Cập nhật mới

Khác NGHIỆP VỤ LHHD

Nghiệp Vụ Lhhd
Hà Giang


Xin được chào mừng cô chú anh chị và các bạn đang có mặt trong chuyến dụ lịch khám phá Hà Giang ngày hôm nay ...

Lời đầu tiên cho phép e được giới thiệu với cô chú anh chị một chút e tên là Hồ Điệp hdv của cty du lịch ...

Rất vui dc là người đồng hành cùng cô chú anh chị trong chuyến du lịch ngày hôm nay , e có thể xin một tràng vỗ tay dc ko ạ ...

Dạ vâng trên chuyến du lịch ngày hôm nay cùng đồng hành với em có thêm một thành viên nữa ng sẽ đưa cô chú anh chị an toàn tuyệt đối trong hành trình này dạ vâng quý đoàn ta có đoán biết là ai không ạ ...

Dạ xin cảm ơn quý đoàn rất rất nhiều ạ tuy nhiên gọi là bác tài cũng đúng nhưng e xin lướt qua một chút về bác tài của đoàn ta ạ : mặc dù nhìn bề ngoài bác tài nhìn rất già nhưng lại là ng còn rất trẻ ạ năm nay bác tài nhà ta chỉ mới trên 30 thôi ạ và trong kháng chiến Gd bác tài cũng là Gd cách mạng mẹ là thanh niên sung phong bố là chiến sỹ lái xe tăng bác tài tuổi trẻ nhưng khả năng thì chắc chắn cô chú phải giật mình cô chú có biết khả năng của bác tài là gi không ạ ...

Dạ ko phải đâu ạ để giải đáp những câu hỏi của cô chú e xin chia sẻ luôn ạ , mỗi một năm cty e có tổ chức một cuộc thi vô cùng đặc biệt đó là cuộc thi tay lái liều nhất thì bác tài nhà e đạt giải nhất cả 5 năm luôn lý do bác tài có khả năng nhắm mắt bỏ phanh tăng ga đi cả cây số không cần nhìn đường luôn cô chú anh chị có muốn thử không ạ ...

nếu cố chú anh chị không muốn thử thì để dịp khác kiểm tra bac tài sau và bh mời bác tài bỏ vô lăng ra đưa hai tay lên cao chào đoan đi ạ

Bác tài cũng là ng vô cùng cẩn thận đấy ạ trên xe bác tài đã bố trí hai thùng rác lưu động đó chính là hai vỏ thùng suối cô chú anh chị có thể ăn uống thoải mái trên xe chỉ chú ý mỗi điều bỏ tất cả rác vào thùng để bác tài yên tâm tay lái

Dạ vâng quý đoàn đã biết về bác tài nhà ta tuổi trẻ tài cao rồi thì xin cho bác tài một tràng vỗ tay cổ vũ tinh thần ạ

Cho e hỏi cô chú anh chị trong đoàn nhà mình đã có ai đi Hà Giang rồi và có ai chưa từng đi ko ạ ...

Dạ vâng vậy thì hôm nay e xin phép mời quý đoàn những thành viên đi rồi hay nhưng thành viên chưa đi bao giờ cùng e đi thêm một lần nữa chắc chắn rằng mỗi lần đi sẽ là một cảm nhận khác nhau hi vọng trong chuyến du lịch ngày hôm nay quý đoàn ta sẽ cảm thấy vui nhất thoải mái nhất và e cũng xin dc thay mặt cho cty xin chúc cho quý đoàn có một chuyến khám phá thật nhiều cảm xúc ấn tượng và thành công ạ ....

Dạ vâng bây giờ cho e hỏi quý đoàn đã lắm rõ lịch trình cụ thể chưa ạ ...

Dạ thế thì xin phép e xin thông báo lịch trình cụ thể để quý đoàn cùng thống nhất ạ

......................

Trên cung đường hôm nay thì đoàn ta sẽ đi chuyển hơn 400km và điểm dừng đầu tiên để quý đoàn ăn sáng là thị trấn Phù Ninh của tỉnh Phú Thọ

Sau đó đoàn sẽ tiếp tục khởi hành qua tỉnh Phú thọ , Tuyên Quang và đoàn ta sẽ ăn trưa tại Tp Hà Giang ...

Trên cung đường như vậy phần đa là những cung đường trung du miền núi khó đi vậy e sẽ có một vài ký hiệu vui để đoàn mình thực hiện ạ nếu trên xe quý đoàn ta có ai muốn đi gửi tình yêu vào đất thì mình làm theo những ký hiệu sau : đi nhẹ mời quý đoàn dơ 1 ngón tay , mạnh hơn một chút thì cả bàn tay 5 ngón còn nếu bất khả kháng ko thể dừng dc nữa quý đoàn dơ cả 2 tay ạ e sẽ nhờ bác tài nếu dừng tại chỗ đứng giữa đường chúng ta sẽ đi mở đầu rồng hé mắt phượng ạ các bác zai thì bên phải bên trái xe chị e phụ nữ đằng sau xe nhưng lưu ý tránh giúp e lốp xe ạ , nhưng nếu đoạn đường mà ko dừng dc thì xin phép phục vụ các bác zai vỏ chai lavie ạ các bác nữ ko phải cười đâu ạ nam có thì nữ cũng có vậy thì các bác nữ e sẽ sử dụng túi bóng ạ ...

Ghi chú : ( đi qua Vĩnh phúc , phú thọ , tuyên quang ace tự tìm tài liệu nhé vì viết dài quá mỏi tay ...)

Dạ vâng chỉ còn 10 km là quý đoàn ta sẽ tới nhà hàng ăn trưa rồi ạ cho e hỏi quý đoàn có cảm thấy mệt ko ạ ....

Vừa rồi thì đoàn ta đã di chuyển được hơn 300 km rồi và quý đoàn ta đã khám phá dc các tỉnh Vĩnh phúc phú thọ và Tuyên quang và bh mời quý đoàn cùng vào dùng bữa trưa sau bữa trưa thì chúng ta sẽ khám phá cao nguyên đá ạ và e cũng xin bật mí là nếu trong bữa trưa cố chú anh chị nào đủ sức ăn 10 bát ô tô cơm e sẽ thưởng 10 triệu đấy ạ ...

Dạ e xin mời quý đoàn lên xe tiếp tục cuộc hành trình ạ ...

Dạ xin phép e điểm danh thiếu thành viên nào thành viên đó dơ tay cho cả đoàn biết ạ dạ cô chú a chị thấy bữa trưa có hợp khẩu vị ko ạ nếu có món nào ko hợp thì cô chú anh chị nhớ thông báo để e điều chỉnh ạ , vâng cả đoàn khen ngon là e vui rồi vì mỗi vùng miền có một vài đặc sản mang hương vị khác có thể hợp hoặc không hợp khẩu vị của mỗi người tuy nhiên cty mong rằng đi tới đâu quý đoàn sẽ dc thưởng thức khẩu vị vùng miền đó nếu người miền trung ăn cay người miền nam ăn ngọt thì người miền Bắc lại ưu ăn chua đấy ạ

Và cô chú anh chị chúng ta tạm biệt thành phố Hà Giang tạm biệt quốc lộ 2 cột mốc số 0 cũng chính là điểm nối giữa quốc lộ 2 và quốc lộ 4 ạ nếu sáng nay quý đoàn đi hơn 300 km mà chỉ hết có 6 tiếng thôi thì chiều nay cô chú anh chị sẽ di chuyển quốc lộ 4 mà ng ta vẫn gọi là con đường hạnh phúc ạ và quý đoàn sẽ bắt đầu khám phá cao nguyên đá đồng văn dc trải đều 4 huyện đó là ( QUẢN BẠ ,YÊN MINH ,ĐỒNG VĂN ,MÈO VẠC ) và cung đường này chúng ta chỉ đi chuyển dc 30 km/h ...

Những năm gần đây, ngành du lịch của đất nước ta đang trên đà phát triển.

Trên khắp đất nước có rất nhiều những danh lam thắng cảnh nổi tiếng như vịnh Hạ Long, phố cổ Hội An, Mỹ Sơn…

Trong số đó, Cao Nguyên đá Đồng Văn là một địa điểm mới nổi thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.

Cao Nguyên đá Đồng Văn đã được Hội đồng tư vấn Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu của UNESCO chính thức công nhận là Công viên địa chất Toàn Cầu.

Đây hiện là danh hiệu duy nhất ở Việt Nam và thứ hai ở Đông Nam Á.

Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Giang trên tọa độ: 23013' 00'' vĩ độ bắc ; phía Bắc giáp với Trung Quốc, phía Đông Bắc giáp Trung Quốc và Cao Bằng, phía Đông Nam giáp Bắc Mê, phía Tây Nam giáp Vị Xuyên.

Cao Nguyên đá trải dài trên 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 05 thị trấn và 63 xã; có tổng diện tích vào khoảng 2.347,43km2 trong đó 80% là diện tích núi đá vôi.

Nằm ở độ cao trung bình 1.000 - 1.600m so với mực nước, cao nguyên đá Đồng Văn là một trong những vùng đá vôi đặc biệt của cả nước, chứa đựng những dấu ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển của vỏ trái đất ...

Dạ vâng mời quý đoàn dừng lại ở cầu Bắc Sum để cùng chụp ảnh ghi lại điểm đâu của cao Nguyên đá quý đoàn có 15 phút sau đó đoàn ta sẽ tiếp tục di chuyển ạ

Cô chú đã sẵn sàng khám phá tiếp chưa ạ do cung đường chúng ta đi buổi chiều hôm nay là đường đèo phần đa là vòng cua tay áo trên này chỉ phù hợp với những dòng xe dưới 30 ghế ngồi nếu xe 45 ghế ngồi thì chỉ tới dc Tp Hà Giang rồi phải tăng bo bằng xe nhỏ chính vì thế khu vực cao nguyên chỉ có xe nhỏ thôi ạ và bh cô chú có thể quan sát phía bên trên những chiếc xe đi trước bay như chim trên đầu đúng ko ạ một chút nữa thì đoàn ta cũng sẽ tới đó đấy ạ trên cung đường này xin phép quý đoàn chúng ta mở cửa kính cho bác tài tắt điều hoà vì sử dụng điều hoà cộng với tải trọng trên xe thì sẽ ko an toàn và không khí trên cao nguyên rất mát vậy đoàn ta cảm nhận khí trời một chút đi ạ các cụ vẫn có câu một cơn giới trời bằng một đời gió quạt chắc chắn sẽ rất tốt cho sức khỏe ạ và xin mời quý đoàn hướng mắt lên sườn núi đoàn ta có thấy những ngôi nhà trình tường không ạ ngôi nhà của bà con dân tộc mông đấy ạ chắc chắn sẽ có nhiều thành viên thắc mắc sao họ lại ở cao như vậy mà ko ở những nơi bằng phẳng nói tới vấn đề này xin phép e xin ngược dòng thời gian quay lại lịch sử một chút để quý đoàn có thể hiểu hơn về phong tục tập quán này :

Nói tới người mông ở Hà Giang nói riêng và người mông nói chung trên lãnh thổ Việt Nam không thể không nhắc tới cuộc thiên di lớn nhất trong lịch sử dân tộc H mông từ phương Bắc xuống phương Nam

Cao nguyên đá Đồng Văn là vùng đất mà người Mông, người Lô Lô, người Tày..cùng sinh sống nhiều đời nay.

Theo những ghi chép của lịch sử, người Mông xuất hiện ở Đồng Văn vào khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, muộn hơn so với những dân tộc khác.

Nhưng người Mông là dân tộc chiếm ưu thế hơn cả, cũng là dân tộc để lại nhiều dấu ấn nhất ở vùng đất này.

Người Mông xưa kia là một đại tộc lớn sống ở vùng Kinh Châu – Giang Hoài (nay thuộc tỉnh Hồ Nam và một phần tỉnh Quý Châu, Trung Quốc), là một phần trong liên minh bộ lạc Miêu – Dao được hình thành với khoảng thời gian 5000 năm lịch sử.

Trong lịch sử của mình, đại tộc người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài cũng có chung một đặc điểm với dân tộc Việt Nam: luôn bị sự đe dọa của nhà Hán từ phương Bắc uy hiếp xuống.

Thời thịnh trị nhất của nhà Hán, nhà Hán đem quân đi thống nhất Trung Quốc, khuất phục các bộ tộc lớn và xâm lược các nước lân bang.

Ở Trung Quốc, người Mông là đại tộc luôn khiến nhà Hán vừa căm ghét và khó chịu.

Dân tộc Mông thông minh, can đảm, trí dũng hơn người bị nhà Hán coi là dân tộc có thể đe dọa đến sự tồn vong của vương triều nhà Hán nên suốt bao đời vua Hán đều cử quân đi khuất phục đại tộc Mông.

Nhưng những cuộc chinh phạt của người Hán đều thất bại bởi vấp phải sự chống trả kiên cường của người Mông.

Tuy nhiên để bảo vệ được sự tồn vong của dân tộc mình, người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài cũng phải trả giá không ít.

Qua mỗi thế kỷ, những cuộc chiến tranh lại khiến dân số người Mông ít dần đi, người già, đàn bà và trẻ con ngày càng nhiều hơn đàn ông.

Cuối thế kỷ XVII, có một cuộc giao tranh quyết liệt đã xảy ra giữa đại tộc Mông và Hán triều.

Thủ lĩnh người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài khi đó đã hô hào đàn ông đứng lên chống lại Hán triều một lần nữa.

Đó cũng là trận chiến khiến người Mông bị tổn thất nhiều nhất và bị đánh bật về phương Nam.

Sau trận chiến này, trước những thương vong mà dân tộc mình đã phải chịu đựng, thủ lĩnh người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài khi ấy đã có một quyết định cuối cùng để bảo vệ giống nòi và để dân tộc mình vĩnh viễn thoát khỏi những cuộc chiến đấu tranh giành lãnh thổ.

Vị thủ lĩnh ấy kêu gọi đồng bào Mông: “Tất cả đại tộc hãy đi đến phương Nam.

Đi đến nơi những vùng đất cao nhất, xa nhất, nơi chưa từng có ai đặt chân đến thì hãy dừng lại, dựng nhà cửa, làm nương rẫy, lấy chồng lấy vợ rồi sinh con đẻ cái.

Đó sẽ là quê hương mới của người Mông”.

Sau lời kêu gọi của vị thủ lĩnh người Mông ấy, người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài (thuộc tỉnh Quý Châu) đã bỏ xứ sở đi về phương Nam trong cuộc thiên di lớn nhất trong lịch sử dân tộc Mông.

Cuộc thiên di đó đã đưa người Mông đến với những vùng đất phía Bắc Việt Nam.

Mệnh lệnh mà thủ lĩnh người Mông năm ấy đã ban đã được đồng bào Mông thực hiện một cách nghiêm ngặt: họ chọn những vùng núi cao nhất, xa nhất, hoang vu nhất để dừng lại, lập quê hương, bản làng mới.

Đó là lý do giải thích cho thói quen sống ở trên những vùng núi cao ít người của dân tộc Mông.

Trong cuộc thiên di ấy, cao nguyên đá Đồng Văn là một trong những nơi được người Mông chọn làm quê hương mới.

Đến bây giờ, người Mông Hà Giang vẫn còn truyền tụng về lịch sử dân tộc mình qua những câu hát: “Quý Châu là quê hương yêu dấu của đồng bào Mông ta.

Vì người Mông ta đói rách, vì dân Mông ta không có chữ, thua kiện người Hán nên phải mất nương, vì người Mông ta không có chữ nên phải dời quê hương đến xứ sở này”.

Dạ xin thưa quý đoàn đó cũng là một đôi nét về lịch sử người mông và bây giờ xin mời quý đoàn dừng chân thăm quan điểm đầu tiên đó chính là cổng trời quản bạ

Cổng trời Quản Bạ, nằm ở độ cao 1500m so với mặt biển, đây là cửa ngõ đầu tiên lên cao nguyên Đồng Văn.

Năm 1939, người pháp dựng một cánh cửa khổng lỗ bằng gỗ nghiến dày 150cm ở ngay Cổng trời.

Một thời, sau cánh cửa gỗ này là một "thế giới" khác - còn gọi là "Vùng tự trị của người Mèo", gồm các huyện Quản Bạ, Mèo Vạc, Đồng Văn và Yên Minh.

Đứng tại Cổng trời Quản Bạ, có thể quan sát được cánh đồng của Quản Bạ, Quyết Tiến, Thái An, Đông Hà, Cán Tỷ và Bát Đại sơn ...và tiếp theo là điểm dừng nghỉ quản bạ từ đây đoàn ta có thể nhìn ngắm núi đôi quản bạ ( hay còn gọi là núi đôi cô tiên )

Theo các nhà khoa học thì Núi Đôi được cấu tạo bằng đá Đô lô mít.

Do quá trình phong hóa đá lăn đồng đều theo sườn núi làm lùi dần sườn và hạ thấp dần đỉnh núi, cuối cùng tạo nên hình nón như hiện nay.

Đá Đôlômit bị phong hóa (do quá trình tự vỡ) thành các hạt sạn và cát rất dễ dàng di chuyển theo sườn xuống dưới chân do trọng lực và nước chảy tràn trong mùa mưa.

Đặc biệt, còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hình nón của Núi Đôi nói riêng và của các ngọn núi có hình chóp nón nói chung là có sự đan xen của các đứt gãy, hướng khác nhau làm đá bị phá hủy dễ dàng hơn.

Núi Đôi thuộc kỷ Đệ Tứ - có niên đại cách ngày nay khoảng 1,6 triệu đến 2 triệu năm cách ngày nay.

Ngoài Núi Đôi ra còn có một mực cao hơn gồm các đồi dạng nón được hình thành theo con đường tương tự nhưng ở giai đoạn cổ hơn, thể hiện rõ nhất là ba ngọn núi đang tồn tại ở khu vực thị trấn Tam Sơn như hiện nay.

Núi Đôi còn gắn với những câu chuyện truyền thuyết được đồng bào các dân tộc nơi đây lưu truyền từ đời này sang đời khác cho đến tận ngày nay.

Trong đó có một câu chuyện rất cảm động kể rằng: Xưa kia, ở vùng đất này có một chàng trai người H’mông tuấn tú, có tài thổi đàn môi.

Tiếng đàn môi của chàng réo rắt như tiếng suối, ríu rít lảnh lót như tiếng chim rừng, lúc lại sâu lắng, trầm bổng, da diết như tiếng gió giữa đêm khuya cứ bay xa, bay xa mãi.

Có một nàng tiên trên thượng giới tên là Hoa Đào xinh đẹp tuyệt trần tình cờ nghe được tiếng đàn môi của chàng đã theo gió trốn xuống trần gian tìm người thổi đàn môi.

Phải lòng chàng nên nàng tìm cách ở lại vùng đất này.

Họ nên vợ nên chồng và sinh được một bé trai kháu khỉnh.

Ngọc Hoàng phát hiện ra chuyện Hoa Đào bỏ trốn xuống trần gian lấy người phàm trần đã vô cùng giận dữ, sai người đi bắt nàng về.

Nàng khóc lóc van xin cho nàng được ở lại nuôi con nhưng không được.

Thương chồng một mình nuôi con vất vả, thương con thơ thiếu bầu sữa mẹ, nàng đã bỏ lại đôi nhũ của mình dưới hạ giới cho con bú.

Đôi nhũ căng tròn nuôi con nàng ngày càng khôn lớn, sau này đã biến thành hai quả núi dáng hình như bầu vú mẹ, tròn trịa, đều đặn đến lạ thường.

Hai quả núi đó được gọi là Núi Đôi hay núi Cô Tiên.Tương truyền nhờ dòng sữa của nàng mà vùng đất này có khí hậu vô cùng mát mẻ, các loại hoa trái như đào, mận, lê, hồng,… có hương vị thơm ngon kỳ lạ, rau trái thì luôn xanh tươi, lúa ngô tươi tốt.

Nước mắt khóc thương chồng con của nàng đã biến thành dòng sông Miện xanh ngắt, mơ màng trôi trên biển đá tai mèo, ôm lấy cả rẻo đất phía sau cổng trời huyền thoại.

Lại cũng có câu chuyện khác kể về một đôi trai gái yêu nhau, chàng trai khổng lồ đem lòng yêu người con gái xinh đẹp nơi đây, mặc dù ở tận nơi xa, nhưng chàng trai luôn vượt non cao, suối sâu để đến với người yêu nơi thung lũng xinh đẹp này.

Gia đình người con gái muốn thử sức chàng trai miền sơn cước để kén rể, bèn thách rằng, nếu chàng trai ngăn được sông Đông Hà chảy ngược vào thung lũng nơi gia đình cô gái ở (ngày nay là thị trấn Tam Sơn) thì gia đình sẽ chấp nhận chàng làm con rể.

Chàng khổng lồ nhận lời, mỗi bữa ăn 7 chõ cơm, ngày đêm gánh những quả núi về thung lũng để đắp dòng chảy ngăn sông Đông Hà về thung lũng.

Vào một ngày, đang miệt mài gánh đất để ngăn sông, chàng trai nhận được tin mẹ chết, quá đột ngột và đau khổ, quang gánh của chàng khổng lồ va vào dãy núi cao bị gãy, vội vã chàng chạy về quê chịu tang mẹ, không biết vì lý do gì mà chàng khổng lồ đi mãi không trở lại.

Người con gái chung thủy đã mỏi mòn chờ đợi người yêu, ngày ngày nàng đi quanh thung lũng để ngắm những thành quả đang dang dở của chàng, mắt nàng luôn hướng về cổng trời mong ngóng chàng trai trở lại, nàng ngả lưng nơi gần chiếc đòn gánh của người yêu để trông chờ chàng và chờ đợi quá lâu đến nỗi nàng đã hóa thân thành núi để mãi mãi đợi chờ người yêu.

Đòn gánh của chàng khổng lồ bị gãy hóa thành dãy núi đòn gánh ông khổng lồ, tiếng địa phương gọi là dãy núi "Phia Pới".

Giữa thị trấn Tam Sơn hiện nay có ba ngọn núi do chàng khổng lồ gánh về để ngăn sông, nhân dân nơi đây gọi tên ba ngọn núi là: "Pu Tỉnh" (núi Sáng), "Pu Vang" (núi Vàng ), "Pu Phia Nú" (núi Đá chuột).

Bước chân chạy vội vã của chàng khổng lồ tạo thành 9 cái hồ nước sâu ở các làng còn đó đến ngày nay, nhân dân nơi đây gọi tên các hồ là: Sum Pưn, Thâm Rí, Thâm Lâu, Thâm Nán, Thâm Nậm Đăm, Thâm Lùng Pết...

4 hồ khác bị lấp do san ủi làm nhà.

Còn người con gái hóa thân thành núi chờ đợi người yêu, ngày nay vẫn còn đó Núi Đôi - Hiện thân bộ ngực căng tròn của người con gái".

Du khách đến đây không khỏi ngạc nhiên với “tác phẩm nghệ thuật” mà tạo hóa đã ban tặng cho vùng đất này.

Giữa những núi đá trùng điệp và ruộng bậc thang nổi lên hai trái núi có hình dáng, thế đứng ngồ ngộ khiến bất cứ ai cũng phải ngỡ ngàng..

"Núi Đôi" nổi tiếng đã tạo cho thung lũng Quản Bạ một cảnh quan độc nhất vô nhị hết sức hấp dẫn, một "Tòa Thiên Nhiên" giữa lòng thung lũng mang đầy huyền thoại, thu hút du khách gần xa đến chiêm ngưỡng.

Với địa thế đẹp, thời tiết trong lành của vùng cao, vùng núi đôi Quản Bạ đang trở thành khu du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn của tỉnh Hà Giang.

Và tiếp tục mời quý đoàn di chuyển lên xe chúng ta tiếp tục cuộc hành trình và điểm dừng chân tiếp theo chính là làng văn hoá Lũng cẩm

Cùng Phượt – Sủng Là nằm trên tuyến quốc lộ 4C, nối những thị trấn trên mảnh đất Hà Giang, cách huyện Đồng Văn hơn 20km, nên bất kỳ ai đến với mảnh đất này cũng sẽ có dịp đi qua đây.

Cảm nhận ban đầu Sủng Là khá nhẹ nhàng và bình yên, phù hợp với những bạn thích lang thang dạo chơi chụp ảnh hay khám phá nét văn hóa của người dân nơi đây ....

Từ Yên Minh lên thị trấn Đồng Văn, đến ngã ba Phó Bảng, nơi con đèo xinh đẹp ôm trọn một thung lũng xanh là điểm cao và đẹp nhất để ngắm toàn cảnh Sủng Là.

Nơi đây có thể coi là xã vùng cao đẹp nhất toàn cao nguyên đá Đồng Văn.

Từ trên con đường vắt vẻo lưng chừng trời nhìn xuống, bạn sẽ thấy Sủng Là như một bức tranh thiên nhiên thanh bình, xinh đẹp.

Sủng Là nằm giữa những dãy núi đá tai mèo nhấp nhô, thâm sẫm một màu, những ngôi nhà vững chãi với mái đã phai màu thời gian.

Trên gác, màu của ngô lẫn trong đám đỗ tương được phơi khô.

Và cô gái Sủng Là ngồi dệt bên khung cửi, tiếng Kinh không nói được nhiều nhưng vẫn sẵn lòng mời bạn bát nước cho đỡ cơn khát ban trưa

Người Mông ở Sủng Là trồng tam giác mạch và hoa cải trên đồi đất cao, trồng ngô, lúa ở vùng đất bằng nơi đáy thung lũng.

Chen lẫn trong màu xanh non của ngô, lúa, màu tím hoa cà của hoa tam giác mạch và màu vàng của nắng là màu xanh đậm của rừng sa-mu sừng sững giữa đất trời.

Mùa xuân cũng là mùa đẹp nhất của mảnh đất này khi những vạt hoa nở khắp vùng cao nguyên đá.

Những cánh đồng hoa làm khung cảnh thiên nhiên vốn khắc nghiệt, lạnh lẽo biến thành một bức tranh tuyệt mỹ, những con người mộc mạc nơi đây cũng góp phần tô điểm cho Sủng Là.

Những mái nhà đơn sơ giản dị, bên hiên ríu rít tiếng nói cười trẻ thơ.

Ngoài kia, lũ trẻ với những chiếc khăn đủ màu chơi đùa trên cánh đồng.

Ánh hoàng hôn xiên xiên màu mật ngọt, tạo nên khung cảnh thật nên thơ.

Không ít du khách thích đi du lịch bụi đến Hà Giang, thường ghé lại Sủng Là chụp cho được những khung cảnh tuyệt đẹp.

Đôi khi họ còn xin người dân ngụm nước, hoặc tham quan chợ phiên hay thong thả tựa hàng hiên ngắm cảnh thiên nhiên.

Làng văn hoá du lịch Lũng Cẩm

Đến với làng văn hóa du lịch Lũng Cẩm trên thuộc xã Sủng Là, huyện Đồng Văn, sẽ để lại trong lòng mỗi người những cảm nhận đặc biệt về vẻ đẹp nhân văn, những nét đặc sắc trong văn hóa vật thể và phi vật thể vẫn được bảo tồn lữu giữ gần như nguyên vẹn ở nơi đây.

Ngôi làng được hiện hữu giữa thung lũng thơ mộng, với 61 hộ dân sống trong những ngôi nhà trình tường cổ, có những ngôi nhà được làm cách đây gần 100 năm.

Cùng sinh sống, an cư ở đây, có 3 dân tộc đó là dân tộc Lô Lô, dân tộc Mông và dân tộc Hán.

Trong đó dân tộc Mông chiếm 85% dân số trong làng và có nhiều nghệ nhân còn lưu giữ rất nhiều bài hát của dân tộc mình với những bài dân ca, dân vũ, nhạc cụ đặc trưng của dân tộc.

Bể chứa nước do người dân tự xây dựng để sử dụng trong mùa khô trên cao nguyên đá

Các nguyên liệu làm nên những ngôi nhà nơi đây được lấy và sản xuất tại chỗ, từ đất để trình tường nhà, ngói, gỗ, kể cả hàng rào đá xung quanh nhà; Quá trình dựng nhà của người dân vùng cao phía Bắc nói chung và người dân nơi đây nói riêng đều được làm thủ công 100%.

Các công cụ lạo động phản ánh về lạo động sản xuất, sinh hoạt đời sống của người dân người dân ở nơi đây sẽ là những khám phá bất ngờ thú vị cho các du khách đến thăm quan.

Tất cả toát lên sự cần cù chịu khó của người dân cũng như nét sinh hoạt văn hoá của họ và mang cả hơi thở cuộc sống đặc trưng của dân tộc ở vùng cao.

Cũng chính vì vậy, mà nơi đây thu hút nhiều nhà nhiếp ảnh, nhà làm phim và là nơi khởi nguồn sáng tác cho nhiều tác phẩm nghệ thuật, trong đó điển hình: Làng Lũng Cẩm đã được chọn làm điểm đóng phim nhựa “Chuyện của Pao” bộ phim này đã đạt giải thưởng “Cánh diều vàng” của Hội điện ảnh Việt Nam..

Đó cũng là một vài đặc điểm điển hình của bà con dân tộc vùng cao Hà Giang hành trình còn rất dài vậy mời quý đoàn về ks nhận phòng nghỉ ngơi sau bữa tối mời quý đoàn khám phá phố cổ Đồng Văn ...

Dạ xin thưa với quý đoàn ta ở Việt Nam hiện nay có 3 nơi được gọi là phố cổ đó là ( phố cổ Hội An , Phố Cổ Hà Nội và Phố Cổ Đồng văn ) nếu xét quy mô thì phố cổ Đồng Văn nhỏ nhất nhưng cũng rất đáng lưu ý

Chợ họp trong phố cổ.

- Thâm trầm, tráng lệ, như gợi nhớ về một thời hoàng kim.

Phố cổ Đồng Văn nằm im lìm trong sương sớm cao nguyên đá, như một minh chứng lịch sử của một vùng đất đầy sức cuốn hút nơi miền biên ải, địa đầu Tổ quốc.

Ngược lên cổng trời Quản Bạ, theo con đường Yên Minh - Mậu Duệ, qua đèo Cán Tỷ hiểm trở, đi trên những cánh rừng thông đại ngàn, những con dốc quanh co, uốn lượn như những dải lụa.

Tôi lên cao nguyên đá, đến phố cổ Đồng Văn - Hà Giang để khám phá những bất ngờ...

Lịch sử Đồng Văn...

Phố cổ Đồng Văn hình thành và được xây dựng vào đầu thế kỷ XX.

Khu phố cổ thuộc xã Đồng Văn, xưa thuộc tổng Đông Quan, châu Nguyên Bình, phủ Tường Yên, tỉnh Tuyên Quang.

Sau đó tách nhập vào châu Bảo Lạc do một thổ quan người Tày họ Nông cai quản như một lãnh địa riêng.

Thời gian đầu khi mới hình thành cư dân ở khu phố này chủ yếu là người Tày và người Hoa.

Đến thập niên 40, 50 có thêm người Kinh, người Dao, người Nùng chuyển đến cư ngụ.

Khu phố cổ gồm khu chợ và hai xóm Quyết Tiến, Đồng Tâm, hai xóm có khoảng 40 hộ dân và 18 ngôi nhà cổ cổ được xây dựng ngót 100 năm.

Khu phố có 25 hộ dân cư trú trong những ngôi nhà cổ.

Nếu so sánh với phố cổ Hội An, phố cổ Hà Nội, làng cổ Đường Lâm thì phố cổ Đồng Văn không phải là cổ nhất, về quy mô cũng không lớn.

Nhưng đặc biệt, phố cổ Đồng Văn có những sắc thái riêng biệt độc đáo và mang bản sắc riêng của cư dân vùng cao nguyên đá nơi biên cương của Tổ quốc còn tồn tại duy nhất ở Việt Nam.

Các công trình kiến trúc độc đáo như khu chợ được tạo nên từ những phiến đá được tạc đẽo công phu.

Đối diện khu chợ là dãy nhà dân san sát nối tiếp nhau hợp thành một quần thể khu phố sầm uất hiện hữu giữa đất trời cao nguyên.

Hầu hết các công trình nhà ở được trình tường hai tầng, lợp ngói âm dương.

Nhìn tổng thể, phong cách kiến trúc của phố cổ Đồng Văn có sự giao thoa kết hợp giữa kiến trúc truyền thống của cư dân bản địa với kiến trúc của cư dân vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

Khu vực xã Đồng Văn hiện nay là nơi cư trú lâu đời của các dân tộc Kinh, Tày, Mông, Hoa, Lô Lô, Giáy... chủ yếu do các thổ ty họ Lương và họ Nguyễn (người Tày) cai quản.

Đến khi thực dân Pháp chiếm đóng Hà Giang (năm 1887), cách ngày nay 120 năm, chúng chiếm lấy các thổ ty phong kiến địa phương lập ra bộ máy thống trị từ tỉnh đến các châu, tổng, xã, thực hiện chính sách chia để trị.

Đồng Văn được chia ra làm 4 khu vực cho các thổ ty nắm giữ.

Vùng đất của xã Đồng Văn hiện nay chủ yếu do thổ ty Nguyễn Chánh Quay cai quản.

Phố cổ Đồng Văn được hình thành từ thời bấy giờ.

Khu chợ Đồng văn là nơi giao thương của đồng bào các dân tộc.

Ngày họp chợ, phiên chợ đông vui tấp nập.

Các thiếu nữ Mông, Pu Péo, Lô Lô xúng xính trong những bộ trang phục dân tộc từ các bản làng xa xuống chơi chợ và mua sắm, gặp gỡ, trao đổi hàng hóa khiến cho phiên chợ lung linh những sắc mầu thổ cẩm.

Ăn bát thắng cố, uống rượu ngô, cùng trò chuyện đã tạo cho khu chợ có nét văn hóa đặc sắc.

Khu chợ có lối kiến trúc Việt - Hoa có sự giao thoa rất tinh tế hợp với phong thủy miền cao nguyên, những dãy cột đá ba bốn người ôm được đục dẽo rất đẹp.

Khu chợ bề thế, vững trãi giữa lòng chảo thung lũng cao nguyên như một nét chấm phá đầy ấn tượng.

Công trình chợ Đồng Văn với kết cấu hình chữ U tráng lệ, thâm trầm lối kiến trúc trên đá được xây dựng trong khoảng thời gian từ 1925 - 1928.

Cổ và đẹp nhất ở phố cổ Đồng Văn hiện nay là nhà của bà Tân đang cư trú ở thôn Quyết Tiến (xã Đồng Văn).

Chính dòng họ Lương người Tày, đứng đầu là thổ ty Lương Trung Nhân nức tiếng một thời đã đứng ra thuê thợ từ Tứ Xuyên (Trung Quốc) về thiết kế ngôi nhà này từ năm 1890.

Dù đó bị xuống cấp rất nhiều ở phần tường hậu, nhưng vẻ mềm mại, cổ kính của nó thì vẫn còn nguyên.

Từ khi UBND huyện Đồng Văn có văn bản quyết định tổ chức đêm phố cổ Đồng Văn hằng tháng và cấp cho chủ mỗi ngôi nhà cổ vài chiếc đốn lồng đỏ treo để thắp trước nhà, ngôi nhà của thổ ty Dương Trung Nhân (bà Tân đang sử dụng) lại có thêm một vẻ đẹp mới.

Cách biệt thự trình đất và nhà gồm nhiều viên đá tảng của Dương Trung Nhân không xa là biệt phủ của thổ ty người Tày Nguyễn Đình Cương (1865-1928) và dòng họ Nguyễn.

Người này chơi sang hơn, thể hiện bản lĩnh của một thổ ty có máu mặt và giàu có.

Ông sang tận Tứ Xuyên mời một đoàn thợ sang xây một tòa nhà lớn vào năm 1920.

Sau này, dinh thự ấy được cũng con trai thổ ty tên là Nguyễn Chánh Quay sử dụng, rồi sau này bán cho Nhà nước vào năm 1958.

Tiếp đó, toà biệt thự cổ trở thành trường cấp 1 xó Đồng Văn (1960-1978), rồi là trụ sở UBND xã Đồng Văn (1979-1984).

Ngôi nhà xây năm 1925, do một chức sắc địa phương là Tạ Hổ Thần cai quản trong nhiều thập kỷ, hiện nay bà Phạm Thị Thư đang sử dụng và còn rất nhiều ngôi nhà cổ ở Đồng Văn hiện nay đang được đem ra phục vụ du lịch.

Riêng khu nhà cổ cũng được người dân địa phương xây dựng trong khoảng thời gian từ 1923 - 1940 đã tạo nên khu phố cổ Đồng Vằn như diện mạo hiện nay.

Tiềm năng du lịch cần khai thác Từ tháng 4 năm 2006 UBND huyện Đồng Văn đã quyết định tổ chức mỗi tháng ba đêm “phố cổ” vào các ngày 14, 15, 16 âm lịch.

Đêm phố cổ sẽ bao gồm liên hoan ẩm thực, trình diễn văn nghệ, nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc đến từ xã Lũng Phìn, Phố Bảng, Ma Lé trình diễn nghề dệt vải, nhuộm vải, may áo tà phủ trang phục truyền thống của dân tộc Mông.

Người Cờ Lao từ xã Sính Lủng đi đến chợ từ tinh mơ sáng đến thể hiện và trình diễn nghề làm thớt gỗ, chế biến các loại bánh từ bột ngô.

Góc chợ là một tốt người Mông trình diễn nghề rèn dao, cuốc, ánh lửa đỏ ối tung những tia mạt đỏ lừ.

Mấy bác thợ rèn người Mông xã Sảng Tủng đang quai tay búa trình diễn nghề rèn truyền thống.

Phía xa gần khu nhà cổ các nam thanh, nữ tú trong trang phục dân tộc đang tâm tình...

Phố cổ dưới ánh đèn lồng đỏ thật lung linh sắc màu, như một viên ngọc đa sắc giữa cao nguyên tương phản một sức sống diệu kỳ giữa cao nguyên núi đá xám sịt.

Ông Sùng Đại Hùng - Chủ tịch UBND huyện Đồng Văn cho hay: Treo đèn lồng đỏ cho phố cổ góp phần tạo thêm sức sống mới về đêm cho khu phố.

Với việc hình thành các đêm phố cổ Huyện đang từng bước xây dựng các Tour du lịch văn hóa nhằm duy trì nền văn hóa và cũng là phương pháp bảo tồn và phát triển của khu phố cổ.

Du khách lên với cao nguyên sẽ có một chuyến du lịch đầy ấn tượng nơi miền biên ải.

Từ thị xã Hà Giang, qua cổng trời Quản Bạ, cổng trời Yên Minh, cổng Trời Cán Tỷ quanh năm mây phủ; từ huyện lỵ Mèo Vạc, ngược lên chợ tình Khâu Vai nơi huyền thoại của tình yêu đôi lứa, phiên chợ độc đáo, ấn tượng nhất Việt Nam vào 27 tháng 3 âm lịch du khách có thể hiểu thêm về truyền thuyết chợ tình Khâu Vai; vượt qua đỉnh Mã Pí Lèng hùng vĩ dưới chân núi là dòng sông Nho Quế đỏ nặng phù sa, tiếp đó du khách sang Phố cổ Đồng Văn thưởng thức những đem phố cổ lung linh huyền ảo.

Thưởng thức đêm phố cổ huyền ảo du khách về Sà Phìn thăm di tích dinh thự nhà họ Vương.

Nơi vua mèo Vương Chí Sình một thời oanh liệt; Ngược lên đỉnh tột bắc chóp nón của tổ quốc Việt Nam thăm cột cờ Lũng Cũ phất phới tung bay trên địa đầu tổ quốc để cảm nhận sự oai hùng của sông, núi nước Việt.

Chỉ những điểm đến như vậy, chắc chắn sẽ làm hài lòng du khách.

Người phố cổ ước mơ làm du lịch.

Nhưng họ làm du lịch cũng hoang sơ như phố cổ vậy.

Họ đem nghề truyền thống, các tích trò, các điệu dân ca dân tộc trình diễn trước du khách còn e ngại, rụt rè và nguyên sơ, rất đơn giản nhưng mộc mạc đầy ắp chân tình như tính cách của chính họ vậy.

Ước mơ làm du lịch là có thật và đang là hiện thực, nhưng để biến ước mơ ấy đem lại nhiều điều thú vị hơn chắc chắn chính quyền tỉnh Hà Giang còn rất nhiều việc phải làm để vừa bảo tồn và phát triển theo đúng Luật Di sản.

Bảo tồn phố cổ Trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử đến nay khu phố cổ Đồng Văn đã xuống cấp.

Cư dân cao nguyên đá ở phố cổ có nguy cơ mất đi những ngôi nhà cổ, lối kiến trúc và tầng sâu văn hóa của khu phố.

Một nguyên nhân khách quan nữa dẫn đến sự xuống cấp của khu phố cổ, do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt của cao nguyên năng mưa bào mòn theo thời gian, khiến những ngôi nhà cổ, những hạng mục như móng nhà, đường hiên, tường nhà trình bởi đất trộn cát, vôi, đường hiên, những góc xây bằng gạch nung, gạch mộc, vòm cửa, của sổ, bậc thềm, cầu thang, các sàn nhà bàng gỗ quý đang dần xuống cấp... những giá trị kiến trúc này nếu không có biện pháp bảo tồn thì e rằng những giá trị kiến trúc của phố cổ sẽ vĩnh viễn rời xa chúng ta.

Phố cổ đang cần được tôn tạo trở lại với giá trị thực vốn có của nó.

Thạc sỹ văn hóa Âu Văn Hợp, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Hà Giang chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng phố cổ Đồng Văn, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển” cho biết: Đề tài nhằm sáng tỏ những cứ liệu về thời gian hình thành phố cổ, kiến trúc nhà cổ và những giá trị vật thể và phi vật thể nhằm nghiên cứu tìn ra giải pháp thích hợp để bảo tồn và phát triển phố cổ Đồng Văn.

Dù là một đề tài “nhỏ” những đó cũng là một tin vui, một tín hiệu tốt với phố cổ Đồng Văn và với những người yêu Đồng Văn, quý trọng những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của phố cổ Đồng Văn.

Đề tài đang được coi là một trong những giải pháp tích cực góp phần bảo tồn những giá trị của khu phố cổ Đồng Văn.

Sự cần thiết phải bảo tồn phố cổ với những giá trị đặc sắc về nghệ thuật kiến trúc, nét văn hóa chuyên biệt.

Trùng tu, bảo tồn phố cổ chính là bảo tồn những giá trị văn hóa những tinh hoa của con người đã tạo dựng trên vùng đất đá cao nguyên nơi địa đầu tổ quốc.

Dù mớilà bước khởi động, nhưng có lẽ tín hiệu vui này sẽ nức lòng người dân phố cổ trên cao nguyên đá Đồng Văn mà còn là tin vui cho cư dân khắp miền cao nguyên đá Hà Giang những giá trị văn hóa dân tộc ...

Vừa rồi quý đoàn đã khám phá phố cổ và xin mơi quý đoàn về ks nghỉ ngơi chuẩn bị cho hành trình ngày kế tiếp ....

Dạ xin mời quý đoàn dùng bữa sáng sau bữa sáng đoàn ta sẽ đi thăm quan đèo mã pỳ lèng cột cờ lũng cú và dinh thự vua

Mã Pì Lèng, cái tên không còn xa lạ, là lựa chọn đầu tiên của những người khách du lịch muốn khám phá Hà Giang.

Mã Pì Lèng ngọn đèo huyền thoại

Cung đường Mã Pì Lèng giữa vùng núi non trùng điệp

Mã Pì Lèng (có âm đọc Mã Pí Lèng) là tên gọi của cung đường đèo hiểm trở thuộc Hà Giang, dài khoảng 20 km, nằm trên con đường Hạnh Phúc nối liền thành phố Hà Giang, huyện Đồng Văn và thị trấn Mèo Vạc.

Mã Pì Lèng gọi theo tiếng Quan Hỏa chỉ “sống mũi con ngựa” theo nghĩa đen, nói rộng ra miêu tả sự hiểm trở của đỉnh núi, nơi dốc cao đến mức con ngựa đi qua phải tắt thở, hoặc đỉnh núi dựng đứng như sống mũi con ngựa.

Con đường đèo uốn lượn qua những vách núi, vượt qua đỉnh Mã Pì Lèng ở độ cao 2000 mét, dưới chân là vực sâu sông Nho Quế như xẻ đôi một bên là đỉnh Mã Pì Lèng và một bên là Săm Pun (Sam Pun), nơi có cột mốc biên giới và cửa khẩu thông sang Điền Bồng, Trung Quốc.

Mã Pì Lèng nằm trên con đường Hạnh Phúc từ thành phố Hà Giang đi Đồng Văn, Mèo Vạc

Con đường đèo uốn lượn qua vách núi dựng đứng, dưới chân là hẻm vực sông Nho Quế sâu hun hút

Đèo Mã Pì Lèng tuy không dài nhưng là cung đèo hiểm trở bậc nhất ở vùng núi biên viễn phía bắc, được ví như “vua” của các con đèo Việt Nam.

Để làm con đường này đã có hàng chục nghìn nhân công từ khắp các tỉnh miền bắc ngày đêm miệt mài đục đá, riêng đoạn qua Mã Pì Lèng được các thanh niên cảm tử treo mình trên vách núi lấn từng centimet để làm đường trong 11 tháng.

Cung đường đèo ban đầu được mở chỉ đủ rộng chỗ cho người đi bộ và xe thồ, về sau được mở rộng hơn cho ô tô, nhưng vẫn rất nguy hiểm vì những đoạn cua tay áo, hai xe ngược chiều rất khó tránh nhau.

Sau khi hoàn thành, đèo Mã Pì Lèng với 9 khúc quanh uốn bên vách đá dựng đứng, dưới là vực thẳm hun hút đã trở thành một kỳ tích được ví như một “Vạn Lý Trường Thành” của Việt Nam.

Trên đỉnh đèo đặt một tấm bia đá ghi lại những dấu ấn xây dựng đường đèo, đây cũng là nơi tưởng nhớ những người đã hi sinh, góp cả tính mạng mình làm nên con đường Hạnh Phúc.

Cung đường đèo uốn lượn hình chữ M vắt qua sườn núi

Một khúc “cua tay áo” đầy nguy hiểm

Con đường đèo như dải lụa quanh co uốn khúc lượn theo sườn núi, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm hẳn là một thử thách lớn với những ai ưa mạo hiểm.

Sau khi vượt qua những con dốc, du khách đặt chân lên đỉnh Mã Pì Lèng, chợt ngỡ ngàng giữa không gian hùng vĩ của núi rừng hiện lên trên nền trời sáng trong.

Không gì có thể lột tả được hết cái trùng điệp ngàn tầng ngàn lớp của núi, cái trắng xóa huyền ảo của mây, cái thẳm sâu hun hút của vực, với dòng sông Nho Quế xanh ngắt dưới chân núi.

Đặc biệt, mỏm đá nhô ra từ một vị trí thuộc khu vực đèo Mã Pì Lèng chính là nơi cảm nhận được trọn vẹn sự hùng vĩ bao la của núi rừng miền biên giới phía bắc.

Du khách tưởng như đang ở giữa lưng chừng trời, “chân đạp mây bay, tóc vờn gió núi”, ngắm hình sông thế núi vời vợi, niềm vui tưởng chừng lan tỏa, du khách cảm nhận được vẻ đẹp vô cùng của đất nước quê hương.

Dân phượt thích thú tạo dáng trên mỏm đá huyền thoại ở Mã Pì Lèng

Sông Nho Quế nhìn từ đỉnh Mã Pì Lèng xanh trong như cổ tích

Bức tranh hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc nhìn từ Mã Pì Lèng

Với địa thế hiểm trở và cảnh quan hoang sơ hùng vĩ, đèo Mã Pì Lèng xứng đáng là một trong “tứ đại đỉnh đèo” của vùng núi Tây Bắc Việt Nam (cùng với đèo Pha Đin, đèo Ô Quy Hồ, đèo Khau Phạ).

Đứng trên đỉnh Mã Pì Lèng, ngắm cảnh quan hùng vĩ, người lữ khách cảm động khi chứng kiến diện mạo vùng cao nguyên biên giới dần dần đổi thay, nhớ đến bàn tay của hàng vạn con người đã đổ mồ hôi xương máu xây nên con đường Hạnh Phúc này.

Chỉ vậy thôi, cái tên Mã Pì Lèng làm cho những kẻ đam mê “di chuyển” ao ước một lần đặt chân đến, những kẻ đến rồi thì thèm muốn trở lại thêm nhiều lần ...

Và hiện tại quý đoàn ta đang dừng chận tại điểm dừng nghỉ đèo mã nếu chúng ta đi chuyển tiếp về mèo vạc đoàn ta có thể thăm quan chợ tình khâu vai nhưng rất tiếc chợ tình chỉ diễn ra vào đêm 26 tới hết ngày 27/3 âm lịch vậy hẹn dịp khác quý đoàn sẽ khám phá chợ tình nhưng cũng xin phép dc giới thiệu một chút về nguồn gốc tại sao lại có chợ tình ....

Nếu quý đoàn đã từng đi chợ tình sapa thì sẽ có cảm nhận hiện nay chợ tình sapa đang dần mất đi nét nguyên sơ vì do sự phát triển của tự nhiên ....

Nhưng chợ tình khâu vai thì lại khác hoàn toàn ở đây vẫn còn giữ lại hoàn toàn nét đẹp của chợ tình ...

bắt nguồn từ truyền thuyết về tình yêu của chàng Ba và cô Út.

Chàng Ba người dân tộc Nùng, nhà ở Khau Vai, khôi ngô tuấn tú, hát hay, thổi sáo giỏi nhưng nhà nghèo.

Cô Út xinh đẹp là con một tộc trưởng người Giáy.

Hai người yêu nhau nhưng gia đình cô Út không đồng ý vì chàng nghèo và khác dân tộc không cùng con ma, không cùng phong tục tập quán; con trai người Nùng không thể lấy con gái người Giáy làm vợ.

Vì trắc trở đó họ đã phải chia tay trong đau khổ và tuyệt vọng.

Ngày đó là ngày 27/03 âm lịch.

Họ cắt máu ăn thề, hẹn rằng cứ đúng ngày này lại gặp nhau tại Khâu Vai, hát cho nhau nghe, kể những câu chuyện mà một năm qua cả hai trải qua.

Ngày cuối cùng, họ gặp nhau bên gốc cây, tảng đá hẹn thề.

Họ ôm chặt nhau và cùng ra đi vào cõi vĩnh hằng.

Đó cũng là ngày 27/3 âm lịch...

Khi chợ tình diễn ra có những cặp vợ chồng dắt nhau xuống chợ họ chia tay nhau chồng tìm bạn của chồng vợ tìm bạn của vợ mà theo như các cụ nói những mối quan hệ ngoài chồng ngoài vợ chỉ dc chấp nhận duy nhất ở ngày có chợ tình mà khi đó ko có sự ghen tuông ...

Hết chợ họ lại dắt nhau về nhà với cs thường nhật hàng ngày ...

Và tiếp theo xin mời quý đoàn tiếp tục thăm quan tìm hiểu về cột cờ lũng cú : trên bản đồ tổ quốc , Lũng Cú là một chóp nón đầy kiêu hãnh , là vùng đất mà người Việt nào cũng mơ ước được một lần đặt chân đến .

Nơi đây đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của chủ quyền Tổ Quốc

* Vị trí địa lý: Cột cờ được xây dựng trên đỉnh Núi Rồng, thuộc địa phận xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, nằm ở độ cao trên 1.468m so với mặt nước biển.

* Lịch sử hình thành: Theo các sử liệu chỉ lại: Tiền thân của cột cờ Lũng Cú xuất hiện từ thời lý, khi Lý Thường Kiệt hội quân trấn ải biên thùy thì ông đã cho treo một lá cờ tại nơi này để đánh dấu chủ quyền lãnh thổ, từ đó lá cờ được duy trì trên bầu trời biên cương.

Đến năm 2000 cột cờ bằng bê tông cốt thép được xây dựng.

Khi mới xây dựng thì con đường lên cột cờ vẫn chưa được rải nhựa mà chỉ là đường mòn và cũng chưa có những bậc đá quý như ngày nay, lúc đó nhân dân đã phải cõng, gùi xi măng, đá, cát, sỏi, nước và những nguyên vật liệu xây dựng khác từ chân núi lên.

Đến năm 2002, khi cải tạo nâng cấp thì mới rải nhựa và xây dựng toàn bộ các bậc đá.

Được sự đồng ý của thủ tướng chính phủ, UBND tỉnh Hà Giang đã có văn bản chỉ đạo huyện Đồng Văn tiến hành nâng cấp cột cờ to hơn, đẹp hơn và bề thế hơn ngay tại vị trí Cột cờ cũ.

Đây cũng chính là công trình chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XVI và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

Công trình Cột cờ Quốc gia được đầu tư xây dựng theo chủ chương của UBND tỉnh Hà Giang, việc đầu tư xây dựng Cột cờ Lũng Cú còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị, ngoại giao, khẳng định về chủ quyền lãnh thổ của Quốc gia, đồng thời thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Với những ý nghĩa đó, ngày 8 tháng 3 năm 2010 Cột cờ Lũng Cú chính thức được khởi công xây dựng, cùng với sự nỗ lực, cố gắng và sự quyết tâm của cán bộ, công nhân viên chức đơn vị thi công cũng như sự quan tâm chỉ đạo của các cấp các ngành, ngày 25 tháng 9 năm 2010 cột cờ đã được hoàn thành và được đưa vào phục vụ du khách trong và ngoài nước.

*Khảo tả di tích:

- Đường lên gồm 2 đường:

+ Đường bộ ( phía sau nhà khách Cực Bắc)

+ Đường xe ô tô lên đến nhà lưu niệm chân cột cờ.

- Bậc lên xuống: Tổng số 839 bậc.

Trong đó:

+ Từ nhà nghỉ Cực Bắc đến nhà Lưu Niệm: 425 bậc.

+ Từ nhà Lưu Niệm đến chân Cột Cờ : 279 bậc.

+ Bậc cầu thang lên đỉnh cột cờ (trong cột cờ): 135 bậc.

- Chiều cao: Tổng chiều cao = 34,85m trong đó:

+ Chiều cao từ chân bệ đến sàn lan can = 20,6m.

+ Cán cờ cao : 14,25m.

- Bề dày bê tông 40cm.

- Đường kính : Ngoài cột 3,82m.Trong cột 3m.

- Diện tích mặt phù điêu trống đồng Đông Sơn 1,5m.

- Diện tích 8 bức điêu khắc : Diện tích trên 2m, mặt dưới 4m, chiều cao 3,4m.

Cột cờ được xây dựng theo mô hình Cột cờ Hà Nội, thiết kế và thi công bằng bê tông cốt thép toàn khối.

Chân bệ được gắn 8 mặt phù điêu trống đồng Đông Sơn và được trạm khắc những nét hoa văn mang sắc thái văn hóa dân tộc vùng miền.

- Ý nghĩa của các mặt trạm khắc:

+ Mặt 1: Truyền thuyết núi Rồng và sự hình thành di tích : Ý nghĩa tên gọi Lũng Cú.

Lũng Cú theo tiếng Mông là Lũng Ngô, vùng đất trồng nhiều ngô bên cạnh đó cồn nhiều huyền thoại liên quan đến địa danh này (thời Tây Sơn, sau khi đại thắng quân xâm lược, Hoàng đế Quang Trung đã cho đặt một chiếc trống rất to ở trạm gác vùng biên ải hiểm trở này.

Cứ mỗi canh tiếng trống lại vang lên 3 hồi đĩnh đạc như khẳng định chủ quyền của đất nước.

Chính vì thế Lũng Cú đọc chênh âm tiếng Mông là Long Cổ, người ta nói rằng nơi đặt chiếc trống chính là trạm biên phòng Lũng Cú và trống đồng là một vật dụng rất quen thuộc trong cuộc sống của người Lô Lô, các nhà nghiên cứu khẳng định trống đồng của đồng bào Lô Lô có nguồn gốc từ trống đồng Đông Sơn.

Chính vì thế khi xây dựng Cột Cờ nhà nước ta đã cho làm phù điêu trên chân bệ mang những nét hoa văn của trống đồng Đông Sơn ).

+ Mặt 2: Truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc : Cũng như giữ gìn điểm Cực Bắc thiêng liêng này, cụ thể là thời lý, Lý Thường Kiệt sau khi trấn ải biên thùy đã cho treo một lá cờ tại vị trí Cột Cờ hiện tại để đánh dấu chủ quyền lãnh thổ.

+ Mặt 3: Đất nước, những chặng đường lịch sử:

Những hình ảnh biểu trưng như Cột mốc chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, như sức nặng chủ quyền Quốc gia trong biểu tượng hồn thiêng sông núi.

+ Mặt 4: Toàn dân làm theo lời Bác: Cùng nhau hướng tới ánh sáng ngọn cờ dưới sự lãnh đạo sáng xuốt của Đảng để xây dựng đất nước, bảo vệ quê hương, tô điểm cho vườn hoa muôn màu của tổ quốc.

+ Mặt 5: Đất nước trên con đường phát triển: Đất nước đã im tiếng súng tiếng bom, những người lính không lui về hậu phương mà vẫn chắc tay súng nơi miền biên ải, cùng nhân dân làm nên những công trình lớn, xây dựng đất nước để tồn tại nơi núi rừng khắc nghiệt.

Một trong những hình ảnh vững vàng trên đá, đó chính là hình ảnh cây thông và cây sa mộc.

+ Mặt 6: Sông núi Hà Giang: Cách đây 44 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm đồng bào các dân tộc Hà Giang, đến nay, những lời dạy của người vẫn luôn là nguồn động viên khích lệ quân và dân Hà Giang thi đua yêu nước, xây dựng và bảo vệ biên cương tổ quốc, như non sông mãi mãi trường tồn.

+ Mặt 7: Niềm vui cuộc sống mới: Cùng với những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của các dân tộc: Lô Lô, Pu Péo ....vui tươi trong cuộc sống thanh bình, lễ hội mùa xuân rộn ràng, nơi tiếng đàn tâm tình gọi bạn, tiếng khèn mông mê say, và tiếng giã gạo vang bên bếp lửa bập bùng.

+ Mặt 8: Hà Giang trên đường phát triển:với sự quyết tâm cao độ, niềm tin vững chắc vào đường lối của Đảng và bằng sự nỗ lực của mỗi người, Hà Giang sẽ ngày càng đi lên trên con đường phát triển....

Tiếp tục là điểm thăm quan cuối cùng trong hành trình đó chính là dinh tự vua mèo :

Từ cậu bé mồ côi đến vị Vua Mèo cai trị 7 vạn dân

Cuộc thiên di của người Mông đến cao nguyên đá Đồng Văn đã đánh dấu một thời kỳ quan trọng trong lịch sử của dân tộc Mông, với sự hình thành những vị Vua Mèo với uy danh vang khắp vùng núi phía Bắc.

Đầu thế kỷ XVIII, Đồng Văn có trên dưới 10 vạn người Mông, bao gồm họ Vàng, họ Dương, họ Mã…là những dòng họ lớn nhất.

Mỗi họ có một phong tục riêng, một thói quen thờ cúng, sinh hoạt riêng, bên cạnh những tập tục đặc trưng của người Mông.

Mỗi họ cũng có một thủ lĩnh do cả họ nhất trí suy tôn lên làm người đứng đầu.

Những thủ lĩnh dòng họ này có trách nhiệm bảo vệ sự an nguy và sức sống của cả dòng họ và phần lớn đều xuất thân từ những gia đình danh giá, giàu có nhất trong dòng họ.

Nhưng Vua Mèo Vương Chính Đức – vị Vua Mèo đầu tiên của người Mông ở Đồng Văn lại không có xuất thân cao quý như thế...Vua Mèo Vương Chính Đức xuất thân nghèo khó.

Ông là con trai trong một gia đình người Mông nghèo thuộc họ Vàng.

Trước khi được biết đến với cái tên Vương Chính Đức, ông chào đời ở Sà Phìn – Đồng Văn với cái tên Vàng Dúng Lùng.

Vàng Dúng Lùng có một tuổi thơ vất vả.

Từ nhỏ bố đã mất, Vàng Dúng Lùng đã phải cùng mẹ và anh trai Vàng Trá Pò lao động cực khổ để tồn tại.

Nhưng người già ở Đồng Văn, đặc biệt là ở Sà Phìn – quê hương của Vương Chính Đức – Vàng Dúng Lùng nói, cha mẹ họ, ông bà họ, những người từng chứng kiến Vàng Dúng Lùng lớn lên đều đã sớm thấy khí chất đặc trưng của một người Mông thông minh, quả cảm, luôn khám phá mọi vùng đất xung quanh mình.

Từ nhỏ Vàng Dúng Lùng đã rất hiếu động, thông minh.

10 tuổi, Vàng Dúng Lùng đã biết đi bộ lang thang khắp những vùng núi cao ở Mèo Vạc.

Không một bản làng nào, Vàng Dúng Lùng chưa đi qua.

Không một người Mông nào ở Đồng Văn, Vàng Dúng Lùng chưa gặp một lần.

Vàng Dúng Lùng thường chỉ về nhà khi chợt nhận ra mình đã đi quá lâu và thường khi ông về, mẹ ông đã suýt không còn nhận ra cậu con trai mà mỗi lần đi lại thấy già dặn, từng trải thêm một chút.

Đến tuổi thanh niên, Vàng Dúng Lùng đã là một chàng trai người Mông can đảm, dũng cảm, không sợ hổ báo, không sợ thú dữ mỗi khi đi rừng và có tài khổi khèn hay nức tiếng khắp vùng núi cao Đồng Văn.

Khi người Mông bắt đầu cuộc thiên di xuống phương Nam và dừng lại ở Đồng Văn, vị thủ lĩnh người Mông được lưu truyền lại trong lịch sử người Mông đã mơ ước dân tộc Mông sẽ được sống hòa bình ở vùng đất mới, không phải chịu cảnh đổ máu, chết chóc như suốt lịch sử của mình.

Nhưng ước mơ của vị thủ lĩnh đó không thành hiện thực.

Thời Vàng Dúng Lùng sinh ra và lớn lên cũng là thời mà lịch sử phong kiến Việt Nam chứng kiến cuộc xâm lăng của thực dân phương Tây.

Sau khi khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp bắt đầu tiến lên chinh phục các bộ tộc ít người ở vùng núi phía Bắc, trong đó có Đồng Văn.

Cùng lúc đó, triều đình Mãn Thanh cũng tiến quân xuống Đồng Văn, với ý định tiêu diệt những nhóm quân nổi dậy người Mông đang hình thành ở Đồng Văn, vì lo ngại những nhóm quân khởi nghĩa này có thể làm nguy hiểm đến sự cai trị của triều Mãn Thanh ở vùng biên giới giáp Việt Nam.

Ở Đồng Văn cũng xuất hiện những nhóm quân nổi dậy từ Trung Quốc dạt sang, với âm mưu đánh chiếm Đồng Văn.

Đứng trước hiểm họa đó, người Mông ở Đồng Văn, dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Vừ Phán Lùng đã đứng dậy, sẵn sàng đánh quân Thanh và đánh quân Pháp đang tiếng vào Đồng Văn.

Trong dòng họ Vàng của Vàng Dúng Lùng, cũng có một người theo Vừ Phán Lùng đánh giặc, là Vàng Dí Tủa.

Trong cuộc nổi dậy đó, Vừ Phán Lùng đã bị phản bội và giết chết, người Mông ở Đồng Văn bị những nhóm quân nổi dậy Trung Quốc dạt vào Đồng Văn khi đó giết chết dã man.

Vàng Dí Tủa được người Mông Đồng Văn bầu lên thay làm thủ lĩnh cũng chết không lâu sau đó vì bệnh tật.

Một lần nữa, cộng đồng người Mông lại họp lại.

Vàng Dúng Lùng đứng lên làm thủ lĩnh người Mông thay Vàng Dí Tủa.

Dưới sự lãnh đạo của Vàng Dúng Lùng, người Mông Đồng Văn đã đánh bạt những phiến quân ở Đồng Văn, thống nhất toàn bộ vùng Đồng Văn.

Thừa thắng xông lên, người Mông Đồng Văn lại tiếp tục sát cánh bên Vàng Dúng Lùng, cùng thủ lĩnh Vàng Dúng Lùng đánh giặc Pháp.

Quân Pháp khi đưa quân lên Cao Bằng, Hà Giang và sau một thời gian củng cố lực lượng, đã bắt đầu tiến hành cuộc chinh phạt Đồng Văn trong suốt hơn 10 năm, từ đầu những năm 1900 với quyết tâm thống trị hoàn toàn vùng đất này, đặt vùng đất này dưới ách đô hộ.

Khi thực hiện cuộc chinh phạt này, người Pháp rất tự tin vào sức mạnh của mình và khả năng khuất phục một dân tộc nhỏ bé, lạc hậu, nghèo đói ở vùng núi cao.

Nhưng người Pháp không lường được những khó khăn ở Đồng Văn.

Ngay cả khi chúng đã đặt được những đồn trú ở Đồng Văn, ngay cả khi chúng đã gây cho đồng bào Mông Đồng Văn không biết bao nhiêu tổn thất xương máu, thì chúng vẫn không thể khuất phục được người Mông Đồng Văn.

Đến lúc hiểu được về tập tục và văn hóa của người Mông, người Pháp hiểu rằng chỉ có một cách để tạm cai trị người Mông là phải chấp nhận đưa một thủ lĩnh người Mông lên nắm quyền – một thủ lĩnh mà bất cứ người Mông nào cũng sẵn sàng nghe theo.

Và chúng đã chọn thủ lĩnh Vàng Dúng Lùng.

Để bắt tay được với thủ lĩnh người Mông, người Pháp đã ký với Vàng Dúng Lùng một hòa ước cam kết rút hết khỏi Đồng Văn và cho người Mông được quyền tự trị với sự giám sát của một nhóm đồn trú của Pháp ở Đồng Văn và một đơn vị hành chính
 
Nghiệp Vụ Lhhd
LÝ CHIÊU HOÀNG VÀ CUỘC ĐỜI BI KỊCH!


Không một nhân vật lịch sử nào có thể khiến người ta ám ảnh lâu đến thế.

Không một nhân vật lịch sử nào có cuộc đời lại sóng gió đến vậy: Từ hoàng đế trở thành hoàng hậu.

Từ hoàng hậu trở thành công chúa.

Một nhân vật với đầy biến động trong cuộc đời nhưng lại bị lịch sử lãng quên…

Lý Chiêu Hoàng – Lý Chiêu Thánh – Lý Phật Kim: Vị vua cuối cùng của nhà Lý, Nữ hoàng đầu tiên của Đại Việt, Hoàng hậu đầu tiên của nhà Trần, người phụ nữ duy nhất bị chồng cũ đem rao bán.

Lý Chiêu Hoàng, tên húy là Phật Kim, là con gái thứ hai của Lý Huệ Tông và Trần Thị Dung.

Chị bà là Thuận Thiên công chúa.

Năm 7 tuổi, sau khi cha là Lý Huệ Tông bị Thái sư Trần Thủ Độ ép đi tu, Phật Kim lên ngôi đổi tên thành Lý Chiêu Hoàng.

Bảy tuổi – bắt đầu tham gia vào cuộc chiến chính trị và mở đầu cho chuỗi bi kịch về sau.

Năm 1225, dưới sự dàn xếp của Trần Thủ Độ, Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh – cháu của Trần Thủ Độ – chấm dứt thời gian cai trị của nhà Lý và lịch sử bước sang trang mới.

Từ Hoàng đế, Phật Kim trở thành Chiêu Thánh Hoàng hậu – vợ của Trần Cảnh – Trần Thái Tông.

Về việc nhường ngôi cho chồng, Đại Việt sử kí có ghi chép:

Một hôm, Cảnh lúc ấy mới lên 8 tuổi, phải giữ việc bưng nước rửa, nhân thế vào hầu bên trong.

Chiêu Hoàng trông thấy làm ưa, mỗi khi chơi đêm cho gọi Cảnh đến cùng chơi, thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng lên bóng.

Có một hôm, Cảnh bưng chậu nước hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt lấy tay vốc nước té ướt cả mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn trầu thì lấy khăn ném cho Cảnh.

Cảnh không dám nói gì, về nói ngầm với Thủ Độ.

Thủ Độ nói: “Nếu thực như thế thì họ ta thành hoàng tộc hay bị diệt tộc đây?”.

Lại một hôm, Chiêu Hoàng lại lấy khăn trầu ném cho Cảnh, Cảnh lạy rồi nói: “Bệ hạ có tha tội cho thần không?

Thần xin vâng mệnh”.

Chiêu Hoàng cười và nói: “Tha tội cho ngươi.

Nay ngươi đã biết nói khôn đó”.

Cảnh lại về nói với Thủ Độ.

Thủ độ sợ việc tiết lộ thì bị giết cả, bấy giờ mới tự đem gia thuộc thân thích vào trong cung cấm.

Thủ Độ đóng cửa thành và các cửa cung, sai người coi giữ, các quan vào chầu không được vào.

Thủ Độ loan báo rằng:

“Bệ hạ đã có chồng rồi”

Năm 1225: Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế, trở thành Trần Thái Tông.

Bảy tuổi, làm sao có ái tình nam nữ?

Có chăng chỉ là sự gần gũi và ngây thơ giữa 2 đứa trẻ.

Chỉ vì sự trong sáng của trẻ thơ mà những người lớn kia đã biến nó thành một âm mưu chính trị – một cách chuyển giao êm thấm và khôn khéo.

Không làm hoàng đế, bà an phận làm hoàng hậu của Trần Cảnh.

Đầu tiên là trao cho người đó giang sơn, rồi lại trao cho cả tình yêu của mình.

Phật Kim có yêu Trần Cảnh không?

Có lẽ là có chứ.

Trong cung cấm bao lâu, có lẽ người đồng trang lứa mà bà thân cận nhất chính là chồng mình.

Đó may chăng cũng là niềm an ủi cho sự day dứt vì đánh mất nhà Lý vào tay dòng họ khác.

Vậy Trần Cảnh có yêu Chiêu Thánh không?

Chắc chắn có.

Cứ cho là không yêu nhưng cũng là thương cảm.

Người con gái vì mình mà đánh mất tất cả, người con gái tội nghiệp từ vị trí tối thượng đã nhường ngôi cho mình chỉ vì âm mưu của Trần Thủ Độ.

Nếu không yêu, sau này khi Trần Thủ Độ ép Trần Cảnh bỏ Chiêu Thánh, hà cớ gì mà ông bỏ kinh thành lên chùa chứ nhất quyết không theo ý chú?

12 năm – từ ngây thơ vụng dại đến tình yêu sâu sắc.

Trần Cảnh và Phật Kim – Cả 2 đều là con cờ trong tay Trần Thủ Độ.

Năm 14 tuổi, Chiêu Thánh sinh cho Thái Tông một hoàng tử nhưng không may chết yểu.

Từ đó về sau Chiêu thánh đau ốm liên miên, không thể sinh đẻ gì.

Tuy vậy nhưng sử sách viết Trần Thái Tông vẫn một mực yêu thương bà.

Nhưng sóng gió lại ập đến, lần này người gây ra cho họ bất hạnh không ai khác là Trần Thủ Độ và Trầ n Thị Dung – mẹ ruột của Chiêu Thánh.

Nói một chút về Trần Thị Dung : Bà là vợ của Lý Huệ Tông, tên thật là Trần Thị Ngừ, hoàng hậu cuối cùng của triều Lý nhưng lại là em họ hàng xa với Trần Thủ Độ.

Sau khi Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, bà lấ y Trần Thủ Độ, trở thành Công chúa Thiên Cực.

Nói về người đàn bà này, người ta có nhiều đánh giá.

Với nhà Trần thì bà luôn hết lòng nhưng đối với nhà Lý, kể cả hai đứa con gái ruột của chính mình, bà lại quá tàn nhẫn.

Lo sợ Chiêu Thánh không sinh nở được và dẫn đến sự sụp đổ của nhà Trần, Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung bàn bạc, yêu cầu Trần Thái Tông phế hoàng hậu, lấy Thuận Thiên công chúa đang mang thai 3 tháng – chị gái của Chiêu Thánh và cũng là chị dâu của Thái Tông (Anh trai của Thái Tông là Trần Liễu, chồng của Thuận thiên).

Bỏ vợ, cướp chị dâu, ở đâu ra cái đạo hoang đường như vậy?

Là vua một nước, hơn ai hết, Trần Thái Tông phải là gương của dân chúng.

Đừng nói là trái đạo, việc vô luân ấy xưa nay là điều cấm kị của đế vương.

Trần Liễu nổi loạn.

Trần Cảnh bỏ kinh thành lên chùa Phù Vân ở Quảng Yên.

Trần Thủ Độ đem quân theo vua, vừa dỗ dành vừa gây ra sức ép.

Trần Liễu biết Trần Thái Tông ở Phù Vân bèn cải trang thành lái đò đến gặp em và tạ lỗi.

Hai anh em ôm nhau khóc.

Trần Thủ Độ phát hiện,

lấy gươm định giết Trần Liễu.

Trần Thái Tông đứng ra che cho anh, Thủ Độ tha tội nhưng giết toàn bộ quân lính của Trần Liễu.

Không còn cách nào khác, cuối cùng Trần Thái Tông cũng trở về.

Phế bỏ Chiêu Thánh, lập công chúa Thuận Thiên làm Hoàng hậu.

Chiêu Thánh Công Chúa lúc đó mới 20 tuổi.

Trần Cảnh – Phật Kim – Thuận Thiên – Trần Liễu.

Ai mới là người có lỗi?

Thuận Thiên lên ngôi Hoàng hậu, lòng bà hạnh phúc lắm sao?

Lấy ngôi của em gái, rời xa chồng mình.

Sự ăn năn của bà khiến bà ra đi khi còn quá trẻ – 33 tuổi.

Còn về Chiêu Thánh, từ ngôi cửu ngũ chí tôn, lại trở thành Hoàng hậu, mang danh làm mất cơ nghiệp dòng họ.

Trở thành Hoàng hậu cũng chẳng yên lòng, mất giang sơn, mất con, mất chồng, giờ Chiêu Thánh chỉ có hai bàn tay trắng.

Trần Thủ Độ, tôi vừa phục lại vừa khinh ông.

Phục ông một tay gây dựng nhà Trần, vì giang sơn mà không tiếc sức.

Khinh ông bởi chỉ vì cái ngôi hoàng đế, ông không từ thủ đoạn nào.

Đày đọa một người con gái mà trong tay chẳng còn gì nữa, ông xứng đáng sao?

Còn Trần Thị Dung, sao với hai đứa con gái họ Lý của bà, bà lại vô tình đến vậy?

Thái Sư và Quốc mẫu – Hai người nợ Chiêu Thánh quá nhiều.

Lịch sử chép về Chiêu Thánh không nhiều, dường như bà hoàn toàn bị lãng quên đến chết nếu không có sự kiện tiếp theo xảy ra:

Năm 1258, sau kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất, vua Trần Thái Tông lại đem Chiêu Thánh gả choLê Phụ Trần (vốn tên là Lê Tần).

Đem vợ cũ gả cho bầy tôi, dân gian oán Thái Tông rất nhiều:

“Trách người quân tử bạc tình

Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao”

Về việc này, bản thân không dám đưa ra quan điểm.

Trần Thái Tông làm việc này, có lẽ có hai lý do.

1.

Ban thưởng cho Lê Phụ Trần.

2.

Muốn Chiêu Thánh hạnh phúc.

Về lý do đầu tiên thì không cần bàn cãi, còn lý do thứ hai, tại sao nói như vậy?

Là bởi vì Lê Phụ Trần có thể coi như người mà Thái Tông hết sức tin tưởng, Chiêu Thánh lại là người mà Thái Tông mắc nợ rất nhiều.

Có thể Thái Tông gả Chiêu Thánh cho Phụ Trần là muốn bà hạnh phúc, ông tin là Lê Phụ Trần sẽ không bạc đãi bà như ông.

Chiêu Thánh lấy Lê Phụ Trần, sinh được hai người con, một nam một nữ.

Có lẽ đấy là niềm an ủi cuối cùng cho số phận bất hạnh của bà.

Năm 1277: Trần Thái Tông qua đời.

Năm 1278: Chiêu Thánh công chúa qua đời.

Chiêu Thánh Công Chúa lúc đó đã 61 tuổi, qua đời ở Bắc Ninh.

Ra đi không rõ nguyên nhân, dân gian truyền miệng bà trầm mình xuống sông tự vẫn.

Về lý do vì sao Chiêu Thánh tự vẫn, tôi luôn nghiêng về giả thiết là do nhớ thương Trần Cảnh.

Tôi muốn tin vậy bởi tôi muốn tin trong dòng chảy lịch sử hỗn loạn, vẫn tồn tại tình yêu chân chính.

Tôi tin vào tình yêu, duyên nợ giữa Trần Cảnh và Phật Kim.

Tôi tin hai người họ vốn đã yêu nhưng lại vô tình trở thành nạn nhân trong cuộc chiến chính trị không khoan nhượng.

Nhưng người xưa đã đi, lịch sử luôn là ẩn số.

Chiêu Thánh ra đi, mà sử gia vẫn không tha cho bà: “Bà Chiêu Hoàng nhất sinh là người dâm, cuồng, lấy chồng không vừa lứa đôi, đâu còn trinh tiết như lời người ta truyền lại. ” (trích Việt sử tiêu án).

Lúc sống đã khổ vì bị cuốn vào dòng xoáy chính trị.

Lúc chết đi lại bị Nho giáo khinh rẻ không thương tiếc.

Một người phụ nữ tôi cho rằng là đáng thương và vô tội.

Nếu có trách hãy trách những người gây ra điều ấy.

Bà chỉ là con rối trong tay họ mà thôi.

Giai đoạn từ nhà Lý đến nhà Trần, với quan điểm của tôi, là một trong những giai đoạn bi kịch nhất của lịch sử Việt nam.

Cuộc chuyển giao quyền lực tuy không máu chảy đầu rơi, nhưng là sự đau khổ đến tột cùng cho những người trong cuộc.

#LýChiêuHoàng
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Ngũ Hổ


Ngũ Hổ

Ngũ Hổ Tướng Quân là năm vị thần Hổ cai quản ngũ phương, ngũ hành trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ.

Các Ngài là chư vị sơn thần biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng, là bộ hạ của Mẫu giữ vai trò gác cổng cho các đền phủ, tiêu diệt tà ma, đem lại sự cân bằng cho ngũ phương trời đất.

Ngũ Hổ Thần Quan bao gồm năm vị với năm màu sắc khác nhau, danh xưng cấu trúc theo thứ tự:

Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Thanh Hổ Thần Quan

Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Xích Hổ Thần Quan

Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan

Tây Phương Canh Tân Kim Đức Bạch Hổ Thần Quan

Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Hắc Hổ Thần Quan

Như vậy, các Ngài trấn giữ ngũ phương tuân theo quy luật ngũ hành: Hoàng Hổ (màu vàng - hành thổ) ở vị trí chính giữa ứng với trung ương chính điện, Thanh Hổ (màu xanh - hành mộc) ứng với phương Đông, Bạch Hổ (màu trắng - hành kim) ứng với phương Tây, Xích Hổ (màu đỏ - hành hỏa) ứng với phương Nam, Hắc Hổ (màu xám đen - hành thủy) ứng với phương Bắc.

Hình tượng Ngũ Hổ không chỉ tượng trưng cho ngũ hành với mối quan hệ tương sinh, tương khắc trong vũ trụ mà còn để thể hiện quyền uy của mỗi vị thần trong phép nhà thánh.

Trong đó, Hoàng Hổ tướng quân giữ vai trò trưởng trung cung, có nhiều quyền phép, trấn giữ điều lệnh các phương.

Ông là vị lãnh chúa cao nhất, thâu tóm mọi uy quyền, quyết định âm phù dương trợ cho dân gian.

Quan Ngũ Hổ được thờ ở hạ ban trong điện thờ Mẫu, hình ảnh về các ngài cũng rất hay xuất hiện trong các tranh thờ, đặc biệt là bộ tranh dân gian Hàng Trống.

Ngũ Hổ và Ông Lốt là hàng cuối cùng trong Công Đồng Tứ Phủ, rất ít khi các ngài về ngự đồng vì bóng các ngài rất nặng, hiếm thanh đồng đủ khả năng hầu được.

Khi về ngự, Quan Hổ vật lộn, gầm gừ, khuôn mặt hết sức dữ tợn, tay chân tạo dáng như thế hổ vồ, có khi nhai đĩa sành, mắt mở to, trào bọt mép để thị uy sức mạnh.

#Baldur
 
Nghiệp Vụ Lhhd
VMQTG


Bài thuyết minh: Văn Miếu Quốc Tử Giám (Full)

Xin kính chào Quý khách!

Vậy là chúng ta đang đứng trước Văn Miếu – Quốc Tử Giám, một trong những di tích nổi tiếng nhất Hà Nội, nơi chứa đựng biết bao giá trị văn hoá, lịch sử, truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Ngày hôm nay, thật vinh dự và tự hào cho hướng dẫn viên khi được hướng dẫn quý khách tham quan di tích này, bởi đây không chỉ là nhiệm vụ của một hướng dẫn viên thực hiện trách nhiệm của Công ty Du lịch giao phó cho hướng dẫn viên mà còn là một niềm tự hào, một quyền lợi khi hướng dẫn viên được cùng với quý khách tìm hiểu đôi nét về nền văn hiến lâu đời của dân tộc Việt Nam, một dân tộc có truyền thống văn hoá phát triển đã hàng nghìn năm nay.

Hướng dẫn viên thật sự mong muốn rằng, qua chuyến tham quan hôm nay, tất cả quý khách sẽ có thêm những hiểu biết về truyền thống hiếu học, văn hiến, về một công trình kiến trúc đẹp và tiêu biểu của Việt Nam, và qua đó hy vọng sẽ để lại ấn tượng tốt đẹp trong quý vị về dân tộc của chúng ta/tôi.

Và bây giờ chúng ta hãy bắt đầu cuộc thăm quan của mình.

Kính thưa quý khách, chúng ta đang đứng trước Văn Miếu Quốc Tử Giám và bên cạnh chúng ta đây là tấm bia Hạ Mã, đối diện qua tứ trụ kia quý khách có thể thấy một tấm bia tương tự.

Trên mặt bia, chúng ta có thể thấy chỉ khắc rất sâu hai chữ lớn là Hạ Mã.

Đây là hai chữ nói tắt của cụm từ “Khuynh cái Hạ Mã” nghĩa là nghiêng lọng xuống ngựa.

Hai tấm bia này là lằn mốc ranh giới chiều ngang phía trước mặt Văn Miếu xưa kia dù có là bậc công hầu, khanh tướng, vua quan hay dân thường, dù võng lọng, ngựa xe thì khi qua Văn Miếu đều phải xuống ngựa, rời võng nghiêng lọng mà đi bộ chí ít là từ tấm bia “Hạ Mã” này đến tấm bia “Hạ Mã” kia, cúi đầu kính cẩn, trang nghiêm khi đi qua tứ trụ nghi môn, rồi mới được lên xe, ngựa, võng, lọng mà tiếp tục cuộc hành trình.

Thế đủ biết Văn Miếu xưa có vị trí tôn nghiêm đến chừng nào.

Và xa xưa trước mặt quý khách kia, một hồ nước nhỏ, trên có chiếc gò xinh xắn rợp bóng cây xanh, hồ mới được cải tạo gần đây, nhỏ hẹp nhưng chắc chắn một ngày không xa nữa, khi những rặng cây kia lớn lên cùng với lòng hồ được tư sửa, chắc chắn đó sẽ là một khuôn viên xanh xinh xắn giữa lòng thủ đô, tôn thêm vẻ uy nghi của Văn Miếu.

Tuy bây giờ chỉ còn là một hồ nước nhỏ, nhưng xưa kia đó là một hồ rất lớn, gọi là Văn Hồ.

Thủa ban đầu dựng Văn Miếu, nhà vua đã chọn dải đất phía Bắc một chiếc hồ lớn, được tạo nên bới nhiều hồ nối thông nhau, gọi là Thái hồ.

Về phía Nam hồ nổi lên một gò đất cao và to, theo sau có 5 gò nhỏ, vì vậy người ta gọi tên dãy gò ấy là Bắc Đẩu Sơn.

Chúng ta biết rằng, người xưa khi xây dựng các công trình kiến trúc đều căn cứ vào thuật phong thuỷ.

Văn Miếu Quốc Tử Giám cũng vậy, khi xây dựng người ta đã chọn văn hồ làm minh đường, dãy gò Bắc Đẩu Sơn làm tiền án, còn hậu chẩm là đoạn tường thành Thăng Long mà nay là đường phố Nguyễn Thái Học với các kiến trúc kiểu biệt thự do Pháp phá huỷ tường thành và xây dựng từ năm 1884.

Như vậy, Văn Miếu của chúng ta đã được các nhà phong thuỷ am tường địa lý khi xưa lựa chọn rất kỹ càng khi xây dựng.

Tổng thể kiến trúc công trình được quay về hướng Nam theo quan niệm phương Đông xưa: “Thánh Nhân nam diện nhi thích thiện hạ” (Bậc Thánh Nhân ngoảnh mặt về phương Nam nghe thiên hạ tâu bày).

Đó là hướng của bậc thánh nhân, một danh hiệu cao quý dùng để chỉ những bậc tiền bối của đạo Nho như Không Tử, Mạnh Tử…

Hướng Nam còn là hướng của hành hoả, mà hành hoả là hành của văn chương, trong văn chương luôn có lửa để thiêu đốt những điều ngu tối trong mỗi con người và toàn xã hội.

Và bởi vậy, Văn Miếu Quốc Tử Giám, ngôi đền của văn chương, ngôi đền của Nho học, ngôi đền Của văn hiến Việt Nam ngàn đời được đặt vào một vị trí đắc địa, có tiến án, cơ minh đường, có hậu chẩm, như là đặt vào nơi phát triển bền vững, nói lên khát vọng bền vững và phát triển đến muôn đời của nền văn hiến dân tộc Việt Nam.

Hồ Văn hôm nay có diện tích 12.297 m, giữa hồ là Gò Kim Châu, trên gò xưa dựng Phán Thuỷ Đình, là nơi diễn ra các buổi bình văn, thơ của nho sĩ kinh thành Thăng Long xưa…

“Phán thuỷ đường” này do Yêm Quận Công Phạm Công Trứ dựng năm 1662 để làm nơi ngâm vịnh thơ văn, ông cho khắc 10 bài thơ vịnh cảnh đẹp của hồ văn lên bia đá, đặt trong đình nhà “Phán thuỷ đường” cùng với các kiến trúc khác trên gò này không còn, chỉ còn tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 18 (1865) trong dịp sửa sang Văn Miếu do Hoàng Giáp, Bố Chánh Hà Nội Lê Hữu Thanh soạn, ghi lại công cuộc tu sửa tấm bia “Hoàn văn hồ bi” do các chí sĩ Hà Nội dựng năm 1942 ghi lại việc hồ văn được trao trả lại cho Văn Miếu quản lý.

Mặt sau bia có bài dịch bằng chữ quốc ngữ của Nhà sử học Trần Trọng Kim, Đốc học Hà Nội đương thời.

Hồ văn xưa kia rộng lớn, soi bóng tứ trụ, không chỉ mang giá trị cảnh đẹp du ngoạn mà con mang ý nghĩa triết học tâm linh, bởi kiến trúc phương Đông xưa luôn theo lối “Thượng gia hạ trì” (trên nhà, dưới ao), mà theo quan niệm cổ Phương Đông xưa, ao dưới nước, mà nước là nguồn mạch của sự sống.

Như văn chương là nguồn mạch giáo hoá.

Mang trong mình bao giá trị như vậy, nhưng Hồ văn hôm nay đã bị thu nhỏ trong một hình gần tròng và chia cắt với bố cục toàn cảnh của Văn Miếu bới một con đường đặt từ thời Pháp thuộc, vạch ra do thiếu hiểu biết và coi thường những công trình văn hoá dân tộc.

Với sự quan tâm và nỗi lực của các cơ quan chức năng, chắc chắn chỉ trong thời gian ngắn nữa, hồ Văn sẽ được trả lại vẻ đẹp và giá trị vốn có của nó, góp phần tôn lên vẻ đẹp của toàn thể quần Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Xin kính mời quý khách chúng ta tiếp tục cuộc thăm quan, và trước mặt quý khách là bốn trụ được xây bằng gạch, vôi vữa được gọi là tứ trụ nghi môn, hay còn gọi là trụ biểu.

Trong các kiến trúc, di tích của người Việt, tứ trụ nghi môn hay trụ biểu luôn được xây phái trước công trình để tạo ra một dấu ấn nhằm định vị cho di tích tồn tại phía sau nó.

Kiếu kiến trúc trụ biểu như chúng ta thấy ở đây là kiểu kiến trúc thuần việt, thường thấy ở cổng chùa hay Miếu, đình làng của người Việt Bắc Bộ.

Nó có tên là Trụ biểu lồng đèn, hình lập phương, gồm có 4 phần: phần đế thường không trang trí, có các đường chỉ gờ giật khúc, phần thân thường được viết các câu đối nói lên sự tích của di tích, ca ngợi cảnh đẹp hay công trạng của vị thánh thần được thờ.

Phần lồng đèn xưa kia để trống, thắp đèn vào ban đêm cho sáng, về sau bít kín và đắp nổi hình cây, cổ, tứ linh, phần đầu trụ bao giờ cũng là các con vật tứ linh, nhất là phượng chụm đuôi hoặc nghê, sấu.

Ở tứ trụ Văn Miếu này, chúng ta có thể thấy trên đỉnh hai trụ giữa, xây cao hơn cả hình hai con nghê chầu vào.

Quan niệm tâm linh cho rằng đây là hai con vật linh thiêng, có khả năng nhận ra kẻ ác hay người thiện.

Bởi vậy, nó được tạc hình trên đỉnh tứ trụ nghi môn với mục đích trông giữ, coi sóc, giám sát tư cách của những người ra vào Văn Miếu, bảo vệ cho sự tôn nghiêm với đền đài của văn chương.

Hai đỉnh hai trụ ngoài thấp hơn đắp nổi 4 con chim phượng xoè cách chắp đuôi vào nhau vô cùng đẹp mắt.

Cũng theo quan niệm xưa thì Phượng là linh vật thuộc tầng trên, với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng cả bầu trời, lông là cây cỏ, cánh chở gió, đuôi là tinh tú, chân là đất.

Bởi vậy, Phượng hoàng là loài chim linh vật tượng trưng cho vũ trụ, cho trời đất với tư cách vận chuyển cả bầu trời, mỗi khi chim phượng hoàng bay là cả vũ trụ đang chuyển động.

Và vì thế, hình ảnh bốn con chim phượng chắp đuôi vào nhau trên đỉnh nghi môn Văn Miếu tượng trưng cho bốn phương đất trời, tức là cả vũ trụ, trời đất đều hội tụ nơi đây, làm nên linh khí muôn đời còn mãi.

Một điều nữa, kính thưa quý khách, xung quanh tứ trụ đắp nổi nhiều câu đối chữ Hán, tiêu biểu như câu này:

“Đông Tây Nam, Bắc do tư đạo - Công, Khanh, Phu, Sĩ xuất thử đồ”

Dịch là: Bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc đều cùng đạo này (đạo Nho).

Các bậc công, khanh, phu, sĩ cùng đều xuất thân từ đường này mà ra cả.

Câu đối nói lên tầm ảnh hưởng rộng khắp và vai trò của đạo Nho, cũng như thể hiện rằng nơi đây từng là nơi đào tạo nho học lớn nhất đất nước.Với những ý nghĩa như vậy, hai tấm bia Hạ Mã cùng với bốn cây cột tứ trụ nghi môn đã trải qua hàng trăm năm binh lửa chiến tranh và thiên tai, mặc cho thời gian và thiên nhiên phủ lên mình lớp màu cũ kỹ của thời gian, vẫn đứng sừng sững, trang nghiêm trước Văn Miếu Quốc Tử Giám, nơi đền đài hương khói của văn hiến nước nhà, như là sự biểu tượng của sự bền vững, trường tồn của nền văn hiến dân tộc dù trải qua biết bao biến cố lớn lao của lịch sử thăng trầm, để lại cho con cháu hôm nay một dấu ấn để ghi nhớ và tiếp nối.

Kính thưa quý khách, chúng ta vừa tham quan xong khu bên ngoài của Văn Miếu Quốc Tử Giám, hy vọng rằng mỗi quý khách đã cảm nhận được một chút gì đó về nền văn hoá của đất nước Việt Nam.

Và bây giờ, trước khi bước vào tham quan khu nội tự mà bắt đầu là Văn Miếu Môn phía trước mặt quý khách, hướng dẫn viên xin có đôi lời khái quát về lịch sử ra đời cũng như quá trình phát triển của Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.

Kính thưa quý khách, khu Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội mà chúng ta tham quan hôm nay, bắt đầu được xây dựng năm 1070 đời Vua Lý Thánh Tông.

Chúng ta biết rằng: Ngay sau khi lên làm vua, năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định rời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thành Đại La và đổi tên là Thành Thăng Long, có vị trí trung tâm đất nước, giao thông thuỷ bộ thuận lợi.

Tại kinh thành Thăng Long, nhà Lý cho xây dựng nhiều lâu đài, cung điện, đền chùa và thành luỹ bảo vệ.

Từ đó Thăng Long với hình ảnh “Rồng bay lên” đẹp đẽ và kiêu hãnh tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, trở thành trung tâm của đất nước ngàn năm vạn vật, trái tim của tổ quốc Việt Nam.

Sau khi xây dựng được vương triều thi hành các chính sách đối nội và đối ngoại hợp lý và tích cực, nhà Lý bắt đầu chăm lo mở mang học tập và thi cử để đào tạo nhân tài và tuyển lựa quan lại có năng lực cho bộ máy hành chính.

Trước đây tầng lớp có học trong xã hội hầu như chỉ có các nhà sư.

Nhà lý trong khi xây dựng bộ máy cầm quyền đã nhận ra vai trò của nho giáo, một vũ khí phục vụ đắc lực cho chính thể trung ương tập quyền, củng cố chế độ đẳng cấp và giáo dục lòng trung thành với nhà vua.

Đó là động lực dẫn đến sự kiện lịch sử quan trọng được sử thần Ngô Sĩ Liên ghi chép lại trong sách “Đại Việt sử ký toàn thư” (thế kỷ 15).

“Năm CanhTuất niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070) đời Lý Thánh Tông.

Mùa thu Tháng Tám dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối Mã Tượng thất thập nhị Hiền, bốn mùa cúng tế Hoàng Thái Tử đến học ở đây”.

Như vậy, Văn Miếu ngay từ ngày xây dựng đã mang hai chức năng: Là nơi thờ cúng các bậc tiên thánh, tiên sư của đạo Nho, còn mang chức năng của một trường học một chức năng mà các Văn Miếu ở các nước phương Đông khác không có.

Người học trò đầu tiên là Thái Tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông và Nguyễn Phi ỷ Lan, lúc đó mới 5 tuổi, đến năm 1072 lên ngôi trở thành Vua Lý Nhân Tông, vị vua thứ ba của triều Lý.

Năm 1075 triều đình mở khoa thi đầu tiên để chọn nhân tài, gọi là khoa thi Minh kinh Bác học, người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh, được bổ làm thầy dạy học cho vua.

Qua năm sau, tháng 4 mùa hạ năm Bính Thìn niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng thứ nhất (1076) vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, làm nơi học tập của con cái tầng lớp quan lại quý tộc của triều đình.

Sang triều Trần, việc học hành thi cử ngày càng thịnh đạt, văn Nguyễn Phong thứ 3 (1253) vua Trần Thái Tông xuống chiếu lập Quốc học Viện.

Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng, trang hoàng, đạt đến thời đại phát triển rực rỡ nhất dưới thời Hậu Lê, đặc biệt dưới thời vua Lê Thánh Tông, một ông học rộng, đọc nhiều, văn trị, võ công đều có.

Năm Quý Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 14 (1483), vua ra sắc chỉ đại trùng tu Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Qua năm sau, năm Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484) vừa gặp kỳ thi hội, nhà vua xuống chỉ dựng bia đá tại Văn Miếu, khắc tên những tiến sĩ đỗ đạt từ khoa thi đầu tiên của triều Lê năm 1442 đến khoa thi năm 1484, tất cả gần mười tấm, mở đầu cho truyền thống tốt đẹp này của các triều đại tiếp theo ông.

Sau đó, Văn Miếu Quốc Tử Giám còn được tu sửa rất nhiều lần vào các năm 1511 đời Vua Lê Tương Dực, năm 1537 (Vua Mạc Đăng Doanh, năm 1662 đời Lê Thần Tông…

Trải qua bao biến cố của chiến tranh, biến loạn đời Lê – Trịnh, Văn Miếu bị hư hại nặng nề.

Sau khi nhà Nguyễn lên nắm chính quyền vào đầu thế kỷ 19, Văn Miếu Thăng Long lại một lần nữa được sửa sang, nhưng chỉ còn đóng vai trò là Văn Miếu của Trấn Bắc Thành, sau đổi là Văn Miếu Hà Nội, còn Quốc Tử Giám thì đổi làm học đường của phủ Hoài Đức do nhà Nguyễn khi chuyển kinh đô vào Phú Xuân – Huế đã xây dựng Văn Thánh và Quốc Tử Giám tại Huế như là cơ sở đào tạo của cả nước.

Di tích Văn Miếu mà chúng ta thấy hôm nay phần lớn là kiến trúc thời Nguyễn Như Văn Miếu Môn trước mặt quý khách kia, hay khúc Văn Các được Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành dựng năm 1805, hay phần lớn các tấm hoành phi, câu đối trong Văn Miếu này…Kể từ khi thực dân Pháp xâm lược Hà Nội, Văn Miếu bị tàn phá nặng nề.

Thái Hồ và vùng đất xung quanh Văn Miếu bị lấn chiếm biến thành khu dân cư, Văn Miếu thì bị biến thành tường bắn của quân đội Pháp, rồi thành nơi chứa các bệnh nhân dịch hạch khi dịch bùng phát vào năm 1093 tại Hà Nội, khiến cho khu đền đài của văn chương bị uế tạp đến nỗi chính quyền thực dân Pháp có quyết định di dời Văn Miếu đi chỗ khác để xây một bệnh viện tại đây.

May sao, nhờ lòng nhiệt thành vận động của các bậc văn thân sĩ phu yêu nước đương thời mà Văn Miếu mới được giữ lại như là chứng tích của một thời vàng son.

Ngày nhân dân ta thực sự làm chủ thành phố của mình, năm 1954 đến nay Văn Miếu Quốc Tử Giám mới lại được quan tâm đúng mức và liên tục được tu sửa, đặc biệt là đợt đại trùng tu năm 1995 – 2000 nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội đã trả lại cho Văn Miếu Quốc Tử Giám vẻ uy nghi, trang nghiêm và lộng lẫy khi xưa, tôn vinh hình ảnh Văn Miếu như là một biểu tượng của văn học, tạo ra một bầu không khí cảm hứng và suy tư trí tuệ không bao giờ vơi cạn.

Kính thưa quý khách!

Và bây giờ, chúng ta hãy cùng tham quan công trình đầu tiên của Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, công trình đang hiện diện trước mặt quý khách Văn Miếu Môn.

Văn Miếu Môn là chiếc cổng ngoài cùng của Văn Miếu, xưa kia nó được làm bằng gỗ, là một toà lầu, trên có 3 chữ đại tự là “Thái Học Môn” được xây dựng từ năm 1511.

Sang thời Nguyễn, Tam quan chính của Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội được xây dựng lại bằng chất liệu gạch, vôi vữa và đặt biển tên là Văn Miếu Môn.

Quý khách có thể thấy, khiến trúc Văn Miếu Môn là một kiến trúc thuần việt, một tam quan lớn xây hai, ba cửa.

Cửa giữa to cao.

Tầng trên đề ba chữ “Văn Miếu Môn” đắp sành sứ, một đặc điểm của nghệ thuật trang trí, kiến trúc thời Nguyễn, nhìn bề mặt hình vuông, tầng dưới to, tầng trên nhỏ chồng lên tầng dưới, do đó xung quanh thừa ra một hàng hiên rộng bốn mặt có lan can, phía bên ngoài tầng dưới chỉ mở một cửa cuốn, hai canh bằng gỗ lim mở vào trong và cửa hình bán nguyệt chạm nổi hình đôi rồng chầu mặt nguyệt và hai cửa nhỏ bên trái, bên phải phía trong là lối bậc lên tầng hai tam quan.

Bản thân tầng hai đã là một tam quan mở ba cửa cuốn không có cánh cửa.

Tầng trên làm tám mái.

Bốn mái hiên và bốn mái nóc cong lên ở bốn góc, bờ nóc đắp nổi lưỡng long triều nguyệt, một hình ảnh xuất hiện khá nhiều trong Văn Miếu Quốc Tử Giám thể hiện sự cân bằng âm dương.

Kiến trúc này của Văn Miếu Môn có nhiều nét độc đáo đáng lưu ý khi nghiên cứu kiến trúc cổ Việt Nam cuối thế kỷ 19, một kiến trúc hai cổng hai tầng lầu phổ biến với các cổng thành, cổng làng, chùa miếu… với tầng hai như một vọng lâu canh gác và quan sát.

Ngày trước cổng Văn Miếu Môn, quý khách có quan sát đôi rồng đá thời Lê cách điệu thành hình mây, gọi là long vân, ví như người có học, như rồng ẩn trong mây vậy.

Phía bên trái theo chiều quý khách, chúng ta thấy đắp nổi cảnh “Long ngự tụ hội”: cá vàng rồng ẩn hiện trong mây ví như cảnh thanh vân đắc lộ của các nho sinh thành đạt.

Bên phải là cảnh “Mãnh hổ hạ sơn”: giữa cảnh núi rừng mây nước nổi bật lên dáng dấp một con hổ hùng dũng xuống núi, ví như các bậc thức giả, học hành thành đạt khí thế bước vào đời để thi thố tài năng kinh bang tế thế của mình.Hai mặt cổng tam quan như quý khách thấy đều đắp nổi đôi câu đối chữ Hán.

Câu thứ nhất:

- Đại quốc bất dịch giáo, bất biến tục, thả tôn sùng chi, diệc tín tư văn nguyễn hữu dụng.

- Ngô Nho yếu thông kinh, yếu thức thời, vô câu cố dã, thượng tư thánh huấn vĩnh tương đồn

Dịch là:

Nước lớn không thay đổi nền giáo hoá, không biến đổi phong tục, mà tôn sùng đạo nho và tin tưởng tư văn vốn có ích.

Nhà nho phải thông hiểu kinh sách, phải thức thời, không nên câu nệ, cố chấp người nghĩ rằng lời giáo huấn của thành hiền mãi mãi được đề cao.

Câu đối từ thế kỷ 19 này đã nói lên những tư tưởng vượt tầm thời đại.

Với cái nhìn của những người sống giữa thế kỷ 21 hôm nay thì việc giữ gìn bản sắc dân tộc, nền văn hiến ngàn đời, rồi những người có học phải biết thời cuộc và phải hành động theo yêu cầu của hoàn cảnh và thời cuộc, là những suy nghĩ bình thường và mặc nhiên được công nhận.

Nhưng với những nhà Nho sống dưới triều Nguyễn, một triều đại đề cao nho học đến mức khắt khe để củng cố vương quyền rập khuôn Đại Thanh một cách vô cùng máy móc, nhà nho thì hẹp hòi và bảo thủ giữ nếp cũ giữa cuồn cuộn biến chuyển của thế giới thì những tư tưởng nêu ra trong câu đối này mới đáng suy nghĩ làm sao, thật “thức thời” thay vậy!Hay như câu thứ hai: - Sĩ phu báo đáp vị hà tai, triều đình tuyển tựu chiên, quốc gia sùng thượng chi ý.

- Thế đạo duy trì thị thử nhĩ, lễ nhạc y quan sở tuy, thanh danh văn vật sở đô.

Dịch là: Bậc sĩ phu phải báo đáp như thế nào ân tuyển chọn của triều đình, ý tôn sùng của quốc gia.

- Thế đạo phải được duy trì như thế đấy, phải thấy nơi này là lễ, nhạc, y, quan, là nơi tập trung thanh danh văn vật.

Vâng thưa quý khách, hai bên cổng Văn Miếu Môn, chúng ta còn thấy hai cổng nhỏ hơn là “Tả môn” và “hữu môn”.

Hai cổng tuy nhỏ nhưng cũng xây làm hai phần, tắm mái nóc nom tựa kiến trúc 2 tầng.

Hai cửa này khi xưa là nơi đóng mở ra vào hàng ngày của các nho sĩ trường Giám.

Còn cửa Văn Miếu Môn thì đóng quanh năm, chỉ mở cho vua qua mỗi khi ghé thăm Văn Miếu hoặc mở cho người chủ tế dịp tế lễ quan trọng trong năm.

Chạy qua cổng chính Văn Miếu Môn là con đường “Nhất chính đạo”, là con đường lát gạch Bát Tràng chạy thẳng từ Tứ Trụ nghi môn, qua các cổng chính tạo thành một trục xuyên suốt khu kiến trúc tạo nên kiểu dáng đối xứng tuyệt đối, một kiểu mặt bằng quen thuộc quán xuyến hầu hết các đồ án kiến trúc thời cổ đại.

Con đường này khi xưa cũng chỉ dành cho bậc vua chúa và người chủ tế qua lại trong các dịp tế lễ trọng đại.

Còn lại nho sinh thì đi lại trên hai con đường đối xứng bên cạnh xuyên qua các cổng phụ.

Kính thưa quý khách, như vậy là chúng ta vừa bước chân qua Văn Miếu Môn để vào khu vực thứ nhất của khu nội tự Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.

Tại sao lại nói như vậy, xin thưa bởi Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội

ngày nay có tổng diện tích là 54.331m bao gồm: hồ văn, vườn Giám và khu nội tự Văn Miếu Quốc Tử Giám, Văn Miếu Quốc Tử Giám ở phía Nam Thành Thăng Long xưa, mà phía Nam thì thuộc hành hoả, mà hành hoả là hành của văn chương theo quan niệm âm dương ngũ hành xưa.

Văn Miếu Quốc Tử Giám xưa thuộc thôn Minh Giám, Tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương, thời Pháp thuộc là làng Thịnh Hào, Tổng Yên Hạ tỉnh Hà Đông, này thuộc Quận Đống Đa, Hà Nội.Khu nội tự của Văn Miếu Quốc Tử Giám như các quý khách đang thấy được bao quanh bởi một khung tường gạch vồ có chiều dài hơn 300m, rộng 70m chạy theo hướng Bắc – Nam.

Khu nội tự tôn nghiêm này được chia thành 5 lớp không gian khác nhau: mỗi lớp được giới hạn bởi các tường gạch và có các cửa thông nhau: một cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên.

Các nhà nho xưa khi hoạch định kiến trúc chia Văn Miếu Quốc Tử Giám thành 5 khu là ứng với ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ tương sinh tương khắc mà sinh ra vạn vật trong vũ trụ.

Hơn nữa thấy Văn Miếu Quốc Tử Giám hướng mặt về phía Nam là hướng dương nóng ấm và mát mẻ.

Quay lưng lại hướng Bắc là hướng âm.

Bên trái âm hợp với bên tây dương.

Như vậy là đủ cả âm dương, ngũ hành tạo nên sự ổn định, vững chắc, trường tồn của Văn Miếu Quốc Tử Giám, đền đài của văn chương, của nền văn hiến nước nhà.

Vâng và bây giờ xin mới quý khách chúng ta cùng chiêm ngưỡng mặt sau của Văn Miếu Môn.

Nếu như mặt trước mà quý khách đã xem qua vừa rồi mang nhiều ý nghĩa tư tưởng thì mặt sau này lại có nhiều chi tiết mang ý nghĩa biểu tượng.

Quý khách có thể thấy trên cao kia là hình con dơi đắp nổi, biểu tượng cho hành phúc bởi trong tiếng Trung Quốc, con dơi đọc đồng âm với chữ Phúc, do đó đắp nổi hình dơi thể hiện ước mong tạo phúc cho xã hội của các bậc danh sĩ.

Bên cạnh đó là 5 bức tượng nhỏ, cũng đắp bằng vôi vữa, người ta cho rằng đó là tượng Khổng Tử và Tứ phối, bốn người học trò xuất sắc nhất của ông.

Tượng của các ngài được đắp ở đây để các nho sinh mỗi khi bước qua Văn Miếu Môn ra ngoài cuộc đời, đều được chiêm bái các vị Tiên Thánh, tiên sư của đạo Nho, để luôn khắc nghi lời dạy của các ngài, thì hành đạo học giúp ích cho đời.

Cũng có người cho rằng 5 bức tượng nhỏ đó là 5 vị tướng nhà trời bảo vệ Văn Miếu.

Còn bên dưới này, hai bên lối đi là đôi rồng đá thời Nguyễn, mang đặc trưng của nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn là: Toàn bố cục nhỏ, rồng thì mảnh mai, đao nhọn sắc, cuốn xoắn cuộn tròn.Từ đó có thể thấy, Văn Miếu Môn không chỉ mang nhiều ý nghĩa biểu trưng mà còn mang giá trị kiến trúc và điêu khắc cao khi nghiên cứu kiến trúc cổ Việt Nam thời Nguyễn.

Xin mời quý khách chúng ta tiếp tục cuộc hành trình.

Chúng ta đang ở phần thứ nhất của Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.

Trước mặt chúng ta là cổng đại trung môn.

Khu vực thứ nhất này được gọi là khu vực thứ nhất này được gọi là khu nhập đạo, nơi đi dạo hàng ngày của các nho sinh trường Giám.

Hai bên “Đại Trung môn” có hai cửa nhỏ, bên trái là “Thành Đức Môn”.

Bên phải là “Đạt Tài Môn”.

Bức tường ngang nối 3 cửa vươn dài ra hai bên đến tường vây tạo thành một khung gần vuông có tường vây khép kín.

Hai chiếc hồ chữ nhật nhỏ nằm dài theo chiều dọc có tường vây ngát hoa súng, cùng cây xanh, bóng mát, nước trong, cảnh trí gây nên cảm giác tĩnh mịch, thanh tịnh của nơi “văn vật sở đô”.

Cổng Đại trung Môn gồm 3 gian, xây trên nền gạch cao, ngói lợp là ngói mũi hài hay còn gọi là ngói di, cổng có hai vì kèo, hai hàng cột hiên trước và sau, giữa là hàng cột chống nóc, các cột đều sơn son rực rỡ, kiến trúc thuần Việt khá đơn giản.

Tên cổng đại trung được rút ý từ sách “Trung Dung” một trong “tứ thư” của Nho giáo do Tử Tư soạn.

Do đó, Trung là chính giữa, không lệch bên nào, “Dung” là bình thường không thái quá hay bất cập.

Trung Dung là cái sự cân bằng, chỉ người quân tử mới giữ được đạo Trung Dung.

Còn hai cổng Thành Đức và Đạt Tài mang ý nghĩa giáo dục, đào tạo con người nho học vừa có đức vừa có tài.

Đó cũng là hai trong năm phương pháp đào tạo con người theo quan điểm của á Thành Mạch Tử là: Dạy cho thành được đức dạy cho đạt được tài, ở đây là bà nói các bậc người thiên tư thuần hậu, nhờ người quân tử dạy bảo mới thành được đức, biết tận dụng và phát huy hết tài năng trời phú cho mà thành tài.

Tài và Đức, hai phẩm chất của một người có học được Nho giáo đề ra từ xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Xin mời quý khách chúng ta hãy cùng nhìn lên mái của Đại Trung Môn, quý khách có thể thấy đôi cá chép đang chầu quanh một bầu rượu.

Bầu rượu là bình cảm hứng của văn chương, của các bậc túc nho, thi nhân xưa nay.

Bình đó còn là bình hồ lô chứa đựng các khí thiêng trời đất, tinh hoa của tri thức nhân loại.

Còn đôi cá chép, biểu trưng cho những nho sinh đi thi khi xưa, liên quan đến một truyền thuyết nổi tiếng: Cá hoá rồng hay cá chép vượt vũ môn.

Người ta kể lại rằng, trên dòng sông Hoàng Hà, con sông mẹ của người Trung Hoa, có một thác nước chảy siết vô cùng, nơi đó là vũ Môn – Cửa Vũ, cửa bay lên.

Hàng năm, những con cá chép sống lâu trăm tuổi từ khắp nơi trên trần gian đều tìm đến đây, cố sức tung minh vượt qua vũ môn.

Con nào nhảy qua được một lúc 3 đợt khác nhau thì lập tức có tiếng sấm rền vang và con cá đó được hoá kiếp biến thành rồng tức thì và bay lên trời.

Do vậy, vũ môn để chỉ trốn trường thi, còn thí sinh được ví như những con cá chép muốn hoá mình thành con rồng linh thiêng quyền uy, muốn đỗ đạt hiển hách thì phải chăm chỉ luyện rèn, dùi mài kinh sử ròng rã, nắm vững trí tuệ của mình thì mới có thể vượt qua những kỳ thi khắc nghiệt, đạt được danh vọng, như những con cá chép vượt được vũ môn hoá rồng bay lên vậy.Phải chăng hình tượng cá chép vượt vũ môn được đặt ở đây, ở nơi trung gian giữa cõi đời thường và chốn thâm nghiêm của văn chương để nhắc nhở mỗi người nho sinh trường Giám, hay cho mỗi chúng ta, muốn đỗ đạt hiển hách, muốn được vinh quang, muốn ra giúp đời thì cần phải lao tâm học hành, cần đạt được tài, thành được đức vậy.

Kính thưa quý khách, đi qua Đại Trung Môn, vẫn theo con đường nhất chính đạo này chúng ta đã cào khu thứ hai của Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Trước mắt quý khách chính là Khuê Văn Các, biểu tượng văn hoá cao đẹp của Thăng Long – Hà Nội, nghìn năm văn hiến.

Hai bên của quý khách giống như trong khu thứ nhất, là hai hồ nước nhỏ hình chữ nhật chạy dài theo tường bao phía ngoài.

Như vậy, quý khách có thể thấy khu nội tự của Văn Miếu Quốc Tử Giám có bốn chiếc hồ nhỏ này, cộng với giếng Thiên Quang trong kia là 5 hồ, hay “ngũ hồ”, tên một cảnh đẹp nổi tiếng của Trung Quốc, nguồn cảm hứng của các bậc văn nhân xưa nay.

Năm khu hồ còn ứng với ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, đồng thời còn gắn với yếu tố phong thuỷ khi xây dựng các công trình kiến trúc cổ là “Thượng trí hạ trí” trên nhà dưới ao, đã có ao là phải có vườn, cây cỏ.

Ao có nước, nước là thuỷ – nguồn gốc đầu tiên của sự sống.

Theo luật tương sinh của ngũ hành kinh dịch thì thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thuỷ.

Thế là hài hoà cả âm dương, ngũ hành, đem lại cho Văn Miếu Quốc Tử Giám khí thiêng bền vững muôn đời.Vâng, và bây giờ chúng ta đang đứng trước khê Văn Các.

Quý khách có thể nhận thấy Khuê Văn Các là một toà lầu có hai tầng: tầng dưới là 4 trụ gạch to lớn, bề thế và để trống không, biểu trưng cho âm, cho mặt đất.

Tầng trên là một kiến trúc gỗ hai tầng mái lợp ngói ống, vươn lên cao thanh thoát, sơn màu đỏ, vàng rực rỡ, tượng trưng cho trời, cho yếu tố dượng.

Như vậy cả toà Gác đã mang đầy đủ yếu tố âm dương, hội tụ cả đất trời, hài hoà trong vũ trụ như ước vọng một nền văn hiến phát triển mãi mãi.

Khuê Văn Các có tám mái, tượng của bát quái, lại có thêm một nóc ở trên là 9, số cửu tri, cực dương.

Bốn mặt tường của tầng trên là các hoa văn bằng gỗ lớn, mỗi mặt có một cửa tròn, có những thanh gỗ chống được tiện cách điệu toả ra bốn phía.

Kính thưa quý khách, các cửa sổ tròn trong khung gỗ vuông nói lên quan niệm trời tròn đất vuông, cửa sổ tròn với các thanh đỡ như một ngôi sao đang toả sáng rực rỡ, chiếu rọi những tia sáng khoẻ khoắn xuống nhân gian.

Làm gỗ có chứa một khoảng để bắc thang lên xuống, bốn cạnh có diềm gỗ chạm trổ tinh vi, xung quanh là lan can con tiện, như biểu trưng cho sự giới hạn trong cuộc đời mỗi người, phân chia, khu biệt các hạng người khác nhau, các lan can con tiện chỉ bao bốn góc mà không khớp vào nhau, như là sự gián đoạn, khu biệt các loại học trò khi tiếp thu tư tưởng nho giáo, tiếp thu học vấn.

Trong số họ, có người học một biết mười, có người hiểu nhiều, có người hiểu ít, lại có người không tiếp thu được gì, nhưng tất cả họ vẫn nằm trong ánh sáng của sao Khuê.

Gác này mang tên “Khuê Văn” – Vẻ đẹp của Sao Khuê, theo cách lý giải truyền thống về thiên văn thì Khuê là tên một ngôi sao trong chòm 28 sao (bởi vậy Lê Thánh Tông mới lập một hội thơ văn gồm 28 người đặt tên là “Tao đàn Nhị thập Bát Tú”, ở đầu Bạch Hồ phương Tây có 16 ngôi, sắp xếp khúc khuỷu giống hình chữ Văn.

Trong sách “Hiếu kinh có ghi “Khuê chủ văn chương”.

Về sau người ta coi sao Khuê biến hoá thành vị thần đứng chủ văn chương.

Gác lấy tên của Sao Khuê thể hiện ý chí vươn lên đỉnh cao trí tuệ của con người Việt Nam.

Bên cạnh dòng chữ Đại tự “Khuê Văn Các”, quý khách chúng ta có thể nhìn thấy một hàng dọc chữ nhỏ, là “Gia Long tứ niên xuân” cho biết Gác này được làm vào năm Gia Long thứ bốn (1805).

Gác được xây dựng bởi tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành trong đợt ông chỉnh trang lại Văn Miếu Quốc Tử Giám thành Văn Miếu của Bắc Thành sau khi Quốc Tử Giám được di chuyển vào Huế cùng với việc dời đô của Vua Nguyễn Gia Long.

Có thể nói Gác Khuê Văn không chỉ mang nhiều ý nghĩa tâm linh, triết học mà nó còn là một kiệt tác kiến trúc, thể hiện những nét đặc sắc, riêng biệt.

Sáng tạo của kiến trúc triều Nguyễn.

Tuy rằng quy mô của nó khá nhỏ bé.

Có thể nói, kiến trúc của Khuê Văn Các, cũng như các kiến trúc khác thời Nguyễn khá giản dị nhưng xinh xắn và tao nhã.

Đặc biệt ở đây cách thức kiến thức cổ điển với các bẩy nhô ra đã bị thay thế bằng các con sơn đua ra hai, ba lớp từ thân cột một cách nhẹ nhàng và nằm ngang, lớp dưới đỡ lớp trên, để cuối cùng đỡ tàu, đưa mái đua ra chân cột.

Người ta gọi thức kiến trúc như thế này là “con sơn giả thủ” (Con sơn giả cánh tay đỡ mái) hay “chồng sơn”.

Đây là một sáng tạo độc đáo của kiến trúc thời Nguyễn mà Khuê Văn Các còn bảo lưu được hầu như nguyên vẹn.Gác Khuê Văn không những chỉ xinh xắn, tao nhã mà còn được đặt giữa những cây cổ thụ xanh tốt, cạnh giếng Thiên Quang đầy nước trong xanh in bóng gác rung tinh, càng làm tăng thêm vẻ đẹp của nó.

Khuê Văn Các xứng đáng với lời bình là một viên ngọc trong khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.

Hai bên của Khuê Văn Các là hai cổng nhỏ có tên là Bí Văn (ở bên trái) và Súc Văn (bên phải) tức là văn chương trau chuốt, sáng sủa và hàm ý, súc tích có sức truyền cảm thuyết phục con người.

Đó là yêu cầu, mục đích của các nho sinh xưa khi làm bài văn chương.

Nó cũng nói lên rằng, xưa kia, nơi vị trí của Gác Khuê Văn là chốn bình văn của các nho sinh trường Giám và sĩ từ khắp mọi nơi trong kinh thành theo Phạm Đinh Hổ, chép trong vũ trung tuỳ bút PTK 18) thì: theo lệ định sẵn, cứ mỗi tháng, trước ngày mùng một và ngày rằm thì nhà Quốc học mở cuộc bình văn.

Các bài văn được đem ra bình là các bài tập định kỳ của các nho sinh trường Giám và sĩ tử các nơi về kinh chờ ngày thi Hội.

Các kỳ binh văn này tổ chức rất long trọng có thể mời các quan chức cao cấp trong triều và các nhà khoa bảng đến dự, không khí trang nghiêm và giàu tính nghệ thuật.

Một không gian, một hoạt động đầy tính văn hoá của cha ông ta, phải không quý khách, ngày hôm nay, thử hỏi còn bao nhiêu hoạt động như vậy.

Xin mời quý khách chúng ta tiếp tục cuộc tham quan.

Vừa qua khu thứ hai, bây giờ chúng ta đang trong khu thứ ba của Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, còn gọi là khu vườn bia hay bia đình.

Chính giữa khu này, chúng ta có thể thấy một hồ nước hình vuông có tên Thiền Quang Tỉnh (giống ánh sáng trời), Thiên Quang - ánh sáng từ trời, cái tên được đặt cho hồ nước này như ý muốn thu nhận mọi tinh tuý của vũ trụ, tinh hoa của đất trời, rồi như mặt gương phản chiếu, phản xạ những tinh hoa đó lên con người, làm cho con người thu nhận được cái tinh tuý của vũ trụ, soi sáng tri thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp tính nhân văn.

Ước chi chúng ta, hướng dẫn viên và tất cả quý khách cùng chung hưởng được phần nào những tinh hoa đó, những ánh sáng tinh tuý từ trời.

Kính thưa quý khách!

Không phải ngẫu nhiên Thiên Quang Tỉnh lại có hình vuông và nằm cạnh Khuê Văn Các, đó là cả một sự biểu trưng mang ý nghĩa tâm linh và triết học Đông phương sâu sắc.

Giếng hình vuông, làn nước trong xanh tượng trưng cho đất, cho yếu tố âm, lại soi bóng Khuê Văn Các có gác tròn, sơn son rực rỡ, tượng cho trời, cho yếu tố dương.

Giếng sâu thăm thẩm, là thái âm, nhưng phản chiếu ánh mặt trời là thiếu âm.

Gác Khuê Văn vươn cao là thái dương nhưng lại soi bóng xuống mặt giếng là thiếu dương.

Vậy đó, cả đất trời, âm dương, cả lưỡng nghi, tứ tượng đều hội tụ nơi này, như điều muốn nói của các bậc túc nho xưa: Nơi đây, nơi đền đài của văn chương là tụ hội của tinh hoa trời đất, nơi lưu giữ khí thiêng để rồi toả sáng cho muôn đời.Giếng Thiên Quang tuy nhỏ, nhưng quanh năm đầy nước, mặt nước bằng phẳng như tấm gương soi bóng Khuê Văn, những tấm bia đá trầm mặc và bóng dáng những cây cổ thụ trăm tuổi làm cho cảnh sắc càng trở nên thâm trầm, trang nghiêm mà đẹp mắt.

Hai bên Tả hữu hành lang của Giếng, các cụ xưa đã mở hai cửa xây bậc để xuống giếng.

Tương truyền lấy nước giếng này mà mài mực thì viết chữ sẽ đẹp, thi cử sẽ đỗ đạt.

Bởi vậy, chắc hẳn xưa kia nơi đây đã từng lưu dấu bao chàng sĩ tử đến xin nước mài mực.

Kính thưa quý khách, những hiện vật quý giá nhất của khu di tích này chính là 82 tấm bia tiến sĩ mà chúng ta đang thấy ở đây.

Đó là chứng tích của truyền thống hiếu học và vinh danh những con người đỗ đạt, có tri thức của dân tộc Việt Nam.

82 tấm bia này được phân làm hai khu, mỗi khu 41 bia đối xứng qua giếng Thiên Quang.

Các bia đá này đều được đặt trên lưng các con rùa đá ngổng cổ, 4 chân xoè ra.

Kính thưa quý khách!

Dân gian ta có câu:

“Thươngthay thân phận con rùa

Lên đình cõng hạc, xuống chùa đội bia”

Câu ca dao này đã cho ta thấy hình ảnh quen thuộc của con rùa trong đời sống của người Việt Nam.

Ít có tấm bia đá cổ nào được dựng ngay trên nền đất mà thường được đặt trên lưng rùa.

Hàng thế kỷ nay tại đây, 82 chú rùa vẫn nhẫn nại đội bia đá trên lưng.Trong vũ trụ quan của người Á Đông, Rùa được xem là biểu tượng của vũ trụ, mai rùa tượng trưng cho bầu trời, còn bụng rùa tượng trưng cho mặt đất.

Trong sự đối đãi này mà phát sinh, phát triển, phần nào đồng nhất với sự trường tồn và hạnh phúc.

Bia được đặt trên lưng rùa nhằm khẳng định sự trường tồn của trí tuệ, tinh hoa của dân tộc, biểu trưng cho sự giữ gìn thành tích của các nhân tài đời trước làm tấm gương cho muôn đời sau, thể hiện truyền thống hiếu học, trọng người tài của dân tộc Việt Nam.

Hai toà bia đình được xây dựng vào năm 86 xây trên nền cao, bốn mặt bỏ trống.

Xưa kia, xuân thu nhị kỳ, khi trong điện thánh tế lễ khổng tử thì ở đây cũng sắm sửa lễ vật tế lễ các vị tiên nho mà quý danh được khắc trên bia đá dựng nơi cửa hiền tài.

Hiện nay hai đình kia là nơi đựng 2 tấm bia của hai khoa thi đầu tiên của triều Lê là khoa thi năm 1442 và khoa thi năm 1448.

Còn lại 80 tấm bia đá được sắp xếp không theo thứ tự thời gian, triều đại, hoặc kích thước lớn nhỏ mà đan xen lẫn nhau.

Nhà che bia lúc đầu đã có và được tu sửa nhiều lần, đến cuối thế kỷ 18 thì bị tàn phá hết.

Đến năm 1994 mới dựng lại được.

Cũng chính tại nơi này, vào cuối thế kỷ 18, sau khi quân Mãn Thanh chay thục mạng khỏi kinh thành Thăng Long, vua Chiêu Thống đốt cung điện chúa Trịnh mười ngày chưa tắt lửa, dân chúng làng Văn Chương quanh Văn Miếu, cám cảnh trước cảnh các tấm bia hoang tàn, trơ gan cùng mưa gió đã làm tờ trình dâng lên Vua Quang Trung xin được trùng tu lại Văn Miếu nhà Vua đã ngự phê bằng hai câu thơ Nôm mà hôm nay nhiều người còn thuộc:

“Mai sau xây lại nước nhà

Bia nghè dựng lại trên toà muôn gian”

Vị vua khởi đầu cho việc dựng bia tiến sĩ là vua Lê Thánh Tông một vị Hoàng Đế được coi là minh quân số một trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Các triều đại tiếp theo của triều Lê, Mạc cũng tiếp tục dựng bia ghi danh các vị tiến sĩ đỗ đạt với mục đích nhằm biểu dương nho sĩ hiển đạt, khuyến khích việc học trong nước, khẳng định vai trò và giá trị của nhân tài, răn dạy kẻ sĩ về trách nhiệm đạo lý, khuyến khích điều lành, ngăn ngừa điều ác.Trong tấm bia đầu tiên dựng năm 1484 viết về khoa thi năm 1442, Thân Nhân Trung đã ghi lại câu nói, mà ngày nay đã trở nên nổi tiếng: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi đi xuống.

Vì vậy các bậc thánh đế minh vương chẳng ai là không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên.

Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế cho nên quý trọng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng?

Câu nói đã khẳng định vai trò vị trí của nhân tà, của tầng lớp người có tài năng đối với đất nước, đồng thời cũng đề cập đến vấn đề đãi ngộ, tạo điều kiện cho học cống hiến cho đất nước.

Đó là những vấn đề mà đến thời đại ngày nay vẫn đang còn có tính thời sự cấp thiết, thế mới hay tầm nhìn của các cụ xa đến chừng nào.Về chủ trương, bia được dựng sau mỗi kỳ thi nhưng không mấy khi được làm ngay.

Từ năm 1442 đến năm 1787 dưới Triều Lê đã tổ chức 124 khoa thi, Triều Mạc tổ chức 21 khoa thi, nhưng hiện nay ở Văn Miếu Quốc Tử Giám chỉ lưu giữ 82 bia được chi thành một khu Đông – Tây.

Các bia này được làm tập trung vào ba đợt là:

Đợt 1: Năm 1484 dựng 10 bia cho các khoa thi từ 1442 – 1484

Đợt 2: Năm 1653 dựng 25 bia cho các khoa thi từ 1554 – 1652

Đợt 3: Năm 1717 dựng 21 bia cho các khoa từ 1656 – 1712.

Còn lại 26 tấm bia dựng ngay sau các khoa thi.

Như vậy có rất nhiều khoa thi không được dựng bia, hoặc có dựng bia những đã mất.

Gần đây khi nạo vét cải tạo giếng Thiên Quang đã phát hiện thêm 2 con rùa đá đã mất bia.

82 Tấm bia đá, được làm bằng đá xanh (Thanh Thạch) lấy từ núi An Thạch, Đông Sơn, Thanh Hoá, ghi danh 1307 vị đỗ đại khoa của 82 khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779, là những di vật giá trị bậc nhất của di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám niềm tự hào của nền văn hoá - giáo dục dân tộc đã tạo nên và lưu giữ được một pho sử đá có giá trị về nhiều mặt.

Qua đó, chúng ta hôm nay có thể thấy được quan điểm về giáo dục thời phong kiến, không khí học hành thi cử, tên học của các bậc danh nho và các địa phương dòng họ có truyền thống khoa bảng.

Người đầu tiên được khắc tên lên bia đá là Trạng Nguyên Nguyễn Trực, quê Bối Khê, Thanh Oai, Hà Tây, đỗ trạng nguyên khoa thi năm 1442 đời vua Lê Thái Tông.

Vị tiến sĩ cuối cùng có tên trên bia đá là tiến sĩ Phan Huy Ôn, quê Nghệ An, đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1779.

Qua văn bia, ta còn tìm thấy tên tuổi của những nhân vật lịch sử lừng lẫy trong lịch sử dân tộc Việt Nam như Nhà sử học Ngô Sĩ Liên, quê Chức Sơn, Chương Mỹ, Hà Tây, tiến sĩ năm 1442, người đã soạn bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” gồm 15 tập, bộ sử học lớn nhất thời phong kiến, rồi nhà Bác học Lê Quý Đôn, Bảng khoa thi 1752, bộ óc vĩ đại của lịch sử phong kiến Việt Nam, tác giả của các công trình nổi tiếng n
 
Nghiệp Vụ Lhhd
bdg


Tiếp tục phần 2 của loạt bài về bãi cọc Bạch Đằng mới được phát lộ!

Bãi cọc Cao Quỳ mở ra hướng nghiên cứu mới

Các nhà khoa học cho rằng việc phát hiện bãi cọc Cao Quỳ mở ra hướng nghiên cứu mới về chiến dịch Bạch Đằng Giang, có thể làm thay đổi nhận định trước đây.

Chiều 20/12, đoàn chuyên gia của Viện Khảo cổ học, Hội Sử học và Viện Địa chất Việt Nam cùng đại diện lãnh đạo thành phố Hải Phòng thực địa tại bãi cọc vừa được khai quật trên cánh đồng Cao Quỳ, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên.

Các nhà khoa học xác định đây là bãi cọc quy mô lớn, quan trọng, liên quan đến chiến dịch Bạch Bằng Giang chống quân xâm lược Nguyên Mông của quân, dân nhà Trần năm 1288, do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy.

Bãi cọc được Trần Quốc Tuấn đóng dưới lòng sông Đá Bạc, tại ngã ba dẫn vào con lạch thông ra sông Giá, để ra cửa sông Bạch Đằng.

Qua gần 1000 năm, phù sa bồi đắp, dòng chảy thay đổi, đặc biệt tác động của con người nên lòng sông bị thu hẹp và bãi cọc xưa giờ thành một phần cánh đồng trù phú.

Ngoài cọc bằng gỗ lim, nhiều cọc bằng gỗ sến, táu...

Cọc dài nhất gần 5 m, ngắn hơn 2 m; đường kính lớn 0,5 m, nhỏ 0,2 m.

Tất cả cọc được bảo quản tốt hơn nhiều so với cọc tại bãi cọc Quảng Yên (Quảng Ninh).

Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học còn chưa lý giải được cọc đóng xuống thế nào vì kết quả khai quật cho thấy nhiều chân cọc bằng.

Giáo sư sử học Lê Văn Lan cho rằng bãi cọc Cao Quỳ được phát lộ cho thấy chiến thắng của quân dân nhà Trần năm 1288 là "Chiến dịch Bạch Đằng Giang" chứ không phải là "Trận Bạch Đằng Giang" như nhận thức lâu nay.

Chiến dịch được chia làm ba giai đoạn.

Giai đoạn 1 là chặn đánh nhằm tiêu hao sinh lực địch.

Giai đoạn 2 là ngăn không cho địch đi vào đường tắt từ ngã ba sông Đá Bạch, rẽ vào con lạch dẫn ra sông Giá, thông với cửa sông Bạch Đằng.

Giai đoạn 3 là trận quyết chiến giành chiến thắng trên sông Bạch Đằng.

Bãi cọc Cao Quỳ nằm trong giai đoạn 2 của chiến dịch Bạch Đằng Giang năm 1288.

Để chặn giặc đi vào sông Giá, giữ bí mật trận địa cọc đã được bố phòng trên sông Bạch Đằng, Trần Hưng Đạo đã cho lập bãi cọc Cao Quỳ.

"Để có cái nhìn tổng quan và khách quan hơn về chiến dịch Bạch Đằng Giang, chúng ta phải nghiên cứu giai đoạn 1 và 2", ông Lê Văn Lan nói.

Cùng quan điểm với giáo sư Lan về tầm quan trọng của bãi cọc Cao Quỳ, GS Vũ Minh Giang, Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, cho rằng việc phát hiện bãi cọc Cao Quỳ mở ra hướng nghiên cứu mới về chiến dịch Bạch Đằng Giang.

Nó khiến các nhà nghiên cứu chưa thể đưa ra kết luận trận chiến trên đất Quảng Yên (Quảng Ninh) hay trên đất Thủy Nguyên (Hải Phòng) mới là quan trọng.

Trước đó ngày 18/12, một phần bãi cọc nhọn bằng gỗ lim phát lộ dưới lớp bùn tại 3 hố trên cánh đồng Cao Quỳ, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên.

Cọc được đóng sâu đến 2,5 m, đầu có ngoàm dùng để luồn dây kéo hoặc mộng ở giữa thân.

Mỗi cọc có đường kính 20-50 cm, chôn cách nhau 5-7 m.

Hai mẫu cọc được giám định bằng phương pháp đồng vị phóng xạ Cacbon 14 cho kết quả niên đại từ năm 1270 đến 1430.

Theo vnexpress.net

#Lê_Luân
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Thanh Xuân


Chúng ta của năm 17 tuổi luôn khác với chúng ta của năm 27 tuổi nhưng kí ức thì sẽ mãi là kí ức mà thôi.

Thanh xuân xa rồi nhưng kỷ niệm vẫn còn ở đó.

Nếu thanh xuân là một giấc mơ thì ta sẽ mơ hoài không tỉnh, và cấp 3 chính là những điều đẹp nhất trong giấc mơ đó.

Chúng ta đã gửi phần đẹp nhất, trong sáng nhất, nhẹ nhàng nhất của tuổi trẻ vào những năm cấp 3.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa chẳng chờ chẳng đợi một ai.

3 năm cấp 3 tưởng dài đằng đẵng chính thức khép lại sau khi tiếng trống bế giảng kết thúc.

1000 ngày không dài so với một đời người, nhưng là cả quãng đời tuổi trẻ, cả giấc mộng thanh xuân của bao thế hệ.

Ngày hôm nay cũng nắng vàng, trời xanh nhưng đó là ngày cuối cùng các cô cậu học trò được gọi là học sinh, ngày cuối cùng của những năm tháng học trò đầy mơ mộng.

Giấc mơ càng sâu lắng, càng ngọt ngào thì chúng ta càng không muốn tỉnh giấc.

Những ngày thanh xuân ơi, hãy mãi là những ký ức thật đẹp nhé.

Tạm biệt, tuổi học trò.

Những cô cậu học trò ngày nào mới chập chững bước vào cổng trường cấp 3 nay đã lớn, đã đủ hành trang để tự tin bước vào đời.

Không còn khoác lên mình chiếc áo đồng phục đơn giản hàng ngày, teen 12 trông chững chạc, sang trọng và trưởng thành thực sự trong những bộ quần áo dạ hội.

Chỉ đến bây giờ, khi ở giây phút chia xa, khi đã ở cuối một chặng đường, họ mới có cơ hội ngoảnh đầu lại, và nhận ra mình đã đi được xa đến thế nào, mình đã trưởng thành ra sao.

Thanh xuân như một dòng sông mà không ai có thể tắm được hai lần, hay như một dòng chảy dọc sinh mệnh, dù có mở ra hay cố ghì nắm chặt, đều chảy xuống qua những luồng kẽ tay.

Bầu trời năm 18 tuổi của tôi mang một màu sắc hiền hòa, là trời xanh, là mây trắng, là những ánh mặt trời đan lẫn vào nhau.

Trao nhau những dòng lưu bút cuối, nếu mai này gặp nhau trên đường đời, chúng ta sẽ mỉm cười với nhau thật tươi nhé!

Cái gọi là thanh xuân, là tuổi trẻ ấy thực ra không có gì xa vời cả, nó là những điều nhỏ nhất diễn ra quanh bạn suốt những ngày tháng học trò.

Là thầy cô, là bạn bè, là bảng đen, là ghế đá, là hàng cây trước sân trường, là góc căng tin kỷ niệm...

Từng chút, từng chút một, chúng thấm vào từng ngóc ngách của nỗi nhớ, của hoài niệm.

Ai cũng nói rằng thời gian tàn nhẫn, thời gian trôi nhanh bỏ lại phía sau những niềm nhung nhớ, những nỗi cô đơn, những kỷ niệm, nhưng chính chúng ta lại quên mất rằng phải sống sao để sau này nhìn lại không nuối tiếc điều gì cả.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Những câu nói hay về học sinh cuối cấp 2 buồn, ý nghĩa nhất.


Chia tay trường lớp, dãy ghế, khung cửa sổ, những gương mặt thân quen rồi, 4 năm gắn bó nhau là khoảng thời gian không hề ngắn.

Nó để lại cho những cô cậu học sinh những cảm xúc bịn rịn.

Những câu nói sau sẽ phần nào nói lên được cảm xúc ấy.

Đẹp nhất vẫn tuổi học trò

Những tuổi xuân của chúng ta

Còn đó, nhưng không bao giờ trở lại…

Chúc các anh chị sẽ thi tốt nghiệp thật tốt và sẵn sàng hành trang bước vào đời

Những phút giây cuối được ở bên bạn bè thầy cô và mái trường thân yêu.

Tiếng trống trường vang lên kết thúc đời học sinh nghe thật buồn.

Sẽ nhớ nơi này lắm, biết bao kỉ niệm.

Nhiều lúc tổn thương, tôi tự hỏi, liệu cậu có giống như một cơn mưa mùa hè, bất chợt rẽ vào cuộc đời tôi, làm tôi vui thích cuống cuồng, rồi lại vội vã qua đi, liệu chờ đợi cậu có giống như chờ đợi 1 cơn mưa giữa mùa hè không???

Sự chờ đợi mòn mỏi đến tuyệt vọng..

Nhưng, tôi vẫn có một chút niềm tin nơi cậu.

Cậu đã từng là động lực cho tôi.

Yêu cậu.

Cấp 2, tôi chỉ biết có độc vài ba con đường, quanh quẩn từ nhà tới trường, rồi từ trường ra mấy quán game.

Riết 4 năm, chỉ có vậy, đơn giản, bé nhỏ, chật chội, và nông cạn, như chính trái tim và đầu óc thằng tôi khi đó.

Cấp 2, giá như ngày đó trái tim tôi biết rộng mở hơn, biết chừa chỗ cho tình yêu thương giữa người với người, biết cảm thông cho những con người khốn khó, biết cảm phục những điều bình dị, tôi sẽ yêu một mối tình đầu bằng một ngôn ngữ không lời và một trái tim dũng cảm.

Tôi rất nhớ chúng ta của năm đó, hối hả chạy tới lớp khi nghe tiếng chuông báo, ngủ gà ngủ gật vì bài giảng nhàm chán, hò hét ầm ĩ khi được nghỉ đột xuất, hay phải thức ôn thi đến sáng chỉ bởi vì lúc trước không học bài.

Những năm mà tôi và bạn đều không có gì, chỉ có thời gian vừa dài vừa rộng…

Tôi tạm biệt tuổi học trò với những xúc cảm tuyệt vời nhất của mình, vui có, buồn có, luyến tiếc cũng có…

Những cảm giác đó sẽ theo tôi mãi… k bao giờ quên.

Chúng ta chẳng phải suy nghĩ có nên chuồn tiết này không nữa.

Bởi vì chúng ta chẳng còn tiết mà học.

Mùa thu nay, cái phòng học mà các bạn luôn muốn trốn tiết ấy vẫn cứ đầy học sinh ngồi đó.

Chỉ là những người ngồi đó sẽ chẳng còn là chúng ta…

Ai trong chúng ta cũng đi qua một thời áo trắng!

Đến khi bôn ba giữa cuộc đời muôn sự đa đoan mới biết những ngày ấy thuần thiết vô cùng.

Tuổi thanh xuân cũng như mây trời

Những ngày cuối cùng là những khoảng khắc không bao giờ quên.

Chúng ta gần nhau hơn, biết quan tâm hơn.

NHANDAOVADOISONG

STT HAY

TÀI LIỆU

GIÚP BẠN

Home

Cuộc Sống

stt hay

Sưu tầm những câu nói hay về học sinh cuối cấp 2 buồn, ý nghĩa nhất

nhandaovadoisong

24 Tháng Sáu, 2019

Nội Dung Chính

Sưu tầm những câu nói hay về học sinh cuối cấp 2 buồn, ý nghĩa nhất.

Tuổi học trò luôn là độ tuổi đẹp đẽ nhất của chúng ta, bởi sự hồn nhiên quá đỗi cùng với lũ bạn thân .Hồn nhiên tung tăng cắp sách tới trường.

Rồi tất cả sẽ trở thành kỷ niệm của 4 năm cấp 2 khi kết thúc khóa học để bước sang một ngôi trường mới với sự trưởng thành hơn đó là cấp 3.

Hãy cùng hoài niệm những kỉ niệm đẹp đẽ qua những dòng stt dưới đây.

Những câu nói hay về học sinh cuối cấp 2 buồn, ý nghĩa nhất.

Chia tay trường lớp, dãy ghế, khung cửa sổ, những gương mặt thân quen rồi, 4 năm gắn bó nhau là khoảng thời gian không hề ngắn.

Nó để lại cho những cô cậu học sinh những cảm xúc bịn rịn.

Những câu nói sau sẽ phần nào nói lên được cảm xúc ấy.

Đẹp nhất vẫn tuổi học trò

Những tuổi xuân của chúng ta

Còn đó, nhưng không bao giờ trở lại…

Chúc các anh chị sẽ thi tốt nghiệp thật tốt và sẵn sàng hành trang bước vào đời

Những phút giây cuối được ở bên bạn bè thầy cô và mái trường thân yêu.

Tiếng trống trường vang lên kết thúc đời học sinh nghe thật buồn.

Sẽ nhớ nơi này lắm, biết bao kỉ niệm.

Nhiều lúc tổn thương, tôi tự hỏi, liệu cậu có giống như một cơn mưa mùa hè, bất chợt rẽ vào cuộc đời tôi, làm tôi vui thích cuống cuồng, rồi lại vội vã qua đi, liệu chờ đợi cậu có giống như chờ đợi 1 cơn mưa giữa mùa hè không???

Sự chờ đợi mòn mỏi đến tuyệt vọng..

Nhưng, tôi vẫn có một chút niềm tin nơi cậu.

Cậu đã từng là động lực cho tôi.

Yêu cậu.

Cấp 2, tôi chỉ biết có độc vài ba con đường, quanh quẩn từ nhà tới trường, rồi từ trường ra mấy quán game.

Riết 4 năm, chỉ có vậy, đơn giản, bé nhỏ, chật chội, và nông cạn, như chính trái tim và đầu óc thằng tôi khi đó.

Cấp 2, giá như ngày đó trái tim tôi biết rộng mở hơn, biết chừa chỗ cho tình yêu thương giữa người với người, biết cảm thông cho những con người khốn khó, biết cảm phục những điều bình dị, tôi sẽ yêu một mối tình đầu bằng một ngôn ngữ không lời và một trái tim dũng cảm.

Tôi rất nhớ chúng ta của năm đó, hối hả chạy tới lớp khi nghe tiếng chuông báo, ngủ gà ngủ gật vì bài giảng nhàm chán, hò hét ầm ĩ khi được nghỉ đột xuất, hay phải thức ôn thi đến sáng chỉ bởi vì lúc trước không học bài.

Những năm mà tôi và bạn đều không có gì, chỉ có thời gian vừa dài vừa rộng…

Tôi tạm biệt tuổi học trò với những xúc cảm tuyệt vời nhất của mình, vui có, buồn có, luyến tiếc cũng có…

Những cảm giác đó sẽ theo tôi mãi… k bao giờ quên.

Chúng ta chẳng phải suy nghĩ có nên chuồn tiết này không nữa.

Bởi vì chúng ta chẳng còn tiết mà học.

Mùa thu nay, cái phòng học mà các bạn luôn muốn trốn tiết ấy vẫn cứ đầy học sinh ngồi đó.

Chỉ là những người ngồi đó sẽ chẳng còn là chúng ta…

Ai trong chúng ta cũng đi qua một thời áo trắng!

Đến khi bôn ba giữa cuộc đời muôn sự đa đoan mới biết những ngày ấy thuần thiết vô cùng.

Tuổi thanh xuân cũng như mây trời

Những ngày cuối cùng là những khoảng khắc không bao giờ quên.

Chúng ta gần nhau hơn, biết quan tâm hơn.

Ở khoảng khắc ấy.

Bạn mới thấu hiểu cảm giác này — Xa rồi thời áo trắng.

Nước mắt thay buổi chia tay.

Hôm nay là một ngày thật ý nghĩa 🙂) người bắt đầu cũng là người kết thúc, đi được một vòng tuổi trẻ qua bao nhiêu người rồi lại trở về vị trí bắt đầu, gặp người đầu tiên….

Năm tháng không quay trở lại… tôi xoè bàn tay đang nắm chặt cánh thư phượng vĩ, để gió cuốn đi những tháng năm đẹp nhất của tuổi thanh xuân bay đi mãi mãi.

Không có cuộc gặp nào tránh khỏi phút chia tay.

Biết là thế nhưng vẫn thật không nỡ.

Thời gian có thể lạnh lùng đến mức nào nữa.

Cuối cùng cũng không phải sợ nơm nớp bị cô túm lên bảng, không còn sợ bị cô phát hiện lúc ngủ gật cũng không cần thót tim khi bị cô gọi lên trả bài.

Đáng sợ nhất không phải là chia ly mà là sự nuối tiếc, cái gì đến rồi cũng sẽ đến chẳng tránh được.

Thật không nỡ mà!

Đợi đến mùa hè năm sau, phòng học kín chỗ ngồi đáng tiếc cũng không phải là chúng tôi.

Một lần thi, bốn trang bài thi, đi qua bốn năm, thêm một mùa hạ.

Mấy ngày cuối cùng, những bạn nam cho dù bình thường có nghịch ngợm đến đâu cũng khoác lên mình bộ đồng phục ký đầy tên của cả lớp.

Vài người bình thường mình ghét cũng cảm thấy dễ thương.

Chỉ là, đã không thể tụ tập đông đủ nữa rồi.

Nhìn chữ một cái là biết vở của ai.

Ngửi mùi một cái là biết quần áo của ai.

Thi xong cuối cùng một môn, chuông reo, thầy giám thị thu bài đầy đủ, quay lại nói với chúng tôi: “Chúc mừng các em đã thuận lợi vượt qua kì thi, mọi người vất vả.”

Tự nhiên hốc mắt ươn ướt.

Đây là thật.

Kết thúc rồi.

“Vào ngày bế giảng cuối cấp, tôi đã không kịp đến bên đứa bạn đã không còn chơi chung hồi đó và nói rằng: “Chúc mày tốt nghiệp vui vẻ và…mình làm hòa nhé!”

Tốt nghiệp giống như một ô cửa thủy tinh, chúng ta phải đâm vỡ nó, sau đó lau sạch những mảnh nhỏ sắc bén, đi qua một mảnh máu xót, để bắt đầu một cuộc đời mới hoàn toàn khác.

Một bức ảnh tốt nghiệp chỉ cần 3 giây để chụp, nhưng nó lại lưu giữ kỷ niệm của suốt 3 năm thời gian.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Những câu nói hay về thời học trò khiến bạn cảm động


Khoảng khắc chia tay trường lớp, bạn bè là lúc chúng ta cảm thấy buồn nhất, nhớ nhung nhất.Chưa chia tay mà đã rưng rưng nước mắt bởi những gì sắp diễn ra trước mắt – xa những người bạn đã đồng hành với mình qua bao mùa thi cử, học hành.

1.

Nụ cười tôi luôn mong được thấy, nay chỉ còn là kỷ niệm.

2.

Có lẽ là lúc chào cờ, mình lén quay đầu lại nhìn cậu ấy, và phát hiện cậu ấy cũng đang nhìn mình, hơn nữa còn mỉm cười với mình.

3.

Hóa ra chúng mình từng kề sát với tình yêu như vậy.

4.

Khoảng cách từ tầng 1 đến tầng 4, hóa ra, chỉ có 3 năm.

5.

Cấp 3 là quãng thời gian khó quên nhất.

Là bài Văn viết mãi không xong, là đề Toán khó đến phát khóc, là cậu bạn dễ thương lớp bên cạnh, là cuộc sống sinh hoạt với ba điểm thẳng hàng: Nhà, trường, chỗ học thêm.

Đó là quãng thời gian buồn tẻ nhưng cũng phong phú nhất trong đời.

6.

Những người mình từng ghét cay ghét đắng hồi học cấp 3, lên đại học lại là những người mình nhớ nhất.

7.

Hóa ra ảnh tốt nghiệp lại là bức ảnh duy nhất chụp chung của tớ và cậu.

8.

Kể từ ngày ấy trên áo cậu không còn mùi nắng.

9.

Giữa trưa hè nắng, rèm che xanh xanh, quạt tròn trên mái, và cậu đang say ngủ ngay trước bàn tớ ngồi.

10.

Tiếng chuông vào giờ, tan lớp.

Tiếng cô giảng bài, tiếng thầy dạy dỗ.

Tiếng chúng bạn tíu tít.

Tiếng ăn vụng trong giờ.

Tiếng lật sách, tiếng bút thước.

Tất cả những âm thanh ấy đều là thanh xuân.

11.

Hai người bạn tưởng chừng như hình với bóng, tốt nghiệp rồi cứ tự nhiên xa nhau, mối quan hệ cứ nhạt dần, nhạt dần, không thân cũng chẳng lạ.

12.

Lúc nào cũng thầm mến, chẳng dám tỏ tình, được một lần chủ động tỏ tình, lại bị từ chối, cuối cùng hẹn hò với một người mình chẳng có mấy tình cảm, để rồi sau lại chia tay.

Tiếc nuối nhất là khi ấy không thoải mái mà yêu một lần.

13.

Cứ ra chơi là ùa ra ngoài.

Ngày bé là xuống sân trường, lớn thêm một chút là túm năm tụm ba ngoài hành lang nói chuyện, rồi chỉ trỏ.

Mỗi lần thầy cô đi qua đều dọa, không được dựa vào lan can không nó gãy.

14.

Sân bóng, canteen, cầu thang, hành lang khuất…

đâu đâu cũng có góc áo được gió khẽ thổi bay của cậu ấy…

Góc áo tôi từng nắm được trong tay cuối cùng cũng để vuột mất.

15.

Sắp tốt nghiệp, sắp “ân đoạn nghĩa tuyệt” với cái chức “học sinh, sinh viên”.

16.

Vất vả lên xuống vì cái luận văn mới là kỉ niệm khó quên của mình.

17.

Có một loại tốt đẹp mang tên Thanh Xuân, có một loại chia ly mang tên Tốt Nghiệp.

18.

Tốt nghiệp giống như một ô cửa thủy tinh, chúng ta phải đâm vỡ nó, sau đó lau sạch những mảnh nhỏ sắc bén, đi qua một mảnh máu xót, để bắt đầu một cuộc đời mới hoàn toàn khác.

19.

“Sao dạo này mày cứ đánh tao mãi thế?”

“Vì tao sợ tốt nghiệp rồi sau này không còn cơ hội đánh mày nữa.”

20.

Một bức ảnh tốt nghiệp chỉ cần 3 giây để chụp, nhưng nó lại lưu giữ kỷ niệm của suốt 3 năm thời gian.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Cấp 3


Tuần trước, khi được giao đề tài này, sếp chỉ nói một câu ngắn: Viết gì đó về thời cấp 3 đi.

Tôi đã không khỏi băn khoăn, ngồi lỳ trước bàn phím máy tính 3-4 tiếng đồng hồ, đầu vẫn cứ xoay vòng vòng rằng ba năm cấp 3 tôi đã làm gì?

Lật dở lại trang lưu bút, hình kỷ yếu có mặt đầy đủ cả lớp vẫn còn đó (sau này mới biết rằng nó là tấm hình đầu tiên và cuối cùng 3 năm chúng tôi có).

Bên dưới, giữa những trang giấy màu đã pha màu cafe sữa, còn ép cánh phượng khô, nét mực tím…

Mọi thứ ùa về, ngày…tháng…năm… từng chút một.

B

a năm cấp 3, tôi đã làm gì?

Không phải không thể trả lời.

Mà vì 3 năm niên thiếu ấy có quá nhiều khờ dại để nhớ, để bắt đầu từ đâu, diễn trình như thế nào và kết thúc ra sao.

Thời thanh xuân của chúng ta cứ thoi đưa, một đi không trở lại.

Hồi đó, khi phượng nở rộ khắp sân trường màu đỏ thắm, những ngày cuối cùng của tháng 5, tụi học trò luôn có một nỗi buồn man mác.

Hôm nay, chúng ta tạm biệt.

T

hực hiện bài viết này, ekip đã quyết định quay về những ngôi trường cấp 3 ở Sài Gòn và đặt câu hỏi tương tự cho những bạn học sinh lớp 12: Ba năm cấp 3, bạn đã làm gì?

“3 năm cấp 3 là ghét cay ghét đắng đứa bạn chung bàn”

Nhớ năm lớp 10, lần đầu tiên cô chủ nhiệm sắp ngồi chung bàn với một đứa xa lạ.

Hồi đấy ghét cay ghét đắng đứa bên cạnh chỉ vì nó học giỏi, nó ham học, nó hiền lành, nó không bao giờ ngủ gật trong lớp, nó chẳng bao giờ mang quà vặt trong cặp…

Vậy là, cầm cây thước đo đo vẽ vẽ, phân định cái ranh giới rõ ràng chia bàn làm hai.

Sau này, năm tháng qua đi, hôm đứa chung bàn không đi học lại thấy trống vắng, hôm đứa cùng bàn ngủ gật lại thấy ngây ngô, hôm đứa chung bàn mang cho món quà vặt đầu tiên lại thấy “ôi chao! nó đáng yêu thế”.

Cái vạch kẻ cũng thế mờ nhạt dần.

Vì đứa bạn chung bàn, sau này, là một phần không thể thiếu trong ta.



Tiếc ngày xưa không chửi nhau với thằng bạn ngồi cạnh nhiều hơn, để ra trường bỗng dưng thấy nhớ nó.

Nhớ và quý nó nhất!!!”

“3 năm cấp 3 là bản tạp âm trong veo nhất của tuổi trẻ”

Tiếng thước kẻ gõ lạch cạch vào cạnh bàn, tiếng phấn trắng rơi trên bục giảng, tiếng cô dạy văn líu lo như chim sơn ca, tiếng thầy giảng êm như ru, tiếng tụi học trò tụm năm tụm bảy, tiếng trống trường, tiếng ve kêu…

Khoảng trường của những năm tháng cấp 3 là bản hợp âm trong trẻo và đẹp đẽ nhất của thanh xuân.

“Cấp 3 ở Trưng Vương là một bản nhạc trong veo nhất mà chúng ta từng nghe.

Tiếng chuông vào lớp, tan giờ.

Tiếng cô giáo giảng bài, tiếng thầy dạy dỗ.

Tiếng chúng bạn ríu rít tụm năm tụm bảy.

Tiếng ăn vụng trong giờ.

Tiếng lật sách, tiếng bút thước gõ lên canh cách.

Tất cả những âm thanh ấy đều là thanh xuân.

Và ở đó chúng ta là một nốt nhạc hòa vào nhau”

“3 năm cấp 3 là nỗi ám ảnh mang tên áo dài”

Lên cấp 3, mấy nữ sinh lại được trao một đặc quyền to bự: Là được mặc áo dài trắng tinh khôi truyền thống thể hiện sự duyên dáng của con gái Việt Nam.

Thế mà, 3 năm trời phải mặc chiếc áo đó qua nhiều mùa nắng mưa, mới thấy nỗi ám ảnh áo dài.

Giờ đây, trong ngày bế giảng cuối cùng, ta mới nhận ra đó cũng là lần cuối được mặc áo dài.

Sau này dù muốn dù không, chúng ta đã không còn cơ hội để mặc chiếc áo ngày xưa ấy lần nữa.

“Tôi đã từng rất ghét chiếc áo dài.

Ghét nhất vào những ngày mưa to mà vẫn phải cố mặc nó đến trường.

Thiệt sự ghét cay ghét đắng.

Hôm nay là ngày tổng kết, là lần cuối cùng chúng ta mặc áo dài, được ngồi nguyên ngày dài nghe thầy cô nói mà không thấy nhàm chán.

Vì đây là lần cuối tôi sẽ ngồi ở hàng ghế cấp 3, trong không khí chia ly, cũng là lần cuối cùng tôi được làm cô học sinh duyên dáng trong áo dài trắng.

Vì rằng hối tiếc, nên tôi mới càng trân trọng và quý giá nhiều hơn”

“3 năm cấp 3 là mối tình thơ vụng trộm mãi chưa nói thành lời”

Người ta nói: Mối tình tuổi học trò có lẽ là thứ tính cảm trong trẻo và đẹp đẽ nhất đời người.

Vì lúc đó, chúng ta ở cái tuổi chưa đủ trưởng thành để nghĩ nhiều, cũng không còn nhỏ bé để yêu đương hời hợt.

Tình yêu cấp 3 đơn giản lắm!

Chỉ là cái liếc vụng, nhìn trộm, thương thầm với bao lời muốn nhắn gửi không thành lời, là đôi lần ngồi cạnh nhau chung phiến ghế, cùng đi về trên khoảng sân trường rộng lớn, cùng chịu chung hình phạt, cùng đạp xe, cùng ăn uống, cùng nói chuyện và cùng nhắn tin: Ngày mới tốt lành, vào một buổi sáng đọng đầy sương nào đó.

“3 năm cấp 3 là đôi lần giận hờn vu vơ, lớp học chia rẽ, và phút cuối vẫn chưa kịp nói với nhau lời thứ tha”

Ba năm, khoảng thời gian không quá dài cũng không quá ngắn.

Gần 30 con người sống chung dưới một tập thể, và đã không ít lần xảy ra những giận hờn, chia rẽ.

Tình cảm cứ thế xa dần đi.

Sau này, bỗng có ngày thấy đứa mình ghét tự dưng đáng yêu quá, chuyện ngày ấy sao cỏn con mà cũng giận hờn, những bè nhóm cuối cùng cũng có cơ hội ngồi lại cạnh nhau, tự hào gọi mình là một tập thể.

Không có gì là quá muộn rằng khoảng thời gian chúng ta đã từng giận hờn chỉ vì những lý do không đáng, vì bốc đồng của tuổi trẻ,…

đến tận giờ vẫn chưa kịp nói lời xin lỗi và thứ tha.

“Sau tất cả, suốt ba năm qua, mình luôn nợ các bạn những lời xin lỗi.

Xin lỗi vì chúng ta chưa đủ chín chắn và đôi lần làm tổn thương nhau.

Xin lỗi vì đã để những giận hờn làm lãng phí những khoảnh khắc thật đẹp mà chúng ta từng có với nhau.

Và cuối cùng, gửi đến tôi, đến chúng ta của nhiều năm về sau, rằng ba năm sau dù đi đâu tôi cũng không bao giờ quên.

Hẹn gặp lại nhé thanh xuân!” – Bạn Ngọc Anh.

“Con xin lỗi vì đã để những lúc thầy Tài phải cáu gắt, hay những lúc ngủ triền miên tiết toán của thầy Duy

“3 năm cấp 3 mơ mộng chồng mình là một anh thần tượng ở Hường Quốc xa xăm”

SUJU, BIG BANG, BEAST, BTS, Lee Min Ho, Kim Joong Hyun…

Chúng ta có một thời tự hào rằng: Chồng tớ đó, từng cãi cọ với người yêu chỉ vì một anh thần tượng cách hàng nghìn hải lý.

Rồi thì lên kế hoạch nào là đám cưới ở Hao-Wai, tuần trăng mật Hàn Quốc, và nguyện suốt đời chờ anh ấy…

Tuổi ô mai thời ấy, có những chàng trai không bao giờ gặp gỡ, là hai đường thẳng thẳng song song mà ngày đêm chúng ta từng theo đuổi như thế!

“3 năm cấp 3 là giá như: Học ít lại, chơi nhiều hơn và bớt bốc đồng”

3 năm, chúng ta đã từng đặt mình trước 2 chữ ĐẠI HỌC to lớn, rồi cuộc sống cứ thế gói gọn trên một đường thẳng: NHÀ-TRƯỜNG-CHỖ HỌC THÊM.

Để rồi chính bản thân, sau này mới nhận ra đã đánh mất rất nhiều cơ hội được chơi cùng chúng bạn, được cúp học, được yêu ai đó khờ dại, được nói chuyện riêng và dính sổ đầu bài,…

Chúng ta luôn hối tiếc vì chưa bao giờ sống hết mình cho tuổi trẻ như thế.

Và vì còn trẻ, có quyền sai và có quyền được nói: Giá như, nếu là, ước chi, thì là…

“3 năm cấp 3 là nhận ra tấm ảnh tốt nghiệp là tấm chung duy nhất chúng ta từng có”

Chúng ta đã từng đi cạnh nhau suốt một hành trình dài, không ưu tư, nghĩ suy, lo lắng.

Cho đến phút cuối, mới nhận ra rằng chúng ta rồi sẽ có ngã rẽ tương lai, con đường phía trước sẽ không bao giờ bước chung nữa…

Nhưng lúc ấy, tấm ảnh tốt nghiệp là tầm ảnh đầu tiên và cuối cùng tôi và bạn có nhau.

“3 năm chúng ta đã đi cạnh nhau, cùng đến trường, về nhà, đến chỗ học thêm, đi chơi…

Vậy mà giờ mới nhận ra, bức ảnh tốt nghiệp là bức ảnh chung duy nhất mà chúng ta có.

Điều mình tiếc nuối nhất là đã không biết lưu giữ nhiều hình ảnh, video… về kỷ niệm hơn, để giờ tất cả phải lưu giữ bằng tim” –

“Và 3 năm cấp 3 rằng trường là nhà, thầy cô là cha mẹ, bạn bè là anh em và tất cả là một đại gia đình”

Vậy là khép lại năm tháng đẹp nhất của thanh xuân, quãng đường hơn 1.000 ngày cũng đi vào chặng đường cuối.

Giờ đây giữa khoảng trường đầy nắng, trong khi hoa phượng đang nở rộ ngày cuối tháng 5, chúng ta phải nói lời chia tay thôi.

Cảm ơn cấp 3, cảm ơn mái nhà chung, cảm ơn thầy cô đã dìu dắt, cảm ơn đại gia đình đã cho hàng chục con người xa lạ có cơ hội gặp gỡ.

Cảm ơn và chia tay nhé.

Nếu bạn đang đọc tới dòng cuối của bức tâm thư này, và nếu đang đứng cạnh đứa bạn thân thì đừng ngần ngại mà nói vào tai nó: Tao yêu mày, thì thầm thôi nhé!

N

ếu đang trong lớp học, đang tiết cuối cùng thì hãy lau bảng và ghi lại bài học mới: Con yêu cô, bằng phấn trắng.

Nếu còn tần ngần giữa sân trường và cảm thấy nuối tiếc về năm tháng thanh xuân trôi đi vội vã thì hét to lên: Tôi yêu ngôi trường này, mặc kệ tất cả.

Nếu 3 năm còn chần chừ cho một tình yêu vụng trộm mãi không thành lời, thì chỉ cần viết mẫu giấy nhỏ: Mình yêu bạn, chữ ngay ngắn vừa đủ nhìn.

Còn nếu một mình thì hãy bật radio lên, ca khúc “Năm tháng tuổi học trò” vẫn hát hơn chục năm vào cái thời khắc này.

Và đoạn “nếu có ước muốn cho cuộc đời này…” thì hãy khóc.

Vì điều ước sẽ mãi không thành hiện thực đâu.

Và vì sau này, khi nhìn lại, sẽ có đôi lần bạn hối tiếc rằng: Ba năm cấp 3, chúng ta đã làm gì?

Như tôi, chẳng thể nào trả lời được.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
🔥 24 trò chơi hoạt náo rất hay trên xe cho hướng dẫn viên du lịch 🔥


..........

1.

Trò chơi mở đầu

Sử dụng bài hát: Nhìn mặt nhau đi

Nhìn mặt nhau đi xem ai có giận hờn gì

Nhìn mặt nhau đi xem ai có giận hờn chi

Mình là anh em có chi đâu mà giận hờn

Nhìn mặt nhau đi, nhìn cái mặt nhau đi

Cách chơi

Vuốt mũi nhau đi……

Mắm tay nhau đi……

Sờ má nhau đi……

……………

Thọc lét nhau đi……

Vận dụng

Khi lên xe nhưng không thấy sự sôi nổi hào hứng, không thấy có sự đoàn kết….. hoặc lúc vừa thức tỉnh các bạn sau lúc ngủ dậy.

Tiếp theo

Mời cả xe vỗ tay một cái, hai cái, ba cái…….

Sau đó ra quy định: Số chẵn thì vỗ, hoặc số lẻ thì vỗ, hoặc có câu “xin mời” thì vỗ…….Chắc chắn sẽ có người làm sai.

Tổ chức khoảng vài lần như thế chọn ra những người làm sai (nhớ chọn để có đôi trai gái).

Dừng trò chơi và mời những đôi này rời vị trí lên đầu xe.

Hình Phạt: 1

Hát bài: Qua cầu gió bay

Yêu nhau, yêu nhau cởi áo í mà cho nhau về nhà dối rằng cha dối mẹ a í a rằng a í a qua cầu qua cầu qua cầu gió bay.

Nhớ hãy biến thái là: Cởi dép, cởi nịt, cởi nón, cởi nhẫn, ……lần lần rồi cởi áo nhé!

Hình Phạt: 2

Hát đoạn nhạc: Cao cao bên cửa sổ có hai người …….

“Hôn Nhau”

Hãy biến thái: Nắm tay nhau, vuốt tóc nhau, ….

ôm nhau và hôn nhau (nếu có thể)

Chúc các bạn thành công với trò chơi này !

2.

Trò chơi nối từ

(Nhớ dùng từ chỉ có hai tiếng Ví dụ: Ăn Cơm, Học tập, ….)

Cách Chơi: Chia Xe thành 2 đội: Đặt tên (nhớ tên ngắn cho dễ nhớ dễ gọi)

Cho hai đội One_Tù_Tỳ để tìm đội đưa ra từ trước

Ví dụ: Đội thắng là A và Đội thua là B

Đội A đưa ra từ: Đi học

Quản trò hỏi đội B là học gì?

Đội B phải trả lời, ví dụ: Học tập

Quản trò: Hỏi Đội A là tập gì?

Đội A phải trả lời Ví dụ: Tập sách

Quản trò: Hỏi đội B sách gì?

Đội B phải trả lời Ví dụ: Sách văn

………………..

Cứ như thế tới một lúc nào đó sẽ có đội đưa ra từ mà khi hỏi đội kia không tìm ra từ để nói.

Ví dụ: Nhọn Hoắt

Khi quản trò hỏi Hoắt gì chắc chắn không có câu trả lời, vậy đội đưa ra từ đó thắng.

Trò chơi này có thể tiếp tục chơi lại nhưng nhớ không cho dùng tới từ vừa rồi đội kia không trả lời được.

Trò chơi này có những lúc rất thú vị là: Có Đội đưa ra từ đầu tiên thôi là đã làm đội kia phải thua rồi.

3.

Trò chơi bị trúng số

Trò chơi này chỉ áp dụng cho một tập thể đoàn kết chịu chơi, muốn góp tiền làm quỹ để tổ chức liên hoan hay sinh nhật …. của chuyến đi.

Để công bằng và được hòa mình vào nhịp sống của mọi người trên xe, xe là một nhà, và dễ tổ chức cũng như khiến tất cả mọi người phải tham gia.

Trước hết HDV và Tài xế nên tự đóng quỹ trước một mức nào đó.

Lúc nào trên xe có người “trúng số” phải đóng số tiền nhiều hơn gấp đôi so với số tiền mà HDV đã đóng thì HDV và tài xế tự chọn cho mình một con số có hai chữ tùy ý(không trùng với số của khách), để tiếp tục trò chơi cho tơi lúc đoàn muốn dừng.

Cách chơi

Hãy lấy danh sách đoàn, vì mỗi người có mang một con số thứ tự trong danh sách, hoặc lấy số ghế làm số trúng của người đó, mỗi người mang một số có hai chữ số.

Số từ 1 đến 9 thì phải mang trước nó là con số 0.

Ví Dụ: 01, 02, 07….09

Tất cả những người “trúng số” sẽ phải chi ra một số tiền mặc định do cả đoàn quy định từ đầu.

Khi xe đang chạy trên đường, hãy cho cả đoàn chọn lấy một loại xe nào đó tùy thích, chạy theo chiều ngược lại.

Mỗi xe điều có bản số mã vùng và số thứ tự đăng ký, chúng ta hảy chọn lấy số thứ tự hiện nay gồm có 4 số (trừ xe người nước ngoài).

Hảy chọn hai con số trúng là hai số giữa, bỏ số đầu và số cuối.

Khi gặp loại xe đã chọn, hảy xem xe đó có số là bao nhiêu?

Xem thử có trung với số người nào không?

Người trúng số phải chi ra một số tiền do cả đoàn quy định lúc đầu.

Cho tới khi dừng trò chơi chắc chắn đoàn sẽ có một khối lượng “quỹ” khá lớn cho buổi liên hoan đó.

Lưu ý: Qua quá trình tổ chức trên xe, mình có một số kinh nghiệm rút ra với trò này như sau: Để tổ chức được thành công và vui vẻ thì phải áp dụng cho đối tượng khách chịu chơi.

Số lượng khách xe 25 đổ lại là đẹp và dễ kiểm soát.

Trò này có ưu điểm là làm cho khách cuốn hút vào trò chơi, không ai dám ngủ và thu được một khoản tiền khá nhiều.

4.

Trò chơi chuyền nón

Hát một bài hát trong khi truyền một chiếc mũ từ đầu người này sang đầu người kia.

Ai là người đội mũ khi kết thúc bài hát thì phải làm theo một yêu cầu nhỏ nhỏ nào đó.

5.

Trò chơi hò xứ thanh

Nhại theo điệu hò của dân xứ Thanh có vài điệu hay:

Chú ý là người quan ca phải mồm to một tí, hát cho khí thế, dõng dạc.

Đảm bảo ai nghe lần đầu hát thế này 100% đều sẽ cười vui.

Ví dụ 1 điệu :

Quan ca : Vợ la

Tập thể : hò Zô !

Quản ca : Thì mặc vợ la

Tập thể : hò Zô !

Quản ca : Nhưng mà la quá (lặp khoảng 2-3 lần để tạo tính bất ngờ)

Tập thể : hò Zô !

Quản ca : thì ta ra toà

Tập thể : Zô ta !

Zô hò ! là hò Zô ta !

Sông sâu thì mặc sông sâu

Nhưng mà sâu quá thì ta đi tầu

Đừng xa thì mặc đường xa

Nhưng mà xa quá thì ta leo đèo

Ai yêu thì mặc ai yêu

Nhưng mà yêu quá thì ta cũng chiều

Con hư thì mặc con hư

Nhưng mà hư quá thì ta cũng từ

6.

Trò chơi nếu thì

Cách chơi: Chia xe thành 02 đội tương đương 2 dãy ghế.

HDV phát cho mỗi khách một tờ (1/8 tờ A4 thôi nhé) và cho khách mượn bút viết, sau đó ra luật chơi như sau: Mỗi đội viết vào mẩu giấy một vế của Nếu ….Thì ….ví dụ: Đội A viết với từ “Nếu” (Nếu thế này, nếu thế nọ…), Đội B viết các câu cho từ “Thì” (Thì thế này, thì thế kia….) (Nhớ ghi tên ở dưới tờ giấy)

Sau khi các đội viết xong, HDV thu lại của 2 đội vào 2 chiếc mũ, trộn đều lên và bôc thăm ngẫu nhiên để đọc.

Sẽ có rất nhiều câu ghép nghe mà khiến cả xe cười đau bụng luôn.

Để tăng tính hấp dẫn, HDV nên cho phần cuối của trò chơi là phần cả xe bình chọn xem câu ghép của 2 người chơi nào hay nhất nhận giải thưởng nhỏ.

7.

Đặt câu hỏi theo nguyên âm

Tập đặt một câu theo một nguyên âm (a,e,o,u,i…) .

Người quản trò nói một nguyên âm nào đó và chỉ vào một người thì người đó phải đặt một câu có CHỦ-VỊ đầy đủ.

Chú ý là nguyên âm phải ở cuối câu, nguyên âm chỉ định phải bất ngờ – ngẫu nhiên.

Trò này rất vui, nếu quản trò biết điều khiển.

Ví dụ :

Quản trò ra vần : ồ

Trả lời : Tớ rất quí bạn Linh E vồ

Quản trò ra vần : ừn

Trả lời : Nhưng Tớ ko thích bạn Ép Poi Sừn

Quản trò ra vần : ô

Trả lời : MOD du lịch có người thích là ta ba lô

8.

Trò chơi con thỏ

HDV quy định 4 động tác:

Con Thỏ (chụm các ngón bàn tay phải, giơ lên cao ).

Ăn cỏ (chụm các ngón tay đưa lên túm tóc trên đầu).

Uống nước (chụm các ngón tay đưa vào trong miệng).

Chui vào hang (đưa tay vào lỗ tai).

Người chơi phải theo HDV và làm đúng động tác qui định.

HDV có thể đột xuất hô “uống nước” nhưng tay để lên đầu, ai làm theo sẽ bị phạt.

9.

Dàn nhạc hòa tấu

Chia xe thành 4 nhóm.

Nhóm 1: làm tiếng trống: thùng, thùng, thùng.

Nhóm 2: làm tiếng đàn: tưng, tưng, tưng

Nhóm 3: làm tiếng mõ: cốc, cốc, cốc.

Nhóm 4: làm tiếng khèn: tò tò tò te.

HDV đưa tay vào nhóm nào thì nhóm đó thực hiện chức năng của mình.

Có thể điều khiển một lúc cả hai tay và khi đưa cao tay thì cả 4 nhóm nhạc cụ đều kêu và và ngân dài.

10.

Trò chơi đứng – nằm – ngồi

HDV qui định 3 động tác:

Cánh tay phải giơ cao: Đứng

Cánh tay phải để ngang người: nằm

Cánh tay phải co xuống: Ngồi

Bắt đầu hát theo nhịp bài hát

Anh đứng lên (giơ tay cao), thấy đau chân anh lại ngồi (co tay xuống), ngồi rồi thấy đau lưng anh lại nằm (để tay ngang người).

Nằm rồi anh đứng lên, thấy đau chân anh lại ngồi thấy đau lưng anh lại lằm, nhịp điệu bài hát nhanh lên.

Cứ thế quản trò có thể làm các động tác khác với lời bài hát, ai sai thì sẽ phạt.

11.

Phép lịch sự

Người chơi thực hiện theo lời HDV nếu trong đó có chữ “xin mời”.

Không thực hiện nếu trong lời đó thiếu chữ “xin mời”.

Ví dụ: xin mời các bạn đứng lên – mọi người thực hiện.

Tất cả ngồi xuống – Không thực hiện.

(vì không thực hiện vì không có chữ “xin mời”).

Ai phạm luật sẽ bị phạt.

* Chú ý: HDV vừa nói vừa làm động tác kể cả không có chữ “mời” để đánh lừa người chơi.

12.

Phẫu thuật con bò

Cách chơi: chọn đối tượng làm mẫu, cho 2 đội thi kể về các bộ phận của bò bắt đầu bằng chữ cái B, L, M…

Đội nào kể được nhiều hơn thì thắng cuộc.

13.

Câu cả cô chín

Cách chơi: chia thành 2 đội được đặt tên là Cậu Cả và Cô Chín.

Các đội tìm 1 động từ bắt đầu bằng chữ C để nối tên 2 đội.

VD: Cậu Cả cấu Cô Chín…Các động từ không được lặp lại và phải chính xác.

Khi hết vốn từ, đội nào không đối được là thua.

Áp dụng hình phạt tùy theo đối tượng khách.

Có thể phạt tiền để tạo công quỹ cho đoàn hoặc đội thua hát tặng đội thắng 1 bài…

14.

Hát đối

Cách chơi: chia 2 đội hát lần lượt theo chủ đề MC đã chọn.

Không được hát lặp lại.

Đội nào không hát đối lại được là thua.

15.

Muỗi đốt

Cách chơi: MC hô: muối đốt, muỗi đốt.

Người chơi hô: đốt ai, đốt ai.

Sau đó người chơi thực hiện yêu cầu của MC nếu không sẽ bị muỗi đốt.

Người không làm theo sẽ bị phạt.

16.

Chuyền chun

Cách chơi: chia thành 2 đội chơi, mỗi thành viên trong đội được phát 1 cái tăm để chuyền chun từ đầu đến cuối ghế.

Trong thời gian quy định, đội nào chuyền được nhiều chun hơn sẽ thắng.

17.

Kể tên các bộ phận trên cơ thể

Cách chơi:

Nhằm ôn lại kiến thức sinh học về con người.

Tạo sự vui vẻ

Chia xe thành 2 đội chơi tương đương với 2 dãy ghế trên xe.

Đặt tên đội: A – B hoặc tên do các đội chọn.

Lần lượt đưa ra các chữ cái T, M, L, … và các đội sẽ nói tên các bộ phận theo chữ cái mà HDV đưa ra.

Vốn từ rồi cũng hết, đội nào không nói được hoặc nói lặp lại là thua.

Hết các chữ cái này, ta lại cho kể theo chữ cái đứng đầu khác.

Đội thua sẽ chịu phạt: Hát 1 bài, hoặc mời đội thắng đi uống nước, hoặc góp quỹ cho đoàn.

18.

Bà ba bác bảy

Cách chơi:

Chia xe thành 2 đội tương đương với 2 dãy ghế trên xe.

Đặt tên 2 đội: Một đội là Bà Ba, một đội là Bác Bảy.

Các đội tìm một động từ bắt đầu bằng chữ B để nối tên 2 đội.

VD: Bà Ba bế Bác Bảy…

Các động từ không được lặp lại.

Khi chơi, vốn từ sẽ dần hết, đội nào không tìm ra được động từ để đối là thua, nói lặp lại là thua.

Hình phạt: tùy theo từng đối tượng khách mà áp dụng.

Có thể bắt đội thua hát một bài cho cả xe nghe, hoặc phạt tiền để lập quỹ cho đoàn…

19.

Trò chơi ăn thịt bò

Cách chơi:

Chơi vào buổi sáng khi đón đoàn, trước hoặc sau khi ăn sáng.

HDV sẽ gọi một hành khách bất kỳ.

Khi hành khách được gọi thì phải trả lời được câu hỏi của HDV và mặc định là thịt bò: Xin hỏi anh ăn sáng với món gì của con bò?

Hành khách trả lời.

VD: Tôi ăn sáng với đùi bò,…tôi ăn sáng với Bín bò, …..cà bò….

Ai không trả lời được sẽ bị phạt, ai nói lặp lại của người khác sẽ bị phạt.

Mức phạt có thể thống nhất với cả đoàn từ 5000, 10.000 hoặc 20.000đ.

Trò này có cái hay là: Mọi người không dám ngủ vì ngủ mà gọi đến nói lặp lại hoặc nói nhầm là mất tiền…

Ngoài ra cũng tạo được quỹ cho đoàn.

20.

Thi đố về trái cây

Cách chơi:

Chia xe thành 2 đội tương đương với 2 dãy ghế.

HDV yêu cầu 2 đội kể tên các loại trái cây có chữ T, M, L, X…

ở đầu.

VD: chữ M: me, mận,…

Đội A nói xong, đội B phải nói ngay, trong thời gian đếm từ 1 – 5 không nói được hoặc nói lặp lại là thua cuộc.

Tiếp tục lần lượt đến các chữ cái khác.

Đội thua sẽ chịu phạt theo quy định của HDV đưa ra và thống nhất với xe trước khi chơi.

21.

Hát đối đáp

Cách chơi:

01 người am hiểu về các bài hát làm trọng tài

Hai bên thi hát về những con vật

Chim: có tên loài chim

Cá: có tên loài cá

Hát về những địa danh các Tỉnh, Thành phố trong cả nước

Thi hát về mưa, đêm, biển, trời, …

** Chú ý: bên nào bí thì áp dụng luật nốc ao (đếm từ 1 đến 10) không tìm được bài hát là thua, không được hát các bài hát cấm lưu hành, các bài hát ngợi ca Lãnh tụ, Đảng.

22.

Tìm hiểu địa danh Việt Nam

Cách chơi:

Chia 2 đội tương đương với 2 dãy ghế.

Các đội sẽ nói tên các Tỉnh, Thành phố, Huyện, Thị xã (thuộc Tỉnh) trong toàn cả nước.

Quy định: chữ đầu của từ cuối Tỉnh trước là chữ đầu của từ đầu Tỉnh sau.

Thí dụ: Hà Nội, Nghệ An, An Lão (Huyện của Tỉnh Hải Phòng), Long Thành (Đồng Nai), …

Không được lập lại – nếu lặp lại sẽ bị trừ điểm địa danh đó nhưng tiếp theo vẫn được tính, sau khoảng thời gian đội nào không nêu được địa danh đội đó thua.

Đội thua sẽ chịu hình phạt do HDV đưa ra và thống nhất trước khi chơi

23.

Trò chơi đuổi hình bắt chữ

Cách chơi: Chia xe thành 02 đội.

Cử 1 người đại diện của 1 đội lên trên xe, thực hiện động tác.

Và đội ở dưới sẽ nhìn vào động tác ấy đoán xem đó là gì?

Nếu đoán sai, đội đó sẽ phải lên trên xe thực hiện động tác … tương tự như trên.

24.

Hỏi đáp

Cách chơi:

Trên miếng giấy các bạn Nữ ghi 1 câu hỏi bất kỳ – còn bạn Nam tưởng tượng ra 1 câu trả lời bất kỳ.

Sau đó gom tất cả vào chiếc nón của nhóm mình – sau khi xong 2 nhóm cử ra 2 người lần lượt lên bốc câu hỏi – câu trả lời đọc lên cho mọi người nghe (lần sau có thể làm ngược lại: Nam hỏi – Nữ trả lời).
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Long Sinh Cửu Phẩm


Trong thần thoại Trung Quốc, rồng ( hay Long vương ) là một sinh vật cao quý, thiêng liêng.

Con người luôn tôn thờ loài rồng và chỉ có hoàng tộc mới được sử dụng hình ảnh con rồng làm biểu trưng cho quyền lực cũng như thân phận cao quý của họ.

Chính vì những phẩm chất đó, những đứa con của rồng cũng trở thành những linh vật đặc biệt, gắn liền với đời sống văn hóa của nhân dân.

Tương truyền, rồng thần sinh được 9 con trai., tuy vậy lại không có con nào là rồng cả.

Tùy vào tính cách khác nhau mà người ta dùng hình ảnh của chúng trang trí ở những lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống thường ngày.

Tuy nhiên, cũng do văn hóa dân gian mỗi nơi một khác mà sinh ra nhiều dị bản về “long sinh cửu phẩm”.

Danh sách những sinh vật được coi là con của rồng cũng vì thế mà khác nhau.

Nhìn chung chia làm hai thuyết:

• Thuyết 1: bao gồm những con sau đây: Tù Ngưu – Nhai Xế – Trào Phong – Bồ Lao – Toan Nghê – Bá Hạ – Bệ Ngạn – Phụ Hí – Si Vẫn

• Thuyết 2: bao gồm những con sau đây: Bá Hạ – Si Vẫn – Bồ Lao – Bệ Ngạn – Thao Thiết – Công Phúc – Nhai Xế – Toan Nghê – Tiêu Đồ

Chính vì vậy, tuy là “Long sinh cửu phẩm” nhưng trong bài viết này sẽ thấy xuất hiện nhiều hơn 9 sinh vật

1.

Tù Ngưu

Loài Tù ngưu có hình dạng như một con rồng nhỏ, màu vàng, có sừng như sừng lân.

Nó vốn ham mê âm nhạc, nên hay ngự trên đầu dóng đàn để thưởng thức âm nhạc.

Vì thế người xưa hay dùng hình tượng tù ngưu để trang trí cho cây đàn.

2.

Nhai Tệ

Nhai Tệ có hình dạng như con chó sói có sừng rồng, hai sừng mọc dài dọc về phía lưng, ánh mắt dữ dằn, thích đánh nhau giết chóc.

Vì thế, người ta hay tạc khắc hình nó ở các binh khí như cán đao, cườm kiếm, đầu búa, đầu côn… vừa để trang trí, làm đẹp mắt và có ý nghĩa trang trọng; vừa biểu thị ý nghĩa hiếu chiến, hiếu sát của loài này, hàm ý tăng tính uy hiếp sát thương của binh khí.

3.

Trào Phong

Trào phong là loài bình sinh thích sự nguy hiểm, loài thú chạy ở góc mái cung điện là hình ảnh của nó.

Nó không chỉ thích sự nguy hiểm mà còn thích nhìn ra xa, nên thường chọn chỗ cao, cheo leo như đầu cột, góc mái của ngôi nhà, điểm cao một số công trình kiến trúc… làm chỗ leo trèo hoặc đứng nhìn.

Vì thế, nó thường được chạm khắc ở những vị trí ấy với ngụ ý chống hoả hoạn và răn đuổi yêu ma.

Ngoài ra, hình tượng Trào phong trên góc mái còn tượng trưng cho điều tốt lành, may mắn, tạo giá trị trang trí đẹp mắt và uy nghi, vì thế chỉ các cung điện của hoàng gia mới được phép tạc hình Trào Phong trên nóc.

4.

Bồ Lao

Nó có hình dạng như con rồng đang cong mình.

Nó vốn sống ở ven biển, là con của rồng mà lại rất sợ cá kình (cá voi), nên mỗi khi bị cá kình tấn công thì lại bỏ chạy kêu thét.

Người ta thấy vậy cho là nó thích kêu thét, thích những âm thanh lớn.

Vì thế, nó thường được đúc trên quai chuông hàm ý tiếng chuông sẽ được lớn và vang xa như khi loài Bồ lao kêu thét bỏ chạy vì sợ cá kình.

5.

Toan Nghê

Nó còn có tên gọi khác là Kim nghê, Linh nghê.

Hình dạng nó như con sư tử, đầu rồng, có sách lại cho rằng nó là loài ngựa hoang.

Nó thích ngồi yên, lại thích khói lửa nên được đúc làm vật trang trí trên nắp lò đốt trầm hương, ngụ ý mong muốn lò hương luôn được đốt và hương trầm luôn tỏa ngát.

6.

Bá Hạ

Nó còn được gọi là Bí hí, Thạch long quy, hình dáng như con rùa, đầu rồng, có sức mạnh kinh hồn, thích cõng vật nặng trên lưng, có thể cõng cả trái núi một cách nhẹ nhàng.

Truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa, Bá hạ thường cõng Tam sơn Ngũ nhạc trên lưng, rồi nổi gió tạo sóng lớn.

Hạ Vũ (vị vua đầu của nhà Hạ, Trung Quốc) liền hàng phục nó, dùng nó phụ giúp cho việc trị thủy của mình.

Việc trị thủy xong, sợ nó lại đi lung tung gây họa, Hạ Vũ bèn làm một cái bia cực lớn ghi công trạng của nó, cho nó cõng.

Tấm bia quá nặng khiến nó không đi đâu được nữa.

Về sau, người ta thường dùng nó làm vật trang trí chân cột, chân bia đá biểu thị ý nghĩa muốn cột và bia ấy luôn vững chắc, đồng thời cũng tượng trưng cho sự trường thọ, cát tường.

7.

Bệ Ngạn

Nó có hình dáng giống hổ, răng nanh dài và sắc, trượng nghĩa, thích lý lẽ, có tài cãi lý đòi sự công bằng, lại rất có uy.

Do đó nó thường được trang trí trên cửa nhà ngục, nha môn, pháp đường, ngụ ý răn đe người phạm tội.

Đôi mắt hổ của nó oai nghiêm quan sát để duy trì trật tự kỉ cương của chốn công đường

8.

Phụ Hí

Nó có hình dáng như rồng, dáng vẻ thanh nhã, thường nằm cuộn mình trên bia đá.

Tương truyền, nó rất thích vẻ đẹp của chữ khắc trên các văn bia, nên thường cuộn mình trên đó mà ngắm nghía.

Vì vậy, khi trang trí bia đá, người ta thường khắc một đôi Phụ hí cân đối phía trên trán bia.

9.

Si Vẫn

Nó còn được gọi là Si vĩ, mình cá đầu rồng, miệng rộng, thân ngắn.

Nó vốn là con vật huyền thoại Makara trong văn hóa Ấn Độ chuyên sống ở dưới nước, có hình đầu thú (đầu voi hoặc đầu cá sấu…), phần sau là đuôi cá.

Makara là vật cưỡi của Ganga – chúa tể sông Hằng và Varuna – chúa tể biển cả.

Sau, Hán Vũ đế là người đưa linh vật của Ấn Độ này vào văn hóa cung đình bằng việc đắp hình trên các nóc điện, coi đó như vị thần trừ hỏa hoạn, và gọi nó là Si vẫn.

Loài này có miệng to, thích nuốt, nên người ta hay đắp hình hai con Si Vẫn há to miệng nuốt hai đầu sống nóc mái nhà, vừa có giá trị trang trí, vừa hàm ý nó có thể tạo mưa, tránh hỏa hoạn cho công trình kiến trúc.

10.

Thao Thiết

Nó còn được gọi là Bào hào, thân mình nhiều lông, trên đầu đội con lợn, tham lam độc ác, tích lũy của cải mà không dùng, giỏi cướp thóc lúa của người.

Lại có miêu tả về loài thú này mình dê mặt người, mắt ở dưới nách, răng như hổ, móng tay chân như người, tiếng của nó như tiếng trẻ con là giống ăn thịt người.

Nó có tính tham ăn vô độ, sau chết vì tính tham ăn ấy.

Bản tính độc ác và tham ăn khiến người ta hay dùng hình ảnh của nó trang trí để răn về những điều tham lam độc ác, trong đó có việc trang trí trên các bát ăn, cốc uống nhằm nhắc nhở việc ăn uống nên có tiết độ.

11.

Tiêu Đồ

Nó thích sự kín đáo, hình dạng như con ốc cuộn tròn lại, không thích có người khác xâm nhập lãnh địa của mình.

Có lẽ Tiêu đồ là hình tượng xuất phát từ ý tưởng loài ốc mỗi khi thu mình vào vỏ thì lại đậy miếng nắp kín mít lại, không giao tiếp với bên ngoài nữa.

Vì thế, người ta thường được khắc hình nó trên cánh cửa ra vào, hoặc trang trí tay nắm mở cửa, ngụ ý cửa phải kín đáo, răn đe kẻ lạ muốn xâm nhập, giữ an toàn cho chủ nhà.

12.

Công Phúc

Giống này có đầu rồng, trên thân mình, bốn chân và đuôi đều có vảy rồng, miệng rộng.

Truyền thuyết kể rằng, nó phạm phải quy định trên trời nên bị đày nhốt vào cái mai rùa cực nặng để trông giữ việc vận chuyển đi lại đường sông trong một ngàn năm mới được thả ra.

Mọi người ghi nhớ công ơn của nó về việc coi sóc sông ngòi bèn tạc hình của nó ở các công trình hay phương tiện giao thông đường thủy như trên thành cầu, đầu cầu, bến tàu, thuyền bè, ngòi rãnh dẫn nước, đập nước … với mong muốn Công phúc tiếp tục cai quản, điều hòa nước, ngăn ngừa lũ lụt.

Vì thế, ngoài ý nghĩa trang trí, nó còn hàm ý về sự bình yên.

Nguồn: https://www.google.com.vn/amp/s/pet.../long-sinh-cuu-pham-9-nguoi-con-cua-rong/amp/
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Rượu và Nước


GÓC CHIA SẺ

NƯỚC VÀ RƯỢU - VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA TRONG TẾ LỄ

1.

NƯỚC

Nước và rượu là 2 thành tố cơ bản hiện diện thường xuyên trong các nghi lễ cúng tế từ phạm vi gia đình cho đến làng xã, quốc gia.

Nước giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống vừa là môi trường sinh sống vừa là nguồn sinh dưỡng nuôi sống nhiều loài sinh vật trong đó có loài người chúng ta.

Trong hoạt động văn hóa tâm linh, nước cũng giữ vị trí vai trò vô cùng quan trọng, là thành tố cơ bản không thể thiếu trong các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng như: Bao Sái, Mộc Dục, Cúng Tế,...

Nước quan trọng là vậy nhưng không phải loại nước nào cũng có thể sử dụng trong nghi lễ.

Nước dùng trong cúng tế là nước sạch - Thanh Thủy, tức là nước không màu, không mùi và không vị.

Nước thường được đựng trong chén hoặc bát chuyên dụng.

Xuất phát từ thực tế sinh hoạt đời sống cũng như quan niệm Trần sao thì Âm vậy, tức là con người muốn sống cần phải uống nước thì các vong linh cũng cần phải uống nước để duy trì Chân Khí nơi địa phủ.

Quan niệm đó khá thực tế và không thể phủ nhận.

Tuy nhiên dưới nhãn quan của các nhà nghiên cứu văn hóa tâm linh thì nước còn có ý nghĩa lớn lao hơn.

Nước chính là nơi ngự của thần linh, tổ tiên và anh linh những người đã khuất.

Nước là một thực thể thành tố tự nhiên có nhiều dạng thù hình như: Thể rắn, thể lỏng và thể khí.

Chính bởi tính chất vật lý hiện hữu đó mà nước được xem là nơi trú ngụ (tạm thời) lý tưởng của những Vong Linh - Chân Khí vô cùng mỏng manh.

Nước là nơi dễ đến và dễ đi nhất.

Từ thể lỏng vô định hình thì nước đã có một hình dáng hiện hữu thông qua dáng hình đồ đựng.

Và trong số những hình dáng hiện hữu trên ban/bàn thờ thì nước được xem như là thực thể MỀM và dễ tiếp xúc cũng như dễ xâm nhập nhất.

Nước vừa dễ xâm nhập cũng vừa dễ để cho Chân Linh thoát ra nhất thông qua tính chất bay hơi để về cõi Thượng Thiên hoặc theo dòng nước mà trở về nơi Hoàng Tuyền.

Phải chăng chính vì lẽ đó mà nước luôn được chọn là một thành phần không thể thiếu trong các nghi lễ cúng tế xưa nay.

2.

RƯỢU

Không được phổ quát như nước bởi trong nghi thức lễ Phật thì rượu không được sử dụng.

Hơn nữa trên phương diện nào đó rượu được xem là đồ uống "sa sỉ" và không sẵn có như nước.

Đó cũng là yếu tố hạn chế phần nào sự hiện diện của rượu trong các nghi lễ tôn giáo.

Cũng là chất lỏng như nước, cũng là một đồ uống hấp dẫn, song rượu lại có thêm nhiều tính khác biệt.

Rượu là hỗn hợp chất lỏng được chưng cất từ các loại thực phẩm lên men nên có chứa Cồn (Methanol) mùi thơm, vị cay và tính nóng.

Rượu là chất lỏng có chứa cồn nên dễ dàng bùng cháy mỗi khi tiếp xúc với lửa.

Như vậy, rượu vừa mang tính Âm (nước) lại vừa mang tính Dương (lửa).

Và rượu được xem như là ngọn lửa Âm Ty thiêu đốt mọi sự vật hiện tượng để chuyển hóa về cõi Âm.

Phải chăng vì lẽ đó mà mỗi khi hóa vàng mã thì chúng ta thường lấy rượu từ những chén rượu cúng để rải lên trong giai đoạn cuối của quá trình.

Khi ngọn lửa sắp tàn rượu được rải lên để thổi bùng ngọn lửa Âm Ty thiêu đốt tiền vàng mã nhanh chóng xuống đến cõi Âm

...

(còn nữa)
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Ma Xó


MA XÓ

Ma xó là gì?

Tác hại khôn lường từ việc chơi ngải và nuôi vong

1 .

Ma Xó là gì ?

Khởi nguồn của ma xó là từ một sọ người của những người phù thủy xứ Miên, Thái truyền sang khu vực Tây Nam Việt Nam.

Sọ của người chết bị oan ức là một trong những công cụ hữu hiệu nhất của các thầy pháp xư.

Dần dà tục nuôi vong ma xó cũng xuất hiện

Đối với thầy pháp sư, ma xó giống như tay sai, được giao cho các việc như quan sát người mà thầy muốn hại, tìm xem nhà đó có gì, có quan hệ với những ai…

2.

Cách nuôi và sử dụng

Để nuôi ma xó, các thầy cần phải chăm sóc cẩn thận từ chỗ thờ cúng phải kín đáo và không ai được phép bước vào.

Tục nuôi vong ma xó xuất hiện khá lâu đời cho nên ăn sâu vào tiềm thức của con người, không chỉ đơn giản là thắp vài nén nhang là được.

Nếu nhà nào muốn cầu may từ ma xó thì phải mời thầy đến ngồi cùng gia chủ hàng ngày trước bàn thờ, phải cầu khấn để thể hiện thành tâm với ma xó.

Sau đó mang bát hương đó ra nghĩa địa vào đêm để nói chuyện với các linh hồn.

Để may mắn hơn nữa, gia chủ có khi phải ngồi nhiều tiếng để kể lể, nghe lời ma xó chỉ bảo để xin may mắn.

Các xác chết thai nhi khi được cái thầy yểm bùa sẽ nghe lời và gắn liền với gia chủ hoặc thầy pháp sư, đi theo họ để bảo vệ họ.

Ai là người cần ma xó?

Đó là những người cần may mắn về việc đánh bạc, đánh lô đề, làm ăn…

Những người thờ ma xó thường rất kín tiếng vì sợ mất may mắn.

Bùa ngải, Ma xó là gì, Tục nuôi vong ma xó

Dân gian xưa thường có câu « …như ma xó » để chỉ những người ngóc ngách nào cũng xuất hiện, chỗ nào cũng nắm rõ.

Vì vậy từ ma xó dần trở nên quen thuộc với họ.

Thế nhưng để hiểu rõ ma xó là gì thì rất ít người biết.

Theo phong thủy phương đông, trong suốt chiều dài hình thành lịch sử con người luôn có một thế lực vô hình tồn tại song song và có khả năng chi phối đến “thần thức” của mỗi chúng ta nhưng để giải thích về những điều đó thì không phải đơn giản!

Các chuyên gia về thuật trấn yểm hóa giải nói mỗi vị Pháp Sư để đạt được cảnh giới cao nhất và khai mở được “luân xa số 7” đều phải trải qua khoảng thời gian luyện tập cực khổ, kinh khủng nhất điển hình như cắt đầu trinh nữ đã khuất mang về đặt lên bàn thờ để luyện, hoặc uống máu người mới chết để có thể thông được đôi mắt âm dương và phải thường xuyên ngồi ngoài nghĩa địa vào giữa đêm cho đến khi tương tác, nghe được tiếng nói của các vong hồn chưa siêu thoát là những bài học cơ bản nhất để có thể trở thành một Pháp Sư giỏi.

Đây cũng là khởi nguồn của tục nuôi vong ma xó.

Sau khi đã đạt cảnh giới cơ bản của mỗi Pháp Sư, họ bắt đầu tìm cho mình một xác chết thai nhi đã được ướp còn nguyên vẹn và bắt đầu công việc luyện nuôi “vong ma xó” để giữ nhà và sai khiến.

Để luyện thành công một con “ma xó” phải tìm được xác thai nhi còn nguyên vẹn và bắt đầu nuôi vong.

Họ tin rằng các hồn ma trẻ nhỏ linh thiêng và có thể bảo vệ cho cả gia đình khỏi những hiểm nguy đe dọa.

Tinh thần trong sáng của đứa bé kết hợp chú thuật và thần lực của các vị Tổ thông qua việc tế luyện công phu của pháp sư sẽ cho ra đời một tiểu quỷ có nhiều khả năng đặc biệt.

Dân gian xưa thường có câu « …như ma xó » để chỉ những người ngóc ngách nào cũng xuất hiện, chỗ nào cũng nắm rõ.

Vì vậy từ ma xó dần trở nên quen thuộc với họ.

Thế nhưng để hiểu rõ ma xó là gì thì rất ít người biết.

Khởi nguồn của ma xó là từ một sọ người của những người phù thủy xứ Miên, Thái truyền sang khu vực Tây Nam Việt Nam.

Sọ của người chết bị oan ức là một trong những công cụ hữu hiệu nhất của các thầy pháp xư.

Dần dà tục nuôi vong ma xó cũng xuất hiện.

Đối với thầy pháp sư, ma xó giống như tay sai, được giao cho các việc như quan sát người mà thầy muốn hại, tìm xem nhà đó có gì, có quan hệ với những ai…

Để nuôi ma xó, các thầy cần phải chăm sóc cẩn thận từ chỗ thờ cúng phải kín đáo và không ai được phép bước vào.

Tục nuôi vong ma xó xuất hiện khá lâu đời cho nên ăn sâu vào tiềm thức của con người, không chỉ đơn giản là thắp vài nén nhang là được.

Nếu nhà nào muốn cầu may từ ma xó thì phải mời thầy đến ngồi cùng gia chủ hàng ngày trước bàn thờ, phải cầu khấn để thể hiện thành tâm với ma xó.

Sau đó mang bát hương đó ra nghĩa địa vào đêm để nói chuyện với các linh hồn.

Để may mắn hơn nữa, gia chủ có khi phải ngồi nhiều tiếng để kể lể, nghe lời ma xó chỉ bảo để xin may mắn.

Các xác chết thai nhi khi được cái thầy yểm bùa sẽ nghe lời và gắn liền với gia chủ hoặc thầy pháp sư, đi theo họ để bảo vệ họ.

Ai là người cần ma xó?

Đó là những người cần may mắn về việc đánh bạc, đánh lô đề, làm ăn…

Những người thờ ma xó thường rất kín tiếng vì sợ mất may mắn.

3 .

Tác hại khôn lường từ việc chơi ngải và nuôi vong

Nhiều người cứ theo lời người này người kia mà chơi ngải và nuôi vong mà không biết rõ tác hại, nguy hiểm và hậu quả của việc này như thế nào.

Việc nuôi vong hay chơi ngải của các pháp sư đều có hại về sau vì đến một lúc nào đó pháp lực yếu đi hoặc sức khỏe kém sẽ bị chính các vong linh đó phản lại tác dụng và thậm chí sẽ bị chiếm hữu thân xác hay còn gọi là hiện tượng nhập xác hoặc chính những người khách được các pháp sư triển khai những loại hình này cũng bị những điều tương tự và đó cũng chính là kết quả của quy luật nhân quả mà ra.

Có những người dùng loại bùa ngải có tác dụng nghịch tức là thay vì hút những cái hên thì loại bùa ngải này sẽ hút những cái xui cho người đó.

Người trúng bùa ngải có thể bị ngớ ngẩn, bệnh hoạn thậm chí là chết.

Đôi khi người bị hại cũng có một ân oán nào đó trước đây trong đời này hoặc kiếp trước với người bỏ bùa, nên việc họ bị hại cũng là một quả báo.

Dù lý do có là thế nào thì việc sử dụng bùa ngải chẳng có gì tốt đẹp mà chỉ là tạo thêm một vòng luân hồi của thù oán.

Đừng vội nóng ruột khi bạn thấy sự thành công nhanh chóng của người khác có được từ bùa ngải.

Một ngày đẹp trời nào đó họ cũng sẽ đi xuống nhanh chóng như lúc họ đi lên vì đó là quy luật tất yếu.

Cho nên thay vì cố gắng đi xin bùa, ta hãy sống bằng năng lực của chính mình và biết chấp nhận, vui vẻ với những gì mình có sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn trong cuộc đời.

Nhiệm vụ của mỗi con người chúng ta khi sống đó là liên tục tạo phúc và tiêu trừ nhiệp quả của mình.

#DucNam

Nguồn: ST
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Tam Cốc Bích Động


thường đi tuyến chùa hương, hay tam cốc, hoặc ninh bình , các bạn hay kể 3 động đẹp nhất trời nam,đệ nhất động Hương Tích , đệ nhị động Bích Động, đệ tam động Địch Lộng, nhưng ít ai nói về động và chùa Địch Lộng , hôm nay chia sẻ với các bạn 1 chút về động và ngôi chùa này ,

Chùa Địch Lộng – Nam Thiên Đệ Tam Động

chùa địch lộng( hay động địch lộng) thuộc xã gia thanh huyện gia viễn , ninh bình , chùa ở lưng chừng núi địch lộng, độ cao so với chân núi khoảng 80m

Từ xa xưa, quá trình phong hóa castơ của núi đá vôi ở đây đã tạo ra hang động, nhưng cây cối mọc um tùm không ai biết.

Tương truyền, vào năm 1739 một tiều phu đi kiếm củi, leo lên núi đã phát hiện ra cửa động, vào trong thấy có nhiều nhũ đá đẹp, đặc biệt trông thấy một nhũ đá có hình giống như tượng Phật nên lập ban thờ thờ Phật ngay từ đó.

Theo văn bia để lại, mãi đến năm Canh Thân, triều vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ nhất, tức là năm 1740, động mới được biến thành chùa để thờ Phật, gọi là chùa Cổ Am.

Gọi là chùa Địch Lộng, nhưng thực ra là một cụm kiến trúc gồm một hệ thống: đình, đền, chùa cổ kính và ba hang động thông nhau.

Dưới chân núi, hệ thống kiến trúc đình, đền, chùa được xây dựng theo thế chữ Tam (Hán tự) trên một khu đất rộng hơn một hécta.

Vào chùa Địch Lộng, nếu đi theo lối phía Nam, đầu tiên qua Tam Quan uy nghiêm, thanh thoát, đến sân gạch.

Tiếp đó là ngôi đình, nhân dân địa phương xây dựng từ thời Nguyễn.

Khu vực phía đông của ngôi đình, là hồ bán nguyệt rộng và một vườn tháp, có 5 tháp cao 3 tầng – nơi chôn cất các vị sư đã trụ trì và mất ở đây.

Ngoài ra còn có Trụ trì là nơi các nhà sư ở, Phương trượng là nhà tiếp khách.

Phía Tây của ngôi đình, sát chân núi đi qua cầu Vòm nhỏ là đến ban thờ Phật Bà Quan Âm.

Dưới cầu Vòm, lui vào chân núi là một hang Ngang xuyên qua núi Địch Lộng và những núi khác dài khoảng 3.000 mét, ăn thông ra đến sông Đáy.

Nếu nước sông Đáy dâng cao, sẽ chảy theo hang này vào.

Khu vực vườn chùa rộng, được trồng nhiều cây đại thụ, cây ăn quả, cây hoa đan xen với các công, trình kiến trúc.

Đặc biệt có cây tai chua thân mọc thẳng, cành xiên ngang, tuổi thọ trên 100 năm; cây muỗm mọc trên núi đá đã sống gần 200 năm nay.

Ngôi đình 5 gian sừng sững được gọi là đình đá, vì tất cả các cột, tảng, xà đùi, cái bẩy đều bằng đá.

Trước khi lên chùa, nên vào ngôi đình đá này để tưởng niệm Thiền sư Nguyễn Minh Không và thưởng ngoạn một công trình kiến trúc đình chủ yếu làm bằng đá.

Tám cột cái bằng đá xanh nguyên khối, tròn, to, cao hơn 4 mét đều được chạm nổi những con rồng lớn đang uốn lượn trong mây để hút nước, cá chép theo nước vượt lên.

Có con rồng đầu ngước lên như đang vươn lên mây.

Nhìn các cột đá chạm khắc rồng, sẽ có cảm giác như được xem một đàn rồng lớn đang bay.

Mỗi con rồng quấn quanh cột đều có một dáng vẻ khác nhau rất sống động.

Tám cột quân to, tròn như cột cái, cao gần 3 mét, hai hàng trước, sau, mặt tiền đều được chạm khắc nổi các câu đối bằng chữ Hán ca ngợi cảnh đẹp ở nơi đây, đồng thời ẩn chứa những ý tưởng sâu sắc.

Tất cả 16 cột đá này đều được đặt trên những tảng đá cổ bồng lớn cao 0,60 mét.

Rất hiếm có ngôi đình toàn bộ phần chính của nhà được làm bằng đá xanh nguyên khối cao, to, chạm khắc công phu và tỉ mỉ đến như vậy!

Gian giữa của ngôi đình đặt một sập gỗ và bàn thờ đế bài vị đá thờ Thiền sư Nguyễn Minh Không.

Hai bên cắm bát bảo.

Qua đình là đền thờ Nguyễn Minh Không ba gian.

Hai gian tả hữu đặt hai bài vị thờ.

Gian giữa thờ tượng Thiền sư Nguyễn Minh Không bằng gỗ sơn son thếp vàng lộng lẫy cao gần một mét.

Hai bên tượng để các hộp đựng các sắc phong.

Quay trở ra qua ngôi đình đá, rồi ngược lại sẽ thấy chùa Hạ 3 gian ở sau đền thờ Nguyễn Minh Không.

Chuôi vồ là Hậu cung của chùa Hạ thờ Phật.

Trong gian giữa, phía trên cao treo một cuốn thư có hai chữ Hán “Lưu Ly”ở giữa, hai chữ hai bên là ‘‘Báo “Điện có nghĩa là chùa này quý như Lưu Ly.

Gian bên trái phối thờ sư tổ và treo một quả chuông.

Đặc biệt ở gian bên phải đặt một ngai đá thờ và các đồ thờ đều làm bằng đá như: đài, mâm tơ, bát hương…

Từ chùa Hạ, theo đường lên chùa, men sườn núi, bước lên 9 bậc đá, rẽ phải, sẽ đến Linh còn gọi là Phủ Đức Ông.

Đây là bàn thờ thứ chín của chùa.

Trong phủ Đức Ông đặt tượng Đức Ông mặt đỏ, có nhiệm vụ trông coi toàn bộ cảnh chùa.

Dưới sân gạch, trước phủ Đức Ông có ba tấm bia đá tạc ở thời Nguyễn vào các đời vua: Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định đều nói về việc tu sửa chùa.

Trình Đức Ông xong, men theo sườn núi, leo gần 100 bậc đá nữa, sẽ tới chùa Địch Lộng.

Lên đến đây, tức là đã bước qua 105 bậc đá để tới chùa chính, du khách sẽ sửng sốt trước cảnh trí mà tạo hóa đã kiến tạo nên một cửa động cao, rộng đẹp đến kinh ngạc.

Nhìn lên cao, thấy trên cửa động có 6 chữ đại tự: “Nham Sơn động, cổ Am (chùa cổ Am, động Nham Sơn).

Vì thế có thể gọi chùa Địch Lộng là chùa Cổ Am và động Địch Lộng là động Nham Sơn.

Hai bên tả hữu cửa động có hai tượng Hộ Pháp đứng đối diện nhau như đứng canh cổng chùa tạo cảm giác tự tin, ấm áp.

Vách động bên trái, ở trên cao khoảng 8 mét có treo một quả chuông lớn cao hơn một mét, nặng khoảng một tấn, đúc ở thời Nguyễn.

Ngay giữa cửa động là ban thờ Mẫu công đồng.

Hai cột đá, phía bên khắc đôi câu đối: “Cảnh trí thiên nhiên, Tây Hồ phong nguyệt Anh kì địa quýnh, Nam quốc sơn hà”.

(Cái non sông trăng gió chốn này vẫn là cánh thiên nhiên của nước Nam ta đó).

Bước sang bên phải là đến động thờ Phật.

Đây chính là chùa Địch Lộng quay hướng nam (là hướng của trí tuệ).

Trước cửa chùa có các khối đá giống hình voi chầu, hổ phục, sư tử chầu như đang canh giữ bảo vệ cửa Phật.

Độ cao của động thờ Phật là 20 mét, trần động có nhiều nhũ đá đẹp lấp lánh như cái dù che, thạch nhũ rủ xuống như chuông treo.

Chiều dài của động khoảng 50 mét.

Động rộng chừng 15 gian nhà to, người dân ở đây đã lấy động làm chùa, động cao sâu nên chùa càng rộng lớn.

Trước cửa động có hai giếng ngọc chứa nước từ nhũ đá chảy xuống quanh năm.

Hai bên cửa động có hai tượng Hộ Pháp nữa.

Hai tượng này đều cưỡi trên sư tử, chân đi giầy.

Tượng Ông Thiện tay cầm quả đào trường thọ như muốn ban cho sự trường sinh.

Tượng Ông ác tay cầm thanh gươm như muốn trừng trị những kẻ sống bạc ác ở trên đời.

Trong “chùa” bày nhiều tượng Phật, cuối động bên dưới hình thành một phiến đá tự nhiên đặt ba pho tượng thếp vàng ban từ thời Thiệu Trị (1841 – 1847), đó là Tam Thế Phật.

Hàng dưới là Di Đà tam tôn và đến một tượng Phật do nhũ đá hình thành.

Tiếp theo là các hàng đặt các tượng: Thích Ca Mâu Ni, Di Lặc tam tôn, Thích Ca sơ sinh, Ngọc Hoàng Thượng đế.

Đặc biệt ở đây còn đặt hai tượng Phật Bà Quan Âm và A Di Đà được tạc bằng đá xanh nguyên khối, cả bệ, mỗi tượng nặng hơn một tấn.

Tượng Phật Bà Quan Âm có rất nhiều cánh tay, bàn tay tua tủa mọc ra từ đá nhẵn lì trông rất đẹp.

Trên bàn thờ Phật còn để cây đèn sắt có 28 chỗ cắm nến tượng trưng cho 28 ngôi sao sáng ở trên bầu trời gọi là “nhị thập bát tú”.

Từ động này, theo ngách đá bên tay trái, đi vào Hang Tối.

Nếu động thờ Phật là hang thứ nhất, thì Hang Tối là hang thứ hai.

Vào Hang Tối sẽ thấy ngay khối nhũ đá to, tròn, nhẵn lì mọc từ nền hang nhỏ lên.

Đó là bầu sữa mẹ của tạo hóa.

Trong Hang Tối có nhiều nhũ đá từ trên nóc động chảy xuống nền, tròn, cao hơn chục mét như những nhánh rễ cây đa cổ thụ thả xuống mặt đất, được gọi là các cột chống trời.

Xung quanh hang và trần hang toàn là các nhũ đá, theo trí tưởng tượng phong phú của con người mà có các tên gọi như: voi uống nước chum, hùm uống nước vại, voi chầu, hổ phục, phượng múa, cá giương vây, rồng cuốn nước, khỉ cõng con, gà ấp trứng, tầm ăn lá dâu, bà lão bán thuốc, bụt mọc, ngôi báu, điện ngọc, rồng vàng ấp tổ trong hang, sao sa, cây vàng, cây ngọc, có chỗ lô xô như ngàn lớp sóng, vân nhũ đá như những đám mây ngũ sắc đang bay….

Có thể nói đây là những “kì quan ” của thiên tạo.

Mỗi không gian của vách động, trần động là một bức tranh nghệ thuật, những nét chạm khắc tuyệt vời của thiên nhiên, hấp dẫn về hình khối, sống động trong đường nét, đạt đến mức tinh xảo mà con người không thể nào làm được.

Đi hết Hang Tối, cửa hang thắt lại, phải bước lên cao khoảng 10 mét nữa mới đến Hang Sáng.

Hang Tối và Hang Sáng ăn thông nhau.

Ngay cửa Hang Sáng có lối lên trời và lối xuống âm phủ đối diện nhau.

Cửa lên trời gọi là cửa động con, lộ thiên ở tận đỉnh núi.

Từ đây ánh sáng lùa vào làm cho hang sáng lên, nên gọi là Hang Sáng.

Lối xuống âm phủ sâu, cũng có nhiều thạch nhũ có hình dáng như: tòa lầu của diêm vương, thuồng luồng, ba ba, rắn, rết và cả ngục quỷ sứ!

Đường xuống âm phủ, nghe văng vẳng như có tiếng đàn thánh thót do nước từ các nhũ đá đều đặn rơi.

Tương truyền, người xưa bỏ một quả bưởi có đánh dấu xuống hang sâu này vào mùa nước lớn, mấy ngày sau thấy quả bòng đó nổi lên ở sông Đáy.

Vì ở trên cao, cửa hang Sáng thắt lại, có khoảng lộ thiên, hai hang Sáng và Tối nối liền nhau, ăn thông, lại dài khoảng gần 250 mét nên khi có gió thổi mạnh, trong động phát ra âm thanh nghe như tiếng sáo.

Động chính là một cái sáo đá khổng lồ của tạo hoá, ngàn năm vi vu giữa trời đất.

Tên Địch Lộng có nghĩa là như thế ! (“Địch” nghĩa là sáo, “Lộng ” là gió).

Qua hai cột đồng trụ ở Hang Sáng, cũng nhìn thấy nhiều nhũ đá có các hình thù lạ như: tiên sa, cá chép hóa long, rùa vàng, chùa ba hang, cầu gẫy, lợn sế béo trắng, và cảnh:

“Lò rèn thổi bễ khoan khoan,

Ngổn ngang kìm búa rộn ràng cảnh ớ đây còn có ban thờ cô Chín Giếng (vì có 9 cái giếng nhỏ đựng nước, ở trong có cá chép và rùa bơi).

Qua ban thờ cô Chín Giếng là ban thờ Mẫu Chúa Kho của Địch Lộng, bên cạnh có cây tiền, cây thóc do nhũ đá tạo thành.

Tương truyền, ai có nhân duyên muốn nhiều tiền, lắm thóc, hãy sò vào đây, về sẽ có lộc.

Điều độc đáo ở Hang Tối và Hang Sáng là các thạch nhũ, khi lấy đá gõ vào thì nghe lanh lảnh như tiếng chuông, bập bùng như tiếng trống, âm u như tiếng mõ.

Âm thanh trầm bồng lạ kỳ!

Người ta gọi đó là những dàn chiêng, dàn trống, dàn mõ, những thạch cầm của thiên nhiên.

Một điều cũng rất đặc biệt nữa là, nhũ đá trong hang rất huyền diệu, có những dải nhũ thạch lấp lánh bảy sắc cầu vồng được gọi là sa và một số nho đá màu thay đổi theo ánh sáng mặt trời.

Nó hồng hồng lúc rạng đông, lấp lánh sáng như pha lê lúc trưa hè và lại đỏ thẫm khi hoàng hôn buông xuống.

Chính vì thế, nghe nói, chúa Trịnh Sâm khi ghé thăm động đã cho khắc thơ vào vách đá như sau:

“Nham sơn bán khải thanh thành mục, Thạch nhũ toàn nhu bích túc cầu.

Triều thủy thiên nhiên thường thướng hạ, Cây hoa chung cổ tự xuân thu”.

Dịch nghĩa:

“Cửa núi hé ra xanh xanh như cảnh màn che rủ

Nhũ đá mềm mại biêng biếc như quả cầu tròn.

Nước thuỷ triều ngàn năm lên xuống,

Hoa trong khe núi đá bao thuở xuân thu

Rất tiếc là bài thơ khắc trên vách đá này của chúa Trịnh Sâm hiện nay không còn nữa.

Đi hết Hang Sáng, sẽ ra đến cửa hậu của động.

Đứng đây nhìn xa, bao quát được cả một vùng rộng lớn của non nước Hoa Lư lịch sử.

Kia là núi Dục Thúy, núi Ngọc Mỹ Nhân, các dãy núi của Cố đô Hoa Lư.

Đây là sông Hoàng Long, sông Đáy uốn lượn như những dải lụa trắng phơi trên mặt đất.

Nhà cửa, cây cối, đồng ruộng xanh tươi.

Tất cả là một bức tranh sơn thủy toàn bích.

Thời ấy, muốn thăm chùa Địch Lộng, chỉ có một đường vào ra duy nhất theo hướng Bắc, phải đi thuyền qua hai bên núi sát liền nhau, vừa một lối nước chảy, thế rất chật hẹp giống như một cái cửa, gọi là Kẽm Trống (thuộc xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam).

Núi Kẽm Trống có tên là Kiệm Lộng.

Lê Thánh Tông có bài thơ khắc vào núi, nên còn gọi là núi Đề Thơ.

Đến đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Đức Long thứ 2 (1630) đá lở sụt, bài thơ không còn.

Ngồi thuyền, nhìn thế núi kỳ vĩ đặc biệt, đổ bóng xuống dòng sông, với khẩu khí thơ riêng của mình, Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã viết bài thơ “Kẽm Trống”

Hai bên thì núi,giữa thì sông,

Có phải đây là Kẽm Trống không?

Gió giật sườn non khua lắc cắc

Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.

Ở trong hang núi hơi hẹp,

Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.

Qua cửa mình ơi ngắm lại

Nào ai có biết nỗi bưng bồng.

Bài thơ được lan truyền nhanh, rất nhiều người thuộc lòng.

Theo tấm bia tạc năm Tự Đức thứ 7 (1854) chúng ta biết năm 1821, trong chuyến ra Bắc Hà, khi trở về kinh đô Huế, vua Minh Mạng nghe tiếng đồn chùa Địch Lộng đẹp, nên đã ghé thăm.

Tương truyền, nhà vua ngự thuyền, sắp phải chui qua Kẽm Trống thì có một viên cận thần ngồi cùng thuyền đọc cho vua nghe bài thơ Nôm trên của Hồ Xuân Hương.

Nhà vua nghe xong, mặt đỏ bừng, tức giận nói: Mụ quỉ!

Bất kì cái chi, đến cả đất trời đẹp đẽ là mụ ta cũng ngó ra cái đó! ”.Vua Minh Mạng liền hạ lệnh dừng thuyền, cho đòi viên quan địa phương đến truyền, bắt đốc thúc nhân dân hai huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam phải đào một con sông khác vòng cung quanh núi Kẽm Trống, để ngự thuyền đến thăm chùa Địch Lộng.

Vua đã truyền, quan, dân là bề tôi phải nghe và làm.

Thế là hàng ngàn người trong một ngày, một đêm đã đào xong một con sông dài 3 kilômét, rộng 10 mét, sâu 5 mét.

Sông đào xong, Vua Minh Mạng ngự thuyền đến thăm chùa Địch Lộng.

Quả là một cảnh đẹp diệu kỳ,Vua liền tặng cho 5 chữ “Nam Thiên Đệ Tam (Động đẹp thứ ba ở trời Nam).

Ngày nay, ở xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn còn di tích cái Bến Ngự và con sông Đào ấy.

Trải qua gần 200 năm, con sông Đào nay chỉ còn là một lạch nhỏ.

Như thế, hai ông vua Minh Mạng và Thiệu Trị ở thời Nguyễn đã đến thăm chùa Địch Lộng và cúng tiến chùa.

Ngày nay, các du khách bốn phương trong và ngoài nước cũng đến thãm thú chùa Địch Lộng và cúng tiến vào chùa.

Chùa Địch Lộng hàng năm đều tổ chức lễ hội từ ngày 6 đến 10 tháng giêng âm lịch còn kéo dài đến hết tháng 3.

Toàn cảnh chùa Địch Lộng là sự hài hòa những công trình kiến trúc của con người và tạo hóa, có cao sâu, âm dương đối đãi, sáng tối, hư thực, có nhạc, có hoạ, có thơ và cây cối tươi xanh tạo nên cảnh Bồng lai,

Tiên cảnh giữa trần thế.

Vào chùa để ngẫm sự cân bằng của tạo hóa, để con người tâm linh tìm ra chính mình, lễ Phật, cầu mong cho được nhiều phúc lành và thưởng thức những tuyệt tác nghệ thuật của tạo hóa đã giành riêng ban tặng cho nơi này.

Đó là một thắng cảnh độc đáo vừa hoang sơ vừa kì vĩ với tiếng chuông ngân của chùa và “tiếng sáo thổi’’

(nguồn : " chùa cổ việt nam" (nxb thanh niên)

trang mạng : tienamphu.com..)

bài này chưa hoàn toàn đủ nhưng dài quá nên tạm như vậy.. anh chị em đóng góp ý kiến để hoàn thiện hơn ạ😂
 
Nghiệp Vụ Lhhd
HDV CẦN CHUẨN BỊ GÌ CHO TOUR LỄ HỘI


Các bạn đã biết đặc thù của tour lễ hội đầu năm khác nhiều so với những tour nghỉ dưỡng , hay dl biển , nó đòi hỏi khắt khe hơn về kiến thức, nghiệp vụ và kỹ năng chính vì vậy hôm nay xin phép các tiền bối em SANG xin chia sẻ tới những bạn SV, HDV mới vào nghề và những ai quan tâm 1 số điều chuẩn bị cơ bản để chúng ta có 1 tour lễ hội thành công .

1 : CHUẨN BỊ TÂM LÝ THẬT TỐT

- Có lẽ nhắc tới tour lễ hội nhiều bạn không dám nhận vì sợ kiến thức không đủ, chính điều này làm các bạn thất bại 80%.

Nó làm các bạn mất đi sự tự tin vốn có.

Nếu muốn thành công bạn phải dám làm và dám đương đầu với thất bại (thất bại trong khả năng cho phép , có thể chấp nhận được ).

NẾU BẢN THÂN BẠN KHÔNG VƯỢT QUA ĐƯỢC CHÍNH MÌNH THÌ SẼ KHÔNG THỂ ĐƯƠNG ĐẦU VỚI CÁC KHÓ KHĂN GẶP PHẢI TRONG QUÁ TRÌNH ĐI TOUR.

Vì vậy hãy chuẩn bị tâm lý tốt, hít thở sâu và tự tin lên .

2 : CHUẨN BỊ SỨC KHỎE TỐT

- Đặc thù của tour lễ là đi sớm, về muộn, và đi nhiều điểm, có những tour phải leo, trèo , đi bộ, xếp hàng rất nhiều và lâu, tour gối tour nên các bạn sẽ rất mệt mỏi nếu như không chuẩn bị sức khỏe và sắp xếp công việc , sinh hoạt 1 cách hợp lý , không nên nhận tham tour gối liên tục sẽ mệt mởi và áp lực…

3 : CHUẨN BỊ KIẾN THỨC TÂM LINH ‘ CƠ BẢN ’

- Điều giúp các bạn tự tin đó chính là nển tảng kiến thức cơ bản . mình dùng từ cơ bản bởi vì không phải ai cũng có kiến thức sâu, rộng, khả năng của mỗi người là khác nhau, không phải cứ già là giỏi, và không phải cứ trẻ , mới là không hay.

Tùy vào hoàn cảnh và tùy tính chất từng đoàn mà bạn cung cấp lượng kiến thức sao cho phù hợp.

Nhiều khi kiến thức bạn cung cấp cao siêu quá, những từ chuyên môn vd như của PHẬT GIÁO đến bạn còn chưa hiểu tường tận huống chi là khách.

- Các bạn phải hiểu những cái cơ bản nhất .

đầu tiên bạn hiểu thế nào là TÂM LINH?

TOUR TÂM LINH Gồm những gì ?

Ngoài Phật Giáo còn có rất nhiều vd : TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU, THỜ THÀNH HOÀNG, THỜ THẦN THÁNH, THỜ CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ, còn CÔNG GIÁO, ĐẠO GIÁO, KHỔNG GIÁO….bạn phải phân biệt được CHÙA, ĐỀN, MIẾU MẠO, NHÀ TƯỞNG NIỆM, AM, NGHÈ, ĐÌNH…

VÀ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC THỜ CÚNG TRONG ĐÓ.

CÓ NHỮNG CÁI CĂN BẢN RỒI ĐI TOUR NÀO , ĐI ĐÂU BẠN CŨNG ĐI ĐƯỢC, việc còn lại là tìm hiểu thêm thông tin điểm đến nữa là ok.

- Cái điều mà khách quan tâm khi đi tour du xuân, lễ hội đầu tiên đó là sự thoải mái về tâm lý và điều thứ 2 là hoàn thành được mục đích của họ là phải điến điểm họ đi và , lễ được ở đó.

Vậy nhiệm vụ của HDV đầu tiên là làm khách thoải mái, vui vẻ đã, sau đó mới giúp khách, hướng dẫn khách thực hiện cái mục đích thứ 2.

- Họ sẽ quan tâm điểm đến của mình là gì?, đối tượng được thờ cúng ở điểm đó là gì ?

ở đó có điều gì đặc biệt? vào đó có bao nhiêu ban lễ, phải lễ như thế nào, bắt đầu từ đâu, chuẩn bị đồ lễ như thế nào?

Đó là những cái tối thiểu bạn phải cung cấp được cho khách.

Đó là phần lễ , còn phần hội sẽ có những hoạt động gì?

Bạn cũng phải tìm hiểu nếu không sâu thì cơ bản bạn phải cung cấp được thông tin.

HÃY NHỚ LÊN XE ĐIỀU ĐẦU TIÊN LÀM CHO KHÁCH VUI ĐÃ RỒI SAU MỚI LÀM GÌ THÌ LÀM.

4 : CHUẨN BỊ KỸ NĂNG , NGHIỆP VỤ, XỬ LÝ TÌNH HUỐNG PHÁT SINH

- THẮNG BẠI TẠI KỸ NĂNG . bạn phải nắm bắt được tâm lý khách, nhận biết khách muốn gì để đưa ra những cách hoạt náo, cách thuyết minh và nguồn kiến thức phù hợp

- Nhiều bạn hay bị quên cung cấp cho khách số điện thoại của mình, số xe ô tô, lấy số trưởng đoàn . những ngày cao điểm không thể tránh được tình trạng thất lạc khách vì quá đông…

- Giữ liên lạc với điều sẽ hành vì có thể sẽ có những phát sinh mà mình không thể tự quyết định được,

- Phải liên lạc với bên cung cấp dịch vụ vd : nhà hàng ăn, cáp treo, tàu thuyền…và có thể liên lạc với họ nhiều hơn khi đoàn gần tới, hay báo thời gian hợp lý cho họ chuẩn bị . bởi vì tình trạng quá tải sảy ra thường xuyên mùa lễ hội.

- Phải hẹn giờ khách chuẩn, địa điểm tập chung chính xác rõ , ràng, khu vs...

- Tự chuẩn bị cho mình 1 số kỹ năng sơ cứu phổ thông như : băng bó vết thương, hô hấp nhân tạo… dụng cụ y tế đơn giản như băng , gạc, thuốc tiêu chảy, đau đầu…trà gừng…

- Dặn dò khách càng cẩn thận , tỷ mỷ càng tốt vì có nhiều trường hợp khách mới đi lần đầu, mới đến điểm đó lần đầu….

- Nên thông báo cho khách trước về các trường hợp có thể phát sinh ví dụ như tắc đường, phà, tàu, cáp, trễ giờ ăn trưa, thất lạc đoàn , mất đồ ….

- Luôn đặt mình vào tình thế chủ động để thật bình tĩnh xử lý các tình huống phát sinh không mong muốn, nếu khó quá không tự quyết được phải thông báo với ĐH ở cty kết hợp giải quyết

- Và chuẩn bị cho mình caí điện thoại thông minh , pin khỏe, mạng khỏe có thể để tìm đường nếu lái xe không rõ đường, tra them thông tin cần thiết và để liên lạc được với khách và đh.

Dịch vụ…

….

- Chuẩn bị kỹ năng hoạt náo, thuyết minh càng nhuần nhuyễn càng tốt…

5: THÁI ĐỘ QUAN TRỌNG HƠN TRÌNH ĐỘ

- Do mới vào nghề hoặc tuổi đời còn ít nên đôi khi kỹ năng, kiến thức còn hạn chế điều này các CTY, và 1 số đoàn khách hiểu biết họ sẽ thông cảm được cho bạn.

NHƯNG nếu thái độ bạn không tốt sẽ không ai chấp nhận được.

- Vậy nên : luôn quan tâm khách , chăm sóc khách tốt trong quá trình đi tour ( ngoài tour mình không ý kiến ).

- Có cử chỉ, ngôn ngữ, hành động phù hợp với từng đối tượng khách,dựa vào độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính để xưng hô hay vui đùa phù hợp.

- Nếu kiến thức mình còn hạn chế hãy lấy sự quan tâm, nhiệt tình bù lại, vd lúc khách đi tham quan có thể đỡ bác cao tuổi, luôn động viên họ cố gắng bằng những lời tích cực, vậy trường hợp toàn các bác cao tuổi mà mình đỡ không xuể thì làm thế nào? ? cái này mở cho các bạn tự trả lời .

- Quan tâm khách lúc trước khi đi tour : gọi điện hẹn giờ cụ thể, nhắc nhở khách trang phục hợp lý với đểm tham quan, thời tiết …Quan tâm lúc trên xe, bằng cách kiểm tra điều hòa xe, ngả lưng ghế, say xe….quan tâm lúc đi tham quan, luôn quay về phía sau để ý đoàn, động viên đỡ khách, giúp khách xách đồ lễ…. quan tâm lúc ăn uống, xem khách thiếu cái gì có thể hỗ trợ như thiếu đũa bát… nhiều khi nhà hàng quá tải có thề vào bưng bê lấy them cơm giúp khách và hỗ trợ các bạn phục vụ ở nhà hàng chăm đoàn của mình., quan tâm lúc kết thúc tour như hỏi cảm nghĩ của khách…

- Có tính nhẫn nhịn, kiềm chế , chịu áp lực tốt

- Có thái độ phù hợp với lái xe , tôn trọng ĐIỀU HÀNH, anh chị HDV lớn tuổi, bạn bè đồng nghiệp trên tinh thần hợp tác, xây dựng, học hỏi cùng phát triển.

-

CÒN NHIỀU CÁI TẠM THỜI SANG UP VẬY.

CHÚC ACE HDV MÙA TOUR LỄ HỘI CHÂN CỨNG ĐÁ MỀM CHÚC CÁC CTY DL MÙA TOUR THẮNG LỢI!

Ae cảm nào cảm thấy hợp lý thì like động viên SANG viết tiếp hoặc có thể chia sẻ cho ai đó cần. ae nào không thích hoặc oke rồi thì cũng xin đừng gạch đá nặng tay, hoan hỷ nên tết tới rồi.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Những chuyện chưa biết về Chùa Đồng trên Đỉnh Thiêng Yên Tử Quảng Ninh


Chùa Đồng còn có tên Thiên Trúc tự (chùa Cõi Phật), chùa được tọa lạc ở đỉnh cao nhất dãy Yên Tử (1.068m) hùng vĩ với cảnh sắc mây trời mê đắm.

Chùa đồng yên tử quảng ninh đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam công nhận là ngôi chùa đồng lớn nhất và nằm ở độ cao nhất cả nước ta.

Không dừng lại ở đó mà chùa Đồng đã được xếp vào hàng độc đáo có một không hai nhất trên thế giới.

Cao hơn nữa ngôi chùa linh thiêng này lại được được ví như một “kỳ quan mới” tại khu danh thắng Yên Tử (Quảng Ninh).

Hiện nay ngôi chùa cổ kính linh thiêng này đang nắm giữ rất nhiều những kỷ lục và chưa có một ngôi chùa Việt Nam nào có thể “vượt mặt”.

Hãy cùng Innotour lập dở lại những kỷ lục mà không phải ai cũng biết về ngôi chùa Đồng này nhé!

Chùa Đồng linh thiêng trên đỉnh Yên Tử

1, Chùa Đồng Yên Tử xây dựng năm nào?

Đầu tiên chùa Đồng do một bà phi của chúa Trịnh dựng vào thời hậu Lê (thế kỷ 17).

Ngôi chùa đặc biệt ở chỗ là đã được đúc bằng đồng khác hẳn với chất liệu gỗ lim như những ngôi chùa khác của Việt Nam lúc bấy giờ.

Ở giai đoạn nguyên khởi này thì ngôi chùa chỉ là một cái khám nhỏ nhắn ngay cả một người chui không lọt.

Theo thời gian cho đến năm Canh Thân 1740, đời vua Lê Cảnh Hưng tương truyền kể lại thì có một cơn bão làm bật mái chùa.

Chính vì điều này thì đã làm cho kẻ gian dỡ phần còn lại chỉ để lại dấu tích các hố cột như chôn trên mỏm đá mà thôi.

Chùa Ba Vàng – “Ngai vàng” sừng sững giữa đất trời Hạ Long

Cho đến thời điểm vào mùa Đông 1930, người xưa kể lại có bà Bùi Thị Mỹ từ chùa Long Hoa đã tái tạo và phục dựng lại chùa Đồng linh thiêng bằng bê tông cốt đồng để trên một hòn đá vuông vắn và lại như cao quá đầu người ở vị trí chùa Đồng cũ.

Vào năm 1993 thì một người tên Nguyễn Sơn Nam – Việt kiều ở Mỹ, đã cùng các phật tử ở hải ngoại phát tâm đúc lại ngôi chùa mới kiến trúc hình chữ Đinh quen thuộc trong lối kiến trúc chùa ở Việt Nam.

Tuy nhiên chữ Đinh này lại được thiết kế theo dáng một bông sen nở với những cánh thắm đẹp tự nhiên nhất.

Bông sen nở như đã ngự trên sập đồng chân quỳ dạ cá được trổ hình hoa sen cách điệu tuyệt đẹp và đã được đặt ngay bên cạnh ngôi chùa Đồng bằng vật liệu bê tông xây dựng đầu thế kỷ XX.

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì chùa Đồng Yên Tử chưa được liệt vào danh sách những ngôi chùa độc đáo nhất thế giới được.

Chỉ khi có Quyết định số 3325/QĐ-UB ngày 29/8/2005 của UBND Quảng Ninh đã phê duyệt dự án đầu tư tôn tạo cũng như phục dựng tại chùa Đồng tại khu di tích Yên Tử, TP Uông Bí.

Cho đến ngày 03 tháng 6 năm 2006 dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Phật học Đại Đức Thích Thanh Quyết (Thượng Tọa Thích Thanh Quyết) cùng với Ban Quản lý Dự án chùa Đồng, bằng công đức của người dân thập phương trong và ngoài nước đã khởi lễ đúc chùa Đồng được thiết kế của kiến trúc sư Trần Quốc Tuấn – Viện Bảo Tồn Di Tích.

Hang Đầu gỗ - Nét trầm mặc được lưu giữ ở Hạ Long

Cho đến ngày 30 tháng 01 năm 2007 thì chùa Đồng có diện mạo như hiện nay và nó lại được nằm chính giữa hai ngôi chùa đã được xây dựng trước tạo ra được vẻ linh thiêng độc đáo.

2, Chùa đồng Yên Tử nặng bao nhiêu tấn?

Chùa Đồng mới đã được các nghệ nhân nổi tiếng đúc đồng ở Ý Yên, Nam Định thực hiện.

Và ngôi chùa được đúc theo nguyên mẫu của chùa Dâu Keo (Thuận Thành, Bắc Ninh).

Chùa Đồng đúc nặng 70 tấn, dài 4,6m, rộng 3,6m và chiều cao từ cột nền tới mái là 3,35m.

Chùa Đồng linh thiêng nặng 70 tấn

Nếu nhìn kỹ và có kiến thức về khảo cổ học thì người quan sát dễ dàng nhận biết được các hoa văn, họa tiết trên đầu đao, hay là trên bệ mái mang đậm phong cách đời Trần.

Bệ mái chùa Đồng mang đậm nét đời Trần

Tiếp theo đó thì toàn bộ xà ngang, xà dọc đều đúc hình đầu rồng thật uy nghi và độc đáo.

Ấn tượng hơn khi ta thấy được bốn đầu chùa hình mái vẩy làm cho người nhìn có sự liên tưởng tựa như hình bông sen đang nở vươn lên.

Ngôi chùa nặng tới 70 tấn được đục thành nhiều chi tiết khác nhau (hoa văn, họa tiết, mộng mẹo, v.v…) rồi sau đó vận chuyển và lắp đặt trực tiếp trên đỉnh Yên Tử.

Chùa Đồng được lắp đặt trực tiếp trên non Yên Tử

Hẳn ai lên chùa Đồng cũng sẽ thấy được ở hai bên chùa có giá treo chuông, khánh.

Sau chùa thì cũng đã được xây dựng một ngôi nhà tăng cho sư an trú lo Phật sự của chùa.

Núi Bài Thơ – Điểm check in “siêu ảo” tại Hạ Long

Giá treo chuông bên cạnh chùa ĐồngKhánh Chùa Đồng Yên Tử

Lên đỉnh Yên Sơn, đi trong mây không phân biệt đâu là trời, đâu là đất, đâu là người ở nơi hòa đồng giữa trời đất và người (thiên, địa, nhân).

Từ đỉnh Yên Sơn nhìn về 4 hướng là cả vùng Đông Bắc như dải lụa xanh thẳm, cảnh đẹp lạ thường.

Cảnh sắc mây trời trên đỉnh Yên Tử

Từ xưa cho đến nay thì chùa Đồng không những mang ý nghĩa kiến trúc mà lại có được một sự linh thiêng không ai có thể phủ nhận.

Nét độc đáo của chùa Đồng khác biệt hoàn toàn với bất cứ ngôi chùa hay công trình nào được đúc trên thế giới.

Độc đáo không chỉ về kiến trúc, điêu khắc với nét đẹp khỏe khoắn và pha vào đó là nét mềm mại bay bổng của người nghệ nhân gửi gắm vào đó.

Chùa Đồng- nét đẹp khó cưỡng về kiến trúc

3, Đến chùa Đồng cầu gì?

Theo dân gian ta lưu truyền thì chùa Đồng linh thiêng chính là một nơi có thể cầu được “sinh lực của vũ trụ” cho mọi mặt của đời sống.

Và ngôi chùa cũng chính là nơi mà các tín đồ, phật tử có một niềm tin vào sự linh ứng khó lý giải này.

Dân gian có câu:

“Trăm năm tích đức tu hành

Chưa đi Yên Tử chưa thành quả tu”
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Danh sách 10 món ngon đặc sản Ninh Bình nhất định phải thử


Ninh Bình không chỉ níu chân du khách bởi nét đẹp cổ kính của cố đô Hoa Lư hay những thắng cảnh nổi tiếng như Tràng An, Bái Đính, Thung Nham… mà còn bởi những món ăn đặc sản ngon nức tiếng ở đây.

Dưới đây là danh sách 10 món ngon đặc sản Ninh Bình mà bạn nhất định phải thử một lần nếu có dịp đặt chân tới.

Những món ngon đặc sản Ninh Bình nhất định phải thử

1.

Cơm cháy ruốc

Nhắc đến các món đặc sản Ninh Bình thì món đầu tiên mà người ta nghĩ đến chắc là cơm cháy ruốc.

Món ăn này thì cũng khá là quen thuộc với mọi người với phần cơm cháy chính là cơm dính dưới đáy nồi thành tảng được phơi khô dưới nắng xong đó sẽ chiên ngập trong dầu để có vị giòn nhất định.

Đến Ninh Bình, bạn có thể tìm mua cơm cháy ở mọi nơi như Bái Đính, Tam Cốc, Tràng An

2.

Thịt dê núi

Được chăn thả trên các ngọn núi đá nên thịt dê ở Ninh Bình rất săn chắc và dai nên du khách đến Ninh Bình nhất định phải thử món ăn này một lần.

Ngoài ra, thịt dê ở đây còn được chế biến ra rất nhiều món ăn ngon với các cách chế biến khác nhau như làm thành nem dê, dê hấp, dê nướng hay nổi tiếng nhất là dê tương gừng, một món ăn vô cùng dinh dưỡng.

Nhiều người cũng nói rằng, thịt dê còn có thể chữa được rất nhiều loại bệnh nên đến Ninh Bình nếu có cơ hội bạn chớ bỏ qua thịt dê núi nức tiếng nơi đây.

3.Xôi trứng kiến

Nhiều người nhầm tưởng rằng các món ăn làm từ trứng kiến chỉ có ở những vùng núi phía Bắc mà thôi nhưng thực sự ở Ninh Bình cũng có một món ăn đặc sản làm từ trứng kiến với tên gọi xôi trứng kiến.

Trứng kiến Ninh Bình chủ yếu được khai thác ở vùng núi đá voi Nho Quan, sau khi đưa trứng non về thì rửa sạch rồi tẩm ướp gia vị và xào chín.

Món ăn này kết hợp với xôi, thêm hành khô thì hương vị phải nói lạ miệng và hấp dẫn vô cùng.

Xôi trứng kiến (Ảnh: ST)

4.

Gỏi cá nhệch

Món gỏi cá nhệch là món ăn ngon và nổi tiếng đối với người Ninh Bình và có nhiều nhất cũng như nổi danh nhất ở Kim Sơn.

Gỏi được chế biến khá công phu, nhiều giai đoạn để không có mùi tanh mà sẽ có vị ngọt xen lẫn vị thơm của nếp.

Món nước chấm gỏi cũng được làm không hề đơn giản khi kết hợp hài hòa và vừa đủ giữa vị cay nồng của ớt, của sả và hạt tiêu.

Chính sự cầu kì đó sẽ khiến bạn ăn một lần mà nhớ cả đời.

Gỏi cá nhệch Kim Sơn (Ảnh: ST)

5.

Bún mọc

Bún mọc không phải là món ăn lạ đối với bất kì ai bởi chỉ bước chân ra đầu ngõ, sà vào một khu chợ ở bất cứ địa điểm nào ở Hà Nội thì đều có bán món bún hấp dẫn và thân thuộc này.

Nhưng chớ bỏ qua nó khi ghé qua Ninh Bình, bởi một món ăn nhưng mỗi nơi lại có một nét đặc trưng riêng biệt.

Món bún mọc ở Ninh Bình có lẽ có tiếng nhất hẳn là bún mọc ở Kim Sơn, nơi mà bạn sẽ “say” trong vị ngon rất đậm vị dù tô bún chỉ có mọc mộc nhĩ, thêm chút thịt lợn rồi hành hoa, sả và ớt tươi.

Bún mọc Kim Sơn (Ảnh: ST)

6.

Rượu cần Nho Quan

Đây là một món đặc sản của người dân tộc Mường ở vùng Nho Quan, được người dân nơi đây nấu rất cẩn thận và tỉ mỉ.

Để làm được rượu cần, người ta sẽ nấu gạo nếp trộn với men được ủ trong những vại lớn.

Thời gian ủ nếp là ít nhất 3 tháng.

Ai từng uống rượu cần đều biết vị cay ngọt, nồng nồng rất lạ mà nó mang lại.

Rượu cần ở Nho Quan sau khi được làm thủ công sẽ được đóng vào các chai thủy tinh hoặc các vo đất và nút chặt bằng lá chuối đem bán.

Bạn có thể mua vài chua rượu cần Nho Quan về làm quà cho người thân.

Rượu cần Nho Quan (Ảnh: ST)

7.

Cá kho gáo

Cá kho gáo là một món ăn lạ mang đậm chất vùng miền ở Ninh Bình.

Gáo là loài cây mọc ở những vùng ven sông, suối hay trong các hang đá, ngoài nấu ăn có thể dùng làm thuốc.

Qủa gáo được chế biến rất đặc biệt ở chỗ người ta sẽ cắt lát nhỏ rồi lót dưới đáy nồi rồi mới đè cá lên trên và phủ lớp trên cùng tiếp tục là những lát gáo xếp thành lớp.

Món ăn này có vị không cố định bởi tùy thuộc vào quả gáo mà món cá kho sẽ hơi chua hay hơi chát.

Tuy nhiên, nhìn chung thì vị món ăn sẽ khá lạ và kích thích vị giác của bạn cực độ bởi màu sắc hấp dẫn và vị chua của gáo.

8.

Miến lươn

Miến lươn cũng là món ăn bạn không tài nào bỏ qua được khi khám phá ẩm thực Ninh Bình.

Lươn ở đây phải là lươn cốm với phần lưng nâu hồng còn bụng thì màu vàng đậm, loại lươn này nhỏ hơn lươn bình thường nhưng thịt lại săn chắc và rất thơm.

Miến lươn thường được dùng kèm hoa chuối để tạo nên vị thanh dịu khó cưỡng lại được.

Miến lươn thanh vị và ngon miệng (Ảnh: ST)

9.

Cua đồng rang lá lốt

Nghe tên món ăn đã dấy lên trong lòng du khách hình dung về một hương vị dân giã quê nhà.

Những con cua đồng được rang cùng lá lốt rất giòn, món ăn chế biến khá đơn giản nhưng lại khiến du khách thực sự sẽ ngẩn ngơ nhớ mãi bởi sự hấp dẫn của một món ăn không chỉ đơn giản là vị, là nguyên liệu của nó mà còn là ý nghĩa mà nó mang lại.

Cua đồng rang lá lốt đưa ở mảnh đất cố đô đưa bạn về một miền quê nghèo Việt Nam những năm tháng xưa và hơi thở giản dị của những vùng quê nghèo trên Việt Nam.

10.

Bánh trôi Ninh Bình

Vừa dạo một vòng các món mặn rồi, hành trình khám phá ẩm thực cố đô Hoa Lư chuyển sang thưởng thức một món ăn nhẹ thân thuộc với người dân Việt Nam vào mỗi dịp tết Hàn thực đó là món bánh trôi.

Người làm bánh có bí quyết riêng trong việc kết hợp đường, mật, lạc khô giã nhỏ trộn cóc để làm nhân.

Bánh trôi Ninh Bình còn hấp dẫn hơn ở xứ khác nằm ở chỗ bánh phảng phất mùi lá cúc, hoa bưởi tạo nên sự thanh tao và sức hấp dẫn rất cổ truyền.

Bánh trôi Ninh Bình (Ảnh: ST)

Hành trình khám phá ẩm thực Ninh Bình đến đây xin phép kết thúc.

Chúc các bạn sẽ có cơ hội “chinh chiến” hết cả 10 món đặc sản tuyệt vời này trong chuyến du lịch khám phá
 
Nghiệp Vụ Lhhd


Tài liệu thuyết minh du lịch Bái Đính-ngôi chùa tâm linh lớn nhất Đông Nam Á

Share

Hôm nay, chúng tôi vui mừng được đón đoàn đến tham quan và chiêm bái khu văn hóa tâm linh núi chùa Bái Đính.

Nơi đây, hơn 1000 năm về trước, là nơi đóng đô tạm thời của nhà Đinh trong lúc tiến hành xây dựng kinh đô Hoa Lư và sau đó đóng vai trò là một trong “tứ trấn” của kinh đô Hoa Lư.

Cũng nơi đây, dưới thời Lý, Quốc sư Nguyễn Minh Không dựng chùa tu hành, làm thuốc chữa bệnh cứu người, đặc biệt là việc chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông.Ta có thể khẳng định nơi đây từ xưa tới nay là một trong những trung tâm Phật giáo (thờ Phật), đạo giáo (thờ thần Cao Sơn), tín ngưỡng thờ Mẫu (mẫu Liễu Hạnh).

Để ngày nay, các đền, phủ được phục dựng và ngôi chùa lớn nhất Việt Nam được xây dựng tại đây, với các kỷ lục đã được Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận, đó là:

Chuông đồng lớn nhất Việt Nam, nặng 36 tấn, đường kính 3,5m, cao 5,5m;

Pho tượng Đức phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam.

Tượngcao 9,5m, nặng 100 tấn;

Bộ tượng Tam thế bằng đồng dát vàng lớn nhất Việt Nam.

Mỗi tượng nặng 50 tấn, cao 7,5m;

Tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn bằng đồng dát vàng lớn nhất Việt Nam.

Tượng nặng 90 tấn, cao 11,45m (tính cả bệ);

Tượng phật Di Lặc bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Tượng nặng 80 tấn, cao10m;

Tượng ông Thiện và ông Ác bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam.

Mỗi tượng nặng 20 tấn, cao 5,2m;

Bộ tượng A Na – Ca Diếp bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Mỗi tượng nặng 30 tấn, cao 9m;

Bộ tượng Bát bộ Kim cang bằng đồng nặng nhất Việt Nam.

Mỗi tượng nặng 4 tấn, cao 3,95m;1 9.

Cặp hạc bằng đồng lớn nhất Việt Nam;

Chùa có Hành Lang La Hán lớn nhất Việt Nam.

La Hán đường gồm hai dãy, mỗi dãy 117 gian, dài 526m;

Chùa có Giếng Ngọc lớn nhất Việt Nam, đường kính 30m, chiều sâu10m;12.

Chùa có nhiều cây Bồ Đề nhất Việt Nam.

Riêng ngày Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam (17/5/2008), trồng 100 cây bồ đề, triết từ gốc bồ đề Ấn Độ.13.

Đại lễ cung nghênh sá lợi phật lớn nhất Việt Nam.

Hơn 15.000 người tham gia và trên 1.000 xe tham gia lễ rước;Ngoài ra, còn có nhiều hạng mục công trình khác cũng rất hoành tráng, công phu, ấn tượng như: La Hán đường với 500 vị La Hán được tạc bằng đá xanh nguyên khối, tháp bồ đề 9 tầng, hồ phóng sinh rộng gần 5000m2…

GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ NÚI BÁI ĐÍNH

Về vị trí địa lý

Núi Bái Đính nằm trên địa bàn xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, cách Cố đô Hoa Lư 3km, cách thành phố Ninh Bình 12km(theo đường chim bay) về phía Tây.

Núi có độ cao 187m so với mặt nước biển, diện tích khoảng gần 600 ha.

Phong thủy có núi, sông, hồ nước, núi có hình tay ngai

Về không gian tự nhiên

Núi Bái Đính là điểm khởi đầu ở phía Tây Bắc của sơn hệ đá vôi Hoa Lư, nằm trọn trong tứ giác nước được giới hạn bởi 4 con sông: sông Hoàng Long, sông Đáy, sông Vân, sông Bến Đang.

Sơn hệ đá vôi Hoa Lư có diện tích hàng nghìn ha, có những di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Cố đô Hoa Lư, khu du lịch Tràng An, khu du lịch Tam Cốc – Bích Động…

Các ngọn núi trong sơn hệ có độ cao trung bình từ 70-170m.

Với độ cao 187m, có thể nói, núi Bái Đính là ngọn núi cao nhất vùng, là núi chủ/ núi chúa của sơn hệ đá vôi Hoa Lư.

Nếu đặt sơn hệ đá vôi Hoa Lư trong không gian sông núi Việt Nam, thìnơi đây là sự kéo dài và phân tán của khối núi đồ sộ phía Tây Bắc và cũng là phầnchân của dãy Hymalaya, nơi khởi nguồn của đạo Phật4.

Nếu lấy trục Việt Trì – Hà Nội là trục trung tâm của tam giác châu thổ sông Hồng, thì phía Đông Bắc có cánh cung đá vôi Đông Bắc, nổi bật là non thiêng Yên Tử, nơi các vua Trần đặt nền móng phái Mật tông, là trấn ải phía biên giới đông bắc, còn phía Tây Nam, như để cho cân xứng, tạo hóa đã tạo ra sơn hệ đá vôi Hoa Lư, nổi bật là núi thiêng Bái Đính, nơi Quốc sư Nguyễn Minh Không (thời Lý) đã chọn để tu hành và truyền đạo, nơi đây cũng được coi là trấn ải cho kinh đôThăng Long phía tây nam.

Về tên gọi

Núi Bái Đính, theo cách giải thích dân gian có nghĩa là: núi có lễ bái trên đỉnh cao.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Chùa BĐ mới


Tam quan

Tam quan là 3 cửa, theo đạo Phật, đó là Không quan, Trung quan, Giả quan;

Tam Quan- cổng dẫn vào chùa Bái Đính mới

Tam quan cũng có nghĩa là 3 cửa: cửa khổ, cửa vô thường, cửa vô ngã; Khi quý khách bước qua ngưỡng cửa tam quan cũng có nghĩa là quý khách đã bước vào cõi thiêng, vào một thế giới khác tục, một thế giới có nhiều tính thánh thiện, để tìm lẽ cân bằng của cuộc sống.

Những tín đồ đến đây như muốn đem hoà cá thể vào mênh mông, đem hữu hạn hoà vào vô hạn để tìm thấy chính mình

Tam quan được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ, để xây dựng tam quan, người ta đã sử dụng khoảng 550 tấn gỗ tròn.

Tam quan có lối kiến trúc kiểu chồng giường, cao 16,5m, rộng 13m, dài 32m.

Phía trước tam quan, hai bên tả hữu có hai con sư tử bằng đá, là biểu hiện sức mạnh của trí tuệ.

Trong trường hợp đặt trước Tam quan nó còn mang ý nghĩa kiểm soát tâm hồn kẻ hành hương.

Vào Tam quan, theo hướng nhìn của khách từ ngoài vào trong, bên phải có đặt tượng thần Khuyến thiện, tay cầm viên ngọc, biểu tượng cho đạo pháp; bên trái là tượng thần Trừng ác, tay cầm kiếm.

Cả hai vị thần đều ngồi trên con sư tử, mang ý nghĩa: lấy nền tảng của trí tuệ để hành đạo, hướng con người tới chân – thiện – mỹ.

Bên trên tam quan có hình tượng bánh xe luân hồi, được chạm thông phong, biểu tượng sự chuyển vần không ngừng của phật pháp, của trời đất.

Ở giữa có chữ Vạn, tượng trưng của ngọn lửa tam muội (lửa thiêng).

Chữ Vạn còn tượng trưng cho trí tuệ và lòng từ bi, quảng đại của đức Phật.

Chữ Vạn mở rộng ra hai bên biểu

thị sự vận động vô hạn của Phật lực, kéo dài tới 4 phương, mở rộng vô cùng tận.

3 Từ Tam quan, chúng ta đi theo hành lang phía tay phải.Tại sao chúng ta lại vào phía bên phải mà không phải bên trái trước?

Theo quan niệm của đạo Phật, vào chùa chúng ta vào từ bên phải của khách(tức bên trái của chùa) có nghĩa là đi theo chiều quay của chữ Vạn, cũng là đi từ dương sang âm để làm tịnh tiến thiện căn.

Hành lang (La Hán Đường)

Hành lang được thiết kế hoàn toàn bằng gỗ, các vì kèo mái được kết cấu kiểu giá chiêng chồng giường con nhị.

Dọc hai hành lang tả, hữu đặt 500 pho tương La Hán, chất liệu bằng đá, do các nghệ nhân làng nghề đá Ninh Vân( Hoa Lư) chế tác.

Vì vậy hành lang còn gọi là La Hán Đường.

La Hán Đường gồm hai dãy, mỗi dãy 117 gian, dài 526m.

Người ta đã sử dụng khoảng 3500m.

La Hán là các đệ tử của Phật Thích Ca, họ chưa thành Phật nên gọi là La Hán.

Vì vậy chúng ta thấy, La Hán đường chỉ được sắp đặt từ tam quan đến gần điện Pháp chủ, đây cũng là con đường tượng trưng cho con đường đến với cõi Phật.

Mỗi vị La Hán đều có tên và ý nghĩa riêng.

Tại sao các vị La Hán lại được thờ ở hành lang?

Vì ở vị trí này, họ thường xuyên gần gữi, giáo dưỡng, dìu dắt chúng sinh.

Trên con đường này, nếu để ý hai bên, chúng ta thấy rất nhiều những cây mít được trồng.

Tại sao vậy?

Trong đạo Phật mít là Paramita.

Âm Hán Việt là Ba-la-mật-đa, nghĩa là đáo bỉ ngạn(đến bờ giác ngộ).

Ý nghĩa của cây mít là đại giác ngộ, đỉnh cao của giải thoát.

Vì thế, cây mít là cây thiêng, gắn với Phật đạo(gỗ mít dùng làm mõ chùa, làm tượng Phật, lá mít dùng đặt oản lễ Phật…).

Thực ra, mít nó không mang yếu tố đơn thuần là chất liệu với những gân xoắn biểu hiện nghệ thuật, cao hơn, nó biểu hiện miền đất thoát tục.

Gác chuông

Giới thiệu về kiến trúc: Gác chuông kiến trúc hình bát giác, có 3 tầng mái cong, chiều cao 18,25m, đường kính 17m, mang dáng dấp của bông sen.

Gác chuông có một lối lên và một lối xuống.

Để lên gác chuông, mời quý khách lên phía cầu thang bên phải(theo lối nhìn của khách từ tam quan vào).

Giới thiệu về quả chuông: Đây là quả chuông đồng nặng 36 tấn, do các nghệ nhân ở Huế đúc.

Qủa chuông này đã được trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận là quả chuông bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Như quý khách có thể thấy, quả chuông có 15 vành hoa văn.

Tính từ trên xuống, các vành hoa văn được trang trí như sau:

Vành hoa văn 1, 2, 3, 4, 5, 10, 13: khắc chữ Hán.

Vành hoa văn 6 trang trí hoa văn lá đề cách điệu.

Vành hoa văn 7 là vành hoa văn ở giữa, rộng nhất, trang trí các bài minh văn bằng chữ Hán.

Vành hoa văn 8, 14 trang trí hoa văn cúc dây.

Vành hoa văn 9 trang trí hình ảnh lưỡng long chầu quả lôi đang bốc lửa và các chữ Hán.

Xin nói thêm về hình ảnh quả lôi đang bốc lửa: Về ý nghĩa văn hoá tâm linh, hình tượng rồng chầu “quả lôi” biểu hiện ý thức cầu nguồn nước, cầu mưa.

Đối với cư dân nông nghiệp, cầu nguồn nước chính là cầu no đủ, hạnh phúc.

Vành hoa văn 11, 12 trang trí hoa văn chữ “Vạn” cách điệu, giữa hai vành này, ở bốn phía là các rốn chuông.

Vành hoa văn 15 (vành cuối cùng) trang trí hoa văn sóng nước.

Các hoa văn này được thiết kế mang phong cách thời Lý.

Theo quan niệm của nhà Phật, tiếng chuông khi gõ vào sáng sớm là cảnh tỉnh, buổi chiều là thu không.

Mỗi khi tiếng chuông vang lên, mọi thế giới hành tội nghỉ ngơi, những kẻ tội lỗi khi nghe tiếng chuông thì tội lỗi cũng sẽ được tiêu tan.

Với quan niệm, tiếng chuông chùa càng ngân xa bao nhiêu, càng xua nỗi khổ của chúng sinh đi bấy nhiêu, vì vậy, gác chuông của chùa được đưa lên rất cao.

Khi những hồi chuông được gióng lên, thì ở cách xa hàng chục km vẫn có thể nghe thấu.

Với phật tử, nghe tiếng chuông buổi sớm như nhắc nhở nghiệp bồ tát vị tha; tiếng chuông chiều: diệt trừ sầu não.

Tiếng chuông cũng như thúc đẩy cho muôn loài sinh sôi, vì toà nhà đó mang yếu tố dịch học.

Cả toà nhà coi như thái cực.

Mái trên nhẹ (+), mái dưới nặng (-).

Âm dương đối đãi, vạn vật sinh sôi, nảy nở.

Như quý khách có thể thấy, chày kình để đánh được quả chuông này cũng rất lớn.

Chày kình bằng gỗ có chiều dài khoảng 5m, đường kính 30cm, nặng gần 500kg (5 tạ).

Điện Quan Thế âm Bồ tát.

Giới thiệu về kiến trúc: Đây là công trình được làm hoàn toàn bằng gỗ, khoảng 900m

3 gỗ tròn đã được sử dụng làm công trình này.

Điện thờ gồm 7 gian, chiều cao 14,8m, chiều rộng 16,8m, chiều dài 40,4m.

Giới thiệu về pho tượng Quan Thế âm Bồ tát: Đây là pho tượng đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận là tượng Quan Thế âm bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Tượng cao 5,4m, nếu tính cả bệ tượng là 9,57m; nặng 80 tấn, nếu tính cả bệ tượng là khoảng 100 tấn.

Như chúng ta đã biết, Quan âm là vị phật đại diện cho tứ đại vô lượng tâm:đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, vì vậy, ở bất kể đâu, phật Quan âm cũng luôn tượng trưng cho sự từ bi, cứu khổ, cứu nạn mọi chúng sinh.

Pho tượng tại đây là hình ảnh tượng Quan âm thiên thủ thiên nhãn (tức là Quan âm nghìn tay nghìn mắt).

Theo truyền thuyết, bà là con gái vua Thủy Tề, bỏ mặc giàu sang phú quý đi tu Phật, bà hy sinh cả đôi tay, đôi mắt của mình để chữa bệnh cho chúng sinh.

Vì thế Phật cho bà tăng lên nghìn con mắt, nghìn bàn tay để bà làm được nhiều việc công ích và nhìn, thấu hiểu nỗi khổ của chúng sinh nghìn lần hơn nữa.

Như chúng ta thấy, tượng Quan âm ở đây được thể hiện có 3 khuôn mặt chồng lên nhau, tương truyền, bà suy nghĩ về chúng sinh nhiều quá nên đầu vỡ làm 3; cũng có người giải thích đó là tam giáo đồng tôn: nho – đạo – phật.

Tượng có 5 đôi tay lớn, mỗi đôi tay thể hiện một cách kết ấn khác nhau, có đôi tay kết ấn Thiền định, có đôi tay kết ấn Liên hoa… nhưng dù là cách kết ấn nào thì cũng thể hiện lòng từ bi, bác ái của Quan âm bồ tát, của đạo Phật đối với chúng sinh.

Điều đặc biệt là tượng Quan âm được tạc ngồi trên đài sen, có quỷ đội.

Như vậy, chúng ta có thể hiểu đây cũng là hình ảnh của tượng Quan Âm Nam Hải.

Sở dĩ gọi là Quan Âm Nam Hải là vì ở biển phương Nam.

Và con quỷ đội đài sen ấy có tên là Ô-ba-nan-đà long vương (gọi tắt là Nan đà long vương).

Hình tượng quỷ đội đài sen biểu hiện rằng, uy lực của phật pháp đã thấm nhuần tới cả cõi âm ti.

Điện Pháp chủ

Giới thiệu về hồ phóng sinh: Trước cửa điện Pháp chủ là hồ phóng sinh, diện tích khoảng 5000m.

Xung quanh hồ trồng nhiều cây bồ đề.

Đây là những cây do các đồng chí lãnh đạo, các nguyên thủ quốc gia đã trồng khi về thăm chùa.

(Có thể giới thiệu thêm về cây bồ đề (âm Hán Việt là Bu – đa) nghĩa là người giác ngộ.

Cây bồ đề là cây thiêng gắn với đạo Phật, mang yếu tố giác ngộ nên nó được đặt ở phía ngoài.

Với chúng ta hiểu, bồ đề là giác ngộ trên nền tảng trí tuệ hướng đến điều thiện.

Vì vậy, cây bồ đề trồng phía ngoài, nhắc nhở phật tử phải dẹp lòng trần, khởi lòng tĩnh, hướng đến đất Phật).

Điện Tam thế

Giới thiệu về vị trí phong thủy của khu chùa Bái Đính (Tại sân điện Tam thế, vì ở vị trí này khách có thể nhìn bao quát toàn cảnh).

Từ sân điện Tam thế nhìn về phía Tam quan:

Bên hữu (phải) có dãy núi Hàm Rồng, núi Hàm Xà.

Bên tả (trái) có núi Lê, núi Khám, núi U Bò, núi Ba Chạc, núi Thờ.

Phía trước chính diện có hồ Đàm Thị, xa hơn là núi Hàn Cay, tựa bức bình phong của khu chùa, xa hơn nữa là dòng Hoàng Long đầy ắp huyện thoại.

Chúng ta có thể thấy, phía trước khu chùa là một bức tranh sơn thủy hữu tình, âm dương đối đãi.

Có thể nói thêm phía bên kia bờ Hoàng Long là quê hương của vua Đinh Tiên Hoàng, cũng là quê hương của Quốc sư Nguyễn Minh Không, người có công đầu xây dựng ngôi chùa Bái Đính cổ.

Phía sau là núi Bái Đính, nơi có ngôi chùa cổ.

Giới thiệu về kiến trúc: Điện Tam thế được xây dựng với kiến trúc 3 tầng mái, gồm 7 gian, 2 chái, với tổng cộng 66 cột lớn nhỏ đúc bê tông, ốp gỗ.

Phật điện cao 34m, dài 59,10m, rộng 40,50m, diện tích lòng điện 2364m

Con đường nhất chính đạo từ Tam quan đến điện Tam thế dài 812m.Bức phù điêu đá (trước thềm tòa Tam thế) có kích thước 10m x 10m, được chạm khắc tứ linh: long, ly, quy, phượng.

Giới thiệu về bộ tượng Tam thế: Đây là bộ tượng đồng, do các nghệ nhân đúc đồng ở Ý Yên (Nam Định) chế tác.

Bộ tượng đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận là bộ tượng Tam thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Mỗi pho tượng cao 7,20m, nặng 50 tấn, đặt trên bệ đá cao 1,5m.

Tam thế có nghĩa là 3 thời: quá khứ, hiện tại, tương lai.

Tên đầy đủ của bộ tượng này trong đạo Phật là Tam thế thường trụ diệu pháp thân, có nghĩa là Phật luôn tồn tại kỳ diệu khắp mọi nơi, mọi lúc.

Ý nghĩa của bộ tượng này là các vị Phật của các thời luôn nối tiếp nhau để giáo hóa chúng sinh.

Các vị Phật có kích thước và hình dáng giống nhau, đều ngồi thế tọa thiền kiết già toàn phần (yoga)

Vị Phật ngồi giữa là tượng hiện tại thế, còn gọi là Hiền kiếp.

Vị phật này thể hiện cách kết ấn Thiền định với ý nghĩa giữ cho tâm thanh, lòng tĩnh, chống lại mọi tà loạn.

Vị Phật ngồi bên trái (theo hướng nhìn của khách từ ngoài vào) là tượng quá khứ thế, còn gọi là Trang nghiêm kiếp.

Vị phật này thể hiện cách kết ấn Thuyết pháp với ý nghĩa dùng đạo Phật để giáo hóa chúng sinh.

Vị Phật ngồi bên phải là tượng vị lai thế, còn gọi là Tinh tú kiếp.

Vị phật này thể hiện cách kết ấn Vô úy với ý nghĩa diệt mọi trừ tà ma, tội lỗi.

Một số công trình khác (sẽ được xây dựng trong tương lai gần, như thảo

viên, khu bảo tàng Phật giáo, nhà thờ Mẫu, khu tháp, nhà thờ Tổ…).

Đây cũng là

những công trình có kiến trúc đồ sộ, hoành tráng, tạo nên một quần thể chùa Bái

Đính ấn tượng, độc nhất vô nhị của Việt Nam.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Chùa BĐ cổ


Như đã giới thiệu ở phần trước, các quý khách đang bước chân trên mảnh đất có bề dày lịch sử hàng ngàn năm, văn hóa, tín ngưỡng.

Bản thân khu vực núi chùa Bái Đính đóng vai trò là vùng giao thoa giữa văn hóa sông Hồng ở phía Bắc và văn hóa sông Mã ở phía Nam, là cửa ngõ từ rừng xuống biển, là một điểm trên con đường sinh dưỡng, giao lưu bằng đường bộ theo hướng Bắc – Nam của người Tiền sử.

Điều này được chứng minh qua các di chỉ khảo cổ học ở núi Thung Bình, hang Bói, hang Trống… (những di chỉ thời đại đồ đá nằm ở phía Đông Nam núi Bái Đính), qua những di chỉ thời đại đồ đồng: núi Ốp, núi Xưa, đồi Đống (phía Tây Bắc núi Bái Đính)…

Đó là nền cơ sở vật chất của nền văn minh Đông Sơn, thời đại các vua Hùng, gắn liền với những truyền thuyết, huyền thoại về nhân vật thần núi Thánh Tản Viên, nhân vật này cũng được thờ tại đây.

Và khu vực núi Bái Đính cũng nằm trên dòng chảy của tín ngưỡng thờ Mẫu (một tín nhưỡng bản địa của dân tộc), từ đền Sòng, phố Cát (Thanh Hóa) đến phủ Đồi Ngang (Nho Quan – Ninh Bình) qua núi Bái Đính, ở đây ngoài động thờ Phật, đền thờ thánh Cao Sơn còn có phủ thờ Mẫu, để rồi từ đây, dòng chảy tiếp tục về núi Gôi (Nam Định) gắn liền với nhân vật mẫu Liễu Hạnh ba lần sinh, ba lần hóa.Và cũng chính vì thế, nhân ngày hội chùa Bái Đính (ngày mồng 6 tháng Giêng) vào các năm 1943, 1944 có hàng nghìn Phật tử; tín đồ của Mẫu, của Thánh đến tham dự, lợi dụng thời điểm tập trung đông người này các chiến sỹ Cộng sản.

Chùa Bái Đính cổ (Bái Đính cổ tự) nằm gần trên đỉnh của một vùng rừng núi khá yên tĩnh cách điện Tam Thế của khu chùa mới khoảng 800 m về phía nam.

Chùa Bái Đính cổ tọa lạc trên một ngọn núi cao 187m, thuộc xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Nơi có nhiều giai thoại về Đức Thánh Nguyễn Minh Không, người đã lập nên vào triều Lý khi Ngài về đây tìm cây thuốc quý chữa bệnh cho vua.

Vì vậy chùa Bái Đính cổ có nhiều chi tiết kiến trúc và cổ vật mang dấu ấn đậm nét của thời Lý.

Gần 1000 năm trôi qua, ngôi chùa Bái Đính cổ vẫn còn đó như một minh chứng cho sức sống bền bỉ của đạo Phật trong đời sống tâm linh của người Việt.

Các hạng mục chính của chùa Bái Đính cổ gồm: động thờ Phật, động thờ Mẫu, điện thờ Đức Thánh Nguyễn Minh Không và điện thờ Đức Thánh Cao Sơn.

Bái Đính cổ tự không có những mái chùa cong vút mái đao hay mũi hài, càng không có những trụ cột to lớn, đồ sộ hay thượng điện nguy nga lộng lẫy.

Mà được tạo dựng theo lối kiến trúc chùa động khá phổ biến như các chùa cổ khác ở Ninh Bình.

Tất cả các ban thờ Phật, thờ Mẫu của chùa Bái Đính cổ đều được đặt giữa lòng những sơn động u minh, làm tăng thêm không khí linh thiêng và huyền bí nơi cửa thiền.

Trần hang động đã trở thành những mái chùa kiên cố, che chắn chốn thiêng ngự trị của Phật, của Mẫu đã hàng bao thế kỷ nay.

Muốn lên thăm hang động ở núi Bái Đính các du khách phải bước trên 300 bậc đá, qua cổng Tam Quan ở lưng chừng núi.

Lên hết dốc là tới ngã ba là đền thờ Thánh Nguyễn, bên phải là hang sáng thờ Phật, bên trái là động tối thờ Mẫu.

Mỗi một hang động đều có một sự tích và huyền thoại riêng tạo nên những nét kỳ bí và linh thiêng nơi cửa thiền.

Lý Quốc Sư hay thiền sư Nguyễn Minh Không là một nhà sư tài danh, sinh ra tại huyện Gia Viễn, Ninh Bình.

Ông được coi là thần y khi đã chữa bệnh “hóa hổ” cho vua Lý Thần Tông, từ đó trở thành vị cao tăng đứng đầu của triều đại nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, cũng là người đầu tiên áp dụng phương pháp chữa bệnh bằng thuốc Nam và châm cứu, là người có nhiều công lớn chữa bệnh cho vua và nhân dân.

Tương truyền rằng, khi ông đi tới vùng đất núi chùa Bái Đính hiện nay, vùng đất “địa linh nhân kiệt”, Ông nhận ra đây là nơi tiên cảnh, với thế núi hướng về phía Tây như chầu về đất Phật, rừng núi mênh mông với muôn vàn cây thuốc quý.

Ông quyết định dừng lại nơi đây để tu hành và đặt tên cho núi là Bái Đính sau đó biến nơi đây thành “vườn sinh dược” (có nghĩa là vườn thuốc quý) để cứu sinh độ thế cho muôn dân.

Ông là người trực tiếp bốc thuốc chữa bệnh cho chúng sinh nhờ vào những loại thuốc quý có sẵn nơi đây và một số loại ông đưa từ nơi khác về trồng.

Đền thánh Nguyễn được đặt nằm ngay tại ngã ba đầu dốc, xây theo kiểu tựa lưng vào núi, trong đền có tượng của ông được đúc bằng đồng.

Động thờ Phật

Động thờ Phật có chiều dài 25m cao 2m.

Trong một lần vua Lê Thánh Tông kinh lý phương Nam, ngài đã thăm và ban tặng chùa Bái Đính bốn chữ “Minh Đỉnh Danh Lam” trên cửa động, nhằm miêu tả, ca ngợi vẻ đẹp và sự linh thiêng của núi rừng nơi đây.

Trước cửa động thờ 2 pho tượng Hộ pháp bằng đồng là ngài Khuyến Thiện và Trừng Ác.

Trong động thờ Phật còn thờ Đức chúa ông, tức là Trưởng giả Tu Đạt hay còn gọi là ông Cấp Cô Độc.

Ông là một vị Trưởng giả ở đất nước Ấn Độ cổ, sinh cùng thời với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là đệ tử tu tại gia và hộ pháp đắc lực của Đức Phật.

Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đắc đạo quả dưới gốc cây Bồ đề, Trưởng giả Tu Đạt và Thái tử Kỳ Đà đã cùng nhau xây dựng một Tịnh Xá dâng lên Đức Phật để ngài làm nơi thuyết pháp, độ sinh.

Sau này khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn, thì nơi này đã làm nơi thờ Phật và đó được coi là ngôi chùa đầu tiên.

Trong động chính là thờ ngôi Tam Bảo – ba ngôi báu, bao gồm: Phật Bảo là chỉ cho 10 phương ba đời các Đức Phật, Pháp Bảo là chỉ cho kinh điển, giới luật, giáo lý… của nhà Phật; Tăng Bảo là chỉ cho những người xuất gia tu hành tu theo giới luật của Phật và truyền trì chính pháp.

Động thờ Mẫu

Đối diện với động thờ Phật là động thờ Mẫu.

Bên trái cửa động treo quả chuông nặng 300kg và có khắc 8 chữ là: “Mẫu – Nghi – Thiên – Hạ / Xuân – Hạ – Thu – Đông”.

Cũng như các ngôi chùa khác ở Việt Nam, chùa Bái Đính có tín ngưỡng thờ Tam tòa Thánh Mẫu, hướng đến cuộc sống thực tại của con người với ước vọng sức khỏe, tài lộc, may mắn…

Trong đó, Mẫu Thoải là Mẫu đệ tam cai quản vùng sông nước, thường được khoác trên người màu áo trắng; Mẫu Thượng Ngàn là Mẫu đệ nhị người cai quản vùng núi rừng nên khoác trên người màu áo xanh; Mẫu Liễu Hạnh là mẫu đệ nhất, khoác trên người màu áo đỏ – màu của sinh lực, màu của sự hy sinh, biểu tượng cho sự hy sinh của những người mẹ.

Hầu cận Mẫu là đôi Kim Đồng, Ngọc Nữ cùng với Ngũ vị tiên quan, tức là năm vị quan tối cao thi hành các nhiệm vụ của Mẫu khi mẫu ban lệnh.

Đền Thánh Cao Sơn

Đi sâu qua động thờ Thánh Mẫu có một lối dẫn xuống sườn thung lũng của rừng cây sưa là đền thờ thần Cao Sơn, vị thần cai quản vùng núi Vũ Lâm.

Ngôi đền thần Cao Sơn hiện tại được tu tạo có kiến trúc gần giống với đền Thánh Nguyễn, cũng xây tựa lưng vào núi, có hành lang ngăn cách với thung lũng ở phía trước.

Theo truyền thuyết Thánh Cao Sơn là một vị tướng của Vua Hùng (Tản Viên là anh cả, Cao Sơn là anh thứ hai, Quý Minh Đại Vương là thứ ba).

Tương truyền rằng, lệnh bài người cầm trước ngực là do vua Hùng ban cho những cánh quân đi về núi Bái Đính để trấn giữ 99 ngọn núi

Đặc biệt từ cửa hang sáng nhìn ra phía trước là thung lũng xanh ngút ngàn, tức cảnh sinh tình, có truyền thuyết kể lại rằng, khi vua Lê Thánh Tông lên vãn cảnh chùa trên đỉnh Bái Đính vua đã tạc một bài thơ trên núi đá ca ngợi vẻ đẹp nơi đây, hiện vẫn còn lưu giữ tới ngày nay.

Bài thơ có câu dịch:

Đính sơn danh tiếng thật cao xa

Che chở kinh thành tự thửa xưa

Nhân kiệt địa linh nên vượng khí

Núi thiêng cảnh đẹp vững sơn hà
 
Back
Top Bottom