Cập nhật mới

Khác NGHIỆP VỤ LHHD

Nghiệp Vụ Lhhd
HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA - VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC


Theo dòng chảy lịch sử phong kiến Việt Nam với biết bao ông Hoàng bà Chúa và những giai thoại khác nhau nhưng những việc làm của họ ít nhiều đều có ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển dân tộc.

Công chúa Huyền Trân là một trong những người như vậy.

Bà chính là người có công lớn trong việc làm nên cuộc đất Thuận hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế ngày hôm nay.

Ngày nay có nhiều nhận định khác nhau về Huyền Trân Công chúa, trong đó thiên về hai luồng ý kiến đó là công và tội: Công là việc bà góp phần mở mang lãnh thổ Đại Việt thế kỷ XIV; Tội là vì nghi án tư thông với Thượng Thư Tả Bộc Xa Trần Khắc Chung.

Dù công hay tội thì đến nay sự hy sinh đó, công lao đó được phong thần và thờ phụng ở nhiều nơi.

Công chúa Huyền Trân (1287 – 1340), con gái vua Trần Nhân Tông và Hoàng hậu Thiên Cảm, được gã cho vua Chế Mân nước Champa.

Chính nhờ cuộc hôn nhân này tạo nên một mối giao bang Đại Việt – Chăm pa trở nên thân thiết tạo một bức tường về mặt phía Nam để chống lại họa ngoại xân là đế chế Nguyên Mông ở phương Bắc.

Mặt khác, sau cuộc hôn nhân này Đại Việt đã làm một cuộc nam tiến về phía nam, mở rộng lãnh thổ bằng giải pháp hòa bình đầu tiên của lịch sử dân tộc làm nên cuộc đất Thuận Hóa – Phú Xuân - Thừa Thiên Huế ngày hôm nay.

Sau khi đánh thắng quân Nguyên Mông, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai trưởng là Trần Thuyên tức vua Anh Tông (1293 – 1314).

Với sự kiện này vua Chăm pa là Simhavarman III tức là Chế Mân, sai sứ sang mừng và có lời mời Thượng Hoàng Trần Nhân Tông sang thăm.

Tháng 3 năm Tân Sửu 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông có dịp viễn du sang Chăm Pa.

Để tăng cường thêm mối quan hệ hòa hiếu bang giao giữa hai đất nước Đại Việt – Chăm Pa, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã có lời hứa gả con gái là Công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân.

Năm 1305, vua Chế Mân sai sứ là Chế bồ Đài và bản bộ hơn 100 người đem vàng, bạc, hương liệu quý, vật lạ đến dâng lên triều Trần làm quà sính lễ.

Triều thần không đồng thuận, chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Trần Khắc Chung chủ trương tán thành.

Sau đó Chế Mân dâng phần đất của hai châu Ô và châu Rý (Lý) làm quà sính lễ.

Tháng 6/1306 Công chúa Huyền Trân cúi đầu gạt lệ tuân lệnh vua cha sang làm dâu xứ người, sự việc này được nhân sĩ thời bấy giờ lấy làm đề tài để châm biếm như: “Tiếc thay cây quyế giữa rừng để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo”, “Tiếc thay hạt gạo trắng ngần, đã vo nước đục lại vần lửa rơm”.

Có thể nói đây là một cuộc hôn nhân mang đậm màu sắc chính trị.

Cuộc hôn nhân này đã mang đến cho Đại Việt đất đai của hai châu Ô và châu Lý trong hòa bình hữu nghị.

Sau một năm di dân lập ấp, mùa hạ năm 1307 vua Trần Anh Tông cho đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu.

Các huyện Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị) và huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà (thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế) thuộc Châu Thuận.

Các huyện Phú Lộc, Phú Vang (Thừa Thiên Huế) và Hòa Vang (Đà Nẵng), Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên (Quảng Nam) thuộc Châu Hóa.

Người Chăm pa đã mất cánh đồng Bình Trị Thiên, cửa biển Tư Dung (nay là của biển Tư Hiền) và cửa Tiên Sa (Đà Nẳng) điều kiện thuận lợi để phát triển thủy quân và thương nghiệp lúc bấy giờ.

Một năm sau khi công chúa Huyền Trân về Chăm pa, đến năm 1307 vua Chế Mân mất.

Theo phong tục của nước Chăm pa, khi vua chết thì hoàng hậu phải lên Đàn hỏa thiêu để cùng vua trở về thế giớ phía bên kia.

Vua Trần Anh Tông sợ em gái mình bị hại nên đã sai Thượng Thư Tả Bộc Xa Trần Khắc Chung và An Phủ sứ Đặng Văn, quan Thiệu Võ lấy cớ điếu tang để đón công chúa Huyền Trân trở về.

Khi sang nước Chiêm, Trần Khắc Chung đã nói với người Chiêm rằng “nếu công chúa hỏa táng thì không ai chủ trương làm việc chay, chi bằng hãy ra bờ biển làm lễ chiêu hồn, đón linh hồn vua cùng về, rồi công chúa sẽ lên giàn thiêu”. khi ra đến biển, Trần Khắc Chung dùng thuyền nhẹ đưa Công chúa về Đại Việt.

Cuộc hành trình từ thành Chà Bàn về Thăng Long kéo dài 10 tháng do gặp bão tại đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).

Có ý kiến cho rằng Trần Khắc Chung tư thông với Huyện Trân Công chúa nên mới mất nhiều thời gian đến như vậy.

Vấn đề này có nhiều quan điểm trái chiều nhau.

Tuy nhiên, các nhà nghiêng cứu hiện nay có nhiều quan điểm phủ nhận, vì cho rằng: Trần Khắc Chung là người giữ chức vụ lớn, tu thiền, được Nhân Tông khi đi tu rất yêu quý, đề bạt tập sách “Tuệ Trung Thượng sĩ ngũ lục” do Pháp Loa biên tập và Nhân Tông hiệu đính.

Phải là người có đạo đức thì mới được hân hạnh ấy.

Mặt khác luật pháp nhà Trần rất nghiêm ngặt đối với tội tà dâm, với một chế độ quân chủ tập hiến, quyền lực tất cả vào trong tay nhà vua.

Hơn nữa nhà Trần đâu thể bỏ qua những lời dị nghị của đoàn tùy tùng cùng đi.

Vậy mà sau khi từ Chăm pa về đầu của Trần Khắc Chung vẫn còn nằm trên cổ và vẫn được trọng dụng.

Có thể nói, đến nay sự thật trả lời cho câu chuyện này như thế nào thì đã theo nhân vật chính xuống mồ, do đó sự thật đối với hiện tại là một điều bí ẩn, chính vì vậy mà quan điểm công – tội về bà vẫn còn tồn tại.

Tuy nhiên, dù cho công – tội thế nào thì vai trò của và đối với công cuộc mở mang bờ cõi về phía Nam của Đại Việt, với cuộc đất Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế là một điều không thể phủ nhận
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Biển Sầm Sơn


Biển Sầm Sơn

Từ thành phố Thanh Hóa rẽ hướng Đông Tỉnh lộ 8, du khách đi khoảng 16km thì sẽ tới thị xã Sầm Sơn.

Nơi đây từ lâu ai cũng biết có một bãi tắm lý tưởng.

Đầu thế kỷ, một học giả người Pháp là Le Breton đã có nhận xét về bãi tắm Sầm Sơn: “Đây là một bãi tắm tốt nhất để phục hồi sức khỏe”, vì bãi biển này là một nơi nghỉ ngơi chứ không phải như bãi biển thông thường ở Đồ Sơn, vả lại nước biển ở đây rất trong.

Điều đáng chú ý là bãi tắm Sầm Sơn có một dải cát trắng mịn, chạy thoai thoải ra khơi, không hề có đá ngầm hoặc các mảnh vỏ sò, ốc, sóng bạc đầu vỗ vừa phải, nên người tắm có thể ra xa bờ hàng trăm mét mà vẫn thấy an toàn, thú vị.

Song cũng do đặc điểm này của bãi tắm nên một số người cứ mải miết bơi ra quá xa đến khi muốn trở lại vào bờ thì đã mệt, lại bị sóng ngầm cuốn trở ra và sói cát dưới đáy thành những lạch sâu không lường trước được nên dễ xảy ra tai nạn.

Vì thế số người mê tín đã cho rằng thần biển ở đây rất dữ, hàng năm thế nào cũng phải hiến thần một sinh mạng.

Bãi tắm Sầm Sơn chạy dài hàng chục cây số, từ chân núi Trường Lệ đến xã Quảng Tiến phía Bắc gồm ba bãi tắm.

Sầm Sơn là nơi có một loại phương tiện đi biển đặc biệt.

Đó là những chiếc mảng làm bằng luồng, một giống cây chỉ thấy có nhiều ở miền núi xứ Thanh.

Mảng luồng thường nhẹ, bão sóng dữ dội đến mấy cũng không chìm, chịu được độ mặn của nước biển khá tốt.

Năm 1994, một số nhà thám hiểm và nghiên cứu đại dương phương Tây do ông Tim Severin chỉ đạo đã đóng và hạ thủy tại bãi biển Sầm Sơn một chiếc thuyền vượt đại dương làm bằng hàng trăm cây luồng Thanh Hóa.

Chiếc thuyền được buộc bằng các sợi song, mây và hoàn toàn không có kim loại.

Sầm Sơn còn có đặc sản biển phong phú và chất lượng hơn nhiều địa phương khác.

Khách có thể thưởng thức đủ loại mực ống, tôm he, cua gạch, các giống cá ngon như: chim, thu, nụ, đé…

Hải sản nơi đây có đặc điểm là thịt chắc, dai, ngọt, rất đậm đà.

Đặc biệt là món “gỏi cá” và “lẩu rắn biển” đang được du khách ưa thích.

Muốn làm món “gỏi cá” người ta phải chọn một số loại cá vừa đánh bắt được còn tươi nguyên rồi chế biến cá sống từ ngoài khơi.

Sau đó mới đưa về nhà làm thêm các thứ gia vị như nước chấm có pha thêm rượu gọi là “nước chẻo”, chanh, ớt, rau thơm rồi ăn với bánh đa nướng.

Còn món đặc sản rắn thì người ta bắt những con rắn biển nuôi sẵn trong thùng thủy tinh, treo ngược đầu lên, cắt tiết lột da.

Tiết rắn và tim, gan bỏ riêng vào ly.

Xương rắn băm viên chiên, còn thịt, da, trứng thì nấu lẩu.

Trước khi thưởng thức người ta cho rượu ngon vào cốc đựng tiết rắn, dùng thân cây sả thay thìa quậy cho thật tan đều rồi nhắm với món lẩu và viên.

Theo những khách ăn quen thì rượu tiết rắn biển chữa được bệnh đau sống lưng, còn món thịt rắn thì ngon và bổ.

Đền Độc Cước

Về phía Đông Nam thị xã Sầm Sơn có một dãy núi đá chạy dài, hình thù giống một phụ nữ nằm ngửa với bộ ngực nở nang.

Đó là dãy núi Trường Lệ.

Một chân của dãy núi này kéo sát đến tận bãi biển có thành đá dốc đứng.

Phía trên là đền Thượng hay đền Độc Cước.

Theo truyền thuyết đền này có từ thế kỷ XIII dưới thời Trần, cũng có truyền thuyết cho rằng đền được dựng trước nữa, sớm hơn nhiều.

Trong cuốn thắng cảnh Quảng Xương của Nguyễn Đức Thuận, người huyện Hoằng Hóa đỗ cử nhân khoa Mậu Thân (1848) triều Tự Đức soạn thì sự tích đền này như sau: Tục truyền đời xửa đời xưa một năm vào ngày mồng 7 tháng giêng, làng Trường Lệ bị một cơn mưa to gió lớn đến mức nước ngoài biển dâng lên ngang lưng núi, cây cối đổ nghiêng ngã.

Sáng hôm sau dân làng trèo lên đỉnh núi thì thấy dấu bàn chân lớn in trên tảng đá, dài hơn một thước.

Đến ngày 17/3 năm ấy bỗng có một bè gỗ lim trôi dạt vào chân núi.

Dân làng cho đó là điềm trời bèn dùng số gỗ đó dựng đền thờ ở chỗ có vết chân đền Thượng thờ thần Độc Cước.

Lưng chừng núi là đền Trung thờ vị quan dưới thời Lý là Tô Hiến Thành.

Dưới chân núi là đền Hạ thờ vị thần thời Trần là Hoàng Minh Tự.

Về thần Độc Cước cũng có nhiều sự tích khác nhau.

Có tích nói thần là con một người đàn bà bị chết đuối mà dãy núi Trường Lệ là hình người đàn bà này.

Thần được dân làng cưu mang, nuôi nấng trở thành chàng trai khổng lồ.

Thuở đó ở vùng biển này có lũ thủy quái thường làm hại dân chài.

Nhưng từ khi có chàng đi đánh cá cùng thì lũ thủy quái bị chàng trừng trị.

Chúng bèn âm mưu chờ chàng đi vắng kéo về làng làm hại những người ở nhà.

Từ đó hễ chàng ở nhà thì chúng sát hại người đi biển, hễ chàng đi biển thì chúng sát hại những người ở nhà.

Chàng bèn quyết định đối phó bằng cách xẻ thân mình làm đôi.

Nửa thân với một chân ở ngoài biển, còn nửa thân và một chân đứng ở đất liền.

Từ đó bọn thủy quái đành chịu không dám quấy nhiễu dân làng này nữa.

Chàng trai được nhân dân làm đền thờ và tôn làm thành hoàng.

Cái tên thần Độc Cước, tức thần “Một Chân” bắt nguồn từ tích này.

Còn cuốn Thanh Hoa Chư Thần Lục đời vua Thành Thái thì thần Độc Cước lại là họ Cao, tên Sơn Tự đỗ tiến sĩ đời nhà Tấn (265 – 317) nhiều năm vâng lệnh vua đi đánh giặc có công được phong làm Phó Quốc Vương.

Khi mất hiển linh nên dân sở tại lập đền để thờ và các đời vua sau đều phong sắc.

Đền đã qua nhiều năm trùng tu.

Năm trùng tu xưa nhất ở thượng lương gian tiền đường ghi niên hiệu Chính Hòa (1675 – 1705).

Còn tiền đường mới hiện tại có niên đại Tân Mão (1891) với dòng chữ: ”Hoàng triều Thành Thái tam niệm tuế thứ Tân Mão hạ nguyệt trọng xuân lưu nhật quan thời tân tạo tiền đường thụ đại cát”.

Tạm dịch: Đời vua Thành Thái thứ 3 năm Tân Mão mùa xuân tháng ba ngày tốt làm ngôi tiền đường.

Qua hai cuộc kháng chiến từ 1945 đến 1975, bom đạn liên miên nhưng đền Độc Cước hầu như vẫn nguyên vẹn với những chiếc cột gỗ lim, gỗ chò và một số đồ thờ, bia, tượng có phong cách nghệ thuật của Việt Nam thế kỷ XVIII, XIX.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
NHỮNG ĐÔI MẮT CỦA PHỐ HỘI


1.

Một ngày đầu thu năm 2005, tôi lạc bước trong khu phố cổ Hutong (Hồ đồng) nằm gần tòa tháp Gulou (Lầu trống) ở phía bắc Tử Cấm Thành Bắc Kinh (Trung Quốc).

Bất ngờ, tôi nhìn thấy những đôi “mắt cửa” ở trên cổng của các tòa nhà cổ ẩn dật trong những ngõ phố chằng chịt của Hudong.

Một thoáng ký ức vụt hiện trong tâm trí tôi: những con phố nhỏ xinh với những tòa nhà cổ kính ở phố cổ Hội An (Quảng Nam), nơi cũng có những đôi “mắt cửa” tương tự, nhưng nhiều hơn về số lượng, phong phú hơn về loại hình và đặc sắc hơn về kiểu thức và trang trí.

Chỉ vào đôi “mắt cửa” nơi một tòa nhà cổ, tôi hỏi một lão ông đang ngồi phe phẩy chiếc quạt trước thềm nhà: “Thưa cụ, đây là cái gì?”.

Ông lão trả lời: “mén zān”.

Tôi đưa cho ông cuốn sổ và cây bút.

Ông viết lên đó hai chữ: 门 簪 (môn trâm).

À, thì ra người Hoa gọi “mắt cửa” là môn trâm (cây trâm cài cửa).

Trâm là vật mà người phụ nữ dùng để bối tóc cho gọn gàng, đồng thời để tôn thêm vẻ đẹp và sự quý phái của họ.

Dùng chữ môn trâm để chỉ “mắt cửa” của công trình kiến, hẳn nhiên người Trung Hoa ngụ ý đó là thứ tôn thêm nét cao quý cho tòa nhà, nơi gia tộc bao đời của họ đang trú ngụ.

Về sau đọc thêm nhiều tài liệu, tôi được biết người Hoa còn gọi “mắt cửa” là mén dēng (门 当: môn đương) và gọi hai trụ đá gắn ở hai bên bậc cửa của những tòa biệt phủ của các bậc vương tôn, quý tộc, hào phú… là hù duì (户 对: hộ đối). 门 当, 户 对 kết hợp thành câu 门 当 户 对 (môn đương hộ đối)1, nghĩa là “từ ngoài cửa cho đến trong nhà đều tương xứng”, hàm ý “việc chọn vợ gả chồng cho con cái phải xứng hợp với gia thế và địa vị của cả hai bên.

Từ nguyên của “mắt cửa” là vậy!

2.

Tôi từng rảo bước, không biết bao lần trên các con phố đầy ắp những kiến trúc cổ kính rêu phong ở phố Hội, mắt dõi nhìn những cặp “mắt cửa” nơi những tòa nhà đẫm chất Trung Hoa.

Tôi cũng từng hỏi chuyện nhiều vị chủ nhân của những “đôi mắt phố Hội” ấy, cũng như những nhà nghiên cứu kỳ cựu về văn hóa Hội An về nguồn gốc và ý nghĩa của mắt cửa.

Mỗi người có một kiểu lý giải khác nhau về “mắt cửa” Hội An.

Nhưng họ đều cho rằng đó là những đôi mắt của ngôi nhà để nhìn đời và nhìn người, là linh hồn của môn quan, là mắt thần để canh giữ ngôi nhà, để đón những luồng sinh khí, những điềm lành vào nhà và bảo vệ cho gia chủ khỏi mọi tai ương, bất hạnh.

Nhiều người còn nói rằng: “Mắt cửa” ở phố Hội giống như nhân chứng của ngôi nhà.

Khi ta bước ra, bước vào thì sẽ nhìn thấy “đôi mắt” ấy và sẽ tự kiểm soát lòng mình.

Người tử tế thì thấy đó là “đôi mắt” thân thiện, tươi vui chào đón họ.

Người có cái tâm không ngay sẽ có cảm giác những “đôi mắt” ấy đang dõi theo, kiểm soát mọi hành vi của mình.

Vài người còn đi xa hơn, cho rằng “mắt cửa” ở Hội An bắt nguồn từ thuyết “vạn vật hữu linh”, rằng sự vật cũng như con người đều có mắt ở nhìn thế giới xung quanh.

Vì thế mà người Hội An đã vẽ lên ghe thuyền những đôi mắt ở hai bên mũi thuyền, và gắn “mắt cửa” lên nhà ở của họ.

Kỳ thực, tục vẽ mắt thuyền bắt nguồn từ tập tục của cư dân sông nước ở nhiều nơi trên thế giới.

Đó là đôi mắt của thần Orisis theo quan niệm của người Ai Cập từ năm 2.700 trước Công nguyên, khi họ vẽ lên những đôi mắt ấy lên những con chiếc thuyền độc mộc ngược xuôi trên trên sông Nil.

Đó là cặp mắt có tác dụng hù dọa những loài thủy quái trên sông, trên biển và dẫn dắt ngư dân đến những ngư trường có nhiều tôm cá để đánh bắt theo quan niệm của cư dân thủy diện ở các nước Indonesia, Malaysia, Việt Nam…

Và, giữa “mắt cửa” ở phố Hội và “mắt thuyền” trên dòng sông Hoài hay trên vùng biển ngoài khơi cửa Đại, theo tôi, thì không liên quan với nhau.

Vì rằng, “mắt cửa” là vật trang trí mang tính tâm linh chỉ có trên kiến trúc nhà ở và đình miếu của người Hội An gốc Hoa.

Còn kiến trúc của người Hội An bản địa thì không có những “đôi mắt” này, kể cả những ngôi nhà ở làng mộc Kim Bồng nổi tiếng bên kia dòng sông Hoài, cũng không hề trang trí “mắt cửa”.

Những người Hoa đến Hội An từ các thế kỷ 17 - 18, lập nên cộng đồng Minh hương, là chủ nhân của những “đôi mắt phố Hội”.

Thoạt kỳ thủy, đó là những cái chốt gỗ, dùng để gắn khung cửa với trụ ngang phía trong, có dáng như một chiếc đinh.

“Tai đinh” dày khoảng 10 cm, rộng chừng 20 cm - chính là “mắt cửa”; “chốt đinh” dài khoảng 30 cm là “cái mộng” để gắn “mắt cửa” vào khung nhà.

Từ vật dụng có chức năng liên kết trong kiến trúc gỗ truyền thống, “mắt cửa” đã trở thành vật trang trí mang tính tâm linh, với nhiều truyền thuyết và diễn giải khác nhau.

Tuy nhiên người Hội An đã biết cách “Việt hóa” các môn trâm hay môn đăng gốc Hoa này thành “mắt cửa” của người Việt và biến chúng thành “linh hồn” của phố Hội.

Có hơn 20 kiểu “mắt cửa” đang tồn tại nơi những tòa nhà cổ kính ở phố cổ Hội An, với các kiểu thức và trang trí khác nhau: “mắt cửa” hình hoa cúc 6 cánh hay 8 cánh xoáy tròn; “mắt cửa” hình thái cực đồ (hình thái cực hình tròn chia làm hai nửa, với bốn biểu tượng thái âm, thái dương, thiếu âm, thiếu dương) có các cánh hoa bao quanh; “mắt cửa” hình bát quái; “mắt cửa” trang trí “lưỡng long triều nhật” (hai con rồng chầu mặt trời) hay “lưỡng long triều nguyệt” (hai con rồng chầu mặt trăng); “mắt cửa” hình hổ phù (mặt con hổ, biểu tượng của hai vị Thần Đồ và Uất Lũy mà người Trung Hoa và người Minh Hương ở Hội An tôn làm môn thần; “mắt cửa” hình “ngũ phúc lâm môn” (hình năm con dơi tượng trưng cho năm điều phúc: phú, quý, thọ, khang, ninh) hay “ngũ phúc viên thọ” (hình năm con dơi bay quanh chữ Thọ tròn); “mắt cửa” hình quả Phật thủ với các cánh hoa mềm mại bao quanh; “mắt cửa” hình bát giác khắc nỗi những cát tường tự (chữ Hán mang lại điềm tốt lành) theo lối chữ triện…

Trải mấy trăm năm, thương cảng Hội An từng hưng thịnh, rồi suy thoái và nay lại hồi sinh trong một diện mạo mới: di sản văn hóa của nhân loại.

Nhưng những “đôi mắt” của phố Hội vẫn còn nguyên nơi ấy, vẫn là những “nhân chứng” sống động biểu trưng cho nét văn hóa riêng của phố Hội, giúp cho người Hội An nhìn đời, soi mình và răn dạy các lớp hậu sinh những điều tử tế, thiện tâm
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Chè Thái Gái Tuyên


Vì sao thế nhỉ, cùng Ngoc nguyen tìm hiểu về câu nói được xem thành ngữ này nhé

Trong ngôn ngữ của người Việt, chúng ta thường dùng lối nói sóng đôi để miêu tả một sự việc, hiện tượng.

Ví dụ: “Nước khe, chè núi”, “Cá chậu, chim lồng”, “Trai anh hùng, gái thuyền quyên”…

Đây là một biện pháp tu từ cú pháp cho phép hai câu hoặc hai cụm có nghĩa đứng cạnh nhau tạo nên một câu hoàn chỉnh.

Hai câu hoặc cụm từ đi cùng nhau thường có nghĩa tương đồng để làm nổi bật tính chất, rõ nghĩa hoặc bổ sung ý nghĩa cho nhau.

Như vậy, “Chè Thái, gái Tuyên” cũng có thể được coi là một trường hợp tương tự mà dân gian mượn sự tinh túy, hương vị thơm ngon khó quên của chè ở vùng đất Thái Nguyên để nói đến cái tinh tế, đằm thắm, thanh thoát của người con gái xứ Tuyên.

“Chè Thái” là một đặc sản khiến nhiều người đã được thưởng thức phải tấm tắc khen, là một thức uống không thể thiếu với mỗi người “sành” trà đạo.

Hình ảnh người con gái xứ Tuyên đặt song song với hương vị của “Chè Thái” phải chăng để lột tả vẻ đẹp của người con gái Thành Tuyên?

Nói đến con gái đẹp thì người ta hay nhắc đến “Gái Tuyên” cũng như nói đến Thái Nguyên người ta nhớ ngay đến đặc sản chè nổi tiếng.

Điều đó giống như là bản quyền của một “thương hiệu” và sự thật vẻ đẹp của người con gái xứ Tuyên đã được dân gian khẳng định bởi câu thành ngữ “Chè Thái, gái Tuyên”.

Chẳng thế mà đã có rất nhiều giai nhân xứ Tuyên đã đi vào tâm trí của người dân đất Việt.

Có thể kể đến tên một số người đẹp nổi tiếng đã từng một thời “làm mưa làm gió” trên màn ảnh nhỏ như: Chị em người mẫu Thủy Hương – Mỹ Hạnh, diễn viên điện ảnh Thu Hà, Vũ Mai Huê, Á hậu Báo Tiền Phong năm 1992 Nguyễn Minh Phương, Á hậu năm 1994 Tô Hương Lan, người mẫu Châu Á – Thái Bình Dương Dương Thanh Chấn, phát thanh viên truyền hình Thu Hiền, Tùng Lâm…

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo một lần “Qua miền gái đẹp” ấy cũng đã phải rung động mà thốt lên: “Người đẹp Tuyên Quang cổ mang vòng bạc/Môi đỏ như ớt vừa ngọt vừa cay/Da trắng chân dài đèo cao áo bay/…/Người đẹp vít cần nồng hơn rượu mạnh/Đàn hát chao ôi nghe chạnh lòng nhau/…/Xe rời thành Tuyên xa miền gái đẹp/Còn vọng lời chào dính hơn xôi nếp/Còn xanh lá tếch ai cầm trên tay…”.

Trước hết, có thể nói “gái Tuyên” đẹp là do lịch sử truyền thống.

Xưa kia, Tuyên Quang là một vùng đất rộng lớn gồm các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và một phần của Cao Bằng.

Tuyên Quang là vùng đất cổ, mỗi địa danh đều có tên tuổi và ghi nhiều dấu tích của lịch sử, đều gắn với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc…

Cho đến nay, những dấu tích lịch sử ấy còn được lưu giữ và nằm trải dài ở nhiều nơi dọc theo mảnh đất xứ Tuyên.

Trên Núi Thổ Sơn nằm ở trung tâm thành phố, bên cạnh dòng sông Lô hiền hòa còn lưu lại tấm bia đá từ thế kỷ XV, ghi: An biên viễn ải ưu kim bạc / Tuyên thành vạn cổ áng Thăng Long. (Tạm dịch: ở nơi biên cương xa xôi có nhiều vàng bạc.

Thành Tuyên Quang muôn đời là nơi che chở cho đất Thăng Long).

Các triều đại phong kiến trước đây đều coi Tuyên Quang là vùng phên giậu ở phía Bắc của Tổ quốc và những vị tộc trưởng, tù trưởng ở đây được xem là “nanh vuốt” của triều đình.

Để giữ chắc phên giậu, nhà nước phong kiến phải kết giao và giữ mối quan hệ đối với các tù trưởng, tộc trưởng.

Trong đó, không loại trừ cả “kế mỹ nhân” là gả công chúa, quận chúa cho các tù trưởng, tộc trưởng để tạo dựng niềm tin, lòng trung thành.

Bài văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi (văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc) được khắc bằng chữ Hán trên một tấm bia đá từ thế kỷ XIII, đặt tại chùa Bảo Ninh Sùng Phúc thuộc xã Yên Nguyên (Chiêm Hóa) có ghi tên một vị công chúa nhà Trần tên là Khâm Thánh, được vua cha gả cho tù trưởng Hưng Tông, một người có công chống giặc ngoại xâm.

Thế kỷ thứ XV nhà Mạc xây thành đắp lũy ở một số nơi và Tuyên Quang là nơi vương triều nhà Mạc chọn làm chốn định đô khi thất thế.

Tuyên Quang hôm nay vẫn còn đó Thành nhà Mạc sừng sững giữa thành phố trẻ, như chứng nhân cho một thời kỳ thịnh trị của một triều đại.

Như vậy, Tuyên Quang từng là nơi “định cư” của nhiều vua chúa, quan lại, cung tần, mỹ nữ.

Những người con gái đẹp được tuyển chọn làm thê thiếp lại phải là những người con gái “sắc nước hương trời”, được rèn giũa và dạy bảo đầy đủ gia phong, lễ nghĩa, phép tắc.

Từ đây ta có thể lý giải rằng, theo mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn đều có thêm những công chúa, quận chúa được gả về đây và tháp tùng họ lên Tuyên Quang chắc chắn có cả một đoàn tỳ thiếp mỹ nữ được lựa chọn từ nhiều nơi cùng một đội ngũ quân binh tráng kiệt.

“Gái Tuyên” đẹp còn do điều kiện tự nhiên.

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, địa hình có nhiều đồi núi cao, rừng rậm và hệ thống sông, suối dày đặc, khoảng 500 con sông suối lớn nhỏ chảy bao quanh.

Khí hậu tương đối ổn định, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 22 đến 24 độ C được coi là mát mẻ, không khí trong lành…

Có lẽ đây là một điều kiện khá thuận lợi để tạo nên những làn da trắng nõn nà, mái tóc đen, mượt mà, nụ cười hồn nhiên, trong sáng của những cô gái miền sơn cước.

Mặt khác, ngoài người Kinh, Tuyên Quang còn nhiều dân tộc khác sinh sống như: Tày, Dao, Cao Lan, Mông, Thái, Hoa…

Đặc điểm sinh sống của các dân tộc ở Tuyên Quang là ít co cụm mà thường phân tán, đan xen nhau.

Sự giao thoa lối sống, văn hóa và hôn nhân đa tộc đã góp phần sinh ra nhiều người đẹp cho xứ Tuyên.

“Gái Tuyên” đẹp không chỉ ở hình thức bên ngoài mà còn đẹp ở nội tâm bên trong.

Đó là những nét dịu dàng, đằm thắm, nết na, sự khéo léo trong cách ăn ở… và đặc biệt là giọng nói với phát âm rất chuẩn.

Tất cả đều đã được hình thành và khẳng định bởi nguồn gốc lịch sử, yếu tố địa lý và nét văn hóa đặc trưng của miền đất xứ Tuyên.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Nho Quế


SÔNG NHO QUẾ - NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA TÊN GỌI

Hà Giang nơi biên cương phía Đông Bắc Tổ Quốc là một trong số ít những địa phương mà người Kinh không phải là tộc người chiếm đa số.

Tộc người chiếm phần đa và được xem như là cư dân bản địa nơi vùng cao nguyên đá chính là đồng bào H'Mông (Mông, Mèo,...).

Họ di cư từ vùng Vân Nam Trung Quốc vào nước ta đầu tiên chính ở vùng Đồng Văn, Mèo Vạc cách ngày nay cũng trên 300 năm rồi từ đó lan tỏa sang vùng núi Tây Bắc và nay đến cả vùng Trường Sơn, Tây Nguyên.

Chiếm số lượng lớn và có lịch sử định cư lâu đời nên người H' Mông được xem như là chủ nhân của vùng cao nguyên đá.

Quả thực trong lịch sử cũng ghi nhận về một ông vua Mèo - Vương Chính Đức giàu có, quyền năng đã lập nên một tiểu vương quốc trải rộng khắp 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc.

Vẫn còn đó Dinh thự họ Vương đã được công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật và trở thành điểm tham quan nổi tiếng mỗi khi du khách đặt chân đến vùng cao nguyên đá Đồng Văn.

Ngôn ngữ người H'Mông có nguồn gốc từ tiếng Quan Hỏa (Quan Thoại) nên tên đất tên người đều mang âm hưởng của loại hình ngôn ngữ này.

Nhiều địa danh đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng như Cột cờ Lũng Cú, đèo Mã Pí Lèng, sông Nho Quế,...

Mã Pí Lèng là địa danh du lịch nổi tiếng mà mỗi khi du khách đến với Hà Giang đều muốn đến và chinh phục "bất đáo Pí Lèng phi phượt thủ".

Mã Pí Lèng chính là một trong tứ đại đỉnh đèo hiểm trở của miền núi phía Bắc.

Sự hiểm trở và độ dốc của đèo được ví như sống mũi ngựa nên đồng bào H'Mông gọi Mã Pí Lèng vì lẽ đó.

Đến với Mã Pí Lèng chúng ta còn được chiêm ngưỡng sắc nước mây trời ngắm dòng sông Nho Quế xanh biếc một màu uốn quanh tạo nên vẻ đẹp kỳ vĩ làm say đắm biết bao tâm hồn lữ khách.

Sông Nho Quế bắt nguồn từ vùng núi Nghiễm Sơn tỉnh Vân Nam Trung Quốc có tên là Phổ Mai, Đại Hà, Nam Lợi...chảy vào Việt Nam qua địa phận xã Lũng Cú, Hà Giang.

Khi chảy trong địa phận nước ta thì sông mang tên Nho Quế.

Nho Quế không chỉ đơn thuần là tên gọi định danh cho một dòng sông mà còn ẩn chứa biết bao thông tin giá trị về nguồn gốc định cư của người dân nơi vùng cao nguyên "sống trên đá, chết vùi trong đá" này.

Ngược dòng thời gian, theo lời kể của đồng bào H'Mông thì Nho Quế chính là dòng sông lịch sử gắn liền với quá trình di cư của họ vào VN.

Cách đây trên 300 năm từng đoàn người ngựa nối nhau vượt qua những dãy núi cao hiểm vùng cao nguyên men theo dòng nước mà đến định cư đầu tiên ở huyện Mèo Vạc.

Chính vì lẽ đó, Mèo Vạc được xem như là quê hương của người H'Mông VN trên lãnh thổ nước ta.

Quá trình di cư kéo dài nhiều năm lớp người sau nối tiếp lớp người trước tạo thành những con đường mòn men theo đôi bờ dòng sông xanh.

Để ghi nhớ quá trình di cư vô cùng vất vả của tổ tiên, họ đã đặt tên cho dòng sông là Nhu Quế (về sau độc chệch thành Nho Quế) với ý nghĩa những bước chân người, vó ngựa vượt qua muôn trùng gian khó để đến với miền đất hứa mang tên Mèo Vạc...
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Lược Sử Chùa Ba Vàng


Toạ lạc trên lưng chừng núi Thành Đẳng, chùa còn có tên gọi là Bảo Quang tự, tên dân gian thường gọi là Ba Vàng.

Chùa nằm ở độ cao 340m trên một vị trí rất đẹp ở phía tây thành phố Uông Bí, phía trước là Bạch Đằng giang uốn lượn, xa xa là thành phố cảng Hải Phòng, hút tầm mắt là biển Đồ Sơn với muôn trùng sóng vỗ.

Bên trái là những dãy núi Thanh Long trùng điệp chầu về, bên phải là những dãy núi Bạch Hổ hùng vĩ phục xuống.

Cho đến nay, vẫn chưa có câu trả lời chính xác chùa Ba Vàng được khai sơn từ khi nào.

Theo nội dung khắc trên cây hương đá trước cửa chùa thì chùa xưa được dựng vào năm Ất Dậu, triều vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Vĩnh Thịnh (tức năm 1706) và ngôi chùa lúc đó được gắn liền với tên tuổi Ngài Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác (1659 - 1758).

Tuy nhiên, căn cứ vào những dấu tích di chỉ được các nhà khảo cổ thêm thì ngôi chùa còn có thể được xây dựng từ sớm hơn, tức là vào thời Trần thế kỷ thứ 13.

Tuy nhiên chùa xưa chỉ còn là phế tích, để phát huy giá trị văn hóa lịch sử ngôi chùa liên tiếp được đầu tư tôn tạo.

Ban đầu chùa được xây dựng bằng gỗ và sau đó năm 1993 chùa được trùng tu lại bằng xi măng.

Hiện vật đáng chú ý nhất của chùa Ba Vàng còn sót lại tới hôm nay là một số di vật bằng đá, bao gồm 1 bia đá cao 0,52 m, rộng 0,38 m, dày 0,12 m, 2 con rùa đá và 1 cây hương bằng đá cao 1,2 m 4 mặt, mỗi mặt rộng 0,22 m.

Theo dòng chảy thời gian, chữ Hán trên bia đá và cây hương đá đã mòn, rất khó đọc.

Riêng cây hương bằng đá, phần lớn chữ ở mặt bia đã bị phai mờ, chỉ còn lại một số chữ lớn giáp đầu bia ghi các chữ: Thành Đẳng Sơn, Bảo Quang tự, Thiên đài trụ.

Nghĩa là trụ đài đá chùa Bảo Quang, núi Thành Đẳng.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Chùa Ba Vàng


Mùi trầm hương phảng phất trong gió lành, man mác một không gian tĩnh mịch uy nghiêm nhưng cũng không kém phần yên bình, thơ mộng giúp lòng nhẹ dịu, buông bỏ những sân si đời thường, tự tâm thanh thản cho bớt ưu phiền.

Ở xứ than Quảng Ninh, có một nơi như thế, một ngôi chùa nằm cao giữa lưng chừng núi, có khu chính điện lớn nhất nước ta, được bao quanh bởi rừng cây ngút ngàn làm say lòng không biết bao nhiêu trái tim đã dừng chân tại chốn này.

Ngôi chùa nằm yên mình trên ngọn núi Thành Đẳng cách mực nước biển chừng 340 mét, một trong những vị trí có cảnh quan khá đẹp của thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Trước đây, ngôi chùa có tên là Bảo Quang Tự, tượng trưng cho thứ ánh sáng quý giá, chùa được xây dựng vào năm Ất Dậu, tức 1676.

Ngôi chùa Ba Vàng hoành tráng mà khách du lịch Quảng Ninh ngắm nghía bây giờ đã trải qua nhiều cung bậc thăng trầm mới được khoác lên mình tấm áo “lụa là” như ngày nay.

Chùa Ba Vàng thuộc sơn môn phái Trúc Lâm Yên Tử có lịch sử lâu đời.

Tuy nhiên, do chiến tranh và thiên tai tàn phá mà dấu tích xưa cổ nơi đây còn lại rất mờ nhạt.

Chứng kiến trước sự xuống cấp đau lòng của ngôi chùa có cảnh đẹp, mang giá trị văn hóa tâm linh cao, cơ quan địa phương lẫn người dân xứ than đã đồng lòng trùng tu lại Bảo Quang Tự từ năm 2007 và cho đến tháng 9 năm 2014 vừa qua, chính điện ngôi chùa đã được khánh thành và là chính điện lớn nhất cả nước, mang lại niềm vui cho cả nhân dân trong vùng lẫn con rồng cháu hạc nói chung.

Chùa Ba Vàng sau thời gian được trùng tu, hiện có 3 gian bái đường, 1 gian hậu cung vói nhiều bàn thờ đức Phật, thờ Mẫu và Đức Ông.

Chùa chính có kiến trúc và quy mô lớn nhất với 2 tầng được xây dựng kỳ công cùng nét chạm trổ tinh xảo.

Lượn một vòng chùa Ba Vàng, du khách sẽ nhận ra, hầu hết các ngôi tượng ở đây đều xây dựng khá công phu và lớn khi bức nào cũng cao 2 mét trở lên.

Chùa Ba Vàng mang nhiều dáng dấp và đặc trưng của một ngôi chùa yên vị nơi đất Bắc.

Các công trinh còn lại trong chùa như khu giảng đạo, trai phòng, thư viện, lầu chuông,…

đều được thiết kế liên hoàn để tạo thuận lợi cho các vị sư tăng và cả phật tử đến cúng bái dễ dàng di chuyển hơn.

Một điểm cực kỳ đặc biệt trong chùa Ba Vàng mà khách du lịch Quảng Ninh nhất định phải nhớ lấy chính là giếng ngọc không bao giờ cạn.

Tương truyền, ai đến đây lễ Phật và uống dòng nước mát trong lành này sẽ được khỏe mạnh và gặp nhiều điều tốt lành.

Chính vì thế, nếu có dịp ghé thăm ngôi chùa lừng danh đất Bắc, đừng quên tự thưởng cho mình ngụm nước giếng ngọc ở chùa Ba Vàng nhé!

Chùa Ba Vàng dường như hội tụ tất cả cảnh đẹp để tạo nên chốn tâm linh huyền bí, mang mạch hồng hoang tinh túy của đất trời.

Đứng ở chùa Ba Vàng, du khách sẽ được ngắm nhìn sông Bạch Đằng gắn liền với lịch sử dân tộc, xa xa là thành phố cảng và biển Đồ Sơn ngút ngàn tầm mắt. cả bên trái lẫn phải đều là những dãy núi Thanh Long và Bạch Hổ hùng vĩ với hàng thông chạy tít tắp khắp nơi như muốn bảo vệ và chở che cho ngôi chùa.

Dẫu thời gian vẫn cứ trôi đi từng ngày, dẫu cho con người có già theo năm tháng, thì những giá trị văn hóa tâm linh kia vẫn cứ mãi trường tồn.

Để mỗi khoảng lặng bình tâm lúc tâm hồn muốn an yên tựa vào, ta đều cảm nhận được từng hơi thở nhẹ dịu mà nơi ấy mang lại.

Và ở chùa Ba Vàng, cái cảm giác được chở che bao bọc, cái cảm giác được buông bỏ hết mọi thứ luôn ấm áp, lan tỏa trong tim người tìm về.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Đi Lễ Chùa Khấn Như Thế Nào? Bài Khấn Đi Đền


Theo phong tục cổ truyền, trong các ngày rằm, mồng một, ngày lễ Phật giáo, Tết nguyên đán, hoặc những ngày gia đình có việc hệ trọng, người Việt thường đến chùa lễ Phật, thành tâm cầu khấn hồng ân chư Phật, chư đại Bồ Tát, Hiền Thánh Tăng gia hộ cho bản thân và gia đình mạnh khoẻ, tai qua nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, gia đình hoà thuận, thế giới hoà bình, chúng sinh an lạc…

Lên chùa nên cầu gì?

Mùa xuân du khách bốn phương về lễ Phật ở các chùa.

Các sư thầy đều dạy, tới chùa lễ chú trọng sám hối, ăn năn trước những lỗi lầm, cầu xin có cơ hội sửa chữa, hoàn trả sai trái, có cơ hội làm việc thiện lành giúp đời.

Tốt nhất mọi người nên cầu nguyện cho quốc thái dân an, cầu cho người sống có sức khỏe, an lạc, tâm hồn luôn sáng và thiện lành, khởi tâm cầu đạo, giác ngộ và kính tin phật pháp.

Sau đó nguyện hồi hướng công đức cho các oan gia trái chủ, cho người thân, người đã khuất và các chúng sinh siêu thoát.

Đầu năm các chùa đều tổ chức cầu an cho các gia đình.

Người dân đi lễ chùa nên cầu Phật gia hộ được bình an, công việc hanh thông, cầu phúc thiện, sức khỏe cho mình và người thân.

Tùy sở nguyện mà cầu, nhưng đừng cầu quá tham mà không được.

Còn bình thường các ngày rằm, mồng 1 (ngày sóc, vọng) và các dịp lễ tết, những ngày có việc hệ trọng người dân đến chùa lễ Phật với tâm thành kính cầu khấn xin chư phật, chư bồ tát và các hiền thánh hộ độ cho được thiện duyên, may mắn, mạnh khoẻ, sống lâu, tai qua, nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, gia đình hoà thuận, hạnh phúc an khang, thế giới hoà bình, văn minh xã hội, chúng sinh an lạc…

Đồng thời hồi hướng công đức cho người thân đã khuất, cho các chúng sinh ở “thế giới bên kia” được siêu sinh tịnh độ…

Đó là những ước vọng chính đáng thể hiện qua các bài văn khấn khi lễ Phật.

Đi lễ chùa không nên cầu gì?

Đi chùa không nên cầu tiền bạc, công danh, vật chất (như cầu trúng số, cầu thăng quan tiến chức…), vì Phật không ban tiền bạc, vật chất…

Phật, thánh thần không ban phúc cho ai, cũng không gieo họa cho ai.

Tất cả là tâm thành và theo luật nhân quả, người nào có quả phúc chín thì gặt về.

Tới chùa không nên cầu xin năm nay được thế này, thế nọ.

Đạo Phật là nhân sinh, không như đạo khác.

Con người nếu không có tự lực (khả năng của mình) thì tha lực (trợ độ của tâm linh) cũng không giúp được.

Ví như cầu cho con thi đỗ đại học, thì phải nhắm xem khả năng của con có thể học trường nào, theo hướng nào (tự lực) để đạt kết quả.

Nếu cứ cầu xin tha lực giúp, mà con cái không có năng lực thì sao có thể đỗ?

Đi lễ chùa tâm nghĩ sao thì khấn nôm na cầu vậy.

Cầu gì cũng không nên lễ dài dòng.

Cách lễ dài dòng không phải là lễ của đạo Phật, mà là theo cách lễ dân gian.

Vào chùa lễ ban nào trước?

Đến Chùa hành lễ cần theo thứ tự như sau:

1.

Đặt lễ vật: Thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước.

2.

Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang.

3.

Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường.

Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ.

Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.

4.

Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu)

5.

Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tuỳ tâm công đức.

Các bài khấn đi đền:

Văn khấn Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.

Văn khấn ban Công Đồng

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương

– Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế

– Con lạy Tam Toà Thánh Mẫu

– Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

– Con lạy Tứ phủ Khâm sai

– Con lạy Chầu bà Thủ Mệnh

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Hoàng

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cô

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cậu

– Con lạy cộng đồng các Giá, các Quan, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

– Con lạy quan Chầu gia.

Văn khấn lễ Tam Toà Thánh Mẫu

Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng

– Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền khung cao Thượng đế.

– Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

– Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mẫu.

– Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

– Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Tam thế phật là ai?


Thứ 1, chữ Thế có thể hiểu là Thời.

Vậy Tam Thế Phật là Phật 3 thời: quá khứ, hiện tại và vị lai.

Phật quá khứ là Phật A Di Đà tượng trưng cho các đức Phật trong quá khứ , Phật hiện tại là Phật Thích Ca Mâu Ni , Phật tương lai là Phật Di Lặc tượng trưng cho các vị Phật tương lai.

Nói rộng ra theo nghĩa này thì Tam Thế Phật là Phật của cả 3 thời: quá khứ, hiện tại và tương lai, tức là vô lượng vô biên vô số chư Phật mười phương.

Thứ 2, chữ Thế có thể hiểu là Thế giới, gồm có phương Đông là thế giới Tịnh Lưu Ly của Phật Dược Sư, phương Tây là thế giới Cực Lạc của Phật A Mi Đà và trung tâm là thế giới Sa Bà của Phật Thích Ca Mâu Ni….

Theo nghĩa này, Tam Thế Phật là không gian vô lượng của thế giới chư Phật từ Đông sang Tây, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, …, vô lượng vô biên vô số quốc độ Phật như thế.

Bộ tượng tam thế phật.

Bộ tượng này gồm có 3 pho giống hệt nhau, thường được tạc trong tư thế ngồi thiền kiết già .

Ta thường gọi theo thói quen là tượng “Tam Thế”.

Thực ra đây chỉ là tên gọi tắt theo thói quen của người Việt, để chỉ các vị Phật ở Quá khứ, Hiện tại và Tương lai.

Tên gọi đầy đủ của bộ tượng này có nhiều, song phổ cập là “Tam Thế Tam Thiên Phật” tức 3.000 đức Phật, mỗi thời 1.000 vị, hay “TamThế Thường Trụ Diệu Pháp Thân” là nhằm tôn sùng cái hình tướng chân thật, sáng láng, kỳ diệu, luôn tồn tại khắp không gian và xuyên thời gian của các đức Phật.

Tam thế Tam thiên Phật nghĩa là ba ngàn Đức Phật trong ba đời, bao gồm :

1.

Qúa khứ thế nhất thiên Phật : Nghĩa là vào thời quá khứ nhằm Kiếp Trang Nghiêm có 1000 Đức Phật xuất thế như Phật Tỳ Bà Thi, Thích Khí, Tỳ Xá Phù là những vị Phật sau cùng trong số một ngàn Đức Phật thuở ấy.

2.

Hiện tại thế nhất thiên Phật : Nghĩa là đương thời nhằm Hiền Kiếp có 1000 Đức Phật lần lượt ra đời, như những Đức Phật Ca La Ca Tôn Đại, Câu Na Hàm Mâu Ni, Ca Diếp, Thích Ca Mâu Ni và Ngài Di Lặc sẽ là vị Phật thứ năm và lần lượt sẽ ra đời cho đủ số 1000 vị Phật ở đời hiện tại nhằm Kiếp Hiền này.

3.

Vị lai thế nhất thiên Phật : Nghĩa là đời vị lai nhằm kiếp Tinh Tú sẽ lần lượt ra đời 1000 Vị Phật, 1000 vị Phật này ở đời hiện tại nhằm kiếp Hiền chấm dứt.

Quá trình và điều kiện để tu thành Phật:

Theo Tam Tạng Pàli, bộ kinh Phật sử (tên khác là “Chánh giác tông”) thì chúng sinh nào cũng có thể trở thành một vị Phật, nhưng không phải dễ dàng, mà phải thực hành cho đúng và đủ theo thời hạn và các điều kiện nhất định.

Đầu tiên, một chúng sinh muốn thành Phật thì phải phát tâm nguyện, tâm nguyện này được một vị Phật nghe và thọ ký cho.

Chúng sinh này muốn được Phật thọ ký thì phải tròn đủ 8 điều kiện:

– Phải là loài người chớ không phải trời hay thú.

– Phải là nam chứ không phải là phụ nữ hay là bán nam bán nữ (thái giám).

– Có đủ duyên lành để đắc quả A-la-hán ngay trong kiếp ấy, nhưng quyết định không tu thành A-la-hán mà nguyện thành Phật

– Gặp được Đức Phật ra đời và được làm một điều phước thiện nào đó cho Đức Phật ấy.

– Phải là người xuất gia, tu sĩ.

– Phải đầy đủ những pháp của bậc cao nhân là có ngũ thông và đạt bát thiền.

– Đã được làm phước báu cao thượng là bố thí mạng sống mình và vợ con mình do tâm nguyện cho thành Phật Chánh giác.

– Phải có ý nguyện dũng mãnh, quyết trở thành một vị Phật Chánh giác, dù cho khó khăn, khổ sở thế nào cũng không nao núng và thối chuyển.

Sau khi đã được Phật thọ ký cho rồi, chúng sinh này phải tiếp tục luân hồi trong vô số kiếp sống để tích lũy đầy đủ các pháp Ba-la-mật thì mới thành một vị Phật được.

Theo Thượng tọa bộ (hay Phật giáo Nguyên Thủy), mười điều hoàn thiện (pa. pāramī) là (từ gốc trong tiếng Pali):

– Dāna (sa. dāna): bố thí

– Sīla (sa.

śīla): trì giới

– Nekkhamma (sa. niṣkramaṇa): xuất gia (từ bỏ cuộc sống tại gia cư sĩ)

– Paññā (sa.prajñā): trí tuệ

– Viriya (sa. vīrya): tinh tấn

– Khanti (sa. kṣānti): nhẫn nại

– Sacca (sa. satya): chân thật

– Adhiṭṭhāna (sa. adhiṣṭhāna): quyết định

– Mettā (sa. maitrī): tâm từ

– Upekkhā (sa. upekṣā): tâm xả

Trong mỗi pháp trên đây đều chia làm 3 bậc là: hạ, trung, thượng, thành ra 30 pháp.

Ví dụ với pháp “Bố thí”: bố thí của cải gọi là bố thí Ba-la-mật bậc hạ, bố thí các bộ phận cơ thể của mình gọi là bố thí Ba-la-mật bậc trung, bố thí sinh mạng của mình để cứu chúng sinh khác gọi là bố thí Ba-la-mật bậc thượng.

9 pháp kia cũng tương tự như vậy.

Các chư Bồ-tát (là chúng sinh đã được một vị Phật thọ ký rằng sẽ thành Phật trong tương lai) chia làm 3 bậc:

– Bồ-tát thuộc về huệ lực: thời kỳ nguyện trong tâm không nói ra lời, là 7 A-tăng-kỳ đại kiếp.

Thời kỳ phát nguyện ra lời mà chưa gặp Phật nào thọ ký là 9 A-tăng-kỳ.

Thời kỳ gặp một vi Phật thọ ký cho tới khi thành tròn đủ 30 pháp Ba-la-mật và thành đạo là 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp.

– Bồ-tát thuộc về tín lực (là có nhiều đức tin): thời kỳ nguyện trong tâm không nói ra lời, là 14 A-tăng-kỳ đại kiếp.

Thời kỳ phát nguyện ra lời mà chưa gặp Phật nào thọ ký là 18 A-tăng-kỳ.

Thời kỳ gặp một vi Phật thọ ký cho tới khi thành tròn đủ 30 pháp Ba-la-mật và thành đạo là 8 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp.

– Bồ-tát thuộc về tấn lực (nhiều sự tinh tấn): thời kỳ nguyện trong tâm không nói ra lời, là 28 A-tăng-kỳ đại kiếp.

Thời kỳ phát nguyện ra lời mà chưa gặp Phật nào thọ ký là 36 A-tăng-kỳ.

Thời kỳ gặp một vi Phật thọ ký cho tới khi thành tròn đủ 30 pháp Ba-la-mật và thành đạo là 16 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp.

“Đại kiếp” ở đây là một kiếp của quả địa cầu, tức là quá trình hình thành, phát triển rồi hoại diệt của cả một hành tinh, kéo dài nhiều tỷ năm.

Còn A-tăng-kỳ là “số lượng không thể tính đếm” (vượt qua cả hàng tỷ tỷ tỷ).

Như vậy, thời gian cần để một chúng sinh tu thành Phật là cực kỳ dài, đến mức vượt qua khỏi khả năng tưởng tượng hoặc hiểu biết của phàm nhân.

Nói vậy sẽ thấy, 1 vị Phật ra đời và độ sinh là hiếm hoi như thế nào, vậy nên có câu “Trong vô số kiếp luân hồi thì có được thân người là khó (đa phần chúng sinh chỉ có thân súc sinh), có được thân người thì đủ duyên để xuất gia đi tu là khó, xuất gia đi tu rồi thì có duyên gặp Phật tại thế là càng khó”.

Người được gặp Phật, nghe Phật thuyết pháp là phải có rất nhiều căn duyên lành, bởi xác suất xảy ra là vô cùng hãn hữu, giống như rùa mù nổi lên trúng một khúc gỗ trôi giữa đại dương vậy.

28 vị Phật toàn giác trong quá khứ:

Đức Thích Ca Mâu Ni giảng giải cho Đại đức Xá Lợi Phất rằng: tính từ cách đây 4 A-tăng-kỳ (*) ( và 100 ngàn đại kiếp trái đất đến nay, đã có 28 Đức Phật tổ đã ra đời giáo hóa chúng sinh.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vị Phật thứ 28 mà chúng ta được biết đến nhiều nhất.

Bồ Đề Đạo Tràng – Ấn Độ (Bodh Gaya – India) nơi Ngài đắc đạo sau 49 ngày tọa thiền dưới gốc cây Bồ đề – cũng là điểm du lịch tâm linh mà bất cứ Phật tử nào cũng muốn được ghé thăm ít nhất một lần.

Các vị Phật trong thế giới ta bà (sahalokadhātu) của chúng ta được nói đến trong hai tài liệu chính: Kinh Đại Bổn và Kinh Địa Tạng.

1.

Các vị Phật quá khứ được nói đến có lẽ đầu tiên trong Kinh Đại Bổn (p: Mahā-padāna Sua) là 6 vị:

– Vipassī (s: vipaśyin, Hán: Tì Bà Thi),

– Sikhī (s: śikhin, Hán: Thí Khi),

– Vessabhū (s: viśvabhū, Hán: Tỳ Xá Phù),

– Kakusandha (s: krakucchanda, Hán: Câu Lưu Tôn),

– Konāgamana (s: konakamuni =kanakamuni = kanaka = konaka (-nāma) = konakasāhvaya = konagamuni, Hán: Câu Na Hàm Mâu Ni),

– Kassapa (s: Kaśyapa, Hán: Ca Diếp),

Rồi đến Phật hiện tại là Thích Câu Mâu Ni (p: sakkamuni, s: sakyamuni) và Phật tương lai sẽ là Di Lặc

2.

Nhưng khi bộ Buddhavamsa (Phật Sử, Chánh Giác Tông) được viết vào thời vua A Dục (aśoka, 272 – 236 trước Tây lịch) thì từ đầu đến chương 26 nêu ra 24 vị Phật quá khứ từ Phật Nhiên Đăng (Dīpankara) tới Phật Ca Diếp (Kassapa) xuất hiện trước đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni.

3.

Rồi trong chương 27 lại thêm 3 vị nữa xuất hiện trước Phật Nhiên Đăng là Tanhankara, Medhankara, và Saranankara.

Như vậy tất cả là 27 vị Phật quá khứ xuất hiện trước Phật hiện tại Thích Ca Mâu Ni.

Tất cả 28 vị Phật nầy đã xuất hiện lần lượt trong các kiếp như sau:

– Kiếp tinh túy hương (kiếp trang nghiêm) (Sāramanda-kappa): Bốn vị Phật thứ 1, 2, 3, 4 là Tanhankara, Medhankara, Saranankara, và Dīpankara,

– Kiếp hương (Sāra-kappa): Một vị Phật thứ 5 là Kondañña,

– Kiếp tinh túy hương (kiếp trang nghiêm) (Sāramanda-kappa): Bốn vị Phật thứ 6, 7, 8, 9 là Mangala, Sumana, Revata, Sobhita,

– Kiếp ân huệ (Vara-kappa): Ba vị Phật thứ 10, 11, 12 là Anomadassī, Paduma, Nārada,

– Kiếp hương (Sāra-kappa): Một vị Phật thứ 13 là Padumuara,

– Kiếp tinh túy (Manda-kappa): Hai vị Phật thứ 14, 15 là Sumedha, Sujāta,

– Kiếp ân huệ (Vara-kappa): Ba vị Phật thứ 16, 17, 18 là Piyadassī, Ahadassī, Dhammadassī,

– Kiếp hương (Sāra-kappa): Một vị Phật thứ 19 là Siddhaha,

– Kiếp tinh túy (Manda-kappa) : Hai vị Phật thứ 20, 21 là Tissa, Phussa,

– Kiếp hương (Sāra-kappa): Một vị Phật thứ 22 là Vipassī,

– Kiếp tinh túy (Manda-kappa): Hai vị Phật thứ 23, 24 là Sikhī, Vessabhū,

– Kiếp hiền (Bhadda-kappa): Năm vị Phật thứ 25, 26, 27, 28, 29 mà bốn vị đã xuất hiện là Kakusandha, Konagamana, Kassapa, Gotama (Phật Thích Ca Mâu Ni là phật mà hiện nay nhân loại đang thờ cúng).

Đức Phật thứ 29 là Metteyya (Chính là Phật Di Lặc) sẽ xuất hiện trong tương lai.

Không có kiếp trái đất nào có nhiều hơn 5 vị Phật cùng giáng sinh.

Có những giai đoạn kéo dài cả 1 A-tăng-kỳ đại kiếp trái đất mà không có vị Phật nào ra đời.

Khoảng cách ra đời giữa các vị Phật trong cùng 1 kiếp trái đất cũng phải kéo dài tới hàng triệu, hàng tỷ năm (do một kiếp Trái Đất kéo dài hàng tỷ, hàng chục tỷ năm).

Như vậy, cơ hội để chúng sinh được nghe hoặc đọc Chánh Pháp do một vị Phật thuyết giảng là vô cùng nhỏ nhoi và vô cùng quý báu.

Giải thích: A tăng kỳ hay A-tăng-kỳ (sa: असंख्येय, Asaṃkhyeya) là một tên gọi được dùng trong Phật giáo để chỉ con số 10140 hoặc cho số 10(a+2^b) đã được liệt kê trong Kinh Hoa Nghiêm, các giá trị a=5, b=103 nếu tính theo bản dịch của ngài Phật-đà-bạt-đà-la (Buddhabhadra), a=7, b=103 theo bản dịch của ngài Thật Xoa Nan Ðà (Shikshananda) và a=10, b=104 theo Thomas Cleary nhưng ông có sai sót trong tính toán.

A tăng kỳ là một từ tiếng Phạn xuất hiện thường xuyên trong các văn bản Phật giáo.

Ví dụ, Thích Ca Mâu Ni Phật được cho là đã thực hành ba a tăng kỳ kiếp trước khi trở thành một vị Phật.

A tăng kỳ có nghĩa là ‘không thể đếm được’.

Trong tiếng Phạn, từ “asaṃkhyeya” nghĩa đen là “vô số” trong ngữ nghĩa của “vô hạn”.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
TAM BẢO NGHĨA LÀ GÌ?


Phạn ngữ VÀRA dịch là quý báu.

Có nghĩa là, những tài sản, vật dụng gì trên thế gian này, hằng đem lại sự lợi ích, sự vui thích, lòng ham muốn, sự hân hoan cho chúng sanh, gọi là vật quý báu.

Đơn cử ví dụ như Vàng, Bạc, Ngọc, Ngà, Trân châu, Mã não, San hô, Hổ phách v.v... chẳng hạn.

Thế Nhơn điều cho là vật quý báu, đáng tìm kiếm cất giữ, thu nhặt, nâng niu quý trọng.

Trái lại, trong Phật Giáo không cho đó là quý báu đâu.

Vì rằng, dù cho tất cả các báu vật trong thế gian có nhiều thứ, nhiều loại, cũng không giúp đỡ cho chúng sanh thoát khỏi cảnh Sanh, Già, Đau, Chết, nhất là vượt ra khỏi Tam giới, Tam đồ, Lục đạo...cho được.

Còn Tam bảo có nghĩa là ba ngôi quý báu hẳn thật đáng là nơi vững nương trông cậy.

Có nghĩa là chúng sanh nào tin theo, rồi cố gắng hành theo, có thể đi từ Phàm đến Thánh, bỏ Tối về Sáng.

Lìa Mê về Ngộ, thoát Khổ về Vui được.

TAM BẢO GỒM :

Phật bảoPháp bảoTăng bảo

PHẬT BẢO : Phật là “ngôi báu thứ nhất” hay Phật bảo, vì Ngài là người tìm ra nguồn Đạo giải thoát, đã vượt ra khỏi vòng Sanh tử Luân hồi dứt Khổ trọn Vui, là đấng giác ngộ đầu tiên, người đã tìm ra chân lý và phương pháp tu tập để hướng đến sự giải thoát, làm giảm nhẹ và xóa bỏ những khổ đau vốn có trong cuộc đời này.

Chính từ ý nghĩa đó mà đức Thích-ca Mâu-ni được tôn xưng là Phật, bởi danh từ này vốn là do người Trung Hoa phiên âm từ tiếng Phạn là Buddha, có nghĩa là “bậc giác ngộ”.cũng là Thầy cả Chư Thiên và Nhơn Loại.

PHÁP BẢO: Chân lý giác ngộ và phương pháp tu tập do Phật truyền dạy được gọi là Pháp.

Trong ý nghĩa đó, Pháp là phương tiện để chúng ta có thể thực hành theo đúng và đạt đến sự giác ngộ, đạt đến sự giải thoát giống như Phật.

Pháp là những phương Lương diệu dược nhiệm màu, có năng lực chữa trị Tâm bệnh Phiền não của chúng sanh trong Tam giới.

Vì thế mà Pháp được tôn xưng là “ngôi báu thứ hai”, hay Pháp bảo.

TĂNG BẢO: Những người rời bỏ đời sống gia đình để dành trọn cuộc đời thực hành theo giáo pháp của đức Phật, hướng đến sự giải thoát, sự giác ngộ, được gọi là chư tăng.

Các vị này cùng nhau tu tập trong một tập thể gọi là Tăng-già (do tiếng Phạn là Sangha) hay Tăng đoàn.

Trong sự tu tập của tự thân mình, chư tăng cũng nêu gương sáng về việc làm đúng theo lời Phật dạy và truyền dạy những điều đó cho nhiều người khác nữa.vì các Ngài là người thay mặt ba đời chư Phật, có nhiệm vụ hướng dẫn, dắt dìu quần sanh thoát khỏi nẻo Tối, đường Mê, tu hành cho đến nới dứt Khổ.

Vì vậy, các ngài được tôn xưng là “ngôi báu thứ ba”, hay là Tăng bảo.

Ý NGHĨA VÀ CÁCH BỐ TRÍ TƯỢNG PHẬT TẠI TAM BẢO : Chia thành 3 hàng

HÀNG THỨ NHẤT : Tượng Tam Thế là ba pho tượng ngồi ngang nhau ở nơi cao nhất trên bàn thờ, đại diện cho chủ Phật trong ba thời gian quá khứ, hiện tại thế, vị lai thế (có thuyết nói đức Phật A-di-đà là Phật quá khứ “tam thế tương liên” thì không đúng.

Nên nhớ trong kinh Tịnh Độ, danh hiệu của Ngài Vô Lượng Thọ “hiện nay Ngài đang thuyết pháp” tiếp dẫn chúng sinh ở mười phương thế giới vãng sinh tới cõi cực lạc, vả lại Ngài cũng ra đời cõi Sa Bà này).

Tam thế phật :

Chữ Thế có thể hiểu là Thời.

Vậy Tam Thế Phật là Phật 3 thời: quá khứ, hiện tại và vị lai.Phật quá khứ là Phật A Di Đà tượng trưng cho các đức Phật trong quá khứPhật hiện tại là Phật Thích Ca Mâu NiPhật tương lai là Phật Di Lặc tượng trưng cho các vị Phật tương laiNói rộng ra thì Tam Thế Phật là Phật của cả 3 thời: quá khứ, hiện tại và tương lai, tức là vô lượng vô biên vô số chư Phật mười phương.Chữ Thế có thể hiểu là Thế giới, gồm có phương Đông là thế giới Tịnh Lưu Ly của Phật Dược Sư, phương Tây là thế giới Cực Lạc của Phật A Mi Đà và trung tâm là thế giới Sa Bà của Phật Thích Ca Mâu Ni....

Theo nghĩa này, Tam Thế Phật là không gian vô lượng của thế giới chư Phật từ Đông sang Tây, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, ..., vô lượng vô biên vô số quốc độ Phật như thế.

Tượng Tam thế phật

Bộ tượng tam thế phật Bộ tượng này gồm có 3 pho giống hệt nhau, tỷ lệ thân tương đương nhau, chỉ có sự khác biệt ở thủ ấn. thường được tạc trong tư thế ngồi thiền kiết già .

Ta thường gọi theo thói quen là tượng “Tam Thế”.

Thực ra đây chỉ là tên gọi tắt theo thói quen của người Việt, để chỉ các vị Phật ở Quá khứ, Hiện tại và Tương lai.Tên gọi đầy đủ của bộ tượng này có nhiều, song phổ cập là “Tam Thế Tam Thiên Phật” tức 3.000 đức Phật, mỗi thời 1.000 vị, hay “TamThế Thường Trụ Diệu Pháp Thân” là nhằm tôn sùng cái hình tướng chân thật, sáng láng, kỳ diệu, luôn tồn tại khắp không gian và xuyên thời gian của các đức Phật.

HÀNG THỨ 2 : Tượng A-di-đà Tam Tôn: Tượng còn được gọi là “Tây phương tam thánh” đặt ở hàng thứ hai từ trên xuống gồm:

Phật A-di-đà (ngồi giữa).

Phật A-di-đà được tạc trong tư thế toạ thiền, ngồi xếp bằng, hai tay đặt giữa lòng đùi, khuôn mặt đôn hậu, mắt nhìn xuống suy tư, miệng hơi mỉm cười Phật được tạc to nhất trong các nhóm tượng tuỳ theo khuôn khổ từng chùa.

Phật A Di Đà vị Phật của thế giới Tây phương cực lạc, nơi chỉ có vui mà không có khổ, tiếp dẫn người có công đức sang thế giới Tây phương cực lạcBồ Tát Ðại Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh đứng bên tay phải Ðức Phật A Di Ðà.

Đây là vị hộ pháp giúp việc cứu độ cho Phật A-di-đà, giáo hóa chúng sinh, tích đức hành thiện, trừ gian diệt ác.

Bồ Tát Ðại Thế Chí biểu trưng cho đức tinh tấn và ánh sáng trí tuệ, nhờ vào trí tuệ có năng lực như ngọn đèn sáng rực, soi rọi các tà vọng thiện ác, thấy được vực sâu của tội ác trong thế gian một cách rõ ràng..

Ngài còn có danh hiệu là Ðắc Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Lực Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Tinh Tấn Bồ Tát hay Vô Biên Quang Bồ Tát.

Các danh hiệu của Bồ Tát Đại Thế Chí nói lên hạnh nguyện đại hùng, đại lực, đại tinh tấn và ánh sáng trí tuệ vô biên chiếu khắp mọi loài chúng sanh, có thể phá trừ vô minh, điều phục tham sân si, chuyển hóa phiền não thành bồ đề.

Các vị Bồ Tát đều có từ bi, trí tuệ và ý chí xuất phàm như nhau, đó là nhân để tiến đến Phật quả.Bồ Tát Quán Thế Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy đứng bên tay trái Đức phật A Di Đà.

Quan Thế Âm bồ tát với một số sắc tướng và danh hiệu khác Quan Thế Âm vô uý, Quan Thế Âm Nam Hải, Quan Thế Âm nghìn mắt nghìn tay: là người luôn nghe tiếng kêu tha thiết từ tâm khảm chúng sinh trong trần gian mà tới cứu khổ.

Mang lòng từ bi, nhân ái, vị tha và thánh thiện không phân biệt bất kỳ ai, nghĩa là người yêu thương tất cả chúng sanh trong thiên hạ.

HÀNG THỨ BA : Tượng Thích-ca Mâu-ni: Tượng đặt ở hàng thứ ba, chính giữa.

Hình dáng đặc trưng: Tóc Phật Thích Ca có thể búi tó hoặc có các cụm xoắn ốc.

Phật Thích Ca mặc áo cà sa hoặc áo choàng qua cổ màu vàng hoặc nâu, nếu có hở ngực thì trước ngực không có chữ "vạn".

Phật có thể ngồi trên tòa sen, nhục kế trên đỉnh đầu, đôi mắt mở ba phần tư.

Tượng Thích-ca Mâu-ni được tạc ở 4 tư thế thuộc 4 giai đoạn khác nhau.

Theo truyền thuyết về cuộc đời và sự nghiệp của Thích-ca Mâu-ni với cái tên gọi như sau:

Tượng Cửu Long (Thích-ca sơ sinh) tượng Thích-ca ở tư thế đã bước ra rồi đứng lại, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, có 9 con rồng uốn chầu xung quanh, tượng Cửu Long dựa vào Phật sử nói rằng, khi Thích-ca giáng sinh có 9 con rồng phun nước để tắm cho Ngài.

Tắm xong Ngài tự đi 7 bước về phía trước, tay phải Ngài chỉ lên trời, tay trái Ngài chỉ thẳng xuống đất mà nói ngay được rằng “Thiên thượng, Thiên hạ, duy ngã độc tôn” (có nghĩa là trên trời, dưới đất, chỉ có “ta” là tôn quý) (Ta đây là “Đại ngã” bản tính Chân Như, không phải là Tiểu Ngã cá nhân riêng của mình, truyền tâm ấn).

Hai bên tượng Cửu Long là hai tượng Đế Thích và Phạm Vương, chủ thể thế giới, nên tạc theo kiểu nhà vua ngồi trên ngai.

Tượng Tuyết Sơn diễn tả Thích-ca Mâu-ni trong thời kỳ tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn (núi rừng Ni-câu-luật) với thân hình gầy gò, chỉ có da bọc xương.

Dân gian quen gọi là tượng “nhịn ăn để mặc”.

Tượng Thích-ca thuyết pháp (còn gọi là Thích-ca giáo chủ): Tượng được tạc trong tư thế ngồi trên toà sen, mặc áo pháp, một vai để trần (tượng tay cầm bông sen là tượng Thế Tôn niêm hoa…).

Hai bên tượng Thích-ca thuyết pháp có hai vị thị giả là Văn thù Bồ tát (giúp về trí tuệ thuộc lý) và Phổ hiền Bồ tát (giúp về hành nguyện thuộc sự).

Có chùa thay hai tượng này bằng hai tượng đệ tử An-na-đa và Ca-diếp (thuộc bộ ba của Tiểu thừa).

Tượng Thích-ca Mâu-ni đang nhập Niết bàn.

Thông thường tượng Niết Bàn ở tư thế nằm nghiêng sườn bên phải xuống thoải mái, tay phải co lại chống lên đầu, mắt lim dim.

Tượng Thích - Ca - Mâu - ni niết bàn ít thấy ở các ngôi chùa thờ Phật theo Bắc tông, còn ở các khu chùa thờ Phật theo Nam tông thấy phổ biến.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Ý NGHĨA TAM BẢO NGÀY NAY


Theo phong tục tập quán người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở Chùa vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn Tam Bảo, cùng chư vị Hiền Thánh, Thần linh…

Chùa cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các vị Phật, Bồ Tát, các chư vị Hiền Thánh, Thần linh trong nhiều trường hợp đã đi vào cuộc sống tinh thần của con người.

Nơi thờ tự còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng.

Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu nguyện các Chư vị phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

LỄ VẬT VÀ CÁCH CÚNG LỄ BAN TAM BẢO

Theo phong tục cổ truyền khi xem ngày đi lễ Chùa lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm.

Mặc dù ở những nơi này thờ Phật, Bồ Tát, chư vị Hiền Thánh, Thần linh… nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản…

để dâng cũng được.

- Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ Phật, Bồ Tát.

HẠ LỄ SAU KHI LỄ BAN TAM BẢO

Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa.

Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác.

Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính.

VĂN KHẤN LỄ BAN TAM BẢO

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.

Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm .....

Tín chủ (chúng) con là: .......................

Ngụ tại: ......................

Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo.

Chúng con xin dốc lòng kính lễ:

- Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.

- Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Ta Bà.

- Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.

- Đức Thiên thủ, Thiên nhãn,

- Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

- Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.

Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ...................... (công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…).

Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai qua nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khỏe, trên dưới thuận hòa an khang thịnh vượng.

Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều.

Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Khu Vui Chơi Giải Trí Sun World Hạ Long Park


Đây có thể nói là một quần thể vui chơi giải trí rộng lớn bậc nhất tại Hạ Long rộng trên diện tích 214ha vừa mới đi vào hoạt động.

Quần thể Hạ Long Park là tổ hợp công viên vui chơi mang đẳng cấp quốc tế bao gồm 2 khu vực chính: Tổ hợp vui chơi ven biển và tổ hợp vui chơi trên đỉnh Ba Đèo – được kết nối với nhau bởi hệ thống cáp treo độc đáo.

Đến với Hạ Long Park du khách sẽ được trải nghiệm với 5 điểm chính là Khu Công Viên Rồng, Khu Công Viên Lốc Xoáy, Khu Vui Chơi Ba Đèo, Bãi Biển Sun World và Khu Ẩm Thực & Mua Sắm.

Nguồn ảnh internet

Tổ hợp vui chơi ven biển nằm trên bờ biển Bãi Cháy xinh đẹp, có diện tích lên đến 169ha với nhiều hạng mục giải trí hấp dẫn như thế giới trò chơi mạo hiểm cùng tàu lượn siêu tốc “khủng” nhất Việt Nam, công viên nước sảng khoái mang tên Vịnh Lốc Xoáy, Làng biển với nét văn hóa vùng miền tinh tế hay chỉ đơn giản là thả mình trên bờ biển Hạ Long với làn nước trong xanh và bờ cát trắng mịn.

Cáp treo vượt biển dài 2km sẽ đưa du khách đến với Tổ hợp vui chơi Ba Đèo – quần thể các điểm du ngoạn hấp dẫn và các hoạt động giải trí kỳ thú.

Các điểm đến không thể bỏ qua tại đỉnh Ba Đèo như Vườn Nhật, khu trò chơi trong nhà Lâu Đài Huyền Bí, đặc biệt là Sun Wheel – một trong những vòng quay cao nhất thế giới.

Đặc biệt khi lên cáp treo du khách sẽ có cơ hội ngắn nhìn toàn cảnh Vịnh Hạ Long từ trên cao.

Quần thể du lịch giải trí Sun World Hạ Long Park là sản phẩm của Tập đoàn Sun Group, một trong những doanh nghiệp hàng đầu về đầu tư và xây dựng các khu vui chơi nghỉ dưỡng với những công trình nổi tiếng như Bà Nà Hills, Công viên Châu Á (Asia Park), Fansipan Legend Sapa…

Với kinh nghiệm và uy tín của Sun Group, Sun World Hạ Long Park hứa hẹn sẽ trở thành điểm vui chơi lý tưởng và đẳng cấp hàng đầu Việt Nam.

Công Viên Rồng

Thời gian mở cửa: 09:00 – 19:00 hàng ngày.

Giá vé tham khảo:

+ Người lớn hoặc trẻ em cao trên 1.3m: 350.000 VND

+ Trẻ em cao từ 1m – 1.3m: 250.000 VND

Công viên Rồng nằm trong Tổ hợp Vui chơi giải trí Sun World Halong Park, là công viên giải trí đẳng cấp quốc tế với nhiều trò chơi mới lạ chưa từng có tại Việt Nam.

Một thế giới những trò chơi phiêu lưu mạo hiểm được mở ra như Phi Long thần tốc, Tê Giác cuồng nộ, Theo dấu chân Rồng, Tàu hải tặc…; hay những trò chơi dành gia đình vui nhộn và hấp dẫn: Hành trình bí ấn, Chiếc ô kỳ diệu, Vũ điệu Lốc xoáy, Binh đoàn bò sát…

Tất cả sẽ mang đến một không gian vui chơi vô cùng hào hứng và những khoảnh khắc đáng nhớ bên bạn bè.

“Tiếp sức” bạn trên hành trình chinh phục những trò chơi kỳ thú tại Công viên Rồng là một chuỗi các nhà hàng với những món ăn ngon và tiện lợi như Nhà hàng The Dragon’s Food Temple phục vụ các món ăn Châu Á, Pizza Temple với những chiếc pizza ngon đúng điệu Italia hay Lotus Kiosk với những món ăn được các bạn trẻ vô cùng yêu thích hiện nay.

Hãy đến ngay Công viên Rồng để trải nghiệm một không gian vui chơi giải trí bất tận!

Công Viên Nước Vịnh Lốc Xoáy (Typhoon Water Park)

Thời gian mở cửa: 08:30 – 19:00

Giá vé tham khảo:

+ Người lớn hoặc trẻ em cao trên 1.3m: 350.000 VND

+ Trẻ em cao từ 1m – 1.3m: 250.000 VND

Đến đây du khách sẽ được tận hưởng những cảm giác thú vị với các trò chơi dưới nước độc đáo, mới lạ, mang đến nhiều trải nghiệm độc đáo.

Trải rộng trên diện tích gần 20 ha, lấy cảm hứng từ mô hình các công viên nước hàng đầu thế giới.

Công viên sở hữu hệ thống 12 trò chơi dưới nước đa dạng, hấp dẫn, được chia thành 3 khu riêng biệt: Khu vui chơi dành cho gia đình, Khu vui chơi dành cho trẻ em và Khu vui chơi mạo hiểm cho tín đồ mê cảm giác mạnh.

Điểm nhấn tại công viên nước là các trò chơi mạo hiểm dành cho những người đam mê thử thách.

Và để có những trải nghiệm thú vị, du khách có thể thử cảm giác rơi tự do từ độ cao hơn 20m trên các đường trượt xoắn ốc siêu tốc, quăng mình xoay tròn 360 độ trong trò chơi “Cơn bão nhiệt đới”.

Ngoài ra, du khách hãy thử đo độ gan dạ trên chiếc phễu khổng lồ nghiêng 45 độ “Cuồng phong lốc xoáy” và trải nghiệm hành trình “Cưỡi rồng vượt thác” chinh phục đại dương…

Để cung cấp thêm trải nghiệm cho khách vui chơi, công viên còn có hệ thống nhà hàng đa dạng, phục vụ mọi nhu cầu của du khách.

Đó là nhà hàng Typhoon Grill đẳng cấp với những món nướng mang phong vị biển cả, Pizza Cove luôn sẵn sàng với các combo đồ ăn nhanh hấp dẫn, hay Long’s Pool Bar với menu đồ uống giải nhiệt phong phú cho mùa hè.

Khu Vui Chơi Ba Đèo: Đây là khu vui chơi gồm nhiều khu vui chơi nhỏ như: Khu vui chơi trẻ em KIDOLAND, Cáp Treo Nữ Hoàng, Vòng quay mặt trời Sun Wheel, Khu trưng bày tượng sáp Gặp Gỡ Thần Tượng, Thế giới Game, Vườn Nhật Bản…

Giờ mở cửa:

+ Thứ 2-6: 14:00 – 22:00

+ Thứ 7 & CN: 09:00 – 22:00

Giá vé Cáp treo Nữ Hoàng & Khu đồi Huyền Bí:

+ Người lớn hoặc trẻ em cao trên 1.3m: 350.000 VND

+ Trẻ em cao từ 1m – 1.3m: 250.000 VND

Bãi Biển Sun World Hạ Long: Nằm trong quần thể giải trí ven biển Bãi Cháy của Sun World Hạ Long Park, bãi tắm nhân tạo có chiều dài lên đến 900m được mở cửa miễn phí cho cư dân và mọi đối tượng du khách.

Tại đây, du khách sẽ được hoà mình trong làn nước biển trong xanh tuyệt đẹp với bờ cát trắng và thư thái ngắm nhìn vịnh Hạ Long dưới những bóng cây nhiệt đới.

Có nhiều dịch vụ giải trí hiện đại cảm giác mạnh phục vụ du khách tại bãi biển như: lướt ván, chèo thuyền kayak, mô tô nước, bay dù xuồng cao tốc…

Ẩm thực & Mua sắm: Hệ thống nhà hàng tại Sun World Hạ Long Park phong phú từ đặc sản địa phương đến những hương vị ẩm thực quốc tế, đáp ứng đầy đủ khẩu vị đa dạng của quý du khách.

Dự kiến đưa vào hoạt động trong thời gian tới, các nhà hàng fast food, sushi bar, nhà hàng Nhật Bản… tại ga Đại Dương và khu vui chơi Ba Đèo là những điểm dừng chân thưởng thức ẩm thực độc đáo tại Sun World Hạ Long Park.

Đến với Sun World Hạ Long Park, các du khách sẽ không khỏi choáng ngợp bởi không gian và dịch vụ mua sắm vô cùng phong phú với rất nhiều mẫu quà tặng, quà lưu niệm đa dạng, độc đáo và mang đậm dấu ấn thành phố biển Hạ Long.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
ATK


Trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong quan niệm của nhiều người có sự khác biệt về khái niệm “Thủ đô kháng chiến” và “Thủ đô gió ngàn”.

Địa danh nào được gọi là “Thủ đô kháng chiến”, còn địa danh nào là “Thủ đô gió ngàn”, hay cả hai địa danh chỉ là một?

1.

Thủ đô kháng chiến

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Thủ đô là thành phố nơi đóng trụ sở của Chính phủ và các cơ quan Nhà nước Trung ương.

Hoặc là trung tâm đầu não lãnh đạo toàn cục như Đại tướng Võ Nguyên Giáp phát biểu: “Tân Trào được coi là Thủ đô khu giải phóng (trước Cách mạng Tháng 8/1945 gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên).

Tuyên Quang - mảnh đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, là nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc.

Tuyên Quang luôn tự hào là nơi Chủ tịch Hồ chí Minh sống và làm việc trong suốt một thời gian dài và được Người chọn làm Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến để lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám giành độc lập tự do cho dân tộc và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi hoàn toàn.

Bác Hồ chọn Tân Trào (Tuyên Quang) làm “Thủ đô khu giải phóng”, trung tâm lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám

Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, bên cạnh xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta rất quan tâm chuẩn bị căn cứ cách mạng làm chỗ dựa cho vũ trang khởi nghĩa.

Ngay sau khi về nước Người chọn tỉnh Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa cách mạng đầu tiên.

Tuy nhiên, bước sang năm 1945, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến mau lẹ, chiến tranh thế giới bước vào giai đoạn kết thúc, phong trào cách mạng đang cuộn sóng, khu giải phóng ngày càng được mở rộng, thời cơ giành chính quyền đang đến gần.

Do đó việc hình thành khu giải phóng Việt Bắc và chọn một nơi làm trung tâm để lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa là yêu cầu cấp thiết.

Sau khi nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình phong trào cách mạng, bác nói, cần chọn ngay trong vùng Cao – Bắc –Lạng hoặc Tuyên Quang, Thái Nguyên một địa điểm có dân tốt, có cơ sở cách mạng tốt, địa hình tốt, có thể thuận tiện làm một trung tâm liên lạc với miền xuôi, miền ngược và ra nước ngoài.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), cuộc khởi nghĩa ngày 10/3/1945 tại Thanh La (Sơn Dương, Tuyên Quang) thắng lợi, Châu Tự Do được thành lập và từ đó giải phóng toàn huyện Sơn Dương.

Đến ngày 22/5/1945 hầu hết các địa phương trong tỉnh Tuyên Quang được giải phóng và mở rộng ra các vùng lân cận, tạo thành vùng giải phóng rộng lớn.

Do đó Tuyên Quang đã hội tụ đủ các điều kiện về “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để Bác Hồ chọn làm nơi ở, làm việc và chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.

Thực hiện chỉ thị của Người, đồng chí Võ Nguyên Giáp và lãnh đạo Phân khu ủy Nguyễn Huệ đã quyết định chọn Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang làm trung tâm lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa.

Sau 18 ngày đêm băng rừng, vượt suối, ngày 21 tháng 5 năm 1945 Bác Hồ đã về đến Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang.

Nơi đầu tiên Bác dừng lại nghỉ chân là đình Hồng Thái, sau đó Người vượt sông Phó Đáy vào làng Tân Lập ở, làm việc tại gia đình ông Nguyễn Tiến Sự.

Cuối tháng 5/1945 để đảm bảo bí mật và tiện làm việc, Bác rời lên ở tại một căn lán nhỏ, nằm trong khu rừng Nà Nưa, cách làng Tân Lập 500m về phía đông.

Theo sự chỉ đạo của Bác và Tổng bộ Việt Minh, ngày 4/6/1945, Hội nghị cán bộ toàn Khu được tổ chức tại Tân Trào.

Hội nghị đã quyết định thành lập Khu giải phóng Việt Bắc gồm 6 tỉnh (Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái).

Khu Giải phóng đặt dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Chỉ huy lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh đứng đầu, đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Ủy viên Thường trực, đồng thời chỉ huy về quân sự.

Thành lập hệ thống Ủy ban từ cấp xã đến khu đặt dưới sự chỉ đạo của Ủy ban lâm thời Khu.

Tổ chức thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh.

Ủy ban Quân sự thống nhất chỉ huy cuộc chiến đấu chống Nhật, trừ gian diệt ác, tiếp tục lãnh đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền, mở rộng Khu Giải phóng.

Khu Giải phóng là “hình ảnh nước Việt Nam mới”, Tân Trào trở thành Thủ đô Khu giải phóng, lán Nà Nưa đã trở thành “Đại bản doanh”, trung tâm lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám.

Tại lán Nà Nưa, Bác luôn theo dõi rất sát diễn biến tình hình thế giới và trong nước.

Người đã có những nhận định, đánh giá tình hình, xác định thời cơ và quyết tâm phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền với câu nói bất hủ:“Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Ngay sau đó Bác và Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng từ ngày 13 - 14/8/1945 và ngày 16/8/1945 Người triệu tập Quốc Dân đại hội tại Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang đưa ra những quyết định quan trọng, phát động cả nước tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám “long trời, lở đất”, đánh đổ chế độ phát xít, tay sai, giành độc lập dân tộc và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, thời kỳ độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Bác Hồ chọn Tuyên Quang làm “thủ đô” lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi

Cách mạng Tháng Tám thành công, trước khi rời Tân Trào, Tuyên Quang về Hà Nội, Bác Hồ đã họp với đồng chí Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thái, Hoàng Hữu Kháng và nữ đồng chí tên Châu.

Với nhãn quan chính trị và dự đoán thiên tài Người cho rằng: “Bây giờ ta có chính quyền, chắc chắn các cô, các chú cũng muốn về Hà Nội.

Nhưng chưa được đâu!

Lênin đã nói: “Giành chính quyền khó, giữ chính quyền còn khó hơn”.

Bởi vậy một số các cô, các chú còn ở lại địa phương đây, giúp đồng bào tổ chức cuộc sống sao cho tươi đẹp hơn, ấm no, văn minh hơn…

Biết đâu, chúng ta còn trở lên đây nhờ cậy đồng bào lần nữa…”.

Cuối năm 1945 thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, Bác Hồ đã nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp “Ta lại trở về Tân Trào”.

Tháng 12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chủ trương di chuyển toàn bộ cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ lên chiến khu Việt Bắc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài và chọn Tuyên Quang làm điểm đến đầu tiên, vì theo Người “Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi”(4).

Ngày 2/4/1947, Người về đến làng Sảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.

Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến, Bác đã ở Tuyên Quang gần 6 năm với 47 địa điểm khác nhau.

Tại đây cũng là nơi tập trung nhiều cơ quan Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận, các bộ ngành, cơ quan trung ương với 14/15 bộ đóng tại Tuyên Quang.

Tại Tuyên Quang Bác Hồ và Trung ương Đảng, Chính phủ đã quyết định nhiều quyết sách, công việc trọng đại của Đảng, của cách mạng Việt Nam như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Đại hội Mặt trận Liên Việt, kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa I, các phiên họp của Hội đồng Chính phủ vv...

Vì vậy Tuyên Quang đã thực sự là Thủ đô của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tuyên Quang luôn tự hào là mảnh đất thiêng liêng, giàu truyền thống cách mạng, nơi ghi dấu những sự kiện trọng đại của dân tộc, nơi vinh dự được chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chọn làm Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Phát huy truyền thống của quê hương cách mạng, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang sẽ đoàn kết, phấn đấu phát triển toàn diện kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVI, phấn đấu đưa Tuyên Quang trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía Bắc.

Trong thời kỳ kháng chiến 1947-1954, Thủ đô kháng chiến được xem xét trên 2 phương diện:

Thứ nhất, nơi đóng đô của chính quyền nhà nước, gồm Phủ Chủ tịch, Phủ Thủ tướng, Quốc hội, các bộ hoặc cơ quan ngang bộ - chưa kể các tổ chức đoàn thể trung ương: Mặt trận Việt Minh, Liên Việt, Văn phòng Chủ tịch Đảng (Bác Hồ lãnh tụ tối cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ – mãi từ 1949 mới có chức Phó Thủ tướng của ông Phạm Văn Đồng – kiêm Bộ trưởng Ngoại giao), Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên huấn Trung ương, Ban Dân vận: Công đoàn, thanh niên, phụ nữ – cả báo Tiền phong ở bản Dõn, xã Minh Thanh…

đều đóng bên Tuyên Quang.

Thời đó, có 12 bộ, chỉ 1 Bộ Quốc phòng đóng ổn định bên Thái Nguyên.

Thứ hai, thời gian lâu nhất, theo tập Đề án tổng thể của Bộ Văn hóa Thông tin bổ sung hoàn chỉnh chi tiết tháng 3/1998 và bản thống kê của ông Tạ Quang Chiến, người vinh dự được công tác phục vụ Bác từ 1945 - 1957 thì trong 7 năm 7 tháng, kể từ ngày 2/4/1947 Người về làng Sảo (Sơn Dương), thì Bác di chuyển tới 37 lần; nhưng lâu nhất ở Tuyên Quang: 5 năm 11 tháng 25 ngày, cả Thái Nguyên, Bắc Kạn chỉ 1 năm 8 tháng.

Bác di chuyển nhiều nơi ở Tuyên Quang, nhưng ổn định nhất tại thôn Lập Bình (xã Bình Yên, Sơn Dương).

Ngày 4/12/2000, Bộ Văn hóa Thể thao đã ban hành quyết định số 32/2000/QĐ-VHTT công nhận Khu Di tích Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang là Di tích của Chủ tịch phủ, Thủ tướng phủ thời kỳ 1947-1954.

Ngày 15/8/2005, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (khi đó là Phó Thủ tướng Thường trực) đã lên dự lễ động thổ xây dựng khu di tích lịch sử của Chính phủ tại xã Minh Thanh, Sơn Dương, Tuyên Quang.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp phát biểu tại hội thảo do tỉnh Thái Nguyên tổ chức ngày 12/5/1997: “Tân Trào được coi là Thủ đô khu giải phóng (Khu Giải phóng trước Cách mạng Tháng 8/1945 gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên)”.

Vậy Thủ đô kháng chiến là ở Tuyên Quang, hay thu hẹp lại là huyện Sơn Dương.

2.

Thủ đô gió ngàn

Vui sao một sáng tháng năm

Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ

Suối dài xanh mướt nương ngô

Bốn phương lồng lộng Thủ đô gió ngàn...

(Tố Hữu - Sáng tháng năm, 1951)

Vậy “Thủ đô gió ngàn” nằm ở đâu?

Có ý kiến cho rằng, “Thủ đô gió ngàn” là chỉ Định Hóa, Thái Nguyên.

Có người lại nói, “Thủ đô gió ngàn” là Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang.

Đồng chí Vũ Kỳ (1921-2005), Thư ký riêng của Bác khi được hỏi về Thủ đô gió ngàn, đã nói rằng: “Chẳng ở đâu cả! – Việt Bắc!

Chỉ là hình tượng điển hình thôi.

Như “Rừng cọ đồi chè” tiêu biểu của trung du Phú Thọ vậy, không chỉ riêng huyện, xã nào”.

Theo cuốn sách “Các di tích lịch sử văn hóa tỉnh Bắc Kạn” (xuất bản năm 1999), sau ngày toàn quốc kháng chiến, Trung ương Đảng cử đội công tác đặc biệt do đồng chí Trần Đăng Ninh dẫn đầu lên Việt Bắc tìm địa điểm để xây dựng khu căn cứ an toàn cho các cơ quan của Trung ương Đảng, gọi tắt là ATK.

Tiêu chí tìm địa điểm được Bác rút gọn bằng câu thơ:

Trên có núi, dưới có sông

Có đất ta trồng, có bãi ta vui

Và:

Tiện đường sang Bộ Tổng (Bộ Tổng Tư lệnh – qua đèo De bên kia Định Hóa)

Thuận lối tới Trung ương (Văn phòng Tổng Bí thư Trường Chinh)

Sau thời gian khảo sát, đội quyết định chọn một số địa điểm thuộc các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương (Thái Nguyên); Sơn Dương, Chiêm Hóa, Yên Sơn (Tuyên Quang) và Chợ Đồn, Chợ Mới, Chợ Rã (nay là Ba Bể thuộc Bắc Kạn).

Các địa điểm trên là vùng giáp ranh của ba tỉnh, địa hình hiểm trở, mạng lưới giao thông là những đường mòn tạo thành khu liên hoàn rộng trên ba nghìn km2; có sông Phó Đáy, sông Gâm tiện lợi cho việc đi lại bằng thuyền.

Địa thế của ATK, theo Bác Hồ, là nơi “Tiến khả dĩ công, thoát khả dĩ thủ”.

Tức là, nếu phong trào kháng chiến của ta phát triển mạnh, lực lượng sẽ tiến về phía nam, qua Định Hoá, Đại Từ, đánh thẳng về xuôi.

Ngược lại, nếu cách mạng gặp khó khăn có thể lùi sang phía đông, qua Chợ Đồn, Chợ Mới (Bắc Kạn), sang chiến khu Võ Nhai, Bắc Sơn.

Vì vậy, trong suốt cuộc kháng chiến, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ làm việc tại nhiều nơi trong Khu ATK.

Chẳng hạn, tại Chợ Đồn (Bắc Kạn), Bác Hồ sống và làm việc ba nơi.

Đó là Bản Ca, thuộc xã Bình Trung, năm 1947; Nà Pậu, thuộc xã Lương Bằng, năm 1951; và bản Pèo thuộc xã Bình Trung năm 1949.

Cũng tại bản Nà Quân, xã Bình Trung còn có Văn phòng Trung ương Đảng và đồng chí Trường Chinh sống và làm việc năm 1951-1952; đồng chí Phạm Văn Đồng, sống và làm việc tại đồi Khau Mạ, xã Lương Bằng năm 1950-1951.

Tất cả các địa điểm trên đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.

Ngoài ra, trong kháng chiến, rất nhiều cơ quan của bộ, ngành đóng tại Bắc Kạn như Bộ Tài chính, Xưởng Quân giới đóng tại Bản Thi (Chợ Đồn); Đài Tiếng nói Việt Nam đóng tại xã Khang Ninh (Ba Bể)...

Tại Thái Nguyên, Bác Hồ cũng sống và làm việc nhiều nơi.

Riêng ở Tỉn Keo (thuộc xã Phú Đình, Định Hóa), Bác Hồ ở hai lần vào năm 1948 và cuối năm 1953; ở Nà Lọm (cũng thuộc Phú Đình, Định Hoá) năm 1948; ở đồi Khau Tý, xã Điềm Mạc năm 1947; ở đồi Khuôn Tát, xã Phú Đình có ba lần, một lần năm 1947 và hai lần năm 1948.

Thái Nguyên còn là nơi làm việc của nhiều cơ quan trung ương, Bộ Quốc phòng và các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp...

Tuyên Quang cũng là nơi Bác Hồ sống và làm việc tại nhiều nơi, với thời gian trên 5 năm (Thái Nguyên chỉ gần 2 năm).

Tuyên Quang còn là nơi làm việc của Văn phòng Chính phủ, Quốc hội... tại thôn Lập Bình, xã Bình Yên (cạnh Tân Trào)...

Như vậy, Thủ đô gió ngàn không chỉ riêng ở Định Hoá (Thái Nguyên) hay Tân Trào (Tuyên Quang) mà còn bao gồm các địa danh nêu trên thuộc ba tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Bắc Kạn.

Vì thế, khi nói đến Thủ đô gió ngàn không nên áp đặt Thủ đô của riêng một tỉnh, một huyện nào cả.

Và trải qua thời gian, mỗi nơi đó sẽ mãi mang dấu ấn, mang hình ảnh của Bác Hồ kính yêu /.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Dân tộc Dao


VĂN TUYỂN

Huỳnh Tâm – Tục lệ “coong trình” của người Dao Đỏ ở Sa Pa

VietnamDaily.News

4 năm ago

Tại Sa Pa, người Dao Đỏ có dân số đứng thứ hai sau người H’Mông (Hơ Mông, còn gọi là người Mông).

Họ có nguồn gốc từ Vân Nam- Trung Quốc, và là một bộ phận nhỏ của tộc người Dao di cư vào Việt Nam từ thế kỷ XIII đến những năm 1940 của thế kỷ trước.

Họ sống tập trung đông nhất ở các xã Tả Phìn, Nậm Cang, Thanh Kim, Suối Thầu, Trung Chải…

Theo các nhà nghiên cứu thì người Dao có quan hệ mật thiết với người H’Mông.

Trước đây, hai nhóm này được cho là có cùng nguồn gốc, nhưng sau khi thiên cư từ Trung Hoa vào Việt Nam thì hai cộng đồng này đã hình thành những đặc điểm khác nhau.

Ngày nay, đến Sa Pa chúng ta có thể nhận ra sự khác biệt giữa người Dao và ngươi Hơ Mông về hình dáng, trang phục, cách sinh hoạt v.v…, nhưng họ vẫn chung sống tại cùng một vùng núi mặc dầu nơi cao nơi thấp khác nhau.

Nếu người H’Mông thường chọn những nơi núi cao để ở thì người Dao lại chọn thung lũng hoặc lưng chừng núi ở để tỉa ngô, trồng lúa và thảo quả.

Các lái buôn thường đến tận nhà thu mua, mang bán sang Trung Quốc nên cuộc sống của họ cũng khá.

Nhiều nhà có xe máy, tivi, thậm chí là cả xe hơi, máy kéo dùng trong nông nghiệp.

Tộc người Dao có nhiều nhóm, nhưng sinh sống ở Sa Pa chủ yếu là người Dao Đỏ, bởi phụ nữ thường quấn khăn đỏ hay đội mũ đỏ, áo màu xanh đen nhưng có nhiều hoa văn đỏ và trắng ở cổ, ở vạt áo và tà áo.

Trang phục của họ được xem là đẹp nhất ở Sa Pa.

Phụ nữ Dao Đỏ còn có tục tỉa bớt chân mày và tóc phía trên trán cho đẹp.

Họ cũng có chữ viết riêng dựa theo chữ Hán cổ gọi là chữ Nôm Dao, nhưng loại chữ này – nay chỉ người cao tuổi mới đọc, hiểu và viết được.

Người Dao có tín ngưỡng rằng loài chó là tổ tiên của họ nên chó luôn luôn được quý trọng.

Ngoài ra, đàn ông chỉ được coi là trưởng thành sau khi đã chịu lễ cấp bằng sắc của nơi thờ cúng.

Họ cũng có các tục lệ khác như gia đình nào đang nấu rượu thì cắm một cành cây trước cửa, không cho người lạ vào vì quan niệm rằng hễ có người lạ vào là rượu sẽ chua và khê.

Khi thấy có dấu hiệu cắm lá trước cửa nhà người Dao, người ta kiêng không vào.

Trong gia đình có phụ nữ sinh nở cũng cắm cành lá trước cửa không cho người lạ vào, sợ đứa trẻ mới sinh sẽ khóc nhiều.

Họ có tục lệ kiêng sờ đầu trẻ con.

Khi cắt tóc, cạo đầu cho trẻ họ để một chỏm tóc ở đỉnh đầu vì cho rằng đó là nơi trú ngụ của hồn vía con người, để chỏm tóc như vậy trẻ sẽ không bị ốm đau.

Họ cũng quan niệm là nam và nữ khi chưa kết hôn thì không được chụp hình chung.

Khách du lịch muốn chụp tốt nhất là hỏi trước họ.

Mỗi năm người Dao cũng có những lễ hội đặc biệt như: “Hội tết, nhảy múa” tổ chức vào ngày Mồng một và Mồng hai tháng Giêng; “Hát hội giao duyên” vào ngày Mồng mười tháng Giêng ở bản Tả Phìn, cách thị trấn Sa Pa khoảng 12km.

Bản này nổi tiếng với các loại thổ cẩm đủ màu sắc và kiểu dáng do bàn tay khéo léo của phụ nữ H’Mông hoặc phụ nữ Dao tạo nên.

Đặc biệt, họ có bài thuốc tắm bằng lá cây rừng của tổ tiên người Dao Đỏ truyền lại đến ngày nay, rất tốt cho du khách đi đường xa mệt mỏi.

2- Thiếu nữ Dao Đỏ thoải mái ngủ với người lạ .

Người Dao Đỏ không coi quan hệ “không phải vợ chồng” là vô đạo đức.

Chuyện đó có tên gọi là “coong trình”, thậm chí càng “coong trình” với nhiều đàn ông thì càng tốt.

Bản Tân Phong ở tỉnh Lào Cai là nơi có nhiều người Dao Đỏ sinh sống.

Cách đây ít lâu, một sinh viên tốt nghiệp ngành Nông Lâm hỏn hai mươi tuổi, mới ra trường..

được cử về phụ trách kiểm lâm tại địa phương nên chưa hiểu gì về phong tục tập quán của người Dao Đỏ.

Tới cơ sở, cậu được giới thiệu tạm thời ăn ngủ tại nhà ông trưởng bản.

Đêm ấy, sau khi chủ nhà mổ gà, mời cán bộ kiểm lâm một chầu rượu say, cậu lăn ra ngủ.

Chừng nửa đêm, có hai cô gái tuổi độ 17-18 đến bên giường kéo áo cậu lôi dậy.

Cậu chưa hiểu ra sao thì các cô thì thầm vào lỗ tai cậu: “Cán bộ ra rừng ngủ với chúng tao đi.

Chúng tao thích cán bộ mà.

Dậy đi ra rừng ‘coong trình’…”

Cậu kiểm lâm cố rụt đầu vào trong chăn thì hai cô gái càng lôi cậu mạnh hơn khiến cậu vô cùng sợ hãi.

Trước khi lên vùng thượng du, người ta đã kể với cậu chuyện ma cà rồng hút máu người.

Ma cà rồng hiện hình qua các cô gái xinh đẹp, đêm đêm đi tới các ngôi nhà, chờ thiên hạ ngủ say rồi cắn vào cổ, hút máu người đang ngủ.

Ai bị ma cà rồng hút máu thì da vàng bủng vì mất máu rồi chết.

Trong ánh lửa từ lò nấu cám lợn và ngọn đèn đốt bằng mỡ trâu đặt trên giá của chiếc cột giữa nhà hắt tới, gương mặt hai cô gái Daođẹp hoang dại, rực rỡ như hai đóa hoa rừng, cậu sợ quá hét lên.

Nghe tiếng kêu, ông trưởng bản trở dậy.

Thấy hai cô gái, ông bật cười nói gì đó với họ, họ cười rồi bỏ đi.

Sáng hôm sau, ông trưởng bản giải thích về tục “coong trình” của người Dao Đỏ cho cậu nghe rồi cười bảo cậu: “Mấy đứa con gái nó thích thanh niên miền xuôi nên muốn kéo cán bộ ra rừng ngủ với tụi nó đấy mà”.

Cậu kiểm lâm trẻ tuổi bấy giờ mới tiếc hùi hụi !

Tháng 3 năm sau, hạt kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức lễ cúng rừng và làm thủ tục để người dân ký hợp đồng nhận khoán, bảo vệ rừng.

Buổi tối, cậu kiểm lâm trẻ tuổi rủ cô gái Dao Đỏ xinh nhất trong bản vào rừng.

Nhưng vừa mới ôm cô gái vào lòng thì cô ta hét toáng lên rồi vùng bỏ chạy về bản.

Thì ra, cô gái không đồng ý “coong trình” với chàng kiểm lâm nên chàng bị phạt vạ.

Theo phong tục, chàng kiểm lâm phải mua hai con gà trống và hai chai rượu để gia đình cô gái cúng ma, gọi hồn cô gái lạc ngoài rừng về.

Kể lại chuyện này, anh chàng kiểm lâm cười khì khì: “Hồi ấy mình còn trẻ, chưa biết gì về phong tục của họ chứ bây giờ thì cứ cô nào thích là mình “coong trình” đại, chả tốn một đồng nào cả, lỡ có bị phạt cũng… rẻ!”.

“Thế lỡ cô ấy có con thì sao?”.

“Thì cô ta nuôi.

Cô ta “coong trình” với bao nhiêu người, đâu biết là con của ai”.

Ông Đặng Văn Tâm, hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Lục Yên và ông Hoàng Cửu Tung, trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Tân Phong nói rằng Tân Phong là nơi có tới 96% dân chúng là người Dao Đỏ.

Kể lại chuyện của mình, ông Tung cười: “Năm 2006, tôi được phân công phụ trách địa bàn xã Tân Phong.

Hôm ấy đã muộn, tôi nghỉ lại tại nhà của một gia đình ở thôn Khiểng Khun.

Chủ nhà mổ gà tiếp đãi tôi rất niềm nở.

Cả chủ lẫn khách đều uống rượu say quá chừng.

Người vợ của chủ nhà nhìn tôi với đôi mắt long lanh lạ lắm.

Đêm ấy đã khuya, tôi đang ngủ thì thấy một phụ nữ chui vào trong mùng rồi ôm lấy tôi.

Tôi giật mình tỉnh dậy thì thấy người ôm mình là vợ chủ nhà.

Chị ta thì thầm: “Mình thích cán bộ, cán bộ “coong trình” mình đi!”.

Tôi hoảng quá bèn mở cửa chạy ra ngoài vì sợ chủ nhà tỉnh dậy, nhưng anh ta vẫn ngủ say như chết .

Vậy là tôi bèn quay trở lại mùng và “coong trình” cho vừa ý vợ chủ nhà…”.

3- Sự phóng khoáng trong chuyện “coong trình” .

Chuyện quan hệ tình dục của người Dao Đỏ khá phóng khoáng.

Có người giải thích rằng do cuộc sống khép kín của cộng đồng người Dao Đỏ, nên quan hệ hôn nhân cận huyết khiến nhiều cặp vợ chồng vô sinh hoặc có những đứa trẻ sanh ra dị dạng hay kém phát triển về trí tuệ cũng như thể hình.

Chính vì thế nên phụ nữ Dao Đỏ có phong tục duy trì nòi giống bằng cách quan hệ với nhiều đàn ông khác có vóc dáng cao to, đẹp trai, để sinh ra những đứa con khỏe mạnh, xinh đẹp.

(Người Eskimo ở Bắc cực cũng vậy, cuốn “The Eskimos” của Mục sư Peter Jergens người Mỹ nói rằng khi khách tới igloo (nhà hình vòm xếp bằng các tảng băng của người Eskimo) thì được mời ngủ chung với vợ chủ nhà.

Hàng xóm đi săn trên tuyết mà vợ không đi theo được thì có thể “mượn” vợ của bạn gần đấy, và người đàn bà này sẽ phục vụ mọi chuyện kể cả việc “thay thế người vợ” một cách tự nhiên bất cứ lúc nào, không hề mặc cảm.

Nếu may mắn có con, đứa trẻ sẽ thuộc về người chồng đã cho mượn vợ chứ không phải thuộc về người đi mượn).

Tập tục “coong trình” đã có từ lâu đời, chợ tình Sa Pa của người Dao Đỏ phải chăng là để giao lưu tình cảm, thỏa mãn nhu cầu tình dục hay sâu xa là cải tạo giống nòi?

Điều này các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu .

Nhiều người kinh ngạc khi nhìn thấy các cô gái Dao Đỏ xinh đẹp lạ thường, họ cho biết: “Các cô gái đó đẹp chẳng khác gì tiên sa.

Không ai hiểu họ có phải là sản phẩm trong những đêm “coong trình” do mẹ của họ với những người đàn ông khỏe mạnh, đẹp trai ở nơi khác đến hay không?”.

Ông thợ săn tên là Bàn Phúc Châu sau khi nghe tôi hỏi về phong tục “coong trình” và hỏi thật rằng trong đời ông đã “coong trình” với bao nhiêu phụ nữ rồi.

Ông cười, rung đùi đầy hứng khởi: “Ô, không nhớ hết đâu.

Mình xấu trai, các cô gái ít cô thích.

Nhưng nếu vợ người ta thích thì mình cũng “coong trình” luôn”.

“Lỡ chồng họ bắt được?”.

“Thì mình bị nộp phạt hai con gà và một chai rượu, rẻ thôi mà”.

Ông cười khoái trá rồi lại kể tiếp: “Vợ mình chắc nó cũng đi “coong trình” với nhiều đàn ông khác lắm nhưng mình không biết thì chịu, không được bắt phạt gà, rượu.

Còn nếu nó có con với người ta thì cũng chả sao, đứa con đó gọi mình là bố chứ có gọi người kia là bố đâu.

Có người không có con còn phải mua con nuôi nữa kia mà.

Người Kinh bảo cá vào ao nhà ta là cá của ta, thì có gì mà phải buồn”.

Chị Triệu Thị Luyến, người hàng xóm của ông Bàn Phúc Châu, được ông mời sang chơi, uống rượu, nghe chuyện “coong trình” thì cứ cười khúc khích.

Khi được hỏi ba đứa con của chị Luyến có mấy đứa là con của chồng?

Chị Luyến cười, không biết nói thật hay dối: “Cả ba đứa đều là con của chồng em”…

Chị Đặng Thị Tâm, phó chủ tịch xã, cười ý nhị, bảo: “Ba đứa con của Luyến đều gọi chồng của nó bằng bố đấy.

Còn em là người bên xã Tân Lĩnh, lúc còn con gái cũng hay “coong trình” nên gặp được chồng em rồi về làm dâu bên xã này”.

4 – Tục “kéo vợ” của người Dao Đỏ .

Trời Tây Bắc vào xuân, thiên nhiên giao hòa, cây cối nảy lộc, cũng là lúc những chàng trai Dao Đỏ hòa vào điệp khúc mùa xuân – điệp khúc của tình yêu– đang tràn ngập trên khắp núi đồi với tục lệ riêng của người Dao Đỏ: “Kéo người mình thương về… làm vợ!”.

Từ những ngày giáp Tết đến hết tháng Giêng, khi nhà nào thóc cũng đã đầy bồ, thịt đã treo kín trên ránh bếp, người người được nghỉ ngơi chuẩn bị cho vụ mùa năm tới thì cũng là lúc trai gái đến tuổi trưởng thành hướng theo tiếng gọi của tình yêu đôi lứa, lo chuyện xây dựng mái ấm gia đình.

Nếu các dân tộc thiểu số khác thuộc vùng Tây Bắc có tục “ngủ thăm”, “chọc sàn”, “bắt vợ” v.v…

để chàng trai có thể lấy được người con gái mà mình yêu về làm vợ thì dân tộc Dao Đỏ có tục kéo vợ.

Truyện kể rằng, ngày xưa có một chàng trai nhà nghèo đem lòng say mê một cô gái xinh đẹp con nhà giàu.

Không đủ bạc trắng, không có trâu, dê để cưới hỏi cô, chàng chỉ biết thầm thương trộm nhớ, còn cô gái thì hoàn toàn không đoái hoài gì tới chàng.

Thế rồi một ngày kia, tấm chân tình của chàng đã thấu tới thần, Phật và đấng linh thiêng.

Thần đã báo mộng cho chàng rằng hãy làm sao bắt cóc được cô gái về, nhân duyên sẽ thành.

Chàng làm theo và đã bắt được người mình yêu về giữ trong nhà mình.

Tính tình ương ngạnh của cô gái đã được tình cảm chân thành của chàng cảm hóa, họ yêu nhau, sống với nhau, sinh con đẻ cái và sống đến trọn đời.

Chuyện xưa thể hiện ước mơ của những người nghèo túng không có khả năng trả nổi tiền cưới để lấy được người mình yêu.

Tính “hợp lý” của câu chuyện đã có từ xa xưa và được thể hiện đầy đủ trong cuộc sống của thanh niên dân tộc Dao Đỏ cho đến ngày nay.

Giữa lưng chừng những vách đá còn phủ sương sớm, các chàng trai, cô gái người Dao Đỏ dường như đã hẹn hò từ trước, ngồi bên nhau, trao nhau những lời nói yêu đương, tình tứ.

Chờ đến chiều, dường như đã hiểu nhau hơn, chàng trai cùng với bè bạn của mình bắt đầu “kéo” người mình yêu về làm vợ.

Theo giải thích của người Dao Đỏ, không phải cứ thấy cô gái nào xinh xắn, giỏi giang là kéo về nhà mình làm vợ.

Thật ra, trước khi “kéo vợ”, đôi nam nữ đã tìm hiểu nhau rất kỹ, rồi ưng nhau.

Kéo vợ chỉ là phong tục “bắt buộc phải có” để người con gái chính thức bước chân về nhà chồng.

Sau khi bị “kéo” về nhà chàng trai, cô gái được giữ ở trong nhà 3 ngày và vẫn sinh hoạt bình thường, được cha mẹ chàng trai xem như con cái trong nhà.

Sau 3 ngày, nếu ưng thuận, cô gái Dao Đỏ sẽ cắt bớt tóc và trở thành người vợ chính thức trong gia đình, chờ đến khi nào kinh tế khá giả họ mới tổ chức đám cưới, còn nếu không ưng thì lại trở về nhà mình.

Chính vì thế, phong tục “kéo vợ” có tính hợp lý trong sinh hoạt của người Dao Đỏ.

5 – Tục “cạy cửa ngủ thăm” của người Dao Tiền .

Dao Đỏ là người Dao mà phụ nữ thường đội khăn hay mũ đỏ, mặc áo màu xanh đen có các nẹp cũng màu đỏ.

Y phục của phụ nữ Dao Đỏ đẹp nhất trong các dân tộc thiểu số trên vùng thượng du Bắc Việt.

Còn Dao Tiền là người Dao mà phụ nữ thường đeo vòng cổ hay vòng tay chân có các đồng tiền bằng đồng hay bằng bạc, khi cử động chúng kêu leng keng thánh thót rất hay.

Trên đất nước Việt Nam có 54 sắc tộc (thường gọi là “dân tộc”) cùng chung sống.

Mỗi dân tộc có những phong tục, tập quán mang nét độc đáo, rất riêng.

Các bạn đã từng nghe nói đến Lễ bỏ mả ở Tây Nguyên, Chợ tình ở Khâu Vai – Hà Giang v.v…, chúng tôi muốn giới thiệu một phong tục đặc biệt của người Dao Tiền ở vùng Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: tục “cạy cửa ngủ thăm”.

Bản Cỏi thuộc xã Xuân Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, nằm dựa lưng vào núi.

Một bên giáp huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình, phía bên kia giáp với huyện Phù Yên của tỉnh Sơn La.

Bản Cỏi được bao quanh bởi suối và các núi non hùng vĩ.

Nơi đây tập trung các dân tộc Dao, Mường… sinh sống.

Cả bản có 66 hộ dân với 350 nhân khẩu.

Theo sự giải thích của người dân nơi đây, “ngủ thăm” có nghĩa là con trai, con gái đến tuổi trưởng thành đều có thể “cạy cửa ngủ” để thăm nhà nhau.

Tuy nhiên, theo phong tục và quy định riêng của người Dao và người Mường từ bao đời nay, chỉ con trai người Mường mới được lấy vợ người Dao, còn con trai người Dao không được lấy gái Mường.

Các cô gái đến tuổi trưởng thành, ban ngày đi làm công việc đồng áng, tối đến thắp một ngọn đèn, buông mùng sớm và nằm trong đó.

Các chàng trai có nhu cầu tìm hiểu người con gái mình sẽ lấy làm vợ, có thể tìm đến thăm nhà cô gái.

Nếu thấy đèn trong buồng cô gái còn sáng, nghĩa là chưa có ai đến ngủ thăm, chàng trai phải tự cạy cửa để vào trong nhà, nằm xuống bên cạnh cô gái, cô này sẽ tắt hoặc vặn nhỏ ngọn đèn.

Hai người chỉ trò chuyện, tâm sự mà không được đụng chạm vào người nhau.

Sau một thời gian tìm hiểu, cô gái có quyền quyết định xem có nên cho chàng trai đó “ngủ thật” hay không.

Nhưng trước khi đi tới “ngủ thật”, hai người phải thưa với bố mẹ để bố mẹ coi có hợp tuổi với nhau không.

Nếu hợp tuổi, gia đình sẽ cho phép đôi bạn trẻ “ngủ thật” với nhau.

Sau khi thời gian “ngủ thật” bắt đầu cũng là lúc chàng trai phải đến làm công cho gia đình cô gái.

Cứ ngày đi làm cùng gia đình, tối về ngủ với cô gái mình có ý định tìm hiểu.

Trong thời gian này, chàng trai không được về nhà mình, muốn về phải được gia đình cô gái cho phép.

Nếu cô gái không thích chàng trai nữa thì cô ta sẽ gói quần áo cùng với một gói cơm nắm cho vào cái địu và bảo chàng trai: “Anh cứ về thôi!”, như thế có nghĩa là cô gái đã từ chối.

Hoặc cũng có khi, cô gái bảo: “Hôm qua, em nằm mơ thấy không thể chung sống với anh được”, đó cũng là một cách từ chối nhẹ nhàng.

Nếu bạn là người Kinh, bạn vẫn có thể đến “ngủ thăm” ở nhà bất cứ một cô gái nào bạn thích, miễn là cô gái ấy chưa có ai đang “ngủ thăm” đêm hôm đó hoặc đã có người “ngủ thật”; và phải nhớ là bạn không được làm một điều gì…

“thiếu trong sạch” khi muốn thử cái phong tục rất độc đáo này.

Cũng có trường hợp cô gái để cho hai chàng trai đến “ngủ thăm” ở hai bên cạnh mình.

Phong tục của họ cho phép như vậy.

Trong trường hợp này, cả hai chàng trai cùng chuyện trò, tâm sự với cô gái, ai nói giỏi hơn thì người đó thắng.

Cho đến thời điểm này, các hãng du lịch vẫn chưa có các tour đưa du khách đến Bản Cỏi.

Tuy nhiên, càng ngày càng có nhiều du khách tự động thuê xe đến đây để khám phá thiên nhiên hoang sơ và những phong tục tập quán kỳ lạ… có một không hai này!

Để đến được Bản Cỏi, người ta có thể mua vé xe tuyến Hà Nội – Phú Thọ ở bến xe Kim Mã Hà Nội, xuống xe tại thị trấn của huyện Thanh Sơn.

Ở chợ của thị trấn Thanh Sơn có rất nhiều mặt hàng của đồng bào các dân tộc quanh vùng mang đến bán hoặc trao đổi hàng hóa như: thổ cẩm, đồ lưu niệm, hàng tiêu dùng, đặc biệt là các loại thuốc Nam.

Trung tâm thị trấn cũng có nhiều điểm vui chơi với giá cả rất rẻ và người dân ở đây hết sức thật thà, mến khách.

Từ thị trấn Thanh Sơn người ta có thể thuê xe ôm đến Bản Cỏi …Cánh xe ôm ở đây tay lái rất vững, khách có thể yên tâm dù cho quãng đường đồi núi gập ghềnh.

Tuy Bản Cỏi chưa có khách sạn và nhà nghỉ nhưng khách có thể đến gõ cửa bất cứ một ngôi nhà nào, bảo đảm không phải trả tiền mà còn được chủ nhà coi như thượng khách.

6 – Tục đi “mò đêm” nhà sơn nữ người Thái .

Trong chuyến công tác ở tỉnh Sơn La, sau khi tôi đã xong công việc thì cũng là lúc trời bắt đầu xẩm tối.

Bởi vậy tôi đành đến xin ngủ nhờ tại nhà của một người dân trong bản.

May mắn là dân chúng trong làng Pưa Lai này đều là những người tốt bụng, hiếu khách.

Thế nên, tôi được ngủ nhờ ở nhà anh Đinh Văn Thắng và chị Lường Thị Giang, họ là đôi vợ chồng trẻ mới cưới nhau chưa đầy hai năm.

Bữa cơm thết đãi khách có thịt trâu và rượu ngô thơm nồng, đối với tôi quả thật là ăn mày vớ được xôi gấc, vì sau một ngày lăn lội đường đồi, đường núi, lại chẳng có quán xá nào để tạt vào ăn lót dạ, đến giờ đã sắp đói lả, ấy vậy mà vợ chồng anh Thắng vẫn ái ngại, sợ bữa ăn đạm bạc quá .

Ngồi nhâm nhi chén rượu ngô, tôi hỏi anh Thắng vùng này có phong tục gì đặc biệt.

Anh Thắng cười, hỏi lại: “Anh đã nghe nói tới tục “đi mò” chưa?”

Thật tình là khi nghe anh Thắng nói thế, tôi ngỡ anh nói mò ốc, mò cua gì đó.

Có lẽ đoán được sự hiểu lầm của tôi, anh cười, bảo: “Đấy là một tập tục đã có từ lâu đời của người Thái Đen ở bản này.

“Đi mò” là một kiểu tìm kiếm bạn tình, cũng giống như người Thái Trắng có tập tục “chọc sàn”, người Dao có tục “cạy cửa ngủ thăm”, người Mông có tục “đánh mông” chắc anh đã nghe qua…”.

Chú thích: người Thái còn gọi là người Tày.

Thái Đen hay Tày Khao: chuyên mặc đồ đen.

Thái Trắng hay Tày Đăm: chuyên mặc đồ trắng.

Họ chiếm tới 55% dân số tỉnh Sơn La và có liên hệ về chủng tộc với người Thái Lan.

Anh cho biết, con trai ở bản Pưa Lai này cứ đến khoảng 15-16 tuổi là bắt đầu biết “đi mò” rồi, đứa nào không chịu khó đi mò thì chỉ có nước ế vợ.

Họ có thể “đi mò” theo kiểu đánh lẻ hoặc từng nhóm.

Nếu đi theo nhóm thì cứ việc đàng hoàng đến nhà cô gái mà mình ưa thích rồi gõ cửa, bố mẹ cô gái sẽ ra mở, mời vào nhà uống nước và trò chuyện.

Vì “đi mò” là một phong tục nên dù có đến muộn bố mẹ cô gái cũng chẳng cảm thấy phiền hà.

Sau khi đã chuyện trò, rào đón với “phụ huynh” dăm ba câu, đợi họ đi ngủ, cả nhóm sẽ kéo nhau về, để lại một anh chàng có tình ý với cô gái để hai người bắt đầu giai đoạn “tìm hiểu”.

Đối với những chàng trai thích “một mình xung trận” thì phải hẹn với cô gái trước.

Đợi khi cả nhà đã đi ngủ, chàng trai đến gõ nhẹ vào cửa hoặc vào vách nơi cô gái ngủ làm hiệu, cô gái sẽ biết ý ra mở để chàng trai vào.

Ngược lại, đã thích một cô nào đấy nhưng nếu không hẹn trước, tối khuya chàng trai cứ tìm đến, lẳng lặng dùng dao lách vào khe cửa, bẩy cái chốt lên để vào nhà, đến buồng cô gái.

May mắn được đồng ý, cô gái sẽ im lặng và cho vào giường.

Có khi không được sự đồng ý, chàng trai vẫn cố ý chui vào giường để “tìm hiểu” rất dễ bị cô gái hô hoán cho bố mẹ đuổi về.

Tuy nhiên, ở bản này chưa bao giờ xảy ra chuyện trai bản bị “muối mặt” như vậy.

Những chàng trai khi đã tìm được đối tượng để gửi gắm tình cảm, sau những lần “đi mò” rồi được cô gái ưng thuận cho ngủ lại thì sau đó sẽ về thưa chuyện và nhờ bố mẹ đến hỏi cưới.

Tuy nhiên, trước khi lấy vợ, chàng trai phải đến nhà cô gái làm giúp một thời gian, nhanh thì ba tháng, chậm thì một năm.

Trong lễ cưới, nhà trai phải là người lo hết mọi chi phí của đám cưới, từ của hồi môn cho đến việc cỗ bàn thết đãi khách bên nhà gái.

Kể xong anh Thắng nhìn sang vợ, chị Lường Thị Giang, và cười khì khì: “Nói đâu xa, cách đây hai năm tối nào tôi cũng cùng đám thanh niên đi mò đêm suốt ở cái bản Pưa Lai này, thậm chí là sang cả bản bên cạnh nữa.

Cuối cùng là “mò” được cô ấy đấy”.

Thấy tôi háo hức muốn đi cho biết, anh Thắng giục vợ dẹp bát đũa, cùng tôi ra ngồi uống nước trà rồi bảo: “Cứ uống nước xong đi là vừa.

Tí nữa mình gọi mấy thằng em ở bản, tối nào chúng nó cũng đi, cho cậu đi cùng luôn thể”.

7- Tôi đi “mò”.

Tối hôm ấy, người em họ của anh Thắng tên là A Lý khoảng chừng 16 tuổi vỏ́i mấy đứa bạn của nó cùng tuổi đó đến dẫn tôi đi trong tiết trỏ̀i mùa đông lạnh giá.

Đang đi, A Lý khẽ bảo tôi: “Tụi em dẫn anh vào nhà con bé tên Luyến xinh lắm.

Nó là “hoa chưa có chủ” vì mới cỡ 16 tuổi, đẹp nhất bản.

Anh xem nếu nó đồng ý thì tụi em để lại anh ở đấy, tụi em có chỗ khác.

Nó mới lớn, tán nó hơi khó, tụi em không thích”.

Căn nhà sàn của gia đình cô gái tên Luyến vẫn còn sáng ánh đèn, bố mẹ cô chưa đi ngủ.

A Lý khẽ gõ lên cửa, một lát thì cánh cửa mở, cả bọn kéo tôi vào.

Chúng tôi ngồi uống trà với bố mẹ của Luyến, còn cô thì ngồi e ấp trên giường của mình ở góc nhà sàn.

Thấy tôi lạ mặt, bố của Luyến hỏi chuyện.

Tôi không dám nói thật mình là người Kinh ở dưới xuôi lên mà trả lời rằng là bà con của anh Thắng, hôm nay đến đây được mấy cậu em dẫn đi chơi.

Sau vài ba câu chuyện, bố mẹ Luyến biết ý, đi nghỉ và bảo chúng tôi cứ ngồi chơi.

Tôi đang e ngại vì chưa hiểu tình thế ra sao, không biết nên về hay nên ở thì A Lý rủ rỉ vào tai tôi: “Con bé Luyến có vẻ “kết” anh rồi đấy.

Từ nãy đến giờ nó cứ nhìn anh chằm chặp”.

Nghe vậy, tôi để ý thì thấy đôi mắt tròn xoe, đen lay láy của Luyến đang nhìn tôi với gò má ửng hồng, không hiểu vì thời tiết lạnh hay vì bản năng riêng của con gái người dân tộc.

Thấy tôi nhìn, cô bé mỉm cười quay đi.

Thấy vậy, cả bọn cười, vỗ nhẹ vào vai tôi ra chiều chúc mừng rồi kéo nhau đi.

A Lý bảo tôi: “Tụi em cũng loăng quăng ở gần đây thôi.

Nếu có gì không ổn, anh muốn về sớm thì cứ ra bên ngoài, ho lên mấy tiếng là em biết, sẽ dẫn anh về”.

Đâm lao thì phải theo lao, đợi Lý đi xong, tôi mạnh dạn đến bên chiếc giường lót rơm làm nệm của Luyến, ngồi xuống cạnh giường.

Bất ngờ, Luyến thả mùng xuống, cài chung quanh rồi kéo tôi vào trong mùng, ôm chầm lấy tôi, áp mặt vào ngực tôi và cười khúc khích: “Hồi chiều em đã gặp anh rồi”.

Hỏi ra mới biết, lúc chiều tôi đi loanh quanh trong bản chụp hình, thấy một đám sơn nữ đang địu ngô trên lưng từ đằng xa đi tới, tôi giơ máy ảnh ra chụp vài bức, té ra trong đám có Luyến mà tôi không biết.

Cũng nhờ “quen trước” như vậy nên tôi với Luyến nằm bên cạnh nhau, chuyện trò với nhau cởi mở hơn.

Tôi thành thật kể cho Luyến nghe rằng mình là người Kinh ở dưới xuôi lên, Luyến cười: “Em biết rồi.

Anh là nhà báo”.

Tôi rất ngạc nhiên: “Sao em biết?”.

“Tại vì anh có máy ảnh to loại chuyên nghiệp.

Với lại nhà báo thì anh mới đi một mình chứ nếu là khách du lịch họ đi cả đoàn”.

“Thế anh là người lạ, em không sợ à?”.

“Không.

Tối nào các trai bản cũng đến nhà em, có vài người quen mặt nhưng cũng có người lạ mặt, em không sợ đâu.

Với lại con gái thì phải để người ta đến mới lấy được chồng, tục lệ ở đây là như vậy”.

Câu nói của Luyến khiến tôi cảm thấy thương cảm.

Tôi biết rõ nàng có tình cảm vỏ́i tôi .Các cô sơn nữ thường thích những chàng trai Kinh.

Cũng có người đã ở lại đây, ăn đời ở kiếp với nhau, sống cuộc sống bình dị có thể coi là hạnh phúc.

Nhưng tôi thì không, tôi sẽ phải trở về Hà Nội.

Người ta bảo “ngủ thăm”, “mò đêm”, hoặc “chọc sàn” thì không được phép làm điều gì không trong sạch trước khi cô gái đồng ý và sẽ phải tính đến chuyện lâu dài.

Riêng tôi thì khác, tôi là chàng trai người Kinh, tôi biết nếu tôi tiến tới, cô bé sẽ phá bỏ tục lệ, sẵn sàng chấp nhận nhưng tôi không thể làm như thế được…

Đợi cho Luyến ngủ yên, tôi rón rén trở dậy, cố gắng không gây tiếng động kẻo làm Luyến thức giấc.

Trước khi chui ra khỏi mùng, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn nhỏ đặt trên chiếc giá ở giữa nhà, tôi thấy gương mặt cô bé trông thật hiền dịu và thật dễ thương, đôi môi hé mở trong giấc ngủ như một đóa hoa rừng.

Tôi đặt nhẹ lên má nàng một chiếc hôn từ biệt.

Chợt, tôi giật mình: trên hai gò má nàng có hai dòng nước mắt chảy dài nhưng Luyến vẫn giả bộ ngủ.

Các cô sơn nữ là như thế, rất quý trai Kinh nhưng cũng hiểu khó có chuyện lâu dài nên đành im lặng chia tay…

Váy mặc là loại váy hở được dệt hoa văn với những phong cách bố cục đa dạng.

Về cuối năm, mùa lạnh thì họ choàng thêm tấm mền cũ.

Trang phục khi đi hội của người dân thường được trang trí hoa văn nhiều màu sắc cả nam, nữ đều đeo vòng bạc.

Giản đơn trong cách ăn mặc nên cũng thuận tiện khi xong buổi làm việc trên rẫy, trên rừng: các thiếu nữ bản làng cứ thoăn thoắt bước xuống suối nô đùa với dòng nước mát mà không cần cởi bỏ thứ gì ngoại trừ nếu muốn không ướt váy.

Nếu muốn giặt váy áo thì sơn nữ sẽ cởi bỏ nó ra giặt giũ luôn ra, bỏi lội trong dòng nước tinh khiết và mát lạnh giữa rừng núi Tây nguyên.

Sự phát triển đã đánh đổi phần nào bản sắc dân tộc vùng cao, vùng xa… và những cái mất đi dần dần sau này sẽ chỉ còn tồn tại trong ký ức, trong những tấm ảnh còn lủu lại bây giỏ̀.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG GIA ĐÌNH


Quá trình truyền bá phật giáo vào Việt Nam

Phật giáo truyền vào nước ta từ rất sớm.

Đạo phật truyền sang nước ta do các thương nhân và tu sĩ Ấn Độ, bằng đường thủy họ đã mang văn hóa phật giáo đến Miến Điện, Thái Lan rồi đến Việt Nam.

Trong chuyến đi xa đó họ đã đặt bàn thờ đức Bồ Tác Quán Thế Âm và Đức Phật Nhiên Đăng (Dipankara), là những vị che chở cho thủy thủ đoàn được an lành ngoài biển khơi.

Cũng trong chuyến đi này, nhằm mục đích cầu nguyện và cúng dường, thương nhân Ấn Độ thỉnh theo thương thuyền một số vị tu sĩ.

Ở những địa phương nào mà thương nhân ghé lại thì nơi thờ tự cũng được họ thiết lập để nguyện cầu sự bình an may mắn.

Từ đó, tư tưởng Phật giáo được gieo mầm trong nhân dân các địa phương.

Đến thế kỉ VI, ảnh hưởng của các nhà truyền giáo Ấn Độ dần dần giảm sút, trong khi đó, các nhà truyền giáo Trung Quốc, sau khi Phật giáo từ phương Bắc phát triển xuống lãnh thổ Trung Hoa đã dội ngược lại trở xuống đất nước ta.

Đáng chú ý là sự du nhập của các phái Thiền phái từ Trung Quốc.

Do thâm nhập một cách hòa bình nên ở thời Bắc thuộc , Phật giáo đã phổ biến sâu rộng trên đất nước ta.

Lúc bấy giờ ý thức đạo pháp và dân tộc đã thống nhất với nhau trong lòng những người con phật.

Quá trình hình thành 4 thiền phái phật giáo ở Việt Nam

Phật giáo truyền vào nước ta đầu tiên bằng các tín ngưỡng sơ khai như: thờ phật, đốt trầm, tụng kinh,chữa bệnh, trì tà, cúng dường, bố thí cho dân bản điạ…dần dần nhân dân ta được tiếp thu và tin theo các tin ngưỡng đó.

Và sau này khi các thiền phái du nhập vào thì phật giáo Việt Nam mới phát triển hơn.

- Thiền phái đầu tiên của nước ta là thiền phái Tinidaluuchi do thiền sư người Ấn Độ lập nên vào năm 580 tại chùa Pháp Vân (Bắc Ninh), truyền được 19 thế hệ.

Thiền sư Tinidaluuchi tới Việt Nam vào thời kì nước ta đang có một nền độc lập vào thời vua Lý Phật Tử, nhưng sau này vua Tùy Văn Đế dời nhà Tùy, thống nhất lãnh thổ Trung Hoa nên đêm quân sang đánh, Lý Phật Tử thua nên nước ta bị đăt dưới sự đô hộ của Trung Hoa.

Sau thời nhà Tùy là thời nhà Đường đô hộ nước ta không cho mở mang dân trí.

Giới trí thức bị đàn áp.

Vì vậy cho nên các chùa trở thành các trung tâm văn hóa, và những người giỏi nhất ở trong nước là các thầy.

Giới trí thức lãnh đạo trong nước là các thầy.

Nếu trong nhân gian không có trường học thì các thầy mở trường dạy học.

Nói là dạy phật pháp nhưng thực chất là dạy văn hóa, dạy chữ nghĩa.

Nếu trong nhân gian không có bệnh xá thì, thầy thuốc, thì các thầy học thuốc và trị bệnh cho nhân gian.

Thành ra chùa chiền vừa là trường học, vừa là nhà thương.

Nhà thương ở đây hiểu theo nghĩa là thương yêu đùm bọc.

- Thiền phái thứ hai do thiền sư Trung Quốc Vô Ngôn Thông người Quảng Châu lập nên năm 820 tại chùa Kiến Sơ (Bắc Ninh), truyền được 17 đời.

- Vào thời nhà Lý có nhà sư Thảo Đường người Trung Quốc vốn là tù binh bi bắt tại Chiêm Thành, được vua Lý Thánh Tông giải phóng và cho mở đạo trường tại chùa Khai Quốc, lập nên dòng thiền thứ 3, truyền được 6 đời.

Do thiền phái này theo thiên hướng tri thức và văn chương nên ít có chổ đứng trong lòng nhân dân.

Đến thời kì nhà Trần.

Thấy được việc thống nhất giang sơn về một mối để dể dàng trong việc cai trị và xây dựng đất nước vua Trần Thái Tông đã thống nhất các thiền phái trước kia để cho ra đời một thiền phái duy nhất, đó là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Việc ra đời của thiền phái Trúc Lâm có ý nghĩa rất lớn, phạt giáo trong giai đoạn này được xem như là tư tưởng của đất nước nên việc thống nhất các thiền phái lại với nhau là cần thiết.

Nó đáp ứng nhu cầu của lịch sử dân tộc ta, cần phải có một tư tưởng riêng biệt của Đại Viêt.

Tiếp đến là vai trò của Trần Nhân Tông, ông có vai trò rất lớn, ông là người khai sáng thiền phái Trúc Lâm.

Thiền phái Trúc Lâm ra đời mang màu sắc rất riêng cho phật giáo Việt Nam, Thiền phái Trúc Lâm cho rằng “ bất cứ ai cũng có thể trở thành Phật ngay giữa cuộc đời trần thế này, không phân biệt tại gia hay xuất gia, không phân chia đại ẩn hay tiểu ẩn, tùy vào thành phần xã hội, tuỳ khả năng mà thể hiện đời sống của mình ở giữa đời”.

Điều này thể hiện sự phát triển cực thịnh của phật giáo ở đất nước ta, phật giáo trong thời kì này được xem như là quốc giáo.

Vai trò của phật giáo đối với gia đình, dòng họ, làng xã Việt Nam cổ truyền.

Từ xa xưa phật giáo đã có vai trò rất lớn trong gia đình, dòng họ, làng xã Việt Nam.

Điều đó thể hiện qua nếp sống, nếp sinh hoạt hằng ngày của người dân từ vật chất đến tinh thần,.

Văn hóa phật giáo dần dần in đậm trong tâm thức người Việt.

Nếu như trong gia đình, dòng họ, làng xã Việt Nam ta có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thì phật quan âm trong tâm thức dân gian người Việt cổ cũng được xem như là tổ tiên.

Nếu như thần linh được xem là những người phù hộ độ trì cho nhân dân ta từ xa xưa thì phật cũng được họ xem như là thần linh.

Điều này cho thấy phật đóng vai trò quan trọng trong tâm linh người Việt cổ truyền.

Phật không phải là một thứ gì đó rất xa lạ.

Thứ nhất Phật giáo đến với nước ta trong bối cảnh đất nước bị ngoại xâm phương bắc đô hộ, và trong làng xã Việt Nam ta lúc này chịu sự ảnh hưởng rất lớn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần.

Phật giáo đến mang đến cho họ sự giải thoát.

Dưới sự cai trị khắc nghiệt của phương Bắc đời sống nhân dân ta rất cơ cực, chính vì vậy phật giáo là chổ dựa tinh thần cho họ.

Thực chất của đạo phật muốn hướng đến là giải thoát con người khỏi nỗi khổ.

Tư tưởng của đạo phật là không phân biệt đẳng cấp, tầng lớp thống trị, ai cũng có quyền lợi như ai.

Chính vì điều đó nó đã giúp cho con người trong xã hội lúc bấy giờ tin vào cuộc sống, giúp con người biết đấu tranh để dành lại quyền lợi của mình trước các thế lực ngoại xâm.

Thứ hai Vai trò của phật giáo thể hiện thông qua nếp sống nếp sinh hoạt hằng ngày của người dân, thể hiện qua cách sống, cách đối nhân xử thế giữa người với người trong làng xã.

Nó hướng cho người dân sống với nhau bằng tình bằng nghĩa, sống thánh thiện hơn, tránh làm điều ác.

Phật giáo len lõi vào đời sống thường nhật của bộ mặt làng xã.

Giúp con người có niềm tin vào cuộc sống, con người tin rằng “ở hiền thì sẽ gặp lành”, sống tốt thì phật sẽ phù hộ độ trì.

Thứ ba Vai trò của phụ nữ được nâng lên trong xã hội.

Đối với tư tưởng Nho giáo thì quyền lợi của người phụ nữ ở làng xã không có.

Điển hình như ở Đình làng, người phụ nữ không được phép đặt chân đến, không được phép tham gia bất kì hoạt động nào của làng.

Còn đối với ngôi chùa làng thì đây là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của mọi người, phụ nữ được tham gia và hầu như là đóng vai trò rất quan trọng tại đây.

Chỉ có ở chùa thì họ mới có tiếng nói, có được sự giải thoát về tình thần.

Thứ tư Trước kia chùa làng không những là nơi để người dân thờ phật, mà nó còn là nơi chữa bệnh, dạy học cho người dân…Các thầy ngày xưa học theo phật không những truyền dạy phật pháp cho người dân mà họ còn dạy văn hóa, họ chữa bệnh cho những người trong làng, dần dần nó hình thành nên mối liên hệ rất gần gũi giữa đời sống nhân dân với phật giáo.

Và chùa làng trở thành nơi sinh hoạt văn hóa của người dân trong làng.

Thứ năm Con người ai ai cũng luôn mong muốn được bình yên, sức khỏe, mọi điều tốt đẹp sẽ đến với họ và họ tìm đến đạo phật tìm đến chùa để cầu may mắn cho mình, cầu duyên phận, cầu đảo, cầu siêu…và cái hình thái này nó dần dần phát triển và thể hiện qua hình thức mà ngày nay vẫn còn đó là người ta thường cúng cầu siêu cho linh hồn người đã khuất được siêu thoát, hoặc là khi gặp chuyện xui xẻo thì người ta thường tổ chức cúng cầu đảo để mong cho tai qua nạn khỏi.

Khi người dân cần thì đạo phật lại đáp ứng cái nhu cầu đó, các nhà sư sẽ tham gia cúng cho người dân.

Thứ sáu Trong mỗi gia đình, dòng họ thì đạo phật đóng vai trò rất quan trọng trong nó thể hiên qua cách sống, cách đối xủ của các thành viên trong gia đình.

Nhân dân ta có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và khi đạo phật đến nó đã dung hòa với tín ngưỡng đó.

Phật giáo dạy cho con người phải biết nhớ đến cội nguồn, nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục.

Đạo làm con là phải hiếu thảo với cha mẹ…Vì vậy ông bà ta thường dựa vào đạo lý đó để dạy dỗ con cái.(chính vì vậy mà trong dân gian có câu “tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ như là chân tu” ).

Và cách giáo duc của đạo phật mang tính hiền hòa dễ tiếp nhận không giống như cách dạy dỗ trong nho giáo, người cha mang tính cách gia trưởng và áp đặt con cái theo một khuôn khổ nhất định.

Thứ bảy Phật giáo mang lại tính cố kết cộng đồng rất lớn cho đời sống làng xã Việt Nam cổ truyền.

Tính chất của phật giáo là từ bi, bát ái,..nó rất dể tiếp thu, ai cũng có thể đến với phật giáo.

Vì vậy dần dần nó đã gắn kết con người lại với nhau.

Tạo tinh thần rất lớn để phục vụ cho đời sống sản xuất ra vật chất, và to lớn hơn là chống giặc ngoại xâm, chỉ có tinh thần đoàn kết thì con người mới làm được.

Phật giáo Việt Nam trong gia đình, dòng họ, làng xã Việt Nam cổ truyền phát triển rất mạnh trãi qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử, từ giai đoạn manh nha du nhập, đến thời kì cực thịnh ở thời nhà Lý nhà Trần.

Đến giai đoạn thời Lê sơ, nho giáo được tôn sùng và đạo phật không được coi trọng, tuy nhiên trong làng xã Việt Nam thì nó vẫn phát triển rất mạnh mẽ, bởi lẽ cơ sở vững vàng của phật giáo là làng xã.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN


Như chúng ta đã biết, dân tộc Việt Nam ta có một nền văn hóa rất phong phú và đa dạng trên mọi mặt đời sống tinh thần của người Việt cùng với cộng đồng 54 dân tộc anh em vẫn đang ngày ngày gìn giữ những nét văn hóa tốt đẹp từ lâu đời.

Như các dân tộc khác trên thế giới, từ thuở xa xưa dân tộc Việt Nam đã thờ rất nhiều thần linh.

Họ thờ tất cả các thế lực vô hình và hữu hình mà thực chất là các hiện tượng thiên nhiên và xã hội mà họ chưa thể giải thích được vào thời đó.

Từ đó hình thành nên tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam.

Trong các loại tín ngưỡng thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một hình thức tín ngưỡng cơ bản và phổ biến của người Việt, bất kể họ ở đồng bằng hay miền

núi, nông thôn hay thành thị, người giàu hay người nghèo…

Nguyễn Đình Chiểu có câu:

Thà đui mà giữ đạo nhà Còn hơn sáng mắt cha ông không thờ.

Vượt lên trên cả khía cạnh tín ngưỡng, tôn giáo, tục thờ cúng tổ tiên thấm đượm đạo lý uống nước nhớ nguồn, một thứ ứng xử cộng đồng gia tộc, quốc gia, nó trở thành một chuẩn mực khuôn mẫu của ứng xử của con người Việt Nam.

Về ngồn gốc và bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đầu tiên là về nguồn gốc:

Thứ nhất : Ở Việt Nam tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên có nguồn gốc từ xa xưa, trước hết phải đề cập đến chế độ phụ quyền.

Khi bước vào chế độ phụ quyền, vai trò của người đàn ông trở nên quan trọng trong họat động kinh tế và sinh họat của gia đình.

Con cái mang họ cha và con trai kế tiếp ý thức về uy quyền trong gia đình của mình.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ đấy.

Thứ hai : Đó là sự ảnh hưởng từ ba dòng tôn giáo chính ở Việt Nam:

-Nho giáo: Theo như Khổng Tử, sự sống của con người không phải do tạo hóa sinh ra càng không phải do bản thân tự tạo ra mà nhờ cha mẹ, sự sống của cha mẹ lại gắn với ông bà và cứ như vậy thế hệ sau kế tiếp thế hệ trước, vì thế mà thế hệ sau phải biết ơn thế hệ trước.

Từ quan niệm hiếu trong Khổng giáo, người Việt tiếp nhận và thể hiện qua cái bàn thờ tổ tiên.

Trải qua nhiều thế hệ tiếp nối nhau, người Việt đã thể hiện việc hiếu đạo thành một tập tục gọi là thờ cúng tổ tiên.Cùng với tư tưởng tôn quân, quyền huynh thế phụ đã củng cố thêm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nước ta ngày một thể chế hóa.

-Đạo giáo: Nếu như Khổng giáo đặt nền tảng lý luận về đạo đức, về trật tự kỉ cương xã hội cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt thì Đạo giáo góp phần củng cố niềm tin vào sự tồn tại và năng lực siêu nhiên của linh hồn những người đã chết thông qua một số nghi lễ thờ cúng như: gọi hồn, bùa chú, ma chay, tang lễ, mồ mả và đốt vàng mã.

-Phật giáo: Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến sự giữ gìn và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam trước hết là quan niệm của Phật giáo về cái chết, kiếp luân hồi và nghiệp báo.

Những tư tưởng cơ bản của Phật giáo có ảnh hưởng lớn tới tục thờ cúng tổ tiên nhưng không phải là sự sao chép hoàn toàn.

Người Việt Nam quan niệm rằng cha mẹ tổ tiên luôn lo lắng, quan tâm cho con cái ngay cả khi họ đã chết.

Người sống chăm lo đến linh hồn người chết, vong hồn người chết sẽ quan tâm đến sự sống của người đang sống.

Thứ ba: Bắt nguồn từ điều kiện nhận thức và các yếu tố tâm lí khác: Về nhận thức:

Trong nhận thức dân gian, người Việt quan niệm rằng, con người có 2 phần: phần xác và phần hồn.

Hai phần này vừa gắn bó, vừa tách biệt, chúng gắn bó với nhau.

Khi con người còn sống, hồn nhập vào xác điều khiển hành vi của con người.

Khi con người chết, phần hồn rời khỏi xác, thể xác của họ hoà vào cát bụi, phần hồn vần tồn tại và chuyển sang sống ở một thế giới khác.

Về các yếu tố tâm lý khác:

-Sự sợ hãi: Trong cuộc sống con người thường gặp phải những khó khăn, trở ngại, ốm đau, bệnh tật…

Họ thiếu tự tin vào bản thân nên họ cần tới sự giúp đỡ, che chở của các thế lực khác nhau, nhất là từ ông bà tổ tiên từ thế giới bên kia.

Từ quan niệm dân gian về linh hồn, người ta cho rằng, nếu không cúng tế linh hồn ông bà tổ tiên đầy đủ thì những linh hồn này trở thành ma đói và sẽ mang lại rủi ro, quấy nhiễu cuộc sống của những người đang sống.

-Sự kính trọng, biết ơn: Yếu tố tâm lý có vai trò quyết định trong việc duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt đó là sự tôn kính, biết ơn đối với các thế hệ trước, là tình yêu và lòng hiếu thảo của con cháu đối với ông bà cha mẹ.

Bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên :

Về bản chất, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên không phải là một tôn giáo..

Bởi mặc dù nó có những nghi lễ cụ thể nhưng không có những tín điều, giáo lý chặt chẽ mà mỗi nơi có những biến tấu khác nhau từ Bắc vào Nam.

Mục đích cuối cùng của việc thờ cúng Tổ tiên là thể hiện một sự tin kính, thương yêu của người đang sống đối với người đã chết và hy vọng người chết đi sẽ phù hộ, ban phước lành cho người trong gia đình, dòng họ.

Nó mang ý nghĩa tìm về cội nguồn.

Bản chất :

o"Thờ cúng những người trong cùng dòng họ, máu mủ đã khuất, theo từng đơn vị gia đình, gia tộc…

oNó mang tính chất là một hình thái tín ngưỡng, thờ tự, cúng lễ, cầu mong linh hồn ông bà Tổ tiên "phù hộ" cho hiện thực cuộc sống của con cháu.

oNó cộng thêm khía cạnh uống nước nhớ nguồn.

"Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" Chương 3: Nghi lễ thờ cúng tổ tiên bao gồm cách bày trí ban thờ, nghi thức tang lễ và nghi lễ cúng giỗ.

Không gian thờ cúng tổ tiên bao giờ cũng là nơi sạch sẽ và trang trọng nhất của ngôi nhà, đồng thời là nơi cao ráo và phần lớn quay về hướng Nam với hàm ý con cháu tôn vinh bậc hiền tài.

Theo quan niệm của người xưa, bàn thờ là biểu tượng của bầu trời tinh khiết.

Ở hai góc ngoài có hai cây đèn hoặc nến tượng trưng cho mặt trời và mặt trăng.

Bát hương ở giữa biểu hiện cho vì tinh tú.

Đèn hương đóng vai trò rất quan trọng vì đó là cầu nối duy nhất giữa con người và thần linh.

Con người nhờ hương khói để truyền ước vọng của mình lên các đấng thiêng thiêng ở trên trời.Ngoài bàn thờ thông thường còn có bàn thờ vọng, là một loại bàn thờ mà người sống xa quê ít có điều kiện về nhà con trưởng lập nên.

Nghi lễ thờ cúng từ xưa đến nay đều được thực hiện theo một số nguyên tắc nhất định: Khi trong gia đình có người qua đời. lễ tang đươc tổ chức rất trịnh trọng theo những nghi lễ như: Mộc dục ,lễ Phạm hàm, lễ Khâm liệm và Nhập quan, lễ Thiết linh, lễ Thành phục, lễ Phát dẫn, lễ An táng, lễ Tế ngu.

Ngoài ra, còn có lễ Chung thất.

Khi người chết đã được 100 ngày là đến tuần tốt khốc, con cháu làm lễ cúng và cỗ bàn mời họ hàng.

Sau lễ 100 ngày là lễ Cải táng.

Con cháu lấy ngày chết làm ngày giỗ.

Trong tục thờ cúng tổ tiên, người Việt coi trọng việc cúng giỗ vào ngày mất.

Vì họ tin rằng đó là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng.

Không chỉ ngày giỗ, việc cúng tổ tiên còn được thực hiện vào các ngày mùng một, ngày rằm và các dịp lễ tết khác trong năm như: Tết Nguyên Đán, tết Thanh minh,…Những khi trong nhà có việc quan trọng như dựng vợ, gả chồng, sinh con, làm nhà, đi xa, thi cử… người Việt cũng dâng hương làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ hay tạ ơn.

Chương 4: Nghi lễ thờ cúng tổ tiên trong đời sống tinh thần người Việt

Giỗ tổ Hùng Vương :

Dân gian có câu :

Dù ai đi ngược về xuôi,

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.

Việc thờ cúng tổ tiên là điều thiêng liêng nhưng không chỉ diễn ra trong mỗi gia đình, dòng họ của mình…Nó còn là sự biểu hiện của một thứ tình cảm thiêng liêng đối với quốc gia - dân tộc.

Mỗi dân tộc đều có một nguồn gốc, cội rễ của mình.

Lịch sử đã khắc ghi các thế hệ vua Hùng nối tiếp nhau dựng lên nước Văn Lang của người Việt cổ với nền văn minh lúa nước và nền văn minh sông Hồng rực rỡ đã tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc phong phú và độc đáo, đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ và dài lâu của dân tộc Việt Nam.

Vùng đất xưa, nơi các vua Hùng lập nghiệp và nằm xuống trở thành Đất Tổ.

Người Việt Nam chúng ta hôm nay hành hương tìm về Đất Tổ chính là tìm về cội nguồn dân tộc, là thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn.

Tác động:

Qua thời gian, tục thờ cúng tổ tiên đã gắn bó mật thiết đối với mọi người, đồng thời có tác động mạnh mẽ cả về mặt tích cực và tiêu cực trong đời sống tinh thần của người dân Việt.

Về tích cực:

Tục thờ cúng tổ tiên dạy cho con người biết thực hiện chữ hiếu, kính trọng ông bà, tổ tiên dù họ không còn nữa, đồng thời thể hiện tính nhân văn của dân tộc Việt, những người đã khuất không bị lãng quên trong tâm tưởng của những người còn lại, chứng tỏ dân tộc Việt là một dân tộc đặc biệt mang trong máu một thứ tình cảm không thể tìm thấy ở các dân tộc châu Âu.

Tưởng nhớ tới Tổ tiên, người Việt Nam luôn bảo nhau phải sống sao cho xứng đáng với sự kì vọng của Tổ tiên.

Các thế hệ cháu con, sau khi đã công thành danh toại thường trở về “vinh quy bái tổ” trước các vong linh ông bà Tổ tiên.

Người Việt Nam luôn cần cù, sáng tạo trong việc tạo dựng cuộc sống.

Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động cũng được hình thành và khẳng định một phần thông qua ý thức về Tổ tiên, cội nguồn.

Đối với cộng đồng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn là sợi dây liên kết giữa những người sống hiện tại như anh em, bà con làng xóm, giúp mọi người gắn bó với nhau hơn, hun đúc tình yêu quê hương đất nước.

Cuối cùng đó là ý nghĩa duy trì tình thân trong quan hệ thân tộc.Những ngày lễ, ngày tết hoặc ngày kỹ niệm một người thân qua đời, là những dịp để con cháu ở các nơi khác hội tụ lại để gặp gỡ hàn huyên, kết chặt mối thâm tình, đồng thời thăm nom ông bà cha mẹ, nếu như họ còn sống.

Đây là một việc làm thiết thực và cao quý nhất trong việc thể hiện chữ hiếu của một dân tộc giàu tình cảm như người Việt.

Bên cạnh những mặt tích cực, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn bộc lộ nhiều mặt tiêu cực nên bị bài trừ đó là việc: Xem người chết như những vị thần bảo hộ rồi đặt ra những thủ tục rườm rà, đặc mùi mê tín

Tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt là một loại hình tín ngưỡng dân gian đậm tính nhân bản, tuy có mặt tích cực về phương diện đạo đức làm người và là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt, nhưng ngược lại cũng bộc lộ sự mê tín, huyễn hoặc, khi tin rằng tổ tiên đã chết có quyền lực che chở phù hộ cho con cháu.

Tập tục này cũng gây nhiều khó khăn và hao phí tiền của, công sức của con cháu với những nghi thức cúng bái cầu kỳ, rườm rà với đủ thứ hình thức lễ lạc.

Việc cúng giỗ, đôi khi cũng phát sinh thêm những sự việc ngoài ý muốn như: quá chén trong khi ăn uống sinh ra ra cải vã làm mất hòa khí, dẫn đến những hành vi mất tự chủ.

Bên cạnh đó, tập tục này cũng gây nhiều trở ngại, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của người dân Việt, vì ép buộc con cháu phải duy trì và tuân thủ nhiều hủ tục không còn thích hợp trong thời đại công nghệ khoa học hiện đại.Chưa kể việc đốt vàng mã quá nhiều gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Cuộc sống là một sự vận động không ngừng, luôn luôn biến đổi và con người phải thích nghi với sự biến đổi đó.

Ngày nay, việc thờ cúng tổ tiên ngày càng được coi trọng, đáp ứng nhu cầu tâm linh của đại bộ phận người Việt Nam.

Biểu hiện của sự thay đổi này là những thay đổi trong cách thức bài trí bát hương, không gian thờ trong gia đình, bên cạnh đó là sự cá nhân hóa trong việc thờ cúng nghĩa là hình thức cúng giỗ mang tính cộng đồng chung các thành viên trong gia đình được chuyển thành hình thức cúng giỗ cá thể, ngay cả nguyên liệu dùng làm đồ thờ tới mộ phần của ông bà, tổ tiên cũng có nhiều thay đổi.

Lịch sử đã khắc ghi các thế hệ vua Hùng nối tiếp nhau dựng lên nước Văn Lang của người Việt cổ.

Nước Văn Lang với nền văn minh lúa nước và nền văn minh sông Hồng rực rỡ đã tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc phong phú và độc đáo, đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ và dài lâu của dân tộc Việt Nam.

Vùng đất xưa, nơi các vua Hùng lập nghiệp và nằm xuống trở thành Đất Tổ.

Người Việt Nam chúng ta hôm nay hành hương tìm về Đất Tổ chính là tìm về cội nguồn dân tộc, là thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn

Ngay từ buổi đầu dựng nước gian nan, cùng với việc sáng tạo nên những giá trị văn hóa đặc sắc, người dân Việt cũng hình thành được những nét đẹp truyền thống.

Một trong những nét đẹp đó chính là lối sống cộng đồng, là tinh thần đoàn kết.

Cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Việt Nam nói chung đều có quan hệ ruột thịt với nhau, có tình cảm thân thương như người một nhà.

Với ý nghĩa như vậy thì mọi người Việt Nam dù thuộc tộc người nào, dù ở trong nước hay ngoài nước đều có chung một cội nguồn và một ngày Giỗ Tổ.

Tìm về đất Tổ, hướng về ngày Giỗ Tổ Hùng Vương là hướng về tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc – yếu tố tạo nên sức mạnh nội sinh của dân tộc trong suốt cuộc trường chinh dựng nước và giữ nước hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau.

Chương 5: KẾT LUẬN

Trải qua bao thăng trầm trong lịch sử, nền văn hóa Việt đã chứng kiến bao sự đổi thay mạnh mẽ trong quá trình giao lưu và tiếp nhận các nền văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng từ bên ngoài.

Nhưng trong quá trình “ nội sinh hóa các yếu tố ngoại sinh” ấy, người dân Việt Nam vẫn gìn giữ được những nét văn hóa độc đáo, riêng có, điển hình chính là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc.

Có thể nói, thờ cúng tổ tiên là một phong tục truyền thống của dân tộc, dù đó không phải là điều bắt buộc song đó lại là thứ "luật bất thành vǎn" của người Việt tồn tại qua bao thế hệ.

Thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người dân Việt.

Với nội dung bình dị, giàu tính thực tiễn, không cực đoan như nhiều tôn giáo khác nên tục thờ cúng tổ tiên đã trở thành một phong tục, là chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc làm người, mang ý nghĩa lớn về mặt tổ chức cộng đồng trong xã hội truyền thống, củng cố khối đoàn kết cộng đồng.

Thờ cúng tổ tiên, ông bà đã trở thành tín ngưỡng gốc xuyên suốt quá trình lịch sử Việt Nam, nó là sợi dây liên kết để góp phần cột chặt tính thống nhất toàn dân tộc và cũng là cội nguồn của các phong tục, tín ngưỡng khác.

Từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chính là sự kết tinh và phát triển các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

Những giá trị ấy góp phần bồi đắp lòng yêu nước thương nòi, đạo lý uống nước nhớ nguồn, có trước có sau; xây dựng đời sống tinh thần phong phú trong thời đại mới.

Không gì khác, chính từ những giá trị đó đã làm nên sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam trước bao biến cố của lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Đây là điểm khác biệt với một số dân tộc khác ở Đông Á.

Ở Hàn Quốc người ta chỉ lập bàn thờ và dán bài khi có việc cúng giỗ, ở Nhật Bản, vị trí trang trọng nhất trong nhà dành thờ Thần đạo (Shinto) còn ban thờ tổ tiên lại lập ở gian phụ.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
CHỢ LÀNG


1.

Thế nào là chợ làng?

Chợ làng hiểu một cách nôm na, đó là những ngôi chợ nhỏ, đơn sơ ở những làng quê, nó hoàn toàn mang tính tự phát do nhu cầu trao đổi mua bán những sản vật từ một nền kinh tế nông nghiệp tự sản tự tiêu của người nông dân Việt Nam.

Có 2 loại chợ: chợ phiên và chợ hôm

Chợ phiên họp vào những ngày theo một chu kỳ nhất định.

Khi nói chợ họp ngày 3 và ngày 8, có nghĩa phiên chợ họp vào ngày mùng 3, mùng 8, mười ba, mười tám, hai ba, hai tám hàng tháng (theo âm lịch).

Phiên chợ chính bao giờ cũng đông hơn phiên chợ xép (chợ họp không đúng phiên).

Chợ Hôm ngày nào cũng họp.

Người mua, người bán chỉ thưa thớt, trao đổi những mặt hàng thiết yếu hàng ngày.

Chợ thường họp vào buổi sáng hay chiều.

Nếu chợ họp vào buổi chiều thì gọi là chợ chiều.

2.

Thời gian xuất hiện:

Chợ làng xuất hiện ở Việt Nam từ thời nguyên thủy.

Xuất phát từ nhu cầu trao đổi sản phẩm giữa các cư dân trong làng xã và các cư dân làng xã ở các địa phương với nhau mà chợ làng được hình thành.

Ngay từ thời Lý, khu sinh sống chính của người Việt là lưu vực sông ngòi lớn nhỏ và rất tự nhiên.

Cái chợ sẽ nằm tại các ngã 3 nước để thuận tiên cho việc giao dịch trao đổi hàng hóa.

Sử Việt còn ghi dưới thời Thái sư Trần Thủ Độ, Việt Nam có khoảng 100 chợ quê.

Theo cấu trúc làng xã, Việt Nam còn có làng ven đồi và làng ven biển nữa.

Làng ven đồi người dân làm nhà ở phía nam dãy đồi để tránh gió bấc thì cái chợ sẽ nằm ở phía nam cuối đường.

Với làng ven biển, có chợ cá họp sát ngay mép sóng.

Thời Lê sơ hoạt động buôn bán phát triển nên nhà nước cho ban hành thể lệ họp chợ, quyết định quy tắc họp luân phiên chợ theo đó địa điểm

chợ thay đổi xã này sang xã khác trong một cụm liên xã.

Xã nào chưa có chợ thì Nhà nước khuyến khích việc làm chợ.

Đến thế kỉ XVI xuất hiện giao lưu quốc tế nên có cảng thị.

Cảng biển cũng là cái chợ mở ra thông thương với bên ngoài mà thôi.

Sang thế kỉ XIX, văn minh đường cái mở ra, lại thêm cái chợ đường cái họp nơi ngã ba đường như chợ Bần bán tương nổi tiếng.

Chung quy lại, chợ làng Việt Nam là chợ ngã ba và phổ biến nhất, cổ truyền nhất là cái ngã ba nước…

3.

Chợ làng - Đặc trưng văn hóa làng xã:

Nhắc đến văn hóa làng xã người ta không thể không nhắc tới chợ làng.

Quả thật một phần đời sống của những người dân quê được khắc họa qua sự phát triển của chợ làng.

Ngoài ý nghĩa trao đổi buôn bán, chợ làng còn là nơi để thăm hỏi, mời gọi, nói chuyện con trâu, cái cày, chuyện ruộng vườn, đồi núi…

Tất cả cứ ồn ã, xôn xao và đậm đà tình làng, nghĩa xóm.

Bởi thế người xưa đã từng ao ước:

“Muốn cho gần chợ mà chơi

Gần sông tắm mát, gần nơi mà về”

Chợ quê đối với người Việt chúng ta là nơi gói ghém nhiều hình ảnh thân thương, là một nét đặc thù văn hóa dân tộc không thể thiếu ở mỗi làng quê Bắc Bộ, và hình như chỉ có ở Bắc Bộ, đặc biệt là đồng bằng châu thổ sông Hồng mới có, nơi được xem là cái nôi của nền văn minh lúa nước.

a.

Quá trình trao đổi, buôn bán ở chợ làng:

Chợ làng là nơi trao đổi hàng hóa trong làng và các làng khác, chủ yếu là trong nội thị của làng mà thôi.

Đã có những lời đánh giá rằng : "Muốn

biết làng đó giàu hay nghèo, chỉ cần xem qua chợ buôn bán có đông vui tấp nập hay không là đủ biết".

Thế mới biết Chợ Làng quan trọng như thế nào trong đời sống cư dân.

Chỉ cần nhìn vào chợ làng người ta cũng thấy được đời sống kinh tế của người dân trong làng.

Hình thành trên nền kinh tế tự cung, tự cấp, chợ làng chính là mô hình thu nhỏ của một nền kinh tế xưa cũ.

Một phần đời sống của người dân quê được khắc họa và thể hiện qua cái chợ làng, từ tương cà, mắm, muối, đến vải vóc, áo quần, hàng tươi, hàng khô…

đều có mặt đầy đủ với nhiều chủng loại phong phú phục vụ nhu cầu sinh hoạt ngày càng khá giả, thịnh vượng hơn của làng quê.

Vai trò của tiền tệ không giữ vai trò chủ chốt mà ở đây chủ yếu là hàng đổi hàng, vật đổi vật, mua những thứ mình thiếu và bán ra những thứ đã dư thừa.

Chợ làng tồn tại trên cơ sở những cung ứng tự phát của nông dân, nó gắn bó với đời sống của nông thôn Việt Nam xưa, nhưng nó vừa có sức lôi cuốn, vừa có khả năng duy trì, phát triển văn hóa làng.

b.

Chợ làng- nét văn hóa thể hiện qua đời sống hằng ngày:

Chợ làng không chỉ là nơi để mua bán, trao đổi hàng hóa mà còn là nơi giao lưu văn hóa giữa mọi người trong làng, với người làng khác, giữa vùng này với vùng khác.

Một phần đời sống của người dân quê được khắc họa qua sự phát triển của chợ làng.

Chợ là nơi lưu giữ tổng thể những nét văn hóa cũng như tục lệ của người dân nơi đó.

Thông qua hoạt động mua, trao đổi thông tin mà chợ trở thành nơi các phong tục văn hoá khác nhau tìm đến tiếng nói chung.

Tưởng chừng cái chợ chỉ là sự hiện hữu cụ thể người ta vẫn nhìn thấy, vẫn biết nhưng bản chất văn hóa bên trong của nó thì ít ai biết được.

Chợ là nơi gói ghém những hình ảnh thân thương, là nét đặc thù văn hóa dân tộc

Những người đi chợ xem việc đi chợ là đi chơi, đi bình phẩm.

Đến chợ thì biết đủ mọi chuyện trong họ ngoài làng.

Vừa bán, vừa thông tin cho nhau về cuộc sống đời thường.

Chợ còn là điểm sinh hoạt văn hóa, chốn hẹn hò.

Phụ nữ đi chợ cốt để tâm sự, giải bày những uất ức trong cuộc sống gia đình, bởi nơi đó họ bị kìm áp nặng nề, và là nơi mọi nỗi lo toan bị biến mất. .

Những chuyện hàng ngày của mỗi gia đình, mỗi người đều được thông tin qua cái chợ.

Người làng đi chợ cũng là dịp để họ gặp nhau, hỏi thăm nhau.

Hầu hết câu chuyện chỉ xoay quanh con trâu, mảnh ruộng, chuyện cấy cầy nhà nông.

Dù còn mang nặng tính tự túc, tự cấp nhưng chợ quê không phải vì thế mà đơn điệu, lạc lõng với thế giới bên ngoài.

Người mua, kẻ bán, tất thảy đều xởi lởi, vui vẻ, có khi còn đùa tếu pha trò.

Cụ già ngồi bán buồng cau, tiếp thị độc đáo bằng miếng trầu cánh phượng têm rất khéo đặt bên cạnh lát rễ chay và quả cau bổ tư tươi rói, người không biết ăn trầu nhìn cũng thấy hấp dẫn.

Người dân trong làng đã quen với tiếng mời mua hàng của các bà hàng rau, hàng thịt...

Tiếng nói chuyện, ở góc nọ, góc kia của chợ, thậm chí cả tiếng chửi nhau của người bán và người mua.

Đó là những cảm xúc rất thường nhật, là cái hiện hữu vô hình nhưng lại không thể thiếu.

Người dân quê quen mặt hết các bà bán hàng, vì họ chẳng phải ai xa lạ, không là người trong làng thì cũng là người làng khác.

Mà có là người làng khác thì cũng trong một xã, họ quen nhau.

Vì vậy hôm nay thấy bà bán rau không đi, chị bán thịt vắng mặt người ta lại hỏi thăm nhau.

c.

Chợ làng đi vào thơ văn

Chợ làng cũng vì vậy mà đi vào thơ ca, văn học dân gian như tâm hồn, bản tính người Việt.

Thông qua thơ văn, chợ thể hiện sự gắn bó giữa người với người, tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào về sản vật của địa phương.

Đến chợ, ta sẽ thấy hết được hương vị của làng, những lề thói dân dã, những mối quan hệ xóm làng, và nơi hẹn hò của những người đi chợ và đặc biệt là của trai gái yêu nhau,…

Nó tràn ngập niềm

vui và vơi đi những lo toan trong cuộc sống hằng ngày.

d.

Chợ làng ngày Tết:

Chợ làng ngày Tết là dịp gặp gỡ của những người xa xứ.

Người Việt có một đặc điểm dù đi đâu, làm gì và ở đâu thì hết năm thường về quê ăn Tết.

Người xa quê thích nhất được đi sắm Tết ở chợ làng để mua những nải chuối quê, quả cau, lá trầu để cúng tổ tiên; lá dong, lá chuối về gói bánh chưng, bánh gai, mớ rau, củ hành để ăn trong ba ngày Tết bởi đó là những sản phẩm của người dân quê hương mà không nơi nào có và thay thế được.

Chính vì vây, nó đóng vai trò trong việc hình thành và phát triển văn hóa làng.

Nó không chỉ tồn tại như một sự việc tái hiện hằng ngày mà là nét văn hóa được truyền từ đời này sang đời khác, đó là không gian văn hóa hết sức sâu đậm và vơi đi những nặng nhọc trong năm tháng vất vả.

*Chợ Bưởi – điển hình chợ làng thời xưa

“Chợ Bưởi một tháng sáu phiên

Ngày tư, ngày chín cho duyên đèo bồng”

Chợ Bưởi thuộc vùng Kẻ Bưởi, một trong những chợ cổ nhất Hà Nội duy trì hình thức họp chợ phiên.

Giống như nhiều chợ cổ Hà Nội (cận sông, tiện đường đi), chợ Bưởi nằm bên vị trí hợp lưu của sông Thiên Phù và sông Tô Lịch, thuận lợi về mặt giao thương trên bến dưới thuyền.

Chợ Bưởi ra đời từ thời gian nào thì không ai rõ, một số tài liệu cho rằng thời Lý, nhưng cũng có tài liệu cho rằng từ thế kỉ XI , nhưng điều không thể phủ nhận là chợ có tính lịch sử, văn hóa vào bậc nhất ở mảnh đất Thăng Long - Hà Nội này.

Mang tính chất chất chợ vùng ven, chợ Bưởi là nơi trao đổi, mua bán sản phẩm các làng nghề vùng Kẻ Bưởi làm ra như dệt lĩnh Yên Thái, Bái

Ân, giấy của làng Yên Thái, Hồ Khẩu, Đông Xã và dụng cụ sản xuất nông nghiệp của vùng Xuân La, Xuân Đỉnh.

Người mua,kẻ bán đến chợ Bưởi lại được sống trong một phiên chợ quê thuần chất.

Người ta mang ra đủ thứ hàng hóa, chủ yếu là mặt hàng nông sản, “cây nhà lá vườn” để mua bán, trao đổi với nhau.

Một tháng, sáu phiên nhưng ngày mồng 4 và mồng 9 (âm lịch) là ngày chợ họp đông nhất.

Cứ tầm 6 giờ sáng là người ta rục rịch mang hàng ra bày.

Cứ thế chợ rộn rã, lao xao đến giữa trưa thì tan, người chơi chợ về nhà, còn cánh bán hàng thì đủng đỉnh dọn dẹp đến tối mịt.

Người Hà Nội cũ muốn mua bất cứ thứ gì mang tính dân dã, đến chợ Bưởi là sẽ tìm thấy.

Vậy nên chợ Bưởi nghiễm nhiên trở thành nơi thăm thú của người yêu chim, thú họa cây cảnh khắp nơi trong Hà Nội.

Đặc biệt, những năm xa xưa, cứ đến ngày 29 Tết, chợ Bưởi còn có thêm một nếp là mua trâu bò và giết mổ tại chợ rồi chia nhau ăn Tết,…

Với nhiều người, họ chỉ chờ đến phiên để được đi chơi chợ, chẳng mua, chẳng bán gì, chỉ là thú vui lâu ngày thành quen không thể thiếu.

Có thể nói, chợ Bưởi là một trong những phiên chợ cổ, mang nhiều nét văn hóa, gắn liền với mảnh đất Thăng Long - Hà Nội nhất, trở thành một phiên chợ độc đáo, là nơi thăm thú của những người rảnh rỗi, nơi giao lưu, gặp gỡ giữa những người làm vườn, người có thú chơi cây cảnh và vật nuôi.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
múa rối nước


Múa rối nước là loại hình nghệ thuật đặc sắc của văn hóa lúa nước, ra đời hầu như cùng lúc với sự hình thành của nền văn hóa Đại Việt .Do tính đặc sắc, nên từ nghệ thuật mang yếu tố dân gian , múa rối nước đã nhanh chóng trở thành nghệ thuật truyền thống có thể sánh vai cùng tuồng , chèo là những bộ môn nghệ thuật có vị trí cao trong nền sân khấu dân tộc .

Tinh hoa của múa rối nước đã có sự ngưỡng mộ trong làng bạn bè thế giới .

Sân khấu của múa rối nước được xem là bộ môn nghệ thuật “độc nhất vô nhị” .

Tuy nhiên do sự xuất hiện sau các môn nghệ thuật khác nên không tránh khỏi những hạn chế cộng với mục đích thương mại đã làm cho loại hình nghệ thuật này ngày càng mai một và lãng quên .

Vì thế mục đích đặt ra là làm như thế nào để khắc phục những hạn chế, bảo tồn và phát huy múa rối nước dân gian .

Từ xa xưa con người và tự nhiên luôn gắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau, con người biết dựa vào tự nhiên để sản suất và đồng thời cũng tạo ra những loại hình nghệ thuật độc đáo, miền đồng bằng châu thổ sông Hồng là cái nôi sinh ra nghệ thuật múa rối nước.

Múa rối có ở nhiều dân tộc, nhiều quốc gia, nhưng múa rối nước thì vô cùng độc đáo bởi múa rối nước trên thế giới chỉ có duy nhất ở việt nam.

Nghệ thuật múa rối nước là một nghệ thuật dân gian tổng hợp kết hợp giữa nghệ thuật tạo hình với kỷ xảo biểu diển,kết hợp giữa động tác của con rối với lời thoại,lời ca,nhạc điệu,con rối tưởng như vô tri vô giác nhưng lại truyền cảm mạnh đó là nhờ:kịch bản,dựng được tích trò,có xung đột,có thắt nút,có mở nút , nói chung là kết thúc có hậu thỏa mãn người xem .

I.

TÊN GỌI VÀ CÁC LOẠI HÌNH CON RỐI

Theo P.L Mi-nhon(Mignon ) trong cuốn bách khoa phổ thông,từ Ma-ri-on-net

Marionnette – múa rối) là một từ giảm nhẹ của ( Mariole ) thời trung cổ dung để chỉ những bức tượng Đức Mẹ đồng trinh nhỏ.

Người ta không thấy từ này trong ngôn ngử khác, từ pupe trong tiếng Đức và Puppet ( pupe) trong tiến anh được dùng để gọi con rối, vì về ngoại hình con rối giống con pupe.

Trong nước ta có múa rối cạn và múa rối nước. múa rối cạn là chúng ta thường thấy trên thế giới như rối tay, rối que.

Rối dây.

Rối tay: bằng giấy, bằng vải có đầu bằng gổ, bàn tay của người lồng vào như là ghi-nhôn ( guinol ) của pháp và bu-ra-ti-ri (burattini ).

Rối que: hai bàn tay của con rối – dính vào que bằng thép mà người điều khiển dùng que mà làm cho con rối cử động. loại này rất thông thường ở các nước như.

Rượng đầu khối lổi của Trung Quốc, Oa- yănggô-lách (wayanggolek) của người Indoneisa.

Trong nước ta cũng có nhiều mục bằng rối que rất hay.

Rối dây: đầu , tay,chân, lưng,con rối đều mắc dây và người điều khiển từ trên xuống thấp,loại này được phổ biến khắp thế giới như Fan-tô-chi- i(fantocini),Ca-tha-ta-ly(Kathaputali)của Rajassthan(một tiểu bang của Ấn Độ)

Rối điều khiển ngang: loại bunraku(Nhật),từ mỗi con rối rất to từ 8 tấc đến 1 thước ba bề cao,do ở điều khiển:1 người lo về động tác của cái đầu(kể cả mắt và miệng)và tay mắt, một người lotay trái, và người thứ ba lo điều khiển hai chân.

Rối bóng: loại này cũng rất được phổ - biến nhất là các nước ở Đông Nam Ắ như Nang-shek ở campuchia và wa-yang-ku-lit ở Indonesia hay Mã Lai.

Có người chia làm ba loại rối tuy theo vị trí của người điều khiển.

• Từ dưới lên trên như lọai rối tay, rối que.

• Từ trên xuống như loại rối dây.a

• Từ sau ra trước hay là điều khiển ngang như loại rối Nhật.

Rối nước của ta không thuộc các loại kể trên, đặc biệt khong phải rối tay, rôi que,rối dây.

Mà lại rối sào phù hợp với rối dây.

Mỗi cây sào dài khoản 2 3 thước, có khi dài hơn.

Người diển viên điều khiển được dể dàng là nhờ sáo ở dưới nước .

Nước bùn che cả sào, dây và các máy móc đặt trước để thể hiện những trò đặc biệt như bắt cờ , đánh đu.

II .

NGUỒN GỐC VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA MÚA RỐI NƯỚC Ở VIỆT

NAM

2.1 Rối nước : (ở Việt Nam sách vở củ ghi chép là trò ổi lổi).

Theo truyền thuyết ( huyền thoại ) lịch sử trò rối nước ra đời từ thời xây thành Cổ La.

Kinh An Dương Vương Năm 225 trước công nguyên.

Theo sử sách: hình thành từ lâu đời, ra đời và tồn tại cùng với nền văn minh lúa nước ở đồng bằng Sông Hồng từ thời các vua Hùng

Và cụ thể hơn múa rối nước ra đời từ thời vua Lý Nhân Tông năm 1121 trên bia Sùng Thiên Diện Linh đặt tại Chùa Long Đọi xã Đội Sơn huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam cho đến nay múa rối nước đã được gần 900 tuổi.

2.2 Các giai đoạn của múa rối nước ở Việt Nam:

+ Thờikỳ 1: ở thời kỳ này múa rới nước chỉ là hình thức trò chơi của nông dân lao động,thợ thu công, nông dân, không phổ biến rộng,hoạt động trong phạm vi nhỏ,một vài gia đình,một vài dòng họ,một vài địa phương diển ra vào thế kỹ XI trước thời lý .

+Thời kỳ 2: Đây thời kỳ hình thành một nhóm người chơi rối của nhân dân lao động, tiến lên thành một phường, một gánh, bắc đầu diển ở địa phương đông ngươi xem, lan rông ra ngoài xóm làng , được nhiều vùng lân cận, đình chùa biết đến. diển ra trong ngày hội lễ lớn ( XI ) trước nhưng rầm rộ nhất vào thời lý trần. +Thời kỳ 3: phong trào lan rộng từ các vùng có nhiều cơ sở múa rối nước hoạt động, tiến đên các địa phương xa hơ,gin, và lan rộng khắp đồng bằng miền bắc nước ta.

Trong thời kỳ này các phường hội ganh đua nhau,giấu nghề,giữ bí mật,rối riết tìm những trò hay

+Thời kỳ 4: Từ sau cách mạng tháng 8.

+Thời kỳ 5: Thời kỳ lập lại hòa bình 1954.

+Thời kỳ 6: Mỹ chấm dứt nén bom miền Bắc lần 2.

III .

VÀI NÉT ĐẶC ĐIỂM CỦA MÚA RỐI NƯỚC :

- Làng quê : nơi diễn ra múa rối nước thường là các ao, hồ hay xung quanh những cánh đồng của làng quê .

- Lao động , nông dân : nội dung của múa rối nước xoay quanh những người lao động , nông dân thường ngày vì đây là những hoạt động gần gũi gắn liền trong quá trình sản xuất, trong đời sống hằng ngày của họ .

- Không truyền cho người ngoài : theo nghệ sĩ múa rối Đinh Văn Tiêu , thuộc phường Đào Thục, xã Thùy Lâm, huyện Đông Anh.

Hà Nội, trước kia ai muốn học nghề múa rối nước đều được ông Tổ nghề đích thân dạy bảo ngay từ đầu, chỉ nhửng ai xuất sắc mới được nhập phường , người mới được nhập ăn mặt chỉnh tề, mang lễ vật gồm có trầu câu , xôi và rượu trắng dâng lên ông tổ nghề . nghề múa rối cứ tuần tự truyền từ đời cha sang đời con . con gái và con rễ không được nhập phường .Nếu phường đồng ý kết nạp thì phải uống máu ăn thề :”suốt đời suốt kiếp chúng tôi phải giữ bí mật của nghề, nếu không chúng tôi và ba đời con cháu sẽ phải chết.

- Ông tổ của nghề múa rối nước :

Hầu hết các làng đều tôn Tự Đạo Hạnh là vị thần bảo hộ cho loại hình nghệ thuật này.

Pháp Từ Đạo Hạnh tên thật là Từ Lộ sống ở thế kỷ 11, đi tu khi cha ông bị một pháp sư làm hại .Ban đầu ông theo Thiền Tôn sau đó ông theo Mật Tông..

Bên cạnh việc sáng lập ra múa rối nước Từ Đạo Hạnh còn gắn liền với nhiều truyền thuyết khác như việc đầu thai thành Lý Thái Tông hay biến thành hổ của ông

Múa rối nước đề cập đến :

+ Đề cập đến vấn đề về tâm linh:

• Rước kiệu rời tượng.

• Rước kiệu trâu.

+Phản ánh tinh thần đấu tranh anh dung của dân tộc:

• Thần thoại tiên rồng.

• Rước trạng về làng.

+Nhân vật lịch sử,nguồn gốc dân tộc.

+ Các trò chơi dân gian:

• Đánh vật.

• Đánh đu.

• Đua thuyền.

• Đốt pháo.

+ Gồm các trò mang tính huyền thoại:

• Múa rồng.

• Múa cát tiên.

+ Những tác phẩm mô tả đời sống lao động sản xuất:

• Gỏi gạo.

• Cày bừa.

• Xay bọt.

• Kéo cưa.

• Quay tơ, dệt lụa.

Để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khán giả các nghệ nhân củng tạo nhiều trò mới như: cu tí đánh dây, rước ảnh Bác Hồ, chiến thắng sông La.

IV NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC Ở VIỆT NAM :

1.

Con rối:

Con rối được các nghệ nhân làm bằng gổ, gổ tốt sẽ nặng và chìm, nên gổ sung là chất liệu thông dụng để tạo con rối, loại gỗ này nhẹ ,dai, rất dễ điều khiển trong khi biểu diển dưới nước.

Sau đó được sơn một lớp sơn không thấm nước.

Để tạo một con rối hoàn chỉnh, các nghệ nhân phải trải qua nhiều giai đoạn tỉ mỉ, công phu từ đục cốt đến trang trí.

Con rối được tạo bởi hai phần chính, phần thân và phần đế.

Phần thân là phần nổi bên trên thể hiện nhân vật, còn phần đế là phần chìm bên dưới là nơi lắp máy điều khiển cho con rối cử động.

Mayys điều khiển và kỷ xảo điều khiển con rối là yếu tố chính để tạo nên hành động của con rối.

Phường rối Yên ở xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây dùng gỗ cây yến để làm rối.

Con rối được sơn 4 hoặc 5 lần bằng một loại vecni truyền thống có phủ lớp bạc, do vậy các con rối rất bền.

Phường rối Ra ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây sơn rối theo 3 bước:

Bước 1 : Sơn hom

Người thợ thủ công sơn phủ con rối bằng một lớp sơn ta trộn với đất sét, sau đó dùng một viên cuội để đánh bóng rồi dùng đá màu cọ xát thân rối trong nước.

Bước 2 : Sơn lót

Tiếp đó người thợ sơn con rối thêm vài lần nữa để lấp kín mọi vết nứt.

Sau khi khô, cứ mỗi lớp sơn lại được người thợ dùng một viên đá để đánh bóng.

Bước 3 : Thếp bạc

Lần này trong lúc sơn còn chưa khô, người thợ dán lên các lá quỳ dày 3 cm, rộng 4 cm2, do làng Kieu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội sản xuất.

Người thợ có thể dán thêm một lớp lá quỳ nữa trước khi asơn thêm 2, 3 lần nữa bằng sơn trộn với nhựa cây mủ.

Các thợ thủ công dùng sơn ta để sơn các màu da cam thẫm, nâu đậm,da cam nhạt, đỏ và đen, nhưng với các màu xanh lá cây và đỏ son thì phải dùng sơn của Thái Lan hoặc của Nhật Bản.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
Rồng qua các thời kì


Rồng thời Lý (thế kỷ XI-XII)

Thăng Long- nơi rồng vàng xuất hiện, cũng là nơi vương triều Lý (1010-1125) xây dựng nhiều công trình kiến trúc hoàng thành, chùa, tháp mở đầu cho độc lập tự chủ của Đại Việt.

Duy trì gìn giữ những biểu tượng Rồng truyền thống vốn có lâu đời của dân tộc, các nghệ nhân thời Lý đã sáng tạo hình tượng Rồng, đưa lại ý nghĩa mới.

Hình tượng Rồng chỉ thực sự phát triển từ triều Lý, trở thành biểu tượng cao quý, quyền uy của Vương quyền và linh thiêng của Thần quyền (đạo Phật là Quốc giáo).

Nó thể hiện trong các hợp thể nghệ thuật đường nét uyển chuyển, tinh tế, bố cục hoàn chỉnh, phong cách độc đáo.

Hình tượng Rồng có kiểu dáng nhất quán, được nghệ nhân tuân thủ triệt để.

Bất kỳ hình rồng ở di tích nào dù ở cách xa nhau, dù làm vào những năm khác nhau, dù là kiến trúc vương quyền hay kiến trúc thần quyền, thì hình tượng con Rồng thời Lý đều có kiểu dáng và cấu trúc chung.

Đặc điểm hình tượng:

Đầu Rồng với cổ ngước cao, mắt Rồng to tròn và hơi lồi, trên lông mày kết xoắn hình số 3 ngửa (theo nhãn vòng Kim cô nhà Phật), và trán kết xoắn hình chữ S ký hiệu hình chớp (ý niệm về hiện tượng tự nhiên sấm – chớp), uy lực của Phật Pháp Lôi, Pháp Điện

Hai bên dưới mang tai có dải bờm nhiều tua kết vào nhau uốn lượn vút ra sau.

Chòm râu dưới cằm kết xoắn uốn lượn.

Mũi Rồng cũng được kéo dài thành hình vòi.

Mào của Rồng hơi uốn khúc, chung quanh có viền kiểu ngọn lửa.

Quanh đầu mây quấn có những viên ngọc lơ lửng.

Miệng rồng há rộng hứng ngọc.

Môi dưới ngắn, lưỡi dài uốn lượn vươn ra đỡ lấy viên ngọc.

Hai hàm có răng nanh nhọn kéo dài uốn cong liền sát mũi. (Cũng có loại đầu Rồng: cổ uốn khúc xuống rồi ngược lên).

Đầu rồng thời Lý

Hình dáng thân Rồng thể hiện theo lối nhìn nghiêng, uốn lượn mềm mại (như hình giun đất uốn lượn).

Các khúc uốn lượn phình to và co lại gần nhau (như hình túi phình đáy, miệng co) đặt xuôi, đặt ngược đều đặn, liên tục thu dần về đuôi.

Mình Rồng tròn để trơn (chỉ có vẩy trên thân rồng to, chạm nông nên trông vẫn trơn mượt).

Toàn bộ thân hình Rồng nở về phần đầu, thu nhọn về phía đuôi, quy gọn vào một nửa hình lá Đề.

Rồng Lý 4 chân có khuỷu và mỗi chân đều 3 móng.

Các di vật mỹ thuật thời Lý còn lại đến ngày nay không nhiều, những hình tượng Rồng còn lại ở các Chùa (như Chùa Dạm, Chùa Phật Tích, Chùa Long Đội, Chùa Chương Sơn, Chùa Quỳnh Lâm, Chùa Báo Ân, Chùa Linh Xứng, Chùa Sùng Nghiêm, Chùa Diên Thánh…) và mới tìm thấy thêm ở Hoàng thành Thăng Long (2000-2005) hình Rồng trên gốm thời đầu lập đô nhà Lý.

Những hình tượng Rồng không chỉ là mô típ trang trí chau chuốt, tinh tế, thanh mảnh mà còn là hình tượng sinh động.

Nội dung tư tưởng thẩm mỹ, bộc lộ ý nghĩa tín ngưỡng dân gian cổ của cư dân nông nghiệp, tâm hồn khoáng đạt thanh cao, hàm chứa trí tuệ uyên bác.

Rồng thời Trần (TK XIII- XIV)

Trong chạm khắc, còn có tượng Rồng ở thành bậc thành quách, lăng mộ và chùa.

Hình tượng Rồng có nhiều thay đổi so với thời Lý.

Thân Rồng to mập, khoẻ chắc, khúc nới ra uốn lượn đều đặn hình sin thu dần về đuôi.

Đầu xuất hiện cặp sừng, đôi tai và những chi tiết mới.

Hình dáng Rồng uy nghi mang ý nghĩa mới của vương triều.

Nổi rõ phong cách với những hình khối, đường nét mập khỏe, tinh lọc giản dị, vững chãi mà không nặng nề, không tĩnh của cốt cách truyền thống.

Rồng đá thành nhà Hồ

Tượng Rồng ở khu lăng mộ An Sinh (Thế kỷ XIV Đông Triều, Quảng Ninh) điển hình là đôi tượng ở thành bậc cửa lăng vua Trần Anh Tông, dài 1.70m mình tròn mập, đuôi dài và nhọn.

Bốn chân to khỏe, có bốn móng nhọn.

Đầu dữ tợn, mào kéo dài ra phía trước, cặp sừng nhọn vút về phía sau.

Bờm tóc to trải dài, những chòm lông quanh cổ hình xoắn ốc dựng lên.

Trên thân có chạm vẩy.

Đôi tượng Rồng (ở thành nhà Hồ, dài 3.60m) đầu bị gãy mất, còn lại từ má bờm uốn sóng đều đặn trải dài nhọn.

Thân Rồng dài và mập, có vẩy hình vòng cung, uốn khúc cong sáu nhịp đều đặn thon đến cuối đuôi.

Hình dáng Rồng thời Trần đa dạng, nên trong cùng một thời gian, những chi tiết hình Rồng đã có những khác nhau.

Chẳng hạn: Có dạng đuôi thẳng vút nhọn, lại có đuôi xoắn tròn, hay có đuôi chạm văn xoắn ốc.

Có Rồng chạm 3 móng, lại có Rồng 4 móng.

Hình Rồng với bốn khúc uốn, trên bệ tượng Chùa Thanh Sam (Ứng Hòa – Hà Tây(cũ)) chạm đầu quay lại nằm gọn trong khúc uốn lớn.

Râu uốn lượn dài, hai chân trước to, giơ ba móng.

Cũng Rồng với bốn khúc uốn thì chạm đá bệ tượng Chùa Đô Quan (Yên Khang, Ý Yên, Nam Định), khúc lớn vòng qua đầu, ba khúc uốn còn lại gần như thẳng.

Râu uốn lượn dài, hai chân trước to bốn móng.

Lại có hình Rồng với bảy khúc uốn chạm đá bệ tượng chùa Thầy (Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây) dáng Rồng trườn lên phía trước.

Đầu ngước ngậm ngọc, hai mào dài xoắn lại, bờm tỏa dài uốn lượn ra phía sau, vây rồng nhọn cao.

Bốn chân to với bốn móng nhọn, Còn có các đầu Rồng (đất nung) thấy ở tháp Phổ Minh (Nam Định), hay ở Đông Triều – Quảng Ninh, ở Hoàng thành Thăng Long.

Hoặc có hình Rồng trang trí trên gạch gốm tráng men Chùa Hoa Yên (Yên Tử – Quảng Ninh).

Rồng thời Lê sơ (TK XV)

Phát triển trên cơ sở tiếp thu Rồng thời Trần, cơ bản vẫn giữ hình dáng thân uốn cứng cáp, to khoẻ, mào và sừng ở đầu trông dữ hơn.

Nổi bật hình tượng đôi Rồng trên các thành bậc đá (làm thời vua Lê Thánh Tông (1470-1497)) như: điện Lam Kinh (1433) và điện Kính Thiên (1467).

Rồng đá thềm điện Kính Thiên còn sót lại sau khi thực dân Pháp phá điện xây lô cốt

Đôi Rồng uốn khúc bò từ trên nền thềm điện xuống (đặt lối lên chính giữa).

Đầu Rồng to, có hai nhánh sừng nhô cao, mắt lồi, bờm mượt cuộn ra sau.

Lưng Rồng nhô hình vây nhọn theo khúc uốn.

Một tay Rồng cầm lấy râu.

Chân Rồng chạm 5 móng sắc nhọn, các hình xoắn trang trí bên thân Rồng, kết hợp với mây đao lửa.

Đó là mô típ trang trí điển hình mang đặc trưng thời Lê Sơ.

Hình tượng Rồng trang nghiêm, râu bờm và sừng nổi cao dũng mãnh uy quyền.

Những chạm khắc trừu tượng hình rồng uốn khúc ở mặt ngoài thành bậc đá của điện Lam Kinh (Thanh Hóa), Điện Kính Thiên, Đàn Nam Giao (Hà Nội) trong khung tam giác vuông viền hình hoa chanh, đều chạm hoa văn hoa sen, hoa cúc và lá cách điệu, mây xoắn cuộn, nổi ở giữa là hình đao ngọn lửa (gọi là mây đao lửa).

Còn thấy hình Rồng 4 móng kết với hình mây hoa lá trên các văn bia (Văn Miếu).

Những chạm khắc hình Rồng và các mô típ Mây đao lửa, hoa văn với nét chạm sắc sảo, điêu luyện, bố cục chặt chẽ với đặc trưng riêng, tiêu biểu phong cách thời Lê Sơ.

Rồng thời Mạc (TK XVI)

Hình tượng Rồng thời Mạc kế thừa rồng truyền thống Lý, Trần, và cả rồng thời Lê sơ.

Đầu rồng đá thời Mạc

Đặc điểm chung: Thân mập, uốn lượn đều đặn, bờm kéo dài uốn theo xuống nửa lưng, mây đao lửa điểm xuyết trên thân, sóng cuộn dưới bụng, chân ngắn, lông khuỷu sợi đơn uốn xoắn.

Đầu rồng có sừng hai chạc, hai mắt lồi, mũi sư tử, mồm thú nhô ra phía trước.

Các chân Rồng thường chạm 4 móng.

Hình tượng rồng phát triển trên các chạm khắc Chùa và Đình làng.

Còn hình: Rồng, phượng, lân trang trí trên gạch Chùa Ông, Chùa Trăm Gian, và Chùa Bối Khê.. hoặc gốm đất nung: Rồng, Phượng, con Xô, con Kìm là gắn trên bờ nóc, bờ giải, các đầu đao, tàu mái: cung điện, đình, chùa.

Hiện còn thấy hai đầu rồng: có sừng hai chạc, mắt lồi, tai to, mồm sư tử cao 0.85 cm trên hai bờ mái ở Chùa Mui (Hà Tây cũ).

Hình Rồng mây trang trí trên gốm dáng uốn lượn, thân hình khỏe chắc.

Đình là công trình to lớn, đòi hỏi nhu cầu thẩm mỹ với giá trị nghệ thuật.

Những thành phần kiến trúc gỗ vốn nặng nề, thô mộc của kết cấu kiến trúc gỗ.

Ta thấy chạm đề tài Tứ linh, như các đầu dư chạm Đầu Rồng ngậm ngọc, đầu bẩy, các kẻ hiên chạm các đề tài như: Rồng cuốn thủy, Cá hóa Rồng.

Các cốn, các vì nóc chạm Rồng, Lân.

Bức chạm gỗ Rồng Nho học ở Đình Vân Sa (Ba Vì, Sơn Tây) độc đáo, thể hiện Rồng bố đang cầm bút nho chỉ bảo, các Rồng con giơ sách dâng lên, nhằm ca ngợi việc học hành.

Thể hiện rõ bàn tay (người) cầm bút, tay dâng sách rất rõ.

Hình tượng Rồng được nhân hóa, đó là nét mới rồng gắn với đời thường.

Những chạm khắc ở Đình Thổ Hà (Bắc Giang), Đình Tây Đằng (Ba Vì, Sơn Tây), Đình Lỗ Hạnh (Bắc Giang) thể hiện Rồng và các vật linh.

Tượng Rồng thành bậc (đá) Chùa Nhân Trai (Hải Phòng) uốn lượn đều đặn, sừng quặp ra sau, bờm kéo dài uốn xuống lưng.

Bia Chùa Trà Phương chạm khái quát Rồng Phượng.

Các hình Long – Lân Chùa Trăm Gian, Chùa Đậu, Chùa Bối Khê thể hiện những bố cục sinh động, khối hình khỏe khoắn, đậm tính cách dân gian.

Bia đá thời Mạc phát triển, Rồng trang trí trên trán bia, diềm bia, các góc của bia.

Rồng thời Lê trung hưng (TK XVII)

Thời này phục hưng những giá trị nghệ thuật truyền thống nhà Lê.

Hình rồng là mô típ tiêu biểu, đặc trưng, thoát khỏi hình thức khuôn mẫu, để trở về nguồn, với ý nghĩa giá trị sáng tạo mới.

Hình Rồng với đầu nhô, có sừng, hai râu mép dài uốn lượn duỗi ra phía trước, tạo dáng rồng thêm sinh động.

Rồng kết hợp hoa văn mây lửa vẽ men xanh lưu loát.

Kỹ thuật vẽ men màu và kỹ thuật đắp nổi trên gốm điêu luyện.

Đặc điểm hình Rồng cũng có thay đổi.

Đầu Rồng đơn giản, thường chỉ thấy râu cằm thưa nhọn, bờm ngắn tỏa hình quạt.

Mào Rồng thanh mảnh uốn lượn kéo dài ra phía trước, hoặc rủ xuống hai bên.

Các hình mây đao lửa thường vút lên từ đầu các chân Rồng.

Hình Rồng với mây đao lửa vẫn duy trì nhưng ở cuối thế kỷ XVII các mây đao lửa có chiều hướng ngắn lại, và thưa.

Độ uốn lượn của đao mây ít lại, thường chỉ còn hai khúc uốn rồi bắt sang chiều ngang của đao mây.Rồng thời Lê Mạt (TK XVIII)

Hình Rồng thân ngắn và các khúc uốn thường chỉ 3 đến 4 lần cong uốn, chỉ làm to khúc uốn liền đầu, các khúc sau thường ngắn và thuôn gần thẳng về đuôi.

Chân Rồng 4 móng.

Hình mây đao lửa gần như mất.

Mây chuyển sang các hình dải thưa vắt vào chân Rồng, điển hình như: Hai Rồng chầu mặt trời chạm đá bia Chùa Chuông 1711 (Hưng Yên), và chạm đá bia Đền Din (Nam Dương – Nam Ninh – Nam Định).

Hoặc hình Rồng biến thành hình mây, như: Hai Rồng mây hóa chầu mặt trời chạm đá bia Chùa Côn Sơn 1788 (Chí Linh – Hải Dương).

Rồng thời Nguyễn (TK XIX – đầu TK XX)

Rồng Nguyễn ở thế kỷ XIX hình tượng con Rồng còn giữ những nét đẹp do kế thừa tinh hoa truyền thống, có độ uốn lượn đều đặn, chau chuốt, phần lớn là thanh mảnh và tinh tế.

Đặc điểm chỏm đầu thường bẹt, nổi vừa phải.

Mắt là hai u tròn, mũi gồ, miệng hé mở lộ răng nanh nhọn.

Sừng hai chạc cong ra phía sau.

Tóc nhiều chẽ xoè kiểu nan quạt và hơi lượn sóng.

Thân Rồng chạm vẩy, hàng vây lưng hình tam giác nhô cao nhọn.

đuôi Rồng lượn sóng.

Chân Rồng có hai cặp trước và sau, các móng thường chõe ra.

Những Rồng trong cung vua thường chạm 5 móng.

Rồng thành bậc kiến trúc thân mập, khúc uốn thấp.

Rồng trang trí quanh cột gỗ sơn son, hoặc trang trí quanh cột đồng (như ở Ngọ Môn, Lăng Minh Mạng, Lăng Tự Đức, Lăng Thiệu Trị, Lăng Đồng Khánh).

Đến TK XX cuối thời Nguyễn, con Rồng sử dụng nhiều đường cong uốn vừa phải, thể hiện đao và tóc Rồng thô cứng.

Đầu lớn có vẻ hung dữ, mắt to tròn, mũi nở, miệng mở rộng, răng cửa nhọn, thân dài và mảnh yếu, đuôi Rồng lượn sóng hoặc tõe các tua đuôi.

Hình Rồng Nguyễn còn lại tương đối nhiều ở các di tích chùa, đình từ Huế ra vùng đồng bằng sông Hồng.
 
Nghiệp Vụ Lhhd
BTM Đền Ngọc Sơn


Xin chào mừng các bạn đã đến với di tích lịch sử văn hóa đền Ngọc Sơn.

Trước tiên tôi xin tự giới thiệu tôi là ….. – thuyết minh viên tại điểm di tích đền Ngọc Sơn.

Thay mặt cho Ban quản lý di tích xin gửi tới các bạn lời chúc sức khỏe, chúc các bạn có một buổi tham quan, học tập bổ ích, lý thú và thu lượm được nhiều kiến thức thực tế phục vụ cho công việc học tập của các bạn.

Hôm nay tôi rất vinh dự được cùng với các bạn đến thăm quan điểm di tích nổi tiếng, hấp dẫn của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, đó là Hồ Hoàn Kiếm – Đền Ngọc Sơn.

Để buổi tham quan được vui vẻ, an toàn và hiệu quả tôi xin lưu ý các bạn đền là nơi linh thiêng các bạn không nên nói to, nô đùa khi tham quan trong đền, trang phục lịch sự, không đội mũ, đeo kính râm và không thắp hương khi vào trong đền.

Bây giờ, xin mời các bạn bắt đầu buổi tham quan.

Các bạn sinh viên thân mến, đúng là thiên nhiên đã ưu ái dành cho Thăng Long – Hà Nội cảnh đẹp tuyệt vời.

Nơi chúng ta đang đứng đây chính là thắng cảnh Hồ Hoàn Kiếm – Đền Ngọc Sơn- một trong số những cảnh đẹp nổi tiếng của thủ đô Hà Nội.

Cho phép tôi mở đầu buổi tham quan ngày hôm nay bằng những thông tin thú vị về Hồ Hoàn Kiếm.

Hồ Hoàn Kiếm xa xưa vốn là một đoạn dòng cũ của sông Hồng.

Nguyên có một thời Sông Hồng chảy lùi về phía Tây, sau đổi dòng mới dịch dần sang phía đông như bây giờ.

Trước kia hồ có tên là hồ Lục Thuỷ vì nước hồ xanh ngắt quanh năm.

Bên cạnh đó hồ còn có một số tên khác như hồ Tả Vọng, hồ Hữu Vọng và hồ Thuỷ Quân.

Sở dĩ hồ có tên là hồ Thuỷ Quân là vì trước kia vào đời Trần nghĩa quân thường ra tập trận.

Còn bây giờ hồ mang tên là hồ Hoàn Kiếm vì nó gắn với truyền thuyết của vua Lê trả gươm thần.

Chuyện cũ kể rằng:

Giặc Minh chiếm nước ta, đặt ách đô hộ, chúng tàn ác gây nhiều bạo ngược, lòng dân sôi sục căm thù.

Lúc bây giờ ở đất Thanh Hoá có một người đánh cá tên là Thận.

Một đêm anh ta kéo lưới thấy nặng chắc mẩm được mẻ cá to, ai ngờ chỉ có một thanh sắt.

Thận bèn vứt xuống nước rồi đi thả lưới ở một đoạn sông khác.

Lần thứ hai lưới kéo cũng nặng tay và anh lại thấy thanh sắt nọ.

Thận quẳng xuống sông.

Đến lần thứ ba lại vẫn nó chui vào lưới.

Thân lấy làm lạ bật mồi lửa soi, thì ra một lưỡi gươm.

Sau Thận nhập vào nghĩa quân Lê Lợi.

Một lần chủ tướng đến thăm nơi Thận ở, thấy trong góc tối có ánh sáng loé lên, cầm lên thì thấy lưỡi gươm có khắc hai chữ “Thuận Thiên”.

Lần khác Lê Lợi qua một khu rừng thấy trên ngọn cây có ánh sáng lạ, ông trèo lên tìm được một chiếc chuôi gươm nạm ngọc.

Nhớ đến lưỡi gươm ở nhà Thận, ông cầm chiếc chuôi về lắp vào kiếm thấy vừa như in.

Từ đó thành gươm thần theo Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn tung hoành trong suốt 10 năm.

Một năm sau khi dẹp xong quân xâm lược, vua Lê Lợi cưỡi thuyền rồng dạo chơi trên hồ Lục Thuỷ.

Thuyền ra tới giữa hồ, bỗng có một con rùa vàng rất lớn nổi lên làn nước xanh.

Vua đang đứng ở mũi thuyền thấy thanh kiếm đeo bên mình tự nhiên động đậy.

Đến trước mặt nhà vua, Rùa vàng đứng thẳng trên mặt nước và nói.

Bệ hạ hoàn lại gươm cho Long Quân.

Nhà vua hiểu ra, vội rút kiếm ra khỏi vỏ.

Thanh gươm thần vụt rời tay vua bay về phía Rùa vàng.

Rùa há miệng đấp lấy thanh gươm rồi lặn xuống hồ.

Vua nghĩ rằng trước đây thần đã giúp mang gươm cho mình đánh thắng giặc, nay đất nước đã thanh bình, thần lấy lại gươm, nên vua đặt tên cho hồ là hồ Hoàn Kiếm.

Xin mời các bạn nhìn ra xa giữa lòng hồ đó là một ngọn tháp mà chúng ta quen gọi là tháp Rùa.

Thực ra, tháp này không có ý nghĩa lịch sử, ở đó, trước kia là một đảo đất tự nhiên, vào ngày hè Rùa thường lên đây phơi nắng và đẻ trứng nên có tên là tháp rùa.

Vào thế kỷ 15 có Đài câu cá của Vua Lê.

Năm 1884, khi thực dân Pháp cai trị đất nước ta, một tay sai của Pháp là Bá Kim, lấy cớ xin xây tháp lên trên để làm “gồ đằng sau” cho ngôi chùa Báo Ân ở phía bờ sông.

Hôm khởi công, hắn lén lút đưa hài cốt bố mẹ ra táng trộm ở đó, vì hắn rất mê thuật phong thuỷ.

Đây là một vị trí tốt, nếu được như vậy thì hắn và con cháu hắn sẽ được giàu có, sung sướng.

Nhưng nhân dân hay biết đã bí mật đào hai nắm xương ấy và quẳng xuống hồ.

Bá Kim cay đắng vẫn phải tiếp tục xây tháp cho xong.

Chính vì tháp Rùa được xây dựng trong hoản cảnh như vậy nên sau cách mạng tháng 8 – 1945 nhân dân định phá bỏ nhưng vì chính trên ngọn tháp này cờ cách mạng đã được cắm ở đó nên được giữ lại.

Trải qua năm tháng nó trở thành hình ảnh quen thuộc, rất đỗi thân thương của người dân Hà Nội.

Trước khi chúng ta bước vào phần chính của buổi tham quan hôm nay, tôi xin giới thiệu với các bạn về sự hình thành của đến Ngọc Sơn.

Xưa kia trong hồ nổi lên hai đảo đất, hòn to là đảo Ngọc, hòn nhò là đảo Rùa.

Đảo Ngọc là nơi chúa Trịnh Giang cho xây cung Khánh Thuỵ đời Vĩnh Hựu (1735 – 1739) làm nơi yến ẩm, vui chơi ngày hè.

Để làm đẹp thêm quang cảnh chúa cho đắp hai gò núi Đào Tài, Ngọc Bội ở bên bờ phía đông.

Họ Trịnh suy vong, Lê Chiêu Thống được Nguyễn Huệ trao trả quyền hành, năm 1786 đã hèn mạt trả thù họ Trịnh bằng cách đốt trụi Phủ Chúa và cung Khánh Thụy.

Đầu thế kỷ 19, một ngôi chùa dựng trên nền cung điện cũ ở đảo Ngọc nên gọi là Ngọc Sơn Tự.

Trước chùa có một lầu chuông khá cao.

Năm 1843, hội hướng thiện quản lý đã chuyển chùa thờ Phật thành ra đền thờ Tam Thánh và cả anh hùng cứu nước Trần Hưng Đạo.

Sau đó lầu chuông bị phá bỏ.

Năm 1864, nhà văn nổi tiếng của Hà Nội là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu sửa lại toàn cảnh.

Trong đền, ông đề cao việc thờ thần Văn Xương, vị sao chủ trông nom khoa cử theo tín ngưỡng Đạo Lão.

Ông cho xây kè đá ở chân đảo, dựng đình Trần Ba ngày trước đền và trông thẳng ra đảo Rùa ở phía nam hồ.

Đền Ngọc Sơn hiện nay vẫn giữ nguyên quy mô kiến trúc từ thời Nguyễn Văn Siêu cho tu sửa lại.

Đi qua Nghi Môn, lớp kiến trúc đầu tiên bên trái có tháp Bút, bên cạnh miếu sơn thần, qua cổng thứ hai một lối đi nhỏ dẫn đến cổng Đài Nghiên để vào đến Cầu Thê Húc, qua cầu Thê Húc dẫn vào lầu Đắc Nguyệt là đã vào đến ngôi đền chính.

Trước đền là trấn Ba Đình và đền Ngọc Sơn với ba lớp kiến trúc Bái Đường, Trung Đường và Hậu Cung là nơi thờ Tam Thánh và Trần Hưng Đạo.

Bây giờ, xin mời các bạn cùng bắt đầu vào thăm quan đền Ngọc Sơn.

Phía trước mặt đoàn chúng ta đây là cổng Nghi Môn, được dựng với bốn cây cột xây bằng gạch và hai mảng tường lửng.

Trên đỉnh hai cột giữa được đắp nổi bốn con phượng chụm đuôi, xòe cánh.

Hai cột bên là hình hai con nghê trầu vào.

Những mô típ trang trí quen thuộc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam.

Ở mỗi cột đều có đắp những cặp câu đối chữ Hán vừa làm tăng vẻ cổ kính của di tích vừa giúp khách tham quan hiểu thêm về lịch sử và cảnh quan cũng như cảm thụ chất thơ, chất văn học và cả ý nghĩa triết học ở đây.

Ở hai cột chính câu đối chính diện bằng chữ Hán là:

“Lâm thủy đăng sơn nhất lộ tiệm nhập giai cảnh

Tầm nguyên phỏng cổ thử trung vô hạn phong quang”

Dịch nghĩa là:

“Đến cõi nước, trèo lên non, một lối dẫn vào cảnh đẹp

Tìm nguồn cội, hỏi chuyện xưa, trong chốn này biết mấy phong quang”

Đôi câu hối như lời chào mời du khách, hứa hẹn nhiều thú vị khi vào thăm di tích

Trên hai mảng tường ở hai bên có hai chữ Phúc, Lộc cỡ lớn, tô son như lời chúc mọi sự tốt lành.

Bên phải của các bạn là chữ Phúc có nghĩa là hạnh phúc, là niềm vui.

Bên trái là chữ Lộc là thình vượng, là hưởng thụ.

Bên trên chữ Phúc còn có hai ba chữ “Ngọc ư tư” nghĩa là “Ngọc ở đây” đây là chữ được lấy từ sách Luận Ngữ “hữu mỹ ngọc ư tư” có nghĩa là có ngọc đẹp ở đây.

Bên trên chữ Lộc có ba chữ “sơn ngưỡng chỉ” được lấy từ sách Kinh Thi: Cao sơn ngưỡng chỉ = ngửa trông núi cao.

Ngọc là nói về phẩm chất cao đẹp của người quân tử, có đạo và núi cao là chỉ bậc hiền tài.

Bây giời xin mời các bạn qua cổng Nghi Môn để chúng ta vào với không gian của lớp kiến trúc đầu tiên.

Xin giới thiệu với các bạn công trình kiến trúc độc đáo phía trước mặt đoàn chúng ta đây chính là Tháp Bút.

Tháp được Nguyễn Văn Siêu cho dựng vào năm 1864 trên núi Độc Tôn.

Núi này có đường kính 12m, cao 4m.

Tháp vuông bằng đá, có năm tầng, cạnh đáy tầng một là 2m, lên đến tầng năm là 1,2m.

Cả năm tầng cao 9m.

Tháp Bút, theo ý tưởng của người thiết kế là “tượng trưng cho nền văn vật”, bởi theo như bài Bút Tháp chí do Nguyễn Văn Siêu soạn, khắc trên thân tháp ở tầng thứ ba mặt nhìn về hướng tây ghi lại thì có đoạn: “Ấy núi là biểu tượng của chiến công mà tháp là biểu tượng của văn vật.

Tháp nhờ núi mà cao thêm, núi nhờ tháp mà truyền mãi…”

Các bạn có thấy trên thân tháp còn khắc ba chữ Hán lớn đó là “Tả thanh thiên” có nghĩa là “viết lên trời xanh”, có rất nhiều cách giải thích về ý nghĩa của ba chữ này: nào là giãi bày tấm lòng với trời xanh, nào là cảm hứng đầy tráng khí, tâm hồn mở rộng bao la, đặt câu hỏi với trời xanh…

Nhưng cách hiểu được nhiều người chấp nhận nhất là viết lên trời xanh.

Ở đây, Nguyễn Văn Siêu ý muốn nói, mượn ngọn bút này, lấy ngấn nước hồ Gươm làm mực và trời xanh làm giấy mới đủ để viết hết nỗi lòng của các chí sĩ Bắc Hà đương thời.

Mời các bạn cùng hướng tầm mắt xuống bên cạnh chân tháp Bút, đó là miếu Sơn thần tức miếu thờ thần núi.

Chắc hẳn các bạn sẽ thắc mắc, tại sao núi thì nhỏ mà cũng có miếu để thờ thần núi đúng không ạ?

Vâng, theo thuật phong thủy cổ: cao nhất thốn giả vi sơn tức là chỉ cần cao một tấc thì cũng là núi rồi.

Núi dù to hay nhỏ thì phải có một vị thần cai quản.

Miếu dù nhỏ nhưng hai bên cửa cũng có cặp câu đối rất hay:

“Cố điện hồ sơn lưu vượng khí

Tân từ hương hỏa tiếp dư linh”

Nghĩa là:

“Điền cũ núi hồ lưu vượng khí

Đền nay hương lửa tiếp dư linh”

Phía trước đền đây còn có một tấm bia nhỏ trên có khắc năm chữ: “Thái Sơn thạch cảm đương”.

Có người tưởng rằng năm chữ này ý nói là đá núi này dám sánh với đá núi Thái.

Kỳ thực đây là một cụm từ, một thành ngữ Trung Hoa chỉ có ý nghĩa là hòn đá trấn yểm.

Vì ở Trung Quốc xưa có tục dựng một hòn đá trước cửa chính để trấn yểm tà ma.

Mà núi Thái Sơn là núi nổi tiếng nhất trong năm ngọn núi nổi tiếng của Trung Quốc, lại là núi có vị thần toàn năng, các triều đại vua chúa phong kiến xưa phải tới đây cúng tế nên đá của núi này cũng rất linh thiêng.

Dựng hòn đá núi Thái là tà ma chạy dài.

Mời các bạn nhìn theo hướng tay tôi chỉ, hai bên của cổng thứ hai được đắp nổi đôi cáicâu đối đầy ý nghĩa khuyến cáo:

“Nhân gian văn tự vô quyền toàn bằng âm đức

Thiên thượng chủ tư hữu nhãn đơn khán đan điền”

Vế thứ nhất có nghĩa là: Ở chốn nhân gian này, cái quyền chân chính chính là sự tu dưỡng đạo đức

Vế thứ hai có nghĩa là: Trên trời kia, ông thánh coi việc khảo thí nhân gian (không tính đến lễ vật) mà chỉ soi xét chính lòng dạ con người

Các bạn có thể thấy, ở hai bên trụ xây hai cửa nách giả kiểu hai tầng tám mái cong.

Mặt trước của hai cửa này đắp nổi một bên là rồng đang cuộn khúc đón đàn cá đang thi nhau vượt sóng bên trên có hai chữ Long Môn và một bên là một chú hổ trắng như đang tiến ra với người đời bên trên có hai chữ Hổ Bảng.

Đấy là diễn ý các điển tích cổ.

Long Môn, theo văn hóa Phương Đông là chỉ sự thành công trong thi cử xuất phát từ tích cá chép vượt Vũ Môn.

Còn chữ Hổ Bảng nghỉa đen là bảng hổ, nghĩa bong là bảng ghi tên những người đỗ tiến sĩ.

Điển tích này có từ đời Đường: có một khoa thi tiến sĩ có nhiều người trúng tuyển sau trở thành những danh nhân như Hàn Dũ, Âu Dương Thiềm…. khác nào những con rồng, con hổ trên văn đàn.

Hai bên Long Môn, Hổ Bảng có đôi câu đối vừa giải thích ý nghĩa trên vừa xưng tụng tòa Tháp Bút trước mặt:

“Hổ Bảng Long Môn thiện nhân duyên tháp

Nghiên Đài Bút Tháp đại khối văn chương”

Có nghĩa là:

“Bảng Hổ, Cửa Rồng là để biểu dương nhân quả của người làm điều tốt

Đài Nghiên, Tháp Bút là để mô tả văn nghiệp của đất trời vĩ đại”

Như vậy, đã có Tháp Bút, phải có Đài Nghiên, mời các bạn chúng ta cùng vào tham quan cổng thứ 3, hay còn gọi là cổng Đài Nghiên.

Xin giới thiệu với các bạn phiến đá đặt trên nóc cổng kia chính là Đài Nghiên.

Đài Nghiên cũng được Nguyễn Văn Siêu cho làm từ lần trùng tu năm 1864.

Nghiên được tạc từ cả một tảng đá xanh, hình quả đào cắt ngang theo chiều dọc, khoét lõm lòng chảo, bề dài quả đào 0,97m, bề ngang 0,8m, cao 0,3m, chu vi chừng 2m.

Đài Nghiên được ba con cóc đội như ba cái chân kiềng.

Đặc biệt phía dưới Đài Nghiên, trong bức cuốn thư kia có khắc một bài minh của Nguyễn Văn Siêu.

Chỉ có 64 chữ Hán nhưng ý tứ thật hàm súc.

Hiện nay có nhiều bản dịch bài minh này, tôi xin đọc cho các bạn nghe bài dịch nghĩa của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc: “Xưa kía lấy gốc đất làm nghiên, chú giải Đạo Đức Kinh, nghiền ngẫm bên nghiên lớn, viết sách Hán Xuân Thu.

Từ đá tách ra làm nghiên, chẳng có hình dáng.

Không vuông, không tròn, dùng vào mọi việc thật kỳ diệu.

Không cao, không thấp ngôi ở chính giữa.

Cúi soi hồ Hoàn Kiếm, ngửa trông ngọn Bút đá ứng vào sao Thai mà làm ra mọi biến đổi.

Ngậm nguyên khí mà mài hư không”.

Có thể đây là một quan niệm có tính chất bản thể luận về cái nghiên mực và cũng là về tư tưởng của người đương thời.

Qua đây, có thể thấy được văn chương của Thần Siêu quả là hàm súc đầy ý nghĩa.

Cột cổng Đài Nghiên có đôi câu đối tả cảnh quan chung:

“Bát đảo, mặc ngân hồ thuỷ mãn

Kình thiên, bút thế thạch phong cao”

Nghĩa là:

“Tràn quanh đảo, ngấn mực đầy hồ

Trên cổng Đài Nghiên còn có hình tượng ba con dơi quay đầu xuống đất.

Theo tiếng Hán thì từ “dơi” khi đọc giống như từ phúc.

Vậy là ở đền Ngọc Sơn có cả ba yếu tố – Phúc, Lộc, Thọ.

Bây giờ mời các bạn qua một cây cầu với cái tên rất lạ – cầu Thê Húc để vào đền Ngọc Sơn.

Cũng như Hồ Gươm, Cầu Thê Húc đã làm cho ngôi đền hấp dẫn hơn đối với khách du lịch.

Mời Các bạn nhìn sang hai bên cầu có ghi chữ “Thê Húc Kiều” Thê là đậu, Húc là ánh sang ban mai, có nghĩa là cầu giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời.

Tuy nhiên, ban đầu cầu chỉ là những tấm ván đặt dọc theo mặt phẳng trên các hàng cột chon trong nước hồ, chưa có tay vịn.

Có lẽ về sau, qua những lần tu bổ, người ta mới làm đẹp cho cầu, làm cầu cong lên như hình cầu vồng lại sơn đỏ cho hợp với tên gọi cũng như kết hợp với màu nước trong xanh của hồ Gươm làm nên sự hài hòa âm dương theo như quan niệm trong Kinh Dịch.

Ngoài ra, để giải thích màu đỏ của cây cầu, người dân vẫn thường gắn với một câu chuyện rất hay là: Trong những năm đất nước ta bị giặc Pháp đô hộ, một số tên quan Pháp không hiểu gì về nền văn hiến Việt Nam dám ngổ ngáo dùng đền Ngọc Sơn làm nơi ăn chơi hưởng lạc làm ô uế chốn linh thiêng của đền.

Người dân quanh đó rất lấy làm phẫn uất.

Một cậu học trò tên là Giang Văn Minh ở phố Hàng Bông đã dùng mưu, đang đêm đốt cháy cầu khiến cho bọn Pháp hoảng sợ.

Từ đó chúng không dám kéo nhau đến nơi đầy và cũng từ đó cầu được sơn thành màu đỏ để nhắc cho mọi người nhớ tới hành động dũng cảm của cậu bé.

Cũng chính màu đỏ của cầu kết hợp với màu xanh của nước đã tôn thêm vẻ đẹp của ngôi đền.

Tiếp theo xin mời các bạn sang phía bên kia cầu.

Trước mặt các bạn đây là Đắc Nguyệt Lâu có nghĩa là lầu được trăng.

Lầu nhỏ xinh xắn có hai tầng, tầng hai có hai mái, có những cửa sổ hình tròn.

Bởi hình tròn tượng trưng cho dương còn nước tượng trưng cho âm.

Đây là sự kết hợp âm dương, chỉ sự tồn tại và phát triển.

Hai bên cửa sổ tròn có đôi câu đối ý tứ lãng mạn:

“Bất yểm hồ thượng nguyệt

Uyển tại thủy trung ương”

Có nghĩa là: Trăng trên hồ ngắm bao nhiêu cũng không chán, cứ như dầm mình trong làn nước miên man.

Mời các bạn nhìn sang hai bên cổng có hai bức tranh được đắp nổi gắn bằng mảnh sứ vỡ, bên phải các bạn đây là bức Long Mã Hà Đồ, bên trái kia là bức Thần Quy Lạc Thư.

Ở bức Long Mã Hà đồ có đắp nổi hình con ngựa, đầu rồng, trên lưng có đep cái bát quái.

Đấy là điển tích về thời vua huyền thoại Phục Hy ở Trung Quốc được đặt vào thời điểm cách ngày nay trên năm ngàn năm.

Thủa đó chưa có chữ viết.

Phục Hy một hôm thấy trên sông Hoàng hà nổi lên con long mã (đầu rồng, mình ngựa) trên lưng có vằn có nét.

Phục Hy liền dựa vào các vằn nét đó mà lập ra bảng vẽ có tám quẻ thẻ gọi là Bát quái toàn đồ.

Đời sau gọi là Hà đồ tức là đồ Bát quái rút ra từ sự tích long mã trên sông Hà.

Đó là những con số đếm đầu tiên, cũng là những chữ viết đầu tiên của người Trung Hoa.

Sau Phục Hy hàng vài trăm năm có huyền thoại Đại Vũ.

Ông này trong khi đi trị thủy ở sông Lạc thấy nổi lên một con rùa trên lưng có những chấm đen trắng đặc biệt theo trình tự.

Ông dựa vào các chấm đó mà tạo ra Cửu Trù (chin khoảnh).

Đời sau gọi là Lạc thư tức bản viết từ rùa thần sông Lạc.

Từ Bát quái và Cửu trù, những phát minh quan trọng về số học, đồng thời áp dụng vào việc tính toán, mở rộng ra có thể giải thích nhiều hiện tượng trước mắt và suy đoán những việc sẽ xảy ra trong vũ trụ, nhân sinh trong tự nhiên, xã hội và liên quan tới con người.

Tiếp theo xin mời các bạn theo tôi, chúng ta sẽ vào bên trong để tham quan khu vực chính của đền.

Thưa các bạn, trước mắt các bạn đây chính là Đình Trấn Ba, một kiến trúc thanh thoát và đậm chất thơ.

Được thần Siêu cho dựng cùng với Đài Nghiên và Tháp Bút năm 1865-1866 theo quan niệm “thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát quái”.

Theo đó hình thành lên kiến trúc hình vuông với 2 tầng 8 mái.

Trấn Ba Đình trước kia có một tấm bia gọi là Bài ký sửa lại miếu Văn Xương ( Trùng tu Văn Xương miếu bi ký ),hiện nay không tìm thấy bia này trong khu vực đền Ngọc Sơn nữa.

Bản dập của bia hiện nay ở trong kho dữ liệu Viện nghiên cứu Hán Nôm.

Theo đó, trấn Ba Đình được xây dựng với ngụ ý là đảm đương trào lưu văn hoá lớn hay còn có thể được hiểu theo một số ý kiến rằng Trấn Ba Đình như cột trụ chống lại văn hóa phức tạp giai đoạn giữa thế kỉ XIX.

Nhưng trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, ngôi đình đã bị đạn pháo phá sập.

Và cho đến năm 1951-1952, một số nhà hảo tâm đã đóng góp công của cho dựng lại ngôi đền như nguyên mẫu.

Theo đó những câu đối khắc vào những cây cột đá cũng được phục chế nguyên văn.

Đôi câu đối này khắc trên hai trụ đá quay mặt vào đền:

Miếu mạo sơn dung tương ẩn ước

Thiên quang vân ảnh cộng bồi hồi

Nghĩa là:

Dáng miếu hình non cùng ẩn hiện

Bóng mây ánh nắng cứ dùng dằng

Đôi câu đối này khắc trên trụ ngoảnh ra hồ

Kiếm hữu dư linh quang nhược thủy

Văn tòng đại khối thọ như sơn

Nghĩa là:

Kiếm ngậm khí thiêng ngời tựa nước

Văn hoà trời đất thọ như non

Và bây giờ, xin mời các bạn quay lại với điểm tham quan chính của chúng ta ngày hôm nay, ẩn hiện dưới những tán cổ thụ um tùm, chính là khu trung tâm của quần thể di tích đền Ngọc Sơn, cả về mặt kiến trúc cũng như thờ phụng.

Đền có 3 nếp nhà chính: nếp ngoài nơi bái đường – nơi hành lễ trước khi vào đền, nếp giữa là nơi thờ Văn Xương, Quan Vũ và Lã Tổ, nếp sau là nơi thờ Trần Hưng Đạo.

Các bạn thân mến!

Không gian chúng ta đang đứng đây chính là nhà Đại Bái, chính giữa bái đường đặt một hương án lớn, đây là nơi hành lễ trước khi vào đền.

Đặc biệt, hai bên hương án có đôi chim anh vũ tức chim vẹt.

Vâng, chắc hẳn là các bạn đang rất thắc mắc tại sao trong khu nhà Đaị Bái lại thờ hai con chim vẹt phải không ạ?

Tôi xin đc giải đáp, đó chính là con vẹt đã từng giúp nghĩa quân Lam sơn khi nghĩa quân bị bao vây trong rừng.

Lúc ấy lương thực cạn kiệt, nghĩa quân chưa biết lấy gì ăn để thoát khỏi tềnh trạng đó vã bỗng dưng họ nhìn thấy vẹt ăn quả chín.

Tướng quân bèn sai quân lính ăn thử và thấy không sao, sau đó họ lấy hạt đem gieo trồng.

Nhờ vậy mà nghĩa quân Lam Sơn đã thoát nạn và đánh thắng kẻ thù.

Chính vì thế mà hình tượng vẹt đc thờ trong đền.

Theo quan niệm dân gian, thờ vẹt là cầu mong sự no đủ.Tiếp theo, xin mời các bạn theo tôi vào thăm khu trung đường.

Như các bạn có thể thấy phía trong cùng kia là tượng Văn Xương, ở giữa là Lã Tổ và ngoài cùng là Quan Vũ.

Trước tiên tôi xin giới thiệu về Văn Xương Đế Quân hay còn gọi là Tử Đồng Quân, nguyên là vị thần ở Tử Đồng, Tử Xuyên đời Tần, họ Trương tên là Á Tử.

Sau khi đạo thư “Thanh Hà Nội Truyền” – một cuốn sách viết về đạo giáo ở Trung Quốc đời Tống tuyên xưng Trương anh Tử thành tiên, thăng thiên đc Ngọc hoàng giao cho quản lí phủ Văn Xương, cai quản công danh, lộc vị dưới trần gian.

Tương truyền vị thần này có thể cho các vị nhân sĩ khoa cử đc thuận lợi.

Do vậy, các văn nhân, quan lại, nho sĩ đều tôn thờ.

Trong những năm Chân Tông Hàm Bình thời nhà Tống (998 – 1003) được phong là Anh Hiển Vũ Liệt vương.

Năm Hồng trị nguyên niên nhà Minh (1448) Trương Cửu Công Tần yêu cầu các học cung trong thiên hạ phải lập đền thờ Văn Xương.

Và đền thờ Văn Xương có ở khắp nơi.

Đến đời Lê Thánh Tông, aứ thần Việt Nam là Nguyễn Công Định đi sứ ở Trung Quốc mới đem tượng thần về thờ chung ở Chân Vũ Quán với Huyền Thiên Chấn Vũ.

Đến năm 1843, hội hướng thiện mới rước thần về thờ ở đền Ngọc Sơn, hai bên tượng Văn Xương có thị nữ đứng hầu.

Bây giờ tôi xin được giới thiệu đôi chút về Lã Tổ.

Lã Tổ tức Đồng Tân, cũng là thần của đạo giáo.

Theo truyền thuyết ông là người đất kinh triệu đời Đường.

Do hai lần đi thi nhưng không đỗ nên bỏ lên núi Chung Sơn tu luyện kiếm pháp, học thần thư và luyện đan chữa bệnh.

Ông được coi là một trong 8 vị tiên được đời sau thờ cúng.

Hai bên tượng Lã Tổ có tượng Thiên Khôi, Thiên Việt.

Thiên Việt có hình dáng một ông lão đạo mạo.

Thiên Khôi mang hình dáng một tiểu quỷ mặt xanh, có sừng, mình trần, quần ngắn, cổ tay, cổ chân đeo vòng, thắt lưng đỏ, tay trái cầm sách, tay phải cầm bút dơ ngang đầu, một chân đứng trên lưng con giao long, một chân giơ lên.

Và bây giờ xin mời các bạn vào thăm gian cuối của ngôi đền, đó là hậu cung.

Gian này hẹp lòng nhưng cao hơn cả là nơi thờ Trần Hưng Đạo, vị anh hùng dân tộc đã ba lần đại phá quân nguyên sang xâm lược nước ta ở thế kỉ 13.

Phía bên phải của tượng Trần Hưng Đạo là tượng Trần Liễu, cha của ông, phía trái tượng Trần Hưng Đại là tượng thần linh Thổ Địa.

Việc thờ Hưng Đạo vương Trần Quốc tuấn ở hậu cung – nơi thiêng liêng nhất – chứng tỏ tính trội của tín ngưỡng bản địa.

Chắc hẳn các bạn đều biết Trần Quốc Tuấn là nhân vật lịch sử đích thực, từng là Tiết chế (tổng chỉ huy quân đội) đập tan các lần giặc Nguyên xâm lược ta hồi cuối thế kỷ XIII.

Trong tâm linh người Việt Nam, ngoài tư cách là vị anh hung dân tộc với nhiều chiến công mà nổi bật là trận Bạch Đằng vĩ đại lưu danh thiên cổ, người còn là đức Thánh Trần đầy tài trí uy lực diệt được mọi ma quỷ như khi sống người từng diệt con tà Phạm Nhan, một loại quỷ chuyên bức hại phụ nữ.

Thêm vào đó với tước phong rất trọng thị là Thượng phụ thượng trật thượng tướng quân, bình Bắc đại nguyên soái Hưng Đạo đại vương.

Người càng trở thành đối tượng được nhân dân nhiều đời nối tiếp thần thánh hóa và phụng thờ.

Trong cấm điện có những hoành phi, câu đối ca ngợi người như: Hạp khí lăng tiêu (Hạo khí ngất trời) hay Thiên cổ vĩ nhân (vĩ nhân của muôn đời).

Vâng thưa các bạn như vậy sau 2 giờ thăm quan tôi và các bạn chúng ta đã cùng nhau thăm quan đền Ngọc Sơn một trong những điểm du lịch nổi tiếng củathủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến tự hào của chúng ta, hy vọng với những thông tin tôi vừa giới thiệu sẽ giúp các bạn tăng thêm sự hiểu biết của minh về văn hóa lịch sử con người Niệt Nam.

Các bạn còn có những câu hỏi nào thăc mắc không ạ?

Tôi sẵn lòng trả lời các câu hỏi của các bạn trong tầm hiểu biết của mình.

Nếu như khong có câu hỏi thắc mắc nao nữa chúng ta sẽ kết thúc buổi thăm quan tại đây.

Trước khi chia thay mặt cho ban quản lí khu di tích, tôi xin chúc các bạn luôn có sức khỏe, hạnh phúc, thành cồng trong học tập.

Hy vọng chúng ta sẽ được gặp nhau trong các chương trình du lịch khác.

Xin chào tạm biệt và hẹn gặp lại.
 
Back
Top Bottom