Khác Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - tập 1

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
177,795
0
0
409007274-256-k561564.jpg

Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
Tác giả: thieunghien
Thể loại: Tiểu thuyết
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Truyện: Bắt lấy viên đá mắt mèo

Tác giả: Thiều Nghiên

Thể loại: tiểu thuyết giả tưởng, phép thuật, phù thuỷ, thần linh, trả thù, quyền đấu, bối cảnh cổ trang
Số chương: 25 chương (21 chương đánh số)
Độ dài: tầm 104 700 chữ

Cảnh báo: mọi thiết lập, nhân vật, tình tiết đều là hư cấu, vui lòng không liên tưởng với đời thật hay lịch sử.

Truyện được đăng song song ở nền tảng Truyện Nhà Ong: https://truyennhaong.vn/tac-pham/bat-lay-vien-da-mat-meo

Bìa truyện là commission được thực hiện bởi Giao Thừa

"Dù cái giá của việc đến quá gần ngọn lửa là bị thiêu rụi, vẫn sẽ có những con thiêu thân tình nguyện cháy thành tro"

Ở một đất nước có tên là Tân Lang, toàn bộ thành viên hoàng gia bị ám sát, vị phò mã lên nhiếp chính đã buộc tội các phù thủy thân cận với công chúa vợ mình là hung thủ, hành hình họ bằng cách thiêu sống.

Không chỉ vậy, hắn còn trút giận lên tất cả phù thủy trên đất nước này và cấm tiệt các hoạt động tâm linh.

Nhưng thực chất hắn mới chính là hung thủ.

Hắn đã che giấu tất cả và vu khống lên các phù thủy, đồng thời nuôi dạy một đám trẻ làm tay sai cho mình, tiêm vào đầu chúng tư tưởng thù ghét ma thuật.

Công chúa vợ hắn vẫn còn sống và đợi ngày báo thù, trong đám trẻ hắn nuôi cũng là hoàng nữ sống sót từ vụ thảm sát năm xưa.

Câu truyện sẽ mở ra một thế giới hư cấu mẫu hệ với các phù thủy, phép thuật và những vị thần, vị thánh; hé lộ chân tướng vụ thảm sát năm xưa, hành trình báo thù của các phù thủy và những đứa trẻ bị phò mã lừa gạt, giành lại ngai vàng.



tiểuthuyết​
 
Có thể bạn cũng thích
  • [QT] [BHTT] - Trốn Bất Quá Hắc Tâm Liên Nữ Xứng -...
  • [H văn] Ngư Bất Hữu Cước (Cá không chân)
  • Tiểu thanh mai của Thủ phụ đại nhân (Bát Nguyệt Vu Hạ)
  • [Edit - Hoàn] Kiều Sủng - Khai Hoa Bất Kết Quả
  • [EDIT][BHTT] SAU KHI LY HÔN BẮT ĐẦU YÊU ĐƯƠNG
  • [Đam mỹ - Hoàn thành] Đá Ngầm - Bất Nhượng Trần
  • Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Tựa khúc


    Linh Như là một phù thủy, nhưng con bé đã dành cả cuộc đời mình để che giấu điều đó.

    Cha nói đây là cách duy nhất để giữ an toàn cho nó.

    Đất nước này thay đổi rồi, vì một điều kinh khủng xảy ra vào năm Kỷ Sửu, đúng cái năm con bé chào đời – vua của Tân Lang bị ám sát, và người ta đồn rằng các phù thủy thân cận nhất trong triều đình chính là đầu sỏ.

    Chắc chắn là vậy rồi, mọi người nói với nhau, dẫu khó tin đến mấy.

    Hoàng thất của đất nước này là á thần cơ mà!

    Họ là hậu duệ của Hỏa Thần!

    Ai có thể đánh bại họ ngoài những phù thủy muôn đời thờ phụng thánh thần, được các ngài ban cho quyền năng siêu nhiên chứ?

    Và hung thủ còn có thể là ai khác ngoài các phù thủy trong Chúc Thiên Các sở hữu ma thuật hùng mạnh!

    Vua, hoàng hậu, nhị vị hoàng tử cùng hoàng nữ mới vừa được hai tuổi, kể cả công chúa ở xa, đều chết bất đắc kỳ tử.

    Chỉ một thành viên duy nhất của hoàng thất sống sót: phò mã, Triệu Thiên, vốn là hoàng tử cả của nước láng giềng Túc Mộc.

    Trong cơn phẫn nộ, người bắt giam nhóm phù thủy bị tình nghi, rồi thiêu sống họ ngay khoảnh khắc bình minh.

    "Những tên đầu sỏ", theo tuyên bố của phò mã, đã bị trừng trị, nhưng vẫn còn một con cá lọt lưới.

    Một đội quân được triệu tập để đi theo người lùng sục ả phù thủy đó.

    Đồng phục của đội quân này là áo gấm trắng, nhưng đi đến đâu, áo chúng lại nhuốm thêm màu tro – chúng học theo hình phạt phò mã dành cho các phù thủy kia, hễ bắt được đàn bà thực hành phép thuật, chúng dựng giàn thiêu rồi ném họ vào giữa đống lửa.

    Chúng chờ sẵn trong rừng già vào những đêm rằm, thời gian các phù thủy tụ họp lại để thực hiện nghi thức, và bắt họ ngay lúc đó.

    Lửa cháy rực sáng hơn cả mặt trăng.

    Đêm trường ác mộng này kéo dài tận năm năm trời mà vẫn chưa tìm được ả phù thủy nọ.

    Phò mã đành phải dừng lại và tìm cách khác.

    Năm Giáp Ngọ, người trở về kinh thành nhiếp chính, ban ba chiếu chỉ.

    Đầu tiên, thu nhận những đứa con kế tự của bảy vị công thần Thất Đẩu Tướng, gọi chúng là các Quốc Tử, xây Quốc Tử Giám, nuôi dạy như con ruột.

    Thứ hai, khuyến khích việc buôn bán, đề cao vị thế của các thương nhân và thợ thủ công.

    Thứ ba, cấm tiệt việc thực hành tín ngưỡng tâm linh, đóng cửa đền miếu, dừng hương hỏa cho thần thánh.

    Đội quân áo gấm trắng lui về kinh thành, nhưng người dân vẫn còn khiếp sợ.

    Chính họ tự tố cáo nhau.

    Ma thuật bị xem là điềm rủi.

    Các phù thủy vốn đã sống ẩn dật, chỉ xuất đầu lộ diện khi có người cần nhờ tới, giờ càng không thể thấy một lọn tóc của họ.

    Linh Như là con gái của phù thủy đã chạy trốn đó.

    Nhưng nó không biết điều này đến tận lúc nhìn thấy mẹ mình bị lửa đỏ thiêu đốt dưới ánh trăng rằm.

    Năm ấy, nó mười tuổi.

    Mọi thứ đã kỳ quặc từ một tháng trước rồi.

    Từ trường về nhà phải đi qua đình làng.

    Có đủ kiểu người ở đó.

    Những người nông dân nghỉ ngơi dưới bóng cây đa rậm rạp, mấy bà già với cái lưng gù nhóp nhép miếng trầu tới khi môi chuyển màu đỏ thắm, trai tráng chia nhau phần củi vừa đốn được, và các chị gái bày khung cửi ra, ngồi dệt vải dưới mái hiên.

    Linh Như không biết các làng khác có như làng mình không, nhưng đó là khung cảnh thường ngày mà con bé nhớ: sôi động, nhộn nhịp, luôn tràn ngập tiếng cười.

    Trong đình làng, nơi đặt bàn thờ các vị thần linh thiêng, lúc nào cũng có người quét dọn và dâng hương cầu nguyện, bất kể hôm đó có dịp gì đặc biệt hay không.

    Bởi vậy con bé nhớ rất rõ hôm đó.

    Chẳng một ai nói lời nào.

    Không một ai có vẻ như đang làm bất cứ cái gì khác ngoài hướng mắt về phía đoàn lính mặc áo gấm trắng tinh xếp thành hai hàng trong sân đình, mấy ông quan lớn sai người vác tượng thần ra khỏi nhà thờ, các già làng thì đi theo sau, nếp nhăn trên trán sâu hoắm, có vẻ đang cố ngăn cản họ.

    Đi cùng con bé là cô bạn hàng xóm, Tầm Phương.

    Giờ đây ở cái tuổi mười sáu, nó không còn nhớ quá rõ cô bé nữa – cha con nó chuyển lên kinh thành sinh sống cùng gia đình mẹ kế, và họ mất liên lạc hẳn từ đó – nhưng lúc nhỏ chúng rất thân thiết, không khác nào ruột thịt.

    Linh Như, dù bé hơn cô bạn vài tháng, vẫn tự nhận lấy vai chị.

    Những lúc cả hai bối rối, nó luôn đứng ra để bảo vệ cô.

    Khi Tầm Phương rụt người lại vì sợ hãi cảnh tượng ở đình làng chiều đó, Linh Như siết tay trấn an cô bé.

    Nó kéo bạn ngồi lẫn vào các chị gái và hỏi họ chuyện gì đang xảy ra.

    "Phò mã ra lệnh cho các ông ấy tịch thu tượng thần."

    Chị gái ngồi sát cạnh nó đáp, mắt chị đỏ hoe.

    Một anh trai tiếp lời chị:

    "Làng nào cũng bị thu cả.

    Thôn Đông thôn Đoài gì cũng không thoát được...

    Thế mà tao cứ tưởng chúng nó quên mất làng mình.

    Từng đấy năm trôi qua rồi còn gì."

    "Thấy cái sớ ông ấy cầm không?"

    Các chị khều vai anh ta, Linh Như cũng nhìn theo hướng họ chỉ, "Danh sách các thôn làng đấy.

    Thoát đường nào?"

    "Sao phải tịch thu ạ?"

    Tầm Phương thắc mắc, "Không có tượng thần, mình thờ ai bây giờ?"

    "Thờ phò mã chứ thờ ai."

    Anh chàng ngồi trước mặt chúng cười khẩy, "Ở rể mà phách lối khiếp..."

    Các chị gái xúm lại đánh anh một cái, xuýt xoa:

    "Suỵt, nói khẽ thôi!"

    "Muốn bị các ông ấy bắt đi à?"

    "Có nhớ vụ làng bên không?

    Hai người bị họ đánh chết rồi đấy."

    "Phò mã là người Túc Mộc, văn hóa bên đấy khác bên mình; chứ thử là đàn ông Tân Lang, thằng nào dám hống hách trên đất nhà vợ thế?"

    Đoàn lính áo gấm chất tượng thần lên xe bò đầy rơm rồi chở ra khỏi đình làng.

    Ông quan lớn bị níu lại thì xua tay, nạt nộ già làng, nước bọt phì phèo.

    Tới khi mấy ông quan đấy bỏ đi cả, mọi người mới nháo nhào chạy ra chỗ già làng, hỏi có chuyện gì.

    Các anh chị nghe ngóng xong thì quay lại chỗ hai đứa trẻ.

    Linh Như và Tầm Phương vẫn đang nắm tay nhau, siết chặt đến nỗi mồ hôi đổ dính nhớp nháp, nhưng chẳng đứa nào muốn buông ra cả.

    Già làng cao giọng bảo:

    "Mọi người yên lặng, nghe tôi nói!"

    Hàm râu trắng xóa của ông run run, đến khi đình làng im ắng hết, ông mới nói tiếp, "Lệnh của triều đình, kể từ hôm nay, cấm tiệt mọi hoạt động cúng kiếng thần thánh, nói chuyện tâm linh, làm phép, luyện bùa!

    Bất cứ làng nào dám cãi lệnh đều sẽ bị nghiêm trị!

    Nhà ai chứa chấp phù thủy mà không báo, tới lúc phát hiện ra thì hậu quả khôn lường!"

    Lời vừa dứt, dân tình đã xôn xao như vỡ chợ.

    Họ đòi già làng cho họ một lời giải thích, nhưng chính ông cũng không biết phải làm gì.

    Quan lớn đã đóng thông cáo lên cổng đình và tịch thu tượng thần – các vị thần khai tạo trần gian, những ngài thánh có công với đất nước... bị mang đi cả, không sót một cái gì.

    "Tân Lang mà không có thần, thì còn gì là Tân Lang?

    Cái ông ngoại bang đấy sao phách lối tới vậy!"

    Trời đã sẩm tối, chỉ còn đám thanh niên thiếu nữ ở lại với các bà già.

    Linh Như núp giữa họ, đầu vẫn choáng váng như mới bị ai tát cho một cái.

    Vừa nhai trầu, các bà vừa nói chuyện, chữ dính hết vào lưỡi khiến chúng phải lắng tai mới nghe rõ được.

    "Chắc ông phò mã còn căm thù phù thủy lắm."

    Họ bảo, gật gù với nhau.

    "Lại chả căm à?

    Lúc nãy nghe bảo, ông ấy cấm thờ là do muốn bày tỏ lòng tôn kính tới vong linh đức vua."

    Chị gái hồi nãy Linh Như hỏi chuyện đặt một tay trên tóc nó, tay kia chống xuống chiếu, chân mày vẫn chưa giãn ra, hỏi:

    "Phù thủy đứng sau thảm án Kỷ Sửu ạ?"

    "Phò mã bảo vậy.

    Mà chuyện cũng lâu rồi, hồi hai đứa bé này mới đẻ cơ."

    Một anh trai lên tiếng:

    "Thù máu phải trả bằng máu, lẽ thường tình thôi, nhưng chẳng phải ông ấy đã xử hết hung thủ rồi sao?

    Cho dù chỉ còn một người thoát được thì cũng đâu cần phải thà giết nhầm còn hơn bỏ sót như thế."

    Các anh chị khác bắt đầu đưa ra giả thuyết.

    "Có khi phò mã sợ có ngày cũng bị ám sát như thế cũng nên."

    "Chắc ông ấy bị ám ảnh, kiểu kiểu vậy..."

    "Nhưng thế thì liên quan quái gì đến thờ thần mà phải tịch thu tượng?"

    Bà già lưng còng nhất lắc đầu:

    "Tụi bay không hiểu.

    Thánh thần là nguồn gốc của thế giới này, của người Tân Lang, của phép thuật.

    Còn thờ thần là còn tin vào phép thuật.

    Còn người tin thì ắt còn người học làm phép."

    "Thế..."

    Chị gái nọ nói, "Ông ấy muốn róc hết phép thuật và tín ngưỡng khỏi chúng ta ạ?"

    "Hay ông ấy chỉ muốn an ủi vong linh hoàng thất thôi?"

    Các bà ậm ừ, chẳng đưa ra kết luận gì.

    Linh Như đang trầm mặc lắng nghe thì bỗng có ai vỗ vai nó.

    Cha gọi nó về.

    Một tay ông dắt con bé, tay kia dẫn theo Tầm Phương, mặt mày ông nghiêm trọng.

    Tối hôm ấy, Linh Như giật mình tỉnh dậy vì tiếng cãi vã ngoài phòng khách.

    Nó lấy gối chặn bên tai, nhưng những lời cay nghiệt như đinh đóng vào tai con bé.

    Cửa bên đóng sầm lại.

    Cửa phòng mẹ mở ra.

    Tiếng bàn ghế xê dịch giống như có một con thú hoang đang vùng vẫy giữa phòng, liền sau đó, Linh Như nghe thấy âm thanh đồ vật vỡ tan tành.

    Con bé không dám chạy ra xem.

    Linh Như nằm co ro trên giường đến tận khi tiếng đập phá dừng lại.

    Nước mắt nó giàn giụa trên gò má, hàng mi dài ướt đẫm, móng tay nó bấu vào thịt tới nỗi rướm máu.

    Trăng đêm đó rất sáng.

    Không cần đốt đèn cũng có thể nhìn thấy đường.

    Linh Như đi ra ngồi bên cái bàn con: vải màu, chỉ ngũ sắc và khung tre trên đó còn bừa bộn chưa kịp dọn.

    Nó cầm lấy phấn vẽ nguệch ngoạc trên mặt trái của vải.

    Nó quấn chỉ ngũ sắc quanh tay rồi gỡ ra.

    Nó dùng dao vót nhọn đầu tre.

    Canh năm, trời gần sáng, chớp cửa sổ phòng nó bỗng nhiên bị mở, con bé quay phắt lại, một tay cầm dao, một tay cầm thanh tre, đầu nhọn chĩa ra ngoài.

    Nhưng đó chỉ là mẹ thôi.

    Con bé bỏ hết đồ xuống, nhào vào lòng mẹ.

    Mẹ siết lấy con bé trong vòng tay mình, mùi cỏ thơm tỏa ra khắp áo quần và mái tóc của mẹ.

    "Sao con còn thức?"

    Mẹ hỏi, Linh Như ấp úng:

    "Cha..."

    "Ôi, mặc xác thằng cha mày."

    Mẹ nói, kéo nó lên giường, ôm chặt nó, "Ngủ thôi con."

    "Mẹ là phù thủy, đúng không mẹ?"

    "Ừ."

    "Bà ngoại cũng vậy ạ?"

    Nó từng nghe nói chỉ có con gái của phù thủy mới có thể trở thành phù thủy.

    Ma thuật không phải chuyện mà ai muốn cũng làm được.

    "Bà ngoại con là một trong những phù thủy hùng mạnh nhất mà Tân Lang từng có."

    Mẹ hôn nó, "Và con gái mẹ cũng sẽ trở nên mạnh mẽ như vậy."

    "Người ta nói... phò mã ra lệnh không được làm trò phép thuật nữa."

    "Kệ cha tụi nó."

    "Nhưng người ta bảo..."

    "Đừng sợ, Như à.

    Không ai cản được chúng ta cả."

    Mẹ nói, lồng tay hai mẹ con vào nhau, cả người nó tự dưng tê rần.

    Phép thuật.

    Trước khi chìm vào giấc ngủ êm ấm trong lòng mẹ, đó là tất cả những gì nó nghĩ tới.

    Phép thuật.

    Ngọn lửa đã tắt ngúm hồi mười năm trước.

    Vị phò mã tràn ngập thù hận.

    Tháng sau, người ta bắt được mẹ nó cùng bốn phù thủy khác trong cánh rừng gần đó.

    Khi con bé đến nơi, mùi khét gay mũi, da thịt bà đã cháy hết, xương cốt vỡ vụn thành tro.

    Phò mã đích thân tới để nhìn kẻ thù nhận hình phạt thích đáng.

    Người tuyên cáo thiên hạ rằng Tân Lang đã sạch bóng quân phản nghịch, và tội ác đó sẽ không lặp lại lần thứ hai.

    Linh Như từng nghĩ đó đã là dấu chấm hết cho bi kịch này.

    Sáu năm sau, nó mới biết câu chuyện chưa hề kết thúc.
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Một


    tháng mười một, năm Ất Tỵ, kinh thành Tân Lang

    "Bỏ xuống!"

    Thằng lớn lè lưỡi.

    "Tao đếm tới ba..."

    Thằng út cười phá lên, kéo anh bỏ chạy.

    Linh Như đảo mắt, đành đuổi theo tụi nó.

    Hai thằng nhóc tóc trái đào chạy thục mạng xuống cầu thang, trong tay là kéo và bút – con bé vừa bắt quả tang chúng định phá xấp vải mới nhập về.

    Vải này là hàng đặt riêng của một vị khách quý, đặt gia công nửa năm trời, dì Bích nâng niu cất tận trên gác xép áp mái, thế mà vẫn bị lũ quỷ nhỏ này phát hiện ra.

    Con nhà bán vải lại đi bày trò phá vải... thật chẳng hiểu nổi.

    Cầu thang nhỏ hẹp kêu cọt kẹt dưới chân Linh Như.

    Con bé cố tình đạp mạnh xuống, những bậc thang đồng loạt rung lên, làm hai thằng nhóc nghịch ngợm loạng choạng suýt ngã.

    Chúng hụt chân, vội túm lấy lan can để giữ thăng bằng.

    Nhân lúc chúng dừng lại đó, Linh Như túm lấy cổ áo chúng, xách ngược lên.

    Giọng cha chúng nhàn nhạt vọng lên từ dưới lầu:

    "Coi chừng đau em, con."

    "Đau cho biết chừa."

    Nó quắc mắt lườm hai thằng nhóc, "Chúng định phá xấp vải trên gác đấy!"

    Cha nó nói:

    "Thế thì cứ đánh cho năm hèo."

    "Nghe chửa?"

    Con bé nhại giọng người trên kinh, mỗi nách kẹp một đứa đi xuống nhà dưới.

    Bị bắt lại rồi, chúng biết điều hẳn, giống mấy con thỏ bị nắm lỗ tai vậy.

    Các dượng bốc hàng cùng cha nó ở sau nhà thấy cảnh này thì cười lớn trêu chúng.

    Linh Như sải bước băng qua gian nhà giữa có các dì đang may áo để ra gian trước, nơi dì Bích đang bày hàng.

    Mẹ kế của nó là một người phụ nữ hào phóng và thực tế.

    Từ ngày đầu tiên gặp dì đã thương nó như con ruột.

    Chính Linh Như cũng rất mến dì.

    Vấn đề duy nhất có lẽ là dì lớn hơn nó chưa tới mười tuổi.

    Nhưng nói gì thì nói, nó nể phục dì.

    Sau khi cưới chồng, dì tiếp quản cơ nghiệp gia đình.

    Trước đây tiệm vải này chỉ có một cửa hàng nhỏ ở góc phố, nhân lúc trong tay còn tiền mừng cưới, dì mua hẳn hai căn nhà bên cạnh rồi sửa sang lại cho khang trang; những năm sau đó dì chăm chỉ làm lụng, dù là lúc mang thai cặp song sinh cũng không nghỉ ngơi.

    Giờ đây cửa hàng vải của dì Bích lớn nhất phố này, mỗi dịp lễ tết đều có mối làm ăn lớn.

    Linh Như thường được dì dạy bảo chuyện buôn bán, nó cũng không phụ lòng dì mà dốc sức học hành.

    Dạo này nó đã có thể tự thương lượng mặc cả với đầu mối và cùng các dượng đi lấy hàng ở bến tàu rồi.

    Dì còn hay nói may mà cha nó mang cả nó theo, dì được hời một đứa con gái giỏi giang.

    Con bé thả hai thằng nhóc vào lòng dì.

    Ngơ ngác, dì ngó nó đợi một lời giải thích.

    "Hai thằng quý tử của dì định phá xấp vải trên gác đấy."

    "Ôi thánh thần ơi..."

    Dì thở hắt ra, gương mặt hiền hòa thoắt cái đỏ ửng vì giận, "Phải cho tụi bây một trận ra trò mới được.

    Nghịch quá đi thôi!

    Mẹ đã bảo gì, hửm?

    Mẹ dạy thế nào?"

    Thằng lớn ấm ớ:

    "Mẹ nói... không được lên trên gác..."

    "Không được lên phòng chị..."

    Thằng út cũng nối lời.

    Linh Như bốc trái táo trên dĩa, cắn một miếng giòn rụm, đứng một bên rung chân nhìn dì mắng đàn em.

    Dì Bích giật kéo và bút của chúng rồi đập cái "rầm" lên bàn.

    Giờ thì biết sợ rồi đấy, con bé cười thầm.

    Đây đã không phải lần đầu tiên hai thằng quỷ này bày trò tai quái rồi.

    Nhìn nhỏ người vậy chứ cái gì cũng dám làm.

    Mới tháng trước chúng còn dám lén cắt tung đống vải đang dệt dở của các dì, tháng trước nữa thì giấu sổ sách đi, tháng trước đó thì...

    Nhìn cặp song sinh hết dạ lại vâng, hứa hẹn không tái phạm nữa, con bé không nhịn được mà đảo mắt.

    Dì thả chúng vào nhà trong, phạt ăn sáng xong thì đi quét lá rụng trong sân, thở dài rồi quay lại cười với Linh Như.

    "Xin lỗi em nhiều lắm."

    Dì nắm tay con bé, "Tôi hứa không cho tụi nó lên phòng em nữa đâu."

    Phòng Linh Như chính là cái tầng gác mái.

    Lúc mới đến, nhà chưa kịp dọn phòng riêng ra cho con bé – đáng lẽ nó sẽ được cho cái phòng của cậu hai, nhưng rốt cuộc hôn sự giữa cậu với cô hàng chả không thành, chưa dạm ngõ đã xôi hỏng bỏng không, nên cậu vẫn ở đấy; sau vài đêm ở cùng với các dì nhỏ, con bé xin kê một cái giường trên gác để ngủ riêng.

    Sau này dì Bích mua thêm nhà, có dư phòng ngủ, con bé vẫn không chịu dọn đi.

    Dì đành gọi thợ đến sửa sang lại căn gác đó cho giống một cái phòng đàng hoàng.

    Nó có bàn, tủ sách, tủ quần áo – tận mấy tủ liền – có cửa sổ ốp kính nhuộm màu nữa.

    Đó là giang sơn thu nhỏ của Linh Như.

    Chỉ riêng một góc nhỏ ở tận trong cùng chất đống mấy súc sợi không dùng đến nữa, bình thường dì cũng cho con bé muốn làm gì với chúng thì làm, chứ dì có hẳn mấy kho để vải.

    Riêng tấm này quý nên dì mới để lẫn vào trong đám lụa cũ, cũng nghĩ là cất ở đấy thì không ai phá, thế mà lũ nhóc vẫn tìm tới được.

    "May mà hôm nay em đến tháng, bụng đau không muốn đi học, ở trên phòng mới bắt được tụi nó."

    Linh Như lẩm bẩm, "Em mà là dì, em cho cả hai đứa một trận..."

    "Thôi mà."

    Dì cười xòa, kéo nó ngồi cạnh, đưa cho nó sổ sách thu chi, "Tính hộ tôi chỗ này với, tôi tính mãi mà không khớp số."

    "Em đã cúp cua rồi mà dì còn bắt làm toán..."

    "Ngoan, làm đi, tôi bảo cậu hai hãm cho em chén trà uống ấm bụng nhé?"

    Nó hừ giọng, dựa hẳn vào người dì, lật sổ bắt đầu tính nhẩm.

    Có khách đến nó ngồi thẳng dậy, vắng khách là nó lại ngả nghiêng, cha đi ngang qua cứ chậc lưỡi nói nó, dì thì bảo ông cứ mặc kệ.

    "Con gái mệt, mình đừng câu nệ thế."

    "Mệt à?

    Thế có đi tiệc chiều nay không?"

    "Tiệc gì ạ?"

    Linh Như hỏi, não nó trống rỗng, chẳng có ấn tượng gì về sự kiện này.

    Dì Bích mím môi:

    "Tiệc đầy tháng con trai của em gái của chồng của em họ của tôi."

    "..."

    Con bé vuốt mặt, nghĩ một lúc mới ra, "Cái cô con gái nhà thị lang ấy ạ?

    Sao mới đó mà thằng cu đã đầy tháng rồi?

    Em tưởng cô ấy mới sinh...

    Em có thật sự cần phải đi không ạ?"

    Nó nhìn dì với ánh mắt thiết tha.

    Nhưng dì gật đầu, nghiêm túc nói:

    "Nếu là trước đây, em không muốn thì dì sẽ không bắt em đi, dì biết em với cô ấy có xích mích.

    Nhưng thời thế thay đổi rồi, Như à."

    "Ý dì là..."

    "Từ sau tết hạ nguyên, sức khỏe của phò mã ngày một suy yếu.

    Người chưa chọn được con thừa tự.

    Em có biết điều này nghĩa là gì không?"

    Linh Như cụp mắt.

    Nó nghĩ nó đoán được.

    Phò mã nhiếp chính dưới danh nghĩa con rể của hoàng thất, nhưng dòng máu Hỏa Thần đã lụi tàn từ mười sáu năm trước rồi.

    Lỡ chẳng may người có mệnh hệ gì, ngai vàng để trống, khả năng một cuộc hỗn loạn tranh quyền đoạt vị sẽ xảy ra là rất lớn – trước hết là giữa chính các Quốc Tử với nhau, sau là giữa các Quốc Tử với các quý tộc, rồi trong chính giới quý tộc...

    Dù là sau này thế lực nào lên, những người làm ăn buôn bán như dì Bích cũng cần phải sớm đưa ra quyết định.

    Họ cần chỗ dựa – kết giao với những người nắm quyền lực, bàn những mối làm ăn thân thiết.

    Và nó không thể tiếp quản cơ nghiệp của dì Bích nếu tránh né hết những người nó không ưa.

    Con bé hiểu, thế nên nó gật đầu.

    Dì cười nhẹ nhõm.

    Dì ân cần đặt tay lên bụng nó.

    Chẳng biết vì sao mà dì luôn có thể làm những cơn đau của nó tiêu biến, không riêng gì thống kinh.

    Linh Như đã được dì nuôi nấng như con gái ruột, như người thừa kế của dì.

    Đó là ân huệ rất lớn, và nếu để trả ơn dì thì con bé phải nói cười với những kẻ nó ghét, nó nghĩ mình đã sẵn sàng.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Từ xa, Linh Như đã nghe thấy tiếng đốt pháo và khua chiêng đánh trống tưng bừng.

    Mùi khói bay cả vào trong thùng xe.

    Sáo trúc hòa cùng đàn bầu náo nhiệt.

    Vó ngựa dừng lại trước cổng lớn tư dinh nhà thị lang, người làm đỡ Linh Như, cha nó cùng dì Bích xuống xe, đưa thiệp mời cho người canh cổng xem.

    Sau khi kiểm tra đúng tên rồi, họ cử một bà già dẫn ba người vào trong.

    Sân trước chia đôi, mỗi bên hai mươi mâm cỗ, nào gà luộc nào thịt trâu, đủ thứ sơn hào hải vị khác, mấy trăm vò rượu chất thành từng đống.

    Dọc bên bờ tường là những chiếc lồng đèn rực rỡ đủ màu sắc và kiểu dáng.

    Khách tham dự vận xiêm y thướt tha, gấm vóc lụa là thêu chỉ vàng chỉ bạc, trên đầu họ cài trâm đội mũ lấp lánh.

    Dì Bích nắm tay Linh Như dắt nó đi thẳng tới chỗ tụ tập đông nhất – cô con gái nhà thị lang mặc áo đỏ rực, mặt mũi hồng hào, bồng thằng cu mới đẻ trong tay.

    Đứa bé được bọc trong tấm chăn bông dày, đôi mắt tròn xoe nhìn quanh, cười khanh khách.

    Các bà phu nhân thường làm ăn với nhà Linh Như nhận ra dì Bích, đợi dì chúc mừng hai mẹ con chủ nhà xong là kéo dì sang hỏi han các mẫu áo mới, than phiền rằng hôm nọ mua lụa ở chỗ khác về chưa kịp cắt may gì đã nát bươm.

    Dì khoác tay em họ mình, vừa cười duyên vừa trò chuyện với họ.

    Linh Như xớ rớ ngay sau lưng dì, bỗng bị gọi giật lại.

    Nàng thiếu phụ đưa con cho chồng ẵm, tiến tới chỗ Linh Như với nụ cười áy náy trên môi.

    Bao lâu chưa gặp rồi mà cô vẫn giống như hồi còn đi học – hàng lông mày mảnh mai, ánh mắt sắc sảo hơi kiêu ngạo, viền môi hình cánh cung.

    Con bé lễ phép chào cô.

    Cô xua tay, cười xòa:

    "Tôi không ngờ là em sẽ đến."

    Linh Như tưởng mình nghe nhầm.

    Cô gái này từng là một hiện tượng trong trường nó.

    Cô có khả năng đạp đổ lòng tự trọng của bất cứ cậu trai nào và khiến các em gái nhỏ vừa sợ hãi vừa tôn sùng, chỉ bằng lời nói đơn giản.

    Ngỡ ngàng với sự khách sáo đó, nó gượng cười theo:

    "Phải đến chung vui với chị chứ!

    Trộm vía cháu bé trông kháu khỉnh quá."

    "Ồ, cảm ơn em."

    Cô nàng ngoái nhìn đứa con, khóe môi giương cao đến nỗi mắt híp cả lại, cong cong như hai mặt trăng lưỡi liềm; đoạn quay lại Linh Như, cô nắm tay nó, bảo, "Tôi chỉ muốn nói lời xin lỗi em vì chuyện ngày xưa.

    Lúc đó tôi không nên nói em như thế."

    Nó làm bộ không biết:

    "Chuyện gì cơ?

    Cái hồi chị chửi em là 'con mất mẹ liếm lá đầu đường' ạ?"

    "Tôi xin lỗi."

    Cô ảo não, "Từ ngày sinh thằng cu này tôi mới hiểu...

    Tôi không tưởng tượng được cảnh để nó bơ vơ một mình, Như ạ."

    Nghe cô nói vậy, nó cụp mắt, siết tay cô:

    "Kìa, ngày vui mà chị thở ngắn thở dài?"

    "Em tha lỗi cho tôi chứ?"

    Linh Như gật đầu.

    Lúc đó, nó chẳng muốn kỳ kèo chấp nhặt gì nữa.

    Nàng thiếu phụ thở phào, mắt ngập nước, vội vẫy chồng bảo đưa đứa bé cho nó bồng.

    Ôm sinh linh nhỏ bé ấy trong tay, Linh Như bất giác mỉm cười.

    "Chị ở cữ thế nào?"

    Nó trả con lại cho chồng chị, bắt đầu liến thoắng, "Dạo này trái gió trở trời, gần đông rồi mà còn nắng chang chang, chị ra đường cẩn thận kẻo say nắng.

    À, em mới làm một cái lọng nhỏ, cầm đi dạo hay để trong nhà ngắm cũng được lắm, chị không chê thì nhận lấy, xem như quà mừng của em vậy."

    Nãy giờ người ta cứ tưởng con bé cầm ô giấy trong tay, lúc nó mở ra mới ngỡ ngàng, hóa ra không phải.

    Cái lọng này làm bằng vải màu thiên thanh, cắt theo hình bươm bướm, mặt ngoài thì thêu hoa văn, mặt trong căng chỉ ngũ sắc.

    Lúc giơ lên trời thì chẳng khác nào cánh bướm thực thụ.

    Nàng thiếu phụ trầm trồ, mấy cô bạn của cô cũng thích thú ra mặt.

    Họ hỏi Linh Như có bán không.

    Con bé nhướng mày:

    "Đây là quà tặng, không có cái thứ hai đâu ạ."

    "Thôi nào, đừng cứng nhắc thế!"

    Cô nàng nói, "Em nể mặt tôi, bán cho các cô ấy đi mà."

    Mọi người nhì nhèo mãi, nó thoái thác không nổi – mà cũng không thực lòng muốn từ chối – đành hẹn họ hôm sau đến tiệm vải tìm nó đặt riêng.

    Thằng cu nằm trong vòng tay cha thấy mẹ có đồ đẹp thì ré lên, quơ tay đòi.

    Tiếng cười lại rộn rã.

    Đến lúc vào tiệc Linh Như mới gặp lại cha và dì Bích.

    Dì đã thấy hết cảnh tượng lúc nãy, tủm tỉm trỏ vào trán nó:

    "Ra dáng lắm rồi đấy...

    Bảo sao người ta bảo ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng!"

    "Con gái mẹ mà lại."

    Cha nó nói, cũng đang cười.

    "Mình cứ nịnh tôi."

    Dì bật cười, "Hồi bằng tuổi Như, tôi làm gì được như thế?"

    "Nên mới bảo là dì dạy em nên người còn gì."

    Linh Như giở giọng nịnh nọt, gắp cho dì miếng thịt gà.

    Pháo hoa tưng bừng giữa màn đêm, dàn nhạc công vẫn còn tấu khúc.

    Hôm đó là đêm trăng hạ huyền.

    Trong sân chưng nhiều chậu hoa thơm, ong mật từ đâu kéo đến, con bé xua mấy lần mà vẫn thấy chúng vo ve bên tai.

    Dì Bích đang định nói gì đó, thì bất thình lình, một toán hơn trăm lính ập vào phủ thị lang – những hàng lính mặc áo gấm trắng, cao ngất ngưỡng, cầm theo đuốc và gỗ khô, gươm tuốt ra khỏi vỏ.

    Tiếng nhạc và tiếng trò chuyện náo nhiệt im bặt.

    Khách khứa thấy gươm thì sợ điếng người, ai nấy mặt cắt không còn giọt máu.

    Mẹ ôm lấy con, chồng ôm chặt vợ, chẳng còn vết tích nào của khung cảnh tưng bừng lúc nãy nữa.

    Ông thị lang tới trước thưa chuyện với quan lớn – y phục của lão không phải y phục Tân Lang, mà tiếng nói của lão cũng khác; phải có một tên thơ lại phiên dịch cho.

    Họ nói gì đó mà Linh Như không nghe rõ, chỉ thấy sắc mặt họ càng lúc càng nhợt nhạt.

    Một toán lính bất ngờ xông vào nhà trong.

    Vài phút sau, họ quay lại, cầm theo một bát hương còn cắm nhang chưa cháy hết cùng một thúng vàng mã và mâm cỗ gồm mười hai món đồ cúng.

    Dì Bích kéo con bé ra sau lưng trước khi nó kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra.

    Lão quan thét lên một tràng dài.

    Đám lâu la túm lấy nàng thiếu phụ mặc áo gấm đỏ, tước đứa con khỏi vòng tay cô rồi lôi cô ra giữa sân.

    Cô gào thét vùng vẫy khi quân lính trói cô lại.

    Mẹ cha và chồng cô bị lính đè xuống, lưỡi gươm nhọn kề cổ họ.

    Mấy chục tên lính còn lại gầm lên một tiếng vang trời.

    Chúng chĩa gươm về phía khách khứa hai bên sân, không cho bất cứ ai xông ra.

    Linh Như thấy tim mình đập mạnh, nước mắt ngập dưới hàng mi.

    Một bàn tay bịt miệng nó lại.

    Tiếng khóc bị nghẹn trong cổ họng.

    "Im!"

    Cha nó đe.

    Dì Bích như thấy tội nghiệp nó, dịu giọng:

    "Đừng nhìn."

    Nhưng Linh Như chẳng cách nào dời mắt đi được.

    Nó trợn mắt ngó trân trân cảnh tượng cô gái lúc nãy vừa cười nói với nó – nàng thiếu phụ chỉ vừa sinh con được một tháng – bị cột vào giàn thiêu được dựng lên tạm bợ.

    Người thân của cô khóc lóc van xin người ta tha cho mà không có tác dụng gì.

    Đám lính áo gấm trắng phớt lờ thanh âm đấy, mặt không biểu cảm, chẳng khác nào một thứ bóng ma vô tri vô giác.

    Những thanh gỗ khô bắt lửa từ ngọn đuốc, lửa cháy lan ra như cách loài rắn rết siết lấy con mồi của nó.

    Lửa nuốt lấy tà váy của cô gái.

    Lửa làm tan chảy cây trâm vàng của cô.

    Lửa thiêu rụi làn da nõn nà người con gái chưa tròn hai mươi tuổi.

    Tiếng khóc của con trai cô xé toạc màn đêm.

    Chồng cô gầm lên, mắt đỏ ngầu và răng nghiến chặt, dùng hết sức bình sinh vùng khỏi gọng kìm của tên lính áo gấm.

    Anh nhằm thẳng hướng giàn thiêu mà chạy.

    Binh lính túm anh lại, tát vào mặt anh, lần nữa đè anh xuống – chúng túm tóc kéo anh ngước lên, bắt anh nhìn vợ mình đau đớn quằn quại trong lửa đỏ.

    Anh bật khóc tức tưởi.

    Đoạn, anh gào:

    "Quân bất lương!

    Chúng bay phá hết lề thói nền nếp dân ta, Hỏa Thần sẽ trừng phạt chúng bay!"

    Nói rồi, anh cứa cổ mình vào lưỡi gươm của tên lính, máu chảy lênh láng trên sân đá, mắt trợn ngược chết tươi.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Linh Như khóc suốt quãng đường về nhà.

    "Thằng điên.

    Đi đời vì con mụ phù thủy...

    Lại còn Hỏa thần.

    Bao năm rồi, có ông thần bà thánh nào làm được trò trống gì chưa?

    Thật tình..."

    Cha con bé lẩm bẩm.

    Lão quan lớn hóa ra là thái giám thân cận của phò mã.

    Từ ngày chủ đổ bệnh, lão đã luôn hoài nghi trong dân gian có kẻ giở trò trù ếm.

    Không biết bằng cách nào mà lão biết được con gái nhà thị lang lập bàn thờ cúng Mụ, còn huy động cả đội quân áo gấm trắng đáng lẽ đã bị giải tán từ lâu.

    Toán lính rút đi rồi, khách khứa vội vàng bỏ về, không ai dám nán lại chia buồn với gia đình thị lang.

    Bữa tiệc linh đình biến thành một buổi hành hình công khai.

    Dì Bích ôm Linh Như, để nó dựa vào lòng mình.

    Dì chậc lưỡi với chồng:

    "Mình đừng nói nữa.

    Không thấy con nó sợ à?"

    Chẳng những không chịu thôi, ông còn trỏ vào mặt con gái:

    "Mày liệu hồn mà nuốt nước mắt vào."

    Linh Như không đáp – không muốn nói, cũng không có sức để nói.

    Nó vùi mặt trên vai dì, tiếng thút thít chẳng kìm được.

    Cha nó càng nghe càng điên máu, quát vào mặt nó:

    "Phò mã cấm bày trò phù thủy mấy năm nay rồi, con mụ đấy còn cố tình phá luật, tự làm tự chịu, mày khóc mướn làm gì?

    Người khác thấy mày khóc lóc vì con mụ đấy rồi thổi phồng lên thì cả nhà đi đời.

    Hay mày muốn thấy tao với dì mày tán gia bại sản mới vừa lòng?

    Hử?"

    "Cha là đồ hèn!"

    Con bé quát lớn, mắt long sòng sọc, "Chỉ có đồ hèn mới chịu nghe lời tên ngoại bang đó!"

    "Như!"

    Dì Bích kêu lên, "Mình!"

    Một tiếng tát vang dội giữa xe ngựa.

    Má phải con bé nóng hổi – cả thế giới tối sầm, đầu nó choáng váng, chỉ có vòng tay ôm nó của dì là chặt hơn.

    Nhất thời con bé không biết chuyện gì xảy ra sau đó nữa.

    Đến khi hoàn hồn, nó thấy dì và cha đang lớn tiếng với nhau, không ai chịu ai.

    Xe ngựa dừng lại, nó lặng lẽ xuống xe, đầu óc trống rỗng.

    Con bé đi qua hai đứa em trai đợi ngoài cổng, đi thẳng lên căn gác của mình.

    "Chị ơi..."

    Thằng em út của con bé gọi với theo, nó còn nghe tiếng em lẽo đẽo chạy theo mình suốt mấy tầng cầu thang, nhưng nó không quay đầu lại.

    Nó đóng sầm cửa ngay trước mặt em.

    Linh Như gài chốt cửa lại.
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Hai


    Giữa đêm, có người gõ cửa nhà Linh Như.

    Con bé quan sát vị khách từ cửa sổ phòng mình.

    Cô khoác áo choàng đen tuyền bên ngoài lớp áo viên lĩnh màu xanh lục, quần lụa trắng, quấn thường màu lam nhạt, đi chân đất.

    Tóc cô búi chặt.

    Trong lòng cô ôm cái nón quai thao.

    Linh Như không nhận ra người này.

    Con bé đặt kéo xuống, trèo lên bệ cửa sổ, gọi với xuống:

    "Chị tìm ai?"

    Vị khách giật mình ngước lên.

    Đúng lúc đó, nàng trăng vén bức màn mây, chiếu sáng gương mặt trái xoan và đôi mắt tròn xoe của cô bé.

    Cô reo lên:

    "Có phải Linh Như con mẹ Chu Anh không?"

    "Chính tôi đây."

    Linh Như đáp, sau một giây ngập ngừng – Chu Anh là tên người mẹ quá cố của nó chứ không phải tên dì, đã quá lâu nó không nghe lại tên mẹ rồi, và ai mà biết được tại sao cô gái lạ mặt này tìm nó, "Chị là ai?"

    "Mình là Tầm Phương đây mà!"

    Cái tên rung lên một hồi chuông trong đầu con bé.

    Nó chồm nửa người ra khỏi cửa sổ, cúi xuống cố nhìn kỹ người khách hơn.

    Linh Như thử tìm trên khuôn mặt ấy những đường nét nó còn nhớ được, hay nói đúng hơn, là dọn dẹp lại cái hồ ký ức của chính mình, thay thế Tầm Phương trong quá khứ bằng cô bé đang đứng dưới nhà lúc này.

    Tầm Phương từng nắm tay nó trên đường đi học về.

    Tầm Phương cùng đi trẩy hội làng và đạp thanh mỗi dịp lễ tết với nó.

    Tầm Phương, người nó đã không thể liên lạc được suốt sáu năm qua dù có cố gắng thế nào.

    Vị cố tri bỗng nhiên thình lình xuất hiện giữa đêm hôm khuya khoắt khiến cảm xúc Linh Như lẫn lộn.

    Một mặt, con bé nhìn Tầm Phương không khác gì nhìn một người lạ.

    Mà quả là cô bé lạ hoắc, chẳng còn vẻ gì là rụt rè và nhút nhát phải trông chờ vào Linh Như cả, thay vào đó, cô đứng thẳng, môi đỏ thắm rạng rỡ cười duyên, như đang đợi bạn chạy xuống với mình.

    Một mặt khác...

    Linh Như muốn làm chính xác điều Tầm Phương đang kỳ vọng.

    Con bé muốn nhào vào vòng tay cô, bất chấp tất cả những lần nó đã khóc lóc tới lúc thiếp đi vì nghĩ đã vĩnh viễn mất đi người bạn này.

    Mất đi tất cả từng thuộc về nó.

    Tầm Phương không chỉ là một người bạn.

    Linh Như vẫn luôn nghĩ vậy – cô là một người chị em, chẳng phải máu mủ mà lại thân thiết như ruột thịt.

    Đó là mối liên kết nó chưa từng cảm nhận được ở chốn kinh đô phù hoa này.

    Linh Như tự nhủ, nó có thể tha thứ tất cả, chỉ cần được gặp lại cô một lần nữa.

    Giây tiếp theo, con bé đã chạy xuống gặp bạn, chẳng thiết cả mang giày.

    Hai đứa siết chặt lấy tay nhau, mắt ai cũng đỏ hoe.

    Linh Như vén tóc mai ra sau tai Tầm Phương, nhìn nốt ruồi duyên trên chóp mũi cô bé qua hàng nước mắt.

    Tầm Phương kéo nó vào lòng, đặt cằm lên vai nó, nức nở:

    "Mình xin lỗi nhiều lắm..."

    Linh Như lắc đầu nguầy nguậy.

    Chẳng còn gì quan trọng nữa.

    "Thật đấy, mình không cố tình đâu!"

    Cô bé vẫn nghẹn ngào nói, "Thư bồ gửi mình đã đọc hết, mình còn định viết hồi âm cho bồ kìa..."

    "Vậy tại sao..."

    "Nói ra thì dài lắm."

    Tầm Phương sụt sịt, đẩy Linh Như ra một chút để họ nhìn thẳng vào mắt nhau, "Ở đây không tiện.

    Đi theo mình."

    Đoạn, nắm tay Linh Như, cô bé kéo nó đi.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Ống quần của hai đứa con gái lất phất bên chân chúng.

    Những bàn chân trần bước trên đường mòn.

    Đầu giờ chiều mới có chuyện hành thích phù thủy ở nhà thị lang nên nhà nào nhà nấy đóng kín cửa nẻo, trên phố chẳng có bóng người nào ngoài lính canh đi tuần.

    Dạo này trời trở lạnh, Linh Như vội chạy khỏi phòng không kịp khoác áo, Tầm Phương bèn nhường áo choàng của mình cho bạn.

    Cô bé có vẻ không sợ lạnh.

    Gò má cô hồng hào dưới ánh trăng nhạt.

    Khi nắm tay cô, Linh Như thấy đầu ngón tay mình ấm áp.

    Họ đã đi rất lâu rồi.

    Linh Như chẳng còn nhận ra đoạn đường này nữa.

    Nhiều lần con bé ngoảnh đầu lại, sợ đi lạc, nhưng Tầm Phương thì cứ nhìn thẳng.

    Dần dà rồi nó cũng không buồn bận tâm thêm.

    Kể ra, Tầm Phương – dù có mục đích gì – cũng lựa đúng lúc để dẫn nó đi la cà thật.

    Nếu là ngày thường thì không bao giờ nó dám bước ra khỏi nhà vào lúc khuya thế này đâu.

    Nếu là ngày rằm thì nó thức trắng tới tận lúc mặt trời mọc.

    Cây kéo được mài nhọn cầm chắc trong tay, cửa sổ luôn mở để đảm bảo nó có một đường thoát.

    Mắt nó nhìn xuống vải nhưng tai thì luôn cảnh giác với từng động tĩnh dù là nhỏ nhất.

    Nó luôn sẵn sàng để phản kháng.

    Chuồn đi với Tầm Phương nghe như một ý tồi.

    Có điều hôm nay đầu óc Linh Như không được lý trí gì mấy.

    Tiếng gào thét của con gái nhà thị lang cứ lởn vởn bên tai.

    Cái tát còn nóng hổi trên gò má.

    Ngày hôm nay không thể tệ hơn được nữa.

    Con bé nhìn sang bạn.

    Có lẽ nó đã sai.

    Tầm Phương trông chẳng khác gì sáu năm trước cho lắm, với đôi mắt đen hơi mơ màng, hàng chân mày thi thoảng cau lại, vẻ bất an, cái miệng khép hờ trông như đang tư lự.

    Bước chân họ thong thả.

    Đá cuội bên đường lạo xạo dưới gót hài.

    Khi một làn gió bắc lại thổi qua, mùi thảo dược đặc trưng trên mái tóc của cô bé tỏa khắp không trung.

    Linh Như lén lút hít một hơi sâu.

    Trăng lên quá đỉnh đầu, vẫn chưa ai nói với nhau câu nào.

    Linh Như đang đợi bạn mở lời, còn cô bé thì đang tìm cái gì đó.

    Họ đi tới tận khi con đường lớn biến thành đường mòn và rồi chẳng còn đường nữa.

    Tầm Phương cong lưng, đưa tay vén bụi tre trước mặt họ ra.

    Thay vì lối đi, một cặp mắt khổng lồ, sáng rực nhìn chằm chằm vào hai đứa con gái.

    Suýt nữa Linh Như hét toáng lên rồi.

    Trông giống như... một con chó?

    Nếu có giống chó nào cao bằng cái cột nhà, đầu to cỡ mặt trống, móng vuốt giống như sư tử, da mang sọc như hổ, nhưng thay vì màu đen thì là...

    "Lửa?"

    Nó thì thầm.

    Đôi mắt con thú đang nhìn chằm chằm Linh Như với sự tò mò không thèm che giấu, hoặc có lẽ con bé chỉ đang bị phỉnh lừa bởi vẻ ngây thơ trong sáng của nó mà thôi.

    "Gọi là 'ông' nhé."

    Con bé sững sờ, quay phắt lại cô bạn.

    "Ông nghê."

    Tầm Phương giải thích, như thể sinh vật trước mắt họ là một điều hiển nhiên.

    Đêm khuya ôm lấy thân thể người con gái gầy tong teo, còn ánh trăng rằm trên cao và ngọn lửa từ thân con thú đang cố gắng giành lại cô.

    Linh Như không khép miệng lại được:

    "Chính xác thì..."

    "Mình xin lỗi, Như à, mình biết mình không nên dẫn bồ tới đây một cách đường đột như vậy, nhưng có chuyện này rất quan trọng."

    Cô bé tha thiết nói, "Không thể nhắc tới chuyện này ở kinh thành được.

    Bồ có thể tin mình và đợi đến khi ngài ấy tới, được không?"

    Đó là cách Linh Như biết họ đã đi tới ngoại ô.

    Tuyệt thật.

    Linh Như có quá nhiều câu hỏi trong đầu.

    Hơn hết, con bé muốn nổi giận với Phương, chất vấn cô mấy năm trời qua đã đi đâu, và vì cái quái gì mà lại có một con...

    ông nghê chào đón họ.

    Thế rồi khi nó bắt gặp đôi mắt bồ câu ươn ướt của cô bé cùng quầng thâm mỏi mệt dưới mi, chẳng lời nào thoát ra được nữa.

    Tầm Phương khó hiểu thật, nhưng Linh Như nghĩ cô bé không có ý xấu.

    Hơn nữa nó cũng không thật sự tức giận với cô.

    Thay vì phẫn nộ, nó mừng rỡ và nhẹ nhõm vì được gặp lại cô nhiều hơn.

    Dịu giọng, con bé nhún vai:

    "Được rồi."

    Hàng chân mày căng thẳng đối diện nó giãn ra.

    Nó ngoái đầu, e dè liếc nhìn ông nghê, lại quay lưng tìm một hòn đá để ngồi xuống.

    Dù Tầm Phương có lý do gì để bao biện cho sự im lặng suốt sáu năm qua của cô bé, Linh Như cũng sẽ chấp nhận, thở phào vì ít ra cô đã ở đây.

    Có khi Tết này họ sẽ được đoàn viên.

    "Thời gian qua bồ làm gì?

    Vẫn ở quê hay có đi đâu thế?

    Còn ngài ấy là ai?"

    Nó hỏi, không hề có chút manh mối về thân phận của cái người mà bạn vừa nhắc đến, và tại sao nó phải đợi người đó xuất hiện.

    Nhưng dù con bé có cố tình nói bóng gió thì cô cũng quá âu lo một chuyện khác, nên đã không phát hiện ra.

    Tầm Phương ngồi xuống bên cạnh nó, vuốt phẳng vạt áo trước, rồi đột nhiên quay sang Linh Như.

    Cô chưa vội trả lời những câu hỏi của nó mà khẩn thiết nói:

    "Mình phải cảnh báo trước, những gì sắp diễn ra chắc chắn sẽ vượt ngoài tầm hiểu biết cũng như hoàn toàn xa lạ với bồ..."

    "Ừ, mình đoán được."

    Con bé lẩm bẩm, lại liếc nhìn ông nghê – giờ ông ta đang quay vòng vòng rượt theo cái đuôi của chính mình, không khác một con chó to đùng là bao.

    Có thể ông chính xác là một con chó...

    "Nhưng hứa với mình bồ sẽ kiên nhẫn nghe và cố gắng chấp nhận, nhé?"

    "Mình hứa."

    "Tốt quá."

    Phương nhẹ nhõm thở ra, đôi môi chúm chím nhoẻn cười đầy cảm kích, "Cảm ơn bồ."

    Linh Như chỉ vào đôi khuyên tai của cô bé:

    "Đẹp đấy.

    Đá mắt mèo nhỉ?"

    Về cơ bản, mắt mèo không phải một loại đá quý cụ thể, mà là thứ hiệu ứng khi ánh sáng chiếu vào bề mặt của nó tạo ra phản quang giống như đôi mắt của loài mèo.

    Linh Như nhận ra nhờ sự đặc trưng đó.

    "Đúng rồi."

    Rồi cô bỗng dưng nói, "Mấy năm qua... mình nhớ bồ lắm."

    "Mình cũng vậy."

    Họ tìm lấy tay nhau.

    Biết thừa là bạn không lạnh, Linh Như vẫn ủ tay Tầm Phương dưới lớp áo choàng đen tuyền.

    Ông nghê tiến một bước lại gần hai đứa con gái rồi đuổi theo cái đuôi của mình ba lần, đoạn nằm xuống, để hơi lửa trên người ông sưởi ấm chúng.

    Giờ đã quen với vẻ ngoài hầm hố của ông, con bé thấy ông cũng dễ thương phết.

    Hơi tiếc là không vuốt ve cưng nựng ông được.

    Sao lại có những sinh vật trông đáng yêu như thể chúng sinh ra là để được ôm vào lòng nhưng nó lại không được ôm chứ!

    Đột nhiên Tầm Phương đứng bật dậy, kéo theo cả Linh Như.

    Cô bé thốt lên:

    "Kìa!"

    "Ai?"

    "Ngài ấy."

    Phương chỉ tay về đốm sáng lóe lên phía sau những hàng cây.

    Con bé siết chặt tay cô bạn hơn.

    Nó không biết nên chờ đợi cái gì xảy đến.

    Chẳng phải nó sợ, mà vì lúc nãy đã nhìn thấy ông nghê, nó nghĩ ngài ấy này cũng sẽ là một sinh vật huyền bí như thế.

    Nhưng không hề.

    Người vừa đến là người đàn bà xinh đẹp nhất nó từng được gặp.

    Bước ra từ giữa một ánh lửa, nước da rám của cô phát sáng như mật ong ngọt ngào mới thu hoạch, mái tóc cô dài và xoăn tựa cơn sóng vỗ bờ, xõa đến ngang lưng.

    Xiêm y của cô nhuộm màu rực đỏ.

    Rõ ràng là váy áo cô mặc không phải lụa đẹp gấm tốt, thậm chí còn hơi cũ hơn bộ mà Linh Như đang vận lúc này, nhưng ở cô có nét cao quý mà vải thô cũng không che mờ được.

    Đi theo sau cô có hai người con gái nữa.

    Một người lấp lánh như dải ngân hà, một người thanh thoát như trang giấy trắng.

    Người đầu tiên nghiêm mặt, tóc dài bồng bềnh tựa dòng nước chảy quanh co, cặp chân mày sắc bén mang tới cho Linh Như là một người kỹ tính.

    Người còn lại thì có vóc dáng khá mảnh khảnh, tết tóc thành hai bím đuôi sam, có vẻ phóng khoáng hơn.

    Cả hai đều đeo khuyên tai đá mắt mèo giống Tầm Phương.

    Khi người đàn bà tiến đến gần, cả ông nghê lẫn Tầm Phương đều cúi thấp đầu cung nghênh.

    Chỉ có Linh Như đứng đực mặt ra, không cách nào rời mắt khỏi sắc đỏ trong mắt cô được.

    Không, không hẳn là đỏ.

    Một màu gì đó, gần với hoàng hôn, nhạt hơn màu nâu thông thường, chỉ vì màn đêm nên mới có vẻ nhạt đi.

    Giá mà gọi tên được màu sắc đó...

    Con bé sững sờ đến nỗi không nhận ra người đàn bà đang nhìn nó.

    Chân mày cô hơi nheo lại, mắt săm soi chẳng phải đang xét nét mà như cố tìm một vết tích gì đó trên gương mặt con bé.

    Đến khi nhận ra rồi, hơi thở cô run lên.

    Sắc màu đặc biệt nơi mắt cô bị nước mắt làm nhòe đi.

    Tầm Phương không thấy những chuyển biến đó trên biểu cảm cô, vẫn cúi đầu mà thưa:

    "Bẩm điện hạ, đây chính là con gái của cô Chu Anh, tên là Linh Như ạ."

    Cô khoát tay cho cô bé bình thân.

    Người đàn bà nheo mắt, bỗng tiến đến gần Linh Như hơn.

    Nó tưởng mình đứng tim đến nơi khi cô áp trán hai người với nhau.

    Khoảnh khắc đó, một thứ gì lạ lùng làm tê rần da đầu nó, lan đến cổ rồi chạy xuống những ngón tay.

    Sợ hãi, nó giật mình lùi lại.

    "Cũng có tiềm năng đấy."

    Người đàn bà hơi nghẹn ngào, rồi cô quay lưng đi, rảo bước đến bên ông nghê đang nằm rạp dưới đất, điềm nhiên ngồi ngang lưng ông, vắt tréo chân như đang ngồi trên ngai.

    Cô vẫy tay bảo Linh Như đến gần mình.

    Giờ đã tỉnh táo lại một chút, nó mới ý thức được chuyện gì đang xảy ra, và thế giới đang có vẻ vô lý tới cỡ nào.

    Người đàn bà trước mặt nó cùng hai thiếu nữ đi cùng cô vừa bước ra từ một ngọn lửa.

    Ông nghê thì thôi, cứ cho rằng ông là một sinh vật không mấy khi xuất hiện nên dân gian không nhắc tới, biết bao chuyện trên đời này là cái vị khả tri mà, nhưng cái này – cái chuyện con người có thể xuất hiện bất thình lình giữa hư vô ấy – giải thích làm sao được!

    Và tại sao cô lại nhìn nó bằng ánh mắt đó?

    Nó nuốt nước bọt, hỏi:

    "Cô là ai?"

    Đôi môi đỏ thắm của cô cong lên.

    Người đàn bà chống cằm, khuỷu tay đặt trên đầu gối.

    Giọng nói cô trầm bổng như cách một ngọn lửa bập bùng:

    "Ta là một cái tên bị quét khỏi sử sách.

    Vẫn còn sống sờ sờ, thế mà ai cũng tin ta đã chết, oái oăm thay kẻ khai tử ta lại chính là người đầu ấp tay gối với ta suốt ba năm trời.

    Từng đó còn chưa đủ.

    Hắn giết anh trai ta, chị dâu ta, các cháu của ta, còn bôi bác các chị em ta là thủ phạm mưu sát."

    "Hắn?"

    "Hắn là tên ngoại quốc đang thao túng đất nước này.

    Em có thể không biết ta, Linh Như ạ, nhưng chắc chắn phải đoán được hắn là ai."

    "Ngoại quốc?"

    Linh Như sợ hãi thốt lên, "Không lẽ... là phò mã?"

    "Đầu óc em cũng nhanh nhạy đấy chứ."

    "Vậy cô là...

    Không thể nào!"

    "Em không tin ta?"

    Cô hỏi vặn lại, làm con bé ngắc ngứ.

    Chuyện này quá sức hoang đường, nhưng Tầm Phương không thể lôi nó đến đây chỉ để chơi khăm nó được.

    Xa cách nhiều năm, nó vẫn tin cô bé không phải người như thế.

    Hơn nữa cô gái này cũng chẳng giống kiểu đùa cợt ngả ngớn.

    Rồi còn, lạy thánh thần, ông nghê cao mười thước là bằng chứng rõ ràng nhất buộc nó phải tin rằng cô gái này thật sự là một đấng cao quý, mới có thể sai khiến được một sinh vật như thế.

    Cô cho nó thêm một cơ hội:

    "Em có thể không biết ta là ai – chưa tin nổi ta là ai – tùy em.

    Nhưng chắc chắn em biết em là gì chứ?'

    Giữa rừng khuya hiu quạnh bỗng tập trung một nhóm người, trên đầu còn là ánh trăng sáng tròn vành vạnh, Linh Như tự dưng nhớ về mẹ.

    Chính xác hơn thì là một câu chuyện mẹ từng kể lúc còn sống.

    Rằm, những cô gái tụ tập giữa rừng già, đứng thành vòng tròn, nhảy múa dưới bóng trăng.

    "Em là một phù thủy, Linh Như."

    "Không, em không phải."

    Nó nói ngay, xù lông lên phòng vệ, "Em...

    Em không..."

    Lời chối bỏ vuột ra như một bản năng, nhưng ký ức ùa về với nó.

    Những ký ức chẳng vui vẻ gì.

    Cánh cửa mở tung ra.

    Tiếng hét.

    Buộc tội và phản kháng.

    Như là con gái của em.

    Như là con gái của anh.

    Cửa sổ rọi giọt trăng bàng bạc khắp phòng ngủ Linh Như, nó mười tuổi, đang đợi mẹ trở về.

    Đáng lẽ mẹ phải dẫn nó theo.

    Mẹ đã hứa như vậy rồi.

    Mặt trời vén màn đêm để xuất hiện mà vẫn chưa có động tĩnh gì.

    Nó kéo chăn, quyết tâm đi tìm mẹ.

    Nó đi mãi đến trước đình làng.

    Thiếu đi tượng thần, cái đình trông chẳng giống cái đình nữa.

    Có rất nhiều người tụ tập ở đó.

    Hương cỏ non và đất ẩm bị mùi khét át mất.

    Một nhóm lính áo gấm trắng tụ tập quanh giàn thiêu.

    Cha tìm thấy nó trước khi nó hét lên.

    Con bé không ngừng vùng vẫy trên đường trở về nhà.

    Khi hết kiên nhẫn, ông chỉ vào mặt nó, đe dọa nếu không chịu ngoan ngoãn thì ông sẽ ném nó vào giàn thiêu đó luôn.

    Con bé im lặng, chỉ còn tiếng thút thít.

    Cha vén tóc cho nó rồi nghẹn ngào nói:

    "Đây là vì tương lai của cả gia đình ta.

    Mẹ con đã tự chuốc lấy kết cục này...

    Cha đã cảnh báo cô ta từ lâu..."

    Ông nuốt khan, thở hổn hển, "Hứa với cha đi, Như, con sẽ không để chúng bắt được cả con."

    Nó vẫn không dám nói, nên ông gầm lên:

    "Hứa đi!"

    "Con... con hứa."

    Kinh thành không có lũy tre làng, không có nhóm bà già nhai trầu dưới gốc đa, không có các thanh niên thiếu nữ nói cười với nhau bên khung cửi và đống củi khô.

    Sáu năm trời trôi qua, Linh Như gần như đã quên đi sự tồn tại của những câu thần chú.

    Nó đã ngừng đọc lời cầu nguyện với thần linh, ngừng chăm sóc bàn thờ bậc cao thượng.

    Nó không đếm được bao lâu rồi nó chưa thắp một nén hương cho các vị thần trong lời mẹ kể.

    Con bé giữ lời hứa của mình với cha và gạt đi hình ảnh người mẹ, không nhắc về bà với ai.

    Ngày hôm nay, nó cuối cùng cũng nhận ra, nếu nó không biết điều như vậy thì cha đã để người ta thiêu sống nó rồi, như cách ông làm với người vợ tào khang của mình.

    Dì Bích đã hạ sinh hai đứa con trai, tức là ông sẽ chẳng cần lo lắng chúng sẽ trở thành...

    Trở thành quái vật nữa.

    Cổ họng con bé đau rát khi cố cất tiếng nói:

    "Làm sao cô biết?"

    "Khi ta chạm vào em, huyết quản của em rung động."

    Cô gái đáp, "Đó là phản ứng khi tiên thuật và ma thuật gặp nhau.

    Đều là phép thuật, nhưng tiên thuật của hoàng thất được kế thừa trực tiếp từ thần linh, còn ma thuật của các phù thủy thông qua mối liên kết với thần linh để vay mượn quyền năng.

    Nhờ vậy mà ta biết em là một phù thủy, đúng như lời Tầm Phương kể với ta.

    Em ấy đã thuyết phục ta chiêu mộ em từ lâu rồi nhưng ta cứ chần chừ."

    "Chiêu mộ... gì cơ ạ?"

    Giọng cô đanh lại với một vẻ căm hận, cảm xúc đó khiến mắt cô đỏ hơn nữa:

    "Em nghĩ ta sẽ ngồi yên để nhìn tên dị quốc đó thống trị giang sơn của gia tộc ta sao?

    Hắn có giang sơn của riêng hắn.

    Hắn đáng lẽ có thể tranh giành ngai vàng với em trai hắn, nhưng Triệu Thiên là một kẻ hèn, hắn không dám nhúc nhích khi đứng trước phụ hoàng hắn, chứ đừng nói mở miệng đòi quyền kế vị.

    Mười sáu năm qua hắn sống trong cung điện của gia tộc ta, ngồi trên ngai vàng của hoàng huynh ta, trong khi ta chỉ có thể ẩn nấp trong bóng tối đợi ngày trả thù.

    Em nghĩ ta sẽ ngậm mối nhục này xuống mồ xin Diêm Vương xét xử à?"

    Cô gái rời khỏi tọa kỵ của mình, nói tiếp:

    "Ta cần một lực lượng để cùng ta trả mối thù này.

    Những người can trường, mưu trí – những người cùng chung nỗi nhục vong quốc với ta.

    Em có biết thế nào là vong quốc không, Linh Như?"

    Trước khi con bé kịp phản ứng, cô gái đã đứng rất gần nó.

    "Phép thuật của ta và em chính là quốc."

    Cô nói, rất chậm rãi, "Có phải người ta nói với em rằng phù thủy đã mưu sát hoàng thất không?

    Chúng nói phải thiêu sống phù thủy trong ngọn lửa đỏ để rửa hận cho Hỏa Thần?

    Nhưng ma thuật đã bảo vệ vùng đất này suốt hàng trăm năm.

    Nó không phải một thứ dị giáo ngoại đạo!

    Khi Triệu Thiên đặt lệnh cấm phép thuật trong dân gian, bắt dân chúng đi tố cáo các phù thủy mà ngày trước họ kính nể và dựa dẫm, điều hắn e sợ là chúng ta."

    Chúng ta.

    "Chúng ta bị tước khỏi cuộc đời cũ, bị ném ra ngoại biên, bị biến thành những con quái vật.

    Ta và em, và mẹ em, và bà ngoại em, và vô vàn các phù thủy nữa, không ai cho chúng ta đất dung thân.

    Có phải mẹ em đã bỏ mạng trên giàn thiêu không, Linh Như?

    Sau đó em đã làm điều khôn ngoan nhất để sống sót.

    Ta hiểu và nể phục em.

    Nhưng sống như vậy đến cuối đời sao?

    Phủ định phép thuật của em, gạt bỏ những vị thần bao đời chúng ta thờ phụng, để tuân theo lề thói của một tên dị quốc?

    Xương cốt mẹ em hòa vào đất cát mà những kẻ ngoại bang đó giẫm đạp và trục lợi – cũng như số phận của gia đình ta."

    Thái dương Linh Như nhói một cái.

    Nó siết cả hai tay thành quyền bên dưới tay áo thùng thình.

    "Vậy tại sao cô chần chừ?"

    Nó gom hết can đảm để hỏi, "Khi Phương kể cho cô về em ấy."

    Ánh mắt người phụ nữ dịu đi, giọng nói cô cũng vậy:

    "Người Tân Lang sinh ra từ phép thuật.

    Không có phép thuật, Tân Lang không còn là Tân Lang nữa.

    Phép thuật là điểm tựa tinh thần và trực tiếp định hình đời sống nhân dân, Như ạ.

    Thế giới em sống mười sáu năm qua không phải thế giới ta thấy suốt hai mươi mốt năm đầu đời của ta.

    Gần như tất cả phù thủy đều đã bị sát hại hoặc trở nên hèn nhát.

    Các em là phù thủy duy nhất còn sót lại, nhưng ta không chắc phép thuật của em còn là thứ phép thuật mà ta biết."

    "Cô chưa thấy nó mà!"

    Con bé gần như hét lên, hoảng loạn với đủ thứ cảm xúc mà nó không biết gọi tên, chưa từng dám nhớ lại kể từ ngày mẹ mất.

    Hoặc là cô gái này đang khiến nó phát điên, hoặc cô chỉ đang kéo con người thật của nó ra.

    Khả năng nào cũng khiến đầu nó đau như búa bổ.

    "Cô chưa thấy những gì em có thể làm."

    Giọng nó run rẩy, "Chính em cũng chưa từng có cơ hội hiểu về phép thuật mà em có."

    "Đó không phải lỗi của em."

    Người đàn bà nói, đầy cảm thông, "Vậy em có muốn học không?

    Ta sẽ dạy em tất cả.

    Cầu nguyện, thần chú, tế lễ, cúng kiếng, bùa ngải, độc dược và những gì nguyên thủy nhất làm nên đất nước này.

    Ta sẽ giúp em trả thù.

    Đổi lại, em cùng ta giành lấy cuộc đời đáng lẽ em phải có.

    Em đồng ý đi theo ta chứ?"

    Dù nó có nói không với lời đề nghị này, Linh Như biết, nó cũng chẳng thể trở về như trước nữa.

    Sẽ không có lúc nào nó ngồi trong phòng, may vá hay thêu thùa, đi cùng dì tới những bữa tiệc của các phu nhân mệnh phụ, mà nó không nhớ về đêm nay, tiếng khóc của con gái thị lang; về ông nghê khổng lồ, người phụ nữ bước ra từ đốm lửa, về mẹ.

    Nó chưa bao giờ ngừng nghĩ về mẹ.

    Nó sợ có cái kết như bà.

    Bị phản bội bởi người thân thương nhất.

    Chết khi đang ca hát và nhảy múa.

    Thiêu rụi dưới ánh trăng rằm.

    Linh Như quỳ rạp xuống đất, trán chạm vào lớp bụi có thể là xương cốt của mẹ.

    "Xin điện hạ thu nhận dân nữ.

    Hận nước, thù nhà, từ nay xin được san sẻ cùng điện hạ."

    Nàng công chúa đã được phát tang mười sáu năm trước đang cười với nó.

    Chẳng khác nào một giấc mơ kỳ lạ.
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Ba


    Công chúa Xích Anh tỏ ra hài lòng.

    Ngài khoát tay bảo hai thiếu nữ đi theo mình đỡ Linh Như đứng dậy, rồi nắm lấy tay con bé.

    Quả thật, khi da họ chạm nhau, nó cảm nhận được có gì đó trong mình chuyển động.

    "Oái!"

    Linh Như giật nảy người, gần như hét toáng lên.

    Ông nghê sủa một tiếng, cái đuôi ngoe nguẩy, đôi mắt ngó con bé vẫn sáng trong.

    Hình ảnh cô gái tóc xoăn dài – cái cô trông như bầu trời đêm ấy – đâm một cây kim nhọn hoắt qua dái tai nó hiện rõ mồn một trong mắt ông.

    Cô gái còn lại cũng xỏ cho nó một lỗ.

    Khi họ lùi lại, bên tai Linh Như đã lủng lẳng cặp khuyên đính đá mắt mèo giống với Tầm Phương.

    Giống với các cô.

    Cơn đau làm con bé rưng rưng nước mắt.

    Mặt

    nó nhăn nhó, ai oán lườm hai nàng hung thủ.

    "Thủ tục thôi."

    Cô gái đầu têu dửng dưng nói.

    "Thủ tục."

    Người kia hùa theo, cười xòa với Linh Như, "Đừng giận mà!"

    Tầm Phương đến gần, giơ tay lên cách vết thương của con bé cỡ nửa tấc.

    Cô nhắm mắt lại niệm một câu khẩu quyết.

    Bất thình lình, Linh Như thấy lỗ tai nóng rực vì đau của mình được cơn mát lạnh từ đâu tới xoa dịu, cảm giác khó chịu bị đẩy lùi.

    Lần tiếp theo nhìn vào trong mắt ông nghê, lỗ xỏ đã lành hẳn.

    Cảm giác này sao mà giống những lần dì Bích xoa bụng cho nó đến vậy...

    Nàng công chúa nhướng mày:

    "Sao nhìn ngơ ngác vậy?

    Em không nghĩ chỉ có mình em là phù thủy chứ?

    Tầm Phương cũng là một phù thủy, em ấy là Thiết Phách Sư.

    Hai đứa vừa xỏ khuyên cho em tên Tình Huyên và Yên Hà.

    Cái Huyên là Vọng Thiên Sư, cái Hà là Văn Địa Sư."

    Tình Huyên là cô gái trông bí ẩn như thể có một chiếc khăn voan dệt bằng những vì sao phủ ngang mặt cô.

    Yên Hà thì khá thân thiện, dù là mặt mũi thần sắc hay giọng nói của cô cũng toát ra vẻ trong trẻo.

    Cả hai người đều lớn tuổi hơn Linh Như và Tầm Phương, tầm hai mươi rồi.

    Phù thủy, cách công chúa Xích Anh phát âm từ này khiến nó cảm giác được về nhà.

    Đây là nơi nó thuộc về – giữa đại ngàn, dưới bóng trăng.

    "Nhìn cho kỹ đi.

    Trước mặt em là những phù thủy cuối cùng còn sót lại của Tân Lang rồi.

    Còn sót một đứa, lát nữa nó mới đến được."

    Nó tưởng ngài giỡn chơi, nhưng Tầm Phương gật đầu:

    "Mấy năm nay, tên Triệu Thiên đó ra lệnh lùng sục phù thủy.

    Những tên lính Túc Mộc dưới quyền hắn mai phục ở nơi chúng ta hội họp, đưa lên giàn thiêu cả, giống như mẹ Chu Anh vậy..."

    "Em có biết tại sao họ thiêu sống phù thủy không, Như, mà không phải bằng cách khác?"

    Bàn tay công chúa bấu vào vai nó, "Lý do dòng tộc ta được tôn làm vua là bởi lửa có ý nghĩa rất lớn với người Tân Lang.

    Lửa bảo vệ con người khỏi thú dữ.

    Lửa sưởi ấm ta trong những đêm đông gió rét.

    Lửa là biểu tượng của cộng đồng chúng ta.

    Lửa không thường được dùng để làm hại người khác.

    Bị thiêu sống là cái chết đau đớn nhất em có thể tưởng tượng.

    Không chỉ vậy, chúng còn nhổ lên tín ngưỡng của dân ta.

    Các phù thủy đều biết điều này."

    Cụp mắt, Linh Như thấy lồng ngực mình nghẹn lại.

    Tay con bé siết thành quyền.

    Tới tận bây giờ, giữa những giấc mơ, trong đôi lúc thất thần, nó vẫn tưởng như tiếng gào thét của các phù thủy bị hành hình năm đó còn văng vẳng bên tai.

    Ký ức mờ ảo bởi chúng chẳng khác nào bóng ma che mắt nó, nhưng hồn thiêng của mẹ đã không thể che đi đôi tai của con gái mình.

    "Hơn thế nữa, là một trong năm vị thần tạo lập thế giới – còn là vị thần đầu tiên – Hỏa Thần có sức mạnh lấn át tất cả quyền năng khác.

    Bất cứ ngọn lửa nào cũng mạnh hơn ma thuật của phù thủy.

    Mà chính ma thuật cũng không phải vũ khí để chiến đấu, nó là món quà từ thần linh.

    Lửa là thứ duy nhất triệt hạ được phù thủy.

    Súng còn đáng sợ hơn; chính những á thần cũng phải dè chừng trước đạn dược."

    Công chúa Xích Anh xòe tay.

    Những tia sáng vụt ra, trong bóng tối, chúng nhảy múa trên bàn tay nàng, rồi bùng lên thành một ngọn lửa rực rỡ.

    Sắc màu trong mắt nàng công chúa lại lần nữa khiến tâm trí con bé bối rối.

    "Kể cho em một chuyện vui nhé?

    Tiên thuật của hoàng thất là lửa.

    Tạo ra chúng, điều khiển chúng, đều là việc dễ.

    Lửa Thiêng có khả năng ban tặng một món quà cho người gần đất xa trời.

    Ngày xưa, những người lập công cao với nước sẽ được hỏa táng bằng lửa thiêng, tiên thuật cho phép họ kéo dài thời gian ở dương thế dưới hình dạng linh hồn, cho tới khi đạt được nguyện vọng cuối cùng trước khi nhắm mắt."

    Bất tri bất giác, Linh Như vươn tay như muốn chạm tới ngọn lửa đó.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Giờ thì Linh Như nhớ lại rồi – mấy câu chuyện mà mẹ thường thủ thỉ với nó khi cha vắng nhà, giọng nói của mẹ êm như một buổi trưa hè, với làn gió la đà thổi qua từng bông lúa trĩu hạt, những đám mây trôi thơ thẩn trên trời.

    Mẹ từng kể, vào đời vua thứ bảy, hoàng hậu mất sớm, để lại một mụn con trai; sau nhiều năm gà trống nuôi con, đức vua cưới một nàng phù thủy làm vợ kế, sinh ra một công chúa nhỏ.

    Chính là công chúa Xích Anh.

    Công chúa từ bé đã thông minh lanh lợi, sách đọc qua một lần là thuộc, cung vừa giương lên đã bắn trúng hồng tâm, cưỡi ngựa cả ngày không thấy mệt.

    Năm mười tuổi, công chúa muốn nối nghiệp mẹ, bèn dâng sớ xin lập nên Chúc Thiên Các, phục vụ công việc nghiên cứu phép thuật trong dân gian, được vua tán thưởng không tiếc lời.

    Hoàng tử lớn hơn công chúa bảy tuổi, lúc đó đã được phong làm thái tử.

    Có lần kia, thái tử tiệc tùng với các thế tử lỡ uống say, ngủ quá giờ chầu triều, bị vua cha khiển trách rất nặng.

    Vua nói:

    "Thái tử còn tham rượu, không thích ngôi vàng nữa, thì để cho công chúa lên thay."

    Sau lần đó, thái tử không dám lơ là triều chính nữa, cũng không uống thêm một giọt rượu nào.

    Hai năm sau đức vua lâm bệnh nặng, trước phút lâm chung đã hết lòng căn dặn việc nước, còn nắm tay công chúa nhỏ rất lâu.

    Thái tử đăng cơ.

    Công chúa đến tuổi thành gia lập thất, được vua chọn cho chàng rể là hoàng tử nước láng giềng.

    Mẹ Linh Như còn kể, lúc đức vua lên ngôi vẫn còn trẻ, chưa cưới vợ.

    Nghe bảo trong một chuyến vi hành, vua đang đi giữa đường làng chợt nghe tiếng hát thiếu nữ.

    Giọng hát hòa cùng làn gió nhẹ thổi qua đồng ruộng bát ngát làm ngài nhung nhớ khôn nguôi.

    Hỏi ra mới biết là con gái nhà nuôi tằm, năm nay vừa tròn mười tám.

    Ngài quyết muốn hỏi cưới nàng, lại sợ phượng bào làm nàng sợ hãi, bèn cải trang thành thư sinh đến bắt chuyện.

    Cô gái lúc đó đang hái lá dâu cho tằm ăn.

    Môi nàng cười như hoa đương nở, mắt nàng sáng như vầng trăng lưỡi liềm, chỉ tiếc là nàng nói giọng địa phương, ngài không hiểu được.

    Dẫu vậy ngài vẫn say đắm nghe nàng liên thiên cả ngày.

    Ngài vừa nghe nàng nói vừa cùng nàng hái lá dâu, tay đầy vết xước cũng không hay biết.

    Chiều đó xe loan hồi kinh, chỉ vài ngày sau thái hậu đã tới gặp mặt mẹ cha nàng bàn chuyện cưới hỏi.

    Cô gái nhớ nhung chàng thư sinh hôm nào, khăng khăng không chịu nghe lời mẹ cha, khóc lóc đòi nhảy sông, phải để ngự giá đích thân tới gặp, nhận ra vết xước ở tay, nàng mới e thẹn gật đầu.

    Từ khi trở thành hoàng hậu, nàng học cách nói của người trên kinh, hương âm phai nhạt dần.

    Hoàng thượng thấy thế thì liên tục thở dài.

    Một lần nọ, ngài nắm tay xin nàng nói lại giọng xưa.

    Vì ngại nên ngài chẳng dám ngẩng mặt lên, tới lúc hoàng hậu gọi một tiếng bằng giọng quê hương mình, ngài giật mình nâng tầm mắt, màu hoàng hôn phủ lên phượng nhan.

    Đức vua và hoàng hậu chung sống hòa thuận, chẳng bao lâu đã lần lượt sinh ra hai vị hoàng tử, vài năm sau lại một hoàng nữ chào đời.

    Mẹ con bé lại kể, ngày ấy trong triều có bảy vị tướng anh dũng đánh đâu thắng đó, vua ban danh hiệu Thất Đẩu tướng.

    Các vị ấy đã phò tá ngài từ khi ở đông cung, có người là hậu duệ gia đình công thần kiến quốc, cũng có người xuất thân áo vải.

    Họ đều không may chết trẻ.

    Vị qua đời cuối cùng còn là bạn đồng song của hoàng thượng.

    Từ khi bạn cũ ra đi, đức vua đau buồn khôn xiết, cơm không buồn ăn, trà không buồn uống.

    Hoàng hậu, các hoàng tử, công chúa lẫn phò mã hết lòng khuyên nhủ, nỗi đau ấy mới nguôi ngoai.

    Chỉ sau đó ba tháng, chính ngài cũng băng hà, để lại mối hận sâu đậm in lên từng cành cây ngọn cỏ của mảnh đất này.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    "Có lẽ mẹ em còn kể nhiều hơn như vậy nữa."

    Linh Như nói, "Nhưng em đã dành sáu năm qua để ép mình quên đi tất cả."

    Tầm Phương chạm vào mu bàn tay con bé.

    "Không sao đâu."

    Cô bạn nói, mắt rưng rưng nước như chực rơi lệ, làm nó cũng muốn khóc theo, "Mình – và điện hạ với các chị nữa – sẽ giúp bồ nhớ lại."

    Linh Như gật đầu, rồi nó lại gật đầu mãi, đến khi cái đầu gục hẳn xuống và con bé nhận ra mình đang òa khóc nức nở.

    Người ôm lấy nó là công chúa Xích Anh.

    Khi ở gần ngài thế này, nó nhận ra ngài rất cao lớn; vòng tay của ngài dẹp yên mọi nỗi lo sợ âm ỉ trong nó.

    Cứ như nó lại được mẹ ôm vào lòng vậy.

    Công chúa hôn lên trán con bé.

    Ngài lau nước mắt cho nó.

    Chạm lên bầu má tròn của Linh Như, ngài nói:

    "Chúng ta không thể ở lại đây lâu được – nơi này quá gần kinh thành, đáng lẽ chỉ nên để một mình ta đến thôi..."

    Tầm Phương lí nhí lời xin lỗi trong miệng.

    "Nếu em không có gì lưu luyến, ta sẽ đưa em về căn cứ của chúng ta ngay bây giờ."

    "Dân nữ không..."

    Linh Như buột miệng.

    Sự nóng vội và nhiệt huyết trào dâng làm nó muốn bỏ hết mọi thứ ra sau đầu.

    Rồi con bé nhớ đến dì Bích.

    Nó đã là con gái của dì suốt sáu năm qua.

    Nó không muốn cứ vậy rời đi mà chẳng nói gì với dì – nó thậm chí còn chưa chắc chắn rằng mình đã sẵn sàng chia tay dì.

    Dì Bích là ân nhân của nó, dì là một người mẹ, dù nó chưa bao giờ gọi dì như vậy.

    Con bé xin công chúa cho phép nó về tạm biệt dì.

    Vẻ khó xử lộ rõ trên dung nhan kiều diễm của công chúa.

    Chính Linh Như cũng biết đây là một yêu cầu vô lý.

    Họ chỉ mới gặp nhau, ngài chưa biết gì về nó, và khả năng nó chạy đi thông báo cho quan lớn về việc có một nhóm phù thủy cùng nàng công chúa đáng lẽ phải qua đời từ lâu đang tụ tập trong rừng là rất cao.

    Chẳng có gì đảm bảo là nó sẽ hoàn toàn trung thành với ngài ngay lập tức cả.

    Nhưng trước sự bất ngờ của nó, công chúa gật đầu.

    Ngài nói với giọng cảnh cáo:

    "Em có một canh giờ để tạm biệt mẹ kế của em – chỉ mẹ kế của em thôi, không ai khác, đặc biệt là cha ruột của em.

    Ta sẽ biết nếu em lẻo mép đấy."

    Linh Như không dám hỏi cụ thể ngài sẽ biết bằng cách nào, nhưng hỏi cũng bằng thừa, nó tin ngài có thể, và cái giá nếu nó bán đứng họ sẽ rất đắt.

    Có lẽ là đắt hơn cả việc bị ném vào giàn thiêu bởi đoàn lính áo gấm trắng.

    Con bé ngừng suy nghĩ lung tung, dập đầu lạy tạ công chúa.

    "Tranh thủ đi."

    Ngài nói, "Không thể để cho bất cứ phù thủy nào của ta bước vào kinh thành được; lão hoạn quan đó có tai mắt ở bất cứ mọi nơi, không chỉ thám tử thôi đâu.

    Ta chưa bao giờ biết được lão ta tìm ra phù thủy bằng cách nào...

    Thôi, bỏ qua – ông nghê sẽ hộ tống em về nhà.

    Đúng một canh giờ sau sẽ có người đến đón em.

    Nhớ đấy, đúng giữa giờ Tý, không lệch khắc nào."

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Ông nghê vĩ đại lúc nãy, sau khi được Tầm Phương hóa phép – đó là một phần trong ma thuật của các Thiết Phách Sư: cải tạo cơ thể; "động vật thì dễ, linh thú càng dễ hơn, nhưng hơi khó với con người và cơ bản là bất khả thi đối với á thần", cô bé nói – đã rút lại chỉ ngang tầm một con chó nhà.

    Ngọn lửa đỏ rực trên thân thể ông cũng thu nhỏ, giờ gần như hòa vào màn đêm.

    Ông lặng lẽ đi phía sau Linh Như, giữ khoảng cách vừa đủ.

    Khi con bé về tới, cửa còn để mở.

    Lúc nãy chạy đi nó đã không khóa lại.

    Và dì Bích đang đứng ngay trước cổng, đợi nó.

    Dì còn rất trẻ, chỉ mới hai mươi lăm.

    Nhưng sự lo lắng đã làm đôi mắt dì già đi cả chục tuổi.

    Đôi mắt đó dáo dác nhìn quanh, dì đi tới đi lui trong thấp thỏm, cứ chốc chốc lại ngóng lên.

    Linh Như tin rằng nếu dì được chọn, dì đã tự mình đi tìm nó, nhưng việc một người đàn bà ra khỏi nhà vào ban đêm, dù có phải ngày rằm hay không, đều có thể bị cáo buộc là phù thủy.

    Mọi thứ đã trở nên điên rồ tới mức đó rồi.

    Nóng ruột, dì chậc lưỡi rõ lớn.

    Linh Như nuốt khan trước khi chạy về phía dì.

    "Như!"

    Dì ôm chầm lấy nó trong tay, bật khóc.

    "Dì đừng như vậy mà..."

    "Em.

    Đã.

    Đi.

    Đâu!"

    Con bé rụt người lại trước cơn thịnh nộ giáng xuống đầu.

    Dì Bích thường xuyên tức giận – với hai thằng quý tử của dì, với những đứa em gái không được tích sự gì và chồng của họ, với chồng mình – nhưng chưa bao giờ là với nó cả.

    Giữa họ có sự tôn trọng, dì không ra vẻ với nó, nó sẽ nghe lời dì.

    Nhưng đêm nay rõ ràng nó đã vượt quá giới hạn.

    Vừa túm nó vào nhà, dì vừa nhéo bắp tay nó, nhéo cả lên lưng, khiến Linh Như phải xuýt xoa liên tục.

    Linh Như bắt lấy tay dì, đưa một ngón tay lên trước miệng mình, ra hiệu suỵt.

    Họ đang đứng giữa gian trước của căn nhà chính, nơi vừa mới sáng nay nó còn giúp dì tính sổ sách.

    Bóng tối nhấn chìm mọi âm thanh.

    "Em xin dì..."

    "Tôi mới là người phải xin em đây!"

    Dì Bích thì thào một cách dữ dội, "Lạy thánh thần, em đã ở đâu!

    Tôi nghe tiếng lục cục trên cầu thang, rồi phòng em thì không có ai, cửa trước cũng mở toang!

    Em có nghĩ cho tôi không, hở Như?

    Em có biết tôi đã sợ thế nào không?"

    "Em xin lỗi dì, rất nhiều.

    Em không cố ý...

    Nhưng dì làm ơn nhỏ tiếng lại..."

    Dì Bích gạt bàn tay đặt trên vai mình hòng lấy lòng xuống.

    Khoanh tay trước ngực, dì ngồi xuống cái ghế con ba chân cạnh đó, hất cao cằm, ra lệnh:

    "Cho tôi một lời giải thích đàng hoàng.

    Ngay bây giờ.

    Không thành thật khai báo thì em không được yên thân với tôi đâu."

    Mắt dì long sòng sọc.

    Linh Như kéo một cái ghế khác định ngồi đối diện dì, nhưng dì Bích lấy chân đạp cái ghế ra.

    Thế là nó đành đứng.

    Nó đã quen với dì Bích giỏi giang, luôn cáng đáng mọi việc, luôn niềm nở với khách hàng và những người làm ăn – nó quên mất trước đây dì cũng là đứa con cưng trong một gia đình giàu có...

    Tất nhiên dì phải hống hách thế này rồi.

    "Vì sao dì cưới cha em ạ?"

    "Tôi đang hỏi em cơ mà..."

    "Dì cứ nói đi."

    Giọng nó cực nhỏ, chỉ ngang với tiếng ruồi vo ve, đến nỗi dì phải kéo nó sát lại gần mới nghe rõ được.

    Trong lúc kể, con bé vẫn để ý xung quanh, nên nó nhận ra ông nghê đã lặng lẽ di chuyển lên canh chừng ngay cầu thang.

    Dì Bích thở nặng nề.

    "Tôi biết cha em qua mai mối.

    Người ta nói ông ấy vừa mất vợ và có một đứa con gái nhỏ – ông ấy tháo vát, siêng năng, chăm chỉ làm ăn, gốc gác cũng là dân kinh thành, chẳng qua mồ côi sớm, sau khi kết hôn thì theo vợ về quê.

    Lúc đó tôi chỉ muốn tập trung vào việc buôn bán.

    Việc cưới xin là điều cuối cùng tôi quan tâm.

    Khốn thay mẹ già tôi ốm nặng, đã gần đất xa trời rồi, nài nỉ tôi thành gia lập thất để bà được thanh thản mà nhắm mắt...

    Nhưng chuyện này thì liên quan gì đến việc em vừa trốn nhà và đi lung tung lúc nửa đêm..."

    Từng từ dì nói ra đều làm nó chột dạ.

    Con bé lên tiếng trước khi dì lại nổi trận lôi đình một lần nữa:

    "Có ai nói cho dì biết..."

    Linh Như nuốt khan, "Tại sao vợ cũ của ông ấy mất không?"

    "...Họ nói mẹ em bị ốm."

    "Mẹ em không ốm, dì ạ.

    Mẹ em... mẹ em rất khỏe là đằng khác."

    "Như, sao vậy em?"

    Dì đỡ lấy gương mặt đỏ lựng vì cố nhịn khóc của nó – dì nói, vẻ hối hận, "Có phải tôi hơi to tiếng với em không?"

    Con bé lắc đầu nguầy nguậy.

    Giọng nó như vỡ ra:

    "Mẹ em bị chính cha em giết chết.

    Bà... bà là một phù thủy.

    Bà chính là ả phù thủy bị phò mã kết án mưu sát hoàng thất trong thảm án năm Kỷ Sửu..."

    Dì bịt miệng nó lại.

    "Em có biết em đang nói gì không?"

    Nước mắt nó chảy đầy tay dì.

    Lạy thánh thần, nó ghét việc này.

    "Dì ơi... em là con gái của Vấn Thánh Sư Chu Anh."

    Dì Bích hít một hơi lạnh.

    Dì đứng bật dậy – thật sự làm cái ghế con ngã chỏng gọng vào đống vải sau lưng, để lại Linh Như quỳ sụp trên mặt đất, đi ra đóng chặt cửa lại.

    Dì cẩn thận đến nỗi khóa kín cánh cửa dẫn ra gian sau.

    Trong gian nhà tối tăm chỉ còn hai người, con bé thấy dì quỳ xuống ngang tầm mắt với mình, run rẩy nói:

    "Những năm qua em là con gái của tôi, không điều gì có thể chối bỏ được điều đó.

    Hãy gác lại những chuyện này.

    Em sẽ kế thừa cơ nghiệp của tôi, và khi người ta hỏi em là con của ai, em chỉ cần nói tên tôi ra.

    Đừng nghĩ về quá khứ nữa."

    "Em không thể!"

    Nó vỡ òa, "Xin dì nghe em nói hết – mẹ em không phải phường mưu phản!"

    "Ý em là sao?"

    Dường như có sương mù phủ ngang mắt dì, "Đứng lên trước đã, Như, gần vào đông rồi, sàn đất lạnh lắm.

    Nào..."

    Linh Như được đỡ ngồi lên ghế.

    Dì Bích nắm chặt tay nó, lau nước mắt lấm lem nhem nhuốc khắp gương mặt tròn, kiên nhẫn đợi nó bình tĩnh lại.

    Chính con bé cũng không ngờ được cảm xúc dâng trào này – tự nó đã dợt đi dợt lại cảnh tượng này trong đầu suốt quãng đường về nhà, tưởng tượng những viễn cảnh sẽ xảy ra khi nó kể lại cho dì Bích những gì nó đã biết ngày hôm nay.

    Rằng nó sắp rời đi và phải xin lỗi dì thế nào.

    Không bao giờ Linh Như ngờ tới những giọt nước mắt.

    Con bé đã không khóc từ ngày mẹ mất rồi, thế mà đêm nay mọi thứ bùng nổ trong lòng nó.

    Mọi dự tính đi chệch hướng.

    Kế hoạch chết từ trong trứng nước.

    Tất cả những gì Linh Như còn lại là sự thật trần trụi không che đậy.

    Nó tường thuật lại mọi thứ đã xảy ra, từ lúc mẹ nó còn sống đến khi bà bị hành hình, cách Tầm Phương, cô bạn thuở ấu thơ, tìm đến ngày hôm nay, và sự xuất hiện của công chúa Xích Anh, người đáng lẽ đã phải an giấc thiên thu từ lâu...

    Khi nó nhắc đến công chúa, dì Bích siết lấy cổ tay nó.

    Mắt dì mở thao láo.

    "Công chúa?

    Em nói công chúa Xích Anh?

    Ngài còn sống?"

    "Vâng, em không dám nói dối – dì nhìn xem."

    Nó vén tóc để lộ đôi tai, hai cái khuyên tai đá mắt mèo lủng lẳng, "Ngài đã cho em cái này."

    Dì Bích nâng đôi khuyên đó bằng cả hai tay, gần như thành kính.

    Linh Như nhận ra hơi thở dì dồn dập, và khi dì cất tiếng, nó không tin nổi vào tai mình:

    "Tôi đã luôn muốn có chúng...

    Khi tôi còn bé..."

    "Thưa dì?"

    "Sao tôi chưa từng nhận ra ấy nhỉ?"

    Lúc này dì bật cười, vừa chế nhạo chính mình, vừa mừng rỡ tựa được trùng phùng cố tri, "Em có đôi mắt của bà Huệ Nhãn!"

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Ước mơ của hầu hết những đứa con gái ở kinh thành thời gian đó là được trở thành phù thủy.

    Nhưng không phải phù thủy thông thường, mà là một phù thủy trong Chúc Thiên Các của công chúa Xích Anh.

    Để trở thành phù thủy, trước hết phải là một người con gái; cũng không phải cứ giới tính nữ là được, mà trong trường hợp lý tưởng nhất, phải là con gái của một phù thủy.

    Mối liên kết trực hệ bằng máu mủ được truyền qua nhiều đời mang trong nó sự gắn bó với các vị thần linh, tích lũy từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo dựng niềm tin vững chắc – niềm tin rằng các cô sẽ không lợi dụng quyền năng được ban tặng để lộng hành.

    Yêu cầu để trở thành phù thủy trong Chúc Thiên Các càng khó khăn hơn.

    Tòa lầu son này khởi công năm Mậu Dần và vãn công một năm sau đó, hội tụ các phù thủy tinh anh nhất khắp Tân Lang đến để nghiên cứu phép thuật.

    Ngoài mặt, công chúa Xích Anh là người đứng đầu, nhưng mọi người đều sẽ biết quyền lực thật sự nằm trong tay hoàng hậu Nguyệt Hằng.

    Hoàng hậu vốn là con gái nhà Vọng Thiên Sư, sau được truyền dạy thêm các thuật kham dư phong thủy của Văn Địa Sư, năm mười ba tuổi, bà tự mình học hỏi trở thành Thiết Phách Sư.

    Mười lăm tuổi, bà gặp được Vấn Thánh Sư tiếng tăm lẫy lừng đương thời, hai người tranh luận về phép thuật và các vị thánh thần liên tục sáu ngày đêm, trở thành bạn tâm giao.

    Năm năm sau, hai người cùng nhận được thánh chỉ vời vào cung để diện kiến đức vua.

    Vị Vấn Thánh Sư nọ thụ phong danh hiệu "Huệ Nhãn", còn bà Nguyệt Hằng thì lọt vào mắt xanh của đức vua lúc ấy vừa hết tang vợ, trở thành kế hậu.

    Ngày hoàng hậu hạ sinh công chúa, cả thiên hạ ăn mừng.

    Đây là vị công chúa đầu tiên của hoàng thất kể từ ngày Tân Lang lập quốc, đến nay đã qua bảy đời vua.

    Với sự ủng hộ của đức vua, bà Nguyệt Hằng nuôi dạy con gái như một phù thủy thực thụ – công chúa học cách thờ cúng các vị thần, đọc những bài tế văn ca tụng công đức các vị thánh; vào đêm rằm, ngài nhảy múa cùng mẫu hậu và các phù thủy thân cận với bà trong rừng sâu, dưới ánh trăng bàng bạc.

    Năm công chúa lên mười, bà thuận lý thành chương mà lập ra một tòa lầu son dành riêng cho việc nghiên cứu ma thuật, dưới danh nghĩa của con gái.

    Chúc Thiên Các trở thành nơi mà tất cả phù thủy Tân Lang hướng tới, thậm chí gia đình không có truyền thống làm phù thủy cũng mong đưa con gái vào học hỏi để lây tiếng thơm.

    Dì Bích lớn lên trong sự hưng thịnh nhất của ma thuật từ ngày Tân Lang lập quốc đến nay, từ bé đã ngưỡng mộ các phù thủy trong Chúc Thiên Các.

    Thời đó, họ là một hiện tượng – kiểu tóc của họ, y phục họ mặc, trang sức họ mang mà đặc biệt là đôi khuyên tai đá mắt mèo chỉ riêng phù thủy Chúc Thiên Các mới có, đều trở thành xu hướng trong kinh thành.

    Gia đình dì Bích từng có người học phép, nhưng chưa thành "chính quả", chỉ có thể tạm xem là biết sơ qua – dì được người bà ấy dạy cho các phép trị thương và chữa lành cơ bản.

    Ước mơ cả tuổi thơ của dì là trở thành một Thiết Phách Sư thực thụ.

    Rồi thảm án năm Kỷ Sửu ập đến.

    Giấc mộng tan vỡ, hoài bão bị buộc phải giấu giếm đi.

    Dì Bích không bao giờ nhắc đến ma thuật nữa.

    Nhưng sâu thẳm trong lòng dì có một giọng nói.

    Rằng các phù thủy Chúc Thiên Các không thể là phường mưu phản được.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Phía cửa sổ vang lên vài tiếng gõ lách cách.

    Linh Như quay phắt lại, thấy một gương mặt xa lạ đang nhìn vào phòng mình, người y treo ngược như con dơi, mái tóc ngắn lởm chởm giống con trai.

    Càng nhìn nó càng thấy bối rối.

    Bên tai y có cặp khuyên đá mắt mèo.

    Người nọ ra dấu bảo nó mở cửa sổ ra, con bé cũng thật thà làm theo.

    Y đu mình chui vào phòng.

    Dung nhan y thanh tú, mày rậm mắt sáng, chuyển động thanh thoát không hề phát ra một tiếng động nào.

    "Xin thứ lỗi cho sự đường đột này.

    Công chúa sai tôi đến đây hộ tống em."

    Người kia mỉm cười, giới thiệu, "Tôi tên Lan San, làm nghề thủ công bán lồng đèn ở phố bên cạnh.

    Em là...

    Linh Như, nhỉ?

    Một Vấn Thánh Sư."

    Nó căng thẳng đáp:

    "Đúng hơn thì mẹ em là Vấn Thánh Sư."

    "Vậy thì rất có khả năng cao là em cũng vậy.

    Đâu phải ai muốn lên đồng cũng được!

    Căn chỉ xuất hiện ở người con gái của phù thủy thôi, và truyền xuống mãi."

    Nói đoạn, y cúi người chào thật kiểu cách, "Tôi là Mê Hồn Sư – tức là tôi có thể khiến em quên mất cuộc trò chuyện này, đưa em vào một chuồng heo rồi nói đó là căn cứ mà em vẫn sẽ tin răm rắp."

    Cái gì vậy trời...

    Thấy Linh Như vô thức giật lùi lại, Lan San cười lớn:

    "Tôi chưa làm được tới vậy đâu.

    Mẹ tôi mới thật sự là một Mê Hồn Sư quyền năng.

    Mẹ của tất cả chúng ta đều ưu việt cả.

    Rồi em sẽ thấy tụi mình bị thiệt thòi quá mức."

    Không có gì để bàn cãi ở đó cả.

    Nó nhớ lại cách Tầm Phương chữa lành hai lỗ xỏ của mình một cách nhẹ nhàng.

    Hai chị Tình Huyên và Yên Hà hẳn là cũng không tầm thường.

    Con bé còn không biết mình có thể làm được gì nữa.

    "Chúng ta cứ thong thả thôi, chẳng cần phải vội vàng làm gì, vẫn còn vài khắc nữa mới đến nửa đêm.

    Tôi ngồi được chứ?"

    Nó kéo cái ghế bên bàn giấy ra cho Lan San ngồi, hết sức nhẹ nhàng.

    Ông nghê chạy lon ton tới nhảy phốc vào lòng Lan San, đuôi vẫy điên cuồng, lè cái lưỡi hồng hào ra liếm mặt y.

    Linh Như không có quá nhiều đồ để mang theo.

    Nó gấp gọn ba bộ váy áo mặc thường ngày vào cái túi da đi học.

    Nó cũng dọn lại hộp kim chỉ để mang theo, đề phòng lúc cần tới.

    Về phần trang sức... con bé chần chừ, tự hỏi mình có thật sự cần đến không, mọi ngày nó cũng chẳng thích đeo vàng đeo bạc lắm.

    Huống chi, giờ nó đã có cặp khuyên tai này rồi.

    Con bé ngập ngừng liếc trộm Lan San – người đang nghiên cứu mấy tờ giấy phác thảo lọng bướm mà nó để trên bàn một cách nghiêm túc, ông nghê cũng học theo, hết sức nhập tâm vào bản vẽ – y ngước lên lại thì nó quay phắt đi.

    Nó cảm giác trong lòng có muôn vàn lời muốn nói mà không dám.

    "Điện hạ nói em về bái biệt mẹ kế."

    Y mở lời, con bé căng thẳng gật đầu, "Mọi chuyện ổn chứ?"

    Có thể nói là vậy.

    Dì Bích, sau khi nghe nó nói, đã nhanh chóng chấp nhận sự thật và hết lòng ủng hộ nó.

    Tôi rất tự hào khi có một người con gái giỏi giang như em, dì nói, nhưng tôi sẽ còn tự hào hơn nếu em được sống cuộc đời của một phù thủy đích thực; đừng lo về cha em và hai thằng nhóc, tôi sẽ có cách.

    Linh Như chưa sẵn sàng giải thích thêm, nên nó chỉ gật đầu thôi.

    Dì Bích sẽ đảm bảo mọi chuyện ở nhà ổn thỏa.

    Lan San gật gù.

    "Em có thể hỏi tôi bất cứ điều gì."

    Y lên tiếng, nhận ra vẻ bồn chồn của con bé, "Tôi ở đây để giải đáp cho em mọi thứ trong tầm hiểu biết của mình."

    Mấy phút sau, Linh Như có thể cảm giác y đang hối hận vì đã hứa hẹn để rồi bị dội vào đầu hàng tá câu hỏi.

    Nó hơi áy náy nhưng cũng thấy mình xứng đáng được giải đáp cho những điều này.

    Con bé đã bị thế giới nó đáng lẽ thuộc về lãng quên quá lâu rồi.

    Nó muốn biết tất cả.

    Lan San kiên nhẫn đợi nó nói cho hết.

    Y giơ một ngón tay ra, trả lời vế đầu tiên:

    "Trước đây, các phù thủy lưu truyền những lời cầu nguyện và thờ cúng thánh thần theo cách riêng của họ.

    Thái hậu – tức là bà Nguyệt Hằng, chắc em đã có nghe – cùng công chúa và các phù thủy thân cận với ngài đã nghiên cứu về ma thuật.

    Về cơ bản, chúng ta đều cầu nguyện với thần linh, thờ phụng các ngài, tỏ lòng tôn kính.

    Khi đã xây dựng được mối liên kết với các vị thần rồi, chúng ta sẽ có thể mượn năng lực của các ngài để thực hành phép thuật.

    Chính vì vậy mà thường là mẹ thờ thần nào, con thờ thần đó, quá trình truyền thừa này diễn ra rất khép kín.

    Ví dụ, tôi là Mê Hồn Sư, tôi thờ ba hồn Sảng Linh, Thai Quang và U Tinh.

    Tầm Phương là Thiết Phách Sư, em ấy thờ bảy vía Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế và Xú Phế.

    Hồn với Phách liên quan mật thiết tới cơ thể con người, nên dân gian thường gọi tôi là thầy thôi miên, còn cái Phương na ná thầy lang."

    "Còn hai chị Tình Huyên với Yên Hà..."

    Nó cố nhớ lại, "Vọng Thiên Sư và Văn Địa Sư..."

    "Vọng Thiên Sư thờ Tứ Tượng – Bạch Hổ, Thanh Long, Huyền Vũ và Chu Tước, chuyên xem thiên tượng, báo trước thời tiết và khí hậu.

    Văn Địa Sư thờ Thổ Công với Hà Bá, dân gian gọi là thầy phong thủy – họ coi hung cát điền trạch, tư vấn các công trình xây dựng, làm lễ siêu độ vong linh, vân vân."

    Y đáp, rồi hỏi ngược lại, "Còn em?

    Tôi nghe nói mẹ em là Vấn Thánh Sư, thầy đồng, cho thân thiện.

    Mẹ em thờ vị thánh nào?"

    Nó cũng chịu.

    Lan San chậc lưỡi:

    "Đó chính xác là cái tôi luôn nói với công chúa...

    Mấy đứa mồ côi mẹ như tụi mình thiệt thòi kinh khủng."

    Thấy vẻ mặt Linh Như, y nói tiếp, "Hồi thảm án năm Kỷ Sửu xảy ra, phò mã Triệu Thiên đã bắt một nhóm phù thủy, gán tội mưu phản cho họ.

    Các phù thủy đó là bạn thân thiết với công chúa Xích Anh, những người có công lớn trong việc nghiên cứu ma thuật dân gian.

    Mẹ tôi, mẹ cái Phương, mẹ chị Huyên chị Hà, cả bà ngoại của em nữa, đều bị hành hình."

    "Mẹ em đã chạy trốn."

    "Hửm?"

    "Mẹ em đã chạy trốn, để cuộc Săn Phù Thủy diễn ra suốt năm năm trời, và lại tái diễn năm năm sau đó, rồi hồi chiều này...

    Con gái nhà thị lang vừa sinh con đầu lòng được một tháng..."

    Vị Mê Hồn Sư ngồi thẳng dậy.

    Y nhìn sâu vào mắt Linh Như, đôi mắt mà vừa nãy dì Bích đã nói cho nó biết là giống mắt của bà ngoại nó.

    Mẹ Chu Anh chưa từng kể cho nó nghe chuyện đó, nó chưa từng được biết bất cứ thứ gì về thế giới này, hay về phù thủy.

    Tất cả chuyện về phù thủy, bà giấu nhẹm.

    Giờ nghĩ lại, con bé cảm giác như bà đã từ bỏ việc truyền lại phép thuật cho nó.

    Linh Như chưa từng được tham gia vào những đêm trăng rằm.

    Có phải vì bà cũng đồng ý với cha nó, rằng không thể để con gái mình trở thành phù thủy?

    Hay vì một sự mặc cảm tội lỗi nào đó?

    Giữa suy tư miên man, con bé nghe Lan San nói:

    "Tôi có thể cam đoan với em thế này: dù cô Chu Anh có còn sống đến giờ, hay đã bị hành hình cùng với mẹ của tôi lúc đó, thì cuộc Săn Phù Thủy vẫn sẽ diễn ra.

    Thử nghĩ mà xem, nếu Triệu Thiên chỉ cần một đối tượng để đổ vấy tội lỗi ám sát hoàng thất, thì sao phải đến mức thà giết lầm còn hơn bỏ sót?

    Sao các quan viên địa phương để mặc cho hắn tự tung tự tác trong khi có thể vợ con chị em họ là phù thủy?"

    "Ý San là..."

    Đúng lúc đó, ngoài đường gõ ba hồi trống canh, ngắt ngang mạch suy nghĩ của Linh Như lẫn vị Mê Hồn Sư.

    Y nhăn răng cười:

    "Đừng kể với ai là tôi nói vậy nhé.

    Mà, kể cũng được, tôi không sợ..."

    "Em không kể đâu."

    Chẳng hiểu sao Linh Như bị kích động, nó nói, "Em thề."

    "Nghiêm trọng vậy, cưng?

    Chúng ta đi thôi.

    Có thời gian, tôi với em lại bàn tiếp."

    Lan San đưa tay ra cho con bé.

    Một tay khác, y lấy một lá bùa ra khỏi ngực áo, tờ giấy mỏng bùng cháy thành một vòng lửa lớn đủ cho người chui qua.

    Linh Như đi theo y.

    Với tất cả sự mù mờ về cả quá khứ lẫn tương lai.
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Bốn


    Ông nghê trở lại thành một linh thú vĩ đại, ngọn lửa trên người ông đẩy lùi phần nào u ám.

    "Chào mừng em tới Rừng Thiêng!"

    Linh Như tự động nối thêm hai chữ "nước độc", và không ai có thể trách nó được.

    Bóng đêm, vốn là một thành tố quan trọng khi cần tạo bầu không khí kinh dị, hoàn toàn không có đất diễn ở đây.

    Tự thân nơi này đã mang một cảm giác điêu linh hãi hùng.

    Những cây cổ thụ với bộ rễ vĩ đại chẳng khác nào trăn bò trườn trên mặt đất.

    Rắn rít treo mình vắt vẻo trên cành, lè cái lưỡi chẻ đôi của chúng xuống.

    Khi Linh Như ngước lên, hàng chục đốm sáng chớp tắt trên màn đêm đó và tiếng cú kêu đi liền theo sau.

    Gió dường như cũng khắc nghiệt hơn ở dưới xuôi, con bé nghĩ mình nghe ai đó đang gào thét.

    Nó nhích người lại sát rạt bên Lan San.

    Y bật cười, để con bé túm lấy tay áo mình.

    Ở cuối con đường mòn là một ngôi đền, bắt đầu với mười hai bậc thang thấp, có ba cổng lớn, sơn đã phai, phía trên cổng chính có treo biển ngạch đề bốn chữ "Vĩnh Ký Thiên Ân", hai câu đối chạy dọc hai bên cổng, viết:

    Tiên hữu hỏa, thổ, kim, thủy, mộc.

    Hậu sinh thiên, địa, khí, giang, hoa.

    Có người đã đợi sẵn ở cổng bên trái.

    Nói ra nghe hơi buồn, nhưng Linh Như không nhận ra Tầm Phương ngay lập tức.

    Nhớ nhung và cảm thấy thân thiết với cô bé là một chuyện, còn tập làm quen với gương mặt thiếu nữ này thay vì dáng vẻ trẻ con mà nó đã biết từ trước là một chuyện hoàn toàn khác.

    Ít ra, nụ cười của cô vẫn hệt như trước, nốt ruồi duyên dáng trên chóp mũi cũng vậy.

    Con bé nắm lấy bàn tay đưa ra sẵn của Tầm Phương.

    "Mình đợi bồ nãy giờ!"

    Cô cười híp mắt, kéo tay bạn, "Nào, mình dẫn bồ đi một vòng."

    "Các em cứ đi trước."

    Lan San nói, "Tôi cất đồ cho em Như đã.

    Chẳng mấy khi tôi ngủ lại đây, Như ở luôn phòng tôi nhé."

    Không phải một câu hỏi.

    Linh Như còn chưa kịp thấy ngại thì y đã biến mất rồi.

    Nó đành quay sang cô bé Thiết Phách Sư:

    "Lan San có vẻ thú vị."

    Hai đứa vừa đi vừa nói chuyện.

    Hóa ra trước khi Chúc Thiên Các của công chúa Xích Anh được thành lập, người ta chỉ biết tới có bốn loại phù thủy: Vọng Thiên Sư, Văn Địa Sư, Thiết Phách Sư và Vấn Thánh Sư.

    Mãi sau này, bà Nguyệt Hằng mới phát hiện một gia đình phù thủy sống du mục nay đây mai đó sở hữu ma thuật khác hẳn.

    Những người này thờ Tam Hồn, có khả năng ảnh hưởng trực tiếp lên linh hồn con người, khống chế nhận thức của họ.

    Chính vì năng lực này nên họ đã sớm lập lời thề với các vị thần là sẽ không kết hôn và chỉ sinh con gái để tiếp tục hương hỏa thờ phụng, chứ tuyệt đối không chia sẻ tri thức cho ai.

    Qua nỗ lực thiết tha chiêu mộ của Chúc Thiên Các – và trời mới biết liệu đức vua có nhúng tay vào gây áp lực hay không – gia đình này đồng ý gửi một đứa con gái đến tham gia nghiên cứu ma thuật

    "Sau khi cô lấy chồng và hạ sinh Lan San, gia đình này đến đón y về."

    Tầm Phương kể, "San được hai tuổi thì thảm án Kỷ Sửu xảy ra, các phù thủy bị truy đuổi khốc liệt, họ mới quyết định gửi lại San cho nhà cha của y.

    Cha y cẩn thận, không muốn bất cứ ai hoài nghi con mình, nên từ nhỏ đã cải trang cho y thành con trai.

    Nhưng ông cũng chẳng thể xóa bỏ mối thù giết mẹ của y.

    Năm San bảy tuổi, y tự tìm được tới điện hạ chỉ thông qua vết tích tiên thuật trên đường ngài đi – trong tất cả chúng ta, có lẽ y là người sở hữu nhiều tiềm năng nhất."

    Nghe chuyện, nó càng nể phục Lan San.

    Lại nghĩ về bản thân, con bé ước gì nó đã dũng cảm hơn.

    Giá mà sự dịu dàng của dì Bích không ru nó ngủ say trong một giấc mộng dài.

    Nếu như nó không nuôi hy vọng rồi đợi tới tận khi nhận ra nó chỉ đang tự huyễn hoặc mình mới chịu rời đi...

    Vào trong rồi, Linh Như thoạt đầu còn không dám nhìn lung tung, còn Tầm Phương thì cứ chỉ nó, thuyết giảng chỗ này chỗ kia là cái gì, dùng để làm gì.

    Thế nó mới biết bên trái cổng đền có một khu nhà là chỗ ở của ông nghê, còn bên phải là chuồng ngựa.

    Ông nghê từ nãy giờ đi theo con bé giờ trở lại đoàn tụ bên người nhà.

    Nghê là người canh giữ bí mật của hoàng gia.

    Kẻ hầu cận trung thành nhất, có thể nói như vậy.

    Sau thảm án mười sáu năm trước, gần như tất cả ông nghê đều đã bị sát hại.

    Một số ít trốn thoát được thì lưu lạc chốn Rừng Thiêng cho tới khi công chúa Xích Anh trở lại đây hồi sáu năm trước.

    "Điện hạ đã tìm tới mình sau khi mẹ Chu Anh mất, nhưng chính ngài lúc đó cũng không có chỗ nào để đi.

    Các vị thần đã báo mộng mách bảo ngài trở về nơi này.

    "

    Vị trưởng họ thứ mười hai của dòng dõi Hỏa Thần đã xây nên ngôi đền này như một nhà thờ tổ.

    Nói là đền, thực chất rộng bằng cả một tòa thành.

    Gần chuồng ngựa còn có một bãi đất trống rất rộng để tập kỵ xạ.

    Nghe tiếng vó ngựa, hình như vẫn còn người ở đó.

    "Chị Hà đấy."

    Tầm Phương bảo, hai đứa đứng xa xa nhìn Yên Hà phi ngựa quanh sân.

    Mái tóc đen dày tết thành hai bím đuôi sam tung bay sau đầu, cô gái trên lưng ngựa ngồi vững, tay không cầm roi cũng chẳng có yên cương.

    Con ngựa càng là một bậc tuấn mã.

    Bốn chân săn chắc, bộ lông mượt mà tưởng chừng có thể phản quang.

    Dưới ánh trăng rằm bàng bạc, xiêm y của Yên Hà như được dệt nên từ những giọt trăng, diễm lệ đến nỗi không thể miêu tả bằng lời.

    Linh Như tròn mắt.

    "Mình không ngờ!

    Trông chị ấy thanh nhã vậy mà!"

    "Lâu rồi mới nghe có người bảo chị Hà thanh nhã đấy."

    Cô bé cười lớn, "Từ bé chị ấy đã năng động rồi.

    Cha chị Hà là thầy dạy đức vua.

    Ông nghiêm lắm, nhưng ít khi ghé thăm, thành ra chị ấy cứ ngoan ngoãn ngồi đọc sách được vài hôm là lại chạy đi lung tung.

    Văn Địa Sư mà, có Thổ Công bảo hộ, Rừng Thiêng cũng chẳng cản bước được chị ấy."

    Nói rồi, cô dẫn Linh Như đi tiếp.

    Bên cạnh bãi tập kỵ xạ vẫn còn một thao trường nữa.

    Cạnh đó là một khu tách biệt dựng hai dãy nhà năm gian, Tầm Phương bảo là chỗ của các anh nghĩa quân.

    Công chúa Xích Anh chiêu binh nhiều năm, dưới trướng có tổng cộng tám trăm người, cách vài tháng lại luân phiên một trăm quân lên rừng tập luyện, còn lại vẫn ở thôn làng, có cận thần của công chúa làm trung gian truyền tin.

    "Con trai có trở thành phù thủy được không?"

    Linh Như bỗng thắc mắc, "Nếu một phù thủy chỉ sinh được độc thằng cu thì sao?"

    "Hoàng thất Tân Lang không quy định phải là nam hay nữ mới được làm quan, nhưng bồ cũng thấy đó, họ không thể sử dụng ma thuật."

    Có một sự thật là Hỏa Thần không hề thích các phù thủy, ngài cho rằng họ thờ phụng sai người, và đáng lẽ họ nên chuyển hết sang thờ phụng mình.

    Nhưng ngài không thật sự muốn tự lộ diện và cưỡng ép lòng tin của con người như vậy, nên ngài đã kết duyên với một người phàm, rồi ban cho các hậu duệ của mình quyền năng Lửa Thiêng để có thể bảo vệ và cai trị con người.

    Sau khi dòng dõi Hỏa Thần lên ngôi, họ bắt đầu lấn át vai trò của các phù thủy trong dân gian.

    Nếu Vọng Thiên Sư có khả năng quan sát thiên tượng và xem ngày tháng, cầu nắng cầu mưa, thì hoàng thất lập nên Tư Thiên Giám; nếu Văn Địa Sư xem phong thủy, dựng đê đào hào, thì hoàng thất có Hà Đê Sứ và bộ Công để thay thế; nếu Thiết Phách Sư chữa bệnh và cứu hộ, hoàng thất cũng có Ngự Y Viện và lập trạm y tế ở từng địa phương.

    Họ đề cao Hỏa Thần hơn tất cả các vị thần khác.

    Các phù thủy từng được tôn trọng và kính nể dần bị đẩy ra ngoại biên, họ vẫn có thể tự do thực hành tín ngưỡng, nhưng hầu hết bỏ nghề, còn những ai tiếp tục thì chọn cách im lặng.

    "Mình đoán phải có người từng thử và đã thất bại.

    Các phù thủy có cách để đảm bảo họ có ít nhất một người con gái."

    Trí tò mò của con bé nổi lên:

    "Cách gì?"

    "Xin bà Bảy Lưu, một trong mười hai bà mụ – các thần lo chuyện sinh nở.

    Có tổng cộng mười hai bà mụ: bà Tư Trần chú sinh, bà Tư Vạn chú thai, bà Chín Lâm thủ thai, bà Bảy Lưu chú nam nữ, bà Cả Lâm an thai, bà Cả Lý chuyển sinh, bà Cả Hứa hộ sản, bà Tư Cao dưỡng sinh, bà Năm Tăng bảo tống, bà Năm Mã tống tử, bà Năm Trúc bảo tử, và bà Ba Nguyễn giám sinh.

    Bà Bảy Lưu là thần chịu trách nhiệm cho việc nắn hình hài nam nữ.

    Năm xưa, lúc phân loại ma thuật, Chúc Thiên Các thống nhất không xếp những người thờ mười hai bà mụ vào nhóm phù thủy, vì đàn bà Tân Lang chỉ viện đến bà mụ trong thai kỳ.

    Hầu hết chúng ta đều có thể xin bà Bảy Lưu thay đổi giới tính của thai nhi theo ý muốn – gia đình có truyền thống thờ cúng thần linh sẽ xin con gái, còn nhà binh thì xin con trai.

    Ví như con trưởng của mấy đời quốc công đều là nam nhi."

    "Vậy... làm phép chỉ là xin các thần thôi á?"

    Tầm Phương bật cười:

    "Nếu chỉ đơn giản là thắp hương rồi nói, xin thần ban phép cho con, thì ai mà chẳng làm phép được!

    Làm phép còn cần kỹ xảo nữa."

    Cô chạm nhẹ lên đôi khuyên tai của Linh Như, đúng hơn là lỗ xỏ mà lúc nãy cô chữa cho con bé.

    "Ví dụ, với vết thương nhẹ thế này, mình cần khử trùng và kích thích cơ thể bồ làm lành nó – phép của các thần Thôn Tặc và Phi Độc.

    Đồng thời, vì bồ đang hoảng loạn và bị đau, mình sẽ cần giúp bồ bình tĩnh lại, vậy nên mình viện vào các thần Thi Cẩu và Xú Phế, điều hòa hơi thở của bồ và làm bồ thấy an toàn hơn."

    "Bồ có đang làm vậy không?

    Khiến mình thấy an toàn ấy."

    Cô bé nháy mắt.

    Họ đã đi qua khu nhà của các anh nghĩa quân.

    Tầm Phương chỉ về phía một tòa vọng lâu cao chót vót, giới thiệu:

    "Đài Thiên Văn.

    Chị Huyên thường ở trên đó quan sát tinh tượng.

    Các vị Tứ Tượng không thích phù thủy xen vào chuyện nắng mưa của mình.

    Vọng Thiên Sư thờ các ngài, ít khi nào dám xin phép hô mưa gọi gió lắm.

    Họ chỉ tiên đoán trước thời tiết thôi."

    "Tiên đoán?"

    Linh Như hỏi, "Không chắc chắn à?"

    "Mình nghe nói các vị Tứ Tượng hơi... khó tính."

    Hai đứa chụm đầu lại nói chuyện, trên cao bỗng vọng xuống một tiếng gọi lanh lảnh:

    "Các cô thủ thỉ gì đấy?"

    Tụi nó giật mình ngước lên.

    Lúc nãy gặp, Linh Như đã có cảm giác Tình Huyên bí ẩn như màn đêm.

    Giờ nhìn chị đứng trên vọng lâu, cúi người bên lan can, nhìn xuống chỗ chúng, mái tóc dài như được sương mù nâng niu, cảm giác đó càng rõ ràng hơn nữa.

    Tầm Phương chột dạ, vuốt dái tai của mình mà cười xòa, đánh trống lảng:

    "Ngày mai có mưa không chị?"

    Tình Huyên chẳng buồn đáp, như chỉ muốn trêu chúng vậy thôi.

    Cô bé nói khi dẫn Linh Như đi tiếp:

    "Nghe điện hạ bảo, hồi trước có nhiều Vọng Thiên Sư lắm.

    Dân mình chủ yếu sống bằng nghề nông mà.

    Sau này dựng nước, hoàng thất cho lập ra Tư Thiên Giám, làm lịch, chọn ngày lành tháng tốt, thông báo cho dân chúng, các Vọng Thiên Sư rỗi việc rồi nên có vài người bắt đầu chuyển sang làm Vấn Địa Sư."

    "Được đổi hả?"

    "Cũng tùy nữa.

    Vọng Thiên Sư và Vấn Địa Sư có quan hệ mật thiết tới nhau, trên nguyên tắc, hai nhóm này có thể học phép của nhau.

    Mê Hồn Sư và Thiết Phách Sư đều làm việc trên con người, nên nếu muốn, mình với Lan San cũng có thể học phép của người kia."

    Linh Như trộm nghĩ, có vẻ như phù thủy không chỉ đơn giản là một lớp vỏ để thần thánh thể hiện quyền lực của họ.

    Quyền năng mà phù thủy có dường như lớn hơn thế – thậm chí là khống chế sức mạnh của thần linh.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Năm trăm năm trước, Hỏa Thần kết duyên với một người phàm, từ đó ra đời hậu duệ là một dòng tộc á thần có khả năng điều khiển lửa.

    Dòng tộc này truyền tới đời thứ mười ba thì xuất hiện một người con trai ưu tú, pháp lực phi phàm không nói, còn là trang hào kiệt hiếm có.

    Mới hơn ba tuổi, ngài đã cưỡi ngựa bôn ba hàng trăm dặm; năm chín tuổi, tay không ngài đánh chết được hổ; lên mười hai tuổi, khắp vùng đồng bằng quanh sông Chước, không ai là không biết tới tiếng tăm của ngài.

    Khi đó, vùng đất này gồm nhiều bộ tộc cùng chung sống.

    Ở đồng bằng thì hậu duệ Hỏa Thần làm chủ, còn lại bốn bộ tộc mạnh nhất thì lần lượt sinh sống ở vùng biển phía đông, rừng già phía tây, sông nước phía nam và thung lũng phía bắc.

    Bốn vị tộc trưởng này hội họp lại, quyết tôn á thần lên làm chủ, cùng họp binh lực lại để giúp minh quân giành lấy giang san.

    Họ lấy sông Chước làm trung tâm đánh dần ra, sau ba năm chinh phục được thêm bảy bộ tộc nữa.

    Đến đầu năm Ất Dậu, bốn cõi quy tâm, mùa màng bội thu, lại có mưa sao băng kéo dài ba đêm liền, xét thấy là điềm lành.

    Người anh hùng nọ bèn lập đàn tế thần, lên ngôi vua, chia bờ cõi làm mười hai phủ, định phẩm trật quan lại, chế chữ viết, khuyến khích sự học, muôn dân an cư lạc nghiệp.

    Lúc đó ngài vừa tròn hai mươi hai tuổi.

    Vì vùng này nhiều cây trầu cau nên đặt tên nước là Tân Lang.

    Lãnh thổ Tân Lang rộng lớn bạt ngàn, là nơi đất lành chim đậu; phương tây dừng ở Rừng Thiêng, phương nam dừng ở đầm Hương, phương bắc dừng ở ải sông Vĩ.

    Nhớ công phò tá của bốn vị tộc trưởng, đức vua lần lượt ban đất đai và tước vị cho họ: tộc trưởng phương tây phong Khai Quốc công, tộc trưởng phương nam phong Định Quốc công, tộc trưởng phương bắc phong Chấn Quốc công, tộc trưởng phương đông phong Vệ Quốc công.

    Tước vị này được truyền xuống mãi.

    Vào đời vị vua thứ bảy, hậu duệ của Khai Quốc công được vào cung làm bạn học với hoàng tử.

    Hai người trạc tuổi nhau, hằng ngày cùng đọc sách tập võ, ăn chung mâm, ngủ chung phản, thân hơn cả ruột thịt.

    Đến năm mười lăm tuổi, hoàng tử vào ở đông cung, còn thế tử thì nhận lệnh cầm quân đi bình định loạn lạc chốn biên cương phía tây.

    Sau này thái tử đăng cơ, thế tử cũng tập tước.

    Vua ban cho y danh hiệu Hoài Viễn tướng quân.

    Vị Hoài Viễn tướng quân này từ bé đã là người cương nghị, ít nói; càng lớn y càng ít trở về kinh thành, từ sau khi thành gia lập thất cùng con gái một tri phủ vùng núi thì ở lại luôn chốn biên thùy, nghe nói gia đình viên mãn, dưới gối có hai người con, đủ nếp đủ tẻ.

    Ngược lại với Hoài Viễn tướng quân, hậu duệ của Định Quốc công chưa từng rời khỏi kinh thành, mà trở thành đội trưởng đội hộ vệ cho đức vua, đi theo bảo vệ ngài từ lúc còn ở đông cung đến khi ngồi lên ngai vàng.

    Y là con nhà binh nhưng tính tình rất mực ôn hòa, lại tinh thông ngoại ngữ, thường được vua giao cho việc đón tiếp sứ giả nước ngoài.

    Đến tuổi cưới hỏi, vị này kết hôn với một cầm sư trong cung, sinh được một con trai.

    Vua ban danh hiệu Trung Nghị tướng quân.

    Lại nói dòng họ Chấn Quốc công, vinh hoa phú quý có thừa mà không biết dạy dỗ, con cháu ăn chơi trác táng, mấy thế hệ liền chỉ biết chơi bời lêu lổng, dẫn tới làm mất lòng hoàng thất, không còn được vua trọng dụng.

    May mắn làm sao mà thế tử đời này là một người có chí tiến thủ, thời trẻ mai danh ẩn tính đi tòng quân, chưa tới hai chục đã lập công lớn, áo gấm hoàn hương.

    Tập tước rồi, y mang sính lễ sang hỏi cưới con gái cả nhà Binh bộ thượng thư, người bạn thân từ thuở hàn vi của mình.

    Hai người ở với nhau có nghĩa có tình, vô cùng mặn nồng ân ái, rủi thay nhiều lần mang bầu thai lại chết non, hay sinh ra mà không nuôi lớn được, cuối cùng chỉ còn một mụn con trai duy nhất.

    Vì đức tính chí công vô tư nên vua ban cho danh hiệu là Liêm Minh tướng quân.

    Cuối cùng là Vệ Quốc công.

    Gia tộc này sống gần biển, trừ những dịp lễ Tết vào cung tham gia yến tiệc, nhận thưởng... thì không bao giờ vào kinh.

    Tới đời này, thế tử cùng trang lứa với công chúa Xích Anh, lúc nhỏ thường xuyên được gọi vào hoàng cung bầu bạn, các phù thủy ở Chúc Thiên Các đều quen mặt y.

    Họ đều nghĩ sau này hai người sẽ thành đôi.

    Nhưng rồi công chúa lấy chồng, y cũng về quê, nhận con trai của người em gái quá cố làm con thừa tự.

    Từ khi y tập tước, vùng biển của Tân Lang luôn yên bình, không có chuyện cướp biển quấy phá hay buôn lậu nữa, được vua ban danh hiệu Anh Liệt tướng quân.

    Ngoài hậu duệ của bốn vị khai quốc công thần, hàng ngũ Thất Đẩu tướng còn ba vị tướng quân nữa, tuy không xuất thân thế gia, cũng là những trang anh hùng tuấn kiệt.

    Vị đầu tiên xuất thân áo vải, nhà làm nông nhưng vẫn được cho học hành tử tế, mười ba tuổi đã đậu kỳ thi Hương, sang năm đậu luôn thi Hội.

    Mùa xuân mười lăm tuổi, y vốn định cắp lều chõng lên kinh thi Đình, không ngờ năm đó mẹ cha chẳng may qua đời, y phải ở nhà lo ma chay nên lỡ mất dịp.

    Đức vua thấy thiếu mất một thí sinh, cho người đi tìm, biết nguyên cớ rồi mới khen đây là người có tấm lòng hiếu thảo, truyền lệnh cho y mãn tang rồi thì lên kinh yết kiến.

    Ba năm sau, cậu học trò này khăn gói lên kinh, giữa đường gặp một công tử sang trọng đang bị lũ chợ búa say xỉn đánh đập, xông vào giải vây.

    Hóa ra công tử nọ chính là đức vua cải trang vi hành.

    Vua thấy y không chỉ có tài văn chương mà còn sở hữu võ nghệ cao cường, bèn ban cho danh hiệu Trí Dũng tướng quân, phong làm thái bảo.

    Lúc kề cạnh vua, y để mắt tới một cung nữ bưng trà, cô cũng có lòng với y, bèn xin hoàng hậu nối duyên cho hai người.

    Rủi thay, hạnh phúc không được bao lâu, tướng quân đã qua đời, phu nhân vì quá đau buồn nên sinh non rồi cũng đi theo chồng, để lại một đứa con trai.

    Vị thứ hai từng đi theo Hoài Viễn tướng quân chinh chiến ở biên thùy, nhiều lần lập công lớn, còn có lần suýt nữa bỏ mạng để giải vây cho chủ.

    Hoài Viễn tướng quân nhớ ơn cứu mạng nên dâng tấu tiến cử y, vua khen ngợi, ban cho danh hiệu Đức Uy tướng quân.

    Khi Hoài Viễn tướng quân an cư lạc nghiệp ở vùng núi, quyết dành cả đời trấn thủ biên quan, Đức Uy tướng quân vốn muốn tiếp tục phò tá, nhưng vua sai y đi bình định một toán thổ phỉ ở phía Nam, nên đành từ biệt từ đó.

    Nói tới vị tướng quân cuối cùng, ấy chính là tên thủ lĩnh của toán thổ phỉ mà Đức Uy tướng quân được lệnh bình loạn.

    Vốn phương nam là chốn nhiều sông, nói hoa mỹ là thiên nhiên tươi tốt, non nước hữu tình, còn nói tiêu cực chút thì khí hậu ẩm ướt nóng bức, thú dữ hoành hành, dễ xảy ra dịch bệnh.

    Từ triều đình ở trung ương tới tri phủ, tri huyện ở địa phương nhiều lần nhắm mắt làm ngơ cho dân tự sinh tự diệt.

    Bức xúc quá, các thanh niên trai tráng họp lại để khởi nghĩa, người đứng đầu tự xưng Phục Nam đại vương.

    Lúc đầu, triều đình chỉ cho rằng đó là một băng giặc cỏ, không làm nổi việc lớn, nhưng chỉ qua vài tháng mà đã mất hết ba phủ ở phương nam vào tay họ, đành phải điều binh đi dẹp yên việc này.

    Đức Uy tướng quân biết rõ sự tình rồi, bèn cải trang thành sứ giả, đích thân tới lều giặc để dụ hàng: y hiểu chí lớn và tấm lòng của Phục Nam, không mong một trang anh hùng như vậy phải mang tiếng phản tặc, hứa sẽ đích thân tâu lại tình hình phía nam với vua, chắc chắn chỉ trong một năm, nơi này sẽ được thay đổi.

    Phục Nam nghe vậy thì đồng ý đình chiến.

    Quả nhiên một năm sau, triều đình nới tô thuế, phái thêm lính tới canh tuần, "thay máu" các tri phủ tri huyện, dựng nên nhiều trạm y tế để kịp thời cứu chữa cho người dân, giảm bớt phụ thuộc vào các Thiết Phách Sư.

    Vua tán thưởng nghĩa khí của Phục Nam, ban cho y danh hiệu tướng quân.

    Về sau, Đức Uy tướng quân nên duyên với con gái một nhà bán rượu, hai người là đồng hương.

    Còn Phục Nam tướng quân kết hôn với con gái của người thầy đã dạy võ cho mình, mở một võ đường ở gần kinh thành, sống yên ổn qua ngày.

    Năm Đinh Hợi, hoàng nữ nhỏ chào đời.

    Người Tân Lang có câu "ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng", dù đã có hai vị hoàng tử trước đó, đức vua và hoàng hậu vẫn rất xem trọng nàng hoàng nữ này.

    Vua cho đại xá thiên hạ, tổ chức các kỳ ân khóa, gia quan tấn tước, giảm thuế má cho dân.

    Các vị tướng quân lúc bấy giờ cũng được phong danh hiệu Thất Đẩu Tướng.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Các phù thủy của công chúa Xích Anh nghỉ ngơi ở tòa nhà bên trái khuôn viên đền.

    Tòa nhà có ba tầng, tầng trệt để sinh hoạt chung, tầng hai của các chị lớn, tầng trên cũng có hai phòng, Lan San nhường phòng của mình cho nó.

    Vào phòng, Linh Như thấy y đã mang hành lý lên lầu cho con bé.

    Túi da đựng váy áo để trên giường, hộp kim chỉ đặt ở bàn giấy sát cửa sổ.

    Tầm Phương ở ngay phòng bên cạnh.

    "San ít khi ngủ lại lắm."

    Phương thấy nó cứ nhìn thì nói, "Tụi mình cũng ít gặp y, chỉ thi thoảng y về đưa tin cho điện hạ mới ăn cùng một bữa cơm thôi."

    Đêm đầu tiên này, con bé không muốn ngủ một mình.

    Canh tư rồi mà nó tỉnh rụi, mắt mở thao láo, ngồi ở cuối chân giường của Tầm Phương với một con mèo mướp cuộn mình lại trong lòng.

    Cái đuôi của con mèo vểnh lên, đung đưa một cách nhàn nhã.

    Linh Như gãi cổ cho thì con mèo kêu gừ gừ.

    Hàm răng nhọn nhe ra gặm cổ tay con bé.

    "Em miu này ngoan thế."

    Linh Như vùi mặt vào lông mèo hít hà, "Em tên gì hở miu?"

    Cô bé đáp:

    "Phục Thí."

    "Hả?"

    Con bé giật mình ngẩng mặt lên, "Đừng nói là..."

    "Một trong Thất Phách mình thờ đấy."

    Tầm Phương chun mũi cười, "Bình thường ẻm khó tính lắm, không chịu để ai ôm đâu.

    Chắc là thích bồ rồi."

    "...Thần linh mà mình kêu bằng em có được không?"

    "Tùy thần.

    Đừng gọi Tứ Tượng là bất cứ danh xưng nào khác ngoài ngài.

    Chị Hà kể là Thổ Công với Hà Bá thích được kêu là chú bác như người trong nhà vậy.

    Còn Tam Hồn của Lan San bí ẩn lắm."

    "Điên thật."

    "Nhỉ?

    Nhưng có thể họ thích vậy.

    Đó là mấu chốt của việc xây dựng mối liên kết với các thần."

    Tầm Phương ngồi xuống giường, bế một con chó lông xù màu muối tiêu, cái lưỡi nó thè ra đầy phấn khích, "Còn đây là Thi Cẩu."

    Con chó – Linh Như không biết có thật sự nên gọi như vậy không nữa – sủa mừng con bé.

    Nó chẳng thiết gì nữa, cười toe toét xoa đầu con chó.

    "Các thần của bồ thì xuất hiện trong hình dạng thú cưng à?"

    Tầm Phương gật đầu, ôm chặt Thi Cẩu, kể:

    "Tước Âm là một con chim sẻ, Thôn Tặc thì là sâu – cách vài tuần lại biến thành bướm, rồi ngược lại – Phi Độc là rắn, Trừ Uế là heo, còn Xú Phế là gà.

    Bồ có thể hiểu tại sao chỉ có hai em này được ở trên phòng mình."

    Linh Như nhún vai, công nhận, "Chủ yếu là phải canh chừng Tước Âm đừng ăn mất Thôn Tặc, và không để Xú Phế mổ mất Phi Độc.

    Trừ Uế thì dễ thương, không đụng tới ai hết – một em heo sữa hiền lành."

    "Xem ra mấy năm qua bồ sống rất tốt."

    Linh Như kéo tay cô bạn, "Mình mừng lắm, Phương ạ."

    "Bồ thì sao?"

    Tầm Phương xích lại gần con bé, cau mày, "Mình biết mẹ kế bồ là người đàng hoàng, nhưng mình không biết gì khác nữa."

    "Chẳng có gì để kể đâu.

    Mình là một đứa con gái bình thường như bao đứa con gái khác, mình sống theo cách mà biết bao người đã từng.

    Đừng lo cho mình."

    Con bé khẽ vặn mình để nằm thoải mái hơn.

    Mùi thảo mộc trên tóc Tầm Phương nhuộm đầy vỏ gối.

    Đằng sau lưng cô bé, ngoài cửa sổ, Linh Như thấy vầng trăng lưỡi liềm tỏa hào quang nhàn nhạt.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Công chúa Xích Anh lấy chồng năm mười tám tuổi.

    Trong cuộc kén rể ấy, người ưu tú nhất là hoàng tử cả nước láng giềng, tên Triệu Thiên.

    Chỉ nhìn qua chân dung thôi cũng thấy người này mắt phượng mày ngài, khôi ngô tuấn tú.

    Thời gian đó biên quan Tân Lang - Túc Mộc thường xảy ra việc tranh chấp.

    Đến mùa xuân năm Giáp Thân, triều đình hai nước quyết định giảng hòa, ngự giá đích thân chia lại ranh giới, nối cầu thông thương.

    Lần đó, đức vua gặp được Triệu Thiên, rất mực nể phục tài ăn nói và phong độ của vị hoàng tử này.

    Ngài cho rằng đây là người duy nhất xứng đôi với công chúa Xích Anh.

    Trước khi ấn định mối lương duyên này, triều đình lẫn dân gian đã bàn tán xôn xao suốt nửa năm trời.

    Các quan chia thành hai phe: một bên phản đối dẫn đầu bởi Liêm Minh tướng quân Chấn Quốc công, cho rằng không nên hứa gả công chúa tới nơi đất khách quê người.

    Về lý, công chúa còn chức trách quan trọng ở Chúc Thiên Các.

    Về tình, một là tiên đế lúc sinh thời rất mực yêu thương công chúa, nếu giờ công chúa không thể thường xuyên cúng bái trong lăng tẩm thì sẽ thành tội bất hiếu; hai là phong tục hai nước khác biệt, ở Tân Lang người chồng sang ở rể nhà vợ, còn Túc Mộc thì ngược lại.

    Công chúa Xích Anh là người nữ đầu tiên được sinh ra trong dòng dõi Hỏa Thần kể từ ngày lập quốc đến nay, sao có thể sang làm dâu tha hương được?

    Một bên khác lại cho rằng, biên cương Tân Lang - Túc Mộc thường xuyên có binh loạn, dù đã có hòa ước năm Giáp Thân nhưng nếu công chúa kết thân với nước bạn thì sẽ thắt chặt tình cảm giữa hai bên hơn.

    Trung Nghị tướng quân Định Quốc công là người dẫn đầu phe này.

    Thất Đẩu tướng bất đồng quan điểm là chuyện chưa từng xảy ra trước đây.

    Ngày nào lên triều, hai ông tướng quân cũng tranh cãi việc công chúa có cưới hoàng tử Túc Mộc hay không, thiếu điều muốn cầm hốt ngọc choảng nhau trước mặt vua.

    Mà Anh Liệt tướng quân, người thân thiết với công chúa nhất, lại chưa từng hé miệng nói một lời.

    Biết chuyện, lại nghe lời ngọt ngào của kế hậu, vua Túc Mộc bèn gửi ngay một bức thư trong đêm, tỏ ý sẵn lòng cho con trai sang ở rể.

    Thu năm đó, hoàng tử Túc Mộc đi thuyền tới Tân Lang, đôi lứa kết duyên vợ chồng.

    Do hoàng thất chưa từng có tiền lệ tổ chức hôn lễ cho công chúa, nên để tỏ sự trọng thị, đức vua phong cho Triệu Thiên chức phò mã, lo việc xuất cung đi lại của vua, rồi ban hẳn ngọn núi phía bắc có ngôi đền thờ tổ Hỏa Thân khi xưa cho công chúa làm đất phong.

    Lúc đầu mới sang, phò mã còn chưa thạo ngôn ngữ, được chính đức vua dạy cho tiếng Tân Lang.

    Ai cũng khen phò mã xởi lởi dễ gần, thông minh sáng sủa.

    Có người còn cả gan bảo, nếu phò mã không cưới công chúa, ắt cũng có thể kế thừa giang sơn Túc Mộc.

    Ấy thế mà đã làm vợ chồng nhiều năm, công chúa với phò mã lại chẳng mấy khi gần gũi.

    Người thì nhốt mình trong Chúc Thiên Các, người lại chôn chân cạnh đức vua, cả tháng không gặp nhau được mấy lần, nhiều năm trôi qua mà chẳng có lấy một mụn con.

    Về sau, Thất Đẩu tướng đồng loạt qua đời, công chúa đau buồn, càng không có lòng dạ nào gần gũi với chồng.

    Mùa xuân năm thứ ba sau khi kết hôn, vua Túc Mộc gửi thư tới, tỏ lòng nhung nhớ con trai con dâu, mong được đón con về chơi.

    Vua Tân Lang bèn ra lệnh hai người lập tức sửa soạn về thăm.

    Sáng ngày khởi hành, công chúa tới lăng tiên đế thắp một nén hương, hẹn qua nửa năm lại về lo việc nhang khói.

    Ai ngờ hương còn chưa cháy hết thì thuyền đã gặp bão lớn.

    Cả đoàn thuyền gặp nạn, các thuyền tùy tùng lật úp giữa đại dương, thuyền của công chúa cũng vỡ làm đôi.

    Một đôi vợ chồng ngư dân phát hiện ra có người con gái ngất đi trên bãi đá cạn bèn đưa về nhà chăm sóc.

    Công chúa hôn mê suốt ba tháng trời mới tỉnh lại.

    Hồi phục rồi, ngài lập tức trở về kinh.

    Nhưng cảnh ở đó mà người chẳng còn.
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Năm


    Tóc Linh Như dài chấm eo.

    Con bé đứng trước gương trong phòng mình, xoay đi ngó lại, cứ cảm thấy có cái gì đó sai sai.

    Không hẳn là sai.

    Chẳng biết nữa.

    Nó kéo một lọn tóc ra, quấn quanh ngón trỏ.

    Tóc nó dài, lại không bồng bềnh dợn sóng như công chúa Xích Anh hay mượt mà như chị Tình Huyên, cũng chẳng thơm như tóc Tầm Phương.

    Chị Yên Hà tết hai bím đuôi sam – có lẽ nó nên học chị.

    Bình thường nó sẽ búi tóc, nhưng đó là quy định ở trường, giờ nó đâu còn đi học nữa.

    Linh Như lừng khừng lâu tới nỗi Tầm Phương dậy sau nó nửa tiếng đã chuẩn bị xong xuôi cả rồi mà vẫn chưa thấy nó ra.

    Cô bé chui đầu vào phòng Linh Như, hỏi sao chưa chịu xuống nhà.

    "Bồ thấy tóc mình thế nào?"

    Đột ngột bị hỏi, cô bé đơ ra, trả lời theo bản năng:

    "Đẹp lắm."

    "Làm ơn, Phương, bồ nói dối dở lắm đấy."

    "Thật mà!

    Hơi xơ một xíu thôi.

    Để chiều mình lấy nước ổi với bồ kết cho bồ gội đầu..."

    "Mình biết rồi!"

    Linh Như búng tay, đi về phía bàn giấy tìm cây kéo.

    Con bé xuất hiện dưới nhà bếp với mái tóc ngắn trên vai.

    Những sợi tóc khô cứng quăn lại đủ mọi hướng trông khủng khiếp khi còn tóc dài, giờ thì đỡ hơn nhiều.

    Hai chị lớn đã ngồi sẵn dưới nhà, mặt mày lờ đờ, đầu tựa lên vai nhau, coi bộ chẳng ai có thói quen ngủ sớm.

    Nó lên tiếng:

    "Chào buổi sáng ạ."

    Yên Hà nhìn lại con bé hai lần mới nhận ra đây là người chị gặp hôm qua.

    "Em có làm gì với tóc của mình không?"

    "Tất nhiên là nó vừa cắt tóc rồi."

    Tình Huyên nói bằng giọng hơi gắt, "Mở mắt ra đi Hà."

    "Chị Huyên của em hay bị gắt ngủ, thông cảm nhé."

    Yên Hà cười xòa, "Tóc của em dễ thương lắm."

    Chưa kịp nói lời cảm ơn, Linh Như đã phải xích qua một bên để Tầm Phương dọn bữa sáng.

    Cô bé đã nấu sẵn nước dùng cho món bún thang từ hôm qua, hương vị thảo mộc ngào ngạt khắp nhà ăn.

    Ba cô phù thủy dùng bữa mà xuýt xoa khen ngợi, âm thanh huyên náo chẳng mấy chốc đã gọi được một người khác đến.

    "Các chị em không chờ tôi à?"

    Lan San.

    Cái Phương kéo ghế cho y và đi múc thêm một bát bún nữa.

    Mỉm cười đầy hạnh phúc, y giở giọng nịnh nọt làm Tầm Phương cười không khép được miệng, y bảo mình nhớ nhất là tay nghề nấu nướng của cô bé.

    Lan San không có nhiều cơ hội được ăn sáng ở đây.

    Hầu hết thời gian y chỉ đến báo cáo hoặc nhận nhiệm vụ rồi rời đi luôn.

    "Gián điệp mà."

    Y vừa nói vừa húp sì sụp nước dùng, "Không thể dừng xuất hiện trước mặt kẻ em muốn dò la tin tức.

    Hắn không được phép nghi ngờ em."

    Yên Hà hỏi, đôi mắt nai mở to:

    "Tối qua em mang con bé này về, thế còn chuyện gì khác nữa không?"

    "Chúng ta phải nhường công lao chiêu mộ Linh Như cho Tầm Phương."

    Lan San lắc đầu, "Em ấy nài nỉ ỉ ôi với điện hạ cả năm trời lận mà.

    Còn em thì như bình thường thôi.

    Lịch đổi ca của lính dạ tuần.

    Tình hình biên giới phía nam.

    Hải trình những thuyền buôn ra khơi sau tết.

    Và..."

    Y cố tình dừng lại để bốn cái cổ ngóng dài chưng hửng.

    Đợi mãi chưa thấy y tiết lộ thêm gì, Tình Huyên sốt sắng đánh cho y một cái, y mới chịu kể tiếp, miệng cười ha hả:

    "Sang năm, thế cục triều đình sẽ có sự thay đổi."

    Các cô gái xôn xao đoán mò:

    "Tay phò mã định đăng cơ à?"

    "Hắn không dám đâu.

    Bao năm nay yên bình là vì hắn chiều lòng các quan già trong kinh thành, chỉ nhiếp chính, không giữ ngai vàng."

    "Ai mà ngờ được mấy lão cổ hủ ấy lại giúp mình một phen trông thấy."

    "Mơ đi, mấy lão đấy cũng chẳng giúp điện hạ lên ngôi được.

    Ăn lộc của Triệu Thiên chẳng thèm chùi mép mà còn muốn tỏ vẻ thanh cao đấy thôi."

    Yên Hà bĩu môi, "Hay là hắn lại muốn dụ ông già nhà tôi về triều?"

    "Chắc không phải đâu.

    Hắn đã thất bại năm lần rồi."

    Đầu óc Linh Như rối tung.

    "Trật cả rồi, mấy cô nương.

    Để tôi nói luôn vậy – phò mã cuối cùng cũng dùng đến con bài Quốc Tử của hắn.

    Từ sau tết hạ nguyên, trong cung truyền ra tin tức hắn đổ bệnh, thực chất chỉ là vở kịch mà thôi.

    Hắn dự định sẽ chọn từ trong tám đứa đó ra một người làm Giám Quốc Quân.

    Đúng như cái tên, người này sẽ giúp hắn cai trị, thâu tóm quyền lực vào tay hắn triệt để hơn nữa."

    Yên Hà đưa tay bụm miệng.

    Tình Huyên, cái người vốn còn đang ngái ngủ, thình lình đập bàn, đứng bật dậy.

    "Hèn hạ!"

    Chị chửi, "Hắn định dùng người Tân Lang trị người Tân Lang?"

    "Chứ sao nữa?

    Nuôi binh ngàn ngày dùng binh một giờ, hắn nuôi báo cô tụi Quốc Tử đó mười mấy năm nay rồi, cũng tới lúc phải ra quân thôi."

    Yên Hà chau mày:

    "Đến giờ tôi vẫn chưa hiểu tại sao Triệu Thiên vẫn để tụi nó sống.

    Đã dày công rắp tâm bày mưu đến vậy mà giờ lại định giao giang sơn lại cho người Tân Lang sao?

    Hắn không sợ bị phản à?"

    "Nếu chị nhìn tụi Quốc Tử đó – đặc biệt là đứa con gái – chị sẽ thấy hắn chẳng có gì phải lo cả."

    Lan San ngả lưng ra sau, nói, "Chẳng có máu mủ gì, chúng lại rất gắn bó với nhau, tới nỗi có thể vào sinh ra tử vì anh em mình luôn ấy.

    Chúng trung thành với Triệu Thiên đến một mức... sao nhỉ?

    Tôn thờ?

    Đại khái, theo cách em nhìn, chúng xem mọi lời nói, mọi mong cầu của phò mã là chân lý.

    Chúng thương hắn như cha ruột vậy.

    Chúng chính là những quân cờ đắc lực cho hắn thao túng."

    Tầm Phương giờ mới góp lời:

    "Kể ra mấy cô cậu đấy cũng tội quá.

    Có biết gì đâu, mà bị kẻ thù lợi dụng..."

    Lời còn chưa nói hết, Yên Hà đã cắt lời cô bé:

    "Em nói gì thế?"

    "Phương, đừng ngây thơ nữa."

    Lan San thở dài, nhìn cô với ánh mắt thương hại, "Tụi nó không phải mấy con cún con miu vô hại đâu."

    Cô vẫn cố phản đối:

    "Họ chỉ là những đứa trẻ khi Triệu Thiên nhận nuôi họ.

    Đứa nhỏ nhất trong số đó chỉ bằng tuổi em và cái Như.

    Huống chi họ đều là..."

    "Trước đây chúng là ai không quan trọng."

    Tình Huyên lạnh lùng nói, "Bây giờ chúng thuộc phe kẻ thù rồi, Phương ạ."

    "Nhưng..."

    Lan San dứt khoát nói:

    "Em có thể thấy tội nghiệp chúng, nghĩ chúng chỉ là những kẻ xui xẻo, nhưng lòng thương nằm sai chỗ sẽ gây ra hậu họa khôn lường đấy.

    Chúng được tiêm vào đầu những suy nghĩ thù địch về phù thủy.

    Em nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng bắt được em?

    Tha cho em?

    Vì em là một cô bé không biết gì?

    Tỉnh mộng đi – tụi nó sẽ ném em lên giàn thiêu ngay lập tức, giống như cách cha nuôi của chúng đã giết mẹ chúng ta vậy."

    "Như..."

    Tầm Phương quay sang Linh Như, nước mắt lưng tròng vì uất ức.

    Con bé muốn đứng về phía cô.

    Ngày nhỏ còn học chung trường, nó chưa bao giờ để cô một mình đối đầu với những đứa trẻ xấu tính xấu nết khác.

    Nó không nỡ nhìn cô buồn.

    Nhưng giờ đây trong đầu nó có suy nghĩ khác.

    Tim nó thót lại khi nó lên tiếng, không dám nhìn cô.

    Nó mím môi, trong đầu vẫn còn thấy cô con gái út nhà thị lang bị hành hình tối qua, và máu tươi của chồng cô lênh láng giữa tiệc mừng đầy tháng cho con trai họ.

    "Mình từng thấy các Quốc Tử, Phương à, mình đứng bên bờ này, họ ở bờ bên kia sông Thước.

    Trông họ không khác gì hơn các anh ở làng cũ, và cô gái rất xinh xắn.

    Nhưng mẹ chúng ta và biết bao phù thủy lẫn đàn bà vô tội nữa đều đã vong mạng vì Triệu Thiên.

    Mình xin lỗi, mình không cách nào đồng cảm với tay sai của hắn được."

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Tầm Phương không nói chuyện với bất cứ ai suốt buổi sáng hôm đó.

    Cô bé lặng lẽ dọn dẹp căn bếp rồi nhốt mình trong phòng với các vị thần trong hình hài thú cưng.

    Linh Như gõ cửa phòng cô bé, gọi mãi mà chẳng nghe tiếng trả lời.

    Bất thình lình, Lan San xuất hiện phía sau con bé, khuyên:

    "Đừng cố nữa.

    Tới chiều cái Phương sẽ ổn thôi."

    "Phương có thường xuyên như vậy không ạ?"

    Linh Như bất an hỏi.

    "Dăm bữa nửa tháng tụi tôi lôi chủ đề Quốc Tử lên là nó lại như vậy.

    Xin lỗi em, bình thường tụi tôi không trách móc người khác vì xung đột quan điểm như bọn vô văn hóa vậy đâu.

    Chỉ là... em thấy rồi đó."

    Lan San xua tay, "Cái Phương có lòng bao dung vô hạn với tất cả sinh linh trên đời, thỉnh thoảng tụi tôi lại phải nhắc nó rằng mấy tên kia là kẻ thù."

    "Hình như không có tác dụng gì mấy."

    Nó ngó túi vải mà y đang xách, hỏi, "San đi luôn ạ?"

    "Trăm công nghìn việc..."

    Y đáp, "Lập Đông thì làm ăn không bằng Trung Thu, nhưng tụi Quốc Tử thích lồng đèn tới nỗi cứ chuyển mùa là chúng lại đặt làm một kiểu khác."

    "Họ thích hay San làm cho họ thích?"

    "Khôn phết."

    Lan San nhăn mặt, nhéo mũi con bé làm nó giật lùi về sau, "Em biết làm đồ thủ công, nhỉ?

    Có khi vài hôm nữa tôi lại xin điện hạ cho em đi cùng, đỡ đần tấm thân nhỏ bé này.

    Thôi, tôi đi nhé."

    Mặt nó đỏ lên, lẩm bẩm lời chúc thượng lộ bình an.

    Y vỗ vai nó, gót giày giậm lên bậc thang huỳnh huỵch, có vẻ vội vã.

    Từ lúc đến căn cứ Linh Như vẫn chưa được diện kiến công chúa Xích Anh.

    Đáng lẽ Tầm Phương sẽ là người dẫn nó đến gặp cô, nhưng giờ cô bé thế này, nó nghĩ để bạn yên thì tốt hơn.

    Nó về phòng chải lại đầu rồi xuống nhà, định bụng tự đi tìm.

    Dưới ánh nắng mặt trời, đền thờ trông khác hẳn với lúc chỉ có những bó đuốc và ánh trăng bàng bạc soi rọi, Linh Như suýt nữa là lạc đường.

    Nó bèn leo lên lầu cao để tiện quan sát.

    Nó thấy chuồng nghê, chuồng ngựa, bãi tập kỵ xạ và tòa vọng lâu của chị Tình Huyên.

    Có tiếng hô hào, con bé ngó xuống, thấy đó là nhóm các anh nghĩa binh tập võ buổi sáng.

    Các anh xếp thành năm hàng, xuất phát từ phía binh doanh rồi chạy vòng quanh khuôn viên thành.

    Chính giữa đền có một cái bục cao chắc là giàn tế trời.

    Đằng sau đó, ở hướng bắc, là gian nhà chính – cột nhà gỗ lim vòng tay hai người trưởng thành mới ôm hết, mái lợp ngói âm dương.

    Con bé tựa vách tường để trở xuống.

    Nó đi vào nhà bằng cửa bên hông.

    Trong nhà âm u, ánh sáng hiu hắt lọt vào qua khe cửa sổ.

    Phía chính điện, con bé nhác thấy bóng người đang quỳ dưới đất.

    Người đó cũng nhìn thấy nó, khẽ vẫy tay gọi nó lại gần.

    Linh Như cầm theo một tấm bồ đoàn, quỳ chéo sau lưng cô.

    Công chúa Xích Anh đứng dậy cắm ba nén hương vào cái lư bằng đồng.

    Cô trở lại chỗ, dập đầu lạy ba lạy, rồi mới lên tiếng:

    "Tối qua em ngủ có ngon không?"

    Linh Như ngập ngừng, rồi lắc đầu.

    Tầm Phương hẳn đã rất cố gắng để cho bạn mình được thư giãn, nhưng nó vẫn thao thức tới gần sáng mới chợp mắt được.

    Ngài nói với vẻ thông cảm:

    "Em đang nghĩ gì?"

    Nàng công chúa xinh đẹp dưới làn khói mờ mờ quay đầu lại nhìn nó.

    Ánh sáng trong đôi mắt ngài đã mờ nhạt hơn đêm qua, như một ngọn lửa cháy âm ỉ dưới lớp tro tàn.

    Con bé nhớ lại những chuyện nó được nghe về ngài.

    Công chúa là hậu duệ của thần linh và phù thủy, sinh ra nhà đế vương, thiên tài từ tấm bé, xui rủi sao lại rơi vào cảnh lưu lạc hôm nay.

    Cuối cùng nó cũng quyết định hỏi:

    "Tại sao điện hạ không tìm dân nữ ngay sau khi mẹ dân nữ qua đời ạ?"

    Cha Linh Như chỉ mất một năm để tìm cho mình người vợ mới và cơ hội đổi đời.

    Con bé theo cha lên kinh thành, bỏ lại tro cốt của mẹ đằng sau – các ông quan người Túc Mộc không cho phép an táng phù thủy, cũng cấm tiệt việc lập bài vị cho họ.

    Công chúa nói cô đã lo sợ ma thuật của nó không còn giống với thứ ma thuật mà cô biết.

    Vậy tại sao không đón nó đi từ lúc nó còn bé, như cách cô đã làm với các chị Tình Huyên Yên Hà, với Tầm Phương và Lan San?

    Con bé không dám nhìn thẳng vào mắt ngài nữa, đầu cúi xuống.

    Mãi lâu sau mới nghe công chúa thở dài:

    "Đúng là ta và Chu Anh có tranh cãi.

    Nhưng đó không phải lý do thật sự để ta kéo dài chuyện thu nhận em."

    "Xin điện hạ kể rõ ngọn ngành."

    Công chúa Xích Anh quay mặt về phía trước – lúc bấy giờ con bé mới để ý đằng sau bàn thờ là bốn hàng tượng thần.

    Trên cùng là bốn linh thú, từ trái qua phải lần lượt là một con rồng xanh, một con hổ trắng, một con phụng đỏ và một con rùa đen.

    Hàng thứ hai có tượng hai người đàn ông lớn tuổi, một người mặc áo đen tuyền cầm phất trần và một bầu nước, ngồi trên lưng rùa; người kia thì áo xống nhếch nhác, tay phe phẩy quạt, miệng cười hiền từ.

    Dưới nữa là ba thanh niên không rõ nam nữ, dưới cùng là bảy con vật gồm chó, mèo, chim sẻ, sâu bướm, heo, rắn và gà.

    Ngay giữa chính đường, sau lưng công chúa và Linh Như, có một chậu lửa rực đỏ, tiếng củi than vỡ ra bập bùng.

    Thấy nàng công chúa muốn đứng dậy, Linh Như tới đưa tay đỡ ngài.

    Hai người rời khỏi gian chính, đi sang gian nhà bên trái, nơi chứa đầy thư tịch cổ và có một cái bàn dài ở giữa phòng, hai hàng ghế xếp dọc đó.

    Công chúa ngồi ở đầu bàn.

    Tấm màn che đi lối ra nhà sau được vén lên, Linh Như nhìn sang, thấy đó là Yên Hà đang bưng một khay gỗ đựng mấy cái chén trà cùng ấm nước.

    Con bé đỡ khay giúp chị.

    Nàng Văn Địa Sư nháy mắt với nó thay lời cảm ơn.

    Thấy trên bàn có hộp trầu cau, nó bèn đứng têm trầu trong lúc chị pha trà.

    Nó tỉa lá trầu thành hình đuôi phượng hoàng, gài vào quả cau được bổ thành miếng vừa ăn, quết một ít vôi rồi dâng cho công chúa.

    Đôi môi nàng công chúa đỏ thắm khi ngài bắt đầu kể:

    "Chu Anh là người bạn đầu tiên của ta ở Chúc Thiên Các.

    Chúng ta gặp nhau năm mười một tuổi, chỉ mới là những đứa trẻ.

    Cái tên 'Anh' của mẹ em trùng với tên ta, có thể nói làm phạm húy, vua cha ta muốn bà Huệ Nhãn về đổi lại tên cho con gái, mẫu hậu ta thì nói không cần.

    Có điều, chắc là từ dạo đó mà mẹ em có ác cảm với ta."

    Nói đến đây, công chúa bật cười:

    "Thú thật là hồi đó ta cũng không thích Chu Anh.

    Người gì đâu mà cứng đầu, ngang ngược, hống hách quá thể!

    Đấy là ta đã được đánh giá là kiêu ngạo rồi đấy nhé."

    Linh Như ngại ngùng gãi đầu, nghe ngài kể tiếp, "Ta đoán chúng ta trở nên thân thiết hơn sau khi các phù thủy khác đến Chúc Thiên Các.

    Chúng ta dần nhận ra... mình không phải thiên tài, cũng không có tài năng gì mấy."

    "Tại sao ạ?"

    "Hóa ra ta không thể trở thành một phù thủy giống mẫu hậu mình."

    Công chúa đưa một tay lên, ngọn lửa trong cái chậu đồng đằng sau nổi bừng lên, "Dòng máu Hỏa Thần trong ta quá mạnh mẽ, các vị thần không thể nhận những cái dập đầu và lời cầu nguyện của ta được.

    Còn Chu Anh...

    Vấn Thánh Sư không giống các phù thủy khác.

    Huệ Nhãn thành danh từ khi còn trẻ tuổi là vì bà ấy hiểu được điều quan trọng nhất đối với một Vấn Thánh Sư, đó là tìm một vị thánh cho riêng mình.

    Nhưng Chu Anh chưa bao giờ tìm được vị thánh ấy."

    Yên Hà dâng nước trà cho ngài.

    Hơi chột dạ, Linh Như thắc mắc:

    "Nếu một Vấn Thánh Sư không tìm ra vị thánh của mình thì sao ạ?"

    "Ta chưa từng gặp người khác nên không rõ, còn Chu Anh thì không thể tiếp tục đi con đường này nữa.

    Cô nàng chuyển sang nghiên cứu và sáng chế bùa chú, tức là vay mượn phép thuật từ phù thủy chứ không cần thông qua thánh thần nữa, rồi chuyển nó vào lá bùa bằng các ký tự đặc thù, khi nào dùng đến thì niệm chú là xong.

    Mặc dù hiệu quả của bùa chú không thể sánh bằng quyền năng của một phù thủy đích thực được, nhưng vẫn phải công nhận đó là một tác phẩm... siêu việt."

    Nhận ra sự ngập ngừng của công chúa, nó hỏi:

    "Điện hạ và mẹ dân nữ tranh cãi vì chuyện này ạ?"

    Công chúa xoay chén trà sứ trong tay, nhún vai:

    "Gần gần như vậy.

    Bùa chú cho phép một người bình thường có thể sánh ngang với phép thần thông của tất cả phù thủy, nó phạm vào điều cấm kỵ của cả tiên thuật và ma thuật.

    Lửa Thiêng là món quà Hỏa Thần dành riêng cho hậu duệ mình, sao để người phàm chiếm lấy được?

    Phép màu của các phù thủy cũng vậy, nhắc cho em nhớ, phù thủy không được sinh ra với ma thuật, mà đó là quá trình tích lũy qua nhiều thế hệ, em chỉ nhận lộc của thần linh thôi chứ không được lạm dụng nó.

    Ta cứ khuyên Chu Anh bỏ đi – bất kính với hoàng gia là một chuyện, làm mích lòng các chị em phù thủy là một chuyện khác, hơn nữa, nếu thứ bùa chú này rơi vào tay kẻ xấu, hậu hoạn khôn lường.

    Nhưng mẹ em có chịu nghe đâu."

    Công chúa đưa mắt nhìn đi chỗ khác, thở dài:

    "Thế mà... mấy lá bùa đó là tất cả những gì thuộc về mẹ em mà ta còn giữ được."

    Linh Như gật đầu, không nói tiếng nào.

    Nó biết tính tình của mẹ.

    Bà đã quyết chuyện gì thì rất khó để lay chuyển, vô cùng hiếu thắng, chưa bao giờ chịu thua ai.

    Con bé còn thấy sợ cho mình.

    Việc tìm một vị thánh xem chừng chẳng hề dễ dàng, nếu mẹ nó cũng không tìm được, vậy có cơ hội nào cho nó không?

    "Có phải điện hạ không muốn một Vấn Thánh Sư trong hàng ngũ của mình không?"

    Nó hỏi thẳng, dâng miếng trầu mới cho ngài.

    Công chúa nhìn vào mắt nó, gật đầu.

    "Các vị thánh là một ẩn số quá lớn và các Vấn Thánh Sư là biến số quá rủi ro.

    Ta thừa nhận, ta không nghĩ có thể dạy được nghệ thuật Vấn Thánh cho em, chính ta cũng có quá ít kinh nghiệm.

    Tầm Phương luôn nhung nhớ em, nhưng ta cứ nghĩ sẽ tốt hơn nếu em... nếu em ở lại kinh thành, tiếp tục sống như một người bình thường."

    "Điều gì làm ngài thay đổi ý định ạ?"

    Ngài nắm lấy tay con bé, làn da nơi họ tiếp xúc tê rần:

    "Thần linh báo mộng cho ta.

    Hỏa Thần nói đứa trẻ mà ta phớt lờ mới là nhân tố trọng yếu, đến lúc nguy nan có thể xoay chuyển tình thế."

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Từ bé tới lớn, chưa có ai gọi Linh Như là một điềm may mắn cả.

    Đến nó cũng tự thấy mình mang tới toàn điều xui xẻo.

    Nó ngờ vực công chúa Xích Anh chỉ lấy Hỏa Thần làm cái cớ mà thôi.

    Con bé không lấy làm phiền lòng.

    Lý do gì cũng được – bây giờ nó đã ở đây, ở trong vòng tay của những phù thủy giống như nó, dưới sự che chở của thánh thần, và thật sự có một cơ hội để làm điều gì đó cho người mẹ đã khuất của mình.

    Dẫu cho cơ hội đó thật mỏng manh...

    Vấn Thánh Sư là một ván cược.

    Chính công chúa đã xác nhận như vậy.

    Quyền năng của Vấn Thánh Sư không phải mâm cỗ được dọn sẵn chỉ việc xơi, mà họ phải tự mình đi tìm vị thánh đó.

    Như bà ngoại của con bé, bà Huệ Nhãn, đã sở hữu tài tiên tri.

    Nhưng bản thân bà cũng tự mình mày mò, vì theo lời công chúa kể, bà cố của Linh Như vốn là một Văn Địa Sư.

    "Thế là giống chị à!"

    Yên Hà reo lên.

    Giọng chị vang như chuông trong khi dáng mặt chị có vẻ rất... yêu kiều?

    Linh Như không biết miêu tả thế nào, chỉ có thể nói là sẽ không ai ngờ tới chị là một người sôi động như vậy.

    Chị đã đảm nhận trọng trách hướng dẫn Linh Như bước đầu làm quen với phép thuật.

    Sau khi biết con đường của mình muôn vàn trắc trở như vậy, nó nôn nóng muốn bắt đầu càng sớm càng tốt.

    Yên Hà đồng ý dẫn nó vào Rừng Thiêng để thử tìm một vị thánh – nghe vậy, con bé bán tín bán nghi, chị mới giải thích:

    "Thánh không phải thần.

    Thần linh là các đấng tối thượng đã tạo lập nhân gian và vẫn còn tiếp tục cai quản nó, còn thánh là linh hồn của những người đã khuất, vì một lý do nào đó mà còn lưu lại cõi trần, được phù thủy tìm thấy và thờ phụng."

    Hai người rời khỏi vừa ra khỏi nhà là đã thấy mưa phùn lất phất đổ xuống đầu, mang theo gió bấc lạnh cóng.

    Linh Như co rúm lại, chị em đi sát vào nhau, nó hỏi:

    "Lý do gì ạ?"

    "Khó nói lắm."

    Thấy vẻ mặt thất vọng của con bé, chị khuyên, "Em phải biết không phải câu hỏi nào cũng sẽ được giải đáp thích đáng, suy cho cùng thì phù thủy muôn đời nay chỉ lo cầu nguyện với các vị thần trên cao, cùng lắm là Thổ Công Hà Bá, chứ chuyện ở âm tào địa phủ thì không đả động gì tới.

    Nếu không nhờ Chúc Thiên Các mà năm đó mẹ con công chúa lập nên, giờ ta còn chẳng có tên nữa kìa."

    "Trước đây các phù thủy gọi nhau bằng gì ạ, nếu không phân chia ra như vậy?"

    Yên Hà nhún vai:

    "Làm sao chị biết.

    Mẹ chị mất sớm quá, có kịp dạy dỗ gì đâu."

    "Ồ..."

    Linh Như bĩu môi, nhớ lại lời của Lan San tối qua – các phù thủy không có mẹ như chúng thiệt thòi ghê gớm, "Mẹ em có tận mười năm mà không dạy em cái gì đáng kể cả."

    "Chị nghĩ nếu cả đám mình bị đổ oan rồi giết sạch mà có mỗi chị còn sống, thằng cha hung thủ thật sự còn lùng kiếm nhằm tận diệt mình, chị cũng sẽ không nói gì với con gái chị đâu."

    "Thật ạ?"

    "Không."

    Yên Hà đảo mắt, quàng tay con bé,""Chị cũng mới biết chuyện công chúa và cô Chu Anh hôm nay thôi, không dám nói bừa, nhưng có thể ngài không muốn liên lụy cô.

    Còn mẹ em...

    Vấn Thánh Sư thật ra ít khi thờ thần linh một cách mộ đạo như các phù thủy khác, chắc cô cũng không biết đủ nhiều để dạy em."

    Hai người vừa nói vừa dẫn nhau ra gần cổng thành.

    Yên Hà ra hiệu cho các anh gác thành, họ mở cổng cho hai chị em, rồi chị kéo tay nó, hướng phía Rừng Thiêng mà đi.

    Các ông nghê ngó theo bóng họ, mũi hểnh lên, đuôi vẫy nhẹ.

    Con bé hơi chần chừ.

    Nói ra thì mất mặt, nhưng nó sợ nhất là mấy thứ linh dị huyền bí như vậy.

    Thần kinh con bé yếu lắm.

    Khi màn đêm buông xuống, nó trèo lên giường và chết cứng dưới chăn tới tận khi bình minh ló dạng.

    Chỉ một tiếng động nhỏ thôi cũng làm nó đổ mồ hôi lạnh rồi.

    Yên Hà không biết chuyện đó, chị cứ kéo con bé đi thẳng.

    Kể ra có người gan dạ vậy đi cùng cũng đỡ – con bé gần như bám lên người chị, dần dần cũng đỡ sợ.

    Cả một thế giới mới hiện ra trước mặt nó.

    Mưa lất phất trong không trung như một tấm màn.

    Ánh sáng yếu ớt len qua những tán cây rộng, rơi xuống mặt đất ẩm ướt, chiếu rọi từng hạt mưa bụi.

    Giày của Linh Như lấm tấm bùn, gấu quần và tà áo của nó cũng vậy.

    Hai nàng phù thủy vẫn đang đạp lên lá khô mà đi.

    Giờ mới là trăng hạ huyền tháng mười một, sang tháng chạp sẽ còn rét đậm hơn nữa.

    Yên Hà kể năm nọ tuyết rơi, chị với Tình Huyên mỗi người một ngựa chạy đua, các anh nghĩa binh cũng cưỡi ngựa đi theo, nhưng họ chỉ quanh quẩn trên đỉnh núi và gần bìa rừng.

    Người Tân Lang thạo làm nông, nội trong một làng cũng đã đủ để tự nuôi sống nhau, thi thoảng có chợ phiên để các làng lân cận trong thôn bày bán nồi niêu, vải vóc, các thứ đặc sản...

    ít khi buôn bán xa.

    Từ khi phò mã cai trị, bắt bớ đấu tố phù thủy, thiếu đi sự trợ giúp từ họ thì việc nông vụ cũng trở nên khó khăn, dân mới dần tìm nghề mới.

    Họ ra khỏi làng, đi tới thôn, rồi lên huyện, phủ.

    Những người lái buôn giống cha Linh Như phất lên như diều gặp gió.

    Các thương nhân giàu có đóng thuế nhiều, quốc khố được dư dả, ngân sách dành cho việc luyện binh nhiều hơn.

    Công chúa cũng được hời từ chuyện này.

    Hai chị em đi một hồi, mưa bụi cũng hết, chỉ còn gió lạnh cắt da.

    "Mà mình đi đâu đây ạ?"

    Yên Hà nói ngay:

    "Chị định dẫn em đi tìm thánh."

    "Thật ạ?"

    "Vong linh thì ở đâu chẳng có, từ người đức cao vọng trọng tới cô hồn dã quỷ, rừng Thiêng càng không thiếu.

    Nếu em tìm được một linh hồn hợp với mình, họ tình nguyện giúp em thì tốt quá."

    "Chỉ thế thôi ạ?"

    "Tất nhiên là không đơn giản vậy.

    Chúng ta có rất ít ghi chép về Vấn Thánh Sư.

    Ngoại trừ một số thư tịch mà công chúa cất giấu đi, cả tòa Chúc Thiên Các và công trình suốt mười năm trời của các vị phù thủy đã bị đốt sạch rồi.

    Chị nghĩ em phải tự mày mò nhiều đấy."

    Yên Hà nháy mắt, "Trừ phi em muốn đổi nghề."

    Bất thình lình chị dừng lại.

    Linh Như mải nghe chị nói, đi lố vài bước, bị chị kéo giật về.

    Con bé ngó xuống chân, thấy suýt nữa mình đã đá phải một bàn thờ dựng bằng đá.

    Tim con bé nhảy vọt lên tới cổ họng.

    Chị thì chỉ cười lớn.

    Chị dẫn nó quỳ xuống trước bàn thờ, lấy trong tay áo ra một túi bánh kẹo nhỏ rồi xếp lên dĩa.

    Yên Hà đốt mấy nén hương, vái ba cái.

    Một tiếng nổ đùng dội vào tai Linh Như.

    Nó giật nảy người, hét toáng lên.

    Có giọng ông già chậc lưỡi:

    "Yếu bóng vía vậy, nhỏ?"

    Yên Hà đỡ con bé đã ngã ngửa dậy, cười nắc nẻ.

    Ông già nọ cũng cười khùng khục, trời lạnh mà ông mặc đồ phong phanh rách rưới, luôn tay phe phẩy cái quạt mo.

    Khi cơn hoảng hốt đã qua đi, Linh Như thấy ông quen quen.

    Hơi thở con bé dồn dập khi nó đoán:

    "...Thổ Công?"

    Ông già gật gù, ngồi khoanh chân trên tấm thảm lá vàng khô rụng dưới đất, nhìn Yên Hà hỏi:

    "Văn Địa Sư mới đây à?"

    "Nếu mình may mắn thôi, ông ạ.

    Đây là em Linh Như, cháu ngoại của bà Huệ Nhãn."

    "À, Huệ Nhãn!"

    Thổ Công ngó con bé, trầm ngâm, "Giống thật, giống thật!

    Thế cũng là Vấn Thánh Sư nhỉ?

    Thôi, nhỏ, ông khuyên mày bỏ cái đường đó đi.

    Rủi ro lắm!

    Mẹ mày cố đấm ăn xôi không được nên bày trò lệch lạc...

    Chi bằng đi theo ông với Hà Bá, quanh năm có lộc ăn!"

    Nhìn gương mặt tươi cười của ông, tự dưng con bé đổ quạu.

    "Xin ngài đừng nói mẹ cháu như thế."

    Thổ Công không giận, chỉ dẩu môi.

    Vừa chép miệng ông vừa nói:

    "Mày cũng gan đấy.

    Có khi lại hơn được mẹ mày.

    Chúng bay ngồi đây chơi với ông một lúc đã."

    Hô biến ra một ấm trà nóng và mấy cái chén uống trà, Thổ Công rót nước mời hai chị em rồi chia bánh kẹo mà Yên Hà vừa cúng cho họ.

    Ông hỏi chuyện Linh Như.

    Ông có lối nói dân dã, giống một vị chú bác trong nhà chứ không phải thánh thần, làm tâm trạng con bé lẫn lộn.

    Nó đáp lời ông với điệu cười hơi bối rối.

    "Nom mày giống bà mày thật."

    Thổ Công rung đùi nói, "Huệ Nhãn giỏi lắm, nói gì cũng trúng, thiên cơ địa cơ gì cũng biết...

    Kể ra, cả họ nhà mày đều phạm tới thánh thần, thôi thì cái số của Vấn Thánh Sư là vậy."

    Linh Như ngập ngừng hỏi:

    "Thưa, ngài biết bà và mẹ cháu?"

    "Đừng ngài, nghe xa cách lắm.

    Ông với Hà Bá cứ thích chúng bay gọi bằng ông với bác."

    Đoạn, ông nhấp ngụm trà rồi bảo, "Quả là ông có biết bà với mẹ mày.

    Nhất là con mẹ mày đấy, tên gì ấy nhỉ?"

    "Chu Anh ạ."

    "À, ừ, hồi trẻ nó phách lối lắm.

    Lứa mẹ mày còn ba đứa nữa, có cả thân mẫu của cái Hà đây – Hà Trúc, tên chữ là Trúc Bạch, một tiểu thư rất mực đài các và đoan trang!

    Năm đó tiên đế ban hôn cho nàng với thái sư, ai cũng bảo là đũa lệch vì chênh tuổi quá, ông lại thấy chỉ có người chững chạc vậy mới xứng sóng đôi cùng nàng.

    Cái Hà mai này có thích ai cũng phải bảo ông đấy nhé!"

    Yên Hà không tỏ ra ngại, thoải mái tươi cười:

    "Tất nhiên ạ!"

    Chị quay sang giải thích với Linh Như, "Tên chữ của các phù thủy được thần thánh mà họ thờ phụng đặt cho như một lời công nhận."

    Mắt con bé tròn xoe:

    "Tên chữ của chị là gì ạ?"

    "Chị chưa có."

    Yên Hà thở dài, phụng phịu nhìn Thổ Công, "Ông với bác phải quyết một cái tên cho cháu đi chứ!

    Ngày này sang tháng nọ rồi..."

    "Mày nóng nảy quá!

    Tên phải vừa đẹp vừa có ngụ ý, rồi phải hợp với mày chứ!

    Đây thể đặt bừa được!"

    Ông cười chị, rồi nói nhỏ, "Thật ra, các quan trên chưa đặt tên cho cái Huyên, ông nào dám đặt cho mày trước!"

    Yên Hã bĩu môi, nhưng chị không vòi vĩnh nữa.

    Thổ Công cười xòa rồi chia cho chị cái bánh nữa như bù đắp.

    Linh Như nhớ tối qua Tầm Phương bảo Tứ Tượng sinh Bát Quái, phong thủy là nguồn gốc của Thổ Công Hà Bá, chắc "quan trên" tức là các vị đấy.

    Xem chừng Thổ Công cũng phải e dè Tứ Tượng.

    Con bé chợt nảy ra một ý, bèn hỏi:

    "Thưa...

    ông, cháu có chuyện muốn thỉnh giáo.

    Không biết là nếu một Vấn Thánh Sư muốn thỉnh một vị thánh về thờ thì phải làm thế nào ạ?"

    "Nói khó thì chẳng khó, nói dễ cũng không dễ."

    Thổ Công chép miệng, lắc đầu, "Thiên cơ bất khả lộ."

    Linh Như thất vọng, hai vai xìu xuống.

    Nếu không thể thỉnh thánh, nó biết làm gì đây?

    Mẹ truyền con nối là cách thông thường nhất, những đường khác đều gian nan trắc trở, con bé không muốn mất thời gian trong lúc cần kíp thế này.

    Nó không muốn xem thiên văn hay nghe phong thủy, cũng thấy chẳng có duyên gì với phép làm rối loạn trí óc người khác hay trị thương.

    Nó muốn đi theo con đường của mẹ nó, bà nó.

    Nhìn sắc mặt Linh Như, Yên Hà mềm lòng, xin với Thổ Công:

    "Ông cứ mách nước con bé đi mà."

    "Nể mặt bà ngoại mày vậy..."

    Ông thở dài, ra vẻ tư lự, "Nhỏ, ông sẽ giải thích sao cho mày dễ hiểu nhất nhé – một người bình thường có hồn với vía, sau khi chết, đủ bốn mươi chín ngày thì bảy vía bay đi, phần hồn của họ cũng đi xuống âm phủ.

    Nhưng sẽ có hai trường hợp mà phần tinh anh đấy ở lại dương thế: một, họ được dân gian thờ phụng, đúc tượng, dâng lễ, thì hồn họ còn, bay khắp nơi, phần nhiều trú ngụ trong rừng rậm; hai, họ là người có công với nước, thì thi thể họ không rã ra một cách tự nhiên mà hỏa thiêu bằng Lửa Thiêng của hoàng thất Tân Lang, lúc đó phần hồn phách sẽ được ban cho cơ hội thực hiện điều cuối cùng họ mong muốn, nên hồn ở lại tới khi ước nguyện đó được trọn vẹn.

    Bắt kịp chưa?"

    Linh Như nghiêm túc gật đầu.

    Thổ Công nói tiếp:

    "Những hồn phách đó ở giữa ranh giới người với thần, gọi là thánh, các Vấn Thánh Sư sẽ đi tìm họ rồi thỉnh họ về với mình.

    Huệ Nhãn đã thỉnh được vị tướng quân phò tá đức vua đầu tiên của Tân Lang, Khai Quốc công.

    Mẫu hậu của công chúa, cũng từng là một môn đệ của ta, thì thỉnh Định Quốc công.

    Mẹ mày đã định thỉnh Chấn Quốc công, nhưng hình như không được, cái này thì ông không rõ tại sao.

    Tựu trung, cách tốt nhất là đi tìm miếu thờ thánh để thử vận may, cho họ thấy cái lòng thành của mày."

    "Nhưng phò mã Triệu Thiên đã cho dẹp hết tượng thánh rồi."

    Con bé buồn rầu nói.

    "Không còn hương hỏa, các thánh sẽ tản dần đi.

    Mười sáu năm coi bộ đủ để họ về với đất rồi."

    "Còn cách nào khác không ạ?"

    "Vận may rủi, nhỏ, Vấn Thánh Sư là vậy.

    Ông khuyên mày đây – bỏ đi."
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Sáu


    tháng chạp, năm Ất Tỵ, Rừng Thiêng

    Cái lạnh của trung tuần tháng mười một hóa ra chẳng thấm vào đâu so với những ngày sau đó.

    Cửa sổ ốp kính trong phòng các cô phù thủy luôn phủ sương mờ vào buổi sớm, mà đến vầng thái dương dường như cũng lề mề với cái chức trách sưởi ấm mặt đất của mình, gần giữa trưa sương vẫn chưa tan trên ô cửa sổ và những dãy núi cao.

    "Nếu trời cứ tiếp tục lạnh thế này."

    Chị Tình Huyên bảo trong một bữa cơm tối, "Thì khả năng cuối tháng giêng có tuyết là rất cao."

    Sang tháng chạp, Linh Như được gặp chị nhiều hơn.

    Chắc là vì về đêm trời lạnh hơn nên công việc quan sát tinh tượng bị gián đoạn.

    Giờ thì chị rất chăm ở trong đền thờ cùng công chúa Xích Anh, hay là cùng Tầm Phương dệt vải may áo ấm từ những sợi bông mà toán nghĩa binh mới chuyển lên căn cứ mang theo.

    Cô bé đã trở lại bàn ăn ngay buổi tối hôm xảy ra tranh cãi, mắt hơi sưng nhưng không ai đả động tới các Quốc Tử nữa.

    Hồi trước Linh Như cứ tự hỏi chẳng lẽ một trăm trai tráng đồng loạt rời đi mà các quan lại không nghi ngờ gì, giờ nghe kể mới biết họ đến từ nhiều nơi khác nhau, giả vờ đi làm ăn xa.

    Tân Lang từ ngày phò mã Triệu Thiên lên nắm quyền thì coi trọng việc giao thương, thành ra cũng ít khi bị nghi ngờ.

    Hơn nữa, họ nói, các nghĩa binh có mật hiệu riêng, sẽ thay đổi luân phiên người đi kẻ ở, nên mấy năm qua không hề bị phát hiện.

    Đằng sau lũy tre làng, người dân vẫn còn nhớ các thánh thần, phù thủy; về hoàng thất năm xưa.

    Linh Như từ ngày biết mình chẳng còn cơ may học phép thuật nữa thì thường lờ đờ không vui.

    Nó vẫn chưa hẳn là bỏ cuộc.

    Con bé đi theo công chúa Xích Anh học các bài văn tế và thờ cúng dâng hương cho các vị thần, còn những lúc ngài bận việc thì nó giam mình trong thư phòng trên tầng hai của đền thờ, đọc thư tịch còn sót lại của Chúc Thiên Các.

    Hầu hết sách dành cho Vọng Thiên Sư và Văn Địa Sư.

    Một phần ba kho tàng là sách y học, có cả sách cho phù thủy hay sách nghiên cứu các loại thảo mộc, châm cứu,... con bé mở ra vài trang đã thấy choáng váng, chắc là không có duyên với nghề này.

    Nó còn tìm được sách viết bởi bà Huệ Nhãn.

    Bà đặt ra nhiều quy luật trong việc thờ cúng và tế lễ, ví như đền thì thờ thần, miếu thì thờ thánh, các dịp lễ lộc nào cần cúng những thức gì.

    Bà liệt kê các đền miếu ở từng địa phương, đường đi tới đó, quy định từng nơi, sự tích về từng vị anh hùng được thờ phụng.

    Linh Như dò theo sách này và hỏi các anh nghĩa binh quê ở đấy, gạch đi những chỗ đã bị dẹp bỏ.

    Cuối cùng, khi chị Yên Hà ngó qua vai nó để đọc danh sách, chị phải nhăn mặt:

    "Chẳng còn lại mấy, nhỉ?"

    Chỉ còn ba ngôi miếu là chưa bị gạch đi, nhưng ấy là vì không có ai quê ở đấy để mà hỏi cả.

    Hằng ngày dâng hương và cầu nguyện với chư vị thần linh, con bé vẫn chưa từ bỏ con đường Vấn Thánh Sư.

    Đồng thời, nó không thể không nghĩ tới công trình của mẹ nó thuở thiếu thời – bùa chú.

    Nghe công chúa kể, phép này phạm cả điều cấm kỵ của tiên thuật lẫn ma thuật, vừa bất kính với thần linh vừa xúc phạm đến phù thủy, mà quyền năng cũng chẳng thể bằng phép thuật chân chính.

    Hơn nữa, các phù thủy đã có bùa ngải của họ rồi, đó là những liều thuốc mà Thiết Phách Sư kết hợp với Văn Địa Sư chế tạo ra, có thể hồi sức, chữa trị vết thương nhanh chóng, hoặc công thức điều chế kịch độc làm người ta trở nên bệnh tật; còn thần chú là tác phẩm của các Vọng Thiên Sư cùng Mê Hồn Sư, vì các vị thần mà họ thờ quá khó giao tiếp, nên đã tạo ra một hệ thống những câu chú ngữ có thể triệu hồi một dạng thức mô phỏng quyền năng chân chính của các thần đấy, ví như làm những cơn mưa nhỏ, bùa bảo vệ, giả tiếng động vật... tùy theo trí tưởng tượng của phù thủy niệm chú.

    Linh Như đã thắc mắc nếu vậy thì bùa chú khác thần chú ra sao.

    Tình Huyên lườm nó như thể nó đang nói một điều ngông cuồng, đáp:

    "Thần chú là em vẫn phải thờ phụng thần linh, em chỉ có thể làm những điều mà các ngài cho phép em làm thôi.

    Còn bùa chú..."

    Chị đảo mắt, "lấy phép từ phù thủy."

    Con bé lý luận:

    "Nhưng chẳng phải quyền năng của phù thủy đã là nhận lộc của thần linh rồi sao?

    Tại sao việc bùa chú cất giữ thứ quyền năng ấy lại bị cho là bất kính ạ?"

    "Vì người sử dụng bùa chú không hề thờ phụng thần linh.

    Thần cho em phép, em cảm ơn thần, rồi em đi cho người khác, người khác cảm ơn em, mà phép đấy đâu phải của em!

    Người ta không hề cảm ơn thần linh.

    Huống chi, nhận lộc của thần đâu phải dễ, làm gì có phù thủy nào muốn cho đi ma thuật của mình một cách tùy tiện?"

    Giọng chị hung hăng tới nỗi con bé không dám hỏi thêm nữa.

    Chị Tình Huyên dành tất cả buổi tối của mình trên đài thiên văn, bất chấp mưa giông gió lạnh và phải ứng phó với các vị thần nghe nói là rất khó tính, Linh Như có thể hiểu vì sao chị không chấp nhận nổi ý tưởng phải chia sẻ lộc từ thần linh.

    Nhưng còn những phù thủy khác, như Văn Địa Sư và Thiết Phách Sư chẳng hạn, họ có vẻ giao tiếp với thần linh rất dễ dàng.

    Con bé đã nghe Tầm Phương mắng Tước Âm vì định ăn Thôn Tặc, còn Thổ Công là một cụ ông gần gũi hay cười.

    Họ có phản cảm bùa chú tới vậy không?

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Trung tuần tháng chạp, trước rằm vài ngày, Linh Như thấy bốn người cùng nhau đi vào đền.

    Người ở bên phải, con bé nhận ra mặt, là Lan San.

    Y mặc áo viên lĩnh nâu với quần trắng ngà, thắt lưng màu vàng, tóc buộc đuôi ngựa ra vẻ lanh lợi, môi cười hơi láu cá.

    Người đi giữa cao ngòng, tuổi đã cao, râu tóc điểm muối tiêu, áo the đen như một ông thầy đồ.

    Còn vị bên trái kia trạc tuổi cha Linh Như mà trông điển trai hơn hẳn – mũi cao dọc dừa, mày râu nhẵn nhụi, nhất là đôi mắt đẹp, sáng tựa sao Hôm.

    Có một người khác hơi thấp, dáng mặt tròn phúc hậu, đi hơi tụt lại đằng sau.

    Con bé nhìn thấy quen lắm.

    "Cha!"

    Tầm Phương đánh rơi cả con mèo Phục Thí đang ôm xuống đất để chạy ùa về phía nhóm người kia.

    Ký ức Linh Như mới vỡ òa, đấy là cha của cô bé, ông ngự y cáo quan về nhà, lúc chúng còn nhỏ vẫn thường được ông nặn tò he cho.

    Tầm Phương nhào vào vòng tay của cha mình, mồm miệng tía lia, trong khi hai chị lớn thì điềm tĩnh hơn, trước người cha lâu ngày không gặp, họ cúi đầu chào thật lễ phép.

    Linh Như đoán người cao cao là ông thái sư, cha của Yên Hà, còn cha Tình Huyên là người đàn ông tuấn tú kia, cựu giám chính Tư Thiên Giám.

    Linh Như đứng dậy theo các chị, vái chào ông ngự y đang lại gần mình, con gái ôm cứng tay phải ông.

    "Cháu chào bác ạ."

    "Cái Như lớn phổng rồi nhỉ."

    Mắt ông ứa nước khi ngắm con bé, "Trông chẳng khác gì mẹ cháu ngày xưa!"

    "Bác dạo này có được khỏe không ạ?"

    "Khỏe!

    Bác khỏe như vâm đây này!"

    Ông đùa, vừa mới cảm động giờ đã cười ha hả, "Kể ra từ hồi cha cháu đi bước nữa, bác cháu mình chưa gặp lại nhau.

    Mẹ kế cháu đối xử với cháu có tốt không?"

    Bác cháu nhận mặt nhau rồi ông lại phải đi theo các vị kia đến gặp công chúa Xích Anh.

    Được một lúc, mấy cô phù thủy cũng được gọi vào nghị sự.

    Nói là nghị sự, thực chất chúng chỉ đứng nghe.

    Yên Hà với Tình Huyên châm trà nước cho người lớn, còn Tầm Phương và Linh Như được chia cho chân têm trầu, Lan San tạm thời chưa vào do phải dâng hương cho các thần ở chính đường.

    Qua mấy tuần trà, dĩa trầu được têm rất khéo đã vơi bớt và những câu hỏi thăm sức khỏe đều được trả lời, họ bắt đầu vào việc chính.

    Ông thái sư ngồi ghế đầu hàng bên trái công chúa là người đầu tiên thưa chuyện.

    Sau vụ thảm án năm xưa, phò mã Triệu Thiên nhiếp chính, vẫn giữ nhiều nếp cũ của tiên đế, tuy là người ngoại bang mà không hề gò ép nếp sống người Tân Lang theo ý mình; hắn còn trọng người tài, khuyến khích việc giao thương phát triển, nên cũng được lòng đa số quan lại trong triều.

    Nhưng những chính sách khắt khe ngăn cấm việc thờ phụng thần linh của hắn vẫn làm mích lòng các vị mộ đạo.

    Thêm vào đó, hắn cắt cử người Túc Mộc làm công việc quản lý ở địa phương, với ý định triệt tiêu văn hóa "mê tín" vô căn cứ.

    Phù thủy bị ném lên giàn thiêu, hoàng thân quốc thích của Tân Lang thì đều đã qua đời, nơi duy nhất phép thuật còn sót lại là ngôi đền này, đằng sau sự che giấu của Rừng Thiêng.

    "Tâu điện hạ, mấy tháng qua thần cải trang, ghé thăm các vị đồng liêu cũ đã hoàn hương quy ẩn, thấy lòng của họ vẫn hướng về hoàng thất ta.

    Địa phận nước Tân Lang lại đặt dưới trướng hoàng tử dị quốc, suy cho cùng vẫn là hậu hoạn khôn lường.

    Nếu ta có khởi binh, các vị ấy ắt sẽ hết lòng phò tá."

    Ông thái sư kính cẩn nói, hơi ngập ngừng, "Điện hạ, thần có lời muốn nói, không biết có nên hay không."

    Công chúa nói lời khách sáo:

    "Thái sư là trạng nguyên của Tân Lang, còn là thầy của hoàng huynh ta, giờ lại là mưu sĩ đắc lực trong công cuộc phục quốc, sao phải e dè?

    Xin thái sư cứ nói thẳng."

    "Lâu nay điện hạ mai danh ẩn tính là bởi phò mã chuyên quyền còn phe cánh ta thì thưa thớt, hắn đã ám sát điện hạ một lần, chỉ sợ nếu biết mưu mô chưa thành thì quyết đuổi cùng giết tận.

    Giờ đây thời cơ vừa khéo, ngu kiến của thần là đưa tin tức điện hạ còn sống ra ánh sáng.

    Một là, nếu các vị trung thần được hay tin công chúa vẫn mạnh khỏe, hẳn sẽ càng quyết chí phục quốc.

    Hai là, Triệu Thiên sắp giở lá bài Quốc Tử của hắn, đến lúc các cô cậu ấy đủ lông đủ cánh thì sẽ càng khó cho ta.

    Vậy nên giờ đây nếu điện hạ ra mặt đuổi quân xâm lược, tế trời, lên ngôi, ra chiếu cần vương, việc đánh Triệu Thiên sẽ rất tiện lợi."

    "Thái sư nói vậy thì cũng có lý.

    Nhưng binh lực trong tay hắn hơn tám vạn quân, thám tử của ta báo về nói hắn có khả năng tùy cơ điều thêm năm vạn quân nữa từ Túc Mộc sang, mà quân ta chưa đến một vạn.

    Phải làm thế nào?"

    "Tiên thuật của điện hạ có thể địch lại thiên quân vạn mã."

    Ông ngự y chậc lưỡi, xen vào:

    "Ấy, ông thái sư nói bậy!

    Sao có thể để điện hạ tự mình lĩnh binh?

    Nếu điện hạ có mệnh hệ gì thì huyết mạch hoàng gia phải làm thế nào?

    Hoàng thất chỉ còn sót lại một mình điện hạ mà thôi!"

    Thái sư cũng đã nghĩ tới điều này, tự thẹn mà cúi thấp đầu.

    Công chúa lại không cho là vậy:

    "Nếu nước ta sạch bóng quân thù, rửa được hận cho tiên đế và các bạn bè của ta, có chết trăm lần ta cũng không hối hận.

    Chỉ sợ lên kế hoạch chưa kỹ càng."

    Ngài quay sang ông giám chính, "Ông nghĩ thế nào?"

    Tư thiên giám là cơ quan làm công việc quan sát tinh tượng và đặt ngày tháng giờ giấc cho cả nước, đã khiến nhiều Vọng Thiên Sư lâm cảnh vô công rỗi nghề, nhưng mẹ của chị Tình Huyên lại chọn ông làm chồng.

    Mẹ chị Yên Hà được tiên đế nối duyên với ông thái sư, nghe nói mẹ cha của Tầm Phương cũng được gia đình mai mối – Linh Như thì chẳng biết hai vị nhà mình quen nhau thế nào – còn song thân của Tình Huyên quen biết từ bé, có tình cảm với nhau mới nên đôi nên lứa.

    Ông giám chính kính cẩn tâu:

    "Thần xem tinh tượng ba tháng nay, thấy sao Tử Vi phát ra hào quang màu đỏ, giống như báo hiệu nước Tân Lang ta sẽ có đế vương mới là hậu duệ Hỏa thần."

    Vẻ mặt công chúa dường như hơi dao động.

    Nhưng ngài không tỏ ra vui, mà ngược lại hơi u sầu, có lẽ còn điều gì khúc mắc chưa quyết.

    Đôi mắt rực đỏ ấy liếc trộm sang Tình Huyên rồi rời đi.

    Các ông chưa kịp nói tiếp đã nghe tiếng cười đi theo bước chân người mới trở vào.

    Lan San đứng trước bàn, vái chào công chúa.

    "Em cười cái gì?"

    Ngài nhướng mày, hỏi.

    "Tâu điện hạ, thảo dân cho rằng hai vị đại nhân đây nói cũng có lý, nhưng thảo dân nghĩ còn có cách hay hơn."

    Linh Như cứ nghĩ ông thái sư nghiêm nghị ấy sẽ giận, vậy mà ông cười, vuốt râu nói:

    "Điện hạ cứ nghe xem nó có sáng kiến gì."

    "Lan San nằm trong lòng giặc, hẳn phải biết rõ hơn chúng thần."

    Ông giám chính cũng nói.

    Công chúa Xích Anh gật đầu:

    "Hai vị đại nhân đã cất nhắc thì em cứ nói đi.

    Nhân lâu rồi chưa nhắc tới Quốc Tử, em hãy báo rõ tính tình chúng thế nào để mọi người cùng nghe."

    Vị Mê Hồn Sư chắp tay – tự dưng nhớ tới năng lực của y, con bé không khỏi ngờ vực y có cố tình khiến hai vị này nói vậy hay không – rồi thưa:

    "Tâu điện hạ, quả như ông giám chính nói, thảo dân tiếp xúc với các Quốc Tử nhiều năm nay, có biết được đôi phần tính cách của chúng.

    Tỏa Phong là anh cả, sang năm hai mươi ba tuổi, người chững chạc điềm tĩnh, văn võ song toàn, đa mưu túc trí.

    Anh hai Chu Diên, nhỏ hơn một tuổi, nghi dung đẹp đẽ, là bậc quân tử hiền hòa, khốn nỗi y không bận tâm tới chuyện khác, chỉ thích các việc múa hát đàn ca.

    Hai đứa Hoài Hoan và Nhật Nam cùng hai mươi mốt tuổi, một cặp bài trùng về võ nghệ binh pháp.

    Dưới chúng có Vũ Ninh, hai mươi, đầu óc sáng suốt, rất mực tuân thủ luật lệ.

    Chân Định, mười tám, là dạng phong lưu công tử thích chơi chim ngắm cá mà thôi."

    Chỗ bàn nước, hai chị lớn ngó nhau tủm tỉm cười.

    Tầm Phương phải suỵt họ đi.

    Linh Như nhớ mang máng dung mạo các Quốc Tử.

    Quanh năm suốt tháng, các Quốc Tử chỉ ở trong Quốc Tử Giám, duy nhất một lần được ra ngoài: từ trung tuần tháng Chạp, phò mã tổ chức săn bắn mùa đông.

    Khung cảnh ấy náo nhiệt lắm.

    Mấy bạn học của Linh Như thường xin về sớm để xem.

    Đường lớn được dọn dẹp sạch sẽ, quan binh đứng dọc hai bên lề, người cầm cờ, kẻ cầm kèn trống, tấu nhạc rộn rã.

    Phò mã ngồi xe đi đầu, các Quốc Tử cưỡi ngựa đi sau, hoa tươi và pháo giấy bay ngập trời.

    Linh Như lúc nào cũng xớ rớ đằng sau chót đám đông, chỉ thấy loáng thoáng họ cưỡi ngựa tốt, ai nấy cao ráo, phong thái hơn người.

    Họ lấy áo viên lĩnh vải gấm màu xanh lam đậm làm đồng phục.

    Các Quốc Tử đi thành hàng hai.

    Người đi đầu có vết phỏng tím bầm choán gần nửa mặt, nhìn vào ai cũng sợ.

    Bên cạnh y, một chàng trai để tóc dài, đeo cây đàn nguyệt sau lưng, mỉm cười với các cô dân nữ.

    Hai anh đằng sau thì luôn miệng nói cười, một người cao lớn vạm vỡ, người kia thì chọn cho mình một kiểu tóc kỳ lạ – anh ta để ra một lọn tóc dài bên mái rồi tết nó thành bím tóc nhỏ – vó ngựa của họ cũng nhịp bước nhí nhảnh.

    Thế là họ sẽ bị cậu trai sau lưng trách mắng.

    Bên cạnh cậu này là một cô gái lưng thẳng vẻ đĩnh đạc, cằm hất lên trời.

    Hai cậu nhỏ đi chót thì có vẻ hơi nhút nhát.

    Một cậu thường mang theo con chim két, cho nó đậu trên vai mình.

    Cậu nhỏ nhất thì lúc nào cũng ngó ngang ngó dọc.

    "Đứa út Gia Hinh sang năm sẽ mười bảy.

    Theo ý thảo dân, nó khá nhạy bén, luôn hoài nghi những điều được dạy, vô cùng tò mò về thế giới bên ngoài.

    Có điều thể trạng nó yếu nên phần võ hơi thua thiệt.

    Còn một đứa con gái độc nhất trong các Quốc Tử, Diễm Dương.

    Cô này gần mười chín, tài bắn cung bách phát bách trúng được chính phò mã truyền dạy, rất được Triệu Thiên yêu thương."

    Lan San tâu xong, bắt đầu hiến kế:

    "Tâu điện hạ, các Quốc Tử tuy là tinh anh được nuôi dưỡng, nhưng chúng sống sung sướng quen rồi, lại học phép quân thần Túc Mộc nên rất trung thành, không có chí làm việc lớn.

    Phò mã xem chúng như cánh tay phải vì hắn có tình cảm với chúng.

    Đây là điểm yếu trí mạng.

    Thảo dân nghĩ nếu ta diệt chúng đi, chẳng những là trừ khử được cái gai trong mắt, mà còn đả kích Triệu Thiên."

    Con dao tỉa lá trầu rơi xuống bàn, Linh Như giật mình quay sang, thấy Tầm Phương trừng mắt bàng hoàng, toan cản bạn lại thì cô bé đã chạy ra trước mặt công chúa, khẩn thiết nói:

    "Xin điện hạ xét kỹ!

    Các Quốc Tử tuy là được phò mã nuôi dạy, nhưng vẫn là dòng dõi đồng bào ta, huống chi họ còn chưa làm gì xấu, không đáng tội chết!"

    "Em định đợi chúng chĩa giáo vào em rồi ném em lên giàn thiêu mới chịu thay đổi suy nghĩ hay sao?"

    Lan San phàn nàn, "Trước tiên là chúng diệt trừ tiên thuật, sau đó tới ma thuật, rồi tới khi Tân Lang thành nước không vua mà người cầm đầu lại bị tẩy não bằng phong hóa Túc Mộc thì ngày vong quốc chỉ cách vài nốt nhạc mà thôi!"

    "Nhưng họ là dòng dõi của Thất Đẩu tướng!"

    "Họ là con nuôi của Triệu Thiên!"

    Linh Như lôi ngược Tầm Phương lại, trong khi Yên Hà với Tình Huyên kéo Lan San về.

    Bỗng dưng phòng thờ vọng vào một tiếng rầm động trời.

    Ai nấy giật mình nhảy dựng lên.

    Sợ là các thần nổi giận, đám phù thủy không đứa nào dám nhúc nhích.

    Công chúa bèn rời khỏi thư phòng, đi sang để kiểm tra.

    Thấy bạn mình rướm nước mắt, Linh Như thấy nghẹn trong họng, vỗ vai an ủi cô.

    "Thất Đẩu tướng?"

    Con bé hỏi, "Các vị tướng tiên triều?

    Các Quốc Tử là hậu duệ của họ?"

    Lan San bất đắc dĩ gật đầu.

    Các vị đại nhân nhìn nhau thở dài.

    "Nóng tính quá, các cô ạ."

    Ông thái sư vuốt râu, phê bình, "Chẳng lẽ ta không nghĩ tới các Quốc Tử?

    Giết đi thì có lỗi với vong linh chư vị tướng quân, còn để lại thì là mầm mống nguy hại về sau.

    Không bằng dụ chúng hàng đi thì hơn."

    "Dụ hàng ạ?"

    Lan San vẫn cãi:

    "Làm sao chắc chúng đã chịu phản Triệu Thiên!

    Đợi điện hạ vào, tôi sẽ xung phong đi giết chúng."

    Linh Như nảy ra một ý, vội can:

    "Khác gì rứt dây động rừng?

    Giết chúng rồi, biết dò la tin tức của Triệu Thiên thế nào?

    Bây giờ chúng còn chưa nên trò trống gì, San đã moi được cả đống nội tình trong ngụy triều – tưởng tượng chúng đứng ở vị trí cao hơn xem?

    Đấy là thiển kiến của em thôi.

    Thay vì giết chóc vô nghĩa, chi bằng tha cho chúng sống rồi tiếp tục lợi dụng?"
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Bảy


    Lời Linh Như nói không phải sáng kiến gì mới, nhưng có vẻ Lan San đang cần được nhắc nhở điều đó.

    Vẻ nóng nảy của y dịu đi rõ rệt.

    Y thậm chí còn xin lỗi Tầm Phương – "tôi không nên nói em như vậy" – và cô bé Thiết Phách Sư cũng khách sáo đáp lại.

    Khi công chúa Xích Anh quay về, ai nấy đều đã về vị trí của mình.

    Linh Như thấy sắc mặt cô dường như tỉnh táo hơn lúc nãy.

    Ánh lửa nơi đáy mắt ấy cháy sáng rực rỡ.

    Ngài tha lỗi cho hai đứa trẻ, đoạn nhìn Lan San, hỏi:

    "Năm đó em tự mình tìm tới ta xin làm gián điệp, nói muốn dựa vào các Quốc Tử để lấy thông tin từ Triệu Thiên.

    Chắc chắn em biết phải có chúng thì em mới làm nên chuyện.

    Tại sao tự dưng lại đòi trừ khử chúng?"

    "Xin điện hạ thứ tội."

    Bỗng dưng Lan San quỳ xuống, dập đầu, "Thảo dân khinh suất, sợ làm hỏng đại cuộc."

    "Nói rõ ra xem nào."

    "Thảo dân trẻ người non dạ, phép Mê Hồn cũng chỉ là múa rìu qua mắt thợ, khó lòng sánh được với gia mẫu năm xưa, nhưng cũng xem như đủ để đối phó với các Quốc Tử.

    Thảo dân thường nhân lúc được vào Quốc Tử Giám trò chuyện với chúng, thăm dò quyết sách mới của Triệu Thiên, sau đó xóa ngay ấn tượng của chúng về mình.

    Cho tới tuần trước, thảo dân vẫn dám cam đoan chúng không hề nhớ mặt thảo dân."

    Công chúa đưa tay cho y bình thân, cau mày:

    "Tuần trước đã xảy ra chuyện gì?"

    "Tâu điện hạ, đầu tháng Chạp, thảo dân được gọi vào Quốc Tử Giám để làm lồng đèn cho các Quốc Tử.

    Nhờ các thần phù hộ, chúng không chú ý tới thảo dân quá mức, chỉ xem thảo dân như thợ thủ công bình thường mà thôi.

    Nhưng thằng út Gia Hinh đã gọi tên thảo dân."

    Mồ hôi túa ra bên thái dương Lan San.

    Y nghiến răng, hàm bạnh ra, mãi mới nói tiếp:

    "Hóa ra ma thuật của thảo dân vô dụng với thằng bé này.

    Bao năm qua, nó vẫn nhớ thảo dân là ai.

    Có điều, Gia Hinh cũng rất ngây thơ, nó chưa nghi ngờ thảo dân mà chỉ cho là các anh chị nó hời hợt mà thôi."

    Ông ngự y lo lắng hỏi:

    "Nó nói gì?"

    "Thưa, nó muốn có người để tâm sự.

    Hình như là vì Nhật Nam và Diễm Dương cãi nhau được mấy ngày rồi, nên nó mới lo lắng."

    "Rồi em trả lời nó thế nào?"

    Công chúa hỏi.

    "Tâu điện hạ, lúc đó thảo dân hoảng quá, chưa kịp đáp đã đến giờ phải về."

    Ông giám chính cười:

    "Thế ra San sợ bị lộ nên muốn diệt khẩu à?"

    "Thưa, phải."

    Lan San lý luận, "Nếu nó đã chú ý tới tôi, ắt các anh chị của nó cũng sẽ cảnh giác, rồi hiểm họa sẽ như lửa cháy trên đồng cỏ khô."

    Thái sư thắc mắc:

    "Nhưng làm sao thằng bé ấy thoát được ma thuật?"

    Vị Mê Hồn Sư giải thích:

    "Bẩm, chư vị chắc cũng biết, Mê Hồn Sư thờ Tam Hồn – Thai Quang, U Tinh và Sảng Linh.

    Mỗi người đều có ba phần hồn này.

    Các vị thần của tôi sẽ khống chế hồn của người khác từ đó khiến người ta trở nên u mê, ảnh hưởng phần nào buồn vui yêu ghét và chỉnh sửa ký ức của họ.

    Uy lực của các thần còn phụ thuộc vào phần tinh anh đó ở mục tiêu.

    Người nào càng ngu dốt càng dễ điều khiển.

    Người nào có dục vọng, mưu cầu quá lớn, dẫn tới tam hồn không còn trong sáng nữa, là con mồi lý tưởng.

    Nhưng Gia Hinh thì không phải vậy.

    Các Quốc Tử khác đều ưu tú hơn đa số người bình thường, dẫu vậy, chúng vẫn có phần bị vẩn đục có thể lợi dụng.

    Còn tam hồn của thằng út lại rất sạch sẽ.

    Tôi chưa từng thấy ai sở hữu linh hồn thanh khiết tới vậy.

    Tôi hỏi ý kiến tam hồn, các thần nói e là dù gia mẫu còn tại thế cũng phải bất lực."

    Lời vừa dứt, Linh Như đã thấy nổi da gà.

    Con bé vẫn túm tay Tầm Phương đề phòng cô lại chạy ùa ra đấu khẩu với Lan San.

    Ý định của y không phải là không có lý.

    Nếu đã lộ sơ hở thì khó lòng thoát thân mà không hề bị tổn thất.

    Họ sẽ buộc phải lựa chọn có tiếp tục lợi dụng các Quốc Tử hay không.

    Các Quốc Tử là hậu duệ của Thất Đẩu Tướng, những vị trung thần, dòng dõi gia tộc đã phò tá dòng dõi á thần xưng đế, lập nên Tân Lang.

    Ông thái sư muốn dụ chúng quy phục về phe của công chúa, nối nghiệp cha mình năm xưa.

    Nhưng khổ ở một nỗi giờ chúng đã xem phò mã như ruột thịt rồi.

    Còn ý định diệt khẩu của Lan San cũng không ổn.

    Quá hấp tấp.

    Dục tốc bất đạt – trừ ngay đi mối họa khi còn trong bọc đôi khi không phải nhổ cỏ tận gốc mà là chữa lợn lành thành lợn què.

    Công chúa Xích Anh cân nhắc một lúc, rồi nói:

    "Cao kiến của chư vị ta đã nghe hết rồi.

    Đến lượt ta.

    Giờ chưa phải thời điểm tối ưu cho ta lộ mặt.

    Quốc Tử thì không được giết."

    Nghe vậy, Tầm Phương thở phào, công chúa nói tiếp, "Nhưng đúng như lời cái Như, phải lợi dụng chúng.

    Tam hồn của Gia Hinh sạch sẽ là vì nó được bảo bọc và o bế.

    Chỉ cần khiến nó sợ hãi, phách rối loạn, thần trí ắt cũng không tỉnh táo nữa.

    Em nhân lúc đấy xóa ký ức về em trong đầu nó là được."

    "Xin điện hạ chỉ rõ."

    "Tại sao Nhật Nam với Diễm Dương lại tranh cãi?"

    "Tâu điện hạ, hình như là vì tụi nó không thống nhất được con mồi cho lễ hội săn bắn cuối năm."

    Linh Như nghĩ ra một chuyện, mà không biết có nên xen vào hay không.

    Cuộc họp buổi sáng dừng lại ở đó.

    Công chúa Xích Anh giao cho ông thái sư và ông giám chính việc đi chiêu mộ thêm binh tại vùng biển phía đông.

    Vài ngày trước có một anh nghĩa binh quê ở vùng sông nước phía nam hiện đang bị lũ lụt tới xin công chúa giúp đỡ, thế nên Yên Hà với Tình Huyên được phái đi.

    Cha con Tầm Phương thì sẽ tới thượng lưu sông Chước, nơi đang xảy ra dịch bệnh nguy hiểm.

    Mọi người ăn vội với nhau một bữa trưa, các vị đại nhân chỉ kịp dặn dò con cái mấy câu là đã phải lên đường luôn ngay chiều đó, Phương với cha mình cũng vậy.

    Công chúa ôm cô bé thật chặt rồi cầu phước cho cô.

    Lúc tiễn cô đi, Linh Như cứ níu tay bạn, hai đứa quyến luyến mãi mới chịu thôi.

    Cổng thành đóng lại, con bé chạy lên bờ tường, ngóng theo bóng lưng Tầm Phương mãi đến khi sương mù dày đặc quá không nhìn thấy gì nữa.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Tối ấy, Linh Như rời khỏi đền thờ, thấy trên đài thiên văn lại xuất hiện hình dáng quen thuộc.

    Trước giờ con bé chưa từng lên đấy.

    Nó cảm giác đó là nơi rất riêng tư chỉ của riêng Tình Huyên mà thôi.

    Nhưng hôm nay, nó vén tà váy trèo lên đỉnh vọng lâu.

    Chị Huyên thấy nó lên, không nói gì, tiếp tục ngắm các vì sao trời qua ống kính viễn vọng của mình.

    Linh Như cũng chỉ ngồi một bên, giữ im lặng.

    Yên Hà và Tầm Phương, thậm chí là công chúa Xích Anh hay Lan San, đều nghĩ nó với Tình Huyên không thích nhau.

    Nó thì làm gì có thiên kiến với chị – công bằng mà nói, nó chẳng nói chuyện với chị nhiều tới vậy.

    Mấy lần tương tác ít ỏi của họ đều diễn ra trên bàn ăn, và chị nói với cả bàn, chứ không phải với một mình nó.

    Có một hai lần nó hỏi chị về ma thuật, cách chị nói làm Linh Như cảm giác con bé là đứa ngu ngốc nhất trên đời vậy.

    Nó không nghĩ nó ghét chị.

    Nên trước khi họ phải tạm biệt, nó muốn làm quen với chị một cách đàng hoàng.

    Đêm nay trời đỡ sương mù hơn bình thường, thành ra Tình Huyên ở trên này khá lâu.

    Linh Như thấy chị thi thoảng lại ghi ghi chép chép gì đấy.

    Theo những gì nó được nghe, các vị Tứ Tượng rất khó tính và cực kỳ ghét bị sai khiến.

    Vọng Thiên Sư, giống như cái tên của họ, chỉ có công việc là "nhìn trời" thôi.

    Nó tự hỏi chị sẽ xử lý cơn lũ lụt thế nào.

    Đột nhiên, Tình Huyên chủ động mở lời:

    "Mấy ngày nữa mới tới rằm.

    Em đến đây chưa tròn một tháng."

    "Vâng."

    Linh Như hơi đơ ra, gật đầu.

    "Đáng ra có thể đón em sớm hơn."

    Một tay chị cầm bút viết, tay kia chống hông, chị nói với vẻ lơ đãng, "Công chúa được báo mộng liên miên.

    Nhưng chị khuyên ngài từ từ hẵng đi.

    Cái Phương giận chị lâu lắm đấy."

    Nghe vậy, con bé thấy hơi... sợ.

    Thế mà nó cứ nghĩ việc chị không thích nó là vô căn cứ.

    Linh Như là đứa thấy quan tài cũng chưa đổ lệ, nó hỏi:

    "Tại sao ạ?"

    "Điện hạ nói ngài mơ thấy Hỏa Thần nói em là ngôi sao may mắn của chúng ta.

    Hễ em tới, thế cục sẽ thay đổi ngay lập tức."

    Chị ngoái đầu ngó nó, tóc dài xõa sau lưng, "Em có tin không?"

    Con bé thật thà lắc đầu.

    "Em nghĩ điện hạ nghe cái Phương nhì nhằng mãi phát chán nên bịa ra cái cớ đấy thôi."

    Tình Huyên bật cười lớn:

    "Cũng có khi đấy.

    Cơ mà chị nghĩ ngài nói thật.

    Hồi đầu tháng mười có mưa sao băng.

    Đến đầu tháng mười một lại thấy sao Hôm lấp lánh, tính vị trí ra thì chiếu đúng ngay trên kinh thành.

    Lại nói, em vừa tới, tin tức về Quốc Tử đã dồn dập – hôm trước thì Giám Quốc Quân, hôm nay lại có chuyện Gia Hinh nhận ra Lan San.

    Vấn đề là mệnh của em."

    "Mệnh em thế nào ạ?"

    Chị đột ngột lại gần Linh Như, kéo tay nó xòe ra, chỉ dọc bàn tay nó, nói:

    "Trong mệnh em có số phò tá quân vương, e là cả đời cũng không thành chủ tướng được, nhưng nếu ở dưới trướng minh quân thì chắc chắn sẽ làm nên chuyện.

    Có điều, chủ của em không phải điện hạ."

    Linh Như e dè rụt tay về.

    Tình Huyên vẫy nó tới gần kính viễn vọng.

    Được chị cho phép, con bé cũng ghé mắt vào nhìn.

    Thoạt đầu chỉ thấy một tầng sương mờ và màn đêm đen tuyền, rồi chị chỉnh kính lại, nó dần thấy rõ hơn.

    Những vì sao tựa đá quý lấp lánh trên tấm áo hoa của một bà mệnh phụ.

    Chị chỉ nó nhìn vào một chòm sao sáng.

    "Sáng nay cha chị nói quanh rìa Tử Vi phát ra tia sáng màu đỏ.

    Ông không nói sai, nhưng chưa đủ, chị không chắc có phải ông cố tình giấu hay không.

    Sao Tử Vi có hào quang nhưng đi từ phía bắc sang phía nam; Túc Mộc chệch bắc, Tân Lang tọa nam, tức người có mệnh đế vương đúng là hoàng thất Tân Lang nhưng sẽ xuất thân dưới trướng người Túc Mộc.

    Chị không nghĩ đó là công chúa."

    "Ý chị là...?"

    "Em xin ngài đi theo Lan San rồi, đúng không?

    Chị với cái Hà đều thấy em muốn nói gì đó.

    Quả thực, tài của em không nằm ở việc dâng hương tế lễ.

    Cho chị nhờ một chuyện nhé?

    Để ý đám Quốc Tử giúp chị."

    Linh Như nhìn Tình Huyên, cô gái mà từ ngày đầu gặp gỡ nó đã thấy xa cách, lúc nào trông chị cũng bí ẩn như thể có một tấm màn dệt bằng sương mù phủ ngang mặt chị, còn đường đến trái tim chị là mê cung không có đích đến cũng chẳng có lối ra.

    Nhưng giờ chị đã trải lòng với nó.

    Trước sự trung thực ấy, nhất thời con bé lại chẳng biết nói gì hơn ngoài gật đầu nhận lời nhờ vả đó của chị.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    "Em đi theo tôi làm gì?"

    Linh Như nhướng mày:

    "San không thích em à?"

    "Ai bảo thế!

    Ý tôi là... chẳng phải em không nên xuất hiện ở kinh thành sao?

    Lỡ như bạn bè hay người nhà nhận ra em thì rắc rối lắm."

    Con bé nối gót Lan San rời khỏi thành.

    Các ông nghê vẫy đuôi chào tạm biệt.

    Họ lại di chuyển bằng tiên thuật của công chúa Xích Anh.

    Sau gần một tháng sinh sống giữa các cô phù thủy, nàng công chúa á thần, những ông nghê to vật vã và đã diện kiến một vị thần cùng bảy vị khác trong lốt thú – người ta sẽ nghĩ Linh Như khó mà thấy bất ngờ và cảm thán vì điều gì nữa, thế mà con bé vẫn trầm trồ lác cả mắt khi lại đi qua vòng lửa ấy.

    Con bé kể cho Lan San mâu thuẫn giữa mẹ nó và công chúa, rồi nó nói thêm:

    "Nói thì nói vậy, chứ nếu vòng lửa này không phải bùa chú, em không tin đâu.

    San nghĩ thế nào?"

    Hai người hiện thân trong một căn hầm tối.

    Linh Như sợ bóng đêm, nó phải đứng im đợi Lan San thắp nến lên.

    Con bé đã được nói trước chuyện này rồi.

    Mẹ Lan San, một vị Mê Hồn Sư có tên chữ là U Minh, vốn thuộc một bộ tộc du mục.

    Mê Hồn Sư thường xuất hiện trong những nhóm người ẩn dật như vậy, không biết là họ bị đẩy ra ngoại biên hay tự họ thích tách biệt như thế.

    Chúc Thiên Các khi đó cần một Mê Hồn Sư, nên bà đã được mời vào chia sẻ tri thức của mình.

    Bà nên duyên với cha của Lan San, con trai nhà có truyền thống làm nghề thủ công lâu đời, trái ngược với nhóm thương nhân giàu xổi như cha Linh Như, rồi đưa con cho mẹ ruột cùng các dì chăm sóc dạy dỗ.

    Mãi đến khi bà mất, cuộc săn phù thủy trở nên khốc liệt, Lan San mới được đưa về nhà cha ruột sinh sống.

    Y che giấu thân phận và học nghề làm lồng đèn.

    Nhưng nỗi căm hờn bị tước đi khỏi vòng tay mẹ không thể bị phai nhòa.

    Lan San đã dựa trên những ký ức vụn vặt còn nhớ được từ hồi ở cùng nhà ngoại để nắm giữ ma thuật, rồi cũng lần mò dựa vào phản ứng khi ma thuật với tiên thuật tiếp xúc mà tìm tới công chúa Xích Anh.

    Khi ánh sáng le lói từ ngọn nến chiếu rạng một phần không gian chật hẹp này, gương mặt trầm ngâm của vị Mê Hồn Sư cũng lộ ra.

    Y cân nhắc rất lâu trước khi thở dài, nhìn thẳng vào đôi mắt còn mang phần ngây thơ của Linh Như mà nói:

    "Tình cảm mà điện hạ dành cho lệnh từ rất lớn.

    Hồi đó ngài phải ẩn náu, lệnh từ lại được bà Huệ Nhãn thế mạng cho, ngài không biết cô còn sống.

    Sau này gặp Tầm Phương mới vỡ lẽ, ngài đau buồn lâu lắm."

    Lan San rót cho nó một chén trà rồi nói tiếp:

    "Còn về thứ bùa chú này ấy mà...

    Lên án, phê phán, gọi đó là tà đạo bất chính nhưng vẫn dùng thứ đó để phục vụ cho mình.

    Chẳng phải đó là điều chúng ta làm với tụi Quốc Tử đấy sao?

    Điện hạ cũng chỉ là con người thôi – các ông thái sư và giám chính hay có xu hướng tôn thờ ngài như thánh thần, thực chất làm vậy không đúng.

    Với tôi, ngài là vị minh chủ mà tôi muốn phò tá để nhân đó trả thù cho gia mẫu.

    Nếu ngài không làm được..."

    Y cười xòa, "Nhưng mình cứ lạc quan lên.

    Từ ngày em về, tôi có cảm giác chắc chắn là ta sẽ thành công."

    "Tại sao ạ?"

    Con bé hỏi lại, mặt hơi ửng hồng.

    "Tại vì Tam Hồn của em cũng na ná thằng bé Gia Hinh.

    Rất trong sáng.

    Em yêu ghét mãnh liệt.

    Em có óc phán đoán nhạy bén.

    Nói cho tôi nghe nào, em xin đi theo tôi để làm gì?

    Có phải em có kế hoạch để giúp tôi dọa thằng bé kia hồn bay phách tán không?"

    Quả thực là nó có.

    "Theo em biết, lễ hội săn bắn thường niên được tổ chức lần đầu vào năm vị Quốc Tử lớn nhất tròn mười tám tuổi.

    Từ đó, nó trở thành một dạng nghi lễ để các Quốc Tử chứng tỏ sự trưởng thành của mình.

    Hằng năm mỗi người sẽ chọn săn một loài thú cùng anh chị em mình.

    Đúng không ạ?"

    "Đúng vậy.

    Hai năm đầu vụ này còn suôn sẻ, nhưng tới năm thứ ba, hai đứa đồng niên không thống nhất được với nhau.

    Tụi nó quyết định là Hoài Hoan sẽ chọn trước rồi mới tới lượt Nhật Nam.

    Có điều năm sau đó Nhật Nam bị ốm nên không tham gia đi săn được.

    Năm nay đến phiên Diễm Dương, không ai chịu ai."

    "Hai người này thường xuyên bất hòa lắm ạ?"

    "Tụi Quốc Tử không bất hòa.

    Em đừng nhầm."

    Lan San đính chính, "Tụi nó khắc khẩu và cãi cọ liên miên, nhưng chẳng bao giờ đến nước trở mặt hay căm thù nhau hết.

    Anh em ruột còn chưa chắc được vậy nữa.

    Tôi không tưởng tượng ra được cảnh tụi nó chia bè kết phái."

    "Thế tại sao tự dưng mỗi lần này Gia Hinh lại lo lắng?"

    "Đã nói không biết mà."

    Y chán nản nói.

    "Có khi nào nó muốn do thám San không?"

    "Em đang làm tôi tuyệt vọng đấy, cưng ạ.

    Nhưng không, tôi chắn chắn nó vô tư, chỉ sợ nó nói bậy bạ làm tụi cáo già xung quanh sinh nghi."

    Linh Như cười xòa:

    "Được bảo bọc đến mức thuần khiết vậy thì em chắc chắn nó rất sợ thấy cảnh cãi cọ, dù có quen cỡ nào đi nữa, nó cũng sẽ muốn tìm cách giải quyết.

    Vậy lần sau San vào Quốc Tử Giám đưa lồng đèn, hãy bảo nó thế này: nó thương anh chị, anh chị còn thương nó hơn, nếu giữa đường đi săn biết nó bị lạc thì kiểu gì cũng phải đi tìm; hãy bảo nó bàn với những người khác cùng diễn một vở kịch, làm sao để cho hai anh chị nó đi riêng với nhau, cùng lo lắng cho nó thì tự nhiên sẽ làm hòa được thôi."

    "...Lạc quan đấy."

    "Hai cô cậu kia đòi săn cái gì?"

    "Nhật Nam muốn săn giao long, còn Diễm Dương muốn săn hổ."

    "Trong lúc nó đi trốn, chúng ta sẽ mai phục sẵn."

    Con bé nói tiếp, "Dẫn Gia Hinh tới gần chỗ thú dữ.

    Nó không giỏi võ, đúng không?

    Nếu nó hên thì chỉ bị hoảng hốt một chút thôi.

    Còn xui...

    Chà, nghe mệnh trời vậy."

    Lan San ngó con bé trân trân, như thể đang tự hỏi đây có phải cô phù thủy ngơ ngác mình đón hồi mấy tuần trước hay không.

    Cuối cùng, y cười phá lên, vỗ đùi đen đét:

    "Tôi sợ em rồi đó!"

    Linh Như chỉ cười mỉm:

    "Họ đã thiêu phù thủy trước mà."
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Giang Tấu


    Phò mã nói, mỗi một Quốc tử đều được định sẵn số mệnh huy hoàng.

    Đó là điều đầu tiên ăn vào tiềm thức Diễm Dương.

    Chẳng nhớ người nói câu đó từ khi nào nữa.

    Chị chỉ biết suốt cả cuộc đời mình, chị đã luôn đợi đến cái ngày bánh xe vận mệnh bắt đầu quay.

    Diễm Dương từng nghĩ về "số mệnh huy hoàng" đó như một lời hứa.

    Lời hứa cho sự ưu việt, lời hứa cho sự đặc biệt, lời hứa cho tương lai rực rỡ.

    Nhưng không chỉ vậy.

    Hơn cả lời hứa, chị còn xem đó như niềm tin của phò mã dành cho chúng.

    Một niềm tin mà chị thà chết còn hơn phản bội.

    Chị có cảm giác đó từ lúc còn bé – cái cảm giác mong muốn chứng minh mình có tài năng mà người khác không có.

    Lồng ngực chị luôn luôn gào thét, có thứ gì đó bên dưới làn da chị vùng vẫy để được bùng nổ.

    Nhưng tuổi thơ của chị trôi qua trong cô đơn và tuyệt vọng.

    Xung quanh Diễm Dương chỉ là vô vàn bức tường và những gương mặt hà khắc lạnh lùng.

    Các bà vú nói bằng thứ ngôn ngữ chị nghe hiểu mà không cách nào nói theo được.

    Điều đó khiến họ điên tiết.

    Họ bắt chị lặp lại những âm tiết mà họ nói, gọi thế giới này theo cách họ gọi; mỗi ngày trôi qua là mỗi ngày họ tìm cách đập vỡ Diễm Dương như một món đồ đất nung, hy vọng chị trở lại thành đất sét để nhào nặn chị trở thành hình hài khác.

    Chẳng hiểu sao, họ chưa từng thành công.

    Một đứa trẻ đáng ra phải dễ uốn nắn.

    Một đứa trẻ, các bà vú thở dài với nhau, không thể cứng đầu tới mức này.

    Chính chị cũng không hiểu nổi.

    Chị đã từng cầu xin trời cao hãy cho chị khả năng nói thứ ngôn ngữ của họ.

    Hãy để tất cả những tiếng quát thét lặng đi.

    Thần linh – nếu họ có thật trên đời – chưa từng đáp lời Diễm Dương.

    Cho tới năm chị bảy tuổi, một người đàn ông vượt qua những bức tường và nói bằng ngôn ngữ của chị.

    Người đàn ông đó tự xưng là phò mã.

    Sau này chị biết danh xưng đó có nghĩa là chồng của công chúa.

    Nhưng đất nước này không có công chúa.

    Không còn nữa.

    Một nhóm phù thủy man rợ đã tàn sát toàn bộ thành viên hoàng thất Tân Lang.

    Phò mã, một hoàng tử từ nước láng giềng, đã mang viện binh từ quê hương tới để bảo vệ giang sơn nhà vợ.

    Từ đó đến nay, năm năm trời, người vẫn một lòng giữ gìn đất nước này.

    Chị được gửi cho những người vú nuôi mới.

    Họ đều là người Tân Lang, nói cùng thứ ngôn ngữ như chị, đầu mày đuôi mắt của họ chất chứa ý vị mà chẳng cần nói thành lời chị cũng có thể hiểu.

    Khi chị yêu cầu một điều gì đó, họ đáp ứng ngay lập tức.

    Chị chưa từng phải nghe thêm một câu nặng lời nào nữa.

    Người dạy chị cách đọc tên chính mình bằng ngôn ngữ của chị.

    "Diễm Dương", một mặt trời diễm lệ, rực rỡ.

    Chị là trẻ mồ côi, được người nhận nuôi sau thảm án năm Kỷ Sửu.

    Ngoài chị còn bảy đứa trẻ nữa.

    Bảy đứa trẻ kia đều là con trai, người lớn nhất mười một tuổi còn đứa nhỏ nhất chỉ mới lên năm.

    Chúng là hậu duệ của Thất Đẩu Tướng, mồ côi cha từ khi còn quá bé, phò mã rủ lòng thương nên sau khi tạm dừng cuộc Săn Phù Thủy, người đưa chúng vào cung, nuôi dạy như con ruột.

    Phò mã gọi chúng là "các Quốc Tử của người".

    Những đứa trẻ vô tư nhanh chóng trở thành bạn thân chí cốt.

    Diễm Dương vẫn thích dành thời gian bên phò mã hơn.

    Người thường dạy chị đọc sách, viết chữ, và thể theo nguyện vọng của chị, người dạy cả tiếng mẹ đẻ của người cho chị nữa.

    Có lẽ đó là vấn đề của Diễm Dương.

    Chị không thể chấp nhận rằng trên đời có việc gì mà mình không làm được.

    Nhưng ngôn ngữ đó kỳ lạ tới mức quái đản.

    Mỗi lần chị cuộn lưỡi lại hay chu môi, cố gắng phát âm đúng như cách phò mã làm, thì cảm giác buồn nôn lại gợn lên nơi cổ họng.

    Tất nhiên chị giấu kín điều đó, và ngay cả phò mã cũng chỉ cho rằng cấu trúc miệng của dân Tân Lang không phù hợp để nói ngôn ngữ của người.

    "Con biết không, vợ ta cũng từng thử."

    Người bật cười khi Diễm Dương thất bại đến lần thứ mười, lần này chị cắn nhầm lưỡi, đau ứa nước mắt, "Nàng từ bỏ sau một năm cố gắng.

    Cùng lắm, nàng cũng chỉ có thể nghe hiểu điều ta nói.

    Ta nghe nói con cũng vậy?

    Các bà vú đã phàn nàn chuyện đó nhiều năm trời."

    Đỏ mặt, chị quay mặt đi chỗ khác.

    Phò mã bật cười lớn hơn:

    "Có gì đâu mà xấu hổ!

    Con xem, bảy thằng quỷ nhỏ kia, có ai chịu kiên nhẫn học như con đâu!"

    "Làm sao người nói được tiếng Tân Lang ạ?"

    Vị ân nhân của chị hơi ngập ngừng.

    Rồi người nói, lau giọt lệ đọng nơi khóe mi chị:

    "Có một vị ân nhân này đã giúp ta."

    "Giúp thế nào ạ?"

    "Con là một đứa trẻ tò mò, đúng không?

    Lại đây nào."

    Người giang tay, và chị chui vào lòng người ngay lập tức, "Người ấy chính là đức vua.

    Hồi đó ta vừa cưới công chúa, chưa thạo tiếng, cũng chưa biết phong tục đất này thế nào, chính ngài đã dạy tiếng Tân Lang cho ta."

    Khi kể lại chuyện cũ, trong mắt của phò mã tràn ngập sự đau đớn, tới nỗi Diễm Dương cũng muốn khóc theo.

    Chị tự hứa sẽ cho người thấy rằng dù không có vị đế vương kia thì mình cũng có thể thành thạo ngôn ngữ của người.

    Và không bao giờ chị muốn thấy nỗi đau đó xuất hiện lại trên mặt phò mã nữa.

    Không bao giờ chị muốn khiến người phải thất vọng về mình.

    Diễm Dương cố gắng trở nên xuất sắc hơn bất cứ người anh em nào.

    Chị không chịu thua hay chùn bước.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    tết hạ nguyên, năm Ất Tỵ, kinh thành Tân Lang

    "Anh đến trễ!"

    Chu Diên kêu lên với một Tỏa Phong đang thở hổn hển, dốc sức chạy về phía họ.

    Khán đài đông nghẹt chừa đường cho anh không chỉ vì bộ áo gấm xanh anh đang mặc – đồng phục của các Quốc Tử – mà còn là bởi vết phỏng khiến người khác phải kinh hãi choán giữa gương mặt anh.

    Phò mã thường than thở đầy tiếc nuối rằng Tỏa Phong hẳn sẽ trông rất điển trai nếu không có thương tích tai hại đó.

    Anh lại chưa bao giờ bận tâm quá nhiều đến việc mình có "điển trai" hay không.

    Thẩm mỹ của phò mã không phải lúc nào cũng phù hợp với sở thích của các Quốc Tử.

    Người đã nửa dọa nạt nửa nài nỉ Chu Diên cắt bớt tóc từ hồi y bắt đầu nuôi dài quá vai, và giờ thì mái tóc ấy dài đến tận thắt lưng y, dài hơn cả tóc của Diễm Dương.

    "Dương đâu?"

    Tỏa Phong hỏi khi đếm đầu người – khi có quá nhiều thành viên trong gia đình, việc điểm danh trở thành một thói quen, "Tụi bây không rủ Dương à?"

    "Anh có điên không?"

    Hoài Hoan nhăn mặt, "Không nói tới chuyện Dương sẽ không bao giờ đồng ý trốn ra khỏi Quốc Tử Giám, cô em đó sẽ cho tụi mình nhừ đòn nếu biết tụi mình kéo mấy thằng này ra ngoài."

    Mấy thằng này tức là các Quốc Tử chưa thực hiện nghi lễ trưởng thành, đồng nghĩa với việc sự có mặt của chúng ở đây là điều cấm kỵ.

    Nhật Nam, Chân Định và Gia Hinh ngước lên, vẫy tay chào anh.

    Tỏa Phong không nghĩ chúng nên bỏ cô em gái duy nhất ở lại một mình, nhưng đồng thời, Hoài Hoan nói đúng, nên anh đành phải ngồi xuống.

    Chu Diên ân cần đưa khăn tay cho anh lau mồ hôi, anh lại để ý mắt y không cách nào dứt khỏi hai đấu sĩ ở dưới đấu trường.

    Lễ hội đấu vật là truyền thống của Tân Lang, được tổ chức vào tết hạ nguyên ngày rằm tháng mười hằng năm, vừa chúc mừng vụ lúa mới gặt, vừa nhắc nhở tầm quan trọng của việc rèn luyện thân thể để chống lại cái lạnh giá của mùa đông sắp đến gần.

    Các đấu sĩ được chọn thi đấu đều có lưng hùm, vai gấu, mồ hôi trên làn da phơi trần dưới nắng làm những thớ cơ trở nên bóng loáng, và đôi mắt của họ sáng ngời.

    Kèn trống rộn ràng trợ hứng cho người đến xem.

    Những đứa em của Tỏa Phong cũng bắt đầu cá cược, trò chuyện vô cùng sôi nổi và rôm rả.

    Điều khiến anh bất ngờ nhất – sau khi đã nhắm mắt bỏ qua cách Chu Diên chuyên chú ngắm mấy chàng đấu sĩ – là Vũ Ninh đã tham gia cùng họ.

    Tất nhiên cậu không bao giờ cho phép chính mình đặt cược cá độ.

    Nhưng cậu chẳng có vẻ gì là phản đối.

    Giống như Chu Diên, cậu khoanh tay nhìn thẳng xuống khán đài.

    Đó là một trận đấu tương đối hấp dẫn, anh phải thừa nhận, chính anh cũng không muốn rời mắt.

    Hai đấu sĩ bất phân thắng bại, chẳng những lực tấn công mạnh mẽ mà sức bền cũng rất tốt.

    Mỗi lần một trong hai chiếm thế thượng phong là khán đài vỡ òa.

    Tiếng cổ vũ còn lớn hơn nữa khi người kia lấy lại được thăng bằng.

    Đấu được một nửa thì đấu sĩ đóng khố màu xanh bị căng cơ, gào lên đau đớn, làm người đến xem hít vào những hơi lạnh.

    Chu Diên túm lấy tay anh.

    Tỏa Phong mới nói:

    "Đừng sợ.

    Giả vờ ấy mà."

    Quả nhiên, khi đấu sĩ đóng khố màu đỏ đến gần toan đỡ đối thủ của mình dậy, thì anh ta vung chân hất tung cát lên, bụi bay tá lả, người kia loạng choạng lùi lại, tay che trước mắt.

    Tranh thủ cơ hội đó, đấu sĩ khố xanh nhào lên tấn công.

    Nhật Nam gào:

    "Thằng hèn chơi xấu à!"

    Khắp khán đài cũng ồ lên dè bỉu.

    Hoài Hoan lại nói:

    "Binh bất yếm trá!"

    "Khổ nhục kế thì hay ho gì."

    Vũ Ninh lắc đầu, "Thế mà cứ tưởng sẽ được xem một trận giao đấu công bằng."

    "Đời là vậy đó em ơi."

    Tỏa Phong chép miệng.

    Chu Diên sốt ruột suỵt họ đi:

    "Im nào!"

    Đấu sĩ khố đỏ bị mất lợi thế, ngã lăn quay dưới đất chỉ với một cú huých của tên khố đỏ.

    Những ai cổ động cho phe đỏ thì hoan hô gã biết dùng mưu trí, trong khi phần còn lại thì phàn nàn.

    Chân Định quay sang Nhật Nam cùng càm ràm kết quả này, con két phụ họa với cậu, Tỏa Phong lại để ý Gia Hinh chẳng có phản ứng gì.

    Thằng bé ngồi xa anh nhất.

    Anh bèn lấy một trái cau trong túi ra ném sang chỗ nó.

    Nó ngước lên, anh vẫy nó sang.

    Gia Hinh ngồi ở tay phải của anh, mắt mở to nghe anh nói.

    "Em thấy trận vừa rồi thế nào?"

    Tỏa Phong hỏi.

    Dưới sàn đấu chuẩn bị vào trận thứ hai.

    Vẫn là hai đội xanh và đỏ nhưng đổi đấu sĩ khác.

    Có tổng cộng chín trận đấu, mỗi màn thắng tính một điểm, đội nào nhiều điểm hơn sẽ nhận được phần thưởng hậu hĩnh.

    "Cũng tạm ạ."

    Thằng bé đáp, "Em nghĩ đội xanh cùng đường rồi nên mới phải làm vậy.

    Chắc họ cần phải chiến thắng vì lý do nào đó."

    "Anh nghĩ em nói đúng.

    Đấu sĩ đội xanh lúc nãy là thành viên vừa được chiêu mộ năm nay, có thể anh ta muốn khẳng định mình có giá trị cho đội.

    Một số người chấp nhận cái giá đắt để đạt được mục tiêu của họ."

    Gia Hinh gật gù.

    Anh choàng vai thằng bé, cảm thấy nó lại gầy hơn lần trước anh về thăm.

    "Ăn uống đàng hoàng vào đi chứ."

    Tỏa Phong nắn vai em, thở dài, "Đã ốm đau dặt dẹo rồi còn biếng ăn."

    "Em có ăn mà."

    Gia Hinh chống chế.

    "Thế cơ á?

    Vậy trưa nay em ăn gì?"

    Tỏa Phong chẳng bao giờ biết được câu trả lời, vì ngay lúc đó, Hoài Hoan đã hốt hoảng kêu lên.

    Cả đám ngước lên nhìn theo hướng cậu chỉ – anh tưởng tim mình ngừng đập luôn, vì có một cô gái đang tiến về phía họ.

    Một cô gái mặc áo gấm xanh, tóc xoăn dài như những dây leo quắn tít trên giàn mướp, gương mặt xinh xắn, hoàng hôn tô màu cho đôi mắt phượng.

    Môi cô mím lại vì giận dữ.

    Các Quốc Tử bắt đầu xô đẩy nhau lùi về sau khi cô đến gần.

    Từ khúc Chu Diên trở sang phải thì kẹt cứng vì Vũ Ninh ngồi bên trái y không buồn động đậy.

    Chân Định nhanh trí chen vào giữa Hoài Hoan với Nhật Nam.

    Ngồi co rúm cạnh Tỏa Phong, Gia Hinh lén thở phào vì lúc nãy đã đổi chỗ.

    Cuối cùng người chịu trận là cái anh với bím tóc kỳ lạ lủng lẳng bên mái.

    "Dương!"

    Anh giả vờ ung dung, "Cô em đến xem đấu vật à?"

    "Đừng làm bộ làm tịch với tôi."

    Diễm Dương chống hông, giận dữ nói, "Ai cho phép anh ra đây?

    Còn kéo theo cả hai thằng này nữa?"

    Nhật Nam cười xòa:

    "Lỡ tới rồi thì ngồi xem cùng đi..."

    Chị giật phắt tay lại, nói lớn một cách nghiêm khắc:

    "Chúng ta không được phép tự ý rời khỏi Quốc Tử Giám!

    Đây là lần thứ mấy anh trốn đi rồi?

    Tự anh phá luật thì thôi, lại còn dụ dỗ Định với Hinh nữa?

    Anh có đáng mặt làm anh không?

    Đi về, cả ba người!"

    Đang toan cãi lại rằng chẳng phải chính cô cũng ra ngoài rồi đấy sao, Nhật Nam nhác thấy bóng mấy bà vú chăm sóc chúng, họ đều mang vẻ mặt quạu đeo, anh đành cứng họng.

    Chân Định và Gia Hinh không dám để cô điểm mặt gọi tên mình đã vội vàng đứng dậy rút lui.

    Diễm Dương đẩy lưng chúng đi, quay lại lườm anh một cái tóe lửa.

    Chẳng khó để nhận ra có nội gián trong đám này.

    Nhật Nam phẫn nộ dùng khẩu hình miệng mắng Vũ Ninh:

    "Thằng hèn."

    "Binh bất yếm trá."

    Cậu thì thầm đáp trả.

    Hoài Hoan phải cản hai người họ lại.

    Cả khán đài đang nhìn họ rồi.

    Nhật Nam đành ngậm bồ hòn làm ngọt, theo Diễm Dương về Quốc Tử Giám.

    Dưới sàn đấu, phần thắng tiếp tục thuộc về đội đỏ, lần này thì chẳng ai biết họ có thắng công bằng không hay lại chơi xấu.

    "Không vi phạm luật thì có tính là chơi xấu không?"

    Tỏa Phong đặt vấn đề, "Cậu nghĩ sao, Diên?"

    Y trả lời:

    "Chắc phải có một mức chấp nhận được.

    Tôi nghĩ miễn là đừng làm chuyện thất đức để mình phải hối hận."

    Vũ Ninh phản đối:

    "Nói như anh thì không ổn.

    Hối hận phụ thuộc vào tiêu chuẩn đạo đức của từng người.

    Luật phải tuyệt đối nghiêm minh, đặt tiêu chuẩn ở mức cao nhất, chứ không thể đánh cược vào nhân tính.

    Cũng giống như anh chơi đàn vậy, em ví dụ, nếu dây đàn không được điều chỉnh để tạo ra đúng nốt nhạc, cả bản nhạc sẽ hỏng mất.

    Điều tệ hơn nữa là nếu cái bất toàn cứ lan truyền và dần được chấp nhận rộng rãi, nó sẽ trở thành hình mẫu mới cho cái hoàn hảo, vậy có phải người người nhà nhà đều tha hóa đi không!"

    "Em có lý."

    Chu Diên mềm mỏng nói, "Ý anh Phong chỉ là sẽ có những vùng xám mà luật lệ không thể bao quát đến được.

    Luật không cấm, nhưng nếu có ai làm thì người khác sẽ thấy có vấn đề.

    Trong trường hợp ấy, liệu có thể gọi việc đó là sai hay đúng không?"

    Tỏa Phong hỏi Hoài Hoan nghĩ thế nào.

    "Em nghĩ phải xét tới hậu quả của việc vi phạm đó."

    Cậu đáp, "Vẫn với điều kiện là ở trong vùng xám nhé.

    Không để lại tác động nghiêm trọng, có mong muốn và khả năng bù đắp tổn thất thì giơ cao đánh khẽ, còn ảnh hưởng nặng quá thì buộc phải xử lý như người có tội."

    "Sao phải đợi đến lúc có hậu quả rồi mới xử?"

    Vũ Ninh tranh cãi, "Giả sử mục đích của đấu sĩ đội xanh kia chỉ là cản trở tầm nhìn đối thủ, nhưng cát bụi lại khiến người nọ bị đau mắt, thậm chí mù lòa thì sao?

    Phải quán triệt tư tưởng ngay từ đầu, không cho phép xuất hiện vùng xám!

    Chứ ai cũng khôn lỏi tìm cách lách luật thì làm sao kiểm soát nổi?"

    "Nhưng bản chất thế giới đã không phân biệt rạch ròi đúng sai rồi."

    Tỏa Phong nói, "Mày nhìn cái thái cực đồ đi – thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái diễn lục thập tứ quái – nguyên lý của vũ trụ vốn đã là trong âm có dương, trong dương có âm rồi.

    Mọi thứ chỉ có tính tương đối thôi, thịnh rồi thì tất suy, vậy nên không thể không xuất hiện vùng xám."

    Chu Diên tiếp lời:

    "Xám còn có trước đen và trắng ấy chứ.

    Vô cực sinh hữu cực mà."

    "Đấy!"

    Vũ Ninh thở hắt ra, càu nhàu:

    "Các anh cứ giữ tư tưởng này thì hỏng hết.

    Nếu là tao nhân mặc khách có thú ngâm vịnh thì cũng đành, chứ đằng này các anh đều là hậu duệ Thất Đẩu Tướng, được kỳ vọng trở thành rường cột nước nhà, mà không xem kỷ cương luật pháp ra gì, đất nước há chẳng loạn cào cào?"

    Hoài Hoan chán nản nói:

    "Hiếm hoi mới có ngày nghỉ đi xem đấu vật giải trí mà mấy người chi hồ giả dã cái gì vậy..."

    "Kỷ cương luật pháp cũng là do con người định ra đấy thôi."

    Tỏa Phong kiên nhẫn nói, "Chính vì con người không hoàn hảo nên luật pháp mới không bao quát được đến chỗ vùng xám, những cái chưa hẳn đúng mà cũng không thể nói là sai trái.

    Ý anh là, có phải nếu đảm bảo kiểm soát được hành vi của mình, con người có thể tự do hoạt động trong vùng xám?"

    Chu Diên nói trước khi Vũ Ninh lại tiếp tục tranh luận – họ đã hơi ồn ào rồi, và Hoài Hoan nói đúng, hôm nay đáng lẽ họ phải nghỉ ngơi:

    "Về cơ bản thì cái gì không bị cấm thì được làm."

    Hoài Hoan bồi thêm:

    "Đó là việc luật pháp trị nước.

    Nếu là việc binh thì như em nói đó – binh bất yếm trá.

    Trên chiến trường, tướng lĩnh có thể không nghe lệnh vua mà."

    "Em hy vọng anh không có ý định làm gì sai trái."

    Vũ Ninh lườm Tỏa Phong, "Giả sử các anh nói đúng, vùng xám căn cứ vào lương tâm và nhân tính mỗi người, thì mỗi người lại có định nghĩa về vùng xám khác nhau.

    Hầu hết sai lầm không thể được tha thứ đâu, dù có cố gắng bù đắp thế nào đi chăng nữa."
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Tám


    tháng chạp, năm Ất Tỵ, Quốc Tử Giám

    Dẫn đầu một lễ hội săn bắn là một việc có ý nghĩa rất lớn với các Quốc Tử.

    Không chỉ đơn giản là săn được con nai hay vài con thỏ rồi xong, mà đó là cơ hội để chứng minh với phò mã và bá quan văn võ rằng chúng đã sẵn sàng cho những thứ lớn lao hơn, thay vì chỉ quanh quẩn trong tòa Quốc Tử Giám này.

    Sau khi săn được con voi bốn mươi tuổi đã quấy nhiễu dân chúng lân cận nhiều năm – phá hoại nương rẫy, giẫm đạp gia cầm – Tỏa Phong lập tức được bổ nhiệm vào bộ Công, tham gia công trình tái quy hoạch khu chợ phía đông kinh thành.

    Ngay năm sau, với chiến tích là con gấu đen nặng gần hai tấn rưỡi, Chu Diên vào bộ Lễ, chủ trì phần tấu nhạc trong các nghi thức quan trọng của hoàng cung.

    Hoài Hoan săn được con heo rừng khổng lồ, cũng đi học việc ở bộ Binh, nghiên cứu các phái võ thất truyền, chỉnh lý thư tịch về binh pháp.

    Đến Vũ Ninh, hàng phục được con hồng mã bất trị làm thú cưỡi của mình, giờ cũng đã đến bộ Lại, đề nghị tra xét lại lý lịch và giám sát phẩm hạnh các quan, kịch liệt phản đối người "khiếm khuyết về đạo đức" làm quan trong triều.

    Nhưng năm nay có đến hai người cạnh tranh vị trí dẫn đầu trong lễ hội săn bắn.

    Đầu tiên là Diễm Dương.

    Theo ý Tỏa Phong thì khó mà nhìn thiếu nữ rực rỡ ấy bây giờ và liên tưởng tới đứa bé gầy nhom, u sầu trầm uất gần mười năm trước, lúc họ gặp nhau lần đầu tiên.

    Anh cả của các Quốc Tử còn nhớ khi đó cô em này chỉ chịu nói chuyện với phò mã và một đôi lời với mình cùng Chu Diên.

    Giờ thì Diễm Dương đã lớn thành một thiếu nữ ưu tú, thành tích học thuật luôn đứng đầu, cũng là người duy nhất trong số chúng thành thạo tiếng Túc Mộc.

    Còn một người nữa, đó là kẻ bị sao chổi ám suốt hai năm ròng, người đáng lẽ đã phải săn được chiến lợi phẩm của mình từ thuở hồng hoang rồi, mà đến giờ vẫn còn lận đận: Nhật Nam.

    Năm đầu tiên, đáng lẽ cậu sẽ cùng Hoài Hoan săn một con giao long, nhưng trước ngày đi săn một đêm cậu lại mắc phải bệnh thương hàn nguy kịch, mất mấy tháng trời mới chữa khỏi.

    Năm sau, cậu lại bị ngã ngựa gãy chân.

    Tính tình Nhật Nam thì hấp tấp.

    Cậu không muốn chờ thêm nữa.

    Quá tam ba bận, cậu cứ nói với Diễm Dương, thuyết phục cô em nhường cho mình lượt năm nay.

    Đáng ra cô đã nhường.

    Diễm Dương chưa bao giờ là một người vô lý, cũng như Nhật Nam không hề thô lỗ tới mức ra oai bắt người khác phải thuận theo mình như một tên ích kỷ.

    Chúng đã có thể thương lượng được rất dễ dàng.

    Nếu sức khỏe của phò mã vẫn được an khang.

    Thái độ của Diễm Dương thay đổi ngay lập tức.

    Cô cố gắng không tỏ ra thô lỗ, cô uyển chuyển từ chối những yêu cầu nói chuyện nghiêm túc của Nhật Nam, cô chần chừ.

    Nhưng ý định của cô thì đã rõ ràng.

    Diễm Dương muốn tìm cách chữa bệnh cho phò mã bằng mọi giá – kể cả khi điều đó có nghĩa là tin vào một phương thuốc mê tín dị đoan.

    Dịp sinh nhật hồi đầu năm nay, cô nhận được món quà là một sợi dây chuyền, mặt dây chuyền là hổ phách tạo hình đầu hổ.

    Hổ phách, trong cả truyền thuyết Tân Lang lẫn Túc Mộc, là một thứ bùa hộ mệnh linh thiêng.

    Nếu hổ phách được nhuốm trong máu tươi của con hổ dữ từng ăn thịt người thì sẽ trở thành bài thuốc trường sinh.

    Chính công chúa Xích Anh, người vợ xấu số của phò mã, cũng từng đeo một mặt dây chuyền như vậy bên người, đó là món quà của tiên đế dành cho con gái mình.

    Không nghi ngờ gì việc Diễm Dương muốn săn chúa sơn lâm trong dịp lễ hội săn bắn này để làm điều đó, rồi dâng mặt dây chuyền này cho phò mã.

    Suy cho cùng, người vẫn là người cha duy nhất của chúng.

    Diễm Dương sùng bái người, hơn bất cứ anh em nào khác.

    Nhưng đó không phải lý do đủ để thuyết phục Nhật Nam.

    "Đó là phép phù thủy!"

    Cậu chất vấn Dương như vậy ở giữa bàn ăn chiều đó, "Cô em thật sự nghĩ phò mã sẽ thấy vui nếu được cứu bởi thứ ma thuật đã giết chết vua và hoàng hậu của đất nước này, giết chết vợ của người?"

    Vẻ mặt của Diễm Dương lúc đó lặng lẽ như một mặt hồ vào mùa đông, nhưng dưới khăn trải bàn, tay cô bấu chặt vào lớp áo vải gấm xanh đậm – đồng phục của các Quốc Tử – môi mím chặt.

    "Thôi đi, Nam."

    Chu Diên nhíu mày, khuyên nhủ, "Có phải chuyện gì nghiêm trọng đâu?"

    "Không nghiêm trọng?

    Phù thủy là giống loài kinh tởm làm ô uế mảnh đất này, vấy bẩn lên lòng bao dung đức độ của hoàng gia!

    Phò mã dành gần mười sáu năm qua để diệt sạch bóng thế lực đó để trả thù cho gia đình mình, vậy mà giờ nó còn định đi theo con đường tà ma dị giáo này...!

    Các anh bàng quan vậy thôi sao?"

    Tỏa Phong cố tình cao giọng:

    "Nam, đừng có nói nữa..."

    "Đó là sự thật!

    Nó còn chẳng buồn phản đối..."

    "Tại sao tôi phải phản đối?"

    Diễm Dương lên tiếng, chẳng còn vẻ ấm ức gì trên gương mặt thanh tú nữa, mà trái ngược, đôi mắt màu hoàng hôn long lên vì cơn giận dữ, giọng cô đanh lại:

    "Anh nói tôi là đứa vô ơn bội nghĩa, đúng chứ?

    Tôi ghê tởm phù thủy như bất cứ ai trong căn phòng này.

    Nhưng tình trạng của phò mã bây giờ không còn chỗ cho sự chần chừ nữa rồi – anh có biết bao nhiêu thần y, đại phu, đã đến thăm khám cho người không?

    Có ai kê được phương thuốc nào hiệu quả chưa?

    Người lâm cơn nguy kịch, kẻ làm con như tôi lại không thể ở bên giường bệnh chăm sóc ngày đêm...

    Giờ tôi chỉ có duy nhất một cách này thôi, chính các vị vua của Tân Lang cũng từng làm phép này, tại sao tôi không được thử?"

    Từ phía đầu bàn, Tỏa Phong có thể thấy hai đứa út co rúm lại theo từng lời Diễm Dương nói.

    Vẻ mặt của những đứa lớn hơn cũng chẳng khá khẩm gì hơn.

    Chu Diên liên tục khều chân anh, bảo anh ngăn cuộc tranh cãi này lại.

    Hoài Hoan và Vũ Ninh liếc nhau với sự bối rối rõ rệt trên mặt – những điều cô nói đều rất hợp tình hợp lý, nhưng dẫu sao...

    Đó vẫn là một trò ma thuật.

    Bài học đầu tiên của các Quốc Tử khi tới Quốc Tử Giám này là phân biệt ma thuật với tiên thuật.

    Năng lực thao túng lửa của hoàng thất Tân Lang là thừa kế từ Hỏa Thần, đó là tiên thuật, thứ phép thuật cao quý và thuần khiết nhất trên đời.

    Còn ma thuật lại là một câu chuyện khác.

    "Cái giá của việc dung túng cho ma thuật lộng hành còn chưa đủ rõ với cô em sao?

    Cô em ngây thơ tới mức tôi thấy tội nghiệp luôn đấy!"

    Diễm Dương tức tới nỗi bật cười:

    "Anh nên thấy tội nghiệp cho chính mình.

    Nếu tôi nhường cho anh năm nay, kết quả sẽ là gì nào?

    Liệu anh có biết anh muốn làm gì không?

    Anh sống ngày hôm nay y hệt ngày hôm qua, chưa từng nghĩ về tương lai; anh tỏ vẻ nôn nóng muốn đuổi kịp người khác chỉ vì anh không muốn bị coi là thua thiệt thôi, chứ anh nào có mục tiêu hay lý tưởng vĩ đại gì đâu!

    Các anh lớn đều làm đúng cái mà họ đã luôn hướng tới, tôi cũng sẽ như vậy – còn anh?

    Anh sẽ chẳng tiến bộ gì hơn cái bộ dạng thảm hại bây giờ đâu.

    Cố gắng để làm gì nữa?"

    Nhật Nam mỉa mai:

    "Cô em đọc tôi như một cuốn sách, tôi cũng biết chính xác điều cô em đang nghĩ thôi.

    Cô em bất chấp như vậy chẳng qua là vì sợ nếu không bấu víu lấy tình cha con với phò mã, cô em sẽ có ngày bị vứt trở lại cái chốn người cứu cô em ra..."

    "Nam!"

    "Mày điên rồi..."

    "Anh có thôi đi không?"

    Vũ Ninh lớn tiếng hòng át cậu đi.

    Cậu vẫn gân cổ nói:

    "Cô em sẽ mãi mãi sống trong sự sợ hãi bị bỏ rơi đó thôi!

    Không có quyền lực nào đủ để cô em thấy yên tâm đến cuối đời hết – đây là một vòng luẩn quẩn, tôi nói cho mà biết, cô em sẽ không bao giờ ngừng đi tìm kiếm quyền lực, và cho dù có được tán thưởng bao nhiêu, hay yêu thương bao nhiêu, cô em cũng sẽ thấy bất mãn.

    Cái kết của cô em sẽ là, và chỉ có, sự cô độc mà thôi."

    Lời nói không còn tác dụng nữa.

    Tỏa Phong đẩy ghế dậy, đi sang, kéo ngược Nhật Nam ra sau.

    Phía bên kia, Chu Diên cũng đang làm điều tương tự, y đứng chắn trước mặt Diễm Dương, đưa lưng về phía anh.

    Tất cả các Quốc Tử đều đã đứng dậy.

    Anh nghe Chu Diên đang an ủi em gái.

    Nó không đáng đâu.

    Tỏa Phong nghĩ điều tốt nhất bấy giờ là đánh cho thằng nhãi này một trận rồi cấm cả hai đứa đi săn luôn cho lành.

    Cuối cùng, Diễm Dương dụi mắt, bỏ về phòng.

    Nhật Nam cũng chạy ra khỏi phòng ăn, Hoài Hoan chạy theo sau cậu.

    Đó là đêm duy nhất tòa Quốc Tử Giám chìm trong sự im ắng nặng nề.

    Chúng chưa từng lớn tiếng thế này bao giờ – lôi hết nỗi đau của đối phương ra rồi nhục mạ nó.

    Những cuộc tranh cãi trước chỉ quanh quẩn trong chuyện mày ngáy ồn quá tao không ngủ được, hoặc ai lấy đồ ai mà không xin phép.

    Tỏa Phong với Chu Diên đưa mắt nhìn nhau, thở dài bất lực.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Màn đêm tịch mịch.

    Tiếng đàn theo gió bắc thổi đến bên tai Tỏa Phong, nghe như lời khóc than lại như thở dài, nhất thời không đoán được, anh chỉ đành kéo rèm cửa sổ lên, nhìn vị cầm sư ngồi bên cái bàn thấp.

    Bốn mắt ngó nhau, dường như có vô vàn điều muốn nói, lại không cần thốt ra lời nào.

    Trước giờ, họ đã luôn là vậy.

    Tỏa Phong leo cửa sổ vào, trong phòng tối om, chỉ có ngọn đèn trên bàn là nguồn sáng duy nhất, chiếu rọi gương mặt vị cầm sư nọ.

    Tóc y đen như màn đêm, màu mắt nhạt tựa giọt trăng, dung mạo đẹp như ngọc quý.

    Ngón tay thon dài lướt qua dây đàn nguyệt ôm trong lòng, giai điệu là vô vàn tâm sự trút vào những hò xự xang xê cống đó.

    Chu Diên thấy anh vào phòng mình bằng cách thức lỗ mãng đó cũng không ý kiến gì, rất tự nhiên mà nhích vào một chút, nhường chỗ cho anh.

    Tỏa Phong ngồi xuống cạnh y.

    Vị cầm sư tiếp tục đàn, anh nghiêm túc lắng nghe.

    Khúc nhạc dừng lại, anh bèn nói:

    "Cậu đàn sai rồi."

    Chu Diên thích âm luật, từ bé đã mò đến chỗ các cầm sư trong cung học hỏi, nào sáo trúc nào đàn tranh, nào đàn nhị nào trống cơm, không món nào là không thành thạo.

    Y biên soạn nhiều điệu nhạc, thường trình diễn trong những buổi lễ tết, cúng tế, nhưng riêng khúc ca vừa nãy, y chỉ đàn cho các anh em nghe.

    Tỏa Phong đã biết tới khúc nhạc này từ lúc nó mới là những nốt nhạc vô thưởng vô phạt.

    Nay khác đi dù chỉ một nốt, cũng không lý nào không nhận ra.

    Nhưng Chu Diên lắc đầu:

    "Không hề."

    "Sao tớ cảm giác nghe khác mọi ngày thế nhỉ?"

    Tỏa Phong thắc mắc.

    Y điềm nhiên đáp:

    "Thời thế thay đổi, khúc nhạc này cũng phải sửa lại thôi, thế mới gọi là hợp tình hợp cảnh.

    Giống như Nhật Nam với Diễm Dương hồi nãy vậy."

    Anh lườm y, rồi quay mặt đi, hừ một tiếng.

    Chu Diên thì không buồn ngó anh.

    Y vặn đèn cho sáng lên rồi đặt ngang đàn nguyệt lên bàn, vặn lỏng trục dây rồi tháo hẳn dây ra, thay dây mới vào.

    Đoạn, y lại ôm đàn vào lòng, đầu ngón tay vê trên dây đàn, lắng nghe âm sắc, theo đó chỉnh độ căng của trục.

    Tự dưng Tỏa Phong thấy mỏi mắt, bèn bảo Chu Diên:

    "Đừng chỉnh nữa, để sáng mai rồi làm, kẻo hỏng mắt bây giờ."

    "Anh biết là tôi không cần đèn mà."

    "Ừ thì thế..."

    Anh chồm sang, nhẹ nhàng chạm vào tay y, "Nghe lời tớ một hôm xem nào."

    Vị cầm sư dừng tay, cũng nhìn anh.

    "Cậu nghĩ tụi nó giận nhau thật, hay là..."

    Tỏa Phong nhắc chuyện hồi nãy, băn khoăn.

    Cậu thở dài, nói:

    "Thằng Nam với cái Dương đều là bọn cứng đầu cả.

    Chúng nó không phải tôi với anh.

    Có điều, cũng không thể nói Nhật Nam giận vô cớ được... sao cái Dương lại nghĩ đến chuyện dùng máu tươi của hổ dữ để làm phương thuốc cho phò mã?

    Đó là phép phù thủy cơ mà."

    Tỏa Phong nhún vai, đáp:

    "Có lẽ bằng một cách nào đó... cậu hiểu ý tớ không, con bé vẫn có linh tính với những thứ ma thuật này.

    Đâu phải tự dưng mà trước giờ chỉ có đàn bà con gái là kế thừa được phép phù thủy."

    "Ý anh là dòng máu Tân Lang định sẵn chúng ta sẽ luôn hướng về điều đó?"

    "Ý tớ chính xác là như vậy – tớ không ngại nói điều đó đâu."

    Chu Diên hít một hơi lạnh, bất giác ngó ra ngoài hiên.

    Nhưng Tỏa Phong đỡ bầu má y kéo về.

    Cây đàn nguyệt rơi ngang giữa đùi họ.

    Vị cầm sư khẽ rủ mi, ánh mắt nửa phân vân nửa lo lắng.

    "Tớ chưa bao giờ tin rằng cách duy nhất để trả thù cho hoàng thất là tận diệt phù thủy trên mảnh đất này.

    Cậu biết là cậu cũng nghĩ thế."

    "Anh điên rồi."

    Chu Diên rít khẽ, "Lỡ như chúng vẫn còn..."

    "Cậu nghĩ lúc nãy tớ ra ban công đứng hóng gió à?"

    Tỏa Phong bật cười, vỗ vỗ gò má lạnh ngắt của y, "Không sao đâu, tớ xua bọn chúng đi cả rồi."

    Bọn chúng là đôi tai và cặp mắt của các quan Túc Mộc, ẩn trong hình hài của những con ong mật vô hại.

    Giấm trộn với bột tỏi, rắc quanh nhà, tự khắc chúng sợ mà không dám đến gần.

    Nhưng trước khi tìm ra bí quyết này, Tỏa Phong với Chu Diên đã phải trả cái giá rất đắt.

    Y vẫn còn sợ sệt trước cảnh tượng những gì nói ra bị nghe được.

    Tòa Quốc Tử Giám là một nơi biệt lập, không có nghĩa là người bên ngoài không biết được sự tình bên trong.

    Ít ra ở đây vẫn đỡ hơn hoàng cung.

    Trong hoàng cung, chẳng có bức tường nào là đủ dày, không một cánh cửa nào là đáng tin cậy.

    Dù là một lời thì thầm cũng có thể bị phát giác.

    Không được phép nhắc về gia đình trước đây.

    Tò mò về thế thái dân tình là điều cấm kỵ.

    Nói đỡ cho ma thuật hay phù thủy đồng nghĩa với những hình phạt khắt khe.

    Những đứa nhỏ hơn không có đủ ký ức để bép xép, Tỏa Phong với Chu Diên thì khác.

    Anh đã mười một tuổi khi được đưa vào hoàng cung, y chỉ nhỏ hơn anh một tuổi.

    Anh còn nhớ mình từng sinh sống giữa những rừng cây hoa ban bát ngát, đồi trải dài đến cuối chân trời, gió lộng mang theo tiếng kèn môi.

    Còn Chu Diên nói quê y ở vùng sông nước, ở đó người ta không cưỡi ngựa hay đi xe, mà chèo thuyền.

    Một chiếc thuyền con có thể đi đến bất cứ đâu, có thể chở bất cứ thứ gì.

    Khi còn bé, họ chẳng thể nói về điều gì khác ngoài quê hương.

    Họ biết cha ruột của mình, các vị tướng quân anh dũng, đã qua đời.

    Mẹ họ vẫn còn sống.

    Họ đã bị đoạt khỏi vòng tay của người mẹ, đưa đến đây với mỹ danh nghĩa tử, thực chất là con tin.

    Phò mã thường xuyên vắng mặt, người đi khắp nơi để thiêu đốt đền miếu và lùng sục đến sợi tóc cuối cùng của giống nòi phù thủy.

    Trong cung, lão thái giám già nắm hết mọi quyền hành – Tân Lang không có lệ dùng hoạn quan, lão là thân tín được phò mã đem từ Túc Mộc sang.

    Những đứa nào ngoan ngoãn sẽ được thưởng.

    Còn bọn "ăn cây táo rào cây sung" như hai người họ thì chỉ có nước bị tống vào phòng tối, với cái bụng đói và cổ họng khô rát, cho đến khi chịu đầu hàng, hứa sẽ ngoan ngoãn ngậm miệng lại vĩnh viễn.

    Chu Diên bắt đầu học đàn từ đó.

    Để trút những nỗi lòng không thể giãi bày.

    Để gửi gắm thứ tình cảm không được phép tồn tại.

    Tỏa Phong thì học cách lắng nghe tiếng đàn của y.

    Nên họ hiểu Diễm Dương hơn những đứa khác.

    Họ đã từng là Diễm Dương, đứa trẻ bất lực trong biển chỉ trích và buộc tội ấy.

    Tỏa Phong còn nhớ phải đến lúc Diễm Dương được đưa đến chỗ họ, phò mã mới ở lại luôn trong cung, và các quan Túc Mộc kia dần im lặng.

    Những bóng áo gấm trắng tựa hồn ma ấy vắng dần, cho tới một lúc anh giật mình ngước lên và nhận ra họ không còn ở cạnh các Quốc Tử nữa.

    Họ bị đẩy ra ngoài, nhận thay phò mã cái trách nhiệm tiêu diệt phù thủy, còn người thì thay thế họ.

    Gông cùm trên cổ Tỏa Phong với Chu Diên tưởng như đã được gỡ ra, nhưng bên cạnh phò mã vẫn còn một vị phải dè chừng.

    Vị này là quân sư đắc lực của phò mã, vốn là thái giám thân cận của người hồi còn là hoàng tử ở Túc Mộc, sau thảm án năm Kỷ Sửu thì được phái sang phò tá.

    Ông ta nuôi những con ong có thể truyền lại mọi lời nói và chữ viết cho mình.

    May mắn là chúng không hiểu âm luật, nên hai người vẫn còn một chút hy vọng nhỏ nhoi.

    Khúc nhạc Chu Diên vừa đàn là một hy vọng như vậy.

    Tỏa Phong áp môi mình bên tóc mai y, lời nói như nài nỉ, tay vòng qua ôm siết lấy vai vị cầm sư:

    "Đừng sửa khúc nhạc này.

    Xin cậu đấy."

    Trong tòa Quốc Tử Giám này, hay đằng sau những bức tường cung điện, âm nhạc của Chu Diên là thứ duy nhất giống với tiếng gió thổi trên đại ngàn mà Tỏa Phong còn nhớ được.

    Thời thế có thể thay đổi tùy thích, anh kệ xác nó, nhưng thứ này...

    Chỉ riêng khúc nhạc này là không thể.

    Chu Diên tựa cằm bên vai anh, khẽ gật đầu.

    Đêm đó, anh ngủ lại phòng y.

    Mái tóc dài của y thơm một mùi hương bạc hà và vỏ bưởi, xõa tán loạn trên gối, vài lọn tóc rơi gần mũi Tỏa Phong.

    Anh lặng lẽ hít sâu, bỗng thấy lòng êm ái hơn.

    "Anh có tâm sự gì sao?"

    Tỏa Phong trở mình, nhìn lên trần nhà tối om.

    Người bạn của anh tất nhiên là không hài lòng với sự im lặng đó.

    Y quay mặt Tỏa Phong sang nhìn mình.

    Giữa màn đêm, bằng một cách thần kỳ nào đó, đôi mắt nâu của y vẫn lấp lánh sáng.

    Y lướt mấy ngón tay khẳng khiu thoáng qua những mảng da nham nhở chi chít sẹo lồi trên mặt anh.

    Tỏa Phong bị chúng sau một tai nạn lúc anh còn nhỏ.

    Vết thương khiến anh ốm nặng, mà mẹ anh cũng mất sau đó không lâu, anh chẳng còn ký ức gì về nó nữa.

    "Có chuyện gì mà anh không nói được với ai..."

    Chu Diên thì thầm, đôi mắt đẹp cụp xuống, "Kể cả tôi?"

    "Không phải tớ muốn giấu cậu."

    Anh nói, "Nhưng chuyện này chính tớ cũng chưa chắc chắn, sợ nói ra rồi lại khiến cậu bận lòng."

    "Rốt cuộc là chuyện gì mới được?"

    Khi phò mã đổ bệnh hồi hai tháng trước, quan trường rúng động.

    Có người nói phò mã đổ bệnh vì lao lực chuyện triều chính, cũng có người nói trong kinh thành có kẻ làm phép phù thủy, ếm bùa nguyền rủa, mưu tính hãm hại phò mã.

    Với tin tình báo từ những con ong mật, lão thái giám triệu tập đoàn binh áo gấm trắng để bắt con gái nhà thị lang, còn những vị quan người Tân Lang thì xôn xao bàn tán chuyện lập trữ quân đề phòng bất trắc.

    Một vị Giám Quốc Quân.

    Tỏa Phong nói:

    "Huyết mạch hoàng thất đã tận, các hạ tạm thời cai quản giang sơn này không thể lâu dài, sớm muộn gì cũng cần người lên thay.

    Tân Lang coi trọng con gái nhưng cũng có tục lệ cho con trưởng thừa kế; tớ vừa là người lớn nhất trong số chúng ta, vừa là hậu duệ của Hoài Viễn tướng quân đứng đầu bốn vị quốc công lẫn Thất Đẩu Tướng.

    Các vị đồng liêu với tớ đã nói... tớ có khả năng đó."

    "Tôi cũng không biết ngoài anh ra thì còn ai xứng đáng hơn."

    Chu Diên chân thành nói, "Nhưng anh phải cẩn thận.

    Với thân phận và địa vị của anh bây giờ, những người chủ động kết giao với anh đều có mục đích riêng của họ, được mấy người thật lòng lo nghĩ cho tương lai Tân Lang?

    Đừng để bị cuốn vào âm mưu tính toán của họ, Phong à."

    "Mình nhớ rồi."

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Gia Hinh không tài nào ngủ được.

    Thằng bé đã lăn lộn trên giường suốt một canh giờ rồi.

    Khi các anh em chào nhau về phòng, nó cũng giả vờ đóng cửa, thổi tắt đèn làm như đã ngủ.

    Đến giữa canh hai, thấy ngoài hành lang đã im ắng, Gia Hinh bèn mò sang phòng Diễm Dương.

    Nó xỏ dép và cầm theo đèn dầu, thử gõ cửa một lần, rồi hai lần.

    Đến lần thứ ba, tiếng chị vọng ra:

    "Đi chỗ khác đi."

    Nó vội nói:

    "Chị ơi, em đây mà."

    "Hinh?"

    Diễm Dương ngờ vực, "Em sang đây làm gì?"

    "...Em sợ chị buồn.

    Em vào được không?"

    Khoảng thời gian giữa lúc nó hỏi câu đó tới khi chị mở cửa dài tưởng như vô tận.

    Ánh đèn lập lòe từ cây đèn của Gia Hinh rọi sáng một nửa gương mặt Diễm Dương, ngay tức khắc, nó thấy mắt chị sưng húp còn mũi chị ửng đỏ.

    Nó vội vã đặt cây đèn xuống cái bàn nhỏ cạnh cửa rồi ôm lấy chị.

    Ra giêng, Gia Hinh sẽ mười bảy tuổi, nhưng nó vẫn thấp hơn Diễm Dương nửa cái đầu.

    Chị vẫn có thể giả vờ như nó còn bé xíu và dụi mặt vào mái tóc xoăn mềm của nó.

    Hai chị em đứng vậy một lúc, đến khi nhịp thở của chị bình tĩnh lại, họ buông nhau ra, và Diễm Dương gượng một nụ cười ngại ngùng.

    Gia Hinh khép cửa lại, đỡ chị ngồi xuống giường, còn nó ngồi dưới sàn cạnh chân chị.

    Phòng chị có một bia ngắm bị ghim chi chít mũi tên.

    Nó đưa khăn tay của mình cho chị.

    "Cảm ơn em."

    Diễm Dương bật cười, vẫn còn nghe nghẹn ngào.

    "Chị thấy đỡ hơn chưa ạ?

    Chị...

    định thế nào?"

    Diễm Dương nói chị không biết.

    "Nếu nhất quyết làm theo ý chị thì chuyện sẽ căng thẳng hơn nữa.

    Nhưng chị cũng không muốn theo ý anh ta."

    Chị xoa đầu nó, giọng mềm hẳn đi, "Không nên để em nghe mấy chuyện này mới phải."

    Tới năm của mình, nó sẽ chẳng ham hố gì trò săn bắn này đâu, mà hẳn là mọi người cũng sẽ thông cảm với nó để cho nó miễn.

    Sinh thiếu tháng nên nó ốm yếu hơn tất cả các Quốc Tử khác, dăm bữa nửa tháng lại bệnh vặt, chuyển mùa thì không cúm cũng cảm.

    Quơ kiếm giương cung thôi thằng bé đã hụt hơi rồi chứ đừng nói tới đi săn chúa tể sơn lâm hay giao long thủy quái.

    Những lúc nó đổ bệnh, Diễm Dương luôn là người kề cạnh chăm sóc nó.

    Gia Hinh đếm không xuể đã bao nhiêu lần nó thức dậy lúc nửa đêm, với cái đầu nhức ong ong cùng lớp áo ngủ ướt đẫm mồ hôi, và thấy chị ngồi bên cạnh mình, tựa vào đầu giường thiếp đi.

    Mái tóc gợn sóng của chị xõa dài xuống hết lưng và cọ vào tận má thằng bé.

    Chị mở mắt ngay khi nó gọi.

    Luôn luôn có một tách trà ấm đợi sẵn.

    Diễm Dương sẽ xoa đầu nó rồi hát ru dỗ nó ngủ lại.

    Thi thoảng nó thấy các anh khác, Chu Diên chẳng hạn, nhưng hầu hết thời gian chị là người chăm sóc nó.

    "Chị không cần lúc nào cũng nghĩ cho em đâu ạ."

    Gia Hinh ngước lên nhìn chị, "Cứ làm điều chị thấy tốt nhất thôi.

    Em sẽ luôn ủng hộ chị mà."

    Diễm Dương đã luôn cảm giác thằng út trông giống như một loài hồ ly.

    Chóp mũi nó hểnh, gò má nhô lên, đuôi mắt hơi xếch, chẳng khác nào con cáo thành tinh, mà lúc nào nó cũng có thể nói đúng những gì chị muốn nghe.

    Khi nó ngồi bên chân chị thế này, chị nghĩ mình sẵn sàng làm tất cả vì nó.

    Chị gặp Gia Hinh khi nó còn quá nhỏ.

    Thằng bé là đứa duy nhất lúc đó – và tới tận bây giờ – nhỏ người hơn chị, có cái gì đó trong chị tự động muốn bảo bọc nó.

    Nó bám theo chị như một cái đuôi.

    Khi tất cả những người khác có mối bận tâm của riêng họ, chỉ có nó luôn tìm tới chị, giống như bây giờ.

    Giá mà Nhật Nam bằng một nửa thằng bé này.

    Nếu anh chịu dẹp cái tôi bự bằng con voi của mình đi một lúc thôi...

    Nhưng chính chị cũng có làm được điều đó đâu.

    Nhật Nam là một thằng khốn – chị nghĩ vậy từ những ngày đầu tiên họ gặp mặt.

    Chị ghét cái cách cằm anh lúc nào cũng hất lên trời.

    Chị ghét mái tóc bù xù như bờm sư tử của anh và cả lọn tóc anh cố tình để dài rồi tết lại, cứ đong đưa lủng lẳng bên tai.

    Chị ghét đôi mắt xếch cùng khóe môi cong cớn đó nữa.

    Chị ghét cả sự thật là bất chấp tất cả những điều đó, anh vẫn luôn có thể dễ dàng khiến chị cười, chỉ bằng một câu pha trò vu vơ.

    Diễm Dương vò tóc thằng bé, gằn từng chữ một:

    "Hứa với chị là lớn lên em sẽ không trở thành một thằng khốn như Nhật Nam đi."

    "..."

    "Hửm?"

    "Hai người làm lành đi mà."

    Nó tha thiết nói, "Anh Phong với anh Diên có bao giờ xích mích như vậy đâu!"

    Diễm Dương đảo mắt, một lần nữa nhận ra hai tuổi vẫn là một khoảng cách tuổi tác rất lớn.

    "Em không hiểu đâu."

    Chị im lặng rất lâu.

    Nó tự hỏi trong đôi mắt màu ráng chiều đó đang chất chứa tâm sự gì.

    Nó tự hỏi tại sao chị luôn có nhiều suy nghĩ và bận lòng đến vậy.

    Cách bày trí trong căn phòng của chị là dường như không thay đổi gì hơn ngày đầu tiên chị dọn tới, cứ như chị chỉ là một vị khách tạm trú vậy.

    Cái giường này là thứ duy nhất trông giống vật sở hữu của riêng chị.

    Áo quần, khăn choàng áo khoác, bút giấy, găng tay và giày, mấy cuốn sách chị thích,...

    đều ở trên đây.

    Căn phòng của chị ở hoàng cung – nơi chúng quay lại mỗi dịp Tết đến xuân về – tràn ngập sức sống, đẹp đẽ hơn nơi này nhiều.

    Các Quốc Tử thì ngược lại.

    Chúng thích ở Quốc Tử Giám hơn.

    Bỗng dưng, cửa phòng khép hờ bị đẩy vào.

    Gương mặt bí xị của Nhật Nam được ánh sáng từ cây đèn lúc nãy Gia Hinh đem theo soi rọi.

    Anh ngó Diễm Dương, chị đứng dậy.

    "Cứ chọn con mồi mà cô em muốn."

    Anh nói cụt lủn, "Tôi không quan tâm."

    Chị hé môi, rồi cũng chẳng nói gì nữa.

    Gia Hinh ngó từ người này tới người khác, ấp úng:

    "Vậy... hai anh chị... hòa nhé?"

    Một cơn bão ập tới.

    "Ai mượn mày xía vào?"

    "Không phải việc của em."

    "Khuya rồi còn chưa về phòng ngủ?"

    "Đi về đi."

    Mím môi ấm ức, nó lật đật đứng dậy, cầm theo cây đèn rồi lách qua người Nhật Nam để rời khỏi phòng Diễm Dương.

    Anh đóng cửa lại sau lưng nó.

    Bước đi khệnh khạng, anh đi cùng nó một quãng đường.

    Rồi tới trước cửa phòng mình – ngay bên cạnh phòng chị – anh quay qua hỏi thằng bé:

    "Chị em mày... có nói gì tới tao không?"

    Gia Hinh nhìn anh chằm chằm.

    "Anh nghĩ có không?"

    "Vậy chị mày nói gì?"

    "Em tưởng anh không mượn em xía vào."

    Cổ anh đỏ như tôm luộc, xua tay đuổi nó đi.

    Cửa phòng anh đóng sầm lại một cách tức giận.

    Gia Hinh không về phòng mình, mà nó xuống tầng bốn, nằm dài trên cái trường kỷ bằng gỗ lim.

    Mây đen tối sầm trên trần nhà, chẳng có gì để chiếu sáng.
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Chín


    Lúc họ vừa dọn tới, anh Chu Diên nói, hồi anh còn bé, tòa Quốc Tử Giám khác bây giờ rất nhiều.

    Khi đó hình như nó còn không được gọi là Quốc Tử Giám mà có một cái tên khác: Chúc Thiên Các.

    Tỏa Phong, dưới sự nài nỉ của Gia Hinh, đã vẽ lại nó theo lời mô tả của Chu Diên – vẫn là một tòa nhà cao có hình trụ thôi, nhưng thay vì bảy tầng thì có tới mười hai tầng; sự khác biệt chưa dừng lại ở đó.

    Nơi bây giờ là thao trường và chuồng ngựa trước đây trồng rất nhiều thảo dược.

    Trên nóc nhà không phải tượng rồng bay mà là một con phượng hoàng sải cánh.

    Trước cổng chính có hai bức tượng nửa giống chó nửa giống sư tử.

    Anh hai nói anh chỉ được nhìn từ bên ngoài thôi.

    Bên trong Chúc Thiên Các là nơi ở của các phù thủy.

    "Không phải tất cả phù thủy."

    Anh đính chính, "Mà là một số những phù thủy ưu tú nhất Tân Lang.

    Nơi này từng thuộc về công chúa Xích Anh, ngài và các phù thủy ấy nghiên cứu phép thuật trong dân gian, tại đây."

    Gia Hinh mất ngủ mấy đêm liền khi biết nơi nó sắp dành nhiều năm sắp tới để sinh sống và học hành từng là địa bàn của phù thủy – những người phụ nữ với khả năng điều khiển trí óc con người, khiến cho kinh mạch nó tắc nghẽn, có thể hô mưa gọi gió nhấn chìm nó và tạo ra những cơn động đất kinh hoàng; câu chuyện mà phò mã kể cho nó từ trước cả khi nó biết nói, rằng dòng máu hậu duệ Hỏa Thần đã đổ xuống bởi sự phản bội.

    Rất nhiều anh em khác của nó cũng không ngủ được.

    Họ từng ôm chăn gối xuống phòng sinh hoạt chung ở tầng bốn – cả một tầng, bích họa và kệ sách kê sát bức tường vòng cung, bàn trà và trường kỷ kê ở tâm – dựa vào nhau mà ngủ, không chịu đi đâu khác nếu không có nhau.

    Phải tới hai ba tuần sau các Quốc Tử mới dám về phòng ngủ riêng.

    Tầng trệt là nơi tiếp khách và tế lễ mỗi dịp lễ Tết, bày tượng Hỏa Thần.

    Tầng một là nơi chúng học.

    Tầng hai có thư viện, hàng chục kệ sách xếp loạn xạ như mê cung, rất nhiều sách tiếng Túc Mộc, nhưng lèo tèo vài cuốn viết bằng chữ Tân Lang, chỉ có tác dụng cho chúng nhận mặt chữ.

    Tầng ba là nơi chúng ăn uống.

    Từ tầng năm trở lên mới là nơi nghỉ ngơi.

    Tầng trên cùng là phòng của hai anh lớn.

    Tầng sáu, phòng Hoài Hoan, Nhật Nam và Diễm Dương.

    Vũ Ninh, Chân Định và thằng bé ở tầng năm.

    Ánh mắt nó dừng lại ở cửa phòng người chị duy nhất và phòng anh tư ngay bên cạnh.

    Nếu xếp theo tuổi thì đáng lẽ chị với Vũ Ninh phải đổi cho nhau, nhưng anh năm là người mà chúng đùa rằng song thân của anh hẳn là Quy Củ và Luật Lệ đã không thể chịu nổi sự ồn ào của hai người kia, nên Diễm Dương thế mạng.

    Chị cũng chẳng khoái gì cảnh ở ngay cạnh phòng Chân Định, người mà theo ý chị là quá sức chểnh mảng và lo ra, lúc học thì đầu óc bay theo bươm bướm và chuồn chuồn ngoài cửa sổ, tới tối về mới lọ mọ giở sách học bù, còn phải phiền người khác giảng lại.

    Nói đâu xa, thằng út là người thường xuyên chịu trận đây.

    Nhưng nó nghĩ lý do thật sự là vì chị thích một chút tiếng ồn trong cuộc sống.

    Gia Hinh thở dài, trở mình.

    Đêm đã khuya và mây mù gần tan cả.

    Ô kính trên trần nhà dẫn đường cho giọt trăng đổ xuống như dòng thác.

    Cả một dải ngân hà chảy giữa bầu trời đêm.

    Gia Hinh nhìn sao trời, cố đánh lạc hướng mình.

    Đã mấy tháng nay, luôn có một vầng hào quang xuất phát từ phương Bắc sắp vào ngôi phía Nam.

    Chòm Ngự Nữ cũng phát sáng luôn.

    Chẳng liên quan gì sất.

    Nó cố thử đi ngủ.

    Mấy câu hù dọa về phù thủy vẫn còn ong ong trong đầu nó, nên khi một ánh nến chiếu xuống đôi mắt nhắm nghiền của thằng bé, nó giật mình kêu toáng lên.

    Nhưng đó chỉ là bà vú nuôi của nó thôi.

    Nó quay sang bên kia, giọng lười biếng:

    "U về nghỉ đi, con nằm một lát nữa đã."

    Bà vú cười hiền:

    "Tôi cũng biết khuya rồi không nên làm phiền cậu, nhưng vừa nãy ngoài cổng có người gọi, bảo là đến đưa lồng đèn."

    "Mới đó đã làm xong rồi ạ?".

    "Cậu có muốn gặp không?"

    "Có chứ ạ."

    Thằng bé ngồi bật dậy, cười khì, "Phiền u dẫn người ta lên đây ngồi với con.

    Dưới tầng trệt lạnh lắm."

    Bà vú cầm nến rời đi, rất nhanh đã trở về, vừa đúng lúc Gia Hinh chỉnh lại đầu tóc áo quần xong.

    Có hai người đi cùng bà – người thợ làm lồng đèn cho các Quốc Tử nhiều năm nay, và một cô bé lạ mặt nó mới thấy lần đầu.

    Hai người vái chào Gia Hinh, thằng bé cũng đáp lễ y hệt vậy rồi mời họ ngồi.

    Lan San, nó nhớ đó là tên y, cười xòa nói:

    "Quốc Tử khách sáo quá.

    Khuya thế này rồi thảo dân mới đến bái phỏng, có làm phiền Quốc Tử không?"

    "Không phiền đâu, em cũng chưa ngủ."

    Gia Hinh rót trà nóng cho hai người, tò mò nghía cô bé mới gặp một cái, rồi cảm giác vậy hơi bất lịch sự, nó rút ánh mắt về.

    Nhưng một ánh mắt đó là đủ để nó nhớ rõ dung mạo của cô bé.

    Trông cô trạc tuổi nó, mặt tròn như trăng rằm, nước da hơi ngăm, dáng người khỏe mạnh.

    Tóc cô bé cắt ngắn ngang cằm.

    Cô bé có cách đi đứng thanh thoát và nhẹ nhàng như bay.

    Đặc biệt nhất là đôi mắt của cô bé – tròn và thao láo, mang màu nâu rất nhạt, pha chút xanh lá cây, rất gần với thứ màu nước mà anh Tỏa Phong thường dùng để vẽ tranh, lại còn là trạng thái loãng nhất.

    Lan San đưa một cái lồng đèn mới cho Gia Hinh.

    Nó đã yêu cầu một cái lồng đèn kéo quân và bảo y vẽ một câu truyện cho mình.

    Bất cứ truyện gì, nó nói, em muốn nghe truyện dân gian.

    Y đã làm đúng như vậy.

    Mắt nó sáng rỡ khi cầm lồng đèn trong tay, những hình thù trên thân đèn bắt đầu chuyển động.

    Có chín khung tổng cộng.

    "Truyện kể về gì thế ạ?"

    Trong sự bất ngờ của thằng bé, người trả lời là cô bé lạ mặt.

    Cô bắt đầu bằng một câu hỏi ngược lại:

    "Quốc Tử có biết thế gian này được tạo lập như thế nào không?"

    Gia Hinh hơi sững sờ, lần này ngó cô bé lâu hơn một chút mới lại nhìn về lồng đèn.

    Cô bé kéo chiếc đèn về giữa cái bàn, đi sang ngồi cạnh Gia Hinh, bắt đầu kể:

    "Đầu tiên có hư vô.

    Từ cái không có ấy sinh ra Hỗn Mang.

    Theo đó, năm vị thần lần lượt xuất hiện.

    Vị đầu tiên là Hỏa Thần.

    Ngài ra đời giữa trung tâm của Hỗn Mang, nóng rực và sáng chói.

    Ngài làm tan chảy một phần của Hỗn Mang rồi gom lại thành một thể.

    Từ đó có vị thần thứ hai, Thổ Thần.

    Ngài tự bẻ gãy xương cốt chính mình để tạo nên những rặng núi, đồng bằng và hang động."

    Khung hình đầu tiên là cảnh tượng núi non hùng vĩ, khoáng vật dưới lòng đất và sông hồ biển cả.

    "Kim Thần là vị thứ ba, một cặp sinh đôi, nhưng kẻ lớn hơn thì vỡ vụn và tự chôn vùi mình trong lòng đất, còn kẻ nhỏ hơn thì ôm lấy Thổ Thần, ngăn cách trần thế với Hỗn Mang.

    Đứa em đấy tiếp tục cho ra đời Thủy Thần.

    Ngài trút mưa xuống trần gian, lấp đầy phần trũng của mặt đất, và như đại diện cho ý chí người em, thấm qua lòng Thổ Thần để đến gặp những bản thể vụn vặt của người anh."

    Gia Hinh mỉm cười thích thú.

    Dường như cả thế giới bên ngoài đã dừng lại – nó không còn đau đáu chuyện không vui nữa, mà chìm đắm trong câu truyện của cô bé.

    "Khi Thủy Thần tưới đẫm Thổ Thần, một vị thần cuối cùng bắt đầu manh nha thành hình, nhưng ngài là một ca sinh khó."

    Họ chuyển sang khung hình thứ hai, "Kể cả khi đã có sự giúp sức của Kim Thần, vị thần này vẫn ở mãi dưới da thịt Thổ Thần, không chịu nhúc nhích.

    Ngài ở trong bụng mẹ lâu đến nỗi đã có nguy cơ chết yểu.

    Thổ Thần vẫn không thể chịu đựng thêm được nữa.

    Ngài viện tới Hỏa Thần.

    Hỏa Thần hóa thân thành mặt trời.

    Thế giới bắt đầu với một mặt trời duy nhất."

    Khung hình thứ ba là một bức tranh tuyệt đẹp.

    Những dãy núi cao là thứ đầu tiên được soi sáng.

    Tia nắng rực rỡ trượt theo sườn núi để đến vùng đồng bằng, rồi tiếp tục chảy xuống mặt hồ.

    Ở đó, ánh sáng được đẩy ngược trở lại lên bầu trời hỗn mang, vén ra một khoảng thiên thanh đầy mây và gió.

    "Khi trần gian được sưởi ấm, Mộc Thần chào đời.

    Ngài đội đất mẹ vươn thẳng lên trời.

    Ngài trở thành những dải cỏ non êm ái.

    Ngài phủ khắp đồi trọc với sắc xanh của mình."

    Rồi đến khung hình thứ tư: năm vị thần nhìn xuống trần gian.

    "Khi đã tề tựu đông đủ, các vị thần bắt đầu đi theo một quy luật, mà ở đó Hỏa Thần là người đứng đầu.

    Sắc lá đổi màu theo ánh sáng của mặt trời.

    Khi mặt trời rực rỡ thì trăm hoa khoe hương.

    Lúc ánh nắng nhạt đi thì cây cũng trút lá.

    Tiết trời trở lạnh rồi lại ấm lên.

    Một năm bốn mùa cứ vậy mà luân chuyển.

    Những mùa lũ và hạn cũng nhịp nhàng."

    Bỗng dưng, giọng kể du dương của cô bé trở nên nghiêm trọng.

    Khung hình thứ năm cũng tối tăm hơn hẳn:

    "Hỗn Mang đã không thể chấp nhận cái guồng khuôn mẫu đó.

    Bản chất nó muốn phá vỡ sự cân bằng này bằng mọi cách.

    Nhưng năm vị thần đã trở nên quá mạnh mẽ, hoàn toàn nằm ngoài quyền năng của Hỗn Mang.

    Nó quyết định tạo ra những con vật đầu tiên.

    Những loài cá bơi lội làm nhiễu loạn nhịp chảy êm ái của sông hồ.

    Các con thú và côn trùng sống bằng cách đục đẽo thân cây và ăn lá.

    Cánh chim muông quấy rối bung dòng khí lưu.

    Khi Hỗn Mang đang cơn đắc thắng, nó giật mình nhận ra chúng chẳng thể thay đổi gì mấy, ngược lại, chúng còn hòa vào quy luật của năm vị thần.

    Những con không biết cách thích nghi không sống được lâu.

    Da thịt và xương cốt chúng lại được Thổ Thần ôm lấy."

    Gia Hinh nhận ra mình đang nín thở.

    Cô bé nghỉ lâu đến nỗi nó phải ngước lên nhìn – cô bé đang uống trà cho nhuận giọng.

    Bốn mắt chạm nhau, thằng bé vội cúi đầu.

    Giọng kể sau đó của cô bé mang theo tiếng cười nhẹ:

    "Hỗn Mang vò đầu bứt tai.

    Nó phải nghĩ ra một cách khác.

    Lần này nó cần tạo ra một sinh vật cao cấp hơn, có lý trí và suy nghĩ như các vị thần, nhưng cần phải có vẻ ngoài yếu đuối để họ không cảnh giác.

    Sinh vật này sẽ sống đủ lâu để nằm lòng quy luật mà các thần đặt ra, thậm chí có khả năng phá vỡ chúng.

    Có điều, Hỗn Mang không có khả năng tự mình tạo ra một sinh vật sống có đầy đủ trí tuệ và hoàn thiện về cơ thể.

    Vậy nên nó tạo ra hai thế lực trước tiên: mười hai bà mụ để nặn hình hài, tam hồn thất phách để quản tri giác."

    Khung hình thứ sáu vô cùng sôi động, muông thú ở lẫn với những con người bé tí, vui vẻ, sôi động.

    "Những con người đầu tiên ra đời.

    Họ đã làm đúng cái điều mà Hỗn Mang kỳ vọng.

    Thoạt đầu, họ giống như loài vật, họp thành bầy, nhặt quả rơi dưới gốc cây để ăn, họ chưa thể chống chọi lại đói và lạnh.

    Dần dà họ đã thông minh hơn.

    Họ buộc đá nhọn vào đầu nhành cây để săn mồi.

    Họ lột da những con thú có bộ lông ấm áp để khoác lên người.

    Cùng sự xuất hiện của ánh sáng, bóng tối cũng được sinh ra.

    Chúng là phần đất bị núi non che khuất khi mặt trời di chuyển trên trời.

    Chúng là những hang động bị vầng thái dương bỏ quên.

    Khoảnh khắc mặt trời khuất bóng phía tây là lúc chúng trỗi dậy, bành trướng địa bàn của mình ra khắp mọi nơi.

    Nhưng những con sông còn giữ lại ánh sáng bên trong lòng chúng.

    Đến một lúc đã tích tụ đủ, khi cả mặt đất bị xâm chiếm bởi bóng tối, chúng thả tia nắng thu nhặt được cả ngày lên lại bầu trời.

    Những đốm sáng ấy có hình như một dòng nước uốn lượn.

    Đó chính là các vì sao.

    Quốc Tử có nhận ra thiếu mất cái gì không?"

    "Dạ?"

    Gia Hinh ngơ ngác, đầu óc như bị phủ sương, mãi mới xoay sở ra được một đáp án, "...Thiếu mặt trăng."

    Cô bé hài lòng nói:

    Đã tới khung hình thứ bảy.

    Một dòng sông ngân đẹp tuyệt diệu hiện ra, và mặt trăng xuất hiện.

    "Dòng sông Chước nằm ngay bên dưới mặt trời lúc chính ngọ, hấp thụ trực diện nguồn sáng mãnh liệt đó, nên ban ngày mặt nước đỏ rực còn ban đêm thì phản chiếu lại một mặt trời thứ hai – mặt trăng.

    Mặt trăng cũng rót những giọt sáng bàng bạc chảy từ đỉnh núi xuống thung lũng.

    Nhưng hào quang của nàng dịu dàng hơn hẳn sự mãnh liệt mà vầng thái dương đem lại.

    Tất cả sinh vật đều đuổi theo mặt trời, mặt trăng thì luôn ở cạnh chúng.

    Thế giới bắt đầu thay đổi từ đó.

    Các loài thú bắt đầu đi săn về đêm thay vì buổi sáng.

    Con người thức lâu hơn để quan sát những chòm sao.

    Đến các rặng cây cũng vươn mình cao hơn vì muốn tới gần mặt trăng.

    Bóng tối không còn phải cô độc nữa.

    Chúng trả ơn mặt trăng bằng cách nhường chỗ cho ánh sáng hiền lành của nàng, thậm chí còn tìm cách để đi lên trời, trở thành phông nền cho nàng và dải ngân hà thêm rạng ngời."

    "Hỏa Thần sẽ không thích chuyện này đâu."

    Thằng bé buột miệng bình luận.

    Cô bé cũng đồng ý, chuyển sang khung hình thứ tám:

    "Điều đó khiến mặt trời ghen tị.

    Hỏa Thần khống chế ánh sáng của mặt trăng.

    Nàng không được tái hiện nguyên vẹn hình dạng của mặt trời nữa, mà mỗi ngày chỉ được nhiều thêm một chút; ngài cho phép nàng được toàn vẹn một đêm duy nhất, với điều kiện nàng phải hoàn toàn ẩn mình trong một đêm khác.

    Nếu làm trái lời, ngài sẽ thu hồi ánh sáng của mình khỏi mặt đất vĩnh viễn.

    Mặt trăng đành phải chấp nhận."

    Âm lượng giọng của cô bé trở về bình thường – Gia Hinh hơi giật mình, như vừa tỉnh lại từ một giấc mộng vậy:

    "Đó, thưa Quốc Tử, là câu chuyện tạo lập thế giới."

    "Chị chưa kể hết."

    Gia Hinh chỉ vào khung hình thứ chín, "Còn một đoạn nữa mà."

    Khung hình cuối cùng là những cô gái nhảy múa dưới mặt trăng, giàn tế thần đặt giữa họ.

    Cô bé tỏ ra ngập ngừng không dám nói tiếp.

    Lan San, người đã im lặng đợi cô bé kể chuyện nãy giờ, lên tiếng:

    "E là thảo dân không có quyền kể nốt, thưa Quốc Tử.

    Thảo dân chỉ thêm khung đó vào để tôn trọng câu truyện gốc được lưu truyền chốn dân gian khi xưa thôi."

    "Vậy em cũng nên bày tỏ sự tôn trọng bằng cách nghe trọn vẹn câu truyện này!"

    "Đã khuya rồi."

    Y dợm đứng dậy, khều cô bé đi cùng mình, "Thảo dân nên về để Quốc Tử nghỉ ngơi."

    Gia Hinh vội giữ họ lại, tha thiết nói:

    "Sao em ngủ nổi khi không biết cái kết?

    Làm ơn đi mà!"

    "Quốc Tử có biết là phò mã đã ra lệnh cấm lưu truyền một số truyền thuyết trong dân gian không ạ?"

    Cô bé cắn môi, "Dân nữ sẽ gặp rắc rối...

    Trừ phi, Quốc Tử hứa sẽ không kể lại cho bất cứ ai."

    Một ngón tay út được chìa ra trước mặt thằng bé.

    Gia Hinh hơi chần chừ – cậu chưa từng nói chuyện với người khác giới trừ các bà vú và chị Diễm Dương, mà cô bé này thì hoàn toàn khác họ – nhưng rồi nó vẫn móc ngoéo với cô.

    Cô bé ngồi lại chỗ cũ, quay khung cuối cùng về phía cậu Quốc Tử:

    "Các cô gái loài người khôn ngoan đã nhận ra sự thay đổi trong cơ thể mình gần như khớp với thời gian mà mặt trăng tròn rồi khuyết.

    Các cô gọi mỗi chu kỳ đó là một tháng.

    Vào ngày rằm, các cô gái hân hoan nhảy múa hát ca để chào đón nàng trăng trở lại.

    Lo lắng lòng đố kỵ từ các vị thần, nàng đã mách cho những cô gái đó về sự tồn tại của họ và công lao tạo lập thế giới này.

    Các cô gái trở về nói với gia đình mình, vậy là loài người thờ cúng thần linh, họ soạn những bài văn tế và khúc hát để ca ngợi công trạng ấy."

    Gia Hinh nuốt khan.

    Một danh xưng vụt sáng trong đầu nó, đã gần như buột miệng nói ra.

    Cố tình không thấy cách Gia Hinh hơi rụt người lại khi nghe thấy, Lan San nối lời:

    "Khi nhận được sự tôn sùng, các vị thần trở nên hòa hoãn hơn với loài người.

    Mặt trăng trở thành trung gian để các thần truyền đạt lời sấm.

    Kim Thần lần đầu tách núi ra, để lộ vàng bạc và ngọc quý đã cất giấu nhiều năm; Mộc Thần đích thân dạy loài người cách trồng trọt và chú ý mùa màng; từ tháng sáu tới tháng mười một, Thủy Thần dâng nước lên bồi đắp phù sa.

    Thổ Thần cho phép tất cả những điều đó diễn ra trên cơ thể mình.

    Nhưng trong số đó, món quà của Hỏa Thần là trọng thể nhất: ngài ban cho loài người một phần của mình – lửa."

    "Chất lượng đời sống của loài người tiến bộ, thế giới xung quanh họ trở nên phức tạp hơn, vậy nên trong lễ cúng tế thần linh cũng bắt đầu xuất hiện các vị thần mới, như Tứ Tượng, Thổ Công và Hà Bá, thêm cả mười hai bà Mụ với Tam Hồn Thất Phách.

    Năm vị thần sáng lập thế giới dần chìm vào giấc ngủ sâu."

    Cô bé nọ nói, "Việc cúng tế được giao cho các cô gái có khả năng kết nối với thần linh, rồi các cô tiếp tục dạy cho con gái mình thờ phụng thần.

    Họ được gọi là phù thủy."

    "Giờ thì, thưa Quốc Tử, chúng thảo dân thật sự phải về rồi."

    Lan San đứng dậy, làm Gia Hinh rùng mình như vừa thức dậy từ một giấc mơ dài, "Chúng thảo dân có thể tin rằng Quốc Tử sẽ giữ đúng lời hứa chứ?"

    Thằng bé nuốt khan, nó gật đầu.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Khi Lan San đứng nói chuyện với người lái đò, Linh Như nán lại cạnh Gia Hinh.

    Con bé đã không chắc việc dẫn nó theo sẽ là một quyết định đúng đắn – lỡ như nó làm hỏng hết mọi thứ thì sao? nếu nó không thể khống chế được nỗi sợ hay cơn giận dữ trong lòng mình? hay giả sử có ai đó nhận ra họ là phù thủy? – nhưng Lan San là một ngọn núi không thể bị lay chuyển, y đã quyết tâm kéo nó theo.

    Chiếc lồng đèn kéo quân kỳ công đó được hoàn thành trong vỏn vẹn năm ngày, sau khi con bé gợi ý cho y một con đường đỡ mạo hiểm hơn ý tưởng giết sạch lũ Quốc Tử rồi làm giả thành hỏa hoạn.

    Y đã vin vào đó rồi nhất quyết nó phải đi cùng.

    Vậy là con bé theo y tới đây, kể một câu chuyện mà chỉ cần có người thứ tư nghe được là chúng chắc suất bị ném lên giàn thiêu, buộc phải giả vờ tỏ ra thân thiện với một Quốc Tử.

    Nhưng trước khi lún sâu vào chủ đề này, nó còn việc phải làm.

    "Quốc Tử hình như đang phiền lòng chuyện gì đó."

    Con bé lên tiếng, làm thằng nhóc kia quay sang, sắc nâu nhạt của đôi mắt nó tỏa sáng kể cả trong bóng tối – có lẽ đúng như Lan San nói, nó có một linh hồn thuần khiết, "Là vì câu chuyện lúc nãy sao?"

    Gia Hinh lắc đầu:

    "Xin chị đừng bận tâm."

    Mím môi, Linh Như tỏ ra áy náy:

    "Nếu dân nữ khiến Quốc Tử muộn phiền..."

    "Không hề!"

    Thằng bé thốt lên, "Em thích cách chị kể chuyện lắm.

    Chỉ là..."

    "Quốc Tử có thể nói với dân nữ bất cứ chuyện gì."

    Con bé nhún vai, một nụ cười nhẹ nhàng nhoẻn trên đôi môi, "Dân nữ sẽ không kể cho ai khác đâu."

    Gia Hinh nhìn xung quanh – Lan San vẫn đang (cố tình) trò chuyện hăng say với người lái đò (để câu giờ cho Linh Như), bà vú của nó đứng khuất trong nhà, đợi đóng cửa – nó kéo nhẹ khuỷu tay con bé, hai người đứng xích qua một bên.

    Nó đưa ngón út tay trái lên.

    Con bé móc ngoéo với nó.

    "Thì, chuyện là..."

    Thằng bé thuật lại câu chuyện mà Linh Như đã tường tận diễn biến.

    Nhật Nam và Diễm Dương tranh nhau dẫn đầu lễ hội săn bắn năm nay, thằng con trai muốn săn giao long, còn đứa con gái muốn săn hổ.

    Kết cục là vừa mới vài canh giờ trước thôi, Nhật Nam đã rút lui.

    Nhưng trong mắt Gia Hinh thì chuyện vẫn chưa êm xuôi.

    Linh Như đã chuẩn bị sẵn những gì nên nói.

    Trước vẻ ủ rũ của thằng bé, nó tỏ ra thông cảm.

    Con bé kể rằng nhà mình có hai đứa em trai, và chúng cãi nhau suốt.

    Nó nghĩ rằng đó là chuyện bình thường giữa tất cả anh chị em thôi.

    "Có một đợt nọ hai đứa ngu đệ của dân nữ giận nhau vì chuyện lông gà vỏ tỏi gì đó, chẳng nhớ nổi nữa.

    Không ai trong nhà hòa giải được tụi nó cả.

    Gia phụ bỏ cuộc, gia từ cũng mặc kệ.

    Lúc đó dân nữ mới nghĩ ra một trò này – dân nữ trốn đi."

    "Trốn đi?"

    Gia Hinh nhíu mày.

    "Đêm nào dân nữ cũng đọc truyện cho chúng nghe trước khi đi ngủ.

    Nhưng đêm đó, dân nữ cố tình trốn dưới lầu, đằng sau những cái giỏ và vải vụn chất đống trong góc.

    Chúng đi tìm dân nữ, từ trên gác xuống tới bếp, mà chẳng thấy bóng dáng dân nữ đâu, vậy là chúng khóc lóc ỉ ôi, đổ lỗi cho nhau là tại đứa kia mà dân nữ mới biến mất..."

    "..."

    "Rồi lúc dân nữ xuất hiện trở lại, chúng quay sang giận dân nữ rồi tự động làm lành với nhau."

    Linh Như nhe răng cười, "Đúng là trẻ con, nhỉ?"

    Thằng bé lịch sự hỏi thăm:

    "Em của chị mấy tuổi?"

    "Đứa lớn sáu tuổi, đứa nhỏ bốn tuổi."

    "Thật ạ?"

    "Cùng cha khác mẹ."

    Nó giải thích, vì Gia Hinh đang lộ rõ vẻ bối rối với khoảng cách tuổi tác hơi xa của chị em nó, "Thân mẫu của dân nữ mất lâu rồi.

    Gia phụ tái hôn sáu năm trước."

    "Ồ."

    Thằng bé áy náy ngó chỗ khác, rồi bồi vào, "Em cũng không có mẹ."

    "Thế thì chúng ta có một điểm chung, nhỉ?"

    "Vâng."

    Mắt nó sáng lên.

    Đúng lúc đó, một cơn cuồng phong thổi qua.

    Gió tốc đến làm những tấm áo gấm lụa là và vải thô kêu loạt xoạt.

    Gia Hinh và Linh Như đưa tay che mắt, lúc hạ tay xuống, đầu tóc cả hai rối bù dù chúng vốn đã chẳng hề có nếp.

    Hai đứa ngó nhau, cùng bật cười.

    "Càng khuya càng lạnh đấy, chị về đi ạ."

    "Dân nữ rất tiếc là không giúp được gì cho Quốc Tử..."

    "Có chứ!"

    Gia Hinh vội nói, cùng con bé đi về phía bến thuyền, "Em nghĩ em biết nên làm gì rồi."

    "Vậy dân nữ chúc Quốc Tử sớm được như nguyện."

    "Chị ngủ ngon."

    "Quốc Tử cũng thế."

    Lan San đưa tay ra cho Linh Như vịn để lấy đà lên thuyền.

    Con thuyền tròng trành trên mặt nước lạnh ngắt và đen ngòm trong buổi đêm khuya.

    Trên thuyền treo một chiếc đèn đi đường, đó là nguồn sáng duy nhất của họ.

    Gia Hinh đứng bên bờ vẫy tay chào con bé.

    Linh Như ngoái lại, thấy nó nhìn theo tới tận lúc họ cập bờ bên kia của dòng sông Thước.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Gia Hinh quên béng mất hỏi cô bé lạ mặt kia tên gì rồi.
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Mười


    Mọi lời thoại đều đã được tính toán kỹ lưỡng.

    Linh Như đứng trước gương, tập cách cười hằng đêm, nhớ lại cách dì Bích đon đả tiếp đón các bà mệnh phụ hống hách đến càm ràm vì lớp vải lụa của họ không đủ bóng bẩy, tới nỗi gò má nó cứng đờ.

    Rồi nó còn phải nhớ lại một câu chuyện ngớ ngẩn để làm mồi dụ tên Quốc Tử nữa.

    Mắc ói.

    Con bé nghĩ nó đã thành công, nhưng vẫn còn quá sớm để ăn mừng.

    Các Quốc Tử đai nịt gọn gàng từ lúc sáng sớm, những người đến xem họ rời kinh còn tụ tập sớm hơn vậy nữa.

    Linh Như được Lan San kéo lên trên nóc nhà, áo choàng phủ kín người, mặt nạ từ giấy bồi che đi diện mạo cả hai.

    Trong mắt người ngoài – nếu ai có thói quen ngước lên trời – thì chúng chỉ giống như thành viên của một đoàn kịch thôi.

    Sói Xám quay sang hỏi Thỏ Nâu:

    "Em thấy thằng nhóc đó thế nào?"

    "Hửm?"

    Con bé lơ đễnh ậm ừ mấy tiếng, mắt dán chặt vào đoàn Quốc Tử đang khởi hành từ bến sông Thước.

    "Gia Hinh ấy.

    Em nghĩ sao?"

    "Không khác trong tưởng tượng của em lắm."

    Linh Như nói, "Đúng như San nói, nó trẻ con, ngây thơ và trong sáng.

    Nó làm em phản cảm."

    "Vì chúng ta đang ở đây bán mạng để trả thù mà nó thư thả như không?"

    "Vì nó chẳng biết cái gì cả."

    "Em nói như Tầm Phương."

    Lan San nhăn mặt, "Em có động lòng từ bi với nó không đấy?"

    "Không!"

    "Tốt, vì chúng ta sắp dụ nó vào miệng hổ.

    Đừng để nó bước vào đầu em, Như à."

    Nói đoạn, y khều con bé, "Tôi có quà cho em đây."

    Thỏ Nâu quay sang, mắt sáng rỡ ngay khi nhìn thấy món đồ Sói Xám đưa cho – cái lọng bướm mà nó tự tay làm rồi tặng cho cô con gái nhà thị lang hồi tháng trước.

    Sau khi đoàn lính Túc Mộc mặc áo gấm trắng hành hình cô và chồng cô tự sát, phủ thị lang bị phong tỏa, nội bất xuất ngoại bất nhập.

    Làm sao Lan San lấy được cái này cho nó?

    Hỏi thật thì hơi thừa, nên con bé ôm chầm lấy y, cảm ơn lia lịa.

    "Đây là tác phẩm ưng ý nhất của em đấy!"

    "Tôi mà là em thì sẽ không nỡ tặng cho ai đâu."

    Lan San bình luận, con bé bĩu môi.

    Linh Như cũng đã giằng xé rất lâu mới quyết định đem cái lọng bướm này đi mừng tiệc người khác đấy chứ.

    Con bé nhoẻn một nụ cười tươi, dù tấm mặt nạ đã che mất gương mặt nó.

    Nó cảm ơn Lan San đến khi y xua tay và kéo con bé xuống đất.

    Kế hoạch của họ còn dài.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Nằm trên giường, cuộn tròn lại như cách một con mèo hoang trốn khỏi mưa bão, Diễm Dương cảm nhận hơi ấm của những tia sáng đầu tiên chạm lên gò má mình.

    Chị ôm cây cung chặt hơn trong lòng mình – cây cung làm bằng gỗ cây phong, loài cây biểu tượng hoàng gia của Túc Mộc, món quà chị nhận được từ phò mã dịp sinh nhật chín tuổi.

    Không trịnh trọng với kèn và sáo, chẳng hề màu mè như những thứ chị nhận được trước đó hay kể cả sau này, đó chỉ là một buổi sáng bình thường ở khoảng sân trước thư phòng của người, chị cầm cây cung bằng gỗ dâu giống như tất cả các Quốc Tử khác.

    Diễm Dương là người duy nhất có thể bắn liên tiếp mười mũi tên trúng hồng tâm.

    Thấy cảnh đó, phò mã gọi chị vào nhà, lấy cây cung gỗ phong này xuống khỏi tường và trao nó cho chị.

    Phần thưởng dành cho xạ thủ xuất sắc nhất, người tuyên bố với các Quốc Tử, và riêng với chị, người nói khẽ:

    "Cho con gái của ta."

    Diễm Dương mở bừng mắt.

    Nụ cười hiền từ của phò mã như còn nhập nhòe trước mặt, nhưng rất nhanh nó đã phai mờ đi.

    Ánh bình minh giờ đã tràn ngập căn lều đến nỗi không thể phớt lờ.

    Ngoài lều, tiếng vó ngựa lộc cộc vọng vào, những bộ giáp sắt khệnh khạng đi tuần, áo gấm với quần lụa bị gió thổi loạt soạt.

    Âm thanh của buổi sáng sớm ở bãi săn khiến Diễm Dương tỉnh rụi.

    Chị chải lại mái tóc xoăn dài rồi buộc nó thành đuôi ngựa, mặc bộ áo gấm xanh tượng trưng cho các Quốc Tử lên người, nai nịt gọn gàng, đeo ống tre đựng những mũi tên lên vai và cầm chắc cây cung.

    Chị ngó gương mặt mình phản chiếu trong gương.

    Một cô gái trông đứng đắn nhìn ngược lại Diễm Dương.

    Đôi mắt của cô ta mang một thứ màu đặc biệt – màu ráng chiều, thứ sắc độ lấp lửng giữa sự lạnh lẽo của màn đêm sắp tới và hơi ấm cuối cùng còn lưu luyến lại trần gian.

    Có một ngọn lửa nhỏ nơi đáy mắt ấy, chị biết, nhưng mồi lửa ấy sẽ chỉ có thể bừng lên khi đôi mắt này nhìn thấy cảnh con hổ dữ đã ăn thịt hơn hai chục người ngã xuống dưới mũi tên của chị, máu tươi tuôn ra từ cổ nó, và chị sẽ nhúng mặt dây chuyền hổ phách này vào dòng dung dịch ấm nóng ấy.

    Rồi chị sẽ dâng lại nó cho phò mã.

    Máu trong màu mắt chị, và máu của chúa sơn lâm bại trận, sẽ trở thành thuốc giải cho tâm bệnh của người.

    Diễm Dương không cầu xin thần linh như chị từng làm nữa, chị biết thánh thần không có thật trên đời – nếu họ thật sự tồn tại đi chăng nữa, họ cũng chẳng buồn làm gì để giúp chị.

    Đứa trẻ đã bị thần linh khước từ không bao giờ tìm cách quay lại.

    Diễm Dương tin vào vị thánh sống đã cứu mình khỏi khổ đau hơn, và chị sẽ làm bất cứ điều gì để người sống mãi.

    Cho dù có là đi ngược lại những gì chị được dạy và phản bội tất cả đi chăng nữa.

    Diễm Dương giấu mặt dây chuyền đó sau tấm áo giáp của mình.

    Chị vén bức màn để bước ra thảo nguyên rộng lớn.

    Trước lều chị, một con ngựa đẹp đứng sẵn, lông nó trắng như tuyết của vùng thung lũng phương Bắc xa xôi.

    Con bảo mã dụi mũi vào tay chị khi chị đến gần.

    Chị xoa trán nó như một lời chào hỏi.

    Con ngựa cong một chân trước ra sau, chị dựa vào đó làm bệ đỡ để leo lên lưng nó, ngồi vững.

    Bốn cái chân dài, săn chắc của nó thong thả đưa chị tới mỏm đất cao, nhìn xuống cả khu trại săn.

    Những cái lều tròn xếp cạnh nhau, cờ phướn đỏ rực của Tân Lang bay phấp phới giữa gió bắc, từng tốp lính áo gấm nâu cầm giáo đi tuần.

    Không bao lâu sau, các Quốc Tử cũng cưỡi ngựa đến.

    Vó ngựa của Tỏa Phong và Chu Diên song hành, Vũ Ninh cưỡi con hồng mã anh thuần phục được hồi năm ngoái, hai đứa út đi liền theo sau lưng.

    "Nhật Nam đâu ạ?"

    Diễm Dương hỏi Hoài Hoan, người đến trễ nhất.

    Anh ấp úng:

    "Sáng nay... nó trúng gió, nhức đầu không dậy nổi, nên nằm nhà rồi."

    Nghe vậy, chị đoán có khả năng là anh giả vờ.

    Nhưng cũng không muốn kỳ kèo thêm nữa, Diễm Dương bèn gật đầu, rồi dẫn đầu đoàn Quốc Tử xuất phát.

    Phía sau lưng các Quốc Tử, kèn trống rộn vang, tiễn họ bước vào một cuộc đi săn mới.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Dòng dõi á thần sinh sống nơi đồng bằng không thờ ai khác ngoài Hỏa Thần, những tộc người được họ bảo hộ cũng chỉ thờ các vị thần lớn, nhưng tất cả các bộ tộc khác – trước khi Tân Lang lập quốc – đều thờ ông hổ.

    Nếu ông nghê là một loài hiếm hoi chỉ có mặt chốn cung cấm, vậy thì ông hổ trái ngược hoàn toàn.

    Người ta tôn xưng loài này bằng cái tên "chúa sơn lâm", thực chất ông hổ có mặt ở mọi nơi, từ chốn rừng thiêng nước độc phía tây đến những thung lũng băng giá phương bắc, dấu chân của ông in lại trên cả miền biển bờ đông và vùng sông nước dưới nam.

    Có nơi thì sùng bái ông hổ như một vị thánh trấn giữ giang sơn, có nơi lại e sợ móng vuốt và răng nanh của ông.

    Đôi lúc, niềm yêu mến đi cùng với nỗi sợ hãi.

    Thứ phức cảm đó trở thành sự kính nể, và đột nhiên đối tượng của tình cảm này trở thành một đấng linh thiêng bất đắc dĩ.

    Cái miếu ở làng Linh Như sống ngày trước cũng có một hương án thờ ông hổ.

    Mỗi năm một lần, người ta sẽ dắt vài con heo con gà ra bãi đất trống gần bìa rừng, cột chắc chúng ở đó, như vật tế dâng lên cho ông.

    Mấy đứa con nít được dặn phải tránh xa chỗ ấy ra, vì ông hổ không phân biệt được con mồi với trẻ em.

    Già làng dọa rằng đứa nào buổi sáng mà lảng vảng gần đó thì sẽ để lại mùi, và ngay buổi tối, ông hổ sẽ tìm tới tận nhà rồi tha đi.

    Sau này Linh Như nghĩ lão hăm dọa như vậy để đề phòng có nhà nào sai trẻ con đi trộm vặt thôi.

    Nó chưa từng nhìn thấy ông hổ, cũng không biết ông hổ gầm như thế nào.

    Ông hổ không phải thần, mà là một kiểu thánh – trong những ghi chép mà bà Huệ Nhãn để lại ghi chép rất rõ sự nhầm lẫn tai hại này: chỉ các thế lực tạo lập thế giới và có sức mạnh tạo ra một quy luật nhất định cho trần gian này mới được coi là thần, còn lại đều là thánh.

    Nếu đã là thánh, liệu Linh Như có thể kết nối với ông không?

    Trong lúc nó treo ngược hồn trên mây thì Lan San đã bày xong trận pháp của y.

    Năm thân cây cổ thụ đối xứng theo hình ngôi sao được đánh dấu bằng hai vết dao chồng chéo lên nhau, dưới mỗi gốc cây cắm ba cây nhang đang cháy dần.

    Ở tâm của ngôi sao đó, Lan San bày một ba cái hũ đựng nước, gạo và muối cùng một bát hương.

    Y đốt thêm ba cây nhang nữa, loại nhang này chỉ dài bằng một nửa loại cắm dưới gốc cây, vái sâu ba lần rồi cắm nhang xuống.

    Đoạn, y đợi nhang cháy hết, rồi rải lần lượt nước, gạo với muối xuống đất.

    Từ trong ba cái hũ rỗng đó, có ba thanh niên bước ra.

    Họ cao lớn gấp hai lần người thường, ai cũng mặt hoa da phấn, đẹp đến nỗi không phân biệt được là nam hay nữ.

    Linh Như vội cúi thấp người quỳ chào họ, còn Lan San vẫn đứng thẳng.

    Vị đứng giữa hiện thân từ trong hũ nước lên tiếng trước tiên:

    "Ngươi biết thừa là có gọi chúng ta ra thì cũng chẳng có tác dụng gì, đúng không?"

    "Làm như lần trước chưa đủ nhục nhã..."

    Vị bên phải hậm hực nói.

    Vị bên trái ảo não thở dài:

    "Sao mi không giết quách thằng nhóc đó đi cho rồi?"

    "Tôi biết các ngài còn tức giận vì chuyện đó."

    Lan San cong môi cười, "Nhưng em Linh Như đây có một kế, không biết các ngài có muốn nghe thử chăng?"

    Nghe nhắc tới tên mình, Linh Như vẫn chưa dám ngẩng mặt lên.

    Lần đầu tiên nó cảm nhận được sức mạnh thần linh rõ ràng đến vậy – huyết quản nó sôi sục, đầu ngón tay tê rần còn má thì nóng hổi – cơ thể con bé phản ứng với những vị thần này hơn cả khi đối diện với á thần như công chúa Xích Anh.

    Giữa cơn bối rối, đầu óc nó mù mờ, tự hỏi tại sao nó không cảm thấy thế này khi tiếp xúc với Thất Phách của Tầm Phương, hay Thổ Công của Yên Hà.

    Bỗng nhiên, một bàn tay lạnh ngắt nắm lấy cằm nó.

    Đôi mắt nhạt màu của con bé mở lớn, thấy gương mặt kiều diễm đến mức làm nó ớn lạnh nhìn chằm chằm mình – hẳn đây phải là U Tinh, vị thần của đam mê và quyến rũ trong tâm trí con người.

    Thần hừ giọng:

    "Đừng có so sánh chúng ta với mấy con nhiều lông lắm chân hay lão già đấy."

    Một vẻ mặt sáng sủa cũng áp tới gần với vẻ tò mò, ắt là thuộc về thần Sảng Linh, vị thần quyết định trí tuệ và sự minh mẫn.

    Linh Như sợ hãi muốn rụt người về, nhưng U Tinh vẫn chưa thả nó ra.

    "Nhìn đôi mắt của con bé này quen quen..."

    Sảng Linh trầm ngâm, săm soi con bé làm nó nhớ tới cách công chúa Xích Anh từng nhìn mình, vào cái đêm đầu họ gặp nhau.

    Lan San đáp:

    "Linh Như là con gái của cô Chu Anh, cháu gái Vấn Thánh Sư Huệ Nhãn.

    Chư vị hẳn còn nhớ?"

    Vị thần cuối cùng cười khẩy, ngài cũng chính là vị lúc nãy lên tiếng đầu tiên – Thai Quang, tượng trưng cho sinh lực của con người.

    "Sao lại không nhớ?"

    Sảng Linh tốt bụng nhắc:

    "U Tinh, thả con bé ra đi."

    Bàn tay đang giữ con bé chần chừ một lúc rồi mới buông ra.

    Linh Như gần như gục xuống đất, há miệng thở gấp, mắt hoa cả đi.

    U Tinh trề môi dè bỉu:

    "Hóa ra cũng chỉ là một tên thỏ đế, chẳng khác gì con mẹ mày."

    "Nói vậy không đúng.

    Con mẹ nó có sợ ai đâu.

    Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh."

    Thai Quang lườm Linh Như, "Ngươi có kế gì để đối phó với tên Quốc Tử đó, nói ra xem nào."

    Lan San đỡ con bé dậy – y gật đầu khuyến khích nó, vòng tay vững chãi cho nó tựa vào.

    Y đã cảnh báo con bé rồi: các vị Tam Hồn sẽ rất khác với những Thất Phách lương thiện và ông Thổ Công hào sảng mà nó đã quen.

    Được cái, y nói, dễ tính hơn Tứ Tượng của chị Huyên nhiều.

    Đáng lẽ nó không nên nhẹ dạ cả tin như vậy.

    Con bé nuốt khan.

    Nghe các vị Tam Hồn nhắc đến mẹ, nó tuy còn sợ nhưng đã tỉnh táo hơn phân nửa.

    Nó biết tất cả thần linh đều khó chịu với môn bùa chú mà mẹ nó tạo ra.

    Tên Quốc Tử Gia Hinh kia chẳng qua là thoát khỏi tầm quyền năng của họ thôi mà họ đã xúi giục Lan San giết thằng bé đi rồi, Linh Như nên thấy may mắn vì họ chưa từng trừng phạt nó mà chỉ chửi mèo quèo chó thôi mới phải.

    Nhưng nó vẫn thấy hơi khó chịu.

    Linh Như nuốt thứ hương vị cay đắng trên đầu lưỡi vào bụng, con bé vái ba vị thần, rồi nói kế hoạch của mình.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Các Quốc Tử cưỡi bảo mã của mình vào rừng, men lối mòn tới được chân một ngọn núi cheo leo, địa bàn con hổ tinh mà Diễm Dương muốn săn ở phía bên kia ngọn núi này.

    Vốn hổ không thường xuống tới đồng bằng, nhưng từ khi Tỏa Phong lo việc quy hoạch khu chợ phía đông kinh thành, anh thường xuyên nghe tiếng hổ gầm.

    Có đêm nọ xách súng ra ngoài xem thử thì thấy một cặp mắt sáng quắc bên bờ sông Thước, anh bắn một phát đạn, nó bèn chạy biến đi, nhưng lại gần thì thấy xác người bị cắn xé tàn nhẫn.

    Liên tiếp nhiều tháng đã có đến ba người chết.

    Quân lính đổ ra khắp các nẻo đường lùng sục nó, từ nội thành tới ngoại ô, mà chẳng cách nào tìm được.

    Bẵng đi một thời gian, tới lượt Chu Diên cũng từng nghe tiếng nó – hóa ra nó trốn vào hoàng cung.

    Lúc bị anh hai phát hiện, nó đang nhai đầu một cung nữ.

    Chu Diên đánh trống ầm ĩ xua được nó đi, từ đó, lại không thấy tung tích nó.

    Mãi tới tận hồi hạ chí năm ngoái, Hoài Hoan đến bái phỏng võ sư Cửu Chân để thỉnh giáo về môn võ cổ truyền, võ đường của ngài ở tận nơi thâm sơn cùng cốc, mất mấy ngày trời đi đường, tới nơi, cách mấy dặm đã nghe thấy mùi máu tươi.

    Hoài Hoan vội chạy tới, dừng lại trước cửa, đã thấy mấy chục võ sinh chết la liệt khắp võ đường.

    Một con hổ lớn gấp ba, gấp bốn những con hổ thường điềm nhiên tọa ở chính đường.

    Nó chột mất mắt trái, lông xơ xác hoang dại, bên ria mép còn dính máu.

    Hai chân trước của nó vắt chéo, đặt trên một tấm trường bào.

    Phát giác ra Hoài Hoan, con hổ đứng thẳng trên bốn chân, ngoác miệng gầm lớn – anh kể, âm thanh ấy kinh thiên động địa, làm chim rừng nháo nhác bay đầy trời, mây đen cũng ùn ùn kéo tới, con bảo mã của Hoài Hoan hoảng loạn hí lên, vỡ tim ngã đùng xuống.

    Sau đấy, con hổ tự bỏ vào rừng, chỉ nghe người dân lân cận đồn nó đã ăn đủ hai mươi mạng người, giờ đã về hang để tu luyện thành tinh.

    "Ngựa gặp nó cũng lăn ra chết, chi bằng để ngựa lại, chúng ta men theo chân núi mà đi?"

    Các anh chị thấy Gia Hinh nói có lý, bèn xuống ngựa, tháo những hộp cung tên và đạn dược treo bên yên ngựa đeo lên lưng mình.

    Con ngựa của Vũ Ninh có linh tính nhất, nó dẫn đầu bầy ngựa còn lại đi ngược trở về doanh trại.

    Trời cuối năm, bãi săn của hoàng gia nằm ở lân cận vùng thung lũng phía bắc, sương mù ngưng tụ, không khí như đông đặc lại bên dưới những tán cây.

    Đưa một sải tay ra, không thấy gì phía sau đầu ngón tay.

    Các Quốc Tử đi sát vào nhau.

    Tỏa Phong cầm la bàn đi trước, Hoài Hoan ở phía sau bọc hậu.

    Lễ hội săn bắn không chỉ để chứng tỏ năng lực của một cá nhân, mà còn là sự đồng lòng giữa các Quốc Tử, vậy nên không thể tách lẻ ra.

    Gia Hinh lại có ý định của riêng mình.

    Câu chuyện mà cô bé bán lồng đèn đi cùng Lan San hôm nọ kể cho nó giống như một nước cờ đột phá vậy.

    Khi cả hai đầu đều căng thẳng, không chịu nhún nhường, phải phân tán sự chú ý của họ sang một chuyện khác nghiêm trọng không kém, buộc họ liên kết lại để giải quyết vấn đề.

    Gia Hinh biết hành động của mình sẽ dẫn tới hậu quả nghiêm trọng.

    Trước hết, nó không có đủ sức để lẩn trốn trong rừng sâu mà đảm bảo được mình còn toàn mạng để trở về.

    Hơn nữa, có thể nó sẽ đẩy các anh chị mình vào chỗ nguy hiểm.

    Thứ ba, chẳng có gì chắc chắn rằng Diễm Dương và Nhật Nam sẽ cùng nhau đi tìm nó, hay có cái quá trình làm lành kia hết.

    Nó không thể hành động một mình, nó cần sự trợ giúp.

    Xung quanh các Quốc Tử bây giờ chỉ có rừng nối rừng và cây liền cây.

    La bàn cùng vách núi thẳng đứng bên cạnh là những thứ duy nhất đảm bảo họ vẫn đang đi đúng đường.

    Vượt qua mảnh rừng này, đến khu vực núi đá, sẽ là lãnh địa của con hổ tinh.

    Hoài Hoan níu nhẹ khuỷu tay Gia Hinh, ra hiệu cho nó.

    Thoăn thoắt như một con cáo, thằng bé đi giật lùi lại, rồi nó lao người chạy thẳng vào trong rừng.

    Sương mù che giấu nó.

    Các Quốc Tử đi săn ở đây hằng năm, từ khi chúng chỉ mới học kỵ xạ.

    Chúng thuộc lòng địa hình nơi này.

    Gia Hinh lách mình qua những rặng cây cổ thụ lớn, tránh những chỗ lá và củi khô dưới chân, bước đi không phát ra lấy một tiếng động nào, càng lúc càng tách xa khỏi các anh chị mình.

    Thằng bé đi ngược về khu vực trung lưu của sông Chước.

    Thật ra Nhật Nam không hề bị trúng gió như lời Hoài Hoan nói.

    Sau mấy đợt bị bệnh nặng, khỏi rồi mà sức khỏe còn chưa hồi phục hết, sau giờ ăn thường uống thêm thuốc bổ nên ngủ rất sâu, phải có người gọi mới thức dậy được.

    Hoài Hoan sáng nay cố tình không gọi anh.

    Đến lúc Gia Hinh bắt đầu chạy về sông Chước, hẳn anh cũng tỉnh rồi, thấy mình trễ kiểu gì cũng vội vàng đi, họ sẽ gặp nhau giữa đường, lúc đó Nhật Nam sẽ bảo vệ thằng bé.

    Tối hôm trước, Hoài Hoan với Tỏa Phong đã đích thân kiểm tra khu rừng này rồi, đảm bảo không có dấu chân hổ.

    Thấy khoảng cách giữa mình với các anh chị đã đủ xa, Gia Hinh thả chậm bước chân, thong thả xuống đồi.

    Thằng bé nhặt được một cành cây khô, vô tư vung vẩy, còn nhảy chân sáo nữa, miệng ngân nga khúc hát nó từng nghe anh Chu Diên đàn.

    Càng xuống thấp sương mù càng mờ đi.

    Chắc giờ các anh chị nó đã gần tới vùng núi đá rồi.

    Vầng thái dương dần dần vươn lên giữa trời.

    Vượn kêu và chim hót rộn ràng mảnh rừng thưa.

    Gia Hinh nghe tiếng nước chảy phía trước, thong thả đi tới, mắt còn ngó nghiêng.

    Đằng sau bụi rậm thấy bóng gà rừng đang chạy.

    Dưới gốc cây còn có loài sóc với cái đuôi bông xù.

    Thằng bé ít khi được ra ngoài chơi thế này, không cưỡng lại được tính tò mò, chẳng biết từ lúc nào mà càng ngày càng đi chệch hướng với dòng chảy của con sông.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Thằng oắt con này gan phết.

    Linh Như ngồi vắt vẻo trên đầu ngọn cây, ngó xuống cái bóng áo gấm xanh đang đuổi theo một con thỏ đen.

    Mái tóc bù xù của thằng bé dính đầy lá cây, ống quần lụa trắng cũng đã lấm tấm bùn, và nếu những gì Linh Như biết về thể lực của nó là đúng thì nó sắp kiệt sức tới nơi rồi.

    Vậy mà mắt nó vẫn sáng rỡ, đôi má vẫn hồng, nụ cười ngô nghê cũng chưa tắt.

    "Ghen tị thật."

    "Hửm?"

    Lan San tưởng mình nghe nhầm – y ngồi ngay cạnh con bé, đang chuẩn bị cho phép xóa ký ức.

    "Em nói em hơi ghen tị với sự vô tư của thằng bé này."

    Linh Như nói, "Chắc tối nó ngủ ngon lắm."

    Y thở dài:

    "Giết quách nó đi tôi mới ngủ yên được."

    "San còn lo lắng ạ?"

    "Không phải tôi không tin em đâu, nhưng nó đã trốn thoát được ma thuật của tôi hàng năm trời rồi, làm sao chắc chắn lần này nó sẽ vào tròng?"

    "Em không phải Tầm Phương."

    Con bé cười mỉm, "Nếu không còn cách nào khác thì cứ làm điều San cần làm.

    Em chẳng buồn can dự vào đâu."

    "Điện hạ mà hỏi tới..."

    "Điện hạ không cần biết chuyện này."

    Khóe môi Lan San khựng lại, giương lên thành một nụ cười ngỡ ngàng.

    Đoạn, y bật cười khanh khách.

    Linh Như "suỵt" một tiếng, rồi hỏi:

    "Nhân tiện, ông hổ này lai lịch thế nào, San có biết không?"

    "Ông vốn là thú cưng của đức vua.

    Nghe nói hồi đức vua còn chưa được phong làm thái tử, thường xuyên đi săn với Hoài Viễn tướng quân, lúc đó là thế tử Khai Quốc công, có lần giết được một con hổ cái thì phát hiện ra trong cái hang gần đó có con hổ con chưa dứt sữa mẹ, thế là mang về hoàng cung nuôi dưỡng.

    Ông hổ này rất hung dữ, bao nhiêu viên quan được phái tới huấn luyện nó cũng không thuần hóa được.

    Hoàng tử bèn cắt đôi bộ da của mẹ ông, làm thành hai bộ áo, ngài một bộ, thế tử một bộ, ông hổ ngửi thấy hơi mẹ thì không làm hại họ nữa.

    Sau này thế tử viễn chinh, ông theo hoàng tử vào ở đông cung.

    Thái tử đăng cơ, lúc nào lên triều cũng mang theo nó.

    Có ông hổ này trấn thủ, các quan không ai dám làm trái ý bệ hạ.

    Lúc thảm án năm Kỷ Sửu xảy ra, Triệu Thiên cho lệnh hành hình các phù thủy trong Chúc Thiên Các, thiêu sống họ, lúc chỉ còn lại một hơi thở thoi thóp thì ném xác cho ông hổ này ăn thịt.

    Thế mà ông chẳng những không ăn, còn nhào lên định tấn công hắn.

    Lính cản được, nhưng ông đã chạy biến vào rừng, từ đó không thấy tung tích nữa, mấy năm gần đây mới quay lại ăn thịt người."

    "Hóa ra là một trung thần."

    Linh Như vỡ lẽ, "Đám Quốc Tử không biết chuyện này sao?"

    "Biết thì sao, mà không biết thì sao?

    Trong mắt em, ông hổ đó là trung thần, còn nếu tụi nó biết rồi, có khi còn xem là phản tặc."

    Lan San cười mỉm, ngó xuống thấy Gia Hinh đã đến gần trận pháp lúc nãy mình bày sẵn, chỉ cho Linh Như rồi nói, "Chúc may mắn nhé."

    Lan San đưa tay đỡ con bé, rồi nó tự trèo xuống.

    Tà áo xanh lục của nó loạt soạt trên cành cây, Gia Hinh cũng nghe thấy mà không hề cảm thấy bất thường, chỉ cho là gió lộng, tiếp tục đuổi theo con thỏ.

    Năng lực của Vấn Thánh Sư bị giới hạn bởi vị thánh mà họ thờ.

    Không tìm được vị thánh sẵn sàng chỉ bảo họ, không cách nào trở thành Vấn Thánh Sư đúng nghĩa.

    Nói thêm, thánh không nhất thiết phải là người.

    Các loài vật uy nghiêm như hùm beo, kình ngư, đại tượng...

    được thờ phụng, đều có thể tính là linh hồn có thiêng.

    Tuy nhiên, trong việc cúng tế, quan trọng nhất là gọi đúng danh tính, mà người dân thờ động vật thường thờ chung, rất mơ hồ.

    Anh hùng phải hy sinh rồi mới thờ, là một linh hồn chân chính, còn động vật có cả sống lẫn chết, không rõ ràng, rất khó khống chế.

    Con bé nghĩ, khó chưa chắc nghĩa là không thể.

    Đằng sau lưng nó, con thỏ đen chạy chậm hẳn lại.

    Gia Hinh vấp váp một hồi, thế mà đã sắp chạm tới được.

    Linh Như thấy thằng bé đã đi xa, bèn quay mặt về những rặng núi cao, quỳ xuống dập đầu lạy.

    Vầng trán con bé chạm xuống lớp cỏ khô.

    Mấy lọn tóc nâu như hòa làm một với đất.

    " Bốn phương vạn vật có linh,

    Xin cho tôi biết hồn thiêng nơi nào."

    Con bé niệm đi niệm lại câu khẩu quyết đó.

    Mỗi lần dứt câu, nó lại thấy như đại ngàn trước mặt mình đang chuyển động.

    Từng đợt rung chấn tê rần truyền từ đầu ngón tay con bé xuống mặt đất.

    Đôi mắt xanh lợt của nó mở to.

    Khi ngước lên, nó đã có thể nhìn thấy xuyên qua những rặng cây và tán lá vàng, vách núi sừng sững trở nên vô hình.

    Bằng một tốc độ kinh hồn, cả thế giới ùa vào nhãn cầu Linh Như.

    Ở đó.

    Trong hang đá sâu, một ông hổ khổng lồ đang ngủ im.

    Ông đã nằm đó từ rất lâu mà chưa từng động đậy.

    Xung quanh ông lởn vởn những con ma trành – linh hồn của người bị hổ ăn thịt không siêu thoát được, buộc phải ở lại làm tay sai cho ông tiếp tục ăn thịt người.

    Có ba linh hồn mặc áo gấm trắng, những tên lính săn lùng phù thủy ở Tân Lang.

    Có một cô gái xinh đẹp yểu điệu, và hơn mười lăm vị võ sĩ cường tráng.

    Bỗng dưng, con ma trành cuối cùng – một võ sư đầu trọc với bộ râu bạc phơ – quay phắt lại, nhìn thẳng vào mắt Linh Như.

    Lão ta đã nhận ra sự tồn tại của một Vấn Thánh Sư.

    Ông hổ ngóc đầu lên.

    Khi ông cất tiếng gầm, Linh Như sợ đến nỗi rụng rời tay chân.

    Âm thanh của ông làm rúng động trời đất.

    Tiếng thở của ông đục mà sâu.

    Một tiếng gầm gừ cũng đủ khiến người ta hồn bay phách lạc.

    Không một sinh vật nào ở yên chỗ của chúng nữa – tất cả đều vội vã chạy về hang, chạy thật xa khỏi nơi phát ra tiếng động đó.

    Có những con thú nhỏ vừa nghe tiếng đã đứng tim mà chết ngay.

    Linh Như thấy mũi mình nóng lên, đưa tay sờ thử, hóa ra là chảy máu cam.

    Có ánh hào quang bừng sáng sau lưng Linh Như.

    Ngay sau đó, Lan San nhào tới bên con bé, đỡ nó dậy.

    "Đừng ngửa cổ ra."

    Y đưa khăn tay của mình cho Linh Như, nghe giọng nói y vừa thấy lo lắng vừa phấn khích, "Lần đầu ai cũng vậy hết, không sao...

    Khốn thật, Linh Như, em làm được rồi đấy!"

    Con bé nói không ra hơi; mắt nó mờ tịt, mọi màu sắc bị nhòe đi, phải dựa hẳn vào Lan San mới đứng được, nhưng nó còn nhớ việc cần làm:

    "Thằng Quốc Tử sao rồi ạ?"

    Lan San hất cằm:

    "Yên tâm đi."

    Bỗng dưng từ xa vọng lại tiếng vó ngựa.

    Lan San túm tay Linh Như, lá bùa trong tay còn lại bùng cháy.

    Hai phù thủy biến mất trước khi làn khói từ ngọn lửa đó kịp tan.
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Mười Một


    Trước mắt đang phủ một lớp màn sương, đột nhiên Diễm Dương thấy ánh nắng hiếm hoi ngày cuối năm chiếu xuống bờ vai Tỏa Phong.

    Ngay sau đó, cả thế giới đảo lộn.

    Một tiếng gầm kinh thiên động địa ùa tới, thô ráp và sắc lẻm, như muốn xé rách lỗ tai Diễm Dương.

    Chị phản ứng theo bản năng, toan lắp tên vào cung, thì vai đã bị đè nặng xuống.

    Chu Diên ấn chị và Vũ Ninh ngồi thụp xuống đất.

    Sững sờ, chị quay lại, thấy mặt anh tái mét.

    Hoài Hoan cũng kéo Chân Định cúi thấp người, còn anh và Tỏa Phong thì giương cao súng với khiên, vào tư thế bảo vệ họ.

    Vừa nghe tiếng, các Quốc Tử đã biết chắc đó chính là con hổ tinh chúng cần tìm.

    Mặt đất ẩm hơi sương dưới chân rung lên từng hồi, làm hai anh không cách nào đứng vững được, cũng đành hạ thấp trọng tâm cơ thể xuống.

    Diễm Dương giương cao cung về hướng âm thanh phát ra – tiếng động mỗi lúc một gần, rung chấn càng ngày càng lớn, con hổ ắt đang tiến gần về phía này.

    Nhưng nó đã gần tới mức nào?

    Chị biết hổ luôn lặng lẽ khi săn mồi, những đường vằn trên bộ lông ấy là một lớp ngụy trang hoàn hảo, giúp nó hòa làm một với rừng già.

    Chỉ khi có kẻ dám mạo muội bước vào lãnh địa của hổ, nó mới gầm lên để cảnh cáo.

    Tiếng gầm gừ ồ ạt không dứt.

    Đúng lúc đó, Chân Định bàng hoàng thốt lên bằng chất giọng làm chị đổ mồ hôi lạnh:

    "Thằng út đâu rồi?"

    "Quái thật..."

    Hoài Hoan tiếp lời ngay, mặt tái mét, "Vừa nãy còn đây mà!"

    Tỏa Phong chậc lưỡi:

    "Lại chạy lung tung...

    Hay lúc nãy sương mù dày quá nên lạc mất rồi?"

    Bụng Diễm Dương quặn lại đau nhói.

    Khu rừng này tuy rậm rạp nhưng là chỗ quen thuộc, nếu Gia Hinh tách đoàn cũng chưa chắc đã lạc, có thể tự tìm được đường trở về.

    Có điều, con hổ tinh đang tiến gần về phía này, lúc này mà đi một mình thì vô cùng nguy hiểm cho thằng út.

    "Hay là quay lại tìm Hinh trước?"

    Chu Diên nuốt khan, nói.

    Chị chần chừ.

    Con mồi chị nhắm tới từ lâu, phương thuốc cuối cùng có thể có tác dụng với bệnh tình của phò mã, bằng chứng cho sự trưởng thành của chị – con hổ tinh đó đang rất gần rồi.

    Chị không sợ đối đầu với nó.

    Nhưng chẳng ai muốn bỏ mặc Gia Hinh chỗ rừng rậm nguy hiểm này cả.

    Nếu họ còn cưỡi ngựa thì chị đã đỡ lo hơn, giờ...

    Bất thình lình, mọi tiếng động im bặt, từng đợt rung chấn cũng ngừng lại.

    Sự tĩnh lặng này còn đáng sợ hơn nữa.

    Con hổ tinh có thể ở bất cứ đâu.

    Các Quốc Tử từ thế đi săn giờ chẳng khác nào con dế trong lồng.

    Diễm Dương chạm tay xuống đất, rồi bất ngờ quay phắt lại.

    "Dương!

    Đừng có tách nhóm!"

    Vũ Ninh hoảng hốt gọi với theo, các anh em cũng lập tức đứng lên toan túm chị lại, nhưng đã muộn.

    Sương mù lập tức bủa vây lấy tầm nhìn của họ.

    Không còn cách nào khác, họ chỉ còn nước đi thật chậm rãi, căng tai lên lắng nghe động tĩnh xung quanh.

    Trong lúc đó, Diễm Dương đã lao xuống dốc, cung tên lắp sẵn.

    Chị chạy thẳng tới chỗ con sông Chước.

    Diễm Dương vừa nghe tiếng vó ngựa của Nhật Nam phát ra từ hướng đó.

    Chị đã phát giác ra anh đuổi theo từ lâu.

    Họ đi rất lâu rồi, rừng lại rậm rạp, dù cưỡi ngựa cũng khó lòng bắt kịp.

    Ngay cả khi tiếng hổ gầm át đi tất cả, anh vẫn không dừng lại, nhưng giờ lại im ắng, chỉ mới lúc nãy là phát ra một âm thanh rất khẽ.

    Diễm Dương đoan chắc anh đã gặp được thằng út.

    Hoặc trường hợp tệ hơn là anh đụng độ con hổ tinh.

    Diễm Dương không mong điều đó xảy ra chút nào.

    Nhưng chị không biết mình sợ anh chết dưới móng vuốt của nó hơn, hay là sợ anh giết được nó hơn.

    Gạt sương mù mà đi, trong đầu chị lại mờ mịt.

    Nói tới sương mù...

    Diễm Dương hoài nghi nhíu mày.

    Chưa năm nào chị thấy sương mù nhiều như năm nay.

    Khu rừng đáng lẽ phải quen thuộc như một ngôi nhà đối với chị, nhưng giờ đây nó trở thành mê cung xa lạ.

    Chị biết rất rõ đường tới sông Chước, chị nghe tiếng nước chảy ngay bên tai đây thôi!

    Vậy mà mỗi bước chân lại như kéo chị xa hơn khỏi chốn đó.

    Con hổ lại bắt đầu gầm gừ.

    Các anh lớn mô tả không sai, chỉ cần tiếng động mơ hồ nhất từ nó thôi cũng đủ khiến huyết quản người ta đông cứng.

    Âm thanh đó như ở ngay bên tai chị.

    Liệu là thật hay là ảo giác?

    Diễm Dương không dám bước tiếp nữa.

    Chị tựa lưng lên một gốc cây gần đó, điều chỉnh lại hơi thở, nắm chắc cung tên trong tay.

    Những người khác sẽ yên tâm hơn với một thanh súng và vài viên đạn dược – thứ vũ khí được phò mã mang từ Túc Mộc sang như một món của hồi môn.

    Chị cũng mang khẩu súng ngắn phòng thân, nhưng chị ngắm chuẩn hơn với mũi tên.

    Uy lực cây cung này không kém gì hỏa công.

    Diễm Dương áp tai lên thân cây, nhắm mắt lại, hòng nghe rõ hơn những tiếng bước chân.

    Vó ngựa đang đi lại ở phía đông, sát bên dòng chảy của con sông Chước.

    Phía bắc, bước chân của nhiều người đang chậm rãi quay ngược xuống xuôi, cũng tiến tới gần sông.

    Móng vuốt hổ làm rung chuyển mặt đất thì tiến gần về phía này.

    "Diễm Dương!"

    Giọng nói quen thuộc gọi tên chị.

    Nhưng ngước lên, nhìn thấy con vật đằng sau lưng anh, tim chị hẫng đi một nhịp.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    mùa đông, năm Ất Hợi, bãi săn

    Khi hổ dữ gầm gừ, nó đang xua đuổi kẻ địch khỏi lãnh địa của mình.

    Còn nếu nó đã im lặng, tức là nó đang săn mồi.

    Một khi đã lọt vào tầm ngắm của loài hổ, chẳng ai được an toàn cả.

    Hổ là chúa sơn lâm, nó là loài động vật thuần tính dương, nghe nói dòng máu chảy trong nó còn nóng hơn cả nước sôi.

    Hoàng tử nhìn con hổ nằm trước miệng hang đá, tự hỏi, liệu nhiệt độ của máu nó có thể sánh được với lửa thiêng trên tay mình không.

    Chỉ có một cách duy nhất để tìm ra câu trả lời.

    Cung tên giương cao, đầu mũi tên tẩm dầu bùng lên một ngọn lửa đỏ rực rỡ.

    Những bông tuyết mong manh tan chảy trước khi kịp đáp xuống mặt đất.

    Giữa mùa đông lạnh lẽo thế này, đó dường như là sắc màu duy nhất, bên cạnh tấm áo gấm đỏ thêu hình con phượng của hoàng tử.

    Không phải năm nào Tân Lang cũng rét đậm.

    Mùa đông năm nay tuyết rơi dày, chẳng biết điềm dữ hay lành.

    Hoàng tử nheo mắt, ngắm kỹ.

    "Khoan đã!"

    Tiếng kêu thất thanh của thế tử làm ngài giật mình, nhưng đã muộn rồi.

    Ngài đã buông tay, sợi dây đẩy mũi tên bay thẳng tới trước.

    Mũi tên xé màn tuyết bay xuyên qua khoảng rừng trắng xóa.

    Con hổ thậm chí còn không có cơ hội kêu lên.

    Mắt nó còn mở to khi tấm thân bệ vệ của nó ngã xuống.

    "Ngài xem..."

    Thế tử chậc lưỡi đầy ngán ngẩm, rời khỏi chỗ ẩn nấp của mình để chạy tới chỗ con hổ giờ đã nằm cứng đờ – mũi tên đã tước đi sinh mạng nó, "Giờ phải làm sao đây?"

    Hoàng tử cũng đến bên cạnh thế tử.

    Nhìn con thú, tim ngài thót lại: đó là một con hổ cái.

    "Khốn kiếp..."

    "Ngài nóng vội quá.

    Lúc nào cũng vậy."

    "Làm sao ta biết được!"

    Hoàng tử rền rĩ, rút mũi tên ra khỏi cổ con hổ, mảng lông xung quanh miệng vết thương bị cháy rụi, bốc lên một mùi khét, "Nếu biết nó là con cái thì ta đã không giương cung."

    Thế tử xua tay, chán chẳng buồn nói.

    Trong lúc hoàng tử nhuốm mặt hổ phách vào dòng máu còn ấm của con hổ, thế tử vào sâu trong hang, một lúc sau quay lại, bồng trên tay một con hổ bé xíu như con mèo.

    "Này."

    Hoàng tử gọi, đưa sợi dây chuyền ra.

    Thế tử ngơ ngác đáp một tiếng:

    "Vâng?"

    "Cậu đeo đi."

    "Thần?

    Chẳng phải ngài đã cằn nhằn cả năm trời rằng công chúa có mà mình không có đấy sao?

    Thế nên thần mới đi săn hổ với ngài..."

    "Nhưng cậu sẽ cần nó hơn ta."

    Hoàng tử kiên quyết nói.

    Nhân cơ hội thế tử còn đang ôm con hổ trong lòng không rảnh tay, ngài đeo sợi dây chuyền lên cổ cậu, mặt đá hổ phách nhuốm máu đỏ tươi tỏa sáng.

    Con hổ con hỉnh mũi lên ngửi.

    Đôi mắt xanh của nó sáng trong.

    "Điện hạ à..."

    "Không nhì nhằng nữa."

    Hoàng tử nói, "Cậu tưởng cái chốn rừng thiêng nước độc đó dễ sống à?

    Đó đúng là đất của nhà cậu, trước đây cả dòng họ cậu làm ăn sinh sống ở đó, nhưng từ bé tới lớn cậu chỉ ở kinh thành, làm sao quen được phong thổ nơi đấy?

    Vẫn cứ nên cẩn thận thì hơn."

    Cuối cùng thế tử cũng nhoẻn môi cười.

    "Vậy thần xin đa tạ điện hạ."

    Hai người sóng vai nhau trở về, để xác con hổ cái lại cho đoàn tùy tùng xử lý.

    Con hổ con ngóc đầu lên muốn ngó lại chỗ mẹ nó, nhưng bờ vai của thế tử đã che khuất cảnh tượng sau lưng.

    "Cậu phải bảo trọng đấy nhé?"

    Đối diện với hàng chân mày chau lại của hoàng tử, thế tử mỉm cười, đáp:

    "Thần tuân lệnh."

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    tháng chạp, năm Ất Tỵ

    Người thanh niên cưỡi ngựa phi đến vận áo gấm xanh, khoác áo choàng tối màu, mái tóc nâu rối bù bị gió thổi ngược ra sau, duy một lọn tóc dài được tết lại thành bím còn rơi bên sườn mặt.

    Chân mày anh sắc như kiếm, mắt còn sáng hơn cả những vì sao.

    Thấy người em gái, anh ghìm dây cương, gọi lớn:

    "Diễm Dương!"

    Đúng lúc đó, con hổ tinh nhảy vồ lên.

    "Coi chừng đằng sau!"

    Diễm Dương nói chưa dứt câu, mũi tên đã phóng ra, nhằm thẳng đôi mắt đục ngầu của con hổ mà bắn.

    Nói đúng ra thì chỉ có một con mắt thôi.

    Con mắt trái sớm đã bị viên đạn của Tỏa Phong làm cho chột từ lâu.

    Ngựa của Nhật Nam phản ứng nhanh, vung chân đá hậu nhè trúng ngay đầu hổ, thế nhưng lại làm mũi tên trật hướng.

    Con hổ tinh giật lùi ra sau, rống một tiếng động trời.

    Nhật Nam thúc ngựa đến cạnh Diễm Dương, chị mới thấy sau lưng anh còn chở thêm một người bất tỉnh nhân sự, chính là Gia Hinh đã tách nhóm đi lạc.

    Thấy đứa em còn an toàn, chị thầm thở phào.

    Diễm Dương lắp thêm mũi tên, lại định giương cung ra thì bỗng bàn tay đau rát như bị phỏng, không cách nào dùng sức được.

    Chị cố nhịn cơn đau, giương cung nhắm vào lưng con hổ tinh.

    Bên tai chị cũng nghe tiếng Nhật Nam lên nòng súng.

    Anh ngắm một phát đạn vào cổ con hổ, nhưng nó tránh được, đạn chỉ sượt qua mấy cọng râu.

    Giây sau đó nó đã biến mất.

    "Khốn..."

    Anh buột miệng chửi, phần khiếm nhã sau đó bị tiếng hổ gầm át đi.

    Lúc con hổ này còn ở trong hang, tiếng gầm của nó đã đủ để làm kinh động mảnh rừng này.

    Nghe Hoài Hoan kể lúc anh gặp phải nó ở võ đường, con ngựa của anh vừa nghe tiếng nó đã lăn ra chết tươi.

    Giờ khoảng cách giữa hổ với người chỉ có vài bước chân, Diễm Dương lẫn Nhật Nam đều phải thu người lại, phổi đau như bị rút cạn không khí, vậy mà lúc hé mắt, con hổ vẫn ở yên sau những gốc cây, còn kỵ vật của anh đang hí vang, đứng vững, như một vị chiến tướng canh gác cho họ.

    "Khoan đã."

    Diễm Dương phát hiện, "Đây đâu phải ngựa của anh?"

    Con ngựa của Nhật Nam vốn là giống béo mập, hơi lùn mà chắc khỏe, đi được đường dài.

    Nhưng con anh đang cưỡi lúc này có bộ lông đỏ rực, Diễm Dương còn đứng không đến vai nó.

    Chín lọn hồng mao của nó bay lất phất trong gió, nhìn như những ngọn lửa đang nhảy múa.

    Anh đáp, lại lên đạn:

    "Tôi vừa khởi hành thì gặp bầy ngựa của các người quay về, đúng lúc đó lại nghe tiếng hổ gầm, lũ kia nôn hết cỏ mới ăn hồi sáng ra rồi nằm la liệt dưới doanh trại, chỉ còn con này của Vũ Ninh là đứng vững, nên tôi mượn luôn."

    Đoạn, anh nhăn mặt, "Tại sao thằng nhãi này lại ở giữa rừng?"

    "Trời mới biết được."

    Diễm Dương đảo mắt, giương cung lên tư thế sẵn sàng.

    Cả hai nhìn ngang ngó dọc, khốn nỗi cánh rừng này như được đo ni đóng giày cho những con thú săn mồi ẩn thân, con hổ tinh kia có thể nấp ở bất cứ nơi nào – trên cành cây, trong bụi rậm, đợi một khoảnh khắc họ lơ là để nhào ra.

    Bốn bề yên tĩnh đến nỗi mang cảm giác chết chóc.

    "Cô em có nghe thấy gì không?"

    Chị lắc đầu, rồi nhận ra anh không tiện ngoái đầu nhìn mình, bèn nói:

    "Không nghe tiếng gì cả."

    Từ bé Diễm Dương đã nhạy cảm với âm thanh, lúc học việc binh, phán đoán bước đi dựa theo rung chấn truyền lại qua mặt đất, chị cũng là người xuất sắc nhất.

    Nếu chị đã nói không nghe thấy gì, Nhật Nam sẽ không hoài nghi.

    Ánh mặt trời gay gắt bỗng tối sầm đi.

    Tim chị đập mạnh một cái.

    Diễm Dương không kịp nghĩ nhiều, phản ứng đầu tiên là đẩy anh ra chỗ khác.

    Con dã thú im hơi lặng tiếng nãy giờ bất thình lình vồ xuống từ trên cành cây cao.

    Ánh mặt trời phản chiếu trên hàm răng nanh của nó.

    Móng vuốt nó vồ lên người Diễm Dương.

    Một phát súng đinh tai nhằm ngay vào đầu con hổ, lực nổ đẩy nó ngã ra.

    Con mắt còn sáng của nó quyết định bỏ qua Diễm Dương đang lộm cộm bò dậy mà hướng về phía Nhật Nam.

    Vừa nổ súng, anh vừa giật lùi về sau, nhưng bộ da của nó cứ như một lớp giáp sắt, đạn không ghim vào đến thịt mà bị đẩy bật lại.

    Con quái vật hằm hè, đoạn nó rống lên một tiếng.

    Âm thanh nó tạo ra nghe như hàng trăm vong linh cùng thét gào.

    Con ngựa báu của Vũ Ninh hí lên, chạy ra chắn giữa hổ tinh và Nhật Nam đã ngã ngửa ra đất – súng anh đã hết đạn, mà khoảng cách này lại không cho phép anh thay đạn mà vẫn kịp ứng phó với móng vuốt của hổ.

    Diễm Dương đứng sau lưng con yêu tinh, giương cung, bắn.

    Mũi tên xoáy như một mũi khoan vào chân sau của nó.

    Con hổ gào lên đau đớn, nó quay phắt về sau, Diễm Dương lập tức cho nó thêm một phát trúng ngay con mắt còn lại.

    Mất đi thị giác, con dã thú lồng lên, tiếng gầm càng thêm ác liệt.

    Diễm Dương nhắm ngay cổ nó, quyết tâm tiễn nó lên đường.

    Không ngờ, ngay đúng thời điểm ấy, sương mù kéo lại trước mắt Diễm Dương như một tấm màn.

    Lúc vén được tấm màn đó ra, răng hổ đã ở ngay trên đầu chị.

    Diễm Dương nhắm chặt mắt.

    Xong, chị nghiến răng, thế là hết.

    Vành tai chị nóng hổi, từng tấc da đau buốt.

    Chắc con hổ vừa cắn vào đầu nên mới vậy, hẳn là thế – làm quái gì còn đường thoát?

    Dòng suy nghĩ của chị rối loạn tới mức buồn nôn.

    "Dương!

    Dương!"

    Có phải tiếng Nhật Nam đấy không?

    Chị hé mi, rồi ngỡ ngàng tới tròn mắt.

    Anh đang đi tới trước mặt chị, khóe môi, mũi và hai tai chảy máu, áo gấm xanh bê bết bùn đất, tóc rối tung, nhưng anh chẳng có thương tích gì nghiêm trọng hơn nữa.

    Ngơ ngác, chị ngước mặt lên, thấy con dã thú đang giãy giụa trên mặt đất, bị một ngọn lửa thiêu đốt.

    Thấy chị đờ ra, Nhật Nam chậc lưỡi, kéo tay chị lùi khỏi con hổ vùng vẫy một cách bất lực.

    Mùa đông, gió khô lạnh buốt như trợ thủ đắc lực của ngọn lửa không rõ nguồn gốc, làm nó càng lúc càng cháy lớn.

    "Dương!"

    Nhật Nam quát to mới khiến chị hoàn hồn được, bốn mắt chạm nhau, anh nghiến răng, "Lửa từ đâu ra?"

    "Tôi không biết!"

    Chị hoảng hốt, "Tôi không..."

    Họ nhìn xuống bàn tay của Diễm Dương.

    Anh kéo cây súng ra, thấy lòng bàn tay chị phủ một màu than, đầu ngón tay vẫn hơi bốc khói.

    "Cái quái gì vậy?"

    Anh thở hổn hển, sợ điếng người, "Dương..."

    "Tôi đã bảo là không biết mà!"

    Chị nói mà gần như bật khóc.

    Con quái thú vẫn quằn quại trong đau đớn.

    Đôi tay run rẩy của Diễm Dương chạm vào nòng súng ngắn giắt bên hông.

    Chị nhắm thẳng vào đầu con hổ tinh, bóp còi.

    Thân xác con thú lặng đi.

    Thấy nó nằm im như vậy, bỗng dưng trước mắt chị lướt qua mấy cảnh tượng không rõ ràng, cứ như chị đã từng gặp nó rồi vậy.

    Nhật Nam ngó chị trân trân, cứ mở miệng định nói rồi lại thôi, hơi thở mỗi lúc một nặng thêm.

    Rồi thì ngọn lửa cũng tắt.

    Bộ lông xơ xác của con hổ tinh đã bị thiêu rụi, dòng máu túa ra từ những vết thương trên mình nó vẫn còn nóng hổi.

    Diễm Dương gác lại nỗi đau trên tay mình, cầm mặt dây chuyền hổ phách nhúng vào máu hổ.

    Màu cam trong suốt chuyển sang sắc đỏ thắm.

    Diễm Dương cảm nhận được ánh mắt Nhật Nam dõi theo mình, gần như có thể nghe thấy anh lẩm bẩm "trò phù thủy" trong miệng – hoặc là chị ám ảnh đến nỗi tự tưởng tượng ra, vì khi cuối cùng cũng đã có đủ dũng khí để ngước lên, anh chẳng hề hé môi.

    Chân chị vẫn còn mềm oặt, chẳng cách nào đứng dậy được.

    Lúc ngồi sụp xuống đất không biết làm gì, một vòng tay đỡ lấy chị, kéo chị lên.

    Rồi anh thở hắt ra:

    'Thôi, kệ xác tiên với ma...

    Cô em không sao là tốt rồi..."

    Diễm Dương gật đầu – chỉ có thể làm vậy, chị không còn sức để nói nữa – chị đưa bàn tay còn đau rát ấy lên, lau vệt máu chảy dài trên khóe môi và nhân trung anh.

    Nhật Nam khịt mũi theo bản năng, nắm lấy mu bàn tay đó.

    Ánh mắt anh u tối, nhưng chúng không có ý trách móc chị.

    Chị mím môi, cái nghẹn trong lồng ngực cuối cùng cũng phải nói ra.

    "Hồi sáng anh Hoan nói anh trúng gió, dậy không nổi, nên không đi cùng được...

    Tôi tưởng anh còn giận tôi."

    "Trúng gió?

    Tôi trúng gió hồi nào?"

    Diễm Dương ngờ vực nhìn anh.

    Biểu cảm anh từ nghi hoặc chuyển sang bối rối, sốt sắng nói, cứ như sợ chị hiểu lầm:

    "Thề với trời đất, thằng khốn đấy không gọi tôi dậy nên tôi mới ngủ quá giấc!

    Làm gì có chuyện tôi không đi săn với cô em!

    Tôi nhỏ mọn thế à?"

    Chị cau mày, rồi chẳng hề hẹn trước, hai người cùng quay sang nhìn Gia Hinh vẫn còn trong cơn mê man trên lưng ngựa.

    Nhật Nam khoanh tay trước ngực.

    "Không phải đi lạc – nó tự ý tách đoàn, đúng không?"

    Gật đầu, Diễm Dương bổ sung:

    "Hoài Hoan canh đúng giờ anh thức dậy rồi ra hiệu cho nó trốn đi.

    Chắc anh ta cũng nghĩ nó đi một mình trong rừng sẽ nguy hiểm, nên đoán trước anh sẽ đi dọc đường sông, chỉ nó ra đó để gặp anh."

    "May mà thằng khốn đấy biết lượng sức Gia Hinh.

    Cô em có biết là nó vừa nghe tiếng hổ gầm đã lăn đùng ra ngất xỉu rồi không?"

    "Anh nghĩ Hoài Hoan là chủ mưu à?"

    Diễm Dương nói, hất cằm về phía thằng út, "Cái anh võ biền đấy?"

    "...Vậy thì hợp lý hơn rồi."

    Anh thừa nhận, rồi bỗng đổi giọng nghiêm trọng, "Giờ ta làm gì?

    Cô em định mang con hổ này về à?"

    Diễm Dương nghĩ tới cảnh phải giải thích cho mọi người về bộ lông cháy rụi của con dã thú mà rùng mình.

    Lửa từ đâu ra?

    Chị hình dung họ sẽ chất vấn mình như vậy, làm sao mà con hổ này bị bắt lửa được!

    Chính chị còn chẳng có câu trả lời.

    Cái thây vô hồn của hổ tinh nằm dưới chân chị.

    Máu của nó lênh láng trên thảm cỏ, một phần khác thì cất trong mặt dây chuyền hổ phách.

    Diễm Dương biết mình cần làm gì.

    Đầu giờ chiều, sương mù tan dần.

    Các Quốc Tử cuối cùng cũng tìm được họ, nhờ vào tiếng nạt nộ ầm ĩ của Nhật Nam và Diễm Dương đang mắng mỏ Gia Hinh.

    Khi Hoài Hoan ló mặt ra, anh bị cả thằng bạn đồng niên lẫn cô em gái hợp lực trách móc, cộng thêm lời khiển trách từ các anh lớn và Vũ Ninh.

    Nhân dịp hỗn loạn đó, Chân Định toan âm thầm dẫn Gia Hinh về doanh trại trước, chưa đi được mười bước đã bị gọi giật lại.

    Gia Hinh co rúm người, sợ thêm một trận lôi đình nữa giáng xuống đầu.

    Nhưng các anh chị chỉ đang kêu tụi nó giúp xử lý cái xác hổ thôi.

    Một cái xác hổ trụi lông.

    Diễm Dương và Nhật Nam đã cạo đi lớp lông cháy xém của con thú trong lúc Gia Hinh chưa tỉnh lại.

    Bị hỏi tới, họ nói, nó đã như vậy từ đầu.

    "Nó già lắm rồi."

    Nhật Nam nói láo không thèm chớp mắt, "Con nào già mà không rụng lông!"

    Chu Diên nghiêng đầu:

    "Chưa nghe có chuyện này bao giờ..."

    "Được rồi, thiên tài, anh đã tận mắt thấy con hổ già nào chưa?"

    Diễm Dương chống hông, hỏi vặn lại.

    Chưa có ai thấy thật.

    Anh hai cứng họng, giơ tay đầu hàng.

    Nếu là một con hổ bình thường thì chỉ cần buộc bốn chân nó lại, luồn một thanh gỗ dài qua, vác lên mang về là xong chuyện.

    Nhưng con hổ tinh này lại to gấp mấy lần hổ bình thường, nội chuyện nhấc một cái chân của nó lên thôi cũng đủ vật vã rồi.

    Vậy là hai thằng út được "phái" đi về trước để gọi người đến giúp.

    Vũ Ninh cho chúng mượn con hồng mã của mình.

    Trong lúc các anh lớn trầm trồ ngắm con hổ dữ – Tỏa Phong chỉ vào con mắt chột của nó, khoe đó là chiến công của mình mấy năm trước – Nhật Nam lén nháy mắt với Diễm Dương.

    Chị nhướng mày.

    Anh làm một động tác khâu miệng mình lại.

    Tảng đá đè nặng trong lồng ngực chị mấy ngày qua cuối cùng cũng tiêu tan.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Phía sườn tây của ngọn núi, hai phù thủy cùng cưỡi một con ngựa đi về xuôi.

    Linh Như bắt Lan San hứa không được mách với Tình Huyên là con bé đã "mượn" sương mù của chị cho phi vụ này.

    "Em dám dùng bùa chú với chị Huyên á?"

    Y thảng thốt nói, quay ra sau đột ngột làm con ngựa phải hí lên càm ràm, y siết dây cương lại, "Một Vọng Thiên Sư?

    Em không sợ ra đường bị sét đánh chết à?

    Hơn nữa, em làm chuyện này từ khi nào?

    Tôi ở cùng em mấy tuần liền mà em đợi tới giờ này mới..."

    Đây chính xác là lý do con bé giấu nhẹm chuyện này đi.

    Đáng lẽ nó không nên nói luôn mới phải, nhưng tất cả những gì Lan San làm trên đường về là cảm thán nhiệm vụ vừa rồi của họ đã thành công mỹ mãn thế nào, và rằng Linh Như chắc chắn sẽ trở thành một phù thủy giỏi, sớm thôi.

    Lần đầu làm phép thuật mà đã có hiệu quả như vậy, không phải ai cũng làm được.

    Con bé còn có trí óc nhạy bén nữa.

    Các vị Tam Hồn có ấn tượng rất tốt với Linh Như, Lan San bảo, làm con bé tròn mắt không tin nổi vào tai mình, nên nếu nó chịu theo y học hỏi, chắc chắn sẽ không gặp khó khăn gì.

    Đỡ hơn đi làm thầy phong thủy gì đó...

    Y trề môi.

    Con bé cảm giác mình không thể để y tiếp tục chủ đề này được nữa.

    Ngay từ đầu nó đã chẳng tin vào chuyện thờ một vị thần – Tầm Phương nói từ ngày đầu tiên rồi, việc cung phụng thần linh và tạo dựng mối liên kết với các ngài tốn rất nhiều thời gian công sức, thường phải mất mấy đời mẹ truyền cho con mới được họ tín nhiệm mà cho mượn quyền năng.

    Chẳng những Linh Như là con gái gia đình Vấn Thánh Sư, nhiều đời thờ thánh chứ không lạy thần, mà mẹ nó còn là một người "sa ngã" vào bàng môn ngoại đạo nữa.

    Làm gì còn cơ hội nào khác cho nó.

    Nó chỉ có một con đường duy nhất này để đi thôi.

    Và may cho nó, những bút tích bà Huệ Nhãn để lại đủ cho nó tu luyện phép vấn thánh, dù chỉ là một phép "nhìn" sơ đẳng.

    Linh Như nói:

    "Hứa với em đi đã."

    Lan San hít một hơi lạnh, rồi thở dài chán nản.

    Con bé ôm chặt thắt lưng y như lấy lòng, thú nhận:

    "Trước lúc chia tay, em có lên thiên văn đài gặp chị Huyên.

    Lúc đó chị ấy đang quan sát quỹ đạo của sao Bắc Đẩu, nhưng sương mù dày quá nên đã dùng phép vén sương đi.

    Em tranh thủ... lượm lặt một tí, rồi tua ngược nó lại, biến thành phép gọi sương tới."

    "Nhưng sao em biết được cách làm bùa chú?"

    Y cau mày, "Cô Chu Anh dạy em à?"

    "Điện hạ dạy em."

    Nó nói, tỉnh rụi, còn Lan San thì ôm đầu lẩm bẩm:

    "Ôi lạy thánh thần..."

    "Giờ San ngủ ngon rồi nhé."

    "Ngủ ngon cái rắm."

    Y đốp chát, rồi thở dài – chẳng còn cách nào khác ngoài cho qua chuyện này cả.

    Y đành đổi chủ đề:

    "Mấy bữa nữa vào hoàng cung đưa lồng đèn cho tụi Quốc Tử, xem xem thằng nhóc đấy thế nào.

    Em đi cùng chứ?"

    Linh Như nhớ tới đôi mắt của Gia Hinh lần đầu thằng nhóc nhìn thấy mình.

    Con bé gật đầu.
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Mười Hai


    mùa xuân, năm Giáp Thân, biên giới Tân Lang - Túc Mộc

    Triệu Thiên không hiểu vì sao mình lại ở đây.

    Địa giới Tân Lang và Túc Mộc được ngăn cách bởi một vực thẳm sâu hun hút, nhưng rõ ràng độ sâu này chưa từng là rào cản cho lòng tham của những kẻ đứng đầu với bản tính muốn chiếm lĩnh thiên hạ của họ.

    Vua khai quốc Tân Lang, kẻ tự xưng là hậu duệ Hỏa Thần, xuất phát từ đồng bằng và in dấu chân đến tận những ngọn núi hoang vu đầy tuyết của phương bắc.

    Các ông cụ cao tằng tổ khảo của chính hắn cũng đã từng oanh tạc tứ phương.

    Luôn có người muốn nhảy sang phía bên kia của vực thẳm, hoặc bắc một cây cầu sang bờ đối diện.

    Thật dễ dàng để xóa nhòa hết những ân oán thù hằn của bao đời giao tranh, chỉ bằng cách điểm chỉ và in quốc ấn lên một tờ giấy.

    Triệu Thiên phải bật cười khi nghe chuyện này, hắn còn muốn cười lớn hơn khi vua cha nói hắn sẽ được đại diện quốc thể đi làm công chuyện đó.

    Nhưng nụ cười hắn cứng đờ khi đôi mắt sâu hoắm của phụ hoàng nhìn chằm chằm mình.

    Hắn nhận ra ngài không nói đùa.

    Môi cười ấy trở nên méo xẹo, bối rối và một chút khiếp sợ bắt đầu chiếm lấy lồng ngực hắn, làm hắn nghẹt thở.

    Đáng lẽ hắn nên thấy kiêu hãnh, thậm chí là tự hào, vì em trai chết tiệt của hắn – cái tên lúc nào cũng hất mặt lên trời khoe khoang rằng nó mới là đứa con phụ hoàng yêu thương nhất – đã không được chọn.

    Còn hắn, thằng con đầu lòng của ngài, đứa trẻ bị vứt sang một bên sau khi ngài cưới vợ mới, lại sở hữu cái vinh dự này.

    Thế mà tới tận bây giờ, đã đứng bên bờ vực đó, nhìn cây cầu đang thi công nối liền hai cõi, hắn vẫn chẳng cách nào thả lỏng.

    Hắn thấy sự có mặt của mình ở đây chẳng khác nào một con trâu với sợi dây thừng luồn qua mũi nó, và hắn đang bị dắt đi như vậy, bước ngay vào lò mổ mà không hề hay biết.

    Triệu Thiên hỏi lão thái giám thân cận rằng ông ta đã rủ rỉ tỉ tê gì vào tai phụ hoàng để ngài cho phép hắn tới đây.

    Lão lắc đầu, từ chối cho một câu trả lời.

    "Ngoài trời lạnh quá."

    Đó là tất cả những gì lão nói, "Điện hạ đứng đây một lúc nữa thôi rồi sớm về lều ngủ, kẻo cảm.

    Lão xin cáo lui trước."

    Quả thật, gió này rét cắt da thịt.

    Triệu Thiên khoác tận hai lớp áo lông thú dày mà vẫn thấy tim mình run rẩy phía sau xương sườn.

    Ngay lúc hắn định bỏ cuộc và trở vào, một hơi ấm bỗng dưng ùa tới ôm lấy hắn, làm gò má hắn nóng bừng.

    Người trước mặt hắn mặc phượng bào màu đỏ rực, nhiệt độ lúc nãy hắn cảm nhận được đến từ ngọn lửa bập bùng trong lòng bàn tay chàng, nhảy múa một cách hân hoan như thể nó đang chào đón hắn.

    Hắn vội vàng cúi người hành lễ.

    Chàng đỡ hắn dậy bằng bàn tay đang rảnh rang – ngay cả nó cũng mang cảm giác ấm áp.

    "Đa tạ... bệ hạ."

    Triệu Thiên không biết tiếng Tân Lang, chỉ có thể nói tiếng Túc Mộc, kỳ vọng rằng quân vương của đất nước láng giềng này hiểu mình.

    Chàng hiểu.

    "Điện hạ khách sáo quá."

    Tiếng Túc Mộc của chàng ngọt ngào như mật ong, hắn phải xấu hổ cúi gằm mặt.

    Một tiếng cười khúc khích bật ra trên môi chàng, làm hắn không thể không ngước lên lại.

    Lời đồn nói vua của Tân Lang là một thanh niên tuấn tú, mặt đẹp như ngọc quý, dáng thẳng như trúc xanh.

    Chẳng lời nào cảnh báo Triệu Thiên rằng chàng còn có một đôi mắt đầy dục vọng.

    Đôi mắt đó giống như hắn.

    Triệu Thiên đã nghe đủ thứ chuyện về đức vua của Tân Lang.

    Cũng giống hắn, mẹ ruột chàng qua đời sớm, phụ hoàng lập kế hậu rồi lại sinh thêm một người em.

    Nhưng bất chấp tình yêu sâu đậm vua cha dành cho mẹ kế, bất chấp quan niệm của Tân Lang luôn ưu tiên con gái đầu lòng hơn những đứa con khác – quái lạ, theo ý hắn – chàng vẫn được phong làm thái tử, vào ở đông cung; kế thừa ngai vàng, vận phượng bào, tọa phượng ỷ.

    Còn hắn?

    Một thằng bỏ đi.

    Không khác gì thứ đồ trang trí chẳng đáng bao nhiêu tiền để trong góc kho, thậm chí tệ hơn nữa, vì sự tồn tại của hắn làm chướng mắt hai mẹ con kia.

    Suy cho cùng hắn vẫn còn tư cách kế vị.

    Theo hắn biết thì công chúa của Tân Lang chẳng thèm ngó ngàng gì tới ngai vàng.

    "Sao điện hạ nhìn trẫm như vậy?"

    Chàng cất tiếng, "Mặt trẫm dính gì à?"

    "Không – xin thứ cho..."

    Hắn muốn xin chàng thứ cho tội thất lễ, nhưng nhận ra hắn không biết nên tự xưng thế nào.

    Các quan dạy lễ nghi ở Túc Mộc rất hời hợt trong việc dạy học cho hắn.

    Cũng dễ hiểu thôi, tại sao phải liều lĩnh làm cái chuyện đắc tội hoàng hậu và hoàng tử nhỏ có tiềm năng lên ngôi hơn hắn nhiều?

    Chẳng ai ngờ được có ngày phụ hoàng sẽ cho hắn đại diện quốc thể đi giao thiệp với vua của nước láng giềng.

    Không thể xưng "thần", hắn đâu phải thần dân của chàng.

    Cũng không thể xưng "bổn cung", vì đông cung chưa phải – mà rất có thể là không bao giờ – là của hắn.

    "Ta" thì quá ngông cuồng, người trước mặt hắn là vua một nước cơ mà.

    Chắc là sợ hắn cắn lưỡi tự vẫn luôn cho đỡ nhục, vua Tân Lang cười nói:

    "Không sao, không sao.

    Trẫm biết điện hạ rất ít khi ra khỏi hoàng cung, lúng túng là lẽ thường tình.

    Với lại, trẫm còn phải xin lỗi điện hạ mới đúng.

    Trẫm là người chủ động đề nghị với lệnh tôn cho trẫm gặp điện hạ mà."

    "Bệ hạ muốn gặp... tôi?"

    Triệu Thiên cắn răng nói một danh xưng tạm chấp nhận được – không trang trọng mà cũng chẳng đúng phép tắc, nhưng dường như chàng không bận tâm.

    "Điện hạ không nhớ trẫm sao?"

    Một gương mặt thế này, nếu đã gặp, chắc chắn sẽ không thể quên.

    Triệu Thiên lắc đầu.

    "Tôi khá chắc đây là lần đầu tiên trong mười năm qua hoàng thất Tân Lang và Túc Mộc gặp nhau, thưa bệ hạ."

    "Chúng ta gặp nhau mười năm trước."

    Chàng nhấn mạnh, ngọn lửa đang giữ ấm cho cả hai xìu xuống, vẻ hụt hẫng, "Hồi đấy là đại điển lập hậu của quý quốc, trẫm còn chưa phải là thái tử, cùng với thế tử Khai Quốc Công và thái sư sang chúc mừng.

    Lúc đó điện hạ còn nhỏ lắm, không nhớ cũng phải.

    Bây giờ điện hạ bao nhiêu tuổi rồi?"

    "Thưa bệ hạ, mười sáu."

    Triệu Thiên đáp, rồi mím môi hỏi, "Xin mạo muội hỏi quý canh của bệ hạ."

    "Có gì đâu mà mạo muội!

    Hai nước phân định non sông, xây cầu thông thương, sau này sẽ thân thiết vô cùng.

    Trẫm với điện hạ cũng nên thân thiết hơn mới phải.

    Điện hạ thấy có đúng không?"

    Thấy Triệu Thiên không dám trả lời, chàng mới nói thêm:

    "Trẫm biết Túc Mộc có hai vị hoàng tử, hoàng tử cả còn là người có số phận giống trẫm, nên thường lưu tâm.

    Nào ngờ mỗi lần Tân Lang gửi thư hỏi thăm lệnh tôn chỉ nghe kể về hoàng tử nhỏ, không nghe gì tới điện hạ.

    Nhân dịp này lệnh tôn nói không tiện đích thân tới, trẫm mới xin gặp mặt điện hạ, muốn biết điện hạ dạo này thế nào.

    Năm đó tiệc tùng kéo dài mười ngày đêm, điện hạ chỉ xuất hiện vài lần, lần nào cũng buồn bã.

    Trẫm nhìn điện hạ, nghĩ mình cũng là cô nhi, không khỏi đồng cảm.

    Khi xưa trẫm lại không biết tiếng Túc Mộc nên chưa từng bắt chuyện cùng điện hạ, lúc nào nhớ đến cũng thấy hối hận.

    Mười năm qua trẫm dày công học hỏi, chỉ đợi ngày được tái ngộ, mong không bỏ lỡ cơ hội tâm sự với điện hạ vài câu.

    Điện hạ ở chốn thâm cung, chưa từng ứng phó với chuyện thế này, đáng lẽ trẫm phải lường trước, không đến nỗi để điện hạ khó xử..."

    Nói dở, hàng chân mày thanh tú của chàng cau lại, vẻ hối lỗi lẫn áy náy hiện rõ.

    Lần đầu tiên có người nói vậy với Triệu Thiên.

    Rằng họ đồng cảm cùng hắn.

    Rằng họ thấy có lỗi vì đã không đến bắt chuyện với hắn.

    Rằng... họ mong đợi được gặp lại hắn.

    Triệu Thiên chớp chớp mắt, nghẹn ngào:

    "Bệ hạ nói vậy tổn thọ Triệu Thiên quá."

    "Triệu Thiên?

    Quý danh của điện hạ đấy ư?"

    "Thưa, vâng."

    "Ở Tân Lang, nam giới không có tên.

    Hoàng thất cũng không ngoại lệ."

    Vua Tân Lang cười nói – cảm giác như người này lúc nào cũng cười vậy, "Từ bé tới lớn, trẫm chỉ được gọi bằng tôn xưng điện hạ thôi.

    Nghe nói quý quốc thì ngược lại?"

    Hắn xác nhận:

    "Nữ giới ở Túc Mộc được gọi bằng họ của gia đình, thưa bệ hạ."

    "Người Tân Lang không có họ."

    Chàng nói, rồi cười lớn trước vẻ ngỡ ngàng của Triệu Thiên, "Trẫm nói thật đấy.

    Ở quê trẫm, người ta nhận nhau bằng cách hỏi mẹ của người đó là ai."

    "Vậy còn việc tập tước, kế vị thì sao, thưa bệ hạ?"

    "Chúng ta phong tước cho đứa con đầu lòng trong gia đình đó.

    Như bốn vị quốc công ở quê trẫm, thế tử luôn là con cả.

    Hoàng vị cũng thế.

    Người Tân Lang trọng con gái hơn, nhưng hoàng gia mấy thế hệ liền không sinh được con gái.

    Em gái trẫm, công chúa Xích Anh, là người nữ đầu tiên sau nhiều đời, nên phụ hoàng trẫm hết mực nâng niu.

    À, trẫm còn nghe nói ở quý quốc, nam giới có thể cưới nhiều vợ?"

    "Túc Mộc một vợ một chồng, thưa bệ hạ, những người vợ lẽ gọi là thiếp thất.

    Không phải ai cũng được quyền cưới vợ lẻ."

    Triệu Thiên tò mò hỏi, "Quý quốc có cho một người nữ cưới nhiều chồng không?"

    "Ở quê trẫm, mỗi người chỉ có một bạn đời thôi.

    Có điều nếu vợ chết thì chồng không cần... gì nhỉ, như ở quý quốc là góa phụ phải... thủ tiết?"

    Hai chữ đó, vua Tân Lang nói với biểu cảm nhăn nhó.

    Như thể đó là một chuyện lố bịch vậy.

    "Chúng tôi khuyến khích góa phụ thủ tiết, thưa bệ hạ.

    Đó là cách thể hiện lòng trung trinh của người vợ với phu quân đã khuất của mình."

    "Vị phu quân có thể ăn nằm với nhiều người phụ nữ khác?"

    Triệu Thiên khoanh tay lại, không muốn tiếp tục chủ đề này nữa.

    Vua Tân Lang cười xòa:

    "Trẫm lỡ lời, mong điện hạ đừng để bụng."

    Dù có muốn đi chăng nữa – hắn rất muốn, thật đấy – nổi giận với gương mặt này cũng là điều bất khả.

    Triệu Thiên trộm nhìn chàng vài lần, lửa giận đã tiêu tán.

    Vua Tân Lang cao hơn hắn một cái đầu.

    Lúc nãy hắn hỏi, chàng chưa trả lời mình bao nhiêu tuổi, nhưng hắn cũng không cần câu trả lời.

    Hắn biết chàng hai mươi ba tuổi, có một đứa con trai, và hoàng hậu Tân Lang đang mang bầu đứa thứ hai.

    Triệu Thiên thấy miệng mình đắng ngoét mùi ghen tị.

    Chàng có tất cả những gì hắn mơ tưởng cả đời cũng không có được.

    Chàng là phiên bản may mắn hơn của hắn.

    Nếu ông Tạo trao cho hắn gương mặt này, phong thái này... liệu phụ hoàng có yêu thương hắn hơn không?

    Lúc bằng tuổi hắn, chàng đã ngồi vững ghế đông cung rồi.

    Hắn còn chẳng biết nên tự xưng thế nào trước mặt vua của nước láng giềng.

    Hắn nói:

    "Túc Mộc ở bắc, Tân Lang ở nam, phong thổ khác tức văn hóa cũng khác, không hiểu được nhau cũng là chuyện bình thường."

    "Nhưng trẫm không muốn vậy."

    Chàng nói, làm hắn phải tròn mắt, "Trẫm đã dành mười năm trời học nói tiếng Túc Mộc, tìm hiểu về văn hóa của quý quốc, để hôm nay xin điện hạ làm bạn với trẫm.

    Nếu điện hạ thấy trẫm xúc phạm... trẫm xin tạ lỗi với điện hạ."

    Nói là làm, chàng chắp tay vái một cái thật sâu.

    Triệu Thiên tưởng như máu trong người mình bị rút sạch – mặt trắng bệch, hắn vội đỡ lấy tay chàng, cuống quít nói:

    "Tôi không để bụng, thưa bệ hạ!

    Bệ hạ làm thế này... tổn thọ tôi quá!

    Tôi làm gì có tư cách nhận lời tạ lỗi của bệ hạ!"

    "Sao lại không?"

    Chàng thốt lên, "Điện hạ là người đồng trang lứa với trẫm, tương lai cũng sẽ là người bằng vai phải vế với trẫm, chúng ta một trấn bắc, một thủ nam..."

    "Bệ hạ nói gì vậy?"

    Triệu Thiên cắn môi, "Tôi... làm sao xứng..."

    "Điện hạ là trưởng tử của Túc Mộc, chẳng lẽ tương lai ngai vàng không thuộc về điện hạ sao?"

    Vua Tân Lang nói với vẻ khó hiểu.

    Triệu Thiên thấy buồn cười mà không dám cười thành tiếng.

    Hóa ra là chàng tưởng hoàng thất Túc Mộc cũng như Tân Lang, mặc định con cả kế vị.

    "Túc Mộc không coi trọng tuổi tác, chỉ xem người nào có tài năng và đức hạnh nhất."

    Hắn nói, rồi bổ sung, "Cũng có thể hiểu là phụ hoàng tôi thích đứa nào hơn thì phong cho đứa đó làm thái tử."

    "...Ra là vậy."

    "Xin lỗi vì đã làm mất thì giờ của bệ hạ."

    Chàng cau mày, hắn nói tiếp, "Bệ hạ hẳn là muốn thân cận với vua tương lai của Túc Mộc, nên mới gọi tôi đến, nhưng rõ ràng bệ hạ cũng thấy, phụ hoàng tôi thương em trai tôi hơn..."

    "Ngớ ngẩn!"

    Bỗng dưng chàng lớn tiếng làm Triệu Thiên giật mình, "Điện hạ nghĩ trẫm là người như vậy sao?

    Mất thì giờ gì chứ!

    Trẫm thật lòng muốn gặp lại điện hạ cơ mà – điện hạ không tin trẫm à?"

    "Tôi không dám..."

    "Triệu Thiên."

    Chàng gọi tên hắn, ngọn lửa trên tay cháy lớn hơn, nhiệt độ tỏa ra làm hắn thấy nóng bức dù là ngay giữa cơn giá rét này, "Trẫm thật lòng muốn làm bạn với điện hạ.

    Điện hạ có bằng lòng làm bạn với trẫm không?"

    Đôi mắt của vua Tân Lang có một ngọn lửa thứ hai – giờ đây, Triệu Thiên cảm giác cả người chàng đều làm từ lửa – nó rực rỡ và cuồng nhiệt, nó luôn muốn thiêu đốt một cái gì đó, nó muốn chiếm hữu.

    Triệu Thiên biết mục tiêu của ngọn lửa đó là mình.

    Thay cho câu trả lời, hắn đặt tay mình lên bàn tay đang giữ ngọn lửa đỏ của chàng.

    Nếu cái giá cho việc đến gần hơi ấm là bị thiêu rụi, Triệu Thiên nghĩ, hắn sẵn sàng cháy thành tro.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    tháng chạp, năm Ất Tỵ, hoàng cung

    Hai mươi mốt năm sau, giọt máu của chàng quỳ bên giường bệnh của hắn.

    Vẫn còn vương gió lạnh và mùi cỏ tươi của vùng núi cao, rõ ràng là chỉ vừa trở về từ lễ hội săn bắn, Diễm Dương chạy vào tẩm thất tối om.

    Cô bé cởi sợi dây chuyền trên cổ xuống.

    Sau khi bệnh tình trở nặng – hoặc đó là điều hắn muốn người khác tin – phò mã không muốn nhìn thấy bất kỳ một ánh sáng nào nữa.

    Còn viên đá hổ phách thì chói rọi, những tưởng như đang nhìn vào chính mặt trời.

    Triệu Thiên nhận ra phép màu từ truyền thuyết xưa cũ nọ, thứ từng là bùa hộ mệnh của Khai Quốc công Hoài Viễn tướng quân, từng bảo bọc công chúa Xích Anh như tình yêu của một người cha dành cho con gái mình...

    Phép màu đó giờ ôm lấy hắn.

    Cô bé đã đeo sợi dây chuyền ấy vào cổ Triệu Thiên, hổ phách đặt ngay trên ngực, nó nhuốm đẫm dòng máu cọp tinh, tỏa ra hơi ấm hắn hằng khao khát.

    Hào quang rọi lên hai hàng lệ chảy dài trên gò má Diễm Dương.

    Nhìn hắn thế này chỉ tổ khiến cô buồn thương, hắn biết.

    Nhưng hắn phải phớt lờ nỗi đau quặn thắt trong lòng, tiếp tục vở diễn bệnh tật khốn khổ đã kéo dài nửa năm nay.

    Hắn đã lừa gạt bá quan văn võ trên triều, qua mặt cả lão thái giám thân cận nhất với mình, chỉ để tìm ra câu trả lời cho một điều hắn đã trăn trở bao lâu nay:

    Nếu hắn không còn ở đây nữa, cơ nghiệp này sẽ vào tay ai?

    Hoặc một cách nói khác, khi hắn nuôi đủ binh lực ở Tân Lang để quay về Túc Mộc tranh giành ngai vàng với em trai mình – hắn sẽ thắng – thì ai sẽ cai trị mảnh đất này thay hắn?

    Hắn không có hậu duệ.

    Công chúa và hắn chưa từng viên phòng, họ không bao giờ nghĩ tới chuyện đó, cả hai đều biết cuộc hôn nhân này chỉ là hình thức, chẳng ai kỳ vọng họ thật sự có con.

    Giờ đây, thân ở góa, hắn cũng không thể cưới vợ mới.

    Cái danh phò mã là sợi dây liên kết duy nhất của hắn với hoàng thất Tân Lang.

    Hơn nữa, sẽ thật nhảm nhí nếu một phò mã tái hôn.

    Ngay cả ở Túc Mộc cũng không có chuyện đó.

    Các Quốc Tử là con cái duy nhất của hắn.

    Triệu Thiên đặt tên cho những thằng con trai đáng lẽ chỉ có thể gọi bằng số thứ tự trong nhà, viết tên chúng vào tộc phả hoàng thất dưới chi của công chúa Xích Anh.

    Hắn yêu thương những đứa trẻ ấy như máu mủ của mình.

    Các hậu duệ của Thất Đẩu tướng không được phép nhớ gì về mẹ, chẳng biết gì về cha, tận trung tận hiếu với hắn và chỉ một mình hắn mà thôi.

    Lẽ tất nhiên sẽ là chọn ra người kế vị trong số chúng.

    Tỏa Phong là người mà ai cũng kỳ vọng.

    Một chàng trai bản lĩnh, trang nam nhi đầu đội trời chân đạp đất, được các anh em yêu quý và tin tưởng – nhưng nó đã bị phá tướng rồi.

    Vết phỏng tai ác choán hết nửa gương mặt của nó là một tai nạn.

    Triệu Thiên tận mắt chứng kiến cảnh tượng đó mà: khi Hoài Viễn tướng quân qua đời, đức vua dùng lửa thiêng để hỏa táng cho y.

    Đứa trẻ khốn khổ chỉ mới sáu tuổi không biết đó là một ân huệ.

    Nó chạy đến bên thi hài cha, nhào thẳng vào lửa đỏ.

    Một bậc chủ tướng bị hủy dung là điềm gở.

    Bây giờ, phe cánh bảo thủ tiến cử nó vì họ đang cần một quân cờ.

    Nhưng sau khi mọi chuyện qua đi, sẽ chẳng có gì thay đổi được sự thật này.

    Nó sẽ bị gán cho cái danh hung thần ác sát.

    Nó sẽ vĩnh viễn bị người ta khiếp sợ.

    Còn lý do khác, hắn không chắc mình sẽ thao túng được Tỏa Phong.

    Các quan Túc Mộc thân cận của hắn, lão thái giám hắn tin tưởng, tất cả đã cố gắng xóa đi những ký ức về quê hương ra khỏi đầu nó.

    Dạo gần đây nó tỏ ra ngoan ngoãn, nhưng hắn dè chừng.

    Chính hắn cũng chỉ có sáu tuổi khi phụ hoàng cưới hoàng hậu mới.

    Hắn không bao giờ quên đi mẹ mình.

    Lòng hiếu thảo của Diễm Dương, tuy chẳng hề bất ngờ, làm hắn cảm động.

    Nếu cô bé là một đứa con trai, ngay cả khi cô là huyết thống Hỏa Thần, hắn sẽ không ngần ngại mà giao phó tất cả lại cho cô.

    Quỳ bên giường bệnh, cô bé chắp hai tay lại, mắt nhắm nghiền, cầu nguyện.

    "Con đang cầu xin vị thần nào vậy, Dương?"

    Giống như phụ hoàng mình, tiếng Túc Mộc của cô bé ngọt ngào:

    "Bất cứ ai đang lắng nghe, thưa các hạ."

    "Họ sẽ không giúp con đâu."

    "Con có thể bị thần linh từ chối."

    Diễm Dương nấc lên, "Nhưng con đang xin họ giúp người."

    Triệu Thiên vươn tay ra, và cô bé nắm ngay lấy tay hắn.

    Hắn trừng mắt.

    Lần đầu nắm tay Diễm Dương, hắn đang dẫn cô bé ra khỏi địa ngục mà chính hắn xây nên cho cô.

    Lúc đó bàn tay cô bé bỏng làm sao.

    Rồi hắn cầm tay dạy cô bắn cung.

    Mỗi lần gặp lại, hắn luôn giữ tay cô bé trong tay mình rất lâu mới nỡ buông ra.

    Đây là đứa trẻ mà đáng lẽ hắn sẽ phải gọi bằng "cháu", nhưng từ lâu rồi, cô bé đã là con gái của hắn.

    Nhưng chưa bao giờ trong suốt mười sáu năm hắn nuôi nấng cô, bàn tay Diễm Dương có cảm giác thế này.

    Hắn tưởng như quay lại nhiều năm trước, ngọn lửa rực đỏ của chàng vội vàng tắt đi khi nhận ra nó đang làm hắn đau, để lại một bàn tay nóng rẫy, nham nhám, vương mùi khói.

    Suốt từng đó năm, hắn cứ thầm mong rằng thứ tiên thuật khốn nạn này sẽ không tìm tới cô bé.

    Hắn đã mong có thể giữ Diễm Dương ở bên như một đứa con gái bình thường, rồi cho cô bé một cuộc sống bình yên, không phải lo nghĩ gì.

    Để chuộc lỗi với chàng.

    Đền đáp chàng.

    Hóa ra, giấy không gói được lửa.

    Triệu Thiên siết lấy bàn tay đó.

    Hễ đã bùng lên, thì không có gì cản được đường đi của lửa.

    Nó sẽ liếm lên xà nhà, làm sập những cây cột vững chắc nhất.

    Nó sẽ tiêu hủy tất cả mọi thứ.

    Nó sẽ dập tắt tất cả hy vọng.

    Nhưng lúc này đây, lửa giống như câu trả lời cho hắn.

    "Con gái ta."

    Hắn nói, "Cảm ơn con."

    Diễm Dương vẫn đang khóc.

    Đôi mắt màu hoàng hôn ấy hướng về hắn, mong cầu chỉ duy nhất một điều.

    Hắn.
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Mười Ba


    Gia Hinh cảm giác mình đã quên mất một điều gì rất quan trọng.

    Cũng chỉ là cảm giác thôi.

    Nó không chắc lắm.

    Tin mừng ngày cuối năm là anh chị nó dường như đã quyết định gác lại xích mích, cứ như chưa từng có cuộc cãi vã nào xảy ra vậy.

    Tin xấu là cơn thịnh nộ của họ, thay vì trút lên nhau, giờ đang đổ xuống đầu nó.

    Những câu nói điển hình như "mày có biết tao thót cả tim khi thấy cái xác mày giữa rừng không?" và "nhắm đi được thì đi luôn đi" và "làm sao em nghĩ ra trò liều lĩnh đến vậy?"

    đã được thốt ra.

    May mắn thay, Diễm Dương cũng bị các anh lớn khiển trách vì tội tự ý chạy đi mà không nói gì với anh em, nên chị không có nhiều cơ hội để càm ràm nó.

    Nếu không có Nhật Nam ở đó tiếp ứng thì sao? – đại loại vậy.

    Sau lễ hội săn bắn, các Quốc Tử vào cung để cúng Hỏa Thần.

    Lễ này diễn ra vào ngày hăm ba tháng chạp hằng năm, cũng là lễ hội cúng tế duy nhất còn được phép tổ chức ở Tân Lang.

    Phò mã ốm nặng, không cách nào chủ trì buổi lễ được, bèn lệnh cho Diễm Dương – người vừa hoàn thành xuất sắc nghi lễ trưởng thành – thay mình lên đàn tế lễ.

    Bên ngoài bộ áo gấm xanh, biểu tượng cho thân phận Quốc Tử, Diễm Dương được khoác thêm một lớp áo bào gấm đỏ thêu hoa văn phượng hoàng.

    Trong lớp áo ấy, chị đọc văn tế, dâng hương, cầu nguyện cho một năm mới sung túc đủ đầy, thiên hạ thái bình.

    Cây nêu được kéo lên trước đàn tế lễ với ngụ ý xua đuổi vận xấu, thu hút điềm may.

    Gia Hinh và các anh đứng dưới đài cùng bá quan văn võ, quỳ lạy, dập đầu.

    Lễ tế bắt đầu từ sớm tinh mơ, mãi tới tối mịt mới kết thúc, kèn trống không lúc nào ngưng.

    Chúng về đến Quốc Tử Giám vào giờ Tý, giờ Mão đã phải thức dậy dọn đồ vào cung ăn Tết.

    Gia Hinh cảm giác sương mù trên đỉnh núi vẫn còn đang trong đầu nó.

    Ù ù cạc cạc, nó theo chân các anh chị leo lên thuyền chu tước, xuôi dòng sông Thước chảy về ngự hoa viên.

    Trên bờ vẫn còn tàn dư của lễ hội tối hôm trước, nào là đèn hoa, nào là pháo giấy.

    Từ hồi các anh lớn bắt đầu ra ngoài làm việc, năm nào cũng có mấy thanh niên thiếu nữ mặc áo vạt chéo màu trắng – hình như là đồng phục một ngôi trường trong kinh thành – đứng bên bờ sông, vẫy tay chào anh chị em nó; các bà bán hàng rong cũng niềm nở tặng cho chúng nắm xôi hay khúc chả giò.

    Chu Diên còn được ném cho mấy bông hoa.

    Anh cười hiền, đính đóa nở đẹp nhất lên tóc Diễm Dương.

    Đóa đẹp nhì, anh tự cài bên tai mình.

    "Anh thích không?"

    Chu Diên hỏi Tỏa Phong.

    "Chị ơi."

    Gia Hinh kéo ống tay áo Diễm Dương, làm chị phải quay đầu nhìn theo hướng nó chỉ, "Cái kia là cái gì thế ạ?"

    "Cái nào cơ?"

    "Cái gì như dù, màu xanh xanh ấy!"

    Chị vẫn chịu chết, không biết nó đang chỉ cái gì.

    Ngoài chợ dịp cuối năm xúng xính nào váy nào áo, hàng quán nào cũng treo đủ thứ đồ, màu sắc rực rỡ chói mắt, chị chẳng thấy vết nào màu xanh cả.

    Nhật Nam ngồi cạnh cũng ngóng cổ ra dòm.

    "Mày nói cái giống con bướm hả?"

    "Chính nó!"

    Gia Hinh reo lên, làm Diễm Dương cảm tưởng mình bị mù, "Cái gì thế ạ?"

    Đứng chèo thuyền cạnh đầu chu tước, Tỏa Phong nói với vào:

    "Nhìn như cái lọng ấy nhỉ?

    Nhưng chắc chỉ là đồ chơi."

    Hoài Hoan cũng đồng ý:

    "Cái dù đấy trông đẹp mà mỏng manh như cánh chuồn chuồn, che nắng mưa làm sao được, chỉ cầm trên tay ngắm thôi."

    Vết bỏng kết vảy trên mặt anh cả nhăn lại theo khuôn miệng anh cười nói:

    "Thích không, anh ghé thuyền lại mua cho?"

    Thằng út lại ầm ĩ lên:

    "Mua đi, mua đi mà!

    Không mang ra đường được thì em để chưng trong phòng."

    "Mày ngồi im xem nào?"

    Vũ Ninh nóng nảy mắng.

    Diễm Dương nghĩ thương nó nên dịu giọng:

    "Tí nữa về cung cất đồ đạc rồi chào các hạ một tiếng đã.

    Đến lúc đấy xin các hạ gọi người bán vào cho mà lựa."

    "Thế chị xin giúp em nhé?"

    "Lại nhờ.

    Em không có mồm chắc?"

    "Nhưng các hạ thương chị nhất, chị xin gì các hạ cũng cho cả."

    Nó nài nỉ, "Đi mà, chị ơi?"

    Tiếng cười khúc khích từ hàng ghế đối diện vọng sang, liền theo đó là một cú đạp chân trúng ngay mũi giày Gia Hinh.

    Hoài Hoan vừa chèo thuyền vừa híp mắt nói:

    "Sao mày nũng nịu với chị mày quá!

    Dẻo miệng thế thì tự đi xin các hạ cũng xin được, phiền đến cái Dương làm gì?

    Nhỉ, Nam nhỉ?

    Đúng là cái thằng thỏ đế."

    "Mày cứ mặc chị em nó."

    Anh ngáp dài, vò rối tung mái tóc mình lên, "Sắp tới chưa vậy anh Phong?

    Em đói..."

    "Muốn tới sớm thì ra đây chèo thuyền phụ.

    Năm nào cũng lười như lợn, lại cứ đòi nhanh."

    "Năm sau anh Diên phải học chèo thuyền đi."

    Nhật Nam nắm lấy mái chèo, bắt đầu khua khoắng mặt nước, "Thằng Ninh bị đau vai từ nhỏ, cái Dương là con gái, Hinh với Định út ít thì thôi, không nói đến tụi nó.

    Anh hai sức dài vai rộng mà cứ trốn việc mãi."

    Nhắc tới Chu Diên, Tỏa Phong cũng hùa theo, cố tình trêu:

    "Tay anh hai mày là tay vàng tay ngọc, chỉ để thổi sáo chơi đàn, rồi nhận hoa của mấy em gái..."

    "Tự dưng mấy người kéo tôi vào thế?"

    Anh cười khổ, "Thế thì đưa đây, tôi chèo vậy."

    "Thôi, để đấy, tớ làm."

    Ông anh cả xua tay, "Đùa thôi mà.

    Hoàng cung ngay trước mắt rồi còn phải thêm người chèo làm gì.

    Ninh ơi!

    Gọi thằng Định dậy đi là vừa."

    Gia Hinh vén rèm lên, thấy giữa ngôi đình trong hoa viên có một bóng người đang đứng sẵn, hình như là đợi chúng.

    Dáng người cao, mặc áo gấm đỏ, trên ngực lấp lánh tia sáng của mặt trời.

    Thuyền tới gần hơn một chút, nó nhận ra đó là mặt dây chuyền hổ phách nhúng máu cọp tinh mà Diễm Dương dâng cho người.

    Các anh chị nó cũng đã thấy.

    Ánh mắt thằng bé vô tình lướt sang phía Nhật Nam.

    Anh đã khăng khăng từ đầu đây là phép phù thủy mê tín dị đoan, thậm chí còn gay gắt với Diễm Dương vì điều này.

    Nhưng vị phò mã hôm qua còn ốm nặng nay đã đủ sức đứng dậy đón chúng...

    Anh mím môi, quai hàm gồng lên, rồi anh nói một cách khó khăn:

    "Tôi đoán tôi nợ cô em một lời xin lỗi."

    Diễm Dương trông như thể chị đang rất cố gắng để không cười.

    Mỗi năm gặp lại người, Diễm Dương xót xa nhận ra người lại già hơn một chút.

    Những năm đầu người còn trẻ, chị không thấy rõ, nhưng hai ba năm trở lại đây sự khác biệt trở nên rõ ràng hơn, đặc biệt là sau trận ốm kéo dài nhiều tháng nay.

    Mái tóc đen nhánh của người xen lẫn vài sợi bạc.

    Hốc mắt người, vốn đã sâu, nay lại càng hõm vào, thêm vết chân chim kéo dài từ khóe mi đến thái dương là bằng chứng không thể chối cãi của tuổi già.

    Chỉ có ánh mắt hướng về phía lũ trẻ chẳng hề thay đổi.

    Dường như người vẫn mong các Quốc tử của mình sẽ chạy ùa lên bờ ngay khi thuyền cập bến, nhào vào lòng người mong một cái ôm quấn quít, đợi chúng khoe điểm thi cuối năm của mình rồi đòi người khen thưởng.

    "Định, dậy đi."

    Vũ Ninh lay thằng em áp út đang dựa vào vai mình ngủ say, thấy nó không nhúc nhích gì thì quát, "Dậy mau!"

    "Hả?

    Cái gì?"

    Mơ mơ màng màng, Chân Định được anh năm và thằng út kéo đứng dậy, còn chưa tỉnh ngủ đã bị ném một cái khăn lau mặt lên đầu.

    Mấy anh chị em vội vàng chỉnh trang mũ áo rồi từng đứa một nối đuôi nhau lên bờ.

    Các Quốc tử xếp thành hai hàng theo thứ tự lớn bé, quỳ xuống trước phò mã.

    Tỏa Phong, Hoài Hoan, Vũ Ninh và Chân Định bên phải; Chu Diên, Nhật Nam, Diễm Dương, Gia Hinh bên trái.

    Chúng đan các ngón tay lại, dập đầu lạy ba lạy.

    Phò mã đỡ từng đứa lên, ánh mắt nhìn chúng tràn ngập vẻ tự hào.

    Diễm Dương để ý thấy người đang khoác một tấm áo choàng lông cáo, màu sắc rất quen, chắc chắn là lột từ bầy cáo mà vài hôm trước chúng săn được rồi dâng lên.

    "Dậy sớm chắc các con mệt lắm nhỉ?"

    "Thưa, tụi con không mệt."

    Anh hai cười, "Được gặp các hạ là tụi con vui lắm rồi.

    Người đã khỏe hơn chưa ạ?"

    "Khỏi hẳn rồi, giờ ta khỏe như vâm đây, leo núi cũng không thành vấn đề."

    Người ân cần nói, "Vào ăn sáng đi, rồi muốn ngủ đến chiều cũng được.

    Thằng Định còn chưa mở nổi mắt nữa kìa!"

    "Dạ?"

    Cậu ngơ ngác ngước lên.

    Các anh em ồ ra cười, riêng Vũ Ninh cau mày quay xuống đạp vào chân cậu một phát, làm cậu kêu oai oái.

    Mấy ngày Tết này là thời gian Diễm Dương mong chờ nhất.

    Không chỉ vì được nghỉ học, mà hơn hết là được ở bên phò mã.

    Đám Quốc tử lục tục kéo nhau vào cung ăn sáng, chị lại thả chậm bước chân, đợi mọi người đi hết rồi mới đến gần người – phò mã luôn đợi chị, đưa tay ra cho chị nắm lấy.

    "Cảm ơn con vì món quà này."

    Người chạm vào mặt dây chuyền hổ phách trên ngực áo mình, thấp giọng nói, "Nhưng sau này đừng liều lĩnh như vậy nữa nhé, con gái."

    Người gọi chị là con gái.

    Chị đã mong mình có thể gọi người là cha, nhưng bao năm qua chị vẫn không dám.

    Những lúc sự hèn nhát nổi lên chị lại cảm giác mình đang cố tình đẩy người ra xa, dù người muốn gần gũi hơn với các con của mình.

    Anh em của chị không có cảm giác đó.

    Họ nghĩ phò mã là "các hạ", một bậc tôn quý nhận nuôi những đứa trẻ bơ vơ không nơi nương tựa, chứ không phải một người cha.

    Họ có cha ruột của mình – các vị Thất Đẩu Tướng.

    Chị thì chỉ có người thân duy nhất là phò mã thôi.

    "Con nhớ rồi ạ."

    "Trông con hao gầy quá."

    "Con có sút cân nào đâu ạ."

    Chị đáp, cười buồn trước vẻ mặt của phò mã, một vẻ buồn bã khi thấy con cái trưởng thành mà chị đoán là bậc mẹ cha nào cũng sẽ có, "Con chỉ lớn hơn thôi."

    Người cảm thán, khóe mắt ươn ướt:

    "Nhớ hôm nào ta còn bế con trên tay.

    Lúc đó con chỉ mới có hai tuổi."

    "Giờ con mười tám rồi, thưa các hạ."

    "Ra Tết con sẽ mười chín."

    "Vâng ạ."

    "Mới đó đã mười bảy năm...

    Ta vẫn còn nhớ như in ngày ấy.

    Quân phù thủy man rợ dùng thứ phép thuật gớm ghiếc của chúng để...

    Thôi, không nhắc nữa."

    Phép thuật.

    Diễm Dương nuốt khan, siết chặt tay người hơn.

    Vết bỏng trên tay chị đã tan đi ngay tối hôm đó.

    Nhưng dường như mùi khói lửa vẫn vấn vít ngay dưới mũi, không cách nào tan đi được.

    Chị đã kéo Nhật Nam sang một bên và hỏi anh.

    Chắc nịch, anh cam đoan không ngửi thấy mùi gì cả.

    Lúc đó chị mới yên tâm.

    Nhìn thấy anh như còn muốn hỏi gì đó, chị lắc đầu.

    Dù anh có hỏi, chị cũng không thể cho anh câu trả lời.

    Chính chị cũng không biết mình đã gọi ngọn lửa kia ra bằng cách nào.

    Chòi nhỏ ở phía đông hoa viên đã dọn sẵn bàn tiệc chào đón các Quốc tử.

    Sự chú ý của chúng lại dồn vào những chiếc lồng đèn treo lủng lẳng trên mái chòi.

    Có chín cái đèn tất cả, chẳng cái nào giống nhau.

    Đèn cua sống xanh như màu nước sông, đèn cua luộc đỏ tươi, đèn cá chép hóa rồng...

    Năm nào phò mã cũng chuẩn bị những cái lồng đèn này cho chúng cả.

    Các anh em khác, giờ đã lớn, không còn quá hứng thú với mấy món đồ chơi trẻ con.

    Chỉ còn thằng út là dán chặt mắt vào cái đèn hình con bướm với vẻ khao khát.

    Giờ này chắc nó đã quên béng cái lọng ngoài chợ rồi.

    "Chị ơi..."

    Nó chưa quên.

    Diễm Dương đánh giá thấp sự kiên trì của thằng nhóc này rồi.

    Mà vốn tính nó cũng luôn vậy, đã muốn làm gì là phải làm cho bằng được, như mấy hôm thầy giáo của chúng giao bài tập có câu hỏi khó, cho thời hạn ba ngày, đứa nào giỏi đã làm xong còn đứa nào không biết làm đã từ bỏ, Gia Hinh vẫn kiên quyết ngồi trong phòng học cho tới khi nào giải được câu đó mới thôi.

    Lúc nãy mắt chị mờ, chẳng biết cái lọng bướm đấy cong vẹo thẳng thớm thế nào, có đẹp được hơn những chiếc lồng đèn này không, nên chẳng hiểu sao nó phải cố chấp tới vậy.

    "Em có miệng, tự mở miệng ra xin đi."

    Chị nghiêm khắc nói, tiếp tục ăn phần mình, "Không lẽ chị cứ phải xin giúp em mãi?"

    Gia Hinh cụp mắt, chán chẳng buồn ăn, cả buổi cứ ngồi chọc đũa vào lòng chén cơm.

    Chị thở dài.

    "Được rồi."

    Mắt nó sáng rỡ khi chị mở lời, "Ăn đi rồi chị xin cho.

    Em lạ thật đấy, sợ ai không sợ lại đi sợ các hạ.

    Người có mắng mỏ đánh đập mình bao giờ đâu?"

    "...Cứ gặp các hạ là em đổ mồ hôi.

    Em cũng không biết tại sao nữa."

    "Chắc em ít ở với người nên mới thế thôi."

    Diễm Dương cổ vũ nó, "Tết này tranh thủ nói chuyện nhiều hơn với người đi nhé?"

    "Vâng..."

    Sau bữa sáng, các anh lớn bận đi lo các nghi thức cúng Hỏa Thần, còn lại ngồi chơi đánh cờ trong thư phòng của phò mã.

    Một nàng cung nữ mặc áo lụa đến báo rằng vừa xuống chợ tìm mua lọng bướm rồi.

    "Bẩm, nhà đó vốn là nhà thương buôn, lọng bướm là do cô con gái cả chế ra.

    Nô tỳ bảo người ta làm vài cái cho các Quốc Tử mới biết cô ấy chỉ mới làm đúng một cái, tặng cho con gái nhà thị lang – ả phù thủy bị hành hình hồi tháng trước – làm quà.

    Sau đó không làm thêm nữa, vì cô gái nọ mất tích gần một tháng nay rồi."

    "Mất tích?"

    Diễm Dương ngước lên, cau mày, "Ngay trong kinh thành, hoàng cung cách có vài bước chân mà cũng có chuyện mất tích à?"

    Phò mã bật cười:

    "Sao lại không?

    Nước không vua, dân chúng loạn cào cào, lòng người không yên.

    Bao năm nay ta nhiếp chính nhưng suy cho cùng vẫn chỉ là con rể hoàng thất."

    Người nhìn sang chúng, "Nên ta mới kỳ vọng cả vào các con đấy."

    Bốn đôi mắt trộm liếc nhau rồi nhìn đi chỗ khác.

    Người vỗ vai Gia Hinh an ủi:

    "Đừng buồn, Hinh, không có cái đấy thì chơi lồng đèn đi vậy."

    "Thưa, con không buồn vì chuyện này."

    Nó cắn môi, nói, "Con chỉ thấy khổ thân cô gái kia."

    "Nhỉ?

    Tự dưng lại mất tích, không biết đi lạc hay bị bắt cóc..."

    Nhật Nam đang nói dở thì giật mình, xua đi, "Con xin lỗi, các hạ, con nói gở quá."

    "Không việc gì."

    Lắc đầu, phò mã tiếp tục xem tấu chương, thuận miệng hỏi, "Thế cái lọng hồi sáng thằng Hinh thấy là của ai?"

    "Bẩm, nô tỳ cũng đã đến nhà thị lang hỏi, người ta bảo sau tối đấy thì không thấy cái lọng nào cả.

    Nhưng tiệc thôi nôi hôm đó làm lớn lắm, chắc là các tiểu thư khác thấy thích nên về đặt làm theo kiểu dáng đấy."

    Người quay sang thằng út, dịu giọng:

    "Bản gốc mất rồi thì những cái làm nhái theo sau đó cũng như nhau cả.

    Chiều nay ta cho gọi người làm lồng đèn vào, con thử mô tả cái lọng đấy cho y thử xem y có làm được không."

    "Dạ... dạ vâng."

    Gia Hinh lắp bắp, bị Diễm Dương huých cho một cái mới nói thêm, "Con cảm ơn các hạ."

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    "Lần trước em chưa hỏi tên chị."

    Linh Như tưởng tim nó ngừng đập đến nơi.

    Theo bản năng, con bé né tránh ánh mắt lấp lánh đang ngó mình chằm chằm của thằng nhóc Gia Hinh, tìm kiếm Lan San với vẻ tuyệt vọng.

    Những đứa Quốc Tử khác đang tụ tập xung quanh y, xem y làm lồng đèn rồi.

    Vị Mê Hồn Sư này có thói quen vừa làm vừa nói chuyện nên chúng cũng hứng thú ngồi với y.

    Linh Như thì khác.

    Xung quanh phải im lặng tuyệt đối thì nó mới có thể tập trung được.

    Vốn nó ngồi một góc khuất khác, lịch sự từ chối lời mời trà bánh của Diễm Dương – cô gái với nụ cười làm nó nhớ tới công chúa Xích Anh – nói chung là tách biệt hoàn toàn.

    Cho đến khi Gia Hinh lân la đi sang ngồi cạnh và hỏi một câu làm con bé cảm giác mình sắp bị thiêu sống đến nơi.

    Sao có thể?

    Đầu óc con bé hoảng loạn, nhưng nó cố giữ cho dòng suy nghĩ mạch lạc: hôm trước ở trong rừng, Gia Hinh bị tiếng hổ dữ gầm làm cho ngất xỉu, hồn xiêu phách lạc, Lan San đã nhân cơ hội đó xóa ký ức của thằng bé đi.

    Chắc chắn không có sai sót gì ở đây.

    Ngay chính các vị thần cũng hài lòng với kết quả này – họ nói nếu giết phứt thằng bé đi thì hả dạ hơn, nhưng chí ít thì lần này ma thuật đã có hiệu quả.

    Vậy tại sao...

    Linh Như nuốt khan – tại sao nó vẫn còn nhớ?

    Con bé từng hỏi Lan San chính xác làm sao y khiến cho các Quốc Tử không nhớ y là ai được.

    Y đáp, không hẳn là chúng sẽ quên hết và lần tiếp theo gặp mặt sẽ là lần đầu tiên chúng có ấn tượng về y, chúng vẫn sẽ có khái niệm về thân phận của y: một người làm lồng đèn thích nói chuyện.

    Nhưng những đường nét trên gương mặt y sẽ mờ nhạt, giọng nói của y mơ hồ, chúng không thể rút ra được một kết luận gì về con người y cả.

    Và chẳng bao giờ chúng nghĩ tới việc hỏi tên y.

    Thời gian Linh Như im lặng có lẽ quá dài.

    Gia Hinh thì không có vẻ gì là ngại chờ đợi.

    Cuối cùng con bé cũng nghĩ ra được một cách thoái thác.

    "Cái tên hèn mọn của dân nữ không đáng lọt vào tai người tôn quý như Quốc Tử..."

    "Sao chị lại nói vậy?"

    Thằng bé vẫn hồ hởi, "Tên của nữ giới Tân Lang ta quý giá vô cùng đấy chứ.

    Ngoài chị Dương, tụi em đáng lẽ còn chẳng được có tên."

    Và đáng lẽ cũng không nên có.

    "Hơn nữa, chị đã giúp em mà."

    Gia Hinh nói tiếp, "Nhờ có câu chuyện chị kể về các em của chị, em mới nghĩ ra cách hàn gắn cho các anh chị của em.

    Đáng lẽ ra em nên tặng chị một món quà để báo đáp."

    Linh Như thầm nguyền rủa trong lòng.

    Ngoài miệng, con bé khách sáo nói:

    "Quốc Tử nói vậy tổn thọ dân nữ quá."

    Thằng bé cười tươi, lại hỏi:

    "Chị là người ở đây ạ?"

    "Vâng, thưa Quốc Tử."

    Linh Như bất đắc dĩ đáp.

    "Em đoán nhà chị phải có truyền thống làm nghề thủ công.

    Chị làm khéo quá."

    Nó chỉ vào khung thêu trong lòng con bé, "Cánh bướm này trông như thật ấy."

    "Quốc Tử quá khen."

    "Nếu chị là người ở đây... hẳn chị có quen một cô gái con nhà bán lụa biết làm lọng bướm chứ?

    Cái cô bị mất tích ấy."

    Cây kéo cắt chỉ của Linh Như vẫn đang được nắm chặt trong lòng bàn tay con bé.

    Ước gì có thể đâm lưỡi sắt này vào cổ họng Gia Hinh cho thằng nhãi im đi...

    Giờ nó hiểu chính xác tâm trạng của Lan San rồi.

    Tại sao nó phải bận tâm tới chuyện giữ mạng cho lũ Quốc Tử này ấy nhỉ?

    Tầm Phương.

    Phải, Tầm Phương muốn cho chúng một cơ hội.

    Linh Như hít sâu, cố gắng nghĩ tới cô bạn thân, nốt ruồi trên chóp mũi cô bé, rằng cô sẽ thất vọng và đau buồn đến mức nào nếu những Quốc Tử vô tội bị vạ lây, chỉ vì chúng bị cưỡng ép đưa tới đây, tách khỏi mẹ của mình, nuôi lớn bởi hung thủ giết cha.

    Linh Như nhìn Gia Hinh, ngạc nhiên nói:

    "Sao Quốc Tử hỏi vậy?"

    Nó bất ngờ thật.

    Người mà thằng bé vừa nhắc tới chính là nó đây.

    Sau khi Lan San lấy chiếc lọng bướm từ nhà thị lang về, con bé chưa từng mang ra đường bao giờ – nó thậm chí còn chẳng ra đường.

    Linh Như không có bạn bè thân thiết gì lắm, cũng không thường xuyên đi lại lung tung; trừ khi đụng phải gia đình của dì Bích, khả năng chốn kinh thành này có ai nhận ra nó thấp vô cùng, nhưng nó vẫn không dám đánh cược.

    Về phần cái lọng bướm, quả thực nó đã thấy một vài người cầm chơi.

    Chắc là các cô các bà ở tiệc thôi nôi về đặt người làm theo.

    Gia Hinh kể lại cái lọng mình thấy hồi sáng, miêu tả cho Linh Như nghe, rồi hỏi con bé có làm được giống như vậy không.

    "Dân nữ sẽ cố gắng."

    Linh Như đáp, "Tháng giêng kiêng động kim chỉ dao kéo, không tiện may vá, Quốc Tử đợi đến ra giêng có được không ạ?"

    "Được ạ!"

    Thằng bé cười toe toét, "Thế ra giêng em mới gặp lại chị nhỉ?"

    "Chắc là vậy rồi, thưa Quốc Tử."

    Gia Hinh vuốt lỗ tai mình.

    Nó nói linh tinh như chỉ đang kiếm một chủ đề bất kỳ tiếp tục được nói chuyện với Linh Như:

    "Khuyên tai của chị đẹp thật.

    Chị Dương có lỗ xỏ từ bé mà không thích đeo gì cả, bảo là vướng víu, tập võ bắn cung các thứ mà kẹt vào đâu đó thì dễ bị rách tai."

    "Ngài ấy nói đúng đấy ạ."

    Linh Như đáp, nhớ lại các chị và ngay cả chính mình cũng từng phải ôm tai đến nhờ Tầm Phương chữa cho mấy lần.

    Cái khuyên bằng đá mắt mèo của họ hơi cồng kềnh, chắc bản thiết kế ban đầu dành cho các cô phù thủy ở trong Chúc Thiên Các làm công việc biên thư soạn sách, nghiên cứu mà thôi, chưa từng nghĩ rằng họ sẽ phải động tới đao kiếm hay tập võ.

    Trước giờ năng lực của phù thủy cũng không dành cho việc đánh nhau.

    Ma thuật là món quà từ thần linh, chứ không phải công cụ để gây chiến, tranh giành quyền lực.

    "Em chẳng tập võ bao giờ."

    Gia Hinh nói, "Chắc không sao đâu."

    "Quốc Tử cũng muốn xỏ lỗ tai à?"

    "...Vâng."

    Trông nó có một vẻ đâm lao theo lao, sống chết mặc bay, làm Linh Như bất giác cong môi cười, "Nhưng các anh chị của em sẽ không cho đâu.

    Ít nhất cũng phải đợi tới khi em đủ tuổi trưởng thành."

    "Quốc Tử bao nhiêu tuổi rồi?"

    "Mười sáu ạ.

    Chị thì sao?"

    "Dân nữ cũng vậy."

    Thằng bé tròn mắt, khóe miệng kéo gần đến mang tai.

    "Em cứ tưởng chị lớn hơn.

    Đuôi mắt chị hằn sâu."

    "Ra đường nói vậy với con gái là bị đánh đấy, Quốc Tử ạ."

    Linh Như lườm nó.

    Gia Hinh gãi đầu, nói:

    "Nếu chúng ta đã bằng tuổi thì em... mình không gọi bằng chị nữa."

    "Thế còn tạm được."

    Con bé gật gù, ngước lên, nó thấy Lan San đã đứng dậy, bèn dọn khung thêu vào giỏ rồi nói, "Dân nữ phải về rồi."

    "Ồ."

    Thằng nhóc cũng đã thấy y gọi Linh Như, đành phải lùi về sau nhường chỗ cho con bé đi.

    Linh Như khẽ cười, gật đầu chào nó:

    "Tạm biệt Quốc Tử."

    "Hẹn gặp lại ch..."

    Suýt nữa đã gọi chị theo thói quen, nó uốn lưỡi nói lại, "Hẹn gặp lại."

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    "Thằng út nhà mình mắc bệnh tương tư rồi mọi người ơi!"

    "Em không có nhé!"
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Chương Mười Bốn


    tháng chạp, năm Ất Tỵ, căn hầm dưới nhà Lan San

    "Em muốn một lời giải thích."

    "Cưng ơi, trời đánh còn tránh miếng ăn..."

    Linh Như cắt lời y:

    "Ngay.

    Bây.

    Giờ."

    Lan San thở dài.

    Y bất đắc dĩ đặt chén đũa xuống bàn.

    Miếng cá thu chiên chưa kịp ăn chỏng chơ trong lòng chén.

    Sau khi rời khỏi hoàng cung, hai phù thủy trở về cửa hàng lồng đèn của cha Lan San.

    Họ không thể trao đổi gì trước sự theo dõi sát sao của những tên lính áo gấm trắng cùng bầy ong mà lão thái giám già người Túc Mộc nuôi.

    Linh Như cũng vừa được biết đó là cách để chúng tìm ra các phù thủy.

    Cha y là một người hiền hậu.

    Ông đã chuẩn bị bữa cơm nóng này cho họ.

    Theo truyền thống Tân Lang từ trước cả khi vùng đất này có vua và được đặt tên, sau khi kết duyên, người chồng sẽ sang nhà vợ ở rể và phụ việc gia đình vợ.

    Cha Linh Như đã theo mẹ Chu Anh rồi sau này theo dì Bích.

    Còn nhà mẹ Lan San lại là dân du mục, họ không ở một nơi nào cố định, mà cũng chẳng muốn có thêm thành viên nam nào gia nhập, nên cha của y vẫn ở lại nhà mình.

    Vậy mà cũng may – sau vụ thảm án và mẹ Lan San mất, ông không bị liên lụy gì, vì chẳng ai hay biết về mối duyên giữa họ.

    Ông nuôi Lan San lớn lên trong bí mật.

    Sau này y muốn rời đi để gia nhập công chúa Xích Anh, ông cũng không ngăn cản y.

    Ông chưa bao giờ tái hôn.

    Vị Mê Hồn Sư kéo con bé ngồi xuống đối diện mình, vừa bới cơm cho nó vừa giải thích:

    "Về cơ bản, kế hoạch của chúng ta vẫn thành công.

    Nhưng... các vị Tam Hồn...

    đã không xóa ký ức về em ra khỏi đầu thằng Gia Hinh."

    "Tại sao?"

    "Không nên chất vấn hay hoài nghi thần linh."

    Giọng y nghiêm trọng, "Có điều, tôi đoán là vì họ vẫn không thật sự thoải mái với em."

    "Tại vì em là con của mẹ em?"

    "Vì em sử dụng bùa chú trước mặt họ."

    "..."

    Được rồi, nó đã tự chuốc họa vào thân, Linh Như thở dài khó chịu, "Vậy giờ em phải làm sao?

    Các vị Tam Hồn muốn gì chứ..."

    Lan San trấn an con bé, đưa cho nó đôi đũa gỗ, gắp thức ăn vào chén nó:

    "Họ sẵn sàng ban cho em một ân huệ nữa.

    Hồn vía thằng Gia Hinh đã suy yếu hơn lần trước rất nhiều rồi, nhưng nếu muốn xâm nhập vào đầu óc của nó như với anh chị nó, tôi vẫn cần nó ở trong tình trạng hoảng sợ.

    Hãy để đây trở thành bài học cho em, Như à, các vị thần sẽ không bao giờ dung thứ cho bùa chú.

    Cất nó vào kho đi, và đừng bao giờ đụng vào nữa."

    Con bé chẳng có lòng dạ gì để ăn uống.

    Nó đặt chén đũa mà Lan San dúi vào tay nó xuống bàn.

    Miệng nó chua loét.

    Dẫu biết điều này nghe thật nhảm nhí, con bé vẫn nói:

    "Đó là di sản của mẹ em.

    Đó là... thứ duy nhất về thế giới này mà em có thể biết được.

    Bùa chú đối với em dễ dàng như hát lại một câu hò mẹ ru em ngủ hồi nhỏ vậy.

    Làm sao em có thể vứt bỏ nó được?"

    Nó lẩm bẩm, "Điện hạ cũng dùng bùa chú."

    "Em là công chúa à?

    Điện hạ dùng bùa chú để cất giữ tiên thuật của chính ngài.

    Ma thuật của em từ đâu mà ra?

    Các vị thần mắt nhắm mắt mở vì ngài là dòng dõi Hỏa Thần, nhưng em chỉ là một người bình thường."

    Đuối lý, Linh Như ngậm miệng luôn.

    Lan San vẫn nhìn chằm chằm nó.

    Rồi con bé cũng thỏa hiệp:

    "Được rồi, em biết rồi.

    Em hứa không dùng bùa chú tùy tiện nữa."

    "Là không dùng hẳn luôn, Như."

    "Em hứa."

    Y cười buồn:

    "Như ơi, xung quanh em có đủ loại phù thủy trên đời, em luôn có thể hỏi chúng tôi mà!

    Tôi nghe nói Thổ Công sẵn sàng thu nhận em – bà cố em là một Văn Địa Sư, đúng chứ?

    Nếu làm Vấn Thánh Sư khó quá thì quay đầu là bờ."

    Linh Như gật đầu cho qua chuyện.

    Suy nghĩ của nó vẫn không thay đổi.

    Thấy tội con bé nên Lan San cố thuyết phục nó ăn một ít, nhưng nó không có tâm trạng gì.

    Y đành dọn mâm cơm lên lầu.

    Khi trở về, y đem cho nó một ly nước mía, rồi phải nhanh chóng trở ngược lên để phụ việc.

    Mọi người đang tất bật chuẩn bị đón Tết – cả trăm đơn hàng làm lồng đèn đang đợi họ.

    Các cô chú của y đều là người hiền lành.

    Họ làm Linh Như nhớ tới dì Bích.

    Chỉ còn một mình dưới căn hầm cùng ly nước mía ngọt lịm, Linh Như lôi chiếc lọng bướm ra ngắm nghía.

    Nếu hôm đó không có biến cố gì, hẳn con bé đã kiếm được bộn tiền với món hàng này.

    Và nếu Tầm Phương không tìm đến con bé, có thể nó sẽ cố gắng quên đi cảnh tượng con gái nhà thị lang, quên đi cái tát của cha mình, rồi sống tiếp.

    Giống như điều nó đã từng làm sáu năm về trước.

    Mà có lẽ nó chưa từng thật sự quên mẹ.

    Nó vẫn còn nhớ cách bà viết, những câu chuyện bà kể in hằn trong đầu, nó chạy đi ngay khi biết có cơ hội trả thù cho bà.

    Mỗi khi sợ hãi hay quẫn trí, Linh Như đánh lạc hướng mình bằng cách làm những món đồ thủ công bà từng dạy.

    Chiếc lọng bướm này đúng là đồ nó tự nghĩ ra, nhưng cách phối màu, căng vải, thêu trang trí...

    đều do mẹ dạy nó.

    "Mẹ ơi..."

    Con bé thì thầm, đầu ngón tay lướt trên tấm vải xanh, "Còn mấy ngày nữa là sang năm thứ bảy con không có mẹ rồi."

    Con nhớ mẹ lắm.

    Nó dụi nước mắt khi nghe tiếng gõ cửa.

    "Như ơi?"

    Lan San thò đầu vào, miệng cười toe toét, "Xem ai đến thăm mình này."

    "Chị Hà!"

    Linh Như reo lên đầy bất ngờ.

    Giọng nó còn hơi nghẹn nhưng hai chị em ôm chầm lấy nhau trước khi có ai đó kịp để ý.

    Mọi âm thanh chìm nghỉm trong vòng tay đó.

    Hai bím tóc của chị mang theo mùi đất ẩm sau mưa – Linh Như đoán là chị độn thổ tới – cách chị cười làm con bé liên tưởng tới một mặt trời vén màn mây đen, và sau khi cởi cái áo choàng đi đường, chị nói không ngừng nghỉ.

    Ngày chia tay, Yên Hà và Tình Huyên đi về phía nam có nạn lũ lụt.

    Lính ở đó hầu hết đều là người Tân Lang, chỉ có thiểu số các quan tri phủ là người Túc Mộc, và cũng như bao đời quan lại từng được phái tới nơi này, gặp chuyện là họ trốn chui trốn nhủi trong phủ, sống chết mặc bay.

    Lúc hai nàng phù thủy đến nơi thì đê đã gần vỡ rồi.

    Yên Hà dùng ma thuật để đắp đất cao lên và làm chậm dòng chảy của nước, trong khi Tình Huyên bí mật lập đàn cầu nắng.

    Cuối cùng thì trước ngày cúng Hỏa Thần lũ cũng đã rút.

    "Dân ta sẽ được ăn tết trong yên lành."

    Yên Hà nói với một nụ cười thỏa mãn, "Giá mà các em thấy cảnh họ ăn mừng – lúc đó chị cảm giác như có bị phát hiện rồi ném lên giàn thiêu cũng đáng."

    "Chị đừng nói thế."

    Linh Như cau mày, "Không ai phát hiện ra các chị thật ạ?"

    "Tất nhiên."

    Chị ngả đầu tựa lên vai nó, vui vẻ nói, "Những người có tiếng nói ở khu đó đều là nghĩa quân phe mình."

    "Nhưng..."

    "Đừng có lo lắng nữa.

    Chẳng phải chị đã ở ngay trước mặt em rồi sao?"

    Con bé không thể không lo được.

    Yên Hà chậc lưỡi, đưa tay vuốt phẳng nếp nhăn giữa hai chân mày con bé.

    Chị nói tiếp:

    "Tình Huyên về Rừng Thiêng với công chúa rồi.

    Những người khác e là còn lâu lắm mới xong việc.

    Chỗ Tầm Phương còn chưa đâu vào đâu."

    "Bệnh dịch lần này có vẻ nguy hiểm hơn những lần trước nhiều."

    Lan San nhận định, "Lúc nãy nghe tụi Quốc Tử cũng có nói tới việc vận chuyển lương thực và thuốc men tiếp tế lên đó."

    Dạ dày Linh Như thót một cái:

    "Chúng định lên đó ạ?"

    "Mơ hả?

    Tên phò mã nào nỡ để đám con cưng của hắn dấn thân vào chỗ nguy hiểm như vậy!

    Tất nhiên là một đoàn lính Tân Lang rồi."

    Y đáp, "Ma thuật của Thiết Phách Sư không lộ rành rành như Vọng Thiên Sư hay Văn Địa Sư đâu, cùng lắm thì người ta nghĩ Tầm Phương là thần y hay gì đó thôi."

    "Khoan, cái Như không biết à?"

    Yên Hà thắc mắc, "Chị tưởng hai đứa đi chung?"

    Lan San nhướng mày để con bé tự trả lời.

    Nhưng Linh Như ấp úng – nó không dám nói thẳng với chị rằng lúc nãy nó chẳng chú ý tới gì khác ngoài Gia Hinh, thằng Quốc Tử mà đáng lẽ phải bị xóa ký ức về họ, lại nhớ được con bé.

    Lý do cho sự sơ suất này là vì nó đã dùng bùa chú ngay trước mặt các vị Tam Hồn.

    Bùa chú lấy ma thuật của chị Tình Huyên.

    Chị Yên Hà còn đang nhìn nó, nên nó đành nói rằng Gia Hinh cứ bám dính lấy mình, làm nó không nghe ngóng được gì.

    Lời nói dối hiệu quả nhất luôn là một nửa sự thật.

    Chị tin nó ngay.

    Yên Hà đảo mắt:

    "Lần đầu thấy gái hay sao mà tươm tướp thế?"

    "Chị đừng đùa."

    Linh Như nghiêm túc nói, "Nó gọi em bằng chị cả buổi, như thể nó chưa từng nói chuyện với đứa con gái nào ngoài chị của nó ấy."

    "Chị nghĩ tụi bây giết quách nó đi cho rồi."

    Lan San lắc đầu:

    "Tầm Phương sẽ giết tụi em đấy."

    "Đành xóa ký ức nó thêm một lần nữa thôi."

    Con bé thở dài, "Rõ phiền."

    Yên Hà cười khổ, vuốt ve mái tóc ngắn ngủn của Linh Như.

    Rồi chị hỏi:

    "À, Tình Huyên bảo chị hỏi em, cái gì về tụi Quốc Tử ấy.

    Hình như cô nàng bảo em để ý tụi nó?"

    Con bé ậm ừ – nó vẫn còn chột dạ khi nghe tới nàng Vọng Thiên Sư:

    "Vâng.

    Quả thật em thấy hơi ngờ ngợ..."

    "Hửm?"

    "San đã bao giờ có cảm giác là cái cô Diễm Dương khá giống công chúa chưa?"

    Nó ngước lên ngó Lan San, "Nụ cười ấy."

    Diễm Dương, người con gái duy nhất trong các Quốc Tử, vừa được phò mã giao cho chức trách chủ trì lễ cúng tế Hỏa Thần.

    Giờ khắp những con đường ngõ hẻm trong kinh thành, ai ai cũng đang bàn tán chuyện này.

    Lễ tế Hỏa Thần là việc trọng thể, ngoài đương kim thánh thượng được lên đàn dâng hương ra thì chỉ thái tử có tư cách đó mà thôi.

    Sau tết hạ nguyên, phò mã lâm bệnh nặng, lão thái giám thân cận với hắn thay mặt nhiếp chính; bất mãn với điều đó nên phần lớn bá quan văn võ đều muốn tiến cử Tỏa Phong, người anh cả, trở thành Giám Quốc Quân.

    Thế mà Diễm Dương lại là người được thay mặt hắn khoác phượng bào.

    "Tôi chưa thấy nó cười bao giờ.

    Mặt mày lúc nào cũng bí xị."

    Lan San nói với vẻ nghi hoặc, "Chắc là vì biết mùi quyền lực rồi nên tâm trạng cũng phấn khởi hơn chăng?"

    "Người Túc Mộc trọng nam khinh nữ, sao Triệu Thiên lại chịu chọn người kế vị theo lề thói Tân Lang?

    Phải chăng thân phận của Diễm Dương có gì đặc biệt?"

    Linh Như đặt giả thuyết, "Ngũ quan cô ta không giống công chúa, nhưng em cứ cảm giác quen quen."

    Yên Hà khoanh tay trước ngực, trầm ngâm nói:

    "Đức vua sinh được ba người con, hai vị hoàng tử cùng một hoàng nữ.

    Nếu hoàng nữ còn sống... hình như cũng bằng tuổi cái cô Diễm Dương này."

    "Thật phi lý."

    Lan San phản đối, "Em đã tiếp xúc với Diễm Dương mấy năm nay rồi, chưa từng cảm nhận được tiên thuật từ cô ta!

    Tiên thuật của hoàng thất không khác ma thuật của chúng ta là mấy – họ phải thờ cúng Hỏa Thần, dành cho ngài sự tôn kính tuyệt đối.

    Nhưng Diễm Dương không tin thánh thần.

    Hai chị em phải nghe cách cô ta phỉ báng cụ thủy tổ mình hồi còn trong tuổi nổi loạn.

    Đây còn là lần đầu tiên cô ta nghiêm túc cúng tế Hỏa Thần...

    Nói chung là cô ta không thể sở hữu tiên thuật được!"

    Linh Như lại nghĩ khác.

    Nó lập luận:

    "Con người bắt đầu thờ cúng thần linh từ lời cảnh báo về quyền lực của các vị thần, từ nỗi sợ về những gì họ có thể làm với vận mệnh của chúng ta.

    Diễm Dương chối bỏ thần linh vì cô ta nghĩ rằng họ đã bỏ rơi mình, nhưng nếu có một chuyện làm cô ta sợ hãi hơn cả thì sao?"

    "Ý em là việc phò mã đổ bệnh?"

    Yên Hà bối rối tiếp lời, "Đến chúng cũng không biết hắn giả vờ?"

    "Mối quan tâm lớn nhất của Diễm Dương là người cha nuôi mà cô ta kính yêu.

    Cô ta không thể cảm thấy tự hào và hãnh diện, hay thỏa mãn với quyền lực, khi được chọn làm người kế vị cho phò mã!

    Điều duy nhất cô ta muốn là hắn được bình yên và mạnh khỏe."

    Mặt Lan San trắng bệch khi y nhận ra:

    "Cô ta đã tin vào phép màu từ giọt máu nóng của loài hổ tinh."

    "San từng cho rằng chuyện đó chẳng quan trọng, em lại nghĩ biến số nằm ở chính những thứ nhỏ nhặt như thế.

    Khi cô ta bắt đầu tin vào phép thuật, sự hiện diện của thần linh không còn là điều quá khó để chấp nhận nữa."

    "Nhưng – cứ coi là giả thuyết của em đúng đi – tại sao Triệu Thiên phải giữ lại mạng sống cho hoàng nữ?

    Nếu là tôi thì tôi đã..."

    Lan San đổi giọng thì thầm, "Loại trừ ngay ấy chứ.

    Biết đây cô ta không phải hoàng nữ mà là con riêng của hắn?

    Trường hợp này khả thi hơn nhiều.

    Này nhé, nhận nuôi các Quốc Tử làm con tin vừa để phòng ngừa các dòng họ quốc công tiếm ngôi, vừa có thể làm bình phong cho con ruột của hắn danh chính ngôn thuận thừa kế ngai vàng."

    "Chỉ có một cách duy nhất để biết thôi."

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Chu Diên đã gỡ đóa hoa cài trên tóc ra trước khi xuống thuyền, nhưng đến tận nửa đêm, Tỏa Phong vẫn còn ngửi thấy mùi hương ấy trên tóc y.

    Ngọt ngào hơn cả rượu hảo hạng.

    Những ngón tay anh cứ quyến luyến lọn tóc ấy không nỡ buông ra.

    Đêm hăm bốn, trăng tàn.

    Phò mã dần khỏe lại.

    Lũ trẻ không còn cãi vã nữa.

    Khúc nhạc của Chu Diên đã trở lại giai điệu xưa.

    Giá mà anh có thể tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc này.

    Tiếng đàn bỗng dưng im bặt.

    Anh ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh mắt sâu thẳm chất chứa nhiều tâm sự.

    Chu Diên khẽ rủ hàng mi, ngón tay lại lướt trên đàn, dùng nốt nhạc để hỏi anh: có phải anh còn bận lòng việc phò mã để Diễm Dương chủ trì lễ tế không.

    Trở về hoàng cung là trở lại cái lồng từng giam giữ họ.

    Tỏa Phong lại thấy những con ong mật vo ve bên hành lang, ở ngoài khung cửa sổ, đậu ngay trên tay nắm cửa phòng.

    Họ đành dùng thứ ngôn ngữ rất riêng này để trao đổi suy nghĩ thầm kín – thứ âm thanh mà lũ ong đó không thể giải mã rồi báo lại cho lão thái giám được.

    Chu Diên yên lặng đợi anh trả lời.

    Tỏa Phong lắc đầu.

    Anh chẳng bất ngờ gì mấy với chuyện này.

    Điều Diễm Dương làm cho phò mã còn hơn cả dũng cảm, và các hạ luôn có quyền chỉ định người kế vị mình theo ý muốn.

    Dù gì người cũng đến từ Túc Mộc, hoàng thất quê người – nói thẳng ra – chọn thái tử dựa trên mức độ được vua cha yêu thích.

    Nếu không người cũng chẳng thể sang Tân Lang làm phò mã.

    Có điều...

    Túc Mộc cũng là nước xem trọng nam giới.

    Nữ nhi trong phong tục nước họ không có địa vị cao, không có tiếng nói, không được xem là có tư cách cạnh tranh trong bất kỳ lĩnh vực nào.

    Phò mã luôn yêu thương Diễm Dương, tất nhiên rồi, nhưng để nói người thật sự có ý định bồi dưỡng cô như các Quốc Tử khác thì chưa bao giờ.

    Tôi biết chính anh là người tặng cái Dương mặt dây chuyền hổ phách đó.

    Chu Diên gảy dây đàn.

    Tỏa Phong không chối bỏ sự thật đó, chỉ dụi mặt vào vai y hòng xin thứ lỗi cho sự tiền trảm hậu tấu này.

    À, anh "trảm" rồi còn chẳng có ý định "tấu".

    Mặt dây chuyền hổ phách là món di vật duy nhất anh được thừa kế từ người cha quá cố của mình.

    Anh đã lao vào đống lửa hỏa táng Hoài Viễn tướng quân để giành lấy nó, hậu quả là vết phỏng xấu ma chê quỷ hờn này, nguyền rủa anh suốt cả phần đời còn lại.

    Nhiều năm qua, máu hổ trong mặt dây chuyền đó đã cạn hết.

    Khi có ý định tranh giành vị trí trữ quân, Tỏa Phong không thể không kiêng dè Diễm Dương – ý nguyện của phò mã là một chuyện, dư luận trong triều, những người vẫn giữ quan niệm ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng.

    Theo kế hoạch của anh, và nó đã thành công một nửa, Diễm Dương sẽ bất chấp mọi thứ để kiếm được máu tươi của hổ tinh, và phò mã, với sự căm thù phù thủy, sẽ mích lòng.

    Anh có nghĩ đến trường hợp tệ hơn không?

    Tỏa Phong gần như đã không tin phò mã sẽ ra lệnh hành hình Diễm Dương vì tội làm phép phù thủy.

    Trước kia anh chỉ nghĩ người yêu thương Diễm Dương vì cô là một đứa con gái, nhưng sau khi thấy rõ thái độ của người, anh buộc phải đặt nghi vấn rằng liệu có phải còn lý do gì sâu xa hơn chăng.

    Hỏi thẳng cô thì e là không thu hoạch được gì.

    Nếu muốn nói, cô đã nói luôn rồi.

    Anh cần nói chuyện riêng với Nhật Nam – cảm giác cậu đang cùng cô giấu giếm cái gì đó, kể từ sau khi họ đi săn về – nhưng từ giờ tới khi họ trở về Quốc Tử Giám thì việc đó gần như bất khả thi.

    Điểm trừ của trò dùng tiếng đàn để giao tiếp là chỉ có Chu Diên mới nói được thôi.

    Anh mù nhạc.

    Tỏa Phong chỉ có thể cho y biết rằng mình không bận lòng chuyện, có thể, sẽ vuột mất vị trí Giám Quốc Quân, những dự định còn lại, anh không cách nào nói ra được.

    Chu Diên lại gảy đàn.

    Y nói, y sẽ đợi.

    Đợi ngày họ có thể cất lên tiếng nói mà không cần sợ hãi.

    Từ giờ tới lúc đó, dù y không thể biết điều anh dự tính, y vẫn sẽ tin tưởng anh vô điều kiện.

    Tỏa Phong nắm lấy tay y, siết chặt.

    Đừng để danh vọng làm mờ mắt anh.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    "Cô em có nghĩ là Gia Hinh thích cô làm lồng đèn ấy thật không?"

    Đó là chủ đề duy nhất mà tụi Quốc Tử bàn tán từ chiều hôm qua đến giờ.

    Chân Định khởi xướng, rồi Hoài Hoan hùa theo, rêu rao ầm ĩ, tới bữa cơm tối thì đến phò mã cũng biết chuyện này.

    Người cứ cười cười rồi trêu Gia Hinh.

    Tội nghiệp thằng bé, mặt đỏ lựng, cắm mặt xuống đất không dám ngước lên.

    Nó càng ngượng ngùng thì các anh càng trêu nó nhiều hơn.

    Phải để Vũ Ninh nạt cho một trận, hai người kia mới chịu thôi.

    Trong thâm tâm, chị thấy mừng là mình và Nhật Nam đã có thể lại trò chuyện thoải mái như xưa, sau biết bao hiểu lầm và cố gắng công kích vào chỗ đau nhất của đối phương.

    Chị mừng đến mức sẵn sàng bỏ qua câu trêu chọc của anh.

    Bây giờ hai người cùng ngồi bên hồ nước trong ngự hoa viên, ống quần lụa vén lên đến đầu gối, thả chân xuống mặt nước lạnh cóng – được rồi, đây có lẽ không phải là sáng kiến hay, chị rút chân về rồi ngồi xếp bằng – và ném thức ăn cho cá ra thật xa, ngắm những con cá cảnh đủ màu quẫy đuôi dưới nước.

    "Anh nghĩ hơi nhiều rồi đấy.

    Tôi còn không chắc nó biết thích nghĩa là gì."

    "Thằng út lớn đùng rồi!

    Sang năm nó mười bảy đấy, cô em có biết chuyện đó không?

    Hay ngài bận bịu quá nên không để ý?"

    Giọng Nhật Nam trào phúng.

    Anh giơ tay kéo giật tóc chị.

    Lực giật nhẹ thôi, nhưng đủ bất ngờ để Diễm Dương ngã nằm xuống cạnh anh.

    Chị giật tóc lại, hừ giọng.

    Anh khúc khích cười.

    Nắng chiều cuối năm như một tấm chăn đắp lên người họ.

    Diễm Dương đưa tay lên lót sau đầu, nhìn những đám mây chậm chạp trôi qua.

    Mặt trời trên cao soi bóng trong đôi mắt của chị.

    Vào ngày cuối năm thế này, chính ông cũng trở nên lười biếng.

    "Kệ thằng Hinh đi."

    Nhật Nam lên tiếng, "Sau tết... cô em sẽ không về Quốc Tử Giám nữa."

    "Anh nói gì thế?"

    "Đừng cố giấu nữa.

    Tôi biết tất cả mưu ma chước quỷ trong bụng cô em..."

    Nhật Nam lấy đâu ra một cọng cỏ khô, khều nhẹ mũi chị với nó, "Cô em sẽ rời khỏi đó ngay khi có thể."

    "Chắc anh vui lắm nhỉ?"

    Diễm Dương hỏi, nửa thật nửa đùa, "Sẽ chẳng có ai nhắc anh im lặng sau giờ Hợi nữa đâu."

    Kỷ luật trong tòa Quốc Tử Giám đã luôn lỏng lẻo.

    Các bà vú nuông chiều sự hiếu động của chúng, còn các tiên sinh dạy học cho chúng thì chẳng buồn cố gắng rèn giũa nền nếp – họ nói họ không được trả lương để làm điều đó.

    Tỏa Phong và Chu Diên từng đóng vai trò như phụ huynh của cả đám, các anh lớn thông thái biết điều gì nên làm và không nên làm, chấn chỉnh mấy đứa nhỏ tuổi dậy thì xốc nổi; nhưng từ sau khi họ có công việc và phải vài tháng mới về lại trì Tam Điệp một lần, chúng trở thành mấy con ngựa đứt cương háu đá.

    Vũ Ninh và Diễm Dương là hai người có ý thức tốt mà cũng phải lực bất tòng tâm với hai đứa út, những đứa ngây thơ quá dễ bị lôi kéo theo những trò nhảm nhí hai ông anh bày ra.

    Không khó để tưởng tượng nếu năm sau, chỉ còn Nhật Nam ở lại với Chân Định và Gia Hinh, Quốc Tử Giám sẽ hỗn loạn thế nào.

    Diễm Dương thường nói may mà tách được Hoài Hoan ra khỏi Nhật Nam.

    Hễ hai người họp lại bày trò là y như rằng...

    Nhật Nam im lặng lâu hơn Diễm Dương nghĩ.

    Chị tò mò quay sang, thấy anh cũng đang nhìn mình, và anh nói:

    "Có lẽ là không."

    "Hửm?"

    "Có lẽ... tôi sẽ không vui lắm.

    Tôi sẽ nhớ cô em."

    Chị bĩu môi:

    "Anh nhớ tất cả mọi người.

    Anh khóc suốt đêm vào ngày đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết mà Tỏa Phong không về Quốc Tử Giám với mình."

    "Thì đó là điều tôi muốn nói!"

    Diễm Dương phá ra cười – dạo này chị cười nhiều hơn hẳn, tâm trạng cũng thoải mái hơn, không hiểu sao:

    "Tôi cũng sẽ nhớ anh."

    Chị tủm tỉm cười, mắt cong cong, "Chắc là không nhiều bằng nhớ hai thằng út thôi."

    "Vinh hạnh quá cơ."

    Anh ném cọng cỏ khô vào người chị, quay mặt về đối diện với bầu trời.

    Cầm nó trong tay, chị nói khẽ:

    "Chăm sóc tụi nhỏ cho đàng hoàng nhé?"

    "Biết rồi.

    Tôi quậy thật nhưng cũng đâu có vô trách nhiệm tới mức đó."

    Chị tin anh.

    Thật khó để hoài nghi Nhật Nam khi anh nói chuyện một cách nghiêm túc.

    Sóng nước gợn lăn tăn trên mặt hồ dưới chân họ.

    Phía xa là tiếng kẻng thông báo cho các Quốc Tử đã đến giờ phải chuẩn bị cho cung yến tối nay.

    Theo thông lệ, năm ngày cuối tháng chạp sẽ bày yến tiệc linh đình, mỗi ngày ứng với năm vị thần khai lập thế giới.

    Diễm Dương ngồi dậy, ném trả cọng cỏ khô cho anh, đứng lên mang giày.

    Nhật Nam cũng đứng dậy theo – anh mang giày xong trước, nán lại giữ tay Diễm Dương cho chị điểm tựa.

    Họ cùng trở về cung để thay đồ.

    Hai đứa út hẳn cũng đang trên đường, hồi sáng chị vừa thấy chúng dẫn nhau đi bắt dế chọi chơi.

    Thời gian này các Quốc Tử chẳng có việc gì làm ngoài ăn, chơi với ngủ.

    Tất nhiên, từ Vũ Ninh trở lên vẫn còn bận bịu.

    Tối mịt họ mới về và sáng tinh mơ đã ra ngoài.

    "Mình cũng sắp được như vậy."

    Diễm Dương thầm nghĩ và thấy hào hứng vì điều đó.

    Số mệnh huy hoàng mà phò mã hứa hẹn.

    Người vẫn đang cân nhắc nên giao cho chị công việc gì.

    Với Quốc Tử nào, người cũng chọn việc phù hợp với tài năng của chúng.

    Tỏa Phong có tài hội họa thì đưa vào bộ Công để quy hoạch thiết kế.

    Chu Diên nghiễm nhiên chịu trách nhiệm mảng nhạc ở bộ Lễ.

    Hoài Hoan được huấn luyện đặc biệt trong bộ Binh.

    Vũ Ninh kiểm soát gắt gao bộ Lại.

    Sau khi loại trừ như vậy, Diễm Dương đoán mình sẽ được phân vào bộ Hộ hoặc bộ Hình.

    "Bộ Hộ chán chết.

    Bộ Hình có lẽ hợp với bản chất dã man của cô em hơn."

    Nhật Nam bình luận, "Hoặc... cô em chẳng cần đi đâu cả."

    "Phỉ phui cái mồm anh đi."

    "Tôi không đùa."

    Thái độ của anh thay đổi đột ngột; họ đã về gần đến nơi, nhưng Nhật Nam kéo chị núp sau một hành lang, hạ thấp giọng, "Ngọn lửa thiêu đốt con hổ tinh hôm đó chắc chắn là do cô em gọi ra, và đó là tiên thuật mà chỉ hoàng thất mới sở hữu.

    Cô em phải nói điều này với các hạ, Diễm Dương à, càng sớm càng tốt."

    Lồng ngực chị nghẹn lại, gần như không thở được.

    Từ sau khi trở về từ bãi săn, họ đều ngầm thỏa thuận không nhắc tới chuyện này, cũng như cuộc tranh cãi giữa họ trước đó – để lại quá khứ, gác ra sau đầu.

    Nhưng rõ ràng có những thứ không thể cứ mãi trốn tránh.

    Chị biết Nhật Nam chỉ đang lo lắng cho mình thôi.

    "Nếu các hạ đã biết ngay từ đầu thì sao?

    Tôi biết tôi thường nghĩ về các hạ như một vị thánh cứu rỗi mình, nhưng tôi cũng biết chính người đã giao tôi cho những bà vú người Túc Mộc đó."

    Phò mã đã không biết họ là phường ác nhân thất đức như thế.

    Suốt thời gian đó người đang săn phù thủy.

    Người mang chị ra khỏi đó ngay khi người trở về.

    Diễm Dương nuốt khan:

    "Ý tôi là, các anh đều là dòng dõi Thất Đẩu Tướng.

    Sẽ thật vô lý nếu phò mã chỉ tình cờ nhặt được có một mình tôi.

    Nếu... nếu tôi quả là hoàng nữ đã may mắn sống sót sau thảm án năm xưa... và các hạ phải giấu sự thật đó khỏi tôi bao năm nay để tôi được trưởng thành như một người bình thường...

    Tại sao phải vạch trần điều đó?"

    Chị gạt nước mắt, gằn giọng, "Tôi không quan tâm rằng tôi có mẹ cha nào khác ngoài phò mã, tôi thật sự không thể quan tâm được, anh có hiểu không?"

    "...Tôi hiểu rồi.

    Tôi xin lỗi, Dương."

    Anh lau nước mắt còn đọng trên mi chị, vết chai trên ngón tay thường bóp cò súng lướt qua má.

    Bàn tay kia của anh vụng về đặt sau lưng chị, xoa nhẹ dỗ dành.

    Tiếng kẻng lại vang lên một lần nữa.

    Diễm Dương hắng giọng, nghe tiếng bước chân càng lúc càng đông, càng lúc càng gần, chị vỗ lên cánh tay anh, rồi đi trước.

    Nhật Nam nối gót, đi ngay sát sau lưng chị.

    Vừa vào sảnh đã nghe các bà vú xuýt xoa – hai thằng út chẳng biết đi chơi ở đâu về mà cả người lấm lem toàn bùn với đất, mặt đen thui, áo hôi rình.

    Chúng bị đẩy đi tắm ngay.

    Nhật Nam thay một bộ áo gấm đơn giản, thắt lưng bằng dây bện màu trắng, khoác áo đối khâm nhạt màu bên ngoài rồi ngồi rung đùi trên phản, vừa đọc sách vừa đợi các em.

    Đọc sách chán rồi thì anh chuyển sang ném cầu mây.

    Tự ném tự chụp cũng không có gì vui, anh nằm dài ra phản, nhìn trần nhà mỗi lúc một tối hơn.

    Chẳng biết đã qua bao lâu, các cung nhân bắt đầu thắp đèn dầu, vậy mà ba đứa kia vẫn chưa xong.

    Giữa giờ Dậu, hai anh Tỏa Phong và Chu Diên về, thay áo rồi ra đợi cùng Nhật Nam.

    Rồi đến lượt Hoài Hoan cũng về tới.

    Tên này chỉ cần xối ào một lượt nước thôi.

    Dân tập võ đổ mồ hôi thường xuyên nhưng lại không bao giờ nghe mùi.

    Thằng út thế mà xong đầu tiên, mặc áo mới chạy ra nhập bọn, lúc này tóc nó đã trở lại những lọn xoăn tít và thơm mùi bồ kết.

    "Đàn gì thế ạ?"

    Thằng bé tròn mắt ngắm món bảo bối mới của Chu Diên – hộp đàn dài cẩn xà cừ lấp lánh, một dây đàn chạy từ đầu to tới đầu nhỏ, cố định lại ở giữa thân của quả hồ lô.

    "Đàn bầu đấy!"

    "Anh Diên của chúng mày rõ lắm chuyện."

    Tỏa Phong đứng một bên, khoanh tay, dẩu môi, "Đi xem hát mà toàn nhìn cây đàn, nằng nặc xin mua lại của người ta nữa.

    Ông cầm sư bảo sang phố bên cạnh tìm, anh hai mày đòi đi cho bằng được, rốt cuộc không mang đủ tiền mua đàn, còn phải mượn của tao."

    "Mượn?

    Lúc nãy anh bảo cho tôi luôn kia mà!"

    Anh hai ôm khư khư cây đàn, cười đến là hạnh phúc, "Quân tử nhất ngôn cửu đỉnh, giờ anh lại tính nuốt lời hử?"

    "Ông ấy không dám đâu, anh ơi!"

    Hoài Hoan cười lớn, vòng tay khoác vai Chu Diên, "Mà người ta không sợ vết bỏng của anh cả à?"

    "Mấy đứa con nít tưởng tao là ông kẹ.

    Mẹ tụi nó cũng sợ tao, nhưng tranh thủ dụ tụi nó ăn hết chén cháo rồi mới chạy."

    Chân Định thì xong xuôi đúng lúc Vũ Ninh về.

    Té ra lúc gội đầu xong, bà vú thấy tóc nó dài quá, bèn bắt nó ngồi im để cắt lại.

    Giờ đầu nó chẳng khác nào cái gáo dừa.

    Mặc kệ Quốc Tử khóc rền, bà vẫn kiên quyết cắt, vì còn lừng khừng nữa thì sang năm mới, kiêng đụng dao kéo, đến ra giêng thì đầu nó thành tổ quạ mất rồi.

    Chân Định than thở:

    "Anh Diên tóc dài đến thắt lưng chả thấy ai nói gì!"

    "Anh Diên đẹp, để tóc gì chẳng đẹp.

    Mày có đẹp bằng anh Diên không?"

    Tỏa Phong cố tình trêu chọc.

    Hoài Hoan lại lái ngay sang chuyện khác:

    "Này, hôm nay ở doanh trại, ai cũng bàn về chiến tích của cái Dương đấy.

    Mấy cậu em quen có người thân theo học võ sư Cửu Chân bị thiệt mạng bởi con hổ tinh đấy đều nể phục cái Dương vô cùng – hồi em kể là giết được gấu cũng chẳng được khen như thế!"

    "Cái Dương tài đức vẹn toàn, tiền đồ xán lạn là chuyện đương nhiên."

    Vũ Ninh nói với vẻ tự hào.

    "Anh vừa từ Thái Nhạc Thự về, các nhạc công vũ nương đang soạn kịch diễn lại chiến công của cái Dương đấy!

    Quốc Tử trừ gian diệt hại, lập công lớn không nói, lại còn có lòng hiếu thảo cảm động đất trời, mang thần dược về cho phò mã."

    Chu Diên nói xong, Tỏa Phong cũng góp lời:

    "Nói gì đến Thái Nhạc Thự, dân gian cũng bắt đầu kể chuyện cái Dương rồi.

    Họ lan truyền chuyện cái Dương thay phò mã chủ trì lễ tế Hỏa Thần, nói rằng Hỏa Thần vô cùng hài lòng, hẳn năm tới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, muôn dân ấm no hạnh phúc..."

    Các anh lớn không ai là không mừng cho Diễm Dương, hai đứa út cũng tròn mắt lắng nghe, xem chừng rất nể phục.

    Mấy bữa nay ánh mắt chúng nhìn chị lớn chẳng khác nào nhìn tiên giáng trần.

    Nhật Nam thấy vui lây, nhưng cuộc trò chuyện lúc nãy vẫn còn khiến anh thấy lấn cấn trong lòng.

    Không cách nào chối bỏ được ngọn Lửa Thiêng kia.

    Tiên thuật tưởng chừng đã tắt ngúm nhiều năm qua nay lại lần nữa bùng cháy.

    Không lẽ Diễm Dương thật sự là hoàng nữ năm xưa?

    Diễm Dương cuối cùng cũng sửa soạn xong.

    Tiếng trầm trồ vang rền dưới sảnh, có cả các Quốc Tử lẫn các bà vú và người hầu, đối tượng là Diễm Dương.

    Diễm Dương bước xuống trong bộ áo gấm xanh, buộc chéo trước ngực một tấm lụa đỏ.

    Mái tóc xù đã được chải chuốt lại, giờ là những lọn cong rất tinh tế, đổ xuống sau lưng như suối nước, đong đưa theo từng cử động của chị.

    Hai chiếc lược nhỏ cài hai bên tóc mai vốn làm từ gỗ nay được đổi thành lược ngà.

    Hình như... chị còn thoa son và đánh phấn nữa?

    Nhật Nam nghĩ mình chưa từng thấy chân mày của chị trông thanh thoát như thế.

    Bà vú chăm chị đi sau lưng, cười đắc chí trước thành quả của mình – ai cũng có thể nhìn ra bà đã đợi ngày được chăm chút cho chị từ lâu rồi.

    Bà bảo, phò mã dặn dò phải khiến Diễm Dương trông "ra dáng" một tí.

    Hai thằng út kéo ống tay áo chị, hết lời khen chị xinh xắn, cười muốn toét cả khóe môi.

    Chị chúng nó thì chỉ cười mỉm, hai má ửng hồng chẳng biết vì phấn hay ngại thật.

    Rốt cuộc chị cũng phủi tay chúng nó ra, nói các anh lớn mau đi nhập tiệc thôi.

    Nhật Nam đứng sang một bên cho mọi người đi qua trước.

    Đúng như dự đoán, Diễm Dương vẫn lừng khừng sau chót, trông hết sức bối rối với diện mạo mới này.

    Chị soi lại chính mình trong gương nhỏ, cất vào thắt lưng rồi lại lấy ra.

    Hết chỉnh tóc mái lại bôi bớt phấn má.

    Anh bật cười, giật cái gương đi.

    "Đã xinh lắm rồi."

    Nhật Nam nói, tự tay vén lại tóc chị ra sau tai.

    Chị đánh tay anh, đảo mắt:

    "Tôi có thấy mình xấu đâu."

    Nhật Nam khoác áo choàng cho chị rồi cho chính mình, đoạn, anh đưa cánh tay ra, nháy mắt với chị.

    Diễm Dương theo thói quen vịn lấy.

    Cả hai cùng đi ra phía hành lang dài treo đầy lồng đèn, theo sau các anh em Quốc Tử khác, tiến về chỗ yến tiệc.

    Sương đêm đọng trên cành đào.

    Đàn sáo rộn vang.
     
    Bắt Lấy Viên Đá Mắt Mèo - Tập 1
    Giang Tấu 2


    Câu chuyện công chúa Xích Anh kể cho Linh Như vào buổi sáng đầu tiên chưa phải là tất cả những gì đã xảy ra.

    Nhưng với khoảng cách thân phận của ngài và con bé, cũng như tình hình hiện tại, ngài chỉ có thể nói cho nó chừng đó.

    Ngài biết mình đang bất công với con bé.

    Nó xứng đáng được biết toàn bộ sự thật, và ngài chắc chắn sẽ nói cho nó biết – khi mọi chuyện đã ổn thỏa, chứ chưa phải bây giờ.

    Ngay lúc này, ngài cần con bé trung thành với mình.

    Ngài cần nó giữ lời hứa từ cái đêm họ gặp mặt: hận nước, thù nhà, họ sẽ cùng nhau gánh vác.

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Cơn bão bất ngờ ập đến trên đường sang Túc Mộc đã không nhấn chìm được công chúa Xích Anh.

    Người ngư dân chăm sóc ngài mấy tháng qua nói khi họ tìm thấy ngài trên bãi cát, mặt dây chuyền chạm khắc hình ông hổ trên cổ ngài đang phát sáng.

    Công chúa áp trán mình lên mặt dây chuyền, nước mắt không ngừng rơi.

    Đó là món quà của vua cha tặng cho ngài – trong truyền thuyết, phép màu từ dòng máu nóng của loài hổ tinh đã ăn thịt người sẽ bảo vệ người đeo khỏi tai ương và bệnh tật.

    Chính ngài cũng từng tin vào điều đó, cho đến khi nhận ra rằng sẽ chẳng có ma thuật nào quyền lực hơn tiên thuật từ Hỏa Thần.

    Nó không thể là thứ bảo vệ ngài được.

    Phải có một thế lực khác đã cứu ngài và đưa ngài vào bờ.

    Sau khi biết nơi đây là đất phong của dòng họ Vệ Quốc Công, ngài hiểu ra ngay lập tức.

    Chính hồn thiêng của Anh Liệt tướng quân đã bảo vệ ngài, đúng như nguyện vọng cuối cùng mà y thốt lên khi công chúa đến bên giường bệnh để chuẩn bị nghi thức hỏa táng cho y.

    Họ đã là bạn từ những ngày ấu thơ.

    Ngay cả lúc không phải giờ học, tướng quân cũng thường lẽo đẽo theo công chúa và hoàng hậu Nguyệt Hằng, cùng họ cầu nguyện với thần linh.

    Chẳng bao giờ người ta thấy kẻ này mà không có kẻ kia ở bên.

    Kể cả khi công chúa vào Chúc Thiên Các rồi, y vẫn thường ghé thăm, thảo luận sôi nổi về dân tình thế thái, văn sử cổ kim.

    Mỗi lần y đến, Chu Anh hay ghép đôi công chúa và tướng quân rồi kéo theo cả các chị em cùng trêu chọc hai người họ.

    Tướng quân sẽ đỏ mặt, chẳng biết nói gì, còn công chúa thì lườm lại với ánh mắt sắc như dao.

    Làm sao nàng phù thủy ấy có thể mù mờ đến mức đó!

    Chẳng lẽ tình cảm của ngài dành cho nàng còn chưa đủ trắng trợn hay sao?

    Hoặc đơn giản là Chu Anh không thể quan tâm đến bất kỳ ai ngoài chính cô nàng.

    Sau nhiều năm làm bạn, công chúa đã nhận ra sự lạnh lùng của vị Vấn Thánh Sư này – trong thế giới của nàng, chỉ có một mình nàng là trung tâm, còn những thứ khác chỉ là các tinh thể xoay xung quanh mặt trời, chẳng đáng chú ý tới.

    Nàng có thể tỏ ra rất ngọt ngào khi nàng muốn, nhưng dù có cố bọc mình bằng bao nhiêu đường đi chăng nữa, bản chất nàng vẫn là người cay nghiệt.

    Mặc dù vậy, công chúa không thể nào rời mắt khỏi nàng được.

    Ngài vẫn muốn trò chuyện với Chu Anh dù sự hờ hững của nàng chẳng khác nào dằm đâm vào tim.

    Ngài chưa từng dừng khuyến khích nàng đi tìm vị thánh của mình để trở thành Vấn Thánh Sư thực thụ.

    Ngài không hiểu thật hay cố tình chọc tức tôi, hở điện hạ?

    Tôi không thể làm điều đó!

    Cứ như đã có một lời nguyền rủa đã tước đi ma thuật trong người con gái của dòng họ muôn đời hầu hạ thần thánh, mà không chỉ vậy – nó còn lấy đi cả Chu Anh mà công chúa từng biết.

    Càng lớn, tần suất họ xích mích giảm bớt, họ nói chuyện ngày càng hợp nhau, đến nỗi công chúa đã tưởng rằng họ có thể trở thành một cái gì đó hơn cả tình bạn.

    Khi ngài bắt gặp Chu Anh trong căn hầm của Chúc Thiên Các, ngài mới biết đó chỉ là một màn kịch đánh lạc hướng tất cả mọi người.

    Nàng phù thủy đã tạo ra bùa chú – lời tuyên chiến công khai đến các vị thần thánh đã quay lưng với nàng và những phù thủy mà ma thuật tới với họ quá dễ dàng, họ làm nàng ngứa mắt.

    Công chúa cố thuyết phục nàng, nhưng lúc đó, chẳng điều gì có thể ngăn cản nàng nữa.

    Tôi có tài năng, điện hạ, và tôi sẽ chứng minh nó.

    Đã có người nhìn thấy tôi và những gì tôi có thể làm.

    Còn ngài, xin hãy cứ sống yên bình trong tòa lầu son này đi.

    Họ đã không gặp lại nhau từ mùa xuân năm Đinh Hợi, sau tiệc đầy tháng của hoàng nữ, con gái út của đức vua.

    Đứa trẻ ấy được gọi là điềm lành.

    Hai người con gái suốt hai thế hệ liền, những tên nịnh thần nói, hẳn là trời cao thương xót cho hoàng thất từ lúc lập quốc đến giờ vắng bóng quần thoa.

    Chính trong bữa tiệc ấy, các quốc công và ba vị hổ tướng được phong Thất Đẩu Tướng.

    Rồi cũng từ đó, các tướng quân lần lượt qua đời.

    Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Anh Liệt tướng quân đã siết chặt đôi tay mang ngọn Lửa Thiêng rực cháy của công chúa Xích Anh, để lại câu trăn trối sẽ luôn bảo vệ ngài.

    Lửa ôm lấy cơ thể yếu ớt của y – khi dùng để hỏa táng, Lửa Thiêng ấm áp và giống như một tấm chăn bông – cho đến khi chỉ còn lại đôi mắt sáng quắc.

    Ký ức về cảnh tượng ấy dội thẳng vào đầu công chúa, làm ngài choáng váng.

    Đêm đó, từ biệt gia đình ngư dân, ngài đi thẳng một mạch về kinh thành.

    Công chúa đến Chúc Thiên Các trước tiên.

    Vừa bước vào, ngài đã linh cảm thấy điềm không lành.

    Những kệ sách đóng bụi, mạng nhện giăng đầy.

    Các bức bích họa xô lệch.

    Bàn thờ bị hất văng, bụi tro đổ khắp sàn.

    Chẳng có lấy một nguồn sáng.

    Ngài lớn tiếng gọi tên các chị em phù thủy của mình: Vọng Thiên Sư Tuệ Tú, Văn Địa Sư Trúc Bạch, Thiết Phách Sư Hạnh Lâm, Mê Hồn Sư U Minh, cả bà Vấn Thánh Sư Huệ Nhãn.

    Chỉ có âm thanh của chính ngài dội vang giữa những bức tường.

    Trong lúc tuyệt vọng, ngài còn gọi cả tên của Chu Anh.

    Nhưng vẫn chẳng có ai đáp lời.

    Khắp mười hai tầng không có lấy một bóng người.

    Dường như động tĩnh ngài gây ra đã làm người khác chú ý.

    Cửa lớn mở toang.

    Công chúa vội chạy xuống thì thấy đó là một đội tầm năm lính mặc áo gấm trắng, mỗi người cầm một bó đuốc soi đường.

    Ngài không nhận ra đó là quân phục của đội quân nào, nhưng vẫn bước ra ánh sáng, cằm hếch cao.

    "Điện hạ!"

    "Đó là điện hạ thật sao?"

    "Không... không thể nào!"

    Công chúa cau mày:

    "Không thể cái gì?"

    Chẳng ai dám trả lời, ngài bèn cao giọng, "Ai là đội trưởng?"

    Một tên cao lớn bước ra, bán tín bán nghi nhìn công chúa từ đầu đến chân.

    Ngài xòe tay về phía trước rồi triệu hồi ngọn Lửa Thiêng.

    Tất cả vội vã quỳ xuống.

    "Cung nghênh điện hạ!"

    "Đừng phí lời.

    Tại sao nơi này lại tan hoang như vậy?

    Các phù thủy đâu?"

    "Bẩm... bẩm điện hạ..."

    Tên đội trưởng ôm quyền đáp, căng thẳng đến nỗi mồ hôi chảy đầm đìa, "Các phù thủy đã bị phò mã khép tội chết, hành hình từ ba tháng trước rồi."

    "Hoang đường!"

    Đám lính vốn chỉ quỳ một gối theo đúng quy chuẩn nhà võ, nghe công chúa nổi giận thì lập tức quỳ rạp xuống đất, không dám ngẩng đầu lên.

    "Các phù thủy đã phạm lỗi gì?

    Tại sao không phải là hoàng huynh ta định tội mà để cho phò mã quyết?

    Đây là đất của hậu duệ Hỏa Thần chứ không phải của cái tên ngoại bang đó!"

    "Xin điện hạ bớt giận!

    Nhưng chẳng lẽ... công chúa vẫn chưa biết tin gì sao ạ?"

    "Nói."

    "Bẩm điện hạ...

    đức vua... và cả hoàng hậu, cùng các hoàng tử hoàng nữ...

    đã bị ám sát rồi!

    Phò mã tìm ra dấu vết ma thuật trên phượng thể, lúc lục soát Chúc Thiên Các còn tìm ra được kế hoạch mưu phản của các phù thủy!

    Vậy nên các hạ mới kết luận hung thủ chính là phù thủy Chúc Thiên Các.

    Nhưng... nhưng vẫn còn một phù thủy chưa bắt được – phò mã tin người này mới là đầu sỏ – chính là Chu Anh.

    Các hạ triệu tập chúng thần để đi săn lùng cô ả."

    Choáng váng đến nỗi suýt ngã, công chúa vội túm lấy cạnh bàn, lồng ngực phập phồng những hơi thở nặng nhọc.

    Ngài còn chưa kịp xử lý hết đống thông tin này thì một tên khác đã lên tiếng:

    "Bẩm điện hạ, thần... thần xin mạn phép hỏi...

    Làm sao điện hạ...

    Các hạ tuyên cáo với toàn thiên hạ rằng điện hạ đã... tạ thế."

    "Tạ thế?"

    "Vâng...

    Điện hạ cùng các hạ ra khơi vào ngày ba mươi tháng giêng, nhưng sáng ngày mồng một tháng hai các hạ đã hồi cung tâu với đức vua rằng tàu gặp bão lớn, điện hạ không qua khỏi..."

    Giọng tên lính ngày càng lí nhí.

    Áp lực từ ánh mắt của công chúa quá khủng khiếp, đang là giữa đêm cuối xuân mà đám lính tưởng như đã vào hạ chí, mồ hôi túa ra ướt cả lớp áo trong.

    Công chúa nhìn chằm chằm năm bóng lưng quỳ trước mặt mình, gần như đã đoán được.

    Đây là âm mưu của Triệu Thiên.

    Công chúa và phò mã kết hôn ba năm lại chưa từng viên phòng, số lần gặp mặt nhau có thể đếm trên đầu ngón tay, lần này sang Túc Mộc cũng chia hai thuyền mà đi.

    Bão lớn bất ngờ ập tới, tàu của công chúa bị đắm, ngài còn dạt vào bờ đến ba tháng sau mới tỉnh lại, còn Triệu Thiên ngay hôm sau đã về tới kinh thành?

    Ngài không tin có người may mắn đến thế.

    Lại nói, tháng giêng thường gió yên biển lặng, sao lại đột nhiên có bão lớn?

    Đã có người nhìn thấy tôi và những gì tôi có thể làm.

    Chẳng lẽ...

    Chu Anh thoát ly Chúc Thiên Các năm Đinh Hợi, cũng từ đó mà các vị Thất Đẩu Tướng dần qua đời – người hy sinh lúc đang cùng dân chống lũ, người trúng độc, người bị mưu sát, người trở nên điên khùng rồi tự treo cổ chết, người thì bệnh tật quấn thân.

    Công chúa từng nghĩ những chuyện này chỉ là tình cờ, nhưng đến khi chính mình cũng suýt chết vì sự tình cờ đó, ngài không khỏi hoài nghi.

    Có khi nào tất cả "tình cờ" đều do một tay con người sắp đặt, cùng trợ giúp của ma thuật?

    Công chúa biết chắc các phù thủy Chúc Thiên Các không thể là quân mưu phản, còn Triệu Thiên thì đuổi cùng giết tận Chu Anh, chỉ có một khả năng duy nhất là muốn diệt khẩu mà thôi.

    Vậy là rõ – chính hắn đứng sau tất cả.

    Chính hắn đã hạ sát các vị Thất Đẩu Tướng, còn dàn dựng cả cái chết của ngài, rồi quay về kinh thành ám sát đức vua hoàng hậu, đổ tội cho Chúc Thiên Các.

    Người hỗ trợ hắn không ai khác ngoài Chu Anh và bùa chú của nàng.

    Tên đội trưởng bỗng dưng ngước lên, ôm quyền nói:

    "Bẩm điện hạ, tuy chúng thần chưa hiểu rõ đã có chuyện gì xảy ra, nhưng được thấy ngọc thể của điện hạ còn an khang thì vui mừng khôn xiết.

    Tên phò mã đó bản tính xảo trá, lại là dị quốc, nay chỉ tay năm ngón với chúng thần, chúng thần dù có không phục vẫn phải nể nang danh nghĩa phục thù cho hoàng thất mà để hắn sai khiến.

    Nay điện hạ đã trở về, chúng thần không muốn làm nghe lời hắn nữa!

    Xin điện hạ thu nhận chúng thần!"

    "Xin được tận trung với điện hạ!"

    Bốn người còn lại đồng thanh.

    Năm tên lính áo gấm trắng đó là những thuộc hạ đầu tiên của công chúa Xích Anh.

    Theo lời đội trưởng, dù các phù thủy bị hành hình nhưng gia đình họ đều đã kịp thời bỏ trốn, đoàn lính áo gấm trắng này ngoài truy lùng Chu Anh thì còn có nhiệm vụ đi tìm những kẻ đó, tốt nhất là trừ khử những đứa con gái nhỏ có tiềm năng trở thành phù thủy trong tương lai.

    Lửa giận bốc lên ngùn ngụt trong lòng nhưng ngài vẫn cố giữ bình tĩnh.

    Công chúa nghĩ, Triệu Thiên dẫn theo đoàn lính đi khắp Tân Lang để lùng sục Chu Anh, còn có hộ vệ đến từ Túc Mộc, mình sở hữu tiên thuật quyền năng đến mấy vẫn khó lòng lấy ít địch nhiều, không thể trực tiếp tấn công.

    Ra mặt vạch trần hắn thì cũng chưa phải ý hay.

    Quả nhiên, khi công chúa tìm đến được nơi ẩn cư của thái sư, chồng Văn Địa Sư Trúc Bạch, cùng con gái nhỏ Yên Hà, ông cũng nói ngài chưa nên lộ diện.

    Sau cơn thất kinh khi thấy công chúa còn sống và nghe ngài giải thích, ông trầm ngâm nói:

    "Không biết làm sao mà Triệu Thiên đi tới đâu cũng được quan lại địa phương chào đón, các đạo quân ở đó cũng vô cùng trung thành với hắn, trung ương thì chẳng cần bàn – dù giờ đây chỉ có một lão thái giám người Túc Mộc quản lý thay, các quan vẫn rất mực nghe lời.

    Thế đạo đã thay đổi rồi, thưa điện hạ, hướng gió bây giờ nghiêng hẳn về phía Triệu Thiên.

    Thần nghĩ không thể lấy trứng chọi đá được, mà phải dùng nhu khắc cương."

    Công chúa đón ông thái sư cùng con gái lên nơi an toàn nhất mà ngài nghĩ đến được – đền thờ Hỏa Thần ở giữa Rừng Thiêng.

    Lúc lên tới đó, ngài phát hiện có người cùng ý tưởng với mình.

    Chồng của Vọng Thiên Sư Tuệ Tú, ông giám chính tư thiên giám vừa từ nhiệm cuối năm ngoái để chuyên tâm chăm sóc con gái Tình Huyên, cũng đã đến đây.

    Ông gặp công chúa thì bất ngờ vô cùng.

    Đền thờ nằm ở nơi thâm sơn cùng cốc, ông đã không nhận được tin từ vợ mình từ mấy tháng nay, càng không biết chuyện gì đang xảy ra dưới xuôi.

    Chưa thể lập tức trả thù Triệu Thiên, việc cấp bách trước mắt lúc đó là ngăn cản công cuộc Săn Phù Thủy của hắn.

    Đoàn lính áo gấm trắng được lệnh thiêu sống bất cứ phù thủy nào chúng gặp.

    Chúng được trang bị những khẩu súng, viên đạn là thứ vũ khí có thể phá hủy tất cả phép thuật.

    Ma thuật không thể tác động lên tiên thuật, những thứ bảo vệ được phù thủy và người thường cũng chưa chắc có thể bảo vệ á thần, nhưng các vị trung thần không dám đánh liều mạng sống của giọt máu hoàng thất cuối cùng để tìm ra xem liệu cái tiêu diệt được ma thuật có gây hại cho tiên thuật hay không, họ khuyên công chúa hành động bí mật.

    Công chúa hôn mê suốt ba tháng, vừa tỉnh lại đã lao lực cả thể xác lẫn tinh thần, vẫn cố gượng lần theo dấu vết ma thuật để cảnh cáo các phù thủy chạy trốn.

    Cuộc Săn Phù Thủy lẽ ra chỉ mất hai năm là có thể quét sạch bóng ma thuật trên đất Tân Lang phải kéo dài đến năm năm trời.

    Giữa cuộc, phò mã còn bày ra nhiều phần thưởng để đổi lấy tính mạng của các phù thủy, làm người ta tố tụng cáo buộc lẫn nhau, các phù thủy đáng lẽ đã trốn được lại bị lôi ra.

    Nhưng dù có bị ném lên giàn thiêu, họ cũng kiên quyết không nói việc công chúa còn sống.

    Suốt thời gian đó, không thấy tung tích gì của Chu Anh.

    Năm Giáp Ngọ, phò mã rút quân, công chúa sức cùng lực kiệt cũng đành trở về đền thờ đợi hồi phục.

    Theo lệnh ngài, năm chàng lính đào ngũ đó âm thầm chiêu mộ trai tráng tham gia nghĩa binh, còn ngài thì chuyên tâm dạy dỗ Tình Huyên và Yên Hà, xem như con gái mình mà nuôi nấng, yêu thương.

    Chưa thể tìm ra con gái của Thiết Phách Sư Hạnh Lâm và Mê Hồn Sư U Minh, công chúa chỉ biết hy vọng chúng được an toàn.

    Lan San đã tìm đến ngài vào thời gian đó.

    Đứa trẻ khi đó chỉ mới có bảy tuổi đã tự mình vượt qua được cánh Rừng Thiêng tới đền thờ, tự xưng là con của Mê Hồn Sư U Minh, xin đầu quân cho công chúa để trả thù nước hận nhà.

    Y nói mình được bà ngoại và các dì truyền dạy bùa lú, còn có thể lợi dụng danh nghĩa thợ thủ công phía cha để thâm nhập vào cung cấm, dò la thông tin cho nghĩa quân.

    Đứng ở vị trí này tức là phải chấp nhận đánh đổi lương tâm.

    Cần phải nghĩ cho cái cao cả hơn, cái vĩ đại hơn, cái lâu dài hơn.

    Nếu công chúa Xích Anh có thể làm theo ý thích, ngài sẽ không bao giờ cho phép các cô phù thủy của mình xuất đầu lộ diện, còn mình thì ẩn nấp trong điện thờ hoang phế thế này.

    Ngài sẽ tự mình xông pha.

    Ngài sẽ lẻn vào tẩm điện của Triệu Thiên và cắt cổ hắn trong giấc ngủ, rồi phơi xác hắn dưới ánh mặt trời đỏ lửa, đợi quạ đen đến rỉa mồi.

    Và ngài đã thử làm vậy.

    Con dao của công chúa đã kề sát yết hầu Triệu Thiên.

    Đột nhập vào tẩm thất của hắn dễ như ăn cháo.

    Chẳng có lấy một tên lính canh hay cung nhân hầu hạ, chỉ có mỗi mình hắn nằm trên phượng sàng từng thuộc về đức vua, an nhàn khép mắt, chìm trong mộng đẹp.

    Ngài sẽ kết thúc tất cả bằng lưỡi dao này.

    "Đừng làm vậy, điện hạ."

    Giọng hắn lười biếng.

    Mắt còn không buồn mở.

    Công chúa siết chặt cán dao hơn, nghiến răng nói:

    "Phản tặc!

    Vậy mà đức vua trọng dụng ngươi suốt bao nhiêu năm nay!

    Nay ta không giết ngươi đi để trả thù cho hoàng huynh ta, chẳng lẽ còn để ngươi tiếp tục lộng hành?"

    "Điện hạ còn sống quay về, thần vui mừng khôn xiết.

    Nhớ ngày kết duyên trăm năm cùng điện hạ, chẳng khác nào được làm lại cuộc đời."

    Công chúa nghe hắn cười khẩy, "Chỉ tiếc chúng ta đều chỉ là con rối trong vở kịch do người khác dàn dựng."

    "Bớt giảo biện lại."

    "Điện hạ chẳng bao giờ chịu nghe thần nói."

    Triệu Thiên thở dài, "Điện hạ chẳng bao giờ chịu nghe bất cứ ai nói cả.

    Chu Anh đã đau lòng xiết bao vì điện hạ đã không đứng về phía cô ả, điện hạ có biết chăng?"

    "Quả nhiên ngươi và Chu Anh cấu kết với nhau."

    "Cấu kết – điện hạ ghen tị với thần à?"

    Công chúa nghe một tiếng "tách" lạnh lùng.

    Miệng súng kề dưới cằm ngài, ngón trỏ của Triệu Thiên chèn trước cò súng.

    "Nếu thần giết điện hạ ở ngay đây thì sẽ tiện lợi lắm.

    Nhưng thần không muốn làm bẩn phượng sàng."

    "Ngươi đã làm bẩn nó bao lâu nay rồi."

    Công chúa ấn lưỡi dao sắc nhọn vào da hắn, "Còn sợ gì nữa?

    Thử đi, Triệu Thiên, xem xem dao của ta nhanh hơn hay là súng của ngươi nhanh hơn."

    "Súng của thần sẽ thắng thôi, điện hạ.

    Nó đã bắn hạ nhiều vầng thái dương rồi."

    Hắn vẫn cười khúc khích, "Thần biết nỗ lực nhiều năm qua của điện hạ.

    Thật vinh hạnh khi được nhìn thấy một vị công chúa vì nước vì dân đến thế.

    Điện hạ mới là đối thủ xứng tầm của thần.

    Thần có điều kiện muốn trao đổi, không biết ý điện hạ thế nào?"

    "Tại sao ta phải nghe lời ngươi?"

    "Vì nếu không, điện hạ sẽ chết dưới viên đạn này và chẳng có cách nào trả thù cho đức vua nữa.

    Vả lại, nếu đầu của thần rơi xuống trước khi thần kịp bóp cò, sẽ có người phải trả giá."

    Triệu Thiên nhếch mép, "Hoàng nữ Diễm Dương, giọt máu của hoàng huynh ngài, vẫn còn sống."

    Thấy dao của công chúa đè nặng hơn vào cổ mình, vài giọt máu ứa ra, nhưng tay ngài thì run rẩy, dẫu không nhìn được mặt của ngài, Triệu Thiên cũng thừa biết ngài đang lung lay.

    Hắn nói tiếp:

    "Điều kiện của thần rất đơn giản.

    Điện hạ để yên cho thần tiếp tục nhiếp chính cho đến khi vua cha thần băng hà, còn thần sẽ tha mạng cho ngài và nuôi dạy hoàng nữ trong nhung lụa.

    Ngài không được phép tiết lộ việc hoàng nữ còn sống cho bất cứ ai, cũng không được công khai việc ngài còn sống.

    Không ai ngoài hai ta được biết về giao kèo này.

    Mạng sống của hoàng nữ phụ thuộc hoàn toàn vào việc ngài có giữ chữ tín hay không, điện hạ, từ giờ hãy cân nhắc từng nước đi của mình."

    Rồi hắn rút súng về, nói, "Thần vẫn chưa tìm được Chu Anh, nhưng thần còn giữ tài liệu về bùa chú của cô ả, nay sẵn sàng chia cho điện hạ một nửa để trao đổi.

    Điện hạ thấy thế nào?"

    Hắn dứt lời, công chúa cũng thu dao lại.

    "Thế mới đúng chứ."

    Triệu Thiên cảm thán, "Dù gì cũng là vợ chồng, không có tình cũng còn nghĩa, thần hy vọng điện hạ đừng nghĩ thần là người quá xấu xa.

    Thần chỉ xấu xa ở mức trung bình thôi.

    Còn có người xấu xa hơn nhiều.

    À, thần khuyên điện hạ thật lòng, đừng bận tâm đến Chu Anh nữa.

    Cô ả chắc chắn phải chết.

    Hãy cứ để thần thay điện hạ làm chuyện này đi."

    ⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

    Có điều, đến giờ công chúa vẫn thường băn khoăn, rốt cuộc "con rối trong vở kịch do người khác dàn dựng" mà hắn nói nghĩa là gì.
     
    Back
    Top Dưới