn, lập tức mở miệng ăn. Món này không biết là gì, lớp vỏ vàng giòn bọc bên trong là thịt đen, ăn rất tanh. Nguyên Diệu ăn ba miếng, thực sự không thể ăn thêm, nhưng bà lão vẫn muốn gắp thêm cho hắn. Nguyên Diệu vội vàng cầm một bát canh từ bàn lên, nói: “Con vẫn thích uống canh hơn.”

Lo sợ bà lão lại đút cho mình món chiên vàng kia, Nguyên Diệu vội uống một ngụm canh, làm đầy miệng. Canh có vị rất ngon. Hắn còn ăn vài viên tròn đen trong canh, cảm giác giống như trứng cút, nhưng lòng trắng màu đen, lòng đỏ màu đen.

Mã phu nhân nhìn, lại lau nước mắt: “Con trai của nương, con vẫn không bỏ được thói quen ăn canh trân châu, món đó ăn nhiều sẽ đầy bụng, phải ăn ít thôi…”

Trong buổi yến tiệc, Mã phu nhân coi Nguyên Diệu như đứa con mất tích nay đã tìm lại được, liên tục đút cho hắn ăn. Nguyên Diệu tốt bụng, sợ bà lão buồn nên cứ ăn liên tục. Nhìn bà lão vui vẻ cười, Nguyên Diệu dù bụng no căng khó chịu nhưng trong lòng lại rất vui. Có thể làm một bà lão mất con cười rạng rỡ, hắn ăn thêm chút cũng có sao đâu?

Bạch Cơ vừa uống mật hoa kính vừa nghe nhạc công tấu nhạc. Ly Nô và các huynh đệ họ Mã vừa uống rượu vừa chơi trò đoán số, tiếng cười không ngớt. Ánh trăng trong trẻo, hoa trong bình tươi tắn, không khí yến tiệc thật hòa hợp và vui vẻ.

Yến tiệc đến lúc kết thúc, Nguyên Diệu đã no căng đến mức không còn tỉnh táo, hắn lờ mờ nghe thấy Mã phu nhân nói với Bạch Cơ: “Đêm đã khuya, sợ rằng trở về thành không tiện, chi bằng nghỉ lại đây?”

Bạch Cơ cười đáp: “Cũng được.”

Nguyên Diệu lại nghe thấy có người báo: “Bẩm thái quân, thư sinh nghèo ở bên cạnh nói phủ chúng ta ồn ào quá, khiến hắn không ngủ được, xin thái quân khi mở yến tiệc bớt làm ồn lại.”

Mã phu nhân thở dài: “Đứa trẻ đáng thương, lão thân quên mất mắt hắn chưa khỏi, làm ồn giấc ngủ của hắn… Ngươi đi nói với hắn, yến tiệc đã xong, bảo hắn yên tâm nghỉ ngơi. Ngoài ra, hãy mang ít thảo dược và thức ăn cho hắn…”

Mã Đại nói: “Tên mọt sách nghèo đó vừa hôi vừa chua lại lắm mồm, chi bằng con dẫn người đến đánh hắn đi, sao phải mang thảo dược và thức ăn cho hắn?”

Mã phu nhân quát lớn: “Im miệng! Chúng ta là gia đình có địa vị, làm sao có thể làm những việc cậy thế ức h**p người khác như vậy?! Dù gì chúng ta cũng đã làm hàng xóm với đứa trẻ ấy nửa năm rồi, sau này cũng sẽ tiếp tục làm hàng xóm, không thể đắc tội với người ta. Hàng xóm láng giềng, bất kể địa vị thế nào đều nên sống hòa thuận, giúp đỡ lẫn nhau thì mới có thể mọi người đều yên ổn, hạnh phúc. Người xưa nói rất đúng, giúp người là giúp mình. Các con còn trẻ, khí thế bức người, sau này chắc chắn sẽ vì thế mà chịu thiệt…”

Giọng mắng mỏ của Mã phu nhân dần dần mờ đi, Nguyên Diệu đã bị đưa vào phòng khách để nghỉ ngơi.

Nguyên Diệu ngủ say, trong mơ hắn đi trong một khu rừng. Phía trước không xa là một gò đất nhỏ, trên gò đất có một thư sinh trẻ tuổi đang r3n rỉ “Ai da ai da”. Nguyên Diệu thấy lạ, bước tới hỏi: “Huynh đài, huynh sao vậy?”

Thư sinh nhắm mắt lại, nghe thấy có người hỏi mình, thở dài một hơi: “Ai da! Mắt của ta đau quá. Huynh đệ, huynh có thể giúp ta không?”

Nguyên Diệu hơi khó xử: “Tiểu sinh không biết y thuật, không biết làm thế nào để chữa bệnh về mắt…”

“Không biết y thuật cũng không sao. Huynh đệ, hắn giúp ta xem trong mắt ta có gì không, đau không chịu nổi nữa rồi!”

Nguyên Diệu sinh lòng thương hại: “Nửa đêm tiểu sinh đi chân trần trên đường núi nên chân rất đau, còn chảy máu. Đau chân còn không chịu nổi huống chi là mắt? Huynh đài, tiểu sinh không chắc có thể giúp được, nhưng có thể nhìn xem trong mắt huynh có gì.”

“Cảm ơn huynh đệ.” Thư sinh vui mừng nói: “Huynh đệ, nếu huynh chữa khỏi mắt cho ta, ta sẽ tặng huynh một đôi giày.”

Nguyên Diệu ngồi bên cạnh thư sinh, bảo hắn mở mắt. Dưới ánh trăng, thư sinh từ từ mở mắt, trong mắt hắn không có con ngươi, mấy nhánh cỏ dại mọc từ hốc mắt ra, còn có một con châu chấu nhảy ra ngoài, nhìn rất kỳ quái và đáng sợ.

“Trong mắt ta có gì?” Thư sinh nôn nóng hỏi Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu sợ đến mức trợn trắng mắt, ngất đi.

Khi Nguyên Diệu tỉnh dậy đã là buổi sáng. Ánh nắng rực rỡ, chim hót núi yên, hắn đang nằm trong một bụi cỏ hoang, trên đầu là một tán cây như cái ô, không có Mã phủ hoa lệ như cung điện, cũng không có thư sinh có cỏ mọc trong mắt, thậm chí cả Bạch Cơ và Ly Nô cũng không thấy đâu.

Nguyên Diệu giật mình: “Bạch Cơ, Ly Nô lão đệ, các người đâu rồi?! Bạch Cơ, Bạch Cơ ngươi ở đâu?!”

“Hiên Chi đừng làm ồn, để ta ngủ thêm chút nữa…” Giọng lười biếng của Bạch Cơ vang lên từ trên đầu.

Nguyên Diệu ngẩng đầu theo tiếng gọi. Một con rồng trắng to bằng cánh tay đang cuộn mình trên cành cây ngủ. Mắt rồng trắng khẽ nhắm, cánh mũi nhẹ nhàng phập phồng, toàn thân trắng như tuyết, sừng xoắn lại như san hô, thân mềm mại như mây. Một con mèo đen nhỏ cũng lười biếng ngủ bên cạnh rồng trắng.

“Bạch Cơ, Mã phủ và Mã phu nhân đâu rồi?! Còn nữa, đêm qua ta mơ thấy một thư sinh có cỏ mọc trong mắt, đáng sợ quá!!” Nguyên Diệu kích động múa tay múa chân.

“Ồn chết đi được!” Mèo đen không kiên nhẫn nói: “Mọt sách có cỏ mọc trong mắt nằm ở chỗ kia phải không?”

Nguyên Diệu nhìn theo ánh mắt của Ly Nô, thấy cách đó chừng mười bước có một ngôi mộ hoang phế. Một bộ xương trắng toát lộ ra dưới ánh nắng, trong hốc mắt đầy cỏ dại.

“Nương ơi!” Nguyên Diệu sợ ngã lăn ra đất.

“Ôi! Ly Nô, Hiên Chi nhát gan, ngươi lại dọa hắn rồi.” Rồng trắng trách móc mèo đen, nhưng giọng điệu lại rất vui vẻ.

Nguyên Diệu trấn tĩnh lại, bước chân về phía ngôi mộ hoang. Hắn nhớ lại dáng vẻ đau mắt của thư sinh đêm qua, trong lòng lại thấy thương bèn nhổ hết cỏ trong mắt bộ xương ra. Nguyên Diệu vẫn đi chân trần, mỗi bước đi trên mặt đất, chân lại bị đá nhọn đâm đau nhức. Nguyên Diệu đến trước bộ xương, bắt đầu nhổ cỏ trong mắt bộ xương. Dù sao cũng là người đọc sách, hy vọng hắn không còn đau mắt nữa.

Sau khi nhổ sạch cỏ trong mắt bộ xương, Nguyên Diệu cúi chào: “Hy vọng huynh đài từ nay mắt sẽ không còn đau nữa. Tiểu sinh xin cáo từ.”

Bộ xương với hốc mắt trống rỗng nhìn Nguyên Diệu, đường nét hàm trên và hàm dưới trông như đang mỉm cười.

Khi Nguyên Diệu quay lại dưới gốc cây, rồng trắng và mèo đen đã biến thành hình người.

Một thiếu nữ áo trắng yêu kiều và một thiếu niên áo đen thanh tú. Bạch Cơ lấy một chiếc lá chuối làm quạt, quạt nhẹ: “Mặt trời đã lên, trời cũng nóng rồi, hay là về Phiêu Miểu Các thôi.”

“Bạch Cơ, Mã phủ đâu rồi? Không phải ngươi đến thu nhà sao?” Nguyên Diệu không nhịn được hỏi.

“Mã phủ ngay dưới chân ngươi đấy.” Bạch Cơ cười nói.

Nguyên Diệu cúi đầu. Một ngôi nhà gỗ chạm khắc tinh xảo được đặt tĩnh lặng giữa đám cỏ dại. Ngôi nhà gỗ này có kích thước bằng một bàn cờ, với ba lớp trong, ba lớp ngoài, điêu khắc cực kỳ tinh tế, từ núi giả, vườn hoa, đình đài, lầu các đều có đủ, sống động như thật.

Nguyên Diệu ngồi xuống nhìn kỹ, nhận ra đây là Mã phủ mà tối qua hắn và Bạch Cơ, Ly Nô đến. Ánh mắt của Nguyên Diệu dời đến hoa sảnh, thấy ở giữa hoa sảnh có đặt một bàn gỗ lê rất lớn, trên bàn dường như còn thừa lại những món ăn thừa của tiệc tối.

Trước cửa viện, một con kiến màu nâu chậm rãi bò xuống bậc thềm, đi vào đám cỏ.

Kiến? Mã phủ? Trong đầu Nguyên Diệu sáng lên ý nghĩ, mặt đen lại hỏi: “Bạch Cơ, chúng ta tối qua không phải là ở trong tổ kiến chứ?”

*Âm hán việt của kiến là Mã Nghị 螞蟻 ạ

“Có hay không thì liên quan gì? Dù sao, bữa tiệc tối qua cũng rất vui mà.” Bạch Cơ che miệng cười.

Nhắc đến tiệc tối, Nguyên Diệu mới nhận ra bụng mình vẫn còn no căng, chắc đến mai cũng không thấy đói. Tối qua, hắn đã ăn quá no rồi.

“Hiên Chi cầm lấy ngôi nhà gỗ này, có thể hơi nặng, cẩn thận đừng làm hỏng.” Bạch Cơ nói với Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu nâng ngôi nhà gỗ lên, hắn cuối cùng cũng hiểu ra căn nhà mà Bạch Cơ đến thu hồi là căn nhà gỗ cho kiến ở. Nguyên Diệu nghĩ đến gương mặt hiền từ phúc hậu của Mã phu nhân thì lòng hơi buồn bã.

“Bạch Cơ, nhà mới của kiến ở đâu?”

“Tối qua, Mã phu nhân nói ở dưới một cây hòe già. Nhìn kia, chắc là chỗ đó.” Bạch Cơ chỉ vào một cây hòe già không xa.

Bạch Cơ, Nguyên Diệu, và Ly Nô đi đến dưới cây hòe già, thấy dưới gốc cây có một cái hố lớn, một đàn kiến đỏ nâu đang bận rộn ra vào. Nguyên Diệu cúi xuống nhìn vào trong hố cây, thấy một con kiến cái lớn, có màu đen pha vàng, được đàn kiến bao quanh, nằm sâu trong tổ kiến. Đó là Mã phu nhân thân thiện ôm hắn, gắp thức ăn cho hắn tối qua.

Không biết tại sao, lòng Nguyên Diệu chua xót, nước mắt rơi xuống. Mã phu nhân từ ái, làm hắn nhớ đến nương mình, hóa ra lại là một con kiến.

Trên cành cây hòe ngoài tổ kiến treo ba thứ giống như những chiếc đèn lồ ng nhỏ, có vẻ như là hoa của một loại cây nào đó, trong hoa chứa mật vàng óng.

“À! Đây là mật hoa kính mà Mã phu nhân tặng!” Bạch Cơ vui mừng nói.

Nguyên Diệu lau khô nước mắt, trong lòng vẫn không thể diễn tả hết nỗi buồn.

Trên đường trở về Trường An, Bạch Cơ và Ly Nô bước đi nhẹ nhàng phía trước, Nguyên Diệu ôm ngôi nhà gỗ lững thững theo sau, chân đầy những vết phồng rộp, rất đau. Bất chợt, Nguyên Diệu bị một cành cây vướng vào chân. Hắn cúi xuống nhìn, thấy một đôi giày cỏ dệt nằm trong đám cỏ.

“Ủa? Sao ở đây lại có đôi giày cỏ?” Nguyên Diệu mừng rỡ.

Bạch Cơ nhìn đôi giày, che miệng cười: “Hiên Chi, đây là có người đặc biệt làm cho ngươi đấy. Còn không mau mang vào?”

“Nếu ngươi chữa được bệnh mắt cho ta, ta sẽ tặng ngươi một đôi giày.” Nguyên Diệu nhớ lại lời của thư sinh tối qua, lòng chợt kinh ngạc, chẳng lẽ là bộ xương làm cho hắn?!

Bạch Cơ giục Nguyên Diệu mang vào, Nguyên Diệu cũng không muốn đi chân trần nữa, bèn cắn răng mang vào. Giày cỏ rất vừa chân, rất thoải mái, tiểu thư sinh bước đi thoăn thoắt, mặt đầy vẻ vui tươi. Bạch Cơ thấy vậy, lại bắt đầu tính toán niềm vui mới: “Hiên Chi à, bữa tiệc tối qua, ngươi thấy các món ăn có ngon không?”

Tiểu thư sinh vui vẻ nói: “Dù có một số món hơi tanh và ngậy, nhưng rất ngon.”

“Ngươi muốn biết những món ăn đó làm từ gì không?” Bạch Cơ cười gian.

Tiểu thư sinh xoa cái bụng no căng, tò mò: “Làm từ gì?”

“Hiên Chi thích món nào nhất?”

“Thịt hầm, béo mà không ngấy, rất ngon miệng…” Tiểu thư sinh nhớ lại.

“Đó là giòi.”

“Thịt chiên vàng giòn thơm…”

“Đó là chân nhện.”

“Món canh viên trân châu…”

“Đó là trứng muỗi.”

Trước khi Nguyên Diệu cúi xuống nôn mửa, Ly Nô vội chộp lấy ngôi nhà gỗ. Trên đường về Phiêu Miểu Các ở thành Trường An, chân Nguyên Diệu không còn đau nữa, nhưng lại nôn thốc nôn tháo, gần như nôn cả mật đắng ra.

Bạch Cơ chớp mắt, cười nói: “Hiên Chi, Mã phu nhân rất thích ngươi, biết đâu còn mời người đến dự bữa tiệc trăm côn trùng… Cửu nhi à, ngươi phải quen ăn côn trùng đi, nếu không mẫu thân sẽ buồn…”

“Tiểu sinh… có chết cũng không đi nữa…” Nguyên Diệu mặt mếu máo nói.

“Hiên Chi đừng mếu máo vậy mà.” Bạch Cơ nói.

“Tiểu sinh đau bụng quá không cười nổi!”

“Ly Nô cũng ăn rất nhiều côn trùng mà? Nó đâu có nôn?”

“Tiểu sinh sao có thể so với Ly Nô, nó là mèo, tiểu sinh là người.”

“Sao lại không thể so? Người và không phải người, đều là chúng sinh.”

“Tiểu sinh nghĩ, người và không phải người vẫn có sự khác biệt tinh tế.”

“Khác biệt tinh tế gì?”

“Ví dụ, có ăn côn trùng hay không.”

Ánh nắng rực rỡ, gió trong lành, Bạch Cơ, Nguyên Diệu, và Ly Nô đi về Phiêu Miểu Các trong thành Trường An. Hôm nay, có ai lại đến mua d ục vọng không nhỉ?

Hoàn quyển 1

Ngày nào đẹp trời sẽ lại mở quyển 2, hi hi
 
Back
Top Dưới