Huyền Huyễn Linh Dị Âm Dương

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Linh Dị Âm Dương
Chương 21: 21: Kết Thúc


Cố Cửu cảm thấy lúc này mình như đang bay lơ lửng, bồng bềnh trong đám mây, vô cùng buồn ngủ, nhưng cũng lại cực kì tỉnh táo.
Sau khi bóng tối qua đi, Cố Cửu bắt đầu thấy được vài hình ảnh mơ hồ.

Nhóc tựa hồ đang trải qua một giấc mơ, là giấc mơ về quá khứ của Lan Nguyệt.
Lan Nguyệt là một vũ cơ, cô gặp được Hách Chấn Văn ở lầu xanh.

Hách Chấn Văn vì điệu múa tuyệt trần của Lan Nguyệt mà si mê cô, còn Lan Nguyệt thì bị vẻ hào hoa của hắn ta che mắt.

Không lâu sau, Hách Chấn Văn thi rớt nên rời kinh trở về quê nhà, hắn ta muốn Lan Nguyệt đi theo mình bèn hứa hẹn sau khi về sẽ cưới cô làm vợ.

Thế là Lan Nguyệt tin tưởng hắn, gom góp tiền mình dành dụm được bao nhiêu năm qua tự chuộc thân, đổi tên thành Tú Nương, khăn gói theo tình lang về quê, rồi gả cho hắn làm vợ.
Những việc tiếp theo không khác gì với câu chuyện hai cha con lén cúng tế bên bờ sông kể lại.

Lan Nguyệt không hòa nhập được với môi trường xung quanh, nhất cử nhất động đều bị rình mò soi mói.

Lúc trong thôn nổi lên lời đồn ác ý, cuộc sống của cô càng tệ hơn, ai nấy đều nhìn cô với vẻ khinh khi, dè bỉu.

Ngay cả Hách Chấn Văn, người đã từng cùng cô thề non hẹn biển, cùng giường chung gối cũng bắt đầu thay đổi thái độ.
Mẹ chồng hở một chút là tìm cớ đay nghiến, chì chiết cô, chị em dâu đứng một bên thêm dầu vào lửa, thậm chí hai gã anh trai của Hách Chấn Văn cũng thỉnh thoảng giở trò lưu manh đùa bỡn cô.

Lan Nguyệt không phải chưa từng cầu cứu Hách Chấn Văn, nhưng chỉ nhận lại được sự ngờ vực vô căn cứ của hắn ta.

Hắn ta bắt cô vứt hết những đồ đạc đã từng dùng khi còn ở chốn yên hoa ngày xưa, quá quắt hơn, hắn còn ép cô đốt hết quần áo, kể cả vũ phục mà cô yêu quý, không cho cô nhảy múa nữa.
Lan Nguyệt vô cùng đau khổ, ngay lúc cô cho rằng mình đã rơi vào bước đường cùng rồi, không thể thảm hơn được nữa, thì chuyện tồi tệ hơn đã xảy ra.
Thu Dung, người luôn yêu thầm Hách Chấn Văn và mẹ chồng của cô cùng nhau bày mưu đặt kế hãm hại Lan Nguyệt.

Bọn họ vu vạ cho cô ăn nằm với người khác.

Hai người xé nát quần áo của cô, thô bạo lôi xềnh xệch cô ra ngoài cho mọi người sỉ nhục.

Tất cả mọi người đều không tin cô, không có ai giúp được cô.
Lúc Lan Nguyệt từ từ chìm xuống nước, xuyên qua đám đông, cô thấy được bóng dáng của Hách Chấn Văn trở về, tuy rằng ngược sáng, nhưng cô vẫn nhận ra hắn.

Lan Nguyệt dùng hết hơi tàn mà khóc cầu, van xin hắn cứu mình.

Nhưng mà Tam Lang của cô, tuy rằng lệ rơi đầy mặt, lại nấp trong một góc khuất, không hề mảy may có ý định bước lên cứu cô.

Cho đến khi Lan Nguyệt mất hút dưới làn nước sâu, hắn cũng không hề mở miệng nói một tiếng nào.
Lan Nguyệt chết.

Xác chết của cô bị kẹt trong lồng heo chìm dưới sông lạnh lẽo, linh hồn của cô cũng bị giam cầm dưới nước ngày này qua tháng nọ.

Lúc Hách Chấn Văn quỳ gối khóc lóc ỉ ôi, Lan Nguyệt tận mắt nhìn thấy được vẻ mặt nhẹ nhàng vì được giải thoát của hắn ta.
Lan Nguyệt hận vô cùng, cô không cam lòng, cô chỉ biết ôm mãi nỗi đau ngày ngày khóc hết nước mắt, nhưng cô là quỷ nước nên không có cách nào lên bờ được.

Cô chỉ có thể trơ mắt nhìn Hách Chấn Văn và Thu Dung thành vợ chồng, nhìn bọn họ ngang nhiên chiếm lấy những đồng tiền cô vất vả tích cóp nhiều năm mà mua đất đai, làm ăn buôn bán, càng ngày càng giàu có sung túc.
Kể từ khi đó, Lan Nguyệt muốn mình mạnh lên, mạnh lên mới có thể trở về báo thù.

Cô đi khắp nơi, đi dọc theo dòng sông này, gần như nuốt sạch tất cả quỷ nước trên sông để điên cuồng gia tăng công lực.

Bỗng một ngày kia, có một người đội nón rộng vành* tìm đến cô, hắn hỏi cô có muốn báo thù không.
Sau đó, Lan Nguyệt theo chỉ thị của người nọ bay đến khúc sông ngoài thôn Vương Tiểu Điệp đang ở, chờ cô gái trẻ nhảy sông thì cứu lên rồi kí khế ước quỷ, mục đích chính là muốn lợi dụng bào thai trong bụng Vương Tiểu Điệp làm vật dẫn, khởi động trận pháp nơi nhà họ Hách.
Đây cũng là lý do giải đáp cho thắc mắc của Cố Cửu, vì sao Lan Nguyệt vốn có thể khiến cho Vương Tiểu Điệp làm kẻ chết thay cho mình nhưng lại phức tạp hóa vấn đề đi kí khế ước quỷ, làm cho năng lực của mình bị giới hạn.
Kế hoạch này vốn hoàn mĩ, chỉ có một biến số chính là ba thầy trò Cố Cửu tình cờ đi ngang qua chỗ này, nhìn thấu được thân phận của Lan Nguyệt.

Mà thật ra Lan Nguyệt không phải hoàn toàn mất đi kí ức, cô ta chỉ là quá chấp nhất với quá khứ của mình.

Cô không cam tâm, rõ ràng ban đầu mọi việc tốt đẹp là thế, tại sao cuối cùng lại đi đến một kết cục thê thảm như vậy?
Cô ta mời nhóm Cố Cửu ở lại uống rượu mừng, rồi lại lừa họ đi tìm hài cốt cho mình chỉ vì kéo dài thời gian mà thôi.

Cô ta muốn chờ đến đúng ngày giỗ của mình hôm nay ăn luôn Cố Cửu để bồi bổ thân thể, tăng cường sức mạnh cho trận pháp, tra tấn người nhà họ Hách và người trong thôn.

Chẳng qua sau cùng Lan Nguyệt phát hiện ăn Thiệu Dật càng có lợi hơn ăn Cố Cửu nên mới đột ngột thay đổi quyết định.
Đương nhiên, cô ta thất bại.
Mà người đội mũ rộng vành kia chỉ có một bóng dáng lờ mờ, Cố Cửu không nhìn thấy được mặt mũi của hắn ta, đại khái đoán được là một người đàn ông.
Cố Cửu còn đang tiếc nuối vì không thấy được diện mạo của kẻ chủ mưu thì chợt cảm thấy thân thể mình đang rung lắc dữ dội, đầu óc của nhóc như bị hút ra khỏi khung cảnh trong mộng, bên tai bắt đầu vang lên tiếng ồn ào.
“Cố Cửu?”
Cố Cửu mở mắt ra, ngay lập tức đối diện với một khuôn mặt máu me nhầy nhụa loang lổ như mặt mèo hoa.

Nhóc ngẩn người trong chốc lát, sau khi định thần lại mới nhận ra đây là Thiệu Dật.

Thiệu Dật ôm Cố Cửu trong lòng, lần đầu tiên trên khuôn mặt luôn cáu kỉnh bực bội của cậu lộ ra vẻ lo lắng.

Cậu nhìn Cố Cửu còn đang ngơ ngác trong tay mình: “Cậu thế nào rồi? Có sao không?”
Cố Cửu vừa định nói đệ không sao cả thì trong chớp mắt, hơi lạnh buốt giá thấu xương quét qua người nhóc, cứ như vừa rơi xuống hồ nước trong ngày mùa đông vậy.
“Sao…sao…” Lạnh quá vầy nè!
Cố Cửu há miệng th* d*c, vì quá lạnh nên không nói nổi một câu cho hoàn chỉnh.

Cố Cửu nghĩ máu trong cơ thể mình cũng đông thành đá hết rồi, toàn thân không hề có một chút cảm giác nào hết.
Thiệu Dật ôm chặt Cố Cửu hơn, lấy đôi tay còn vương vết máu áp lên mặt Cố Cửu, nhíu mày càm ràm: “Cậu bị ngu hay sao đó? Sao mà cái gì cũng dám ăn vậy hả?”
Cố Cửu nghe vậy lập tức nhớ ra cảnh tượng mình túm chặt lấy Lan Nguyệt cắn nuốt, nhăn nhó như khỉ ăn ớt.

Dù Lan Nguyệt bây giờ có là quỷ đi chăng nữa thì lúc còn sống cũng là người thật đàng hoàng, cái này có khác gì ăn thịt người đâu chớ.

Nghĩ tới đó, Cố Cửu nhịn không được nôn khan, vẻ mặt kinh tởm.
Thiệu Dật hừ một tiếng: “Ta thấy lúc nãy cậu còn ăn rất vui cơ mà.” Rõ ràng đầu óc đã không còn tỉnh táo nữa, vậy mà không biết lấy đâu ra sức lực, cả hai người cùng hợp sức lại kéo ra mà kéo muốn không nổi.
Thiệu Dật đưa cổ tay còn đang rỉ máu của mình kề sát miệng Cố Cửu: “Há miệng.”
Cố Cửu run lẩy bẩy rụt người lại, dùng ánh mắt dò hỏi: Làm gì ạ?
Thiệu Dật không thèm nhiều lời, tóm lấy cằm Cố Cửu bắt nhóc há miệng ra, nhỏ vài giọt máu trên tay mình vào, lạnh lùng nói: “Ta sợ cậu lạnh tới chết luôn.”
Cố Cửu bây giờ làm gì còn sức mà giãy ra, đầu lưỡi tê cứng nhấm nháp được vị máu như vị sắt gỉ.

Ngay tức khắc, một luồng nhiệt nóng rực theo giọt máu trượt xuống cổ họng rồi lan ra khắp toàn thân nhóc.

Cái lạnh trong thân thể bị xua đi bớt, tay chân liền có cảm giác trở lại.

Cố Cửu kinh ngạc nhìn Thiệu Dật, thì ra máu của sư huynh còn có công dụng này nữa hả.
Nhưng mà đó chỉ là biện pháp tạm thời thôi, được một lát, cái lạnh lại bắt đầu thay thế cho sự ấm áp, Cố Cửu tiếp tục run rẩy không ngớt.
Bỗng, Phương Bắc Minh không biết từ đâu xách kiếm đi tới, thúc giục Thiệu Dật: “Ôm sư đệ con qua đi.”
Cố Cửu lạnh như tượng băng nằm gọn lỏn trong lòng Thiệu Dật, được người ta ôm qua bên kia.

Ở chỗ đó có vẽ một trận pháp bằng chu sa đỏ tươi, Cố Cửu được đặt nằm thẳng thớm ngay ngắn bên trong.

Vừa tiến vào trận pháp, nhóc đã cảm thấy hơi nóng phả vào mặt, suиɠ sướиɠ đến mức phải rên hừ một tiếng.
Thiệu Dật đặt Cố Cửu nằm xuống rồi lui ra ngoài.

Phương Bắc Minh lấy thuốc trị thương ra, hai thầy trò ngồi xuống ngay bên cạnh chỗ Cố Cửu, Thiệu Dật cởϊ áσ để Phương Bắc Minh bôi thuốc cho mình.

Lúc nhìn sang, thân thể Cố Cửu cứng đờ, trên người Thiệu Dật không đếm xuể có bao nhiêu vết thương to nhỏ, quần áo rơi lả tả trên mặt đất bị máu nhuộm đỏ, thật sự là thảm đến nỗi không nỡ nhìn.
Cố Cửu đau lòng hỏi: “Sư huynh, có đau lắm không?”
Thiệu Dật trừng mắt: “Cậu nói xem?”
Cố Cửu: “…” Giao tiếp thất bại.
Phương Bắc Minh bắt đầu cằn nhằn lải nhải: “Hai đứa các con không có đứa nào để ta bớt lo hết.

Dật Nhi, nếu không phải Tiểu Cửu bị chộp qua thì có phải con định phóng sát khí để đánh tan Lan Nguyệt không hả? Một khi sát khí bị dẫn ra con có nắm chắc mình sẽ khống chế được hay không? Còn con nữa Tiểu Cửu, lệ quỷ mà muốn ăn là ăn sao? Hôm nay nếu không phải có sư huynh con ở đây thì con đã bị đông cứng đến mất mạng rồi.

Con tự nhìn con bây giờ đi, cả người bị âm khí bao phủ hết, sư phụ với sư huynh con sắp không nhìn thấy con đâu nữa rồi.”
Trên người Cố Cửu vốn đã có âm khí dày đặc, là miếng mồi ngon của quỷ.

Sau khi gặp được Phương Bắc Minh, sư phụ cho nhóc đeo một lá bùa giúp cho quỷ quái gặp được cũng phải kiêng dè đôi ba phần.

Bây giờ ăn Lan Nguyệt xong nên âm khí trong cơ thể nhóc càng mạnh hơn lúc trước, nhóc rũ mắt nhìn thử thì thấy bàn tay của mình đâu mất tiêu, thay vào đó là một cục đen đen không rõ hình thù, hẳn là cả người nhóc bây giờ cũng đen thùi lùi như vầy.
Tuy Cố Cửu suýt chết nhưng nhóc không cảm thấy sợ hãi lắm.

Nhóc nằm bẹp một chỗ nói với Phương Bắc Minh: “Sư phụ, bây giờ con mới phát hiện thì ra mấy con quỷ đó cũng không còn đáng sợ mấy.

Ngay cả Lan Nguyệt con còn ăn được, sau này mà gặp phải ác quỷ muốn ăn con nữa thì con liền…”
“Còn dám ăn hử?” Phương Bắc Minh và Thiệu Dật đồng thanh ngắt lời Cố Cửu.
Cố Cửu ngay lập tức co đầu rụt cổ: “Không…không phải, con sẽ…xé xác bọn chúng.”
“Vầy nghe còn được.” Phương Bắc Minh nói.
Thiệu Dật thì lại hừ một tiếng.
Nằm trong chốc lát, Cố Cửu cảm giác mình đã khá hơn một chút, tay chân đã có thể cử động lại.

Nhóc xoay người bò dậy, vừa lúc nhìn thấy những dấu ấn của trận pháp trên mặt đất, nhóc nghi ngờ nhíu mày, cúi sát xuống quan sát thật kĩ: “Sư phụ, hình như cái này đâu phải là chu sa đâu?” Nhìn gần thì có vẻ rất giống với máu người.
Phương Bắc Minh thản nhiên trả lời: “Chu sa không trấn được âm khí trên người của con nữa, đó là máu của sư huynh con đó.

Vừa đúng lúc hôm nay nó chảy nhiều máu như vậy, để không không dùng cũng phí.”
Cố Cửu: “…”
Thì ra sư phụ cần kiệm quản gia cũng đáng sợ không kém sư phụ phá của.
Thiệu Dật đang mặc lại quần áo, hôm nay cậu mất máu quá nhiều, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy, nhìn cũng chật vật đáng thương không kém gì Cố Cửu.

Sư huynh sư đệ người ngồi trong trận người ngồi ngoài trận cùng nhìn sư phụ thanh lý dọn dẹp bãi chiến trường.
Lớp màn tơ hồng Cố Cửu đan vẫn còn, những người còn sống sót bên nhà họ Hách đã lục tục tỉnh lại.

Bọn họ ít nhiều đều bị quỷ hồn làm bị thương, trong đó Thu Dung và mẹ của Hách Chấn Văn là bị thương nặng nhất.
Thu Dung bị Hách Chấn Văn g*m c*n linh hồn, lại còn bị Lan Nguyệt thả trùng Oán Quỷ lên mặt.

Loại trùng này là do oán khí ngưng tụ mà thành, giống như cổ trùng vậy, kí chủ chưa chết thì chúng nó cũng không bị mất đi, nhưng thật ra trong huyền môn cũng có cách để giải quyết.

Mẹ của Hách Chấn Văn gặp phải quỷ quái, lại tận mắt chứng kiến con trai mình bị Lan Nguyệt bẻ gãy cổ, sau đó còn bị một đám quỷ bao vây tấn công.

Bà ta tuổi đã cao chịu không nổi kíƈɦ ŧɦíƈɦ, bây giờ dù tỉnh lại thì cũng đã trở nên điên điên khùng khùng, ôm đầu rúc trong một góc liên tục khóc lóc kêu la.
Lan Nguyệt và phân nửa Hách Chấn Văn bị ném vào một xó bên cạnh, Phương Bắc Minh đã dùng Tỏa Hồn Liên trói cả hai lại.

Mèo Tiểu Đệ và mấy nhóc người giấy cùng tụm lại ngay bên cạnh, đứa này cào một miếng, đứa kia móc một tí, y hệt như đang xé vải bông, bọn nhỏ hợp sức cật lực xé từng sợi từng sợi hồn của hai người bọn họ xuống.
Phương Bắc Minh thấy vậy thì bước qua, thu hồi người giấy lại rồi bế Tiểu Đệ lên: “Được rồi được rồi, mấy đứa còn cào nữa thì bọn họ mất tiêu luôn cho coi.”
Tiểu Đệ dường như còn chưa xả hết cơn giận, hùng hùng hổ hổ gầm gào vài tiếng với Lan Nguyệt, kẻ dám bắt nạt nhóc con của nó, rồi mới chạy lại nằm úp sấp bên người Cố Cửu.
Phương Bắc Minh lập đàn mời âm sai đến dẫn Lan Nguyệt và Hách Chấn Văn đi.

Xuống đến đó rồi ngồi tù hay là đi đầu thai thì sẽ có người thẩm tra rồi định đoạt cho bọn họ.

Lúc hai vị âm sai sắp đi còn quay đầu lại nhìn nhìn Cố Cửu, bọn họ thấy âm khí trên người nhóc nặng như vậy nên tưởng là quỷ định bắt đi luôn thể.

Cố Cửu quéo cả người, sợ tới mức núp sau lưng Thiệu Dật, Phương Bắc Minh phải giải thích rõ ràng đầu đuôi thì hai âm sai mới bỏ đi.
Tiếp đó, Phương Bắc Minh mới bắt tay vào phá Huyết Sát Âm Long trận.

Sau khi phá trận xong, Phương Bắc Minh cũng suy yếu mệt mỏi giống như lần trước.

Đến lúc này, người khỏe nhất lại thành Cố Cửu.
Náo loạn đến hơn nửa đêm, cuối cùng chỉ còn mấy thầy trò Cố Cửu, người này đỡ người kia dắt díu nhau rời khỏi nhà họ Hách.

Lúc ba người sắp đi ra đến cửa, Thu Dung vội bò đến gần ngăn họ lại, năn nỉ họ cứu mình.
Phương Bắc Minh không cảm xúc nói: “Gieo nhân nào, gặt quả nấy.

Năm đó lúc ngươi mưu tính hại mạng người khác thì nên sớm nghĩ đến kết cục ngày hôm nay.”
Phương Bắc Minh bắt quỷ giúp người nên chắc chắn sẽ bị nhiễm nhân quả thiện ác của người khác.

Nhưng bắt quỷ là việc thiện, tích công đức, cho nên có thể triệt tiêu ác nghiệp do bị quan hệ nhân quả ảnh hưởng.

Chính vì lẽ đó, người trong huyền môn chỉ cần không rơi vào đường ác thì sau khi chết sẽ không cần phải lo lắng mình gặp phải kết cục không may.

Bắt Lan Nguyệt là chuyện Phương Bắc Minh phải làm để cứu người, nhưng cứu kẻ mang ác nghiệp trên thân là Thu Dung mà làm tổn hại âm đức của mình thì Phương Bắc Minh sẽ không làm.
Số mệnh của bà ta đã sớm định rồi, y cũng chỉ thuận theo ý trời mà thôi.

Giống như lúc trước y nhìn thấy tướng mạo chết sớm vì gieo ác của Cố Dũng nên mới không ngăn lão đạo sĩ kia đẩy Cố Dũng cho quỷ ăn, ngày hôm nay, cái chết của Hách Chấn Văn cũng là như thế..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 22: 22: Dừng Chân


Ngoài cửa lớn nhà họ Hách lúc này đèn đuốc sáng trưng, người trong thôn đổ xô lại đây đứng lố nhố bên ngoài, nhìn thấy ba người Cố Cửu ra tới nơi liền nhất tề lui về phía sau một đoạn.
Ban đầu Lan Nguyệt có bố trí thủ thuật che mắt, giấu cả khuôn viên nhà họ Hách đi.

Sau khi cô ta bị Cố Cửu cắn cho ngáp ngáp thì không đủ năng lực để duy trì trận pháp nữa, thế là tiếng kêu gào khóc lóc thảm thiết của đám người nhà họ Hách rất nhanh truyền ra khắp thôn.

Các gia đình sống trong thôn đốt đuốc lên, cùng nhau kết thành từng nhóm mà đến đây, vừa chuẩn bị phá cửa xông vào thì thấy cửa lớn bật mở, một người thanh niên và hai đứa nhỏ khập khiễng dìu nhau bước ra.
“Các ngươi là ai?” Một lão già có vẻ là người cầm đầu trong đám người đó hung hăng lớn tiếng quát hỏi.
Phương Bắc Minh hỏi lại: “Còn ông là ai đó?”
Lão già đáp: “Ta là thôn trưởng thôn này.”
Nghe vậy, Cố Cửu và Thiệu Dật đồng loạt ngẩng đầu nhìn về phía người này, ánh mắt của hai đứa vô cùng vi diệu.
Phương Bắc Minh cũng dừng một chút, sau đó nói: “Tôi là đạo sĩ, hôm nay đến nhà họ Hách bắt quỷ.”
Vừa nghe đến quỷ, những người đứng xung quanh liền nháo nhào cả lên.
Lão già hừ lạnh: “Nói năng bậy bạ, phường lừa đảo như các ngươi ta từng gặp còn ít hay sao!”
Người vừa ngạo mạn vừa cố chấp như vậy muốn nói cho thông không phải là chuyện dễ.

Có thể thấy được lão ta từ nhỏ đã có tính tình hung bạo, những con quỷ nhỏ bình thường gặp phải lão ta có khi còn bị dọa ngược.

Hiện tại tay chân Phương Bắc Minh đang bủn rủn hết, còn dẫn theo hai đứa nhỏ nên cũng ngại không muốn làm căng, y móc ra một lá bùa, chà xát đầu ngón tay một cái rồi đốt, lửa bùng lên.
Quả nhiên đám người đang bao vây họ bị dọa kinh hãi, ngay cả lão thôn trưởng cũng phải lùi về phía sau một bước.
“Ngươi nói ngươi bắt quỷ, vậy bắt quỷ gì, quỷ ở đâu rồi?”
Phương Bắc Minh ném lá bùa đi: “Bắt một con quỷ tên là Tú Nương, hai mươi năm trước bị bôi nhọ rồi dìm chết oan.

Cô ta đã bị âm sai dắt đi rồi, người nhà họ Hách đang ở bên trong, đêm nay bọn họ được tận mắt nhìn thấy Tú Nương, nếu các người không tin thì vào hỏi thử là biết ngay.”
Vốn dĩ các thôn dân còn đang bán tín bán nghi, vừa nghe đến tên Tú Nương thì ai nấy đều hoảng sợ tột cùng.

Năm đó trong cái chết của Tú Nương tuy rằng đa số bọn họ đều không tự mình ra tay, nhưng bình thường bọn họ xúm lại cười nhạo, gieo tiếng xấu cho cô cũng không ít.

Nhiều người ở đây còn chưa quên hai mươi năm trước, lúc Tú Nương vừa mới mất, trong thôn cũng bị quấy phá một trận, cho đến khi một đạo sĩ chỉ cho dân trong thôn chặt cây liễu bên bờ nước đi thì mới yên chuyện.

Chẳng lẽ ngày hôm nay cô ta đã trở lại thật rồi sao?
Sắc mặt thôn trưởng thay đổi, chỉ vào mấy người thanh niên cường tráng, ra lệnh: “Mấy cậu này, vào xem xem thế nào.”
Mấy người bị điểm danh do dự chốc lát rồi mới đi vào, sau đó rất nhanh lại chạy ngược trở ra, vẻ sợ hãi trên mặt không giấu được, bọn họ còn đỡ theo vài người bị thương nhẹ còn đi lại được trong nhà.
Người nhà họ Hách bị Lan Nguyệt tìm tới tận nhà làm cho chết khϊếp, còn bị oán quỷ tấn công cắn xé, tiếng khóc thê thảm của bọn họ không thể nào là giả được.

Ai ai cũng la hét là Tú Nương trở về báo thù, Hách Chấn Văn bị cô ta gϊếŧ ngay tại chỗ, thậm chí cô ta còn nói muốn cả thôn này phải chôn cùng.

Bọn họ vừa khóc vừa rêи ɾỉ kể lể làm cho người dân trong thôn sợ hãi không thôi, đến khi biết được Lan Nguyệt đã bị đạo sĩ thu phục thì mới thả lỏng một chút.
Vẻ mặt dữ tợn của thôn trưởng vô cùng khó coi, vừa định mở miệng thì không ngờ vì không đề phòng mà bị một người đột ngột vọt ra từ trong nhà bám lấy.

Người này cấu chặt gương mặt của lão, cắn mạnh một cái.

Những người đứng xung quanh bị tình huống bất ngờ này dọa hết hồn, vội vã né ra xa, chỉ chừa lại một mình thôn trưởng đứng tại chỗ giãy giụa la hét.

Chờ đến khi lão ta chật vật kéo được người đó ra thì trên mặt đã bị cắn đứt một miếng thịt, máu nhỏ tong tong xuống đất.
Thôn trưởng bụm mặt, đau đến nỗi mặt nhăn mày nhíu, trông càng dữ tợn hơn.

Lão ta dữ dằn thò chân đá một cái thật mạnh lên người đang quỳ rạp trên mặt đất: “Thu Dung, bà bị điên rồi à!”
Trùng Oán Quỷ đang hoành hành dưới da thịt của Thu Dung, bà ta đau đớn tột độ, đầu óc không còn biết gì nữa, chỉ muốn làm gì đó để giảm bớt cơn đau.

Sau khi bị thôn trưởng đá một cái, bà ta vẫn như không cảm giác được mà tiếp tục bò lết sang bên cạnh, vươn tay muốn chộp lấy những người khác để cắn xé.
Đương nhiên mọi người tránh còn không kịp, không để bà ta đạt được ý đồ.
Cố Cửu nhìn thấy trong đám đông có cả hai cha con bái tế Lan Nguyệt bên bờ sông, nhóc liền nhờ hai người họ giúp đỡ, đem Vương Tiểu Điệp còn kẹt ở bên trong ra cứu chữa.
Đến lúc này hai người kia cũng đã biết ba thầy trò họ là đạo sĩ chứ không phải người thân đưa gả bên nhà họ Vương gì cả.

Chắc là ba người đã sớm nhận ra thân phận của Tú Nương nên mới theo đến đây.

Hai người lập tức đi vào khiêng Vương Tiểu Điệp ra, mọi người nhìn thấy cái lỗ thủng đầy máu me trên bụng cô đều kinh hoàng, run cầm cập.
Xe lừa của nhóm Cố Cửu vẫn còn cột ở bờ sông, người đàn ông trung niên dắt xe tới cho họ, nâng Vương Tiểu Điệp lên xe.

Xong xuôi đâu đó, ba người chuẩn bị đi khỏi đó ngay.
“Đạo trưởng, ngài khoan đi đã!”
Thôn trưởng còn định gọi người ngăn họ lại, nhưng Phương Bắc Minh đã vung roi lên quất một cái dọa người đang lăm le tiến đến.
“Tự làm bậy thì không ai cứu nổi.

Bần đạo chỉ bắt quỷ, không giúp kẻ ác tâm.”
Người kia bị ăn một roi không dám lại gần nữa, chỉ có thể trơ mắt đứng nhìn xe lừa dần dần biến mất trong bóng đêm.
Ba thầy trò ra đi gấp rút không dừng lại, trở về nhà họ Vương ngay trong đêm.
Hầu hết các đạo sĩ đều có biết y thuật, Phương Bắc Minh cũng không ngoại lệ.

Y là một thiên tài toàn năng điển hình, cái gì cũng có biết.

Thuốc y bào chế rất tốt, nhờ vậy tuy rằng trên bụng Vương Tiểu Điệp bị thọc ra một cái lỗ nhưng lúc mang được cô về đến nhà thì người vẫn còn thở thoi thóp, dù trước đó bị trì hoãn một hồi lâu, lại còn phải đi xe xóc nảy.
Khối máu thịt lẫn lộn bị Lan Nguyệt moi ra tuy còn nhỏ nhưng đã bắt đầu thành hình, Vương Tiểu Điệp phải mang thai ít nhất là đã ba tháng rồi, nhưng vì vóc người cô nhỏ nhắn nên nhìn không ra.

Bây giờ bọn Cố Cửu cũng đã biết, việc Vương Tiểu Điệp si mê Hách Nguyên Châu, thậm chí để có thai đều là bị người ta đặt bẫy.

Như vậy xem ra, Vương Tiểu Điệp thọ mệnh không dài không phải vì bị Lan Nguyệt bám vào người, mà là ứng với lần bị thương tổn nguy hiểm này.
Ban ngày hai vợ chồng nhà họ Vương vừa mới đưa con gái đi, lại chẳng ngờ đến nửa đêm lại đón con gái bất tỉnh nhân sự trở về.

Đợi đến khi hai người họ nghe Phương Bắc Minh kể rõ chân tướng sự việc thì vừa đau khổ vừa cảm tạ trời đất.

Phương Bắc Minh để lại cho Vương Tiểu Điệp mấy lọ thuốc trị thương, đủ để đảm bảo cô sống sót, còn việc dưỡng thương hồi phục thì đành phải dựa vào sự cố gắng cha mẹ của cô rồi.
Vương Tiểu Điệp bị Lan Nguyệt bám vào người đã lâu, hiện giờ thân thể rất yếu, dương khí trên người cũng ít đi, sau này dễ gặp phải quỷ quái.

Trước khi lên đường, Phương Bắc Minh bố trí lại phong thủy cho nhà họ Vương và để lại vài tấm bùa, giúp Vương Tiểu Điệp sau này bớt đi nỗi khổ bị quỷ hồn quấy nhiễu.
Tất cả những gì bọn họ có thể làm cũng chỉ đến thế mà thôi.
Nghỉ ngơi tạm đến khi trời sáng, Phương Bắc Minh lại khôi phục bộ dáng năng lượng đầy tràn, mặt mày của Thiệu Dật cũng đẹp lên một chút, lại quay về vẻ mặt bực bội ngày thường, nhất là bây giờ trên mặt cậu còn chằng chịt vết thương nên trông càng hung dữ hơn.

Cơ mà Cố Cửu đã không còn sợ Thiệu Dật từ lâu rồi, sư huynh của nhóc là kiểu người khẩu xà tâm Phật.

Trên đường trở về, Cố Cửu lôi cả hai cái áo bông của mình ra mặc, như vậy còn chưa đủ, nhóc vơ luôn hai cái của Thiệu Dật tròng lên người rồi dựa cả người vào cậu mới thấy bớt lạnh một tí.
Việc bị lạnh không những khiến cho Cố Cửu hành động bất tiện mà còn làm cho da thịt của nhóc bị nứt nẻ.

Mỗi ngày, trước khi đi ngủ và sau khi thức dậy, việc bắt buộc mà cả hai phải làm là huynh giúp đệ bôi thuốc nứt da, đệ giúp huynh bôi thuốc trầy da.

Hai cậu nhóc dùng hết veo đống thuốc trị thương Phương Bắc Minh bào chế để dành cho nửa năm.
Đi hết bốn năm ngày đường, cuối cùng ba người và một mèo cũng về đến đạo quan.
Đạo quan nằm giữa lưng chừng một ngọn núi nhỏ, dưới chân núi có vài hộ gia đình sinh sống, ai nấy đều quen biết phương Bắc Minh.

Họ thấy cả đoàn trở về thì lục tục đến chào hỏi, có người còn hỏi sao Thiệu Dật lại thành mèo hoa nữa rồi, chứng tỏ rằng trước kia cậu không ít lần bị thương thế này.
Trên tay Thiệu Dật được một bà cụ nhét cho hai cái trứng gà, bảo cậu đem về ăn để bồi bổ cơ thể.

Bà cụ nhìn sang thì thấy Cố Cửu nhồi mình thành một cái bánh ú đứng bên cạnh, sau khi biết được là đồ đệ Phương Bắc Minh mới nhận thì trìu mến nhìn khuôn mặt nhỏ nhắn lú ra dưới lớp bông của nhóc, cũng nhét cho nhóc hai cái trứng gà.
Còn có một người thanh niên tiến đến kể với Phương Bắc Minh là hôm qua nhà anh ta bị mất con gà, vừa hay nhờ y tính thử xem con gà mái đi lạc đó đang ở đâu, kẻo mất thì uổng.
Cố Cửu nghe được: “?” Còn có cái dịch vụ này nữa hả?
Phương Bắc Minh thì không hề lấy làm lạ, dường như đã tập thành thói quen, thoải mái nói: “Được rồi, tôi lên núi trước, lát nữa cậu cứ đem hai cái lông gà lên cho tôi xem.”
Các hộ gia đình sống dưới chân núi chỉ có khoảng mười hộ, nhưng vừa nghe tin Phương Bắc Minh trở về thì tất cả mọi người đều đến hỏi thăm, không những vậy còn không có ai đi tay không.

Nếu không phải biếu mấy cái trứng gà thì là tặng vài hũ dưa muối.

Đến khi lên đến nơi thì Cố Cửu nhận ra đồ ăn mấy ngày tới của họ đã đầy đủ rồi.
Cố Cửu còn đang cảm thán người dân nơi này thật nhiệt tình thì xe lừa đã dừng lại trước cửa đạo quan.
Đạo quan tên là Thái Nguyên.

Nhìn tổng thể thì đạo quan khá xập xệ, tổng cộng có hai lối vào.

Từ cửa lớn đi vào sẽ gặp một gian sảnh khá rộng, bên trong có đặt mấy cái lư hương hình chữ nhật miệng bằng (1) rất lớn.

Ngoại trừ chính điện thì còn có các điện thờ phụ, chính điện là Điện Tam Thanh, thờ ba vị tôn thần Tam Thanh (2), thần tối cao của Đạo giáo.

Điện thờ phía Đông là Điện Đẩu Mẫu, dùng để thờ cúng Đẩu Mẫu Nguyên Quân (3).

Tương truyền rằng chỉ cần thành tâm tụng niệm tên họ của bà thì bà sẽ luôn phù hộ cho con cháu trong nhà được khỏe mạnh, bình an trường thọ.

Còn lại điện thờ phía tây là điện thờ của Thái Sơn Lão Mẫu (4).

Bà là nữ thần cai quản thần binh phủ Đông Nhạc Thái Sơn (5), xem xét thiện ác chốn nhân gian.

Dân gian truyền nhau rằng Thái Sơn Lão Mẫu bình dị gần gũi, thích làm việc thiện, phàm có việc gì cầu đến bà chưa từng có chuyện bà không giúp đỡ, là một nữ thần được bình dân bá tánh tin tưởng và gần gũi.
Trên các bệ thờ đều có bày hoa quả dại, tuy rằng hơi héo nhưng nhìn vẫn còn khá mới, có thể thấy được thầy trò Phương Bắc Minh không ở đây nhưng ngày thường cũng có người coi sóc đạo quan.

Cố Cửu hỏi thì được biết chính là những người sống trong thôn dưới chân núi giúp họ quét tước trong ngoài.
Cố Cửu theo Phương Bắc Minh và Thiệu Dật đến thắp hương cho các vị tôn thần, sau đó mới đi vào sân sau xem thử.

Trong gian nhà phía sau có một loạt phòng chính và hai mươi mấy phòng nhỏ, nhà bếp và nhà xí đều có đầy đủ, ở một góc sân còn có một cái giếng, không thiếu thứ gì.

Đây sẽ là nơi ba người sinh hoạt mỗi ngày khi sống trong đạo quan.
Phòng của Cố Cửu ở ngay bên cạnh phòng Thiệu Dật, nhưng bây giờ nhóc làm gì dám ngủ một mình, chỉ sợ vừa nhắm mắt thì không có ngày mở mắt ra luôn, cho nên tạm thời hai người vẫn phải dính lấy nhau trong cùng một phòng.
Vừa về đến không lâu, người thanh niên mất gà đã đem theo hai cọng lông gà tìm được trong ổ lên cho Phương Bắc Minh.

Cố Cửu giật giật khóe miệng, nhìn sư phụ đốt hai cọng lông rồi tính toán một hồi, sau đó chỉ ra một phương hướng, bảo người kia đi theo hướng đó mà tìm.

Đến chạng vạng, người thanh niên nọ lại đi lên núi lần nữa, trong tay còn bê theo một cái rổ, nói mình tìm được gà rồi.

Nó bị rớt xuống mương không bơi lên được nên bị lạnh chết.

Anh ta thành thật kể xong thì mở nắp rổ ra, bên trong là một chén canh gà (6) lớn để nhiều thịt.
Người thanh niên nói: “Hai vị tiểu đạo trưởng trông có vẻ không được khỏe, cái này để cho mấy cậu ấy ăn lại sức.”
Phương Bắc Minh từ chối: “Vợ của cậu sắp sinh rồi đúng không, cái này để lại cho thím ấy ăn đi.”
Người thanh niên nọ cười hắc hắc nhìn Phương Bắc Minh, bộ dạng chất phác không giấu được đang có việc muốn nhờ.
Phương Bắc Minh hiểu ra ngay, thò tay vào ống tay áo lấy ra hai lá bùa đưa cho anh ta: “Cậu cầm đi, hôm nay trời lạnh, chú ý chăm sóc thím ấy cho cẩn thận.”
Người nọ dùng cả hai tay nhận lấy bùa, liên tục nói lời cảm tạ.

Anh ta nói mấy ngày nay vợ mình bị động thai, cho nên vài ngày nữa sẽ không lên, chén cứ để đó, nếu có người cùng thôn lên đây thì nhờ họ mang chén xuống dưới là được.
Phương Bắc Minh gật đầu đồng ý, tiễn anh ta ra tới cửa.
Thiệu Dật đi vào bếp rửa sạch ba bộ chén đũa đem ra, rồi cầm miếng bánh bột ngô đang ăn dở xé nát ra bỏ vào canh, trụng trụng một hồi rồi múc ra chén ăn, cũng không thèm nướng lại bánh cho nóng.
Cố Cửu cạn lời với cách ăn của sư huynh mình luôn, nhưng ngặt nỗi bây giờ tay chân nhóc lạnh cứng, không được nhanh nhẹn nên không nấu ăn được, đành tạm chấp nhận vậy.
Ăn cơm xong, Phương Bắc Minh gọi hai đồ đệ lại, có việc dặn dò.

Phương Bắc Minh nói hiện tại Cố Cửu còn quá nhỏ, vốn dĩ âm khí trong cơ thể nhóc vừa đạt đến mức cân bằng, không gây trở ngại lớn.

Nhưng nhóc bỗng dưng xơi luôn nửa con tiểu quỷ vương, tương đương với việc nuốt trọn mười con lệ quỷ, cho nên bây giờ âm khí không còn cân bằng nữa.

Pháp khí Phương Bắc Minh đang có trong tay không trấn được âm khí mạnh như vậy, vì thế trước khi tìm được pháp khí thích hợp thì chỉ còn cách mỗi tháng cho Cố Cửu dùng trận pháp bố trí bằng máu của Thiệu Dật để xua bớt âm khí xâm nhập vào người.

Chính vì vậy, nếu cả ba người cùng đi ra ngoài thì rất bất tiện và nguy hiểm.
Cố Cửu nghe sư phụ nói thì luống cuống cả lên.
Phương Bắc Minh xoa đầu nhóc trấn an, lại nói sang sự việc Huyết Sát Âm Long trận.

Từ hai lần gặp phải trận pháp này có thể đoán được người bày trận hẳn là cũng vừa đi những bước đầu tiên mà thôi.

Bây giờ đã biết chuyện nên Phương Bắc Minh phải lên đường tìm cách cản hắn lại.

Sau này Thiệu Dật và Cố Cửu ở lại đạo quan, lo tĩnh tâm học tập, tu luyện cho thật tốt.

Dù y không trở lại thì mỗi tháng cũng sẽ nhờ người gửi thư cho hai đứa để thông báo tình hình và dặn dò những việc cần thiết.
Thiệu Dật bình tĩnh gật đầu: “Được.”
Cố Cửu thì lại gục đầu xuống, trong lòng dâng lên nỗi áy náy vô bờ.

Lúc đó nhóc quá manh động rồi.

Nếu có một người phải ở lại thì cũng là nhóc ở lại, bây giờ lại liên lụy đến Thiệu Dật phải ở lại với mình.

Mà quan trọng nhất là Phương Bắc Minh một thân một mình như vậy, không có ai ở bên cạnh hỗ trợ y, chẳng may gặp phải chuyện gì nguy hiểm cũng kêu trời trời chẳng biết, kêu đất đất chẳng hay.
Cố Cửu càng nghĩ càng khó chịu.
Phương Bắc Minh cười, tiếp tục v**t v* đầu tóc của Cố Cửu, an ủi: “Con lo lắng cái gì.

Năm xưa sư huynh con mới có hơn hai tuổi, đi đường còn chập chững, sư phụ vẫn cõng theo nó đi bắt quỷ suốt mấy năm ròng đó thôi.

Khi đó tính ra thì sư phụ cũng chỉ có một mình, chẳng phải vẫn bình an vô sự đó sao.

Hơn nữa, một đống pháp khí sư huynh con mang trên người còn không trấn được sát khí trên người nó nữa kìa.

Sư phụ bị sát khí của nó cắt trúng còn ít chắc.

Thậm chí lúc đang đánh nhau với quỷ nó còn ngồi một bên khóc oa oa, âm thanh như tiếng quỷ tru tréo kia làm sư phụ cho rằng nó cùng phe với con quỷ đối diện đó.”
Thiệu Dật đỏ lựng mặt, cả giận nói: “Rõ ràng là tay nghề của mình không tinh, pháp khí khắc hỏng cũng phải đem ra dùng đỡ.”
Phương Bắc Minh ngượng ngùng nói: “Ây da, đồ nhi con phải thông cảm cho sư phụ chứ, lúc đó sư phụ mới bị ép phải bất đắc dĩ xuất sư mà.”
Thiệu Dật: “Hừ!”
Cố Cửu thấy hai thầy trò cãi qua cãi về thì hé miệng cười, bị Phương Bắc Minh chọc cười một hồi nhóc cũng bớt khó chịu phần nào.
Phương Bắc Minh ở đạo quan thêm nửa tháng nữa, đi khắp nơi tìm cây thuốc, làm đủ lượng thuốc trị thương và thuốc trị nứt da cho hai đồ đệ rồi gấp rút ra đi ngay trong một ngày tuyết lớn.
Cố Cửu tự bọc mình thành một quả banh tròn vo, khóe mắt hồng hồng đứng bên cạnh Thiệu Dật, nhìn theo bóng dáng sư phụ mình từ từ khuất xa ..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 23: 23: Tám Năm


Bao Phú Quý dựa vào góc tường, xóc xóc túi tiền của mình, bên trong chỉ còn vài đồng xu lẻ, tiền cơm chiều nay còn chưa biết đang ở chỗ nào đây.

Gã nhìn chằm chằm người đến người đi tấp nập trong trấn nhỏ, bắt đầu tăm tia sàng chọn con mồi thích hợp.

Ánh mắt lọc lõi của gã dừng trên một cậu thiếu niên độ mười lăm mười sáu tuổi.
Cậu thiếu niên mặc một bộ đồ vải màu trắng xám, đã vào tháng sáu nên trời bắt đầu nóng, ai nấy đều đổi sang đồ bằng vải mỏng, nhưng cậu ta lại mặc tận hai lớp quần áo dày cui, cho thấy cậu ta sợ lạnh.

Khuôn mặt cậu ta rất đẹp nhưng chiều cao thì chỉ ở mức trung bình, hòa vào đám đông là mất hút ngay, vóc người cũng khá mảnh dẻ, đôi môi trắng bợt, thoạt nhìn có vẻ ốm yếu.
Cậu ta đang ôm một con mèo đen sứt tai cụt đuôi trong lòng, lúc một người một mèo đi ngang qua Bao Phú Quý, gã vội đứng dậy đuổi theo cản cậu thiếu niên lại.
“Công tử, xin dừng bước!”
Cố Cửu dừng chân, nhìn người đang chắn trước mặt mình, thấy gã mặc đồ đạo sĩ thì lướt mắt nhìn một vòng từ trên xuống dưới, khẽ cười: “Có việc gì vậy?”
Bao Phú Quý bắt đầu ra vẻ thần bí, tay trái bấm đốt ngón tay, mắt thì nhìn chằm chằm vào Cố Cửu, nhìn tới nhìn lui một lúc lâu, vừa nhìn vừa đi quanh cậu một vòng, còn không quên lầm rầm tụng niệm trong miệng, nhưng lẩm bẩm cái gì thì chẳng nghe ra được.

Cố Cửu cũng không vội, đứng yên tại chỗ chờ gã xem cho xong.
Bao Phú Quý đi một hồi rồi dừng lại, mặt mày nghiêm trọng nhìn Cố Cửu: “Công tử, mấy ngày tới cậu phải cẩn thận, nếu không có việc gì thì đừng ra khỏi nhà.”
Cố Cửu cười nhạt: “Sao lại như thế?”
Bao Phú Quý rung đùi đắc ý, dùng ánh mắt sâu xa nhìn Cố Cửu, phán một tràng: “Công tử hai bên tai có sắc đen, sơn căn (1) xám xịt, đầu mũi tím xanh, có phải từ nhỏ đã bị bệnh tật giày vò, nhiều tai nhiều nạn không?” Gã thấy cậu thiếu niên gật đầu thì khoái trá cười cười, tiếp tục giả vờ cao thâm mà nói: “Bần đạo xem ấn đường (2) của công tử đã biến thành màu đen, sắp tới có thể gặp phải chuyện xui xẻo đổ máu, cho nên hảo tâm nhắc nhở công tử một câu, nếu không có việc cần kíp thì hạn chế ra ngoài, cứ yên phận ở trong nhà chờ tai kiếp qua khỏi.”
Cố Cửu nói: “Thật vậy chăng? Nhưng vài ngày nữa tôi phải ra ngoài chạy việc cho người lớn trong nhà, phải làm sao đây?”
Ánh mắt Bao Phú Quý lập lòe tỏa sáng, nhanh nhẹn móc một lá bùa vàng từ trong ống tay áo ra, chần chừ nói: “Hôm nay xem như hai ta có duyên, ta tặng cho công tử một tấm bùa bình an, bảo đảm giúp ngươi tai qua nạn khỏi.

Chỉ là…Đạo gia vốn có quy củ, không thể tính quẻ không công, cho nên…”
Cố Cửu thản nhiên tiếp lời: “Cho nên phải trả tiền?”
Bao Phú Quý lập tức nói: “Cái này gọi là của đi thay người, đối với công tử chỉ có lợi chứ không có hại.”
Cố Cửu nhìn Bao Phú Quý, cười nói: “Như vầy đi, tôi cũng tính cho đạo trưởng đây một quẻ, như vậy hai bên xem như hòa nhau, không xem là không công.”
Bao Phú Quý kinh ngạc, ngây người nhìn Cố Cửu.
Cố Cửu nhìn mặt mũi của Bao Phú Quý, lời tuôn như thác đổ: “Giếng bếp gãy đổ, lương thực trống không; vầng trán hẹp, cả đời bần hàn.

Hạ đình (3) dài mà hẹp, nông, mỏng, không nhà không cửa, cả đời nghèo khổ, tuổi già không được an cư.” Cậu vuốt vuốt lông Tiểu Đệ, cười nhẹ: “Tôi thấy ấn đường của đạo trưởng biến thành màu đen, gần đây có thể sẽ gặp phải tai nạn đổ máu.”
Bao Phú Quý nghe Cố Cửu nói năng rõ ràng mạch lạc, nhất thời bị hù sợ không nói được lời nào, sau khi hoàn hồn thì mới bực bội giãy nảy lên: “Nói hươu nói vượn, định lừa ông mày hả!”
Gã túm lấy cổ áo Cố Cửu: “Quẻ đã tính rồi, trả tiền mau!”
Bao Phú Quý còn chưa kịp làm gì, chỉ nghe một tiếng mèo kêu sắc lạnh, trên tay gã đã bị cào ra một đường máu, đau đớn tức khắc ập tới, lúc này gã mới nhận ra mình vừa bị con mèo kia xòe móng tấn công.

Bao Phú Quý nhìn vào đôi mắt sâu thẳm sáng rực của mèo đen, bất giác rùng mình một cái, vô thức lùi về sau một bước.
Cố Cửu sửa lại cổ áo, cũng không giận gì.
“Đạo trưởng không biết tôi, chắc là mới đến đây lần đầu phải không?”
Bao Phú Quý cứng người: “Làm sao cậu biết? Cậu…chẳng lẽ cậu thực sự biết đoán mệnh?” Lẽ nào mình gặp được người trong nghề thật rồi sao?
Cố Cửu nói: “Trong trấn này, thậm chí là người dân sống ở vùng lân cận nếu muốn xem bói thì chỉ xem ở Thái Nguyên Quan chỗ tôi, hôm qua tôi đã thấy ông lảng vảng ở đây rồi, ông thử nghĩ lại xem từ hôm qua đến giờ có ai đến nhờ ông bói quẻ không?”
Bao Phú Quý nghe Cố Cửu nói thì chợt khựng lại, phát hiện ra lời của cậu nói không sai, quả thật không có ai đến xem bói cả.

Thậm chí nhiều khi gã ngắm trúng vài người, “chủ động xuất kích” như vừa rồi làm với Cố Cửu cũng không ăn thua gì, tất cả bọn họ đều xua tay từ chối, vội vã tránh thoát khỏi sự đeo bám của gã.
Ngay lúc Bao Phú Quý còn đang nghĩ ngợi, Cố Cửu đã quay người chuẩn bị rời đi.

Thấy cậu dợm bước đi, gã vội chạy lên ngăn lại: “Đạo trưởng! Vậy…vậy cậu xem tai nạn đổ máu này của tôi có cách gì tránh khỏi hay không?”
Cố Cửu lấy một lá bùa bình an từ trong tay áo ra đưa cho Bao Phú Quý, nhưng mà ngay lúc gã vươn tay ra định nhận lấy thì cậu lại thu trở về, nhẹ nhàng nhắc nhở: “Của đi thay người.”
Mặt mày Bao Phú Quý cứng đờ, lúng túng moi túi tiền đeo bên hông rồi dốc ngược xuống.

Gã xòe bàn tay cho Cố Cửu xem, chẳng cần đếm làm chi, trên tay gã chỉ có vỏn vẹn hai đồng tiền trinh.
“Tôi…chỉ còn nhiêu đây thôi.”
Cố Cửu cũng không chê ít, thu hai đồng tiền đó rồi đưa lại tấm bùa cho Bao Phú Quý.

Cậu tưởng việc đến đây là xong, ai ngờ lúc sắp đi lại bị gã chặn lại lần thứ ba.
“Đạo trưởng, vậy…tôi… Cậu nói tôi phải khổ cực lúc về già, có cách nào thay đổi cái này không?”
Cố Cửu trả lời đơn giản: “Bớt đi lừa gạt người ta, siêng năng làm việc thiện.”
Cố Cửu ôm mèo đi khuất rồi, Bao Phú Quý vẫn còn đứng nguyên chỗ đó, cầm lá bùa bình an lật qua lật lại xem xét, lúc thì lo lắng vì người kia nói quẻ tượng rành mạch quá, lỡ đâu ứng nghiệm thì sao, lúc lại nghi ngờ có phải mình vừa gặp một kẻ lừa đảo cao tay hơn hay không.

Cuối cùng, lúc gã bóp bóp túi tiền rỗng tuếch, phát sầu vì không biết kiếm đâu ra tiền ăn cơm thì bỗng nhiên nhìn đến cánh tay bị mèo cào chảy máu của mình, lập tức cả kinh: Đây chẳng phải cũng là đổ máu hay sao.

Nhưng mà vì sao tai nạn đã xảy ra rồi mà người kia còn muốn lấy tiền của mình để đổi bùa bình an? Hay là gặp phải siêu lừa thật rồi? Vậy rốt cuộc là chuyện đổ máu của mình đã qua hay chưa?

Cố Cửu tiếp tục ôm Tiểu Đệ đi đến một cửa tiệm bán nhang đèn lớn nhất trên trấn.

Vừa đi đến trước cửa cậu đã gặp một thanh niên thân cao chân dài, khôi ngô tuấn tú nhưng vẻ mặt lạnh lùng cầm hai cái túi đi ra.
Cố Cửu tươi cười: “Sư huynh.”
Lúc còn bé, bởi vì bị âm khí xâm nhập sâu vào thân thể nên Cố Cửu đành phải nghe theo lời sư phụ ở lại với Thiệu Dật trong đạo quan, chờ sư phụ tìm được pháp khí có thể trấn áp âm khí trong người cậu, chỉ là vừa chờ liền chờ liên tục tám năm ròng.

Bây giờ Cố Cửu đã mười sáu tuổi, Thiệu Dật năm nay cũng vừa tròn hai mươi, đã trưởng thành rồi.
Cố Cửu cho Tiểu Đệ men theo cánh tay mình bò lên vai ngồi xổm trên đó để chừa tay trống giúp Thiệu Dật xách một túi.
Thiệu Dật để cái nhẹ hơn cho Cố Cửu.

Hắn vẫn mang vẻ mặt cáu kỉnh, ưa nhăn mày, kém nhẫn nại như trước kia.
“Sao mà đi lâu quá vậy?”
Cố Cửu đáp: “Trên đường đệ gặp phải một kẻ giả làm đạo sĩ đi lừa đảo.”
Thiệu Dật nhếch môi cười, sau đó lấy một cái túi nhỏ từ trong ngực áo ra ném cho Cố Cửu.

Cố Cửu đón được, nâng tay ước lượng: “Lần này nhiều vậy.”
“Chắc chủ nhà có tiền.”
Mấy năm nay Phương Bắc Minh đi khắp trời nam đất bắc, vừa tìm kiếm Huyết Sát Âm Long trận vừa bắt quỷ cho người ta kiếm tiền.

Mỗi lần gom góp được một mớ tiền thì sẽ chia làm hai phần, một phần đem đi giúp người nghèo, phần còn lại thì gửi những lái buôn đi ngang qua quận Kinh Lăng mang về tiếp ứng cho hai đồ đệ.

Có lúc kiếm được nhiều tiền thì được đến khoảng mấy trăm lượng bạc, còn lúc nào túng thì nửa năm cũng không thấy đồng nào.
Nhưng mà nói vậy thôi chứ thật ra hai người Cố Cửu cũng không còn cần Phương Bắc Minh gửi tiền về nuôi nữa.

Thiệu Dật đã có thể tự mình bắt quỷ, đoán mệnh, khám bệnh cho người ta.

Hơn nữa từ khi hai người ở lại hẳn trong đạo quan thì bắt đầu có người đến dâng hương, mỗi tháng thu vào cũng được mấy trăm văn tiền.

Không những vậy đạo quan còn có đất ruộng, bọn họ tự trồng rau ăn, chi phí sinh hoạt không tốn bao nhiêu, khoản tốn nhiều nhất chỉ có giấy vàng, chu sa và vài loại đạo cụ thường dùng mà thôi.
Ngày hôm qua người dân sống trong thôn dưới chân núi đem tin về, nói rằng ông chủ cửa hàng nhang đèn trấn trên báo là có thư của sư phụ gửi về, cho nên hôm nay hai người mới đến đây.

Hiện giờ tiền chi tiêu trong đạo quan đều do Cố Cửu quản lý, mỗi lần có tiền thì Thiệu Dật đưa luôn cho Cố Cửu giữ.
Hai người tay xách nách mang, khệ nệ đem đống đồ chất lên xe bò của người quen trong thôn, lên đường đi về.
“Hai vị tiểu đạo trưởng, ăn cơm trưa đã rồi hãy về.” Người đánh xe chở họ đi tên là Trần Lượng, là người mang chén canh gà lên cho ba thầy trò vào ngày đầu tiên họ trở về đạo quan.
Cố Cửu cảm ơn rồi từ chối: “Không quấy rầy Trần đại ca, mấy ngày nữa là đến sinh thần của Đẩu Mẫu, trong quan còn nhiều việc phải làm lắm.”
Trần Lượng cũng không nài thêm nữa, bảo bọn họ lên núi cẩn thận.
Cố Cửu và Thiệu Dật đang trên đường leo lên núi thì gặp vợ và con gái của Trần Lượng là Trần Dư thị và Trần Ngân Linh đang đi xuống.
Hồi trước, sau khi ba người Cố Cửu vừa về đạo quan được mấy ngày thì Trần Ngân Linh được sinh ra.

Dưới chân núi chỉ có mấy hộ gia đình sinh sống nên dân cư khá là thưa thớt, càng chẳng có mấy đứa trẻ con tầm tuổi của Ngân Linh, cho nên cô bé thường xuyên chạy lên đạo quan chơi, rất quen thân với Cố Cửu và Thiệu Dật.

Cô nhóc vô cùng thích Cố Cửu, bây giờ vừa gặp cậu đã thoăn thoắt chạy tới, trong tay còn cầm theo một bó hoa dại mới hái.
“Tiểu Cửu thúc thúc.”
Cố Cửu ôm cô bé lên xoay tròn một vòng, sau khi thả người xuống thì đưa tay xoa đầu Ngân Linh, còn giúp cô bé sửa lại thẻ bài đeo trên cổ, hỏi: “Ngân Linh đi đâu chơi đó?”
Trẻ con dương khí còn yếu là đối tượng dễ gặp phải quỷ quái nhất, lòng đề phòng người lạ của chúng cũng không cao, đôi khi là người hay không phải người cũng chẳng phân biệt được.

Một lần nọ, lúc Ngân Linh lên ba có theo cha mẹ đi thăm người thân, đêm đó ngủ lại nhà người ta thì đột nhiên cô bé bắt đầu nói chuyện và chơi đùa với một kẻ vô hình nào đó.

Hai vợ chồng Trần Lượng sợ muốn chết, sau khi trở về vội vàng lên đạo quan xin bùa trừ quỷ để con gái đừng bị ma quỷ bắt đi mất.
Ngân Linh sờ sờ lá bùa trên cổ, trả lời Cố Cửu: “Con đi hái rau dại với mẹ ạ.”
Chị Trần đưa cho Cố Cửu một bó rau dại to đã được cột kĩ lưỡng.
“Vừa mới xuống chỗ hái rau thôi mà nhóc con này đã nghĩ ngay đến chuyện phải chia cho các cậu ăn cùng rồi đấy.”
Cố Cửu cười nhận lấy bó rau, có qua có lại đưa cho Tiểu Ngân Linh một gói kẹo.

Vẻ mặt tươi cười của chị Trần càng rõ ràng hơn, tiểu đạo trưởng này từ hồi còn bé xíu đã như vậy, nhìn tuổi nhỏ vậy thôi chứ lúc nào cũng chu đáo.

Lần nào Ngân Linh gặp cậu cũng được cho vài viên kẹo, hẳn là có chuẩn bị sẵn.

Người ta đối tốt với con mình, người làm mẹ đương nhiên là vui lòng rồi.
Hai bên đứng bên đường núi trò chuyện thêm chốc lát, chị Trần hẹn bọn họ đến sinh thần của Đẩu Mẫu lại lên núi rồi mới dẫn Ngân Linh rảo bước về nhà.

Cố Cửu và Thiệu Dật vừa về tới đạo quan liền thấy có hai người đàn ông đang đứng trước cửa ngó nghiêng.

Đạo quan chỉ có hai sư huynh đệ ở, hôm nay cả hai người cùng xuống núi thì đương nhiên phải đóng cửa.
Hai người nọ nghe thấy tiếng bước chân thì lập tức quay đầu nhìn
Người lớn tuổi hơn chần chừ hỏi thăm: “Hai vị đây có phải là đạo trưởng ở Thái Nguyên Quan không?”
Cố Cửu và Thiệu Dật đồng loạt gật đầu: “Đúng vậy.”
Người trẻ tuổi hơn đột nhiên chen lời: “Sao đạo trưởng gì mà trẻ quá vậy?” Anh ta mới vừa nói xong đã bị người lớn tuổi kia trừng mắt liếc một cái.
Cố Cửu và Thiệu Dật đã tập mãi thành quen rồi.

Bây giờ còn đỡ chứ năm đó lúc Phương Bắc Minh vừa mới rời đi, hai người đợi mòn mỏi trên núi hơn mười ngày cũng không thấy bóng dáng ai đến dâng hương, chỉ có lác đác vài người dân sống trong thôn dưới chân núi thỉnh thoảng tới lui vài lần mà thôi.

Những người sống trong vùng vì Thái Nguyên Quan thường xuyên không có ai nên dường như đã quên mất nơi này, dù nhà ở gần đó cũng không nghĩ đến việc đến Thái Nguyên Quan lễ bái hay cầu quẻ.
Khi đó, Cố Cửu và Thiệu Dật túng tiền, đợi lâu không thấy có ai đến nên đành phải xuống núi bày quán.

Trong hai người thì Thiệu Dật lớn tuổi và chững chạc hơn, nhưng dù gì lúc đó hắn cũng chỉ mới là một đứa nhóc choai choai mười hai tuổi đầu, ai mà tin hắn có thể bắt quỷ, xem bói, tu vi cũng xếp vào loại khá đâu, thậm chí mọi người còn xúm lại xem hai đứa như xem khỉ.
Lúc mới bắt đầu, Thiệu Dật còn bị xem như người đi tìm vật nuôi, nhà ai mất gà, mất trâu, heo chạy lạc đều tới nhờ hắn xem cho một quẻ.

Cố Cửu còn tưởng sư huynh sẽ giận dỗi chứ, ai ngờ hắn vậy mà không bực tức tí nào, bình tĩnh thản nhiên xem bói, tính đâu trúng đó làm người ta kinh ngạc một phen.

Dần dần, có nhiều người nghe danh bán tín bán nghi tìm đến thử.

Cứ như vậy qua hai ba năm sau, Thiệu Dật dựa vào bản lĩnh của chính mình mà gây dựng được danh tiếng trong vùng.
Bây giờ đã qua tám năm, Cố Cửu cũng được xem như tinh thông đạo thuật, có sư huynh đi trước mở đường, hiện giờ người biết đến cậu cũng không ít..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 24: 24: Liễu Tiên


Đỗ Hưng Đức cũng là bí quá không còn cách nào nên mới phải lặn lội lên Thái Nguyên Quan tìm người.

Nhà của ông ta vốn ở trấn Toàn Châu bên cạnh, trong nhà có của ăn của để, cũng có thể xưng danh là phú hộ một vùng.

Tháng Giêng năm nay, vốn là dịp lễ lạt hoan hỉ, thế mà trong nhà ông ta đột nhiên rộ lên việc bị quỷ ám.

Ngày nào cũng vậy, phòng bếp, sân nhà… dù ngày hôm trước đã sắp xếp gọn gàng đến đâu thì sang hôm sau vẫn bị quậy lung tung lộn xộn hết cả.

Chén bát rơi vỡ đầy đất, lu khạp đựng gạo cũng nứt làm thóc gạo văng tứ tung, chưa kể còn có sâu chết lẫn vào vô số kể.
Lúc đầu người trong nhà chỉ nghĩ rằng có kẻ ác ý phá phách đùa dai, bọn họ cũng đã đi báo quan nhưng sai nha được phái tới chẳng tra xét được gì.

Sau đó, những trò đùa đó càng ngày càng quá quắt hơn, không những nhà bếp bị quậy tưng mà kho lúa cũng không thoát nạn, thậm chí ngay cả giường màn, chăn đệm được xếp đặt ngay ngắn trong phòng ngủ lại làm sao đó mà bị xé rách te tua, đồ đạc trong nhà cũng cùng chung số phận.
Đỗ Hưng Đức cảm thấy đây không phải là quỷ quái quấy phá mà là nạn chuột, ông ta bèn bảo gia nhân tìm mấy con mèo về bắt chuột.

Tuy nhiên chuột thì quả thật bắt được không ít, nhưng nạn thì không hề ngừng lại mà còn nghiêm trọng hơn.

Sau đó ít lâu, ban ngày thì đồ dùng bị phá phách, ban đêm cả nhà họ vừa ngả lưng xuống nghỉ ngơi thì bỗng dưng nghe được tiếng cười và tiếng khóc quái dị, đôi khi còn có cả tiếng mắng mỏ chửi rủa lẫn vào, thế nhưng lúc mọi người giật mình tỉnh dậy lắng tai nghe kĩ thì không thấy gì nữa.
Nhà họ Đỗ bị hành cho lên bờ xuống ruộng, đến lúc không chịu nổi nữa mới đi hỏi thăm khắp nơi.

Có một người biết chuyện thì hỏi han rất tỉ mỉ, bảo bọn họ ngẫm lại rồi kể từng chi tiết cho ông ta nghe.

Đỗ Hưng Đức hồi tưởng trong chốc lát, đáp rằng bắt đầu từ sáng sớm mùng bốn thì mọi chuyện bắt đầu náo loạn, đến tận bây giờ chưa dứt.

Nghe xong đầu đuôi câu chuyện, người đó kết luận rằng tám chín phần mười là nhà họ đắc tội Hôi tiên rồi.
Trong dân gian, ngoại trừ đến chùa miếu, đạo quan để dâng hương cầu phúc thì một số người còn lựa chọn một trong năm vị đại tiên để tự cung phụng ở nhà.

Năm vị đại tiên này danh xưng lần lượt là Hồ, Hoàng, Bạch, Liễu, Hôi, tức là hồ ly, chồn, nhím, rắn và chuột.
Người nọ nói đến Hôi tiên chính là ý chỉ con chuột.
Theo truyền thuyết, ngày mùng ba tháng Giêng là ngày chuột đón dâu.

Tối ngày hôm đó, ai nấy đều tắt hết đèn đóm đi ngủ sớm để tránh quấy rầy đến ngày vui của chúng, vì nếu bọn chúng bị phá ngang chuyện tốt thì tất sẽ quay lại báo thù.
Đỗ Hưng Đức nghe xong thì về nhà hỏi một lượt người nhà từ trên xuống dưới mới biết, thì ra ngày hôm đó con trai út của ông ta Đỗ Văn Tuyên ra ngoài uống rượu với bạn đến khuya mới mò về nhà.

Lúc cậu ta vừa về tới thì đúng lúc nhìn thấy một con chuột vọt ra từ trong góc nhà, nhìn thấy ngứa mắt nên cậu ta dậm chân mắng chửi vài tiếng.

Vốn cho là chuyện nhỏ như cái đinh ghim, chẳng ai để trong lòng, lại chẳng ngờ vậy mà bị chuột ghi thù.
Đỗ Hưng Đức rõ mọi chuyện thì quày quả đi tìm người kia lần nữa để hỏi cách khắc phục.

Ai ngờ người đó vừa nghe ông ta nói rằng sau khi xảy ra chuyện còn thả mèo đi bắt chuột liền bảo phỏng chừng dù bọn họ có xin lỗi thì cũng không giải quyết được gì đâu.

Bây giờ muốn sống yên ổn thì hoặc là mời một đạo sĩ cao cường về trấn áp, hoặc là chuyển nhà, còn không thì phải rước Liễu tiên về nhà cung phụng.
Liễu tiên là rắn, rắn là thiên địch của chuột, nếu có Liễu tiên bảo vệ trong nhà thì chuột không dám bén mảng đến.
Đỗ Hưng Đức suy đi nghĩ lại thì cuối cùng quyết định rước Liễu tiên, thế là ông ta nghe theo người đó chỉ dẫn, nhanh chóng lập một gia tiên lâu (1) trong nhà, rước Liễu tiên vào ở.

Cách này quả nhiên rất hiệu quả, chẳng bao lâu sau, đám chuột trong nhà im hơi lặng tiếng hẳn.

Chỉ là nếu mọi việc vẫn suôn sẻ như vậy thì hôm nay sẽ không có chuyện Đỗ Hưng Đức lên Thái Nguyên Quan tìm đạo sĩ.
Tục ngữ có câu “mời thần thì dễ, tiễn thần thì khó”.

Thần tiên không thể nào rước một cách tùy tiện được, chỉ cần sơ ý làm gì đó khiến cho bọn họ phật ý thì đừng mong có ngày an bình, bọn họ không quậy cho cửa nát nhà tan thì sẽ không chịu bỏ qua.

Đỗ Hưng Đức cũng không nghĩ đến tai nạn lần nữa lại đến nhanh như vậy.
Tháng trước nhà họ tổ chức tiệc mừng thọ, có một vị khách mời dẫn theo con trai của mình đến dự, đứa bé phát hiện ra một con rắn nhỏ ở trong bụi hoa, chẳng những không sợ mà còn bắt ra cầm chơi, làm thế nào đó mà con rắn chết ngắc, còn bị kéo đứt thành mấy khúc.
Lúc ấy Đỗ Hưng Đức không hề hay biết, đến khi đứa bé kia trở về nhà, đôi tay nó bỗng nhiên ngứa ngáy dữ dội, đến nửa đêm thì thằng nhóc bị nổi sởi khắp người, da thịt đầy những vết vằn vện nhìn giống hệt như da rắn.

Cùng lúc đó, trong nhà Đỗ Hưng Đức cũng bị rắn bao vây, có người còn bị chúng cắn phải, tuy rằng không độc nhưng nhìn rắn bò lổm ngổm khắp các ngóc ngách trong nhà cũng thấy ghê muốn chết.
Đỗ Hưng Đức kêu trời không thấu, thế là đành phải mời đạo sĩ đến.

Nhưng khốn thay, ông ta liên tục mời mấy vị đến rồi mà vị nào vị nấy đều suýt bị rắn cắn chết.

Mấy ngày nay người trong nhà họ Đỗ đã bắt đầu đòi chuyển nhà đi chỗ khác, có điều căn nhà đó là nhà tổ, đâu phải muốn đi là đi được.

Cuối cùng, lúc Đỗ Hưng Đức sắp bị dồn vào đường cùng tới nơi thì có người mách cho ông ta về Thiệu Dật và Cố Cửu.

Lúc đầu nghe nói đây là hai đạo sĩ trẻ tuổi thì ông ta chần chừ, nhưng cực chẳng đã, Đỗ Hưng Đức tự nhủ xem như thử một lần chót vậy, nếu còn không ăn thua thì phải tính đến chuyện chuyển nhà thôi.
Thiệu Dật nghe xong câu chuyện thì vẫn bình chân như vại, còn Cố Cửu thì nổi hết cả da gà.

Tuy rằng cậu đã từng gặp vô số người chết và lệ quỷ, nhưng lúc đối mặt với mấy con mềm mềm dài dài uốn éo như rắn hay rết cậu vẫn sợ chết khϊếp.
Đỗ Hưng Đức kể xong thì khổ sở nói: “Hai vị đạo trưởng, hai vị xem xem khi nào thì có thể đến nhà tôi xem thử một chuyến với?”
Thiệu Dật trả lời: “Ngày mai đi, hôm nay chúng tôi phải chuẩn bị vài thứ.”
Đỗ Hưng Đức thấy Thiệu Dật chịu đi thì mừng rỡ nói: “Vậy hai chúng tôi về trước, ngày mai tôi sẽ cho người đến đón hai vị.
Thiệu Dật gật đầu, Cố Cửu liền tiễn hai người ra cửa, sau đó cậu quay vào giúp Thiệu Dật sắp xếp đồ đạc mới mua ngày hôm nay.
Thông thường gia tiên rất nhỏ nhen, trước kia Thiệu Dật từng thấy sư phụ xử lý những vụ việc tương tự rồi, mấy năm nay hắn cũng thành công dẹp loạn vài lần, có thể nói là đã tích lũy được kinh nghiệm phong phú trong mảng này.

Hắn bảo Cố Cửu vẽ vài loại bùa cần dùng, còn mình thì tự khắc hai thẻ bùa gỗ đào gọi sấm sét.

Vậy là xem như chuẩn bị đầy đủ.
Xong xuôi đâu đấy, Cố Cửu lấy ra một bình thuốc trong ngăn tủ, bảo Thiệu Dật vén tay áo lên.

Trên cổ tay của Thiệu Dật có một vết thương, hai ngày trước hắn vừa cắt cổ tay lấy máu để vẽ trận pháp xua âm khí cho Cố Cửu, bây giờ vết thương đã lành nhưng vẫn phải xức thuốc vài ngày.
Cố Cửu chậm rãi rắc thuốc bột lên miệng vết thương, hỏi: “Sư huynh, sư phụ có nói khi nào về không?”
Thiệu Dật đáp: “Tháng sau.”
Cố Cửu vui vẻ nói: “Tháng sau là Thất t*nh h**n luyện thành rồi.”
Thất t*nh h**n là pháp khí mà Phương Bắc Minh phải dành tới ba năm mới tìm đủ, có thể giúp Cố Cửu trấn áp âm khí trong người.

Thất t*nh h**n được bện từ bảy đồng tiền cổ, đồng tiền hình tròn, có lỗ vuông ở giữa, tượng trưng cho trời và đất, dung nạp linh khí vạn vật, có khả năng áp chế và hấp thu âm khí tà ác.
Sau khi bện tiền đồng thành Thất t*nh h**n thì phải đặt nó vào trong Thất Tinh Trận rồi luyện chế bằng cách cứ bảy ngày thì niệm Cố Hồn Kinh cho nó một lần.

Đến nay Thất t*nh h**n của Cố Cửu đã được đặt trong trận pháp năm năm liền, sắp đến ngày luyện thành.

Đến lúc đó, nó sẽ hạn chế âm khí trên người Cố Cửu, đồng thời còn củng cố hồn phách của cậu, làm những quỷ hồn bình thường không dám mon men đến gần.

Không những vậy, Thất t*nh h**n này còn là một món pháp khí trừ quỷ lợi hại.

Một mũi tên trúng ba con chim, lợi được nhiều đường như vậy, không uổng công bọn họ chờ đợi mấy năm ròng rã.
Khi đã có được pháp khí này, Cố Cửu không còn phải nhìn cảnh Thiệu Dật cắt tay trích máu mỗi tháng nữa.

Cũng chẳng biết nên nói thế nào, thật may mắn là thuốc của Phương Bắc Minh điều chế tốt như vậy, năm đó vết thương trên mặt Thiệu Dật ngang dọc chằng chịt trông rất đáng sợ, vậy mà bây giờ không còn nhìn thấy được vết sẹo nào cả.

Ngay cả cổ tay của hắn cũng vậy, sau khi vết thương đóng mày rồi lành hẳn thì cũng không để lại sẹo, vẫn trơn tru như cũ, Cố Cửu nhìn cũng thấy bớt áy náy được một xíu.
Trong đạo quan có phần lạnh hơn ngoài trời, Cố Cửu vừa ngồi một lát đã thấy rét run, không cầm được phải tròng thêm một lớp quần áo nữa.

Đến tận bây giờ cậu vẫn ngủ chung với Thiệu Dật, không nói tới Cố Cửu thế nào, cả Thiệu Dật cũng tập thành thói quen mất rồi.
Qua một đêm yên ổn, sáng hôm sau hai sư huynh đệ dậy thật sớm, lúc còn đang ăn sáng thì đã thấy xe của nhà họ Đỗ đến đón rồi.
Trước lúc lên đường, Cố Cửu kiểm tra Mê Tung Trận bày bên ngoài trận pháp luyện chế Thất t*nh h**n một lần rồi mới khóa cửa, bế Tiểu Đệ lên, sau đó cậu cõng tay nải đựng gia tài của mình trên lưng, cùng Thiệu Dật bước lên xe ngựa.
Xe chở họ xuống núi rồi lại đi tiếp hai canh giờ nữa, đến giữa trưa mới tới được trấn Toàn Châu.

Mọi người dừng lại ở khách đ**m giải quyết cơm trưa trước, sau đó theo hướng dẫn của Đỗ Hưng Đức đi đến nhà họ Đỗ.
Căn nhà này là một tòa nhà lớn với kết cấu ba sân riêng biệt, cả nhà hơn mười người già trẻ lớn bé cùng nhau sống ở đây.

Tuy nhiên, bởi vì gần đây xảy ra chuyện với đám rắn nên không một ai dám ở lại, người thì đến nhà người thân ở tạm, người thì mướn phòng trọ trong khách đ**m.

Trong trấn có không ít người biết nhà họ Đỗ gặp tai ương, lúc này bọn họ thấy nhà họ lại mời hai vị đạo trưởng trông tuổi đời còn trẻ như vậy đến nên có rất nhiều người đứng ở đằng xa tò mò quan sát.
Thiệu Dật đi trước, dùng chuôi kiếm đẩy cửa lớn ra.

Một tiếng lạch cạch vang lên, cửa mở ra, một con rắn nhỏ hoa văn sặc sỡ từ trên khung cửa rớt xuống, bị Thiệu Dật nhanh tay lẹ mắt lấy chuôi kiếm đập cho hai nhát.

Hắn đập xong còn móc lên treo toòng teng ngắm nghía.
Con rắn hoa nhỏ chắc là bị đập cho đầu óc ngu si luôn.

Nó lúc lắc nằm trên kiếm một hồi mới nhấc đầu lên, lại mất thêm một lúc nữa mới nhớ ra phải thè lưỡi hù Thiệu Dật.
Cố Cửu cũng ghé đầu vào xem, vừa nhìn thấy con rắc rực rỡ sắc màu thì rùng mình, đại khái là trong tất cả các loài, chỉ có rắn nhỏ là cậu không cảm thấy đáng yêu nổi.
Cố Cửu thầm thì: “Chắc nó mém xỉu rồi đó sư huynh.”
Sao mà lại phái một con rắn bé xíu xìu xiu ra đánh trận đầu vậy không biết, chẳng biết là con rắn cầm đầu có vấn đề hay là con rắn tiên phong này có vấn đề đây?
Chuôi kiếm của Thiệu Dật vung một cái, ném rắn hoa qua một bên, thấy nó hoảng hốt bò đi chỗ khác mới tiếp tục bước vào trong nhà.
Căn nhà này đã một thời gian không có ai ở, một phần cũng vì bị mấy con rắn phá phách lâu nay nên rất ư là lộn xộn.

Hai bên lối đi trong vườn hoa có dấu vết rắn bò qua, nhìn dấu tích để lại thì con rắn này phải to cỡ bắp tay người lớn.
Tuy rằng trước đó Đỗ Hưng Đức đã nhìn thấy không ít rắn nhưng lúc ông ta nhìn thấy cái vết kinh khủng kia thì sắc mặt vẫn trắng bệch như thường.

Ông ta run run hỏi Thiệu Dật: “Đạo trưởng, ngài…ngài xem, phải làm sao bây giờ?”
Thiệu Dật nói: “Tiên lễ hậu binh.” Gia tiên khá khó chơi, nếu được thì Thiệu Dật hi vọng có thể đàm phán hòa bình với nó trước đã, nếu không có tác dụng thì mới dùng bạo lực sau.
Cố Cửu ngẩng đầu nhìn lên không trung, bấm tay tính thử, nói: “Sư huynh, nếu muốn lập đàn thì giờ Mùi (2) chiều nay là tốt nhất.”
Thiệu Dật quét mắt nhìn một vòng quanh sân, nói đơn giản: “Vậy giờ Mùi.”
Liễu tiên có linh tính, nó để nhiều con cháu của mình ở lại nhà họ Đỗ như vậy thì chắc chắn nó cũng chưa đi.

Bọn họ vào đây làm ồn ào như vậy nó không thể nào không biết.

Nếu đối phương có ý muốn nói chuyện đàng hoàng thì chiều nay giờ Mùi lúc Thiệu Dật lập đàn ắt sẽ xuất hiện, còn nếu không ra thì chứng tỏ nó không muốn thương lượng.
Sau khi rời khỏi đó, hai người Cố Cửu đến chỗ khách đ**m nhà họ Đỗ đang ở tạm mướn một phòng trọ.

Vào phòng, Cố Cửu lấy giấy ra cắt vài người giấy nhỏ cho Thiệu Dật vẽ mặt mũi.
Mấy năm nay, ngoài việc học thuật bắt quỷ thì Cố Cửu có hứng thú với thuật người giấy này nhất.

Đương nhiên hiện giờ trình độ của cậu giỏi hơn Thiệu Dật lúc mười hai tuổi nhiều, người giấy làm ra không còn đi được hai bước thì ngã cái oạch nữa, còn có thể nói được vài âm tiết đơn giản, có sinh mệnh chứ không phải chỉ là giấy vụn chỉ có thể đem đi đốt như xưa.

Người giấy của Thiệu Dật thì đã tương đương với người giấy của Phương Bắc Minh năm đó, có thể nói chuyện ê a líu lo.
Cố Cửu cắt năm nhóc người giấy, chừa lại một con để tự mình vẽ, còn lại thì đưa cho Thiệu Dật vẽ, xong xuôi thì thả cả năm đứa đi.

Cả đám dọc theo cửa sổ nhảy ra ngoài, chạy thẳng đến nhà họ Đỗ.
Tầm nửa canh giờ sau, cả năm nhóc trở lại đông đủ.
“Ê a! Ê a!” Đây là bốn nhóc đang đứng trên đầu gối của Thiệu Dật.
“Y ~ y…y!” Đây là nhóc đang đứng trong lòng bàn tay của Cố Cửu, nhóc này nói chuyện cứ như đang đếm nhịp.
Cố Cửu nghiêng tai lắng nghe bé giấy đánh nhịp một hồi, nghe xong thì cảm thấy ghê tởm đến nỗi chọt ngay lên cái trán của nó một cái, sau khi thu hồi nhóc lại thì còn không kìm được mà lấy khăn chà lau người cho nhóc một lượt rồi đi rửa tay cho sạch bóng.

Thì ra người giấy báo lại cho Cố Cửu, tất cả rắn núp ở trong nhà họ Đỗ đều chui ra cả, tập trung lại một chỗ, tao cuốn mày, mày cuốn tao thành một đống to, trùng trùng điệp điệp.

Năm bé người giấy đợi một hồi không thấy chuyện gì lạ nữa nên quay trở về.
Cố Cửu nói: “Xem ra vị Liễu tiên này vẫn lo lắng cho con cháu mình lắm, sợ liên lụy chúng nó nên cho chúng nó đi chỗ khác tị nạn.”
Nếu đúng như suy đoán của cậu thì coi bộ Liễu tiên này cũng không phải dạng cùng hung cực ác, vẫn còn hi vọng đàm phán..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 25: 25: Ngân Linh


Lúc sắp đến giờ Mùi, có người gõ cửa phòng trọ của Cố Cửu và Thiệu Dật.
Thiệu Dật: “Vào đi.”
Đỗ Hưng Đức đẩy cửa tiến vào, đi theo ông ta ngoài Đỗ Văn Tuyên ra còn có ba người khác, một nam một nữ và một đứa bé trai tầm bảy tám tuổi.
Cố Cửu nhìn thoáng qua đôi tay đang bọc băng vải kín mít của đứa nhỏ, cậu đoán hẳn nó chính là đứa bé nghịch chết con rắn nhỏ, sau đó trên tay bị mọc đầy sởi giống như da rắn.
Quả nhiên, vừa mới đặt chân vào cửa đôi vợ chồng đó liền bắt đầu ra sức nài nỉ Cố Cửu và Thiệu Dật nghĩ cách cầu Liễu tiên bỏ qua cho con mình.

Tuy rằng mấy nốt sởi giống da rắn đó không đau, cũng không còn ngứa nữa nhưng trông vô cùng đáng sợ.

Mấy ngày nay con trai bọn họ ngày nào cũng khóc lóc dữ dội, nếu còn tiếp tục như vậy nữa thì nó sẽ thực sự hỏng bét.
Thiệu Dật nhìn đứa bé sa sút tinh thần đến nỗi gầy rộc, hai má hóp lại thấy rõ, cậu hỏi: “Ngươi đã biết lỗi chưa?”
Đứa bé òa lên khóc to: “Con biết sai rồi, con biết lỗi rồi mà, sau này con không dám chơi rắn nữa!”
“Vậy còn những loài vật khác thì sao?”
Bé trai nước mắt nước mũi tèm lem nức nở đáp: “Không dám, không dám ạ.”
Tuy rằng cái sai lớn nhất của đứa bé này là coi thường mạng sống của sinh linh, nhưng nó mới có tí tuổi đầu nên đâu có hiểu được những đạo lý sâu sắc này, hai người Cố Cửu cũng không giảng giải dài dòng làm gì.

Cố Cửu chỉ nói với cha mẹ đứa bé: “Đợi lát nữa ba người cũng đi theo luôn, chúng tôi bảo làm gì thì cứ làm theo là được.

Nhớ kĩ là phải thành tâm thành ý, chỉ cần có một chút ý nghĩ bất kính thôi thì sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng hơn cả bây giờ.

Đến lúc đó chúng tôi cũng không giúp được đâu.”
Đôi vợ chồng vội vàng gật đầu, hứa hẹn: “Chúng tôi hiểu rồi, hiểu rồi.

Chỉ cần hai vị đạo trưởng chịu giúp thì làm gì chúng tôi cũng chịu.”
Sau đó, cả đoàn rời khỏi khách đ**m, đi đến nhà họ Đỗ.
Cố Cửu lập đàn tế, Thiệu Dật cầm kiếm bước tới trước đàn, vừa múa kiếm vừa tụng: “Khói thơm trọng hậu ứng càn khôn, cháy đượm hương nồng thấu Thiên môn……”
Khói từ nhang cắm trên đàn bắt đầu bay thẳng lên không rồi từ từ tản ra.

Chú thỉnh thần được niệm xong, trong sân ai nấy đều nín thở hồi hộp chờ đợi, không dám tạo ra một tiếng động nào dù là nhỏ nhất, ngay cả nhóc con dù rất sợ nhưng cũng chỉ nhắm tịt mắt lại chứ không dám kêu tiếng nào.
Đỗ Hưng Đức đợi lâu mà chưa thấy có chuyện gì xảy ra thì hơi sốt ruột, nhưng không dám mở miệng hỏi.

Ông ta nhịn không được thử nhìn quanh quất bốn phía, ai ngờ vừa mới động đậy thì bỗng một trận gió mạnh nổi lên, ngay cửa lớn đối diện với pháp đàn chợt xuất hiện một đôi mắt rắn đen kịt to tổ bố, to gần bằng nắm tay người lớn.
Đỗ Hưng Đức đối mặt với đôi đồng tử đen nhánh dựng thẳng của con rắn thì cả người đổ mồ hôi lạnh, vội vã cúi đầu rụt cổ không dám nhìn nữa.
Cố Cửu nhìn con rắn đen to bự đột ngột xuất hiện này cũng giật mình lùi về sau mấy bước, không phải vì sợ pháp lực của nó mà là sợ cái thân dài dài mềm mềm của nó.

Con rắn đen bò lên trước một chút, ngay lúc nó nhìn thấy đứa bé trai đang nép trong một góc sân thì dựng đứng cả nửa thân mình lên mà không hề có dấu hiệu báo trước, cái miệng lớn như cái chậu há ra, thè lưỡi phát ra tiếng xì xì xì đe dọa.
Nhóc con kia thấy vậy thì hồn phi phách tán, rên lên một tiếng, vừa định ngoác miệng ra gào thì đã bị một bàn tay đè đầu lại.
“Quỳ xuống, dập đầu.” Cố Cứu giữ chặt bả vai đứa nhỏ rồi kêu cha mẹ của nó cũng làm theo như vậy.
Cha mẹ đứa bé quýnh quáng quỳ xuống, đè đầu con mình dập đầu liên tục mấy cái mạnh đến nỗi nghe được cả tiếng bang bang.

Người cha vừa khấu đầu vừa thành khẩn cáo lỗi với rắn đen lớn, nói rằng mình không dạy dỗ con đến nơi đến chốn, để nó hại chết con cháu của Liễu tiên.

Cả nhà hắn thật tâm biết sai muốn chuộc lỗi, cầu xin Liễu tiên tha cho con trai họ một mạng.
Cố Cửu nói với Liễu tiên: “Ngươi có yêu cầu gì thì cứ nói, miễn là ngươi không hại đến tính mạng người ta thì chúng ta đều chấp nhận.”
Vừa dứt lời, Cố Cửu liền đưa tay đốt một lá bùa.
Có một bản sách được lưu truyền tên là “Quỷ thoại liên thiên”, trong đó có nói rằng đôi khi quỷ hồn tâm trí bị nhiễu loạn nên thường nói những lời lộn xộn không rõ nghĩa, nghe như một thứ ngôn ngữ nào khác chứ không phải tiếng người.

Vì vậy, người trong huyền môn đã tạo ra một loại bùa có thể giúp người làm phép thông hiểu những lời nói đó, khi cần nói chuyện với yêu quái hay sơn mị cũng có loại bùa tương tự có thể dùng.
Những người khác hồi hộp theo dõi, lá bùa bốc cháy, Liễu tiên đắc ý uốn éo cả người, còn xoay tới xoay lui vài vòng giễu võ giương oai.
Thiệu Dật lạnh mặt, hừ một tiếng: “Ngươi nhất định muốn đòi mạng người? Xem ra ngươi thật sự không biết tự lượng sức mình.” Thiệu Dật đưa tay vung kiếm gỗ đào lên rồi lấy ra mấy thẻ bài gỗ đào gọi sấm sét.
Đôi vợ chồng thấy vậy thì tưởng là đàm phán thất bại rồi, suýt nữa kìm không được bật khóc.
Cố Cửu vội chạy lại ngăn Thiệu Dật, quay sang nói lời phải trái với Liễu tiên:
“Nếu đánh nhau thật thì ngươi thử nghĩ xem mình có thể hứng nổi vài đợt sấm sét hay không? Nếu đánh chết luôn thì miễn bàn rồi, cái đáng sợ là bị đánh cho sống dở chết dở.

Khoan nói tới sư huynh ta, ngay cả ta đây trên người đầy âm khí cũng đủ để cắn nuốt ngươi rồi.

Ngươi tu hành cũng không dễ dàng gì, suy nghĩ kĩ lại đi, ngươi lại còn có con đàn cháu đống đầy ra đó.

Bây giờ hai bên đều lui một bước, ngươi trở về địa bàn của mình vui vầy với con cháu chẳng phải tốt hơn nhiều sao?”
Sư huynh đệ hai người cùng diễn một tuồng, một kẻ cho ăn đấm, một kẻ cho ăn xôi.

Liễu tiên im lặng nửa ngày không nhúc nhích, dường như đang suy xét lời của Cố Cửu.

Tiếp đó, nó lượn tới lượn lui tại chỗ vài vòng, Cố Cửu nhanh tay châm thêm một lá bùa.
Lần này, sắc mặt của Cố Cửu và Thiệu Dật thả lỏng hơn nhiều.

Cố Cửu tiếp tục đốt vài lá bùa nữa, nghe xong những yêu cầu của Liễu tiên thì tiễn nó đi.
Chờ cái đuôi của rắn đen bự biến mất ở cửa sau, Đỗ Hưng Đức mới hoàn hồn, phát hiện ra lưng áo của mình đã ướt đẫm từ bao giờ.

Ông ta vội hỏi: “Hai vị đạo trưởng, Liễu tiên nói thế nào?”
Cố Cửu xoa đầu đứa bé trai, nói với cha mẹ của nó trước: “Con rắn mà con của hai người hại chết là cháu trai của Liễu tiên nên nó mới giận dữ đến vậy.

Nhưng dù sao thì mạng của nhóc này đã được cứu rồi.

Còn đôi tay thì hai người dẫn nó về, lập bài vị cho con rắn nhỏ đó trong từ đường.

Mỗi tháng vào ngày bảy, mười bảy, hai mươi bảy thì cho nhóc quỳ dập đầu một trăm cái.

Đến ngày giỗ của rắn nhỏ thì phải chép kinh, tụng kinh siêu độ cho nó.

Phải làm liên tục trong hai năm, không được chậm trễ, bằng không thì da rắn trên tay con trai hai vị sẽ không khỏi.”
Mẹ đứa bé mặt mũi trắng bệch, ấp úng hỏi: “Lỡ như…lỡ như hai năm sau vảy rắn vẫn không biến mất thì làm sao?”
Thiệu Dật nghiêm mặt, lạnh lùng nói: “Ước hẹn này có Thiên Đạo giám sát, nếu nó vi phạm thì sẽ bị trừng phạt, chỉ cần các vị thành kính thì không có chuyện lỡ như.”
Nghe vậy hai vợ chồng mới yên tâm, tuy rằng hai năm không phải là một khoảng thời gian ngắn, nhưng so với mạng sống và đôi tay lành lặn thì không đáng là bao.
Cố Cửu lúc này mới quay sang Đỗ Hưng Đức, dặn dò: “Còn ông, ông lập mộ cho con rắn nhỏ kia ngay chỗ nó chết, mỗi năm vào ngày bảy, mười bảy, hai mươi bảy và ngày giỗ của nó cũng dâng hương quỳ lạy nó một lần, lập bàn cúng tế cho nó ở tám hướng trong nhà, đồ cúng thì để cho con cháu của Liễu tiên hưởng dụng.

Chỉ cần ông không nổi ý xấu thì con cháu nó sẽ không quấy rầy nhà ông nữa.
Đỗ Hưng Đức gật đầu lia lịa, cam kết: “Tôi nhất định sẽ làm theo.”
Lúc đầu Đỗ Hưng Đức mong bọn họ sẽ mời Liễu tiên đi nơi khác, nhưng ông ta sực nhớ lại chuyện của Hôi tiên lần trước.

Cháu của Liễu tiên gặp nạn là do khách đến nhà làm, nhưng mấy chục đứa con cháu của Hôi tiên là do chính ông ta tiêu diệt.

Nếu bây giờ mà mời Liễu tiên đi vậy lỡ Hôi tiên quay lại báo thù thì biết làm thế nào? Vừa nghĩ đến đó, Đỗ Hưng Đức dẹp ngay ý định ban đầu, cứ như bây giờ đã là tốt nhất rồi.
Nhưng để đề phòng họa vô đơn chí, Đỗ Hưng Đức vẫn muốn xin Thiệu Dật vài lá bùa phòng thân.
Thường thì Thiệu Dật sẽ không mở miệng trong mấy chuyện này.

Cố Cửu quen tay quen việc lấy ra mấy lá bùa, nói: “Đem bùa này dán đi dán trong nhà, nhớ tránh tám hướng bát quái ra, như vậy sẽ không sợ rắn con rắn cháu chạy lung tung bị lạc đường nữa.

Nếu ông cảm thấy chưa yên tâm thì tìm mua vài món đồ cổ làm bằng vàng treo trong nhà, cũng tránh tám hướng đó ra là được.”

Bùa thì Đỗ Hưng Đức không lấy làm lạ, nhưng còn đồ cổ bằng vàng thì… “Đồ vàng cũng được sao ạ?”
Cố Cửu trả lời: “Đúng vậy.

Rắn trong địa chi thuộc Tị.

Tị thuộc hỏa trong ngũ hành, mà trong ngũ hành thì kim sinh thủy.

Ông để nhiều đồ vàng trong nhà là theo nguyên lý này, nước nhiều thì dập tắt được lửa, rắn không dám vào.

Nhưng đặt đồ vàng cũng phải vừa phải thôi, thủy thuần âm, nước nhiều thì âm khí cũng nhiều.”
Đỗ Hưng Đức nghe một tràng mà xây xẩm mặt mày, chắp tay nói luôn: “E rằng phải nhờ đạo trưởng giúp cho vậy.”
Cha mẹ của đứa bé cũng mau mắn mở lời nhờ Cố Cửu ra tay giúp nhà bọn họ sắp xếp một phen.
Cố Cửu cười cười gật đầu: “Được thôi.”
Cái này là thêm cả mục bố trí phong thủy nữa, tiền công chắc hẳn phải cao hơn rồi.
Thiệu Dật đơ mặt dọn dẹp pháp đàn.

Đứa bé Cố Cửu nhỏ xíu nhát gan năm xưa đã biến mất từ lâu rồi, bây giờ nhóc ta không những không sợ hắn mà còn thêm tật ham tiền, lần nào ra ngoài làm việc cũng nghĩ đủ cách để mò thêm thù lao.

Đương nhiên Cố Cửu không làm gì xấu cả, chuẩn bị để phòng ngừa thì càng tốt, nhưng hắn không quen mở miệng gợi ý, khi nào chủ nhà hỏi trước thì hắn mới nói ra.
Lúc trở về đạo quan, Cố Cửu ôm trong người tận một trăm lượng bạc.

Nhà Đỗ Hưng Đức và nhà đứa bé kia đều là phú hộ có của ăn của để.

Mỗi nhà gửi hẳn năm mươi lượng, so với thời gian gần đây thì đúng một khoản thu khá hậu hĩnh.
Hai người Cố Cửu học theo sư phụ mình, dành một nửa số tiền đó phân phát cho người nghèo khổ đau yếu không nơi nương tựa, còn lại thì để lại sắm sửa đồ đạc cần dùng.
Mấy ngày sau đó không có ai đến đạo quan mời làm việc nữa, Cố Cửu và Thiệu Dật chỉ ở trong quan không ra ngoài.

Sinh thần của Đẩu Mẫu đã gần kề, bọn họ cũng muốn dành thời gian dọn dẹp cho sạch sẽ tinh tươm để chuẩn bị đón tín đồ khắp nơi đổ về cúng bái.
Hôm nay, Trần Ngân Linh cắp theo một cái rổ hoa nho nhỏ, bên trong đựng đầy hoa dại mới hái, nhảy chân sáo vào đạo quan tìm Cố Cửu chơi.
Ngân Linh bước vào cửa lớn, vừa ngước mắt nhìn đã thấy trên mái nhà cong cong của chính điện có một chú mèo đen đang nằm.

Cô bé vội lấy một cái vòng hoa từ trong rổ ra, cầm hai tay đưa lên như hiến báu vật, la lớn: “Tiểu Đệ, chị bện vòng hoa cho em này, tặng em đó!”
Tiểu Đệ đang gối đầu lên chân trước ngủ ngon lành, bị đánh thức thì lười biếng nhấc đầu lên nhìn thoáng qua.

Ban đầu nó bơ đẹp cô bé ở dưới kia, nhưng Ngân Linh lại vô cùng cố chấp, Tiểu Đệ không chịu xuống nên cô bé cứ đứng dưới đất gào mãi.

Cố Cửu đang ở trong điện thờ phụ bên cạnh lau tượng, nghe thấy tiếng kêu thì ném khăn ướt sang một bên chạy ra ngó.
“Tiểu Đệ, Ngân Linh kêu nhóc kìa.”

Tiểu Đệ bất đắc dĩ “meo” một tiếng, duỗi người, đu theo cây cột to nhảy xuống, vừa đến nơi lập tức lười biếng nằm dài ra nền đất sưởi nắng tiếp.
Ngân Linh chạy đến bên cạnh, cẩn thận đội vòng hoa lên đầu Tiểu Đệ, còn v**t v* một bên tai còn nguyên vẹn của nó, phồng má khen ngợi: “Tiểu Đệ thật xinh đẹp.”
Tiểu Đệ ráng nể mặt rên lên một tiếng ai oán.
Cố Cửu phụt cười ra tiếng: “Ngân Linh, con lại quên nữa rồi, Tiểu Đệ là con trai, con trai thì không có khen là xinh đẹp.”
Ngân Linh nghịch ngợm lè lưỡi, đứng lên: “Tiểu Cửu thúc thúc, con ra sân sau thăm bé người giấy có được không?”
Đúng lúc Cố Cửu đang định thay nước nên đồng ý ngay: “Được chứ, Tiểu Cửu thúc thúc đi với con.”
Cố Cửu vừa đi vừa hỏi: “Con lên đây một mình hả?”
Ngân Linh trả lời: “Bạn thân của con đưa con lên.”
Cố Cửu à một tiếng: “Là bạn nam hả?”
“Dạ vâng ạ.”
“Vậy sao bạn con không vào đây chơi cùng?”
Ngân Linh chu chu miệng: “Bạn ấy không dám vào, bạn ấy sợ ạ.”
Cố Cửu cười, mấy đứa nhỏ dưới chân núi quả đúng là chỉ có một mình Ngân Linh thích lên đây chơi mà thôi, những đứa trẻ khác cậu đã từng gặp rồi, chúng chỉ dám đứng đằng xa tò mò nhìn vào đạo quan, vừa thấy Cố Cửu bước ra bèn chạy mất dạng.
Hai người đi ra sân sau, tiến lại gần một cây đào có tán cây khá lớn.

Năm thứ hai Cố Cửu đến đây ở đã trồng cây đào này, nó từ một cái hạt bé xíu lớn thành một cây đào cao to như hôm nay.

Dưới gốc cây đào có một nấm mồ nho nhỏ, phía trước cắm một bia mộ làm từ thẻ bài gỗ, bên trên để trống không ghi gì, bởi vì phía dưới nấm mồ này chôn rất nhiều rất nhiều người giấy nhỏ.
Hồi đầu lúc Cố Cửu mới bắt đầu chôn người giấy, Thiệu Dật còn không ưng lắm, hắn cảm thấy Cố Cửu dành quá nhiều tình cảm cho chúng nó.
Nhưng Cố Cửu chẳng có cách nào khống chế cảm xúc của mình.

Lúc những người giấy còn sống, chúng nó có thể nói, có thể đùa nghịch, có thể làm nũng.

Trong lòng Cố Cửu, những nhóc người giấy đó chẳng khác gì người sống cả.
Tuổi thọ của người giấy rất ngắn, nếu không may mắn được hưởng công đức cam lộ thì nhiều nhất chỉ tồn tại được mười ngày, sau mười ngày sẽ vĩnh viễn ra đi.

Mặt mũi của chúng nó không giống nhau, tính cách cũng không đứa nào giống đứa nào.

Có nhóc thì hoạt bát, có nhóc lại hay thẹn thùng, cũng có nhóc kiêu ngạo lém lỉnh, mỗi người giấy đều là độc nhất vô nhị.

Không phải bọn chúng không ý thức được sinh mệnh ngắn ngủi của mình, chúng nó biết mình sẽ sống được bao lâu, thế nhưng lúc đối mặt với việc sắp mất đi sự sống, chúng chưa bao giờ buồn rầu.

Người giấy nói đối với chúng, có thể được sống trên đời này một lần cũng đã hạnh phúc lắm rồi.
Sau khi chúng mất đi, sẽ có người giấy mới nhanh chóng xuất hiện thay thế để giúp chủ nhân làm việc, nhưng nếu sau khi chúng nó biến mất, ngay cả chủ nhân đã tạo ra chúng cũng không còn nhớ đến chúng thì thật đáng buồn biết bao.

Có lẽ khi đó người giấy nhỏ mới thật sự cảm thấy bi thương.
Lúc còn trên đời là một nhóc người giấy vui vui vẻ vẻ, thì sau khi mất đi, có chủ nhân bầu bạn nhớ về, hẳn cũng sẽ là một nhóc người giấy vui vui vẻ vẻ..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 26: 26: Đám Cưới Ma


Bình thường Cố Cửu và Thiệu Dật đều cố gắng tránh không để người khác biết đến sự tồn tại của những người giấy.

Nhưng có một lần, đúng lúc Cố Cửu đang vẽ người giấy thì Ngân Linh đột nhiên chạy vào tình cờ nhìn thấy.

Khi đó cô bé cực kì thích thú, còn chơi đùa với nó thật lâu, lúc nhóc người giấy đó ra đi, Ngân Linh khóc thê thảm vô cùng.
Ngân Linh lấy hoa dại trong rổ ra đặt trước nấm mộ, Cố Cửu thì đi thay nước sạch để lau tượng, cậu để cô bé ở lại tự mình thì thầm trò chuyện với người giấy.
Một lát sau, Ngân Linh muốn xuống núi, Cố Cửu liền tạm ngưng việc trong tay để đưa bé xuống.

Trên đường đi, Cố Cửu thấy Ngân Linh cứ liên tục nhìn quanh quất bèn hỏi: “Con tìm gì vậy?”
Ngân Linh trả lời: “Con tìm Tiểu Thụy, bạn ấy đã nói sẽ chờ con ở đây.”
Cố Cửu rất ít khi tiếp xúc với mấy đứa bé khác dưới chân núi nên không biết tên của chúng.

Cậu cười nói: “Chắc Tiểu Thụy chạy đi chỗ khác chơi rồi, con xuống dưới ghé ngang nhà bạn ấy xem bạn ấy về chưa.”
Ngân Linh ở trên đạo quan gần nửa giờ, hẳn là cậu bé kia đã sớm đi mất rồi, trẻ con mà, phải đợi lâu thì rất chóng chán.

Hai ngày sau là ngày sinh thần của Đẩu Mẫu.
Thái Nguyên Quan không lớn lắm, chỉ có ba điện thờ, dạo qua một vòng là hết, nhưng mấy năm nay nhờ có hai sư huynh đệ Cố Cửu ở lại nên số người biết đến nơi này càng ngày càng nhiều, biết hai người họ xem bói rất linh nghiệm, vì thế vào mỗi dịp lễ lạt trong quan cũng khá bận rộn.

May mắn là số người tin thờ Đẩu Mẫu Nguyên Quân không nhiều nên dù khách thập phương có tấp nập hơn bình thường thì Thiệu Dật và Cố Cửu vẫn cáng đáng nổi.
Sau khi tiễn vị tín hữu cuối cùng rời khỏi đạo quan, Cố Cửu chạy lại bàn rót trà liên tục.

Cậu ngồi tính quẻ suốt cả ngày hôm nay, khàn cả giọng luôn.

Thiệu Dật cũng chẳng khá hơn là bao, trong tay hắn cũng cầm một chén trà, thỉnh thoảng nhấp một ngụm.
Thiệu Dật hỏi: “Hôm nay ăn gì?”
Cố Cửu úp sấp trên bàn, nghiêng mặt ậm ừ trả lời: “Hôm nay Trần đại tẩu có cho mấy đĩa thức ăn và bánh bột ngô, lát nữa làm đại món gì ăn thôi.”
Vì chuẩn bị cho ngày hôm nay mà đã mấy ngày rồi Cố Cửu chạy tới chạy lui lo đủ việc trong ngoài, mệt muốn chết, bây giờ mọi chuyện xong rồi, được thả lỏng rồi nên cậu chẳng muốn động đậy nhúc nhích gì nữa.
Thiệu Dật đặt chén trà xuống: “Ta đi rửa rau.”
Bao nhiêu năm rồi mà tay nghề nấu nướng của Thiệu Dật vẫn chẳng khá khẩm hơn là bao, vì vậy bình thường hắn sẽ sơ chế nguyên liệu rồi để Cố Cửu đảm nhiệm bếp chính.
Cố Cửu nghe Thiệu Dật nói thì chỉ quờ quạng vẫy tay như con rối đứt dây, tỏ ý tiễn người.
Lúc Thiệu Dật làm xong đi lên định gọi Cố Cửu xuống nấu thì phát hiện ra cậu đã ngủ khì từ bao giờ.

Thiệu Dật đẩy đẩy đầu Cố Cửu: “Cố Cửu, đừng ngủ, dậy nấu cơm.”
Mắt Cố Cửu díp cả lại không mở lên nổi, mềm mụp mà làm nũng, mè nheo với Thiệu Dật: “Sư huynh, cho đệ ngủ một xíu nữa đi.”
Thiệu Dật nói: “Muốn ngủ thì về phòng mà ngủ, bị bệnh rồi lại bắt ta chăm.”
Cố Cửu sợ lạnh, quanh năm phải chống chọi với âm khí trong cơ thể nên cậu rất hay bị bệnh, ngay cả mùa hè cũng dễ bị cảm vặt.

Cố Cửu lẩm bẩm lầm bầm vài tiếng vô nghĩa, không thèm nhúc nhích.

Thiệu Dật lại đưa tay đẩy cậu lần nữa, nào ngờ cái đầu nhỏ xinh kia tham hơi ấm, một mực dính lấy đôi tay ấm sực của Thiệu Dật, tì cả khuôn mặt lên đôi tay nóng hầm hập của sư huynh mình, rồi nằm im.
Thiệu Dật phẩy phẩy tay, nhìn thấy Cố Cửu co rụt bả vai thì không kiên nhẫn mà hừ một tiếng.

Hắn rút tay về, khom lưng bế ngang hông Cố Cửu lên, nhíu mày: Sao lại có cảm giác nhẹ đi nhỉ?
Cố Cửu thoải mái ủn ủn đầu vào bả vai Thiệu Dật, cảm giác thật dễ chịu, cứ như đang cuộn mình trước một cái lò sưởi khổng lồ vậy, suиɠ sướиɠ tận cùng.

Được sư huynh bế trở về phòng, Cố Cửu cứ thế khò khò ngủ say sưa không tỉnh.
Thiệu Dật đặt Cố Cửu lên giường, đắp chăn cho cậu cẩn thận xong mới đi xuống bếp.

Kết quả có thể đoán được, cơm chiều hôm nay Thiệu Dật nấu, tuy mùi vị chẳng ngon nghẻ gì cho cam nhưng ít nhất cũng là cơm canh nóng sốt.

Hắn biết Cố Cửu không ăn lạnh được nên đã hâm đồ ăn rất kĩ.
Cố Cửu đánh được một giấc no nê liền lên tinh thần hẳn, vừa tỉnh dậy đã được Thiệu Dật gọi đi ăn cơm.

Cậu húp một ngụm canh, canh trôi đến đâu người nóng lên đến đó.

Cố Cửu bưng chén hớn hở ca ngợi: “Sư huynh tuyệt nhất!”
Thiệu Dật không buồn ngẩng lên, đáp: “Có nịnh ta thì cũng là đệ rửa chén.”
“Đệ rửa, đệ rửa mà.”
Trong hai người thì cuối cùng Thiệu Dật lại là người ăn chậm hơn.

Hắn ngược với Cố Cửu, không ưa thức ăn nóng, đặc biệt là vào mùa hè.

Lúc vào hè, mỗi khi làm xong cơm Cố Cửu sẽ không dọn lên bàn ngay mà đặt vào chậu nước lạnh một chốc cho nguội bớt.

làm như vậy thì khi dọn cơm lên Thiệu Dật có thể ăn được ngay.

Hôm nay Thiệu Dật nấu ăn, không chú ý đến việc này nên lúc ăn hắn phải cầm quạt quạt lia lịa một hồi mới ăn được canh.
Mà dù đã quạt cho nguội bớt rồi nhưng Thiệu Dật vẫn cứ đổ mồ hôi ròng ròng.

Mùa hè trời nóng, Cố Cửu cũng bất lực, thời đại này làm gì có quạt hay máy điều hòa.

Cố Cửu ăn xong trước bèn ngồi một bên quạt cho Thiệu Dật đỡ nóng.
Càng lớn Thiệu Dật càng thành thạo trong việc khống chế khí Kim Canh, mấy năm nay hắn rất ít khi bị thương vì khí Kim Canh hoành hành trong cơ thể.

Tuy nhiên, chỉ cần ngày nào chúng còn tồn tại thì ngày đó hắn vẫn còn như đeo gông xiềng nặng nề, cho nên cái tính hay cáu bẳn, hở một tí là nhăn mặt ngày xưa vẫn không thay đổi chút nào.
Giải quyết xong cơm tối, Cố Cửu đi xuống bếp dọn dẹp, sẵn tiện đun nước tắm luôn.

Thiệu Dật thì đã đi tắm rồi, hắn ưa xách nước giếng ngoài sân vào để xối thẳng lên người, như vậy mới thấy dễ chịu.
Cố Cửu vừa mới vừa xếp chén dĩa sạch sẽ lên chạn bếp xong thì bỗng dưng nghe thấy một tiếng khóc không biết từ đâu vọng đến, tiếng khóc văng vẳng lúc có lúc không, u oán nức nở.

Cậu vội vàng lau tay qua loa rồi chạy ra xem, Thiệu Dật cũng từ trong phòng tắm bước ra, tóc còn ướt đẫm bết lại trên trán, trên người hắn chỉ mặc độc một chiếc quần dài, nước nhỏ tong tong.
Cố Cửu nói: “ Huynh mặc đồ trước đi, để đệ ra xem cho.”
Sau đó, Cố Cửu theo tiếng khóc lần ra ngoài, thì ra là âm thanh từ ngoài cổng đạo quan vọng vào.

Lúc cậu ra tới nơi, Tiểu Đệ đã đứng sẵn cạnh cửa từ lúc nào, đôi mắt mèo xanh lục tỏa sáng lập lòe trong đêm.
Cố Cửu lên tiếng hỏi: “Ai ở ngoài đó?”
Không có ai đáp lại, chỉ có tiếng than khóc càng rõ rệt hơn.
Đừng nói là quỷ nha? Nếu là quỷ thật thì con quỷ này lá gan cũng mập lắm, dám đứng khóc ngay trước cửa đạo quan, đời quỷ rơi vào bế tắc hay sao vậy trời?
Cố Cửu thò tay lấy hai lá bùa ra sẵn để đề phòng tình huống bất ngờ rồi mới đi mở cửa.
Trời vẫn chưa tối hẳn, còn đang nhá nhem, Cố Cửu vừa mở cửa thì quả nhiên thấy cách cổng lớn khoảng năm mét là một con quỷ đang đứng khóc, khóc thê thảm đến mức nước mắt nước mũi tèm lem.

Nó vừa thấy Cố Cửu bước ra bèn mừng rỡ bước lên trước hai bước, nhưng sau đó lại sợ hãi giật lùi về ngay.
Con quỷ này là quỷ nam, đồ mặc trên người đều là hàng tơ lụa tốt, có thể thấy được lúc còn sống xuất thân từ gia đình giàu có, chỉ là ánh mắt cậu ta nhìn Cố Cửu có vẻ nhát gan sợ sệt.

Cố Cửu thấy trên người con quỷ này không có ánh đỏ, tức là chưa từng làm điều ác, không biết tại sao rõ ràng nhút nhát như vậy mà lại dám một thân một mình chạy tới đạo quan đứng khóc lóc ỉ ôi thế này.
Đúng lúc này, Thiệu Dật cũng ra tới, hỏi: “Sao lại thế này?”
Cố Cửu đã kịp hỏi han gì đâu, còn chưa kịp trả lời thì con quỷ phía xa xa lắp bắp lên tiếng trước: “Ngân…Ngân Linh!”
Cố Cửu nghi hoặc quay lại: “Ngân Linh? Là Trần Ngân Linh ở dưới chân núi sao? Nó bị làm sao?”
Con quỷ đột nhiên òa lên khóc tức tưởi như một đứa bé: “Ngân Linh bị…bị người xấu bắt mất rồi!”
“Làm sao lại thế?” Vừa nghe Ngân Linh xảy ra chuyện, Cố Cửu nghiêm mặt ngay.

Sáng nay cậu vừa mới gặp cô bé theo mẹ lên núi dâng hương, cô bé còn cho Tiểu Đệ mấy quả dại vừa hái được kia mà.
Cố Cửu bước lên vài bước định hỏi cho rõ đầu đuôi, ai ngờ con quỷ này to xác mà nhát gan kinh khủng, cậu vừa tới gần thì nó liền co rúm người ngồi phịch xuống đất la oai oái như sắp bị diệt khẩu đến nơi.
Hai lỗ tai Thiệu Dật đột ngột bị kh*ng b* làm hắn giật nảy mình, nhìn thấy đối phương khóc la thảm thiết quá hắn mới ráng dằn xuống h*m m**n hành hung con quỷ trước mặt ngay và luôn.
Cố Cửu lùi về phía sau một chút, ngồi xổm xuống trấn an cậu ta: “Bọn tôi tuy là đạo sĩ thật, nhưng không phải quỷ nào cũng bắt đâu.

Cậu đừng khóc, cậu nói Ngân Linh bị bắt đi rồi, vậy cậu có biết là bị ai bắt đi, mất tích ở chỗ nào không? Rồi cha mẹ của Ngân Linh có biết chưa?”
Cố Cửu ngồi xuống như vậy để cố gắng giảm bớt cảm giác uy hϊếp cho người đối diện.

Con quỷ nhát hít này kêu la ầm ĩ một hồi thì bắt đầu sụt sịt, trông cũng khá hơn một tí.

Cậu ta sợ thì sợ thật, nhưng sau cùng vẫn không quên mục đích mình mạo hiểm tới đây, bất chấp cả nguy cơ bị đạo sĩ bắt được.

Cậu ta cố gắng hết sức giữ bình tĩnh, bắt đầu run rẩy kể lại sự tình.

Khổ nỗi con quỷ này tuy đã thành niên nhưng đầu óc chỉ như một đứa trẻ lên bốn lên năm, nói năng lộn xộn rời rạc, lại hay quên, một ý nói đi nói lại quá nhiều lần.

Hơn nữa cậu ta còn bị tật nói lắp, lại thêm nhát gan, kể tới đoạn nào đáng sợ thì vừa nói vừa mếu máo.
Thiệu Dật vốn nóng tính không kiên nhẫn, hắn mới vừa nghe được vài câu thì đã che tai lại không thèm nghe nữa, đợi Cố Cửu nghe xong rồi thuật lại vậy, kẻo hắn kìm không được ra tay trừ tà mất.

Cố Cửu vật vã một hồi mới nghe hiểu hết, cậu nhìn con quỷ nọ, nói: “Thì ra cậu chính là Tiểu Thụy, bạn thân của Ngân Linh.”
Lúc còn bé, Ngân Linh đã từng bị bắt gặp nói chuyện với không khí nên cha mẹ bé mới lên đạo quan nhờ hai người giúp đỡ.

Tuy nhiên, thẻ bài hộ thân bé đeo trên người cũng chỉ ngăn quỷ quái làm hại bé chứ không đảm bảo bé không thấy được quỷ nữa, không ai ngờ cô bé con này bá đạo đến mức dám kết bạn với cả quỷ.
Nơi Ngân Linh gặp chuyện không phải ở gần đây, Tiểu Thụy mô tả cũng mơ hồ, xem ra phải xuống núi hỏi hai vợ chồng nhà họ Trần thì mới có manh mối.
Cố Cửu và Thiệu Dật trở vào trong lấy đồ đạc, bế cả Tiểu Đệ theo, sau đó vội vàng đi một mạch xuống núi, Tiểu Thụy thì bay phất phơ theo phía sau.
Xuống đến nơi, nhóm Cố Cửu thấy trong nhà Ngân Linh đang sáng đèn, đầy vẻ ấm áp thanh bình.

Cố Cửu tiến lên gõ cửa, hai vợ chồng nhà họ đang ăn cơm, thấy bọn họ đột ngột xuống núi ngay trong đêm tối thì giật mình: “Trời đã tối thế này rồi mà hai vị đạo trưởng còn phải ra ngoài sao?”
Cố Cửu chỉ cười một tiếng, hỏi đơn giản: “Sao không thấy Ngân Linh vậy Trần đại ca?”
Trần Lượng đáp: “Bà ngoại con bé không được khỏe, nhớ cháu nên bảo cậu cả nó sang đón về thăm.”
“Đi từ chiều phải không ạ?”
“Đúng vậy, cho con bé ăn cơm xong là đi ngay.

Có chuyện gì sao?”
Cố Cửu thở dài, không giấu diếm: “Tôi cho rằng Ngân Linh đang gặp nạn, bát tự của Ngân Linh vốn âm, tôi nghi ngờ có người mang cô bé đi làm đám cưới ma.”
“Đám cưới ma!?” Cha mẹ Ngân Linh hoảng sợ hét lên.
Trần Dư thị kinh hãi hỏi dồn: “Cố đạo trưởng, làm sao cậu biết? Sao cậu biết Ngân Linh xảy ra chuyện?”
Cố Cửu nói: “Chúng ta vẫn nhanh chóng đến nhà anh trai tẩu xem sao đã, tôi sẽ thuật lại trên đường đi.”
Trần Lượng chỉ luống cuống một lát rồi trấn tĩnh lại ngay.

Anh ta rất tin tưởng bản lĩnh của Cố Cửu và Thiệu Dật, đặc biệt là Thiệu Dật, người được Phương Bắc Minh dạy dỗ từ tấm bé.
Trần Lượng nói: “Tôi đi lấy xe bò.”
Trần Dư thị chùi nước mắt: “Tôi cũng đi.”
Cố Cửu gật đầu đồng ý, đó là nhà mẹ đẻ của chị ấy, có việc gì chị ấy đứng ra nói cũng dễ xử lí hơn.
Có ánh trăng soi đường, bốn người một mèo và một quỷ nhát gan vội vàng lên đường sang thôn bên nhà mẹ đẻ của Trần Dư thị.

Hai nơi cách nhau không xa mấy, xe bò chạy khoảng một canh giờ thì đến thôn họ Dư.
Đêm đã khuya, trong thôn ngoại trừ tiếng chó sủa thì không còn tiếng động nào khác, bốn bề vắng lặng, trời tối đen như mực.

Nhà họ Dư sống trong căn nhà ngói gạch xanh kiểu tứ hợp viện ở cuối thôn, hai huynh đệ Cố Cửu đi theo Trần Dư thị đến trước cửa nhà.

Nhà họ có nuôi chó, nó vừa nghe thấy âm thanh ngoài cửa thì sủa váng cả lên.
Cố Cửu nhịn lắm mới không phá cửa cho nhanh gọn lẹ, cậu ngoắc Tiểu Thụy lại, hỏi: “Ngân Linh đang ở dãy bên nào?”
Tiểu Thụy sợ sệt chỉ chỉ phía bên trái.
Cố Cửu quay sang nói với Trần Dư thị: “Ngân Linh có thể đang ở trong dãy phòng bên trái.”
Chị ta nói: “Đó là phòng ngủ của anh cả tôi.” Chị nói xong thì nhích gần lại bên cạnh chồng mình, trên đường đi chị đã nghe Cố Cửu kể rõ mọi chuyện, trong lòng rất cảm động.

Ban đầu nghe Cố Cửu nói người báo tin là một con quỷ thì chị cũng hoảng hốt, nhưng sau khi biết được con quỷ này vì lo lắng cho Ngân Linh mà dám mạo hiểm như vậy thì cảm thấy được an ủi hơn nhiều.
Họ vừa xác định xong vị trí của Ngân Linh thì trong nhà cũng thấp thoáng ánh đèn, có người bước ra quát con chó giữ nhà vẫn đang sủa không ngừng kia, bắt nó im lặng.
Cố Cửu né sang một bên, Thiệu Dật bước lên trước, tung chân sút một cú gọn gàng, hai cánh cửa gỗ kêu đánh “rắc” một cái, gãy lặt lìa văng ra xa.
“Có cướp!” Người vừa lò dò đi ra hoảng hồn hoảng vía, gã chỉ vừa la lên một tiếng, chưa kịp làm gì thì con chó bên cạnh gã đã nhanh hơn một bước, vồ lên.
Thiệu Dật nhanh như chớp vung roi quấn lấy con chó ném sang một bên.

Con chó không bị thương gì, còn toan nhào lên lần nữa thì bị Trần Dư thị nạt lớn.

Chị thường xuyên về thăm nhà nên con chó nhận ra chị, nó nghe thấy giọng quen bèn lùi lại, chần chừ không biết làm sao.
Người bước ra còn chưa kịp định thần thì đã tiếp tục bị dọa hết hồn khi thấy rõ người tới là ai.
“Muội?”
“Dư Đại Dũng, Ngân Linh nhà tôi đâu?!” Bao nhiêu cảm xúc lo lắng, nôn nóng và giận dữ của Trần Dư thị như bộc phát ra hết vào giờ phút này.

Chị ta chạy xộc qua túm chặt lấy cổ áo của anh trai mình, quát lớn.
Hai người Cố Cửu nhanh chóng chia nhau xông vào từng gian phòng một tìm kiếm Ngân Linh, để mặc kệ họ tranh chấp giằng co ngoài sân.
“Các người làm gì đó!” Dư Đại Dũng thấy vậy vội vàng tìm cách né khỏi em gái mình rồi chạy qua có ý đồ ngăn cản.
Đúng lúc này, Trần Lượng đá văng cửa một gian phòng, vừa nhìn vào đã thấy ngay con gái mình đang nằm trên giường.

Anh ta thở phào, thả lỏng một chút, quay đầu lại hô lớn: “Tìm được rồi!”
Cố Cửu và Thiệu Dật nghe thấy tiếng gọi thì dừng lại, chỉ chốc lát sau đã lục tục tiến vào phòng.
Lạ lùng thay, bên ngoài xôn xao ầm ĩ như vậy mà vẫn không làm Ngân Linh đang say ngủ thức giấc.

Trần Lượng ôm con gái vào lòng, lay lay mấy cái nhưng cô bé vẫn không nhúc nhích tí nào, thế là tâm trạng vừa mới tốt lên một chút của anh ta lập tức xấu đi.

Trần Lượng ngoái đầu lại, cầu cứu: “Đạo trưởng, con gái tôi làm sao thế này?”
Thiệu Dật và Cố Cửu cùng bước lại gần xem thử, đồng thanh thốt lên: “Hồn phách rời thân.”
(*) Đám cưới ma: nguyên văn là minh hôn.

Minh hôn còn được gọi là âm hôn hay đám cưới ma.

Minh hôn là đám cưới có sự kết duyên giữa hai người đã mất hoặc một người đã mất và một người còn sống.

Đây là một hủ tục vẫn còn tồn tại ngày nay ở nhiều vùng ở Trung Quốc..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 27: 27: Ham Chơi


Hồn phách rời thân hay còn gọi là chứng mất hồn.
Phàm là con người đều có ba hồn, chủ hồn, giác hồn và sinh hồn.

Chủ hồn đại diện cho ý thức, giác hồn đại diện cho tâm tính thiện ác, sinh hồn đại diện cho tuổi thọ.

Như Cố Cửu là trường hợp đặc biệt, âm khí quanh người cậu dày đặc nên dễ bị câu mất hồn, còn người bình thường đôi khi bị kinh sợ một cách đột ngột cũng có thể bị mất hồn, thỉnh thoảng nghe người ta đồn đại rằng người này người nọ bị dọa điên, sợ hãi đến mất hồn là vậy.
Hiện tại Trần Ngân Linh đang rơi vào trường hợp này, hơn nữa cô bé bị mất đi sinh hồn quan trọng nhất.

Cô bé vẫn còn hô hấp, trừ sắc mặt hơi tái ra thì trông giống như đang ngủ, nhưng nếu chẳng may sinh hồn đang lang thang bên ngoài của Ngân Linh gặp chuyện ngoài ý muốn thì cô bé sẽ không tỉnh lại được nữa, vĩnh viễn mất đi sinh mạng.
Hai vợ chồng Trần Lượng nghe Cố Cửu nói xong, Trần Lượng còn miễn cường kìm chế được một chút nhưng Trần Dư thị thì không khác gì người điên.

Chị bổ nhào vào người Dư Đại Dũng, liều mạng cào cấu khuôn mặt hắn ta.
“Dư Đại Dũng, anh nói mau! Anh làm gì con gái tôi rồi! Nó là cháu ruột của anh, là cháu ruột của anh! Sao anh lại ác độc như thế!”
Bên này nháo nhào ầm ĩ đánh thức những người khác trong nhà họ Dư, cha mẹ của Trần Dư thị và vợ của Dư Đại Dũng là Dư Vương thị cũng khoác thêm áo ngoài chạy qua xem.

Bọn họ thấy mặt mày của Dư Đại Dũng bị cào đến nỗi máu me đầm đìa thì vội vàng xông vào kéo hai người ra.
Mẹ của Trần Dư thị là Dư Mã thị, bà ta che chở cho Dư Đại Dũng, quát con gái: “Anh tử, đây là anh trai mày!”
Dư Anh vừa khóc vừa mắng: “Tôi không có người anh như vậy!”
Trần Lượng bước sang dìu vợ, nhìn một lượt cha mẹ vợ và anh vợ của mình, cố gắng nén giận nói: “Rốt cuộc các người đón Ngân Linh sang đây có mục đích gì?”
Cố Cửu và Thiệu Dật không thèm xen vào cuộc cãi vã bên kia, hai người dẫn Tiểu Thụy ra giữa sân, hỏi Tiểu Thụy lúc đó Ngân Linh bị dọa mất hồn ở đâu, bọn họ muốn biết chính xác chỗ để gọi hồn.
Tiểu Thụy sốt ruột gãi gãi đầu, chốc thì chỉ bên trái, lát sau lại chỉ sang phải, cuối cùng tự mình xoắn thành một cục khóc oa oa.
Lúc này không chỉ mình Tiểu Thụy khóc, tiếng khóc lóc bên kia cũng váng cả lên, xen giữa tiếng khóc là tiếng mẹ và chị dâu của Dư Anh la hét chói tai, tiếng thở hổn hển và quát tháo của lão Dư.
Cố Cửu và Thiệu Dật trở vào trong phòng thì thấy Dư Anh đang điên tiết nhào qua túm tóc Dư Vương thị giật mạnh, Trần Lượng thì đè anh vợ của mình trên sàn đấm đá không thương tiếc.
Bỗng nhiên sau lưng có tiếng bước chân dồn dập, Cố Cửu quay đầu lại liền thấy một người trạc tuổi Thiệu Dật cầm một cây gậy gỗ trong tay chạy tới.

Gã ta hung hăng đẩy bọn họ dạt ra, vọt vào phòng, giơ cao cây gậy nhắm vào đầu Trần Lượng định bổ xuống.
Thiệu Dật lập tức vung chuôi kiếm lên đỡ lấy cây gậy rồi hất ngược ra, chuôi kiếm xoay tròn vài cái đã đập mất cây gậy gỗ đi chỗ khác, rồi cũng là cái chuôi kiếm đó đánh một nhát lên vai gã thanh niên.

Thiệu Dật không hề nương tay, gã thanh niên đau đến nỗi la lên một tiếng thảm thiết, liên tục nhảy lùi về phía sau.
Thiệu Dật trừng mắt nhìn gã ta: “Muốn chết?”
Gã thanh niên co rúm lại, xoa xoa bả vai ăn đau, không dám tiến lên nữa.
Cố Cửu kéo Trần Lượng ra, khuyên anh ta bình tĩnh một chút, việc cấp bách trước mắt là phải tìm được sinh hồn của Ngân Linh về.

Cậu phải biết được Ngân Linh xảy ra chuyện ở nơi nào thì mới tìm được, mà vị trí thì chỉ có người nhà họ Dư biết mà thôi.
Trần Lượng đứng dậy thở hồng hộc, đôi mắt đỏ ngầu long sòng sọc.

Anh đá một cú vào chân Dư Đại Dũng: “Mang bọn tao đi, Ngân Linh mà có mệnh hệ gì tao sẽ không cho mày chết yên thân!”
Dư Đại Dũng bị tẩn một trận đến nỗi suýt đứng không vững, cuối cùng vẫn là Trần Lượng tóm lấy cánh tay của hắn lôi xềnh xệch ra ngoài.

Khi đi ngang qua gã thanh niên kia, gã ta vốn còn muốn đánh lén lần nữa, nhưng nào ngờ Trần Lượng tinh mắt, tống thẳng một cú vào bụng gã.

Gã ta đau đớn quỳ rạp trên mặt đất, bị ăn thêm mấy đá nữa, lăn lộn trên sàn không bò dậy nổi.
Dư Mã thị đau lòng chạy tới an ủi gã thanh niên, lão Dư thì mặt mày đen như mực bước ra, cùng với con dâu Dư Vương thị mỗi người đỡ một bên dìu Dư Đại Dũng đi.

Dư Anh ở lại chăm sóc cho con gái, hai người Cố Cửu thì đi cùng với đoàn người.
Trên đường đi, Cố Cửu đã biết vì sao vốn Trần Lượng còn đang tỉnh táo lại đột nhiên mất kiểm soát xông lên hành hung anh vợ của mình như vậy.
Thì ra nguồn cơn đều từ con trai một của Dư Đại Dũng mà ra, chính là gã thanh niên năm lần bảy lượt muốn đánh lén vừa rồi.

Gã tên là Dư Chí Trung, năm nay hai mươi hai tuổi.

Ở nơi này dù cho là nam hay nữ thì khoảng mười sáu mười bảy tuổi đều đã thành gia lập thất hết, cho nên gã đã hai mươi hai tuổi mà chưa kết hôn sinh con thì xem như trễ nải lắm rồi.
Sở dĩ Dư Chí Trung đến tuổi này rồi mà không lập gia đình là vì hắn ta quá kiêu căng ngạo mạn, gã không ưa những cô gái nông thôn, một lòng muốn tìm con gái trên trấn trên huyện.

Nhà họ Dư đủ ăn đủ mặc, còn tích góp được một khoản tiền, mỗi năm để dành được khoảng mười lượng bạc.

Điều kiện như vậy ở nông thôn thì đã coi như là rất tốt rồi, nhưng đối với những gia đình ở trấn hoặc ở huyện thì chẳng đáng để liếc mắt đến.
Nhưng trên đời này luôn có cái gọi là ngoại lệ, một lần nọ Dư Chí Trung lên trấn nhỏ gần thôn thì tình cờ gặp được một cô gái, gã ta mặt mũi cũng khá, lại có ý tán tỉnh nên cô gái kia cũng hơi động lòng với gã.
Thế nhưng cha mẹ cô gái nọ không đồng ý, bọn họ từ chối khéo bằng cách thách cưới tận một trăm lượng bạc mới chịu gả con gái cho.

Ý của họ là muốn cho Dư Chí Trung biết mình biết ta, tự thấy khó mà lui bước.
Nào ngờ Dư Chí Trung đúng là không có tiền thật, nhưng hắn không những không chịu từ bỏ như ý định của nhà cô gái kia mà còn thông báo cho người nhà, muốn bọn họ tìm cách gom đủ tiền.
Nhà họ Dư dành dụm bao nhiêu năm cũng chỉ được hơn năm mươi lượng bạc, còn lại phân nửa phải đi đâu mà kiếm đây.

Ban đầu bọn họ cũng phản đối việc hôn sự này, ai mà muốn vì một mối hôn sự mà táng gia bại sản đâu chứ, nhưng khổ nỗi cháu đích tôn quậy tưng bừng lên cả, quậy cho cả nhà không yên, cuối cùng bọn họ chỉ đành nhượng bộ, cả nhà sứt đầu mẻ trán chạy vạy vay mượn khắp nơi.
Đột nhiên Dư Đại Dũng nhớ đến em gái Dư Anh của mình, hắn ta cùng với Dư Chí Trung đánh xe bò sang nhà Dư Anh vay tiền.

Dọc đường đi, cha con họ Dư gặp hai người đi đường xin quá giang một đoạn.

Đang lúc thiếu tiền, mấy văn tiền xe thì cũng là tiền nên Dư Đại Dũng đồng ý ngay.
Ngồi trên xe buồn chán, mấy người bèn tán gẫu dăm câu với nhau, hai người nọ có nhắc đến một việc kì lạ.
Bọn họ kể rằng trên trấn nhỏ có một gia đình kia có độc một đứa con trai, nhưng đứa bé này vừa được tám tuổi thì bị bệnh nặng chết yểu.

Ít lâu sau hai vợ chồng cố gắng tìm thêm mụn con trai nữa, năm nay vừa được như ý.

Chẳng ngờ đứa nhỏ này vừa sinh ra thì nhà họ liên tục gặp chuyện ma quái, trong nhà có bóng quỷ lởn vởn suốt ngày suốt đêm làm cả nhà kinh hoàng không thôi.

Sau đó, gia đình nọ mời đạo sĩ đến xem, đạo sĩ phán rằng đứa con trai cả đã mất của bọn họ đang tác quái.
Trẻ con chết yểu không được thờ cúng trong phần mộ tổ tiên nên phải tìm nơi khác an táng.

Đứa nhỏ này bản tính nghịch ngợm lại ham chơi, thích nơi náo nhiệt, bây giờ bị chôn ở một chỗ xa xôi trơ trọi, không có cha mẹ người thân làm bạn nên thấy cô đơn.

Bây giờ cha mẹ lại có thêm một đứa con trai, đương nhiên nó sẽ căm ghét đứa em trai thay thế vị trí của nó, hận cha mẹ lãng quên nó, thế nên mới quấy phá như vậy.

Nếu muốn trấn an nó thì có thể làm cho nó một cái đám cưới ma, cưới vợ về có người chơi cùng với nó là yên chuyện.
Thế là gia đình đứa nhỏ đó bắt đầu tìm bé gái đã chết cỡ tuổi con trai mình để hỏi làm đám cưới ma, nhưng mà bọn họ tìm khắp nơi đều không có ai hợp tuổi với con mình.

Bọn họ bí quá hóa liều, muốn tìm luôn người sống, lân la dò hỏi các bé gái có bát tự thiên âm.

Người trong trấn đều biết việc này, nào có ai đồng ý việc táng tận lương tâm như vậy, cho nên bọn họ bắt đầu chuyển hướng đến các thôn xóm hẻo lánh.
Hai người quá giang xe này là thân thích của nhà đó, bọn họ nói nhà đứa bé trai kia hứa nhà nào đồng ý thì sẽ cho nhà đó một trăm lượng sính lễ.

Các thôn làng xưa nay không xem trọng con gái, dù biết rõ làm đám cưới với người chết cho một người còn sống sờ sờ là việc thất đức nhưng tiền nhiều như vậy thì thế nào cũng có người động lòng.
Quả nhiên có không ít nhà nghèo khó dẫn con gái nhỏ nhà mình đến, không những phải hợp bát tự mà con quỷ kia cũng phải thích mới được.

Bọn họ dẫn con đến cho con quỷ nhỏ kia xem trước, nếu nó thích thì mới tính đến chuyện cưới xin.
Dư Đại Dũng nghe đến đây thì lạnh toát sống lưng, xem mắt với một con quỷ?
Dư Chí Trung thì chẳng sợ hãi gì, không những vậy gã còn để ý đến trăm lượng sính lễ kia, trong lòng xẹt qua một ý nghĩ độc ác, chờ đến khi nghe đến bát tự bên kia cần thì gã đã âm thầm ra quyết định.
Sau khi hai người qua đường xuống xe, gã lập tức nói với Dư Đại Dũng, nếu gã nhớ không lầm thì đứa con gái của cô có bát tự vô cùng thích hợp, hơn nữa lúc nhỏ con bé đó còn nói chuyện với quỷ, âm khí nặng, không phải vừa xứng với con quỷ nhỏ kia sao?
Thật ra ban đầu Dư Đại Dũng không đồng ý, đó là cháu ruột của hắn, đứa nhỏ đó xinh xắn đáng yêu lại thông minh lanh lợi, hắn vẫn có lòng quý nó.

Dư Chí Trung thì khăng khăng giữ ý của mình, gã nói cháu gái làm sao quan trọng bằng con trai ruột được.

Chỉ là một con nhóc con mà thôi, làm đám cưới với một con quỷ cũng đâu có chết, sau này cứ đối xử tốt với nhà cô là được, từ từ rồi bồi thường sau.

Bọn họ chỉ cần giấu kĩ một chút, con bé kia quay về cũng không nhìn ra vấn đề ngay được, sau đó dù nó có làm sao cũng không dây đến nhà bọn họ.
Lúc ấy Dư Chí Trung còn thờ ơ nói ai mà không thích con trai, cô và dượng vẫn còn trẻ, sau này chắc chắn sẽ tiếp tục có con trai, đợi bọn họ có con trai rồi sẽ không còn để ý đứa con gái đầu nhiều như bây giờ nữa, nó có gặp chuyện gì cũng chẳng làm lớn chuyện đâu.
Dư Đại Dũng bị con trai thuyết phục, hai người bàn bạc lại lý do đến gặp Dư Anh, lừa gạt hai vợ chồng Trần Lượng dẫn Ngân Linh đi.
Sau khi đón được Ngân Linh đi, bọn họ không về nhà ngay mà dựa theo lời hai người kia nói, dò tìm chỗ của gia đình nọ.

Cuối cùng bọn họ cũng tìm được đến nơi, còn báo bát tự của Ngân Linh cho nhà đó.
Không phụ sự mong đợi của hai cha con họ Dư, bát tự của Ngân Linh là cái thích hợp nhất trong những cái nhà đó từng xem qua.

Bọn họ nhìn thấy bé gái ăn mặc giống với hai người đưa tới, hẳn là hoàn cảnh cũng giống với những gia đình đến trước đó, chỉ là đứa con gái không được xem trọng mà thôi.

Vì thế, người nhà này cũng chẳng thèm để ý nhiều, giao Ngân Linh cho tên đạo sĩ bọn họ mời đến, tên đạo sĩ kia lại đưa Ngân Linh vào một gian nhà khác.
Sau khi Ngân Linh đi vào đã xảy ra chuyện gì thì hai cha con họ Dư không hề hay biết, chỉ nghe được tiếng nói bực bội của Ngân Linh, dường như cô bé đang xua đuổi cái gì đó, cô bé kêu la tôi không muốn chơi với cậu, không được ăn hϊếp Tiểu Thụy… Sau cùng, chỉ nghe Ngân Linh hét lớn một tiếng, lúc cô bé được đưa ra thì đã hôn mê bất tỉnh.
Lúc ấy cha con họ Dư còn tưởng việc này không thành, nào ngờ tên đạo sĩ vô cùng hài lòng, còn nói rằng đứa con trai lớn của nhà này rất thích Trần Ngân Linh, muốn cưới cô bé về làm vợ.

Tên đạo sĩ dặn bọn họ cứ đem Trần Ngân Linh về trước, hai ngày sau bên bọn họ sẽ đến đón người để tiến hành nghi thức bái đường thành thân.
Bọn họ vạn vạn không ngờ tới Ngân Linh cứ mãi hôn mê như vậy, gọi thế nào cũng không tỉnh.
Một cô bé còn đang sống sờ sờ, lúc đưa về nhà họ Dư thì mềm oặt bất tỉnh nhân sự, việc này không tài nào giấu được những người khác trong nhà.

Dư Đại Dũng đành phải kể lại đầu đuôi câu chuyện, bị cha mẹ đánh chửi một trận.

Thế nhưng đánh xong chửi xong thì mọi người bắt đầu đau đầu không biết phải giải quyết hậu quả thế nào cho tốt.

Cả nhà đi ngủ mà cứ chập chờn trong lo âu, hiện tại nhà họ Dư mới sợ hãi, lỡ đâu Ngân Linh có chuyện gì thì không biết phải ăn nói ra sao với nhà họ Trần.

Chỉ có Dư Chí Trung là rầu rĩ nếu Ngân Linh vẫn không tỉnh dậy thì chẳng biết đám cưới có còn tổ chức đúng hạn được hay không.
Kết quả là cả nhà còn chưa kịp nghĩ ra cách gì để lấp l**m thì hai vợ chồng nhà họ Trần đã tới tận nơi đòi người..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 28: 28: Gạt Quỷ


Đối với Cố Cửu, đêm hè không khác ngày đông là mấy, cậu rúc thành một cục trên xe ngựa, Tiểu Đệ thì ngồi chễm chệ trên đầu gối nhóc con của mình.

Cố Cửu lòn tay xuống dưới bụng mèo ủ ấm, cảm thấy ấm áp khoan khoái làm sao.

Để cho mình càng được dễ chịu hơn, Cố Cửu liên tục thò tay chọt chọt Thiệu Dật, chọt đến nỗi sư huynh phải quay sang liếc xéo cậu một cái sắc lẻm.

Nhưng mà dù Cố Cửu có quậy cỡ nào thì hắn cũng hằm hè vậy thôi chứ không hề dời chỗ ngồi.
Chỗ gia đình kia ở cách thôn họ Dư khá xa, bằng không thì chuyện đám cưới ma đã sớm râm ran ở khu vực quanh đây rồi, xe ngựa phải đi khoảng hơn ba giờ mới đến nơi.
Đoàn người dựa theo lời chỉ đường của Dư Đại Dũng tìm đến nhà tổ của gia đình kia.

Xe còn đang di chuyển, bọn họ bỗng nghe được tiếng đóng cửa sổ của vài căn hộ ở hai ở bên đường, làm mọi người có cảm giác như đang bị nhìn lén.

Một lúc sau, xe ngựa dừng lại trước cổng một ngôi nhà lớn.
“Là chỗ này.” Dư Đại Dũng bước lảo đảo từ trên xe xuống.
Cố Cửu ngẩng đầu quan sát, trên cửa lớn có treo tấm biển ghi “Tạ trạch”, cái đáng nói là khoảng không phía trên ngôi nhà này đang có một đám âm khí lởn vởn.
Đang đêm khuya mà tòa nhà này ầm ĩ vô cùng, hai cánh cửa đóng chặt bị người ở phía trong đập dữ dội đến nỗi phát ra tiếng “bang bang bang” nhưng lại không tài nào mở ra được, có tiếng người la hét ỏm tỏi, có người khóc lóc van xin, còn có người quát lớn: “Dẫn ngươi đi tìm con bé kia là được chứ gì!”
Cố Cửu tiến lên vỗ vỗ vào cửa lớn, nói với người phía sau cánh cửa: “Mấy người bên trong tránh ra, tôi phá cửa.”
“Cứu mạng!” Người sau cánh cửa nghe được bên ngoài có tiếng người tới thì đột nhiên im phăng phắc, sau khi định thần lại bèn la lớn kêu cứu.
Cố Cửu lại hô một tiếng bảo bọn họ né ra, sau đó vẫn là Thiệu Dật tung cước đá văng cửa nhà họ Tạ.

Cửa vừa thông, đoàn người lục tục đi vào, bên trong có lác đác mấy người, ai nấy đều nhào tới chạy thục mạng ra ngoài.
Trong nhà cực kì lộn xộn, mấy miếng ngói trên mái nhà và một đống hoa cỏ còn dính bùn đất đang múa may bay lượn giữa sân, thỉnh thoảng còn công kích những người chưa kịp chạy đi.

Nhóm Cố Cửu vừa đi vào liền có một cái chậu hoa xông thẳng ra nghênh tiếp.

Người bình thường nhìn không thấy gì nhưng sư huynh đệ Cố Cửu thì nhìn thấy một đám âm khí đang bị thao túng tác oai tác quái.

Cố Cửu tùy ý phất tay một cái, đám âm khí đó tan rã ngay lập tức, những đồ vật đang quay tròn trên không trung cũng đồng loạt rơi xuống đất hết.
Tuy rằng âm khí trong người tra tấn Cố Cửu triền miên, nhưng cũng chính nhờ vậy mà mỗi khi so về âm khí thì trừ phi đối phương là lệ quỷ thọ mấy trăm năm trở lên hãy so, nếu không thì còn lâu mới mong chiếm được phần thắng trước mặt cậu, dù sao thì Cố Cửu cũng là nhân vật từng nuốt mất phân nửa con tiểu quỷ vương.
Đám âm khí kia biến mất, mọi người đều hoảng hốt khi nghe thấy tiếng hét dữ dội của một đứa con nít.

Sau khi tiếng hét chấm dứt, sân nhà cũng yên tĩnh trở lại.
Trong sân lúc này chỉ còn lại hai người đàn ông, bộ dáng vô cùng chật vật.

Người trẻ tuổi hơn dựa vào cách ăn mặc có thể đoán được là một thương nhân, người còn lại lớn tuổi hơn, khoác đạo bào, trên cằm ông ta còn dính vệt máu chưa kịp lau sạch, râu thì giống như bị ai cắt mất một nửa.
Cố Cửu đoán người trẻ tuổi hơn là chủ nhà này, còn người mặc đạo bào hẳn là tên đạo sĩ được bọn họ mời đến, là kẻ mách nước chuyện làm đám cưới ma.
“Các người là ai?” Chủ nhà nghi hoặc đánh giá nhóm người đột ngột xuất hiện này.
Tên đạo sĩ thì chú ý đến Cố Cửu và Thiệu Dật: “Các ngươi cũng là đạo sĩ à?”
Thiệu Dật xưa nay mặt lạnh, Cố Cửu lần này cũng không thèm tiếp lời, chỉ tập trung quan sát tòa nhà lớn trước mắt.

Trần Lượng là người đứng ra nói chuyện.

Anh căm tức nhìn trừng trừng hai người nọ:
“Mấy người chính là đám người bắt bé gái làm đám cưới ma với một con quỷ đúng không?” Vừa hỏi xong, không đợi ai trả lời, Trần Lượng đã thò tay túm lấy Dư Đại Dũng lôi ra.

“Bé gái chiều nay tên này mang tới là bị lừa đi, tôi là cha của nó, chuyện này tôi không đồng ý, các người mau dừng lại ngay.”
“Sao lại như thế được!” Chủ nhà họ Tạ kêu lên.

“Ta đã đưa một nửa sính lễ rồi, nếu chê ít thì thêm tiền là được chứ gì.”

Trần Lượng cả giận nói: “Mớ tiền đó cũng không phải tôi lấy.” Anh móc năm mươi lượng bạc mà Dư Đại Dũng còn chưa kịp cầm nóng tay ra ném xuống đất: “Ai thèm mấy đồng tiền dơ bẩn này chứ!”
Tên đạo sĩ trung niên vội la lên: “Nhưng mà bát tự của cô bé kia ta đã đốt trình lên rồi, xem như đã đính hôn, bây giờ trừ phi cậu cả nhà này chủ động từ hôn…”
Cố Cửu quay đầu nhìn qua, nói như vậy nếu cậu cả nhà họ Tạ không đồng ý từ hôn thì dù không làm đám cưới đi nữa, Ngân Linh cũng sẽ bị cậu ta đeo bám mãi không tha.
Tên đạo sĩ tiếp tục nói: “Ta cũng không biết có chuyện gì xảy ra, ban chiều cậu cả còn bình thường kia mà, không rõ vì sao đột nhiên đến tối lại quậy lên, bắt bọn ta phải lập tức đưa cô bé sang đây, đòi làm đám cưới ngay…”
Cố Cửu lạnh lùng nói: “Chẳng lẽ lúc chiều ông không nhìn ra cô bé bị dọa sợ đến nỗi sinh hồn rời khỏi thân thể, cho nên mới hôn mê bất tỉnh?”
Tên đạo sĩ kinh ngạc nói: “Thật sao? Ta…không biết.”
Thiệu Dật hừ lạnh như cười nhạo tên đạo sĩ kia, hàm ý ông cũng chỉ thường thôi, một người đang sống khỏe mạnh bị dọa đến nỗi bay mất hồn ngay trước mặt mà chẳng hay biết gì.
Cố Cửu cũng không nhiều lời, cậu lấy ra một chiếc đũa và một cái chén rồi đổ nước sạch vào, sau đó cắm chiếc đũa vào trong nước, đưa mắt nhìn xung quanh, miệng lầm rầm niệm chú: “Hồn phách lang thang nơi nào, chớ lạc vào chốn rừng thiêng nước độc.

Nay kính nhờ chư vị sơn thần, tướng quân, thổ địa, táo quân tìm giúp hồn này.

Hồn bám vào người, thần trí khôi phục.”
Thiệu Dật gõ gõ chuôi kiếm vào người Trần Lượng, ra hiệu cho anh gọi tên Ngân Linh.
“Ngân Linh! Con gái, con đang ở đâu?”
“Ngân Linh, cha đây con ơi, con đừng sợ, mau ra đây đi!”
“Ngân Linh…”
Thời gian một nén nhang trôi qua, Trần Lượng kêu đến khản cả giọng nhưng chiếc đũa vẫn đứng thẳng tăm tắp trong chén nước, không có động tĩnh gì.

Sắc mặt của Cố Cửu không tốt chút nào, cậu thu đồ đạc lại, quay đầu nói với Thiệu Dật: “Sư huynh, sinh hồn của Ngân Linh không có ở đây.”
Thông thường nếu một trong ba hồn bị dọa mất thì hồn vẫn sẽ quanh quẩn ở khu vực xung quanh nơi bị nạn chứ ít khi rời đi, bây giờ chuyện này rất kì lạ.
Trần Lượng nôn nóng hỏi: “Vậy phải làm sao đây?”
Thiệu Dật nghe xong, tra kiếm vào vỏ đeo trên lưng, lấy ra một nén nhang rồi chụm ngón trỏ và ngón giữa lại quẹt ngang đầu nhang, niệm: “Yểu yểu minh minh, âm dương cùng sinh, người sống vì hình, người chết vì khí, Cửu U chư hồn hiện, đại đạo quân đến cấp tốc nghe lệnh, Trần Ngân Linh ở đâu!”
Hai đầu ngón tay của hắn vừa xẹt ngang đầu nhang thì lửa tức thì bùng lên, ngay sau đó từng làn khói khẽ khàng bay lên không trung rồi đột nhiên cùng tụ lại một hướng.

Thiệu Dật đưa cây nhang cho Trần Lượng, căn dặn: “Giữ kĩ cây nhang này, không được để tắt.”
Trần Lượng căng thẳng gật đầu, giữ khư khư cây nhang như ôm bảo vật.
Thiệu Dật nói với Cố Cửu: “Lấy âm mộc bài ra, ta tóm con quỷ nhỏ kia hỏi chút chuyện.”
Cố Cửu gật đầu làm theo.

Âm mộc bài được làm từ gỗ cây hòe, cây hòe thuần âm, có thể làm nơi trú ngụ cho quỷ hồn.
Thiệu Dật bắt đầu chiêu hồn, cách này bọn họ thường dùng để gọi quỷ lang thang khắp nơi đến hỏi chuyện.

Cậu cả nhà họ Tạ còn yếu, chỉ một nhoáng đã bị cưỡng chế hiện hồn, thì ra là cậu ta nấp trong bài vị của chính mình.
Cậu cả đang vô cùng cáu kỉnh, mặt mày đen như than, bị Thiệu Dật chộp lấy cổ áo vẫn giãy giụa không ngừng, gào thét inh ỏi: “Buông ta ra, buông ra!”
Trên đời này Thiệu Dật ghét nhất là ầm ĩ, hắn hung hăng phát vào ót cậu nhóc: “Câm miệng! Nói, cô bé bị ngươi vừa ý kia tại sao không có ở đây?”
Cậu cả tức giận trừng mắt nhìn Thiệu Dật, câm như hến.
“Ây da, người ta còn bé mà, sư huynh đừng hung dữ như vậy chứ.” Cố Cửu ra vẻ người tốt giải cứu cậu cả từ trong tay sư huynh của mình, còn hảo tâm sửa sang lại cổ áo xộc xệch cho cậu ta, cười nói: “Bạn nhỏ à, con nói cho thúc thúc nghe, cô bạn con thích kia đi đâu rồi?”
Cậu cả Tạ nhìn nhìn Cố Cửu, khinh bỉ nói: “Nói cho mấy người có ích gì, dù sao ta cũng nhất định không từ hôn, ta muốn nhỏ đó làm vợ ta, chết càng tốt, như vậy nó sẽ mãi mãi chơi với ta!”
Nét cười trên mặt Cố Cửu nhạt xuống: “Thật sự không nói hả?”
Cậu cả Tạ thè lưỡi ra trêu tức Cố Cửu, ý là “ta cứ không nói thì sao, ngươi chẳng làm gì được ta”.

Cố Cửu thấy vậy bèn quay lại nói với đám người đứng xung quanh: “Mấy người lùi lại chút.”
Những người khác ngơ ngác chẳng hiểu gì, nhất là tay đạo sĩ trung niên kia, hắn vậy mà lại không nhìn thấy được quỷ, chỉ khá hơn người bình thường ở chỗ hắn cảm giác được gió âm phất phơ quanh người, lạnh buốt.
Thiệu Dật đi đầu, lùi sang một bên, những người khác thấy thế cũng vội vàng làm theo.
Cậu cả vẫn khinh khỉnh nhìn Cố Cửu.

Cố Cửu cười cười với cậu ta, bất thình lình ra tay phủ đầu không hề báo trước.
Trong mắt cậu cả Tạ, thiếu niên mới vừa rồi còn dịu dàng khuyên nhủ mình đột nhiên trên người xuất hiện một đám âm khí dày đặc, đen kịt, âm khí nhiều đến nỗi không thấy người đâu.

Không những vậy, bên trong âm khí còn có thêm lệ khí, nguồn lệ khí vô tận ập vào mặt giống như lệ quỷ hiện hình.
Lúc cậu cả Tạ còn đang ngây ra thì sương đen đã bắt đầu trườn lên cổ, lung lay lúc lắc cả người cậu ta, giọng nói vốn trong vắt dễ nghe trước đó cũng trở nên trầm khàn: “Không nói hả, không nói thì ta véo nát ngươi.”
Cậu cả Tạ dù thành quỷ chưa lâu nhưng giống như bản năng đói bụng thì muốn tìm đồ ăn của con người vậy, cậu ta không cần ai dạy cũng sẽ biết được vài thứ, ví dụ như biết được hậu quả của việc bị xé xác là hồn phi phách tán, vĩnh viễn biến mất khỏi cõi đời này, muốn làm quỷ cũng không có cửa.

Cậu ta là một đứa bé bị chiều chuộng riết hư, việc gì cũng chỉ nghĩ đến mình, không bao giờ suy xét xem hành động hay lời nói của mình sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng như thế nào.

Thường thì những người như vậy không sợ trời không sợ đất, nhưng một khi bị kẻ khác cứng hơn cho ăn đau thì lại thu cờ dẹp trống rất nhanh.
Cậu cả bị dọa sợ mất mật mà còn không chạy đi đâu được, chỉ đành gào khan: “Ta nói, ta nói, ngươi đừng…đừng véo nát ta.”
Sau đó, cậu ta sụt sịt kể lại mấy ngày nay có rất nhiều bé gái được đưa vào trong linh đường xem mắt, nhưng chỉ có một m*nh tr*n Ngân Linh nhìn thấy cậu ta, cho nên cậu ta vô cùng vui vẻ.

Cậu ta nói muốn chơi cùng cô, muốn Ngân Linh làm con dâu nuôi từ bé của mình, nào ngờ Ngân Linh không chịu, còn muốn dẫn con quỷ theo bên cạnh mình bỏ đi.
Khi cậu cả nhà này con sống, cậu ta được cha mẹ ông bà chiều chuộng đủ điều, ngoại trừ chuyện sống chết cậu ta không điều khiển được ra thì gần như là muốn gì được nấy.

Bây giờ khó khăn lắm cậu ta mới tìm được một người chơi cùng sau khi chết, vậy mà đối phương lại dám từ chối.

Cậu ta giận điên lên bèn làm trò dọa nạt Ngân Linh một trận, nào ngờ cô bé chịu không nổi, sau khi Ngân Linh nhìn thấy khuôn mặt tím tái của cậu ta trước khi chết thì chỉ kịp hét lên một tiếng rồi ngất đi.
Tiếp đó, thân thể của Ngân Linh bị người ta mang đi, nhưng sinh hồn thì vẫn còn ở lại trong linh đường.

Cô bé cứ khóc lóc đòi cha mẹ suốt.

Cậu cả Tạ không muốn thả Ngân Linh đi, ép buộc cô bé chơi đùa với mình.

Ngân Linh lúc đầu còn khóc lóc thảm thiết, một hồi sau từ từ im lặng, rồi cũng chịu chơi với cậu ta.

Bọn họ chơi đủ loại trò chơi, sau cùng Ngân Linh đề nghị chơi trò mèo bắt chuột.

Vì thế, hai người chơi đoán số để quyết định ai làm mèo ai làm chuột.

Ngân Linh làm mèo mấy lượt thì đến phiên cậu cả làm mèo, Ngân Linh đổi vai làm chuột.
Cậu cả Tạ đang chơi vui ngất trời mây, vui vui vẻ vẻ làm con mèo, thế mà lần này tìm mãi mà con mèo chẳng thấy con chuột đâu, cho đến khi cậu ta lật tung cả căn nhà lên vẫn không thấy thì mới nhận ra con chuột đã lủi mất từ đời nào.
Cố Cửu nghe xong dở khóc dở cười, con bé Ngân Linh này vốn thông minh láu lỉnh, bây giờ còn lừa được cả quỷ, khổ nổi Ngân Linh không ý thức được hành động này của mình nguy hiểm đến thế nào..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 29: 29: Phong Đô


Sau khi biết Ngân Linh chạy mất rồi, Cố Cửu bèn thu lại sát khí quanh thân mình, khí đen nhanh chóng rút vào trong thân thể cậu như chưa từng xuất hiện.
Mấy năm nay Cố Cửu cũng học theo Thiệu Dật khống chế âm khí trong cơ thể mình, giống như Thiệu Dật kiểm soát khí Kim Canh vậy.

Kết quả cũng khả quan, nhưng điều kiện là phải thực hiện trong lúc hoàn toàn khỏe mạnh, tinh thần tỉnh táo, bằng không thì một khi mất khống chế sẽ dễ dàng bị âm khí nuốt chửng, bị lạnh đến chết.

Thiệu Dật cũng tương tự như thế, nếu không nắm chắc mà cố đấm ăn xôi muốn điều khiển khí Kim Canh thì tất sẽ tự mình hại mình.
Tuy rằng cậu cả Tạ trông có vẻ như ăn năn hối lỗi rồi, nhưng Cố Cửu không dám xem thường tâm lí ăn miếng trả miếng của nhóc quậy.

Hiện tại Ngân Linh chỉ còn có hai hồn trong người, bát tự của cô bé lại hợp với cậu ta, dù trên người cô bé có thẻ bài gỗ hộ mệnh đi nữa thì cũng có khả năng bị cậu ta câu mất hai hồn còn lại.

Vì vậy, hai người phải nhét cậu cả Tạ vào trong âm mộc bài, khóa kĩ hồn phách rồi mới lên đường đi tìm Ngân Linh được.
Đạo sĩ trung niên hồ nghi nhìn Cố Cửu: “Cậu đang nói chuyện với cậu cả hả?”
Cố Cửu thu thẻ bài lại, tùy ý trả lời: “Còn ai vào đây nữa.” Hai người cậu cũng không tò mò vì sao đạo sĩ này chẳng nhìn thấy quỷ thần gì mà lại có thể liên lạc với cậu cả nhà này.

Hẳn là phương thức ông ta làm cũng giống như những thầy đồng hay bà cốt dân gian, dùng cách nhảy múa để mời thần, cách này cũng có thể dùng để nói chuyện với quỷ quái.
Chủ nhà họ Tạ vội vã hỏi dồn: “Cậu…cậu bắt con trai ta đi à?”
Cố Cửu mỉm cười trấn an ông ta: “Yên tâm, chờ giải quyết xong chuyện này sẽ trả lại cho ông.”
Nén nhang trong tay Trần Lượng sắp cháy được nửa đốt ngón tay, khói vẫn bay lên và tụ lại một hướng.

Dư Đại Dũng và Dư Vương thị ở lại nhà họ Tạ, Cố Cửu và Thiệu Dật đi trước, lão Dư đánh xe bò chở Trần Lượng cầm nhang theo sau, cùng nhau đi về hướng khói bay.

*
Những sợi khói chỉ đường rất mỏng manh, phương hướng cũng không rõ ràng cho lắm.

Họ đoán rằng sau khi Ngân Linh rời khỏi nhà họ Tạ thì không tìm thấy đường về nhà, bởi vì trước đó cô bé chưa từng đi qua tuyến đường xa lạ này nên không nhớ được cách trở về.

Hai người Cố Cửu đi phía trước, phát hiện ra càng đi xa thì càng lệch khỏi quỹ đạo, đường phố cũng dần trở nên lạ lẫm.
Thiệu Dật vừa truy tìm dấu vết vừa triệu hồi mấy con quỷ lang thang gần đó để dò hỏi tung tích của Ngân Linh.

Ban đầu gần như không có con quỷ nào biết, đến lúc trời gần sáng thì mới có một con quỷ vừa qua đời không lâu cung cấp được chút manh mối.

Theo lời con quỷ này thì bé gái họ đang tìm được một lão quỷ dẫn đi rồi.

“Lão quỷ kia nói mình sắp hết âm thọ rồi, đã trình báo với Diêm La, xin được trở về gặp con cháu lần cuối rồi đi đầu thai.

Ổng còn gọi tui cùng đi Phong Đô để qua quỷ môn quan, nhưng mà tui mới chết chưa lâu, còn hơi luyến tiếc trần gian.

Tui nhớ đường kĩ lắm rồi, sau này khi nào tui muốn đi thì tui tự đi cũng được…”
Lúc con quỷ này còn đang cơn lải nhải, Cố Cửu đã đốt cho anh ta một ít đồ cúng để cảm ơn.
Sau khi tiễn con quỷ kia đi, Cố Cửu quay sang nói với Trần Lượng: “Bây giờ tôi cần huynh làm một việc có thể sẽ rất nguy hiểm.”
Trần Lượng đáp lời: “Chỉ cần có thể mang Ngân Linh về thì dù có chết tôi cũng cam lòng.”
Cố Cửu nói: “Cũng gần giống như vậy.

Dưới âm phủ có một tòa thành quỷ gọi là Phong Đô, bên trong thành có một cánh cổng lớn gọi là quỷ môn quan, đi qua quỷ môn quan sẽ vào đến địa phủ.

Mỗi ngày vào lúc mặt trời lặn Phong Đô sẽ mở cổng thành để đón chúng quỷ, trước khi trời sáng thì đóng lại để người sống khỏi đi nhầm đường của người chết.

Lão quỷ kia ắt hẳn không phải lần đầu tiên ra vào thành nên mới nhớ rõ đường như vậy.

Nếu đã vậy thì chắc chắn ông ta sẽ vào thành trước hừng đông, cho nên chúng ta phải tìm ra Ngân Linh trước khi mặt trời mọc rồi dẫn nó về.

Nếu quá giờ để sinh hồn vào nhầm quỷ môn quan thì không chết cũng bị thương nặng.
Trần Lượng và lão Dư ở bên cạnh nghe vậy thì sắc mặt trắng bệch.
Trần Lượng hỏi: “Vậy…vậy tôi phải làm sao?”
Cố Cửu trả lời: “Quỷ khí trong thành quỷ rất dày, sinh khí trên người Ngân Linh dễ bị quỷ khí che lấp mất nên chúng tôi khó mà tìm thấy nó.

Huynh là cha ruột của Ngân Linh, có liên hệ huyết thống với nó, chúng tôi cần huynh đi cùng để giúp cảm ứng vị trí của cô bé.

Người có đường của người, quỷ có lối của quỷ, chỉ có lối của quỷ mới dẫn đến Phong Đô, bây giờ chúng ta phải mượn đường cõi âm nên không thể tránh khỏi đụng mặt với quỷ hồn trên đường.

Huynh cứ đi theo hai chúng tôi là được, nhưng phải nhớ kĩ, dù cho có chuyện gì đi nữa cũng không được quay đầu lại nhìn.”
Trần Lượng kiên định gật đầu: “Tôi nhớ rồi.”
Bấy giờ Cố Cửu mới nhìn về phía lão Dư: “Phiền ông chờ thêm lần nữa.”
“Vâng, tôi…tôi sẽ chờ.” Lão Dư ấp úng trả lời.

Tối nay ông ta mặc kệ cho con và cháu mình bị đánh tơi bời mà không hề lên tiếng ngăn cản.

Nếu sớm biết con trai mình có ý đồ xấu với cháu gái thì ông ta đã cương quyết phản đối rồi.

Đêm nay coi như ông ta được mở mang tầm mắt, dù không tận mắt nhìn thấy quỷ nhưng ông ta đã thấy làn khói lạ lùng từ cây nhang trong tay con rể.

Gió vẫn thổi hoài không dứt nhưng khói không hề bị tan mất, chắc chắn chỉ có người có thể giao tiếp với quỷ thần mới có bản lĩnh đến nhường này.
Sau khi dặn dò lão Dư, Cố Cửu gật đầu với Thiệu Dật đang ôm kiếm đứng bên cạnh: “Sư huynh, được rồi.”
Thiệu Dật lấy ra ba lá bùa, đốt cháy, khói từ lửa đang cháy bám vào người cả ba người.

Trong tay Thiệu Dật cầm âm mộc kiếm được chế từ gỗ cây hòe, miệng niệm chú.

Hắn vừa niệm xong, tay cầm kiếm chém ra một đường, phía trước đột nhiên như có một cách cổng vừa được mở ra mang theo gió lạnh buốt ào ào thổi tới.
“Đi.”
Thiệu Dật dẫn đầu bước vào, Cố Cửu và Trần Lượng theo sát phía sau.
Lão Dư bị gió thổi đến nỗi không mở mắt lên nổi, chỉ có thể he hé mắt nhìn thử, lão thấy rõ ràng ba người vừa đứng trước mặt đột ngột biến mất vào thinh không, họ vừa biến mất thì gió cũng ngừng.

Lão rùng mình một cái, kìm không được kéo chiếc xe trâu bên cạnh lại gần mình hơn một chút, ít nhất thì cũng có tiếng động cho bớt sợ.
Nhóm Cố Cửu vừa đặt chân lên đường cõi âm thì phát hiện xung quanh không còn tối tăm như ban nãy, nhưng dù vậy con đường này vẫn âm u ảm đạm, không tài nào nhìn thấy được nó dài bao nhiêu, rộng bao nhiêu.

Phía trước và hai bên trái phải bọn họ có vô số bóng đen lững lờ trôi đi, nhưng không hề có một tiếng động nào phát ra.

Tất cả đều chỉ lẳng lặng mà lên đường.
Đôi tay đang cầm nhang của Trần Lượng run lẩy bẩy, nhưng anh ta vẫn tự nhủ trong lòng phải giữ cho nhang cháy liên tục, không được để tắt.

Chỉ có tập trung nghĩ như vậy anh ta mới cảm thấy ổn hơn, có điều thân thể vẫn theo bản năng mà nhích nhích lại gần Cố Cửu.
Cố Cửu khẽ nghiêng đầu, thấp giọng trấn an: “Đừng căng thẳng quá, dương khí trên người chúng ta bị bùa che đi rồi, chỉ cần không nói chuyện với quỷ thì bọn họ sẽ không nhận ra đâu.”
Trong lòng Cố Cửu chợt xuất hiện một suy nghĩ thiệt xấu xa, dù có bị phát hiện đi nữa thì cũng là sư huynh bị phát hiện trước chứ nhỉ, trong người huynh ấy cuồn cuộn khí Kim Canh chí dương thế kia.
Cố Cửu và Thiệu Dật không phải lần đầu tiên mượn đường âm phủ thế này.

Lần đầu tiên Cố Cửu theo Thiệu Dật đi vào cũng sợ xanh mặt, nhưng Thiệu Dật dày dạn kinh nghiệm trận mạc, cậu thì trên người đầy âm khí nên chẳng có con quỷ nào phát hiện ra hết.

Đi riết thành quen, bây giờ cứ mỗi lần đến đây Cố Cửu bèn dùng âm khí phủ kín mình từ trên xuống dưới, thế là đám quỷ hồn ở đây đều xem cậu là đồng loại.
Ba người cắm cúi đi về phía trước, Trần Lượng cẩn cẩn thận thận nhớ kĩ từng lời dặn dò của Cố Cửu, mắt chỉ nhìn thẳng xuống chân mà bước theo, thế là trên đường đi ngoại trừ lúc đầu có hơi sợ hãi ra thì mọi sự đều rất thuận lợi.
Cổng thành vẫn đang mở lớn, không có ai gác cổng, ba người Cố Cửu trà trộn giữa một đám quỷ tiến vào thành.
“Trần đại ca, có cảm giác gì không?” Cố Cửu khẽ hỏi Trần Lượng.
Trần Lượng lắc đầu: “Không có.”
Thiệu Dật nói: “Vậy tiếp tục đi thôi.”
Quỷ môn quan ở thành Phong Đô là cửa chính để vào âm phủ của chúng quỷ, cách cổng thành một đoạn nữa mới tới.
Từng ngọn minh hỏa dập dờn lơ lửng giữa trời trong thành Phong Đô.

Nơi này rất khác biệt so với con đường mờ mịt dẫn tới cõi âm khi nãy, mặc dù đây là quỷ thành nhưng nó không khác gì với thành thị trên dương gian, có quỷ bày sạp bán đồ, có quỷ mở cửa hàng, quỷ đến quỷ đi vô cùng nhộn nhịp.
Có con quỷ kia lần đầu tiên đến Phong Đô, bụng đói đã lâu, gục xuống trước một sạp hàng, hắn ta thò tay chộp ngay lấy một ngọn nến bày trên sạp muốn nhét vào miệng, ai ngờ bị con quỷ chủ sạp đập một nhát bay vèo qua một bên: “Không biết luật hả, mua đồ ăn phải trả tiền trước chớ mậy!”
Con quỷ kia nói: “Tui…nhà tui chưa đốt tiền cho tui.”
Quỷ chủ quán xì một tiếng: “Không có tiền mà đòi ăn, muốn quỵt hả, biến ngay đồ quỷ nghèo!”
Quỷ chủ quán đuổi con quỷ kia xong quay đầu lại liền thấy một phụ nữ trung niên với khuôn mặt phúc hậu đang tiến lại.

Cô ta còn cách một khoảng khá xa mà quỷ chủ quán đã ân cần mời mọc: “Tần tiểu thư, tôi vừa nhập được một bó nến của chùa Kim Quang, còn chất lượng hơn đợt lần trước nữa, Tần tiểu thư có lấy không?”
Phía sau cô Tần tiểu thư này có hai hàng nữ hầu và sai vặt đi theo, phải đến tận mười mấy người, người nào người nấy mặt mũi trắng bệch như bôi phấn, hai bên má chấm hai chấm tròn đỏ thẫm, trên mặt bọn họ treo một nụ cười tiêu chuẩn giống nhau, đôi mắt vô hồn chỉ nhìn thẳng về phía trước không chớp lấy một cái.
Tần tiểu thư chỉ vào một gã sai vặt, ra lệnh: “Ngươi đi lấy đi.”
Gã sai vặt được chỉ vẫn tươi cười một cách quái dị, bước lên ôm lấy ngọn nến, thế nhưng lúc gã xoay người lại thì eo lại tình cờ bị mắc vào một góc sạp, roẹt một tiếng, bụng gã lủng thành một cái lỗ to.

Gã sai vặt như chẳng có cảm giác gì, tiếp tục cười cười đi về phía Tần tiểu thư, vì thế cái lỗ càng rách to hơn, tiếng loẹt xoẹt của giấy rách cứ vang lên liên hồi.

Chờ đến khi gã yên vị bên cạnh Tần tiểu thư thì cái bụng của gã đã thiếu mất một mảng to oạch, mà miếng bị thiếu mất đó vẫn còn đang treo lủng lẳng trên sạp hàng.
Tần tiểu thư nhìn thoáng qua, vừa đi khỏi vừa lắc đầu, nhạt nhẽo nói: “Lại hỏng nữa rồi, người giấy phu quân đưa tới lần này kém quá.”
Tần tiểu thư dắt theo một chuỗi người đi xa rồi mà con quỷ nghèo mới tới vẫn còn đứng ngơ ngác tại chỗ, con quỷ chủ quán thì hớn hở đếm tiền.
Ngươi cho rằng chết là hết, là giải thoát sao? Không đâu, ta nói cho ngươi biết, chẳng qua là bước chân vào một xã hội khác mà thôi…
Bọn Cố Cửu chờ đoàn người của Tần tiểu thư khuất dạng, né sang một bên tránh đụng chạm tới con quỷ mới tới kia rồi rẽ vào một con đường lớn.

Đây là con đường lớn nhất trong thành, đi thẳng về phía trước sẽ đến được quỷ môn quan.
Đi được một lát, Trần Lượng nãy giờ vẫn im lặng bỗng nhiên ngẩng phắt lên, kích động nhìn sang Cố Cửu: “Hình như tôi cảm giác được Ngân Linh.”
Loại cảm ứng này vô cùng kì diệu, dường như trong đầu đột ngột xuất hiện một âm thanh nói cho mình biết người mình muốn tìm đang ở gần đây, còn chỉ cho mình biết phải tiếp tục đi đến đâu để tìm được người đó.
Thiệu Dật hỏi: “Ở bên nào?”
“Bên phải.” Trần Lượng đáp.
Chưa đến gần quỷ môn quan đã phát hiện được tung tích của Ngân Linh làm Cố Cửu thở phào nhẹ nhõm, tuy nhiên cậu vẫn hơi lo lắng, hai sư huynh đệ đã đến Phong Đô vài lần cho nên cậu biết phía bên phải là phố ăn vặt.
Những người được phép bày quán bán đồ ở Phong Đô đều là những người sinh thời làm nhiều việc tốt, sau khi chết vẫn còn âm thọ nhưng tạm thời chưa muốn đi đầu thai.

Thông thường những người như thế này vẫn còn thân nhân nhớ đến họ sống ở dương gian, thường xuyên đốt đồ cúng cho họ.

Những thứ đồ cúng này nhiều hay ít, tốt hay không tốt sẽ ít nhiều có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của các quỷ hồn.
Phố ăn vặt rực rỡ muôn màu, thứ gì cũng có, nhưng không có thứ gì dành cho người sống.

Người sống ăn một miếng ở phố ăn vặt này đồng nghĩa với việc nuốt một ngụm âm khí vào bụng, âm khí sẽ ăn mòn ngũ tạng, nhẹ thì bệnh nặng liệt giường, nặng thì bỏ mạng.
Ba người Cố Cửu bước nhanh hơn, càng đi về phía trước thì cảm ứng của Trần Lượng càng mạnh.

Cuối cùng cả nhóm dừng chân trước một quán mì, nhìn thấy bóng dáng quen thuộc mình đang tìm.
“Ngân Linh!” Trần Lượng cố gắng kìm nén sự kích động, chỉ dám hô nhỏ một tiếng.
Cô bé con đang ngồi đưa lưng về phía bọn họ quay đầu lại, đúng là Trần Ngân Linh.

Cô bé nhìn thấy Trần Lượng thì mừng quýnh, chạy tới bổ nhào vào lòng cha mình.
“Cha ơi!”
Trần Lượng nhìn con mình từ trên xuống dưới mấy lượt, bỗng anh ta để ý thấy chỗ Ngân Linh vừa mới ngồi còn có một chén mì nóng hổi đang bốc khói nghi ngút, lo lắng hỏi dồn: “Con có ăn đồ ăn ở đây chưa?”
Ngân Linh lắc đầu: “Dạ không có, ông bán mì không cho con ăn.” Cô bé trả lời cha mình xong nhìn sang bên cạnh thấy Cố Cửu và Thiệu Dật đứng đó bèn vui vẻ gọi Cố thúc thúc, Thiệu thúc thúc.
Cố Cửu nhìn hai con quỷ ở trước sạp hàng, cả hai đều được bao phủ bởi một vòng ánh sáng công đức màu vàng chói lòa, mà một trong hai con quỷ chính là ông bán mì sợi mà Ngân Linh vừa mới nhắc đến.
Ông lão bán mì nhìn thấy hai người liền mỉm cười bước tới: “Ta đang chuẩn bị đi tìm âm sai truyền tin cho mấy đứa đây.”
Cố Cửu và Thiệu Dật liếc nhìn nhau một cái rồi đồng thanh chào: “Tổ sư gia.”
Bọn họ gọi là tổ sư gia thì đương nhiên người trước mặt đây chính là sư phụ của Phương Bắc Minh, Phương Thái Hòa.
Phương Thái Hòa nhìn Trần Ngân Linh, tỉ mỉ dặn dò: “Cô bé à, sau này nhớ không được ăn đồ ăn lung tung biết chưa?” Rồi ông quay sang nói với đám Cố Cửu rằng Ngân Linh vô cùng may mắn, bị dọa sợ đến mất hồn rồi lại tự ý đi chỗ khác, đi lâu như vậy mà không gặp phải ác quỷ, ngược lại gặp được lão quỷ này.

“Lão quỷ này ấy hả, đã thành một lão hồ đồ từ đời nào rồi, ngay cả người sống hay kẻ chết cũng không phân biệt được, cũng may trên người ổng toàn là ánh sáng công đức nên quỷ quái tạp nham dọc đường không dám quấy rầy.

Trước khi đi vào quỷ môn quan ổng đói bụng, ghé vào đây ăn mì nên mới gặp được ta.”
Cố Cửu xoa xoa đầu Ngân Linh, cô bé này vừa lừa gạt nhóc quỷ ngang ngược kia, vừa tình cờ gặp được lão quỷ ngây ngô, trời xui đất khiến thế nào mà bị đưa vào quỷ thành, cũng may cuối cùng chỉ là sợ bóng sợ gió một hồi chứ không xảy ra việc gì.
Phương Thái Hòa ngẩng đầu nhìn trời, nói: “Sắp sáng rồi, các con mà không tới thì ta cũng tìm cách đưa nó ra khỏi Phong Đô, bây giờ tìm được người rồi thì mau đi đi thôi.” Phương Thái Hòa nói xong liền lấy ra một phong thư đưa cho Cố Cửu, nói với hai người: “Lần trước sư phụ hai đứa ghé qua đây có nhờ ta gửi lá thư này cho các con, về rồi xem.”
Ở dương gian, sư đồ bọn họ có một chỗ gửi thư cố định là tiệm bán nhang đèn trong trấn, nhưng thật ra đó chỉ một trong nhiều cách liên lạc mà thôi.

Phương Bắc Minh có thể mời âm sai nên thỉnh thoảng sẽ nhờ Bùi Dữ báo mộng gửi tin tức cho hai đệ tử của mình.

Ngoài ra, Phương Bắc Minh đến Phong Đô cũng không ít, có khi sẽ đưa thư cho sư phụ mình nhờ chuyển giúp.
Phương Thái Hòa còn dặn thêm: “Ta sắp hết bột mì rồi, bây về tới nhớ cúng một túi mới nha.”
Sau đó Cố Cửu và Thiệu Dật bị tổ sư gia xua đi cho nhanh, trước khi đi Cố Cửu còn quay đầu lại hỏi: “Tổ sư gia, Bùi thúc tổ đâu rồi?”
“Hừ! Phố bên cạnh có một cửa hàng quần áo mới khai trương, nghe nói bà chủ đẹp lão lắm, lão ta đi qua bên đó luôn tay luôn chân để nịnh người ta rồi, cũng không tự soi gương xem, người ta thèm để ý tới cái bản mặt như trái quýt héo của lão chắc.” Phương Thái Hòa nói xong đưa tay lên sờ sờ mặt mình: “Họa có ta đi thì may ra.”
Cố Cửu: “…”
Thiệu Dật: “…”
Quỷ sinh của mấy vị bề trên này cũng đặc sắc ghê..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 30: 30: Kết Thúc


Lão Dư vẫn khư khư giữ chặt lấy chiếc xe bò cho đỡ sợ, chốc chốc lại ngẩng đầu xem sắc trời.

Trời đã tờ mờ sáng, lão đợi ở đây gần một canh giờ rồi, cũng không biết chừng nào ba người kia mới quay trở lại nữa.
Đang lúc lão Dư lo lắng không thôi thì bỗng dưng ba người biến mất lúc nãy lại xuất hiện từ hư không, y như lúc biến mất vậy, ngay cả vị trí hiện ra và những đợt gió âm lạnh thấu xương cũng không khác gì.

Bấy giờ, tâm trạng căng thẳng của lão Dư mới dịu lại, lão tiến lên hỏi: “Ngân Linh đâu? Có tìm được con bé không?”
Cố Cửu đáp: “Tìm được rồi, chỉ là ông không nhìn thấy mà thôi.”
Lão Dư hổ thẹn nói: “Ôi chao…tìm được thì tốt quá rồi.” Chuyện này là nhà họ Dư bọn họ có lỗi với nhà họ Trần.
Lúc này, Ngân Linh đảo một vòng quanh lão Dư, cảm thấy khó hiểu vì sao bé gọi ông ngoại mà không thấy ông phản ứng gì, cứ như ông không nhìn thấy bé vậy.
Xa xa bỗng có tiếng gà gáy văng vẳng.

Gà trống gáy sáng, âm dương chia lìa, lại là một ngày mới.

Sinh hồn rời thân vốn chẳng phải chuyện gì tốt, vẫn là mau để hồn phách trở về mới được.

Nhóm Cố Cửu dẫn theo Ngân Linh về thẳng nhà họ Dư chứ không ghé qua nhà họ Tạ nữa.
Ở nhà họ Dư, Tiểu Đệ đang ngồi xổm trước cửa phòng đợi bọn Cố Cửu về.

Trong phòng, Dư Anh với đôi mắt sưng đỏ ngồi trông con gái hôn mê bất tỉnh, Tiểu Thụy thì vẫn ngơ ngơ ngác ngác quanh quẩn bên cạnh.
Mấy người Cố Cửu đẩy cổng lớn ra bước vào nhà, Tiểu Đệ thấy nhóc con của mình về bèn vội vàng chạy tới, tung tăng quấn quýt quanh chân cậu.

Dư Anh ở trong phòng nghe thấy động tĩnh cũng gấp gáp chạy ra đón.
“Mẹ ơi!”
Ngân Linh bổ nhào lên người Dư Anh.

Thế nhưng Dư Anh lại chẳng có cảm giác gì, chỉ lo sốt vó nhìn Trần Lượng: “Ngân Linh đâu?”
Trần Lượng an ủi vợ mình: “Yên tâm, tìm được rồi.”
Sinh hồn của Ngân Linh đứng một bên thắc mắc hỏi Cố Cửu: “Tiểu Cửu thúc thúc, sao mẹ con không nhìn thấy con?”
Cố Cửu nói: “Bởi vì mẹ con không có Khiên Dẫn Hương*.” Nói xong, cậu dẫn Ngân Linh vào phòng.
“Khiên Dẫn Hương là cái gì nhỉ…” Ngân Linh thầm thì.

Cô bé vào phòng, khi nhìn thấy trên giường có một “mình” khác thì giật thót đưa tay che miệng.

“Tiểu Cửu thúc thúc, có một Ngân Linh nữa kìa!”
“Ừ, đó cũng là con.” Cố Cửu không giấu giếm cô bé làm gì, dù sao lát nữa khi sinh hồn quay về với thân thể thì tất cả những kí ức lúc lang thang bên ngoài của cô bé cũng sẽ biến mất hết.
Ngân Linh còn đang mải kinh ngạc vì bỗng nhiên từ đâu xuất hiện thêm một Ngân Linh khác thì bên này Thiệu Dật đã châm một lá bùa.
“Hồn phách nhập thể, ai về chỗ nấy.

Cấp tốc nghe lệnh!”
“A?!” Sinh hồn của Ngân Linh từ từ bay lên theo lời niệm của Thiệu Dật.

Cô bé há to miệng kêu lên, không phải vì sợ hãi mà là vì thấy chuyện này mới lạ.
Thiệu Dật hô lên một tiếng, hồn của Ngân Linh nhanh chóng nhập vào xác và hợp lại làm một.

Thân thể nhỏ nhắn đang nằm trên giường run lên một cái, sau đó đôi lông mày cũng giật giật theo.
“Ngân Linh!” Dư Anh lắc nhẹ cánh tay của con gái.
“Mẹ?” Ngân Linh chậm rãi mở mắt ra, khuôn mặt đầy vẻ ngơ ngác.
“Rốt cuộc con cũng tỉnh rồi…” Dư Anh nghẹn ngào, vui mừng đến nỗi khóc nấc lên.
Ngân Linh lúc này không hề hoạt bát như lúc đang là sinh hồn.

Cô bé nằm rũ trên giường, cả người mềm oặt ra, nhỏ giọng hỏi mẹ có phải con bị ốm rồi không.
Cố Cửu nói với hai vợ chồng nhà họ Trần: “Đợi về rồi tôi vẽ vài lá bùa ổn định hồn phách cho mọi người.

Mỗi ngày lúc mặt trời lặn đốt một lá ngoài cổng, một lá trước cửa phòng của Ngân Linh, cứ đốt như vậy vài ngày là ổn.”
Hai vợ chồng họ liên tục nói cảm ơn.
Sau đó, việc còn lại là bắt cậu cả Tạ viết giấy từ hôn, giải trừ hôn ước với Ngân Linh.
Cố Cửu lấy Âm Mộc Bài đeo bên hông ra, gõ gõ mấy cái trên mặt, cậu cả Tạ bị nhốt trong đó nãy giờ liền bay ra.

Trong phòng này ngoại trừ Cố Cửu và Thiệu Dật ra thì chỉ có Ngân Linh là thấy được cậu ta.

Cô bé trả lời mấy câu hỏi han của mẹ xong, vừa quay đầu lại đã thấy trong phòng bỗng dưng nhiều thêm một người.

Cô bé không sợ chút nào, còn chỉ vào cậu ta la lớn: “A! Là cậu, cậu bé hư!”
Cậu cả Tạ bực bội vặc lại: “Ngươi mới là trẻ hư, đồ lừa đảo!”
Ngân Linh đã quên chuyện mình chơi mèo bắt chuột với con quỷ nhỏ này, chỉ còn nhớ đến đoạn cậu ta giả làm ngáo ộp hù dọa mình, thế là quay sang mách với mẹ.

Dư Anh cũng không dám nhìn vào chỗ con gái đang chỉ, chị lo lắng vì con gái vẫn còn nhìn thấy quỷ, nhưng lại không dám nói thật với bé rằng người con nhìn thấy không phải là người.

Nói như thế thì chẳng khác nào hại bé sau này phải ngày ngày sống trong sợ hãi.
Cố Cửu duỗi tay về phía cậu cả Tạ: “Đưa hôn thư đây.”
Muốn hôn ước có hiệu lực thì phải có hôn thư chứng minh, cho nên lúc tên đạo sĩ kia đốt tờ giấy ghi bát tự của Ngân Linh thì cũng đốt kèm hôn thư được viết sẵn, đốt xong thì hôn thư rơi vào tay cậu cả Tạ.
Cậu cả vẫn còn đang lèm bèm câu giờ: “Ta thích nó thật kia mà…”
Cố Cửu dứt khoát nói: “Người quỷ khác đường.” Bàn tay đang chìa ra của cậu vẫn không thu lại, ý bảo nhà mi nhanh nhanh lên chút.
Cậu cả tâm không cam tình không nguyện mò ra một tờ giấy giấu trong ngực áo đưa cho Cố Cửu.

Cố Cửu xem sơ qua, xác nhận đúng là hôn thư rồi liền hỏi cậu ta: “Ngươi biết viết chữ không?”
Cậu cả bĩu môi: “Biết một chút.”
Cố Cửu lấy một lá bùa còn trống và một cây bút lông tòe đầu ra đốt lên, đốm lửa lung lay vài cái, ngay sau đó, bút và giấy đều biến thành vật cậu cả Tạ có thể dùng.
Cố Cửu nói: “Ta đọc, ngươi viết.”
Cậu cả Tạ nhăn nhó vung tay lên, lá bùa trống liền được cố định trước mặt cậu ta, đoạn cậu ta cầm lấy bút, nhìn Cố Cửu chờ đợi.
“Nay có kẻ vãng sinh họ Tạ… chỗ đó điền tên của ngươi vào.” Cố Cửu vừa đọc vừa nhìn chằm chằm cậu ta viết, đề phòng cậu ta giở trò.

Nhưng có lẽ cậu cả này bị Cố Cửu dọa cho một trận sợ mất mật rồi nên nào dám hó hé gì nữa.

Vụ cưới hỏi này không thành chắc rồi, đánh thì đánh không lại người ta, đâu có ngu gì mà đi gây sự nữa cho tiền mất tật mang.
Giấy từ hôn được viết xong, Cố Cửu đốt nó cùng với hôn thư ban đầu luôn, kính báo quỷ thần.

Sau này nếu cậu cả còn dám đụng tới Trần Ngân Linh thì thần linh sẽ xử đẹp cậu ta trước, chẳng cần bọn họ phải ra tay.
Đến tận bây giờ chuyện này mới xem như hoàn toàn kết thúc.
Cậu cả Tạ vẫn chưa nguôi cơn thịnh nộ nhưng lại không làm gì được, còn ráng nhìn thoáng qua Trần Ngân Linh một cái trước khi đi, nào ngờ chỉ nhận lại được cái trừng mắt của cô vợ hụt.

Cậu ta hừ một tiếng, hỏi Cố Cửu: “Ta đi được rồi chứ?”
Cố Cửu nghiêng người tránh ra: “Đi đi.”
Cậu cả Tạ bực dọc thở phì phò phẩy tay áo bay ra ngoài, đúng lúc này, trước cửa bỗng nhiên xuất hiện một người.

Cậu cả bay tới bay lui quanh người này hai vòng, nhận ra đây chính là một trong hai kẻ đưa Trần Ngân Linh đến.

Cậu ta mất vợ đã ấm ức lắm rồi, ngặt nỗi bọn Cố Cửu vẫn còn ở ngay sau lưng nhìn chằm chằm, tức ơi là tức mà chẳng có chỗ nào trút, thế là cậu ta giận cá chém thớt, vươn tay chụp lên gáy người vừa đi vào một cái rồi lẹ làng lủi mất.
Dư Chí Trung cảm thấy đầu mình bị ai đó phát một cái rõ đau, nhưng khi ngẩng đầu nhìn quanh thì lại chẳng thấy ai.

Gã khó chịu quay ra cự nự với mẹ mình đang đứng phía sau: “Con đến rồi cơ mà, mẹ còn đánh con làm gì hả?”
Dư Mã thị ngạc nhiên: “Mẹ có đánh con đâu?”
Dư Chí Trung trợn trắng mắt, chẳng buồn nói lại nữa.

Gã ngáp một cái rồi tiến vào phòng, chẳng thèm nhìn ai đã mở miệng oang oang: “Cô, dượng, xin lỗi nha.

Vụ này coi như lỗi của con, sau này con không dám đụng tới Ngân Linh nữa.”
Đêm qua ầm ĩ một trận lại còn bị ăn đập, bạc sắp tới tay cũng mất hết, Dư Chí Trung cáu lắm, cả đêm trằn trọc ngủ không ngon, đến gần sáng mới chợp mắt được, cho nên hôm nay trời sáng bạch gã mới dậy.

Vốn dĩ gã không muốn ra ngoài, nhưng mẹ gã Dư Mã thị một hai phải kéo bằng được gã sang đây, muốn gã xin lỗi cả nhà cô.

Dư Chí Trung biết nếu chuyện này vỡ lở thì hôn sự của mình cũng đi tong, cứ ngoan cố sẽ chẳng có trái ngon mà ăn.

Dù sao nói vài câu xin lỗi cũng không mất miếng thịt nào, nói cho có là được.
Đến lúc này rồi mà Dư Chí Trung vẫn không cảm thấy mình có lỗi, không những vậy, hắn còn thầm trách cả nhà cô dượng của mình, tại bọn họ lắm chuyện làm hỏng việc tốt của gã, có khi không cưới được vợ mất.

Hắn nghĩ tới nghĩ lui rồi tính thế này, sính lễ hiện tại chỉ còn thiếu gần năm mươi lượng, chắc chắn nhà họ Tạ kia vẫn sẽ tiếp tục tìm kiếm bé gái hợp bát tự.

Bây giờ hắn cứ tiếp tục tìm xem, chỉ cần chịu cực một chút, biết đâu lại tìm thấy thì cũng đòi được chút tiền môi giới, đắp vào chắc cũng đủ rồi.
Trần Lượng và Dư Anh nghe câu xin lỗi không chút chân thành nào của đứa cháu trời đánh, không những không bớt giận mà còn điên tiết hơn.
Dư Anh đứng lên, kiên quyết nói: “Mẹ, việc lần này mọi người làm con quá thất vọng rồi.

Từ nay về sau lễ biếu cha mẹ con sẽ không thiếu, trước đây như thế nào thì bây giờ vẫn thế, bảo đảm không mất gì của cha mẹ.

Nhưng nếu muốn thêm thì một đồng cũng không có đâu.

Còn nữa, sau này nếu không có việc gì hệ trọng đến mức sinh ly tử biệt thì tốt nhất là đừng qua lại với nhau.”
Dư Mã thị bấy giờ mới hoảng hốt níu kéo: “Anh tử, làm gì đến nỗi như vậy?”
Dư Anh biết rõ việc này xảy đến bất ngờ, cha mẹ và chị dâu vốn không biết cha con Dư Đại Dũng sẽ hại đến Ngân Linh như vậy.

Thế nhưng sau khi biết chuyện, biết việc Ngân Linh hôn mê là bất thường, bọn họ không tìm đại phu khám bệnh cho con bé thì thôi đi, lại còn để nó một thân một mình trong phòng, sống chết mặc bay, chẳng có ma nào đến chăm sóc.

Thậm chí quá quắt hơn, bọn họ còn có ý đồ lừa gạt hai vợ chồng chị, tiếp tục bắt Ngân Linh làm đám cưới ma.

Vạn nhất con gái có chuyện gì chị thật sự không dám tưởng tượng mình sẽ sống tiếp thế nào nữa.
Dư Anh không muốn nhiều lời, chị giúp Trần Lượng cõng con gái lên, chẳng nói chẳng rằng, đẩy Dư Chí Trung vẫn còn lải nhải mấy câu nhận lỗi rỗng tuếch ra, bỏ đi.
Cố Cửu đi ngang qua Dư Chí Trung, cậu cười cười liếc nhìn gã một cái.

Cậu cả Tạ tát hơi mạnh tay, bây giờ Dư Chí Trung đã vướng âm khí đầy đầu.

Gã ta chắc chắn sẽ vô cùng xui xẻo trong một khoảng thời gian dài, mà người nhà ở cùng với gã mỗi ngày cũng sẽ chẳng tốt đẹp gì cho cam.
Thật ra cú vả này của cậu cả Tạ làm Cố Cửu suиɠ sướиɠ cực.

Dù gì thì cha mẹ Dư Anh vẫn còn, chị không thể làm gì khác ngoài việc hạn chế qua lại với nhà họ, cậu là người ngoài cũng không tiện xen vào.

Nhưng mà giờ thì trừng phạt nhỏ hậu quả to, sắp tới xui xẻo đầy đầu chính là kết cục phù hợp nhất cho bọn họ.
Cố Cửu không biết Dư Chí Trung vẫn chưa chịu từ bỏ vụ làm ăn bất chính này.

Nếu như cậu biết chắc chắn sẽ khuyên hắn một câu, tìm người sống thì còn may ra, nhược bằng đi tìm hài cốt thì với mớ âm khí dính lấy gã bây giờ, chuyện gã gặp phải sẽ không chỉ đơn giản là xui rủi thôi đâu.
Dư Chí Trung biết Cố Cửu là đạo sĩ, thủ đoạn xuất quỷ nhập thần, cho nên lúc cậu nhìn gã một cách kì quái gã liền chột dạ ngoảnh mặt đi chỗ khác.
Lúc Thiệu Dật đi qua cũng bắt chước Cố Cửu, giơ thanh kiếm gỗ đào trong tay lên hăm dọa Dư Chí Trung một chút.

Ngày hôm qua Dư Chí Trung ăn một cước của Thiệu Dật, đến giờ còn thấy ê ẩm cả người, gã theo bản năng sợ hãi ôm lấy đầu.

Thật ra Thiệu Dật chỉ hù gã thôi, thấy gã hèn như vậy thì bĩu môi xùy một tiếng đi thẳng.
Sau khi nhóm Cố Cửu rời khỏi đó, Dư Đại Dũng và Dư Vương thị đi đến, hai người ai cũng bị âm khí dính vào người, có thể thấy được cậu cả Tạ có thù tất báo, không chừa một ai.
Một khoảng thời gian dài sau đó, người nhà họ Dư quả nhiên cực kì xui xẻo, đi đường bằng phẳng thì té ngã gãy răng, xắt rau thì cắt vào tay, bới cơm thì làm rơi chén vỡ tan tành, uống nước thôi cũng nghẹn tới trợn mắt.
Dư Chí Trung còn xui hơn nhiều, gã đi khắp làng trên xóm dưới muốn tìm mối khác hòng kiếm lại một mớ tiền.

Cuối cùng gã cũng như ý, tìm được một nhà kia có con gái tuổi tác và bát tự đều thích hợp, lại còn là hài cốt lâu năm nữa.

Nào ngờ cô bé kia vẫn còn quanh quẩn ở nơi mình được chôn cất mãi không chịu rời đi, một ngày nọ bỗng đâu thấy người nhà dẫn theo một người đàn ông xa lạ tới đào hài cốt, lại thấy Dư Chí Trung bị âm khí và vận rủi quấn thân, dương khí yếu ớt, cô bèn nhẹ nhàng nhập vào gã ta, cảnh cáo người nhà không được lộn xộn trên hài cốt của mình.
Người nhà đó sợ xanh mặt chạy biến, để lại một mình Dư Chí Trung ở nghĩa địa.

Cô bé kia sẵn dịp mượn đỡ thân thể của gã đi chơi khắp nơi, thậm chí còn trở lại nhà họ Dư, dọa cả nhà chết khϊếp.

Sau cùng Dư Mã thị phải mời một bà cốt đến tiễn cô bé đó đi gã mới thoát nạn.
Thế nhưng gã ta bị quỷ bám vào người mấy ngày nên bệnh nặng một trận, đến khi gã xuống giường đi lại được thì đã qua hơn hai tháng, lúc này cô gái gã thích ở trên trấn kia đã sớm đính hôn với người khác rồi.
Dư Chí Trung mang vạ không ít, kết quả vẫn là dã tràng xe cát mà thôi..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 31: 31: Tiễn Đưa


Đoàn người cùng nhau trở về thôn, Ngân Linh cần phải nghỉ ngơi, Tiểu Thụy vẫn lui tới bên người cô bé, không muốn rời đi.

Cha mẹ Ngân Linh biết được thì hết hồn, tuy Tiểu Thụy tốt bụng nhưng dù sao quỷ vẫn là quỷ, sao có thể ở với con người lâu dài được chứ?
Tiểu Thụy ngốc ngốc bị Cố Cửu và Thiệu Dật mang đi.

Vóc dáng của cậu không nhỏ nhắn gì, đã mười bảy mười tám tuổi rồi, nhưng đầu óc chỉ như đứa bé bốn năm tuổi mà thôi, hẳn là lúc còn sống bị bệnh chậm trí.

Tuy vậy, quần áo Tiểu Thụy mặc trên người lại rất tốt, chỉnh tề sạch sẽ, mặt mũi cậu cũng sáng sủa, có vẻ lúc sinh thời cậu nhóc này là con cái của gia đình giàu có nào đó.

Không những vậy, dù Tiểu Thụy bị ngốc nhưng nhìn cách đi đứng nói năng của cậu có thể thấy được người nhà rất yêu thương chăm sóc cậu, bằng chứng là cậu nhóc vô cùng ngây thơ, thậm chí có phần nhút nhát.
Cố Cửu có hỏi Ngân Linh, lần đầu tiên cô bé gặp được Tiểu Thụy là ở bên sườn núi.

Hai mẹ con họ đi hái rau dại thì gặp Tiểu Thụy bị lạc đường.

Ngân Linh chỉ đường cho cậu đi, sau đó thỉnh thoảng cô bé lại thấy Tiểu Thụy lang thang quanh khu vực này, thế là hai đứa trở thành bạn thân.

Chẳng qua Ngân Linh không có mắt Âm Dương thực sự, chỉ là bát tự cô bé thiên về âm nên mới dễ gặp quỷ quái hơn người khác, năng lực này sẽ mất dần khi cô bé lớn lên, vì khi đó dương khí trên người cô bé ngày một nhiều hơn.

Tiểu Thụy sẽ không hại Ngân Linh, nhưng hai vợ chồng Trần Lượng lo lắng là đúng, người bình thường không thể ở cùng với quỷ trong thời gian dài được, quỷ rốt cuộc vẫn là vật thuộc về cõi âm.

Do đó, để tốt cho cả hai, tốt nhất là tình bạn này chấm dứt tốt đẹp tại đây thôi.
Cố Cửu hỏi Tiểu Thụy: “Cậu có muốn gặp Ngân Linh không?”
Tiểu Thụy gật đầu: “Muốn ạ, muốn chơi với Ngân Linh.”
“Vậy cậu còn muốn chơi cùng ai khác nữa không?”
Tiểu Thụy nghĩ ngợi chốc lát rồi đáp: “Còn có cha mẹ nữa.”
“Tôi mang cậu đi tìm cha mẹ nhé, được không?”
Đôi mắt Tiểu Thụy sáng hẳn lên: “Thật không ạ?”
Cố Cửu nói: “Thúc thúc không gạt người đâu.” Ừm, cũng không gạt quỷ.
Thiệu Dật liếc Cố Cửu một cái, thúc thúc… Người ta kém trí chứ đâu có kém tuổi cậu đâu.
“Cố thúc thúc” bắt đầu hỏi thăm thông tin của “bạn nhỏ” này.

Thì ra Tiểu Thụy bay từ bên kia núi sang, vì khu rừng trên núi lớn quá nên cậu bị lạc đường, tìm mãi không thấy đường về nên cứ quanh quẩn ở đây.

Sau khi biết được manh mối, Cố Cửu và Thiệu Dật dành cả một ngày để đi vòng qua bên kia núi, sau đó xuống núi rồi vào mấy thôn trấn nhỏ gần đó hỏi thăm gia đình của Tiểu Thụy.
Nhờ có đặc điểm rõ ràng nên hai người tìm khá dễ.

Khi họ vào trong trấn, có người vừa nghe họ hỏi thăm cậu trai mười bảy mười tám tuổi bị khờ khạo tên Tiểu Thụy liền biết ngay.

Người nọ chỉ đường cho hai người, lúc nói chuyện tỏ vẻ thương xót, vì vậy có thể đoán được cái chết của Tiểu Thụy không bình thường.
Suy luận trước đó của Cố Cửu không sai, gia cảnh của Tiểu Thụy rất khá.

Hai người đi theo đường được chỉ, đến nhà của vị phú hộ giàu nhất trấn này, họ Chu.
Bọn họ đến vừa đúng lúc có một đoàn người từ trong nhà đi ra, đi đầu tiên là một người phụ nữ đứng tuổi mặc quần áo thuần trắng.

Hai bên thái dương của bà điểm tóc bạc, dung nhan tiều tụy, mặt ủ mày chau.

Mấy gia đinh theo hầu phía sau đều cầm theo nến thơm và tiền giấy, vừa nhìn liền biết họ chuẩn bị đi cúng tế,
Cố Cửu còn đang nhìn xem người này có phải là mẹ của Tiểu Thụy không thì chính Tiểu Thụy trú trong Âm Mộc Bài đã mừng rỡ reo lên: “Mẹ ơi!”
Khổ nỗi bây giờ vị phu nhân đó nào có nghe được tiếng con mình nữa, bà dẫn theo nhóm người hầu lướt ngang trước mặt họ.
Cố Cửu tiến lên gọi: “Vị phu nhân này, xin dừng bước.”
Mẹ của Tiểu Thụy nghe tiếng gọi thì như vừa tỉnh từ cơn mê, dừng lại nhìn Cố Cửu: “Xin hỏi đạo trưởng có việc gì?”
Cố Cửu hỏi: “Phu nhân có phải là mẹ của Chu Thụy?”
Mẹ Chu nghe thấy tên đứa con đã khuất thì không giấu nổi nét bi thương, bà gật đầu: “Phải, là tôi.”
Việc không tiện nói ngoài đường nên Cố Cửu đề nghị vào nhà rồi nói, mẹ Chu không rõ người này có mục đích gì, nhưng dường như việc cậu muốn nói có liên quan đến Tiểu Thụy nên bà chỉ chần chừ một lát rồi vẫn quay trở lại, mời hai sư huynh đệ vào nhà.
Sau khi vào đến phòng khách, mẹ Chu theo ý của Cố Cửu cho người hầu lui hết, bấy giờ chỉ còn lại ba người họ và một con quỷ Tiểu Thụy vừa được Cố Cửu thả ra.

Cố Cửu không dây dưa lòng vòng, nói thẳng chuyện hồn phách của Tiểu Thụy vẫn còn ở nhân thế cho mẹ Chu.

Cậu cũng nói sở dĩ Tiểu Thụy còn ở lại có lẽ là vì mong muốn gặp lại cha mẹ lần cuối.
Mẹ Chu tuy rằng đau đớn vì mất con nhưng bà không phải là người cả tin, cho nên nghe thì nghe chứ vẫn tỉnh táo cân nhắc trong lòng, lúc mới nghe Cố Cửu nói con mình còn ở nhân gian còn tỏ vẻ nghi ngờ.
Cố Cửu ngoắc Tiểu Thụy ngồi xổm bên cạnh mẹ mình từ nãy đến giờ, bảo cậu đứng ra giữa phòng rồi nói với mẹ Chu: “Tôi sẽ để phu nhân gặp Tiểu Thụy một lần, phu nhân tự khắc biết được lời tôi nói là thật hay giả.”
Nói xong Cố Cửu mở mắt Âm Dương cho mẹ Chu.
Mẹ Chu đột nhiên nhìn thấy con trai mình thì kinh ngạc trong chốc lát, sau đó liền kích động đến mức òa lên khóc thảm thiết.

Bà chạy sang muốn ôm chặt lấy Tiểu Thụy, nhưng chỉ với tay vào không khí mà thôi.
“Mẹ!” Tiểu Thụy gặp được mẹ cũng vui mừng không kém, cậu thấy mẹ mình khóc bèn luống cuống muốn chùi nước mắt cho mẹ.

Đáng tiếc thay người quỷ khác đường, người bình thường không thể chạm vào quỷ hồn và ngược lại.
Thiệu Dật lặng lẽ đốt một lá bùa, lá bùa này có thể giúp cho hai mẹ con đã vĩnh viễn âm dương cách trở chạm được vào nhau trong giây lát.
Dù cho có gặp cảnh tượng này bao nhiêu lần đi nữa, Cố Cửu vẫn cảm thấy buồn bã.

Nếu là lúc nhỏ chắc cậu đã rơm rớm nước mắt, chỉ là bây giờ cậu lớn rồi, giống như sư huynh, đã học được cách kiềm chế cảm xúc.
Người hầu đứng canh ngoài cửa nghe thấy tiếng mẹ Chu khóc, đang định xông vào thì bị mẹ Chu bảo lui, xem ra địa vị của mẹ Chu trong nhà rất vững chắc, thảo nào một cậu ngốc như Tiểu Thụy có thể được bảo vệ bình an, vô tư mà trưởng thành.
Cố Cửu để cho mẹ Chu khóc hết, giải tỏa nỗi lòng, chờ đến khi bà bình tĩnh lại một chút mới nói: “Lần này chúng tôi đưa Tiểu Thụy đến đây là để cậu ấy hoàn thành tâm nguyện cuối cùng.

Ở lại dương gian lâu ngày thật sự không tốt cho cậu ấy.”
“Đa tạ hai vị đạo trưởng đã giúp đỡ Tiểu Thụy.” Mẹ Chu lau nước mắt, bà dịu dàng v**t v* con trai đang tựa vào đầu gối của mình, đôi mắt đầy vẻ từ ái và luyến lưu, nhưng rồi vẫn dứt khoát hỏi: “Vậy phải làm sao mới tốt cho Tiểu Thụy?”
“Đưa cậu ấy đi đầu thai.” Cố Cửu nói.

“Chỉ là tôi xem Tiểu Thụy như vậy có lẽ kiếp trước đã gây ra tội nghiệt nên kiếp này phải chịu khổ để đền bù, cũng không biết đời này như vậy đã trả dứt hay chưa, nếu trên người vẫn còn nợ chưa trả thì không dám đảm bảo kiếp sau cậu ấy được đầu thai vào chỗ tốt.”
Mẹ Chu nghe xong, trìu mến nhìn Tiểu Thụy, lại hỏi Cố Cửu: “Vậy tôi nên làm như thế nào để giúp nó?”
Cố Cửu trả lời: “Tôi nhìn tướng mạo của phu nhân đây thấy được phu nhân là người có lòng bác ái.

Tôi sẽ nhờ sư huynh tôi làm một pháp sự cầu phúc cho Tiểu Thụy.

Sau này miễn là không hại đến mình, mong phu nhân hãy làm nhiều việc thiện, cố gắng tích góp âm đức.

Phu nhân là mẹ ruột của Tiểu Thụy nên cậu ấy sẽ được hưởng âm đức của phu nhân.

Nếu nợ nghiệt vẫn còn ắt sẽ tiêu giảm, nếu nợ nghiệt đã hết thì kiếp sau sẽ được sung túc êm ấm, trường mệnh vô ưu.”
Mẹ Chu cảm kích nói: “Tôi hiểu rồi, cảm ơn đạo trưởng chỉ điểm cho.”
“Là việc nên làm.” Cố Cửu đáp lời.

Nếu không nhờ Tiểu Thụy kịp thời báo tin cho bọn họ, chỉ e rằng Ngân Linh đã gặp chuyện chẳng lành.

Đợi trở về thôn rồi bọn họ cũng phải báo việc này cho hai vợ chồng nhà họ Trần.

Cả nhà họ nợ ân tình của Tiểu Thụy, đã thành lập nhân quả nên phải báo ân.
Mẹ Chu gọi người chuẩn bị phòng khách cho hai người.

Cố Cửu không có ý kiến gì, nhưng đợi đến lúc sắp ngủ liền len lén gõ cửa phòng sư huynh nhảy vào.
Lúc Cố Cửu nằm xuống dựa vào Thiệu Dật, cậu không nhịn được nghĩ thầm, chẳng phải thế này thật kíƈɦ ŧɦíƈɦ sao, giống như đang lén phụ huynh yêu sớm vậy á.

(Thôi xong =))))
Pháp sự cho Tiểu Thụy được định vào ba ngày sau.

Ngày hôm sau, hai người Cố Cửu gặp được cha của Tiểu Thụy, xem tướng mạo thì ông cũng là người sống lương thiện tử tế.

Lúc đến chào hỏi Cố Cửu và Thiệu Dật, đôi mắt ông vẫn còn sưng húp, hẳn là vừa gặp Tiểu Thụy xong không kìm được cảm xúc.
Cha mẹ Chu rất tốt, tuy rằng con trai mình là một “đứa ngốc” trong miệng người đời, nhưng họ vẫn luôn hết lòng che chở cậu.
Người ta thường nói trước giường bệnh lâu ngày dài tháng không còn đứa con hiếu thảo, thật ra điều này cũng đúng cho trường hợp ngược lại.

Để chăm sóc cho một người bệnh tật hoặc khờ khạo cần phải bỏ ra rất nhiều tinh thần và công sức, rất khó giữ được sự kiên trì trong một thời gian dài.
Mẹ Chu không sinh thêm đứa con nào khác, cha Chu cũng không có ý định nạp thϊếp, hai người chỉ có một đứa con là Tiểu Thụy.

Nhà họ Chu có của ăn của để, hai bên đều có nhiều người thân, trong đó trẻ con cũng đông.

Có không ít thân thích hi vọng con mình sẽ được nhận làm con nuôi của họ để sau này kế thừa gia nghiệp.
Cha mẹ Chu lựa chọn một đứa bé có vẻ tốt bụng đoan chính làm con nuôi, bởi vì mục đích chính của họ khi nhận con nuôi là mong muốn sau khi mình tạ thế sẽ có ngươi chăm lo đàng hoàng cho Tiểu Thụy, chứ không phải để thừa kế gia sản.

Đáng buồn thay, người được chọn thì vui mừng, kẻ không được chọn đâm ra thù ghét.

Vì vậy, một trong số những gia đình không được chọn đã quay lại trả thù.
Bọn họ lợi dụng thân phận người thân của mình, thừa dịp cha Chu và mẹ Chu không có ở nhà, gạt người trông coi rằng mình muốn đến thăm Tiểu Thụy, nào ngờ cuối cùng lại cố tình cho Tiểu Thụy ăn đồ không nên ăn.
Khi Cố Cửu nghe người ta thuật lại, cậu đoán kẻ hại người đã cho Tiểu Thụy ăn đồ ăn gây dị ứng.

Bị phát dị ứng có lúc nặng lúc nhẹ, nặng nhất có khả năng dẫn đến tử vong.

Lần đó Tiểu Thụy không thoát được kiếp nạn, cho dù được gia nhân phát hiện kịp thời nhưng vẫn lên cơn khó thở rồi bỏ mình.
Thủ phạm vốn không nghĩ tới hậu quả sẽ nghiêm trọng như vậy, hắn chỉ muốn trả đũa một chút cho bõ tức, nhưng đã quá muộn.

Hiện tại kẻ thủ ác bị tống vào ngục, người nhà của hắn cũng bị họ hàng xa lánh tẩy chay.

Ác giả ác báo, thế nhưng Tiểu Thụy đã vĩnh viễn không thể quay về được nữa.
Nghĩ như vậy Cố Cửu lại cảm khái, nếu như người sống trên đời này bớt tham lam oán hận thì có lẽ đã không có nhiều người vô tội phải uổng mạng như vậy.
Trước khi tiễn Tiểu Thụy đi, Cố Cửu được cha mẹ của cậu đồng ý bèn dẫn cậu đi gặp Ngân Linh lần cuối.

Cố Cửu nói với cô bé rằng Tiểu Thụy phải chuyển nhà đi nơi khác, sau này không đến chơi với bé được nữa.
Ngân Linh nghe vậy thì buồn ơi là buồn, nhưng không còn cách nào khác, chỉ đành lưu luyến không nỡ mà từ biệt Tiểu Thụy, nói sẽ nhớ cậu lắm lắm.

Hai vợ chồng Trần Lượng và Dư Anh cũng ngầm nói với Cố Cửu bọn họ sẽ luôn cầu phúc cho Tiểu Thụy để cảm ơn cậu đã cứu giúp Ngân Linh.
Chạng vạng ngày thứ ba, Thiệu Dật bày một pháp đàn ở nhà họ Chu, dựa vào bát tự của Tiểu Thụy làm cho cậu một pháp sự cầu phúc rồi mới mở cửa quỷ mời âm sai đến dẫn Tiểu Thụy đi.
Tiểu Thụy tính tình như trẻ con, lại rất ngoan ngoãn nghe lời.

Cậu không muốn xa cha mẹ nhưng không hề khóc lóc hay vùng vằng tí nào, chỉ vừa bước theo âm sai vừa ngoái đầu lại nhìn mãi thôi.
Cha Chu và mẹ Chu tựa vào nhau, vẫy tay tiễn con trai ra đi lần nữa, nước mắt chảy dài.
Hoàn thành xong việc nhà họ Chu, lúc Cố Cửu và Thiệu Dật rời đi được họ gửi hai trăm lượng tiền thù lao.

Hai người nhận lấy rồi như thường lệ trích ra một nửa làm từ thiện.

Gần đây bọn họ tốn một lượng kha khá bùa chú và chu sa, chỉ có ra chứ không có vào, cũng đến lúc phải đi mua thêm vật liệu rồi.

Hai người trở lại trấn nhỏ, ghé qua tiệm bán nhang đèn mua sắm một phen.
Trên đường về, Cố Cửu nói với Thiệu Dật: “Sư huynh, sao đệ cứ cảm thấy hình như chúng ta quên mất cái gì thì phải.”
“Quên cái gì?” Thiệu Dật suy tư một lúc, cuối cùng lắc đầu: “Không nghĩ ra.”
Cố Cửu nghe vậy thì không tự làm khó mình nữa, nhún vai: “Thôi bỏ đi, từ từ rồi cũng nhớ ra thôi.”
Hai sư huynh đệ mỗi người ôm một túi đồ vui vẻ khoan khoái trở về đạo quan.
Quỷ thành, Phong Đô.
Một con quỷ lớn tuổi vừa nhận được tiền con trai đốt cho hớn hở chạy đến tiệm mì trên phố ăn vặt, hô lớn: “Lão Phương, cho một chén mì!”
“Không có!” Phương Thái Hòa tức phì phò cởi tạp dề quăng lên bàn cái xoạch.
Hai thằng oắt con, đã nói khi về đến nhà phải đưa thêm bột mì cho ông, bây giờ thì hay rồi, đã mấy ngày rồi không biết, bột mì dự trữ trong cửa hàng hết sạch sành sanh mà cái bóng của bột mì còn chẳng thấy đâu, ông với lão Bùi sắp phải cạp đất mà ăn đến nơi rồi.
Sáng sớm hôm sau, Cố Cửu toát mồ hôi lạnh ngồi dậy, vừa quay đầu nhìn thì thấy sư huynh cũng chẳng hơn gì mình, vội hỏi: “Sư huynh, huynh cũng bị mắng hở?”
Thiệu Dật ừ một tiếng, mặt mày đen thui.
Cố Cửu ngượng ngùng chà chà cái trán ướt đẫm mồ hôi, thật là, mải lo chuyện của Tiểu Thụy, quên béng mất vụ bột mì tổ sư gia dặn.

Đêm qua tổ sư gia báo mộng, vừa mắng vừa khảo bài cũ, bị hành cho một trận lên bờ xuống ruộng.
Ôi, thảm quá chừng, đi ngủ mà cũng bị trả bài….
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 32: 32: Bao Phú Quý


“Xin tổ sư gia bớt giận, đồ tôn bất hiếu.

Hôm nay chúng con gửi thêm một túi bột mì nữa, chúng con thắt lưng buộc bụng lắm mới dành ra được chút ít này, mong người và Bùi thúc tổ bán hàng vui vẻ, ăn uống vui vẻ…”
Cố Cửu cầm nén nhang đứng đối diện bài vị của tổ sư gia lầm rầm niệm, làm nũng năn nỉ ỉ ôi một hồi rồi mới cắm nhang vào lư.

Tối hôm qua Thiệu Dật cùng chung số phận bị khảo bài nên sáng nay cũng đã nhanh chân thắp nhang nhận sai rồi.
Trước đây thầy trò Bùi sư thúc tổ chưa kịp thu đồ đệ nào thì đã gặp phải biến cố rồi qua đời, cho nên Cố Cửu và Thiệu Dật nghiễm nhiên trở thành người kế thừa y bát và chăm lo hương khói cho bọn họ.

Thỉnh thoảng Phương Bắc Minh trở về thì sẽ dạy dỗ hai đứa học trò một thời gian rồi lại tiếp tục lên đường, hoặc có khi các vị tổ sư gia sẽ dạy cho hai người vài chiêu thông qua việc báo mộng.
Đêm hôm qua bị hành tơi tả trong mộng nên cả hai chẳng ngủ được mấy, sáng nay đạo quan mở cửa đón khách, sư huynh đệ Cố Cửu ngồi ngoài mái hiên của chính điện, mỗi người chiếm một góc bàn dùng để tiếp khách hành hương mà ngủ gà ngủ gật.
Tiểu Đệ vốn đang ghé vào đầu Cố Cửu lim dim hưởng thụ thì bỗng hai tai giật giật, nhóc ta ngẩng đầu ngó ra ngoài cửa lớn, meo lên một tiếng.
Cố Cửu và Thiệu Dật đồng loạt ngước nhìn, chỉ thấy một bàn tay gầy quắt queo không biết từ đâu đột nhiên xuất hiện, chụp lên khung cửa, dường như chủ nhân của nó phải dùng hết sức mới bám được vào cửa, theo ngay sau đó là một mái đầu bù xù như tổ quạ.

Người nọ chui vào cửa, tay đỡ lấy một chân, khập khiễng lê từng bước vào trong đạo quan.
“Đạo trưởng, cứu mạng với…” Người vừa mới tới nhìn thấy Cố Cửu thì như nhìn thấy vị cứu tinh, sống chết nhào tới trước mặt cậu.
Cố Cửu hết hồn, nhanh nhẹn bế mèo đen lên dạt ra một chút: “Ông là ai vậy?”
Cậu nắm lấy đệm thịt của mèo Tiểu Đệ, nhờ móng của nó vén mớ tóc lộn xộn trước trán của người đó ra xem.

Khuôn mặt của người này bầm dập cả, nhưng trông có vẻ quen quen, hình như đã từng gặp ở đâu rồi.
Đã ra nông nổi này nên bây giờ cứ mở miệng nói chuyện là mặt Bao Phú Quý lại đau thấu, gã méo xệch miệng xuýt xoa, nói: “Đạo trưởng, là tôi đây, người xem bói cho cậu trong trấn nhỏ dưới chân núi đó.”
Cố Cửu lập tức nhớ ra: “A, là ông à.”
Bao Phú Quý bám vào mép bàn, cảm kích nói: “Tạ ơn đạo trưởng lần trước đã cho tôi bùa bình an, nhờ nó mà tôi mới giữ được cái mạng này.”
Ngày hôm đó, Bao Phú Quý nhìn vào vết mèo cào rướm máu trên tay cứ ngờ ngợ mãi, không biết có phải mình vừa gặp phải một tay lừa đảo già đời hơn không nữa, nhưng mà dù sao cái bùa bình an đó cũng tiêu mất hai văn tiền cuối cùng của gã nên gã vẫn tiếc của, giữ lại trong người không ném đi.
Khoảng thời gian sau đó, Bao Phú Quý nơm nớp lo sợ mình sẽ gặp phải “tai nạn đổ máu”, thỉnh thoảng còn nghĩ tới quẻ bói mà Cố Cửu đã xem cho mình.

Gã đặc biệt để ý đến câu “khổ cực lúc về già” kia.

Lúc còn trẻ chịu khổ một chút, nhân lúc thân thể còn khỏe mạnh thì ráng lo bôn ba kiếm sống cũng không có gì, nhưng mà nếu đã có tuổi mà còn không được hưởng phúc tuổi già, vẫn phải lăn lộn khắp nơi thì thật thê thảm quá.
Thời đại này người ta rất xem trọng chuyện hậu sự, có người còn đến hơn mười năm nữa mới được xem là cao tuổi mà đã rục rịch chuẩn bị hậu sự cho mình rồi, lo mua sắm quan tài phòng xa, Bao Phú Quý gã tuy chỉ có một thân một mình nhưng cũng không ngoại lệ.

Thế là gã cố ý nán lại nơi này để hỏi thăm về Thái Nguyên Quan.

Cuối cùng tính tới tính lui, Bao Phú Quý quyết định gửi gắm hi vọng vào Cố Cửu, muốn tìm cậu mặt dày xin bái sư học đạo, tốt nhất là học được một chút kĩ năng thật sự chứ không tiếp tục con đường lừa gạt gian dối nữa, hòng tích phúc về sau.
Hôm nay không phải lần đầu tiên Bao Phú Quý tìm lên Thái Nguyên Quan, chỉ là lần đầu gã đến thì đúng dịp bọn Cố Cửu ra ngoài lo việc của Tiểu Thụy nên không gặp được.
Sáng hôm qua Bao Phú Quý lò dò đến Thái Nguyên Quan lần nữa, nào ngờ lần này giữa đường lại gặp chuyện ngoài ý muốn, gã tình cờ nhìn thấy một kẻ lưu manh đang lôi xềnh xệch một cô gái giãy dụa kịch liệt vào trong rừng.
Bao Phú Quý vốn không định lo việc bao đồng làm gì cho nhọc thân, nhưng lúc gã dợm bước đi thì bỗng sực nhớ đến câu nói của Cố Cửu “bớt đi lừa gạt người ta, siêng năng làm việc thiện” bèn khựng lại, cộng thêm tiếng la hét cầu cứu của cô gái kia thê thảm quá nên cuối cùng gã vẫn cắn răng lao vào rừng cây.
Bao Phú Quý tìm được đến nơi bèn hét to quát bảo tên lưu manh dừng trò đồi bại kia lại, ai ngờ tên đó thấy gã thân cô thế cô nên chẳng những không sợ mà còn hùng hổ nhào lên tấn công gã.

Lúc Bao Phú Quý bị đấm cho một cú thì nghĩ thầm trong bụng, bị đánh thì cũng đã bị rồi, nếu bây giờ chùn bước thì thành ra công cốc hay sao, thế là gã bất chấp làm liều, ráng nhịn đau ôm chầm lấy tên côn đồ để tranh thủ thời gian cho cô gái chạy trốn.
Sau khi cô gái kia thoát thân, gã bị đánh một trận tơi bời.

Không những vậy, lúc gã quýnh quáng chạy trốn bất thình lình trượt chân, ngã nhào xuống vách núi.
Vách núi chỗ đó rất cao, Bao Phú Quý chỉ bị gãy một chân và rách da đầu đã xem như là kì tích rồi.

Gã bị choáng nên ngất lịm đi, nằm dưới vực cả đêm.

Ngay khi vừa tỉnh lại, gã mò mẫm trong túi muốn lấy lá bùa bình an vẫn mang theo bên người ra xem thử thì chỉ vốc được một nhúm bột mịn.

Bao Phú Quý sợ đến nỗi đổ mồ hôi lạnh khắp người, nếu không có lá bùa này thì thật chẳng dám tưởng tượng kết cục của gã sẽ ra sao nữa.
Việc này càng củng cố quyết tâm muốn đến nương nhờ Cố Cửu của gã.

Gã bám lấy cây cỏ dọc bên triền núi, lần mò bò lên từng chút một, vật vã mất cả buổi sáng mới lên được tới nơi.

Sau đó gã không chần chừ gì nữa, vội vàng lê cái chân què chật vật đi lên Thái Nguyên Quan.
Cố Cửu nghe xong đầu đuôi câu chuyện bèn lấy thuốc trị thương ra, bảo Bao Phú Quý tự soi gương mà bôi thuốc, còn cậu thì tìm hai thanh gỗ nẹp chân cho gã.
“Đã là kiếp số thì sẽ không tránh khỏi, tránh được một lần chứ không tránh được một đời, thà chịu khổ một chút nhưng thoát được kiếp nạn thì tốt hơn.

Bây giờ coi như kiếp nạn của ông đã được giải, chỉ có điều tương lai như thế nào vẫn phải xem bản thân ông hướng thiện hay ác.”
“Đạo trưởng, ngài thu nhận tôi làm đồ đệ đi!” Bao Phú Quý nhìn Cố Cửu một cách da diết.
Cậu nhịn không được phì cười: “Tôi còn đang là đồ đệ của người ta đây này.”
Bao Phú Quý mặt dày không chịu từ bỏ: “Nếu như vậy thì làm sư đệ cũng được mà.”
Trước khi gã lên đây đã hỏi thăm rõ ràng rồi, quan chủ của Thái Nguyên Quan đã ra ngoài từ lâu, hàng năm trong quan chỉ có hai sư huynh đệ Cố Cửu ở lại.

Tuy rằng người lợi hại nhất là đại sư huynh Thiệu Dật nhưng Bao Phú Quý không dám đả động gì tới hắn.

Vừa rồi gã cẩn cẩn thận thận cười cầu tài với người ta, mà người ta lại chỉ ném cho gã một ánh nhìn lạnh buốt thấu xương, làm Bao Phú Quý có cảm giác như mỗi lời người này phun ra sẽ độc địa như một lưỡi dao sắc bén vậy.
Cố Cửu cố định hai thanh nẹp bằng một nút thắt rồi nói: “Tôi làm sao nhận một sư đệ lớn tuổi như ông được chứ.” Bao Phú Quý này ít nhất đã hơn ba mươi rồi.
Gã nghe vậy vội la lên: “Đừng đuổi tôi mà, tôi không ngại nhận ngài làm sư huynh đâu.”
Cố Cửu nghiêm chỉnh nói: “Nhận đồ đệ không có đơn giản nhưng ông tưởng đâu, không phải cứ nói vài câu là xong việc.

Thôi được rồi, đừng nhắc tới chuyện này nữa, ông ở chỗ nào, tôi tìm người đưa ông về.”
Bao Phú Quý co rúm người lại: “Từ nhỏ tôi đã lang thang trôi dạt khắp nơi, làm gì có chỗ nào ở chứ, hôm qua đến giờ tôi còn chưa có gì bỏ bụng nữa là…”
“Vậy làm sao ông có sức bò nổi từ dưới đáy vực lên tới đây?”
“Thì ăn qua loa mấy miếng cỏ dại cầm hơi thôi.”
Bao Phú Quý vì để đạt được mục đích mà ra sức tỏ ra thê thảm, thế là cuối cùng dù không bái được thầy nhưng cũng được ưu đãi cho ở lại đạo quan dưỡng thương.

Chuyện này là do Cố Cửu quyết định, nhưng Thiệu Dật cũng không có ý kiến gì, bởi vì Cố Cửu thuyết phục hắn rằng đến khi làm xong Thất t*nh h**n, hai người họ cũng phải ra ngoài làm việc, phải rất lâu mới quay về đạo quan một lần, chẳng lẽ lại bỏ phế đạo quan như trước đây, không có ai chăm lo hương khói hay sao?
Nếu đã vậy chi bằng để cho Bao Phú Quý ở lại đây, giúp bọn họ coi sóc việc trong việc ngoài, để đạo quan tránh được cảnh hoang tàn.

Dĩ nhiên việc này cũng phải hỏi ý của Phương Bắc Minh mới được.
Tạm sắp xếp xong xuôi như vậy, Cố Cửu và Thiệu Dật đi một chuyến xuống núi để hỏi thăm tin tức của cô gái suýt bị hại kia.

Nếu sự việc đã xảy ra trên ngọn núi này thì ắt tên lưu manh kia ở không xa mấy.

Thế nhưng bọn họ đợi mấy ngày liền đều không thấy chút tin tức nào.
Cố Cửu có thể hiểu được nguyên nhân trong đó, sự việc thế này đặt vào bối cảnh xã hội hiện đại còn dễ dàng dẫn đến đủ loại thị phi gièm pha, thậm chí là đổ lỗi cho người bị hại, chứ nói chi đến thời đại này.

Thông thường chính bản thân cô gái và cả người nhà đều chọn cách im lặng nhịn nhục.

Nếu việc này để lọt vào tai người ngoài thì dù cho cô gái đó có thoát nạn thì cũng khó mà bảo toàn danh tiết, khó tránh khỏi bị nhà chồng sau này khinh khi.
Cố Cửu nhíu mày hỏi Thiệu Dật: “Sư huynh, chẳng lẽ chúng ta buông tha cho tên côn đồ đó sao?”
Thiệu Dật nhìn cậu một cái: “Dĩ nhiên không.”
Hai người trở lại đạo quan, Cố Cửu thấy Thiệu Dật rút một bó rơm trong phòng chứa củi ra, sau đó bện một người rơm nhỏ xíu rồi đi tìm Bao Phú Quý.
Thiệu Dật nói với Cố Cửu, Bao Phú Quý có vật lộn với kẻ nọ, ắt hẳn trên người còn vương lại hơi thở của hắn, chỉ cần dẫn một luồng hơi đó vào hình nộm rơm rồi lấy tơ hồng quấn lên hai tay hai chân của nó thì hình nộm ấy sẽ trở thành thế thân của đối phương trong một lúc.
Giải thích xong, Thiệu Dật thả người rơm xuống đất, người rơm bắt đầu cử động, khua tay múa chân.

Nó tạo một dáng ngồi trên không khí, một chân buông thõng, một chân giương cao giống như đang đạp lên một băng ghế vô hình.

Dáng người nó hơi nghiêng, chốc chốc lại đưa tay phải lên miệng, trông điệu bộ như là đang ăn cái gì đó.
Cố Cửu hỏi: “Bây giờ hình nộm này là tên lưu manh kia à sư huynh?”
Thiệu Dật đáp: “Ừm.”
Thiệu Dật khẽ đung đưa dây tơ, người rơm đột nhiên bị ép đứng lên, lúc này hẳn là tên lưu manh kia sợ muốn chết rồi, cơ thể tự dưng không điều khiển theo ý mình được nữa, cứ giãy dụa ở mãi một chỗ.

Thiệu Dật cười lạnh, gảy gảy dây tơ hồng trong tay, vờn đuổi tên nọ một hồi, sau đó hắn dùng chuôi kiếm gõ thật mạnh vào đầu gối trái của người rơm, thế là nó run rẩy dữ đội, ôm lấy chân trái té nhào xuống đất.
Vừa hay Bao Phú Quý bị ngã gãy chân trái.
Thiệu Dật lại trở tay gõ nhẹ lên đầu người rơm một cái, nó lập tức ôm lấy đầu bằng cả hai tay, vậy mà còn chưa kết thúc, hắn tiếp tục gõ một cái vào hạ bộ của người rơm, lần này nó khuỵu xuống, đưa tay che chỗ nhạy cảm kia lại.

Thấy đã khá hài lòng, trước khi dừng tay Thiệu Dật khắc thêm mấy dòng chữ lên người của hình nộm, đại khái có tác dụng làm cho tên lưu manh phải tự lên huyện nha đầu thú.

Đến lúc này, hơi thở được dẫn vào người rơm cũng tan biến.
Hai ngày sau, Cố Cửu và Thiệu Dật xuống núi lần nữa thì nghe nói trong thôn có một tên côn đồ cắc ké không biết thế nào mà đang ăn cơm ở nhà bạn bỗng nhiên bị quỷ nhập.

Con quỷ nọ làm hắn ta gãy mất một chân, gõ vỡ đầu hắn, lại còn phế đi đường con cái của hắn.

Bị tra tấn dữ quá, tên lưu manh đó thực sự sợ hãi, hắn ta và đám bạn bè cùng hội cùng thuyền vội đi đầu thú.

Sau khi điều tra, huyện nha lôi ra được đủ loại tội danh của bọn chúng.
Mọi người còn cho rằng cùng lắm tên du thủ du thực đó chỉ trộm cắp hay chòng ghẹo con gái nhà lành mà thôi, sau khi mọi việc được đưa ra ánh sáng, người ta mới kinh hãi phát hiện ra cả đám bọn họ từng mưu hại một cô gái, đã dính đến mạng người.

Bây giờ đám cặn bã đó đã bị tống hết vào ngục, trừ phi gặp được dịp đại xá thiên hạ thì may ra còn có cơ hội ra tù, còn không thì hẳn là phải ở trong đó đến cuối đời.
Sau khi có kết quả xử án, nghe nói dân chúng trong vùng ai nấy đều vỗ tay hoan hô, họ còn kháo nhau rằng chuyện này là do cô gái chết oan kia trở về báo thù.

Nhờ việc này mà đám du côn trong vùng cũng yên phận được một thời gian, trộm cắp vặt thì chưa bàn tới, nhưng việc động tới mạng người thì tuyệt không dám dây vào, kẻo một ngày nào đó lại gặp phải kết cục giống như mấy tên kia.
Có điều sau đó ít lâu, Cố Cửu có nghe nói đám lưu manh đó ở tù không bao lâu đã chết rục cả, toàn bộ đều bị chuột gặm mất cơ quan sinh dục, không một tên nào thoát.

Người khám nghiệm tử thi kết luận rằng bọn họ bị đau đớn giày vò đến chết.

Điều kì lạ là tối ngày hôm đó bạn tù xung quanh phòng giam đó đều không nghe được bất cứ âm thanh nào cả, vô cùng quái dị.

Cố Cửu lại biết, bấy giờ mới thật sự là cô gái bị hại kia quay về báo thù.
Nàng ấy chết đã lâu, nhưng đám người cặn bã kia vẫn không gặp chuyện gì là bởi vì bọn chúng làm ác nhiều, sát khí trên người tích tụ không ít, quỷ lại sợ ác nhân nên nàng ta không dám đến gần.

Bây giờ bọn chúng bị hạ ngục, mà ngục giam là nơi trấn áp kẻ ác, sau khi bọn chúng bị nhốt, sát khí đã tiêu giảm cho nên quỷ hồn của cô gái nọ mới nhân cơ hội này báo thù.
Bọn Cố Cửu không phải cứ nhìn thấy quỷ là nhào đến bắt, ví dụ như trường hợp này, quỷ báo tư thù nhưng không gây hại đến người vô tội, không phạm đến bọn họ thì bọn họ sẽ không làm gì.

Bây giờ đã vào tháng bảy, tháng bảy là tháng của quỷ, tiết trung nguyên sắp đến, công việc cần làm của hai sư huynh đệ còn ngập đầu đây này..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 33: 33: Trở Về


“Phú Quý à…”
Cố Cửu mặc áo khoác dày, trong tay bưng một tách trà nóng, thoạt nhìn trông giống như cán bộ nghỉ hưu, cậu đứng ở cửa ra vào nhìn Bao Phú Quý đang gấp vàng thỏi bằng giấy (1) ngoài mái hiên.
Bao Phú Quý quay lại hỏi: “Có chuyện gì vậy Tiểu Cửu ca?”
Cố Cửu vẫn bình chân như vại, mặc cho bản thân mình còn chưa tròn mười tám mà lại bị một người đàn ông hơn ba mươi tuổi một điều ca hai điều ca suốt ngày.

Cậu nhấp một ngụm trà nóng, nói: “Huynh gấp từ sáng sớm đến giờ rồi, nghỉ một lát đi.” (2)
Bao Phú Quý ở lại đạo quan dưỡng thương, ăn của đạo quan, ở của đạo quan, vả lại gã còn hi vọng được bái sư nên đương nhiên phải cố gắng thể hiện cho thật tốt.

Tuy rằng chân đang bị thương nhưng tay vẫn còn lành lặn, thế là gã không chịu nhàn rỗi, năm nay toàn bộ tiền vàng đều do một tay Bao Phú Qúy gấp cả.

Vài ngày nữa là đến tiết trung nguyên, Cố Cửu sẽ cùng Thiệu Dật đi xung quanh bố thí chút đồ cho cô hồn dã quỷ.
Bao Phú Quý cười khà khà nói với Cố Cửu mình không mệt, hơn nữa cho dù có mệt gã cũng sẽ không than vãn, bởi vì gã còn đang trông chờ hai người Cố Cửu có thể nhìn thấy khả năng chịu được khổ của mình mà mềm lòng.
Cố Cửu thấy vậy cũng không nói thêm nữa, cậu quay vào trong đúng lúc nhìn thấy Thiệu Dật bê một cái sọt lớn ra, vừa cúi đầu nhìn đã ngửi được mùi hoa tiêu (3) sực lên.
Cố Cửu hắt xì mấy cái, bị Thiệu Dật ghét bỏ đẩy sang một bên.

Cố Cửu xoa xoa mũi, ồm ồm nói: “Năm nay hoa tiêu trong thôn chất lượng tốt nhỉ, mùi nồng hơn năm ngoái nhiều.”
Có một cách nói ẩn ý “trên đầu mộ mà rắc hoa tiêu – đồ quỷ” , nghĩa là “đừng có xạo sự nữa” (4).

Tuy vậy, đối với giới huyền học thì đó lại đúng là một cách để trấn áp ma quỷ, không cho chúng đi lung tung hại người.

Cách này rất thích hợp để dùng khi ra ngoài vào tháng cô hồn.
Trong dân gian, hoa tiêu là biểu tượng của con đàn cháu đống, bởi vì mỗi đợt hoa tiêu kết rất nhiều trái, nó còn là một loại gia vị thường dùng, cho nên ở vùng này có nhiều hộ làm nông trồng hoa tiêu.

Năm nào đến tiết trung nguyên hai sư huynh đệ cũng đi một vòng gom một mớ về dùng.
Ngoài hoa tiêu ra thì bọn họ còn phải mang theo đồ cúng cô hồn như nhang đèn, tiền giấy, vàng thỏi, các loại đồ ngọt và trái cây.

Những thứ này phải chuẩn bị đầy đủ từ sớm, chờ đến chạng vạng thì khởi hành.

Bao Phú Quý rất muốn đi cùng để xem thử, chỉ là chân cẳng thế kia nên đành phải ở lại đạo quan.
Trước khi ra khỏi cửa, Cố Cửu có dặn dò Bao Phú Quý: “Huynh ở lại đây sẽ không có quỷ quái nào dám bén mảng đến gây sự, nhưng mà cái gì cũng có ngoại lệ, có khi có vài con quỷ to gan muốn đâm đầu vào chỗ chết không chừng, nên nếu có người lạ đến gõ cửa thì dù kẻ đó có gọi đúng tên huynh huynh cũng đừng mở cửa.”
Bao Phú Quý nghiêm túc gật đầu, cam đoan mình đã nhớ rõ rồi.
Mặt trời dần khuất núi, trong ánh chiều tà, Cố Cửu và Thiệu Dật mang đồ đã chuẩn bị sẵn ban sáng đi xuống núi.

Tiểu Đệ vừa đi vừa chụp hoa bắt bướm, tung ta tung tăng theo chân bọn họ.
Lúc xuống đến chân núi, Cố Cửu thấy còn vài người đang bận việc trên ruộng bèn nhắc họ hôm nay nhớ về nhà sớm một chút, tối trời rồi thì đừng ra ngoài nữa.

Những người đó nghe xong cũng rối rít đồng ý, nói sẽ về nhà ngay.

Họ ở gần đạo quan nên cũng biết chuyện, biết là vào tiết quỷ thì không nên đi lung tung vào buổi tối, cũng có chuẩn bị đồ cúng, thắp hương và để sẵn tiền giấy để tế bái tổ tiên, thân nhân ở nhà.
Trời tối dần, gió bắt đầu thổi mạnh, quất vào cành cây nghe xào xạc, âm khí trở nặng, quỷ quái không tiện ra ngoài vào ban ngày chỉ đợi đến lúc này để được hoạt động tay chân.

Mèo Tiểu Đệ gần như hòa lẫn vào đêm đen, nó nhảy vào sọt của Cố Cửu rồi đứng thẳng lên, lấy móng vuốt câu lấy bả vai cậu, đầu nhỏ lắc lư lia khắp một lượt xung quanh, thỉnh thoảng lại meo một tiếng cho Cố Cửu nghe.
Cố Cửu và Thiệu Dật vừa đi vừa treo những chiếc đèn giấy dọc ven đường, thắp lửa.

Giấy đèn này phải dùng giấy màu lam để làm, đèn lồng màu lam sẽ dẫn quỷ hồn tìm đúng đường về nhà, tránh xông nhầm vào đường của người sống.
Lúc đi ngang những chỗ có âm khí mạnh, Cố Cửu sẽ rải thêm một ít hoa tiêu, mỗi lần đi đến một giao lộ, hai người đều dừng lại để cúng tế nhang đèn tiền giấy, có khi gặp trường hợp đám quỷ hồn đánh nhau vì tranh miếng ăn thì bọn họ cũng phải ra mặt hòa giải.
Cuối cùng hai sư huynh đệ đi đến một nghĩa địa bỏ hoang, trong này có rất nhiều quỷ lang thang, quỷ ở đây phần lớn đều đã quên mất mình từ đâu đến và muốn đi đâu, cứ thơ thẩn ở chỗ này năm này qua tháng nọ.

Cố Cửu nhét giấy vào mũi để khỏi bị hắt hơi, cầm hết mớ hoa tiêu còn lại rải đều ra xung quanh.

Những quỷ hồn đụng phải hoa tiêu thì vốn đã chậm chạp nay càng chậm chạp hơn.
Quỷ từ địa phủ khi được phép lên dương thế sẽ bị giới hạn thời gian, hết giờ phải quay trở về ngay, vì vậy mớ hoa tiêu này chủ yếu là dành cho những quỷ hồn nào chưa bị địa phủ thu về.
Làm xong hết thảy mọi sự, Cố Cửu và Thiệu Dật lên đường quay về đạo quan.

Khi đi ngang thôn dưới chân núi, hai người nhìn thấy tro giấy bị đốt còn vương lại ven đường, tro này đã được người ta lấy cời lửa vun lại thành đống ngay ngắn, đây là đồ cúng riêng, chỉ có người thân của gia đình đó mới được hưởng, cô hồn dã quỷ không động vào được.
Cố Cửu và Thiệu Dật đi ngang một nhà kia, cửa nhà bỗng bật mở, một người đàn ông xách đèn lồng vội vàng bước ra hỏi thăm: “Có phải là Thiệu đạo trưởng và Cố đạo trưởng không vậy?”
“Chúng tôi đây.” Hai người quay đầu lại nhìn.

“Làm sao vậy?”
“Vợ tôi bị mẹ tôi nhập vào rồi.” Người đàn ông nọ rầu rĩ tiến lên mời bọn họ vào nhà xem giúp.

Hắn ta biết năm nào hai vị đạo trưởng cũng đi dọc theo con đường này để làm lễ cúng.

Từ lúc gặp chuyện đến giờ hắn vẫn túc trực ở đây, đợi mãi cuối cùng cũng đợi được hai người quay trở về.
Hai sư huynh đệ đi theo hắn vào sân, chưa kịp vào đến nhà đã nghe thấy tiếng mắng sang sảng vọng ra, giọng nói nghe có vẻ kì dị.
“Hôm nay là tiết quỷ mà bọn bây còn chưa cúng đồ cho bà đây nữa hử?”
Người đàn ông bị điểm mặt chỉ tên, ngượng ngập quay sang nói với bọn Cố Cửu: “Thì…đã gần sang đông rồi, con trai tôi sắp phải cưới vợ, cho nên tôi với vợ tôi mới muốn tiết kiệm chút đỉnh…”
Cúng tế thì phải chuẩn bị vàng mã, đồ cúng các loại, tiền giấy cũng phải tốn tiền mua, cho nên hai vợ chồng nhà này bàn nhau dè xẻn chút tiền đó, nảy ra ý định dùng vỏ măng tre thay cho tiền giấy.

Bọn họ cho rằng đốt vỏ măng cũng chẳng khác gì đốt tiền giấy.Vì thế, hôm nay nhà nhà đều sửa soạn mâm lễ vàng mã đàng hoàng, chỉ riêng nhà này đi đốt vỏ măng.
Cố Cửu cạn lời, một xấp tiền giấy thì có tốn bao nhiêu tiền đâu, cùng lắm là mấy văn mà thôi, có hà tiện thì cũng đừng nên hà tiện trong dịp này chứ.
Người ở trong phòng vừa khóc lóc vừa chửi rủa um sùm.

Cố Cửu nghe mà lỗ tai cũng ong ong, đành ngao ngán xem thử.

Ai ngờ cậu không xem thì thôi, vừa xem đã phát hiện ra chuyện còn đáng xấu hổ hơn.

Thì ra mọi việc chẳng hề đơn giản như chủ nhà vừa nói.

Người ta nói giữa tháng bảy, đốt vỏ măng, dỗ mẹ dỗ cha, cho nên nếu chỉ là treo đầu dê bán thịt chó một hai lần thì cũng thôi, dù gì cũng là con cháu mình cả, cùng lắm thì thắt lưng buộc bụng một chút.

Thế nhưng Cố Cửu xem được không chỉ tiết trung nguyên mà tất tần tật các dịp lễ lạt khác như thanh minh, Tết Âm Lịch, thậm chí là ngày giỗ quải, người nhà này đều dùng vỏ măng thay thế đồ cúng hết.
Cùng là tro cả, nhưng mà tro tiền giấy và tro từ vỏ măng giống nhau được chắc.

Vỏ măng làm sao biến thành tiền được, cho dù là mô phỏng thì khi xuống địa phủ cũng không có tác dụng gì hết.

Cứu năm này qua tháng nọ qua mặt người ta như vậy, có là cha mẹ ruột cũng tức nước vỡ bờ thôi.
Hai cụ của nhà này đợi mãi mới có dịp cửa quỷ mở ra để trở về dương gian, thế là bọn họ quay về, lại nhìn thấy cảnh cả nhà con trai mình nết xấu không chừa, tiếp tục đốt vỏ măng lừa cha gạt mẹ nên chịu không nổi nữa, nhập vào con dâu làm một trận cho hả dạ.
Bà cụ vừa nhập hồn xong bèn tát con trai mình mấy cái liền, trên mặt hắn ta vẫn còn dấu tay chưa phai, đi ra chỗ sáng một chút là thấy rõ mồn một.
Cố Cửu và Thiệu Dật vừa vào nhà đã thấy ngay một người phụ nữ trung niên mặc quần áo bằng vải thô ngồi ngay giữa nhà, nước mắt nước mũi tèm lem, khóc lóc thê thảm.

Chị ta ngồi trên một cái ghế dài, băng ghế này vừa đủ cho hai người ngồi, chị ta chỉ ngồi một bên, bên kia chừa trống.

Đương nhiên “trống” ở đây là với người bình thường mà thôi, hai sư huynh đệ Cố Cửu nhìn thấy một ông cụ ngồi bên phần ghế còn lại, trừng mắt nhìn chủ nhà, thỉnh thoảng lại phụ họa bạn già của mình mấy câu.
Người đàn ông dùng ánh mắt cầu cứu Cố Cửu và Thiệu Dật.
Thiệu Dật tựa vào khung cửa, lười nhác liếc hắn một cái, nói: “Còn không quỳ xuống?”
Cố Cửu chịu trách nhiệm thuyết minh: “Bọn họ là cha mẹ ông, ông đã mắc lỗi thì phải chân thành nhận lỗi với họ.

Sau này biết sai sửa sai, bọn họ giận quá nên mắng cho một trận như thế, xong rồi vẫn sẽ tha thứ cho con cháu thôi.”
Người đàn ông nghe vậy vội vàng quỳ xuống, dập đầu nhận lỗi, luôn miệng nói sau này sẽ không dám làm như vậy nữa, còn hứa hẹn ngày mai sẽ đi mua tiền giấy đốt cho cha mẹ ngay.
Hai ông bà nhân cơ hội này đưa ra vài yêu cầu nữa, bọn họ nói rằng mình đã bị bỏ đói lâu lắm rồi, ngoại trừ tiền giấy còn phải cúng thêm vài bó nhang đèn, trái cây tươi, cả một con gà để đổi món nữa.

Hai người liệt kê một tràng dài, Cố Cửu nhẩm tính số tiền phải bỏ ra để sửa soạn những thứ này còn nhiều gấp mấy lần số tiền cần để cúng tế ban đầu nữa.
Chủ nhà dù có xót tiền cũng phải bấm bụng ngậm bồ hòn, chỉ dám gật đầu vâng dạ lia lịa, bảo đảm ngày mai sẽ bổ sung đầy đủ.

Đến lúc này đôi cha mẹ đã qua đời này mới tạm tha thứ cho hắn.
Sau đó, không cần tới Cố Cửu hay Thiệu Dật thúc giục, bà cụ căn dặn xong thì chủ động xuất hồn ra khỏi người con dâu.

Ngoài cửa có hai vị đạo sĩ, một trong hai người trông còn giống lệ quỷ thế kia, hai người không dám đi cửa chính, cho nên xuyên tường mà đi vội.
Thiệu Dật đi qua xem xét người vợ vẫn còn nằm bẹp trên đất, chị ta vừa bị quỷ nhập nên mấy ngày tới chắc chắn cơ thể sẽ suy yếu.

Thiệu Dật dặn người chồng nhớ cho chị ta ăn uống đầy đủ một chút để bồi bổ.
Người đàn ông nọ khổ không để đâu cho hết, hối hận muốn chết.

Lần này thế là đi tong mấy lượng bạc.

Nếu sớm biết thế thì lúc trước keo kiệt ki bo làm gì cơ chứ.
Cố Cửu có để lại một lá bùa trấn hồn, bảo chủ nhà dán trên đầu giường ngủ của hai vợ chồng rồi mới rời đi.
Hai người rẽ vào con đường mòn dẫn lên đạo quan mới thấy được yên tĩnh, không có người cũng không có quỷ tìm đến bọn họ, nhưng bỗng nhiên, Cố Cửu nhìn thấy thấp thoáng xa xa dưới ánh trăng có một bóng người đang cầm que gỗ cực cực khổ khổ mà…cạy cửa đạo quan.
Cố Cửu hét lên: “Ê! Ăn trộm hả!”
Tên trộm quay đầu lại, lộ ra khuôn mặt không thể quen thuộc hơn.
“Ái chà chà, Tiểu Cửu Nhi đấy hở?”
Cố Cửu kinh ngạc: “Sư phụ?”
Cố Cửu suиɠ sướиɠ nhào tới, nhảy cả lên người Phương Bắc Minh, treo toòng teng như con bạch tuộc.
“Sư phụ, rốt cuộc người cũng về rồi!”
Phương Bắc Minh bị Cố Cửu tông một cú, phải bước lùi về sau mấy bước để giữ thăng bằng.

Y vỗ vỗ lưng Cố Cửu: “Thành bé bự rồi, sư phụ sắp ôm con không nổi rồi.”
Cố Cửu ngượng ngùng tuột xuống, cười hắc hắc: “Con nhìn thấy sư phụ, vui quá quên mất tiêu.”
Phương Bắc Minh làm vẻ mặt “ta hiểu mà”, vươn tay xoa xoa đầu cậu, sau đó quay đầu nhìn sang Thiệu Dật đang thong dong bước tới, dang tay ra, hỏi: “Tiểu Cửu Nhi ôm rồi, con có muốn ôm ôm chút không?”
Thiệu Dật nhăn mặt, liếc sư phụ nhà mình một cái sắc lẹm, nhìn y từ trên xuống dưới: “Con sợ người ngã chổng vó mất.”
Phương Bắc Minh nói: “Dù bây giờ con cao hơn sư phụ thật, nhưng mà sư phụ con cũng đâu có yếu dữ vậy.”
Đồ đệ lớn không chịu ôm y thì y đi ôm nó vậy.
Cố Cửu đứng bên cạnh cười ngô nghê, Thiệu Dật thì trong ngoài bất nhất, trừng mắt nhìn sư phụ mình đầy vẻ ghét bỏ, nhưng đôi tai lại từ từ đỏ lên.
Phương Bắc Minh buông Thiệu Dật ra, xoa xoa ót nhìn hai người, nghi hoặc hỏi: “Trong đạo quan sáng đèn, ta còn tưởng một trong hai đứa ở lại.” Y giũ giũ tay: “Ta đứng đây gõ cửa mãi mà không thấy động tĩnh gì nên mới phải cạy cửa.”
Cố Cửu trả lời: “Đúng là có người ở trong đó ạ, lát nữa con kể cho sư phụ nghe, mình đi vào trước cái đã.” Nói đoạn, cậu bước lên gõ cửa, hô lớn: “Phú Quý, mở cửa, bọn tôi về rồi.”
Tiếng Bao Phú Quý run rẩy từ trong sân vọng ra: “Đừng có la nữa, đừng tưởng các ngươi giả giọng Tiểu Cửu ca thì ta sẽ mắc mưu.

Ta tuyệt đối không mở cửa đâu!”
“Biến đi!”
“Đám ma quỷ kia!”.
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 34: 34: Lên Đường


Bao Phú Quý đứng chôn chân tại chỗ, nhìn một hàng ba thầy trò trước mặt, thật muốn đào một cái lỗ chui xuống quách cho rồi.
“Xin…xin lỗi.

Tôi thật sự cho rằng là…quỷ gõ cửa.”
Cố Cửu dở khóc dở cười, lúc hai người xuống núi không có lấy chìa khóa theo, chìa khóa nhờ Bao Phú Quý giữ giúp, gã sống chết không mở cửa nên bọn họ phải cử một người trèo tường vào mở cửa.
Phương Bắc Minh mới đi đường xa trở về, lúc này mới tỏ vẻ hơi mệt mỏi.

Y ngồi xuống ghế, đón lấy tách trà Bao Phú Quý đưa lên, nhấp một ngụm, hỏi: “Nghe Tiểu Cửu Nhi nói ngươi muốn bái ta làm thầy?”
Bao Phú Quý gật đầu, cố gắng mở to đôi mắt hí của mình để tỏ lòng mong đợi, hi vọng Phương Bắc Minh sẽ cảm được tấm lòng chân thành của mình.
Phương Bắc Minh lắc đầu, nói thẳng: “Ta không định nhận thêm đồ đệ nữa, nếu ngươi thật sự muốn học tập đạo thuật, ta có thể giới thiệu ngươi đến đạo quan khác.”
Bao Phú Quý còn chưa chịu từ bỏ, năn nỉ: “Tôi chỉ muốn bái ngài làm thầy thôi, thật sự không được sao ạ?”
Phương Bắc Minh vẫn cương quyết từ chối: “Không được.”
Lần này y trở về là để hoàn thành việc luyện Thất t*nh h**n cho Tiểu Cửu Nhi.

Sau khi thành sự thì cả ba thầy trò đều phải lên đường, nào còn có thời gian để dạy dỗ đồ đệ nữa.
Bao Phú Quý nghe vậy thì cụp mắt tiu nghỉu.
Phương Bắc Minh còn chưa ăn cơm tối, Cố Cửu cũng không có tâm trạng để an ủi Bao Phú Quý, cậu sốt sắng việc lo cơm nước cho sư phụ mình hơn.

Cố Cửu vào bếp chuẩn bị cơm tối và pha nước tắm cho sư phụ rồi mới quay lại nói với y ý định trước đó đã bàn với Thiệu Dật về việc cho Bao Phú Quý ở lại coi sóc đạo quan.
Tuy rằng Phương Bắc Minh không định thu Bao Phú Quý làm đồ đệ, nhưng khi nghe xong đề nghị của Cố Cửu, y cảm thấy vậy cũng được.

Nhà cửa không có ai ở thì sẽ mau chóng hư hại, đạo quan không có ai chăm lo là một lẽ, hơn thế nữa, đến khi bọn họ có tuổi, không đi bắt quỷ nổi nữa thì nơi này sẽ là chốn dưỡng già của họ, cho nên đương nhiên là phải quan tâm đến nó rồi.
Bao Phú Quý vốn là ăn mày, từ nhỏ đã lang thang đi xin cái ăn khắp nơi, không có chỗ ở cố định, nếu gã đồng ý ở lại đây, bọn họ sẽ mua vài mẫu đất cho gã, để gã làm công việc đồng áng, coi như là thù lao.
Dĩ nhiên họ cũng chưa nói với Bao Phú Quý ngay.

Gã năm nay đã hơn ba mươi, trước giờ vẫn đi lừa đảo, không biết là do bản tính lười biếng hay có nguyên nhân gì khác mà lại chấp nhận cuộc sống bấp bênh, rày đây mai đó chứ không tìm một công việc ổn định như vậy.

Bây giờ việc bái sư không thành, không biết gã có còn muốn ở lại đây sống một cuộc sống bình lặng qua ngày hay không.
Cứ như vậy, đợi qua một đêm, Cố Cửu mới đến hỏi thăm Bao Phú Quý.
Cố Cửu nói với gã rằng bọn họ sắp phải ra ngoài, thỉnh thoảng mới trở về đây một lần, đợi xong việc để yên ổn định cư thì phải chờ khoảng mười năm nữa.

Trong mười năm, nếu Bao Phú Quý có thể ở lại đây trông chừng đạo quan thì sau này, khi ba người họ trở về, Bao Phú Quý sẽ được xem là người của Thái Nguyên Quan, có thể ở đây dưỡng già.
Bao Phú Quý nghe xong mừng rỡ đồng ý ngay.
Thật ra gã rất ngạc nhiên, hôm qua bị Phương Bắc Minh từ chối nên gã đã chuẩn bị tinh thần sẽ phải rời đi, tiếp tục cuộc sống chạy ăn từng bữa như trước đây rồi.

Ai ngờ bây giờ Cố Cửu nói rằng gã có thể tiếp tục ở lại.

Gã nghĩ dù dù không phải đồ đệ chính thức nhưng mà có chỗ ở tử tế, được làm quản gia thì cũng đã tốt lắm rồi.
Bao Phú Quý đã qua tuổi nhi lập mà còn lông bông cũng vì từ nhỏ đã quen với cuộc sống tự do buông thả, không chịu nổi cảnh sống bó buộc, phải lao động cật lực mỗi ngày, dù sao thì cảnh ba bữa đói một bữa no cũng chẳng xa lạ gì với gã.

Nhưng mà từ khi sắp bước qua ngưỡng trung niên gã lại thay đổi suy nghĩ, thường hay nghĩ đến việc tương lai, bắt đầu lo lắng cho tuổi già của mình.
Bởi vì Bao Phú Quý đồng ý ở lại, cho nên sau này đạo quan vẫn sẽ mở cửa đón khách hành hương như cũ.

Tiền nhang đèn thu được sẽ dùng để lo việc hằng ngày trong đạo quan cũng như chi phí sinh hoạt cho Bao Phú Quý.

Ngoài việc dọn dẹp quét tước trong ngoài, Bao Phú Quý sẽ đón khách dâng hương, hướng dẫn cho họ những việc phải chú ý.
Sau khi sắp xếp xong xuôi mọi việc, Phương Bắc Minh mới nói cho Thiệu Dật và Cố Cửu nghe về Huyết Sát Âm Long Trận.
Muốn tạo ra được Âm Long, ít nhất cũng phải bày cả vạn cái trận pháp mới được, bởi vì tuy vảy trên thân rồng rất nhiều, mỗi cái vảy so với toàn thân rồng thì không đáng kể, nhưng chỉ thiếu mất một cái thì cũng là thiếu, dù có tạo được Âm Long thì chung quy vẫn là một con rồng bệnh mà thôi.

Mấy năm nay Phương Bắc Minh theo hướng tây mà đi, ráo riết tìm kiếm, đã phá được hơn ngàn cái.

Trong lúc phá trận cũng gặp phải phản kích của kẻ bày trận.

Tuy nhiên kẻ chủ mưu chỉ đứng sau điều khiển, lợi dụng người khác làm bia đỡ đạn nên y vẫn chưa chính thức chạm mặt hắn, nhưng cũng có thể khẳng định đó chỉ là một người, không phải một tổ chức thao túng.
Phương Bắc Minh nói: “Thất t*nh h**n sắp luyện xong, đến lúc đó Tiểu Cửu Nhi và Dật Nhi, hai con đi theo phía đông, vi sư sẽ đi phía nam, nhất định phải phá được tất cả các trận pháp kẻ đó đã bày ra.”
“Thưa vâng.” Cố Cửu và Thiệu Dật đồng thanh nói.
Thời gian còn lại, ba thầy trò tập trung vào việc hoàn thành Thất t*nh h**n.

Đao phải mài cho bén, pháp khí thì cần khai quang, loại nghi thức này Đạo giáo gọi là khai quang, Phật giáo gọi là gia trì.

Trận pháp luyện chế Thất t*nh h**n đến thời hạn kết thúc bèn tự đóng lại, Phương Bắc Minh mở đàn tế, cử hành nghi thức khai quang.
Đàn tế này là để xin Cửu Thiên Huyền Nữ truyền một tia sét vào Thất t*nh h**n.

Cửu Thiên Huyền Nữ là thần linh thượng cổ, chủ sát phạt, cai quản sấm sét, là một vị chiến thần.

Ban đầu bảy đồng tiền cổ bị Phương Bắc Minh thu hồi trông không khác gì những đồng tiền bình thường, còn có vẻ cũ kĩ, nhưng bây giờ tuy vẫn không quá khác biệt nhưng nếu nhìn kĩ sẽ thấy có ánh sáng màu tím lấp loáng xung quanh chúng.
Bao Phú Quý xem đến nỗi ngây người ra.
Vừa rồi lúc Phương Bắc Minh tế lễ, bầu trời vốn trong xanh không một gợn mây bỗng xuất hiện một cụm mây đen, sấm sét ầm ầm quất xuống rất đáng sợ.

Sau khi Phương Bắc Minh quát lớn một tiếng thì mây và sét mới dần dần tan đi, mọi thứ trở lại như cũ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Trời ơi, vị này có thể gọi mây đến rồi xua mây đi đó!
Thật là thần thông quảng đại!
Phương Bắc Minh giao Thất t*nh h**n cho Cố Cửu: “Thử xem.”

Cố Cửu nói cảm ơn sư phụ rồi thử đeo Thất t*nh h**n lên cổ tay phải.

Pháp khí vừa chạm tay, cậu đã cảm thấy âm khí lạnh lẽo trong người mình cứ như bị hù sợ, vội vàng hùa nhau co cụm lại, trở nên ngoan ngoãn biết điều.

Cố Cửu đứng dưới ánh mặt trời, lúc chưa cầm Thất t*nh h**n cậu phải mặc hai lớp áo mới chịu nổi cái lạnh, nhưng bây giờ, âm khí đột nhiên rút đi, Cố Cửu cảm giác được thân thể mình ấm áp hơn hẳn, cái nóng của ánh mặt trời chiếu vào cũng trở nên rõ ràng hơn.
Tuy rằng Thất t*nh h**n không thể trừ bỏ hoàn toàn âm khí của Cố Cửu, nhưng có thể trấn áp chúng nó thì cậu cũng đã thoải mái hơn nhiều rồi.
Cố Cửu nhìn sang thấy Phương Bắc Minh vì vừa dẫn sét nên mặt mày tái hẳn đi, tức khắc quỳ xuống, cảm kích từ tận đáy lòng mà khấu đầu thật sâu.
“Tiểu Cửu tạ ơn sư phụ.”
Nói xong cậu lại quay sang nhìn Thiệu Dật, chắp tay: “Cảm tạ sư huynh.”
Đối với Cố Cửu, đời này mạng sống của cậu là do hai người ban cho.

Người đầu tiên là người mẹ đã thành quỷ của cậu, người thứ hai là Phương Bắc Minh.

Giữ được mạng sống là một lẽ, có thể sống tốt đến bây giờ là nhờ vào sự bảo hộ ngày đêm của những người xung quanh.

Ngoại trừ mẹ và sư phụ còn có bà nội, Tiểu Đệ và sư huynh Thiệu Dật thương yêu chăm lo cho cậu, nếu không có họ, Cố Cửu đã sớm bỏ mình trong những nguy nan trùng trùng kia rồi.
Thiệu Dật nhìn Cố Cửu quỳ trên đất, nhăn nhó: “Bộ mặt đất mát lắm hả?”
Phương Bắc Minh đỡ Cố Cửu dậy, nói: “Biết sư phụ vất vả thì đừng để sư phụ lo lắng.

Dật Nhi cũng vậy, sau này hai đứa bôn ba bên ngoài, gặp phải quỷ quái, nếu nắm chắc đánh thắng được thì hãy đánh, nếu thấy đánh không lại thì phải lo chạy, biết không? Bình an khỏe mạnh mới là quan trọng nhất, hơn nữa còn phải để ý đề phòng kẻ tiểu nhân.”
Cố Cửu và Thiệu Dật vâng dạ: “Đồ nhi đã rõ.”
Phương Bắc Minh nghe vậy mới yên tâm, bảo bọn họ dọn dẹp pháp đàn, còn mình thì đi điều khí tịnh tâm một lúc.
Cố Cửu giống như đứa bé vừa mới được cho đồ chơi mới, cứ chốc chốc lại săm soi Thất t*nh h**n trên tay.

Bao Phú Quý chống gậy khập khiễng bước lại, hỏi: “Tiểu Cửu ca, có phải pháp khí này rất mạnh không?”
Cố Cửu cười đáp: “Đương nhiên rồi, là pháp khí thuộc hệ sấm sét.”
Bao Phú Quý hiếu kì hỏi tiếp: “Nếu nói vậy chẳng lẽ lúc đánh quỷ quái sẽ khiến bọn chúng hồn phi phách tán sao?”
“Tôi chưa thử nên cũng không biết uy lực mạnh đến độ nào.” Cố Cửu nói.
Cố Cửu bị Bao Phú Quý khơi dậy sự tò mò, vốn muốn xem pháp khí của mình mạnh đến đâu, nhưng lại không thể ra ngoài bắt đại một con quỷ vô tội thử nghiệm được, hơn nữa cậu còn bận chuẩn bị đồ mặc cho chuyến đi sắp tới và đạo cụ bắt quỷ cho nên đành phải gác chuyện đó sang một bên, cho đến ngày xuất phát, Cố Cửu vẫn chưa có cơ hội dùng thử Thất t*nh h**n.

Trước khi đi, bọn họ để lại cho Bao Phú Quý khoảng một trăm lá bùa bình an, dặn gã giữ gìn cẩn thận, nếu có người dân trong vùng tới xin bùa thì đưa cho họ.

Trong đạo quan có mấy quyển sách nhập môn về gieo quẻ bói toán, nếu Bao Phú Quý thật sự hứng thú với lĩnh vực này thì lúc rảnh rỗi có thể lấy xem, nhưng tuyệt đối không được xem bói lung tung cho người ta.

Nếu bọn họ biết được gã lợi dụng Thái Nguyên Quan để lừa lọc dân lành, ngựa quen đường cũ thì khi họ trở về gã sẽ bị trục xuất ngay.
Bao Phú Quý liên tục hứa hẹn, nói mình sẽ không làm vậy, bởi vì gã còn muốn ở lại đây dưỡng già nữa, cho nên sẽ đàng hoàng chăm lo cho đạo quan, làm việc sống qua ngày.
Những hộ gia đình sống dưới chân núi lâu nay qua lại thân thiết với đạo quan nghe tin lần này cả ba thầy trò đều phải đi bèn lục tục tới tiễn đưa, mọi người đều không nỡ chia tay, nhất là Ngân Linh, cô bé buồn rười rượi cả ngày.
Sức khỏe của Ngân Linh đã bình thường trở lại, chỉ là sau sự việc lần trước, cha mẹ cô bé không dám để con gái đi lung tung khắp nơi nữa, bắt đầu dỗ cô bé ở nhà học thêu thùa may vá, cho nên dạo gần đây Ngân Linh cũng ít chạy lên đạo quan chơi.
Ngân Linh phất phất tay với Cố Cửu đang dần đi xa, nói với theo: “Tiểu Cửu thúc thúc, Tiểu Đệ, mọi người phải thường xuyên về thăm con đó.

Con với các bạn người giấy dưới gốc cây đào sẽ nhớ mọi người lắm.”
Phương Bắc Minh thò tay nhéo nhéo lỗ tai Tiểu Đệ đang nằm trong lòng Cố Cửu, trêu ghẹo Thiệu Dật: “Con xem kìa, con còn thua cả một con mèo nữa.”
Thiệu Dật hừ lạnh một tiếng, ra vẻ ai mà thèm để ý chứ.
Cố Cửu cùng hùa theo: “Sư huynh nghiêm túc quá, hồi còn nhỏ con cũng sợ huynh ấy muốn chết, huống chi Ngân Linh chỉ là một cô bé mới tí tuổi đầu.”
Phương Bắc Minh làm bộ sầu khổ than van: “Dật Nhi à, con cứ như vậy thì sau này ế vợ mất thôi.” Lúc nào cũng làm ra vẻ đừng có ai chọc tới ta như vậy thì ai dám có ý với hắn kia chứ.
Cố Cửu nghe vậy thì hào hứng mách với Phương Bắc Minh chuyện cười của Thiệu Dật.
Bọn họ tuy là người tu đạo nhưng không vào môn phái, chỉ xem là tu tại gia, không có xuất gia chính thức, không kiêng thức ăn mặn, vẫn có thể cưới vợ sinh con như người thường.

Có một lần nọ, hai sư huynh đệ đi bắt quỷ, con gái của nhà đó để ý Thiệu Dật.

Đó là lần đầu tiên Cố Cửu gặp được một cô gái không sợ bộ dáng lạnh tanh của Thiệu Dật như vậy.

Hai người ở lại nhà đó mấy ngày, cô gái kia vẫn luôn tìm cơ hội bắt chuyện với hắn, kết quả Thiệu Dật là tên đầu gỗ, không hề hiểu được thâm ý của người ta.

Hắn ráng nhịn mấy lần, cuối cùng không nhịn nổi nữa, lúc cô nàng kia lại tìm đến, hắn trở mặt hung hăng với người ta tại chỗ.
Hắn nói huỵch toẹt: “Ngươi là vịt tinh biến thành à?”
Cô gái kia đỏ mặt tía tai, nổi giận đùng đùng, sau đó không xuất hiện trước mặt hắn lần nào nữa.
Cố Cửu vẫn luôn cảm thấy với tính tình khó ở như vậy, chắc không có ai lọt nổi vào mắt của sư huynh đâu, có khi huynh ấy phải sống kiếp độc thân cả đời này rồi..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 35: 35: Tiểu Đệ


Ba thầy trò cũng không đồng hành được bao lâu, sau khi ra khỏi địa giới quận Kinh Lăng thì tách ra hai hướng như đã bàn bạc trước đó, Cố Cửu và Thiệu Dật đi theo hướng đông, Phương Bắc Minh đi về hướng nam.
Con đường mà bọn Cố Cửu đi vừa hay sẽ đi ngang qua thôn làng xảy ra chuyện của Lan Nguyệt năm xưa.

Năm đó sau khi bọn họ thu phục được Lan Nguyệt thì không để ý đến chuyện xảy ra sau đó nữa.

Nhiều năm trôi qua, bây giờ nơi này chỉ còn là một chốn hoang vu, cứ như thôn quỷ không người.

Hai người hỏi thăm người dân ở vùng lân cận thì mới biết sau chuyện ma quỷ quấy phá đó, người trong thôn lần lượt bị lây nhiễm một loại bệnh quái đản, bọn họ bị một loại sâu kí sinh ngay trong cơ thể sống.

Loại kí sinh khủng khϊếp này ăn mòn nội tạng của bọn họ, sau đó sẽ ăn đến máu thịt.

Những người này ngày qua ngày đều phải chứng kiến máu thịt trên người mình bị gặm sống, dần dần máu thịt không còn thì còn lại xương, cuối cùng đến cả xương trắng cũng không thoát khỏi.

Bọn họ còn sống, còn tỉnh táo, nhưng đau đớn đến chết.
Lúc đó có lời đồn rằng ai bị người mang bệnh cắn trúng cũng sẽ bị nhiễm, tin này làm xôn xao cả một vùng.

Dân chúng trong vùng hoảng loạn khiến quan phủ phải cho người xuống xử lý.

Bọn họ muốn cách ly cả thôn này để ngăn ngừa bệnh dịch lây lan, thế là dẫn đến xung đột với người trong thôn.

Có vài quan binh bất cẩn bị bọn họ cắn trúng lúc đang làm nhiệm vụ, nhưng kì lạ thay, những người bị thương đó lại không hề phát bệnh.
Cố Cửu biết loại sâu trong câu chuyện của dân chúng vùng này chính là Trùng Oán Quỷ mà năm đó Lan Nguyệt rạch mặt Thu Dung để nhét vào.

Một khi loại sâu này vào thân thể, những vết thương trên người sẽ không tài nào khép lại được, miệng vết thương càng ngày càng lớn dần cho đến khi lan ra khắp toàn thân, đến chết vẫn không ngừng, khi nào vật chủ hóa thành một bộ xương trắng thì mới xem là được giải thoát khỏi đau đớn.

Loại sâu này là do oán khí của người chết oan ngưng tụ ra, vì thế chúng sẽ mang theo ý thức của người bị hại, đó là lý do vì sao những người không liên quan đến sự việc có bị cắn phải cũng không hề hấn gì.
Khi đó Thu Dung nhào lên cắn lão thôn trưởng, tất nhiên là lão ta bị lây bệnh, mà lão ta chẳng phải người tốt đẹp gì cho cam.

Một khi lão phát hiện ra vết thương trên mặt không thể nào lành lại được thì sẽ khó tránh khỏi tâm lý muốn trả thù xã hội.

Tại sao cái chết của Lan Nguyệt mọi người đều có phần mà chỉ có một mình lão bị tai vạ? Tao không sống yên ổn thì chúng mày cũng đừng mong được bình an, muốn chết thì cùng chết, đại loại như vậy.
Cuối cùng người thoát khỏi tai ách chẳng được mấy người.
Nghe xong câu chuyện, Cố Cửu và Thiệu Dật cũng không lấy gì làm lạ, đây là kết quả nằm trong dự đoán.

Hai người đi một vòng quanh thôn kiểm tra, chỉ thấy một chút oán khí còn sót lại bèn ra tay thanh lọc, rồi tiếp tục lên đường.
Chiều hôm đó, trên trời mây đen cuồn cuộn, thỉnh thoảng lại có tiếng sấm chớp đì đùng.

Hai huynh đệ gấp gáp đi nhanh, cuối cùng cũng kịp dừng chân ở một thành nọ trước khi trời mưa, vừa bước vào cửa khách điểm thì mưa đổ xuống như trút nước, còn có cả gió lớn và sấm sét nữa.
Vì muốn tiết kiệm tiền, vả lại đã quen ngủ cùng nhau từ nhỏ đến lớn nên hai người chỉ mướn một phòng trọ, sau khi sắp xếp xong xuôi thì cùng nhau xuống lầu ăn cơm.

Lúc này người ghé vào quán trú mưa khá đông, mà người nhiều thì chuyện để ngồi lê đôi mách cũng nhiều.

Có người chợt nhắc đến một việc quỷ quái xảy ra ở phía đông thành.
“Này, nghe nói vị đạo sĩ hôm qua nhà họ Trâu mời đến lại bị quỷ dọa chạy mất rồi.”
“Huynh nói nhà họ Trâu ở phía đông thành đấy hở?”
“Gần đây việc này râm ran suốt trong thành, còn ai không biết nữa đâu chứ.

Cậu hai nhà bọn họ chết thê chết thảm.

Đêm gã ta chết cũng giống như hôm nay vậy, sét đánh ầm ầm không dứt.”
“Người ta đồn là cậu cả quay về báo thù đấy, cậu ta bị bệnh tim bẩm sinh, cậu hai ỷ vào đó bắt nạt cậu ta không ít.

Cho nên cậu cả Trâu chết rồi bèn quay về moi tim báo thù.”
“Nghe nói đêm vừa buông xuống thì khu nhà cậu cả Trâu ở lúc còn sống lại nổi lên tiếng khóc thút tha thút thít, còn có bóng người thoắt ẩn thoắt hiện bên cửa sổ nữa.

Bọn người làm trong nhà họ nói cậu cả rất thích ngồi đọc sách ở đó.”
“Chắc không phải đâu, tôi từng gặp cậu cả nhà họ Trâu rồi, cậu ta có vẻ ốm yếu bệnh tật, hơn nữa trông rất nho nhã lịch thiệp, không giống như người sân si oán hận, tàn hại anh em đâu.”
“Ài, tri nhân tri diện bất tri tâm mà.”

Cố Cửu nãy giờ vẫn im lặng lắng nghe câu chuyện, lúc này quay sang nói với Thiệu Dật: “Sư huynh, mình đến đó xem thử nhé?”
Thiệu Dật lơ đãng nhìn ra màn mưa ngoài trời, nói: “Ngày mai đi tìm Lôi Kích Mộc xong rồi đi.”
Lôi Kích Mộc là tên gọi của những cây xanh bình thường, nhờ cơ duyên mà vẫn còn sống sau khi bị sét bổ trúng, hấp thụ dương khí trong sấm sét.

Sấm sét trong thiên nhiên mang dương khí cực mạnh, có thể dùng để trừ tà, làm pháp khí phòng ngự hoặc công kích huyệŧ đều được.

Lôi Kích Mộc chỉ sinh ra trong ngày mưa lớn mùa hạ, mà còn phải đúng ngày có sấm sét thật mạnh, cho nên để tìm được cây đạt được đủ điều kiện như vậy khá là khó khăn.

Tuy không đến nỗi không mua được, nhưng giá rất đắt đỏ, mỗi lần mua là lỗ sặc máu luôn, cho nên mấy năm nay mỗi khi vào mùa hạ, chỉ cần trời tạnh mưa thì Cố Cửu và Thiệu Dật sẽ lên rừng tìm Lôi Kích Mộc.
Trời mưa đến hơn nửa đêm, sáng hôm sau lúc hai huynh đệ thức dậy thì không khí vẫn còn ẩm ướt, chứng tỏ mưa vừa mới tạnh thôi, trời còn khá âm u.

Cố Cửu tìm tiểu nhị hỏi thăm xem đường nào gần nhất để lên núi, sau đó hai người một mèo xuất phát.

Đường đi ngoài thành rất lầy lội, giày của Cổ Cửu ướt sũng làm cậu cảm thấy như đang ngâm chân trong đá lạnh vậy.

Cậu lạnh đến nỗi môi sắp trắng hơn cả răng, lên tiếng xuýt xoa mãi.

Thiệu Dật vốn đi đằng trước, cách Cố Cửu một khoảng, nhưng chỉ một lát sau, hắn tỏ vẻ bực bội quay đầu lại, đưa tay ra.
Cố Cửu cười hí hí, thoải mái vô tư nhét bàn tay mình vào tay Thiệu Dật, hai người nắm tay nhau thung thăng lên núi.
Lẽ ra với tình trạng cơ thể này của Cố Cửu, Thiệu Dật không muốn để cậu theo lên núi, ngặt nỗi phạm vi tìm kiếm quá lớn, một mình Thiệu Dật không kham nổi nên đành để cậu đi cùng.

Cố Cửu cũng chỉ than thở mấy tiếng vậy thôi, dù sao chịu lạnh từ nhỏ tới lớn đã quen rồi, cũng không phải công tử bột yếu ớt gì.
Leo núi khi mưa vừa dứt là một loại việc tốn thể lực, Tiểu Đệ biết ý nhảy xuống khỏi tay Cố Cửu, tự mình chạy đi.
Sau khi lên tới đỉnh núi, hai người xác định phạm vi rồi phân công nhau đi tìm theo hai hướng khác nhau.

Đến gần lúc chiều tà, mỗi người họ tìm được một khúc Lôi Kích Mộc.

Hai khúc gỗ này không lớn lắm, không có mấy cây cối có thể chịu được sức công phá của sấm sét cho nên những cây còn sống thật sự không nhiều.

Hai khúc này là vừa đủ đựng trong tay nải họ mang theo, hai người khá hài lòng.

Loại Lôi Kích Mộc này đem về chế thành chuỗi hạt, thẻ bài, đinh gỗ hay kiếm gỗ gì cũng được, đều là pháp khí chất lượng.
Gom hai khúc gỗ vào tay nải xong, Cố Cửu quen cửa quen nẻo thò móng vuốt bị đông cứng của mình vào tay Thiệu Dật, nhìn ngó chung quanh không thấy Tiểu Đệ đâu bèn hô lớn: “Tiếu Đệ, mình về thôi.”
Hai người đứng đợi một chốc liền nghe thấy tiếng meo meo đáp lại của Tiểu Đệ, sau đó mèo đen nhanh chóng xuất hiện.
“Thành mèo hoa mất rồi.” Cố Cửu nhìn Tiểu Đệ vừa tung tăng chạy tới vừa gọi meo meo, phán một câu như thế.

Cây trên núi vẫn còn đọng nước mưa, không biết chú mèo này lăn vào đâu mà lông ướt nhẹp hết cả, dính bết cả vào người thành ra trông kích thước có vẻ nhỏ lại không ít.

Mèo ướt dính bùn, thật đáng thương.
Thiệu Dật ghét bỏ giơ chân cản Tiểu Đệ đang có ý đồ vọt lên người Cố Cửu lại, Tiểu Đệ bực tức vươn móng tát lên chân hắn một cái cho hả giận.

Tiểu Đệ bẩn quá nên Cố Cửu không ôm nó nữa, để nó vung vẩy đuôi theo sau hai người xuống núi.

Tiểu Đệ dường như vẫn còn lưu luyến, cứ đi vài bước liền ngoái đầu lại nhìn, còn kêu meo meo mấy tiếng, trông cứ như không muốn rời khỏi nơi này vậy.
“Bộ phía sau đó có cái gì hả?” Cố Cửu ngạc nhiên quay sang nhìn thì thấy một đám sương mù lộ ra từ phía sau một thân cây lớn.

Thiệu Dật cũng ngoái lại xem thử, hắn nói: “Chắc là sơn mị.”
Theo truyền thuyết, sơn mị là một loại quỷ trên núi có vóc dáng rất lớn.

Có lần Cố Cửu suýt bị sơn mị câu mất hồn khi nghỉ chân trong miếu hoang, con sơn mị đó đã rất mạnh rồi, còn con này thì có vẻ không nguy hiểm gì.
Trước kia Tiểu Đệ theo bọn họ lên núi, tình cờ gặp được một con sơn mị mới sinh.

Loại sơn mị non nớt này còn chưa tỏ sự đời, rất ngây thơ yếu đuối, chỉ cần một con mèo đen thông linh như Tiểu Đệ thôi cũng đủ hành nó ra bã.

Những con sơn mị như vậy rất tò mò về thế giới bên ngoài, chỉ cần không phải là loại mang tâm ác bẩm sinh thì đều khá hiền lành, chúng nó còn thích nô đùa cùng Tiểu Đệ nữa.
Cố Cửu vỡ lẽ, hỏi Tiểu Đệ: “Bạn mới quen của nhóc tiễn nhóc xuống núi à?” Thế là cậu quay về hướng cây đại thụ kia, khoát khoát tay: “Ngươi trở về đi, Tiểu Đệ an toàn rồi.”
Tiểu Đệ cũng bước lên trước vài bước, meo meo với đám sương mù, sau đó không quay đầu lại nữa, dứt khoát theo chân Cố Cửu xuống núi.
Trở lại khách đ**m, Thiệu Dật đi xử lý Lôi Kích Mộc, Cố Cửu thì tắm cho Tiểu Đệ, kì cọ bùn đất bám trên người và móng vuốt của nó.

Xong xuôi, Tiểu Đệ nhảy đến bên cửa sổ, nằm rạp xuống cực cực khổ khổ liếʍ ɭáρ bộ lông ướt.
Hồi sau, Cố Cửu và Thiệu Dật xuống ăn cơm chiều lại nghe được thêm tin nóng hổi về nhà họ Trâu.

Sáng nay họ đi từ sớm nên không biết ngày hôm qua nhà đó lại chết thêm một người nữa.
Người gặp nạn lần này là cô năm nhà họ Trâu, là cô em gái ruột vừa mới gả đi non nửa năm nay của cậu hai Trâu.

Sáng sớm nay cô ta được người làm bên nhà chồng phát hiện chết ngay đơ trên giường, từ đầu đến chân như bị dã thú cắn xé, không còn một chỗ nào lành lặn, máu tuôn ướt cả cái giường cô ta nằm.

Nhà chồng của cô ta không dám xử lý xác chết, cứ để như thế khiêng trả về nhà họ Trâu, bọn họ sợ quỷ tìm đến cả nhà mình thì toi.
Trong vòng một tháng nhà họ Trâu có ba người chết liên tục, cậu cả nhà họ ốm yếu từ nhỏ không nói, chi thứ hai vậy mà có hai đứa chết sạch cả hai đứa, chỉ còn lại hai vị cao đường tiễn kẻ đầu xanh.
Cố Cửu với tay lấy một đôi đũa, thuận miệng nói: “Coi bộ con quỷ này hung dữ ghê.”
Nhưng mà quỷ báo thù có con nào không dữ đâu, ít nhất Cố Cửu chưa gặp được con nào hiền lành cả, xem ra ngày mai phải đến nhà họ Trâu một chuyến xem thế nào.

Phía đông là khu vực trù phú nhất trong thành, nhà họ Trâu cũng được xem là một gia tộc nổi bật trong số đó, nhưng bây giờ nhà họ vừa có mấy người chết liên tục nên cảnh vật trước nhà trông tiêu điều xơ xác hết cả.

Vốn dĩ là nơi ngựa xe như nước áo quần như nêm, giờ đây lại không một bóng người, hiu quạnh đến mức giăng lưới bắt chim còn được.

Nhà họ lại còn đang mang tiếng là tai ương ngập đầu, không một ai dám đến viếng thăm cả, thời gian gần đây người lui tới nơi này hầu như chỉ có các đạo sĩ, thuật sĩ được mời đến làm phép trừ tà mà thôi.
Cố Cửu và Thiệu Dật tới trước cửa lớn nhà họ vừa lúc có mấy chiếc xe ngựa đỗ lại, sau đó mấy vị đạo sĩ đến từ bốn phương tám hướng lần lượt vén màn xe bước ra, nhìn quanh đánh giá lẫn nhau một lát.

Có người kiêu căng, có người khiêm tốn, tất cả đều được người làm nhà họ Trâu lịch sự mời vào.
Cố Cửu tiến lên, nói với một tên sai vặt đang đứng trước cửa rằng bọn họ cũng là đạo sĩ, tình cờ nghe được chuyện nhà này bèn đến xem thử.
Người kia thấy họ còn trẻ quá, không những vậy người vừa nói chuyện còn ôm một con mèo đen bị xem là điềm rủi trong lòng nên hơi nghi ngại.

Gã nhìn tới nhìn lui đánh giá một lúc rồi mới bảo hai người đứng chờ hắn vào hỏi ý chủ nhà.
Cố Cửu và Thiệu Dật cũng không phải đợi lâu lắm, người vào thông báo nhanh chóng trở ra nói rằng họ được mời vào.
Hai sư huynh đệ được đưa vào một sảnh lớn, bên trong đã có khoảng mười vị đạo sĩ ngồi sẵn, nam có nữ có, phong cách không ai giống ai, chỉ có một điểm chung duy nhất là tuổi đều không còn trẻ.

Có lẽ cũng chính vì vậy nên hai người Cố Cửu vừa bước vào đã thu hút sự chú ý của mọi người, có người lộ vẻ khinh khi thấy rõ, có người thờ ơ không thèm để ý tới, cũng có người không tỏ thái độ gì.

Cố Cửu và Thiệu Dật không thèm để ý, cũng chẳng nói lời nào, chỉ đơn giản chắp tay ra ý chào hỏi cho phải phép rồi tìm chỗ thong thả ngồi xuống.
Lần này nhà họ Trâu mời một lượt khá nhiều người, chỉ có nhóm Cố Cửu là không mời mà đến.

Sau Cố Cửu và Thiệu Dật còn năm sáu người nữa lục tục tiến vào, cuối cùng mới đến chủ nhà họ Trâu khoan thai đến muộn..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 36: 36: Thi Cốt


Người đứng đầu nhà họ Trâu hiện giờ là Trâu lão thái gia.

Ông cụ sinh được tổng cộng ba người con trai.

Con trai lớn lẽ ra sẽ là người thừa kế gia tộc, nhưng chẳng may hai vợ chồng người con trai này ra ngoài làm ăn gặp tai nạn qua đời, chỉ để lại một mụn con duy nhất, chính là cậu cả nhà này.

Con thứ hai sinh được hai đứa con, một trai một gái, là cậu hai và cô năm vừa mới chết thảm.

Người con còn lại là con của vợ lẽ, sinh được hai đứa con gái.

Thứ bậc trong gia đình không chia ra nam nữ, cùng lứa đời này có cả thảy năm đứa cháu.
Chỉ có được hai đứa cháu trai thì hai đứa đều chết hết, chưa kể còn mất thêm một đứa cháu gái nữa.

Trâu lão thái gia bị sốc nặng, chỉ trong vòng một tháng mà trông như già thêm cả chục tuổi.

Cũng may là trước lúc cậu hai chết có để lại một đứa con trai hai tuổi, ít nhiều gì cũng còn một đứa cháu cố để kéo dài hương hỏa, chưa đến nỗi tuyệt vọng cùng cực.
Ông cụ căm hận con quỷ hại người tận xương tủy, công bố rằng ai có thể bắt được lệ quỷ về trừng trị thì sẽ tặng thưởng thật phong phú.
Có người hỏi: “Mạn phép hỏi ngài một câu, cậu cả vì sao mà chết? Không biết trước khi chết có gút mắc gì với cậu hai và cô năm không?”
Ngoài thành đang đồn ầm lên rằng cái chết của hai người kia là do cậu cả quay về báo thù, chắc chắn những đạo sĩ này đã nghe qua chuyện này, cũng có âm thầm hỏi thăm, nhưng dù sao cũng chỉ hỏi được mặt ngoài mà thôi.
Nhắc đến cậu cả, nét mặt Trâu lão thái gia có vẻ khó xử nhưng không hề thấy ý căm hận, chứng tỏ ông không tin vào lời đồn đại của thiên hạ, cho rằng cháu mình gϊếŧ hại anh em.
Trâu lão thái gia chậm rãi đáp lời: “Từ nhỏ sức khỏe của thằng cả đã không tốt, thật sự là do bệnh tim tái phát nên mới qua đời.

Bình thường nó không ở nhà này mà đến dưỡng bệnh ở thôn trang.

Trước khi con bé năm lấy chồng hầu như đều ở trong khuê phòng, thằng hai cũng vậy, không thường ra ngoài nên ba đứa rất ít gặp nhau.

Đúng là tính tình của hai đứa kia không được tốt như anh chúng nó, nhưng dù có xích mích thì cũng không đến nỗi thù hận đến mức phải lấy mạng nhau như vậy đâu.

Thằng cả hiền lành lương thiện, không phải là người sẽ làm ra chuyện tàn ác dường này.”
Nói đến đây vẫn không thu hoạch thêm được gì nên mọi người chỉ còn cách đề nghị đi xem chỗ ở của người đã chết, hi vọng sẽ tìm được chút manh mối.

Trâu lão thái gia thở dài, dẫn mọi người đi.

Bọn họ đến thăm chỗ ở của cậu cả trước.

Thật ra cậu cả rất ít ở lại đây, chỉ thỉnh thoảng về thăm nhà thì ở mấy hôm rồi lại đi.

Người làm trong nhà nói rằng từ sau khi cậu cả qua đời, cứ đêm xuống là lại nghe thấy tiếng khóc văng vẳng từ chỗ này vọng ra.

Có người bạo gan đến xem thử thì thấy một bóng người ngồi bên cửa sổ, giống y như lúc cậu cả còn sống vậy.
Cố Cửu hỏi người làm nhìn thấy mấy lần, bọn họ trả lời chỉ nhìn thấy một lần vì sau đó không ai dám lảng vảng gần chỗ này nữa, chỉ là tiếng khóc đó vẫn vang lên đều đều mỗi đêm không dứt, mà đặc biệt là vào ngày mưa to thì càng rõ rệt.
Cậu cả Trâu chết vào một ngày mưa gió bão bùng, oán quỷ xuất hiện, rồi cậu hai và cô năm cũng lần lượt chết vào đêm giông tố, chẳng trách người ta đồn ầm lên là cậu cả về báo thù.

Nhưng có phải cậu cả Trâu ra tay hay không hiện tại còn chưa thể kết luận, chỉ biết rằng anh ta quả thật từng xuất hiện ở chỗ này, Cố Cửu nhìn thấy âm khí giăng đầy khu nhà liền biết.
Tiếp theo là đến khu phòng của cậu hai.

Lúc đoàn người đang tiến vào, bỗng nhiên một vị đạo sĩ trung niên đi phía trước Cố Cửu loạng choạng, suýt thì ngã ngửa.

Cố Cửu tiện tay đỡ y, hai người liếc nhau rồi lại nhìn sang những người đi phía trước không hề có phản ứng gì, ngầm hiểu mà cười cười.

Vị đạo sĩ nọ đứng vững xong liền mời Cố Cửu qua cửa trước, sau đó tự giới thiệu bản thân, nói mình họ Hà.
“Tại hạ họ Cố, đây là sư huynh của tại hạ, họ Thiệu.”
Thiệu Dật khẽ chắp tay.
Hà đạo trưởng đi bên cạnh hai người, nhẹ giọng hỏi: “Cố đạo trưởng phát hiện ra điều gì?”
Cố Cửu lướt nhìn một vòng quanh sân, thấy oán khí mãnh liệt tràn ra, múa may quay cuồng khắp nơi.

Nếu vừa rồi người đi trước là cậu chứ không phải là Hà đạo trường thì chắc chắn người bị oán khí quật suýt ngã sẽ là cậu.
“Oán khí vô tận nhưng âm khí lại quá ít.

Có âm khí chứng tỏ rằng có huyệŧ đã từng đến đây, có thể là con quỷ kia.

Nhưng nếu so sánh với khu phòng của cậu cả Trâu lúc nãy thì âm khí nơi này chẳng đáng nhắc tới, gần như là đã biến mất hẳn.

Chẳng lẽ hắn ta không muốn báo thù sao? Hay là hắn đã bị con quỷ kia ăn luôn rồi?” (2)
Còn cả oán khí dày đặc không ngừng tuôn ra từ mặt đất nữa, rốt cuộc là nơi này đã từng chôn thứ gì?
Trong mười mấy người ở đây có mấy người có bản lĩnh thật, những gì Cố Cửu phát hiện ra họ cũng chú ý tới, thế là họ bèn yêu cầu Trâu lão thái gia đào mặt sân này lên.
“Cái sân này thì có thể có cái gì chứ?” Ông cụ lấy làm lạ nhưng vẫn ra lệnh cho gia nhân đem cuốc xẻng tới đào.
Không đào thì thôi, vừa đào ra liền moi ra được từng đống từng đống xương cốt.
Trâu lão thái gia trợn mắt há hốc miệng nhìn trân trân vào đống xương trắng ởn, thất thanh kêu lên: “Cái…cái này là thế nào?”
Có người lên tiếng: “Là xương động vật.”
Trâu lão thái gia vừa nghe vậy thì thở phào một hơi, ông còn tưởng là xương người.

Nhưng mà…tại sao lại có nhiều xương động vật chôn ở đây như vậy chứ?
Nơi cuối cùng đoàn người đến là chỗ từng là khuê phòng của cô năm Trâu, quả nhiên tình trạng trong sân của cô ta không khác gì với người anh ruột của mình.
Trâu lão thái gia vừa giận vừa sợ, ông hoang mang tột độ, chẳng lẽ mình đã nhìn lầm hai đứa cháu này rồi? Cho dù không phải là xương người, nhưng chôn nhiều xương động vật như vậy trong nhà thì thật chẳng bình thường chút nào.
Không tìm kiếm thêm được gì khác, mọi người bèn lục tục kéo nhau đi xem thi thể của ba người vừa qua đời.
Cậu cả, cậu hai, cô năm liên tục mất mạng chỉ trong vòng một tháng, lại còn chẳng cách nhau bao lâu.

Cậu cả chết được ba ngày, thi thể vẫn còn quàn ở nhà chưa kịp di quan thì cậu hai đã tiếp bước, bị hạ sát trong một đêm khuya mưa to gió lớn.

Sáu ngày sau, chính là đêm hôm qua, cũng là vào một ngày mưa mịt mù, cô năm được tìm thấy trong tình trạng chết cứng trên giường.

Tính ra thì từ lúc cậu cả Trâu chết đến giờ cũng chỉ có mười ngày.
Cả ba thi thể đều chỉ mới được liệm đặt vào quan tài, vì sợ bốc mùi nên xung quanh các cỗ quan tài đặt rất nhiều băng lạnh.

Mọi người đến xem cậu cả trước.

Đó là một thanh niên tầm hai mươi mấy tuổi, là cậu cả hiền hậu khoan dung trong lời của Trâu lão thái gia.

Chỉ nhìn qua tướng mạo thì có thể thấy đây quả thật là một người lương thiện.

Cậu ta chết vì bệnh cũ tái phát nên trông di thể có vẻ sạch sẽ tươm tất, không thấy có gì khả nghi.

Ngược lại, tình trạng của cậu hai thê thảm hơn rất nhiều, chắc chắn trước khi chết gã đã trải qua điều gì đó kinh khủng lắm, dù người ta đã xử lý xác chết trước khi liệm nhưng vẫn không thể nào che giấu được vẻ mặt đau đớn tột cùng của gã.

Đặc biệt, đôi mắt của người này vẫn còn mở trừng trừng, nét hoảng sợ chưa hề biến mất, rõ là chết không nhắm mắt.
Trâu lão thái gia đứng bên cạnh, thống thiết than van: “Đôi mắt của thằng hai dù có làm cách gì cũng không khép lại được.

Nó có oan tình nên chết không nhắm mắt mà.

Ôi.”
Cô năm là người chết thảm nhất.

Cố Cửu trước đó chỉ nghe nói lúc được phát hiện ra thì trên người cô ta không có chỗ nào lành lặn, bây giờ nhìn tận mắt mới biết cô ta là bị xẻo sống rồi lột da, trên người không còn sót lại mẩu da nào, thậm chí phần máu thịt lồi lõm giống như bị động vật cắn xé, nham nhở hết cả.

Trên mặt cô ta ngoài máu me nhoe nhoét thì chỉ còn lại một đôi mắt lồi ra như mắt ếch, hoàn toàn không nhìn ra được diện mạo lúc còn sống.
Cố Cửu từng gặp không ít thi thể, nhưng lúc nhìn thấy cảnh này cũng cảm thấy bụng quặn lên, chỉ nhìn qua một lần rồi thôi.

Mấy người họ còn tàm tạm, có một vài kẻ giả danh đạo sĩ vừa thoáng nhìn thấy cái xác này đã vội nhào ra ngoài nôn thốc nôn tháo một trận.
Hầy, vẫn là chưa đủ từng trải đó mà.
Cố Cửu lui lại, đứng qua một bên cho những người khác tiến lên quan sát, sau đó cậu ôm Tiểu Đệ đứng ngay cửa ra vào bàn bạc một hồi với Thiệu Dật.
Thiệu Dật lướt nhìn móng vuốt của Tiểu Đệ, nhận xét: “Vết thương trên ngực cậu hai là từ móng vuốt của động vật mà ra.”
Cố Cửu nắm lấy móng vuốt của Tiểu Đệ nắn tới nắn lui, trầm tư, điểm đó cậu cũng thấy được.

Cô năm Trâu bị lột da, da thịt lởm chởm máu me nên nhìn không ra chứ cậu hai thì chỉ bị móc tim, phần da xung quanh vết thương vẫn lành lặn, có thể nhìn rõ vết cào xé của động vật.

Gã ta chết đã mấy ngày rồi, dấu móng vuốt hằn lên da thịt nên chỉ cần nhìn sơ qua là biết.
Nếu đã như vậy thì chẳng lẽ việc này không phải do người mà là do động vật gây ra sao? Kết hợp với những đống xương được chôn trong chỗ hai người bọn họ ở thì không loại trừ khả năng này, dù không phải chúng gϊếŧ hại thì chắc chắn cũng không thoát khỏi liên quan.
Những người khác cũng có cùng hướng suy nghĩ với Thiệu Dật và Cố Cửu, đều kết luận là do vong linh của những con thú bị hại chết đó quay về trả thù.

Có một người đàn ông trong nhóm lên tiếng nói mình có thể gọi hồn của cậu hai và cô năm lên để hỏi thăm một chút.
Đang là ban ngày nên nếu muốn gọi hồn thì chỉ có cách để quỷ nhập vào thân, tuy nhiên cách này lại gây hại cho người bị nhập nên đối với Cố Cửu và Thiệu Dật thì cách này không được chính thống cho lắm, thường chỉ có một số vu sư ưa dùng.
Người vừa đề nghị gọi hồn này xem ra có thực lực, nhìn ra được oán khí quanh nhà.

Nhưng hắn ta có phần khoe khoang hống hách, sốt ruột muốn thể hiện tài cán của mình.

Cố Cửu cũng hảo tâm không ngăn trở gì, vừa hay bọn họ có thể nhờ dịp này mà xác nhận xem hồn ma của cậu hai và cô năm Trâu còn ở đây hay không.

Vị nam vu sư này có dẫn theo hai đệ tử, hai người nhanh chóng bày pháp đàn chiêu hồn cho ông ta.

Ông ta mặc áo bào, hỏi ngày sinh bát tự của người chết rồi bắt đầu nghi thức gọi hồn.

Ông ta nhắm mắt lại, đứng tại chỗ hết nhảy rồi đến múa, trông khá buồn cười.
Vị này nhảy múa ca hát một hồi lâu mà vẫn không có động tĩnh gì, vẻ mặt của ông ta cũng càng ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Cố Cửu đứng bên cạnh Thiệu Dật xem từ đầu đến cuối, khẽ lắc đầu thở dài.

Xem ra là bị ăn thật rồi.

Trâu lão thái gia nín thở đứng ngoài quan sát, tuy cảm thấy hơi lâu nhưng cũng không dám nói gì, chờ đến khi vu sư mở mắt ra mới tràn ngập mong chờ mà hỏi thăm.

Chỉ tiếc rằng vu sư nhìn sang ông cụ, lắc đầu: “Không thấy hồn phách của cậu hai và cô năm.”
“Không thấy?” Trâu lão thái gia còn mơ hồ chưa rõ câu này là ý gì.
“Ai…” Mấy vị đạo sĩ thì đồng loạt thở dài.
“Hồn phách của bọn họ chưa nhập địa phủ, nhưng cũng không còn ở dương gian.

Như vậy chỉ có một lý do duy nhất là hồn phách đã biến mất.”
“Biến mất…là thế nào?” Ông cụ lờ mờ đoán được, nhưng lại không dám đối mặt với sự thật như vậy.
Nam vu sư nói thẳng: “Biến mất, nghĩa là hồn phi phách tán, hoàn toàn không còn tồn tại nữa.”
“Tại sao lại như vậy được?” Trâu lão thái gia sốc đến nỗi lảo đảo đứng không vững, được gia nhân bên cạnh đỡ lấy.

Ông cụ th* d*c một hơi, hỏi: “Vậy còn thằng cả, thằng cả thì sao? Ngài gọi nó lên thử xem.”
Nam vu sư lại bắt đầu nghi thức gọi hồn lần nữa, nhưng kết quả đâu vẫn hoàn đấy, cậu cả Trâu không hề xuất hiện.
Lúc Trâu lão thái gia dần dần lâm vào tuyệt vọng, cho rằng cậu cả cũng hồn phi phách tán giống như hai đứa em mình thì nam vu sư mở mắt ra, lấy làm lạ nói: “Cậu ta không chịu tới.”
Trâu lão thái gia lập tức tỉnh táo hẳn, không chịu tới nghĩa là vẫn còn ở đây.

Ông hỏi dồn: “Sao lại không chịu tới?”
Nam vu sư chần chừ đáp: “Cái này…thú thật là tôi cũng không biết.”
“Vậy đợi đến tối chúng ta thử lại xem sao.” Có người đề nghị.
Mời quỷ nhập vào không thành công thì chỉ còn cách đợi buổi tối âm khí nặng rồi cưỡng chế gọi hồn thôi.
Âm khí trong khu nhà cậu cả ở rất dày, chứng tỏ cậu ta vẫn luôn ở đây.

Nếu là vậy phải chăng cậu ta sẽ biết được cậu hai đã chết như thế nào?.
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 37: 37: Hồ Ly Nhỏ


Còn chưa đến giữa trưa, từ đây đến tối còn kha khá thời gian.

Tất cả các khách mời đều được mời dùng cơm trưa tại nhà họ Trâu, sau đó nhà họ còn sắp xếp cho mỗi người một gian phòng nghỉ tạm.
Cố Cửu vẫn cái nết như cũ, phòng mình không ở, lén qua ở ké phòng của sư huynh, lúc cậu vào Thiệu Dật đang ngồi bên bàn vẽ bùa.

Cố Cửu thả Tiểu Đệ xuống, xáp lại ngồi cùng, lôi sách dạy bùa chú ra đọc.

Hôm nay Tiểu Đệ có vẻ nóng nảy, nó cứ chạy vòng vòng quanh phòng rồi chỉ một lát sau không nhịn được nữa bắt đầu chụp bắt cắn xé đồ vật trong phòng.
Thiệu Dật nghe tiếng ồn ào, ngẩng đầu lên hỏi: “Nó làm sao vậy?”
Cố Cửu nhíu mày, trước đó cậu vẫn luôn bế Tiểu Đệ, cậu để ý thấy từ lúc ra khỏi khu nhà của cậu hai Trâu nó đã có vẻ nôn nao bất an.
Cậu nói: “Hẳn là nó bị đám xương cốt ảnh hưởng.”
Xương cốt được chôn trong khu nhà của cậu hai và cô năm nhiều không đếm xuể, lúc mọi người đến tra xét thì chỉ đào ra một mớ, ban nãy trước khi ăn cơm Trâu lão thái gia ra lệnh cho gia nhân đào hết lên.

Nhà họ Trâu còn mời người có kinh nghiệm đến sắp xếp lại, nghe nói trong đám xương đó có xương mèo, xương chó, một ít xương thỏ, còn có hồ ly, ít nhất phải có tới hơn trăm bộ xương.
Điều đáng nói là tất cả những bộ xương này đều có dấu vết bị vật nặng đập trúng, chắc chắn không phải tự nhiên mà chết.

Không còn gì để nói nữa, mọi người đều kết luận rằng những con vật này bị cậu hai và cô năm nhà này hành hạ đến chết.
Số lượng động vật quá nhiều, oán khí quá nặng, Tiểu Đệ lại từng suýt chết bởi nguyên nhân tương tự cho nên nó nhớ lại kí ức đau đớn và sinh lòng đồng cảm với những con vật này, cảm thấy như mình cũng bị hành hạ vậy.

Nhiều con vật từng bị hành hạ sẽ trở nên oán hận loài người, cho nên cứ thấy con người là mặc nhiên tấn công, chung quy cũng vì để biểu lộ nỗi sợ hãi và căm hờn của mình.

Tiểu Đệ không tấn công ai, chỉ g*m c*n đồ vật đã xem như là kìm nén lắm rồi.
Cố Cửu thấy vậy thì không đọc sách nữa, đi qua bế Tiểu Đệ lên, ôm trong lòng mà v**t v*, gãi cằm xoa đầu cho nó.
Nếu là bình thường, Tiểu Đệ đã thoải mái tới mức lim dim thở khò khè rồi, vậy mà bây giờ nó vẫn còn rêи ɾỉ ỉ ôi như đang bị ai ức hϊếp vậy.
Thiệu Dật dứ dứ bàn tay trước mặt trêu nó, Tiểu Đệ thở phì phì, gầm lên một tiếng, vung móng lên muốn cào hắn.
Thiệu Dật rụt tay về nhanh như chớp: “Hung dữ thật.”
Từ trước đến giờ Thiệu Dật và Tiểu Đệ vốn không hợp nhau, chẳng qua cả hai bên đều nể mặt Cố Cửu nên mới chấp nhận lùi một bước, nước sông không phạm nước giếng, nếu không thì chắc chẳng có nổi một ngày yên bình mất.
Cố Cửu thấy Tiểu Đệ dựng cả cái đuôi lên đầy bất mãn bèn ai oán liếc Thiệu Dật một cái: “Nó đã như thế rồi huynh còn ghẹo nó nữa.” Sau đó cậu ôm Tiểu Đệ lên giường, vừa vuốt lông vừa niệm “Thanh Tĩnh kinh” cho nó nghe.
Thiệu Dật khịt mũi ra vẻ trào phúng, niệm kinh cho một con mèo nghe, bộ nó hiểu được chắc.

Thiệu Dật tiếp tục cầm bút lên vẽ bùa, nhạc nền là tiếng đọc kinh của Cố Cửu, chỉ là một lúc sau tiếng đọc càng ngày càng nhỏ, càng ngày càng nhỏ…
Thiệu Dật lấy làm lạ quay lại ngó thì thấy Cố Cửu đã ngủ khì tự bao giờ, cậu ôm mèo đen rúc vào nhau thành một cục, tự đọc kinh tự ru mình ngủ luôn.
Ngày hôm qua bọn họ phải xử lý Lôi Kích Mộc ngay để giữ lại được lượng dương khí từ sấm sét nhiều nhất có thể, vì vậy hai người bận rộn tới hơn nửa đêm, ngủ không được bao nhiêu.
Thiệu Dật đứng dậy, mặc kệ ánh mắt trừng trộ của Tiểu Đệ, ung dung mà chỉnh lại tư thế nằm cho Cố Cửu, kê gối nằm, đắp kín chăn cho cậu, sau đó mới trừng mắt trở lại khiêu khích Tiểu Đệ, còn gõ gõ đầu nó.
Tiểu Đệ gừ một tiếng, hăm he muốn nhào lên cào cho cái tên đáng ghét này một cái thật đau.
Thiệu Dật bình tĩnh chỉ vào Cố Cửu, đe dọa: “Mi muốn quậy làm nhóc con nhà mi thức giấc hử?”
Tiểu Đệ cưng nhóc con nhà mình lắm, đành uất nghẹn thu cái chân đen thùi về.
(Cái này buồn cười lắm mọi người ạ, Cố Cửu xem Tiểu Đệ là nhóc mèo mình nuôi, còn Tiểu Đệ cũng xem Cố Cửu là nhóc con mình nuôi, tại vì lúc nhỏ Tiểu Đệ đi tìm đồ ăn về cho Cố Cửu đó)
Thiệu Dật nhướng mày, cảm giác thắng trận thật suиɠ sướиɠ, vô cùng sảng khoái quay trở lại bàn tiếp tục công việc còn dang dở.
Từ trưa đến chiều, nhà họ Trâu rất yên tĩnh, sự yên tĩnh này kéo dài đến lúc mặt trời lặn thì bị một tiếng hét thất thanh đột ngột phá vỡ.
“Cái gì vậy?” Cố Cửu giật mình bật dậy, Tiểu Đệ cũng choàng tỉnh nhảy xuống giường.

Thiệu Dật mở cửa ra, Cố Cửu tung chăn xỏ giày vào, cũng quên thắc mắc tại sao mình lại nằm trên giường.

Cậu vớ lấy tay nải của mình rồi cùng Thiệu Dật chạy ra ngoài.

Vừa ra ngoài cả hai liền phát hiện bốn phương tám hướng chỗ nào cũng có tiếng kêu cứu đầy sợ hãi.
Hai người đành phải chọn chỗ nào gần nhất, không ai bảo ai cùng nhau trèo tường sang khu nhà liền kề chỗ mình ở.
Khu nhà bên cạnh là nơi ở của ba đạo sĩ giả danh đã nôn đến tối tăm trời đất lúc nhìn thấy thi thể của cô năm Trâu.

Ba người này còn mang theo sáu tùy tùng nữa, lúc này cả chín người đều đang rạp mình dưới đất, dùng cả tay lẫn chân bò lổm ngổm trong sân, còn phát ra tiếng gầm rú kì dị trong họng.
Cố Cửu lắng tai nghe kĩ thì thấy có tiếng chó sủa, tiếng mèo kêu, quái đản hơn là mỗi người có thể kêu ra nhiều loại âm thanh khác nhau nữa cơ.

Đây rõ là bị trúng tà, bị vong hồn của chó mèo nhập vào, mà còn là vài con chui vào cùng một thân thể nữa.
Thiệu Dật nhanh chóng niệm: “Huyền thiên chính khí, hoàng lão chi tinh.

Thủy tuôn vạn trượng, gột rửa yêu thân.”
Cố Cửu cũng theo sau: “Ba hồn bảo hộ, bảy phách an bình.

Xác hồn đều định, cùng tiến cùng lui.”
Hai người vừa niệm chú vừa đi vòng quanh, điểm lên trán của mỗi người một cái, ngay lập tức thân thể của bọn họ mềm oặt ngã xuống, hôn mê bất tỉnh.
Lúc này nhà họ Trâu đã trở thành một bãi chiến trường.

Hai sư huynh đệ Thiệu Dật cứu hết chín người trong sân rồi mở cửa đi ra khỏi khu đó.

Người làm trong nhà hoảng hốt chạy tán loạn hết cả.

Cố Cửu và Thiệu Dật lần theo tiếng la hét đi đến một khu khác, vừa bước vào đã thấy tình trạng y hệt bên kia, một đám người trúng tà bò lết trên đất, sủa gâu gâu, kêu meo meo.
“Hà đạo trưởng!”
Cố Cửu nhìn thấy Hà đạo trưởng.

Y không hề hấn gì, vấn đang tỉnh táo đứng niệm chú và dán bùa lên những người bị trúng tà, thế là bọn Cố Cửu chạy lên hỗ trợ.
Mười mấy đạo sĩ ở trong mấy khu nhà khác nhau, đám đạo sĩ nửa mùa đều bị dính đòn cả, những người nào có chút bản lĩnh nhưng tu vi chưa sâu cũng không thoát khỏi, kể cả nam vu sư gọi hồn ban sáng và hai đồ đệ của ông ta.

Cuối cùng chỉ còn Cố Cửu và Thiệu Dật, Hà đạo trưởng cùng với một vị nữ đạo sĩ là bình an vô sự.

Hai vợ chồng Trâu nhị lão gia cũng bị nhập, vừa sủa ầm ĩ vừa giãy giụa la hét.

Trâu lão thái gia thấy con trai con dâu như vậy bèn hoảng hồn sai người lấy dây thừng trói bọn họ lại đưa qua đây cầu cứu.

Sáng nay hai người này không hề lộ mặt, Trâu lão thái gia nói rằng họ vừa mất hai đứa con nên bệnh liệt giường, cho nên không bắt bọn họ phải ra chào hỏi.
Cố Cửu vừa nhìn thoáng qua hai người này liền hiểu rõ ngay, bệnh đi đằng nào chứ, rõ ràng là bị tà khí xâm nhập vào cơ thể.

Nhìn sắc mặt thì có vẻ tà khí đã bén rễ ăn sâu vào lục phủ ngũ tạng rồi, nếu không thanh lọc thì sớm muộn gì cũng đi đời nhà ma.
Cố Cửu trục xuất hồn phách đang chiếm đóng thân thể bọn họ, sau đó lại thanh lọc tà khí.

Hai người này có làm nhiều việc mờ ám nhưng chưa phạm vào tội ác tày trời, bây giờ mang vạ thế này xem như bị trừng trị thích đáng, chưa đến nỗi phải mất mạng.
“Trước giờ con quỷ kia có bày trò này chưa?” Nữ đạo sĩ hỏi.
Trâu lão thái gia lắc đầu: “Không có, cùng lắm thì chỉ dùng tiếng than khóc hay gầm rú hù dọa người trong nhà thôi, đây là lần đầu tiên gây náo loạn thế này.”
Hà đạo trưởng trầm ngâm: “Những con vật chết oan uổng này hẳn là ở lại đây đã lâu.

Tại sao đợi đến hôm nay mới ra phá phách như vậy?”
Cố Cửu tiếp lời: “Giống như có người sai khiến vậy.”
Là do ai sai khiến thì trong lòng mọi người đã có đáp án.

Vừa hay bây giờ trời đã tối, có thể gọi người đó lên hỏi xem sao.
Mấy người họ thẳng tiến đến chỗ cậu cả từng ở, khu nhà này nhìn còn âm u hơn ban sáng nữa.

Vừa đến gần, họ đã thấy một bóng dáng nhỏ nhắn ngồi canh giữ trước cửa, biết bọn họ đến bèn quay đầu lại, meo lên một tiếng.
“Tiểu Đệ.” Cố Cửu nhận ra mèo đen của mình liền đi qua bế nó lên.

Vừa rồi mọi chuyện loạn cào cào hết cả lên, Cố Cửu cũng không chú ý Tiểu Đệ chạy đi từ lúc nào.
Tiểu Đệ nhìn vào cửa, đôi mắt xanh lục sáng rực, lập lòe trong đêm tối.
“Bên trong có cái gì đó.” Thiệu Dật bước đến bên cạnh Cố Cửu, nhắc nhở.
“Đệ biết rồi.” Oán khí cao ngất bốc lên tận trời thế này muốn không thấy cũng khó.
Hà đạo trưởng và vị nữ đạo trưởng cũng biết nơi này có vấn đề, ra vẻ phòng bị.
Thiệu Dật đẩy cửa ra.
Đập vào tai mọi người là tiếng tru thống thiết của chó mèo, cứ liên tục tuần hoàn không dứt, hết đợt này đến đợt khác.

Cố Cửu đè Tiểu Đệ đang muốn nhảy xuống lại, cậu nhìn một vòng quanh sân, sân vườn sạch sẽ quang đãng ban ngày bây giờ đã ngồi đầy các loài vật.

Chúng đều là vong hồn cả, đứa nào cũng hiện hình bằng dáng vẻ thê thảm trước khi chết, đứa cụt tay cụt chân, đứa bị cắt cổ mổ bụng, đứa bị móc mắt, đứa bị lột da, trông đáng thương vô cùng.
Cố Cửu quay đi không đành lòng nhìn tiếp.
Trâu lão thái gia chỉ nghe được tiếng kêu chứ không nhìn thấy tình cảnh thảm khốc trước mắt.

Ông cụ thấy mấy người Cố Cửu đều biến sắc bèn dò hỏi Hà đạo trưởng bên cạnh xem có việc gì.
Hà đạo trưởng thuật lại sơ lược cho ông, khuyên ông đừng nhìn thì tốt hơn, nhưng Trâu lão thái gia vẫn khăng khăng muốn xem tận mắt.

Cuối cùng Hà đạo trưởng đành phải nhượng bộ, mở mắt Âm Dương cho ông cụ.
Trâu lão thái gia vừa mở mắt ra, nhìn thấy cảnh tượng đập vào mắt mình, đồng tử co rụt lại đầy hoảng hốt, lắp bắp hỏi: “Chúng nó…chúng nó là những bộ xương cốt bị chôn vùi kia sao?”

Hà đạo trưởng khẽ gật đầu, thở dài: “Vạn vật có linh, đúng là tạo nghiệt mà…”
Mặt mày Trâu lão thái gia trắng bệch, bỗng nhiên, ông nhìn thấy có một bóng người đứng trong góc, ngay phía sau đám động vật đang đứng ngồi lố nhố kia.

Người đó mặc một bộ đồ trắng, tuổi đời nom còn trẻ lắm.
“Thằng cả!” Trâu lão thái gia kích động dợm bước tới.
Bọn Cố Cửu đã nhìn thấy cậu cả Trâu từ sớm, anh ta ôm một cục lông màu trắng trong lòng, nếu nhìn kĩ thì sẽ nhận ra đó là một con hồ ly nhỏ.

Nhóc hồ ly nằm trong lòng cậu cả, được anh ta v**t v*, thoải mái đến mức mắt díp cả lại.
Cậu cả vậy mà lại không hề kích động như ông nội của mình, chỉ thản nhiên nhìn sang Trâu lão thái gia, mở miệng chào một tiếng: “Ông nội.”
Trâu lão thái gia rơm rớm nước mắt, nghẹn ngào: “Thằng cả, sao con lại bỏ ông nội mà đi như vậy, đến nhìn mặt con lần cuối ông nội cũng không làm được, ông nội có lỗi với con!”
Cậu cả nói: “Ông nội không cần áy náy, ông không nợ con gì cả.” Anh ta hạ giọng thì thầm: “Những kẻ nợ ta, ta đã đòi lại hết rồi.”
Những lời này chắc chắn là ý ám chỉ điều gì đó.
Nữ đạo sĩ hỏi: “Cậu cả, chuyện của những con vật này như thế nào? Cậu có biết được gì về cái chết của cậu hai và cô năm không?”
Cậu cả Trâu cười nhạt: “Đến nước này rồi mà mấy người còn không đoán được sao? Những con vật này là bị bọn chúng hành hạ đến chết, mà hai đứa súc sinh đó…là ta gϊếŧ.”
“Cả!” Trâu lão thái gia không tài nào tin được, sững sờ nhìn đứa cháu lớn nhất của mình không chút nao núng thừa nhận rằng chính mình gϊếŧ chết anh em ruột thịt.

“Con nói cái gì vậy?”
Cậu cả không thèm để ý, bình thản nói tiếp: “Con vốn định cứ như vậy thôi, không muốn làm ông đau lòng thêm nữa, nhưng có vẻ nếu ông không tìm ra sự thật thì nhất quyết không từ bỏ, cho nên con mới ra đây nói một lần cho rốt ráo.”
Anh ta nói xong bèn đưa tay sờ sờ bộ lông mềm mại xinh đẹp của hồ ly nhỏ trong lòng, nói với mọi người.

“Thật ra ta cũng có oán khí nên mới không đi địa phủ đầu thai.

Ông nội, ông chỉ biết con chết là vì bệnh tim tái phát thôi đúng không? Ông có bao giờ tự hỏi tại sao đang yên đang lành con lại phát bệnh không?”
Vừa nói đến đây, anh ta không thèm che giấu nữa, để cho oán khí và ác nghiệp ánh màu đỏ tía trên người tràn ra bốn phía.
Cố Cửu cũng giống như cậu cả Trâu, đang cố gắng trấn an chú mèo đen mình bế.

Cậu lên tiếng hỏi: “Là vì hồ ly nhỏ của anh đúng không?”
Cậu cả khựng lại, vẻ mặt ung dung bình thản chợt biết mất, thay vào đó là sự đau khổ và căm hận.

Hồ ly nhỏ trong tay anh ta dường như bị nắm đau, ngửa đầu hét lên một tiếng.

Bỗng nhiên bộ lông trắng như tuyết của nó từ từ chuyển sang màu đỏ, cuối cùng biến thành một cục máu thịt đỏ thẫm.
Thành một con hồ ly bị lột da..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 38: 38: Bằng Hữu


Cậu cả Trâu tịnh dưỡng ở một thôn trang ngoài thành, nơi đó ở gần chân núi, non xanh nước biếc, cảnh vật và không khí đều tốt để nghỉ ngơi dưỡng bệnh.
Từ nhỏ sức khỏe của cậu cả đã không tốt, không dám chạy nhảy vận động mạnh, ngay cả nói chuyện cũng nhỏ nhẹ từ tốn.

Vì vậy, cậu cả ít khi ra ngoài, đi được mấy bước đã bị người ta nhắc nhở phải cẩn thận.

Thân thể không khỏe, lại thêm cha mẹ mất sớm nên cậu cả chỉ thui thủi một mình, từ nhỏ đến lớn gần như không có lấy một người bạn tâm giao nào.
Cậu cả Trâu rất cô độc, anh đã quá chán ngán cái cảnh người bên cạnh mình chỉ mãi dạ thưa, ngày qua ngày không thừa không thiếu một lời nào, ngoài những câu hỏi thăm sức khỏe thông thường là sự tĩnh lặng vô tận.

Nhưng biết làm sao được, quả thật sức khỏe không cho phép anh tiêu dao tự tại, thích gì thì làm nấy như chúng bạn đồng lứa được.
Một ngày nọ, người làm trong nhà mang về một cái lồng sắt nhốt một con hồ ly nhỏ bị thương, bọn họ nói rằng chuẩn bị gϊếŧ thịt ăn.
Hồ ly bé xíu, co quắp người rúc thành một cục trong góc lồng, nhỏ nhẻ kêu ư ư đầy sợ hãi.

Để giữ gìn sức khỏe, từ nhỏ đến giờ cậu cả chưa từng được phép nuôi thú cưng, anh ta nhìn nhóc hồ ly ở trong lồng, thấy nó ngước đôi mắt to tròn ngập nước nhìn mình như van lơn.
Cậu cả động lòng trắc ẩn, thả hồ ly nhỏ ra khỏi lồng, giao cho người hầu cận, dặn rằng phải chăm sóc đến khi nó lành lặn thì thả về núi.
Trong thời gian hồ ly ở lại thôn trang dưỡng thương, ngày nào cậu cả cũng ghé sang thăm nó một lát.

Đến khi vết thương trên người nó khỏi, được thả đi rồi, anh chợt cảm thấy hơi mất mát.

Nhưng anh cũng hiểu nơi núi rừng hoang dã tự nhiên mới là môi trường sống tốt nhất cho hồ ly nhỏ, nếu anh nhốt nó ở nơi này thì dù cho có chăm bẵm thế nào đi nữa thì chắc chắn nó cũng sẽ không vui.

Thế mà cậu cả cũng không cần buồn sầu bao lâu, vì nhóc hồ ly kia đã nhanh chóng quay trở lại.

Một buổi sáng nọ, nó ngậm một con mồi, nhảy phốc lên án thư bên cửa sổ của cậu cả, thả con mồi xuống rồi chạy đi mất hút.
Sau đó, thỉnh thoảng hồ ly lại tới chơi, lần nào nó cũng đem vài thứ cho cậu cả Trâu, có khi là chuột, có khi là thỏ hoang, cũng có lúc là một con cá sống.

Cứ thường xuyên qua lại như thế, dần dần người và hồ ly trở nên thân thiết.

Cậu cả thật lòng xem hồ ly là bạn của mình, tuy rằng nó đến đi bất chợt nhưng ngày nào anh cũng cho người chuẩn bị sẵn một phần đồ ăn cho nó.
Cậu cả dịu dàng v**t v* nhóc hồ ly đã biến thành một cục máu trong lòng: “Mấy thứ đồ nó mang đến ta làm sao mà ăn được, thế là ta bèn nói đùa với nó, nếu em còn tới nữa thì mang cho ta mấy bông hoa nhé.

Ta vốn không suy nghĩ gì, nào ngờ nhóc con này lại hiểu, sau lần đó liền ngậm đủ thứ hoa cỏ về tặng ta.

Sau khi cha mẹ ta qua đời, thời gian đó…là khoảng thời gian ta vui vẻ nhất.” Kể đến đó, đột nhiên sắc mặt anh ta thay đổi hẳn, đôi mắt đong đầy sự hận thù.

“Ta vốn cho rằng cuộc sống cứ êm đềm như vậy mà trôi qua…”
Không sợ chia ít, chỉ sợ chia không đều.

Trâu lão thái gia cảm thấy cậu cả mất cả cha lẫn mẹ, sức khỏe lại không tốt như người ta nên quan tâm cưng chiều cậu cả hơn so với mấy đứa cháu còn lại.

Không ngờ việc này đã khơi dậy lòng ghen tị của cậu hai và cô năm.

Bọn họ cho rằng có cái gì tốt thì ông nội đều gửi ra ngoài thôn trang cho anh cả, tới phiên bọn họ thì chỉ còn là đồ thừa mà thôi.

Một đứa mồ côi, lại còn quanh năm đau yếu, tại sao lại được nhiều thứ tốt hơn mình kia chứ?
Ác ý của cậu hai và cô năm quá rõ ràng, dĩ nhiên cậu cả biết rõ hai anh em này chẳng ưa gì mình.

Thỉnh thoảng anh về nhà chính thăm ông nội đều nghe bọn họ nói mát hay châm chọc vài câu, vì vậy anh đã cố gắng tránh xa, ít chạm mặt càng nhiều càng tốt để đỡ phiền toái.

Nhưng mà, anh đã xem nhẹ sự tàn độc của bọn họ.
Hôm đó, đã vài ngày mà không thấy bóng dáng hồ ly nhỏ đâu, cậu cả đứng ngồi không yên bèn sai gia nhân đổ đi tìm khắp nơi.

Mọi người chia nhau đi lùng xung quanh núi, trong thôn trang và cả làng nhỏ dưới chân núi, những chỗ nào có thể tìm đều đi tìm một lượt.
Kết quả là hồ ly tìm không được, nhưng anh lại đón phải hai vị khách không mời.
Hai người bọn họ, một kẻ cầm trái tim hồ ly bị moi ra, một kẻ cầm tấm da hồ ly bị lột, một kẻ nói ăn tim bổ tim, vừa hay huynh bị bệnh tim, ăn vào có khi chữa được bệnh, một kẻ nói lông hồ ly ấm áp, thân thể huynh yếu ớt, vừa hay lấy cái này làm áo choàng để chống lạnh mùa đông.

Hai kẻ súc sinh kia vừa nói vừa cười, vứt cho cậu cả vật chúng đang cầm.

Cậu cả đoán biết được nhưng không dám tin, run rẩy cầm lấy tấm da hồ ly còn loang lổ máu muốn chứng minh ý nghĩ của mình là sai.

Người bạn nhỏ của anh từng bị thương ở chân phải phía trước, vết thương đã lành nhưng lông chỗ đó thưa thớt hơn hẳn những nơi khác trên người.

Cậu cả cầm tấm da kích cỡ vừa vặn với hồ ly nhỏ điên cuồng mà lần tìm từng chỗ một.

Lúc nhìn thấy hình dáng quen thuộc đó, trái tim anh quặn lên đập kịch liệt, mồ hôi lấm tấm trải dài trên trán.

Anh gắng gượng đến cuối cùng, bám lấy tia hi vọng mong manh, thều thào hỏi hai kẻ kia lấy được cái này ở đâu.
“Bắt ở bên ngoài thôn trang này chứ đâu, lúc tôi bắt được nó, nó còn đang ngậm một đóa hoa đấy.”
Bọn chúng bỡn cợt mà nói, khuôn mặt đầy ác ý, cứ như đây chẳng qua chỉ là một chuyện đùa không đáng để vào mắt.
Hồ ly…hồ ly nhỏ của anh cứ thế mà mất.
Vốn dĩ nó có thể vui vẻ thoải mái mà sống nơi núi rừng thân thuộc, lại vì nặng tình nặng nghĩa với anh mà bị kẻ ác moi tim, lột da.
Nó chết thê chết thảm, chết không nhắm mắt.
“Lúc ấy ta ngất đi, đến khi tỉnh dậy thì phát hiện mình đã trở thành một con quỷ rồi.” Cậu cả cười cười, nét cười lạnh lẽo tột cùng.

Anh vung tay lên, trên mặt đất liền xuất hiện hai món đồ.
Mọi người định thần nhìn kĩ thì thấy đó là một trái tim người và một bộ da phụ nữ bị lột ra thật hoàn hảo, từ đầu đến chân không thiếu cái gì, phần da mặt rúm ró cả lại vì sợ hãi.
Trái tim thuộc về cậu hai, còn bộ da đương nhiên là của cô năm.
“Việc đầu tiên ta làm khi thành quỷ là trở lại nhà họ Trâu, tìm được hồn phách của hồ ly nhỏ.

Thế giới quan của người và quỷ rất khác biệt, lúc làm người ta không hề hay biết, thì ra trong sân nhà của hai đứa nó lại chôn giấu tội nghiệt nặng nề đến bậc này.” Nói đến đây, cậu cả lướt nhìn khắp một lượt những oan hồn trong sân.

“Chúng nó không cam lòng, chúng nó oán hận, chúng nó muốn báo thù, nhưng hiềm nỗi thanh đao mà hai đứa súc sinh kia dùng làm việc ác còn ở đây nên bọn chúng không làm gì được.”
Các vong hồn như nghe hiểu lời của cậu cả, đồng loạt ngửa đầu tru lên với mặt trăng treo trên không trung, ư ư ô ô uông uông đủ kiểu, như thể đang bày tỏ nỗi uất ức dài lâu.
Cố Cửu đoán được thanh đao kia chuyên dùng để sát hại động vật, năm này qua tháng nọ tích tụ quá nhiều máu tươi và oán khí, dần dần biến thành một thanh yêu đao mang tà khí, có thể khắc chế huyệŧ.

Nếu người sống bình thường tiếp xúc nhiều với nó cũng sẽ bị ảnh hưởng, tính tình thay đổi, trở nên hung hãn, nóng nảy.

Tuy nhiên, có lẽ là tà khí trên đao chưa quá sâu nên chỉ có thể gây hại đến động vật nhỏ yếu, còn đối với quỷ hồn vốn là con người như cậu cả Trâu thì không có tác dụng gì.
Cậu cả Trâu nói: “Bọn chúng nhân một đêm mưa gió mà gϊếŧ chết hồ ly, ta cũng bắt bọn chúng nếm thử cảm giác đau đớn khổ sở cùng cực đó.

Ta đã tìm đến và gϊếŧ chúng vào một đêm mưa gió mịt mùng, kêu trời trời chẳng thấu, kêu đất đất chẳng hay.

Bạn của ta đã chết như thế nào, thì ta cũng để cho bọn chúng phải chết y như vậy!”

Trâu lão thái gia bị sự thật này làm cho choáng váng, ông cụ bàng hoàng đến nỗi gần như đứng không nổi.

Ông không thể nào tưởng tượng được, thì ra lời đồn trên phố không hề sai, cái chết của cậu cả là do cậu hai và cô năm gây ra, mà bọn chúng thì bị quỷ hồn của cậu cả quay về đòi lại nợ máu.
Nữ đạo sĩ nói: “Ngươi tội tình gì phải làm thế, ngươi gϊếŧ bọn họ thì sẽ phải chịu phạt, rất có thể kiếp sau không được đầu thai.

Chỉ vì một con hồ ly, đáng sao?”
Cậu cả liếc nhìn nữ đạo sĩ kia một cái, tay vẫn không ngừng v**t v* chú hồ ly nhỏ, chậm rãi đáp: “Ta không thể để nó chết oan uổng được.”
Anh ta hoàn toàn có thể chọn một cách nhẹ nhàng hơn cho mình, chỉ cần lấy thanh yêu đao đi, để mặc cho hai anh em kia bị cắn xé đến chết, hoặc sai khiến hồ ly tự mình đi báo thù.

Thế nhưng quỷ gϊếŧ người là phải gánh tội nghiệt, hồ ly nhỏ đã vì anh mà gặp tai ương uổng mạng, nó nhỏ bé như vậy, vô tội như vậy, làm sao anh đang tâm để nó đeo nợ máu trên lưng cho đành.
Hà đạo trưởng hỏi: “Vậy hai người kia hồn phi phách tán cũng là do ngươi ăn mất?”
Cậu cả Trâu nhăn mày, tỏ vẻ ghét bỏ: “Gϊếŧ bọn chúng đã là làm bẩn tay ta, làm sao ta lại ăn nổi đồ vật dơ bẩn như thế được?”
Thiệu Dật thay anh ta trả lời: “Là bị đám động vật này xé nát.”
Cậu cả Trâu gật đầu xác nhận, anh ta chỉ lấy oán báo oán, tiễn bọn chúng lên đường bằng chính cách mà bọn chúng đã dùng với hồ ly.

Bọn chúng chết đi, hồn phách vừa thoát khỏi thân xác đã bị những oan hồn động vật chực chờ đã lâu xúm vào đánh úp, cắn xé tàn bạo không chừa lại cái gì.

Những dấu tích cào cấu trên hai thi thể cũng là do những con vật này làm ra.
Đến đây, nguyên nhân cái chết cùng hung thủ gϊếŧ cậu hai và cô năm nhà họ Trâu đã hai năm rõ mười.

Mấy vị đạo sĩ nhìn về phía Trâu lão thái gia đang bi thương tột cùng bên cạnh, lòng đầy cảm khái, nếu sớm biết kết cục sẽ thế này, chắc hẳn ông cụ sẽ ước gì mình đừng mời đạo sĩ tới điều tra làm gì.
Vong hồn chết oan còn nán lại chỗ này quá nhiều, cần phải siêu độ rồi đưa chúng về địa phủ.
Cậu cả Trâu vì gϊếŧ người nên biến thành lệ quỷ, có thể xưng bá một phương ở đây nhưng lại rất chịu phối hợp.

Anh ta hi vọng các đạo sĩ có thể rửa sạch oán khí trên người hồ ly nhỏ, để lúc nó đến địa phủ được dễ chịu một chút, nếu được đầu thai thì cứ đầu thai, kiếp sau lại làm một con hồ ly đáng yêu vui vẻ cũng không tồi.

Còn anh, thù hận đã xong, hồ ly cũng không còn ở dương thế, bây giờ ở lại cũng chẳng để làm gì.

Nếu không phải nghĩ cho hồ ly, muốn nhờ vả mấy đạo sĩ này thì anh ta đã ôm hồ ly trốn đi từ lâu rồi, đâu còn đợi đến bây giờ.

Cậu cả Trâu nói: “Nếu có thể, mong rằng kiếp sau tôi lại được làm bạn với nó.”
Cậu cả Trâu gϊếŧ người nên đương nhiên phải về địa phủ lĩnh phạt.

Cố Cửu tiếc nuối nói: “Kiếp sau chắc không được, kiếp sau nữa thì có thể.”
Cậu cả Trâu nghe vậy, lần đầu tiên nở nụ cười từ tận đáy lòng: “Vậy sao? Vậy cũng tốt.”
“Cả à.” Trâu lão thái gia run rẩy bước tới gần.

Tuy rằng ông cụ biết rõ vạn vật có linh, cậu hai với cô năm làm ác chết còn chưa hết tội, nhưng dù gì cũng là cháu trai cháu gái ruột thịt, nếu nói có thể rộng lòng bỏ qua hết thảy, không trách cứ gì cậu cả là nói dối.

Nhưng bây giờ đứa cháu mình thương yêu bấy lâu phải đi, có lẽ đời này không thể nào gặp lại được nữa, trong lòng ông khó nén xót xa.
Cậu cả Trâu lặng yên trong chốc lát.

“Ông nội.”
Anh cảm thấy áy náy với ông nội, nhưng không hề hối hận về việc mình đã làm.
Hai ông cháu, một người một quỷ, đứng đối diện nhìn nhau, không nói nên lời.
Cố Cửu giúp mọi người một tay, bố trí trận pháp siêu độ xong liền đến nói với Trâu lão thái gia: “Có nhân thì ắt có quả, từ lúc cậu hai và cô năm nhà ông vung đao lên lần đầu tiên thì đã định là sẽ dẫn đến kết cục ngày hôm nay rồi.

Bọn họ tạo nghiệt quá nhiều, oán khí trong nhà đã bắt đầu ảnh hưởng đến mệnh số của người nhà ông rồi.

Mong rằng sau này Trâu gia chủ quản lý con cháu trong nhà nghiêm ngặt, năng làm việc thiện tích đức tích phúc để chuộc lại lỗi lầm ngày hôm nay.”
Trâu lão thái gia nâng tay áo lên chùi nước mắt, gật đầu tỏ ý đã rõ.

Nếu hai đứa nhỏ kia không làm ra chuyện tàn hại động vật, thương thiên hại lý thì có lẽ thằng cả đã không phải chết, mà thằng cả không chết thì bọn họ cũng sẽ không phải chịu kết cục thế này.
Chỉ là…tất cả đều đã muộn màng.

Khi đám đạo sĩ bị oan hồn nhập vào tỉnh dậy chạy đến thì họ đã hoàn thành nghi thức cầu siêu cho các vong hồn rồi.
Nam vu sư nghe người làm trong nhà họ Trâu kể lại những việc bọn họ đã trải qua rồi lại nhìn thấy sân nhà hoàn toàn sạch bóng vong hồn thì vô cùng xấu hổ, lúc chạm mặt bọn Cố Cửu chỉ đành cười trừ.
Cố Cửu thấy ông ta như vậy cũng phì cười.
Kể ra thì việc trúng tà khôi hài lần này cũng đều do vị này mà ra cả.

Nhà họ Trâu sắp xếp phòng ốc cho mọi người nghỉ ngơi lấy sức, ông tay lại không dưỡng sức như người khác, chỉ vì Trâu lão thái gia đã tuyên bố ai có thể giải quyết được việc này sẽ được trả thù lao thật hậu hĩnh.

Nam vu sư này vừa kiêu căng vừa tham tiền, tự cho mình là hay, muốn độc chiếm tiền thưởng, thế là ông ta dành cả buổi trưa để chuẩn bị, trời vừa sập tối đã lẳng lặng tiến hành nghi thức gọi hồn, muốn gọi hồn cậu cả nhập vào mình để hỏi chuyện lần nữa.
Cậu cả không ham hố gì chuyện nhập thân, bây giờ ít nhiều gì anh ta cũng là một con lệ quỷ, với cả anh ta vốn là một cậu ấm, từ nhỏ đến lớn được người ta cung phụng có thừa, dù hiền lành thế nào thì cũng có sự kiêu hãnh của mình.

Người này thì hay rồi, năm lần bảy lượt quấy rầy anh ta, thế là anh ta bực mình, sai một đám động vật nhập vào ông ta cho bõ ghét.

Đám động vật này đều là quỷ hồn, đương nhiên không hữu hảo mấy với đạo sĩ bèn thừa dịp quậy banh chành, không những nam vu sư dính đòn mà những người khác cũng bị liên lụy theo.

Mỗi người bị bảy tám đứa chui vào, náo nhiệt tưng bừng.
Cố Cửu và Thiệu Dật không hề hấn gì là vì trên người hai sư huynh đệ đều mang theo pháp khí chính tay Phương Bắc Minh luyện chế, hơn nữa một người âm khí đầy mình, một người dương khí cuồn cuộn, mấy đứa nhóc này có thể nhập vào mới là lạ.
Nam vu sư này muốn khoe tài, rốt cuộc tiếng tăm đâu chẳng thấy, còn tự vả một phen, cho nên nhìn thấy ánh mắt hiểu rõ của bọn Cố Cửu mới đỏ mặt ngượng ngùng như vậy..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 39: 39: Nhà Họ Trương


Nhà họ Trâu từng có hơn một trăm vong hồn động vật chết oan, âm khí và oán khí quá nồng làm cho nó trở thành một địa điểm lý tưởng để bố trí Huyết Sát Âm Long trận, vì thế Cố Cửu và Thiệu Dật dành thêm chút thời gian ở lại để thanh lọc hết âm khí và oán khí, tránh cho nơi này bị kẻ xấu lợi dụng rồi gặp tai vạ lần nữa.
Sau khi mọi việc hoàn toàn kết thúc, Cố Cửu và Thiệu Dật nhận được không ít thù lao.

Hai người quyên góp phân nửa số tiền, phần còn lại trừ ra số tiền mua bùa chú và chu sa thì vẫn đủ để chi tiêu trong khoảng ba tháng nữa.

Tới đây thì không thể không nhắc, đều là cho phân nửa giữ phân nửa, vậy mà không bao giờ Phương Bắc Minh để dành được tiền.

Từ khi hai sư huynh đệ không đi cùng sư phụ nữa thì điều kiện sinh hoạt tốt hẳn lên, chưa từng rơi vào tình trạng đói mốc đói meo mà không có cơm ăn lần nào nữa.
Nhưng mà nói đi cũng phải nói lại, không có hai đứa đệ tử nheo nhóc đèo bòng, chắc sinh hoạt của sư phụ cũng thoải mái hơn ấy nhỉ.

“Xin dừng bước.

Có duyên ắt sẽ gặp lại.”
Ra khỏi cổng lớn nhà họ Trâu, Cố Cửu và Thiệu Dật cùng nhau từ biệt Hà đạo trưởng.

Hà đạo trưởng xuất gia tại một đạo quan ở quận Điệt Sơn, giáp với quận Kinh Lăng, lần này y nhận lời mời của nhà họ Trâu mới khăn gói đường xa đến đây.

Bây giờ mọi chuyện đã êm xuôi nên y cũng phải trở về đạo quan, còn Cố Cửu và Thiệu Dật sẽ dừng chân tại quận Kinh Lăng một thời gian nữa để thăm dò về Huyết Sát Âm Long trận, cho nên bọn họ chia tay tại đây.

Thường thì sau một trận mưa lớn tối tăm trời đất như vậy sẽ là mấy ngày trời quang mây tạnh.

Cố Cửu và Thiệu Dật biết vậy nên vẽ ra hơn mười nhóc người giấy, đợi đến tối rồi thả ra, nhờ chúng đi tìm và đánh dấu lại những chỗ nào có nhiều âm khí hoặc oán khí.
Một đêm yên bình trôi qua, vừa mới tờ mờ sáng, Cố Cửu còn đang mơ mơ màng màng thì bỗng giật mình, nghe thấy tiếng gõ cộc cộc vào cửa sổ.

Cậu mở đôi mắt còn nhập nhèm ra nhìn thì thấy một bé người giấy cả người loang lổ đang cực cực khổ khổ cố gắng nhét chính mình lọt qua khe cửa sổ, rồi từ cửa sổ bò uỵch uỵch xuống bàn.

Cố Cửu ngồi dậy khoác áo vào, cầm nhóc ta lên để trong lòng bàn tay, chọc chọc vào cái bụng giấy.
“Làm sao mà lại ra nông nỗi này?”
Bé người giấy ôm lấy ngón tay cậu, cọ cọ vài cái rồi ngước nhìn cậu, mách: “Ê a!”
Cố Cửu hỏi: “Rớt trúng vào vũng nước hở? Sau này cẩn thận một chút nha.”
“Y!” Người giấy nhỏ xíu gật gật đầu, sau đó ngoan ngoãn đứng yên một chỗ để cho Cố Cửu dùng khăn lông đã thấm nước lau sạch bùn đất còn dính trên người mình.
Thường thì mấy nhóc người giấy được thả ra sẽ đi suốt cả đêm, đến hừng đông mới quay về.

Chúng nó sợ lửa chứ không sợ nước, lỡ có dính nước thì cũng không bị bục ra, nhưng dù gì cũng là giấy nên khi bị ướt thì cả người sẽ nặng nề như vừa được bơm thêm mấy kí lô vậy, hành động rất khó khăn chật vật.

Chỉ những ngày trời nắng hoặc có chút sương sớm thôi thì chúng nó mới vô tư hoạt động, không bị cản trở gì.
Người giấy nhỏ trước mặt Cố Cửu bất cẩn rơi vào vũng nước, cả người ướt sũng, lại còn bị dính bùn, lúc thả đi trắng trẻo tinh tươm, đến khi quay về thì đen thủi đen thui.

Cố Cửu lau sạch những vết bẩn trên người nó nhưng lại không làm cho nó trắng lại như ban đầu được.

“Y~” Nhóc người giấy cúi đầu nhìn tới nhìn lui đôi tay đã biến thành màu xám xịt của mình, tủi thân lắm.
Cố Cửu thấy vậy thì vô cùng bình tĩnh lôi bút và chu sa ra, chuẩn bị dỗ bé con.

Vấn đề này cậu đã gặp nhiều lần lắm rồi, kinh nghiệm đầy mình.
Lúc Thiệu Dật tỉnh dậy đã thấy Cố Cửu đang ngồi quay lưng lại phía hắn, hí hoáy viết viết vẽ vẽ bên chiếc bàn đặt cạnh cửa sổ.

Tên nhóc này, tóc thì chưa chải, áo thì khoác hờ, vậy mà cũng không thèm để ý, cứ mặc kệ cho một đám người giấy bu lại, đứa thì níu lấy tóc, đứa thì ngồi lên vai, đứa thì đu lên tay, cả đám xúm xít tò mò theo dõi cậu vẽ quần áo cho nhóc người giấy đứng trên bàn.
Thiệu Dật ngáp một cái, không quấy rầy Cố Cửu.

Hắn rời giường, vệ sinh cá nhân xong xuôi rồi mới cầm lược chải tóc đi đến đứng phía sau Cố Cửu.

Hắn tách lấy một mớ tóc, dời nhóc người giấy đang nắm tóc cậu đi chỗ khác, không nói tiếng nào, yên lặng chải đầu cho sư đệ mình.
Cố Cửu ngửa ra nhìn, cười hì hì nói: “Cảm ơn sư huynh!”
Đã bao năm trôi qua rồi, Cố Cửu vẫn không búi được tóc, Thiệu Dật làm tiểu đồng chải đầu cho cậu đã tám năm nay, mà xem ra không phải chỉ tám năm đâu, tương lai còn dài.
Thiệu Dật chỉnh cái đầu nhỏ xinh kia trở về ngay ngắn, thuận miệng hỏi: “Chúng nó trở về hết chưa?”
Cố Cửu đáp: “Còn mấy đứa nữa.”
Người giấy nhỏ trên bàn lúc này đã được mặc đồ mới, trên người là cả một bức tranh hoa mai đỏ lộng lẫy, những chỗ bị dính bùn được Cố Cửu tân trang hầu như không còn nhìn thấy dấu vết gì nữa, thậm chí nhìn vào cũng không biết là từng bị bẩn.

Mấy đứa nhóc khác đang bu lại xem thấy thế thì cũng ê ê a a bày tỏ mong muốn được mặc áo mới giống như vậy.
Cố Cửu chọt chọt đầu của chúng nó, bảo: “Xếp hàng nào, lần lượt từng bạn một nha.”
Thiệu Dật vừa chải xong mái tóc của Cố Cửu thì Tiểu Đệ nhảy vào phòng, hôm qua nó ra ngoài chơi cả đêm, sáng nay mới về, trên lưng chở thêm mấy nhóc người giấy còn thiếu.
Cố Cửu nhanh tay vẽ xong quần áo cho mấy đứa nhóc thích mặc đồ mới, sau đó trải tấm bản đồ quận Kinh Lăng đã chuẩn bị sẵn từ hôm qua lên bàn.

Cậu gọi đám nhóc đến tả lại vị trí chúng nó tìm được để cậu đánh dấu lên bản đồ.
Đánh dấu xong, Cố Cửu thu tất cả người giấy lại, nói với chúng: “Ngủ một giấc đi, tối rồi lại ra ngoài chơi.”

Nhiệm vụ của bọn họ xem ra có vẻ sẽ khó khăn vì nhóm người giấy đánh dấu khá nhiều điểm, trong đó có những điểm âm khí mạnh đến nỗi cần cả hai người cùng đi đến nơi xem xét mới được.

Cố Cửu cất bút lông và chu sa, lúc quay lại thì thấy chậu nước sạch cho cậu rửa mặt đã được sư huynh để sẵn một bên, sư huynh thì đi mở cửa cho tiểu nhị bưng đồ ăn sáng vào.
Cố Cửu đã quen với những việc thế này, cậu cảm thấy sư huynh thoạt nhìn thì hung dữ nóng nảy thật, nhưng đó là vì bị khí Kim Canh trong người ảnh hưởng.

Nếu sư huynh chỉ là một người bình thường, chắc chắn huynh ấy sẽ rất dịu dàng.

Lúc còn ở đạo quan cũng vậy, cậu chỉ phụ trách việc nấu cơm, còn những việc lặt vặt khác sư huynh đều sẽ lo hết.
Hai người cùng ngồi xuống dùng bữa sáng.

Thiệu Dật hỏi: “Có tổng cộng bao nhiêu điểm?”
Cố Cửu có đánh dấu kèm số, hầu như người giấy nào cũng mang về hai vị trí, tính ra thì có gần hai mươi điểm là có thể thấy được trên bản đồ, những điểm hẻo lánh không đánh dấu được thì cần phải có người giấy tự mình dẫn đi, có khoảng mười mấy điểm như vậy.
Những ngày sau đó, hai người trả phòng trọ, lên đường rà soát khắp quận Kinh Lăng.

Tuy rằng chưa xác định được những chỗ đánh dấu có bị bố trí Huyết Sát Âm Long trận hay không, nhưng thanh lọc âm khí và oán khí như vậy ít nhiều gì cũng sẽ làm chậm tiến độ bày trận của kẻ nọ.

Hai sư huynh đệ cũng tranh thủ hỏi thăm người dân sống xung quanh xem những nơi bị đánh dấu đó có từng xảy ra chuyện gì quái lạ hay không.
Cố Cửu và Thiệu Dật đã thanh lọc được khoảng mười mấy điểm, trong đó có ba điểm đáng nghi, giống hệt với dấu hiệu khi âm trận sắp mở ra.

Vì vậy, bọn họ phải nán lại canh chừng, đợi đến giờ trận pháp khởi động, nếu đúng là Huyết Sát Âm Long trận thì ra tay phá trận ngay.
Cố Cửu còn chưa đủ khả năng tự mình phá trận cho nên cậu phụ trách dọn dẹp đám oán quỷ trợ trận, còn việc phá trận thì để Thiệu Dật gánh vác.

Tuổi của Thiệu Dật bây giờ không chênh lệch lắm so với tuổi của Phương Bắc Minh lúc bất đắc dĩ phải xuất sư năm xưa, còn xét về thiên phú thì chỉ có hơn chứ không hề kém cạnh, miễn là không có vấn đề ngoài ý muốn nào xảy ra thì Thiệu Dật phá trận khá nhẹ nhàng, sau khi xong việc chỉ cần nghỉ ngơi tịnh dưỡng một hai ngày là hồi sức ngay.
Hôm nay cả hai vừa phá xong một Huyết Sát Âm Long trận, vì phá trận này mà bọn họ đã lay lắt ở chốn sơn dã hơn mười ngày nay.

Gần chỗ này có một thị trấn nhỏ, sau khi dọn dẹp thành công, Cố Cửu và Thiệu Dật quyết định vào trấn tìm chỗ nghỉ dưỡng sức hai ngày.

Tuy trước đó có nói rằng tiền bạc trong tay vẫn đủ dùng, nhưng mà những thứ cần chi xài cũng không ít.

Bọn họ cần rất nhiều nguyên liệu để làm bùa hoặc chế pháp khí dùng cho việc trừ quỷ, thanh tẩy, và phá trận pháp.

Miệng ăn thì núi lở, nếu không kiếm thêm tiền thì chỉ có nước không mua sắm gì nữa, nhưng rõ ràng là chuyện này không khả thi, vì vậy, mỗi lần đến chỗ nào đông đúc náo nhiệt thì hai người sẽ bày quán xem bói kiếm thêm đồng ra đồng vào.

Có khi gặp phải vấn đề nghiêm trọng, cần phải đến tận nhà khách hàng để điều tra mới dẹp yên được quỷ thì bọn họ còn tiết kiệm được tiền ở trọ nữa.
Cố Cửu và Thiệu Dật cùng nhau vào thị trấn nọ, tìm được một chỗ có nhiều người qua kẻ lại, bắt đầu dọn đồ đạc ra ngồi chờ.

Cố Cửu coi sạp để Thiệu Dật ngồi một bên nhắm mắt nghỉ ngơi.
Cố Cửu còn chưa ngồi ấm chỗ thì đã thấy được một vị khách tiềm năng.

Người này độ ba mươi mấy tuổi, vốn hắn chỉ đi ngang qua mà thôi, nhưng vừa đi khỏi không bao lâu thì bỗng nhiên dần dần giảm tốc độ, cứ đi càng lúc càng chậm cho đến khi dừng hẳn rồi quay đầu nhìn chằm chằm sạp gieo quẻ mới vừa mọc lên này.
Cố Cửu thấy người đó cau mày do dự như đang nghĩ lung lắm, ắt hẳn là gặp phải chuyện phiền lòng rồi.

Cậu mỉm cười lên tiếng ướm hỏi: “Chào ngài, ngài có muốn tính một quẻ không?”
Người đàn ông trung niên dứt khoát quay trở lại, đến đứng trước sạp.

Hắn chắp tay sau lưng hỏi: “Tính có chuẩn không?”
Cố Cửu cười đáp: “Chuẩn hay không thì thử mới biết.” Cậu dời cái đệm hương bồ sang, mời người nọ ngồi xuống nói chuyện.
Người đàn ông cau mày nhìn chiếc đệm hương bồ, ngần ngừ một chốc rồi mới chậm rãi ngồi xuống.

Thì ra là hắn muốn học theo kiểu ngồi xếp bằng của Cố Cửu, nhưng vì chưa từng ngồi như vậy bao giờ nên thử mấy lần mà cứ trầy trật mãi, cuối cùng đành phải ngậm ngùi khép hai chân lại ngồi bó gối để có thể vừa với cái đệm.
Cố Cửu hỏi: “Ngài muốn xem ngày sinh tháng đẻ, xem tướng, xem tay hay là đoán chữ?”
Người đàn ông suy nghĩ một lúc, quyết định: “Đoán chữ đi.”
Cố Cửu nghe vậy bèn đẩy chén nước trong đặt trên bàn đến trước mặt hắn, bảo hắn chấm tay vào đó rồi viết một chữ lên giấy.

Người này ăn mặc nhã nhặn, vừa nhìn là biết người có học vấn.

Hắn làm theo lời Cố Cửu, dùng nước trong chén viết vào giấy một chữ “Triệu”.
Cố Cửu quan sát chữ Triệu vừa được viết ra, nói: “Trong chữ Triệu có chữ tẩu, là ra đi, cũng là ly biệt.

Nếu nhắc tới tiền tài thì hẳn là người này sắp mất của, nếu là sức khỏe thì…”
Người nọ gấp gáp hỏi: “Sức khỏe thì thế nào?”
“Thì ắt có chuyện liên quan đến tính mạng.”
Người đàn ông nghe vậy giật thót, kinh ngạc nhìn Cố Cửu, sau đó nói: “Tôi còn muốn xem một chữ nữa.”
Hắn nói xong lại chấm nước, viết thêm một chữ “Bản”.
Cố Cửu nhìn qua, lắc đầu: “Chữ phản hỏi mười lần thì mười lần đều không lành (3), không có ngoại lệ.

Phản luôn là việc trong tối, đối lập với “chính”.

Dù cho ngài hỏi việc gì đi nữa thì kết quả đều bất lợi.”

Người nọ nghe xong, vẻ mặt rất phức tạp, không thể nói rõ là nuối tiếc, mất mát hay cụ thể như thế nào.

Hắn ta thở dài: “Không giấu gì đạo trưởng, hai chữ tôi vừa viết là tên một người bạn thân thuở thiếu thời của tôi.

Cậu ấy đã qua đời nhiều năm, nhưng không hiểu sao gần đây tôi thường hay mơ thấy cậu ấy.

Cậu ấy vẫn mặc bộ đồ lúc hạ táng, khuôn mặt tái nhợt cứ nhìn tôi đau đáu.

Giấc mộng như vậy lặp đi lặp lại mãi, tháng trước thì thỉnh thoảng tôi mới gặp, gần đây càng lúc càng nhiều.

Dường như cậu ấy có việc gì đó muốn nói với tôi, nhưng cuối cùng lại chẳng nói gì.”
Cố Cửu hỏi: “Cố nhân của ngài qua đời do bệnh tật chăng?”
Người đàn ông gật đầu: “Năm xưa cậu ấy thi trượt khoa bảng nên thất chí, ốm đau liệt giường một thời gian.

Tâm bệnh khó trị, dùng bao nhiêu thuốc, chạy bao nhiêu thầy cũng không qua khỏi.

Khi ra đi cậu ấy mới vừa tròn hai mươi hai.”
Cố Cửu nói: “Người chết báo mộng thường chỉ vì một lý do: lúc sinh thời còn nguyện vọng chưa thành.”
Người xem quẻ nói: “Tôi cũng có nghĩ tới việc đó, nhưng ngặt nỗi cậu ấy không nói gì với tôi cả, dù tôi rất muốn giúp cậu ấy cũng không tài nào đoán ra được.” Hắn nhìn Cố Cửu, dè dặt hỏi thăm: “Tôi nghe nói các đạo trưởng như cậu đây có thể nói chuyện với quỷ thần…?”
Mối làm ăn tới rồi, Cố Cửu cười xởi lởi: “Đúng vậy, ngài hỏi như vậy là muốn tôi giúp ngài tìm hiểu chuyện của bạn ngài sao?”
Người nọ đáp ngay: “Nếu các vị có thể hỏi rõ đầu đuôi thì Trương mỗ vô cùng cảm kích.”
Nghe vậy Cố Cửu dứt khoát dọn sạp, bế Tiểu Đệ lên, Thiệu Dật thì không cần cậu gọi, tự động mở mắt đứng dậy.

Hai người nhanh chóng thu dọn đồ đạc đi theo người đàn ông về nhà hắn.

Tới nơi, Cố Cửu và Thiệu Dật nhìn thấy một căn nhà tương đối bề thế, trước cổng chính có tấm biển hiệu đề “Trương trạch”.

Theo như người nọ tự giới thiệu thì hắn tên là Trương Ngọc Đường.
Lúc này, trước cổng có một bà vú tuổi trung niên đang đứng ngóng nhìn xung quanh, bà ta nhác thấy bóng dáng Trương Ngọc Đường đi tới bèn vội vàng chạy lại chắp tay chào rồi thông báo: “Lão gia, cuối cùng ngài cũng trở lại, phu nhân mới vừa bị động thai, đang mời thầy thuốc đến khám.”
Trương Ngọc Đường vừa nghe đã biến sắc: “Sao lại như vậy?”.

Vừa dứt lời, hắn chỉ kịp dặn dò gia nhân sắp xếp chỗ nghỉ ngơi chu đáo cho hai người Cố Cửu rồi gấp gáp đi vào trong nhà.
Cố Cửu và Thiệu Dật đi theo người dẫn đường đến dãy phòng dành cho khách, còn chưa tới nơi đã nghe thấy tiếng khóc nỉ non của một người phụ nữ văng vẳng vọng lại từ phía nhà trong.
Cố Cửu nhíu mày, hai sư huynh đệ liếc nhìn nhau.

Có vẻ…thai nhi không xong rồi..
 
Linh Dị Âm Dương
Chương 40: 40: Triệu Bản


Hai người Cố Cửu đến nhà họ Trương lúc gần trưa, tới giờ ăn cơm Trương Ngọc Đường tự mình ra tiếp khách, trông bộ dạng hắn còn ủ rũ mất tinh thần hơn ban sáng nữa.
Trương Ngọc Đường năm nay ba mươi hai tuổi, cưới vợ là Trần Oanh đã xấp xỉ mười ba năm.

Người khác ở độ tuổi này đã làm cha làm mẹ từ lâu, nhưng cho đến bây giờ hai người vẫn chẳng có nổi một mụn con nào.

Lần nào Trần Oanh mang thai chưa được bao lâu cũng đều xảy ra tai nạn dẫn đến sảy thai rồi sinh non.

Đến lần này, vì tuổi đã không còn trẻ nên hai người phải chạy chữa đủ đường Trần Oanh mới có thể mang thai lần nữa.

Để đảm bảo an toàn cho thai nhi, từ lúc được báo là có thai đến nay, Trần Oanh hầu như ngày nào cũng nằm trên giường chẳng dám đi đâu.

Nào ngờ đã cẩn thận đến thế mà tai ương vẫn ập đến.

Mới trưa nay thôi, cô ta vừa thϊếp đi một chốc đã gặp phải ác mộng, vì hồi hộp lo sợ quá độ nên bị động thai, cuối cùng cứ thế mà mất đi đứa bé.

Cố Cửu hỏi Trương Ngọc Đường: “Phu nhân của ngài từng mang thai mấy lần rồi?”
Trương Ngọc Đường đau lòng nói: “Tổng cộng tám lần.”
Hắn và Trần Oanh đã đi khám không biết bao nhiêu thầy thuốc, lúc đầu thầy thuốc nào cũng nói rằng thân thể hai người rất khỏe mạnh, không có vấn đề gì.

Nhưng kì lạ là Trần Oanh không bao giờ giữ được thai quá lâu, hai lần đầu tiên chỉ đi bộ bình thường, không hề vận động mạnh mà vẫn bị sinh non, về sau thì càng ngày thai càng dễ sảy.

Trương Ngọc Đường nói: “Việc này làm tôi thực sự bế tắc, có khi nào có liên quan đến phong thủy của nơi này chăng? Hay là sẵn dịp hai vị giúp tôi nhìn qua một lượt thử xem sao?”
Rõ ràng đây là lần đầu tiên Trương Ngọc Đường tiếp xúc với đạo sĩ nên không biết xem bói và xem phong thủy vốn là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau, nhưng vừa may là xem bói, bắt quỷ hay xem phong thủy bọn Cố Cửu đều biết cả nên bèn nhận lời hắn đi một vòng.
Đi hết một vòng quanh nhà họ Trương, Cố Cửu không phát hiện ra âm khí mà chỉ có oán khí, nhưng oán khí không nhiều.

Điều này cũng không lạ, vì phàm là nơi có đông người ở thì không thể tránh khỏi xích mích va chạm, cho nên oán khí sinh sôi là bình thường.
Nhà họ Trương vẫn còn giữ lại căn phòng mà Triệu Bản ở lúc còn sống.

Trương Ngọc Đường nói Triệu Bản là người bạn thân thiết nhất của hắn, hai người lớn lên bên nhau, cùng nhau học tập chơi đùa.

Cha mẹ của Triệu Bản qua đời từ khi y còn nhỏ, toàn bộ chi phí sinh hoạt và học hành của Triệu Bản đều do nhà họ Trương chu cấp.

Nhà họ xem Triệu Bản như con ruột, Trương Ngọc Đường cũng xem y là anh trai mình.

Lúc Triệu Bản lâm bệnh nặng, Trương Ngọc Đường còn dọn qua khu nhà của Triệu Bản ở để tiện bề chăm sóc.
Gian phòng này luôn được Trương Ngọc Đường giữ gìn cẩn thận, thường xuyên cho người quét tước trong ngoài, từ lúc hai người Cố Cửu đi vào đến giờ vẫn không hề phát hiện điều gì bất thường.

Tuy rằng gần đây Triệu Bản thường xuyên báo mộng cho Trương Ngọc Đường nhưng trong khu nhà này lại không hề có âm khí, chứng tỏ hồn phách của y chưa từng trở về đây.

Nơi cuối cùng ba người dừng chân là khu nhà sau.
Còn chưa bước qua cửa, Cổ Cửu đã nhíu mày.

Những chỗ đã xem qua dù cho có chút oán khí đi nữa thì vẫn có thể xem là sạch sẽ hơn so với nhiều nhà khác.

Vậy mà chỉ riêng khu nhà sau này lại chất chồng đầy oán khí, còn nhiều hơn tất cả những chỗ khác trong nhà gộp lại nữa.

Đối với người trong giới huyền học như Cố Cửu, nơi người sống ở thì thà có âm khí chứ đừng nên để có oán khí, bởi vì âm khí thường sẽ không thay đổi, nhưng oán khí thì lại tăng lên từng ngày, dần dần gây nên ảnh hưởng tiêu cực đến tính tình và tâm trạng của người sống.
Trương Ngọc Đường không có con cái, nhưng cũng không có vợ lẽ.

Khu nhà này chỉ do một m*nh tr*n Oanh làm chủ, cô ta sinh non tận tám lần, muốn không có oán khí cũng khó.
Cố Cửu và Thiệu Dật là nam giới, lẽ ra không nên đi vào nhà sau, nhưng bọn họ là đạo sĩ nên dường như Trương Ngọc Đường không cảm thấy có gì không phải phép, cứ thế mời bọn họ vào.
Trần Oanh biết Trương Ngọc Đường đến bèn sai nha hoàn hầu cận ra đón tiếp.

Nha hoàn kia mặt mày thanh tú, cứ chốc chốc lại liếc nhìn Trương Ngọc Đường đầy e lệ.
Cố Cửu nhạy bén lanh lợi, vừa nhìn một cái là biết ngay chuyện gì xảy ra rồi, nhưng mà khổ nỗi hoa rơi hữu ý, nước chảy vô tình, cô nàng này chẳng khác gì đang liếc mắt đưa tình với một người mù cả.

Trương Ngọc Đường chẳng hề nhìn ra tâm tư thầm kín của cô nàng, chỉ mải mê lo nói chuyện với Thiệu Dật và Cố Cửu.
Nha hoàn kia thấy vậy thì bực bội cắn môi, ai oán liếc Trương Ngọc Đường một cái, bất đắc dĩ đành phải tỏ vẻ nề nếp trở lại.
Cố Cửu khẽ lắc đầu, ai oán thì cũng là oán, chẳng trách khu nhà sau này lại oán khí đầy trời.
Trần Oanh buông màn nằm trên giường, lại còn ngăn một tấm bình phong trước giường nên hai sư huynh đệ có thể thoải mái ra vào xem xét.

Bọn họ dạo quanh phòng và cả dãy nhà một lần, chỉ phát hiện ra vài vấn đề nhỏ nằm ở những đồ vật trang trí, nhưng chúng đều không gây ảnh hưởng gì đến việc sinh con đẻ cái cả.
Trương Ngọc Đường nghe Cố Cửu giải thích xong tỏ vẻ vô cùng thất vọng.
Cố Cửu suy nghĩ giây lát rồi hỏi: “Lúc Triệu Bản qua đời ngài đã kết hôn chưa?”
Trương Ngọc Đường buồn bã đáp: “Đêm A Bản qua đời chính là đêm tân hôn của tôi.

Tôi còn chưa kịp uống rượu hợp cẩn thì đã nhận được tin dữ, tức tốc chạy qua, nhưng cuối cùng vẫn không kịp nhìn mặt huynh ấy lần cuối.”
Thiệu Dật nghe vậy ngước mắt lên nhìn, Cố Cửu trông thấy liền hiểu ngay sư huynh cũng đang thắc mắc giống mình.
“Ngày hôm đó là ngày tốt đã chọn trước từ lâu sao?”

Trương Ngọc Đường lắc đầu: “Không phải.”
Cố Cửu nghe vậy thì cảm thấy rất ngạc nhiên.

Theo như lời của Trương Ngọc Đường thì Triệu Bản là người bạn thân nhất của hắn, thậm chí hắn xem y như anh trai ruột thịt của mình.

Nay Triệu Bản đang trong lúc thập tử nhất sinh, sao hắn lại còn có tâm tình đi tổ chức lễ cưới nữa kia chứ? Huống chi ngày cưới còn không phải là ngày tốt đã định sẵn không thể thay đổi.
Có vẻ Trương Ngọc Đường cũng biết vì sao hai người Cố Cửu lấy làm lạ, khuôn mặt hắn đầy vẻ bối rối ngượng ngùng, nhưng cũng không nói thêm gì.
Cố Cửu thấy vậy bèn đoán được trong chuyện này nhất định có ẩn tình khó nói.

Cậu nói: “Người chết không bao giờ vô duyên vô cớ báo mộng, chẳng lẽ ngài chưa từng hoài nghi việc mình hiếm muộn có liên quan đến Triệu Bản hay sao?”
Trương Ngọc Đường vừa nghe xong đã phản bác ngay không do dự: “Không thể nào!”
Hắn nói với hai người Cố Cửu rằng Triệu Bản lớn hơn hắn ba tuổi, rất khiêm tốn nhã nhặn, tính tình hiền hòa ngay thẳng.

Hai người lớn lên cùng nhau nên vô cùng hiểu nhau.

Từ nhỏ đến lớn, hắn mới là người chăm sóc cho người anh trai này.

Y không phải là người nhỏ mọn hay thù dai, chết đi rồi còn ở lại quấy phá chốn dương gian.
Sắc mặt Trương Ngọc Đường sa sầm lại, dường như hắn khó chịu vì lời suy đoán của Cố Cửu.

Cậu cũng không nói thêm gì về việc đó nữa, chỉ yêu cầu:
“Ngài đưa ngày sinh tháng đẻ của Triệu Bản cho chúng tôi, tối nay chúng tôi sẽ chiêu hồn, hỏi Triệu Bản xem y có nguyện vọng gì chưa hoàn thành.”
Trương Ngọc Đường trầm ngâm gật đầu.

Cố Cửu và Thiệu Dật cùng nhau quay về phòng mình.

Hai sư huynh đệ ngồi uống trà bàn chuyện, Cố Cửu nhìn vào bát tự của Triệu Bản, tính toán một hồi: “Số mệnh long đong, cầu mà không được.”
Thiệu Dật miết tay vào chén trà đang cầm, ra chiều suy tư: “Ta có xem qua tướng mạo của Trương Ngọc Đường, thông thường nếu nhân trung đầy đặn thì mới là biểu hiện của khó có con cái nối dòng.

Nhưng hắn ta thì tam dương đều đầy đặn, lệ đường có hình con tằm nằm, không bị khô hay trũng sâu, nhưng lại ngả sang màu đen.”
Nhân trung đầy đặn và tam dương đầy đặn là hai tướng mạo hoàn toàn tương phản.
Người có nhân trung sâu sẽ giàu đường con cái, còn nhân trung đầy là dấu hiệu hiếm muộn hoặc không có duyên con cái.

Trên khuôn mặt mỗi người đều có tam âm tam dương, mắt trái thuộc dương, mắt phải thuộc âm, đại diện cho cung nam nữ.

Người chưa lập gia đình thì xem tam âm tam dương để biết nhân duyên, còn người đã lập gia đình thì xem đường con cái nối dõi.
Cố Cửu không chú ý xem tướng cho Trương Ngọc Đường nhưng cậu biết tam dương đầy đặn tức người này sẽ có con cháu thịnh vượng, đời sau được phúc lộc vinh quang.

Dựa theo những gì Thiệu Dật thấy thì rõ ràng lẽ ra Trương Ngọc Đường phải có con cháu đủ đầy.

Nhưng bây giờ lệ đường hắn xuất hiện màu đen nghĩa là hắn đã gặp phải trở ngại gì đó khiến cho vận mệnh bị lệch khỏi quỹ đạo ban đầu.
Nếu Thiệu Dật chỉ xem tướng sơ qua mà đã thấy rõ như vậy thì chứng tỏ số mệnh của Trương Ngọc Đường đã thay đổi rồi, dẫn tới tướng mạo hắn cũng bị thay đổi theo.

Bọn họ tới không đúng lúc, ngay khi Trần Oanh vừa mới sinh non phải tịnh dưỡng không ra chào khách, nếu không có lẽ họ có thể dựa vào tướng mạo của Trần Oanh mà đoán thêm được gì đó không chừng.

Tối đến, Thiệu Dật mở pháp đàn chiêu hồn.
Trúc xanh gọi được âm hồn, Thiệu Dật cầm thẻ bài làm từ trúc xanh có ghi sinh thần bát tự của Triệu Bản lên, đốt cháy, rồi bắt quyết niệm chú: “Thổ địa thần chốn này mời hiển linh, lên trời xuống đất ra vào cõi u minh…”
Thiệu Dật hỏi một lượt các nơi phụ trách âm hồn.

Trước khi vào tới âm phủ, bất cứ quỷ hồn nào cũng phải đăng kí danh tính.

Thiệu Dật hỏi thăm Triệu Bản đã xuống âm phủ chưa thì nhận được câu trả lời là linh hồn vãng sinh Triệu Bản còn ở dương gian, không thấy tên đăng ký.

Thiệu Dật lại hỏi thổ địa, thổ địa là thần cai quản hàng chục ngàn quỷ hồn ở vùng này, thổ địa xác nhận rằng linh hồn của Triệu Bản vẫn còn ở dương gian.

Thế nhưng Thiệu Dật lại không chiêu được hồn của Triệu Bản.
Thiệu Dật thực hiện nghi thức chiêu hồn chứ không phải gọi hồn, là cưỡng chế chứ không phải mời thỉnh, trừ phi quỷ hồn của Triệu Bản quá mạnh, nếu không sẽ không xuất hiện trường hợp như thế này.
Thiệu Dật mím môi, lấy bát tự làm vật dẫn, đốt Khiên Dẫn Hương lên, đáng tiếc Khiên Dẫn Hương cũng không có tác dụng, làn khói dẫn đường từ từ bay lên không trung, bay tán loạn rồi tan mất, không chỉ ra được một phương hướng nào cả.
“Sư huynh, thế này không bình thường chút nào.” Cố Cửu nói.
Trương Ngọc Đường ngơ ngác hỏi: “Cái gì không bình thường?”
Thiệu Dật đanh mặt nói: “Chiêu hồn không được.

Hoặc là Triệu Bản quá mạnh, không thể cưỡng chế tới, hoặc là có cái gì đó ngăn cản không cho y tới.”
Trương Ngọc Đường vội hỏi: “Ngăn cản? Ai ngăn cản huynh ấy?”
Thiệu Dật đáp gọn lỏn: “Không biết.”
Trương Ngọc Đường lảo đảo một cái, buồn bã than van: “Tôi biết mà, bao nhiêu năm nay huynh ấy chưa từng báo mộng cho tôi.

Vậy mà gần đây lại tìm đến, muốn nói mà không nói nên lời.

Tôi đã đoán huynh ấy gặp chuyện chẳng lành rồi.

Lẽ nào huynh ấy bị ai đó làm khó dễ nên mới cầu cứu đến tôi? Hai vị đạo trưởng, bây giờ tôi đốt thêm nhiều tiền giấy cho huynh ấy thì có giúp được huynh ấy không?”

Cố Cửu nhìn thấy Trương Ngọc Đường bối rối tới mức suy nghĩ lung tung cả lên bèn trấn an: “Ngài đừng gấp gáp mà làm hỏng chuyện.

Để chúng tôi nghĩ cách đã.”
Trương Ngọc Đường chùi qua loa lên đôi mắt đã ửng đỏ: “Vâng.

Kính nhờ hai vị giúp đỡ.

A Bản là người tốt, thế mà lúc sinh thời không được yên vui, bây giờ chết vẫn phải chịu khổ chịu cực thì thật đau lòng quá.”
Cố Cửu gật đầu, hứa sẽ tìm cách, sau đó cậu tiễn Trương Ngọc Đường đi, giúp Thiệu Dật dọn dẹp pháp đàn.
Hai người thu dọn xong thì chuẩn bị đi ngủ.

Sau khi tắm rửa sạch sẽ, Cố Cửu thả người lăn một vòng lên giường.

Tiểu Đệ đi theo nhảy lên bụng Cố Cửu, thấy mềm mụp ấm áp thích quá bèn cong chân giẫm giẫm đi tới đi lui nghịch ngợm.
Cố Cửu hỏi vọng vào trong: “Sư huynh, chúng ta làm gì tiếp bây giờ?”
Thiệu Dật đang tắm phía sau bình phong, nghe vậy thì thản nhiên đáp: “Mời sư cha.”
Sư cha của hai người, Bùi Dữ, là một âm sai.

Trong tay hắn có một cái Tỏa Hồn Liên, chỉ cần biết được sinh thần bát tự của người chết thì có thể lấy đó làm mồi dẫn, câu hồn phách cần tìm đến.
Nếu âm sai không phải là người thân thuộc thì Thiệu Dật còn lâu mới thèm dùng đến cách này, hắn không muốn mắc nợ quỷ thần.

Cái này có tính là nhất quan hệ nhì tiền tệ không nhỉ?
Cố Cửu trở mình, xốc Tiểu Đệ lên đặt xuống đệm, vùi mặt vào cái bụng lông ấm áp đen tuyền kia hít một hơi đầy thỏa mãn rồi mới ngẩng đầu nói tiếp: “Nhắc mới nhớ, cũng lâu rồi mình chưa gặp sư cha.”
Năm xưa khi vừa gặp Bùi Dữ lần đầu tiên, Cố Cửu có nhờ hắn hỏi thăm tung tích của bà nội mình, sau đó Bùi Dữ cho cậu biết rằng bà nội của cậu đã dùng những khổ cực đời này để hoàn trả nợ nghiệt còn lại của kiếp trước, đời này tuy không có công cán gì lớn lao nhưng cũng không làm điều thất đức.

Bà đã sớm gia nhập hàng ngũ những người xếp hàng ở cầu Nại Hà, chờ uống canh Mạnh Bà để đi đầu thai.
Bà nội Cố Cửu không có nguyện vọng gì muốn hoàn thành, đã quên hết mọi chuyện ở đời này, vì vậy Cố Cửu cũng không xin gặp bà lần cuối làm gì, chỉ cần biết bà an ổn tốt đẹp là được rồi.
Bùi Dữ thường xuyên báo mộng cho hai sư huynh đệ, thông báo tình hình hoặc căn dặn gì đó, nhưng còn ở hiện thực thì đúng là hai người đã lâu không gặp hắn, lần gặp cuối cùng là vào một tháng trước, khi đó Bùi Dữ đến đưa một quỷ hồn về âm phủ.
“Để đệ hỏi khi nào sư cha rảnh.”
Cố Cửu nói xong bèn lấy ra một lá bùa trống, viết vài dòng lên đó, đại khái là hỏi thăm sức khỏe, bảo sư cha khi nào rảnh thì nhớ ghé thăm con với sư huynh, con nhớ sư cha lắm, vân vân và mây mây.

Viết xong, Cố Cửu gấp lá bùa lại rồi châm lửa đốt.

Cậu cầm bùa đứng dậy bước vài bước trong phòng, vừa đi vừa niệm chú.

Khói từ lá bùa bị đốt bay lên, dần dần tản ra rồi biến mất, chỉ còn lại một mớ tro tàn vương lại trên tay cậu.
Cố Cửu đứng yên, cầm mớ tro đó không nhúc nhích, qua khoảng một nén nhang(15p), bụi tro đen sì đột nhiên bay lên, hóa thành một chữ xiêu xiêu vẹo vẹo trên không trung.
“Sửu.” Cố Cửu thì thầm: “Sư huynh, sư cha nói giờ Sửu(1-3h sáng) sẽ đến.”
Giờ Sửu là hơn nửa đêm lận, Cố Cửu ngáp một cái, ngủ một giấc cái đã..
 
Back
Top Bottom