Huyền Huyễn Linh Dị Âm Dương

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Linh Dị Âm Dương
Chương 41: 41: Bia Trấn Hồn


Ánh trăng xuyên qua cửa sổ, nhuộm một lớp sáng bàng bạc vào căn phòng.
Cố Cửu quấn mình như cái kén tằm, tựa đầu vào vai Thiệu Dật.

Tiểu Đệ thì ghé vào bên gối của cậu nằm ngủ, hơi thở đều đều.
Bỗng đâu một trận gió lạnh quét qua làm nhiệt độ trong phòng lập tức hạ thấp xuống thấy rõ.
Tiểu Đệ thoạt nhìn có vẻ ngủ say ấy vậy mà lại ngóc đầu lên nhanh như chớp, nó nhìn vào khoảng không trước mặt, meo một tiếng.
Cố Cửu và Thiệu Dật nghe động cũng lục tục tỉnh dậy.
Bùi Dữ xuất hiện từ thinh không đã ngồi bên bàn từ bao giờ, ung dung thưởng thức trà Cố Cửu chuẩn bị sẵn cho hắn trước khi đi ngủ.

Thấy hai người đã tỉnh, Bùi Dữ cười nói: “Các con vẫn cảnh giác như vậy.”
“Sư cha.”
Cố Cửu khoác quần áo bước xuống giường, gần đây cậu không được ngủ thẳng giấc, khó khăn lắm mới được ngủ có chăn ấm nệm êm, bây giờ trông có vẻ hành động nhanh nhẹn thế thôi chứ thật ra hoàn toàn là theo bản năng mà làm, đầu óc vẫn còn mê li lắm.

Thiệu Dật thì đã tỉnh hẳn rồi, dù sao thì hắn cũng hơn Cố Cửu vài năm kinh nghiệm màn trời chiếu đất.

Bùi Dữ vẫn trẻ tuổi tuấn tú như xưa, chỉ có điều khuôn mặt hắn trắng bệch, nhìn là biết ngay không phải người sống.

Hắn buông chén trà, hỏi thẳng: “Các con tìm ta có việc gì?”
Bùi Dữ là âm sai, thân mang công vụ nên có thể bị gọi đi câu hồn bất cứ lúc nào, lần nào lên gặp cũng phải tranh thủ thời gian, không ở lâu được nên không dài dòng làm gì.
Cố Cửu đưa lá bùa có viết bát tự của Triệu Bản cho Bùi Dữ xem.
“Bọn con cần tìm một con quỷ, định hỏi mượn Tỏa Hồn Liên của sư cha một chút.”
Bùi Dữ cầm lấy bát tự xem qua một lượt rồi nhìn về phía Thiệu Dật: “Sao vậy? Các con gọi không được à?”
Thiệu Dật gật đầu: “Có điều bất thường.”
Bùi Dữ không nói lời nào, nâng tay lên, lập tức một sợi dây xích màu đen xuất hiện trong tay hắn.

Bùi Dữ dán lá bùa vào Tỏa Hồn Liên, ngay sau đó, chữ trên lá bùa như gặp nước nóng bị bốc hơi vậy, từ từ biến mất cho đến khi chỉ còn lại một lá bùa trống.
“Ngũ lôi sứ giả, ngũ đinh đô ty, Huyền Không Đại Thánh, phích lịch oanh oanh, triều thiên Ngũ Nhạc, trấn định Càn Khôn, nếu có không từ, bắt hồn quy phục.

Cấp tốc nghe lệnh!”
Theo từng tiếng niệm của Bùi Dữ, dây xích màu đen vốn đang rũ trên đất đột nhiên động đậy, kêu leng keng rồi uốn uốn lượn lượn trườn đi như một con rắn.

Khẩu lệnh vừa dứt, Tỏa Hồn Liên liền phóng lên cao, lơ lửng giữa không trung.

Tiếp đó, nó bay quanh phòng một vòng rồi mới xuyên qua cửa vụt đi, biến mất vào màn đêm.

Tỏa Hồn Liên có thể đi ngàn dặm trong chớp mắt, chỉ một lúc sau nó đã quay lại, thế nhưng đầu bên kia lại trống rỗng.
“Vẫn không câu được?” Cố Cửu ngạc nhiên kêu lên.
Bùi Dữ nhíu mày, giơ tay thu Tỏa Hồn Liên về, sờ lên nó, v**t v* tỉ mỉ như đang thăm dò, sau đó hắn nói: “Nó dính phải sinh khí.

Có vẻ như con quỷ này bị người giam giữ rồi, sinh khí trong trận pháp ngăn Tỏa Hồn Liên lại nên mới không câu được hồn về.”
Tỏa Hồn Liên chỉ câu hồn người chết, có sinh khí tức là còn sự sống nên nó chẳng làm gì được.

Lần này ngay đến Tỏa Hồn Liên cũng không có tác dụng, Bùi Dữ đành lực bất tòng tâm, không giúp được gì hơn.
Bùi Dữ tạm biệt đi mất rồi, Cố Cửu và Thiệu Dật cũng không ngủ lại được nữa, thế là thức luôn ngồi vẽ bùa, sẵn tiện cùng nhau bàn bạc về chuyện của Triệu Bản.

Việc đã đến nước này, rất có thể y đã bị người còn sống hãm hại.

Kẻ đó hoặc là thuật sĩ muốn dùng hồn phách để luyện loại pháp thuật ác độc, hoặc cũng có thể là kẻ thù lúc y còn sống.
Tuy nhiên, giả thuyết sau có vẻ không hợp lý lắm, bởi vì Trương Ngọc Đường đã khẳng định Triệu Bản là một người hiền lành khiêm tốn, lúc còn sống ai ai cũng quý mến, cho dù có xích mích hay hiểu lầm đi chăng nữa thì cũng không đến nỗi người đã chết rồi mà vẫn chịu không buông tha.
Hai người vẽ được mấy chục lá bùa thì có tiếng gà gáy.

Trời vừa hửng sáng, Trương Ngọc Đường đã chạy qua tìm gặp hai sư huynh đệ với khuôn mặt đầy vẻ mỏi mệt.

Hắn nói đêm qua lại mơ thấy Triệu Bản, trông y rất đau khổ, miệng vẫn luôn mấp máy muốn nói điều gì đó nhưng không thốt lên thành tiếng được.
Cố Cửu hỏi Trương Ngọc Đường: “Quần áo Triệu Bản mặc lúc còn sống có còn?”
Trương Ngọc Đường vội nói: “Còn, còn.

Sau khi A Bản đi tôi có dặn để lại một ít quần áo không được đốt, bây giờ còn cất trong phòng riêng của huynh ấy.

Để tôi cho người đi lấy ngay.”
Trương Ngọc Đường sai người đi lấy vài bộ quần áo của Triệu Bản tới, thế nhưng bọn họ đợi hồi lâu mà chẳng thấy tăm tích quần áo đâu.

Đến khi Trường Ngọc Đường mất kiên nhẫn, đang định gọi thêm người qua đó xem sao thì mới thấy người hầu được sai đi lật đật trở lại, hai tay trống trơn.
Trương Ngọc Đường nhíu mày hỏi: “Quần áo đâu?”
Người hầu nọ đưa tay quẹt mồ hôi trán, thưa: “Bẩm lão gia, trong phòng của Triệu công tử không có quần áo.”
“Sao lại thế được?” Trương Ngọc Đường kinh ngạc.

“Mấy bộ quần áo đó là do ta chính tay xếp lại rồi cất vào kia mà.

Hòm xiểng đã tìm cả chưa?”
Người hầu đáp: “Đã tìm hết rồi lão gia.

Thật sự không có.”
Cố Cửu thấy vậy bèn hỏi: “Trương lão gia, sau khi ngài cất đồ vào có từng ghé qua kiểm tra lần nào không?”
Trương Ngọc Đường hổ thẹn đáp: “Mấy năm đầu tôi thường xuyên đi xem xét, nhưng sau đó A Oanh cứ gặp tai nạn liên tục, rồi cha mẹ tôi lần lượt qua đời, việc làm ăn trong nhà càng ngày càng bận rộn nên không còn nhiều thời gian…” Công việc bận rộn, đương nhiên cũng quên bẵng đi.
Trương Ngọc Đường lại gọi người hầu đang đứng kia: “Ngươi đi hỏi phu nhân xem có phải nàng lấy đồ đi rồi không?”
Người hầu vâng lời chạy thêm một chuyến nữa, một lát sau đã trở về báo quả nhiên là phu nhân lấy.

“Phu nhân nói mấy bộ đồ đó đều là vải tốt cả, để trong tủ cũng bị mối mọt làm hư mà thôi, cho nên phu nhân mới lấy ra đem phát cho mấy người làm trong nhà.

Phu nhân nói nếu lão gia cần cứ tìm mấy người đó hỏi, có thể vẫn còn.”
Trương Ngọc Đường quay lại nhìn Cố Cửu có ý hỏi.

Cố Cửu lắc đầu: “Đã lẫn sinh khí của người sống vào, vô dụng thôi.” Thật ra Cố Cửu vốn không nói hết, Triệu Bản đã qua đời hơn mười năm, chút hơi tàn còn sót lại trên quần áo vốn đã không nhiều nhặn gì, bây giờ đồ còn bị đưa cho người khác mặc thì chắc chắn sinh khí thuộc về Triệu Bản đã sớm không còn.

Cố Cửu muốn xem quần áo chẳng qua là vì thử chút vận may, có còn hơn không mà thôi.
Thiệu Dật nói: “Vật khác cũng được, miễn là từng qua tay Triệu Bản.”
Nghe vậy, Trương Ngọc Đường im lặng một lúc rồi bỗng nhiên biến sắc, vẻ mặt buồn giận đan xen, vô cùng thiểu não.
“Chẳng lẽ không còn gì sao?”
Cố Cửu lấy làm lạ hỏi.

Trương Ngọc Đường và Triệu Bản là huynh đệ lớn lên cùng nhau, chắc hẳn phải có nhiều quà tặng và đồ đạc trao đổi qua lại chứ.
Trương Ngọc Đường chán chường nói: “Không còn nữa rồi, hoặc là thất lạc, hoặc là bị hư hỏng.

Hình như…hình như đồ A Bản từng tặng tôi không còn lại gì cả.”
Đột nhiên phát hiện ra chuyện này, Trương Ngọc Đường bỗng cảm thấy hoảng hốt, cứ như ngoài gian phòng trống hoác và tấm bài vị trên bàn thờ kia thì chẳng còn dấu vết gì chứng minh Triệu Bản từng sống cả đời ở nơi này cả, cứ như y chưa từng tồn tại.”
Cố Cửu nhìn Trương Ngọc Đường buồn bã thê lương, hơi chần chừ mở lời: “Thật ra vẫn còn một cách nữa, nhưng chỉ sợ ngài không đồng ý.”
Trương Ngọc Đường mừng rỡ ngẩng phắt lên: “Cách gì?”
“Đào mồ khai quan.”

Đối với tình huống như Triệu Bản gặp phải lần này, có thể lấy đồ vật người đó từng gắn bó lúc sinh thời môi giới để làm phép chiêu hồn, cứu người ra khỏi nơi họ đang bị giam cầm, khả năng thành công sẽ lớn hơn.

Nhưng ngặt nỗi bây giờ đồ đạc của Triệu Bản đã mất sạch, không còn lại gì, vậy thì chỉ còn cách dùng chính xương cốt của y để làm môi giới mà thôi.

Tuy nhiên đối với người xưa, nếu không phải gặp chuyện bất khả kháng thì tuyệt đối không được động chạm đến nơi của người đã khuất, nếu không sẽ bị xem là việc vô cùng bất kính.

Từ ngày hôm qua Cố Cửu và Thiệu Dật đã đoán được chỉ có cách đào mồ là khả thi nhất, nhưng hai người cũng biết rất khó để thuyết phục Trương Ngọc Đường đồng ý, vì vậy bọn họ mới tận dụng quan hệ mời sư cha lên thử một phen.

Kết quả thế nào thì mọi người đều rõ.
Quả nhiên vừa nghe Cố Cửu nói ra bốn chữ đào mồ khai quan, Trương Ngọc Đường đã nhảy dựng lên, lắc đầu nguầy nguậy, tỏ ý không chịu.
Cố Cửu thấy vậy bèn khuyên nhủ: “Chúng ta đã thử hết cách rồi mà vẫn không ăn thua, đây đã là cách cuối cùng rồi.

Chẳng lẽ ngài nhẫn tâm để y tiếp tục bị tra tấn hành hạ sao?”
Trương Ngọc Đường nghe vậy liền ngây ra, vẻ mặt đầy đau xót, dường như suy nghĩ lung lắm.
Cố Cửu biết lời nói của mình đã có tác dụng bèn tiếp tục lấy tình lấy lý phân tích cho Trương Ngọc Đường nghe.

Bây giờ còn nói chi đến việc quấy nhiễu người chết nữa.

Triệu Bản gặp nạn đến mức phải báo mộng cầu cứu thì lấy đâu ra an bình? Nếu bây giờ hắn không đồng ý khai quan thì phải kéo dài thời gian để tìm cách khác, mà cứ lần lữa mãi thế này thì có khi Triệu Bản không chịu đựng nổi nữa hồn phi phách tán không chừng.
Trương Ngọc Đường vừa nghe được kết quả đáng sợ như vậy bèn không do dự thêm nữa, đồng ý ngay.

Muốn đào mồ khai quan thì phải chọn lúc dương khí mạnh nhất trong ngày để đề phòng âm khí quá nồng ảnh hưởng tới người sống.

Thời điểm dương khí mạnh nhất là chính ngọ, tức là buổi trưa canh ba, theo như cách tính ở thời hiện đại là 12 giờ.
Trương Ngọc Đường đồng ý tiến hành đào mồ nên dựa theo yêu cầu của Cố Cửu mà sửa soạn những thứ cần thiết.

Sau khi dặn dò công việc cho mấy người hầu xong, ba người ngồi ở đại sảnh chờ đợi, thỉnh thoảng lại có người hầu đưa vật dụng đến cho Thiệu Dật và Cố Cửu kiểm tra, nếu không ổn thì phải chuẩn bị một lần nữa.
Cứ bận rộn một hồi như vậy, chợt có một tên sai vặt đến mời Trương Ngọc Đường sang chỗ Trần Oanh, nói rằng phu nhân có chuyện quan trọng muốn nói.
Trương Ngọc Đường uể oải nói với người nọ: “Nói với phu nhân ta đang bận, có việc gì thì đợi tối hẵng nói.”
Người hầu vâng dạ lui ra, nhưng chỉ một chốc sau lại quay trở lại mời lần nữa.
Trương Ngọc Đường bực mình hết sức, không thèm giấu đi sự giận dữ, phải cố gắng lắm mới nhịn được không nổi xung lên.

Hắn chưa nghe hết lý do dông dài của người đến bẩm báo đã bực mình ngắt lời: “Quay về nói lại với phu nhân là nàng cứ lo cho sức khỏe mình trước đi, đừng để ý tới việc không phải của mình.

Ngươi đi đi, đừng có quay lại đây nữa.”
Người hầu thấy lão gia khó chịu thì không dám hó hé tiếng nào nữa, nơm nớp lo sợ lui ra.
Nào ngờ, Trương Ngọc Đường đã nói đến thế, cương quyết không qua gặp mà Trần Oanh lại bất chấp thân thể bạc nhược tìm đến tận nơi, bắt người hầu nâng cáng khiêng cô ta đến cho bằng được.
Nhìn thấy người phụ nữ trông như đã ngoài năm mươi, mái tóc hoa râm xơ xác gọi Trương Ngọc Đường là phu quân, Cố Cửu khó nén kinh ngạc.

Nếu không phải nghe Trương Ngọc Đường nói cha mẹ hắn đã qua đời từ lâu thì Cố Cửu còn tưởng bà thím này là mẹ của hắn ấy chứ.

Thân thể Trần Oanh rõ là đã bệ rạc, ngay cả lớp son phấn dày cui cũng không che nổi khuôn mặt trắng bệch nhăn nheo của cô ta.

Trần Oanh khó nhọc ngồi lên ghế, thở từng hơi nói với Trương Ngọc Đường: “Phu quân, thϊếp nghe nói…chàng nghe lời hai tên đạo sĩ…muốn quật mồ của Triệu đại ca sao?”
Trương Ngọc Đường tuy vẫn còn bực mình, nhưng nhìn thấy bộ dạng thê thảm này của cô ta cũng không đành lòng nói lời khó nghe.

Hắn nuốt nước bọt, nén giận, nhẹ giọng nói: “Đúng vậy.

A Bản cầu cứu ta, sao ta có thể nhắm mắt làm ngơ cho được.”
Trần Oanh lập tức nổi đóa lên, chỉ tay vào Cố Cửu và Thiệu Dật: “Chàng muốn Triệu đại ca chết rồi mà còn không được yên thân hay sao? Sao chàng có thể nghe theo lời của hai tên lừa đảo này mà đi làm chuyện thất đức như vậy chứ!”
Nghe thấy lời nói chói tai của Trần Oanh, nét mặt của Trương Ngọc Đường lập tức sa sầm xuống: “Hai vị đạo trưởng không phải là kẻ lừa đảo, bọn họ thật sự có bản lĩnh, ta đã tự mình trải nghiệm.”
Kẻ lừa đảo Cố Cửu mang vẻ mặt vô cùng vi diệu nhìn sang kẻ lừa đảo Thiệu Dật.
Trần Oanh vẫn kích động không thôi: “Thϊếp không đồng ý! Lúc còn sống Triệu đại ca đối đãi với thϊếp như em gái ruột.

Thϊếp vô cùng kính trọng huynh ấy, há lại có thể để các người đi quấy nhiễu người đã khuất như vậy!”
Cố Cửu và Thiệu Dật cùng im lặng, không thèm nói tiếng nào.

Tuy rằng Trần Oanh này làm ra vẻ vô cùng giận dữ, nhưng chỉ cần tinh ý là có thể nhìn ra sự lo lắng hoảng hốt của cô ta.

Bọn họ nghe Trương Ngọc Đường nói thê tử của hắn nhỏ hơn hắn một tuổi, nhưng bây giờ hắn ta còn phong độ ngời ngời mà thê tử lại thành ra cái bộ dáng này, cho dù có sinh non nhiều lần đi nữa thì người được cung phụng an nhàn quanh năm cũng sẽ không sa sút đến mức nhìn chẳng khác gì một bà thím như vậy, cộng thêm phản ứng thái quá đến lố bịch của cô ta càng làm người ta nghi ngờ có điều gì bất thường ở đây.
Cố Cửu không thèm đếm xỉa đến trò hề của Trần Oanh, dù sao có đào mồ hay không là do Trương Ngọc Đường quyết định, chỉ tiếc một điều là lớp phấn trên mặt cô ta quá dày nên không nhìn được tướng mạo mà thôi.

Trước khi Trần Oanh tới, Trương Ngọc Đường dù đồng ý nhưng vẫn còn chút băn khoăn, sau khi gặp Trần Oanh, Trương Ngọc Đường không còn nghĩ ngợi gì nữa.

Trần Oanh càng muốn ngăn trở, hắn càng muốn đào mồ lên xem rốt cuộc là chuyện thế nào.

Hắn tỏ vẻ việc này đã định, trời sập cũng không thay đổi được.
Trần Oanh vừa tức tối vừa lo sợ đến muốn ngất đi.

Trương Ngọc Đường không để ý đến cô ta nữa, phất tay sai người nâng cô ta về phòng nghỉ.
Những vật dụng Cố Cửu và Thiệu Dật yêu cầu chuẩn bị không khó tìm, sau khi tìm đủ hết thì ba người xuất phát ngay.

Mộ của Triệu Bản đặt ở một thôn nhỏ ngoài thành, đi xe ngựa một lát là tới.
Đến nơi, Triệu Bản và người làm dẫn đường cho hai người đến chỗ mộ phần.

Năm nào Trương Ngọc Đường cũng cho người dọn dẹp phát quang rồi đến cúng tế nên xung quanh mộ rất sạch sẽ thoáng đãng.
Thoạt đầu hai sư huynh đệ cũng không thấy điều gì bất thường, cho đến lúc bọn họ chia nhau tính toán tìm chỗ đào đất thích hợp thì bỗng nhiên phát hiện ra những phù văn được khắc sau lưng tấm bia đá.
Cố Cửu và Thiệu Dật biến sắc.
“Bia Trấn Hồn?”.
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 42: 42: Điên


Khi một gia đình có người qua đời, người trong nhà sẽ lập bia mộ cho người đã khuất, thông thường thì trên bia mộ sẽ khắc những nét sơ lược về cuộc đời của người đó, kèm theo vài dòng văn tế thể hiện nỗi tiếc thương và hoài niệm của người ở lại.

Bia đẽo từ đá là loại phổ biến nhất, để có thể chịu được gió táp mưa sa qua nhiều năm tháng.

Phàm là bia mộ thì đều có chứa những ký hiệu trấn áp, thời gian lập bia, hạ bia, phương hướng đặt bia, văn tế khắc trên bia, thậm chí là người chôn bia đều phải được xem xét cẩn thận, làm theo quy tắc, vì chỉ cần xảy ra sơ suất ở một khâu nào đó thôi thì có thể gây ra hậu quả khôn lường, ảnh hưởng tới người vừa qua đời, hoặc tệ hơn là cả người còn sống nữa.
Bia mộ của Triệu Bản xét về cả hình thức lẫn phương hướng đều rất bình thường, thế nhưng phù văn phía sau thì lại không bình thường.

Có một loại bùa chú gọi là Trấn Ác Chú, nó vốn dĩ được dùng để trấn áp những loại quỷ quái tà ác hung tợn, không tiện đưa về âm phủ xét xử định tội.

Loại bùa chú này sẽ hạn chế hoạt động của bọn chúng, ngăn cản bọn chúng tiếp tục hại người.

Trấn Ác Chú này đúng như tên gọi, là khắc tinh của bọn yêu ma, gặp kẻ càng mạnh thì uy lực của nó càng lớn, còn đối với những quỷ hồn trong sạch, chưa từng làm việc thất đức thì sẽ chẳng có tác dụng gì.
Tuy nhiên, có một đạo sĩ nọ bụng dạ khó lường, vì để triệt hạ đối thủ mà ra tay chỉnh sửa Trấn Ác chú, biến nó trở thành một loại chú độc địa, có thể trấn cả quỷ hồn bình thường.

Khi nào linh hồn còn chưa tiêu tan thì khi ấy còn phải chịu đựng cảm giác bị núi đè, mãi mãi không được giải thoát.
Nhìn thấy tấm bia đá, Cố Cửu và Thiệu Dật mới biết bọn họ đã đánh giá thấp tính nghiêm trọng của vụ việc này.

Họ chỉ nghĩ Triệu Bản bị giam giữ ở đâu đó mà thôi, nào ngờ lại gặp phải loại bùa chú âm hiểm này.

Bây giờ dù họ có lấy xương cốt của Triệu Bản ra khỏi mộ đi nữa thì cũng không cứu được y, bởi vì vẫn chưa phá chú.
Trương Ngọc Đường nghe nói tấm bia đá kia là nguồn cơn nỗi đau khổ vô tận của Triệu Bản thì chỉ muốn cho nó một gậy nát tan để cứu bạn ra, cũng may là Cố Cửu ngăn cản kịp thời, giải thích rõ đầu đuôi cho hắn hiểu.
Bia đá không được đào, nhưng quan tài thì có thể mở.
Đợi đến thời gian thích hợp, mọi người tránh động tới tấm bia đá, thay phiên nhau đào quan tài lên.

Quan tài vừa được đưa lên, từng trận âm khí đã xộc lên làm ai nấy đều run lập cập, choáng váng hết cả.
Bởi vì âm khí quá nặng nên đã mười ba năm trôi qua mà quan tài chỉ bị mục vài chỗ, còn lại gần như là nguyên vẹn.

Âm khí kết thành một tầng sương đen lạnh lẽo bao phủ cả quan tài.

Cố Cửu kéo kéo áo bọc mình lại thật chặt, chỉ đứng bên cạnh ngó chứ không dám đi xuống vì lạnh.

Thiệu Dật nhảy xuống xem, hắn nhìn chằm chằm vào những mối đinh đóng trên quan tài một lát, sau đó nói: “Quan tài này từng bị mở một lần rồi.”
Từ lúc biết được phù văn phía sau tấm bia có vấn đề thì sắc mặt Trương Ngọc Đường đã xấu tệ rồi, bây giờ càng kinh sợ hơn, vội vàng hỏi: “Từng bị mở một lần sao?”
Thiệu Dật gật đầu, sau đó nhờ vài thanh niên khỏe mạnh, dương khí sung mãn cạy nắp quan tài ra.

Nắp quan vừa mở, có người đã ngạc nhiên kêu lên: “Sao lại có nhiều đinh thế này?”
Máu thịt của Triệu Bản đã sớm mục rữa từ lâu, trong quan tài chỉ còn lại một bộ xương khô đen quắt lại, mà trên trán, giữa ngực và tứ chi của bộ xương này đều bị một cây đinh sắt dài cỡ ba tấc đóng vào, làm cho bộ xương bị dính chặt vào quan tài.
Hai tay Trương Ngọc Đường run rẩy, bàn tay nắm chặt lại.

“Năm đó chính tay tôi đặt A Bản vào quan tài, làm sao bây giờ lại thành thế này?!” Quan tài bị mở ra một lần mà hắn chẳng mảy may hay biết, chắc chắn kẻ thủ ác mở quan tài vì lý do này đây.
“Cố đạo trưởng, đinh này có tác dụng gì?”
Cố Cửu nói: “Đây gọi là Trùy Hồn Đinh, là một loại pháp khí âm tà.

Trùy Hồn Đinh đâm thấu xương khiến cho vong hồn phải chịu cực hình bị đóng đinh vĩnh viễn.”
Môi Trương Ngọc Đường trắng bệch, không giữ được bình tĩnh nữa.

Hắn lớn tiếng kêu lên thảng thốt: “Sao lại có kẻ hại A Bản thê thảm như vậy?!”
Mười ba năm ròng, trước có bia đá, sau có đinh nhọn.

Rốt cuộc kẻ đó có thâm thù đại hận gì với A Bản mà lại làm ra chuyện tàn nhẫn đến thế, huynh ấy chết rồi cũng không tha?
Thiệu Dật gỡ Trùy Hồn Đinh ra, mang bộ xương lên, đặt trên tấm vải bố có vẽ sẵn phù chú, nói: “Mang xương cốt về đã, đợi cứu được hồn phách của y rồi tìm vị trí khác chôn cất lần nữa.”
Hai mắt của Trương Ngọc Đường đỏ ngầu, hắn ôm xương cốt đã héo khô của bạn mình lên, bỗng dưng không nhịn nổi nữa, òa khóc: “A Bản, ta có lỗi với đệ!” Hắn khóc không dừng nổi, khóc nức khóc nở, vừa áy náy vừa đau buồn khôn nguôi.
Cố Cửu giúp Thiệu Dật phủi bụi đất dính vào quần áo, cứ để Trương Ngọc Đương khóc cho thỏa lòng, đợi đến khi hắn cảm thấy đỡ hơn một chút mới hỏi: “Trương lão gia, văn tế trên tấm bia này là ai khắc vậy?”
Nghe Cố Cửu hỏi, ánh mắt Trương Ngọc Đường lạnh xuống: “Năm đó lễ tang của A Bản là do ta và Trần Oanh cùng nhau xử lý, tấm bia đá này nàng ta cho người chuẩn bị.”
Cố Cửu nói: “Vậy cứ về nhà, mấu chốt để phá giải Trấn Hồn Chú hẳn là nằm trên người phu nhân của ngài thôi.”
Ngay lúc nhìn thấy phù văn được khắc trên Trấn Hồn Bia thì Cố Cửu đã hiểu ngay lý do vì sao Trần Oanh lại nhanh chóng già nua như vậy, đơn giản vì cô ta chính là người hạ chú.
Để kích hoạt được loại phù chú này cần phải có một giọt máu của người hạ chú.

Chẳng qua chỉ là một giọt máu thôi, nhưng hậu quả nó để lại thì cực kì đáng sợ.

Khi xưa tên đạo sĩ sửa chữa Trấn Ác Chú chỉ quan tâm đến uy lực trấn áp hồn phách của nó mà quên đi việc bùa chú sẽ phản phệ.

Loại bùa chú hiểm độc này sẽ rút đi tuổi thọ của kẻ hạ chú để duy trì hiệu quả trấn áp.

Kẻ hạ chú phải lấy chính sinh mệnh của mình ra làm điều kiện giao ước.

Chỉ cần chú còn tồn tại, thì người bị ếm còn phải chịu tra tấn, và tuổi thọ của kẻ hạ chú còn bị bào mòn.

Cho đến khi một trong hai bên hoàn toàn biến mất.

Sinh khí của Trần Oanh đang bị tiêu hao liên tục làm cho tuổi thọ của cô ta cũng bị rút ngắn theo, vì thế ngoại hình của Trần Oanh mới trông như một bà thím trung niên.

Mà khi có thai, cơ thể phải mang thêm một sinh mệnh khác, nhưng vì bùa chú còn đó, bản thân Trần Oanh còn thiếu hụt sinh khí thì lấy đâu ra sức để nuôi dưỡng thêm một đứa bé trong bụng nữa.

Lâu ngày dài tháng, đứa bé không trụ được nữa thì sinh non là điều tất yếu.

Đây mới là lý do thực sự vì sao Trần Oanh từng mang thai tám lần nhưng không một lần nào giữ được lâu.
Trên đường về nhà, Trương Ngọc Đường chỉ lặng lẽ ngồi ôm bộ xương khô trong lòng, tuy hắn không nói gì, nhưng không giấu được nỗi lòng đang cuộn sóng.
Đoàn người trở lại nhà họ Trương, Trương Ngọc Đường ôm luôn bộ xương đi phăm phăm vào khu nhà sau, Cố Cửu và Thiệu Dật cũng nối gót.
Trong khu nhà sau có lẽ Trần Oanh cũng biết không thể giấu diếm lâu hơn được nữa, bèn trang điểm, thay đồ mới, ngồi ngay ngắn ở sảnh tiếp khách chờ Trương Ngọc Đường.
Trương Ngọc Đường vừa nhìn thấy Trần Oanh đã hỏi ngay: “Bia mộ và Trùy Hồn Đinh là cô làm phải không?”
Trần Oanh cầm khăn tay đưa lên che miệng, ho khan vài tiếng, thẳng thắn thừa nhận: “Là thϊếp.”
Trương Ngọc Đường bình tĩnh hỏi: “Lúc còn sống A Bản đối xử với cô không tốt à?”
Trần Oanh suy nghĩ một lát, chậm rãi đáp: “Hắn đối xử với thϊếp cực kì tốt.”
“Vậy thì tại sao? Cô gọi hắn một tiếng Triệu đại ca, hai tiếng Triệu đại ca, tại sao lại ra tay tàn độc như vậy?” Trương Ngọc Đường còn chưa đến nỗi mất lý trí, nhưng hai mắt hắn đã đỏ lựng cả lên.
“Cô còn gạt ta, lừa ta tự tay chôn tấm bia đá kia xuống, trấn A Bản dưới đó mười ba năm!”
Khuôn mặt vô cảm của Trần Oanh đối diện với Trương Ngọc Đường trong chốc lát, bỗng dưng cô ta cười phá lên, nham hiểm nói: “Bởi vì ta hận hắn!”
Cố Cửu lẳng lặng đứng ngoài cửa, nhìn bộ xương của Triệu Bản đang được Trương Ngọc Đường ôm chặt trong lòng, rồi lại nhìn sang vẻ điên cuồng của Trần Oanh, cậu bỗng hiểu ra kết quả bát tự của Triệu Bản mà cậu tính được trước đó: Cầu mà không được.
Trần Oanh chẳng khác gì kẻ điên, câu được câu mất kể lại một câu chuyện xưa làm người ta phải giật mình.
Trương Ngọc Đường, Triệu Bản và Trần Oanh quen biết nhau từ nhỏ đến lớn.

Triệu Bản vô cùng dịu dàng, còn Trương Ngọc Đường tuy cũng là thiếu gia nho nhã nhưng lại phóng khoáng hào sảng hơn Triệu Bản nhiều.

Người có tính tình thoải mái như vậy thường giao du quen biết rộng, dễ kết bạn, dễ thu hút sự chú ý của người khác.
Theo thời gian, Trần Oanh từ một cô bé con trưởng thành thành một thiếu nữ e ấp, cũng tự nhiên sinh ra tình cảm trai gái với Trương Ngọc Đường.

Trần Oanh rất thích Trương Ngọc Đường, nhưng là phận nữ nhi nên phải biết giữ kẽ, nào dám đeo đuổi trắng trợn, chỉ có thể ngấm ngầm tỏ bày tình cảm, mong một ngày Trương Ngọc Đường sẽ hiểu được lòng mình.
Trương Ngọc Đường này, dù là người đã bên hắn nửa đời người như Trần Oanh hay là Cố Cửu chỉ vừa mới gặp cũng phải thừa nhận rằng hắn là một người đàn ông đầu gỗ chính hiệu.

Như bao gã trai khác, hắn có phần vô tâm, không quá để ý chi tiết, không nắm bắt được tín hiệu Trần Oanh phát ra.

Trần Oanh đã ám chỉ rất nhiều lần, nhưng Trương Ngọc Đường vẫn ngay đơ cán cuốc, lâu dần Trần Oanh sinh lòng oán hận, mà rủi thay cô ta lại tình cờ phát hiện ra một người khác cũng đem lòng ái mộ người trong mộng của mình.

Đó là Triệu Bản.
Con gái thường rất nhạy cảm, cô ta mang tình ý với Trương Ngọc Đường, từ ánh mắt mình nhìn đến cách mình cư xử với người ta thế nào cô ta biết rõ, cho nên cô ta đã nhanh chóng phát giác ra cách Triệu Bản đối đãi với Trương Ngọc Đường không giống như bạn bè bình thường, dù cho y đã cố gắng che giấu.
Trần Oanh là phận gái, dù có thân thiết thế nào cũng không thể nào ngày ngày kề cận Trương Ngọc Đường được.

Lúc cô ta phát hiện được bí mật của Triệu Bản cũng là lúc cô ta ý thức được rằng người sớm tối ở bên cạnh Trương Ngọc Đường là y.
Có người yêu thầm đối tượng của mình thì ai mà vui cho được, hơn nữa người đó lại còn là đàn ông.
Trần Oanh rất muốn vạch trần tâm tư của Triệu Bản, hòng làm cho Trương Ngọc Đường ghê sợ y.

Nhưng mà mỗi lần cô ta tìm được cơ hội ở riêng với Trương Ngọc Đường thì hầu như chủ đề cũng chỉ xoay quanh Triệu Bản mà thôi, nói được ba câu thì đã có hai câu Trương Ngọc Đường nhắc đến y, ngay cả khi ba người tụ họp cũng vậy, hầu hết thời gian hắn đều chỉ trò chuyện với Triệu Bản, khỏi cần nhắc đến khi ra ngoài dạo chơi, hai người càng giống như hình với bóng.
Thế là Trần Oanh không dám nói, cô ta sợ chẳng may đánh động đến Trương Ngọc Đường, làm hắn ta thực sự thích Triệu Bản thì toi.
Tình cảm không được đáp lại, người trong lòng lại còn sớm chiều gần gũi với người khác làm Trần Oanh không cam tâm.

Ban đầu chỉ là chút bực bội nhỏ nhen, càng về sau càng bị biến chất.

Cô ta căm hận khi nhìn thấy ánh mắt dịu dàng của Triệu Bản hướng về Trương Ngọc Đường, nhìn thấy hai người kề vai sát cánh bên nhau.

Và như một lẽ hiển nhiên, cô ta trút mọi căm hờn lên Triệu Bản.

Thế là Trần Oanh tìm một dịp Trương Ngọc Đường đi vắng, đến gặp riêng Triệu Bản, vạch trần bí mật mà cô ta cho là ghê tởm của y.
Ở thời đại này, tình cảm giữa hai người đàn ông vẫn còn bị thế nhân gièm pha, hơn nữa Triệu Bản còn mang tiếng là trẻ mồ côi được cha mẹ Trương Ngọc Đường nuôi nấng nên người, ơn sâu như núi.

Vì vậy, y nào dám để lộ tình cảm của mình cho người thương biết, chỉ có thể cố gắng giấu đi.

Nay bị Trần Oanh phát hiện thì phải hạ mình cầu xin Trần Oanh đừng nói với Trương Ngọc Đường.
Về sau, Triệu Bản cố ý giữ khoảng cách với Trương Ngọc Đường, Trương Ngọc Đường lại không hiểu đầu cua tai nheo ra sao, tưởng mình đã vô ý làm gì đó khiến bạn thân giận, thế là hắn càng đeo bám dữ hơn, muốn làm cho ra lẽ.
Chuyện này biến thành một vòng tuần hoàn chết chóc.

Trương Ngọc Đường thân cận với Triệu Bản thì Trần Oanh oán hận, cô ta oán hận bèn nhục mạ Triệu Bản cho bõ ghét.

Triệu Bản không dám hé răng nửa lời với Trương Ngọc Đường, chỉ có thể im lặng chịu đựng và né tránh.
Dần dần, Triệu Bản bị khủng hoảng tinh thần.
Sau khi Triệu Bản bị bệnh, Trương Ngọc Đường càng quan tâm lo lắng cho y hơn.

Còn Trần Oanh đợi mãi mà không có kết quả, mất kiên nhẫn bèn quyết định sử dụng thủ đoạn mờ ám.

Cô ta hạ thuốc Trương Ngọc Đường hòng ăn vạ.
Trương Ngọc Đường tuy vô tâm, nhưng là người ngay thẳng.

Hắn trót ăn nằm với Trần Oanh nên dù không yêu thì vẫn chấp nhận cưới cô ta về làm vợ.

Không bao lâu sau lần đó, Trần Oanh có thai.
Đó là nguyên nhân vì sao đang lúc Triệu Bản bệnh liệt giường mà bọn họ lại tổ chức hôn lễ, bởi vì còn chần chừ nữa thì Trần Oanh sẽ bị lộ bụng.
Cuộc đời lắm đau thương, tuy rằng Triệu Bản biết rằng mình và Trương Ngọc Đường không bao giờ có tương lai, thế nhưng tận mắt chứng kiến người mình yêu cưới người khác thì y vẫn đau thấu tâm can.

Tin Trương Ngọc Đường sẽ nên vợ chồng với Trần Oanh trở thành một cú sốc nặng nề đối với y.
Ngay đêm tân hôn của hai người họ, Triệu Bản lìa đời.
Trương Ngọc Đường biết tin dữ, ngay cả rượu hợp cẩn cũng không uống, chạy vội sang chỗ của Triệu Bản, để Trần Oanh mặc áo cưới đỏ thắm, ngồi trong căn phòng trống rỗng cả một đêm dài.
Đám tang của Triệu Bản diễn ra ngay sau đó, suốt khoảng thời gian lo liệu ma chay, việc Trương Ngọc Đường chỉ biết tiếc thương người bạn vắn số, hoàn toàn không để tâm gì đến cô vợ mới cưới càng làm cho Trần Oanh điên tiết.
Cái chết của Triệu Bản không chỉ không giúp Trần Oanh cảm thấy dễ chịu mà ngược lại càng làm cho lòng ghen ghét của cô ta trở nên méo mó hơn, Triệu Bản như trở thành cái gai găm sâu vào da thịt cô ta không cách nào gỡ ra được.

Cô ta càng ngày càng trở nên điên cuồng, muốn cho Triệu Bản chết rồi cũng không được yên ổn, vì thế cô ta nghĩ đến những thủ đoạn ma quỷ.

Cuối cùng cô ta tìm ra Trấn Hồn Chú với những chú ngữ phức tạp kì ảo, cô ta đã lợi dụng sự mơ hồ đó để lừa gạt Trương Ngọc Đường.

Cô ta nói với hắn rằng đây là bùa chú cầu phúc, khắc lên bia mộ để cầu phúc cho Triệu Bản, mong kiếp sau y được đầu thai vào nơi tốt đẹp.
Trương Ngọc Đường không nghi ngờ gì, lại nghe Trần Oanh nói nếu được người thân hơn cả huynh đệ ruột thịt như mình đích thân lo liệu thì hiệu quả bùa chú càng cao nên hắn bèn tự tay chôn tấm bia đá xuống.
Từ đó về sau, mỗi lần Trần Oanh nghĩ đến việc chính Trương Ngọc Đường khiến cho Triệu Bản bị tra tấn khốn khổ thì đều cảm thấy một nỗi khoan khoái dạt dào dâng lên trong lòng.

Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, chỉ ba tháng sau, đứa nhỏ đã thành hình được năm tháng trong bụng cô ta không còn nữa.
Những ngày tháng sau đó là một chuỗi ác mộng mà Trần Oanh không bao giờ muốn trải qua lần nữa, không ngừng có con, không ngừng mất con.

Nhan sắc của cô ta tàn phai đến mức mắt thường có thể nhìn thấy được.

Đầu óc Trần Oanh đã mụ mị từ lâu, cô ta một mực cho rằng đây là do Triệu Bản phán kháng mà ra, muốn trả thù.

Cô ta không biết hối cải mà ngược lại còn ra tay tàn độc hơn.

Trần Oanh lựa lúc Trương Ngọc Đường đi làm ăn xa một thời gian, lén lút tìm một đạo sĩ quật mồ của Triệu Bản, đóng Trùy Hồn Đinh vào xương y.
Cô ả cũng không tha cho những kỉ vật của Triệu Bản để lại, âm thầm lặng lẽ tiêu hủy không chừa lại một cái gì.

Cô ta không muốn Trương Ngọc Đường có bất cứ liên hệ nào với Triệu Bản nữa.
Lần này, việc Trương Ngọc Đường mời đạo sĩ về phải đến sau khi bị sinh non nằm liệt giường thì cô ta mới hay nên không kịp ngăn cản.

Cho đến lúc này, Trần Oanh vẫn không có vẻ gì là hối hận cả, cô ả nhìn chằm chằm Trương Ngọc Đường: “Nếu sớm biết chàng mời được hai kẻ có chút bản lĩnh thế này, ta đã tìm biện pháp khác tốt hơn rồi, tốt nhất là khiến cho Triệu Bản hồn phi phách tán!”
Trương Ngọc Đường vừa mới định thần lại sau khi biết được việc Triệu Bản thầm yêu mình.

Hắn nhìn Trần Oanh như kẻ điên trước mặt, lẩm bẩm:
“Cô điên rồi.”.
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 43: 43: Ái Tình


Ngay từ đầu, Trần Oanh đã biết rõ Trương Ngọc Đường cưới cô ta chỉ vì trách nhiệm, nhưng cô ta luôn ảo tưởng rằng tình cảm có thể bồi đắp, rồi sẽ có một ngày hắn yêu mình, cả hai trở thành một đôi phu thê ân ái như chim liền cánh, như cây liền cành.

Chỉ là… mười ba năm qua đi, tâm nguyện của Trần Oanh vẫn mãi là một niềm hi vọng xa vời.
Công bằng mà nói, Trương Ngọc Đường là một người chồng tử tế.

Hắn tôn trọng Trần Oanh nên dù sống với nhau đã lâu mà không có con nhưng hắn chưa từng có ý định cưới thêm vợ lẽ.

Nhưng dù thế nào thì Trương Ngọc Đường đối với Trần Oanh vẫn là kính thì thừa mà yêu thì thiếu.

Thứ mà Trần Oanh khao khát là một người chồng yêu chiều mình chứ không phải một người chồng mười năm vẫn kính trọng mình như khách.

Nếu đối với Triệu Bản, Trần Oanh vừa ghét vừa hận, thì đối với Trương Ngọc Đường, cô ta vừa yêu vừa hận.

Tại sao trong ba người hắn luôn là người ngoài cuộc, tại sao hai người còn lại phải khốn khổ quay cuồng vì hắn, còn hắn vẫn an nhiên tự tại, chính hắn mới là ngọn nguồn của mọi điều mâu thuẫn kia mà?
Trần Oanh nhìn Trương Ngọc Đường ôm bộ xương đã rệu rã của Triệu Bản, không biết đang thì thầm cái gì, suиɠ sướиɠ cười nói: “Không phải chàng nhớ thương Triệu Bản sao? Bây giờ chàng đã biết nếu không vì chàng thì hắn ta sẽ không phải chết đau đớn như thế, sau này chàng còn mặt mũi nói thương tiếc nữa không?”
Trương Ngọc Đường bỗng ngẩng đầu lên, nhìn chằm chằm vào khuôn mặt tràn đầy vẻ đắc ý của Trần Oanh, nhẹ nhàng nói: “Cô hận ta, nhưng cũng yêu ta chết đi sống lại.”
Nụ cười của Trần Oanh dần dần biến mất.

Ánh mắt lạnh lẽo của hắn làm cô ta chợt cảm thấy bất an.
“Ngày hôm ta, ta sẽ bỏ cô.”
Kể từ đây, hi vọng xa vời của ngươi sẽ thực sự đặt dấu chấm hết.

Không những vĩnh viễn mất đi cơ hội làm hắn thích ngươi, mà ngay đến cả mối liên hệ duy nhất với hắn cũng không còn, cũng đừng mơ đến việc sau khi chết sẽ được hợp táng.

Ngươi sẽ được trải qua cảm giác dằn vặt đau khổ sợ người khác biết bí mật của mình giống như Triệu Bản.

Một người đàn bà không sinh được con, lại còn bị chồng ruồng rẫy, từ đây về sau, ánh mắt của thế nhân, là thứ khiến ngươi kinh sợ.
“Không! Ngươi không được làm như vậy!” Trần Oanh cuồng loạn lao tới, ngã nhào xuống khỏi ghế, chật vật lê lết trên đất.
Trương Ngọc Đường nhìn chằm chằm Trần Oanh như cố ý nhìn người mình gọi là thê tử mười ba năm lần cuối, sau đó hắn nhắm mắt, hít sâu một hơi, quay lại hỏi Cố Cửu và Thiệu Dật: “Các vị cần thứ gì để giải chú?”
“Máu ở đầu ngón tay là được.” Cố Cửu nói.
Trương Ngọc Đường không mảy may để ý đến Trần Oanh đang gào thét, gọi người đem dao và chén đựng máu đến, ra lệnh cho bọn họ giữ chặt cô ta lại, cắt đầu ngón tay lấy máu.
“Ngọc Đường! Phu quân!” Trần Oanh liên tục gào khan.
Lúc này Trần Oanh mới thực sự cuống lên, muốn cứu vãn tình thế, tiếc thay bát nước đã hắt đi thì không thể nào hốt lại được.
Trương Ngọc Đường thấy đã lấy được máu rồi bèn bảo người hầu buông Trần Oanh ra, mặc kệ cô ta.

Hắn đưa chén máu cho Cố Cửu rồi lại gọi người mang giấy bút ra.

Trương Ngọc Đường viết thư bỏ vợ ngay tại chỗ, rồi dặn dò người hầu dọn sạch đồ đạc của Trần Oanh đi: “Của hồi môn cũng kiểm tra cẩn thận rồi trả về đi, để ta khỏi phải chướng mắt.”
Trần Oanh nằm xụi lơ lên trên đất, tuyệt vọng kêu la: “Trương Ngọc Đường! Ngươi không thể làm như vậy! Ta đã sinh non tám lần, ta đã từng mang thai tám đứa con của ngươi!”
“Đừng nhắc tới chúng!” Trương Ngọc Đường ném thư bỏ vợ còn chưa ráo mực xuống đất.

“Cô còn mặt mũi nhắc tới con? Cô chính là hung thủ hại chết chúng nó.

Nếu ta nhận ra bộ mặt thật của cô sớm hơn, nếu ta biết lòng dạ cô hiểm ác như vậy thì một đứa cũng không có đâu!”
Trương Ngọc Đường để mấy người hầu đưa Trần Oanh đang khóc lóc thảm thiết ra ngoài, sau đó đưa thẳng về nhà mẹ đẻ.
Trần Oanh vừa đi, thế giới liền yên tĩnh trở lại.
Trương Ngọc Đường mệt mỏi bóp trán: “Hai vị đạo trưởng, khi nào thì có thể phá chú? Có thể làm nhanh một chút không?” Phá sớm một giây thì Triệu Bản sẽ bớt bị tra tấn một giây.
Cố Cửu cũng hiểu nỗi lòng ưu tư của hắn, cậu đáp: “Đợi tảng sáng là có thể phá.”
Tảng sáng là lúc âm dương vừa tách bạch, tà khí không nặng, là thời điểm phù hợp nhất để phá chú.
Đã có máu của Trần Oanh nên không cần chuẩn bị thêm gì nữa.

Cố Cửu lấy một phần máu của Trần Oanh trộn với chu sa, dùng hỗn hợp đó viết một chữ “Phá” ngay sau lưng bộ xương của Triệu Bản, tiếp đó, cậu vẽ thêm bảy lá bùa đưa cho Thiệu Dật dùng để phá chú.
Sau khi ăn cơm xong, nhân lúc trời còn chưa tối hẳn, bọn họ lại ngồi xe ngựa ra ngoại thành lần nữa, đến chỗ bia mộ, đi một vòng quanh khu vực đó bố trí những thứ cần thiết.
Mọi người nghỉ tạm trong xe ngựa một đêm.

Trước lúc tảng sáng, Thiệu Dật lập một đàn làm phép ngay trước bia mộ.

Hắn nhận lấy cây roi chín đốt bằng gỗ đào Cố Cửu đưa qua, ôm hài cốt của Triệu Bản đặt vào trung tâm đàn làm phép, lại tiếp tục lấy ra bảy lá bùa Cố Cửu vẽ lần lượt đặt lên phía trước.

Cuối cùng, hắn đặt chén sứ chứa phần máu còn lại của Trần Oanh ở phía ngoài cùng, đồng thời đặt một Âm Mộc Bài bên cạnh chén.
Tất cả mọi sự chuẩn bị xong thì trời cũng vừa tảng sáng.

Thiệu Dật ra tay ngay không chần chừ, hắn chạm mũi roi vào chén đựng máu, sau đó vung roi lên, ngay lập tức có một tia máu bắn lên không trung.

Thiệu Dật một tay cầm roi, một tay bắt quyết, miệng thì niệm chú, thế là những giọt máu đã văng ra bỗng nhiên biến thành một chuỗi hạt châu bằng máu, vô cùng linh hoạt, chịu sự điều khiển của Thiệu Dật, chuyển động theo từng động tác vung roi của hắn.

Thiệu Dật lần lượt ném từng lá bùa lên không trung, điều khiển những giọt máu đang lơ lửng ghim chúng vào tấm bia, cứ liên tục không ngừng như vậy cho đến khi cả bảy lá bùa đều được cố định lại.
Đến đây Thiệu Dật dừng lại không múa roi nữa, bắt đầu lầm rầm niệm chú: “Lấy trinh làm tế, chư vị thần quân.

Nhật nguyệt hữu hình, xán lạn quang tinh.

Soi khắp tam giới, tinh đấu tề cùng.

Thiên cương chính khí, khôi chuyển cương tinh.

Cửu hoàng phá uế, tinh tà diệt hình.”
“Cấp tốc nghe lệnh!”
Thiệu Dật quăng chiếc roi đang cầm lên cao, đầu ngọn roi vừa đúng chạm vào giọt máu cuối cùng trên không.

Roi rơi xuống, Thiệu Dật đón lấy, quất nhẹ lên bộ xương của Triệu Bản, đồng thời hét lớn: “Phá!”
Bỗng có âm thanh huyên náo từ phía xa vọng đến, ánh nắng ló dạng nơi chân trời, đêm đen lùi đi nhường bước cho một ngày mới.
Thiệu Dật quay tròn cây roi trong tay vài lần, cuối cùng gõ nhẹ cán roi lên Âm Mộc Bài, thu thế, xoay người đứng thẳng dậy, nói: “Thành công.”
Cố Cửu bước đến chỗ tấm bia đá, chạm nhẹ vào nó một cái.

Ngay lúc đầu ngón tay của cậu vừa chạm đến thì tấm bia bỗng ầm ầm đổ sụp xuống, tan nát thành một đống bụi trắng.

Tiểu Đệ cũng tiến lại gần ngửi ngửi thử, Cố Cửu thấy vậy thì phì cười.
Thiệu Dật đưa Âm Mộc Bài cho Trương Ngọc Đường, nói: “Hồn phách của Triệu Bản ở trong này.”
Trương Ngọc Đường nhận lấy khối gỗ, v**t v* mấy cái rồi mới chậm rãi thở nhẹ một hơi.

Hắn hỏi: “A Bản đã an toàn rồi phải không?”
Cố Cửu đến gần đáp: “Hồn phách của y bị tra tấn đã lâu nên rất yếu, nếu tiếp tục ở lại nhân thế thì không hay.

Tốt nhất là nhanh chóng đưa y về địa phủ, đó mới là chỗ ở thích hợp dành cho quỷ hồn.”
Trương Ngọc Đường cụp mắt yên lặng không nói gì, tỏ ý đã hiểu.
Trương Ngọc Đường đột ngột bỏ Trần Oanh mà lại không giải thích gì nên dĩ nhiên người nhà họ Trần muốn đến làm cho ra lẽ.

Lúc đoàn người quay về từ ngoại thành đã thấy một đám người nhà họ Trần bao vây cửa chính.

Nhưng lúc này Trương Ngọc Đường chẳng còn lòng dạ nào đi đối phó với bọn họ, thế là hắn né tránh đám đông bước thẳng vào nhà.
Trương Ngọc Đường nói với Cố Cửu và Thiệu Dật rằng hắn muốn gặp Triệu Bản một lần.

Cố Cửu nói với hắn bây giờ đang là ban ngày, có nhiều dương khí nên quỷ hồn sẽ cảm thấy khó chịu, đó là lý do ban ngày các quỷ hồn đều tìm chỗ trú ấn không ra ngoài.

Triệu Bản lại là còn là một quỷ hồn vô cùng yếu ớt, bây giờ đưa y ra khỏi Âm Mộc Bài chẳng khác gì bắt y tự sát.

Cố Cửu khuyên Trương Ngọc Đường cố gắng đợi đến tối vậy.

Triệu Bản đang ở ngay trong thẻ bài, chỉ cần đợi đến tối rồi muốn gọi y ra lúc nào cũng được.
Trong lúc chờ đợi, Trương Ngọc Đường không để thẻ bài rời khỏi tay mình một giây một phút nào.

Trời vừa tắt nắng, hắn đã vội vàng đi đến căn phòng bỏ trống nơi Triệu Bản từng ở.
Gần đây trời bắt đầu trở lạnh, báo hiệu đã chớm thu.
Cố Cửu ngồi bên cửa sổ, ôm Tiểu Đệ vào lòng cho ấm.

Một người một mèo nhìn đám âm khí trôi lững lờ trên chỗ ở của Triệu Bản.
Cố Cửu bỗng nhiên quay sang nói với Thiệu Dật đang đứng khoanh tay tựa vào tường: “Sư huynh, năm đó sư cha gặp nạn hẳn là sư phụ đã đau lòng lắm.”
Thiệu Dật: “Không rõ.”
Cố Cửu phì cười: “Đệ quên, lúc đó sư huynh mới hai tuổi, đương nhiên không nhớ rồi.”
Thiệu Dật ừ một tiếng.
Cố Cửu chợt nghĩ tới hôm trước vừa gặp sư cha, hắn vẫn mang một khuôn mặt anh tuấn trẻ tuổi như lúc tạ thế vậy.

Nghĩ đến đó, cậu bỗng thấy rầu rĩ: “Sư huynh, huynh nói xem, đợi đến lúc sư phụ già rồi mà sư cha vẫn cứ trẻ mãi không già như vậy thì biết phải làm sao?”
Một người vĩnh viễn dừng lại ở tuổi đôi mươi, một người đã là ông lão lọm khọm… Cố Cửu tưởng tượng ra hình ảnh hai người họ ở chung, tự nhiên rùng mình ớn lạnh.
Khóe mắt Cố Cửu giật giật, hẳn là cũng đang tưởng tượng đến đó.

Hắn nói: “Không đâu, sư phụ vừa đi thì hẳn là họ cũng sẽ cũng nhau đi đầu thai thôi.”
Cố Cửu lại nói: “Nhưng mà vừa uống canh Mạnh Bà xong liền quên hết mọi việc rồi, cũng quên mất người kia.” Họ…sẽ cam tâm sao?
Thiệu Dật nói: “Người mang công đức trong người có thể dùng công đức để trao đổi như một dạng tiền tệ, yêu cầu địa phủ xếp cho mình đầu thai gần người mình muốn một chút.”
Cố Cửu kinh ngạc: “Vậy cũng được hở?” Ái chà, quả nhiên câu “có tiền có thể sai khiến cả quỷ thần” không sai chút nào.
Cố Cửu nhích nhích một chút rồi lại nhích thêm một chút, nhích lại gần Thiệu Dật: “Vậy…sư huynh, chúng ta phải tích cóp thiệt nhiều công đức, sau này chúng ta cũng bỏ tiền ra như vậy, để kiếp sau tiếp tục ở cạnh nhau.”
Thiệu Dật quay đầu nhìn khuôn mặt xinh xẻo của Cố Cửu càng ngày càng dính lại gần, quay mặt sang chỗ khác, tỏ vẻ ghét bỏ.
Cố Cửu đau lòng muốn chết, túm lấy bả vai Thiệu Dật lắc lắc: “Sư huynh, sao huynh lại như vậy.

Người ta nói phải tu mười kiếp mới có thể làm bạn, tu vạn kiếp mới được cùng giường chung gối.

Chúng ta đã cùng chung chăn gối lâu như vậy rồi, không có tình cũng có nghĩa, huynh nỡ lòng nào không chịu đầu thai chung với đệ chứ?”
Thiệu Dật kéo phẳng phần cổ áo bị Cố Cửu quậy cho lệch lại.

“Là đệ bám theo ta đòi ngủ cùng.”
Cố Cửu: “Người đệ mát mẻ muốn chết, nói cứ như huynh không muốn ngủ với đệ ấy.”
Thiệu Dật: “…Còn kéo nữa thì tối nay đệ ngủ một mình đi.”
Cố Cửu chơi nhây cứ tiếp tục túm áo sư huynh không buông, kéo một tí, lại kéo một tí nữa…
“Roẹt.”
Áo Thiệu Dật rách một đường dài.
Cố Cửu: “…”
Thiệu Dật: “…”
Cố Cửu xí hổ buông tay vội: “Sư huynh à, sao áo của huynh lại dễ hỏng như vậy chứ…”

Thiệu Dật lạnh lùng kéo phần áo bị giật rách lên, nhìn Cố Cửu như nhìn một đứa con hư hỏng phá của: “Đây là đồ của sư phụ, cả sư phụ cả ta mặc đã mười năm rồi.”
Cố Cửu hổ thẹn che mặt lại.
Tối đến, Thiệu Dật lên giường chuẩn bị đi ngủ, Cố – phá của – Cửu vẫn còn ngồi bên bàn chong đèn cầy may đồ.

Cậu đang khâu chiếc áo rách của Thiệu Dật thành tay nải đựng đồ.

Túi bọn họ đeo hầu hết đều làm từ quần áo cũ cả, cắt ra xếp thành nhiều lớp khâu lại là được một cái túi dùng thoải mái, còn bền nữa.
Sáng hôm sau, Thiệu Dật và Cố Cửu có thêm được mấy cái túi, còn Trương Ngọc Đường thì không biết đêm qua nói chuyện gì với Triệu Bản mà mới sáng sớm đã mang đôi mắt sưng vù đỏ quạch đi tìm hai người, hỏi làm thế nào để đưa Triệu Bản đi.
Cố Cửu nói: “Phải làm pháp sự siêu độ đã.”
Triệu Bản bị Trần Oanh hãm hại, chịu tra tấn trong nhiều năm, khó mà không mang oán khí, siêu độ để thanh lọc oán khí có thể giúp y thoải mái hơn một chút.
Đương nhiên là Trương Ngọc Đường đồng ý ngay, không những vậy còn hi vọng làm pháp sự lâu lâu một chút, có thể thanh lọc càng nhiều oán khí càng tốt.

Cố Cửu đồng ý, sau đó hai người làm pháp sự siêu độ cho Triệu Bản suốt ba ngày ba đêm, rồi đưa y đi.
Lúc Triệu Bản đi, Cố Cửu mới nhìn rõ dáng vẻ của y, quả đúng như lời Trương Ngọc Đường mô tả, là một thư sinh nhã nhặn khiêm tốn.

Ánh mắt y nhìn Trương Ngọc Đường có yêu thương, có lưu luyến, cũng có thoải mái nhẹ nhõm.
Quỷ hồn của Triệu Bản đã đi rồi, nhưng xương cốt thì vẫn còn đây, cần phải tìm chỗ chôn cất lần nữa.

Cố Cửu hỏi Trương Ngọc Đường có muôn bọn họ tìm giúp một nơi không.
Trương Ngọc Đường nói: “Lại làm phiền hai vị đạo trưởng, nhờ hai vị tìm giúp một chỗ phù hợp với huynh ấy ngay trong tòa nhà này đi.”
Cố Cửu hỏi: “Ngài chắc chứ?”
“Chắc chắn.” Trương Ngọc Đường rầu rĩ nói: “Huynh ấy yêu mến tôi, rồi lại vì tôi mà chết.

Tôi dành khoảng thời gian còn lại bầu bạn với huynh ấy âu cũng hợp lẽ thường.”
Cố Cửu nói: “Vậy cũng tốt.”
Sau đó, Cố Cửu và Thiệu Dật tìm một chỗ để an táng Triệu Bản ngay trong nhà, thật trùng hợp, đó chính là gian phòng mà Triệu Bản từng ở năm xưa.

Thu xếp xong xuôi mọi việc, hai sư huynh đệ cũng từ giã lên đường.

Ngay hôm đó, Trương Ngọc Đường sai người làm thu xếp sạch sẽ rồi dọn đồ vào ở ngay trong khu nhà đó, từ đây về sau không quay về nhà chính nữa.
Lúc rời khỏi, Cố Cửu và Thiệu Dật thoáng thấy một chiếc xe ngựa đậu bên ngoài nhà họ Trương, rèm xe không che kín, có thể lờ mờ thấy được bên trong, là Trần Oanh.

Cô ta trông càng già nua hơn so với lần cuối cùng hai người nhìn thấy, cặp mắt ráo hoảnh nhìn mải miết về nơi từng là nhà của mình, nước mắt chảy dài, môi mấp máy khô khốc, không biết đang nói gì.
Chuyện mà Cố Cửu và Thiệu Dật không biết là hai năm sau ngày xảy ra câu chuyện này, Trần Oanh ốm nặng mà chết.

Trước khi chết, cô ta mong được gặp lại Trương Ngọc Đường lần cuối, nhưng dù người nhà họ Trần có đến năn nỉ thế nào đi nữa, hắn cũng từ chối không gặp.
Khi đó Cố Cửu còn thầm nói với Thiệu Dật, Trương Ngọc Đường muốn chôn Triệu Bản trong nhà có lẽ không phải đột nhiên nhận ra mình thích Triệu Bản đâu, mà chỉ đơn thuần là vì áy náy, muốn chuộc lỗi mà thôi.

Nhưng điều họ không ngờ là, quả thật ban đầu Trương Ngọc Đường làm vậy cốt muốn cho nhẹ lòng thật, nhưng về sau, tháng tháng năm năm tưởng nhớ cố nhân, hồi tưởng từng kí ức vụn vặt thời niên thiếu kề cận bên nhau, thế mà hắn lại dần dần thích Triệu Bản thật.
Nửa đời trước không biết ái tình là gì, nửa đời sau lại nếm vị đắng tương tư..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 44: 44: Chợ Quỷ


Quận Kinh Lăng vẫn còn một số địa điểm chưa được thanh lọc xong.

Sau khi xong việc ở nhà họ Trương, Cố Cửu và Thiệu Dật dành mấy ngày để nghỉ ngơi hồi sức.

Rời khỏi trấn nhỏ, bọn họ tiếp tục lên đường, đi dọc theo hướng đã sắp xếp trước đó để thanh lọc âm khí và oán khí.
Lúc làm việc này, họ gặp được rất nhiều quỷ quái lang thang, nếu quỷ có nhu cầu thì họ sẽ lập đàn, mời âm sai đến đưa chúng về âm phủ, còn nếu bọn chúng không muốn đầu thai thì họ cũng không ép.
Tối hôm nay, hai người hỏi thăm được từ một con quỷ cao tuổi đã qua đời mấy trăm năm rằng đêm mai sẽ có chợ quỷ xuất hiện.
Chợ quỷ hay còn gọi là chợ đen theo cách nói của người sống, là nơi người ta tìm tới để giao dịch những thứ không thể công khai mua bán, còn đối với âm phủ thì chợ quỷ là chợ quỷ theo đúng nghĩa đen, là nơi quỷ mở sạp bán hàng, dĩ nhiên kẻ mua người bán đều là quỷ cả.
Loại chợ quỷ này có khi là do một nhóm quỷ tự phát, có khi là do Thành Hoàng hoặc địa phủ đứng ra tổ chức, quy mô lớn nhỏ tùy theo cấp bậc của ban tổ chức.

Chợ quỷ mà quỷ cao tuổi nhắc tới là do Thành Hoàng tổ chức, được xếp vào hoạt động của nhà nước, quy mô rất khá.
Chợ của quỷ là nơi quỷ quái tụ tập, người sống không thể vào.

Nếu là chợ quỷ do nhà nước tổ chức chứ không phải chợ tự phát thì người dương khí yếu chẳng may đi lạc vào cũng không mất mạng, cùng lắm là bị dọa hết hồn, hoặc dính âm khí nên bệnh một trận rồi thôi.

Cố Cửu lớn bằng này nhưng chỉ từng theo Thiệu Dật đi chợ quỷ hai lần, mà cả hai lần đều là chợ trời tự phát quy mô nhỏ, bán những vật linh tinh như đồ bồi táng hoặc dăm ba thứ đồ cúng mà quỷ được người nhà đốt cho.

Nếu may mắn gặp được quỷ lớn tuổi sống mấy trăm năm thì có khi cũng mua được đồ tốt.

Đối với người trong huyền môn, những món đồ này rất có giá trị, đều có thể luyện chế thành pháp khí, ví dụ như vật liệu để luyện thành Thất t*nh h**n mà Cố Cửu đang đeo hay pháp khí khống chế khí Kim Canh trên người Thiệu Dật đều do Phương Bắc Minh tìm được ở chợ quỷ.

Vì vậy, đã gặp được chợ quỷ thì không lý nào lại không đi.
Lần này đi bày quán, hai người bàn nhau đem theo những thứ quỷ thích ăn để bán, nhang đèn tiền giấy đều phải có.

Họ còn mua thêm giấy vàng mã, người hầu, quần áo giày dép, thậm chí là cả xe ngựa nữa, tóm lại là càn quét một vòng trong tiệm bán đồ cúng, mỗi thứ mua một chút.

Mua về rồi, Cố Cửu và Thiệu Dật đốt hết mớ đồ đó như đốt đồ cúng vậy, sau khi đốt xong thì những đồ vật đó đều trở nên giống đồ thật ở dương gian như đúc, chỉ khác là người sống thì không dùng được thôi.

Chẳng mấy chốc mà trời sụp tối, Cố Cửu nhét hết đống đồ lỉnh kỉnh vào hai chiếc xe ngựa bằng vàng mã vừa mua rồi đánh thức nhóm người giấy dậy, bảo chúng nó đánh xe chở đồ và mười mấy người hầu đi trước, còn hai người một mèo thì ngồi xe lừa cũng mới mua theo sau.
Mấy nhóc người giấy được ngủ một giấc ngon lành mấy ngày liền, vừa tỉnh dậy đã ríu rít ê ê a a, cả đám xúm lại giành nhau sợi dây cương điều khiển xe ngựa, không ai nhường ai, xoắn thành một cục.

Kết quả của cuộc tranh chấp là xe ngựa thay vì chạy thẳng thì lại chạy thành một đường uốn éo quyến rũ.

Địa điểm tổ chức họp chợ là một khu đất hoang hiếm người lai vãng.

Gần đến giờ mở cửa, Cố Cửu lờ mờ nhìn thấy ánh đèn thấp thoáng phía sau màn sương mù dày đặc.

Cậu dừng xe lại, buộc lừa vào gốc cây ven đường rồi cùng Thiệu Dật đi bộ vào.

Mấy bé người giấy tò mò nhìn vào con phố náo nhiệt như biến ra từ thinh không trước mặt, thả chậm tốc độ của xe ngựa lại.
Ngay trước cổng chợ có hai lực sĩ của miếu Thành Hoàng trông giữ, Cố Cửu khuếch tán âm khí trên người ra, phủ lên cả Thiệu Dật và Tiểu Đệ, che chắn dương khí và sinh khí trên người cả hai.

Đoàn người hiên ngang đi qua cổng ngay trước mặt hai gã lực sĩ mà không hề hấn gì.

Bọn họ không hề phát hiện ra điều gì bất thường, chỉ liếc qua mấy nhóc người giấy một cái rồi thôi, bọn họ cho rằng đây là cậu ấm nhà giàu nào đó dẫn theo người hầu ra ngoài chơi, dù đám người hầu này hơi tí hon.
Muốn bày sạp ở chợ quỷ thì cũng phải nộp phí giữ mặt bằng.

Cố Cửu cầm theo mấy tờ tiền âm phủ đi đặt một vị trí khá bắt mắt.

Khu chợ quỷ này thật ra là một con phố rất dài chia làm hai khu, một khu chuyên bán đồ dùng, một khu chuyên bán đồ ăn.

Chỗ bày hàng Cố Cửu chọn vừa hay nằm ngay giao điểm của hai khu phố này, ngay chỗ náo nhiệt sầm uất nhất.
Mấy chuyện buôn bán này đã không còn xa lạ gì với hai sư huynh đệ.

Hai người nhanh tay bày hàng, sắp xếp hàng cho bắt mắt, sau đó dặn dò nhóm người giấy ở lại trông quầy và bán đồ rồi bế Tiểu Đệ đi dạo chợ.
“Ê a!” Mấy đứa nhóc thấy hai người chuẩn bị đi mất thì nhao nhao kêu lên đòi đi cùng.
Cố Cửu quay đầu lại vẫy vẫy tay bảo: “Mấy đứa ngoan ngoãn đợi một lúc, lát nữa thúc thúc quay lại đổi ca cho mấy đứa đi chơi.”
Lúc này trời vẫn chưa tối lắm nhưng trên phố đã đầy quỷ hồn đi tới đi lui, món ngon vật lạ thơm nức mũi bày bán khắp nơi.

Đi ngang qua mấy quầy đồ ăn, đừng nói là Tiểu Đệ, ngay cả Cố Cửu cũng không nhịn được quay lại nhìn một tí.

Nhưng mà ai cũng biết đây là đồ ăn của quỷ, ngay cả người giấy ăn vào cũng sẽ bị bệnh hoặc bị giảm tuổi thọ chứ đừng nói đến con người, là đồ tuyệt đối không được ăn.
Trên phố, có những con quỷ vừa nhìn là biết ngay kẻ giàu sang phú quý, ăn mặc hoa lệ, cũng có những kẻ mặc cùng một kiểu đồ phổ thông, nhìn là biết ngay kẻ phải chật vật mưu sinh.

Có quỷ nhìn từ trên xuống dưới đều là ánh vàng công đức chiếu sáng lập lòe, có quỷ đầy ắp sát khí, nhưng hai trường hợp này cũng hiếm, thường thì chỉ thấy được quỷ mang âm khí thuần túy mà thôi.
Số lượng quỷ quá nhiều, chắc chắn không tránh khỏi những vụ gây hấn xích mích tranh giành địa bàn, nhưng phiên chợ lần này do miếu Thành Hoàng chủ trì nên không ai dám sinh sự, lỡ đụng phải kẻ có ân oán với mình thì cũng chỉ trừng trộ hăm dọa lẫn nhau mà thôi, sau đó thì hầm hừ lướt qua.

Cố Cửu và Thiệu Dật đến trước một quầy hàng, trên người con quỷ chủ sạp có một ít sát khí, sắc mặt hắn xanh trắng tái nhợt như bao con quỷ khác nhưng trang phục trên người thì trông rất khác biệt.

Hắn mặc kiểu đồ của người sống ở triều đại trước, con quỷ này hẳn chết đã lâu, không dưới trăm năm.
Vị quỷ đến từ tiền triều này đang gân cổ lên chào hàng: “Mại dô mại dô, xem thỏa thích, chọn thoải mái đê.

Đồ tốt vừa từ trong mộ mang ra, âm khí đầy đủ, làm đồ trang trí cũng được, làm phụ kiện hay trang sức cũng xong, đều là hàng tuyển để dưỡng thân.

Mỗi món chỉ từ 998 đồng tiền giấy.

998 đồng mà thôi, người mua lầm chứ người bán không bao giờ lầm, giả một đền mười không lăn tăn!”
Quỷ tiền triều vừa hét xong một hơi đã thấy hai con “quỷ” trẻ tuổi đứng ngó nghiêng trước sạp, con quỷ nhỏ tuổi hơn trên người đầy âm khí, trong âm khí thấp thoáng vài tia sát khí, còn ôm theo một con thú cưng.

Quỷ tiền triều nhìn thoáng qua đã đánh giá đây là người có tiền rồi, hắn mừng húm đon đả mời mọc: “Hai vị công tử muốn mua gì? Hai vị xem, đây đều là đồ tốt vừa được mang ra từ mộ cổ lâu năm đấy.”
Mắt nhìn của Cố Cửu chưa tinh bằng Thiệu Dật, hai người cùng ngồi xuống xem.

Thiệu Dật xem hết một vòng các món hàng được bày bán, khẽ lắc đầu: “Hơi non.”
Vật bồi táng trong mộ đều nhiễm âm khí, người sống mà lấy dùng sẽ dễ gặp phải xui rủi.

Hai người họ mua những vật này là để chế thành pháp khí, dùng để khắc chế huyệŧ nên sẽ không sợ bị vận rủi đeo bám.

Đã là đồ cổ thì phải xem xét năm tuổi, vật liệu nào càng hoàn chỉnh và có năm tuổi càng cao thì càng có giá trị.

Tất cả những món bày ở sạp này đều chưa tới trăm năm tuổi, chế ra pháp khí sẽ hơi kém.
Quỷ tiền triều thấy bọn họ dợm bước đi thì vội vã ngăn lại: “Hai vị công tử đừng gấp, sạp hàng này nhỏ quá nên chỉ bày được mấy món thế này thôi, tôi vẫn còn đồ tốt đây.

Hai vị đợi một lát tôi lấy thứ khác cho hai vị xem xem có ưng bụng không.”
Nói rồi, con quỷ này bèn thò tay túm một cái túi đen to tổ bố ở phía sau ra, thoăn thoắt bày một vài đồ vật khác lên sạp.
Thiệu Dật nhíu mày, cầm một con dấu từ trong mớ đồ đó lên xem.

Hắn cảm nhận rõ ràng sát khí từ con dấu tỏa ra.

Hắn khẽ nói với Cố Cửu: “Đây là Thanh Huyền Ấn bị phong ấn.”
Cố Cửu nghe vậy bèn mở to mắt nhìn lại Thiệu Dật.

Thanh Huyền Ấn có tác dụng trấn trạch, đuổi sát, trảm tà, uy lực rất lớn.

Đồ tốt á!
Quỷ tiền triều không nghe được lời của Cố Cửu, hắn thấy Thiệu Dật nhìn chằm chằm vào con dấu, đắc ý nói: “Con dấu ngài đang cầm là đồ truyền lại từ tổ tiên nhà tôi, đã sắp được một nghìn năm tuổi rồi đấy.

Ngài xem, sát khí trên đó nặng như vậy, quỷ kém bản lĩnh không dám lại gần đâu, có thể khiến quỷ hồn phi phách tán như chơi.

Chỉ cần mang theo nó thì sau này có thể tung hoành ngang dọc, không lo bị quỷ khác dòm ngó, là vật phòng thân chất lượng cao luôn đó.”
Cố Cửu cười cười: “Nói nghe cứ như thật ấy.

Nói đi, đây là đồ ngươi moi được từ mộ của đạo sĩ nào đấy?”
Cố Cửu dám khẳng định như vậy vì trong mớ đồ con quỷ này mang ra còn có hai pháp khí khác là Sư Đao và Tam Thanh Linh.
Sư Đao hay còn gọi là Tát Mãn Đao, được chế từ sắt rất bén, vừa giống kiếm vừa giống dao phay, trên mặt đao có khắc tôn hiệu của Thái Thượng Lão Quân, trừ tà rất hiệu quả.

Còn Tam Thanh Linh là một loại chuông thần nổi danh, đúc từ đồng thau, trên tay cầm có khắc hình núi non, tượng trưng cho Tam Thanh là tôn thần của Đạo giáo, quả lắc trong chuông có linh, tiếng chuông đinh đang thanh thoát nhưng khi quỷ quái nghe thấy thì chẳng khác gì âm thanh đòi mạng, nó có thể khiến đầu chúng đau như búa bổ chỉ muốn chết cho xong.

Đó chính là cái gọi là “chuông đồng chấn động, quỷ thần lui binh”.
Cả ba thứ này đều là pháp khí của người trong huyền môn, có tác dụng khắc chế huyệŧ.

Quỷ nào cả gan chạm vào mấy thứ này thì có thể xưng là anh hùng.

May là ba pháp khí này đã bị phong ấn, nếu không thì chắc chắn kết cục của con quỷ tiền triều này sẽ y như hắn nói vậy, hồn phi phách tán.
Quỷ tiền triều không ngờ mình bị bóc mẽ nhanh như vậy , ngượng ngùng nói: “Công tử đây quả là có kiến thức uyên thâm.

Mấy ngày trước trời mưa có một đợt sấm sét lớn, một ngôi mộ cổ trong núi bị sét đánh trúng, tôi tình cờ đang tránh sét ở gần đó nên phát hiện được.

Tôi đi qua xem thử thì thấy có nhiều đồ quý lắm.

Chủ nhân của chúng không còn, mà chúng đã lộ thiên thế này, nếu không được dùng đúng chỗ thì thật lãng phí quá.” Hắn ta nói tới đó bèn tiếp tục chèo kéo: “Tôi thấy mấy đồ vật này có duyên với công tử đó, mà coi bộ ngài cũng rất ưng ý chúng, chi bằng mua về dùng có hơn không.”
Chế ra được một loại pháp khí không phải chuyện đơn giản, cho nên mua thì chắc rồi, dù sao cũng là vật liệu hiếm thấy, nhưng mà giá cả thì phải xem lại.
Ban đầu quỷ tiền triều còn định thổi giá chiếm hời nhưng ai ngờ bị người cao cơ hơn vạch trần nên chỉ có thể cắn răng hạ giá.

Dù sao thì hắn cũng là kẻ biết chuyện, hắn biết rõ đây là đồ để trừ tà, bây giờ trên người hắn có chút sát khí nên mới không sao, mà cứ giữ mãi không bán được cũng thành đồ bỏ đi, hơn nữa có khi còn gây nguy hiểm cho quỷ như hắn nữa.

Thôi thì bán quách cho xong.

Cuối cùng, Cố Cửu trả cho con quỷ này một xấp tiền vàng mã, cũng cho thêm một túi tro nhang theo yêu cầu của hắn.

Ở đây quỷ có tiền thì có thể hưởng dụng nhang thơm, đèn nến, còn quỷ nghèo thì chỉ ăn được tro nhang.

Quỷ tiền triều cũng là dân có số má ở khu này, có thể xưng anh chị, hắn đổi tro nhang về thưởng cho đám đàn em của mình.
Lúc rời khỏi sạp hàng này, Cố Cửu nói với quỷ tiền triều: “Ngươi sẽ biết ơn bọn ta.”
Những pháp khí này rõ ràng bị phong ấn nhưng lại vẫn tỏa ra sát khí, chứng tỏ rằng trận sấm sét đó đã ít nhiều tổn hại đến phong ấn của chúng.

Bây giờ còn chưa thấy gì, nhưng đợi đến khi phong ấn hoàn toàn sụp đổ, sát khí cuồn cuộn tỏa ra thì quỷ tiền triều cũng sẽ bị nuốt chửng không trở tay kịp.
Cố Cửu và Thiệu Dật chỉ cần mang số pháp khí này về làm pháp sự giải ấn thì uy lực của chúng sẽ được khôi phục như lúc đầu.
Hai sư huynh đệ tiếp tục đi dạo chợ, mua được mấy đồng tiền cổ tầm trăm năm tuổi.

Tiền đồng cổ cứ mua để dành đó, sau này có dịp lại tìm thêm vài đồng nữa là đủ để làm một thanh Thất Tinh Kiếm.

Thu hoạch được kha khá, lại thấy đã đến giờ nên bọn họ dẹp đường quay về sạp hàng của mình.
Về đến nơi, hai người thấy quần áo và nhang đèn mang theo đã ít đi rất nhiều, người hầu bằng giấy còn ba người, xe ngựa cũng chỉ còn lại một chiếc.
Mấy nhóc người giấy trông sạp vô cùng cẩn thận, bên người chúng để mấy xấp tiền vàng mã to đùng.

Ba bốn bé người giấy mặc áo mới đỏm dáng cùng xúm lại xếp tiền, chồng được một xấp thì hự hự cột lại thành bó để sang một bên.
Đống tiền giấy là một nỗi cám dỗ khó cưỡng đối với hầu hết quỷ hồn, nhất là những con quỷ nghèo túng, nhưng bọn chúng không dám manh động bởi vì nơi này luôn có lực sĩ của miếu Thành Hoàng canh giữ, nếu dám gây sự thì chắc chắn sẽ bị tóm đi xử lý.
Ngay bên phải sạp hàng của Cố Cửu và Thiệu Dật là một quầy bán đồ ăn vặt, mùi thơm bay tứ phía.

Mấy bé người giấy bận rộn cả đêm thấy hai người quay lại thì hớn ha hớn hở, bu lại túm lấy ống quần của hai người lắc lắc, tay chỉ trỏ loạn xạ vào đồ ăn bày trên quầy.

“Ê a?”
Cố Cửu bảo: “Mấy nhóc không ăn được những thứ đó đâu.”
Đám người giấy nghe vậy thì tiu nghỉu buông tay, cơ mà còn chưa kịp thất vọng thì Cố Cửu đã hô biến ra mấy cái màn thầu ấm sực: “Nhưng ăn cái này thì được nè.”
Cố Cửu chia màn thầu cho mấy bé con, đợi chúng nó ăn uống no nê rồi bèn thả cho đi chơi.
Một đám người giấy nhỏ xinh cầm tay nhau ê ê a a xuyên qua chân của dòng quỷ nườm nượp trên đường chạy đi mất hút.

Cố Cửu và Thiệu Dật ở lại trông hàng, hai người cùng nhau gom tiền giấy lại.

Tiền này bọn họ không dùng được, nhưng sẽ đưa cho hai vị tổ sư gia dùng.
Hai sư huynh đệ vừa sắp xếp tiền bạc xong thì chợt nghe phía trước có tiếng xôn xao.

Cố Cửu tò mò rướn người lên nhìn.
Có tiếng quỷ hô lớn: “Có ai là thầy lang không vậy, có quỷ bầu sắp sinh đây này!”.
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 45: 45: Nữ Công Tử


Quỷ bầu là sản phụ chưa kịp sinh nở đã qua đời.

Loại quỷ này có một đặc điểm là khi chết đi, đứa bé còn trong bụng chưa kịp chào đời sẽ đi theo cơ thể mẹ biến thành quỷ, gọi là âm thai.

Âm thai hút âm khí của người mẹ, một thời gian sau khi đủ ngày đủ tháng sẽ được sinh ra.

Nếu âm thai không được tách khỏi cơ thể mẹ đúng lúc thì sẽ bị “chết” giống như khi còn ở dương gian, chỉ là lần chết này thực sự hồn phi phách tán.

Người biến thành quỷ thì vẫn còn đó các nét tính cách của con người, không bỏ được thói hóng hớt, nơi nào náo nhiệt thì xúm vào tụ hội.

Chỉ trong một chốc, nơi có quỷ bầu nằm phía trước đã bị bao vây trong ngoài đến ba bốn vòng người.

“Không có thầy lang sao?” Con quỷ vừa lớn tiếng hỏi thăm lại gào lên.

“Bà đỡ cũng không có à?”
Có quỷ rụt rè hỏi: “Lúc còn sống tui có đỡ đẻ cho trâu có được không?”
Con quỷ kia trả lời: “Đỡ đẻ cho quỷ làm sao giống đỡ đẻ nghé con được!”
Có con quỷ lưu manh cười hô hố xen vào góp vui: “Nếu không ai làm được thì để ông đây thử xem há há.”
Ngay sau đó, tên này bị ba bốn con quỷ xung quanh xúm vào đấm hội đồng.
“Chuyện dính tới mạng quỷ mà mày há há cái méo gì!”
Giữa những tiếng ồn ào bàn tán đủ kiểu như thế vẫn có thể nghe được tiếng kêu la đau đớn của quỷ bầu, xem ra con quỷ này sắp chịu hết nổi rồi.

Cố Cửu và Thiệu Dật không thể mặc kệ được, đứng lên bước qua xem.
Hai người vất vả chen được vào trong bèn thấy một nữ quỷ tuổi còn trẻ đang nằm bẹp giữa đường, được mọi người vây quanh trấn an.

Cô ta ôm lấy cái bụng to vượt mặt của mình kêu la thảm thiết.

Bên cạnh nữ quỷ là một con quỷ nam khoảng ba mươi tuổi, chính là kẻ đã nhiệt tình tìm người giúp đỡ.
Chắc là nữ quỷ này sinh con so nên không có kinh nghiệm gì, vô cùng hoảng hốt.

Mà cũng thật là xui xẻo, cả cái chợ quỷ đông như kiến vậy mà chẳng có lấy một thầy lang hay bà đỡ nào.
Cố Cửu thấy mặt mũi quỷ bầu tái nhợt như không còn hột máu nào, âm khí quay cuồng khắp người thì biết e là nguy hiểm rồi.

Đứa bé trong bụng cô quẫy đạp không ngừng, như muốn phá cả bụng mẹ nó mà chui ra, nhưng làm thế nào cũng không ra được.

Nếu bây giờ nó không được chào đời thì chỉ một chốc nữa thôi nó sẽ không còn cơ hội nhìn thấy thế gian nữa.
Quỷ bầu vừa sợ vừa lo, khóc hu hu.

Cô ngẩng đầu nhìn khắp lượt xung quanh cầu cứu nhưng chỉ nhìn thấy những ánh mắt thương xót đầy bất lực.
Cố Cửu không đợi thêm nữa, vén vạt áo ngồi xuống bên cạnh.

Con quỷ nhiệt tình tưởng cậu là thành phần hạ lưu giở trò chấm m*t bèn phất tay muốn xua đuổi.
Cố Cửu nói nhanh: “Tôi là thầy lang, để tôi thử xem.”
Con quỷ kia vẫn còn hơi nghi ngờ nhìn Cố Cửu từ trên xuống dưới.

Hắn nhìn thấy âm khí vờn quanh cậu dày đặc nhưng khuôn mặt cậu rất tuấn tú nho nhã, vẻ mặt điềm tĩnh, bèn nói: “Vậy cậu thử đi, nhưng mà đừng hòng giở mánh lới.”
Cố Cửu gật đầu, sau đó ra hiệu cho Thiệu Dật: “Sư huynh, giúp đệ một tay nào.”
Thiệu Dật và Cố Cửu hợp sức nâng quỷ bầu vào trong chiếc xe ngựa còn trống chưa bán đi của họ, rồi lấy một bộ đồ giấy phủ lên hai chân của cô, sau đó lại gọi mấy người giấy không đi chơi lại để nhờ chạy vặt.

Màn xe được thả xuống, trong xe lúc này chỉ có hai sư huynh đệ, con quỷ nam nhiệt tình và mấy nhóc người giấy mà thôi.
Cố Cửu là nam đạo sĩ nên trước giờ chưa từng đỡ đẻ cho người hay quỷ, nhưng lại dày dạn kinh nghiệm đỡ đẻ cho vật nuôi.

Lúc còn ở đạo quan, mỗi lần trong nhà dân làng sống dưới chân núi có trâu bò hay heo sắp sinh con đều mời cậu và Thiệu Dật xuống giúp đỡ, chỉ cần niệm một đoạn Thôi Sinh Chú thì mấy con vật bé nhỏ đó liền an toàn ra đời.
Bây giờ Cố – chưa từng nắm tay con gái – Cửu phải đỡ đẻ cho phụ nữ nên vẫn còn hơi ngại ngùng, nhưng mà hoàn cảnh gấp rút không cho phép cậu lăn tăn suy nghĩ nhiều.

Cậu giữ chặt bàn tay của nữ quỷ, cái lạnh trên tay quỷ làm Cố Cửu rùng mình, cảm giác cứ như đang cầm một cục băng trong tay vậy, run bắn cả lên.
Cố Cửu ráng định thần, khẽ niệm: “Ánh vàng nhật nguyệt, tỏa chiếu muôn phương.

Trẻ trong lòng mẹ, thấy ánh mặt trời.

Tân sinh phía trước, bóng tối sau lưng.

Tay cầm bùa chú, tốc sinh tốc sinh.

Cấp tốc nghe lệnh!”
Thôi Sinh Chú có thể áp dụng cho vạn vật, Cố Cửu vừa niệm xong, tất cả người và quỷ trong xe đều dồn sự chú ý về phía quỷ bầu.

Chợt cái bụng đã thôi nhấp nhô từ nãy của nữ quỷ bỗng động đậy.

Nhóm Cố Cửu vội né sang một bên để nhường chỗ cho mấy người giấy đi lên giúp quỷ bầu đỡ đứa bé.

Con quỷ nam nhiệt tình mới nhìn về phía hai người một cách soi mói, hừ giọng: “Mấy người là đạo sĩ hả?”
Thiệu Dật liếc nhìn hắn.
Cố Cửu hỏi ngược lại: “Đạo sĩ thì sao? Bộ đạo sĩ chết rồi không thành quỷ hở?”
Con quỷ nam tỏ ra bực dọc cứ như là mình bị lừa gạt oan uổng lắm: “Mấy người gạt tui nói mấy người là thầy lang.”
Cố Cửu nói: “Đạo sĩ cũng tinh thông cả y thuật không phải rất bình thường sao?”
Đạo sĩ hành xử tùy tâm, phân biệt quỷ tốt xấu rạch ròi như Cố Cửu và Thiệu Dật không nhiều, thường thì các đạo sĩ cứ gặp quỷ là đuổi đánh, có khi còn không màng đúng sai.

Con quỷ nhiệt tình này có lẽ đã từng bị đạo sĩ truy bắt cho nên vừa thấy bọn họ niệm Thôi Sinh Chú đã khẳng định ngay họ là đạo sĩ, lại còn có thái độ thù hằn như vậy.

Tuy nhiên con quỷ này thấy trên người Cố Cửu có âm khí dày dặc cho nên cùng lắm chỉ nghĩ bọn họ là quỷ hồn đạo sĩ thôi chứ đâu có ngờ thật ra bọn họ vẫn còn sống sờ sờ đây.
“A!” Quỷ bầu đột nhiên hét thất thanh, thành bụng của cô nhô lên thật cao rồi xẹp xuống, hai nhóc người giấy đang đứng ngay chỗ cô vươn tay ra chụp, chụp được một con quỷ sơ sinh cả người đều trắng xanh.
“Sinh rồi!” Quỷ nam kích động quá chừng.
Quỷ bầu là quỷ nên không giống như sản phụ bình thường phải mất thời gian dài để hồi phục.

Cô sinh xong không bị đau đớn gì nữa, vẻ mặt nhẹ nhõm đón lấy con mình từ trong tay hai người giấy, chăm chú nhìn đứa trẻ một cách dịu dàng.

Tuy rằng vừa rồi bị kẹt trong bụng mẹ nhưng được cứu ra kịp thời nên bé quỷ sơ sinh này vẫn rất khỏe mạnh, há miệng khóc to, tiếng khóc lảnh lót vang thật xa.
“Đa tạ hai vị đạo trưởng.” Quỷ bầu ôm con mình quỳ thẳng lên cảm tạ Cố Cửu và Thiệu Dật.
Cố Cửu đỡ cô đứng lên bảo không cần cảm ơn, là việc nên làm mà thôi.
Đám quỷ hồn vây quanh xe ngựa nghe được tiếng khóc vang dội thì biết quỷ con đã bình an chào đời.

Từ trước đến giờ hầu như các quỷ hồn này chưa từng có cơ hội nhìn thấy quỷ sơ sinh nên tò mò cực kì, có người hô lên bảo nữ quỷ bế con ra cho mọi người biết mặt với.
Những quỷ hồn vượt qua được cửa của lực sĩ miếu Thành Hoàng thì dù có mang chút sát khí đi nữa cũng không phải ác quỷ, hóng hớt đấy nhưng cũng không thực sự ác tâm.

Quỷ bầu vẫn nhớ lúc nãy mọi người cố gắng an ủi mình nên đồng ý bế con ra ngoài cho mọi người xem.
Một số quỷ hồn giàu có thấy hành động nghĩa hiệp của Cố Cửu và Thiệu Dật nên ra tay hào phóng mua giúp đồ đạc ở sạp của hai người, có người mua đồ, có người đổi đồ, chỉ một lát mà sạp hàng đã sạch sành sanh, nhờ vậy nên họ khỏi phải mang đi vác về nữa.

Còn có mấy con quỷ tỏ ý mời hai vị đạo trưởng vào nhà mình chơi, dĩ nhiên Cố Cửu lịch sự từ chối hết, nhà của quỷ có phải là nhà đâu, là mộ thì có.
Xong xuôi mọi việc, Cố Cửu gọi hết mấy nhóc người giấy về, đến giờ phải đi rồi.

Đám nhóc này tối nay được chơi một trận đã đời nên vui cực.

Trên đường về, Thiệu Dật đánh xe, Cố Cửu ngồi bên cạnh, mấy bé người giấy thì chia đều ra đứng trên vai hai người ê ê a a, tranh nhau kể về những chuyện vui tối nay chúng khám phá được.

Cố Cửu mỉm cười ngồi nghe chúng nó tíu tít cả buổi, sau đó bỗng dưng tất cả các âm thanh ê a đều biến mất.
Tuổi thọ của chúng đã chấm dứt.
Cố Cửu không cười nữa, đưa tay đón lấy mấy bé người giấy đang lảo đảo rơi xuống, khẽ thở dài.

Cậu lấy ra một cái hộp gỗ, trong đó chứa rất nhiều bé người giấy đã vĩnh viễn ngủ say, có mấy đứa còn mặc áo hoa Cố Cửu vẽ cho.

Cố Cửu đặt hết người giấy vào, tâm trạng chùng xuống, khẽ khàng tựa đầu lên vai Thiệu Dật…
“Ê a?”
Bỗng âm thanh thật quen thuộc vang lên, Cố Cửu ngạc nhiên ngẩng đầu lên nhìn thì thấy một nhóc người giấy đang đứng trên bả vai Thiệu Dật, nó túm lấy cổ áo của hắn rụt rè ngước nhìn cậu.
Cố Cửu vớt bé con qua đặt lên lòng bàn tay, cười cười lắc đầu nhìn Thiệu Dật: “Sư huynh vẽ hồi nào vậy?”
“Ở chợ quỷ.” Thiệu Dật không quay đầu lại nhìn, ra vẻ ta đây đang nhìn đường.
Cố Cửu có cảm giác vừa chua vừa ngọt.

Tuổi thọ của người giấy có hạn, mỗi lần một nhóm người giấy rời đi thì cậu luôn buồn bã.

Thiệu Dật đã từng nói không nên đặt quá nhiều tình cảm vào chúng, nhưng Cố Cửu vẫn không kìm được mà xúc động, cho nên cậu rất ít khi vẽ người giấy.
Cách Cố Cửu làm để giảm bớt cảm xúc buồn rầu là hạn chế vẽ, Thiệu Dật có cảm xúc gì không thì cậu không rõ, nhưng cậu biết cách sư huynh mình giúp sư đệ cảm thấy khá hơn là vẽ ra một nhóc người giấy khác để phân tán sự chú ý của cậu.

Mỗi lần gặp tình huống như thế này, Cố Cửu đều cảm thấy mình được sư huynh dỗ dành như đứa trẻ.
Người giấy vừa được vẽ ra sẽ theo bản năng muốn gần gũi với người đã cho mình sự sống.

Vì vậy bây giờ Thiệu Dật là người được nó tin tưởng nhất, còn Cố Cửu chỉ là một người xa lạ mà thôi, nhưng người giấy tính tình trẻ con, luôn tò mò với những thứ mới mẻ xung quanh mình.

Chúng nó vừa ngượng nghịu mà lại vừa gan dạ, như bé con Cố Cửu vừa mới tóm được này vậy, nhóc ta chẳng nhút nhát được bao lâu đã bắt đầu hiếu kì leo trèo khắp nơi trên người cậu.
Tuy rằng khi bé người giấy này ra đi, Cố Cửu vẫn sẽ nuối tiếc, nhưng không thể không thừa nhận cách dỗ dành này của Thiệu Dật vẫn khá là có ích, ít nhất là khi nhìn thấy bé người giấy ầm ĩ nô đùa như vậy, Cố Cửu sẽ không cảm thấy khó chịu như ban nãy nữa.
Xe lừa dừng lại trước chỗ hai người ở trọ lâu nay.

Trước khi đi chợ quỷ, Cố Cửu và Thiệu Dật đã thanh lọc hết tất cả những địa điểm tồn đọng rồi, bây giờ chỉ cần nghỉ ngơi chờ đến khi trời sáng là có thể rời khỏi quận Kinh Lăng tiếp tục đến thành trấn khác.

Sáng hôm sau, hai người lên đường đi theo hướng đông, nhắm đến quận gần đây nhất là quận Võ Khê.

Mất hết một ngày đi đường, đến sáng ngày kế tiếp, đoàn người gồm hai đạo sĩ và một mèo đen đã đặt chân lên được con đường đi vào quận Võ Khê.
“Trời sắp mưa rồi.” Cố Cửu nghe thấy tiếng sét ầm vang liên tục, ngẩng đầu nhìn trời.

“Sắp đến tiết thu phân rồi, đợi qua tiết thu phân thì không còn dông gió nữa.”
Như vậy, từ đây đến mùa hè năm sau, nếu như Lôi Kích Mộc của họ không đủ dùng thì chỉ có thể đi mua, lại tốn thêm một khoản chi phí.

Được cái vận may của hai người cũng khá, từ lúc rời khỏi đạo quan đến nay đã xử lý hai vụ việc, được trả thù lao hậu hĩnh, bây giờ tiền bạc vẫn xem như rủng rỉnh.
“Đằng kia có người.” Thiệu Dật bỗng nói.
Cố Cửu nghe vậy ngước lên nhìn thì thấy phía trước có một chiếc xe ngựa xa hoa bị hỏng hóc phải đậu lại giữa đường, bên vệ đường có mấy người cả nam lẫn nữ đứng lố nhố liên tục phất tay với họ.
Đến gần chỗ xe ngựa, Thiệu Dật dừng xe.

Người ra mặt nói chuyện là một cô gái, lúc nhìn thấy rõ bọn Cố Cửu thì thoáng ngẩn người, sau đó cô bước hẳn lên trên chắp tay chào: “Xin hỏi hai vị đạo trưởng muốn vào quận Võ Khê phải không?”
Cố Cửu gật đầu: “Phải.”
Cô gái tỏ vẻ mừng rỡ: “Đạo trưởng thiện tâm, cho hỏi có thể tiện đường cho công tử nhà tôi quá giang một đoạn được không? Trời mưa đến nơi rồi mà xe ngựa của chúng tôi lại bị hư, công tử bị thương nên không đợi được, phải vào thành tìm thầy thuốc chữa trị ngay.”
Cố Cửu nhìn thoáng qua chiếc xe ngựa kia, trục xe và bánh xe bị nứt cả, trên người mấy người hộ tống ít nhiều đều sây sát, họ đang vây quanh một người, nhìn không rõ mặt mũi nhưng có thể nhìn thấy cánh tay người nọ đang chảy máu.
Cứu một mạng người còn hơn xây bảy tòa tháp, là việc tốt có thể tích cóp công đức thì ngại gì không làm, Cố Cửu và Thiệu Dật liếc nhìn nhau một cái, cùng gật gật đầu: “Được.”
Bọn họ nhận lời dứt khoát như vậy khiến cô gái nhờ giúp đỡ lại chần chừ, hơi lúng túng quay đầu lại nhìn.

Người đang được bảo vệ kia bỗng lên tiếng: “Làm phiền hai vị rồi.”
Nói đoạn, người nọ bảo tùy tùng xung quanh dạt ra, bám vào một người trong số đó khập khiễng tiến lại.

Thoạt trông là một cậu ấm nhà giàu, nhưng Cố Cửu biết nhìn người, vừa lướt qua liền nhận ra ngay đây là một cô gái giả trai.
Cố Cửu nhảy xuống xe để tránh chỗ, cũng không đến giúp mà để họ tự bò lên xe.

Xe lừa không lớn như xe ngựa, không đủ chỗ cho ba bốn người ngồi nên Cố Cửu vẫn ngồi bên ngoài với Thiệu Dật.
Cố Cửu nhìn thấy cánh tay của vị tiểu thư này chảy máu ròng ròng, chắc là bị cắt trúng động mạch rồi, thế là cậu bèn lấy thuốc bột ra đưa cho họ cầm máu trước.
Vị “công tử” kia cất lời cảm ơn lần nữa.

Cố Cửu đưa thuốc xong thì quay đầu nhìn đường phía trước, không để ý đến nữa, nhưng Tiểu Đệ thì bỗng dưng lại sinh hứng thú với cô gái này.

Nó nhảy xuống khỏi người Cố Cửu, mon men đến gần cô rồi đi vòng quanh mấy vòng, kêu meo meo miết.
Tiểu Đệ hầu như không bao giờ tỏ ý thân cận với một người xa lạ mới gặp lần đầu, mà dáng vẻ của nó bây giờ cũng giống như đang quan sát chứ không phải làm thân.

Điều này khiến Cố Cửu chú ý, cậu quay lại nhìn cô gái phía sau bèn phát hiện ra vấn đề ngay.
“Trong nhà công tử có người nào đang bệnh nặng phải không?”
Cố Cửu vừa hỏi xong đã thấy hai tùy tùng đi theo cô gái tỏ vẻ dè chừng, còn chủ nhân của bọn họ vẫn thản nhiên như từ nãy đến giờ.
Ừm, cô nàng cũng đề phòng bọn họ, chỉ là theo cách khác.
Cố Cửu tỉnh như ruồi, không thèm để ý đến thái độ của họ, nói: “Tôi là đạo sĩ đương nhiên nhìn thấy vài thứ người thường không thấy được.

Trên người công tử có một chút tử khí, loại khí này chỉ xuất hiện trên người kẻ sắp chết mà thôi.

Công tử còn sống khỏe mạnh sờ sờ đây mà lại dính tử khí thì hiển nhiên là do tiếp xúc gần với người sắp chết nên mới bị nhiễm phải.”
Người có tiếp xúc gần ngoại trừ bạn bè thì chỉ có người thân trong gia đình mà thôi.
Đến đây, vẻ mặt thản nhiên của cô gái không giữ nổi nữa..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 46: 46: Tai Ương


Từ lúc Cố Cửu nói ra chuyện trên người vị nữ công tử này dính tử khí, cả chiếc xe tổng cộng năm người một mèo không ai nói với ai câu nào, yên tĩnh đáng sợ.
Nếu trên người cô gái này chỉ có tử khí thì chưa chắc Cố Cửu đã mở lời cảnh báo, vì việc này không hiếm gặp.

Có người bị nhiễm phải tử khí là do người thân hoặc bạn bè người đó ốm nặng hoặc sắp tạ thế.

Là đạo sĩ, dù có nhìn ra tử khí đi nữa thì Cố Cửu cũng sẽ không hỏi một cách đường đột như vậy, rất thất lễ.

Sở dĩ Cố Cửu hỏi thăm cô gái này là vì ngoài việc bị tử khí quấn thân thì ấn đường của cô cũng biến thành màu đen đậm, đây là điềm rất hung hiểm, dấu hiệu báo tử vong.
Thỉnh thoảng tiếng sấm vẫn đánh ầm ầm bên tai nhưng cho đến lúc bọn họ vào được thành thì trời vẫn không mưa.
Thiệu Dật dựa theo lời chỉ dẫn của người hầu, dừng xe trước một cửa tiệm bốc thuốc khám bệnh.

Trước khi đi xuống, cô gái gửi cho hai người một ít tiền và nói rằng để cảm tạ Cố Cửu đã cho thuốc trị thương cầm máu, cũng coi như trả tiền xe, Cố Cửu không từ chối.

Cậu thấy cô gái đưa dư khá nhiều tiền nên muốn đáp lễ, lúc ba người chuẩn bị đi vào trong, Cố Cửu gọi cô gái lại, đưa cho cô một lá bùa bình an.
“Tôi thấy gần đây công tử hay gặp trắc trở, cậu giữ lá bùa này bên mình, đến lúc cần kíp nó có thể chắn cho cậu một lần tai vạ.”
Cô gái do dự một lát mới nhận lấy, nói: “Đa tạ đạo trưởng.”
Hai bên chào từ biệt rồi đường ai nấy đi.
Cố Cửu và Thiệu Dật tìm một chỗ trọ giá cả phải chăng mướn phòng ở, sau đó tiến hành từng bước thanh tẩy như cũ, lúc trời chạng vạng thả một nhóm người giấy ra để chúng đánh dấu lại những chỗ có âm khí hoặc oán khí dày đặc, đợi đến sáng thì hai người cùng đi thanh lọc, nếu điểm đến gần thì đi về trong ngày, nếu hơi xa thì mua lương khô đem theo rồi cắm trại đêm bên ngoài.

Bọn họ đến quận Võ Khê được ba ngày trời mới đổ mưa nhỏ, thế là hôm đó Cố Cửu và Thiệu Dật không ra ngoài nữa, chỉ quanh quẩn trong phòng trọ, vẽ bùa, khắc thẻ bài hoặc nghiên cứu những thuật pháp mình thích.
Trời mưa liên tục ba ngày không ngừng nghỉ, sáng hôm nay, Cố Cửu mở một ống tre trong hành lý ra, đảo đảo chỗ gạo nếp còn lại trong ống, nói với Thiệu Dật: “Sư huynh, gạo nếp bị ẩm rồi.”
Thiệu Dật liếc sang Tiểu Đệ – nhân vật đang nhàn nhã nằm bên cửa sổ đung đưa chiếc đuôi dài ngắm mưa.

“Hôm qua ta thấy nó lén mở nắp.”
“Hửm?” Cố Cửu nhìn Tiểu Đệ.

Cái đuôi đang phe phẩy của mèo đen lập tức cứng đờ, cái ót đen mun quay về phía Cố Cửu, cái tai trên đầu run run, giả ngu tới cùng.

Cố Cửu nào có buông tha dễ dàng như vậy, cậu bước qua bế xốc Tiểu Đệ lên, một người một mèo nhìn nhau.

Cố Cửu nói: “Nhóc lại ngứa móng hử? Mấy thứ đó không có chơi được, mua gạo nếp cũng mất tiền đấy, tiền ít thì thịt cũng ít, nhóc biết không?”
Tiểu Đệ ngọ nguậy cái đầu tròn, ngó đông ngó tây, không dám nhìn thẳng vào đứa nhỏ nay đã lớn của mình, cuối cùng thấy không thoái thác trách nhiệm được mới yếu ớt meo một tiếng, ý là “tui biết rồi mờ”.
Cố Cửu nhận được phản hồi của mèo rồi bèn thả nó xuống, ngay lập tức, cặp mắt mèo sáng rực lia sang Thiệu Dật, cái đuôi dài quất một cái lên người hắn, nhe răng trợn mắt thách thức tên mách lẻo.

Thiệu Dật cười nhạo một tiếng, thò chân vò vò lông Tiểu Đệ, thế là chiến tranh bùng nổ ngay lập tức.

Tiểu Đệ đứng bằng hai chân sau, hai chân trước giơ lên đấu với bàn chân của Thiệu Dật, hai người so chiêu đến khi đôi giày của Thiệu Dật bị cào tòe cả lông, Cố Cửu la oai oái thì mới tạm đình chiến.
Gạo nếp có thể trừ tà, có khi người sống bị quỷ vỗ vai trêu cợt, trên người in dấu tay quỷ thì người ta sẽ lấy gạo nếp thoa lên vết bầm, làm vậy có thể đuổi những con quỷ yếu, không muốn lấy mạng người mà chỉ cố ý đùa dai.

Ngoài gạo nếp thì máu chó mực, nước mắt trâu…cũng có tác dụng tương tự, lúc nào Cố Cửu và Thiệu Dật cũng mang mấy thứ như vậy theo bên mình.

Nhưng gạo nếp đã bị ẩm mốc thì không dùng để trừ tà được nữa, Tiểu Đệ nghịch ngợm làm hỏng cả một ống gạo, bọn họ phải đi mua thêm để dành.

May mà đến đêm thì trời tạnh mưa, sáng hôm sau hai sư huynh đệ ra chợ, tìm được một cửa hàng bán thóc gạo mua một ít gạo nếp thay vào.

Lúc hai người vừa ra khỏi cửa hàng thì bỗng nhiên bị chặn lại.
Người dẫn đầu đoàn người này cũng được xem là quen mặt, chính là nha hoàn hầu cận của vị nữ công tử mà Cố Cửu và Thiệu Dật đã gặp trên đường vào quận Võ Khê.

Lần này Cố Cửu để ý thấy trên mu bàn tay của cô có thêm một vết thương mới, cho nên trước khi cô kịp trình bày lý do chặn đường họ thì cậu đã đón lời trước: “Công tử nhà cô gặp chuyện gì rồi hả?”
Nha hoàn kia ngẩn người, đáp: “Đạo trưởng quả nhiên liệu sự như thần.”

Cố Cửu xốc lại mớ đồ đạc đang đeo trên vai cho ngay ngắn, ngẩng đầu quan sát tòa nhà lớn bề thế trước mắt, sau đó cậu cùng Thiệt Dật đi vào dưới sự dẫn đường của Thanh Nịnh.
Thanh Nịnh là tên của nha hoàn này, cô là nha hoàn đứng đầu bên cạnh cô cả nhà họ Viên – Viên Phi Dương.

Thanh Nịnh cùng lớn lên với cô chủ, chủ tớ hai người vô cùng thân thiết.
Vết thương trên tay của Viên Phi Dương chưa khỏi hẳn thì đã bị thêm một vết chém khác bên tay bên kia.

Lúc hai người Cố Cửu gặp lại vị nữ công tử này, cô đang ngồi trên ghế dựa để thầy thuốc thay băng.

Do không tiện nên khi nhìn thấy hai người vào, cô chỉ gật đầu chào hỏi, đợi đến khi băng bó xong xuôi mới đứng lên, hành lễ một cách trịnh trọng.
“Đa tạ ơn cứu mạng của hai vị đạo trưởng.”
Ở lần gặp mặt đầu tiên, tuy lời của Cố Cửu không sai tí nào, nhưng nhà họ Viên đương trong cơn rối ren, Viên Phi Dương cảnh giác đề phòng tất cả những người xuất hiện xung quanh mình.

Hơn nữa, thời điểm cô gặp phải Cố Cửu và Thiệu Dật quá trùng hợp nên cô nghi ngờ hai người cố ý tiếp cận mình với ý đồ bất chính.
Viên Phi Dương vẫn mang theo lá bùa bình an mà Cố Cửu đưa, nhưng chỉ ôm tâm lý thử cho biết, có cũng được mà không có cũng chẳng sao, nào ngờ chính lá bùa đó đã cứu mạng cô trong đường tơ kẽ tóc.

Trên đường đi từ tiệm gạo đến nhà họ Viên, Thanh Nịnh đã nói cho bọn họ nghe thân phận thật sự của Viên Phi Dương, sau đó kể lại đầu đuôi câu chuyện cô bị tập kích.

Mấy ngày trước Viên Phi Dương đi xem xét tình hình canh tác ở đất trồng của nhà mình, giữa đường bị một nhóm thổ phỉ tấn công.

Các tùy tùng che chắn cho cô chạy thoát nhưng lại để lọt một tên bám đuôi.

Tên này chém một đao vào vai của cô, đường đao kia là trí mạng, lưỡi đao nhắm về phía bả vai, lại đi nghiêng, nếu chém trúng thì chắc chắn sẽ vào cổ chứ không phải vào cánh tay.

Nhưng không hiểu sao đang trong lúc ngàn cân treo sợi tóc, Viên Phi Dương lại đột nhiên bị trượt chân, thế là lưỡi đao chém hụt, chỉ trúng vào cánh tay, mà vết thương cũng không sâu.

Với tình thế lúc đó, Viên Phi Dương biết rõ, nếu cô không may mắn trượt chân thật đúng lúc thì bây giờ cái đầu trên cổ cô đã sớm chuyển nhà.

Cuối cùng, cô được mấy người hộ vệ trung thành bảo vệ trở về nhà an toàn.

Ngay khi cô đang thay bộ quần áo loang lổ máu ra, đột nhiên có một đám tro tàn rơi xuống từ trong túi áo làm Viên Phi Dương sực nhớ tớ lá bùa mình vẫn đeo trên người.
Bởi thế nên mới xảy ra sự việc Thanh Nịnh chặn đường của Cố Cửu và Thiệu Dật hôm nay.

Nhà họ Viên không mất nhiều thời gian để tìm được hai người, dù sao thì nhà họ cũng là một một trong những danh gia vọng tộc ở quận Võ Khê, tìm kiếm hai người có đặc điểm nhận dạng rõ ràng như vậy là chuyện dễ như trở bàn tay.
Vừa bước vào phòng, Cố Cửu đã cau mày.

Viên Phi Dương vừa trải qua một lần tai ương nhưng sắc đen trên ấn đường của cô vẫn không tan bớt, mà ngược lại còn đậm hơn lần trước gặp, chứng tỏ kiếp nạn còn chưa hóa giải được, thậm chí dù Cố Cửu có cho cô một lá bùa khác thì tính mạng của cô vẫn gặp nguy hiểm như thường.

Đã đến nước này, rõ ràng có người năm lần bảy lượt muốn dồn Viên Phi Dương vào chỗ chết.
Viên Phi Dương thấy hai vị đạo sĩ này vừa bước vào đã nhìn mình chằm chằm thì hơi lúng túng, đưa tay sờ lên mặt.

Cô chợt nhớ đến lời của Cố Cửu lần trước, cậu nói cô nhiễm phải tử khí, bèn hỏi: “Trên người tôi có gì kì quái lắm sao?”
Thiệu Dật là tảng băng vạn năm, cho nên người chịu trách nhiệm ngoại giao vẫn là Cố Cửu: “Viên cô nương có kẻ thù không?” Cậu hỏi.
Viên Phi Dương nghe vậy, trầm ngâm một lát rồi nói: “Lúc làm ăn sao có thể tránh khỏi mâu thuẫn với người khác, nhưng nếu thù hằn đến mức muốn tôi chết thì chắc là không có.”
Chỉ là lòng người khó dò, Viên Phi Dương nói thì nói vậy chứ cũng cân nhắc một phen, nhớ lại xem có ai có động cơ hay không.
Cố Cửu nghe vậy, nói rõ tình trạng hiện tại của cô để cô ý thức được tính nghiêm trọng của vấn đề, dặn cô hạn chế ra ngoài khi không thật cần thiết, không có chuyện gì quan trọng hơn mạng sống của mình hết.

Viên Phi Dương không giống như hầu hết những tiểu thư quyền quý ở thời đại này, được nuôi dưỡng trong chốn khuê phòng, không rành thế sự.

Sau khi biết mình đang gặp nguy hiểm có thể mất mạng cô cũng không hoảng loạn hay khóc lóc, mà ngược lại vẫn bình tĩnh tìm hiểu sự việc: “Không biết kiếp nạn này của tôi có cách nào hóa giải được chăng?”
Cố Cửu không phụ sự kì vọng của cô, gật gật đầu, những loại nguyền rủa này cậu và Thiệu Dật từng gặp không ít: “Giải kiếp nạn không khó, nhưng không tìm được kẻ chủ mưu đằng sau thì rất có thể chuyện này sẽ tái diễn, chỉ xử lý được ngọn chứ không diệt được gốc.”
Viên Phi Dương nói: “Tôi sẽ phái người đi điều tra, đạo trưởng có manh mối nào có thể giúp tôi không?”
Cố Cửu tán thưởng nhìn Viên Phi Dương, cô gái này rất nhạy bén, cậu nói: “Thông thường để nguyền rủa một người gặp nạn, kẻ thi pháp cần phải có được bát tự, tóc, máu hoặc da của người đó làm vật dẫn.”
Để có được mấy thứ này thì chắc chắn kẻ đó phải tiếp xúc gần với Viên Phi Dương, nhất là bát tự, đây là thứ chỉ có người thân trong gia đình được biết.

Manh mối này giúp Viên Phi Dương thu hẹp phạm vi điều tra khá nhiều.
Cô lướt nhìn tất cả những người đứng trong phòng, họ đều là người hầu cận lâu năm của cô, được cô hết mực tín nhiệm, kể cả Thanh Nịnh cô xem như chị em ruột thịt, thế nhưng vào lúc này, họ lại trở thành những đối tượng khả nghi nhất.

Viên Phi Dương nhìn đến ai, người đó liền giật thót, vội vàng đứng ra phủ nhận, đảm bảo không phải mình làm.
Thanh Nịnh đứng bên cạnh không thề thốt gì, chỉ tỏ vẻ cực kì tức giận, nếu thực sự có kẻ dám ăn ở hai lòng, chắc chắn cô sẽ không để yên cho kẻ đó.
Viên Phi Dương phất tay cản Thanh Nịnh lại, ý bảo đừng manh động.

Cô quay lại nhìn Cố Cửu rồi nhìn sang Thiệu Dật – người vốn im lặng từ đầu tới cuối nhưng khiến người ta khó mà phớt lờ được, nghiêm túc ngỏ lời mời: “Chuyện tiếp theo còn phải nhờ hai vị đạo trưởng nhọc lòng một phen, mời hai vị tạm thời ở lại nhà của tôi, nếu cần bất cứ thứ gì cứ cho tôi biết.”
Sau khi được Cố Cửu đồng ý, Viên Phi Dương bèn đưa ra một thỉnh cầu khác: “Lần trước đạo trưởng nhìn ra nhà tôi đang có người bệnh nặng, thật không dám giấu diếm, người đó là bà nội của tôi.

Trước khi gặp hai vị tôi chỉ nghĩ rằng do bà đã cao tuổi nên bị bệnh của người già rồi từ từ yếu dần, nhưng bây giờ tôi không thể không nghi ngờ có kẻ ác ra tay hãm hại bà.”
Cố Cửu nói: “Cũng không loại trừ khả năng này.”
Thế là Viên Phi Dương mời họ đến gặp bà nội của mình để xác nhận xem bà bị bệnh thật hay là có người giở trò.
Bà nội của Viên Phi Dương năm nay sáu mươi ba tuổi, ở thời đại này đã được xem là sống thọ.

Khu nhà của bà cụ ở rất thanh tao, yên tĩnh.

Còn chưa đến tiết thu phân, thời tiết vẫn khá nóng nực, nhưng bà cụ nằm trên giường lại sợ lạnh chẳng kém gì Cố Cửu, trên người bà đắp hai lớp chăn bông thật dày tới mức trán đổ mồ hôi ròng ròng, thế nhưng thỉnh thoảng rêи ɾỉ thành tiếng vẫn là than lạnh.

Cả người bà ngập tràn tử khí, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy, thoạt nhìn không có gì kì lạ, trông như một người ốm nặng liệt giường sắp rời bỏ nhân thế.

Cố Cửu đứng nhìn từ xa chứ không lại gần xem, bên kia tử khí trùng trùng, âm khí trên người cậu cũng chẳng kém, cậu mà lại gần có khi bà cụ ngỏm luôn không chừng.
Thiệu Dật đến bên giường, gọi người cầm đôi tay của bà cụ ra cho hắn xem.

Hắn tỉ mỉ quan sát cả hai tay, sau đó nói với Viên Phi Dương: “Cô đoán không sai.”
Vừa rồi Thiệu Dật xem tướng tay cho bà, hắn nói: “Địa văn trên tay lão phu nhân vốn dài mảnh mà liền lạc, vừa sâu vừa rõ, là người có tướng sống lâu trăm tuổi, nhưng bây giờ lại bị vài đường chỉ cắt ngang qua, thể hiện tính mạng của lão phu nhân đang bị đe dọa.”
Địa văn Cố Cửu có biết, chính là đường sinh mệnh.

Nghe Thiệu Dật nói xong, Viên Phi Dương sầm mặt xuống, rõ là đang rất tức giận.

Cô lạnh mặt hỏi: “Nếu nói vậy có phải chỉ cần bắt được kẻ thủ ác thì bà của tôi sẽ bình an vô sự không?”
Thiệu Dật gật đầu: “Có thể nói như vậy.”
Viên Phi Dương lại nói: “Vậy trăm sự nhờ đạo trưởng.”
Không còn việc gì ở lại đây nữa, Viên Phi Dương đưa hai người ra ngoài.

Lúc chuẩn bị đi, Cố Cửu nhắc nhở: “Cô nương cũng đang bị nguyền rủa, tạm thời đừng tiếp xúc nhiều với lão phu nhân, bị dính thêm tử khí thì cô sẽ càng xui xẻo.”
Rõ là so với an nguy của mình thì Viên Phi Dương lo cho sức khỏe của bà cụ hơn, cho nên Cố Cửu mới nhắc như vậy.

Viên Phi Dương xoa xoa tay áo, trầm ngâm nói: “Tôi sẽ chú ý.”
Cố Cửu thấy cô gái này là người tỉnh táo quyết đoán, sẽ không đùa giỡn với tính mạng của mình bèn gật đầu, không nói thêm gì nữa..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 47: 47: Mộ Người Sống


Viên Phi Dương bị kẻ gian hãm hại nên mới liên tục gặp tai ương, cho nên Cố Cửu và Thiệu Dật quyết định dùng thuật thế thân để giúp cô tạm tránh được những kiếp nạn từ trên trời rơi xuống, mà thuật này cần dùng đến bát tự của cô.
Bát tự của một người là sự kết hợp thiên can và địa chi của tứ trụ bao gồm: giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh và năm sinh, tổng cộng có tám chữ nên mới gọi là bát tự.

Viên Phi Dương sinh vào giờ Canh Dần, ngày Ất Mão, tháng Đinh Tị, năm Canh Thìn.

Cố Cửu dựa vào bát tự này tính ra cô cầm tinh con rồng, sinh vào khoảng hơn bốn giờ sáng ngày chín tháng năm năm Canh Thìn.

Sau đó Cố Cửu lại xem xét những màu sắc hợp với bát tự của cô, yêu cầu cô chuẩn bị bốn loại vải màu khác nhau, gồm hai tấm vải đỏ, hai tấm vải trắng, ba tấm vải vàng và một tấm xanh lá.

Sở dĩ chọn những màu này là vì Canh thuộc hành Kim cần màu trắng, Thìn, Ất và Dần thuộc hành Thổ cần màu vàng, Đinh và Tị thuộc hành Hỏa là màu đỏ, còn lại Mão thuộc hành Mộc màu xanh lá.

Sau khi có được đủ số vải, Cố Cửu khâu chúng thành một bộ y phục.
Thiệu Dật lại bảo Viên Phi Dương cho người gom cành cây tùng và rơm khô đưa tới.

Hắn dùng cây tùng làm khung xương rồi nhét vải đỏ tượng trưng cho trái tim vào, phủ thêm rơm rạ bên ngoài, bôi hồ dán dính lại thành một con bù nhìn, cuối cùng mặc bộ đồ Cố Cửu vừa may vào cho nó.

Con bù nhìn này cao gần bằng Viên Phi Dương, đầu trọc lóc, nhưng nếu nhìn kĩ sẽ thấy có vài sợi tóc đen dài được đính trên đỉnh đầu, đó là tóc thật của Viên Phi Dương.

Phần mặt của bù nhìn được dán một tờ giấy trắng, Thiệu Dật vẽ phác vài nét trên đó, ngũ quan đầy đủ, chỉ thiếu mỗi hai mắt, nhưng nhìn qua khá giống chính chủ.
Bởi vì địch ở trong tối, không biết lúc nào chúng sẽ tiếp tục ra tay, cho nên thực hiện thuật thế thân sớm chừng nào tốt chừng nấy.

Ngay đêm đó, Cố Cửu và Thiệu Dật bày pháp đàn, chỉ để Viên Phi Dương và Thanh Nịnh ở lại, những người khác đều dặn tránh đi hết.

Việc hai người thực hiện thuật thế thân này chỉ có hai người họ biết, những người khác đều theo lệnh mà làm, không được tường tận.
Con bù nhìn được đặt nằm thẳng trên bàn tế, nhìn xa không khác gì một người thật đang nằm, lại thêm ánh đèn lồng đỏ chập chờn trong sân càng làm tăng vẻ rùng rợn kì bí cho khung cảnh thi pháp.

Thiệu Dật rút kiếm ra, dùng mũi kiếm ghim một lá bùa châm lửa đốt cháy, sau đó hắn vung kiếm lên, niệm chú: “Kẻ làm thế thân, giấy trắng trở thành mặt, vải dệt biến thành y, ba mươi sáu cành tùng tựa ba mươi sáu đoạn xương, từ đây thành máu thịt, từ đây thành con người, mở thân mở mặt mở tai, nghe cho rõ ràng…”
Trên đàn tế có một chén sứ nhỏ đựng hai giọt máu của Viên Phi Dương.

Thiệu Dật niệm xong một tràng chú, dùng mũi kiếm chấm vào hai giọt máu rồi huơ kiếm ngang dọc ghim các giọt bắn lên tứ chi của bù nhìn, cuối cùng mới điểm mắt cho khuôn mặt bằng giấy.

Con bù nhìn nằm trên bàn vừa có mắt liền lập tức đứng dậy.
Cử động đột ngột của bù nhìn làm Thanh Nịnh đứng phía sau Viên Phi Dương giật thót.

Cô lảo đảo lùi lại phía sau, khẽ kêu lên một tiếng.

Viên Phi Dương vẫn khá bình tĩnh, nhưng cũng nhướng mày lộ ra vẻ kinh ngạc.
“Được rồi.”
Sau khi bù nhìn đứng lên, Cố Cửu thông báo: “Nếu lần sau cô nương lại gặp tai nạn thì thương tổn sẽ được dời lên con bù nhìn này, đảm bảo bình an cho cô một lần.”
Viên Phi Dương gật đầu tỏ ý đã hiểu: “Hai vị vất vả rồi.”
Cố Cửu dọn dẹp đàn tế, bế con bù nhìn lên, ôm vào phòng của cậu và Thiệu Dật.
Viên Phi Dương tạm thời được an toàn nhưng bọn họ vẫn chưa nắm được thế chủ động, không biết kẻ ác đang rình rập sẽ ra tay lúc nào.

Bọn họ chờ được, nhưng sức khỏe của bà nội Viên Phi Dương thì không chờ được.

Sáng nay Cố Cửu và Thiệu Dật vừa mới đến gặp bà, bây giờ lại ghé qua xem lần nữa, thấy tử khí trên người bà không có dấu hiệu tăng lên.

Nhưng đột nhiên, ngay lúc Thiệu Dật vừa lấy một lá bùa ra định giúp bà trừ bớt tử khí thì phát hiện chúng bỗng đậm hơn thấy rõ.
Thiệu Dật đanh mặt hừ lạnh, châm lửa đốt bùa: “Thanh thanh linh linh, nhâm quỷ triều thực.

Tam hồn về thân, bảy phách yên bình.

Đài quang linh u, tinh tốc phụ đồng thể.

Cấp tốc nghe lệnh!”
Thiệu Dật đánh thức hồn phách đã rơi vào trạng thái mê man nhiều ngày của cụ bà, khi sinh cơ đã quay về trong cơ thể thì tử khí vờn quanh người bà cũng bị át đi nhiều.

Trong mắt người thường như Viên Phi Dương thì khi lá bùa trong tay Thiệu Dật cháy hết, bà của cô bắt đầu hồi tỉnh, đôi mắt vốn đã mờ đục bỗng minh mẫn trở lại.
“Bà nội!” Viên Phi Dương quá mừng rỡ, quên béng mất lời Cố Cửu đã dặn, ghé vào mép giường, cầm lấy đôi tay run rẩy đang vươn ra của bà nội.
“Phi Dương…” Bà cụ khó nhọc gọi tên cháu gái.
Vành mắt cô ửng đỏ cả lên khi nghe tiếng gọi thân thương của bà.
Bà cụ thều thào tiếng được tiếng mất mà an ủi cô: “Phi Dương, đừng khóc… ông nội cháu sắp đến đón bà rồi, bà vui lắm…”
Viên Phi Dương nghe đến đó, kìm không nổi nữa khóc thành tiếng.

Bà nội của cô đã yếu lắm, chỉ tỉnh táo được một lúc rồi hôn mê trở lại, nhưng nhờ Thiệu Dật xua bớt tử khí nên không bị hành hạ khổ sở như trước nữa, lần này bà ngủ an ổn hơn hẳn.
Viên Phi Dương lau nước mắt, theo Thiệu Dật và Cố Cửu ra ngoài.
Vừa nãy tuy Cố Cửu đứng xa nhưng cậu quan sát rất rõ những thay đổi trên người bà cụ, cậu nhìn Thiệu Dật đang trầm tư, hỏi: “Sư huynh, có phải huynh phát hiện ra cái gì không?”
Thiệu Dật ngước nhìn cậu, đáp: “Còn chưa xác định được, ta chỉ nghi ngờ có người lập Âm Bia, đốt Âm Hương hại bà ấy.”
Viên Phi Dương hỏi: “Âm Bia và Âm Hương là cái gì?”
Cố Cửu giải thích cho cô: “Âm Bia chính là bia mộ lập cho người đã chết, còn Âm Hương là đốt nhang cúng tế người còn sống.

Hành động này tức là lập bia mộ cho người sống rồi đốt nhang tế bái họ.

Nhang đốt bao nhiêu thì sinh cơ của người sống sẽ mất đi bấy nhiêu, cho đến khi sinh cơ mất hết thì người đó cũng tiêu vong, thực sự trở thành người chết.” Cố Cửu lại nói tiếp: “Ban nãy tử khí trên người lão phu nhân đột nhiên đậm lên thấy rõ, mà lúc đó là giờ Hợi, thuộc âm, Âm Hương phải đốt vào giờ âm mới có tác dụng.”
Viên Phi Dương mím môi: “Thế nhưng tế bái thì phải có bát tự, mà bát tự của bà nội ngoài chính bà và tôi ra chỉ có ông nội và ông bà cố của tôi biết.

Canh thϊếp (1) của bà lúc gả về nhà họ Viên vẫn được khóa lại cất giữ cẩn thận, không hề thất lạc.”
Sinh thần bát tự là thứ cực kì quan trọng, không thể tùy tiện để người ngoài biết được.

Thông thường người ta sẽ cất tờ giấy ghi bát tự vào một nơi kín đáo rồi khóa kĩ lại, đến khi người đó qua đời thì người nhà mới được lấy ra để khắc lên bia mộ an táng.
Chìa khóa chiếc hộp đựng canh thϊếp của bà nội Viên Phi Dương do chính bà giữ, từ lúc bà bệnh liệt giường đến giờ thì chuyển cho Viên Phi Dương giữ, ổ khóa trên hộp cũng còn nguyên vẹn không hư hại gì.

Ông nội và ông bà cố của cô đều đã qua đời từ lâu, bây giờ chỉ còn lại cô và bà nội biết được bát tự của bà.

Cô dám khẳng định không còn ai khác biết nữa.
Nếu đã như vậy thì việc lập Âm Bia và đốt Âm Hương không khả thi lắm.
Thiệu Dật lại nói: “Ngoài lập Âm Bia ra còn một cách khác nữa.”
Một suy nghĩ chợt lóe lên trong đầu Cố Cửu: “Mộ người sống!” Cậu hỏi Viên Phi Dương: “Có phải mộ của ông nội cô nương là mộ đôi không?”
Viên Phi Dương biến sắc: “Đúng vậy, là mộ đôi, ông tôi chuẩn bị để hợp táng với bà.”
Ở thời đại này, có những người lớn tuổi chuẩn bị sẵn quan tài cho mình trước cả chục năm, thậm chí quan tài được đặt trong nhà, thỉnh thoảng họ còn khiêng ra phết thêm dầu cây trẩu (2) xung quanh để chống ẩm mốc nữa.

Đôi khi vì một lý do đặc biệt nào đó, gia đình sẽ lựa chọn hợp táng cho người qua đời, hoặc những cặp phu thê yêu thương nhau cũng có nguyện vọng được hợp táng, nguyện kiếp sau tiếp tục kết thành phu thê.

Bia đá chôn ở những ngôi mộ đôi là một khối đá hoàn chỉnh, chia thành hai bên, bên thuộc về người nào thì khắc các ghi chép lúc sinh thời về người đó.
Loại mộ và bia đã gần như hoàn chỉnh ngay khi người còn tại thế như vậy được gọi là mộ người sống.

Vào lúc cúng tế người đã khuất, tuyệt đối không được lễ bái ở phần mộ của người sống, đây gần như là một quy tắc bất thành văn, bởi vì tất cả mọi người đều biết người đó còn sống, và là ai.

Nếu làm sai thì dù người nọ không đến mức bỏ mạng nhưng lâu ngày khó tránh khỏi ốm đau bệnh tật.

Cố Cửu nói: “Cô dẫn chúng tôi đến mộ của ông nội cô xem thử xem thế nào, chúng tôi nghi có người làm gì đó mờ ám ở phần mộ chuẩn bị cho bà cô.”
“Tôi chuẩn bị xe ngựa ngay.” Viên Phi Dương trả lời không do dự.
Ngay sau đó, ba người thêm cả nha hoàn Thanh Nịnh là bốn, dẫn theo vài gia đinh, đánh xe ngưa ra khỏi nhà họ Viên, nhờ ánh trăng soi đường chạy thẳng đến khu mộ của gia tộc.
Nhà họ Viên không có con cháu đầy đàn, nhưng là gia tộc rất có tiếng nói ở quận Võ Khê, do nhà họ nhiều đời làm ăn, giàu có sung túc.

Phần mộ tổ tiên của họ nằm trên một sườn núi, hằng ngày có người trông coi quét tước trong ngoài.

Lúc nhóm Cố Cửu đến gây ra động tĩnh khá lớn nhưng lại chẳng thấy người coi sóc khu mộ ra đón, dù ông ta ở ngay trong căn nhà dưới chân núi.

Viên Phi Dương cau mày, ra lệnh cho một gia đinh gọi cửa.
Trong màn đêm thanh tĩnh đột nhiên vang lên tiếng đập cửa ầm ĩ, vậy mà vẫn không thấy người trong nhà phản ứng gì.

Gọi mãi không được, gia đinh nọ đạp luôn cửa xông vào, chỉ chốc lát sau, anh ta xách một người đàn ông trung niên vẫn còn mơ màng ra ngoài.
Gia đinh nói: “Ông ta bị đánh ngất.”
Người đàn ông mất một lúc để định thần, sau khi nhìn rõ người trước mặt mình là ai thì kinh ngạc hỏi: “Thiếu chủ, sao ngài lại đến đây giờ này?”
Viên Phi Dương nhíu mày hỏi: “Gần đây ông có phát hiện điều gì lạ ở đây không?”
Người giữ mộ lắc đầu: “Không có ạ.” Nói xong ông ta hốt hoảng lắp bắp: “Thiếu…thiếu chủ, ngày nào tôi cũng chăm chỉ quét dọn cả, tôi không có lười biếng đâu.”
Viên Phi Dương thấy ông ta không có vẻ gian dối, tạm thời không tra hỏi gì thêm, gọi gia đinh lấy đèn lồng ra, đoàn người thận trọng lên núi.
Nhà họ Viên đã sửa sang lại khu núi này rất đẹp, hai bên đường trồng nhiều loại hoa cỏ lạ mắt, nếu đi lên vào một dịp khác chắc hẳn mọi người sẽ rất hứng thú dừng chân ngắm cảnh, chỉ tiếc đang đêm hôm khuya khoắt lại còn gặp phải tình huống éo le thế này, mọi người chỉ lo nhìn đường để không bị vấp ngã, đi cho mau đến nơi mà thôi.
Khi bước lên bậc thang cuối cùng, một khu mộ rộng lớn hiện ra trước mắt mọi người, cảnh tượng những bia mộ xám trắng nhấp nhô đổ bóng vằn vện dưới ánh trăng đêm thật làm người ta ớn lạnh.
Viên Phi Dương dẫn Cố Cửu và Thiêu Dật len lỏi giữa những con đường nhỏ, đi đến trước ngôi mộ đôi của ông nội và bà nội cô.
Viên Phi Dương chỉ: “Chính là nó.”
Ngôi mộ này thoạt nhìn chỉ như một ngôi mộ đôi bình thường, không có gì đặc biệt, cũng không thấy dấu hiệu bị người khác động đến.
Cố Cửu và Thiệu Dật cùng nhau bái ba lần trước mộ của cụ ông, khấn: “Đêm nay đã quấy rầy đến ngài, xin thứ lỗi cho.”
Trước khi đến đây, hai người đã nói trước với Viên Phi Dương rằng có thể phải mở cửa mồ xem thử, cô đã chấp thuận.

Sau khi bái xong, Cố Cửu cầm lấy đèn lồng, Thiệu Dật thì lấy xẻng, hai người tiến đến gần ngôi mộ.

Thiệu Dật đi quanh vài bước để xác định vị trí tốt nhất rồi cầm xẻng xắn vào đất, bắt đầu xúc.
Cố Cửu soi đèn sát vào chỗ đất sư huynh vừa mới đào lên.

Thiệu Dật buông xẻng, lấy một ít đất nhìn kĩ, nói: “Âm khí quá ít, là đất mới.”
Ngôi mộ nhìn như không có gì lạ kia không biết từ khi nào đã bị người ta giở trò, hơn nữa còn ngụy trang rất khéo.

Quả nhiên bệnh của bà nội Viên Phi Dương có liên quan đến ngôi mộ người sống này.
* (1) Canh thϊếp: Tên tuổi của một người vào thời xưa
(2) Cây trẩu: là một cây thân gỗ sống ở vùng Hoa Nam(Trung Quốc).

Nó dùng để lấy gỗ và hạt- hạt trẩu còn được dùng để làm sơn,keo....
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 48-50


Chương 48:

Thiệu Dật và mấy gia đinh nhà họ Viên cùng nhau hợp sức mở phần mộ trống chuẩn bị cho bà nội của Viên Phi Dương ra.

Vừa mở cửa mồ ra, mọi người nhìn thấy nơi vốn phải trống trải không có bất kì thứ gì lại xuất hiện một hình nộm kích thước cỡ một bàn tay đang nằm chỏng chơ trên đất.
“Quả nhiên chúng ta đoán không sai.” Cố Cửu khom người nhặt hình nộm lên.
Viên Phi Dương đưa tay muốn sờ vào hình nộm nhưng bị Cố Cửu né ra.

Cậu nói: “Cái này hẳn là dùng cỏ mọc nơi mộ bện ra, cô nương đừng chạm vào.”
Cỏ nơi mộ, đúng như tên gọi là loại cỏ mọc ngay trên phần mộ của người chết, hấp thu âm khí mà sinh trưởng, từ gốc đến ngọn đều đầy âm khí, người bình thường không nên chạm vào, đặc biệt là trên người Viên Phi Dương vẫn đang còn nguyền rủa chưa được giải.

Hình nộm được bện từ cỏ nơi mộ nếu dùng để nguyền rủa thì hiệu quả có thể tăng gấp nhiều lần so với rơm hay cỏ thường.

Trên người hình nộm này mặc một bộ đồ nhỏ vừa người, nhìn qua là biết ngay được cắt ra từ đồ cũ của bà nội Viên Phi Dương.

Hình nộm mặc đồ của bà, trên người cũng nhiễm hơi thở của bà, lại còn bị vùi vào mộ phần vốn được chuẩn bị cho bà nên đã đồng hóa với thân thể thực.

Như vậy, bà nội đang nằm ở nhà mà chẳng khác gì đang nằm trong mộ vắng, đó là lý khiến bà đã đắp mấy lớp chăn bông dày sụ mà vẫn run rẩy vì lạnh.
Mỗi lần kẻ muốn hãm hại bà cúng tế người rơm này thì trên người bà lại mất đi một phần sinh khí, sinh khí bị âm khí trên người của hình nộm thôn tính nên khắp người bà cụ mới tràn ngập tử khí như Cố Cửu và Thiệu Dật nhìn thấy.
Cố Cửu tìm tới tìm lui thật kĩ trước bia mộ mới thấy được một chút vụn giấy màu đen cháy xém bám vào trên vách bia.

Cậu nói: “Xem ra kẻ này rất cẩn thận.”
Viên Phi Dương hỏi: “Chúng ta đem hình nộm này ra có gây nguy hiểm không?”
“Không sao.” Cố Cửu đáp.

Hình nộm và bà nội Viên Phi Dương bây giờ xem như liền một thể, cho nên mang nó ra khỏi mộ cũng giống như mang bà ra ngoài.

Cố Cửu lột hết quần áo trên người hình nộm, sau đó đánh tan tất cả âm khí, xong cậu quay sang nói với Viên Phi Dương: “Có điều bây giờ lão phu nhân rất yếu, kể từ bây giờ cô nương phải cho người canh gác, bảo vệ ngôi mộ này cẩn thận, không thể để kẻ gian tiếp tục cúng tế nữa, nếu không thì hậu quả khó lường.”
Nghe vậy, Viên Phi Dương lập tức lệnh cho hai gia đinh ở lại trông coi mộ.

Sau khi họ lấp cửa mộ lại như cũ thì lên đường quay về.
Trên đường về, Cố Cửu đề nghị rằng tốt nhất Viên Phi Dương hãy thực hiện kế sách dụ rắn ra khỏi hang, không thể cứ bị động như thế này mãi được.

Viên Phi Dương cũng đồng ý, nếu đã biết mình bị kẻ khác dùng tà thuật ám hại thì không thể ngồi yên chờ chết.

Bọn họ ngồi trên xe ngựa cùng nhau bàn bạc ra một kế hoạch, quyết định ngay ngày mai sẽ thực hiện.
Đã bận rộn cả một đêm, lúc về đến nhà họ Viên đã qua giờ Tý, Cố Cửu và Thiệu Dật rửa mặt và làm vệ sinh sơ qua rồi hai người một mèo lăn lên giường ngủ say.
Sáng hôm sau, trời vừa tảng sáng, Viên Phi Dương đã dẫn theo Thanh Nịnh và một nha hoàn khác gõ cửa phòng của hai sư huynh đệ.

Lúc bọn họ đến, Cố Cửu và Thiệu Dật đang dán bùa lên con bù nhìn thế thân của Viên Phi Dương.
Cố Cửu quay đầu nhìn ba người vừa tới từ trên xuống dưới khắp một lượt: “Mọi người chuẩn bị xong rồi chứ? Không để ai khác nhìn thấy?”
Hôm nay, Thanh Nịnh mặc quần áo của Viên Phi Dương, búi kiểu tóc như cô chủ hay búi, tư thế đi đứng cũng cố gắng bắt chước cho thật giống, còn nha hoàn kia thì lại bắt chước điệu bộ của Thanh Nịnh.

Chiều cao của bọn họ đều xấp xỉ nhau, nếu đứng xa hoặc không quan sát kĩ thì sẽ không phát hiện ra được.
Viên Phi Dương nói: “Đạo trưởng yên tâm, không ai thấy cả, sẽ không lộ đâu.”
Vừa hay sáng nay trời khá âm u, “Viên Phi Dương” mặc một bộ đồ có mũ trùm để ra ngoài cũng không làm người ta thắc mắc.

Viên Phi Dương thật thì sẽ ở lại đây với hai người Cố Cửu.

Thanh Nịnh đội mũ trùm lên, dẫn theo Thanh Nịnh giả đi ra.
Còn chưa kịp ra khỏi cửa, Viên Phi Dương đã gọi hai người lại: “Phải cẩn thận.”
Thanh Nịnh cười: “Tiểu thư yên tâm, chúng em chỉ ra ngoài đi dạo một vòng thôi, sẽ không sao đâu.”
Người bị dính nguyền rủa thì ngay cả đi đường cũng có thể đột nhiên té ngã đập đầu mà chết, nhưng mấy lần Viên Phi Dương gặp chuyện bất trắc đều là ở bên ngoài cả.

Dường như kẻ chủ mưu không muốn để cô chết trong nhà, cho nên bọn họ mới nắm lấy điểm này mà bày kế, để Thanh Nịnh cải trang thành Viên Phi Dương ra ngoài một chuyến.

Chắc hẳn đối phương rất để ý hành động của bọn họ, Cố Cửu nghĩ đến điều này nên tối qua đi ra ngoài đã dùng chút thủ thuật che mắt đánh lạc hướng.
Thanh Nịnh đi rồi, Cố Cửu nhìn thoáng qua cô gái đang đăm chiêu suy nghĩ bên cạnh, ướm hỏi: “Qua một đêm rồi, cô nương có nghĩ tới ai khả nghi không?”
Viên Phi Dương lãnh đạm nói: “Dĩ nhiên là có, chỉ là vẫn không dám tin.”
Cố Cửu tò mò: “Là vị họ hàng nào của cô vậy?”
Bát tự, tóc, máu hay da là những thứ cần để thực hiện nguyền rủa.

Khoảng thời gian trước khi bắt đầu gặp tai nạn, Viên Phi Dương không hề bị thương, tóc thì mỗi lần cô tắm hay chải đầu Thanh Nịnh đều sẽ gom lại mang đi đốt, mà Viên Phi Dương tin rằng Thanh Nịnh sẽ không phản bội cô, vậy thì còn lại mỗi bát tự là con đường khả thi, mà bát tự của cô ngoài chính cô và bà nội ra chỉ còn một người thân duy nhất biết được.
Viên Phi Dương nói: “Ông nội tôi có một người em trai tên là Viên Mậu Điển, tôi gọi ông ta là ông chú.

Lúc còn nhỏ có một lần tôi bị bệnh nặng, là ông chú đến miếu cầu thần khẩn Phật, quỳ hai ngày một đêm khấn cho tôi được khỏe lại.”
Đến tận bây giờ Viên Phi Dương vẫn còn nhớ như in lúc đó cô còn nhỏ xíu, yếu ớt nằm trên giường bệnh, vừa mới hé mắt ra đã thấy ông chú của mình khập khiễng bước vào phòng, tay cầm một đóa hoa tươi mới hái, vừa cười vừa dỗ dành cô: “Tiểu Dương tỉnh rồi, ông chú tặng con bông hoa này nhé.”
Viên Phi Dương rất thích hoa, khắp cả nhà họ Viên đều là hoa, ngay cả khu mộ tổ trên núi cũng ngập tràn các loại hoa đẹp do chính tay cô lựa chọn và sắp xếp.
Viên Phi Dương nhìn vị đạo trưởng trẻ tuổi đang ngồi xổm bên cạnh cô ra vẻ rảnh rỗi hết sức muốn hóng hớt, kể lại: “Trước kia tôi vẫn cảm thấy tên của mình thật xấu xí…”

Lúc Cố Cửu viết lại bát tự của Viên Phi Dương để làm bù nhìn rơm đã tính được năm nay cô mới tròn 17 tuổi, nhưng không khó để nhìn ra cô đã là chủ nhân thực sự của nhà họ Viên.

Từ sáng hôm qua đến giờ, chỉ mới tiếp xúc vỏn vẹn một ngày mà cô gái tuổi không bao lớn này đã thể hiện được mình là người có bản lĩnh, làm việc vô cùng quyết đoán, uy thế có thừa.

Tất cả người làm trong nhà họ Viên từ trên xuống dưới đều thật tâm làm việc cho cô, tôn kính gọi cô một tiếng “thiếu chủ”, tuy cô là phụ nữ nhưng không hề thua kém cánh mày râu chút nào, mà những điều này ngoài thiên phú của cô ra còn do cô được ông nội dạy dỗ từ nhỏ.
Viên Phi Dương, Phi Dương, đây rõ ràng là tên của con trai.
Năm đó lúc Viên Phi Dương chỉ mới là một bào thai trong bụng mẹ, ông nội của cô đã kì vọng đứa cháu này là con trai, thậm chí ngay khi cô còn chưa lọt lòng đã được ông đặt cho cái tên “Phi Dương” đầy nam tính.

Kết quả làm ông phải thất vọng một phen, cô là một bé gái.

Nhưng nào ngờ ông nội cô còn chưa kịp vực dậy tâm trạng xuống dốc của mình thì đã phải đối mặt với một nỗi đau còn lớn lao hơn, khi con trai và con dâu ông đột ngột qua đời.

Đứa cháu gái vốn không được trông đợi lại trở thành giọt máu duy nhất mà con trai ông để lại.
Nhà họ Viên rất giàu có, sản nghiệp trong tay nhiều không đếm xuể, ở thời đại này gia nghiệp tổ tiên chỉ truyền nam chứ không truyền nữ, nhưng bây giờ ông nội Viên không còn sự lựa chọn nào khác, sau khi con trai và con dâu mất, ông từ chối đề nghị nhận con thừa tự từ họ hàng, cũng không đặt tên khác cho cháu gái mà nuôi dạy cô như một đứa cháu trai thực thụ.
Viên Phi Dương được dạy dỗ như con trai, không được mặc váy, không được khóc lóc ủy mị, không được thích những thứ xinh đẹp, tóm lại không được làm những việc nữ tính.

Khi còn nhỏ thì không có vấn đề gì lớn, nhưng rồi cô dần dần trưởng thành, cô cảm thấy bức bối với cách ông nội quản chế mình, trở nên ương bướng không nghe lời.

Cô lén xỏ lỗ tai, nhờ người khác mua váy cho mình, bắt đầu bày hoa trên đầu giường nằm.
Tất cả những việc Viên Phi Dương làm không thể qua mặt được ông nội, gần như ngày nào hai ông cháu cũng cãi nhau, thế là bà nội phải đi khuyên nhủ hòa giải cho hai người.

Vì vậy, so với ông nội nghiêm khắc hay ép mình vào khuôn khổ hay bà nội mềm yếu không quyết đoán thì Viên Phi Dương thân thiết với ông chú hay cười lại còn cưng chiều mình hơn.
Lúc nào ông chú cũng đem cho cô những thứ cô yêu thích, cứ như làm ảo thuật vậy.

Không những vậy, ông còn không lải nhải những đạo lý to lớn khiến người ta nhức đầu nữa.

Mỗi lần cô oán trách ông bà nội, ông chú đều kiên nhẫn giảng giải cho cô những nỗi niềm mong mỏi của ông bà đối với cô, đều là muốn tốt cho cô cả.
Viên Phi Dương chống cằm, một động tác nữ tính như vậy mà cô làm vẫn có nét phóng khoáng riêng biệt: “Khi đó, ông ấy thực sự là ông chú cực kì tốt của tôi.”
Thế nhưng không biết từ khi nào người nọ đã thay đổi, vẻ mặt vui tươi hiền hậu dần dần mất đi, thay vào đó là đôi mày nhíu lại đầy vẻ ưu tư.

Sau đó, mỗi lần cô giận hờn ông bà nội, cô không còn nghe được những lời an ủi khuyên nhủ nữa mà chỉ còn lại những lời phụ họa đầy tiêu cực.
Nếu chỉ như vậy một lần hai lần thì Viên Phi Dương cũng không chú ý, nhưng càng ngày những lời ác ý lại càng nhiều lên, cô bắt đầu cảm thấy kì lạ, tuy cô còn nhỏ tuổi, nhưng dù sao cũng được ông nội tự tay dạy dỗ, không phải là kẻ dễ bị tác động.
Từ đó về sau, mỗi lần đến nhà ông chú cô không còn tỏ vẻ dỗi hờn trẻ con, rồi sau đó nữa, Viên Phi Dương gần như không gặp lại ông vì lúc nào ông cũng có vẻ bận rộn.

Hai ông cháu xưa kia thân thiết là thế mà bỗng trở nên xa lạ, chỉ vào mỗi dịp lễ tết mới gặp mặt thoáng qua.
“Rồi ông nội tôi qua đời.”
Khi người đứng đầu một gia tộc qua đời mà không có con trai hay cháu trai kế nghiệp thì nữ quyến trong nhà gần như rất khó có khả năng giữ được tài sản.

Viên Phi Dương nói: “Lúc ấy trong đám họ hàng của tôi có không ít người tơ tưởng đến khối tài sản kếch xù này.

Nhờ có ông chú đứng ra giúp tôi và bà nội xử lý đám người đến gây sự mà tôi bớt được nhiều trở ngại, vượt qua được giai đoạn khó khăn đó.”
Cố Cửu nói: “Nghe qua có vẻ bề ngoài ông chú của cô là người tử tế đáng kính.

Sao cô lại đoán được là ông ta ra tay?”
Viên Phi Dương cười mỉa mai: ‘Bởi vì năm xưa khi ông ta đi cầu thần Phật giúp tôi khỏi bệnh có cầm bát tự của tôi đi.”
Ngày sinh giờ sinh chính xác của cô ngay cả bà đỡ cũng không nhớ rõ, phương pháp loại trừ quá đơn giản, ngoại trừ cô và bà nội, người biết bát tự của cô mà còn sống đến bây giờ chỉ còn mỗi Viên Mậu Điển.
Cố Cửu thắc mắc hỏi: “Nếu vậy vì sao trước đây ông ta lại phải giúp hai bà cháu cô?”
Viên Phi Dương lơ đãng nhìn vào khoảng không trước mặt, nói: “Đúng vậy, việc gì phải giúp tôi? Tôi cũng muốn biết đây, nhưng dù thế nào thì tôi vẫn cảm thấy không phải vì lòng tốt đâu.”
Thiệu Dật bỗng nhiên lên tiếng: “Đến rồi.”
Cố Cửu đứng bật dậy, nhìn con bù nhìn thế thân của Viên Phi Dương.
Một đám khí đen người thường không nhìn thấy được từ từ xuất hiện ngay trên trán của con bù nhìn rơm giữa phòng..

Chương 49:

Động tĩnh xảy ra trên người con bù nhìn đã chứng minh suy đoán của họ là đúng, quả nhiên kẻ hại người không muốn để Viên Phi Dương chết trong nhà. Khí đen trên trán của bù nhìn vô cùng đậm đặc, còn dày hơn lúc họ vừa được mời đến nhà họ Viên gặp lại Viên Phi Dương lần thứ hai nhiều, có thể thấy được lần này đối phương muốn dồn cô vào chỗ chết.

Trên người của bù nhìn được dán bùa Cố Cửu và Thiệu Dật vẽ, lúc này, những lá bùa đó đột nhiên không có lửa mà tự động bốc cháy, điều thần kì hơn nữa là lửa không hề bén vào quần áo của nó.

Đang khi những lá bùa còn bốc cháy rừng rực, Cố Cửu cầm một chiếc bút son, quấy vài cái vào chỗ đám khói còn chưa tan hết, thế là đám khói vốn bay tán loạn tập trung lại một chỗ, ngoan ngoãn di chuyển theo ngòi bút trong tay cậu, nhìn như một con rắn biết nhận chủ vậy. Cố Cửu dẫn đường cho cụm khói đi tới trước mũi và miệng của bù nhìn rồi để chúng chui vào.

Tiếp đó, Cố Cửu dùng chính cây bút đó viết chữ lên người bù nhìn, vừa viết vừa niệm: “Càn Khảm lật úp, Cấn Chấn nghịch chuyển. Tốn Ly tả hữu, Khôn Đoái trước sau. Cấp tốc nghe lệnh!”

Nét bút cuối cùng vừa xong, một chữ “sắc” (1) đỏ tươi xuất hiện trên người con bù nhìn. Cố Cửu dứt lời, chữ “sắc” lóe lên ánh đỏ lập lòe, cậu nhanh chóng lùi lại, Thiệu Dật bước lên, trong tay hắn cầm sẵn một thanh kiếm sắt, dứt khoát vung kiếm chém đứt bàn tay phải của bù nhìn.

Viên Phi Dương khó hiểu hỏi: “Sao đạo trưởng lại chém đứt? Chẳng phải nói con bù nhìn rơm này là thế thân của tôi sao?”

Cố Cửu giải thích: “Bùa chú trên người nó bốc cháy tức là nó đã chắn thay cô nương một lần tai nạn rồi, những thao tác sau đó tôi làm là để biến người rơm trở thành thế thân của chính kẻ thi pháp.”

Thuật pháp Cố Cửu và Thiệu Dật vừa dùng không phải là thuật pháp chính phái, bọn họ rất ít khi dùng đến, chỉ khi gặp phải tình huống thực sự cần kíp như trường hợp của Viên Phi Dương lần này thì mới thực hiện. Bản chất của nó gần giống như thuật nguyền rủa vậy, đều dùng hình nộm thế thân, sau đó nguyền rủa hoặc nguyện một điều gì đó nhằm triệt hạ kẻ thù hoặc đạt được mục đích của bản thân. Vừa rồi Thiệu Dật chặt đứt bàn tay phải của bù nhìn thì chắc chắn kẻ sau màn cũng sẽ bị đứt luôn tay phải.

Cố Cửu nói: “Bàn tay đứt rời cần phải nhanh chóng được chữa trị, cô nương cho người theo dõi các tiệm thuốc xem nhà nào có người mời thầy thuốc, chắc chắn sẽ có manh mối hữu dụng.”

Viên Phi Dương gật đầu: “Tôi cho người đi làm ngay.”

Một lát sau, Thanh Nịnh ra ngoài đã trở lại, cô vừa bước vào phòng vừa kéo mũ trùm đầu xuống, có vẻ ngạc nhiên nói: “Tiểu thư, lúc tôi về tình cờ thấy nhà của nhị lão thái gia đang gấp gáp mời thầy thuốc về, không biết là ai bị bệnh, chúng ta có cần cho người sang hỏi thăm không?”

Cố Cửu đang cầm một nhánh cỏ đuôi chó (2) trêu Tiểu Đệ nghe vậy bèn ngẩng đầu lên liếc nhìn Viên Phi Dương. Người Viên Phi Dương phái đi nghe ngóng còn chưa quay về mà họ đã biết được tin tức từ Thanh Nịnh rồi, thật khéo.

Viên Phi Dương không thể hiện cảm xúc gì, chỉ nói: “Nếu đã biết thì không thể làm ngơ, dù sao cũng là ông chú của ta. Em tự mình sang đó hỏi thăm một chuyến đi.”

Thanh Nịnh thưa vâng, quay về phòng thay quần áo rồi đi. Cô vừa đi chưa được bao lâu thì người được lệnh đi thăm dò cũng về tới, báo lại tin tức không khác gì với tin họ vừa nghe, là nhà ông chú của Viên Phi Dương.

Mọi người lại đợi thêm một hồi thì Thanh Nịnh quay lại lần nữa, báo: “Đại phu nhân bên kia nói là lão thái gia bị nhiễm thương hàn.”

“Có gặp được lão thái gia không?” Viên Phi Dương hỏi.

Thanh Nịnh lắc đầu: “Không ạ, lúc ấy trong nhà đang rối ren, đại phu nhân bảo em cứ về trước, có tin gì sẽ cho hay.”

Viên Phi Dương nói: “Được rồi, em lui xuống đi.”

Tiếp đến, mấy người bọn họ tiếp tục đợi từ sáng đến khi trời mờ tối vẫn không thấy người nào về báo cáo thêm. Nếu ban sáng chỉ là nghi ngờ thì bây giờ gần như có thể kết luận rồi, chỉ có điều rốt cuộc thì đó vẫn là người ông mà ngày bé Viên Phi Dương từng rất kính yêu, cho nên cô vẫn cố chấp muốn tận mắt xác minh. Cô nhờ Cố Cửu và Thiệu Dật cùng đi với cô một chuyến sang nhà của Viên Mậu Điển.

Hai người Cố Cửu nhận lời đi cùng. Loại tà thuật nguyền rủa này không phải ai cũng thực hiện được, chắn chắn sau lưng Viên Mậu Điển có thuật sĩ huyền môn tiếp tay làm ác, hai người đi theo sẽ đảm bảo an toàn hơn.

Nhà của Viên Mậu Điển khá gần, chỉ cách một con phố, họ không cần đi bằng xe ngựa, đi bộ khoảng mười phút là tới. Lúc bọn họ đến cửa nhà đang đóng chặt, Thanh Nịnh tiến lên gọi cửa, gia đinh giữ cửa thấy là cô bèn hỏi: “Thanh Nịnh cô nương không phải sáng nay vừa mới đến một lần rồi sao?”

Đến đây, Thanh Nịnh đã lờ mờ đoán được kiếp nạn của lão phu nhân và tiểu thư nhà mình có liên quan đến nhà bên này, cho nên thái độ khách sáo ban sáng hoàn toàn không còn nữa. Cô lạnh lùng nói: “Tiểu thư nhà ta lo lắng cho bệnh của lão thái gia nên muốn gặp mặt ông ấy mới yên tâm.”

Thấy đã nói xong mà tên gia đinh kia vẫn còn lừng khừng đứng chắn trước cửa không muốn cho họ vào, cô lập tức nổi giận: “Làm càn! Tiểu thư nhà ta đã đến tận nơi mà còn dám cản đường!?”

Tên gia đinh bị quát hoảng hồn, lắp bắp: “Tiểu nhân nào dám ạ…”

Viên Phi Dương lên tiếng hỏi: “Là lão thái gia nhà ngươi hay là đại phu nhân nhà ngươi không cho ta vào?”

Gia đinh nọ vẫn ấp úng không dám trả lời. Viên Phi Dương vung tay lên, những tùy tùng đi theo nghe lệnh tiến lên đẩy người ra, mở đường cho nhóm bọn họ đi vào nhà.

Chỉ cần nhìn cách bài trí trong nhà là đủ biết nhà của Viên Mậu Điển tuy cũng khá giả nhưng không thể nào so sánh được với nhà họ Viên bên kia. Khi còn bé Viên Phi Dương là khách quen của nơi này nên rất rành rẽ đường đi nước bước ở đây, đi tới đâu dẹp đường tới đó, không ai cản được. Cô dẫn Cố Cửu và Thiệu Dật nhắm thẳng tới khu nhà Viên Mậu Điển ở.

Lúc bọn họ vừa đến trước khu nhà, một người đàn bà tầm bốn mươi tuổi bỗng xuất hiện, ngăn nhóm Cố Cửu lại. Vẻ mặt bà ta hằn rõ nét hoảng sợ, cố ý quát hỏi: “Phi Dương! Ông chú của cô không khỏe, cô còn tới đây muốn gây sự hả?”

“Ồ. Tôi chỉ muốn đến thăm ông chú thôi, sao bác gái lại nói như thể tôi là giặc cướp vậy?”

Viên Phi Dương nói xong bèn đẩy người đàn bà đó ra đi thẳng vào sân, tốc độ càng nhanh hơn. Ngay lúc cô dẫn theo Thanh Nịnh chuẩn bị bước lên bậc thang dẫn vào phòng thì cửa phòng bỗng nhiên bật mở, một ông cụ tóc bạc phơ xuất hiện trước cửa phòng.

Viên Phi Dương dừng lại, chào một tiếng: “Ông chú.”

Viên Mậu Điển trông có vẻ rất yếu, ông ta đứng tựa vào cửa ho khan liên tục, bác gái của Viên Phi Dương thấy vậy vội chạy qua dìu cha chồng, còn không quên trách mắng Viên Phi Dương: “Phi Dương, cô càng lớn càng không coi ai ra gì!”

Viên Mậu Điển ho sù sụ ngăn con dâu lại, khó nhọc nói: “Phi Dương…nó cũng vì lo cho ta thôi mà.” Ông ta nói xong thì quay sang nhìn Viên Phi Dương một cách hiền từ: “Phi Dương à, ông chú không sao, con về trước đi, khi nào khỏe lại ta sẽ gọi con đến trò chuyện.”

Viên Phi Dương mím môi không nói gì, khẽ nghiêng đầu nhìn về phía Cố Cửu và Thiệu Dật.

Hai người nhìn thấy ánh mắt của cô bèn tiến lên phía trước. Cố Cửu cầm sẵn một con hạc giấy trên tay, Thiệu Dật nhanh tay dẫn một hơi thở của Viên Mậu Điển vào con hạc. Lúc trước Thiệu Dật đã từng thực hiện một thuật pháp tương tự, nhưng lần đó là dùng hình nộm để trừng phạt gã lưu manh còn bây giờ là tìm người nên đồ vật dùng và lời chú cũng khác một chút.

Lúc Thiệu Dật dẫn khí, hai người Viên Mậu Điển còn đang ngơ ngác không kịp phản ứng, đến khi nghe Thiệu Dật niệm chú rồi nhìn thấy hạc giấy bỗng đập cánh bay lên thì bọn họ mới giật mình hoảng hốt.

Hạc giấy bay vòng trên đỉnh đầu Viên Mậu Điển và bác gái của Viên Phi Dương mấy vòng, sau đó vỗ cánh bay đi mất, Cố Cửu và Thiệu Dật vội vàng bám theo, Viên Phi Dương quay đầu nhìn ông chú của mình đang loạng choạng lùi về sau mấy bước một cái rồi cũng nhanh chóng theo chân hai vị đạo trưởng.

Bấy giờ, bác gái kia mới định thần lại, kinh sợ chạy theo la lối om sòm: “Bọn bay muốn làm gì? Đây là nhà tao, mau cút đi!”

Không ai trong nhóm người Cố Cửu thèm để ý đến tiếng la hét thất thanh của bà ta. Hai sư huynh đệ tập trung theo sát con hạc, gần như đi hết một vòng quanh nhà rồi mới dừng lại trước cửa một căn phòng nơi dãy nhà hẻo lánh nhất. Thiệu Dật cung chân đá tung cửa, kẻ đang nằm bẹp dí trên giường giật mình bật dậy, nhảy xuống khỏi giường, gã ta còn chưa kịp quát hỏi gì thì đã đau đớn ôm chặt tay phải rêи ɾỉ.

“Tìm được ngươi rồi.” Cố Cửu thu con hạc giấy đang đậu bên bậu cửa sổ lại.

Người trên giường đúng là thuật sĩ thực hiện nguyền rủa mà bọn họ đang tìm. Gã cảnh giác nhìn chằm chằm đám người vừa mới đến: “Các ngươi là ai?”

Viên Phi Dương bước vào, lạnh lùng hỏi: “Là ngươi năm lần bảy lượt muốn gϊếŧ ta phải không?”

Gã thuật sĩ nhìn thấy Viên Phi Dương thì biến sắc, gã nhìn sang Cố Cửu và Thiệu Dật, bấy giờ gã mới để ý thấy tuy hai người nhìn qua không giống đạo sĩ chính quy nhưng lại mang theo rất nhiều đạo cụ quen thuộc, còn đeo một chiếc túi đựng bùa vẽ hình bát quái bên hông nữa. Gã quát ầm lên: “Các ngươi là đạo sĩ? Chính các ngươi chém đứt tay ta phải không!?”

Cố Cửu thản nhiên đáp: “Ngươi làm ác mưu hại mạng người, chỉ chém đứt một bàn tay là còn nhẹ đấy.”

Gã thuật sĩ đau đến nỗi mặt mày trắng bệch nhưng vẫn căm hờn nhìn Cố Cửu và Thiệu Dật mãi không tha, đôi mắt chứa đầy vẻ oán độc âm u. Thiệu Dật hừ lạnh, giơ chân đạp lên đầu gối của gã một cái, gã mất thăng bằng khuỵu xuống. Sau đó, Thiệu Dật đưa mắt ra hiệu cho tùy tùng bên cạnh Viên Phi Dương, bọn họ biết ý, tiến lên lôi dây thừng đã chuẩn bị sẵn ra, hợp lực trói tên thuật sĩ đang giãy giụa kịch liệt lại.

Dám mưu hại thiếu chủ của bọn họ mà lại để bị bắt được, xem ra phen này gã khó mà giữ được mạng.

Mấy gia đinh của Viên Phi Dương còn cẩn thận nhét vải vào miệng của gã thuật sĩ để gã đừng kêu la ầm ĩ nữa, vừa xong xuôi thì bác gái của Viên Phi Dương cũng vừa dìu cha chồng mình trờ tới. Viên Mậu Điển đã yếu lại còn gấp gáp chạy qua đây, bây giờ đứng trước cửa phòng thở hồng hộc, mặt mày tím tái cả. Cố Cửu nhìn thấy còn sợ ông ta chưa mở miệng nói được câu nào đã tắt thở thăng thiên luôn.

“Chúng bay đang làm gì!?” Vừa thấy tình trạng bát nháo trong phòng, bà bác gái đã rống lên. Bà ta chỉ vào mặt Viên Phi Dương mắng chửi: “Mày giỏi lắm Viên Phi Dương, mày ăn sung mặc sướng rồi coi thường đám bà con nghèo chúng tao thì thôi đi, bây giờ còn ngang ngược đến đây gây sự hả? Mày muốn đối xử với bọn tao giống như mày đối xử với mấy con ở nhà mày hả? Loạn hết rồi, mày thật là hỗn láo xấc xược, dám dẫn người tới quậy lại còn xúc phạm khách của nhà tao nữa!”

Viên Phi Dương liếc nhìn bác gái, lạnh nhạt nói: “Gã thuật sĩ này dùng tà thuật hại tôi, bác nói đây là khách của bác, vậy ra bác mời khách về để hãm hại tôi đấy phỏng?”

“Tao hại mày cái gì?”

“Nếu bác không làm gì xấu thì việc gì phải quýnh quáng muốn phủ đầu tôi như vậy?” Viên Phi Dương nhìn người đàn bà đang cố ra vẻ hung ác trước mặt. “Tôi vốn tưởng việc này chỉ có ông chú ra tay, không ngờ ông ta là chủ mưu, còn bác gái cũng dự phần trong đó. Mà không, có lẽ ngay cả bác trai và hai đứa em họ của tôi cũng là tòng phạm nhỉ? Hại tôi thì thôi đi, còn muốn hại luôn cả bà nội của tôi.”

Bà bác né tránh ánh mắt của Viên Phi Dương đang xoáy thẳng vào mình, làm bộ làm tịch nói: “Tao không biết mày ăn nói hàm hồ cái gì. Trời tối rồi, mày về đi, có chuyện gì mai rồi tính. Ông chú của mày lớn tuổi rồi làm sao chịu được tụi bay om sòm hả.”

Đến lúc này, Viên Phi Dương mới nhìn sang Viên Mậu Điển, cô trầm ngâm một lát rồi lên tiếng: “Đây là lần cuối cùng tôi gọi ông một tiếng ông chú. Từ đêm hôm qua tôi đã biết ông là thủ phạm rồi, sở dĩ hôm nay cất công đến đây chỉ vì muốn nghe một lý do.”

Bác gái nghe Viên Phi Dương nói vậy lại bắt đầu chửi ầm lên, có ý đồ muốn ngăn cha chồng mình nhận tội, muốn lấy thân phận người lớn đè ép Viên Phi Dương. Tà thuật nguyền rủa không giống với những loại thủ đoạn hại người khác, hầu như khó mà tìm ra bằng chứng cụ thể, bà ta cho rằng chỉ cần bọn họ nhất định không chịu thừa nhận thì Viên Phi Dương sẽ không thể chiếm lý.

Nhưng mà dù không chiếm lý mặt ngoài đi nữa thì chẳng lẽ Viên Phi Dương sẽ không trả thù sao? Chắc chắn không. Viên Phi Dương là người sát phạt sòng phẳng, ăn miếng trả miếng, huống chi lần này bọn họ còn suýt nữa hại chết bà nội của cô.

Viên Mậu Điển thừa biết điều này, cho nên ông ta quát con dâu đang kêu la ỏm tỏi rồi thở một hơi thật dài, nói: “Việc đã đến nước này, thừa nhận hay không có khác gì nhau.”

____________

(1) Chữ “sắc” ở đây là chữ sắc trong sắc lệnh chứ không phải màu sắc hay sắc đẹp.

(2) Cỏ đuôi chó
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 51: 51: Nhân Tâm


Cố Cửu chợt nhớ tới một câu nói: lúc yêu thích thì có bao nhiêu khuyết điểm đi nữa cũng thành đáng yêu, còn khi đã không ưa rồi thì có thở thôi cũng thấy ghét.

Điều này đúng với tất cả các mối quan hệ giữa người với người.
Viên Mậu Điển đã từng thật lòng thật dạ yêu quý Viên Phi Dương, nếu không cũng sẽ không lặn lội đến miếu thờ quỳ hai ngày một đêm để cầu xin cho cô được tai qua nạn khỏi, hơn nữa lúc đó ông ta đã ngoài năm mươi, sớm qua độ tuổi tráng niên.

Thế nhưng đã là con người thì không ai không có tham sân si.

Viên Phi Dương chung quy vẫn không phải cháu nội ruột của ông ta, tình thương ông ta dành cho cô không thể nào bằng tình thương đối với cháu trai và cháu gái mình được.
Gia cảnh của Viên Mậu Điển tuy khá giả hơn rất nhiều người nhưng nếu so sánh với ông nội của Viên Phi Dương thì chẳng thấm vào đâu.

Ông ta trước giờ nhát gan, không dứt khoát, cũng không có tài năng nổi trội nên không có thành tựu gì, cũng không làm ăn kinh doanh được, kể cả con cháu của ông ta cũng chỉ là hạng thường thường bậc trung, lo cho cả nhà ăn no mặc ấm thì còn ổn chứ không thể nào phất lên trở nên giàu sang phú quý được.
Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, lúc Viên Mậu Điển đang phải đối mặt với vấn đề cơm áo gạo tiền cho cả một gia đình lớn thì anh trai của ông ta lại đang sầu lo vì người kế nghiệp.

Đứa cháu kia rõ ràng là phận con gái lại được ông dốc lòng dạy dỗ tỉ mỉ để sau này thừa kế tài sản của nhà họ.

Vậy thì cũng thôi đi, đằng này cô lại còn vô ý lộ ra nỗi oán trách vì những gánh nặng ấy, những thứ mà trong mắt của Viên Mậu Điển vốn không phải là gánh nặng.
Thời gian dần trôi, Viên Phi Dương lớn lên, việc làm ăn của Viên Mậu Điển thì ngày càng xuống dốc, gần như chỉ lỗ chứ không lãi, lại thêm miệng ăn núi lở, sinh hoạt trong nhà cũng theo đó mà kém đi hẳn.
Có những người nghèo nhưng không hèn, cho dù nghèo cũng quyết không làm chuyện sai quấy để mưu cầu lợi ích cho mình, nhưng cũng lại có những người vì nghèo nên đánh mất lương tâm, việc gì cũng dám làm.
Ông nội Viên qua đời chưa lâu, nhiều người trong dòng họ đã bắt đầu rục rịch muốn dòm ngó tài sản của nhà họ.

Lúc này, Viên Mậu Điển đã bị ghen ghét làm mờ mắt, anh trai mình vừa mất nhưng ông ta không hề thương tiếc chút nào, chỉ một lòng lo nghĩ khối tài sản anh trai để lại rốt cuộc sẽ vào tay ai.

Trong thâm tâm ông ta rất tán đồng những lời nói ra nói vào rằng Viên Phi Dương là một đứa con gái, không nên ra ngoài buôn bán, việc lớn là phải để cho đàn ông gánh vác.

Bây giờ ông nội Viên đã không còn thì theo lý người có tư cách thừa kế gia nghiệp nhà họ phải là ông ta mới đúng.

Làm ăn buôn bán là việc của đàn ông, một đứa con gái như Viên Phi Dương đi đàm phán thương lượng chuyện kinh doanh thì còn ra thể thống gì nữa.

Phụ nữ phải ở nhà lo giúp chồng dạy con, đội chồng con lên đầu mới phải lẽ.

Ngặt nỗi Viên Phi Dương lại là người thừa kế do chính ông nội Viên dạy dỗ và công nhận, nếu lúc đó Viên Mậu Điển dám để lộ ý đồ thực sự của mình thì chắc chắn sẽ bị đám họ hàng kia xử đẹp, lại còn gây thêm tiếng xấu cho cả nhà.

Cứ cho là dù cuối cùng ông ta thành công đi nữa thì cũng phải nhả ra không ít tiền để bịt miệng bọn họ, có khi xong chuyện rồi tài sản chẳng còn lại được bao nhiêu.
Viên Mậu Điển đỏ mắt nhìn Viên Phi Dương: “Tất cả những của cải đó đều là của nhà họ Viên ta, mắc gì ta phải cho bọn chúng hưởng!?”
Lúc con trai và con dâu qua đời, ông nội Viên từ chối những lời đề nghị nhận con thừa tự từ họ hàng, mà dựa theo vai vế, lẽ ra cháu trai của Viên Mậu Điển là lựa chọn số một cho vị trí đó.

Nếu năm đó cháu của ông ta được ông nội Viên nhận nuôi thì việc gì ông ta phải bôn ba nhiều năm như vậy nữa? Vì vậy, Viên Mậu Điển cứ ghim mãi nỗi căm hận đó trong lòng đến tận bây giờ, trong khi anh trai của ông ta đã qua đời từ lâu.
Nỗi ghen ghét đố kị gặm nhấm tâm hồn Viên Mậu Điển từ năm này qua tháng nọ làm ông ta trở nên biến chất.

Để giữ được càng nhiều tài sản càng tốt, ông ta bèn chủ động ra sức dẹp yên đám họ hàng tham lam kia, giúp hai bà cháu Viên Phi Dương vượt qua thời gian khốn khó, không vì cái gì khác mà chỉ mong sau này nuốt trọn được khối tài sản kếch xù kia.
Viên Mậu Điển hiểu rõ Viên Phi Dương, tuy rằng cô hay than thở về cách dạy bảo của ông nội mình, nhưng thật ra cô là người giống với ông mình nhất, thông minh quyết đoán lại có thủ đoạn, muốn uy hϊếp cô giao lại gia nghiệp chẳng khác nào chuyện nực cười nhất trên đời.

Vì vậy, trong lòng Viên Mậu Điển lờ mờ ấp ủ một kế hoạch, phải thực hiện từng bước thế nào thì ông ta chưa trù tính hẳn hoi, nhưng ông ta biết rõ một điều: chị dâu và cháu gái của ông ta phải chết.

Không những bọn họ phải chết mà còn phải chết vì tai nạn, không để lại dấu vết gì.

Nghĩ tới nghĩ lui, Viên Mậu Điển nghĩ tới cách tìm người nguyền rủa.

Thế nhưng người biết thực hiện những thủ thuật huyền môn này không nhiều, rất khó tìm.

Ông ta âm thầm tìm kiếm hai năm ròng rã cuối cùng mới tìm được một tay thuật sĩ khá lợi hại.
Người ta nói “họa vô đơn chí”, một khi đã gặp xui xẻo thì không phải chỉ một lần, âu cũng là chuyện thường nên sẽ không khiến người khác nghi ngờ.

Kế hoạch của Viên Mậu Điển là dùng thuật nguyền rủa để chị dâu bị bệnh nặng liệt giường trước, chờ Viên Phi Dương bị “tai nạn” chết ở bên ngoài, tránh được hiềm nghi rồi ông ta mới đến gặp chị dâu lúc này đã lay lắt như đèn treo trước gió, thuyết phục bà giao lại gia nghiệp cho người thân duy nhất của chồng bà là ông ta, sau đó tiễn bà đi luôn.
Mọi việc xảy ra đều thuận lợi như ông ta mong muốn, lại chẳng ngờ phút cuối chết trước cửa thiên đàng.
Đã đến nước này, Viên Mậu Điển không thèm giả bộ hiền từ nữa, ánh mắt ông ta nhìn Viên Phi Dương chỉ còn lại lạnh lẽo.

“Nếu sớm biết kết quả thế này, ta sẽ chẳng băn khoăn nhiều làm gì, để ngươi chết trong nhà luôn cho đỡ phiền phức.”
Viên Phi Dương nghe thấy ông chú mình đã từng yêu mến nói ra những lời ác độc như vậy cũng không tỏ ra đau buồn khổ sở gì, khuôn mặt vẫn lạnh tanh trước sau như một.
Cô nhìn Viên Mậu Điển, thong thả nói: “Tôi đã từng bảo anh họ đến phụ tôi việc kinh doanh, vừa làm vừa học việc, nhưng bác gái chê công việc vất vả không muốn cho anh ta theo học, chính anh ta cũng nghĩ rằng tôi đang làm nhục anh ta, sau đó tự mình bỏ tiền ra làm ăn rồi thua lỗ.” Cô lại nhìn sang bà bác gái: “Còn em họ, tôi cũng từng nói với cô ta rằng nếu thấy thích việc tính toán làm ăn thì có thể đến tìm tôi tôi sẽ hướng dẫn cho, con gái biết thêm vài ngón nghề để phòng thân cũng tốt.

Nhưng chính bà đã nói rằng con gái chẳng cần học hành nhiều làm gì, chỉ cần tìm một tấm chồng giàu là sống khỏe cả đời.”
“Trên đời này không có tiền từ trên trời rớt xuống, các người thà dùng thủ đoạn đê hèn cũng không muốn bỏ mồ hôi công sức.

Tiền tài bất nghĩa các người giành được thì có thể giữ được bao lâu?”
Cố Cửu lắc đầu, chẳng còn gì để nói.

Giúp đỡ người thân của mình là chuyện nên làm, nhưng cũng phải có chọn lọc.

Viên Phi Dương là người nhìn xa trông rộng, cô sẽ không cho bọn họ ăn chùa uống chùa mà sẽ chỉ cách để tự kiếm ra tiền mà ăn, cho cần câu chứ không cho sẵn cá.

Cô đưa ra những đề nghị hết sức thiết thực và có lợi cho bọn họ, chỉ tiếc rằng người nhà này đã không giỏi việc thì thôi đi, lại còn lười học hỏi thêm, không những vậy mà mánh lới hèn hạ thì không thiếu.

Khi gặp phải loại người như vậy, nếu mình cứ dung túng cho bọn họ mãi thì bọn họ chẳng những không biết ơn mình mà còn càng ngày càng ăn quen bén mùi, đòi hỏi vô độ.
Viên Phi Dương đã biết điều mình muốn biết, đạt được mục đích.

Cô đưa mắt nhìn ra bên ngoài, hỏi bà bác gái: “Bác trai, anh họ và em họ tôi không có nhà à?” Chuyện ầm ĩ thế này mà mãi không thấy bọn họ chạy sang đây thì cũng lạ thật.
Bà ta bị hỏi đột ngột, ấp a ấp úng không trả lời được.
Viên Phi Dương chợt bừng tỉnh: “Bọn họ đi đốt Âm Hương đúng không?”
Bác gái của cô nghe hỏi vậy thì tái cả mặt.
Cố Cửu tính giờ, nói: “Sắp qua giờ Hợi rồi, không lâu nữa đâu.”
Đêm qua Viên Phi Dương để lại hai người canh gác ở khu mộ, ban sáng lại phái đi thêm không ít người hòng đợi đến đêm nay bắt quả tang những kẻ đi đốt Âm Hương.
Cố Cửu vừa nói xong đã thấy có tiếng huyên náo bên ngoài, ngay sau đó, hai nam một nữ bị gia đinh của nhà họ Viên xô đẩy vào trong phòng, chính là ba người Viên Phi Dương vừa hỏi đến kia.

Lúc ba người mới vào còn mang bộ dạng hùng hùng hổ hổ, nhưng sau khi nhìn thấy Viên Phi Dương cùng với tên thuật sĩ đang bị trói gô kia thì biết chuyện xấu mình làm đã bại lộ, hoảng sợ im miệng nhìn dáo dác về phía Viên Mậu Điển.
Viên Mậu Điển nhắm mắt, chấp nhận sự thật đành buông xuôi.

Ông ta hỏi Viên Phi Dương: “Ngươi sẽ làm gì cả nhà ta?”
Khi còn nhỏ Viên Phi Dương là một cô bé hoạt bát hiếu động, tính tình lãnh đạm như bây giờ là do được trui rèn qua nhiều sóng gió, khi theo học việc với ông nội cô đã chứng kiến không ít thủ đoạn dơ bẩn của người với người.

Chỉ là cô không nghĩ sẽ có một ngày mình dùng những thủ đoạn đó với người được gọi là người nhà của mình, nhưng quả thật bây giờ đối với cô cả nhà này chỉ như người ngoài không hơn.
Cô nói: “Viên Phi Dương tôi tuy không phải một tay che trời nhưng cũng xem như có chút địa vị ở quận Võ Khê này.

Thủ đoạn nguyền rủa của các người tôi không báo quan được, nhưng tôi có rất nhiều cách để làm cho các người sống không bằng chết.” Bà nội là người thân duy nhất còn trên đời này của Viên Phi Dương, bọn họ rắp tâm hãm hại bà làm Viên Phi Dương thực sự căm giận, còn hơn cả việc bọn họ mưu hại cô.

Viên Phi Dương chỉ để lại một câu như vậy rồi bỏ đi, không quên mang theo tên thuật sĩ dở sống dở chết kia đi cùng.

Kết cục của gã ta thế nào Cố Cửu và Thiệu Dật không biết, nhưng lúc bọn họ quay về phòng có gieo một quẻ tính thử cho gã thì thấy quẻ chỉ đại hung, còn có đổ máu.

Cố Cửu hiểu được Viên Phi Dương, một kẻ âm tà lại còn kết thù với mình như vậy chắc chắn cô sẽ không để gã tiếp tục tồn tại trên đời, phải trừ khử luôn để phòng họa về sau.

Về phần cả nhà Viên Mậu Điển, Cố Cửu không biết Viên Phi Dương làm thế nào mà ngay sáng hôm sau đã có người của sòng bạc tới đập cửa nhà họ đòi nợ ầm cả lên.

Bọn họ có được giấy ghi nợ kí tên bác trai và anh họ của Viên Phi Dương.

Số tiền nợ quá lớn nên cả nhà phải chạy vạy vay mượn khắp nơi, nhưng đám họ hàng thân thích còn cay cú chuyện Viên Mậu Điển trở mặt, không cho bọn họ húp chút cơm cháo nào từ nhà họ Viên năm xưa nên chẳng ai thèm giúp đỡ cả, thậm chí có người còn hả hê tìm Viên Phi Dương móc mỉa rằng năm đó Viên Mậu Điển đã đứng ra giúp cô rồi thì bây giờ cô nên đáp lễ mới phải đạo.
Viên Phi Dương vui vẻ nói được chứ, thế là cô cho người qua đón cả nhà bọn họ về, chỉ có điều lúc đến nơi thì bọn họ đã bị đám đòi nợ cắt lưỡi, đánh cho gãy tay tàn phế rồi, mà thủ phạm cũng bị quan phủ tróc nã nên đành ngậm bồ hòn.
Chuyện này trở thành tin sốt dẻo trong quận Võ Khê, bởi vì danh tiếng của Viên Phi Dương lan rất xa, người thân của cô gặp chuyện chẳng lành nên đương nhiên ai ai cũng chú ý.

Sau đó, Viên Phi Dương ra mặt điều đình với bên sòng bạc, để Viên Mậu Điển thanh toán đủ số nợ, không đủ thì bán đất bán nhà lấy tiền trả.

Sau cùng, tiền bạc đã trả hết nhưng bọn họ lại trắng tay, đến nỗi không có nhà mà ở, vẫn là Viên Phi Dương hảo tâm rước cả nhà về cho ăn no mặc ấm.
Dĩ nhiên đó là những gì người ngoài nghe được, người nào tinh ý thì sẽ đoán được mọi chuyện không đơn giản như vậy, mà Cố Cửu và Thiệu Dật là biết rõ nhất.
Nợ cờ bạc là do Viên Phi Dương ra tay, cắt lưỡi phế tay cũng là cô bày mưu tính kế, còn việc “ăn no mặc ấm” mà bên ngoài đồn đãi thật ra là tống hết cả nhà họ ra khu mộ tổ, từ đây về sau để bọn họ giữ núi, ngày ngày dọn dẹp chăm sóc mộ phần của tổ tiên, bên ngoài có bố trí người canh gác, cả đời này bọn họ sẽ không thể bước ra khỏi mấy tấc đất trên núi đó nữa.
Cố Cửu và Thiệu Dật ở lại nhà họ Viên thêm hai ngày, đợi đến khi bà nội Viên hồi tỉnh, khỏe lại ít nhiều rồi mới chào từ biệt.
Sáng hôm họ rời đi, Viên Phi Dương đích thân tiễn hai người ra cửa.

Viên Phi Dương hỏi Cố Cửu một câu: “Đạo trưởng có cảm thấy tôi xử sự tàn nhẫn không?”
Cố Cửu thản nhiên đáp: “Tôi chỉ là một người ngoài đứng xem, việc gì cô nương phải bận tâm?”
Viên Phi Dương cúi đầu nhìn xuống đôi tay của mình, đôi tay sạch sẽ trắng nõn, nhưng ở nơi người ta không thấy được, đã dính máu tươi.

Cô cười nhạt: “Dù năm đó ông ta có lòng riêng nên mới giúp tôi nhưng không thể phủ nhận tôi cũng được lợi, lần này xem như tôi trả lại ân tình xưa.”
Cố Cửu nghe vậy hiểu ý Viên Phi Dương muốn nói rằng nếu không niệm tình ngày xưa Viên Mậu Điển từng đứng ra dàn xếp giúp cô thì bây giờ cả nhà bọn họ đã sớm chịu chung kết cục với tên thuật sĩ kia rồi.
Những việc này liên quan đến nhân quả giữa người với người, Cố Cửu đúng như lời cậu nói, chỉ là kẻ đứng xem, đúng sai không bàn tới.
Lúc đi, Cố Cửu nhìn thoáng qua tướng mạo của Viên Phi Dương rồi nói: “Viên cô nương không thiếu tiền, năng làm việc thiện chút thì càng tốt.”
Viên Phi Dương khẽ gật đầu, nhún người chào.

Đây là lần đầu tiên Cố Cửu nhìn thấy cô thực hiện kiểu cách của một vị tiểu thư khuê các đúng nghĩa.
“Hai vị đi đường thong thả, có duyên gặp lại.”.
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 52: 52: Phạm Thái Tuế


Phu nhân nọ bị Cố Cửu nhìn thấu cũng không tỏ ra xấu hổ, chỉ khẽ cười: “Tiểu đại phu, cậu xem bệnh cũng giỏi mà xem bói cũng tinh.”
Con gái của bà đang mang thai không thể uống thuốc bừa nên bà cẩn thận cầm đơn thuốc Cố Cửu đã cho đến cho một thầy thuốc quen xem thử.

Thầy thuốc đó xem xong bèn nói đơn thuốc này rất tốt, không những chữa được chứng đau dạ dày mà còn không gây hại gì cho con gái bà và đứa bé trong bụng cô.

Chính vì vậy nên khi thấy Cố Cửu biết xem bói bà mới đến nhờ cậu tính bát tự ngay.
Cố Cửu cười cười, quay lại chủ đề về bát tự: “Vậy xin hỏi rốt cuộc phu nhân muốn tính gì?”
Phu nhân nghe Cố Cửu hỏi thì không tươi cười nữa, lộ ra vẻ sầu lo: “Cứ tính xem nó có tầm hoa vấn liễu không đi vậy.”
Cố Cửu gật đầu, cúi đầu xem xét bát tự đó lần nữa, sau đó nói: “Nếu dựa theo địa chi trên bát tự thì người này sinh vào tháng sáu.”
“Đạo trưởng tính không sai.” Phu nhân nọ gật đầu, thay đổi cách xưng hô với Cố Cửu.
Cố Cửu nói tiếp: “Thông thường người sinh ra vào tháng này khá chung tình trong chuyện tình cảm.

Ngày sinh của người này là ngày Bính Thìn, nếu xét về thiên can địa chi thì Bính thuộc hành hỏa, Thìn thuộc hành thổ, hỏa và thổ tương sinh.

Mà thiên can đại diện cho chủ nhân của bát tự, địa chi đại diện cho phối ngẫu của họ, vì vậy có thể nói nếu người nam có bát tự thế này sẽ rất chung thủy với vợ.”
Cố Cửu chốt lại: “Hơn nữa thiên can của người này có sao Chính Tài, không có sao Thiên Tài, cho nên có thể kết luận người này không phải kẻ lăng nhăng.”
Một người đàn ông như vậy, chỉ cần người vợ trong gia đình không quá tệ lậu thì dù hai vợ chồng không ân ái mặn nồng vẫn có thể sống hòa thuận với nhau cả đời.
Nghe xong kết quả, phu nhân có vẻ bớt âu sầu một chút, nhưng vẫn chưa thả lỏng hẳn.

Bà tìm trong tay áo một lát, lấy ra một tờ giấy khác đưa cho Cố Cửu: “Vậy cậu xem giúp cho con gái tôi với.”
Cố Cửu nhận lấy tờ giấy, nhìn thoáng qua, hỏi: “Lệnh ái là cầm tinh con ngựa?
Phu nhân gật đầu: “Đúng vậy.”
Cố Cửu nói: “Trong địa chi Tí tức chuột thuộc thủy, Ngọ tức ngựa thuộc hỏa, như nước với lửa.

Năm nay lại vừa đúng là năm Canh Tí, năm chuột vàng, Tí và Ngọ tương khắc.

Dân gian chúng ta hay truyền nhau rằng “Thái Tuế viếng thăm, không phúc ắt họa”.

Lệnh ái năm nay phạm Thái Tuế, dễ bị tiểu nhân dòm ngó.”
Phu nhân vỡ lẽ, vô cùng tức giận: “Tôi còn nói sao bỗng dưng gần đây con gái và con rể tôi cứ hay cãi nhau, chắc chắn là bị kẻ tiểu nhân quấy phá rồi.

Vậy bây giờ con gái tôi phải làm sao?”
Cố Cửu nói: “Cứ đến miếu thờ bái đương cai Thái Tuế, chính là vị thần đang tại vị năm nay là được.”
Phu nhân nhíu mày: “Chỉ vậy thôi sao? Làm đơn giản như vậy có khi nào thành ra thiếu tôn trọng Thái Tuế hay không?”
Cố Cửu cười nói: “Nếu phu nhân còn không yên tâm thì có thể xin một lá bùa Thái Tuế về cho lệnh ái đeo bên mình, cũng có thể lập đàn bái Thái Tuế Tinh Quân ngay trong nhà, nhưng cái này cần phải mời đạo sĩ về làm pháp sự mới được.”
Vị phu nhân này thấy Cố Cửu chỉ cần xem qua liền nhìn thấu được bát tự bà đưa lúc đầu là của nam chứ không phải nữ, sau đó lại giải thích cặn kẽ mạch lạc cho nên rất tin phục.

Bà ướm hỏi: “Pháp sự đó đạo trưởng có thể làm chứ?”
Cố Cửu nói: “Có thể, nhưng sư huynh của tôi am hiểu hơn tôi.”
Phu nhân nhìn sang Thiệu Dật, đề nghị: “Vậy một việc không cần nhờ đến hai đầu, việc kính Thái Tuế trong nhà của con gái tôi xin làm phiền hai vị.”
Cố Cửu và Thiệu Dật nhận lời, dọn dẹp đồ đạc, ôm Tiểu Đệ đi theo phu nhân.
Phu nhân không dẫn bọn họ đến nhà của con gái bà mà dẫn về nhà mình, vừa vào đến cửa đã có gia nhân ra báo: “Phu nhân, cô gia tới.”
Phu nhân vốn rất ưng bụng chàng rể này, bây giờ nghe được kết luận về bát tự của y từ Cố Cửu thì càng hài lòng hơn, cho nên dù lần này hai người cãi nhau dẫn tới con gái bà bỏ về nhà ngoại thì bà vẫn không giận y, tỏ ý quan tâm: “Minh Viễn tới rồi à? Còn Vĩnh Hân đâu?”
Gia nhân kia thưa lại: “Cô gia đang dỗ tiểu thư về nhà, tiểu thư nhốt mình trong phòng không muốn ra gặp.”
Phu nhân nhăn mặt: “Con bé này, sao lại càn quấy đến thế?” Bà nói xong mời hai người Cố Cửu đến phòng khách ngồi tạm rồi lật đật đi dàn xếp chuyện con gái mình.
Cả một buổi sáng nay Thiệu Dật chẳng ừ hử tiếng nào với Cố Cửu, lúc này trong phòng khách chỉ có hai gia nhân đứng hầu trong góc phòng, Cố Cửu và Thiệu Dật thì ngồi cách nhau một cái bàn nhỏ.

Cố Cửu len lén thò tay qua vươn hai ngón tay túm lấy tay áo của Thiệu Dật lắc lắc.

Thiệu Dật không thèm để ý đến cậu thế là cậu bèn túm lấy lắc mãi không buông.
Đến khi Thiệu Dật nhịn không nổi nữa, quay mặt sang trừng mắt nhìn cậu thì thấy Cố Cửu cười hì hì lấy lòng: “Sư huynh à ~”
Thiệu Dật trợn mắt nhìn cậu một lát, sau đó chịu thua im lặng quay đầu qua chỗ khác, khẽ phun ra hai chữ: “Đồ ngốc.” Hắn quay mặt đi nên Cố Cửu không thấy được đôi mắt thấp thoáng ý cười của hắn.
Cố Cửu nghe được sư huynh quở mình là đồ ngốc, biết thế này là hắn không giận rồi mới thở phào nhẹ nhõm, tối nay lại có giường ấm, lại có bếp sưởi rồi.
Hai người đợi trong chốc lát, một lúc sau, Cố Cửu nhìn thấy thai phụ mặc bộ đồ đỏ rực lúc trước mình đã khám bệnh cho ở Nhà Cô Độc được một đám người vây quanh từ đằng xa đi tới, đi bên cạnh cô là một thanh niên tuấn tú cao hơn cô một cái đầu, thỉnh thoảng y còn đưa tay ra đỡ nhưng đều bị cô vùng vằng hất ra.
Khi Cố Cửu và Thiệu Dật vừa đến có thấy tấm biển treo trước cửa nhà này ghi là nhà họ Tiết, vậy cô nương này tên là Tiết Vĩnh Hân.
Lúc cô ta nhìn thấy hai người, ánh mắt lộ ra vẻ nghi ngờ không hề che giấu.

Cô ta nhìn chằm chằm hai người một lúc rồi mở miệng hỏi: “Mấy người biết đoán mệnh thật đấy hả? Có lừa người ta không đó?”
Cố Cửu không đáp lời, ngược lại Tiết phu nhân cùng đi vào thì trách mắng: “Nói bậy! Con bé này, con muốn chọc mẹ tức chết hả?”
Tiết Vĩnh Hân bĩu môi.
Tiết phu nhân quay lại cáo lỗi với Cố Cửu và Thiệu Dật: “Xin hai vị đạo trưởng bỏ quá cho, con bé này khẩu xà tâm Phật, thực sự không có ác ý.”
Cố Cửu nhún vai bảo không sao cả, cậu vừa nhìn một cái đã biết cô gái này tính tình đỏng đảnh khó chiều.

Vả lại dù sao trên đường đi hay lúc bày sạp xem bói bên đường hai người đã gặp không ít người hoài nghi mình giống như thế này rồi, đã sớm miễn nhiễm không thèm để ý.
Chồng của Tiết Vĩnh Hân tên là Ôn Minh Viễn, nhà ở một nơi khác trong quận, ngày hôm qua hai vợ chồng son cãi nhau, Tiết Vĩnh Hân nói bị chồng chọc giận nên bỏ về nhà mẹ đẻ ngủ lại một đêm.

Sáng nay Ôn Minh Viễn chạy sang dỗ dành đón vợ về, đợi ăn cơm trưa xong bọn họ quay về thì Cố Cửu và Thiệu Dật sẽ cùng đi theo để làm pháp sự.
Cơm nước xong xuôi, lúc mấy người Cố Cửu chuẩn bị lên đường thì gặp được một cô gái dẫn theo mấy nha hoàn bước vào cửa.
Cô gái nhìn thấy Tiết Vĩnh Hân chuẩn bị về nhà chồng, kinh ngạc hỏi: “Chị Hân Hân, chị phải đi bây giờ sao?”
Tiết Vĩnh Hân tiến lên nắm tay cô gái một cách thân mật: “Yến Như, sao giờ này em mới đến, sáng nay chị bảo Hồng Nhi sang gọi em đến chơi mà em lại không có nhà.”
Yến Như nói: “Em ra ngoài với mẹ, chẳng phải em nghe tin chị về chơi nên mới vội chạy qua đây sao, ai ngờ chị lại phải đi rồi.”
Tiết Vĩnh Hân che miệng cười khúc khích: “Ôi dào, có gì đâu, dù sao nhà chồng chị cũng ở gần đây, cách có mấy con phố thôi mà, ngồi xe ngựa một tiếng là đến nơi.

Mấy ngày nay chị không khỏe trong người, để chị khỏe hơn rồi chị lại mời em sang đó chơi.”
Yến Như gật đầu, sau đó quay sang chào hỏi Tiết phu nhân mấy câu rồi lại lễ phép chào hai vợ chồng Tiết Vĩnh Hân, rõ là một cô gái dịu dàng đoan trang.
Hai sư huynh đệ Cố Cửu ngồi riêng một chiếc xe ngựa.

Lúc lên xe, Cố Cửu còn nghe thấy tiếng Tiết Vĩnh Hân mè nheo với Ôn Minh Viễn: “Em đã nói mẹ đừng có đi tìm đạo sĩ, đạo sĩ toàn là phường lừa tiền cả!”
Ôn Minh Viễn tính tình ôn hòa, cố gắng khuyên nhủ vợ: “Cũng chẳng có bao nhiêu tiền, em cứ để cho mẹ được yên tâm thôi mà.”
Tiết Vĩnh Hân kiêu căng hừ một tiếng: “Tiền đó đi quyên cho Nhà Cô Độc để họ may đồ mới cho mấy đứa trẻ còn có lý hơn.”
Ôn Minh Viễn lại dỗ dành: “Được rồi, chừng nào về ta sẽ bảo người làm đưa bạc đến gửi cho Nhà Cô Độc may quần áo nhé.”
Tiết Vĩnh Hân bực bội nói: “Kệ chàng, muốn làm gì thì làm.”
Ôn Minh Viễn bất đắc dĩ nói: “Sao lại giận dỗi nữa rồi?”

Sau khi xe ngựa bắt đầu chạy thì không còn nghe thấy tiếng nói chuyện nữa, Cố Cửu xích lại gần chỗ Thiệu Dật ngồi, vén rèm cửa lên nhìn ra ngoài, bình luận: “Ôn Minh Viễn tốt tính thật.”
Hôm nay lúc ăn cơm ở nhà họ Tiết, Cố Cửu thấy Tiết Vĩnh Hân được người nhà họ cưng như trứng mỏng, gần như muốn gì được nấy.

Ôn Minh Viễn cũng không giống cánh đàn ông ở thời đại này, quan niệm chồng chúa vợ tôi, tuy rằng vừa mới cãi nhau xong nhưng y vẫn rất chiều chuộng vợ mình, nói năng khuyên bảo nhẹ nhàng.

Còn Tiết Vĩnh Hân là cành vàng lá ngọc điển hình, là tiểu thư con nhà giàu có nên được cưng từ nhỏ đến lớn, không chịu nổi chút xíu ấm ức nào, ruột để ngoài da, nói chuyện cứ huỵch toẹt không kiêng nể gì ai, mà quả là cô ta cũng có địa vị để kiêu ngạo thật cho nên càng lớn lối.

Giao tiếp là một môn nghệ thuật, Cố Cửu cảm thấy khả năng ở môn nghệ thuật này của Tiết Vĩnh Hân chỉ là con số không tròn trĩnh.

Người như vậy nói cho xuôi tai là đơn thuần thẳng ruột ngựa, còn ai ác ý thì sẽ bảo là phường vô duyên.

Những người có tính xấu này cũng sẽ vì thế mà thường hay làm phật ý người khác, hay bị người ta ghét dù cho không thực sự ác tâm, và cũng càng dễ phạm Thái Tuế.
Xe ngựa lộc cộc lăn bánh, quả nhiên đúng như lời của Tiết Vĩnh Hân, chưa tới một tiếng đã về đến nhà họ Ôn.
Nhà họ Ôn và nhà họ Tiết môn đăng hộ đối, đều là phú hộ của vùng này.

Nhà họ Ôn neo người, chỉ có vài họ hàng ở xa, mẹ của Ôn Minh Viên đã sớm qua đời, người lớn trong nhà chỉ còn lại cha y.

Tiết Vĩnh Hân gả đến đây không cần hầu hạ mẹ chồng, không phải lo nghĩ về xích mích mẹ chồng nàng dâu, chồng thì lại một lòng một dạ yêu thương cô, cuộc sống có thể nói là sướng như tiên cũng không quá, lẽ ra cô phải vui vẻ hạnh phúc lắm mới đúng.

Sau khi Cố Cửu nắm được tình hình càng cảm thấy nhà họ Tiết vì tính tình đột nhiên trở nên kì quặc của cô mà phải lo sắp trọc đầu đến nơi rồi.
Tiết Vĩnh Hân có thai, tuy bây giờ còn chưa lộ bụng nhưng ngồi xe ngựa gần một tiếng đồng hồ cũng thấm mệt, lúc xuống xe có vẻ buồn ngủ.

Ôn Minh Viễn sắp xếp phòng cho khách cho hai sư huynh đệ Cố Cửu xong bèn vội vàng dỗ vợ trở về phòng ngủ
Chỉ một chốc sau, Ôn Minh Viễn tìm đến gặp Cố Cửu và Thiệu Dật để hỏi xem bái Thái Tuế thì cần phải chuẩn bị những gì và lập đàn tràng ở chỗ nào.

Cố Cửu hướng dẫn: “Bái Thái Tuế cần phải chọn một nơi yên tĩnh, hoặc làm ở ngay gian thờ cúng trong nhà công tử cũng được.”
Ôn Minh Viễn suy nghĩ một lát, nói: “Vậy làm ở sảnh nhỏ của tôi đi.”
Sau khi chọn được chỗ xong, Cố Cửu còn dặn Ôn Minh Viễn chuẩn bị thêm nhang đèn, giấy vàng mã và rượu.
Cố Cửu và Thiệu Dật tuy là nhận tiền làm việc nhưng dù sao thân phận của bọn họ cũng khá đặc thù, dù người ta có không tin đi nữa thì vẫn kiêng dè và thết đãi bọn họ chu đáo.

Vì vậy, lúc ăn cơm Ôn Minh Viễn mời Cố Cửu và Thiệu Dật ngồi cùng mâm với cả nhà họ, cả cha Ôn và Tiết Vĩnh Hân đều có mặt đầy đủ.
Trên mâm bày nhiều món nguội, Cố Cửu để ý thấy Tiết Vĩnh Hân không hề động đũa vào các món nóng, chỉ chăm chăm gắp đồ nguội.

Ôn Minh Viễn thì vẫn cố gắng gắp mấy món nóng cho vợ, khi thấy cô cứ ngâm mãi trong chén không chịu ăn bèn khẽ khuyên: “Bệnh đau dạ dày của em vừa mới khỏi, không nên ăn nhiều đồ nguội.”
Tiết Vĩnh Hân bĩu môi: “Em không thích ăn đồ nóng.”
Ôn Minh Viễn vẫn kiên nhẫn dỗ cô nàng, nào ngờ Tiết Vĩnh Hân bỗng nhiên nổi nóng, không màng đến trên bàn cơm có hai người lạ và cha chồng, dằn mạnh đôi đũa xuống mâm, nhăn mặt la lên: “Đã nói là không ăn!”
Cô nói xong đứng lên bỏ đi mất dạng.

Cô vừa đi khuất cha của Ôn Minh Viễn đã tức giận hừ lạnh: “Càng ngày càng không ra gì!”
Sắc mặt Ôn Minh Viễn cũng chẳng đẹp nổi, y cười như mếu bất đắc dĩ giải thích với Cố Cửu và Thiệu Dật: “Vĩnh Hân cô ấy…từ sau khi mang thai đến giờ không biết tại sao lại trở nên nóng tính.

Xin hai vị thứ lỗi.”
Cố Cửu nói: “Thiếu phu nhân có vẻ rất sợ nóng?”.
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 53: 53: Bái Thái Tuế


Ôn Minh Viễn nói: “Từ khi cô ấy mang thai thì bắt đầu trở nên như vậy.

Tối ngủ thì muốn đặt chậu đá trong phòng, trái cây thì phải ướp lạnh mới chịu ăn, còn nước uống dù chỉ hơi ấm cũng không uống.

Ban đầu dạ dày cô ấy vẫn khỏe mạnh bình thường thì không sao, nhưng vì ăn lạnh quá nhiều nên gần đây thường xuyên bị đau bụng, mấy ngày trước cô ấy còn lén tôi ăn đá bào nên lại bị đau bụng nữa.”
Vào mùa này trời vừa sập tối nhiệt độ đã hạ xuống nhưng vừa rồi cùng ăn cơm Cố Cửu để ý thấy đồ mặc trên người Tiết Vĩnh Hân còn mỏng hơn cả ban ngày, vả lại cô còn chuộng ăn đồ nguội.

Thông thường người gặp phải tình trạng này đều là do tích tụ quá nhiều khí nóng trong cơ thể, nhưng lần trước Cố Cửu xem mạch cho Tiết Vĩnh Hân thì không hề thấy cô bị chứng bệnh này.
Chỉ là do bị nóng nên thích ăn đồ lạnh hay còn có nguyên nhân nào khác? Cố Cửu trầm ngâm suy nghĩ.


Đồ vật cần dùng để bái Thái Tuế rất đơn giản, ngay ngày hôm sau Ôn Minh Viễn báo đã chuẩn bị xong.

Trước đó Cố Cửu có nói với Tiết phu nhân là nên đi đến miếu bái Thái Tuế rồi làm thêm pháp sự ở nhà nên hôm nay bọn họ sẽ đến miếu Thái Tuế trước, Tiết phu nhân không yên tâm con gái nên còn cố ý qua coi chừng.
Hôm qua Tiết Vĩnh Hân đã nổi cáu một lần, không biết Ôn Minh Viễn có khuyên bảo được cô hay không, cơ mà nghe hôm nay phải đi ra ngoài thì cô liền xụ mặt cả buổi.
Sáng nay thời tiết khá đẹp, mặt trời chiếu sáng khắp nơi, nhưng đối với Tiết Vĩnh Hân thì thời tiết này quá tệ, vừa ra khỏi cửa cô đã dừng lại kì kèo không muốn đi, toan quay trở vào nhà.
“Không phải lập đàn gì gì đó ở nhà cũng được sao.

Nắng nóng muốn điên luôn, đi ra ngoài làm cái gì chớ!”
Thế nhưng Tiết phu nhân không chiều theo ý cô, bắt mấy nha hoàn cẩn thận vừa đỡ vừa kéo cô ra khỏi cửa, nhét vào xe ngựa chở đi.
Hôm nay Ôn Minh Viễn từ chối hết tất cả các cuộc hẹn làm ăn để đi theo chăm sóc cho vợ, nhưng lúc đi đường thì y ngồi chung xe ngựa với hai người Cố Cửu.

Cố Cửu hỏi Ôn Minh Viễn: “Hình như thiếu phu nhân rất thích màu đỏ?”
Hôm nay Tiết Vĩnh Hân vẫn mặc đồ màu đỏ, da dẻ cô trắng trẻo hồng hào nên không kén màu, khuôn mặt cô vốn đã xinh đẹp, mặc màu đỏ càng tăng thêm vẻ sang quý.

Ôn Minh Viên cười cười, đáp: “Đúng vậy, người bình thường mặc màu đỏ thường bị dìm dáng nhưng Vĩnh Hân mặc vào thì lại rất đẹp nên cô ấy chuộng màu đỏ lắm.”
Cố Cửu nói: “Chẳng lẽ cô ấy không thấy nóng sao?”
Ôn Minh Viễn hơi ngơ ngác nhìn Cố Cửu.

Cố Cửu thấy y không rõ bèn giải thích: “Màu đỏ trong ngũ hành thuộc hỏa, hỏa mang theo hơi nóng.

Hôm nay nắng to, thêm nữa theo tử vi thì ngày hôm nay cũng thuộc hành hỏa, mặc như vậy chẳng khác nào nóng càng thêm nóng.”
Người bình thường nếu gặp phải tình huống thế này đã thấy nóng nực hơn bình thường rồi chứ đừng nói Tiết Vĩnh Hân cực kì sợ nóng.

Hơn nữa khi nhìn vào màu đỏ người ta cũng thường nghĩ ngay đến những thứ nóng bỏng, mãnh liệt, nếu cậu là Tiết Vĩnh Hân chắc chắn cậu sẽ không bao giờ chọn màu đỏ để mặc mà sẽ chọn những màu thiên lạnh.
“Thật sao?” Ôn Minh Viễn ngẩn người, Cố Cửu nhìn qua ánh mắt của y là biết y chỉ ngạc nhiên chút thôi chứ không hoàn toàn tin vào cách nói theo huyền học này.
Miếu Thái Tuế mà nhóm người Cố Cửu đi nằm ở vùng lân cận, trong miếu ngoại trừ 60 giáp thần ra còn thờ phụng Đẩu Mẫu Nguyên Quân nữa.

Theo dân gian thì cứ 60 năm thành một chu kì, trong đó mỗi năm đều có một vị đương cai Thái Tuế, như vậy có tổng cộng 60 vị Thái Tuế Tinh Quân, tất cả các vị này đều do Đẩu Mẫu Nguyên Quân cai quản, bọn họ thay phiên nhau đến nhân gian trị an, xem xét thiện ác, quản lý phúc họa.
Sau khi đến miếu Thái Tuế, Cố Cửu xuống xe, cậu nghe thấy Tiết Vĩnh Hân vẫn luôn miệng than nóng, nha hoàn Hồng Nhi bên cạnh cầm quạt quạt cho cô từ đầu tới cuối nhưng vẫn không có tác dụng gì.

Tiết Vĩnh Hân đang hối thúc một nha hoàn khác tìm thêm quạt.
Tiết phu nhân bước qua nắm tay con gái xem thử: “Thực sự nóng như vậy sao? Mẹ thấy tay con lạnh thế này cơ mà.”
Tiết Vĩnh Hân bực bội né tay mẹ mình ra: “Mẹ, con thật sự thật sự rất nóng luôn.

Mẹ đừng có chạm vào con, tay mẹ nóng muốn chết.”
“Được rồi được rồi, không chạm thì không chạm.” Tiết phu nhân ôn hòa nói, giục cô nhanh vào trong miếu.
Cố Cửu nhìn thoáng qua Tiết Vĩnh Hân thấy trên mặt cô không hề đổ mồ hôi, cảm thấy kì lạ.

Những người trong huyền môn như bọn họ mỗi khi thấy điều gì bất thường đều sẽ quan sát kĩ một chút.
Cố Cửu và Thiệu Dật đi trước nhóm người kia một khoảng, Cố Cửu thấp giọng hỏi: “Sư huynh, huynh cảm thấy Tiết Vĩnh Hân chỉ đơn giản là phạm Thái Tuế thôi sao?”
Thiệu Dật lắc đầu: “Không giống.”
Cố Cửu nói: “Đệ cũng thấy vậy, nhìn cô ấy kiểu gì cũng thấy giống huynh.”
Khi Kim Canh trong cơ thể của Thiệu Dật ngoại trừ làm hắn đau đớn như cắt ra còn khiến hắn rất sợ nóng.

Loại nóng này không phải do thời tiết nên sẽ không thể hiện ra ngoài da thịt, ví dụ như vào mùa đông Thiệu Dật vẫn thấy nóng trong người nhưng hắn sẽ không ra mồ hôi vì nhiệt độ ngoài trời rất lạnh, đến mùa hè thì mới đổ mồ hôi, mà có ra mồ hôi cũng không phải vì khí Kim Canh mà vì nhiệt độ thực tế tăng lên.
Từ lúc gặp nhau đến giờ, bọn họ phát hiện ra ngoại trừ việc sợ nóng và thích mặc quần áo đỏ ra thì Tiết Vĩnh Hân không khác gì người bình thường.

Nhưng bây giờ cô sợ nóng trầm trọng đến mức liên tục kêu than, lại còn đòi thêm quạt, chứng tỏ cô đã sắp hết chịu nổi.

Nếu là người bình thường thì đã sớm đổ mồ hôi đầm đìa, nhưng kì lạ là bây giờ trên người cô chẳng có một giọt mồ hôi nào.

Cứ cho là có người thể chất lạ, bị nóng nhưng không ra nhiều mồ hôi đi, nhưng mà sắc mặt Tiết Vĩnh Hân vẫn bình thường, không hề bị sốt, đỏ lên hay xuất hiện bất kì hiện tượng sinh lý nào khác thì thật quá kì quái.
Tạm thời để vấn đề đó sang một bên, khi vào trong khuôn viên của miếu, Cố Cửu bảo nhóm người Tiết Vĩnh Hân chọn mua lễ vật bái Thái Tuế đã rồi hẵng vào.
Trong miếu có bày mấy gian hàng bán đồ cúng, Cố Cửu đề nghị Tiết Vĩnh Hân mua áo Thái Tuế, cậu cẩn thận mở ra kiểm tra thấy bên trong có để sẵn tiền Thái Tuế rồi mới bỏ tiền mua.

Phàm là người phạm Thái Tuế sẽ hay gặp xui xẻo, cho nên Cố Cửu lại mua một túi phúc đổi vận.

Sau đó, cậu thấy người ta có bán cả một bộ nhϊếp Thái Tuế bèn hỏi Tiết phu nhân xem có muốn để Tiết Vĩnh Hân nhϊếp Thái Tuế không, cách này còn tốt hơn cả kính Thái Tuế trong nhà nữa.

Tiết Vĩnh Hân vừa định há miệng bảo không cần thì Tiết phu nhân đã nhanh nhẹn gật đầu đồng ý rồi.

Cô nàng thấy vậy liền căm giận trừng mắt liếc Cố Cửu một cái.

Cố Cửu không hơn thua với cô làm gì, kêu cô mua một bộ nhϊếp Thái Tuế gồm có áo Bình An , bùa Bách Giải, bùa Viên Lộc Mã và Trường Lộc Mã.
Áo Bình An là trang phục bình an, ý như câu chữ, cầu bình bình an an, bùa Bách Giải là bùa giúp giải trừ các tai nạn bất ngờ, còn bùa Viên Lộc Mã và Trường Lộc Mã là hai loại bùa cầu tài.

Lộc ở đây là lộc trong bổng lộc hay phúc lộc, mã tức ngựa là phương tiện chuyên chở người quyền quý khi ra đường.

Lộc Mã còn là thuật ngữ trong tử vi tướng học, ghép từ hai chòm sao Lộc Tồn và Thiên Mã, đại diện cho người có số mệnh tốt đẹp, cũng có ý chỉ đời người được phúc lộc dư đầy.
Bùa Viên Lộc Mã hình tròn, đại diện cho tám hướng, ý muốn kêu gọi quý nhân từ khắp nơi đổ về, bùa dùng hai màu đỏ và xanh lá để vẽ, còn bùa Trường Lộc Mã hình chữ nhật, ý nói ngựa chạy đến từ phương xa, dùng để thúc đẩy tiền tài, danh vọng, địa vị, cũng dùng màu đỏ và xanh lá vẽ ra.

Hai loại bùa này kết hợp với nhau thì cho ra hiệu quả càng tốt hơn.

Sau khi mua đủ hết đồ cần thiết, Cố Cửu lấy chiếc bút vẽ bùa chuyên dụng của mình ra đưa cho Tiết Vĩnh Hân, kêu cô viết tên và bát tự của mình lên áo Thái Tuế để Thái Tuế biết được cô là ai.
Tiết Vĩnh Hân không kiên nhẫn làm mấy chuyện này, cũng là nhờ có Tiết phu nhân đứng bên cạnh nhắc nhở chằm chặp nên mới ngoan ngoãn viết.

Đợi cô viết xong, Cố Cửu dạy Tiết Vĩnh Hân niệm mấy câu rồi dẫn bọn họ vào chính điện của miếu.

Cậu bắt cô bái Đẩu Mẫu Nguyên Quân trước rồi đi bái đến đương cai Thái Tuế.

Thái Tuế của năm Canh Tí là Lư Bí đại tướng quân, mặt trông giống chuột, một tay cầm đao.
Tiết Vĩnh Hân vốn chỉ định làm quấy quá cho xong, nhưng đột nhiên lúc quỳ xuống bồ đoàn trước tượng Lư Bí đại tướng quân lại nghiêm chỉnh hẳn.

Cô khẽ niệm câu Cố Cửu vừa mới dạy mình: “Lư Bí đại tướng quân, tín nữ Tiết Vĩnh Hân, năm nay bản mệnh phạm sát tinh, hiện thành tâm cầu khẩn với Thái Tuế tiên sư…”
Niệm xong, Tiết Vĩnh Hân đàng hoàng bái Thái Tuế rồi cắm nhang vào lư hương.

Tiếp theo, Cố Cữu dẫn cô đi bái Thái Tuế bản mệnh của mình.

Tục ngữ nói “vào phòng gọi người, vào miếu bái thần”, tuy rằng lần này Tiết Vĩnh Hân chỉ cầu hai vị Thái Tuế Tinh Quân nhưng đã đến gặp rồi thì không lý nào lại bỏ qua 58 vị còn lại trong điện.

Vì thế, Tiết Vĩnh Hân bị bắt bái đủ 58 vị Thái Tuế, quỳ lạy đến mức đầu óc choáng váng hết cả.

Cô vốn không tin quỷ thần, nhiều lần muốn bùng nổ nhưng bị mẹ mình trấn áp, không thể không uất ức ráng làm nốt cho xong.
Đến khi bái xong vị Thái Tuế cuối cùng, Tiết Vĩnh Hân phát hiện nhang cô cầm theo vẫn còn nhiều.
“Làm sao bây giờ?” Tiết phu nhân hơi lo lắng nhìn về phía Cố Cửu.
Cố Cửu nói đơn giản: “Dâng cho Đẩu Mẫu Nguyên Quân.”
Tiết Vĩnh Hân lại quay lại chỗ tượng Đẩu Mẫu Nguyên Quân, bái ba lần nữa rồi cắm tất cả nhang còn dư lại vào lư hương trên bàn thờ.
Rốt cuộc cũng xong xuôi, Tiết Vĩnh Hân thở ra một hơi thật dài, nhưng mà Cố Cửu tỏ ý là còn chưa xong đâu, đây chỉ là bước đầu tiên.

Cậu hỏi bộ nhϊếp Thái Tuế mà bọn họ đã mua đâu, cần phải lấy ra đốt.

Họ đi đến lò đốt trong miếu, châm lửa đốt hết tất cả bùa chú.

Đốt bùa cũng phải có quy tắc, cái nào trước cái nào sau đều phải theo thứ tự cả, không được đốt lung tung.
Tận đến khi bùa đã cháy hết, Cố Cửu mới moi đồng tiền Thái Tuế được đặt sẵn trong áo giấy ra cất vào túi phúc đổi vận đưa cho Tiết Vĩnh Hân, dặn cô phải luôn đeo nó bên mình.

Đến đây, chuyến đi hôm nay cũng xem như là hoàn thành tốt đẹp.
“Hết chưa vậy?” Tiết Vĩnh Hân tức giận hỏi Cố Cửu.
Cố Cửu cười nói: “Đã hết rồi.”
“Tôi về đây.” Tiết Vĩnh Hân buông một câu gọn lỏn rồi quay đầu bỏ đi, chẳng thèm đợi ai, Ôn Minh Viễn cười ái ngại rồi vội đuổi theo.
“Em đi chậm thôi, cẩn thận em bé chứ.”
Tiết Vĩnh Hân thở phì phò, oán trách: “Em bé, em bé! Tôi bị bọn họ sai tới sai lui quay mòng mòng mà chẳng thấy anh hỏi han một câu, vừa mở miệng ra là em bé.

Em bé quan trọng hay tôi quan trọng!?”
Tiết Vĩnh Hân lớn tiếng chất vấn Ôn Minh Viễn, Ôn Minh Viên vươn tay muốn đỡ cô cũng bị gạt ra.
Tiết phu nhân cả giận nói: “Con bé này, sao lại ăn nói như thế với chồng hả?”
Cố Cửu và Thiệu Dật làm bộ như chẳng thấy gì, chậm rãi đi cuối cùng.

Lúc bọn họ ra đến chỗ xe ngựa thì thấy chỉ còn lại một chiếc, Tiết Vĩnh Hân đã đi trước rồi, tính tình thật nóng nảy, ngay cả mẹ mình cũng không đợi.

Tiết phu nhân không còn hơi sức đâu mà giận nữa, chỉ đành ngồi chung xe với Cố Cửu, cũng may bà đã bốn năm chục tuổi, còn có nha hoàn và tùy tùng đi theo nên cùng đi một xe với hai người đàn ông lạ cũng không có vấn đề gì.
Lúc ở trên xe, Cố Cửu hỏi bà: “Mạn phép hỏi phu nhân từ nhỏ tính cách của lệnh ái đã như vậy sao?”
Tiết phu nhân ngượng ngùng, lắc đầu: “Không phải.

Trước kia tuy Hân Hân cũng cư xử tùy hứng nhưng tốt hơn bây giờ nhiều lắm, không có làm người ta…” Hai chữ “ghét bỏ” này bà không nói nên lời.

“Hồi đó tuy rằng nó ăn nói vụng về nhưng tính tình rất dễ chịu, không hở chút là nổi nóng, cũng không để bụng ai bao giờ.

Có thể là vì nó ở với Minh Viễn lâu ngày nên thế, Minh Viễn còn chiều chuộng nó hơn cả nhà tôi, cứ nuông chiều mãi như thế thành ra nó càng ngày càng quá quắt.

Hơn nữa nó đang có thai nên nhiều khi tâm trạng không được tốt, mới có bộ dạng như bây giờ.”
Cố Cửu nói: “Lệnh ái năm nay phạm Thái Tuế, nhưng bây giờ đã hơn nửa năm rồi, trước đó cô ấy có biểu hiện gì bất thường không?”
Tiết phu nhân không suy nghĩ lâu, gần như nói ngay lập tức: “Không có, tháng trước thầy thuốc mới chẩn ra là nó có thai, trước khi mang thai nó không phải như vậy, từ sau khi có em bé mới thay đổi tính tình.”
Bị Cố Cửu hỏi như vậy Tiết phu nhân mới để ý, nếu như nói là do phạm Thái Tuế thì chắc hẳn phải bị ảnh hưởng suốt một năm mới đúng, tại sao lại đến gần cuối năm mới bị?
Cố Cửu lại hỏi: “Nếu lệnh ái không giỏi ăn nói có lẽ cô ấy cũng từng gây xích mích với không ít người phải không?”
Tiết phu nhân lại ngượng ngùng gật đầu: “Cậu cũng thấy cái miệng của nó rồi đó, nói năng bộp chộp kiểu đó còn ai muốn chơi thân với nó nữa? Gia cảnh nhà chúng tôi cũng khá, những người hay lui tới cũng đều là nhà giàu sang phú quý cả, ai ai cũng được nâng niu từ tấm bé, có ai lại muốn nín nhịn nó chứ.”
“Cô ấy có mâu thuẫn nghiêm trọng với ai không?”
Tiết phu nhân cũng không chắc chắn lắm, nói: “Có lẽ là không.

Con gái tôi vừa mở miệng nói vài câu thì đã chẳng có ai muốn nói chuyện với nó nữa thì làm gì có cơ hội mà kết thù sâu.”
Nói tới nói lui khiến người mẹ này cảm thấy thật bất lực, có một đứa con gái như vậy bà biết phải làm sao bây giờ, đầu óc thì không linh hoạt, lại còn có bản lĩnh làm người khác tức chết.
“Vậy lệnh ái có bạn thân không?” Cố Cửu hỏi tới cùng.
Tiết phu nhân đáp: “Nói là bạn cũng không phải, nó chỉ hay chơi với một đứa em cô cậu.

Cậu cũng từng gặp con bé đó rồi, nó tên là Yến Như.

Nó là đứa duy nhất chịu lui tới với Hân Hân.”.
 
Back
Top Bottom