Khác Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
141646312-256-k838491.jpg

Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
Tác giả: DngMon5
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Vào thập niên 40 của thế kỷ trước, sau khi bốn tên trộm mộ chia tư một cuốn sách cổ chiến lợi phẩm, bất ngờ có được những năng lực dị thường, cùng với đó, lời nguyền "khuyết nhất môn" độc địa của sách Lỗ Ban cũng lập tức ứng nghiệm...

60 năm sau, cháu trai của một tay trộm mộ năm xưa quyết tâm tìm lại những mảnh rời của sách Lỗ Ban, trả về cố chủ, hóa giải lời nguyền độc địa.

Và từ đoa, anh dấn thân vào hành trình đầy bất trắc , tìm về những chốn xưa ma quái, lang bạt giữa hai cõi âm dương khói sương hoang dại, bên cạnh đó là mối tình hư vô, và sau lưng là kẻ thù dấu mặt...



tìnhyêu​
 
Related threads
  • Nước mắt của Hoàng Quý Phi
  • "Tìm kiếm ánh mặt trời"
  • Kẻ Khắc Mặt Quỷ (Văn học Việt Nam)
  • (VN harmen) sự thật mất lòng
  • bí mật của Nazi là gì ?!
  • Trịnh-Nguyễn cơ mật
  • Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Chương 1: Đấu Pháp Giết Lợn


    Tôi tên Lưu Bất Chính, tên thường gọi là Vẹo, đã gần ba chục mà vẫn chưa thành gia thất, tục gọi là ế.

    Người thân duy nhất là ông ngoại Chu Hiếu Cổ, năm nay đã chín mươi tám.

    Ông ngoại Chu Hiếu Cổ là một người rất đặc biệt, ở cái thời đại chất tạo nạc, dầu cống rãnh lan tràn, ngay cả sữa bò cũng đầy độc tố này, có thể sống đến chín mươi tám tuổi, coi như cũng đã là một kỳ tích rồi chăng?

    Người ta đồn thổi rằng, ông ngoại biết thuật Lỗ Ban.

    Thuật Lỗ Ban chính là cái thứ được ghi chép trong sách Lỗ Ban.

    Sách Lỗ Ban là cuốn sách do thánh nhân thợ mộc thời thượng cổ Công Thâu Ban để lại.

    Ông là người nước Lỗ, thường được người đời gọi là Lỗ Ban, chỉ truyền lại một cuốn duy nhất, chia làm hai tập.

    Theo như người đời đồn đạ, trong cuốn sách có ghi lại một số pháp thuật thần kỳ bí hiểm, quỷ cái kinh dị, ví dụ như phép tàng hình (người ta đứng lù lù trước mặt anh, nhưng anh lại không thể nhìn thấy đối phương), phép định căn (khiến một người sống sờ sờ đứng yên một chỗ không thể nhúc nhích?), phép bịt miệng (tức là bạn há miệng ra, nhưng không thể thốt nổi một lời), phép niệm chú kim cô (đọc "Tây Du Ký" chưa?

    Chính là cái thứ con khỉ Tôn Ngộ Không đội trên đầu đấy, khi niệm thần chú, bảo đảm đau đến vỡ đầu), phép mắt âm dương (chính là nhìn thấy ma quỷ)!

    Còn có phép chơi xỏ, phép giết lợn, phép xay sữa đậu nành vân vân.

    Người ta còn đồn, người đã học thuật Lỗ Ban, thì góa bụa, mồ côi, cô độc, tàn tật, kiểu gì cũng trúng một cửa, vì vậy, thuật Lỗ Ban còn được gọi là "khuyết một cửa".

    Tôi chưa bao giờ nhìn thấy sách Lỗ Ban, lại càng chẳng biết thuật Lỗ Ban là gì, nhưng tôi biết, ông ngoại quả thực có rất nhiều điểm bí hiểm.

    Tôi là đồ đệ của ông ngoại, chúng tôi nghề nghiệp bề ngoài là thợ mộc, và còn là thợ mộc chỉ biết biết mỗi một việc là đóng quan tài, nhưng từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ tự mình đóng một cỗ quan tài hoàn chỉnh.

    Khi còn học nghề, đều cùng làm với ông ngoại.

    Bây giờ đã là thế kỷ 21 rồi, người vừa chết đã được đẩy ngay vào lò hóa thân hoàn vũ, rồi đổ vào hộp tro cốt, chẳng thiết đến quan tài.

    Bạn thử nghĩ xem, thân là một gã thợ mộc chỉ biết đóng quan tài, còn có tiền đồ gì đây?

    May mà tôi còn có một nghề khác: vua trộm.

    Thế nào là vua trộm?

    Chính là nhân vật có kỹ nghệ siêu quần trong phường trộm đạo.

    Trong ba trăm sáu mươi nghề từ cổ xưa truyền lại, nghề nào cũng có đạo riêng, nghề nào cũng có người thủ lĩnh.

    Cái gọi là đạo, chính là phương hướng, đường đi, phương pháp, kỹ năng, quy tắc, cấm kỵ, lý lẽ của mỗi một nghề.

    Trộm cướp, nghe tên đoán nghĩa, chính là những người theo nghề chôm chỉa cướp bóc.

    Trong đó trèo cổng, bò xà,đào tường khoét gạch, mở khóa phá tủ, ăn trộm của cải ở sau lưng chủ nhà, là trộm; móc giật cuỗm nẫng, trộm lấy tài sản ngay trên người khổ chủ, là cướp.

    Trộm và cướp mặc dù đi cùng một đường, nhưng đôi bên nước sông không phạm nước giếng.

    Phạm trù tôi nhắc đến ở đây là "trộm".

    Trộm lại chia làm 2 loại: trộm của người sống gọi là trộm trong, trộm của người chết gọi là trộm ngoài.

    Vua trộm là tên có phẩm hạnh và kỹ nghệ siêu việt.

    Đã là trộm, thì có phẩm hạnh quái gì được nhỉ?

    Rất đơn giản, bất kỳ ngành nghề nào nào cũng có quy tắc riêng, trong nghề ăn trộm cũng có rất nhiều quy tắc, nên mới có câu "quân tử trên xà", trộm cũng có đạo.

    Chỉ khi tuân thủ đúng theo những quy tắc này, mới được gọi là vua trộm.

    Cái nghề vua trộm này, cũng là học được từ ông ngoại tôi.

    Ông ngoại Chu Hiếu Cổ của tôi đến từ đâu, đã chẳng còn ai biết được.

    Tôi đã từng hỏi ông, ông không nói, cũng không cho phép tôi hỏi.

    Nghề ban ngày của ông chính là thợ mộc, nhưng chỉ biết đóng mỗi một thứ duy nhất là quan tài (rất nhiều vùng nông thôn còn tồn tại một tập tục, người già sống đến một độ tuổi nào đó là phải chuẩn bị sẵn quan tài).

    Ông ngoại có một bản lĩnh rất mực thần kỳ.

    Khi ông múa may cây rìu bổ phát đầu tiên xuống gỗ đóng quan tài, là ông lập tức biết được cụ già đó còn sống được thêm bao lâu nữa.

    Nhưng ông không nói ra, mà âm thầm dùng ám hiệu.

    Chủ nhân cỗ quan tài vào một lúc nào đó chắc chắn sẽ vô tình phát hiện ra bí mật này, rồi biết đường mà chuẩn bị hậu sự.

    Ngày tháng dần dà, ông ngoại đã trở nên nổi tiếng.

    Ông ngoại từng thu nhận hai đệ tử, đại sư bá Trương Đồ Tể, nhị sư thúc Ngưu Thợ Đá.

    Trương sư bá là một đồ tể, chuyên giết lợn giết dê giết trâu giết chó, không ai biết tên thật, mọi người đều quen gọi là Trương Đồ Tể, nghe nói cũng biết chút đỉnh pháp thuật.

    Tại sao sư bá lại bái ông ngoại tôi làm sư phụ?

    Điều này phải quay ngược lại rất nhiều năm trước đây.

    Lúc đó, Trương Đồ Tể eo ba chục tấc, mình cao chín thước, tính tình nóng như lửa, sức mạnh vô địch, là một đồ tể danh nổi như cồn khắp mấy chục dặm vuông.

    Sở trường giỏi nhất của sư bá là mổ lợn, bất kể là con lợn to cỡ nào, hung dữ tới đâu, ông cũng chẳng cần người trợ giúp, chỉ một mình đã xử lý gọn gàng.

    Sư bá mổ lợn cũng có tuyệt chiêu nhà nghề, một tay túm lấy một giò sau của con lợn ném lên bàn mổ, tay vung dao hạ, nhanh như chớp, một dao xuyên thấu tim con lợn, rồi giẫm một chân lên mình con lợn.

    Thông thường con lợn chỉ giãy giụa vài cái, máu chảy cạn kiệt là chết đứ đừ.

    Sư bá có một biệt hiệu là Trương Nhất Đao.

    Cũng có nghĩa là, từ trước đến nay, sư bá giết lợn chỉ cần một nhát dao.

    Vào một buổi sáng sớm nọ, Trương Nhất Đao nhận được một mối thuê của một người cùng họ thôn bên, nhờ sư bá đến mổ giúp một con lợn.

    Cụ già nhà họ Trương đột ngột qua đời, phải làm đám tang.

    Ông ngoại tôi cũng vừa hay được mời đi đóng quan tài.

    Một đồ tể, một thợ mộc, vốn dĩ là nước sông không phạm nước giếng.

    Nhưng hai người từ hai con đường khác nhau đi đến, vừa hay cũng phải đi qua một cây cầu, đá chỉ rộng tầm hai thước.

    Ông ngoại tôi bước lên cầu trước, Trương Đồ Tể lên cầu sau, vừa sải bước xồng xộc áp tới, vừa quát lớn:

    - Lão già khọm, mau dẹp sang một bên, đừng có cản đường ông...

    Lúc đó, ông ngoại tôi đã hơn năm chục.

    - Này anh bạn trẻ, cậu làm ông với ai thế?

    - Cái gì?

    Lão khọm già?

    Không phục phải không?

    Nếu không phải ông đây bận đi mổ lợn thì kiểu gì cũng đập cho lão một trận nhừ đòn!

    - Trương Đồ Tể hung hăng càn rỡ đã quen, chẳng thèm đếm xỉa đúng hay sai, chỉ thích nói chuyện bằng nắm đấm.

    Nắm đấm của ông đã múa may trong không trung, để lộ cánh tay to hơn cả miệng bát tô, khí thế hừng hực ngạo nghễ.

    - Cậu chính là cái anh đồ tể họ Trương chuyên nghề mổ lợn?

    - Ông ngoại không hề giận, chỉ khẽ cười.

    - Lão khọm, có biết danh tiếng của ông đây không?

    Ông đấy đi không đổi tên ngồi không đổi họ, Trương Đồ Tể mổ lợn, đời gọi là Trương Nhất Đao, một đao quyết sống chết, ha ha ha...

    - Trương Đồ Tể sẵn có vốn liếng kiêu ngạo ngông cuồng.

    - Trương Nhất Đao, đúng không?

    Ta không tin cậu mổ lợn chỉ cần đúng một đao, ta dám chắc hôm nay cậu sẽ không giết được con lợn đó!

    - Ông ngoại thủng thẳng đáp.

    - Thối như rắm!

    Con chó nào đang sủa đấy?

    Trên đời này làm gì có con lợn nào giết không chết, lại càng không có con lợn nào mà Trương Nhất Đao ông đây giết không chết!- Trương Đồ Tể đùng đùng nổi giận, lông mày dựng ngược, đến cả tóc cũng dựng đứng trên đầu.

    - Ta nói đấy!

    - Ông ngoại vẫn giọng tưng tửng.

    - Thối như rắm!

    Mả mẹ lão đánh rắm thối thế!

    Ông đây một đấm nện chết lão!

    - Trương Đồ Tể tai mũi xì khói, nhảy cồ cồ như thiên lôi.

    - Cậu không tin à?

    Đợi lát nữa khi giết lợn cậu sẽ biết ngay thôi!

    - Ông ngoại vẫn thản nhiên như không.

    - Thật à?

    - Trương Đồ Tể nhìn bộ dạng nghiêm túc của ông ngoại, gắng gượng kìm nén lửa giận trong lòng, trừng mắt hỏi ông ngoại.

    - Thật!

    - Ông ngoại gật đầu xác định.

    - Nếu ông đây giết được con lợn thì sao?

    - Lồng ngực của Trương Đồ Tể như muốn vỡ tung vì nén giận , nộ khí đằng đằng mà hỏi vặn.

    - Nếu như cậu giết được con lợn, ta sẽ dập đầu trước cậu ba cái, bái cậu làm thầy!

    - Ông ngoại đáp rất nghiêm túc.

    - Được lắm!

    - Trương Đồ Tể vừa nghe đã mặt mày hớn hở, hoa chân múa tay - Trên đời này chẳng có con lợn nào mà ông đây không giết được, lão cứ chờ đấy mà dập đầu gọi sư phụ đi!

    - Nếu cậu không giết được con lợn nào thì sao?

    - Ông ngoại thình lình hỏi vặn lại.

    - Ông đây sẽ dập đầu trước mặt lão ba mươi cái thật kêu, à không, ba trăm cái , bái lão làm sư phụ!

    - Trương Đồ Tể lập tức trả lời chẳng buồn suy nghĩ.

    - Không cần đến ba mươi cái đâu.

    Ba cái dập đầu, bái ta làm thầy.

    - Ông ngoại cười ha hả.

    - Được, quân tử nhất ngôn!

    - Trương Đồ Tể vỗ ngực đáp.

    Ông ngoại bèn tránh sang một bên, nhường cho Trương Đồ Tể đi trước.

    Trương Đồ Tể đi được mấy bước, lại ngoảnh đầu hỏi:

    - Lão khọm đừng có chạy đấy!

    Lát nữa nếu lão chối, ông đây biết tìm lão ở đâu?

    - Ta và cậu cùng đến một nhà, cậu mổ lợn, ta đóng quan tài.

    - Ông ngoại đi theo sau, nói.

    - Thì ra là thợ mộc Chu Hiếu Cổ chuyên đóng quan tài!

    Ta tưởng là cái giống gì, té ra là lão khọm già chết tiệt!

    Lại còn lẫn cẫn lú mề...

    - Trương Đồ Tể hậm hực rủa.

    Ông ngoại chả buồn nói thêm lời nào với Trương Đồ Tể.

    Hai người một trước một sau đến nhà chủ thuê.

    Ăn sáng xong, Trương Đồ Tể chuẩn bị giết lợn.

    Con lợn chỉ chừng hơn một tạ, mới nuôi được nửa năm, nếu như không phải là trong nhà có người chết, ai nỡ làm thịt nó?

    Trương Đồ Tể giắt con dao mổ lợn vào cạp quần, xoạc cẳng hùng hổ bước ào chuồng lợn, cánh tay hộ pháp vươn ra, chụp ngay lấy giò sau của con lợn, nhấc bổng nó lên.

    Cái sức lực phát khiếp này, đúng là chẳng ai bì kịp!

    Đám thợ mà chủ thuê về, và cả mấy tay hàng xóm đều bâu lại xem.

    Mọi người đều biết, Trương Đồ Tể giết lợn có tuyệt chiêu, rất đặc sắc, còn hấp dẫn hơn cả xem trò xiếc, không thể bỏ qua.

    Trương Đồ Tể cũng có ý đồ khoe mẽ, dù gì cũng đã cá cược với ông ngoại.

    Ông ngoại đang thong thả xếp ngay ngắn đám đồ lề, chuẩn bị đóng quan tài, chẳng thèm nhìn Trương Đồ Tể lấy một mắt.

    Con lợn có vẻ hơi khác thường.

    Bình thường nếu bị xách ngược lên, con lợn nào cũng kêu eng éc, đã chết đến đít rồi, kiểu gì cũng phải rống lên vài tiếng chứ?

    Nhưng con lợn này lại ngậm họng chẳng kêu tiếng nào.

    Trương Đồ Tể đắc ý liếc xéo ông ngoại một cái, rồi thình lình gầm lên một tiếng long trời lở đất, nhấc bổng cả con lợn lên cao, "oạch" một tiếng quật lên bàn mổ.

    Trương Đồ Tể tay trái ấn chặt con lợn, tay phải rút phắt con dao mổ đang giắt ngang hông nhanh như chớp xẹt thọc thẳng vào cổ con lợn, rồi quẳng toẹt dao xuống đất, một tay với lấy cái chậu gỗ đựng tiết, hứng vào vết dao dâm, chân còn lại đã giẫm chặt lên mình con lợn.

    Tiết lợn phun thành vòi từ vết đâm trên cổ, chảy tồ tồ vào chậu gỗ.

    Con lợn không kêu một tiếng, cũng chẳng hề giãy giụa.

    Trương Đồ Tể đứng thẳng người dậy, hai tay chống hông, bá khí rừng rực.

    Chân của Trương Đồ Tể vẫn giẫm lên mình con lợn, rung tít mấy cái, rồi ngẩng đầu, dương dương tự đắc nói với ông ngoại:

    - Lão Chu khọm, đến mà xem, lợn chết thẳng cẳng rồi nhé!

    Trên đời này làm gì có con lợn nào mà ông nội Trương Nhất Đao đây không giết chết được?

    Nực cười!

    Rồi Trương Đồ Tể nhấc chân ra, nghênh ngang đắc ý, đứng chờ ông ngoại đến bái lạy mình làm sư phụ!

    Ông ngoại thậm chí chẳng buồn ngẩng đầu lên, cứ thế vung rìu, bổ vào súc gỗ.

    - Á...

    Bên cạnh bỗng có tiếng người rú lên kinh hãi.

    Không!

    Không phải một người, mà là rất nhiều người cùng gào rú.

    Trương Đồ Tể vội cúi xuống nhìn.

    Từ cha sinh mẹ để đến giờ, ông chưa bao giờ thấy một chuyện quái gở đến thế: con lợn vừa bị một dao chọc tiết chảy cạn kiệt máu, giờ đây đang đứng thù lù trước thùng gỗ, lắc đầu vẫy đuôi tồm tộp uống tiết trong chậu, vẻ hết sức thỏa mãn.

    Đâu nào phải con lợn vừa mới bị chọc tiết?

    Rõ ràng là mọt con vật khỏe mạnh đang tung tăng chạy rông!

    Sao lại có thể như thế được?

    Trương Đồ Tể ngỡ rằng mình bị hoa mắt, vội vã đưa tay lên dụi lấy dụi để, nhìn lại lần nữa.

    Không sai, con lợn đó đã uống sạch tiết trong chậu gỗ, còn giơ mõm dũi dũi cái chậu, cứ như muốn tìm xem dưới đáy chậu còn thứ gì ăn được không.

    - Yêu quái!

    - Trương Đồ Tể rú lên thất thanh, rồi lại gầm lên một tiếng nữa, đưa tay xách ngược giò sau của con lợn lên, cả con lợn bị nhấc bổng lên thật cao, rồi quăng đánh huỵch lên bàn mổ.

    Trương Đồ Tể vung dao lên, lại thọc một phát, máu tươi lại tiếp tục phọt ra...

    Những người vây quanh căng thẳng và sợ hãi dán mắt vào con lợn, nhìn dòng tiết lợn đầu tiên phụt ra ồ ồ, sau đó tí tách từng giọt một...

    Hồi lâu sau, con lợn nằm yên bất động, không kêu một tiếng.

    Xung quang chỉ còn lại tiếng dìu chẻ gỗ của ông ngoại.

    - Yêu quái, giết chết mày, giết chết chị mày, giết chết em mày, giết chết cả họ hàng hang hốc nhà mày!

    - Trương Đồ Tể vừa chửi rủa, vừa đưa chan đạp thật lực lên con lợn.

    Với sức mạnh của ông, cho dù đâm không chết, cũng có thể dùng chân đạp chết con lợn.

    Bên cạnh cuối cùng đã có người lên tiếng:

    - Lần này chắc là toi thật rồi!

    Trương Đồ Tể nhấc chân ra.

    "Roác" một tiếng, cả bàn mổ thình lình vỡ toác thành hai mảng.

    Bàn mổ lợn ở nông thôn, chân ngắn, chắc chắn, có thể đỡ nổi nghìn cân, hơn nữa cho dù có hỏng, thì cũng phải hỏng hai bên trước, làm gì có chuyện toác đôi chính giữa?

    Và một sự việc quái đản hơn, bất ngờ hơn nữa đã xảy ra.

    Con lợn kia lật mình đứng dậy, một lần nữa vục đầu vào chậu tiết, uống tồm tộp cực hả hê.

    Một con lợn như thế, liệu có thể là con lợn đã bị Trương Đồ Tể chọc hai nhát dao chăng?

    Đám người đứng xem cả thảy đều há hốc miệng, trợn trừng mắt, thậm chí còn không dám thở mạnh.

    Trương Đồ Tể mặt trắng bệch, hai chân đã run lên khe khẽ.

    Thình lình, ông lao tới trước mặt ông ngoại, hai gối quỳ phịch xuống đất, cung kính dập đầu ba cái thật kêu, gọi liền ba tiếng:

    - Sư phụ, sư phụ, sư phụ, ông là sư phụ của tôi, tôi là đồ đệ, đồ đệ có mắt không thấy Thái Sơn...

    - Mau đứng dậy, đi cạo lông lợn thôi, nước sôi rồi!

    - Ông ngoại chỉ thủng thẳng nói một câu.

    Trương Đồ Tê đứng dậy, thì thấy con lợn kia đã nằm quay dưới đất, co giật đùng đùng, rống lên thảm thiết, máu từ cổ phụt lênh láng đầy đất, chẳng mấy chốc đã chết thẳng cẳng...

    Đại sư bá đã bái ông ngoại làm sư phụ, nhưng không theo ông ngoại học nghề đóng quan tài.

    Trong vòng mười dặm lấy đâu ra nhiều người chết đến thế?

    Sư bá vẫn theo nghề mổ lợn, nhưng cứ mỗi khi đến dịp lễ tết, lại sắm sanh rượu mứt, chuẩn bị lễ vật tạ ơn sư phụ chả thiếu thứ gì.

    Sau đó, sư bá lấy một cô vợ xinh đẹp, sinh được một người con trai, chính là đại sư huynh của tôi.

    Vào giữa trưa ngày nọ tháng nọ năm nọ, sư bá giết lợn, uống thêm hai chén rượu ở nhà gia chủ, mặt đỏ phừng phừng ngật ngưỡng trở về nhà.

    Đường về phải qua một con sông, trên bến có mười mấy người đang đợi đò.

    - Kia chẳng phải sư phụ Trương Nhất Đao hay sao?

    - Người trên bến đò tuy không biết sư bá, nhưng chỉ cần nhìn thấy đồ lề giắt trên người ông, đã đủ để nhận ra ông là ai.

    Đại sư bá trở thành nhân vật truyền kỳ ai ai cũng biết.

    - Trương sư phụ, làm điếu thuốc đi...

    - Mọi người xúm xít quanh đại sư bá.

    Sau một hồi tâng bốc, sư bá đã lâng lâng lên tít mây xanh.

    - Trương sư phụ, có phải sưu phụ biết phép thuật Lỗ Ban không?

    Nếu không, tại sao khi sư phụ giết lợn, nó lại ngoan ngoãn nghe lời sư phụ thế?

    - Có người tò mò hỏi.

    - Phép thuật?

    - Hề hề...

    - Đại sư bá nhành cái miệng cá ngão ra cười bí hiểm.

    - Như vậy là sư phụ đã thừa nhận là có biết?

    - Một người khác còn hiếu kỳ hơn hỏi.

    - Giết một con lợn có gì đáng nói?

    Ngay cả người, ta cũng có thể khiến hắn ngoan ngoãn nghe lời, ta muốn hắn làm gì thì hắn phải làm theo thế đấy...

    - Đại sư bá rượu vào là một tấc lên trời.

    - Thế thì biểu diễn cho mọi người xem cái nào!

    - Có người đề nghị.

    - Đúng đấy, trăm nghe không bằng một thấy, biểu diễn cho mọi người xem thử đi!

    - Mọi người cùng hùa vào giục giã.

    - Biểu diễn cái gì cho xôm nhỉ?

    Đại sư bá đang mải suy nghĩ, phía sau bỗng có một thằng cha vô lại lên tiếng:

    - Đằng kia có một cô em xinh lắm đang đi đến kìa!

    Trương sư phụ, sư phụ hãy bảo cô em cởi hết quần áo ra cho chúng tôi xem cái nào!

    - Được thôi!

    - Lời của sư bá thốt ra khiên mọi người chấn động - Ta sẽ cho mọi người xem con lợn trần bị lột hết da, ha ha ha...

    Đại sư bá lầm rầm tụng niệm một hồi, mọi người ai nấy trố mắt ra nhìn.

    Phía xa, cô gái kia vẫn đi về phía bến đò, vừa đi vừa cởi quần áo, từ trên xuống dưới, cởi đến không còn sót một mảnh vải...

    - Trương sư phụ, đấy chẳng phải là vợ của ông ư?

    - Có người nhận ra, hét toáng lên.

    - Cái gì?

    Vợ ta?

    Là vợ của ta á?

    - Trương Đồ Tể hoảng hốt, chân tay quýnh quáng.

    - Trương Đồ Tể, cái mắt chó của ông mù rồi hẳn?

    Nghìn dao vằm nát ông ra, chết không toàn thây!

    - Sư nương nhận ra mình bị đại sư bá thi triển phép thuật, xấu hổ không để đâu cho hết, lập tức nhảy lao đầu xuống sông.

    - Bà nó, bà nó ơi, bà nó ơi!

    - Đại sư bá cũng nhảy ùm xuống sông muốn cứu vợ lên, nhưng mặc dù đại sư bá biết mổ lợn, song lại không biết bơi, kết quả, hai người đều chết đuối.

    Khi vợ chồng đại sư bá chết đi, đại sư huynh mới mấy tuổi đầu, vừa lùn vừa gầy vừa đen đúa.

    Đại sư huynh gọi ông ngoại tôi là sư gia.

    Khi còn nhỏ, đại sư huynh muốn theo ông ngoại học nghề thợ mộc, ông ngoại bèn nói:

    - Con cứ đi mổ lợn thì hơn!

    Đại sư huynh nói:

    - Con chưa giết lợn bao giờ...

    Ông ngoại nói đại khái:

    - Lấy con dao mổ lợn của ông già con ra, muốn mổ thế nào thì cứ mổ thế ấy!

    Kết quả, đại sư huynh cứ như được thần linh trợ giúp, không cần thầy mà tự hiểu.

    Mấy năm sau, tiếng tăm của anh ấy còn vượt xa cả cha mình năm xưa, mọi người lại gọi anh ấy là Trương Nhất Đao.

    Bất kể là con gì, anh ấy cũng chỉ cần đúng một nhát dao, một dao đã hạ, không còn đường sống.
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Chương 2: Pháp Yếu Lệnh Thợ Đá


    Nhị sư thúc của tôi là thợ đá, họ Ngưu, họ gọi là Ngưu Thợ Đá.

    Mặc dù sư thúc tướng ngũ đoản, lùn tịt xấu xí, nhưng bẩm sinh sức khỏe phi thường, cũng khá khéo léo, xẻ núi phá đá, xây nhà làm móng, đắp mồ xây mả, không gì không tinh thông.

    Nghe nói, sư thúc thông hiểu phép yếu lệnh thợ đá, cũng là một loại trong thuật Lỗ Ban.

    Nhị sư thúc tính hơi nhỏ mọn, cũng là giữa đường bái ông ngoại tôi làm sư phụ.

    Vào ngày nọ tháng nọ năm nọ, cụ ông nhà họ Trần tám mươi tuổi hết thọ về trời.

    Họ Trần con cháu đầy nhà, tài lực hùng hậu, nên tất nhiên muốn làm đám tang thật trọng thể.

    Đám tang thật trọng thể, đương nhiên phải xẻ núi xây mộ, nhưng họ lại không thuê nhị sư thúc Ngưu Thợ Đá.

    Nhị sư thúc vô cùng hậm hực, trong vòng chục dặm quanh đây, còn có tay thợ đá nào tài giỏi hơn mình nữa?

    Ngươi dám coi thường ông đây, rồi sẽ có lúc ngươi phải cầu xin ông!

    Đêm đầu tiên trong đám tang nhà họ Trần, sự việc quái lạ đã xảy ra.

    Trong bếp lò lửa cháy bùng bùng, nhưng mặt bếp vẫn lạnh tanh lạnh ngắt, cơm nấu không chín, thức ăn đun không nóng.

    Cả nhà bếp rối tinh rối mù.

    Nhà họ Trần nhanh chóng hiểu ra, mình đã bị cao nhân phá đám.

    Kỳ thực, mọi việc là do Ngưu Thợ Đá gây rối.

    Ông ấy đứng ở sân sau nhà họ Trần lầm bầm tụng niệm mấy câu, là thần chú nấu cơm nấu thịt:

    - Trời mênh mông, đất mênh mông, đệ tử hiệu lệnh xong, gà trống không biết gáy, gà mái không biết kêu, cơm trương sình trong niêu, thịt nhảy nhót trong chảo, nháy mắt lửa tắt ráo, lạnh tanh lạnh ngắt như đóng băng, bảo ngươi không xong là không xong, nếu có người gặp phải, hoa mắt chóng mặt chẳng hiện hình, cúi xin Nam Đẩu lục tinh, Bắc Đẩu thất tinh, ta phụng mệnh Thái Thượng Lão Quân, gấp gấp như luật lệnh...

    Lúc đó, ông ngoại tôi cũng có mặt, vì khi nhập quan cần phải có mặt thợ mộc, người chết mới không hoàn hồn.

    Hoàn hồn, tức người xưa đồn rằng con người sau khi chết rồi, vẫn quyến luyến những thứ tốt đẹp trên tràn thế, không muốn rời đi, muốn tìm một người chết thay mình, để bản thân được sống lại.

    Lúc đó, ông ngoại đã rất nổi tiếng, muốn phá giải, đương nhiên phải nhờ ông ngoại giúp đỡ.

    Ông ngoại biết, thế này là có người "sát trụ", tức là có người đang thi triển phép thuật.

    Ông ngoại phá giải được phép thuật gọi là "phá sát trụ", cũng chính là định sát trụ.

    Ông ngoại bảo người bày bàn thờ quay về hướng bắc, thắp ba nén hương, trên bàn thờ bày một con gà trống lớn đã bị trói chặt.

    Ông ngoại đang "tế thần", tức là dâng lễ tạ tội với cao nhân đã đắc tội, cầu xin tha thứ, bỏ qua cho nhà họ Trần.

    Dù sao, nhà họ Trần vừa có người chết, tang gia bối rối, có điều sơ suất cũng là việc khó tránh.

    Nhưng nửa canh giờ đã trôi qua, bếp núc nhà họ Trần vẫn lạnh tanh lạnh ngắt.

    Ông ngoại bắt đầu hành động, một tay giơ cao cây rìu, một tay nhấc con gà lên, bên hông giắt cây thước Lỗ Ban, thong thả bước vào nhà bếp.

    Lưỡi rìu vừa lia, cần cổ gà đã bị cứa ngang, ông nhỏ xuống mỗi bếp lò một giọt tiết gà, rồi quát lớn một tiếng:

    - Định!

    Ông ném con gà xuống đất, nhanh như chớp xẹt rút cây thước thợ mộc ra, cắm thẳng vào giọt tiết gà.

    Thật kỳ lạ, bệ bếp vừa nãy còn lạnh ngắt lạnh ngơ, nháy mắt đã hơi nóng ngùn ngụt, nước trong nồi chưng sôi sùng sục, mùi thịt bốc thơm nức mũi, cơm cũng sắp chín dẻo.

    Đêm khuya, ông ngoại trở về nhà.

    Bên vệ đường có một người đứng lù lù như một khúc gỗ.

    - Tối rồi, về nhà đi!

    - Lúc đi ngang qua, ông ngoại nói với người đó.

    Người đó chính là nhị sư thúc Lưu Thợ Đá của tôi.

    Nghe đồn, Ngưu Thợ Đá đã dùng thần chú nấu cơm nấu thịt gây rối, khiến tất cả nồi niêu nhà họ Trần đun kiểu gì cũng không nóng được.

    Ông ngoại tôi không những phá giải được phép thuật của Ngưu Thợ Đá, mà còn dùng phép định căn khiến Lưu Thợ Đá phải đứng bất động bên vệ đường không thể nhúc nhích, để cảnh cáo ông ấy.

    Phép định căn quả thật thần kỳ, sau khi bị cố định, nếu như không gặp được cao thủ có thể phá giải phép định căn, thì bắt buộc phải là người làm phép định căn chính miệng nói ra, hoặc nhờ người khác bảo anh ta rời đi, như vậy mới phá giải được phép thuật, khôi phục hoạt động tự do.

    Nhị sư thúc biết mình đã gặp được cao nhân, liền bái ông ngoại làm sư phụ.

    Ông ngoại cảnh cáo nhị sư thúc, phép thuật chỉ có thể dùng để giúp người, không được dùng để hại người, nếu không sẽ bị trời phạt.

    Sau khi nhị sư thúc nhận được bài học này, quả thực đã khiêm tốn được khá nhiều năm.

    Một ngày nọ tháng nọ năm nọ, sông Bạch Hà đột nhiên dâng nước lũ, đánh sập một cây cầu đá đã có cả ngàn năm lịch sử.

    Sau khi nước lũ rút đi, trên lòng sông lưu lại một cái rãnh sâu ba thước, dài cả vài trăm trượng.

    Không biết là thứ gì đã để lại dấu vết này?

    Người trong thôn bàn tán ầm ĩ, nói rằng bên dưới cây cầu đá có một con mãng xà to lớn, u luyện thành rồng, khi rời đi về biển, đã kéo đổ cây cầu đá, rồi để lại dấu vết kéo dài dưới lòng sông...

    Đồn thổi kiểu gì thì đồn thổi, dù sao cây cầu cũng đã sập, người dân trong thôn đi lại vô cùng bất tiện, thế là mọi người gom góp được mấy vạn tiền, muốn xây lại cây cầu!

    Ngưu Thợ Đá cũng được mời tới tham gia xây dựng cầu đá.

    Nhưng người quy hoạch, thiết kế tổng thể lại là ông thợ đá già Lưu sư phụ.

    Ông đức cao vọng trọng, kỹ thuật tinh thâm, lại rất tốt bụng, đương nhiên sẽ là lựa chọn số một.

    Lưu sư phụ sắp xếp Ngưu Thợ Đá đẽo các viên đá.

    Kích thước của mỗi một phiến đá đều được quy định nghiêm ngặt.

    Đây chỉ là công việc của thợ đá tầm thường, trong lòng vô cùng hậm hực: Ngưu Thợ Đá ta là ai chứ?

    Trong vòng mười dặm, không ai không biết!

    Cái lão thợ đá họ Lưu kia chẳng qua chỉ lớn hơn ta hai chục tuổi, chứ có tài cán quái gì?

    Cũng muốn làm đại sư phụ?

    Ngưu Thợ Đá quyết định cho thợ đá Lưu biết mặt.

    Ngưu Thợ Đã rất cẩn thận đẽo gọt từng phiến đá.

    Ông Lưu hằng ngày đều dùng thước đo kích thước của mỗi phiến đá, phát hiện đá nào kích cỡ không đúng, là lập tức bỏ ngay.

    Nhưng ông ta không hề phát hiện ra có chỗ nào không ổn.

    Ngưu Thợ Đá âm thầm đắc ý, sau khi đẽo gọt xong một phiến đá, ông ta đều dùng xà beng vạch một nhát lên một mặt nào đó, phiến đá sẽ tự nhiên thiếu đi một chút xíu, chỉ nhìn bằng mắt thường sẽ không thể nào nhận ra được.

    Một phiến đá ngắn đi một chút xíu thì sẽ không có vấn đề gì, nhưng nếu như mấy trăm phiến đá đều ngắn đi một chút xíu thì sao?

    Chắc chắn sẽ là một vấn đề lớn.

    Xấy cầu vòm là công việc đòi hỏi sự thận trọng cao độ.

    Sau khi tất cả đá nguyên liệu đã chuẩn bị xong xuôi, liền tiến hành xây từ hai đầu, thực hiện với tốc độ nhanh nhất để hợp long ở giữa.

    Hơn nữa, phiến đá cuối cùng phải được khớp ở chính giữa, phiến đá cuối cùng sẽ quyết định sự thành bại của toàn bộ công trình kiến trúc cầu vòm.

    Ngày hợp long cầu đá, hai bờ sông Bạch Hà, người đông nghìn nghịt.

    Các thợ đá đều đã lui khỏi cây cầu.

    Lưu sư phụ nghiêm trang cầm phiến đá cuối cùng, trên phiến đá có khắc một cái tên: đá trần long.

    Ông đi lên điểm cao nhất của cây cầu đá, chỉ cần ông khớp phiến đá trấn long này vào, cây cầu vòm coi như đã được hoàn tất, còn có thể đề phòng rắn dưới cầu hóa thành rồng lật đổ cầu đá.

    Đi theo phía sau là đại đồ đệ của ông, trong tay đại đồ đệ cũng cầm một phiến đá.

    Người thợ già giàu kinh nghiệm luôn có sẵn phương án đề phòng, để đối phó với mọi tình huống bất ngờ có thể phát sinh.

    Sau khi Lưu sư phụ đặt phiến đá vào chỗ trống cuối cùng trên cây cầu mới phát hiện ra là hụt mất một phân, cây cầu vòm không thể nào hợp long được.

    Cây cầu vòm không thể hợp long, cầu không có lực, như vậy sẽ không thể nào coi là hoàn tất, cây cầu có thể sụp đổ bất cứ lúc nào.

    Lưu sư phụ lập tức hiểu rõ chuyện gì đã xảy ra.

    Sắc mặt Lưu sư phụ lộ rõ vẻ đau đớn.

    Ông ta bảo đệ tử đặt phiến đá còn lại sang một bên, dùng thước cứa đứt vào lòng bàn tay trái của mình, cho máu tươi chảy vào chỗ khuyết.

    Thình lình, Lưu sư phụ vung búa sắt lên, gõ lấy một mảnh đá từ phiến đá dự phòng, rồi chêm vào chỗ khuyết!

    Uỳnh!

    Một tiếng động dậy trời, cây cầu đá đã được hợp long.

    Lưu sư phụ ngã gục xuống cây cầu, mặt vàng như nghệ, hơi thở như tơ.

    Đại đồ đệ vội vàng đỡ Lưu sư phụ dậy.

    Lưu sư phụ cất giọng đứt quãng.

    - Ta không xong rồi... có thợ đá giở trò, sát trụ...

    Ta đã định sát trụ rồi, sau khi ta chết, ngày mai kẻ nào chết đi, kẻ đó chính là thủ phạm giở trò...

    Sát trụ, chính là trong quá trình thi công, cố tình tạo ra phiền phức, khiến công trình không thể thuận lợi hoàn công.

    Định sát trụ, chính là phá giải những phiền phức đó, để hoàn công thuận lợi.

    Sau khi cây cầu được hợp long, khánh thành thuận lợi, Lưu sư phụ cũng qua đời.

    Ông đã dùng cả tính mạng của mình để hoàn thành việc định sát trụ.

    Cây cầu trải qua khá nhiều trận lũ lớn, vẫn bình yên vô sự, còn được dùng đến tận ngày nay.

    Lúc đó, Ngưu Thợ Đá cũng có hơi hối hận, dù sao cũng là mình đã hại Lưu sư phụ mất mạng.

    Ngưu Thợ Đá ủ rũ trở về nhà, chẳng buồn ăn uống, lên giường ngủ luôn.

    Đến nửa đêm ông mơ thấy ác mộng, một lão già đầu tóc rũ rượi lao vào cửa, tay cầm một con dao nhọn, nghiêm giọng quát:

    - Ngưu Thợ Đá, chúng ta xây cầu là để tạo phúc cho dân, thế mà ngươi lại phá đám, quả tim của ngươi thật đen tối, để ta móc ra xem thử...

    Rồi không chút chần chừ, một dao rạch toang ngực Lưu Thợ Đá, moi ngay lấy quả tim.

    Ngưu Thợ Đá đưa mắt nhìn, quả nhiên trái tim của mình đã đen sì, lại nát bấy, chẳng khác gì đống bùn nhão.

    Ngưu Thợ Đá kinh hoàng choàng tỉnh khỏi cơn ác mộng, lồng ngực đau xé.

    Ông biết, bản thân mình chỉ vì chút tư thù hẹp hòi, suýt chút nữa làm hại toàn bộ dân chúng trong thôn Bạch Hà, còn Lưu sư phụ đã dùng cả tính mạng của ông để phá giải sát trụ.

    Làm ra chuyện đại bất nghĩa, đương nhiên sẽ bị trời phạt.

    Ngưu Thợ Đá nôn ra cả ba đấu máu, ngay cả máu nôn ra cũng một màu đen đặc, thế là xong đời!

    Đây chính là câu chuyện về nhị sư thúc của tôi.
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Chương 3: Mắt Âm Dương


    Một bộ mặt khác không ai biết tới của ông ngoại tôi, chính là vua trộm.

    Ông từng trộm gạo, trộm thịt trong nhà người khác, còn trộm cả mộ của người đã chết.

    Trong trí nhớ của tôi, tôi chưa bao giờ được gặp cha và mẹ, một mảy may ấn tượng cũng không có.

    Khi tôi lên bảy, ông ngoại đưa tôi đến ngôi trường cách nhà mười mấy dặm để đi học.

    Ông chỉ đưa tôi đi đúng một lần, sau đó, bất kể mưa gió bão táp thế nào, đều không đưa tôi thêm lần nào nữa.

    Thông thường, tôi ngủ dậy lúc năm giờ sáng, đi bộ hai giờ đồng hồ mới tới trường, bữa trưa ăn cơm tại trường, chiều tối lại đi bộ hai tiếng đồng hồ để trở về nhà.

    Sau khi về đến nhà, ông ngoại lại dạy tôi mở khóa, trèo tường, khoét gạch, leo cây và nhiều trò khác, ông không bao giờ nói rõ tôi phải làm gì, chỉ bắt tôi học theo ông.

    Năm tám tuổi, vào một tối nọ, ông ngoại và tôi đi bộ mấy chục dặm đường núi, đào tung một ngôi mộ cổ.

    Tôi cứ ngỡ ông ngoại sẽ bảo tôi lấy đồ trong mộ,nhưng ông lại bảo tôi ngủ cùng ông trong ngôi mộ sặc sụa mùi âm khí.

    Tôi không ngủ nổi.

    Nửa đêm khuya khoắt, gió lạnh buốt từng cơn, ngồi dậy.

    Đột nhiên, tôi nhìn thấy mấy kẻ áo trắng, lăm lăm tay dao tay súng, hung hăng xộc tới.

    Tôi cuống quýt lay ông ngoại đang ngủ ngon lành trong quan tài, hét toáng lên:

    - Ông ngoại, ông ngoại, có người cầm vũ khí đến đánh chúng ta...

    - Đó không phải là người!

    - Ông ngoại đang say giấc, chỉ trở mình một cái, chẳng buồn mở mắt, tiếp tục ngủ ngon lành.

    - Không phải người thì là gì?

    - Tôi hỏi dồn.

    - Ma!

    - Ông đáp gọn lỏn.

    - Ma là thứ gì?

    - Tôi ngạc nhiên hỏi.

    - Ma không phải là thứ gì hết!

    - Họ đến đánh chúng ta đấy!

    - Tôi hơi lo sợ - Họ cầm đao, còn có cả súng nữa...

    - Con có sợ không?

    - Ông ngoại vẫn nhắm mắt, hỏi tôi.

    - Không sợ, thấy cũng hay hay - Tôi nhìn mấy kẻ mặt quần áo trắng đang lao đến, nhưng đột nhiên lại ngã gục xuống đất, sau đó bò dậy, lại tiếp tục ngã, cứ thế ngã rồi lại dậy, dậy rồi lại ngã liên hồi kỳ trận...

    Ông ngoại không nói thêm gì nữa.

    Tôi thấy mấy kẻ áo trắng kia ôm lấy nhau, khóc lóc ai oán.

    - Ông ngoại ơi, họ đang khóc kìa, trong tội nghiệp quá!

    Tại sao họ lại khóc?

    - Tôi lại lay người ông ngoại.

    - Vì chúng ta đã chiếm mất nhà của họ!

    - Ông ngoại lụng bụng.

    - Chúng ta là người xấu phải không?

    Tại sao lại đi chiếm nhà của người ta?

    - Tôi hỏi ông ngoại.

    - Chúng ta ngủ đến khi trời sáng sẽ đi, có phải ngày nào cũng chiếm nhà của họ đâu?

    Nên nhớ, ma đều sợ người xấu...

    - Ông ngoại thản nhiên nói.

    Sau khi trời sáng, ông ngoại và tôi lấp lại ngôi mộ, sau đó trở về nhà.

    Tôi có cảm giác mình vừa trải qua một giấc mơ, không biết những gì xảy ra đêm qua có phải là thật hay không.

    Sau đó, ông ngoại hỏi tôi:

    - Con nhìn thấy bằng con mắt nào thế?

    Tôi ngẫm nhĩ một lát rồi khẳng định:

    - Mắt trái...

    - Lúc đó, khi nhìn, tôi cứ cảm giác không được rõ ràng, phải nheo mắt lại mới nhìn thấy rõ, nhưng nếu nheo mắt trái lại thì chẳng nhìn thấy gì nữa.

    Mấy năm sau tôi mới biết, mắt trái của tôi có thể nhìn thấy những thứ kỳ dị lạ thường.

    Ông ngoại nói, mắt trái của tôi nhìn âm, mắt phải nhìn dương, tôi có một cặp mắt âm dương.

    Năm tôi chín tuổi, vào một đêm khuya, ông ngoại dẫn tôi tới một ngôi nhà cách xa vài chục dặm.

    Ngôi nhà trông rất nguy nga, và còn có một cái sân rộng thênh thang.

    Ông ngoại nói với tôi:

    - Ở ngăn đáy chiếc tủ trong phòng thứ năm trên tầng hai của ngôi nhà này có một hộp sắt, trong hộp có một thứ rất đáng giá, con hãy trèo vào lấy cái hộp đó ra.

    - Chúng ta là kẻ trộm hả ông?

    - Tôi hỏi ông ngoại.

    - Chúng ta không phải là kẻ trộm, mà là kẻ trộm trong kẻ trộm, cũng tức là vua trộm, để ta xem con học kỹ nghệ đến đâu rồi!

    - Ông ngoại mỉm cười xoa đầu tôi - Mẹ con cũng vậy, cha con...

    - Cha con cũng vậy sao?

    Cha con ở đâu?

    Là người thế nào?

    - Tôi vội hỏi.

    - Không được phép hỏi đến cha con!

    - Ông ngoại nổi giận, đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông ngoại giận dữ.

    Tôi gật đầu.

    - Có dám vào lấy cái hộp ra không?

    - Ông ngoại hỏi tôi.

    - Dám!

    - Tôi trả lời.

    - Con vào trong lấy, ta ở ngoài đợi con!

    - Ông ngoại nói.

    - Vâng!

    - Tôi trèo qua tường bao, trước tiên thận trọng ngó nghiêng xem trong sân có chó hay không, sau đó mới nhảy xuống.

    Đang chuẩn bị trèo lên tầng hai, chợt nghe bên ngoài có tiếng người hô hoán:

    - Có trộm, mau bắt kẻ trộm...

    Đó, lại chính là tiếng hô của ông ngoại tôi.

    Kết quả, tôi bị người trong nhà tóm gọn.

    Có bảy tám người đàn ông, còn có vài người phụ nữ.

    Sau này tôi mới biết, trong nhà có tám người con trai, năm người cháu trai, sáu người con dâu, là một gia tộc cực lớn.

    Một người đàn ông nhấc bổng tôi lên, nói:

    - Bé tí thế này mà đã đi làm kẻ trộm?

    Treo lên đánh chết mày đi!

    Tôi lập tức khóc toáng lên:

    - Cháu không phải là kẻ trộm!

    Cháu không phải là kẻ trộm!

    Cháu đến đây tìm mẹ, mẹ cháu chạy theo người khác rồi, không cần cháu nữa.

    Cháu không có cơm ăn, hu hu...

    Tôi khóc đến nước mắt nước mũi đầm đìa.

    - Thằng bé này làm sao có thể là kẻ trộm được?

    Thật đáng thương!

    Mẹ chạy theo người khác, không có cơm ăn, chắc là đói bụng lắm rồi!

    - Một cụ bà hiền từ xoa đầu tôi, nói.

    Bà cụ nấu một bát mì to tướng, rán hai quả trứng thơm phức cho tôi ăn, sau đó ôm tôi ngủ.

    Đương nhiên là tôi không ngủ được.

    Trước khi trời sáng, tôi ôm theo cái hộp trộm được, trèo tường ra ngoài.

    Ông ngoại đang cười tủm tỉm nhìn tôi.

    - Ông ngoại, ông hại con?

    - Tôi rất tức giận - Con không gọi ông là ông ngoại nữa, gọi là ông ngoại xấu bụng...

    Ông ngoại khen gợi tôi không ngớt lời:

    - Theo cái nghề của chúng ta, kỹ xảo không phải là thứ quan trọng nhất, mà quan trọng nhất là cái đầu.

    Ta cũng cần phải thử xem con có tố chất hay không đã chứ!

    - Vậy con có tố chất không?

    - Cơn giận dữ đã vơi đi quá nửa, tôi vội hỏi.

    Ông ngoại dựng ngón tay cái lên với tôi.

    - Trong này có báu vật gì thế ông?

    - Tôi vỗ vỗ vào cái hộp.

    Kết quả, vừa mở ra xem, tôi đã sung sướng nhảy cẫng lên, bên trong đầy ắp những kẹo.

    - Ăn đi!

    - Ông ngoại tủm tỉm cười, nói.

    Chưa bao giờ tôi được ăn những viên kẹo ngọt ngào đến thế.

    - Có ngon không?

    - Ông ngoại lại hỏi tôi.

    - Ngon, ngon lắm ạ!

    - Tôi cười tít mắt.

    Rất nhiều năm sau tôi mới biết, cái hộp và toàn bộ kẹo đựng trong đó, đều là do ông ngoại tôi đặt vào, bảo tôi trộm về kỳ thực là bài kiểm tra dành cho tôi, đương nhiên, thành tích của tôi vô cùng lý tưởng.

    Năm mười lăm tuổi, tôi tốt nghiệp trung học cơ sở, thành tích chẳng ra sao, nhưng đã phải xa ông ngoại ra ngoài bươn chải, vào các dịp lễ tết mới trở về thăm ông.

    Từ năm hai mươi ba tuổi đến giờ, tôi đã ở Giang Thành được năm năm.

    Giang Thành có một ông chủ cỡ bự tên Lâm Đại Phát, người cũng như tên.

    Nghe nói, già nửa bất động sản ở Giang Thành đều do một tay ông tay gây dựng nên.

    Lại nghe nói, ông ta ném toàn bộ tiền mặt của mình xuống sông Trường Giang, có thể chặn đứng cả dòng nước, như thế đã đủ thấy ông ta nhiều tiền đến cỡ nào.

    Còn nghe nói, ông ta có một trăm lẻ tám cô nhân tình, một trắm lẻ chín tòa biệt thự.

    Rất nhiều người không phục, không chỉ là không phục, mà còn chế nhạo: Lâm Đại Phát lẽ nào là thần thánh hạ phàm, thân thể bằng kim cương hẳn?

    Có thể ứng phó với nhiều nhân tình đến thế?

    Chuyện này thì tôi không rõ, nhưng ông ta có một trăm lẻ chín tòa biệt thự thì tôi tin, vì tôi đã ghé thăm hết một trăm lẻ tám tòa biệt thự của ông ta rồi.

    Tôi là vua trộm, ghé thăm biệt thự của ông ta, đương nhiên là vì muốn mượn đỡ của cải của ông ta.

    Trong giới trộm đạo của chúng tôi, không thích dùng từ "trộm", mà quen dùng từ "lấy", hoặc "mượn", nghe thanh tao hơn chút đỉnh.

    Giới trộm đạo ở Giang Thành đồn đại rằng, trong tay Lâm Đại Phát có một viên dạ minh châu, nghe nói là đào lên từ mộ Từ Hy thái hậu, cho dù là giữa đêm đen, cũng có thể tỏa sáng rực rỡ, còn có tác dụng thần kỳ cải tử hoàn sinh, giá trị liên thành.

    Tôi muốn lấy viên dạ minh châu này, không phải vì ham giá trị của nó, mà là muốn đặt trong quan tài của mẹ tôi, nhờ vậy tôi mới có lí do chính đáng để nhìn mặt mẹ một lần.

    Ông ngoại đã từng nói với tôi, khi tôi qua đời, mẹ sinh khó nên đã mất, quan tài của mẹ tôi được đặt dưới tầng hầm của nhà tôi.

    Mặc dù mỗi năm, tôi đều xuống tầng hầm cúng mẹ một lần, nhưng chưa bao giờ tôi được nhìn thấy mẹ.

    Tôi chỉ muốn một lần được nhìn thấy hình dáng của mẹ, cho dù mẹ chỉ còn là đống xương trắng.

    Đã hơn hai mươi năm rồi, hẳn mẹ đã thành đống xương trắng!

    Hơn một năm trời, tôi đã ghé thăm một trăm lẻ tám tòa biệt thự của Lâm Đại Phát, nhưng vẫn chưa tìm thấy viên dạ minh châu.

    Tòa biệt thự cuối cùng tôi sẽ ghé thăm vào tối nay nằm ở bên bờ Trường Giang, còn có một cái tên rất hay: lầu Thính Vũ.

    Lầu nhỏ đêm trường nghe mưa xuân.

    Lẽ nào cái tên Lâm Đại Phát đầu múp bụng phệ, mê tiền hám lợi, thô bỉ tục tằn kia cũng hiểu thi tình họa ý hay sao?

    Trong biệt thự có rất nhiều tay chân giám sát, bốn tên vệ sĩ cao to lực lưỡng, sáu con chó gộc lúc nào cũng nhe nanh dữ tợn.

    Tất nhiên, những thứ này đều chẳng nhằm nhò gì với tôi.

    Vua trộm Lưu Bất Chính tiếng tăm hiển hách tuyệt đối không phải hạng hư danh, vài con chó dữ, mấy tên vệ sĩ bị thịt kia có là đáng gì?

    Kiến trúc chính của Lầu Thính Vũ có năm tầng, cao vài chục mét, có hai cầu thang lên xuống.

    Mặc dù không cao, lối đi cũng không phức tạp, nhưng tôi vừa nhìn đã nhận ra ngay, tòa nhà này là do cao thủ thiết kế.

    Gọi là "cao thủ" không phải là nhân vật nổi tiếng trong giới kiến trúc xây dựng, từng thiết kế nên những công trình nổi tiếng, mà là người tinh thông nghề cạm bẫy.

    Cạm bẫy, nói một cách đơn giản chính là những cơ quan được thiết kế để đối phó với trộm cắp, chủ yếu được đặt trên tường, lối đi, khóa, cửa sổ,...

    Nếu là một người đường đường chính chính đi vào, những thứ này sẽ chẳng có tác dụng gì với họ.

    Nhưng nếu như là một tên trộm trong lòng nơm nớp bước vào, thì lại là chuyện hoàn toàn khác.

    Kẻ trộm thông thường khi gặp phải cạm bẫy sẽ trở nên mất phương hướng, không thể nào tìm được thứ cần tìm, chẳng khác nào con ruồi mù lao bừa chạy loạn, va vào cửa rả sẽ phát ra tiếng động, nhầm đường chạy quanh, nhanh chóng bị chủ nhà phát hiện.

    Trong giới trộm cắp chúng tôi gọi hiện tượng này là "quỷ xây tường".

    Nếu như trộm không biết phá cạm bẫy, thì chỉ có một kết cục duy nhất: bị phát hiện.

    Kẻ may mắn còn có thể liều mạng thoát thân, kẻ xui xẻo sẽ bị tóm gọn.

    Bị tống vào ngục vãn còn được coi là số hên, còn chặt tay chặt chân, thậm chí mất nửa cái mạng, cũng là điều hết sức bình thường.

    Trộm cắp, ai mà chẳng căm ghét?

    Ai mà chẳng muốn đánh?

    Đương nhiên, đạo cao một thước, ma cao một trượng, người suy ta thịnh, người yếu ta mạnh, lại là một chuyện hoàn toàn khác.

    Vạn sự vạn vật, tương sinh tương khắc, nếu anh có thể vừa liếc mắt đã nhận ra ngay cạm bẫy, vậy thì, những cạm bẫy đó sẽ không thể nào cản được chân anh.

    Đây chính là bùa phép trong xây dựng.

    Tôi dễ dàng lên được tầng bốn.

    Vua trộm có được năng lực cảm giác vô cùng đặc biệt: cảm giác được thứ mà mình muốn đang đặt ở nơi nào!

    Nếu không, cứ tìm kiếm theo kiểu cuốn chiếu, thì còn gọi gì là vua trộm nữa?

    Tầng bốn có một phòng khác rất rộng, mà không, chính xác hơn, đó là một phòng tranh, phía chính đông là một phòng làm việc, trên mặt bàn màu vẽ, bút vẽ được bày gọn gàng.

    Một giá vẽ dựa vào mép bàn, bên trên còn kẹp một bức tranh mới vẽ xong một nửa.

    Trên tường treo mấy bức tranh, đều vẽ cùng một cô gái trẻ, áo trắng như tuyết, tóc dài phất phơ, mắt tỏng như nước, làn môi phơn phớt, một vệt đỏ hồng.

    Vừa nhìn thấy người con gái trong tranh, tôi lập tức chết sững.

    Tôi đã hai mươi tám tuổi đầu, về tâm lý hay sinh lý, đều hoàn toàn bình thường.

    Đã từng rung động, đã từng nắm tay con gái, nhưng tôi vẫn luôn giữ được trái tim trong trắng.

    Bởi vì từ khi mười tám tuổi, tôi đã thường xuyên mơ một giấc mơ kỳ lạ, mơ thấy một cô gái áo trắng như tuyết, tóc dài phất phơ, dịu dàng rất mực.

    Nàng nói với tôi, em là người duy nhất mà anh yêu trên cõi đời này!

    Tôi nói với nàng, suốt đời này anh chỉ yêu em...

    Sau này, tôi cảm thấy đây không phải là một giấc mộng, mà là một phần của cuộc đời tôi.

    Tôi vẫn luôn tìm kiếm người con gái ấy, cho dù phải tìm bao lâu, cho dùng phải dùng cả cuộc đời này, chỉ cần có thể tìm được nàng, tôi cũng sẵn lòng.

    Tôi đứng trước bức họa, nhìn ánh mắt tình tứ như làn nước chảy, trong lòng cảm xúc dâng trào.

    Ngoài cửa vẳng tiếng bước chân khe khẽ, êm đềm như cơn gió phất qua.

    Tôi đã nghe thấy.

    Nhưng trong gian phòng tranh trống trải, không có chỗ nào có thể ẩn nấp.

    Một làn hương thoang thoảng lan vào trong phòng.

    Một thiếu nữ thướt tha váy dài trắng muốt, hiện lên trước mắt tôi như một giấc mộng chợp chờn...

    - Là em?

    - Là anh?

    Tôi và nàng đồng thanh thốt lên.

    Không phải kinh ngạc, mà vô cùng điềm tĩnh.

    Nàng giống hệt như người con gái trong bức họa.

    - Em là Lâm Tiểu Ngộ.

    - Nàng khẽ mím đôi môi, mỉm cười rất đỗi dịu dàng - Anh là...

    Bất Chính...

    Vẹo?

    Giữa chúng tôi, như thể đã quen từ lâu lắm!

    Tôi đưa tay ra, nắm lấy tay nàng, tay nàng mềm mại, nhẹ bỗng như mơ:

    - Anh tìm em đã mười năm rồi, anh muốn đưa em đi.

    Nàng thẹn thùng gật đầu.

    Nàng chính là Lâm Tiểu Ngộ, con gái độc nhất của Lâm Đại Phát.

    Nàng và tôi sinh cùng giờ cùng ngày cùng tháng cùng năm, ngày chúng tôi ra đời khá đặc biệt: ngày mười năm tháng bảy âm lịch, tết cô hồn.

    Chúng sinh ai rồi cũng chết, chết rồi trở về với đất, thành hồn ma.

    Cái ngày đó, phải chăng cũng có chút gì dị thường?

    Ngay hôm sau tìm được Lâm Tiểu Ngộ, tôi đã dẫn nàng bỏ trốn...
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Chương 4: Phép Bối Huyết Chú


    Tôi lái một chiếc xe con màu đen, trước tiên xin được nói rõ, không phải là xe tôi ăn trộm, mà tôi đã bỏ ra năm vạn mua về từ chợ xe cũ, để thuận tiện cho công việc.

    Nay rời khỏi Giang Thành, đương nhiên sẽ phải mang theo toàn bộ gia tài của tôi.

    Trong cốp sau xe là đám đồ lề đóng quan tài như rìu, thước Lỗ Ban, hộp dây mực, cưa, đương nhiên đây cũng là những công cụ hành nghề vua trộm của tôi.

    Và ít quần áo để thay đổi.

    Trên ghế dãy sau là chiếc rương của Lâm Tiểu Ngộ, một chiếc rương không lớn, trong đó đựng thứ gì tôi cũng không biết.

    Lâm Tiểu Ngộ vẫn mặc chiếc váy dài trắng muốt như tuyết, ngồi nghiêng nghiêng trên ghế phụ, dựa lưng vào cửa sổ xe, tóc dài buông lơi trên vai, mềm mại như dải lụa.

    Nàng nhìn tôi với ánh mắt long lanh tình tứ.

    - Anh Vẹo, anh làm nghề gì vậy?

    Tôi thầm nghĩ một lát rồi đáp:

    - Thợ mộc.

    Trên vàng trán Lâm Tiểu Ngộ thoáng qua một nét u buồn:

    - Không được nói dối em!

    Trong mơ em thấy anh là...

    Tôi liếc mắt nhìn nàng, nói khẽ:

    - Anh lo sẽ làm em sợ!

    Ánh mắt Lâm Tiểu Ngộ bỗng vụt sáng

    - Em không sợ!

    Tôi đành phải nói thật:

    - Anh là một thợ mộc chỉ biết đóng quan tài!

    Tiểu Ngộ không hề cảm thấy sợ hãi, mà điềm tĩnh nói:

    - Cái chết là kết thúc của đời người, quan tài chính là chốn êm ấm sau cùng, cũng là sự khởi đầu của một thế giới hạnh phúc khác...

    Anh là một người tốt...

    Bàn tay cầm vô lăng của tôi đột nhiên run lên một chút thoáng.

    - Nằm trong quan tài do người đàn ông mình yêu nhất tự tay đóng cho mình, thật là một niềm hạnh phúc không gì sánh kịp!

    Hãy đồng ý với em, anh nhất định phải đóng cho em một cỗ quan tài êm ấm nhất...

    - Tiểu Ngộ như đang đắm chìm trong giấc mộng , khe khẽ thì thầm.

    Trái tim tôi cũng bắt đầu run rẩy.

    - Chúng ta vừa mới bắt đầu kia mà!

    Tiểu Ngộ bướng bỉnh nói:

    - Rồi cũng sẽ đến một ngày, chúng ta phải rời khỏi thế giới này...

    Tôi nói:

    - Ngày đó vẫn còn xa lắm!

    Sau một trăm năm nữa...

    Tiểu Ngộ nhìn tôi, ánh mắt đầy u uất, rồi nàng đột nhiên bất chấp tất cả, nhào về phía tôi, níu lấy tay cầm vô lăng của tôi, nói khẽ:

    - Nhưng anh phải đồng ý với em trước!

    Trước mặt, một chiếc xe tải cỡ lớn đang ầm ầm lao đến.

    Tôi cuống cuồng đánh vô lăng, chiếc xe lao qua sát bên hông xe tải như một ánh chớp.

    -Anh đồng ý với em!

    - Trán tôi túa ra mồ hôi lạnh,vội vàng nói với nàng - Nhưng em hãy buông tay anh ra trước đã.

    Tiểu Ngộ không hề có cảm giác gì trước mối nguy hiểm vừa rồi, mỉm cười dịu dàng, rồi buông tay tôi ra, ngồi về chỗ cũ:

    Ra khỏi Giang Thành, đi vào vùng núi, đường núi quanh co khúc khuỷu như rắn lượn, quấn quanh sườn núi.

    Tôi giảm tốc độ, Tiểu Ngộ vẫn nhìn tôi đắm đuối, tôi bèn trêu nàng:

    - Em nhìn anh, chẳng khác nào Bạch Cốt Tinh nhìn thấy Đường Tăng vậy.

    Tiểu Ngộ nghiêm túc nói.

    - Em chỉ muốn được nhìn anh, lúc nào cũng được nhìn anh như vậy...

    Tôi mỉm cười:

    -Anh đẹp trai hay xấu trai?

    Ánh mắt Tiểu Ngộ càng thêm tha thiết:

    - Đẹp hay xấu thì có hề gì?

    Em chỉ thích anh như thế này thôi!

    Trong lòng tôi bồi hồi xúc động.

    Tiểu Ngộ đột nhiên hỏi tôi:

    - Trong mắt anh, em đẹp hay xấu?

    Tôi bắt chước giọng điệu của nàng:

    - Đẹp hay xấu thì có hề gì?

    Anh chỉ thích em như thế này thôi!

    Tiểu Ngộ lại nói:

    - Con gái rồi sẽ già đi...

    Tôi nói:

    - Cho dù em có già thế nào, anh vẫn yêu em!

    Tiểu Ngộ mãn nguyện cúi đầu thấp:

    - Đường về nhà còn bao xa nữa?

    Tôi liếc ra ngoài cửa xe, nói:

    - Còn vài trăm cây số nữa!

    Nếu anh lái xe nhanh hơn, khi trời sáng sẽ về đến nhà...

    Tiểu Ngộ khẽ gật đầu, không nói gì nữa.

    Trời dần dần tối sập.

    Đường núi mỗi lúc một gập ghềnh, gió rít ù ù ngoài cửa kính.

    Bầu trời cũng không trăng, cũng không một ánh sao, đen quánh như mực.

    - Trời tối quá, chúng ta hãy tìm nơi nào đó nghỉ một đêm, đợi sáng mai đi tiếp nhé?

    - Tiểu Ngộ nhìn tôi, lo lắng hỏi.

    Tôi biết, nàng sợ tôi lái xe đêm sẽ mệt.

    Tôi lắc đầu:

    - Không sao đâu em!

    Trước mặt đột nhiên xuất hiện hai con đường, lại đều là khúc đường quanh, đèn xe chỉ có thể chiếu được mười mấy mét, trước mắt một màu đen kịt, đám cành cây chao đảo trong gió, đổ bóng lắc lư, giống như những cành cây đang vươn ra từ bóng tối...

    Tại sao lại có hai con đường nhỉ?

    Tôi không nhớ rõ nữa, cảm giác hình như trước đây khi trở về nhà cũng đi qua đoạn đường này, nhưng lại chẳng có chút ấn tượng gì về hai ngã rẽ trước mặt.

    Tôi hạ cửa kính xe xuống, một cơn gió lạnh thốc thẳng vào trong xe.

    Tiểu Ngộ vội vàng khép chặt vạt váy, hạ giọng nói khẽ:

    - Trong núi lạnh quá, tối quá...

    Tôi nói:

    - Để anh lấy cho em chiếc áo nhé.

    Tiểu Ngộ vội vàng kéo tôi lại:

    - Không cần đâu, em không lạnh, anh đừng xuống xe.

    Tôi cởi chiếc áo trên mình xuống, khoác lên cho nàng rồi quan sát một lúc, lựa chọn một ngả đường.

    Cũng không biết là đã đi bao lâu, Tiểu Ngộ đột nhiên rú lên kinh hãi:

    - Á...

    - Gì thế?

    - Tôi hốt hoảng.

    - Mộ!

    -Tiểu Ngộ nép sát vào tôi, tôi cảm nhận rõ cơ thể nàng đang run lên bần bật.

    Tôi nhìn về phía trước, quả nhiên, đèn xe đang chiếu lên một tấm bia, còn xe, đã đi đến trước ngôi mộ.

    Trước mắt đã không còn đường đi nữa.

    - Chẳng qua là đi nhầm đường thôi mà!

    - Tôi vội vã an ủi Tiểu Ngộ, đưa tay ôm lấy vai nàng, nhẹ nhàng vỗ về - Có anh ở đây, em đừng sợ!

    - Anh không sợ thật à?

    - Tiểu Ngộ hai tay ôm chặt lấy lưng tôi, giọng nàng run rẩy.

    - Có gì đáng sợ đâu?

    - Tôi điềm tĩnh hỏi lại.

    - Họ... nói... trông mộ có ma...

    - Tiểu Ngộ thì thào, chữ "ma" như bật ra qua kẽ răng.

    Tôi cười vang:

    - Bây giờ đã là thế kỷ hai mươi mốt rồi, em vẫn tin là có ma à?

    Đúng là con thỏ nhát gan!

    Tiểu Ngộ véo một cái vào hông tôi, giận hờn:

    - Nhưng người ta không phải là con thỏ nhát gan, mà là thiếu nữ nhát gan!

    Tôi lấy giọng nghiêm túc an ủi nàng:

    - Đừng sợ, mắt trái của anh có thể nhìn thấy ma!

    Tiểu Ngộ kinh ngạc hỏi lại:

    - Thật à?

    Tôi cười vang:

    - Đương nhiên là lừa em rồi!

    Lâm Tiểu Ngộ hờn dỗi:

    - Anh muốn chết à?

    - Rồi giơ nắm đấm lên dọa tôi.

    Tôi lập tức đầu hàng:

    - Xin tha mạng, anh phải lùi xe đây!

    Tôi lùi xe lại, quay đầu trở về núi, chẳng mấy chốc đã đến chỗ rẽ.

    Lần này, tất nhiên tôi chọn con đường phía dưới.

    Tôi vừa lái xe, vừa an ủi nàng:

    - Chúng ta sẽ tìm một nơi, nghỉ lại một đêm , đợi khi trời sáng sẽ đi tiếp!

    Tôi ngoài miệng nói không sợ ma, nhưng kỳ thực, chỉ là nói cứng để an ủi Tiểu Ngộ.

    Trên đời này có ma hay không?

    Có người thề thốt khẳng định đã từng gặp ma, có người lại chẳng thèm đếm xỉa, cho rằng trên đời chẳng có ma.

    Bởi vậy, tôi không thể nói rõ được, tuy nhiên, có nhiều truyện thần kỳ quái lạ vẫn không thể giải thích dưới góc độ khoa học, chỉ có thể nói tin sẽ linh, không tin thì không linh mà thôi.

    Nhưng tôi tin ông ngoại tôi đúng là có một số khả năng kỳ lạ.

    Chẳng mấy chốc, tôi phát hiện ra, bên đường có một dãy nhà một tầng, còn có một con đập không lớn lắm, và một hồ nước, rõ ràng là nơi tiếp nước cho xe cộp qua lại.

    - Chỗ này có người ở, thử xem chúng ta có thẻ xin nghỉ lại một đêm hay không.

    - Tôi lái xe vào bên trong con đập, dừng xe lại, nhưng không tắt đèn, mà mở cửa xe ngó nghiêng một lúc.

    Có vẻ đó là một căn nhà bốn gian, xếp thành một hàng, xây từ gỗ và gạch đá, trên cổng còn dán hai bức tranh môn thần đã tróc lở.

    Tiểu Ngộ đứng phía sau tôi, khoác bên ngoài chiếc áo sơ mi của tôi, một tay nắm chặt lấy một bên thắt lưng da của tôi.

    Tôi trấn an nàng:

    - Đừng sợ, anh vào gõ cửa!

    " Cộc, cộc, cộc!"

    Tôi gõ liền mấy tiếng, âm thanh vang vọng khác thuờng trong màn đêm tĩnh mịch.

    Tôi vừa gõ, vừa gọi:

    - Có ai không?

    Có ai không?

    Có ánh đèn loé qua khe cửa, sau đó là một giọng phụ nữ đầy ngờ vực:

    - Muốn đổ nước thì tự đổ đi!

    Tôi nghe giọng nói, đoán rằng bà ta khoảng chừng năm chục tuổi, thì vội nói:

    - Bác ơi,cháu và bạn gái muốn xin tá túc ở đây một đêm.

    Tiểu Ngộ ở sau lưng tôi cũng rụt rè gọi một tiếng:

    - Bác ơi!

    Cánh cửa cọt kẹt mở, thứ lọt ra đầu tiên là ánh đèn vàng vọt, sau đó, tôi nhìn thấy có hai người đứng bên trong, người phía trước mặc quần áo đen, người phía sau mặc váy trắng..

    Bên trái lối vào là một cái quầy sơ sài, chỉ là một tấm ván.

    Phía sau tấm ván là một cái giá gỗ, bên trên bày mấy cốc mì ăn liền, vài chai rượu trắng rẻ tiền, dăm bao thuốc lá.

    Chỗ này nhìn giống như một cửa hàng tạp hoá nhỏ.

    Người phụ nữ đứng trước tay cầm ngọn đèn dầu, bà ta nghiêng người châm thêm một ngọn đèn dầu khác trên quầy, căn phòng bống chốc sáng bừng lên, cũng ấm áp ơn nhiều

    - Vào đi!

    - Người phụ nữ mặc áo đen điềm đạm nói.

    Dưới ánh đèn, sắc mặt bà ta vàng ệch, chằng chịt nếp nhăn, tóc cắt ngắn.

    Bà né sang một bên, nhường lối cho tôi vào, Tiểu Ngộ vẫn bám sát theo sau, một tay nắm chặt lấy thắt lưng da của tôi.

    Tôi vừa liếc mắt đã nhìn thấy người phụ nữ mặc váy trắng đứng phía sau, có vẻ là một cô gái, rất trẻ, rất xinh đẹp, mái tóc rõ ràng đã được dày công chải chuốt, phía trước là vạt tóc mái rất hợp mốt, bên dưới tóc mái là cặp mắt màu lam thẫm, hàng mi dài rợp, khuôn mặt trắng muốt, cánh tay như ngọc, vừa nhìn đã biết không phải là con gái vùng núi.

    Cô ta cũng đang cảnh giác quan sát tôi và Tiểu Ngộ.

    - Bác gái, chúng cháu là người qua đường, đêm đã khuya, muốn xin nghỉ nhờ một đêm ở nhà bác, chỉ cần có chỗ ngả lưng là được.

    - Tôi rất lễ phép nói với người đàn bà mặc áo đen.

    - Ái Ni, thắp đèn ở căn phòng phía đông lên.

    Người đàn bà áo đen nói với cô gái váy trắng.

    - Vâng, thưa mẹ.

    - Cô gái váy trắng tên Ái Ni đáp một tiếng, giọng nói rất đỗi ngọt ngào, rất đỗi êm ái.

    Cô nhẹ nhàng xoay người, có lẽ do xoay hơi nhanh, nên vạt váy khẽ bay tung, đẹp như một điệu ballet.

    - Tôi đun chút nước nóng cho hai vị nhé!

    Người đàn bà mặc áo đen cất giọng quan tâm.

    - Trong núi lạnh lẽo uống chút nước nóng cho ấm người.

    - Bác ơi, úp cho chúng cháu hai gói mì nhé, cháu sẽ trả tiền cho bác.

    Tôi quay đầu nhìn Tiểu Ngộ, mặc dù một tay nàng vẫn giữ chặt lấy dây lưng tôi, nhưng sắc mặt đã đỡ hơn rất nhiều.

    nhăn, tóc cắt ngắn.

    Bà né sang một bên, nhường lối cho tôi vào, Tiểu Ngộ vẫn bám sát theo sau, một tay nắm chặt lấy dây lưng tôi, nhìn sắc mặt đã đỡ hơn rất nhiều.

    - Được thôi!

    Bà ta bình thản đáp một câu, lấy hai cốc mì ăn liền từ trên giá xuống, lại hỏi - Này chàng trai, cô gái, còn muốn lấy đồ gì trên xe nữa không?

    Không thì tôi đóng cửa đây!

    Tôi đưa mắt nhìn Tiểu Ngộ.

    Tiểu Ngộ lắc đầu, ý nói không cần.

    Người đàn bà áo đen liền đóng cửa, nghe cọt kẹt một tràng dài.

    - Này anh trai, này người đẹp, mau vào đây xem thử!

    - Ái Ni đứng trong phòng cất tiếng gọi.

    Bây giờ tôi đã có thể phán đóan, đây là hai mẹ con, mẹ mở trạm nước mui bên đường, nhân tiện bán chút hàng lặt vặt, con gái làm

    việc trong thành phố, hơn nữa, còn là một công việc văn phòng rất có giá.

    Căn phòng không lớn, chỉ có một chiếc giường, một cái bàn, vài cái ghế đẩu, nhưng rất sạch sẽ gọn gàng.

    Trên bàn có một ngọn đèn dầu, loại có chụp đèn thuỷ tinh, chụp đèn đã mờ đục, nên ánh sáng cũng vàng vọt u ám.

    Tôi và Tiểu Ngộ đi vào phòng, tôi nói:

    - Cảm ơn cô Ái Ni.

    Chắc là cô làm việc ở trong thành phố?

    Ái Ni gật đầu.

    Tôi nhìn thấy một bàn chân của cô thò ra ngoài, đi chiếc dép lê rất đẹp.

    - Hai người từ Giang Thành đến?

    - Ái Ni hỏi.

    - Đúng vậy!

    Tôi nở nụ cười thân thiện

    -Tôi tên là Lưu Bất Chính, đây là bạn gái tôi, Lâm Tiểu Ngộ.

    - Lưu Bất Chính, bất chính tức là Vẹo phải không?

    - Ái Ni bật cười phì một tiếng, vội vàng đưa bàn tay nhỏ nhắn lên che miệng.

    Tôi nghiêm túc trả lời:

    - Tên tục của tôi là Vẹo.

    - Tôi họ Tần, Tần Ái Ni, là giám đốc bộ phận của công ty bất động sản Đại Giang tại Giang Thành, về sau nếu muốn mua nhà ở Giang Thành, cứ đến tìm tôi...

    - Ái Ni vừa nói, vừa đi ra khỏi cửa, hình bóng xinh đẹp chớp cái đã biến mất trước cửa căn phòng phía tây.

    Tiểu Ngộ chợt mỉm cười, giờ nàng đã cảm thấy thoải mái hơn nhiều.

    Tôi nhìn thấy nàng cười, vội hỏi:

    - Sao thế em?

    - Nhân viên của ba em!

    - Lâm Tiểu Ngộ ghé sát bên tai tôi, cười khẽ - Bây giờ thì chúng ta an toàn rồi...

    Chẳng mấy chốc, bác gái đã bưng hai bát mì tôm bốc hơi nghi ngút vào phòng, vừa đi vừa nói:

    - Ăn đi, ăn xong thì nghỉ ngơi cho khoẻ, trời sáng còn tiếp tục lên đường.

    Từ khi đường tỉnh lộ được làm xong con đường này chắng còn mấy xe qua lại nữa, chỗ tôi đã lâu rồi không có người nghỉ trọ...

    Trong giọng bà đấy về buồn bã.

    Bây giờ tôi mới hiểu, thì ra con đường tỉnh lộ đã đổi, xe qua lại ít đi, chẳng trách ở đây không thấy bóng người.

    Tôi cảm ơn bà, rồi bưng cho Tiểu Ngộ một bá.

    Người đàn bà cũng ra khỏi phòng, tiện tay đóng cửa lại.

    Tiểu Ngộ uống mấy thìa nước rồi không ăn nữa, tôi nghĩ nàng là tiểu thư lá ngọc cành vàng, chắc không nuốt nổi những thứ thế này, nhưng cũng chẳng còn cách nào khác.

    Tôi thì xì xụp ăn cho đến no.

    Sau đó lên giường đi ngủ.

    Chiếc giường có phần đặc biệt, trông hơi cũ kỹ, lớp sơn đã sạm đen, chứng tỏ đã rất lâu đời, nhưng rõ ràng lúc trước nó không được đặt ở đây.

    Căn nhà này không thể lâu năm hơn chiếc giường được, rất có thể là nó được chuyển đến từ nơi khác, hơn nữa, trông rất giống chiếc giường tân hôn mà người xưa tặng cho con gái làm của hồi môn.

    Giường mới, người mới, tình duyên mới, trái tim tôi xốn xang khó tả.

    Tiểu Ngộ rất tự nhiên rúc vào lòng tôi, nép sát vào ngực tôi, rồi ngước mắt lên, nhìn tôi đầy hạnh phúc.

    Ánh mắt nàng tình ý miên man như nước chảy.

    Tôi thực sự cảm thấy hơi ngượng nghịu, từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ thân mật với cô gái nào đến vậy.

    Khắp cơ thể nàng lan toả một mùi hương dìu dặt, ảnh mắt nàng dần dần rừng rực như lửa cháy.

    Toàn thân tôi nóng sốt, cũng như muốn bốc cháy theo.

    Tôi muốn ôm nàng chặt hơn nữa, muốn hôn nàng, nàng cũng sẵn sàng đón nhận tôi.

    Nhưng chúng tôi vừa chuyển động, chiếc giường lập tức lắc lư dữ dội, còn phát ra những tiếng kẽo kẹt vô cùng quải đản.

    Dường như một cái chân giường nào đó đã đè lên cẳng chân của một đứa trẻ, chiếc giường lắc lư khiến đứa trẻ phía dưới cất lên tiếng rên rỉ đầy đau đớn.

    Tôi và Tiểu Ngộ lập tức dừng mọi động tác lại, ngọn lửa hừng hực như đã bị dội lên một xô nước lạnh.

    Căn phòng lặng phắc như tờ, chỉ còn nghe thấy tiếng tim đập thình thịch của đối phương.

    Tôi nhìn Tiểu Ngộ, Tiểu Ngộ cũng nhìn tôi, trong đôi măt xinh đẹp của nàng tràn đầy khiếp sợ.

    Tôi thì thầm bên tai nàng:

    - Đợi tối mai trở về nhà, chúng ta sẽ...

    Tiểu Ngộ khẽ cắn vào môi tôi:

    - Đáng ghét...

    Ngọn đèn dầu trên bàn vẫn cháy, toả ra một quầng sáng vàng vọt.

    Từ bên ngoài vắng lại tiếng bước chân khe khẽ.

    Tiểu Ngộ nép sát đầu vào ngực tôi, những móng tay nhỏ nhắn như bấm ngập vào da thịt tôi.

    Tiếng bước chân dừng lại trước cửa phòng của chúng tôi, sau đó là hai tiếng gõ cửa khe khẽ, và một giọng thì thẩm:

    - Đã ngủ chưa?

    Là giọng của Tân Ái Ni.

    - Có chuyện gì không?

    - Tôi cố gắng hết sức để lấy lại bình tĩnh, rồi mới trả lời.

    - Mẹ tôi nói trên núi lạnh giá, bảo tôi mang thêm đến một tấm chăn!

    - Giọng Tẩn Ái Ni không to không nhỏ.

    Tôi đưa mắt nhìn Tiểu Ngộ, nhẹ nhàng đấy nàng sang một bên, sau đó đứng dậy, mặc quần áo vào, rồi đi ra ở cửa.

    Tần Ái Ni đứng trước cửa, hai tay ôm một tấm chăn dày.

    - Cảm ơn!

    -Khi tôi nhận lấy tấm chăn, hai tay vô tình chạm phải tay của Tần Ái Ni, tay của cô rất lạnh, lạnh như băng đá.

    Cô chỉ gật đầu rất khẽ, rồi quay người, đi như lướt về phòng.

    Tấm chăn vẫn ấm, bên trên còn phảng phất hương thơm, nhưng tại sao tay cô ấy lại lạnh đển thế.

    Tôi trở về giường, rũ tấm chăn ra, đắp cho tôi và tiểu Ngộ.

    Tiểu Ngộ ghé sát bên tai tôi, nói:

    - Đừng thổi tắt đèn!

    Tôi gật đầu.

    - Anh không được ngủ, em cũng không ngủ!

    - Tiểu Ngộ lại nói.

    Tôi ngạc nhiên nhìn nàng.

    - Cô ta không phải là người!

    Giọng Tiểu Ngộ run lên.

    - Cái gì?

    -Tôi lấy làm quái lạ.

    - Cô ta không có bóng.

    - Tiểu Ngộ ngập ngừng một lát lại nói thêm một câu - Lúc nãy em không nhìn thấy bóng của cô ta, chỉ ma mới không có bóng.

    - Ngốc quá!

    - Tôi an ủi, rồi trêu nàng - Trên đời này làm gì có ma, cho dù có ma thật, thì ma cũng không tìm em đâu, mà sẽ tìm anh!

    Vì cô ta là ma nữ mà anh là đàn ông...

    - Em không cho cô ta tìm anh!

    - Tiểu Ngộ chực khóc, lại véo cánh tay tôi - Bất kể là khi nào, em và anh cũng sẽ mãi mãi bên nhau.

    Tôi thoắt đã nhiệt huyết dâng trào, hào khí muôn dặm:

    - Anh là đàn ông kia mà, em yên tâm, bắt dăm ba con ma nữ lại chẳng dễ như trở bàn tay!

    Đêm đó, chúng tôi không ngủ, cũng chẳng làm gì khác.

    Nếu muốn làm gì, chiếc giường lập tức phát ra những tiểng kêu quái đản, hắt ngay một thau nước lạnh lên ham muốn của chúng tôi, khiến nó tắt ngúm...

    Tôi biết, đây là do thợ mộc đóng giường đã giở trò quỷ.

    Thông thường, khi đóng giường cho cô dâu, phải tặng phong bao cho thợ mộc để thể hiện tấm lòng.

    Nếu như không cho, thợ mộc sẽ không hài lòng, khi đóng giường sẽ cố tình để lại chỗ hở, khiến chiếc giường không thể khớp hoàn toàn.

    Người ngủ trên giường, chỉ khẽ trở mình, lập tức phát ra tiếng cọt kẹt, gây ảnh hưởng tới giấc ngủ.

    Người hiểu biết chỉ cần lấy mảnh gỗ chêm vào, sẽ không còn gì đáng ngại...

    Cái này không phải là phép thuật, mà là cơ quan.

    Cũng chẳng biết đã qua bao lâu, tôi và Tiểu Ngộ đều đang mơ mơ màng màng.

    - Cứu với!

    Đột nhiên, một tiếng thét chói tai vang lên, xé toang bầu tĩnh mịch.

    Tôi và Tiểu Ngộ cùng giật nảy mình ngôi bật dậy.

    Tiểu Ngộ kêu rú lên, tôi một tay ôm lấy Tiểu Ngộ, tay còn lại với ngay chiếc ghế ở trước giường giơ cao lên.

    Tôi nghĩ, nếu có ma quỷ nào dám xông vào, tôi sẽ dùng chiếc ghế đập nó chết tươi.

    Từ bên ngoài vắng lại tiếng khóc ai oán của người đàn bà:

    - Ái Ni!

    Con không được chết!

    Cha con chết rồi, em trai con chết rồi, giờ con cũng chết, bảo mẹ phải làm sao đây...

    Trong tiếng khóc, còn lẫn cả tiếng đập đầu bình bịch vào tường.

    Tôi lấy hết can đảm, ngẩng đầu lên nhìn, bên ngoài cửa sổ sáng bạch, trời đã sáng rồi!

    Tôi vung chiếc ghế đập thẳng vào cửa sổ, loảng xoảng một tiếng, cửa sổ đã vỡ toang, một luồng ảnh sáng ồ ạt tràn vào trong phòng.

    Trời sáng rồi, còn có gì đáng sợ nữa?

    Tôi một tay cầm ghế, một tay ôm lấy Tiểu Ngộ, mở cửa buồng ngủ trước, rôi giơ chân đạp tung cửa chính, căn phòng thoảng chốc đã sáng trưng.

    Chỉ thấy bác gái ngồi bệt trước cửa, vừa khóc thảm thiết vừa đập đầu vào tường, chẳng có bất cứ phản ứng gì đối với hành động đạp cửa của tôi vừa nãy.

    Tôi và Tiểu Ngộ chay ra ngoài cửa, gió lạnh xộc đến, chúng tôi rùng mình ớn lạnh, nhanh chóng tỉnh táo trở lại.

    Xe của tôi vẫn đỗ im lìm bên ngoài.

    Núi vấn là núi, đường vẫn là đường, chỉ là phía xa xăm có chút sương mù vấn vít.

    Bà mẹ vẫn ngồi trước cửa, khóc lóc thảm thiết.

    - Chúng ta đi thôi!

    Tiểu Ngộ ôm chặt lấy cánh tay tôi, giọng đầy khiếp sợ.

    Tôi lấy từ cốp sau xe ra một chiếc rìu và một cây thước.

    Ông ngoại từng nói, thợ mộc có rìu và thước trong tay, yêu ma quỷ quái nào cũng phải thoái lui ba phần.

    Thước Lỗ Ban có phép thước, rìu có phép rìu.

    Tôi một tay cầm rìu, một tay cầm thước, xông vào trong nhà, quát lớn:

    -Có chuyện gì?

    Nghe thấy tiểng quát của tôi, người đàn bà vội ngẩng đầu lên nhìn, ánh mắt đó, chất chứa đớn đau, tuyệt vọng, rõ ràng là nỗi đau của một người mẹ mất con, làm gì có ma quỷ nào?

    Tôi quẳng rìu và thước xuống đất, hạ giọng hỏi:

    -Bác gái, đã xảy ra chuyện gì vậy?

    -Con gái tôi chết rồi!

    -Người đàn bà đưa tay quệt nước mắt, đau đớn nói.

    - Hôm qua vẫn bình thường cơ mà?

    -Tôi nghi ngờ hỏi.

    - Con gái tôi tim không tốt, bố và em trai nó cũng ra đi như vậy...

    Người đàn bà đáp.

    - Có cần gọi bác sĩ không?

    - Tôi đã hơi bấn loạn.

    - Gọi bác sĩ gì?

    - Bà ta ngẩng lên, ánh mắt đục ngầu bỗng sáng lên.

    - Gọi bác sĩ đến cấp cứu!

    - Lúc này tôi mới nhớ đến điện thoại di động, tôi có điện thoại, nhưng không thường dùng, vì nghề nghiệp của tôi mà mang theo điện thoại bên người sẽ chẳng có ích lợi gì.

    Ví dụ đang lúc rình mò, điện thoại lại kêu toáng lên, chẳng phải sẽ hỏng bét?

    Vì vậy, điện thoại của tôi lúc nào cũng vứt trong xe, còn Lâm Tiểu Ngộ khi bỏ trốn cùng tôi, lại chẳng mang theo điện thoại.

    Trong cuộc sống của nàng, không cần đến điện thoại...

    Tôi ra ngoài, tìm điện thoại trong xe, vừa nhìn, chẳng có vạch sóng nào.

    Hơn nữa, ở đây cách Giang Thành những hơn hai trăm cây số, quanh đây có thị trấn nào không, tôi cũng chẳng biết.

    - Chúng ta có xe, có thể đưa cô ấy đi tìm bác sĩ!

    - Lâm Tiểu Ngộ nhắc nhớ tôi.

    - Ừ nhỉ!

    - Tôi chẵng nghĩ ngợi nhiều, lập tức lao vào căn phòng của mẹ con Tần Ái Ni.

    Bên trong rất sáng, vì cửa sổ đều đã mở toang.

    Có hai chiếc giường, rất cũ kỹ.

    Tần Ái Ni nằm trên một chiếc giường, trên người vẫn đắp một tấm chăn, đường nét cơ thể cô trông giống như một tác phẩm nghệ thuật đã định hình, trang nghiêm và tuyệt mỹ.

    Tôi đưa tay ra.

    Sau lưng tôi vang lên một tiếng quát giận dữ:

    -Cậu định làm gì?

    Tôi ngoái lại nhìn, là bà mẹ, dường như tóc tai đã dựng đứng cả lên, những thớ thịt trên khuôn mặt căng cứng.

    Tôi giật nảy mình, vội nói:

    - Cháu muốn xem xem có phải cô ấy bị bệnh hay không?

    Nếu còn có thể, cháu sẽ dùng xe chở cô ấy xuống núi tìm bác sĩ...

    Bà mẹ cúi gằm đầu, nước mắt lã chã rơi trên đất.

    Tôi đặt ngón tay lên trước mũi Tẩn Ái Ni, thấy lạnh ngắt, hàng mi của cô rủ xuống, không hề động đậy.

    Tôi đặt tay vào trước ngực cô, không còn chút hơi ấm.

    Tôi khẽ kéo tay cô, cũng lạnh ngắt như vậy.

    Cô ấy chết rồi.

    Đêm hôm qua vẫn còn nói nói cười cười, trời vừa sáng, cô ấy đã chết rồi.

    Tôi quay đầu nhìn bà mẹ, thấy Tiểu Ngộ cũng đứng bên khung cửa, sắc mặt đầy đớn đau và buồn khổ.

    - Bác gái, bây giờ phải làm sao?

    - Tôi hỏi.

    Kỳ thực, đúng ra phải là bà hỏi tôi câu này mới đúng.

    Nhưng kết quả đã khiến tôi bất ngờ hết sức, bà ta lại nói:

    - Còn làm thế nào được nữa?

    Người cũng đã đi rồi...

    Chàng trai, cậu có thể đưa tôi xuống núi tìm một thợ mộc, đóng cho nó một có quan tài, tiễn nó lên đường hay không?

    - Cháu chính là thợ mộc đây...

    - Không biết tại sao, tôi lại buột miệng nói ra câu này - Cháu sẽ làm cho cô ấy một cỗ quan tài!

    Tôi cảm thấy, tôi nên đóng cho cô ấy một cỗ quan tài, tiễn cô ấy lên đường.

    Tôi nghe thấy tiếng kêu ai oán của Tiểu Ngộ ngoài khung cửa, rồi nàng ngồi thụp xuống đất, đưa một tay lên vuốt ngực.

    Bác gái cảm kích liếc nhìn tôi, nói:

    - Chàng trai, cậu là người tốt, tôi cảm ơn cậu trước...

    Rồi bà dẫn tôi đến căn phòng ở ngoài cùng, bên trong có vài súc gỗ, bà nói: .

    - Số gỗ này vốn dĩ để chuẩn bị đóng quan tài cho tôi, cậu xem có thứ nào dùng được không, cần bao nhiêu thì cứ lấy bấy nhiêu...

    Tôi chuyển một ít gỗ đến bên con đập, rồi kê một miếng gỗ lên hai chiếc ghế băng làm bệ, sau đó bày tất cả công cụ dàn hàng lên trên đó.

    Tôi điều chỉnh hộp dây mực, bên trong có sẵn mực, thêm chút nước nóng, cầm thanh gỗ khuấy lên là có thể dùng được.

    Sau đó, tôi đặt một súc gỗ ngay ngắn lên trên bệ.

    Đóng quan tài là công việc có nhiều quy tắc nghiêm ngặt, súc gỗ đầu tiên sẽ đặt ở trên cùng làm nắp quan tài, cần bổ nhát rìu đầu tiên và nhát rìu cuối cùng, tức là có đầu có cuối.

    Tôi giẫm một chân lên súc gỗ, sau khi nhát rìu đầu tiên bổ xuống, một vụn gỗ bắn vụt đi rất xa, suýt chút nữa thì bay tới tận dưới chân vách núi bên ngoài con đập.

    Tôi giật mình kinh hãi.

    Khi ông ngoại đóng quan tài,đã từng nói với tôi, nhát rìu đầu tiên sẽ biết được người

    này còn sóng thêm bao lâu nữa.

    Nếu vụn gỗ bắn ra xa, sẽ sống thêm được dài lâu, nếu rơi ngay dưới chân, thời gian sống chẳng còn mấy nỗi.

    Ông ngoại cầm cây thước gỗ đo đạc khoảng cách, sau đó tính toán một hồi, sẽ tìm ra được ngày tháng chính xác.

    Tất nhiên, ông tính toán thế nào thì tôi không biết được.

    Theo như cách nói của ông ngoại, nếu là người đã chết đi, mạt gỗ sau nhát rìu đầu tiên chắc chắn sẽ không thể bắn đi xa.

    Nhưng tại sao hôm nay mạt gỗ đầu tiên lại bắn đi xa đến vậy?

    Rõ ràng cô ta đã chết rồi kia mà?

    Tôi cũng không nghĩ ngợi nhiều, bắt đầu mải miết làm việc một cách tuần tự nghiêm cẩn.

    Đây là lẩn đầu tiên tôi đóng quan tài một mình, nhưng thao tác vẫn rất thuận tay, cứ như được thần linh trợ giúp, Lâm Tiểu Ngộ đứng trước chiếc xe hơi, nàng phủ một tờ giấy vẽ lên nắp ca pô, vừa nhìn vừa vẽ.

    Lúc này tôi mới biết, trong chiếc rương mà nàng mang theo, ngoài mấy bộ quần áo thay đồ, chỉ có giấy vẽ và bút vẽ.

    - Em là hoạ sĩ à?

    - Tôi mồ hôi như trút.

    -Hoạ sĩ tài giỏi đến mấy cũng không thể vẽ ra được cái lực, cái thần và sự hoàn mỹ của anh lúc này...

    - Nàng giơ một tờ giấy vẽ lên cho tôi xem.

    Tôi thấy nàng hạ bút không nhiều, nhưng nét vẽ nào cũng rất mực tinh tế.

    Tôi hơi ngờ vực:

    - Anh có đẹp trai đến vậy không?

    Nàng không nói năng gì, tiếp tục vẽ tác phẩm của nàng...

    Trước khi trời tối, cỗ quan tài đã được đóng xong, chỉ có điều không có sơn để sơn.

    Bà mẹ nói, cứ đặt quan tài ở trong phòng là được.

    Tôi bèn vác cỗ quan tài vào trong phòng.

    Tôi nhìn lại lần nữa Tần Ái Ni đang nằm bất động trên giường, ước gì cô ấy có thể đột nhiên sống dậy.

    Bà mẹ đã trải một tấm chăn vào trong quan tài, tôi nói với bà

    - Cháu đặt cô ấy vào trong nhé?

    Bà buồn bã gật đẩu.

    Kỳ thực, tôi không dám chắc là cô ấy đã chết, người ta sao có thể chết một cách kỳ quặc đến thể được?

    Tôi bế cô lên, cảm giác như đang ôm một cây nước đá.

    Có người nói, cơ thể người chết rất nặng, nhưng tôi không thấy vậy, có câm giác cơ thể cô mềm mại như bông, không hề cứng nhắc.

    Tôi từ từ đặt cô vào trong quan tài.

    Bà mẹ phủ một tờ giấy lên mặt cô.

    Vào khoảnh khắc nắp quan tài đóng lại, tôi có cảm giảc dường như một thứ gì đó của bản thân cũng đã bị đặt vào trong quan tài.

    Bà mẹ khuôn mặt thẫn thờ, khẽ nói một câu:

    - Cảm ơn cậu, chàng trai.

    Trong nhà bếp có cơm, hai người ăn đi, tôi không muốn ăn, tôi muốn ngồi với con gái tôi thêm lát nữa.

    - Để cháu sửa lại cửa sổ và cửa phòng đã!

    Tôi nhìn những cửa rả đã bị mình phá hỏng, nói:

    Bà không nói gì, khẽ khàng đóng cửa lại.

    Tôi sửa xong cửa phòng và cửa sổ, cũng tiện thể sửa luôn cả chiếc giường.

    Khớp mộng ở một chân giường bị lỏng, nên người nằm trên giường vừa cựa quậy sẽ phát ra tiếng kẽo kẹt.

    Tôi dùng rìu chẻ lấy một mảnh gỗ nhỏ, chêm vào đó, còn thử ngồi lên giường lắc mạnh mấy cái, không còn thấy có tiếng kêu nào nữa.

    Ăn cơm tối xong, trời đã tối sập, tôi và Tiểu Ngộ lại nằm ôm nhau trên giường.

    Đêm đen quánh, gió thổi ù ù bên ngoài.

    Một ngọn đèn lặng lẽ cháy sáng...

    Ánh đèn mỗi lúc một mờ mịt.

    Tiểu Ngộ nãy giờ cứ nằm rạp trên người tôi, hai mất nhìn chằm chằm vào ngọn đèn, rồi nàng đột ngột khẽ hỏi:

    - Anh Vẹo, đèn hết dầu rồi sẽ tắt phải không?

    Tôi gật đầu.

    - Con người già rồi sẽ chết phải không?

    - Tiểu Ngộ lại hỏi, trong giọng nói có vẻ bi thương.

    Tôi lại gật đẩu.

    - Nhưng sao cô ấy chưa già mà đã chết?

    - Tiểu Ngộ ngẩng đầu lên, nhìn tôi, ánh mắt chất chứa niêm đau đớn.

    Tôi sững người:

    - Đời người có sinh lão bệnh tử, đều là những hiện tượng bình thường!

    Nàng đột nhiên ôm chặt lấy cổ tôi, khe khẽ thì thầm:

    - Tại sao chúng ta không ở bên nhau từ mười năm về trước?

    Khoảnh khắc đó, tôi bỗng phát giác ra, cuộc đời tôi không thể thiếu được nàng.

    Tôi ôm lấy nàng một cách bản năng, hôn nàng, yêu nàng, nồng nhiệt đến cháy bỏng...

    Ánh đèn mỗi lúc một tối tăm...

    Tiểu Ngộ yên lặng nằm trong lòng tôi, nước mắt lăn dài trên ngực tôi.

    Nước mắt của nàng lạnh, rất lạnh.

    Nước mắt của nàng tại sao lại lạnh đến vậy?

    Trái tim nàng cũng lạnh lẽo thế ư?

    Tôi không nói gì, chỉ vòng tay ôm nàng thật chặt, để nàng cảm thấy mình mãi mãi ở trong lòng tôi.

    - Vẹo ơi, lúc nãy anh có nghe thấy tiếng gì không?

    Em nghe thấy tiếng mẹ em đang gọi!

    - Tiểu Ngộ đột ngột ngóc đầu dậy.

    Tôi cũng ngẩng đầu lên.

    Vào khoảnh khắc bốn mắt nhìn nhau, cơ thể tôi bống rùng lên dữ dội, ngay cả trải tim cũng run bần bật.

    Thứ chảy ra từ khóe mắt Tiểu Ngộ không phải nước mắt, mà là máu tươi, hai hàng máu đó chảy dọc theo khuôn mặt trắng muốt của nàng, xuống cổ, xuống cơ thể, rôi chảy sang người tôi...

    - Máu?

    Máu ở đâu chảy ra thể.

    Tiểu Ngộ nhìn thấy vẻ kinh hãi của tôi, bèn cúi đầu xuống nhìn, khắp cơ thể nàng và tôi đầm đìa những máu, máu đỏ loà loà, đỏ như ngọn lửa rực cháy...

    Nàng đưa tay lên quệt mắt, chìa ra nhìn, rồi lập tức ngã gục lên người tôi, hôn mê bất tỉnh...

    Phép bối huyết chú!

    Tôi chợt nhớ lại, ông ngoại từng nói với tôi về một loại bùa chú tàn độc!

    Người con gái bị yểm bùa chú nếu lên giường với người con trai mình yêu thứ chảy ra từ trong mắt sẽ không phải là nước mắt, mà là máu tươi...

    Trời ơi!

    Sao việc quái đản này lại xảy ra với người con gái yêu tôi?

    Tôi nhảy xuống giường, chẳng kịp lau máu trên cơ thể, vội bế Tiểu Ngộ lên, mở cửa chạy thẳng ra ngoài.

    Tôi phải cứu Tiểu Ngộ.

    Người duy nhất có thể cứu Tiểu Ngộ, có lẽ chính là ông ngoại tôi...
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Chương 5: Phép Hạ Âm


    Trời vừa hửng sáng, tôi đã về đến nhà mình.

    Nhà của tôi nằm trong một thung lũng hẹp gọi là Hoang Xung trong núi Ô Long.

    Con đường cái gần nhất cũng cách đến mười lăm dặm, xung quanh không có nhà dân, chỉ có một con đường mòn hoang vu.

    Lúc này, cỏ dại bên đường cao rợp, đã hoàn toàn che khuất con đường...

    Nhưng tôi vẫn tìm được đường về nhà.

    Tôi bế Tiểu Ngộ trên tay, nàng vẫn chưa tỉnh lại, khóe mắt đã không còn máu chảy ra nữa, có lẽ đã chảy cạn rồi.

    Toàn bộ cơ thể nàng đã bị máu tươi nhuộm đỏ, cả thân người tôi cũng toàn là máu và máu.

    Máu vẫn chưa khô.

    Tôi bế Tiểu Ngộ chạy như bay trên đường.

    Tôi chỉ nghe thấy nhịp tim thình thịch và tiếng bước chân của chính mình...

    Một con chó mực to lớn lao đến trước mặt.

    - Mực!

    - Tôi hét lớn một tiếng.

    Mực là con chó nuôi trong nhà tôi, đã nuôi được tám năm rồi, lần nào tôi trở về nó cũng chạy ra ngoài cả mấy dặm để đón tôi như có phép thần thông.

    Con Mực vẫy đuôi tíu tít.

    - Mực!

    - Tôi chả còn tâm trí nào để chào nó thêm nữa.

    Con Mực cũng nhìn thấy tôi đang bế một cô gái trên tay, liền quay đầu chạy thẳng, vừa chạy vừa sủa.

    Tôi hiểu ý của nó : "Anh Vẹo trở về rồi!

    Anh Vẹo trở về rồi!

    Nhà của tôi là căn nhà gỗ ba gian, trải qua mưa dầm bão táp, đã cũ kỹ lắm rồi, nhưng không hề mục nát.

    Trên mặt đất ba gian, dưới mặt đất cũng ba gian, từ khi tôi có nhận thức, đã biết dưới lòng đất có ba gian phòng, đều được xây bằng ván gỗ, đẹp tuyệt vời.

    Người ở dưới lòng đất là bà ngoại và mẹ tôi, quan tài của họ được đặt trong đó, không có quan tài của cha tôi.

    Tôi cũng từng hỏi cha tôi đã đi đâu, nhưng ông ngoại không trả lời tôi, cũng không có phép tôi hỏi nữa.

    Hàng năm, chỉ đến ngày cúng bà ngoại và mẹ, ông mới cho phép tôi cùng ông xuống dưới...

    - Ông ngoại...

    - Tôi bế Tiểu Ngộ lao vào trong cửa.

    Ông ngoại đang ngồi trên giường.

    Ông ngoại rất lùn, rất gầy, không bao giờ hút thuốc, cũng không uống rượu, không ăn thịt, có khi một ngày ăn một bữa cơm, thậm chí hai ba ngày mới ăn một bữa, đậu phụ, rau nấu trong nước trắng, thêm chút muối là được.

    Ông có thói quen uống trà, trà do ông tự trồng, một vạt lớn ở trên núi.

    Lá trà không hề trải qua gia công, cứ hái xuống phơi xong rồi dùng.

    Lúc này ông ngoại đang bưng ấm trà lên uống.

    Ấm trà của ông được làm bằng gỗ, tức là một khúc gỗ khoét rỗng ở giữa, giống hệt như chiếc cốc, vừa có thể chứa nước, vừa có thể hãm trà.

    Trên giường của ông ngoại có một tấm chăn mỏng manh, quần áo trên người ông cũng là chức áo kiểu Mãn cài khuy vải cũ kỹ màu đen, bất kể xuân hạ thu đông ông đều mặc hai chiếc.

    Mùa đông, trong núi tuyết rơi, cũng không thấy ông mặc thêm quần áo, hơn nữa, trong trí nhớ của tôi, để xuyên thấu tâm can người khác...

    - Ông ngoại...

    - Tôi vẫn bế Tiểu Ngộ trên tay, cuống cuồng hét lớn.

    Ông ngoại chậm rãi ngẩng đầu lên liếc nhìn tôi một cái, rồi điềm đạm nói:

    - Về rồi à...

    - Ông ngoại, bạn gái con...

    Ông hãy cứu cô ấy với!

    - Ruột gan tôi như lửa thiêu.

    Ông ngoại cứ như không nghe thấy, nâng chén trà lên, khẽ nhấp một hớp.

    Con Mực đứng bên cạnh, há miệng cắn lấy gấu quần của tôi kéo ra phía ngoài.

    Ai cũng bảo chó hiểu tính người nhưng những con chó có thể thông minh như con Mực là cực hiếm.

    Tối hiểu ý con Mực, nó muốn tôi đưa Tiểu Ngộ về phòng.

    Tôi bế Tiểu Ngộ quay đi, chỉ nghe thấy ông ngoại ở phía sau nói một câu:

    - Đưa nó xuống gian thứ nhất tầng hầm...

    Giọng ông như vẳng lại từ đồng hoang vạn cổ, mặc dù rất khẽ, rất nhẹ, nhưng mỗi một chữ tôi đều nghe rõ mồn một.

    Tôi gật đầu.

    Cửa vào của tầng hầm ở ngay cạnh giường của ông ngoại, được đậy bằng một phiến đá, đẩy khẽ một cái, phiến đá lập tức trượt đi không một tiếng động, để lộ ra một cánh cửa rộng chừng hai thước, phía dưới là dãy bậc thang kéo dài.

    Có ánh đèn yếu ớt từ bên dưới tầng hầm hắt lên.

    Tôi bế Tiểu Ngộ đi xuống, trái tim run rẩy đập lên thình thịch.

    Tôi đã quen thuộc với khu tầng hầm, gian phòng đầu tiên trống rỗng, phòng thứ hai đặt quan tài của mẹ, phòng thứ ba đặt quan tài của bà ngoại, bên cạnh còn có một chiếc ghế đóng bằng gỗ, rất đỗi đơn sơ, tôi không biết tại sao ông ngoại lại đặt một chiếc ghế bên cạnh quan tài bà ngoại?

    Phải chăng đó là nơi chốn mà ông đã chuẩn bị sẵn cho mình?

    Ánh đèn hắt ra từ bức tường trong phòng mẹ, trên tường có một cái nàn thờ, trên bàn thờ đặt một cây đèn, được đốt bằng dầu trẩu.

    Trên núi có rất nhiều cây trẩu, vào mùa đông, quả trẩu rơi xuống đất, ông ngoại nhặt về, để đến mùa hè năm sau, thì chỉ trơ lại hạt.

    Ông ngoại lấy rìu đập giập, bỏ vào trong thùng, dùng chày giỗ giã, và dầu trẩu sẽ chảy ra...

    Dầu trẩu có một hương thơm nhàn nhạt.

    Ông ngoại không chỉ dùng dầu trẩu để thắp đèn, mà còn dùng để quét quan tài, khiến cho toàn bộ cỗ quan tài bóng loáng...

    Gian phòng đầu tiên dưới lòng đất trống không, sàn nhà và tường đều được lát gỗ, trên mặt gỗ được sơn một lớp dầu trẩu, hương thơm dầu trẩu phảng phất.

    Sau lưng tôi có bước chân khe khẽ.

    - Đặt nó xuống đất!

    - Giọng nói của ông ngoại lúc này cũng điềm tĩnh như mặt hồ lặng sóng.

    Tôi quỳ một gối xuống, nhẹ nhàng đặt cơ thể Tiểu Ngộ nằm thẳng trên sàn nhà.

    Hai mắt nàng khép hờ, vết máu trên đã được tôi lau sạch, để lộ làn da trắng muốt như tuyết, cũng lạnh buốt như tuyết.

    Tôi nhìn sững vào Tiểu Ngộ, tự nhủ trong lòng:

    - Tiểu Ngộ, em hãy gắng lên, ông ngoại sẽ nhanh chóng cứu được em...

    Một bàn tay sờ lên đầu tôi.

    Là tay của ông ngoại, ông luôn đặt tay lên đầu tôi, xoa khe khẽ.

    Chỉ có lúc ấy, tôi mới cảm nhận được tình yêu.

    Nhưng tôi tin, ông ngoại tôi không phải kẻ lừa gạt, mà là một pháp sư.

    - Con đứng ở cửa, quay mặt ra ngoài, nhắm mắt lại, không được phép mở mắt ra, càng không được phép ngoảnh đầu nhìn trộm...

    - Ông ngoại nhấn mạnh.

    Tôi làm theo lời ông ngoại.

    Từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ dám chống đối lại ông.

    Sau lưng vọng lại tiếng ông ngoại rì rầm niệm chú:

    - Huyết Công vốn họ Chu, huyết mẫu vốn họ Lưu, sinh tại châu Quảng Hoa.

    Bảo ngươi không chảy thì không chảy, nếu vẫn chảy, Thái Thượng Lão Quân ở phía sau.

    Khẩn cầu Nam Đẩu lục tinh, Bắc Đẩu thất tinh, mượn đường âm gian...

    Thái Thượng Lăo Quân, gấp gấp như luật lệnh...

    Sau đó là tĩnh lặng tuyệt đối.

    Một luồng khí lạnh buốt toả ra từ gian phòng dưới đất.

    Con Mực phía trên bỗng sủa điên cuồng, sau đó là tiếng nó lao vào một cuộc vật lộn.

    Tôi cảm thấy tim mình thót lại, nhưng không thể mở mắt ra nhìn, lại càng không thể ngoái đẩu.

    Tôi cũng biết, khi ông ngoại đi xuống, đã đậy lại phiến đá bên trên, còn con Mực canh ở phía ngoài, cho dù có người đến, cũng không thế phát hiện ra chúng tôi bên dưới tăng hẩm.

    Còn nữa, trong vòng mười mấy dặm quanh đây, có rất ít người lai vãng.

    Vậy thì, kẻ vừa đếu, liệu có phải là người hay không?

    Tôi còn đang suy nghĩ mải miết, bỗng cảm thẩy một luống khí lạnh buốt ập xuống, đập thẳng vào người xuyên thấu qua cơ thể.

    Trong khoảnh khắc đó, đầu óc tôi bỗng tỉnh táo hơn lúc nào hết, nhưng cơ thể tôi lại không thể nhúc nhích lấy một ly...

    "Toác!

    Toác!"

    Có tiếng gương bị đập vỡ.

    Sau đó, vọng lại tiểng thở dài khe khẽ của ông ngoại.

    Lại một luồng gió lạnh từ bên trong bật ngược trở ra, một lần nữa xuyên thấu qua cơ thể tôi, lao vọt lên trên.

    Đúng vào khoảnh khắc luồng khí lạnh thóat khỏi cơ thể tôi, tôi mở bừng mắt ra, quay người lại.

    Trước mắt bỗng vụt tối sầm, hai chiếc gương vỡ vụn đầy sàn, thành trăm nghìn mảnh, hai ngọn đèn trước gương cũng đã tắt phụt...

    Ông ngoại ngã gục dưới sàn.

    - Ông ngoại...

    - Tôi rú lên sợ hãi, vội đỡ ông ngoại dậy, cuống quýt gọi.

    Sắc mặt ông ngoại tái xanh tái xám, mắt ông hơi mở, tay chỉ vào Lâm Tiểu Ngộ đang nằm trên sàn, nói khẽ:

    - Đặt...

    đặt ta...

    ở... bên cạnh... bà ngoại...

    Thật thần kỳ, Lâm Tiểu Ngộ đang nằm ở trên sàn bỗng nhiên cử động, tôi vội dùng cánh tay còn lại vực nàng dậy.

    Lâm Tiểu Ngộ hé mở đôi mắt mờ mịt, trong miệng thì thầm:

    - Về tây nghìn dặm, dưới chân núi thẩn, cánh cửa địa ngục, một ngọn đèn cháy cả nghìn năm...

    Khóe miệng nàng vẫn mấp máy, nhưng không còn thấy tiếng nói phát ra.

    Cơ thể nàng mềm nhũn trên tay tôi, lại tiếp tục rơi vào hôn mê...

    - Tiểu Ngộ!

    - Tôi đau đớn gọi tên nàng.

    Nhưng nàng đã không còn phản ứng gì nữa.

    - Ông ngoại!

    - Tôi lại gọi thêm một tiếng.

    Ông ngoại cũng không hề động đậy.

    Tôi đặt Tiểu Ngộ xuống sàn, đưa tay lên trước mũi ông ngoại, phát hiện ra ông đã không còn thở.

    Không nói một lời, ông ngoại tôi đã ra đi như vậy.

    Tôi nhớ lại lời ông vừa nói, liền nhấc ông lên, đi vào căn phòng của bà ngoại.

    Bên cạnh quan tài của bà ngoại có một chiếc ghế, tôi đặt ông ngoại lên ghế, lúc này mới hiểu ra, ông ngoại muốn ở bên bà ngoại, mãi mãi bảo vệ bà...

    Gương vỡ rõi, đèn cũng đã tắt, rất hiển nhiên, phép hạ âm của ông ngoại đã thất bại.

    Vì vậy, ông cũng không thể quay lại bên tôi được nữa.

    Vậy Tiểu Ngộ thì sao?

    Tiểu Ngộ có còn tỉnh lại được không?

    Ông ngoại cuối cùng chỉ tay vào Tiểu Ngộ, câu nói cuối cùng mà Tiểu Ngộ thốt ra, có ý nghĩa gì?

    Phải chăng là muốn ám chỉ nàng vẫn còn có thể tỉnh lại?

    Về tây nghìn dặm, dưới chân núi thần, cánh cửa địa nguc, một ngọn đèn cháy cả nghìn năm... có ý nghĩa gì?

    Và sau đó, Tiểu Ngộ còn muốn nói gì nữa?

    Lời nàng chưa kịp nói ra là gì đây?

    Tôi đã không còn đủ thời gian để suy nghĩ thêm nữa, trước tiên, tôi phải sắp xếp thoả đáng cho Tiểu Ngộ.

    Tôi bế Tiểu Ngộ trở lên, con Mực vẫn đứng canh chỗ cửa vào, rõ ràng nó vừa phải trải qua một trận ác đấu, đám lông trên người như thể bị bàn tay nào vặt nhổ, mũi sứt một mảng lớn, mảu ứa đầm đìa.

    Con Mực vừa nhin thấy tôi, đã đứng bật dậy, ngẩng đẩu, vẫy đuôi rối rít.

    Ngoài những vết thương trên người nó, bên ngoài không hề có bất cứ dấu vết nào của trận kịch chiến.

    Nhưng nếu như không có trận giao đấu, vậy vết thương trên người con Mực từ đâu mà tới?

    Rõ ràng tôi có nghe thấy tiểng vật lộn, tại sao lại chắng có dấu vết gì?

    Tôi đã không còn đủ thời gian để suy nghĩ thêm, trong mấy ngày nay, tôi đã trải qua quá nhiều chuyện quái đản và vẫn còn rất nhiều việc đang đợi tôi làm!

    Bên ngoài có ánh nắng, vẫn chưa đến giữa trưa.

    Tôi ngẫm nghĩ một lảt, rồi tháo giường của tôi ra chuyển đến căn phòng trống dưới tẩng hẩm, rổi lắp lại như cũ.

    Kỳ thực, chiếc giường của tôi rất đỗi sơ sài, hai chiếc ghế băng ghép từ gỗ làm giá đỡ, vài tấm vản dày làm ván giường.

    Tôi đặt Lâm Tiểu Ngộ lên trên giường, rồi đắp chăn cho nàng.

    Tôi không đóng cho nàng một cỗ quan tài, vì tôi tin nàng vẫn còn sống, người sống thì không cần đến quan tài.

    Chắc chắn nàng sẽ tỉnh lại, chỉ cần tôi tìm được nơi mà nàng nói, ngọn đèn mà nàng nói...

    Tôi dập đầu từ biệt ông ngoại, bà ngoại và mẹ, sau đó đến bên giường của Lâm Tiểu Ngộ.

    Nàng nằm đó bất động, giống như đang chìm trong giấc ngủ say sưa.

    Tôi nhìn đăm đắm vào khuôn mặt trắng như ngọc của nàng, rồi cúi người xuống, nâng đầu nàng lên, nhẹ nhàng hôn lên môi nàng...

    Đôi môi nàng lạnh toát...

    Đẩy phiến đá ở trên đỉnh đầu ra, lên khỏi tầng hẩm, tôi đóng phiến đá lại như cũ, rồi nhìn thật kỹ, hầu như không nhận ra bất cứ dấu vết gì.

    Tôi nghĩ khi ông ngoại xây dựng căn hầm này vào mấy chục năm về trước, đã tính toán kỹ lưỡng về yếu tố an toàn, đương nhiên sẽ không để người khác dễ dàng phát hiện.

    Con Mực ngổi chồm hỗm trước cửa, hai tai dựng đứng, hệt như một chiến sĩ dũng cảm đang nghiêm cẩn canh gác.

    - Mực ơi, tao phải đi một chuyến, ở đây giao cả cho mày đấy.

    - Tôi ngồi xuống bên cạnh con Mực, ôm lấy cổ nó, nói với nó bằng một giọng nghiêm túc.

    Tôi nghĩ, con Mực hoàn toàn có thể hiểu được lời tôi nói.

    Nó sủa gâu gâu hai tiếng với tôi, giống như muốn nói với tôi: được thôi!

    Tôi cũng không cẩn phải lo lắng đến vấn để sinh tồn của con Mực.

    Nó biết bắt rắn, thỏ, chuột trên núi, vì ông ngoại tôi rất ít khi cho nó ăn...

    Tôi lên đường, con Mực tiễn tôi mấy dặm, sau đó ngồi chồm hỗm giữa đường, không đi theo nữa.

    Lần nào, nó cũng tiễn tôi đều cùng một chỗ, cũng chính là chỗ nó ra đón mỗi khi tôi trở vẽ.

    Tôi vẫy tay với con Mực, nó bắt đầu quay trở về, vừa đi vừa ngoái đầu lại nhìn tôi, cho đến tận khi hai chúng tôi đều không còn nhìn thấy nhau nữa...

    Trước tiên, tôi trở lại đường cái, xe vẫn dừng ở bên đường.

    Tôi lấy từ cốp sau xe ra một chiếc rìu, lưỡi rìu rộng tám phân, còn lấy thêm một cây thước thẳng, dài một thước bốn tấc bốn phân, rộng một centimet.

    Thước Lỗ Ban có hai loại thước thẳng và thước gập, chia làm tám phần, bên trên có tám chữ nhỏ: tài, bệnh, ly, nghĩa, quan, kiếp, hại, cát, ý nghĩa rất mực thâm sâu.

    Tôi cầm theo rìu và thước là để phòng thân.

    Sau đó, tôi thay quần áo, đeo túi lên lưng, trong túi có giấy tờ tuỳ thân của tôi, thẻ ngân hàng và một ít tiển mặt.

    Thú thực, trong mấy năm làm vua trộm ở Giang Thành, tôi cũng đã kiếm được đến mấy trăm ngàn.

    Tôi muốn đi tìm hai vị sư huynh của mình, một là Trương Đồ Tể Trương Nhất Đao, một là Ngưu Thợ Đá.

    Cha của họ đều là đồ đệ ghi danh của ông ngoại tôi, gọi là đồ đệ ghi danh, tức là có danh phận thầy trò, nhưng không

    hề được truyền nghề.

    Bọn họ đều vẫn độc thân, kế thừa nghề nghiệp và danh tiếng của cha mình, về cơ bản không có người thân thích.

    Những người thân của họ, hơn mười năm trước đều đã đột ngột qua đời.

    Nhà của Trương Nhất Đao nằm ở một thôn cách thung lũng Hoang Xung chừng vài chục dặm đường, tên là thôn Bạch Hổ.

    Nghe nói rất nhiều năm trước, nơi đây là một thôn lớn, thương nhân qua lại bắt buộc phải đi qua đất này, nhân khẩu rất đông đúc.

    Cho đến một ngày nọ, bống xuất hiện một con hổ dữ toàn thân một màu trắng toát, ngày nào cũng đứng rình sẵn bên đường ngoài thôn, vô lấy một người rồi nghênh ngang tha về ăn thịt.

    Sau khi ăn thịt ba trăm con người, con hổ trắng bị sét trên trời đánh chết, nghe nói là tội nghiệt quá nặng, khiến trời cao nổi giận.

    Nhưng thôn này lại dần dấn lụi bại, vì người khác đều không dám đi qua nơi đây nữa.

    Đến nay, đầu thôn có một dãy núi Bạch Hổ, cửa thôn có một ngôi miếu Bạch Hổ, thôn cũng được gọi là thôn Bạch Hổ.

    Muốn đến thôn Bạch Hổ, nhất thiết phải băng qua dãy núi Bạch Hổ.

    Nơi đây không có đường cái, tôi chỉ còn cách đi bộ.

    Đến dưới chân núi Bạch Hổ, trời đã nhá nhem, may mà tôi đã chuẩn bị đuốc.

    Tôi quấn vài miếng giả quanh ống tre, tấm xăng vào giẻ, châm lửa đốt, trong vòng mấy chục mét được soi sáng trưng.

    Con đường này, mười mấy năm trước tôi đã từng đi qua, cùng với đại sư huynh.

    Lúc đó, anh ta đã là một đồ tể, mổ lợn mổ trâu mổ dê, người khác thuê mổ gì thì mổ đấy.

    Lần đó là vào ban ngày.

    Trương sư huynh đi phía trước, vừa đi vừa nói với tôi:

    - Bám sát nhé, trên núi Bạch Hổ có ma!

    - Ma là gì?

    - Đúng là đồ con nít ranh, ma là gì cũng không biết!

    Chính là linh hồn của người chết!

    Trương sư huynh tiện tay chỉ vào một bộ xương trắng hếu bên đường - Chưa nghe chuyện con hổ đói trên núi Bạch Hổ đã ăn thịt ba trăm người à?

    Ba trăm người này sau khi chết đi, muốn được đầu thai chuyển kiếp, cần phải tìm được thế thân.

    Không tìm được thế thân, chỉ còn cách lang thang trên núi Bạch Hổ...

    Vì thế, bây giờ chẳng ai dám đi con đường này nữa...

    - Thế sao sư huynh lại dám đi?

    - Lúc đó tôi sởn cả tóc gáy, ngờ vực hỏi.

    - Thằng đần!

    Người khác làm sao bì được với bố mày?

    Bố mày là ai?

    Đồ tể, giết lợn giết trâu giết chó giết dê, đầy mình sát khí, gặp thần giết thần, gặp ma giết ma, ma quỉ thấy bố mày đều phải tránh xa ba dặm...

    - Đại sư huynh cười vang, dương dương đắc ý, vừa mở đường, vừa huơ con dao mổ lợn trong tay, miệng lầm rầm tụng niệm.

    - Còn nữa, ban ngày dương khí nặng, hồn ma không dám xuất hiện, đã nhớ chưa?

    - Trương sư huynh lên giọng dạy dỗ.

    - Biết rồi!

    - Tôi lơ đãng trả lời.

    - Mày thì biết cái con tườu, rôi sẽ có một ngày, mày sẽ biết được cái nồi làm từ sắt...

    - Trương sư huynh rõ ràng thấy bực mình vì tôi không để lời của anh ta lọt vào lỗ tai, lừ mắt lườm tôi một cái, giọng đầy giận dữ.

    Thực ra, tôi có rất nhiểu bí mật mà đại sư huynh không hay biết, tôi không thề nói với sư huynh, ông ngoại không cho phép tôi nói với người khác.

    Trong rừng cây, lặng phắc như tờ, tôi có thể nghe thấy rõ tiếng tim mình đang đập.

    Một luồng gió hàm hàn thôi xộc tới.

    Phụt!

    Ngọn đuốc đang giơ cao trên tay tôi thình lình vụt tắt.

    Soạt!

    Một bóng đen đột ngột từ bụi cỏ lao vụt ra, hai vệt hàn quang xanh lét loé lên trước mắt tôi.

    Cái quái gì vậy?

    Tôi quát lên một tiếng theo phản xạ.

    Hai vệt sáng xanh lét lao vọt vào rừng cây rồi biến mất.

    Tôi còn chưa kịp định thần, trong rừng cây lại vọng lên một tràng những tiếng xào xạc.

    Mặc dù ngọn đuốc trong tay tôi đã tắt ngấm, nhưng vẫn có ánh trăng yếu ớt lách xuống qua kẽ lá, tôi nhìn thấy phía trước có vô số cây nhỏ ngã rạp trên mặt đất.

    Khi còn nhỏ, chơi nhởn trong rừng, tôi thích vít những thân cây nhỏ xuống, dùng đá hoặc dây thừng chặn ngọn cây lại, nểu như có người đi qua, chỉ cần vấp chân phải thân cây, cả thân cây sẽ thình lình bật ngược trở lên, khiến người đó bị đánh bật lên cao, trò chơi này gọi là bật sào.

    Bình thường thì người sẽ không bị mắc lừa, nhưng chó hoang lại dễ mắc bẫy.

    Tôi thường buộc một miếng thịt lên thân cây, chỉ cần chó hoang đển cắn miếng thịt, sẽ bị đánh bật lên không...

    Đang lúc đêm hôm khuya khoăt, không nhìn thấy bóng người, nhưng lại có rất nhiều cây nhỏ bị kéo rạp xuống đất.

    Ông ngoại từng nói với tôi, đêm hôm rất dễ gặp phải những chuyện ly kỳ quái đản không thể giải thích, không thể giải thích thì không cần giải thích, nhưng nhất định phải đối mặt.

    Nếu như là lang sói dã thú tấn công, thì dùng rìu để đối phó; nếu là những thứ kỳ quặc quái đản, thì hãy dùng cây thước gỗ trong tay.

    Cây thước gỗ của thợ mộc được gọi là thước Lỗ Ban, nghe nói yêu ma quỷ quái cũng phải sợ hãi mấy phần.

    Tôi rút cây thước Lỗ Ban ra, múa vùn vụt về phía trước mặt, chỉ nghe vọng lại những tiếng kêu rú thảm thiết, giống như tiếng người gào thét khi bị lưỡi dao sắc nhọn chém phải, nhưng không nhìn thấy một ai, chỉ nghe thấy có thứ gì đó đang lăn lộn, bỏ chạy, và nhiều hơn nữa là tiếng bật rào rào của những thân cây nhỏ vừa bị vít rạp dưới đất...

    Đám cây vẫn tiếp tục chao đảo.

    Tôi ngẩng đầu ưỡn ngực, sải bước lên phía trước.

    Đi được mấy chục mét, bỗng "phụt" một tiếng điếc tai, cây đuốc vốn dĩ đã tắt ngúm trên tay tôi bỗng bốc cháy ngùn ngụt, chớp mắt, mọi thứ phía trước đã sáng bừng.

    Tôi không nấn ná thêm, vội vàng xuống núi Bạch Hổ đến trước miếu Bạch Hổ.

    Đại sư huynh Trương Nhất Đao sống ngay trong miếu Bạch Hổ.

    Trước đây, nhà của đại sư huynh ở phía đông thôn, nhưng cha của sư huynh vừa chết, nhà cũng sập luôn, đại sư huynh liền mang theo mấy bộ quần áo, chăn và một cái nồi, chuyển luôn vào trong ngôi miếu hoang vu này, tè một bãi ngay cửa đầu miếu, coi như tuyên bố miếu Bạch Hổ đã mang họ Trương.

    Mấy con chó lao vọt ra từ trong bóng tối, sủa ẩm ĩ về phía vị khách không mời là tôi.

    Tôi chẳng buồn đếm xỉa đến lũ chó, rảo bước đi vào trong miếu Bạch Hổ.

    Lũ chó chỉ lảng vảng ở phía xa không dám lại gần.

    Vì đại sư huynh của tôi là đồ tể, sắt khí quá nặng nên ngay cả lũ chó cũng không dám bén mảng đến gần nơi sư huynh ở.

    Cửa miếu Bạch Hổ đang mở toang, tôi đi vào cửa, nhìn thấy hai người ngồi trước bàn, một cao một gầy.

    Trên bàn bày một cái chậu to, một bầu rượu lớn bằng nhựa, hai người đang chén tạc chén thù.

    - Đại sư huynh, nhị sư huynh...

    - Tôi vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ kêu lên.

    - Vẹo, thằng Vẹo đến rồi!

    - Đại sư huynh và nhị sư huynh cùng đứng bật dậy.

    Đại sư huynh gầy giơ xương, cằm nhọn hoắt, mặt khỉ, cao chưa đến một mét rưỡi, nặng chưa đến ba mươi lăm cân.

    Nếu không quen biết, tuyệt đối sẽ không tài nào tin nổi, đây chính là Trương Nhất Đao giết lợn chỉ dùng một dao, bất kể con lợn to nặng cỡ nào cũng không cần trợ thủ.

    Nhị sư huynh to cao vạm vỡ như toà tháp sắt, cũng đen như tháp sắt, sức nâng nổi ngàn cân.

    Bộ dạng đó bẩm sinh đã mang tố chất của thợ đá, không làm thợ đá thì thật lãng phí nhân tài...

    Hình thù của đại sư huynh và nhị sư huynh hoàn toàn tương phản với cha, nhưng đều kế thừa được kỹ nghệ siêu quần của họ.

    Hai vị sư huynh nhiệt tình kéo tôi tới trước bàn, rót rượu gắp thịt.

    - Này Vẹo, cậu đi đường núi Bạch Hổ tới đây à?

    Nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá hỏi tôi.

    Tôi gật đầu, trên trán mô hôi lạnh vẫn chưa khô.

    - Không gặp thứ gì sao?

    - Nhị sư huynh vội hỏi.

    - Có!

    - Tôi kể lại chuyện ngọn được tự nhiên vụt tắt, tòan bộ cây cối phía trước đều bị kéo rạp xuống mặt đường cho họ nghe.

    - Cậu gặp phải ma bật sào rồi!

    - Nhị sư huynh kinh ngạc thốt lên - Lần trước tôi cũng gặp phải, kết quả, tòi dùng xà beng nện cho mấy cái giống đó kêu oai oái...

    - Dãy núi Bạch Hổ, chỉ có ba huynh đệ chúng ta là qua được - Đại sư huynh bình thản nói một câu.

    -- Chúng ta là người xấu mà!

    Ma quỷ đều sợ người xấu...

    - Nhị sư huynh cười ha hả.

    - Uống một bát đã!

    - Tôi bưng bát rượu lên, cùng hai vị sư huynh uống xong mới nói - Hai vị sư huynh, lần này tôi trở về, là muốn nhờ hai vị sư huynh giúp đỡ...

    - Được!

    Được - Tôi vừa dứt lời, hai vị sư huynh đã lập tức đồng ý một cách hào sảng.

    Chúng tôi là sư huynh đệ, tình thân như thể chân tay, việc của tôi, sao họ có thể khoanh tay đứng nhìn?
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Phần 6: Âm Binh Mượn Đường


    Và đó cũng chính là nơi mà tôi, Trương Nhất Đao và Ngưu Thợ Đá muốn tới.

    Vậy thì, nơi đó rốt cuộc ở đâu?

    Tôi cho rằng, ngọn núi thần về tây nghìn dặm chính là núi Côn Lôn, núi Côn Lôn là ngọn núi thần nổi tiểng nhất, là núi tổ của muôn núi.

    Hơn nữa, tôi cũng điều tra được rằng, ở núi Côn Lôn có một nơi gọi là cửa địa ngục, cũng chính là khe núi Na Lăng Cách Lặc, dân địa phương có câu nói cửa miệng rằng, "núi Côn Lôn, khe chết chóc".

    Trương Nhất Đao mang theo một con dao mổ lợn dài một thước rưỡi, một cái móc sắt dài ba thước.

    Ngưu Thợ Đá mang theo một chiếc búa nặng mười lăm cân, một cây xà beng sắt dài ba thước.

    Tôi mang theo rìu, một cây thước Lỗ Ban, một hộp dây mực, mấy tấm ảnh chụp chung với Lâm Tiểu Ngộ, rồi lái xe lên đường.

    Trương Nhất Đao và Ngưu Thợ Đá đều là lần đầu tiên đi xa, hào hứng khác thường.

    Buổi tối, chúng tôi vào nghỉ ở một quán trọ trong một thành phố nhỏ.

    Sau khi cơm nước xong xuôi.

    Trương Nhất Đao và Ngưu Thợ Đá lăn ra ngủ tít, tôi cũng ngồi dựa vào bên giường của mình.

    Cũng không biết đã qua bao lâu, tôi nghe thấy tiếng đẩy cửa rất khẽ khàng.

    Tôi ngẩng lên nhìn, một cô gái mặc chiếc váy dài màu trăng, tóc xoã tung đứng ngay trước cửa.

    Tôi không nhìn rõ hình dáng của cô ta, vì mái tóc dài đã che khuất quá nửa khuôn mặt, chỉ lộ ra con mắt bên trái.

    Trong tròng mắt, có chất lỏng chảy ra, không phải nước mắt, mà là máu...

    Tôi thất kinh, choàng tỉnh, khung cửa trống không, lẽ nào tôi đã nằm mơ?

    Chắc chắn là mơ rồi.

    Tôi gượng cười một tiếng, là tôi đã quá lo lắng cho Tiểu Ngộ.

    Tôi khẽ dựa vào giường, thầm nghĩ, cô gái vừa nãy thân hình trông giống Tiểu Ngộ, còn giống cả Tần Ái Ni!

    Tần Ái Ni?

    Tại sao tôi lại nghĩ đến cô ta?

    Tôi thoáng kinh ngạc.

    Bàn tay tôi vô tình chạm vào một phong thư đặt ở bên giường, bên trong là mấy bức ảnh của Lâm Tiểu Ngộ do tôi lựa chọn để trên đường đi có cái để ngắm nghía, dịu bớt nỗi khổ tương tư.

    Tôi chậm rãi lấy ảnh ra, trong đó có bốn tấm là chụp một mình Lâm Tiểu Ngộ, nhưng trên vầng trán nàng luôn phảng phất một niềm u uất kín đáo, chỉ có bức ảnh chụp cùng tôi mới nhìn ra được niềm vui khởi phát tự đáy lòng.

    Tiểu Ngộ, anh nhất định sẽ khiến em sống lại, ở bên anh mãi mãi, để yêu em thật nhiều!

    Tôi không nghĩ ngợi gì thêm nữa.

    Việc cần xảy sớm muộn cũng sẽ xảy ra, tôi buộc phải sẵn sàng đối mặt vì người con gái tôi yêu, cho dù phải hy sinh tất cả, tôi cũng sẵn lòng...

    Ngày hôm sau, tôi gọi hai vị sư huynh lên đường.

    Chúng tôi đi từ Lan Châu đến Tây Ninh.

    Trên đường đến Tây Ninh, xe trượt xuống khe núi, huynh đệ chúng tôi bình yên vô sự, sau đó bắt một chiếc xe khách đến Tây Ninh, rồi lại từ Tây Ninh đến thành phố Cách Nhĩ Mộc của Thanh Hải.

    Lúc này, đã là hai tháng về sau.

    Ba người chúng tôi đều mặc áo khoác quân đội, đi đôi giày da to sụ, những trang bị giữ ấm này được mua ở Tây Ninh.

    Trong hai tháng đi đường, chúng tôi chưa hề tắm lấy một lần, Đại sư huynh Trương Nhất Đao và nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá vẫn thản nhiên như không, nhưng tôi vô cùng khó chịu, vừa đến Cách Nhĩ Mộc, tôi đã lao vào nhà tắm công cộng của khách sạn, tắm đúng ba tiếng đồng hồ.

    Lúc này, nhiệt độ ở Cách Nhĩ Mộc từ âm hai mươi đến âm ba mươi độ, đáng lẽ phải là một chốn hoang lương lạnh lẽo, nhưng hoàn toàn ngược lại với phán đoán của tôi, nơi đây tưng bừng sầm uất, buôn bán nhộn nhịp.

    Đến Cách Nhĩ Mộc, vốn dĩ tôi muốn mua lấy chiếc xe jeep địa hình, chuẩn bị một số đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, sau đó đến Bố Luân Đài, rồi tiến vào khe núi Na Lăng Cách Lặc.

    Nhưng buổi trưa, lúc ăn lẩu thịt dê trong quán tôi đã thay đổi ý định, bởi vì một tờ quảng cáo tuyển người dán trước cửa quán lẩu: tuyển nam khoẻ mạnh. chịu khó, không cần kinh nghiệm, thù lao hậu hĩnh!

    Đội khảo sát khoa học khe Na Lăng Cách Lặc.

    Ở Cách Nhĩ Lặc, người Hán, người Tạng, người Mông Cổ, người Hồi là nhiều nhất, tờ quảng cảo này lại được viết bằng chữ Hán, rất nhiều người dân địa phương không đọc được.

    Điều khiến tôi cảm thấy hào hứng với tờ quảng cáo không phải là thù lao hậu hĩnh, mà là cái tên đề ở phía dưới: đội khảo sát khoa học khe Na Lăng Cách Lặc!

    Có khảo sát hay không không quan trọng, quan trọng là họ và chúng tôi sẽ đến cùng một nơi.

    Tại sao chúng tôi lại không đi cùng họ?

    Tôi rút điện thoại ra, gọi theo số ghi trên tờ quảng cáo, đối phương cho biết họ ở khách sạn Quang Minh, bảo tôi đến đó gặp mặt.

    Tôi dẫn theo hai vị sư huynh, hào hứng tìm đến nơi.

    Ngối trên ghế sô pha ở tiểu sảnh đón tiếp chúng tôi là một cậu chàng bốn mắt trẻ tuổi, trắng trẻo và một lão lúc nào cũng cười toe toét, béo tốt mập mạp, bụng phệ.

    Tôi vừa nhìn đã biết lão là sếp, vì phía sau lão còn có hai người đàn ông trung niên mặt mũi bặm trợn, cao to lực lưỡng, thần thái nghiêm trang, đeo kính đen, mặc áo khoác quân đội màu cỏ úa.

    Tay phải của họ đều đặt trước thắt lưng da theo thói quen, chẳng khác nào đang đối mặt với kình địch.

    - Các vị người ở đâu thế?

    - Cậu bốn mắt nhìn chúng tôi chằm chằm từ đầu đến chân, mắt đảo láo liên sau mắt kính, hỏi bằng tiếng phổ thông.

    - Trùng Khánh.

    - Tôi điềm tĩnh đáp bằng tiếng địa pương quê mình.

    Tôi vừa nhìn đã nhận ra tay bốn mắt không phải người vùng này.

    Quả nhiên bốn mắt nghe hiếu được phương ngữ của tôi, tiếp tục hỏi:

    - Người Trùng Khánh sao lại tới đây làm gì?

    - Chúng tôi đi buôn bán, bị lỗ vốn, muốn kiếm chút tiền để trở về nhà.

    - Tôi chỉ cần mở miệng nói bừa đã thừa đủ để đối phó với thằng ranh bốn mắt này.

    - Có phải tội phạm bỏ trốn không đấy?- Bốn mắt thình lình buông một câu.

    - Mẹ mày mới là tội phạm bỏ trốn ấy!

    - Đại sư huynh chửi liền.

    Ngoại hình của đại sư huynh và nhị sư huynh, có thể mô tả bằng câu kỳ hình dị dạng, chỉ cần đứng ra trước mặt người khác, đã đủ sức sát thương.

    Rất rõ ràng, tay bốn mắt có phần e sợ.

    Lão chủ đang ngồi bệ vệ, bản mặt tươi cười vẫn cười liên tục, một kẻ như vậy, thường là trong cười giấu dao, có vẻ như lão rất hài lòng với ba chúng tôi, liền xua tay nói:

    - Tôi không quan tâm các anh có phải tội phạm bỏ trốn hay không, tôi thấy các anh rất thích hợp.

    Tôi nói cho các anh biết nhé, chúng tôi đến khe Na Lăng Cách Lặc để khảo sát khoa học, cần một số nhân công làm tạp vụ, như chăn dắt ngựa, dựng lều trại, chạy việc, vần đá...

    Mỗi ngày ba trăm đồng, mười ngày trả lương một lần, bao ăn bao ở bao tất cả chi phí, ngoài ra, còn có đàn bà để ngủ...

    Thằng cha này vừa nói vừa lắc lư đầu óc, bộ dạng hết sức nghiêm túc.

    - Tốt thế cơ à?

    - Trương Nhất Đao và Ngưu Thợ Đá cùng tỏ ra kinh ngạc.

    Điều khiến họ kinh ngạc không phải là khoản tiền công một ngày ba trăm đồng, đối với họ, có rượu có thịt là được, tiền không quan trọng.

    Nhưng họ chưa bao giờ nghe nói đi làm công lại có đàn bà để ngủ...

    Gã cao to cười toáng lên, nói:

    - Đương nhiên là có!

    Nhưng đàn bà thì không thể ngủ không được.

    - Vậy thế nào mới ngủ được?

    - Đại sư huynh nôn nóng hỏi.

    - Hai mươi phút hai trăm đồng!

    Bốn mắt đáp.

    - Mẹ kiếp, còn đắt hơn ông đây thịt mười con lợn!

    Ông đây thịt mười con lợn quần quật cả nửa ngày trời cũng chưa kiếm nổi hai trăm đồng!

    - Đại sư huynh kêu ca ầm ĩ.

    Gã bốn mắt và lão chủ béo cùng cười ha hả.

    Lão chủ béo vừa cười vừa chìa tay ra với tôi:

    - Tôi tên Tống Đại Phúc.

    Bốn mắt vội và nói thêm:

    - Đây là sếp Tống.

    Toàn bộ kinh phí khảo sát của chúng ta đều do ông ấy tài trợ.

    Tống Đại Phúc ngẩng cao đầu, dương dương đắc ý:

    - Chỉ là đóng góp chút sức mọn cho công tác khảo khoa học mà thôi!

    Vị này là tiến sĩ Tiền của đội khảo sát khoa học Trung Quốc.

    Gã bốn mắt họ Tiền, là người có học, còn là tiến sĩ!

    Tôi chậm rãi tự giới thiệu:

    - Tôi tên Lưu Bất Chính, hai vị này là đại sư huynh Trương Nhất Đao và nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá của tôi.

    - Lưu Bất Chính?

    Bất chính tức là vẹo phải không?

    - Lão chủ Tống Đại Phúc cười tít mắt liếc nhìn tôi.

    - Tên tục của tôi chính là Vẹo.

    Tôi nghiêm túc đáp lời.

    Tôi để ý thấy hai tay vệ sĩ đứng phía sau Tống Đại Phúc lộ một nét cười nơi khoẻ miệng.

    - Trương Nhất Đao?

    - Lâm Đại Phúc gật gù, đưa mắt liếc sang đại sư huynh, săm soi khắp trên dưới một hồi.

    -Anh là đồ tể?

    - Đúng, tôi biết giết lợn giết trâu giết chó giết dê...

    Người khác thuê tôi giết gì thì tôi giết đó!

    - Đại sư huynh liếc xéo lão chủ Tống một cái, giọng tưng tửng

    - Tôi đều giết một mình, cho dù là cái giống gì, tôi cũng chỉ dùng một nhát dao!

    Một dao định sống chết.

    - Đã giết người bao giờ chưa?

    - Lâm Đại Phúc vẫn gỉữ nguyên nụ cười, hỏi như bâng quơ.

    - Giết rồi!

    - Đại sư huynh mặt không biến sắc.

    - Người sao có thể so với lợn được, giết người dễ hơn giết lợn nhiều...

    - Tốt, tiến sĩ Tiền, chia phòng cho họ, trả trước mười ngày tiền công...

    Lão Tống rất hài lòng, bàn tay mập ú huơ một cái, và chúng tôi đã trở thành nhân công của đội khảo sát khoa học.

    Khách sạn đã được lão Tống bao trọn.

    Trước tiên, Tiền bốn mắt dẫn chúng tôi vào một căn phòng, bên trong có hai chiếc giường, mọi vật dụng đều đẩy đủ.

    Tiền bốn mắt hỏi tôi:

    - Anh Vẹo, có vừa ý không?

    - Vừa ý!

    Tôi gật đầu.

    - Đi theo tôi!

    Tiền bốn mắt gọi tôi lên lầu, chỉ vào mấy căn phòng, nói: - Muốn tìm đàn bà ngủ, đi sang bên phải, muốn lĩnh tiền công, đi sang bên trái - Gã gõ cửa một phòng, bên trong vọng ra giọng nói lả lướt của con gái trẻ:

    - Vào đi!

    Tiền bốn mắt đẩy cửa, bảo tôi đi vào.

    Tôi nhìn thấy có một cái bàn làm việc, bên trên bày một bộ máy tính, phía sau máy tính là một cô gái mặc áo khoác lông vũ màu trắng, tóc dài trùm vai, mặt trắng muốt, môi đỏ tươi.

    - Tiểu Thiện, đăng ký ba người, Lưu Bất Chính, Trương Nhất Đao và Ngưu Thợ Đá.

    - Tiền bốn mắt nói.

    Tiểu Thiện đưa đôi tay nhỏ nhắn khẽ vuốt mái tóc ra sau Iưng, ném về phía Tiều bốn mắt một ánh nhìn đong đưa, Tiền bốn mắt cũng phát sóng về phía cô ta, trông hệt như một đôi tình nhân vụng trộm sắp sửa gian dâm đến nơi.

    Tiểu Thiện lấy ra một cuốn sổ, viết tên của chúng tôi vào sau đó lấy ra một xấp tiểu dày cộp, đếm qua loa rồi ném toẹt xuống mặt bàn, lúc này mới ngẩng đầu kiêu kỳ liếc nhìn tôi một cái.

    Tôi cũng liếc nhìn cô ta, rồi cầm lấy tiền đi luôn.

    - Lưu Bất Chính, vừa nhìn đã thấy là dạng tâm địa bất chính!

    - Sau lưng tôi vọng lại tiếng hử mũi đầy khinh miệt của Tiểu Thiện - Không hiểu Tống Đại Phúc cấn loại người đấy để làm gì...

    - Đội khảo sát cần có người chạy việc...

    - Tiền bốn mắt vội giải thích - Anh thấy bọn họ rất khoẻ.

    Tôi cũng chẳng buồn đáp trả cô ta.

    Dám gọi thẳng tên Tống Đại Phúc, lại nắm quyển tài chính trong tay, chắc chắn là bồ nhí của Tống Đại Phúc không sai.

    Vào ở trong khách sạn, tôi mới phát hiện ra, trong khách sạn đã có hơn bốn chục người, sáu đứa con gái trẻ măng xinh đẹp trông rất khêu gợi, mười bảy mười tám gã đô con lưng dài vai rộng, ai nấy dữ tợn như hung thần, vừa nhìn đã biết là hạng côn đồ vô lại, rõ ràng là vệ sĩ của Tống Đại Phúc.

    Còn có hai đạo sĩ, một lão râu tóc bạc phơ, một gã mới mười bảy mười tám, nhìn bộ dạng giống như hai thầy trò.

    Những người này đều nói giọng miền Nam.

    Khảo sát khoa học cái kiểu quái gì mà cả ông chủ, bồ nhí, vệ sĩ, đạo sĩ cùng xung trận cả lượt?...

    Đại sư huynh và nhị sư huynh mỗi người bỏ ra nghìn đồng bạc, lần lượt ngủ với năm đứa con gái, sau khi trở về phòng vẫn hưng phấn tràn trề, kết luận gái thành phố vừa trắng vừa lẳng lại vừa đắt...

    Đi chuyến này thật đáng đồng tiền bát gạo, không nhũng có tiền tiêu, mà còn được ngủ với gái.

    Nhưng trong lòng tôi hiểu rõ, việc tốt thế này sẽ không dễ dàng rơi xuống tay chúng tôi, phía sau chắc chắn còn có mục đích gì khác?

    Thôi mặc kệ, chỉ cần có thể vào được khe chết chóc, tất cả những thứ khác đều không quan trọng, chúng tôi cũng chẳng sợ gì...

    Mấy ngày sau, chúng tôi rời Cách Nhĩ Mộc đến Bố Luân Đài.

    Tại Bố Luân Đài, tôi phát hiện ra đội khảo sát có đến gần trăm người, ba mươi người mang theo súng trường, súng săn, thậm chí còn có mấy khẩu tiểu liên.

    Có gần trăm con ngưa, kéo mấy chục cỗ xe, trên xe là thức ăn, cỏ ngựa, lều bạt, còn nhiệm vụ chính của chúng tôi là đánh xe ngựa, dựng lều trại, trời tối thì nghỉ, trời sáng mới đi.

    Mấy ngày sau, chúng tôi đã vào một vùng đất hoang vu không một bóng người.

    Phía xa núi non trùng điệp, đỉnh tuyết chót vót, gần hơn là đồi băng nhấp nhô, cỏ dại ngút mắt, thi thoảng mới có lùm cây bụi cao chừng một hai mét.

    Đội xe ngựa từ từ tiến vào một khe núi.

    Tôi, Trương Nhất Đao, Ngưu Thợ Đã đi cuối đoàn người, người dắt ngựa ở phía trước là một gã Tứ Xuyên tầm mười bảy mười tám tuổi, chúng tôi đểu gọi gã là nhóc Tứ Xuyên.

    Tôi nhìn điện thoại, không có tín hiệu, tác dụng duy nhất chỉ là xem giờ, vừa đúng bốn giờ.

    Vì cao nguyên Thanh Tạng và Bắc Kinh lệch nhau gấp hai giờ, tôi tính còn phải đi thêm ba tiếng nữa mới được nghỉ ngơi

    - Con ngựa chó má này, đi mau, không đi ông đánh chết mày!

    - Nhóc Tứ Xuyên vừa vung roi vù vù, vừa lớn giọng quát lác.

    Tôi ngẩng đầu nhìn, hai con ngựa mà nhóc Tứ Xuyên đang dắt tự nhiên ngỏng cổ lên, không chịu đi thêm một bước.

    Ngưu Thợ Đá "ồ" lên một tiếng, tôi mới phát hiện ra toàn bộ đoàn ngựa đều đã dừng cả lại, khắp đoàn người ồn ào tiếng quát tháo, tiếng đánh ngựa, và cả tiếng ngựa hí rền rĩ.

    Rất nhanh, phía trước có tin truyền tới, nói là con ngựa đầu đàn không chịu đi, những con ngựa phía sau đều không đi nữa.

    Ngưu Thợ Đá lập tức nhanh cái miệng rộng ngoác ra, nói:

    - Lạ thật đấy, trời còn chưa tối, mà ngựa đã không chịu đi nữa...

    - Chúng ta lên phía trước xem sao!

    -Tôi khẽ chau mày, nói.

    Ba người chúng tôi đi lên phía trước, nơi đó đã có một đám đông xúm xít lại, đám Tiền bốn mắt đang hoa tay múa chân quát lác con ngựa đầu đàn.

    Đây là một con ngựa bạch cao to tráng kiện, trên lưng đóng một bộ yên cương, không phải kéo xe, không biết tại sao nó lại không chịu bước tiểp nữa.

    Tay bốn mắt quát mấy người đang xúm lại xem.

    - Kéo nó lên phía trước, kéo đi...

    Một người gồng mình lôi con ngựa về phía trước, nhưng con ngựa bạch vẫn đứng yên bất động, Tiền bốn mắt liền quành ra sau mông ngựa đẩy thật lực.

    - A!

    Ngưu Thợ Đá đưa tay gạt phăng mấy người chắn trước mặt ra, bất ngờ nhấc bổng gã bốn mắt lên, nói thì chậm, hành động thì nhanh, con ngựa tung vó đã đánh vèo về phía sau, may sao bốn mắt đã được Ngưu Thợ Đá xách lên kịp thời, vó ngựa chỉ đã trúng áo khoác của hân.

    Ngưu Thợ Đá quăng luôn bốn mắt xuống đất, hắn kinh hãi đến mất cả hồn vía.

    - Để tôi thử xem!

    Trương Nhất Đao khệnh khạng đi lại gần, giơ tay vỗ lên lưng ngựa, con ngựa cao lớn quá cỡ, Trương Nhất Đao phải kiễng chân lên mới với tới được lưng ngựa.

    Con ngựa rùng mình một cái, không tiến về phía trước mà né vội sang bên mấy bước.

    Trương Nhất Đao đã giết quá nhiều súc vật, toàn thân trên dưới đều ngùn ngụt một luồng sát khí vô hình, con người có lẽ không phát giảc ra, nhưng súc vật thì có thể cảm nhận thấy.

    Trương Nhất Đao giơ chân lên định đá, tôi vội can:

    - Đại sư huynh, anh mà đá thì con ngựa này hỏng mất!

    Trương Nhất Đao liền dừng chân lại, hắn khom người xuống, chui tọt xuống bụng ngựa, hai tay đỡ lấy bụng ngựa, vụt một cái nhấc bổng nó lên, xoạc cẳng bước liền mấy mẻt, rồi đặt con ngựa xuống.

    Mọi người thoạt đầu là trợn mắt há miệng, sau đó là ồ lên kinh ngạc, tấm tắc, xuýt xoa.

    - Đi mau cho ông!

    Trương Nhất Đao quát lớn một tiếng.

    Con ngựa bạch không tiến lên phía trước, mà hí lên một tiếng não nề, đột nhiên bốn chân mềm rục, quỳ sụp xuống đất.

    - Quái lạ nhỉ!

    Mọi người mồm năm miệng mười bàn tán ầm ĩ, tôi và Ngưu Thợ Đá trong lòng hiểu rõ, đám súc vật tầm thường vừa thấy Trương Nhất Đao đã bỏ chạy thật xa, thế mà hôm nay, con ngựa to xác này đột nhiên lại quỳ sụp xuống đất không chịu nhúc nhích một bước, chắng phải là chuyện cực kỳ quái lạ?

    - Có chuyện gì thế?

    - Tống Đại Phúc và Tiểu Thiện đi tới trong vòng bảo vệ của mười mấy tay vệ sĩ, đám vệ sĩ ai nấy súng ống đầy mình, mặc áo rằn ri, nghe nói phần nhiều là lính đặc công giải ngũ, người cầm đầu tên là Lý Bưu, còn có đám anh em của hắn là Trần Lôi, Vương Thạch, Đại Trang, Tiểu Bân...

    - Sếp Tống, ngựa không chịu đi nữa - Bốn mắt mặt lúc bợt lúc tái, còn chưa kịp hoàn hồn sau cơn táng đởm, vừa nãy nếu không phải được Ngưu Thợ Đá xách cổ lên, hắn đã bị ngựa đá cho chết dở.

    - Ngựa không đi, quật cho mấy roi là xong chứ gì?

    - Tống Đại Phúc quát văng cả nước miếng, rồi ngoác mồm chửi bới - Tiến sĩ mà học hành kiểu quái gì thể?

    Hay là học cái lỗ đít ngựa hả?

    - Tôi chỉ là người đọc sách...

    - Tiền bốn mắt gượng cười, lắp bắp.

    - Đánh rồi, vẫn không đi!

    Gã dắt ngựa vội nói.

    Những người đứng xem dạt sang bên chừa ra một lối đi, Tống Đại Phúc nhìn con ngựa bạch, mặt hơi biến sắc, rồi đột ngột ngoảnh lại, nói với đội trưởng đội vệ sĩ Lý Bưu:

    - Gọi Hoàng Đại Tiên đến xem thử, xem là chuyện quái đản gì?

    Hoàng Đại Tiên chính là lão đạo sĩ già, lão cõng theo một thanh trường kiếm, râu tóc bạc trắng như cước, dáng cao gầy, tất trắng giày mây, tiên phong đạo cốt.

    Chẳng biết lão từ chỗ nào chui ra, đã đứng lù lù cách con ngựa chừng mấy mét, hai mắt khép hờ, tay trái nâng ngang một mặt la bàn, ngón cái tay phải bấm vào ngón giữa, miệng lẩm rẩm tụng niệm.

    Hồi lâu sau, Hoàng Đại Tiên chợt mở choàng con mắt, như có linh quang toả ra bốn phía, miệng nói:

    - Dựng trại dựa vào chân núi, cách xa đường đi, toàn bộ cửa trại quay vào vách núi...

    Bốn mắt lập tức lôi ra một cái loa to vật, cao giọng hô váng lên:

    - Tất cả dựng trại dựa vào chân núi, cửa trại quay vào vách núi!

    Toàn đội lập tức bắt tay vào dựng trại.

    Nói ra cũng thật kỳ lạ, đám ngựa sống chết không chịu đi tiếp, nhưng vừa lôi về phía chân núi, lại co cẳng chạy thục mạng cứ nhu được thoát hiểm.

    Không lẽ bọn chúng đã dự cảm được mối nguy hiểm nào chăng?

    Lều trại của chúng tôi đều có kết cấu khung thép xếp duỗi, dựng lên chỉ mất vài phút, nhưng cần phải đóng cọc cố định, bạt che là vải buồm dày cộp, phải dùng dây thừng buộc từng miếng lại với nhau.

    Toàn bộ ngựa cũng được lùa vào trong lều, cứ mười mấy người được dồn vào một lều.

    Vài cái bếp gas bắt đầu thổi nấu.

    Bình thường, vào thời điểm này, lều của năm cô nàng kia lại vô cùng tấp nập, trong lều tràn trề hoan lạc, ngoài lều xếp hàng cả dãy, trước cửa là đám anh em của Lý Bưu.

    Đại Trang thu tiền, Tiểu Bân vừa nhìn đồng hồ vừa hô:

    -Số 1 đã mười lăm phút rồi!

    Số 2 hết giờ rồi...

    Nhưng hôm nay, mấy kẻ muốn tới mua vui lại bị Lý Bưu tống cổ ra ngoài:

    - Mẹ kiếp, mau cút về lều ngồi yên đó cho ông, hôm nay mấy em nghỉ việc...

    - Thế quái nào mà hôm nay lại nghỉ?

    - Nhóc Tứ Xuyên cụt hứng quay về, lụng bụng trong miệng.

    Gã vòng một vòng ở phía trước rồi mới trở về, lại lẩm bẩm - Giả thần giả quỷ, cửa lều thì quay ngược lại, đúng là rầy rà chết đi được!

    Tôi và Trương Nhất Đao, Ngưu Thợ Đá ngồi trong lều, chờ ăn cơm.

    Chỉ có chúng tôi hiểu rõ, chuyện quải đản sắp sửa xảy ra, vì chúng tôi có được dự cảm mà người khác không có.

    Phía ngoài lều có tiếng sồn sột.

    Tôi và Trương Nhất Đao, Ngưu Thợ Đá đưa mắt nhìn nhau, rồi đều đứng bật dậy, bước ra ngoài xem thử, chỉ thấy Hoàng Đại Tiên đang cầm thanh trường kiếm vạch túi bụi trên đất, còn đệ tử Hoàng Tiểu Tiên của lão đang ôm một túi bột giặt, vừa đi vừa rắc, rắc thành một đường dài.

    Gã bốn mắt đến từng lều căn dặn:

    - Ăn cơm tối xong, tất cả ở yên trong lều ngủ, trời tối không được phép ra ngoài, không được bước ra khỏi cái vạch kia, bất kể bên ngoài xảy ra chuyện gì, cũng không được ra xem...

    - Buồn tè buồn ị cũng không được đi à?

    - Có người băn khoăn hỏi.

    - Không sợ bị sói ăn thịt thì cứ đi!

    - Bốn mắt gằn giọng.

    - Sắp có chuyện gì à?

    Có người hỏi.

    - Việc không nên nhìn thì đừng nhìn, việc không nên hỏi thì đừng hỏi!

    - Bốn mắt lại đi tới lều tiếp theo, tiếp tục căn dặn.

    Mặc dù mọi người đều cảm thấy rất quái lạ, nhưng đến giờ cơm rồi vẫn phải ăn cơm, ăn xong tào lao phét lác một hồi rồi đi ngủ.

    Trời dần tối sập, từ phía đồng hoang vẳng lại từng hồi sói tru rùng rợn...

    - Này các đại ca, sói có ăn thịt người không nhỉ?- Nhóc Tứ Xuyên nấp phía sau tôi và các sư huynh, run nhu cầy sấy ...

    - Chắc chắn là có!

    Nhưng mày như nắm xương thế kia, sói không thích gặm xương đâu!

    - Tôi liếc xéo gã, trêu chọc.

    Nhóc Tứ Xuyên vẫn chưa hết sợ, hỏi:

    - Sói có xé rách được bạt lều không?

    -Nhìn bộ dạng nơm nớp của gã, mọi người đều cười toáng cả lên.

    Đêm đã về khuya, trong lều ầm ĩ tiếng ngáy.

    Tôi và đại sư huynh, nhị sư huynh đều ngủ ở ngay gần cửa lều.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh đã ngủ ngon lành, nhưng tôi lại không tài nào ngủ nổi.

    Có ánh sao lờ mờ lách qua khe cửa lều rọi vào bên trong.

    Bên ngoài tĩnh lặng lạ thường, tiếng sói tru không biểt đã biến mất tự bao giờ.

    Tôi móc điện thoại, nhìn thời gian, đã là mười một giờ năm mươi lăm phút.

    Tôi nằm trong túi ngủ, đang định kéo khoá lên, đột nhiên bên tai vẳng lại tiếng vó ngựa, dường như từ ngoài ngàn dặm xa xăm...

    Tôi lật người ngồi dậy, chăm chú lắng nghe.

    Không sai!

    Là tiếng vó ngựa, hơn nữa, còn là từ trong khe núi tiến ra ngoài, không chỉ một hai con, mà là cả một bầy.

    Tiếng vó ngựa mỗi lúc một rõ ràng.

    Nửa đêm khuya khoắt, lấy đâu ra cả đàn ngựa như thế?

    Tôi vừa nghĩ vừa đứng dậy, tháo sợi thừng buộc cửa lều, chui ra ngoài, để phòng thân, tôi cũng cầm theo cây rìu trong tay.

    Tôi ngủ ở căn lều cuối cùng, từ cửa lều đi vòng ra chỉ mười mấy mét, trên mặt đất phủ lớp có dền dại rất dày, phía trước là một rặng cây bụi cao chừng nửa thước.

    Tôi nhìn về phía phía khe núi, bỗng chốc hồn vía rụng rời, lập tức ngã sấp xuống đất.

    Từ trong khe núi, một đoàn ngựa chậm rãi kéo ra, người đi đầu giơ cao một lá cờ, tôi không thể nào nhận ra chữ viết trên lá cờ là chứ gì.

    Phía sau là một vị tướng râu quai nón rậm rì, mặc áo giáp vàng, mũ trụ vàng, một tay đặt vào cây bảo kiếm bên hông, bá khí ngút trời.

    Phía sau vị tướng là hai hàng kỵ binh đều tăm tắp, một tay giơ cao bó đuốc, một tay lăm lăm đao chiến, sát khi đằng đằng.

    Những người này là ai?

    Sao ăn mặc cổ quái đến vậy?

    Giống hệt như kỵ binh trong phim cổ trang.

    Chắng lẽ họ đang đóng phim?

    Đây là phản ứng đầu tiên của tôi.

    Ý nghĩ này vừa loé lên, viên tướng đã vụt quay đầu nhìn về phía tôi, chỉ thấy ánh mắt của ông ta sắc lẹm như tia chớp.

    Tôi nằm rạp phía sau khóm cây bụi, tin chắc rằng ông ta không nhìn thấy mình, nhưng tôi lại có thể nhìn thấy họ rõ mồn một.

    Cảnh tượng phía sau càng khiến tôi kinh hãi rùng rợn.

    Từng sợi dây thừng buộc vào những con người, phía trước là mấy người đàn bà tóc tai rũ rượi, phía sau là vài gã ông cúi gục đầu ủ rũ, trông bọn họ vô cùng thê thảm, cả người không quần không áo, có người chân không giày có người vấp chân phải tảng đã ngã nhào xuống đất, còn chưa kịp đứng dậy, đã bị kéo xềnh xệch ra ngoài khe núi.

    Đoàn người quái đản đó từ từ khuất dạng nơi cửa khe cửa núi, tan biến vào bóng đêm.

    Lẽ nào tôi đang nằm mơ?

    Tôi đứng dậy sau bụi rậm véo vào tay mình mấy cái, vẫn cảm thấy đau, không phải là mơ ngủ!

    Nhưng lúc nãy rõ ràng tôi đã nhìn thấy một đội kỵ binh, dùng dây thừng lôi một toán người từ trong khe núi đi ra, thế là thế nào?

    Phía sau vẳng lại tiếng bước chân, có tiếng gọi rất khẽ:

    - Sư đệ, sư đệ...

    Là tiếng của đại sư huynh Trương Nhất Đao và nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá.

    - Tôi ở đây!

    - Tôi cảm thấy giọng mình đang run rẩy.

    Đại sư huynh Trương Nhất Đao và nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá ló ra từ phía sau lều, vừa đi vừa cởi khuy quần ra tiểu tiện, vừa hỏi tôi:

    - Sư đệ, nửa đêm nửa hôm, cũng ra đây đi tiểu à?

    - Đại sư huynh, nhị sư huynh, lúc nãy hai anh có nghe thấy gì không?

    - Tôi hỏi.

    - Làm gì có gì!

    - Đại sư huynh kéo khoá quần lên, ngạc nhiên hỏi - Cậu nhìn thấy gì à?

    Tôi lắc đầu, cũng làm một bãi, rồi trở vào trong lều.

    Bên ngoài lại vẳng lên tiếng sói tru rền rĩ.

    Đại sư huynh nằm trong túi ngủ, nói:

    - Phải hơn hai mươi năm rồi tôi chưa giết sói...

    - Đại sư huynh từng giết sói ở đâu?

    Tôi hỏi.

    - Núi Bạch Hổ, có một lần tôi gặp phải sói xám.

    Con súc sinh đó lao đến, tôi một dao thọc trúng bụng nó, cảm giảc chẳng khác giết chó là mấy!

    - Trương Nhất Đao cười hềnh hệch.

    Sáng sớm hôm sau, Tiền bốn mắt bắc loa ông ổng gọi tất cả mọi người dậy.

    Mọi người thu dọn đồ đạc, ăn sáng xong lại tiếp tục xuất phát như thường ngày.

    Sau khi chúng tôi bước chân vào khu vực không người, ngày chỉ ăn hai bữa cơm, buổi trưa uống ít nước suối, ăn chút bánh.

    Ăn sáng xong liền xuất phát, mấy người chúng tôi vẫn đi sau cùng, nhóc Tứ Xuyên dắt ngựa, tôi, đại sư huynh, nhị sư huynh đi theo phía sau.

    Suốt dọc đường, mọi người cười nói vui vẻ.

    Vì họ không hề hay biết sự việc xảy ra đêm hôm qua.

    Nhưng trong lòng tôi rất rõ, đây không phải là điềm báo tốt lành, không hiểu nó có ý nghĩa gì?

    Tôi không cần biết, tôi chỉ biết phải tìm được cửa địa ngục, tìm được ngọn đèn chảy suốt nghìn năm.

    Chỉ có tìm được ngọn đèn, mới có thể tìm được cách cứu Tiểu Ngộ.

    - Này chàng trai...

    - Bỗng nhiên có người lên tiếng ngay bên cạnh tôi.

    Tôi vừa nhìn, đó là Hoàng Đại Tiên, tay phải lão cầm cây phất trấn, gác lên trên lòng bàn tay trái, cúi đầu một cái, rồi thong thả hỏi:

    - Có thể dừng bước nói chuyện được không?

    - Gì cơ?

    - Tôi lập tức hiểu ra chuyện gì.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh ngạc nhiên nhìn Hoàng Đại Tiên.

    - Được thôi!

    Muốn nói gì với tôi?

    - Tôi cười với hai vị sư huynh.

    Hoàng Đại Tiên lưng đeo thanh trường kiếm, tua kiếm, chòm râu, đại bào tung bay lồng lộng trong gió, quả nhiên có phong thái của thần tiên hạ phàm.

    - Chàng trai này tướng mạo bất phàm, hắn là biết âm dương, hiểu bát quái, lão đạo có mắt như mù...

    - Hoàng Đại Tiên sắc mặt nghiêm trang.

    - Đại Tiên, ông nói gì thế?

    -Tôi rất đỗi kinh ngạc.

    - Cậu đã nhìn thấy?

    - Ánh mắt Hoàng Đại Tiên như tia chớp xẹt, xuyên thấu qua cơ thể tôi.

    - Nhìn thấy gì kia?

    - Tôi cố tình giả bộ.

    Tôi là ai chứ?

    Vua trộm!

    Nói dối chính là sở trường của tôi, cái lão đạo sĩ mũi trâu này, đấu pháp thì tôi không phải đối thủ của lão, nhưng đấu gian trá, lão còn lâu mới là đối thủ của tôi!

    Kỳ thực, tôi hiểu rõ, lão muốn hỏi về việc tôi nhìn thấy âm binh mượn đường đêm hôm qua.

    - Canh ba đêm qua, tôi thấy cậu đi ra ngoài lều!

    - Hoàng Đại Tiên nhìn tôi chằm chằm, điềm đạm nói.

    - Đúng thế, nửa đêm hôm qua mót tiểu quả nên chạy ra ngoài, không biết tại sao lại ngã một cú dúi dụi, mãi lâu sau mới bò dậy được...

    - Tôi đưa tay xoa lưng, định vén áo lên cho lão xem, nhân tiện hỏi Đại Tiên, đây là đội khảo sát khoa học, thế ông đến khảo sát cái gì?

    Hoàng Đại Tiên cười bí hiểm:

    - Thiên cơ, thiên cơ không thể tiết lộ!

    Rồi phất mạnh cây phất trần lên vai, thong dong quay đi...

    Tôi rảo bước đuổi theo hai vị sư huynh, đại sư huynh ngoái đầu lại hỏi tôi:

    - Này Vẹo, lão mũi trâu ấy nói gì thế?

    - Ông ta nói về thiên cơ.

    - Tôi đáp.

    - Mẹ kiếp, lão đạo sĩ mũi trâu mà cũng có thiên cơ?

    - Đại sư huynh mở miệng chửi liền.

    - Mạc xác thiên cơ gì!

    Chúng ta cứ đi việc của chúng ta!

    - Nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá gan to tày trời, trời không sợ đất không sợ, đương nhiên cũng chẳng sợ gì thiên cơ!
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Phần7: Khe Chết Chóc


    Lại là một ngày bình yên vô sự.

    Chập tối, cả đội dừng chân, Tiền bốn mắt lại bắc loa lên hét ông ổng:

    - Tất cả chú ý, dừng lại ăn cơm nghỉ ngơi, chỉ cần căng lều ra là được, không cần đóng cọc, đến tối tiếp tục lên đường...

    - Cái quái gì thế?

    Ban ngày không biết đi à, sao lại phải đi ban đêm?

    - Nhóc Tứ Xuyên vừa căng lều, vừa hậm hực lụng bụng.

    - Đã cầm tiền của người ta rồi, há miệng mắc quai thôi, người ta trả công cao thế cơ mà, mày còn than vãn gì nữa?

    Làm việc đi!

    - Tôi lừ mắt với gã một cái.

    - Giả thần giả quỷ!

    - Đại sư huynh hừm một tiếng.

    Chúng tôi nhanh chóng căng xong lều, những thứ trên xe ngựa không cần chuyển xuống.

    Đang lúc chuyện trò rôm rả, nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá đột nhiên hét tướng lên:

    - Yêu quái, có yêu quái!

    Chúng tôi ngẩng phắt lên, thấy Ngưu Thợ Đá giơ tay chỉ về một hướng, la hét ầm ĩ.

    - Bại não à?

    Không phải yêu quái, mà là tây!

    - Đại sư huynh phá lên cười sằng sặc.

    Chỉ thấy một “ông tây” tóc vàng mắt xanh, mũi khoắm như mỏ ưng, râu quai nón tua tủa đầy mặt, đầu đội mũ phớt, tay cầm một chiếc ba toong, mình mặc complet đi ra khỏi đoàn người, theo phía sau là Tiền bốn mắt và một người đàn ông trung niên khác cũng mặc đồ tây, trông rất sạch sẽ chỉnh tề, sắc mặt bình tĩnh điềm đạm.

    Bọn họ đi về phía một ngọn núi.

    Chỉ là người nước ngoài thôi mà!

    Ở Giang Thành, tôi đã từng gặp vô số người nước ngoài, nhị sư huynh chưa gặp bao giờ, nên mới kinh hãi đến vậy.

    Tiền bốn mắt và ông tây kia trèo lên đỉnh núi, thi thoảng lại lôi ống nhòm ra quan sát, chỉ trỏ lung tung.

    Họ làm gì tôi chẳng thèm quan tâm, nhưng tôi thấy hơi lạ là đội khảo sát lại có cả người nước ngoài.

    Lẽ nào là đội khảo sát khoa học hợp tác với nước ngoài?

    Còn nữa, tại sao lại phải đi đêm?

    Ăn cơm tối xong, trời cũng tối dần, nhưng khu lều trại của chúng tôi lại đèn lửa sáng trưng, tiếng nói tiếng cười rổn rảng.

    Mười một giờ đúng, tiếng loa của Tiền bốn mắt lại oang oang:

    - Chuẩn bị xuất phát, tất cả mọi người đeo khẩu trang cẩn thận, khi chưa dừng lại thi không được bỏ khẩu trang ra...

    Trong đồ đạc trang bị của chúng tôi, mỗi người đều có mấy chiếc khẩu trang, tôi cũng chắng thấy có gì quái lạ, còn ngỡ rằng do trời rét, đeo khẩu trang để chống nhiễm lạnh!

    Trong núi Côn Lôn, ban ngày có mặt trời, nên ấm áp hơn, nhưng nhiệt độ ban đêm có thể xuống dưới âm mười mấy độ C.

    Đi được khoảng nửa tiếng đồng hồ, cái loa của Tiền bốn mắt lại hò hét:

    - Mọi người chú ý, tuyệt đối không đươc bỏ khẩu trang, cũng không được ngắt bất cứ cây cối gì trên đất, tất cả đều có độc...

    Chúng tôi phần nhiều đều dùng đèn thợ mỏ, đèn pin, sáng trưng như ban ngày.

    Chỉ thấy trong đáy khe núi dưới chân mọc dày đặc một giống thực vật, cao nửa thước, lác đác vài bông hoa màu vàng to cỡ đồng tiền xu.

    Giống cây này có độc?

    Có gì nguy hiểm?

    Chúng tôi đeo khẩu trang là để đề phòng giống cây này?

    Tôi đang mải suy nghĩ, thình lình trước mặt có tiếng đàn bà kêu rú, tiếp theo là tiếng la hét sợ hãi của mấy người đàn bà nữa, liên hồi kỳ trận, hết sức rộn ràng.

    Đàn bà là như vậy đấy, cảm tính kích động, một người đàn bà có thể lây nhiễm cho cả đám đàn bà.

    Cái Ioa của Tiền bốn mắt lại vang lên:

    - Đừng sợ, đó là người chết...

    - Người chết ở đâu?

    - Nhóc Tứ Xuyên lập cập hỏi:

    - Mày hỏi tao, tao hỏi ai?

    - Nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá vặc lại.

    - Người chết thì có gì đáng sợ?

    - Đại sư huynh thản nhiên nói.

    Phía trước lại vọng lên tiếng hét của đàn ông, tiếng chửi mắng:

    - Mẹ kiếp, hét cái chó gì?

    Là một bộ xương thôi chứ có gì đâu!

    Tôi đang lấy làm lạ, đột nhiên nghe thấy tiếng nhóc Tứ Xuyên rú lên hãi hùng:

    - Người chết, người chết…

    Cùng lúc đó, chúng tôi cũng nhìn thấy xương trắng ở bên đường, không phải là một bộ, mà là vô số bộ xương trắng hếu, xương người, xương ngựa, và cả binh khí, mũ giáp han gỉ, ngổn ngang la liệt khấp đồng hoang núi thẳm…

    Nửa đêm khuya khoắt, tự dưng đi đến một nơi thế này, đúng là rùng rợn không thế tả

    Tôi nói:

    - Nơi đây chắc chắn thời xưa đã từng đánh trận, chết rất nhiều người, nên mới thành ra như thế!

    Đại sư huynh không đồng tình:

    - Người chết thì có gì đáng sợ?

    Còn giả thần giả quỷ bắt đi đêm, làm ông mất cả giấc ngủ!

    Nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá than thở:

    - Chết như ngả rạ thế này, không biết trận đánh phải lớn đến đâu?

    Đáng tiếc mình không được chứng kiến.

    Chúng tôi giẵm lên hài cốt người chết, đi suốt hai giờ đông hồ, trước mắt bỗng dưng trống huơ trống hoác, lúc này mới thấy đã đi ra khỏi khe núi, trước mặt là một vùng bình địa.

    Tiền bốn mắt hô mọi người dựng lều trên vạt đất.

    Dựng lều xong, trời cũng hơi hửng sảng, mọi người nằm ngổn ngang trong lều nghỉ ngơi, bàn tán ầm ĩ về cái khe núi đầy rẫy thi hài vừa nãy.

    Tôi đi ra ngoài lều, thấy ông tây và Tiền bốn mắt đang đi lại gần, vừa đi vừa trò chuyện với nhau bằng tiếng tôi chỉ nghe hiểu được vài từ đơn giản, nên tất nhiên chẳng biết bọn họ đang nói gì.

    Khi họ đi ngang qua tôi, bỗng thấy có tiếng gọi tôi:

    - Xin chào, chàng thanh niên!

    Tôi ngẩng đầu nhìn, chính là người trung niên quần áo chỉnh tề kia, mái tóc chải mượt không một sợi rối, ria con kiến, khuôn mặt góc cạnh sắc nét như dao gọt, mày rậm, đôi mắt bình lặng như nước.

    Ông ta tỏ ra rất lịch sự với tôi.

    Tự dưng tôi cũng cảm thấy kính nể:

    - Chào ông...

    Người này còn chưa lên tiếng, Tiền bốn mắt đã vội cung kính nói:

    - Giáo sư Lôi, anh này tên là Lưu Bất Chính, là một nhân công chăm chỉ thật thà, xin hỏi ngài cần anh ta giúp gì không ạ?

    Giáo sư Lôi đưa mắt nhìn tôi, ánh mắt của ông ta hun hút như đầm sâu không đáy, tôi không nhìn ra bất cứ thứ gì từ trong đôi mắt ấy.

    Trái tim tôi thoáng chút rúng động.

    Tôi vẫn luôn cho rằng, bản thân mình là một vua trộm có tố chất tâm lý cực kỳ cứng rắn, cho dù núi Thái Sơn có sụp xuống trước mặt, vẫn có thể bình chân như vại, đưa ra được phán đoán chuẩn xác.

    Nhưng hôm nay, đối diện với một con người hoàn toàn xa lạ, tại sao tôi lại cảm thấy có phầnbhoang mang rối loạn?

    Lẽ nào ông ta có thể nhìn thấu tâm can tôi?

    - Có thể giúp chúng tôi mang vác một vài thiết bị không?

    - Giáo sư Lôi chỉ tay vào cỗ máy quay phim trên vai Tiền bốn mắt, mặc dù giọng điệu giống như hỏi ý kiến tôi, nhưng rõ ràng là một mệnh lệnh không thể nào từ chối.

    Tôi nhận lấy cỗ máy quay phim từ tay Tiển bốn mắt.

    Tiền bốn mắt thở phào một hơi:

    - Có mang khẩu trang không?

    Lát nữa cần dùng đấy.

    Tôi sờ tay vào túi, khẩu trang vẫn ở trong túi áo.

    Giáo sư Lôi sải bước tiến về phía trước.

    Tiền bốn mắt vung vẩy cánh tay, vặn vẹo xương cốt, có thể nhận ra, cơ thể của đám trí thức chẳng ra làm sao, mới vác cái máy quay phim có một tí mà đã mệt không ra hơi.

    Tuy nhiên khoản miệng lưỡi của hắn thì tôi không thể chê vào đâu được.

    - Cái vị đang đi phía trước kia là giáo sư ]ohn chuyên nghiên cứu về di tích cổ của đại học St.

    Andrews nước Anh, còn vị này là giáo sư Lôi Mông Đa người Hoa quốc tịch Canada chuyên nghiên cứu về khảo cổ.

    Tôi là tiến sĩ ở viện nghiên cứu khảo cổ khoa học Trung Quốc...

    - Tiền bốn mắt giới thiệu với tôi.

    Tôi chẳng có chút hứng thú gì với những điều này, nhưng lại có một cảm giác hết sức đặc biệt với ông giáo sư Lôi Mông Đa vừa sai tôi cầm máy quay phim.

    Người này không phải là nhân vật tầm thường, nhưng tôi lại không thể nói ra được nguyên do, chỉ dựa vào trực giác!

    Hơn nữa, tôi luôn tin vào trực giác của mình.

    - Chúng ta đang đi đâu thế?

    - Tôi hỏi Tiền bốn mắt.

    - Mục đích chuyến đi lần này của chúng ta là nghiên cứu khảo sát khoa học.

    Anh thấy đấy, trong khe núi có cơ man là người chết, đó cũng là một trong các đối tượng nghiên cứu của chúng ta.

    - Tiền bốn mắt nghiêm túc nói

    - Có phải thời xưa ở đây đã xảy ra chiến tranh không?

    - Tôi cũng bắt đầu cảm thấy tò mò.

    - Không!

    Tiền bốn mắt lắc đầu - Năm năm trước tôi từng tới đây một lần, và tìm hiểu được nguyên nhân dẫn đến cái chết của họ.

    - Là gì thế?

    - Tôi sốt sắng hỏi.

    - Chết vì trúng độc, chất độc của hoa.

    Tiền bốn mắt thao thao bất tuyệt - Có lẽ là tám trăm năm về trước, hoặc cũng có thể là lâu hơn nữa, một đoàn kỵ binh lạc vào trong khe núi này, khi đó, khắp khe núi nở rộ một loài hoa dại màu vàng, lại đúng lúc giữa trưa, mặt trời chiếu thẳng trên đầu, trong khe núi hơi nóng hầm hập.

    - Sau đó thì sao?

    - Tôi đang nghe đến đoạn hào hứng thì Tiền bốn mắt lại đột ngột dừng lại.

    - Sau đó...

    đám kỵ binh lũ lượt ngã từ trên lưng ngựa xuống đất, hít thở khó khăn, mũi miệng trào máu, giãy giụa kịch liệt, kết quả giãy giụa càng hăng, lại chết càng nhanh…

    - Tiền bốn mắt nói.

    - Thế là chết à?

    - Tôi ngạc nhiên hỏi lại - Tại sao họ lại chết?

    - Rất đơn giản, loại hoa vàng mọc đầy ở đây có độc, một hai bông thì không đáng ngại lắm, nhưng hàng ngàn hàng vạn bông tập trung lại một chỗ, thì đúng là địa ngục trần gian.

    Hơn nữa gặp đúng lúc giữa trưa nóng bức, không có gió, khí độc bốc lên ngùn ngụt, không thể tan đi, nên đương nhiên đám kỵ binh sẽ bị trúng độc, không chỉ người, đến ngựa cũng chết.

    Tôi nghe đến há hốc miệng, nhưng cũng cảm thấy lời hắn rất có lý.

    - Đây là cách giải thích từ góc độ khoa học về nguyên nhân cái chết của họ.

    - Tiền bốn mắt lại nói tiếp - Tại sao chúng ta lại phải đi qua khe núi này vào ban đêm?

    Vì ban đêm nhiệt độ thấp, khí độc của hoa không bốc lên cao, hơn nữa chúng ta còn đeo khẩu trang, có thể phòng ngừa ít nhiều.

    Nói đến đây, chúng tôi đã đến bên rìa khe núi chứa đầy hài cốt.

    Tiền bốn mắt đeo khẩu trang vào, đặt máy quay phim, bắt đầu quay.

    Còn John và Lôi Mông Đa liên tục tìm kiếm trong đống xương tàn, ghi ghi chép chép...

    - Muốn chứng minh thân thể của những người này, chỉ có thể dựa vào những đồ vật bên cạnh họ.

    Những đồ vật mà họ sử dụng mang đặc trưng của thời đại đó.

    Lần trước đến khảo sát, tôi đã tiến hành nghiên cứu, có lẽ đây là đoàn quân tây chinh của nước Mông Cổ...

    - Tiền bốn mắt giải thích.

    - Chúng ta có phải vào trong quay phim không?

    - Tôi hỏi Tiền bốn mắt.

    Tiền bốn mắt lắc đầu:

    - Không cần, trời sáng rồi, chẳng may trúng độc thì toi.

    John và giáo sư Lôi Mông Đa cầm máy ảnh chụp liên tục, còn thu thập một số đồ vật kiểu như ngọc bội, đều là những món trang sức đeo trên người, mặc dù đã trải qua hàng mấy trăm năm, nhưng không hề bị mục nát.

    Còn đám binh khí, áo giáp, mũ trụ đã gỉ mục từ lâu, không thể nhấc được lên nữa.

    Rõ ràng John và giáo sư Lôi Mông Đa rất hài lòng đối với cuộc khảo sát lần này.

    Hai người ngồi trên một tảng đá phía xa xa, vừa uống nước vừa trao đổi bằng tiếng Anh.

    Tôi và Tiền bốn mắt thu dọn đồ lề xong, đứng ở một bên trò chuyện.

    - Tiến sĩ Tiền, anh không sợ à?

    - Tôi hỏi hắn.

    - Sợ cái gì?

    Người chết là hết, chỉ là bộ xương trắng, có gì đáng sợ?

    - Tiền bốn mắt nói.

    - Anh không sợ ma à?

    - Tôi lại hỏi.

    - Trên đời này có ma à?

    Tiền bốn mắt liếc nhìn tôi một cái - Tôi là trí thức, nhìn từ góc độ khoa học, trên đời này không thể có ma!

    - Nhưng mà...

    - Tôi ngẫm nghĩ một thoáng.

    - Có rất nhiều việc, tạm thời không thể giải thích từ góc độ khoa học, nhưng sẽ có một ngày, khoa họ phát triển hơn, đến lúc đó sẽ có thể giải thích được - Tiền bốn mắt nghiêm túc nói.

    - Anh cho rằng có người ngoài hành tinh không?

    - Tôi thình lình hỏi hắn một câu.

    - Người ngoài hành tinh… nền văn minh ngoài hành tinh… cái này thì có thể, nhưng đó không phải là ma, đó là khoa học...

    - Tiền bốn mắt khẳng định chắc nịch.

    - Tôi chắc là có ma, tôi đã từng tận mắt nhìn thấy ma - Tôi nói.

    - Thế con ma mà anh nhìn thấy trông như thế nào?

    - Tiền bốn mắt bắt đầu hào hứng.

    - Bọn họ... cũng giống như người.

    - Tôi ngẫm nghĩ một lát, thì ma chính là người chứ còn gì.

    - Con ma mà anh nói, thực ra chính là người.

    Có lẽ là anh đã nhìn thấy một số người, một số sự việc quái dị, khiến anh không thể giải thích nổi.

    Ví dụ, anh một mình đi trên đường núi, đột nhiên nhìn thấy một cô gái đầu tóc xõa xượi lao tới...

    Đến khi anh hét toáng lên vì sợ hãi, thì lại chẳng thấy gì nữa.

    - Tiền bốn mắt nhìn tôi chằm chằm, hỏi vặn lại:

    - Thế là anh cảm thấy đó là ma, đúng không?

    - Không phải ma thì là cái gì?

    - Tôi cũng hào hứng hắn lên.

    - Thực ra, đây là một hiện tượng tự nhiên.

    Trong thế giới tự nhiên, rất nhiều nơi tồn tại từ trường.

    Từ trường vốn có khả năng ghi hình, vừa hay đã ghi lại hoạt động của một con người, rồi lại vừa hay chiếu ra trước mắt anh như một cái máy chiếu.

    Anh không thể nào giải thích được hiện tượng này, liền cho rằng đó là ma.

    - Tiền bốn mắt cật lực giảng giải.

    Tôi chưa bao giờ nghe thấy những lý luận kiến này nhưng hắn là một tiến sĩ, nên lời hắn nói hắn cũng có cái lý của hắn.

    - Trên đời này không hề có ma, chỉ có những hiện tượng ma khoa học không thể giải thích được mà thôi.

    - Tiền bốn mắt dùng câu nói này để kết thúc cuộc trò chuyện giữa tôi và hắn.

    - Có ma hay không, không phải cứ anh nói là xong.

    - Câu này, tôi chỉ thầm nghĩ trong bụng, tôi biết không thể nào thuyết phục được hắn, cũng như hắn không thể nào thuyết phục được tôi.

    John gọi Tiền bốn mắt.

    Tiền bốn mắt nói với tôi:

    - Giáo sư gọi tôi rồi, chúng ta qua đó đi!

    - Tiền bốn mắt đi phía trước, tôi vác mớ đạo cụ đi theo sau, John rõ ràng có vẻ kích động:

    - Anh Tiền, tôi cho rằng, những người lính đã chết kia có lẽ là đoàn kỵ binh tây chinh người Mông Cổ...

    Nhưng không biết năm năm về trước, các anh đã mang những thứ gì trở về?

    - À, ờ... tôi không rõ lắm, những thứ đó đều do sếp Tống xử lý, tôi chỉ phụ trách mang chúng về thôi!

    - Tiền bốn mắt ngần ngừ một lát mới đáp.

    - Lẽ nào công trình khảo sát khoa học của quý quốc lại không phải do nhà nước tiến hành?

    - John rõ ràng vô cùng kinh ngạc - Khảo sát khoa học mà như thế, khác nào buôn bán cổ vật?

    Tiền bốn mắt nhất thời không biết trả lời ra sao.

    Lôi Mông Đa điềm tĩnh nói:

    - Giáo sư, ngài có điều không biết, đây là công trình khảo sát khoa học do doanh nghiệp tài trợ, có một số cổ vật sẽ được mang bán đấu giá cho nhà sưu tập hoặc bảo tàng...

    John có vẻ trầm tư, gật đầu:

    - Có thể hiểu được, nhưng tôi khó lòng chấp nhận kiểu khảo sát khoa học như vậy, chúng ta chẳng khác nào những kẻ buôn lậu đồ cổ núp dưới danh nghĩa khảo sát khoa học.

    Lôi Mông Đa cũng gật đầu:

    - Giáo sư, tôi cũng giống như ngài, đều bị thu hút bởi nền văn hoá rực rỡ của Trung Quốc, chúng ta đến đây là để giải đáp rất nhiều câu đố chưa có lời giải…

    - Mông Cổ...

    - Trong lòng tôi bỗng chấn động khi nghĩ tới những đồ cổ từ thời đại đó, bất cứ một món nào cũng giá trị liên thành, chẳng trách Tống Đại Phúc dám bỏ ra khoản tiền kếch xù đến thế, lừa cả “ông Tây” tới tận đây.

    - Khảo sát khoa học cái nỗi gì?

    Rõ ràng là săn lùng đồ cổ, rồi mang buôn bán phi pháp...

    Năm năm trước bọn họ đã tới đây, chắc chắc đã vớ một mớ bộn.

    Vậy thì lần này, họ còn muốn kiếm chác gì nữa?

    Đang mải suy nghĩ, tôi bỗng vô thức ngẩng đầu lên, phát hiện ra một cặp mắt sắc buốt như mũi kiếm đang chằm chằm nhìn tôi.

    Là cặp mắt của Lôi Mông Đa.

    Ông ta như đọc được ý nghĩ của tôi.

    - Về thôi!

    Chúng ta cũng nên nghỉ ngơi một lát.

    - Lôi Mông Đa điềm đạm nói.

    Tôi vác đống máy quay, theo Tiền bốn mắt đến trước cửa căn lều số năm.

    Ba người Tiền bốn mắt, John, Lôi Mông Đa ở trong căn lều này, trong lều có một chiếc bàn vuông kiểu gấp mở, trên bàn bày một bình cà phê.

    John ngoái đầu, hỏi rất lịch sự:

    - Anh bạn trẻ, cùng uống tách cà phê nhé!

    - Không cần đâu!

    - Tôi không quen uống cà phê.

    Tôi cẩn thận xếp đám công cụ sang một bên, rồi trở ra ngoài.

    Lúc này, phần lớn mọi người vẫn đang ngủ say trong lều.

    Tôi cũng cảm thấy hơi buồn ngủ, muốn về chợp mắt một lúc.

    “Rầm!”

    - Từ căn lều số hai thình lình vang lên một tiếng động lớn.

    Tôi không nén nổi tò mò, lập tức chạy lại xem.

    Thì ra là con ngựa bạch đầu đàn đang ngẩng đầu giằng giật, muốn thoát khỏi dây cương.

    Tôi nhìn vào trong, bên trong không có người, toàn ngựa!

    Con ngựa này đang muốn làm gì?

    Suy nghĩ này vừa loé lên, con ngựa bạch đã giật đứt dây cương, lao vọt ra ngoài, phía sau nó vài chục con ngựa cũng tranh nhau lao theo, cùng rầm rập phóng về vùng đất trống trải giữa khe núi.

    Con ngựa bạch ngẩng cao đầu hí lên một tràng dài.

    Tôi rất lấy làm lạ.

    Từ trong căn lều số ba có mấy người chạy vọt ra, trong đó có Lý Bưu, hắn liếc xéo tôi một cái, hỏi:

    - Chuyện gì thế?

    - Ngựa chạy khỏi lều!

    - Tôi đáp.

    - Có phải mày thả ra không?

    - Lý Bưu hung hãn trừng mắt nhìn tôi, sầm sập sấn lại gần mấy bước.

    Đám vệ sĩ anh em của hắn cũng hùng hổ tiến lại như một đám hung thần, có vẻ muốn cho tôi một trận.

    Lửa giận bùng lên trong lòng tôi:

    - Con mắt nào của anh nhìn thấy tôi thả ngựa?

    - Không phải mày thả, chả lẽ ngựa lại tự chạy ra?

    Ở đây không có ai khác, chỉ có một mình mày, không phải mày, chẳng lẽ là ma?

    - Lý Bưu lý lẽ chắc nịch, không thể phản bảc.

    Nếu tôi nói là ngựa tự chạy ra ngoài, liệu có ai tin không?

    - Mày làm gì ở đây?

    - Lý Bưu hung hãn xáp lại gần, tôi nhìn thấy nắm tay của hắn đã nắm lại như đá tảng.

    Tôi đã từng đánh nhau, nhưng tôi không chắc mình có thể đánh tay vệ sĩ xuất thân từ lính đặc công này hay không, huống hồ bên cạnh hắn còn cả đám anh em, còn hai vị sư huynh của tôi vẫn đang ngủ tít.

    Tôi phải giải thích thể nào đây?

    Đột nhiên, tôi nhìn thấy một cảnh tượng hết sức hãi hùng.

    Đỉnh núi băng phía sau căn lều thứ nhất thình lình sạt xuống nguyên một góc, hoàn toàn không hề có dấu hiệu báo trước, cứ như từ trên trời đổ xuống.

    Mặt đất rung chuyển dữ dội, “uỳnh” một tiếng kinh thiên động địa.

    Những cục băng lở xuống chớp mắt đã chôn vùi toàn bộ căn lều thứ nhất, căn lều thứ hai cũng bị nuốt mất một nửa, băng tuyết vỡ vụn bắn tung toé lên người tôi và Lý Bưu.

    Tôi nhảy vọt sang một bên theo phản xạ.

    Lý Bưu ngoái đầu lại nhìn, lập tức trợn trừng con mắt.

    Tiếng động khủng khiếp gây kinh động đến tất cả mọi người trong các lều còn lại, Tiền bốn mắt, John, Lôi Mông Đa chạy ra đầu tiên, trong tay còn cầm tách cà phê.

    Tiếp đó là Hoàng Đại Tiên và Hoàng Tiểu Tiên.

    Tống Đại Phúc trông lôi thôi nhất, nửa thân trên trần trùng trục, nửa thân dưới quấn vội một tấm chăn, lập cập hỏi:

    - Có chuyện gì thế?

    - Núi băng lở xuống, đè sập căn lều số một!

    - Lý Bưu nhanh chóng định thần, bình tĩnh trở lại, dù sao hắn cũng xuất thân từ lính đặc công, tâm lý đặc biệt vững vàng.

    Tôi định thần lại, chạy về gọi hai vị sư huynh, còn chưa đến cửa lều, bọn họ đã chạy ra, dụi con mắt chưa hết ngái ngủ, hỏi:

    - Cái gì mà như núi long đất lở thế, có chuyện gì?

    Tôi thở phào một hơi:

    - Núi băng lở, đè sập căn lều số một, người bên trong không ai kịp thoát...

    - A...

    - Cả hai lập tức tỉnh ngù.

    Lúc này, cái loa của Tiền bốn mắt lại vang lên ông ổng:

    - Lập tức thu dọn lều trại, di chuyển về phía trước.

    Lý Bưu, nhanh chóng dẫn người giải cứu những người bị chôn vùi...

    Chúng tôi nhanh chóng di tản.

    Đỉnh núi băng bị vẹt mất một góc kia, trông chẳng khác gì một hồn ma hung hãn, ngoác rộng cái miệng âm hàn, như sắp nuốt chửng mọi thứ!

    Chúng tôi vẫn là những người đi cuối cùng.

    Chắng mấy chốc, Lý Bưu dẫn theo mười mấy tay vệ sĩ đuổi đến nơi, nhưng không thấy họ khiêng theo một người bị thương nào.

    Tôi dám khắng định, cứu người chỉ là giả bộ cho có, chứ bọn họ không hề tận lực.

    Về sau, tôi mới biết, đây chính là ý của Tống Đại Phúc, chết vài người thì có đáng kể gì, nhưng nếu phải mang theo mấy con người sống dở chết dở, đó mới là phiền hà thực sư.

    Vì vậy, ông ta đã từ bỏ ý định cứu những người bị chôn vùi trong băng tuyết, có thể vẫn còn sống sót...

    Buổi trưa, toàn đoàn nghỉ lại trong lòng một khe núi, địa điểm được chọn để hạ trại lần này đã được tính toán chu đáo, đỉnh núi ở hai bên không cao, không dốc, khoảng cách cũng xa, cho dù có lở xuống, cũng không gây nguy hiểm gì đến khu trại.

    Hoàng Đại Tiên nghiêm cẩn rút thanh bào kiếm vạch một đường phía trước lều, còn Hoàng Tiểu Tiên lại rắc bột giặt để cho đường vạch đó càng thêm nổi bật.

    Sau đó Hoàng Đại Tiên trang trọng làm phép một hồi, lẩm rẩm tụng niệm cả lô thần chú.

    Cuối cùng, Tiền bốn mắt truyền đạt mệnh lệnh của Hoàng Đại Tiên: sau mười giờ đêm tất cả mọi người không ai được rời khỏi lều nửa bước, nếu không, ắt có tai hoạ đổ máu...

    Ban ngày vừa có mười mấy người bị chôn sống, bây giờ lại nghe Hoàng Đại Tiên nói vậy, mọi người lập tức trở nên căng thắng.

    Bầu không khí nặng nề khác thường.

    Mọi người lũ lượt trở về lều của mình.

    Trong lều của chúng tôi, chỉ có tôi, đại sư huynh Trương Nhất Đao, nhị sư huynh Ngưu Thợ Đã là còn tương đối bình tĩnh.

    Dù sao, chúng tôi cũng từng trải hơn nhiều.

    Nhóc Tứ Xuyên mặt mũi trắng bệch, nhấp nhổm bất an, gã ngồi giữa lều, cặp mắt tí hí cứ sợ hãi đảo qua đảo lại.

    Ánh mắt của tôi vô tình dừng lại trên người gã.

    - Anh Vẹo ơi!

    - Nhóc Tứ Xuyên thấp thỏm gọi tôi một tiếng.

    - Gì?

    - Tôi nhìn bộ dạng của gã, nghĩ rằng gã có chuyện gì đó muốn nói với tôi.

    - Anh Vẹo, anh có tin không?

    Trên đời này có ma thật đấy!

    - Nhóc Tứ Xuyên giống như vừa phải hạ một quyết tâm rất lớn, mới có đủ can đảm để nói ra một câu không đầu không cuối thế này.

    - Ma?

    - Tôi, đại sư huynh, nhị sư huynh cùng hỏi một câu - Mày thấy ma bao giờ chưa?

    - Em nhìn thấy rồi, thật đấy.

    -Nhóc Tứ Xuyên gật đầu thật mạnh.

    - Nói thử xem nào.

    - Tôi thấy hào hứng, kéo một chiếc ghế nhựa ra, ngồi xuống cạnh gã.

    Nhóc Tứ Xuyên ngẩng đầu lên, liếc tôi một cái, rồi mới hết sức dè dặt nói:

    - Các cụ trong nhà em truyền rằng, người ta sau khi chết sẽ biến thành ma; những người chết bất đắc kỳ tử, sẽ biến thành quỷ dữ, chuyên đi hại người.

    Cha em tên là Chu Đại Cường, có một chú em tên là Chu Đại Trụ, là một cán bộ trong thôn, trên đường xuống thôn đi họp bị tai nạn ô tô, bánh xe cán nát đầu, thê thảm lắm...

    Đại sư huynh và mấy người nữa đều xúm cả lại, nghe nhóc Tứ Xuyên kể chuyện ma.

    - Vào tối thứ bảy sau khi chú em chết đi, đúng nửa đêm, cửa nhà em đột nhiên vang lên tiếng đập thình thình, còn có tiểng người gọi lớn ở bên ngoài: “Chu Đại Cường!

    Chu Đại Cường!

    Trường thôn bảo anh mười giờ sáng mai lên trụ sở thôn đi họp!”

    Tiếng gọi và tiếng đập cửa làm cả nhà em giật bắn mình tỉnh dậy, cha em vừa thắp đèn, mặc quẩn áo, vừa đáp “Biết rồi”, lại hỏi thêm một câu "Anh là ai thế?”

    Câu trả lời khiến cả nhà em nhảy ngược cả lên: “Tôi là em trai Chu Đại Trụ của anh đây!

    Mới đó mà đã quên rồi à?

    "Đúng là người vừa đi trà đã lạnh..."

    - Nhóc Tứ Xuyên nói mà vẫn chưa hết run, cứ như lại quay trở về thời điểm đó.

    - Sau đó thì sao?

    - Đại sư huynh nôn nóng hỏi.

    - " Thằng chó khốn kiếp, chết rồi mà còn muốn hại người hẳn?”

    - Cha em vừa chửi, vừa xách cây đòn gánh ra mở cửa, bên ngoài tối đen như mực, chấng có lấy nửa cái bóng...

    - Nhóc Tứ Xuyên chậm rãi kể tiếp - Sáng ngày sau, quả nhiên cha em nhận được điện thoại từ trụ sở thôn, bảo ông ấy đúng mười giờ đến họp, nói là dàn xếp việc bồi thường vụ chú em bị ô tô đâm chết.

    Cha em cảm thấy hơi lo lắng, vì sự việc xảy ra đêm trước quá là quái đản, sau khi bàn bạc, bèn quyết định cả nhà cùng đi...

    - Cả nhà em chuẩn bị đến trụ sở, đi đến chỗ chú hai bị tai nạn, cha dừng lại, muốn nhìn thêm một lát.

    Đây là đoạn đường xuống dốc và uốn cong, nhưng địa hình không hề nguy hiểm.

    Đúng lúc đó, đột nhiên một chiếc xe từ trên dốc lao vụt xuống, đâm trực diện vào người cha em...

    Đầu cha em cũng bị cán nát, giống hệt như chú hai, cực kỳ thê thảm…

    - Nhóc Tứ Xuyên ngẩng đẩu nhìn mọi người một lượt, trong ánh mắt còn chưa hết vẻ kinh hoàng

    - Trong khe núi này toàn là xương người chết, chắc chắn có rất nhiểu oan hồn chưa được đầu thai.

    Nay chúng ta lại đi vào khe núi này, bọn họ sẽ bắt chúng ta làm thế thân…

    - Đúng thế!

    Ban ngày đỉnh núi băng vô duyên vô cớ sập xuống, đè bẹp cả một căn lều, bên trong chẳng có ai thoát được...

    - Một người lên tiếng, chưa hết run rẩy, bán tín bán nghi - Chắc là bắt để làm thế thân phải không?

    Nhiều người chết thế, mà người sống lại không có bao nhiêu, thế thân cũng chắng đủ!

    Nhị sư huynh trầm ngâm.

    Tôi lại đang nghĩ về bầy ngựa.

    Tại sao khi núi băng sạt lở, ngựa lại cảm giác được?

    Lại giật đứt cả dây cương mà bỏ chạy!

    Lẽ nào ngựa có thể nhìn thấy nhũng thứ mà con người không thể nhìn thấy?

    Hay là nó có được một vài dự cảm đặc biệt?

    Đại sư huynh có vẻ đã bị câu chuyện của nhóc Tứ Xuyên cuốn hút, anh ta ngờ vực hỏi:

    - Lạ thật đấy!

    Chú mày chết rồi, sao lại làm hại cha mày?

    Dù gì cũng là anh em ruột cơ mà!

    Nhóc Tứ Xuyên buồn bã nói:

    - Ma thì không nhận anh em...

    Trái tim tôi bỗng giật thót, sực nhớ đến cảnh tượng kinh dị đã nhìn thấy vào đêm hôm trước.

    Lẽ nào, đám âm binh đó chính là oan hồn của những kẻ đã bỏ mạng trong khe núi, họ đã quanh quẩn trong khe núi này suốt mấy trăm năm, chỉ để chờ đợi chúng tôi dẫn xác đến?

    Đêm về khuya, gió xoáy vòng giữa các ngọn núi, bầu trời phía trên khe núi lấp lánh sao thưa.

    Lại là một đêm không ngủ.

    Tôi không ngủ được, nhìn đại sư huynh và nhị sư huynh bên cạnh đang ngáy như sấm, bất giác gượng cười một tiếng.

    Con người ta đến với thế giới này, nếu như không có dục vọng, đương nhiên sẽ sống hạnh phúc.

    Dục vọng càng nhiều, đau khổ cũng sẽ càng nhiều.

    Tôi giắt rìu vào thắt lưng, mặc áo khoác, chui ra khỏi lều.

    Tôi đã quên bẵng mất lời căn dặn của Hoàng Đại Tiên, sau mười giờ không được phép ra khỏi lều.

    Một cơn gió lạnh lẽo thốc thẳng vào trước mặt, tôi rùng mình một cái, lập tức tỉnh táo hơn nhiêu.

    Bầu trời xám đen, như một chiếc nôi khổng lồ úp ngược, thấp lè tè, những đốm sao như đang chớp mắt ngay trên đỉnh đầu.

    Những đỉnh núi phía xa xăm, giống như bầy quỷ dữ đang đứng sừng sững…

    Một tiếng động khe khẽ vọng vào tai tôi.

    Tôi giật mình, bàn tay vô thức nắm lấy cán rìu, nhìn về phía phát ra tiếng động, chỉ thấy một người từ trong lều thò đầu ra, người này nhìn thấy tôi, tôi cũng nhìn thấy ngay người đó.

    Là Hoàng Đại Tiên.

    Rõ ràng Hoàng Đại Tiên không ngờ được bên ngoài lại có người, nhưng lão đã nhanh chóng lướt ra.

    Đúng là đang lướt, vạt đạo bào bay lên phất phơ.

    - Này anh bạn trẻ!

    - Hoàng Đại Tiên cúi đầu chào.

    - Đại Tiên, xin lỗi, không phải tôi cố ý!

    - Lúc này, tôi mới sực nhớ ra lời căn dặn của Đại Tiên, sau mười giờ không được phép ra khỏi lều.

    - Anh bạn trẻ, hãy đi cùng tôi!

    - Hoàng Đại Tiên gác cây phất trần lên cánh tay, cũng chắng quan tâm xem tôi có đồng ý hay không, đã đi thẳng tới bên một gò đất.

    Tồi đành phải đi theo.

    Hoàng Đại Tiên đứng lại, rồi ngoảnh đầu nhìn tôi.

    Tôi ngoái đầu nhìn lại, chúng tôi đã đi cách lều khoảng hai ba trăm mét, dường như lão có lời gì đó muốn nói với tôi.

    - Này anh bạn trẻ, ta đoán chắc cậu không phải người tầm thường, đêm hôm trước, chắc hẳn cậu đã nhìn thấy!

    - Giọng Hoàng Đại Tiên không hề nhấn mạnh, nhưng chắc nịch không thể nghi ngờ.

    Tôi đành phải đáp:

    - Đúng là tôi có nhìn thấy.

    - Cậu đã nhìn thấy những gì?

    - Hoàng Đại Tiên do dự một lát, rồi hỏi.

    - Tôi nhìn thấy một đoàn kỵ binh mặc áo giáp kiểu cổ, áp giải một toán người mặc quần áo hiện đại...

    - Tôi ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói thực.

    - Cậu có biết, cảnh tượng đó có ý nghĩa gì không?

    - Hoàng Đại Tiên gật đầu, tiếp tục hỏi tôi.

    Tôi ngẫm nghĩ một lát, mặt lộ vẻ ngơ ngác:

    - Không biết!

    Hoàng Đại Tiên khẽ thở dài một tiếng:

    - Đó gọi là âm binh mượn đường, cũng gọi là âm binh đi tuần.

    Sau khi người ta chết đi, xác thịt sẽ rữa nát, nhưng hồn phách chưa tan, được gọi là linh hồn, thông tục hơn thì gọi là ma...

    Đoàn âm binh, chính là những binh sĩ cổ xưa mà cậu nhìn thấy trong khe núi hôm đó, họ đi tuần là để bắt lấy linh hồn của những kẻ tự tiện xâm nhập vào khe núi như chúng ta.

    Nếu như linh hồn của chúng ta bị họ bắt đi, thân xác chẳng bao lâu sẽ chết…

    Tôi thoáng giật mình:

    - Như vậy, chẳng phải là tất cả chúng ta đều sẽ phải chết?

    Hàng Đại Tiên khẳng định như dao chém đá:

    - Đúng!

    Trái tim tôi nảy ngược lên.

    Hoàng Đại Tiên lập tức bổ sung một câu:

    - Nếu như chúng ta lập tức rời đi, hoạ may có thể thay đổi!

    Cuối cùng, tôi cũng đã hiểu được ý của Hoàng Đa Tiên:

    - Nếu như chúng ta lập tức rời đi, liệu có thể giữ được mạng sống?

    Hoàng Đại Tiên trầm ngâm một lúc, mới chậm rãi nói:

    - Thiên cơ không thể tiểt lộ!

    Tôi cất giọng tưng tửng:

    - Đại Tiên, ông đã tiết lộ thiên cơ rồi đấy thôi!

    Hoàng Đại Tiên lắc đầu:

    - Cậu đã nhìn thấy, đối với cậu mà nói, không được coi là tiết lộ...

    Tôi nhất thời không biểt phải nói gì.

    - Cậu có muốn bỏ đi cùng chúng tôi không?

    - Hoàng Đại Tiên đột ngột hỏi tôi.

    Tôi lắc đầu theo phản xạ.

    Khó khăn lắm mới tới được nơi này, vẫn chưa tìm thấy được thứ muốn tìm, làm sao có thể bỏ đi dễ dàng thế được?

    Nếu lúc này mà bỏ về, chuyện của Lâm Tiểu Ngộ sẽ tính thế nào đây?

    - Cậu không đi, chúng tôi đi!

    Hẹn ngày tái ngộ!

    - Hoàng Đại Tiên điềm đạm nói.

    Tôi ngoảnh đầu nhìn lại, lúc này mới phát hiện ra phía xa xa có hai người và ba con ngựa đang đứng, một là Hoàng Tiểu Tiên, người kia lại là một cô gái, tóc dài xoã vai, khẩu trang kín mặt, chỉ lộ ra đôi mắt lạnh lẽo.

    Cô gái kia là ai?

    Nhất thời, tôi không thể đoán ra, vì đàn bà con gái trong đoàn, tôi chỉ biết một người duy nhất.

    Chính là bồ nhí của Tống Đại Phúc, kế toán tài vụ của đội khảo sát Tiểu Thiện.

    Tôi thấy trên ba con ngựa đều buộc sẵn vài cái bọc, thì thầm nghĩ, bọn họ dự định lặng lẽ bỏ đi, tất nhiên phải chuẩn bị sẵn từ trước, nếu không, chắc chắn sẽ không thể thoát khỏi vùng đất hoang vu không một bóng người này được.

    Trong lúc Hoàng Đại Tiên và tôi trò chuyện, hai người kia cũng đã lặng lẽ đến gần.

    Hoàng Đại Tiên xoay người lên ngựa, ngoảnh đầu lại nói:

    - Nếu như cậu đồng ý, tôi sẽ bảo Tiểu Tiên quay về lấy thêm một con ngựa!

    Chúng ta cùng bỏ trốn!

    Tôi dứt khoát lắc đầu.

    - Cuối cùng, tặng cậu một câu: người may mắn tự có tướng lành!

    - Hoàng Đại Tiên ngồi trên lưng ngựa cúi đầu với tôi thêm một cái nữa, sau đó giật dây cương, con ngựa chậm rãi chạy về phía xa xăm.

    Hoàng Tiểu Tiên cũng lặng lẽ bám theo sau ông ta, còn cô gái đi cùng, lại quay đầu liếc tôi một cái, ánh

    mắt đó, đầy vẻ ngạc nhiên.

    Có lẽ cô không thể nào hiểu được, tại sao tôi biết rõ trước mặt là cái chết, mà vẫn nhất quyết muốn ở lại.

    Ba người từ từ biến mất trong màn đêm đen thẳm…

    Hoàng Đại Tiên nửa đêm lặng lẽ bỏ, trốn, rõ ràng là ông ta đã dự cảm được sự việc sắp xảy ra đã không có cách nào đối phó.

    Vậy, đó là sự việc khủng khiếp gì đây?

    Tôi suy nghĩ hồi lâu.

    Bất kể thế nào, tôi cũng phải nói rõ sự tình cho hai vị sư huynh được biết, không thể vì việc riêng mà làm liên luỵ đến họ.

    Dù sao trên cõi đời này, họ cũng là anh em, là người thân thích của tôi.

    Tôi trở về trong lều, đánh thức đại sư huynh và nhị sư huynh dậy, hai người họ còn ngỡ rằng tôi đã muốn hành động, liền lặng lẽ đi theo tôi ra ngoài.

    Đến bên một gò cát, tôi kể lại toàn bộ việc nhìn thấy âm binh mượn đường và Hoàng Đại Tiên bỏ trốn cho hai người nghe.

    Ý của tôi là muốn họ hãy trộm lấy mấy con ngựa, nhân lúc đêm tối, tẩu thoát khỏi khe núi chết chóc này, sau đó đến Bố Luân Đài đợi tôi...

    - Làm sao thế được?

    Chúng ta là anh em, anh em có chuyện, chúng ta sao có thể khoanh tay đứng nhìn?

    - Hai người không đợi tôi nói hết, đã đồng thanh phản đối.

    - Ở đây thực sự rất nguy hiểm…

    - Tôi đắn đo không biết nên nói thế nào.

    - Nếu như nguy hiểm, chúng ta lại càng phải sát cánh bên nhau!

    - Hai người đều rất cương quyết, khiến tôi vô cùng cảm động.

    - Thì ra cái lão mũi trâu kia giả thần giả quỷ bảo chúng ta không được ra ngoài, là để chúng bỏ trốn cho dễ?

    - Cuối cùng, đại sư huynh cũng đã hiểu ra - Cái lão mũi trâu chết tiệt, bản lĩnh chẳng có bao nhiêu, chỉ giỏi khoác lác, rồi bôi mỡ vào chân chuồn mất dạng, chết bà lão đi...

    Tôi dặn dò hai vị sư huynh, cứ coi như không có chuyện gì xảy ra, việc đến đâu hay đến đó, người sống sờ sờ chẳng lẽ lại bị nước tiểu dìm chết?

    Ba huynh đệ chúng tôi đều bản lĩnh đầy mình, kiểu gì cũng vượt trội hơn kẻ khác!

    Trở về lều, chúng tôi liền nằm xuống ngủ, hai vị sư huynh chẳng mấy chốc đã kéo gỗ ầm ầm...

    Sáng hôm sau, nghe thấy ngoài lều có tiếng người đi lại.

    Tôi vừa chui ra khỏi lều, đã thấy bốn mắt đang chuẩn bị vài thứ máy móc, John và giáo sư Lôi Mông Đa đang vận động chân tay ở một khe núi gần đó.

    - Bất Chính, dậy sớm thế?

    - Tiền bốn mắt vồn vã chào hỏi tôi - Hôm nay cùng chúng tôi đến khảo sát hố địa ngục nhé!

    - Hôm nay không đi à?

    - Tôi hỏi lại.

    - Không đi, giáo sư John muốn đến hố địa ngục xem thử - Tiền bốn mắt nói.

    - Hố địa ngục?

    - Tôi hỏi - Hố địa ngục là gì?

    - Hố địa ngục, chính là một thuật ngữ của địa hình Kast ...

    Tiền bốn mắt cân nhắc cách dùng từ, xem nói thế nào mới khiến tôi hiểu được, tôi nghe mà ngơ ngác như bò đội nón.

    Hắn đương nhiên cũng nhận ra, bèn nói - Tức là một cái hố lớn sụt lún xuống đất.

    - Có xa không?

    - Cuối cùng thì tôi cũng hiểu ra, bèn hỏi thêm một câu.

    - Không xa, một cây số là cùng.

    - Tiền bốn mắt cười đáp.

    - Được!

    - Tất nhiên là tôi mong còn chẳng được, chỉ vài bước đã đến bên gã - Tiền tiến sĩ ,có cần tôi giúp gì không?

    Tiền bốn mắt lắc đầu:

    - Bây giờ thì chưa, lát nữa kéo một số dụng cụ đến bên hố là được.

    Trong lúc hai chúng tôi đang trò chuyện, trong lều đã có một vài người chui ra, trong đó, từ một lều thò một cái đầu đàn bà, cất giọng ỏn ẻn:

    - Tiến sĩ Tiền, đã bao lâu không đến tìm em rồi?

    Tiền bốn mắt cười hê hê, mặt mũi đỏ bừng, ngượng nghịu quay sang chỗ khác.

    Dù sao cũng là trí thức, nên thấy hơi mất mặt cũng là đương nhiên.

    Giáo sư John và Lôi Mông Đa đã quay lại, vừa đi vừa hỏi Tiền bốn mắt:

    - Sếp Tống vẫn chưa dậy à?

    Tiển bốn mắt ngẩng đầu nhìn căn lều số năm, mặt khẽ biến sắc.

    Trong căn lều số năm có một gian lều nhỏ, là nơi ở của Tống Đại Phúc và cô bồ nhí Tiểu Tiện, ở giữa là Lý Bưu và ba vệ sĩ, ngoài ra là hai thầy trò Hoàng Đại Tiên.

    Theo lý mà nói, Lý Bưu và Hoàng Đại Tiên phải dậy từ lâu rói mới đúng.

    Sao Đại Tiên vẫn chưa dậy nhỉ?

    Tiền bốn mắt lẩm bẩm một mình.

    - Đại Tiên cái quái gì, chó chết!

    Cao chạy xa bay từ lâu rồi!

    - Tôi cười thầm trong dạ.

    - Lý Bưu, Lý Bưu...

    - Tiền bốn mắt cất tiếng gọi lớn.

    Trong lều vẫn lặng phắc như tờ.

    Tôi cũng thoáng ngạc nhiên, Hoàng Đại Tiên bỏ trốn thì tôi biết, nhưng chẳng lẽ vì bỏ trốn mà ông ta đã giết hết những người còn lại?

    Chắc là không thể!

    Lý Bưu là lính đặc công, Hoàng Đại Tiên sao có thể giết được hắn?

    ]ohn cũng cảm thấy lạ lùng, bèn nói với Tiền bốn mắt:

    - Vào xem thử tại sao họ vẫn chưa dậy?

    Tiền bốn mắt thấy hơi e dè, bèn liếc nhìn tôi:

    - Bất Chính, đi cùng tôi vào trong xem thế nào.

    - Được!

    - Tôi cố kìm nén nỗi tò mò trong tâm trí, đi vào trong lều, Tìền bốn mắt bám theo phía sau.

    Vừa bước vào trong, tôi đã ngửi thấy có mùi thơm thoang thoảng, sau đó nhìn thấy một que hương đã cháy hết.

    Lúc đó, tôi không phát giác ra có gì quái lạ, chỉ thấy cửa lều vẫn đóng kín mít, Lý Bưu và mấy tên vệ sĩ nằm trong túi ngủ, ngủ mê mệt, bên còn lại thì trống trơn.

    - Đại Tiên biến mất rồi...

    - Tiền bốn mắt hốt hoảng kêu toáng lên.

    Tôi nghĩ thầm trong bụng: "Biến mất từ lâu rồi!”

    - Đại Tiên đâu?

    - Tiền bốn mắt hoảng hốt nhìn tôi.

    Tôi làm ra vẻ chằng hề hay biết, nói:

    - Anh còn không biết, tôi lại càng không biết...

    Tiền bốn mắt vén vội cửa căn lều nhỏ, bên trong chỉ có một mình Tống Đại Phúc, cô ả tình nhân Tiểu Thiện dã không còn bên cạnh.

    Chốc lát, tôi đã hiểu ra tất cả, thì ra cô gái bỏ trốn cùng Hoàng Đại Tiên lại chính là Tiểu Thiện.

    Cái lão đạo sĩ mũi trâu này cũng trâu bò thật đấy đến tình nhân của ông chủ cũng dụ đi mất...

    - Sếp Tống, sếp Tống…

    - Tiền bốn mắt tay chân quýnh quáng.

    Tôi nhìn sắc mặt của lão Tống, cảm giác giống như đang ngủ say, liền nói với Tiền bốn mắt:

    - Sếp Tống không sao, anh lay thử xem sao.

    Tiền bốn mắt liền đi lay Tống Đại Phúc mấy cái, vừa lay vừa gọi:

    - Sếp ơi, sếp!

    Cái thân xác múp míp của Tống Đại Phúc khẽ động cựa, rồi mở ra một đôi mắt lờ đờ, nhìn một cái, mí mắt đã lại sụp xuống.

    Tôi thấy Lý Bưu và mấy tay vệ sĩ cũng nhúc nhích vài cái, nhưng không ngồi dậy.

    Đột nhiên, tôi cũng cảm thấy mí mắt nặng trĩu mệt mỏi, lập tức giật nảy trong lòng, liền hô to:

    - Mang nước lạnh tới đây, dội lên trán họ...

    Từ bên ngoài đã có mấy tay vệ sĩ chạy vào từ nãy, đang kinh ngạc nhìn bọn Lý Bưu, vừa nghe tôi hô, lập tức mang nước lạnh lại, dội thẳng lên trán Lý Bưu.

    Lý Bưu nhảy bật dậy, gầm lên một tiếng:

    - Chuyện gì?

    Tống Đại Phúc cũng từ từ tỉnh dậy, mấy người liền xúm lại khiêng cả người lẫn túi ngủ ra khỏi lều, Tổng Đại Phúc dụi mắt, hỏi:

    - Đại Tiên đâu?

    Tiền bốn mắt vội hạ thấp giọng đáp:

    - Không thấy đâu nữa, đồ đạc của lão cũng đã biến mất...

    - Cái gì?

    - Tống Đại Phúc giận dữ quát lên.

    - Cả Tiểu Thiện cũng biến mất rồi...

    - Tiền bốn mắt hạ giọng, ghé sát tai Tống Đại Phúc thì thầm.

    - Chó chết, thằng già mũi trâu...

    - Tống Đại Phúc mặt mày biến sắc, tai mũi xì khói - Đúng là chạy thật rồi!

    Còn cướp cả đàn bà của ông...

    Rõ ràng Tống Đại Phúc đã có chuẩn bị tâm lý trước việc Hoàng Đại Tiên bỏ trốn.

    Thì ra tối hôm qua, Tống Đại Phúc tâm trạng rất nặng nề.

    Dù gì cũng là cả mười mấy con người bị chôn vùi dưới băng đá, khiến lão ta cảm thấy hơi lo lắng bất an, mặc dù lão cũng chẳng phải dạng người lương thiện gì cho cam.

    - Đại Tiên, ông tính toán thử xem, tiếp theo sẽ thế nào?

    - Tống Đại Phúc rất tin quỷ thần, nên mới bỏ ra cả đống tiền để mời Hoàng Đại Tiên.

    Lão lại càng tin vào Đại Tìên, Đại Tiên đạo pháp cao siêu, hiểu được thiên địa càn khôn, đoán được âm dương sinh tử.

    Hoàng Đại Tiên sắc mặt trầm trọng, không nói một lời đứng dậy, đưa tay chỉ tay vào căn lều nhỏ của Tống Đại Phúc.

    Tống Đại Phúc hiểu ý, liền cùng lão đi vào trong.

    Hoàng Đại Tiên đưa tay chấm vào nước, viết lên chiếc bàn vuông hai chữ: “đại hung”.

    - Vậy phải làm thế nào?

    - Tống Đại Phúc hốt hoảng, sắc mặt tái mét.

    Hoàng Đại Tiên đợi hai chữ kia khô đi, lại viết thêm hai chữ nữa: “nên lui”.

    Tống Đại Phúc nghệt ra:

    - Hai anh em tôi đã đầu tư cả núi tiền, giờ lại trở về tay không, thì tổn thất nặng quá.

    Đại Tiên, ông nhất định phải nghĩ ra một phương pháp phá giải, nhất định phải tìm được một phương pháp phá giải vẹn toàn, ông nhất định phải có cách!

    Chắc chắn là ông có cách, đúng không?

    Hoàng Đại Tiên vẫn không nói một lời, cũng chẳng hề nhúc nhích.

    Tống Đại Phúc sốt ruột chờ đợi.

    Rất lâu sau, Hòang Đại Tiên mới lại đưa tay chấm nước, viết thật mạnh một chữ lên mặt bàn: “được”.

    Tống Đại Phúc thở phào một hơi dài:

    - Đại Tiên, chỉ cần ông phá giải được cạm bẫy này, tôi nhất định sẽ hậu tạ ông hậu hĩnh...

    Hoàng Đại Tiên ngoắt đầu đi luôn.

    Đến tối, lão châm một nén hương, ngồi ngay ngắn phía trước.

    Tống Đại Phúc cứ ngỡ lão đang làm phép, Lý Bưu cũng ngỡ lão đang làm phép, không ngờ đó lại là mê hương, để cho mọi người ngủ say hơn, để họ có thể thong dong bỏ trốn.

    Còn về việc tại sao Tiểu Thiện lại bỏ trốn cùng Hoàng Đại Tiên?

    Đây là một câu đố.

    Là chuyện sau này.

    Sau khi Tống Đại Phúc tỉnh lại, liền bảo Lý Bưu kiểm tra một lượt, thấy Hoàng Đại Tiên chỉ mang theo một số đồ dùng cá nhân thiết yếu và ba con ngựa, còn có tình nhân Tiểu Thiện đã mang theo mấy vạn tiền mặt và dăm cái thẻ ngân hàng, trong đó có đến vài triệu tiền gửi.

    Nhưng Tống Đại Phúc không hề tiếc chút tiền lẻ tẻ đó, chỉ cảm thấy vô cùng bực bội: một lão đạo sĩ mũi trâu, dựa vào cái gì mà lại cướp được người đàn bà của lão?

    Bản thân lão đã giàu có đến thế, thì cô ta còn cần gì ở cái lão đạo sĩ khọm già ấy?

    Tống Đại Phúc lôi cả mười tám đời tổ tông của Hoàng Đại Tiên ra chửi rủa một trận ra trò, Lý Bưu đề nghị dẫn người truy đuổi, nhưng Tống Đại Phúc lắc đầu:

    - Chúng ta còn có việc quan trọng phải làm, món nợ này sớm muộn gì cũng phải tính, lão mũi trâu không thoát khỏi tay ông đâu...
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Chương 8: Ngọn Đèn Giữ Hồn Cháy Suốt Trăm Năm


    Hố địa ngục, cách chỗ chúng tôi dựng lều trại chỉ chừng vài trăm mét, đến bên rìa nhìn xuống là thấy một cái hồ hình tròn lõm sâu dưới mặt đất vài chục mét. mặt nước xanh thẫm, không biết sâu bao nhiêu.

    John và Lôi Mông Đa hào hứng vỗ tay đen đét, hô lên rầm rĩ:

    - Cổ quá, cổ quá!

    Tiền bốn măt lại tỏ ra điểm tĩnh hơn nhiều.

    - Cái này là hố địa ngục à?

    - Tôi hỏi Tiền bốn mắt

    Tiền bốn mắt gật đầu, rồi đưa tay chỉ sang phía bên kia hồ, nơi đó có một cái hang đá vôi rất lớn:

    - Lát nữa chúng ta vào trong hang xem thử...

    - Bên trong có gì thế?

    - Đại sư huynh Trương Nhất Đao tò mò hỏi.

    - Bên trong có văn hoá... của một nghìn năm trước...

    - Tiền bốn mắt trả lời.

    - Gì cơ?

    - Đại sư huynh Trương Nhất Đao học hành chẳng mấy, chỉ biết viết mỗi cái tên Trương Nhất Đao của mình, tôi đoán ngay cả chữ đồ tể chắc cũng không biết viết, vì vậy không thể nói về văn hoá với anh ta.

    - Tức là người thời xưa...

    đã từng sống ở đây, chúng ta vào trong đó khảo sát những thứ mà họ để lại...

    - Tiền bốn mắt vội giải thích.

    - Thế thì có cái quái gì để khảo sát?

    - Trương Nhất Đao lừ Tiền bốn mắt một cái.

    - Những thứ đó đáng giá lắm đấy, một cái bát cũng bán được mấy chục nghìn.

    - Lý Bưu ở sau lưng lạnh nhạt buông một câu.

    - Thì ra là như vậy!

    Tôi đã nói rồi mà, vung tay hào phóng thuê nhiều người đến thế, té ra là ở đây có báu vật đáng tiền!

    - Đại sư huynh Trương Nhất Đao như đột nhiên choàng tỉnh.

    - Chúng tôi đến đây là để khảo sát khoa học!

    - Tiền bốn mắt vội phân trần.

    - Tức là mang những thứ đáng giá kia bán lấy tiền!

    -Đại sư huynh đốp một câu.

    Tôi sợ đại sư huynh còn nói thêm những lời khó nghe nữa, vội đưa tay giật giật vạt áo anh ta.

    Đại sư huynh liếc tôi một cái, mới sực nhớ ra mục đích chuyển đi lần này của chúng tôi, nên không nói gì thêm nữa.

    - Các anh ai muốn vào trong hang trước?

    Tống Đại Phúc đưa tay chỉ vào cửa hang trên vách đá.

    Mọi người nhìn mặt nước thẫm xanh như mực, lạnh lẽo rợn người, lại thêm không biết trong hang có thứ gì, không ai lên tiếng.

    Tôi liếc nhìn Tiên bốn mắt, chỉ nói ngắn gọn:

    - Tôi đi!

    - Tôi cũng đi!

    - Đại sư huynh và nhị sư huynh đương nhiên muốn đi cùng tôi.

    Tống Đại Phúc cười tít mắt , lão rất hài lòng với biểu hiện của tôi.

    Rất nhanh, đã có cả chục người đồng ý vào trong hang thăm dò, Tiền bốn mắt, giáo sư John, Lý Bưu, Đại Trang Tiểu Bân...

    Nhưng tốp đầu tiên chỉ cho phép tám người vào trong, vì chúng tôi chỉ có hai chiếc thuyền cao su, mỗi chiếc chở được có bốn người.

    Tôi và Lý Bưu, Tiền bốn mắt, đại sư huynh cùng ngồi trên một chiếc thuyền cao su, giáo sư John, nhị sư huynh, Đại Trang, Tiểu Bân bốn người ngồi trên chiếc thuyền cao su còn lại.

    Ba người Lý Bưu, Đại Trang, Tiểu Bân đều mang theo súng tiểu liên, mỗi người mang ba hộp đạn.

    Tôi không biết bên trong sẽ có gì nguy hiểm mà phải mang theo cả súng tiểu liên như thế.

    Cửa hang rất lớn, hai chiếc thuyền cùng song song chèo vào.

    Càng đi vào trong, hơi lạnh lẽo càng tê tái, cũng mỗi lúc một thêm tối tăm, có cảm giác vách núi bất cứ lúc nào cũng có thể đè sập xuống đầu.

    Trên đầu mỗi người chúng tôi đều có một ngọn đèn thợ mỏ, nhưng để tiết kiệm pin, lúc này trên mỗi thuyền chỉ có một chiếc đèn còn sáng.

    Chẳng mấy chốc, Tiền bốn mắt đã réo lên hớn hở:

    - Đến rồi...

    Một nền đá bằng phẳng rộng mười mấy mét nhô lên khỏi mặt nước khoảng hơn một thước hiện ra trước mắt.

    Hai con thuyền cùng cập vào, tôi và Lý Bưu nhảy lên trước, đầu tiên phải kéo dây thừng buộc con thuyến vào mỏm đả.

    Tôi thấy một tảng đá có thể buộc dây thừng, định phạt vẹt một miếng trên tảng đá để tiện buộc dây.

    Tôi thành thục vung rìu, xoay sóng rìu đập vào mép tảng đá.

    Rìu giáng xuống, “chát” một tiếng, một mảng đã rơi xuống, nhưng cả lưỡi rìu của tôi lại bắn vọt đi, "bõm” một tiếng rơi lọt thỏm xuống mặt nước đen ngòm.

    Trong tay tôi chỉ còn trơ lại cái cán gỗ.

    Tôi sững người, thầm nghĩ chuyện này thật quái đản.

    Nhưng không có ai nhìn thấy.

    Đại sư huynh cũng đã nhảy lên, tay cầm sợi thừng đưa cho tôi, tôi bèn buộc chặt lại.

    Mọi người lần lượt nhảy lên, phóng mắt nhìn vào trong, cách đó chừng mười mấy mét xuất hiện một cánh cửa.

    Nói chính xác hơn, đó không phải là một cánh cửa, mà là một tấm chăn che trước một cửa hang.

    Rất rõ ràng, trước kia từng có người ở đây.

    Mọi người lập tức phấn khởi thấy rõ.

    Lý Bưu sải vài bước đã chạy đến nơi.

    Tay vừa chạm phải, bỗng "soạt soạt soạt", cả tấm chăn vụn nát thành trăm nghìn mảnh, rơi lả tả xuống trước mặt Lý Bưu, khiến hắn hoàng hồn lùi liền mấy bước.

    Thì ra do tấm chăn quá cũ kỹ, đã mục nát từ lâu, vừa có ngoại lực tác động vào, lập tức mủn nát.

    Đèn thợ mỏ chiếu vào, chỉ thấy bên phài chồng chất hàng đống bạc trắng và vàng, bên trái là cung tên, đao cong sáng loáng, mảnh vụn da dê rải rác đầy mặt đất.

    Hiển nhiên, năm tháng lâu đời, những chiếc túi da dê đựng vàng đựng bạc kia đã mục nát như cám.

    - Ôi!

    Ngọn roi của thượng đế!

    - John thốt lên kinh ngạc

    - Tìm thấy rồi!

    Tìm thấy rồi!

    - Lý Bưu, Tiến bốn mắt, Đại Trang, Tiểu Bân cùng reo hò sung sướng.

    Chỉ có tôi, đại sư huynh và nhị sư huynh là không có phản ứng gì, vì đấy không phải thứ chúng tôi muốn tìm.

    Vàng bạc đầy đất, đối với chúng tôi, cũng chắng khác gì đá sỏi.

    John vừa giơ máy ảnh chụp lia lịa, vừa nói với Tiền bốn mắt:

    - Anh Tiền, không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là cánh quân tây chinh người Mông Cổ, không may đi nhầm vào khe chết chóc, rồi cất giấu những vàng bạc cướp được ở nơi này...

    Tiền bốn mắt cũng vô cùng kích động:

    - Đúng vậy!

    Đám cung tên, đao cong, da dê nát vụn đã đủ để chứng mính, lời ngài nói hoàn toàn chính xác!

    Lý Bưu và Đại Trang đã xộc vào trong từ nãy, tham lam vơ lấy những thỏi vàng, không muốn buông tay.

    Tiền bốn mắt rất mực điềm tĩnh, nói với bọn họ:

    - Anh hãy cầm một thỏi vàng ra trước, đưa cho sếp Tống xem…

    - Được!

    - Lý Bưu và Đại Trang leo lên thuyền cao su chèo ra phía ngoài.

    Đại sư huynh chẳng buồn để mắt đến vàng bạc, anh ta nhặt một cây đao cong lên, giơ ngay trước mắt, rồi buột miệng kêu lên một tiếng :

    - Đao tốt!

    - Đại sư huynh, dao của anh là dao giết lợn, giết dê, còn đao ở đây là đao giết người…

    - Tiên bốn mắt nói.

    - Con dao của tôi cũng từng giết người rồi đấy!

    - Đại sư huynh hậm hực.

    - Con dao của anh chưa giết nhiều người bằng những cây đao này.

    - Tiền bốn mắt nói - Tôi đoán rằng, mỗi một cây đao ở đây đã giết không dưới một trăm người...

    - Nhiều thế cơ à?

    -Đại sư huynh hít ngược một hơi khí lạnh.

    - Anh có biết người Mông Cổ đã giết bao nhiêu người không?

    - Tiền bốn mắt hỏi vặn lại.

    - Bao nhiêu?

    - Đại sư huynh hấp tấp hỏi.

    - Hai trăm triệu!

    - Tiền bốn mắt gằn mạnh từng chữ.

    - Hai trăm triệu là bao nhiêu?

    - Đại sư huynh chẳng có khái niệm gì về hai trăm triệu, đưa con mắt ngơ ngác nhìn tôi - Này Vẹo, hai trăm triệu là bao nhiêu?

    - Nhiều lắm!

    - Nếư như mỗi ngày anh giết mười nghìn người, thì phải giết tới hai mươi nghìn ngày, cũng chính là năm mươi lăm năm.

    Tôi giúp anh ta tính toán qua loa.

    - Ôi cha mẹ ơi!

    - Đại sư huynh kinh hãi kêu lên - Đúng là có hơi nhiều thật…

    - Ở đây có một cánh cửa!

    - Tiểu Bân đang múa máy chân tay trong đống vàng bạc, đột nhiên phát hiện ra trên vách đá có một cánh cửa được đóng bằng gỗ, liền đưa chân đá một cái.

    "Roác!"

    Cánh của lập tức vỡ tan tành.

    - Á...

    - Tiểu Bân rú lên thảm thiết , ngã ngửa xuống đất.

    Trước ngực hắn cắm ba mũi tên, ngập đến nửa thân tên, trên cổ lại một mũi, cơ thể hắn lập tức co giật rùng rùng.

    - Có cặm bẫy...

    - Tôi hét lên, mấy người đều dạt sang bên cạnh theo phản xạ.

    Từ trong có họng Tiểu Bân bật ra những tiếng kêu rên tuy khẽ nhưng vô cùng khủng khiểp, dường như có một bàn tay vô hình đang bóp chặt lấy cổ hắn.

    Những ngọn đèn thợ mỏ của chúng tôi đều chiếu cả vào hắn.

    Máu chảy ra từ cổ họng hắn, lại có màu đen.

    - Mũi tên có độc!

    - Tiền bốn mắt lập cập đấy gọng kính lên.

    Thân xác Tiểu Bân đã bất động, rồi cẳng chân duỗi thẳng, thế là rồi đời!

    - Chết rồi, chết nhanh quá!

    - Đại sư huynh lẩm bẩm.

    Tôi ngẩng đầu nhìn vào trong, trong lòng thốt lên mừng rỡ, vì tôi đã nhìn thấy ánh đèn…

    John, Tiền bốn mắt, đại sư huynh, nhị sư huynh cùng kêu lên kinh ngạc.

    - Tắt đèn đi!

    -Tôi quát lớn.

    Tất cả đèn thợ mỏ đến tắt phụt, chỉ thấy cách đó không xa, một ngọn đèn đang lặng lẽ cháy, chiếu sáng trong bóng tối mịt mù.

    .- Đèn vĩnh cửu, đèn vĩnh cửu, đèn vĩnh cửu…

    Cuối cùng tôi cũng đã phát hiện ra kỳ tích lớn thứ mười trên thế giới, kỳ tích này là có thật…

    - John chụp ngay lấy Tiền bốn mắt đang đứng bên cạnh, kích động đến nhảy cẫng lên.

    - Vẹo ơi, đúng là đây rồi!

    Đúng là đây rồi!

    - Đại sư huynh và nhị sư huynh cùng reo lên hớn hở.

    Tôi lao vọt luôn vào trong, quên bẫng luôn chuyện Tiểu Bân vừa chết vì trúng tên độc từ cạm bẫy, tôi chỉ muốn đến ngay chỗ ngọn đèn vĩnh cửu để xem xem dưới đó là gì, tôi chỉ muốn cứu Lâm Tiểu Ngộ, mà quên bẫng tất cả.

    - Nguy hiểm...

    - John kinh hãi rú lên.

    Nhưng tôi đã lao vào trong mất rồi.

    Không hề có cạm bẫy.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh cũng định xông vào, nhưng nghe thẩy tiếng rú của John, lập tức khựng lại.

    Lúc này, tôi cũng thình lình bừng tỉnh, vội vã quay đầu hét lên với đại sư huynh và nhị sư huynh:

    - Hai anh đừng vào…

    để tôi nhìn kỹ đã...

    Tôi bật đèn thợ mỏ lên, phát hiện ra bên trong là một lòng hang không lớn, chỉ sâu chừng năm mét, rộng chừng ba mét.

    Trên vách đá có một khám thờ, trong khám thờ là ngọn đèn đang cháy, dưới khám thờ chỉ có một chiếc ghế, trên chiếc ghế có một người nữa nằm nửa ngồi, quần áo quấn chặt lấy thân, khuôn mặt trắng như tờ giấy, mở trừng hai con mắt lạnh lẽo rùng rợn.

    Tôi giật bắn mình.

    Nhưng rồi tôi nhanh chóng trấn tĩnh lại.

    Tôi từng cùng ông ngoại đitrong quen tủ yh cùng ỏng ngoại đi đào mộ, xác chết trong quan tài vẫn tươi như người sống.

    Nhưng người này rõ ràng đã chết nhiều năm, nhưng thi thể không hề thối rữa, mà khô quắt lại.

    Tôi lập tức nhớ tới ông ngoại, ông ngoại cũng đặt một chiếc ghế bên cạnh quan tài bà ngoại.

    Sau khi ông chết, tôi đã đặt ông lên chiếc ghế, cũng không khác là bao so với cái xác khô

    Tôi lại nhìn chiếc ghế, cũng na ná như chiếc ghế của ông ngoại, đều là vài thanh gỗ sơ sài đóng thành.

    Lẽ nào đây là một tiền bối đồng nghiệp?

    Tôi nhìn lên khám thờ, lập tức khẳng định được, đây đích thực là một vị đồng nghiệp.

    Vì ở giữa khám thờ là một ngọn đèn, bên cạnh còn đặt hai món đồ lề: một chiếc rìu và một cây thước thẳng.

    Đây gần như là những đồ lề mang tính tượng trưng cho giới thợ mộc chúng tôi.

    - Tiền bối, đệ tử không có ý mạo phạm, chỉ vì muốn cứu bạn gái, nên mới đến quấy nhiễu sự thanh tịnh của tiền bối, xin lão đại nhân rộng lượng bỏ qua!

    - Tôi cung kính chắp tay vái cái xác khô ba vái, rồi mới bước từng bước lại gần.

    Khám thờ dày chừng hai ba tấc, rộng chừng ba thước, nhô ra khỏi vách đá khoảng bốn thước, còn cái xác khô ngồi phía dưới khám thờ khoảng một thước.

    Lăn dù cách một lớp đá, nhưng tôi vẫn cảm giác được ánh mắt lạnh lẽo âm u của cái xác khô đang dõi theo tôi.

    Cây đèn trên khám thờ to bằng miệng bát, bên trong chứa đầy một thứ dầu đen sì sì, ở giữa là một sợi bấc to cỡ ngón tay, ánh đèn bằng hạt đậu, nhưng qui lạ ở chỗ, vẫn có thể soi rõ mồn một cảnh tượng xung quanh.

    Tôi thấy cây đèn có vẻ như được làm từ đất bùn, hoặc là một nguyên liệu nào đó mà tôi không biết, hình dạng cũng hao hao như ngọn đèn mà ông ngoại thắp trước quan tài mẹ tôi.

    Hơn nữa, trên mép ngoài của cây đèn còn có vài ký hiệu, nhưng tôi chẳng nhận ra được cái nào.

    Tôi nhìn kỹ lại, có bảy ký hiệu, giống như thứ văn tự thời cổ đại.

    Tôi lại nhìn cây rìu ở trên khám thờ, rồi không hiểu tại sao, tự nhiên tôi lại đưa tay ra cầm lấy.

    Lưỡi rìu rộng một thước, hàn quang lấp loáng, thân rìu chừng tám tấc, đen bóng, cẫn gỗ dài chừng ba tấc.

    Mặc dù thoạt nhìn có vẻ đã rất lâu đời, nhưng trên cán gỗ không hề có dấu hiện mục nát.

    Bên cạnh là một cây thước, một cây thước một thước bốn tấc tư đúng tiêu chuẩn, được làm từ gỗ, dày chừng nửa phân, cầm trong tay có cảm giác vô cùng quen thuộc.

    Tôi nghĩ, chiếc rìu của mình đã rơi mất rồi, vừa hay có cây dìu này để sử dụng, bèn giắt luôn vào thắt lưng, tay còn lại cầm thước gỗ, lúc này tôi mới nhớ tới lời của Lâm Tiểu Ngộ: Nghìn dặm về tây, dưới chân núi thần, cảnh cửa địa ngục, một ngọn đèn cháy suốt nghìn năm...

    Tiếp đó, rõ ràng nàng vẫn còn lời muốn nói, nhưng chưa kịp nói ra, vậy thì, nàng muốn nói tiếp điều gì đây?

    Tôi đang mải suy nghĩ, John đã đi tới bên cạnh tôi, vừa giơ máy ảnh chụp ngọn đèn, vừa lẩm nhẩm một cách xúc động:

    - Kỳ tích, kỳ tích, đúng là kỳ tích!

    Tôi đã tìm thấy một trong mười kỳ quan của thế giới…

    - Ngọn đèn này có gì bí mật nhỉ?

    - Tôi đang khổ sở suy nghĩ tìm câu trả lời, thấy ông ta kích động như vậy chắc hẳn là phải biết nhiều hơn tôi, nên tôi hỏi John.

    John đáp:

    - Thei ghi chép của các nhà sử học, trên cổng miếu thần Mặt Trời ở Ai Cập có thắp một ngọn đèn, không cần thêm bất cứ nhiên liệu nào, bất kể mưa gió sấm chớp ra sao, cũng không bao giờ tắt, nhưng về sau lại bị một gã lính dốt nát dùng tên bắn rụng.

    Vào năm 1400 sau Công nguyên, một toán trộm mộ đã mở phần mộ của quốc vương La Mã cổ đại Pallas, phát hiện bên trong có một ngọn đèn với nắp chụp pha lê vô cùng tinh xảo, đặt trong một chiếc bát gốm, trong bát chứa đầy một chất lỏng màu đen, ngọn đèn đã cháy trong hầm mộ suốt hơn hai nghìn năm...

    Năm 1534 sau Công nguyên, vua nước Anh Henry 8 đã mở phần mộ của cha hoàng đế La Mã Constantine, phát hiện bên trong có một ngọn đèn còn đang cháy sáng, ngọn đèn này đã cháy suốt một nghìn hai trăm năm.

    Năm 1540 sau Công nguyên, giáo hoàng La Mã Paul đệ tam đã mở phần mộ của con gái chính trị gia La Mã cổ đại Cicero, phát hiện ra trong mộ có một ngọn đèn đã cháy suốt một nghìn năm trăm tám mươi tư năm.

    Johhn kể lể một thôi một hồi làu làu như cháo chảy, rồi nghiêm trang nói tiếp:

    - Nhưng tất cả đều chỉ là truyền thuyết, hoặc là ghi chép trên sách vở, không hề có vật thực để lại, nên không thể chứng minh về sự tồn tại của đèn vĩnh cửu.

    Hôm nay, tôi đã có thể chứng minh đèn vĩnh cửu thực sự tồn tại…

    Ngọn đèn này, chí ít cũng đã cháy bảy trăm năm mươi đến tám trăm năm rồi …

    Anh nói xem, một ngọn đèn, trong tình trạng không hề được thêm bất cứ nhiên liệu nào, mà vẫn có thể cháy suốt tám trăm năm, anh có thế tưởng tượng được một kỳ tích như thế không?

    Tôi lắc đầu.

    Tôi chẳng hề quan tâm tới khảo sát khoa học, tôi chỉ quan tâm đến người con gái của tôi, tôi đang nghĩ làm thế nào mới có thể mang được ngọn đèn kia đi đây?

    Nhưng bên ngoài, toàn bộ đều là người của Tống Đại Phúc, ít nhất cũng đển mười mấy khẩu súng, phải đối phó vởi họ thế nào?

    - Đèn vĩnh cửu còn được gọi là đèn giữ hồn, thông thường, loại đèn này xuất hiện bên trong phần mộ của người chết, đúng là kỳ tích!

    Thật khiến người ta khó lòng tin nổi...

    - John còn đang chụp ảnh tanh tách, bỗng từ bên ngoài vọng lại những tiếng kêu rú vô cùng khủng khiếp.

    Tôi quay ngoắt đầu lại, chỉ thấy đại sư huynh và nhị sư chạy trở ra, nhoáng cái đã hùng hục chạy vào, hét lớn:

    - Vẹo, đi mau, đi mau...

    - Giọng họ sợ hãi cuống cuồng.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh đều là những kẻ không sợ trời không sợ đất, nếu như không phâi sự việc cực kỳ nguy cấp, họ tuyệt đối sẽ không hoảng loạn đến vậy.

    Tiền bốn mắt cũng kinh hoàng tột độ, gào lên rối rít:

    - Anh Vẹo, giáo sư, đi mau...

    John đột ngột giơ tay ra, nắm lấy cây đèn.

    Bàn tay vừa nhấc ngọn đèn lên, tôi lập tức cảm thấy phía dưới rung chuyển, phiến đá thình lình bật ngược trở lên, đập thẳng vào cánh tay giáo sư John.

    Ngọn đèn bị quật bay vọt lên không, lóe lên một cái, rồi rơi thẳng xuống đất, "choang" một tiếng, vỡ thành trăm mảnh.

    Cùng lúc đó, chúng tôi cảm thấy mọi thứ đang rung chuyển dữ dội, giống như trời đất đảo điên, không thể đứng vững.

    Tôi ngã dúi dụi xuống đất, cảm giác thấy bên cạnh có một thân người lăn long lóc tới, đưa tay sờ thử, là một thi hài lạnh toát, cứng đờ đờ.

    Thứ tôi mò phải, chính là bàn tay của cái xác chết khô, vị tiền bối đông nghiệp của tôi.

    Trên bàn tay còn nắm một vật, một cuộn gì đó hình tròn, dài chừng bốn năm tấc, to cỡ chén rượu, chạm vào cảm giác hơi mềm mềm.

    Tôi chẳng kịp nghĩ nhiều, tiện tay rút luôn ra, nhét vào trong túi áo.

    Cơ thể tôi bị một cánh tay to tướng nhấc bổng lên, không cần nói cũng biết là nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá của tôi.

    Anh ta một tay xách tôi, một tay xách giáo sư John, xoạc cẳng lao vọt ra ngoài.

    Đại sư huynh đã đứng trên con thuyền cao su, Tiền bốn mắt ngồi sụp trên đó, mặt mũi tái xanh tái xám.

    Bên tai nghe có tiếng sóng vỗ oàm oạp.

    Mặt hồ lúc nãy còn phẳng lặng là thế, bây giờ sóng lớn cuồn cuộn…

    Tôi cũng đã lấy lại bình tĩnh, ba huynh đệ chúng tôi chèo thuyền trối chết, con thuyền cao su lao đi như bay.

    Phía trước mỗi lúc một sáng rạng, hiện lên trước mắt chúng tôi là một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp, nước hồ phun trào cuồn cuộn lên cao, sắc nước khi nãy còn xanh thẫm giờ đã đỏ rừng rực như máu tươi…

    Chính giữa mặt hồ, một con thuyền cao su lật sấp.

    Một cái bè bằng gỗ và mấy bộ quần áo nổi lều bều trên mặt nước, lộn nhào theo sóng.

    Trên bờ hồ xa xa là đám người của đội khảo sát, đang cuống quýt gào thét om sòm.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh dốc hết sức chèo thuyền, tôi quay đầu lại nhìn, thấy sau lưng một con sóng khổng lồ đang vọt thẳng lên không, hệt như một giống ác ma đang há ngoác cái miệng rộng khủng, đuổi sát theo con thuyền của chúng tôi.

    Chúng tôi đã sắp sửa bị nó nuốt chửng đến nơi.

    Tuy nhiên, con sóng khổng lồ trỗi dậy cũng đồng thời đẩy thuyền của chúng tôi lao về phía bờ như tên bắn.

    Cuối cùng, con thuyền cao su của chúng tôi đã bị sóng hất đến rìa bờ.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh cùng xoạc cẳng nhảy vọt lên trên, tôi, Tiền bốn mắt và giáo sư John bị con thuyền lật úp chụp kín ở rìa bờ.

    Con sóng dữ đẩy lên rồi giật xuống, con thuyền lại bị ngược trở lên.

    Tôi tung chân đá văng con thuyền, giơ tay chụp lấy Tiền bốn mắt.

    Tiền bốn mắt và giáo sư John đang ôm cứng lấy nhau, trượt xoành xoạch xuống dưới!

    Bàn tay còn lại của tôi nắm chặt lấy một mòm đá, ba người chúng tôi treo lủng lẳng trên đó.

    Lại thêm một con sóng khổng lồ ập tới.

    Đúng vào khoảnh khắc đó, đại sư huynh đã chộp được tay tôi, vận sức lực sĩ, kéo thật lực lên trên, lôi tuột cả ba người chúng tôi bay lên hai mét.

    Mặc dù con sóng đã đập lên ba người chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn không bị sóng cuốn xuống hồ.

    Nhị sư huynh cũng lao đến, xách ngược Tiền bốn mắt và giáo sư John ném thẳng lên trên.

    Trên tay tôi không còn người nữa, nhẹ nhõm hơn nhiều, vội vàng nhảy vọt lên bờ, thế là an toàn...

    Nước hồ vọt lên cao đến một hai trượng, giống như phía dưới có một con yêu quái khổng lồ đang khuấy đảo.

    Trong không khí sặc sụa một thứ mùi xóc mũi.

    - Núi lửa sắp phun rồi, chạy mau!

    - Giáo sư John hét lên thất thanh.

    Chúng tôi đều ù té chạy, phía sau có tiếng nổ uỳnh uỳnh, một luồng sóng bỏng rát ập thắng đến sau lưng...

    Chúng tôi vắt chân lên cổ chạy một mạch vài trăm mét mới dám quay đầu nhìn lại, chỉ thấy giữa hồ có một cột nước đỏ rừng rực phun thẳng lên trời, như thọc cả vào mây, sau đó toé ta, rơi rào rào xuống, khắp bầu trời một màu đỏ rực...

    Lẽ nào cái hố địa ngục kia chính là một miệng núi lửa?

    Mặt đất rung lắc dữ dội, từ phía dưới vọng lên tiếng rạn nứt nghe rất khủng khiếp, những ngọn núi ở phía xa theo nhau đổ xuống ầm ầm.

    Động đất!

    Tất cả mọi người rúm lại với nhau trong cơn kinh hoàng tột độ, may mà chỗ chúng tôi đang đứng là mặt đất bằng phẳng, đá tảng, đất bùn đổ xuống từ các sườn núi hai bên không làm tổn thương đến chúng tôi.

    Mười mấy phút sau, vùng núi lại trở về với tĩnh lặng.

    Tôi trèo lên một chỗ tương đối cao, nhìn về phía cái hồ vừa nãy, nó gần như đã bị lấp kín bởi đất đá lở xuống từ hai bờ...

    Mọi người trở về nơi cắm trại.

    Khu lều cũng được dựng ở nơi đất bằng phẳng rộng rãi, nên lều trại, thực phẩm vẫn còn nguyên, nhưng hơn chục con ngựa đều đã sợ hãi bỏ chạy hết sạch.

    Tống Đại Phúc vẫn cười, nhưng lão cười còn khó coi hơn cả khóc, than thở không ngớt miệng:

    - Lần này lỗ to rồi, lần này lỗ to rồi...

    Lúc này, chúng tôi mới biết, sau khi Đại Trang và Lý Bưu trở ra, Đại Trang đã kết thêm một chiếc bè gỗ, muốn đưa thêm người vào trong hang, nhưng mặt hồ bỗng cuộn sóng lớn, ngả màu đỏ rực, một con thuyền cao su và chiếc bè gổ bị lật nhào, tất cả mọi người trên đó đều rơi xuống nước, không ai ngoi được lên bờ...

    Tiền bốn mắt thoát chết trong gang tấc, vẫn chưa thể hoàn hồn.

    Giáo sư Lôi Mông Đa tìm cho John một chiếc áo khoác khác để thay.

    Giản sư John lắc đầu liên tục, không ngớt thở ngắn than dài.

    - Giáo sư, trong đấy có gì thế?

    - Giáo sư Lôi Mông Đa cất giọng quan tâm.

    - Vàng bạc nhiều không đếm xuể...

    Những thứ này đều không đáng tiếc, đáng tiếc nhất là tôi đã phát hiện ra một ngọn đèn đã cháy suốt tám trăm năm…

    - Giáo sư John đau xót kể lại.

    - Cái gì?

    Một ngọn đèn đã cháy suốt tám trăm năm?

    - Giáo sư Lôi Mông Đa kinh ngạc hỏi lại.

    - Đúng!

    - Giáo sư John gắng trấn tĩnh lại- Những tư liệu trước đây chúng ta có được, tất cả đều là truyền thuyết, hoặc là ghi chép trong sách vở, không hề có vật thực lưu lại, không thể chứng minh trên thế giới này liệu có ngọn đèn cháy hàng trăm năm, hàng nghìn năm hay không.

    Hôm nay, tôi đã tận mắt nhìn thấy, tôi đã có thể chứng minh, trên thế giới này thực sự tồn tại ngọn đèn có thể cháy hàng trăm hàng nghìn năm.

    Nhưng thật đáng tiếc, cây đèn bỗng nhiên vỡ vụn, giống hệt như những lần phát hiện trước đây, mặc dù đã tìm ra đèn vĩnh cửu, nhưng lần nào cũng xảy ra những việc bất ngờ, khiến cây đèn bị phá huỷ...

    - Ngài chắc chắn là đèn đã vỡ?

    - Lôi Mông Đa vội hỏi.

    - Chắc chắn, tôi nhặt được mấy mảnh...

    - Giáo sư John móc ra mấy mảnh vụn màu đen, to bằng móng tay từ trong túi ra, bên trên dính đầy một thứ chất lỏng đen quánh, ánh mắt của ông ta loé lên những tia sáng kỳ dị - Chúng ta mang những thứ này về, với trình độ khoa học kỹ thuật hiện nay, rất có thể sẽ xác định được vật liệu làm đèn và dầu đốt.

    Khi đó, chúng ta sẽ có thể vén lên những bí mật về đèn vĩnh cửu...

    Trong lúc hai người họ trò chuyện, tôi và đại sư huynh, nhị sư huynh ngồi bệt trên đất nghỉ ngơi.

    Tôi nghe rất rõ cuộc trò chuyện giữa họ, hơn nữa, tôi còn cảm giác được giáo sư Lôi Mông Đa thi thoảng lại liếc trộm chúng tôi.

    Tôi vô thức sờ tay vào thứ ở trong túi, bây giờ tôi vẫn chưa biết nó là thứ gì.

    Đương nhiên, tôi tuyệt đối sẽ không giao nó cho họ.

    Tôi nghĩ, chúng tôi đã đến lúc phải trở vê.

    Quả nhiên, Tiền bốn mắt đã giơ chiếc loa lên, hô lớn:

    - Mọi người chuẩn bị thu dọn đồ đạc, trở về theo đường cũ!

    Trong lúc thu dọn lều trại, tôi nhìn qua một lượt, phát hiện đội của chúng tôi chỉ còn khoảng hơn sáu chục người.

    Trên đường trở về, mọi người ai nấy đều nóng ruột chỉ muốn đi thật nhanh, chắng ai nói câu nào, nhưng vẻ hưng phấn vẫn bừng bừng trên từng nét mặt.

    Dù sao cũng vừa trải qua một kiếp nạn sinh tử, có thể sống sót trở về đã là điều hạnh phúc lớn nhất.

    Khi trời sập tối, Tiền bốn mắt đành phải để mọi người hạ trại.

    Lần này dựng tám cái lều, hai lều dùng để nhốt ngựa, những lều còn lại đều chen chúc mười mấy con người.

    Tống Đại Phúc, John, Lôi Mông Đa, Tiền bốn mắt, Lý Bưu ở chung một lều.

    Tôi, đại sư huynh, nhị sư huynh, nhóc Tứ Xuyên ở chung với mấy người anh em khác.

    Ăn cơm xong, đại sư huynh hỏi tôi:

    - Lần này chẳng thu hoạch được gì, trở về vợ cậu biết làm thế nào đây?

    Tôi vội đưa mắt ra hiệu cho đại sư huynh đừng nói nữa vì tất cả những người còn lại trong lều đều là người của Tống Đại Phúc thuê về, chưa biết chừng sẽ mách lẻo lại lời nói của chúng tôi cho lão ta nghe, gây ra phiên phức không đáng có!

    Đại sư huynh lập tức ngậm miệng.

    Trời mỗi lúc càng thêm tối tăm, bên ngoài mỗi lúc càng thêm lạnh lẽo, trong khe núi, vọng lên tiếng tru của một con sói cô độc.

    Trong lòng tôi vẫn băn khoăn về thứ mà mình đã lấy được ra, nên không hề cảm thấy buồn ngủ.

    Tôi nằm trong túi ngủ, mắt nhìn về phía khe hở nơi cửa lều, tai dỏng lên lắng nghe động tĩnh của những người bên cạnh.

    Dần dà, tiếng ngáy nổi lên bốn phía.

    Tôi với lấy một chiếc đèn pin, tay cầm rìu, khẽ khàng lẻn ra khỏi lều.

    Bên ngoài lạnh tê tái, nhưng không tối lắm bầu trời không trăng, nhưng lác đác vài ngôi sao lấp lánh.

    Tôi cảnh giác nhìn khắp xung quanh một lượt, để chắc chắn không có người nào.

    Tôi lặng lẽ đi đến phía sau một gò cát, ngồi thụp xuống, vội vàng móc thứ ở trong túi ra, hấp tấp giơ đèn pin lên soi.

    Là một dải lụa màu trắng được cuộn rất chặt.

    Tôi đặt chiếc đèn pin trong tay xuống để soi, nhẹ nhàng gỡ cuộn lụa ra.

    Tôi chỉ mở ra chừng nữa thước, thấy bên trên chi chít những hàng ký tư rất đỗi kỳ lạ, tôi chẳng nhận ra nổi lấy một chữ.

    Tôi không gỡ tiếp nữa, nếu như trải toàn bộ ra, tôi đoán nó phải dài tới cả mét.

    Đây là một bức tranh chữ, hay là một cuốn sách?

    Tôi chăm chú nhìn kỹ mấy ký tự đầu tiên, ghi nhớ lấy một ký tự đơn giản nhất, sau đó cuộn dải lụa lại như cũ, nhét vào túi áo trong.

    Tôi đứng dậy phía sau gò cát, nhìn thấy phía xa xa, có hai đốm sáng xanh lè, không cần nói cũng biết đó chính là một con sói.

    Tôi xách rìu lên, nhanh chóng sải bước về lều.

    Con sói cũng bám theo.

    Tôi bước vào trong lều, buộc chặt bạt cửa lều lại, thở phào một hơi dài.

    Bây giờ, tôi có thể yên tâm đánh một giấc...

    Trong cơn mơ màng, dường như tôi đã trở về nhà, đi trên con đường mòn quen thuộc rậm rì cỏ dại.

    Từ phía xa, con Mực lao vọt tới, nó ra đón tôi.

    Phía sau nó, một cô gái tóc dài thướt tha, áo váy phất phơ trong gió cũng đang chạy về phía tôi...

    - Tiểu Ngộ...

    - Anh Vẹo...

    Tôi và nàng ôm chặt lấy nhau, sau đó lăn mình vào cô dại, hôn nhau nồng nhiệt, yêu nhau cuồng say, chằng cần phải nói gì, nói gì cũng là thừa thãi…

    Sau đó, tôi nâng khuôn mặt nàng lên, nghiêm túc nói:

    - Tiểu Ngộ, anh trở vê rồi.

    Từ nay về sau, chúng ta vĩnh viễn không bao giờ xa nhau nữa!

    Nàng gật đầu.

    Đột nhiên, tôi kinh ngạc phát hiện ra, khuôn mặt tôi đang nâng trên tay, không phải là Tiểu Ngộ, mà là Tân Ai Ni.

    Chẳng phải cô ấy đã chết rồi ư?

    Tôi còn đích thân làm cho cô ấy một cỗ quan tài kia mà!

    - Sao lại là cô?

    Tại sao lại là cô?

    Đôi mắt sáng ngời của cô đột nhiên tối sầm xuống, hơi khép lại, hàng mi khẽ lay động, hai dòng nước mắt từ lăn xuống đôi má trắng mịn như tuyết.

    Đó không phải là nước mắt, mà là máu tươi!

    Tôi giật mình choàng tỉnh, ngồi bật dậy, ngây người bất động.

    Bên cạnh vấn là tiếng ngáy pho pho.

    Tôi sờ lên môi mình, dường như trên môi vẫn còn phảng phất mùi hương con gái.

    Lâm Tiểu Ngộ, Tần Ái Ni!

    Tại sao tôi lại nghĩ đến cô ta?

    Một người con gái vốn chẳng có mấy dính dáng tới mình.

    Cô ấy đã chết rồi, tôi chẳng qua chỉ làm cho cô ta một cỗ quan tài mà thôi!

    Nhưng giấc mơ khi nãy sao lại sinh động đến vậy, chẳng khác nào là sự thực!

    Tôi đang mải nghĩ ngợi, đột nhiên nghe thấy bên ngoài có tiếng khóc, là tiếng khóc khe khẽ của con gái, theo gió bay tới, lúc ẩn lúc hiện, lúc có lúc không, dường như từ một nơi rất xa vọng đến.

    Nửa đêm khuya khoắt, ai khóc ở đây?

    Là mấy cô gái đi cùng đoàn với chúng tôi ư?

    Tôi chẳng kịp nghĩ ngợi, lập tức xách rìu chạy ra ngoài.

    Bên ngoài căn lều, dưới ánh sao đêm lạnh lẽo, một cô gái đầu tóc xõa tung, áo quần trắng toát đang đứng lù lù trước cửa lều số một.

    - Ai?

    - Tôi quát lên một tiếng, nhưng lại cảm thấy âm thanh bật ra từ cổ họng nghe nhỏ xíu!

    Cô gải đột ngột quay phắt lại, một khuôn mặt trắng bệch, một khóe miệng đỏ máu, đôi mắt hung dữ tựa móc câu.

    Chính là Tiểu Thiện!

    Chẳng phải Tiểu Thiện đã bỏ trốn cùng Hoàng Đại Tiên rồi hay sao?

    Tại sao lại quay lại?

    Không thể nào!

    Tôi còn chưa kịp phản ửng, cô ta thoắt một cái đã lao thẳng vào trong lều như một tia sáng trắng.

    Đột nhiên, trong lều thứ nhất súng nổ đùng đoàng...

    - Bắn chết mày!

    Bắn chết mày!

    Bắn chết mày...

    - Một người đàn ông ôm cây tiểu liên từ trong lều lao vọt ra ngoài, nửa thân trên trần trùng trục, nửa thân dưới mặc độc cái quần lót.

    Người này tôi biết, chính là người anh em Vương Lôi của Lý Bưu.

    Từ trong lều thứ nhất vọng lên những tiếng gào thét rầm rĩ, nhũng người còn lại cũng nhao nhao chạy vọt ra.

    Vương Lôi rối rít chạy quanh trước lều, đạn trong súng đã bắn hết sạch, nhưng trong miệng vẫn phát ra những tiểng " pằng pằng” của đạn khạc khỏi nòng.

    Hắn vừa chạy, vừa hét toáng:

    - Bắn chết mày!

    Bắn chết mày!

    Bắn chết mày...

    Đại sư huynh và nhị sư huynh cũng đã giật mình tỉnh giấc, chạy ra đứng hai bên tôi, hỏi:

    - Xảy ra chuyện gì thế?

    - Không biết!

    - Vương Lôi!

    - Lý Bưu chạy ra từ một căn lều khác, quát lên như sấm.

    - Yêu quái, tao đánh chết mày!

    - Vương Lôi lao thẳng về phía Lý Bưu.

    - Vương Lôi, làm trò gì thế?

    - Lý Bưu vô cùng kinh hãi.

    Vương Lôi bổ nhào tới, đập thẳng cây tiểu liên về phía Lý Bưu.

    Lý Bưu né sang bên, xoạc chân quét ngang, khiến Vương Lôi ngã nhào.

    Vài tay vệ sĩ khác lao tới, ấn chặt Vương Lôi xuống đất.

    Vương Lôi nằm trên đất giãy giụa điên cuồng:

    - Yêu quái, tao đánh chết mày, tao đánh chết mày...

    - Thằng này bị ma nhập rồi!

    - Đại sư huynh buông một câu, chỉ mấy bước đã chạy đến nơi, túm lấy cổ áo Vương Lôi nhấc lên.

    Mặc dù còn mấy tay vệ sĩ đang đề nghiến hắn xuống, nhưng đại sư huynh vừa lôi một cái, đã nhấc bổng được hắn lên.

    "Bốp!

    Bốp!”

    Đại sư huynh trái phải giương cung, giáng cho hai cái bạt tai.

    Vương Lôi “á” lên một tiếng thảm thiết, thân xác mềm nhũn ngã phịch xuống đất.

    Tử căn lều số một bò ra một thân người máu me bê bết, vừa lết, vừa gào lên kinh hãi:

    - Chết rồi, chết hết rồi!

    Chết rồi, chết hết rồi…

    Chúng tôi đổ dồn đến phía trước căn lều số một, nhìn qua khe cửa, thấy bên trong xác chết ngổn ngang, máu chảy đầy đất.

    Lúc nãy, nguyên một băng đạn của Vương Lôi đều đã bắn hết vào trong, khiến toàn bộ những kẻ trong lều đều mất mạng.

    Mọi người không ai không bủn rủn.

    - Xảy ra chuyện gì thế?

    - Đột nhiên, mọi người nghe thấy một tiếng kêu kinh ngạc.

    Quay đầu lại nhìn, thấy Vương Lôi mình trần như nhộng, đứng phía sau đám người, vẻ mặt ngơ ngác.

    Rõ ràng, hắn đã quên sạch sành sanh những chuyện vừa gây ra ban nãy.

    Mọi người theo phản xạ dạt hết sang một bên, cứ như tránh né ôn thần.

    Vương Lôi bỗng rùng mình một cái, lúc này hắn mới phát hiện ra mình không mặc quần áo, lại càng sửng sốt cực độ.

    Lý Bưu cầm một chiếc áo khoác trùm lên người hắn.

    Vương Lôi ngẩn ngơ nhìn Lý Bưu, hỏi:

    - Anh Bưu, đã xảy ra chuyện gì?

    Sao lại chết nhiều người thế?

    Lý Bưu sắc mặt lạnh tanh, xua tay nói:

    - Người anh em, không có chuyện gì đâu!

    - Sau đó quay sang một người anh em khác là Trần Thạch, nói - Người anh em, dẫn anh này vào trong lều của tôi, lấy mấy cái quần áo cho anh ấy mặc…
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Phần 9: Hành Trình Chết Chóc


    Mọi người ai trở về lều người nấy, không ai dám ngủ tiếp, chỉ ngồi đợi trời sáng.

    Chỉ có trời sáng, mới có thể xóa tan nỗi ám ảnh nặng nề trong tâm trí mọi người.

    Chúng tôi đang bàn tán xôn xao, thì Lý Bưu và Tiền bốn mắt liền đi vào lều của chúng tôi.

    Lý Bưu quét mắt liếc về phía ba huynh đệ chúng tôi, rồi móc từ trong túi áo ra một bao thuốc lá Trung Hoa, rút cho mỗi chúng tôi một điếu, sau đó ném cho nhóc Tứ Xuyên, nói:

    - Chia cho anh em mỗi người một điếu.

    - Đại sư huynh!

    - Lý Bưu rất mực cung kính châm lửa cho đại sư huynh, còn cất tiếng gọi rất đỗi thân mật.

    Đại sư huynh cười, không từ chối.

    Lý Bưu và Tiền bốn mắt ngồi ngay bên cạnh chúng tôi, Lý Bưu trông rất nghiêm túc:

    - Đại sư huynh, lúc nãy anh có nói đến ma nhập, chuyện này là thế nào?

    Lý Bưu là lính đặc công phục viên, võ nghệ cao cường to gan lớn mật, tất nhiên không tin vào chuyện ma quỷ.

    Nhưng sự việc vừa xảy ra ban nãy quá ư là quái đản, khiến hắn không thể không tin.

    - Anh tin trên đời này có ma không?

    - Đại sư huynh hiểu ý, nhìn tôi và nhị sư huynh, thong thả hỏi Lý Bưu.

    Sắc mặt Lý Bưu dần trắng bệch:

    - Nói thật, trước đây tôi tuyệt đối không tin, nhưng việc xảy ra ngày hôm nay, khiến tôi không tin cũng phải tin.

    Hai năm trước, tôi đã bán tín bán nghi rồi...

    - Bán tín bán nghi?

    - Tôi tò mò hỏi - Sao lại thế?

    Lý Bưu rít mạnh một hơi thuốc, hạ thấp giọng, thần sắc nặng nề:

    - Hai năm về trước, tiểu đội của chúng tôi chấp hành nhiệm vụ cuối cùng là truy bắt tội phạm ma tuý ở vùng biên giới.

    Trong cuộc đọ súng với bọn buôn ma túy, một người anh em của tôi là Triệu Dũng đã hy sinh.

    Anh ấy bị bao thuốc nổ của bọn buôn ma tuý ném trúng, thân xác tan tành, chúng tôi chỉ tìm thấy cái đầu thịt da nát bấy..

    Mọi người đều yên lặng nghe hắn kể.

    - Tiểu đội của chúng tôi tổng cộng có bảy người, thân thiết như anh em ruột.

    Lúc đó, chúng tôi vẫn phải tiếp tục thực thi nhiệm vụ, nhưng cũng không thể bỏ lại người anh em đã hy sinh.

    Tôi bèn lấy vải dầu bọc cái đầu cũa anh ấy lại, tiếp tục cùng anh em chấp hành nhiệm vụ...

    Đêm đến, chúng tôi mai phục trong lùm cỏ, tôi nhẩm đếm số người, bên cạnh tôi, không hiểu sao lại vẫn có sáu người đang mai phục...

    - Sắc mặt Lý Bưu càng tái mét thêm, giọng nói cũng hơi run rẩy.

    - Chẳng phải các anh có sáu người hay sao?

    Nhóc Tứ Xuyên nói leo một câu.

    - Là bên cạnh tôi có sáu người!

    Tính cả tôi nữa là bảy.

    - Trên trán của Lý Bưu đã thấy mồ hôi lấm tấm - Lúc đó tôi còn ngỡ mình nhìn nhầm, lại cẩn thận đếm lại một lượt, đúng là sáu người, cả tôi nữa là bảy.

    Đầu của họ chúi xuống cỏ, quần áo mặc trên người và vũ khí mang theo đều giống hệt nhau, lại trong đêm tối, nên tôi không thể nào nhìn rõ mặt...

    Tôi sờ vào cái đầu lâu mang theo trên người, vẫn còn nguyên!

    Nhưng tại sao lại có thêm một người nữa?

    Người này là ai?

    Tôi không thể lên tiếng hỏi, vì đối thủ chỉ cách đó mười mấy mét, lên tiếng sẽ lộ mất...

    Sau đó, trong khi giao chiến, tôi xông lên sau cùng, trước mặt tôi là hình bóng của sáu người anh em...

    Lý Bưu kể xong, rồi ngồi im lặng.

    Hắn trầm tư rất lâu.

    Tiền bốn mắt hạ giọng hỏi:

    - Sao lại thế được?

    Người anh em của anh đã hy sinh rồi cơ mà?

    Hơn nữa, cái đầu lâu vẫn mang theo bên người anh...

    Lý Bưu khẽ thở dài một tiếng:

    - Bấy lâu nay tôi vẫn không thể nào hiểu nổi phải giải thích chuyện này ra sao...

    - Anh có hỏi những anh em khác không?

    - Tiền bốn mắt lại hỏi.

    - Tôi không hỏi.

    Sau nhiệm vụ đó, mọi người chúng tôi đều giải ngũ, ai đi đường nấy.

    Nhưng năm ngoái, khi một người anh em khác của tôi là Cố Phi đến thăm tôi, đã vô tình nhắc lại chuyện năm đó, nói rằng anh ta cũng phát hiện ra trong đội ngũ có thêm một người.

    Mọi người cùng nhau chiến đấu, nhưng sau khi trận chiến kết thúc, lại phát hiện chỉ có sáu người chúng tôi...

    Sau khi sự việc đó xảy ra, tôi còn bán tín bán nghi, cứ ngỡ hai chúng tôi bị ảo giác.

    Nhưng sự việc xảy ra vào tối nay đã khiến tôi không thể không tin...

    - Lý Bưu nhìn mọi người một lượt, rồi lại quay về chuyện chính - Tôi luôn cho rằng, Hoàng Đại Tiên là một tên lừa đảo bịp bợm, sếp Tống là một kẻ ngốc.

    Nhưng bây giờ xem ra, tôi đã lầm rồi.

    Vì vậy, tôi rất muốn biết, thế nào là bị ma nhập?

    Tiền bốn mắt cũng lộ vẻ hoang mang:

    - Tôi là trí thức, không tin vào chuyện quỷ thần, nhưng bao nhiêu sự việc như thế, biết giải thích thế nào đây?

    Hắn nói như vậy, chứng tỏ cũng đã tin rồi.

    - Theo như người già đồn đại, sau khi người ta chết đi sẽ có linh hồn.

    Có linh hồn hung ác, có linh hồn lương thiện.

    Linh hồn hung ác nhập vào cơ thể người sống, làm chuyện xằng bậy, nhưng người sống lại không hề biết mình đang làm gì, như thế gọi là bị ma nhập...

    - Tôi giải thích cho Lý Bưu.

    Lý Bưu gật gù:

    - Nói như vậy, thì khi đó, mặc dù người anh em của tôi đã chết, nhưng linh hồn của anh ấy vẫn theo chúng tôi cùng tham gia chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ...

    - Đúng!

    - Tôi và đại sư huynh, nhị sư huynh đồng thanh đáp.

    Sau khi trời sáng, Tiền bốn mắt lại hô hào mọi người thu dọn lều trại.

    Ai cũng chỉ muốn nhanh nhanh chóng chóng rời khỏi nơi này, nên tốc độ rất nhanh.

    Tống Đại Phúc bảo mấy kẻ bạo gan đẩy chiếc lều thứ nhất sang một bên, cảnh tượng phía trong thật khiến người ta lạnh gáy.

    Vương Lôi đứng trước lều, mặt không đổi sắc, nhưng trong lòng hắn cũng lờ mờ hiểu ra, hình như cải chết của những người này có liên quan đến mình.

    Nhưng tại sao hắn lại không tài nào nhớ nổi?

    Tống Đại Phúc không cho người xử lý đám xác chết.

    Cùng lắm là một ngày, thi thể của họ sẽ bị kền kền trên trời, chó sói dưới đất biến thành một đống xương trắng.

    Tôi, đại sư huynh, nhị sư huynh vẫn đi sau cùng.

    Trong toàn bộ đội ngũ, chỉ có ba huynh đệ chúng tôi trông bình thản nhất.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh gan to bằng trời, vì vây, bất kể là xảy ra chuyện gì, cũng không ảnh hưởng tới tâm lý của họ.

    Còn tôi bất ngờ có được cuộn lụa thần bí kia, tâm trạng cũng rất phấn chấn.

    Tiền bốn mắt đi ngay trước mặt chúng tôi.

    - Tiến sĩ Tiền, làm điếu thuốc!

    - Tôi vốn không hay bút thuốc, nhưng cũng mang theo một bao thuốc trên người, tôi gọi Tiền bốn mắt là có mục đích.

    - Tôi không hút thuốc!

    - Tiền bốn mắt đứng ở bên đường, đợi ba người chúng tôi.

    - Tại sao đến thuốc cũng không hút?

    - Nhị sư huynh tiện miệng hỏi.

    - Người ta là trí thức, phải coi trọng hình tượng!

    - Tôi cười vang, nói.

    - Không phải!

    Đúng là tôi không chịu được mùi thuốc lá.

    - Tiền bốn mắt cười nhăn nhó.

    - Tiến sĩ Tiền, anh đã đi học bao nhiêu năm?

    - Tôi hỏi hắn.

    - Mười mấy năm.

    - Tiền bốn mắt thật thà đáp.

    - Thế thì chắc anh biết nhiều chữ lắm nhỉ?

    Vậy chữ cổ...

    - Tôi cố tình lắc lư cái đầu, nhưng vẫn nhìn Tiền bốn mắt.

    Thật không ngờ Tiền bốn mắt trả lời:

    - Tôi chuyên nghề nghiên cứu khảo cổ, đương nhiên là biết rất nhiều chữ cổ...

    - Anh thử nhìn xem đây là chữ gì?

    - Tôi thầm sướng rơn trong dạ, nhưng vẫn ra vẻ hờ hững đưa thước vạch lên mặt đất một con chữ.

    - Là chữ đại triện, chữ hạ.

    - Tiền bốn mắt kiêu ngạo nhìn tôi.

    - Một chữ quá đơn giản.

    - Đại triện?

    Đại triện là gì?

    - Tôi thừa nhận tôi không được học hành gì nhiều.

    - Chữ triện là tên gọi chung của đại triện và tiểu triện.

    Chữ đại triện là chỉ chữ giáp cốt, kim văn, trụ văn, văn tư của sáu nước.

    Tiểu triện chính là Tần triện, là chữ viết thông dụng của nước Tần, cũng là giản hoá từ đại triện...

    - Tiền bốn mắt đắc ý giải thích.

    - Cái gì mà đại truyện với chả tiểu truyện thế?

    Nhị sư huynh trợn đôi mắt trâu, chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì.

    Tiền bốn mắt cười tít mắt.

    Tôi giải thích với nhị sư huynh rằng, đó là một thể chữ viết.

    Nhị sư huynh lập tức quay ngoắt đi, lảng ra thật xa.

    - Các người nói với tôi chuyện phá núi, đẽo đá còn được, chứ nói về viết chữ, khác nào lấy mạng người.

    Tôi cười vang:

    - Tiến sĩ Tiền, sau khi ra khỏi sa mạc, anh sẽ đi đâu?

    - Tiền bốn mắt nói:

    - Đương nhiên là về Giang Thành...

    - Về Giang Thành?

    Tôi trong lòng chấn động, nhưng ngoài mặt vẫn điềm tĩnh như không, hỏi - Anh sống ở Giang Thành?

    - Tôi chính là người của đội khảo sát khoa học đại học Giang Thành, giáo sư John và giáo sư Lôi Mông Đa cũng sẽ đến Giang Thành...

    - Tiền bốn mắt thành thật nói.

    - Ba anh em chúng tôi cũng trở về Sơn Thành, cùng đường, chúng ta đi cùng nhau nhé!

    - Tôi nói.

    - Có lẽ chúng tôi sẽ đến Tây Ninh đáp máy bay.

    - Tiền bốn mắt ngẫm nghĩ một lát rồi nói.

    - Chúng tôi cũng có thể cùng đến Tây Ninh.

    - Tôi chẳng buồn nghĩ ngợi, lập tức đáp lời.

    - Được thôi!

    - Quãng đường này cũng khó đi, có thêm người cũng tốt!!

    - Tiền bốn mắt lập tức đồng ý.

    Đến trưa, mọi người nghỉ lại bên đường một lát, ăn chút lương khô, rồi lại tiếp tục hành trình.

    Buổi chiều đi liền mấy giờ đồng hồ, tôi đang cười nói với Tiền bốn mắt, bỗng thấy Lý Bưu đứng bên vệ đường, bên miệng vắt vẻo điếu thuốc, đang chậm rãi đánh bật lửa châm.

    - Anh Bưu!

    - Ấn tượng của tôi về Lý Bưu khá tốt, liền chủ động chào hắn.

    - Làm điếu thuốc!

    - Lý Bưu đưa cho tôi một điếu, còn châm thuốc cho tôi.

    Trong lúc châm thuốc, Lý Bưu hạ giọng nói một câu:

    - Đừng theo chúng tôi nữa, tìm cách chuồn đi...

    - Nói xong, hắn thu bật lửa lại, thản nhiên đi tiếp như không có chuyện gì xảy ra.

    Đừng theo chúng tôi nữa, tìm cách chuồn đi...

    Nói vậy là có ý gì?

    Nhưng tôi biết, Lý Bưu nói câu này, chắc chắn là có lý của hẳn.

    Tôi nhìn về phía trước, trước mặt có một cửa ải, bên cửa ải có một khe núi nhỏ, khi băng qua cửa ải, nếu như chúng tôi lẻn vào trong khe núi, sẽ có thể thoát khỏi bọn họ.

    Trong lòng tôi đã sẵn chủ ý, nhưng rồi lại nghĩ rằng nếu chúng tôi muốn ra khỏi nơi đây, nhất thiết phải cần đến các nhu yếu phẩm sinh hoạt, hay nói cách khác, xe ngựa của chúng tôi nhất định phải giữ lại.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh tuyệt đối sẽ nghe lời tôi, nhưng còn Tiền bốn mắt và nhóc Tứ Xuyên đang dắt ngựa, phải làm thế nào mới khiến họ ngoan ngoãn nghe lời đây?

    Rất nhanh, tôi đã nghĩ ra biện pháp.

    Lúc này, đại sư huynh đang đi tiểu bên vệ đường, nhị sư huynh cũng đứng ngay bên cạnh, tội vội vàng đi tới, vừa đi vừa kéo khoá quần.

    Nhị sư huynh cười toáng lên, nói:

    - Mẹ kiếp, ba huynh đệ chúng ta đúng là chẳng chê vào đâu được, ngay cả đái cũng phải đái cùng nhau.

    Đại sư huynh gật đầu lia lịa:

    - Huynh đệ mà!

    Có phúc cùng hưởng, có họa cùng chua, có mót cùng đái!

    Tôi đứng bên cạnh hai người, nói:

    - Đại sư huynh, nhị sư huynh, hai anh đừng hỏi, chỉ cần nghe lời tôi, làm theo lời tôi, hiểu chưa?

    Hai người nhìn tôi kinh ngạc.

    Thấy tôi mặt mày nghiêm túc, họ lập tức như đã hiểu ra điều gì đó, cùng gật đầu một lượt.

    - Nhóc Tứ Xuyên, đợi tí!

    - Đại sư huynh quát lớn.

    Quả nhiên nhóc Tứ Xuyên đã giảm tốc độ lại.

    Đợi ba chúng tôi đuổi kịp, đại sư huynh nhân lúc nhóc Tứ Xuyên và Tiền bốn mắt không chú ý, thình lình kéo mạnh một cái, khiến đồ đạc chất trên xe lăn xuống ào ào.

    Nhóc Tứ Xuyên vội vàng dừng xe, lộn lại nhặt nhạnh, Tiền bốn mắt cũng xúm vào giúp đỡ.

    Tất bật một hồi, cuối cùng cũng đã nhặt xong.

    Đại sư huynh đã dắt ngựa đứng sẵn phía trước.

    Năm người chúng tôi đã bị rớt lại khá xa.

    Lúc gần tới cửa ải, tôi liếc mắt ra hiệu cho nhị sư huynh.

    Nhị sư huynh lập tức ôm cứng lấy Tiền bốn mắt, hai bàn tay hộ pháp bịt chặt miệng hắn, còn tôi khống chế nhóc Tứ Xuyên, ghé sát tai gã, khẽ gầm gừ:

    - Muốn sống thì đừng lên tiếng...

    Trong tay nhị sư huynh, Tiền bốn mắt hoàn toàn không còn cơ hội phản kháng, còn nhóc Tứ Xuyên cũng ngoan ngoãn làm theo lời tôi, dắt ngựa vào khe núi nhỏ bên cạnh.

    Khi đi vào trong khe núi, tôi và nhị sư huynh mới thả Tiền bốn mắt và nhóc Tứ Xuyên ra.

    Tiền bốn mắt vẫn chưa hết run rẩy:

    - Anh Vẹo, đại... sư huynh... chúng tôi không có tiền, đừng giết... chúng tôi...

    - Không phải tôi muốn lấy mạng các người, mà là muốn cứu mạng các người, biết chưa?

    - Tôi nói với Tiền bốn mắt.

    Hai người run lên cầm cập, sợ đến vỡ mật.

    Nhưng tôi cũng không biết rõ rốt cuộc sẽ xảy ra chyện gì, tôi ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

    - Các người cũng chẳng có mấy tiền, tôi giết các người thì có tác dụng gì?

    Chúng ta vốn không thù không óan, chẳng có nợ nần, đúng không?

    Hai người thấy chúng tôi không hề có ác ý, mới từ từ bình tĩnh trở lại, nhưng trong ánh mắt vẫn tràn đầy vẻ hãi hùng và ngờ vực.

    Đến khi tiến hẳn vào trong khe núi, tôi mới nói với hai người họ:

    - Đúng là tôi chỉ muốn cứu mạng hai người thôi.

    Nếu hai người không tin, bây giờ hai người có thể đi, đừng đuổi theo những kẻ phía trước...

    - Đúng thế, đám người phía trước chẳng có thứ gì tốt đẹp.

    - Đại sư huynh nói.

    Tiền bốn mắt liếc nhìn nhóc Tứ Xuyên một cái, rồi nói với tôi:

    - Anh Vẹo, chúng tôi đi cùng anh nhé!

    - Nếu hai người tin tưởng chúng tôi, chúng tôi có thứ gì ăn, hai người cũng sẽ có phần.

    Chúng tôi cũng có thể thoát ra, hai người cũng có thể thoát ra!

    - Tôi nói như vậy, tức đã coi hai người kia là huynh đệ, mối ngờ vực cuối cùng của họ cũng đã được xoá tan.

    Thế là chúng tôi và đoàn người của Tống Đại Phúc ai đi đường nấy.

    Buổi tối, khi dựng lều, chúng tôi tháo ngựa kéo xe ra, gỡ bỏ hàm thiếc, vì chúng tôi không có lương thực cho ngựa, nên chỉ còn cách để chúng tự tìm đường sống.

    Vì sợ xảy ra chuyện ngoài ý muốn, sau khi trời tối, tôi bèn để đại sư huynh canh gác, đợi tôi nghỉ ngơi mấy tiếng đồng hồ, lại dậy thay ca cho đại sư huynh đi ngủ.

    Tôi đứng bên ngoài lều.

    Đêm lạnh như băng, trên trời một vầng trăng sáng, núi xa trơ trọi.

    Tôi móc điện thoại trong túi ra, vừa mở máy, trên màn hình hiển thị pin yếu, tự động tắt phụt.

    Bây giờ ngay cả thứ để xem giờ cũng không có nốt.

    Tôi ước chừng chắc khoảng mười một giờ đêm.

    Lều của chúng tôi cắm ngay giữa khe núi, cách xa đỉnh núi hai bên, vì sợ đỉnh núi đột ngột lở xuống đè bẹp căn lều.

    Vì vậy, khi tôi canh gác, phải đi vòng quanh lều, xem phía sau có gì không.

    Tôi đi về phía sau lều, đột nhiên phát hiện ra cách đó chục mét có hai đốm sáng xanh lè đang nhích từng chút về phía lều.

    Sói!

    Một con sói!

    Một con sói xám.

    Lạnh lẽo như tro tàn.

    Tôi rút rìu ra theo phản xạ, lưỡi rìu chớp loé lên lạnh lẽo, con sói đang tiến lại lập tức dừng bước, cảnh giác nhìn chằm chằm vào tôi.

    Tôi chẳng bận tâm, chỉ là một con sói mà thôi, đâu có gì đáng sợ?

    Tôi bước liền mấy bước.

    Con sói vẫn không động đậy.

    Dám to gan lớn mật đến thế, coi thường Vẹo này ư?

    Tôi vung rìu lên, thình lình xông thắng về phía con sói.

    Tôi không tin một con sói có thể ăn thịt được tôi!

    Con sói nhìn thấy tôi lao đến, sợ hãi nhảy cẫng lên, vội vàng chạy biến lên đỉnh núi, vừa chạy vừa ngoái đầu nhìn tôi.

    Tôi đắc ý "hừm" một tiếng, khua rìu mấy cái, ánh hàn quang trên lưỡi rìu loa lóa dưới trăng.

    Con sói chạy lên trên đỉnh núi, rồi dừng lại, ngửa cổ, tru lên một tiếng.

    Tiếng tru rùng rợn xé toang bầu trời đêm tĩnh lặng, vọng đi rất xa, rồi cứ thế văng vẳng trong khe núi.

    Lẽ nào nó đã phát hiện ra ở đây có bữa ăn thịnh soạn nên hú gọi đồng bọn?

    Tôi vừa nghĩ vậy, thì nơi khe núi xa xa, cũng vẳng đến một tiếng sói tru.

    Tiếng tru này khí thế hừng hực, thấu đến mây trời.

    Tim tôi thót lại.

    Lập tức, giữa núi non, tiếng sói tru dồn dập tứ

    Con sói xám trên đỉnh núi lại tiếp tục tru lên rền rĩ.

    Phía xa càng nhiều hơn những tiếng tru đáp lại...

    - Vẹo?

    - Đang lúc tôi giật mình kinh hãi, thì nghe tiếng gọi của đại sư huynh và nhị sư huynh.

    - Tôi ở đây!

    - Tôi vội chạy về.

    - Có chuyện gì thế?

    - Đại sư huynh một tay cầm móc câu một tay cầm dao mổ lợn, nhị sư huynh lăm lăm cây búa, rõ ràng họ vừa tỉnh giấc vì tiếng sói tru.

    Tiền bốn mắt và nhóc Tứ Xuyên đứng sau lưng họ, sắc mặt hoang mang.

    - Sói!

    - Tôi đáp một tiếng.

    - Nhiều sói quá!

    - Nhóc Tứ Xuyên giọng run rẩy- Em nghe nói, sói ăn thịt người...

    - Vài con sói quèn chứ có cái gì?

    Muốn ăn thịt ông?

    Ông còn đang thèm thịt sói đây!

    - Đại sư huynh mặt không biến sắc, cười ha hả.

    Nhị sư huynh cũng thản nhiên như không.

    - Nếu trong thiên hạ có con sói nào ăn thịt được mấy huynh đệ chúng ta, thì đúng là chẳng có lý trời.

    Đại sư huynh là đồ tể cơ mà, giết lợn giết chó giết sói...

    Nhưng rất nhanh, tôi đã phát hiện ra sự việc không hề đơn giản như chúng tôi đang nghĩ.

    Bởi vì những đốm sáng xanh lét trong khe núi mỗi lúc một dày đặc, không phải mười mấy, cũng không phải mấy chục, mà là cả vài trăm đốm huỳnh quang nhấp nháy.

    Vài trăm con sói đang từ từ áp sát căn lều của chúng tôi.

    Đi đầu là một con sói xám cao lớn, nó phải cao gấp rưỡi những con sói xám bình thường, sát khí ngùn ngụt.

    Nó là sói đầu đàn, một con sói khổng lồ.

    Tôi và đại sư huynh, nhị sư huynh có phần kinh ngạc, nhưng không hề sợ hãi, dù sao, sợ hãi cũng chẳng có tác dụng gì.

    Nhưng nhóc Tứ Xuyên và Tiền bốn mắt đã khiếp đảm đến nỗi run lên cầm cập.

    Cả vài trăm con sói ở ngay trước mặt, không sợ mới lạ.

    - Liều mạng với đám súc sinh này!

    - Đại sư huynh vung dao mổ lên, quát lớn.

    - Liều mạng!

    - Nhi sư huynh lập tức hưởng ứng lời của đại sư huynh.

    - Thu lều lại, chúng ta dựa lưng vào lều để liều mạng với chúng.

    - Tội vội hô.

    Lều của chúng tôi khá lớn, có kết cấu khung thép gập duỗi.

    Nếu căng lều ra, bầy sói rất có thể sẽ xé toang vải bạt, chui qua chỗ rách vào tấn công chúng tôi.

    Nhưng nếu như thu lều lại, thì khung thép sẽ dày hơn nhiều, một con sói không dễ lọt qua, không thể tập kích chúng tôi từ sau lưng, khiến chúng tôi không phải lo lắng phía sau.

    Tiền bốn mắt và nhóc Tứ Xuyên nghe thấy tiếng hô của tôi, như choàng tỉnh mộng, vội vàng thu lều lại.

    Căn lều của chúng tôi nhanh chóng co lại thành một cái lều Mông Cổ chỉ rộng mấy mét vuông.

    Tôi và đại sư huynh, nhị sư huynh đứng dàn hàng ở phía trước, Tiền bốn mắt và nhóc Tứ Xuyên mỗi người lăm lăm một cây gậy sắt, đứng sau lưng chúng tôi.

    Tôi nhìn đàn sói đen đặc trước mặt, lại thấy bình tĩnh lạ thường, quay đầu nói với Tiền bốn mắt và nhóc Tứ Xuyên:

    - Hai người chú ý phía sau, nếu có con sói nào lọt vào, cứ đập thẳng tay!

    - Được!

    - Hai người đứng trước ranh giới sống chết, cũng quyết liều mạng.

    Con sói đầu đàn tru lên một tiếng dài.

    Đàn sói bên cạnh nó lập tức phát động tấn công.

    Vài con sói lao vọt đến nhanh như chớp xẹt.

    Lưỡi rìu trong tay tôi vung lên, hàn quang sáng rợn.

    Soạt soạt!

    Con sói lao vào tôi văng ngược trở ra, lăn lộn trên mặt đất, không bò dậy được nữa.

    Đại sư huynh ở bên trái tôi, cái móc trong tay trái anh ta móc trúng họng một con sói đói, nhấc bổng nó lên, che chắn trước mặt, con dao mổ bên tay phải chọc thẳng vào miệng một con sói khác, khiến cái mõm của nó gần như bị đứt lìa.

    Nhị sư huynh một tay vung xà beng chặn đứng con sói đang lao về phía mình, cái búa sắt trên tay còn lại đập chuẩn xác vào giữa hộp sọ, "bụp" một tiếng, con sói bị đánh vọt đi như một quả bóng...

    Đàn sói ở phía sau lao đến rùng rùng như sóng biển.

    Ba anh em chúng tôi ra sức chống trả, chỉ trong vòng mười mấy phút ngắn ngủi, trước mắt chúng tôi đã chất đống hai ba chục cái xác sói.

    Lũ sói phía sau vẫn tiếp tục lao lên, thậm chí có con còn nhảy cả lên nóc lều...

    Đột nhiên, một vệt lửa cháy bùng lên, bầy sói đang tấn công điên cuồng vội lùi lại phía sau mười mấy mét.

    Tôi, đại sư huynh, nhị sư huynh cùng thở phào.

    Ánh lửa bùng lên từ trong lều, là Tiền bốn mắt đã đốt cuốn sổ hắn mang theo mình.

    Tiền bốn mắt hào hứng la toáng lên:

    - Sói sợ lửa, sói sợ lửa...

    Nhóc Tứ Xuyên cũng đang hối hả xé lấy vài tờ giấy, châm lửa rồi vứt rangoài lều.

    Nhìn những ngọn lửa cháy sáng, đàn sói lại lùi thêm mấy mét, nhưng dàn thành một hàng ngang, đối đấu với chúng tôi.

    - Tìm những thứ có thể đốt, đốt lên!

    - Tôi và đại sư huynh, nhị sư huynh toàn thân ướt đẫm máu sói, mặc dù đã giết đến hai ba chục con, nhưng nếu như cứ tiếp tục đánh mãi, chúng tôi hoàn toàn không có khả năng chiến thắng.

    Bởi vậy, vừa thấy sói sợ lửa, tôi đã hô lên.

    Nhưng như vậy có thể kéo dài được bao lâu?

    Tôi cũng không kịp nghĩ.

    Tóm lại, kéo dài được phút nào hay phút ấy.

    Nhóc Tứ Xuyên đã cắt một tấm áo thành từng dải, châm lửa đốt.

    Đàn sói không tiếp tục tấn công, cũng không lùi đi.

    Những cặp mắt sáng xanh len lét, những cái mồm đầy nanh trắng nhởn, khiến cho người ta nhìn mà rợn tóc gáy.

    Ánh trăng mỗi lúc càng thêm mờ mịt.

    Tôi ngẩng đầu nhìn, thấy một mảng mây đen rộng lớn đang kéo đến, che khuất mất nửa vầng trăng.

    Rồi dần dần, che kín hoàn toàn ánh sáng.

    Bầu trời lập tức u ám một màu.

    Đúng vào khoảnh khắc này, một sự việc hết súc lạ lùng đã xảy ra.

    Con sói đầu đàn tru lên một tiếng dài não nề, đám sói bên cạnh nó lập tức dạt ra.

    Sói đầu đàn đi về phía sau mười mấy bước, ngồi chồm hỗm trên đất, ngẩng đầu nhìn trời.

    Bầy sói đứng cách sói đầu đàn vài mét, quây thành từng vòng tròn, hết vòng này đến vòng khác.

    Cả một bầy sói đen đặc cùng ngửa cổ, tru lên từng hồi dài dặc với đám mây đen trên bầu trời.

    Tiếng sói tru vang tận trời mây.

    Chúng tôi đều kinh hãi, không biết bầy sói đang làm trò gì?

    Chúng tôi cũng ngẩng đầu nhìn trời.

    Dần dần, sáng đã le lói rọi ra từ mép đám mây, trăng đã sắp ló ra rồi.

    Mặt trăng xuất hiện, phải chăng bầy sói sẽ lại phát động tấn công?

    - Đại sư huynh, nhị sư huynh, lát nữa ba chúng ta cùng xông vào đàn sói, giết phăng con sói đầu đàn kia đi!

    - Tôi nói nhỏ với đại sư huynh và nhị sư huynh.

    - Được!

    - Hai người đều hiểu ý cũa tôi.

    Đánh rắn phải đánh giập đầu, giết sói cũng phài giết được sói đầu đàn.

    Vầng trăng đã thoát khỏi vòng vây của đám mây đen.

    Bầu trời chốc đã sáng quang.

    Bầy sói dạt ra thành một con đường.

    Con sói đầu đàn đứng dậy, đi về phía chúng tôi, bầy sói phía sau không hề bám theo.

    - Lẽ nào sói đầu đàn muốn đàm phán với chúng ta?

    - Tiền bốn mắt kinh ngạc kêu lên sau lưng chúng tôi.

    Con sói đầu đàn đi về phía chúng tôi.

    Chúng tôi không dám khinh suất hành động, ai nấy nắm chặt vũ khí trong tay.

    Nhưng một sự việc mà chúng tôi không tài nào lường được đã xảy ra.

    Sói đầu đàn dừng lại cách chúng tôi vài mét, liếc nhìn chúng tôi một cái, rồi há mõm tha một con sói chết lên, quay người đi luôn.

    Những con sói phía sau cũng lần lượt tiến lên, mỗi con tha lấy một cái xác sói, rồi cũng lặng lẽ bỏ đi.

    Vài trăm con sói, không một tiếng động.

    Chẳng mấy chốc, trước mắt chúng tôi đã chẳng thấy con sói nào nữa, chỉ còn những vệt máu sói loang lổ.

    Năm người chúng tôi đều ngây như phỗng.

    Bầy sói biến mất trong núi non thăm thẳm...

    - Ma quái!

    - Nhị sư huynh "huỵch" một cái ngồi phịch xuống đẩt.

    Đại sư huynh cũng ngồi xuống bên cạnh, nói:

    - Mẹ kiếp, cứ tưởng lần này bị sói ăn thịt rồi chứ!

    Trái tim tôi cuối cùng cũng hạ xuống đúng chỗ.

    - Thế là thế nào nhỉ?

    - Nhóc Tứ Xuyên tíến sát sau lưng tôi, hỏi.

    - Đúng đấy!

    Thật quái lạ quá!

    Tại sao đàn sói đột nhiên lại ngừng tấn công nhỉ?

    - Tiền bốn mắt đưa tay quệt mồ hôi lạnh trên trán.

    - Có lẽ có liên quan đến mặt trăng lúc nãy.

    - Tôi cũng không thể giải thích được hiện tượng vừa rồi.

    Mọi người bàn tán xôn xao, nhưng chẳng đưa ra được lý do nào.

    Trời mỗi lúc càng thêm lạnh lẽo, năm người chúng tôi tụm vào giữa lều, chẳng ai còn thấy buồn ngủ, chỉ ngồi đợi đến khi trời sáng.

    Cuối cùng thì trời cũng đã sáng.

    - Không biết sói đã đi xa chưa nhỉ?

    - Tiền bốn mắt nơm nớp hỏi.

    Tôi nghĩ một thoáng:

    - Mọi người ở yên trong lều, tôi leo lên chỗ cao quan sát xem sao...

    - Tôi đi với cậu!

    - Đại sư huynh vội nói.

    - Chúng ta cùng đi nhé!

    - Tiền bốn mắt và nhóc Tứ Xuyên vội vàng đề nghị.

    Họ lo sợ chúng tôi đi rồi, đàn sói lại ập đến.

    Chúng tôi trèo lên đỉnh núi, phóng mắt nhìn khắp bốn phía, không hề thấy đàn sói đâu.

    Lúc này, chúng tôi mới thu dọn những đồ dùng thiết yếu, tiếp tục lên đường.

    Không còn xe ngựa nữa, trên người mỗi chúng tôi chồng thêm hơn mười lăm cân, di chuyên đương nhiên cũng chậm chạp hơn nhiêu.

    Tiền bốn mắt vừa đi vừa hỏi tôi, giọng vẫn chưa hết kinh ngạc:

    - Anh Vẹo này, tại sao đàn sói đột nhiên lại lặng lẽ biến mất thế nhỉ?

    Tôi lắc đâu, chẳng biết giải thích thế nào.

    - Là nhờ sư gia phù hộ!

    - Đại sư huynh nghiêm túc trả lời.

    - Đúng, là sư gia phù hộ!

    - Nhị sư huynh tán đồng.

    Tôi bỗng rúng động trong lòng.

    Đúng thế!

    Nếu ông ngoại trên trời có linh thiêng, chắc chắn sẽ phù hộ cho chúng tôi!

    Vừa nghĩ đến ông ngoại, toàn thân tôi đã tràn đầy sức mạnh, quên khấy tất cả mọi hiểm nguy!

    Đến chiều, chúng tôi nhìn thấy phía xa xa có một đàn kền kền đang lượn vòng vòng trên không trung, thi thoảng lại bổ nhào xuống dưới.

    Đến khi lại gần hơn chút ít, chúng tôi mới phát hiện ra, trên mặt đất dày đặc những kền kền.

    - Ở đó có chuyện quái gì thế nhỉ?

    - Nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá ngạc nhiên hỏi.

    Tôi bống thấy chột dạ, nếu không ngoài dự đoán, ở đó hẳn có vài xác chết.

    Nơi chim kền kền tụ tập, chắc chắn là nơi chết chóc.

    Vì kền kền là loài chuyên ăn xác thối.

    Chúng tôi đi tới gần.

    Đó là một cái hố nông choèn, trong hố chí ít cũng đến gần trăm con kền kền, trên trời còn có vài chục con đang chao liệng.

    Bên miệng hố là một vài đồ vật đã bị đốt cháy.

    Còn trong hố, rặt xương là xương, và một số thi thể vẫn chưa bị kền kền rỉa sạch.

    Tiền bốn mắt như đã đột ngột hiểu ra điều gì.

    Hắn lấy hết can đảm đi lên phía trước một đoạn, rồi khựng lại.

    Lúc này, chúng tôi đã có thể nhìn thấy rõ ràng tình hình bên trong hố.

    Một số con kền kền thấy chúng tôi lại gần, vội vàng bay vọt lên không, nhưng vẫn còn nhiều con bạo gan tiếp tục rỉa róc.

    Trên mặt đất la liệt những mảnh xác người, cùng một số đầu lâu máu thịt bầy nhầy, còn thấy rõ những món tóc dài của phụ nữ.

    - Là bọn họ, là bọn họ...

    - Tiền bốn mắt đau đớn rú lên.

    Tôi và đại sư huynh, nhị sư huynh cùng lao đến, đám kền kền vù một tiếng bay ào cả lên trời.

    Chúng tôi đứng ở bên cạnh miệng hố nhìn xuống, phát hiện ra những thứ bị đốt là lều trại và một số quần áo.

    Khung thép không bắt lửa, vẫn đứng trơ trọi, còn trên mặt đất chí ít cũng có đến ba chục cái xác người.

    Tôi đã nhận ra, những thi thể đó, đều là những nhân công đã cùng vào khe núi với chúng tôi.

    - Những nhân công cùng đi với chúng ta đã chết cả rồi, nhưng Tống Đại Phúc và đám vệ sĩ của lão đã cưỡi ngựa đi mất.

    - Tôi nói.

    - Làm sao anh biết những người chết là nhân công?

    - Tiền bốn mắt vội hỏi tôi.

    - Rất đơn giản.

    Trong đám thi thể kia không có lấy một khẩu súng.

    Vì vậy, người chết không thể nào là đám vệ sĩ kia.

    Hơn nữa, trên mặt đất cũng không có xác ngựa.

    Điều này chứng tỏ, những kẻ kia đã cưỡi ngựa đi rồi.

    -Tôi bình tĩnh phân tích.

    - Những người này vì sao lại chết?

    - Trên trán Tiền bốn mắt nhễ nhại mồ hôi lạnh.

    - Bị Tống Đại Phúc và đám vệ sĩ giết chết!

    - Tôi khẳng định - Sau khi xảy ra sự cố trong hố địa ngục, Tống Đại phúc đã muốn giết chết toàn bộ nhân công để diệt khẩu, tiêu trừ hậu hoạn.

    Sau khi họ bàn bạc xong xuôi, Lý Bưu không nhẫn tâm hại chúng ta, nên mới ngấm ngầm bảo tôi bỏ trốn...

    Đại sư huynh và nhị sư huynh gật đầu lia lịa:

    - Thằng chó Tống Đại Phúc, đúng là táng tận lương tâm!

    Giết bao nhiêu người như thế.

    '

    Tiền bốn mắt hồn vía lên mây:

    - Giáo sư John và giáo sư Lôi Mông Đa cũng chết rồi?

    Tôi lại bước vào trong hố quan sát kỹ lưỡng một hồi, rồi mới trả lời Tiền bốn mắt:

    - Có lẽ họ vẫn còn sống.

    Thực ra, tôi đoán Tống Đại Phúc cũng không có ý giết anh...

    Tiền bốn mắt lắc đầu quầy quậy:

    - Chẳng may lão giết người diệt khẩu thì sao?

    Về điểm này, Tiền bốn mắt vẫn khá tỉnh táo.

    Tôi chỉ biết cười:

    - Cho dù thế nào, bây giờ anh vẫn còn sống...
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Chương 10: Sách Lỗ Ban


    Cát vàng mênh mông, đường đi gian khổ.

    Sau khi trời tối, chúng tôi quyết định nghỉ lại.

    Vì chúng tôi đã không còn lều trại, nên cần phải tìm một nơi có thể che chắn gió rét.

    Tôi ngẩng nhìn lên, thấy bên dưới một đỉnh núi có mấy hang đá.

    - Vào trong hang trú một đêm.

    - Tôi nói.

    - Cái hang này liệu nửa đêm có đổ sụp xuống chôn sống chúng ta không đấy?

    - Tiền bốn mắt nhớ tới cảnh núi băng sạt lở, chôn vùi cả một căn lều, trong lòng lại sợ thon thót, bèn lẩm bẩm hỏi.

    - Bị sói ăn thịt thì không còn lấy mảnh xương, bị chôn sống thì vẫn còn nguyên xác, bị chôn sống vẩn tốt hơn bị sói ăn thịt.

    - Tôi quyết định dứt khóat, rồi đi thẳng về phía trước.

    - Đúng đấy, chết mà được chôn cất tử tế là tốt rồi.

    - Đại sư huynh thản nhiên như không, đi theo sau tôi.

    Nhị sư huynh cũng không sợ chết.

    Tiền bốn mắt và nhóc Tứ Xuyên đành phải đi theo chúng tôi.

    Chúng tôi lựa chọn một cái hang có cửa vào khá hẹp, bên trong tương đối sạch sẽ, đặt đồ đạc cõng trên người xuống, bàn nhau chặn mấy tảng đá trước cửa hang, để phòng bị sói tấn công bất ngờ, tốt nhất có thể đốt một đống lửa.

    Ở đây chỉ có vài bụi cây thấp lè tè, chặt lấy một ít, cũng có thể nhóm lửa.

    Tôi và đại sư huynh phụ trách kiếm củi, nhị sư huynh chịu trách nhiệm khuân mấy tảng đá lớn chặn cửa han lại.

    Tôi và đại sư huynh một trước một sau đi ra ngoài chừng vài trăm mét, đột nhiên nhìn thấy một đống xương trắng, đại sư huynh liên kêu toáng lên:

    - Vẹo ơi, đám xương này cũng đốt được đấy, nhặt về đi!

    Tôi thấy những khúc xương rất to, vừa nhìn đã biết là xương ngựa, bước tới đưa chân đá mấy cái, cảm thấy nằng nặng, chứng tỏ ngựa mới chết chưa bao lâu.

    Tôi đang định cúi xuống nhặt xương, bỗng nghe thấy một tiếng rên rỉ thảm thiểt:

    - Cứu tôi!

    - Ai?

    - Đại sư huynh vụt một cái rút phắt dao mổ ra.

    Tôi cũng giật nảy mình.

    Tôi nghe thấy rất rõ ràng, là giọng con gái.

    - Yêu quái?

    - Đại sư huynh trợn trừng mắt, lông mày dựng ngược, sát khí đằng đằng.

    - Cứu tôi...

    - Đúng là tiếng rên rỉ của đàn bà.

    - Là người!

    - Tôi vừa nói, vừa ngẩng đầu nhìn quanh, thấy cách đó vài chục mét là một vách núi, dưới vách núi có một số cửa hang, tiếng rên rỉ vọng ra từ trong một hang đá.

    - Qua đó xem sao.

    - Tôi và đại sư huynh mặc dù không sợ trời không sợ đất, nhưng tôi vẫn rút rìu ra.

    - Cứu tôi...

    - Tiếng kêu nghe càng rõ.

    Không sai, âm thanh vọng ra từ một cửa hang, phía sau vài tảng đá.

    Đại sư huynh chạy đến, giơ móc câu móc vào tảng đá kéo mạnh.

    Uỳnh uỳnh!

    Tảng đá lăn sang một bên, một cô gái đầu tóc xoã tung nằm rạp trên đất, đang từ từ ngẩng đầu lên...

    Một khuôn mặt trắng bệch, một đôi mắt tuyệt vọng và giận dữ.

    Tiểu Thiện!

    Chẳng phải cô ta đã bỏ trốn cùng Hoàng Đại Tiên rồi hay sao?

    Tại sao lại ở trong hang này?

    - Cô là người hay ma?

    Nếu là người, ông đây sẽ cứu!

    Nếu là ma, ông giết luôn!

    - Đại sư huynh quát lên như sấm.

    - Là người.

    - Tôi đã đi vào trong hang, đỡ cô ta ngồi dậy.

    Bên cạnh cô ta có một bình nước và một số đồ dùng.

    Tôi cầm bình nước lên lắc thử, bên trong văn còn nghe róc rách, có lẽ mấy ngày nay cô ta sống dựa vào chỗ nước này.

    - Chẳng phải cô đã đi rồi cơ mà?

    Sao vẫn còn ở đây?

    - Tôi vừa hỏi Tiểu Thiện, vừa đưa mắt quan sát, phát hiện cô đi chân trần, hơn nữa, bàn chân còn sưng rất to, ngả màu tím bầm, rõ ràng là đã bị thương, lại bị rét cóng mấy ngày trời, đôi chân chắc tê liệt mất rồi.

    Cơ thể cô ta vẫn run lên lập cập.

    Tôi vội cởi áo khoác ngoài ra, định khoác lên người cô ta

    Nhưng cô ta đã giơ tay ngăn tôi lại, nở nụ cười thê thảm:

    - Tôi không còn sống được bao lâu nữa, cầu xin anh một việc...

    - Cô nói đi!

    - Tôi đắn đo một lát - Chúng tôi vẫn còn năm người, chúng tôi sẽ tìm cách cứu cô.

    Chúng tôi đang tìm cây đốt lửa sưởi ấm...

    - Anh chắc chắn có thể sống sót trở ra, xin anh hãy giúp tôi mang tấm gương này về Giang Thành...

    - Tiểu Thiện móc từ trong người ra một tấm gương, hình tròn, chỉ to bằng lòng bàn tay, nhưng viền gương được nạm ngọc phỉ thuý, tinh xảo, tuyệt đẹp, xem ra giá trị không nhỏ.

    - Được!

    Nếu tôi có thể sống sót trở ra, tôi nhất định sẽ mang tấm gương này về Giang Thành.

    - Tôi gật đầu - Sau khi mang về Giang Thành, sẽ giao cho ai?

    - Tại núi Ngũ Phượng ở Giang Thành có một am có tên là Ngũ Phượng, anh cứ vứt tấm gương vào trong bụi cỏ sau am là được!

    - Giọng nói của Tiểu Thiện giống như phả qua kẽ răng.

    - Được!

    - Tôi gật đầu đồng ý.

    - Cảm ơn!

    - Tiểu Thiện nhẹ nhõm thở ra một hơi, nhìn tôi với cặp mắt đầy ai oán - Tôi sẽ kể cho anh nghe thêm một câu chuyện...

    Tiểu Thiện hai mươi hai tuổi, mai cốt cách tuyết tinh thần, xinh tươi mơn mởn, là hoa khôi của đại học Giang Thành.

    Những anh chàng theo đuổi có đủ để gom thành một binh đoàn.

    Có một chàng trai tên Hai Trứng yêu cô đến điên cuồng.

    Nhưng Tiểu Thiện lại không hề thích anh ta, thậm chí còn ghét, ghét tất cả những gì thuộc về anh ta, bao gồm cả biệt hiệu.

    Hai Trứng, tại sao lại đặt cái tên Hai Trứng thô thiển đến thế?

    Gọi là Một Trứng hay Ba Trứng nghe còn hay hơn là Hai Trứng!

    - Tôi không hề thích anh, chúng ta không có hy vọng đâu, xin anh đừng làm phiền tôi nữa!

    - Tiểu Thiện nghiêm khắc cảnh cáo Hai Trứng.

    - Đúng là em không hề thích anh?

    -Hai Trứng nhận một cú sốc nặng nề, anh yêu cô điên dại, cứ ngỡ rằng cô cũng yêu anh phát cuồng như thế.

    - Tôi ghét anh!

    -Tiểu Thiện chau mày khó chịu.

    - Anh sống không cưới được em, chết cũng phải cưới được em!

    - Hai Trứng lập tức lao đầu xuống sông Trường Giang.

    Mấy ngày sau, thi thể của anh ta được phát hiện bên bờ sông cách đó mấy chục cây số về phía hạ lưu...

    Hai Trứng đã chết.

    Đêm đó, Tiểu Thiện mơ thấy một cơn ác mộng: Hai Trứng bò ra từ gầm giường, đè chặt cô xuống giường, muốn lấy cô làm vợ...

    Sáu ngày liên tiếp, ngày nào cũng như vậy, cuộc sống của Tiểu Thiện chìm trong nỗi khiếp sợ vô cùng tận.

    Cô đi trên đường phố Giang Thành như kẻ mất hồn.

    - Vị nữ thí chủ này, bị ma dữ đeo bám, nếu không hóa giải kịp thời, trong vòng ba ngày, át sẽ có tai họa đổ máu...

    - Một ông lão tất trắng giày mây, mặt mũi hiền từ, tiên phong đạo cốt đứng trước mặt Tiểu Thiện, cây phất trần trong tay chỉ vào cô.

    Tiểu Thiện toàn thân chấn động, khác nào chết đuối vớ được cọc:

    - Đại Tiên cứu con với!

    Đại Tiên cứu con với!

    Vị này, chính là Hoàng Đại Tiên:

    - Hãy đi theo ta!

    Trong am Ngũ Phượng, Hoàng Đại Tiên dặn dò cô:

    - Ta phải làm phép để trừ bỏ con ma trên người cô.

    Bất kể ta làm gì, cô cũng phải tuyệt đối phối hợp với ta.

    Nếu không, ma dữ khó trừ, tính mạng khó giữ...

    Tiểu Thiện gật đầu.

    Thế nhưng, Hoàng Đại Tiên đã lột sạch quần áo của cô, cũng cởi hết quần áo của mình.

    Một nhan sắc lừng lẫy khắp vùng, thế mà cái lần đầu tiên lại phải dâng hiến cho một lão đạo sĩ nghiêm trang đạo mạo.

    Kểt quả sau cùng, đương nhiên là ma dữ được trừ, còn Tiểu Thiện đã cam tâm tình nguyện trở thành tình nhân của Hoàng Đại Tiên.

    - Đại Tiên...

    - Tiểu Thiện nằm trên giường, kiều diễm như đoá hoa đào nở rộ.

    - Trên giường đừng gọi ta là Đại Tiên, hãy gọi ta là lực sĩ!

    - Lúc này, Hoàng Đại Tiên khí thế cực sung.

    - Ông là người xuất gia, si mê nữ sắc, thì thanh tu thế nào?

    - Tiểu Thiện băn khoăn hỏi.

    - Cảnh giới tu luyện tối cao của người xuất gia chính là nam nữ song tu!

    - Hoàng Đại Tiên cười ha hả, sau đó hùng hục tu luyện.

    Sống quen với Hoàng Đại Tiên, Tiểu Thiện không còn cảm thấy có gì bất ổn.

    Huống chi Hoàng Đại Tiên Tiền tiền bạc dồi dào, đủ cho cô tiêu xài thoả thích, cứ mặc tình mà tiêu xài thỏa thích...

    Tiểu Thiện theo Hoàng Đại Tiên được hai năm, đột nhiên có một ngày, Hoàng Đại Tiên nghiêm túc nói với cô:

    - Ta muốn có được một cuốn sách, nhưng em phải hy sinh chút đỉnh mới có được.

    - Em phải làm gì?

    - Tiểu Thiện hỏi lão.

    - Có biết Tống Đại Phúc ở Giang Thành không?

    Hoàng Đại Tiên hỏi cô.

    - Biết!

    Một lão lưu manh, một con rùa già, chỉ nhờ vào mấy đồng tiền trong túi...

    - Tiểu Thiện đã quá biết kẻ này.

    Lão ta từng núp bóng từ thiện, xuất hiện tại khắp các hoạt động xã hội do các trường đại học ở Giang Thành tổ chức và cũng biết Tiểu Thiện.

    Lão từ lâu đã thèm thuồng nhỏ dãi sắc đẹp nghiêng ngửa của Tiểu Thiện, có lần còn bày cả triệu đồng ra trước mặt cô, chỉ cần cô làm người tình của lão...

    Lão thực sự cho rằng, có tiền sẽ mua được tất cả, nhưng chí ít, cũng không mua được thân thể của Tiểu Thiện.

    Đại Tiên khẽ nhướng đôi mày thưa thớt:

    - Thứ mà em cần phải hy sinh, chính là tu luyện cùng với hắn, sau đó nghĩ cách tìm hiểu về tung tích của cuốn sách đó.

    Những việc khác, cứ giao cả cho ta...

    - Chỉ vì một cuốn sách, mà ông nỡ dâng tặng người đàn bà của mình cho kẻ khác?

    Em không làm!

    - Tiểu Thiện giận dữ cực độ.

    - Em đúng là con ngốc!

    Đâu chỉ có ngốc, mà đúng là ngu xuẩn!

    - Hoàng Đại Tiên còn giận dữ hơn cả cô, giơ tay lên đấm vào mông cô mấy cái.

    Lão không dám đấm vào mặt cô, vì nơi đẹp đẽ nhất của người con gái chính là khuôn mặt, đấm vào sợ hỏng mất.

    Nắm đấm của ông ta đã khiến cô khuất phục.

    - Một cuốn sách?

    Là cuốn sách như thế nào?

    Sao quan trọng đến thế?

    - Cô hỏi.

    - Sách Lỗ Ban!

    - Hoàng Đại Tiên cuối cùng cũng lộ ra một nụ cười gian xảo đầy đắc thắng - Em vẫn chưa biết cuốn sách này quan trọng thế nào đâu.

    Có được nó, sẽ có được thiên hạ, đến lúc đó... ha ha ha...

    Tiểu Thiện cuối cùng đã hiểu ra:

    - Ông đúng là một lão già khốn nạn...

    Lúc này, Tiểu Thiện mới biết cuốn sách Lỗ Ban mà Hoàng Đại Tiên muốn tìm không nằm trong tay Tống Đại Phúc, mà nằm trong tay ông chủ lớn Lâm Đại Phát, vốn có mối quan hệ vô cùng mật thiết với Tống Đại Phúc.

    Tiểu Thiện băn khoăn: sách nằm trong tay Lâm Đại Phát, nhưng tại sao lại phải ngủ với Tống Đại Phúc?

    Chẳng phải là nhầm đối tượng hay sao?

    Hoàng Đại Tiên đã có tính toán chu đáo: đây là chiến thuật vu hồi, nếu có đàn bà theo Lâm Đại Phát, Lâm sẽ hết sức cảnh giác; còn nếu ra tay với thân phận là người đàn bà của bạn bè, sẽ khiến lão không thể đề phòng.

    Thế là Tiểu Thiện theo Tống Đại Phúc.

    Kỹ xảo giường chiếu của Tống Đại Phúc không bằng Hoàng Đại Tiên, nhưng tiền của ông ta lại nhiều hơn vô số kể.

    Tiểu Thiện cũng quen dần.

    Nhưng theo Tống Đại Phúc mấy năm trời, vẫn chẳng có bất cứ manh mối gì về cuốn sách Lỗ Ban...

    Tiểu Thiện mắng Hoàng Đại Tiên, đã mất phu nhân lại thiệt quân.

    Nhưng Hoàng Đại Tiên lại chẳng hề sốt ruột.

    Nói theo lời lão, một thứ quý giá đến thế, sao có thể dễ dàng lấy được?

    Hoàng Đại Tiên và Tống Đại Phúc là đôi bạn chí thân, còn là đối tác ăn ý, thậm chí cùng dùng chung một người đàn bà, chỉ là một người lén lút, một người công khai mà thôi.

    Nhưng về sau, Tống Đại Phúc tổ chức đội khảo sát khoa học đến khe chết chóc, Tiểu Thiện cảm thấy cái lão chó Hoàng Đại Tiên này cũng có chút đạo hạnh, cho dù không có được cuốn sách, cũng có thể kiếm được bộn tiền, chưa đến nỗi lỗ to.

    Trong khe chết chóc, Hoàng Đại Tiên dự cảm được sưu việc đã nằm ngoài tầm khống chế của mình, nên đành phải dẫn theo Tiểu Thiện và đồ đệ bỏ trốn.

    Trên đường đi, họ gặp phải mười mấy con chó sói.

    Hoàng Tiểu Tiên một mình cưỡi ngựa dông thẳng.

    Hoàng Đại Tiên ngoác miệng chửi rủa gã đồ đệ mất dạy:

    - Ta nguyền rủa cái cọc thối của ngươi, cả đời không chạm được vào đàn bà, cuối cùng thành con cu héo...

    Thật là một lời nguyền cay độc.

    Nhưng hai người vẫn phải bỏ chạy.

    Tiểu Thiện chạy theo sau ngựa của Hoàng Đại Tiên, Hoàng Đạo Tiên liên tục ngoái lại nhìn, đàn sói phía sau mỗi lúc một gấu.

    Tiểu Thiện mặt mày biến sắc, khiếp sợ cùng cực:

    - Đại Tiên...

    Lực sĩ...

    Mau thi triển phép thuật, đuổi bầy sói đói này đi...

    - Yên tâm...

    Hoàng Đại Tiên ngoảnh đầu, lập tức một túi vôi bột tung ra mù mịt trước đầu ngựa của Tiểu Thiện.

    Con ngựa lập tức hất văng Tiểu Thiện xuống đất, rôi nhảy nhót điên cuống.

    Con ngựa đã bị mù mắt, không còn nhận ra phương hướng nữa.

    Đây chính là phép thuật của Hoàng Đại Tiên, để bầy sói đói ăn thịt một con ngựa và một người đàn bà, còn mình thừa cơ trốn thoát.

    Sự thật đã chứng minh, phép thuật của Hoàng Đại Tiên đã thành công, bầy sói lập tức xúm vào xâu xé con ngựa.

    Một con ngựa to lớn, đủ cho mười mấy con sói một bữa no căng.

    Tiểu Thiện ngã xuống đất, vừa lăn vừa bò, có lẽ là do khát vọng sinh tồn, hoặc là do đàn sói đang mải cắn xé con ngựa, không để ý đến cô, nên cô đã trèo được vào một hang đá, vần mấy tảng đá chặn kín cửa hang.

    Lũ sói ăn thịt con ngựa xong, lại xúm xít trước cửa hang, kiên nhẫn chờ cô trở ra.

    Nhưng đến tối hôm qua, lũ sói rình bên ngoài cứ như nghe đã thấy lời hiệu triệu nào đó, đều bỏ đi một cách lạ lùng_

    Đây là câu chuyện đầy ai oán mà Tiểu Thiện đã kể lại cho chúng tôi.

    - Tôi đã nói rồi, cái lão đạo sĩ mũi trâu ấy chẳng phải cái giống gì tốt đẹp, thật không bằng cầm thú!

    - Đại sư huynh nổi giận - Này cô, cứ yên tâm, lần sau ông đây mà gặp được thằng già ấy, sẽ đục mấy cái lỗ thông trên người lão, để báo thù cho cô!

    Tiểu Thiện chỉ cười buồn bã, rồi đặt tấm gương vào tay tôi:

    - Tấm gương này là bà ngoại để lại cho mẹ tôi, mẹ tôi để lại cho tôi.

    Tôi muốn về nhà, anh mang tấm gương này về, tôi cũng sẽ về được theo...

    Tôi đang ngẫm nghĩ nên an ủi Tiểu Thiện thế nào, thì cô đã thình lình giãy ra khỏi tay tôi, đập thẳng đầu vào tảng đá bên cạnh, "cộp" một tiếng, đầu vỡ toác mà chết...

    Tôi và đại sư huynh muốn kéo lại mà không kịp.

    - Thật đáng tiếc, một cô gái xinh đẹp đến thế...

    Đại sư huynh than thở.

    - Chết hơi oan uổng!

    - Tôi cũng nói.

    Tôi và đại sư huynh chỉ còn cách đi ra khỏi hang, rồi vần đá lấp kín cửa hang lại.

    Có lẽ đây là nơi an nghỉ tốt nhất của cô.

    Đại sư huynh vừa khuân đá, vừa hỏi tôi:

    - Vẹo này, nghe người ta nói, sư gia đã từng đọc cuốn sách Lỗ Ban.

    Nếu không, sư gia lấy đâu ra nhiêu năng lực thần kỳ đến vậy.

    Tôi giật thót cả mình, nhưng cũng không phủ nhận.

    Có điều bình tâm nghĩ lại, tôi thực sự không biết ông ngoại đã từng đọc cuốn sách Lỗ Ban hay chưa, càng không biết ông có cuốn sách Lỗ Ban không...

    Đại sư huynh cũng không hỏi nữa, chỉ nói:

    - Nghe nói cuốn sách đó cũng chắng phải thứ gì tốt đẹp, đọc rồi sẽ thành goá bụa, côi cút, cô độc, tàn tật....

    Tôi âm thầm sờ vào vật trong túi mình, nghĩ bụng: "Lẽ nào cái thứ ở trong tay mình lại là sách Lỗ Ban?"

    Nhưng tôi không nói gì, huống hồ bây giờ vẫn chưa phải lúc để nói ra.

    Tôi và đại sư huynh nhặt vài khúc xương ngựa, đẵn thêm ít cây bụi, trở về hang đá, đốt lửa lên, kể lại cho mọi người nghe chuyện của Tiểu Thiện.

    Tiền bốn mắt, nhóc Tứ Xuyên lôi cả mười tám đời tổ tông của Hoàng Đại Tiên ra chửi rủa thậm tệ.

    Chúng tôi đi suốt mười mấy ngày trời trong vùng núi hoang vu không một bóng người, về sau phải dựa vào việc bắt giết sơn dương và thỏ hoang để cầm hơi, rồi cũng bình yên vô sự thoát được ra ngoài.

    Một tháng sau, chúng tôi trở về Sơn Thành.

    Tôi để đại sư huynh và nhị sư huynh về nhà trước, sau đó cùng Tiền bốn mắt và nhóc Tứ Xuyên đến Giang Thành.

    Sau khi vào trọ trong khách sạn Hoa Phong tại Giang Thành, tôi mới hết sức thận trọng lấy cuộn lụa ra, từ từ trải rộng.

    Trên mặt lụa dày đặc những chữ, mặc dù tôi chỉ biết một chữ duy nhất, nhưng tôi có thể khẳng định: đây là một cuốn sách.

    Rốt cuộc, đây là cuốn sách gì?

    Tôi không biết.

    Suy nghĩ một lát, tôi mang cuộn lụa đến một hiệu photocopy, chia làm sáu lần photo lại toàn bộ, tức là mỗi lần chỉ photo một phần, sáu trang giấy xếp lại với nhau mới thành một bản hoàn chỉnh.

    Sau đó, tôi trở về khách sạn, gọi điện cho Tiền bốn mắt, hẹn hắn đi ăn cơm.

    Tiền bốn mắt rất cảm kích tôi, tôi vừa gọi điện thoại, hắn đã xuất hiện ngay.

    - Hôm nay tôi mời nhé!

    - Tiền bốn mắt đã thay một bộ complet chỉnh tề, chải chuốt gọn gàng sạch sẽ, đeo kính vào trông khá nho nhã lịch sự, rất ra dáng trí thức.

    Chúng tôi đặt một phòng riêng trong quán, gọi một bàn thức ăn, còn mở một chai rượu vang, vừa ăn vừa nói chuyện.

    - Anh Vẹo, lần này thật sự cảm ơn anh.

    Nếu không, cái mạng của tôi đã phải bỏ lại Tây Bắc mất rồi!

    - Tiền bốn mắt nâng chén rượu lên, chúng tôi cùng cụng ly.

    - Chuyện nhỏ thôi mà.

    Phải rồi đám lão Tống đã về chưa?

    - Tôi làm như không có chuyện gì, hỏi Tiền bốn mắt.

    - Không rõ!

    Thú thật, lão Tống biết tôi là tiến sĩ của trường đại học Giang Thành, nhưng tôi lại chẳng biết lão sống ở đâu, thậm chí không rõ lão có những tài sản gì?

    - Tiền bốn mắt thành thật trả lời tôi.

    Tôi gật đầu:

    - Nhóc Tứ Xuyên đâu?

    - Nhóc Tứ Xuyên cùng tôi trở về đến đây thì chia tay luôn, không biết cậu ta đã đi đâu!

    - Tiền bốn mắt ngẫm nghĩ một lúc - Thật ra, bây giờ tôi đã hiểu rồi, có lẽ lão Tống chuyên nghề mua bán, buôn lậu đồ cổ, khảo sát khoa học cái nỗi gì, chỉ là cái vỏ mà thôi...

    - Mặc kệ lão, chỉ cần chúng ta vẫn còn sống đã là may mắn rồi!

    - Tôi cũng liên tục nâng cốc, sau khi cùng Tiền uống đã ngà ngà, liền nói - Tiến sĩ Tiền, người anh em này muốn nhờ anh giúp đỡ một việc!

    - Chỉ cần nằm trong khả năng của tôi, tuyệt đối không từ chối.

    - Tiền bốn mắt mặt mũi đã đỏ gay.

    - Tôi có mấy chữ cổ không đọc được, muốn nhờ anh dịch giúp...

    Chính là cái chữ đại triệu mà anh nói đấy...

    - Tôi nói.

    - Xong ngay!

    - Tiền bốn mắt lập tức đồng ý.

    Ăn cơm xong, tôi đi thanh toán, nhưng Tiền bốn mắt dứt khoát tranh giành trả tiền.

    Sau đó chúng tôi gọi một chiếc taxi, trở về khách sạn nơi tôi đang ở.

    Tôi lấy ra bút và giấy đã chuẩn bị sẵn từ trước, sau đó đưa một tờ photo cho Tiền bốn mắt xem.

    Tiền bốn mắt chẳng nói năng gì, lập tức cắm đầu vào dịch.

    Chẳng mấy chốc, hắn đã dịch xong một tờ, cũng chỉ hơn nghìn chữ.

    Tôi lấy một tờ khác đưa cho Tiền bốn mắt dịch tiếp, rồi cầm lấy tờ giấy hắn vừa dịch xong đọc kỹ một lượt.

    Trong đó có đoạn: " Bùa tàng hình, tàng hình tàng hình tàng hình thực, tàng tại Chân Võ đại tướng quân.

    Tay trái nắm lấy ba hồn, tay phải nắm bảy phách.

    Tàng tại nơi nào tàng tại đáy biển Ba La.

    Trời che đất, đất che trời, vén mở mây mù thấy trời xa.

    Một nghìn tà sư tìm không thấy, một vạn tà sư tìm không ra.

    Nếu có tà sư đến tìm thấy, trời giáng sấm sét hoá tro tàn.

    Khẩn cầu Nam Đẩu lục tinh,Bắc Đẩu thất tinh, ta phụng mệnh Thái Thượng Lão Quân, gấp gấp như luật lệnh, hiệu lệnh...

    "

    Phía sau còn có bùa kim quang, phép đoạt hồn, phép thu tà...

    Tiền bốn mắt chỉ phiên dịch có hơn tám nghìn chữ, nhưng đã phải dùng tới năm tiếng đồng hồ.

    Hắn dịch hết sức nghiêm túc, trong lúc dịch, về cơ bản không nói với tôi câu nào.

    Năm con chữ cuối cùng là năm chữ đầu tiên của cuộn lụa, trong đó có một chữ "hạ" tôi đã từng thỉnh giảo Tiền bốn mắt.

    Lúc đầu, tôi copy riêng rẽ từng chữ một, sau đó lại đưa từng chữ cho Tiền bốn mắt phiên dịch.

    Hắn đã dịch ra, là Ban, thư, quyển, Lỗ.

    Lỗ Ban thư, quyển hạ!

    Trong lòng tôi chấn động dữ dội.

    Thứ mà tôi tìm thấy, chính là quyển hạ của sách Lỗ Ban.

    Thế nhưng, những lời chú kia, có tác dụng gì?

    - Anh Vẹo, những thứ ly kỳ cổ quái này là gì thế?

    - Cuối cùng Tiền bốn mắt cũng ngẩng đầu lên, ngơ ngác hỏi tôi.

    - Đây là cuốn sách ông ngoại để lại cho tôi, tôi không biết trong đó viết gì, nên mới nhờ anh dịch.

    - Tôi giả bộ tỉnh bơ.

    Đương nhiên, tôi không thể tiết lộ, đây chính là cuốn sách lấy được từ núi Côn Lôn.

    Tiền bốn mắt cũng không nói thêm gì nữa.

    Hắn vừa uống nhiều rượu, lại phải đánh vật mất mấy tiếng đồng hồ, chẳng mấy chốc đã ngủ say.

    Ngày hòm sau, sau khi Tiền bốn mắt tạm biệt để trở về trường học, tôi bèn chuyển sang một khách sạn khác, nghỉ ngơi một ngày, sau đó đến chợ xe cũ, mua một con Toyota làng nhàng, đồng thời hỏi thăm đường đến núi Ngũ Phượng.

    Núi Ngũ Phượng chỉ là một ngọn núi nhỏ, cách Giang Thành hơn hai mươi dặm về phía tây.

    Tòi phải mang tấm gương của Tiểu Thiện đến am cỏ, rồi mới trở về Sơn Thành...

    Núi Ngũ Phượng không cao, cũng không dốc, trên núi toàn là táo dại.

    Am Ngũ Phượng là một khu nhà, phía trước có một con sông nhỏ, một mảnh vườn rau, sau lưng dựa vào núi, hai bên là hai hàng táo tạo thành bức tường tự nhiên.

    Nơi đây chính là chốn ẩn cư của Hoàng Đại Tiên?

    Tôi thấy cửa am chi khép hờ, đoán là bên trong có người, tôi không hề có ý định vào trong xem đó là ai.

    Tôi vòng ra phía sau am, lấy tấm gương ra, tiện tay soi một cái.

    Trong gương, đôi mày cũa tôi hơi nhíu lại.

    Đúng thế, tôi không vui.

    Người con gái tôi yêu vẫn chưa biết sẽ thế nào, tôi làm sao có thể vui được?

    Tôi khẽ thở dài với tấm gương.

    Đột nhiên, tôi cảm giác có người đi qua sau lưng, đồng thời, trong gương cũng có một bóng người lướt qua rất nhanh, không kịp nhìn rõ là người nào, chỉ thấy tóc dài xoá tung...

    Tôi quay ngoắt đầu lại, sau lưng không một bóng người.

    Vào thời điểm này những cây táo đã rụng hết lá, cỏ mọc trên đất cũng úa vàng, héo hon tiêu điều, đừng nói là người, đến một con thỏ cũng không có chỗ nấp.

    Lẽ nào tôi bị hoa mắt?

    Tôi cũng không nghĩ ngợi nhiều, đặt tấm gương thẳng đứng vào trong cái khe giữa hai tảng đá nhỏ, lại nhổ nắm cỏ khô che lên trên, coi như đã hoàn thành tâm nguyện của Tiểu Thiện.

    Sau đó, quay ra, đi lên đường cái, lái xe về nhà...
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Chương 11: Đường Âm Dương


    Từ Giang Thành đi ra, dọc đường xe phóng như bay, khi trời sắp tối, tôi nhìn thấy một tấm bia đá, trên viết ba chữ: Cửa Thanh Ô.

    Lần trước, khi đi về cùng Lâm Tiểu Ngộ, trời đã tối, tôi không hề nhìn thấy tấm bia đá này; hôm nay nhìn thấy mới nhớ lại, nhà của Tần Ái Ni có lẽ ở lưng chừng núi.

    Vừa nhớ đến Tần Ái Ni, trái tim tôi bỗng dưng nảy lên một nhịp.

    Tôi không biết tại sao mình lại thường xuyên nhớ tới cô gái vốn chẳng hề có liên quan gì đến mình như vậy.

    Tôi chỉ đóng cho cô ta một cỗ quan tài thôi mà!

    Huống hồ, cô ta đã chết rồi, tôi còn tận tay đặt cô vào trong quan tài.

    Tôi giảm tốc độ xe.

    Từ xa, tôi đã nhìn thấy mấy gian nhà một tầng, và cả cái hồ tiếp nước mui, cho dù có ánh nắng mặt trời, nhưng trông vẫn vô cùng lạnh lẽo.

    Mẹ của Tần Ái Ni vẫn sống ở đây, trông coi ngôi nhà của mình?

    Tôi từ từ dừng xe lại bên đường, không vội xuống xe, mà nhìn qua cửa kính về phía cánh cửa.

    Cảnh cửa khép hờ.

    Tôi đang nghĩ xem có nên xuống hay không, nếu như gặp bác giá, cần phải nói những gì, thì thì cánh cửa bỗng hé thêm một chút, bác gái từ sau cánh cửa chậm rãi bước ra.

    Khuôn mặt bà tiều tụy, mái tóc bạc trắng.

    Ánh mắt có phần mệt mỏi, mờ đục, nhưng vừa nhìn thấy tôi, ánh mắt bà bỗng sáng lên chút ít.

    - Bác gái...

    - Tôi xuống xe, gọi một tiếng.

    - Cậu đến rồi?

    - Bác gái điềm đạm nói với tôi...

    - Cháu đi ngang qua...

    - Tôi đang nghĩ xem nên nói câu gì - Bác có mỳ không?

    Cháu xin một bát...

    Thực ra, tôi không hề đói.

    - Vào nhà đi!

    - Bà nói khẽ, rồi xoay người đi luôn vào trong nhà.

    Tôi đi theo sau bà, bước vào trong, mới phát hiện ra căn nhà vẫn giống hệt như trước đây, không hề thay đổi.

    Bác gái lấy cho tôi một chiếc ghế, nói với tôi:

    - Cậu nghỉ một lát, tôi nấu cho cậu chút điểm tâm.

    Đợi bà đi vào nhà bếp, tôi khẽ khàng đứng dậy, liếc mắt nhìn về căn phòng phía đông.

    Cửa phòng khép chặt, không nhìn thấy gì cả.

    Tôi nghĩ, không biết bác gái đã đưa Tần Ái Ni ra ngoài chôn, hay là vẫn ở trong nhà...

    Đang lúc suy nghĩ mông Iung, bác gái đã bưng một bát trứng ốp la vào, đặt lên mặt tủ phía trước tôi, cười mà nói:

    - Trên núi chẳng có món gì ngon...

    - Cảm ơn!

    - Tôi nói một câu khách sáo.

    - Lần trước tôi vẫn chưa cảm ơn cậu, cậu đã đóng cho Ái Ni một chiếc hòm, cậu đúng là người tốt.

    Đúng rồi, sao lần trước trời chưa sáng hai người đã đi rồi?

    Hai người thấy sợ phải không?

    - Bác gái ngồi trong quầy, hỏi tôi.

    - Không phải!

    - Tôi đáp.

    - Lần này không thấy vợ cậu đâu?

    - Bác gái lại hỏi tôi.

    - Cô ấy đang đi làm!

    - Tôi thoáng thẫn thờ, rồi khe khẽ thở dài một tiếng.

    Bà cúi thấp đầu, có lẽ tôi nói đến chuyện đi làm đã gợi cho bà nhớ đển con gái mình.

    Trứng ốp la rất đỗi thơm ngon, tôi vừa ăn vừa hỏi:

    - Bác gái!

    Làm ăn có tốt không?

    Bà lắc đầu:

    - Làm ăn tốt hay không cũng chẳng có ý nghĩa gì...Đây là nhà của tôi, tôi phải ở nhà mình...

    Tôi chợt hiểu ra ý của bà.

    Tôi ăn trứng xong, định trả tiền cho bà, nhưng bà dứt khoát không nhận, khiến cho tôi cảm thấy ngại ngần.

    Cuối cùng, tôi đành phải cáo từ rồi đi, nhưng lúc tôi lên xe, khởi động kiểu gì xe cũng không nổ máy.

    Thật quái lạ!

    Mặc dù tôi biết lái xe, nhưng chỉ biết một số cách sửa chữa đơn giản, tất nhiên không thể tìm được ra bệnh.

    Loay hoay cả tiếng đồng hồ, tôi nghĩ, chỉ còn cách gọi người đến sửa.

    Trong lúc tôi đang tất bật với cái xe, bác gái đứng trước cửa nhìn tôi, cuối cùng hỏi tôi:

    - Sao thế?

    Xe hỏng à?

    Không sửa được à?

    - Không biết là bị làm sao nữa...

    - Tôi cười nhăn nhó - Lúc nãy vẫn rất bình thường.

    Phải rồi, bác gái, ở gần đây có thợ sửa xe ô tô không?

    - Thôn Cổ Điếm có một thợ sửa xe.

    - Bà đáp.

    - Thôn Cổ Điếm cách đây bao xa?

    - Tôi hỏi.

    - Không xa!

    - Bà đứng bên hông nhà, đưa tay chỉ - Nếu cậu đi đường cái, hai tiếng đồng hồ mới đến nơi; nếu cậu đi đường mòn, nửa tiếng đồng hồ sẽ tới.

    Tôi có ấn tượng về hướng mà bà đang chỉ, phía trước là đường cái vòng quanh núi, có một khúc quanh lớn, cuối khúc quanh là một thôn làng.

    Thôn này năm ở hai bên đường cái, có vài quán xá, nơi đó chắc hẳn có thợ sửa xe.

    Tôi lấy điện thoại ra xem giờ, gần bốn giờ chiều, thời gian vẫn còn kịp.

    - Đường mòn đi thế nào?

    - Tôi lại hỏi bác gái.

    - Đi thẳng xuống theo con đường này, là một con đường độc đạo, giữa đường phải băng qua một khe nước, có ụ đá làm cầu...

    - Bà đáp.

    Tôi quyết định đi tìm thợ sửa xe, theo con đường mòn cách nhà bác gái không xa, đi thẳng xuống.

    Đây là một con đường lát bậc đá, chạy quanh co khúc khuỷu, một bên là núi, một bên là vực, cũng hơi dốc.

    Đi được mười mấy phút, lại đi lên đường cái, vì đường cái chạy vòng quanh núi, lúc nãy là trên núi, bây giờ đã ở dưới lưng núi rồi.

    Băng qua đường cái, lại là đường mòn, đầu đường một tấm bia đá, hay nói đúng hơn, là một tấm biển cảnh báo, bên trên viết: "Hãy lái xe cẩn thận.

    Ngày 13 tháng 7 năm 1989, một chiếc xe khách lớn đi từ Giang Thành đến Sơn Thành bị lật xuống cửa Thanh Ô, trên xe có bốn mươi tám người, chết bốn mươi sáu người.

    Vì hạnh phúc của bạn, gia đình bạn và người khác, xin hãy xe cẩn thận."

    Vụ tai nạn xe cộ này, tôi từng nghe thấy.

    Nghe nói, đó là vụ tai nạn xe cộ đặc biệt nghiêm trọng, thương vong nặng nề, ở Sơn Thành, Giang Thành không ai không biết.

    Nghe đồn, khi xe khách đi đến cửa Thanh Ô, đã là nửa đêm.

    Tất cả hành khách trên xe đều đang say giấc.

    Trong xe đột nhiên vang lên tiếng trẻ con khóc ré lên: "Mẹ ơi, con muốn xuống xe, con muốn xuống xe..."

    Là một đứa bé trai tầm sáu tuổi, bên cạnh nó là bà mẹ trẻ.

    - Con ngoan...

    đừng khóc, còn mười phút nữa là đã đến Cổ Điếm rồi, đến Cổ Điếm chúng ta sẽ xuống xe về nhà...

    Người mẹ vội vàng dỗ dành đứa bé.

    - Không, con muốn xuống xe ngay bây giờ, con muốn xuống xe ngay bây giờ!

    - Đứa trẻ tiếp tục khóc lóc ầm ĩ.

    Nó khóc quấy rất dữ dội, mặc kệ người mẹ dỗ dành thế nào, nó vẫn ra sức gào thét.

    Tiếng khóc khiến tất cả hành khách trên xe đều tỉnh giấc.

    - Tại sao lại muốn xuống xe?

    - Có người hỏi đứa bé.

    - Trong xe có ma!

    Lời đứa bé khiến mọi người chấn động.

    - Ma ở đâu ra?

    Thằng bé này đúng là bị ma ám!

    - Hành khách trên xe cười ồ cả lên.

    - Này nhà chị kia, dạy dỗ con cho đàng hoàng vào, nuông chiều quen thói, lớn lên không dạy nổi đâu!

    - Tài xế chắc hẳn tối kỵ nhắc đến chuyện ma quỷ, nghe vậy hơi bực bội, liền trách móc người mẹ trẻ.

    Chị ta vừa nghe lái xe nói mình nuông chiều con, liền lên giọng cãi vã, kết quả là giận dữ dẫn con xuống xe luôn, đằng nào thì cách nhà cũng chẳng bao xa nữa...

    Hai mẹ con vừa xuống xe chưa được bao lâu, cả chiếc xe đã lật nhào xuống vách núi, bốn mươi sáu con người, không một ai toàn mạng.

    Câu chuyện vẫn chưa kết thúc.

    Hai năm sau, khi người mẹ trẻ đó dẫn con đi qua đoạn đường cái nơi chiếc xe khách năm xưa bị lật, đã bị một chiếc xe tải chở than đâm văng xuống núi, hai mẹ con đều chết thảm.

    Sau đó, câu chuyện này được người ta đồn thổi ầm ĩ, nói rằng đứa bé nhìn thấy trên xe toàn là ma, nên khóc lóc đòi xuống xe, thực ra là muốn cứu mạng những người trên xe, nhưng không ai để ý đến nó.

    Sống chết có số, người ta không thể chết nhầm, người phải chết thì không thể giữ được.

    Đứa trẻ vì đã tiết lộ thiên cơ, cuối cùng cũng không thể thoát được vận mệnh chết chóc cùng với người mẹ...

    Sống chết vô thường.

    Tôi đứng trước tấm bia, nhớ lại chuyến hành trình đến khe chết chóc ở núi Côn Lôn, bất giác lại nghĩ tới bốn chữ này.

    Sau đó, tôi tiếp tục đi.

    Chẳng mấy chốc đã xuống đến chân núi.

    Trước mắt tôi chính là con suối, giữa lòng suối có một dãy ụ đá dàng hàng ngang.

    Các ụ đá dài khoảng bảy tám thước, cao hơn ba thước, cách nhau chừng hai thước, xếp ngang sông để người ta qua lại, đây chính là cầu ụ đá.

    Nước sông gầm thét, cuốn cuộn tung trào.

    Bên bờ sông phía này, có một thiếu phụ mặc áo đỏ, bên cạnh chị ta là một cái gùi, đứng cạnh gùi là một thằng bé chừng bảy tám tuối.

    Thiếu phụ đang ngồi trên tảng đá cho người nghỉ chân bên bờ, tay gạt nước mắt.

    Đứa bé ngẩng đầu nhìn thấy tôi, chớp chớp đôi mắt to lay láy.

    Thiếu phụ ngẩng đầu liếc nhìn tôi, khuôn mặt đẫm lệ, vô cùng bi thiết.

    Tôi thấy thiếu phụ đang khóc, bên cạnh còn có cải gùi và một đứa trẻ, mặc dù qua cầu không phải việc gì khó khăn, nhưng cũng có ý muốn giúp đỡ chị ta.

    - Này chị, có muốn qua sông không?

    Tôi giúp chị mang gùi và thằng bé sang.

    - Tôi nói.

    - Thật ngại phải làm phiền anh!

    - Thiếu phụ áo đỏ chừng ba mươi tuổi, ngoại hình cũng không đến nỗi.

    - Không sao, tôi cũng phải qua sông mà!

    - Tôi vội nói.

    - Sao ơi, nắm chặt lấy tay chú, đi cùng với chú nhé!

    - Thiếu phụ thấy tôi nghiêm túc, nên cũng đồng ý.

    Tôi còn định đeo cái gùi cho chị ta, nhưng thiếu phụ áo đỏ lại lắc đầu, nói:

    - Không cần đâu, cái gùi này không nặng, tôi tự mang được.

    Tôi cũng không tiện nói gì thêm, bèn dắt tay bé Sao qua sông.

    Tôi là một người đàn ông khoẻ mạnh, dắt theo một đứa bé, đương nhiên chẳng có gì nặng nhọc, nhoáng cái đã sang đến bờ bên kia.

    Thiếu phụ áo đỏ vẫn còn ở giữa sông, rón rén bước từng bước một.

    - Mẹ ơi nhanh lên, mẹ ơi nhanh lên...

    - Bé Sao đứng trên bờ gọi.

    - Này Sao, mẹ cháu tại sao lại khóc thế?

    - Tôi tiện miệng hỏi.

    - Ông ngoại cháu chết rồi, tối nay canh đêm (canh linh cữu).

    - Bé Sao chẳng hề tỏ vẻ đau buồn, có lẽ nó vẫn còn là một đứa bé, không hiểu chết có nghĩa là gì.

    Tôi im lặng.

    - Ông ngoại cháu tên là Lý Hiếu Đức, sửa xe ở Cổ Điếm!

    - Bé Sao nói.

    - Cái gì?

    - Tôi thầm giật thột.

    Lẽ nào người thợ sửa xe mà tôi muốn tìm đã chết rồi hay sao?

    Tôi đang định hỏi thêm, thì thiếu phụ đã qua tới nơi, liên miệng cảm ơn tôi.

    - Này chị, chị đang về Cổ Điếm à?

    - Tôi hỏi thiếu phụ áo đỏ.

    Thiếu phụ gật đầu, mắt đỏ hoe:

    - Cha tôi chết rồi...

    - Người có sinh lão bệnh tử...

    -Tôi muốn nghĩ ra lời nào đó để an ủi chị ta, nhưng lại không biết phải nói gì.

    Lúc này, tôi lại thấy phía bờ kia có năm người đang qua cầu, thoáng chốc đã sang tới bờ bên này, băng qua bên cạnh chúng tôi.

    Năm người này đều tầm năm sáu mươi tuổi, bốn nam một nữ, đều mặc áo cánh dài màu đen, ai nấy gầy quắt, khuôn mặt trắng bợt, lạnh tanh vô cảm.

    Hơn nữa, mỗi người đều mang theo một loại nhạc cụ trên lưng, có nhị hồ, tỳ bà, trống, sênh, sáo.

    Những người này, âm khí nặng nề.

    Tôi sờ lên người mình theo phản xạ.

    Bình thường, khi đi đường ban đêm, tôi đều thích mang theo rìu và thước Lỗ Ban.

    Nhưng hôm nay là ban ngày, tôi không mang.

    - Họ là phường bát âm đến canh linh cữu cho cha tôi...

    - Thiếu phụ áo đỏ hạ giọng nói .

    Phường bát âm, chính là đội nhạc chuyên đánh gõ thổi những khúc nhạc bi thương rên rỉ sau khi có người chết.

    Vùng quê tôi cũng có phong tục này, nên tôi cũng không cảm thấy có điều gì quái lạ.

    Chẳng mấy chốc, đã nhìn thấy thôn Cố Điếm.

    Phường bát âm phía trước đã rẽ sang một con đường nhỏ khác, ngoặt qua một ngã rẽ, không thấy đâu nữa.

    Thiếu phụ áo đỏ dắt lấy bé Sao từ tay tôi, lễ phép cảm ơn, rồi cũng dẫn thằng bé đi theo họ.

    Tôi đi theo con đường còn lại, thêm mấy chục mét nữa đã lên được đường cái.

    Hai bên đường là vài nếp nhà cũ kỹ, đá xanh, gạch đỏ, ngói biếc, cổ kính, lặng lẽ.

    Đường cái xuyên qua giữa thôn.

    Cửa hiệu đầu tiên phía trước chồng chất mười mấy cái lốp xe cũ nát, trưng một biển hiệu sửa xe, bên trên còn thêm vài chữ: cứu hộ, vá săm...

    Một ông già đang ngồi trên ghế hút thuốc lá sợi, bên cạnh ông ta là một chiếc mô tô ba bánh.

    - Bác ơi, sửa xe...

    - Tôi vội đi tới gọi.

    Ông lão thủng thẳng ngẩng đầu lên, đưa mắt nhìn tôi, hỏi:

    - Xe bị hỏng trên đường à?

    Tôi gật đầu lia lịa.

    - Phải trả thêm ba mươi đồng tiền cứu hộ.

    - Ông nói.

    - Được!

    Ông hỏi qua về tình hình của chiếc xe, đưa hòm đồ lề lên chiếc mô tô ba bánh, bảo tôi lên xe, sau đó lái mô tô đến nhà của Tần Ái Ni.

    Trên đường, tôi đưa cho ông một điếu thuốc, hỏi:

    - Bác ơi, xin hỏi bác tên họ là gì?

    - Tôi họ Lý, tên là Lý Hiếu Đức.

    - Ông tươi cười trả lời tôi.

    Tim tôi đập lên thình thịch:

    - Ở thôn Cổ Điếm của bác có đông người sửa xe không?

    - Chỉ có một mình tôi, tôi đã sửa xe được mười mấy năm rồi.

    Cậu yên tâm, xe nào tôi cũng biết sửa, sửa không được không lấy tiền.- Lý Hiếu Đức nói.

    - Ở thôn Cổ Điếm của bác có nhiêu người họ Lý không?

    - Lưng tôi đã bắt đầu rịn mồ hôi lạnh.

    - Chỉ có mỗi nhà tôi họ Lý...

    - Lý Hiếu Đức nói.

    Tôi suýt chút nữa đã nhảy vọt khỏi xe.

    Lúc nãy rõ ràng tôi gặp một thiếu phụ áo đò, con trai chị ta nói ông ngoại tên Lý Hiếu Đức, làm nghề sửa xe ở thôn Cổ Điếm, đã chết rồi, thậm chí cả phường bát âm cũng đã đến, lẽ nào...

    Lẽ nào ở gần thôn Cổ Điếm còn có một người nữa tên Lý Hiếu Đức, cũng làm nghề sửa xe, vừa mới chết?

    Tôi cứ suy nghĩ bấn loạn, Lý Hiếu Đức cho rằng tôi sốt ruột, bèn nói với tôi:

    - Yên tâm, một lát nữa là đến rồi, nếu như hỏng hóc không nặng, chẳng mấy mà sửa xong...

    - Cháu không vội...

    - Tôi gắng gượng nặn ra một nụ cười.

    Vào giây phút này, tôi biết nụ cười của mình còn khó coi hơn cả khóc.

    Lý Hiếu Đức đi xe không nhanh.

    Khi đi ngang qua tấm bia cảnh báo, ông dừng xe lại, nhìn tấm bia đá, rồi bỗng thở dài một tiếng:

    - Này anh bạn trẻ, lái xe quan trọng nhất là phải đảm bảo an toàn!

    Tôi gật đầu:

    - Bốn mươi sáu người, thương vong thật thảm khốc - Lý Hiếu Đức bỗng lắc đầu:

    - Không phải bốn mươi sáu, mà là bốn mươi tám người...

    - Còn hai người nữa là ai?

    - Tôi đã biết rõ, nhưng vẫn cố tình hỏi.

    Lý Hiếu Đức nhìn sững tấm bia đá, thở dài một tiếng:

    - Còn có con gái Lý Linh và cháu ngoại Sao của tôi…

    Hai năm sau đó, hai mẹ con nó cũng bị xe đâm văng xuống vách núi ở cùng một chỗ...

    Ông trời ơi!

    Quả tim của tôi như sâp bắn vọt ra ngoài.

    Thiếu phụ áo đỏ và thằng bé tên Sao tôi gặp lúc ban ngày, tự xưng là cháu ngoại của Lý Hiếu Đức, còn nói ông ngoại của nó đã mất, họ trở về nhà để đưa ma.

    Họ rõ ràng đã chết rất nhiều năm, tại sao lại cùng đi với tôi?

    Còn người mà họ nói là đã chết, thì lại đang ngồi cùng xe với tôi...

    Lẽ nào, đây chính là đường âm dương trong truyền thuyết?

    - Bác ơi, bác bao nhiêu tuổi rồi?

    - Tôi lại hỏi.

    - Năm nay bảy mươi ba rồi...

    - Lý Hiểu Đức lẩm bẩm.

    - Nếu con gái tôi vẫn còn sống, năm nay nó đã năm mươi ba, cháu ngoại tôi cũng hai mươi tám!

    Lý Hiếu Đức tiếp tục lái xe, đến trước cửa nhà Tần Ái Ni, bác gái đã lau rửa chiếc xe của tôi sạch bóng.

    Tôi nói lời cảm ơn, bà chỉ cười lặng lẽ, không nói năng gì.

    Trước tiên, Lý Hiếu Đức kiểm tra một hồi, rất nhanh chóng, ông đã sửa xong.

    Tôi trả cho ông một trăm đồng, Lý Hiếu Đức nhất quyết trả lại tôi năm mươi đồng, sau đó thu dọn đồ lề trở về.

    Xe của tôi đi sau xe của Lý Hiếu Đức.

    Đến Cổ Điếm, trời đã sập tối, xám mờ mịt một màu.

    Tôi muốn nghĩ lại Cổ Điếm một đêm,

    Cổ Điếm có một quan trọ, biển hiệu là quán trọ Thuận Phúc.Từ ông chủ đến tạp vụ quán trọ đều là một người khoảng sáu mươi tuổi, đeo một cặp kính lão, đội mũ vỏ dưa, để ria chữ bát, người gầy guộc, mặc tấm áo dài màu

    xám, cứ như vừa mới bước ra từ thời cổ đại, tên là Vương Thuận Phúc.

    Quán trọ này có khu trước và khu sau, không hề nhỏ, khu trước có đến mười phòng khách.

    Giữa khu trước và khu sau có một cánh cửa, trên cánh cửa có một ổ khoá đồng lớn, đã gỉ sét loang lổ, thoạt nhìn đã biết được khóa

    nhiều năm.

    Vương Thuận Phúc dẫn tôi lên phòng số sáu ở tầng hai, vừa mở cửa nhìn, đã cảm thấy một luồng lạnh lẽo.

    Bên trong có một chiếc bàn, hai chiếc ghế, một chiếc giường, là chiếc giường khung kiểu dáng cũ kỹ, treo sẵn cả màn.Trên bàn có một ngọn đèn bão, hình thù vuông vắn,bên ngoài có một khung sắt, bốn phía che kính, kính đã sạm đen, rõ ràng niên đại đã rất lâu đời.

    Vương Thuận Đức nói:

    - Cổ Điếm không có đèn điện, chỉ có loại đèn chiếu sáng này thôi.

    Tôi cũng không nói gì thêm.

    Vương Thuận Đức hỏi tôi:

    - Quý khách muốn ăn gì không?

    Quán trọ có mỳ, bò sốt, đậu phụ khô, đậu phộng, còn có rượu khoai lang...

    Tôi nói:

    - Mang hết lên, làm nhiều một chút, thịt bò sốt cho đĩa to.

    Vương Thuận Đức gật đầu:

    - Tôi làm xong sẽ mang lên phòng cho anh.

    Tôi gật đầu.

    Trời đã tối hẳn, trên trời không có bóng trăng, cũng chẳng có ánh sao.

    Vương Thuận Phúc mang những thứ tôi đã gọi vào phòng, tôi liền mời ông ở lại cùng uống rượu.

    Vương Thuận Phúc cũng không từ chối, vui vẻ cùng ăn thịt, uống rượu với tôi.

    Thú thật, thịt bò sốt và đậu phụ khô thơm ngon tuyệt vời.

    - Bác ơi, quán trọ này hẳn cũng lâu năm rồi nhỉ?

    - Tôi đưa cho ông một điếu thuốc.

    Vương Thuận Phúc chậm rãi gật đầu:

    - Nhà họ Vương chúng tôi mở quán trọ ở đây đã được hơn trăm năm rồi.

    Nơi đây từng là con đường cái quan, buôn bán phồn thịnh một thời, nhưng gặp lúc chiến loạn, đã thành ra suy tàn.

    Bây giờ, phần lớn mọi người trong thôn đều đã dời lên thành phố, mấy đứa con của tôi đã chuyển đến Giang Thành hết cả.

    Thôn Cổ Điếm bây giờ, nhiều nhất chỉ còn vài chục người.

    Thế mà nơi đây đã từng là một thôn lớn có tới gần nghìn nhân khẩu...

    Tôi khẽ cười:

    - Bác cũng nên theo các con lên thành phố hưởng phúc mới đúng!

    Vương Thuận Phúc cười khẽ:

    - Người mệnh khổ, không hưởng nổi phúc, đã sống ở đây mấy chục năm trời, không nỡ rời đi!

    Tôi vội nói:

    - Tình quê sâu nặng mà!

    Vương Thuận Phúc uống một chén rượu, nuốt cạn nỗi buồn.

    - Bác này, khi tôi đến có nhìn thấy một tấm bia đá, trên bia đá viết có một chiếc xe khách bị lật xuống vực, bốn mươi sáu người thiệt mạng...

    - Tôi thử thăm dò.

    - Còn không à?

    Rất thảm khốc!

    Xác chết la liệt đầy đất, mấy trăm người trong thôn của tôi đều phải xuống vực khiêng xác chết...

    - Vương Thuận Phúc giống như trở về với hiện trường tai nạn năm đó.

    - Nghe nói khi đó có một đứa bé và một người mẹ trẻ xuống xe trước?

    - Tôi ngần ngừ một lát mới hỏi.

    Vương Thuận Phúc gật đầu nặng nề:

    - Chẳng thế?

    Chính là con gái và cháu ngoại của Lý Hiếu Đức thôn Cổ Điếm chúng tôi...

    - Lý Hiếu Đức là thợ sửa xe phải không?

    Hôm nay xe của tôi bị hỏng trên đường, đã nhờ bác ấy đến sửa, nhà bác ấy ở ngoài thôn!

    - Tôi nói.

    - Nhà ông ấy là nhà đầu tiên ở phía đông thôn...

    - Nhà bác ấy hôm nay có việc phải không?

    - Điều mà tôi muốn biết chính là phường bát âm kia, họ nói là đến nhà Lý Hiếu Đức.

    - Hình như là không!

    Mới chiều nay tôi còn hút thuốc với Lý Hiếu Đức, không thấy ông ấy nói trong nhà có việc.

    - Vương Thuận Phúc lắc đầu - Tôi và Lý Hiếu Đức từ nhỏ lớn lên cùng nhau, ông ấy có việc gì cũng đều nói với tôi!

    Tôi không hỏi gì thêm nữa, nhưng tôi đang nghĩ, phường bát âm kia hẳn cũng không phải con người.

    Họ là đội nhạc đến từ một thế giới khác, đã đi cùng một đoạn đường với tới...

    Tôi chuốc cho Vương Thuận Phúc khá nhiều, hai bên trò chuyện rất tâm đầu ý hợp.

    Sau đó, Vương Thuận Phúc không uống thêm nổi nữa, ông xách lấy ngọn đèn, tôi dìu ông chệnh choạng xuống cầu thang.

    - Anh bạn trẻ, tôi phải đi ngủ đây, đã lâu lắm rồi không uống như thế!

    Cậu cũng nghỉ sớm nhé!

    - Vương Thuận Phúc đi vào phòng mình, ngoảnh khuôn mặt đỏ gay lại nố với tôi.

    - Vâng thưa bác!

    Tôi lên lầu, đứng trên cầu thang nhìn xuống, cửa quán trọ không hề đóng.

    Quán trọ có một phong tục, đó là không được đóng cửa, đóng cửa có nghĩa là sập tiệm.

    Bên cạnh cửa treo một ngọn đèn bão, tỏa ra quầng ánh sáng

    màu đỏ cam.

    Bên ngoài là bóng đêm đặc quánh.

    Tôi giắt rìu và thước Lỗ Ban vào thắt lưng, tôi muốn đến nhà Lý Hiếu Đức phía ngoài thôn xem xét.

    Những người đi cùng tôi lúc ban ngày thật quá bí hiểm, không làm cho rõ ràng, thì lòng tôi không thể nào yên.

    Thậm chí tôi còn nghĩ, liệu có thể cứu Lý Hiếu Đức được không?

    Tôi xách theo ngọn đèn bão trong phòng, đặt cây đèn pin của mình vào trong túi, lặng lẽ ra khỏi cửa, biện nhận phương hướng một lát, rồi đi thẳng về phía đông.

    Trong thôn tử khí âm trầm, chỉ vài đốm đèn le lói.

    Đèn như đom đóm.

    Dưới bầu không, hơi sương mỗi lúc càng thêm dày đặc, trên mặt đã thấy lạnh toát.

    Tôi vừa bước lên một con đường mòn, liền nhìn thấy một người bám theo sau tôi, trong tay cũng cầm một ngon đèn bão.

    Trong đêm đen mù mịt, tôi không nhìn rõ hình dáng người đó, chỉ thấy bóng dáng có vẻ mong manh.

    - Chào bác, xin hỏi nhờ một chút, nhà Lý Hiếu Đức đi hướng nào?

    - Trong đêm tối, ánh đèn không mấy sáng, tôi nghĩ nếu đã gặp người, hỏi thăm sẽ dễ tìm hơn.

    - Đi theo tôi nhé!

    - Nghe giọng nói, biết là đàn ông tuổi tác cũng không còn trẻ nữa.

    Ông ta băng qua bên cạnh tôi, tôi cảm giác như có luồng gió lạnh thổi qua.

    - Xin hỏi quý danh bác?

    - Tôi xách đèn, đi theo sau ông ta, nhưng ánh đèn lờ mờ, không thể nào nhìn rõ được bộ dạng của người phía trước.

    - Không dám, họ Lưu, cứ gọi là ông Lưu thôi.

    - Ông cất giọng điềm đạm - Anh bạn trẻ, chắc cậu là thân thích trong nhà Lý Hiếu Đức phải không?

    Sao tôi chưa thấy cậu bao giờ nhỉ?

    - Không phải, cháu chỉ là người qua đường.

    - Tôi nói.

    - Ra thế...

    - Ông Lưu không nói thêm gì nữa, tiếp tục thong thả đi về phía trước,

    Đột nhiên, có tiếng nhạc bay dạt theo gió, chập chờn ẩn hiện, ai oán thê thiết.

    Ông Lưu rảo bước nhanh hơn một chút:

    - Âm thanh này phát ra từ nhà Lý Hiếu Đức đấy...

    Tôi không hỏi thêm gì, vì lúc này hơi rượu đã bốc lên ngùn ngụt, khiến tôi bạo gan hơn hẳn, thầm nghĩ bụng: Nhà ông ấy không có việc gì, tại sao lại có tiếng nhạc kiểu này?

    Thôi mặc kệ, ông đây chả sợ!

    Phía xa hắt lên ánh đèn mờ mịt, tiếng nhạc nghe càng rõ hơn, tiếng nhị hồ như khóc như than, tiếng sáo nỉ non thê thiết, tiếng sênh trầm buồn văng vẳng...

    "Tùng tùng tùng!”

    Đột nhiên, một hồi trống vang lên, ban đầu còn chậm rãi, càng về sau càng dồn dập.

    Trước mắt tôi bỗng sáng bừng.

    Trong một khoảng sân, treo một ngọn đèn bão, bên dưới ngọn đèn, một thiếu nữ áo trắng váy trắng đang nhảy múa.

    Cách đó không xa, mấy người áo đen ngồi túm tụm, chính là phường bát âm mà tôi đã gặp trên đường.

    Một thiếu phụ và một đứa bé trai đang quỳ dưới đất, chẳng phải chính là con gái Lý Linh và cháu ngoại Sao của Lý Hiếu Đức đấy ư?

    Tiếng trống càng lúc càng thêm cấp tập, như sấm giật mưa rào, thiếu nữ váy trắng nhảy múa càng nhanh, chỉ còn là một vệt sáng trắng, không còn nhìn rõ mặt...

    Một người xuất hiện trước mặt tôi, như không nhìn thấy tôi, cứ bước từng bước thẳng tới.

    Người này, lại chính là Lý Hiếu Đức.

    Ông đi về phía con gái và cháu ngoại mình,

    - Ông Lý...

    - Tôi đột nhiên sực nhớ ra Lý Linh và bé Sao đã chết từ lâu, lập tức gọi toáng lên.

    Tiếng nhạc đột nhiên tắt ngấm, không thấy phường nhạc đâu nữa, Lý Linh và bé Sao đang quỳ dưới đất vụt biến mất, thiếu nữ váy trắng đang nhảy múa cũng mờ dần...

    Cô ta không biến mất ngay lập tức, mà từ từ tan đi, như một màn sương khói.

    Trước tiên là áo váy tan đi, sau đó, cơ thể vỡ vụn, hoá thành sương mù.

    Cuối cùng, tấm mạng che mặt bằng sa trắng bay tung lên, hiện ra trước mặt tôi chỉ còn là một khuôn mặt, một khuôn mặt trắng bệch, một đôi mắt tuyệt vọng, và một tiếng khóc thét thê thảm đến xé ruột:

    - Cứu tôi...

    Thiếu nữ nhảy múa, sao lại là Tần Ái Ni...

    - Ai gọi tôi thế?

    - Một giọng nói như vừa sực tỉnh từ trong mộng, là giọng của Lý Hiếu Đức - Sao tôi lại ở đây?

    Sao tôi lại ở đây?

    Gió thốc lạnh buốt.

    Tôi rùng mình ớn lạnh, hơi rượu lập tức tan biến sạch trơn.

    Nhờ ánh sáng đèn bão, tôi đã nhìn thấy rõ, tôi đang đứng trước một đám mộ nhấp nhô, Lý Hiếu Đức đang đứng bên cạnh một ngôi mộ, ngọn đèn bão của ông đặt trên đỉnh mộ, bên cạnh ông là một hố sâu, dưới hố lổn nhổn những đá.

    Nếu như lăn cổ xuống hố, đúng là lành ít dữ nhiều.

    - Ông đứng yên!

    - Tôi xách đèn, chỉ vài bước đi lại gần, ánh đèn chiếu sáng lên người ông.

    Lý Hiếu Đức vẫn chưa hết kinh hãi, đứng ngay tại chỗ.

    - Ông lại đây!

    - Tôi vẫy tay với ông.

    Lý Hiếu Đức đi về phía tôi, khi đi qua ngôi mộ, ông xách ngọn đèn của mình lên, sửng sốt hỏi tôi:

    - Sao tôi lại đến đây nhỉ?

    Tôi không biết phải giải thích thế nào.

    - Chẳng phải cậu là anh bạn bị hỏng xe đấy à?

    Sao cậu lại ở đây?

    - Lý Hiếu Đức đã nhận ra tôi.

    - Tôi nghỉ lại trong quán trọ Thuận Đức,sáng sớm mai sẽ đi.Tôi rảnh rỗi nên đi dạo loanh quanh, thì nhìn thấy ông nên mới gọi ông - Tôi nói.

    - Quái lạ nhỉ?

    Đây chẳng phải là mộ của ông Lưu hay sao?

    Sao tôi lại đến đây thế nhỉ?

    - Lý Hiếu Đức kinh ngạc không để đâu cho hết.

    - Tôi đưa bác về nhé!

    Tôi nói.

    - Phải trở về thôi, nửa đêm nửa hôm, người nhà sẽ lo lắng - Lý Hiếu Đức nhúc nhắc bước đi từng bước, cuối cùng cũng sực tỉnh - Hôm nay tôi uống hơi quá chén, chẳng hiểu sao lại chạy đến đây.

    Đúng là có tí tuổi, không thể uống nhiều!

    Uống vào là hỏng bét cả!

    Tôi đưa Lý Hiếu Đức về đến tận của nhà.

    - Cảm ơn cậu, anh bạn trẻ!

    - Lý Hiếu Đức đứng trước cửa, nói với tôi.

    - Không có gì, ông nghỉ ngơi sớm đi!

    - Tôi nói.

    Đợi Lý Hiếu Đức đi vào trong nhà, đóng cửa lại, tôi mới quay người, cách ngọn đèn bão lớn, trở về quán trọ Thuận Phúc.

    Ngọn đèn bão treo trước cổng quán trọ Thuận Phú hắt bóng vàng vọt, quán trọ lặng phắc như tờ.

    Tôi lên lầu, nhẹ nhàng đẩy cửa, đặt ngọn đèn lên mặt bàn.

    Nhìn thấy đám thức ăn thừa và rượu còn sót lại, tôi bỗng cảm thấy hơi đói bụng.

    Tôi đánh chén sạch bách toàn bộ thức ăn và rượu còn sót lại.

    Độ nặng của rượu khoai lang đã vượt xa tưởng tượng của tôi.

    Tôi cảm thấy buồn ngủ ghê gớm, đầu óc mơ mơ màng màng, nhưng vẫn chưa ngủ thiếp đi.

    Cũng không biết đã trôi qua bao lâu, tôi nghe thấy có tiếng đẩy cửa sổ khẽ khàng, một luồng gió lạnh thổi thốc vào trong.

    Tôi lập tức tỉnh như sáo.

    Nhưng tôi không ngồi dậy, vì tôi cảm giác thấy có người đang đứng ngoài cửa sổ.

    Tôi không sợ.

    Rìu và thước Lỗ Ban vẫn ở bên tôi.

    Nếu là kẻ cướp, tôi sẽ dùng rìu; nếu là ma quỷ, tôi sẽ dùng thước.

    Huống hồ bản thân tôi cũng là cường đạo, chuyên môn nửa đêm khuya khoắt mò vào nhà người ta, chưa bao giờ biết sợ bất cứ điều gì.

    Ngoài cửa sổ, vẳng lại tiếng gọi khe khẽ:

    - Lưu Bất Chính, Lưu Bất Chính...

    Là tiếng gọi rất đỗi bi thương của một cô gái.

    Tôi từ từ mở mắt ra.

    Giường tôi nằm cách cửa sổ chỉ vài mét, mặc dù ánh đèn mờ tối, nhưng vẫn có thể nhìn thấy rõ ràng: bên cửa sổ, là nửa thân trên của một cô gái, áo váy trắng muốt, không một mảy bụi, tóc rủ xõa vai, mặt che một lớp sa màu trắng, không nhìn rõ mặt.

    - Cô là ai?

    Sao lại biết tên tôi?

    - Tôi từ từ ngồi dậy.

    - Anh lại không biết tôi là ai ư?

    - Giọng nói vô cùng thất vọng, tựa như trái tim cô vừa bị xé tan tành, đau đớn khó kham.

    Tôi ngẩn người:

    - Cô che mặt, tôi nhìn không rõ!

    Cô gái im lặng, nhưng tôi có thể nhìn thấy dòng lệ của cô đang lăn dài trên má, lóng lánh như ngọc.

    Tôi nghe rõ tiếng giọt lệ vụn vỡ.

    Tôi cảm thấy mủi lòng:

    - Bên ngoài lạnh, cô vào đi...

    Cô gái cất giọng u uất:

    - Tôi không lạnh!

    Cuối cùng tôi cũng đã nghe ra:

    - Cô là Tần Ái Ni?

    Cô gái gật đầu.

    Tôi lạnh nhạt nói:

    - Chẳng phải cô đã chết rồi hay sao?

    Tôi còn đóng cho cô một cỗ quan tài, tận tay đặt cô vào trong rồi cơ mà.

    Cô là ma?

    - Tôi chưa chết, tôi cũng không phải là ma, tôi khát lắm... tôi muốn uống nước...

    - Giọng nói của cô hết sức đáng thương.

    - Tôi rót nước cho cô!

    - Tôi rót một bát nước đến bên cửa sổ, cô vươn hai tay ra nhận lấy bát, chạm phải tay cô, đôi tay lạnh ngắt như đá.

    Đột nhiên, cơ thể cô bỗng loang ra tứ phía, hệt như sương tan, rồi biến mất.

    Hình ảnh cuối cùng xuất hiện trước mắt tôi là khuôn mặt trắng bệch, một cặp mắt vô vọng, một tiếng khóc thét thê thiết: “Cứu tôi...”

    - Tần Ái Ni!

    - Tôi hét to một tiếng, lật người ngồi bật dậy, mới biết mình vừa nằm mơ.

    Cửa sổ đúng là đã mở, gió lạnh thốc vào giá buốt.

    Ánh đèn hiu hắt.

    Thì ra là một giấc mơ.

    Tôi đưa tay dụi mắt, tự lẩm bẩm một mình, sau đó ngẩng đầu nhìn ra ngoài cửa sổ.

    Bên ngoài xám mờ mịt, lặng ngắt, chỉ có gió khe khẽ nỉ non.

    Sau đó, tôi lại ngủ tiếp.

    Không biết đã qua bao lâu, tôi lại mơ thấy giấc mơ gần như tương tự.

    Trong mơ, vẫn là Tần Ái Ni đứng bên cửa sổ, nói với tôi rằng cô rất khát, cô muốn uống nước.

    Đến khi tôi mang nước tới, vừa chạm vào tay cô, thì cô lập tức vụt tan như sương khói, chỉ còn vẳng bên tai tôi một tiếng khóc thét: “Cứu tôi!”

    Hai lần liên tiếp mơ thấy một giấc mơ giống nhau, tôi không còn cảm thấy buồn ngủ nữa.

    Sao lại như thế được?

    Lẽ nào đúng là Tần Ái Ni chưa chết?

    Nhưng thời gian đã qua mấy tháng rồi...

    Chuyện chết rồi lại hồi sinh, tôi biết cũng không ít, cũng chẳng phải chuyện quái lạ.

    Bất kể thế nào, tôi vẫn quyết định quay lại, âm thầm quan sát, vì tôi đoán quan tài của Tần Ái Ni vẫn còn ở trong nhà.

    Nếu như nói với bác gái, bà ta chắc chắc sẽ không đồng ý, tôi chỉ muốn nhân lúc bà không có mặt, lén mở quan tài ra.

    Nếu như cô ta đã chết, tôi sẽ lặng lẽ rời đi, như vậy thì thần không biết, quỷ không hay.

    Nếu cô ta vẫn còn sống, bác gái cũng sẽ không trách tôi.

    Hơn nữa, tôi còn để lại cửa sống trên quan tài của Tần Ái Ni.

    Để lại cửa sống, đây là lương tâm cần có của những thợ mộc đóng quan tài như chúng tôi.

    Nếu một người chết không bình thường, khi đóng quan tài, nên để lại mấy cái lỗ thông khí, để phòng người trong quan tài có sống lại cũng không bị chết ngạt.

    Chuyện như vậy mặc dù không nhiều, nhưng không phải là không có.

    Vì vậy, thợ mộc chúng tôi cần có lương tâm, chẳng thà bỏ thêm chút công sức, cũng không được giết nhầm một con người.

    Ý đã quyết, tôi lặng lẽ ra khỏi cửa.

    Trời đã lờ mờ sáng.

    Tôi mở cửa xe ra, khởi động, lộn ngược trở lại.

    Nửa giờ sau, tôi đã ở trên đỉnh núi, cách nhà Tần Ái Ni không bao xa.

    Tôi dừng xe lại bên vệ đường, cầm lấy rìu và thước thẳng.

    Trời đã sáng bảnh, cả vùng núi tịch mịch như tờ.

    Tôi âm thầm lẻn đến bên nhà Tần Ái Ni, nép ở góc tường, cánh cửa phía trước đã khoá chặt, chứng tỏ bác gái vẫn ở trong nhà.

    Tôi vòng sang phía đông, áp tai vào cửa sổ nghe ngóng, thấy bên trong có tiếng bước chân người đang đi lại.

    Hơn nữa, còn đi đến bên cạnh cửa sổ.

    Tôi vừa rụt đầu xuống, cửa sổ đã bị đẩy ra một khe hở,bên trên vọng ra một giọng nói yêu thương vô hạn:

    - Ni Ni, trời sáng rồi, mẹ đi ra ngoài một lát sẽ về ngay với con...

    Tiếng bước chân xa dần, có tiếng đóng cửa vọng lại.

    Đúng là trời đã giúp tôi.

    Tôi mở toang cửa sổ, vụt một cái đã tung người nhảy vào trong.

    Quan tài của Tần Ái Ni vẫn ở trong phòng.

    Tôi tiến lại gần một góc quan tài, trong lòng bỗng chốc vui mừng tột độ, vì ở đó có một cái lỗ thông khí to bằng hạt đậu.

    Nếu như Tần Ái Ni đã thối rữa, thì mùi hôi thối sẽ từ bên trong bốc ra, nhưng tôi lại không thấy có mùi phân huỷ, ngược lại, còn ngửi thấy một hương thơm phảng phất.

    Tôi chẳng kịp nghĩ ngợi gì nhiều, lấy ngay rìu ra, nhằm đúng kẽ hở trên nắp quan tài, lưỡi rìu cắm phập vào kẽ hở, bẩy mạnh lên trên, nắp quan tài “rắc” một tiếng bung ngay ra...

    Tim tôi đập lên thình thịch, tôi gắng gượng kìm chế cơn kích động, từ từ cúi đầu xuống.

    Đập vào mắt tôi đầu tiên, là một đôi mắt long lanh trong suốt.

    Tân Ái Ni đang mở mắt, sắc mặt cô trắng bệch, khoé miệng khẽ động đậy một cái, nhưng tôi đã nghe rõ, cô chỉ nói một chữ:

    - Nước...

    Cô vẫn còn sống.

    Đúng là cô vẫn còn sống.

    Không còn chuyện gì có thể ly kỳ hơn thế nữa.

    Tôi đẩy nắp quan tài sang một bên, nói khẽ với cô:

    - Tôi tìm nước cho cô...

    - Rồi cúi đầu nhìn xung quanh.

    Trên mặt tủ bên giường của bác gái có một phích nước nóng.

    Tôi mở nắp ra, đặt tay trên miệng phích, cảm giác có hơi nóng bốc lên, vội tìm một chiếc bát rót ra.

    Tôi uống trước một hớp, thấy nhiệt độ vừa phải, mới từ từ nâng cổ cô lên, đặt bát nước vào môi cô.

    Tôi vừa cho cô uống mấy hớp, đã nghe thấy bên ngoài có tiếng bước chân.

    Bác gái đã trở về.

    Quả nhiên, bác gái đã nhẹ nhàng đẩy cửa bước vào, bà nhìn thấy toàn bộ sự việc trước mắt, cứ như đang trong giấc mộng.

    Trong tưởng tượng của tôi, một người phụ nữ nông thôn bình thường, nếu nhìn thấy cô con gái đã chết mấy tháng đột nhiên sống lại, không sợ chết khiếp cũng phải la hét ầm ĩ, nhưng phản ứng của bà lại hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của tôi.

    - Ái Ni, con gái của mẹ, cuối cùng con cũng đã trở về...

    - Bà lao đến, ngã sụp xuống trước quan tài, khóc nức nở.

    Tần Ái Ni nằm trên tay tôi, có lẽ cô cũng chẳng còn hơi sức để cử động, nhưng hàng mi của cô khẽ lay, hai giọt nước mắt trong veo lăn xuống.

    Lúc này, tôi mới nghĩ đến việc cần tìm một bác sĩ cho Tần Ái Ni.

    Nhưng cô vừa mới tỉnh dậy, tất nhiên không thể để cô ngồi xe chịu xóc.

    - Bác gái, vùng này ở đâu có bác sĩ, cháu đi gọi bác sĩ...

    - Tôi bình tĩnh hỏi bà mẹ.

    - Gần đây chỉ có thôn Cổ Điếm có bác sĩ.

    - Bà nói.

    - Bác gái, bác ở đây chăm sóc Ái Ni, cháu đi mời bác sĩ đến!

    - Tôi từ từ đặt Tần Ái Ni xuống.

    Đôi môi cô khẽ mấp máy, ánh mắt đầy quyến luyến.

    Tôi biết cô muốn nói gì, liền nói khẽ với cô:

    - Cô yên tâm, tôi nhất định sẽ quay lại...

    Nước mắt cô đầm đìa trên mặt.

    Tôi buông cô xuống, chạy ra khỏi cửa, lao thẳng tới chỗ chiếc xe.

    Tôi lái xe đến Cổ Điếm, vừa nhìn đã thấy Vương Thuận Phúc từ quán trọ đi ra.

    Ông cũng đã nhìn thấy tôi, ngạc nhiên hỏi:

    - Cậu đi đâu thế?

    - Trong thôn này, ai là bác sĩ?

    - Tôi hỏi gấp gáp.

    Vương Thuận Phúc đưa tay chỉ, cách đó khoảng hai trăm mét, một chữ thập đỏ hiện ngay trước mắt tôi.

    Cửa hiệu thuốc vừa mở ra, một ông lão đang quét dọn.

    Tôi chẳng kịp nói năng gì với Vương Thuận Phúc, lập tức lái xe lao thẳng đến, hét lên thật lớn:

    - Bác sĩ, cứu với!

    Ông lão tầm năm sáu chục tuổi, trông quắc thước minh mẫn, ông điềm đạm liếc nhìn tôi, rồi chậm rãi hỏi:

    - Chàng trai, đã xảy ra chuyện gì?

    Cứu ai?

    Tôi nhảy phắt xuống xe, cả cửa xe cũng chẳng kịp đóng:

    - Có một cô gái, ngủ mấy tháng rồi, hôm nay tỉnh dậy...

    Bác sĩ gật đầu:

    - Ở đâu?

    Tôi ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

    - Ở cửa Thanh Ô...

    Bác sĩ thình lình hỏi lại:

    - Có phải là nhà họ Tần không?

    - Cái gì?

    Bác biết à?

    - Tôi giật mình kinh ngạc.

    - Đừng lo, sự việc không nghiêm trọng, tôi sắp xếp ít đồ đạc rồi sẽ đi cùng cậu!

    - Bác sĩ trở vào phòng khám, chẳng mấy chốc, đã khoác một hòm thuốc đi ra, lên xe của tôi.

    Tôi vừa lái xe, vừa kinh ngạc hỏi:

    - Bác sĩ, sao bác lại biết?

    Đi hành nghề y ở sơn thôn này đã mấy chục năm, chưa bao giờ gặp chứng bệnh nào kỳ quặc như nhà họ Tần..- Bác sĩ chậm rãi kể cho tôi nghe một câu chuyện...

    Bác sĩ họ Kim, mọi người đều gọi bác là bác sĩ Kim, tổ tiên ba đời đều hành nghề y, mặc dù chẳng phải là cứu nhân độ thế gì, nhưng cũng đã cứu được không ít nhân mạng.

    Khoảng hơn hai mươi năm về trước, nửa đêm khuya khoắt, cửa hiệu thuốc nhà họ Kim vang lên tiếng đập thình thình.

    Trong sơn thôn, thường xuyên có người nửa đêm đến tìm bác sĩ.

    Còn làm một bác sĩ, chữa bệnh cứu người, đương nhiên là phải đi.

    Dù sao, nếu không phải là bệnh nặng, thì ai lại nửa đêm hộc tốc đến tìm bác sĩ?

    Lúc đó, bác sĩ Kim và cha mình trông coi hiệu thuốc.

    Bác sĩ Kim ra mở cửa, đứng bên ngoài là một phụ nữ trẻ, trên lưng cũng một đứa bé gái đang ngủ, tay cầm ngọn đuốc, vẻ mặt đầy đau đớn:

    - Bác sĩ ơi, cứu chồng tôi với...

    - Chẳng phải chồng cô đã chết rồi hay sao?

    - Bác sĩ Kim kinh ngạc.

    Thì ra, ba tháng trước, cũng vào buổi tối, cũng

    người phụ nữ này, cũng cõng theo một đứa bé gái đến tìm bác sĩ, nói rằng chồng của cô đột ngột hôn mê.

    Cha con bác sĩ Kim cùng đeo túi thuốc chạy đến, phát hiện chồng cô ta nằm trên giường gỗ, toàn thân lạnh toát, không hề động đậy.

    - Bác sĩ, cầu xin bác sĩ hãy cứu lấy chồng tôi!

    - Người phụ nữ van xin thảm thiết.

    Cha con bác sĩ Kim kiểm tra kỹ lưỡng, thấy người đàn ông toàn thân lạnh ngắt, hoàn toàn không có bất cứ một dấu hiệu sinh tồn, đành phải lắc đầu bất lực:

    - Không còn cách nào nữa, người đã đi rồi...

    Người đàn ông nằm trên giường, tên Tần Đông Lai, người phụ nữ kia là vợ của anh ta, Diệp Tiểu Hoa.

    - Chồng tôi chưa chết, anh ấy đã cử động, anh ấy đòi uống nước...

    - Lúc này, Diệp Tiểu Hoa mới nói với cha con bác sĩ, cô chưa hề chôn Tần Đông Lai, mà cứ để anh ta nằm trên giường trong nhà.

    Buổi tối hôm nay, nghe thấy tiếng la của chồng, cô vội bật dậy nhìn thấy chồng đã mở mắt, còn có thể nói năng.

    Hai cha con bác sĩ Kim hết sức kinh hãi và ngờ vực, nhưng trông Diệp Tiểu Hoa không giống như đang nói dối, hai cha con liền nhanh chóng đến nhà Tần Đông Lai.

    Quả nhiên, con người mà họ từng tuyên bố là chết rồi, giờ đúng là đã sống lại, miệng mấp máy, mạch cũng đã đập.

    Hai cha con bác sĩ Kim bèn truyền nước cho anh ta.

    Hai ngày sau, Tần Đông Lai đã có thể ngồi dậy.

    Mười ngày sau, lại làm việc không khác gì bình thường.

    Tần Đông Lai trước sau đã chết ba lần, cứ cách mấy năm lại chết một lần, mỗi lần chết ba tháng là tỉnh lại, sau khi tỉnh lại, chẳng khác gì so với bình thường.

    Tần Đông Lai chết thật trong một vụ tai nạn khi đang xây đường quốc lộ.

    Tần Đông Lai phụ trách khoét lỗ đặt mìn phá núi, anh ta đã đào tổng cộng mười ba cái lỗ mìn.

    Sau một tràng mìn nổ, Tần Đông Lai liền đứng dậy.

    Bên cạnh có người nói:

    - Sao tôi mới nghe thấy có mười hai tiếng nổ nhỉ?

    Chẳng phải anh đã đào mười ba cái lỗ mìn à?

    - Rõ ràng là có mười ba tiếng nổ...

    - Tần Đông Lai phủ nhận, còn cho rằng họ đang đùa mình.

    - Tôi chỉ nghe thấy có mười hai tiếng nổ!

    - Người bên cạnh anh nghiêm túc nói - Vừa rồi tôi có đếm đàng hoàng, vẫn còn một ngòi chưa nổ!

    - Rõ ràng tôi đã nghe thấy có mười ba tiếng nổ...

    - Tần Đông Lai sải bước đi luôn.

    Anh ta đi đếm các lỗ mìn đã nổ, khi đếm đến lỗ cuối cùng, anh ta phát hiện ra, lỗ mìn đó vẫn chưa nổ.

    Nhưng đúng vào khoảnh khắc đó, mìn đã nổ.

    Tần Đông Lai bị nổ tan xương nát thịt, đầu của anh ta bay đi đến mấy dặm, treo lủng lẳng trên một thân cây.

    Lần này, Tần Đông Lai mới chết thật.

    Tiếp sau đó là con trai của Tần Đông Lai tên Tần Tiêu Sơn, cũng chết giả ba lần, lần nào cũng chết một cách hết sức thần bí, rồi lại sống lại một cách thần kỳ, không tài này tìm ra được nguyên nhân.

    Tần Tiểu Sơn chết cách đây năm năm.

    Lúc đó, cậu ta mới hai mươi tuổi, tốt nghiệp đại học đi xe trở về nhà.Trên đường, một hòn đá cuội to bằng quả trứng vịt đập vỡ cửa kính bay vào, lao trúng đầu cậu ta, lập tức vỡ đầu phọt óc.

    Sau khi sự việc xảy ra, công an điều tra phát hiện ra rằng, thì ra hôm đấy, ở một công trường đá cách đó chừng mười dặm đang đặt mìn phá đá, không may một hòn đá cuội lăn xuống lỗ đặt mìn, công nhân phá đá cũng không để ý, cứ tiếp tục nhồi thuốc nổ.

    Thật chẳng ai ngờ

    được, hòn cuội lại có thể bay xa đến vậy, và còn nhắm chính xác vào đầu Tần Tiểu Sơn...

    - Gia đình này đúng là quái lạ hết sức...

    Đây là câu kết luận của bác sĩ Kim.

    Cuối cùng tôi đã hiểu ra, tại sao bác sĩ Kim lại không hề tỏ ra kinh ngạc.

    Tôi cũng thấy bình tĩnh trở lại.

    Ít nhất, Tần Ái Ni cũng không còn nguy hiểm đến tính mạng nữa..

    - Anh bạn, cậu có quan hệ thế nào với nhà họ Tần?

    -Bác sĩ Kim hỏi tôi,

    - Bạn bè.

    - Tôi suy nghĩ, có lẽ đây là câu trả lời xác đáng nhất.

    Bác sĩ Kim khẽ thở dài một tiếng:

    - Rất nhiều sự việc, thật không thể nào giải thích nổi!

    Sau khi đến nhà Tân Ái Ni, tôi bế cô từ trong quan tài ra, đặt lên trên giường.

    Bác sĩ truyền nước cô, căn dặn tôi một số kiến thức cơ bản về đổi bình huyết thanh, bảo tôi chăm sóc cô cẩn thận.

    Tôi tiễn bác sĩ Kim về, rồi nhanh chóng quay lại, vì nhìn vào mắt cô, tôi cảm nhận rất rõ, cô cần tôi, cô vẫn chưa hoàn toàn bình phục.

    Cứ thế liên tục mấy ngày trời, ngày nào tôi cũng đưa bác sĩ Kim đến truyền nước cho cô.

    Tần Ái Ni khoẻ lên từng ngày một.

    Cô rất ít khi nói năng với tôi, nhưng tay cô cứ thường xuyên kéo gấu áo tối, không cho tôi đi.

    Phải đợi đến khi cô đã hoàn toàn khỏe lại, tôi mới có thể ra đi.

    Những lúc không có việc gì làm, tôi lại lấy mấy trang sách Lỗ Ban photo ra, ngồi bên giường cô đọc.

    Thi thoảng, cô cũng nghiêng đầu sang nhìn, tôi nghĩ dù sao cô cũng không biết đây là thứ gì, nên cứ để kệ cho cô xem.

    Lúc đi đón bác sĩ, tôi cũng đặt bên giường cô...

    Một tối, bác gái đang nấu cơm dưới bếp, tôi ngồi bên giường của Tần Ái Ni xem sách Lỗ Ban.

    Tôi đã có thể đọc thuộc làu làu những thứ này, nhưng lại không biết chúng có tác dụng gì.

    Đột nhiên, Tần Ái Ni khe khẽ hỏi tôi:

    - Bất Chính, bạn gái... của anh đâu?

    Lòng tôi thắt lại, hồi lâu sau, mới nói:

    - Cô ấy đang ở nhà tôi...

    Tần Ái Ni từ từ cúi thấp đầu.

    Tôi cũng chẳng để tâm.

    Nhưng đột nhiên, tôi nghe thấy một âm thanh vụn vỡ, là tiếng nước mắt cô rơi xuống trang giấy.

    Trên tay cô đang cầm đọc một tờ giấy photo.

    - Anh về đi!

    - Cô nói.

    Tôi gật đầu:

    - Cô đã khoẻ chưa?

    Cô nói:

    - Tôi đã khoẻ rồi.

    Tôi chậm rãi đứng dậy, nói:

    - Vậy tôi sẽ đi bây giờ,

    Cô hơi ngập ngừng một thoáng,

    - Ăn cơm xong rồi hãy đi...

    Tôi lắc đầu.

    Cô cũng không giữ tôi nữa.

    Khi tôi ra đến cửa, cô gọi khẽ một tiếng sau lưng tôi:

    - Đợi một lát!

    Tôi đứng giữa cửa, quay người lại,

    Cô đã bước xuống giường, chầm chậm đi tới trước mặt tôi, khẽ mỉm cười:

    - Anh và bạn gái anh sẽ sống hạnh phúc suốt đời...

    - Nụ cười của cô đẹp biết nhường nào...

    - Cảm ơn! – Tôi cảm động nhìn cô.

    Tôi ra khỏi cửa, lên xe, sau khi khởi động, thấy cô vẫn đứng dựa bên khung cửa, nhìn tôi.

    Tôi vẫy tay với cô:

    - Tạm biệt!

    Cô cũng vẫy tay với tôi:

    - Nhớ giữ gìn...
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Chương 12: Lời Nguyền Của Phép Lỗ Ban


    Trở về đến nhà, đã là chập tối hôm sau.

    Ánh hoàng hôn đỏ rực như máu.

    Cỏ dại héo vàng hắt hiu trong gió lạnh.

    Tôi đi trên con đường mòn hoang vắng, tâm trạng rất đỗi nặng nề, vì tôi không biết phải đối mặt với Lâm Tiểu Ngộ như thế nào.

    Bây giờ Lâm Tiểu Ngộ ra sao, nàng có còn sống không?

    Nếu như nàng vẫn còn sống, tôi phải làm thế nào mới đánh thức được nàng?

    - Tần Ái Ni có thể sống lại sau mấy tháng chết đi, liệu Lâm Tiểu Ngộ có thể thế không?

    Bất giác, tôi lại nghĩ đến Tần Ái Ni.

    Tại sao tôi lại nghĩ đến Tần Ai Ni nhiều hơn Lâm Tiểu Ngộ?

    Tôi đứng giữa con đường mòn, cúi thấp đầu, nhìn xuống trước ngực mình...

    Từ giữa con đường vẳng lại tiếng chó sủa, là tiếng của con Mực.

    Tôi bừng tỉnh từ trong suy tư mải miết, vừa ngẩng đầu, con Mực đã lao đến bên chân, rối rít cọ người vào chân tối...

    - Mực... chúng ta về nhà thôi...

    - Tôi ngồi thụp xuống, đưa tay vỗ lên đầu con Mực.

    Con Mực hiểu được lời tôi nói, lập tức quay đầu chạy về.

    Mọi thứ trong nhà vẫn như xưa, chỉ có điều ông ngoại đã không còn nữa.

    Tôi đứng ở giữa nhà, điềm tĩnh nhìn khắp xung quanh, không hề có gì thay đổi.

    Tôi lấy ra một tảng thịt bò chín từ trong túi, đây là phần thưởng cho con Mực.

    Con chó tha miếng thịt bò đi ra ngoài cổng.

    Tôi vào phòng của ông ngoại, mở phiến đá chắn cửa tầng hầm ra, soi đèn pin đi xuống.

    Ánh đèn pin chiếu vào nơi Lâm Tiểu Ngộ nằm, tôi giật thót mình kinh hãi.

    Trên giường không hề có người!

    Tôi vội vã chạy sang phòng của ông ngoại và mẹ, cũng không thấy Lâm Tiểu Ngộ đâu.

    Tôi quay người chạy vọt ra ngoài cửa, gọi thật lớn:

    - Tiểu Ngộ!

    Con Mực đang nằm rạp trên đất, ăn miếng thịt bò.

    Tôi giật phăng miếng thịt bò khỏi miệng con Mực, nó ngẩng đầu lên, ngạc nhiên nhìn tôi.

    - Tiểu Ngộ đâu?

    Không thấy Tiểu Ngộ đâu nữa...

    - Tôi gần như gầm lên.

    Nhưng con Mực vẫn mặt mày ngơ ngác, trông rất vô tội.

    Con Mực rất đỗi thông minh, nếu nó nhìn thấy Tiểu Ngộ bỏ đi, chắc chắn nó sẽ dùng một cách nào đó để mách cho tôi biết, nhưng không.

    Điều này chứng tỏ, nó không hề biết Lâm Tiểu Ngộ đã mất tích.

    Tôi trả lại miếng thịt bò cho con Mực, vỗ nhẹ lên đầu nó, tỏ ý xin lỗi.

    Sau đó, tôi tiếp tục đi xuống dưới tầng hầm.

    Tôi tìm kỹ lưỡng một lượt.

    Trong tầng hầm, ông ngoại nằm trên ghế băng không hề bị thối rữa, mà khô đét lại, giống như đang nằm ngủ.

    Từ nhỏ tôi đã sống cùng ông ngoại, nên không hề cảm thấy sợ hãi, mà ngược lại, khi ở bên cạnh thi thể của ông, tôi cảm thấy bình tĩnh hơn nhiều.

    Tôi biết, bất kỳ lúc nào, ông ngoại cũng che chở cho tôi, yêu thương tôi, cho dù ông đã chết, cũng không có gì khác biệt.

    Trong gian tầng hầm của ông ngoại, không thấy hình bóng của Lâm Tiểu Ngộ.

    Trong gian phòng của mẹ, chỉ có cỗ quan tài của bà, không một góc khuất.

    Còn căn phòng mà tôi đã đặt Lâm Tiểu Ngộ tại đó, chỉ còn một chiếc giường gỗ sơ sài, càng không có chỗ nào để ẩn nấp.

    Điều này chứng tỏ, chỉ có hai khả năng.

    Thứ nhất, Lâm Tiểu Ngộ tỉnh lại rồi tự mình bỏ đi; thứ hai, Lâm Tiểu Ngộ bị một người quen thuộc với chỗ này đưa đi... .

    Hơn nữa, khi hai khả năng này xảy ra, con Mực đều không có ở nhà...

    Vậy thì, rốt cuộc là khả năng nào?

    Tôi đứng ở giữa tầng hầm, chìm vào suy nghĩ.

    Chiếc đèn pin trong tay tôi chiếu xuống mặt đất, nhưng trước mắt tôi rõ ràng vẫn có ánh đèn.

    Đột nhiên, toàn thân tôi chấn động, vì tôi nhìn thấy ngọn đèn trên bàn thờ của mẹ vẫn còn cháy sáng.

    Tôi tắt đèn pin, trước mắt chỉ còn lại ánh sáng của ngọn đèn.

    Tôi nhớ rất rõ, tôi đã rời khỏi đây hơn bốn tháng, thế mà ngọn đèn này vẫn cháy sáng.

    Trước đây, vì còn có ông ngoại, hơn nữa, tôi cũng rất ít khi xuống đây, lần nào xuống cũng thấy đèn sáng, tôi không hề chú ý đến.

    Vì ông ngoại thường xuyên xuống tầng hầm, có thể ông đã châm dầu cho đèn.

    Nhưng lần này, ngọn đèn đã cháy suốt hơn bốn tháng trời, mà không hề có bất cứ ai thêm dầu, đây lẽ nào lại không phải một kỳ tích?

    Tôi đứng trước bàn thờ, nín thở, quan sát kỹ ngọn đèn giữ hồn.

    Dầu trong đèn vẫn y như lúc trước, đen quánh, không hề có dấu vết được đổ thêm.

    Tôi cần thận bật đèn pin lên, chiếu vào ngọn đèn, quan sát thật kỹ.

    Dưới chân cây đèn có một một lớp bụi mỏng, xem ra đã tích tụ rất lâu.

    Trên toàn bộ bàn thờ, đều phủ một lượt bụi mỏng, điều này chứng tỏ, ngọn đèn đã một thời gian dài không có ai động đến, cũng không hề được thêm dầu.

    Ngọn đèn này đã cháy hơn bốn tháng?

    Thậm chí, từ sau khi mẹ tôi chết đi, ngọn đèn này vẫn luôn cháy sáng đến tận bây giờ.

    Vậy thì, chẳng phải ngọn đèn này đã cháy suốt hai mươi tám năm?

    Trong lòng tôi bừng bừng kích động.

    Ánh mắt tôi dừng lại bên mép đĩa đèn, nơi đó có vài chữ Hán được tạc bằng đục, tổng cộng có bảy chữ.

    Những chữ này, tôi biết hết: Tắc, hơ, ni, ma, phộc, ti, y...

    Vốn dĩ những con chữ này không phải có hình dạng như vậy, chỉ dùng đục đục ra hình dạng đại khái, nhưng khi tôi học đóng quan tài với ông ngoại, ông từng nửa vô tình nửa cố ý đọc cho tôi nghe.

    Tóm lại, tôi đoán, chắc là bảy con chữ này...

    Trên mép của đĩa đèn trong cửa địa ngục núi Côn Lôn cũng có bảy con chữ, những con chữ cổ đó, tôi không biết chữ nào hết, nhưng bảy chữ này thì tuyệt đối không thể sai.

    Ngọn đèn giữ hồn đó đã cháy suốt tám trăm năm.

    Còn ngọn đèn giữ hồn trong nhà tôi chí ít cũng đã cháy được bốn tháng.

    Giữa chúng, rốt cuộc có điểm gì giống nhau không?

    Nếu như ông ngoại có thể mở miệng nói năng thì tốt quá.

    Vừa nghĩ tới ông ngoại, trong lòng tôi chợt rúng động.

    Tôi liền đi sang phòng ông ngoại, cung kính dập đầu ba cái.

    - Ông ngoại, xin ông hãy chỉ đường dẫn lối cho con.

    Sau đó tôi đi ra, cũng dập đầu ba cái trước quan tài của mẹ, nói:

    - Mẹ, xin mẹ hãy chỉ đường dẫn lối cho con!

    Tôi chui ra khỏi tầng hầm, nhìn một vòng quanh nhà.Trong phòng của ông ngoại, những đồ lề thợ mộc của ôngđều đặt gọn gàng trong một chiếc sọt, chiếc sọt đặt ở góctường.

    Giường của ông sơ sài đến không thể nào hơn, chỉ là mấy miếng ván ghép lại với nhau, gác lên một cái giá gỗ.

    Đầu giường có một hòm gỗ, làm từ vài mảnh ván ghép qua loa với nhau.

    Tôi mở hòm ra nhìn, bên trong chỉ có mấy bộ quần áo của ông ngoại.

    Trong bếp chỉ có một cái bếp lò, hai cái nồi, đều lạnh tanh lạnh ngắt, vò đựng gạo trống không.

    Bên dưới bệ bếp đã được quét dọn sạch sẽ, đến một cọng rơm cũng chẳng có.

    Trong phòng của tôi cũng trống huơ trống hoác.

    Giường đã chuyển xuống dưới tầng hầm.

    Sách vở học trước đây đều xếp cả trong hòm, quần áo cất trong một cái hòm khác, ngoài ra, trên mặt bàn của tôi có thêm một ngọn đèn.

    Tôi cầm ngọn đèn lên, quan sát hồi lâu, kiểu dáng không khác là mấy so với ngọn đèn ở dưới tầng hầm, đều làm từ tay ông ngoại.

    Nhưng bên mép đĩa đèn không có

    chữ, đồng thời, dầu trong đèn này trông cũng trong hơn, nhạt màu hơn.

    Tôi bật bật lửa, châm đèn, mùi hương dầu trẩu phảng phất lan toả.

    Con Mực đã ăn xong miếng thịt bò, đang ngoan ngoãn nằm im trước cửa...

    Tối đến, tôi ngủ trên chiếc giường của tôi bên dưới tầng hầm, ngủ rất ngon lành.

    Sớm mai tỉnh dậy, tôi nhớ rất rõ ràng, trong mơ tôi đã gặp Lâm Tiểu Ngộ.

    Nàng đang vẽ tranh trong gian phòng vẽ ở nhà nàng, tôi đứng ngay cạnh nàng, nhưng nàng lại không hề nhận ra tôi...

    Lẽ nào Lâm Tiểu Ngộ đã về nhà rồi ư?

    Nghĩ lại, khả năng này rất có thể xảy ra: Lâm Tiểu Ngộ tỉnh dậy, không tìm thấy tôi, nàng chỉ còn cách trở về nhà...

    Nhưng tại sao nàng về nhà mà con Mực lại không nhìn thấy?

    Tôi không hiểu.

    Nhưng những việc không hiểu nổi đã quá nhiều.

    Tôi quyết định, sẽ đến Giang Thành lần nữa, lên lầu Thính Vũ của nhà Lâm Tiểu Ngộ xem thử...

    Khi rời khỏi nhà, tôi đã làm một số ký hiệu chỉ tôi mới biết ở trước ngọn đèn canh hồn của mẹ và lối vào hầm.

    Tôi muốn chứng minh, sau khi tôi đi rồi, liệu có một người khác ra vào hay không.

    Tôi lại càng muốn chứng minh, ngọn đèn đó, rốt cuộc có thể cháy được bao lâu...

    Khi qua thôn Cổ Điếm, đã là buổi chiều.

    Tôi giảm tốc độ xe, nhìn thấy trong hiệu thuốc của bác sĩ Kim có một người đang mua thuốc, cửa quán trọ của Vương Thuận Phúc mở rộng, không biết có khách ở trọ hay không, còn Lý Hiếu Đức vẫn đang ngồi hút thuốc trên chiếc ghế trước tiệm sửa xe...

    Tôi không dừng lại, cứ thế lái xe qua thôn Cổ Điếm, chẳng mấy chốc đã đến cửa Thanh Ô, nhà của Tân Ái Ni từ xa đã in vào trong mắt tôi.

    Hoàng hôn đẹp vô hạn.

    Tôi từ từ tấp xe vào vệ đường, ngẩng đầu nhìn, nhận ra cửa nhà Tần Ái Ni khép chặt, hẳn là Tần Ái Ni đang ở trong nhà!

    - Cô Ái Ni!

    - Tôi đứng ngoài cửa, gọi khẽ một câu.

    Bên trong không có tiếng trả lời.

    - Cô Ái Ni!

    Cô Ái Ni!

    - Tôi lại gọi thêm hai tiếng.

    Bên trong vẫn im phăng phắc.

    Tôi chột dạ, bèn đưa tay đẩy.

    Cửa không mở được, cúi đầu nhìn xuống, thì ra phía trước cánh cửa cài một cái chốt.

    Như thế có nghĩa là, trong nhà không có người, cũng không khoá cửa, chỉ cần rút chốt bên ngoài ra là có thể vào trong.

    Sao lại có thể như thế được?

    Tôi rút chốt cài, đẩy cửa ra, thấy có một tấm biển dựng trên mặt quầy: "Khách ở trọ, có thể ngủ ở phòng phía tây, trong ang có nước, trong tủ có gạo, khi đi nhớ chốt cửa..."

    Lẽ nào hai mẹ con Tần Ái Ni đã bỏ đi rồi?

    Xem ra, họ sẽ đi rất lâu...

    Tôi quan sát trong nhà một lượt, tất cả đều được thu dọn hết sức ngăn nắp, cỗ quan tài vẫn còn, nhưng nắp được dựng sang một bên, có lẽ vì nghĩ cho người đến ở trọ, không muốn khiến họ phải khiếp đảm.

    Tôi bần thần hụt hẫng, chỉ cảm thấy họ bỏ đi quá vội vàng, sức khoẻ của Tần Ái Ni chắc vẫn chưa hoàn toàn hồi phục?

    Giang Thành, đèn lửa sáng rực.

    Lầu Thính Vũ.

    Tôi nằm rạp trên tường bao, quan sát tỉ mỉ tình hình bên trong.

    Ngày trước ở đây có bốn bảo vệ, sáu con chó to,nhưng hôm nay chỉ có một bảo vệ và một con chó dữ.

    Bảo vệ ngồi trong phòng trực ban, còn con chó được xích ở bên ngoài phòng.

    Có ánh đèn hắt ra từ phòng tranh trên tầng ba của Lâm Tiểu Ngộ.

    Lâm Tiểu Ngộ đã trở về thật ư?

    Tôi mừng rỡ trong lòng, khóng còn để tâm đến điều gì khác nữa, nhảy luôn xuống tường, đi thẳng lên tầng ba.

    Cửa tầng ba khép hờ, tôi đứng ngoài cửa, vừa nhìn, lập tức lao thẳng vào trong:

    - Tiểu Ngộ...

    Lâm Tiểu Ngộ đang đứng trước giá, vẽ một bức tranh, nghe thấy tiếng gọi của tôi, liền quay người lại.

    Không sai, chính là Lâm Tiểu Ngộ!

    Nàng vẫn xinh đẹp hệt như vậy, khuôn mặt nàng vẫn trắng mịn như tuyết, mái tóc dài đổ xuống bờ vai, chỉ có điều, ánh mắt nàng sâu hun hút tựa mặt hồ, thẫm xanh, một màu xanh lam u uất...

    Tôi ôm ghì nàng vào lòng, biết bao yêu thương ngọt ngào khôn xiết kể, nước mắt trào ra bên khóe mắt:

    - Tiểu Ngộ...

    Nhưng phản ứng của nàng lại hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của tôi.

    Sắc mặt nàng không mảy may thay đổi, chỉ hỏi tôi một câu:

    - Anh là ai?

    - Anh là Lưu Bất Chính!

    - Tôi vội đáp.

    - Lưu Bất Chính là ai?

    - Nàng vẫn điềm nhiên hỏi lại, cứ như tôi chưa bao giờ xuất hiện trong cuộc đời nàng.

    Tôi sững sờ , sau đó là kinh ngạc đến chết lặng: nàng không còn nhớ tôi nữa...

    Đã có chuyện gì xảy ra với nàng?

    Tại sao nàng không còn nhớ tôi nữa?

    Tôi đang chưa hết bàng hoàng, bỗng nghe bên ngoài có tiếng bước chân vọng lại, và một tiếng thở dài khe khẽ.

    Một người đứng ở trước cửa, cơ thể to béo phì nộn, đầu trọc, cặp mắt đục ngầu, chẳng phải nói, người này chính là cha của Lâm Tiểu Ngộ, Lâm Đại Phát.

    - Nó không còn nhớ cậu nữa...

    - Khuôn mặt béo quay của Lâm Đại Phát co rúm lại, giọng đây đau đớn.

    - Thậm chí ngay cả ta, nó cũng không còn nhớ nữa...

    - Bác ơi, tại sao Tiểu Ngộ lại trở nên như vậy?

    - Tôi cố gắng hết sức để khiến mình bình tĩnh trở lại, nghi hoặc hỏi ông ta.

    - Vì một lời nguyền!

    - Lâm Đại Phát cười méo mó, cũng hỏi tôi một câu.

    - Cậu có phải là cháu ngoại của sư thúc Chu Hiếu Cổ, Lưu Bất Chính?

    Tôi gật đầu, càng thêm nghi hoặc:

    - Lời nguyền gì kìa?

    Trong mắt Lâm Đại Phát tràn ngập một nối sợ hãi khủng khiếp:

    - Lời nguyền của phép Lỗ Ban...

    Tôi giật nảy mình:

    - Lời nguyền của phép Lỗ Ban?

    Lâm Đại Phát quay đi, buồn bã nói:

    - Cậu không phải người ngoài, cậu cũng không thể thoát khỏi lời nguyền này.

    Cậu đi theo ta, ta sẽ cho cậu hiểu rõ sự tình...

    Trong thời khắc này, trong lòng tôi tràn ngập hiếu kỳ: Lâm Đại Phát biết ông ngoại tôi, lại nói tôi cũng không thể thoát được lời nguyền này, vậy lời nguyền này có liên quan gì đến tôi?

    Lâm Đại Phát dẫn tôi xuống tầng dưới.

    Lúc này, tôi mới phát hiện ra, ông ta đang đi xuống tầng hầm.

    Thì ra trong nhà của ông ta cũng có tầng hầm.

    Vừa đặt chân vào tầng hầm, trước mắt tôi bỗng tối sầm, vì dưới đó không có đèn điện, trên hành lang chỉ treo một chiếc đèn lồng cũ kỹ.

    Trên cánh cửa sắt cũng treo một ngọn đèn bão.

    Lâm Đại Phát đi vào bên trong cánh cửa sắt.

    Tôi đứng trước cửa sắt, phải mất một lúc lâu mới thích ứng được với bóng tối xung quanh, nhìn rõ cảnh tượng dưới tầng hầm: bên trong có một chiếc bàn cao ba thước, bên cạnh bàn là một chiếc ghế, trên ghế có một người đang ngồi.

    Vừa nhìn, tôi đã giật bắn mình.

    Người này cơ thể quắt queo, hệt như một đứa trẻ bảy tám tuổi suy dinh dưỡng, ngồi trên ghế chỉ cao chừng một thước, tóc tai thưa thớt, khuôn mặt nếp nhăn chằng chịt, già nua tàn tạ, nhưng cặp mắt vẫn hung hãn như mắt sói, lờ mờ ánh huỳnh quang hấp háy.

    Khủng khiếp hơn nữa là nửa thân dưới của lão ta từ gốc đùi cho đến tận đầu ngón chân, toàn bộ đều là xương trắng ởn, không thấy dính một mẩu thịt da.

    Bên tai tôi vẳng lại những tiếng sột soạt rất khẽ, thực khiến người ta phải nổi da gà.

    Tôi bất giác giật lùi lại phía sau một bước.

    - Cha, cha đến rồi ư?

    - Lâm Đại Phát cung kính lên tiếng.

    Cha?

    Người này là cha của Lâm Đại Phát?

    Ông nội của LâmTiểu Ngộ?

    Tôi lại một lần nữa giật nảy mình kinh ngạc.

    Lão già quái đản vẩy vẫy tay, là một cánh tay khẳng khiu như một thân trúc mảnh, năm ngón tay chắng khác nào vuốt chim ưng.

    Lâm Đại Phát lặng lẽ lui ra.

    Lúc này, tôi lại cảm thấy bình tĩnh hơn bao giờ hết.

    - Cậu là cháu ngoại của Chu Hiếu Cổ, Lưu Bất Chính? & Một giọng nói khản đặc, ma quái, kinh khủng, giống như vừa giãy giụa thoát ra từ địa ngục. .

    -Đúng!

    - Tim tôi đập lên thình thịch.

    - Ta tên Lâm Trung Nhạc, lớn hơn Chu Hiếu Cổ năm tuổi.

    Chu Hiếu Cổ vẫn gọi ta là đại ca, cậu cứ gọi ta là ông ngoại lớn!

    Lâm Trung Nhạc liếc nhìn tôi, tiếp tục nói.

    Tôi không hề hay biết về quá khứ của ông ngoại, cũng không biểt chút gì về mẹ mình, nhưng Lâm Trung Nhạc lại nói là đại ca của ông ngoại tôi, vậy thì, những nghi vấn bao bọc quanh tôi suốt bao nhiêu năm, chẳng phải đã sắp sửa được hé mở?

    Những năm 40 của thế kỷ 20, binh đao loạn lạc, dân chúng lầm than.

    Lúc đó, ao ước lớn nhất của người dân là có cơm ăn, có nhà ở.

    Nhưng những yêu cầu cơ bản nhất, đơn giản nhất đấy, cũng khó lòng có được.

    Tại vùng đất không ai quản lý giáp ranh giữa Xuyên, Tương, Kiềm, ở thôn Thạch Bi trên núi Tứ Phương, có bốn anh em khác họ: Lâm Trung Nhạc, Liên Hoàn Pháo Chu Hiếu Cổ, Hầu Tử.

    Bọn họ ban ngày làm ruộng, cứ đến tối lại thành trộm cướp.

    Vì bà con dân nghèo đến ăn còn chẳng có, nên họ không nhẫn tâm trộm cắp của họ; còn những nhà địa chủ, phú hào lại nuôi gia đinh vũ khí đầy mình, muốn trộm cũng chẳng dễ, nguy hiểm rất lớn.

    Thế nên bốn anh em đã chuyển thành trộm ngoài.

    Cũng chính là trộm mộ, ăn cơm của người đã chết.

    Trong thời loạn lạc, nhờ vào nghề trộm mộ để nuôi sống cả nhà, cũng là vạn bất đắc dĩ.

    Trong bốn người, Hầu Tử giỏi trinh sát, phát hiện mộ cổ, ông ta có đôi mắt dị thường, có thể phán đoán chính xác trong mộ có thứ đáng tiền hay không, từ đó quyết định nên hay không nên đào trộm.

    Liên Hoàn Pháo giỏi đào hang, đặt thuốc nổ phá mộ mà không làm tổn hại đến những của cải giá trị bên trong.

    Chu Hiếu Cổ giỏi phá giải các cạm bẫy trong mộ cổ và mở áo quan.

    Lâm Trung Nhạc thạo việc chuẩn bị trước khi trộm mộ và lấy của cải từ trong mộ.

    Trên núi Phượng Hoàng Tiên Công, đồng hoang quạnh quẽ, đêm sâu không một bóng người.

    Bốn bóng người dật dờ như hồn quỷ.

    Một ngọn đèn bão đặt trên mặt đất, một vành mũ cỏ úp chụp lên trên, che khuất ba bề ánh sáng.

    - Chính là chỗ này...

    - Người lên tiếng là Hầu Tử.

    - Chỗ này nhìn kiểu gì cũng không giống mộ phần!

    - Không nhìn nhầm đấy chứ?

    - Liên Hoàn Pháo trợn trừng đôi mắt, ngờ vực hỏi.

    - Cặp hoả nhãn kim tinh của tôi đã nhầm lẫn bao giờ chưa?

    - Hầu Tử ưỡn ngực, thần khí bừng bừng, dương dương đắc ý.

    - Khi lão tổ tông chôn cất ở đây, đã biết trước về sau chắc chắn có người đến đào, nên tất nhiên sẽ phải ngụy trang, càng là nơi trông không giống, thì lại càng là thật.

    Những ngôi mộ trông bề ngoài hoành tráng mà chúng ta đã đào, có thu hoạch được mấy?

    - Lâm Trung Nhạc chậm rãi giải thích.

    - Đại ca nói chí phải!

    - Hầu Tử đáp liền.

    Liên Hoàn Pháo bắt đầu đào lỗ, nhồi thuốc nổ, chôn kíp nổ, rồi bật ra một câu đùa độc địa: Nếu như bên dưới không có thứ gì, tao sẽ nhét kíp nổ này vào lỗ đít mày, cho ngươi lỗ đít nở hoa luôn...

    - Nếu như có, tôi sẽ nhét kíp nổ vào lỗ đít anh!

    - Hầu Tử không chịu lép vế, cay độc đáp trả.

    Trong lúc Liên Hoàn Pháo đang bận rộn, Chu Hiếu Cổ kéo Hầu Tử sang một bên, hỏi:

    - Lão tứ, ta cảm thấy hơi nguy hiểm...

    - Nghĩa là thể nào?

    - Hầu Tử hỏi lại.

    Chu Hiếu Cổ ngập ngừng một lát:

    - Sao tôi nhìn kiểu gì cũng không thấy giống nơi có bảo bối?

    - Tam ca, anh yên tâm, tôi đã nhìn thấy hào quang bảo bối phía dưới, dưới kia không những có, mà còn có rất nhiều...

    - Hầu Tử vỗ ngực đảm bảo với Chu Hiếu Cổ.

    - Vậy thì tốt.

    - Chu Hiếu Cổ khẽ thở phào một hơi.

    - Nơi đây gọi là núi Tiên Công, truyền thuyết nói rằng, hơn một nghìn bốn trăm năm về trước, đệ tử cuối cùng cùa Lỗ Ban là Triệu Tiểu Tiểu đã hoá thành tiên ở đây.

    Chưa biết chừng chúng ta lại đào trúng mộ thần tiên cũng nên, không những có được cả đống vàng bạc châu báu, mà còn có thế đắc đạo thành tiên, trường sinh bất lão...

    - Lâm Trung Nhạc cười vang.

    Sau một hồi bận rộn túi bụi...

    - Có hàng!

    - Liên Hoàn Pháo sung sướng reo lên.

    Cả đám vội xúm xít lại, một phiến đá được lật ra, bên dưới hiện rõ một đường hầm lát đá.

    Phía cuối con đường, là một cánh cửa bằng đá.

    Sau khi mở cánh cửa đá ra, bốn người lập tức ồ lên kinh ngạc.

    Trên bàn thờ chính giữa mộ thất dưới lòng đất, một ngọn đèn vẫn đang cháy, toả ra ánh sáng lờ mờ.

    - Có ma!

    - Hầu Tử quay người bỏ chạy.

    Nhưng Hầu Tử lập tức bị Lâm Trung Nhạc chụp lấy cổ áo giữ lạí, nhấc bổng lên.

    Lâm Trung Nhạc quát lớn:

    - Ma quỷ cái gì?

    Ma đều sợ người ác.

    Chúng ta là người ác, sợ quái gì ma?

    Lâm Trung Nhạc là đại ca trong bốn người.

    Thực ra, ông ta cũng đã sợ đến rụng rời, nhưng ông biết, trong thời khắc quan trọng, bản thân tuyệt đối không được nhát gan, nhất định phải làm tấm gương cho ba huynh đệ còn lại.

    Vốn dĩ Chu Hiếu Cổ, Liên Hoàn Pháo cũng đã hồn bay phách lạc, nhưng có đại ca đứng ở trước mặt, hai người mới miễn cưỡng trấn tĩnh trở lại.

    - Đốt toàn bộ đuốc lên!- Lâm Trung Nhạc quyết đóan.

    Bốn ngọn đuốc cháy bừng bừng, soi cả hầm mộ sáng trưng như ban ngày.

    Hầm mộ dài mười mấy mét, rộng bảy tám mét, tường bao xung quanh nhẵn bóng như gương.

    Chính giữa hầm mộ là một cỗ quan tài cỡ bự.

    Trên bức tường trên đầu cố quan tài, có một bàn thờ, trên bàn thờ đặt một ngọn đèn giữ hồn.

    Mặc dù ngọn đèn đang cháy kia trông rất đỗi ma quái, nhưng vừa nhìn thấy cỗ quan tài khổng lồ, bốn người lập tức không còn biết sợ hãi là gì nữa, ai nấy bừng bừng phấn khởi.

    Cỗ quan tài lớn như vậy, không biết bên trong có bao nhiêu vàng bạc châu báu?

    Chu Hiếu Cổ hết sức thận trọng mở nắp quan tài.

    Trên thực tế, nắp quan tài chỉ được đậy hờ phía trên, chẳng mất mấy công sức đã mở được ra.

    Bốn người rối rít xúm cả lại, rồi lại cùng đồng thanh ồ lên kính ngạc.

    Bên trong quan tài trống không, ngoài một bộ quần áo vải thô được gấp gọn gàng, bên trên đặt một cuốn sách cổ, không còn thứ gì khác.

    Bốn cặp mắt đều trợn trừng muốn rách, anh nhìn tôi, tôi nhìn anh, không ai thốt được nên lời.

    Đúng là một bất ngờ năm ngoài sức tưởng tượng.

    Chu Hiếu Cổ cầm cuốn sách lên, lật ra xem.

    Ông từng học trường tư thục mấy năm, cũng biết được vài con chữ cỗ, nhìn thấy đầu tiên chính là bốn chữ, Lỗ Ban chân sư.

    - Sách Lỗ Ban!

    - Lẽ nào đây chính là cuốn kỳ thu thượng cổ "Sách Lỗ Ban" mà người ta vẫn thường đồn đại?

    Chu Hiếu Cổ từng nghe qua về "Sách Lỗ Ban", nên vừa nhìn thấy đã sững sờ.

    - Cuốn sách này, phải chăng nói về kho báu bí mật?- Hầu Tử đảo tít hai con mắt, cũng xâu vào xem, nhưng chẳng biết chữ nào, nên ngờ vực hỏi.

    Chu Hiếu Cổ lắc đầu.

    - Quái quỷ thật đấy!- Liên Hoàn Pháo chắng có hứng thú với sách cổ.

    Ông ta đi lại, định với lấy ngọn đèn giữ hồn trên bàn thờ.

    Nhưng bàn tay vừa đưa tới trước đèn, thình lình cảm thấy bị chụp cứng bởi một bàn tay vô hình, lạnh toát.

    Liên Hoàn Pháo gào toáng lên, quay ngoắt người lại, do tốc độ quay quá nhanh, quá gấp, đã cuốn theo một luồng gió, thổi tắt phụt ngọn đèn giữ hồn trên bàn thờ.

    "Uỳnh!"

    Một tiếng vang dữ dội.

    Cả bốn ngọn đuốc trong tay bốn người đều vụt tắt.

    Trong hầm mộ, tiếng la hét nhốn nháo.

    Lâm Trung Nhạc, Liên Hoàn Pháo, Hầu Tử vừa bò vừa lăn ra khỏi đường hầm.

    Nhìn thấy ánh sao trên bầu trời bên ngoài, ba người mới dám thở hắt ra.

    - Tam ca đâu?

    - Hầu Tử còn chưa hết hoảng loạn.

    Lâm Trung Nhạc và Liên Hoàn Pháo vội đưa mắt nhìn, quả nhiên không thấy Chu Hiếu Cổ đâu cả.

    - Không thể bỏ lại tam ca được!- Lâm Trung Nhạc không thấy Chu Hiếu Cổ, thì kinh hãi nhảy dựng lên.

    Càng ma quái hơn nữa, đó là ngọn đuốc trong tay ông vốn đã tắt, bỗng "phụt" một tiếng, lại cháy rừng rực...

    Lâm Trung Nhạc giơ cao ngọn đuốc, lại xông xuống đường hầm, theo sau ông là Liên Hoàn Pháo và Hầu Tử.

    Ba người vừa xuống đường hầm, liền nhìn thấy Chu Hiếu Cổ tay giơ cao ngọn đuốc từ bên trong đi ra.

    - Lão tam...

    - Lâm Trung Nhạc kêu toáng lên.

    - Tam ca, anh không sao chứ?- Hầu Tử kinh ngạc đến nỗi hai con ngươi muốn bắn ra ngoài.

    - Không sao!- Chu Hiểu Cổ tỏ ra rất bình tĩnh.

    - Lão tam, sao cậu lại không sợ?

    Lúc nãy cậu làm gì dưới đây thế?- Liên Hoàn Pháo vừa kinh hãi vừa nghi hoặc.

    - Tôi nghĩ chúng ta đã xông bừa vào phần mộ của thánh nhân thượng cổ, nên khi mọi người bỏ chạy, tôi liền dập đầu một cái.

    Vừa dập đầu xong, đuốc liền bùng cháy...

    - Chu Hiếu Cổ thành thật nói.

    - Mọi người cũng dập đầu vài cái đi!

    Thánh nhân sẽ tha thứ cho chúng ta...

    Lâm Trung Nhạc ngẫm nghĩ một lúc.

    - Dập đầu!

    Ba người liền quỳ trước cửa đường hầm, cung kính dập đâu bình bịch ba cái.

    Bốn người đậy lại phiến đá ở cửa đường hầm, lấp đất lại như cũ.

    Trên đường trở về, Chu Hiếu Cổ mới nói với ba người:

    - Truyền thuyết núi Tiên Công đúng là có thật...

    - Truyền thuyết gì là có thật?- Hầu Tử rất thích nghe kể chuyện.

    - Thì truyền thuyết Lỗ Ban và các đệ tử của ngài hóa thành tiên...

    - Chu Hiếu Cổ nói.

    - Truyền thuyết này chúng ta đều đã nghe nói đến!

    Nhưng có liên quan gì đến núi Tiên Công?

    Và có liên quan gì đến ngôi mộ này?

    - Lâm Trung Nhạc ngạc nhiên hỏi.

    - Có liên quan rất lớn...

    - Chu Hiếu Cổ giống như đã biết rõ điều bí mật bên trong.

    Truyền thuyết về thánh nhân thượng cổ Lỗ Ban thành tiên được kể như sau: Hai nghìn bốn trăm năm trước, thợ mộc Lỗ Ban đã phát minh ra vô số công cụ sản xuất, hơn nữa, ông còn có nhiều phép thuật thần kỳ, được giới thợ mộc, thợ xây tôn làm tổ sư.

    Có một lần, để hàng phục một con yêu quái làm hại dân thường, Lỗ Ban đã dẫn theo một trăm đồ đệ xây một ngôi bảo tháp trấn yêu.

    Trải qua mười năm mười tháng mười ngày, bảo tháp được xây xong, cuối cùng đã hàng phục được yêu quái, giam hãm nó phía dưới bảo tháp.

    Từ đó, thiên hạ được thái bình...

    Buổi tối hôm đó, Lỗ Ban nói với các đồ đệ:

    - Xây tháp suốt bao năm ròng, các con đã phải vất vả nhiều.

    Hôm nay công trình đã khánh thành, chúng ta hãy gói bánh chẻo để ăn mừng.

    Các đồ đệ đều hào hứng.

    - Các con hãy sắp xếp lại dụng cụ.

    Còn Triệu Tiểu Tiểu, con đi theo ta gói bánh chẻo...

    - Lỗ Ban nói với còn đệ tử.

    Triệu Tiểu Tiểu là đồ đệ cuối cùng, cũng là đồ đệ nhỏ nhất của ông, đã theo ông vừa tròn mười năm mười tháng mười ngày.

    Triệu Tiểu Tiểu đi cùng sư phụ xuống dưới bếp, Lỗ Ban bảo Triệu Tiểu Tiểu nhóm lửa.

    Một nồi nước lớn nhanh chóng sôi sùng sục.

    Triệu Tiểu Tiểu rất lấy làm lạ, sư phụ không hề động tay nhào bột, cán vỏ bánh chẻo, cũng không băm nhân bánh, vậy thì gói bánh chẻo kiểu gì đây?

    - Đồ đệ, quay người đi...

    - Lỗ Ban nói với Triệu Tiểu Tiểu.

    Triệu Tiểu Tiểu vâng lời, quay người đi, nghe thấy sau lưng có tiếng bì bõm, thì lòng hiếu kỳ nổi lên, bỗng chốc quên phắt lời dặn của sư phụ khi nãy, lén quay đầu lại nhìn trộm, vừa nhìn đã choáng váng: sư phụ đang ngồi chồm hỗm bên nồi, đại tiện vào đó từng viên bánh chẻo...

    Triệu Tiểu Tiểu rùng mình ghê sợ, không dám nhìn tiếp nữa.

    Sau đó, sư phụ bảo Triệu Tiểu Tiểu đun tiếp.

    Chẳng mấy chốc bánh chẻo đã được luộc chín.

    Lỗ Ban bèn gọi các đệ tử đến ăn, mỗi người được một bát thật to.

    Triệu Tiểu Tiểu mặc dù rất tôn trọng sư phụ, nhưng không thể nuốt nổi, toàn bộ bánh chẻo trong bát đều bị các sư huynh giành ăn hết nhẵn.

    - Các đồ đệ, các con ăn xong bánh chẻo, đã có thể thành tiên, từ nay sẽ được trường sinh bất lão...- Lỗ Ban dẫn các đệ tử lên tiên giới.

    Triệu Tiểu Tiểu không ăn bánh chẻo, không thể đi theo các sư huynh, chỉ biết đứng phía sau khóc lóc.

    Lô Ban sớm đã biết rõ sự tình, ông quay lại an ủi Triệu Tiểu Tiểu:

    - Đồ đệ, duyên phận của con chưa đến.

    Nhưng uống một bát canh có thể sống thêm một nghìn năm.

    Một nghìn năm sau, con cũng có thể thành tiên...

    Một nghìn năm sau, Triệu Tiểu Tiểu thành tiên ở đây, vì vậy mới có tên là núi Tiên Công.

    - Lẽ nào chúng ta vừa vào ngôi mộ quần áo của tiên nhân Triệu Tiểu Tiểu?

    - Hầu Tử nghe xong, vội hỏi.

    - Chắc chắn là vậy!- Chu Hiếu Cổ khẳng định.

    - Sao anh lại khẳng định được thế ?

    - Ba người cùng hỏi Chu Hiếu Cổ.

    - Vì cuốn sách này là quyển thượng của sách Lỗ Ban, không phải là đệ tử hoặc truyền nhân của Lỗ Ban, không thể nào có được...

    - Chu Hiếu Cổ đã mang cuốn sách ra khỏi phần mộ.

    Và cuốn sách Lỗ Ban đã được chia làm bốn phẩn.

    Trên đường, Liên Hoàn Pháo phát hiện ra, từ phần mu bàn tay đến cổ tay phải xuất hiện năm dấu tay đen sì, ăn sâu vâo thịt đến ba phân, trông hết sức ghê rợn.

    Hôm đó, trong khi ngủ, Lâm Trung Nhạc mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ...

    Trong mơ, ông trở lại bên trong ngôi mộ cổ, không nhìn thấy người, chỉ nghe giọng nói: "Phàm là những người từng lạy ta, đều được vào môn phái của ta; nhưng làm tắt ngọn đèn của ta, quấy nhiễu tiên cảnh của ta, ắt bị trời phạt, sống không bằng chết, con cháu đời sau, góa bụa, còi cút, cô độc, tàn tật..."

    Ngày hôm sau, Lâm Trung Nhạc vừa kể lại giấc mơ của mình cho Chu Hiếu Cổ nghe, Chu Hiếu Cổ đã há hốc miệng, vì ông ta cũng nằm mơ một giấc mơ tương tự.

    Hai người đều hồn vía rụng rời.

    Họ quyểt định đi tìm Liên Hoàn Pháo và Hầu Tử.

    Vừa đến trước cửa nhà Hầu Tử, Hầu Tử nghe thấy tiếng liền chạy ra đón, trong tay còn bưng theo một bát cháo.

    Chẳng hiểu tại sao, chỉ thấy ông ta vấp một cái ngã bò toài, hai chiếc đũa trong tay, một đầu cắm xuống đất, còn một đầu cắm ngập vào hai mắt Hầu Tử, máu phun tung toé.

    Hầu Tử đã trở thành kẻ mù loà.

    Tay của Liên Hoàn Phảo bắt đầu đau đớn dữ dội, giống như có một con trùng độc đang từ từ gặm khoét từng tấc máu thịt...

    Hai người họ giống như Chu Hiếu Cổ, Lâm Trung Nhạc, cũng mơ thấy giấc mơ tương tư, cũng nghe thấy lời nguyền độc địa trong mơ.

    Chu Hiểu Cổ và Lâm Trung Nhạc, mỗi người cõng theo một huynh đệ đi tìm thầy thuốc.

    Chữa chạy xong trở về, chỉ trong vòng một đêm, người thân cùa họ dường như đều đã bốc hơi khỏi nhân gian, không tìm thấy một vết tích...

    Đừng nói là người, ngay cả những con vật sống như gà, chó, chuột cũng chẳng còn nửa mống.

    - Lời nguyền đó là có thật...

    - Bốn người đều hãi hùng.

    - Vậy chúng ta hãy quay lại, thắp ngọn đèn giữ hồn lên, trả lại cuốn sách Lỗ Ban vào chỗ cũ, cầu xin tổ sư gia tha thứ...

    Chu Hiếu Cổ và Lâm Trung Nhạc đề nghị, Hầu Tử và Liên Hoàn Pháo cũng tán thành.

    Nhưng khi bốn người quay trở lại núi Tiên Công, lại không thể tìm thấy cửa hầm mộ đã đào đâu nữa, cứ như họ chưa từng đặt chân đến đây...

    Họ lùng sục trên núi Tiên Công suốt hai ngày trời, nhưng vẫn không tìm thấy.

    Bốn người quyết định đường ai nấy đi, ai sống cuộc đời của người đó.

    Mặc dù Hầu Tử đã bị mù, nhưng vẫn có thể tự lo liệu cho cuộc sống của mình.

    Cánh tay của Liên Hoàn Pháo cứ mãi đau đớn nhức nhối, sống không bằng chết...

    Sau khi chia tay, Lâm Trung Nhạc không hề có bất cứ tin tức gì của Hầu Tử và Liên Hoàn Pháo.

    Nhưng hơn hai mươi năm sau, hai người đã vô tình gặp lại.

    Chu Hiếu Cổ trở thành thợ mộc đóng quan tài, Lâm Trung Nhạc trở thành một thợ gạch chuyên xây tường.

    Lúc đó, hai người một trước một sau đều đã cưới vợ.

    Hai người vẫn không quên lời nguyền đối với con cháu đời sau, vì vậy, mãi mà vẫn chưa dám lập gia đình.

    Đển tận hơn năm mươi tuổi, mới vô tình gặp được người vợ tình nguyện chung sống với họ.

    Trong lúc uống rượu, hai người nơm nớp nhắc lại những câu chuyện ly kỳ đã trải qua vào mấy chục năm về trước.

    Sau đó, hai người không hẹn mà cùng đi đến một quyết định: Về sau nếu có con cái, nếu cùng là con trai, sẽ kết làm anh em; nếu cùng là con gái, sẽ kết làm chị em; nếu là một nam một nữ, sẽ kết làm vợ chồng...

    Ý định của họ là không muốn liên luỵ đến những người khác.

    Dù sao, sự việc cũng là do mình gây ra, để con cháu đời sau trả nợ, cũng là bất đắc dĩ.

    Một năm sau, vợ Chu Hiếu Cổ sinh được một người con gái tên là Chu Linh, nhưng vợ ông vì sinh khó, băng huyết ồ ạt mà chết.

    Lâm Trung Nhạc sinh được một cậu con trai tên Lâm Đại Phát, và tương tự, vợ ông ta cũng chết do sản nạn.

    Hai mươi năm sau, đáng lẽ đã đến thời điểm Chu Linh và Lâm Đại Phát thành hôn, nhưng cả hai người đều bỏ trốn, vì họ đều đã có ý trung nhân khác, nên hôn sự này tất nhiên bất thành.

    Lâm Trung Nhạc và Chu Hiếu Cổ chỉ còn biểt nhìn nhau cười cay đắng...

    Một năm sau, sau khi vợ của Lâm Đại Phát sinh ra con gái Lâm Tiểu Ngộ, đã chết vì khó sinh.

    Sau khi Chu Linh sinh ra con trai Lưu Bất Chính, cũng chết vì lý do tương tự...

    Hai mươi tám năm sau, Lâm Trung Nhạc và Chu Hiếu Cô mất hằn liên lạc, không còn gặp lại thêm lần nào nữa

    Lâm Trung Nhạc ở Giang Thành, Chu Hiếu Cổ ở Sơn Thành.

    Lâm Trung Nhạc càng ngày càng lùn đi, từ một người đàn ông cao to lừng lững đến mét tám, về sau chiều cao chỉ còn chưa đầy ba thước.

    Mỗi khi rút xuống một tấc, ông ta lai phải hứng chịu nỗi đau đớn khủng khiếp như xé rách tim gan.

    Còn nữa, các cơ bắp trên hai chân còn bị một giống sâu bọ vô hình gặm khoét, cứ từ từ rút lên phía trên từng tấc một.

    Ông ta đã tự sát rất nhiều lần, nhưng không một lần nào thành công.

    Đúng là muốn sống không được, muốn chết cũng chẳng xong.

    Đến nay, phần xương trắng không còn da thịt đã lan tới tận gốc đùi.

    Ông ta biết, chỉ khi nào thịt da trên toàn cơ thể bị gặm khoét hoàn toàn, thì nỗi đau đớn thảm khốc của cuộc đời này mới chịu chấm dứt.

    Lúc đó, ông ta mới có thể chết đi!

    Từ sau khi có được một phần của sách Lỗ Ban, Lâm Trung Nhạc thi thoảng lại giở ra xem.

    Dần dần, ông ta liền cảm thấy mình có một số điểm khác thường: có thể dự cảm được một vài sự việc sắp xảy ra; linh hồn có thể đi đến một thế giới khác, trò chuyện với những linh hồn khác ở nơi đó...

    Ông ta hiểu rõ, muốn hoá giải được lời nguyền độc địa đã đổ xuống đầu bốn gia tộc, chỉ có một cách, đó là trở về ngôi mộ của chân sư Triệu Tiểu Tiểu, thắp lại ngọn đèn giữ hồn.

    Muốn quay lại thắp sáng ngọn đèn đó, nhất định phải tìm bằng được cuốn sách Lỗ Ban hoàn chỉnh, để tìm ra bí quyết của phương pháp thắp đèn giữ hồn trong mộ cổ.

    Nhưng trong tay bốn người Lâm Trung Nhạc, Chu Hiếu Cố, Liên Hoàn Pháo, Hầu Tử mới chỉ có nửa cuốn sách Lỗ Ban...

    Mười năm trước, Lâm Trung Nhạc dự đoán được rằng, trong núi Côn Lôn có cất giấu quyển hạ của sách Lỗ Ban.

    Sau khi lên kế hoạch suốt năm năm trời, Lâm Đại Phát và người bạn chí cốt trên thương trường là Tống Đại Phúc đi dẫn đội khảo sát khoa học tới núi Côn Lôn, nhưng lại tay trắng quay về...

    - Còn sự việc xảy ra vào mấy tháng trước, ta nghĩ cậu đã biết cả rồi...

    - Lâm Trung Nhạc khẽ thở dài.

    - Cậu và Tiểu Ngộ, đó là số trời đã âm thầm sắp đặt...

    Nghe xong câu chuyện ly kỳ này, tôi lại không hề cảm thấy quá ư kinh ngạc.

    Dù sao, những sự việc tôi đã từng trải qua, bản thân nó cũng quá đủ ly kỳ.

    - Bất Chính, bây giờ muốn phá giải được lời nguyền này, chỉ trông vào mình cậu!

    - Lâm Trung Nhạc như trút được gánh nặng, ánh mắt ông ta nhìn tôi như lấp lánh niềm hoan hỷ.

    Vì Tiểu Ngộ, việc gì tôi cũng sẵn lòng thực hiện.

    Huống hồ, đây vốn dĩ cũng là việc tôi nên làm.

    Mẹ của tôi đã vì đó mà qua đời, lẽ nào tôi còn muốn nhìn người con gái mình yêu, và con gái tôi trong tương lai cũng phải chịu đựng lời nguyền này hay sao?

    Tôi đã gật đầu.

    Tôi nghĩ, nếu ông ta đã biết trong núi Côn Lôn có giấu một bộ sẩch Lỗ Ban khác, thì chắc hẳn cũng biết, tôi đã mang cuốn sách Lỗ Ban đó trở vê.

    - Đây chính là cuốn sách Lỗ Ban mà ta có được...

    - Lâm Trung nhạc rút từ trong áo ra một vật trông như cái kẹp sách bằng da đen trũi, đưa cho tôi.

    Tôi thoáng ngập ngừng, rồi cũng nhận lấy.

    Cái kẹp sách bên ngoài rõ ràng là về sau mới được thêm vào, để tiện cho bảọ quản và lật giở những trang giấy bên trong.

    Tôi lật trang đầu tiên, đó là một loại giấy bổi thô ráp.

    Đúng ra, loại giấy này rất dễ bị mối mọt gặm hỏng hay mục nát, nhưng tập giấy bên trong vẫn hoàn toàn nguyên vẹn, nét chữ hết sức rỏ ràng, đều là loại chữ triện cổ đại.

    Sau khi Tiền bốn mắt dịch chữ cho tôi, tôi thường xuyên đối chiếu chữ đã dịch và chữ bản gốc, do đó, tôi cũng đã biết được không ít chữ triện.

    Vì vậy, tôi vừa nhìn là đã có thể khẳng định, đây chắc chắn là cuốn sách Lỗ Ban.

    Tôi đọc một đoạn: "Vui mở Tài môn, cung hỷ cung hỷ ba cung hỷ, nhà cao vạn trượng xây từ đất, ngày trước xây dựng là Lỗ Ban, ban ngày xây lên ban đêm mở...

    Tay trái mở cửa nhận châu báu, tay phải mở cửa rước vàng ròng.

    Hai tay trái phải cùng mở ra, vàng to bằng đấu lăn vào cửa..."

    Đọc đến đây, tôi coi như đã hiểu, tại sao nhà họ Lâm lại giàu có đến thế...

    - Cuốn sách này đã theo ta bảy mươi năm rồi, chưa bao giờ rời khỏi ta nửa bước, ta cũng chưa cho bất cứ ai xem.

    Nhưng hôm nay, ta giao lại nó cho cậu...

    - Lâm Trung Nhạc nói với tôi.

    - Ông ngoại lớn...

    - Tôi đắn đo một lát, mới băn khoăn nói - Ông ngoại cháu chưa bao giờ nói với cháu về cuốn sách Lỗ Ban, lại càng không truyền lại sách Lỗ Ban cho cháu...

    - Cuốn sách Lỗ Ban của nhà cậu, hai mươi tám năm về trước đã không còn nằm trong tay ông ngoại cậu nữa...

    Nhưng sớm muộn cậu cũng sẽ tìm được toàn bộ sách Lỗ Ban!

    - Lâm Trung Nhạc cười khẽ.

    - Cái gì cơ?

    - Tôi giật mình - Sao ông lại biết?

    Lâm Trung Nhạc im lặng.

    Tôi lập tức hiểu ra, Lâm Trung Nhạc là một kỳ nhân, cũng giống như ông ngoại tôi, có rất nhiều điểm khác người.

    Những gì ông muốn biết, chắc chắn sẽ biết.

    - Vậy phải làm thế nào mới tìm thấy được…

    - Ý tôi muốn nói là, tại sao cuốn sách Lỗ Ban trong tay ông ngoại tôi lại biến mất?

    Nó đã rơi vào tay ai?

    Liên Hoàn Pháo, Hầu Tử có còn con cháu hay không?

    Và cuốn sách Lỗ Ban trong tay họ, hiện đang ở đâu...

    Những điểu tôi muốn biết, thực sự quá nhiều.

    Nhưng Lâm Trung Nhạc lại không muốn nói thêm:

    - Thiên cơ!

    Tất cả đều phải xem số mệnh...

    Tôi im lặng.

    Đúng vậy, việc tôi có được quyển hạ của sách Lỗ Ban, hoàn toàn là do cơ duyên trùng hợp.

    - Cậu đi đi!

    - Lâm Trung Nhạc xua tay với tôi, rồi khép mắt lại.

    Nhìn khuôn mặt trắng bệch, chằng chịt nếp nhăn, mệt mỏi rã rời của ông, tôi bỗng cảm thấy chua xót trong lòng.

    Tôi đứng dậy, gập người thật thấp trước mặt ông:

    - Ông ngoại lớn, cháu nhất định sẽ không khiến ông thất vọng...

    Tôi bước ra khỏi tầng hấm, giống như đang gánh vác một sứ mệnh trang nghiêm, thấn thánh trên vai.

    Lâm Đại Phát đứng ở cửa ra của tầng hầm, liếc nhìn cuốn sách Lỗ Ban trong tay tôi, ánh mắt u ám, chỉ khẽ gật đầu với tôi.

    - Bác ơi, cháu đi thăm Tiểu Ngộ!

    - Tôi nói.

    Lâm Đại Phát gật đầu:

    - Về sau, cứ coi đây là nhà của cậu...

    Tôi gật đầu, đi lên trên lầu.

    Lâm Đại Phát đi theo tôi, nói:

    - Cậu ăn cơm chưa?

    Ta bảo nhà bếp chuẩn bị chút đồ ăn...

    Tôi im lặng.

    Thực ra tôi rất muốn ăn cơm cùng Lâm Đại Phát, vì tôi muốn biết về mẹ của tôi, thậm chí là cha tôi.

    Dù sao, bây giờ chỉ có ông ta mới biết những chuyện này...

    - Thưa bác, hôm khác cháu sẽ mời bác và Tiểu Ngộ dùng cơm!

    - Tôi đáp.

    - Tiểu Ngộ không được rời khỏi nơi này nữa, ta sợ nó lại xảy ra chuyện gì sơ sảy…

    - Lâm Đại Phát giọng đầy lo lắng.

    Từ giọng nói của ông ta, tôi cảm nhận được tình yêu thương vô hạn của một người cha dành cho con gái mình.

    - Tại sao Tiểu Ngộ lại từ nhà cháu trở về được?

    - Tôi hơi tò mò.

    - Lần trước, sau khi cậu và Tiểu Ngộ rời khỏi nhà, ông ngoại lớn của cậu và ta đã bám theo.

    Ông muốn gặp mặt ông ngoại của cậu lần cuối, nhưng thật đáng tiếc, đã đến chậm một bước...

    - Lâm Đại Phát mặt mày rầu rĩ - Đó cũng là lần thứ hai ta đến nhà cậu.

    Ba mươi năm về trước, ta đã từng đến.

    Tất cả không có gì thay đổi, chỉ có người là khác...

    Như vây, tôi đã hiểu, tại sao Lâm Tiểu Ngộ biến mất mà con Mực lại không phát hiện ra.

    Tôi đứng trước cửa phòng tranh.

    Lâm Tiểu Ngộ đang đứng trước giá vẽ, trầm tư suy nghĩ, hồi lâu vẫn chưa hạ bút.

    Tôi không biết có nên vào hay không, mà nếu có vào thì cũng để làm gì?

    Em đã không còn nhận ra tôi nữa...

    Lâm Đại Phát khẽ chau mày.

    Tôi vô tình nhìn thấy một niềm đau đớn ẩn hiện trong ánh mắt.

    Có lẽ ông ta chẳng phải là người tốt, nhưng một người dù có xấu xa đáng ghét đến đâu, vẫn luôn dành cho con cái một tình yêu thương vô hạn độ.

    Tôi đang định quay người bỏ đi, bỗng nghe thấy tiếng gọi của Lâm Tiểu Ngộ:

    - Xin đợi một lát!

    Giọng nói của nàng không lạnh lùng, nhưng rất lạnh nhạt, lạnh nhạt đển nỗi khiến người ta không thể cảm giác được mức độ.

    Tôi quay người lại, hy vọng, có lẽ kỳ tích sẽ xảy ra!

    Lâm Tiểu Ngộ bước từng bước đến trước mặt tôi.

    Tôi vô thức dang hai tay ra, nàng cũng từ từ đưa hai tay về phía tôi, đôi bàn tay nhỏ nhắn của nàng đặt lên đôi tay tôi.

    Rồi nàng chậm rãi nói với tôi:

    - Mặc dù em không nhớ anh là ai, nhưng em có thể cảm nhận được, anh là một người rất quan trọng với em…

    Tôi đột nhiên nắm chặt lấy tay nàng.

    Đôi tay nàng rất lạnh, lạnh như băng đá.

    Tôi gật đầu, nghiêm túc nói với nàng:

    - Em yên tâm, nhất định anh sẽ giúp em nhớ ra anh...

    Nàng cũng gật đầu.

    Bốn mắt nhìn nhau.

    Tôi nhìn thấy rành rành, nước mắt của nàng, long lanh giữa hai mi, chỉ có điều không chảy ra ngoài.

    Tôi buông tay nàng ra.

    Tôi không thể nhìn thấy nước mắt nàng rơi xuống!

    Tôi bước xuống cầu thang.

    Mặc dù tôi không quay đầu lại, nhưng tôi vẫn cảm nhận được, ánh mắt của Tiểu Ngộ vấn nhìn hút theo tôi...

    Những món ăn mà Lâm Đại Phát khoản đãi tôi rất giản dị, nhưng rất hợp với khẩu vị của tôi, trong đó có một bình rượu vang Pháp chính tông đã khá lâu năm, nhưng tôi chẳng có tâm trạng nào uống rượu, và Lâm Đại Phát cũng không mời tôi.

    - Bác ơi, bác đã gặp mẹ cháu chưa?

    - Tôi thận trọng hỏi Lâm Đại Phát.

    - Gặp rồi!

    - Lâm Đại Phát gật đầu.

    - Mẹ cháu trông như thế nào?

    - Tôi vội hỏi.

    - Ta chỉ gặp mẹ cậu một lần.

    Mắt rất to, tóc rất dài, rất xinh đẹp...

    - Lâm Đại Phát mỉm cười, nụ cười có phần gượng gạo.

    Đây cũng chỉ là những mô tả sơ sài.

    - Thưa bác, bác đã từng gặp cha cháu chưa?

    -Tôi hỏi tiếp, càng thận trọng hơn nữa.

    - Chưa!

    - Lâm Đại Phát lắc đầu.

    Tôi hơi thất vọng, nhưng vẫn còn một tia hy vọng:

    - Vậy ông ngoại lớn đã từng gặp cha cháu chưa?

    -Chưa!

    - Lâm Đại Phát khẳng định - Ta nhớ rất rõ năm đó, ta và ông ngoại lớn đến nhà cậu, chỉ thấy ông ngoại và mẹ cậu.

    Chúng ta ăn cơm trưa xong liền đi ngay...

    Trong lòng tôi bỗng chốc nguội lạnh.

    Thông tin về cha của tôi,thế là lại đứt đoạn…

    Về cha tôi, tôi chỉ biết ông ấy họ Lưu, còn lại hoàn toàn mù tịt...

    Sau đó, tôi từ biệt Lâm Đại Phát.

    Trước khi lên đường, Lâm Đại Phát làm như vô tình nói thêm một câu:

    - Đoàn người của Tống Đại Phúc có lẽ sẽ đến thành Đại Minh núi Tứ Phương. . .

    Tôi thoáng giật mình.

    Thành Đại Minh núi Tứ Phương, đó chắng phải ngôi làng mà mấy vị ông ngoại từng sinh sống hay sao?
     
    Mật Mã Sách Lỗ Ban Full 19 Chương
    Chương 13: Phép Đoạt Hồn


    Sau khi rời khỏi nhà Lâm Tiểu Ngộ, tôi trở về khách sạn, nghỉ ngơi một đêm.

    Ngày hôm sau, tôi lại đi tìm Tiền bốn mắt, nhờ hắn dịch giúp một số nội dung trong cuốn sách cổ mới có được (đương nhiên là bản photo).

    Còn rất nhiều chữ mà tôi chưa biết.

    Đương nhiên, Tiền bốn mắt sẵn sàng giúp đỡ.

    Hắn cặm cụi suốt mấy tiếng đồng hồ mới dịch xong.

    Sau đó, tôi rời khỏi Giang Thành, trở về nhà cũ, đặt quyển hạ sách Lỗ Ban lấy được từ núi Côn Lôn và một phần cuốn sách do Lâm Trung Nhạc giao cho tôi vào trong một chiếc hòm, rồi đào một cái hố trong nhà, chôn xuống.

    Sau đó, tôi lại đi tìm đại sư huynh Trương Nhất Đao và nhị sư huynh Ngưu Thợ Đá, bảo họ cùng tôi đến thành Đại Minh núi Tứ Phương.

    Lần này, tôi nói rõ ràng mục đích của mình cho họ biết, nếu tôi muốn cứu người con gái mình yêu, nhất định phải tìm được những phần sách Lỗ Ban còn lại.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh không nói nhiều, lập tức khảng khải nhận lời.

    Mấy ngày sau, ba người chúng tôi đã đến được thị trấn Lai Phượng có biệt danh một chân giẫm ba tỉnh.

    Một chân giẫm lên ba tỉnh Xuyên, Kiêm, Tương, hay nói cách khác, đây là giao giới giữa ba tỉnh, một thị trấn nhỏ hẻo lánh chẳng ai thèm quản lý.

    Tôi dừng xe trước một khách sạn trong thị trấn, thuê một chiếc mô tô ba bánh.

    Sau mấy tiếng đồng hồ xóc nảy ruột trên con đường núi gập ghềnh, chúng tôi chỉ còn cách xuống xe đi bộ.

    Từ đây đến thành Đại Minh có lẽ vẫn còn hơn trăm dặm nữa, đều là đường mòn khúc khuỷu khó đi.

    Trước khi xuất phát từ Lai Phượng, tôi đã tìm người hỏi thăm, thi thoảng mới có người từng nghe nói đến thành Đại Minh, còn chẳng ai biết thành Đại Minh nằm ở chỗ nào.

    Nhưng mọi người đều biết đến một địa điểm tên là máng Giết Người, cách thị trấn Lai Phượng hơn năm mươi dặm.

    Ở đó có quán trọ.

    Mục đích chuyến đi lần này của chúng tôi, chính là trước tiên đến máng Giết Người, rồi tiếp tục hỏi thăm về thành Đại Minh.

    Đại sư huynh, nhị sư huynh, tôi, ba người từ nhỏ đã lớn lên ở vùng núi, đến đây chẳng qua chỉ là thay đổi một không gian khác mà thôi, vì vậy, đối với chúng tôi, chẳng hề có khó khăn gì.

    Ba người chúng tôi rảo bước như bay, suốt dọc đường chuyện trò rôm rả.

    Phía sau có tiếng bình bịch của xe mô tô.

    - Đường không ra đường như thế này mà vẫn đi xe!

    - Chúng tôi không hẹn mà cùng quay đầu lại, đại sư huynh hừm một tiếng khinh thường - Đúng là chán sống...

    Từ phía xa, một chiếc mô tô hai bánh ngả nghiêng lao tới vùn vụt, người ngồi trước còn mặc trang phục cảnh sát, người ngồi sau lưng đeo ba lô, trên tay xách một cái túi.

    Chiếc xe lao đánh vèo qua người chúng tôi.

    Nhị sư huynh có phần kinh ngạc.

    - Tay nghề tổ lái của thằng cha cảnh sát này cũng gớm thật đấy!

    Đại sư huynh chẳng coi ra gì:

    - Cứ phóng cho đã đi, đến lúc rơi xuống vực thì biết!

    Đại sư huynh vừa dứt lời, chỉ thấy chiếc xe loạng choạng một hồi, rồi lao thẳng về phía vực sâu bên đường, chỉ còn vọng lại một tiếng rú thất thanh.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh trợn mắt cứng lưỡi, thật là ngoài sức tưởng tượng!

    - Cứu người!

    - Tôi phản ứng nhanh nhất, lập tức lao vọt đến, chỉ thấy tay cảnh sát kia hai tay ôm cứng lấy một thân cây trên vách núi, người còn lại treo lơ lửng dưới tán cây lưng chừng vực, thì ra cái ba lô trên lưng bị mắc vào chạc cây.

    Còn chiếc xe vẫn đang lăn lông lốc xuống dưới...

    Rất hiển nhiên, khi chiếc xe lao xuống, hai người đã nhảy khỏi xe, mới có kết cục thế này.

    - Hai anh hãy kéo cảnh sát lên trước!

    - Tôi hét lên với đại sư huynh, rồi trượt dọc theo vách núi, đến bên cạnh anh chàng đang bị mắc trên cây - Thế nào rồi?

    Có bị thương không?

    - Không biết nữa!

    - Đó là một anh chàng tầm hai bảy hai tám tuổi, mặc dù vừa bị một cú kinh hồn táng đởm, mặt mũi tái mét, nhưng hai tay vẫn ôm khư khư chiếc túi trong lòng, trên cổ lủng lẳng máy ảnh, người run như giẽ.

    - Đưa cái túi cho tôi đã.

    - Tôi bám tay vào một thân cây nhỏ, chìa tay còn lại ra, nói với anh ta.

    - Cẩn thận đấy nhé, vật dựng trong này quan trọng lắm đấy!

    - Anh ta nói.

    - Có quan trọng hơn cái mạng của ang không?

    - Tôi hỏi vặn lại.

    Không ngờ anh ta lại gật đầu.

    Tôi nhận lấy chiếc túi, đặt xuống một chỗ chắc chắn.

    Bên kia, đại sư huynh và nhị sư huynh đã cứu được viên cảnh sát lên.

    Đại sư huynh chạy lại gần, hỏi:

    - Tình hình thế nào?

    - Như thế này đấy!

    - Tôi chăm chủ quan sát, cảm thấy muốn cứu được anh ta không dễ.

    Nhưng có đại sư huynh và nhị sư huynh trợ giúp, cũng không phải chuyện quá khó khăn.

    - Đại sư huynh, anh dùng móc móc lấy cái balô sau lưng anh ta, còn tôi chặt đứt cái chạc cây mà anh ta đang mắc vào, anh kéo người lên, nhị sư huynh ở phía trên đón lấy. . .

    - Tôi nghĩ thầm, cứu có nhõn một người mà vẫn phải ba huynh đệ chúng tôi liên thủ.

    Đại sư huynh lấy móc câu ra, móc vào quai đeo balô sau lưng anh chàng, rồi ôm lấy một thân cây ở bên cạnh,nói:

    - Chiếc móc câu này của ta đều dùng để đoạt mạng,cứu mạng mới là lẩn đầu tiên. .. .

    Nhị sư huynh vung búa sắt đập lấy một chỗ đứng.

    Sau khi chuẩn bị xong xuôi, tôi rút rìu ra, rắc một tiếng đã chặt đứt chạc cây, đại sư huynh lôi anh ta lại, sau đó nhị sư huynh xách anh ta lên.

    Tay cảnh sát phía trên cũng đã hoàn hồn, đang thò đầu nhìn, cuống quýt hỏi:

    - Anh họ, anh có sao không?

    - Không sao!

    - Người này cử động toàn thân một lượt, không phát hiện có chỗ nào đáng ngại.

    Tôi chỉ có thể nói rằng, hai kẻ này đúng là phúc lớn mạng lớn, thế mà chỉ bị xây xước qua loa.

    Tôi châm cho mỗi người một điếu thuốc, rít được mấy hơi, hai người mới từ từ bình tĩnh trở lại, tất nhiên là liên miệng cảm ơn chúng tôi.

    Chuyện trò vài câu, tôi mới biết, người đeo máy ảnh trên cổ tên Vương Minh, là phóng viên cuốn tạp chí "Bí mật"; viên cảnh sát là em họ của anh ta, tên Trần Phong.

    Họ đang trên đường đến máng Giết Người.

    Để bày tỏ lòng cảm ơn, Vương Minh khăng khăng đòi chụp một bức ảnh kỷ niệm với chúng tôi.

    Anh ta hẹn giờ máy ảnh xong xuôi, sau đó chạy ào lại, "tạch" một tiếng, năm người chúng tôi đã có một bức ảnh chung.

    Ngay sau đó, anh ta rút ra một tấm đưa cho tôi.

    - Cái máy ảnh này tuyệt thật đấy!

    Chụp xong là có ảnh ngay.

    - Tôi chưa bao giờ nhìn thấy loại máy ảnh cao cấp đến vậy.

    - Đây là máy ảnh chụp lấy ngay, không dùng phim cuộn, chỉ dùng giấy in ảnh, khá đắt.

    Tôi là nhà báo, có hai cái mấy ảnh, cái còn lại là máy ảnh kỹ thuật số...

    - Vương Minh giải thích.

    Tôi khẽ gật đầu.

    Sau đó, năm người chúng tôi đã kết nhóm, cùng đi về phía máng Giết Người.

    - Anh Bất Chính, anh không phải là người vùng này à?

    - Trên đường đi, Vương Minh và tôi nói chuyện khá hợp nhau, anh ta thử thăm dò tôi.

    Người địa phương vùng giáp ranh Xuyên,Kiềm, Tương nói cùng một thứ phương ngữ, nhưng âm sắc có khác biệt.

    Huống hồ chúng tôi cách nơi này rất xa, mặc dù vẫn có thể nghe hiểu, nhưng phát âm khác xa, vì vậy vừa nghe đã biết ngay.

    -Không phải!

    - Tôi trả lời thành thật.

    Tôi không có bất cứ sự đề phòng nào đối với Vương Minh và em họ của anh ta.

    Trước tiên, chúng tôi không phải người làm việc xấu, không cần thiểt phải cảnh giác họ.

    Hơn nữa, hai người họ muốn đối phó với ba huynh đệ chúng tôi, là chuyện tuyệt đối không thể.

    Chỉ một người trong số ba chúng tôi đã đủ để đảnh bại hai người họ.

    Vương Minh cũng không hỏi tiếp nữa, đây là phép lịch sự cơ bản, không thể mới lần đầu tiên gặp mặt đã hỏi hết chuyện của người khác.

    - Còn anh?

    - Tôi hỏi lại Vương Minh.

    - Quê tôi ở thành Phượng Hoàng, Tương Tây, ra ngoài đi học mười năm, lại làm việc năm năm, vì vậy giọng nói cũng có thay đổi.

    Em họ của tôi chỉ ra ngoài đi lính ba năm, quay về liền làm cảnh sát ở đồn công an huyện lỵ Phượng Hoàng.

    Lần này, nhân lúc nó được nghỉ phép, tôi bảo nó đi cùng tôi.

    - Vương Minh chẳng hề giấu giếm.

    Trần Phong thì trầm lặng ít nói hơn.

    - Máng Giết Người?

    Tại sao lại có tên kỳ quặc thế nhỉ?

    - Tôi có phần tò mò.

    - Từ nhỏ tôi đã nghe nói đến nơi này.

    Đồn rằng vào những năm Khang Hy đời Thanh, lính Thanh truy sát một cánh quân Đại Minh còn sót lại ở nơi này, kỳ thực, phần nhiều chỉ là người già, phụ nữ, trẻ nhỏ chạy lọan.

    Sau một trận chém giết dã man, xác chết chất đầy cả một thung lũng.

    Thung lũng đó, hình thù trông như một cái máng ngựa, nên người nơi đây mới gọi là máng Giết Người...

    -Vương Minh thao thao một hồi.

    Sau cùng, anh ta ghé sát vào tôi, hạ giọng nói - Nơi đó thường xuyên có ma quỷ xuất hiện...

    Trời vừa tối, đến ngựa cũng chẳng dám đi qua...

    - Ma à?

    Chúng tôi không sợ nhất chính là ma đấy!

    - Đại sư huynh và nhị sư huynh vừa nghe đã cười toáng lên.

    - Các anh vẫn không tin?

    Đúng là có ma thật đấy...

    - Trần Phong nãy giờ im như thóc bỗng lên tiếng.

    -Anh gặp rồi à?

    - Tôi thuận miệng hỏi lại.

    - Gặp rồi!

    - Trần Phong có vẻ ngập ngừng, sắc mặt nghiêm trọng.

    Tôi thấy anh ta không giống như nói dối, thì lòng hiếu kỳ nối lên:

    - Kể cho chúng tôi nghe xem nào!

    - Đại sư huynh cũng hùa thêm vào:

    - Đúng đấy!

    Kể cho chúng tôi nghe xem nào...

    Trần Phong cứ ngần ngừ muốn nói lại thôi, sắc mặt khua khoắng, miệng ú a ú ớ, tỏ ý chúng tôi không được vào trong.

    Thì ra là một gã câm.

    - Chúng tôi không phải người xấu, chúng tôi đến ở trọ.

    - Vương Minh cũng hoa tay múa chân.

    Hai người đang khua khoắng, từ trong nhà lại bước ra một ông già mặc chiếc áo dài màu đen, tay chống một cây tấu dài, râu tóc thưa thớt, hai con mắt đỏ ngầu như máu.

    Ông ta lạnh nhạt nói:

    - Quán trọ chúng tôi không dành cho người ở....

    - Thưa bác, chúng cháu chỉ nghỉ lại một đêm, chúng cháu sẽ trả tiền phòng.

    Bác xem, người này là em họ của cháu, làm cảnh sát...

    - Vương Minh kéo cậu em họ đến bên cạnh, để chứng minh chúng tôi là người tốt.

    - Ông mở quán trọ, sao lại không cho người ở?

    Có phải hắc điếm đâu?

    - Nhị sư huynh giọng đầy bất mãn.

    Ông già vẫn lạnh lùng:

    - Ta không muốn cho các người ở đây.

    Nếu như các người cứ ở, thì đừng trách ta!

    - Bác ơi, chúng cháu không trách bác đâu, mà phải cảm ơn bác mới đúng!

    - Vương Minh vội nói.

    Ông già khoát tay vài cái về phía gã câm, gã câm liền dẫn chúng tôi đến gian phòng ở rìa ngoài cùng.

    Gian phòng này có hai cái phản gỗ ở hai bên trái phải, một tấm chăn rách cũng chẳng có, ở giữa là một bếp lò, có ba cái giá sắt thò lên.

    - Cái nơi quái quỷ gì thế này, còn tuềnh toàng hơn cả nhà chúng ta, ngủ thế quái nào được đây?

    - Đại sư huynh cười nói.

    - Đại sư huynh, có một chỗ để tránh gió lạnh đã tốt lắm rồi, cứ ngủ đại một giấc đi!

    - Nhị sư huynh chẳng để tâm.

    Dù sao, nhà chúng tôi cũng chỉ hơn đây được vài tấm chăn mà thôi!

    Chỉ có Vương Minh và Trần Phong rõ ràng là bất ngờ trước về sơ sài của nơi này, mặt mũi trông khá khó coi.

    Chúng tôi ném túi xách xuống giường.

    Lúc này, gã câm bước vào, ôm theo một bó củi, đều là khúc cây khô.

    Gã còn nhóm lửa cho chúng tôi, sau đó lại đi ra, bê vào nửa sọt khoai tím còn lem nhem bùn đất, một siêu nước treo trên giá sắt, mấy cái bát to đen sì.

    Mọi người đều đã hiểu ra, bữa tối của chúng tôi là khoai tây nướng.

    Tuy nhiên, trong túi của chúng tôi có mang theo lương khô, có bánh, đậu phộng, thịt bò cay, rượu trắng.

    Cuối cùng, gã câm xách vào một cây đèn hình vuông, treo bên cạnh cửa, cũng không châm lửa, đã quay người đi luôn.

    Trong phòng đã đốt bếp lò, không cần thiết phải thắp đèn.

    Tôi gọi Vương Minh và Trần Phong đến cùng uống rượu, ăn lương khô, cũng nướng cả khoai tây.

    Một lúc sau, hai cái phản gỗ đã ấm sực.

    Thì ra cái lò này rỗng ruột, bên này đốt lửa, hơi nóng liền lan xuống dưới hai chiếc giường, chẳng khác nào kiểu giường lò ở phương Bắc.

    Uống vào chút rượu, tôi lại nhớ đến chuyện Trần Phong nói anh ta đã gặp ma.

    Vừa hỏi, Trần Phong đã kể lại cho chúng tôi nghe.

    Mùa thu ba năm về trước, ở huyện Phượng Hoàng đã xảy ra một chuyện kinh thiên động địa: có người phát hiện ra một cái xác đàn bà lõa thể không đầu ở sông Tiểu Hà phía ngoài thành.

    Đây là vụ án lớn nhất trong lịch sử của huyện Phượng Hoàng.

    Đồn công an điều động binh hùng tướng mạnh, dốc toàn lực điều tra, nhưng không tài nào tìm thấy phần đầu của cái xác, không thể điều tra được lai lịch xác chết.

    Vụ án cứ kéo dài mãi chưa phá được.

    Trong thành đồn thổi ầm ĩ, lòng người nơm nớp, đồn công an phải đối mặt với áp lực nặng nề.

    Lúc đó, Trần Phong ở trong tổ chuyên án, họ chỉ có được chút thông tin như sau: một cô gái ở nơi khác đến, bị ít nhất hai tên đàn ông cưỡng hiếp, sau đó giết hại dã man, chặt mất đầu.

    Cô gái này thân thế không rõ ràng, bên cạnh cô ta chỉ phát hiện thấy một chiếc ô vải hoa che mưa chế tác rất tinh xảo.

    Kiểu ô này thường chỉ có ở vùng Giang Nam, chủ đất Phượng Hoàng không có; khu vực Phượng Hoàng cũng không có cô gái nào mất tích.

    Từ đó suy đoán, người bị hại rất có thể là người vùng khác.

    Còn về thông tin của hung thủ gây án, họ hoàn toàn không biết, muốn phá được một vụ án thế này, quả thật hết sức khó khăn.

    Có một hôm, Trần Phong và một đồng nghiệp khác đi tuần, bắt được hai tên trộm vặt trên đường phố, đều khoảng hai mươi tuổi, trong đó một tên trên mặt có một vết thương đã mưng mủ.

    Trần Phong thẩm vấn, hai tên này liền thật thà khai nhận, chúng vừa đi ăn trộm gà của một nhà nông thì bị tóm luôn.

    Kiểu trộm vặt như vậy, còn chẳng đủ mức độ để tạm giam.

    Trần Phong đang chuẩn bị cảnh cáo chúng một trận, bắt chúng viết bản kiểm điểm, giấy cam kết rồi thả đi.

    - Trên mặt sao thế?

    - Ánh mắt của Trần Phong dừng lại trên khuôn mặt của một gã tên là Mao.

    - Báo cáo cảnh sát, đi xe không may bị ngã -Tên Mao thật thà như đếm.

    - Có phải ăn trộm xe không?

    - Trần Phong truy hỏi.

    - Không phải!

    - Ánh mắt của Mao hơi hốt hoảng, nhưng rõ ràng mang vẻ xảo trá của một tay lõi đời.

    Có thể hai tên này còn giấu giếm điều gì đó...

    Trần Phong đang nghĩ phải làm thế nào để tiếp tục khai thác thông tin, thì bỗng nhiên từ bên ngoài có một ông già chạy lao vào, hoảng hốt cực độ, liên miệng kêu cứu mạng.

    Trần Phong còng tay hai tên trộm lại, nhanh chóng tiếp đón ong cụ.

    Ông cụ là ông Vương hành nghề chạy xe máy chở khách.

    Ông ta kể lại một sự việc vô cùng rùng rợn...

    Huyện Phượng Hoàng không có xe taxi, chỉ có xe mô tô ba bánh chở khách, người lái ngồi ở phía trước, phía sau có thể ngồi hai đến ba người.

    Huyện lỵ Phượng Hoàng không lớn, làm nghề này cũng chỉ có mấy chục người, đều quen biết nhau.

    Ông Vương đã sắp sáu mươi, gia cảnh chẳng khấm khá gì, nên vẫn phải tất bật kiếm tiền sáng ngày tối đêm.

    Mười giờ tối hôm nay, ông Vương đi qua trước cửa đồn công an, nhìn thấy một cô gái trẻ mặc váy liền màu trắng, tay cầm chiếc ô hoa, vẫy tay với ông

    Có khách rồi!

    Ông Vương vội vã dừng xe, nhảy xuống hỏi:

    - Cô gái, muốn đi đâu?

    - Đến bãi Hưởng Thủy!

    - cô gái vừa nói vừa bước lên xe, nhưng không cụp ô lại, mà cứ giương ô che hết khuôn mặt.

    Ông Vương vốn đã mắt mũi kèm nhèm, lại là ban đêm, nên không nhìn rõ hình dạng của cô gái.

    Nhưng ông biết rõ bãi Hưởng Thuỷ, nằm ở phía ngoài thành, nơi sông Tiểu Hà chảy qua, hơi hẻo lánh, bình thường ít người qua lại, thi thoảng lắm mới có người đến câu cá.

    - Nửa đêm khuya khoắt, cô tới đó làm gì?

    - Ông Vương hỏi.

    Cô gái đáp:

    - Quần áo của cháu bị rơi ở đó!

    Ông Vương nghe cũng thấy hợp tình hợp lý:

    - Cô gái, cô không phải người vùng này, đúng không?

    Cô gái rầu rầu nói:

    - Cháu là sinh viên năm thứ nhất của một trường đại học ở Chiết Gíang, tên là Tiểu Nhược, đến đây du lịch.

    - Cô đi một mình à?

    - Ông Vương đã nổ máy, vừa lái xe vừa hỏi - Con gái con đứa một mình ở bên ngoài, không an tòan đâu...

    - Vâng!

    - Tiểu Nhược ngồi sau xe khẽ thở dài - Ông ơi, trước đây cháu không biết, bây giờ thì đã biết rồi, sau này cháu sẽ không bao giờ đến đây nữa. ..

    - Cô gái, người không sao là tốt rồi!

    - Ông Vương nghĩ, có lẽ cô gái này đã gặp chuyện gì không vui, liền an ủi cô.

    Ngoài xe, gió lạnh ù ù.

    Chẳng mấy chốc, xe đã đến bãi Hưởng Thủy

    Bên ngoài tối tăm mù mịt.

    - Cô gái, quần áo của cô để ở đâu?

    Tôi tìm giúp cô, rồi chở cô về.

    Chỗ này hoang vu hẻo lánh, không có xe, cô là con gái, không an toàn...

    - Ông Vương nói với Tiểu Nhược.

    - Quần áo của tôi ở dưới bãi...

    - Tiểu Nhược xuống xe, giọng đầy ai oán.

    Ông Vương thầm kinh ngạc trong lòng: bãi Hưởng Thuỷ có một thác nước, nước từ thượng lưu đổ xuống, bên dưới có một cái đầm, sâu đến mấy trượng, cô gái này nói quần áo ở phía dưới, định nói đùa chắc?

    - Đầu của tôi cũng ở dưới đó...

    - Cô gái tên Tiểu Nhược đã đến bên mép đầm, rồi thình lình lao mình nhảy xuống.

    Ông Vương loáng thoáng nhìn thấy, cô ta không hề có đầu. ..

    Ông sợ đến nỗi rú lên thất thanh, vừa bò vừa lết chạy về, đến thẳng đồn công an báo cáo.

    Trần Phong đương nhiên không tin vào chuyện ma quỷ, nhưng thấy ông Vương hoảng loạn cực độ, cũng thấy bán tín bán nghi, huống hồ chuyện này liên quan đến mạng người, liền lập tức dẫn theo đồng nghiệp, lái xe cảnh sát đến bãi Hưởng Thuỷ.

    Trần Phong đứng trên bờ đầm, bật đèn pin lên soi, lập tức nhìn thấy một cái đầu tóc dài dập dờn nổi lềnh bềnh giữa đầm nước.

    Phần đầu của xác chết đã được tìm thấy.

    Các thành viên trong tổ chuyên án nhanh chóng đến hiện trường, vớt cái đầu lên, đồng thời cũng phát hiện ra một cái túi du lịch trôi nổi trên đầm.

    Lúc này, thân phận của cô gái bị sát hại đã được xác minh: Đoàn Tiểu Nhược, người Chiết Giang, đang học đại học, thích đi du lịch một mình.

    Có lẽ trong lúc đi du lịch đến đây, đã bị cướp của rồi giết hại.

    Càng khiến tổ chuyên án vui mừng hơn nữa, đó là họ đã phát hiện ra một miếng thịt trong miệng Đoàn Tiểu Nhược, qua giám định, có lẽ là khi hung thủ cưỡng bức hôn hít, đã bị Đoàn Tiểu Nhược cắn đứt một miếng thịt da, vậy thì, trên mặt của hung thủ chắc chắn cũng phải có vết thương.

    Trấn Phong nghe tổ chuyên án phân tích, thì sực nhớ ra, trên mặt tên Mao trộm vặt vừa bị bắt cũng có một vết thương, lẽ nào lại là hắn?

    Trần Phong đưa tên Mao đến trước cái đầu của Đoàn Tiểu Nhược, thằng cha này lập tức hồn bay phách lạc, lập tức khai hết mọi chuyện.

    Thì ra, Mao và đồng bọn đã phát hiện ra cô gái đi du lịch một mình là Đoàn Tiểu Nhược, liền nổi thú tính, không những cướp của, mà còn cưỡng hiếp cô.

    Tiểu Nhược phản kháng quyết liệt, cắn cả vào mặt tên Mao.

    Tên Mao trong cơn giận dữ đã giết chết cô, còn cắt rời đầu xuống, kết quả là cái đầu và túi du lịch bị nước cuốn xuống đầm bãi Hưởng Thủy, còn thi thể bị phát hiện trước.

    Sau đó, tên Mao và đồng bọn chẳng hiểu sao nảy ra ý định trộm gà, cứ như bị một người vô hình dắt mũi, còn chúng chỉ biết ngoan ngoãn nghe theo.

    Sau khi bị phát hiện, thậm chí chúng còn không hề có ý nghĩ bỏ chạy!

    Chúng chỉ có một cảm giác: hồn đã lìa khỏi xác.

    Vụ án đến đây đã được phơi bày chân tướng, nhưng những chuyện như linh hồn của cô gái đã chết hiện lên gọi xe và đưa ông Vương đến bên đầm nước, tìm được cái đầu mà cảnh sát lùng sục mãi vẫn không ra, mọi người càng đồn thổi càng ly kỳ...

    - Câu chuyện này thật là rùng rợn!

    - Vương Minh hai mắt tròn xoe, vô cùng kinh ngạc.

    Tôi và đại sư huynh, nhị sư huynh không ngạc nhiên cho lắm, nhưng lại lờ mờ cảm thấy, chuyện này không chỉ đơn giản như vậy.

    Quả nhiên, Trần Phong vẫn chưa kể xong:

    - Đến xử lý hậu sự của Tiểu Nhược có hai chiếc xe nhỏ, gồm cha mẹ, em trai, chú, cậu của cô ta, còn có cả một ông cụ hơn bảy mươi tuổi, là ông nội của của cô

    - Nhà Tiểu Nhược mở một công ty gia đình, chủ yếu là sản xuất ô che mưa.

    Ông nội của cô là một thợ đan già, làm ô thủ công rất khéo, xuất khẩu sang nhiều nước Đông Nam Á.

    Khi ông tiếp nhận di vật của Tiểu Nhược, đã cầm chiếc ô lên, khóc lóc rất đau đớn, cuối cùng nói một câu: " Cháu ơi, hung thủ đã bị bắt rồi, cháu hãy yên tâm mà ra đi..."

    Trần Phong thở dài một tiếng não nề.

    - Tại sao ông nội của cô ta lại nói chuyện với chiếc ô?

    - Vương Minh ngơ ngác hỏi.

    - Nghe người nhà cô ta nói, chiếc ô này là do ông nội cô tự tay làm, tặng cho cháu gái...

    - Trần Phong im lặng một lúc, nhìn bốn người chúng tôi, rồi thình lình buông một câu kinh động - Các anh đã bao giờ nghe nói đến phép Lỗ Ban chưa?

    - Phép Lỗ Ban?

    - Bốn người chúng tôi cùng hỏi lại.

    Vương Minh là kinh ngạc, nhưng chúng tôi thì không phải kinh ngạc, mà chỉ ngạc nhiên tại sao Trần Phong lại biết đến phép Lỗ Ban.

    Trần Phong nhanh chóng đưa ra lời giải thích:

    - Sau khi câu chuyện này được lan truyền rộng rãi, một ông thợ già ở gần nhà chúng tôi mới nói rằng, vì ông nội của cô rất yêu quý cháu gái, nên đã tặng cho cô một cái ô đã được thi triển phép Lỗ Ban, mặc dù không thể bảo vệ tính mạng cho cô, nhưng chỉ ít cũng bắt được hung thủ.

    Chính vì Đoàn Tiểu Nhược có chiếc ô ở bên mình, nên mới có thể hiện hồn, dẫn cảnh sát đến bên đầm tìm được cái đầu...

    Vụ án này, từ khi tìm được phần đầu cho đến khi bắt được hung thủ, đều hết sức ly kỳ khó tin, cũng không thể đưa ra một cách giải thích hợp lý mang tính khoa học.

    Nhưng vụ án hình sự đã được phá, hung thủ bị bắt về quy án, cũng đã đủ rồi.

    Đồn công an huyện Phượng Hoàng đã có thể trút được gánh nặng.

    Trần Phong kể xong, Vương Minh lại bảo tôi hãy kể một câu chuyện, anh ta nói, tôi là một kho chuyện.

    Tôi liền kể cho bọn họ nghe câu chuyện về Lý Hiếu Đức ở thôn Cổ Điếm, khiến cho bốn người nghe mà mắt tròn mắt dẹt.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh thì ngạc nhiên vì tôi lại sáng tác giỏi đến thế, nhưng họ đâu biết rằng đây là câu chuyện mà chính tôi đã trải qua?

    Nghe tôi kể xong, đến lượt Vương Minh vỗ ngực tự xưng:

    - Thưa anh Bất Chính, đại sư huynh, nhị sư huynh, câu chuyện tôi kể hôm nay không phải là một câu chuyện bình thường, mà là một câu chuyện truyền kỳ có thể gây chấn động cả nước, thậm chỉ toàn thế giới. . .

    - Anh đừng có khoe khoang nữa, định nhử mồi chúng tôi đấy à...

    - Đại sư huynh đang hào hứng nghe chuyện, hối thúc rối lên.

    - Đây là chính miệng ông nội tôi kể cho tôi nghe đấy...

    - Vương Minh mặt mũi nghiêm trang, chậm rãi kể lại.

    Ông nội của Vương Minh tên Vương Phương, bảy tám tuổi đã theo cha lên núi đi săn, chớp mắt đã mười mấy năm, rừng núi trong vòng một trăm dặm vuông, không chỗ nào ông không rành rẽ.

    Vương Phương to gan lớn mật, còn dám một mình đi vào khu vực máng Giết Người.

    Có một lần, Vương Phương đuổi theo một con lợn rừng, bị lạc trong núi, kết quả đã vô tình phát hiện ra được một thôn làng nằm giữa rừng sâu: thôn Đại Minh, trong thôn có mấy trăm người.

    Họ sống dựa vào săn bán, đào thảo dược, trồng khoai, trồng ngô.

    Có lẽ thôn Đại Minh cách một thị trấn nhỏ tại Kiềm Giang gần hơn, có lẽ người trong thôn Đại Minh không thích tiếp xúc với thế giới bên ngoài, cũng có lẽ do đường núi hiểm trở khó đi, lại nhiều dã thú, nên tại trấn Phượng Hoàng, ông nội là người đầu tiên phát hiện ra thôn Đại Minh.

    Vương Phương đã cạn lương thực từ lâu, nên vào thôn xin ít đồ ăn, có một nhà dân họ Lâm giữ ông lại ngủ một đêm, ngày hôm sau còn cho ông một túi bánh ngô.

    Để cảm ơn, Vương Phương đã đi săn một con lợn rừng thật to mang về cho họ.

    Cứ qua lại như thế, đã quen biết ngươi dân trong thôn, và trở thành anh em với những người con nhà họ Lâm.

    Lúc này, tại trấn Phượng Hoàng mới có vài người biết đến thôn Đại Minh.

    Một thôn làng cách đó vài trăm dặm, cũng chẳng có gì quái lạ lắm, cho nên, cũng không ai chú ý tới.

    Khoảng mười sáu năm về trước, vào một đêm khuya, ở gần máng Giết Người, Vương Phương khiêng theo một con lợn rừng nặng hơn năm mươi cân, đang trên đường về nhà.

    Đột nhiên, Vương Phương nghe thấy tiếng động khe khẽ.

    Vương Phương là một thợ săn cừ khôi, vừa nghe đã biết phía sau có thú vật đang di chuyển về phía mình.

    Vương Phương liền đặt con lợn rừng xuống, núp vào sau một gốc cây bên vệ đường, quay lại nhìn, thấy phía sau có đốm huỳnh quang.

    Không cẩn phái nói, chính là mắt của dã thú.

    Vương Phương thầm vui sướng: hôm nay thật may mắn, không cần đi tìm, dã thú lại tự dẫn xác đến.

    Ông khuỵu một chân xuống đất, nâng ngang cây súng săn lên, nhưng rất nhanh ông đã phát hiện ra, đó không phải là dã thú, mà là hai con người, đốm sáng kia hắt ra từ ngọn đèn bão trong tay họ.

    Nửa đêm khuya khoắt, người nào lại xuất hiện ở đây?

    Vương Phương đột nhiên dựng tóc gáy: chẳng lẽ đã gặp phải thợ đưa xác?

    Đưa xác là một nghề thần bí ở vùng Tương Tây, tức là có người chết ở nơi đất khách, phải nhờ người thạo nghề đưa xác dùng phép thuật điều khiển thi thể người chết đi

    về quê hương an táng.

    Họ ban ngày nghỉ ngơi, ban đêm lên đường, đi qua nơi nào, chó không dám sủa, người phải né tránh.

    Vương Phương mới chỉ là nghe nói đến, chứ chưa tận mắt thấy bao giờ.

    Hai người kia mỗi lúc một gần, một người mặc áo trắng, một người mặc áo đen, đi song song với nhau.

    Bước đi của họ rõ ràng không giống người thường, bước chân của con người giẫm thẳng xuống đất, còn họ dường như đang lướt trên mặt đất.

    Chẳng lẽ là ma?

    Vương Phương tim đập thình thình

    - Mùi gì thế?

    - Thình lình, Vương Phương nghe thấy có tiếng nói.

    - Mùi người!

    - Một kẻ hếch mũi hít ngửi một cái, lập tức trả lời.

    - Ở đây!

    - Vương Phương cảm nhận được hai thứ kia đã đứng sát bên mình, họ áp đến bằng cách nào, ông không nhìn thấy, ông vội giương súng săn lên theo bản năng, nhưng còn chưa kịp bóp cò, đã cảm thấy có một bàn chân đạp thẳng xuống vai, một sức mạnh cực lớn lập tức ập xuống toàn cơ thể ông, khiến ông không thể nhúc nhích.

    Nhưng ý thức của ông vẫn hết sức tỉnh táo, bên tai vẫn nghe rõ tiếng nói: "Giẫm chặt hắn ở đây, không được để hắn làm hỏng việc của chúng ta..."

    Họ muốn làm gì?

    Vương Phương vô cùng kinh hãi.

    Sự việc xảy ra sau đó, càng khiến Vương Phương kinh hồn táng đởm!

    Chỉ thấy một cô gái váy áo trắng muốt bay phất phơ trước mặt, bên miệng là một ống sáo, đang vọng lên khúc nhạc não nề, ai oán, thê thiết.

    Sau lưng cô ta, là một đoàn người rất rất dài, ai nấy sắc mặt lạnh như tiền, không hé răng một tiếng.

    Đoàn người này, lại toàn là người trong thôn Đại Minh?

    Vương Minh nhin thấy rất rõ ràng, mấy anh em nhà họ Lâm cũng có mặt trong đó.

    Họ đã bị làm sao?

    Họ muốn đi đâu?

    Vương Phương không thể nhúc nhích, cũng không hét lên được.

    Sau khi đoàn người đi qua, lại xuất hiện hai kẻ quái dị tay cầm hai ngọn đèn bão, một người mặc tấm áo bào trắng dài thượt, người còn lại mặc áo bào đen.

    Bọn họ thủng thẳng bay qua trưởc mặt Vương Phương. ..

    Vương Phương vẫn quỳ lom khom trên đất.

    Khi trời vừa hửng sáng, một con thỏ rừng bông đâm sầm vào chân ông, ông mới ngã vật xuống đất, miệng bật lên một tiếng hét lớn, cơ thể đã có thể cử động.

    Ông bò dậy chạy thục mạng, bỏ cả súng săn và con lợn săn được.

    Nhưng ông đã chạy sai hướng, cứ thế lao thẩng đến thôn Đại Minh.

    Thôn Đại Minh không một bóng người, ngay cả chó gà cũng không còn lấy một con.

    Rốt cuộc người trong thôn Đại Minh đã bị dẫn đi đâu?

    Vương Phương không biết.

    Ông chỉ biết người trong thôn Đại Minh đã bị một cô gái thổi sáo dẫn đi, cả thôn mấy trăm người, không còn sót một mống.

    Vương Phương trở về nhà, ốm nặng một trận, sau khi khỏi bệnh, ông không bao giờ lên núi đi săn nữa, nhưng cứ cách mấy năm, ông lại đến thôn Đại Minh xem thử.

    Ông chỉ muốn biết, người trong thôn có ai quay về hay không?

    Họ đã mất tích một cách kỳ bí, thì cũng có thể sẽ thần bí trở về.

    Đã mấy chục năm trôi qua, bí mật này vẫn luôn cất kín trong lòng Vương Phương.

    Ông chưa bao giờ kể cho người khác nghe, mà cho dù ông có nói, cũng chưa chắc có người chịu tin.

    Đến khi hấp hối, trong thời khắc cuối cùng của cuộc đời, Vương Phương đã kể lại bí mật từng giấu kín suốt mấy chục năm trời cho người cháu Vương Minh biết.

    Vương Minh cứ như thể nghe chuyện truyền kỳ.

    - Cháu có tin ông không?

    - Vương Phương kéo tay Vương Minh, cười thê thiết.

    - Cháu tin chuyện ông kể là sự thật.

    - Vương Minh gật đầu.

    - Ông không thể mang theo bí mật này vào quan tài!

    - Vương Minh cười thanh thản, trút hơi thở cuối cùng.

    Vương Minh trở thành người đầu tiên biết được bí mật này, anh vô cùng hào hứng.

    Bây giờ đã là thế kỷ hai mươi, khoa học phát triển như vũ bão, nhưng vẫn có rất nhiều hiện tượng mà khoa học hiện nay chưa thể giải thích được.

    Anh rất muốn tìm hiểu cái bí mật khiến cho người trong thôn Đại Minh mất tích một cách thần bí chỉ trong một đêm.

    Có lẽ, chân tướng của sự việc này sẽ là một sự kiện lớn gây chấn động cả địa cầu...

    Vương Minh vẫn còn chìm đắm trong niềm hưng phấn, đại sư huynh và nhị sư huynh đã đưa mắt nhìn nhau, bản thân tôi cũng vô cùng chấn động.

    Dù gì, đó cũng là nơi ông ngoại tôi đã từng sinh sống, mặc dù tôi cũng biết toàn bộ người dân thôn Đại Minh đã mất tích chỉ trong một đêm, nhưng cũng không thể ngờ được rằng họ lai mất tích như vậy...

    - Chuyện này phải giải thích thế nào?

    Mấy trăm con người sống sờ sờ ra đấy, chẳng lẽ không ai biết chạy?

    - Trần Phong kinh ngạc đến nỗi hai con ngươi như sắp long ra.

    Chỉ có một cách giải thích, linh hồn của họ đã bị một sức mạnh thần kỳ nào đó khống chế, không thể điều khiển được bản thân!

    - Vương Minh có vẻ đã tìm hiểu về vấn đề này.

    - Còn cô gái thổi sáo ở phía trước, lẽ nào đã dùng tiếng sáo để khống chế linh hồn của họ?

    Tôi lập tức nhớ đến một phép thuật trong sách Lỗ Ban: phép đoạt hồn...

    Nhưng tôi không nói ra.

    Tôi cho thêm mấy khúc củi khô vào trong lò, khiến lửa càng cháy đượm...

    - Buồn ngủ rồi...

    - Đại sư huynh đã uống khá nhiều rượu, hai mắt lờ đờ, ngáp đến sái cả quai hàm.

    Anh ta đỡ người xuống giường, nằm thẳng cẳng, một lát sau đã ngáy khò khò.

    Nhị sư huynh cũng nằm xuống cạnh đại sư huynh mà ngủ tít.

    Trần Phong và Vương Minh cũng có vẻ đã buồn ngũ.

    - Anh Bất Chính, anh ngủ trước đi, tôi canh bếp lò cho!

    - Vương Minh nói với tôi

    - Anh ngủ trước đi, tỏi chưa buồn ngủ, lát nữa khi tôi đi ngủ sẽ thêm mấy khúc củi, như vậy mọi người sẽ không bị lạnh.

    - Vậy tôi ngủ trước nhé!

    - Vương Minh cảm kích nhìn tôi, rồi dùng ba lô làm gối, cùng Trần Phong lưng dựa lưng mả ngủ.

    Trong phòng không còn tiếng trò chuyện nữa, nhanh chóng lặng im phăng phắc, chỉ còn tiếng củi khô nổ lép bép.

    Tôi lấy trong túi áo ra bức ảnh của Lâm Tiểu Ngộ, ngắm nghía một lát, rồi định cho bức ảnh vào trong bì thư cất đi.

    Vào lúc tôi cầm lấy bì thư, cảm giác bên trong vẫn còn một bức ảnh nữa, liền lấy ra xem.

    Đây là bức ảnh Vương Minh chụp cho năm người chúng tôi buổi ban ngày, lúc đầu tôi không chú ý, chỉ liếc nhìn qua.

    Đột nhiên, tôi giật bắn mình, vì bên vai tôi lại thò ra một cái đầu con gái, tóc tai rũ rượi, che mất quá nửa khuôn mặt, chỉ lộ ra một con mắt, một con mắt lạnh lẽo.

    Cô gái này, rành rành là Tần Ái Ni!

    Tần Ái Ni tại sao lại xuất hiện trong bức ảnh này, mà lại chỉ có một cái đầu?

    Lẽ nào là tôi đang nằm mơ?

    Tôi nhéo mạnh lên hổ khẩu, vấn cảm thấy đau nhói.

    Không phải là mơ!

    Lẽ nào tôi hoa mắt?

    Tôi đưa tay dụi mắt thật mạnh, lắc đầu liền mấy cái, rồi nhìn kỹ lại.

    Không sai, trên bức ảnh, sau lưng tôi có thêm cái đầu của một cô gái.

    Tần Ái Ni, đích xác là Tần Ái Ni,nhưng trong ấn tượng của tôi, Tần Ái Ni là một cô gái dịu hiền như nước, còn trong bức ảnh, cô lại lạnh lùng như băng đá.

    Tại sao cô lại xuất hiện trong bức ảnh của mấy người chúng tôi?

    Tôi ngồi thẳng lên, bếp lò trước mặt lửa cháy bừng bừng đại sư huynh và nhị sư huynh đang ngủ say sưa, Vương Minh và Trần Phong đã ngáy đều đều, tôi cũng thấy trấn tĩnh hơn kha khá.

    Tôi suy nghĩ mãi mà vẫn không tài nào hiểu nổi!

    Chỉ cảm thấy bức ảnh này quá ư quái lạ.

    Tôi cất lại bức ảnh vào trong phong thư.

    Vào khoảnh khắc cúi đầu xuống, tôi bỗng cảm thấy bếp lò trước mặt vụt tối sầm. . .

    Bếp lò vốn đang cháy rần rật, dường như bị một bàn tay lớn vô hình ép xuống, khiến những ngọn lửa đang bốc cao từ từ thu nhỏ, căn phòng cũng tối hẳn đi.

    Ngoài cửa, đột nhiên vẳng lại hai tiếng mèo gào thảm thiết, cứ như vừa bị ai đạp xuống dưới chân, đang giãy giụa thục mạng, nghe lẫn cả tiếng vuốt mèo cào sồn sột xuống đất.

    Nhưng rất nhanh chóng, tiếng gào rú của hai con mèo đã im bặt!

    Một luồng gió âm hàn thổi thốc vào trong!

    Luồng gió kiểu này, tôi đã quá quen thuộc, khi ông ngoại hạ âm, tôi đã từng gặp phải, nhưng lần này, tôi cảm thấy cơn gió như xuyên qua cơ thể tôi. ..

    Sau đó, tôi nhìn thấy một cảnh tượng dị thường: Trần Phong và Vương Minh đang ngủ ngon lành bỗng cùng trở mình xoay ngược lại, tay của họ đông thời cất lên, bóp chặt lấy cổ nhau, cơ thể hai người tì chặt vào nhau, cổ họng phát ra tiếng khò khè nặng nề, trán vã mồ hôi to bằng hạt đậu.

    Tôi đứng vụt dậy, quát lớn một tiếng:

    - Các anh làm gì thế?

    - Nhưng thật quái lạ, tiếng quát của tôi khi vào đến tai lại nhỏ lí nhí.

    Tôi lao tới, giữ lất tay của hai người, muốn tách họ ra, nhưng họ khoẻ đến kinh hồn, tôi không thể nào tách họ ra được...

    Tôi biết, hai người họ đã bị trúng tà...

    Tôi rút cây thước Lỗ Ban từ trong túi ra, quất lên người họ, "đét đét" hai tiếng, hai bàn tay liên buông lỏng, hai người cùng bật dậy, ngồi trên giường, hai con mắt mở choàng ngơ ngác...

    Tôi nhìn thấy, trên cổ hai người đều có những vết hằn rất sâu.

    Tôi quay đầu lại nhìn hai vị sư huynh, những tiểng động huỳnh huỵch ở bên này vẫn không khiến họ tỉnh giấc.

    Trên mặt họ tràn trề một biểu cảm quái đản, rất thoả mãn, bên mép ròng ròng nước dãi, còn bật ra những tiếng ư ư.

    - Đại sư huynh, nhị sư huynh!

    - Tôi hét lớn.

    Hai người không hề cử động, vẫn giữ nguyên tư thế cũ.

    Tôi không kịp nghĩ ngợi, thước Lỗ Ban đã đập thẳng xuống cơ thể hai người.

    Nhị sư huynh vụt một cái nhảy dựng lên, quát lác ầm ĩ:

    - Đứa nào, làm hỏng việc tốt của ta...

    Đại sư huynh cũng ngồi dậy, chép chép miệng:

    - Mẹ kiếp... tiếc đứt ruột...

    - Đại sư huynh, nhị sư huynh!

    - Tôi lại gọi tiếp, hai người mới choàng tỉnh, sắc mặt bỗng trở nên hết sức ngạc nhiên.

    Ngọn lửa trong bếp lò bóng phụt lên cao, lửa bóc rừng rực.

    Trần Phong và Vương Minh vẫn đang hổn hển, đưa tay sờ lên cổ mình, nơi có vết hằn chắc hắn là rất đau.

    Nhị sư huynh bèn nói:

    - Lúc nãy ta đang mơ lấy được vợ...Té ra là nằm mơ!

    Tiếc quá!

    - Tôi cũng vậy!

    - Đại sư huynh cứ thế lắc đầu nuối tiếc, nhưng chợt nhìn thấy Trần Phong và Vương Minh trán đẫm mồ hôi, bộ dạng thảm hại, thì ngạc nhiên hỏi - Hai người làm sao thế?

    '

    - Lúc nãy có người bóp cổ tôi!

    - Trần Phong là cảnh sát, đã luyện qua võ thuật, đối phó với một hai người bình thường thì không thành vấn để, nhưng giờ đây, trên cổ anh ta hằn rõ vết bầm đỏ tấy.

    Nhưng tôi thấy rất rõ ràng, là anh ta và Vương Minh bóp cổ lẫn nhau.

    Vương Minh bây giờ mới trấn tĩnh trở lại:

    - Cũng có người bóp cổ tôi!

    - Lúc nãy hai người tự bóp cổ nhau đấy!

    - Tôi nhắc nhở hai người họ.

    Chỉ có tôi rõ nhất, lúc nãy đã xảy ra chuyện gì.

    - Cái gì?

    - Hai người kinh ngạc trợn mắt nhìn tôi, sau đó lại quay sang nhìn nhau, bán tín bán nghi.

    Tôi cắm thước Lỗ Ban vào trong túi, cũng không giải thích gì thêm, bây giờ càng giải thích lại càng khó hiểu,để bọn họ biết càng ít càng tốt.

    Nhưng đại sư huynh và nhị sư huynh thì dường như đã hiểu ra điều gì đó.

    Đại sư huynh vặn nắp bình rượu trắng, uống một hớp, vừa làu bàu "vợ chẳng còn, may mà vẫn còn rượu", vừa gọi Vương Minh và Trần Phong đến uống rượu cho đỡ sợ, nhưng hai người đều lắc đầu.

    Mi mắt tôi bắt đầu trĩu nặng.

    Tôi nghĩ bốn người họ đều đã tỉnh, nhất thời chưa thể ngủ ngay được, liền nói với đại sư huynh:

    - Sư huynh, tôi ngủ một lát!

    - Được!

    Cậu ngủ đi, tôi thêm chút củi, nướng mấy củ khoai ăn...

    - Đại sư huynh cầm mấy khúc củi khô cho vào lò, rồi vùi mấy củ khoai tây vào trong than nướng.

    Tôi để nguyên quần áo nằm trên phản gỗ, bên tai là tiếng chuyện trò của Trần Phong, Vương Minh, đại sư huynh và nhị sư huynh.

    Người tôi mỗi lúc một mệt mỏi rã rời, lờ đờ muốn ngủ.

    Không biết đã trôi qua bao lâu, bỗng nghe thấy tiếng đẩy cửa sổ rất khẽ khàng.

    Tôi vội mở choàng mắt ra, vừa ngẩng đầu, liền thấy bên cửa sổ hiện ra một mái tóc óng mượt và nửa cái đầu của một cô gái.

    - Ai?

    - Tôi cảnh giác hạ giọng hỏi.

    - Tôi!

    - Cô gái cúi thấp đầu, nhưng tôi lại cảm thấy rất rõ là cô ta đang cười vui vẻ.

    - Sao lại là cô?

    - Tôi nghe giọng nói rõ ràng là giọng của Tần Ái Ni.

    - Không phải tôi thì anh nghĩ là ai?

    - Quả nhiên là Tần Ái Ni.

    Tôi kinh ngạc đến líu lưỡi:

    - Sao cô lại ở đây?

    - Bên kia mới là nhà của tôi.

    Tôi đi ngang qua, thấy anh ở đây, thì vào thăm anh...

    - Tần Ái Ni nháy mắt tinh nghịch với tôi - Sao anh lại đến đây?

    - Tôi đến thôn Đại Minh...

    - Tôi hơi lưỡng lự, cảm thấy vô cùng quái lạ, lại hỏi - Nhà cô chẳng phải ở cửa Thanh Ô hay sao?

    Sao lại chuyển đến đây rồi?

    - Cửa Thanh Ô là nhà của ông nội tôi, đây là nhà ông ngoại tôi.

    Tôi về nhà ông ngoại, không được à?

    - Tần Ái Ni lườm tôi một cái

    - Anh ra đây, tôi có chuyện muốn nói với

    anh...Tôi thấy đại sư huynh, nhị sư huynh, Vương Minh, Trần Phong đang nằm ngổn ngang trên giường, ngáy vang như sấm, chợt cảm thấy lạ lùng: sao mới đó mà đã ngủ rồi?

    Chẳng phải vừa mới bị ma nhập hay sao?

    Vừa nghĩ đến ma, tôi chợt lạnh buốt sống lưng: Tần Ái Ni làm sao có thể đến đây được?

    Tôi rút phắt cây thước Lỗ Ban ra, còn chưa kịp vung tới, đã thấy Tần Ái Ni bên ngoài cửa sổ mặt mũi tái mét, rồi lập tức tan tành như một làn khói sương dày đặc, tan sau cùng là khuôn mặt cô, một đôi mắt ai oán...

    Tôi giật mình choàng tỉnh.

    Thì ra là một giấc mơ.

    Tôi đưa mắt nhìn, đại sư huynh đang bóc vỏ khoai, nhị sư huynh đang ăn đậu phộng, Trần Phong và Vương Minh đang canh lửa, còn trò chuyện gì đó.

    Họ nghe thấy tôi động đậy, các ánh mắt đều đổ dồn cả về tôi, đại sư huynh hỏi:

    - Người anh em, có chuyện gì thế?

    - Không có gì!

    - Tôi lại nhắm mắt lại, nhưng ko còn cảm thấy buồn ngủ nữa.

    Tôi đang suy ngẫm một chuyện: tại sao tôi lại nghĩ đến Tần Ái Ni?

    Đáng lẽ tôi phải nghĩ đến Lâm Tiểu Ngộ mới đúng chứ?

    - Chỗ này có ma!

    - Đại sư huynh bộng giận dữ kêu lên.

    - Đại sư huynh, chúng ta có sợ gì ma mãnh!

    - Nhị sư huynh tưng tửng.

    - Lẽ nào những gì chúng tôi vừa làm lại là ác mộng?

    - Trần Phong và Vương Minh nghe vậy, hoảng hốt kêu lên:

    - Thật không?

    - Lúc đấy tôi đang mơ lấy vợ, không nhìn thấy, nhưng người anh em Lưu Bất Chính của chúng tôi đã nhìn thấy!

    Nếu không nhờ cậu ấy cứu hai người, thì hai người đã đi tong rồi...

    - Đại sư huynh chẳng ngại gì việc làm cho hai người chết khiếp.

    Tôi mở mắt ra, từ từ ngồi dậy, nói:

    - Không sao đâu, đợi trời sáng, chúng ta sẽ đi...

    Trần Phong và Vương Minh thấy tôi ngồi dậy, cùng nhìn cả vào tôi, hỏi:

    - Anh Bất Chính, có đúng là như vậy không?

    Tôi chỉ cười:

    - Đại sư huynh trêu hai người đấy.

    Nhưng có lẽ là hai người mơ thấy cảnh đánh nhau, rồi bóp cổ lẫn nhau, chuyện đó là có thật...

    - Nằm mơ cũng giết được người à?

    Chẳng trách người mộng du lại có thể cầm dao giết người, sau đó chẳng hề hay biết về những việc mình đã làm...

    - Trần Phong dường như đã hiểu ra điều gì, trầm tư suy nghĩ.

    Chúng tôi không còn cảm thấy buồn ngủ nữa, cứ đốt lửa đợi đến khi trời sáng, rồi vội vã thu dọn hành lý lên đường.

    Gã câm đứng dựa cột, ánh mắt lạnh nhạt nhìn chúng tôi, trong ánh nhìn không có lấy một chút thiện cảm, mà tràn ngập căm hận.

    Tô đi lại gần, lấy ra hai trăm đồng ra đưa cho gã, thấy gã không có phản ứng gì, tôi lại lấy thêm hai trăm đồng nữa.

    Nhưng gã câm lại khoát tay mấy cái, tôi hiểu gã muốn nói "đi", hay nặng nề chút nữa là "cút"!

    Tôi dúi tiền vào tay gã câm, rồi bỏ đi.

    Trần Phong phía sau cất giọng cảm khái:

    - Lần đầu tiên tôi thấy một quán trọ thế này đấy, có tiền cũng không muốn kiếm!

    Vương Minh bình thản nói:

    - Trong chốn núi rừng này, có tiền cũng chẳng biết tiêu vào đâu, còn chẳng bằng mấy củ khoai.

    Đói rồi khoai có thể giúp no bụng, còn tiền thì chẳng mua được gì...

    Đại sư huynh cũng lên tiếng:

    - Vậy bọn họ mở quán trọ ở đây để làm gì?

    Tôi ra chiều ngẫm ngợi:

    - Có lẽ vốn dĩ họ không phải mở quán trọ cho con người chúng ta...

    - Không phải mở quán trọ cho người, chẳng lẽ mở cho ma chắc?

    - Đại sư huynh ngạc nhiên kêu lên.

    Anh ta vừa lên tiếng, mọi người đều im bặt.

    Chúng tôi tiếp tục lên đường.

    Trên đường đi, tôi phát hiện ra ánh mắt nghi hoặc của Vương Minh cứ len lén nhìn trộm tôi, mấy lần còn ngập ngừng như muốn nói điều gì.

    Tôi cũng phát hiện ra bên hông Trần Phong có một chiếc dùi cui điện và một khúc côn có thể co duỗi.

    Hai người cố tình đi cuối cùng, giữ khoảng cách mấy mét với ba người chúng tôi. :

    Sau đó tôi ngẫm nghị, liền hiểu ra được nguyên nhân.

    Vì họ bắt đầu nghi ngờ lai lịch của ba người chúng tôi, nhưng dù sao chúng tôi cũng đã cứu mạng hai người họ, nên họ không tiện nói ra.

    Tôi cố tình đi chậm lại, nói với Vương Minh:

    - Người anh em...

    Vương Minh vẫn có thiện cảm với tôi, dù sao ngoại hình của tôi trông cũng tử tế hơn rất nhiều so với đại sư huynh và nhị sư huynh.

    - Người anh em, thú thực với anh, chúng tôi thôn Đại Minh!

    - Tôi đã nghĩ kỹ từ trước, nên mới nói như vậy.

    - Các anh đến thôn Đại Minh làm gì?

    - Vương Minh không ngờ tôi lại chủ động nói ra điều này với anh ta, nên hơi ngạc nhiên.

    Tôi giả bộ ngập ngừng một lúc:

    - Chúng tôi ở Kiềm Giang, vô tình nghe người ta nói rằng, ở đấy có một thôn cổ không có người, nên muốn tới đó tìm thử xem có thứ gì đáng tiền hay không...

    - Đồ cổ...

    - Vương Minh ngẩng lên liếc tôi một cái, muốn nói gì nhưng rồi lại thôi.

    - Tôi biết buôn bán đồ cổ là phạm pháp, những thứ đó chúng tôi không dám động vào.

    Chúng tôi chỉ muốn kiếm chút vàng bạc thôi, chắc là không phạm pháp đâu nhỉ?

    Huống hồ, còn chưa biết có đồ cổ hay không.

    - Tôi khẽ cười.

    Mặc dù mục đích của chúng ta không giống nhau, nhưng chắc sẽ không ảnh hưởng đến việc chúng ta kết bạn chứ?

    Vương Minh gật đầu lia lịa:

    - Việc mà tôi khảo sát, cũng cần các anh giúp đỡ!

    Thêm một người bạn sẽ thêm một cánh tay, ở nơi rừng sâu núi thẳm này, có thêm người sẽ đỡ sợ hơn.

    Lại lặn lội thêm bảy tám tiếng đồng hồ nữa, trong một rừng cây, chúng tôi phát hiện ra một con đường lát đá rất ngay ngắn, mặc dù bên mép phiến đá đã mọc đây rêu xanh, nhưng vừa nhìn đã biết ngay là do con người làm ra.

    Mọi người lập tức hào hứng hẳn lên.

    Điều này chứng tỏ nơi mà chúng tôi muốn tìm đã không còn bao xa nữa.

    Đột nhiên, trước mặt bỗng sáng bừng, thì ra chúng tôi đã ra khỏi cánh rừng, bên kia con sông nhỏ, một thôn trang xây dựa vào núi hiện ra trước mắt chúng tôi,

    - Thôn Đại Minh!

    Vương Minh reo lên đầu tiên.

    Chúng tôi vượt qua con sông nhỏ.

    Bên cạnh con đường dẫn lên núi, chúng tôi phát hiện ra một tấm bia đá, trên bia khắc ba chữ: "Thôn Đại Minh".

    Mặc dù đã trải qua bao năm mưa nắng dãi dầu, nhưng ba con chữ này vẫn rất sắc nét.

    Thôn Đại Minh giống như một toà thành, tường bao bên ngoài cao đến hai trượng, hai mét phía dưới được xây bằng đá, bên trên là đất đầm, rất nhẵn nhụi.

    Trên cùng còn có ụ thành, rõ ràng là để phòng ngự thổ phỉ.

    Chúng tôi đi men theo tường được hơn trăm mét, mới phát hiện có một cánh cửa.

    Cửa rộng năm sáu thước, nhìn vào cửa, có thể nhận ra, bức tường bao phải dày đến ba mét.

    Kiểu tường dày thế này, chỉ có một tác dụng: ngăn chặn kẻ địch bên ngoài.

    - Đúng là một công trình kiến trúc vĩ đại, có thể sánh ngang Thổ Lâu ở Nam Tịnh!

    - Vương Minh tấm tắc.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh tất nhiên không biết Thổ Lâu là gì, cũng chẳng buồn hỏi, chỉ hào hứng nhìn vào bên trong.

    Cửa mở toang, từ ngoài có thể nhìn thấy rõ ràng, ở giữa là giếng trời, bốn bên đều là nhà ở, kiểu cách tương tự như một tứ hợp viện khổng lồ.

    Bên trong lặng ngắt như tờ.

    - Chúng ta vào thôi!

    - Vương Minh không thể giấu nổi sự phấn khích trong lòng.

    - Được!

    - Tôi vừa lên tiếng, đại sư huynh đã lập tức bước lên dẫn đầu, đi vào qua cổng.

    Đập vào mắt chúng tôi đầu tiên là một giếng trời, chính giữa là một cái giếng rộng mấy mét, hai bên trái phải mỗi bên đều có ròng rọc kéo nước, bên cạnh là những bệ phẳng bằng đá.

    Giếng trời có hình chữ nhật, dài gần trăm mét, rộng hai mươi mét, bốn mặt đều là nhà, hai bên mỗi bên có ba cầu thang dẫn thẳng lên nóc nhà.

    Cửa của các gian nhà phần lớn đều mở toang.

    Tôi đi vào căn phòng ở ngoài cùng, chỉ thấy bên trong có giường và bàn, ghế đơn giản được đóng từ gỗ, tre, ở giữa là một bếp lò, trong lò tro tàn khói lạnh, bên cạnh còn có mấy khúc củi chưa cháy hết.

    Phía trước căn phòng có hai cửa sổ.

    Tôi nói:

    - Đêm nay, chúng ta sẽ nghỉ lại đây.

    Đốt lửa lên!

    - Tôi vừa nói, vừa đưa tay ấn thử xuống chiếc giường.

    Mặc dù chạm vào thấy lạnh lẽo, nhưng vẫn rất chắc chắn.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh đặt túi xuống, rồi hô hào sang các phòng khác lấy vài cái bàn gãy ghế hỏng về để nhóm lửa.

    - Nơi đây có lẽ là nơi cư trú tập thể, tức là cả ba trăm con người cũng có thể sống chung với nhau!

    - Vương Minh quay về, cho tôi biết đã phát hiện ra một nhà bếp lớn.

    Tôi đi theo anh ta xem thử, thấy trên bệ bếp có mấy chiếc nồi lớn, còn một số dụng cụ nhà bếp.

    Đại sư huynh, nhị sư huynh, Trần Phong đều không đi theo.

    Ba người họ đã đi suốt một ngày trời, đêm qua lại không được ngủ yên, đều mệt rũ.

    Vương Minh vô cùng phấn chấn, chạy khắp nơi chụp ảnh, tôi đi theo anh ta để tìm hiểu về khu nhà ở trông giống hệt thành luỹ này.

    - Anh Bất Chính, khi chúng ta đến đây, không nhìn thấy có đồng ruộng nào lớn, vậy anh thử nới xem, chỉ dựa vào săn bắn, có thể nuôi sống được mấy trăm người không?

    - Vương Minh đột nhiên nghi hoặc hỏi tôi.

    - Chắc chắn là không thể!

    -Tôi cũng ngẩn ra.

    - Vậy thì, anh nghĩ, họ dựa vào thứ gì để sống?

    - Vương Minh nghiêm túc hỏi tôi.

    Tôi chỉ biết lắc đầu.

    Vấn đề này, tôi không thể nghĩ ra.

    Nhưng tôi nghĩ, họ đã xây dựng cả một thôn trang trong chốn rừng sâu núi thẳm này, thì chắc chắn phải có cách sinh tồn cho họ.

    - Ở đây có một từ đường!

    - Vương Minh bỗng hô lên - Chúng ta vào xem sao...

    Tôi vừa theo vào, Vương Minh đi phía trước đã bật lên một tiếng kêu kinh ngạc:

    - Ối...

    - Có chuyện gì thế?

    - Tôi giật thót.

    - Đèn...

    - Vương Minh mặt mày biến sắc.

    - Đèn gì?

    - Tôi buột miệng hỏi theo phản xạ, nhìn theo hướng tay chỉ của Vương Minh, chỉ thấy phía trước là một bàn thờ, trên trên bày vài linh vị.

    Phía trước linh vị, có mấy chiếc đĩa đựng đồ cúng.

    Còn ở giữa, có một ngọn đèn vẫn đang cháy, ánh đèn hết sức yếu ớt, nên lúc nãy tôi không chú ý thấy.

    Tinh thần tôi bỗng trở nên phấn chấn.

    - Sao ở đây vẫn có đèn cháy nhỉ?

    Lẽ nào đã có người đến đây!

    - Vương Minh kinh ngạc hỏi tôi.

    Tôi không trả lời anh ta.

    Tôi hết sức thận trọng đi đến trước bàn thờ.

    Trước tiên, tôi quỳ xuống dập đầu ba cái.

    Người được thờ cúng trên đó, chắc chắn có tổ tiên của tôi, dập đầu mấy cái cũng là việc nên làm.

    - Anh làm gì thế?

    - Vương Minh hỏi tôi.

    - Chúng ta xông vào đây làm kinh động đến vong linh của tổ tiên họ, cũng nên dập đầu mấy cái.

    Tôi nghiêm túc nói.

    Vương Minh rất lấy làm lạ, nhưng không nói gì.

    Tôi đứng trước bàn thờ, quan sát ngọn đèn thật kỹ.

    Ngọn đèn này không giống với ngọn đèn ở nhà tôi hay ngọn đèn trong hang động ở núi Côn Lôn, nó làm bằng đồng, dầu đèn rất trong, còn có mấy mẩu bấc cháy chỉ còn lại một chút xíu sót trong đĩa đèn.

    Dầu chỉ còn một nửa, còn thành trong đĩa đèn, từ dưới viền mép một tấc trở xuống, vẫn có vết dầu rõ rệt.

    Tôi đã hiểu ra, ngọn đèn này được người ta thêm dầu, cũng chứng tỏ rằng, đã từng có người đến đây, hơn nữa, thời gian không quá ba ngày, vì cây đèn trên bàn thờ nếu không thêm dầu, sẽ không cháy được quá ba ngày...

    Nhưng tôi không nói ra.

    Là con người thì không đáng sợ!

    Hơn nữa, đến trước bàn thờ thắp đèn, chứng tỏ phải là người có liên quan với thôn Đại Minh.

    Vậy thì, đó là người thế nào?

    - Vẹo ơi, lại đây uống rượu đi!

    - Đại sư huynh đứng trước căn phòng đối diện với chúng tôi, gân cổ gọi oang oang.

    Anh ta vừa gọi, đúng là kinh thiên động địa, vang rền khắp toàn bộ toà nhà.

    Vương Minh vội vàng lùi lại, cũng gọi tôi mau trở ra.

    Chúng tôi đi băng qua giữa giếng trời.

    Khi đi ngang miệng giếng, tôi đưa mắt nhìn, trong giếng vẫn còn nửa giếng nước, trên miệng giếng có vết nước chảy qua, một ròng rọc kéo nước vẫn còn ướt, thế là tôi càng tin vào phán đoán của mình: có người đã đến đây!

    Chúng tôi đi lại gần, thấy nhị sư huynh đang đùa nghịch một cây gậy đồng, dài năm sáu thước, to bằng chén rượu, hai đầu đều bịt đồng, vừa nhìn đã biết là vũ khí.

    Bên cạnh anh ta còn có một con dao đã han gỉ, một cây thương dài đã đen kịt.

    - Vẹo này, những người ở đây có luyện võ nghệ, đám vũ khí này thấy ở góc nhà.

    - Nhị sư huynh nói với tôi.

    Tôi ngắm nghía một lát.

    - Hay chỗ này trước đây là hang ổ thổ phỉ - Trần Phong chợt lên tiếng.

    - Đúng thế!

    - Vương Minh hai mắt vụt sáng - Tôi đã hiểu rồi, nơi này trước đây từng là nơi trú ngụ của một đám thổ phỉ, bình thường họ đi xa vài trăm đặm để đánh đấm cướp bóc, sau đó mang chiến lợi phẩm về đây hưởng thụ...

    Mặc kệ là thổ phỉ hay dân lành, cũng đã mấy chục năm rồi!

    - Đại sư huynh nghiêm chỉnh nói Chúng ta nên cảm ơn họ, đã cho chúng ta một chỗ ngủ tốt như thế này.

    Các người nghĩ mà xem, đêm hôm qua chả hiểu là cái chỗ quỷ quái gì thế?

    - Đúng thế, uống rượu của chúng ta, ăn thịt của chúng ta...

    -Nhị sư huynh vứt cây gậy xuống, nói.

    Năm người chúng tôi ngồi vây quanh bếp lửa ăn lương khô.

    Vừa ăn, tôi vừa nói với mọi người:

    - Chúng ta không biết chỗ này nông sâu thế nào, để đảm bảo an toàn, cần phải thay phiên nhau canh gác.

    Mọi người đều tán thành.

    - Ca đầu tiên do đại sư huynh trực mấy tiếng đồng hồ, đồng thời phụ trách thêm củi khô vào lò.

    Ca thứ hai do Trần Phong và nhị sư huynh phụ trách.

    Ca thứ ba do tôi và Vương Minh phụ trách.

    Tôi phân công như vậy là có lý do của mình.

    - Tôi tán thành!

    - Vương Minh cảm thấy tôi suy nghĩ rất chu đáo.

    Đại sư huynh, nhị sư huynh tất nhiên không có ý kiến.

    - Người anh em Trần Phong, anh cảm thấy thế nào?

    - Tôi hỏi anh ta.

    Trần Phong cười khẽ:

    - Tôi không có ý kiến.

    Sau khi ăn xong lương khô, chúng tôi chia nhau ra ngủ trước.

    Mệt mỏi suốt một ngày trời, tôi vừa mới thiếp đi, đã choàng tỉnh bởi tiếng quát như sấm của đại sư huynh:

    - Ai?

    - Ai?

    - Bên ngoài vọng lại một câu tương tự, nhưng giọng nói kinh hãi hơn đại sư huynh nhiều.

    Tôi trở người nhảy bật dậy, thì đại sư huynh đã đứng chắn ngoài cửa, một tay cầm dao mổ lợn, một tay móc sắt.

    Tôi lăm lăm cây rìu, nhị sư huynh tay xách búa sắt, lần lượt lao ra.

    Phía ngoài có một đám người đi tới.

    Vừa nhìn thấy nhau, cả hai bên đều kinh ngạc sững sờ.

    - Là các người?

    Bọn họ lại chính là Tống Đại Phúc, Lý Bưu, Lôi Mông Đa, Hoàng Đại Tiên, phía sau có thêm bốn người đeo túi du lịch, và một gã trẻ tuổi mặc đạo bào, tôi đoán là một đệ tử khác của Hoàng Đại Tiên.

    Trong đám, chỉ có Lý Bưu đeo một cây súng ngang hông.

    - Người anh em Bất Chính?

    - Lý Bưu lên tiếng gọi tôi trước.

    Lôi Mông Đa đứng cạnh hắn cũng nhìn tôi bằng ánh mắt có phần kinh ngạc, nhưng lập tức lảng sang chỗ khác, không nói năng gì.

    Trong số những người này, tôi có ấn tượng tương đối tốt với Lý Bưu và Lôi Mông Đa.

    Còn cái kiểu con buôn lòng dạ đen tối, thấy lợi mờ mắt như Tống Đại Phúc, hay cái loại dáng vẻ đạo mạo nhưng thực chất bụng dạ chẳng khác nào phường trộm cắp đĩ điếm như Hoàng Đại Tiên, tôi có mấy phần kinh tởm.

    - Ha ha ha, người anh em Bất Chính, thật là hạnh ngội!

    Hạnh ngộ!

    -Tống Đại Phúc quả nhiên là một con buôn lõi đời, lập tức cười ha há chào hỏi tôi, mặc dù tôi có vẻ lạnh nhạt, nhưng không hề ảnh hưởng đến sự nhiệt tình giả tạo của lão.

    Tôi cũng mỉm cười:

    - Hạnh ngộ, hạnh ngộ!

    Tống Đại Phúc nhiệt tình chìa tay ra, muốn bắt tay với tôi.

    Tôi thầm nghĩ tên chó chết này đúng là nhân tài, mấy tháng trước vẫn còn là ông chủ của tôi, bây giờ lại nhận là anh em ngay được, ông đây đúng là không dám với cao!

    Tôi và Tống Đại Phúc bắt tay nhau đầy giả dối.

    - Người anh em Bất Chính, đến đây từ bao giờ thế?

    - Tống Đại Phúc vội móc thuốc lá từ trong túi đưa cho tôi, nhiệt tình không để đâu cho hết, cứ như tôi mới là ông chủ của lão vậy.

    - Hôm nay.

    Sao?

    Ông chủ Tổng định phát tài ở đây?

    - Tôi cười vang.

    - Chúng tôi là đội khảo sát khoa học, khảo sát khoa học!

    - Tống Đại Phúc mặt không biến sắc, cực kỳ nghiêm chỉnh - Khám phá và phát hiện, góp chút sức mọn cho sự nghiệp khoa học của quốc gia...

    - Thật khâm phục!

    - Tôi nói.

    Trần Phong và Vương Minh cũng mặt mũi ngái ngủ đi ra, hoàn toàn ngơ ngác trước sự xuất hiện của đám người này.

    Tôi nói với họ:

    - Hai người về ngủ đi!

    Đây đều là bạn bè quen biết, theo nghề khảo sát khoa học...

    Có lẽ do ban ngày đã mệt mỏi quá độ, Trần Phong và Vương Minh cũng quay về ngủ thật.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh hàn huyên mấy câu cùng Lý Bưu, rồi đứng ở bên cạnh tôi.

    Tôi biết, hai người họ muốn bảo vệ tôi.

    Trước sự xuất hiện của bọn họ, chỉ có tôi không cảm thấy bất ngờ, vì Lâm Đại Phát đã từng nói với tôi.

    Tống Đại Phúc và tôi trong lòng hiểu rõ nhưng không nói ra miệng.

    Bọn họ chọn hai căn phòng ở bên cạnh chúng tôi để nghỉ lại.

    Họ cũng vừa đi suốt một ngày trời, đã mệt lử.

    Chỉ có Hoàng Đại Tiên thần sắc nghiêm trang, một tay cầm pháp khí, đứng giữa giếng trời lầm rầm một thôi một lồi, sau đó rũ cây phất trần, đi thẳng về phòng, không thấy ló mặt ra nữa.

    Tôi cũng đi vào trong phòng, nghe Trần Phong đang hỏi nhỏ đại sư huynh:

    - Các anh biết những người bên kia à?

    - Biết chứ!

    - Đại sư huynh toang toác - Sao lại không biết?

    Anh yên tâm, xem họ dám làm gì anh nào?

    Còn có ba huynh đệ tôi ở đây!

    - Tôi thấy có người mang súng...

    - Trần Phong nói.

    - Lần trước gặp họ còn mang theo mười mấy khẩu kia!

    - Đại sư huynh chẳng coi ra gì, chỉ nói qua quýt.

    - Họ đúng là đội khảo sát khoa học, chúng tôi từng làm việc trong đội khảo sát của họ, nên mới quen biết.

    - Tôi thật thà giải thích cho Trần Phong nghe.

    Anh ta nhìn tôi, ngạc nhiên và nghi hoặc, cũng không nói gì thêm, quay người vào trong mà ngủ.

    Tôi không biết anh ta còn có thể ngủ được nữa hay không?

    Đại sư huynh tiếp tục trực ban.

    Hai gian phòng bên cạnh nghe lịch kịch một hồi, sau đó cũng dần dần im ắng, còn tôi rất nhanh chóng ngủ thiếp đi...

    Nhị sư huynh gọi tôi dậy, đã đến lượt tôi và Vương Minh canh chừng.

    Vì đã ngủ một giấc, nên tinh thần cũng tốt hơn hẳn.

    Vương Minh lấy một cuốn sách ra đọc, tôi thì mở cửa đi ra ngoài.

    Bên ngoài đen kịt một màu, bầu trời trên giếng trời u ám, gió thổi lướt qua đầu, hơi lạnh rờn rợn.

    Gian phòng bên cạnh ầm ĩ tiếng ngáy.

    Trong bóng đêm, có một đốm lửa lập loè lúc tỏ lúc mờ, tôi nghĩ chắc là người của Tống Đại Phúc đang trực đêm, nhưng đứng hơi xa một chút, nên tôi không nhìn rõ là ai.

    - Người anh em Bất Chính!

    - Trong bóng đêm, có tiếng gọi khe khẽ.

    Tôi vừa nghe tiếng, lập tức nhận ra Lý Bưu.

    Lý Bưu từ trong bóng tối bước ra, đưa cho tôi một điếu thuốc.

    Tôi lại nhớ đến lúc ở sa mạc, nhờ có hắn tốt bụng nhắc nhở giúp tôi thoát khỏi miệng hùm, nếu không, thật chẳng biết hậu quả sẽ ra sao.

    - Anh Bưu, lần trước thật cảm ơn anh...

    - Tôi còn chưa nói hết, Lý Bưu đã đưa tay ra hiệu cho tôi đừng nói nữa.

    Tôi hiểu ý của hắn, dù sao, hắn cũng đã phản bội lại ông chủ của mình, mà ông chủ của hắn lại ở ngay trong kia.

    Tôi hiểu ý, không nói thêm gì nữa.

    - Nơi này chẳng nhìn ra có chỗ nào cổ quái cả!

    - Lý Bưu bình thản nói.

    - Chúng ta nhiều người thế cơ mà, có gì đáng sợ đâu?

    - Tôi nhớ lại lần trước ở trong sa mạc, gặp phải cả một đàn sói đói, chỉ có điều không hiểu nổi, tại sao sau đó bầy sói lại đột ngột bỏ đi...

    Có thể nhận ra, Lý Bưu trông rất thảnh thơi vì lần này không nguy hiểm như lần trước.

    Nhưng tôi vừa dứt lời, bỗng nghe có tiếng khóc sụt sùi mơ hồ vẳng lại.

    Đúng lúc Lý Bưu đang rít một hơi thuốc, ánh lửa trên đầu điếu thuốc loé lên sáng rực, khuôn mặt góc cạnh sắc nét cũng giật mạnh một cái.

    Tiếng khóc.

    Tiếng khóc não nề của đàn bà.

    Ngón tay kẹp điếu thuốc của Lý Bưu run lên một cái, điếu thuốc rơi luôn xuống đất.

    Tôi cảm thấy sau lưng có một luồng khí lạnh toát đang tiến lại gần.

    Tiếng khóc mỗi lúc một gần, mỗi lúc một rõ!

    Lý Bưu thình lình lao vọt vào trong giếng trời, đèn pin trong tay bật sáng loà, hắn nghiêm giọng quát lớn:

    - Ai?

    Tiếng quát chẳng khác nào sấm nổ thình lình, khiến cả toà thành rung chuyển.

    Tôi cũng xoạc cẳng lao đến bên cạnh Lý Bưu, nhìn theo ánh đèn pin, trái tim của tôi lập tức giật lên lẩy bẩy.

    Trên đỉnh thành bên phải, một vật thể toàn thân trắng toát, đầu đội một tấm khăn lụa màu trắng phất phơ, không biết là người hay ma, đang dật dờ bay tới.

    Tại sao lại nói là bay?

    Vì vạt váy trắng toát tựa như đang trôi trong không trung!

    - Ma!

    Sau lưng tôi đột nhiên vang lên một tiếng rú hãi hùng, là của một phu khuân vác trong đoàn Lý Bưu.

    Lúc này, tôi mới phát hiện ra, gần như tất cả mọi người trong ba gian phòng đều đã chạy ra ngoài.

    Tiếng quát của Lý Bưu khi nãy đã khiến cho mọi người choàng tỉnh.

    Nhị sư huynh chạy đến bên cạnh tôi, một tay xách búa sắt.

    Anh ta vừa mới ngủ thiếp đi, nghe thấy tiếng quát của Lý Bưu, lập tức chạy vụt ra.

    Anh ta cũng đã nhìn thấy âm hồn trên đỉnh luỹ.

    - Yêu nghiệt phương nào?

    Hiện thân nơi đây?

    Có nhà về nhà, không nhà về điện.

    Kiếm kim quang hiện, quỷ quái yêu ma, hoá thành đất bụi...

    Thình lình, Hoàng Đại Tiên tung mình nhảy bật lên, một tay phất trần, một tay trường kiếm, múa may nhảy nhót rối rít, miệng lầm rầm tụng niệm.

    Lão ta đang làm phép hàng yêu phục ma.

    Nhưng hồn ma trên đỉnh luỹ vẫn phất phơ lướt xuống theo một cầu thang, thướt tha đi vào trong giếng trời, cách chúng tôi chưa đầy vài chục mét.

    Tiếng khóc rên rỉ nỉ non, nghe mà não nề tim gan, chỉ muốn rơi lệ.

    Đã không ai còn nghe rõ tiếng niệm thần chú của Hoàng Đại Tiên nữa, cây phất trần và thanh trường kiếm trong tay lão càng múa lên vun vút, hoàn toàn rơi vào trạng thái điên cuồng, nhưng câu cuối cùng chúng tôi lại nghe rất rõ: "Thái Thượng Lão Quân, gấp gấp như luật lệnh..."

    "Vụt!"

    - Một luồng kim quang phóng thẳng về phía hồn ma.

    Hồn ma vừa hay ở ngay bên miệng giếng, cơ thể đột nhiên bay bổng lên, rồi rơi thẳng vào trong giếng.

    Nghe "ùm" một tiếng.

    Vào khoảnh khắc cô ta bay bổng lên, tôi rõ ràng đã nhìn thấy một thân hình quen thuộc, và cả một ánh mắt ai oán.

    Tần Ái Ni!

    Chính là Tần Ái Ni!

    Tôi há hốc miệng, nhưng không gọi lên thành tiếng!

    Không phải tôi sợ hãi, mà là kinh ngạc!

    Cô ấy là do chính tay tôi bế từ trong quan tài ra, lẽ nào thứ mà tôi bế ra lại chỉ là linh hồn của cô ấy?

    Cô ấy có nhìn thấy tôi không?

    Chắc chắn cô ấy đã nhìn thấy tôi...

    Hoàng Đại Tiên vụt một cái đã lao tới bên miệng giếng, quát lớn:

    - Đóng!

    - Rồi vắt cây phất trần lên vai, cắn đứt ngón trỏ tay phải, rút từ thắt lưng ra một lá bùa, vẽ vạch vài nhát, vứt xuống dưới giếng.

    Lão vẽ một hơi mười mấy lá bùa, hô liền tù tì mười mấy tiếng "đóng", sau đó cả người đổ gục xuống đất nhũn nhèo như một đống bùn ướt, lão đã hoàn tất đại sự.

    Đồ đệ của Đại Tiên chạy đến bên cạnh lão, định đỡ dậy, nhưng Đại Tiên đã giơ tay ngăn lại.

    Đại Tiên trên trán mồ hôi như tắm, đang cố gắng điều hoà hơi thở.

    Lý Bưu cũng chạy lại, soi đèn pin xuống dưới giếng.

    Chúng tôi không ai bảo ai cùng nhau chạy tới, bảy tám điếc đèn pin cùng rọi xuống, chỉ thấy trên mặt nước, nổi bập bềnh mười mấy đạo bùa.

    Không thấy người, cũng chẳng thấy ma.

    Tôi lại bắt đầu nghi hoặc: nếu như Tần Ái Ni là người, vậy tại sao cô lại đến đây?

    Nếu cô bị rơi xuống giếng, sẽ chỉ có một kết quả.

    Còn nếu cô ấy là hồn phách...

    Tôi không thể nào nghĩ tiếp được nữa...

    Không ai giải thích được gì, vì những chuyện xảy ra quá ư quái dị!

    Nghe rõ nhịp tim thình thịch của mười mấy con người.

    Ngay cả những con người to gan lớn mật chẳng sợ trời chẳng sợ đất như đại sư huynh và nhị sư huynh cũng đều im lặng, có thể thấy sự việc này quái đản đến đâu!

    Đại Tiên lồm cồm bò dậy, cất tiếng thêu thào:

    - Các vị, ma dữ đã bị ta nhốt vào trong giếng, vạn kiếp không thể siêu sinh.

    Các vị nhớ kỹ phải tránh xa cái giếng, về phòng ngủ đi...

    Tay đồ đệ bèn dìu lão chậm chạp trở về phòng.

    Mọi người đều lặng lẽ ai về phòng nấy.

    Tôi là người cuối cùng trở về phỏng, vì tâm trạng của tôi là phức tạp nhất.

    Trong đầu tôi chỉ nghĩ về Tần Ái Ni.

    Tôi cảm thấy, cuộc đời mình đã không thể nào tách ra khỏi người con gái này.

    Trần Phong đang ném thêm củi vào trong đống lửa, tay anh ta vẫn run lên bần bật, ánh lửa hắt lên khuôn mặt anh ta, càng lộ rõ vẻ tái xanh tái mét.

    Đại sư huynh và nhị sư huynh ngồi trên giường, sác mặt nặng trịch, không nói không rằng.

    - Thì ra đúng là... có ma thật!

    - Vương Minh lập cập lên tiếng, trông vẫn nơm nớp sợ sệt, dè chừng liếc khắp xung quanh, nhất là khi nhìn về sau lưng, anh ta còn quay hết cả người lại để nhìn cho kỹ.

    - Đương nhiên là có ma rồi!

    Bây giờ cậu mới tin à?

    - Đại sư huynh nói.

    - Sau lưng cậu làm gì có ma, sợ cái quái gì mà sợ?

    Vương Minh lại hốt hoảng quay đầu lại nhìn lần nữa, rồi nhích sát vào người Trần Phong, trong lòng khiếp đảm cực độ.

    Ngẩng đầu lên, vừa hay nhìn thấy tôi, anh ta lại hỏi:

    - Người anh em Bất Chính, anh là người đầu tiên nhìn thấy... ma...đúng không?

    Tôi gật đầu.

    - May mà còn có Hoàng Đại Tiên!

    Trần Phong vẫn chưa hết run.

    - Nếu không thì...

    Đại sự huynh lập tức phản đối:

    - Không có lão mũi trâu, chúng ta vẫn có thể đuổi được nó đi.

    Nhị sư huynh cười hềnh hệch một hồi nghe rất dị hợm, mặt mũi đầy hí hửng:

    - Mẹ kiếp!

    Bố mày đang định bắt một con ma nữ về làm vợ, không cần ăn không cần mặc, chẳng tốn xu nào, lại đẹp nữa chứ...

    - Anh không sợ nửa đêm ma bò dậy cắn cố, uống máu, ăn thịt anh à?

    - Trần Phong biết là nhị sư huynh đang đùa, nhưng vẫn kinh ngạc hỏi lại.

    - Nó dám làm bậy, bố mày tẩn ngay.

    Ma nữ thì phải dùng nắm đấm để tẩn, cứ tẩn cho nhiều vào thì nó khác ngoan!

    - Nhị sư huynh đắc ý lắc lắc nắm đấm hộ pháp của mình.

    - Bố mày không tin, trên đời này có con ma nào không trị được bằng nắm đấm!

    - Nhưng con ma nữ hôm nay có vẻ cũng hơi ghê gớm đấy, có lẽ khi còn sống đã gặp phải oan khuất gì lớn lắm, chết không nhắm mắt, bọn chúng ta nhiều đàn ông như vậy mà cô ta vẫn dám xuất hiện!

    - Đại sư huynh ngẫm nghĩ một lúc, rồi nghiêm túc nói.

    - Ma thì cũng đã bị Đại Tiên nhốt dưới giếng rồi, chúng ta cũng chẳng ở đây mấy bữa, có gì đáng sợ?

    - Tôi an ủi Trần Phong và Vương Minh.

    - Khi nào các anh rời khỏi đây?

    - Vương Minh rõ ràng đã thấy sợ.

    - Nhanh thì một hai ngày, chậm thì mươi ngày nửa tháng.

    Tôi nói.

    - Cái gì?

    - Vương Minh và Trần Phong đều giật nảy mình, có lẽ họ muốn đi ngay ngày mai.

    Thực ra, tôi cũng muốn họ bỏ đi càng nhanh càng tốt, vì dù sao họ cũng chỉ thêm gánh nặng cho chúng tôi mà thôi.

    Suốt cả đêm, chúng tôi đều gần như không chợp mắt, còn hai căn phòng bên cạnh, cũng nghe xì xầm bàn tán liên hồi.

    Trải qua một phen hãi hùng đến thế, nếu ai còn ngủ nổi, thì đúng là kỳ tích!
     
    Back
    Top Dưới