Cập nhật mới

Khác NGHIỆP VỤ LHHD

Nghiệp Vụ Lhhd
TCBĐ


Tam Cốc – Bích Động, còn được biết đến với những cái tên nổi tiếng như “vịnh Hạ Long trên cạn” hay “Nam thiên đệ nhị động” là một khu du lịch trọng điểm quốc gia của tỉnh Ninh Bình và Việt Nam.

Toàn khu vực bao gồm hệ thống các hang động núi đá vôi và các di tích lịch sử liên quan đến triều đại nhà Trần nằm chủ yếu ở xã Ninh Hải, Hoa Lư, Ninh Bình.

Hiện nay, Quần thể danh thắng Tràng An – Tam Cốc đã được thủ tướng chính phủ xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt và đang được ứng cử là di sản thiên nhiên thế giới trong năm nay.

Tam Cốc Bích Động Ninh Bình

Khu du lịch Tam Cốc-Bích Động hiện có diện tích tự nhiên là 350,3 ha, nằm cách quốc lộ 1a 2 km, cách thành phố Ninh Bình 7 km.

Toàn bộ khu du lịch nằm trên 4 xã: Ninh Hải, Ninh Xuân, (Hoa Lư), xã Sơn Hà (Nho Quan) và xã Yên Sơn (thị xã Tam Điệp).

Các trung tâm đón khách du lịch nằm rải rác ở 3 xã: Ninh Hải (Tam Cốc, Cố Viên Lầu, thung Nắng, thung Nham, chùa Bích Động); Ninh Xuân (hang Múa); Sơn Hà (hang Bụt, động Thiên Hà).

Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động gồm nhiều tuyến tham quan du thuyền, đi xe đạp và đi bộ nối khoảng gần 20 điểm du lịch.

Các tuyến chính của khu du lịch là:

Các tuyến du thuyền gồm: Tuyến bến Văn Lâm – sông Ngô Đồng – Tam Cốc; Tuyến Xuyên thủy động (xuyên dưới Bích Động); Tuyến Thạch Bích – thung Nắng; Tuyến thung Nham – vườn chim, Tuyến hang Bụt – động Thiên Hà…

Các điểm du lịch đi bộ, xe đạp và leo núi: Núi và chùa Bích Động; động Tiên; hang Múa; khu nhà cổ Cố Viên Lầu; đền Thái Vi – động Thiên Hương…

CÁC TUYẾN DU LỊCH

TAM CỐC – ĐỀN THÁI VI – ĐỘNG THIÊN HƯƠNG

Tam Cốc, có nghĩa là “ba hang”, gồm hang Cả, hang Hai và hang Ba.

Cả ba hang đều được tạo thành bởi dòng sông Ngô Đồng đâm xuyên qua núi.

Tam Cốc là tuyến du thuyền được khai thác đầu tiên ở khu du lịch Tam Cốc – Bích Động.

Hang Cả dài 127 m, xuyên qua một quả núi lớn, cửa hang rộng trên 20 m.

Trong hang khí hậu khá mát và có nhiều nhũ đá rủ xuống với muôn hình vạn trạng.

Hang Hai, cách hang Cả gần 1 km, dài 60 m, trần hang có nhiều nhũ đá rủ xuống rất kỳ lạ

Hang Ba, gần hang Hai, dài 50 m, trần hang như một vòm đá, thấp hơn so với hai hang kia.

Muốn thăm Tam Cốc, du khách xuống thuyền từ bến trung tâm.

Thuyền đưa du khách trên dòng sông Ngô Đồng uốn lượn qua các vách núi, hang xuyên thủy, cánh đồng lúa.

Thời gian đi và trở lại khoảng 2 giờ.

Phong cảnh Tam Cốc, nhất là 2 bên dòng sông Ngô Đồng có thể thay đổi theo mùa lúa (lúa xanh, lúa vàng hoặc màu bạc của nước trên cánh đồng).

Đền Thái Vi là nơi thờ các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, các tướng Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải và hoàng hậu Trần Thị Dung.

Xưa vùng núi Tam Cốc là nơi nhà Trần xây dựng hành cung Vũ Lâm trong kháng chiến chống Nguyên Mông.

Có thể đi bộ đến đền Thái Vi từ hành trình Tam Cốc hoặc theo đường bộ cách bến thuyền Tam Cốc 2 km.

Động Thiên Hương nằm trên đường từ sông Ngô Đồng vào đền Thái Vi, là một động khô và sáng nằm ở lưng chừng núi có độ cao so với mặt đất khoảng 15 m.

Động có chiều cao khoảng 60 m, sâu 40 m, rộng 20 m.

Đỉnh động rỗng nên động còn có tên là Động Trời.

Nằm gọn trong động là miếu thờ bà Trần Thị Dung, vợ vua Lý Huệ Tông.

Là một người đã truyền cho nhân dân xã Ninh Hải nghề thêu ren.

BÍCH ĐỘNG – XUYÊN THỦY ĐỘNG

Bích Động nằm cách bến Tam Cốc 2 km, có nghĩa là “động xanh”, là tên do tể tướng Nguyễn Nghiễm, thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du đặt cho động năm 1773.

Đây là là một trong những thắng cảnh nằm trong nhóm được người xưa gọi là “Nam thiên đệ nhất động“, cụ thể Bích Động được mệnh danh là “Nam thiên đệ nhị động” tức động đẹp thứ nhì trời Nam [đứng sau động Hương Tích (Nam thiên đệ nhất động) ở Hương Sơn và đứng trước động Địch Lộng (Nam thiên đệ tam động) ở Kẽm Trống].

Phía trước động là dòng sông Hoàng Long uốn lượn bên sườn núi, bên kia sông là cánh đồng lúa.

Chùa Bích Động là một ngôi chùa cổ gắn với núi đá mang đậm phong cách Á Đông.

Chùa được dựng từ đầu đời nhà Hậu Lê.

Trong chùa có quả chuông lớn đúc từ thời vua Lê Thái Tổ, mộ tháp các vị hòa thượng có công xây dựng chùa.

Thời Lê Hiển Tông (1740-1786) chùa được trùng tu mở rộng thêm, bao gồm Chùa Hạ, Chùa Trung, Chùa Thượng, trải ra trên ba tầng núi.

CHÙA HẠ – CHÙA BÍCH ĐỘNG

Xuyên Thủy động là một động tối và ngập nước nằm dọc theo chiều dài Bích Động.

Xuyên Thủy động như 1 đường ống hình bán nguyệt bằng đá dài khoảng 350m uốn lượn từ phía Đông sang phía Tây.

Bình quân bề rộng của Xuyên Thủy động là 6m, chỗ rộng nhất là 15 m.

Trần và vách động thường bằng phẳng, tạo hoá như xếp từng phiến đá lớn thành mái vòm cung, bán nguyệt với muôn hình vạn trạng.

Lối vào Xuyên thủy động ở phía sau núi, đối diện với đường vào Bích Động.

Tại điểm kết thúc hành trình xuyên thủy động, du khách có thể leo núi để tới động và chùa Bích Động.

THUNG NHAM – VƯỜN CHIM

Khu du lịch Thung Nham – Vườn chim trước đây là một tuyến du ngoạn sinh thái bằng thuyền thuộc khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, nay cùng được quy hoạch sáp nhập vào quần thể danh thắng Tràng An.

Linh Cốc – Hải Nham là tuyến du lịch mới hơn so với Tam Cốc.

Khu du lịch này nằm tại thôn Hải Nham, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, cách chùa Bích Động khoảng 1000m về phía Tây với các điểm thăm quan chính là động Vái Giời và thung Chim.

Vườn chim thuộc thôn Đam Khê, xã Ninh Hải, cách chùa Bích Động khoảng 2 km đường bộ.

Trên những chiếc thuyền nan, du khách sẽ được hoà mình vào thiên nhiên, sông nước, tận hưởng vẻ đẹp hoang sơ của hang Chùa, động Vái Giời rồi du thuyền vào thung chim ngắm thế giới của các loài chim lạ.

Điểm dừng chân đầu tiên trong tuyến du lịch Vườn Chim Thung Nham là động Vái Giời.

Từ dưới chân núi du khách đi lên 439 bậc đá sẽ tới cửa Động.

Động Vái Giời rộng khoảng 5000 m2, được chia làm 3 tầng riêng biệt: tầng Địa Ngục, tầng Trần Gian và tầng Thiên Đường.

Xuống tầng Địa Ngục xem những nhũ đá với nhiều hình thù kỳ dị khác nhau tùy theo trí tưởng tượng của mỗi người, các khối nhũ đá được ánh sáng từ cửa hang chiếu vào lấp lánh.

Tầng Trần Gian bằng phẳng hơn được nối với Tầng Thiên Đường bằng những bậc thang nhân tạo.

Tầng Thiên Đường nằm trên cao nhất, nhìn ra một không gian rộng mở của Ninh Bình như bầu trời, cánh đồng lúa và những ngọn núi phía xa xa.

Vượt qua các hang thuyền sẽ đưa du khách đi đến vườn Chim.

Trước mắt du khách là một vùng trời mây non nước trùng điệp, với những hàng cây mọc thẳng hàng ở trên mặt nước, và hàng ngàn, hàng vạn con chim ríu rít bay về đậu trên những cành cây trắng xoá.

Một điều thú vị nữa là du khách sẽ được thăm một quả đồi với rất nhiều hoa trái, mùa nào thức nấy hương thơm ngây ngất và còn một điều độc đáo hơn đó là cây Duối nghìn năm tuổi.

Nơi đây chắc chắn sẽ làm hài lòng du khách.

THẠCH BÍCH – THUNG NẮNG

Bắt đầu từ bến thuyền Đình Các (Tam Cốc), Du khách đi khoảng hơn 500 mét đường bộ là đến bến thuyền Thạch Bích để đi thung Nắng.

Vượt qua một quãng đường thuỷ với hai bên là đồng lúa rì rào, núi non trùng điệp, qua đền Vối.

Tiếp tục hành trình, du khách thăm thung nắng với một vùng trời mây, non nước bao bọc xung quanh.

Với khoảng 3 km đường thuỷ đi bằng thuyền du khách sẽ đến với nhiều huyền thoại như núi Ba Dọi, Núi Cóc, núi Măng, núi Vàng…

Thuyền đưa du khách qua hang Thung Nắng dài khoảng 100 m là đền Thoong Nắng.

Đền được xây dựng trong một không gian tĩnh lặng, lưng Đền dựa vào thế núi linh thiêng là nơi thờ Chúa thượng ngàn.

Sau khi thăm Thung Nắng xong trên đường quay ra tới bến Cây Gạo du khách tới thăm đền Vối.

Đền Vối có cách đây hàng trăm năm, được xây dựng bằng đá, với các đồ thờ bằng đá được chạm khắc công phu, tỉ mỉ.

Đền Vối có từ thời nhà Lê thờ ông Lý Đông Hải là quan chấn trạch sơn lâm.

Thung Nắng thuộc thôn Đam Khê, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư.

Đường vào Thung Nắng phải đi bằng thuyền khoảng 3 km.

Hai bên đường đi có nhiều cỏ lác, lau sậy.

Bên dưới làn nước mát trong veo là hệ động vật phong phú, sinh động.

Môi trường sinh thái ở Thung Nắng vẫn giữ được nét hoang sơ.

Khách du lịch thực sự được nghỉ ngơi thư giãn và có cảm giác thoải mái giữa một không gian yên tĩnh, dễ chịu.

Khi thuyền đưa vào hang, Du khách sẽ cảm thấy mát lạnh vì trần hang rất thấp, các nhũ đá rủ xuống với muôn hình muôn vẻ khác nhau.

Trước cửa hang là những bụi cây lau sậy um tùm.

Tại đây du khách có thể neo đậu thuyền để nghỉ ngơi, chụp ảnh và ngắm nhìn cảnh đẹp.

Cả một vùng chiêm trũng rộng lớn vẫn giữ được nét nguyên sơ mà thiên nhiên đã hình thành.

Vào thời gian buổi chiều, những đàn cò trắng bay về đậu kín cả vùng đất ngập nước tạo nên một nét hấp dẫn đặc trưng của thung Nắng.

Thung Nắng được kết nối theo tuyến du lịch: Thạch Bích – Thung Nắng – Đền Vối – Hang Thung Nắng – Đền Thung Nắng – Thung Nắng trong – Thung Nham – Rừng nguyên sinh – Hang Bụt – vườn chim – Hang Ghé – Hang Chùa.

ĐỘNG TIÊN – CHÙA LINH CỐC

Động Tiên là động khô đẹp của khu du lịch Tam Cốc – Bích Động.

Động nằm cách chùa Bích Động gần 1 km.

Phạm vi động gồm có ba hang lớn, rộng và cao.

Trần động có nhiều vân đá, nhũ đá rủ xuống lấp lánh nhiều màu sắc trông như những rễ cây lớn.

Trên trần có nhiều dơi và chim cư trú.

Đứng từ bên ngoài nhìn động như một lâu đài tráng lệ.

Các biến đổi của tự nhiên tạo nên những hình dáng kỳ thú của nhũ đá trong động với hình thù là cây tiền, cây thóc, ông tiên, cô tiên, con voi, con sư tử, con hổ, con kỳ đà, con rồng, con đại bàng, và cả những đám mây bay lượn nhiều màu sắc.

Những khối đá trong động khi gõ vào sẽ tạo ra nhiều loại âm thanh rất lạ.

Chùa Linh Cốc nằm trong núi chùa Móc.

Chùa quay hướng tây, phía trước là một cánh đồng nước.

Theo văn bia đặt ở chùa, Linh Cốc có từ triều vua Trần Thánh Tông.

Sân chùa rộng ở ngay chân núi, hai bên sân có nhà thờ tổ.

3 gian quay hướng tây bắc, đặt tượng thờ thánh tăng là đức A Nam Đà và đức tổ tây, mũi cao, tóc quăn, râu quai nón là người Ấn Độ.

Nhà trai 5 gian, quay hướng đông nam.Điện Mẫu quay lưng vào sườn núi, hướng tây nam, xây dựng theo kiểu chữ “ Tam”.

Hậu cung là một gian thờ Tam Toà Thánh Mẫu gồm: Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Liễu Hạnh.

Thiêu hương gồm 3 gian thờ Công Đồng Thánh Mẫu, Tiền Đường 5 gian, gian cuối bên tay trái có treo quả chuông.

LÀNG VIỆT CỔ – CỐ VIÊN LẦU

Cố Viên Lầu là khu nhà cổ gồm nhiều ngôi nhà được sưu tầm chủ yếu tại Ninh Bình khu vực đồng bằng Bắc Bộ.

Năm 2008, khu nhà cổ Cố Viên Lầu được ngành Văn hóa – Du lịch Ninh Bình bổ sung vào khu du lịch Tam Cốc – Bích Động.

Cố Viên Lầu nằm ngay cạnh bến thuyền Tam Cốc và trên đường đi đền Thái Vi.

Những ngôi nhà cổ ở Cố Viên Lầu chủ yếu được xây dựng từ thời nhà Nguyễn trở lại đây nhưng cũng thể hiện được nét văn hóa độc đáo và đặc trưng trong kiến trúc truyền thống Việt Nam.

SÔNG BẾN ĐANG – ĐỘNG THIÊN HÀ

Động Thiên Hà nằm trong dải núi Tướng với độ cao gần 200m là một phần của bức tường thành thiên nhiên vững chắc bao bọc, bảo vệ phía tây nam kinh đô Hoa Lư thế kỷ thứ X, gắn liền với những địa danh lịch sử, văn hoá như Bến thuyền Nhà Lê, Núi Phật Đầu Sơn, Thửa Ruộng Đấu Lính…

Từ bản Mường Thổ Hà, xã Sơn Hà, du khách xuống thuyền trên dòng kênh nhỏ có chiều dài chừng 1 km xen giữa cánh đồng quê.

Du khách tiếp tục bộ hành trên con đường đá dài 500m ven chân núi Tướng để tới cửa động.

Động có chiều dài 700m bao gồm động khô dài 200m và động nước dài 500m.

Những hình dáng do đá núi tạo ra được gọi tên như: đây là chú Cáo Lỗ đang chén mồi, kia là Voi phục, Hổ rình mồi, khỉ leo cây… cao hơn có khám thờ với hình ảnh Đức Phật, thầy Đường Tăng đang tụng kinh cầu an cho các đồ đệ… tất cả đều gợi trí tò mò, khám phá của du khách.

HANG BỤT

Hang Bụt toạ lạc giữa lòng núi Tướng cách thành phố Ninh Bình 18 km, trong khu rừng đặc dụng Hoa Lư thuộc thôn Đồng Tâm, xã Sơn Hà, Nho Quan.

Hang Bụt hiện dài gần 500 m, lòng hang rất rộng và có nhiều nhũ đá với hình thù kỳ lạ.

Nằm chính giữa hang là một tấm nhũ đá cao 1,5 m rộng 2 m có hình thù giống như một ông bụt hiện ra.

Đến với Hang Bụt, du khách được đi thuyền chèo tay, ngoạn cảnh thiên nhiên hoang sơ, kỳ bí của núi rừng sông nước.

Trong lòng hang nhiều vòm xoáy lạ mắt kích thích trí tưởng tượng du khách.

Du lịch hang Bụt hiện ở Sơn Hà, du khách còn được di chuyển bằng xe đạp qua những con đường làng rợp bóng tre tìm hiểu về văn hoá phong tục của nông dân vùng lúa nước, thử làm mục đồng chăn trâu, tát cá, bắt cua, xay lúa giã gạo, hay thưởng thức những món ăn dân dã do chính mình làm ra, bắt được như cá rô nướng, canh cua ăn với cà muối…

HANG MÚA

Thuộc địa phận thôn Khê Hạ, xã Ninh Xuân.

Đây là khu du lịch nhân tạo với các dịch vụ như leo núi, nghỉ ngơi cuối tuần và hội nghị.

Hang Múa đã được kết nối với Tam Cốc theo tuyến du lịch tham quan: Bến Cây Đa – Bến Thánh – Hang Cả – Hang Múa – Hang Hai – Hang Ba – Suối Tiên – Khu Du lịch Hang động Tràng An.

Tương truyền, hang Múa là nơi biểu diễn văn nghệ, múa hát của các cung nữ thời nhà Trần trước đây.

Tam Cốc – Bích Động là một trong những khu du lịch được đầu tư sớm ở Việt Nam, lại nằm trên quốc lộ 1A giữa thành phố Ninh Bình và thị xã Tam Điệp nên có điều kiện thuận lợi phát triển hạ tầng du lịch.

Tại đây có hẳn một ban quản lý điều hành các dịch vụ du lịch.

Nơi đây phát triển khá sớm mô hình du lịch cộng đồng, nhà nước và nhân dân cùng làm.

Khu du lịch Tam Cốc – Bích Động có hệ thống khách sạn khá tốt.

Khách sạn tập trung nhiều ở khu bến thuyền Tam Cốc, làng quần thể du lịch Ninh Bình và trên tuyến đường từ Tam Cốc tới Bích Động.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Giới thiệu về chùa Tam Chúc


Share

Chùa Tam Chúc hay nói đúng hơn là quần thể du lịch tâm linh Tam Chúc là một khu du lịch mới, đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, gắn liền với truyền thuyết “Tiền lục nhạc – Hậu thất tinh”.

Ngôi chùa này mang trong mình rất nhiều điều bí ẩn và hàng loạt những kỷ lục khiến bất cứ ai nghe tới cũng đều cảm thấy hãnh diện.

Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về ngôi chùa bí ẩn và linh thiêng này nhé!

I.

Giới thiệu về chùa Tam Chúc

Chùa Tam Chúc cổ được xây dựng từ thời nhà Đinh, gắn với truyền thuyết “Tiền Lục nhạc – hậu Thất Tinh”.

Theo đó, trên dãy núi 99 ngọn nằm ở phía Tây Nam hướng về chùa Hương có 7 ngọn núi gần làng Tam Chúc.

Tích xưa kể lại cả 7 ngọn núi này đều xuất hiện một đốm sáng lớn tựa như 7 ngôi sao, sáng suốt đêm ngày.

Ánh sáng lung linh từ trên cao rọi xuống một vùng rộng lớn.

Dân làng gọi đó là núi “Thất Tinh” và ngôi chùa ở đây được gọi là chùa “Thất Tinh”.

Sau đó, có người đến núi Thất Tinh đục đẽo, hòng lấy đi 7 ngôi sao đặc biệt đó.

Họ chất củi thành đống lớn và đốt nhiều ngày khiến cho 4 ngôi sao bị mờ dần đi, cuối cùng chỉ còn lại 3 ngôi sao.

Vì thế, chùa “Thất Tinh” sau này được đổi thành chùa “Ba Sao” và thị trấn Ba Sao (Kim Bảng) cũng được lấy tên gọi từ tích ấy.

Quần thể chùa Tam Chúc nhìn từ trên cao

1.

Địa chỉ chùa Tam Chúc

Chùa Tam Chúc thuộc địa phận thị trấn Ba Sao và xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, chỉ cách ngôi chùa Bà Đanh nổi tiếng hơn 8km và cách trung tâm thành phố Phủ Lý khoảng 12km.

Để đến được chùa Tam Chúc, bạn có thể đi theo 2 lựa chọn cung đường khác nhau:

+ Cung đường 1: Đi theo lối chùa Hương nhưng khi đến đoạn rẽ phải vào đền Trình thì không rẽ mà tiếp tục đi thẳng, đi thêm khoảng 5km nữa là đến chùa Tam Chúc.

Nếu đi theo cung đường này thì tổng quãng đường là khoảng 65km.

Mách nhỏ cho hướng dẫn viên du lịch

Cơ hội tăng thêm thu nhập dễ dàng khi dịp tết nguyên đán sắp tới.

Chỉ cần giới thiệu đặc sản trứ danh đất Hà Thành, với mỗi khách mua hàng nhận ngay 50k tiền COM.

Xem chi tiết tại đây.

+ Cung đường 2: Đi theo hướng quốc lộ 1 (cao tốc Pháp Vân) đến thành phố Phủ Lý sau đó đi theo chỉ dẫn của Google Maps thêm khoảng 12km nữa là tới.

Tổng quãng đường của cung đường này là khoảng 62km.

Nếu bạn đi chùa Tam Chúc bằng ô tô thì nên đi theo cung đường 2, còn đi bằng xe máy thì nên đi theo cung đường 1 vì nếu đi xe máy theo cung đường 2 bạn sẽ phải đi qua Thường Tín, nơi có đoạn đường đông và hẹp nên không thể di chuyển nhanh được.

2.

Quần thể chùa Tam Chúc

Quần thể khu du lịch chùa Tam Chúc bao gồm rất nhiều hạng mục, bao gồm:

Khu trung tâm đón tiếp

Khu văn hóa tâm linh Tam Chúc

khu bảo tồn tự nhiên Quèn Vồng

Hồ Tam Chúc

Khu nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe và du lịch cộng đồng Tam Chúc

Khu sân golf Kim Bảng

Hồ Ba Hang

Trung tâm dịch vụ hậu cần phục vụ hoạt động khu du lịch

Trong khu văn hóa tâm linh Tam Chúc sẽ có những hạng mục sau:

Chùa Ngọc (Đàn Tế Trời): Chùa Ngọc được xây dựng trên đỉnh núi Thất Tinh.

Từ dưới chân núi, du khách phải leo gần 200 bậc thang đá mới lên được đến chùa.

Trong chùa có 3 ngôi tượng phật được làm từ đá granit nguyên khối nhập khẩu từ Ấn Độ và một pho tượng Phật được làm từ ngọc quý.

Chùa Ngọc nằm trên đỉnh núi Thất Tinh đang trong quá trình hoàn thiện

Điện Tam Bảo: Điện Tam Bảo là công trình bạn sẽ nhìn thấy đầu tiên ngay sau khi bước chân vào chùa Tam Chúc.

Điện Tam Bảo có diện tích lên tới 5100m2, có thể chứa được khoảng 5000 người.

Bên trong điện Tam Bảo có 3 bức tượng Phật bằng đồng, mỗi bức có trọng lượng tới 80 tấn, tượng ngồi trên đài sen nặng 30 tấn, phía sau là cánh sen dát vàng có trọng lượng 15 tấn.

Điện Tam Bảo với 3 pho tượng Phật bằng đồng nặng 80 tấn

Điện thờ Pháp Chủ Thích Ca Mâu Ni: Bên trong điện thờ Pháp Chủ Thích Ca Mâu Ni có pho tượng Phật khổng lồ nặng 200 tấn, được công nhận là pho tượng Phật lớn nhất ở Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện tại.

Pho tượng Phật lớn nhất Đông Nam Á trong điện thờ Pháp Chủ Thích Ca Mâu Ni

Vườn kinh: Khu vườn kinh là nơi có 99 cột kinh bằng đá, mỗi cột cao 13,5m, nặng 200 tấn.

Người ta phải làm móng sâu dưới lòng đất tới 30m để có thể dựng lên các cột kinh bằng đá này.

Trên các cột kinh có khắc những bài tụng kinh để phật tử và du khách có thể chiêm ngưỡng và niệm Phật ngay tại chỗ.

Cột kinh nặng 200 tấn trong Khu Vườn Kinh

Đình Tam Chúc: Đình Tam Chúc là nơi thờ Hoàng hậu nhà Đinh Dương Thị Nguyệt.

Đinh Tiên Hoàng Đế và thần Bạch Mã.

Sự tích cho biết rằng khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, đã đến vùng Kim Bảng ngày nay chiêu mộ binh mã, tích trữ lương thảo đã tiến đến đền thần Linh Lang Bạch Mã cầu đảo.

Khi lên ngôi Hoàng đế, Đinh Tiên Hoàng lệnh cho dân Kim Bảng lập đền thờ Thần Linh Lang Bạch Mã.

Trước cửa đình Tam Chúc

Theo Ngọc phả làng Đặng Xá, Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, thì khi Trần Lãm mất, Đinh Bộ Lĩnh đem tướng sĩ về Hoa Lư chiêu mộ hào kiệt đi dẹp loạn 12 sứ quân.

Ngài đã được vợ chồng vị hào trưởng Dương Đỉnh và vợ tên là Đặng Thị Kính (vốn người Đặng Xá, Kim Bảng) gả con gái tên là Dương Thị Nguyệt về làm vợ và đã sinh ra con gái Đinh Thị Ngọc.

Đinh Bộ Lĩnh đã về Kim Bảng lập đồn trại và truyền hịch Cần Vương dẹp giặc và đã có trên 600 người ứng mộ cùng với 180 tráng đinh thuộc các xã Văn Xá, Đồng Hóa, Khả Phong, Ba Sao.

Bình được 12 sứ quân thống nhất đất nước, đón Dương Nguyệt Nương về kinh đô Hoa Lư lập làm Hoàng hậu.

Bà Hoàng hậu quê Hà Nam cũng chính là người đã truyền dạy trò Xuân Phả hiện còn lưu giữ đến ngày nay ở Thanh Hóa.

Hiện vật cổ còn lại của đình Tam Chúc cũ

Khi Đinh Tiên Hoàng mất, Hoàng hậu Nguyệt Nương cùng công chúa Ngọc Nương đã trở về quê hương Đặng Xá sinh sống đến cuối cuộc đời.

Sau này khi Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, đã truyền chỉ cho thiên hạ cứ nơi nào vua Đinh Tiên Hoàng đã lập đồn trại… thì đều được rước sắc về lập đền thờ cúng.

Tại di tích Nghè Xuân Phả ở xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa bà Hoàng hậu người Hà Nam cũng được người Việt đúc tượng thờ cùng Đại Hải Long Vương với vai trò là người truyền dạy trò Xuân Phả cho dân làng.

Cả khu đình Tam Chúc được nối liền với chùa Tam Chúc bằng một lối đi bộ hình Zig Zag được dựng trên hồ Tam Chúc.

Vào mùa sen nở, cả khu hồ ngập tràn sắc hoa sen khiến du khách có cảm giác mình đang dạo bước trên một vườn sen khổng lồ vậy.

Lối đi vào đình Tam Chúc bắc ngang hồ Lục Nhạc

3.

Trụ trì chùa Tam Chúc

Trụ trì chùa Tam Chúc là hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, hiện đang là Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đồng thời là Trụ trì chùa Bái Đính (Ninh Bình).

Ngoài ra, chùa Tam Chúc còn là nơi các thiền sư Khuông Việt, Đỗ Pháp Thuận, Đặng Huyền Quang, Trương Ma Ni tu hành.

4.

Tượng phật ở chùa Tam Chúc

Hiện tại ở chùa Tam Chúc có 8 ngôi tượng Phật, trong đó nổi bật nhất là ngôi tượng Phật ở điện thờ Pháp Chủ Thích Ca Mâu Ni nặng hơn 200 tấn, được công nhận là ngôi tượng Phật bằng đồng lớn nhất tại Đông Nam Á hiện nay.

Tượng Phật lớn nhất Đông Nam Á ở chùa Tam Chúc

5.

Điểm đặc biệt của chùa Tam Chúc

+ Chùa Tam Chúc là nơi lưu giữ phiến đá thiên thạch mặt trăng có trọng lượng 5,5kg được đặt tên là “The Moon Puzzle” trị giá trên 600.000 USD tương đương 14 tỷ đồng.

Được biết, thạch mặt trăng rơi từ không gian vũ trụ xuống sa mạc Sahara từ hàng nghìn năm trước, được tìm thấy vào năm 2017.

Ngày 19/10/2018, tại Trung tâm đấu giá RR Auction, bang Boston (Mỹ), Doanh nghiệp Xuân Trường tại Ninh Bình đã trúng đấu giá khối đá này.

+ Chùa Tam Chúc cũng được vinh dự đón nhận cây Bồ Đề quý do Chủ tịch Quốc hội Sri Lanka tặng.

Đây là cây bồ đề được chiết từ “Cây Bồ Đề Vĩ Đại Cát Tường” (Jaya Sri Maha Bodhi) ở Thánh tích Mahamegha, Cố đô Anuradhapura – Sri Lanka.

Cây bồ đề này có tuổi thọ 2.250 tuổi và được coi là báu vật của đất nước Sri Lanka.

Năm 247 (trước công nguyên), Vua A Dục đã cho chiết một nhánh phía nam của cây bồ đề thiêng ở Bodh Gaya – Ấn Độ (nơi đức Phật thành đạo) và phái Công chúa Sanghamitta đem sang tặng cho quốc đảo Sri Lanka.

Cây Bồ Đề quý ở chùa Tam Chúc

+ Chùa Tam Chúc có vị thế đắc địa: Phía sau là núi Thất Tinh, phía trước là hồ Lục Nhạc với 6 hòn đảo đá nổi lên từ dưới lòng hồ.

Tương truyền 6 hòn đảo đá đó chính là 6 chiếc chuông của nhà trời đưa xuống.

Hồ Lục Nhạc ở trước mặt quần thể chùa Tam Chúc

+ Các bức tường trong chùa Tam Chúc được ghép thành từ 12000 bức phù điêu được tạc thủ công bằng đá lấy từ miệng núi lửa của đất nước Indonesia.

Trên các bức phù điêu này là những điển tích, những câu chuyện truyền thuyết về cuộc đời của Đức Phật.

Mỗi bức phù điêu có một mã số riêng, khi du khách muốn tìm hiểu về các bức phù điêu này, chỉ cần nhập mã của bức phù điêu lên ứng dụng trên điện thoại là toàn bộ chú thích sẽ được hiện ra.

Các bức phù điêu được tạc thủ công bằng tay từ những viên đá lấy từ miệng núi lửa ở Indonesia

+ Chùa Tam Chúc cổ có niên đại hơn 1000 năm và là một trong những ngôi chùa cổ nhất tại Việt Nam.

+ Trong chùa Tam Chúc có vườn ươm cây giống, là nơi lưu giữ những cây thiên tuế và hàng vạn cây đại có tuổi đời lên đến hơn 100 năm.

6.

Những kỷ lục của chùa Tam Chúc

+ Ngôi chùa có diện tích lớn nhất Thế Giới: Quần thể chùa Tam Chúc có tổng diện tích gần 5.000ha và được công nhận là ngôi chùa có diện tích lớn nhất trên Thế Giới tính đến thời điểm hiện tại.

Chùa Tam Chúc tự hào là ngôi chùa có diện tích lớn nhất Thế Giới

+ Ngôi chùa có tượng Phật bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á: Đó chính là ngôi tượng Phật nằm trong điện thời Pháp Chủ Thích Ca Mâu Ni có trọng lượng 200 tấn.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
QL


Tổng hợp các tuyến quốc lộ (QL) trên cả nước VN:

QL1A > Hà Nội – Bắc Ninh – Lạng Sơn; Hà Nội – Nam Định – Ninh Bình – Thanh Hóa – Vinh – Hà Tĩnh – Đồng Hới – Đông Hà – Huế – Đà Nẵng – Tam Kỳ – Quảng Ngãi – Qui Nhơn – Tuy Hòa – Ninh Hòa – Nha Trang – Cam Ranh – Phan rang – Phan Thiết – Biên Hoà – Tp.

Hồ Chí Minh – Tân An – Mỹ Tho – Vĩnh Long – Cần Thơ – Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau – Năm Căn

QL1B > Thái Nguyên – Đình Cả – Bắc Sơn – Đồng Đăng (Lạng Sơn)

QL2 > Phù Lỗ (Hà Nội) – Phúc Yên – Vĩnh Yên – Việt Trì – Tuyên Quang – Hà Giang

QL3 > Hà Nội – Thái Nguyên – Bắc Kạn – Cao Bằng – Quảng Yên – Tà Lùng

QL4A > Lạng Sơn – Na Sầm – Thất Khê – Đông Khê – Cao Bằng

QL4B > Lạng Sơn – Đình Lập – Tiên Yên (Quảng Ninh)

QL4C > Hà Giang – Tam Sơn (Quản Bạ) – Yên Minh – Đồng Văn

QL4D > Mường Lay – Phong Thổ – Lai Châu – Tam Đường – Sa Pa – Lào Cai – – Mường Khương

– Bảo Thắng

QL5 > Hà Nội – Mỹ Hào (Hưng Yên) – Hải Dương – Hải Phòng

QL6 > Hà Nội – Hà Đông – Hòa Bình – Mai Châu – Mộc Châu – Sơn La – Tuần Giáo (Điện Biên)

QL7 > Diễn Châu – Đô Lương – Anh Sơn – Con Cuông – Hòa Bình – Mường Xén – Cửa khẩu Nậm Cắn (Nghệ An)

QL8 > Hồng Lĩnh – Phố Châu – Cửa khẩu Kẹo Nưa (Hà Tĩnh)

QL9 > Đông Hà – Lao Bảo

QL10 > Yên Hưng (Quảng Ninh) – Hải Phòng – Thái Bình – Nam Định – Ninh Bình – Phát Diệm – Nga Sơn – Hậu Lộc – Hoằng Hóa (Thanh Hóa)

QL12 > Điện Biên Phủ – Phong Thổ (Lai Châu)

QL13 > Tp.

Hồ Chí Minh – Thủ Dầu Một – Mỹ Phước – Bình Long – Lộc Ninh (Bình Phước)

QL14 > Đa Krông (Quảng Trị) – A Lưới (Huế) – Prao – Thạnh Mỹ – Khâm Đức (Quảng Nam) – Kon Tum – Pleiku – Buôn Ma Thuột – Bình Phước

QL14B > Đà Nẵng – Thạnh Mỹ (Quảng Nam)

QL14C > Plei Kần (Kon Tum) – Sa Thầy – Đức Cơ – Chư Prông (Gia Lai) – Ea Súp – Buôn Đôn (Đắk Lắk) – Đắk Mil (Đắk Nông)

QL15 > Mai Châu (Hòa Bình) – Quan Hóa – Lang Chánh – Yên Cát (Thanh Hóa) – Thái Hòa – Tân Kỳ – Đô Lương – Nam Đàn (Nghệ An) – Hương Khê (Hà Tĩnh) – Lệ Thủy (Quảng Bình) – Cam Lộ (Quảng Trị)

QL18 > Bắc Ninh – Chí Linh – Uông Bí – Hạ Long

QL19 > Quy Nhơn – Pleiku

QL20 > Đà Lạt – Di Linh – Bảo Lộc – Định Quán – Thống Nhất (Đồng Nai)

QL21 > Sơn Tây (Hà Tây) – Lạc Thủy (Hòa Bình) – Phủ Lý – Nam Định

QL22 > Tp.

Hồ Chí Minh – Thị trấn Củ Chi – Trảng Bàng – Gò Dầu – Cửa khẩu Mộc Bài

QL23 > Đông Anh (Hà Nội) – Mê Linh (Vĩnh Phúc)

QL24 > Đức Phổ (Quảng Ngãi) – Kon Tum

QL25 > Tuy Hòa (Phú Yên) – Chư Sê (Gia Lai)

QL26 > Ninh Hòa (Khánh Hòa) – Buôn Ma Thuột

QL27 > Phan Rang Tháp Chàm – Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà (Lâm Đồng) – Lắk – Buôn Ma Thuột

QL28 > Gia Nghĩa – Di Linh – Phan Thiết

QL30 > Cái Bè (Tiền Giang) – H.Cao Lãnh – TX.Cao Lãnh (Đồng Tháp)

QL31 > Lục Nam (Bắc Giang) – Đình Lập (Lạng Sơn)

QL32 > Hà Nội – Sơn Tây – Phú Thọ – Nghĩa Lộ – Mù Căng Chải – Than Uyên – Tam Đường (Lai Châu)

QL34 > Hà Giang – Cao Bằng

QL37 > Yên Bái – Tuyên Quang – Thái Nguyên – Kép (Bắc Giang) – Sao Đỏ, Chí Linh (Hải Dương)

QL38 > Bắc Ninh – Kẻ Sặt (Hải Dương) – Hưng Yên – Đồng Văn (Hà Nam)

QL39 > Hưng Yên – Đông Hưng (Thái Bình)

QL45 > Nho Quan (Ninh Bình) – Thanh Hóa

QL46 > Đô Lương – Thanh Chương – Nam Đàn – Hưng Nguyên – Vinh (Nghệ An)

QL47 > Sầm Sơn – Thanh Hóa – Triệu Sơn – Xã Xuân Phú (H.Thọ Xuân)

QL48 > Kim Sơn – Quỳ Châu – Thái Hòa – Diễn Châu (Nghệ An)

QL49 > A Lưới – Thuận An (Thừa Thiên Huế)

QL50 > Hồ Chí Minh – Cần Đước (Long An) – Mỹ Tho

QL51 > Bà Rịa – Biên Hòa

QL53 > Vĩnh Long – Vũng Liêm – Càng Long (Trà Vinh)

QL54 > Trà Vinh – Trà Ôn, Bình Minh (Vĩnh Long) – Lai Vung (Đồng Tháp)

QL55 > Bà Rịa – Hàm Tân (Bình Thuận)

QL56 > Bà Rịa – Long Khánh (Đồng Nai)

QL57 > Long Hổ (Vĩnh Long) – Chợ Lách (Bến Tre) – Mỏ Cầy – Thạnh Phú

QL60 > Mỹ Tho – Bến Tre – Châu Thành, Tiểu Cần (Trà Vinh)

QL61 > Chơn Thành (Kiên Giang) – Vị Thanh (Hậu Giang)

QL62 > Tân An – Thạnh Hóa – Tân Thạnh – Mộc Hóa – Vĩnh Hưng (Long An)

QL63 > Cà Mau – Vĩnh Thuận – An Biên – Châu Thành – Rạch Giá

QL70 > Phố Ràng (Lào Cai) – Yên Bình (Yên Bái) – Đoan Hùng (Phú Thọ)

QL80 > Vĩnh Long – Sa Đéc – Thốt Nốt – Rạch Giá

QL91 > Cần Thơ – Long Xuyên – TX.

Châu Đốc – Tịnh Biên

QL217 > Vĩnh Lộc (Thanh Hoá) – Cẩm Thuỷ – Cành Nàng – Quan Sơn – Na Mèo

QL279 > Điện Biên Phủ – Phố Ràng – Bắc Quang – Na Hang – Ba Bể – Chi Lăng – Lục Ngạn – Bãi Cháy
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Canh Tý


Dành cho ngày m1 mưa gió

sự kiện lịch sử năm Canh Tý

A) Khởi nghĩa Hai Bà Trưng:

Mùa xuân năm Canh Tý (năm 40), cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bùng nổ.

Trưng Trắc, Trưng Nhị kêu gọi hào kiệt bốn phương và nhân dân đứng lên đánh đuổi giặc.

Nhiều nữ tướng giỏi quy tụ dưới cờ của 2 bà như Đào Kỳ, Lê Hoa, Lê Chân, Thiện Hoa…

Chỉ một thời gian ngắn, khởi nghĩa nhanh chóng lan khắp khiến thái thú Tô Định phải cắt tóc, cạo râu giả dạng thường dân bỏ chạy.

Hai Bà chiếm được đến 65 huyện, thành.Trưng Trắc lên ngôi vua, lấy hiệu là Trưng Nữ Vương, chọn Mê Linh làm kinh đô.

Ba năm sau, Mã Viện kéo quân sang.

Do thế giặc mạnh, Hai Bà Trưng kháng chiến thất bại, gieo mình xuống sông Hát tuẫn tiết.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa chống sự cai trị của Trung Quốc đầu tiên, cũng là tiền đề cho các cuộc đấu nối tiếp trong suốt 1.000 năm Bắc thuộc.

😎 Quan Vũ và Tào Tháo qua đời:

Năm Canh Tý 220, Quan Vũ mất tại Kinh Châu sau thất bại trong trận Phàn Thành.

Ông là vị tướng nổi tiếng cuối thời Đông Hán và Tam Quốc, là một trong "ngũ hổ tướng" góp công vào việc thành lập nhà Thục Hán (Trung Quốc).

Cũng trong năm 220, một nhân vật nổi tiếng khác thời Tam Quốc qua đời là Tào Tháo, thọ 66 tuổi.

Hiện vẫn còn nhiều đánh giá trái chiều về nhân vật này, tuy nhiên đa số đều thừa nhận ông là một nhà chính trị, quân sự giỏi của Trung Quốc, tạo nền tảng cho việc hình thành chính quyền Tào Ngụy thời Tam Quốc.

C) Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn qua đời:

Năm Canh Tý (1300), ông mất, được nhân dân tôn vinh là "Đức Thánh Trần" và lập đền thờ nhiều nơi trên cả nước.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là một trong những danh tướng nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam với công lớn trong việc chỉ huy quân đội đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên - Mông năm 1285 và năm 1288.

Ông để lại các tác phẩm có giá trị về nghệ thuật quân sự như Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược hay Vạn kiếp tông bí truyền thư…

Theo Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim), tháng 6 năm Canh Tý (1300), Trần Hưng Đạo ốm nặng.

Vua Trần Anh Tông ngự tới nhà thăm có hỏi: "Thượng phụ một mai khuất núi, phỏng có quân bắc lại sang thì làm thế nào?".

Hưng Đạo Vương tâu rằng: "…Đại để, kẻ kia cậy có tràng trận, mà ta thì cậy có đoản binh; lấy đoản chống nhau với tràng, phép dùng binh thường vẫn phải như thế.

Còn như khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió, như lửa, thế ấy lại dễ chống.

Nếu nó dùng cách dần dà, như tằm ăn lá, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới khó trị; thì ta nên kén dùng tướng giỏi, liệu xem quyền biến, ví như đánh cờ, phải tùy cơ mà ứng biến, dùng binh phải dồn lòng như cha con một nhà, thì mới có thể đánh được.

Cách ấy cốt phải tự lúc bình thì khoan sức cho dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ nước hay hơn cả".

D) Năm Châu Phi:

Năm 1960 (Canh Tý) được gọi là "Năm Châu Phi" trong lịch sử thế giới với việc 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập từ Anh, Pháp… như Đông Cameroon (1-1-1960), Togo (27-4-1960), Madagascar (26-6-1960), Somali (1-7-1960), Dahomey (1-8-1960), Niger (3-8-1960)…

Những sự kiện này đã nâng tổng số quốc gia độc lập châu Phi lúc bấy giờ từ vỏn vẹn chỉ 9 nước lên thành 26 nước với tổng dân số lúc đó là 180 triệu người.

Tháng 10-1960, tổng thống Ghana, ông Kwame Nkrumah, trình bày một bài diễn văn trước Liên Hiệp Quốc kêu gọi về các quyền cơ bản cho các quốc gia và dân tộc châu Phi, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố tự do và quyền tự quyết.

Đến tháng 12-1960, Liên Hiệp Quốc chính thức ra tuyên bố về Trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa, trong đó nhấn mạnh: "Tất cả mọi hoạt động vũ trang hoặc các biện pháp đàn áp dưới bất kỳ hình thức nào nhằm chống lại các dân tộc phụ thuộc phải bị chấm dứt để tạo khả năng cho các dân tộc đó thực hiện một cách hòa bình và tự do quyền độc lập hoàn toàn của họ, và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ phải được tôn trọng".

Ảnh lần lượt theo thứ tự
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Ý nghĩa thắp 3 nén nhang, 3 vái 3 lạy khi hành lễ, cúng bái?


Lễ bái hay cúi lạy là một trong những nghi thức quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của người Việt.

Mỗi người chúng ta khi cúng bái tổ tiên, Phật đài thường cắm 3 nén nhang và vái 3 lạy.

Vậy quan niệm đằng sau đó là gì?

Do tín ngưỡng tâm linh hay còn một ý nghĩa sâu xa nào khác về con số 3 này?

Đối với nhiều người, việc đưa tay lấy ba nén hương và vái ba vái trước tượng Phật tựa như hành động “tập mãi thành quen” mà không hiểu ý nghĩa đằng sau của hành động này.

Thực ra “ba nén hương” và “ba vái” là có nội hàm ý nghĩa sâu xa ở đằng sau.

Nếu như có thể hiểu rõ hàm ý này, rất có thể “trời xanh có mắt” chứng kiến tấm lòng thành kính của chúng ta mà có thể phù hộ!

Chúng ta thắp “ba nén hương” trước tượng Phật là có ý nghĩa tương ứng với “giới, định, huệ”.

*Nén hương thứ nhất được gọi là “giới hương” tức là trước mặt tượng Phật biểu đạt lòng quyết tâm của mình, từ bỏ thói quen xấu và ý nghĩ xằng bậy của mình.

*Nén hương thứ hai được gọi là “định hương” là có ý hy vọng đối với bất kỳ sự việc nào xảy ra thì bản thân cũng có thể tĩnh được, bình tĩnh mà xử sự.

*Nén hương thứ ba được gọi là “huệ hương” (hay “tuệ hương”) là có ý khẩn cầu bản thân có được trí tuệ, khai ngộ mà gặp được Phật tâm.

Như vậy có thể thấy rằng, thắp hương và bái Phật không phải chỉ là hành động “theo thói quen” hay hành động “bề ngoài” mà chính là thể hiện cái tâm của con người.

Cho nên, người xưa có câu “không thắp hương không bái lạy mà vẫn được phúc báo” chính là có ý nói rằng cái tâm của con người mới là yếu tố quan trọng nhất và được Thần linh nhìn thấy rõ.

Thắp 3 nén nhang, vái 3 vái và lạy 3 lạy có ý nghĩa rất sâu xa, liên quan mật thiết đến văn hóa và niềm tin của người Việt.

Theo Phật giáo, để thể hiện sự tôn kính, ngưỡng mộ với Đức Phật, chúng Phật tử sẽ chắp tay và cúi đầu lạy sát đất.

Khi Phật giáo dần đi vào đời sống của người Việt thì nghi lễ lạy này lan dần ra trong các dịp khác như lễ cúng ông bà tổ tiên, lễ cúng các vị thần thánh…

Ba vái, 3 lạy trong quan niệm Phật giáo tượng trưng cho lễ ba ngôi Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng.

Một lạy nhớ ơn, kính ngưỡng Đức Phật soi sáng, chỉ đường để chúng sinh thoát khỏi khổ đau luân hồi, tìm thấy an nhiên cực lạc.

Lạy thứ hai tượng trưng cho Pháp – những lời vàng ý ngọc mà Phật truyền tụng lại, nguyện ý thực hiện những lời răn dạy quý báu để hướng tới chân tâm, học Phật soi mình.

Lạy thứ 3 tượng trưng cho Tăng - dẫn dắt chúng sinh trên con đường đạo, giúp chúng sinh gần gũi, thấu hiểu hơn với Phật pháp.

vai-lay phunutoday

Ngoài ra, Phật giáo cũng nhấn mạnh, ý nghĩa 3 vái 3 lạy không chỉ lạy Tam Bảo mà còn là lễ chính ba ngôi quý trong mỗi con người và trong toàn thể chúng sinh.

Đó là Phật tính, Pháp tính và Thanh tịnh tính.

Ai cũng có Phật tính sáng suốt, Pháp tính từ bi bình đẳng và Thanh tịnh tính hòa hợp.

Cung dưỡng những tính ấy chính là cách để học Phật, hướng Phật.

Còn trong quan niệm dân gian, 3 vái này: thứ nhất là là thể hiện cho tâm lễ kính Phật, thứ 2 là nguyện vọng mong muốn được giác ngộ, nguyện lòng hướng Phật và thứ 3 là trang nghiêm sám hối lỗi lầm của mình trước Phật.

Khi lạy, người đứng thẳng, hai chân nép sát vào nhau, hai tay chắp lại nghiêm trang, thể hiện sự nhất tâm, chính tà hòa làm một, thiện ác không phân tranh.

Khi cúi lạy chắp hai tay trước ngực, đưa cao lên quá đầu rồi từ từ quỳ xuống, đầu cúi sát đất, hai tay mở rộng ra hai bên.

Lặp đi lặp lại như vậy 3 lần.

Quan trọng nhất khi lạy vái là thành tâm, giữ tâm thanh tịnh, không màng tới thế sự, không suy nghĩ chuyện nhân sinh, thoát li cuộc sống toan tính đời thường.

Một lòng hướng về đấng tâm linh, có như vậy mới sở cầu đắc sở nguyện, mọi sự hanh thông, thể hiện đúng tính chất và quy củ của lễ bái.

Tôn thờ tổ tiên, hương hỏa cho người đã khuất, nghi lễ cúng bái trang trọng đã ăn sâu vào văn hóa người Việt.

Người ta cho rằng đó là cách tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên, một phần cũng ảnh hưởng từ Phật giáo.

Có thể thấy rằng thắp hương và lạy Phật không chỉ là hành động “theo thói quen” hay hành động “bề ngoài” mà chính là thể hiện cái tâm của con người.

Cho nên, người xưa có câu “không thắp hương không bái lạy mà vẫn được phúc báo” chính là có ý nói rằng cái tâm của con người mới là yếu tố quan trọng nhất và được Thần linh nhìn thấy rõ.

Mong rằng qua bài viết trên đây, bạn có thể hiểu hơn về ý nghĩa tâm linh trong nghi thức cúng bái vô cùng thiêng liêng này.

Nguồn : Tổng hợp.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
HH Dương Vân Nga


Chuyện về ‘hoàng hậu hai triều’ Dương Vân Nga

Là người phụ nữ có quyết định ảnh hưởng đến cả vận mệnh dân tộc khi tôn Lê Hoàn lên làm vua thay nhà Đinh, Dương Vân Nga đã bị sử cũ phê phán gay gắt.

Dương Vân Nga là Hoàng hậu của 2 vị Hoàng đế thời kỳ đầu lập quốc trong lịch sử Việt Nam - Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành.

Bà đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chuyển giao quyền lực từ nhà Đinh sang nhà Tiền Lê.

Tuy nhiên, bà không được chính sử ghi chép nhiều.

Đại Việt sử ký toàn thư chỉ cho biết bà họ Dương, không nói bà tên là gì, cũng không viết xuất thân của bà ra sao.

Còn theo truyền tụng dân gian, Dương Vân Nga là con gái của ông Dương Thế Hiển, quê ở vùng Nho Quan, Ninh Bình.

Sinh thời, Vân Nga rất xinh đẹp.

Bà có khuôn mặt bầu bĩnh rất phúc hậu song vẫn có nét thanh tú, cao sang.

Nước da trắng hồng và cặp mắt phượng, mày ngài lúc nào cũng long lanh đầy tình tứ.

Năm 968, sau khi dẹp xong "loạn 12 sứ quân", thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Tiên Hoàng) lên ngôi vua, lấy tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, lấy niên hiệu là Thái Bình.

Trong một lần đến vùng Nga My, nghe tiếng hát giọng trong trẻo của một cô gái, Đinh Bộ Lĩnh xuống ngựa, cho người gọi cô gái, nhưng không thấy.

Ông chợt nghĩ đến người bạn bố mình xưa kia là Tướng quân Dương Thế Hiển ở gần đây, bèn ghé vào thăm.

Thế Hiển sai con gái Vân Nga bưng nước mời khách.

Nàng có tiếng nói hệt giọng hát Đinh Bộ Lĩnh vừa nghe.

Nhà vua xin được đón cô gái về kinh đô, lúc đó Vân Nga tròn 16 tuổi.

Về sau, bà là một trong 5 hoàng hậu của vua Đinh, được vua rất yêu chiều do có nhan sắc và hiểu biết.

Năm 979, Đinh Bộ Lĩnh và hoàng tử Đinh Liễn bị hoạn quan Đỗ Thích giết hại.

Triều thần tôn Vệ Vương Đinh Toàn (mới được 6 tuổi) lên ngôi Hoàng đế, tôn Dương Vân Nga làm Hoàng Thái Hậu.

Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn (Lê Đại Hành) được Dương Thái hậu chọn làm Nhiếp chính, sau tự xưng là Phó Vương.

Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp thấy quyền lực rơi vào tay Lê Hoàn, lại nghi Dương Thái hậu cùng Lê Hoàn tư thông nên kéo quân về Hoa Lư tiến đánh nhưng bị Lê Hoàn đánh bại.

Ở biên giới phía Bắc, giặc Tống lợi dụng tình hình Đại Cồ Việt rối ren, chuẩn bị cất binh xâm lược.

Năm 980, trước nguy cơ xâm lược của quân Tống, Dương hoàng hậu cùng triều thần tôn Lê Hoàn lên làm Hoàng đế, lập nên nhà Tiền Lê.

Việc này, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đều có chép lại:

"Bấy giờ, Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về.

Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cư Lạng làm đại tướng quân.

Khi triều đình đang bàn kế hoạch xuất quân, Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người rằng: Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho?

Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn".

Quân sĩ nghe vậy đều hô vạn tuế.

Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế.

Từ đó Lê Hoàn lên ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Phúc vào đầu năm 980, giáng phong Đinh Toàn làm Vệ Vương".

Tháng 7/980 quân Tống xâm lược Đại Cồ Việt.

Lê Hoàn vừa lên ngôi đã phải triển khai lực lượng kháng chiến đánh giặc bảo vệ đất nước.

Đến tháng 3/981, cuộc kháng chiến chống Tống do Lê Hoàn trực tiếp chỉ huy thắng lợi hoàn toàn.

Vua Tống buộc phải xuống chiếu lui quân.

Sau thắng lợi, Lê Hoàn dốc sức chăm lo xây dựng đất nước.

Năm 982, Lê Đại Hành phong Dương Vân Nga là Đại Thắng Minh Hoàng Hậu.

Chính sử không cho biết hai người có bao nhiêu con, nhưng theo các thần tích ở cố đô Hoa Lư thì họ có một cô con gái tên Lê Thị Phất Ngân.

Về sau, công chúa Phất Ngân được gả cho cho Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn - người mở đầu triều đại nhà Lý.

Cuối đời, hoàng hậu Dương Vân Nga tu hành tại động Am Tiên ở phía đông kinh thành Hoa Lư.

Tại đây còn lưu giữ một bài thơ truyền khẩu khắc trên tường Chùa tóm tắt về cuộc đời bà: "Hai vai gồng gánh hai Vua/ Hai triều hoàng hậu, tu Chùa Am Tiên/ Theo chồng đánh Tống bình Chiêm/ Có công với nước, vô duyên với đời...".

Năm 1000, bà qua đời.

Hoàng hậu Dương Vân Nga được thờ cùng với vua Lê Đại Hành tại đền vua Lê ở khu di tích cố đô Hoa Lư và thờ cùng vua Đinh Tiên Hoàng tại đền Mỹ Hạ ở Gia Thủy, Nho Quan.

Tại khu di tích đình - chùa Trung Trữ, Ninh Giang, huyện Hoa Lư, bà còn được phối thờ cùng cả hai vua.

Nhân dân khi làm đền thờ, tô pho tượng Dương thái hậu, nhưng mặt pho tượng tô đỏ.

Theo truyền thuyết dân gian thì việc tô mặt đỏ thể hiện sự ngượng ngùng của người đàn bà thờ hai đời chồng, một Hoàng hậu thờ hai đời vua.

Việc Dương Vân Nga - thái hậu nhà Đinh tôn Lê Đại Hành lên làm vua, mở đầu nhà Tiền Lê, rồi lại trở thành vợ vua Lê bị các nhà nho và sử gia trước đây lên án rất gay gắt.

Khâm Định nhà Nguyễn bàn: "Đại Thắng Minh là tên hiệu của Đinh Tiên Hoàng.

Đại Hành lấy hiệu vua cũ đặt cho vợ mình: Thật là không còn kiêng nể chút gì cả!

Sử sách ghi chép, để cười nghìn thu".

Đại Việt Sử Ký toàn thư còn phê phán nặng nề hơn: "Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, dây mối của vương hóa.

Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng.

Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn.

Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đầu mối họa đó sao?"

Tuy nhiên, về sau giới nghiên cứu lịch sử đã có cái nhìn thông cảm hơn đối với hoàng hậu hai triều Dương Vân Nga.

Những nhà sử học bênh vực bà cho rằng, trong khi đất nước đang lâm nguy, nếu chỉ vì quyền lợi của dòng họ và ngôi vị của con mình thì có thể giữ được nước không?

Sự lựa chọn và quyết định của bà trong hoàn cảnh ấy, đã biểu hiện thái độ chính trị sáng suốt của một người có khối óc lớn thức thời, xứng đáng được coi là anh hùng.

Sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong Việt Sử Giai Thoại cũng cho rằng: "Đinh Tiên Hoàng mất, vua nối ngôi là Đinh Toàn chỉ mới được 6 tuổi, Lê Hoàn làm Phó Vương, giữ quyền nhiếp chính, ấy là vì sự thể lúc đó buộc phải làm như vậy.

Sau, vận nước lâm nguy, xã tắc không thể phó thác cho Đinh Toàn bé nhỏ, chư tướng cùng Dương Thái hậu tôn Lê Hoàn lên ngôi, và Lê Hoàn đã vui nhận ý tôn lập đó, ấy cũng bởi sự thể lúc bấy giờ buộc phải làm như vậy đó thôi.

Ai lên ngôi để hưởng cuộc đời nhung lụa, còn Lê Hoàn lên ngôi trước hết là để nhận lấy sứ mệnh vinh quang mà cực kì khó khăn, đó là chỉ huy cuộc chiến đấu chống quân Tống xâm lăng, bảo vệ nền tự chủ và thái bình cho xã tắc, kính thay".
 
Nghiệp Vụ Lhhd
DVN


Lịch sử Việt Nam nếu nhìn từ thân phận đàn bà thì đó là những tiếng nói vô thanh, tức là không có (hoặc rất ít) giọng nói cất lên từ phía phụ nữ, mà chỉ là những tiếng lồng đa thanh của những kẻ đàn ông cho những khuôn mặt đàn bà đã phôi pha theo dòng chảy thời gian.

Hình tượng Thái hậu Dương Vân Nga trong lịch sử là một trong những điển hình cho điều đó.

Trong khi Đinh Tiên Hoàng hiện lên như là một biểu tượng đa năng, như là câu chuyện của những đại tự sự với những xu hướng chính trị cùng chiều; thì Dương hậu được kiến tạo như là một hình ảnh phụ bị cuốn theo và phụ họa cho những giọng nói của đàn ông.

Trong khi, các sử gia Nho giáo chỉ coi Dương hậu như là một bài học cho sự vi phạm đạo vợ chồng, phê phán để làm gương cho các bậc hoàng đế và vương hậu đời sau; thì các nghiên cứu trong thế kỷ 20 lại lấy bà như là một biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam biết hy sinh hạnh phúc cá nhân để giữ gìn sự thống nhất và bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Sử liệu về Dương Vân Nga

Dương hậu hay Dương Vân Nga, được biết đến nhiều vì liên quan một lúc đến cả ba họ Ngô- Đinh- Lê.

Cho đến nay, người ta vẫn không hết tranh luận bà là một người hai hay người.

Nhưng dù là một hay hai người thì đây vẫn gương mặt phụ nữ kỳ lạ nhất của thế kỷ X, và cũng là một/ hai người phụ nữ đáng nhớ nhất trong lịch sử Việt Nam trung đại.

Nếu bà là một người, thì bà vừa là cháu của một ông Tiết độ sứ (Dương Đình Nghệ) và một ông vua (Bình Vương), là vợ của 3 vị vua (Ngô Xương Văn, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn), là mẹ của 2 ông vua nữa (An Vương Ngô Nhật Khánh, và Vệ Vương Đinh Toàn), cuối cùng bà còn là mẹ vợ của hoàng đế Lý Công Uẩn (như truyền thuyết).

Nếu quả như thế thật thì sử liệu nào cho phép suy luận và vẽ ra một nhân vật tầm cỡ – thú vị đến như vậy?

Sử liệu 1: ghi chép sự kiện tháng 10 âm năm 979, sau khi Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn bị ám sát.

“Khi ấy Định quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, cùng Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn rước Vệ Vương Toàn lên ngôi Hoàng đế, tôn gọi vua là Tiên Hoàng Đế, tôn mẹ đẻ [vua mới] là Dương thị làm Hoàng thái hậu.

Rước linh cữu Tiên Hoàng Đế về táng ở sơn lăng Trường Yên”1.

Sử liệu 2: chép ở mục Phế Đế: “Vua nối ngôi khi mới 6 tuổi.

Lê Hoàn nhiếp chính, làm công việc như Chu Công, tự xưng là Phó Vương.

Bọn Định quốc công Nguyễn Bặc, ngoại giáp Đinh Điền, Phạm Hạp ngờ Hoàn sẽ làm điều bất lợi cho vua nhỏ, bèn cùng nhau dấy binh, chia hai đường thủy bộ, muốn tiến về kinh đô giết Hoàn, nhưng không đánh nổi, bị giết.

Trước đó khi Điền và Bặc cất quân, Thái hậu nghe tin, lo sợ bảo Hoàn rằng: “Bọn Bặc dấy quân khởi loạn làm kinh động nước nhà ta.

Vua còn nhỏ yếu chưa kham nổi nhiều nạn, các ông nên liệu tính đi chớ để tai họa về sau”.

Hoàn nói: “Thần ở chức Phó Vương nhiếp chính, dù sống chết biến họa thế nào, đều phải đảm đương trách nhiệm”.

Sử liệu 3: Chép sự kiện cuối năm 979 về Ngô Nhật Khánh: “Phò mã Ngô Nhật Khánh dẫn thuyền quân Chiêm Thành hơn nghìn chiếc vào cướp, muốn đánh thành Hoa Lư, theo hai cửa biển Đại Ác và Tiểu Khang, qua một đêm, gặp gió bão nổi lên, thuyền đều lật đắm, Nhật Khánh cùng bọn người Chiêm đều chết đuối, chỉ có thuyền của vua Chiêm thoát trở về nước.

Nhật Khánh là con cháu của Ngô Tiên chúa Quyền, trước xưng là An Vương, cùng 12 sứ quân mỗi người chiếm giữ một vùng.

Tiên Hoàng dẹp yên, lấy mẹ Khánh làm hoàng hậu, lấy em gái Khánh làm vợ Nam Việt Vương Liễn, còn lo sinh biến, lại đem công chúa gả cho Khánh, ý muốn dập hết lòng oán vọng của hắn.

Nhật Khánh bề ngoài cười nói như không, nhưng trong lòng vẫn bất bình, bèn đem cả vợ chạy sang Chiêm Thành, đến cửa biển Nam Giới rút đao ngắn xẻo má vợ kể tội rằng: “Cha mày lừa dối ức hiếp mẹ con ta, lẽ nào ta vì mày mà quên tội ác của cha mày hay sao?

Cho mày trở về, ta đi đằng khác tìm kẻ có thể cứu ta”.

Nói xong bèn đi.

Đến đây nghe tin Tiên Hoàng băng, Khánh dẫn người Chiêm vào cướp.”

2

Sử liệu 4: tháng 7 âm năm 980, nhà Tống nghe nói nhà Đinh có biến, bèn sai Hầu Nhân Bảo sang đánh Đại Cồ Việt.

“Bấy giờ, Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về.

Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cư Lạng làm Đại tướng quân.

Khi [triều đình] đang bàn kế hoạch xuất quân, Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người rằng: “Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân.

Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho ?

Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn”.

Quân sĩ nghe vậy đều hô “vạn tuế!”.

Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế.

Từ đó Hoàn lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc năm đầu [980], giáng phong vua làm Vệ Vương.”

3

Sử liệu 5: Sau chiến thắng Nam Hán, năm 980, Lê Hoàn được bề tôi tôn xưng là Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí nhân quảng Hiếu Hoàng Đế.

Năm 981, “Lập Hoàng thái hậu nhà Đinh là Dương thị làm Đại Thắng Minh Hoàng Hậu.

Hậu là vợ của Tiên Hoàng, mẹ đẻ của Vệ Vương Toàn.

Khi vua lấy được nước, đem vào cung, đến đây lập làm Hoàng hậu, cùng với Phụng Càn Chí Lý Hoàng Hậu, Thuận Thánh Minh Đạo Hoàng Hậu, Trịnh Quấc Hoàng Hậu, Phạm Hoàng Hậu là 5 hoàng hậu (về sau, tục dân lập đền thờ, tô tượng hai vua Tiên Hoàng và Đại Hành và tượng Dương hậu cùng ngồi, hồi quốc sơ [đầu thời Lê] vẫn còn như thế.

Sau An Phủ Sứ Lê Thúc Hiển mới bỏ)”.4

Các sử liệu trên trình bày rõ một hiện trường phong phú về bà trong bối cảnh chính trị cung đình thế kỷ X.

Chúng ta thấy, lần đầu tiên trong lịch sử thế kỷ X, một người phụ nữ đã lên tiếng và được ghi vào chính sử, hoặc ít ra lần đầu tiên các sử quan để cho phái yếu được phát ngôn.

Dương Thái Hậu bảo Hoàn mà cũng là bảo cả những người theo phe mình: vua còn nhỏ dại, các ông cứ liệu tính chớ để di họa.

Hoàn tự đáp với tư cách Phó vương, đương nhiên đó là trách nhiệm của mình.

Một kịch bản mà có lẽ cả hai người đã tính toán rất kĩ trước khi ra chầu trước bách quan.

Rồi trước nguy cơ chiến tranh với nhà Tống, trong thế “trứng đặt đầu đẳng”, lần thứ hai, người đàn bà quyền lực lên tiếng.

Toàn thư ghi, Thái Hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đánh giặc, chọn được Phạm Cự Lạng ở Nam Sách Giang5 làm Đại tướng quân.

Cự Lạng về Hoa Lư chuẩn bị kế hoạch chống giặc.

Nhưng trước tiên là phải ổn định triều chính.

Thái Hậu và Lê Hoàn chọn Phạm Cự Lạng làm Đại Tướng Quân.

Đại Tướng họ Phạm liền tấu thẳng giữa triều đình về việc tôn Hoàn làm Hoàng Đế.

Ba lý do được đưa ra: Hoàng Đế thì trẻ mỏ; giặc Tống đã đến gần; xuất quận ra trận, nếu thắng thì ai biết cho mà ghi công.

Hai ý cuối cùng đã đánh trúng tâm lý của tất cả những người đang ăn lộc triều đình.

Điểm tinh tế ở chỗ, sử mô tả Đại Tướng Quân Phạm Cự Lạng vào triều lại “mặc nguyên giáp trụ đi thẳng vào Nội phủ” để bàn kế hoạch tôn Hoàn làm Thiên tử trước khi đánh giặc.

Lạng nói xong thì quân sĩ đều hô vạn tuế.

Vậy thì hiển nhiên, việc triều đình Hoa Lư đồng ý Lê Hoàn lên ngôi còn vì phải chịu dưới sức ép của lực lượng quân sự.

Vở kịch diễn ra đúng như dự toán của đạo diễn Dương Thái Hậu, lúc này bà mới sai người mang áo long cổn đến khoác lên mình Lê Hoàn, mời ông lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc, và giáng ông con ruột 6 tuổi xuống làm Vệ Vương.

Dương Hậu – từ tấm gương “tày liếp” của đạo đức Nho giáo

Trong suốt chiều dài lịch sử sau này, chúng ta hãy cùng xem Ngô Hậu – Dương Hậu đã được hiện lên như thế nào dưới ngòi bút của các sử thần Nho gia.

Về Dương Hậu thời Đinh- Lê, Ngô Sĩ Liên đã phê bình từ góc độ đạo đức rằng: “Đạo vợ chồng là đứng đầu nhân luân, dây mối của vương hóa.

Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng.

Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn.

Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đầu mối họa đó sau?”

6 Ngô Thì Sĩ bàn thêm: “Đại Thắng Minh là tôn hiệu của Đinh Tiên Hoàng.

Đại Hành dùng tôn hiệu của vua đã mất, làm tên hiệu cho Hoàng hậu của mình, không còn kiêng kị gì nữa.

Thật là quá quắt”7.

Ngô Sĩ Liên đã phê bình Dương Hậu và Lê Hoàn từ một bối cảnh thời đại mà Nho giáo đậm đặc hơn rất nhiều so với 500 năm trước đó.

Ông phê phán Thập đạo Tướng quân lợi dụng chức vụ (ra vào cung cấm) thông dâm với vợ vua cũ và là mẹ vua mới (lại trong lúc tang gia bối rối, mẹ góa con côi), là không biết đến liêm sỉ, rồi “dâm dật đến nỗi mất nước”, đó là truyền lại cho con cháu cái thói dâm dật ấy.

Mặc dầu, đây là một lối sử bình của một ông Nho thần dành cho một ông vua Nho giáo, nhưng ta vẫn thấy, thân phận người phụ nữ họ Dương!

Những phê phán ấy, từ chính sử, đi vào trong dân gian nhiều đời, với nhiều mức độ khác nhau.

Nó trở thành một diễn ngôn sống động mà các sử thần đời sau, núp bóng quyền uy của ông vua đương thời, để mắng mỏ hoàng đế vương hậu triều trước như là các “tấm gương tày liếp” cho việc lỗi đạo vợ chồng, loạn mối nhân luân, đầu têu cho con cái và bách tính làm chuyện phản loạn.

Toàn thư ghi việc thờ cúng ba vị Đinh Hoàng Đế – Dương Hậu – Lê Hoàng Đế đã tồn tại từ thời Lê sơ8.

Sử quan cho rằng, đó là do tục lệ dân gian tự thờ cúng nên mới có sự “ngồi chung” bất chính như thế!

Việc An phủ sứ Lê Thúc Hiển9 bãi bỏ việc thờ cúng theo kiểu “dâm từ” cho thấy quyền lực “vương hóa” của triều đình.

Ở một chiều hướng ngược lại, đầu thế kỷ 17, triều đình Lê – Trịnh (chính xác là Trịnh Kiểm) đã sai Quận công Bùi Thời Tung và bộ Công dốc tiền làm lại miếu thờ và tô tượng ba vị, nhưng tác làm hai đền thờ khác nhau.

Bia Tạo tác Thánh tượng tiền triều Lê Đại Hành Hoàng đế bi ký tịnh minh (1611) ghi việc tạo 3 tượng thờ ở đền vua Lê gồm có: Lê triều Đại Hành Hoàng đế, Bảo Quang Hoàng thái hậu và Ngọa triều Hoàng đế10.

Bảo Quang Hoàng Thái Hậu có lẽ chính là thụy hiệu/ miếu điều tra văn hóa từ những năm 1980, mỗi khi đến ngày kị Đinh Tiên Hoàng dân làng có làm nghi lễ rước tượng, tượng Dương Hậu được rước từ đền thờ vua Lê sang đền thờ vua Đinh rồi cúng xong lại trả “Bà” về.

Nhưng có chi tiết quan trọng nhất của nghi lễ là lật đít tượng lên đánh mười roi trước khi cho về với ông chồng cũ11.

Nhân dân trước nay (trong cuối thế kỷ XX) vẫn coi tượng này là “Dương Vân Nga”.

Tượng này có đặc điểm là tô mặt đỏ (một thủ pháp mới lạ so với các hệ thống tượng vương hậu thời này), mặt xoay về hướng đền thờ Đinh Tiên Hoàng, hàm ý biểu thị sự hổ thẹn vì đã thất tiết với chồng cũ12.

Rõ ràng, triều đình Lê Trịnh, trong quá trình xây dựng các thần điện cho các vua triều trước (như tiền lệ cho tính chính thống của triều đại mình), đã tái sử dụng “lưỡng triều Hoàng hậu” Dương thị để tiếp dục giáo dục xã hội về đạo đức của người phụ nữ.

Cùng một biểu tượng, nhưng mỗi thời có cách xử lý khác nhau.

Đầu thế kỷ XV, ba vị được thờ theo kiểu “táo công” dân gian, để người đời sau giễu nhại, một bà hai ông ngồi chung một bệ: miếu đông thẹn ngắm duyên bà già (Đông miếu tu khan lão phụ duyên”13.

Sau năm 1436, Lê Thúc Hiển coi Dương Hậu không đủ tư cách ngồi chung với hai ông Hoàng đế vì chuyện mất đức làm vợ, và gạt bà ra khỏi thần điện của nước Đại Việt.

Đến đầu thế kỷ XVII, triều đình lại đưa bà vào thờ nhưng có “siêu chỉnh” về cách thức tô tượng và hướng thờ.

Việc nêu gương thất tiết không còn chỉ nằm trong chính sử mà lại được đưa vào trong tự điển quốc gia.

Sách Đại Nam quốc sử diễn ca ghi:

Nối sau Thiếu Đế thơ ngây,

Lê Hoàn tiếp chính từ rày dọc ngang.

Tiếm xưng là Phó quốc vương,

Ra vào cùng ả họ Dương chung tình.14

Cuối thế kỷ 19, các huyền thoại đã phủ khắp dân gian, rồi lại tiếp tục đi ngược vào chính sử và quốc chí.

Đại Nam nhất thống chí khi ghi về trấn cũ Vân Sàng thì có giải thích từ nguyên rằng: “tục truyền là cái giường (sàng) mây nước (vân) giao nhau vì Dương Hậu (bà phi của Đinh Tiên Hoàng) đặt giường trên sông để đón Lê Hoàn.

Khi vua đến có mây ngũ sắc xuất hiện nên gọi là vân sàng”15.

… bị dân gian biếm họa

Trong khi các bộ sử quan phương và điển lễ triều đình nhấn mạnh về sự bất chính của Dương Hậu từ góc độ chính trị, thì dân gian lại xoáy thêm vào mặt tính dục của bà hoàng này.

Sách Hoàn Vương ca tích sưu tầm ở đất Hà Nam mô tả vẻ đẹp của Dương Hậu như sau:

“Môi son rừng rực, mặt hoa rờn rờn

Mắt kia sao mọc cờn cờn

Cổ kia đã trắng lại tròn hân hân”…

Ðồi đông điểm ngọc, đồi tây mây vàng

Suối trong tựa ánh nguyệt tràn

Mây ngồi xổm, cá lượn đàn lên mây

Chim kề mỏ, bướm xỏ mày

Bao nhiêu suối chảy thành cây đàn cầm.16

Các ngữ liệu văn học vừa nêu trên trình bày một hiện trường hiển minh về quyền lực kiến tạo tri thức lịch sử của triều đình Nho giáo.

Các tri thức lịch sử, và tính chất của các sự kiện đã hiện rõ chính – ngụy, thông qua các lời bao biếm của các sử quan, từ đó hệ tư tưởng Nho giáo lan tỏa đến các tầng lớp khác nhau.

Những người biên soạn các tác phẩm văn học có chủ đề lịch sử (từ các nhà Nho vô danh, khuyết danh, cho đến các ông đồ làng xã, các vị quan lại lịch triều, các vị thân vương, đại thần), trên một hệ tư tưởng thống nhất về đạo đức, trinh tiết của phụ nữ, đã tiếp tục lan tỏa quan điểm của mình đến nhiều tầng lớp xã hội thông qua các tác phẩm văn học Nôm diễn ca lịch sử, các tác phẩm này là để cho phụ nữ (phần lớn là mù chữ) học thuộc lòng.

Dung mạo của Dương Thái Hậu được mô tả với hình ảnh đầy chất đa tình.

Tức là lý giải mối quan hệ bất chính của Dương Hậu có thể xuất phát từ góc độ sinh lý.

Các loại động vật cũng được huy động để mô tả hành động: chim thì kề mỏ, bướm thì xỏ mày, mây thì ngồi xổm, cá thì lượn thành đàn trên mây.

Rõ ràng ở đây, một tác giả dân gian (vô danh) đã không hề có một ý niệm về sự tôn kính đối với một vị Hoàng hậu- Hoàng Thái Hậu trong quá khứ đã xa.

Ông (có lẽ vẫn là đàn ông) chỉ nhìn thấy hình tượng một người đàn bà quyền lực với câu chuyện tình sống động qua lời bình của sử sách.

Cho đến một Dương Thái Hậu – có huân lao với quốc dân

Sang đến đầu thế kỷ XX, khi hệ hình tư tưởng thay đổi, biểu tượng Dương Thái Hậu đã bắt đầu có những chuyển biến quan trọng, nhưng không ít trường hợp vẫn bảo lưu nội hàm Nho giáo xưa cũ.

Những tranh luận, đối thoại trực tiếp giữa các tác giả cho thấy sự chuyển đổi ít nhiều về tư tưởng sử ngay trong tầng lớp trí thức nửa phong kiến nửa thực dân.

Đến nửa sau thế kỷ XX, cùng với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, và hệ tư tưởng mới, Dương Thái Hậu đã được cởi bỏ diễn ngôn đạo đức Nho giáo và khoác lên mình màu áo vàng son mới với các thuật ngữ mới về “quốc gia”, “dân tộc” và “chủ nghĩa yêu nước”.

Năm 1942, Tạp chí Tri Tân đã ra riêng một số chuyên đề về Đinh Tiên Hoàng, trong đó có bài của Song Cối với nhan đề “Nhân nói đến gia đình vua Đinh, tôi bào chữa cho Dương Thái hậu”, ông mở đầu như sau: “nói đến Dương thị, một vị Hoàng hậu trước đã đẹp duyên với Đinh Tiên Hoàng Đế, sau lại nối dây cầm sắt với vua Lê Đại Hành, nhiều người tin trí rằng bà là một gái phụ tình, một nàng dâm phụ; rồi vì thành kiến đã in sâu hàng nghìn năm nay, người ta vội cho ngay là một vết nhơ trên lịch sử.

Cái án ấy quả có đúng không, công bằng không, ta nay cần phải lập một “tòa án công luận”, xét lại hồ sơ mà phúc xử mới được…”

17.

Tác giả đã giũ bỏ hoàn toàn quan niệm về Trung – Trinh, về tiết hạnh, về đạo phu phụ (nhân luân) của Nho giáo.

Đàn bà (dù là Hoàng hậu) thì không nhất thiết phải thủ tiết với một đời chồng, nhất là khi chồng đã chết.

Ông đã tiếp thu các tư tưởng duy vật của phương Tây để lý giải chuyện nam – nữ cũng chỉ là vấn đề sinh lý tự nhiên18, là nhu cầu tối thiểu như cơm ăn nước uống mà “thánh nhân” Nho giáo ngày xưa ai cũng có.

Ông cho rằng nhu cầu tình dục (của đàn bà) cũng là “một quyền tự tồn của cá nhân”.

Như thế, tác giả đã sử dụng “nhân quyền” để lên tiếng bảo vệ cho Dương Thái Hậu, với tư cách một người phụ nữ cũng có quyền tồn tại như những người đàn ông (ít nhất về thiên tính).

Chẳng những thế, khi so sánh với “tình trạng hôn nhân của Đinh Tiên Hoàng”, ông cho rằng, đàn ông được đa thê, thế thì làm sao mà phụ nữ không được quyền tái giá.

Ông đòi bình quyền cho nữ giới, và yêu cầu xã hội phải cải chính danh dự cho Dương Hậu.

Một biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc

Các bộ sử được viết trong nửa sau thế kỷ XX, thường chỉ nhấn mạnh đến vai trò của Lê Hoàn, và bỏ qua chi tiết Dương Thái Hậu khoác long bào cho Lê Hoàn, cũng như chuyện tình cảm cá nhân giữa hai người19.

Cuốn Lịch sử Việt Nam mô tả “vận mệnh của cả dân tộc đang bị nạn ngoại xâm đe dọa nghiêm trọng.

Chính quyền độc lập non trẻ đang đứng trước một thử thách lớn.

Trong lúc đó, vua Đinh còn ít tuổi chưa đủ khả năng và uy tín để tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến.

Vì sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, quân sĩ và một số quan lại liền suy tôn Lê Hoàn lên làm vua…”

20

Sự biến mất của Dương Thái Hậu cũng là một chỉ số cho thấy, các sử gia chỉ quan tâm đến các đại tự sự, các biến cố lớn trên chính trường, và không quan tâm đến các chuyện cá nhân đan xen với chính trị, nhất là chuyện liên quan đến phụ nữ và tình cảm.

Cho đến năm 1971, Văn Tân là người đầu tiên trong giai đoạn mới, đã lên tiếng về Dương Thái hậu trong bài “Nhân dịp kỷ niệm 900 năm chiến thắng Chi Lăng lần thứ nhất (981), Thử tìm hiểu cống hiến của Lê Hoàn đối với lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ X”.

Ông đã mô tả lại việc sử dụng lực lượng quân sự của Lê Hoàn và Phạm Cự Lạng để thực hiện cuộc chuyển ngôi từ Đinh sang Lê.

Trong khi “triều đình còn đang lúng túng chưa biết xử trí ra sao, thì bà Dương Vân Nga tức Dương Thái Hậu, mẹ Đinh Toàn, lấy áo hoàng bào khoác vào Lê Hoàn và mời ông lên ngôi vua.

Hành động mạnh dạn và sáng suốt của bà Dương Vân Nga mở một lối thoát cho triều đình, tạo cơ sở pháp lý cho Lê Hoàn để ông này có thể lên thay nhà Đinh mà vẫn không mang tiếng là cướp ngôi của vua nhà Đinh”21.

Văn Tân đã lược bỏ các chi tiết tình ái đời tư giữa Dương Thái Hậu và Lê Hoàn, cũng như bỏ qua toàn bộ các kiểu phê phán của sử thần phong kiến.

Ông cô lập hóa sự kiện để việc chuyển ngôi mang sắc thái trung tính và khách quan.

Sự tái mô tả của Văn Tân là một hiện trường hiển minh cho quá trình con người chính trị (phe đàn ông) đã tái sử dụng hình ảnh của phụ nữ cho những gì mà thời đại mong muốn.

Năm 1981, Văn Tân tiếp tục phát biểu về Dương Thái Hậu với những ý vị mới.

Ông viết: “tiếng nói của quân đội lúc này là tiếng nói của cả dân tộc trong lúc thế nước gặp gian nguy…

Truyền thống yêu nước và đoàn kết của dân tộc Việt Nam nói chung và của phụ nữ Việt Nam nói riêng đã làm cho Dương Thái Hậu nhanh chóng tìm ra một lối đi phù hợp với lợi ích của dân tộc…

Việc chủ động chuyển quyền hành của bản thân mình và của con mình cho Lê Hoàn, Dương Thái Hậu tỏ ra là một phụ nữ khôn ngoan, sáng suốt, dám lựa chọn sự hy sinh lớn khi cần phải lựa chọn.

Hành động của bà rất đẹp đẽ, nó có tác dụng hàn gắn mọi rạn nứt trong lực lượng dân tộc nảy sinh ra từ cái chết đột ngột của Đinh Tiên Hoàng và con trai trưởng là Đinh Liễn.”

22 Cách đánh giá về sự kiện Dương Thái Hậu như trên có một bước ngoặt quan trọng về hệ hình viết sử.

Văn Tân đã đưa “dân tộc”- khái niệm quan trọng nhất của bối cảnh chính trị đương thời, vào trong hoạt động nghiên cứu lịch sử.

“Dân tộc” là vấn đề trung tâm, “đoàn kết dân tộc” là hoạt động thiết thực của người làm chính trị, các “rạn nứt trong lực lượng dân tộc” là nguy cơ của việc phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, dẫn đến việc giặc xâm lược, đe dọa đến độc lập dân tộc.

Mà Độc lập là lợi ích sống còn của dân tộc.

Dương Thái Hậu đã được đặt vào khung lý thuyết mới, hệ tư tưởng mới.

Bà được đánh giá là người đã biết hy sinh lợi ích cá nhân để hàn gắn rạn nứt dân tộc, là người đã khôn ngoan tiến hành công tác đoàn kết dân tộc, thể hiện ý chí của toàn thể dân tộc.

Nhiều tác giả ở thời điểm này như Nguyễn Danh Phiệt, Đặng Thai Mai, Nguyễn Huệ Chi cũng có những tiếng nói tương đồng với Văn Tân trong việc đánh giá vai trò của Dương Thái Hậu.

Sau này, có những nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử nữ phân tích hình tượng Dương Thái Hậu, nhưng việc phân tích từ quan điểm, giọng nói của phụ nữ vẫn còn khá hiếm hoi.

Đến Lee Seon Hee là người phụ nữ đầu tiên phân tích về hình ảnh Dương Thái Hậu góc độ “phê bình nữ quyền” (Feminist Narratology)23, từ quan điểm và giọng nói của phụ nữ.

Lee Seon Hee đã sử dụng các khái niệm như “nữ tính”, “quyền tự do yêu đương”, “quyền tự do hôn nhân”,… trong lập luận của mình.

Hành động Dương Thái Hậu yêu Lê Hoàn, trao ngôi cho Lê Hoàn, làm Hoàng hậu của Lê Hoàn được nhận định như là chuỗi hành động thuộc về “tính nhân bản”.

Theo Lee Seon Hee, Thái hậu đã “chứng minh giá trị lớn lao của người phụ nữ không chỉ ở sự giác ngộ tự thân về quyền lợi về địa vị của mình phải gắn liền với quyền lợi và địa vị của quốc gia dân tộc mà còn ở cả trí thông minh, tầm nhìn chiến lược đồng thời lại cũng rất nữ tính nữa”24.

Dương Vân Nga là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên trong lịch sử đã nêu một tấm gương sáng về quyền tự quyết định vận mệnh của bản thân mình – quyền tự do yêu đương, tự do hôn nhân mà không bị lệ thuộc vào giáo lý phong kiến, cũng như thói thường của dư luận”25.

Giá trị cuối cùng là bà đã được nhân dân thờ ở vị trí trung tâm, coi bà như một biểu tượng “của một tinh thần xả thần vì cộng đồng,…, của một trái tim phụ nữ tha thiết yêu đương, nhưng cũng vô cùng dũng cảm để tự quyết định tình yêu của mình”.

Lee Seon Hee đứng hẳn về phía phụ nữ, muốn phá bỏ sự bất bình đẳng giới đối với Dương Thái Hậu, phản đối cách nhìn của đàn ông (nhất là đàn ông Nho giáo) đã áp đặt lên.

Lee Seon Hee đã khước từ giọng nói của phía đàn ông bằng những biện luận về căn tính nữ của chủ thể lịch sử.

Nhìn chung, hình tượng Dương Hậu là một kết quả của cả quá trình tái tạo tri thức lịch sử bằng cả khoa học và nghệ thuật.

Về cơ bản, dù bị mắng nhiếc hay minh oan, hay xuất hiện ảo mờ – khuất lấp, bà (và các bà hoàng hậu khác) vẫn chỉ là các nhân vật phụ được tạo dựng dưới nhãn quan của nhiều lớp đàn ông với hệ tư tưởng hiện dụng của thời đại.

Các bà hoàng hậu hiện lên dưới ngòi bút của cánh đàn ông, không phải vì bản thân họ (với tư cách là phụ nữ) mà vì đàn ông vì các lợi ích gia tộc – phe nhóm – lợi ích chính trị xã hội của đàn ông, họ là tệp đính kèm, tệp phụ, minh họa cho hoạt động chính trị của đàn ông, và thể hiện các diễn ngôn chính trị mà đàn ông đã tạo nghĩa lên hình ảnh của họ.



Chú thích:

1,2,3,4,6 Ngô Sĩ Liên, 1479, Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, 1998.

5 Có lẽ là Lạng là Thứ sử châu Nam Sách Giang (xem thêm phần viết về “Có hay không loạn 12 sứ quân?”

7 Đặng Xuân Bảng, 1905, Việt sử cương mục tiết yếu, Ký hiệu: A.1592/1 – 2: 609 tr., 31 x 20, VNCHN, Hoàng Văn Lâu dịch và chú giải, Nxb Khoa học Xã hội.

Hà Nội.

2000.

Tr.69.

8 [Ngô Sĩ Liên, 1479, Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, 1998, tr.221-2].

Tạ Chí Đại Trường cho là việc thờ cúng này đến Lê sơ đã qua vài trăm năm.

9 Toàn thư ghi Năm 1436, Lê Thúc Hiển được làm “An phủ sứ lộ Trường yên.

Hiển người thôn Hồn, thuộc Hồng Châu, có tài về chính sự, được mọi người khâm phục”.

10 Nguyễn Lễ soạn, 1611, Tạo tác Thánh tượng tiền triều Lê Đại Hành Hoàng đế bi ký tịnh minh, Văn bia đền thờ Vua Lê, Ninh Bình.

11 Trần Hậu Yên Thế, 2013, bđd, tr.715.

Xem thêm Nhị Hà, 2009, Có nên duy trì tên đường Dương Vân Nga, Tạp chí Hồn Việt, Nguồn: http://www.honvietquochoc.com. vn/bai-viet/3068-co-nen-duy-tri-ten-duong-duong-van-nga.aspx.

Ngày đăng: 06 Tháng Mười 2009.

12 Trần Hậu Yên Thế, 2013, Bảo Quang Hoàng Hậu là ai?

Tại sao lại có danh hiệu này?

Trong “Thông báo Hán Nôm học 2012”, Nxb.

Thế giới, Hà Nội, tr.713-718.

13 Song Cối, “Nhân nói đến gia đình vua Đinh, tôi bào chữa cho Dương Thái hậu”, Tạp chí Tri Tân, số 41, thứ 3, 7 Avril 1942, tr.

18.

14 Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, 1870, Đại Nam quốc sử diễn ca, Trí Trung Đường in năm Tự Đức 23.

VNv.

118, Lã Minh Hằng khảo cứu phiên âm chú thích, Nxb Văn học, Hà Nội, 2008.

Tr.92.

15 Quốc sử quán triều Nguyễn, 1910, Đại Nam nhất thống chí, T2.

Hoàng Văn Lậu dịch, Nxb.

Lao Động, Hà Nội, 2012.

Tr.1044.

Nguyễn Tử Mẫn 阮 子忞, 1862, Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biện, A.922, VNCHN, Nguyễn Mạnh Duân dịch, Nguyễn Thụy Ứng hiệu đính, Nxb.

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.126

16 Hoàn vương ca tích, Bùi Văn Cường, Nguyễn Tế Nhị, Nguyễn Văn Điềm sưu tầm, giới thiệu, Lao động, Hà Nội, 2011.

Đền thờ ở đình Bách Cốc, xã Thành Lợi, Vụ Bản, Nam Định.

17 Song Cối (Hoàng Thúc Trâm), “Nhân nói đến gia đình vua Đinh, tôi bào chữa cho Dương Thái hậu”, Tạp chí Tri Tân, số 41, thứ 3, 7 Avril 1942, tr.

18.

18 Đầu thế kỷ 20, các sách về tình dục của phương Tây đã được dịch sang tiếng Hán và tiếng Việt.

19 Ví dụ Đào Duy Anh (Lịch sử Việt Nam, sđd,), hay bộ Lịch sử Việt Nam của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam.

20 Ủy ban Khoa học Xã hội, 1971, Lịch sử Việt Nam, T.1, Nxb.KHXH.

Hà Nội, tr.145.

21 Văn Tân, Nhân dịp kỷ niệm 900 năm chiến thắng Chi Lăng lần thứ nhất (981), Thử tìm hiểu cống hiến của Lê Hoàn đối với lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ X, NCLS, 1971, số 140, tr.2.

22 Văn Tân, Vai trò của Lê Hoàn hồi thế kỷ X đối với lịch sử dân tộc Việt Nam, NCLS, 1981, số 2 (197), tr.7.

23 Susan Lanser, “Toward a Feminist Narratology”, in Feminisms: An Anthology of Literary Theory and Criticism, Robyn Warhol & Diane Price Herndl, Rutgers University Press, New Brunswick & New Jersey, tr.674-693.

24 Lee Serong Cách mạng Mỹ

BÀI ĐƯỢC ĐỌC NHIỀU

Cuộc chiến chống lại chính sách Trung Quốc hóa của Mông Cổ

Về “Thuyết đấu tranh” với tôn giáo của Lenin

Thế giới hôm nay: 16/03/2020

Những ai sẽ vào 'tứ trụ' tại Đại hội Đảng 2021?
 
Nghiệp Vụ Lhhd
SỰ DIỆT VONG CỦA NHÀ TÂY SƠN


Một số bạn đọc có quan điểm cho rằng triều đại Tây Sơn hưng thịnh thời Nguyễn Huệ và bắt đầu suy yếu sau khi ông băng hà, nhưng thực tế không phải như vậy.

Nếu hiểu đúng về phong trào nông dân Tây Sơn thì sẽ thấy sự sụp đổ của phong trào này là quy luật tất yếu, do chính vấn đề nội tại của triều đại không được giải quyết

Lịch sử của Tây Sơn nên được phân chia thành 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Giai đoạn phát triển của phong trào nông dân.

Quân Tây Sơn với sự ủng hộ của một bộ phận nông dân và tầng lớp dưới của xã hội đã làm được 2 nhiệm vụ có ý nghĩa then chốt trong tiến trình phát triển của dân tộc.

- Tạo tiền đề cơ bản cho thống nhất đất nước bằng việc tiêu diệt, làm suy yếu các thế lực phong kiến.

- Đánh thắng Thanh và Xiêm.

Giai đoạn 2: Kể từ sau khi đánh thắng quân Thanh và Nguyễn Huệ làm chủ đất Phú Xuân cho đến khi bị diệt vong.

Giai đoạn này đã chuyển hóa thành một cuộc chiến tranh giữa hai lực lượng phong kiến : một bên là triều Tây Sơn; một bên là Nguyễn Ánh.

Giữa 2 giai đoạn này có sự đan xen các sự kiện lẫn nhau, tuy nhiên việc phân chia như vậy để thấy rõ quá trình hình thành và thất bại của phong trào Tây Sơn.

Nguyên nhân thất bại.

Không phải chỉ sau khi Nguyễn Huệ băng hà, triều đại bắt đầu suy yếu diệt vong.

Ngay từ khi Nguyễn Huệ tiêu diệt Lê Chiêu Thống và quân Thanh, được vua nhà Thanh ban phong tước hiệu "An Nam Quốc Vương" (tức là giai đoạn 2 của phong trào Tây Sơn) đã bộc lộ những hạn chế, thiếu sót.

Đó là căn nguyên dẫn đến sự diệt vong.

Thắng lợi của giai đoạn 1 là vinh quang, đỉnh cao của phong trào.

Nhưng sau thắng lợi đó, phong trào nông dân đã đứng trước một tình trạng bế tắc, không có lối thoát.

Những lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã không hoàn thành nhiệm vụ của cuộc "cách mạng", bị "phong kiến hóa".

Nguyên nhân do bối cảnh lịch sử Việt Nam khi đó chưa hình thành nền kinh tế hàng hóa, trình độ phát triển công thương nghiệp cần thiết để thay đổi xã hội, những cải cách của Nguyễn Huệ không đủ để làm thay đổi vấn đề mâu thuẫn trong lòng xã hội.

1.

Không được sự ủng hộ của dân chúng.

Triều đại Tây Sơn vẫn duy trì chức năng bảo vệ quan hệ xã hội phong kiến.

Do đó quan hệ "gắn bó" giữa người dân với triều đại mới bị phai nhạt dần.

Dưới con mắt của nhân dân, Tây Sơn sau này không còn đại biểu cho quyền lợi của họ nữa, mà đã trở thành tầng lớp địa chủ, quý tộc phong kiến mới

Dưới thời Tây Sơn, kết cấu kinh tế và xã hội vẫn như cũ.

Cơ sở kinh tế của những thế lực phong kiến cũ vẫn được duy trì trong phạm vi cả nước và triều Tây Sơn vẫn phải sử dụng "bộ máy cai trị cũ".

Thế nhưng "bộ máy cũ" không ổn.

2.

Hệ thống tri thức cũ bị phân hóa, không ủng hộ tuyệt đối Nhà Tây Sơn.

Triều Tây Sơn vẫn phải sử dụng một bộ phận khá lớn quan lại, sĩ phu cũ trong triều đình mới.

Những thế lực phong kiến này (vốn đã xem Tây Sơn là giặc, phản vua, phá chúa) phần lớn đều giữ thái độ thù địch với triều Tây Sơn và có thời cơ thuận lợi là muốn khôi phục lại địa vị thống trị cũ.

Nhà Tây Sơn đã phải duy trì cơ sở kinh tế của những thế lực quý tộc, địa chủ cũ chống đối lại mình trong phạm vi cả nước.

Tri thức thời Tây Sơn rất dễ làm phản ... họ có thể quay ngoắt 180 độ chỉ vì lợi ích, điển hình nhất là Vũ Văn Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh ...

Sau này nhiều tri thức Bắc Hà cũng không ủng hộ Tây Sơn.

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Huệ mấy lần ra bắc nhưng không thể ở lại Thăng Long, một tri thức ưu tú của Nguyễn Huệ là Ngô Thì Nhậm thì vốn dĩ đã là "tội đồ" của số tri thức phù Lê ...

3.

Đất nước chưa thống nhất

Phong trào Tây Sơn đã kết thúc tình trạng chia cắt giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, tạo nền tảng thống nhất sau này.

Tuy nhiên, Nhà Tây Sơn chưa hoàn thành được nhiệm vụ thống nhất quốc gia.

Năm 1786, ba anh em Nhà Tây Sơn chia đất nước thành ba khu vực cai quản và đưa đến sự thành lập những chính quyền riêng biệt, thậm chí có lúc xung đột nhau.

Thậm chí sau này, vua Quang Toản còn cưỡng chiếm đất đai, tài sản của bác Nguyễn Nhạc, khiến bác chết một cách tức tưởi.

4.

Chính quyền Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ tha hóa, biến chất.

Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ sau khi lên làm vua, đã tỏ ra tầm thường, hưởng lạc, cưỡng bức dân chúng xây dựng cung điện, đền đài, không đề ra được chính sách gì đáng kể để giải quyết yêu cầu phát triển của xã hội, tranh thủ sự ủng hộ của người dân.

Do đó những chính quyền này đã sụp đổ nhanh chóng trước cuộc phản công của Nguyễn Ánh.

5.

Chính sách của Nguyễn Huệ

Chính sách kinh tế của Nguyễn Huệ chỉ được thực hiện trên một phần đất nước thuộc phạm vi quản lý của ông (trừ vùng do N.

Nhạc, N.

Lữ, N.

Ánh cai quản) và trong thời gian quá ngắn (3 năm).

Chiếu khuyến nông và chính sách khai hoang của Nguyễn Huệ không khác các triều đại trước, không giải quyết được vấn đề đất đai của đồng bằng châu thổ sông Hồng.

Dù chính sách kinh tế có cởi mở hơn so với thương nghiệp của Lê - Trịnh - Nguyễn, nhưng vấn đề căn bản là đất đai nông nghiệp thì Nguyễn Huệ chưa giải quyết được cho nông dân miền Bắc.

- Đất đai khô căn, đê điều dễ vỡ.

Đây là hệ quả kéo dài của hệ thống dê quai vạc của các triều đại, khiến đất đai đồng bằng châu thổ sông Hồng không được phù sa bồi đắp.

Các đời Lê - Trịnh đã phát động dân khai hoang nhưng không thu được kết quả tốt cũng vì lý do này.

- Đến vụ mùa năm 1791, mùa màng bội thu.

Điều đó chứng tỏ nền kinh tế nông nghiệp đã được phục hồ nhưng đó là kinh tế tiểu nông.

Nguyễn Huệ không giải quyết được vấn đề cơ bản của đất đai, ông tiếp tục duy trì chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đất, đưa lại một số ruộng đất để chia cho nông dân cày cấy theo chế độ quân điền kiểu phong kiến.

6.

Thế lực Nguyễn Ánh ở Nam Bộ.

Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long là một miền đồng bằng phì nhiêu, mới khai thác.

Hệ thống quý tộc ở đây trung thành tuyệt đối với Chúa Nguyễn, mâu thuẫn xã hội không gay gắt như Đàng Ngoài.

Thực tế, Nhà Tây Sơn chưa thể làm chủ được vùng đất này.

Đó là lý do Nguyễn Ánh có bàn đạp khôi phục lại vương quyền.

Nguyễn Huệ có nhiều đối thủ, nhiều vấn đề vượt quá khả năng giải quyết của trình độ và bối cảnh xã hội thế kỷ 18.

Cái chết của Nguyễn Huệ là một tổn thất lớn của Tây Sơn, nhưng không phải là nguyên nhân quyết định tất cả, nó chỉ làm cho triều Tây Sơn suy yếu nhanh chóng hơn thôi.

Vua Quang Toản sau này đã thống nhất được Nhà Tây Sơn (diệt N.

Nhạc) nhưng lại thất bại trước Nguyễn Ánh, và khi chạy ra Bắc thì không tìm được chốn dung thân như Nhà Mạc trước kia đã từng.

Tiếc thay một triều đại.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Võ Văn Dũng- danh tướng nhà Tây Sơn


Võ Văn Dũng, không rõ năm sinh năm mất, quê quán tôn Phú Mỹ, huyện Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Theo sách Tây Sơn lương tướng ngoại truyện của danh sĩ Nguyễn Trọng Trì (1853-1922), thì ông được người đương thời liệt vào hàng Tứ kiệt (3 người còn lại là Ngô Văn Sở, Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu)

1.Tư liệu nói về nơi sinh và dòng tộc của Võ Văn Dũng:

Từ thị trấn Phú Phong (huyện Tây Sơn) rẽ trái khoảng 3 km là tới thôn Phú Mỹ.

Thôn Phú Mỹ trước có tên là Phú Lộc thuộc ấp Phú An, tổng Thời Đôn, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn.

Phú Mỹ là một làng được hình thành do kết quả khai hoang của những lưu dân Việt vào quãng giữa thế kỷ 17.

Dân Phú Mỹ chủ yếu làm nghề nông có kết hợp với nghề đi rừng lấy trầm hương và các lâm thổ sản khác.

Trong làng có 12 dòng họ sinh sống, trong đó lớn nhất là ba họ: Võ, Trần, Nguyễn.

Họ Võ là họ đầu tiên có công khai phá đất đai lập làng, lập ấp, được coi là tiền hiền khai canh.

Theo gia phả họ Võ do Võ Thừa Khuông, di duệ đời thứ 9, soạn trên cơ sở những tài liệu cũ, thì thủy tổ của họ Võ ở Phú Mỹ là Võ Văn Của, vốn quê gốc ở Nghệ An, di cư vào nam từ thế kỷ 17, đến lập nghiệp tai thôn Phú Lộc, ấp An Tư, tổng Thời Đôn, huyện Tuy Viễn.

Đến thời thứ hai là Võ Văn Thọ, gia thế họ Võ đã tương đối khá giả.

Võ Văn Thọ đã xuất tài lực tổ chức việc đắp đập Lộc Đổng và tham gia đắp nhiều đập khác dẫn nước vào đồng ruộng, mở mang kinh tế nông nghiệp, không chỉ cho Phú Mỹ mà còn cho cả nhiều làng xã khác trong vùng.

Đời thứ ba là Võ Văn Khanh.

Ông là một người tài trí, có công huân với nhà nước, từng được phong tước nam.

Võ Văn Khanh kết duyên cùng Nguyễn Thị Điểm, sinh hai nam là Võ Văn Chỉnh và Võ Văn Dũng.

Như vậy, đến Võ Văn Dũng thì họ Võ đã sinh cơ lập nghiệp ở Phú Mỹ được ba đời.

Có thể tổ ba đời của Võ Văn Dũng và tổ ba đời của anh em Tây Sơn cùng bị chúa Nguyễn bắt và đưa đi khai hoang lập ấp trong một đợt.

Và cũng giống như gia đình Hồ Phi Phúc – Nguyễn Thị Đồng (phụ mẫu 3 anh em Tây Sơn), gia đình Võ Văn Khanh – Nguyễn Thị Điểm có kinh tế tương đối khá giả với số ruộng đất 6 mẫu, một ngôi nhà gỗ 12 gian.

2.Thân thế Võ Văn Dũng:

Võ Văn Dũng thuở nhỏ có tên là Độ, là một người thông minh, có chí khí từ sớm.

Sống trong một gia đình khá giả, ông có điều kiện được học hành, lại hay đi đây đi đó nên hiểu biết rất rõ về thời cuộc, tầm nhìn được mở mang.

Đặc biệt, ông rất giỏi võ nghệ, một phần là sự kế thừa truyền thống thượng võ của quê hương, một phần chính là sự nỗ lực rèn luyện của bản thân, bao gồm đủ các môn cung, đao, kiếm…

Là một người có tinh thần trách nhiệm cao với gia đình, với họ tộc nên mặc dù là con thứ, Võ Văn Dũng vẫn được ông Võ Văn Khanh trao quyền thừa tự.

Tại quê hương Phú Mỹ, Võ Văn Dũng đã lập gia đình và sinh được 6 người con gồm 4 trai và 2gái.

Tuy nhiên, không biết Phan Trần Chúc đã dựa vào tư liệu nào mà viết rằng:

Dũng, người làng Đan Giáp, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Và Dũng là người có sức khỏe, nhưng thất học.

Lúc còn nhỏ chuyên sống bằng nghề trộm cướp, nên đã nhiều lần bị bắt, bị tống giam.

Lần sau cùng, cũng vì tội cướp của giết người, Dũng bị giải về kinh thành chờ ngày lãnh án.

May gặp lúc quân Tây sơn ra đánh Bắc Hà, nhờ kinh thành nhiễu loạn nên Dũng trốn thoát được.

Nhân lúc loạn ly, Dũng chiêu mộ những quân vô lại rồi xin sung vào quân Tây Sơn.

Nguyễn Huệ thấy Dũng hình dung to lón, sức khỏe hơn người nên vui lòng thuận cho…(tr 124 trong sách Triều Tây Sơn- nxb VHTT, năm 2003).

Đoạn tư liệu này tôi chép ra, vì không thấy bất kỳ bộ sách sử nào viết như vậy cả.

Nếu bạn đọc tra được nguồn, xin chia sẻ.

3.Tài năng của Võ Văn Dũng:

“(Võ Văn) Dũng là tâm phúc của ta” ( Nguyễn Huệ)

Về sự nghiệp của ông các sách đã viết nhiều, nên ở đây tôi chỉ nhắc lại một vài chi tiết:

Vì ông là bạn thân của Nguyễn Nhạc, nên ngay từ buổi đầu, khi ba anh em Tây Sơn tụ nghĩa trên đất Tây Sơn thượng đạo, Võ Văn Dũng đã có mặt; và phụng sự cho đến những ngày tháng cuối cùng.

Với tài năng của mình, Võ Văn Dũng đã sớm được các thủ lĩnh Tây Sơn trọng dụng, sớm được đứng trong hàng ngũ các tướng lĩnh Tây Sơn.

Trong quân Tây Sơn bấy giờ thường truyền tụng câu nói về tài võ nghệ của Võ Văn Dũng.

Võ Văn Dũng quán quân

Bách chiến khởi Tây thùy

(Tiếng tăm Võ Văn Dũng trùm khắp ba quân

Trăm trận đánh nổi lên từ bờ cõi phương tây)

Còn Nguyễn Nhạc khi xem Võ Văn Dũng múa đại đao đã ca ngợi:

Phá sơn trung tặc dị

Thắng Văn Dũng đao nan

(Phá giặc ở trong núi thì dễ,

thắng được cây đao của Võ Văn Dũng thì khó)

Nhưng Võ Văn Dũng không chỉ là người có sức khỏe, giỏi võ nghệ mà còn rất can đảm và nhiều mưu trí.

Như trong trận đánh nhau với Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long, Dũng đã có dịp bộc lộ hết tài năng của mình nên Quang Trung rất yêu mến mà cất lên chức Đại đô đốc, tiếp đến là Đại tư đồ, là một trong những chức quan trọng nhất của vương triều Tây Sơn.

Vào ngày rằm tháng 4 năm Quang Trung thứ 4 (1791), ông cng Nguyễn Quang Thùy, phan Huy Ích, Võ Huy Tấn đưa giả vương Phạm Công Trị sang Yên Kinh gặp vua nhà Thanh, để tâu lên 2 việc: xin cầu hôn và xin đất đóng đô.

Mọi việc đều đang thuận lợi, thì nhận được tin vua Quang Trung đột ngột qua đời, Võ Văn Dũng cùng sứ bộ đành ngậm ngùi trở về.

Tương truyền, ông đã khóc nhà vua bằng tấm lòng tiếc nuối, thương cảm như sau:

Bố y phấn tích ngũ niên trung

Kim cổ thi vi sự bất đồng

Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ

Bất ư Ðường, Tống thuyết anh hùng

Anh Hợp tạm dịch:

Năm năm dấy nghiệp tự thôn nông

Thời trước, thời sau khó sánh cùng

Trời để vua ta thêm chục tuổi

Anh hào Ðường, Tống hết khoe hùng…

Chỉ nêu ra ngần ấy sự việc, đủ biết Võ Văn Dũng có nhiều đức tính hơn người, nên mới được anh em nhà Tây Sơn khen ngợi và tin dùng đến như vậy.

4.Trách nhiệm của Võ Văn Dũng về sự rạn nứt vương triều Tây sơn:

Phan Trần Chúc, ở trang 133 trong sách vừa kể trên, có nêu một câu hỏi:

-Đối với vương triều Tây Sơn, Võ Văn Dũng có công hay có tội?

Tác giả tự trả lời: Câu hỏi rất khó trả lời.

Vì ghen quyền Võ Văn Dũng đã đẩy triều Tây Sơn vào cuộc nội loạn do việc tàn sát bọn Bùi Đắc tuyên và Ngô Văn Sở.

Nhưng để chuộc những tội lỗi trên, Dũng đã cầm lá cờ Tây Sơn mà phấn đấu tới cùng…

Ở đây, tôi không cần bài bác mà chỉ muốn bạn đọc lưu ý mấy việc:

-Nội bộ nhà Tây sơn đã có mầm mống rạn nứt ngay từ buổi đầu dựng nghiệp.

Nên khi Quang Trung đột ngột ra đi, vương triều này càng mất đoàn kết nghiêm trọng.

Trần Trọng Kim trong sách Việt Nam sử lược viết như sau:

Tháng 8 năm 1792, Vua Cảnh Thịnh tuy đã lên ngôi nhưng mà việc gì cũng do ở thái sư là Bùi Đắc Tuyên quyết đoán cả.

Bùi Đắc Tuyên là anh ruột bà Thái Hậu, cho nên uy quyền lại càng hống hách lắm.

Các quan văn võ có nhiều người không phục, bởi vậy cho nên về sau trong triều phân ra bè đảng; các đại thần giết hại lẫn nhau…

Trong cảnh bát nháu như vậy, ta thấy Võ Văn Dũng đã bắt giết Bùi Đắc Tuyên và một số người cùng phe phái này, tuy chưa phải là giải pháp hay, nhưng để ổn định nhanh chóng tình thế, khó có thể làm khác được.

Có thể đô đốc Dũng cũng thấy mình quá mạnh tay và vận nước lúc bấy giờ cũng quá chông chênh, nên chẳng bao lâu sau ông lại thần phục nhà vua trẻ và làm hòa với Trần Quang Diệu để cùng chống chúa Nguyễn Ánh.

Nhưng vì nhiều nguyên do khác nữa, nên mặc dù quân tướng nhà Tây Sơn cố ra sức chống ngăn, “cổ xe” đã quá rệu rã này cứ trượt dài trên đà suy vong, không sao gượng lại được nữa…

-Võ đô đốc cũng như nhiều tướng lĩnh khác: Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân…dám dứng lên chống giặc ngoại xâm, trừ khử bọn bạo ngược, rồi sau này không vì nhà Tây Sơn suy vi mà chạy sang hàng ngũ đối phương.

Ta nên biết tất cả khoảng 200 tướng lĩnh của nhà Tây Sơn đã hiên ngang ra pháp trường bãi chém An Hoà, ngoại ô Huế, để nhận án chứ không chịu van xin hay đầu hàng.

Nếu không lấy việc thành bại ra bàn luận, thì những ai có đủ đởm lược, trung tín và nghĩa khí như thế, thiển nghĩ cũng đáng để ta gọi họ là Anh hùng.

Nói gọn, nếu bảo Võ Văn Dũng có tội vì đã làm nội bộ nhà Tây Sơn thêm rạn nứt, liệu có đúng với thực tế, với công trạng và tấm lòng của ông đối với vương triều này không?

5.

Võ văn dũng và vợ chồng Trần Quang Diệu bị bắt như thế nào?:

Theo “Tây Sơn thất võ tướng” đăng trên web Vn thư quán:

Nghe tin quân Tây Sơn bị thua ở Nhật Lệ, Trấn Ninh Nguyễn Phúc Ánh hoàn toàn làm chủ đất Thuận Hóa, Võ Văn Dũng cùng Trần Quang Diệu đem 3 ngàn quân cùng 80 thớt voi, theo đường sạn đạo sang Lào để ra Nghệ An vào thượng tuần tháng 3 năm Nhâm Tuất (1802).

Đường đi khó khăn, Lam Sơn chướng khí đầy dẫy, khiến cho đoàn quân càng ngày càng hao hụt.

Lớp bị bệnh, lớp bị bọn thổ ty theo nhà Nguyễn tập kích, nên khi đến Nghệ An thì mười phần chỉ còn ba bốn.

Đoàn tượng binh chỉ còn mươi thớt.

Tại Hương Sơn, Võ Văn Dũng cùng Trần Quang Diệu và các tướng bị tướng nhà Nguyễn là Võ Doãn Văn, Lê Đức Định bắt sống.

Ở Diễn Châu, Bùi Thị Xuân hay tin đem nữ binh đi giải cứu.

Đến Giáp Sơn thì giải cứu được, nhưng chạy đến sông Thành Chương thì hai vợ chồng Trần, Bùi bị bắt trở lại.

Một mình Võ Văn Dũng mở đường máu thoát chạy.

Nhưng chạy đến Nông Cống, thuộc Thanh Hóa thì

Võ Văn Dũng bị bọn Lê Văn Pháp, Phạm Ngọc Thụy kéo dân địa phương ra bao vây.

Với một thanh đoản đao, Võ Văn Dũng đã đánh thắng hai tướng Lê, Phạm xong quá yếu sức vì gian lao đói khát, nên đành buông đao chịu trói.

Bộ ba Dũng, Diệu, Xuân bị đóng cũi giải về Nghệ An.

Dọc đường, Võ Văn Dũng phá cũi, thoát ra ngoài, ông giải cứu luôn cả hai vợ chồng Trần, Bùi song hai chân của Trần tướng quân bị sưng phù, không thể chạy trốn được.

Bùi nữ tướng đành ở lại chịu chết cùng chồng.

6.

Về cái chết của Võ Văn Dũng:

Hiện tồn tại 2 ý kiến về cái chết của ông:

-Theo sử nhà Nguyễn, sau khi Phú Xuân thất thủ, Đại tư đồ Võ Văn Dũng và vợ tên Lê Thị Vi đều bị bắt và bị hành hình man rợ vào năm 1802.

-Theo những phát hiện gần đây thì Võ Văn Dũng đã trốn thoát về quê một thời gian, ông trở lại An Khê chiêu mộ đồng bào Thượng khởi nghĩa chống Nguyễn, mãi đến khoảng đời Thiệu Thị (1841-1847) ông mới mất, thọ trên 90 tuổi.

Năm 1907, con cháu đem hài cốt ông về táng tại quê hương là làng Phú Mỹ.

Trong “Tây Sơn thất võ tướng” kể chi tiết như sau:

“Một mình Võ Văn Dũng lặn lội suối đèo, ngày nghỉ đêm đi, sau nhiều tháng mới về đến quê hương.

Trong đêm tối, ông ghé thăm nhà tại Phú Phong, đốt hương lên bàn thờ tổ tiên, rồi âm thầm ra đi.

Ông lên sống tại các làng người dân tộc vùng cao trước kia đã từng một thời hợp tác với nhà Tây Sơn, mong có ngày gầy dựng lại cơ đồ.

Các vùng núi Tây Sơn thượng đều lưu vết chân ông.

Các thôn Đồng Phó, Hà Nhung thường là nơi ông lưu trú lâu nhất.

Tại An Khê ông chiêu mộ được một số người dân tộc thiểu số, lấy hòn Hội Sơn ở Trinh Tường làm căn cứ quân sự.

Do đó nhân dân địa phương cũng gọi hòn Hội Sơn là hòn Ông Dũng và gọi tắt là Hòn Dũng.

Khi hợp tác cùng các sắc tộc vùng núi, Võ Văn Dũng ban đầu được sùng bái, sau lần lần vì thế lực của ông không có mà thế quyền Gia Long càng ngày càng vững mạnh, nên các sắc tộc vùng núi tỏ ý lơ là không muốn hợp tác nữa.

Vì vậy, ông bỏ hẳn vùng Tây Sơn thượng trở về hoạt động ở vùng cận quê hương.

Các vùng ven sông Côn như Tiên Thuận, Vĩnh Thạnh, Kiên Mỹ đều nằm trong phạm vi hoạt động của ông .

Việc ông đứt đoạn với các sắc tộc vùng Tây Sơn thượng được nhân dân địa phương đưa vào ca dao:

Củ lang Đồng Phó

Đậu phụng Hà Nhung

Chàng bòn thiếp mót bỏ chung một gùi

Chẳng qua duyên nợ sụt sùi

Chàng giận chàng đá cái gùi, chàng đi

Chim kêu dưới suối Từ Bi.

Nghĩa nhơn còn bỏ huống chi cái gùi.

Đó là câu ca dao đã dùng thể tỷ nói về việc chung lưng đấu cật, về việc bất hòa giữa Võ tướng và tộc người thiểu số.

Để chuẩn bị cho một cứ điểm ẩn náu cuối cùng, Võ tướng đã đi sâu vào vùng Lộc Đổng, Hầm Hô, tìm những hang động rộng rãi, kín đáo để chuẩn bị cho việc ẩn náu lâu dài.

Trong khi hoạt động ở vùng Tây Sơn thượng, Võ tướng đã có một thời đến sống trong rừng mộ điểu, nhưng sau thấy Cô Hầu ( người dân tộc Bana, vợ Nguyễn Nhạc, bà có công lớn khi nhà Tây Sơn khởi nghiệp) không thiết tha đến việc phục hưng nhà Tây Sơn, nên ông đã đón hai con của vua Thái Đức là Văn Đức, Văn Lương và cháu nội là Văn Đẩu về ở chung.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1882), tưởng thời gian đã xóa đi các liên hệ tranh chấp, ba chú cháu Văn Đức về thăm quê hương ở Kiên Mỹ thì bị quan lại địa phương bắt giải về Phú Xuân, giết chết.

Còn lại trơ trọi một mình, Võ tướng sống một cuộc đời rày đây mai đó.Ông mất dưới triều Thiệu Trị nhưng không rõ ngày nào, năm nào và tại đâu.

Chỉ biết là ông sống được 90 năm, nhờ vào bài thơ Vịnh Võ Đô đốc của danh sĩ Vân Sơn Nguyễn Trọng Trì (1853-1922), làm mừng khi ông thoát nạn:

VỊNH VÕ ĐÔ ĐỐC.

Tạo vật khốn hào kiệt.

Ý tưởng sử hữu vi.

Công danh vị túc ngôn.

Hoặc tác xuất thế ty.

Võ công dũng quán quân.

Bách chiến khởi Tây thùy.

Thiên phương yểm trung nguyên.

Đãi phi nhất mộc chi.

Thoát thân tứ thập niên.

Thế nhân thức công thùy.

Đản kinh sơn thạch gian.

Hữu thử hùng báo ty.

Ngã diệc chí phương ngoại.

Bạch đầu vị phùng sư.

Niên niên hạnh phế phóng.

Thảng toại giữ thế từ.

Tùng công du Ngũ Nhạc.

Khể thủ thốn linh chi.

Kim cốt hoán lục tủy.

Khiêm nhiên tùng đào phi.

Nghĩa là:

Tạo hóa làm khốn đốn kẻ hào kiệt.

Ý muốn cho họ làm việc gì.

Công danh không đủ nói.

Hoặc giả bày ra cơ hội để họ thoát đời.

Tài đánh dẹp của ông thật quán quân.

Từ biên giới phía Tây nổi lên, trăm trận trăm thắng.

Nhưng trời muốn dứt nửa chừng.

Thì một cây không chống nổi.

Thoát mình khỏi nạn ngót bốn mươi năm.

Người đời ai biết ông?.

Sống lâu ngày trong nơi núi chồng đá chất.

Ông có tư thế mạnh như gấu như hùm.

Tôi cũng có ý muốn xuất thế.

Nhưng đã bạc đầu mà chưa gặp được thầy.

Làm quan nay được đuổi về, năm năm rảnh rang.

Muốn thoát khỏi cuộc đời.

Theo ông đi dạo chơi khắp năm ngọn núi tiên.

Cúi đầu ăn cỏ linh chi.

Xương vàng đổi tủy xanh.

Nhẹ nhàng bay lên nhánh tùng.

Mãi đến khoảng Ðống Khánh – Thành Thái (1885-1907), con cháu mới lấy cốt đem về cải táng ở quê nhà Phú Mỹ.

Tác già Huỳnh Văn Mỹ trong loạt bài viết về “Dấu tích vương triều Tây Sơn”, báo Tuổi Trẻ ra ngày 22/10/2007 có nêu thêm nhiều chi tiết quí:

Làng Phú Mỹ nay đường sá khang trang bởi từ quốc lộ 19 rẽ vào đã có đường nhựa vào khu du lịch sinh thái Hầm Hô cách làng không xa.

Hầm Hô cũng là nơi Võ Văn Dũng chiêu tụ nghĩa binh cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

Từ đường Võ Văn Dũng nằm cách con đường vào Hầm Hô vài trăm mét, kề những vườn nhà quanh xóm.

Ông Võ Văn Diệu, 75 tuổi, hậu duệ của đại đô đốc Dũng, cho biết người của chi tộc nhà ông dựng ngôi từ đường này từ rất sớm để thờ tự ngài đại đô đốc.

Ông Võ Thừa Hậu, cũng là hậu duệ của đại đô đốc, cho biết: “Mộ đại đô đốc được ông cha chúng tôi dời từ trong núi sâu về vào thời đầu thế kỷ 20”.

Và ông còn ông kể về đoạn cuối oai hùng của Võ Văn Dũng:

“Trên đường bị áp giải về Phú Xuân, ông đã phá cũi thoát thân.

Lẻn trốn về quê, ông tập hợp người cũ và chiêu mộ thêm nghĩa quân mưu việc phục thù.

Ông chọn núi Hòn Hợi ở dưới đèo An Khê làm căn cứ, lên kế hoạch khôi phục cơ đồ.

Nhưng mãi rồi cũng bị bại lộ, con cháu của Nguyễn Nhạc bị giết, ông thoát thân được lại trốn vào một làng người Thượng.

Được họ đùm bọc, mãi đến mươi năm sau dưới thời Thiệu Trị (1841-1847) ông mất, thọ trên 90 tuổi”.

Nhưng khổ nỗi sử nhà Nguyễn nói là ông đã bị giết cùng với các cận thần của vua Cảnh Thịnh vào cuối năm 1802.

Cũng vì vậy, theo ông Võ Thừa Hậu, đến nay một số người ở các ngành chức năng vẫn chưa nhìn nhận đây là mộ của đại đô đốc Võ Văn Dũng

Nguồn : Thắc mắc vui lòng hỏi thằng được tag
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Tang ma dân tộc Thái


Người Thái cho rằng sự sống của con người là do hồn và xác kết hợp với nhau hài hòa, cùng tồn tại.

Nếu một trong hai yếu tố đó mất đi thì không có sự sống.

Hồn thì do bà mụ (me bảu) nặn rồi cho vào khuôn đúc bởi năm chất là: kẻo, kók,sanh, minh, nén nghĩa là cốt, cách, thế, hồn, mệnh.

Còn xác con người được cấu tạo bởi năm chất: nặm, pháy, đin, cắm, mạy nghĩa là đất, nước, lửa, vàng, cậy.

Khi đúc xong.

Khuôn hồn của mỗi người được gọi là thuổi bảu (bát bảu) được lưu giữ tại nhà kho của bà mụ nường trời (mướng then).

Bà mụ cho hồn xuống trần gian tìm nhập vào xác dưới hạ giới để thành người với thời hạn là một trăm năm.

Và khi bà mụ thả hồn xuống thì có hồn đi đủng đỉnh, nghỉ ngơi giữa đường, tạt vào quán xá… khi đến trần gian lại ngao du đó đây chán chê mê mải rồi mới nhập vào xác, vid thế mà chết yểu, chết non vì đã hết hạn làm người.

Có hồn đi thẳng một mạch xuống trần gian nhập xác đầu thai ngay nên sống một trăm tuổi.

Còn việc sinh ra giới tính, tính tình, hình thể, tốt xấu thì họ quan niệm: bà mụ lấy năm chất: cốt, cách, thể, hồn, mệnh để đúc ra hồn của từng người nhưng lại không cân đong, đo đếm cụ thể về tỉ lệ giữa các chất mà tự làm theo ý thích của mình nên từ đó con người sinh ra có giới tính (nam, nữ, ái nam, ái nữ), và tâm lí, tính tình, ước vọng,… của mỗi người khác nhau.

Con người không ai giống nhau, dù một cha một mẹ cũng vậy.

Con người có 80 hồn (pét síp khuân): 30 hồn phía trước, 50 hồn phía sau.

Nếu hồn ở vị trí nào trên cơ thể xích mích, tự ái thì con người sinh ra mệt mỏi, buồn phiền.

Nếu hồn rời ra khỏi vị trí của nó thì sinh ra ốm đau.

Hồn mà rời hết khỏi xác thì người chết.

Hồn người chết gọi là ma chết (phi tai), hồn rời khỏi xác gọi là ma hồn (phi khuân).

Hồn người chết chia làm 3 loại:

Loại tốt nhất trở thành đẳm tổ tiên, có nhiệm vụ trông coi, phù hộ, độ trì cho con cháu, được ăn giỗ, ăn tết hàng năm.

Loại hồn tốt thứ hai được lên niết bàn ở mường trời.

Loại hồn xấu thì được dải từ rừng ma tới dưới niết bàn trở thành ma lang thang (phi ha phi háo)

Cũng chính vì quan niệm ấy mà người Thái thờ rất nhiều loại ma, các loại ma ấy, theo nghiên cứu của ông Hoàng Trần Nghich – nhà Thái học, còn lưu lại trong sổ sách là 123 loại ma.

Những tục thờ cúng:

Xưa kia người Thái không ăn tết, không có chùa chiền, đình thờ, miếu mạo và cũng không quan tâm đến mồ mả.Người chết chôn xong được 3 hay trên ba ngày, khi đã gọi hồn về đẳm tổ tiên thì thôi không dòm ngó, quan tâm đến mồ mả nữa.

Hàng năm, người Thái có 4 ngày cúng, giỗ lớn là:

Sên huớn: cúng ma nhà, giỗ tổ tiên.

Pạt tống khảu mấu: giỗ cơm mới.

Hổm sánh: chuẩn bị cho tổ tiên chầu giời.

Sên kẻ: cúng giải tội, giải hạn.

Trong đời sống hàng ngày, người Thái rất quan trọng ma nhà, ma tổ tiên và linh hồn (phi hướn kắp phi luân).

Vì vậy, cứ 10 ngày cúng tổ tiên một lần, người Thái gọi là Pát tống; chủ nhà tuy không ốm đau nhưng một năm cũng cúng vía một, hai lần; mỗi khi con người sầu muộn, mệt mỏi, ốm đau, người ta lại đi xem bói: hồn ra sao?

Ma nào đến đòi ăn?

để có hình thức cúng cho phù hợp.

Tóm lại qua số lượng các loại ma (phi), hồn (khoăn) và các loại cúng giỗ lớn của người Thái, ta có thể thấy hệ thống tín ngưỡng của dân tộc này vô cùng đa dạng và phức tạp.

Bên cạnh những nét đẹp thể hiện bản sắc riêng của dân tộc Thái, các tín ngưỡng ấy còn có mặt trái với các hủ tục mê tín ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như mặt tổ chức xã hội của cộng đồng.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Nhà sàn của người Thái


Nhà sàn của người Thái - “hướn hạn phủ táy” là một công trình kiến trúc tài hoa, hòa đồng với thiên nhiên, đất trời cùng vạn vật.

Từ kiến trúc xây dựng đến nghệ thuật trang trí đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống khách quan được cách điệu hóa đạt tới trình độ thẩm mỹ cao.

Nhà sàn của người Thái bao giờ cũng làm số gian lẻ, hai đầu hồi - “tụp cống” khum khum như mai rùa, gắn với truyền thuyết về thuở khai thiên lập địa, thần rùa “Pua tấu” dạy cho người Thái biết cách làm nhà theo hình rùa đứng.

Người Thái có câu: “Khửn song phái/ cái song đay” - tức là mở hai cửa/ đi hai đường.

Nhà người Thái cổ bao giờ cũng có hai cầu thang: “Tang chan” và “Tang quản”.

“Tang chan” ở cuối nhà, bên trái dành cho phụ nữ lên xuống.

“Chan” là phần sàn nhà được nối dài ra ngoài trời.

Đây là nơi các mẹ, các chị, các em... thường ngồi chơi lúc nhàn rỗi, thêu thùa... cầu thang này bao giờ cũng mang số lẻ, thường là 9 bậc, ứng với 9 vía.

Cầu thang dành riêng cho nam giới - “tang quản” ở đầu nhà, thường có 7 bậc ứng với 7 vía.

Nhà sàn của người Thái cổ có hai bếp lửa - “Chík pháy”.

Bếp lửa phía “tang quản” dành cho người già, bếp chính ở phía “tang chang” dành cho nữ giới.

Giữa núi rừng trùng điệp, bếp lửa hồng trên nhà sàn như trái tim hồng, sưởi ấm và nuôi dưỡng cả về vật chất và tinh thần cho mỗi con người.

Từ bếp dành cho người già đến hết cầu thanh dành cho nam giới gọi là “quản”.

Đây là nơi dành riêng cho đàn ông, phụ nữ không được đến khu vực này, trừ một số trường hợp đặc biệt.

Nơi đây có gian thờ tổ tiên - “hỏng hóng” và cột thiêng - “sau hẹ”.

Trên cột thiêng treo hình thần rùa bằng gỗ, ba bông lúa - “sam huống khẩu” và ba nhánh rau thì là - “sam hóm chík”...

Ngoài ý nghĩa có tính biểu tượng của tô tem giáo thì còn mang bóng dáng của thuyết thiên - địa - nhân.

Ngôi nhà sàn của người Thái vừa trang nhã, vừa chắc chắn: “Hướn đi tẳng cang tèn/ Hướn én tẳng cang vên/ Lốm luông pặt bấu chại/ Lốm hại pặt bấu pay” - Nghĩa là: Nhà tốt dựng nơi cao ráo/ Nhà đẹp dựng giữa mường/ Gió to thổi không xiêu/ Bão lớn không lay động.

Nhà sàn được trang trí nhiều hoa văn họa tiết tinh xảo trên bậu cửa sổ, trên các tấm ván hình răng cưa làm chấn song cửa sổ, trên “khau cút” của nhà người Thái đen.

“Khau cút” vẽ vân sen/ đầu kèo vẽ vân én/ mái nhà xén bằng dui - “khau cút tẻm lai bua/ sinh dua tẻm lai én/ nhả ca bén tin con”, đã trở thành tiêu chí về vẻ đẹp của ngôi nhà sàn người Thái đen Tây Bắc.

“Khau cút” là hai tấm ván đóng chéo nhau hình chữ X trên đòn nóc - “Tiêu bôn”, trước hết để chắn gió - “pảy lốm” cho mái tranh hai đầu hồi nhà.

Những gia đình quý tộc xưa còn làm thêm bông sen cách điệu ở giao điểm hai tấm ván và tám hình trăng khuyết hướng vào nhau so le trên “khau cút”.

Giải thích về biểu tượng “khau cút” có nhiều ý kiến khác nhau như: Đó là cặp sừng trâu cách điệu, biểu tượng của một nền văn minh lúa nước, hoặc đó là những búp cây guột - “cút lo ngong” có nhiều ở Tây Bắc, hay gắn với cuộc thiên di tìm miền đất hứa của người Thái, anh em luôn nhớ về nhau...

Dù có cách giải thích thế nào, thì khi bắt gặp hình “khau cút” trên nóc nhà sàn, là mỗi người Thái đen Tây Bắc lại thêm ấm lòng, nhớ về anh em, bản mường yêu dấu.

Trên bậu cửa sổ thường chạm hình đôi thuồng luồng - “tô ngựa”, linh vật làm chủ sông, suối, biểu tượng của sức mạnh và gia đình hạnh phúc.

Trên các chấn song cửa sổ chạm các hoa văn, họa tiết mô phỏng thiên nhiên theo hình đối xứng hoặc lặp lại.

Đó là những hình thoi như quả trám, hoa ban - “bók ban”, búp cây guột - “cút lo ngong”...

Nhà sàn người Thái trắng - “Táy khao” thường có lan can xung quanh hoặc trước nhà rất đẹp.

Thiên nhiên được phản ánh một cách sống động, thể hiện tinh tế quan điểm về vũ trụ, âm dương ngũ hành và ý nghĩa nhân sinh cao đẹp.

Chẳng những mang sắc thái dân tộc đậm nét nhà sàn của người Thái Tây Bắc còn là nơi hội tụ những giá trị vật chất và tinh thần.

Đây là nơi chứng kiến buồn vui của bao thế hệ để rồi mỗi người hiểu thêm về quá khứ, hiện tại và tương lai, trân trọng nâng niu những tài sản vô giá cả về vật chất và tinh thần đã trở thành truyền thống tốt đẹp và phấn đấu vì một ngày mai tươi sáng hơn.

Quanh bếp lửa hồng, đã bao lần gia đình họ tộc quây quần nghe người già hát, ngâm, kể - “khắp” những điều răn dạy về đạo lý làm người - “Quámk son cốn”, chuyện bản Mường - “Quámk tố mướng”, bước đường chinh chiến của cha ông - “Táy púk sấc”, Tiễn dặn người yêu - “sống chụ xon xao”... cùng nồng say trong các điệu “xòe” ngày mừng cơm mới, lên nhà mới, hội cưới, ngày xuân...

Nhà sàn còn là nơi con trai đan lát, thổi khèn, pí... con gái quay xa, dệt vải, thêu thùa...

đã được khái quát trong câu thơ: Trai biết đan chài/ gái biết dệt vải - “nhinh hụ tháp phải/ trái hụ san he”.

Các bản Thái thường quần tụ ven suối chân đồi.

Những ngôi nhà sàn bình dị ấm cúng, khói lam thơm thoảng gió đồng, lách cách tiếng thoi đưa, đâu đây da diết một điệu khèn câu khắp, lốc cốc tiếng mõ trâu đàn về bản... tất cả làm nên một vẻ đẹp trong sáng đậm tình như một bức tranh sơn thủy, dân dã nguyên sơ của một nền văn hóa.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Cơm lam người Thái


Có lẽ những ai đã từng đến Tây Bắc thì không thế quên được hương vị của cơm lam, một chút nhẹ nhàng thanh thoát tinh tế khác hẳn cơm lam ở hà nội hay đâu đó.

Nguời dân tộc phía bắc từ Tày, Nùng, Mường, Dao, Thái đều làm cơm lam.

Ngoài cơm lam, họ còn có cả cá lam, chim lam, rau quả lam...

Phải thừa nhận làm đồ ăn lam là một nghệ thuật tinh tế đặc biệt.

2.2.4.

Chấm chéo

Hầu như không có bữa ăn nào quan trọng của người Thái lại thiếu được Chéo, giống như một dạng muối vừng với người Kinh.,1 loại gia vị hấp dẫn Quả Mắc Khén sau khi thu về, bắc chảo rang nóng.

Tiếp đó, đưa vào giã thành bột mịn.

Tuy nhiên để chế ra được hương vị thơm phức, chuyên dùng ăn với xôi nếp nương, còn phải qua nhiều công đoạn khác.

Đó là dùng ớt khô bỏ hạt nướng giòn, muối rang, rau mùi tầu xắt nhỏ rang khô, tất cả đều giã thành bột mịn.

Sau khi trộn đều hỗ hợp trên thì tạo thành Chéo, một thứ bột mùi thơm hăng hắc nhưng lại dịu như vị ô mai và phảng phất chất núi rừng, thơm cay nồng nàn như hương hồi, quế.

Và còn rất nhiều món thú vị khác như:

Món cá nướng: Người ta dùng các loại cá bản to như chép, mè, trôi, trắm..., loại to khoảng 1 đến 1.5kg mổ đằng lưng, bỏ ruột, để ráo nước, sau đó xoa một lượt muối rang nổ vào bên trong cá: Mắc khén, ớt tươi nướng, nghiền nát, hành tỏi, rau thơm rau mùi thái nhỏ, tất cả trộn đều nhồi vào bụng cá, để một lúc cho ngấm gia vị, cá cứng; cặp dọc cá, nướng trên than hồng.

Cá chín dậy mùi thơm rất riêng, rất độc đáo.

Tục ngữ người Thái có câu: “Pay kin pa, má kin lẩu” (đi ăn cá, về uống rượu); hàm ý bữa cơm tiễn người đi (chia tay) thì cần phải có cá, bữa cơm đón người về (sum họp) thì cần phải có rượu.

Xem thế đủ biết những món ăn chế biến từ cá nói chung, món lạp cá nói riêng, có vai trò nhất định trong đời sống giao tiếp của xã hội Thái.

Nó mặc nhiên đi vào vốn văn hoá dân gian, cả trong văn hoá ngôn ngữ lẫn văn hoá ẩm thực...

Món gà luộc chấm chéo tắp: (gan gà luộc chín trộn với gia vị, tiêu gừng, muối rang nghiền nát) và bát cáy mọ.

Cáy mọ là món thịt gà tra đủ các thứ gia vị, gói lá nướng vùi tro, miếng ăn thơm mềm, béo ngậy mà không ngấy.

Trong văn hóa ẩm thực, người Tây bắc giản dị, không mâm cao, cỗ đầy, không nem công, chả phượng.

Người ta chú ý đến hương vị, cái chất của món ăn mà ít chú ý đến mỹ thuật bày biện, màu sắc của món ăn.

Họ xem ăn uống là dịp để thể hiện phong cách ứng xử trong sinh hoạt cộng đồng, không lấy ăn uống làm chính mà lấy sự vui làm trọng.

Thông qua việc ăn uống, người Tây Bắc thể hiện phong cách ứng xử trong sinh hoạt cộng đồng.

Ăn uống là một cách bày tỏ tình cảm, lấy làm nguồn vui trong cuộc sống.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Người Tày


Nếu nhà sàn mà nhà lại có hai cầu thang thì cần quan sát xem đi cầu thang nào.

Nếu đi cùng chủ nhà hoặc có cán bộ cơ sở đi cùng thì nên để cho chủ nhà hoặc cán bộ cơ sở lên trước.Thường thì gian giữa là gian thờ cúng, khách không được phép ngồi.

Với người dân tộc Mông, ghế đầu bàn dành cho cha mẹ, dù cho cha mẹ đã khuất, khách cũng không được ngồi vào chiếc ghế đó, không quay lưng vào nơi thờ.

Bạn nên theo hướng dẫn của gia chủ.

Bếp lửa vừa là nơi nấu nướng vừa là nơi tiếp khách của đồng bào dân tộc, đồng thời là nơi thiêng liêng thờ vua bếp, thần lửa.

Bạn không đặt chân lên hoặc làm xê địch hòn đá kê làm kiềng, vì theo quan niệm của một số dân tộc, các hòn đá này là nơi trú ngụ của thần lửa.Trong ngôi nhà đồng bào dân tộc, cửa và cây cột chính là vị trí linh thiêng thờ thần cửa, thần cột cái.

Vì vậy không nên ngồi bậu cửa hoặc treo mũ nón và tựa lưng vào cột cái.

Nếu chủ nhà chưa mời không nên ngồi ngay vào đệm vì thường dành cho bề trên và khách quý.

Bạn nên chủ động chào hỏi chủ nhà bằng thái độ chân thành.

Khi chia tay có thể bắt tay, không cần nói lời tạm biệt nhưng hãy nhớ luôn nở nụ cười thân thiện.Cần tránh gọi các từ khiếm nhã, bạn cũng không nên nói quá to với cử chỉ gay gắt.

Khi ăn cơm nếu chủ nhà không mời thì không được ngồi ngang hàng với người già nhất trong mâm mà hãy tôn trọng sự sắp đặt vị trí ngồi của chủ nhà.Quan niệm về chỗ ngồi của mỗi dân tộc khác nhau.

Người Tày nơi giáp cửa sổ gia chủ đặt hai chén con có ý giành cho tổ tiên về tiếp khách, khách không ngồi ở vị trí đó.Khi có người mời rượu, hoặc mời mọi người xung quanh mới được uống, không nên cầm ly uống ngay.

Uống được bao nhiêu do khả năng của mình, bạn không nên từ chối và không dùng từ uống hết mà nên dùng uống cạn.

Nhiều dân tộc quan niệm nếu dùng từ “uống hết” nghĩa là chủ và khách không còn tình cảm gì.Bạn cũng không được rót rượu, gắp thức ăn trước chủ nhà.

Đặc biệt, khi dùng cơm xong không được úp bát, chén xuống mâm, chỉ thầy cúng mới được phép làm như vậy để đuổi tà ma.

Khách ngồi uống rượu, chuyện trò cùng gia chủ không được vừa nói, vừa chỉ trỏ ngón tay ra phía trước., hành vi đó là bày tỏ thái độ không bằng lòng hoặc coi thường người tiếp chuyện.

Bạn cần phải lưu ý chỗ ngủ theo sự chỉ dẫn của gia chủ.

Không nằm để chân về phía bàn thờ.... kiêng không mắc màn màu trắng trong nhà.

Không ngủ dậy quá muộn, không đắp ngược chăn.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
QUY TRÌNH HOÀN THIỆN TOUR.


*

Đây là bài viết rất cơ bản, nên Anh chị em và các bạn đọc mang tính tham khảo.

Quan trọng nhất của Hướng dẫn viên là sự linh hoạt và phù hợp với từng đoàn khách và tuyến điểm cũng như dịch vụ.

*

I.

NHẬN TOUR

1.

Tiếp nhận thông tin gọi Tour

1.1 Đồng nghiệp gọi Tour

- Trao đổi cụ thể về vấn đề tuyến điểm (đã đi hoặc chưa đi phải thông báo), thời gian, đặc thù khách, yêu cầu và công tác phí.

- Vào một số thời điểm nhạy cảm thì cần trao đổi thêm về cơ chế nội bộ.

- Với các bạn nữ thì có thể trao đổi thêm về một số thông tin nhạy cảm như số lượng HDV, điều hành hoặc Hdv đi cùng là ai, như thế nào…

1.2 Điều hành (Công ty) gọi Tour

- Về cơ bản cũng giống như mục 1.1.

Có điều là phải tùy đơn vị, tùy người và độ thân thiết tin tưởng trong mối quan hệ của 2 bên với nhau.

- Cố gắng hình thành thói quen, khi tiếp nhận thông tin tour thì hãy note lại luôn vào sổ tay hoặc điện thoại.

Tránh để bị trùng lặp hoặc lẫn thông tin tour dẫn tới nhận trùng tour hoặc quên tour.

*

2.

Hình thức và quy trình nhận Tour

2.1 Hình thức nhận Tour

- Nhận qua điện thoại.

Cần note rõ ràng chi tiết nhất tất cả các thông tin mà điều hành báo.

Vì có nhiều bạn sẽ không thể về nhận tour, thậm chí là quay đầu trong đêm nên chỉ có thể cầm final khi đã lên xe.

Hoặc về nhà thì filnal được ship tới.

- Qua mail.

Check một cách chi tiết toàn bộ.

Lưu ý nên gửi mail hoặc gọi điện lại cho điều hành xác nhận đã nhận được filnal qua mail.

- Nhận trực tiếp.

Có thể là tại văn phòng hoặc bên ngoài.

Phải đọc kỹ 1-2 lượt toàn bộ mọi thông tin trong final.

Những thông tin nào còn thiếu phải note lại và đợi bổ sung.

Thông tin nào thấy chưa đúng với thực tế hoặc không hiểu cần thông báo ngay cho điều hành.

Tuyệt đối không được giấu dốt hoặc giả vờ như tất cả đều ok.

Vì khi đã on tour rồi thì cơ hội chỉnh sửa là rất thấp.

Đặc biệt mùa cao điểm.

2.2 Quy trình nhận Tour

- Hồ sơ giấy tờ

- Vật dụng công ty

- Tiền tạm ứng

- Chứng từ xác nhận

- Các thông tin lưu ý lần cuối.

*

3.

Confirm các chủ thể quan trọng trong Tour

3.1.

Trưởng đoàn (phó đoàn hoặc người phụ trách đoàn)

- Gửi lời chào.

- Gọi điện và nhắn tin xác nhận địa điểm thời gian đón, dặn dò về giấy tờ, trang phục, vật dụng cá nhân.

- Cám ơn và lời chúc.

3.2.

Lái xe

- Gửi lời chào

- Gọi điện và nhắn tin xác nhận địa điểm thời gian đón

- Xin thông tin về cơ sở vật chất (ghế, loa, điều hòa…) Trong trường hợp công ty gửi nước hoặc vật dụng thì nhắc lái xe lưu ý lại.

- Cám ơn.

3.3.

Điểm dịch vụ ngày đầu

- Khách sạn: check tất cả các thông tin cần thiết: số lượng, chủng loại, yêu cầu riêng (view, thiết bị, tầng…)

- Dịch vụ: ăn sáng, khoảng cách di chuyển, wifi, bể bơi, kiểu khóa…

- Các lưu ý khác: an ninh, xã hội…

- Nhà hàng: check thực đơn, số lượng, thực đơn VIP hoặc thực đơn đặc biệt.

3.4.

Thông báo lại văn phòng.

- Thông báo lại văn phòng để xác nhận việc đã check thông tin cụ thể.

- Trong trường hợp có các sự khó khăn hoặc phát sinh cần thông tin ngay cho văn phòng.

*

II.

TRÊN TOUR

1.

Thời gian

1.1 Nguyên tắc 15 phút.

- Luôn đến trước giờ hẹn của công ty 15 phút tại tất cả các điểm: điểm hẹn, nhà hàng…

- Có mặt tại xe trước 15p so với giờ khởi hành.

1.2 Nguyên tắc trễ giờ.

- Sẽ có những thời điểm cần có thời gian trễ cho khách.

Tùy thực tế để thông báo.

Đảm bảo chuẩn giờ và có quy chế rõ ràng.

2.

Đón đoàn

2.1 Trang phục

- Lựa chọn trang phục phù hợp với đoàn khách, lộ trình, tuyến điểm…

- Đồng phục công ty (nếu có).

2.2 Phụ kiện và đồ nghề

- Loa trợ giảng

- Còi, đèn laze, đèn pin, pin dự phòng, ổ cắm…

3.

Trên xe

3.1 Kiểm tra một lượt xe

- Ghế, vệ sinh, dựng thẳng toàn bộ lưng ghế.

- Kiểm tra các tư trang hành lý trước khi khách lên.

- Khi khách ổn định, cần kiểm tra điều hòa và các vị trí ghế cho đảm bảo với khách.

- Sắp xếp khách lớn tuổi, trẻ em, phụ nữ có bầu… ngồi trước

3.2 Phát khăn, nước, mũ quà tặng (nếu có)

- Nước và khăn ướt nếu có sẵn nên đặt trước vào vị trí ghế để tiết kiệm thời gian và hạn chế di chuyển lúc ban đầu.

- Mũ và quà tặng công ty có thể phát ngay hoặc tùy theo đặc điểm cụ thể.

Có thể dùng làm quà tặng cho các phần giao lưu, hoạt náo…

3.3 Nghiệp vụ trên xe.

- Giới thiệu công ty, cá nhân, lái xe, đoàn khách… trong lời chào

- Căn dặn thông tin lưu ý, lịch trình tổng quan toàn hành trình và chi tiết cho 1-2 ngày đầu.

- Hoạt náo, thuyết minh

- Phục vụ hỗ trợ khách hàng trên xe.

- Tùy theo đặc thù khách hàng và cần có sự linh động trong nghiệp vụ.

- Quan trọng nhất là sự khéo léo và hài hòa.

3.4 Trước khi xe dừng và trước khi xe khởi hành

- Căn dặn về hành lý mang theo hoặc để lại xe

- Nhắc khách luôn kiểm tra hành lý trước khi xuống và lên xe.

4.

Tại điểm thăm quan

4.1 Mua vé

- Dẫn khách tới một điểm tập trung và có vị trí nhận biết đặc biệt để khách tự do chụp ảnh trong thời gian mua vé.

- Yêu cầu khách chụp ảnh lại điểm đó để nhận biết nơi tập trung sau khi xuống (nếu hành trình quay lại cổng).

- Phát vé cho khách bằng cách chốt số lượng với trưởng đoàn, trưởng nhóm và nhờ họ phát giúp.

4.2 Hướng dẫn lộ trình thăm quan.

- Đi theo đúng làn, lộ trình thăm quan tại điểm.

- Căn dặn khách tuân thủ và di chuyển theo đoàn.

4.3 Thuyết minh

- Lựa chọn điểm thuyết minh có góc nhìn bao quát tốt nhất

- Tránh được các tác động ngoài: tiếng ồn, thời tiết, người di chuyển…

- Thời gian thuyết minh và nội dung thuyết minh cần chọn lọc và có chuẩn bị kỹ.

- Chuẩn bị các câu hỏi mà du khách có thể hỏi.

4.4 Hẹn điểm và thời gian

- Đây là thông tin tối quan trọng.

Trước khi xuống xe, trước khi để đoàn đi tự do, trước khi thuyết minh và trước khi kết thúc bài thuyết minh đều phải nhắc.

- An toàn tài sản, sức khỏe…

5.

Tại nhà hàng

5.1 Ổn định chỗ ngồi

- Cần xác định được chỗ ngồi cho khách trước khi đưa khách vào nhà hàng.

- Sắp xếp bàn đẹp, view đẹp cho trưởng đoàn và nhóm khách ưu tiên.

5.2 Quy ước số lượng

- Cần báo trên xe cụ thể số lượng bàn, số ghế, số khách một bàn.

Nếu khách ghép thì cần chốt được nhóm ngồi.

Khách đoàn cần fix với trưởng đoàn để chủ động khớp với số ghế và suất ăn của mỗi bàn.

5.3 Kiểm tra thực đơn

- Check list cụ thể.

- Thường bao gồm: khai vị, ăn nhẹ, ăn chính, cơm, canh, tráng miệng

- Có đồ uống hay không

5.4 Hỗ trợ nhà hàng

- Mùa cao điểm cần hỗ trợ nhà hàng xử lý và phục vụ khách

- Bưng bê đồ, ổn định bàn ghế, điều hòa, quạt…

5.5 Hỗ trợ du khách

- Gọi thêm đồ ăn, đồ uống

- Thêm bát đĩa, ghế…

5.6 Ăn nội bộ

- Sau khi đã check đủ tất các các hạng mục bên trên, HDV sẽ đi ăn cơm nội bộ.

- Nguyên tắc: ăn tranh thủ ngủ khẩn trương.

Ăn thừa ở chứa là đặc thù nên hãy cố gắng để hài hòa và tự hài lòng.

- Tùy xem công ty đặt có gồm nội bộ hay chưa và tùy vào từng nhà hàng và dịch vụ để yêu cầu cơm nội bộ.

6.

Tại khách sạn

6.1 Tại lễ tân

- Ổn định vị trí ngồi nghỉ chờ nhận khách.

- Căn dặn các vấn đề về thời gian và lịch trình trong thời gian chờ.

- Nhắc khách kiểm tra hành lý và tư trang trước khi rời lễ tân.

6.2 Chia phòng

- Thường thì sẽ chia phòng sẵn từ trên xe hoặc trước khi khởi hành, tới khách sạn chỉ giao chìa khóa theo đúng danh sách.

- Ưu tiên chia phòng cho khách đặc biệt trước.

- Trước khi chia phòng thông tin lại 1 lần nữa các thông tin về phòng và hẹn giờ đón tại sảnh để đi ăn hoặc thăm quan.

6.3 Đợi khách

- Luôn ở lại lễ tân tối thiểu 10p để đợi xem khách có phản hồi về phòng không.

Nếu không có thì mình có thể về nghỉ.

6.4 Xử lý sự cố phòng

- Các sự cố phòng thường gặp: giường, nóng lạnh, điều hòa, tivi…

- Cùng nhân viên khách sạn lên trực tiếp phòng hoặc có cách xử lý ngay lập tức.

- Tối kỵ để khách đợi câu trả lời.

6.5 Phòng nội bộ.

- Tùy theo dịch vụ mà yêu cầu nội bộ.

- Thường sẽ được nghỉ phòng như khách ở hạng tiêu chuẩn.

- Một số trường hợp sẽ ở chứa thậm chí ở ngoài và sẽ có nhiều khó khăn cho di chuyển làm việc.

- Với các bạn nữ cần hết sức lưu ý.

7.

Tại sân bay, nhà ga, bến tàu, xe.

7.1 Thông báo thông tin trước khi đến.

- Kiểm tra lại một lần nữa lộ trình, hành trình.

- Căn dặn về giấy tờ thủ tục.

- Hành lý, kiểm tra hành lý trên xe sau khi toàn bộ khách đã xuống xe.

7.2 Làm thủ tục

- Lưu ý đặc biệt khoản làm thủ tục về vị trí quầy, hành lý

- Thông báo cho khách về mọi nội dung có trong vé và thẻ lên tàu, máy bay.

- Đặc biệt lưu ý lại về thời gian, địa điểm, hành lý, giấy tờ tùy than…

7.3 Hướng dẫn và hỗ trợ khách.

- Tùy xem mình có đi cùng khách hay không.

- Nếu đi cùng khách thì mình luôn đi đầu và chốt cuối.

Hẹn giờ hẹn điểm cụ thể và dẫn họ đến đúng điểm rồi mới được để khách tự do.

- Nếu không đi cùng khách thì cần đợi khách vào hết trong khu an ninh cách ly và ổn định trên máy bay, tàu, xe mới hoàn thành công việc.

*

III.

KẾT THÚC TOUR

1.

Chào khách

- Trên xe cần chào đoàn ngắn gọn, xúc tích, tình cảm và để lại dấu ấn.

- Tuyệt đối không nhì nhằng về chuyện tiền tip.

Vì cái đó phụ thuộc rất nhiều yếu tố.

- Cảm ơn đoàn, lái xe, công ty…

- Có lời xin sự cảm thông từ quý khách…

2.

Tiễn đoàn

- Có thể bắt tay cảm ơn.

- Gặp riêng trưởng đoàn 1-2 phút.

- Kiểm tra hành lý lần cuối trên xe trước khi tiễn đoàn.

3.

Hậu mãi.

- Gọi điện hoặc nhắn tin cám ơn tới lái xe, khách hàng, công ty.

- Xử lý các sự cố phát sinh sau khi tiễn đoàn nếu có một cách nhiệt tình chu đáo.

Chúc các bạn sẽ luôn hoàn thiện tour tốt nhất và vạn dặm bình an!!
 
Nghiệp Vụ Lhhd
"Hà Nội - Cửa Lò - Hà Nội".


Trước khi đọc bài xin lưu ý quý ACE đồng nghiệp như sau:

1)Bài viết chỉ đưa ra các ý kiến của cá nhân tác giả để ace cùng nhau chia sẻ các kiến thức va chúng ta cùng nhau làm phong phú bài thuyết minh của mình.

2)Tôi post bài ko phải để khoe mẽ mình giỏi hay gì đó.Mục đích của những bài viết này vừa để kiểm tra lại kiến thức bản thân,vừa để học hỏi thêm từ ace đồng nghiệp.

3)Đây không phải là 1 bài thuyết minh hoàn chỉnh và HDV cũng ko phải là cái máy.1 HDV giỏi ko có nghĩa lúc nào cũng cầm Mic thao thao bất tuyệt về kiến thức.Điều đó vô tình khiến ACE trở thành những người ngộ kiến thức,cái máy nói,khô khan...vv.Vì vậy,qua bài viết rất mong ACE đồng nghiệp biết lựa chọn các kiến thức cần thiết nhất cho 1 bài thuyết minh.Và đặc biệt ghi nhớ câu : “ Đúng nơi – đúng lúc – đúng thời điểm”.

Và bây giờ xin mời ACE cùng tôi bắt đầu xây dựng khung bài thuyết minh tuyến điểm “ Hà Nội – Cửa Lò – Hà Nội “.

Khoảng cách từ Hà Nội đến Bãi Biển Cửa Lò: ~ 300km tùy từng điểm đón khách.

Thời gian di chuyển: 6 tiếng tính cả thời gian nghỉ chân dọc đường

2 điểm dừng nghỉ dọc đường phổ thông:các điểm dừng nghỉ ở Hà Nam của bài viết Sầm Sơn ( các bạn vui lòng đọc lại ),điểm dừng chân ở Tĩnh Gia – Thanh Hóa (ko nhầm thì là Trạm Dừng Nghỉ Thanh Bình,cuối Tĩnh Gia gần cổng chào vào TX Hoàng Mai – Nghệ An).

Cung đường từ Hà Nội đến Bãi Biển Cửa Lò:Hà Nội – Hà Nam – Ninh Bình – Thanh Hóa ( chi tiết hơn – qua Tp Thanh Hóa – Quảng Xương – Tĩnh Gia ) – TX Hoàng Mai – H,Quỳnh Lưu – H.Diễn Châu – Vòng Xuyến Ngã Ba Nam Cấm rẽ trái đi thẳng 8km là đến biển.

Các khách sạn quen thuộc của Cửa Lò với ACE:Khách Sạn Thái Bình Dương,Khách Sạn Summer,Khách Sạn Thúy Hiếu,Khách Sạn Đại Tây Dương,Khách Sạn Sapa,Khách Sạn Hòn Ngư...vv.

Tuyến điểm thăm quan có thể kèm theo chương trình:đi thăm quê Bác ( quê nội + quê ngoại Bác Hồ),đi mộ Đại Tướng Võ Nguyên Giáp,đi Ngã Ba Đồng Lộc,đi Khu Di Tích Lịch Sử Truông Bồn..vv.

Xây dựng khung bài thuyết minh tiếp tục từ Tp Thanh Hóa:

Thông thường sau khi khách đã nghe ACE thuyết minh từ điểm nghỉ cho đến tận Tp Thanh Hóa đã rơi vào khoảng gần 2 tiếng đồng hồ.Kể cả hoạt náo thì đây cũng là một khoảng thời gian dài khiến cho khách cảm thấy mệt mỏi.Vì vậy đoạn bắt đầu từ Quảng Xương đến Tĩnh Gia,đa số ACE sẽ cho khách nghỉ ngơi để đỡ mệt.Tuy nhiên,nếu khách vẫn có nhu cầu nghe thì ACE sẽ chọn ra một số thông tin để thuyết minh:

+ Huyện Quảng Xương:1 thông tin khá thú vị về hành chính của Quảng Xương và 1 số Huyện của Thanh Hóa có tên các xã giống nhau ở chữ cái đầu.Ví dụ ở Quảng Xương là Quảng Chính,Quảng Định,Quảng Đức,Quảng Giao,Quảng Hải...vv.Ở Hoằng Hóa là Hoằng Cát,Hoằng Châu,Hoằng Đạt,Hoằng Kim..vv

- Từ khu vực Quảng Xương Thanh Hóa,ace có thể giới thiệu và điểm qua các nhân vật nổi tiếng gần với Quảng Xương như Huyện Thọ Xuân:có sân bay Sao Vàng – nay là Cảng Hàng Không Thọ Xuân.Các trận đấu chống chiến tranh phá hoại bằng đường không thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.Tìm thêm các dữ kiện liên quan đến sân bay Thọ Xuân và cuộc chiến chống máy bay B52 của Mỹ.Đoạn lịch sử hào hùng này thật sự khách rất thích

- Các nhận vật thời cận đại của Thanh Hóa:Tô Vĩnh Diện – người lấy thân mình chèn pháo,Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu,Tô Huy Rứa.vv

- Có nhiều thông tin cho rằng Lê Hoàn là người Thanh Hóa???Vậy cái này đúng hay sai thì ACE nên tìm thật nhiều nguồn nhé.E thì chưa dám khẳng định!!

- Ô Hồ Huy – người Quảng Xương,đôi chút về sự nghiệp Start Up của ông và công ty Mai Linh.

- Xe đi qua cầu Ghép,địa phận giáp ranh giữa Huyện Quảng Xương và Huyện Tĩnh Gia.Vị trí cầu Ghép cũng chính là địa điểm bắn phá dữ dội của Không Quân Mỹ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

+Huyện Tĩnh Gia:từ khu vực bắt đầu Huyện Tĩnh Gia cho tới hết địa phận Thanh Hóa sang đến Nghệ An,thì đây là nơi E Hải có khá ít thông tin.Mong Ace tiếp tục đóng góp

-Chuyện bán chim giả ở khu vực đầu Tĩnh Gia:ace đi qua đây sẽ thấy bên tai trái có mấy quán chim,chuyện xem chim thật – mua chim giả khá thú vị.Ace nên thêm mắm muối vào cho đoạn này sinh động hơn

-Nhân vật lịch sử của Huyện Tĩnh Gia chắc chắn ko thể không nhắc tới đó là cụ Đào Duy Từ.

- Ace nên chọn một vài thông tin đặc sắc xoay quanh cuộc đời cụ Đào Duy Từ:+Gia cảnh của Đào Duy Tử.Tại sao ông đi thi lại bị gạch tên??Tại sao Đào Duy Từ lại ghét các chúa Trịnh mà vào Nam với các chúa Nguyễn,sau này được thở ở Thái Miếu???

+Mẹ của Đào Duy Từ đã đổi tên cho ông như thế nào???cuộc gặp gỡ với chúa Tiên Vương Nguyễn Hoàng.Làm quan dưới thời chúa Nguyễn ra sao???Cuối đời của Đào Duy Từ??.

+Giới thiệu qua khu du lịch Biển Hải Hòa và Bãi Đông,khu lọc hóa dầu Nghi Sơn.

Sau một lúc thao thao bất tuyệt,chắc có lẽ khách đã say giấc nồng hoặc ace còn cách điểm nghỉ chân khoảng 15p có thể dừng lại cho đoàn nghỉ.Sau khi dừng chân và nghỉ ngơi ở điểm dừng Thanh Bình – Huyện Tĩnh Gia.Đây là những km cuối cùng trước khi đặt chân vào đất Nghệ An.Có rất nhiều cách để giới thiệu về địa điểm chuẩn bị tới.VD như đọc một đoạn thơ ngắn về xứ Nghệ,hò điệu Ví dặm,hát 1 bài về xứ Nghệ...vv.

+Khái quát qua về tỉnh Nghệ An:đọc chi tiết về bài Lịch Sử Hành Chính Nghệ An

Nghệ An:tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất Việt Nam.Phân tích câu nói “ Vua Xứ Thanh – Thần Xứ Nghệ”..Vậy “Thần Xứ Nghệ” được hiểu ntn???Tại sao gọi là xứ Nghệ???1 vài câu nói giọng Nghệ??Tại sao có câu chuyện “Cá Gỗ”???...vv

Các nhân vật nổi tiếng khi về xứ Nghệ cần được điểm qua:Chủ Tịch Hồ Chí Minh,cụ Phan Bội Châu – người lập hội Duy Tân và phát động phong trào Đông Du,nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương,Mai Hắc Đế,Đặng Thai Mai,Nguyễn Trường Tộ,nhạc sỹ An Thuyên ( người Quỳnh Lưu,để dành đến Quỳnh Lưu nói về ông và các sáng tác),cầu thủ Phạm Văn Quyến,Lê Công Vinh,ca sỹ Phan Mạnh Quỳnh....vv.

Bắt đầu từ Tx Hoàng Mai đến hết Diễn Châu,nếu ace là những người có tìm hiểu sâu về chủ tịch Hồ Chí Minh.Hãy dành nguyên khoảng thời gian trên xe để kể chuyện về Bác Hồ.Các câu chuyện về cuộc đời và sự kiện liên quan đến Bác Hồ thường lấy được sự xúc động,thậm chí là nước mắt của khách.Để làm được điều này,ACE vui lòng tìm các cuốn sách viết về Bác đọc và tìm hiểu,đồng thời có thể học các câu chuyện và phong cách kể chuyện của Giáo Sư – Hoàng Chi Bảo – người kể chuyển về Bác Hồ hay nhất.

Hoặc để bài thuyết minh của chúng ta tránh sự tập trung quá vào một nhân vật mà quên đi cả một hành trình,ACE nên tóm tắt qua về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ.Những câu chuyện đặc sắc,đặc biệt là về thuở thơ ấu của Bác nên dành trong khoảng thời gian đưa khách đi thăm quan Quê Bác.Trong quá trình kể các câu chuyện về Bác Hồ,có thể thay đổi sự nhàm chán bằng cách cho khách chơi các trò chơi liên quan đến các bài hát về Bác Hồ,kể tên và hát...vv.

+Tx Hoàng Mai:khái quát qua về các thông tin đặc sắc của nơi đây.1 số các điểm du lịch nổi tiếng của Thị xã:đền Cơn,Khu Du Lịch Biển Quỳnh,đền Phùng Hưng (có thể liên kết với câu chuyện Phùng Hưng đấm hổ,tại sao ở làng Triểu Khúc – Hà Nội lại ko gọi là “Bố” mà chỉ gọi là cha hoặc thầy..vv).

+Huyện Quỳnh Lưu:hành chính của Quỳnh Lưu cũng đa phần bắt đầu bằng chữ Quỳnh như:Quỳnh Bá,Quỳnh Bảng,Quỳnh Châu,Quỳnh Diễn,ko có Quỳnh Búp Bê ở đây đâu nash ^^.

-Quỳnh Lưu là nơi phát tích của dòng họ Hồ ở Việt Nam:tìm hiểu thêm nhé ace!

-Các nhân vật nổi tiếng họ Hồ:Hồ Quý Ly,Hồ Xuân Hương,Hồ Tùng Mậu...vv.Về mỗi nhân vật đưa ra,ace có thể khái quát và đưa ra các câu chuyện hay về nhân vật mà chúng ta đang nhắc đến.Đoạn này chắc cũng phải đi đến Huyện Diễn Châu rồi nếu ace không nói nhanh.

+Huyện Diễn Châu:đây là huyện có số lượng xã và dân số lớn nhất tỉnh Nghệ An.Hành chính Diễn Châu bắt đầu bằng chữ Diễn như😀iễn An,Dích Bích,Diễn Cát,Diễn Đoài..vv.

-Đến Diễn Châu,ace không thể không chia sẻ cho khách của mình một địa điểm Du Lịch nổi tiếng của Huyện đó là đền Cuông thờ Đức Vua An Dương Vương.

-Riêng về phần này đã chiếm đa số thời gian nên ace chỉ nên khái quát qua một số ý chính và câu chuyện ly kỳ:

+An Dương Vương là ai??Cuộc chiến với Triệu Đà???Cái chết của Mỵ Châu??...vv.Ace tự chắt lọc thông tin đưa ra.

+Câu chuyện về chim Hạc trong đền Cuông và xác cá voi chết dạt vào Biển Cửa Hiền?? ( ace tự nghiên cứu ).

+Nhân vật khi đến Diễn Châu phải nhắc đến:đại gia điếu cày Lê Thanh Thản – người Diễn Châu ( chém gió được 15p về ông Thản là đến Ngã 3 Nam Cấm rồi ).Ông Lê Thanh Thản là ai???Tập Đoàn Mường Thanh??Các công trình và phát ngôn cũng như sự nghiệp của ông Lê Thanh Thản???

+Hệ thống Kênh Nhà Lê (khái quát qua về lịch sử xây dựng và Kênh Nhà Lê ở các tỉnh).

+Km0 của đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại ( 1 vài câu chuyện về con đường này )

+Núi Quyết – Phượng Hoàng Trung Đô?????

+Vụ cắt đất Trấn Ninh – ngày nay là Hủa Phan (CHDCND Lào )???Trấn Ninh ở đâu???Tại sao phải cắt phần đất này???

+Sự tích về nhân vật ông Hoàng Mười???Ai mới thật sự là ông Hoàng Mười:Nguyễn Xí,Lê Khôi hay Uy Minh Vương Lý Nhật Quang???Các đền thờ ông Hoàng Mười nổi tiếng…vv

-Đoạn này đến Ngã Ba Nam Cấm tức là còn cách Biển Cửa Lò khoảng 8km.Vậy ace nên dừng bài thuyết minh về lịch sử để thông báo,nhắc nhở khách về các lưu ý khi đi Du Lịch tại Cửa Lò??Ở Cửa Lò ăn gì??chơi gì???Có cần lưu ý đặc biệt như ở Sầm Sơn không???Nhắc nhở khách về các lưu ý trong nhận,trả,và kiểm tra phòng...vv.Nếu còn thời gian thì giới thiệu đôi chút về bãi biển Cửa Lò và Đảo Hòn Ngư ( đi trên mặt đường Bình Minh sẽ thấy,ace nên chỉ cho khách và giới thiệu sơ qua).

Bài viết của tác giả đến đây là hết.Rất mong tiếp tục nhận được sự phản hồi và góp ý của quý ACE đồng nghiệp để chúng ta có thể bổ sung thêm được thật nhiều thông tin.Tiếp tục nâng cao kiến thức nghề nghiệp và cùng chờ đón một mùa hè bùng nổ.

Xin cảm ơn và hẹn gặp lại ở tuyến điểm tiếp theo:Bãi Biển Hạ Long.

________CAO VĂN HẢI________
 
Nghiệp Vụ Lhhd
chả mực


Chuẩn bị nguyên liệu và dụng cụ

1 con mực mai cỡ lớn thật tươi ngon: trên 1 kg

1 ít tiêu xay

Tỏi hành tím giã nhỏ

2 muỗng canh dầu ăn

Dụng cụ: Cối đá, chầy gỗ (loại lớn nặng khoảng 1kg), Chảo chống dính, muỗng.

Bước 1: Giã nhuyễn mực

Mực sau khi đã sơ chế, tiến hành thái nhỏ sau đó mang đi giã nhuyễn cùng với tỏi hành tím bóc vỏ và giã nhỏ.

Lấy phần râu mực cho vào cối giã đều với gia vị theo công thức: 1 kg mực tươi thì cho 30 gam hành tỏi, 1 muỗng cà phê hạt tiêu, 1 muỗng cà phê mì chính (bột ngọt).

Cho thân mực vào cối giã phần thân mực và trộn đều với phần đầu mực.

*

Bước 2: Chiên chả mực

Quết 1 chút dầu ăn lên găng tay nylon để mực không bị dính và nặn thành viên tròn và làm dẹt, không nên nặn chả quá mỏng khi chiên sẽ không ngon.

Sau đó, đặt chảo lên bếp, đổ lượng đầu vừa phải và đảm bảo dầu chiên đều chả mực.

Khi dầu nóng già, cho từng viên chả mực vào chiên đến vàng 2 mặt.

Nhớ đảo đều 2 mặt thường xuyên để tránh bị cháy chả.

*

Trình bày thành phẩm

Khi chả mực có màu vàng đẹp là đã chín.

Bày chả mực ra dĩa và trang trí rau đi kèm

*

Mẹo thực hiện thành công: Nếu chưa ăn ngay thì để nguội rồi cho vào tủ lạnh cấp đông.

Nên chọn mực loại to (mực mai), nặng trên 1 kg, chọn mực đực, mực tươi để miếng mực càng ngon.

Mực tươi về cấp ít nhất 2 tháng mới làm đc.

Mà làm phải vắt, thấm 3 lần.

Mới hết nc.

Con mực sống làm ra miếng chả mực.

Ăn nó bị nhão, rán hay nổi váng
 
Nghiệp Vụ Lhhd
THÔNG TIN THUYẾT MINH CƠ BẢN VỀ NINH BÌNH


I.

Khái quát.

*

Ninh Bình nằm ở cực Nam của vùng đồng bằng Bắc bộ.

Xen giữa lưu vực sông Hồng và sông Mã, nơi tiếp giáp và ngăn cách miền Bắc với miền Trung bởi dãy núi Tam Điệp hùng vĩ.

Ninh Bình có quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy qua, cùng hệ thống sông ngòi phong phú, với cảng Ninh Bình, có điều kiện phát triển mạnh giao thông cả đường bộ, đường thủy, giao lưu thuận lợi với các địa phương trong nước và quốc tế.

Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội hơn 90 km.

Trên tuyến đường quốc lộ 1A xuyên Bắc – Nam quan trọng vào bậc nhất của nước ta.

Đường sắt xuyên Bắc – Nam đi qua (đoạn chạy qua đất Ninh Bình dài 35 km).

Với hai nút giao thông chính là thị xã tỉnh lỵ Ninh Bình và thành phố Tam Điệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế – văn hóa với cả hai miền đất nước.

*

Với diện tích tự nhiên là 1398,7km2.

Tuy là một tỉnh không lớn nhưng địa hình rất đa dạng: có núi sông, đồng bằng, vùng biển, mang đầy đủ sắc thái địa hình Việt Nam thu nhỏ.

Có 8 đơn vị hành chính gồm 6 huyện và 2 thành phố trực thuộc tỉnh.

Huyện Nho Quan, thành phố Tam Điệp là vùng đồi núi.

Các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô thuộc vùng nửa đồi núi.

Diện tích đồng bằng và ven biển chủ yếu thuộc huyện Kim Sơn, Yên Khánh.

Thành phố Ninh Bình chỉ chiếm 1/5 diện tích tự nhiên của tỉnh.

*

Cộng đồng các dân tộc đang sinh sống trong tỉnh gồm có 23 dân tộc: đa số là dân tộc Kinh chiếm trên 98,2%.

Đứng thứ hai là dân tộc Mường chiếm gần 1,7%.

Các dân tộc như Tày, Nùng, Thái, Hoa, H’Mông, Dao mỗi dân tộc có từ trên một chục đến hơn một trăm người.

Trong số các dân tộc ít người sinh sống trong tỉnh, dân tộc Mường đã định cư khá lâu đời ở các xã thuộc miền núi cao huyện Nho Quan, thành phố Tam Điệp và là một bộ phận của cư dân người Mường sinh sống dọc theo dải núi đá vôi từ Hòa Bình đi Thanh Hóa.

Các phong tục tập quán sinh hoạt, truyền thống văn hóa mang nét đặc trưng của cộng đồng dân tộc Mường.

Các dân tộc ít người khác sống phân tán, rải rác ở các địa phương trong tỉnh.

Họ không hình thành cộng đồng dân tộc nhất định.

Đa số đó có quan hệ hôn nhân, gia đình hoặc trong quá trình đi tìm đường sinh cơ lập nghiệp mà đến định cư ở địa phương.

Chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong tục, tập quán sinh hoạt, sản xuất, truyền thống văn hóa của người Kinh.

*

Vùng đất Ninh Bình thời xa xưa phần lớn là vùng ngập mặn thuộc huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ.

Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, Ninh Bình có nhiều tên gọi khác nhau như.

Thế kỷ thứ X gọi là châu Trường Yên.

Thế kỷ XIII gọi là phủ Trường Yên.

Thế kỷ XVIII (thời Hậu Lê) gọi là Thanh Hoa ngoại trấn.

Dưới triều nhà Nguyễn, thế kỷ XIX năm Gia Long thứ năm (1806) gọi là đạo Thanh Bình.

Năm Minh Mạng thứ mười (1829) gọi là trấn Ninh Bình.

Năm Minh Mệnh thứ mười hai (1831) gọi là tỉnh Ninh Bình.

Năm 1976, tỉnh Ninh Bình hợp nhất với tỉnh Nam Hà thành tỉnh Hà Nam Ninh; Năm 1992, tỉnh Ninh Bình được tái lập.

Hiện nay, tỉnh Ninh Bình có 6 huyện là Gia Viễn, Nho Quan, Kim Sơn, Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô.

Hai thành phố là Ninh Bình và Tam Điệp với tổng số 144 xã, phường, thị trấn. (số liệu tạm tính có thể thay đổi theo thực tế phân bố hành chính lại vào sau này) Tỉnh Ninh Bình có hai tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo.

*

Nhân dân Ninh Bình sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp, trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Ngoài ra nhiều người còn làm các nghề thủ công truyền thống.

Thêu ren ở Hoa Lư.

Dệt chiếu và làm hàng cói mỹ nghệ ở Kim Sơn, Yên Khánh.

Đan lát mây tre ở Gia Viễn, Nho Quan.

Sản xuất đồ đá mỹ nghệ ở Ninh Vân (Hoa Lư).

II.

Danh nhân nổi tiếng đất Ninh Bình trong Lịch sử.

*

1.

Đinh Tiên Hoàng (924 - 979).

*

Đinh Tiên Hoàng chính tên là Đinh Bộ Lĩnh.

Ông sinh ngày rằm tháng hai năm Giáp Thân (tức ngày 22/3/924) tại thôn Kim Lư, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay là thôn Vân Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình).

Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ X, lúc bấy giờ trong nước loạn lạc, sử gọi là loạn Thập nhị sứ quân.

Nhờ thông minh, có khí phách, lại có tài thao lược, Đinh Bộ Lĩnh dựng cờ dấy nghĩa vào cuối năm 967.

Chỉ trong khoảng hơn một năm dẹp yên các sứ quân.

Bốn phương ca khúc khải hoàn, non sông thu về một mối.

Chấm dứt thời kỳ loạn mười hai sứ quân kéo dài hơn hai mươi năm trời.

Năm Mậu Thìn (968) Vạn Thắng Vương lên ngôi Hoàng đế.

Hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế.

Đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt (nước Việt to lớn).

Đóng đô ở Hoa Lư, dựng cung điện, đặt triều nghi, “định trăm quan, đặt sáu quân, chế độ gần đủ”(toàn thư).

Nước Nam ta được chính thống kể từ đây.

Năm Kỷ Mão (979), vua Đinh và con trưởng là Nam Việt Vương Đinh Liễn bị sát hại.

Đại thắng Minh Hoàng đế mất, được triều thần tôn là Tiên Hoàng đế.

Linh cữu táng ở Sơn Lăng - Núi Mã Yên.

Đền thờ ông cũng được dựng ngay dưới chân núi Mã Yên ở Trường Yên, Hoa Lư trên nền cung điện cũ.

*

2.

Nguyễn Bặc (924 - 979).

Nguyễn Bặc là đệ nhất công thần, một trong “Tứ trụ” của nhà Đinh.

Ông sinh năm Giáp Thân (924), cùng tuổi và cùng làng Đại Hữu với vua Đinh.

Ông là người đã giúp Đinh Bộ Lĩnh bình định mười hai sứ quân, lập công lớn, được vua Đinh phong là Định Quốc công, vị trí như Tể tướng trong triều nhà Đinh.

*

3.

Đinh Điền (924 - 980).

Đinh Điền quê ở làng Đại Hữu, cùng làng với Vua Đinh, nay là xã Gia Phương, huyện Gia Viễn.

Ông đã cùng Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trịnh Tú, theo phò Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân.

Là đệ nhất công thần góp phần to lớn trong sự nghiệp thống nhất giang sơn về một mối.

Đinh Điền được vua Đinh cử giữ chức Nhập nội kiểm giáo Đại Tư đồ, Bình chương trọng sự, nội tổng vạn cơ, ngoại nhương tứ cảnh (tức là trong thì tổng lĩnh vạn cơ, ngoài thì trông nom mọi việc biên cảnh).

Thời nhà Đinh, việc triều đình được chia làm hai giáp.

Việc trong triều đình do Vua trông coi gọi là Nội giáp.

Việc bên ngoài triều đình được giao phó cho Đinh Điền gọi là Ngoại giáp.

*

4.

Phạm Bạch Hổ (910 - 972).

Phạm Bạch Hổ tên chữ là Phòng Át, người xã Ngọc Đường, nay thuộc huyện Kim Động (Hưng Yên).

Ông sinh ngày 10 tháng Giêng năm Canh Ngọ (22/2/910).

Cuộc đời Phạm Bạch Hổ trải qua hai triều Ngô - Đinh.

Ông đã từng làm khai quốc công thần, giúp triều đình đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.

Ông lại là một trong 12 sứ quân.

Ông đã sáng suốt biết lấy vận mệnh đất nước đặt lên trên hết nên về với Đinh Bộ Lĩnh.

Góp phần làm nên sự nghiệp lẫy lừng cùng Đinh Bộ Lĩnh thống nhất non sông về một mối, viết nên những trang sử oai hùng của dân tộc.

Ông là đại thần triều Đinh và là vị tướng tin cậy của Đinh Bộ Lĩnh với chức Thân vệ Đại tướng quân.

Khi Lý Công Uẩn lên ngôi, đã phong ông là Thượng đẳng tối linh Đại vương.

Các triều Trần, Lê, Nguyễn đều truy phong là Khai thiên Hộ quốc tối linh thần.

*

5.

Lê Hoàn (941 - 1005).

Cách đây hơn 1000 năm, dân tộc ta đã ghi thêm vào sử sách một chiến công hiển hách.

Đánh bại hoàn toàn cuộc xâm lược của nhà Tống.

Và với sự kiện đó, tên tuổi của Lê Hoàn nổi lên trong lịch sử dân tộc.

Ông xứng đáng được đặt ngang hàng với những anh hùng dân tộc khác như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung...

Ông là một trong những vĩ nhân lớn, đã có những cống hiến quan trọng cho đất nước ở buổi đầu độc lập.

Nhà nước trung ương mới bắt đầu xây dựng, kinh tế, văn hoá chưa phát triển.

Bằng những cống hiến của mình, Lê Hoàn đã góp phần vào việc bảo vệ nền độc lập của nước nhà.

Ông củng cố thống nhất và sự toàn vẹn lãnh thổ, nâng vị trí của dân tộc ta không chỉ đối với các nước phương Nam mà cả đối với phương Bắc.

Tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển dài lâu về sau của nước ta.

*

6.

Dương Vân Nga (952 - 1000).

Theo lễ giáo Trung Hoa xưa, Vua chỉ lập một hoàng hậu.

Dưới đó là các phi tần, cung nhân được phân định theo phẩm cấp khác nhau.

Nhưng vua Đinh đã lập tới năm hoàng hậu.

Trong số năm hoàng hậu ấy, có Dương Vân Nga là người quê ở vùng Nho Quan (Ninh Bình).

Bà là một phụ nữ có nhan sắc và hiểu biết nên được vua Đinh rất yêu quý.

Sau khi vua Đinh băng hà và trước vận mệnh của đất nước, Bà đã có cái nhìn vô cùng sáng suốt là đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích dòng tộc.

Bà chủ động đứng ra điều hành việc triều chính, đưa đến sự thống nhất trong triều đình.

Chọn Lê Hoàn là một thống soái quân đội, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, có khả năng tập hợp và tài năng chỉ huy, đương đầu với quân xâm lược, loại bỏ được nguy cơ mất nước và mang lại sự bình yên cho dân tộc.

*

7.

Lý Công Uẩn (974 - 1028).

Vương triều Lý ra đời năm 1009 là một sự kiện trọng đại.

Đó là dấu mốc lớn, đánh dấu một kỷ nguyên mới.

Kỷ nguyên phát triển chín muồi toàn diện của dân tộc và quốc gia.

Kỷ nguyên của các triều đại phong kiến trung ương tập quyền.

Lý Công Uẩn, người khai sáng vương triều Lý.

Đồng thời là người khai sáng nền văn minh Đại Việt, khai sáng thủ đô Thăng Long – Hà Nội.

Ông được xếp vào hàng các ông tổ Trung Hưng của dân tộc Việt Nam.

18 năm làm vua của ông cũng là thời kỳ đất nước có nhiều đổi thay lớn lao.

Lý Công Uẩn, một con người mà lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ, biết ơn.

*

8.

Nguyễn Minh Không (1065 - 1141).

Tên thật của ông là Nguyễn Chí Thành, quê xã Đàm Xá, huyện Gia Viễn, phủ Trường Yên, nay là thôn Đàm Xá, xã Gia Tiến, huyện Gia Viễn.

Nguyễn Minh Không là một nhà sư tài danh lẫy lừng.

Ông đã được coi là thần y khi chữa bệnh cho thái tử Dương Hoán sau lên ngôi vua là Lý Thần Tông (1128-1138).

Ông được phong làm Quốc sư, được ban thưởng vàng bạc rất trọng hậu.

Ông đã đem số vàng bạc đó dựng chùa Quỳnh Lâm ở vùng Đông Triều (Quảng Ninh), đúc tượng Phật lớn bằng đồng để thờ.

Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm là một trong 4 vật lớn đời Lý.

Ông còn cho đúc vạc Phổ Minh cũng là một trong “An Nam tứ đại khí”.

*

9.

Trương Hán Siêu (?

- 1354)

Trương Hán Siêu tự là Thăng Phủ, hiệu là Đôn Tẩu, người Phúc Thành, huyện Yên Ninh, phủ Trường Yên, nay thuộc thành phố Ninh Bình – nơi có núi thơ Non Nước mà thơ ông được khắc đầu tiên vào vách đá của ngọn núi lịch sử này.

Ông là một danh sĩ, người được bốn đời vua Trần tôn kính gọi bằng “Thầy”.

Ông còn là Hàn lâm học sĩ, Tả ty lang trung kiêm Lược sứ Lạng Giang, Tả gián nghị đại phu, Tham tri chính sự, rồi truy tặng Thái phó.

Ông cùng tiến sĩ Nguyễn Trung Ngạn soạn bộ Luật “Hình thư” rồi sách “Hoàng triều đại điển”.

Đọc sách viết về ông, người ta nhớ đến “sự kiện” khi ông hơn 80 tuổi.

Ông vẫn lên ngựa khâm sai miền trong - Thanh Hoá, Nghệ An - để gánh công vụ nhà Trần giao.

Khi hoàn thành công vụ, lúc về, ông mất trên đường đi vì bị ốm đau.

Ông để lại một số bài thơ, nổi tiếng nhất là “Bạch Đằng giang phú”.

Nhân cách của ông, phẩm giá của kẻ sĩ họ Trương này, có thể hiểu qua các câu thơ mà ông gửi gắm trong bài phú nổi tiếng kia: “Giặc tan muôn thuở thái bình Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao” Và “Những người bất nghĩa tiêu vong Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh”.

*

10.

Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858)

Nguyễn Công Trứ chính quê làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Nhưng cuộc đời ông lại có một thời gian gắn bó với mảnh đất Ninh Bình.

Khi ông làm Doanh Điền Sứ, sau khi khai khẩn đất hoang ở Tiền Hải (Thái Bình) lại về khẩn hoang lập nên vùng đất Kim Sơn ngày nay.

Ông sinh ngày 1 tháng 11 năm Mậu Tuất (1778).

Năm 1819, đậu giải Nguyên rồi đảm nhiệm nhiều công việc và trải qua nhiều chức vụ từ Hành tẩu Quốc sử quán, Tri huyện Đường Hào (nay thuộc Hưng Yên), Lang trung bộ Lại, Tham hiệp trấn Thanh Hoá, Tham tri bộ Hình, Doanh điền sứ Nam Định và Ninh Bình, Tả đô ngự sử Viện Đô sát, Tổng đốc Hải An, Tuần phủ An Giang…

Nguyễn Công Trứ là người có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc khai khẩn vùng đất Kim Sơn, mở mang sản xuất nông nghiệp và có tình cảm sâu xa đối với quê hương Ninh Bình nói chung, vùng đất Kim Sơn nói riêng.

Ông là người được lập “Sinh từ”- Đền thờ sống tại Kim Sơn và tồn tại đến ngày nay.

*

11.

Vũ Duy Thanh (1807 - 1859)

Vũ Duy Thanh tự là Trừng Phủ, hiệu Mai Khê, hồi nhỏ còn có tên là Vũ Duy Tân.

Ông sinh ngày 9 tháng 8 năm 1807 ở làng Kim Bồng, sau đổi là Vân Bòng, tục gọi làng Bòng, thuộc phủ Yên Khánh, nay là xã Khánh Hải, huyện yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Vũ Duy Thanh là nhà thơ, nhà cải cách, một bậc thức giả uyên bác...

Ông sống bình dị, gần gũi nhân dân.

Vũ Duy Thanh là người đã từng đề xuất trong bài thi của mình, kỳ thi Đình, về đạo làm vua phải thực hiện 4 điều: Lấy kính thời trước hết Lấy yên dân làm trọng Lấy kinh điển làm gốc Lấy người hiền tài để giúp rập.

Ông cũng là người luôn sống vì sự bình yên của nhân dân.

Tác phẩm của Vũ Duy Thanh đến nay chỉ còn lại “Trừng phủ thi văn tập”, “Chế khoa Bảng nhãn Vũ Duy Thanh tập”, “Bồng Châu thi văn tập”, nhưng ông vẫn được đánh giá là nhà văn, nhà thơ yêu nước, tài hoa.

*

12.

Vũ Phạm Khải (1807 - 1872).

Vũ Phạm Khải sinh năm 1807, quê thôn Phượng Trì, nay thuộc xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Ông đỗ cử nhân năm 1831, làm quan dưới 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và trải qua các chức vụ chính: Tri huyện, Ngự sử, Lang trung Bộ Hình, Tham biện nội các (nên người ta thường gọi ông là Quan các Phượng Trì), Toản tu sử quán, Trưởng hàn lâm viện, Bố chính Thái Nguyên.

Ông không giữ chức giáo quan chính thức nào, nhưng bằng việc giảng dạy nghiệp dư, ông đã đào tạo được khá nhiều nhà khoa bảng từ Cử nhân đến Tiến sĩ và đã hai lần chấm thi Hương, ba lần chấm thi Hội và thi Đình.

Ba lần ở Sử quán, tổng cộng là 9 năm.

Ông đã góp phần biên soạn phần lớn bộ “Đại Nam thực lục”.

Một bộ sử đồ sộ, đã được dịch in gồm 38 tập, trong đó có 26 tập do ông đứng tên đồng soạn giả.

Song điều đáng nói hơn cả về ông là một nghĩa khí.

Một tấm lòng thương dân, yêu nước sâu sắc trước nguy cơ tồn vong của đất nước.

Đi đến đâu, ở cương vị nào, ông cũng tìm mọi cách cải thiện đời sống cho dân chúng.

Phát chẩn cho dân đói, khai khẩn đất hoang, giúp dân phiêu tán trở về an cư lạc nghiệp.

Vũ Phạm Khải là một con người luôn giữ trọn tấm lòng vì vua, vì nước.

*

13.

Nguyễn Tử Mẫn (1810 - 1901) Nguyễn Tử Mẫn sinh năm 1810 quê ở thôn Đống Cao, xã Giá Hộ, tổng Kỳ Vĩ, nay là làng Thư Điền, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình.

Ông đỗ cử nhân năm 1841 ở trường thi Hương Nam Định đời vua Thiệu Trị, làm tri huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang ít lâu rồi cáo quan về quê dạy học.

Chính vì thế nhân dân địa phương thường gọi ông là “Ông huyện Hiệp Hoà”.

Nguyễn Tử Mẫn là người rất am hiểu về địa lý Ninh Bình.

Những tác phẩm của ông có nhiều giá trị, gắn bó với quê hương và là những tài liệu quý về vùng đất Ninh Bình xưa.

Ông được coi là nhà địa lý của Ninh Bình.

*

14.

Phạm Thận Duật (1825 - 1885) Phạm Thận Duật là Quan Thành, hiệu là Vọng Sơn (tên một ngọn núi ở quê ông).

Ông sinh ngày 4/11/1825, quê làng Yên Mô Thượng, xã Yên Mạc, Huyện Yên Mô, trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống hiếu học.

Ông học các ông đồ làng, đến năm 21 tuổi theo học Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị (người Nam Định).

Phạm Thận Duật tiếp thu tri thức và chịu ảnh hưởng rất lớn về tư tưởng yêu nước, thương dân tiến bộ của ông đồ Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị.

Cuộc đời của Phạm Thận Duật luôn cúc cung tận tuỵ vì sự nghiệp giúp nước cứu dân.

Ông có nhiều đóng góp trong cuộc chiến đấu chống xâm lược của nhân dân.

Phạm Thận Duật là một văn thân yêu nước, một đại thần kiên quyết “chủ chiến” chống Pháp xâm lược trong triều đình Tự Đức.

*

15.

Lương Văn Tuỵ (1914 - 1932)

Lương Văn Tuỵ sinh năm 1914, tại làng Lũ Phong, xã Quỳnh lưu, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

Thân sinh ra anh là cụ Lương Văn Thăng - người đảng viên cộng sản đầu tiên của Ninh Bình.

Năm 1929, Đảng bộ tỉnh quyết định cắm cờ búa liềm trên núi Thuý để tuyên truyền ảnh hưởng của Đảng, khích động tinh thần đấu tranh của quần chúng và kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga.

Đồng chí Nguyễn Văn Hoan và anh Tuỵ được giao nhiệm vụ lịch sử này.

Sau sự kiện cắm cờ Đảng, bọn địch lồng lộn, khám xét, bắt bớ ở nhiều nơi.

Ngày 18 tháng 11 năm 1929, chúng ập đến vây bắt anh Hoan, anh Tuỵ, đưa về nhà lao Ninh Bình, sau đó đưa ra Côn Đảo giam giữ.

Tại Côn Đảo, được Đảng dìu dắt, anh Tuỵ lại hăng hái hoạt động.

Năm 1932, theo chủ trương của Đảo uỷ, anh cùng một số đồng chí khác vượt biển về đất liền.

Gặp gió to, sóng lớn, anh Tuỵ và những đồng chí cùng đi đã hy sinh.

Năm ấy anh vừa tròn 18 tuổi.

Nhân dân Ninh Bình đã xây dựng tượng đài anh trên đỉnh núi Non Nước nhằm tôn vinh, khích lệ truyền thống cách mạng của nhân dân Ninh Bình, làm tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
THÔNG TIN THUYẾT MINH CƠ BẢN TỈNH THANH HÓA


Phần 1.

*

I.

Khái quát

Thanh Hóa là tỉnh nằm Bắc Trung Bộ.

Tựa như lưng con rồng.

Từ xương sống Trường Sơn có những giẻ xương sườn chảy ra biển: Dãy núi đá vôi Tam Điệp, đám núi Xước, Quỳnh Lưu, núi Hoàng Sơn, Hoành Sơn.

Tỉnh Thanh Hóa Bắc giáp Ninh Bình với dãy núi đá Tam Điệp, Tây giáp núi Pu Luông đầu dãy Trường Sơn, Nam giáp Nghệ An với dãy núi Quỳnh Lưu, phía Đông giáp biển Đông.

Diện tích 11.168km2, thủ phủ là thành phố Thanh Hóa.

Hiện nay Thanh Hóa có hai thành phố: Sầm Sơn và Thanh Hóa.

Hai thị xã là Nghi Sơn và Bỉm Sơn và 23 huyện.

Thanh Hóa là một trong những tỉnh thành có đơn vị hành chính nhiều nhất cả nước.

Khí hậu Thanh Hóa thuộc vùng chuyển tiếp giữa Bắc Bộ và Trung Bộ.

Nhiệt độ trung bình 23-24oC.

Cao điểm mùa hè có thể lên tới 35-37 độ.

Nằm ở độ cao không lớn, lại nằm kế biển nên mùa đông không lạnh lắm, mùa hè dịu mát hơn, giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy đều thuận lợi.

Địa hình cơ bản đặc trưng theo miền Trung Việt Nam.

Đồi núi chạy dọc có nhiều dãy ngắn dốc đâm ngang ra hướng biển.

Chiều dốc chủ yếu hướng Tây Bắc – Đông Nam.

Có nhiều sông và nhánh sông ngắn nhỏ và chảy dốc tạo mùa lũ.

Thanh Hóa là một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ, nơi có nền Văn hóa Đông Sơn rực rỡ.

Trống đồng Đông Sơn là di vật độc đáo của nền văn hóa này.

Nhiều hang động đá vôi là những nơi cư trú của những nhóm người cổ từ hàng ngàn đến hàng chục ngàn năm trước.

Thanh Hóa có truyền thống văn hóa lâu đời được gọi là đất “địa linh nhân kiệt” đã cung cấp cho đất nước biết bao danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc, nơi phát tích của các triều Tiền Lê, Hậu Lê, nhà Hồ, chúa Trịnh, chúa Nguyễn mà dấu ấn còn ghi lại ở các vùng quê với các đền đài, chùa miếu, lăng tẩm.

Hiếm có vùng đất nào lại sinh ra tới “ba dòng vua”, “hai dòng chúa” như ở xứ Thanh.

Thanh Hóa cũng là 1 trong các xứ đặc trưng của Việt Nam.

Thanh Hóa là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, nhưng chủ yếu có 7 dân tộc là Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú.

Người Kinh chiếm 81,7% dân số toàn tỉnh và có địa bàn phân bố rộng khắp, các dân tộc khác có dân số và địa bạn sống thu hẹp hơn.

Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng.

Thanh Hóa có hệ thống tôn giáo tín ngưỡng đa dạng.

Tính tới năm 2019, Thanh Hóa có tới 9 tôn giáo được công nhận chính thức.

Một nền văn nghệ dân gian đậm bản sắc mà điển hình là Hò sông Mã – một làn điệu dân ca đặc trưng nhất của xứ Thanh.

Thanh Hóa cũng là nơi có truyền thống đấu tranh trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc.

Lịch sử còn ghi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bằng một chương sáng chói.

Những người đi ở, chăn bò, nấu muối, bán dầu đã theo Lê Thái Tổ khởi nghĩa đánh thắng quân Minh.

Khi giặc Pháp tràn vào nước ta, năm 1883, dân Thanh Hóa ngăn không cho đặt công sứ.

Phạm Bành và Đinh Công Tráng khởi nghĩa.

Tống Duy Tân xây dựng căn cứ ở phía Tây tỉnh.

Oanh liệt nhất là trận Ba Đình năm 1887.

Đinh Công Tráng chỉ huy đắp thành Ba Đình, giữ vững trong mấy tháng.

Sau vì xác giặc quanh thành thối quá, phải rút lên Mả Cao phân tán thành những nhóm nhỏ.

Rồi Tống Duy Tân xây dựng các căn cứ ở Vân Động và Hồng Lĩnh.

Đặt mỗi huyện 200 hương binh, đánh Vạn Lại diệt nhiều giặc.

Năm 1890 đánh Nông Cống.

Lúc ấy đã khuyên “đoàn kết lương giáo” đánh Tây.

Sau rút về Thọ Xuân, Pháp đến vây, bị thua nhiều trận.

Năm 1893, tên Cao Ngọc Lễ phản bội, Tống Duy Tân bị bắt và bị chém đầu.

Năm 1941, phong trào cách mạng phát triển, giặc Pháp khủng bố, quần chúng Thanh Hóa chống lại có tính chất vũ trang.

19/8/1945, cách mạng thắng lợi.

*

II.

Địa danh hành chính và thắng cảnh nổi tiếng.

*

1.

Thành phố Thanh Hóa

Các đời trước đóng ở Yên Trường, rồi Dương Xá năm 1804.

Năm 1829, Nhà Nguyễn cho xây thành với chu vi 2.520m.

Từ đó Thanh Hóa thành một tỉnh lị lớn có nhiều nhà máy công nghiệp, lò chum, xưởng đá, xưởng đóng thuyền, một điểm dừng chân sầm uất trên đường từ Hà Nội vào kinh đô Huế.

Ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra sắc dụ thành lập thị xã Thanh Hóa.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chúng san bằng thị xã cổ kính Thanh Hóa rất nhiều lần vì đây là điểm trung chuyển hàng hóa chi viện cho miền Nam.

Năm 1976, ta bắt tay xây dựng lại thị xã Thanh Hóa.

Năm 1995 Thanh Hóa được nâng lên Thành phố.

Thành phố ngày nay thay da đổi thịt với cơ sở hạ tầng phát triển, bộ mặt thành phố ngăn nắp và đàng hoàng hơn.

*

2.

Biển Sầm Sơn

Từ thành phố Thanh Hóa rẽ hướng Đông Tỉnh lộ 8, du khách đi khoảng 16km thì sẽ tới thành phố Sầm Sơn.

Nơi đây từ lâu ai cũng biết có một bãi tắm lý tưởng.

Đầu thế kỷ, một học giả người Pháp là Le Breton đã có nhận xét về bãi tắm Sầm Sơn: “Đây là một bãi tắm tốt nhất để phục hồi sức khỏe”, vì bãi biển này là một nơi nghỉ ngơi chứ không phải như bãi biển thông thường ở Đồ Sơn, vả lại nước biển ở đây rất trong.

Điều đáng chú ý là bãi tắm Sầm Sơn có một dải cát trắng mịn, chạy thoai thoải ra khơi, không hề có đá ngầm hoặc các mảnh vỏ sò, ốc, sóng bạc đầu vỗ vừa phải, nên người tắm có thể ra xa bờ hàng trăm mét mà vẫn thấy an toàn, thú vị.

Tuy nhiên đó là trước đây.

Với sự thay đổi của thủy triều, luồng lạch và các dòng sông cùng sự tác động của con người.

Hiện nay biển Sầm Sơn đã khác xưa rất nhiều.

Do đặc điểm của bãi tắm nên một số người cứ mải miết bơi ra quá xa đến khi muốn trở lại vào bờ thì đã mệt, lại bị sóng ngầm cuốn trở ra và sói cát dưới đáy thành những lạch sâu không lường trước được nên dễ xảy ra tai nạn.

Vì thế số người mê tín đã cho rằng thần biển ở đây rất dữ, hàng năm thế nào cũng phải hiến thần một sinh mạng.

Bãi tắm Sầm Sơn chạy dài hàng chục cây số, từ chân núi Trường Lệ đến xã Quảng Tiến phía Bắc gồm ba bãi tắm.

Sầm Sơn là nơi có một loại phương tiện đi biển đặc biệt.

Đó là những chiếc mảng làm bằng luồng, một giống cây chỉ thấy có nhiều ở miền núi xứ Thanh.

Mảng luồng thường nhẹ, bão sóng dữ dội đến mấy cũng không chìm, chịu được độ mặn của nước biển khá tốt.

Năm 1994, một số nhà thám hiểm và nghiên cứu đại dương phương Tây do ông Tim Severin chỉ đạo đã đóng và hạ thủy tại bãi biển Sầm Sơn một chiếc thuyền vượt đại dương làm bằng hàng trăm cây luồng Thanh Hóa.

Chiếc thuyền được buộc bằng các sợi song, mây và hoàn toàn không có kim loại.

Ngày nay, Sầm Sơn thịnh hành một loại hình phương tiện rất chủ động và có mặt ở hầu khắp các điểm du lịch trên Việt Nam.

Đó là xe điện.

Sầm Sơn còn có đặc sản biển phong phú và chất lượng hơn nhiều địa phương khác.

Khách có thể thưởng thức đủ loại mực ống, tôm he, cua gạch, các giống cá ngon như: chim, thu, nụ, đé…

Hải sản nơi đây có đặc điểm là thịt chắc, dai, ngọt, rất đậm đà.

Đặc biệt là món “gỏi cá” và “lẩu rắn biển” đang được du khách ưa thích.

Muốn làm món “gỏi cá” người ta phải chọn một số loại cá vừa đánh bắt được còn tươi nguyên rồi chế biến cá sống từ ngoài khơi.

Sau đó mới đưa về nhà làm thêm các thứ gia vị như nước chấm có pha thêm rượu gọi là “nước chẻo”, chanh, ớt, rau thơm rồi ăn với bánh đa nướng.

Còn món đặc sản rắn thì người ta bắt những con rắn biển nuôi sẵn trong thùng thủy tinh, treo ngược đầu lên, cắt tiết lột da.

Tiết rắn và tim, gan bỏ riêng vào ly.

Xương rắn băm viên chiên, còn thịt, da, trứng thì nấu lẩu.

Trước khi thưởng thức người ta cho rượu ngon vào cốc đựng tiết rắn, dùng thân cây sả thay thìa quậy cho thật tan đều rồi nhắm với món lẩu và viên.

Theo những khách ăn quen thì rượu tiết rắn biển chữa được bệnh đau sống lưng, còn món thịt rắn thì ngon và bổ.

*

3.

Đền Độc Cước

Về phía Đông Nam thành phố Sầm Sơn có một dãy núi đá chạy dài, hình thù giống một phụ nữ nằm ngửa với bộ ngực nở nang.

Đó là dãy núi Trường Lệ.

Một chân của dãy núi này kéo sát đến tận bãi biển có thành đá dốc đứng.

Phía trên là đền Thượng hay đền Độc Cước.

Theo truyền thuyết đền này có từ thế kỷ XIII dưới thời Trần, cũng có truyền thuyết cho rằng đền được dựng trước nữa, sớm hơn nhiều.

Trong cuốn thắng cảnh Quảng Xương của Nguyễn Đức Thuận, người huyện Hoằng Hóa đỗ cử nhân khoa Mậu Thân (1848) triều Tự Đức soạn thì sự tích đền này như sau: Tục truyền đời xửa đời xưa một năm vào ngày mồng 7 tháng giêng, làng Trường Lệ bị một cơn mưa to gió lớn đến mức nước ngoài biển dâng lên ngang lưng núi, cây cối đổ nghiêng ngả.

Sáng hôm sau dân làng trèo lên đỉnh núi thì thấy dấu bàn chân lớn in trên tảng đá, dài hơn một thước.

Đến ngày 17/3 năm ấy bỗng có một bè gỗ lim trôi dạt vào chân núi.

Dân làng cho đó là điềm trời bèn dùng số gỗ đó dựng đền thờ ở chỗ có vết chân đền Thượng thờ thần Độc Cước.

Lưng chừng núi là đền Trung thờ vị quan dưới thời Lý là Tô Hiến Thành.

Dưới chân núi là đền Hạ thờ vị thần thời Trần là Hoàng Minh Tự.

Về thần Độc Cước cũng có nhiều sự tích khác nhau.

Có tích nói thần là con một người đàn bà bị chết đuối mà dãy núi Trường Lệ là hình người đàn bà này.

Thần được dân làng cưu mang, nuôi nấng trở thành chàng trai khổng lồ.

Thuở đó ở vùng biển này có lũ thủy quái thường làm hại dân chài.

Nhưng từ khi có chàng đi đánh cá cùng thì lũ thủy quái bị chàng trừng trị.

Chúng bèn âm mưu chờ chàng đi vắng kéo về làng làm hại những người ở nhà.

Từ đó hễ chàng ở nhà thì chúng sát hại người đi biển, hễ chàng đi biển thì chúng sát hại những người ở nhà.

Chàng bèn quyết định đối phó bằng cách xẻ thân mình làm đôi.

Nửa thân với một chân ở ngoài biển, còn nửa thân và một chân đứng ở đất liền.

Từ đó bọn thủy quái đành chịu không dám quấy nhiễu dân làng này nữa.

Chàng trai được nhân dân làm đền thờ và tôn làm thành hoàng.

Cái tên thần Độc Cước, tức thần “Một Chân” bắt nguồn từ tích này.

Còn cuốn Thanh Hoa Chư Thần Lục đời vua Thành Thái thì thần Độc Cước lại là họ Cao, tên Sơn Tự đỗ tiến sĩ đời nhà Tấn (265 – 317) nhiều năm vâng lệnh vua đi đánh giặc có công được phong làm Phó Quốc Vương.

Khi mất hiển linh nên dân sở tại lập đền để thờ và các đời vua sau đều phong sắc.

Đền đã qua nhiều năm trùng tu.

Năm trùng tu xưa nhất ở thượng lương gian tiền đường ghi niên hiệu Chính Hòa (1675 – 1705).

Còn tiền đường mới hiện tại có niên đại Tân Mão (1891) với dòng chữ: ”Hoàng triều Thành Thái tam niệm tuế thứ Tân Mão hạ nguyệt trọng xuân lưu nhật quan thời tân tạo tiền đường thụ đại cát”.

Tạm dịch: Đời vua Thành Thái thứ 3 năm Tân Mão mùa xuân tháng ba ngày tốt làm ngôi tiền đường.

Qua hai cuộc kháng chiến từ 1945 đến 1975, bom đạn liên miên nhưng đền Độc Cước hầu như vẫn nguyên vẹn với những chiếc cột gỗ lim, gỗ chò và một số đồ thờ, bia, tượng có phong cách nghệ thuật của Việt Nam thế kỷ XVIII, XIX.

*

4.

Núi Ngọc – Hàm Rồng

Hàm Rồng là một cảnh đẹp thiên nhiên trên đường từ Nam ra Bắc và cũng là nơi ghi dấu những chiến công oanh liệt của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Núi Hàm Rồng ở bờ Nam sông Mã, cách Hà Nội gần 150km.

Cầu Hàm Rồng vắt mình trên dòng sông Mã, hai đầu gối và lưng núi Rồng, núi Ngọc, dòng nước trong xanh luôn cuồn cuộn chảy.

Về mùa lũ, dòng sông gầm thét, hùng vĩ lạ thường.

Khi thực dân Pháp thực hiện chương trình khai thác ở Việt Nam, đường Quốc lộ được nắn lại, Hàm Rồng được chọn làm chỗ xây cầu.

Bọn thực dân Pháp làm chiếc cầu này phải mất 3 năm (1901 – 1904).

Nhưng đó chỉ là một chiếc cầu treo, thế mà chúng khoe khoang đây là một kỳ quan thế giới.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Vào một ngày tháng 2/1947 người Hàm Rồng đã hạ cầu Hàm Rồng xuống sông Mã để ngăn chặn bước tiến của quân thù.

Hòa bình lập lại, ngày 19/5/1964, một chiếc cầu theo kiểu mới to đẹp hơn, mang tên Cầu “19/5” lại nối liền hai bờ sông Mã.

Trong thời chống Mỹ cứu nước, cầu Hàm Rồng được cả thế giới biết đến.

Giặc Mỹ đã dùng 5.000 lượt máy bay hiện đại ném hơn 70.000 tấn bom phá và hàng trăm quả bom bi mẹ, bắn 500 quả tên lửa và nhiều đạn súng lớn từ ngoài khơi, thả thủy lôi và dùng nhiều cách để hạ cầu Hàm Rồng.

Có thể nói không ngoa rằng cầu Hàm Rồng là một “Tượng đài chiến thắng” của mặt trận giao thông vận tải trên con đường miền Bắc chi viện cho miền Nam trong những năm chống Mỹ.

Là nơi diễn ra nhiều trận chiến đấu ác liệt: chỉ trong hai ngày 1 và 3/4/1965, ta đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ.

Chiếc máy bay thứ 2.000 rơi trên miền Bắc do chính người Hàm Rồng bắn vào ngày 5/6/1967.

Hàm Rồng là nơi xuất hiện 5 đơn vị anh hùng như Nhà máy điện, Phân đội 3 Công an nhân dân vũ trang, Đội cầu 19/5, Đại đội dân quân tiểu khu Nam Ngạn và Đơn vị C4 pháo cao xạ.

Cũng nơi đây đã tuyên dương 3 anh hùng: Ngô Thị Tuyền, Đỗ Chanh, Lê Kim Hồng và bao gương chiến đấu dũng cảm hy sinh khác.

Sau khi miền Bắc ngưng tiếng bom Mỹ, chỉ sau 69 ngày đêm thi công, cầu Hàm Rồng vững chãi to đẹp lại nối liền hai bờ sông Mã.

Và đúng 17h25’ ngày 19/5/1972, đoàn xe lửa lại kéo còi.

*

5.

Sông Mã - Cầu sông Mã (cầu Hoàng Long).

Có diện tích toàn lưu vực là 28.400km2, dòng chính có chiều dài 512km nhưng một phần của trung lưu lại nằm trên đất Lào với một đoạn dòng chảy là 102km, chiếm gần 20% dòng sông với diện tích lưu vực 10.800km2 chiếm 38% tổng diện tích.

Sông Mã có hai nguồn, một từ vùng núi Tuần Giáo xuống, một từ sườn Bắc Pu Sam Sao đổ về, dòng chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua Sầm Nưa (Lào) rồi vào Thanh Hóa và đổ ra biển ở 3 cửa là: Cửa Lèn, Cửa Lạch Trường, Cửa Lạch Trào.

Mùa lũ kéo dài 5 tháng từ tháng 6 - 10.

Cầu sông Mã là một trong những cây cầu đẹp trên tuyến Quốc lộ 1A.

Ngày 2/7/2000 cầu được khánh thành và được Thủ tướng Phan Văn Khải cắt băng khánh thành và đặt tên là Hoàng Long có nghĩa là Rồng Vàng.

Cầu sông Mã gồm đường dẫn dài 3,5km, cầu Hàm Rồng vượt đường sắt dài 413m, rộng 12,5m và cầu vượt sông Mã dài 380,68m, rộng 12,5m.

Cầu được khởi công từ tháng 7/1997, kinh phí 124 tỉ đồng.

*

6.

Dấu tích Lam Sơn.

“Dẫu đi trăm núi ngàn rừng

Hồn Lam Sơn vẫn thấu từng câu ca.”

(Ca dao)

Lam Sơn, mảnh đất ghi lại chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc ta ở thế kỷ 15, đến nay vẫn còn soi rọi ánh sáng rực rỡ cho bước đường của nhân dân Thanh Hoá nói riêng và đất nước nói chung.

Lam Sơn là nơi Lê Lợi dấy quân đánh giặc Minh, giành độc lập.

Lam Sơn (nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá) là khu di tích lịch sử – văn hoá quê hương anh hùng dân tộc Lê Lợi, mang những dấu tích và truyền thuyết về Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà văn hào kiệt xuất của dân tộc ta.

Ở triều Lê, Lam Sơn được chọn làm đất tôn miếu.

Ở đây có bia ký, lăng mộ tưởng nhớ, điện miếu thờ các vua, hoàng hậu, con cháu nhà Lê có tước vương.

Lam Sơn thời bấy giờ được coi là kinh đô thứ hai của đất nước (Lam Kinh), có nhiều công trình kiến trúc văn hoá như: điện Lam Kinh, Lăng mộ, đền các vua Lê Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông… và Lăng mộ các Hoàng hậu: Ngô Thị Ngọc Dao, Nguyễn Thị Ngọc Huyên, khu lăng có những bia lớn cùng nhiều con vật bằng đá chạm khắc khá công phu.

Xưa kia ở Lam Sơn, có cung điện nguy nga đồ sộ.

Lăng bia các vua và Hoàng Hậu nhà Lê đặt tại nhiều chỗ trên một địa bàn rất rộng tại các khu rừng cấm.

Mấy trăm năm qua, khu di tích không được bảo vệ, bị thiên tai, hoả hoạn đổ nát hầu như hoàn toàn.

Khung cảnh thiên nhiên cũng biến đổi nhiều.

Nay chỉ còn dấu tích của tường thành, nền cung điện với nhiều viên gạch, đá tảng chân cột, có kích thước khá lớn, các bậc rồng lên xuống bị đổ vỡ, các lăng mộ bị sụt lở, các con vật bằng đá bị sứt mẻ, xê dịch, các bia đá trơ trọi ngoài mưa nắng, lối đi lại lầy lội rậm rạp.

Nhà nước ta đã cho sửa chữa một vài lần như đền Lê Lợi, làm nhà bia Vĩnh Lăng, phát quang mặt bằng, trồng cây và tăng cường bảo vệ.

Nhân kỷ niệm lần thứ 600 năm sinh Nguyễn Trãi, khu di tích Lam Sơn được Bộ Văn Hoá Thông Tin, Tỉnh Ủy, UBND Tỉnh Thanh Hoá cho sửa lại, phục hồi khung cảnh thiên nhiên trong mức độ có thể được.

*

7.

Di chỉ núi Đọ – Đông Sơn

Đi ngược lại dòng lịch sử vài ba vạn năm trước đây, Thanh Hóa là một điểm tụ dân xưa nhất ở nước ta, một điểm tụ dân bản địa không phải từ Nam hay từ Bắc di cư đến quần tụ lại mà hình thành.

Trên cương vực của Thanh Hóa, các gia đoạn phát triển lịch sử của con người đều có dấu ấn hẳn hoi, từ thời đại đồ đá cũ (di chỉ núi Đọ thuộc nền văn hóa núi Đọ); đồ đá giữa (di chỉ làng Bon thuộc nền văn hóa Hòa Bình); đồ đá mới (di chỉ Da Bút, Đồng Khôi thuộc nền văn hóa Bắc Sơn); thời đại đồng thau (di chỉ Đông Sơn thuộc nền văn hóa Đông Sơn).

Có mấy nền văn hóa có tính chất thế giới thì riêng Thanh Hóa đã có địa danh của mình đặt cho hai nền văn hóa Núi Đọ và văn hóa Đông Sơn.

Núi Đọ nằm sát nơi gặp nhau giữa hai dòng sông Chủ và sông Mã (cách thành phố Thanh Hóa về phía Tây Bắc khoảng 5km đường chim bay), thuộc địa phận các xã Thiệu Tân, Thiệu Vân, Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa.

Người ta đã có đủ những tài liệu để xác định được địa bàn phân bố chủ yếu của văn hóa Đông Sơn là tương đương với miền Bắc Việt Nam ngày nay và văn hóa Đông Sơn có những giai đoạn phát triển nối tiếp nhau và tồn tại trong khoảng thời gian cách ngày nay hơn 3.000 năm.

Những di tích văn hóa Đông Sơn vừa mới phát hiện (1973) ở làng Vạc thật thú vị.

Khu mộ táng thuộc nền văn hóa Đông Sơn này nằm ven sườn núi phía Tây nhìn xuống một khe suối cổ.

Diện tích khai quật đợt hai là 363m2, trên đó cứ trung bình 100m2 lại tìm thấy từ 45 đến 50 ngôi mộ cổ gồm các loại: mộ đất, mộ vò, mộ kè đá, lợp đá và mộ rải gốm, kè gốm.

Nhiều mộ lợp đá, kè gốm có quy mô lớn, kết cấu đẹp chứa hàng chục hiện vật, trong đó có nhiều hiện vật quý được coi là những ngôi mộ “giàu” mà chủ nhân có thể là những thủ lĩnh tôn giáo hay quân sự của cư dân thời đó.

Đồ đồng thau chiếm tỉ lệ khá lớn trong số các hiện vật tùy táng, gồm gần 200 chiếc.

Lần khai quật này còn tìm thấy 7 trống đồng là hiện vật tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn khiến cho làng Vạc trở thành địa điểm phát hiện được nhiều trống đồng Đông Sơn nhất ở Việt Nam.

*

8.

Vườn Quốc gia Bến En

Từ thành phố Thanh Hóa theo đường bộ 24km tới huyện lỵ Nông Cống rồi đi tiếp 17km nữa thì sẽ tới vườn Quốc gia Bến En thuộc địa phận huyện Như Xuân – Thanh Hóa.

Nơi đây chẳng những là khu bảo tồn các nguồn gene động, thực vật quý hiếm phục vụ cho nghiên cứu khoa học mà còn là một khu tham quan du lịch, nghỉ mát lý tưởng.

Bến En có hồ nước rộng tới 4.000ha sâu hàng chục mét chia ra làm hai hồ.

Hồ dưới khoảng 800ha và hồ trên rộng hơn 3.000ha.

Trên mặt hồ nhô lên hai hòn đảo lớn nhỏ.

Các đảo có rừng cây, hoa lá và một vài giống chim, thú sinh sống tự nhiên và do con người chăn thả, nuôi dưỡng.

Trên một số đảo khách tham quan có thể dựng lều, căng bạt để nghỉ ngơi qua đêm và giải trí bằng cách câu cá, bắt cua đá ở trong các hốc.

Nếu dùng thuyền hoặc xuồng máy du ngoạn trên khắp hồ thì phải mất hàng ngày trời.

Động vật hồ Bến En có các loại cá, ba bam đặc biệt có giống cá mè sông Mực từ xưa nổi tiếng là lớn và ngon.

Cùng với hồ nước, Bến En còn có rừng thực vật phong phú, hiện tính được có đến 462 loài và 125 bộ.

Bao gồm nhiều loại cây dùng làm đồ mỹ nghệ như song, mây… làm dầu thơm như hương bài, màng tang, sến trẩu, cây làm thuốc có tới 300 loại và nhiều giống cây cảnh đặc biệt là các giống phong lan.

Rừng ở đây hiện còn bảo quản được nhiều loại gỗ quý hiếm như lát hoa, lim, chò chỉ, vùa hương.

Có cây lim chu vi đến 2,06m, cao gần 50m và ước tính tuổi đời phải đến thế kỷ.

Khu vực rừng và hồ Bến En còn có tới 300 loài côn trùng và 216 giống vật, trong đó có một số động vật quý hiếm như sói đỏ, gấu ngựa, hổ báo, vượn bạc má, vượn đen, voi…

Muốn tham quan hết khu rừng, du khách cũng phải mất nhiều ngày.

Rừng Bến En nằm trên địa phận các xã Tân Bình, Binh Lương nên ở đây còn có các dân tộc như: Thái, Mường, Thổ và Kinh cùng sinh sống và một số phong tục, sinh hoạt của người miền núi vẫn còn được lưu giữ như ở nhà sàn, uống rượu cần.

Ngoài khu vực hồ, đảo, bán đảo và rừng, Bến En còn có dãy núi đá vôi thuộc xã Hải Vân với một số cụm hang động khá đẹp và còn giữ được vẻ tự nhiên nguyên thủy chưa bị bàn tay con người phá hoại, đục đẽo như hang, động ở nơi khác.

Trong đó đáng chú ý là hang Ngọc.

Hang này có chiều dài khoảng 80m, cao 2,5m, rộng 8m trong đó có thạch nhũ óng ánh muôn hình muôn vẻ.

Đặc biệt ở giữa hang có một khối thạch nhũ lớn, đường kính đến 1,5m sáng lấp lánh được mệnh danh là “hòn Ngọc”.

Nước từ các đá trong hang chảy ra tạo thành dòng suối nhỏ trong mát, tiếng kêu róc rách suốt đêm ngày.

Đến tham quan Bến En du khách còn được thưởng thức món “canh đắng” – là một loại đặc sản của vùng miền núi xứ Thanh.

Canh được nấu bằng lá của một loại cây có vị đắng.

Người ta chọn lá không già quá, cũng không non quá, thái nhỏ rồi nấu với thịt bò, thịt gà hoặc tim, gan heo.

Thịt phải tươi rồi gia thêm mắm tôm, muối, ớt… thành một thứ canh vừa đắng vừa béo, vừa cay lại có vị hơi chua, hơi ngọt.

Người miền núi cho rằng ăn “canh đắng” bổ và mát.

Khi đã dùng quen, khách sẽ thấy hạp khẩu vị, muốn cứ mỗi bữa ăn có bát “canh đắng” ăn với cơm, bánh mì, hoặc súp.

Ngày nay ở miền xuôi, một số hàng ăn đã đưa món “canh đắng” vào thực đơn xem như là một loại thức ăn đặc sản và đang được nhiều người yêu thích.

*

9.

Di tích quê hương các chúa Trịnh

Trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII suốt hơn 2000 năm, họ Trịnh đã đóng vai trò lãnh đạo bộ máy nhà nước phong kiến với một chính quyền “kép”, vừa có vua lại vừa có chúa, thường được gọi là thời kỳ Lê – Trịnh.

Vị chúa đầu tiên của dòng họ Trịnh là Trịnh Kiểm (1503-1570) vốn quê ở làng Sáo Sơn – Biện Thượng (hay Sóc Sơn – Bồng Thượng) nay thuộc xã Vĩnh Hùng – huyện Vĩnh Lộc – Thanh Hóa.

Đây là vùng đất có cảnh quan rất đẹp, sông núi bao quanh và nằm giữa những địa điểm có di chỉ khảo cổ đồ đá nổi tiếng như Núi Đọ, núi Nổ, Đa Bút.

Vì thế đã có câu ca rằng:

“Dòng Mã Giang mênh mang sóng bạc

Dãy Hùng Sơn man mác điệp trùng

Núi sông hun đúc khí hùng

Sóc Sơn, Biện Thượng một vùng Thanh Hoa”

Kể từ năm 1539, khi vua Lê Trang Tông phong cho Trịnh Kiểm tước Thái Sư Quận công và chọn Vạn Lại (nay thuộc xã Yên Trường – huyện Thọ Xuân) làm “Hành điện” (nơi vua ở) thì vùng Sóc Sơn – Biện Thượng trờ thành “Hành dinh” của chúa Trịnh, nơi bộ phận đầu não chỉ huy cuộc chiến đấu chống nhà Mạc khôi phục nhà Lê đóng bản doanh.

Từ đó, làng Sóc Sơn – Biện Thượng vừa là quê hương, vừa là đại bản doanh của các chúa Trịnh trước khi thu phục được Thăng Long nên nơi đây có nhiều công trình kiến trúc như dinh thự, cung điện, đền đài.

Tiếc rằng, trải qua sự huỷ hoại của thời gian và chiến tranh binh lửa nên đến nay quê hương các chúa Trinh chỉ còn lại một số ít di tích được dựng từ trước.

Trong đó có phủ Trịnh, là hành dinh của chúa, và Nghè Vẹt là nơi thờ 12 vị chúa Trịnh (Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn, Trịnh Cương, Trịnh Giang, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm, Trịnh Cán, Trịnh Khải và Trịnh Bồng).

*

10.

Động Bích Đào – Truyền thuyết Từ Thức

Từ thị trấn Nga Sơn, Thanh Hóa theo trục đường bộ đi về hướng Đông Bắc khoảng 6km đến địa phận xã Nga Thiện du khách sẽ gặp dãy núi Thần Đầu hay còn gọi là núi Thần Phù, núi Giáp Sơn, chạy dài “liên tiếp như bức tường kéo đến, quanh co, khuất khúc”.

Tại dãy núi này có một thắng cảnh nổi tiếng đựơc các sách vở xưa nay ca ngợi nhiều, đó là động Bích Đào hay còn gọi là động Từ Thức vì gắn với một truyện cổ dân gian về cuộc tình duyên của một người trần tên Từ Thức với nàng tiên là Giáng Kiều.

Muốn đến được động, du khách phải đi qua một cánh đồng cát khá rộng, khoáng đãng, nhân dân địa phương thường trồng hoa màu như ngô, lạc.

Trước cửa động có nhiều cây cối mọc râm mát, các dây leo chằng chịt làm thành những chiếc võng tự nhiên, du khách có thể ngồi nghỉ chân trước khi vào thăm động.

Mấy gốc cây to còn lại chứng tỏ nơi đây trước kia có các đại thụ rất lâu đời nhưng nay đã bị đổ.

Đường vào thăm động là một lối đá mòn từ dưới chân núi đi lên dài khoảng trăm thước nhưng không cao, không khúc khuỷu lắm.

Trước cửa động hiện còn hai bài thơ chữ Hán.

Một khắc trên vách đá cao và một khắc trên phiến đá hình chữ nhật giống như tấm bia dựng dưới nền động.

Bài thơ thứ hai này là của bảng nhãn Lê Quý Đôn sáng tác vào thế kỷ XVIII, được một viên tri huyện cho khắc vào năm Ất Tỵ, đời Thành Thái thứ 17. nội dung như sau:

“Mờ mịt thần tiên ngất dặm dương

Bích Đào động cũ dấu thê lương

Ao gai phiêu bạt thân Từ Thức

Mây nước già dăm mặt Giáng Hương

Trống đá nghe khuya lay động sớm

Sương thu chăng đượm cát sa trường

Thiên Thai bao kẻ từng xây mộng

Nào biết Thiên Thai cũng hí trường”

*

11.

Di tích Bà Triệu

Từ Hà Nội vào theo Quốc lộ 1A hoặc tuyến đường sắt Bắc Nam đến cách ga Nghĩa Trang khoảng hơn 2km du khách nhìn sang phía trái sẽ thấy một ngôi đền nằm ở vị trí rất đẹp.

Đó là đền thờ Bà Triệu.

Đền được xây dựng từ bao giờ chưa biết rõ.

Theo một số sách vở ghi chép thì năm 554, Lý Nam Đế – một vị anh hùng dân tộc Việt Nam đã nổi dậy chống quân đô hộ nhà Lương có đem quân đánh dẹp vùng Bình Lâm (huyện Hà Trung – Thanh Hóa bây giờ).

Ông có qua làng Bồ Điền và ban cho Bà Triệu đạo sắc “Bật chính anh liệt hùng tài trịnh nhất phu nhân”.

Xem vậy thì đền thờ Bà Triệu có lẽ đã có từ thời đó.

Hiện đền còn giữ được sổ ghi 30 đạo sắc phong với hàng trăm danh hiệu như: Bắc chính phu nhân, Anh Liệt phu nhân, Hồng âm mẫu đức đại vương…

Đền được dựng dưới chân một ngọn núi có tên là núi Bân (Bân Sơn).

Xung quanh cây cối bao bọc, râm mát.

Đền gồm có hai phần: hậu cung và bái đường.

Hậu cung dựa lưng vào vách núi gồm 3 gian.

Trước mặt là một sân nhỏ nối với hậu cung bởi hai dãy hành lang tả hữu.

Bái đường ở bậc thấp hơn, gồm 5 gian làm bằng gỗ, lợp ngói.

Từ ngoài nhìn vào ở chính giữa phía trên có 4 chữ Hán: “Triệu Nữ Vương tử” (Đền thờ Triệu Nữ Vương).

Lễ hội đền Bà Triệu được tổ chức hàng năm vào ngày 24/2 âm lịch.

Cuộc khởi nghĩa của Triệu Trinh Nương chống nhà Đông Ngô xảy ra vào năm 248.

Bà cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt lập căn cứ ở vùng Thanh Hóa ngày nay.

Mỗi khi xung trận, bà thường mặc áo vàng và xưng là Nhụy Kiều tướng quân.

Nghĩa quân đánh phá nhiều thành quách của quân Ngô làm chúng khiếp sợ.

Thứ sử Giao Châu là Lục Dận đem quân đàn áp đánh trong 6 tháng.

Nghĩa quân mai một dần.

Bà Triệu đem tàn quân về đến Núi Gai (Thanh Hóa) và tự sát ở đấy.

Nói đến Bà Triệu ta như thấy Bà vẫn còn đây với câu nói bất hủ: “Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”.

*

12.

Lăng Bà Triệu

Cách đền khoảng 1.000m về hướng Tây là ngọn núi Tùng hình giống như một cây thông.

Trên đỉnh núi là mộ Bà Triệu, có tường hoa bao quanh và một cái tháp chiếu thẳng xuống đền.

Dưới chân núi có mộ và bia của 3 anh em họ Lý người làng Bồ Điền là tùy tướng của Bà Triệu.

Đứng ở mộ Bà Triệu, du khách có thể phóng tầm mắt ra khắp 4 hướng xung quanh và ngắm nhìn núi non, sông ngòi, làng mạc, đồng ruộng, đường bộ, đường sắt xen nhau dệt thành một bức thảm đẹp kỳ lạ.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
THÔNG TIN THUYẾT MINH DU LỊCH CƠ BẢN TỈNH THANH HÓA


Phần 2.

*

13.

Vườn quốc gia Pù Luông (Thanh Hóa)

Vườn quốc gia Pù Luông là khu bảo tồn thiên nhiên nằm phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa.

Khu vực này thuộc địa phận hai huyện Quan Hóa và Bá Thước.

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông được thành lập năm 1999, với diện tích 17.662 ha, gồm 13.320 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 4.343 ha phân khu phục hồi sinh thái Pù Luông là tên gọi của đồng bào dân tộc Thái có nghĩa là đỉnh núi cao nhất trong vùng.

Pù Luông được đánh giá là khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị về khoa học, kinh tế xã hội và du lịch sinh thái.

Cùng với Pù Hu, rừng ở khu vực Pù Luông đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn sông Mã ở tỉnh Thanh Hóa.

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông cách vườn quốc gia Cúc Phương 25 km, được nối liền với phần đuôi của vườn quốc gia Cúc Phương bằng hai dãy núi đá vôi màu xám chạy song song.

Ở giữa là những thung lũng lúa.

Phía bắc và đông bắc của khu bảo tồn Pù Luông giáp các huyện Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơn của tỉnh Hòa Bình.

Kéo dài từ phía tây xuống phía nam của khu bảo tồn là dòng sông Mã, từ điểm giáp giới của huyện Quan Hóa với huyện Mai Châu (tỉnh Hòa Bình) qua khu vực thị trấn Hồi Xuân (Quan Hóa) xuống gần thị trấn Cành Nàng (Bá Thước).

Với diện tích rất lớn thì đây là khu vực rừng đá vôi đất thấp lớn nhất còn lại ở miền Bắc Việt Nam với 3 kiểu chính là rừng rậm trên đất thấp, núi thấp, rừng trên núi đá vôi, các thảm thực vật măng tre nứa và cây bụi.

Không chỉ vậy vườn quốc gia này còn sở hữu đỉnh Pù Luông cao 1.700 m và là điểm trekking được nhiều người yêu thích.

Với 5 giờ đồng hồ để chinh phục mục tiêu, bạn sẽ có những trải nghiệm khó quên.

*

14.

Suối Cá thần.

Cách trung tâm thành phố Thanh Hoá hơn 80 km về phía Tây Bắc, suối cá thần Cẩm Lương (còn gọi là mó Ngọc, suối Ngọc) nằm dưới chân núi Trường Sinh, thuộc bản Lương Ngọc, xã Cẩm Lương huyện Cẩm Thủy.

Giữa bốn bề núi đá vôi dựng đứng, dòng suối Ngọc dài chỉ hơn trăm mét, rộng 3-4 m.

Tại đây có hàng chục nghìn con cá (nặng từ 2 đến 8 kg, cá chúa nặng tới 30 kg) hình thù rất lạ, đủ màu sắc.

Mỗi khi bơi, thân cá lại phát sáng.

Suối cá thần Cẩm Lương còn được người dân địa phương gọi là Mó Ngọc hay suối Ngọc, nằm bên chân núi Trường Sinh, thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

Đây được xem là một trong những điểm du lịch hấp dẫn không thể bỏ qua khi du lịch ở Thanh Hóa.

Theo đó, suối cá thần Cẩm Lương trải dài khoảng 2km, chảy từ một hang đá ở chân núi, đổ ra cánh đồng thung lũng nằm thoai thoải bên bờ nam sông Mã.

Tại đây, có rất nhiều đàn cá tập trung sinh sống với mật độ dày đặc và được người dân địa phương gìn giữ tôn kính như cá thần.

Đoạn suối tập trung cá đông đúc nhất là cách khu vực cửa hang khoảng 100m, tại đây nước trong vắt du khách có thể thỏa thích ngắm nhìn hàng nghìn con cá chen chúc nhau bơi lội.

Mùa cạn, lòng suối Ngọc chỉ sâu 20-40 cm, nước trong vắt, có thể đưa tay xuống nước vuốt ve những con cá.

Tuy mật độ cá dày đặc nhưng nước suối không tanh hôi.

Dân bản Lương Ngọc vẫn thường gánh nước suối về nấu ăn, tắm giặt.

Điểm du lịch kỳ thú này mỗi năm thu hút hàng nghìn lượt khách trong và ngoài nước.

Một điều lạ lùng là những con cá ở suối Cẩm Lương chỉ bơi quanh quẩn đúng một đoạn suối dài hơn 100 m và không bơi ra xa hơn nữa.

Cá ở đoạn suối này đặc biệt chỉ ăn lá cây để sống chứ không ăn thịt đồng loại.

Nước ở suối cá thần trong vắt và không có mùi tanh, có thể dùng cho sinh hoạt hoặc nấu nướng.

Đây là một điều khó lý giải mà các nhà khoa học vẫn còn đang nghiên cứu.

Suối cá có từ bao giờ không ai biết rõ.

Xung quanh nó ẩn chứa nhiều câu chuyện lạ kỳ, mang tính liêu trai và người dân địa phương vẫn thường truyền tai nhau câu chuyện là “Từ thuở khai thiên lập địa, vào một năm nọ thời tiết khắc nghiệt, hạn hán, mất mùa quanh năm, đẩy người dân bản Ngọc vào cuộc sống túng khó.

Có đôi vợ chồng trong bản hiếm muộn, đi làm đồng về và nhặt được quả trứng có hình thù lạ.

Người vợ đem quả trứng ra suối Ngọc thả xuống nhưng quả trứng không chịu rời khỏi tay.

Hai vợ chồng quyết định đem quả trứng về nhà đặt vào ổ gà đang ấp, quả trứng lại nở ra một con rắn.

Sợ quá người chồng lại đem con rắn ra suối Ngọc thả nhưng đến tối con rắn lại bò về gia đình vợ chồng này.

Sau đó họ quyết định nuôi con rắn đó.

Thật bất ngờ từ đó đồng ruộng, hoa màu luôn tốt tươi, đời sống nhân dân ấm no.

Và chàng rắn này đã trở thành vị cứu tinh được mọi người tôn sùng.

Nhưng đến một hôm trời nổi giông, bão, sấm chớp.

Sau cơn giông bão, mọi người thấy xác rắn nằm bên núi Trường Sinh, đầu hướng về bản Ngọc.

Thương tiếc cho chàng rắn, mọi người đem xác chôn dưới chân núi Trường Sinh và lập đền thờ gọi là Ngọc Từ.

Từ đó ở suối Ngọc dưới chân núi Trường Sinh xuất hiện đàn cá thần luôn quây quần trước đền Ngọc Từ để hầu hạ chàng rắn…”.

Note: phía trên Suối Cá thần còn một động gọi là động Cây Đăng.

Do đi quá lâu rồi, từ khi còn chưa có cả đèn đóm gì nên gần như không nhớ được là có gì bên trong ra sao.

Chỉ nhớ là nó khá mạo hiểm và rất hấp dẫn.

Đi vào 1 đường và đi ra một đường.

Không quay lại cửa vào ban đầu.

*

15.

Thành nhà Hồ hiện nay nằm trên hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá).

Đây là công trình kiến trúc bằng đá độc đáo có một không hai tại Việt Nam.

Được Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397, thành này còn được gọi là Tây Đô (hay Tây Giai) để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội).

Xây xong thành, Hồ Quý Ly đã dời đô từ Thăng Long về Tây Đô.

Theo sử liệu, vào năm 1397, trước nguy cơ đất nước bị giặc Minh từ phương Bắc xâm lăng, Hồ Quý Ly đã chọn đất An Tôn (nay là Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) để xây dựng kinh thành nhằm chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài, đồng thời cũng là cách để hướng lòng dân đoạn tuyệt với nhà Trần.

Thế đất được chọn nằm ở khu vực giữa sông Mã và sông Bưởi, phía bắc có núi Thổ Tượng, phía tây có núi Ngưu Ngọa, phía đông có núi Hắc Khuyển, phía nam là nơi hội tụ của sông Mã và sông Bưởi.

Được xây dựng bằng những phiến đá dài trung bình 1,5 m, có tấm tới 6 m, xếp chồng lên nhau mà không cần chất kết dính, hơn 600 năm qua, hệ thống tường bao quanh thành nhà Hồ vẫn còn khá nguyên vẹn.

Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá vôi màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau.

Các phiến đá dài trung bình 1,5 m, có tấm dài tới 6 m, trọng lượng ước nặng 24 tấn.

Tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20.000 m3 và gần 100.000 m3 đất được đào đắp công phu.

Những phiến đá nặng hàng tấn chỉ xếp lên mà không cần chất kết dính vẫn đảm bảo độ bền vững.

Qua hơn 600 năm cùng những biến cố thăng trầm của lịch sử và tác động của thời tiết, hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn, dù thời gian xây dựng rất gấp gáp, chỉ trong khoảng 3 tháng.

Theo sử sách trong thành còn rất nhiều công trình được xây dựng, như điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, tây Thái Miếu, đông Thái miếu, núi Thọ Kỳ, Dục Tượng... rất nguy nga, chẳng khác gì kinh đô Thăng Long.

Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận, La thành, Hào thành và Hoàng thành.

La thành là vòng ngoài cùng, chu vi khoảng 4 km.

Hào thành được đào bao quanh bốn phía ngoài nội thành, cách chân thành theo các hướng khoảng 50 m.

Công trình này có nhiệm vụ bảo vệ nội thành.

Hoàng thành được xây dựng trên bình đồ có hình gần vuông.

Chiều Bắc - Nam dài 870,5 m, chiều Đông - Tây dài 883,5 m.

Bốn cổng thành theo chính hướng Nam - Bắc - Tây - Đông gọi là các cổng Tiền - Hậu - Tả - Hữu.

Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa.

Các cổng này được xây dựng theo kiến trúc hình mái vòm.

Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít lên nhau.

Cổng tiền (cổng phía Nam) là cổng chính, có ba cửa.

Cửa giữa rộng 5,82 m, cao 5,75 m, hai cửa bên rộng 5,45 m, cao 5,35 m.

Ba cổng còn lại chỉ có một cửa.

Tường thành cao trung bình 5-6 m, chỗ cao nhất là cổng tiền cao 10 m.

Nối liền với cửa Nam là con đường Hoa Nhai (đường Hoàng Gia) lát đá dài khoảng 2,5 km hướng về đàn tế Nam Giao (nơi nhà vua tế lễ) được xây dựng vào tháng 8/1402.

*

16.

Biển Hải Tiến.

Nhưng mấy năm trở lại đây, khi Hải Tiến và Hải Hòa được đầu tư và truyền thông rộng rãi, nhiều du khách đã lựa chọn 2 địa điểm này thay vì chỉ đến Sầm Sơn như trước.

Biển Hải Hòa nằm ở khu vực miền Nam Thanh Hóa, còn Hải Tiến thuộc khu vực phía Bắc.

Nếu tính từ Hà Nội đi Hải Tiến thì khoảng cách sẽ gần hơn rất nhiều.

Vẻ đẹp của khu du lịch Hải Tiến là một bãi biển hoang sơ và thơ mộng.

Biển Hải Tiến nằm cách Hà Nội 175 km, và cách thành phố Thanh Hóa 30 km, dọc theo quốc lộ 1A, qua cầu Tào Xuyên rẽ trái và đi thẳng thêm 15km là tới nơi.

Chỉ mất khoảng 3 tiếng đồng hồ đi Ô Tô là có thể cập bến nhanh chóng.

*

17.

Đền Cô Chín Sòng Sơn

Đền nằm tại Phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn.

Nếu từ Hà Nội về Thanh Hóa thì đền Mẫu Sòng nằm ở bên phải dường thì đền Cô Chín Sòng nằm bên trái.

Hai đền chỉ cách nhau khoảng 500 m.

Đền Cô Chín Sòng Sơn là nơi thờ chính của Cô Chín Sòng Sơn và cũng là nơi được coi là thờ chính của Mẫu Cửu, Chầu Cửu.

Do danh tiếng của Cô Chín Sòng Sơn quá lớn ,nên đôi khi chúng ta chỉ nghĩ rằng đây là nơi thờ chính của riêng Cô Chín.

Hiện nay, trong cung cấm của Đền Cô là nơi thờ Mẫu Cửu.

Còn Chầu Cửu có một cung riêng ở bên tay trái của Cung Cô Chín.

Thân thế: Theo truyền thuyêt, Cô Chín vốn là một tiên nữ trên Thiên Đình, có một lần vô tình đánh vỡ một chén ngọc nên Ngọc Hoàng giáng xuống hạ giới để theo hầu Mẫu Liễu Hạnh.

Khi được giáng trần Cô đã bôn ba bốn phương khắp ngả trời Nam, sau về đến đất Thanh Hóa thấy cảnh lạ vô biên, cô hài lòng liền hội họp thần nữ năm ba bạn cát, lấy gỗ cây sung làm nhà, còn cây si mắc võng.

Nhân dân cầu đảo linh ứng liền lập đền thờ.

Có lẽ vì vậy, người ta sau này hay dâng Cô Chín võng đào.

Hiện chưa thấy tài liệu nào là cô giáng sinh vào một nhân vật nào trên trần gian.

Như vậy thân thế về cô mang tính huyền ảo và như vậy thân thế về Cô nghiêng về phía thiên thần chứ không có hình dáng của nhân thần.

Cô Chín là một thánh cô có nhiều quyền phép.

Những người có căn Cô Chín thường có khả năng xem bói, chữa bệnh và gọi hồn.

Tuy nhiên, trong khi giáng hầu Cô Chín chỉ hay cho thuốc chữa bênh.

Cô Chín rất hay ngự đồng.

Hết các thanh đồng khi Hầu Thánh đều có hầu giá Cô Chín.

Khi giáng hầu Cô Chín thường mặc áo hồng phơn phớt màu đào phai và cô múa quạt tiến Mẫu.

Đôi khi Cô cũng múa cờ tiến Vua, cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa, rồi lại múa cánh tiên.

Ai cầu đảo cô đều sắm sửa lễ vật: Nón đỏ, hài hoa, vòng hồng hay võng đào.

Có lẽ Cô Chín là một Thánh Cô nổi tiếng nhất trong các Thánh Cô nên hầu hết các đền, phủ đều có thờ Cô.

Tại các đền phủ, Cô Chín có thể có ban thờ riêng hoặc thờ chung với Cô Bơ hoặc thờ chung trong Cung Tứ Phủ Thánh Cô; hoặc Cô được thờ ở một Lầu Cô riêng biệt.

Lịch sử đền Cô Chín Sòng Sơn: Đền Sòng được xây dựng thời Cảnh Hưng triều vua Lê Hiển Tông (1740- 1786) tại xã Bỉm Sơn – Thanh Hóa.

Tương truyền là có một ông lão cầm chiếc gậy tre khô cắm xuống đất làng Cổ Đam mà khấn rằng: “Nếu gậy tre này tươi tốt thì xây đền thờ Liễu Hạnh công chúa”.

Quả nhiên lời huyền phán ấy trở nên màu nhiệm.

Gậy tre trở nên xanh tươi, bén rễ, đâm chồi tỏa lá tốt tươi lạ thường.

Người đời cho là điều lạ linh ứng, linh thiêng mới bảo nhau lập nên Đền Sòng trên mảnh đất ấy.

Và lấy ngày 26/2 (âm lịch) hàng năm là ngày lễ chính diễn ra lễ hội – đây chính là ngày hiển linh, hiển thánh của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Đền Sòng mặt hướng về phía Tây Bắc, trước đền có một hồ nước tự nhiên hình bán nguyệt quanh năm xanh trong đó là Hồ Cá Thần, tương truyền rằng trước đây hàng năm cứ đến cữ Tháng giêng, Tháng Hai có một đàn cá toàn thân màu đỏ lũ lượt kéo về bơi lội trong hồ, nhưng khi hết Lễ hội Đền Sòng (hết ngày 26 tháng 2 âm lịch) thì đàn cá tự nhiên không thấy nữa.

Nhân dân quanh vùng nói rằng đó là các Nàng tiên trên thượng giới hoá phép về hầu Tiên chúa Thánh Mẫu Liễu Hạnh…

Tại sao Cô Chín Sòng còn gọi là Cô Chín Giếng: Tương truyền Cô Chín – chính là Cửu Thiên Huyền Nữ – con gái thứ 9 của Ngọc hoàng Thượng đế.

Khi tiên cô Cửu Thiên Huyền Nữ (tức Cô Chín) giáng trần, cô bán nước ở cổng đền Ba Dọi.

Ban đầu những kẻ người trần mắt thịt không tin, nghĩ cô là yêu quái nên quở trách, đánh đuổi và tìm mọi cách diệt trừ.

Vì tức giận nên cô đã về tâu với thiên đình cho thu giam hồn phách những người này rồi hành cho dở dại dở điên.

Với phép thần thông quảng đại lại có biệt tài xem bói trong những năm chinh chiến loạn lạc, cô đã phò vua giúp nước bằng cách tiên đoán trận mạc, nhờ đó trăm trận trăm thắng.

Với công lao to lớn, vua đã truyền dân lập đền thờ cô.

Trước đền lúc đó có đến 9 miệng giếng tự nhiên do đền cô cai quản.

Vì thế có câu: Cố Chín quyền cai chín giếng” là vậy.

Vậy nên Cô Chín còn gọi với tên Cô Chín Giếng.

Nghe đâu các giếng này đã bị lấp khi trải qua nhiều thời kỳ.

Chuyện ly kỳ về 9 giếng mới ngày nay:Ông Hà Văn Châu – Người trông coi đền nhiều năm: “Tôi không nhớ chính xác vào năm nào, chỉ nhớ đó là một năm hạn hán, khi nước sinh hoạt khan hiếm, người dân quanh vùng đã đi tìm nguồn nước đào giếng.

Cứ 4-5 người chung nhau đào, họ tìm đến suối Sòng khoan giếng.

Đào liên tục 8 miệng giếng vẫn chưa tìm thấy một giọt nước nào.

Kiên trì đặt mũi khoan tới miệng giếng thứ chín, khoan sâu được 8 – 9 m thì bất ngờ xuất hiện một mạch nước lớn đùn lên ào ào.

Cả làng được cứu sống nhờ mạch nước này và cũng từ đây xuất hiện 9 miệng giếng thiêng.

Sau đó, có những đoàn ở Hà Nội về thăm dò, đo đạc, nhưng không có kết quả chính xác về độ sâu của giếng.

Càng xuống sâu nước càng lạnh.

Trực quan địa hình cùng quá trình lặn xuống lòng sâu, họ kết luận: Dưới giếng có một dòng sông ngầm, dự đoán chảy từ dãy núi Tam Điệp (Ninh Bình) ra cửa biển Thần Phù (Nga Sơn)”.

Ở thời kỳ đầu khi người ta phát hiện khu giếng thiêng này, ở miệng giếng thứ 9 rộng, sâu như một hườm đá được đẽo gọt tỉ mỉ xuất hiện cá chuối, cá trắm từng đàn, có con to như bắp đùi người lớn.

Người dân đổ xô đi câu, đánh kích, vây lưới bắt cá về bán.

Trong số những người bắt cá bằng kích điện, có hai trường hợp chẳng may bị điện giật chết.

Chuyện đánh kích điện chết vì điện giật thì không lạ, nhưng người dân nhân việc này tuyên truyền đó là cá thần báo oán, từ đó việc đánh bắt cá ở đây bặt dừng.

Vào mùa hè, khách hành hương sau khi lên đền Cô Chín đều xuống dòng suối này tắm vì có nhiều đồn thổi tắm nước suối tiên sẽ trắng da, xanh tóc, khỏe mạnh phi thường.

Nhưng cũng đã có tới 2-3 vụ chết đuối ở đây.

Do nước giếng không bao giờ cạn, đặc biệt miệng giếng thứ 9 sâu không đáy rất nguy hiểm, những miệng giếng còn lại có cạn cũng lút đầu người lớn, nên ban quản lý đền đã gác tạm tấm bê tông lên miệng giếng, đứng trên cao nhìn xuống ai cũng tưởng giếng cạn, có đáy” – anh Huấn nói.

Như vậy, việc có người chết đuối cũng là điều được lý giải.

Ở đây còn có câu chuyện, rằng vào mùa mưa, nước suối dâng cao, sau khi khấn vái trên đền xong xuôi, các con nhang có đem lộc thả xuống suối, trong đó có quả bưởi vàng và những xấp tiền xu 200 đồng đã được đánh dấu theo bản hội.

Chẳng biết có phép nhiệm màu nào mà chỉ mấy ngày sau, quả bưởi đó đã có mặt ở một giếng khác thuộc địa phận xã Hà Thanh.

Cũng trong tháng đó những đồng xu 200 được khắc chữ phía sau đã được cư dân vùng biển Nga Sơn ở cách đó rất xa tìm thấy trong quá trình đi biển.

Những câu chuyện kỳ lạ đó vẫn còn truyền cho tới ngày nay mà chưa có một lời lý giải xác đáng.

Có lẽ dòng sông ngầm dưới giếng (như các nhà khoa học đã phán đoán) là một sự lý giải có căn cứ?!?

Hết phần 2.

Mời các bạn đón đọc tiếp phần 3.

Tổng hợp bởi Lê Luân

Ảnh Internet

Bài viết được tổng hợp và chỉnh sửa từ nhiều nguồn.

Vui lòng trích dẫn nguồn cụ thể khi chia sẻ!
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Thông tin thuyết minh cơ bản tỉnh Thanh Hóa.


Phần 3.

NHỮNG DANH NHÂN XỨ THANH HỌ LÊ TRONG LỊCH SỬ

*

LÊ LỢI (1385 - 1433)

Lê Lợi là danh nhân lịch sử.

Lê Lợi là của cả Việt Nam, điều đó thì đã rõ ràng.

Nhưng Lê Lợi là người Thanh Hoá, nên khi nói đến con người xứ Thanh, trước tiên là phải nhắc đến ông.

Tuy nhiên, từ lâu, ta vẫn quen nhìn ở Lê Lợi một nhà lãnh tụ khởi nghĩa, một vị vua sáng nghiệp.

Ta ngưỡng mộ ông trong lịch sử, chứ chưa quan tâm nhiều đến bản sắc văn hoá trong con người lỗi lạc này, và do đó, ta cũng ít có điều kiện nhận ra tính cách Thanh Hoá trong ông.

Vì vậy, sau đây ta sẽ chú ý đến những khía cạnh:

1.

Con người văn hoá ở Lê Lợi: con người có nhân.

2.

Nét văn hoá độc đáo: Lê Lợi, con người giữa hai huyền thoại.

Lâu nay, nói về Lê Lợi, ta thường chỉ chú ý về mặt lịch sử, mặt chính trị.

Nói đến con người, lại chỉ nhớ đến những hạn chế như việc giết hại công thần.

Thật ra, điều rất đáng trân trọng ở ông là tính cách văn hoá của một nhân vật đặc sắc.

Ở Lê Lợi trước hết là phải thấy ở con người ông là cả một chân tình, một sự thành thực hiếm có.

Ông rất thành thực với mình, thành thực với người.

Ấy là một phẩm chất rất quan trọng của một nhà lãnh đạo, một người minh chủ.

Lê Lợi tin vào các anh em của mình và đã có mối quan hệ ứng xử đúng đắn, thân thiện.

Lê Lợi được anh em thủ hạ tin theo, sẵn sàng hy sinh vì ông.

Lê Lai đổi áo để nhận lấy cái chết trong tay giặc, là bởi Lê Lai rất tin ông, tin vào lời ông yêu cầu, tin vào khả năng giải quyết khó khăn nguy hiểm, tin vào lòng chân thành của ông.

Lòng tin của Lê Lai đã được chứng minh.

Sự hy sinh giúp cho Lê Lợi thoát khỏi vòng vây, tiếp tục duy trì cuộc khởi nghĩa Lê Lợi đã chân thành đưa ra yêu cầu đổi áo.

Và đến khi khởi nghĩa thành công, Lê Lợi cũng đã giữ vững chữ tín, thể hiện sự chân thật của mình.

Bản Lai công thệ từ là một bằng chứng đẹp đẽ, cảm động và thiêng liêng về mối tình chân thật ấy.

Bàn về cái “chí ở thương sinh” của Lê Lợi, ta có thể thấy rõ tình thương, đến sự quan tâm tới đồng loại của ông.

Nghiên cứu tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn, còn thấy rõ hơn nữa.

Gia phả nhiều dòng họ cho biết nhiều tướng lĩnh Lam Sơn đã đến với Lê Lợi, và được xem như những người thân thích.

Hình như đây là một cách sống của Lê Lợi, ông đã mong muốn và thực hiện cái mong muốn cho trang trại Như Áng, và sau đó là tập hợp Lam Sơn trở thành một đại gia đình.

Những người đến Lam Sơn như cũng muốn cụ thể hoá ước muốn ấy, họ đã tới và mang theo cả thân nhân tộc thuộc gia nhập hẳn vào cái tổ chức mới mẻ này.

Một tổ chức khá là đặc biệt: cũng là một thứ trang trại có ít nhiều dáng dấp điền trang thái ấp, nhưng lại có lối sống tự do riêng, có quan hệ khác với trang chủ là không chịu thân phận nô tỳ, cũng là một thứ sơn trại gồm những tay giang hồ hảo hán đang muốn tung hoành nên nhóm họp lại để chờ ngày chiến đấu; nhưng lại không phải ô hợp, nhốn nháo như nhóm lâu la dưới quyền một ông đầu nậu.

Tất cả ở đây đều là anh em thân thích, kẻ gần người xa mà đúng là một họ một nhà.

Đúng là “lấy chí nhân mà thay cường bạo”.

Cái nhân của Lê Lợi mang nét riêng, rất Việt Nam, không phải là thứ nhân nghĩa của giáo lý nhà nho, một phần là ở đó.

Lòng nhân từ của Lê Lợi còn thể hiện ở nhiều trường hợp trong quá trình khởi nghĩa.

Nguyễn Trãi xuất phát từ đây mà soạn nhiều lá thư dụ hàng để tránh gây ra những cuộc tàn sát.

Ta cũng đã biết về kỷ luật của nghĩa quân Lam Sơn qua những lời căn dặn của Lê Lợi: “Dân ta bị khổ sở vì chính sách tàn ngược của giặc đã lâu, hễ đi đến châu huyện nào cũng không được xâm phạm đến mảy may của dân” (Đại Việt thông sử).

Ông thành thực thương mến nhân dân, nên đã được nhân dân thương lại.

Bà con tích cực giúp đỡ nghĩa quân: truyện dân gian kể nhiều về đề tài nhân dân bảo vệ lãnh tụ.

Đối với nội bộ tổ chức khởi nghĩa, với nhân dân là như vậy; còn đối với kẻ địch, với những người lầm đường lạc lối, lòng nhân của Lê Lợi lại thể hiện ở sự độ lượng, khoan hoà, rất nhất quán trước sau với tất cả các hạng người: Thái Phúc, Cầm Bành, Lương Nhữ Hốt.

Tội nghiệp cho những kẻ không hiểu được lòng nhân của lãnh tụ, nên phải chuốc lấy sự trừng phạt mà họ đã được tha thứ nhiều lần.

Như vậy, Lê Lợi không những là người phát biểu chủ trương nhân nghĩa, có lý luận về nhân nghĩa trong đường lối khởi nghĩa, đường lối chiến tranh giải phóng, mà bản thân ông cũng là con người có nhân.

Những người tụ nghĩa, và cả nước Đại Việt hồi bấy giờ đang mong mỏi một người có nhân.

Thì người ấy là Lê Lợi.

Lê Lợi còn đi vào truyền thuyết dân gian với một hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn học dân gian nước ta.

Chỉ ông mới là một con người xuất hiện giữa hai huyền thoại.

Một huyền thoại mở đầu cho cuộc khởi nghĩa và một huyền thoại cuối để kết thúc bản anh hùng ca oanh liệt, mở kỷ nguyên mới cho Tổ quốc giang sơn.

Câu chuyện được gươm thần và trả lại gươm thần là một tác phẩm dân gian tuyệt đẹp và rất hiếm có trong kho tàng cổ tích.

Có thể phần gốc gác của nó, việc nhận gươm thần có liên quan đến những phong tục cổ sơ.

Được thanh gươm mà lại được ở dưới nước, một chi tiết như nhắc nhở một lễ thức xa xôi nào.

Thanh gươm biểu tượng cho sấm sét quyền uy.

Gươm ở dưới nước là đã có sự hoà hợp âm dương, nóng lạnh, nước lửa, để bảo đảm được sự tồn tại, sự sinh sôi, sự an toàn trù phú.

Ý nghĩa của thanh gươm dưới nước được vớt lên, rồi lại trả về cho nước là có liên quan với tín ngưỡng ban đầu của những người thời cổ mong mỏi sự hoà hợp trong ý đồ vừa trông chờ, vừa muốn chiến thắng thiên nhiên.

Chắc chắn câu chuyện này ra đời sớm nhất vào cuối thế kỷ XV.

Đầu đời Lê, khi Lê Lợi lên ngôi, chưa có tên hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.

Thời Lý, Trần, hồ này có tên là Lục Thuỷ, đời Lê Thái Tông, còn gọi là hồ Thủy Quân, là nơi để đua thuyền và tập thủy binh.

Còn câu chuyện Lê Thận quăng lưới ở bến đò Mục Sơn được thanh gươm về đưa cho Lê Lợi có thể là một việc thực đã xảy ra.

Chứng cớ là trong sách Lam Sơn thực lục, ở đoạn liệt kê danh sách công thần, đã có dòng cước chú về Lê Thận: “phong làm Văn Cường hầu, do ông ở Khả Lam, được lưỡi bảo kiếm” (do đắc bảo kiếm thiệt).

Thực lục - (có lẽ phần nguyên văn) chỉ ghi như vậy, còn những việc tìm được vỏ kiếm, dắt lưỡi vào thì khớp nhau, được thêm cái ấn v.v..., đều ghi vào phần chú giải chứ không ở phần chính văn.

Không biết ai làm chú giải, chỉ biết nó mới có trong những bản viết lại (hoặc sao chép lại) khoảng cuối thế kỷ XV sang đầu thế kỷ XVI.

Vậy là sự tích gươm thần đã có vào thời gian đó rồi.

Vua Lê đi chơi thuyền, nhìn thấy con rùa nổi lên mặt hồ, rồi ông đánh rơi mất thanh kiếm.

Ấy cũng có thể là một chuyện thực.

Hai việc tình cờ ở hai giai đoạn khác nhau, lại có liên quan đến một vật chung là bảo kiếm.

Người ít khiếu tưởng tượng nhất cũng dễ dàng suy diễn mối liên quan, nữa là trí tuệ dân gian vốn có tài, tô điểm theo tư duy thẩm mỹ và cảm quan huyền thoại.

Những mô típ rùa vàng, những sinh hoạt bơi thuyền v.v... cũng đều là những chất liệu quen thuộc.

Ta cũng không loại trừ phần ảnh hưởng những phương pháp hư cấu nghệ thuật của các nho sĩ hay các vị pháp sư.

Bấy nhiêu cơ sở và lý do để hình thành nên câu chuyện đẹp.

Trời cho ông Lê Lợi được chiếc gươm thần để làm nhiệm vụ giúp dân cứu nước, tiêu diệt lũ ngoại xâm.

Tác dụng của gươm thần này ghê gớm lắm.

Nhiều mẫu “phụ đề” đã ly kỳ hoá thêm lưỡi gươm.

Như chuyện ở vùng Thọ Xuân, có một ngọn núi không chịu quay đầu về Lam Sơn, dám tự tách mình ra khỏi cộng đồng dân tộc ... núi!

Thế là Lê Lợi nổi giận, ông cầm gươm chỉ vào núi.

Gươm nổi phép mầu, làm nên một cơn sấm sét.

Núi bị sạt băng đi một mảng lớn và còn bị nhận cái tên là Bất Nghĩa Sơn.

Phép mầu của gươm quý còn kỳ diệu hơn nữa.

Từ nơi vây thành Đông Quan, lúc Lê Lợi giơ gươm chỉ về phía Lạng Sơn, cũng chính là lúc mà tên giặc Liễu Thăng ngã ngựa ở núi Mã Yên cho quân ta chặt lấy đầu.

Gươm thần theo người anh hùng đi trong suốt cuộc đời chinh chiến và giúp nhà vua làm tròn nhiệm vụ trời giao.

Giặc thù quét sạch rồi, nhà vua dạo chơi trên hồ, trời lại sai Rùa vàng đón thuyền ngự để xin “Bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”.

Câu chuyện phải như thế mới kết thúc được chứ!

Không có phần trả gươm có hậu này, thì tình tiết không thể trọn vẹn, thanh gươm chỉ là mảnh sắt nhặt được chứ không có gì chứng minh lai lịch của nó, lai lịch của một lưỡi gươm thần.

Chủ đề câu chuyện nhận gươm, trả gươm thật đã khá rõ và cũng đã được nhiều người hiểu một cách thống nhất không chút ngỡ ngàng.

Đó là chủ đề chiến tranh và hoà bình, được nghệ thuật hoá một cách sinh động.

Nhận gươm, là nhận lấy sứ mệnh phất cờ khởi nghĩa, chỉ đạo chiến tranh.

Trả gươm là bởi đã hoàn thành trách nhiệm.

Hoà bình đã được lập lại, đã đến giai đoạn xếp binh khí để cầm lấy quản bút, cán cày.

Được thanh gươm, Lê Lợi được trao cho cả sứ mệnh, lẫn vai trò lãnh đạo.

Lưỡi gươm được lấy lên từ lòng nước, phải tự tay con người lao động đã tạo nên nền văn hoá sông nước, lúa khoai, trao lại cho kẻ xứng đáng đại diện cho tinh thần xứ sở quê hương.

Thật là có ý nghĩa, khi ta nghe câu chuyện một người dân chài cộng sự với một người cày ruộng để chuẩn bị cho việc cứu nước diệt thù.

Tại sao thanh kiếm không do một người nào khác trong nhóm thủ túc, bạn bè của Lê Lợi nhặt được, mà lại phải chính do vợ chồng bác dân chài Lê Thận mang đến cho chúa Lam Sơn.

Sự tình cờ hay cái lý tất nhiên của một quê hương mà người dân chuyên sống về nông nghiệp và ngư nghiệp.

Lê Lợi trước hết đã tìm đến liên hệ với người bạn láng giềng làm nghề chài lưới.

Có cái gì ở đây như dáng dấp của một ý thức liên minh (theo cách hiểu về bản chất vấn đề) Lưỡi gươm!

Một vật khá quen thuộc với truyền thống chiến đấu của dân tộc Việt Nam, trong huyền thoại cũng như trong sinh hoạt.

Có nhiều thanh gươm đã là những bảo kiếm gia truyền của nhiều dòng họ, Lê Lợi nhận thanh gươm là nhận cả những gì thiêng liêng nhất của giống nòi.

Việc khởi đầu là trịnh trọng, tôn quý, siêu trần.

Việc kết thúc cũng nhiệm mầu, linh diệu.

Rùa được phái làm sứ giả đến nhận lại gươm thần, có phải vẫn là sứ Thanh Giang, vẫn là thần Kim Quy, con vật linh thiêng đã có mặt, có vai trò trong nhiều cuộc tồn vong của đất nước?

Ít người chú ý đến câu nói của Rùa khi đòi gươm ở Lê Lợi: Xin hoàn gươm lại cho Long Quân.

Tức là cho vua Rồng, cho bố Rồng, cho Lạc Long Quân, vị thuỷ tổ của giống nòi ta.

Gươm đã đi một chặng từ Lam Sơn về đến Kiếm hồ, cả một chặng đường non nước.

Lê Lợi đã hợp lại cả non ấy nước ấy với sức mạnh của thanh bảo kiếm, cũng từ non nước mà ra.

Sự thực mà dân gian phản ánh không mang giá trị tư liệu như những pho chính sử, song lại có tín hiệu thông tin riêng, óng ánh mầu nghệ thuật để làm lộ ra những vẻ đẹp hồn nhiên và chân thật.

*

LÊ LAI (?

- 1419)

Có lẽ ông thuộc dân tộc Mường, người thôn Dựng Tú, nay là xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tham gia khởi nghĩa với Lê Lợi, đã tự nguyện thay Lê Lợi ra trận và hy sinh.

Sau này Lê Lợi có bản Lai công thệ từ, thề mãi mãi nhớ ơn ông.

Nhân dân làm lễ cúng thường có câu: Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi, theo di chúc của Lê Lợi: phải giỗ ông trước khi giỗ vua Lê.

Sự hy sinh của Lê Lai là một nét văn hoá đẹp của dân tộc và của Thanh Hoá.

Lê Thánh Tông gọi gia đình Lê Lai là “toàn gia trung hiếu”.

Ba người con trai của ông đều hy sinh: Lê Lư tử trận ở Nghệ An (1425), Lê Lộ ở Trà Lân (1424), con út là Lê Lâm đánh Ai Lao bị trúng tên.

Cháu nội của ông (con trai Lê Lâm) là Lê Niệm là một trọng thần, tài kiêm văn võ.

*

LÊ THÁNH TÔNG (1442 - 1497)

Lê Thánh Tông là nhà chính trị, là danh nhân của cả nước Việt Nam.

Nhưng ông cũng xứng đáng là một gương mặt rực rỡ của xứ Thanh.

Là cháu nội của Lê Lợi, ông có gắn bó với Thanh Hóa, với tư cách là nhà văn hoá.

Những vấn đề khá phong phú ở ông với tư cách là nhà chính trị, là nhân vật lịch sử, xin được lướt qua hoặc không nói đến.

Ta chỉ chú ý ở đây:

Có hơn vài ba câu chuyện về Lê Thánh Tông khi ông chưa lên ngôi.

Dân gian không kể rằng nhà vua ra đời ở Thăng Long, mà cho ông cất tiếng khóc chào đời ở vùng thôn dã thuộc đất Thái Bình.

Có câu ca dao địa phương làm chứng cho sự việc này.

Bà Ngọc Dao sợ bị hại, đã trốn về nhà họ Đinh, dọc đường ban đêm thì trở dạ, vô cùng đau đớn, sợ rằng thai nhi không được vẹn toàn.

Bà phải khấn trời đất, lầm rầm với đứa con sắp lọt lòng một câu ca bà bất giác đặt ra:

“Phải là con mẹ con cha,

Thì sinh ở đất Duyên Hà Thần Khê”.

Và như thế cơn đau của bà chấm dứt.

Cậu bé Lê Tư Thành chào đời, mẹ tròn con vuông, sau này mới trở về chùa Huy Văn.

Nhưng cậu không sống suốt tuổi thiếu niên ở đây.

Chẳng rõ do hoàn cảnh thúc đẩy thế nào, cậu cũng có dịp trú ngụ ở Thanh Hoá, bên một bờ sông nhỏ.

Chính ở bến sông này, một lần cậu đã gặp người đẹp vo gạo, đọc một vế đối tỏ ra ý mến cảnh mến người.

Cô gái rất thông minh đã ứng khẩu đối lại, ngụ ý khuyên chàng trai hãy để tâm lo đời, lo nước.

Cuộc gặp gỡ đưa đến tình yêu.

Cô gái ấy tên là Ngọc Hằng, sau này sẽ thành Trường Lạc hoàng hậu.

Sau đó cậu về Thăng Long, đúng vào lúc Nghi Dân làm đảo chính giết mẹ con Nhân Tông.

Hoàng tử Tư Thành, trong đêm tối, nhảy qua hào, tìm đường chạy loạn thì gặp ngay một thanh niên vạm vỡ ghé vai cõng cậu chạy biến vào nơi an toàn.

Chàng thanh niên ấy còn mấy người bạn nữa, mỗi người có một cái tài: ăn giỏi, vật giỏi, đánh cờ giỏi, bói giỏi.

Đấy chính là những Trạng Ăn, Trạng Vật, Trạng Cờ, sau này đều phò tá nhà vua.

Câu chuyện cũng chưa hết.

Khi Nghi Dân bị phế, triều đình tìm người nối ngôi và nghĩ đến Tư Thành.

Nhưng vẫn có vài vị quan nghi hoặc, chưa rõ tài năng, chí khí của anh.

Họ tìm đến chùa Huy Văn, thử tài anh bằng cách bắt anh làm ngay mấy câu thơ vịnh con cóc.

Thế là anh ứng khẩu ngay mấy câu nổi bật khẩu khí đế vương.

Ngôi chí tôn dành cho anh, không còn ai có thể nghi ngờ gì nữa.

Rõ ràng là những câu chuyện dân gian để khẳng định một sự lựa chọn ngôi chân chúa, có nét khác so với những mô típ quen thuộc.

Không thấy một ông vua nào trước hay sau ông có cái vinh dự được folklore (văn hóa dân gian) nhắc đến nhiều như ông.

Hầu hết các mẩu chuyện đều giàu chất thẩm mỹ hơn là sử liệu.

Có những giai thoại về những mối tình lãng mạn.

Tình với một ni cô khi ông đến chùa Ngọc Hồ.

Người đẹp khoác áo tu hành đã gieo vào lòng ông một cái gì man mác như là hồn bướm mơ tiên, khiến ông không thể dằn lòng, nhất định đón nàng về cung.

Nhưng kiệu đến cửa Đại Hưng thì người đẹp biến đi đâu mất, ông cho dựng ngay Vọng Tiên lâu, để kỷ niệm cuộc gặp gỡ mà ông tin là gặp gỡ tiên trần.

Ông còn là người chủ động gắn với một mối tình khác, mối tình khiến cho người câm biết nói.

Cô ca nữ hàng chục năm bị tật nguyền gì đó, chỉ biết im lặng gõ phách theo đám ả đào, khi được nhà vua nhắc đến, bỗng bất ngờ hát được thành bài, nội dung bài hát lại nhắc cho nhà vua biết rằng vua với mình có mối duyên tiền kiếp.

Điều bất ngờ là cô ca nữ ấy lại là con gái của Nguyễn Trãi, trốn thoát được trong vụ thảm án tru di.

Thánh Tông nhớ ơn Tế Văn Hầu, hiểu được mối “duyên trời” đã nhận nàng là phi tần trong nội.

Khả năng giao tiếp với thần minh ở Lê Thánh Tông đã được folklore diễn tả một cách khác hẳn, không giống như những thiên thần khác đầu thai, mặc dầu ông cũng là một dạng kim đồng nào đó ở thượng giới.

Ông luôn được mô tả theo tư thế, phong cách của một ông vua, có lãng mạn, có si tình, những vẫn rất sáng suốt.

Những giai thoại về Lê Thánh Tông với tư cách là một ông vua khá nhiều, có khi trong đó ông chỉ là nhân vật phụ, song vẫn sắc nét.

Ông tỏ ra biết nâng đỡ tài năng: người lính dạy voi vẫn được cất nhắc làm phó nguyên soái hội Tao Đàn; chú lính hầu cận làm được hai câu thơ hay, vẫn cho về đi học để thi Tiến sĩ; viên quan phải giữ gìn phép tắc, khi có tang không dám gần vợ, rồi bị chết không con, đã khiến ông lập tức phải bãi bỏ luật lệ khắt khe hiện hành v.v...

Đôi khi ông cũng chơi nghịch: đùa quá trớn đến nỗi xô cả một quan trạng lăn xuống sông.

Còn nhiều nữa.

Có thể đây cũng là việc thực đã diễn ra, nhưng chất dân gian rất đậm đà mà lại làm rõ hết đức độ của ông.

Dân gian còn muốn Lê Thánh Tông được gia nhập vào thế giới folklore bằng những con đường khác nữa.

Người ta muốn ông không xa lạ với những huyền thoại, những cổ tích trong văn học dân gian.

Một phần có lẽ cũng vì ông rất yêu đất nước non sông, ông có tâm hồn thi sĩ và thực sự gắn bó với thiên nhiên Việt Nam.

Ông đã mơ màng với vườn Quỳnh, nơi nghe nói vợ chồng Chử Đồng Tử đã đến, ông mở rộng tầm nhìn khi đứng trước động Hồ Công, ông đã thông cảm với nỗi niềm của nàng thiếu phụ đất Nam Xương và thầm trách người chồng nông nổi.

Vẫn với tư thế của một ông vua, nhưng ông đã thành thực hoà với tình người.

Chắc sự nhạy cảm của dân gian đã mặc nhiên thấy được điều sở đắc ấy của ông.

Thêm một điều kỳ diệu nữa, ông cũng được xem là một tác giả folklore.

Những tác phẩm kể chuyện dân gian của ông được tập hợp trong cuốn Thánh Tông di thảo.

Vấn đề còn phải được kiểm tra kỹ lưỡng và rồi đây khoa văn bản học sẽ có khả năng xác minh.

Song chúng ta có thể nhìn thấy trong sự gán ghép này một khía cạnh khác.

Có một sự khẳng định nào đó, muốn dành cho Lê Thánh Tông một vị trí kép: vừa là một nhân vật trong kho tàng folklore, mà lại vừa là một tác giả, có sưu tầm, có biên soạn hay ghi chép, sáng tác folklore.

Đó là chưa nói: cũng phải nhắc đến ông trên bình diện văn hoá nói chung.

Tuy những việc làm, những sáng kiến của ông chủ yếu là trong văn hoá cung đình như việc thành lập các đội Đồng Văn, nhã nhạc; trong văn hoá bác học như đặt lệ xướng danh, vinh quy, mở hội Tao Đàn v.v..., mà đều là những sáng kiến đã tăng cường cho văn hoá dân tộc và có tác dụng nhất định đến văn hoá dân gian.

Một số hình thức khác như sinh hoạt Quảng Văn Đình, dựng bia tiến sĩ, rõ ràng tạo được những sinh hoạt văn hoá mới, tồn tại lâu đời, thấm sâu vào tâm thức dân gian.

Và có một số vấn đề văn hoá quan trọng còn đợi những điều giải mã.

Hãy nhớ cái lầu Vọng Tiên ta vừa nói trên đây, và cũng đừng quên Lê Thánh Tông là một ông vua Nho học.

Nhà Nho tìm đến chùa với Phật, xây lầu để mơ tiên.

Đã dễ có bao nhiêu người hội tụ được “tam giáo” như ông, mà hội tụ bằng con đường Thơ, bằng tấm lòng với cái Đẹp.

So với bao nhiêu người có công với văn hoá Việt Nam - cả trong hai dòng bác học và dân gian, Lê Thánh Tông vẫn là một khuôn mặt riêng, mà chỉ có ai gắn bó với folklore mới nhìn ra được.

*

LÊ ĐÌNH KIÊN (1620 - 1704)

Sử sách còn lại ít chép về Lê Đình Kiên, hoặc chỉ mới cho thấy cái cảm tưởng ông là một viên quan tổng trấn có danh tiếng.

Thực ra phải thấy ông là một nhà văn hoá kiệt xuất, ít người sánh kịp.

Ông có những thành tựu rất lớn đối với sự trị an và nhất là với nền kinh tế nước nhà.

Trước hết, ông là con người tài kiêm văn võ.

Xuất thân là một võ tướng, có tham gia trận mạc.

Đến năm 44 tuổi, mới được cử làm tổng trấn ở Sơn Nam, dưới triều Lê Hy Tông.

- Làm quan ở xa, ông vẫn luôn luôn ghi nhớ quê hương là làng Bái Trại (nay thuộc xã Định Tường), huyện Yên Định.

Lúc nhỏ mồ côi cha, sống lam lũ rồi làm con nuôi một viên quan trong phủ chúa Trịnh.

Ông đã được sự giúp đỡ của dân làng nên không dám quên ơn.

Dân chúng cũng rất tự hào về ông.

- Tất nhiên, trong số quan lại ở nước ta dưới các triều phong kiến không hiếm những người có tài văn án, cầm cân nảy mực tài tình.

Nhưng tên tuổi của họ lại không được ghi chép nhiều lắm.

Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quí Đôn đã chép Lê Đình Kiên là người xử kiện nghiêm minh, phá được những vụ án rắc rối, bắt đúng thủ phạm.

Ông dẹp yên được nhiều bọn phỉ quấy rối, làm cho nhân dân an cư lạc nghiệp.

Khi ông mất, triều đình cử nhiều người thay thế nhưng đều bất lực.

Mãi sau mới phải chọn vị trọng thần là Đặng Đình Tướng (bậc nhất trong triều) ra thay, mới yên được lòng dân.

- Những nét nổi bật nhất, văn hoá nhất ở Lê Đình Kiên là tài tổ chức kinh tế, xây dựng đô thị.

Ông đã xây dựng nên Phố Hiến ở Hưng Yên.

Đương thời có câu: thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến, thì công lao này thuộc về Lê Đình Kiên.

Ông đã thay mặt triều đình giao thiệp và cộng tác với các thương điếm ngoại quốc để buôn bán ở phố này, có cả người Hà Lan, Nhật Bản, Thái Lan v.v...

Ông đã chiêu tập những Hoa Kiều, cho họ mở mang kinh doanh, đặt tên phường là Vạn Lai triều.

Ông cho thi hành những chính sách thương nghiệp và thuế khoá hợp lý, làm cho các thương khách nức lòng, hợp tác buôn bán với người Việt.

Lê Đình Kiên giữ chức trấn thủ Sơn Nam đến 40 năm.

Khi mất, ông được phong tước Thái Bảo và công nhận là Phúc thần.

Những thương khách các tỉnh ở Trung Quốc, cư trú ở Vạn Lai Triều đã khắc bia kỷ niệm và lập đền thờ ông.

Bia hiện còn ở Hưng Yên, do tàu trưởng Đào Hải Nam là Trần Đế Đào ở huyện Tấn Giang, phủ Truyền Châu, tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) soạn năm Quí Mão đời Bảo Thải thứ tư (1723).

Tại đền thờ ở làng Thiết Đanh (Yên Định) có đôi câu đối có thể nói là tóm tắt đầy đủ công đức của ông và làm sáng lên một khuôn mặt văn hoá:

Trị sự kiêm bình, kim cổ đan thanh trứ tích,

Tại dân đức trạch, Bắc Nam kim thạch minh danh.

Nghĩa là:

Việc cai trị công bằng và liêm chính, mãi mãi tiếng tăm được ghi vào sử sách.

Đức lớn cho dân nhờ cậy, cả Việt Nam và Trung Quốc, danh sáng khắc vào đá vàng.

*

LÊ QUÁT (THẾ KỶ XIV)

Tự là Bá Đạt, hiệu Mai Phong, quê làng Phủ Lý, nay thuộc huyện Thiệu Hóa, làm quan đời nhà Trần đến chức Thượng thư (1366).

Ông nổi tiếng cả về văn chương và đạo đức.

Sách Bản xã tiên hiền ghi ông đỗ đệ nhất giáp Tiến sĩ đệ nhất danh.

Ở địa phương cũng truyền tụng ông là Trạng Quát (có giai thoại rất lý thú về chuyện này).

Ông là học trò của Chu Văn An, rất giữ tình nghĩa và phép tắc đối với Thầy.

Tác phẩm ông chỉ còn lại 7 bài thơ, và một bài văn bia.

Ông cực lực công kích Phật giáo, đề cao Nho học.

Đương thời, và cả sau này nữa, ông và ông Phạm Sư Mạnh rất được đề cao.

Phong cách và tài năng Lê Quát và Phạm Sư Mạnh khiến mọi người ca ngợi.

Con trai Lê Quát là Lê Giốc đỗ Tiến sĩ năm 1334, đánh trận Chiêm Thành, bị bắt, chửi giặc mà chết, được phong là Mạ tặc Trung Vũ hầu.

*

LÊ VĂN LINH (1376 - 1447)

Có hiệu là Mai Trai, người làng Hải Lịch, huyện Lôi Dương, nay là thôn Đông Phương Hồng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

Xuất thân là một thầy giáo nông thôn, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu, có tên trong 18 người dự hội thề Lũng Nhai.

Ông cùng với Nguyễn Trãi, là mưu thần của Lê Lợi, có công trong sự nghiệp giải phóng đất nước, được phong tước Khánh Thượng hầu, giữ chức Nhập nội Thiếu phó.

Ông có tham gia chiến dịch, cùng Lê Bôi đi đánh Cầm Quí ở châu Ngọc Ma (1435) được toàn thắng.

Lê Văn Linh là người cứng cỏi, thẳng thắn làm quan ba đời vua Lê Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông.

Khi Lê Sát bị giết, chỉ có ông dám can ngăn, mặc dầu vì thế mà bị giáng chức.

Sau này, ý kiến của ông là đúng.

Lê Văn Linh không lưu lại tác phẩm nào.

Nhưng sử sách có ghi rằng hồi ở quê làng, ông thấy cọp thường về quấy phá, nên đã làm bài Văn đuổi hổ, làm cho hổ bỏ đi.

Câu chuyện tương tự như Hàn Dũ ở Trung Quốc và Hàn Thuyên ở nước ta làm văn đuổi cá sấu.

Do tình cờ, hay do nguyên nhân nào đấy mà đuổi được hổ và ông đã trở nên nổi tiếng.

Gia đình Lê Văn Linh có truyền thống văn học và tham gia chính sự.

Các con ông: Lê Hoằng Dục là một nhà thơ, là bạn xướng hoạ với Lê Thánh Tông, có đi sứ Trung Quốc.

Lê Cảnh Huy và Lê Năng Nhượng đều làm quan đến Quốc công.

Nhân dân địa phương vẫn truyền tụng về Lê Văn Linh với tư cách là một thầy giáo.

Đa số thanh niên được ông dạy dỗ đã trở thành tướng tài hoặc binh sĩ trong trại Lam Sơn.

Vào Như Áng với Lê Lợi, ông cũng được giao việc dạy dỗ con cháu các gia đình nghĩa sĩ.

Khi nhà Lê mở nước, tổ chức khoa thi, ông được cử làm Đề điệu (chủ khảo) cùng chấm với Nguyễn Trãi, lấy Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên (1442).

Văn bia viết về ông còn cho biết là Nguyễn Trực, Lương Thế Vinh (?) đều là học trò của ông cả.

*

LÊ KHÔI (?

- 1447)

Ông là người anh thứ hai của Lê Lợi, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, là một dũng tướng xuất sắc.

Suốt ba triều vua, đi đánh dẹp từ Thái Nguyên đến Đồ Bàn đều khải hoàn rực rỡ.

Ông còn là một nhà chính trị có biệt tài.

Năm 1430, được cử vào trấn ở Châu Hoá, bãi trạm gác, bỏ sự nghiêm ngặt, chiêu mộ dân lưu tán, khuyên bảo làm ruộng, trồng dâu.

Năm 1443, làm Đốc trấn Nghệ An, dân chúng đều mừng xem việc ông đến là trời giáng phúc cho dân.

Năm 1447, vào đánh Đồ Bàn, khi tiến đến cửa Thi Nại, quân Chiêm hỏi: “Có phải ông Tư Mã đấy chăng?”.

Ông tiến ra, cất mũ cho tướng Chiêm nhìn rõ mặt, thì tất cả tướng tá và binh sĩ đối phương đều hạ khí giới đầu hàng.

Sau trận này, ông rút quân về đến cửa biển Nam Giới thì bị bệnh mất, chết ở chân núi Long Ngâm (Hà Tĩnh).

Tướng sĩ và dân chúng địa phương kêu khóc vang trời, lập đền thờ ngay dưới chân núi.

Lê Thánh Tông sai Thượng thư Nguyễn Như Đỗ lập bia.

Đền ở cửa biển, thường gặp nhiều sóng gió nên đến đời Lê Hiển Tông mới rời về Triều Khẩu, Lam Thành, gọi là đền Chiêu Trưng là một đền lớn ở Nghệ An.

Ở đây có câu: Đền Cờn, Đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng.

Lê Thánh Tông làm bài thơ Minh lương, ca ngợi triều Lê có vua sáng tôi hiền, đã nhắc đến Lê Khôi, hai câu thực của bài thơ viết:

“Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo,

Vũ Mục hung trung liệt giáp binh.”

Câu trên là chỉ về Nguyễn Trãi: “Văn chương Nguyễn Trãi lòng soi sáng”.

Còn câu dưới chỉ vào Lê Khôi, vì ông được tôn tên thuỵ là Vũ Mục Công.

Nhà vua đề cao tài năng, võ nghiệp của ông là:

“Binh giáp Lê Khôi bụng chứa đầy.”

*

LÊ NIỆM (?

- 1486)

Ông là cháu nội của Lê Lai, con của Lê Lâm, do chân ấm tử được làm việc trong triều, dần dần đảm đương nhiều việc lớn.

Năm 1449, làm an phủ phó sứ An Bang, giữ gìn biên trấn vững vàng.

Ông cũng có công, đánh Chiêm Thành, bắt được Trà Toàn ở Đồ Bàn, Trà Toại ở Quảng Nam.

Năm 1480, lại đi đánh Bồn Man, đuổi Cầm Công, thanh thế lẫy lừng.

Ông có công lật đổ Nghi Dân, tôn Lê Thánh Tông lên ngôi, rồi được làm quan đến Bình chương quân quốc trọng sự (1468).

Lê Niệm có trình độ học vấn uyên bác, thường xướng hoạ thơ với Lê Thánh Tông.

Năm 1463, phụ trách trường Quốc Tử giám; năm 1464, là đề điệu (Chánh chủ khảo) kỳ thi Hội.

Sách Lịch triều hiến chương đánh giá ông trong đời Quang Thuận, Hồng Đức: “Kể đến người văn võ đều giỏi, công danh toàn vẹn thì không ai bằng Lê Niệm”.

Mặc dầu công lao to lớn, làm tể tướng coi việc trị nước gần 30 năm, Lê Niệm vẫn là người khiêm tốn, thanh đạm, không thích khoe khoang.

Tại nhà ở ông treo cái biển, đề hai chữ Thuyền hiên, để tỏ chí cao thượng của mình.

Ông cũng được dân chúng ngoài tỉnh Thanh thờ làm thành hoàng (như ở làng Phượng Trì - Ninh Bình, quê hương của Vũ Phạm Khải).

*

LÊ PHỤNG HIỂU

Tiểu sử hành trạng của Lê Phụng Hiểu ai cũng đã rõ.

Và chắc có người ngạc nhiên khi thấy xem ông là một gương mặt văn hoá của xứ Thanh.

Thực ra, ông rất xứng đáng với danh hiệu ấy.

Cuộc sống bình sinh chứng tỏ ông là một vũ tướng có tinh thần quả cảm, có chiến tích lẫy lừng.

Ông đã bảo vệ ngôi vua cho Lý Thái Tông, dẹp yên được những hoàng tử gây loạn.

Ông đi dẹp giặc, có công lao trong những trận đương đầu với quân Chiêm gây hấn.

Ông cũng là người được nhà vua giành cho quyền lợi ưu đãi.

Lịch sử chỉ chép có một mình Lê Phụng Hiểu là được hưởng chế độ thác đao điền (Ném con dao đi xa đến đâu, thì được nhận ruộng đến đó).

Đến khi đi vào huyền thoại, Lê Phụng Hiểu lại trở thành một nhân vật, một hình tượng đặc sắc.

Ông xuất hiện ở thế gian này vào thế kỷ thứ XI, lúc thần thoại đã lùi vào dĩ vãng.

Vậy mà dân gian đã tô điểm cho ông thành một hình tượng thần thoại mới, một nhân vật khổng lồ như ở thời kỳ tiền sử, cổ sử xa xôi:

- Ông có tài ăn khoẻ như Thánh Gióng ngày xưa.

Cơm cà giành cho hàng trăm người mà một mình ông ăn hết.

- Ông có tài nhổ cây, đánh cọp như các chàng dũng sĩ có thần lực ngày xưa.

- Ông đã từng gánh núi, đưa về làng mình.

Tại làng quê ông có hai quả núi tròn, đối diện nhau rất là cân đối.

Chính ông đã gánh cả hai về đặt ở chỗ hiện thời.

Vì vậy mà núi có tên là núi Bưng (tên chữ là Băng Sơn).

- Ông đã chiến thắng một thần núi ở bên Trung Quốc sang.

Đó là ông thánh Cưu Sơn.

Thánh Cưu thua phải nhận ông Bưng là anh.

Ông lại đánh ngã một lực sĩ tên là Vồm chết hoá thành núi Vồm ở huyện Thiệu Hoá bây giờ.

- Ông lại đánh nhau với thần Hà Rò vì một bình nước phép để làm mưa.

Phương ngôn Thanh Hoá có câu “Cơn Hà Rò đuổi bò mà chạy”, là chỉ vào mẩu thần thoại này.

Câu chuyện có thể gợi ra vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm: Sự đấu tranh giữa khô ráo và ẩm ướt.

Như vậy, rõ ràng là Lê Phụng Hiểu đã được đi vào truyền thuyết dân gian và giữ một vị trí quan trọng.

Đây là thần tượng khổng lồ, hào quang của thời cổ đại, lóe lên như ngọn đèn cạn dầu trước khi tắt hẳn.

Chính vì vậy, mà Lê Phụng Hiểu đã trở thành một vị thánh.

Tại Hoằng Sơn quê ông, người ta gọi là Thánh Bưng.

Ở Hoằng Quỳ cách đó không xa, người ta gọi là Thánh Tến.

Hàng năm, đền Thánh Tến mở hội.

Loại hình nghệ thuật được sử dụng để thờ thần là một hình thức diễn xướng đặc sắc: Chèo Chải.

Chèo chải chủ yếu gắn với ông Bưng; Có rất nhiều điệu hát, điệu múa và các bài thơ để “mừng công đức Thánh Tến”.

*

LÊ VĂN HƯU (1230 - 1322)

Ông là người hương Phủ Lý, nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

Đỗ Bảng Nhãn năm 1247, được giữ chức Học sĩ viện Hàn lâm, kiêm Giám tu quốc sử.

Cuối đời thăng Thượng thư bộ Binh, tước Nhân uyên hầu.

Ông là cháu bảy đời của Lê Lương, một vị hào trưởng ở đất Ái Châu, đời vua Đinh Tiên Hoàng, nhưng đến đời Trần thì sa sút.

Lê Văn Hưu là con của ông Lê Văn Minh và bà Đỗ Thị Hoà, lúc bé theo học thầy giáo họ Nguyễn ở làng Phúc Triền nổi tiếng thần đồng.

Năm Đinh Mùi 1247, thi đỗ Bảng nhãn đồng thời với Trạng nguyên Nguyễn Hiền, Thám hoa Đặng Ma La, rồi được giao nhiều chức vụ.

Ông đã sống gần trọn một thế kỷ, trực tiếp tham gia chống quân Nguyên Mông lần thứ I (1258) và lần thứ II (1285).

Lê Văn Hưu là nhà Sử học đầu tiên ở Việt Nam.

Năm 1272, ông soạn xong bộ Đại Việt sử ký gồm 30 quyển.

Bộ sách này ngày nay đã mất chỉ còn sót lại một số lời bình được Ngô Sĩ Liên trích đưa vào bộ Đại Việt sử ký toàn thư.

Qua những lời bình ấy, người ta nhận được tư tưởng và phong cách của Lê Văn Hưu.

Ông là nhà sử học uyên bác, có tinh thần dân tộc cao, có phương pháp chép sử vững vàng, có tinh thần dân tộc, có cách diễn đạt dồi dào tình cảm.

Một số tài liệu còn cho biết Lê Văn Hưu cũng có sở trường về những kiến thức địa lý, có khả năng đã viết sách Địa cảo.

Ông có theo dõi và ghi chép về một số vùng, vừa quan sát địa lý thiên nhiên, vừa chú ý cả những mạch đất theo cách xem xét địa lý phong thuỷ ngày xưa.

Lại có ý kiến ông có tham gia ít nhiều trong việc biên soạn cuốn sách Việt Điện u linh (của Lý Tế Xuyên), nhưng chưa có bằng chứng xác đáng.

Lê Văn Hưu cũng là một thầy giáo.

Thời kỳ làm môn khách cho các quý tộc họ Trần, ông đã là thầy dạy Thượng tướng Trần Quang Khải và hình như có dạy cả Bạch Liêu (người đỗ Trạng nguyên năm 1266, sau kỳ thi Bảng nhãn của ông 19 năm).

Ông là thầy giáo, là nhà khoa bảng, nhà văn và nhà sử học đầu tiên mà xuất sắc của đất nước.

Nhắc đến Thanh Hoá là phải nhắc đến ông.

Lê Văn Hưu đúng là một gương mặt văn hoá toàn diện.

Được cử vào Viện Hàm Lâm thị độc, ông đã giúp vua Trần xem xét các bài vở, bồi dưỡng cho lớp người hậu tiến.

Những tấm bia đời sau ghi chép về ông, đều xưng tụng ông là bậc Thầy.

Điểm đặc sắc nhất trong tư tưởng giáo dục của ông là tinh thần dân tộc.

Ông mất năm Nhâm Tuất (1322) đời Trần Minh Tông.

Hết phần 3, mời các bạn đón đọc phần 4.

Tổng hợp bởi Lê Luân

Ảnh Internet

Bài viết có sự tổng hợp và chắt lọc bởi nhiều nguồn.

Vui lòng ghi rõ nguồn khi chia sẻ.
 
Back
Top Bottom