Huyền Huyễn Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn

Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 20: Tác trùng


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Quyển 3: Trúc Phu Nhân

Chương 6: Tác trùng

Khi Bạch Cơ xuống lại, đã là một thân nam trang, phong thái oai hùng.

Bạch Cơ và Nguyên Diệu cùng ngồi xe ngựa của Vi Ngạn đến chùa Thanh Long. Vi Ngạn nói rõ ý định, tăng nhân dẫn ba người vào chùa, đưa đến phòng thiền của Hoài Tú.

Trong phòng thiền, Hoài Tú nằm ngửa trên giường, mặt vàng như giấy, môi trắng bệch. Hốc mắt hắn sâu hoắm, gò má nhô cao, cả người gần như đã gầy thành một bộ xương. Đôi mắt hắn khép hờ, không có thần thái, tay vẫn nắm chặt Trúc phu nhân.

Tiểu hòa thượng lần trước vô tình làm bẩn tấm cà sa bảy màu đang chăm sóc Hoài Tú, đổ cháo gạo vào miệng hắn, nhưng Hoài Tú nghiến răng chặt, cháo gạo tràn ra khỏi môi, chảy dọc theo cổ xuống gối.

Tiểu hòa thượng thở dài một tiếng, nói với Vi Ngạn, Bạch Cơ, Nguyên Diệu: “Than ôi, cũng không biết là yêu quái gì quấy nhiễu, làm cho trụ trì trở thành như thế này, không ăn không uống, hôn mê bất tỉnh, đã bảy ngày rồi. Mọi người đã bắt đầu chuẩn bị hậu sự cho trụ trì viên tịch. A Di Đà Phật, thiện tai thiện tai.”

Vi Ngạn nhìn thiền sư Hoài Tú hôn mê, nhíu mày: “Nhìn thiền sư thế này e là khó mà cứu được nữa rồi.”

Tiểu hòa thượng lại thở dài một tiếng, đứng dậy: “Ba vị thí chủ ngồi một lát, tiểu tăng đi pha trà.”

Tiểu hòa thượng chắp tay xá một cái rồi xuống pha trà.

Nguyên Diệu nhìn thiền sư Hoài Tú, rất lo lắng. hắn thấy thiền sư Hoài Tú vẫn nắm chặt trúc phu nhân, muốn giúp hắn tháo ra. Nhưng dù hắn cố gắng thế nào, cũng không tháo ra được.

“Tại sao lại không tháo ra được?” Nguyên Diệu ngạc nhiên.

“Bởi vì trúc phu nhân bị Tâm tuyến của hắn quấn chặt, tâm ma của hắn đã hóa thành ‘sâu’ rồi.” Bạch Cơ đưa tay vuốt qua thân thể Hoài Tú, nói.

Khi Bạch Cơ vuốt qua thân thể Hoài Tú, Nguyên Diệu nhìn thấy một cảnh tượng khiến hắn sởn gai ốc. Thân thể Hoài Tú bị quấn chặt bởi những sợi tơ mỏng, từng lớp gói lại như một cái bánh chưng. Trúc phu nhân cũng bị quấn trong thân thể Hoài Tú. Nhìn kỹ thì trên sợi tơ trong suốt bò đầy những con sâu nhỏ đang bò lúc nhúc. Những con sâu nhỏ này xuất phát từ thân thể Hoài Tú, chúng không ngừng chui ra từ mắt, tai, mũi, miệng của hắn, phủ kín lên thân thể hắn, hút lấy tinh khí, máu thịt của hắn.

Trán Nguyên Diệu đẫm mồ hôi.

Nhưng Vi Ngạn dường như không thấy gì, hắn thấy Nguyên Diệu nhìn thiền sư Hoài Tú, mặt lộ vẻ sợ, thì kỳ lạ hỏi: “Hiên Chi làm sao thế?”

“Không, không có gì.” Nguyên Diệu nói.

Bạch Cơ cười với Vi Ngạn: “Vi công tử, ta nghe nói trong chùa Thanh Long này có một thứ rất kỳ lạ và thú vị.”

Vi Ngạn rất thích điều kỳ lạ, lập tức hứng thú: “Thứ gì vậy?”

“Bức tranh tường trong Tàng Kinh các. Nghe nói, chỉ cần cầm ngọn đuốc đến gần bức tranh tường, các Đức Phật trong tranh sẽ chuyển động và nói chuyện!”

“Đức Phật trong tranh tường sao có thể chuyển động và nói chuyện?” Vi Ngạn không tin.

Bạch Cơ cười một cách bí ẩn: “Ta cũng chỉ nghe nói vậy thôi, không biết thật giả thế nào.”

Vi Ngạn cười, khép quạt lại: “Ha ha, để ta thử xem.”

Vi Ngạn hứng thú rời đi.

Bạch Cơ cười.

Nguyên Diệu lo lắng nói: “Đan Dương thật sự đi rồi, không có chuyện gì xảy ra chứ?”

Bạch Cơ nói: “Yên tâm, không sao đâu. Trong chùa của Phật, yêu linh trong tranh tường không dám hại người.”

Nguyên Diệu thở phào nhẹ nhõm.

“Hiên Chi đi đóng cửa chính và cửa sổ lại.” Bạch Cơ ra lệnh cho Nguyên Diệu.

“Được.” Nguyên Diệu dù không hiểu Bạch Cơ muốn làm gì, nhưng vẫn làm theo.

Trong phòng thiền, cửa sổ đóng chặt, Bạch Cơ và Nguyên Diệu đứng bên giường, Hoài Tú nằm trên giường. Trên người Hoài Tú có những con sâu bò đầy, trông rất đáng sợ.

“Mỗi người đều mang trong mình sâu mag, người có tâm ma nặng thì nhiều, người có tâm ma nhẹ thì ít.” Bạch Cơ thì thầm, nàng lấy một quyển sách từ ống tay áo, ngẫu nhiên lật ra.

Nguyên Diệu nhìn kỹ, phát hiện đó là quyển “Kinh Liên Hoa” mà trước đây Hoài Tú đã tặng cho Bạch Cơ, đây là quyển kinh do Hoài Tú tự tay sao chép.

“Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật ở tại thành Vương Xá, trên núi Kỳ Xà Quật, cùng với đại chúng Tỳ Kheo, một vạn hai nghìn người tụ tập. Đều là A La Hán, các lậu đã hết, chẳng còn phiền não. Sớm được lợi mình, hết những sự ràng buộc trong các cõi, tâm được tự tại…” Bạch Cơ mở môi đỏ thắm, đọc kinh văn ra.

Cùng với giọng đọc thanh thoát của Bạch Cơ, những chữ mực trên kinh thư bay lên không trung, từng câu từng câu, xoay quanh bay lượn. Kinh văn bay về phía Hoài Tú, quấn quanh thân thể hắn, bao phủ những con ma trùng, từng dòng từng dòng. Những con ma trùng bị kinh văn bao phủ ngay lập tức cứng lại, Nguyên Diệu thấy chúng bị kinh văn quấn thành kén. Bằng mắt thường cũng có thể thấy trên người Hoài Tú có đầy kén sâu đen.

Khi quyển kinh hoàn toàn trống rỗng, thân thể Hoài Tú đã phủ đầy kén sâu, thậm chí trên tròng mắt cũng rải rác những đốm đen nhỏ như hạt mè.

Nguyên Diệu cảm thấy rợn da gà, lòng thấy kinh tởm. Đột nhiên, từng chiếc kén đen vỡ ra, từng con bướm đầy màu sắc chui ra khỏi kén đen, vỗ cánh bay lên. Một đám bướm đẹp bay lên từ người Hoài Tú, cánh bướm đầy màu sắc không ngừng rắc xuống những bột phấn đỏ bạc, tạo nên những ánh sáng kỳ ảo trong không trung.

Những con bướm bay vào quyển kinh trắng trống, trên mỗi trang đều dừng lại tạo thành những bức tranh sống động, quyển “Kinh Liên Hoa” trong chớp mắt biến thành quyển sách vẽ bướm.

Nguyên Diệu ngạc nhiên mở to miệng.

Khi con bướm cuối cùng bay vào quyển kinh, trên người Hoài Tú đã không còn ma trùng, nhưng vẫn còn Tâm tuyến quấn quanh như những lớp tơ nhện.

Bạch Cơ rút một sợi từ người Hoài Tú ra, đặt vào lòng bàn tay. Tâm tuyến trong lòng bàn tay Bạch Cơ xoay tròn, tốc độ ngày càng nhanh, trong chớp mắt quấn thành một cuộn chỉ. Khi cuộn chỉ to bằng nắm tay, trên người Hoài Tú không còn tâm tuyến quấn quanh nữa, một đầu của tâm tuyến ngấm vào ngực của Hoài Tú. Tâm tuyến nhẹ nhàng rung động, dường như còn đang kết nối với một thứ đang đập.

“Hiên Chi, thứ gì là tinh khiết không tỳ vết nhất?” Bạch Cơ hỏi.

“Có lẽ là lưu ly.” Nguyên Diệu nói. Hắn nhớ đến kinh văn mà Hoài Tú đã viết khi thử mực ở Phiêu Miểu các: “Nguyện ta đời sau chúng quá bồ đề, thân như lưu ly, trong ngoài sáng tỏ, sạch sẽ không tỳ vết.”

Bạch Cơ cười: “Vậy thì Hiên Chi hãy lấy một viên lưu ly từ tấm cà sa bảy màu kia.”

Nguyên Diệu theo ánh mắt của Bạch Cơ nhìn thấy tấm cà sa bảy màu gấp gọn trên tủ. Hắn đi đến rồi lấy ra một viên lưu ly từ cà sa.

Nguyên Diệu đưa viên lưu ly cho Bạch Cơ, Bạch Cơ nhận viên lưu ly đồng thời kéo tâm tuyến, rút trái tim của Hoài Tú ra. Trái tim đỏ tươi, đẫm máu vẫn đang đập thình thịch. Hoài Tú vẫn hôn mê bất tỉnh, không có cảm giác gì. Bạch Cơ đặt viên lưu ly vào ngực của Hoài Tú. Viên lưu ly lập tức ngấm vào ngực của Hoài Tú.

Bạch Cơ cầm trái tim của Hoài Tú trong tay, năm ngón tay khép lại, bóp nát nó, cười nói: “Trái tim con người không tinh khiết như lưu ly nhưng ấm áp hơn lưu ly.”

Máu tươi tràn qua khe ngón tay của Bạch Cơ, lòng Nguyên Diệu thấy sợ.

“Từ giờ trở đi, lưu ly sẽ là trái tim của hắn, hắn sẽ không còn bất kỳ d ục vọng nào nữa.” Bạch Cơ nói nhẹ nhàng.

“Ý ngươi là gì thế?” Nguyên Diệu hỏi.

“Từ giờ trở đi, hắn sẽ không vui không buồn, không yêu không ghét, giống như điều hắn luôn mong muốn.” Bạch Cơ nói.

Nguyên Diệu cảm thấy không vui không buồn, không yêu không ghét không phải là điều đáng vui mừng, vì như vậy sẽ thiếu đi nhiều ấm áp và niềm vui. Nhưng nếu không thay trái tim của Hoài Tú bằng lưu ly, hắn sẽ bị mắc kẹt trong tâm ma của mình, không thể thoát ra được. Dù sao thì sống vẫn tốt hơn chết.

Bạch Cơ dùng phép thuật xóa đi vết máu và mảnh vụn của trái tim, Nguyên Diệu đi mở cửa sổ và cửa ra vào. Khi Nguyên Diệu mở cửa ra, Vi Ngạn đã chạy nhanh trở lại, mặt đầy hưng phấn: “Ha ha, quả nhiên là thật, ta dùng đuốc chiếu vào, các Đức Phật trong tranh tường đều khóc lóc, than phiền mà chạy trốn. Bây giờ, trên tường chỉ còn lại một khoảng trống.”

“Hì hì.” Bạch Cơ cười.

“Tiếc là tăng nhân trong chùa nói bức tranh tường của chùa Thanh Long không bán, nếu không thì ta sẽmua về, mỗi ngày dùng đuốc chiếu để chơi.” Vi Ngạn cười nói.

“Chuyện đó có gì khó, Vi công tử xuống tóc làm tăng nhân ở chùa Thanh Long, chẳng phải có thể ngày ngày ở trong Tàng Thư các rồi sao?” Bạch Cơ mỉm cười đề nghị.

Vi Ngạn suy nghĩ một lát, lại có vẻ thật sự động lòng.

Nguyên Diệu vội vàng nói: “Đan Dương, Bạch Cơ chỉ nói đùa thôi, đừng tin thật.”

Vi Ngạn cười: “Hiên Chi yên tâm, ta không định xuất gia làm tăng đâu. Làm hòa thượng chán lắm, trừ khi ngươi và ta cùng làm hòa thượng.”

Nguyên Diệu vội vàng xua tay: “Không, không, ta không muốn làm hòa thượng đâu!”

Đúng lúc này, một tiểu sa di mang trà vào: “Mời ba vị thí chủ dùng trà.”

Ba người uống trà xong, ngồi một lúc rồi đứng dậy cáo từ. Tiểu sa di lịch sự tiễn họ ra.

“Rắc…” Khi rời khỏi phòng thiền, Nguyên Diệu nghe thấy một tiếng động, hắn quay lại nhìn thấy cây giá kê tay rơi khỏi tay Hoài Tú xuống đất.

Nguyên Diệu thầm cầu nguyện cho thiền sư Hoài Tú sớm hồi phục.

Vi Ngạn, Bạch Cơ và Nguyên Diệu rời khỏi chùa Thanh Long, họ chia tay nhau ở phường An Nghĩa. Vi Ngạn trở về Vi phủ, Bạch Cơ và Nguyên Diệu trở về Phiêu Miểu các.

Trên đường đi, Nguyên Diệu hỏi Bạch Cơ: “Thay tim của thiền sư Hoài Tú bằng lưu ly, như vậy có tốt không?”

Bạch Cơ nói: “Ta không biết tốt hay không, nhưng nếu không làm vậy thì thiền sư Hoài Tú e rằng không thể vượt qua kiếp nạn tâm ma và sẽ chết. Hắn có Tuệ căn và duyên Phật, nhưng còn quá trẻ và chưa trải qua hồng trần bách sắc, chưa hiểu được cái “không” thực sự, chưa có trí tuệ và tâm cảnh để đối mặt với ‘kiếp’.”

Nguyên Diệu nói: “Ta không hiểu những gì nàng nói. Nhưng dù sao, thiền sư Hoài Tú còn sống là một điều tốt.”

Bạch Cơ cười: “Sau này hắn có lẽ sẽ không bao giờ nhìn thấy trúc phu nhân nữa.”

“Đó cũng là một điều tốt. Trúc phu nhân ăn thịt người, quá đáng sợ.” Nguyên Diệu nói.

Bạch Cơ cười khúc khích: “Thực ra… trên đời làm gì có trúc phu nhân?”

“Phải rồi, Bạch Cơ, những yêu linh trong tranh tường bị Đan Dương dùng đuốc đuổi đi sẽ không sao chứ?”

“Những yêu linh lắm lời đó à, chúng có lẽ sẽ rời khỏi tranh tường vài ngày, trôi nổi trong không trung, không được hưởng nhang khói rồi đói khát mà thôi. Hahaha…” Bạch Cơ cười lớn.

Nguyên Diệu lạnh sống lưng. Con yêu quái ranh ma và nhỏ mọn này chắc chắn đã mượn tay Đan Dương để trêu chọc những yêu linh từng làm nàng ấy phật lòng. Đan Dương chơi thích thú, chắc chắn sẽ thường xuyên đến chùa Thanh Long đốt tranh tường, những yêu linh đó e rằng sẽ thường xuyên phải trôi nổi trong không trung mà chịu đói khát.

“Dù sao, Bạch Cơ cũng là một người tốt.” Nguyên Diệu nói.

Bạch Cơ nhìn Nguyên Diệu, cười quỷ quyệt: “Tại sao ta lại là người tốt thế? Hiên Chi, ta là yêu, không phải người. Nhưng không hiểu sao, hôm nay ta thấy tâm trạng rất tốt.”

“Đó là vì nàng đã giúp thiền sư Hoài Tú đó.” Nguyên Diệu cười nói. Giúp đỡ người khác, là một việc vui vẻ.

“Không đúng, tâm trạng ta tốt không phải vì Hoài Tú.”

“Vậy là vì sao?”

“Ta chỉ cần nghĩ đến những yêu linh lắm lời đó trôi nổi trong không trung, không được hưởng nhang khói, bị đói khát là ta thấy tâm trạng thoải mái!” Bạch Cơ cười quỷ quyệt.

“Ơ…” Nguyên Diệu lạnh sống lưng.

Sự hồi phục kỳ diệu của thiền sư Hoài Tú ở chùa Thanh Long khiến những thiện nam tín nữ ở Trường An càng thêm tin tưởng vào ánh sáng kim quang và sức mạnh vô biên của Phật pháp. Chùa Thanh Long cũng vì thế mà càng thêm đông đúc người đến dâng hương.

Sau khi thiền sư Hoài Tú hồi phục, hắn càng thành kính lễ Phật và chuyên tâm hơn, sự hiểu biết về Phật lý của hắn cũng tiến thêm một bước. Trên người hắn tỏa ra một khí chất trong trẻo như lưu ly, lời nói chứa đầy trí tuệ lớn và sự giác ngộ. Mọi người đều gọi thiền sư Hoài Tú là ‘Phật’. Nhiều tín đồ thành kính bái lạy ông, lắng nghe thiền lý của ông, thậm chí có những tên cướp biển khét tiếng cũng bị cảm hóa bởi thiền lý của hắn mà bỏ dao xuống quay về với Phật môn.

Thiền sư Hoài Tú viên tịch ở tuổi tám mươi mốt, các đệ tử hỏa táng thân thể hắn và tìm thấy một viên lưu ly trong tro. Mọi người đều nói, viên lưu ly này là kết tinh của cả đời tu tập Phật lý của vị cao tăng này. Chỉ những cao tăng đại trí, đại tuệ, đại ngộ mới có một trái tim lưu ly. Người trong đạo Phật coi viên lưu ly này như báu vật, luôn cúng bái.

Một buổi chiều nọ, không có việc gì làm, Bạch Cơ treo tác phẩm thư pháp của Hoài Tú lên xem: “Sắc tức là không, không tức là sắc.”

Ly Nô đuổi Nguyên Diệu ra chợ mua cá, hắn đã đi hơn một canh giờ mà vẫn chưa về. Ly Nô đứng dựa vào cửa, nhìn ngóng: “Tên mọt sách chết tiệt, sao còn chưa về? Chắc lại lén lút trốn đi đâu chơi rồi!”

Sau gần nửa canh giờ nữa, Nguyên Diệu mới xách giỏ tre về, trong giỏ có ba con cá muối.

“Hôm nay chợ đông người quá.” Nguyên Diệu vừa lau mồ hôi vừa nói.

Ly Nô thấy cá muối, thì mặt xị ra: “Sao lại là cá muối? Không phải ta bảo ngươi mua cá chép tươi sao?”

“Ta đến trễ nên cá chép đã bán hết rồi. Ta thấy cá muối của quầy này bảy văn tiền một con, mua hai con tặng một con, thấy cũng ổn nên mua. Quầy này bán đắt hàng lắm, ai cũng tranh nhau mua, ta đợi mãi mới mua được ba con.”

Ly Nô cầm con cá muối dài nhất trong giỏ lên, chỉ dài khoảng bảy tấc, rất gầy: “Cá muối thế này mà đòi bảy văn tiền? Ta mà mua thì một văn tiền có thể mua được bảy con! Hàng hóa thế này, sao ai cũng tranh nhau mua? Chẳng lẽ ai cũng ngu ngốc như ngươi sao?!”

Nguyên Diệu gãi đầu: “Cá muối trên quầy đều dài tầm một thước, còn có con hai thước, nhưng người mua nhiều quá, lại toàn là các bà già, nữ nhân, nên tan chỉ lấy được ba con này.”

Ly Nô giận dữ: “Chẳng lẽ ngươi là nam nhân mà không chen nổi các bà già, nữ nhân, và người hầu sao?”

Bạch Cơ phì cười: “Chắc là Hiên Chi đứng đợi đến khi các bà già, nữ nhân, và người hầu mua xong hết, mới lên mua phải không?”

Thư sinh lắc đầu nghiêm túc nói: “Cổ ngữ có câu, kính già, yêu trẻ, lễ nhường là trước tiên. Ta là người đọc sách, sao có thể tranh cá muối với các bà già, nữ nhân, và người hầu?!”

Ly Nô nhìn chằm chằm con cá muối trong tay, mặt mày ủ rũ: “Ba con cá muối thế này sao đủ ăn?”

Bạch Cơ vươn vai: “Hay là, nấu Hiên Chi ăn đi.”

Ly Nô trừng mắt nhìn Nguyên Diệu: “Không cần, tên mọt sách này còn khó ăn hơn cá muối!”

Ba người đang cãi vã thì bên ngoài Miểu Các có hai cô nương đến. Các nàng ấy lảng vảng và nhìn quanh, dường như không thấy Phiêu Miểu Các.

Nguyên Diệu nhận ra hai cô nương này: “Ơ? Tiểu thư Phi Yên và Hồng Tuyến cô nương, sao các nàng lại đến Phiêu Miểu Các?”

Nguyên Diệu và Vi Phi Yên chỉ cách nhau chưa đầy bảy bước, nhưng các nàng không nhìn thấy hắn.

Nguyên Diệu nghe Vi Phi Yên nói: “Chắc là Phiêu Miểu Các nằm ở đây, nhưng sao không thấy? Ta thực sự muốn gặp Long công tử, kể từ khi gặp hắn, mỗi đêm ta đều mơ về hắn, luôn muốn gặp lại hắn…”

Hồng Tuyến nói: “Tiểu thư, không phải người đã yêu Long công tử rồi đó chứ? Người còn chưa biết hắn là ai? Lỡ như hắn là kẻ cướp hay phản đảng của triều đình thì sao?”

Vi Phi Yên thẹn thùng, hai má đỏ bừng: “Dù hắn là kẻ cướp hay phản đảng, ta đều muốn đi theo hắn.”

“Ấy…” Nguyên Diệu đổ mồ hôi lạnh, hắn quay lại nhìn Bạch Cơ: “Nếu Tiểu thư Phi Yên, không, nàng ấy đã muốn lấy ngươi rồi, phải làm sao đây?”

“Chủ nhân sắp lấy vợ rồi sao? Không đúng, chủ nhân là nữ nhân thì sao lại mà lấy vợ?” Ly Nô gãi đầu.

Bạch Cơ hít một hơi sâu: “Hiên Chi, lấy bức tranh của Thiền sư Hoài Tú đem tặng cho Tiểu thư Phi Yên, nói rằng Long công tử đã rời Trường An rồi.”

“Được. Nhưng tại sao ngươi không nói với nàng ấy rằng ngươi là Bạch Cơ, không phải Long công tử?” Nguyên Diệu hỏi.

Bạch Cơ cười: “Mệnh số của Tiểu thư Phi Yên đặc biệt, người không nên dùng thân phận và tên thật gặp nàng ấy, tốt nhất là không dùng thân phận và tên thật gặp nàng ấy. Đừng lo, với tính cách của Tiểu thư Phi Yên, qua một thời gian gặp nhiều mỹ nam khác thì nàng ấy sẽ quên ‘Long công tử’ thôi.”

Nguyên Diệu lấy bức tranh xuống, cuộn lạ, chuẩn bị mang tặng cho Vi Phi Yên.

“Sắc tức là không, không tức là sắc.” Nguyên Diệu vừa rời Phiêu Miểu Các vừa đọc.

“Sắc tức là không, không tức là sắc.” Ly Nô xách cá khô đi vào bếp, cũng đọc như vậy.

“Sắc tức là không, không tức là sắc.” Bạch Cơ tựa vào quầy, cười quái gở.

(Trúc Phu Nhân. Hoàn)
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 21: Phần 4: Cây Vô Ưu - Chương 1: Thiên kiếp


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Quyển 4: Cây Vô Ưu

Chương 1: Thiên kiếp

Tháng ba, mưa nhẹ.

Trường An, chợ Tây.

Trong Phiêu Miểu các, Ly Nô chống cằm ngồi bên quầy, mặt mày hơi u sầu. Hai đống cá khô đặt trên quầy nhưng hắn hoàn toàn không có hứng thú ăn, ngay cả khi thấy tiểu thư sinh đang ngủ trưa trên chiếc giường mỹ nhân, hắn cũng lười trách mắng vì tội lười biếng.

Khoảng nửa giờ sau, Nguyên Diệu thức dậy, thấy Ly Nô vẫn giữ nguyên vẻ u sầu từ lúc hắn mới ngủ, thì không khỏi ngạc nhiên: “Ly Nô lão đệ, sao dạo này ngươi lại buồn bã thế?”

“Gia không vui thì liên quan gì đến ngươi? Cút ra chợ mua rau đi, đừng làm phiền gia!” Ly Nô tức giận nói.

“À, được thôi.” Nguyên Diệu đứng dậy đi vào bếp lấy giỏ, sau đó ra quầy lấy một dây tiền: “Ly Nô lão đệ, hôm nay muốn mua cá gì nào?”

Ly Nô nói: “Không được mua cá, mua ít rau và đậu hũ gì đó đi. Từ hôm nay, gia sẽ ăn chay.”

“Tại sao?” Nguyên Diệu thắc mắc.

Ly Nô trừng mắt: “Hỏi nhiều thế làm gì? Gia bảo sao thì ngươi cứ làm vậy đi!”

Nguyên Diệu nói: “Từ khi vào Phiêu Miểu các, ngày nào cũng chỉ ăn cá, lâu rồi tiểu sinh không được ăn thịt. Nhân lúc Ly Nô lão đệ ăn chay, vậy thì tiểu sinh sẽ đi mua ít thịt để nhờ Ly Nô lão đệ làm cho tiểu sinh ăn.”

Ly Nô nghiến răng: “Mọt sách, ngươi muốn ăn thịt gì hả?”

Nguyên Diệu vui vẻ suy nghĩ một lúc rồi nói: “Mùa xuân thích hợp để bồi bổ. Tiểu sinh định mua ít thịt cừu, nhờ Ly Nô lão đệ thêm gia vị và mật ong nướng lên, chắc chắn sẽ rất ngon…”

“Ngươi mơ đi! Gia ăn chay mà ngươi dám ăn thịt cừu nướng ư?! Cẩn thận gia nướng ngươi với gia vị và mật ong lên ăn đó!!” Ly Nô giận dữ mắng thư sinh một trận, đuổi hắn ra chợ.

Nguyên Diệu ở chợ mua ít rau xanh và đậu hũ, nghĩ rằng ăn rau và đậu hũ thì tối chắc sẽ đói, lập tức đi vòng qua phường Quang Đức, mua hai cân bánh bích loa nổi tiếng ở một tiệm làm đồ ăn đêm.

Khi Nguyên Diệu đang đi trên phố ngoài phường Quang Đức, đám đông bỗng trở nên xôn xao, một đoàn nghi trượng uy nghi tiến lên phía trước, người qua lại vội tránh sang một bên để nhường đường. Nguyên Diệu bị đám đông đẩy lùi ra mái hiên bên đường.

Một chiếc xe ngựa lộng lẫy chậm rãi tiến đến, vài thị nữ mặc nam trang cưỡi trên những con ngựa đẹp đi bọc quanh xe ngựa. Xe ngựa được trang trí vô cùng lộng lẫy, rèm trúc hạ một nửa, tua rua vàng bay phấp phới theo gió. Qua khe hở của rèm trúc, có thể thấy bóng dáng thanh nhã của một người nữ nhân.

Đây là ai mà đi đường lại khí thế như vậy? Nguyên Diệu đang thắc mắc thì nghe thấy người xung quanh thì thầm: “Là công chúa Thái Bình…”

“Nghe nói, nàng ấy đã ăn chay ở chùa Cảm Nghiệp suốt ba tháng để cầu phúc cho quốc gia, đúng là một công chúa xinh đẹp và cao quý!”

“Nàng ấy đang đi đến hoàng cung hay về phủ công chúa chúa?”

“Nhìn lộ trình thì chắc chắn là về phủ công chúa rồi.”

Hóa ra là công chúa Thái Bình, không trách gì ra ngoài lại phô trương như vậy. Công chúa Thái Bình là con gái út của Cao Tông và Võ Hậu, suốt đời được phụ mẫu, huynh đệ, đặc biệt là mẫu thân Võ Hậu, yêu chiều, quyền lực rất lớn ở Trường An, được gọi là “Công chúa gần như sở hữu cả thiên hạ”. Chồng nàng là con trai thứ hai của công chúa Thành Dương, cháu ruột của Cao Tông. Tuy nhiên, không biết vì sao, người ta đồn rằng, vị công chúa cao quý này luôn u sầu, dường như chưa từng thấy hạnh phúc.

Nguyên Diệu sống trên đời hai mươi năm, chưa từng nhìn thấy công chúa nào, nên không khỏi tò mò nhìn. Bất ngờ, một cơn gió thổi qua, chiếc khăn tay của công chúa Thái Bình bay ra khỏi xe ngựa, lại như một con bướm nhẹ nhàng rơi lên mặt Nguyên Diệu.

“Á!” Thư sinh mắt tối sầm lại, tay chân luống cuống.

Xe ngựa dừng lại, công chúa Thái Bình khẽ nói gì đó với một thị nữ mặc nam trang, thị nữ cưỡi ngựa, dẫn theo Vệ binh đi đến trước mặt Nguyên Diệu, lạnh lùng nói: “Công chúa có lệnh, dẫn hắn qua đây.”

Nguyên Diệu bị kéo đến trước xe ngựa, sợ đến toát mồ hôi lạnh, vội vàng cúi chào: “Tiểu sinh, tiểu sinh xin chào công chúa…”

Công chúa Thái Bình khẽ phập phồng cánh mũi, giọng nói vang lên từ sau rèm trúc: “Trên người ngươi có mùi nước, rất giống với một người, không, nàng ấy không phải là người. Trên trời là Lăng Hoàn, dưới đất là Phiêu Miểu hương. Ngươi có biết Phiêu Miểu các không?”

Nguyên Diệu ngạc nhiên, cúi đầu đáp: “Tiểu sinh là người của Phiêu Miểu các, đang đi chợ mua rau.”

Công chúa Thái Bình không để ý đến lễ nghi, đưa tay vén rèm xe lên: “Ngươi ngẩng đầu lên xem.”

Nguyên Diệu ngẩng đầu lên, đối diện ngay với một khuôn mặt xinh đẹp. Công chúa Thái Bình chừng hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi, trán rộng, cằm thanh tú, da trắng như sứ, mày như vẽ, môi đỏ như son, tóc đen búi cao, trên tóc cài một bông mẫu đơn vàng trông vô cùng hoa lệ và cao quý. Khuôn mặt công chúa Thái Bình nở nụ cười vui vẻ, ấm áp như ánh mặt trời, dường như đang rất hạnh phúc.

Nguyên Diệu cảm thấy hơi kỳ lạ. Người ta đồn rằng công chúa Thái Bình rất hat buồn bã, tính tình u ám, sao trông nàng ấy lại tươi sáng và hạnh phúc như vậy?

Nhìn kỹ khuôn mặt của Nguyên Diệu, công chúa Thái Bình cười: “Chỉ là một thư sinh bình thường…”

Nguyên Diệu lại ngỡ ngàng không biết có phải do nói chuyện hay không, mà khi đôi mắt của công chúa Thái Bình đen như lông quạ, thì hắn cảm thấy sự u ám và buồn bã không hợp với nụ cười trên mặt nàng.

Công chúa Thái Bình thả rèm xuống: “Thư sinh về nói với Bạch Cơ. Tháng ba đã đến, theo hẹn nàng ấy nên đến phủ Thái Bình rồi.”

“?” Nguyên Diệu hoàn toàn bối rối.

Công chúa Thái Bình ra hiệu cho vệ binh đuổi Nguyên Diệu đi. Xe ngựa của công chúa Thái Bình dần đi xa, chỉ để lại một mùi hương ngào ngạt.

Khi Nguyên Diệu tỉnh lại, người đi đường đã dần dần tản ra. Hắn cúi xuống nhìn, phát hiện trong tay vẫn nắm một chiếc khăn lụa, vừa rồi quên trả lại cho công chúa Thái Bình, công chúa cũng không đòi lại. Nguyên Diệu vội vứt đi, như thể trong tay hắn không phải là chiếc khăn lụa, mà là một cục than nóng vậy, nhưng ngay lập tức cảm thấy không ổn, hắn lại nhặt chiếc khăn lên rồi đặt vào giỏ rau.

“Haiz…” Nguyên Diệu thở phào, xách giỏ rau trở về Phiêu Miểu các.

Khi Nguyên Diệu về đến Phiêu Miểu các, Ly Nô vẫn đang ngồi tựa bên quầy đờ đẫn, tinh thần không phấn chấn. Từ phòng trong mơ hồ truyền ra tiếng trò chuyện, cười đùa, Nguyên Diệu ngạc nhiên hỏi: “Có khách à?”

Ly Nô đáp: “Là khách quen. Trương Lục Lang đến mua hương phấn và son môi.”

Thời Đường, nam giới quý tộc có thói quen thoa phấn, bôi son môi, đây là một trào lưu thời thượng và thanh nhã trong xã hội thượng lưu.

Nguyên Diệu sửng sốt, Trương Lục Lang tức là Trương Xương Tông, hắn và ca ca Trương Dịch Chi là sủng thần của Võ Hậu và công chúa Thái Bình, quyền lực rất lớn triều đình. Huynh đệ nhà họ Trương có dung mạo tuấn mỹ, nhất là Trương Xương Tông, người ta nói rằng phong thái của hắn như tiên nhân Vương Tử Kiều, nên được gọi là “Liên Hoa Lục Lang”. Người ta đồn rằng Trương Xương Tông yêu cái đẹp đến mức gần như bi3n thái, hắn không thể chịu đựng bất cứ thứ gì không đẹp tồn tại, hắn cho rằng tất cả những thứ không đẹp đều là bẩn thỉu, dơ dáy.

Nguyên Diệu đặt giỏ rau vào bếp, tò mò muốn biết vị mỹ nam nổi tiếng khắp Tây Kinh này trông như thế nào, bèn lén lút đến bên ngoài phòng trong, lén lút thò đầu nhìn vào.

Vừa nhìn thấy tình hình bên trong, thư sinh suýt chút nữa ngã ngửa, bèn vội vàng bám lấy khung cửa.

Phía sau bình phong mẫu đơn, một nam một nữ ngồi gần nhau, thân mật không chút xa cách. Nam nhân dáng người cao ráo, nữ nhân dáng vẻ yêu kiều, chắc hẳn là Trương Xương Tông và Bạch Cơ.

Trương Xương Tông nâng cằm Bạch Cơ, nói đầy tình cảm: “Bạch Cơ thật đẹp.”

Bạch Cơ nhìn Trương Xương Tông đầy tình cảm: “Lục Lang cũng càng ngày càng đẹp.”

“Bạch Cơ, ông mẫu đơn đẹp nhất trong vườn cũng không sánh bằng vẻ đẹp của nàng. Hương phấn và son môi có thể giảm giá không? Ta đã mua rất nhiều lần rồi mà.”

“Lục Lang, bông sen thanh tao nhất trong hồ cũng không sánh bằng phong thái của chàng. Ta đã bớt cho cho chàng phần tiền lẻ, đây là giá rẻ nhất rồi. Hơn nữa, hương phấn và son môi này có những điểm tuyệt vời như thế, chẳng lẽ không đáng giá sao?”

Trương Xương Tông ngập ngừng, nói: “Được thôi, ta sẽ trả giá này. Nhưng nàng phải hứa, ngoài ta ra thì không được bán hương phấn và son môi này cho ai khác nữa đó.”

Bạch Cơ đưa tay áo che miệng, nói đầy tình cảm: “Tất nhiên rồi, trong lòng ta chỉ có Lục Lang…”

Trương Xương Tông nói đầy tình cảm: “Trong lòng ta cũng chỉ có Bạch Cơ…”

Bạch Cơ nghiêng đầu: “Ta không tin.”

Trương Xương Tông nói: “Ta phải làm sao thì nàng mới tin ta? Tình cảm của ta với nàng có mặt trăng mặt trời chứng giám, ta chỉ hận không thể móc tim ra cho nàng xem.”

“Muốn ta tin thì trừ phi Lục Lang…” Bạch Cơ lấy một cây trâm ngọc ra, đưa cho Trương Xương Tông: “Trừ phi Lục Lang mua thêm cây trâm ngọc này. Đây là ngọc cổ thời Xuân Thu, điêu khắc tinh xảo, hình dáng đẹp mắt, Lục Lang dùng nó cài tóc phong thái sẽ càng thêm anh tuấn.”

“Bao nhiêu bạc vậy?” Trương Xương Tông nhìn Bạch Cơ, hỏi.

Bạch Cơ đưa tay áo lên che miệng, nói đầy tình cảm: “Xem xét tình cảm sâu đậm của Lục Lang dành cho ta, cây trâm ngọc này chỉ lấy của chàng một trăm lượng bạc.”

“Đúng là… quá đắt…” Khóe miệng Trương Xương Tông co giật.

“Lòng Lục Lang quả nhiên không có ta…” Bạch Cơ đưa tay áo lên che mặt, quay đầu đi.

“Ừ, được thôi, ta mua.” Trương Xương Tông vội vàng nói.

Bạch Cơ quay đầu lại nhìn Trương Xương Tông đầy tình cảm: “Lục Lang thật tốt. Không uổng ta ngày ngày trông ngóng chàng đến Phiêu Miểu các, mong chờ đến mòn mỏi luôn rồi.”

Trương Xương Tông cũng nhìn Bạch Cơ đầy tình cảm, nâng cằm nàng lên: “Bạch Cơ thật đẹp.”

“Lục Lang cũng càng ngày càng đẹp.”

Nguyên Diệu bám vào khung cửa, mồ hôi lạnh đổ đầy trán, cảm thấy nhức nhối cả hàm răng. Con yêu rồng này và Trương Xương Tông đang diễn trò gì đây? Nguyên Diệu muốn lặng lẽ rút lui, nhưng cánh cửa lại hắn đẩy ra.

“Hiên Chi?”

“Ai đấy?”

Bạch Cơ và Trương Xương Tông nhìn ra từ sau bình phong.

“Ơ…” Nguyên Diệu mồ hôi lạnh, muốn lẻn đi: “Tiểu sinh chỉ đi ngang qua, các ngài cứ tiếp tục đi ạ.”

Bạch Cơ nói: “Hiên Chi đi lấy một tấm vải gấm, gói sáu hộp hương phấn và son môi cho Trương công tử. À, còn cả cây trâm ngọc này nữa.”

“Vâng.” Nguyên Diệu cúi đầu đáp.

Nguyên Diệu lấy một tấm vải gấm đến gói đồ, trong khi Bạch Cơ và Trương Xương Tông vẫn đang nhìn nhau đầy tình cảm, nói những lời ngọt ngào, lúc thì là hoa mẫu đơn, lúc thì là hoa sen trắng. Không hiểu sao, Trương Xương Tông lại lúng túng mua thêm một chiếc bình ngọc dê trắng giá một trăm hai mươi lượng bạc.

Nguyên Diệu lén nhìn Trương Xương Tông, quả nhiên là một nam tử tuấn tú. Trước đó, Nguyên Diệu nghĩ rằng Vi Ngạn đã là một mỹ nam rồi, nhưng không ngờ Trương Xương Tông còn vượt trội hơn. Chỉ thấy hắn mày đen như mực kéo dài vào tóc, mắt phượng sáng như sao, áo choàng rộng, phong thái uy nghi.

Trương Xương Tông thấy Nguyên Diệu đang nhìn mình thì nhíu mày: “Đây là ai vậy hả Bạch Cơ?”

“Hiên Chi là tạp dịch mới đến làm tại Phiêu Miểu các.”

“Hắn xấu ghê. Sao nàng không tuyển một người hầu đẹp hơn.” Trương Xương Tông nói với vẻ chán ghét.

Nguyên Diệu hơi tức giận, định tranh luận với Trương Xương Tông, nhưng Bạch Cơ đã cười: “Nhìn quen rồi nên Hiên Chi cũng đẹp đấy chứ.”

Mặt Nguyên Diệu không hiểu vì sao lại đỏ lên. Hắn cúi đầu thu dọn hương phấn và son môi trên bàn ngọc xanh. Trong sáu hộp hương phấn và son môi, có hai hộp đã mở nắp, hương phấn trắng nhợt, son môi đỏ rực. Nguyên Diệu chỉ thấy một mùi tanh nồng và thối rữa xộc lên mũi khiến hắn buồn nôn.

Hương phấn và son môi này làm từ gì mà hôi thối như vậy? Nguyên Diệu bịt mũi, đậy nắp lại, gói tất cả hương phấn, son môi, trâm ngọc và bình hoa vào trong tấm vải gấm.

Trương Xương Tông và Bạch Cơ nói xong lời chia tay thì rời đi trong nước mắt.

Nguyên Diệu xách bọc gấm, tiễn Trương Xương Tông ra khỏi ngõ, đợi hắn lên xe ngựa rồi mới quay lại Phiêu Miểu các.

Khi Nguyên Diệu trở lại phòng trong, một con rồng trắng to như cánh tay đang thoải mái cuộn mình trong đống vàng thỏi và bạc lớn.

“Lục Lang vừa đi, ta lại mong chàng đến Phiêu Miểu các lần nữa, đây có lẽ là cái gọi là ‘tương tư’ của loài người chăng?” Rồng trắng phun tiếng người.

Nguyên Diệu đổ mồ hôi lạnh: “Ngươi thế này đâu phải là ‘tương tư’? Rõ ràng là muốn chặt chém khách tìm niềm vui thì có.”

Rồng trắng lăn lộn trong đống vàng bạc: “Ôi chao, đống vàng bạc này thật đẹp, còn đẹp hơn hoa mẫu đơn, hoa sen trắng rất nhiều.”

Nguyên Diệu đổ mồ hôi lạnh: “Bạch Cơ, hương phấn và son môi ngươi bán cho Lục Lang làm từ gì mà hôi thối như vậy?”

Trong đôi mắt vàng của rồng trắng lóe lên sự lạnh lẽo: “Hương phấn làm từ xương mỹ nhân, son môi từ máu mỹ nhân.”

Nguyên Diệu sợ đến nỗi rùng mình.

Rồng trắng nói: “Hương phấn từ xương người, son môi từ máu người đều là những thứ làm thủ công phức tạp, rất tốn thời gian.”

“Những thứ này có thể bôi lên mặt sao?” Nguyên Diệu run giọng hỏi.

Đôi mắt vàng của rồng trắng lóe lên: “Tất nhiên là có thể, chỉ là một khi đã dùng thì không thể ngừng được. Nếu ngừng, da mặt sẽ dần dần thối rữa, sinh dòi. Tuy nhiên, sử dụng lâu dài thì hương phấn từ xương người và son môi từ máu người sẽ biến một khuôn mặt tầm thường thành vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Nếu Hiên Chi có hứng thú thì cũng có thể thử đấy.”

Nguyên Diệu vội vàng lắc đầu: “Không, không, có đánh chết tiểu sinh, tiểu sinh cũng không muốn bôi thứ đó.”

Rồng trắng liếc mắt: “Cuối thời Tây Hán ta đã bán loại hương phấn và son môi này cho hai tỷ muội họ Triệu, kết quả rất thú vị. Bây giờ bán cho huynh đệ nhà họ Trương, không biết sẽ có kết quả thế nào.”

Ánh mắt lạnh lẽo của rồng trắng làm Nguyên Diệu rùng mình.

Nguyên Diệu đột nhiên nhớ ra điều gì: “Đúng rồi, hôm nay tiểu sinh gặp công chúa Thái Bình trên đường, nàng ấy dường như biết đến Phiêu Miểu các, còn bảo tiểu sinh nhắn lại với ngươi, nói rằng đã tháng ba rồi, theo hẹn thì ngươi nên đến phủ Thái Bình.”

“Ừ, ta biết rồi.” Rồng trắng nói.

“Bạch Cơ, ngươi và công chúa Thái Bình là bạn cũ sao?”

“Xem như là vậy đi. Ta quen biết nàng khi nàng còn là một đứa trẻ u sầu. Và theo như lời hẹn, ta phải luôn bảo vệ nàng cho đến khi nàng già và chết đi.”

Nguyên Diệu tò mò: “Lời hẹn ư, hẹn gì? Với ai?”

Rồng trắng im lặng không nói gì.

“Chủ nhân, cơm tối đã xong. Đến giờ ăn rồi.” Ly Nô bước vào, cúi đầu nói. Sự xuất hiện của Ly Nô phá vỡ sự im lặng ngắn ngủi giữa Bạch Cơ và Nguyên Diệu.

“Ừm, được rồi.” Rồng trắng đột nhiên biến thành hình dáng nữ nhân, nhẹ nhàng đứng lên: “Đi thôi, Hiên Chi, đi ăn cơm nào.”

Bạch Cơ, Nguyên Diệu, và Ly Nô ngồi trong hành lang phía sau sân, giữa ba người có một bàn gỗ lê. Trên bàn đặt ba món ăn và ba bát cơm. Ba món ăn gồm có canh đậu phụ, rau xào, và một đ ĩa dưa muối.

Nguyên Diệu cầm đũa lên mà mãi mà không thể ăn nổi, nhưng cũng không dám nói gì.

Bạch Cơ khẽ ho: “Ly Nô, ngươi cho rằng Phiêu Miểu các là chùa hay ni cô am thế…”

Ly Nô mặt mày khổ sở nói: “Chủ nhân, Ly Nô cũng không muốn ăn chay, nhưng không còn cách nào khác, ngài cũng biết, lần này là đại kiếp bảy trăm năm một lần, đối với Ly Nô mà nói thì đó là việc quan trọng liên quan đến mạng sống của mèo, chỉ có thể làm phiền chủ nhân cùng ăn chay bốn mươi chín ngày thôi.”

“Bốn mươi chín ngày à…” Ánh mắt Bạch Cơ trầm xuống.

Ly Nô lau nước mắt: “Chủ nhân là Bát Bộ chúng, mấy nghìn năm thậm chí mười nghìn năm mới có một lần thiên kiếp, tất nhiên không hiểu được nỗi khổ của những yêu linh hạ đẳng chúng ta, vài chục năm, vài trăm năm lại phải trải qua một lần thiên kiếp.”

“Là phi nhân thì điều không thể tránh khỏi thiên kiếp, chỉ khi trải qua thiên kiếp, yêu linh mới có thể trưởng thành.” Bạch Cơ đưa tay xoa đầu Ly Nô, tỏ vẻ an ủi: “Tuy nhiên, ta chưa từng nghe nói phi nhân khi trải qua thiên kiếp phải kiêng cữ ăn chay, đây là quy định từ đâu ra vậy?”

Ly Nô lại lau nước mắt: “Đây là điều cha ta nói trước khi qua đời, ông ấy nói rằng như vậy mới có thể thuận lợi vượt qua thiên kiếp. Lúc ông ấy kiêng cữ để vượt qua thiên kiếp, không nhịn được cơn thèm, lén ăn một con cá, kết quả bị sét đánh, tu vi ngàn năm tan thành mây khói, trở lại làm một con mèo bình thường và chết vì già. Trước khi chết, cha ta luôn dặn dò ta, khi vượt qua thiên kiếp thì chắc chắn phải kiêng cữ ăn chay.”

“Ơ, Ly Nô huynh đệ, có lẽ lệnh tôn chỉ tình cờ bị sét đánh, chứ không liên quan gì đến cá đâu.” Nguyên Diệu không nhịn được lên tiếng. Hóa ra, Ly Nô gần đây tâm trạng không vui buồn bã là do thiên kiếp. Nguyên Diệu từng nghe Bạch Cơ nói rằng yêu linh đều phải trải qua thiên kiếp, có khi vài trăm năm, có khi vài ngàn năm một lần, nếu vượt qua được thì yêu lực sẽ tăng thêm một bậc, thậm chí có thể vào hàng tiên. Nếu không vượt qua được, nặng thì bị sét đánh chết, nhẹ thì tu vi ngàn năm tan biến, trở về nguyên hình.

“Cha ta nói có liên quan thì là có liên quan!” Ly Nô trừng mắt nhìn Nguyên Diệu, giận dữ nói.

Nguyên Diệu không dám nói gì nữa.

Ba người Bạch Cơ, Nguyên Diệu, và Ly Nô cùng cầm đũa ăn cơm, vì món ăn không hợp khẩu vị nên Bạch Cơ và Nguyên Diệu đều không có hứng ăn, Ly Nô vì lo lắng về thiên kiếp cũng không có tâm trạng, ba người nhai cơm như nhai sáp. Nguyên Diệu đột nhiên nhớ ra: “À, tiểu sinh mua bánh nhân gạch cua ở phường Quang Đức, tiểu sinh sẽ đi lấy làm món ăn.”

Mắt Bạch Cơ sáng lên.

Ly Nô tức giận nói: “Không cần đi nữa, ta đã vứt rồi. Từ hôm nay, Phiêu Miểu các không được ăn thịt cá, chỉ được ăn chay.”

Nguyên Diệ bất lực u ngồi xuống, nhỏ giọng nói: “Ly Nô huynh đệ, lãng phí thức ăn sẽ bị sét đánh đấy.”

Bạch Cơ thở dài: “Thỉnh thoảng ăn thanh đạm một thời gian cũng không sao.”

“Chủ nhân vẫn tốt bụng nhất.” Ly Nô cười nói, lại liếc nhìn Nguyên Diệu: “Không như mọt sách, suốt ngày chỉ biết có ăn!”

Nguyên Diệu muốn phản bác, nhưng không dám, đành buồn bã cắm mặt vào bát cơm.

Vì Ly Nô phải vượt qua thiên kiếp, Phiêu Miểu các đã ăn chay suốt năm ngày, Bạch Cơ ăn đến yếu ớt, Nguyên Diệu ăn đến mặt mày xanh xao. Bạch Cơ không nói gì, Nguyên Diệu cũng không dám oán trách.

Hôm đó, Ly Nô xin phép Bạch Cơ ra ngoài, đến chiều tối mới trở về. Khi Ly Nô trở về, lập tức xin phép Bạch Cơ: “Chủ nhân, hôm nay Ly Nô đến chỗ Huyền Võ xem bói một quẻ. Huyền Võ nói rằng Ly Nô thiếu ngũ hành thiếu đất, phải lên núi để vượt qua kiếp nạn mới an toàn. Vì vậy, Ly Nô dự định xin nghỉ hai tháng, đi lên núi vượt qua kiếp nạn.”

Huyền Võ là một con rùa sống hơn mười ngàn năm, nó sống ở bờ Khúc Giang, luôn đi cùng một con rắn không rời nhau nửa bước. Huyền Vũ rất nhiều chuyện, nhưng con rắn sống cùng nó lại rất yên tĩnh. Huyền Vũ kiến thức rộng rãi, rất uyên bác, rất thông hiểu về tinh tượng mệnh số và bát quái Phục Hy. Huyền Vũ thích cuộc sống dân gian, thường hóa thành thầy bói, lang thang khắp thành Trường An, nói chuyện bát quái với những người dân, lao công. Không có chuyện gì ở nhân gian và phi nhân gian mà Huyền Vũ không biết, phi nhân có chuyện gì khó hiểu đều đến tìm nó giải đáp.

Mắt Bạch Cơ sáng lên: “Không sao, ngươi cứ đi đi. Ha ha, ha ha ha…”

Nguyên Diệu cũng cười khờ: “Ha ha, ha ha ha…”

Ly Nô ngơ ngác: “Ủa, chủ nhân, mọt sách, các người cười gì vậy?”

Bạch Cơ vội vàng nghiêm mặt: “Ta không có cười. Hiên Chi, ta có cười sao?”

Nguyên Diệu cũng nghiêm mặt: “Ly Nô huynh đệ, ngươi cứ yên tâm lên núi vượt qua kiếp nạn, không cần lo lắng về Phiêu Miểu các.”

Ly Nô lo lắng: “Làm sao ta có thể không lo lắng? Chủ nhân không biết nấu ăn, mọt sách ngươi lại không vào bếp. Ta đi rồi thì ai nấu ăn cho các ngươi?”

Bạch Cơ và Nguyên Diệu vội vàng an ủi Ly Nô, bảo hắn không cần lo lắng nhiều, vượt qua kiếp nạn mới là quan trọng nhất, dù thế nào thì họ cũng không đến mức chết đói.

“Ờ, vậy được rồi. Hy vọng khi ta trở về, các người không bị đói mà gầy đi.” Ly Nô lo lắng nói.

Ly Nô nấu một bữa tiệc chay tám món, cùng ăn với Bạch Cơ và Nguyên Diệu, xem như tiễn biệt bản thân.

Ly Nô lau nước mắt: “Ta lần này đi không biết có thể trở về không.”

Bạch Cơ cười nói: “Yên tâm, ngươi chắc chắn sẽ trở về mà.”

Ly Nô lại lau nước mắt: “Đời rất khó lường, nếu ta không thể quay về, chết thì cũng không có chuyện gì rồi. Nhưng nếu ta trở thành một con mèo bình thường, thì chủ nhân phải mang ta về Phiêu Miểu các nuôi dưỡng đấy.”

“Được.” Bạch Cơ đành phải đồng ý.

“Còn nữa, mọt sách, lúc đó ta không có pháp lực, ngươi không được bắt nạt ta.”

“Được.” Nguyên Diệu đành phải đồng ý.

Ly Nô ôm chặt lấy Nguyên Diệu, rơi nước mắt: “Mọt sách, trước đây ta không nên luôn nghĩ đến việc ăn ngươi, bắt nạt ngươi. Nếu ta có thể an toàn trở về thì ta chắc chắn sẽ cho ngươi ngủ trong phòng với ta.”

“Yên tâm đi, Ly Nô huynh đệ, ngươi chắc chắn sẽ trở về an toàn.” Nguyên Diệu an ủi Ly Nô.

Sau bữa tối, Ly Nô chuẩn bị mọi thứ, gói một cái bọc lớn, bên trong chứa những bảo vật mà cha hắn nói có thể giúp vượt qua thiên kiếp an toàn, như tro bếp, tỏi, mảnh ngói. Ly Nô bước đi trong đêm tối, rơi nước mắt rời khỏi Phiêu Miểu các.

Nguyên Diệu tiễn Ly Nô đến đầu hẻm, nhìn theo bóng dáng một con mèo đen đeo một cái túi lớn dần dần đi xa, trong lòng hắn bỗng cảm thấy không nỡ. Cầu trời phù hộ, mong rằng Ly Nô huynh đệ có thể bình an vượt qua thiên kiếp, sớm trở về Phiêu Miểu các.

Trăng lưỡi liềm mọc lên phía đông, đào hồng nở rộ, Bạch Cơ và Nguyên Diệu ngồi trong sân sau uống rượu ngắm hoa.

Nguyên Diệu hỏi: “Bạch Cơ, Ly Nô huynh đệ có thể bình an vượt qua thiên kiếp không?”

Bạch Cơ cười thần bí: “Có trời mới biết.”

“Bạch Cơ cũng có thiên kiếp sao?”

“Tất nhiên là có. Nhưng một vạn năm một lần, nếu Hiên Chi muốn hóng chuyện thì có lẽ là không kịp đâu.” Bạch Cơ cười gian xảo.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 22: Mưa xuân


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Quyển 4: Cây Vô Ưu

Chương 2: Mưa xuân

Ngày hôm sau, không có Ly Nô nấu bữa sáng, Nguyên Diệu đành phải đến phường Quang Đức mua một cân bánh nhân thịt cừu về ăn sáng với Bạch Cơ. Nguyên Diệu vừa nhai bánh vừa hỏi: “Bạch Cơ, bữa trưa và bữa tối phải làm sao đây? Cũng ăn bánh nhân thịt sao?”

Bạch Cơ đang suy nghĩ thì một con hạc giấy bay vào Phiêu Miểu các, rồi dừng lại trước mặt Bạch Cơ. Nguyên Diệu ở Phiêu Miểu các đã lâu nên cũng không thấy lạ. Con hạc giấy này không phải là thư của phi nhân nào đó gửi đến, thì là của người có đạo hạnh gửi đến.

Bạch Cơ đang ăn vui vẻ, không muốn đặt bánh xuống: “Hiên Chi mở ra xem, đọc cho ta nghe.”

Nguyên Diệu đành phải đặt bánh xuống, cầm hạc giấy lên mở ra xem, trên đó viết một dòng chữ tiểu khải xinh đẹp: “Ba tháng mưa, kết giới thưa, đêm khó an giấc, mong đến phủ Thái Bình. Lệnh Nguyệt kính bái.”

Bạch Cơ rơi vào trầm tư.

“Lệnh Nguyệt là ai?” Nguyên Diệu tò mò hỏi.

“Công chúa Thái Bình.” Bạch Cơ nói.

“Ồ, hóa ra danh hiệu của công chúa Thái Bình là ‘Lệnh Nguyệt’?” Nguyên Diệu ngạc nhiên. Hoàng tộc công chúa, đặc biệt là công chúa cao quý như công chúa Thái Bình, người thường không thể biết tên thật của nàng.

Bạch Cơ trầm ngâm một lúc, rồi cười với Nguyên Diệu: “Hay là hôm nay đi Thái Bình phủ đi. Đầu bếp của Thái Bình phủ tay nghề tuyệt đỉnh, chúng ta ăn chay lâu như thế, giờ có thể đến đó ăn một bữa thỏa thích rồi.”

“Được. Nhưng Bạch Cơ, công chúa Thái Bình có việc cần nhờ chứ có phải mời ngươi ăn tiệc đâu?”

Bạch Cơ cười: “Có gì đâu, làm xong việc thì sẽ được ăn tiệc thôi.”

“Công chúa Thái Bình nhờ ngươi làm gì thế?”

“Sửa chữa kết giới.” Bạch Cơ nói.

Nguyên Diệu không hiểu, cũng không hỏi thêm nhiều.

Tháng ba nhiều mưa, không biết từ lúc nào, mưa xuân bên ngoài đã bắt đầu rơi dày đặc.

Bạch Cơ nói với Nguyên Diệu: “Hiên Chi, lên lầu lấy hai chiếc dù tre tím xuống đây.”

“Được.” Nguyên Diệu đáp, rồi lại nói: “Hai chiếc dù? Giờ Ly Nô huynh đệ không ở đây, nếu tiểu sinh đi với ngươi đến Thái Bình phủ thì ai sẽ trông coi cửa hàng?”

Bạch Cơ chợt nhận ra: “À, ta quên Ly Nô đi vượt thiên kiếp rồi.”

Bạch Cơ suy nghĩ một lúc rồi nói: “Vậy, chỉ còn cách nhờ người khác trông coi cửa hàng thôi. Không biết hôm nay hắn có ở đây không. Hiên Chi lên lấy dù trước, ta đi mời người đến trông coi cửa hàng.”

“Được.” Nguyên Diệu đáp, lên lầu lấy dù.

Bạch Cơ bước vào sân sau.

Nguyên Diệu lấy hai chiếc dù tre tím xuống, trong đại sảnh xuất hiện một nam nhân mặc áo xám. Nam nhân có lông mày đẹp, mắt sáng, dáng vẻ anh tuấn, nhưng đôi môi mỏng hơi rộng. Hắn đứng thẳng tắp, dáng vẻ oai phong, mang lại cảm giác hào sảng nghĩa hiệp.

Nguyên Diệu kinh ngạc: “Vị huynh đài này là…”

Bạch Cơ nói: “Vị này là họ hàng xa của ta, Thẩm công tử.”

“Tại hạ họ Thẩm, tên Lâu.” Nam nhân áo xám chắp tay nói.

Nguyên Diệu cúi đầu chào: “Hóa ra là Thẩm huynh. Tiểu sinh họ Nguyên, tên Diệu, tự Hiên Chi.”

“Ủa? Không phải ngươi họ mọt tên sách sao?” Thẩm Lâu ngạc nhiên.

“Thẩm huynh nói gì vậy?” Nguyên Diệu ngơ ngác.

“Tại hạ nghe con mèo đen đó suốt ngày gọi ngươi như vậy mà.”

“À, lẽ nào Thẩm huynh cũng sống ở Phiêu Miểu các ư?” Nguyên Diệu ngạc nhiên, sao chưa từng thấy Thẩm Lâu.

“Cũng xem như là vậy. Tại hạ và Bạch Cơ là họ hàng xa, chỉ là khách ở nhờ thôi.”

Nguyên Diệu và Thẩm Lâu vừa gặp đã như quen thân, còn muốn trò chuyện nhiều hơn. Nhưng Bạch Cơ không vui, giục: “Đi thôi, Hiên Chi, chậm trễ nữa sẽ đến gần trưa đấy.”

Nguyên Diệu đành dừng lại: “Đợi tiểu sinh trở về, sẽ trò chuyện với Thẩm huynh sau.”

Thẩm Lâu chắp tay: “Mọt lão đệ, à không, Nguyên lão đệ đi thong thả.”

Bạch Cơ quay lại nói: “Hôm nay nhờ Thẩm quân trông coi Phiêu Miểu các nhé.”

Thẩm Lâu chắp tay nói: “Bạch Cơ yên tâm, tại hạ chắc chắn sẽ trông coi Phiêu Miểu các, dù phải vào nước sôi lửa bỏng cũng không từ nan.”

“Cảm ơn Thẩm quân.” Bạch Cơ gật đầu rồi quay người rời đi.

Mưa khói mịt mờ, màu xanh của liễu giống như khói. Bạch Cơ che chiếc dù tre tím đi trên đường phố Trường An, Nguyên Diệu đi sau lưng nàng. Áo trắng, dù tre, thành cổ hoa bay, cùng với mưa khói mờ ảo tạo nên một bức tranh cô tịch mà thanh nhã.

Bạch Cơ và Nguyên Diệu đến phủ Thái Bình, hai thị nữ mặc cung trang đã chờ sẵn ở cửa, họ cúi chào Bạch Cơ: “Công chúa đã chờ từ lâu, mời theo nô tỳ vào phủ.”

Bạch Cơ gật đầu: “Xin mời dẫn đường.”

Bạch Cơ và Nguyên Diệu theo hai thị nữ vào phủ công chúa. Nguyên Diệu rất ngạc nhiên, hai thị nữ dù đi dưới mưa nhưng y phục và tóc lại không hề bị ướt chút nào.

Trong phủ Thái Bình, các gian phòng gió thổi, lầu cao lấm tấm sương, đài cao cây thơm, rừng hoa ao nhỏ, khiến Nguyên Diệu hoa cả mắt. Lời đồn công chúa Thái Bình xa hoa vô độ quả không sai.

Quanh qua một rừng trúc phượng đuôi xanh ngọc, hai thị nữ dẫn Bạch Cơ và Nguyên Diệu đến một căn nhà bên nước. Trước mắt là một thác nước trắng như lụa, những giọt nước nhảy múa tạo ra những vầng sáng dịu nhẹ.

Dưới thác nước là một hồ nước xanh biếc như một viên ngọc cổ trơn nhẵn. Bên cạnh hồ là một cỗ xe nước khổng lồ đang quay, bên cạnh xe nước là một căn nhà sang trọng xây trên nước.

Từ xa nhìn lại, trong căn nhà sang trọng, có một tấm màn trắng ngọc bị gió xuân thổi tung, phía sau bức bình phong vẽ tranh thủy mặc thấp thoáng một bóng dáng cao quý và thanh nhã. Nguyên Diệu đoán đó là công chúa Thái Bình.

Tám thị nữ chải tóc búi Lạc Du đứng chầu trên hành lang của căn nhà. Bạch Cơ và Nguyên Diệu bước lên hành lang, Bạch Cơ thu dù lại, Nguyên Diệu cũng thu dù, hai thị nữ nhận dù rồi lui ra.

Bạch Cơ và Nguyên Diệu tiếp tục theo thị nữ dẫn đường đi trên hành lang.

Vừa bước vào căn nhà sang trọng, hai thị nữ bỗng biến thành hai người giấy mỏng nhỏ bằng lòng bàn tay, rồi rơi xuống đất. Nguyên Diệu ngạc nhiên, nhìn kỹ lại thì thấy người giấy được làm từ giấy dầu không thấm nước, hèn gì mà không bị ướt.

“Công chúa ngày càng tinh thông đạo thuật.” Bạch Cơ cười nói.

“Tự Nhân quá khen rồi.” Từ xa, công chúa Thái Bình nói vọng qua bức màn.

Bạch Cơ tiến về phía công chúa Thái Bình, Nguyên Diệu đi theo sau, hai người quay qua bức bình phong vẽ tranh thủy mặc thì thấy công chúa Thái Bình.

Công chúa Thái Bình mặc một bộ cung trang gấm lụa màu son, trên váy đỏ thêu chín mươi chín bông mẫu đơn tinh tế, có bông nở, có bông khép, mỗi bông đều mang dáng vẻ khác nhau. Áo yếm màu hồng đào tôn lên thân hình thon thả của nàng, tấm khăn vàng mờ ảo trong suốt bao lấy cánh tay trắng nõn và lưng thon. Trên tấm khăn dài kéo lê trên đất, thêu vô số những con bướm bay lượn bằng chỉ lửa mịn.

Công chúa Thái Bình ngồi trên đệm gấm, cúi đầu tỉ mỉ thêu một bức tranh thêu dài khoảng hai thước.

Công chúa Thái Bình không ngẩng đầu, vẫn tỉ mỉ thêu: “Tự Nhân, cuối cùng ngươi cũng đến.”

Bạch Cơ cười, không nói gì.

Tự Nhân? Tự Nhân là ai? Nguyên Diệu ngạc nhiên, lẽ nào tên thật của Bạch Cơ là Tự Nhân? Bạch Cơ luôn nói rằng phi nhân không được phép nói tên thật, tại sao công chúa Thái Bình lại biết tên nàng?

Công chúa Thái Bình ngẩng đầu lên, nhìn thoáng qua Nguyên Diệu sau lưng Bạch Cơ: “Ngươi là thư sinh lần trước…”

Nguyên Diệu vội cúi đầu chào: “Tiểu sinh tham kiến công chúa Thái Bình.”

“Ngươi tên là gì?”

“Tiểu sinh họ Nguyên, tên Diệu, tự Hiên Chi.”

“Nguyên Diệu?” Công chúa Thái Bình cười: “Quả là cái tên định duyên với yêu quái.”

Nguyên Diệu không dám phản bác.

“Người đâu, ban ghế, dâng trà.” Công chúa Thái Bình ra lệnh.

“Vâng. Công chúa.” Hai thị nữ búi tóc song ốc nhận lệnh rời đi.

Không lâu sau, thị nữ mang đệm gấm tới, dâng trà thơm lên. Bạch Cơ và Nguyên Diệu ngồi xuống uống trà. Bạch Cơ nói: “Mới đầu mùa mưa, công chúa đã gọi Tự Nhân đến để sửa kết giới, có phải là quá sớm rồi không?”

Công chúa Thái Bình vừa thêu vừa nói với Bạch Cơ: “Thực ra ta gọi ngươi đến, không hoàn toàn vì việc sửa kết giới. Gần đây có một việc kỳ lạ khiến ta bất an.”

Bạch Cơ vừa uống trà vừa hỏi: “Việc gì vậy?”

Công chúa Thái Bình ngẩng đầu lên: “Gần đây, ta cảm thấy tâm trạng rất vui vẻ hân hoan.”

Nguyên Diệu phun một ngụm trà, tâm trạng vui vẻ không phải là chuyện đáng mừng sao? Tại sao công chúa Thái Bình lại cảm thấy bất an?

Công chúa Thái Bình nói: “Chuyện vui làm ta vui vẻ; chuyện buồn cũng làm ta vui vẻ. Dù là chuyện gì, ta cũng không kìm được mà muốn cười, cười lớn. Vài ngày trước, một phi tần yêu quý của Hiển ca ca qua đời, ta vào cung an ủi Hiển ca ca. Không biết tại sao, ta lại cười lớn trước mặt Hiển ca ca đang mặt đầy nước mắt, Hiển ca ca rất giận. Mẫu hậu cũng gọi ta vào trách mắng vài câu. Ta nghĩ chắc chắn là có yêu quái tác quái, chắc chắn là có ác quỷ muốn đến ăn ta rồi.”

Bạch Cơ nói: “Trong thành Trường An, không có ác quỷ nào có thể xâm nhập vào kết giới của ta. Nếu kết giới của phủ Thái Bình bị phá hủy thì ta ở Phiêu Miểu các cũng sẽ biết.”

Công chúa Thái Bình nói: “Nếu không phải ở phủ Thái Bình, liệu có phải là gặp yêu nghiệt ở bên ngoài không? Đầu năm, ta theo lệnh mẫu hậu đến chùa Cảm Nghiệp ăn chay cầu phúc, phải chăng đã gặp yêu ma ở đó?”

Bạch Cơ hỏi: “Ngươi vẫn đeo ngọc bội ta tặng ngươi chứ?”

Công chúa Thái Bình gật đầu: “Vẫn luôn đeo trên người, chưa hề tháo xuống.”

“Vậy thì không thể là ác quỷ, yêu ma tác quái được.”

Bạch Cơ nhìn thoáng qua công chúa Thái Bình, khẽ nhíu mày: “Hôm nay nhìn kỹ, dường như ngươi có hơi khác trước.”

Công chúa Thái Bình ngạc nhiên: “Có gì không giống? Mẫu hậu, Từ Soái, Cao Giản và các thị nữ hầu hạ ta cũng nói ta khác trước.”

Bạch Cơ nhẹ nhàng nói: “Ngươi có thể cười vui vẻ.”

Công chúa Thái Bình sững người.

Bạch Cơ cúi đầu nhìn bức thêu của công chúa Thái Bình: “Đây là gì vậy?”

Bức thêu của công chúa Thái Bình vừa bắt đầu, chưa có đường nét rõ ràng, chỉ mới phác thảo ra chút hình dạng, như hoa, như cây, lại như chim thú.

Công chúa Thái Bình nói: “Gần đây ta thường mơ thấy một cái cây, cảm thấy rất đẹp nên muốn thêu nó ra.”

“À, thêu thêm một bức tặng ta nhé.” Bạch Cơ cười nói. Nàng bắt đầu tính toán bức thêu của công chúa Thái Bình có thể đạt tới giá nào trên thị trường.

“Đừng hòng.” công chúa Thái Bình nói. Sao nàng không hiểu được ý đồ của tên gian thương này chứ.

“Hôm nay đã đến đây rồi nên ta sẽ sửa lại kết giới. Để tránh phải đến một lần nữa vào tiết xuân phân.” Bạch Cơ nói.

Công chúa Thái Bình gật đầu: “Chỉ khi kết giới được sửa chữa thì ta mới có thể yên tâm.”

Bạch Cơ đứng dậy đi đến bên lan can của thủy tạ, dưới lan can là nước biếc sóng sánh. Trong màn mưa khói mịt mờ, nước sông trông như tranh vẽ, Bạch Cơ đưa tay rút chiếc trâm cài tóc ra, đâm vào ngón tay. Một giọt máu xanh nhỏ từ đầu ngón tay trắng như ngọc xuống nước, tạo thành những gợn sóng lan tỏa. Chỉ trong chớp mắt, nước trong hồ như bị đun sôi, sóng nước cuộn trào. Bỗng nhiên, mặt nước rách toạc ra, bốn con rồng trắng khổng lồ bảy từ dưới nước vọt lên trời. Rồng trắng mở rộng nanh vuốt, bay lượn trên không trung, toàn thân chúng được một ngọn lửa xanh băng bao phủ, móng vuốt rắn chắc sắc bén như núi, sừng rồng cong vút như lưỡi liềm. Bốn con rồng trắng bay lượn trên bầu trời rồi biến mất vào bốn hướng đông, nam, tây, bắc.

Nguyên Diệu kinh ngạc nhìn lên trời, kết giới bao quanh phủ Thái Bình hiện ra, kết giới mềm mại như nước, trên đó có những chữ và ký hiệu kỳ lạ đang di chuyển rất nhanh, ánh sáng trong trẻo. Bốn con rồng trắng bay lượn trên kết giới, rồi dần dần hòa vào các chữ và ký hiệu, sau đó biến mất.

Chỉ trong khoảng thời gian uống một chén trà, kết giới biến mất. Bên ngoài thủy tạ, trong rừng hoa cây cảnh vẫn là những gian lầu cao ẩn hiện trong màn mưa khói mịt mờ. Bạch Cơ cười nói với công chúa Thái Bình: “Kết giới không bị tổn hại nhiều, xem ra yêu quái tấn công ngươi năm ngoái đã giảm đi.”

Mặt công chúa Thái Bình tái nhợt, cắn chặt môi: “Chỉ là giảm đi nhưng chúng vẫn sẽ không ngừng đến. Từ khi sinh ra đến bây giờ, ta chưa có một ngày yên ổn, một ngày bình an.”

“Đó là số mệnh của ngươi, không thể thay đổi được.” Bạch Cơ nói.

Công chúa Thái Bình nhìn Bạch Cơ, hỏi: “Tự Nhân, ngươi sẽ luôn bảo vệ ta cho đến khi ta chết chứ?”

Bạch Cơ nói: “Công chúa yên tam, ta sẽ tuân thủ lời hứa, ta sẽ không để bất kỳ phi nhân nào làm hại ngươi suốt đời.”

“Vậy thì ta yên tâm rồi.” công chúa Thái Bình nói.

Công chúa Thái Bình tổ chức yến tiệc chiêu đãi Bạch Cơ và Nguyên Diệu. Trên bàn tiệc, các món ăn ngon miệng, như kim nhũ tô, ngọc lộ đoàn, kim tề ngọc khoái, sinh dương khoái, phi loan khoái, hồng cầu phủ, phượng hoàng thai, hoàng kim kê, ngạc ngư chích, tích lũ kê, cúc hương tề, đà phong chích, ly ngư ức, v.v. Bạch Cơ ăn rất vui vẻ, Nguyên Diệu cũng ăn rất vui vẻ. No say xong Bạch Cơ và Nguyên Diệu từ biệt, ngồi xe ngựa do công chúa Thái Bình chuẩn bị trở về Phiêu Miểu các.

Trong xe ngựa, Nguyên Diệu nói với Bạch Cơ: “Tiểu sinh cảm thấy chúng ta giống như những kẻ lừa đảo đi lừa ăn lừa uống vậy.”

Bạch Cơ cười: “Làm kẻ lừa đảo cũng thú vị mà.”

“Tại sao công chúa Thái Bình luôn lo lắng, sợ hãi yêu quái ăn thịt nàng thế? Chẳng lẽ nàng đã từng làm sai điều gì sao?” Nguyên Diệu tò mò hỏi.

Bạch Cơ lắc đầu: “Không, công chúa Thái Bình không làm gì sai, nàng đang gánh chịu ‘nghiệp’ của mẫu thân mình.”

“Thái hậu ư?” Nguyên Diệu kinh ngạc.

Bạch Cơ gật đầu: “Thái hậu.”

Nguyên Diệu không dám bàn luận về chuyện của Võ hậu, bèn ngậm miệng.

Bạch Cơ cười nói: “Nói ra thì, công chúa Thái Bình và Hiên Chi rất giống nhau.”

“Hả? Giống chỗ nào đâu?” Nguyên Diệu kinh ngạc.

“Các ngươi đều có duyên với phi nhân. Tuy nhiên, công chúa Thái Bình gặp phải nghiệp báo của Võ hậu, bên cạnh nàng toàn là ác quỷ oán hận, hoặc là để trả thù, hoặc là để trút giận, muốn giết nàng, hành hạ nàng. Còn Hiên Chi có lẽ do có cái tên là Nguyên Diệu nên mới có duyên với yêu quái.”

“À, điều này liên quan gì đến tên của tiểu sinh? Nhưng công chúa Thái Bình thật đáng thương, phải chịu đựng vì mẫu thân mình nhiều như thế. Không ngạc nhiên khi người ta đồn rằng nàng luôn u sầu, không vui vẻ.” Nguyên Diệu thương cảm nói. Từ nhỏ đến lớn, luôn có một đám ác quỷ đáng sợ vây quanh, chực giế t chết mình, hành hạ mình, sống trong sự lo sợ, từng bước kinh hoàng như ở địa ngục A-tỳ, chỉ nghĩ thôi đã đủ làm người ta sợ hãi. Không ngạc nhiên khi công chúa Thái Bình luôn u sầu, không thể vui vẻ như thế.

Bạch Cơ thở dài: “Công chúa Thái Bình cũng coi là người mạnh mẽ rồi. Nàng không hề oán hận gì mẫu thân mình, mẫu thân nàng cũng mang đầy cảm giác tội lỗi với nàng, muốn bảo vệ nàng, bù đắp cho nàng. Vì vậy, Võ hậu và ta đã định ra một khế ước. Ta quen biết công chúa Thái Bình đã hai mươi năm rồi, chưa bao giờ thấy nàng cười thoải mái, nàng là một đứa trẻ không biết cười.”

Nguyên Diệu nghĩ, nếu đổi lại là hắn ở vào hoàn cảnh của công chúa Thái Bình thì có lẽ hắn cũng không thể cười. Một người luôn sống cùng sự sợ hãi, cái chết và sự ám ảnh thì làm sao có thể cười được?

Nguyên Diệu nói: “Nhưng hôm nay công chúa Thái Bình đã cười mà!”

“Vì vậy nên ta mới hơi lo lắng. Chính nàng cũng cảm thấy bất an…” Bạch Cơ trầm ngâm, tự nói: “Điều này, dường như không giống dấu hiệu của yêu quái làm loạn.”

Trong xe ngựa rơi vào im lặng.

Nguyên Diệu dường như vẫn còn điều muốn hỏi, Bạch Cơ nhìn thấu suy nghĩ của hắn: “Hiên Chi, có gì muốn hỏi thì cứ nói đi.”

“Bạch Cơ, Tự Nhân là tên của ngươi sao?”

Bạch Cơ sững lại, quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, đánh trống lảng: “Ôi, mưa tạnh rồi kia Hiên Chi ơi.”

“Bạch Cơ, hóa ra tên ngươi là Tự Nhân? Tên hay lắm.”

“Tối nay chúng ta ăn gì vậy Hiên Chi?”

“Ơ, chẳng phải vừa mới ăn tối xong sao?”

“Sáng mai ăn gì?”

“Ngày mai hẵng nói. Tự Nhân…”

“Đừng gọi tên ta nữa!”

“Tại sao? Tên Tự Nhân nghe hay mà!”

“Vì ta ghét bị gọi bằng cái tên đó.”

“Tại sao?” Nguyên Diệu ngạc nhiên.

“Không được hỏi nữa! Nếu không thì ngày mai ta sẽ dùng ngươi làm bữa sáng đấy.” Không biết có phải chủ nào tớ nấy hay không mà giọng điệu của Bạch Cơ đột nhiên trở nên rất giống Ly Nô.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 23: Vô ưu


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Quyển 4: Cây Vô Ưu

Chương 3: Vô ưu

Bạch Cơ và Nguyên Diệu trở về Phiêu Miểu các, Thẩm Lâu đang dựa vào quầy hàng gật gù ngủ.

Bạch Cơ thấy vậy thì khẽ ho một tiếng. Thẩm Lâu bị đánh thức, thấy Bạch Cơ và Nguyên Diệu trở về, lập tức đứng dậy chắp tay: “Bạch Cơ, Nguyên đệ, các người về rồi.”

Bạch Cơ hỏi: “Thẩm quân, hôm nay có khách nào đến không?”

Thẩm Lâu đáp: “Không có. Nhưng đứa con thứ mười ba của Hồ gia đến, hình như có việc gì đó, nhưng nghe nói ngươi không có ở đây nên lập tức rời đi rồi. Hắn để lại một lời nhắn cho ngươi, nói rằng chiều mai sẽ đến thăm.”

“Ừ, biết rồi.” Bạch Cơ trả lời, nàng bước vào trong, đi được hai bước, lại quay đầu: “Hôm nay cảm ơn Thẩm quân. Không có gì để cảm tạ, Thẩm quân thích trong Phiêu Miểu các gì thì cứ lấy, không cần khách sáo.”

Thẩm Lâu vội từ chối: “Chuyện nhỏ thôi, không cần cảm ơn.”

Bạch Cơ cười: “Đây là thù lao của ngươi, không cần từ chối.”

Thẩm Lâu gãi đầu, nói: “Tại hạ là người hiệp khách, đi khắp nơi, không có vũ khí tự vệ rất bất tiện. Nếu ngươi có thể tặng tại hạ thanh kiếm đồng xanh trên tường kia thì tại hạ sẽ cảm kích vô cùng.”

Trên bức tường phía nam của đại sảnh có treo một thanh kiếm ngắn thời Chiến Quốc. Kiếm dài khoảng một thước bảy, rộng khoảng ba tấc, vỏ kiếm được khảm đá quý bảy màu.

Bạch Cơ cười: “Thẩm quân thích thì cứ lấy đi.”

Thẩm Lâu vui vẻ nói: “Cảm ơn Bạch Cơ.”

Bạch Cơ cười khẽ, quay người bước vào trong, đi lên lầu. Thẩm Lâu có được thanh bảo kiếm thì rất vui mừng, phấn khởi kể cho Nguyên Diệu nghe những câu chuyện hiệp khách ngày xưa ở Hàm Dương: “Ngày xưa, tại hạ khi đi hành tẩu giang hồ ở Hàm Dương, đã kết giao với nhiều bạn lữ, mọi người ý hợp tâm đầu, tình như thủ túc…”

Nguyên Diệu pha hai tách trà, sau đó ôm tách trà lắng nghe rất hăng say.

Trời dần tối, Thẩm Lâu càng kể càng hăng, cuối cùng quyết định ở lại trò chuyện thâu đêm cùng Nguyên Diệu. Thẩm Lâu không biết lấy vài hũ rượu quế hoa ở đâu ra, uống dưới ánh nến với Nguyên Diệu.

Thẩm Lâu hào hứng, đập ly gào lên: “Nhớ ngày xưa niên thiếu, lần đầu vào giang hồ. Nghĩa hiệp trong lòng, vui thích ân oán. Ôm kiếm Lan Đài, nghĩa khí trùng trùng dâng cao; uống nước Trường Giang, tình hiệp hùng dũng hoan ca. Một lòng mây xanh, hai tay trắng tuyết. Cầm kiếm trời xa, dấu chân phiêu dạt.”

Chàng thư sinh cũng ngâm một bài thơ: “Đao quang kiếm ảnh giấc mộng giang hồ, mở sách vung bút mực đậm đà. Ba thước nước thu vô tình xanh, mười dặm gió đông đoạn trường đỏ. Lầu ca Tây Kinh gảy trường kiếm, mưa lạnh Bắc Mang ướt mộ hoang. Xưa nay bao nhiêu chuyện hào kiệt, vung bút cười một cái khói mây tan.”

Hai người nâng ly uống cạn, nhìn nhau cười, trò chuyện vui vẻ. Rượu quế hoa tuy nhạt, nhưng tửu lượng của Nguyên Diệu không tốt, uống hơn nửa hũ đã mơ màng buồn ngủ.

“Thẩm huynh à, mai hẵng nói tiếp nhé, tiểu sinh buồn ngủ rồi…” Nguyên Diệu ngáp một cái, nằm xuống chăn đệm.

“Ôi, tại hạ đang nói đến chỗ hay, Nguyên đệ sao lại ngủ rồi?” Thẩm Lâu thất vọng nói, hắn đẩy Nguyên Diệu, nhưng chàng thư sinh đã bắt đầu ngáy khò khò.

Thẩm Lâu đành phải nằm xuống bên cạnh Nguyên Diệu ngủ. Nhưng trong lòng hắn quá phấn khích, lật qua lật lại nhưng vẫn không ngủ được. Đột nhiên, Thẩm Lâu bật dậy, tự nói với bóng tối: “Sống như phù du cậy vào đôi cánh, sáng là tóc xanh, tối đã thành tóc bạc, không thể lãng phí thời gian, tại hạ phải đi hành tẩu giang hồ đây!”

Thẩm Lâu lay tỉnh Nguyên Diệu, nói: “Nguyên lão đệ, cuộc đời ngắn ngủi, không nên lãng phí, ta muốn đi hành tẩu giang hồ, ngươi cảm thấy thế nào?”

Nguyên Diệu đang mơ màng nên thuận miệng đáp: “Du hiệp? Tốt lắm, đi đi, đi đi…”

“Nguyên lão đệ, ngươi có muốn đi cùng ta không?”

“Ta thì không đi đâu. Nếu đi thì Ly Nô lão đệ mắng ta lười biếng không chịu làm việc…” Nguyên Diệu mơ màng nói. Nói xong, hắn lại gục xuống gối ngủ tiếp.

Thẩm Lâu quyết tâm, nắm chặt tay: “Ta sẽ đi từ biệt Bạch Cơ.”

Thẩm Lâu bước vào phòng trong, còn Nguyên Diệu thì nằm gục xuống ngủ say.

Thẩm Lâu lay Nguyên Diệu: “Nguyên đệ dậy đi, Nguyên đệ dậy đi…”

Nguyên Diệu mơ màng mở mắt, một con ếch xám đứng bên cạnh giường hắn, đang đưa bàn chân có màng đập vào mặt hắn.

Nguyên Diệu dụi mắt ngồi dậy.

Con ếch đeo một thanh kiếm đồng xanh, chắp tay với Nguyên Diệu: “Nguyên đệ bảo trọng. Sau này gặp lại.”

“Ơ?” Nguyên Diệu ngơ ngác.

Ếch đeo kiếm nhảy ba bước, biến mất khỏi Phiêu Miểu các.

“Ơ?!!” Nguyên Diệu lại ngơ ngác.

Nhưng Nguyên Diệu rất buồn ngủ, cũng lười quan tâm, lại nằm xuống ngủ tiếp.

Sáng hôm sau, Nguyên Diệu thức dậy, Thẩm Lâu đã không còn.

“Thẩm huynh? Thẩm huynh, huynh đâu rồi?” Nguyên Diệu tìm khắp Phiêu Miểu các nhưng không thấy Thẩm Lâu đâu, trong lòng chợt hơi trống vắng. Nguyên Diệu trở lại đại sảnh, nhìn hũ rượu quế hoa uống dở, cố gắng nhớ lại chuyện đêm qua, mơ hồ nhớ có ai đó đến từ biệt hắn. Hình như là một con ếch?!!

Nguyên Diệu rửa mặt xong thì ra mở cửa tiệm, ánh nắng ban mai chiếu vào Phiêu Miểu các.

Trong bữa sáng, Nguyên Diệu hỏi Bạch Cơ: “Thẩm huynh đi đâu rồi?”

Bạch Cơ xoa trán: “Không phải bị Hiên Chi xúi giục đi hành tẩu giang hồ rồi sao?”

“Ơ, tiểu sinh đâu có xúi giục Thẩm huynh đi hành tẩu giang hồ đâu?”

Bạch Cơ uống ly rượu quế hoa, nói: “Có lẽ không xúi giục thật, nhưng hắn nói sau khi nói chuyện với Hiên Chi thì lập tức muốn đi hành tẩu giang hồ. Sống như phù du cậy vào đôi cánh, xuân hạ thu đông, chớp mắt qua đi, việc muốn làm nên làm ngay, không được lãng phí.”

Nguyên Diệu nghe vậy thì cũng hơi cảm khái: “Hy vọng Thẩm huynh có thể vui vẻ, tận hưởng việc hành tẩu giang hồ.”

Bạch Cơ thở dài một tiếng: “Thẩm quân vui vẻ đi hành tẩu giang hồ, không quan tâm gì nữa, nhưng ta làm sao báo cáo với Dận? Nếu Dận tỉnh dậy, phát hiện Thẩm quân không còn thiếu tình hình sẽ không hay đâu.”

“Dận là ai? Thẩm huynh bỏ đi, sao phải báo cáo với Dận?”

“Dận là ca ca của Thẩm quân, vì một số lý do, hắn không tiện xuất hiện, mọi việc đều do Thẩm quân xử lý. Thẩm quân đi rồi, hắn sẽ giận.”

“Vậy phải làm sao đây?”

“Vì Hiên Chi đã xúi giục Thẩm Quân bỏ đi, vậy thì Hiên Chi hãy đi xin lỗi đi.” Bạch Cơ lấy một chiếc chìa khóa, đưa cho Nguyên Diệu: “Tiện thể mang chiếc chìa khóa này giao cho Dận giữ.”

“Ơ, chuyện này liên quan gì đến tiểu sinh đâu?” Nguyên Diệu không muốn đi, nhưng thấy Bạch Cơ nhìn hắn, đôi mắt đen u tối khó đoán, đành phải nhận lấy chìa khóa: “Được rồi, tiểu sinh sẽ đi. Dận ở đâu?”

“Dưới đáy giếng.” Bạch Cơ cười nói.

“Trong kho dưới đáy giếng ư?” Nguyên Diệu hỏi.

Bạch Cơ lắc đầu: “Không phải trong kho, mà là dưới đáy giếng.”

“Trong nước giếng sao?”

“Ừ.”

Nguyên Diệu toát mồ hôi lạnh: “Nhưng tiểu sinh không biết bơi…”

“Không biết bơi cũng có thể đi.” Bạch Cơ cười nham hiểm.

“Vậy, Dận thực chất là gì?”

“Là Thận.”

“Thận* là gì?”

*Là loài sò hến cực lớn, Loài luồng luồng.

“Nói đơn giản, là một con trai lớn.”

“Nó sẽ tặng tiểu sinh ngọc trai chứ?”

“Không, nhưng nó sẽ tặng ngươi một giấc mơ đẹp.”

“Thật sao?”

“Thật.”

“Thẩm huynh cũng là Thận sao?”

“Không, Thẩm Quân là một con cóc. Tuy nhiên, nó luôn nghĩ mình là đệ đệ ruột của Dận, cũng là một con Thận, nên ngươi tuyệt đối không được trước mặt nó nói từ ‘cóc’, ‘ếch’, hay ‘

nhái’, nếu không nó sẽ rất không vui.”

“Ừ. Tiểu sinh đã hiểu.”

Bạch Cơ cười.

“Tiểu sinh đi ngay bây giờ sao?”

Bạch Cơ cười nói: “Vài ngày nữa rồi đi, đợi đến khi trăng tròn. Lúc đó, Dận mới tỉnh dậy.”

“Ừ, được.”

Bạch Cơ và Nguyên Diệu im lặng ngồi ăn dưới hiên, cây đào trong vườn đã nở hoa rực rỡ, cánh hoa rơi đầy.

Bạch Cơ uống một ngụm rượu hoa quế, trầm tư nói: “Hiên Chi hình như luôn lãng phí thời gian ở Phiêu Miểu các, chẳng lẽ ngươi không có việc gì muốn làm sao?”

Nguyên Diệu gãi đầu: “Việc mà tiểu sinh muốn làm à? Hình như không có, tiểu sinh chỉ muốn luôn ở Phiêu Miểu các thôi.”

“Tại sao?”

“Vì ở Phiêu Miểu các rất thú vị, rất vui vẻ.”

“Hiên Chi đúng là một người dễ thỏa mãn.”

“Cổ ngữ có câu, tri túc giả thường lạc*.” Nguyên Diệu cười, rồi lại nói: “Nếu Bạch Cơ có thể tăng một chút tiền lương hàng tháng cho tiểu sinh, thì tiểu sinh sẽ càng vui hơn.”

*Kẻ biết đủ sẽ không thấy vui

“Đừng mơ.” Bạch Cơ cười tít mắt nói: “Hiên Chi, cổ ngữ có câu, tri túc giả thường lạc.”

Tiểu thư sinh buồn bực cắn một miếng bánh anh đào, nuốt luôn câu “đúng là con rồng yêu gian trá tham tiền” với bánh vào bụng.

Buổi trưa, khi Nguyên Diệu đang dùng chổi lông gà phủi bụi cho đồ cổ, thì Hồ Thập Tam Lang đến.

“Nguyên công tử, lâu quá không gặp.” Con hồ ly nhỏ màu đỏ rực đi vào Phiêu Miểu các, ngồi xuống ngay ngắn.

Nguyên Diệu cười nói: “À, là Thập Tam Lang hả. Lâu quá không gặp.”

Con hồ ly nhỏ rụt rè nói: “Bạch Cơ có ở đây không? Hôm qua mỗ có hẹn hôm nay đến gặp.”

Nguyên Diệu cười nói: “Bạch Cơ đang phơi nắng ở hậu viện, tiểu sinh sẽ dẫn ngươi đi.”

“Làm phiền Nguyên công tử rồi.” Con hồ ly nhỏ rụt rè nói.

Nguyên Diệu dẫn con hồ ly nhỏ ra hậu viện. Trong hậu viện, cỏ xanh mướt, ánh nắng mùa xuân như một dải lụa cam, vừa sáng vừa mát. Bạch Cơ nằm trên ghế mỹ nhân, nhắm mắt phơi nắng.

“Bạch Cơ, Thập Tam Lang đến rồi.” Nguyên Diệu nói.

Bạch Cơ quay đầu lại, ngồi dậy, cười nói: “Thập Tam Lang sao lại rảnh rỗi đến Phiêu Miểu các chơi vậy?”

Con hồ ly nhỏ ngồi xuống trước mặt Bạch Cơ, lễ phép nói: “Mỗ không phải đến để chơi, mỗ có một việc rắc rối, muốn thỉnh giáo Bạch Cơ.”

Bạch Cơ nhìn con hồ ly nhỏ một lúc, nói: “Sắc mặt Thập Tam Lang hình như hơi tiều tụy.”

Con hồ ly nhỏ đưa móng vuốt lên xoa mặt: “Ài, mỗ đã bỏ nhà ra đi hơn một tháng rồi. Hơn một tháng nay, mỗ sống nhờ ở nghĩa địa hoang, dưới mái hiên nhà nông dân, trong từ đường chùa miếu, khổ không tả xiết.”

“Sao Thập Tam Lang phải bỏ nhà ra đi thế?” Bạch Cơ tò mò hỏi.

Con hồ ly nhỏ lại xoa mặt: “Chuyện nói ra thì dài lắm.”

Nguyên Diệu pha hai chén trà, mang một ít điểm tâm lên, Thập Tam Lang vừa uống trà, ăn điểm tâm, vừa từ từ kể.

Khi còn trẻ, vua Cửu Vĩ Hồ có tính cách u sầu và đa cảm. Khi già, vì lo lắng cho sự thịnh suy của cửu vĩ hồ tộc, lo lắng cho hôn nhân của con cháu, lo lắng cho sự trưởng thành của cháu chắt, nên nó càng trở nên u sầu, buồn bã. Hồ ly các đều khuyên nó nghĩ thoáng một chút, con cháu tự có phúc của con cháu, không cần lo lắng quá nhiều, nhưng nó vẫn không thể giải tỏa, vẫn tiếp tục u sầu.

Mùa hè năm ngoái, Hồ Tam Nương và phu quân đi du ngoạn ở Nam Hải, gặp một con Thận. Thấy Thận đang nằm mơ nên Hồ Tam Nương bước vào giấc mơ của Thận. Trong giấc mơ của Thận, tiên sơn huyền ảo đẹp như mộng, trong rừng núi và đầm lầy mọc đầy các loài kỳ hoa dị thảo, các loài động vật quý hiếm chạy nhảy.

Hồ Tam Nương đi dạo trong đó, nàng ngạc nhiên thấy một cây đại thụ xum xuê, cành cây hùng vĩ, lá cây xanh mướt, trên cây nở đầy những bông hoa vàng, dày đặc, rực rỡ. Nhìn từ xa, trông như những chiếc áo cà sa vàng treo trên cây.

Hồ Tam Nương đã từng thấy loại cây này trong “Kinh Nhân quả”, loại cây này gọi là cây Vô Ưu. Tương truyền, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra dưới gốc cây Vô Ưu. Người ta nói, bất kể là người hay phi nhân, chỉ cần ngồi dưới gốc cây Vô Ưu, th có thể quên hết mọi phiền não, trở nên vô ưu vô lo, vui vẻ.

Hồ Tam Nương nhớ đến người cha u sầu của mình, bèn lén hái một quả Vô Ưu. Sau khi từ Nam Hải trở về nhà, Hồ Tam Nương đưa quả Vô Ưu cho vua Cửu Vĩ Hồ: “Phụ thân, đây là quả kết từ cây Vô Ưu, hãy chôn nó vào đất, đợi nó nảy mầm, lớn lên, sẽ trở thành cây Vô Ưu. Người ta nói, bất kể là người hay phi nhân, chỉ cần ngồi dưới gốc cây Vô Ưu, thì có thể quên hết mọi phiền não, trở nên vô ưu vô lo, vui vẻ. Nếu có cây Vô Ưu, người sẽ không còn buồn phiền nữa.”

“Thật tuyệt vời!” vua Cửu Vĩ Hồ rất vui mừng, nó quét mắt nhìn các con cháu: “Ai trong các con chịu trồng cây Vô Ưu giúp ta?”

Một con hồ ly nhỏ màu đỏ rực bước ra, rụt rè nói: “Mỗ tuy không tài giỏi, nhưng muốn trồng cho phụ thân.”

Lão Hồ Vương rất vui mừng: “Ha ha, Thập Tam, con là đứa hiếu thảo nhất. Con xưa nay chăm chỉ, tỉ mỉ, giao cho con, phụ thân cũng yên tâm.”

Lão Hồ Vương lại khen ngợi Hồ Thập Tam Lang một hồi, các con hồ ly khác hơi không vui, thì thầm với nhau: “Thập Tam thật láu cá, lại chiếm được cơ hội trước rồi.”

“Thập Tam thích giả vờ ngoan ngoãn để lấy lòng cha già.”

“Hừ, nó chắc chắn muốn làm vua Cửu Vĩ Hồ đời tiếp theo.”

“Thập Tam Lang thật đáng ghét…”

Con hồ ly nhỏ cảm thấy hơi ấm ức, nó chỉ muốn chia sẻ nỗi lo với phụ thân, đền đáp công ơn dưỡng dục, từ trước đến nay không có ý gì khác.

Lão Hồ Vương bảo vệ Thập Tam Lang, quát mắng các con hồ ly: “Các con à các con, Thập Tam chỉ làm một chút việc để làm ta vui mà các ngươi đã không ưa nó, nghi ngờ nó, thật làm ta tức chết mà! Nếu, sau này ta không còn nữa thì sao các ngươi có thể đoàn kết yêu thương nhau đây, Cửu Vĩ Hồ tộc sao có thể phồn vinh đây? Chỉ e lúc đó, Cửu Vĩ Hồ tộc sẽ vì nghi ngờ lẫn nhau, không đoàn kết mà tan rã, suy tàn, phi nhân giới sẽ không còn chỗ đứng của Cửu Vĩ Hồ tộc nữa mất!”

Lão Hồ Vương nói đến đau lòng, đập ngực, nước mắt lưng tròng: “Ôi, nghĩ đến cảnh tượng đó, sao ta không thể không lo lắng, lo đến chết mất, lo đến chết mất!!”

Các con hồ ly bèn không dám nói thêm nửa lời.

Chuyện Thập Tam Lang trồng cây Vô Ưu được quyết định như vậy.

Thập Tam Lang chọn một mảnh đất yên tĩnh và màu mỡ trong rừng nơi Cửu Vĩ Hồ tộc cư ngụ để trồng cây Vô Ưu. Nó chôn quả Vô Ưu vào đất, tưới nước suối trên núi, ngày đêm canh giữ, cầu nguyện, lặng lẽ chờ đợi hạt nảy mầm.

Một tháng sau, từ đất bỗng nảy ra một mầm xanh, con hồ ly nhỏ vui mừng nhảy cẫng lên, chạy vào nhà báo cho lão Hồ Vương biết cây Vô Ưu đã nảy mầm. Lão Hồ Vương rất vui mừng, khen ngợi con hồ ly nhỏ rất giỏi. Các con hồ ly khác hơi không vui.

Con hồ ly nhỏ càng cẩn thận, chăm chỉ trồng cây Vô Ưu. Hai tháng sau, mầm cây đã cao ba tấc, có thêm bốn lá non màu ngọc bích. Con hồ ly nhỏ vui mừng xoa mặt, lại về nhà báo cho lão Hồ Vương. Lão Hồ Vương rất vui mừng, lại lần nữa khen ngợi con hồ ly nhỏ rất giỏi. Các con hồ ly nhìn nhau, lại không vui.

Con hồ ly nhỏ tiếp tục chăm sóc cây Vô Ưu. Nhưng một ngày, khi con hồ ly nhỏ lấy nước suối từ rừng trúc tím về để tưới cây Vô Ưu, thì cây Vô Ưu đã biến mất. Con hồ ly nhỏ rất lo lắng, tìm khắp núi trước núi sau, từ trên núi xuống dưới núi, nhưng đều không tìm thấy. Cuối cùng, con hồ ly nhỏ đành nước mắt lưng tròng về nhà, báo cáo tin không may này cho lão Hồ Vương.

Lão Hồ Vương ngạc nhiên nói: “Đang yên đang lành sao cây Vô Ưu lại biến mất?”

Thập Tam Lang rụt rè nói: “Mỗ cũng không biết, e rằng bị ai đó đánh cắp…”

Lão Hồ Vương thở dài, đập ngực lo lắng: “Địa bàn của Cửu Vĩ Hồ tộc chúng ta lại có người thần không biết quỷ không hay xâm nhập, thật không thể chịu nổi! Thật lo chết mất, lo chết mất…”

Các con hồ ly đồng thanh nói: “Tất cả đều tại Thập Tam lơ là nhiệm vụ, mới để người khác đánh cắp cây Vô Ưu.”

“Địa bàn của Cửu Vĩ Hồ tộc chúng ta có chín tầng kết giới, người ngoài tuyệt đối không thể xâm nhập, tám phần là Thập Tam lười biếng, để cây Vô Ưu chết, nó sợ bị phụ thân trách phạt nên mới cố ý nói là ai đó đánh cắp cây Vô Ưu rồi.”

“Đúng, chắc chắn là như vậy.”

“Sao Thập Tam lại nói dối chứ?”

“Dù sao đi nữa, đều là lỗi của Thập Tam.”

Các con hồ ly lần lượt trách mắng Thập Tam Lang, Thập Tam Lang ấm ức nhưng không thể biện bạch, chỉ có thể khóc lóc giải thích: “Mỗ không để cây Vô Ưu chết, cây Vô Ưu thật sự đã biến mất…”

Các con hồ ly không tin và khẳng định Thập Tam Lang đã để cây Vô Ưu chết.

Các con hồ ly ồn ào hỗn loạn, lão Hồ Vương nhìn thấy thì đập ngực thở dài: “Thật lo chết mất, lo chết mất…”

Cuối cùng, mặc dù lão Hồ Vương tin Thập Tam Lang không nói dối, nhưng các con hồ ly đều không tin, trước mặt sau lưng đều trách mắng Thập Tam Lang. Thập Tam Lang vừa ấm ức, vừa tức giận, nên đã bỏ nhà ra đi.

Con hồ ly nhỏ xoa mặt, nói: “Cây Vô Ưu chắc chắn bị ai đó đánh cắp rồi. Bằng mọi giá, mỗ phải tìm lại cây Vô Ưu bị đánh cắp thì mọi người mới tin mỗ không nói dối, phụ thân mới có thể vui vẻ vô ưu.”

Bạch Cơ suy tư một lúc, nói: “Nơi ngươi trồng cây Vô Ưu là địa bàn của Cửu Vĩ Hồ tộc, có kết giới của Cửu Vĩ Hồ tộc, dù là phi nhân hay người thường xâm nhập thì ngươi không thể không biết được?”

Hồ ly nhỏ cụp tai xuống: “Chuyện này thật kỳ lạ, mỗ hoàn toàn không cảm thấy có ai xâm nhập, nhưng cây Vô Ưu thật sự đã biến mất. Hơn nữa, người xâm nhập vào kết giới không phải là phi nhân, mà là con người.”

Bạch Cơ kinh ngạc hỏi: “Nói vậy là sao?”

“Dấu chân. Sau khi xảy ra chuyện, mỗ đã quay lại nơi trồng cây Vô Ưu và kiểm tra kỹ lưỡng, phát hiện ra dấu chân của con người.” Hồ ly nhỏ nghiêm trọng nói.

“Dấu chân của con người?” Bạch Cơ kinh ngạc.

Hồ ly nhỏ gật đầu: “Dấu chân của con người.”

Bạch Cơ uống một ngụm trà: “Nếu đã có dấu chân thì chắc chắn cũng sẽ có mùi, theo mùi mà tìm thì không khó để tìm ra người đã lấy cây Vô Ưu.”

Hồ ly nhỏ vò mặt: “Người đó không để lại mùi nào.”

Bạch Cơ cười: “Làm gì có ai trên thế gian này mà không có mùi cơ chứ?”

Hồ ly nhỏ nói: “Thật sự không có để lại mùi. Mỗ đoán, hoặc là người này đạo pháp cao thâm như Lý Thuần Phong*, hoặc là phi nhân có pháp lực rất cao thâm đã ẩn giấu mùi của hắn.”

* Lý Thuần Phong: Nhà thiên văn học, toán học xuất sắc thời Đường. Ông đã viết “Trạch Kinh”, được tôn làm tổ sư phong thủy; viết “Lục Nhâm Âm Dương Kinh”, được tôn làm tổ sư Lục Nhâm; viết “Kim Tỏa Lưu Châu Dẫn”, “Thái Thượng Xích Văn Động Thần Tam Trận Chú”, trở thành danh nhân Đạo giáo thời Đường. Ông và Viên Thiên Cương cùng viết “Thôi Bối Đồ”, dự đoán nhiều sự kiện lịch sử như “Thái Bình Thiên Quốc”, “Thanh binh nhập quan”, “Nhật Bản xâm lược Trung Quốc”, được tôn là cuốn sách tiên tri kỳ diệu của phương Đông. Tóm lại, ông là một nhân vật kỳ tài.

Bạch Cơ nói: “Cũng không phải là không thể.”

Hồ ly nhỏ nhăn nhó nói: “Những ngày qua, mỗ đã đi khắp nơi tìm kiếm, thậm chí còn hỏi cả Huyền Vũ, nhưng vẫn không có tin tức gì về cây Vô Ưu và kẻ trộm, thậm chí không có một chút manh mối nào, thật là làm mỗ lo chết mất. Bạch Cơ, Phiêu Miểu các có thể thực hiện bất kỳ điều ước nào, mỗ bèn đến đây để xin nàng thực hiện nguyện vọng tìm lại cây Vô Ưu cho mỗ.”

Bạch Cơ trầm ngâm một lúc rồi nói: “Được. Ta sẽ giúp ngươi tìm lại cây Vô Ưu. Nhưng ngươi sẽ trả công thế nào đây?”

Hồ ly nhỏ ngượng ngùng nói: “Chuyện này… những năm qua, tiền tiêu vặt của cha mỗ cho, mỗ đều dùng để mua đồ ăn vặt, không có tích cóp được gì cả…”

Bạch Cơ cười, ngước mắt lên: “Nghe nói, Thập Tam Lang rất giỏi nấu ăn?”

Hồ ly nhỏ ngượng ngùng nói: “Cũng không giỏi lắm, chỉ biết nấu nướng một chút thôi. Cha mỗ rất kén ăn, thường thích đổi khẩu vị, mỗ vì muốn người ăn ngon miệng nên thường đến ngự trù trong cung, lén học làm các món ăn rồi về nhà nấu cho cha mỗ.”

Bạch Cơ cười tít mắt nói: “Nếu Thập Tam Lang ở lại Phiêu Miểu các làm việc vặt hai tháng, ta sẽ giúp ngươi tìm lại cây Vô Ưu.”

Hồ ly nhỏ e dè nói: “Chỉ cần nàng giúp mỗ tìm lại cây Vô Ưu, mỗ ở lại Phiêu Miểu các làm việc vặt cả đời cũng được. Chỉ là, con mèo đen đó chắc sẽ không chứa nổi cho ta… Đúng rồi, hôm nay không thấy con mèo đen đó đâu nhỉ?!”

Bạch Cơ nói: “Ly Nô đi vào núi rồi, hai tháng sau mới về. Ly Nô đi rồi nên Phiêu Miểu các đang thiếu người.”

“Vậy à.” Hồ ly nhỏ suy nghĩ một lúc rồi e dè nói: “Nếu Bạch Cơ không chê, mỗ sẽ ở lại Phiêu Miểu các.”

“Tốt quá rồi.” Bạch Cơ cười tít mắt nói.

Hồ ly nhỏ e dè nhìn Bạch Cơ: “Vậy, chuyện cây Vô Ưu, nhờ nàng cả đấy.”

Bạch Cơ gật đầu, cười nói: “Không vấn đề gì. Phiêu Miểu các không bao giờ từ chối bất kỳ điều ước nào, dù là điều ước tốt lành hay điều ước xấu xa.”

Dưới ánh nắng mùa xuân, cánh hoa đào bay lượn, nụ cười của Bạch Cơ mơ hồ không thật.

Hồ ly nhỏ ở lại Phiêu Miểu các, vì quá mệt, nó ăn một ít đồ ngọt rồi cuộn mình ngủ dưới gốc cây đào.

Bạch Cơ chỉnh lại trang phục, rời khỏi nhà. Nguyên Diệu đoán rằng nàng có thể là đi tìm tung tích của cây Vô Ưu.

Nguyên Diệu ngồi sau quầy, chống cằm nhìn trời, mơ màng suy nghĩ. Cây vô ưu, cây Vô Ưu, trên đời này thật sự có cây Vô Ưu có thể làm cho người ta vui vẻ không ưu sầu sao? Nếu có, hắn cũng muốn đến ngồi dưới cây Vô Ưu.

“Nguyên công tử, đã đến giờ Thân rồi, sao ngươi không gọi mỗ dậy?” Một giọng nói e dè kéo Nguyên Diệu trở lại thực tại.

Nguyên Diệu nhìn quanh, trong đại sảnh trống trải không có ai, hắn nhìn xuống mới thấy Hồ Thập Tam Lang. Hồ Thập Tam Lang ngồi dưới đất, bên cạnh là một chiếc giỏ tre.

Nguyên Diệu cười nói: “Thấy ngươi ngủ ngon quá, ta không muốn đánh thức mỗ.”

Hồ ly nhỏ vò mặt: “Mỗ là người làm việc vặt, không dám lười biếng, Nguyên công tử phải nghiêm khắc với mỗ vào. Vừa rồi, mỗ vào bếp thấy ngoài cá muối thì hình như không còn thức ăn nào khác. Chợ vẫn chưa tan, mỗ sẽ đi mua ít thức ăn về chuẩn bị bữa tối. Nguyên công tử, xin hãy cho mỗ một xâu tiền.”

“À, được.” Nguyên Diệu vội vàng lục tìm một xâu tiền từ quầy đặt vào giỏ tre của hồ ly nhỏ.

Hồ ly nhỏ e dè nói: “Xin hỏi, khẩu vị của Bạch Cơ thế nào? Nàng ấy thích ăn đậm đà hay nhẹ nhàng? Thích ăn ngọt hay mặn? Thích ăn món mặn hay món chay? Có món gì yêu thích không? Có gì kiêng kỵ không?”

Nguyên Diệu suy nghĩ một lúc rồi nói: “Bạch Cơ không kén ăn lắm, không có gì đặc biệt yêu thích hay kiêng kỵ, nàng ấy ăn được mọi thứ, ngươi không cần lo lắng.”

“Vậy Nguyên công tử thì sao?”

Nguyên Diệu cười nói: “Ta ăn được tất, Thập Tam Lang không cần bận tâm quá.”

Tiểu hồ ly ngượng ngùng đáp: “Vậy thì tốt, mỗ đi mua đồ ăn đây.”

Tiểu hồ ly dùng miệng ngậm cái giỏ trúc, bước ra ngoài Phiêu Miểu các.

Nguyên Diệu chợt nhớ ra điều gì, vội gọi: “Thập Tam Lang, chờ đã.”

Tiểu hồ ly quay đầu lại, đặt giỏ xuống: “Nguyên công tử còn dặn dò gì không?”

“Ngươi… ngươi… ngươi định cứ thế này mà đi chợ sao?” Nguyên Diệu nghĩ, Hồ Thập Tam Lang cứ thế đi chợ, chắc chắn sẽ bị mọi người coi là yêu quái mà đuổi đánh. Tất nhiên, nó vốn dĩ là yêu quái rồi.

Tiểu hồ ly vỗ trán: “Ta suýt thì quên mất, đi chợ phải hóa thành người.”

Tiểu hồ ly vừa dứt lời, lập tức biến thành người. Một thiếu niên xinh đẹp, làn da trắng trẻo, lông mày như vẽ hiện ra trước mắt Nguyên Diệu. Thiếu niên mang giày da đen, mặc áo choàng đỏ, đôi mắt phượng hơi xếch lên, ánh mắt dịu dàng mà quyến rũ.

“Thập Tam Lang đó ư?!!” Nguyên Diệu ngạc nhiên.

Hồ Thập Tam Lang hơi đỏ mặt, ngượng ngùng nói: “Đúng là mỗ. Dung mạo mỗ xấu xí, hù dọa Nguyên công tử rồi chăng?”

“Không, không, ta chỉ ngạc nhiên thôi, không ngờ Thập Tam Lang lại phong lưu tuấn tú như vậy, không thua kém gì Ly Nô huynh đệ.”

Hồ Thập Tam Lang hơi không vui: “Xin đừng so sánh ta với con mèo đen tự cao, xấu xí đó!”

“Ờ, được.” Nguyên Diệu không dám nói thêm gì nữa.

Hồ Thập Tam Lang đi chợ mua đồ ăn.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 24: Tơ nhện


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Quyển 4: Cây Vô Ưu

Chương 4: Tơ nhện

Khi mặt trời ngả về tây, Bạch Cơ mang một cái giỏ lá liễu trở về, miệng còn ngân nga một khúc nhạc vui vẻ.

Nguyên Diệu hỏi: “Sao Bạch Cơ lại vui vẻ như vậy, phải chăng ngươi đã biết tung tích của cây Vô Ưu rồi?”

Bạch Cơ đặt giỏ lá liễu lên quầy, cười nói: “Tộc hồ ly chín đuôi giỏi nhất việc tìm kiếm, ngay cả họ cũng không tìm được cây Vô Ưu, thì ta sao ta có thể tìm được?”

“Ngươi không tìm được cây Vô Ưu, vậy sao còn hứa với Thập Tam Lang rằng sẽ thực hiện nguyện vọng của nó?”

“Vì Phiêu Miểu các đang thiếu một người nấu ăn mà.”

“Chẳng lẽ ngươi đang lừa Thập Tam Lang ư?” Nguyên Diệu hơi tức giận. Con rồng yêu gian trá này không phải đang lừa con hồ ly ngây thơ làm việc không công cho mình chứ?

Bạch Cơ cười: “Sao ta lại lừa Thập Tam Lang chứ? Tuy ta không thể tìm được cây Vô Ưu, nhưng ta có cách biết được nó ở đâu.”

“Cách gì?” Nguyên Diệu tò mò hỏi.

Bạch Cơ cười bí ẩn: “Thiên cơ bất khả lộ. Đến lúc đó ngươi sẽ biết.”

Nguyên Diệu biết Bạch Cơ tuy hành sự bí ẩn, nhưng luôn chắc chắn nên không hỏi thêm nữa. Hắn cúi đầu nhìn vào giỏ lá liễu, thấy nửa giỏ đầy chỉ màu, có màu đỏ máu, màu vàng kim, màu xanh lá sen, màu tím công, màu xanh ngọc. Năm màu chỉ rất mịn, rất bóng, sáng ngời và trong suốt, không giống chỉ lanh, chỉ bông, cũng không giống chỉ tơ tằm.

Nguyên Diệu thắc mắc hỏi: “Đây là gì?”

Bạch Cơ cười nói: “Ta mua tơ nhện.”

“Ngươi mua tơ nhện làm gì?”

“Thêu.”

“Thêu ư?!”

“Đúng vậy, ta định tặng ngươi một chiếc khăn tay, ngươi thích họa tiết gì?”

Nghe vậy, mặt Nguyên Diệu bỗng đỏ lên: “Sao ngươi lại tặng ta khăn tay?”

Bạch Cơ cười gian: “Hì hì, đến lúc đó ngươi sẽ biết. Ngươi thích họa tiết gì?”

Nguyên Diệu gãi đầu: “Mai, lan, trúc, cúc đều được…”

“Vậy thì thêu một bụi cúc xanh nhé.”

“Có thể thêu thêm Ly Nô huynh đệ không? Nhiều ngày không gặp, ta nhớ nó lắm, sau này thấy khăn như thấy nó.”

“Được.”

“Thêu thêm Thập Tam Lang vào nữa nhé. Nó và Ly Nô đệ luôn đánh nhau, thêu lên khăn chúng sẽ không đánh nhau nữa.”

“Được.”

“Thêu cả Đan Dương nữa nhé.”

“Được.”

“Có thể thêu cả ta lên không?”

“Có thể.”

“Thêu cả ngươi nữa nhé.”

“Ơ, sao cả ta cũng phải thêu lên?”

“Thêu tất cả lên mới càng đông vui.” Tiểu thư sinh vui vẻ nói.

“Ừ, được.” Bạch Cơ đáp.

“Bạch Cơ, thêu nhiều thứ như vậy, ngươi không thấy phiền sao?”

Bạch Cơ cười quỷ quyệt: “Không sao, thêu càng nhiều, đến lúc đó càng an toàn.”

Chiều tối, Bạch Cơ, Nguyên Diệu, và Hồ Thập Tam Lang ăn cơm trong sân sau. Hồ Thập Tam Lang đã nấu món canh chân lạc đà, thịt dê sống, vịt hồ lô, thạch hạnh nhân và một nồi canh gà đen thơm ngon. Các món ăn đều đầy đủ sắc, hương, vị, khiến người ta thèm thuồng. Nguyên Diệu ăn đến ngấu nghiến, khen không ngớt lời, đây là lần đầu tiên hắn được ăn bữa tối không phải cá tại Phiêu Miểu các. Bạch Cơ cũng ăn rất vui vẻ và không ngừng khen ngợi tài nấu nướng của Thập Tam Lang.

Tiểu hồ ly ngượng ngùng nói: “Cảm ơn Bạch Cơ và Nguyên công tử đã khen ngợi.”

Tiểu hồ ly ở lại Phiêu Miểu các. Nó giao việc tìm cây Vô Ưu cho Bạch Cơ, mỗi ngày chỉ ở lại Phiêu Miểu các chăm chỉ làm việc vặt và tận tâm nấu các món ăn ngon. Từ khi tiểu hồ ly đến làm việc, tiểu thư sinh ít hoạt động và ăn nhiều hơn, hắn cảm thấy mình đã béo lên rất nhiều.

Tiểu hồ ly thích hoa cỏ, nó bày chậu hoa ở đại sảnh, trong phòng, hành lang, thậm chí cả nhà bếp. Tiểu hồ ly thích chuông gió, nó treo nhiều chuông gió làm từ vỏ sò mà nó tự mài dưới mái hiên. Gió thổi qua, tiếng chuông kêu leng keng rất vui tai.

Nguyên Diệu nhớ rằng, Ly Nô không thích hoa cỏ vì phấn hoa làm nó hắt hơi. Ly Nô cũng ghét những thứ phát ra tiếng, tiếng ồn khiến nó giật mình và khó chịu. Nguyên Diệu đoán rằng, khi Ly Nô trở về, thấy Phiêu Miểu các thay đổi thế này chắc chắn sẽ rất giận.

Tiểu hồ ly kiên quyết không ngủ trên giường của Ly Nô: “Chiếc chăn mà con mèo đen hôi hám kia dùng bẩn quá, ta vẫn nên ngủ cùng Nguyên công tử thì hơn.”

Thế là, Nguyên Diệu cuối cùng không phải lo lắng ngủ một mình trong đại sảnh nữa. Tiểu hồ ly cuộn tròn ngủ bên cạnh gối của Nguyên Diệu, khi thì ngáy, khi thì nói mơ. Tuy cảnh tượng này có phần kỳ lạ, nhưng Nguyên Diệu cảm thấy yên tâm hơn nhiều.

Những ngày này, Bạch Cơ ít ra ngoài vào buổi tối, ban ngày cũng ở lại Phiêu Miểu các, nàng đang thêu thùa bằng tơ nhện. Bạch Cơ dường như hoàn toàn không có ý định đi tìm cây Vô Ưu, tiểu hồ ly không thúc giục, cũng không lo lắng.

“Thập Tam Lang, Bạch Cơ dường như chẳng hề đi tìm cây Vô Ưu cho ngươi.” Nguyên Diệu lo lắng nói. Hắn luôn lo rằng con rồng yêu gian trá này đang lừa con hồ ly ngây thơ làm việc không công.

“Yên tâm đi, Nguyên công tử, Phiêu Miểu các có tiếng tăm rất tốt trong giới yêu quái ma quỷ quái, uy tín cũng rất cao, Bạch Cơ cũng là người nói một là một, nàng đã nói sẽ giúp ta tìm cây Vô Ưu thì chắc chắn sẽ giúp ta tìm.” Tiểu hồ ly không lo lắng. Nó ngồi bên lò sưởi, trên lò sưởi có một cái ấm đất đang nấu canh gà: “Thịt gà có vẻ đã chín rồi, Nguyên công tử thử xem mặn nhạt thế nào đi?”

“À, được.” Nguyên Diệu uống một bát canh gà thơm ngon, lập tức quên đi nỗi lo lắng.

Hôm đó là ngày rằm, trời nắng đẹp, mây thưa gió nhẹ, Phiêu Miểu các vốn kinh doanh ế ẩm lại có vài khách đến mua đồ cổ. Bạch Cơ bận thêu thùa, không có thời gian tiếp khách, lập tức bảo Nguyên Diệu ra tiếp. Nguyên Diệu không có thú vui lừa gạt khách hàng, cứ thật thà bán đồ. Khách hàng hài lòng rời đi, hắn cũng rất vui.

Nguyên Diệu tiễn khách xong, vừa trở lại quầy thì có một khách khác tới, giọng điệu kiêu căng: “Bạch Cơ có ở đây không? Bản công tử muốn mua đồ.”

Nguyên Diệu ngẩng đầu nhìn, thì ra là Trương Xương Tông.

Nguyên Diệu cười nói: “Bạch Cơ đang thêu thùa trên lầu, nàng bảo ta tiếp khách. Trương công tử muốn mua gì thì cứ nói với ta là được.”

Trương Xương Tông nhìn Nguyên Diệu với vẻ ghét bỏ, như nhìn một thứ rác rưởi: “Đi gọi Bạch Cơ xuống đây, ta không muốn nói thêm một câu nào với kẻ xấu xí như ngươi.”

Nguyên Diệu trong lòng tức giận, nhưng nghĩ tới việc hắn là khách, bèn nhịn xuống: “Trương công tử đợi chút, ta sẽ đi tìm Bạch Cơ.”

Nguyên Diệu bước vào trong, tiểu hồ ly đang lau bình phong: “Sao Nguyên công tử không ở ngoài đại sảnh?”

Nguyên Diệu buồn bã nói: “Có một Trương công tử chê ta xấu xí, muốn gặp Bạch Cơ mới chịu mua đồ.”

Tiểu hồ ly an ủi Nguyên Diệu: “Nguyên công tử không hề xấu xí, Trương công tử chắc chắn là mắt kém. Không cần công tử phải đi, để ta lên lầu mời Bạch Cơ cho.”

Nguyên Diệu vừa định nói để hắn đi là được rồi, thì tiểu hồ ly đã đặt khăn lau xuống chạy nhanh lên lầu.

Tiểu hồ ly đúng là chăm chỉ, từ quét dọn, lau bụi, đến nấu ăn, chạy việc vặt, việc gì cũng tranh làm, không để Nguyên Diệu phải lo lắng. So sánh với những ngày bị Ly Nô lười biếng và kiêu ngạo hò hét sai bảo, Nguyên Diệu cảm thấy cuộc sống hiện tại yên bình và hạnh phúc hơn nhiều. Tuy nhiên không hiểu sao, hắn vẫn rất nhớ Ly Nô, dù nó không dịu dàng, chăm chỉ như tiểu hồ ly, luôn gây phiền phức và chửi mắng hắn.

Nguyên Diệu trở lại đại sảnh, Trương Xương Tông đang đi lại quanh giá hàng.

Nguyên Diệu nói: “Bạch Cơ sẽ xuống ngay, Trương công tử cứ xem hàng trước đi.”

Trương Xương Tông phớt lờ Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu trở lại quầy, cúi đầu đọc sách.

Một lúc sau, Trương Xương Tông hỏi Nguyên Diệu: “Tên xấu xí, cái này bao nhiêu bạc?”

Nguyên Diệu ngẩn ra một lúc, mới nhận ra Trương Xương Tông đang nói với mình, trong lòng rất tức giận nhưng không dám phản bác. Hắn ngước mắt nhìn, Trương Xương Tông đang cầm một hộp sơn mài nhỏ, trong hộp có một chiếc trâm ngọc bích.

“Tám lượng bạc.” Nguyên Diệu nói nhưng không mấy vui vẻ. Chiếc trâm ngọc bích này chất lượng bình thường, điêu khắc hơi quá, không phải là đồ tốt, mắt nhìn của Trương Xương Tông thật không ra gì.

Một mùi hương thoang thoảng bay đến, tiếng vòng tay leng keng. Bạch Cơ yểu điệu bước ra, trong tay ôm một con hồ ly nhỏ màu đỏ rực.

Trương Xương Tông đặt chiếc trâm xuống, tiến lên, tình cảm nói: “Bạch Cơ, nàng thật đẹp, ta không lúc nào không nghĩ tới nàng.”

Bạch Cơ đặt tiểu hồ ly xuống, nắm tay Trương Xương Tông nhìn sâu vào mắt nhau, nước mắt chảy ra: “Lục Lang, một ngày không gặp như cách ba thu, tương tư khiến người ta đau lòng. Thỏi son và phấn lần trước ngươi mua đã dùng hết rồi sao?”

Trương Xương Tông cũng giơ tay lau nước mắt: “Một ngày dài như ba thu, tính ra, chúng ta đã trăm năm không gặp rồi, tương tư làm người ta đứt từng khúc ruột. Lần này ta không phải đến để mua son phấn, gần đây trong hoàng cung có nhiều yến tiệc, ta làm vài bộ đồ mới, muốn mua một cây trâm ngọc tương xứng. Cây trâm ngọc lần trước, ca ca rất thích nên ta đã tặng cho hắn rồi.”

Bạch Cơ tò mò hỏi: “Tại sao trong hoàng cung lại có nhiều yến tiệc như vậy?”

Trương Xương Tông đáp: “Vì công chúa Thái Bình vốn u buồn đột nhiên trở nên vui vẻ hẳn lên. Công chúa vui vẻ thì thái hậu cũng vui mừng. Thái hậu vui mừng nên trong hoàng cung cũng nhiều yến tiệc.”

Bạch Cơ hơi ngạc nhiên: “Công chúa Thái Bình… trở nên rất vui vẻ sao?!”

“Đúng vậy, công chúa trước đây trầm uất khó gần, khi giận khi vui, ở bên cạnh nàng ta khiến người ta vô cớ cảm thấy sợ hãi, áp lực. Giờ đây, nàng ta rạng rỡ cười tươi như hoa, như biến thành một người khác ấy. Thái hậu thấy vậy thì rất vui mừng, nói đây chắc chắn là nhờ phúc lành của Phật tổ mà công chúa nhận được khi đến chùa Cảm Nghiệp đầu năm.”

Bạch Cơ cười khẽ: “Có lẽ, thật sự là nhờ phúc lành của Phật tổ. Đúng rồi, Lục Lang muốn mua cây trâm ngọc như thế nào?”

Trương Xương Tông quay người, cầm chiếc hộp sơn mài vừa đặt xuống lên.

Trương Xương Tông vừa cầm chiếc hộp sơn mài lên, Bạch Cơ đã khen ngợi: “Lục Lang đúng là có mắt tinh đời, cây trâm ngọc này quả là báu vật khó tìm, chất ngọc trong suốt không tì vết, sắc thái tuyệt vời. Kiểu dáng trâm ngọc tao nhã và cao quý, điêu khắc tinh xảo hoàn hảo, Lục Lang dùng để cài tóc, càng làm nổi bật vẻ đẹp uy nghi, phong độ phong nhã.”

“Bao nhiêu tiền vậy?” Trương Xương Tông vuốt v e cây trâm ngọc, hỏi.

“Ta đối với Lục Lang một lòng một dạ, sẽ không nói thách giá đâu, hai trăm lượng bạc, đây là giá thấp nhất rồi.” Bạch Cơ che miệng, tình cảm sâu nặng nói.

Khóe miệng Trương Xương Tông co giật, chỉ vào Nguyên Diệu: “Vừa nãy tên xấu xí này nói chỉ có tám lượng bạc.”

Ánh mắt Bạch Cơ thoáng thay đổi, nhưng nụ cười trên mặt vẫn rạng rỡ như hoa.

“À…” Nguyên Diệu đột nhiên toát mồ hôi lạnh, tuy rằng hắn luôn không đồng ý với sở thích trấn lột của Bạch Cơ, nhưng hắn càng ghét Trương Xương Tông gọi mình là ‘kẻ xấu xí’, đột nhiên nói: “Vừa nãy ta nói là giá của chiếc hộp, không biết là Trương công tử hỏi cây trâm ngọc.”

Trương Xương Tông tức giận: “Ta mua hộp làm gì? Tất nhiên là ta hỏi cây trâm ngọc rồi!”

“Ngài kiệm lời nói, lại không hỏi rõ ràng.” Nguyên Diệu khó chịu nói.

“Tên xấu xí này, ngươi đừng nói thêm câu nào với ta nữa, sẽ làm ta cũng biến thành xấu xí!” Trương Xương Tông chán ghét nói, đồng thời chuyển ánh mắt sang Bạch Cơ, như thể chỉ cần nhìn Nguyên Diệu thêm một chút nữa hắn sẽ trở nên xấu xí vậy.

Nguyên Diệu rất tức giận, cảm thấy Trương Xương Tông thật vô lý.

Bạch Cơ cười tươi: “Cây trâm ngọc hai trăm lượng bạc, hộp tám lượng, Lục Lang mua thì ta tặng hộp cho ngài. Ngọc có tác dụng làm đẹp, đeo cây trâm ngọc này sẽ làm cho dung nhan của Lục Lang càng thêm đẹp đẽ.”

Giọng nói của Bạch Cơ nhẹ nhàng như mơ, tràn đầy ma lực không thể cưỡng lại.

Nghe đến “càng thêm đẹp đẽ”, Trương Xương Tông như bị trúng bùa mê, vội vàng gật đầu: “Được, được, ta mua cây trâm ngọc này.”

Bạch Cơ vui vẻ cười: “Nguyên Diệu, gói cây trâm ngọc cho Trương công tử.”

“Đẹp đẽ hơn, đẹp đẽ hơn, đẹp đẽ hơn…” Trương Xương Tông lẩm bẩm như trúng tà.

Nguyên Diệu cảm thấy hơi sợ hãi.

Nguyên Diệu tiễn Trương Xương Tông ra ngõ, đợi hắn lên xe ngựa rồi mới quay lại Phiêu Miểu các. Trong gian phòng, Bạch Cơ ngồi bên bàn đá xanh thêu thùa, miệng ngâm nga những giai điệu nhẹ nhàng. Tiểu hồ ly rót một tách trà thơm, đặt lên bàn đá xanh, rồi yên lặng ngồi một bên nhìn Bạch Cơ thêu thùa.

Nguyên Diệu cũng ngồi xuống đối diện Bạch Cơ, nhìn nàng thêu thùa.

Bạch Cơ cười nói: “Nguyên Diệu hôm nay cuối cùng cũng trở nên thông minh một chút. Xem ra, Nguyên Diệu cũng rất có thiên phú trấn lột khách hàng đấy.”

Nguyên Diệu tức giận: “Ta không bao giờ trấn lột khách hàng, ta chỉ không thích Trương công tử gọi ta là ‘kẻ xấu xí’ thôi. Cổ ngữ có câu, quân tử yêu tài, nhưng lấy theo đạo. Bạch Cơ trấn lột khách hàng như vậy, là trái với giáo huấn của cổ nhân.”

Bạch Cơ cười nói: “Ta không phải quân tử, ta chỉ là một phi nhân…”

“Dù là quân tử hay phi nhân, việc trấn lột khách hàng đều không đúng. Bạch Cơ cần phải bỏ thói quen xấu này đi.”

“Nguyên Diệu nói không sai, nhưng ngày ngày ở Phiêu Miểu các, thực sự quá buồn chán, ta phải tìm chút thú vui chứ? Không trấn lột khách hàng, ta sẽ không có niềm vui.”

“Ngươi có thể thêu thùa, đọc sách, trồng cây.”

“Thêu thùa làm hỏng mắt, đọc sách mệt óc, trồng cây tốn công.”

“Trấn lột khách hàng chẳng lẽ không mệt óc tốn công sao?”

“Không đâu, đối với ta việc trấn lột khách hàng dễ dàng và vui vẻ, tự nhiên như nước chảy mây trôi, không mệt óc tốn công chút nào.” Bạch Cơ cười tươi nói.

Nguyên Diệu bị nghẹn lời. Thương nhân gian xảo quả thật là bẩm sinh.

Bạch Cơ thêu thùa nhanh nhẹn, tiểu hồ ly cuộn tròn dưới chân nàng ngủ trưa, Nguyên Diệu ngồi đối diện Bạch Cơ, nhìn nước trà bốc khói, nghe tiếng chuông gió kêu.

Nửa canh giờ sau, Bạch Cơ đặt kim xuống, thở ra một hơi: “Cuối cùng cũng thêu xong.” Nàng đưa một chiếc khăn tay cho Nguyên Diệu: “Hiên Chi thấy thế nào?”

“Được. Để ta xem.” Nguyên Diệu cười nhận lấy chiếc khăn tay, mở ra xem, một giọt mồ hôi lạnh trượt xuống trán.

Khăn tay có màu xanh ngọc sau mưa, dài rộng hơn một tấc, góc phải dưới thêu một khóm cúc xanh. Bên cạnh khóm cúc xanh, có một con mèo đen và một con hồ ly đỏ ngồi cạnh nhau, phía bên trái là một thư sinh mặc áo xanh cầm quyển sách, một công tử mặc áo hoa cầm quạt. Hai người hai thú thêu rất đơn giản, thô sơ, hơi cẩu thả, chỉ chiếm một phần ba khăn tay. Hai phần ba còn lại là hình ảnh một con rồng trắng sống động bay lượn trên trời. Rồng trắng đầy tinh thần, mạnh mẽ và đẹp đẽ. Kỹ thuật thêu rồng trắng cực kỳ tinh tế và chân thực, từng chi tiết nhỏ như sừng, râu, vảy đều được xử lý một cách sống động, tinh xảo. Những đám mây bao quanh rồng cũng được thêu rất tỉ mỉ.

“Hiên Chi, thấy thêu đẹp không?” Bạch Cơ cười hỏi.

Nguyên Diệu đổ mồ hôi, chỉ vào rồng trắng trên khăn tay: “Con rồng trắng này hình như thêu hơi kỹ rồi?”

“Vì thêu bản thân mình nên không tự chủ mà có chút tâm huyết.”

“Nhưng, tại sao mèo đen, hồ ly đỏ, ta và Đan Dương lại thêu qua loa thế này?”

Bạch Cơ đưa tay áo lên che mặt: “Kỹ thuật thêu rồng trắng phức tạp quá, thời gian có hạn nên không chú ý đến những chi tiết không quan trọng…”

Nguyên Diệu thất vọng. Hóa ra, mèo đen, hồ ly đỏ, Đan Dương và hắn đều là những chi tiết không quan trọng. Con rồng yêu này không chỉ xảo trá, lười biếng, mà còn cực kỳ tự mãn, tự cao.

“Nhìn thế nào thì họ cũng chỉ giống như nên của con rồng trắng thôi?!!” Nguyên Diệu gào thét trong lòng.

“Thế nào, Hiên Chi không thích chiếc khăn tay này sao?” Bạch Cơ thấy khóe miệng Nguyên Diệu hơi co giật thì lập tức hỏi.

“Không, rất đẹp, cảm ơn Bạch Cơ, ta rất thích.” Nguyên Diệu vội nói. Thôi bỏ đi, dù sao chiếc khăn tay này cũng là công sức Bạch Cơ thêu ra, không nên quá khắt khe, khéo lại phụ lòng nàng.

Bạch Cơ vui vẻ nói: “Hiên Chi thích là tốt rồi. Nhớ mang theo bên mình nhé.”

“Ừ. Được.” Mặt Nguyên Diệu bỗng dưng đỏ lên.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 25: Hải Thị


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Quyển 4: Cây Vô Ưu

Chương 3: Hải thị

Trăng tròn như gương, hoa nở đầy cành. Một cơn gió đêm thổi qua sân, tiếng chuông gió dưới mái hiên kêu leng keng.

Nguyên Diệu đang ngủ mơ màng thì bị tiếng chuông gió đánh thức. Hắn dụi dụi mắt, ngồi dậy. Trong tiếng chuông gió, dường như có ai đó đang gọi hắn: “Hiên Chi, ra giếng nào…”

Nguyên Diệu đứng dậy, khoác áo, đi về phía hậu viện.

Trong đại sảnh, trên giường, chỉ còn lại tiểu hồ ly cuộn tròn trong chăn, đang ngủ rất ngon.

Trong hậu viện, ánh trăng như bạc chiếu sáng khắp mọi nơi.

Gió đêm thổi qua sân, cỏ xanh nhấp nhô, hoa đào rơi lả tả.

Dưới cây hoa đào có một người nữ nhân mặc áo trắng tóc đen, thân hình uyển chuyển, chiếc khăn choàng trắng kéo dài trên mặt đất như dòng nước chảy. Nàng khẽ ngẩng đầu, nhìn vào một cành hoa đào đầy nụ, dường như đang chờ đợi hoa đào nở.

Nguyên Diệu nghĩ là ma nữ, chợt thấy sợ hãi chực quay người trở lại đại sảnh ngủ tiếp. Thì ma nữ gọi hắn lại: “Hiên Chi đã đến đây, sao lại muốn quay về rồi?”

Nghe thấy tiếng gọi, Nguyên Diệu yên tâm quay lại bước đến dưới cây đào: “Hóa ra là Bạch Cơ, làm ta sợ muốn chết. Khuya rồi sao ngươi chưa ngủ?”

Bạch Cơ cười: “Ta đang chờ Hiên Chi.”

“Ngươi chờ ta làm gì?”

Bạch Cơ che miệng cười: “Đêm nay là đêm trăng tròn, Hiên Chi phải xuống đáy giếng.”

Nguyên Diệu vỗ đầu, nhớ ra: “Đúng rồi, ta phải xuống đáy giếng.”

Bạch Cơ cười quỷ quyệt: “Ừ, Hiên Chi phải xuống đáy giếng.”

“Vậy ta sẽ đi ngay.” Nguyên Diệu bước đến bên giếng, định nhảy xuống.

Bạch Cơ vội kéo Nguyên Diệu lại: “Hiên Chi chờ đã.”

“?” Nguyên Diệu quay đầu lại.

“Khụ khụ, Hiên Chi gặp Dận, ngoài việc nói rõ tung tích của Thẩm Quân và giao chìa khóa, còn phải hỏi giúp ta một việc.”

“Việc gì?”

“Là tung tích của cây Vô Ưu.”

Nguyên Diệu ngạc nhiên: “Tại sao lại hỏi Dận tung tích của cây Vô Ưu thế?”

Bạch Cơ cười nói: “Vì cây Vô Ưu đến từ giấc mộng của Thận, chỉ có Thận mới biết tung tích của nó.”

“Ồ, được.” Nguyên Diệu đồng ý. Hóa ra, cách mà Bạch Cơ cách tìm cây Vô Ưu là xuống đáy giếng hỏi Thận, không phải, là bảo hắn xuống đáy giếng hỏi Thận. Nguyên Diệu nghĩ ngợi một hồi, lại hỏi: “Dận là người như thế nào?”

“Dận là một người dịu dàng và thanh nhã.”

“Ngươi từng nói, Thận sẽ tặng ta một giấc mộng đẹp đúng không?”

“Ừ, giấc mộng chắc chắn sẽ có. Tuy nhiên, màu trắng là giấc mộng đẹp, màu đỏ là ác mộng, tùy thuộc vào vận may của Hiên Chi.”

“Ý ngươi là gì?” Nguyên Diệu ngạc nhiên.

Bạch Cơ không trả lời Nguyên Diệu mà hỏi chuyện khác: “Đã mang chìa khóa và khăn tay theo chưa?”

Nguyên Diệu sờ vào ngực: “Mang theo rồi.”

“Ừ, Hiên Chi đi đi.”

“Được.”

Nguyên Diệu đứng bên giếng, nhìn xuống giếng sâu thăm thẳm không thấy đáy, một luồng khí lạnh ập vào mặt. Nguyên Diệu lại không dám nhảy xuống, lưỡng lự: “Ta… ta… hơi không dám xuống…”

“Vậy, để ta giúp Hiên Chi một tay.” Bạch Cơ cười nói.

“Được. Nhưng ngươi giúp ta thế nào?” Nguyên Diệu hỏi.

“Bốp!” Bạch Cơ đưa tay đẩy Nguyên Diệu từ phía sau xuống giếng.

“Giúp thế này đấy.” Bạch Cơ cười tươi nói.

“A…… a a a……” Tiếng hét của Nguyên Diệu vang vọng từ đáy giếng lên, âm vang hồi lâu. Cuối cùng “Bùm……” một tiếng, dưới đáy giếng không còn âm thanh nào nữa.

Bạch Cơ đứng bên giếng, ngáp một cái dưới ánh trăng tròn: “Mùa xuân thích hợp để ngủ. Buồn ngủ quá, ta nên đi ngủ thôi.”

Bạch Cơ lướt đi ngủ, sân vườn chỉ còn lại hoa đào nở rộ, rụng rơi như tuyết.

Nguyên Diệu rơi xuống nước giếng, giống như một quả cân chìm xuống đáy giếng. Miệng hắn thở ra từng đợt bong bóng nước, dù nước giếng tràn vào miệng mũi nhưng lại không cảm thấy khó thở.

Nguyên Diệu thở ra bong bóng, trôi nổi trong nước. Trong nước có ánh sáng xanh mờ nhưng cũng đủ để nhìn thấy xung quanh. Bốn bề mênh mông, cảm giác không giống đáy giếng mà như dưới đáy biển. Rong biển đung đưa, rạn san hô mọc thành khóm, thỉnh thoảng có những con cá có đuôi phát sáng bơi qua người Nguyên Diệu. Những con cá nhỏ chui vào ống tay áo của Nguyên Diệu, rồi lại chui ra từ cổ áo, bơi đi rất nhanh.

Nguyên Diệu thấy rất thú vị bèn bơi theo đàn cá. Bơi một lúc, trước mắt hắn chợt hiện ra một quần thể cung điện kéo dài. Cung điện lộng lẫy tỏa ra ánh sáng bảy màu, chiếu rọi đáy nước đen tối.

Một cậu bé đứng trước cửa cung điện uy nghiêm, mặc áo sặc sỡ, búi tóc hai chùm, tay cầm một chiếc đèn lồ ng màu cam. Cậu bé thấy Nguyên Diệu, cười gọi: “Chắc chắn là Nguyên công tử rồi.”

Nguyên Diệu ngạc nhiên: “Sao ngươi biết ta họ Nguyên?”

Cậu bé cười nói: “Bạch Cơ đại nhân đã truyền tin, nói rằng Nguyên công tử tối nay sẽ vào Hải thị để thăm chủ nhân nhà ta. Chủ nhân nhà ta cố ý sai ta đứng đây đón tiếp.”

“Chủ nhân nhà ngươi là Dận phải không?” Nguyên Diệu hỏi.

Cậu bé cười nói: “Đúng vậy. Mời Nguyên công tử đi theo ta.”

Đứa trẻ dẫn Nguyên Diệu đến cung điện sâu nhất, dừng lại trước cửa điện. Nguyên Diệu từ cửa điện nhìn vào, chỉ thấy một tấm bình phong rất lớn. Qua tấm bình phong mỏng manh, lờ mờ thấy một bóng dáng duyên dáng.

Đứa trẻ không vào cung điện, đứng ở bậc cửa, cúi đầu nói: “Chủ nhân, Nguyên công tử đã đến.”

“Mời Nguyên công tử vào.” Một giọng nam dịu dàng vang lên từ phía sau bình phong.

Đứa trẻ làm động tác mời: “Nguyên công tử, xin mời vào.”

Nguyên Diệu theo đứa trẻ cầm đèn bước vào cổng cung điện, đi qua chín tầng cung điện lộng lẫy, hai bên còn vô số cung điện kéo dài vô tận. Trên đường đi, toàn bộ bậc thềm đều làm từ ngọc trắng, tường làm từ vàng, bình phong ghép từ mài, đèn làm từ minh châu, ngọc bích, mã não, hổ phách, trân châu, san hô, ngà voi, phỉ thúy, mắt mèo, ngọc lục bảo vứt đầy đất, chất thành đống như núi.

Nguyên Diệu không khỏi thốt lên, con yêu quái này giàu có thật?! Nhưng, trên đường không thấy bóng người, cung điện rộng lớn này chỉ có mình con yêu quái ở sao?

Nguyên Diệu bước vào cung điện, đứa trẻ lui xuống.

Nguyên Diệu bước vào trong cung điện, đi qua bình phong, đã chuẩn bị tâm lý sẽ thấy một con trai lớn hoặc một người có hình dạng kỳ quái. Nhưng khi thấy Dận thì hắn không khỏi há hốc miệng, và không thể rời mắt.

Dận mặc một bộ trang phục lộng lẫy màu tím, lớp áo nặng nề kéo dài trên mặt đất, trên đó thêu thùa văn phức tạp, u ám và lộng lẫy. Gương mặt Dận xinh đẹp vô cùng, da như ngọc trai, mũi như kiếm, ngũ quan như tác phẩm tinh xảo của nghệ nhân, hoàn hảo không tì vết.

Đôi mắt Dận có màu tím nhạt, dịu dàng và trong sáng. Tóc Dận rất dài, trắng như tuyết, xõa trên trang phục lộng lẫy, xoắn quanh mặt đất trông rất kỳ lạ.

Nguyên Diệu chưa từng thấy người nào đẹp như vậy, chẳng mấy chốc đã bị mê hoặc, quên mất lời muốn nói. Người này thật đẹp, đẹp đến mức không thực, cứ như một giấc mơ hư ảo.

Dận mỉm cười: “Ta là Thẩm Dận, mời Nguyên công tử ngồi. Dận lẽ ra phải đứng lên đón tiếp nhưng vì ta đi lại khó khăn nên chỉ có thể ngồi, mong Nguyên công tử đừng trách.”

Nguyên Diệu lúc này mới hoàn hồn: “À, không có gì, Dận huynh khách sáo rồi. Ta họ Nguyên, tên Diệu, tự Hiên Chi. Dận huynh cứ gọi ta là Hiên Chi.”

Nguyên Diệu đột nhiên cảm thấy buồn bã tiếc nuối. Bạch Cơ nói Thẩm Dận vì lý do nào đó giao mọi việc cho Thẩm Lâu quản lý, có lẽ lý do đó là vì hắn không thể đi lại được.

Thẩm Dận nhẹ nhàng nói: “Vậy mời Hiên Chi ngồi.”

“Được.” Nguyên Diệu ngồi xuống đối diện Thẩm Dận.

Nguyên Diệu lấy chìa khóa ra đưa cho Thẩm Dận và kể về việc Thẩm Lâu đi làm hiệp khách.

“Tại sao Hiên Chi lại xúi giục Thẩm Lâu đi làm hiệp khách thế? Giang hồ hiểm ác, đời người gian khó, ta chỉ có một đứa em đó thôi, nếu nó gặp chuyện gì trên đường thì ta biết sống sao đây…” Thẩm Dận cầm chìa khóa, nước mắt đầm đìa.

Nguyên Diệu vội vàng giải thích: “Ta không hề xúi giục Thẩm huynh đi làm hiệp khách, ta chỉ ngủ một giấc dậy thì Thẩm huynh đã không thấy đâu rồi.”

Thẩm Dận không trách Nguyên Diệu nữa, chỉ thở dài liên tục, đôi mắt tím toát lên sự dịu dàng buồn bã.

Thẩm Dận ôn hòa, biết lễ nghĩa, rất dễ nói chuyện, tại sao Bạch Cơ lại lo không biết giải thích thế nào với Thẩm Lâu nhỉ? Nguyên Diệu thầm thắc mắc, hắn nhớ đến nhiệm vụ khác mà Bạch Cơ giao: “Dận huynh, Bạch Cơ nhờ ta hỏi huynh một việc.”

“Việc gì thế?” Thẩm Dận hỏi.

“Chuyện là thế này…” Nguyên Diệu kể lại chuyện tộc Cửu Vỹ Hồ bị lấy quả Vô Ưu, trồng cây Vô Ưu, rồi làm mất cây Vô Ưu: “Cây Vô Ưu có thể đã bị ai đó đánh cắp, đến nay vẫn chưa rõ tung tích, Bạch Cơ muốn nhờ huynh tìm hiểu về tung tích cây Vô Ưu.”

Thẩm Dận nói: “Cây Vô Ưu thực sự là của Hải thị. Nếu Bạch Cơ muốn biết thì ta sẽ giúp nàng ấy tìm.”

Biết được tung tích cây Vô Ưu, Hồ Thập Tam Lang chắc chắn sẽ rất vui. Nguyên Diệu vui vẻ nói: “Vậy, ta cảm ơn Dận huynh trước.”

Thẩm Dận cười nói: “Hiên Chi không cần khách sáo.”

Thẩm Dận lấy một quả cầu pha lê màu tím ra, nâng nhẹ dưới quả cầu. Quả cầu pha lê từ từ bay lên không trung, phát ra ánh sáng mềm mại.

Nguyên Diệu nhìn quả cầu pha lê, trong quả cầu hiện ra cảnh mặt trời, mặt trăng, các vì sao, núi non, sông ngòi, suối nguồn, rừng cây, thiên đường, địa ngục, tất cả đại dương, núi sông cuối cùng hình ảnh dừng lại ở một gốc cây lớn tán rộng, hoa vàng rực rỡ.

Đó là cây Vô Ưu sao? Đẹp quá… Nguyên Diệu kinh ngạc đến há hốc miệng. Nhưng, gốc cây đẹp đẽ này nằm giữa đại dương mênh mông, xung quanh mây mù bao phủ, trông không giống ở Trường An.

“Đây là cây Vô Ưu trong giấc mộng của Thận, Hồ Tam Nương đã hái quả Vô Ưu từ cây này. Có thể tìm tung tích của cây Vô Ưu lưu lạc nhân gian qua hơi thở của cây này.” Thẩm Dận vừa nói vừa nhắm mắt lại.

Trong khoảnh khắc Thẩm Dận nhắm mắt lại, trên quả cầu pha lê đột nhiên mở ra một con mắt, đồng tử màu tím rực sáng như yêu quái, kỳ dị khó tả.

“Nương ơi!” Nguyên Diệu sợ hãi lùi lại ba bước, chỉ vào quả cầu pha lê run rẩy nói: “Quả cầu có mắt! Quả cầu có mắt rồi!”

“Khụ khụ, Hiên Chi, đó là mắt của ta.” Thẩm Dận nhắm mắt nói.

“Á! Dận huynh, mắt của huynh sao lại chạy lên quả cầu pha lê? Làm ta sợ chết khiếp!” Nguyên Diệu chưa hết hoảng hốt.

Thẩm Dận đáp: “Ta đang tìm cây Vô Ưu.”

Quả cầu pha lê phát ra ánh sáng tím lấp lánh, cảnh trong quả cầu bắt đầu thay đổi, từ đại dương đến đất liền, xuyên qua núi đồi, đồng bằng, đầm lầy, sông ngòi, cuối cùng dừng lại ở một thành phố phồn hoa. Nguyên Diệu nhìn kỹ, thành phố này vô cùng quen thuộc, là Trường An.

Hình ảnh trong quả cầu pha lê không thay đổi nữa, con mắt màu tím phát ra ánh sáng u ám, rất đáng sợ.

Nguyên Diệu đang chờ Thẩm Dận tìm ra vị trí cụ thể của cây Vô Ưu. Nhưng không hiểu vì sao, trán Thẩm Dận bắt đầu toát mồ hôi, môi hắn cũng dần dần trở nên tái nhợt. Đột nhiên, không có dấu hiệu nào, con mắt trên quả cầu pha lê biến mất, Trường An cũng biến mất, trở thành một khoảng trống.

“Dận huynh sao rồi? Cây Vô Ưu ở đâu thế?” Nguyên Diệu hỏi.

Thẩm Dận yếu ớt nói: “Hơi thở của cây Vô Ưu ở Trường An, nhưng ta dùng hết sức cũng không thể tìm thấy nó.”

“Sao lại thế?”

“Không biết, ta cảm thấy có một luồng linh lực rất mạnh đã ngăn cách khí tức của cây Vô Ưu…” Gương mặt Thẩm Dận càng lúc càng tái nhợt, trán hắn bắt đầu nổi gân xanh, trông hắn rất đau đớn, dường như đang chịu đựng nỗi đau cực lớn.

“Dận huynh sao vậy? Không khỏe ở đâu ư?” Nguyên Diệu lo lắng hỏi.

Thẩm Dận khó khăn nói: “Không ổn rồi, hắn sắp ra ngoài! Hiên Chi mau rời khỏi đại điện này đi, mau…mau…”

Mái tóc dài trắng như tuyết của Thẩm Dận từ từ chuyển thành màu đỏ như ngọn lửa đang cháy với tốc độ mắt thường có thể nhìn thấy.

“Hả?” Nguyên Diệu ngạc nhiên, không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Thẩm Dận đột nhiên mở mắt ra, đôi mắt màu tím trở nên đỏ như máu, gương mặt đẹp đẽ trở nên hung dữ và méo mó. Thẩm Dận giận dữ nhìn Nguyên Diệu, giọng nói dịu dàng trước kia trở nên thô lỗ và hung ác, giống như một người hoàn toàn khác: “Thật quá đáng! Thật quá đáng! Tên thư sinh này dám lừa Thẩm Lâu đi?!!”

Nguyên Diệu không hiểu chuyện gì, cười cầu hòa giải thích: “Dận huynh, vừa nãy ta đã giải thích rồi, chuyện Thẩm Lâu huynh đi làm hiệp khách không liên quan gì đến ta cả…”

Thẩm Dận cười gian xảo, giọng điệu hung ác: “Hừ! Lời lẽ dối trá! Nếu không phải ngươi xúi giục thì sao Thẩm Lâu lại đi làm hiệp khách? Ngươi lừa Thẩm Lâu đi, vậy ngươi ở lại đây thay cho Thẩm Lâu!”

Nguyên Diệu cười cầu hòa: “Dận huynh đừng đùa, ta không thể ở lại đáy giếng…”

Thẩm Dận cười hung ác, lạnh lùng nói: “Hừ! Không phải chuyện mà ngươi có thể quyết định được!”

Nguyên Diệu sững sờ, Thẩm Dận sao giống như biến thành một người khác thế?

Nguyên Diệu đang nghi ngờ thì xung quanh cung điện đột nhiên dâng lên một lớp sương mù trắng dày đặc. Sương mù không ngừng bao vây Nguyên Diệu và Thẩm Dận. Khuôn mặt đẹp đẽ của Thẩm Dận bỗng nhiên méo mó, ngũ quan lệch lạc, đôi môi rách toạc, lộ ra răng nanh sắc nhọn. Hắn thè chiếc lưỡi đỏ như máu li3m môi, nước dãi chảy đầy: “Ăn ngươi rồi thì ngươi sẽ phải ở lại đây…”

Nguyên Diệu trơ mắt nhìn một công tử thanh nhã với mái tóc trắng như tuyết biến thành một con quái vật lông đỏ đáng sợ, hắn chợt thấy da đầu tê dại, chân tay run rẩy. Nguyên Diệu muốn chạy trốn, nhưng sương mù dưới chân hóa thành những bàn tay gầy gò trắng bệch nắm chặt cổ chân hắn, khiến hắn không thể cử động được.

Con quái vật lông đỏ bò về phía Nguyên Diệu, thè lưỡi, nước dãi chảy đầy: “Thèm ăn người quá, thèm ăn người quá, người là món ngon nhất…”

Nguyên Diệu sợ muốn chết nhưng không chạy được, chỉ có thể cầu xin: “Ta gầy lắm, không ngon đâu… Dận huynh đừng dọa ta, trò đùa này không vui chút nào…”

Con quái vật lông đỏ lạnh lùng nói: “Hừ hừ, ai đùa với ngươi?! Hình dáng sọ người của ngươi không tệ, ta đang thiếu một cái chân đèn, xem ra không thể nhai nát hết được rồi…”

Khi con quái vật lông đỏ đến gần, một mùi hôi tanh khủng khiếp xộc vào mũi Nguyên Diệu, làm hắn buồn nôn, sợ đến mức gần như ngất đi. Nguyên Diệu cố gắng nhấc chân, nhưng không thể cử động, lòng hắn tràn ngập nỗi sợ hãi: “Cứu…cứu mạng…”

Nguyên Diệu vừa dứt lời thì trước ngực hắn chợt tỏa ra ánh sáng rực rỡ, hai người ba thú hiện ra trên không trung, một con rồng trắng, một thư sinh mặc áo xanh, một công tử mặc áo lụa, một con mèo đen, một con hồ ly đỏ. Nhìn kỹ thì tất cả đều là hình thêu.

Con rồng trắng bay lượn mạnh mẽ, cuốn về phía con quái vật lông đỏ. Con quái vật lông đỏ lùi lại ba bước, tạo thế tấn công ngồi xổm trên mặt đất, há to miệng, phát ra âm thanh như đồ cùn đập vào tường. Con rồng trắng bay lượn mạnh mẽ, cũng há to miệng phát ra tiếng ngâm vang dội.

Nguyên Diệu sợ đến mất hồn, đứng im không thể cử động. Hắn nhìn thấy con quái vật lông đỏ và con rồng đối đầu với nhau, không ai nhường ai, tình thế như chỉ chờ bùng nổ.

Con rồng trắng rống lên rồi lao về phía con quái vật lông đỏ, con quái vật nhe răng, há to miệng, nuốt chửng con rồng trắng.

Nguyên Diệu rơi nước mắt: “Bạch Cơ, ngươi chết thảm quá…”

Nguyên Diệu chưa dứt lời thì rồng trắng đã biến thành từng sợi tơ nhện, bị phun ra từ kẽ răng của con quái vật, quấn chặt quanh thân mình nó. Chẳng mấy chốc, con quái vật bị tơ nhện quấn thành một cái kén lớn, không thể cử động. Đồng thời, sự trói buộc trên chân Nguyên Diệu cũng biến mất. Những hình thêu thư sinh áo xanh, công tử áo hoa, mèo đen nhỏ và hồ ly đỏ chạy vòng quanh con quái vật.

Con quái vật giận dữ giãy giụa trong đống tơ nhện: “Thật quá đáng! Thật quá đáng! A a, ta sẽ ăn các ngươi…”

Thư sinh áo xanh, công tử áo hoa, mèo đen nhỏ và hồ ly đỏ đều chạy tán loạn về phía cửa điện.

Nguyên Diệu đứng ngơ ngác trong đại điện ngập tràn sương trắng, thấy những người và thú thêu trên áo đều chạy mất thì mới hoàn hồn, lập tức đuổi theo: “Ê, các ngươi đừng bỏ ta lại, chờ ta với!”

Nguyên Diệu chạy theo những người và thú thêu trên áo ra khỏi đại điện, chạy nhanh trong hành lang: “Thật quá đáng! Thật quá đáng! A a, ta sẽ ăn các ngươi…” Tiếng thét giận dữ của con quái vật dần rời xa.

Trên đường đi, cảnh tượng trước mắt làm Nguyên Diệu kinh ngạc, bậc thềm làm từ ngọc trắng, tường làm từ vàng, bình phong ghép từ ngọc mài, đèn làm từ minh châu của cung điện lộng lẫy đều biến mất, chỉ còn lại một vùng đổ nát, cỏ dại mọc um tùm. Những đống châu báu vàng bạc trước đây trong cung điện giờ đã biến thành đống xương trắng, xác thối, khiến người ta rùng mình.

Nguyên Diệu đi trong nỗi lo lắng, cảm thấy mình lạc đường, không tìm được lối ra thì không khỏi sợ hãi. Khi rẽ qua một khúc quanh, Nguyên Diệu đã va phải một con cá ngũ sắc. Nguyên Diệu giật mình, con cá cũng giật mình, nhưng khi thấy Nguyên Diệu thì nó thở phào nhẹ nhõm, nói: “Hóa ra là Nguyên công tử.”

Nguyên Diệu nghe giọng nói, nhận ra đó đứa trẻ trước đây dẫn hắn đi gặp Dận thì không khỏi há hốc miệng.

Con cá ngũ sắc nhìn xung quanh, thở dài: “Ôi, nhìn tình hình này có lẽ chủ nhân màu đỏ đã thức dậy, e rằng sẽ náo loạn một thời gian. Nguyên công tử, ngài nên mau chóng rời đi thì hơn.”

Nguyên Diệu khổ sở nói: “Ta hình như lạc đường rồi, không tìm thấy đường về…”

Con cá ngũ sắc nói: “Vậy xin mời ngài theo ta. Ta sẽ dẫn ngài đến lối ra của Hải Thị. Ngài là khách của Phiêu Miểu các, không thể để chủ nhân ăn thịt được.”

“Được, được, cảm ơn ngươi, cá huynh đệ.” Nguyên Diệu đáp nhanh.

Con cá ngũ sắc dẫn Nguyên Diệu đi ra ngoài, những người và thú thêu trên áo vòng quanh hai người. Nguyên Diệu thỉnh thoảng dẫm phải xương sọ, xác thối, sợ đến mức tay áo cũng run rẩy: “Cá huynh đệ, sao ở đây nhiều xương trắng như vậy? Lúc ta mới vào không có thấy…”

“À, những thứ này đều là người bị chủ nhân màu đỏ ăn.” Con cá ngũ sắc thản nhiên nói.

“Chủ nhân màu đỏ? Vậy ngươi còn có bao nhiêu chủ nhân nữa?” Nguyên Diệu tò mò hỏi.

Con cá ngũ sắc nói: “Ta có hai chủ nhân, chẳng phải Nguyên công tử đêm nay đã gặp rồi sao? Chủ nhân màu trắng đẹp và tao nhã, hiền lành và dịu dàng, khi hắn thức thì Hải Thị là một cung điện lộng lẫy như mơ. Hì hì, cả ta cũng biến thành đứa trẻ dễ thương. Chủ nhân màu đỏ hung ác và đáng sợ, thích ăn người, khi hắn thức, Hải Thị là một vùng đổ nát đầy xương trắng. Ôi ôi, khi hắn thức, cả ta cũng phải trốn tránh khắp nơi.”

“À, thì ra Dận huynh có hai người?” Nguyên Diệu thốt lên. Hắn nhớ lời Bạch Cơ nói, chắc chắn sẽ có giấc mơ, chỉ là giấc mơ trắng là giấc mơ đẹp, giấc mơ đỏ là ác mộng, tùy thuộc vào vận may của Hiên Chi.

Hóa ra con rồng yêu gian xảo sợ gặp con quái vật màu đỏ nên mới đẩy hắn xuống để chết. Nguyên Diệu không khỏi giận dữ.

Con cá ngũ sắc nói: “Không, chỉ có một chủ nhân, chỉ đôi khi tính cách hiền lành, đôi khi tính cách hung ác thôi.”

Trong lúc nói chuyện, con cá ngũ sắc đã dẫn Nguyên Diệu ra khỏi Hải Thị, xung quanh lại biến thành một vùng màu xanh thẳm vô tận. Con cá ngũ sắc dừng lại, nói: “Nguyên công tử, lối ra ở đây.”

Nguyên Diệu nhìn quanh: “Lối ra ở đâu? Ta không thấy…”

Con cá ngũ sắc nói: “Nguyên công tử ngẩng đầu lên nhìn đi.”

Nguyên Diệu ngẩng đầu lên, trong vùng xanh thẳm vô tận hiện lên một vầng trăng tròn sáng ngời và xinh đẹp.

Cá ngũ sắc nói: “Đó là miệng giếng mà ngài đã xuống.”

Nguyên Diệu đưa tay che mắt, nhìn lên lo lắng nói: “Cao như vậy thì làm sao ta lên được?”

Nguyên Diệu vừa dứt lời, những hình thêu thư sinh áo xanh, công tử áo hoa, mèo đen nhỏ và hồ ly đỏ tan thành tơ nhện, tơ nhện lập tức kết lại thành một chiếc thang dây treo lơ lửng. Chiếc thang dây từ từ vươn lên, hướng thẳng tới mặt trăng tròn. Khi đoạn cuối cùng của chiếc thang dây vươn lên không trung, thư sinh nhỏ mới nhận ra rằng mình phải leo lên để trở về Phiêu Miểu các.

Nguyên Diệu nhăn mặt nói: “Ta không giỏi leo thang, lại còn sợ độ cao, dám hỏi cá huynh đệ, có cách nào khác để trở về Phiêu Miểu các không?”

Cá ngũ sắc lắc đầu: “Không có cách nào khác đâu. Muốn về Phiêu Miểu các thì chỉ có thể leo lên thôi, Nguyên công tử cố gắng lên đi ạ.”

Nguyên Diệu không còn cách nào khác, hắn đành hít sâu một hơi, hai tay nắm lấy tơ nhện bắt đầu leo lên thang dây. Nguyên Diệu gắng gượng leo lên, mới đi được chục bước đã quay đầu nhìn xuống, thấy cá ngũ sắc vẫn đứng nguyên tại chỗ nhìn theo.

Nguyên Diệu vẫy tay nói: “Cá huynh đệ, ta xin cáo biệt, ngươi cũng quay về đi.”

Cá ngũ sắc vẫy vây lớn tiếng nói: “Được. Tạm biệt Nguyên công tử, lần sau lại đến Hải Thị chơi nhé!”

Nguyên Diệu suýt nữa thì hụt chân. Dù đánh chết hắn cũng không dám quay lại Hải Thị đáng sợ này lần nữa đâu.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 26: Thái Bình


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Quyển 4: Cây Vô Ưu

Chương 6: Thái Bình

Nguyên Diệu leo lên thang dây tơ nhện, hắn mệt mỏi th ở dốc, chỉ dám nhìn lên, không dám nhìn xuống. Màu sắc xung quanh dần thay đổi, từ xanh thẳm sang xanh đậm, xanh lơ, xanh nhạt. Sau một luồng ánh sáng trắng rực rỡ hiện ra, Nguyên Diệu rời khỏi nước, trở lại không khí.

Nhờ ánh trăng Nguyên Diệu nhận ra mình đang ở đáy giếng chật hẹp lạnh lẽo, nửa người trên nổi trên mặt nước, nửa người dưới ngâm trong nước, toàn thân ướt sũng. May mắn thay, thang dây tơ nhện vẫn vươn lên, hắn chỉ cần leo thêm hai mươi bước nữa là có thể ra khỏi giếng rồi.

Nguyên Diệu không còn để ý đến mệt mỏi, lạnh lẽo, vội vàng leo lên. Hắn chỉ muốn mau chóng trở lại mặt đất, thay quần áo khô ráo, uống một tách trà nóng thôi.

Nguyên Diệu leo nhanh lên, khi thấy bậc thang cuối cùng thì nước mắt hắn trào ra…. Vì tơ nhện không đủ, đỉnh của thang dây còn cách miệng giếng nửa mét. Con rồng yêu tự mãn chỉ chú tâm thêu rồng, lơ là những hình thêu khác, khiến bây giờ tơ nhện không đủ dài, thang dây không tới miệng giếng.

Nguyên Diệu bị treo lơ lửng giữa không trung, lên không được xuống cũng không xong, vô cùng lo lắng.

Là chờ đến sáng để Bạch Cơ đến kéo hắn, hay mạo hiểm nhảy ra khỏi giếng đây? Nguyên Diệu suy nghĩ mãi nhưng vẫn khó mà quyết định. Một cơn gió lạnh từ đáy giếng thổi lên khiến hắn rùng mình và lập tức quyết định. Một tay hắn nắm thang dây, một tay vươn ra miệng giếng cố gắng trèo lên. Từ thang dây đến miệng giếng chỉ nửa mét xa, một mét cao, nếu là người luyện võ linh hoạt thì bật một cái là lên. Nhưng Nguyên Diệu là một thư sinh, lại nhát gan, chật vật mãi vẫn không lên được, chỉ mới nắm được miệng giếng mà thôi.

Trong đại sảnh, Hồ Thập Tam Lang tỉnh dậy hai lần nhưng không thấy Nguyên Diệu. Lần đầu, hồ ly nhỏ nghĩ Nguyên Diệu đi vệ sinh nên không để ý. Nhưng lần thứ hai tỉnh dậy vẫn không thấy Nguyên Diệu, nên nó không khỏi lo lắng.

Hồ ly nhỏ đứng dậy, đi dọc theo hành lang tìm Nguyên Diệu: “Nguyên công tử… Nguyên công tử…”

Trong vườn sau, cỏ xanh um tùm, bóng cây lấp loáng, xung quanh yên tĩnh như chết. Hồ ly nhỏ hơi sợ, nhưng lo lắng cho Nguyên Diệu nên vẫn bước vào đám cỏ xanh, gọi khẽ: “Nguyên công tử có ở vườn sau không? Nguyên công tử ở đâu rồi?”

Tiếng động nhẹ phát ra từ giếng nước, hồ ly nhỏ quay đầu lại, thấy một bóng đen ướt sũng, tóc xõa xuống từ giếng nước, gói nó: “Thập… Tam… Lang…”

“Á!!” Hồ ly nhỏ sợ hãi, mắt trợn ngược, ngất xỉu luôn.

Nguyên Diệu khó khăn lắm mới leo ra khỏi giếng, thấy Thập Tam Lang ở vườn sau, định gọi nó kéo mình. Ai ngờ vừa mở miệng, hồ ly nhỏ đã sợ ngất đi.

Nguyên Diệu vội vàng bò đến bên hồ ly nhỏ: “Thập Tam Lang, Thập Tam Lang…”

Hồ ly nhỏ ngất xỉu trong đám cỏ, miệng sùi bọt mép, không còn biết gì nữa.

Nguyên Diệu lay hồ ly nhỏ, rơi nước mắt: “Thập Tam Lang tỉnh lại, đừng làm ta sợ…”

Hồ ly nhỏ không phản ứng, hôn mê như chết.

Nguyên Diệu đành phải bế hồ ly nhỏ trở lại đại sảnh, đặt lại lên giường. Nguyên Diệu thay đồ ướt, khóc một lúc, mệt quá nên ngủ thiếp đi.

Sáng hôm sau, hồ ly nhỏ vẫn nằm cứng đơ không tỉnh.

Bạch Cơ nhìn thấy thế nhưng chỉ phẩy quạt nói: “Nhìn tình hình này, e là bị dọa đến mất hồn rồi.”

Nguyên Diệu rơi nước mắt tự trách: “Tất cả là lỗi của ta, làm Thập Tam Lang sợ hãi.”

“Đã đến nước này rồi, có tự trách cũng vô ích.” Bạch Cơ an ủi Nguyên Diệu.

“Vậy, ta đi mời đại phu được không?”

Bạch Cơ phẩy quạt: “Mất hồn rồi, có mời đại phu cũng vô ích.”

“Vậy, tiểu sinh đến thành Quan Giang mời một đạo sĩ về để làm phép thu hồn cho Thập Tam Lang?”

Bạch Cơ phẩy quạt: “Đạo sĩ đến thì sẽ thu luôn Thập Tam Lang mất.”

Nguyên Diệu nhíu mày lo lắng: “Vậy phải làm sao bây giờ?”

Bạch Cơ suy nghĩ một lúc, rồi nói: “Ta nhớ công chúa Thái Bình có ba viên hoàn hồn đan, là linh dược hiếm có trên đời. Ngươi đến xin một viên về, Thập Tam Lang sẽ tỉnh lại.”

Nguyên Diệu bối rối: “Công chúa Thái Bình cao quý vô song, tiểu sinh chỉ là thường dân, làm sao mà gặp được nàng đây? Huống hồ, bảo vật quý giá như vậy sao công chúa Thái Bình nỡ ban cho tiểu sinh được?”

“Không sao, ta sẽ cho ngươi một tấm danh thiếp, ngươi cầm danh thiếp này đến phủ công chúa, nàng chắc chắn sẽ gặp ngươi. Còn việc nàng có cho hoàn hồn đan hay không thì phải xem vận may của ngươi.”

Nguyên Diệu vẫn còn lo lắng: “Mặc dù có danh thiếp, nhưng tiểu sinh tay không đến thăm, dường như không hợp lễ nghĩa.”

Theo quy tắc xã hội thời Đường, khi mang danh thiếp đến bái phỏng người khác, đặc biệt là người có địa vị cao quý, thường phải kèm theo một số quà. Người có thân phận càng cao quý, quà càng phải quý trọng. Mục đích của Nguyên Diệu là xin hoàn hồn đan, quà càng nên quý giá phong phú. Nguyên Diệu không có quà để tặng, muốn nhờ Bạch Cơ giúp đỡ.

“À, quà à, vậy thì ra vườn sau ngắt một cành đào đi. Ngươi thêm vào một bài thơ về ngày xuân, vừa phong nhã, vừa đặc biệt.” Con rồng yêu xảo quyệt mà keo kiệt nói.

Nguyên Diệu đành phải ra vườn sau ngắt một cành đào, hắn ngắt một cành đào mang về, tỉa tót một chút, rồi trải giấy mài mực viết một bài thơ ngắn: “Chim khóc về bờ sông, chồi xanh đầu cành ngắn. Tuyết còn đọng gác hư, nụ đỏ chưa đáng gài.”

Bạch Cơ ngồi bên án ngọc xanh, nhìn Nguyên Diệu bận rộn, vẻ mặt có phần nghiêm trọng: “Nguyên công tử, Dận thật sự nói không thể tìm thấy cây Vô Ưu ư?”

Nguyên Diệu đã kể hết những gì xảy ra trong chợ đêm cho Bạch Cơ, bao gồm cả việc Dận không thể tìm thấy cây Vô Ưu.

Nguyên Diệu gật đầu: “Đúng vậy. Dận huynh nói hắn cảm nhận được hơi thở của cây Vô Ưu ở Trường An, nhưng một nguồn linh lực rất mạnh đã che mất hơi thở của cây Vô Ưu…”

Bạch Cơ nghiêm mặt: “Trong thành Trường An, những ngươi có linh lực mạnh đến mức Dận cũng cảm thấy là không nhiều, nếu thật sự là một trong số họ đã đánh cắp cây Vô Ưu thì dù ta có ra mặt cũng khó mà lấy lại được.”

“Ồ, phải chăng Ly Nô đệ không phải luôn nói ngươi là kẻ phi nhân mạnh nhất, già nhất trong thành Trường An sao? Hóa ra ngươi cũng có người phải kiêng dè?”

Bạch Cơ cười: “Nguyên công tử, núi cao còn có núi cao hơn, thiên ngoại hữu thiên, không ai có thể xưng là mạnh nhất. Trong thành Trường An, mỗi phi nhân đều có phạm vi thế lực của riêng mình, không thể xâm phạm lẫn nhau, đó là quy tắc bất thành văn. Nếu cố ý xâm phạm, thì dù là ai, dù thành hay bại, cũng phải trả giá.”

Nguyên Diệu gãi đầu: “Nghe có vẻ phức tạp quá. Tiểu sinh cứ nghĩ ngươi là già nhất, pháp lực mạnh nhất rồi chứ!”

“Khụ khụ, Nguyên công tử, không phải ra già nhất, mà là sống lâu nhất.”

Nguyên Diệu gãi đầu: “Già nhất và sống lâu nhất không phải là một sao?”

Bạch Cơ phẩy quạt, cười nói: “Đối với nữ phi nhân, hai điều này vẫn có sự khác biệt tinh tế…”

Nguyên Diệu toát mồ hôi, con rồng yêu già nhất này cũng ghét bị gọi là già sao? Xem ra, nữ nhân và nữ phi nhân, đều giống nhau.

“Bạch Cơ, nghe ngươi nói thế thì có vẻ rất khó tìm lại cây Vô Ưu ư.”

Bạch Cơ phẩy quạt: “Dù khó khăn đến đâu, ta cũng sẽ tìm lại cây Vô Ưu. Vì đó là nguyện vọng của Thập Tam Lang.”

“Ngươi không sợ phi nhân mạnh hơn ngươi sao?”

Bạch Cơ phẩy quạt: “Có Nguyên công tử ở đây thì ta không sợ.”

Nguyên Diệu đỏ mặt: “Vì sao có tiểu sinh ở đây thì ngươi lại không sợ?”

Bạch Cơ cười tủm tỉm: “Bởi vì nếu gặp nguy hiểm, ta sẽ cho ngươi ra trận.”

“Bạch Cơ, các phi nhân các ngươi đấu pháp, xin đừng lấy con người yếu đuối như ta ra làm vật hy sinh vô ích!!” Nguyên Diệu tức giận nói.

“Hehe.” Bạch Cơ cười quỷ quyệt.

Nguyên Diệu chuẩn bị xong cành hoa và bài thơ, rồi cầm danh thiếp chuẩn bị ra ngoài: “Bạch Cơ, ngươi không đi cùng tiểu sinh đến phủ công chúa sao?”

“Không. Ta phải đi tìm hiểu tung tích cây Vô Ưu.” Bạch Cơ uống một ngụm trà, nhẹ nhàng nói.

“Vậy, tiểu sinh đi phủ công chúa đây.” Nguyên Diệu từ biệt Bạch Cơ, rời khỏi Phiêu Miểu các.

Trên đường đi, Nguyên Diệu vẫn lo lắng không biết công chúa Thái Bình có ở trong phủ hay không, nhưng khi đến trước phủ Thái Bình, hắn đã yên tâm hơn. Bên ngoài phủ Thái Bình người qua lại tấp nập, rất nhiều người cầm hộp quà và danh thiếp đứng đợi vào thăm. Công chúa Thái Bình quyền lực nghiêng ngả triều đình, kẻ tham gia chính sự, quan lại, sĩ nhân đều không ngớt ca tụng và lấy lòng nàng, mong được thăng tiến.

Nguyên Diệu nhìn cảnh tượng này, đoán ngay công chúa Thái Bình ở trong phủ thì lập tức thở phào nhẹ nhõm, nhưng đồng thời lại lo lắng, nhiều người đến thế này thì hắn phải đợi đến bao giờ đây?

Nguyên Diệu nghĩ đến hồ ly nhỏ vẫn hôn mê bất tỉnh, sống chết chưa rõ, đang đợi hoàn hồn đan cứu mạng thì không thể trì hoãn được, lập tức gồng mình chen lên phía trước, đưa danh thiếp và cành đào cho quản gia ở cổng: “Tiểu sinh từ Phiêu Miểu các đến, xin được bái kiến công chúa Thái Bình.”

Mọi người thấy quà của Nguyên Diệu là cành đào, lập tức cười phá lên…. Ai cũng biết, công chúa Thái Bình xa hoa phung phí, thích sự lộng lẫy, người đến gặp không ai không dâng lên tài vật phong phú, bảo vật quý hiếm, càng quý giá càng dễ được gặp. Tên thư sinh nghèo này chỉ mang một cành đào mà muốn vào phủ Thái Bình, đúng thật là nực cười.

Quản gia không cười, hắn trịnh trọng nhận lấy danh thiếp của Nguyên Diệu, cúi người nói: “Mời công tử vào.”

“Hả?” Nguyên Diệu kinh ngạc, hắn nghĩ ít nhất cũng phải đợi vài giờ mới được vào phủ Thái Bình.

Quản gia khách khí nói: “Công chúa đã dặn, khách cầm danh thiếp của Phiêu Miểu các đến thì bất kỳ lúc nào cũng có thể được tiếp vào phủ.”

Những người đang chờ ngoài cửa lập tức bất mãn, có người nhỏ giọng phàn nàn: “Chẳng phải nói công chúa Thái Bình đang ốm sao? Sao tên thư sinh này lại được vào?”

“Chúng ta đã đợi ba ngày nhưng vẫn không được vào phủ, tại sao tên này vừa đến lại được vào ngay?”

“Ngươi mới đợi ba ngày, ta đã đợi hơn mười ngày rồi…”

Thấy mọi người bắt đầu xôn xao, một vị thủ vệ đầu lĩnh uy nghiêm bước ra, quát lớn: “Dám làm loạn trước phủ công chúa, đánh đuổi hết!!”

Mọi người nghe vậy thì không dám lên tiếng nữa.

Nguyên Diệu theo quản gia đi vào phủ Thái Bình, băng qua các tầng lầu trùng điệp, núi non và đình đài, đến trước thủy tạ mà hắn đã từng đến lần trước.

Quản gia dừng lại trước thủy tạ, nói với Nguyên Diệu: “Công tử xin chờ ở đây, để tiểu nhân vào thông báo.”

“Đa tạ.” Nguyên Diệu nói.

Nguyên Diệu đợi một lúc, quản gia và hai nữ tỳ tóc búi cao, mặc trang phục cung đình màu đỏ thẫm đi ra.

Quản gia cười nói: “Công chúa mời công tử vào gặp.”

“Đa tạ.” Nguyên Diệu cười nói.

Quản gia mỉm cười rồi rời đi. Hai nữ tỳ nói với Nguyên Diệu: “Xin công tử đi theo nô tỳ.”

“Đa tạ hai vị tỷ tỷ dẫn đường.” Nguyên Diệu nói.

Hai nữ tỳ dẫn Nguyên Diệu băng qua hành lang dài vào trong thủy tạ. Từ xa, Nguyên Diệu nhìn thấy công chúa Thái Bình mặc một bộ đồ hoa lệ màu khói tùng, lười biếng tựa mình trên một chiếc ghế mỹ nhân. Nàng cầm một cành đào và một tờ giấy viết thơ, cười ha hả: “Ha ha…… ha ha ha……”

Nguyên Diệu toát mồ hôi, công chúa Thái Bình đang cười cái gì thế? Là chê cành đào quá tầm thường? Hay là chê thơ của hắn quá dở?

Nguyên Diệu lo lắng tiến lên, cúi đầu hành lễ: “Tiểu sinh bái kiến công chúa Thái Bình.”

Công chúa Thái Bình liếc nhìn Nguyên Diệu, cười lớn: “Ngươi là Yêu Duyên công tử lần trước đến với Tự Nhân sao? Ha ha ha……”

“Tiểu sinh tên Nguyên Diệu, tự Hiên Chi.” Nguyên Diệu toát mồ hôi, sửa lại trí nhớ sai lầm của công chúa Thái Bình.

“Ha ha, tên gì không quan trọng, dù sao thì cũng là ngươi…… ha ha ha……”

Nguyên Diệu lại toát mồ hôi, lời của hắn có gì buồn cười sao? Tiếng cười của nàng khiến hắn rợn tóc gáy.

Công chúa Thái Bình nói: “Yêu Duyên, ngươi đến phủ Thái Bình làm gì? Ha ha ha……”

Nguyên Diệu sửa lại: “Là Nguyên Diệu. Chuyện là thế này, một người bạn của tiểu sinh bị kinh sợ nên mất hồn phách, đang hôn mê bất tỉnh. Bạch Cơ nói công chúa có hoàn hồn đan, nên tiểu sinh mới đến xin một viên.”

“Ha ha, hoàn hồn đan quý giá như vậy, tại sao bản công chúa phải cho ngươi? Ha ha ha……” Công chúa Thái Bình vừa nói lạnh lùng vừa cười rạng rỡ, tạo nên cảm giác mâu thuẫn kỳ lạ.

Nguyên Diệu nói: “Tiểu sinh hy vọng công chúa từ bi, cứu giúp bạn của tiểu sinh.”

“Ha ha, muốn bản công chúa cho ngươi hoàn hồn đan cũng không khó, theo quy tắc của Phiêu Miểu các, một vật đổi một vật, ngươi lấy gì đổi với bản công chúa? Ha ha ha……”

Nguyên Diệu thật thà nói: “Tiểu sinh không có vật gì đủ để đổi lấy hoàn hồn đan của công chúa cả.”

Công chúa Thái Bình nhìn tờ bài thơ gắn trên cành đào, cười lớn: “Đây là ngươi viết sao? Thơ cũng không tệ. Ha ha ha……”

“Công chúa quá khen.” Nguyên Diệu khiêm tốn nói.

“Ha ha, bản công chúa sắp tổ chức Bách Thi yến với Thượng Quan Chiêu Nghi, nếu ngươi viết một trăm bài thơ trình lên bản công chúa thì bản công chúa sẽ cho ngươi một viên hoàn hồn đan. Ha ha ha……” công chúa Thái Bình vừa nói vừa cười không ngớt.

Nguyên Diệu suy nghĩ một lúc, đành đồng ý: “Tiểu sinh tuân mệnh.”

“Yêu Duyên, ngươi có ba ngày. Ba ngày sau, mang một trăm bài thơ đến phủ Thái Bình, bản công chúa sẽ cho ngươi hoàn hồn đan. Ha ha ha……”

“Là Nguyên Diệu.” Nguyên Diệu sửa lại, rồi lại khẩn cầu: “Ba ngày sau, tiểu sinh chắc chắn sẽ trình thơ lên. Nhưng bạn của tiểu sinh vẫn hôn mê, mạng sống nguy cấp, cứu người như cứu lửa, nếu công chúa cho tiểu sinh hoàn hồn đan ngay bây giờ thì tiểu sinh sẽ rất biết ơn.”

“Ha ha ha, không, ngươi mang thơ đến, bản công chúa mới cho ngươi hoàn hồn đan. Ha ha ha……” công chúa Thái Bình cười không ngớt.

Công chúa Thái Bình đã nói vậy, Nguyên Diệu chỉ có thể tuân theo, không dám nói thêm.

“Ha ha, ha ha ha……” Công chúa Thái Bình ôm bụng cười.

Tiếng cười của công chúa Thái Bình khiến Nguyên Diệu run rẩy, hắn lấy can đảm hỏi một câu: “Xin hỏi, công chúa cười gì vậy? Chẳng lẽ hành vi của tiểu sinh có gì đáng cười sao?”

“Ha ha, không phải tại Yêu Duyên. Không biết vì sao, bản công chúa cứ muốn cười, không thể ngừng được. Ha ha ha……”

“Không phải là Yêu Duyên, là Nguyên Diệu.” Nguyên Diệu lại sửa lại.

“Ha ha, không quan trọng là gì, dù sao cũng là ngươi. Ha ha, ha ha ha……”

“Công chúa cười như vậy không thấy mệt sao?” Nguyên Diệu cả gan hỏi, công chúa Thái Bình cứ cười không ngừng, hắn chỉ nhìn thôi cũng thấy mệt.

“Ha ha, rất mệt, nhưng không thể ngừng. Bản công chúa cười nhiều hơn hai mươi năm qua gộp lại, cảm thấy rất mệt, rất kiệt sức. Ha ha ha……”

Nguyên Diệu toát mồ hôi. Dù nói cười là chuyện tốt, nhưng nhìn thế nào thì việc công chúa Thái Bình cười không ngừng thế này đều hơi kỳ quái.

“Vậy, tiểu sinh xin cáo từ.” Nguyên Diệu cúi đầu nói.

“Chờ đã.” Công chúa Thái Bình gọi nữ tỳ mang đến một chiếc hộp, đưa cho Nguyên Diệu: “Đây là bức thêu lần trước, Tự Nhân nói muốn, ngươi mang về cho nàng. Ha ha ha……”

“Vâng.” Nguyên Diệu nhận lấy hộp gỗ. Hắn nhớ lần trước lúc Bạch Cơ xin bức thêu, công chúa Thái Bình rõ ràng nói không cho, nhưng khi thêu xong vẫn đưa. Xem ra, nàng và Bạch Cơ có thể là bạn tốt của nhau?

Công chúa Thái Bình dường như nhìn thấu suy nghĩ của Nguyên Diệu, cười lạnh lùng nói: “Bản công chúa không phải thêu riêng cho Tự Nhân, chỉ là rảnh rỗi nên thêu thêm một bức. Ha ha ha, nên ngươi đừng tưởng bản công chúa và Tự Nhân là bạn. Ha ha ha……”

“Các ngươi không phải là bạn sao?” Nguyên Diệu ngạc nhiên hỏi.

“Tự Nhân ghét nhất loài người, bản công chúa ghét nhất phi nhân, sao chúng ta có thể là bạn? Ha ha ha……”

Nguyên Diệu sửng sốt. công chúa Thái Bình từ nhỏ đã bị ác quỷ hành hạ, sống trong bóng tối của nỗi sợ hãi, nàng ghét phi nhân hắn có thể hiểu, nhưng tại sao Bạch Cơ lại ghét loài người? Từ những hành động và lời nói thường ngày của nàng, hắn có thấy nàng ghét loài người đâu. Nếu nàng ghét loài ngươi, vậy hắn cũng là loài ngươi, chẳng lẽ nàng cũng ghét hắn?

“Haha, bản công chúa nghe mẫu hậu nói thế, không biết rõ chuyện bên trong, nếu Yêu Duyên công tử hứng thú thì có thể tự mình đi hỏi Tự Nhân. Hahaha……”

“Không phải Yêu Duyên, là Nguyên Diệu.” Nguyên Diệu tức giận sửa lại.

“Đều như nhau thôi. Hahaha……”

Nguyên Diệu từ biệt rời khỏi Thái Bình Phủ.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 27: Trăm bài thơ


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Quyển 4: Cây Vô Ưu

Chương 7: Trăm bài thơ

Nguyên Diệu trở về Phiêu Miểu Các, Phiêu Miểu Các lạnh lẽo vắng vẻ, Bạch Cơ vẫn chưa về, con hồ ly nhỏ vẫn còn hôn mê chưa tỉnh.

Nguyên Diệu đặt hộp gỗ xuống, lấy bút mực giấy nghiên ra, pha một tách trà rồi ngồi trong phòng viết thơ. Hai canh giờ sau, Nguyên Diệu đã viết được mười mấy bài thơ, bụng cũng đói. Con hồ ly nhỏ vẫn còn hôn mê, nên không ai nấu ăn, Nguyên Diệu đành lấy ít tiền đi chợ ăn một bát hoành thánh. Trở về, hắn mua hai cân bánh dày để làm bữa tối cho mình và Bạch Cơ.

Hoàng hôn buông xuống, Bạch Cơ vẫn chưa về, cũng không gửi tin tức về. Nguyên Diệu đành phải ăn tối một mình. Nguyên Diệu ngồi một mình dưới hành lang trong sân sau, trên bàn gỗ đặt bánh dày lạnh ngắt, xung quanh vắng lặng khiến người ta cảm thấy cô đơn.

Bạch Cơ đi tìm tung tích của cây Vô Ưu, không biết có chuyện gì không? Ly Nô trốn trong núi để tránh thiên kiếp, không biết bây giờ có an toàn không? Thập Tam Lang nằm trong phòng hôn mê không tỉnh, không rõ sống chết khiến người ta lo lắng. Nguyên Diệu vừa gặm bánh dày lạnh cứng, vừa rơi nước mắt. Tại sao thế gian luôn có nhiều điều lo lắng như vậy, dù có cây Vô Ưu, nhưng sao có thể thực sự vô ưu vô lo được đây?

Đến giờ thắp đèn nhưng Bạch Cơ vẫn chưa về, Nguyên Diệu càng lo lắng hơn. Hắn muốn đi tìm nàng, nhưng lại không biết đi đâu để tìm.

Đêm khuya, Bạch Cơ vẫn chưa về, cũng không gửi tin tức về. Nguyên Diệu đi đi lại lại trong Phiêu Miểu Các, lòng nóng như lửa đốt, nước mắt lưng tròng. Bạch Cơ chưa từng rời khỏi Phiêu Miểu Các mà không nói một lời nào lâu như vậy, chắc chắn là đã xảy ra chuyện. Lúc này, liệu con rồng yêu kia có bị yêu pháp cao hơn tiêu diệt không? Hay là xác phơi ngoài đồng hoang, không ai chôn cất rồi?

Nguyên Diệu vừa lo lắng, vừa sợ hãi, vừa sốt ruột, giống như kiến bò trên chảo nóng, trong lòng không yên.

Nguyên Diệu đi đi lại lại trong Phiêu Miểu Các, chịu đựng suốt một đêm, nước mắt chảy suốt một đêm. Nghĩ đến nếu Bạch Cơ thật sự không còn nữa, hắn cảm thấy rất buồn. Khi trời vừa hừng sáng, biết chắc trên đường không còn cấm quân, Nguyên Diệu lao ra khỏi Phiêu Miểu Các, muốn đi tìm Bạch Cơ. Hắn nghĩ, nếu gặp một yêu quái thì sẽ hỏi thăm tin tức về Bạch Cơ, nếu cứ hỏi mãi, chắc chắn sẽ có tin tức của nàng. Dù sao thì hắn cũng có duyên với yêu quái, không lo không gặp được yêu quái.

Nguyên Diệu vừa lao ra khỏi Phiêu Miểu Các, trong ánh sáng mờ ảo của buổi sáng, có giọng nam c ăng thẳng nói: “Nguyên công tử dừng bước, đừng giẫm lên ta!!”

“Ơ!” Nguyên Diệu định giẫm xuống, nhìn kỹ thì thấy dưới đất có một con ốc sên.

“Ngươi đang nói chuyện sao?” Nguyên Diệu hỏi ốc sên.

Ốc sên nói: “Là ta.”

“Sao ngươi biết ta họ Nguyên?”

“Ngươi vừa từ Phiêu Miểu Các ra, lại ngây ngô thế kia, chắc chắn là Nguyên công tử. ‘Mặt mày ngây ngô là Hiên Chi.’ Bạch Cơ nói thế.”

“Bạch Cơ ư?! Ngươi gặp nàng ấy sao? Nàng ấy bây giờ đang ở đâu?” Nguyên Diệu vội hỏi.

“Bạch Cơ bây giờ ở đâu ta không biết. Nhưng chiều qua ta gặp Bạch Cơ trên phố Chu Tước, nàng ấy nhờ ta đến Phiêu Miểu Các nhắn tin cho Nguyên công tử. Ta bò suốt một ngày một đêm, cuối cùng cũng đến được Phiêu Miểu Các.”

“Gì cơ?”

“Bạch Cơ nói, mấy ngày này nàng ấy có thể không về Phiêu Miểu Các, kêu Nguyên công tử đừng lo lắng, chăm sóc tốt tiệm, cẩn thận lửa đèn.”

Nguyên Diệu thở phào, đồng thời cảm thấy hơi tức giận: “Nàng ấy… nàng ấy thật sự nhờ một con ốc sên truyền tin bình an?! Thật làm khổ ta mà!!”

Hắn còn tưởng rằng nàng ấy đã gặp chuyện chẳng lành, cả đêm lo lắng sợ hãi, nước mắt chảy ướt cả một ống tay áo.

Ốc sên không vui: “Nguyên công tử có ý gì? Chẳng lẽ ngươi xem thường ốc sên sao? Vì truyền tin mà ta không dám chậm trễ một phút, trên đường cũng không nghỉ ngơi một phút, không ngủ không nghỉ mà bò tới, không có công lao cũng có khổ lao, sao ngươi có thể xem thường ta?!”

Nguyên Diệu dở khóc dở cười, vội xin lỗi: “Ốc sên huynh hiểu lầm rồi, ta không có ý đó. Dù sao đi nữa cũng cảm ơn ốc sên huynh.”

Thấy Nguyên Diệu xin lỗi, ốc sên mới bớt giận: “Nguyên công tử khách sáo rồi. Đã truyền tin xong, ta xin cáo từ.”

Nguyên Diệu níu lại: “Ốc sên huynh đường xa vất vả, hay vào trong uống chén trà rồi đi?”

Ốc sên nói: “Không cần đâu. Ta còn phải đến phường Yên Khang nhắn tin cho bà Từ, hai ngày trước con trai út của bà ấy bị người Hồ ở cửa hàng thịt rắn chợ Đông bắt giữ, định dùng làm súp. Tiểu Từ nhờ ta nhắn tin cho nương hắn, để bà ấy đi cứu hắn. Đây là chuyện liên quan đến tính mạng, không thể không vội được!”

Ơ, dù có vội, e rằng cũng đã muộn rồi? Nguyên Diệu toát mồ hôi lạnh, cảm thấy rắn nhỏ chắc là sợ đến lú lẫn rồi mới nhờ ốc sên truyền tin cứu mạng khẩn cấp: “Vậy, ốc sên huynh đi nhanh đi ạ.”

“Ừ. Được.” Ốc sên chầm chậm bò đi, rồi dần xa.

Nguyên Diệu quay về Phiêu Miểu Các, mặc dù trời đã sáng, nhưng hắn thức suốt một đêm, cảm thấy rất mệt lập tức nằm xuống bên cạnh Hồ Thập Tam Lang mà ngủ một giấc ngon lành.

Hai ngày nay, Nguyên Diệu vắt óc làm thơ, hắn muốn làm đủ một trăm bài thật nhanh để đi phủ Thái Bình đổi hồn hoàn đan. May thay, trước đây hắn đã viết không ít bài thơ thương xuân bi thu, cảm cổ than kim, bây giờ ghép lại, gần đủ một trăm bài.

Ngày thứ ba, Nguyên Diệu áo mũ chỉnh tề, mang theo một trăm bài thơ đến chỗ công chúa Thái Bình. Bên ngoài Thái Bình Phủ vẫn là xe ngựa người qua lại, tấp nập không ngớt, một cảnh rôm rả. Từ câu chuyện phiếm của mọi người, Nguyên Diệu biết được công chúa Thái Bình bị bệnh nên không tiếp khách. Nhưng sau khi Nguyên Diệu trình bái thiếp, quản gia vẫn dẫn hắn vào phủ. Trên đường, quản gia nói: “Gần đây công chúa bị bệnh, ngài có gì thì nói ngắn gọn thôi.”

“Ơ?!” Nguyên Diệu ngạc nhiên, công chúa Thái Bình bị bệnh? “Công chúa bị bệnh gì? Ta nhớ ba ngày trước công chúa vẫn khỏe mạnh mà…”

Quản gia nói: “Công chúa thân thể không khỏe, hạ nhân chúng ta làm sao biết được chi tiết? Nhưng nghe nói, hình như công chúa mắc một căn bệnh lạ, toàn thân ngứa ngáy, đau đớn không chịu nổi, thái y đã đến mấy lần, sắc nhiều thuốc tắm nhưng không thấy khá hơn.”

Trong lúc nói chuyện, Nguyên Diệu và quản gia đã đến bên ngoài thủy tạ. Sau khi thông báo, Nguyên Diệu theo hai nữ tỳ vào trong thủy tạ. công chúa Thái Bình nằm trên một chiếc giường lớn, xung quanh giường buông màn lụa, theo gió bay phấp phới.

“Haha……hahaha……” Công chúa Thái Bình cười lớn trên giường, không thể kiềm chế niềm vui.

Trong tiếng cười rộn rã của công chúa Thái Bình, bốn nữ tỳ đứng bên cạnh lại rất lo lắng.

Nguyên Diệu chắp tay trước công chúa Thái Bình: “Tiểu sinh bái kiến công chúa Thái Bình.”

Công chúa Thái Bình cười lớn: “Yêu Duyên, lại là ngươi…hahaha…”

“Là Nguyên Diệu.” Nguyên Diệu sửa lại.

“Dù là gì thì cũng là ngươi. Hahaha……”

Nguyên Diệu không muốn tranh cãi về tên gọi, lập tức vào thẳng vấn đề: “Tiểu sinh đã làm xong một trăm bài thơ, đặc biệt đến trình cho công chúa, xin công chúa ban hoàn hồn đan cho tiểu sinh.”

Công chúa Thái Bình nghe xong thì ngẩn người, cười: “Haha, đã làm thơ xong rồi sao?”

Nguyên Diệu dâng thơ lên, nữ tỳ nhận lấy đưa vào trong màn lụa, trình cho công chúa Thái Bình. công chúa Thái Bình lật qua vài trang, rồi ra lệnh cho nữ tỳ lấy hoàn hồn đan, trao cho Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu nhận lấy Hoàn Hồn Đan, cảm kích không ngớt: “Đa tạ công chúa.”

Công chúa Thái Bình im lặng một lúc, rồi nói: “Yêu Duyên, sau khi ngươi trở về Phiêu Miểu Các, hãy bảo Tự Nhân đến Thái Bình phủ gặp ta.”

“Ơ?!” Nguyên Diệu hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn đồng ý: “Tiểu sinh tuân lệnh. Nhưng Bạch Cơ mấy ngày nay không ở Phiêu Miểu Các, nàng ấy đang bận việc quan trọng, không biết khi nào mới về…”

Công chúa Thái Bình vén màn trên giường, lộ ra khuôn mặt, đôi mắt như lông quạ đen, lạnh lùng cười: “Nói với nàng ấy những gì ngươi đã thấy, nàng ấy sẽ đến. Hahaha……”

Nguyên Diệu ngước nhìn công chúa Thái Bình, lập tức sởn gai ốc. Trên mặt công chúa Thái Bình đầy những đường vân vàng kỳ lạ, như là mạch máu lồi lênlàm cho gương mặt xinh đẹp của nàng trở nên dữ tợn. Không chỉ trên mặt, trên cổ, tay và cả da thịt của công chúa Thái Bình đều phủ đều mọc đầy những họa tiết vàng, khiến người ta kinh hãi.

Nguyên Diệu há hốc miệng, không nói nên lời.

Công chúa Thái Bình đưa tay gãi những vân vàng trên cổ, dường như rất ngứa: “Ngươi đi nói với Tự Nhân, bản công chúa bị ác quỷ ám thì nàng ấy sẽ đến. Hahaha……”

Hai bên nữ tỳ ngăn cản công chúa Thái Bình: “Công chúa, xin đừng gãi nữa, sẽ làm tổn thương da đó.”

Nguyên Diệu sợ hãi, cột sống lạnh toát, chỉ biết đáp: “Vâng. Khi Bạch Cơ trở về, tiểu sinh sẽ chuyển lời.”

“Haha, hahaha……” Trong thủy tạ vang lên tiếng cười trống rỗng của công chúa Thái Bình.

Nguyên Diệu trở về Phiêu Miểu Các, Bạch Cơ vẫn chưa về. Nguyên Diệu đút Hoàn Hồn Đan cho con hồ ly nhỏ, đợi mãi không thấy nó tỉnh lại thì hắn không khỏi lo lắng. Sao Thập Tam Lang vẫn chưa tỉnh? Chẳng lẽ Hoàn Hồn Đan không có hiệu quả sao?

Nguyên Diệu vô cùng lo lắng, lại buồn bã suốt cả buổi chiều.

Đến hoàng hôn, mặt trời lặn.

Nguyên Diệu cô đơn ngồi dưới hành lang gặm bánh dày, trong lòng cảm thấy thê lương, nước mắt tuôn trào.

“Hiên Chi đang khóc gì vậy?” Một làn hương thơm thoảng qua, tiếng chuông leng keng.

Nguyên Diệu theo phản xạ lau nước mắt, phản bác: “Tiểu sinh không có khóc.”

Trong khoảnh khắc tiếp theo, Nguyên Diệu phản ứng lại, quay đầu nhìn, lại khóc: “Bạch Cơ cuối cùng đã trở về, tiểu sinh cứ lo ngươi không trở về được…”

“Sao ta lại không về? Hiên Chi chỉ giỏi lo chuyện không đâu…à, đói chết mất!” Bạch Cơ ngồi xuống, cầm lấy bánh dày trong tay Nguyên Diệu, cắn một miếng lớn.

Nguyên Diệu tức giận: “Đừng trộm bánh dày của tiểu sinh!”

Bạch Cơ cười tươi: “Sao lại gọi là trộm? Đây rõ ràng là cướp!”

Nguyên Diệu chưa kịp phản ứng, bánh dày trong tay đã bị Bạch Cơ cướp mất, rồi ăn ngon lành.

Nguyên Diệu không dám giành lại, đành lấy một cái khác.

“Bạch Cơ, mấy ngày nay ngươi đã đi đâu vậy?”

“Ta ra bờ sông Khúc Giang chơi cờ với Huyền Vũ.”

“Chơi cờ? Không phải ngươi đi tìm tung tích cây Vô Ưu sao?”

“Đích thân đi tìm mệt lắm, hỏi Huyền Vũ là được. Huyền Vũ biết rõ động tĩnh của tất cả người và yêu trong thành Trường An, hỏi nó cũng như biết được tung tích của cây Vô Ưu.”

“Vậy nàng tìm hiểu được gì rồi?”

“Cây Vô Ưu không nằm trong tay bất kỳ yêu hay người nào.”

“Vậy cây Vô Ưu ở đâu?”

“Không biết.”

“Ngươi đi ba ngày mà chỉ nhận được kết quả ‘không biết’ sao?” Nguyên Diệu hơi thất vọng.

“Không, ta còn nhận được một giỏ hạt sen đỏ. Huyền Vũ thua cờ ta. Hiên Chi, bóc ra đi, để Thập Tam Lang làm canh hạt sen, chắc chắn sẽ rất ngon.” Bạch Cơ cười tươi chỉ vào giỏ hạt sen đỏ để bên cạnh.

Nguyên Diệu nghe đến Thập Tam Lang, lại rơi nước mắt: “Thập Tam Lang vẫn chưa tỉnh, tiểu sinh đã lấy Hoàn Hồn Đan từ phủ Thái Bình cho nó ăn rồi, nhưng nó vẫn mê man không tỉnh. Đây là chuyện gì?”

“Ngươi cho Thập Tam Lang ăn Hoàn Hồn Đan lúc nào?”

“Khoảng hai ba canh giờ trước.”

Bạch Cơ liếc mắt, cười: “Hiên Chi không gọi hồn, thì sao Thập Tam Lang tỉnh lại được?”

“Gọi hồn? Gọi hồn gì?” Nguyên Diệu hoàn toàn mơ hồ.

“Hồn bị mất rồi, dù ăn Hoàn Hồn Đan cũng phải gọi hồn, thì hồn phách mới quay lại cơ thể.”

“Tiểu sinh phải đi đâu để gọi hồn Thập Tam lang đây?”

“Hiên Chi phải đến nơi Thập Tam Lang mất hồn để gọi hồn.”

“Gọi như thế nào?” Nguyên Diệu hỏi.

Bạch Cơ cười gian, thì thầm vào tai Nguyên Diệu một lúc.

“Không, không, việc này làm khó tiểu sinh quá…” Nguyên Diệu liên tục lắc đầu, mặt mày chua xót.

Bạch Cơ chớp chớp mắt: “Tội nghiệp Thập Tam Lang, Hiên Chi không chịu gọi hồn cho ngươi, xem ra ngươi chỉ có thể mãi mãi mê man rồi…”

“Được rồi, được rồi, tiểu sinh sẽ đi gọi hồn.” Nguyên Diệu mặt nhăn nhó đáp.

Hoàng hôn buông xuống, cỏ xanh mơn mởn, tại nơi Thập Tam Lang mất hồn, Nguyên Diệu mặc váy trắng thêu mẫu đơn, đầu búi tóc kiểu ốc xoắn, tay cầm hai cành đào giả vờ múa, the thé gọi hồn: “Thập Tam Lang, hồn hãy về đây… Thập Tam Lang, hồn hãy về đây…”

Bạch Cơ ngồi ở hành lang xa xa nhìn, khóe miệng co giật.

Một con cáo lửa nhỏ đi dọc hành lang, ngồi xuống bên cạnh Bạch Cơ. Bạch Cơ nghiêng đầu cười: “Thập Tam Lang, tỉnh rồi à?”

“Ừ.” Con hồ ly nhỏ ngượng ngùng đáp, nó nghi ngờ nhìn về phía người đang nhảy múa như điên trong bụi cỏ: “Vị tỷ tỷ kia là ai, sao lại gọi tên mỗ… Ồ, thì ra là Nguyên công tử, hắn điên rồi sao?! Hắn nhảy xấu quá!!”

Bạch Cơ thở dài, uống một ngụm trà: “Ôi chao, Hiên Chi mặc nữ trang chẳng đẹp gì cả, nhảy cũng không đẹp luôn.”

Tên thư sinh đang cố gắng nhảy múa gọi hồn trong bụi cỏ mãi mãi không biết rằng, dù hắn không gọi hồn thì sau khi uống Hoàn Hồn Đan ba canh giờ, Thập Tam Lang cũng sẽ tỉnh lại.

Đến giờ thắp đèn, Nguyên Diệu thay lại áo xanh, thấy con hồ ly nhỏ tỉnh lại thì vui mừng rơi nước mắt. Nguyên Diệu xin lỗi vì đã làm nó hoảng sợ, con hồ ly nhỏ tha thứ cho hắn.

Con hồ ly nhỏ biết rằng Nguyên Diệu đã hai lần đến phủ Thái Bình để cứu nó, làm một trăm bài thơ để đổi lấy Hoàn Hồn Đan, vô cùng cảm kích Nguyên Diệu: “Nguyên công tử thật tốt. Được làm bạn với Nguyên công tử ta thực sự rất vui. À, ta lười biếng mấy ngày nay, thực sự rất xấu hổ, ta đi làm canh hạt sen cho Bạch Cơ và Nguyên công tử ăn đây.”

“Tiểu sinh sẽ bóc hạt sen.” Nguyên Diệu cười nói.

“Bóc nhiều vào, ta đói chết rồi.” Bạch Cơ cười tươi.

“Ngươi vừa ăn nhiều bánh dày như thế, cả phần của tiểu sinh cũng ăn, sao lại đói rồi?” Nguyên Diệu giận dỗi.

“Nghe Thập Tam Lang muốn nấu ăn là ta đói ngay luôn.” Bạch Cơ cười nói.

Nguyên Diệu không nói nên lời.

Con hồ ly nhỏ đi vào bếp nhóm lửa, Nguyên Diệu vừa bóc hạt sen, vừa hỏi Bạch Cơ: “Ngươi không biết tung tích của cây Vô Ưu, làm sao ăn nói với Thập Tam Lang? Nó ở Phiêu Miểu Các cần mẫn làm việc bao lâu nay cũng vì cây Vô Ưu.”

Bạch Cơ thở dài, lấy một hạt sen đã bóc ăn: “Ngày mai ta sẽ đi tìm tiếp.”

Nguyên Diệu chợt nhớ ra điều gì, nói: “Đúng rồi, công chúa Thái Bình mời nàng đến phủ công chúa. Nàng ấy nói nàng ấy bị ác quỷ ám.”

Bạch Cơ nhíu mày, nhắm mắt tính toán một hồi, cười nói: “Không sao, không cần để ý.”

“Ơ?” Nguyên Diệu hỏi: “Mặt công chúa, người công chúa đều phủ đầy những đường vân vàng kỳ lạ, nàng ấy cũng cười không ngừng, nụ cười khiến người ta rợn tóc gáy, chẳng lẽ không phải ác quỷ quấy phá, muốn hại nàng ấy sao?”

Bạch Cơ lấy một hạt sen, cắn một miếng: “Kết giới không phá, ngọc bội hoàn hảo, không phải ác quỷ làm loạn. Những vân vàng trên mặt và người có lẽ là tự nàng ấy vẽ lên?”

“Cớ gì lại nói vậy?”

Bạch Cơ nheo mắt nhớ lại: “Công chúa Thái Bình thường hay làm những trò đùa tương tự như thế. Khi nàng ấy còn nhỏ, lúc ta mới ký khế ước đồng với nàng ấy, nàng ấy rất ghét ta, luôn dùng mọi cách lừa ta vào cung để thuật sĩ phục kích ta. Sau này, dần dần, nàng ấy không còn ghét ta nữa, nhưng vẫn thỉnh thoảng nghịch ngợm, vẽ hoa văn lên mặt nói là yêu quái làm hại, làm vài vết thương trên người nói là ác quỷ tấn công, lừa ta đến gặp nàng ấy để mua vui. Lâu dần ta cũng quen rồi, chẳng buồn để ý nữa. Vì thế, Hiên Chi cũng không cần để ý đâu.”

Nguyên Diệu kinh ngạc, hóa ra công chúa Thái Bình thích đùa giỡn với Bạch Cơ. Vậy lần này nàng ấy cũng đang đùa giỡn sao? Những hoa văn kỳ lạ, tiếng cười đáng sợ đều là trò đùa ư? Tuy rằng Bạch Cơ không sai, nhưng cảm giác vẫn có điều gì đó không ổn.

“Đúng rồi, công chúa Thái Bình còn gửi cho nàng một bức thêu, tiểu sinh để trong phòng, có cần mang ra xem không?”

Bạch Cơ lại lấy một hạt sen đỏ ăn, lười biếng đáp: “Không cần, để hôm khác rảnh rỗi rồi xem.”

Nguyên Diệu nói: “Bạch Cơ, nàng để ốc sên huynh đệ truyền tin thật là gây khó dễ cho tiểu sinh, khiến tiểu sinh lo lắng cả đêm. Lần sau gặp tình huống khẩn cấp, nàng có thể nhờ phi nhân nhanh chân hơn đưa thư được không?”

“Nhanh chân à, vậy là Phi Đầu Man, một cái đầu người bay vèo đến, dọc đường máu tươi nhỏ xuống, lần sau ta sẽ nhờ Phi Đầu Man tới nhé?” Bạch Cơ cười nói.

Nguyên Diệu tưởng tượng cảnh đầu người đẫm máu bay đến bên gối gọi hắn dậy đưa thư trong đêm khuya thanh vắng, mồ hôi lạnh chảy ròng: “Không, không, vẫn là ốc sên huynh đi, hắn rất tốt.”

Bạch Cơ lại lấy một hạt sen đỏ: “Đúng vậy, ốc sên tuy chậm nhưng cũng đã hết sức hết lòng đưa thư đến nơi. Hiên Chi không thể đòi hỏi quá nhiều.”

“Bạch Cơ, đừng có tiểu sinh vừa bóc một hạt sen nàng lại ăn một hạt, Thập Tam Lang còn phải làm canh nữa mà.” Nguyên Diệu giận dỗi nói.

“Ôi chao, Hiên Chi bóc nhanh hơn một chút là được mà.” Bạch Cơ vẫn muốn với tay lấy.

Nguyên Diệu vội giấu giỏ hạt sen ra sau lưng: “Không được ăn nữa. Đợi Thập Tam Lang làm xong canh rồi ăn.”

“Hiên Chi thật keo kiệt.” Bạch Cơ không lấy được hạt sen, thì không vui đi ra sau vườn.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 28: Hồ Lật


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Quyển 4: Cây Vô Ưu

Chương 8: Hồ Lật

Ngày hôm sau, Bạch Cơ để lại một câu “Hiên Chi ở lại trông tiệm, không được bán đồ giá rẻ lung tung” rồi ra ngoài.

Giữa trưa, một cơn mưa rơi xuống. Sau mưa, bầu trời xanh thẳm, rêu xanh trong ngõ nhỏ cũng trở nên xanh mượt, còn vương vài giọt nước. Trong đại sảnh, Nguyên Diệu cầm tách trà ngồi sau quầy đọc sách.

Hồ ly nhỏ ngồi bên cạnh đập hạt dẻ, bóc nhân hạt dẻ, buổi tối định làm một đ ĩa hạt dẻ hổ phách.

Nguyên Diệu đang mải mê đọc sách, chợt nghe tiếng của một thiếu niên: “Thập Tam, quả nhiên ngươi đang ở Phiêu Miểu Các!”

Thập Tam Lang nói: “Ơ, Lật, sao ngươi lại đến đây?”

“Cha bảo ta đến tìm ngươi về nhà, mau về nhà thôi.”

“Mỗ không về. Mỗ phải tìm được cây Vô Ưu mới về.”

Nguyên Diệu ngẩng đầu, không thấy người đâu, đứng lên mới thấy một con hồ ly nhỏ màu hạt dẻ đi vào Phiêu Miểu Các, đang nói chuyện với Hồ Thập Tam Lang.

Nguyên Diệu ngạc nhiên hỏi: “Vị này là…?”

Hồ Thập Tam Lang giới thiệu: “Đây là tứ ca của mỗ, tên là Lật. Lật, đây là Nguyên công tử.”

Nguyên Diệu cười nói: “Thì ra là Lật huynh đệ. Tiểu sinh họ Nguyên, tên Diệu, tự Hiên Chi.”

“Cút đi! Ai là huynh đệ với ngươi?! Hồ ly chúng ta nói chuyện, ngươi đừng chen miệng vào!” Lật bực bội nói.

Nguyên Diệu đành im lặng.

Lật nói với Thập Tam Lang: “Thập Tam, ngươi đừng bướng bỉnh chọc cha giận nữa. Trồng chết cây Vô Ưu cũng không phải chuyện to tát, nhận lỗi với cha là được, người luôn đối xử tốt với ngươi, sẽ không trách mắng đâu, làm thế ai cũng vui vẻ.”

Thập Tam Lang nói: “Mỗ không làm chết cây Vô Ưu! Nếu không tìm được cây Vô Ưu, rửa sạch oan khuất thì mỗ sẽ không về!”

Lật mất kiên nhẫn, giơ chân đạp lên đầu Thập Tam Lang, ấn nó xuống đất, hung dữ đe dọa: “Không được nói nhảm nữa! Ngoan ngoãn về nhà nhận lỗi với cha cho ta!”

Hồ ly nhỏ vùng vẫy: “Mỗ không làm chết cây Vô Ưu, tại sao phải xin lỗi?!”

Lật ấn chặt đầu Thập Tam Lang, hung tợn nói: “Nói ít thôi! Ta bảo ngươi về xin lỗi thì ngươi phải về xin lỗi!”

Lật thường xuyên bắt nạt Thập Tam Lang, Thập Tam Lang hơi sợ nó, cũng không mạnh bằng nó, vùng vẫy mãi không thoát thì nước mắt lưng tròng.

Nguyên Diệu không nhịn nổi, đi đến kéo Lật ra: “Lật huynh đệ, có chuyện gì từ từ nói, đừng bắt nạt Thập Tam Lang.”

“Biến đi! Ai là huynh đệ của ngươi?! Hồ ly chúng ta nói chuyện, ngươi đừng chen miệng vào, cút ra chỗ khác!” Lật giơ bộ móng dài sắc nhọn, cào mạnh về phía Nguyên Diệu.

Nếu cào trúng thì tiểu thư sinh chắc chắn sẽ bị xé toạc ruột gan. Tuy nhiên, khi móng vuốt của Lật còn cách ngực tiểu sinh nửa tấc, thì một tia sáng trắng toả ra từ trong lòng tiểu thư sinh, một khóm hoa cúc xanh thêu trên khăn tay bay ra, chạm vào móng vuốt của Lật rồi tan thành tơ nhện. Tơ nhện leo lên theo móng vuốt của Lật, quấn chặt lấy cơ thể nó.

Lật bị tơ nhện trói chặt, ngã xuống đất, không thể động đậy nữa.

Nguyên Diệu lấy khăn tay mà Bạch Cơ tặng ra, thấy trên đó đã trở nên trống rỗng, không còn họa tiết gì. Vừa lau mồ hôi, Nguyên Diệu vừa thầm than thật nguy hiểm. May mà vẫn còn để lại khóm hoa cúc này.

Hồ Thập Tam Lang được tự do, đứng dậy, rũ lông trên người, thở phào nhẹ nhõm.

Lật cố sức vùng vẫy, phun ra lửa hồ ly, nhưng tơ nhện vẫn không bị cháy đứt. Nó niệm chú ngữ, thuật pháp thì đều bị phản lại, tơ nhện càng quấn chặt hơn. Lật từ bỏ kháng cự, chửi rủa: “Đồ yêu rồng thối, dám nấp trong bóng tối đánh lén? Ngươi gọi cái đó là anh hùng sao? Có gan ra đây đấu với ta một trận!! Tương lai nếu ta làm vua Cửu Vĩ Hồ, thì chắc chắn dẫn hồ tộc san bằng Phiêu Miểu Các, lột da rồng, rút gân rồng của ngươi, để yêu quái Trường An đều đến ăn thịt rồng của ngươi!!”

Nguyên Diệu nghe xong, thì giận dữ nói: “Rõ ràng là ngươi định hãm hại tiểu sinh, sao lại ngậm máu phun người, ngang ngược không biết lý lẽ như thế?!”

Hồ Thập Tam Lang cũng rất tức giận: “Lật, không được vô lễ với Bạch Cơ! Cha vẫn còn sống, gì mà ngươi làm vua Cửu Vĩ Hồ? Sao dám nói những lời đại nghịch bất đạo như vậy?!”

Lật không thèm để ý: “Có gì mà không dám nói? Cha đã già lẩm cẩm, lúc nào cũng buồn rầu, ưu tư, đã đến lúc nhường lại ngôi vị hồ vương rồi. Nhìn khắp tộc Cửu Vĩ Hồ, ai có pháp lực cao thâm như ta? Ai dũng cảm như ta? Ai có trí tuệ vô song như ta? Ai có phong thái vương giả như ta? Ai có… ư ư…”

Nguyên Diệu không nghe nổi nữa, lấy hai hạt óc chó nhét vào miệng Lật: “Đại trượng phu sinh ra giữa trời đất, phải lấy ‘hiếu’, ‘nhân’, ‘tín’ làm gốc lập thân. Ngươi không hiểu chữ ‘hiếu’, có pháp lực và dũng cảm cũng vô dụng. Theo tiểu sinh, Thập Tam Lang còn giống đại trượng phu hơn ngươi, thích hợp làm hồ vương hơn.”

“Ư ư…” Lật ngậm hạt óc chó, không nói được.

Nguyên Diệu nói với Thập Tam Lang: “Thập Tam Lang, nếu ngươi không phiền, tiểu sinh sẽ ném nó ra khỏi Phiêu Miểu Các.”

Hồ ly nhỏ bước tới: “Mỗ cũng muốn giúp một tay.”

Nguyên Diệu và Thập Tam Lang cùng khiêng Lật ra khỏi Phiêu Miểu các, rồi ném sau cây liễu lớn, không thèm để ý đến nó nữa.

Quay lại Phiêu Miểu các, hồ ly nhỏ ngượng ngùng hỏi Nguyên Diệu: “Nguyên công tử thật sự nghĩ mỗ giống đại trượng phu sao?”

Nguyên Diệu nghe vậy thì ngẩn ra: “Tất nhiên, Thập Tam Lang hiếu thảo, nhân ái, giữ chữ tín, rất có phong thái của đại trượng phu.”

Thập Tam Lang rất vui nhưng cũng ngượng ngùng, xoa mặt: “Ta nghĩ, ta vẫn giống hồ ly nhỏ hơn.”

Hoàng hôn buông xuống rồi nhưng Bạch Cơ chưa trở về, Nguyên Diệu và hồ ly nhỏ ăn tối trước. Người và hồ ly ngồi tâm sự, còn uống nửa bình rượu hoa quế.

Thập Tam Lang hơi say, nói: “Mọi người đều nói cây Vô Ưu có thể làm cho người ta không lo lắng, nhưng từ khi ta bắt đầu trồng cây Vô Ưu, thì dường như lại càng lo lắng hơn, thậm chí Bạch Cơ và Nguyên công tử cũng không vui.”

“Có lẽ vui hay không vui, thực ra không liên quan đến cây Vô Ưu.” Nguyên Diệu nói: “Có cây Vô Ưu, chưa chắc đã vui. Không có cây Vô Ưu, chưa chắc không vui.”

Hồ ly nhỏ xoa mặt: “Nhưng, mọi người đều tin rằng cây Vô Ưu có thể làm cho người ta vui vẻ không lo lắng. Mọi người đều tin điều đó, chắc là không sai đâu.”

Nguyên Diệu nói: “Tuy là vậy, nhưng tiểu sinh vẫn không thể tin được.”

Nguyên Diệu và hồ ly nhỏ ăn xong bữa tối, lo Lật đói bụng nên chuẩn bị một đ ĩa thịt gà và một ít cơm.

Nguyên Diệu mang đến cho Lật.

Lật nằm dưới gốc cây liễu nhắm mắt nghỉ ngơi, nhưng vẫn rất giận, không thèm để ý đến Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu lấy hạt óc chó ra khỏi miệng Lật, nó trợn mắt nhìn rồi cắn Nguyên Diệu.

Tay Nguyên Diệu bị cắn in hằn dấu răng, mới lấy được hạt óc chó ra.

Nguyên Diệu đặt thịt gà và cơm bên miệng Lật: “Lật huynh đệ, ăn một chút đi.”

“Hừ!” Lật không nhận lòng tốt, nhắm mắt giả vờ chết.

Nguyên Diệu đành để mặc nó.

Đêm khuya, Bạch Cơ vẫn chưa về, hồ ly nhỏ vì uống rượu nên ngủ rất say. Nguyên Diệu lo lắng cho Bạch Cơ, trằn trọc không ngủ được. Nguyên Diệu thực sự không ngủ nổi, bèn nhẹ nhàng đứng dậy, khoác áo, mở cửa Phiêu Miểu Các. Trong đêm tối, con ngõ sâu hun hút, lạnh lẽo, sương đọng trên cỏ. Nguyên Diệu ngồi lặng lẽ bên cửa, đợi ốc sên đến báo tin bình an.

Trong bóng tối, vang lên tiếng lục đục.

Nguyên Diệu lắng tai nghe, âm thanh dường như phát ra từ dưới gốc cây liễu. Ánh trăng lưỡi liềm trên trời tỏa ra ánh sáng mờ ảo, Nguyên Diệu mạnh dạn đi đến bên cây liễu, nhìn kỹ.

Dưới gốc cây liễu, một con hồ ly nhỏ màu hạt dẻ đang ngấu nghiến ăn thịt gà và cơm. Nghe thấy tiếng bước chân của Nguyên Diệu, Lật ngẩng đầu lên, ánh mắt hung ác, nhưng khóe miệng vẫn dính một hạt cơm.

“Ồ, Lật huynh đệ, ngươi vẫn ăn mà.” Nguyên Diệu rất vui.

Bị Nguyên Diệu bắt gặp đang ăn, Lật rất xấu hổ, rồi chợt tức giận, dùng miệng hất đ ĩa ra, đ ĩa vỡ, cơm và thịt gà rơi vãi khắp nơi: “Hừ! Ai ăn đồ của người chứ? Ta là vua Cửu Vĩ Hồ tương lai, sao có thể ăn đồ do con người ban cho được?!”

“Lật huynh đệ, ăn thì ăn thôi, ngươi đừng ngại, ngươi còn dính hạt cơm ở khóe miệng kia kìa!”

Lật đưa lưỡi li3m một cái, quả nhiên li3m được một hạt cơm ở khóe miệng, càng thêm xấu hổ giận dữ, vừa phun lửa tứ tung vừa chửi bới: “Ai cần ăn cơm của ngươi?! Cơm này khó ăn chết đi được! Thịt gà vừa cứng vừa khó nhai! Khó ăn chết đi được! Khó ăn chết đi được!!”

“Ôi!” Nguyên Diệu vội vàng tránh né lửa hồ ly.

Lật gây ra tiếng động quá lớn làm Thập Tam Lang thức giấc, nó chạy ra, thấy Lật đang bực bội phun lửa thì hơi tức giận: “Lật, ngươi yên lặng một chút. Đêm khuya thế này, sẽ làm ồn đến hàng xóm!”

Lật ngang ngược không biết lý lẽ, tiếp tục ồn ào, lúc thì chửi mắng Bạch Cơ, lúc thì đe dọa Thập Tam Lang, lúc thì khinh miệt Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu và Thập Tam Lang không còn cách nào khác, đành phải lao tới ghì chặt Lật, muốn lại bịt miệng nó. Thập Tam Lang ôm chặt Lật, Nguyên Diệu chạy vào bếp tìm hạt óc chó nhưng đã hết.

Nguyên Diệu nhìn quanh, bên lò sưởi có một chiếc khăn tay.

Nguyên Diệu cầm lên xem, là khăn tay của công chúa Thái Bình. Trước đó, khi Nguyên Diệu từ phố về, đã để nó cùng giỏ thức ăn trong bếp. Có lẽ hồ ly nhỏ thấy khăn tay đẹp nên khi nấu ăn đã dùng để lau mặt, lau tay.

Nguyên Diệu cũng không quan tâm nhiều, bèn cầm khăn tay chạy ra ngoài.

Nguyên Diệu và Thập Tam Lang hợp lực, dùng khăn tay trói miệng Lật lại, không cho nó tiếp tục làm ồn.

Không biết vì sao, ngay khi nhìn thấy khăn tay, Lật lập tức trở nên yên lặng. Đôi mắt của nó đột nhiên mở to, như thể rất ngạc nhiên. Bị khăn tay trói miệng, Lật lặng lẽ nằm dưới gốc cây liễu, trầm tư suy nghĩ.

Nguyên Diệu và Thập Tam Lang thấy Lật yên lặng, lập tức vào Phiêu Miểu Các ngủ.

Nguyên Diệu mơ thấy ốc sên đến báo bình an, khóe miệng nở nụ cười, giấc mơ ngọt ngào.

Sáng hôm sau, Bạch Cơ trở về. Thấy hồ ly nhỏ màu hạt dẻ bị tơ nhện trói chặt, bị khăn tay trói miệng nằm sóng soài dưới gốc cây liễu, cười lớn: “A, đây chẳng phải là Lật của nhà hồ ly sao?”

Lật hơi sợ hãi, nhưng vẫn hung dữ trừng mắt nhìn Bạch Cơ.

Bạch Cơ không cởi trói cho Lật, mà xách hồ ly nhỏ vào Phiêu Miểu các.

Trong Phiêu Miểu các, Nguyên Diệu đang ngồi sau quầy đọc sách.

Bạch Cơ mỉm cười nói với Nguyên Diệu: “Hiên Chi, ta làm cho ngươi một cái áo ngắn bằng da hồ ly để mặc vào mùa đông nhé. Ngươi có thích màu này không?”

Mắt Lật mở to, đầy sợ hãi.

Nguyên Diệu ngẩng đầu lên, cười: “Mùa hè còn chưa đến, nói gì đến mùa đông? Bạch Cơ, đừng dọa Lật huynh đệ nữa.”

Bạch Cơ ném Lật xuống đất, cười lạnh lẽo: “Vậy thì nuôi trước đã, đợi đến mùa thu rồi lột da.”

Lật sợ đến run rẩy, nhưng vẫn cố chấp trừng mắt với Bạch Cơ.

Thập Tam Lang hóa thành hình người, cầm giỏ đi chợ mua thức ăn, thấy Bạch Cơ trở về thì rất vui mừng, nhanh chóng biến lại thành hồ ly nhỏ, chạy về pha một tách trà thơm mang lên: “Bạch Cơ, vì cây Vô Ưu mà ngươi phải chạy đôn chạy đáo mấy ngày nay, thật sự làm phiền ngươi quá.”

Bạch Cơ cười nói: “Thập Tam Lang không cần khách sáo. Cây Vô Ưu vừa là nguyện vọng của ngươi, cũng là ‘nhân quả’ của ngươi và ta. Ta tìm cây Vô Ưu cũng vì ‘quả’.”

Hồ ly nhỏ xoa mặt: “Dù sao thì, mỗ cũng rất cảm ơn ngươi.”

Bạch Cơ cười nói: “Nếu Thập Tam Lang thật sự muốn cảm ơn ta, vậy thì làm nhiều món ngon một chút.”

“Được, mỗ sẽ đi chợ mua thức ăn ngay.” Thập Tam Lang ngậm giỏ thức ăn, vui vẻ chạy đi mua.

“Người hình, người hình, Thập Tam Lang.” Nguyên Diệu gọi theo.

Sau khi Thập Tam Lang đi, Bạch Cơ khẽ lắc ngón tay, khăn tay trói miệng Lật lập tức tháo ra.

Lật nhìn theo cửa lớn nơi Thập Tam Lang vừa rời đi, giận dữ nói: “Thậm chí còn nấu ăn cho một yêu rồng, thật là một đứa em vô dụng, mất mặt hồ tộc Cửu Vĩ!”

Bạch Cơ nhìn Lật, cười nói: “Hôm qua ta đã đến núi Thúy Hoa, trò chuyện một lúc với vua Cửu Vĩ Hồ, cũng đi vòng qua thung lũng nơi Thập Tam Lang trồng cây Vô Ưu, phát hiện ra một điều thú vị.”

Ánh mắt Lật sáng lên: “Chuyện gì?”

Bạch Cơ uống một ngụm trà: “Ngươi giỏi hơn Thập Tam Lang, dũng cảm, thông minh, nhưng hồ vương lại không thích ngươi, hắn thích và thương yêu Thập Tam Lang hơn. Mọi người đều nói, ngươi thường xuyên vô cớ bắt nạt Thập Tam Lang, trêu chọc Thập Tam Lang.”

“Hừ! Đó là vì ông già mắt mờ! Ta không bắt nạt Thập Tam, Thập Tam yếu quá, ta chỉ sợ nó làm mất mặt hồ tộc Cửu Vĩ, nên thỉnh thoảng dùng vũ lực huấn luyện nó trở nên mạnh mẽ hơn thôi.”

Bạch Cơ uống một ngụm trà: “Vậy thì, nhân lúc Thập Tam Lang đi lấy nước suối từ rừng trúc tím, mở kết giới hồ tộc Cửu Vĩ, thả người vào trộm cây Vô Ưu, khiến Thập Tam Lang chịu oan ức, ép nó phải rời khỏi nhà, đây cũng là cách ngươi huấn luyện nó trở nên mạnh mẽ hơn sao?”

Lật giật mình, ánh mắt lộ vẻ lo lắng, nhưng vẫn cứng đầu nói: “Yêu rồng, ngươi đừng ngậm máu phun người! Ngươi nói vậy có chứng cứ gì không?”

“Chứng cứ là cái này.” Bạch Cơ mở tay ra, thổi một cái, một sợi lông cáo màu hạt dẻ rơi xuống đất: “Ta tìm thấy nó ở nơi trồng cây Vô Ưu.”

Lật toát mồ hôi lạnh, lẩm bẩm nói: “Sao có thể?! Rõ ràng ta không hề qua đó, chỉ đứng từ xa nhìn nữ nhân đó hái cây Vô Ưu thôi.”

Vừa dứt lời, Lật nhận ra mình lỡ miệng, mồ hôi lạnh rơi như mưa.

Nguyên Diệu há hốc miệng: “Lật huynh đệ, hóa ra… hóa ra ngươi là kẻ trộm cây Vô Ưu…”

Lật nghiến răng, trừng mắt nhìn Bạch Cơ: “Không thể nào, lông của ta không thể ở nơi trồng cây Vô Ưu được…”

Bạch Cơ liếc nhìn sợi lông cáo màu hạt dẻ dưới đất, đột nhiên vỗ tay: “A, nhầm rồi.” Bạch Cơ lại mở lòng bàn tay, thổi ra một sợi lông cáo màu đỏ, mỉm cười nói: “Đây mới là sợi lông cáo tìm thấy ở nơi trồng cây Vô Ưu. Của Thập Tam Lang. Sợi lông màu hạt dẻ này có thể là khi nãy lúc xách ngươi vào, vô tình dính vào tay, một lúc không chú ý, nhầm lẫn rồi, thật xin lỗi.”

“Ngươi…” Lật tức đến không nói nên lời.

Nguyên Diệu lau mồ hôi, nghĩ thầm: “Con yêu rồng này thật gian xảo, lại dùng cách quỷ quyệt như vậy để moi ra sự thật từ Lật.”

“Được rồi, Lật, ta không hỏi tại sao ngươi lại dẫn người đến trộm cây Vô Ưu nữa. Ta chỉ hỏi ngươi, người trộm cây Vô Ưu là ai? Cây Vô Ưu hiện đang ở đâu?” Bạch Cơ uống một ngụm trà, lạnh lùng hỏi.

Lật đáp: “Không biết.”

“Tốt lắm.” Bạch Cơ cười, khóe mắt có một giọt lệ đỏ như máu: “Hiên Chi, đi lấy dao hồ ly ra đây, dù chưa đến mùa đông, nhưng lột một miếng da hồ ly để dành cũng không hại gì.”

Nguyên Diệu toát mồ hôi, khuyên nhủ Lật: “Lật huynh đệ, đến nước này rồi, ngươi cứ nói thật đi.”

Lật hét lên: “Ta thật sự không biết. Nếu biết là ai, ta đã đi lấy lại cây Vô Ưu trả lại cho Thập Tam rồi.”

“Đầu đuôi chuyện này là sao?” Bạch Cơ hỏi.

Lật đành phải kể thật.

Hóa ra, Lật ghen tị việc Thập Tam Lang trồng cây Vô Ưu, được lão hồ vương yêu thích nên luôn muốn phá hoại nhưng không thể ra tay. Vì cây Vô Ưu được bảo vệ bởi pháp thuật, chỉ cần lại gần sẽ để lại dấu vết không thể xóa bỏ, sẽ bị người phát hiện.

Hôm đó, Lật lại lang thang trong thung lũng, từ xa thấy Thập Tam Lang vui vẻ chăm sóc cây Vô Ưu. Tâm trạng Lật rất tệ, bèn chạy vòng quanh thung lũng. Lật chạy một lúc thì gặp một nữ nhân. Nữ nhân mặc váy lộng lẫy, trang phục giống như người có địa vị cao quý. Nàng ta đi dạo trong thung lũng, thần sắc u sầu.

Lật rất ngạc nhiên, vì bình thường, con người rất khó xâm nhập vào kết giới của tộc Cửu Vĩ hồ. Điều kỳ lạ hơn là, trên người nữ nhân không có bất kỳ khí tức nào, dường như có một sức mạnh lớn đang che giấu khí tức của nàng, bảo vệ nàng.

Nữ nhân đi dạo không mục đích trong thung lũng.

Lật tiến lại gần nhìn, thì giật mình, thần sắc nữ nhân mơ hồ không giống như trong trạng thái tỉnh táo.

Lật đảo mắt, nảy ra một ý. Lật chạy ra ngoài, phát ra tiếng động, thu hút sự chú ý của nữ nhân. Nàng ta bị thu hút, đi theo Lật.

Lật dẫn nữ nhân đến trung tâm thung lũng, nơi Thập Tam Lang trồng cây Vô Ưu. Thập Tam Lang vừa rời đi, cây Vô Ưu với bốn lá xanh biếc tỏa ánh sáng vàng dịu.

Nữ nhân bị ánh sáng vàng của cây Vô Ưu thu hút, lững thững đi tới.

Lật không dám lại gần, chỉ đứng từ xa nhìn.

Nữ nhân tiến đến cây Vô Ưu, không bị pháp thuật cản trở. Nàng ta cúi người hái cây Vô Ưu, đứng thẫn thờ tại chỗ.

Lật hơi lo lắng, sợ Thập Tam Lang đột nhiên trở về, lập tức hét lên một tiếng đáng sợ, dọa nữ nhân.

Nữ nhân quả nhiên giật mình, chạy đi thật nhanh.

Lật nhìn mặt đất trống rỗng thì cười khoái trá.

Lật nói: “Chuyện là như vậy. Sau đó, Thập Tam phát hiện cây Vô Ưu biến mất, mọi người đều đi tìm. Nhưng không hiểu sao, không ai phát hiện nữ nhân đó đã xâm nhập, mọi người đều nghi ngờ Thập Tam đã làm chết cây Vô Ưu. Sau khi Thập Tam rời nhà, cha càng thêm buồn rầu, ta thấy trò đùa quá đáng quá bèn đi tìm lại cây Vô Ưu. Nhưng dù ta nhớ rõ diện mạo nữ nhân đó, nhưng không có khí tức của nàng ta nền không thể theo dõi nàng ta được. Chỉ nhờ vào việc nhận diện để tìm một nữ nhân ở Trường An chẳng khác nào mò kim đáy biển. Ta vẫn chưa tìm được.”

Lật dừng lại một lúc, nhìn chiếc khăn tay dưới đất, nói: “Nhưng bây giờ, ta có thể đoán được lai lịch của nàng ta rồi.”

Bạch Cơ nói: “Ồ? Nói nghe thử xem?”

Lật nói: “Nàng ta là người của Phiêu Miểu Các.”

Bạch Cơ chưa kịp nói thì Nguyên Diệu đã không nhịn được bật cười: “Lật huynh đệ, ngươi lại vu oan rồi.”

Lật trừng mắt nhìn Nguyên Diệu: “Cút! Ai là huynh đệ của ngươi?! Ta nào có vu oan? Nếu nữ nhân đó không phải người của Phiêu Miểu Các thì sao khăn tay của nàng ta lại ở đây?!” Lật nhìn chằm chằm chiếc khăn tay dưới đất, nói: “Ta nhớ rất rõ, khi đó nàng ta đã cầm chiếc khăn tay này!”

Nguyên Diệu giật mình, Bạch Cơ cũng hơi biến sắc, nàng giơ tay làm chiếc khăn tay dưới đất bay lên. Bạch Cơ mở chiếc khăn tay, trên đó thêu một bức tranh “Hoa chi xuân mãn, thiên tâm nguyệt viên”, góc phải dưới dùng chỉ lửa thêu một cái tên: Lệnh Nguyệt.

“Khăn tay của công chúa Thái Bình sao lại ở Phiêu Miểu Các?” Bạch Cơ nhíu mày.

Nguyên Diệu trấn tĩnh lại, giải thích nguồn gốc của chiếc khăn tay.

Bạch Cơ lẩm bẩm: “Chẳng lẽ cây Vô Ưu lại ở trong phủ Thái Bình ư?”

Nguyên Diệu không chắc chắn, nói: “Có lẽ, có thể, hoặc là, có khả năng… ở đó?”

Bạch Cơ nói: “Vậy thì đi phủ Thái Bình một chuyến.”

“Tiểu sinh cũng đi sao?”

“Cùng đi. Dù sao Hiên Chi ở nhà cũng nhàn rỗi.”

“Tiểu sinh mà đi thì ai coi cửa hàng?”

Bạch Cơ liếc nhìn Lật, thổi một hơi. Con hồ ly nhỏ bị trói bằng tơ nhện từ từ bay lên, đi về phía cửa Phiêu Miểu Các. Một sợi tơ nhện bay ra, vòng qua biển hiệu của Phiêu Miểu Các, buộc một cái nút.

Lật bị treo lơ lửng ở cửa Phiêu Miểu các, trông như một cái bánh chưng lớn màu nâu.

Bạch Cơ cười nói: “Lật coi cửa hàng nhé.”

Lật giận dữ vùng vẫy: “Ai thèm coi cái Phiêu Miểu Các chết tiệt này cho ngươi, con yêu rồng gian xảo, thả ta xuống mau!!”

Bạch Cơ phớt lờ Lật, bước ra ngoài.

Nguyên Diệu nói một câu: “Lật huynh đệ, nhờ ngươi trông coi cửa hàng nhé.” Rồi cũng theo Bạch Cơ ra ngoài.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 29: Cây Vàng


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Quyển 4: Cây Vô Ưu

Chương 9: Cây Vàng

Phường Vĩnh Hưng, phủ Thái Bình.

Trên đường Bạch Cơ và Nguyên Diệu theo quản gia đi đến Thủy Tạ, họ phát hiện những người hầu trong phủ Thái Bình đều có vẻ mặt rất nặng nề, lo lắng.

Bạch Cơ hỏi quản gia: “Đã lâu không đến thăm, công chúa có khỏe không?”

Quản gia do dự một lúc, cuối cùng vẫn mở miệng: “Công chúa… không được khỏe lắm… Công chúa dường như có hơi điên cuồng…”

Bạch Cơ hỏi: “Ồ? Điên cuồng? Là sao?”

Quản gia nói: “Công chúa cứ cười mãi không ngừng, không thể kiểm soát được. Thái y đến khám rất nhiều lần, nấu đủ loại thuốc để công chúa tắm. Nghe thị nữ thân cận của công chúa nói, trên người công chúa… trên người… mọc ra một cái cây…”

Bạch Cơ và Nguyên Diệu khá ngạc nhiên, vừa đến bên ngoài Thủy Tạ đã nghe thấy một trận cười “haha, hahaha…”. Nguyên Diệu nghe kỹ, nhận ra là tiếng cười của công chúa Thái Bình. Tiếng cười rỗng tuếch liên tục vang vọng khắp Thủy Tạ, khiến người ta cảm thấy rợn người.

Bạch Cơ cười: “Đây là lần đầu tiên ta nghe thấy nàng cười lớn như thế.”

Nguyên Diệu nói: “Dù là tiếng cười, nhưng nghe thật đáng sợ.”

Sau một lúc thông báo, Bạch Cơ và Nguyên Diệu được dẫn vào trong Thủy Tạ. Công chúa Thái Bình dựa trên chiếc ghế mỹ nhân sau bức bình phong, xung quanh có bốn thị nữ mặc y phục rực rỡ.

Bạch Cơ cúi đầu qua bức bình phong, nói: “Công chúa cười thật vô tư lự.”

“Haha, Tự Nhân, ngươi lại đùa rồi, bản công chúa là bị ác quỷ ám nên mới cười không thể kiềm chế như vậy. Hahaha…”

Bạch Cơ cười nói: “Không có ác quỷ nào cả, chỉ là ngài vô ý lấy thứ không nên lấy thôi.”

“Thứ gì? Hahaha…”

“Cây Vô Ưu.”

Công chúa Thái Bình ngạc nhiên: “Cây Vô Ưu là gì?”

“Gần đây ngài có chạm vào một mầm cây phát sáng màu vàng không?”

“Haha. Mầm cây? Để ta nhớ lại đã…”

Sau một lúc nhớ lại, công chúa Thái Bình nói: “Hình như là có. Đầu năm nay, khi ta ăn chay ở chùa Cảm Nghiệp, có một lần ngủ trưa ta đã mơ một giấc mơ. Trong giấc mơ, ta lạc vào một thung lũng, đi mãi không ra được. Khi ta đang lo lắng, một con hồ ly màu nâu xuất hiện, nó tốt bụng dẫn đường cho ta. Ta theo nó đi, đi một lúc thì nhìn thấy một ánh sáng vàng từ xa. Ta rất tò mò bèn đi tới. Hóa ra ở đó có một mầm cây tỏa ra ánh sáng vàng, mầm cây có bốn lá xanh biếc rất đẹp. Vì mầm cây quá đẹp, nên ta không kìm được mà hái nó. Ta đang cầm mầm cây ngẩn ngơ thì đột nhiên nghe thấy tiếng kêu đáng sợ, giống như tiếng dã thú, lại giống như tiếng quỷ dữ. Ta hoảng sợ không biết làm sao, lập tức nuốt mầm cây vào bụng, rồi hoảng loạn chạy đi. Ta tỉnh dậy thì thấy mình nằm trong thiền phòng của chùa Cảm Nghiệp, như thể đã mơ một giấc mơ, nhưng đế giày lại dính đầy bùn đất, thật khó phân biệt giữa hiện thực và mơ. Ta nhờ Huy Chân sư thái giải mộng, nàng nói đó là điềm lành do Phật quang chiếu rọi, rất may mắn. Từ đó, ta thường mơ thấy một cái cây lớn.”

Bạch Cơ hỏi: “Cái cây như thế nào?”

“Một cái cây cành lá sum suê, nở đầy hoa vàng. Mỗi khi mơ thấy nó ta đều cảm thấy tiêu hết phiền muộn, rất vui vẻ. À đúng rồi, ta đã thêu nó lại, còn nhờ Yêu Duyên mang đến cho ngươi, ngươi không thấy sao?”

Bạch Cơ nói: “Dạo này ta ra ngoài nhiều nên chưa kịp xem bức thêu.”

Công chúa Thái Bình cười: “Không sao, ngươi qua đây ta cho ngươi xem cái cây đó. Hahaha…”

Bạch Cơ bước qua, Nguyên Diệu cũng theo sau. Một thị nữ thấy Nguyên Diệu cũng đến, định ngăn lại, nhưng công chúa Thái Bình phất tay: “Không sao, hahaha…”

Bạch Cơ và Nguyên Diệu bước đến trước mặt công chúa Thái Bình, đều hơi kinh ngạc. Công chúa Thái Bình búi tóc như phi thiên, cài nghiêng một cây trâm vàng hình chim công điểm xanh. Nàng mặc váy bó dài màu xanh sau cơn mưa, khoác một chiếc khăn mỏng màu khói hồng. Trên mặt, cổ và người nàng đều phủ đầy hoa văn màu vàng, trông rất kỳ lạ và đáng sợ.

Nguyên Diệu không khỏi cảm thấy rùng mình.

Công chúa Thái Bình đứng dậy khỏi ghế mỹ nhân, tháo khăn choàng, để lộ ra tấm lưng trần mịn màng. Trên bờ lưng trắng muốt của nàng cũng phủ đầy hoa văn màu vàng, dày đặc và chồng chéo, giống như lá cây. Công chúa Thái Bình tháo dây lưng, c ởi áo lót và váy dài ra. Nàng đứng tr@n truồng trên mặt đất, như một đóa sen vừa mới nở. Da nàng trắng như ngọc, nhưng lại đầy những hoa văn vàng kỳ lạ và dày đặc. Nhìn từ xa, như thể ai đó đã dùng mực vàng vẽ một cái cây lớn lên người nàng vậy. Đôi chân dài thon thả là thân cây, vòng eo nhỏ nhắn là thân cây, từ eo trở lên là cành cây sum suê, phủ đầy lá và hoa. Trên người nàng phát ra ánh sáng vàng khiến người khác không thể nhìn thẳng.

Dù cơ thể nữ nhân mọc ra một cái cây là một chuyện kỳ lạ, nhưng cái cây vàng này không khiến người ta sợ hãi mà còn mang đến cảm giác đẹp đẽ, an lành, thánh thiện, sáng sủa và vui vẻ, khiến người ta cảm thấy thoải mái, hết muộn phiền.

Nguyên Diệu không khỏi há hốc miệng, ngây ngẩn nhìn công chúa Thái Bình.

Bạch Cơ cũng không rời mắt khỏi công chúa Thái Bình.

Công chúa Thái Bình quay một vòng, cười lớn: “Tự Nhân, đây là cái cây đó, hahaha…”

Bạch Cơ cười khen ngợi: “Đẹp thật, thật sự rấy đẹp, đây là lần đầu tiên ta thấy cây Vô Ưu đó.”

Nguyên Diệu tỉnh lại, đỏ mặt quay đầu: “Khụ khụ, Bạch Cơ, bây giờ không phải lúc khen cây Vô Ưu…”

“Hiên Chi, bất cứ lúc nào cũng phải biết thưởng thức cái đẹp. Ngươi quay đầu làm gì?”

Nguyên Diệu bực bội nói: “Cái cây này mọc trên thân thể ngọc ngà của công chúa, ta không quay đầu sao được?”

Truyền thuyết kể rằng, có một kẻ tọc mạch nhìn công chúa Thái Bình một cái, bị công chúa tức giận móc mắt ra.

Công chúa Thái Bình bảo đảm với Nguyên Diệu: “Haha, Yêu Duyên, ngươi yên tâm, bản công chúa sẽ không móc mắt ngươi đâu.”

“Ta là Nguyên Diệu.” Nguyên Diệu đỏ bừng mặt, sửa lại. Chàng vẫn không dám quay lại, dùng tay áo che mặt, nói một câu: “Cổ ngữ có câu, phi lễ chớ nhìn, phi lễ chớ làm. Dù tiểu sinh không nên nhìn, nhưng công chúa cũng không nên đột nhiên tr@n truồng, khiến tiểu sinh không kịp tránh như thế, điều này không hợp lễ, không hợp lễ.” rồi vội vàng chạy ra ngoài bức bình phong.

“Phì.” “Haha.” Công chúa Thái Bình và các thị nữ không nhịn được cười.

Bạch Cơ cũng cười nói: “Hiên Chi luôn cổ hủ như thế, công chúa đừng trách.”

Nguyên Diệu mặt đỏ tai hồng đứng ngoài bức bình phong, trong đầu vẫn còn hình ảnh thân thể tuyệt mỹ của công chúa Thái Bình và cái cây Vô Ưu đẹp như mơ.

Phía bên kia bức bình phong, sau khi Bạch Cơ và công chúa Thái Bình nói chuyện vài câu, họ lập tức vào trong phòng,nhưng mãi vẫn chưa ra.

Thị nữ mang trà thơm và điểm tâm đ ến cho Nguyên Diệu, hắn uống một ngụm trà rồi đợi đến sốt ruột, lại rất tò mò hỏi thị nữ: “Xin hỏi vị tỷ tỷ này, công chúa và Bạch Cơ đang làm gì trong đó thế?”

“Nô tì cũng không rõ, Nguyên công tử có thể tự vào xem. Công chúa và Bạch Cơ đâu có nói là không cho ngài vào.”

Nguyên Diệu thực sự rất tò mò, muốn vào xem nhưng lại lo gặp phải cảnh “phi lễ chớ nhìn”, lập tức hỏi một câu: “Xin hỏi tỷ tỷ, công chúa đã mặc y phục chưa?”

Công chúa Thái Bình đứng dậy, bước đến trước gương đồng, nhìn vào khuôn mặt đã trở lại bình thường của mình, vui vẻ cười. Đột nhiên, nàng cảm thấy kỳ lạ: “Ơ, cây Vô Ưu đã không còn trong cơ thể ta nữa, nhưng tại sao ta vẫn cười, thậm chí còn cảm thấy có hơi vui vẻ?”

Bạch Cơ cười nói: “Ta đã để lại một chiếc lá Vô Ưu. Nụ cười của công chúa rất đẹp, cười nhiều cũng không sao.”

Công chúa Thái Bình cúi đầu, phát hiện trên mu bàn tay trái của nàng có một chiếc lá nhỏ màu vàng chưa biến mất.

Bạch Cơ nói: “Chiếc lá này sẽ không gây hại cho ngài, mà còn làm ngài vui vẻ. Hãy coi như là quà đáp lễ cho bức tranh thêu đi.”

Công chúa Thái Bình mặt mày u ám, lạnh lùng nói: “Ta ghét cười.” Nhưng rồi nàng lại cười: “Thôi, thỉnh thoảng cười một chút cũng không tệ. Tự Nhân, hiếm khi ngươi tặng quà đáp lễ cho ta.”

Bạch Cơ cũng cười: “À à, ta đâu có keo kiệt như vậy, không phải ta không tặng quà đáp lễ, chỉ là người tặng quà cho công chúa quá nhiều, công chúa không thiếu quà của ta. Ta luôn thích giúp người lúc cần, không thích thêm hoa trên gấm.”

“Đừng tìm lý do hay ho cho việc ngươi keo kiệt!!” Công chúa Thái Bình và Nguyên Diệu đồng thanh hét lên.

“Ôi! Bị hiểu lầm thế này thật đau lòng.” Bạch Cơ buồn bã thở dài.

Sau khi nghỉ ngơi một lúc, thấy trời đã không còn sớm, Bạch Cơ và Nguyên Diệu bèn từ biệt rời khỏi phủ Thái Bình.

Trên đường về Phiêu Miểu các, Nguyên Diệu hỏi Bạch Cơ: “Cây Vô Ưu đã bị hủy, ngươi định báo cáo với Thập Tam Lang thế nào?”

Bạch Cơ nói: “Xe đến núi ắt có đường, sẽ có cách thôi. Ta nghĩ ta phải làm lại một cái bùa hộ mệnh cho công chúa Thái Bình mới được.”

“Tại sao?” Nguyên Diệu tò mò hỏi.

Bạch Cơ nghiêm nghị nói: “Trước đây ta chỉ nghĩ đến việc phòng tránh những kẻ tấn công ác ý, không nghĩ đến việc linh vật vô tình tiếp cận. Con người thực sự quá yếu đuối, trong những cơ hội trùng hợp, linh vật không có ác ý cũng có thể khiến người mất mạng. Nếu hôm nay không phát hiện kịp, chỉ muộn vài ngày nữa thôi công chúa Thái Bình sẽ không thể cứu được nữa.”

“Bạch Cơ, ta muốn hỏi ngươi một câu.”

“Hiên Chi hỏi đi.”

“Công chúa Thái Bình từng nói ngươi ghét loài người, có đúng không?”

Bạch Cơ cười, không trả lời, mà hỏi lại: “Ồ? Nàng còn nói gì nữa?”

“Nàng còn nói, ngươi bị trời phạt vì loài người, không thể vào biển, không thể thành Phật.”

“À à, chắc là Võ Hậu nói với nàng rồi.”

“Ơ, sao ngươi biết?”

“Vì phiên bản này ta chỉ nói với Võ Hậu thôi.”

“À? Chẳng lẽ quá khứ của ngươi còn có vài phiên bản ư?”

“Đúng vậy, các phiên bản khác nhau dùng để ứng phó với những người khác nhau. Ta nghĩ với tính cách của Võ Hậu thì bà ta sẽ tin vào phiên bản này, nên ta đã nói với bà phiên bản này. Còn với tính cách của Hiên Chi, chắc sẽ tin vào phiên bản đầy cảm động.”

Nguyên Diệu toát mồ hôi lạnh, tức giận nói: “Tiểu sinh không muốn nghe phiên bản đầy cảm động! Nếu có thể, ngươi có thể nói cho tiểu sinh biết lý do thực sự ngươi bị trời phạt, không thể vào biển, không thể thành Phật không?”

Bạch Cơ ngạc nhiên, im lặng một lúc, rồi nói: “Thời gian đã quá lâu nên ta không nhớ rõ nữa. Tuy nhiên, lý do không thể thành Phật là vì ta vẫn chưa gom đủ nhiều ‘nhân quả’.”

Nguyên Diệu nói: “Nhân quả nhiều như cát sông Hằng? Ôi, ngươi chắc chắn bị lừa rồi, ngay cả một người ngu ngốc như tiểu sinh cũng biết không thể nào gom được nhiều ‘nhân quả’ như thế.”

“Không thử thì sao biết là không thể? Hiên Chi, làm người phải biết dũng cảm thách thức điều không thể.”

“Nhưng ngươi là phi nhân…”

Bạch Cơ sửa lại: “Làm phi nhân cũng phải dũng cảm thách thức điều không thể.”

Nguyên Diệu cảm thấy thất bại ê chề.

Bạch Cơ và Nguyên Diệu đang đi trên đường lớn, những người qua lại đều bị khuôn mặt đầy hoa văn vàng của Bạch Cơ làm cho hoảng sợ mà chạy trốn.

Bạch Cơ đi trước, lớn tiếng nói: “Hiên Chi, thực ra ta không ghét loài người.”

Nguyên Diệu thở dài một tiếng, nói: “Nhưng hôm nay, có vẻ như loài người không thích ngươi. Bạch Cơ, những hoa văn vàng trên mặt và cơ thể ngươi sẽ không hiện mãi đấy chứ?”

Bạch Cơ nói: “Không đâu, vài ngày nữa sẽ biến mất thôi. Ừ, nếu biết trước thế này, thì ta đã xin công chúa một chiếc mặt nạ đầu quỷ để đeo rồi.”

“Như thế càng đáng sợ hơn đấy!” Nguyên Diệu hét lên.

Bạch Cơ và Nguyên Diệu trở về Phiêu Miểu các, Lật vẫn bị treo dưới biển hiệu, Thập Tam Lang đang đứng ở cửa, ngẩng đầu nói chuyện gì đó với nó.

Nghe thấy tiếng bước chân, Thập Tam Lang và Lật quay đầu lại, nhìn thấy những hoa văn vàng trên mặt Bạch Cơ thì cả hai đều giật mình.

Thập Tam Lang lo lắng hỏi: “Bạch Cơ, mặt ngươi làm sao vậy?”

Bạch Cơ cười nói: “Không sao, Thập Tam Lang không cần lo lắng.”

Lật vui mừng hả hê nói: “Long yêu ra ngoài một chút đã bị hủy dung rồi, đúng là báo ứng.”

“Nếu ta thực sự bị hủy dung thì ta chắc chắn sẽ lột một tấm da hồ lỳ màu nâu đỏ đẹp đẽ của ngươi để che mặt.” Bạch Cơ bước vào Phiêu Miểu các, khẽ nâng tay lên, sợi tơ nhện đứt ra, Lật “bộp” một tiếng rơi xuống đất, đau đớn kêu “ui da”.

Bạch Cơ cởi trói cho Lật, gọi Thập Tam Lang rồi ngồi vào phòng trong nói chuyện.

Phía sau bình phong mẫu đơn, bên cạnh bàn ngọc xanh, Bạch Cơ, Lật, Thập Tam Lang ngồi, Nguyên Diệu đứng bên cạnh.

Thập Tam Lang nói: “Chẳng lẽ, Bạch Cơ đã tìm ra tung tích của cây Vô Ưu rồi ư?”

Bạch Cơ nói với Lật: “Ngươi muốn tự mình thú nhận với Thập Tam Lang hay để Hiên Chi nói.”

Nguyên Diệu lẩm bẩm: “Chuyện này liên quan gì đến tiểu sinh…”

Lật nghĩ một lát, dù rất không muốn, nhưng cũng đành phải thú nhận với Hồ Thập Tam Lang về việc nó đã dẫn công chúa Thái Bình đi ăn trộm cây Vô Ưu.

Hồ Thập Tam Lang rất giận, cũng rất buồn: “Lật, sao ngươi có thể làm như vậy?!”

Lật lý lẽ cùn nói: “Cây Vô Ưu kia nổi bật như thế, lại phát ra ánh sáng vàng, dù ta không dẫn nữ nhân đó đi thì nữ nhân đó đi lung tung trong thung lũng cũng sẽ bị ánh sáng vàng thu hút mà đến thôi.” Lật lại liếc nhìn Bạch Cơ, nói: “Không chừng, nữ nhân đó vốn đã bị ai đó xúi giục đi ăn trộm cây Vô Ưu, Thập Tam ngươi đến ổ trộm hô bắt trộm, còn giúp trộm làm việc, đúng thật là buồn cười.”

“Lật, ngươi đừng nói bậy!” Thập Tam Lang giận dữ nói.

Bạch Cơ không giận, nàng nhìn Thập Tam Lang, nói: “Nữ nhân lấy đi cây Vô Ưu thực sự có liên quan đến ta.”

“Hả?” Hồ Thập Tam Lang tròn mắt ngạc nhiên, không tin nổi.

Lật cười lớn: “Nhìn xem, nhìn xem, cuối cùng hồ ly đã lộ đuôi rồi kìa?”

Nguyên Diệu nhìn con hồ ly nhỏ màu nâu đỏ, toát mồ hôi lạnh: “Lật huynh đệ, tiểu sinh thấy câu này nói từ miệng ngươi, nghe thật kỳ lạ…”

Lật trừng mắt nhìn Nguyên Diệu, Nguyên Diệu lập tức ngậm miệng.

Bạch Cơ nói với Thập Tam Lang: “Chuyện là thế này…”
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 30: Thận mộng


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Quyển 4: Cây Vô Ưu

Chương 10: Thận mộng

Bạch Cơ kể cho Thập Tam Lang nghe việc công chúa Thái Bình mộng du đến núi Thúy Hoa, ăn nhầm cây Vô Ưu, và những sự việc xảy ra ở phủ Thái Bình hôm nay.

Tiểu hồ ly nghe xong thì há hốc miệng, thất vọng nói: “Vậy là, cây Vô Ưu đã không thể quay lại được nữa…”

Bạch Cơ tiếc nuối nói: “Không còn cách nào khác. Nếu không phá hủy cây Vô Ưu thì công chúa Thái Bình sẽ chết. Ta không thể nhìn nàng chết được.”

Lật không vui nói: “Vậy ngươi phá hủy cây Vô Ưu của chúng ta sao? Một mạng người tầm thường làm sao so sánh được với giá trị của cây Vô Ưu chứ.”

Thập Tam Lang nói: “Lật, ngươi im đi! Mạng người tất nhiên là quan trọng hơn cây Vô Ưu rồi, huống hồ lại là mạng sống của một công chúa quý giá.”

Dù cây Vô Ưu mất đi làm Thập Tam Lang rất buồn, nhưng dù sao đi nữa, sau khi biết được nguyên nhân mất cây Vô Ưu rồi nó cũng có thể đường hoàng trở về giải thích với cha và người trong tộc rồi..

Bạch Cơ nói với Nguyên Diệu: “Hiên Chi, đi lấy hộp đựng thêu công chúa Thái Bình tặng ta đi.”

“Được.” Nguyên Diệu đáp lời rồi đi.

Hộp gỗ đựng khăn thêu đặt sau quầy đã phủ một lớp bụi mỏng. Nguyên Diệu lấy hộp gỗ, trở về trong phòng. Bạch Cơ nhận chiếc hộp từ tay Nguyên Diệu, thổi bụi rồi đặt lên bàn ngọc xanh, mở nắp hộp ra.

Trong hộp gỗ là một bức thêu cuộn lại.

Bạch Cơ khẽ nâng tay, cuộn thêu nổi lên không trung rồi từ từ mở ra.

Khi bức thêu mở ra, Nguyên Diệu, Thập Tam Lang, Lật không khỏi mở to mắt kinh ngạc.

Bức thêu là một cây lớn màu vàng rực rỡ, hoa đơm dày đặc như ngọn lửa vàng, lại như những bộ áo cà sa vàng. Công chúa Thái Bình thêu rất tỉ mỉ, mỗi bông hoa, mỗi chiếc lá đều sống động như thật, cả cái cây tỏa ra một cảm giác yên bình, vui vẻ.

Bạch Cơ khẽ cười, chạm vào bức thêu: “Đây là cây Vô Ưu, còn gọi là cây Chân Thúc Già. Trong Kinh Nhân Quả Quá Khứ Hiện Tại viết, Đức Phật Thích Ca sinh ra dưới gốc cây Vô Ưu, cây Vô Ưu là cây mà Phật sinh ra, được Phật quang chiếu rọi. Người hay phi nhân chỉ cần ngồi dưới gốc cây Vô Ưu thì sẽ quên hết mọi phiền não, vô ưu vô lo.”

Ngón tay Bạch Cơ chạm vào bức thêu, ngay lập tức, những hoa văn vàng trên tay, trên người, trên cổ và trên mặt nàng từ từ chảy vào bức thêu. Cây Vô Ưu trên bức thêu tỏa ra muôn ngàn ánh sáng vàng làm chói mắt người nhìn.

Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Thập Tam Lang, Lật dường như đang đứng dưới một cây đại thụ to lớn như cái ô, trên cây có vô số hoa vàng từ từ nở rộ, cánh hoa bay trong gió.

Nhất hoa nhất thế giới, nhất diệp nhất bồ đề.*

* Mỗi bông hoa là một thế giới, mỗi phiến lá là một đức Như Lai

Trần ai nhuốm gương sáng, vô ưu tìm trong lòng.

Bạch Cơ nói: “Thập Tam Lang, bức thêu này do công chúa Thái Bình thêu, nàng từng nuốt cây Vô Ưu, lại từng mơ thấy cây Vô Ưu, cây Vô Ưu mà nàng thêu cũng sẽ có linh khí. Ta không thể mang cây Vô Ưu thật về cho ngươi, nên ngươi hãy nhận bức thêu này thay thế.”

Thập Tam Lang nói: “Bức thêu đẹp như vậy, thật sự có thể tặng cho mỗ sao?”

Bạch Cơ cười nói: “Tất nhiên là được.”

Thập Tam Lang vui vẻ nói: “Cảm ơn Bạch Cơ.”

Lật lạnh nhạt nói: “Dùng bức thêu để giả làm cây Vô Ưu thật, đúng là gian thương.”

Bạch Cơ cười, nhìn Lật: “Cây Vô Ưu không phải thứ của nhân gian, dù có trồng mầm cây thì trên đất phàm trần cũng không thể thành cây đại thụ.”

Lật không nói gì thêm.

Bạch Cơ nói: “Thập Tam Lang đã lâu không về nhà, Hồ vương già chắc chắn rất nhớ và lo lắng cho ngươi, ngươi không cần ở lại Phiêu Miểu các làm việc nữa, hãy mang bức thêu và Lật về nhà đi.”

Thập Tam Lang cũng rất nhớ cha, sau khi chuẩn bị bữa tối cho Bạch Cơ và Nguyên Diệu thì lập tức cùng Lật trở về nhà.

Trăng tròn như gương, ánh trăng tỏa khắp nơi, Bạch Cơ và Nguyên Diệu ngồi ngắm trăng trong sân sau.

“Haizz…” Nguyên Diệu nhìn lên trăng, thở dài.

“Ánh trăng đẹp như vậy sao Hiên Chi lại thở dài?” Bạch Cơ hỏi.

“Chính vì ánh trăng quá đẹp nên ta không kìm được mà thở dài, lo lắng rằng sau này ánh trăng có còn đẹp như thế này không.”

“Hiên Chi quá lo rồi. Hàng nghìn năm trước ánh trăng đã đẹp như vậy, hàng nghìn năm sau ánh trăng vẫn sẽ đẹp như vậy. Những thứ đẹp đẽ sẽ mãi mãi không thay đổi.”

“Haizz…”

“Hiên Chi lại thở dài gì nữa?”

“Mặc dù vẻ đẹp của ánh trăng là bất biến, nhưng hàng nghìn năm sau ta không biết mình sẽ ở đâu.”

Bạch Cơ uống một ngụm trà: “Hiên Chi thật đa sầu đa cảm.”

Nguyên Diệu lắc đầu ngâm rằng: “Đời người chẳng được trăm năm, mà thường ôm mối lo nghìn thuở.”

Bạch Cơ cười tiếp lời: “Nhưng hãy chiêm ngắm ánh trăng trước mắt, đừng để thời gian trôi qua uổng phí.”

“Nói thì nói vậy, nhưng ta vẫn rất lo…”

“Hiên Chi đúng là tự làm khổ mình.” Bạch Cơ lắc đầu thở dài.

Nguyên Diệu than ngắn thở dài, Bạch Cơ thong thả uống trà, từ giếng nước dưới cây đào hồng xa xa bỗng phát ra ánh sáng bảy màu, từng cái bong bóng nước từ giếng bay lên, nhỏ thì như ngọc trai, lớn thì như nắm đấm, lơ lửng trong gió đêm, dưới ánh trăng nom rất đẹp.

“À, Thận quân truyền tin đến rồi.” Bạch Cơ cười, đưa ngón tay vẽ một nửa vòng cung, một chuỗi bong bóng nước bay lại, hợp thành một mặt tròn lớn như tấm gương đồng.

Trong gương nước, có một mỹ nam mặc y phục hoa lệ ngồi trên đất, xung quanh là cung điện lộng lẫy. Bên cạnh hắn là một đứa bé mặc áo ngũ sắc đứng hầu. Đó là Thẩm Dận tao nhã ôn hòa và cá năm màu.

“Bạch Cơ, đã lâu không gặp.” Thẩm Dận lễ phép nói.

Bạch Cơ cũng cười: “Chỉ một cái búng tay, đã mười năm trôi qua rồi.”

“Không, đã là một trăm năm rồi.”

“À, lâu vậy sao?”

“Đúng là lâu vậy rồi.”

“À ha, thời gian trôi qua nhanh thật.”

“Phải, không để ý là sẽ quên mất thời gian. À, ta đã biết việc Tiểu Lâu đi làm hiệp khách rồi. Ta sẽ kêu A Thái đi tìm hắn về. Chìa khóa tạm để ta giữ nhé.”

Bạch Cơ gật đầu: “Làm phiền Thận quân rồi.”

Thẩm Dận nói với Nguyên Diệu: “Hiên Chi, lần trước Chu Dận đã làm ngươi sợ, thật không phải.”

Nguyên Diệu cười nói: “Ta không sao, Dận huynh không cần áy náy. Chỉ là, vị huynh đệ màu đỏ ấy hơi… nhiệt tình hiếu khách quá…”

Thẩm Dận vẫn rất áy náy, nói: “Ta tặng Hiên Chi một món quà nhỏ, coi như lời xin lỗi.”

Nguyên Diệu nói: “Dận huynh không cần khách sáo.”

Một cái bong bóng nước lớn như nắm đấm bay về phía Nguyên Diệu, Nguyên Diệu đưa tay ra, bong bóng nước rơi vào lòng bàn tay hắn rồi vỡ ra. Một viên dạ minh châu lớn như quả trứng gà hiện ra trong lòng bàn tay Nguyên Diệu, sáng trong lấp lánh, ánh sáng rực rỡ giữa ban đêm.

Thẩm Dận cười nói: “Món quà nhỏ, không đáng gì.”

Nguyên Diệu nói: “Món quà này quá quý giá, ta sợ không có gì đáp lễ lại…”

Thẩm Dận cười nói: “Hiên Chi lần sau lại đến Hải Thị trò chuyện với ta thì là món quà đáp lễ tốt nhất rồi.”

Nguyên Diệu cười nói: “Vậy được, lần sau ta sẽ đến thăm Dận huynh.”

Thẩm Dận nói: “Bạch Cơ, ta cũng có một món quà nhỏ tặng cho ngươi.”

Bạch Cơ hứng thú nói: “À ha, ta thích quà nhất, là món gì tốt vậy?”

Một cái bong bóng nước bay về phía Bạch Cơ, Bạch Cơ đưa tay ra nhận. Bong bóng nước vỡ ra, trong lòng bàn tay nàng hiện ra một vật màu vàng, trông như quả của loài cây nào đó.

Khóe miệng Bạch Cơ nhếch lên: “À ha, quả Vô Ưu? Đúng là thứ tốt. Cảm ơn Thận quân.”

“Không cần khách sáo. Lần trước ngươi nhờ ta tìm cây Vô Ưu ở nhân gian nhưng ta không tìm được, thấy thật có lỗi. Quả Vô Ưu này ta tặng ngươi coi như bù đắp nhé.”

“Cây Vô Ưu đó đã không còn ở nhân gian rồi.”

Thẩm Dận không ngạc nhiên, cười nói: “Con người muốn trồng ra cây Vô Ưu khó như lên trời. Cây Vô Ưu muốn sống sót ở nhân gian đầy khổ đau cũng khó như lên trời.”

Bạch Cơ cầm quả Vô Ưu lên, nhìn về phía ánh trăng: “Có lẽ sau này sẽ có người hữu duyên, mua nó và trồng ra cây Vô Ưu, điều này cũng không phải hoàn toàn không thể…”

“Hy vọng là vậy.” Thẩm Dận cười nói.

Sau khi trò chuyện thêm vài câu với Nguyên Diệu, hẹn nhau ngày rằm tháng sau gặp lại ở Hải Thị, Thẩm Dận bỗng ngừng nói. Nguyên Diệu đang ngạc nhiên thì tóc trắng của Thẩm Dận lập tức chuyển sang màu đỏ, môi nứt ra, biến thành quái vật Thận đỏ. Cá năm màu thấy thế thì sợ hãi chạy mất.

Quái vật Thận đỏ hét lên với Nguyên Diệu: “Thật đáng ghét! Thật đáng ghét! Cái tên thư sinh đáng ghét, dám trói ta lại, ta phải ăn ngươi, ăn ngươi…”

Dù biết chỉ là ảo ảnh nhưng Nguyên Diệu vẫn sợ đến run rẩy.

Bạch Cơ vung tay áo, gương nước đột nhiên vỡ nát, khuôn mặt kinh khủng của Chu Dận dần biến mất, những bong bóng nước cũng vỡ tan từng cái.

Bạch Cơ thở dài: “Ôi, tính tình của Chu Dận vẫn tệ như vậy.”

Nguyên Diệu nuốt nước bọt, âm thầm từ bỏ ý định đến Hải Thị lần nữa.

“Bạch Cơ, Dận huynh bị gì thế? Sao lúc thì ôn hòa lễ độ, lúc lại dọa người chết khiếp?”

“Có hai Dận trong cùng một cơ thể, lúc thì Bạch Dận chủ cơ thể, lúc thì Chu Dận.”

“Còn Hải Thị dưới giếng đó là sao? Lúc thì châu báu chất núi, lúc thì xương cốt đầy đất, rốt cuộc cái nào mới là thật?”

“Đều là thật nhưng cũng đều không phải thật, Hải Thị của nhân gian chỉ là ảo ảnh trong giấc mộng của con trai, dù là dưới giếng, trên biển hay trong sa mạc. Tuy nhiên, dưới đáy Đông Hải, có một Hải Thị thực sự tồn tại, đó là một nơi kỳ diệu và đẹp đẽ, nơi các vị thần nước, tộc rồng, người cá và linh hồn thường qua lại, có nhiều kỳ trân dị bảo, có nhiều cảnh sắc tuyệt diệu, vô cùng phồn hoa rôm rả. Nói ra thì hơi giống như thành Trường An dưới đáy biển.”

“Thật sao? Ta thật muốn đến đó xem thử.”

Bạch Cơ hơi buồn bã: “Đó là nơi ta xuất thân. Nếu có thể ta cũng muốn dẫn Hiên Chi đến đó xem thử, tiếc là ta không thể trở về, chỉ có thể hồi tưởng về vẻ đẹp của nó.”

Nguyên Diệu an ủi Bạch Cơ: “Rồi có ngày nàng sẽ trở về thôi.”

“Ừm, đợi ta thu thập đủ ‘nhân quả’ thì ta sẽ có thể trở về.”

Nguyên Diệu hơi buồn bã: “Lúc đó, ta e mình đã không còn trên đời nữa. Nghĩ đến chuyện cả đời này không được nhìn thấy Hải Thị, không biết tại sao trong lòng lại hơi tiếc nuối.”

“Hiên Chi đừng buồn, sau này khi ta trở về, chắc chắn sẽ mang theo tro cốt của ngươi, rải ở Hải Thị.”

Nguyên Diệu toát mồ hôi lạnh: “Ta ghét di cư, cũng không thích thủy táng, ngươi cứ để ta yên ổn dưới đất đi.”

Ngồi một lúc, khi trăng tròn xế về tây, Nguyên Diệu ôm dạ minh châu đi ngủ.

Bạch Cơ ngồi một mình trong sân, ngước nhìn trăng tròn trên trời, hồi tưởng về Hải Thị xa xôi, hồi tưởng về quá khứ xa xăm. Lâu sau, nàng cúi đầu nhìn quả vàng trong tay, lẩm bẩm: “Vô ưu à vô ưu, ai có thể vô ưu đây?”

Bạch Cơ và Nguyên Diệu ăn bánh hai ngày, sau đó Hồ Thập Tam Lang lại trở về.

Tiểu hồ ly lễ phép nói: “Mỗ đã về giải thích rõ ràng, mọi người đều tin mỗ không phải kẻ đã làm chết cây Vô Ưu, cũng đã xin lỗi mỗ. Gia phụ rất thích bức thêu đó, nên đã bảo mỗ đến cảm ơn Bạch Cơ, ‘Mọi chuyện đều là lỗi của tên nghịch tử Lật kia, đã làm phiền Bạch Cơ phải vất vả đi lại, thật có lỗi. Nghe nói Phiêu Miểu các tạm thời thiếu người, vậy thì để Thập Tam đến giúp đỡ đi.’ Mỗ ở nhà cũng nhàn rỗi, nên đến tiếp tục làm tạp vụ cho Bạch Cơ và Nguyên công tử cho đến khi con mèo đen kia trở về.”

“Thật tốt quá.” Nguyên Diệu rất vui mừng, cuối cùng không phải gặm bánh nữa rồi.

Bạch Cơ cũng rất vui: “Cảm ơn ý tốt của Hồ Vương. Cũng cảm ơn Thập Tam Lang.”

Hồ Thập Tam Lang nói: “Bạch Cơ không cần khách sáo. Bức thêu đó quả thực có ma lực quên ưu phiền, từ khi có bức thêu, tâm trạng của gia phụ cũng trở nên tốt hơn nhiều, cũng thường xuyên vui vẻ cười đùa.”

Bạch Cơ cười nói: “Tâm trạng của Hồ Vương tốt lên có lẽ cũng liên quan đến việc Thập Tam Lang bình an trở về đó.”

Tiểu hồ ly xấu hổ nói: “Trước đây mỗ thực sự không nên chợt nóng giận bỏ nhà ra đi, làm phụ thân lo lắng. Lần sau, bất kể chuyện gì xảy ra thì mỗ cũng sẽ không bỏ nhà ra đi nữa.”

Thập Tam Lang chăm chỉ làm tạp vụ ở Phiêu Miểu các, Lật cũng theo đến. Vì lão Hồ Vương đã ra lệnh, bảo Lật phải xin lỗi Thập Tam Lang cho đến khi được tha thứ. Thập Tam Lang không chịu tha thứ cho Lật, nên Lật chỉ còn cách theo sát Thập Tam Lang đến Phiêu Miểu các, tiếp tục xin lỗi.

Ban đầu Lật còn lễ phép, sau đó lại thấy phiền muộn, bèn trực tiếp tát Thập Tam Lang ngã xuống đất, đè đầu nó, đe dọa hung dữ: “Thập Tam, ngươi rốt cuộc có tha thứ cho ta không?”

Nguyên Diệu thấy vậy, định nói vài câu với Lật, nhưng nghĩ đến chiếc khăn tay đã hết tơ nhện lại không dám đi, chỉ có thể khuyên Thập Tam Lang tha thứ cho Lật lúc ở riêng. Sau ba lần bị Lật đ è xuống đe dọa, Thập Tam Lang cũng chỉ còn cách tha thứ cho Lật. Nhưng Lật vẫn không đi, cứ ở lì tại Phiêu Miểu các ăn uống miễn phí, nói là đợi Thập Tam Lang cùng về.

Nguyên Diệu khéo léo khuyên Lật cũng nên làm một chút việc, dù là lau bụi cho cổ vật, tưới nước cho cây hoa cũng được, Lật lập tức lao tới cắn Nguyên Diệu: “Ta là vua Cửu Vĩ Hồ tương lai, không phải người làm tạp vụ ở Phiêu Miểu các!”

Nguyên Diệu rất giận, nhưng cũng không có cách nào, chỉ đành nhẫn nhịn.

*

Một ngày nọ, trời trong nắng đẹp, Bạch Cơ nhận lời mời đến phủ Thái Bình, Lật đang ngủ trong vườn sau, Thập Tam Lang đang hầm canh gà trong bếp, Nguyên Diệu ôm tách trà ngồi sau quầy đọc sách. Đột nhiên, có tiếng cười lớn vang lên ngoài cửa: “Ha ha, gia cuối cùng cũng trở về rồi! Mọt sách, mau ra giúp gia mang đồ, gia mang về rất nhiều thứ hay ho đó!”

Nguyên Diệu ngẩn người một lúc mới chợt nhận ra là Ly Nô đã trở về.

Nguyên Diệu bỏ sách xuống, chạy vội ra ngoài. Một con mèo đen trông rất sảng khoái tinh thần, đôi mắt sắc nhọn, lông bóng loáng. Bên cạnh mèo đen có ba cái bọc lớn.

Nguyên Diệu chạy tới ôm chặt mèo đen, nước mắt lưng tròng: “Ly Nô lão đệ cuối cùng cũng trở về rồi, Ta nhớ ngươi quá.”

Mèo đen nhìn Nguyên Diệu, nói: “Mọt sách, sao trông ngươi béo lên thế? Mấy ngày gia không ở đây, ngươi ngày ngày đều lười biếng chứ gì?”

“Ta không lười biếng, là do Thập…” Nguyên Diệu định nói do Thập Tam Lang nấu ăn quá ngon, ngày nào cũng làm nhiều món ngon nên hắn mới béo lên thôi, nhưng Ly Nô đã cắt ngang.

“Không lười biếng là tốt. Thôi không nói chuyện phiếm nữa, mau giúp gia mang mấy cái bọc vào trong đi.”

“Được.” Nguyên Diệu nhấc cái bọc lớn nhất trong ba cái bọc lên.

Cái bọc trông không lớn nhưng nặng cũng phải vài trăm cân, Nguyên Diệu không nhấc nổi: “Ly Nô lão đệ, bên trong này đựng gì mà nặng thế?”

Mèo đen rung ria mép: “Cái bọc ngươi nhấc là cá khô, bọc màu đỏ đựng trái cây rừng, bọc màu xanh đựng thịt rừng. Nơi gia vượt thiên kiếp có một con sông có rất nhiều cá. Gia cứ rảnh ra không có việc gì làm là đi bắt cá, ngày ngày bắt cá, bắt cá xong lại không ăn được, đành phải phơi thành cá khô. Hôm nay trở về, gia mang hết về đây. Trái cây rừng là để cho chủ nhân, sáng nay vừa hái, rất tươi. Thịt rừng là để cho thư sinh ngươi, lần trước ngươi nói muốn ăn thịt nướng, gia bắt cho ngươi một con dê núi, còn tìm được chút mật ong rừng, tối nay làm thịt dê nướng mật ong cho ngươi ăn.”

“Cảm ơn Ly Nô lão đệ. Nhưng mà, bữa tối hôm nay Thập…” Thập Tam Lang đã đang nấu rồi. Nguyên Diệu còn chưa nói hết câu, thì lại bị Ly Nô cắt ngang.

“Đúng rồi, chủ nhân có ở nhà không? Hay là đã ra ngoài rồi?”

“Bạch Cơ đi phủ Thái Bình tham gia Bách Thi Yến rồi.”

“Ài, gia ở trong núi sâu, lòng lại ở Phiêu Miểu các, luôn lo lắng chủ nhân và ngươi không có cơm ăn mà gầy đi. May sao trời cao phù hộ, gia bình an vượt qua kiếp nạn, giờ trở về rồi, chắc chắn ngày ngày làm các món cá cho các ngươi ăn. Nào, mọt sách, giúp gia một tay, chúng ta mang cá khô vào trong trước.”

“Được.” Nguyên Diệu đáp.

Nguyên Diệu và Ly Nô cùng mang cái bọc đựng cá khô vào Phiêu Miểu các.

Nguyên Diệu vụng về, không cẩn thận vấp phải ngưỡng cửa, làm rơi cái bọc.

Một chuyện kỳ lạ đã xảy ra, khi cái bọc rơi xuống, có một đống lớn cá khô tuôn ra, càng ngày càng nhiều, chất đống gần một nửa đại sảnh.

Nguyên Diệu há hốc mồm: “Ly Nô lão đệ, ngươi rốt cuộc đã bắt bao nhiêu cá thế?”

Một mùi tanh nồng nặc lan tỏa khắp nơi, làm người ta khó chịu, Ly Nô lại rất hưởng thụ, khẽ cử động cánh mũi, ngửi mùi cá tuyệt vời: “Ngày nào ít nhất cũng bắt hơn chục con. Số cá này đủ ăn cả nửa năm.”

Nguyên Diệu đứng giữa biển cá, bịt mũi kêu lên: “Trời ơi, ngươi bắt nhiều cá như vậy, giết nhiều cá như vậy, sao không bị thiên lôi đánh chết chứ?”

Mèo đen rung râu, nói: “Lúc vượt thiên kiếp gia không ăn một con cá nào, thiên lôi đánh gia làm gì?”

Nguyên Diệu lo lắng: “Đống cá khô này chất đầy đại sảnh, làm sao buôn bán được nữa? Mùi tanh này khắp nơi, Bạch Cơ về chắc chắn sẽ rất giận. Ly Nô lão đệ, ngươi nghĩ cách đi chứ.”

Mèo đen linh hoạt nhảy lên quầy, uống một ngụm trà của Nguyên Diệu, ngồi xuống nhàn nhã: “Cái túi là do ngươi làm rơi, tất nhiên ngươi phải dọn dẹp hậu quả. Ngươi ra bếp lấy một cái rổ tre, mang từng khổ cá khô vào. Gia thấy mùi cá rất thơm, khắp nơi là mùi cá cũng không sao, nhưng chủ nhân có lẽ sẽ không thích, sau khi ngươi dọn cá xong, lấy vài cái lư hương ra, đốt vài thanh trầm hương xong cho hết mùi là được.”

Nguyên Diệu nói: “Nhiều cá khô thế này, ta lại chỉ có hai tay, dọn đến tối cũng không xong! Ly Nô lão đệ, ngươi cũng giúp một tay đi.”

Mèo đen vươn vai, cuộn mình trên quầy, nhìn Nguyên Diệu, nhe răng nanh ra: “Gia đi đường mệt rồi, muốn nghỉ một lát. Ngươi tự làm đi, đừng có ngày nào cũng chỉ biết lười biếng!”

Nguyên Diệu không có cách nào, đành phải nín thở cúi đầu dọn cá khô.

“Nguyên công tử, ngươi đến thử độ mặn nhạt của thịt gà… Á, thối quá, cái gì mà tanh thế này…” Tiểu hồ ly vui vẻ chạy vào đại sảnh nhưng bị mùi cá tanh làm lùi lại liên tục.

Nguyên Diệu đứng giữa đống cá khô, cười khổ với Thập Tam Lang: “Là cá khô mà Ly Nô lão đệ mang về…”

Ly Nô vốn đã nằm xuống, thấy Thập Tam Lang thì bỗng dưng đứng bật dậy, nhe răng nanh: “Hồ Thập Tam Lang, ngươi sao lại ở Phiêu Miểu các?!”

Hồ Thập Tam Lang nói: “Mỗ mấy ngày nay luôn làm tạp vụ ở Phiêu Miểu các. Cái con mèo đen thối tha này trở về thì thôi đi, còn mang nhiều cá khô thối này về làm gì? Thối chết mất thôi!!”

Ly Nô dựng lông: “Không được nói cá khô của gia thối!”

“Con mèo thối, cá khô thối! Ta nói đó thì sao?” Hồ Thập Tam Lang không chịu lép vế.

Ly Nô bỗng hóa thành mèo yêu chín đuôi, miệng phun ra lửa xanh, lao vào Hồ Thập Tam Lang.

Hồ Thập Tam Lang tránh không kịp, bị đánh trúng.

Nguyên Diệu phát hiện hình dáng yêu hóa của Ly Nô dường như đã lớn hơn trước, trên trán còn có thêm ba vạch mây, chín cái đuôi phất phơ sau lưng, uy phong lẫm liệt.

Ly Nô dùng móng vuốt sắc nhọn bóp cổ Hồ Thập Tam Lang, miệng phun lửa xanh, răng nanh lấp lóe: “Dám nói lại một lần nữa thì gia sẽ ăn ngươi.”

Nguyên Diệu vội vã khuyên: “Ly Nô lão đệ, ngươi đừng chấp nhặt. Thập Tam Lang, ngươi nói ít đi một chút. Mọi người dĩ hòa vi quý, dĩ hòa vi quý!”

Hồ Thập Tam Lang cố gắng giãy giụa: “Mèo thối, cá khô thối!!”

Ly Nô tức giận, đưa móng vuốt như lưỡi liềm, đâm mạnh vào đầu Hồ Thập Tam Lang.

Hồ Thập Tam Lang sợ hãi, nhưng không giãy giụa được.

Nguyên Diệu kinh hoàng, bất chấp mọi thứ, lao lên ngăn cản: “Ly Nô lão đệ, ngươi mau dừng tay!!”

Nhưng Nguyên Diệu lại bị đống cá khô làm vấp ngã, lăn đùng ra đất.

Trong khoảnh khắc Hồ Thập Tam Lang suýt mất mạng dưới móng vuốt của Ly Nô, thì một ánh sáng màu nâu bất ngờ sáng lên. Ly Nô bị một lực mạnh lăn ra. Nguyên Diệu ngước nhìn, thấy một con hồ ly chín đuôi khổng lồ đứng giữa đại sảnh, đuôi màu nâu tung bay trong gió, thân hình uyển chuyển, oai phong lẫm liệt. Nó phun ra ngọn lửa màu xanh lam, ánh mắt hung dữ nhìn Ly Nô: “Thập Tam tuy là kẻ vô dụng, nhưng không thể để ngươi ăn được. Mèo yêu, buông Thập Tam ra, nếu không ta sẽ xé xác ngươi!”

Ly Nô tức giận, phun ra ngọn lửa yêu xanh biếc: “Lại thêm một con hồ ly đáng ghét nữa! Đúng lúc ta đang đói, tối nay ta sẽ hấp cả hai ngươi.”

Ly Nô lao về phía Lật, một ánh sáng lạnh lẽo sáng lên, máu bắn tung tóe, vai của Lật bị Ly Nô cào rách một vết.

Nhân lúc Ly Nô tấn công Lật, Thập Tam Lang thoát khỏi sự kìm kẹp, đột nhiên hóa thành một con hồ ly chín đuôi đỏ rực.

Con hồ ly chín đuổi đỏ rực như lửa vung móng tấn công Ly Nô: “Mèo yêu thối, đừng có ngông cuồng!”

Lật bị thương, tức giận, nói: “Thập Tam, tối nay ăn canh mèo nhé.”

Con hồ ly chín đuôi màu nâu cũng lao lên, chiến đầu với Ly Nô. Hai con hồ ly, một con mèo yêu hỗn chiến, lửa yêu bay tới, móng vuốt đánh trả, máu bắn tung tóe, gió lạnh rít gào. Đại sảnh đổ nát một nửa, đồ cổ vỡ nát, tranh chữ trên tường cũng bị thiêu hủy, thậm chí cá khô trên đất cũng bị nướng chín vài con.

Nguyên Diệu mạo hiểm, lớn tiếng khuyên nhủ: “Ly Nô lão đệ, Thập Tam Lang, Lật huynh đệ, đừng đánh nữa. Tối nay uống canh gà, ăn chân cừu nướng là đủ rồi, tiểu sinh không muốn ăn hồ ly hấp, cũng không muốn ăn canh mèo…”

Trong trận chiến, một ngọn lửa yêu bay ra, đẩy tiểu thư sinh bay khỏi Phiêu Miểu các.

Nguyên Diệu ngã ngồi bên ngoài Phiêu Miểu các, toàn thân đau nhức, hắn nghi ngờ Lật muốn thiêu chết hắn, nhưng cũng có thể là Ly Nô, ai mà biết được.

Nguyên Diệu không dám vào lại, trong lòng rối bời. Ngồi một lúc, Nguyên Diệu quyết định đi đến phủ Thái Bình tìm Bạch Cơ, bảo nàng mau về ngăn cản cuộc chiến giữa mèo và hồ ly. Hắn đứng dậy mới phát hiện khi vừa ngã ra, chân đã bị trẹo.

Nguyên Diệu bước đi một bước thì mắt cá chân lại truyền đến cơn đau thấu tim. Hắn lê lết đến ngõ thì không thể đi tiếp nữa.

Nguyên Diệu dựa vào cây hoè già ngồi xuống, không biết phải làm sao.

Đột nhiên, có tiếng nói: “Ồ, chẳng phải là Nguyên công tử sao?”

Nguyên Diệu ngước nhìn, xung quanh không một bóng người, bèn ngạc nhiên.

Người đó lại nói: “Là ta đây. Ta ở dưới đất.”

Nguyên Diệu cúi đầu nhìn, thấy một con ốc sên đang bò chậm chạp, đi ngang qua dưới gốc cây hoè.

“Hóa ra là ốc sên huynh.” Nguyên Diệu hiểu ra.

“Nguyên công tử sao lại buồn rầu như vậy?” Ốc Sên hỏi.

Nguyên Diệu nói: “Ôi, Phiêu Miểu các xảy ra chuyện, tiểu sinh phải đi đến phủ Thái Bình ở phường Vĩnh Hưng để gọi Bạch Cơ về ngay. Nhưng tiểu sinh bị trẹo chân, không thể đi được.”

“Thì ra chỉ là việc nhỏ đó, để ta đi truyền tin giúp ngươi. Dù sao ta cũng nhận ủy thác phải đến phường Vĩnh Hưng truyền tin cho ông Nghiêm, vừa hay tiện đường.” Ốc Sên nghĩa khí nói.

“Thật… thật không dám làm phiền Ốc Sên huynh.” Nguyên Diệu vội nói. Ốc Sên thật sự quá chậm, chờ nó đến phủ Thái Bình thì e rằng Bạch Cơ đã về rồi.

“Nguyên công tử chẳng lẽ chê ta đi chậm? Ta luôn truyền tin khắp nơi cho mọi người không ngừng nghỉ, càng không lười biếng, ngươi sao có thể chê ta chứ?”

Nguyên Diệu vội cười xin lỗi: “Tiểu sinh không có ý đó. Nếu Ốc Sên huynh sẵn lòng truyền tin, thì thật cảm kích. Xin hãy đến phủ Thái Bình nói với Bạch Cơ, ‘Ly Nô lão đệ đã bình an trở về, nhưng hắn và Thập Tam Lang và Lật huynh đệ vì một lời không hợp mà tranh chấp, đánh nhau. Tiểu sinh không khuyên ngăn được nên bị đuổi ra ngoài, sợ xảy ra án mạng, xin nhanh chóng trở về khuyên can."”

“Hiểu rồi, ta sẽ đi ngay.” Ốc Sên nhận ủy thác của Nguyên Diệu, chậm rãi bò về hướng đông.

Nguyên Diệu ngồi dưới gốc cây hoè, nhìn Ốc Sên dần xa, mặt đầy lo lắng. Với tốc độ của Ốc Sên, không biết đến bao giờ mới đến được phủ Thái Bình.

Nguyên Diệu ngồi lâu, thấy trong lòng không yên, lại lết về Phiêu Miểu các.

Bốn cửa của Phiêu Miểu các mở toang, tĩnh lặng như chết.

Nguyên Diệu lo lắng bước vào, đại sảnh hỗn độn, cá khô khắp nơi, kệ hàng đổ hết, đồ ngọc, đồ sứ vỡ vụn, tranh chữ trên tường cũng bị thiêu cháy.

Một con mèo đen ngồi trên quầy li3m móng, đầu và người đầy vết cào, máu chảy đầm đìa. Nhưng ánh mắt nó đầy kiêu ngạo, như một vị tướng quân vừa chiến thắng trở về.

Nguyên Diệu cảm thấy lạnh sống lưng: “Ly Nô lão đệ, Thập Tam Lang và Lật huynh đệ đâu rồi?”

Chẳng lẽ đã bị Ly Nô hấp trong nồi rồi sao?!!

Mèo đen rung râu, nói: “Không đánh lại ta nên chạy mất rồi. Hai con hồ ly thối đó, lần sau dám đến Phiêu Miểu các quấy phá nữa, ta sẽ lột da chúng!!”

“Thập Tam Lang là đến giúp việc. Mọi người đều là bạn bè, sao ngươi phải đối đầu với họ? Người ta nói, làm lành với người, bản thân cũng được lợi; làm ác với người, bản thân cũng không được yên. Ngươi xem, ngươi cũng bị thương đầy mình.” Nghe nói huynh đệ hồ ly không sao, Nguyên Diệu thở phào nhẹ nhõm, đi lục lọi hộp thuốc sau quầy, bôi thuốc trị thương cho Ly Nô.

Ly Nô nói: “Ta không ưa nổi Cửu vĩ hồ, nhất là tên Thập Tam Lang đỏ lòm đó, thật khó chịu! Meo~ mọt sách, ngươi nhẹ chút, đau chết ta rồi!!”

Nguyên Diệu nhìn quanh, nói: “Ồi, mấy đồ cổ vỡ nát, tranh chữ cháy rụi phải làm sao? Bạch Cơ về, chắc chắn sẽ rất giận.”

“Những thứ này chắc phải mất nghìn năm.” Mèo đen mơ hồ nói.

“Cái gì mà nghìn năm?” Nguyên Diệu không hiểu.

Ly Nô không giải thích, đợi Nguyên Diệu bôi thuốc xong, đuổi tiểu thư sinh đi khuân cá khô vào bếp.

Nguyên Diệu giận dỗi nói: “Tại sao ngươi không tự làm? Tiểu sinh bị trẹo chân rồi, đau lắm.”

Ly Nô lớn tiếng mắng tiểu thư sinh ngày đêm chỉ biết lười biếng không làm việc, tiểu thư sinh tức giận phản bác vài câu, rồi cầm một quyển sách, khập khiễng đi ra sân sau.

Ly Nô thấy chân của Nguyên Diệu thực sự bị trật nên không ép hắn làm việc nữa, nhưng vẫn không ngừng càu nhàu.

Nguyên Diệu ngồi trên cỏ, hái một nắm cỏ, vò nát, rồi nhét vào tai, yên tĩnh đọc sách.

Cuối cùng, Ly Nô sợ bị Bạch Cơ mắng, hóa thành người, tự mình mang từng rổ cá khô vào bếp. Hắn còn đặt lư hương xung quanh, đốt một ít hương liệu để xua đi mùi tanh.

Đến chiều tối Bạch Cơ trở về. Nhìn thấy cảnh tượng trong Phiêu Miểu các, nàng không trách mắng Ly Nô, chỉ mỉm cười thêm một nghìn năm vào khế ước bán thân của Ly Nô. Ly Nô không dám phản đối. Nguyên Diệu nghĩ rằng, chỉ cần Thập Tam Lang đến Phiêu Miểu các vài lần nữa thì Ly Nô chắc chắn sẽ không bao giờ được tự do.

Ly Nô đổ bỏ nồi canh gà của Thập Tam Lang, nấu món cá khô kho đỏ và đùi cừu nướng mật ong cho Bạch Cơ và Nguyên Diệu ăn. Nguyên Diệu thấy tiếc nồi canh gà, nhưng cũng không dám nói gì. Có lẽ lâu rồi chưa ăn món cá của Ly Nô nấu, hắn tự dưng cảm thấy món này thực sự ngon.

Buổi tối, trăng lên đầu cành liễu. Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô ngồi ở sân sau ngắm trăng, Ly Nô kể về cuộc sống tu luyện trong núi, những chuyện linh tinh, lặt vặt. Bạch Cơ và Nguyên Diệu nghe rất hứng thú, nhưng đều cho rằng hắn không nên bắt nhiều cá đến vậy, còn mang về Phiêu Miểu các. Thời tiết đã gần đầu hè, trong thời gian ngắn không thể ăn hết, sợ rằng sẽ bị hỏng.

Bạch Cơ nhớ lại cảnh tượng bừa bộn trong đại sảnh, cảm thấy đau lòng vì những cổ vật và tranh chữ bị hủy. Nàng thở dài: “Thật lo lắng quá~”

Nguyên Diệu nhìn mắt cá chân bị băng bó, lo lắng những ngày tới sẽ chịu khổ. Hắn thở dài: “Thật lo lắng quá~”

Ly Nô nghĩ đến số cá khô chất đầy nửa gian bếp, lo sợ ăn không hết sẽ bị hỏng. Hắn thở dài: “Thật lo lắng quá~”

Đồng thời, dưới ánh trăng Trường An, một con ốc sên vẫn đang cỗ gắng bò về phủ Thái Bình ở phường Vĩnh Hưng để gửi tin cho Bạch Cơ. Ốc sên nhìn con đường dài vô tận, thở dài: “Thật lo lắng quá~”

Ngoài thành Trường An, trong núi Thúy Hoa, hai con hồ ly nhỏ bị thương ngồi nghỉ ngơi trong bụi cỏ, nhìn trăng mà đờ đẫn.

Lật nhớ lại mình không ngờ lại đánh không lại một con mèo, danh tiếng bị hạ bệ, cảm thấy rất buồn bực. Hắn thở dài: “Thật lo lắng quá~”

Thập Tam Lang nghĩ đến việc chưa kịp từ biệt Bạch Cơ và Nguyên Diệu, đã phải bỏ chạy ra ngoài, cảm thấy rất bất lịch sự. Hắn muốn quay lại Phiêu Miểu các để chính thức từ biệt, nhưng lại sợ đánh nhau với Ly Nô lần nữa. Nếu không từ biệt mà cứ thế về nhà lại rất thất lễ. Hắn bối rối không biết phải làm thế nào, chỉ đành thở dài, xoa mặt: “Thật lo lắng quá~”

(Kết thúc “Cây Vô Ưu”)
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 31: Phần 5: Cỏ Lai Thế - Chương 1: Dạ Khách


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 5: Cỏ kiếp sau

Chương 1: Dạ Khách

Đêm hè ấm áp, cỏ xanh rì rào, côn trùng kêu râm ran.

Phiêu Miểu các, dưới mái hiên.

Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô đang ngắm trăng, trên đ ĩa mã não bày từng chùm nho tím đỏ, trên đ ĩa pha lê là những chiếc bánh tinh xảo, trong chén ngọc dạ quang chứa rượu thơm nồng.

Đêm nay không có việc gì, ánh trăng rất đẹp, Bạch Cơ sai Nguyên Diệu lấy trong kho ra hai loại rượu ngon mà nàng cất giữ, một là Lự Lục, một là Thúy Đào*. Theo lời Bạch Cơ thì hai loại rượu này được Ngụy Trưng cất trong những năm Trinh Quán, là một loại rượu quý. Khi Nguyên Diệu mở vò rượu, phát hiện rượu vẫn không hỏng dù đã để rất lâu rồi.

* Lự Lục, Thúy Đào: Tên hai loại rượu do Ngụy Trưng chế tạo. Ngụy Trưng có tài nghệ làm rượu, rượu do ông làm nổi tiếng nhất với hai loại Lự Lục và Thúy Đào. Những rượu này được đặt trong chum để bảo quản, mười năm không hỏng. Đường Thái Tông rất ưa thích rượu của Ngụy Trưng, đã tặng ông một bài thơ: “Lự Lục vượt qua Lan Sinh, Thúy Đào hơn cả Ngọc Giới. Ngàn ngày say không tỉnh, mười năm hương vị không phai.”

Nguyên Diệu thử một ngụm Lư Lục, thấy vị rất mạnh, hắn lại uống không giỏi nên chỉ uống ba ngụm đã không dám uống nữa.

Bạch Cơ thì uống liên tục: “Một tháng gần đầy không có ‘nhân quả’ nào, thực sự quá buồn, để ta say chết cho rồi.”

Nguyên Diệu vừa ăn nho vừa nói: “Không có ‘nhân quả’, ngươi cũng không cần phải uống rượu nhiều như vậy. Đúng rồi, chiều nay, Đan Dương mang cho ta một ít bánh từ Giang Châu, ta để trên quầy, lau sàn nhà xong quay lại thì đã biến mất rồi.”

Vi Ngạn đi công tác ở Giang Châu, mới về Trường An từ hôm kia, hôm nay hắn đến Phiêu Miểu các tìm đồ cổ, tiện tay mang theo ít bánh từ Giang Châu cho tiểu thư sinh. Tiểu thư sinh tiện tay để trên quầy, khi làm việc xong quay lại định thưởng thức thì đã không thấy đâu nữa.

Nguyên Diệu nhìn mèo đen đang ăn điểm tâm, nghi ngờ nó đã ăn trộm hoặc vứt đi. Vì Ly Nô luôn cho rằng trên quầy chỉ được để cá khô của nó, không được để đồ của Nguyên Diệu.

Mèo đen liếc Nguyên Diệu một cái: “Đừng nhìn ta, ta không thích ăn bánh tam thạch và kẹo hoa quế.”

Bạch Cơ ngẩng đầu uống rượu: “Bánh tam thạch không ngon, nhưng kẹo hoa quế thì ngon, vừa thơm vừa giòn, dư vị vẫn còn. Đáng tiếc là đã ăn hết rồi, không thì Hiên Chi cũng có thể thử.”

Nguyên Diệu tức giận: “Quả nhiên là các người ăn trộm! Người xưa nói, không hỏi mà lấy là trộm. Hành động của các người trái với giáo huấn của thánh nhân, là ăn trộm.”

Bạch Cơ liếc Nguyên Diệu, cười nói: “Có gì là trộm chứ? Ta và Ly Nô là giúp người vui vẻ thôi mà, Hiên Chi bận rộn làm việc, chúng ta giúp Hiên Chi ăn điểm tâm. Giúp người quả là một điều vui vẻ.”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Việc ăn điểm tâm việc ta có thể tự làm, không cần các người giúp!”

“Ái chà, Hiên Chi tức giận rồi à?”

Nguyên Diệu rất tức giận, không thèm để ý đến Bạch Cơ.

Bạch Cơ gọi “Hiên Chi” vài lần, Nguyên Diệu vẫn không để ý đến nàng, nàng chỉ còn biết tiếp tục uống rượu ngắm trăng.

Một lúc sau, Bạch Cơ đột nhiên cười ha hả, nàng đứng dậy bước chân trần trên cỏ xanh, áo tay rộng bay lượn, vừa hát vừa múa.

“Nhớ cành mai dưới Tây Châu, gửi cành mai đến Giang Bắc. Áo đơn màu hạnh đỏ, tóc hai bên như màu quạ non. Tây Châu ở đâu? Thuyền ở đầu cầu. Chiều về chim bói cá bay, gió thổi cây ô rực rỡ*…”

*Bài thơ này là “Tây Châu Khúc”, một bài ca dân gian Nam Triều, được ghi lại lần đầu trong “Ngọc Đài Tân Vịnh” do Từ Lăng biên soạn. Toàn bộ bài thơ như sau: “Nhớ mai dưới Tây Châu, bẻ mai gửi Giang Bắc. Áo đơn màu đỏ, tóc hai bên đen như quạ non. Tây Châu ở đâu? Hai mái chèo đầu cầu qua. Trời tối chim bay về, gió thổi cây ô chu. Dưới cây là trước cửa, trong cửa lộ ra trang sức ngọc bích. Mở cửa chàng không tới, ra cửa hái sen đỏ. Hái sen vào mùa thu ở ao nam, hoa sen vượt qua đầu người. Cúi đầu chơi đùa hạt sen, hạt sen trong như nước. Đặt hạt sen trong áo, lòng sen đỏ từ tận đáy. Nhớ chàng mà chàng không tới, ngẩng đầu nhìn chim bay. Chim bay khắp Tây Châu, ngóng chàng lên lầu xanh; lầu cao nhìn không thấy, suốt ngày tựa lan can. Lan can mười hai khúc, tay thả lỏng như ngọc. Kéo rèm trời cao tựa, nước biển dao động màu xanh lục. Nước biển mộng mơ mênh mang, chàng buồn ta cũng buồn, gió nam hiểu ý ta, thổi giấc mộng tới Tây Châu.”

Giọng hát của Bạch Cơ mềm mại, điệu múa uyển chuyển, ánh mắt cong lên như cười khiến người nhìn cảm thấy choáng ngợp.

Nguyên Diệu ngẩn ngơ một lúc, sau đó mới giật mình hỏi mèo đen đang ăn điểm tâm: “Ly Nô huynh, Bạch Cơ sao thế này?”

Ly Nô ngẩng đầu nhìn một cái: “Chắc là say rồi. Rượu Lự Lục, Thúy Đào này mạnh ghê, chủ nhân rất ít khi say.”

Nguyên Diệu bất giác cười: “Hóa ra, khi Bạch Cơ say rượu sẽ hát và nhảy múa. Giọng hát của nàng hay thật đấy, điệu múa của nàng ấy cũng thật đẹp…”

Ly Nô nói: “Nhảy một lúc nữa chủ nhân bay đi làm mưa loạn xạ. Lần trước khi chủ nhân say rượu, ngài ấy đã làm mưa xối xả hai ngày hai đêm, sấm chớp không ngừng, phá hủy cả cổng Kim Quang.”

Nguyên Diệu đổ mồ hôi lạnh: “Trời mưa thôi mà sao lại gây hại như thế…”

“Hái sen vào mùa thu ở ao nam, hoa sen cao hơn đầu người. Cúi đầu chơi đùa hạt sen, hạt sen trong như nước. Đặt hạt sen trong áo, lòng sen đỏ từ tận đáy. Nhớ chàng mà chàng không tới, ngẩng đầu nhìn chim bay…’” Bạch Cơ xoay người, định cưỡi gió bay đi.

Nguyên Diệu sợ đến mức bật dậy, chạy tới giữ chặt Bạch Cơ: “Hái sen thì được rồi, ngàn vạn lần đừng đi làm mưa, sẽ hại chết người ta đó. Ly Nô lão đệ, mau đi lấy đá tỉnh rượu, rồi nấu một bát canh chua giải rượu đi…”

Con mèo đen lười biếng nói: “Chủ nhân hiếm khi say một lần, nàng ấy muốn làm gì cứ để nàng ấy làm đi. Chỉ cần chủ nhân vui là được.”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Không thể để nàng ấy làm theo ý mình được, sẽ hại chết nhiều người!”

Bạch Cơ nhìn Nguyên Diệu, mắt say lờ đờ, cười: “Ly Nô, ngươi giữ ta làm gì?”

Nguyên Diệu nói: “Không phải Ly Nô lão đệ, là tiểu sinh.”

Bạch Cơ say mèm nói: “Này, Ly Nô, khi nào ngươi lại trở thành ‘tiểu sinh’ vậy?”

Nguyên Diệu không còn sức để giải thích với một người say, giữ chặt Bạch Cơ đi về hành lang: “Ngươi ngồi đây một lúc đã.”

Nguyên Diệu định để Bạch Cơ ngồi yên rồi đi tìm đá tỉnh rượu.

Bạch Cơ nói: “Nhưng ta còn muốn nhảy múa…”

“Đợi lát nữa hãy nhảy.” Nguyên Diệu đỡ Bạch Cơ ngồi xuống.

Mặt Bạch Cơ đỏ bừng, mắt say lờ đờ, nàng con mèo đen đang ăn điểm tâm, cười: “Hiên Chi đang ăn điểm tâm à.”

Con mèo đen giật giật ria mép, muốn phản bác nhưng cuối cùng lại không nói gì.

Bạch Cơ lại gần Ly Nô, giữ chặt cổ nó, nhấc lên, nhìn chằm chằm: “Hiên Chi còn giận à?”

Con mèo đen giãy giụa giữa không trung: “Chủ nhân, ta không phải là tên mọt sách! Ngươi thả ta xuống.”

Bạch Cơ vẫn nhấc con mèo đen lên, cười: “Hiên Chi không giận nữa à?”

Con mèo đen quay đầu, nói với Nguyên Diệu: “Thư sinh, mau đi lấy đá tỉnh rượu đi.”

Nguyên Diệu vội vàng đi lấy đá tỉnh rượu.

Trong đại sảnh, Nguyên Diệu thắp đèn cầy đi tìm đá tỉnh rượu sau quầy. Đột nhiên, một cơn gió lạnh thổi qua, ngọn đèn vụt tắt.

“Cộc cộc – cộc cộc cộc –” có người gõ cửa ngoài cổng lớn.

Nguyên Diệu lo sợ lấy diêm ra quẹt, thắp lại ngọn đèn.

Trong Phiêu Miểu các rất yên tĩnh, những nơi không được ánh đèn chiếu tới đều tối tăm và u ám.

“Cộc cộc – cộc cộc cộc –” tiếng gõ cửa lại vang lên.

Nguyên Diệu hơi sợ hãi, nhưng vẫn mạnh dạn đi mở cửa.

“Cạch…” một tiếng, Nguyên Diệu mở cánh cửa lớn của Phiêu Miểu các.

Dưới ánh trăng bên ngoài cửa có một con chồn màu nâu đang ngồi xổm, đang giơ chân trước phải gõ cửa. Con chồn có cổ dài, đầu nhỏ, thân hình mảnh mai, tứ chi rất ngắn, bộ lông nâu dưới ánh trăng tỏa ra ánh sáng nhạt, chiếc đuôi bông xù.

Nguyên Diệu thở phào nhẹ nhõm: “Xin hỏi, có việc gì không?”

Con chồn rụt lại chân, lễ phép nói: “Ta đến tìm Bạch Cơ để thực hiện một nguyện vọng.”

Giọng con chồn là giọng nữ nhỏ nhẹ như chim oanh.

Hóa ra là khách đến mua ‘nguyện vọng’.

Nguyên Diệu nói: “Mời vào. Bạch Cơ ở hậu viện, tiểu sinh dẫn đường. Xin hỏi tiểu thư họ gì?”

Con chồn bước vào Phiêu Miểu các, nghiêng người chào, nói: “Ta họ Hoàng, tên là Doanh Doanh. Công tử họ gì?”

“Thì ra là Doanh Doanh cô nương. Tiểu sinh họ Nguyên, tên Diệu, tự Hiên Chi.” Nguyên Diệu vừa trả lời, vừa đóng cửa lớn. Khi quay lại thì con chồn đã biến mất, thay vào đó là một thiếu nữ mặc y phục màu nâu đứng dưới ánh đèn.

Thiếu nữ rất gầy, eo nhỏ không đủ một vòng tay. Nàng búi tóc nhạc du*, gương mặt hình trái xoan, mày cong như trăng non, miệng nhỏ như anh đào. Sắc mặt nàng tái nhợt, giữa chân mày u ám, thần sắc mệt mỏi vô cùng, có lẽ là vừa khỏi bệnh nặng, hoặc là bệnh lâu ngày.

*dưới cmt ạ

Nguyên Diệu đi về phía hậu viện: “Doanh Doanh cô nương theo tiểu sinh, Bạch Cơ đang ở hậu viện.”

“Làm phiền Nguyên công tử dẫn đường. Khụ khụ khụ…” Hoàng Doanh Doanh theo sau Nguyên Diệu, đi về phía hậu viện. Một cơn gió thổi qua hành lang, nàng lấy khăn tay che miệng ho lên, mặt tái nhợt.

“Tiểu thư Doanh Doanh, nàng không sao chứ?” Nguyên Diệu quay đầu lại, lo lắng hỏi. Hắn kinh ngạc khi thấy vệt máu trên khăn tay của Doanh Doanh.

Nguyên Diệu hoảng hốt. Mới trẻ tuổi mà đã ho ra máu thì không phải là dấu hiệu của việc sống lâu.

Doanh Doanh thấy Nguyên Diệu kinh ngạc, thì gượng cười nói: “Ta bị bệnh lao đã nhiều năm rồi. Cơ thể ngày càng yếu đi, không biết còn sống được bao lâu.”

Nguyên Diệu cảm thấy buồn bã và thương cảm, một cô nương trẻ đẹp như vậy lại bị bệnh tật hành hạ, thật là số phận trêu ngươi.

Doanh Doanh dường như nhìn thấu tâm trạng của Nguyên Diệu, nói: “Nguyên công tử, ta không còn trẻ nữa, ta đã sống hơn hai trăm năm rồi. Thật ra, hình dạng thật của ta là một bà lão đầy nếp nhăn, nhưng ta thích xinh đẹp, ghét phải biến thành nàng già nên đã hóa thành cô nương xinh đẹp này. Sinh lão bệnh tử, là lẽ thường tình, công tử không cần phải tiếc nuối cho ta.”

Nguyên Diệu toát mồ hôi lạnh. Tuy nhiên, dù sao đi nữa, con chồn này trông thật đáng thương. Không biết nó đến Phiêu Miểu các vì điều ước gì.

Nguyên Diệu và Doanh Doanh đi đến hậu viện, Bạch Cơ vẫn đang say rượu, ôm con mèo đen nhảy múa, ném nó qua lại: “Ha ha, Hiên Chi, chúng ta cùng nhảy múa… ha ha ha…”

Mèo đen đã bị giày vò đến hoa mắt chóng mặt.

Một giọt mồ hôi lạnh lăn xuống trán Doanh Doanh, nàng hỏi Nguyên Diệu: “Chuyện gì đã xảy ra vậy?”

Nguyên Diệu cũng toát mồ hôi, giải thích: “Bạch Cơ tối nay uống say rồi. Xin lỗi vì đã để nàng phải chứng kiến cảnh này. Bạch Cơ ơi, có khách đến, đây là tiểu thư Doanh Doanh, nàng ấy đến để mua ‘nguyện vọng’.”

Bạch Cơ ném mèo đen bất tỉnh xuống cỏ, vui vẻ nhảy múa đến gần: “A ha, cuối cùng cũng có ‘nhân quả’ mới.” nàng nhìn Nguyên Diệu với đôi mắt mơ màng: “Tiểu thư Doanh Doanh, nàng có điều ước gì thế?”

“Tiểu sinh không phải là tiểu thư Doanh Doanh!” Nguyên Diệu giận dữ nói, hắn chỉ vào Doanh Doanh: “Đây mới là tiểu thư Doanh Doanh.”

Bạch Cơ xoa trán, khi mở mắt ra, ánh mắt vàng rực sáng nhìn Doanh Doanh: “Ngươi có điều ước gì?”

Doanh Doanh nói: “Nói ra thì dài dòng…”

“Vậy thì ngồi xuống, từ từ nói.” Bạch Cơ ra hiệu cho Doanh Doanh ngồi xuống.

Bạch Cơ và Doanh Doanh ngồi trong hành lang.

Một cơn gió đêm thổi qua, Doanh Doanh lại che miệng bằng khăn tay, ho dữ dội: “Khụ khụ, khụ khụ khụ…”

Bạch Cơ nhìn sắc mặt của Doanh Doanh, nhíu mày: “Có vẻ như là bệnh nặng, sợ rằng…”

“Ta hiểu.” Doanh Doanh tiếp lời Bạch Cơ: “Trước mặt ngươi ta không cần phải hóa hình.” Vừa nói xong, dung mạo của nàng thay đổi, tóc đen dần trở nên bạc, thân hình gầy guộc, làn da nhẵn nhụi dần nhăn nheo, đôi môi đầy đặn dần lõm xuống. Chỉ trong chốc lát, một cô nương xinh đẹp biến thành một bà lão.

Nguyên Diệu giật mình.

Bạch Cơ không ngạc nhiên, nàng nhìn Doanh Doanh: “Ngươi có điều ước gì?”

Doanh Doanh chậm rãi kể lại: “Chuyện là thế này…”

Rất lâu trước đây, vào một mùa xuân, tại vùng núi phía tây Trường An, có hai con chồn gặp nhau. Chúng yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Một con tên là Ngọc Lang, một con tên là Doanh Doanh. Ngọc Lang mang sính lễ phong phú đến cầu hôn Doanh Doanh.

Doanh Doanh tuy cũng thích Ngọc Lang, nhưng vì tuổi còn trẻ kiêu kỳ đỏng đảnh, nên đã đưa ra ba điều kiện khá khắt khe.

Doanh Doanh muốn thử thách lòng thành của Ngọc Lang, điều kiện đầu tiên của nàng là kêu Ngọc Lang đi đến đỉnh Thiên Sơn hái một bông hoa Ưu Đàm. Ngọc Lang mất ba năm mới hái được.

Doanh Doanh muốn thử thách tình yêu của Ngọc Lang, điều kiện thứ hai của nàng là để Ngọc Lang tìm mười viên ngọc trai đen cỡ quả trứng chim bồ câu ở vực Long Hải. Ngọc Lang mất ba năm mới tìm được.

Doanh Doanh muốn thử thách lòng can đảm của Ngọc Lang, điều kiện thứ ba của nàng là để Ngọc Lang đi đến Diêm Phù Đồ lấy viên đá máu quỷ.

Diêm Phù Đồ nằm trong một hẻm núi ở phía nam Trường An, đây là ranh giới giữa địa ngục đạo* và nhân gian. Các ác quỷ của địa ngục trú ngụ ở đây, người đi qua, thú đi lại, chim bay qua, không ai sống sót trở về. Vùng lân cận của Diêm Phù Đồ hoang vu, không một bóng người. Máu của ác quỷ trong địa ngục rơi xuống đất sẽ hóa thành đá máu quỷ. Vì các ác quỷ thường giết hại lẫn nhau, Diêm Phù Đồ và khu vực xung quanh đầy rẫy đá máu quỷ. Ngọc Lang chỉ cần đến gần Diêm Phù Đồ là có thể nhặt được đá máu quỷ, không quá nguy hiểm. Quan trọng là hắn có dám đi không. Đây là thử thách của Doanh Doanh dành cho hắn. Ngọc Lang đã đi nhưng không bao giờ trở lại nữa.

*địa ngục đạo: Trong lục đạo luân hồi, đạo này là nơi đau khổ nhất: “Địa ngục đạo” chỉ là một thuật ngữ chung, thực ra nó có thể được chia thành bốn phần chính: tám đại nhiệt ngục, tám đại hàn ngục, cận biên địa ngục và địa ngục cô độc. Chúng sinh trong địa ngục đạo không được sinh ra từ bào thai, cũng không từ trứng mà là hoá sinh. Trong tám đại nhiệt ngục, chúng sinh chịu đựng các loại đau khổ lớn. Ở một số nhiệt ngục, chúng sinh sẽ chém giết lẫn nhau nhưng không chết, chỉ có thể chịu đựng đau khổ bị giết liên tục mà không thể thoát ra.

Doanh Doanh rất hối hận, nàng luôn rất yêu Ngọc Lang, đưa ra điều kiện khắt khe cũng chỉ để tình yêu của họ thêm lãng mạn và bền chặt. Nhưng không ngờ Ngọc Lang lại đi mãi không về. Có khi nào hắn đã bị ác quỷ g iết chết ở Diêm Phù Đồ rồi không? Hay hắn chưa từng đến Diêm Phù Đồ mà đã bỏ đi rồi?

Doanh Doanh vẫn luôn chờ đợi Ngọc Lang, năm này qua năm khác, rồi qua hàng trăm năm, nàng đã bạc đầu và sắp lìa đời. Nàng vẫn chờ Ngọc Lang đến cưới mình, sống bên nàng suốt đời. Nhưng hắn mãi không xuất hiện.

Bà lão bật khóc: “Trước khi đi Ngọc Lang rời đi đã nói, chàng sẽ mang đá máu quỷ về cưới ta. Chúng ta đã hẹn nhau, đời này sẽ sống đến bạc đầu, không rời xa. Ngọc Lang không trở về chắc chắn là đã chết ở Diêm Phù Đồ rồi.”

“Vậy điều ước của nàng là…” Bạch Cơ hỏi.

Bà lão rơi nước mắt: “Ta bị bệnh nặng, không sống được bao lâu nữa, chỉ còn lại lời hứa năm xưa. Kiếp sau không thể nào tìm được, ta chỉ muốn gặp Ngọc Lang lần cuối thôi.”

Nguyên Diệu không kìm được nói: “Nếu Ngọc Lang đã chết ở Diêm Phù Đồ thì sao ngươi gặp hắn được?”

“Nếu Ngọc Lang đã chết thì mong được gặp linh hồn của chàng; nếu linh hồn của Ngọc Lang đã đầu thai, ta muốn gặp kiếp sau của chàng. Dù sao đi nữa, ta cũng phải gặp chàng một lần thì mới có thể nhắm mắt.” Bà lão kiên định nói.

Bạch Cơ nói: “Ngươi cũng biết không thể nào tìm được kiếp sau mà. Hoặc Ngọc Lang đã đầu thai, thì kiếp sau của hắn không nhớ ngươi, không nhớ lời hứa đó, nếu hắn có cuộc sống mới rồi thì ngươi có thể làm gì?”

Bà lão cố chấp nói: “Ta hiểu điều đó, nhưng vẫn muốn gặp một lần. Đây là điều ước của ta, điều ước cuối cùng trước khi chết… khụ khụ khụ…”

Nguyên Diệu thấy đau lòng cho Doanh Doanh, người đã chờ đợi Ngọc Lang cả đời, thương xót nói: “Bạch Cơ, cô nương Doanh Doanh chỉ muốn gặp lại người yêu cũ một lần, nguyện vọng này không phải là tà niệm, hãy giúp nàng ấy thực hiện đi.”

Bạch Cơ với đôi mắt vàng say rượu, nói: “Ly Nô, giọng nói của ngươi sao giống như Hiên Chi vậy?”

“Tiểu sinh không phải là Ly Nô! Bạch Cơ vẫn chưa tỉnh rượu à?” Nguyên Diệu giận dữ nói.

Bạch Cơ xoa huyệt thái dương, nói với Hoàng Doanh Doanh: “Ngươi chờ một chút, ta sẽ đi lấy một thứ, nếu Ngọc Lang đã chuyển thế thì nó có thể giúp ngươi tìm thấy Ngọc Lang.”

“Tuyệt quá! Khụ khụ, khụ khụ khụ…” Hoàng Doanh Doanh vui mừng khóc, nhưng vì xúc động, nàng lại ho khan.

Bạch Cơ lớn tiếng gọi con mèo đen đang ngất xỉu trong bụi cỏ: “Hiên Chi, đi theo ta lên lầu lấy đồ.”

Con rồng yêu này say rượu thì chẳng nhận ra ai cả. Nguyên Diệu đổ mồ hôi lạnh: “Bạch Cơ, tiểu sinh ở đây.”

Bạch Cơ quay đầu lại, nắm lấy mặt Nguyên Diệu nhìn: “Ủa, sao lại có hai Hiên Chi?”

Nguyên Diệu thở dài: “Tiểu sinh chỉ có một thôi.”

Bạch Cơ bay lên kho hàng trên lầu hai, Nguyên Diệu đi bên cạnh dẫn đường chỉ sợ nàng bay lạc chỗ.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 32: Cỏ tiên


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 5: Cỏ kiếp sau

Chương 2: Cỏ tiên

Lầu hai, kho hàng.

Nguyên Diệu cầm nến, Bạch Cơ đi quanh kệ gỗ, ánh mắt lướt qua.

Sau khi đi một vòng trong kho hàng, Bạch Cơ không tìm thấy thứ cần tìm. Khi đi qua cầu thang dẫn lên tầng ba không tồn tại, Bạch Cơ chợt nhớ ra: “À, cỏ kiếp sau ở tầng ba.”

Bạch Cơ bay lên tầng ba. Nguyên Diệu muốn theo nhưng khi đặt chân lên cầu thang thì lại bị trượt chân. Nguyên Diệu thử mấy lần vẫn không thể lên. Cầu thang rõ ràng ở đó nhưng chân hắn không thể bước lên được.

Không lâu sau, Bạch Cơ bay xuống, trong tay cầm một hộp gỗ. Nàng trách Nguyên Diệu: “Ly Nô, sao ngươi đứng dưới đó mà không lên?”

Nguyên Diệu đã mệt mỏi không giải thích nổi.

Trên đường ra sân sau, Nguyên Diệu hỏi Bạch Cơ: “Thứ trong tay ngươi là gì?”

“Cỏ kiếp sau.”

“Cỏ kiếp sau là gì?”

Bạch Cơ mắt say lơ mơ nói: “Cỏ kiếp sau còn gọi là cỏ ba đời, là một loại tiên thảo mọc trên đá tam sinh. Có nó thì có thể biết được kiếp trước, kiếp này và kiếp sau của một người. Đây là bảo vật của tiên giới, không thể tùy tiện cho người hoặc phi nhân trong lục đạo.”

Nguyên Diệu thắc mắc: “Nếu là bảo vật tiên giới không thể tùy tiện cho người hoặc phi nhân trong lục đạo, tại sao ngươi lại mang ra?”

Bạch Cơ không nghe thấy câu hỏi của Nguyên Diệu, đã bay xa.

Nguyên Diệu vội vàng theo.

Trong sân sau, dưới hành lang, bà lão tóc bạc cô đơn ngồi ngẩng đầu nhìn trăng sáng trên trời, trông rất cô quạnh.

Bạch Cơ đi đến bên Hoàng Doanh Doanh, ngồi xuống: “Vào Phiêu Miểu các thì bất kỳ nguyện vọng nào cũng có thể thực hiện, dù là nguyện vọng thiện lương hay tà ác. Ta có thể thực hiện nguyện vọng của ngươi.”

Bạch Cơ đẩy hộp gỗ về phía Hoàng Doanh Doanh: “Đây là cỏ kiếp sau, mọc trên đá tam sinh, là bảo vật tiên giới. Có nó thì có thể biết kiếp trước, kiếp này và kiếp sau, có thể biết ba kiếp luân hồi của một người.”

Hoàng Doanh Doanh đưa bàn tay gầy guộc mở hộp gỗ ra. Một cây cỏ màu tím nằm yên trong hộp, phát ra ánh sáng mờ ảo nhưng trong trẻo.

Hoàng Doanh Doanh không tin nổi: “Bạch Cơ đại nhân, ngài thật sự cho lão thân cỏ kiếp sau ư?”

Bạch Cơ cười, nói: “Tất nhiên. Thực hiện nguyện vọng của khách hàng là ý nghĩa tồn tại của Phiêu Miểu các.”

Hoàng Doanh Doanh xúc động nói: “Vậy, lão thân phải dùng gì để đổi lại đây?”

“Tạm thời không cần gì cả. Đến lúc đó ta sẽ lấy thứ ta muốn.”

Hoàng Doanh Doanh cảm ơn rối rít, sau đó lại hóa thành thiếu nữ xinh đẹp, cầm cỏ kiếp sau rời đi.

Nguyên Diệu tiễn Hoàng Doanh Doanh ra khỏi Phiêu Miểu các, chân thành nói: “Hy vọng cô nương Doanh Doanh có thể tìm được Ngọc Lang.”

“Cảm ơn Nguyên công tử.” Hoàng Doanh Doanh cười, nghiêng người bái ba lần, biến mất trong con hẻm nhỏ.

Nguyên Diệu đóng cửa lớn, quay về sân sau. Hắn thầm cảm thấy may mắn, khi Bạch Cơ trả lời Doanh Doanh vẫn còn tỉnh táo, không để lộ ra vẻ say rượu.

Bạch Cơ đang ngẩn ngơ nhìn trăng, nghe thấy tiếng bước chân thì quay đầu lại nhìn Nguyên Diệu một cái, đôi mắt say lơ mơ: “Ly Nô, Hiên Chi đâu rồi?”

Nguyên Diệu giận dữ nói: “Tiểu sinh không phải là Ly Nô! Ngươi vẫn chưa tỉnh à?!”

“À, đầu ta nặng quá, muốn ngủ…” Bạch Cơ chưa nói hết câu, đã hóa thành một con rồng trắng to bằng cánh tay, cuộn tròn trong hành lang. Không lâu sau, con rồng trắng phát ra tiếng ngáy nhẹ.

Nguyên Diệu bế con mèo đen ngất xỉu lên đặt bên cạnh con rồng trắng. Dù là đêm hè, nhưng về khuya cũng hơi lạnh. Hắn bèn đi lấy một chiếc chăn mỏng, đắp lên rồng trắng và mèo đen.

“Haiz!” Nguyên Diệu thở dài. Hắn rốt cuộc đã làm gì sai mà bị bán vào Phiêu Miểu các, cả ngày làm việc cực khổ không nói, còn phải lo lắng sợ hãi, còn toàn bị bắt nạt, đôi khi còn tức giận muốn chết. Nhưng không biết tại sao, hắn vẫn thích Phiêu Miểu các, thích ở cùng Bạch Cơ và Ly Nô, dù họ luôn sai khiến hắn, trêu chọc hắn.

Nguyên Diệu dọn dẹp bình rượu, chén dạ quang, đ ĩa mã não và những đồ ăn trái cây còn lại, cũng lấy gối ra sân sau ngủ. Một người, một rồng, một mèo nằm thẳng hàng dưới mái hiên, ngủ một giấc đến sáng.

Ánh mặt trời ấm áp, chim hót hoa thơm.

Sau khi ăn sáng xong, Bạch Cơ đi qua đi lại trong đại sảnh, sắc mặt hơi nặng nề: “Hiên Chi, tối qua ta thật sự đưa cỏ kiếp sau cho một con chồn vàng sao?”

“Đúng vậy.” Nguyên Diệu vừa cầm chổi lông gà phủi bụi cho đồ cổ, vừa trả lời: “Cô nương chồn vàng đó tự xưng là Doanh Doanh, nhưng sau đó lại biến thành một bà lão tóc bạc trắng, mặt đầy nếp nhăn.”

“Xong rồi, xong rồi, Hiên Chi xong đời rồi.” Bạch Cơ lẩm bẩm.

Nguyên Diệu ngạc nhiên: “Sao tiểu sinh lại xong rồi?”

“Bởi vì ta xong đời rồi nên Hiên Chi ngươi cũng xong đời rồi.”

Nguyên Diệu toát mồ hôi lạnh: “Này, Bạch Cơ, dù ngươi có xong đời rồi, thì tiểu sinh cũng chưa xong đời. Nhưng ngươi nói vậy là ý gì?”

“Cỏ kiếp sau là đồ của tiên gia, không thể tùy tiện đưa cho người hay phi nhân trong lục đạo. Tối qua ta uống say, lỡ đưa cỏ kiếp sau cho Hoàng Doanh Doanh, e là sẽ gây rắc rối.”

“Ý là gì?”

“Xem trộm tiền kiếp và hiện tại của một người không phải là việc bình thường trong thế gian, sẽ làm rối loạn âm dương, phá hoại thiên cương.”

“Có thể nói dễ hiểu hơn không? Tiểu sinh không hiểu lắm.”

“Nói đơn giản hơn, lục đạo luân hồi là thiên cơ, bị người nhìn thấu sẽ gây ra tai họa. Không chỉ Hoàng Doanh Doanh gặp tai họa, ta cũng sẽ gặp tai họa. Cỏ kiếp sau chỉ có thể đưa cho người hay phi nhân có thiên phú đặc biệt hoặc phúc trạch sâu dày, mới có thể hóa giải tai họa. Doanh Doanh cô nương rõ ràng không phải là người như vậy. Tối qua ta hồ đồ quá, lỡ đưa Cỏ kiếp sau cho nàng, e là sẽ gặp tai họa.”

“Bạch Cơ thật hồ đồ… Giờ phải làm sao đây?” Nguyên Diệu sốt ruột hỏi.

Bạch Cơ trầm ngâm một lát, nói: “Có hai cách, một là biến Hiên Chi thành bùa hộ mệnh trừ tai họa, treo ở cửa Phiêu Miểu các để chắn tai họa; hai là Hiên Chi đi tìm Doanh Doanh cô nương, đòi lại cỏ kiếp sau.”

“Tại sao tiểu sinh phải đi?”

“Bởi vì tối qua Hiên Chi biết rõ ta uống say, thần trí không tỉnh táo nhưng không ngăn cản ta đưa cỏ kiếp sau cho Doanh Doanh cô nương, khiến chuyện này trở thành mối họa tiềm tàng.”

“Chuyện này liên quan gì đến tiểu sinh? Rõ ràng là lỗi của ngươi!” Nguyên Diệu kêu lên.

Bạch Cơ lườm Nguyên Diệu một cái, Nguyên Diệu lập tức im miệng: “Được rồi, tiểu sinh sẽ đi tìm Doanh Doanh cô nương.”

“Phiêu Miểu các rất hiếm khi bán sai đồ, ngươi thay ta đi tạ lỗi với Doanh Doanh cô nương, chỉ cần có thể lấy lại cỏ kiếp sau, ta có thể đồng ý mọi yêu cầu của nàng.”

“Tiểu sinh hiểu rồi. Nhưng, Doanh Doanh cô nương ở đâu? Khi nào tiểu sinh có thể đi?”

“Doanh Doanh cô nương lần đầu tiên đến Phiêu Miểu các, ta cũng không biết chỗ ở của nàng. Ta sẽ để Ly Nô đi thăm dò, có tin tức thì Hiên Chi sẽ đi.”

“Được.” Nguyên Diệu đáp.

Đã định ra cách giải quyết vấn đề, Bạch Cơ không đi lại nữa, tùy tiện cầm một chiếc gương đồng tựa vào quầy cài hoa.

“Thình thịch thình thịch thình thịch…” Một loạt tiếng bước chân đến gần, một bóng người nhanh chóng lướt vào Phiêu Miểu các.

Bạch Cơ ngẩng đầu lên nhìn, mỉm cười: “Vi công tử đến sớm thật, hôm nay đến tìm bảo bối hay mang điểm tâm đ ến thế?”

Vi Ngạn mặc một bộ Hồ phục tay hẹp, đi giày da hươu, tay đeo bảo vệ cổ tay, eo đeo túi đựng mũi tên. Hắn lướt đến bên quầy, đặt xuống một thỏi bạc khoảng mười lượng, cười nói: “Bạch Cơ, hôm nay thời tiết tốt, ta mượn Hiên Chi một ngày để săn bắn với ta.”

Bạch Cơ cười: “Hôm nay thời tiết tốt, không cho mượn Hiên Chi, muốn mượn cũng phải hai mươi lượng bạc.”

Vi Ngạn ngạc nhiên: “Trước đây, mượn Hiên Chi một ngày không phải chỉ mười lượng sao? Tại sao lại tăng thành hai mươi lượng?”

Bạch Cơ cười híp mắt nói: “Bởi vì hôm nay thời tiết tốt mà.”

Vi Ngạn méo miệng. Hắn nói: “Lần sau đến ta sẽ bù thêm mười lượng, hôm nay ta mang Hiên Chi đi. Hiên Chi, chúng ta đi săn nào.”

Nguyên Diệu nhăn nhó nói: “Đan Dương à, tiểu sinh chưa từng đi săn, cũng không biết bắn cung…”

Vi Ngạn vỗ vai Nguyên Diệu, tự tin nói: “Hiên Chi yên tâm, ta là thần xạ thủ, ta sẽ dạy ngươi săn bắn.”

Bạch Cơ cũng cười nói: “Hiên Chi đi đi. Đừng ở Phiêu Miểu các suốt ngày, thỉnh thoảng cũng nên ra ngoài dạo chơi, nhìn nhiều ‘người’ hơn.”

Nguyên Diệu thay một bộ Hồ phục nam của Bạch Cơ, theo Vi Ngạn đi săn.

Phiêu Miểu các kinh doanh ế ẩm, Bạch Cơ ngồi rỗi sau quầy cài hoa cả ngày. Ly Nô vừa sáng đã ra ngoài thăm dò chỗ ở của Hoàng Doanh Doanh, đến chiều mới về.

Sau khi hoàng hôn, trước giờ giới nghiêm, Nguyên Diệu xách một con gà rừng bị tên bắn xuyên tim trở về. Ly Nô để lại cho Nguyên Diệu nửa con cá, một bát cơm. Nguyên Diệu tuy đã ăn tối cùng Vi Ngạn, nhưng sợ Ly Nô giận đành phải ăn thêm một lần nữa.

Lúc thắp đèn, Nguyên Diệu thay hồ phục, mặc lại áo xanh của mình.

Nguyên Diệu ngồi dưới mái hiên, đờ đẫn nhìn con gà rừng chết.

Bạch Cơ thấy vậy, ngạc nhiên hỏi: “Chỉ là một con gà rừng thôi mà, Hiên Chi cứ nhìn nó làm gì?”

Nguyên Diệu thở dài: “Lần đầu tiểu sinh kéo cung, lần đầu tiên bắn tên, lại trúng một con gà rừng. Tiểu sinh cảm thấy rất khó tin.”

“À?! Ngay cả Hiên Chi cũng trúng, chắc chắn trong rừng đó đầy gà rừng đúng không? Vi công tử đâu? Thu hoạch của hắn chắc chắn phong phú hơn nhỉ.”

“Đâu có, Đan Dương không trúng con nào. Lần này cùng đi săn, ngoài Đan Dương và tiểu sinh, còn có một vị Bùi công tử, một vị Hứa đại nhân, thêm vài tùy tùng và võ sĩ, tổng cộng hơn ba mươi người. Đan Dương nói mình là thần xạ thủ, thực ra kỹ thuật bắn cung của hắn rất tệ, muốn bắn thân cây nhưng luôn bắn trúng đá, muốn bắn bên trái nhưng luôn trúng bên phải. Mỗi lần bắn một mũi tên, dù trượt thì các tùy tùng cũng thích nịnh nọt nói, ‘Công tử đúng là thần xạ thủ, chỉ là con nai đó chạy nhanh quá.’ ‘Công tử giỏi bắn cung ghê, do con thỏ đó quá gian xảo thôi.’ Tiểu sinh bắn trúng, tùy tùng lại nói, ‘Chắc chắn là ngẫu nhiên!!’ ‘Haha, con gà rừng đó quá ngốc, lại tự lao vào mũi tên!’ Tuy rằng, tiểu sinh cũng thấy có thể đúng là ngẫu nhiên hoặc con gà quá ngốc, nhưng bị họ nói vậy thì tiểu sinh cũng hơi tức giận. Mọi người bôn ba cả ngày, chỉ có Đan Dương không săn được gì. Đan Dương hơi chán nản, cũng hơi ngượng ngùng, vị Hứa đại nhân đó đúng là người tốt, an ủi Đan Dương nói: “Có lẽ hôm nay vận may không tốt, Vi huynh đệ đừng để tâm.” Còn Bùi công tử thì lại cười ha hả, chế giễu Đan Dương: “Thần xạ thủ gì chứ? Thật nực cười! Đan Dương không phải là thần xạ thủ, mà là thần bắn trượt, bắn mũi tên nào cũng trượt, ha ha ha……” Tùy tùng của Bùi công tử cũng cười rộ lên. Đan Dương vô cùng tức giận, cá cược với Bùi công tử, hẹn ngày mai tiếp tục săn bắn, chắc chắn phải săn được con mồi ngon.

Nguyên Diệu thở dài một hơi, nói: “Ngày mai Đan Dương còn kéo tiểu sinh đi, tiểu sinh thực sự không muốn đi chút nào…”

“Vì sao Hiên Chi không muốn đi?” Bạch Cơ thắc mắc.

“Tiểu sinh không giỏi cưỡi ngựa bắn cung, hôm nay là miễn cưỡng ứng phó qua, luôn cảm thấy nhìn thấy những con vật đang chạy vui vẻ lại bị bắn chết, thấy trong lòng rất buồn.”

“Hiên Chi đúng là nhân hậu.”

“Thực ra là tiểu sinh quá vô dụng, sợ nhìn thấy cảnh tượng giết chóc. Ngày mai, tiểu sinh không muốn đi nữa, Bạch Cơ có cách nào giúp tiểu sinh từ chối Đan Dương không?”

“Điều này đơn giản.” Bạch Cơ cười tươi nói: “Ngày mai mượn Hiên Chi, một trăm lạng vàng. Vi công tử sẽ suy nghĩ thêm.”

“Sao ngươi không đi cướp đi?!!” Nguyên Diệu hét lên câu mà Vi Ngạn thường nói.

Bạch Cơ xòe tay: “Ta là dân lành, không phải sơn tặc.”

Ngồi một lúc, Bạch Cơ lại lên tiếng: “Hiên Chi, hôm nay Ly Nô ra ngoài thăm dò, cô nương Oanh Oanh đang ở Thất Lý Pha. Tối nay ngươi đi lấy về cỏ kiếp sau về được không?”

Nguyên Diệu nhăn nhó nói: “Có thể đợi đến ngày mai không? Hôm nay bôn ba cả ngày, tiểu sinh thực sự quá mệt, chân cũng rất đau.”

Bạch Cơ cũng không ép buộc Nguyên Diệu: “Được rồi, vậy tối nay nghỉ ngơi, tối mai hãy đi.”

Ngày hôm sau, Vi Ngạn quả nhiên sáng sớm đã đến Phiêu Miểu các tìm Nguyên Diệu đi săn bắn.

Bạch Cơ quạt quạt cười nói: “Mượn Hiên Chi một ngày một trăm lạng vàng.”

Vi Ngạn bực tức nói: “Sao ngươi không đi cướp đi?!”

Bạch Cơ cười nói: “Hiên Chi là người đọc sách, mượn hắn đi săn bắn thì tất nhiên phải đắt hơn một chút. Mượn hắn đi dã ngoại, làm thơ, uống rượu, chơi bời thì vẫn là giá gốc.”

Vi Ngạn nghiến răng: “Sớm biết thế đã không bán Hiên Chi cho ngươi rồi.”

Bạch Cơ cười tươi nói: “Chuộc lại Hiên Chi, mười nghìn lạng vàng.”

“Ngươi cứ đi cướp đi!!” Vi Ngạn bực bội bỏ đi.

Nguyên Diệu tuy cảm thấy hơi có lỗi với Vi Ngạn nhưng thực sự không thích săn bắn, không muốn đi, cũng chỉ có thể thầm xin lỗi Vi Ngạn.

Nguyên Diệu bận rộn một ngày trong Phiêu Miểu các như thường lệ.

Khi trăng lên đầu ngọn liễu, Bạch Cơ giục Nguyên Diệu đi Thất Lý Pha. Nguyên Diệu không dám đi một mình ban đêm, muốn Bạch Cơ cùng đi, nhưng Bạch Cơ vì bán nhầm đồ nên ngại ngùng không muốn gặp Hoàng Oanh Oanh: “À, Ly Nô, ngươi đi với Hiên Chi đi.”

Bạch Cơ mang theo một bình rượu Lê Hoa Bạch, đến hậu viện uống rượu ngắm trăng.

Thế là Ly Nô đi cùng Nguyên Diệu. Khi một người một mèo đến Thất Lý Pha đã là lúc trăng lên giữa trời. Trong rừng núi yên tĩnh, chỉ có tiếng gió thổi qua lá cây xào xạc.

Ly Nô dẫn Nguyên Diệu vào một khu đá lởm chởm, xung quanh cỏ dại mọc um tùm, đá nằm chồng chất. Một khắc trước rõ ràng không có gì, nhưng trong nháy mắt trước mắt Nguyên Diệu xuất hiện một căn nhà tranh.

Nhà tranh nằm giữa đống đá lởm chởm, trước nhà có hàng rào tre, trồng hoa cỏ, xung quanh sương mù mịt mờ.

Ly Nô nói: “Chắc là ở đây rồi. Đi thôi nào mọt sách.”

Nguyên Diệu nói: “Tại sao chỉ mình tiểu sinh đi? Ly Nô lão đệ không đi cùng sao?”

Ly Nô vung nắm đấm, hung dữ nói: “Ông đây giống kẻ cúi đầu khom lưng đi xin lỗi người ta sao? Kêu ngươi đi thì đi đi, không được lắm lời!!”

Nguyên Diệu đành phải đi.

Nguyên Diệu đứng ngoài hàng rào tre lớn tiếng gọi: “Xin hỏi, cô nương Oanh Oanh có nhà không?”

Nguyên Diệu gọi ba lần nhưng không ai trả lời.

Nguyên Diệu đẩy cổng hàng rào bước vào nhà tranh. Cửa nhà tranh không đóng chặt mà chỉ khép hờ. Nguyên Diệu đẩy cửa bước vào. Bên trong nhà tranh tối om, không có ai.

Nguyên Diệu lùi ra ngoài.

Ly Nô dựa vào gốc cây hương bồ, miệng ngậm một cọng cỏ, chán nản chờ Nguyên Diệu. Nguyên Diệu đi tới nói với Ly Nô: “Trong nhà tranh không có ai, cô nương Oanh Oanh chắc là ra ngoài rồi. Chúng ta đợi nàng ấy hay là về Phiêu Miểu các, lần sau lại đến?”

Ly Nô nghĩ một lúc, nói: “Vậy, đợi một lát đi.”

Nguyên Diệu và Ly Nô đợi rất lâu, đến khi sương đêm đọng trên cỏ, Hoàng Oanh Oanh vẫn chưa về.

Ly Nô mất kiên nhẫn, nhổ cọng cỏ trong miệng ra: “Lạnh chết mất. Không đợi nữa, về thôi.”

Nguyên Diệu hớn hở đáp: “Cũng được. Ngày mai lại đến cũng không muộn.”

Nguyên Diệu và Ly Nô cùng về.

Ly Nô muốn sớm trở về Phiêu Miểu các ngủ, bỗng chốc biến thành mèo yêu chín đuôi, định đi trước: “Ông đây mệt chết rồi, về trước ngủ đây, mọt sách ngươi đi sau.”

Nguyên Diệu níu Ly Nô không cho nó đi, nài nỉ: “Ly Nô lão đệ, chở tiểu sinh một đoạn đi, ngươi không thể để tiểu sinh một mình ở nơi hoang dã này được.”

Ly Nô vốn không muốn chở Nguyên Diệu, nhưng lại sợ hắn ở nơi hoang vắng bị dã thú hoặc yêu quái ăn mất, sau này không có người để sai bảo: “Mọt sách, ông đây chỉ chở một lần này, lần sau không có ngoại lệ.”

Nguyên Diệu vui vẻ nói: “Cảm ơn Ly Nô lão đệ.”

“Bớt nói lại đi.” Ly Nô không kiên nhẫn nói.

Ly Nô chở Nguyên Diệu bay nhanh qua vùng hoang dã. Có lẽ vì góc nhìn thay đổi, trên đường Nguyên Diệu nhìn thấy nhiều hình thù kỳ quái của những kẻ không phải người đi lại vội vã trong rừng. Một con rắn khổng lồ nằm im lìm trong rừng, há miệng lớn, mắt như đèn lồ ng, một số kẻ không phải người bị ánh sáng đèn lồ ng thu hút lao vào miệng rắn, bị con rắn khổng lồ nuốt chửng. Một nữ nhân tóc dài, lưỡi dài ngồi trên cây, cười với Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu nói với Ly Nô: “Rừng núi này nhìn thì có vẻ vắng vẻ, nhưng thực ra rất rôm rả.”

Ly Nô nói: “Đêm trăng tròn còn nhộn nhịp hơn.”

Nguyên Diệu nhìn về phía trước bên phải, nơi có một làn khói đen không ngừng bốc lên, xung quanh hoang vu không một bóng người. Từ nơi đó vang lên âm thanh khiến người ta rợn tóc gáy, như thể có rất nhiều người đang gào thét đau đớn và giãy giụa. Nguyên Diệu cảm thấy rất khó chịu, như thể nơi đó tràn ngập bóng tối và tuyệt vọng vô tận vậy.

Nguyên Diệu hỏi: “Đó là nơi nào, sao lại hoang vắng như vậy?”

Ly Nô đáp: “Đó là Diêm Phù Đồ, nơi giao thoa giữa địa ngục và trần gian, là nơi tụ tập của ác quỷ.”

Nguyên Diệu kinh ngạc: “À, đó là nơi mà Ngọc Lang đi rồi không trở lại sao?”

“Ai đi Diêm Phù Đồ cũng đều đi mà không về. Mọt sách ngươi mà cứ lười biếng không làm việc thì ta sẽ quẳng ngươi vào Diêm Phù Đồ đấy!” Ly Nô đe dọa.

“Người cần quẳng đi vì lười biếng là ngươi ấy, Ly Nô huynh đệ!” Tất nhiên, câu này Nguyên Diệu không dám nói ra.

Khi Nguyên Diệu và Ly Nô trở lại Phiêu Miểu các, Bạch Cơ vẫn chưa ngủ, mà vẫn đang đợi họ. Ly Nô báo cáo: “Chủ nhân, đêm nay chúng ta đến không đúng lúc, con chồn vàng không có ở nhà. Ta và thư sinh đợi rất lâu mà không thấy nó trở về, nên đành phải quay về Phiêu Miểu các, hôm khác sẽ đến lại.”

Bạch Cơ lẩm bẩm: “Ta hơi bất an. Hy vọng, không phải vì cỏ kiếp sau mà gây ra chuyện…”

Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô đi ngủ, cả đêm không có chuyện gì.

Ngày hôm sau, Bạch Cơ ra ngoài. Nguyên Diệu đoán rằng nàng đã đến Thất Lý Pha. Khi Bạch Cơ trở về, sắc mặt u buồn: “Vẫn không có ở nhà…”

Liên tiếp nhiều ngày, Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô liên tục đến Thất Lý Pha, nhưng Hoàng Doanh Doanh vẫn không có ở nhà. Nguyên Diệu kinh ngạc phát hiện, ban ngày đến, nhà của Hoàng Doanh Doanh là một cái hang trong bãi đá loạn, còn ban đêm đến thì lại biến thành một ngôi nhà tranh.

Mặc dù Bạch Cơ lo lắng về cỏ kiếp sau, nhưng vì cùng lúc còn có một nhân quả khác cần quan tâm, nàng đành phải chờ đợi Hoàng Doanh Doanh xuất hiện.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 33: Bình Khang


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 5: Cỏ kiếp sau

Chương 3: Bình Khang

Mùa hè nắng nóng, trên trời không một gợn mây.

Buổi chiều hôm đó, Vi Ngạn bước vào Phiêu Miểu các, sắc mặt hắn hơi tiều tụy, quầng mắt thâm đen.

Bạch Cơ vừa thấy, lập tức cười: “Tinh thần của Vi công tử có vẻ không tốt, là đến Phiêu Miểu các tìm bảo vật giải sầu hay mượn Hiên Chi để giải buồn?”

Vi Ngạn mở chiếc quạt gấp mạ vàng, mặt mày ủ ê: “Bạch Cơ hãy tìm cho ta vài món bảo vật trừ tà. Sau đó ta sẽ mượn Hiên Chi ra ngoài giải sầu.”

Bạch Cơ phe phẩy quạt mẫu đơn, cười nói: “Đúng là lạ, Vi công tử xưa nay chỉ mua những vật dụng hấp dẫn tà khí, đây là lần đầu tiên đến mua bảo vật trừ tà.”

Nguyên Diệu lo lắng hỏi: “Đan Dương làm sao vậy? Sao lại tiều tụy thế này?”

Vi Ngạn thở dài: “Ta cũng không biết làm sao, gần đây cứ như bị trúng tà. Khi ngủ luôn có người lay ta dậy, không cho ta ngủ. Mở mắt ra nhìn thì xung quanh không có ai. Nhắm mắt lại thì lại có thứ gì đó đè lên người ta, dùng chăn trùm kín mặt ta khiến ta không thể thở được. Ta vùng dậy nhìn nhưng xung quanh vẫn không có ai. Lặp đi lặp lại mãi như thế khiến ta không thể yên giấc. Còn nữa, khi đi đường thường bị vấp ngã, hoặc bị ngói, gỗ rơi trúng đầu. Liên tiếp nhiều ngày như vậy, nếu tiếp tục nữa thì thật không thể sống nổi.”

Bạch Cơ nói: “Lạ thật, theo lý thì mệnh số của Vi công tử đặc biệt, không nên gặp phải những thứ tà khí này.”

Vi Ngạn đáp: “Ôi, nhưng thật sự ta đã gặp phải những chuyện kỳ quái này.”

Nguyên Diệu nói: “Có lẽ là do trong lầu Nhiên Tê có quá nhiều thứ kỳ quái chăng? Đan Dương, ngươi bỏ bớt những thứ như xương người, dầu xác chết, tay vượn đi, có lẽ tà khí sẽ tan biến.”

Vi Ngạn nói: “Những bảo vật trong lầu Nhiên Tê ta phải tốn rất nhiều thời gian, tiền bạc và công sức mới sưu tập được, là sinh mệnh của ta. Dù thế nào thì ta tuyệt đối không bỏ chúng đi. Bạch Cơ, bán cho ta vài món đồ trừ tà đi.”

“Được thôi.” Bạch Cơ mỉm cười.

Bạch Cơ bán cho Vi Ngạn một chuỗi hạt gỗ đàn hương khắc tượng Phật, một thanh kiếm gỗ đào vẽ bùa bằng chu sa, một tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát bằng ngọc, giá cả cao ngất ngưởng đến mức Nguyên Diệu không nhịn được muốn vảo Vi Ngạn đừng bị lừa. Vi Ngạn vốn dĩ tiêu tiền như nước nên không để tâm, gọi Nam Phong đi cùng gói lại và mang về Vi phủ.

Vi Ngạn nói với Bạch Cơ: “Hôm nay ta muốn mượn Hiên Chi một đêm, đi phường Bình Khang xem ca múa.”

Nguyên Diệu hỏi: “Phường Bình Khang? Nơi tụ tập của văn nhân, thi sĩ, bút khách à?”

Bạch Cơ nhìn Nguyên Diệu, mỉm cười phe phẩy quạt: “Còn có rất nhiều mỹ nhân dịu dàng tài sắc vẹn toàn, cũng có nhiều cô nương xinh đẹp với nước da trắng như tuyết. Xem ra Hiên Chi cũng rất muốn đến phường Bình Khang.”

Nguyên Diệu đỏ mặt, nói: “Ta đâu có muốn đến phường Bình Khang? Chỉ là nghe danh đã lâu mà thôi.”

Bạch Cơ cười nói: “Hiên Chi không cần giải thích. Hưởng thụ cuộc sống là một niềm vui của nhân sinh, phường Bình Khang là nơi tốt để tìm vui. Hiên Chi đến Trường An đã lâu mà chưa từng đến phường Bình Khang để cảm nhận cảnh sắc thì quả là một điều đáng tiếc. Vi công tử, hôm nay chỉ cần năm lượng bạc.”

Vi Ngạn ngạc nhiên hỏi: “Sao chỉ cần năm lượng? Thường ngày, mượn Hiên Chi một ngày không phải là mười lượng bạc sao?”

Bạch Cơ uống trà: “Còn năm lượng kia ta cho Hiên Chi. Nơi mà thiếu niên ở Ngũ Lăng đua nhau sao có thể không tốn tiền chứ? Cũng phải mua một chút trang sức cho cô nương mình thích thì mới đúng lễ nghĩa.”

Nguyên Diệu nói: “Ta không thích cô nương nào cả!!”

Vi Ngạn cười nói: “Bạch Cơ, năm lượng bạc thì sao đủ cho Hiên Chi tiêu? Không phải ai cũng được ưa thích như ‘Long công tử’, đến phường Bình Khang không phải tiêu tiền mà là kiếm tiền đâu.”

Bạch Cơ uống trà: “Vậy thì Hiên Chi đến quầy lấy thêm một xâu tiền đi.”

Vi Ngạn tức tối nói: “Một xâu tiền ư? Ngươi cũng thật dám cho, ngươi nghĩ Hiên Chi đến phường Bình Khang mua rau à?”

Nguyên Diệu nói: “Đợi đã, cái gì gọi là Long công tử rất được ưa thích? Bạch Cơ không phải thường xuyên đến phường Bình Khang chứ?!!”

Bạch Cơ lảng sang chuyện khác: “Trời nóng quá, uống một chén trà lạnh đúng là thoải mái.”

Ly Nô cũng chen vào: “Chủ nhân, Ly Nô đột nhiên cũng muốn đến phường Bình Khang. Lâu rồi không gặp Đồi Mồi, không biết giờ nó thế nào rồi. Hôm nay,mọt sách đi phường Bình Khang, ta cũng tiện thể đi một chuyến.”

Bạch Cơ cười nói: “Đi đi, cẩn thận đấy.”

“Ừ, cảm ơn chủ nhân.” Ly Nô vui mừng đáp.

Vi Ngạn ngáp một cái, nói: “Bây giờ vẫn còn sớm, ta sẽ nằm nghỉ một lát trong Phiêu Miểu các. Mấy ngày rồi không ngủ rồi mệt mỏi quá.”

Vi Ngạn không khách sáo, trực tiếp nằm trong gian bên trong bức bình phong mà ngủ. Không bao lâu sau, tiếng ngáy đều đều vang lên.

Bạch Cơ nhìn quanh Vi Ngạn hai lần, lấy một chuỗi hạt tay bằng gỗ đào đeo vào cổ tay Vi Ngạn.

Nguyên Diệu hỏi nhỏ: “Đan Dương không sao chứ?”

Bạch Cơ cười: “Có thứ gì đó luôn theo sau hắn, nhưng nó không vào được Phiêu Miểu các.”

Ly Nô hóa thành mèo đen, lại gần cọ vào tay Bạch Cơ: “Chủ nhân, cho Ly Nô một xâu tiền nhé! Ta muốn mua ít cá khô để tặng cho Đồi Mồi.”

Nguyên Diệu ngạc nhiên: “Người mà Ly Nô thích tên là Đồi Mồi à?”

Mèo đen nhảy tới, cào mạnh vào tiểu thư sinh, hét lên: “Đồi Mồi là muội muội ta!”

Bạch Cơ vuốt v e đầu mèo đen, nói: “Đường khác nhau, không cùng chí hướng. Chỉ sợ, Đồi Mồi cũng sẽ không gặp ngươi. Cho dù gặp, hai người lại sẽ cãi nhau thôi.”

Mắt mèo đen tối lại: “Ly Nô hiểu. Nhưng trước khi cha chết đã dặn ta phải chăm sóc tốt cho muội muội. Dù nhiều năm qua, chúng ta đường khác nhau, không cùng chí hướng, gặp là cãi nhau. Nhưng thỉnh thoảng ta cũng muốn đi thăm nó.”

“Phường Bình Khang quỷ quái tụ tập, ngạ quỷ lộng hành, cẩn thận một chút.” Bạch Cơ vẻ mặt nghiêm trọng.

“Ừ.” Mèo đen đáp.

Nguyên Diệu che mặt, thắc mắc: “Nghe có vẻ như phường Bình Khang rất đáng sợ.”

Bạch Cơ cười mỉm: “Nơi càng đáng sợ thì càng thú vị mà.”

Nguyên Diệu cảm thấy rùng mình.

Vào giờ Thân, Vi Ngạn, Nguyên Diệu, Ly Nô ngồi xe ngựa đến phường Bình Khang. Khi trống dưới phố vang lên, xe ngựa mới vào phường Bình Khang. Phường Bình Khang, còn gọi là “Bình Khang Lý”, nằm ở khu vực đông bắc sầm uất nhất của Trường An, là nơi tập trung hầu hết các nghệ nhân ca múa thời bấy giờ, với quán rượu, lầu cờ, sân khấu, kỹ viện, sòng bạc. Kỹ viện không có ngày đêm, vào ban đêm, sau khi đóng cửa phường, phường Bình Khang vẫn sáng đèn, tràn đầy không khí xuân sắc, tựa như một “thế giới không đêm”.

Ly Nô vừa vào phường Bình Khang, đã mang theo cá khô từ biệt Vi Ngạn đi tìm muội muội. Ly Nô nhỏ giọng dặn dò Nguyên Diệu: “Mọt sách, nếu có nữ nhân hoặc nam nhân đi giày đỏ bắt chuyện, thì dù họ nói gì, cũng đừng đi theo họ, biết chưa?”

“Tại sao?” Nguyên Diệu không hiểu.

“Đó là phi nhân trong ngạ quỷ đạo đang săn mồi, ăn ngũ tạng và bắt hồn người. Đừng gây phiền phức cho chủ nhân và ta.”

“Ồ, hiểu rồi.” Nguyên Diệu nói.

Ly Nô vẫy tay: “Tiểu thư sinh, sáng mai gặp lại ở đây.”

“Được.” Nguyên Diệu đáp.

Sau khi Ly Nô rời đi, Nguyên Diệu và Vi Ngạn đi thêm một con phố nữa, đến trước một kỹ viện lớn. Nguyên Diệu ngẩng đầu nhìn, tên kỹ viện là “Trường Tương Tư”.

Vi Ngạn cười với Nguyên Diệu: “Đây là lần đầu tiên Hiên Chi đến phải không? Trong Trường Tương Tư này, có vài mỹ nhân tài sắc vẹn toàn, tinh thông cầm kỳ thi họa, họ thích giao du với các văn nhân nhã sĩ, có thể trở thành hồng nhan tri kỷ.”

Nguyên Diệu nói: “Nếu ta vẫn có thể tham gia khoa cử, bước vào quan trường, có lẽ sẽ cần đến phường Bình Khang ném giấy đỏ, hành lễ ‘lễ trình kiến’*. Nhưng bây giờ ta không cần nữa, đến đây chỉ là để mở mang tầm mắt, không để phụ lòng xâu tiền của Bạch Cơ.”

* Lễ trình kiến: Ném giấy đỏ “danh thiếp” để gặp gỡ kỹ nữ nổi tiếng. Tân tiến sĩ không chỉ gặp gỡ kỹ nữ nổi tiếng, mà còn hy vọng thông qua sự nâng đỡ giới thiệu của kỹ nữ, đạt được mục tiêu gặp gỡ các gia tộc giàu có, quan lớn quyền quý. Đây là một hoạt động xã hội có mục đích chính trị rất mạnh mẽ bấy giờ.

Xã hội Đường triều, những sĩ tử mới đỗ khoa cử, những thiếu niên xuất sắc trong đám học trò thường xuyên đi đến các kỹ viện ở Chương Đài, ném giấy đỏ, giao du với các nghệ nhân đương thời, sau đó thông qua sự giới thiệu của các nghệ nhân, gặp gỡ và giao du với các gia tộc giàu có, quan lớn quyền quý. Văn nhân thường xuyên nằm say trong các kỹ viện để các nghệ nhân truyền bá thơ ca của họ, tăng thêm danh tiếng và uy tín. Đây là một thói quen và quy tắc không thành văn của xã hội Đường triều.

“Này, Hiên Chi vẫn còn giận ta vì đã bán ngươi sao? Khi đó, ta cũng bất đắc dĩ thôi.” Vi Ngạn thở dài, giơ tay lau nước mắt, rồi thề thốt: “Đợi sau này ta gom đủ mười ngàn lượng vàng, chắc chắn sẽ chuộc thân cho Hiên Chi.”

Nguyên Diệu xua tay: “Thôi, thôi, nghĩ lại cũng là lỗi của ta, Đan Dương không cần tự trách. Thôi nào, tối nay là để Đan Dương giải sầu, đừng nhắc lại những chuyện không vui nữa.”

“Hiên Chi thật tốt.” Vi Ngạn cười kéo tay Nguyên Diệu, cùng nhau bước vào Trường Tương Tư.

Trời đã tối, trong Trường Tương Tư đèn lồ ng sáng rực, nến ngọc lấp lánh. Trong mười hai khúc lan can, có các ca nữ xinh đẹp đang hát khẽ, đàn sáo đan xen, công tử vương tôn nâng chén cười nói không ngớt. Trên sân khấu ca vũ, có các nữ ca múa người Hồ với sống mũi cao và làn da trắng đang múa hát, dáng người uyển chuyển, phong tình vạn chủng, quan lớn quý nhân nằm say trên giường mềm, khen ngợi không ngớt.

Bà chủ kỹ viện Trường Tương Tư, Hoa Di, thấy Vi Ngạn thì tươi cười đón tiếp: “Ôi chao, Vi công tử đến rồi? Đúng là quý khách đến thăm, đêm nay Trường Tương Tư đúng là sáng rực cả lên.”

Vi Ngạn cười, lấy ra hai thỏi vàng nhét vào tay Hoa Di: “Tối nay ta còn mang theo một người bạn, hắn thích yên tĩnh, tìm cho chúng ta một phòng tốt nhất, đưa loại rượu ngon nhất, người đánh đàn phải là A Thiền, vũ nữ phải là Dạ Lai. Bạn ta là người thích đọc sách, thích ngâm thơ viết văn, cũng mời cô nương Nhã Quân đến bầu bạn nữa nhé.”

Hoa Di thấy vàng thì cười đến híp cả mắt, nhìn qua Nguyên Diệu khen ngợi: “Công tử đây quả là người tài mạo song toàn, phong nhã phi thường, bụng đầy thơ văn, đúng là một người nho nhã đúng mực! Xin hỏi công tử xưng hô thế nào?”

Đây là lần đầu tiên trong đời Nguyên Diệu nghe người khác khen ngợi mình như vậy, mặc dù biết rõ Hoa Di cũng như Bạch Cơ, đều là những người thương gia hám lợi, lời nói của nàng chỉ tin được hai phần, bỏ đi những lời hoa mỹ, là “công tử đây đúng là một người đọc sách.” Nhưng Nguyên Diệu vẫn thấy hài lòng với những lời khen đó, cảm thấy rất êm tai, rất thoải mái. Hắn chào Hoa Di rồi, cười nói: “Cảm ơn bà cô vì đã khen ngợi. Tiểu sinh họ Nguyên, tên Diệu, tự là Hiên Chi.”

“Bà cô…” Bà chủ kỹ viện tuổi đã quá năm mươi nhưng ăn mặc lộng lẫy, nghe thế thì khóe miệng giật giật, mặt đen lại.

“Phụt.” Vi Ngạn không nhịn được cười.

Hoa Di có phần hơi bực, Vi Ngạn lại nhét thêm một thỏi vàng vào tay bà: “Bạn ta không giỏi ăn nói, lại lần đầu đến đây, mong Hoa Di đừng để bụng. Đưa chúng ta đến phòng nhã đi.”

Bà chủ kỹ viện thấy vàng thì tâm trạng lại tốt lên, cười nói: “Xin mời theo ta. Vi công tử, đêm nay A Thiền có thể đàn cho ngài, nhưng Dạ Lai và Nhã Quân đều đang bận tiếp khách rồi, không thể rời được.”

Vi Ngạn không để tâm, nói: “Ồ, khách nào? Tìm cớ nào đó kéo Nhã Quân qua đây đi.”

Hoa Di cười nói: “Vi công tử còn quen vị khách này hơn cả ta, ngài tự kéo người đi.”

“Ai?”

“Lệnh tôn, Vi Thượng thư.”

Vi Ngạn đổ mồ hôi: “Phụ thân ta đêm nay cũng đến đây sao?”

“Ông ấy đến từ chiều, Vi Thượng thư đang cùng Lưu Thị lang, Trương đại nhân và vài tân tiến sĩ mở tiệc trên tầng ba.”

Tiếng nhạc truyền xuống từ tầng ba, tiếng cười nói, tiếng ngâm thơ, Vi Ngạn đành bỏ qua: “Thôi, thôi, không cần gọi Nhã Quân nữa, gọi hai Hồ cơ đến tiếp rượu là được rồi.”

Bà chủ dẫn Vi Ngạn và Nguyên Diệu đến một gian nhã phòng, nói vài câu rồi rời đi.

Nhã phòng chia thành hai gian trong và ngoài, cửa sổ mở rộng nhìn ra sân, bài trí rất tinh tế.

Vi Ngạn và Nguyên Diệu cởi áo khoác, ngồi trên chiếu trúc mát lạnh, gió xuyên qua hành lang thổi qua rất mát mẻ. Không bao lâu sau, những tì nữ mặc áo hoa mang đến trái cây tươi ướp lạnh, và các loại bánh ngọt và vài vò rượu La Phù Xuân. Lại qua một lúc nữa, một cô nương áo xanh và một cô nương áo cam yểu điệu bước vào, cúi chào: “A Thiền xin chào hai vị công tử.” “Dạ Lai xin chào hai vị công tử.”

Vi Ngạn cười với cô nương áo cam: “Dạ Lai, chẳng phải Hoa Di nói nàng không đến được sao?”

Cô nương áo cam nhẹ giọng nói: “Vi công tử đến sao nô gia không thể đến chứ?”

Vi Ngạn cười lớn.

Nguyên Diệu lại cảm thấy có gì đó không đúng, giọng của Dạ Lai nghe rất quen thuộc, dường như hắn đã nghe thấy ở đâu. Nguyên Diệu nhìn Dạ Lai, nhưng thấy nàng ta mày liễu mắt hạnh, mặt như trăng rằm, hoàn toàn xa lạ, chưa từng gặp qua.

Vi Ngạn cười nói: “A Thiền, Dạ Lai, mời công tử Nguyên một chén rượu trước đá, đêm nay hắn lần đầu đến ‘Trường Tương Tư’.”

A Thiền, Dạ Lai tươi cười rót một chén rượu, mời Nguyên Diệu: “Công tử Nguyên xin uống một chén rượu tương tư.”

“Cảm ơn hai cô nương.” Nguyên Diệu nhận, lần lượt uống cạn, hắn cảm thấy bối rối, không dám nhìn kỹ hai cô nương xinh đẹp.

“Hi hi.” “Ha ha.” A Thiền, Dạ Lai che miệng cười.

Lại có hai Hồ cơ tóc quăn mắt biếc bước vào, tiếp rượu Vi Ngạn và Nguyên Diệu, một người còn mang theo văn phòng tứ bảo. Văn nhân thường thích viết thơ khi thưởng thức ca múa, sau đó để các kỹ nữ truyền bá trong phố.

Nến lan chiếu sáng, hương khói tỏa lên, A Thiền bắt đầu đánh đàn, Dạ Lai múa điệu tỏa chi. Nàng đi giày đỏ cao, tay trái cầm khăn, vung khăn mà múa. A Thiền đàn hay, Dạ Lai múa đẹp, Nguyên Diệu hứng thú ngâm thơ, làm một bài: “Hương khói trong bảo đỉnh, hoa bình cười rạng rỡ. Vẽ đường mở tiệc đêm, món ngon trong núi biển. Tiếng hát nhẹ nhàng như ngọc, giọng ca mềm mại như tơ. Dùng bút mực như ý, phá vỡ bích ngọc ngà.”

Vi Ngạn và các Hồ cơ đều khen ngợi, một vũ nữ còn cầm bút viết lại, Nguyên Diệu cảm thấy rất vui. Một điệu múa xong, A Thiền và Dạ Lai cũng cùng uống rượu, mọi người đấu rượu, cười nói không ngừng.

Qua ba tuần rượu, trăng lưỡi liềm đã lặn, Vi Ngạn đã say, hai vũ nữ tiếp rượu và A Thiền cũng lâng lâng, họ nằm ngã nghiêng trên chiếu.

Nguyên Diệu đêm nay may mắn bị phạt uống ít nên vẫn tỉnh táo. Nhưng đột nhiên hắn muốn viết một bài thơ dài. Bèn mang một bàn gỗ ra ngồi bên cửa sổ, cầm bút chấm mực, vừa nghĩ vừa viết.

Vi Ngạn say rồi, cứ coi Nguyên Diệu là Dạ Lai, ôm chặt không buông.

“Đan Dương, đừng có làm loạn.” Nguyên Diệu rất tức giận đẩy Vi Ngạn ra, nhưng hắn lại dính vào. Hai người giằng co, làm đổ cả nghiên mực.

Dạ Lai nhẹ nhàng nói: “Nô gia đưa Vi công tử vào trong nghỉ nhé, để không làm phiền Nguyên công tử.”

Nguyên Diệu nói: “Cậy cảm ơn cô nương Dạ Lai.”

Nguyên Diệu và Dạ Lai cùng kéo Vi Ngạn say khướt vào trong. Dạ Lai ở lại chăm sóc Vi Ngạn, Nguyên Diệu ra ngoài tiếp tục viết thơ. Khi Nguyên Diệu rời gian trong, chợt nhìn thấy dưới váy cam của Dạ Lai dường như có một cái đuôi lông xù.

Nguyên Diệu vội vàng dụi mắt, nhìn lại lần nữa thì không thấy gì.

Dạ Lai quỳ bên cạnh Vi Ngạn, nói với Nguyên Diệu: “Nguyên công tử sao vậy?”

“Không, không có gì.” Nguyên Diệu vội lui ra. Sao Dạ Lai lại có đuôi? Chắc chắn là hắn nhìn nhầm rồi.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 34: Đồi Mồi


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 5: Cỏ kiếp sau

Chương 4: Đồi Mồi

Nguyên Diệu trở lại gian ngoài, nhìn thoáng qua A Thiền và hai Hồ Cơ đang say ngủ, sợ làm phiền họ, hắn nhẹ nhàng bước tới bên cửa sổ, ngồi xuống tiếp tục suy ngẫm bài thơ dài.

Đã là canh hai, phường Bình Khang vẫn rực rỡ ánh đèn, rôm rả vô cùng. Trong màn đêm, hương thơm của phấn son và rượu ngon hòa quyện lẫn nhau, tiếng đàn sáo và tiếng cười nói vọng lại từ xa.

“Đêm ánh nến lấp lánh trong cung điện hoa, nụ cười ngàn vàng sao tiếc chi. Dây đàn quyến rũ, mày tóc xanh như tùng, khúc hát yêu kiều, xiêm y đỏ thắm…” Nguyên Diệu cầm bút viết được hai câu rồi mắc kẹt. Hắn ngẩng đầu nhìn trăng để tìm kiếm cảm hứng. Chẳng bao lâu, cảm hứng không đến mà cơn buồn ngủ lại ập đến, hắn lập tức ngủ gục.

Nguyên Diệu mơ một giấc mơ.

Trong mơ, hắn đi dạo trong những con hẻm ở phường Bình Khang. Sâu trong con hẻm tối tăm có bóng dáng ai đó lẻ loi, có con vật gì đó đang bò lổm ngổm.

“Ùm…” Nguyên Diệu dẫm phải một vũng nước. Hắn cúi đầu nhìn, giật mình kinh hãi. Dưới chân hắn là vũng máu tươi. Máu không ngừng chảy từ cao xuống thấp trong con hẻm. Nguyên Diệu lấy hết can đảm đi theo dòng máu.

Dù ánh trăng sáng tỏ, nhưng sâu trong con hẻm lại mờ mờ không rõ.

Nguyên Diệu mơ hồ thấy một nữ nhân mặc váy dài màu đồi mồi đang quỳ trên mặt đất, vùi đầu vào một bóng đen, phát ra tiếng nhai đồ ăn. Dưới bóng đen đó, máu tươi không ngừng tuôn trào, mùi tanh nồng nặc khắp nơi.

Nguyên Diệu tiến đến gần, nữ nhân bất ngờ ngẩng đầu. Nàng ta rất đẹp, lông mày cong, đôi mắt sáng lấp lánh, nhưng đồng tử lại nhỏ như sợi chỉ. Thấy Nguyên Diệu, đôi môi đỏ của nàng ta nở một nụ cười, bên khóe miệng trái có một nốt ruồi đen, càng thêm phần quyến rũ. Nơi vốn dĩ là tai người, lại mọc ra đôi tai mèo.

Nguyên Diệu giật mình, nhìn xuống đất thì thấy một nam nhân nằm tr@n truồng, bụng bị xé toang, nội tạng tràn ra khắp nơi. Con miêu nữ đang nhai gan của nam nhân, máu đỏ chảy ròng ròng quanh khóe miệng.

Xung quanh con miêu nữ còn có ba nữ nhân, mỗi người đang nhai một xác người bị mổ bụng. Máu của bốn xác chết chảy theo con hẻm, tụ lại thành vũng nước. Ba nữ nhân kia cũng rất đẹp, nhưng đều không phải con người, một người có vảy rắn, một người mũi đại bàng, một người kéo đuôi bọ cạp, họ vùi đầu vào nội tạng của xác người, ăn ngon lành.

“Trời ơi…” Nguyên Diệu quay lại, bỏ chạy.

Con miêu nữ nhanh như chớp lại chắn đường hắn. Xà nữ, đại bàng cái, bọ cạp cái cũng vây quanh.

Nguyên Diệu sợ run chân, khóc lóc cầu xin: “Bốn đại tỷ tha mạng, đừng ăn ta, ta gầy lắm, không ngon đâu…”

Con miêu nữ quay quanh Nguyên Diệu một vòng, hít hít ngửi ngửi, môi đỏ nhếch lên: “Trên người ngươi có mùi của Ly Nô… Ngươi từ Phiêu Miểu các đến sao?”

Nguyên Diệu không dám nhìn bốn người, cúi đầu run rẩy. Hắn nhìn xuống, phát hiện bốn người đều mang giày đỏ. Không biết là bị nhuộm máu hay là đỏ sẵn. Nhớ đến lời cảnh báo của Ly Nô, Nguyên Diệu càng sợ, không dám trả lời đúng hay sai. Những nữ nhân mang giày đỏ này sẽ ăn hắn, rồi lấy sinh hồn của hắn để luyện thuốc bất tử sao?

Xà nữ nói: “Đồi Mồi, đừng lắm lời với hắn nữa. Ăn đi.”

Con miêu nữ thè chiếc lưỡi hồng, li3m môi: “Thôi bỏ đi. Hắn là người của Phiêu Miểu các, con yêu long đó rất khó đối phó, ngạ quỷ đạo và Phiêu Miểu các không xâm phạm lẫn nhau, đừng gây thêm phiền phức.”

Con miêu nữ là thủ lĩnh, nàng ta nói bỏ đi, xà nữ, đại bàng cái, bọ cạp cái cũng không nói gì nữa.

Con miêu nữ nói với Nguyên Diệu: “Thư sinh, đi đi. Nhớ gửi lời chào của ta đến Ly Nô.”

Con miêu nữ đẩy Nguyên Diệu một cái, hắn ngã nhào, lăn xuống con hẻm. Nguyên Diệu ngã đau điếng, đầu đập vào tảng đá nhô ra, ngất xỉu.

Sáng hôm sau, Nguyên Diệu tỉnh dậy, trời đã sáng. Hắn phát hiện mình đang nằm trên chiếu tre trong nhãc phòng, A Thiền và hai cô nương Hồ Cơ ngủ vạ vật xung quanh, vẫn chưa tỉnh. Gian trong không có động tĩnh gì, chắc Vi Ngạn và Dạ Lai cũng chưa tỉnh.

Nguyên Diệu mừng thầm, tốt quá, cảnh tượng thấy con miêu nữ, xà nữ, đại bàng cái, bọ cạp cái ăn người tối qua chỉ là một cơn ác mộng.

Đêm qua uống nhiều, Nguyên Diệu thấy buồn tiểu, bèn mặc áo ngoài đi nhà xí. Trên đường từ từ nhà xí về, vì các phòng nhã trong hành lang đều giống nhau nên hắn đã bị lạc.

Nguyên Diệu đi trong hành lang, cố nhớ lại đường. Đột nhiên, từ một nhã phòng có một nam một nữ bước ra. Cả hai người này Nguyên Diệu đều quen, nhưng họ đi cùng nhau khiến hắn thấy kỳ lạ, có gì đó không đúng.

Nam nhân thấy Nguyên Diệu, cười nói: “Chẳng phải đây là Hiên Chi sao?”

Nguyên Diệu cũng cười: “Thật tình cờ, lại gặp được huynh ở đây.”

Nam nhân họ Bùi, tên Tiên, tự Trung Hoa. Bùi Tiên làm quan võ trong triều, là Đại tướng quân Kim Ngô Vệ. Bùi Tiên phong lưu tuấn tú, dung mạo bất phàm, nhưng tính cách hơi kiêu ngạo. Nương của Bùi Tiên và Vi Trịnh thị là tỷ muội, hắn và Vi Ngạn là biểu huynh đệ, từ nhỏ cùng lớn lên, nhưng không hợp nhau. Dạo trước, cùng đi săn, hai người còn tranh cãi. Tuy Bùi Tiên không thích Vi Ngạn, nhưng lại khá thích Nguyên Diệu, thấy hắn học vấn uyên bác lại chân thật dễ gần. Nguyên Diệu cũng rất thích Bùi Tiên, thấy hắn hùng dũng có khí chất của tướng quân.

Bùi Tiên nói: “Đêm qua không có việc gì, đến đây xem Dạ Lai biểu diễn múa Thác Chi. Biết Hiên Chi cũng ở đây thì đã rủ uống rượu xem múa cùng rồi.”

Nguyên Diệu cười: “Tiểu sinh đến đây giải khuây cùng Đan Dương để giải khuây. Biết huynh ở đây thì đã tới tụ họp rồi.”

“Ồ? Đan Dương cũng đến ư?”

“Đúng vậy, Đàn Dương đang ngủ cùng Dạ Lai cô nương trong phòng trong, vẫn chưa dậy đâu.” Nguyên Diệu thuận miệng đáp. Vừa nói xong, ánh mắt hắn dừng lại trên cô nương mặc áo cam bên cạnh Bùi Tiên… cô nương với đôi mày lá liễu, mắt hạnh, khuôn mặt tựa trăng rằm, chẳng phải là Dạ Lai sao?

Nguyên Diệu ngạc nhiên hỏi: “Dạ Lai, nàng chạy ra đây với Bùi huynh từ khi nào thế?”

Dạ Lai ngơ ngác: “Công tử nói gì thế? Đêm qua, nô gia luôn uống rượu vui chơi cùng Bùi công tử mà.”

Bùi Tiên cũng nói: “Đúng vậy, từ tối qua đến giờ Dạ Lai luôn ở bên cạnh ta.”

Nếu Dạ Lai luôn ở bên cạnh Bùi Tiên, vậy “Dạ Lai” tối qua uống rượu cùng hắn và Vi Ngạn là ai? Đầu Nguyên Diệu kêu “ong” một cái, hắn nhớ lại cơn ác mộng đẫm máu tối qua. Lúc rời khỏi phòng trong, hắn dường như thấy dưới váy của “Dạ Lai” lộ ra một cái đuôi lông lá. Nếu “Dạ Lai” giống như miêu nữ, xà nữ… vậy thì Vi Ngạn … Nguyên Diệu không dám nghĩ tiếp, lập tức chạy nhanh vào hành lang. Bùi Tiên thấy lạ cũng chạy theo. Nguyên Diệu tìm từng phòng một, cuối cùng tìm được phòng của hắn và Vi Ngạn, A Thiền và hai nàng Hồ cơ vẫn đang ngủ.

“Xoạt…” Nguyên Diệu kéo mạnh cửa phòng trong, cảnh tượng trước mắt khiến hắn sởn gai ốc, “Dạ Lai” không thấy đâu, Vi Ngạn bị một sợi dây lụa trắng treo lên xà nhà, trên người hắn đầy vết máu.

Nguyên Diệu đau lòng, lao đến ôm lấy chân Vi Ngạn, khóc lớn: “Đan Dương, Dương, ngươi chết thảm quá…”

Bùi Tiên đến sau một bước, thấy cảnh tượng này, ban đầu thì hơi sững sờ nhưng dù sao hắn cũng là tướng quân, trong tình huống sinh tử vẫn có thể bình tĩnh được: “Không đúng? Dây lụa trắng buộc ở eo không phải ở cổ, chắc chưa chết đâu.”

Nghe vậy, Nguyên Diệu lau nước mắt, nhìn kỹ. Hóa ra Vi Ngạn không bị treo cổ mà bị dây lụa trắng buộc vào eo, lơ lửng trên xà nhà, thoạt nhìn như là treo cổ. Trên người Vi Ngạn cũng không có vết máu mà bị ai đó dùng chu sa viết đầy chữ, thậm chí trên mặt hắn cũng có. Chữ màu chu sa chỉ có một câu, khiến người ta rùng mình: Nợ mạng trả mạng.

Bùi Tiên và Nguyên Diệu hạ Vi Ngạn xuống, đặt lên sàn nhà. Tuy Vi Ngạn chưa chết nhưng vẫn còn hôn mê, mặt mày tái nhợt trông rất đáng sợ. Nguyên Diệu phát hiện, chuỗi vòng đào mộc do Bạch Cơ tặng Vi Ngạn đã bị đứt, các hạt gỗ rơi đầy đất.

Bùi Tiên và Nguyên Diệu đang không biết phải làm sao, bỗng nhiên có người xông vào, khóc lớn: “Ngạn nhi, Ngạn nhi, sao con nỡ lòng để cha bạc đầu tiễn con xanh tóc…”

Nguyên Diệu và Bùi Tiên ngẩng đầu nhìn, hóa ra là Vi Đức Huyền. Nguyên Diệu vừa rồi khóc lớn, A Thiền và hai nàng Hồ cơ đều tỉnh dậy, thấy Vi Ngạn treo trên xà nhà, Nguyên Diệu còn đang khóc, họ hoảng hốt không dám nhìn kỹ đã lập tức chạy ra ngoài báo cho bà chủ. Chẳng bao lâu sau, tin “Vi công tử treo cổ chết thảm” đã lan khắp Trường Tương Tư.

Vi Đức Huyền đêm qua cũng uống rượu chơi bời ở Trường Tương Tư với vài đồng liêu, sáng nay vừa tỉnh dậy đã nghe tin con trai treo cổ dưới lầu, kinh hoàng đến mức chạy chân đất lên.

Nguyên Diệu và Bùi Tiên vội chào: “Vi thế bá.” “Tam thúc.”

Viên Đức Huyền khóc nức nở: “Chuyện này là sao? Sao Ngạn nhi lại treo cổ?”

Nguyên Diệu và Bùi Tiên cũng không giải thích rõ được, đành nói: “Đan Dương không treo cổ, chỉ bị treo lên thôi.” “Chắc là ai đó đùa giỡn với hắn.”

Vi Đức Huyền nhìn con trai, xác nhận nó chưa chết mới thở phào nhẹ nhõm. Vi Đức Huyền thở dài, lau nước mắt: “Ôi, ta kiếp trước tạo nghiệp gì mà kiếp này bất hạnh thế này! Hai vị hiền chất đều là người nhà, ta cũng không sợ xấu hổ, con gái không giữ lễ giáo, dụ dỗ nam tử khắp nơi làm mất mặt ta. Giờ thì, Ngạn nhi lại treo cổ trong kỹ viện, nếu chuyện này truyền ra ngoài thì ta còn mặt mũi nào ở Trường An nữa? Nhà cửa không yên, làm trò cười cho thiên hạ, ta thật thẹn với tổ tiên!”

Nguyên Diệu và Bùi Tiên an ủi Vi Đức Huyền. Vi Đức Huyền thấy Vi Ngạn vẫn hôn mê, gọi người nhà đi cùng mang hắn về phủ, tìm đại phu chữa trị. Bùi Tiên từ biệt rồi đi. Nguyên Diệu vốn lo lắng cho Vi Ngạn, muốn cùng đi về phủ, nhưng nghĩ đến cuộc hẹn với Ly Nô, quyết định trở về Phiêu Miểu các một chuyến rồi mới đến Vi phủ thăm Vi Ngạn.

Nguyên Diệu rời Trường Tương Tư, đến ngã ba đường hôm qua chia tay với Ly Nô. Hắn chờ một lúc, Ly Nô mới chậm chạp đi tới: “Mọt sách.”

“Ly Nô huynh, sao trông huynh uể oải thế?”

“Đồi Mồi không có nhà. Ta đợi cả đêm mà nó cũng không về.”

“À?!” Nguyên Diệu nhớ lại cơn ác mộng đẫm máu đêm qua. Trong mơ, xà nữ gọi miêu nữ là “Đồi Mồi”, miêu nữ cũng bảo hắn gửi lời hỏi thăm Ly Nô: “Này, Ly Nô huynh đệ, muội muội của ngươi có một nốt ruồi bên mép trái phải không?”

“Đúng vậy! Ủa, sao ngươi biết?”

“Tối qua hình như ta đã gặp muội muội của ngươi…” Nguyên Diệu kể lại tình hình trong giấc mơ cho Ly Nô nghe, cuối cùng nói: “Muội muội của ngươi còn nhắn ta gửi lời hỏi thăm huynh.”

Ly Nô nhăn nhó nói: “Thật đau lòng, từ khi ta theo chủ nhân, Đồi Mồi luôn tránh mặt ta. Dù gặp, chúng ta cũng cãi nhau. Ta muốn nó đến Phiêu Miểu các sống cùng ta; nó lại muốn kéo ta vào đường ma, đi ngược thiên đạo, cầu trường sinh. Ôi, có một muội muội không nghe lời như thế thật đau đầu, ta muốn mặc kệ nó nhưng trước khi chết cha lại dặn dò ta phải chăm sóc tốt cho nó… Mọt sách, nghĩ đến Đồi Mồi, ta thật đau khổ…”

Nguyên Diệu không biết nói gì, đành an ủi Ly Nô: “Dù sao đi nữa, muội muội của ngươi vẫn nhớ gửi lời hỏi thăm, điều đó cho thấy trong lòng nó vẫn còn nghĩ đến ca ca ngươi.”

“Ôi…” Ly Nô thở dài một tiếng.

Nguyên Diệu và Ly Nô cùng trở về Phiêu Miểu các. Số tiền Bạch Cơ cho Nguyên Diệu vẫn chưa dùng, hắn nhìn thấy vài cuốn tiểu thuyết truyền kỳ bên đường bèn dùng vài đồng mua. Ly Nô thấy vậy, bèn giành lấy nửa số tiền, đi mua một túi cá khô. Nguyên Diệu thấy Ly Nô mua cá khô xong không còn nhăn nhó nữa, thì cũng không tính toán với hắn.

Nguyên Diệu và Ly Nô trở về Phiêu Miểu các thì thấy Bạch Cơ đang ngồi trên mái nhà câu cá. Từ xa nhìn lại, trên mái hiên, một bộ đồ trắng toát đứng yên như tượng. Bạch Cơ ngồi xếp bằng, tay cầm một cần câu trúc xanh, dây câu rủ xuống không trung, không rõ đang câu gì.

Bạch Cơ cúi đầu, thấy Nguyên Diệu trở về, cười tủm tỉm nói: “Hiên Chi, pha một ấm trà mang lên đây, mang thêm ít bánh nữa.”

Nguyên Diệu ngẩng đầu đáp: “Được. Nhưng mà Bạch Cơ leo lên mái nhà câu cá gì vậy?”

Bạch Cơ nhẹ nhàng đáp: “Không phải câu cá, mà là câu sứa phát sáng. Suỵt, nói nhỏ thôi, đừng làm sứa sợ chạy mất.”

Nguyên Diệu che mắt nhìn, thấy một cơn gió mùa hè thổi qua, tà áo của Bạch Cơ bay phấp phới như tiên giáng trần. Dây câu của nàng rủ xuống trong sân, đáng lẽ ở đầu dây phải là lưỡi câu, nhưng lại buộc một mảnh ngọc vỡ. Trong sân không nhìn thấy sứa, nhưng thỉnh thoảng Bạch Cơ thu dây lại, như thể đã câu được gì đó. Nàng bỏ vật câu được vào một cái bình thủy tinh nhỏ có nắp, rồi lại buộc một mảnh ngọc vỡ khác và tiếp tục câu.

Ly Nô nhìn thấy thế, cười: “Hề hề, năm nay sứa phát sáng cũng nhiều phết nhỉ.”

Nguyên Diệu dụi mắt, cố nhìn nhưng vẫn không thấy gì cả.

Ly Nô đi vào bếp ăn cá khô.

Nguyên Diệu đặt sách xuống, pha một ấm trà thơm, bày một đ ĩa bánh hoa hồng và một đ ĩa bánh sữa dê mang ra sân. Hắn nhìn lên mái nhà, nói: “Bạch Cơ, ta không leo lên được, hay là ngươi xuống đây uống trà ăn bánh đi.”

Bạch Cơ lắc đầu thở dài: ” y, vô dụng quá, Hiên Chi.”

Nguyên Diệu không nghe rõ, hỏi: “Bạch Cơ nói gì cơ?”

“Không, không gì cả.” Sợ Nguyên Diệu giận không mang bánh lên, Bạch Cơ vội đáp. Nàng thổi một hơi về phía đám mây trắng ở phía tây. Đám mây từ từ bay đến, hạ xuống Phiêu Miểu các, trải rộng ra, hóa thành cầu thang mây, kéo dài từ chân Nguyên Diệu lên tới mái nhà: “Lên đi Hiên Chi.”

Nguyên Diệu sợ mây không chắc, do dự một lúc rồi mới bước lên. Cầu thang mây mềm mại như bông nhưng lại rất vững chắc. Nguyên Diệu bước vài bước thì không còn sợ nữa.

Nguyên Diệu lên đến mái nhà, ngồi xuống bên cạnh Bạch Cơ và bày trà bánh ra. Dây câu trúc xanh rung nhẹ như thể có gì đó cắn mảnh ngọc. Nguyên Diệu nhìn kỹ nhưng không thấy gì cả.

Bạch Cơ thu dây câu lại, gỡ vật câu được bỏ vào bình thủy tinh nhỏ, đậy nắp lại.

Nguyên Diệu nhìn vào bình thủy tinh, bên trong trống không, chẳng có gì cả.

Bạch Cơ đặt cần câu xuống, bắt đầu uống trà ăn bánh: “Nhìn sắc mặt của Hiên Chi, chắc tối qua ở phường Bình Khang chơi vui lắm nhỉ.”

Nguyên Diệu buồn bã đáp: “Đừng nhắc nữa, tối qua ta và Đan Dương hình như gặp phải ma nữ. Sáng nay Đan Dương còn bị treo trên xà nhà, giờ vẫn đang hôn mê bất tỉnh…”

Nguyên Diệu kể lại mọi chuyện đã xảy ra tối qua cho Bạch Cơ.

Bạch Cơ cắn một miếng bánh hoa hồng: “Nợ mạng trả mạng… Xem ra, Vi công tử đã gặp rắc rối rồi…”

“Á?!”, Nguyên Diệu lo lắng: “Đan Dương nợ mạng ai?! Hắn không sao chứ?!”

“Chắc là nợ mạng của phi nhân rồi. Vi công tử chắc không nguy hiểm đến tính mạng, nếu không thì đã chết rồi. Đối phương không muốn giết hắn, chỉ là dọa nạt hoặc trút giận thôi.”

“Vậy Đan Dương nợ mạng của phi nhân nào thế?”

“Điều này thì không rõ. Con người mỗi ngày vô tình hay cố ý đều làm tổn thương vài sinh mạng, như vô ý giẫm đạp kiến, cố ý giết hại sinh linh, thịt trên bàn ăn, lông thú để giữ ấm… Con người không nợ mạng thì không thể sống được. Đối với Vi công tử, hắn nợ quá nhiều mạng, có lẽ có nhiều phi nhân muốn trả thù hắn. Nhưng oán khí đủ để hóa hình mà treo hắn lên trút giận thì không nhiều. Vi công tử chắc đã làm điều gì đặc biệt khiến phi nhân đó oán hận hắn như vậy.”

“Rốt cuộc Đan Dương đã làm gì?”

“Phải đợi hắn tỉnh lại mới biết.”

“Bạch Cơ, tối nay ta muốn xin phép đến Vi gia thăm Đan Dương, có được không?”

“Được chứ, Hiên Chi ở Vi gia vài ngày cũng không sao.”

“Tuyệt quá.”

“Nhưng Hiên Chi không làm việc, thì tiền lương tháng phải giảm một nửa.”

Nguyên Diệu tức giận: “Ngươi…”

Bạch Cơ lấy một miếng bánh hoa hồng, nhét vào miệng Nguyên Diệu, chặn lại câu “Thật quá đáng!” của hắn.

Nguyên Diệu ăn xong miếng bánh, cũng hết giận. Hắn ngẩng đầu nhìn đám mây trắng bồng bềnh trên trời, có lẽ vì miệng đầy vị ngọt nên tâm trạng cũng thoải mái hơn nhiều.

“Bạch Cơ, muội muội của Ly Nô, Đồi Mồi cô nương là sao thế? Tại sao nàng lại ăn thịt người?”

“Phi nhân trong ba đạo quỷ giới đều săn bắt con người, đặc biệt là phi nhân trong ngạ quỷ đạo. Chúng ăn nội tạng người, bắt hồn người, Hiên Chi lần sau gặp thì nhớ tránh xa một chút.”

Nguyên Diệu rùng mình: “Ba đạo quỷ giới là gì?”

Bạch Cơ thản nhiên đáp: “Lục đạo trời đất, chia thành thiên giới đạo, nhân gian đạo, tu la đạo, súc sinh đạo, ngạ quỷ đạo, địa ngục đạo. Trong đó tu la đạo, ngạ quỷ đạo, địa ngục đạo gọi là ba đạo quỷ giới. Phi nhân trong ba đạo quỷ giới đều rất đáng sợ, sẽ gây hại, tấn công con người, con người gọi chúng là ‘ác quỷ’. Ba đạo quỷ giới và nhân gian đạo có giao thoa: Diêm Phù Đồ là một trong những giao thoa của địa ngục đạo và nhân gian đạo; Phường Bình Khang là một trong những giao thoa của ngạ quỷ đạo và nhân gian đạo; Đại Minh Cung là một trong những giao thoa của tu la đạo và nhân gian đạo. Những phi nhân như Đồi Mồi, xà nữ, đại bàng cái, bọ cạp cái mà Hiên Chi nhìn thấy đều là phi nhân rơi vào ngạ quỷ đạo. Phi nhân trong ngạ quỷ đạo săn bắt con người làm thức ăn, sau khi ăn xác người, chúng đem linh hồn người đi tế quỷ vương để luyện thuốc bất tử. Phi nhân trong ngạ quỷ đạo thường mang giày đỏ, buổi tối Hiên Chi thấy người mang giày đỏ thì nhớ đừng đến gần, đừng nói chuyện, càng không được đi theo họ.”

Nguyên Diệu gật đầu lia lịa: “Ta hiểu rồi. Vậy, phi nhân trong địa ngục đạo, tu la đạo thì sao? Họ mang giày màu gì? Bạch Cơ hãy nói cho ta biết để ta còn phòng ngừa.”

“Hi hi.” Bạch Cơ cười: “Không, phi nhân trong địa ngục đạo, tu la đạo rất ít khi đi lại ở nhân gian, nếu tu la hoành hành, quỷ địa ngục khắp nơi, chắc chắn là thời loạn lạc đầy đau thương rồi. Phi nhân trong địa ngục đạo, tu la đạo không có màu giày cố định, cũng không hoàn toàn ăn thịt người, Hiên Chi không cần lo lắng phòng ngừa.”

“Thế à. Vậy, tu la đạo là chỉ ‘A Tu La’ sao? A Tu La không phải giống như Bạch Cơ, cũng là một trong tám bộ chúng sao?”

“Trong Tu La đạo có nhiều loại phi nhân khác nhau, tộc A Tu La là quỷ vương trong Tu La đạo. Tộc A Tu La và chúng ta Thiên Long chúng đều là một trong tám bộ chúng.”

“Vậy Bạch Cơ cũng là ác quỷ sao?” Nguyên Diệu run rẩy hỏi.

Bạch Cơ nhìn Nguyên Diệu, cười ma quái: “Ngươi nghĩ sao?”

Nguyên Diệu cảm thấy, Bạch Cơ còn đáng sợ hơn cả các ác quỷ trong ba đạo quỷ giới cộng lại. Tất nhiên, suy nghĩ này hắn không dám nói ra.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 35: Ngạ Quỷ


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 5: Cỏ kiếp sau

Chương 5: Ngạ Quỷ

Buổi chiều, Nguyên Diệu xin phép đi thăm Vi Ngạn.

Khi Nguyên Diệu đến Vi gia thì đã là hoàng hôn. Nghe từ miệng người hầu rằng Vi Ngạn không sao, Nguyên Diệu mới thở phào nhẹ nhõm. Nguyên Diệu định đi thẳng đến Lầu Nhiên Tê để gặp Vi Ngạn nhưng khi đi ngang qua khu vườn, hắn tình cờ gặp Vi Đức Huyền, sau khi chào hỏi thì bị ông kéo vào thư phòng trò chuyện một lúc. Khi Nguyên Diệu đến Lầu Nhiên Tê thì trời đã tối.

Nguyên Diệu đã từng ở lại Lầu Nhiên Tê một thời gian, sau khi đến Phiêu Miểu các, thỉnh thoảng hắn cũng ghé qua uống rượu với Vi Ngạn nên rất quen thuộc nơi này. Những người hầu cũng nhận ra hắn, mỉm cười chào: “Nguyên công tử đến thăm đại công tử à?”

Nguyên Diệu cười nói: “Ta đến thăm Đan Dương, hắn đã ổn chưa?”

“Đại phu đã châm cứu, đại công tử không sao rồi. Bây giờ chắc đại công tử đang chơi với Nam Phong trong phòng.”

Nguyên Diệu đến phòng Vi Ngạn, cửa phòng không đóng.

“Đan Dương đã khỏe chưa? Ta đến thăm hắn đây.” Nguyên Diệu vừa nói vừa bước vào.

Phòng của Vi Ngạn chia thành hai gian trong và ngoài, được ngăn cách bởi một bức bình phong vẽ tranh thủy mặc. Vi Ngạn có sở thích kỳ quặc, bức bình phong không vẽ hoa cỏ hay mỹ nhân mà là bức tranh Thập Điện Diêm Vương, trông rất hung ác và đáng sợ.

Phía sau bình phong, trước bàn trang điểm đồng là một cây nến bảy nhánh cháy leo lét. Một người mặc trang phục lộng lẫy ngồi trước bàn trang điểm, đang dùng lược sừng trâu chải tóc mai. Nhìn từ phía sau, người đó là nam nhân, nhưng tay cầm lược sừng trâu lại uốn cong như tay nữ nhân, động tác đầy vẻ yêu kiều của nữ nhân.

Nguyên Diệu biết rõ Nam Phong, hắn tiểu đồng của Vi Ngạn, có dáng vẻ như nữ nhi, nên tưởng là hắn ta lập tức hỏi: “Nam Phong, Đan Dương không ở đây sao?”

“Nguyên công tử, lại là ngươi sao.” Một giọng nữ vang lên.

“Á?” Nguyên Diệu giật mình.

Nam Phong vẫn cẩn thận chải tóc mai, không quay đầu lại.

“Nam Phong?” Nguyên Diệu tò mò bước tới, vừa rồi có phải Nam Phong đang nói với giọng eo éo không? Sao bóng lưng của Nam Phong trông cao lớn hơn bình thường thế?

Nguyên Diệu đi vòng qua bên cạnh Nam Phong, Nam Phong vừa quay đầu lại, nhìn Nguyên Diệu cười quyến rũ.

Khi Nam Phong quay đầu lại, Nguyên Diệu mới phát hiện đó không phải Nam Phong, mà là Vi Ngạn.

Nguyên Diệu toát mồ hôi lạnh: “Đan Dương đang làm gì vậy?”

Vi Ngạn cười duyên dáng, khuôn mặt đầy vẻ nữ tính: “Nguyên công tử, ngài không nhận ra nô gia sao?”

Nguyên Diệu toát mồ hôi như mưa: “Đan Dương… sao giọng của người lại thành giọng nữ nhân thế này?!”

Vi Ngạn lấy một chiếc khăn thêu ra, giơ ngón tay uốn cong lau mồ hôi cho Nguyên Diệu: “Nô gia vốn là nữ nhân mà. Nguyên công tử, sao ngài lại đổ mồ hôi thế?”

Giọng nói của Vi Ngạn nghe rất quen, nhưng Nguyên Diệu không thể nhớ ra đó là ai. Cảnh tượng quái dị khi Vi Ngạn nói bằng giọng nữ làm Nguyên Diệu đổ mồ hôi ướt cả áo, hắn há hốc miệng không khép lại được. Hắn vô tình nhìn vào gương đồng, thấy khuôn mặt của Vi Ngạn thì lại giật mình.

Trong gương, khuôn mặt của Vi Ngạn một nửa là của hắn, một nửa là của con chồn vàng. Phần mặt con chồn vàng đó Nguyên Diệu nhìn thấy quen quen, trong đầu hiện lên một ý nghĩ, hắn hét lên: “Tiểu thư Doanh Doanh, ngươi là tiểu thư Doanh Doanh ư?!”

Vi Ngạn dùng khăn che miệng, nghiêng đầu: “Nguyên công tử cuối cùng cũng nhận ra nô gia rồi.”

Nguyên Diệu nói: “Tiểu thư Doanh Doanh, dạo này ngươi đã đi đâu thế? Bạch Cơ tìm ngươi khắp nơi mà không thấy. Còn nữa, ngươi ở Vi gia làm gì? Ngươi đã làm gì Đan Dương vậy?”

Vi Ngạn buồn bã nói: “Nô gia đã không còn là người của thế gian nữa. Nô gia ở Vi gia là để đòi mạng Vi Ngạn!”

Nguyên Diệu kinh ngạc: “Hả? Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì thế?”

Mắt Vi Ngạn đỏ lên, cắn đôi môi đỏ mọng, mặt hiện vẻ đau lòng. Hắn bỗng chui vào lòng Nguyên Diệu khóc rưng rức: “Nguyên công tử, nô gia chết oan lắm…”

“Đan Dương, không, tiểu thư Doanh Doanh, ngươi đừng khóc vội, hãy nói rõ rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì trước đã!”

Vi Ngạn ngẩng đầu lên, mắt đẫm lệ, muốn nói nhưng lại thôi. Cuối cùng, hắn kéo Nguyên Diệu đến góc tường, chỉ vào một tấm da treo trên tường, buồn bã nói: “Nguyên công tử còn nhận ra cái này không?”

Nguyên Diệu nhìn kỹ, tấm da đó có màu nâu nhạt, lông mịn như kim, bóng loáng như dầu. Trên da còn có cái đầu chồn vàng, là con chồn Doanh Doanh.

“Ồ!!” Nguyên Diệu giật mình, sau đó hiểu ra một số điều, buồn bã nhìn Vi Ngạn: “Tiểu thư Doanh Doanh, ngươi…”

Hóa ra, trong chuyến săn bắn mà Nguyên Diệu từ chối không muốn đi Vi Ngạn đã bắn trúng một con chồn vàng trong rừng ở Thất Lý Pha. Ban đầu hắn định bắn một con hoẵng, nhưng bắn lệch. Thật xui xẻo, một con chồn vàng già đang đi ngang qua bị bắn trúng bụng, vùng vẫy một hồi rồi chết.

Vi Ngạn rất vui mừng, hắn mang con chồn vàng chết đi khoe với Bùi Tiên, sau đó trở về Vi gia và ra lệnh cho người hầu lột da con chồn vàng, bảo quản để làm kỷ niệm.

Con chồn vàng bị Vi Ngạn bắn chết là Doanh Doanh. Nó đã không còn sống được bao lâu nữa, và đã chờ đợi Ngọc Lang cả đời, ước nguyện duy nhất của nó là gặp lại Ngọc Lang một lần nữa. Nó đã nhận được Cỏ kiếp sau từ Phiêu Miểu các, nghĩ rằng có thể thực hiện ước nguyện gặp lại Ngọc Lang một lần. Đáng tiếc, nó chưa kịp tìm ra tung tích của Ngọc Lang thì đã chết.

Doanh Doanh không cam tâm, hóa thành oan hồn đến trả thù Vi Ngạn. Những ngày gần đây Vi Ngạn sống không yên ổn, đều là do Doanh Doanh quấy phá. Đêm ở “Trường Tương Tư” hôm đó, người thực sự ở bên Bùi Tiên là Dạ Lai, Doanh Doanh biến thành “Dạ Lai” xuất hiện trước mặt Vi Ngạn cùng với A Thiền, trêu đùa và trả thù hắn.

Doanh Doanh nói với Nguyên Diệu: “Dù nói rằng mạng đền mạng nhưng nô gia vốn đã như ngọn đèn trước gió. Chết dưới mũi tên của Vi Ngạn cũng là số mệnh đã định. Nô gia dù có oán hận nhưng không thực sự muốn lấy mạng hắn. Nô gia có một chấp niệm chưa xong, không thể nhắm mắt, nên mới mượn thân thể của Vi Ngạn, đến khi chấp niệm hoàn thành, nô gia mới có thể yên tâm ra đi.”

Nguyên Diệu nói: “Chấp niệm của ngươi là gặp Ngọc Lang phải không?”

Vi Ngạn gật đầu, dùng khăn lau nước mắt: “Không gặp được Ngọc Lang, nô gia sẽ không qua cầu Nại Hà, không uống canh Mạnh Bà.”

Nguyên Diệu không biết nói gì, hắn nhớ ra Bạch Cơ vẫn đang tìm Doanh Doanh, nói: “Tiểu thư Doanh Doanh, lần trước Bạch Cơ đưa cho ngài Cỏ kiếp sau, là vì say rượu đưa nhầm, không suy nghĩ kỹ. Sau khi tỉnh rượu, nàng ấy nghĩ rằng nên lấy lại cỏ kiếp sau, nên gần đây chúng ta đã tìm ngươi.”

Vi Ngạn nói: “Nô gia biết Bạch Cơ đang tìm nô gia, nhưng nô gia sẽ không trả lại Cỏ kiếp sau cho nàng ấy, tuyệt đối không trả.”

Vi Ngạn quyết tâm, Nguyên Diệu cũng không dám nói thêm. Hắn âm thầm quyết định rằng ngày mai sẽ trở lại Phiêu Miểu các, gọi Bạch Cơ đến Vi gia rồi tính tiếp.

Suốt cả đêm, Vi Ngạn lúc khóc, lúc cười, tự xưng là chồn vàng của Thất Lý Pha, làm náo loạn cả Lầu Nhiên Tê khiến mọi người không thể yên ổn. Mọi người đều nói Vi Ngạn bị trúng tà, bị chồn vàng nhập. Vi Đức Huyền nghe báo tin thì chạy đến, thấy con trai làm dáng như nữ nhân, điên cuồng đủ kiểu, ông lại rơi nước mắt, than khóc gia môn bất hạnh. Nguyên Diệu trong Lầu Nhiên Tê thức trắng đêm, không chợp mắt. Sáng hôm sau, hắn lập tức trở lại Phiêu Miểu các.

Khi Nguyên Diệu về đến Phiêu Miểu các, Bạch Cơ đang nhàn nhã ngồi dựa lưng vào ghế mỹ nhân, thích thú đọc cuốn tiểu thuyết phố phường mà Nguyên Diệu mua về.

Nguyên Diệu vội vã nói: “Bạch Cơ, Đan Dương bị chồn vàng nhập rồi! Nàng mau đi xem sao!”

“Vi công tử bị chồn vàng nhập? Haha, chắc chắn rất thú vị.” Bạch Cơ cười lớn, không vội đi đến Vi gia: “Hiên Chi pha cho ta một chén trà thơm trước đã.”

Nguyên Diệu nói: “Con chồn vàng đó là tiểu thư Doanh Doanh.”

Bạch Cơ lập tức đứng dậy: “Hiên Chi, đi đến Vi gia thôi.”

“Vì sao khi nghe tin Đan Dương gặp chuyện thì ngươi không có phản ứng gì, mà khi vừa nghe tên tiểu thư Doanh Doanh, ngươi lại lập tức muốn đến Vi gia?”

“Vi công tử có số mệnh đặc biệt, kiếp này sẽ không chết vì những phi nhân. Còn tiểu thư Doanh Doanh, ta phải lấy lại Cỏ kiếp sau để an tâm. Cỏ kiếp sau là vật của tiên giới, yêu linh không thể chịu nổi, nàng ấy có thể sẽ mất mạng vì giữ Cỏ kiếp sau.”

“Nhưng… tiểu thư Doanh Doanh đã mất mạng rồi…”

Trên đường đến Vi gia, Nguyên Diệu kể lại toàn bộ câu chuyện cho Bạch Cơ.

Sắc mặt Bạch Cơ có vẻ hơi nặng nề: “Chuyện này hơi rắc rối rồi…”

Vi gia, Lầu Nhiên Tê.

Vi Ngạn mặc bộ váy rực rỡ, ngồi trước gương đồng thoa son dặm phấn, còn khẽ ngâm nga khúc hát. Nam Phong đứng bên cạnh quạt gió, khuôn mặt tối sầm. Các tỳ nữ và người hầu đứng trên hành lang thì thầm:

“Đang yên đang lành sao công tử lại bị trúng tà thế?”

“Nơi như phường Bình Khang Phường, vốn dĩ chẳng sạch sẽ gì rồi.”

“Thế này không ổn rồi, phải mời đạo sĩ từ Giang Thành đến thôi.”

“Ông chủ ghét nhất những chuyện ma quái, e rằng sẽ không mời đạo sĩ đâu.”

Vi Ngạn quay đầu, thấy Bạch Cơ và Nguyên Diệu thì cười duyên: “Nô gia biết Bạch Cơ đại nhân chắc chắn sẽ đến mà.”

Bạch Cơ cười nói: “Không đến không được. Ta phải lấy lại Cỏ kiếp sau.”

Vi Ngạn nói: “Nô gia không trả lại Cỏ kiếp sau cho ngài đâu.”

Bạch Cơ nói: “Tiểu thư Doanh Doanh, ngươi không phải người có duyên với Cỏ kiếp sau. Do ta say rượu nhầm lẫn đưa Cỏ kiếp sau cho ngươi, đó là lỗi của ta. Ngươi vốn dĩ không nên chết bất đắc kỳ tử như thế, là cỏ kiếp sau đã đưa ngươi vào cõi âm. Vì cỏ kiếp sau mà ngươi đã mất mạng, đừng tiếp tục giữ nó nữa, cũng đừng níu giữ ước muốn không đạt được, hãy đi đến nơi ngươi nên đi đi.”

Khuôn mặt Vi Ngạn dần thay đổi, mọc ra lông tơ, miệng và mũi nhô ra, biến thành chồn vàng. Nó ngoan cố nói: “Không, nô gia không gặp Ngọc Lang một lần thì chết không nhắm mắt.”

Bạch Cơ nói: “Ngươi giữ cỏ kiếp sau bao lâu rồi mà vẫn chưa tìm thấy Ngọc Lang sao?”

Vi Ngạn rơi nước mắt: “Không biết tại sao mãi mà không tìm thấy được.”

Nguyên Diệu nói: “Tiểu thư Doanh Doanh, dù thế nào nữa cũng xin hãy tha cho Đan Dương. Hắn chỉ là vô tình giết ngươi thôi. Ta thay hắn xin lỗi ngươi.”

Vi Ngạn khóc rưng rức: “Không, trừ khi gặp lại Ngọc Lang một lần, nô gia mới chịu đi.”

Nguyên Diệu và Bạch Cơ toát mồ hôi.

Bạch Cơ nhẹ nhàng ho khan, nói: “Ngài từng bước vào Phiêu Miểu các, cũng coi như người có duyên. Ta không thể từ chối nguyện vọng của ngài. Nếu gặp lại Ngọc Lang một lần là nguyện vọng của ngài, thì ta sẽ giúp ngài thực hiện điều đó. Tuy nhiên ta có hai điều kiện.”

Ánh mắt Vi Ngạn lộ vẻ vui mừng, giọng mềm mại nói: “Điều kiện gì?”

“Trả lại cỏ kiếp sau. Tha thứ cho Vi công tử.”

Vi Ngạn buồn bã nói: “Nguyện vọng của nô gia chỉ là gặp lại Ngọc Lang một lần, không phải muốn giữ cỏ kiếp sau để nhìn trộm thiên cơ. Nếu ngài có thể để nô gia gặp lại Ngọc Lang, nô gia chắc chắn sẽ trả lại cỏ kiếp sau. Còn về Vi công tử, thật ra là nô gia mất tập trung tự lao vào mũi tên của hắn… Haiz, cũng là số mệnh, nô gia không hận hắn, chỉ cần nô gia hoàn thành nguyện vọng thì sẽ rời khỏi cơ thể hắn, đi về cõi âm ngay.”

Bạch Cơ thở dài, nói: “Ngươi lấy cỏ kiếp sau ra, ta sẽ giúp ngươi tìm Ngọc Lang.”

Vi Ngạn mặt mày ủ rũ: “Nô gia đã thử nhiều lần rồi, cỏ kiếp sau không thể tìm thấy Ngọc Lang được.”

Bạch Cơ nói: “Hãy thử lại lần nữa xem.”

Vi Ngạn nói: “Nô gia để cỏ kiếp sau ở nhà của mình tại Thất Lý Pha.”

Bạch Cơ nói: “Vậy chúng ta đi Thất Lý Pha.”

Vi Ngạn nói: “Được.”

Nguyên Diệu bịa ra một lý do với Vi Đức Huyền, nói là dẫn Vi Ngạn đến chùa Thanh Long nhờ hòa thượng Hoài Tú tụng kinh trừ tà. Vi Đức Huyền tin ngay, nói với Nguyên Diệu: “Nhờ Nguyên thế điệt rồi.”

Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Vi Ngạn rời khỏi Vi gia ra ngoài thành đi Thất Lý Pha. Khi ba người đến Thất Lý Pha thì trời đã gần hoàng hôn. Một căn nhà tranh nằm giữa bãi đá lởm chởm, hàng rào tre dày đặc, sương trắng bao quanh. Vi Ngạn đẩy hàng rào tre ra dẫn Bạch Cơ và Nguyên Diệu vào nhà tranh. Vi Ngạn thắp đèn trên bàn, mời Bạch Cơ và Nguyên Diệu ngồi xuống: “Nhà tranh đơn sơ, mong Bạch Cơ đại nhân và Nguyên công tử đừng chê bẩn thỉu.”

Nguyên Diệu nhìn qua ánh nến, thấy trong nhà tranh trang trí rất thanh nhã, bàn tre, chiếu tre, ghế tre, rèm tre, tủ tre, bình phong tre, tất cả đồ đạc đều làm từ tre, tinh xảo và thanh nhã.

Bạch Cơ cười nói: “Đâu có đơn sơ gì? Nhà tranh rất thanh nhã, chủ nhân chắc chắn là người tinh tế.”

Vi Ngạn vui mừng, nói: “Bạch Cơ đại nhân quá khen rồi. À, ngài và Nguyên công tử chưa ăn tối phải không, nhà còn một ít lương thực, nô gia sẽ nấu ăn cho các ngài.”

“Cảm ơn.” Bạch Cơ cười nói.

Nguyên Diệu toát mồ hôi. Chồn vàng Doanh Doanh dùng cơ thể Vi Ngạn đi nấu ăn, nghĩ thôi cũng thấy kỳ quái.

Vi Ngạn vào trong thay một bộ váy xanh lá cây nhạt mặc thường ngày, lại dùng khăn thêu hoa quấn tóc lên. Hắn vào bếp nhóm lửa và gọi Nguyên Diệu vào giúp: “Nguyên công tử có thể đến giúp thêm củi không?”

Nguyên Diệu vội nói: “Được.”

Vi Ngạn trong bếp khéo léo nấu nướng, vui vẻ bận rộn. Nguyên Diệu vừa thêm củi vừa len lén nhìn Vi Ngạn. Dưới ánh lửa, thoáng nhìn qua, đôi môi đỏ mọng, hàm răng trắng, mày mắt xinh đẹp của Vi Ngạn giống như một tân nương dịu dàng, hiền thục vậy.

Nguyên Diệu toát mồ hôi lạnh. Hoàng Doanh Doanh không chỉ quên mất mình đã chết, mà còn quên rằng mình đang chiếm giữ cơ thể của Vi Ngạn.

Vi Ngạn nấu ăn xong còn hâm nóng một bình rượu thanh, mời Bạch Cơ và Nguyên Diệu. Bạch Cơ khen: “Tài nấu nướng của tiểu thư Doanh Doanh thật tuyệt. Nếu Ngọc Lang lấy ngươi chắc chắn sẽ khen ngươi là một người vợ hiền thục, dịu dàng.”

Vi Ngạn nghe xong thấy rất vui, nhưng thoáng chốc lại buồn bã, dùng tay áo lau nước mắt: “Từ trước đến giờ, nô gia chỉ mơ ước trở thành một thê tử hiền thục. Chỉ là kiếp này lại không có duyên với Ngọc Lang…”

Câu nói đầu tiên của Vi Ngạn khiến Nguyên Diệu sặc canh nấm: “Khụ khụ, khụ khụ khụ…”

Trăng sáng treo cao, mây đêm như khói. Ánh trăng từ cửa sổ chiếu vào sáng trong như nước. Gió đêm lướt qua nhà lạnh thấu xương. Trên bàn tre đặt một chậu đồng, trong chậu đựng đầy nước. Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Vi Ngạn đứng quanh bàn tre, nhìn vào chậu nước lung linh ánh trăng. Khi nước trong chậu đều biến thành ánh trăng thì mặt Vi Ngạn hoàn toàn biến thành chồn vàng, nó lấy ra một hộp gỗ…Nguyên Diệu nhận ra, đây là hộp đựng cỏ kiếp sau mà Bạch Cơ đã đưa cho Hoàng Doanh Doanh trong đêm say rượu.

Hoàng Doanh Doanh mở hộp gỗ, lấy ra một nhánh cỏ tím.

Hoàng Doanh Doanh thả cỏ kiếp sau vào ánh trăng, trong lòng nghĩ đến dung mạo của Ngọc Lang, lẩm bẩm: “Ngọc Lang…Ngọc Lang…”

Cỏ kiếp sau đứng giữa ánh trăng, phát ra ánh sáng tím lung linh. Ánh trăng gợn sóng lan tỏa, dưới nước xuất hiện ảo ảnh. Nguyên Diệu nhìn thấy một số hình ảnh kỳ lạ, núi xương khô, hồ sen đỏ, vùng đất lửa, cõi hồn vong, hàng ngàn bóng đen bò về một lối ra.

Nguyên Diệu định nhìn kỹ hơn thì Bạch Cơ đưa tay che mắt hắn: “Lục đạo luân hồi là thiên cơ. Nhìn ít đi một chút sẽ sống lâu thêm vài năm.”

Nguyên Diệu nói: “Ngươi cũng đang nhìn mà?”

Bạch Cơ cười nói: “Tộc Thiên Long có tuổi thọ rất dài, ta mất chút tuổi thọ không sao.”

“Chẳng trách ngươi luôn làm những việc tổn thọ!!” Tất nhiên, câu này, tiểu thư sinh không dám nói ra.

Trong bóng tối, Nguyên Diệu nghe thấy Bạch Cơ và Hoàng Doanh Doanh nói chuyện.

Bạch Cơ nói: “Lạ thật, không nên là một mảnh hỗn độn như thế chứ.”

Hoàng Doanh Doanh nói: “Nô gia đã thử vài lần rồi, nhưng nó luôn như vậy, dù tìm trên trời hay dưới địa ngục đều không thể tìm thấy Ngọc Lang.”

Bạch Cơ trầm ngâm: “Nếu Ngọc Lang đã chết, đã chuyển kiếp thì phải thấy kiếp sau của hắn; nếu chưa chuyển kiếp cũng phải thấy hồn phách của hắn. Nếu Ngọc Lang chưa chết thì nên thấy kiếp này của hắn. Sao lại là một vùng hỗn độn như vậy.”

Hoàng Doanh Doanh khóc thút thít: “Ngọc Lang rốt cuộc đã đi đâu rồi? Không gặp lại Ngọc Lang một lần thì nô gia chết không nhắm mắt, chết không nhắm mắt…”

Bạch Cơ buông tay, Nguyên Diệu mở mắt nhìn, trong chậu đồng chỉ còn lại nửa chậu nước trong xanh, cỏ kiếp sau đã được đặt lại trong hộp gỗ.

Hoàng Doanh Doanh vô cùng đau khổ che mặt khóc.

Bạch Cơ nhìn trăng tròn ngoài cửa sổ, chìm vào suy nghĩ.

Đêm đó, Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Vi Ngạn ngủ lại trong nhà tranh. Bạch Cơ ngủ sớm, phát ra tiếng ngáy nhẹ. Vi Ngạn ngồi ngoài nhà tranh khóc trước ánh trăng. Nguyên Diệu không ngủ được vì tiếng khoc, lại thấy Hoàng Doanh Doanh đáng thương, đành ra ngoài an ủi nàng.

Vi Ngạn dựa vào lòng Nguyên Diệu, khóc nức nở: “Nguyên công tử, nô gia thật sự rất muốn gặp lại Ngọc Lang một lần.”

Nguyên Diệu chỉ biết an ủi, nói những lời như “Hãy tìm thêm lần nữa, chắc chắn sẽ tìm thấy Ngọc Lang”.

Trăng lặn phía Tây, Vi Ngạn khóc mệt, trở lại nhà tranh nghỉ ngơi cùng Nguyên Diệu.
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 36: Diêm Phù


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 5: Cỏ kiếp sau

Chương 6: Diêm Phù

Ngày hôm sau, Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Vi Ngạn trở về Trường An. Hoàng Doanh Doanh kiên quyết muốn đợi Bạch Cơ tìm được Ngọc Lang rồi mới trả lại cỏ kiếp sau cho nàng mới rời khỏi cơ thể của Vi Ngạn. Bạch Cơ không còn cách nào khác, đành phải đồng ý. Thế là Bạch Cơ và Nguyên Diệu trở về Phiêu Miểu các, còn Vi Ngạn mang theo cỏ kiếp sau về phủ Vi.

Bạch Cơ và Nguyên Diệu về đến Phiêu Miểu các, thấy Ly Nô đang vui vẻ phơi cái gì đó trong sân, thoạt nhìn giống như thịt khô. Ly Nô thấy Bạch Cơ trở về thì vui vẻ nói: “Chủ nhân, mấy ngày trước Ly Nô tặng cho Đồi Mồi một ít cá thơm khô, hôm nay Đồi Mồi nhờ người mang quà đáp lễ lại.”

Bạch Cơ cười hỏi: “Ồ, quà gì thế?”

Ly Nô cầm một miếng thịt khô trông giống thịt, cho vào miệng nhai, ngon lành nói: “Thịt chuột khô. Ăn rất ngon đấy. Chủ nhân, mọt sách, các người cũng ăn thử chút đi.”

Bạch Cơ cười nói: “Ta vừa ăn bánh ngọt xong. Hiên Chi chắc chắn thích ăn, cho hắn đi.”

Bạch Cơ thoát thân.

Nguyên Diệu cũng muốn thoát thân: “Tại hạ vẫn chưa đói, Ly Nô huynh cứ tự nhiên.”

Ly Nô không cho Nguyên Diệu chạy thoát, xông tới, nhét miếng thịt chuột khô vào miệng hắn: “Không đói cũng không sao, đây là điểm tâm. Nào, mọt sách thử đi, rất ngon đấy.”

Nguyên Diệu bị ép ăn hai miếng, không cảm nhận được mùi vị gì, nhưng dạ dày thì cuộn lên, ch ảy nước mắt chạy ra nhà xí nôn mửa.

Chiều tối, Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô ngồi ăn tối dưới hành lang.

Bạch Cơ thản nhiên nói: “Ly Nô, ta định đi Diêm Phù Đồ.”

Đũa tre rơi khỏi tay Ly Nô, hắn nhìn Bạch Cơ, ánh mắt hơi sợ hãi: “Chủ nhân, những phi nhân đi đến Diêm Phù Đồ rất ít ai có thể sống sót trở về.”

Bạch Cơ nói: “Ta hiểu. Nhưng ta phải đi một lần để xác nhận một việc.”

“Vậy, Ly Nô sẽ đi cùng chủ nhân?”

“Ngươi không cần đi. Có thể sẽ không trở về được.”

Ly Nô kiên định nói: “Chính vì có thể sẽ không trở về nên Ly Nô mới muốn đi cùng chủ nhân.”

Bạch Cơ quay đầu nhìn Nguyên Diệu: “Hiên Chi có đi cùng ta không?”

Trong đầu Nguyên Diệu thoáng qua hình ảnh Diêm Phù Đồ không ngừng tràn ra khí đen vô tận, phát ra âm thanh đáng sợ xé lòng, mặt mếu máo nói: “Tại hạ không muốn đi.”

Bạch Cơ cười nói: “Hiên Chi sao có thể không đi được?”

“Nếu ngay cả ngươi cũng không trở về được thì tại hạ đi cũng chẳng có ích gì.”

“Ai nói không có ích? Ít nhất nếu ta bị kẹt ở Diêm Phù Đồ không thể trở về thì vẫn có Hiên Chi để giải khuây.”

Nguyên Diệu rơi nước mắt, thì thầm: “Tại hạ kiếp trước chắc chắn là đã gây ra tội lỗi gì rồi…”

Bạch Cơ cười gian: “Hiên Chi vừa nói, ta cũng rất tò mò kiếp trước của Hiên Chi là gì. Yên tâm, khi lấy lại cỏ kiếp sau, ta chắc chắn sẽ xem kiếp trước của ngươi đã gây ra tội lỗi gì.”

“Không được soi mói kiếp trước của tại hạ! Xin hãy tôn trọng quyền riêng tư của tại hạ!!” Nguyên Diệu tức giận nói. Nếu Bạch Cơ biết được kiếp trước của hắn, nếu bình thường thì không sao, nhưng nếu kiếp trước của hắn có gì kỳ lạ thì nàng lại sẽ lấy đó làm trò đùa, trêu chọc hắn.

Bạch Cơ cười nói: “Không soi mói kiếp trước của Hiên Chi cũng được, nhưng ngươi phải cùng ta đi Diêm Phù Đồ.”

Nguyên Diệu rơi nước mắt: “Tại hạ đột nhiên rất muốn biết kiếp sau của mình sẽ ra sao.”

Bạch Cơ cười gian: “Đi Diêm Phù Đồ có lẽ sẽ không có kiếp sau đâu.”

Bạch Cơ và Ly Nô quyết định ba ngày sau sẽ đi Diêm Phù Đồ, Nguyên Diệu bị ép phải quyết định đi cùng họ. Ba người hẹn cùng sống cùng chết, cùng tiến cùng lui, nhưng Nguyên Diệu cảm thấy mình là có khả năng chết cao nhất.

Sáng hôm sau, Bạch Cơ thay một bộ áo ngắn tay màu tối thêu hoa văn mây, cài một chiếc trâm ngọc trắng hình thú trừ tà, cầm một chiếc quạt gấp vẽ tranh thủy mặc, hóa thân thành “Long công tử” phong độ tao nhã kéo Nguyên Diệu đi đến phường Bình Khang để hưởng lạc.

Nguyên Diệu mếu máo nói: “Đã phải đi Diêm Phù Đồ để chết rồi, còn hưởng lạc gì nữa chứ?”

Bạch Cơ mở chiếc quạt gấp, cười nói: “Thì vì có thể sắp chết, nên mới phải tranh thủ đi hưởng lạc đấy.”

Trên tường phía Tây của đại sảnh treo một bức tranh Bách Mã Đồ, Bạch Cơ thổi một hơi vào bức tranh cổ, hai con tuấn mã phát ra tiếng hí vang, lao ra khỏi bức tranh, đến trước mặt Bạch Cơ và Nguyên Diệu.

“Đi thôi nào Hiên Chi.” Bạch Cơ dắt một con ngựa đi ra Phiêu Miểu các, nhảy lên ngựa.

Nguyên Diệu dắt con ngựa còn lại, đi ra Phiêu Miểu các. Hắn quay đầu nhìn lại, bức tranh Bách Mã Đồ thiếu đi hai con ngựa. Hắn kéo bờm ngựa, muốn xem có phải ngựa thật không thì con ngựa nổi giận, cắn hắn một cái.

Bạch Cơ và Nguyên Diệu cưỡi ngựa tiến vào phường Bình Khang, đến trước “Trường Tương Tư”. Bên ngoài “Trường Tương Tư” xe cộ tấp nập, người qua lại. Nguyên Diệu cảm thấy, khách đến Phiêu Miểu các một tháng cộng lại có lẽ cũng không bằng một ngày của “Trường Tương Tư”.

Tú nương Hoa Di thấy Bạch Cơ thì cười nói: “Ôi chao, Long công tử đúng là khách quý, hôm nay ‘Trường Tương Tư’ đúng là vinh dự!”

Bạch Cơ mở quạt gấp, vỗ vai Nguyên Diệu, nói: “Hôm nay ta mang một người bạn đến, Hoa Di phải tiếp đãi chu đáo đó.”

Hoa Di nhìn Nguyên Diệu, nhận ra là người đã gọi nàng là “đại nương” mấy ngày trước, trong lòng không vui lắm, nhưng vẫn nở nụ cười: “Đây chẳng phải là thư sinh công tử đi cùng Vi công tử vài ngày trước sao? Công tử họ Thư, hay họ Diêu thế?”

Nguyên Diệu ngượng ngùng nói: “Tại hạ họ Nguyên.”

Hoa Di cười nói: “À, là Nguyên công tử. Ngươi xem ta già rồi nên trí nhớ không tốt, nói nhầm rồi, đừng trách, đừng trách. Hóa ra, Nguyên công tử cũng là bạn của Long công tử. Người ta thường nói vật họp theo loài, người tụ theo nhóm, xem ra Nguyên công tử cũng là một người quý phái, nhã nhặn.”

Nguyên Diệu muốn nói gì đó nhưng Bạch Cơ đã nhanh miệng cười nói: “Hiên Chi rất nhã nhặn, hắn thích yên tĩnh, hãy cho chúng ta phòng tốt nhất. Hiên Chi thích mỹ nhân, Hoa Di chắc chắn phải gọi những mỹ nhân xinh đẹp, dịu dàng nhất đến bầu bạn với chúng ta.”

Bạch Cơ vừa nói vừa lấy ra một thỏi vàng lớn từ trong tay áo.

Hoa Di thấy vậy, vội vàng từ chối: “Không, không, làm sao có thể nhận tiền của Long công tử được. Long công tử thường xuyên đến ngồi một chút đã là vinh hạnh lớn của ‘Trường Tương Tư’ rồi.” Hoa Di nhìn quanh, hạ giọng: “Năm ngoái, ở lầu Đông có ma nữ treo cổ tác quái, bùa chú của Long công tử gửi đến rất hiệu quả. Chốn thanh lâu vốn dĩ không sạch sẽ. Gần đây, trong nhã phòng dường như lại có Hoàng Đại Tiên tác quái, mấy ngày trước còn làm cho Vi công tử treo cổ. May mắn là không chết. Nhưng nghe nói sau khi trở về phủ, hắn bị Hoàng Đại Tiên ám. Chốn phong hoa tuyết nguyệt, tối kỵ nhất là nói về ma quỷ, một đồn mười, mười đồn trăm, khiến khách chẳng ai dám đến. Sau sự việc của Vi công tử, khách đến ‘Trường Tương Tư’ cũng giảm đi nhiều, đúng là khiến người ta lo lắng.”

Bạch Cơ cười nói: “Hoa Di đừng lo lắng nữa, ta còn vài lá bùa mạnh hơn có thể trừ tà đuổi quỷ, ngày mai ta sẽ cho người gửi một lá đến cho ngươi.”

Hoa Di vui mừng, cười tít mắt: “Đúng là tốt quá! Bùa chú của Long công tử là hiệu quả nhất! Không như mấy hòa thượng, đạo sĩ kia, chỉ biết lừa tiền. Vẽ một lá bùa không trừ được quỷ thì thôi đi, lại còn gọi quỷ đến, đúng là muốn lấy gậy đuổi họ đi!”

Trong khi nói chuyện, Hoa Di đã dẫn Bạch Cơ và Nguyên Diệu đến một nhã phòng. Hoa Di nói vài lời khách sáo rồi lui ra. Bạch Cơ và Nguyên Diệu cởi áo khoác, ngồi xuống. Không lâu sau, các tỳ nữ mang trái cây, điểm tâm và rượu ngon đến.

Nguyên Diệu nói: “Bạch Cơ thường đến phường Bình Khang làm thầy bùa, lừa gạt người sao?”

Bạch Cơ ăn một quả nho: “Hiên Chi đang nói về bùa chú sao? Bùa chú của ta rất hiệu quả, đều rất được ưa chuộng ở các thanh lâu lớn trong phường Bình Khang, nào có lừa gạt gì đâu?”

Nguyên Diệu mặt mày sa sầm: “Ngươi bán một lá bùa bao nhiêu bạc?”

Bạch Cơ uống một ngụm rượu ngon: “Còn tùy tình huống, có lúc thì miễn phí, thường thì vài chục lượng bạc một lá, đắt nhất từng bán đến tám trăm lượng bạc.”

Nguyên Diệu giật giật khóe miệng: “Ngươi không sợ tổn thọ sao?!”

Bạch Cơ mỉm cười: “Thọ mệnh của Thiên Long rất dài, tổn một chút cũng không sao.”

Không lâu sau, Dạ Lai, A Thiền, Nhã Quân và các mỹ nhân khác đồng loạt đến, hương thơm ngào ngạt. Sau khi chào hỏi, họ vây quanh Bạch Cơ nói cười trông rất thân thiết như những người bạn cũ. Bạch Cơ trong vòng tay của các mỹ nhân như cá gặp nước, nói cười tự nhiên như một công tử phong lưu tuấn tú. Nguyên Diệu bị các cô nương vây quanh thì cảm thấy căng thẳng, bối rối, nói một câu thôi mà mặt đỏ bừng cả nửa ngày.

A Thiền chơi đàn, Dạ Lai múa, Nhã Quân ngâm thơ, Hồ Cơ rót rượu, Bạch Cơ cười lớn, trái ôm phải ấp, không nói hết sự vui vẻ. Nguyên Diệu thì chẳng vui chút nào, vì các cô nương để được gần gũi Long công tử tuấn tú, phong nhã, nói chuyện hài hước, mà đẩy tên thư sinh cứng nhắc và bối rối này vào góc tường. Bạch Cơ được các mỹ nhân vây quanh, rất vui vẻ, gọi hai tiếng “Hiên Chi”, khi không thấy Nguyên Diệu cũng quên bẵng đi.

Nguyên Diệu ngồi một mình ở góc tường, một tiểu nha hoàn có đôi mắt xinh đẹp, nụ cười duyên dáng thấy Nguyên Diệu bị bỏ rơi, kéo hắn ra sân chơi trò ném thẻ, trò chuyện giải khuây. Tâm trạng của Nguyên Diệu tốt lên, hỏi tên của tiểu nha hoàn, tiểu nha hoàn nói mình tên là Bích Nhi. Nguyên Diệu và Bích Nhi chơi rất vui vẻ.

Khoảng chiều tối, Bạch Cơ đến sân tìm Nguyên Diệu: “Hiên Chi, chúng ta phải đi rồi.”

Nguyên Diệu nghiêng tai nghe, từ xa xa vang lên tiếng trống của phường tuần đêm, ngạc nhiên nói: “Đã là giờ giới nghiêm rồi, bây giờ đi đâu được nữa?”

Bạch Cơ nói: “Đi tìm Đồi Mồi.”

Nguyên Diệu ngạc nhiên: “Tìm cô nương Đồi Mồi làm gì?”

Bạch Cơ nói: “Đến đó rồi ngươi sẽ biết.”

Nguyên Diệu lưu luyến chia tay Bích Nhi, hẹn lần sau lại cùng chơi ném thẻ.

Bạch Cơ liếc nhìn Bích Nhi, mỉm cười.

Bích Nhi cũng nhìn Bạch Cơ cười.

Nguyên Diệu theo Bạch Cơ rời đi.

Bạch Cơ bất ngờ hỏi nhỏ: “Hiên Chi có thích thạch sùng không?”

Nguyên Diệu nghĩ ngợi: “Hơi sợ. Sao ngươi lại hỏi vậy?”

Bạch Cơ mở quạt xếp, cười: “Không có gì. Chỉ hỏi vu vơ thôi.”

Bích Nhi đứng trong sân nhìn theo Bạch Cơ và Nguyên Diệu rời đi, dưới chiếc váy xanh từ từ lộ ra một chiếc đuôi thạch sùng.

Bạch Cơ và Nguyên Diệu rời ‘Trường Tương Tư’, bước trên đường phố phường Bình Khang. Trời dần tối, đèn hoa vừa sáng lên. Bạch Cơ ngẩng đầu, khẽ khịt mũi, không biết đang ngửi gì. Nàng bước vào một con hẻm sâu, Nguyên Diệu đi theo sau.

Trong con hẻm sâu, có một nam một nữ đang ôm chặt lấy nhau, khó mà tách rời. Dưới ánh sáng mờ ảo, cô nương mặc một chiếc váy dài màu đồi mồi, chân mang giày đỏ.

Cô nương nghe thấy tiếng bước chân của Bạch Cơ và Nguyên Diệu thì đột ngột ngẩng đầu lên. Lông mày như vẽ, đôi mắt sáng ngời, đồng tử nhỏ như một đường thẳng. Là muội muội của Ly Nô… Đồi Mồi.

Khóe môi của Đồi Mồi đầy máu, làm nổi bật nốt ruồi đen ở khóe miệng, khiến nó càng thêm phần kỳ dị.

Đồi Mồi thấy Bạch Cơ và Nguyên Diệu thì buông nam nhân đang ôm chặt lấy mình ra. Nam nhân “bịch” một tiếng ngã xuống đất, hắn đã là một cái xác. Bụng hắn bị xé toạc, ruột gan và máu me chảy đầy đất.

Nguyên Diệu da đầu tê dại, dạ dày cuộn lên, cúi người nôn mửa.

Bạch Cơ mở quạt xếp, che nửa khuôn mặt: “Ai da, cách ăn của quỷ đói vẫn không đẹp như vậy.”

Đồi Mồi lả lướt bước tới chỗ Bạch Cơ và Nguyên Diệu, thè chiếc lưỡi hồng li3m vết máu ở khóe miệng: “Quỷ đói tất nhiên không thanh nhã như Phiêu Miểu các, Đồi Mồi cũng không giống Bạch Cơ, giết người không thấy máu, ăn người không nhả xương.”

Nguyên Diệu toát mồ hôi lạnh. Hắn cảm thấy Đồi Mồi dường như có ác cảm rất sâu sắc với Bạch Cơ.

Bạch Cơ không tức giận, cười nói: “Đồi Mồi, ngươi vẫn khéo miệng như vậy, lời lẽ thật sắc bén.”

“Hừ!” Đồi Mồi lạnh lùng nói: “Ngươi cố ý đến đây không phải chỉ để xem ta ăn uống bất nhã chứ?”

Bạch Cơ cười nói: “Đồi Mồi thật thông minh, ta đến tìm ngươi là để mượn một thứ của quỷ đói.”

Đồi Mồi nhíu mày: “Có thứ gì mà Phiêu Miểu Các không có, lại phải đến mượn từ quỷ đạo chứ?”

Bạch Cơ khẽ nhếch môi: “Đèn Dẫn Hồn.”

Đồi Mồi ngạc nhiên: “Ngươi muốn Đèn Dẫn Hồn làm gì?”

“Ta muốn đến Diêm Phủ Đồ.”

Đồi Mồi giật mình: “Đi Diêm Phủ Đồ?! Ngươi không muốn sống nữa sao?”

“Không, ta muốn sống nên mới đến mượn Đèn Dẫn Hồn.”

“Đèn Dẫn Hồn là bảo vật của Quỷ Vương, tìm ta cũng vô ích.”

“Trong Quỷ Đạo chỉ có ngươi và Dạ Xoa là có thể tùy ý diện kiến Quỷ Vương. Xin ngươi truyền đạt với Quỷ Vương rằng Bạch Cơ muốn mượn Đèn Dẫn Hồn một lần. Nếu Bạch Cơ có thể trở về từ Diêm Phủ Đồ thì không chỉ sẽ hoàn trả Đèn Dẫn Hồn nguyên vẹn mà còn có quà hậu tạ. Nếu Bạch Cơ không may, không thể trở về từ Diêm Phủ Đồ thì tất cả mọi thứ trong Phiêu Miểu Các sẽ thuộc về Quỷ Vương để bồi thường cho Đèn Dẫn Hồn.”

Đồi Mồi cười: “Điều kiện thật hấp dẫn. Nhưng tại sao ngươi nghĩ ta sẽ giúp ngươi truyền lời?”

Bạch Cơ nhìn Đồi Mồi: “Vì Ly Nô cũng sẽ đến Diêm Phủ Đồ.”

Đồi Mồi giật mình, hơi giận dữ: “Đúng là một ca ca ngốc nghếch khiến người khác lo lắng!”

Đồi Mồi tức giận rời đi.

Bạch Cơ đứng yên nhìn Đồi Mồi bước trên những dấu chân máu, dần dần rời xa.

Trong vũng máu, thi thể kia trông thật ghê rợn. Bạch Cơ vung tay áo, một cơn gió đêm thổi qua, cuốn rụng những bông hoa gạo vàng đỏ từ cây không xa, rơi xuống như mưa, chôn vùi thi thể.

Bạch Cơ nói với Nguyên Diệu: “Hiên Chi, đi về Phiêu Miểu Các nào.”

Nguyên Diệu hỏi: “Đồi Mồi cô nương sẽ đi truyền tin với Quỷ Vương chứ? Nàng ấy hình như chưa đồng ý.”

Bạch Cơ nói chắc nịch: “Nàng ấy sẽ đi. Chúng ta về Phiêu Miểu Các đợi tin nào.”

Dưới ánh trăng, Bạch Cơ và Nguyên Diệu trở lại Trường Tương Tư, ra chuồng ngựa dẫn ra những con ngựa tốt trở về Phiêu Miểu Các.

Nguyên Diệu vuốt v e bộ lông ngựa, thở dài: “Trời tối thế này, cưỡi ngựa trên đường phố trong lòng cứ cảm thấy không yên, nếu con ngựa này biết bay thì tốt rồi.”

Bạch Cơ đưa tay vỗ đầu ngựa, nói: “Ngựa ơi, ngựa ơi, Hiên Chi muốn các ngươi bay, các ngươi mọc cánh được không?”

Ngựa khịt mũi một cái, không có biến đổi gì.

Nguyên Diệu nói: “Sao chúng không mọc cánh?”

Bạch Cơ nói: “Chúng nói mọc cánh rất vất vả, Hiên Chi phải lấy hai đồng tiền ra mua cỏ cho chúng ăn.”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Rõ ràng là ngựa trong tranh, làm sao ăn cỏ được? Là Bạch Cơ ngươi muốn lừa hai đồng tiền của ta chứ gì?”

Bạch Cơ lấy quạt che mặt: “Nghe Ly Nô nói, Hiên Chi lén lút tiết kiệm được vài đồng tiền nhỉ.”

“Đó là tiền ăn uống ta tiết kiệm mỗi tháng, khó khăn lắm mới để dành được, ngươi đừng mơ lấy đi!”

“Ngựa ơi, ngựa ơi, Hiên Chi rất keo kiệt, không chịu mua cỏ cho các ngươi.” Bạch Cơ đưa tay vỗ lưng ngựa, hai luồng ánh sáng trắng sáng lên, trên lưng ngựa lập tức mọc ra hai chiếc cánh trắng muốt.

“Vù vù…” trên lưng ngựa của Nguyên Diệu cũng mọc ra hai chiếc cánh lớn.

Bạch Cơ leo lên ngựa cười nói với Nguyên Diệu: “Chúng nói, Hiên Chi đã nói với chúng tại sao ngươi muốn tiết kiệm tiền, lần này chúng không lấy phí cỏ nữa.”

Nguyên Diệu cũng leo lên ngựa, mặt hơi đỏ: “Chắc chắn phải nói sao?”

Hai con thiên mã đạp gió đêm, chở Bạch Cơ và Nguyên Diệu bay lên trời. Dưới ánh trăng, thiên mã đi khắp trời, chân không chạm đất, thu hết thành Trường An vào tầm mắt.

Bạch Cơ nói: “Đương nhiên phải nói chứ.”

Nguyên Diệu nhỏ giọng nói: “Mấy đồng tiền này, ta muốn để dành sau này cưới thê tử.”

“Phì.” Bạch Cơ cười: “Hiên Chi nghĩ xa thật. Nhưng vài đồng tiền chắc không đủ cưới vợ đâu.”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Nên ngươi đừng mơ lấy mấy đồng tiền của ta! Ta sẽ từ từ tiết kiệm thêm.”

Bạch Cơ hỏi: “Hiên Chi muốn cưới cô nương thế nào?”

Nguyên Diệu nhìn Bạch Cơ một cái, trong lòng nảy lên tình cảm khó tả, nhưng không thể nói ra cảm giác đó là gì: “Ta cũng không biết. Nhưng hy vọng nàng ấy là một cô nương chăm chỉ, hiền lành, dịu dàng và hiền thục.”

Bạch Cơ suy nghĩ một lát, nói: “Chăm chỉ, hiền lành, dịu dàng và hiền thục? Như Doanh Doanh cô nương?”

Nguyên Diệu đổ mồ hôi: “Cái đó, Bạch Cơ, ta không muốn cưới một con chồn.”

Bạch Cơ cười nham hiểm: “Hiên Chi đừng quá kén chọn, không thì sẽ độc thân suốt đời đó.”

Nguyên Diệu hét lên: “Điều này không liên quan đến việc kén chọn!”

Trong lúc nói chuyện, thiên mã đã hạ cánh xuống sân của Phiêu Miểu Các. Thiên mã trở lại tranh Bách Mã Đồ, Bạch Cơ và Nguyên Diệu chúc nhau ngủ ngon, rồi mỗi người đi nghỉ ngơi.

Ngày hôm sau, khi mặt trời lặn gần chạng vạng, Nguyên Diệu đang lau sàn nhà thì có người đến gõ cửa Phiêu Miểu các. Nguyên Diệu bỏ khăn lau sàn xuống và chạy ra mở cửa. Khi hắn mở cửa và nhìn rõ bốn người đứng bên ngoài, hắn lập tức sợ đến mức răng va vào nhau. Bốn cô nương xinh đẹp quyến rũ đứng ngay ngắn bên ngoài, một người có tai mèo, một người có mũi diều hâu, một người có đuôi bò cạp, và một người toàn thân có vảy rắn.

Nguyên Diệu run rẩy, nói: “Bốn đại tỷ… có… có việc gì vậy?”

Đồi Mồi cười nói: “Đúng là vô lễ. Chẳng lẽ ngươi để chúng ta đứng ngoài này nói chuyện sao?”

Nguyên Diệu chưa kịp trả lời, Đồi Mồi đã vươn tay đẩy hắn ra và dẫn xà nữ, ưng nữ, và hiệt nữ* vào trong Phiêu Miểu các. Xà nữ quay lại cười quyến rũ với Nguyên Diệu, thè chiếc lưỡi chẻ đôi ra.

* xà nữ, ưng nữ, và hiệt nữ: kiểu như người rắn, người bọ cạp, người diều hâu mà có thân nữ ấy, ai có cách gì kêu nó thuần việt thì hú em cái ạ.

Nguyên Diệu sợ hãi, không dám nhìn xà nữ. Hắn cúi đầu nhìn bốn đôi giày đỏ bước qua sàn nhà mới được lau sạch, để lại những dấu chân đầy máu thì dựng hết cả lông tơ.

Bạch Cơ ở bên trong đón tiếp Đồi Mồi.

Bạch Cơ và Đồi Mồi ngồi đối diện bên bàn ngọc xanh, xà nữ, ưng nữ, và hiệt nữ đứng một bên. Ly Nô thấy Đồi Mồi đến thì rất vui mừng, không chỉ pha trà thơm nhất mà còn lấy cá khô mà mình trân trọng nhất để chiêu đãi Đồi Mồi.

Ly Nô đứng bên cạnh Đồi Mồi, lúc thì vuốt đầu nàng, lúc thì đút cá khô cho nàng ăn, trông như một người ca ca cưng chiều muội muội. Đồi Mồi rất lúng túng, sợ mất thể diện trước thuộc hạ bèn sai xà nữ, ưng nữ, và hiệt nữ ra đại sảnh.

Nguyên Diệu đang lau sàn nhà trong đại sảnh, sau khi xà nữ, ưng nữ, và hiệt nữ ra ngoài thì họ đi lung tung khắp nơi. Sàn nhà mới lau sạch lại đầy dấu chân máu.

Nguyên Diệu hơi bực bội, nói: “Ta đã lau sàn nhà rất vất vả, phiền các tỷ đứng yên một chỗ được không?”

Xà nữ, ưng nữ, và hiệt nữ nghe vậy thì cười khúc khích và bắt đầu đuổi nhau chơi đùa trong đại sảnh.

Nguyên Diệu rất tức giận nhưng không dám làm gì, đành đặt khăn lau xuống, đợi họ đi rồi mới lau sàn lại.

Nguyên Diệu tò mò Đồi Mồi và Bạch Cơ đang nói gì, bèn giả vờ lau bức bình phòng rồi tiến vào.

Phía bên kia màn trướng hoa sen, Bạch Cơ đang ngồi, đối diện không thấy Đồi Mồi và Ly Nô đâu, thay vào đó là một con mèo màu đồi mồi và một con mèo đen. Mèo đồi mồi ngồi ngay ngắn nói chuyện với Bạch Cơ, mèo đen lúc thì dụi vào mèo đồi mồi, lúc thì vươn chân đặt lên đầu nàng.

Mèo đồi mồi nói: “Quỷ vương bảo rằng có thể cho mượn đèn Dẫn Hồn. Nhưng hắn có một điều kiện.”

Bạch Cơ hỏi: “Điều kiện gì?”

Mèo Đồi Mồi nói: “Quỷ vương hy vọng nàng đừng bán bùa chú ở phường Bình Khang nữa.”

Bạch Cơ nói: “Ôi chao, ta là một thương nhân, nếu không bán hàng thì làm sao duy trì việc làm ăn? Trong Phiêu Miểu các còn ba cái miệng đang đợi ăn kìa.”

Đồi mồi nói lớn: “Bớt bán một tấm bùa chú trong thanh lâu nhạc quán thì ngươi sẽ chết đói sao?”

Bạch Cơ cười nói: “Bớt bán một tấm bùa chú ở Phường Bình Khang ta sẽ không chết đói, nhưng nhiều người sẽ chết oan.”

Đồi Mồi lạnh lùng nói: “Điều đó không liên quan đến nàng.”

Bạch Cơ nói: “Quỷ vương cho ta mượn đèn dẫn hồn, trong ba tháng ta sẽ không bán bùa chú ở phường Bình Khang.”

Đồi Mồi nói: “Ba tháng? nàng không đùa đấy chứ? Điều đó khác gì luôn bán đâu?”

Bạch Cơ cười nói: “Nếu ta không thể ra khỏi Diêm Phù Đồ, thì ta sẽ mãi mãi không bán bùa chú ở phường Bình Khang nữa.”

Câu nói này làm Đồi Mồi suy nghĩ: “Nếu ngươi không trở về, Phiêu Miểu các cũng thuộc về Ngạ Quỷ Đạo sao?”

Bạch Cơ gật đầu: “Đúng vậy.”

Mèo đồi mồi nói: “Được, ta sẽ về báo cáo. Ta nghĩ Quỷ vương sẽ đồng ý. Nếu không có gì thay đổi thì ngày mai ta sẽ mang đèn dẫn hồn đến.”

Bạch Cơ nói: “Phiền rồi.”

Đồi Mồi và xà nữ, ưng nữ, hiệt nữ từ biệt rời đi, Ly Nô không yên tâm Đồi Mồi đi vào ban đêm nên kiên quyết muốn đưa nàng. Đồi Mồi thấy Ly Nô lo lắng thái quá nên mắng một câu. Ly Nô tức giận cũng trả lời lại một câu. Hai người vốn đang tốt đẹp lại bắt đầu cãi nhau. Cuối cùng, mèo đồi mồi cào một phát vào mèo đen rồi giận dữ bỏ đi.

Ly Nô rất buồn, ngồi dưới ánh trăng khóc: “Ta luôn muốn làm một ca ca tốt, tại sao Đồi Mồi lại không hiểu ta? Mỗi lần gặp mặt là lại cãi nhau với ta…”

Bạch Cơ cầm cần câu trúc ngọc, ngồi trên mái nhà câu cá an ủi Ly Nô: “Ly Nô đừng buồn nữa. Đồi Mồi vẫn rất quan tâm đ ến ngươi mà.”

Nguyên Diệu ở trong đại sảnh lau dấu chân máu mà, xà nữ, ưng nữ, hiệt nữ giẫm khắp nơi, hắn bận rộn cho đến khi trăng lên cao mới lau sạch sẽ, rồi đi ngủ.

Chiều hôm sau, Đồi Mồi mang đèn dẫn hồn đến. Vì được gói trong một tấm lụa nên Nguyên Diệu cũng không biết đèn dẫn hồn trông như thế nào.

Đồi Mồi nói với Bạch Cơ: “Khi nàng trở về từ Diêm Phù Đồ, ta sẽ đến lấy đèn dẫn hồn. Nếu nàng không trở về ta sẽ lấy Phiêu Miểu các.”

“Được.” Bạch Cơ mỉm cười nói.

Đồi Mồi hỏi: “Ngươi định đi Diêm Phù Đồ để làm gì?”

Bạch Cơ nói: “Để xác nhận một việc và thực hiện một nguyện vọng của khách hàng.”

“Khách hàng nào đáng để ngươi mạo hiểm như vậy?”

Bạch Cơ cười: “Bất kỳ khách hàng nào bước vào Phiêu Miểu các đều đáng để ta mạo hiểm như vậy.”

Đồi Mồi nhìn Ly Nô một cái, nói: “Ca ca ngốc của ta có thể không đi được không?”

Ly Nô vui mừng rơi nước mắt: “Đồi Mồi, muội vẫn quan tâm đ ến ta, ca ca vui quá. Nhưng ta vẫn quyết định đi cùng chủ nhân và tên mọt sách đến Diêm Phù Đồ, chúng ta đã nói sẽ cùng sống cùng chết, cùng tiến cùng lùi. Ngay cả một kẻ nhát gan như tên mọt sách cũng quyết định đi thì sao ta có thể rút lui không đi chứ?”

Nguyên Diệu lúng túng nói: “Ta chưa quyết định đi, là các người tự ý quyết định thay ta mà.”

Giọng Nguyên Diệu nhỏ đến mức chỉ có hắn nghe thấy.

“Ca ca là đồ ngốc!!” mèo đồi mồi hét lên một câu rồi chạy đi.

Mèo đen lại ra sân sau khóc: “Đồi Mồi mắng ta là đồ ngốc, muội ấy mắng ta là đồ ngốc…”

Bạch Cơ cầm cần câu trúc ngọc, ngồi trên mái nhà câu cá, an ủi Ly Nô: “Ly Nô, đừng buồn nữa. Đồi Mồi vẫn rất yêu quý ngươi mà.”
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 37: Ngọc Lang


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 5: Cỏ kiếp sau

Chương 7: Ngọc Lang

Đêm hôm sau, không sao không trăng, gió lạnh thổi từng cơn. Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Ly Nô chuẩn bị đi Diêm Phù Đồ. Nguyên Diệu lén đeo vài chuỗi vòng tay bằng gỗ đàn hương, còn đeo thêm vài chuỗi tràng hạt lên cổ, trong lòng còn giấu một thanh đoản kiếm bằng gỗ đào và một quyển “Kinh Kim Cang”.

Ly Nô thấy vậy, thì cào thư sinh một cái nói: “Đồ mọt sách chết tiệt, bỏ mấy thứ trong cửa hàng xuống!!”

Nguyên Diệu làm mặt méo nói: “Nếu không trở về được, thì những thứ này để cũng vô dụng. Ta chỉ là một người bình thường, đến một nơi tà ma như Diêm Phù Đồ, chín phần chết một phần sống, ít nhất phải mang theo vài thứ trừ tà thì mới yên tâm được.”

Bạch Cơ nói: “Nếu Nguyên Diệu cần mang theo một vài thứ để yên tâm thì cầm giùm ta đèn lồ ng sứa dạ quang. Ở Diêm Phù Đồ, cần dùng nó để chiếu sáng.”

Bạch Cơ đưa cho Nguyên Diệu một chiếc lọ thủy tinh nhỏ bịt kín.

Nguyên Diệu nhận lấy. Chiếc lọ thủy tinh nhìn không lớn nhưng rất nặng. Nguyên Diệu phải bỏ lại vòng tay, tràng hạt Phật, kiếm gỗ đào, và quyển “Kinh Kim Cang”, chỉ mang theo chiếc lọ thủy tinh.

Nguyên Diệu nhìn kỹ, bên trong lọ thủy tinh trống rỗng chẳng có gì.

Bạch Cơ lại đưa cho Nguyên Diệu một cái túi lụa màu tím ngọc bích: “Đây là bột ngọc mà sứa dạ quang thích ăn. Hãy giữ lấy, đến lúc sẽ cần.”

“Được.” Nguyên Diệu nhận lấy và đặt vào ngực áo.

Ly Nô biến thành mèo yêu chín đuôi, mạnh mẽ như hổ, trông rất đáng sợ. Trong đêm tối, mèo yêu chín đuôi phun ra ngọn lửa xanh, đôi mắt xanh biếc sáng rực.

Bạch Cơ và Nguyên Diệu cưỡi lên mèo yêu tiến đến Diêm Phù Đồ. Yêu quái bốn chân đạp gió, lao nhanh trong đêm đen tĩnh mịch. Trên đường đi, Nguyên Diệu liên tục niệm Phật, chỉ mong có thể bình an vô sự.

Ngay cả trong đêm tối mờ mịt, vẫn có thể thấy Diêm Phù Đồ liên tục toát ra khí đen của tử vong từ xa. Khi Ly Nô đến gần Diêm Phù Đồ, mắt Nguyên Diệu trở nên tối đen, không thể nhìn thấy gì cả. Bên tai hắn không ngừng vang lên những tiếng kêu than xé lòng, rùng rợn.

Trong bóng tối, Nguyên Diệu run rẩy hỏi: “Ai đang kêu than vậy?”

Trong bóng tối, Bạch Cơ âm u nói: “Là những phi nhân trong địa ngục. Họ đang chịu đựng đủ loại cực hình, chịu đựng đủ loại đau đớn, chúng sinh tàn sát lẫn nhau, nuốt chửng lẫn nhau, nhưng không bao giờ chết. Họ trải qua nỗi đau bị giết hại từng năm từng tháng, hoàn toàn không thể thoát khỏi. Họ không sống, không chết, không có quá khứ, cũng không có tương lai.”

Trong bóng tối, Ly Nô âm u nói: “Chủ nhân, chúng ta phải xuống rồi.”

Bạch Cơ nói: “Được.”

Mèo yêu đáp xuống mặt đất. Bốn phía tối đen như mực, giơ tay không thấy năm ngón, tiếng kêu than rùng rợn, tiếng hét thảm thiết rõ ràng và chói tai: “A a…thật đau khổ…thật đau khổ…”

“Á a…nóng quá, đau quá…”

“Chân của ta, chân của ta mất rồi…á á…”

“Ruột bị kéo đứt rồi, thật đau khổ…”

Răng của Nguyên Diệu bắt đầu va vào nhau lập cập.

Bạch Cơ nói: “Nguyên Diệu, mở lọ thủy tinh thả sứa dạ quang ra.”

“Được.” Nguyên Diệu đáp. Hắn mò mẫm mở nắp lọ thủy tinh ra, một cơn gió lạnh cuốn lên, như có nhiều thứ lạnh lẽo trơn trượt chạm vào mặt hắn, trọng lượng của lọ thủy tinh dần dần nhẹ đi.

Nguyên Diệu nhìn xung quanh, vẫn là một màu đen kịt chẳng thấy sứa dạ quang đâu.

“Bạch Cơ, sứa dạ quang đâu? Sao ta không thấy gì cả?”

Bạch Cơ nói: “Rải hết bột ngọc trong túi ra rồi ngươi sẽ thấy.”

Nguyên Diệu lấy túi lụa ra, mở dây buộc, nắm một ít bột ngọc, nhưng tay hắn run rẩy liên tục, bột ngọc cứ từ kẽ ngón tay rơi ra, hắn đành nắm cả túi rải hết bột ngọc ra ngoài.

Bột ngọc vẽ một đường vòng cung trong không trung, kéo theo một tia sáng.

Khoảnh khắc ánh sáng của bột ngọc biến mất, Nguyên Diệu nhìn thấy một cảnh tượng thần kỳ, miệng há hốc.

Bắt đầu từ đường vòng cung của bột ngọc, trong bóng tối hiện lên những ngọn đèn xanh lam như dải Ngân Hà đầy sao trên trời. Nhìn kỹ, thì thấy những điểm sáng xanh đó không phải là đèn mà là những con sứa trong suốt. Chúng lấp lánh rực rỡ mềm mại như lụa, như những cây nấm phát sáng trong suốt, lơ lửng bồng bềnh trong không trung.

Dưới ánh sáng của sứa dạ quang, Nguyên Diệu nhìn thấy những khuôn mặt người nhăn nhó vặn vẹo, có kẻ da thịt nứt nẻ, có kẻ thất khiếu bốc khỏi. Những khuôn mặt người này không có thân thể, chúng đột ngột hiện lên trong bóng tối vô tận, trừng trừng nhìn Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Ly Nô.

“Rầm…” Nguyên Diệu sợ đến mức không giữ nổi lọ thủy tinh, lưỡi hắn run rẩy, không nói được câu hoàn chỉnh: “Bạch… Bạch…”

Bạch Cơ lại cười lớn: “Ha ha, Nguyên Diệu, chúng ta đã đến địa ngục rồi!”

Miệng Nguyên Diệu đắng nghét, không nói nên lời. Một đống mặt người lao tới Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Ly Nô nhảy lên, phun ra ngọn lửa yêu màu xanh, những khuôn mặt người lập tức lùi lại.

“Chủ nhân, bây giờ chúng ta đi đâu đây?” Mèo yêu hỏi Bạch Cơ.

Nơi mà ánh sáng của sứa dạ quang không chiếu tới là bóng tối vô biên vô tận. Trong bóng tối vô biên vô tận đó, truyền đến đủ loại âm thanh kinh hoàng làm hắn dựng tóc gáy.

Bạch Cơ nói: “Địa ngục đạo chia thành tám đại nhiệt địa ngục, tám đại hàn địa ngục, cận biên địa ngục và cô độc địa ngục. Chúng ta hiện tại có lẽ đang ở trong bát nhiệt địa ngục. Bát nhiệt địa ngục lại chia thành Đẳng Hoạt địa ngục, Hắc Thằng địa ngục, Hợp Chúng địa ngục, Khiếu Hoán địa ngục, Đại Khiếu Hoán địa ngục, Tiêu Nhiệt địa ngục, Đại Tiêu Nhiệt địa ngục và Vô Gián địa ngục. Chúng ta bây giờ chắc đang ở Đẳng Hoạt địa ngục. Ôi chao, địa ngục quá lớn, muốn tìm một người trong địa ngục thực không dễ dàng. Chúng ta hãy chờ ở đây để những hình nhân giấy đi tìm.”

Bạch Cơ lấy một xấp hình nhân giấy từ tay áo ra, đặt lên môi thổi một hơi. Những hình nhân giấy rơi xuống đất, hóa thành những người mặc áo trắng không có ngũ quan, di chuyển ra xung quanh. Tất cả những hình nhân giấy đều phát ra âm thanh vàng vọt, gọi to: “Ngọc Lang…Ngọc Lang…”

Nguyên Diệu mồ hôi lạnh, hỏi Bạch Cơ: “Nàng đến Diêm Phù Đồ là để tìm Ngọc Lang ư?”

Bạch Cơ đáp: “Không phải tìm Ngọc Lang, mà là xem Ngọc Lang có ở Diêm Phù Đồ không.”

Nguyên Diệu hỏi: “Ngọc Lang sẽ ở Diêm Phù Đồ sao?”

Bạch Cơ nói: “Không rõ. Nhưng cỏ ba đời không thấy được quá khứ, hiện tại và tương lai của Ngọc Lang, rất có thể là hắn đã bị mắc kẹt ở Diêm Phù Đồ.”

Nguyên Diệu nuốt nước bọt, ngồi chờ với Bạch Cơ. Những khuôn mặt người càng lúc càng tiến gần, liên tục nhỏ xuống chất lỏng hôi tanh, chúng mở to những cái miệng máu, dường như muốn nuốt chửng Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô vào miệng. Ly Nô không ngừng phun ra ngọn lửa xanh, ngăn cản những khuôn mặt tiến lại. Nhưng rõ ràng, ngọn lửa của Ly Nô không thể ngăn cản đám quỷ ngục hoành hành.

Nguyên Diệu rầu rĩ nói: “Bạch Cơ, Ly Nô lão đệ sắp không chịu nổi rồi, ngươi cũng phun lửa đi.”

Bạch Cơ cười nói vào tai Nguyên Diệu: “Lửa rồng không những sẽ thiêu đốt quỷ, mà còn khiến Nguyên Diệu thành tro bụi nữa.”

Nguyên Diệu rơi nước mắt: “Bây giờ như thế này ta cũng sẽ bị những khuôn mặt này ăn mất thôi?”

Bạch Cơ nói: “Đứng yên cũng chẳng thú vị. Hiếm khi đến địa ngục, chúng ta hãy đi tham quan một chút nào.”

Ly Nô nói: “Chủ nhân, nếu đi đến Vô Gián địa ngục thì chúng ta thật sự không thể trở về nữa đâu.”

“Không sao.” Bạch Cơ cười: “Có đèn dẫn hồn mà.”

Ly Nô lo lắng nói: “Ý của Ly Nô là càng đi vào trong, quỷ ngục không chỉ càng nhiều mà còn càng hung ác, chỉ sợ khó thoát thân.”

Bạch Cơ nói một câu không liên quan: “Ta đói rồi. Muốn ăn khuya.”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Lúc này mà ngươi còn muốn ăn khuya nữa? Chúng ta sắp trở thành bữa khuya của những ác quỷ này rồi! Ta kiếp trước đã làm gì sai trái…”

Bạch Cơ cười tươi cắt lời Nguyên Diệu: “Nguyên Diệu đừng giận, chúng ta hãy đi dạo địa ngục giải khuây nào.”

Bạch Cơ nói với Ly Nô: “Đi vào trong.”

“Vâng, chủ nhân.” Ly Nô đáp.

Ly Nô cõng Bạch Cơ và Nguyên Diệu tiến sâu vào Diêm Phù Đồ, sứa dạ quang luôn bay quanh họ, chiếu sáng cảnh vật xung quanh. Không chiếu thì không sao, chiếu rồi chỉ làm Nguyên Diệu sợ đến run rẩy cả người.

Dưới ánh sáng ban đêm, rất nhiều con quỷ đang đi trong hoang dã, trên tay họ mọc ra móng vuốt sắt, gặp nhau là cào xé nhau. Họ bị cào nát da thịt, máu thịt lẫn lộn. Khi máu chảy hết, họ ngã xuống nằm đó. Tuy nhiên một cơn gió lạnh thổi qua, khiến da thịt họ học mới lại hoàn toàn. Họ lại đứng lên, tiếp tục đi, gặp nhau lại cào xé nhau. Lặp đi lặp lại, không ngừng chịu đau đớn.

Bạch Cơ cười nói: “Đây là Đẳng Hoạt địa ngục, nếu không may bị kẹt ở đây thì ta và Nguyên Diệu sẽ trở thành như vậy, ta cào một cái, Nguyên Diệu cào một cái, ta lại cào một cái, Nguyên Diệu lại cào một cái. Vui lắm đúng không?”

Nguyên Diệu run rẩy nói: “Không… vui…”

Khi Ly Nô đi qua, những quỷ ngục ngừng cào xé nhau, chuyển sang đuổi theo Ly Nô.

Ly Nô lại đi qua hai nơi, một nơi quỷ ngục bị trói bằng dây sắt nóng đỏ, có ác quỷ mặt xanh răng nhọn dùng rìu chém họ, dùng cưa sắt cưa họ. Một nơi có hai ngọn núi sắt khổng lồ, quỷ ngục chen chúc giữa hai ngọn núi sắt, bị ép nát thịt xương, trở thành thịt băm.

Bạch Cơ cười nói: “Đây là Hắc Thằng địa ngục và Hợp Chúng địa ngục, thú vị không, Nguyên Diệu?”

Răng Nguyên Diệu va nhau lập cập, miệng đắng nghét.

Khi Ly Nô đi qua, những quỷ ngục trong Hắc Thằng địa ngục và Hợp Chúng địa ngục đua nhau đuổi theo làm đen kịt cả một vùng.

Ly Nô cõng Bạch Cơ và Nguyên Diệu lại đi qua Khiếu Hoán địa ngục, nơi nơi toàn là tiếng r3n rỉ không dứt, họ bị đổ lửa nóng vào miệng, thiêu đốt ruột gan, và Tiêu Nhiệt địa ngục, nơi quỷ ngục nằm trên sắt nóng đỏ, bị cây gậy nóng đập nát từ đầu đến chân thành thịt băm. Quỷ ngục đuổi theo Ly Nô càng ngày càng nhiều, dày đặc cả một vùng, Nguyên Diệu rợn tóc gáy, không dám quay đầu nhìn lại dù chỉ một lần.

Ba người đến điểm cuối của bát nhiệt địa ngục…Vô Gián địa ngục, Nguyên Diệu nhìn cảnh tượng khủng khiếp trước mắt, không còn hi vọng sống sót để thoát khỏi Diêm Phù Đồ.

Nguyên Diệu yếu ớt nói: “Bạch Cơ, nếu chúng ta không ra được thì sẽ thế nào?”

Bạch Cơ cười nói: “Có lẽ sẽ bị những quỷ ngục này ăn mất, sau đó trở thành một trong số chúng, không có suy nghĩ, không có linh hồn, không có kiếp trước, không có kiếp sau, chỉ có nỗi đau và sợ hãi vô tận.”

Bạch Cơ chắp tay kết ấn pháp, miệng lẩm nhẩm một câu chú: “Quay về!”

Trong bóng tối, không có hình nhân giấy nào quay lại.

Một lúc sau, một hình nhân giấy bị cháy chỉ còn nửa thân lơ lửng bay về.

Bạch Cơ đưa tay ra, hình nhân giấy dừng trên lòng bàn tay nàng. Hình nhân giấy “bùng” lên một ngọn lửa, cháy hóa thành tro.

Bạch Cơ lẩm bẩm: “Không tìm thấy Ngọc Lang. Xem ra, Ngọc Lang không ở Diêm Phù Đồ rồi.”

Ly Nô dừng lại trên một tảng đá, phun ra một luồng lửa xanh, đẩy lùi một đám quỷ ngục đang tràn đến.

“Chủ nhân, quỷ ngục ngày càng nhiều.”

Bạch Cơ quay đầu nhìn lại, trên không trung có một đám khuôn mặt dữ tợn tiến gần, dưới đất có vô số quỷ ngục mặt xanh răng nhọn, hoặc thân thể không lành lặn, không ngừng từ xa tiến lại, bao vây Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô.

Ly Nô.

Nguyên Diệu nuốt nước bọt, nói: “Ta có một lời trăn trối, muốn nói trước đã.”

Ly Nô mắng: “Đồ mọt sách ngốc, im cái miệng quạ của ngươi lại đi!”

Bạch Cơ nói: “Người sắp chết, lời nói cũng hay hơn. Hiên Chi cứ nói đi.”

“Ừm, lần trước ta nói muốn cưới một cô nương chăm chỉ và hiền lành, sau đó lại nghĩ rằng cô nương này lười một chút cũng không sao… Ta chăm chỉ hơn một chút chắc chắn có thể chăm sóc nàng ấy…”

“Hả?!” Bạch Cơ nói: “Hiên Chi muốn nói điều đó sao?”

“Thế ngươi nghĩ là gì?” Nguyên Diệu tức giận nói.

“Ta tưởng Hiên Chi sẽ nói giấu mấy xâu tiền ở đâu chứ.”

“Haha, ta cũng muốn biết tiền riêng của mọt sách giấu ở đâu.” Ly Nô cười nói.

Nguyên Diệu tức giận nói: “Dù có chết ta cũng không nói nơi giấu tiền cho các ngươi!”

Ba người đang cãi vã thì một đám quỷ ngục tiến tới, như muốn nuốt chửng ba người. Một con quỷ ngục như rắn khổng lồ há to miệng máu lao về phía Ly Nô. Trên thân rắn đầy những khuôn mặt người dày đặc, da thịt đều thối rữa, chảy đầy mủ máu.

Ly Nô nhảy lên một cái, cõng Bạch Cơ và Nguyên Diệu né tránh cú tấn công. Nhưng không may, khi rắn lướt qua, một khuôn mặt trên thân rắn há miệng cắn vào chân trái của Nguyên Diệu, kéo hắn xuống.

“A… a a…” Nguyên Diệu rơi xuống vực sâu vạn trượng.

Dưới vực sâu vạn trượng, là một hồ lửa hồng liên sôi sục.

Nguyên Diệu chúc đầu xuống, lao thẳng vào hồ lửa hồng liên, bên tai hắn là tiếng gió rít gào, trước mắt là hình ảnh của những ác quỷ chết thảm hiện lên. Cảnh tượng đảo ngược, mờ ảo như ảo giác, giống như sắp chạm vào cái chết.

Nguyên Diệu nghĩ rằng mình chắc chắn chết, nhắm mắt lại.

Ngay lúc Nguyên Diệu nhắm mắt, trong bóng tối phát ra một ánh sáng trắng chói lóa. Một tiếng long ngâm hùng mạnh vang lên, trên chấn thiên vũ, dưới kinh hoàng hoàng tuyền.

Nguyên Diệu mở mắt ra, nhìn thấy một con rồng trắng khổng lồ bốc lửa bay lượn trên không trung địa ngục, ngẩng đầu phát ra một tiếng ngâm dài.

Rồng trắng rất lớn, thân hình như rắn linh, sừng như san hô, móng vuốt như lưỡi liềm, râu như giáo, uy mãnh mà đẹp đẽ. Con quỷ ngục như rắn giãy dụa dưới móng vuốt rồng như một con giun.

Trên thân rồng trắng phủ đầy ngọn lửa vàng và màu lam, chiếu rọi bóng tối của bát nhiệt địa ngục. Đồng tử rồng trắng ánh lên vàng rực, vừa dịu dàng vừa tàn nhẫn. Đột nhiên, râu rồng dựng đứng, há miệng rộng, một cơn gió lốc nóng rực cuốn qua, các quỷ ngục trong bát nhiệt địa ngục đều bị nuốt vào bụng rồng.

Nguyên Diệu chỉ cảm thấy một cơn gió lốc nóng rực cuốn lấy mình, một lực mạnh hút hắn vào miệng rồng.

“Mọt sách!!” Trong khoảnh khắc nguy cấp, một con thú như hổ mạnh mẽ lao qua dùng vuốt nhắm lấy cổ Nguyên Diệu, kéo hắn ra.

Con thú cõng Nguyên Diệu, nhảy vài cái tránh khỏi lửa rồng, đi đến nơi an toàn.

Nguyên Diệu từ xa nhìn lại, các sinh linh trong bát nhiệt địa ngục cùng với ngọn lửa địa ngục liên tục bị nuốt vào bụng rồng. Chẳng mấy chốc, vô gián địa ngục chỉ còn lại một mảnh hoang vắng và tối tăm vô tận.

Rồng trắng ngẩng đầu phát ra một tiếng ngâm dài làm rung chuyển cả trời đất. Nó bay về phía Nguyên Diệu và Ly Nô, đối diện họ trên không trung. Nó có dáng vẻ mạnh mẽ, khí thế như cầu vồng, toàn thân toát ra một vẻ đẹp tràn đầy sức mạnh. Trong ngọn lửa, nó cúi đầu, đôi mắt vàng ấm áp nhìn Nguyên Diệu: “Hiên Chi, nhân lúc ta còn ngon miệng, ta sẽ ăn ngươi luôn nhé?”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Đừng hòng!”

“Hiên Chi thật keo kiệt!” Rồng trắng không vui nói.

Một ngọn lửa màu vàng đỏ bốc lên, rồng trắng trong ngọn lửa biến thành một nữ nhân yểu điệu bước đi trong không trung, trang sức kêu leng keng đi về phía Nguyên Diệu.

Bạch Cơ vỗ bụng, nói: “A a, ăn no thật, nhưng hơi nóng. Hiên Chi, về nhà pha cho ta một ly trà mát nhé.”

Ly Nô bĩu môi nói: “Chủ nhân, sao người ăn hết rồi? Không để lại cho Ly Nô hai con.”

Bạch Cơ đưa tay lên vỗ đầu con thú: “Ly Nô vẫn nên về ăn cá khô đi. Ngươi tạm thời chưa chịu được nghiệp hỏa hồng liên của địa ngục, ăn quỷ ngục sẽ thiêu rụi ngũ tạng lục phủ.”

Miệng Nguyên Diệu đắng nghét: “Bạch Cơ, Ly Nô huynh đệ, bớt nói nhảm đi, chúng ta mau quay về nào.”

Bạch Cơ nói: “Nếu Ngọc Lang không ở trong Diêm Phù Đồ, vậy chúng ta quay về thôi.”

Bạch Cơ lấy ra một cái bọc nhỏ, cẩn thận mở ra.

Dưới ánh sáng của đom đóm biển, Nguyên Diệu nhìn thấy một cái đèn hình hoa sen ngàn cánh. Bạch Cơ đưa ngón tay chạm nhẹ vào trung tâm của đèn. Trên nhụy h0a sen bỗng tỏa ra một ngọn lửa vàng. Đèn sen vàng từ từ nổi lên không trung, các đom đóm biển tụ lại, ánh đèn vàng và ánh sáng xanh hòa quyện vào nhau nhìn đẹp như mơ.

Nguyên Diệu nhìn ngọn đèn vàng, há hốc mồm: “Đây là… đèn dẫn hồn sao?”

Bạch Cơ cười nói: “Phải. Rất đẹp phải không? Thật không muốn trả lại cho quỷ vương.”

Ly Nô nói: “Chủ nhân, vậy thì đừng trả lại. Quỷ Vương luôn thèm muốn bảo vật trong Phiêu Miểu các, còn hay nói xấu người sau lưng, lần này mượn người đèn dẫn hồn cũng không có ý tốt, rõ ràng muốn người bị kẹt trong Diêm Phù Đồ không bao giờ trở về được nữa, để hắn thừa hưởng bảo vật trong Phiêu Miểu các của ngài thôi.”

Bạch Cơ nói: “Dù không muốn trả, cũng biết hắn không có ý tốt nhưng vẫn phải trả. Làm người phải giữ chữ tín.”

“Chủ nhân, chúng ta là phi nhân.”

Bạch Cơ cười nói: “Phi nhân cũng vậy.”

Nguyên Diệu đau khổ nói: “Chúng ta có thể quay lại Phiêu Miểu các trước rồi hãy bàn những vấn đề khác được không?”

“Hiên Chi nói có lý.” Bạch Cơ nói.

“Cũng được.” Ly Nô nói.

Trong vô gián địa ngục, trên đường Hoàng Tuyền, một ngọn đèn vàng nổi lên trong bóng đen vô tận, chỉ dẫn Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Ly Nô qua sự chết chóc và hoang tàn vô biên.

Bạch Cơ, Nguyên Diệu và Ly Nô theo đèn dẫn hồn bước đi, băng qua núi lửa, biển máu, đống xác chết, trải qua kiếp trước, hiện tại và tương lai. Ba người đi rất lâu, xung quanh yên tĩnh chỉ còn tiếng gió rít.

“Hu hu… hu hu hu…”

Đột nhiên, Nguyên Diệu nghe thấy tiếng ai đó đang khóc. Hắn nhìn xung quanh, chỉ thấy một màu đen vô tận, không thấy gì cả.

“Bạch Cơ, hình như có ai đó đang khóc ấy.”

Bạch Cơ nhìn quanh, lắng tai nghe nhưng không nghe thấy gì.

“Không có ai khóc cả.”

” Hu hu… hu hu hu…” tiếng khóc rõ ràng hơn.

Nguyên Diệu nói: “Rõ ràng có người đang khóc.”

“Hiên Chi nghe lầm rồi.”

“Ly Nô lão đệ thính tai, để nó nghe thử xem.”

Ly Nô nghiêng tai nghe, ngoài tiếng gió thì không có gì cả.

“Đâu có ai khóc? Mọt sách ngốc, ngươi sợ quá hóa điên rồi sao?”

“Hu hu… hu hu hu…” tiếng khóc càng rõ ràng như ngay bên tai.

Nguyên Diệu nói: “Ta không điên. Thật sự có người đang khóc.”

“Hiên Chi nghe lầm rồi.” Bạch Cơ không để ý Nguyên Diệu, tiếp tục đi tới trước.

Ly Nô cũng không để ý Nguyên Diệu, tiếp tục đi tới trước.

Nguyên Diệu lắng nghe kỹ thì thấy tiếng khóc ngay bên tai. Hắn cúi đầu nhìn, dưới đất có một bộ xương trắng, bộ xương trắng xóa nổi bật giữa tro tàn.

Giống như bị một sức mạnh bí thu hút, Nguyên Diệu cúi người nhặt mảnh xương lên.

Khi tay chạm vào xương thì giống như bị sét đánh, Nguyên Diệu ngã xuống đất. Bạch Cơ và Ly Nô đi phía trước, không phát hiện Nguyên Diệu ngã, họ càng lúc càng xa.

Trong lúc mơ màng, Nguyên Diệu nghe thấy tiếng ai đó đang khóc: “Hu hu… hu hu hu…”

Nguyên Diệu hỏi: “Ai đang khóc?”

“Là ta.” Một giọng nam trầm ấm nói.

“Tại sao ngươi khóc?”

“Ta bị kẹt trong Diêm Phù Đồ nhiều năm, ta phải rời khỏi đây nhưng không có cách nào khác. Vị hôn thê của ta còn đang chờ ta ngoài kia, ta phải rời khỏi đây. Hu hu…”

Nguyên Diệu thở dài: “Thật đáng thương. Bị kẹt trong Diêm Phù Đồ, hẳn là rất khổ sở.”

“Ngươi hình như đang định rời khỏi Diêm Phù Đồ, có thể mang ta theo không? Hu hu…”

Nguyên Diệu nói: “Tất nhiên là được. Chúng ta cùng đi nhé.”

“Tuyệt quá.” Giọng nói trở nên vui vẻ.

Nguyên Diệu mắt tối sầm, mất ý thức giống như bị một vật cùn đánh vào sau gáy vậy.

Đi được một đoạn, Bạch Cơ quay đầu nói: “Con đường Hoàng Tuyền này đi thật cực nhọc. Hiên Chi thấy sao?”

Phía sau trống không, không thấy Nguyên Diệu đâu cả.

Bạch Cơ ngạc nhiên: “Ê? Hiên Chi đâu rồi?”

Ly Nô dừng bước quay lại, không thấy Nguyên Diệu thì mắng: “Cái tên mọt sách ngốc này, chắc là ngại đường xa cực khổ chạy đâu đó trốn rồi!”

Bạch Cơ nói: “Hiên Chi nhát gan, chắc không dám chạy lung tung trong Diêm Phù Đồ này đâu.”

Ly Nô nói: “Quỷ ngục trong bát nhiệt địa ngục đều bị chủ nhân ăn hết rồi, mọt sách ngốc cũng không có lý do gì bị quỷ ngục bắt đi cả.”

Bạch Cơ suy nghĩ một lúc, nói: “Quay lại tìm xem.”

Ly Nô nói: “Đèn dẫn hồn chỉ được đi tới, không được quay lại, đường Hoàng Tuyền không thể đi ngược nếu không sẽ không ra được.”

Ngọn đèn dẫn hồn vàng vẫn tiếp tục di chuyển, không dừng lại.

Bạch Cơ do dự một lúc, rồi quay đầu đi ngược lại.

“Ly Nô, ngươi cứ theo đèn dẫn hồn đi trước, ta quay lại tìm. Hiên Chi chưa trả hết nợ, không thể để hắn ở lại Diêm Phù Đồ được.”

Ly Nô suy nghĩ một chút, cũng quay lại theo Bạch Cơ: “Ly Nô cũng sẽ đi cùng chủ nhân, không thể để tên mọt sách ngốc lười biếng trốn việc trong Diêm Phù Đồ được.”

Bạch Cơ và Ly Nô vừa đi ngược lại được hơn mười bước thì một thư sinh mặc áo xanh rách rưới, mờ mịt, mơ màng xuất hiện. Bạch Cơ và Ly Nô nhìn kỹ, không phải Nguyên Diệu thì là ai nữa đây.

Ly Nô mắng: “Tên mọt sách ngốc này, ngươi đã đi đâu vậy?”

Nguyên Diệu lí nhí nói: “Ta vừa mới không may ngã một cái…”

Bạch Cơ nhìn chằm chằm vào Nguyên Diệu, đôi mắt vàng lóe sáng.

Ly Nô thở phào nhẹ nhõm: “Đúng là vô dụng, nhưng may mà đã trở lại.”

Nguyên Diệu thấy Bạch Cơ nhìn chằm chằm vào mình thì vội cúi đầu, không dám đối diện với ánh mắt của nàng.

Bạch Cơ cười nhạt: “Ra khỏi Diêm Phù Đồ đã rồi nói tiếp.”

Ly Nô nhìn vào đèn dẫn hồn chỉ còn một chút ánh sáng vàng ở xa, nói: “Để tránh xảy ra sự cố, Ly Nô sẽ cõng chủ nhân và tên mọt sách ngốc ra khỏi Diêm Phù Đồ.”

“Được.” Bạch Cơ đáp.

Ly Nô cõng Bạch Cơ và Nguyên Diệu, đuổi theo đèn dẫn hồn, tiếng gió rít gào, lửa ngục bùng cháy. Đèn dẫn hồn dẫn Ly Nô vượt qua ba ngọn núi lớn, ba con sông, ba khu rừng, ba bãi đầm lầy, cuối cùng họ đã thấy bầu trời sao. Họ đã ra khỏi Diêm Phù Đồ.

Ly Nô đặt Bạch Cơ và Nguyên Diệu xuống, biến thành một con mèo đen nhỏ.

Bạch Cơ cất đèn dẫn hồn vào tay áo.

Bạch Cơ ngẩng đầu nhìn bầu trời sao, rồi quay đầu nhìn Nguyên Diệu. Trên đất rải rác vài viên đá máu quỷ màu đỏ. Nguyên Diệu cúi xuống nhặt ba viên. Ánh sao chiếu lên khuôn mặt nghiêng của hắn, một giọt nước mắt rơi xuống.

Con mèo đen nhảy lên vai Nguyên Diệu, duỗi móng vỗ đầu hắn: “Tên mọt sách ngốc này, ngươi nhặt mấy viên đá vỡ này làm gì? Ta cõng ngươi ra ngoài đau lưng muốn chết, giờ ta không muốn đi nữa, ngươi cõng ta về Phiêu Miểu các.”

Nguyên Diệu không phản ứng gì.

Bạch Cơ bước đến gần Nguyên Diệu, đưa tay nâng cằm hắn lên, dùng đôi mắt vàng nhìn chằm chằm vào hắn: “Ngươi là ai? Tại sao lại nhập vào thân thể của Hiên Chi?”

Nguyên Diệu mở miệng, giọng nói thay đổi, trở nên trầm ấm: “Ta là Ngọc Lang.”

Bạch Cơ nhướng mày: “Ngươi là Ngọc Lang? Vị hôn phu của Doanh Doanh cô nương?”

Nguyên Diệu gật đầu: “Đúng vậy.”

Ly Nô nhảy xuống, nhìn chằm chằm vào Nguyên Diệu, ngạc nhiên nói: “Ê, người ta cõng ra không phải mọt sách ngốc?!! Mà là một con chồn hoang ư?!!”

Bạch Cơ cười lớn: “Haha, quả không hổ là Hiên Chi, ta tìm mãi không thấy hắn lại dễ dàng có được! Ngọc Lang công tử, đêm nay ta đến Diêm Phù Đồ là để tìm ngươi.”

Nguyên Diệu nói: “Ngươi là ai? Tại sao lại tìm ta?”

Bạch Cơ nói: “Phiêu Miểu các, Bạch Cơ. Doanh Doanh cô nương đến Phiêu Miểu mua một nguyện vọng, để thực hiện nguyện vọng đó nên ta đã đến Diêm Phù Đồ tìm ngươi.”

Nguyên Diệu rơi nước mắt, lẩm bẩm: “Doanh Doanh, Doanh Doanh nàng có khỏe không? Nàng hiện đang ở đâu? Ta nghe thấy Doanh Doanh gọi ta… Ta hình như đã ở Diêm Phù Đồ rất lâu, nàng chắc chắn đã lấy phu quân rồi? Ta có lỗi với nàng, không thực hiện được lời hứa mang đá máu quỷ về cưới nàng.”

Bạch Cơ nói: “Doanh Doanh cô nương đang chờ ngươi, vẫn luôn chờ ngươi.”

Nguyên Diệu khóc nức nở: “Doanh Doanh…”

Bạch Cơ hỏi: “Những năm qua ngươi luôn ở trong Diêm Phù Đồ sao?”

“Đúng vậy.” Nguyên Diệu nói, hắn chìm vào hồi tưởng. Nhiều năm trước, vào một ngày nọ, hắn vừa đến ngoài Diêm Phù Đồ, chuẩn bị nhặt vài viên đá máu quỷ rồi lập tức rời đi thì ai ngờ có một cơn bão ập đến, cuốn hắn vào trong Diêm Phù Đồ. Diêm Phù Đồ tối đen, hắn không thấy gì, trong lòng hoảng loạn nên chạy lung tung. Một con quái vật khổng lồ như con rắn lớn đi qua nuốt hắn vào bụng: “Ta bị một con quái vật toàn thân là mặt người nuốt vào bụng, một mảnh xương của ta bị nó nhổ ra, rơi vào một nơi nào đó trong Diêm Phù Đồ. Hồn ta hóa thành một gương mặt trên người nó. Từ đó ta không còn ký ức, luôn mơ mơ màng màng, không nghĩ không nhớ, quên mất mình từ đâu đến, cũng quên mất mình đi đâu. Cho đến đêm nay khi ta nghe thấy Doanh Doanh gọi tên ta, gọi hết lần này đến lần khác thì đột nhiên nhớ ra vài chuyện. Ta là Ngọc Lang, ta có một vị hôn thê đang chờ ta về, ta phải rời khỏi Diêm Phù Đồ. Ta biết không ai có thể rời khỏi Diêm Phù Đồ nên lòng rất buồn, nên mới bật khóc. Vị huynh đệ tốt này nghe thấy tiếng khóc của ta bèn dừng bước. Ta nhờ hắn mang ta ra khỏi Diêm Phù Đồ, và hắn đồng ý. Vì vậy ta mới mượn tạm thân thể của hắn.”

Ly Nô lẩm bẩm: “Tên mọt sách ngốc đúng là tốt bụng quá mức.”

Bạch Cơ nhíu mày: “Ngọc Lang công tử bị quỷ ngục nuốt vào bụng, còn từng hóa thành quỷ ngục sao?”

Nguyên Diệu gật đầu.

Bạch Cơ chìm vào im lặng.

Nguyên Diệu vội nói: “Giờ ta đã khôi phục ý thức, cũng đã ra khỏi Diêm Phù Đồ.”
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 38: Hôn lễ


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 5: Cỏ kiếp sau

Chương 8: Hôn lễ

Đã là sáng sớm, phương đông dần hiện lên màu trắng, từ xa vang vọng tiếng gà gáy: “Ò ó o…”

Khi tia nắng đầu hiên chiếu xuống mặt đất, Bạch Cơ nói với Ngọc Lang: “Thật đáng tiếc, ngươi không thể ra khỏi Diêm Phù Đồ, cũng không thể tồn tại trong thế gian. Người từng là quỷ ngục, vĩnh viễn không thể đi lại trong nhân gian.”

Nguyên Diệu rơi nước mắt, buồn bã nói: “Không, không… ta còn phải gặp Doanh Doanh, ta còn phải cưới nàng, ta còn phải cưới nàng…”

Khi gà gáy dứt, trời sáng rõ, Bạch Cơ và Ly Nô dường như thấy một bóng dáng con chồn hoang màu nâu sẫm rời khỏi thân thể Nguyên Diệu, biến mất vào không trung hóa thành hư vô. Ánh mắt của nó đầy đau khổ, buồn bã, bất lực.

Nguyên Diệu ngất xỉu trên đất, tay vẫn nắm chặt ba viên đá máu quỷ.

Bạch Cơ thở dài: “Trong lục đạo luân hồi không còn Ngọc Lang nữa. Trước đây Ngọc Lang và Doanh Doanh yêu nhau, chỉ thiếu một bước nữa là thành vợ chồng, đầu bạc răng long. Nay, hai người âm dương cách biệt, sinh tử gắn kết, nhưng vẫn thiếu một bước. Tình sâu duyên cạn tạo hóa trêu ngươi, cũng chỉ biết than thở mà thôi.”

Ly Nô nói: “Ly Nô cũng cảm thấy hơi buồn bã.”

Bạch Cơ nói: “Nhân gian luôn có nhiều chuyện buồn như thế. Mây khói qua mắt, cỏ cây hợp tan, tạo hóa xoay vần, buồn bã cũng vô ích. Ly Nô, mang Hiên Chi lên, chúng ta về Phiêu Miểu các.”

“Lại phải cõng tên mọt sách, đúng là xui xẻo!” Ly Nô mặc dù than phiền không ngừng, nhưng vẫn đặt Nguyên Diệu lên lưng mình.

Bạch Cơ, Ly Nô, Nguyên Diệu rời khỏi Âm Phủ, quay trở lại Phiêu Miểu Các.

Khi Nguyên Diệu tỉnh dậy thì đã là buổi trưa. Hắn nhìn xung quanh, phát hiện mình đang nằm trên giường của Bạch Cơ, thở phào nhẹ nhõm nhưng cũng bị hoảng sợ. May mà không còn ở Âm Phủ đáng sợ nữa, nhưng sao hắn lại nằm trên giường của Bạch Cơ? Hắn chỉ nhớ rằng khi đi theo đèn dẫn hồn ra khỏi Âm Phủ, hắn nghe thấy ai đó đang khóc, cúi xuống nhặt một khúc xương trắng nói vài câu với ai đó rồi mất đi ý thức. Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì rồi?

Nguyên Diệu quay đầu lại nhìn, thấy bên cạnh gối có ba viên đá đỏ rực, trong lòng lại thắc mắc, đây là thứ gì?

Nguyên Diệu ngồi dậy, đầu choáng cổ mỏi. Hắn đưa tay lên sờ cổ, lại phát hiện cổ mình đang đeo một khúc xương được xâu bằng sợi chỉ đỏ. Nhìn kỹ thì khúc xương này giống như là khúc xương mà hắn đã nhặt ở Âm Phủ.

“Xoạt…” một tiếng, cửa bị đẩy ra, Ly Nô bưng một cái khay bước vào, trên khay có một bát cơm, một con cá hấp và một đ ĩa bánh. Ly Nô thấy Nguyên Diệu tỉnh dậy thì cười nói: “Mọt sách tỉnh rồi à? Chắc đói rồi nhỉ? Mau, lại ăn cơm đi.”

Nguyên Diệu ngửi thấy mùi thức ăn, bụng lập tức kêu lên ùng ục. Hắn bước tới bàn, cầm bát cơm lên, bắt đầu ăn.

Nguyên Diệu ngạc nhiên hỏi: “Ly Nô lão đệ, hôm nay sao lại đối xử tốt với tiểu sinh như vậy?”

Ly Nô cười nói: “Hôm nay là ngày đại hỷ của mọt sách, tất nhiên phải đối tốt với ngươi một chút rồi.”

Nguyên Diệu gắp một miếng cá, bỏ vào miệng: “Ngày đại hỷ gì?”

Ly Nô hớn hở nói: “Hôm nay là ngày mọt sách ngươi thành thân đó! Mau ăn đi, ăn no rồi còn đi thành thân!”

“Khụ khụ, khụ khụ khụ…” Nguyên Diệu giật mình, bị mắc xương cá.

Ly Nô dường như có kinh nghiệm với việc bị mắc xương cá, đấm mạnh vào lưng Nguyên Diệu vài cái.

Nguyên Diệu nuốt xương cá xuống, thở hắt ra.

Nguyên Diệu cao giọng hỏi: “Thành thân? Ai thành thân?”

Ly Nô cười nói: “Mọt sách ngươi thành thân đó.”

“Tiểu sinh thành thân với ai?”

“Với Vi công tử.”

“Khụ khụ, khụ khụ khụ…” Nguyên Diệu lại ho sặc, hét lên: “Ly Nô lão đệ, ngươi đừng đùa giỡn như vậy chứ!!”

“Ta không đùa. Chủ nhân đang dưới lầu cài hoa trang điểm, chuẩn bị đi dự lễ thành thân của ngươi và Vi công tử. Tất nhiên, ta cũng sẽ mặc chỉnh tề đi uống rượu mừng.”

Ly Nô chưa nói xong, Nguyên Diệu đã lao xuống lầu.

Trong đại sảnh, Bạch Cơ đang ngồi sau quầy, tay cầm một chiếc gương đồng cài hoa.

Bạch Cơ thấy Nguyên Diệu thì cười nói: “Hiên Chi ơi, đi tham gia lễ thành thân thì nên cài hoa mẫu đơn đỏ hay là cài hoa ngọc lan màu trăng sáng, hay là cài trâm vàng đây?”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Cài gì để lát nữa hãy nói. Bạch Cơ nói rõ là ai thành thân với ai trước đã?”

Bạch Cơ nói: “Ngọc Lang công tử thành thân với Doanh Doanh cô nương.”

Nguyên Diệu thở phào nhẹ nhõm, cười nói: “Hóa ra là Ngọc Lang công tử và Doanh Doanh cô nương thành thân. Đã tìm thấy Ngọc Lang rồi sao? Vừa rồi, Ly Nô lão đệ lừa tiểu sinh, nói là tiểu sinh thành thân với Đan Dương, làm tiểu sinh sợ chết khiếp.”

Bạch Cơ lấy tay áo che mặt: “Dù nói thực chất là Ngọc Lang công tử và Doanh Doanh cô nương thành thân, nhưng từ bề ngoài mà nói thì là Hiên Chi và Vi công tử thành thân. Hiên Chi là chuyển thế của Ngọc Lang công tử.”

Mặt Nguyên Diệu tối sầm lại: “Bạch Cơ đừng đùa! Tiểu sinh sao lại là chuyển thế của con chồn được?”

“Doanh Doanh cô nương nhìn thấy hình dạng của Hiên Chi từ cây cỏ ba đời, xác định rằng Hiên Chi là chuyển thế của Ngọc Lang. Ban đầu nguyện vọng của nàng là được gặp lại Ngọc Lang một lần, nhưng khi gặp Hiên Chi nàng đã thay đổi ý định, muốn thành thân với Hiên Chi, tức là Ngọc Lang thì mới chịu rời đi. Doanh Doanh cô nương ký sinh trên người Vi công tử, Ngọc Lang chuyển thế lại là Hiên Chi, vậy nên Ngọc Lang công tử thành thân với Doanh Doanh cô nương cũng là Hiên Chi thành thân với Vi công tử.”

“Tiểu sinh làm sao có thể thành thân với Đan Dương được?!!”

“Hiên Chi nghĩ rằng là thành thân với Doanh Doanh cô nương chẳng phải được rồi sao.”

“Tiểu sinh cũng không muốn thành thân với con chồn!”

“Ấy!” Bạch Cơ thở dài: “Hiên Chi nhẫn tâm nhìn Vi công tử mãi mãi bị Doanh Doanh cô nương ký sinh, không được tự do sao? Hiên Chi nhẫn tâm để Doanh Doanh cô nương chờ đợi Ngọc Lang cả đời, chết mà không đạt được tâm nguyện sao? Còn Ngọc Lang công tử lại càng đáng thương hơn…”

Bạch Cơ kể lại mọi chuyện đã xảy ra đêm qua ở Âm Phủ, Ngọc Lang biến mất ra sao, tiếc nuối thế nào, câu nào cũng đầy máu lệ. Nguyên Diệu nghe mà ch ảy nước mắt, hắn nghĩ rằng nếu Bạch Cơ đi kể chuyện ở trà lâu tửu đi3m thì chắc chắn sẽ được mọi người tán thưởng nhiệt liệt.

Nguyên Diệu rơi lệ nói: “Bạch Cơ đừng nói nữa, tiểu sinh sẽ đi thành thân với Đan Dương ngay! Ngọc Lang đã nuối tiếc rồi, tiểu sinh quyết không thể để Doanh Doanh cô nương cũng nuối tiếc nữa.”

Bạch Cơ thở dài: “Hiên Chi thật tốt bụng.”

Suốt cả buổi chiều, Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Ly Nô bắt đầu bận rộn chuẩn bị lễ thành thân.

Bạch Cơ cười nói: “Hiên Chi, hôm nay ngươi thành thân, hay là lấy vài đồng tiền đã tích góp ra làm sính lễ đi.”

Ly Nô cũng nói: “Mọt sách, hay là đi mua cá khô làm sính lễ đi. Đưa tiền cho ta, ta đi mua cho ngươi.”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Hôm nay là ngày Ngọc Lang công tử và Doanh Doanh cô nương thành thân, không phải tiểu sinh. Mấy đồng tiền này phải đợi đến khi tiểu sinh thành thân mới có thể lấy ra dùng.”

“Hiên Chi thật keo kiệt.” Bạch Cơ nói.

“Mọt sách thật keo kiệt.” Ly Nô nói.

Nguyên Diệu hỏi: “Bạch Cơ, tiểu sinh thành thân với Đan Dương ở đâu? Ở Phiêu Miểu Các, hay ở Vi phủ?”

Bạch Cơ đáp: “Ở nhà trai ở Thất Lý pha.”

Trăng khuyết mọc ở phía đông, vạn vật yên tĩnh.

Bạch Cơ, Nguyên Diệu, và Ly Nô cưỡi ngựa trời ra khỏi thành Trường An, tiến thẳng đến Thất Lý pha. Nguyên Diệu thay bộ đồ xanh thành bộ đồ cưới màu đỏ rực, hắn cầm ba viên ngọc huyết ma làm sính lễ. Ly Nô vẫn mặc áo đen, nhưng trên tóc cài một bông hoa đỏ nhỏ để biểu thị niềm vui. Bạch Cơ cũng vẫn mặc áo trắng, nhưng khoác thêm một chiếc khăn choàng có hoa văn hoa sen vàng, trên đầu cài một bông mẫu đơn đỏ rực để biểu thị niềm vui.

Nguyên Diệu không yên tâm hỏi: “Chỉ cần bái đường, Doanh Doanh cô nương sẽ an tâm rời đi, Đan Dương cũng sẽ khôi phục ý thức phải không?”

Bạch Cơ dùng tay áo che miệng cười: “Có lẽ còn phải vào động phòng nữa.”

“Hoang đường! Tiểu sinh và Đan Dương đều là nam tử, sao có thể vào động phòng?”

Bạch Cơ cười nói: “Chỉ là có lẽ thôi mà.”

Nguyên Diệu tức giận nói: “Không có cái gọi là có lẽ này!!”

Nhà tranh ở Thất Lý pha.

Nến đỏ cháy cao, đèn đuốc sáng trưng, trong nhà tranh mơ hồ vang lên tiếng nhạc vui. Nam Phong ăn mặc chỉnh tề, đứng cười khổ sở ngoài hàng rào chờ đợi. Hắn nhìn thấy Nguyên Diệu, Bạch Cơ, và Ly Nô cưỡi ngựa trời đến thì vội vàng ra đón.

Nguyên Diệu, Bạch Cơ, và Ly Nô nhảy xuống ngựa, đi về phía Nam Phong.

Nam Phong nói: “Công tử đã chờ trong nhà tranh lâu rồi. Mời các vị theo ta vào.”

Nam Phong dẫn Nguyên Diệu, Bạch Cơ, và Ly Nô vào nhà tranh. Hắn thở dài một hơi, nói: “Lão gia mà biết chuyện tối nay thì chắc chắn sẽ tức đến ngất xỉu mất. Nhưng để công tử thoát khỏi Hoàng Đại Tiên nên chỉ có thể làm thế này thôi.”

Nguyên Diệu nói: “Chuyện tối nay, xin Nam Phong lão đệ đừng nói cho Vi thế bá biết.”

Nam Phong nói: “Tất nhiên rồi, các vị theo ta vào đi.”

Sắp bước vào nhà tranh, Nam Phong thấp giọng nói: “Con chồn Hoàng Đại Tiên đó đã dành cả buổi chiều để chải chuốt trang điểm, không biết từ đâu mà nó tìm được vài nhạc công thổi kèn, đánh đàn, còn tìm cả đầu bếp và tỳ nữ. Nó lúc thì hỏi ta lông mày vẽ đẹp không, lúc thì hỏi đội trang sức nào phù hợp, trông như thật sự là tân nương chuẩn bị gả đi vậy. Tội nghiệp công tử không hề biết gì, để cơ thể bị nó điều khiển!”

Bạch Cơ dùng tay áo che miệng cười: “Bỏ nhiều tâm tư trang điểm như vậy, tân nương chắc chắn rất đẹp.”

Ly Nô cười nói: “Ly Nô cũng muốn xem tân nương của mọt sách.”

“Đan Dương không phải là tân nương của tiểu sinh!!” Nguyên Diệu lớn tiếng phản bác.

Trong lúc nói chuyện, Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Ly Nô, và Nam Phong đã bước vào nhà tranh. Khi Nguyên Diệu bước vào, không biết có phải là ảo giác không mà hắn cảm thấy nhà tranh dường như rộng rãi hơn so với lần trước hắn đến. Trong đại sảnh, đèn đuốc sáng trưng, bốn nhạc công đang chơi nhạc cụ, bốn tỳ nữ đang bưng trái cây và điểm tâm.

Bốn tỳ nữ vừa thấy Nguyên Diệu thì cười nói: “ÔI, tân lang đến rồi. Mau đi báo cho tiểu thư.”

Một tỳ nữ đi vào trong thông báo.

Không lâu sau, một tiếng chuông vang lên từ phía sau bình phong. Nguyên Diệu quay đầu nhìn lại thì mơ hồ thấy sau bình phong có một người đứng.

“Là Ngọc Lang sao?” Giọng của Hoàng Doanh Doanh vọng ra từ phía sau bình phong.

Nguyên Diệu nói: “Là tiểu sinh.”

Bạch Cơ trừng mắt nhìn Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu vội nói: “Ngọc Lang theo hẹn đã mang ngọc huyết ma để đón Doanh Doanh cô nương.”

Nguyên Diệu đưa ngọc huyết ma ra.

Một tỳ nữ nhận lấy, đi ra sau bình phong đưa cho Hoàng Doanh Doanh.

Không lâu sau, từ phía sau bình phong vang lên tiếng khóc: “Ngọc Lang, chàng đã trở về, thật tốt quá. Thật ra bao năm nay, thiếp luôn hối hận, hối hận vì đã để chàng đi đến nơi nguy hiểm như Âm Phủ để tìm ngọc huyết ma.”

Nguyên Diệu nói: “Doanh Doanh cô nương đừng buồn. Ngọc Lang đã trở về rồi.”

Nam Phong bên cạnh nói: “Giờ lành sắp đến, chuẩn bị bái đường thôi.”

Hoàng Doanh Doanh vui mừng nói: “Ôi, thiếp còn chưa đội phượng quan. Ngọc Lang đợi chút, thiếp sẽ chuẩn bị ngay.”

Nguyên Diệu định nói gì đó nhưng Bạch Cơ trừng mắt nhìn hắn, ra hiệu hắn đừng phản đối. Nguyên Diệu suy nghĩ một lát rồi cũng không phản đối nữa.

Trống nhạc vang lên, tiếng đàn sáo du dương, hai tỳ nữ từ trong đỡ Vi Ngạn mặc lễ phục phượng quan. Dưới tấm khăn đỏ, mơ hồ thấy được đôi môi bôi son đỏ thẫm của Vi Ngạn, kiều diễm mê người.

Nguyên Diệu toát mồ hôi lạnh, nhưng không còn cách nào, đành cắn răng bái đường cùng Vi Ngạn. Vi Ngạn cao hơn Nguyên Diệu, vạm vỡ hơn, đôi tân lang tân nương trông có phần buồn cười.

Dưới chữ hỷ đỏ chói, Nam Phong mặt đen kịt đọc: “Nhất bái thiên địa, nhị bái cao đường, phu thê giao bái…”

Đôi tân lang tân nương bái thiên địa, bái cao đường, bái nhau.

Tay của Vi Ngạn hơi run, dưới tấm khăn đỏ, nước mắt rơi xuống mặt hắn. Chắc hẳn lúc này lòng Hoàng Doanh Doanh đang hạnh phúc và xúc động, nàng đã chờ đợi khoảnh khắc này quá lâu rồi.

Ban đầu Nguyên Diệu mặt mày ủ dột, cử chỉ máy móc hành lễ. Nhưng khi thấy Vi Ngạn đang khóc, chắn chợt nhớ lại tình yêu giữa Ngọc Lang và Doanh Doanh, trong lòng bỗng dưng cảm thấy buồn. Lúc này Vi Ngạn không phải là Vi Ngạn mà là Hoàng Doanh Doanh, còn hắn cũng không phải là Nguyên Diệu mà là Ngọc Lang.

Nghĩ như vậy, Nguyên Diệu cũng thấy yên lòng. Tối nay chỉ có Ngọc Lang không có Nguyên Diệu. Hắn đến để thực hiện ước nguyện của Hoàng Doanh Doanh, nên cần phải nghiêm túc đóng vai Ngọc Lang.

Sau khi bái đường, Nguyên Diệu nắm tay Vi Ngạn nói: “Doanh Doanh cô nương, từ hôm nay nàng là thê tử của Ngọc Lang.”

“Ngọc Lang…” Vi Ngạn xấu hổ cúi đầu, trong lòng hạnh phúc và mãn nguyện, rơi nước mắt.

Bạch Cơ ngồi ở ghế khách, nâng chén trà cảm thán: “Đúng là một đôi hạnh phúc…”

Ly Nô nói: “Chủ nhân, Ly Nô đột nhiên cũng muốn cưới một tân nương.”

Bạch Cơ uống một ngụm trà: “Ly Nô muốn cưới ai làm tân nương?”

“Đồi Mồi.”

Bạch Cơ sặc: “Khụ khụ, Ly Nô, Đồi Mồi là muội muội ngươi, ngươi không thể cưới nó làm tân nương.”

“Mọt sách có thể cưới biểu đệ làm tân nương, tại sao Ly Nô không thể cưới muội muội?”

“Vì… vì Đồi Mồi chắc chắn sẽ không đồng ý.”

Ly Nô rất chán nản: “Đồi Mồi chắc chắn sẽ không đồng ý, chúng ta cứ luôn cãi nhau. Thôi, ta không cưới Đồi Mồi nữa.”

Bạch Cơ nói: “Thập Tam Lang thì sao?”

“Chủ nhân, sao ngài đột nhiên nhắc đến con hồ ly thối đó làm gì?”

“Không có gì. Nói bâng quơ thôi, ta hơi nhớ nó.”

Nguyên Diệu và Vi Ngạn đứng tình cảm bên nhau, một cơn gió đêm thổi qua thổi bay khăn đỏ của Vi Ngạn để lộ ra khuôn mặt hắn. Vi Ngạn có lông mày rậm, mắt sắc, mặt như ngọc, môi như thoa son. Trong một khoảnh khắc, Nguyên Diệu thấy khuôn mặt của Hoàng Doanh Doanh, và trong đôi mắt trong trẻo của Doanh Doanh, hắn thấy một khuôn mặt của nam nhân lạ. Nguyên Diệu nghĩ, có lẽ, trong khoảnh khắc này hắn đã trở thành Ngọc Lang.

Vi Ngạn nhìn Nguyên Diệu đầy tình cảm, dịu dàng nói: “Ngọc Lang, kiếp sau chúng ta vẫn sẽ là phu thê.”

Nguyên Diệu gật đầu: “Được.”

Vi Ngạn ngã vào lòng Nguyên Diệu, mất đi ý thức. Nguyên Diệu vội vàng ôm lấy hắn. Nhưng Vi Ngạn quá nặng Nguyên Diệu không thể ôm nổi, hai người cùng ngã xuống đất. Nguyên Diệu nghe thấy trong không trung có tiếng ai đó nói: “Cảm ơn Nguyên công tử.”

Giọng nói mờ ảo như gió, thoáng chốc tan biến.

Nguyên Diệu hiểu, Hoàng Doanh Doanh đã rời đi.

Nguyên Diệu nhìn vào khoảng không, nở một nụ cười dịu dàng.

Bạch Cơ nhìn vào khoảng không, nở một nụ cười hài lòng. Trong tay nàng xuất hiện một cái hộp gỗ. Trong hộp gỗ, đựng cỏ kiếp sau.

Chỉ trong chốc lát, nhạc công biến thành dế, tỳ nữ biến thành chuột đồng, nhà tranh biến thành hư vô.

Dưới ánh trăng, Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Vi Ngạn, Ly Nô, và Nam Phong đứng giữa một đống đá hoang vắng. Nam Phong nhìn Vi Ngạn đang bất tỉnh, hỏi Bạch Cơ: “Hoàng Đại Tiên thật sự đã đi rồi sao?”

Bạch Cơ cười nói: “Đã đi rồi. Vi công tử không sao nữa. Chúng ta về Trường An thôi.”

Bạch Cơ vẫy tay triệu đến ba con ngựa trời.

Ly Nô nói: “Một, hai, ba, bốn, năm… năm người, ba con ngựa, thế này không ổn.”

Bạch Cơ nói: “Chuyện này đơn giản. Ta cưỡi một con, Nam Phong công tử cưỡi một con, Hiên Chi và Vi công tử cùng cưỡi một con. Ly Nô đi bộ, chân ngươi không chậm hơn ngựa trời đâu.”

Ly Nô bĩu môi: “Ly Nô ghét đi bộ.”

Nguyên Diệu nói: “Tại sao tiểu sinh phải cưỡi chung một con ngựa với Đan Dương?”

Bạch Cơ cười nói: “Vì các ngươi là phu thê mà.”

Nguyên Diệu rất tức giận: “Tiểu sinh và Đan Dương không phải là phu thê! Tối nay là lễ cưới của Ngọc Lang công tử và Doanh Doanh cô nương!!”

Nhưng không ai để ý đến Nguyên Diệu.

Bạch Cơ, Nam Phong cưỡi ngựa trời cười nói rời đi.

Ly Nô hóa thành mèo, cũng rời đi.

Nguyên Diệu đành phải đặt Vi Ngạn ngang trên ngựa trời, leo lên cưỡi đi.

Ngựa trời bay lên bầu trời đêm.

Ngựa trời đi giữa không trung, tiến về thành Trường An.

Nam Phong kinh ngạc nhìn Bạch Cơ, hỏi: “Nam Phong xin mạo muội hỏi, ngài thật sự là yêu quái như lời đồn trong dân gian sao? Hay chỉ là một cao nhân tinh thông huyền thuật?”

Bạch Cơ cười bí ẩn: “Ngươi nghĩ sao?”

Nguyên Diệu bên cạnh cố gắng lấy dũng khí nói: “Nam Phong lão đệ, nàng không phải là cao nhân, nàng là yêu quái! Đêm qua, nàng ăn hết tất cả ngục quỷ trong tám địa ngục nóng ở Âm Phủ trong một hơi! Nàng còn thường xuyên dọa tiểu sinh, nói sẽ ăn cả tiểu sinh!”

Nam Phong toát mồ hôi lạnh.

Bạch Cơ cười nói: “Hiên Chi tối nay lần đầu tiên thành thân nên hưng phấn kích động đến mức nói năng lung tung. Nam Phong công tử đừng tin lời hắn, ta chỉ là một người biết chút huyền thuật thôi.”

Nam Phong thở phào nhẹ nhõm, cười nói: “Thì ra là vậy. Lời đồn đều không đáng tin, Bạch Cơ ngài đẹp đẽ, tốt bụng, cứu công tử nhà ta khỏi nước sôi lửa bỏng thì tuyệt đối không thể là yêu quái được.”

Nguyên Diệu nói: “Nam Phong lão đệ, tin tiểu sinh đi, nàng thật sự là yêu quái, là thiên long trong Thiên Long Bát Bộ!”

Nam Phong cười nói: “Nguyên công tử đừng vu oan cho Bạch Cơ nữa. Theo Nam Phong thấy, người còn giống yêu quái hơn Bạch Cơ ấy.”

Nguyên Diệu không thể phản bác, đành im lặng.

“Hi hi.” Bạch Cơ nhìn Nguyên Diệu, che miệng cười bí ẩn.

Bạch Cơ, Nguyên Diệu, Ly Nô đưa Vi Ngạn và Nam Phong vào Vi phủ ở phường Sùng Nhân, rồi mới về Phiêu Miểu Các.

Trên đường, Bạch Cơ nói với Nguyên Diệu: “Hiên Chi đã có gia đình. Từ nay về sau chắc chắn phải chăm chỉ hơn mới xứng với thê tử.”

“Tiểu sinh chưa có thê tử!!” Nguyên Diệu hét lên.

“Mọt sách vừa cưới xong, lập tức trở mặt không nhận người, tân nương sẽ buồn lắm đó.” Ly Nô nói.

“Tiểu sinh chưa thành thân!!” Nguyên Diệu phản bác.

Từ đó về sau, Bạch Cơ, Ly Nô luôn cho rằng Nguyên Diệu đã thành thân với Vi Ngạn, và lấy lý do hắn đã có gia đình để buộc hắn chàng mọt sách chăm chỉ làm việc hơn để nuôi sống gia đình. Nguyên Diệu rất tức giận nhưng không có cách nào, đành để mặc họ nói.

Sau khi Vi Ngạn khôi phục ý thức, hắn thường đến Phiêu Miểu Các để trêu chọc tiểu thư sinh. Vì Nam Phong khi kể lại sự việc cho Vi Ngạn, sợ hắn tức giận nên đã nói dối rằng trong lễ cưới của Ngọc Lang và Doanh Doanh, Vi Ngạn là tân lang, Nguyên Diệu là tân nương. Nên Vi Ngạn cứ gọi Nguyên Diệu là “nương tử.”

Nguyên Diệu rất tức giận, và tranh cãi với Vi Ngạn: “Đan Dương, trong đám cưới đó, ta là tân lang, ngươi mới là tân nương.”

Vi Ngạn mở chiếc quạt xếp ra, cười lớn và không tin hắn, vẫn tiếp tục gọi hắn là “nương tử”.

Nguyên Diệu và Vi Ngạn cãi nhau vài lần, nhưng hắn không thắng nổi Vi Ngạn, đành phải chịu đựng.

Một đêm giữa mùa hè, ánh trăng như nước.

Trong Phiêu Miểu các, Bạch Cơ, Nguyên Diệu, và Ly Nô đang ngắm trăng ở sân sau. Một con mèo đồi mồi bước đến dưới ánh trăng. Bạch Cơ lấy một bình rượu Lục Lự và Thúy Đào để tiếp đãi nó.

Con mèo đồi mồi lạnh lùng nói với Bạch Cơ: “Ngươi có thể trở về từ Diêm Phù Đồ, lại còn nuốt hết tất cả quỷ ngục trong tám tầng địa ngục nóng sao?”

Nó nhớ lại khi quỷ vương nghe tin đó, toàn thân run rẩy và gào lên: “Nó không phải là rồng yêu, nó là ác quỷ! Là ác quỷ!!”, trong lòng nó cũng hơi sợ hãi, nữ nhân áo trắng với nụ cười trên môi này chắc chắn là ác quỷ!

Bạch Cơ cười nói: “Ta thấy khẩu vị rất tốt. Nếu ngày nào đó đói bụng thì sẽ đến Quỷ Đạo viếng thăm quỷ vương.”

Con mèo đồi mồi toát mồ hôi lạnh: “Quỷ Đạo và Phiêu Miểu các nước sông không phạm nước giếng. Ngươi đừng đến đó. Quỷ vương đã nói, tặng người đèn dẫn hồn, ngươi có thể tiếp tục bán bùa chú ở Phường Bình Khang, nhưng điều kiện là ngươi không được bước vào Quỷ Đạo một bước.”

Bạch Cơ phẩy quạt cười nói: “Ồi, quỷ vương thật hào phóng.”

Con mèo đồi mồi nói: “Dù sao thì ngươi cũng không định trả lại đèn dẫn hồn. Thà tặng ngươi còn hơn gây thêm rắc rối, mất nhiều hơn được.”

Bạch Cơ lắc đầu thở dài: “Quỷ vương luôn tự xem mình là trung tâm, cho rằng ai cũng như hắn, tăm tối, xấu xa và hay thay đổi. Ta thực sự muốn giữ lời hứa với hắn trả đèn dẫn hồn lại, nhưng nếu hắn đã muốn tặng thì từ chối thì đúng là bất lịch sự.”

Con mèo đồi mồi nói: “Không được phép nói xấu quỷ vương!”

Con mèo đen xen vào: “Đồi Mồi, chủ nhân nói đúng, quỷ vương cũng đã không ít lần nói xấu chủ nhân! Quỷ vương không phải là người tốt!”

Con mèo đồi mồi giận dữ, cào mạnh con mèo đen: “Dù là ca ca cũng không được xúc phạm quỷ vương!”

Con mèo đen giận dữ cào lại: “Ta nói đúng sự thật thôi!”

“Ca ca đi chết đi!!” Con mèo đồi môi cào mạnh con mèo đen rồi bỏ chạy.

Con mèo đen rất đau lòng, ngồi dưới ánh trăng khóc: “Đồi Mồi muốn ta chết, nó thật sự muốn ta chết…”

Bạch Cơ đưa cho con mèo đen một chén rượu Lục Lự: “Ly Nô, đừng buồn nữa. Đồi Mồi chỉ nói ngoài miệng thôi, nó vẫn rất quý ca ca mình mà.”

Con mèo đen uống một chén rượu Lục Lự rồi say mèm. Nó ngồi dưới ánh trăng lẩm bẩm chửi mắng một lúc rồi ngủ thiếp đi.

Bạch Cơ vừa ngắm trăng vừa uống rượu Lục Lư, nửa say nửa tỉnh.

Nguyên Diệu nhớ đến Hoàng Doanh Doanh. Đêm mà nàng đến Phiêu Miểu các, Bạch Cơ cũng uống rượu Lục Lự, Thúy Đào rồi say.

Nguyên Diệu hỏi Bạch Cơ: “Về chuyện của Doanh Doanh cô nương, ta có một thắc mắc.”

Bạch Cơ quay lại: “Hiên Chi thắc mắc gì vậy?”

“Ta rõ ràng không phải là Ngọc Lang, tại sao Doanh Doanh cô nương lại nhìn thấy ta là kiếp sau của Ngọc Lang trong cỏ kiếp sau?”

“Vì khi nàng ấy nhìn vào cỏ kiếp sau để thấy kiếp sau của Ngọc Lang, ta đã làm một chút phép thuật.”

“Phép thuật gì?”

“Ta đã làm phép trên xương cốt của Ngọc Lang mà Hiên Chi mang về. Hiên Chi đeo xương trắng trên ngực, khi Doanh Doanh cô nương nghĩ về Ngọc Lang, nàng ấy sẽ nhìn thấy Hiên Chi trong gương nước.”

Nguyên Diệu hơi tức giận: “Tại sao lúc đó ngươi không đeo xương cốt của Ngọc Lang? Ngươi và Đan Dương thành thân cũng được, sao lại hại ta bị Đan Dương trêu chọc, đùa giỡn!”

Bạch Cơ cười nói: “Ta và Vi công tử thành thân thì đúng là nhàm chán, nhìn Hiên Chi thành thân thú vị hơn nhiều.”

“Ngươi… ngươi đúng là trêu chọc ra để tìm niềm vui…”

“Cũng để thực hiện ước nguyện của Doanh Doanh cô nương, có được một ‘nhân quả’.”

Nguyên Diệu nói: “Khoảnh khắc cuối cùng của đời này, Doanh Doanh cô nương hạnh phúc và thỏa mãn, ‘nhân quả’ này vẫn là đẹp. Hy vọng kiếp sau, Doanh Doanh cô nương có thể gặp lại Ngọc Lang, yêu nhau rồi sống bên nhau.”

“Hy vọng là vậy.” Bạch Cơ cười, nàng không nói với Nguyên Diệu rằng Ngọc Lang đã không còn kiếp sau, mà vĩnh viễn biến mất rồi.

Bạch Cơ rót cho Nguyên Diệu nửa chén rượu Lục Lư, Nguyên Diệu cũng uống say. Hắn mơ thấy hai con chồn vàng vui vẻ chạy trong cánh đồng, quấn quýt bên nhau, rất hạnh phúc.

Sáng hôm sau, Ly Nô vẫn chưa tỉnh rượu, Bạch Cơ và Nguyên Diệu ăn sáng xong, một người ngồi buồn tẻ cài hoa bên gương, một người cầm chổi lông gà quét bụi trên đồ cổ.

Vi Ngạn xông vào như cơn lốc, lớn tiếng nói: “Nương tử… nương tử…”

Nguyên Diệu đặt chổi lông gà xuống, tức giận nói: “Đan Dương, ngươi gọi lung tung nữa là ta giận đấy!”

Vi Ngạn cười nói: “Được rồi, Hiên Chi, ta không đùa nữa. Hôm nay, đi với ta đến chùa Từ Ân một chuyến nhé. Mặc dù Hoàng Đại Tiên đã đi rồi nhưng nương ta vẫn muốn ta đến chùa Từ Ân thắp một nén nhang. Đi một mình thì buồn, ngươi đi cùng ta nhé.”

Nguyên Diệu liếc nhìn Bạch Cơ, nói: “Đan Dương nhờ ta…”

Bạch Cơ ngắt lời Nguyên Diệu: “Ta nghe rồi. Đi đi, Hiên Chi, thay ta thắp một nén nhang. Gần đây ta không khỏe lắm, có lẽ là do đêm đó ăn nhiều quá.”

Vi Ngạn cười: “Bạch Cơ ăn phải đồ hỏng không đi gặp thầy thuốc bốc vài thang thuốc uống, lại đi thắp nhang làm gì?”

Bạch Cơ cười: “Bệnh này của ta thắp nhang nhanh khỏi hơn.”

Nguyên Diệu toát mồ hôi: “Bạch Cơ yên tâm, ta chắc chắn sẽ thay ngươi thắp nhiều nén nhang.”

Bạch Cơ đã nuốt hết quỷ ngục trong tám tầng địa ngục nóng, chắc chắn phải thắp nhiều nén nhang để siêu độ những linh hồn bị lửa rồng thiêu đốt.

Bạch Cơ cười nói: “Nhờ cả vào Hiên Chi.”

Nguyên Diệu và Vi Ngạn rời đi.

Vi Ngạn nói: “Hôm nay thiền sư Hư Không sẽ mở hội Vô Già trong chùa Từ Ân, giảng về Phật pháp, có lẽ sẽ liên quan đến kiếp trước, kiếp này và kiếp sau.”

Nguyên Diệu quay đầu nhìn Phiêu Miểu các, cảm thán: “Kiếp sau không biết ta có thể bước vào Phiêu Miểu các nữa không.”

Vi Ngạn xoè quạt, nói: “Kiếp sau ấy à, nói không chừng Hiên Chi sẽ thật sự trở thành thê tử của ta đây.”

Nguyên Diệu giận dữ nói: “Đan Dương đừng đùa nữa!”

Bạch Cơ đứng ở cửa Phiêu Miểu Các nhìn Nguyên Diệu và Vi Ngạn dần đi xa, lẩm bẩm: “Kiếp sau, Hiên Chi có còn bước vào Phiêu Miểu Các không ư?”

Trên mái nhà, một con mèo đen vừa tỉnh sau cơn say, nó nhìn về hướng phường Bình Khang, rơi lệ: “Đồi Mồi, ngươi chắc chắn vẫn đang giận. Kiếp sau, ta chắc chắn không cãi nhau với ngươi nữa!”

Một cơn gió thổi qua, chuông gió kêu leng keng, tiếng chuông thanh thoát như kiếp sau, mờ ảo, không thể tìm kiếm.

(Kết thúc phần cỏ kiếp sau)
 
Phiêu Miểu - Quyển Cầm Đèn
Chương 39: Phần 6: Cá cầm đèn - Chương 1: Minh Đăng


Phiêu Miểu – Cầm đèn

Tác giả: Bạch Cơ Quán

Dịch: Quá khứ chậm rãi

Phần 6: Cá mang đèn

Chương 1: Minh Đăng

Tháng ba thanh minh, cỏ dài chim bay.

Trong Phiêu Miểu Các, Nguyên Diệu đang lau một chiếc bình hoa sứ men màu, Bạch Cơ mang hai chiếc đèn giấy đi ra, nói: “Hiên Chi, tiết Thanh Minh sắp đến rồi, đi treo những chiếc đèn này ngoài cửa đi.”

Nguyên Diệu đổ mồ hôi lạnh: “Phiêu Miểu Các đâu phải là mộ phần, sao phải treo đèn giấy ở cửa chứ?”

“Tháng ba thanh minh, linh hồn đi đem, đèn giấy có thể soi đường cho linh hồn lạc lối.”

“Tại sao phải soi đường cho linh hồn?”

“Soi sáng đường đi có thể giúp linh hồn trở về nơi cần về, không còn quanh quẩn ở nhân gian.”

“Ồ, ra là vậy. Xem r, treo đèn giấy cũng là làm việc tốt nhỉ. Ta sẽ đi treo ngay.” Nguyên Diệu mỉm cười nhận lấy đèn giấy, lấy một cây sào tre ra ngoài treo đèn.

Nguyên Diệu treo xong một chiếc đèn ở bên trái Phiêu Miểu Các, lại đi sang bên phải treo tiếp.

Nguyên Diệu vừa treo xong chiếc đèn bên phải, thì phía sau có người nói: “Treo lệch rồi. Dịch sang phải chút nữa.”

Nguyên Diệu quay đầu, thấy rõ người đến, cười nói: “Đan Dương, sao ngươi lại đến đây?”

Vi Ngạn đứng ngoài Phiêu Miểu Các, nói: “Ta đến đi dạo. Vẫn lệch, dịch sang phải chút nữa.”

Nguyên Diệu lại dịch thêm chút nữa, Vi Ngạn vẫn thấy lệch. Nguyên Diệu đành phải dịch thêm chút nữa, Vi Ngạn vẫn không hài lòng. Cuối cùng Vi Ngạn không kiên nhẫn, giật lấy sào tre của Nguyên Diệu tự mình treo.

Vi Ngạn treo đèn giấy rất nhanh, đối xứng hai bên, vô cùng hoàn hảo.

Vi Ngạn vỗ vai Nguyên Diệu, cười nói: “Hiên Chi, ta treo không tệ chứ?”

Nguyên Diệu nói: “Đan Dương treo rất đẹp. Nhưng ngươi không thấy lạ tại sao lại treo đèn giấy à?”

Vi Ngạn không để ý: “Có gì lạ đâu, ta rảnh rỗi cũng thường hay treo đèn giấy ở lầu Nhiên Tê chơi.”

Nguyên Diệu đổ mồ hôi lạnh. Hắn chưa bao giờ dám khen ngợi sở thích quái dị của Vi Ngạn.

Vi Ngạn và Nguyên Diệu bước vào Phiêu Miểu Các, Bạch Cơ đang sắp xếp kệ hàng. Bạch Cơ thấy Vi Ngạn đến thì cười nói: “Hôm nay, Vi công tử muốn mua bảo vật gì?”

Vi Ngạn thở dài, nói: “Hôm nay ta chỉ đến đi dạo, không mua bảo vật. Ta bị phạt ba tháng bổng lộc, phụ thân cũng đang giận ta, gần đây không có tiền tiêu.”

Nguyên Diệu lo lắng hỏi: “Đan Dương đã xảy ra chuyện gì thế? Tại sao ngươi bị phạt bổng lộc?”

Vi Ngạn lấy một miếng gỗ thô ra, nói: “Chính vì nó.”

Nguyên Diệu nhận lấy miếng gỗ nhìn kỹ. Miếng gỗ là gỗ sam, to cỡ bàn tay, khô mục ngả vàng, còn có vết bẩn do khói ám. Nói chung là rất bình thường, không có gì đặc biệt. Nguyên Diệu không hiểu tại sao Vi Ngạn lại bị phạt ba tháng bổng lộc vì miếng gỗ này.

Bạch Cơ ghé qua, ngửi thử: “Có mùi nước biển. Đây là ván tàu?”

Vi Ngạn gật đầu: “Chính xác là tàn tích của ván tàu.”

Nguyên Diệu ngạc nhiên hỏi: “Tàn tích của ván tàu có liên quan gì đến bổng lộc của Đan Dương?”

Vi Ngạn thở dài, nói: “Ba tháng trước sứ giả từ Phù Tang* trở về nước, Thái hậu phái ta phụ trách mọi việc liên quan đến việc họ trở về, như chuẩn bị các quà và quà tặng từ Đại Đường cho Thiên Vũ Thiên Hoàng, cũng như kiểm kê các sách cổ, pháp điển, kinh văn và vật phẩm mà sứ giả sẽ mang về từ Trường An. Ta tự cho rằng mình đã làm rất chu đáo. Ai ngờ, họ không may gặp bão trên biển, tàu chìm người mất, không ai sống sót. Hai ngày trước tin dữ đến Trường An, sứ giả báo tang mang về vài mảnh tàn tích của tàu, Thái hậu rất đau buồn, tâm trạng không tốt. Tên Bùi Tiên lợi dụng cơ hội này dâng tấu, nói rằng tàu của sứ giả gặp nạn, ta cũng có trách nhiệm không thể chối bỏ. Thái hậu lập tức phạt ta ba tháng bổng lộc. Tên Bùi Tiên thật đáng ghét, ta chắc chắn phải đánh hắn một trận để xả giận!”

*Nhật Bản

Bùi Tiên là biểu huynh của Vi Ngạn, hiện là Đại tướng quân Tả Kim Ngô Vệ, hai người từ nhỏ lớn lên cùng nhau nhưng rất không hợp nhau, là kẻ thù không đội trời chung. Bùi Tiên không thích Vi Ngạn, nhưng lại rất thích Nguyên Diệu và thường kết giao với Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu nói: “Trung Hoa là võ tướng, Đan Dương ngươi không thể đánh được hắn.”

Vi Ngạn hận thù nói: “Dù sao ta cũng không thể bỏ qua cho hắn!”

Bạch Cơ thở dài: “Đúng là bất hạnh. Những người Phù Tang này cuối cùng có thể trở về quê hương nhưng lại chết trên đường về.”

Vi Ngạn nói: “Đúng vậy, thật bất hạnh. Lần này trở về là những tu sĩ đến Đại Đường học Phật pháp và những lưu học sinh đến học luật pháp, Tứ thư Ngũ kinh, họ đã ở Trường An nhiều năm rồi. Người ở lâu nhất là một họa sĩ già đã đến từ thời Thái Tông, đã hơn năm mươi năm rồi. Ta nhớ khi chuẩn bị khởi hành họ rất vui mừng, còn xúc động đến bật khóc, đặc biệt là vị họa sĩ già tóc bạc trắng, ông ấy khóc nhiều nhất.”

Nguyên Diệu cũng khóc, nước mắt lưng tròng: “Lưu lạc nơi đất khách quê người, nói không nhớ nhà không nhớ người thân là điều không thể. Giờ đây, có thể trở về quê nhưng lại chết trên biển, họ thật quá đáng thương.”

Bạch Cơ nói: “Người có lúc gặp may, lúc gặp rủi, chuyện đã xảy ra rồi cũng không có cách nào khác.”

Vi Ngạn nói: “Mặc dù ta cũng thấy tiếc cho họ, nhưng ta còn tiếc ba tháng bổng lộc đã theo nước trôi đi của ta hơn.”

Nguyên Diệu an ủi Vi Ngạn: “Đối với Đan Dương, ba tháng bổng lộc này bị phạt thật oan uổng, nhưng chuyện đã đến nước này cũng không còn cách nào khác. Ngươi hãy rộng lòng một chút. Hôm nay thời tiết không tệ, tiểu sinh sẽ cùng ngươi ra ngoài dạo chơi một chút?”

Vi Ngạn nói: “Mượn Hiên Chi một ngày phải tốn mười lạng bạc. Gần đây ta không dư dả, vẫn nên ở Phiêu Miểu Các uống trà trò chuyện với Hiên Chi thôi. Bạch Cơ có trà mới không? Pha một tách trà ngon nào.”

Bạch Cơ nói: “Trà mới không có, trà cũ thì có một ít. Ly Nô, pha cho Vi công tử một ấm trà.”

Ly Nô pha trà, Vi Ngạn ngồi trò chuyện cùng Nguyên Diệu suốt một buổi chiều, tâm trạng khi trở về rất tốt.

Ly Nô không hài lòng nói: “Mọt sách, ngươi lại lười biếng suốt một buổi chiều rồi.”

Bạch Cơ nói: “Lần sau, mượn Hiên Chi trò chuyện cũng phải thu tiền.”

Nguyên Diệu nói: “Các ngươi thật không có lòng cảm thông gì cả? Đan Dương vừa mất ba tháng bổng lộc, tâm trạng rất buồn bực.”

Ly Nô nói: “Mọt sách lười biếng không làm việc, gia cũng rất buồn bực.”

Bạch Cơ nói: “Không kiếm được tiền ta cũng rất buồn bực.”

Vi Ngạn để lại mảnh tàn tích của tàu ở Phiêu Miểu Các, Bạch Cơ và Ly Nô muốn Nguyên Diệu vứt đi. Nguyên Diệu suy nghĩ một lúc, vẫn không vứt, hắn lén giấu nó vào hốc cây liễu ngoài Phiêu Miểu Các. Tiền mà hắn cất công tích cóp được ba xâu, viên dạ minh châu mà Dận tặng cũng giấu ở đó.

Nguyên Diệu tâm sự về những phiền muộn gần đây với hốc cây rồi cầu nguyện một câu: “Hy vọng Bạch Cơ và Ly Nô lão đệ mãi mãi không phát hiện ra hốc cây này.” Rồi đi ngủ.

Sáng hôm sau, Nguyên Diệu thức dậy, rửa mặt chải tóc xong, mở cửa Phiêu Miểu Các. Dưới ánh sáng buổi sáng, một nam nhân mặc trang phục Hỏa Nguyệt Lam, đầu đội mũ Lập Ô* đang đứng bên cây liễu, ngẩng đầu nhìn chiếc đèn giấy treo ngoài Phiêu Miểu Các. Người này khoảng hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi, dáng vẻ thanh tú như ngọc, trong sáng như nước thu, toàn thân toát lên vẻ ôn hòa nhã nhặn.

*dưới cmt

Nguyên Diệu ngẩn ngơ, vị khách này đến thật sớm, trang phục của hắn hơi kỳ lạ, giống như không phải người Đại Đường.

Nguyên Diệu đi ra, cười nói với nam nhân: “Vị huynh đài này đến thật sớm, có phải đến Phiêu Miểu Các mua đồ không?”

Nam nhân rời mắt khỏi chiếc đèn giấy: “Phiêu Miểu Các? Đây là Phiêu Miểu Các ư?”

“Đúng vậy, đây là Phiêu Miểu Các.” Nguyên Diệu hơi kỳ lạ, bảng hiệu bên cạnh đèn giấy không phải viết ba chữ lớn “Phiêu Miểu Các” sao? Chẳng lẽ, hắn không biết chữ ư?

Nam nhân dường như nhìn thấu suy nghĩ của Nguyên Diệu, mỉm cười giải thích: “Tại hạ là người Phù Tang, đã đến Trường An của quý quốc nhiều năm rồi, tuy ngôn ngữ không trở ngại, cuộc sống cũng quen thuộc, nhưng vẫn không biết được mấy chữ phức tạp. Khiến huynh đài chê cười rồi.”

Nguyên Diệu cười nói: “Hóa ra là khách quý từ phương Đông. Không biết huynh đài xưng hô thế nào?”

Nam nhân cười đáp: “Tên Hán của tại hạ là Dư Nhuận Chi. Huynh đài xưng hô thế nào?”

Nguyên Diệu cười nói: “Hóa ra là Dư huynh. Tiểu sinh họ Nguyên, tên Diệu, tự Hiên Chi. Dư huynh gọi tiểu sinh là Hiên Chi là được.”

Dư Nhuận Chi cười nói: “Nguyên Diệu, Hiên Chi, đúng là cái tên hay.”

“Đâu có, đâu có.” Nguyên Diệu nghĩ đến việc công chúa Thái Bình luôn gọi hắn là “Yêu Duyên”, hắn rất muốn đổi tên: “Dư huynh vào trong đi, muốn mua gì, tiểu sinh sẽ tìm giúp.”

Dư Nhuận Chi bước vào Phiêu Miểu Các, nhìn xung quanh rồi đến kệ bày bút lông và giấy tuyên. Hắn cười nói: “Ở Phù Tang, tại hạ là họa sĩ ngự dụng của Thiên hoàng Thiên Vũ*, vẽ tranh cho bệ hạ tôn quý. Thiên Hoàng rất đánh giá cao tranh của tại hạ, biết tại hạ muốn nâng cao kỹ thuật vẽ nên cử tại hạ đến Đại Đường để học hỏi mở mang kiến thức, học những kỹ thuật vẽ cao siêu hơn.”

* Thiên hoàng Thiên Vũ (⒅天皇, Thiên hoàng Thiên Vũ (631-686), Hoàng tử Đại Hải, là Thiên hoàng thứ 40 của Nhật Bản được ghi lại trong Hoàng phổ.

Nguyên Diệu nói: “Dư huynh chắc hẳn là vẽ rất đẹp nhỉ.”

Dư Nhuận Chi khiêm tốn nói: “Ở Bình Thành kinh, tại hạ tự hào cho rằng mình là bậc thầy vẽ tranh, không ai sánh kịp. Đến Trường An, tại hạ mới hiểu mình chỉ là ếch ngồi đáy giếng, làm trò cười cho thiên hạ. Các họa sĩ Đại Đường mới thực sự là bậc thầy vẽ tranh, kỹ thuật tô màu, điểm tô của họ khiến tại hạ kinh ngạc. Những năm qua, tại hạ học hỏi không ngừng, mỗi ngày luyện tập, từng dành mười mấy năm đi khắp Đại Đường, quan sát sông núi, thăm các bậc thầy danh tiếng. Giờ đây, kỹ thuật vẽ của tại hạ mới tạm có thể ra mắt.”

Nguyên Diệu cảm thấy lời nói của Dư Nhuận Chi hơi không đúng nhưng cũng không suy nghĩ kỹ. Hắn cười nói: “Dư huynh quá khiêm tốn rồi.”

Dư Nhuận Chi chọn hai tờ giấy lụa La Văn, ba cây bút lông ngọc bích khác nhau, rồi lấy ra một thỏi vàng đưa cho Nguyên Diệu.

Nguyên Diệu gãi đầu, khó xử nói: “Hai tờ giấy tuyên thượng hạng cộng thêm ba cây bút lông ngọc bích cũng chỉ đáng hai lượng bạc, Dư huynh đưa thỏi vàng thế này, tiểu sinh không có đủ tiền để trả lại.”

Bạch Cơ đi từ đêm hôm qua vẫn chưa về, sau quầy chỉ còn hai, ba xâu tiền, không đủ bạc để trả lại Dư Nhuận Chi.

Dư Nhuận Chi đặt thỏi vàng xuống, cười nói: “Không sao, cứ để thỏi vàng lại đây. Khi nào có đủ tiền trả lại thì huynh đài đưa đến cho tại hạ là được.”

Nguyên Diệu nói: “Cũng được. Đợi Bạch Cơ về tiểu sinh sẽ mang số tiền thừa đến Tứ Phương Quán* cho Dư huynh.”

*Tứ phương quán: Tứ phương quán, tên quan thự. Thời Tùy Dương đế bố trí, dùng để tiếp đãi các dân tộc thiểu số đông, tây, nam, bắc và sứ thần nước ngoài, phân bố bốn sứ giả, mỗi người chủ quản các chuyện song phương qua lại và mậu dịch, thuộc Hồng Lư tự. Thời Đường, do Thông Sự Xá Nhân chủ quản, thuộc tỉnh Trung Thư.

Dư Nhuận Chi nói: “Tại hạ không ở Tứ Phương Quán, hiện tạm trú tại Đương Quy Sơn Trang gần chùa Từ Ân.”

Dư Nhuận Chi nói rõ địa chỉ rồi rời đi.

Ly Nô từ bên trong bước ra, ngái ngủ nói: “Mọt sách, mới sáng ra mà ngươi đã nói chuyện với ai vậy?”

Nguyên Diệu nói: “Một họa sĩ từ Phù Tang đến. Hắn đến mua giấy tuyên và bút lông.”

“Mới giờ Thìn thôi, người Phù Tang này dậy sớm thật. Ủa, sao lại có một thỏi vàng ở đây?”

Nguyên Diệu nói: “Khách để lại. Sau này tiểu sinh phải mang tiền thừa trả cho hắn.”

Ly Nô bĩu môi: “Người Phù Tang thật giàu có, mua giấy bút cũng dùng vàng.”

Bạch Cơ trở về kịp lúc ăn sáng. Nguyên Diệu kể lại việc Dư Nhuận Chi đến mua giấy bút, đưa thỏi vàng lên.

Bạch Cơ cầm thỏi vàng xem, cười nói: “Thỏi vàng này thú vị thật.”

Nguyên Diệu nói: “Thỏi vàng có gì thú vị đâu? Mau trả lại số tiền thừa cho Dư huynh mới là chính đáng.”

Bạch Cơ tiện tay ném thỏi vàng vào sau quầy, vào lấy bạc đưa cho Nguyên Diệu, bảo hắn mang đến cho Dư Nhuận Chi.

Nguyên Diệu cầm bạc lên đường.

Khi ra khỏi Trường An, đến gần chùa Từ Ân thì đã qua giờ trưa. Chùa Từ Ân nằm ở ngoại ô phía nam Trường An, xung quanh là núi xanh nước biếc. Nguyên Diệu đi qua một con đường núi, thấy một trang viên lớn, là Đương Quy Sơn Trang.

Ngoài Đương Quy Sơn Trang có hai tiểu đồng mặc áo đơn trắng đứng đó.

Nguyên Diệu nói rõ lý do đến, một tiểu đồng vào báo tin.

Chẳng bao lâu sau, tiểu đồng ra nói: “Chủ nhân mời Nguyên công tử vào.”

Nguyên Diệu thay giày sạch rồi được tiểu đồng dẫn vào Đương Quy Sơn Trang. Bố cục, trang trí bên trong trang viên không giống phong cách Đại Đường, các sân viện, phòng ốc, hành lang, cửa lùa, bình phong, bàn ghế, dụng cụ trà đều mang đậm phong cách nước ngoài.

Tiểu đồng dẫn Nguyên Diệu đi qua hành lang, từ chính sảnh phía trước vọng lại tiếng nhạc. Nguyên Diệu lắng tai nghe, không giống âm điệu Cung Thương Giác Chủy Vũ của Đại Đường* mà là một giai điệu chậm rãi và đơn giản. Có nam nhân dùng tiếng nước ngoài hát theo giai điệu, giọng hát mang vẻ buồn man mác.

* https://tiengtrungcamxu.com/goc-kham-pha-am-nhac-trung-hoa-co.html vào đây để rõ hơn ạ

Khi Nguyên Diệu theo tiểu đồng vào chính sảnh, hắn mới phát hiện nơi đây đang có một buổi tiệc. Dư Nhuận Chi với vài chục nam nữ đang dự tiệc trong đại sảnh. Trang phục, dáng vẻ và cử chỉ của những người này đều mang đậm phong cách ngoại tộc, các nam nhân đội mũ Lập Ô, mặc áo Thú có sọc, cầm quạt dơi. Các nữ nhân mặc váy nhiều lớp hoa văn rực rỡ, tóc đen bóng như lụa. Da họ trắng như ngọc, môi đỏ như anh đào, nhưng khi cười với Nguyên Diệu thì thấy răng họ nhuộm đen.

Dư Nhuận Chi đứng dậy, cười nói với Nguyên Diệu: “Hiên Chi đến thật đúng lúc, chúng ta đang mở hội hát, ngươi vào uống cùng một chén đi?”

Nguyên Diệu đưa một cái bọc nhỏ, cười nói: “Tiểu sinh đến để trả lại số tiền thừa buổi sáng cho Dư huynh. Tiểu sinh không rành phong cách Phù Tang…”

Dư Nhuận Chi nhận bọc tiền tiện tay ném sang một bên, kéo Nguyên Diệu ngồi xuống: “Không rành cũng không sao, cùng uống một chén, vui chơi một chút đi.”

Nguyên Diệu không tiện từ chối lòng hiếu khách của Dư Nhuận Chi, đành ngồi xuống.

Dư Nhuận Chi giới thiệu các khách mời, họ đều là sứ giả từ Phù Tang đến Đại Đường. Trong số đó có quan lại, tăng nhân, âm dương sư, văn sĩ, nhạc công, nghệ nhân. Họ đều biết nói tiếng Hán và rất thân thiện, không khí buổi tiệc vui vẻ và hòa hợp. Nguyên Diệu cùng một văn nhân tên Hán là Lữ Dật Sĩ thảo luận về Tam phần Ngũ điển, Tứ thư Ngũ kinh, kiến thức rộng lớn của Lữ Dật Sĩ khiến Nguyên Diệu vô cùng khâm phục.

Thời gian vui vẻ luôn trôi qua rất nhanh, bất tri bất giác đã sắp giờ Thân. Nguyên Diệu muốn cáo từ trở về, nhưng Dư Nhuận Chi giữ lại nói: “Bây giờ dù Hiên Chi rời đi cũng không kịp trở về Phiêu Miểu Các trước giờ giới nghiêm. Không bằng, tối nay ở lại đây đi? Tại hạ phái tiểu đồng cưỡi ngựa đến Phiêu Miểu Các nói thay ngươi một tiếng.

Khách dự tiệc cũng đều cực kỳ nhiệt tình giữ Nguyên Diệu lại.

Nguyên Diệu lại không thể từ chối thịnh tình của mọi người, bèn đồng ý.

Dân ca Phù Tang lại vang lên, lần này đổi thành làn điệu vui vẻ, mọi người vừa cười to vừa uống rượu.

Buổi tối tiệc tùng mới giải tán.

Tất cả mọi người nghỉ ngơi ở Đương Quy sơn trang.

Nguyên Diệu ngủ trong phòng khách, bên tai truyền đến tiếng côn trùng kêu, tiếng gió, xa xa có ai đó đang ngâm thơ:

Thường nhớ cố viên xuân đến sớm, mười năm sương mai về muộn.

Ước chừng canh ba, Nguyên Diệu tỉnh lại một lần để đi nhà xí. Trên đường trở về, từ xa xa hắn nhìn thấy Dư Nhuận Chi từ bên ngoài trở về, trong lòng thấy hơi kỳ quái, đêm hôm khuya khoắt thế này, hắn ra ngoài làm cái gì?

Thế nhưng Nguyên Diệu là khách, cũng không tiện hỏi, bèn trở về tiếp tục ngủ.

Ngày hôm sau, Dư Nhuận Chi chiêu đãi Nguyên Diệu ăn điểm tâm xong rồi đưa hắn rời đi. Dư Nhuận Chi nói: “Cửa hàng bán giấy Tuyên Thành dùng rất tốt, tại hạ còn muốn mua mấy tờ. Nhưng gần đây tại hạ không tiện vào thành, có thể phiền Hiên Chi đưa tới giúp không?”

Nguyên Diệu nói: “Tất nhiên là được. Dư huynh muốn bao nhiêu? Khi nào muốn?”

Dư Nhuận Chi cười nói: “Trong quý tiệm có bao nhiêu thì đưa bấy nhiêu. Tại hạ không vội, Hiên Chi lúc nào rảnh thì đưa tới.”

Nguyên Diệu nói: “Được.”

Nguyên Diệu cáo từ rời đi.
 
Back
Top Dưới