Cập nhật mới

Khác Liêu Trai Chí Dị ( Full )

Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 145+146+147+148+149


CHƯƠNG 145: TĂNG THUẬT

Bao Thư Cánh Khả Đạt U Minh

Bạch Túc Hà Nhân Thuật Diệc Linh

Khả Tích Khanh Tâm Do Vị Hóa

Thiên Tiên Chỉ Hứa Đắc Minh Kinh

Dịch:

Bao Thu Còn Đạt Cõi U Minh

Cảm Ứng Kìa Ai Thuật Cũng Linh

Đáng Tiếc Kiệt Keo Tâm Chửa Hóa

Ngàn Đồng Chỉ Đậu Có Minh Kinh



Hoàng sinh là con nhà thế gia cũ, tài cao chí lớn.

Ở ngôi chùa ngoài thôn có nhà sư Mỗ chơi thân với sinh.

Kế sư đi vân du, hơn mười năm mới trở về, gặp Hoàng than rằng:

- Ta cứ nghĩ là ông đã thành đạt lâu rồi, thế mà nay vẫn là chân bạch đinh sao?

Chắc là phúc mệnh mỏng Iắm.

Ta xin vì ông lo lót với Diêm Vương, ông có thể lo được mười ngàn đồng không?

Hoàng đáp không được.

Sư nói:

- Vậy xin ông cố lo một nửa, còn bao nhiêu ta sẽ vay mượn cho ông.

Hẹn sau ba ngày phải có, Hoàng ưng thuận.

Qua ba ngày sư quả nhiên đem năm ngàn đồng tới đưa cho Hoàng.

Nhà Hoàng vốn có cái giếng rất sâu, nước không bao giờ cạn, nghe nói là thông ra với sông lớn.

Sư bảo đem tiền ra đặt cạnh giếng, dặn rằng:

- Khoảng chừng nào ta về tới chùa rồi phải lập tức ném tiền xuống giếng, chờ khoảng nửa bữa cơm sẽ có một đồng tiền nổi lên thì vái lạy.

Rồi đi.

Hoàng không hiểu là thuật gì, lại nghĩ rằng chưa biết kết quả ra sao mà vứt cả mười ngàn đồng tiền xuống giếng thì rất đáng tiếc, bèn chỉ ném xuống một ngàn.

Giây lát thấy bọt nước rất lớn sủi lên rồi có tiếng leng keng, liền có một đồng tiền nổi lên, to như cái bánh xe.

Hoàng cả kinh vội vàng vái lạy rồi lấy bốn ngàn đồng còn lại ném xuống, trúng đồng tiền lớn kêu thành tiếng nhưng bị đồng tiền lớn cản lại nên không chìm xuống được.

Chiều tối sư tới trách, nói:

- Sao không ném xuống hết?

Hoàng đáp đã ném xuống hết rồi.

Sư nói:

- Sứ giả của Diêm Vương chỉ đem được một ngàn đồng về, sao dám dối trá?

Hoàng bèn thú thật.

Sư than:

- Kẻ keo kiệt ắt không làm được chuyện lớn, đó cũng là mệnh của anh, suốt đời cũng chỉ đỗ được khoa Minh kinh, chứ không thì đã đỗ Tiến sĩ ngay rồi.

Hoàng hối hận lắm, xin cầu đảo lần nữa, nhà sư chối từ bỏ đi.

Hoàng nhìn xuống giếng thấy tiền vẫn còn nổi liền thả dây xuống kéo lên, đồng tiền lớn bèn chìm xuống.

Năm ấy Hoàng nhờ đậu Tú tài được sung Cống cử, rốt lại đúng như lời sư nói.

______________________________________

CHƯƠNG 146: LIỄU SINH

Hôn Cấu Thiên Tàng Phỉ Khấu Lai

Sung Nang Thả Hỉ Phú Tư Tài

Nhân Gian Oán Ngẫu Tri Hà Hạn

Tích Thiểu Thần Thông Dữ Vãn Hồi

Dịch:

Hôn Thú Từ Trong Sào Huyệt Cướp

Trong Tay Sẵn Có Đủ Tiền Tài

Cõi Đời Oán Ngẫu Bao Nhiêu Kể

Tiếc Thiểu Thần Thông Chỉ Dẫn Thôi



Chu sinh là dòng dõi nhà quan ở phủ Thuận Thiên (kinh đô ở tỉnh Hà Bắc), chơi thân với Liễu sinh.

Liễu được dị nhân dạy cho thuật xem tướng, thường nói với Chu rằng:

- Ông không có phận làm quan, còn sự giàu có muôn chung thì sức người cũng lo được, nhưng tôn phu nhân tướng bạc sợ không thể giúp ông dựng được cơ nghiệp.

Không bao lâu quả vợ Chu chết, nhà cửa tiêu điều không ai coi sóc, Chu bèn tới nhà Liễu sinh nhờ bói về hôn nhân.

Vào phòng khách cùng ngồi hồi lâu thì Liễu bỏ vào trong mãi không ra, gọi hai ba lần mới trở ra nói:

- Ta hàng ngày vẫn tìm cho ông một người vợ giỏi, hôm nay mới tìm được, mới rồi là ở nhà trong thi thố chút thuật mọn, xin Nguyệt lão xe sợi tơ hồng cho ông đấy thôi.

Chu mừng rỡ hỏi han, Liễu đáp:

- Mới rồi có một người xách cái bị ở đây ra, ông có gặp không?

Chu nói:

- Có gặp, thấy rách rưới như thằng ăn mày.

Liễu nói:

- Đó là cha vợ của ông, nên kính lễ.

Chu nói:

- Vì thân thiết với nhau mới tới bàn chuyện riêng, sao đùa cợt nhau quá thế?

Ta tuy nghèo hèn cũng là dòng dõi nhà quan, sao đến nỗi phải cưới con nhà đầu đường xó chợ.

Liễu nói:

- Không phải thế, con bò lang còn sinh được bê đẹp, có hại gì đâu.

Chu hỏi:

- Ông gặp con gái y chưa?

Liễu đáp:

- Chưa, ta với y không từng quen biết, ngay cả tên họ cũng mới hỏi mà biết đây thôi.

Chu cười nói:

- Bò lang còn chưa biết, làm sao biết được bê?

Liễu nói:

- Ta lấy số mệnh mà tin thôi, người ấy hung dữ mà hèn hạ nhưng ắt sinh được con gái có phúc lớn.

Nhưng nếu miễn cưỡng tác hơp bừa thì ắt có nạn lớn, nên mới phải cầu đảo.

Chu về cũng chưa tin hẳn vào lời Liễu, tìm đủ cách mai mối lấy vợ, nhưng không cưới được đám nào.

Một hôm Liễu chợt tới nói:

- Có một người khách, ta đã thay ông gởi thư mời.

Chu hỏi là ai, Liễu đáp:

- Đừng hỏi han gì cả, cứ lo cơm nước cho mau.

Chu không hiểu chuyện gì, cứ theo lời chuẩn bị cơm rượu.

Giây lát khách tới thì ra là họ Phó, làm lính trong doanh.

Chu trong lòng không thích nhưng bề ngoài vẫn làm ra vẻ vồn vã trò chuyện, còn Liễu sinh thì một dạ hai thưa rất mực cung kính.

Giây lát rượu thịt bày lên, có lẫn cả cỏ dại trong mâm.

Liễu sinh đứng dậy nói với khách:

- Công tử đây hâm mộ ông đã lâu, thường nhờ ta đi mời, nhưng lần trước mới được gặp, lại nghe không mấy bữa nữa lại đi chinh phạt nơi xa nên ta lập tức mời ngay khiến chủ nhân bị bất ngờ.

Trong lúc uống rượu, Phó lo ngựa bị bệnh không cưỡi được, Liễu cũng gật gù cùng tính toán này nọ.

Kế khách ra về, Liễu trách Chu:

- Có ngàn vàng cũng không mua được người bạn như thế, sao ông lại im lặng ngồi nhìn rồi mượn ngựa Chu để về?

Nhân đó giả lời Chu dắt ra cổng đưa dây cương tặng luôn cho Phó.

Chu biết được bực lắm nhưng chẳng biết làm sao.

Qua năm sau Chu định đi Giang Tây làm mạc khách ở ty Niết, tới nhà Liễu nhờ xem giùm một quẻ.

Liễu nói chuyến này đi là đại cát, Chu cười nói:

- Ta không có ý gì khác, chỉ là có ít tiền định cưới người vợ đẹp, may mà lời nói trước kia của ông không nghiệm, thì có được không?

Liễu nói:

- Tất cả đều như ông muốn mà!

Chu tới Giang Tây thì vừa gặp lúc có bọn giặc lớn nổi loạn, ba năm không về được.

Sau mới hơi yên bèn chọn ngày lên đường về, giữa đường bị bọn cướp bắt, bảy tám người cùng gặp nạn bị cướp hết tiền rồi thả ra, duy Chu bị giải về tận sào huyệt của bọn cướp.

Tên đầu đảng hỏi kỹ gia thế của Chu rồi nói:

- Ta có đứa con gái muốn dâng ông lo việc hầu hạ quét dọn, xin đừng chối từ.

Chu không đáp, tên cướp tức giận liền sai đem Chu ra chém.

Chu sữ, nghĩ rằng cứ tạm vâng lời y rồi thong thả sẽ tìm cách trốn đi, bèn nói:

- Sở dĩ tiểu sinh còn chần chừ vì thấy mình là học trò yếu ớt không thể theo việc binh, chỉ e càng làm lụy cho trượng nhân thôi.

Chứ nếu được cho vợ chồng dắt nhau đi khỏi nơi này, thì còn ơn đức nào lớn bằng.

Tên cướp nói:

- Ta đang lo con gái làm phiền lụy, chuyện đó có gì mà không nghe theo được.

Bèn dẫn Chu vào trong, cho con gái ăn mặc đẹp đẽ ra gặp, thấy nàng khoảng mười tám mười chín tuổi, xinh đẹp như tiên.

Ngay đêm ấy làm lễ hợp cẩn, nàng đằm thắm hơn cả lòng Chu mong mỏi, hỏi kỹ họ tên mới biết cha nàng chính là người xách cái bị ở nhà Liễu sinh năm trước.

Nhân thuật lại lời Liễu cho nàng nghe, hai người cùng than thở.

Qua bốn hôm, tên cướp định đưa hai người đi, chợt đại quân bất ngờ kéo tới, cả nhà đều bị bắt trói.

Có ba vị quan tướng giám trảm, đem cha vợ Chu ra chém xong, lần lượt tới Chu, Chu đã nghĩ phen này ắt phải chết thì một viên tướng nhìn kỹ nói:

- Có phải Chu mỗ không?

Té ra đó là người lính họ Phó nhờ có quân công đã được thăng tới chức Phó tướng quân.

Phó nói với hai người kia rằng:

- Đây là danh sĩ dòng dõi thế gia ở quê ta, lẽ nào lại đi làm giặc?

Rồi cởi trói cho Chu, hỏi từ đâu tới.

Chu bịa đặt nói:

- Vừa ở ty Niết tỉnh Giang Tây cưới vợ về, không ngờ bị bọn cướp bắt, may được ông cứu vớt cho, ơn tái sinh lớn như trời đất, nhưng vợ chồng chia lìa, xin nhờ oai lớn giúp cho được ngói lành.

Phó liền sai giải hết tù nhân ra cho Chu nhận mặt vợ.

Chu tìm được cô gái rồi, Phó cho ăn uống, giúp đỡ tiền bạc, nói:

- Trước đây nhờ cái ơn cho ngựa, sớm tối vẫn không quên, nhưng việc quân bận rộn không rảnh rỗi tới tham kiến đươc, nay xin giúp ông hai cỗ ngựa tất, năm mươi lượng vàng để về quê.

Lại sai hai tên quân kỵ đi hộ tống.

Trên đường cô gái nói với Chu:

- Cha ngu dại không chịu nghe lời nói thẳng, mẹ lúc chết đã biết có ngày hôm nay lâu rồi.

Sở dĩ còn nương náu sớm tối vì lúc nhỏ từng được ông thầy tướng xem cho, nói rằng ngày sau có thể thu lượm được hài cốt của cha mẹ mà thôi.

Chỗ ấy có số tiền lớn chôn giấu, có thể đào lên chuộc xác cha, còn thừa đem về cũng đủ mưu sinh.

Bèn dặn hai tên quân kỵ đợi trên đường, hai người quay về chỗ cũ, thấy nhà cửa đã cháy sạch, lấy bội đao đào đống tro, xương dưới một thước quả được vàng, gói vào hành lý rồi quay trở lại.

Đem một trăm lượng đút lót hai tên quân kỵ nhờ họ chôn cất xác cha cô gái, nàng lại đưa Chu tới lạy trước mộ mẹ xong mới lên đường.

Tới địa giới tỉnh Trực Lệ, hai người thưởng cho hai tên quân kỵ rất hậu rồi chia tay.

Chu lâu ngày không về, gia nhân đều cho rằng đã chết, thả sức trộm cắp, thóc gạo vải lụa vật dùng trong nhà không còn chút gì.

Đến lúc nghe chủ nhân về, sợ hãi kéo nhau trốn sạch, chỉ còn một bà già, một người tỳ nữ và một lão bộc ở lại.

Chu vì ra khỏi chỗ chết được sống mà trở về nên cũng không hỏi gì tới, qua thăm Liễu thì không rõ đã đi đâu mất rồi.

Cô gái coi sóc việc nhà còn hơn cả đàn ông, chọn những người thành thật siêng năng đưa vốn cho buôn bán, lời lãi chia đôi.

Mỗi khi các bạn buôn họp nhau tính toán ở nhà, nàng buông rèm ngồi trong lắng nghe, ai lầm một con số là chỉ ngay ra chỗ sai, vì thế trong ngoài không ai dám lừa dối.

Vài năm có tới hàng trăm bạn buôn, nhà giàu có hàng mấy mươi vạn lượng vàng, mới sai người bốc mộ cha mẹ đem về hậu táng.

______________________________________

CHƯƠNG 147: NHIẾP CHÍNH

Hầu Môn Nhất Thập Trướng Phân Ly

Bi Đỗng Tằng Vô Kế Khả Thi

Bạch Nhận Lẫm Nhiên Mộ Trung Xuất

Thần Uy Tưởng Kiến Thích Hàn Thì

Dịch:

Cường Quyền Cưỡng Đoạt Hận Phân Ly

Đau Xót Đành Vô Kế Khả Thi

Kiếm Phát Hào Quang Trong Mộ Lóe

Sát Hàn Lẫm Liệt Tưởng Chừng Khi



Lộ vương ở Hoài Khánh (tỉnh Hà Nam) có đức tối, cứ dạo chơi ra dân gian thấy con gái đẹp là bắt về.

Có vợ Vương sinh bị vương nhìn thấy, sai xe ngựa vào tới tận nhà bắt đi.

Cô gái khóc lóc kêu gào, bị bắt lên kiệu khiêng ra.

Vương bỏ chạy, núp sau mộ Nhiếp Chính chờ vợ đi qua để vĩnh biệt.

Không bao lâu vợ tới, nhìn thấy chồng khóc lớn gieo mình xuống đất.

Vương trong lòng đau đớn bất giác khóc thất thanh, bọn gia nhân của vương biết là Vương sinh bèn túm lấy đánh đập túi bụi.

Chợt trong mộ có người đàn ông bước ra, tay cầm đao sắc, khí thế rất oai mãnh, lớn tiếng quát:

- Ta là Nhiếp Chính đây, sao các ngươi dám bắt ép con gái nhà lương dân.

Nghĩ bọn ngươi chỉ là kẻ thừa lệnh nên tạm tha cho lần này, về nhắn với ông chủ vô đạo của các ngươi rằng nếu không sửa nết xấu thì có ngày ta sẽ lấy đầu đấy.

Đám gia nhân nhà vương hoảng sợ bỏ xe kiệu chạy, người đàn ông lại bước thẳng vào mộ biến mất.

Vợ chồng Vương tới lạy trước mộ rồi về, vẫn còn sợ là vương lại tới nhưng hơn mười ngày cũng không thấy gì mới yên lòng.

Từ đó vương cũng bớt dâm đãng hống hách.

______________________________________

CHƯƠNG 148: NHỊ THƯƠNG

HAI ANH EM HỌ THƯƠNG

Huynh Đệ Du Di Lạc Khổng Hoài

Phụ Ngôn Thiên Sử Lưỡng Tình Quai

Nhị Thương Hữu Ái Chung Thiên Tính

Trường Thiệt An Năng Tác Lệ Giai*

*(Phụ nhân trường thiệt duy lệ chi giai: đàn bà dài lưỡi là gây họa [kinh Thi])

Dịch:

Ân Nghĩa Anh Em Vốn Thuận Hòa

Xui Nên Ngang Trái Tự Đàn Bà

Nhị Thương Hữu Ái Tự Trời Bẩm

Dài Lưỡi Sao Hay Ác Nghiệp A?



Có nhà họ Thương ở huyện Lữ (tỉnh Sơn Đông), anh giàu mà em nghèo, ở liền vách nhau.

Trong niên hiệu Khang Hy (1662-1722) mất mùa lớn, người em sớm tối không lo được hai bữa.

Một hôm trời đã trưa mà chưa nổi lửa nấu cơm, bụng đói sôi òng ọc, không biết làm sao.

Vợ bảo tới nói với anh, Thương đáp:

- Vô ích, nếu anh thương ta nghèo thì đã sớm có cách giúp đỡ rồi.

Vợ ép mãi, Thương sai con đi, giây lát tay không quay về, Thương nói:

- Thế nào nào?

Vợ hỏi lại con cho rõ, đứa con nói:

- Bác ngần ngừ rồi nhìn bác gái, bác gái nói Anh em đã ở riêng thì cơm ai nấy ăn, ai mà lo cho nhau được.

Vợ chồng im lặng đem những bát mẻ giường nát cầm bán đổi chút tấm cám sống qua ngày.

Trong làng có ba bốn gã vô lại, thấy Thương anh giàu có trèo tường vào cướp, vợ chồng Thương anh giật mình tỉnh dậy đập nồi đập chảo kêu gào nhưng người làng đều ghét không ai tới cứu.

Bất đắc dĩ phải gọi em, Thương nghe tiếng chị dâu kêu cứu muốn xông qua ngay, vợ ngăn lại, lớn tiếng nói vọng qua:

- Anh em đã ở riêng thì họa ai nấy chịu, ai mà lo cho nhau được.

Kế bọn cướp phá cửa bắt vợ chồng Thương anh đốt thịt tra tấn, hai người kêu gào thảm thiết.

Thương nói:

- Tuy anh không có tình nghĩa nhlmg chẳng lẽ ta lại ngồi yên nhìn anh chết mà không cứu sao!

Rồi dắt con nhảy tường qua lớn tiếng quát tháo.

Cha con Thương vốn khỏe mạnh, người ta đều sợ, bọn cướp lại sợ có người khác cùng tới cứu bèn tháo chạy.

Thương nhìn tới anh chị thì hai vế đều bị đốt cháy sém, bèn đỡ lên giường, gọi bọn gia nhân tới trông coi rồi về.

Thương anh tuy bị thương nhưng của cải không mất mát tí gì, bèn nói với vợ:

- Nay mà còn được của cải là nhờ chú nó, phải chia ra giúp đỡ cho chú ấy.

Vợ nói:

- Nếu anh có anh em tốt thì đã không phải chịu khổ như thế.

Thương cũng im lặng.

Thương trong nhà hết cả cái ăn, nghĩ rằng ắt anh sẽ báo đáp chút ít nhưng lâu quá vẫn không thấy tăm hơi gì.

Vợ không chờ được, sai con mang túi qua vay, mang được một đấu gạo về, vợ Thương tức giận muốn đem trả, Thương cản lại.

Qua hai tháng thì nghèo túng không còn cách nào xoay xở nữa, Thương nói:

- Nay không còn cách nào mưu sinh, chẳng bằng bán nhà cho anh, anh sợ ta đi chỗ khác có khi không nhận giấy tờ mà cấp cho tiền gạo chưa biết chừng.

Còn nếu không thế thì được chút ít tiền cũng còn sống được.

Vợ cho là đúng, sai con cầm giấy tờ nhà qua nói với Thưong anh, Thương anh nói với vợ:

- Cho dù chú nó bất nhân thì cũng là anh em của ta, chú ấy đi thì ta còn một mình, chẳng bằng trả lại giấy tờ nhà mà giúp đỡ cho chú ấy.

Vợ nói:

- Không phải thế, chú ấy nói đi là để dọa ta thôi, mà nếu đi thật thì chẳng lẽ những kẻ không có anh em trên đời đều chết ráo à?

Ta cứ đắp tường cho cao cho chắc để tự giữ, chẳng bằng cứ nhận giấy tờ nhà, cho chú ấy muốn đi đâu thì đi, cũng có thể mở rộng thêm nhà cửa.

Bàn định xong, bảo Thương làm giấy bán nhà rồi đưa tiền cho đi, từ đó Thương dời qua ở nơi khác.

Có bọn vô lại nghe tin Thương đã đi lại tới cướp nhà Thương anh, tra tấn đủ cách vô cùng thê thảm, có bao nhiêu tiền bạc đều phải dốc cả ra để chuộc mạng.

Bọn cướp ra, mở kho thóc gọi những nhà nghèo trong thôn tới xúc, trong khoảnh khắc đã hết sạch.

Hôm sau Thương mới nghe tin, chạy về xem thì anh đã hôn mê không nói gì được nữa, lát sau mở mắt nhìn em, lấy tay cào lên chiếu rồi tắt thở.

Thương phẫn uất thưa lên quan huyện nhưng bọn cướp đã trốn mất không thể truy tìm, những người cướp thóc thì có tới hàng trăm mà đều là nhà nghèo trong làng, quan cũng không biết làm sao.

Thương anh còn để lại một đứa con trai năm tuổi, lúc nhà đã nghèo thường tự tìm qua nhà chú ở, mấy ngày liền không chịu về, đưa về thì khóc ròng.

Vợ Thương rất không ưa, Thương nói:

- Cha mẹ nó bất nghĩa, chứ thằng nhỏ có tội gì?

Rồi mua cho vài cái bánh chưng dắt nó về.

Vài hôm sau lại lén giấu vợ con mang gạo đem cho chị dâu nuôi cháu, dần dần thành lệ thường.

Vài năm sau chị dâu bán nhà cũ của Thương anh được tiền cũng đủ sống nên Thương không lui tới nữa.

Sau gặp năm mất mùa, người ta chết đói đầy đường, nhà Thương lại thêm đông người nên không thể giúp đỡ ai được.

Năm ấy đứa cháu mười lăm tuổi, yếu ớt không làm ăn gì được, Thương sai xách giỏ theo anh bán bánh gai.

Một hôm Thương nằm mơ thấy anh tới, vẻ mặt thê thảm nói:

- Ta bị đàn bà mê hoặc làm mất tình anh em, mà em không nghĩ tới oán cũ khiến ta càng thêm xấu hổ.

Ngôi nhà cũ đã bán nay vẫn còn gian bên trái, em nên về đó ở, phía sau nhà có đám cỏ gai, bên dưới có hố vàng chôn, đào lên cũng đủ làm nhà giàu nhỏ.

Cho con ta theo sống với em, còn con mụ lắm điều kia thì ta rất ghét, đừng ngó ngàng gì tới.

Thương tỉnh dậy lấy làm lạ, bèn đem món tiền lớn tới nói với chủ nhà xin thuê ở, đào hố vàng chôn lên quả được năm trăm lượng, từ đó bỏ nghề nghiệp thấp hèn, sai cháu và con mở cửa hiệu buôn bán.

Đứa cháu rất thông minh, tính toán sổ sách không bao giờ lầm lẫn, tính lại thật thà phàm thu chi thì một đồng cũng thưa rõ, Thương càng thêm yêu mến.

Một hôm cháu vào khóc xin gạo cho mẹ, vợ Thương định không cho, Thương thấy cháu có hiếu bèn cấp gạo cho hàng tháng.

Vài năm nhà càng giàu lên, vợ Thương anh bị bệnh chết, Thương cũng già bèn chia gia sản làm đôi, cho cháu một nửa.

_____________________________________

CHƯƠNG 149: LỘC SỐ

Do Lai Lộc Mệnh Phú Sinh Sơ

Mệnh Tận Thiên Giao Lộc Hữu Dư

Lưu Dữ Lai Sinh Ưng Diệc Đắc

Hà Duyên Nhất Định Vị Tiêu Trừ

Dịch:

An Bà Từ Lúc Bẩm Sinh Ư

Mệnh Hết Riêng Cho Lộc Có Dư

Giành Lại Kiếp Sau Chừng Cũng Rứa

Mà Sao Nhất Định Phải Tiêu Trừ?



Mỗ giàu sang, thường làm những việc vô đạo.

Vợ thường lấy chuyện quả báo để khuyên can nhưng vẫn không nghe.

Gặp lúc có người thầy bói có thể biết số hưởng lộc của người, bèn tới gặp.

Người thầy bói nhìn kỹ rồi nói:

- Ông còn được ăn hai mươi thạch gạo, hai mươi thạch miến nữa thì hết lộc trời cho.

Y về nói với vợ, tính ra mỗi người một năm chỉ ăn hết hai thạch miến, mình còn được hai mươi năm hưởng lộc trời cho, há vì làm điều không tốt mà dứt được sao?

Rồi vẫn bậy bạ như cũ.

Được hơn một năm chợt mắc bệnh tiêu khát, ăn rất nhiều mà vẫn đói, một ngày ăn cả chục bữa cơm, chưa đầy một năm thì chết.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 150+151


CHƯƠNG 150: LA VÂN CÔNG CHÚA

Thổ Mộc Vi Tai Mạc Mạn Ta

Lục Niên Cầm Sắt Lạc Vô Nha

Tảo Vị Lang Tử Mưu Thâm Quyển

Thủy Tín Tiên Nhân Thiện Tác Gia

Dịch:

Thổ Mộc Gây Tai Há Kể A

Sáu Năm Cầm Sắt Đẹp Như Hoa

Sớm Gò Lang Tử Vào Khuôn Sẵn

Mới Biết Rằng Tiên Khéo Trị Gia



An Đại Nghiệp người Lư Long (huyện Vĩnh Bình tỉnh Hà Bắc), sinh ra đã biết nói, mẹ phải đổ máu chó cho uống mới hết.

Lớn lên đẹp trai chẳng ai bằng, lại thông minh học giỏi, các nhà thế gia tranh nhau hứa gả con gái cho.

Lúc đầu mẹ nằm mộng thấy thần báo:

- Con bà sẽ lấy công chúa!

Rất tin.

Nhưng khi An đã mười lăm mừơi sáu tuổi vẫn chưa thấy linh nghiệm, bà dần dần ăn năn mình tin mộng mị quàng xiên.

Một hôm, An đang ngồi một mình, chợt nghe thấy mùi huơng lạ, kế có một tỳ nữ xinh đẹp chạy vào nói:

- Công chúa tới!

Rồi lập tức trải thảm trên đất, suốt từ ngoài cổng vào thẳng trong nhà tới cạnh giường sinh ngồi.

An còn kinh ngạc hốt hoảng, đã thấy một nữ lang vịn vai tỳ nữ bước vào, y phục dung nhan sáng rực cả nhà.

Người tỳ nữ lót gối thêu nệm gấm lên giường rồi đỡ nữ lang ngồi xuống.

An kinh hoàng không biết làm sao, khom lưng nói:

- Người là thần tiên nơi nào giáng lâm?

Nữ lang mỉm cười lấy tay áo che miệng không đáp, người thị nữ nói:

- Đây là công chúa Vân La trong phủ Thánh hậu.

Vì Thánh hậu để ý tới lang quân, muốn cho công chúa kết duyên, nên công chúa tự tới xem nhà cửa đó.

An vừa mừng vừa sợ không biết nói gì, nữ lang cũng cúi đầu, ngồi đối diện nhau im lặng.

An vốn thích đánh cờ vây, bàn cờ thường để bên cạnh.

Một tỳ nữ lấy khăn hồng lau bụi, đặt lên bàn nói:

- Thường ngày công chúa thích trò chơi này, không biết so với Phò mã thì ai hơn?

An dời ghế tới gần bàn.

Công chúa cười ưng thuận, đi được độ ba chục nuớc, tỳ nữ xóa bàn cờ nói:

- Thôi Phò mã thua rồi!

Rồi nhặt con cờ cất vào hộp, nói:

- Phò mã đúng là tay cao cờ ở phàm trần, công chúa chỉ nhường được sáu con thôi.

Liền bỏ sáu con cờ đen ra khỏi bàn, công chúa cũng ưng thuận.

Lúc công chúa ngồi đánh cờ, sai tỳ nữ ngồi dưới đưa lưng cho nàng gác chân, chân trái thòng xuống đất thì một tỳ nữ khác phục xuống đỡ, lại có hai a hoàn nhỏ đứng hầu.

Lúc An ngẫm nghĩ nước cờ thì nàng co tay gác lên vai ngồi đợi.

Ván cờ chưa phân thắng phụ, a hoàn nhỏ cười nói:

- Phò mã thua một con!

Người tỳ nữ bước lên nói:

- Công chúa đã mệt, nên nghỉ thôi!

Công chúa nghiêng mình ghé vào tai tỳ nữ nói nhỏ, tỳ nữ bước ra, chốc lát quay vào, đặt ngàn đồng vàng lên giường nói với sinh rằng:

- Mới rồi Công chúa nói nhà cửa ẩm thấp chật chội, phiền lang quân dùng số tiền mọn này sửa sang, lúc nào xong sẽ gặp nhau.

Một tỳ nữ nói:

- Tháng này phạm vào sao Thiên hình, không nên xây cất, tháng sau thì tốt.

Công chúa đứng dậy, sinh ngăn lại đóng cổng, tỳ nữ lấy ra một vật như cái túi bằng da, đặt xuống đất gõ vào, chợt có hơi mây tỏa ra, trong khoảnh khắc tụ lại che kín bốn bề không nhìn thấy gì cả, khi tan thì mọi người đã biến mất.

Mẹ sinh biết chuyện, ngờ là yêu quái.

Nhưng sinh mơ tuởng không khuây, vội lo sửa sang nhà cửa không nề việc kiêng kỵ, thúc giục ngày đêm, phòng ốc cổng nẽo mới hẳn.

Trước đó có người học trò ở huyện Loan Châu (tỉnh Hà Bắc) tên Viên Đại Dụng tối ngụ ở xóm bên, đưa danh thiếp tới nhà xin ra mắt.

Sinh vốn ít giao du nên nói thác là đi vắng, lại chờ lúc Viên không có ở nhà trọ qua thăm đáp lễ.

Hơn tháng sau, tình cờ gặp nhau ngoài cổng, thấy là một thiếu niên hơn haì muơi tuổi, áo mỏng giày đen, phong thái nhàn nhã.

An trò chuyện qua loa, thấy ôn hòa lễ độ thích lắm bèn mời vào nhà chơi cờ, ván được ván thua.

Kế dọn rượu giữ chân, trò chuyện rất vui vẻ.

Hôm sau Viên mời sinh tới chỗ mình trọ, dọn đủ thức ngon vật lạ, tiếp đãi ân cần, có đứa tiểu đồng khoảng mười hai muời ba tuổi gõ nhịp ca hát và nhảy múa giúp vui Sinh say quá đi không nổi, Viên sai nó cõng về.

Sinh cho rằng nó nhỏ yếu, sợ không cõng nổi, nhưng Viên cứ ép bảo để nó cõng, quả nhiên nó cõng sinh về tới nhà rất nhẹ nhàng.

Sinh lấy làm lạ, hôm sau đem tiền qua thuởng, nó từ chối mấy lần mới nhận.

Từ đó An cùng Viên ngày càng thân thiết, vài ngày lại gặp nhau một lần.

Viên là người giản dị kín đáo nhưng khẳng khái thích giúp người.

Ở chợ có kẻ thiếu tiền phải đem con gái gán nợ, Viên trút túi trả thay không chút tiếc rẻ, sinh vì thế càng thêm kính trọng.

Vài hôm sau, Viên tới từ giã sinh, tặng cho các loại đũa ngà chén ngọc, tất cả hơn mười món, lại thêm năm trăm đồng vàng giúp vào việc sửa nhà.

Sinh trả vàng nhận vật, rồi đưa vải lụa tặng lại.

Hơn tháng sau, huyện Lạc Đình (tỉnh Hà Bắc) có người làm quan về hưu mang theo rất nhiều tiền của, nửa đêm bị cướp vào nhà bắt trói, nung sắt tra khảo cướp sạch cả.

Nguời nhà biết là Viên, báo quan phát lệnh đi khắp nơi tróc nã.

Láng giềng có họ Đồ vốn xích mích với nhà sinh, thấy sinh xây nhà dựng cửa, bụng thầm ghen tức.

Nhân có đứa tiểu đồng của sinh lấy trộm đũa ngà đem tới bán, y biết là vật của Viên tặng liền báo quan huyện.

Quan huyện sai lính về vây gặp lúc chủ tớ sinh đều vắng nhà, bèn trói mẹ sinh giải đi.

Bà mẹ đã già yếu lại bị cơn hoảng sợ, chỉ còn thở thoi thóp, hai ba ngày liền không ăn uống gì, quan bèn thả về.

Sinh nghe tin vội về nhà thì bệnh mẹ đã trở nặng, qua đêm thì mất.

Vừa liệm xác xong thì sai dịch đã tới bắt sinh đi.

Quan huyện thấy sinh tuổi trẻ văn nhã, thầm nghĩ là bị vu oan, bèn cố ý quát nạt, sinh cũng thật tình khai hết đầu đuôi chuyện kết bạn với Viên.

Quan hỏi tại sao đột nhiên trở nên giàu có, sinh đáp:

- Mẹ ta có ít nhiều tiền của chôn giấu, nay ta sắp lấy vợ nên xây nhà để làm đám cưới thôi.

Quan huyện tin lời, viết tờ bẩm sai giải sinh lên quận.

Gã họ Đồ biết là sinh sẽ vô sự, đem nhiều tiền đút lót cho lính áp giải để chúng giết sinh trên đường đi.

Đường lên quận phải qua núi vắng, chúng kéo sinh tới bờ vực sâu toan xô xuống.

Đang lúc nguy cấp chợt có một con cọp trong bụi rậm nhảy ra, vồ chết hai tên lính rồi tha sinh đi.

Tới một nơi lâu đài nguy nga, cọp đem sinh vào đặt xuống, thấy công chúa Vân La vịn vai thị nữ ra đón, buồn rầu an ủi, nói:

- Thiếp muốn giữ chàng ở lại nhưng việc tang lễ của mẹ chưa xong, chàng nên đem tờ bẩm lên quận tự nộp mình, chắc chắn là vô sự.

Rồi cầm lấy sợi đai lưng trước bụng sinh, thắt lại hơn mười nút, dặn:

- Lúc gặp quan, cứ nắm lấy những cái nút này mở ra, tai nạn sẽ tiêu tan.

Sinh theo lời, tới quận nộp mình.

Quan Thái thú vui vì sinh thành tín, lại xem tờ bẩm, biết là bị oan, bèn tha cho sinh về.

Sinh về được nửa đường thì gặp Viên, xuống ngựa cầm tay, kể lể tình cảnh, Viên nổi giận biến sắc im lặng không nói câu nào.

Sinh nói:

- Phong thái như ông sao lại tự làm chuyện nhơ danh như vậy?

Viên đáp:

- Ta giết toàn là hạng bất nhân, ta cướp toàn là của phi nghĩa, nếu không thì dù là tiền rơi trên đường cũng không nhặt đâu.

Lời ông dạy ta đó vốn rất hay, nhưng hạng người như gã hàng xóm của ông há lại có thể để cho sống trên đời sao?

Nói xong lên ngựa đi thẳng.

Sinh về chôn cất mẹ xong, đóng cửa tạ khách.

Bỗng một đêm cướp vào nhà hàng xóm, giết sạch hơn mười cha con, chỉ chừa lại một người tớ gái, lấy hết tiền của, chia cho đứa tiểu đồng cùng xách.

Lúc ra đi còn cầm đèn nói với người tớ gái:

- Ngươi nhìn cho rõ nhé!

Kẻ giết người là ta đây, không dính líu gì tới ai cả.

Rồi không mở cửa, phi thân nhảy lên mái nhà, vượt qua tường đi mất.

Hôm sau tin báo lên quan, quan ngờ sinh biết chuyện, lại bắt lên quát tháo căn vặn rất dữ tợn.

Sinh ra trước công đường nắm lấy sợi đai lưng thắt nút, vừa phân trần vừa mở nút ra, quan không vặn vẹo được gì, lại tha cho về.

Về tới nhà sinh lại càng náu hơi kín tiếng, cứ ở nhà đọc sách không ra khỏi cửa, chỉ có một bà già khập khiễng lo việc cơm nước mà thôi.

Mãn tang xong, ngày ngày sinh quét dọn nhà cửa để đợi tin vui.

Một hôm, nghe có mùi hương lạ thơm ngát cả nhà, lên gác xem thì thấy trong ngoài đều trần thiết rực rỡ, cuốn rèm lên thì công chúa đã trang điểm lộng lẫy ngồi đó rồi.

Sinh vộỉ vái chào, nàng giữ tay lại nói:

- Chàng không tin số mệnh, khiến việc xây nhà gây ra tai vạ, lại thêm tang mẹ, làm trễ duyên cầm sắt của chúng ta mất ba năm, đó là gấp gáp lại phải muộn màng, việc đời đại để đều như thế.

Sinh toan lấy tiền đi chợ, nàng nói:

- Không cần đâu!

Thị nữ lấy trân hào mỹ tửu trong rương ra bày lên, thức ăn còn nóng như vừa nấu nướng xong, rượu cũng thơm lừng nóng hổi.

Uống rượu một lúc thì trời tốì, đám thị nữ hầu hạ đều lui ra hết.

Nàng nằm soãi hết tay chân, đong đưa vế đùi, như không che đậy gì cả, sinh liền ôm lấy nàng.

Nàng nói:

- Chàng buông tay ra đã.

Bây giờ có hai cách, tùy chàng chọn lựa.

Sinh ôm cổ nàng hỏi hai cách nào, nàng đáp:

- Nếu hai ta làm bạn ly rượu cuộc cờ thì được sum vầy ba mươi năm, còn nếu vui thú chăn loan gối phụng thì chỉ được sum họp sáu năm thôi, chàng chọn cách nào?

Sinh đáp:

- Sáu năm nữa sẽ bàn tiếp!

Nàng im lặng, rồi cùng sinh vui thú.

Nàng nói:

- Thiếp vốn biết chàng không thể tránh được thói trần tục, cũng là số vậy.

Rồi bảo sinh nuôi thêm vú già tớ gái, cho ở riêng gian nhà phía nam, nấu cơm hầu chủ, dệt vải nuôi thân.

Trong gian nhà phía bắc tịnh không bếp núc, chỉ có bàn cờ bình rượu, cửa thường đóng kín.

Sinh đẩy thì tự mở, người khác thì không vào được.

Những người ở gian nhà phía nam siêng năng lười nhác ra sao nàng đều biết rõ, mỗi khi bảo sinh qua quở trách thì ai cũng phải nhận lỗi.

Nàng không nói nhiều lời, không cười lớn tiếng, cùng sinh nói chuyện chỉ cúi đầu cười khẽ, những khi cùng ngồi, thì thích dựa vào sinh.

Có lần sinh bế nàng đặt lên đầu gối, thấy nhẹ như trẻ nít, bèn nói:

- Nàng nhẹ thế này, có thể đứng trên bàn tay mà múa được.

Nàng đáp:

- Chuyện đó có gì khó, có điều chỉ là việc của đám gái hầu, thiếp không thèm làm thôi.

Như Phi Yến nguyên là thị nữ của chị Chín thiếp, hay lẳng lơ mà có tội, bị đày xuống trần gian, lại không giữ trinh tiết, nên hiện đang bị giam trong ngục tối.

*[Phi Yến: tức Triệu Phi Yến, mỹ nhân trong hậu cung của Đường Minh hoàng, vóc ngườí nhỏ nhắn mềm mại, tương truyền có thể đứng trên bàn tay người ta mà múa].

Trên gác trải đầy đệm gấm, mùa đông không mấy lạnh, mùa hè chẳng mấy nóng, cô gái thì ngay giữa mùa đông lạnh buốt cũng mặc áo nhẹ.

Sinh may áo mới ép nàng mặc thì chốc lát lại cởi ra, nói:

- Vật phàm ô trọc, mặc nữa thì đè vào xương thành bệnh lao mất.

Một hôm sinh bế nàng lên gối thấy nặng khác hẳn mọi khi, lấy làm lạ.

Nàng cười chỉ vào bụng nói:

- Trong này có giống phàm tục rồi!

Cách mấy hôm sau, nàng cau mày bỏ ăn, nói:

- Gần đây trong người khó chịu, cứ thèm những thức nấu nướng.

Sinh bèn tìm những thức ngon về, từ đó nàng ăn uống không khác gì người thường.

Một hôm nàng nói:

- Thiếp vốn yếu ớt, không thể sinh nở, con thị nữ Phàn Anh khỏe mạnh, vậy để nó thay.

Rồi cởi áo lót mặc cho Phàn Anh, đẩy vào phòng.

Giây lát nghe tiếng trẻ con khóc mở cửa vào xem thì là con trai, mừng nói:

- Thằng nhỏ này có phúc tướng, là vật quý đây.

Nhân đó đặt tên là Đại Khí.

Nàng trao cho sinh bế, bảo đưa người tỳ nữ về ở chung với bà vú ở gian nhà phía nam.

Nàng sinh nở xong, eo lưng lại nhỏ lại như trước, không ăn những thức nấu nướng nữa.

Bỗng từ biệt sinh về thăm nhà, hỏi đi bao lâu, nàng đáp ba ngày, rồi gõ vào cái túi da tuôn mây biến mất như lần trước.

Đến kỳ hẹn không thấy về, hơn năm liền bặt luôn tin tức, sinh đã tuyệt vọng, bèn đóng cửa đọc sách, kế thi đỗ Cử nhân nhưng vẫn không chịu lấy vợ, hàng đêm vẫn ngủ một mình ở gian nhà phía bắc, ôm ấp hương thừa.

Một đêm đang trằn trọc trên giường chợt có ánh đèn soi qua cửa sổ, cửa phòng cũng tự mở, bọn thị nữ xúm xít đỡ công chúa vào.

Sinh mừng rỡ vùng dậy trách móc sai hẹn, nàng nói:

- Thiếp còn chưa đến hẹn đâu, mới ở trên trời có hai ngày rưỡi thôi.

Sinh đắc ý khoe chuyện thi đỗ, cho rằng công chúa ắt mừng, nhưng nàng buồn bã nói:

- Cái danh vọng thoảng qua đó thì có đáng gì?

Chẳng đủ bàn chuyện nhục vinh mà còn làm người ta tổn thọ.

Mới ba ngày không gặp mà chàng đã sa vào tục lụy sâu thêm một tầng nữa rồi.

Sinh vì thế không thi cử gì nữa.

Vài tháng sau nàng lại định về thăm nhà, sinh buồn rầu không muốn, nàng nói:

- Chuyến này nhất định thiếp sẽ về sớm, không để chàng phải mỏi mắt trông chờ đâu.

Vả lại kiếp người tan hợp đều có định số, tính toán thì thấy dài, lơ là thì thấy ngắn thôi.

Rồi đi, hơn một tháng trở về, từ đó cứ sáu tháng một năm lại đi một lần, vài tháng lại về, sinh quen lệ cũng không thấy lạ nữa.

Kế nàng lại sinh thêm một đứa con trai, bế lên nhìn, nói:

- Thằng này sài lang!

Bảo nên vứt đi lập tức, nhưng vì sinh không nỡ nên vẫn giữ lại nuôi, đặt tên là Khả Khí.

Vừa mới đầy năm nàng đã vội tìm hỏi vợ cho nó, các bà mai mối lui tới nườm nượp, nhung nàng hỏi ngày sinh tháng đẻ đều cho là không hợp, nói:

- Ta muốn làm sẵn một cái chuồng sắt cho thằng con sài lang này mà không được, phải để nó ăn tàn phá hại sáu bảy năm, âu cũng là số.

Rồi dặn sinh rằng:

- Chàng nhớ bốn năm nữa họ Hầu sẽ sinh một đứa con gái, sườn bên trái có cái bớt nhỏ thì đúng là vợ của thằng nhỏ này đấy, phải hỏi cưới cho nó, đừng so đo chuyện môn đăng hộ đối gì cả.

Nói xong bắt viết ngay vào giấy cho khỏi quên.

Sau nàng về thăm nhà, đi luôn không trở lại nữa.

Sinh thường đem lời vợ dặn cậy nhờ bạn bè thân thích dò hỏi, quả có đứa con gái họ Hầu sinh ra đã có cái bớt ở sườn, họ Hầu là người hèn hạ mà hành vi xấu xa, mọi người đều coi thường, nhưng sinh vẫn nhờ người mối lái hỏi cưới đứa con gái ấy cho Khả Khí.

Đại Khí mười bảy tuổi đã thi đỗ, cưới vợ họ Vân, vợ chồng đều hiếu hạnh, cha rất yêu thuơng.

Còn Khả Khí thì lớn lên không thích học hành, chỉ lén lút dong chơi cờ bạc với bọn vô lại, dần dà lấy trộm cả đồ vật đem bán để chơi bời.

Cha giận đánh nhưng vẫn không chừa, bèn dặn ngườì nhà để ý giữ gìn, Khả Khí không lấy gì được bèn nửa đêm ra khỏi nhà trộm cắp lặt vặt, bị chủ nhà bắt trói dẫn lên huyện.

Quan huyện hỏi họ tên, viết danh thiếp cho về nhà, cha và anh cùng trói lại, cha đánh cho một trận gần chết, anh phải lạy lục năn nỉ hộ mới được tha.

Cha tức giận sinh bệnh, ăn không thấy ngon, bèn làm giấy tờ chia của cho hai con, những nhà lầu ruộng tốt đều về phần Đại Khí.

Khả Khí căm tức nửa đêm cầm dao vào phòng toan giết anh, nhưng chém lầm phải chị dâu.

Trước công chúa có để lại chiếc áo rất nhẹ và mềm, Vân thị lấy làm áo ngủ, Khả Khí chém trúng nảy lửa tung tóe nên hoảng sợ bỏ chạy.

Cha biết chuyện, bệnh càng nặng thêm, vài tháng thì chết.

Khả Khí nghe tin cha mất mới mò về, anh vẫn đối xử rất tốt nhưng Khả Khí ngày càng buông thả, hơn một năm ruộng vườn nhà cửa được chia cho đã phá tán gần hết, rồi lên phủ kiện anh.

Quan hỏi biết là người ra sao nên đuổi về, anh em từ đó dứt hết tình nghĩa.

Được hơn năm, Khả Khí hai mươi ba tuổi, con gái họ Hầu thì mười lăm.

Anh nhớ lời mẹ, muốn cưới gấp cho em, liền gọi Khả Khí tới cắt gian nhà đẹp cho ở.

Khi đón dâu về, lại đem tất cả văn tự những ruộng tốt cha để lại giao cho, nói:

- Mấy đám ruộng xấu này, bấy lâu ta sống chết cố giữ cho thím, nay giao cả cho đấy.

Em ta mất nết, cho nó một cọng cỏ cũng uổng phí.

Từ nay về sau, nên hư là do em dâu.

Nếu giúp nó sửa nết được thì không lo gì đói rét, bằng không thì anh cũng không thể nào lấp đầy cái vực sâu không đáy kia được.

Hầu nữ tuy là con nhà hèn mọn, nhưng thông minh có sắc.

Khả Khí vừa yêu vừa sợ, nàng bảo làm gì cũng không dám trái ý, đi đâu về không đúng giờ thì nàng nhiếc mắng, không thèm ngồi ăn chung, Khả Khí vì vậy cũng bớt lêu lổng.

Hơn một năm sinh được một trai, vợ nói:

- Từ nay chẳng phải cầu cạnh gì ai nữa.

Có mấy đám ruộng tốt, mẹ con lo gì không no ấm, không có chồng cũng chẳng sao.

Có lần Khả Khí trộm lúa đi đánh bạc, vợ biết được, cầm cung tên chận ở cổng.

Khả Khí sợ quá núp trốn, rình lúc vợ vào nhà rồi, lại mon men trở vào.

Vợ vung dao xông ra, Khả Khí bỏ chạy, vợ đuổi theo chém trúng mông, máu tuôn ướt cả giày tất, uất quá tới mách anh, nhưng anh tỏ vẻ khinh bỉ, đành hổ thẹn tức tối đi ra.

Qua đêm lại tới, quỳ trước mặt chị dâu khóc lóc, nhờ nói giùm với vợ, nhung vợ vân nhất định không cho vào nhà.

Khả Khí nổi giận đòi giết vợ, anh im lặng, Khả Khí uất ức chồm dậy xách mác đi thẳng ra cửa.

Chị dâu sững sờ, định đuổỉ theo ngăn lại, nhưng anh đưa mắt ra hiệu bảo đừng, chờ đi khuất mới nói:

- Nó làm ra vẻ thế thôi, chứ thật ra không dám về đâu.

Sai người theo xem thì Khả Khí đã vào cổng rồi.

Anh hơi biến sắc, vội chạy mau theo thì Khả Khí đã lặng ngắt đi ra.

Té ra Khả Khí vào tới nhà thì vợ đang đùa với con, nhìn thấy chồng liền thảy con xuống giường, vớ con dao bổ củi lao ra.

Khả Khí sợ hãi kéo lê ngọn mác bỏ chạy, vợ đuổi ra tới ngoài ngõ mới quay vào.

Anh biết rõ sự tình nhưng vẫn cố ý hỏi han, Khả Khí chỉ quay đi mà khóc, hai mắt sưng húp.

Anh động lòng thương, tự dắt Khả Khí vào nhà, vợ mới chịu cho vào ở.

Chờ anh về rồi, phạt Khả Khí phải quỳ, bắt phải thề độc rồi bắt ăn cơm bằng tô sành, từ đó mới bỏ nết cũ làm điều lành.

Vợ lại biết tính toán làm ăn, trong nhà ngày càng dư dật, Khả Khí chỉ có việc ngổi ăn mà thôi.

Về sau đến năm bảy muơi tuổi, con cháu đầy nhà mà có khi vợ vẫn nắm râu bắt quỳ.

______________________________________

CHƯƠNG 151: CHÂN HẬU

Đương Niên Bình Thị Khả Phân Minh

Tu Đáo Trùng Phùng Hựu Kỳ Sinh

Bất Tín Lạc Xuyên Cựu Thần Nữ

Trần Tư Nhi Ngoại Cánh Chung Tình

Dịch:

Năm Xưa Nhìn Thẳng Khá Phân Minh

Cũng Khéo Tu Nên Gặp Tái Sinh

Thần Nữ Lạc Xuyên Ai Tưởng Nhỉ

Ngoài Trần Tư Lại Có Chung Tình



Lưu Trung Kham ở huyện Lạc Thành (tỉnh Hà Nam) lúc trẻ ngu độn nhưng say mê sách vở, thường đóng cửa học tập, không giao thiệp với người ngoài.

Một hôm đang đọc sách, chợt ngửi thấy mùi hương lạ thơm nức cả phòng, kế có tiếng vòng ngọc khua rất gấp, giật mình ngoảnh nhìn thì thấy một mỹ nhân bước vào, trâm vòng sáng rỡ, nguời theo hầu đều ăn mặc lối cung nữ.

Lưu hoảng sợ lạy phục xuống đất, mỹ nhân đỡ lên nói:

- Tại sao chàng lại trước khinh nhờn mà sau cung kính?

Lưu càng sợ hãi, nói:

- Người là thiên tiên ở đâu ta còn chưa được biết, vậy trước đây ta xúc phạm lúc nào?

Mỹ nhân cười nói:

- Chia tay đã được bao lâu?

Kẻ bỉ cách chức mải miết ngồi cao mài gạch không phải là chàng sao?

Rồi mở túi gấm lấy rượu quỳnh tuơng ra bày tiệc, giục Lưu ngồi xuống đối ẩm, cùng bàn chuyện kim cổ, thông tuệ phi thường.

Lưu mờ mịt không biết đối đáp ra sao, mỹ nhân nói:

- Ta chỉ tới dự tiệc ở Dao Trì có một lúc mà chàng đã trảí qua mấy kiếp, hết cả thông minh rồi.

Bèn sai người hầu lấy nước nóng hoà với cao Thủy Xương dâng lên, Lưu nhận lấy uống cạn, chợt thấy tâm thần nhẹ nhõm, đầu óc sáng láng.

*[Mài gạch: dịch chữ “ma chuyên”, lấy từ tích “Lưu Trinh ma thạch" (Lưu Trinh mài đá).

Lưu Trinh là người thời Tam quốc, thông minh mẫn tiệp, học rộng biết nhiều, làm Tùng sự cho Thế tử Tào Phi, con Tào Tháo.

Trước đó Phi theo Tháo đi đánh Viên Thiệu, bát được vợ Viên Hy tức con dâu Thiệu là Chân thị, dung mạo rất xinh đẹp bèn mang về nạp làm Chính phi.

Sau Phi cướp ngôi nhà Hán lên làm vua, phong Chân thị làm Hoàng hậu.

Khi Phi còn là Thế tử có lần uống rượu cùng các quan say rồi gọi Chân thị ra chào tân khách, mọi người đều quỳ rạp không ai dám ngẩng nhìn, chỉ nêng Lưu Trinh vẫn nghiễm nhiên ngồi ngó.

Hôm sau Phi tỉnh rượu nhớ lại, giận Trinh vô lễ bèn cách chức bắt ra quán Thượng Phương mài đá].

Lát sau trời tối, người theo hầu tản đi hết, mỹ nhân tắt đèn cởi áo, cùng Lưu vui thú.

Trời chưa sáng, đám gái hầu đã tới tụ tập, mỹ nhân trở dậy ăn vận như cũ, riêng đầu tóc vẫn tề chỉnh không phải chải lại.

Lưu nằn nì hỏi họ tên, mỹ nhân đáp:

- Nói ra cũng không hề gì, chỉ e chàng thêm ngờ sợ mà thôi.

Thiếp là Chân hậu, chàng là hậu thân của Công Cán.

Ngày trước chàng vì thiếp mà bị tội, nên trong lòng thiếp thấy bất nhẫn.

Cuộc gặp gỡ hôm nay cũng tạm gọi là để báo đáp mối tình si vậy.

Lưu hỏi Ngụy Văn hiện ở đâu, mỹ nhân đáp:

- Tào Phi chẳng qua chỉ là đứa con tầm thường của lão cha làm giặc, thiếp ngẫu nhiên gặp kẻ phú quý thì theo chơi đùa vài năm, chuyện qua rồi cũng chẳng lưu luyến gì.

Trước đây y vì việc của A Man nên bị giam cầm lâu ngày dưới U minh, hiện nay không rõ ra sao.

Nhung Trần Tư thì giữ chức coi sổ sách cho Thượng đế, thỉnh thoảng thiếp cũng có gặp.

Kế có cỗ kiệu rồng tới dừng trong sân, mỹ nhân bèn rút chiếc nhẫn ngọc tặng Lưu rồi từ giã lên kiệu, mây đưa mù cuốn mà đi.

Lưu từ đó học hành tấn tới nhưng nhớ nhung người đẹp, thẫn thờ như ngây.

*[Ngụy Văn: tức Tào Phi, cướp ngôi nhà Hán dựng ra nhà Ngụy thời Tam quốc, được nhà Ngụy tôn là Ngụy Văn đế].

*[A Man: tên tự của Tào Tháo lúc nhỏ, đây dùng với ý khinh bỉ].

*[Trần Tư tức Tào Thực, em Tào Phi, rất thông minh tài giỏi.

Khi Tào Phi lên ngôi vương thay cha là Tào Tháo, ghét tài Thục nên phong làm Trần Tư vương, bắt phải đi xa kinh đô].

Vài tháng sau thì héo hon như sắp chết, mẹ không biết vì sao, lấy làm lo lắng.

Chợt có một bà già trong nhà hỏi Lưu:

- Lang quân đang nhớ nhung ai lắm phải không?

Lưu thấy lời nói hơi đúng, không giấu được nên ậm ừ.

Bà già nói:

- Lang quân cứ viết một phong thư, ta có thể mời tới cho.

Lưu vừa sợ vừa mừng, nói:

- Bà có thuật lạ mà trước nay cứ bị vùi chôn giữa đám người tầm thường, nếu quả mời được tới đây thì ta không dám quên ơn.

Bèn viết thư đưa, bà già ra đi, nửa đêm trở về nói với Lưu:

- May mà không hỏng việc.

Ta vừa tới cổng, người gác cho là yêu quái định bắt trói.

Ta bèn đưa thư của lang quân ra, y cầm vào rồi lát sau ra gọi ta vào trong.

Phu nhân cũng ngậm ngùi than thở, nói rằng không thể gặp lại, cũng định viết thư trả lời, nhưng ta thưa rằng lang quân ốm nặng, không phải một lá thư mà chữa khỏi được.

Phu nhân nghĩ ngợi một lúc rồi buông bút nói "Vậy xin phiền báo trước với chàng Lưu rằng ta sẽ đưa ngay tới cho chàng một người vợ đẹp".

Lúc ta ra về lại dặn dò rằng đây là việc trăm năm, không được nói lộ ra mới có thể sống với nhau lâu dài.

Lưu mừng rỡ hứa sẽ theo lời.

Sáng hôm sau quả có bà lão dắt một cô gái dung nhan tuyệt đẹp tới gặp mẹ Lưu, tự xưng là họ Trần, cô gái là con ruột, tên Tư Hương, xin đem gả cho Lưu.

Mẹ Lưu rất thích cô gái, bàn việc sính lễ, nhưng họ Trần không đòi hỏi tiền bạc gì cả, qua đám cưới là đi.

Lưu ngầm biết là việc lạ hỏi riêng cô gái là có quan hệ thế nào với phu nhân.

Nàng đáp:

- Thiếp là con hát cũ ở đài Đồng Tước.

Lưu ngờ là ma, nàng nói:

- Không phải đâu.

Thiếp và phu nhân đều có tên trong sổ tiên, nhưng vô tình mắc tội cùng bị đày xuống nhân gian.

Phu nhân đã về ngôi cũ, thiếp thì chưa hết hạn bị phạt nhưng phu nhân xin với Thiên tào cho thiếp theo để sai phái, mọi việc đều chỉ phải theo lệnh của phu nhân, vì vậy cũng thường được gần gũi hầu hạ người.

*[Đài Đồng Tước: cuối thời Hán, Tào Tháo nắm quyền Thừa tướng, khuynh loát triều đình.

Có người đào được con chim sẽ bằng đồng dâng lên, Tháo cho là điềm lành nên sai dựng một ngôi đài cao, gọi là đài Đồng Tước, đưa các tỳ thiếp về đó ở.

Trước khi chết, Tháo đem những hương liệu quý cất riêng ra chia cho họ làm vốn, dặn là hãy làm nghề khâu giày mà sống, có ý muốn họ không đi lấy chồng khác, giữ lòng chung thủy với mình].

Một hôm có bà già mù dắt con chó vàng tới nhà xin ăn, gõ phách ca hát.

Cô gái vừa bước ra xem thì con chó giật đứt dây xông vào cắn.

Nàng hoảng sợ bỏ chạy thì tà áo đã bị cắn đứt.

Lưu vác gậy đuổi theo đập, con chó càng giận dữ nhai xé manh áo dứt được, trong chớp mắt đã nát vụn ra.

Bà già mù nắm lông gáy nó rồi buộc lại dắt đi.

Lưu vào thăm thấy cô gái vẫn còn đầy vẻ sợ sệt, bèn nói:

- Nàng là người tiên, sao còn sợ chó?

Nàng đáp:

- Chàng không biết, chứ con chó ấy là lão A Man hóa thân, giận thiếp không tuân theo lời dặn lúc chia hương đấy.

Lưu định mua con chó để đập chết, nàng nói:

- Không được đâu.

Thượng đế phạt y như vậy, đâu được giết càn.

Được hai nãm, ai gặp cô gái cũng kinh ngạc vì thấy nàng quá đẹp, mà hỏi tới lai lịch thì rất mơ hồ, nên đều ngờ nàng là yêu quái.

Mẹ hỏi, Lưu cũng nói qua loa về chuyện lạ.

Mẹ cả bảo phải bỏ vợ nhưng Lưu không nghe.

Mẹ bèn ngầm mời thuật sĩ tới làm phép ở sân, vừa chỉ đất dựng đàn thì cô gái đà buồn bã nói:

- Vốn hẹn ước sống với nhau đến lúc bạc đầu, nay mẹ già đã ngờ vực thì tự rõ đã hết tình nghĩa rồi.

Có điều muốn thiếp tự đi cũng không khó, chứ loại bùa chú ấy mà sai khiến nổi thiếp à!

Rồi bó củi châm lửa ném xuống dưới bậc thềm, trong chớp mắt khói mù toả ra che kín cả phòng ốc, đối diện không nhìn thấy mặt nhau.

Kế có tiếng nổ ầm ầm như sấm sét, rồi màn khói tan đi nhìn lại thì thuật sĩ đã bảy khiếu đổ máu chết rồi.

Vào phòng tìm thì cô gái đã biến mất, gọi bà già lên hỏi cũng không rõ đã đi đâu rồi.

Lúc ấy Lưu mới kể lại cho mẹ biết rằng bà ta là hồ.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 152+153


CHƯƠNG 152: HOẠN NƯƠNG

Nguyện Thinh Nhã Tấu Bái Môn Tường

Ám Lý Lương Duyên Loát Hợp Mang

Tú Các Phần Hương Thắm Man Hậu

Phân Minh Nhất Khúc Phượng Cầu Hoàng

Dịch:

Nhã Tấu Nghe Mong Thụ Giáo Lâu

Duyên Lành Ngầm Vội Tác Thành Mau

Đốt Hương Lầu Thúy Buông Màn Đợi

Réo Rắt Phân Minh Khúc Phượng Cầu



Ôn Như Xuân là con nhà thế gia ở đất Tần (tỉnh Thiểm Tây, lúc nhỏ say mê đàn cầm, dù đi xa nhà cũng không rời tay.

Có lần tới đất Tấn (tỉnh Sơn Tây), đi ngang một ngôi chùa cổ, buộc ngựa ngoài cổng vào nghỉ chân.

Vào trong thì thấy có một vị đạo nhân mặc áo vải ngồi xổm ở hành lang, dựng cây gậy trúc vào vách, đeo một chiếc túi đựng đàn bằng vải bông thêu.

Ôn thấy đúng sở thích, nhân hỏi:

- Đạo sĩ cũng giỏi đàn cầm sao?

Đạo nhân đáp:

- Thật rất không giỏi, chỉ mong gặp người giỏi để học thôi.

Rồi mở túi lấy đàn ra trao cho Ôn, Ôn nhìn thì thấy vân gỗ rất đẹp, dạo thử một câu thấy tiếng trong vang lạ thường, thích thú đàn luôn một khúc ngắn.

Đạo sĩ cười khẽ như có ý chê là chưa giỏi, Ôn bèn trổ hết tài nghệ.

Đạo nhân nhếch mép nói:

- Cũng hay, cũng hay, nhưng chưa đủ để làm thầy của bần đạo.

Ôn cho là có ý khoa trương, bèn trao lại đàn xin được nghe thử.

Đạo nhân tiếp lấy đàn đặt lên đầu gối, vừa mới bật vài tiếng đã thấy gió mát thoảng tới, giây lát thì hàng trăm loài chim tới tụ họp, đậu kín trên cây trước sân chùa.

Ôn vô cùng kinh ngạc, sụp lạy xin theo học.

Đạo nhân đàn lại ba lần, Ôn chăm chú lắng nghe, bắt đầu hiểu được tiết tấu.

Đạo nhân bảo đàn lại thử, chỉ thêm những chỗ sai rồi nói:

- Bấy nhiêu là ở trần gian không ai bằng rồi đấy!

Ôn từ đó chuyên tâm tập luyện, nổi tiếng là tuyệt kỹ.

Sau Ôn trở về đất Tần, còn cách nhà vài mươi dặm thì trời tối mưa to, không có chỗ nào nghỉ đêm.

Thấy cạnh đường thấy có một xóm nhỏ liền rảo bước tới, không kịp hỏi han chọn lựa, thấy một cái cổng thì bước thẳng vào, tới tận trong nhà vẫn thấy im ắng như không có người.

Giây lát có một nữ lang bước ra, khoảng mười bảy mườí tám tuổi, đẹp như thiên tiên, ngẩng đầu thấy khách thì hoảng sợ chạy trở vào.

Ôn lúc ấy chưa có vợ, vừa nhìn thấy nàng đã say mê.

Lát sau một bà lão ra hỏi chuyện, Ôn xưng tên họ rồi xin cho ngủ trọ qua đêm.

Bà lão nói:

- Ngủ trọ cũng được, chỉ hiềm nhà thiếu giường chõng, nếu khách không ngại thì xin trải đệm xuống đất mời nghỉ tạm.

Rồi thắp đèn mang ra, đem cỏ khô rải xuống đất, ý tứ rất ân cần.

Ôn hỏi họ tên, bà đáp:

- Già họ Tiêu!

Ôn lại hỏi nữ lang là ai, bà đáp:

- Đó là Hoạn Nương, con nuôi của già.

Ôn nói:

- Nếu không chê nghèo hèn, thì ta muốn hỏi cưới có được không?

Bà cau mày đáp:

- Chuyện đó thì già không thể vâng mệnh được.

Ôn hỏi vì sao, bà chỉ đáp là khó nói rồi im lặng.

Bà già vào nhà trong, Ôn nhìn tới bó cỏ trải đệm thì vừa ướt vừa mục không sao nằm được, đành ngồi suông gảy đàn qua đêm, chờ tạnh mưa rồi ra về.

Trong huyện có quan Bộ lang đã về hưu họ Cát, rất thích kẻ văn nhân.

Ôn ngẫu nhiên tới chơi, vâng lệnh gảy đàn cầm, thấy sau rèm thấp thoáng có bóng phụ nữ nghe trộm.

Chợt có cơn gió thổi vẹt bức rèm, thấy là một thiếu nữ đang tuổi cập kê, dung nhan tuyệt thế.

Đó là con gái Cát, tiểu tự là Lương Công, giỏi từ phú, nổi tiếng nhan sắc.

Ôn động lòng, về thưa với mẹ nhờ người tới hỏi, nhưng Cát chê nhà Ôn nghèo khổ không chịu gả.

Nhưng cô gái sau khi nghe tiếng đàn đã thầm hâm mộ, chỉ mong ước được nghe nữa.

Song Ôn vì chuyện dạm hỏi không thành nên ý chán tình buồn không lui tới nhà họ Cát nữa.

Một hôm cô gái ra vườn chơi, nhặt được một tờ giấy cũ, trên có bài từ theo điệu Tiếc xuân thừa như sau:

Nhân hận thành si, chuyển tư tác tưởng, nhật nhật vị tình điên đảo.

Hai đường đới túy, dương liễu thương xuân, đồng thị nhất ban hoài bão.

Thậm đắc tân sầu cựu sầu, tiễn tận hoàn sinh, tiện như thanh thảo.

Tự biệt ly, chỉ tại nại hà thiên lý, độ tương hôn hiểu.

Kim nhật cá túc tổn xuân sơn, vọng xuyên thu thủy, đạo khí dĩ phan khí liễu.

Phương khâm đố mộng, ngọc lậu kinh hồn, yếu thụy hà năng thụy hảo.

Mạn thuyết trường tiêu tự niên, nùng thị nhất niên, ty canh do thiểu.

Quá tam canh dĩ thị tam niên, cánh hữu hà nhân bất lão.

Dịch:

(Vì hận thành ngây, nhớ nhớ thương thương, ngày tháng vì tình bối rối.

Hải đường say ngủ, dương liễu đau xuân, ấy cũng một lòng tiếc nuối.

Đến nỗi sầu xưa sầu nay, cắt rồi lại sinh, cứ như cỏ bãi.

Từ chia ly, ở nơi không biết làm sao, bao phen sớm tối.

Hôm nay cau mặt non xuân, nhìn suốt nước thu, nói bỏ cũng liều để nói.

Chăn thơm ghét mộng, giọt lậu bay hồn, muốn ngủ làm sao ngủ nổi.

Nghe nói đêm dài như một nãm, ta thấy một năm, so một canh còn ngắn ngủi.

Qua canh ba là đã ba năm, thử hỏi ai người không mỏi)

Cô gái ngâm ngợi ba bốn lần, trong lòng thích lắm, đem về lấy giấy văn gấm chép một bản khác đặt ở bàn, nhưng lát sau tìm tới đã không thấy đâu nữa, nghĩ rằng gió thổi bay mất.

Gặp lúc Cát đi ngang cửa phòng nhặt được, cho là Lương Công làm ra, rất ghét vì lời lẽ lẳng lơ bèn đốt đi nhưng chưa nỡ nói ra, định bụng sẽ gã chồng cho con sớm.

Vừa lúc ấy có công tử con quan Phương bá họ Lưu ở huyện Lâm (tỉnh Sơn Đông) chongười tới dạm hỏi, Cát mừng rỡ, nhưng còn muốn gặp mặt công tử một lần.

Công tử bèn ăn mặc sang trọng tới ra mắt, phong tư đẹp đẽ, Cát rất vui lòng, bày tiệc khoản đãi ân cần.

Kế công tử chào về, trên chỗ ngồi rớt lại một chiếc giày con gái.

Cát cho rằng tính nết đàng điếm, ghét lắm liền gọi người mai mối tới kể rõ.

Công tử ra sức biện bạch rằng oan, nhưng Cát không nghe, nhất quyết tuyệt hôn.

Trước đó họ Cát có loại hoa cúc xanh, giữ không cho ai nhân giống, Lương Công đem trồng trong phòng riêng.

Vườn cúc nhà Ôn chợt nảy ra hai giò màu xanh, bạn bè nghe thấy đồn đại nhau kéo tới xem, Ôn cũng rất nâng niu quý báu.

Sáng sớm ra xem nhặt được bên luống hoa một tờ giấy chép bài từ Tiếc xuân thừa, đọc đi đọc lại, không biết từ đâu tới, thấy trong bài có chữ Xuân là tên mình, càng thêm cảm xúc, đem vào bàn bình phẩm nọ kia, lòi lẽ bậy bạ.

Lúc ấy Cát nghe nói cúc nhà họ ôn biến ra màu xanh ngạc nhiên tới xem, vào phòng sách nhìn thấy bài từ bèn cầm lên đọc.

Ôn vì lời bình của mình sỗ sàng, vộỉ giằng lại vò nát.

Cát chỉ kịp đọc được một hai câu, thì đúng là bài từ đã nhặt được trước phòng con gái, vô cùng nghi ngờ, lại cho rằng cả giống cúc xanh cũng là do Lương Công tặng.

Về nhà nói với vợ, bảo căn vặn Lương Công, Lương Công khóc lóc đòi tự tử.

Mà việc lại không có chứng cớ gì, không thể biết rõ hư thực, phu nhân sợ tai tiếng đồn ra bèn bàn chẳng bằng cứ gả con gái luôn cho Ôn.

Cát cho là phải liền bán tin cho Ôn.

Ôn mừng quá, hôm ấy lập tức mời bè bạn tới uống rượu ngắm cúc xanh, đốt trầm gảy đàn đến khuya mới tan.

Ôn vào phòng ngủ rồi, đứa tiểu đồng coi phòng sách nghe thấy tiếng đàn tự nhiên vang lên, lúc đầu còn tưởng bọn tôi tớ trong nhà nghịch ngợm, sau thấy không có ai mới vào thưa với Ôn.

Ôn đích thân tới xem quả đúng, nghe tiếng đàn ngập ngừng như bắt chước mình mà chưa được, đánh lửa xộc vào thì không thấy ai.

Ôn đem đàn đi, từ đó cả đêm yên ắng.

Vì thế ngờ là hồ, nghĩ rằng nó muốn học đàn, nên cứ mỗi buổi tối gảy một khúc rồi để đàn lại đấy cho mặc ý tập, như là thầy dạy đàn vậy.

Đêm đêm rình nghe, qua sáu bảy đêm tiếng đàn đã đúng khúc điệu, nghe động lòng người.

Ôn làm đám cưới xong, vợ chồng cùng kể lại chuyện bài từ mới biết đầu mối nhân duyên là đó, nhưng vẫn không rõ là từ đâu ra.

Lương Công nghe chuyện lạ tiếng đàn tự nhiên kêu, tới nghe rồi nói:

- Đây không phải là hồ đâu.

Âm điệu não nùng ai oán lắm, như là tiếng đàn ma.

Ôn chưa tin lắm, Lương Công nhân đó nói nhà mình có chiếc gương cổ có thể soi thấy ma quỷ.

Hôm sau sai người về lấy, chờ tiếng đàn vang lên liền cầm gương sấn vào thắp đèn lên, quả có một cô gái đang run rẫy trong góc phòng không trốn núp được, nhìn kỹ thì chính là Hoạn Nương nhà họ Triệu.

Ôn cả sợ gặng hỏi, nàng sa nước mắt đáp:

- Thiếp làm mai mối cho chàng, đâu phải không có ơn đức, sao nỡ bức báth nhau quá vậy?

Ôn xin cất gương nhưng hẹn đừug biến đi, Hoạn Nương ưng thuận, Ôn bèn cất gương.

Cô gái ngồi xa xa, nói:

- Thiếp là con gái quan Thái thú, chết đã trăm năm nay.

Lúc còn nhỏ rất thích đàn cầm, đàn tranh, đàn tranh thì đã tạm biết, còn đàn cầm thì chưa được chân truyền nên vẫn ấm ức chốn suối vàng.

Khi chàng có lòng ghé lại nhà, được nghe âm điệu cao nhã đã rất hâm mộ.

Chỉ hờn mình khác loài không thể theo sửa túi nâng khăn, nên đã ngấm ngầm tìm cách giúp chàng cưới người giai ngẫu để đền đáp tình thương mến.

Chiếc giày công tử họ Lưu để rơi, bài từ Tiếc xuân thừa bay tới, đều là do thiếp làm ra, tạ ơn thầy học như thế không phải không vất vả đâu.

Vợ chồng cảm động lạy tạ, Hoạn Nương nói:

- Ngón đàn của chàng thiếp đã hiểu được quá nửa, nhưng chưa thấu triệt chỗ tinh thần, xin gảy cho thiếp được nghe một lần nữa.

Xuân theo lời, lại gảy đàn để chỉ rõ cách thức.

Hoạn Nương cả mừng, nói:

- Thiếp đã hiểu cả rồi!

Rồi đứng lên từ biệt.

Lương Công vốn giỏi đàn tranh, nghe Hoạn Nương cũng sở trường môn này, xin gảy cho nghe một lần.

Hoạn Nương không từ chối, tiếng đàn khúc nhạc đều không phải là người trần sánh kịp.

Lương Công khen ngợi, xin dạy lại cho mình.

Hoạn Nương lấy bút ghi lại bản đàn, gồm mười tám chương, rồi đứng lên từ biệt.

Vợ chồng cố giữ lại, Hoạn Nương buồn bã nói:

- Chàng được sắt cầm hòa hiệp, vợ chồng mà cũng là tri âm, kẻ bạc phận làm sao có được phúc ấy?

Nếu có duyên phận, thì kiếp sau sẽ được gặp nhau.

Rồi lấy ra một cuộn giấy đưa cho Ôn, nói:

- Đây là chân dung của thiếp, nếu không quên bà mối thì xin đem treo trong phòng ngủ, lúc nào vui vẻ cứ đốt một lò trầm, gảy một khúc đàn, thì là thiếp được hưởng vậy.

Nói xong bước ra cửa biến mất.

____________________________________

CHƯƠNG 153: A TÚ

Tri Quân Tự Hữu Ý Trung Nhân

Nhạn Đỉnh Như Hà Nhận Bất Chân

Thu Nhật Trùng Lai Hiệu Ưu Liệt

Thượng Nghi Ảo Thuật Hóa Song Thân

Dịch:

Biết Chàng Vốn Có Ý Trung Nhân

Của Giả Mà Sao Chẳng Nhận Chân

Gặp Lại Ngày Nào So Đẹp Xấu

Còn Ngờ Ảo Thuật Hóa Song Thân



Lưu Tử Cố ở huyện Hải Châu (tỉnh Giang Tô), lúc mười lăm tuổi tới đất Cái thăm cậu, gặp một cô gái trong chợ bán tạp hóa, xinh đẹp vô song, lòng rất yêu thích, bước vào vờ mua quạt.

Cô gái lên tiếng gọi cha, người cha ra, Lưu cụt hứng, cố tình trả giá rẻ rồi bỏ đi.

Đứng xa thấy người cha đi nơi khác, liền quay lại, cô gái định tìm gọi cha, Lưu ngăn lại, nói:

- Không cần, cứ nói giá, ta không trả rẻ đâu.

Cô gái theo lời, cố ý nói giá thật cao, Lưu không nỡ mặc cả, rút tiền trả rồi đi.

Hôm sau lại tới, lại như hôm trước, đi được vài bước, cô gái gọi theo:

- Trở lại đã!

Vừa rồi ta nói dối thôi, giá ấy quá đắt.

Rồi trả lại nửa tiền, Lưu càng mến là thành thật, cứ rảnh là tìm tới, vì thế ngày càng quen thuộc.

Cô gái hỏi chàng ở đâu, Lưu nói thật, hỏi lại thì cô gái tự nói họ Diêu.

Lúc ra về, nàng lấy giấy gói những vật Lưu mua lại cẩn thận, rồi liếm ướt để dán lại.

Lưu đem về không dám động tới, sợ mất vết lưỡi của nàng.

Được nửa tháng, người đầy tớ rình biết, ngầm bàn với cậu bắt phải về.

Lưu buồn bực không vui, đem các thứ khăn hương phấn sáp đã mua giấu vào một cái tráp, lúc vắng người lại đóng cửa kiểm lại một lượt, giở tới là ngẩn ngơ.

Năm sau lại tới đất Cái, vừa buông hành lý xuống là tìm ngay tới chỗ cô gái, tới nơi thì thấy cửa ngõ đóng chặt.

Thất vọng trở về, cứ nghĩ rằng nàng đi vắng chưa về.

Sáng sớm hôm sau lại tới thì cửa vẫn đóng như cũ.

Hỏi các nhà hàng xóm mới biết họ Diêu vốn là người huyện Quảng Ninh (tỉnh Quảng Đông), vì buôn bán không lời lãi bao nhiêu nên tạm về quê, cũng không biết lúc nào sẽ trở lại.

Lưu buồn rầu, ở lại vài ngày rồi chán nản ra về.

Bàn tới chuyện lấy vợ thì mấy lần đều không chịu nghe lời mẹ, mẹ vừa tức giận vừa kỳ quái, người đầy tớ liền lén kể chuyện năm trước cho mẹ biết, mẹ càng ráo riết ngăn cấm, không cho lui tới đất Cái nữa.

Lưu chợt trở nên rầu rĩ, giảm ăn bỏ học, mẹ lo lắng không biết làm sao, nghĩ thôi chẳng bằng theo ý con, liền lập tức sắm sửa hành trang cho Lưu tới đất Cái, lại dặn nhắn với cậu nhờ làm mối giùm.

Cậu theo lời, qua nhà họ Diêu, lát sau trở về nói:

- Việc không xong rồi.

A Tú đã gả cho một người ở Quảng Ninh!

Lưu cúi đầu thẫn thờ, lòng như tro lạnh, hết cả hy vọng.

Về nhà rồi, cứ ôm cái tráp rơi lệ, bồi hồi tưởng nhớ, chỉ mong trên đời có người giống như thế.

Lúc ấy có người mối tới, khen con gái họ Hoàng ở huyện Phục Châu (tỉnh Liêu Ninh) tuyệt đẹp.

Lưu sợ không đúng, sai đánh xe tới đất Phục.

Vào cửa tây huyện thành, thấy phía bắc có một gian nhà, hai cánh cổng khép hờ, có một cô gái rất giống A Tú.

Lại chú mục nhìn theo, thấy cô gái vừa đi vừa ngoảnh lại mà vào, đích thị không sai.

Lưu rất ngờ vực, bèn thuê nhà ở liền bên đông, hỏi dò thì đó là nhà họ Lý, nghĩ đi nghĩ lại, chẳng lẽ trên đời lại có người giống nhau đến thế sao?

Ở đó mấy hôm, không nhờ ai được, chỉ ngày ngày trông ngóng ngoài cổng, chờ dịp cô gái đi ra.

Một hôm, mặt trời vừa xế, cô gái quả ra, chợt thấy Lưu, liền quay vào đóng cửa, lấy tay chỉ ra phía sau, để bàn tay lên ngang trán rồi vào.

Lưu rất mừng nhưng không hiểu ý, ngẫm nghĩ hồi lâu, rảo bước ra sau nhà, thấy vườn hoang vắng vẻ, phía tây có một bức tường thấp khoảng ngang vai, chợt hiểu ra liền ngồi xuống núp trong đám cỏ sương.

Hồi lâu có người sau tường thò đầu ra hỏi khẽ:

- Tới chưa?

Lưu lên tiếng rồi đứng dậy, nhìn kỹ thì đúng là A Tú, bật khóc lớn, nước mắt chảy ròng ròng.

Cô gái cách tường đưa tay vuốt ve Lưu, lấy khăn lau nước mắt cho, ân cần an ủi.

Lưu nói:

- Tìm đủ cách mà không được gặp, tự nghĩ kiếp này thế là thôi, ngờ đâu lại có đêm nay, nhưng nàng vì sao lại tới đây?

Cô gái đáp:

- Họ Lý là chú bên ngoại của thiếp.

Lưu xin leo qua tường, cô gái nói:

- Chàng cứ về trước, bảo người hầu đi ngủ chỗ khác, thiếp sẽ tự tới.

Lưu theo lời ngồi đợi, giây lát cô gái lặng lẽ bước vào, ãn mặc không lộng lẫy lắm, vẫn quần áo ngày trước.

Lưu kéo ngồi xuống, kể lễ nỗi khổ, rồi hỏi:

- Nghe nói nàng đã nhận sính lễ của người ta, sao chưa cưới?

Cô gái đáp:

- Nói thiếp đã nhận sính lễ là nói sai đấy.

Cha thiếp thấy đường sá xa xôi, không muốn gả thiếp cho công tử, có lẽ đó là cậu nói thác ra để chàng hết mong tưởng mà thôi.

Rồi đó cùng lên giường ngủ, thương yêu đằm thắm không sao nói xiết.

Đến canh tư, nàng trở dậy trèo qua tường mà về.

Lưu từ đó quên cả ý định tới nhà họ Hoàng, trọ lại luôn nửa tháng, tuyệt nhiên không nói tới việc trở về.

Một đêm người đầy tớ dậy cho ngựa ăn, thấy trong phòng còn sáng đèn, nhìn vào thấy A Tú sợ lắm nhưng không dám hỏi chủ, chỉ ra chợ hỏi thăm, rồi mới về hỏi Lưu:

- Người đêm đêm vẫn đi lại với công tử là ai thế?

Lưu ban đầu còn giấu diếm, người đầy tớ nói:

- Nhà này vắng vẻ, là nơi quỷ hồ tụ tập, công tử nên giữ gìn.

Cô gái nhà họ Diêu kia làm gì mà tới đây?

Lưu mới ngượng nghịu đáp:

- Nhà hàng xóm phía tây là chú bên ngoại của nàng, có gì mà ngừ vực.

Người đầy tớ nói:

- Ta đã hỏi kỹ rồi, nhà bên đông chỉ có một bà già cô đơn, nhà bên tây chỉ có một người con trai còn nhỏ, chẳng ai có họ hàng thân thích.

Người công tử gặp kia ắt là ma quỷ, không thì lẽ nào cái áo mấy năm vẫn không thay, vả lại da mặt quá trắng, hai má lại hơi gầy, lúc cười không thấy lúm đồng tiền, không đẹp bằng A Tú.

Lưu nghĩ lại phát hoảng, nói:

- Vậy thì làm sao?

Người đầy tớ bàn đợi cô gái đến, cầm binh khí xông vào đánh.

Tối cô gái tới, nói với Lưu rằng:

- Biết chàng sinh lòng ngờ vực, nhưng thiếp cũng không có ý gì khác, chẳng qua cho trọn duyên phận với nhau thôi.

Chưa dứt lời thì người đầy tớ đạp cửa xông vào, cô gái quát:

- Bỏ ngay binh khí xuống, mang rượu ra đây mau, để ta từ biệt chủ nhân.

Người đầy tớ tự nhiên ném dao xuống như bị cướp mất.

Lưu càng sợ, gượng gạo ngồi tiếp rượu, còn cô gái vẫn cười nói như thường, nói với Lưu rằng:

- Biết tâm sự chàng, vẫn định tìm cách giúp cho chút ít, vất vả đề phòng nhau làm gì?

Thiếp tuy không phải A Tú, nhưng cũng thấy mình không kém, chàng nhìn kỹ xem có phải không nào?

Lưu toàn thân nổi gai ốc, ú ớ không đáp đươc.

Cô gái thấy đã sang canh ba, cầm ly rượu uống một hớp rồi đứng lên nói:

- Ta cứ đi đã, đợi sau đêm động phòng hoa chúc sẽ lại tới so sánh với mỹ nhân nhà chàng xem ai hơn kém.

Kế quay người biến mất.

Lưu tin lời hồ, lại sang đất Cái, giận cậu lừa mình nên không tới ở nhà cậu mà trọ ở gần nhà họ Diêu, nhờ người qua làm mối, đút cho nhiều tiền.

Vợ Diêu nói:

- Chú nó định gả chồng cho cháu ở Quảng Ninh nên cha nó tới đó, việc thành hay không chưa thể biết, phải đợi ông ấy về mới bàn được.

Lưu nghe nói bàng hoàng không biết làm sao, chỉ còn cách cố đợi.

Qua hơn mười ngày, chợt nghe có loạn, ban đầu còn ngờ là đồn nhảm, ít lâu sau tin càng gấp, bèn thu xếp ra đi.

Giữa đường gặp giặc, chủ tớ lạc nhau, Lưu bị đội tiền tiêu bắt.

Thấy Lưu là học trò yếu đuối nên chúng canh phòng lơ là, Lưu liền trộm ngựa trốn đi.

Tới ranh giới Hải Châu, thấy một cô gái đầu tóc rối bù mặt mũi nhem nhuốc, bước cao bước thấp khập khiễng trên đường.

Lưu dong ngựa vượt qua, cô gái gọi:

- Người cưỡi ngựa có phải là chàng Lưu không?

Lưu kìm ngựa nhìn kỹ thì ra là A Tú, trong lòng còn ngại là hồ, bèn hỏi:

- Nàng đúng là A Tú chứ?

Cô gái hỏi tại sao lại nói thế, Lưu kể lại chuyện mình đã gặp.

Cô gái nói:

- Thiếp là A Tú thật đây, không phải là kẻ mạo danh đâu.

Cha dắt thiếp từ Quảng Ninh về, gặp loạn bị bắt, họ đưa ngựa cho cưỡi nhưng ngã lên ngã xuống.

Chợt có một cô gái nắm cổ tay thiếp kéo đi, quanh co giữa đám quân cũng không có ai hỏi.

Nàng đi nhanh như bay, thiếp kiệt sức vẫn không theo kịp, được trăm bước đã tụt lại sau mấy lần.

Hồi lâu nghe tiếng người ngựa xa dần, nàng mới buông tay thiếp ra nói "Xin chào, đường phía trước đều yên ổn, cứ thong thả mà đi, người yêu của nàng sẽ tới, nên theo chàng cùng về.

Lưu biết đó là hồ, rất cảm kích, nhân kể rõ vì sao mình lưu lại đất Cái.

Cô gái nói chú định gả nàng cho họ Phương, chưa kịp ăn hỏi thì gặp loạn, Lưu mới biết lời cậu nói không phải là dối trá.

Bèn đỡ nàng lên ngựa cùng về, tới cổng nghe nói mẹ già vẫn khoẻ mạnh, cả mừng buộc ngựa vào nhà, kể lại mọi chuyện.

Mẹ cũng mừng, bèn sửa soạn cho cô gái tắm gội, nàng trang điểm xong lên ra mắt, dung quang lộng lẫy, mẹ càng vui vẻ nói:

- Chẳng trách thằng nhỏ ngây kia nằm mơ cũng không quên.

Bèn sắp xếp chăn nệm cho nàng ngủ cùng phòng với mình, rồi sai người tới đất Cái báo tin cho họ Diêu.

Không bao lâu vợ chồng họ Diêu cùng tới, chọn ngày lành làm lễ cưới cho con gái rồi về.

Cái tráp Lưu cất giữ còn nguyên dấu niêm phong, nhưng có hộp phấn mở ra thì toàn là đất đỏ.

Lưu lấy làm lạ, cô gái che miệng cười nói:

- Vụ lừa gạt mấy nãm trước nay bị lộ rồi.

Lúc ấy thấy chàng để mặc thiếp gói hàng, không xem lại thật giả, nên làm thế để đùa giỡn thôi.

Đang lúc cười đùa, chợt một người vén rèm bước vào nói:

- Vui vẻ như thế thì phải tạ ơn bà mối chứ!

Lưu nhìn thì lại là một A Tú nữa.

Vội vàng gọi mẹ, mẹ và người nhà đổ tới mà không ai phân biệt được.

Lưu vừa ngoảnh đi cũng lẫn luôn, chăm chú nhìn hồi lâu mới nhận ra, chắp tay vái tạ.

Cô gái cầm gương tự soi rồi thẹn thùng rảo bước ra, tìm theo thì đã biến mất.

Vợ chồng cảm nghĩa lập bài vị thờ trong phòng.

Một đêm Lưu say rượu về phòng thấy tối tăm không có ai, đang thắp đèn thì A Tú tới.

Lưu kéo lại hỏi đi đâu, nàng cười nói:

- Hơi rượu sặc sụa chẳng ai chịu được mà còn tra hỏi này nọ.

Đã ai đi ngoại tình đâu chứ.

Lưu cười ôm má nàng, cô gái hỏi:

- Chàng trông thiếp với chị hồ ai đẹp hon?

Lưu nói:

- Nàng đẹp hơn, nhưng chỉ biết xem bề ngoài thì không phân biệt được.

Kế khép cửa phòng ôm nhau đùa giỡn, lát sau có tiếng gõ cửa, cô gái đứng dậy cười nói:

- Chàng cũng chỉ là kẻ biết xem bề ngoài mà thôi.

Lưu không hiểu, ra mở cửa thì A Tú bước vào, rất ngạc nhiên, mới biết người cùng chuyện trò vừa rồi là hồ.

Trong bóng tối lại nghe thấy tiếng cười, hai vợ chồng ngẩng lên không khấn khứa, xin nàng hiện hình.

Hồ nói:

- Ta không muốn gặp A Tú!

Hỏi sao không hóa ra dung mạo khác, hồ đáp:

- Ta không làm được!

Hỏi sao không làm được, hồ đáp:

- A Tú là em gái ta, kiếp trước không may chết yểu.

Khi còn sống, cùng ta theo mẹ lên thiên cung ra mắt Tây Vương Mẫu, lấy làm hâm mộ, lúc về cố gắng bắt chước.

Em ta thông tuệ hơn, chỉ một tháng là bắt chước giống hệt, ta bắt chước tới ba năm mới giống mà vẫn không bằng.

Nay đã qua kiếp khác, tụ nghĩ đã hơn, không ngờ vẫn như xưa.

Ta cam lòng thành của hai người, nên thỉnh thoảng sẽ tới thăm, bây giờ thì đi đây!

Rồi không nghe tiếng nói nữa.

Từ đó cứ năm ba ngày lại tới một lần, trong nhà có việc gì khó khãn trở ngại đều quyết cho cả.

Khi A Tú về thăm cha mẹ thì tới ở luôn vài ngày không đi, tôi tớ đều sợ hãi lánh mặt.

Nhà có mất gì thì lại ăn mặc đẹp đẽ, cài chiếc trâm đồi mồi dài mấy tấc, gọi tôi tớ lên nghiêm giọng bảo ai lấy trộm vật ấy đêm nay phải đem tới để vào chỗ ấy chỗ ấy, nếu không sẽ bị đau buốt óc thì đừng trách không nói trước, sáng ra quả lấy lại được đúng chỗ nàng đã nói.

Ba năm sau không thấy tới nữa, nhưng nếu trong nhà có mất tiền lụa, A Tú bắt chước ăn mặc như nàng để dọa tôi tớ cũng thường lấy lại được.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 154+155


CHƯƠNG 154: TIỂU THÚY

Duy Ác Kỳ Mưu Vận Bất Cùng

Si Nhi Điên Đảo Kí Khuê Trung

Công Thành Tiện Nhĩ Tương Thân Thoái

Lưu Thủ Dư Tình Bổ Hóa Công

Dịch:

Dưới Trướng Trù Mưu Rất Lạ Lùng

Si Cuồng Nào Đã Hiểu Bên Trong

Công Thành Cương Quyết Thân Lui Ẩn

Lưu Lại Dư Tình Bổ Hóa Công



Thái thường họ Vương người đất Việt (Chiết Giang), lúc còn là trẻ con có lần nằm ngủ ban ngày trên giường, bỗng trời tối sầm, sấm sét nổi lên ầm ầm, có con vật to hơn con mèo tới nằm nép bên cạnh, quanh quẩn không rời.

Hồi lâu trời tạnh, con vật bỏ đi, nhìn lại thì không phải là mèo, mới sợ, gọi anh ở phòng bên.

Anh nghe kể, mừng nói:

- Em ắt sẽ quý hiển to, đó là hồ tới núp trốn sấm sét đấy.

Sau quả Vương tuổi trẻ đã thi đỗ Tiến sĩ, rồi từ chức Tri huyện về kinh làm Thị ngự.

Sinh được một trai là Nguyên Phong rất ngây ngô, mười sáu tuổi vẫn chưa biết phân biệt con cái với con đực, quanh vùng vì vậy không ai chịu gả con gái cho, Vương rất lo lắng.

Chợt có người đàn bà dắt một cô gái tới nhà xin gả cho Nguyên Phong.

Nhìn tới cô gái, thấy nhoẻn miệng tươi cười, xinh đẹp như tiên.

Vương mừng rỡ hỏi họ tên, người đàn bà tự nói họ Ngu, con gái tên Tiểu Thúy, vừa mười sáu tuổi.

Bàn tới sính lễ, bà ta nói:

- Trước nay nó ở với ta rau cháo không đủ no, nay một sớm được gởi thân vào chốn nhà cao cửa rộng, có kẻ hầu người hạ, thừa miếng ngon của lạ, nó được vừa ý mà ta cũng được thỏa lòng, có phải bán rau đâu mà nói giá!

Phu nhân mừng lắm, tiếp đãi rất hậu.

Người đàn bà liền bảo cô gái lạy Vương và phu nhân, dặn:

- Đây là cha chồng, mẹ chồng của ngươi, phải hầu hạ cẩn thận.

Ta vội lắm phải đi, vài ba hôm nữa sẽ trở lại.

Vương sai đầy tớ thắng ngựa đưa về, bà ta nói làng xóm không xa, không dám làm phiền rồi ra cửa đi.

Tiểu Thúy cũng không hề buồn nhớ, lập tức trút đồ trang sức trong rương ra khoe, phu nhân cũng thấy thích.

Mấy hôm sau không thấy người đàn bà tới, hỏi quê quán thì nàng cũng ngẩn ngơ không nói rõ được đường sá thế nào.

Bèn sắp đặt một khu nhà riêng cho vợ chồng làm lễ thành hôn.

Họ hàng nghe Vương cưới bừa con nhà bần tiện làm dâu ai cũng chê cười, nhưng lúc nhìn thấy cô gái đều kinh ngạc, từ đó mới thôi dè bỉu.

Cô gái lại rất thông minh, biết dò ý tứ mừng giận của cha mẹ chồng.

Vợ chồng Vương quý dâu quá thói thường, lại áy náy chỉ sợ cô gái chê con mình ngây, song nàng vẫn vui vẻ không hề bận tâm.

ở nhà rất hay đùa giỡn, lấy vải khâu thành quả cầu đá chơi, mang đôi hài da nhỏ đá ra xa vài mươi bước cho công tử chạy theo nhặt, công tử và thị tỳ thường toát mồ hôi gọi nhau.

Một hôm Vương tình cờ đi qua, quả cầu bay tới trúng bốp giữa mặt, cô gái và thị tỳ đều chạy trốn còn công tử vẫn nhảy nhót đuổi theo.

Vương nổi giận lấy đá ném, công tử mới lăn ra đất gào khóc.

Vương kể với vợ, phu nhân qua mắng cô gái, nàng chỉ cúi đầu mỉm cười, lấy tay xoa mép giường, phu nhân về rồi lại đùa nghịch như cũ.

Có lần lấy son phấn vẽ mặt công tử vằn vện như quỷ, phu nhân nhìn thấy giận lắm, gọi nàng tới nhiếc móc, nàng chỉ dựa vào bàn mân mê giải lưng, không sợ hãi cũng không nói gì.

Phu nhân không biết làm sao, bèn lấy gậy đánh con trai.

Nguyên Phong kêu ầm lên, cô gái mới biến sắc quỳ xuống xin tha.

Phu nhân nguôi giận ngay, vứt gậy bỏ về.

Cô gái cười kéo công tử vào nhà, phủi bụi trên quần áo cho, lau nước mắt, xoa những chỗ bị đánh, lấy táo và hạt dẻ cho ăn, công tử lại nín khóc vui ngay.

Cô gái đóng cửa, lấy mũ áo thắng bộ cho công tử đóng vai Bá Vương, làm người ngoài sa mạc, còn mình thì trang điểm, bó lưng lại, đóng vai Ngu mỹ nhân, rồi lả lướt múa may dưới màn.

Hoặc cắm lông đuôi chim trĩ lên tóc, gảy đàn tỳ bà, bập bùng tình tang, cười đùa ầm ĩ cả nhà, ngày nào cũng thế.

*[Bá Vương: tức Tây Sở Bá vương Hạng Vũ thời Hán Sở tranh hùng, có người thiếp là Ngu mỹ nhân, tức Ngu Cơ].

Vương vì con mình ngây không nỡ trách dâu, dù thoảng nghe thấy cũng bỏ qua.

Cùng ngõ có nhà quan Cấp gián họ Vương, cách hơn mười căn, nhưng vốn không đi lại với nhau.

Gặp lúc triều đình theo lệ ba năm xét công quan lại, Cấp gián ghét ông giữ ấn đạo Hà Nam, rắp tâm hãm hại.

Ông biết ý, lo lắm mà không biết làm sao.

Một đêm ông đi nằm sớm, cô gái đội mũ đeo đai như Tể tướng, cắt tơ trắng làm râu rậm, lại bắt hai tỳ nữ cải trang như quan hầu, lén lấy ngựa trong tàu ra cưỡi đi, nói đùa rằng tới thăm Vương tiên sinh.

Tới cổng nhà Cấp gián lại lấy roi đánh người hầu, nói:

- Ta tới thăm Thị ngự họ Vương chứ có tới thăm Cấp gián họ Vương đâu!

Rồi dong ngựa trở về.

Tới nhà, người gác cổng tưởng thật chạy vào báo, ông vùng dậy ra nghênh tiếp mới biết là con dâu đùa, giận lắm nói với phu nhân:

- Người ta đang tìm chuyện bới móc mình, mà mình lại tự đem cái xấu trong phòng khuê tới tận cổng nhà người ta báo thì tai họa không xa đâu!

Phu nhân giận, qua ngay phòng cô gái mắng nhiếc, nàng chỉ ngu ngơ cười không cãi lại một câu, đánh thì không nỡ mà đuổi thì nàng không cửa không nhà, vợ chồng buồn bực cả đêm không ngủ.

Lúc ấy ông Mỗ làm Tể tướng, uy thế lừng lẫy, nghi vệ phong thái xiêm áo quan hầu không khác gì với những cái cô gái giả trang.

Cấp gián họ Vương cũng lầm tưởng là thật, mấy lần sai người tới rình ở cổng nhà Vương, đến nửa đêm vẫn chưa thấy khách ra, ngờ rằng Tể tướng với Vương có mưu ngầm.

Hôm sau vào chầu sớm gặp nhau bèn hỏi:

- Đêm qua tuớng công đến nhà ông à?

Vương ngờ là y nói mỉa, ngượng ngùng dạ dạ không trả lời.

Cấp gián càng nghi hoặc, bèn bỏ ý trước, từ đó lại cố lấy lòng ông.

Ông dò biết sự tình, mừng thầm nhưng ngầm dặn phu nhân khuyên cô gái đừng làm những việc như thế nữa, nàng cười vâng dạ.

Qua năm sau, Tể tướng bị bãi chức, kế có thư riêng gởi ông, lại đưa lầm vào nhà Cấp gián.

Cấp gián cả mừng, trước tiên nhờ người quen ông tới hỏi mượn một vạn lượng vàng, ông từ chối.

Cấp gián đích thân tới, ông tìm khăn áo mãi mà không thấy.

Cấp gián đợi lâu, giận ông xấc xược, tức tối toan ra về.

Bỗng thấy công tử mặc áo cổn đội mũ miện bị một cô gái từ trong cửa xô ra, giật mình hoảng sợ rồi cười, vỗ về công tử, lột lấy áo cổn mũ miện mang đi.

Ông vội ra thì khách đã về rồi, nghe chuyện sợ tái mặt, khóc lớn nói:

- Đây là cái họa nàng dâu đây, không mấy ngày sẽ chết cả họ thôi!

Liền cùng phu nhân vác gậy chạy qua.

Cô gái đã biết trước, đóng chặt cửa mặc cho chửi mắng.

Ông giận, lấy búa phá cửa, cô gái trong phòng cười nụ nói:

- Cha đừng giận.

Có con ở đây, bao nhiêu đao kiếm búa rìu con cũng xin chịu, quyết không để lụy cho cha mẹ.

Cha muốn giết dâu để bịt miệng nhân chúng à?

Ông bèn thôi.

Cấp gián về, quả dâng sớ tâu Vương mưu phản, dâng mũ miện áo cổn làm bằng chứng.

Hoàng thượng giật mình, xét nghiệm lại thì ra mũ miện làm bằng lõi cây cao lương, áo cổn khâu bằng vải nát lấy ở khăn bao vàng, giận Cấp gián vu cáo, lại cho triệu Nguyên Phong đến, thấy dáng vẻ ngây ngô lộ rõ, phì cười nói:

- Thế này mà cũng làm vua được à?

Bèn giao cho Pháp ty xét.

Cấp gián lại kiện nhà ông có yêu quái, Pháp ty tra hỏi cả những con cái của tôi tớ trong nhà, đều nói không có ai, chỉ có nàng dâu điên và đứa con ngây, suốt ngày cười đùa.

Láng giềng cũng không khai gì khác, án mới định, Cấp gián bị sung làm lính ở Vân Nam.

Vương từ đó cho cô gái là người lạ, lại vì mẹ nàng lâu không thấy tới, ngờ không phải là người trần.

Bảo phu nhân hỏi dò, nàng chỉ cười không đáp, gặng mãi thì che miệng đáp:

- Con là con gái Ngọc Hoàng, mẹ không biết sao?

Không bao lâu, ông được thăng làm quan khanh, đã hơn năm mươi tuổi nên thường lo không có cháu nội.

Cô gái ở đó ba năm mà đêm đêm vẫn không ngủ chung với công tử như chưa từng chung chạ gì.

Phu nhân sai khiêng giường đi, dặn công tử ngủ chung với vợ.

Được vài hôm, công tử nói với mẹ:

- Mượn giường của con sao lâu không trả?

Tiểu Thúy cứ đêm đêm gác chân lên bụng, thở không được, lại quen tay, cứ cấu vào đùi người ta nữa!

Đám tớ gái đều phì cười, phu nhân quát, đánh đuổi đi.

Một hôm cô gái tắm trong phòng, công tử nhìn thấy đòi tắm chung, nàng cười ngăn lại, bảo chờ một lúc.

Tắm xong sai thay nước nóng, cởi hết quần áo cho, gọi thị tỳ cùng đỡ công tử vào thùng tắm.

Công tử thấy ngột ngạt khó chịu kêu to đòi ra, cô gái không cho, lấy chăn trùm kín lên.

Giây lát không nghe kêu nữa, mở ra xem thì đã tắt thở.

Nàng vẫn thản nhiên cười nói không sợ hãi gì, kéo công tử ra đặt lên giường, lau khô mình mẩy, đắp thêm chăn cho.

Phu nhân nghe tin, khóc lóc đi vào mắng:

- Con điên kia, sao lại giết con ta?

Cô gái tươi cười đáp:

- Con ngây như thế thì thà không có!

Phu nhân càng giận, lao vào húc nàng, bọn tỳ nữ xô vào kéo ra khuyên can.

Đang giằng co ồn ào thì một tỳ nữ nói:

- Công tử rên được rồi!

Phu nhân gạt lệ tới vỗ về con, thấy hơi thở nhè nhẹ mà mồ hôi như tắm, ướt cả chăn chiếu.

Khoảng xong bữa cơm thì mồ hôi không chảy nữa, chợt mở mắt nhìn quanh, ngó khắp gia nhân như không biết ai cả, nói:

- Bây giờ ta nhớ lại những việc trước đây thấy cứ như nằm mơ, sao thế nhỉ?

Phu nhân thấy lời nói không hề ngây ngô vô cùng lạ lùng, dắt qua chào cha.

Hỏi thử mấy lần, quả không còn ngây, mừng rỡ như bắt được của báu, bèn sai khiêng trả giường về chỗ cũ, sắp sửa chăn gối để xem sao.

Công tử vào phòng, đuổi hết thị tỳ đi, sáng nhìn tới thì giường vẫn bỏ không.

Từ đó không ngây không điên nữa, mà sắt cầm hòa hợp quấn quít như hình với bóng.

Được hơn năm, ông lại bị bè đảng Cấp gián hặc tội đòi cách chức, chuyện cũng hơi lôi thôi.

Ông có cái bình ngọc quý của quan Trung thừa Quảng Tây trước đây tặng cho, giá đáng ngàn vàng, định đem đút lót quan trên.

Cô gái thích cầm lên ngắm, lỡ tay làm rơi vỡ nát, xấu hổ tới tự nhận lỗi.

Vợ chồng ông đang buồn về việc bị cách chức, nghe thế tức giận, cùng nhiếc mắng thậm tệ.

Nàng uất ức bỏ ra, nói với công tử:

- Ta ở nhà anh, những cái giữ gìn được không phải chỉ là một cái bình, sao không giữ gìn thể diện cho nhau một chút?

Nói thật với ông ta không phải là người, vì mẹ ta gặp nạn sấm sét, được đội ơn cha che chở, lại vì hai ta có năm năm duyên phận nên ta tới đây để đền ơn xưa và trọn duyên trước thôi.

Ta bị mắng chửi đã nhiều, nhổ tóc mà tính cũng không đủ, sở dĩ không đi ngay là vì cái tình năm năm chưa hết, giờ đây thì còn làm sao nấn ná được nữa.

Rồi giận dữ bước ra, đuổi theo thì đã biến mất.

*[Trung thừa: tức Tuần phủ đứng đầu một tỉnh theo quan chế thời Thanh].

Ông ngẩn người biết mình lỡ lời nhưng hối hận đã không kịp nữa.

Công tử vào phòng, nhìn phấn thừa thoa cũ, khóc rống đòi chết, ăn ngủ không ngon, ngày càng tiều tụy.

Ông lo lắm, vội lo cưới vợ khác cho con khuây khỏa, nhưng công tử không thích, chỉ tìm thợ giỏi vẽ tranh Tiểu Thúy, ngày đêm thắp hương rưới rượu khấn vái.

Gần hai năm sau, công tử tình cờ có việc đi nơi khác trở về, trăng sáng vằng vặc, ngoài thôn có một khu vườn cảnh của nhà, vừa cưỡi ngựa đi qua bỗng nghe bên trong tường có tiếng cười liền dừng cương, sai mã phu nắm hàm thiếc rồi đứng lên yên nhìn vào, thì ra có hai nữ lang đang chơi đùa ở trong.

Vì bóng trăng bị mây phủ mờ mờ, không nhìn thấy rõ, chỉ nghe một nàng áo xanh nói:

- Con nhãi này đáng bị đuổi ra khỏi cổng!

Một nàng áo đỏ nói:

- Ngươi đang trong vườn nhà ta, lại còn đòi đuổi ai?

Nàng áo xanh nói:

- Con nhãi thật không biết thẹn, làm vợ không nên thân, bị người ta đuổi đi, còn dám nhận bừa sản nghiệp của người ta à?

Nàng áo đỏ nói:

- Còn hơn con nhãi già không ai thèm ngó tới!

Công tử nghe giọng nói giống hệt Tiểu Thúy, vội gọi lớn.

Nàng áo xanh bỏ đi, nói:

- Ta không cãi vã với ngươi nữa, ông chồng ngươi tới rồi kìa.

Kế nàng áo đỏ đi tới, quả là Tiểu Thúy, công tử mừng lắm.

Cô gái bảo trèo lên tường để mình đỡ xuống, nói:

- Hai năm không gặp mà chỉ còn có một nắm xương thôi!

Công tử cầm tay rơi nước mắt, kể nỗi nhớ nhung.

Cô gái nói:

- Thiếp cũng biết thế, nhưng chẳng còn mặt mũi nào quay lại nữa.

Hôm nay cùng chị cả chơi đùa, tình cờ lại gặp nhau, mới biết duyên số không thể trốn được.

Công tử nài cùng về, nàng không chịu, xin cứ ở lại trong vườn thì nàng bằng lòng, bèn sai đầy tớ chạy về bẩm với phu nhân.

Phu nhân giật mình đứng lên sai thắng kiệu tới ngay, mở khóa vào đình.

Cô gái rảo bước ra đón, sụp xuống lạy.

Phu nhân nắm cánh tay nàng sa nước mắt nhận hết lỗi trước, như không tha thứ được cho mình, nói:

- Nếu con không chấp chuyện cũ thì xin cùng về cho mẹ vui tuổi già.

Nàng cương quyết nói không được.

Phu nhân lo đình tạ hoang vắng, định cho nhiều người ra hầu hạ.

Cô gái nói:

- Con không muốn gặp ai cả, duy chỉ có hai đứa thị tỳ cũ theo hầu sớm tối, không thể không thương mến.

Ngoài ra chỉ xin một lão bộc gác cổng, chứ không cần gì khác!

Phu nhân đều theo lời, lại nói thác rằng công tử dưỡng bệnh trong vườn, hàng ngày sai mang thức ăn vật dùng ra mà thôi.

Cô gái thường khuyên công tử lấy vợ khác, công tử không nghe, hơn một năm sau thì nét mặt giọng nói của nàng dần dần đổi khác, lấy bức tranh ra so thấy khác hẳn như là hai người, vô cùng lạ lùng.

Nàng hỏi:

- Trông thiếp bây giờ có đẹp như trước không?

Công tử đáp:

- Bây giờ đẹp thì vẫn đẹp, nhưng so với trước thì hình như không bằng.

Nàng nói:

- Chắc thiếp già rồi!

Công tử nói:

- Người hơn hai mươi tuổi, làm gì mà già mau thế?

Nàng cười đốt bức tranh, giật lại thì đã cháy hết.

Một hôm nàng nói với công tử:

- Lúc trước còn ở nhà, cha thiếp vẫn nói thiếp đến chết cũng không mang thai được.

Nay cha mẹ đã già, chàng có một mình, thiếp thật không sinh nở được, sợ lỡ việc nối dõi của chàng.

Xin cưới vợ về nhà để sớm tối hầu hạ cha mẹ, còn chàng qua lại hai nơi, cũng không có gì không tiện.

Công tử cho là đúng, liền dạm hỏi con gái Thái sử họ Chung.

Gần đến ngày cưới, cô gái đích thân may áo khâu giày cho cô dâu, sai đưa về chỗ phu nhân.

Ngày cưới, cô dâu vào nhà thì giọng nói nét mặt, dáng điệu cử chỉ đều giống hệt Tiểu Thúy, công tử rất lấy làm lạ.

Trở lại khu vườn thì không thấy nàng đâu, hỏi hai tỳ nữ, họ đưa ra một chiếc khăn hồng, nói:

- Nương tử tạm về thăm nhà, để lại vật này cho công tử.

Mở khăn xem, thấy có buộc cái vòng quyết bằng ngọc, biết nàng không trở lại nữa, bèn đưa hai tỳ nữ cùng về, tuy trong phút chốc không quên được Tiểu Thúy nhưng may mà đối diện với vợ mới cũng như nhìn thấy người xưa.

Mới chợt hiểu rằng cô gái đã biết trước duyên phận giữa công tử với cô gái họ Chung nên thay đổi nét mặt của nàng trước để khuây nỗi nhớ cho chàng ngày sau.

____________________________________

CHƯƠNG 155: TẾ LIỄU

Thái Tức Cao Lang Thọ Bất Cao

Khổ Đàn Tâm Lực Vị Nhi Trào

Ân Uy Tinh Dụng Vô Kỳ Thị

Phú Quý Vô Vong Mẫu Thị Lao

Dịch:

Chàng Cao Buồn Nỗi Tuổi Không Cao

Gian Khổ Vì Con Chẳng Quản Nào

Đều Dụng Ân Uy Cùng Một Mực

Giàu Sang Nhớ Tới Mẹ Cù Lao



Tế Liễu là con gái một sĩ nhân ở đất Trung Đô (huyện Bình Dao tỉnh Sơn Tây), có kẻ thấy nàng ẻo lả đáng yêu nên gọi đùa là Tế Liễu (cây liễu nhỏ).

Nàng lúc nhỏ thông minh, biết chữ, thích đọc sách dạy xem tướng.

Bình sinh tính nết trầm mặc, không hay nói tới điều hay dở của người khác.

Nhưng nếu có ai tới dạm hỏi, thì xin cho được núp nhìn mặt, chọn lựa nhiều người mà đều nói rằng chưa có ai xứng đáng.

Đến năm nàng mười chín tuổi, cha mẹ tức giận nói:

- Giả như trên đời không có ai xứng đáng, thì ngươi chịu làm gái già không chồng à?

Nàng thưa:

- Thật tâm con muốn lấy trí người thắng mệnh trời, nhưng đã lâu vẫn không thành công, cũng là số phận của con vậy.

Thôi từ nay trở đi xin vâng theo ý cha mẹ.

Lúc ấy có Cao sinh là danh sĩ dòng dõi thế gia nghe danh Tế Liễu tới xin hỏi cưới, sau ngày cưới vợ chồng rất hòa hợp.

Vợ trước của sinh chết để lại một đứa con tên là Trường Phúc, lúc ấy được năm tuổi, cô gái nuôi nấng chăm sóc rất chu đáo.

Có khi nàng về thăm cha mẹ, Trường Phúc cứ gào khóc đòi đi theo, quát mắng thế nào cũng không chịu thôi.

Được hơn năm nàng sinh một trai, đặt tên là Trường Hỗ.

Sinh hỏi ý nghĩa tên con, nàng đáp rằng không có ý gì khác, chỉ là mong mỏi nó được theo hầu dưới gối cha lâu dài mà thôi.

*[Trường Hỗ...: trường hỗ (nương tựa lâu dài) đây lấy ý câu trong kinh Thi Tiểu nhã, Lục nga "Vô phụ hà hỗ” (Không có cha thì nương tựa vào ai).

Đây Tế Liễu biết truớc chồng sẽ chết sớm nên đặt tên con như vậy để tỏ ý mong chồng sống lâu].

Cô gái về việc nữ công rất vụng về, cũng ít khi để ý tới, nhưng ruộng nương ở đâu, thuế má bao nhiêu thì cứ theo sổ sách mà hỏi, chỉ sợ là không biết rõ.

Ít lâu nói với sinh rằng:

- Việc trong nhà xin chàng đừng nhìn tới nữa, để thiếp lo cho, xem có coi sóc nổi việc nhà không?

Sinh theo lời, được nửa năm thì trong nhà không có việc gì bê trễ, cũng cho vợ là giỏi.

Một hôm sinh đi uống rượu ở xóm bên, có kẻ đi thúc thuế thiếu đập cửa hỏi, nàng sai đầy tớ ra nài nỉ xin khất nhưng y không chịu, phải sai trẻ đi gọỉ sinh về.

Người thúc thuế đi rồi, Sinh cười nói:

- Tế Liễu nay đã biết đàn bà khôn không bằng đàn ông ngu chưa?

Cô gái nghe thế cúi đầu bật khóc, sinh hoảng sợ vội tìm lời an ủi nhưng rốt lại nàng vẫn không vui.

Sinh không nỡ để nàng phải khó nhọc vì việc nhà, muốn tự mình cáng đáng như cũ nhưng nàng không chịu.

Từ đó nàng thức khuya dậy sớm chăm chỉ lo toan, cứ cuối năm là lo sẵn tiền thuế của năm sau, nhờ vậy cả năm ít khi thấy nha lại tới nhà đòi thuế thiếu.

Về tiền bạc chi tiêu trong nhà nàng cũng làm theo cách ấy, nhờ vậy chi dùng có chừng mục mà của cải ngày thêm nhiều.

Sinh vì thế càng yêu mến, có lần nói đùa với nàng rằng:

- Tế Liễu mới nhỏ sao?

Nét mày nhỏ, eo lưng nhỏ, bàn chân nhỏ, lại mến tâm tư càng tinh tế.

Nàng đối lại rằng:

- Cao lang thật cao vậy!

Nhân phẩm cao, chí khí cao, văn chương cao, chỉ mong tuổi thọ lại càng cao.

Trong làng có người bán chiếc quan tài bằng gỗ tốt, nàng không tiếc mang món tiền lớn tới hỏi mua, nhưng giá cao quá không đủ tiền, lại tìm đủ cách vay muợn thân thích láng giềng mua bằng được.

Sinh cho rằng đó không phải vật cần gấp, cố ngăn cản nhưng nàng không nghe.

Mua về hơn năm thì trong làng có người chết, người nhà mang tiền tới xin mua lại với giá gấp đôi, sinh thấy có lãi bèn bàn bán đi, nàng không chịu.

Sinh hỏi nguyên cớ, nàng không đáp, lại hỏi nữa thì nàng rơm rớm nước mắt, sinh lấy làm lạ nhưng không nỡ làm nàng buồn, bèn thôi việc ấy.

Lại hơn một năm nữa, sinh vừa hai mươi lăm tuổi, nàng không cho đi xa, mà đi đâu về hơi muộn thì nàng sai đầy tớ nối nhau đi mời gọi về, bạn bè sinh vì vậy có người lấy đó để đùa cợt chế diễu.

Một hôm sinh tới nhà bạn uống rượu, thấy trong người mỏi mệt nên ra về, giữa đường ngã ngựa chết.

Lúc ấy mới đầu mùa hè, may mà quan tài vải liệm đã chuẩn bị đầy đủ cả, người làng mới bắt đầu khâm phục Tế Liễu.

Phúc lên mười tuổi thì bắt đầu đi học, nhưng sau khi cha chết lại đâm ra biếng nhác không chịu đọc sách cứ trốn học đi chơi với đám trẻ chăn trâu.

Nàng trách mắng cũng không chừa, kế đánh đòn mà vẫn bướng bỉnh chứng nào tật ấy như cũ.

Nàng không biết làm sao, bèn gọi vào răn dạy, nói:

- Nếu ngươi không muốn học chữ thì làm sao ép được.

Nhưng nhà ta nghèo, không ai được ngồi ăn không.

Ngươi phải thay quần áo, theo bọn đầy tớ làm lụng, nếu không thì ta đánh đòn đừng trách.

Rồi bắt mặc áo rách, sai đi chăn heo, về tới nhà thì phải xách nước nấu cơm, ăn uống như đám tôi tớ.

Được vài hôm Phúc thấy khổ quá, tới quỳ trước sân khóc lóc, xin lại đi học.

Nàng quay mặt vào vách im lặng như không nghe thấy, Phúc bất đắc dĩ cầm roi khóc lóc đi ra.

Đến cuối thu Phúc hết đường xoay xở, mình không áo, thân không giày, mưa lạnh thấu xương, đầu bù tóc rối như ăn mày.

Người làng ai thấy cũng thương hại, những kẻ lấy vợ kế đều lấy việc Tế Liễu làm răn, chê bai dè bỉu đủ điều, nàng cũng nghe biết song vẫn thản nhiên không hề để ý.

Phúc khổ quá chịu không nổi, bỏ heo trốn đi, nàng cũng mặc kệ không hỏi gì tới.

Được vài tháng Phúc không có chỗ nào cho ăn, tiều tụy tự tìm về nhưng không dám vào nhà, năn nỉ người đàn bà láng giềng qua nói giúp với mẹ.

Nàng nói:

- Nếu chịu nổi một trăm gậy thì vào đây gặp ta, còn nếu không thì cứ đi đi cho sớm.

Phúc nghe thế chạy mau vào nhà, khóc rống lên xin chịu đòn.

Nàng hỏi:

- Nay ngươi đã hối lỗi rồi sao?

Phúc thưa:

- Con hối lỗi rồi!

Nàng nói:

- Đã biết hối lỗi rồi thì không cần đánh nữa, cứ về yên phận chăn heo, nếu tái phạm sẽ không tha.

Phúc khóc lớn thưa:

- Xin mẹ cứ đánh một trăm gậy nhưng cho con được đi học lại.

Nàng không nghe, người đàn bà láng giềng khuyên giải mãi mới ưng thuận.

Bèn sai Phúc tắm rửa, cho mặc áo mớì, bắt đi học chung với em là Hỗ, từ đó ra sức học hành, khác hẳn ngày trước.

Được vài năm Phúc vào học ở trường tỉnh, có quan Tuần phủ là Dương công đọc thấy văn bài cho là có tài, hàng tháng cấp thêm tiền gạo giúp đỡ việc học.

Hỗ thì rất ngu độn, đi học mấy năm vẫn không viết được tên họ.

Mẹ bắt bỏ học về làm ruộng, nhưng Hỗ quen sung sướng ngại cực khổ.

Mẹ giận nói:

- Bốn dân ai cũng phải làm việc, ngươi đã không thể học lại không muốn cày, há chẳng chết đói nơi ngòi rãnh à?

Lập tức đánh cho một trận, từ đó bắt theo đám tôi tớ làm ruộng, sáng nào dậy muộn thì bị chửi mắng.

Đồ mặc thức ăn có thứ đẹp cái ngon thì mẹ chọn dành cho anh, Hỗ không dám nói ra nhưng lòng vẫn tức tối.

Hết mùa làm ruộng, mẹ xuất tiền đưa cho sai theo học buôn bán, Hỗ lại say mê cờ bạc, có bao nhiêu tiền nướng sạch cả, rồi về đặt điều là gặp phải trộm cướp, đổ cho số phận để đánh lừa mẹ.

Mẹ biết, đánh cho một trận gần chết, Phúc bò rạp xuống năn nỉ xin chịu đòn thay em, Tế Liễu mới nguôi giận.

Từ đó mỗi khi Hỗ ra khỏi nhà là mẹ sai người theo dõi gắt gao, nên dần dần cũng tiêu pha dè sẻn hơn, có điều chỉ là bất đắc dĩ chừ không phải thật lòng muốn như vậy.

Một hôm xin mẹ cho theo bạn buôn tới huyện Lạc Dương (tỉnh Hà Nam) buôn bán, thật ra là mượn cớ đi xa để mặc sức chơi bời, nhưng trong lòng lo lắng chỉ sợ mẹ không chịu.

Mẹ nghe nói thản nhiên chẳng nghĩ ngợi gì, đưa ngay cho ba mươi lượng vàng vụn để làm vốn, rồi đưa thêm một đĩnh vàng lớn, nói:

- Đây là của ông nội ngươi dành dụm lúc làm quan để lại, không được tiêu mất, đưa ngươi dằn túi để phòng lúc cần kíp thôi.

Vả lại ngươi mới học đi buôn, ta cũng chẳng dám mong lãi nhiều, chỉ cần không bị hụt vào ba mươi lượng vàng này là được rồi.

Lúc Hỗ lên đường còn dặn đi dặn lại, Hỗ dạ dạ ra đi, vui vẻ đắc ý lắm.

Tới đất Lạc, Hỗ từ biệt hết các bạn buôn, tới ở nhà ca kỹ họ Lý, chỉ qua hơn mười đêm đã gần hết ba mươi lượng vàng.

Nhưng nghĩ trong túi còn đỉnh vàng lớn nên đầu tiên chưa lo lắng gì, đến lúc chặt ra trả tiền mới biết chỉ là vàng giả, hoảng sợ tái cả mặt.

Mụ chủ thấy thế buông lời châm chọc mai mỉa, Hỗ vô cùng lo lắng nhưng túi rỗng không biết xoay xở vào đâu, song nàng ca kỹ còn nghĩ tới tình nghĩa chưa trở mặt ngay.

Giây lát có hai người mang dây sấn vào trói nghiến Hỗ, Hỗ hoảng sợ không biết vì sao, van vỉ hỏi thăm mới rõ rằng nàng ca kỹ đã ngầm lấy đĩnh vàng giả sai người đem báo quan.

Tới công đường, quan không buồn nghe thưa bẩm gì cả, cứ sai cùm kẹp Hỗ chết đi sống lại mấy lần rồi hạ ngục.

Hỗ không có tiền bạc gì nên bị bọn ngục tốt đối xử tàn tệ, phải xin cơm của các bạn tù ăn mới không chết đói.

Hôm Hỗ lên đường, mẹ nói với Phúc rằng:

- Nhớ là hai mươi ngày nữa ta sẽ sai ngươi tới đất Lạc, ta nhiều việc chỉ sợ quên mất!

Phúc hỏi đi để làm gì thì nàng im lặng buồn rầu nên không dám hỏi nữa, lặng lẽ lui ra.

Sau hai mươi ngày, Phúc tới hỏi, mẹ than:

- Em ngươi bê tha ngày nay cũng như ngươi bỏ học ngày trước vậy, ta mà không chịu tiếng xấu thì làm sao ngươi được như ngày nay?

Mọi người đều nói rằng ta nhẫn tâm, nhưng việc nước mắt đẫm gối thì họ không biết đó thôi.

Rồi bật khóc, Phúc chĩ kính cẩn đứng im lặng, không dám hỏi han gì.

Mẹ khóc xong mới nói:

- Em ngươi chưa bỏ thói xấu nên ta đưa vàng giả để nó phải chịu khốn khổ, nay chắc đã bị bắt rồi.

Quan Tuần phủ đối xử với ngươi rất tốt, ngươi tới cầu khẩn thì nó có thể được thoát chết để sống mà hối lỗi.

Phúc lập tức lên đường, tới đất Lạc thì em đã bị giam ba ngày rồi.

Vội vào ngục tìm, thấy Hỗ mặt mũi nhọ nhem như quỷ, gặp anh rơi nước mắt không dám ngước nhìn, Phúc cũng khóc.

Lúc ấy Phúc được quan Tuần phủ đối xử rất thân ái, xa gần đều biết tiếng, quan huyện Lạc Thành biết là anh Hỗ, vội tha Hỗ ra.

Hỗ về tới nhà sợ mẹ giận, đi bằng đầu gối vào gặp.

Mẹ ngoảnh lại hỏi:

- Ngươi thỏa nguyện rồi chứ?

Hỗ rơi nước mắt không dám lên tiếng.

Phúc cũng quỳ xuống, mẹ mới quát bảo đứng dậy.

Từ đó Hỗ dốc lòng tu tỉnh, chăm chỉ việc nhà, nếu có lúc nào bê trễ mẹ cũng không trách hỏi gì tới.

Suốt mấy tháng không nói tới chuyện đi buôn, cũng muốn xin với mẹ nhưng không dám, bèn nhờ anh nói hộ.

Mẹ nghe thế mừng rỡ, đem hết tiền bạc giao cho, Hỗ đi buôn nửa năm đã lãi gấp hai.

Năm ấy Phúc thi hương đỗ Cử nhân, ba năm sau lại đỗ Tiến sĩ, em thì buôn bán trở nên giàu có ức vạn.

Trong huyện có người tới đất Lạc, gặp được Thái phu nhân, thấy tuổi đã tứ tuần mà dung mạo chỉ như mới hơn ba mươi, ăn mặc giản dị như nhà thường dân mà thôi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 156+157+158


CHƯƠNG 156: CHUNG SINH

Bắc Đường Thọ Vũ Khánh Trùng Khai

Quế Tử Hương Phân Lưỡng Tụ Hồi

Tác Nghiệt Tiêu Trừ Giai Ngẫu Hiệp

Đô Tòng Thuần Hiếu Tính Trung Lai

Dịch:

Mừng Được Nhà Huyên Tuổi Thọ Trường

Vinh Quy Bẻ Quế Đượm Mùi Hương

Tiêu Trừ Nghiệt Cũ Vui Duyên Mới

Thuần Hiểu Xui Bên Vẹn Mọi Đường



Chung Khánh Dư là danh sĩ ở huyện Liêu Đông (tỉnh Liêu Dương).

Xuống nam thi hương, nghe nói trong vương phủ có vị đạo sĩ biết được chuyện may rủi của người ta, định tìm tới hỏi.

Thi nhị trường xong, tới suối Báo Đột (thuộc huyện Lịch Thành tỉnh Sơn Đông) thì gặp, thấy là một đạo nhân hơn sáu mươi tuổi, râu dài tới bụng, tóc bạc phơ phơ.

Những người tới hỏi chuyện số may vận rủi chen chúc đông nghịt xung quanh, đạo sĩ đều miễn cuỡng trả lời.

Chợt nhìn thấy sinh giữa đám đông, ông ta vui mừng cầm tay nói:

- Ông đúng là người tâm tính đức hạnh đáng kính.

Rồi kéo sinh lên gác trò chuyện, nhân hỏi:

- Có phải ông muốn biết tương lai không?

Sinh vâng dạ.

Đạo sĩ nói:

- Phúc mệnh của ông rất mỏng, song khoa này thi hương cũng có thể hy vọng, có điều e rằng thi đỗ rồi lại không được thấy mặt cha mẹ nữa.

Chung vốn có hiếu, nghe thế rơi nước mắt, muốn bỏ thi trở về.

Đạo sĩ nói:

- Nếu bỏ thi lần này thì không bao giờ đỗ nổi Cử nhân nữa.

Sinh đáp:

- Mẹ mất không được thấy mặt, thật không đáng làm người, dẫu làm tới khanh tướng cũng có gì quý?

Đạo sĩ nói:

- Kiếp trước ta có túc duyên với ông, ngày nay xin hết sức giúp đỡ.

Rồi lấy thuốc trao cho, nói:

- Cứ sai người ngày đêm đi gấp về dâng cho lệnh đường, thuốc này uống vào có thể sống thêm bảy hôm, ông thi xong trở về mẹ con vẫn còn kịp nhìn thấy mặt nhau.

Sinh nhận thuốc, vội vàng ra về, lòng dạ rối bời, nghĩ rằng sống chết có ngày giờ, mình về sớm được một ngày thì phụng dưỡng mẹ nhiều thêm một ngày, liền gọi đầy tớ thuê ngựa tức khắc lên đường trở về Liêu Đông.

Đi được vài dặm bỗng con ngựa quay đầu chạy ngược lại, đánh thì nó đứng ỳ ra, thúc bàn đạp thì nó khuỵu xuống, sinh toát cả mồ hôi cũng không làm sao được.

Người đầy tớ bèn khuyên sinh ở lại, sinh không nghe, nhưng thuê con ngựa khác cưỡi thì cũng thế, đến tận chiều tối vẫn không đi được.

Người đầy tớ lại khuyên:

- Ngày mai là thi xong, có gấp gì một ngày một buổi?

Ta xin đi ngay mang thuốc về trước thay chủ nhân, thế thì đôi đàng đểu trọn vẹn.

Sinh bất đắc dĩ đành nghe theo.

Hôm sau vào thi, sinh làm bài qua loa cho xong rồi lập tức lên đường trở về ngày đêm không nghỉ.

Về tới nhà thì biết bệnh mẹ đang ngặt nghèo nhưng uống thuốc xong cũng hơi giảm.

Sinh vào đứng trước giường rơi nước mắt, mẹ ra hiệu bảo nín khóc, rồi cầm tay sinh vui vẻ nói:

- Mẹ vừa nằm mộng thấy xuống tới âm ty thấy Diêm Vương nét mặt ôn hòa nói rằng: Xét ngươi bình sinh không phạm tội gì lớn, nghĩ tới con ngươi chí hiếu nên cho ngươi sống thêm một kỷ (mười hai năm) nữa.

Sinh cũng mừng, vài ngày sau quả nhiên thấy mẹ khỏe mạnh lại như cũ.

Không bao lâu lại có tin báo thi đỗ, sinh chào mẹ tới đất Tế (tức vùng Sơn Đông), đút tiền cho quan Nội giám trong vương phủ xin gặp đạo sĩ.

Đạo sĩ vui vẻ ra gặp, sinh bèn lạy tạ.

Đạo sĩ nói:

- Ông vừa đậu cao, Thái phu nhân lại được tăng thêm tuổi thọ, đó đều là nhờ ông có đức tốt, chứ bần đạo có tài cán gì đâu?

Sinh càng phục tài tiên tri, lại xin hỏi việc chung thân.

Đạo sĩ đáp:

- Ông không quý hiển lớn được, song được sống lâu là đủ rồi.

Kiếp trước ông là đạo hữu với ta, có lần lấy đá ném con chó, lỡ tay giết chết nó, nay nó đã đầu thai làm ngựa rồi.

Theo số mệnh mà bàn thì lẽ ra ông phải chết sớm, nhung nhờ lòng chí hiếu làm cảm động tới thần minh nên đã được giải tinh nhập hạn, chắc sẽ không hề gì.

Nhưng phu nhân kiếp trước là đàn bà không giữ trinh tiết, lẽ ra kiếp này phải góa chồng sớm, nay ông nhờ có đức được kéo dài tuổi thọ thì lại không xứng đôi nữa, e rằng sang năm đài gương phải đổ.

Sinh bùi ngùi hồi lâu rồi hỏi vợ kế của mình ở đâu, đạo sĩ đáp:

- Ở Trung Châu (thuộc tỉnh Hà Nam), năm nay được mười bốn tuổi.

Khi chia tay lại dặn sinh:

- Nếu gặp tai họa thì cứ chạy mau về phía đông nam.

Hơn năm sau, quả nhiên vợ sinh mắc bệnh chết.

Sinh có người cậu làm Huyện lệnh Tây Giang (tỉnh Quảng Đông), mẹ sai đi thăm.

Lúc về tiện đường sinh ghé qua Trung Châu xem lời tiên đoán của đạo sĩ về người vợ kế có nghiệm không.

Ngẫu nhiên tới một thôn đang có đám diễn tuồng cạnh bờ sông, trai gái chen chúc đứng xem đông nghẹt, sinh vừa thả cương cho ngựa chậm rãi đi vòng qua thì bỗng có con ngựa đực đứt cương đuổi theo làm ngựa của sinh vọt chạy.

Sinh ngoảnh lại lấy roi đánh vào đầu con ngựa đực, nó hoảng sợ lồng lên.

Lúc ấy thế tử trong vương phủ mới được sáu bảy tuổi, người vú đang bế ngồi chơi trên đê, con ngựa đực xông về phía đó, đám tùy tùng đều không kịp chặn lại nên vương tủ bị xô ngã xuống sông.

Đám tùy tùng quát tháo ầm ĩ tranh nhau đuổi bắt, sinh giục ngựa chạy bán sống bán chết, chợt nhớ lời đạo sĩ dặn bèn ra sức chạy về phía đông nam.

Được hơn hai mươi dặm thì vào tới một thôn, thấy có ông già đúng trước cổng nhà nọ liền xuống ngựa vái chào.

Ông già mời vào, tự xưng là họ Phương rồi hỏi khách từ đâu tới.

Sinh quỳ rạp xuấng đất kể lại sự tình, ông già nói:

- Không hề gì, xin cứ nghỉ lại đây!

Rồi sai người đi nghe ngóng.

Đến tối được tin mới biết là thế tử trong vương phủ, cả sợ nói:

- Nhà ai khác thì ta còn có thể giúp, chứ cục cưng này thì không làm thế nào được.

Sinh năn nỉ mãi, ông già ngẫm nghĩ rồi nói:

- Quả thật là không giúp được, nhưng mời khách cứ nghỉ lại qua đêm nay ở đây, nghe ngóng xem tình thế ra sao mới tính tiếp được.

Sinh buổn rầu lo lắng, cả đêm không chợp mắt.

Hôm sau nghe tin đã có trát nã bắt sinh, ai chứa chấp cũng sẽ bị xử tử.

Ông già có vẻ lo lắng im lặng trở vào, sinh nửa sợ nửa ngờ không sao trấn tĩnh được.

Nửa đêm, ông già qua gõ cửa phòng, vào ngồi một lúc rồi hỏi vợ sinh bao nhiêu tuổi.

Sinh nói là góa vợ, ông già mừng rỡ nói:

- Kế ta ắt xong!

Sinh hỏi kế thế nào, ông đáp:

- Anh rể ta mộ đạo Phật, vào núi Nam Sơn tu hành, chị ta nay đã qua đời, để lại một đứa con gái được người lão bộc chăm sóc cũng khá thông minh, xin gả cho ông, có đưọc không?

Sinh mừng vì hợp với lời đạo sĩ, lại thành có kẻ thân thích ở nơi xa, có thể thoát nạn, bèn nói:

- Tiểu sinh thật rất may mắn, nhưng đang là kẻ có tội ở xa nhà, rất sợ làm lụy cả cha vợ.

Ông già nói:

- Như thế là tính kế cho ông đấy.

Anh rể ta đạo thuật thông thần nhưng lâu lắm không hỏi tới việc đời rồi.

Có điều đám cưới xong ông cứ bàn với cháu ta, thế nào cũng có cách mà.

Sinh càng mừng, liền qua nhà cô gái làm lễ cưới.

Cô gái đã mười sáu tuổi, xinh đẹp không ai bằng, nhưng sinh cứ thấy mặt lại thở dài Cô gái hỏi:

- Thiếp dù quê mùa xấu xí, nhung chẳng lẽ chàng lại ghét bỏ sao?

Sinh tạ lỗi đáp:

- Nương tử là người tiên, ta được cưới làm vợ là may lắm, chỉ vì đang có tai họa nên sợ sẽ có chuyện ngang trái cho nhau.

Rồi kể thật hết sự tình.

Cô gái oán cậu không phải là giống người, tai họa tày trời như vậy mà đã không bàn trước cũng chẳng nói rõ, làm mình sa hầm sẩy hang.

Sinh quỳ rạp xuống nói:

- Đây là vì tiểu sinh cố chết lạy lục cầu khẩn, nên cậu nhân từ nhưng hết cách giúp, chỉ biết nàng có thể cứu sống người đã chết, đắp thịt cho xương khô thôi.

Ta thật không xứng đáng sánh duyên với nàng, nhưng may mà nhà cửa cũng không đến nỗi nào, nếu được sống sót thì ngày sau xin lấy hương hoa thờ phụng.

Cô gái than:

- Chuyện đã tới nước này thì còn nói gì nữa!

Nhưng cha đã lập chùa để tu, dứt hết lòng yêu thương con cái của người đời, có điều không còn cách nào thì phải cùng tới đó cầu khẩn, sợ là phải quỳ một phen cực khổ đây.

Rồi đó nàng thức trắng đêm lấy nệm dày khâu làm đệm độn vào đầu gối cho hai người, lấy áo dài mặc phủ ra bên ngoài, rồi sai gọi kiệu lên núi.

Vào Nam Sơn hơn mười dặm thì núi cao đường dốc, quanh co hiểm trở không sao đi kiệu nữa, phải xuống đi bộ.

Cô gái đi rất khó khăn, sinh kéo tay dìu đỡ, vất vả hồi lâu mới lên tới trên núi.

Thấy cổng chùa không còn xa, bèn cùng ngồi xuống nghỉ chân.

Cô gái thở hổn hển, mồ hôi ròng ròng, son phấn trôi hết, sinh thấy thế thương xót nói:

- Vì ta mà nàng phải chịu khổ tới nỗi này.

Cô gái vừa thở vừa đáp:

- Chỉ sợ bấy nhiêu còn chưa phải là khốn khổ đâu.

Hai người nghỉ giây lát rồi đưa nhau vào chùa, lạy Phật rồi vào trong, quanh co một lúc thì tới thiền đường.

Thấy một nhà sư già ngồi xếp bằng, mắt nhắm nghiền như người mù, có một tiểu đồng cầm phất trần đứng hầu.

Trong phương trượng quét dọn rất sạch sẽ, nhưng trước chỗ sư ngồi lại bày đầy đá sỏi, la liệt như sao trên trời.

Cô gáỉ không dám chọn lựa gì, bước tới quỳ ngay xuống, sinh cũng quỳ xuống phía sau.

Sư hé mắt nhìn rồi nhắm ngay lại cô gái làm lễ ra mắt rồi nói:

- Lâu rồi không tới thăm cha, nay con vừa lấy chồng, nên đưa chồng con tới chào.

Hồi lâu nhà sư mới mở mắt nói:

- Con vãi con này chỉ làm khổ ta!

Rồi lại im lặng.

Vợ chồng quỳ hồi lâu chồn cả chân, đá sỏi nghiến vào đầu gối, đau không chịu nổi.

Lại một hồi lâu sư mới hỏi:

- Đã dắt ngựa lại chưa?

Cô gái thưa chưa.

Sư nói:

- Vợ chồng về mau đi, dắt nó tới đây ngay.

Hai người lạy rồi đứng lên, khập khiễng dìu nhau đi, về tới nhà lập tức cho dắt con ngựa của sinh vào núi, nhưng chỉ làm đúng theo lời sư dặn chứ không rõ ông có ý tứ gì.

Vài hôm sau nghe đồn là đã bắt được tội nhân làm vương tử rơi xuống sông đem chém, vợ chồng mừng lắm.

Liền sau đó trong núi sai tiểu đồng tới, đưa sinh một đoạn gậy trúc bị chặt đứt, nói:

- Kẻ chết thay là ông này đấy!

Rồi bảo sinh cúng tế để giải oan cho cây trúc.

Sinh nhìn thì thấy chỗ bị chặt có vết máu, bèn khấn khứa rồi chôn cất: Nhưng vợ chồng cũng không dám ở đó lâu, nên ngay trong đêm đưa nhau về Liêu Dương.

_____________________________________

CHƯƠNG 157: MỘNG LANG

Mộng Hồi Vô Kế Phá Sầu Nhan

Hạ Khách Doanh Môn Lệ Độc Sam

Tĩnh Thức Quan Trường Chân Diện Mục

Hổ Lang Bất Tất Tại Thâm Sơn

Dịch:

Giấc Mơ Bừng Tỉnh Mặt Đăm Đăm

Đông Khách Mừng Riêng Lệ Nhỏ Thầm

Mặt Thực Quan Trường Nhìn Thấy Rõ

Hổ Lang Chưa Hẳn Ở Rừng Thâm



Ông họ Bạch là người tỉnh Trực Lệ.

Con trai lớn là Giáp đi làm quan ở phương nam, hai năm đường xa bặt tin.

Có người họ Đinh là họ hàng xa tới thăm, ông lâu không gặp nên bày tiệc khoản đãi.

Đinh vốn là phù thủy, lúc chuyện trò ông hỏi việc dưới âm phủ, Đinh trả lời có nhiều điều huyễn hoặc, ông không tin lắm nhưng cũng chỉ mỉm cười.

Kế chia tay, vài hôm sau ông vừa đi nằm thấy Đinh lại tới, mời cùng đi chơi.

Ông đi theo, vào tới một tòa thành, lát sau Đinh chỉ một cái cổng nói:

- Cháu ông ở trong ấy đấy!

Lúc ấy ông có đứa cháu con người chị đang làm Tri huyện ở đất Tấn (vùng Sơn Tây), ngạc nhiên hỏi:

- Sao nó lại ở đây?

Đinh đáp:

- Nếu ông không tin, cứ vào sẽ biết!

Ông vào, quả thấy cháu mặc áo đội mũ Ngự sử ngồi trên công đường, quân hầu vác cờ cầm kích dàn hàng, không ai vào lọt.

Đinh kéo ra, nói:

- Còn nha môn của công tử cách đây cũng không xa, ông có muốn tới xem không?

Ông bằng lòng.

Giây lát tới một tòa nhà, Đinh bảo:

- Ông vào đây!

Nhìn vào cổng thấy một con sói lớn chắn đường, sợ quá không dám bước tới, Đinh lại nói:

- Ông cứ vào đây!

Qua một lần cổng nữa thấy trên thềm dưới sân toàn là sói, con nằm con ngồi.

Nhìn tới thềm thì thấy xương trắng chất cao như núi, ông càng sợ hãi, Đinh bèn lấy mình che cho ông đi vào.

Công tử Giáp vừa từ nhà trong ra, thấy cha và Đinh mừng lắm, mời ngồi rồi gọi người hầu sửa soạn cơm rượu.

Chợt có con sói lớn ngoạm một xác người chết vào.

Ông run bần bật đứng lên hỏi:

- Cái đó dùng làm gì?

Giáp đáp:

- Để làm cơm!

Ông vội ngăn cản, lòng hoảng hốt không yên, cáo từ định đi ra nhưng bị đàn sói cản lại.

Đang còn chưa quyết lui tới ra sao chợt thấy lũ sói kêu gào chạy tứ tán, con chui vào gầm giường, con rúc xuống dưới ghế, ngạc nhiên không rõ vì sao.

Giây lát có hai lục sĩ mặc giáp vàng trợn mắt bước vào, rút dây sắt ra trói Giáp, Giáp ngã lăn xuống đất hóa thành con cọp, răng nhe lởm chởm.

Một người tuốt kiếm sắc toan chặt đầu, người kia ngăn lại nói:

- Khoan đã, khoan đã!

Đó là việc tháng tư năm sau, cứ tạm bẻ răng nó trước.

Rồi rút ngọn chùy lớn ra đập, răng cọp gảy rơi xuống đất, cọp đau quá rống vang.

Ông khiếp sợ, chợt tỉnh dậy mới biết là mình nằm mơ, lấy làm lạ cho người mời Đinh nhưng Đinh từ chối không tới.

Ông bèn ghi lại giấc mơ, sai con thứ đưa thư tới cho Giáp, răn bảo thống thiết.

Người em tới nơi, thấy răng cửa của anh gảy hết, sợ hãi hỏi thăm, thì ra vì say rượu ngã ngựa.

Hỏi lại thời gian thì đúng ngày cha nằm mơ, càng sợ hãi, đưa thư của cha ra.

Giáp đọc thư tái mặt, một lúc mới nói:

- Đó là ảo mộng ngẫu nhiên phù hợp, có gì lạ.

Lúc ấy Giáp đang hối lộ quan trên để được tiến cử nên không để bụng về giấc mộng gở của cha.

Người em ở lại vài hôm thấy lũ nha lại sâu mọt đầy công đường, kẻ hối lộ người chạy chọt nườm nượp ra vào đến khuya vẫn không ngớt, rơi nước mắt can anh.

Giáp nói:

- Em ở nhà quê nên không biết điều cốt yếu của việc làm quan.

Quyền thăng hay truất mình là ở quan trên chứ không phải trăm họ, nên cứ quan trên vui lòng tức là quan tốt chứ thương yêu trăm họ thì làm sao cho quan trên vui lòng được?

Người em biết không thể can ngăn được bèn trở về kể hết cho cha.

ông Bạch nghe thế khóc lớn, không biết làm sao, chỉ còn cách bỏ tiền bạc ra giúp người nghèo, hàng ngày cầu khấn thần linh, chỉ xin nếu thằng con ngỗ nghịch bị báo oán thì đừng làm lụy cả vợ con.

Năm sau, có tin báo Giáp được tiến cử về bộ Lại, người chúc mừng tới chật cổng.

Ông chỉ than thở nằm bẹp, thác bệnh không ra tiếp một ai.

Không bao lâu nghe tin con trai về kinh gặp cướp, thầy tớ đều bị giết.

Ông trở dậy nói với mọi người:

- Cơn giận của quỷ thần chỉ dành cho riêng nó, ơn che chở cho nhà ta như vậy không phải không sâu nặng đâu.

Rồi thắp hương lạy tạ.

Người tới an ủi đều cho rằng đó chỉ là tin đồn thất thiệt trên đường, riêng ông tin chắc không hề nghi ngờ, cứ định ngày xây mộ.

Nhưng Giáp vốn chưa chết.

Trước là tháng tư Giáp thôi chức lên đường, vừa ra khỏi huyện liền gặp cướp, dốc hết rương hòm ra nộp nhưng chúng nói:

- Bọn ta tới đây để rửa nỗi căm tức của dân cả một huyện, đâu phải chỉ vì bấy nhiêu!

Rồi chém đầu Giáp.

Lại hỏi đám gia nhân rằng Tư Đại Thành là ai?

Tư vốn là tay chân tâm phúc của Giáp, giúp kẻ dữ làm điều ác.

Đám gia nhân đều chỉ vào y, bọn cướp cũng chém luôn.

Lại có bốn tên nha lại sâu mọt là tay sai vơ vét tiền bạc cho Giáp, được Giáp đưa theo về kinh cũng bị lôi ra chém chết.

Bấy giờ bọn cướp mới chia của cải, chất lên ngựa phóng đi.

Hồn Giáp nằm bên đường, thấy một vị quan lớn đi ngang hỏi người bị giết là ai, toán quân mở đường bẩm:

- Là Tri huyện họ Bạch ở huyện mỗ!

Vị quan nói:

- Đó là con họ Bạch, không nên để y cuối đời phải nhìn thấy cảnh thảm khốc này, cứ chắp đầu lại cho hắn.

Lập tức có một người nhặt đầu Giáp đặt lên cổ, nói:

- Kẻ gian tà không cần chắp cho ngay ngắn, cứ cho vai đỡ cằm là được.

Rồi bỏ đi.

Lát sau Giáp sống lại, vợ con tới nhặt xác thấy còn thoi thóp bèn chở về, từ từ đổ nước cháo cho, cũng uống được nhưng phải sống nhờ ở quán trọ vì nghèo quá không về được.

Khoảng nửa năm, ông Bạch được tin đích xác, sai con thứ tới đón về.

Giáp tuy sống lại nhưng mắt nhìn thấy lưng, không giống con người nữa.

Con trai người chị ông Bạch thì làm quan có tiếng tốt, năm ấy được tiến cử làm Ngự sử, đều đúng như ông mơ thấy.

____________________________________

CHƯƠNG 158: THIÊN CUNG

Cánh Tùng Hề Xứ Nhập Thiên Cung

Lai Khứ Vô Đoan Túy Mộng Trung

Xuân Sắc Mãn Viên Quan Bất Trú

Kỷ Nhân Hàm Ngọa Tiểu Lâu Đông

Dịch:

Đâu Chốn Cung Trời Nhận Rõ Cơ

Bỗng Dưng Lui Tới Giấc Say Mơ

Ngạt Ngào Hương Sắc Vườn Xuân Hé

Lầu Nhỏ Ai Nằm Tựa Ngủ Khò



Quách sinh là người kinh đô, tuổi ngoài hai mươi, dung mạo đẹp đẽ.

Một buổi chiều có bà già mang cho một bình rượu, lấy làm lạ vì không biết duyên cớ.

Bà già cười nói:

- Không cần hỏi, cứ uống vào sẽ có chuyện hay.

Rồi bỏ đi.

Sinh mở bình ngửi thử, thấy thơm lừng bèn uống.

Chọt say lịm không biết gì nữa, khi tỉnh dậy thì thấy đang nằm chung với một người, sờ thấy da thịt mềm mại, mùi hương sực nức, té ra là con gái, hỏi thì không đáp, Quách, bèn làm luôn.

Kế lấy tay mò lên vách thấy toàn bằng đá, không khí ẩm thấp đầy hơi đất như trong mồ, cả sợ ngờ là bị ma dụ.

Nhân hỏi cô gái:

- Nàng là thần gì?

Nàng đáp:

- Ta không phải là thần mà là tiên, đây là động phủ.

Ta cùng ngươi vốn có túc duyên, xin chớ ngờ vực, cứ ở lại đây.

Qua một lần cửa nữa, chỗ có ánh sáng lọt vào là nơi đại tiểu tiện.

Nói rồi trở dậy đóng cửa đi mất.

Hồi lâu Quách thấy đói, có nữ đồng mang bánh bao, miến vịt vào, cứ cho ăn mò trong bóng tối, tối đen như mục không biết ngày hay đêm.

Không bao lâu cô gái vào ngủ mới biết đã là đêm, Quách nói:

- Ngày không ánh mặt trời, đêm không ánh đèn lửa, ăn uống không biết mồm ở đâu nếu cứ thế này thì Hằng Nga khác gì La Sát, thiên đường khác gì địa ngục?

Cô gái cười nói:

- Vì ngươi là người trần tục, nhiều lời dễ lộ nên ta không muốn ra mặt gặp nhau.

Vả lại mò mẫm trong bóng tối thì xấu đẹp cũng có thể biết, cần gì đèn đuốc?

Ở vài hôm, Quách vô cùng buồn chán, mấy lần xin về.

Cô gái nói:

- Đêm mai cùng chàng lên Thiên cung chơi một lần rồi sẽ chia tay.

Hôm sau chợt có a hoàn nhỏ cầm đèn lồng vào nói:

- Nương tử chờ chàng đã lâu.

Quách theo ra, dưới ánh sao đêm vằng vặc chỉ thấy vô số lầu gác.

Qua mấy đoạn hành lang chạm vẽ tới một nơi trên thềm treo rèm châu, đèn đuốc sáng rực như ban ngày.

Bước vào thì thấy một mỹ nhân trang điểm lộng lẫy ngồi quay mặt về hướng nam, tuổi khoảng hai mươi, áo gấm lóa mắt, đầu đính minh châu rủ xuống bốn phía, dưới đất bày đầy đuốc ngắn soi rõ cả gấu quần, đúng là người trời.

Quách hoang mang váng vất, bất giác quỳ xuống, cô gái sai tỳ nữ đỡ dậy dìu vào ghế.

Phút chốc các món bát trân bày lên la liệt cô gái rót rượu nói:

- Uống chén này để đưa chàng về.

Quách khom người thưa:

- Trước giáp mặt mà không biết người tiên, thật rất thẹn thùng, nếu cho chuộc lỗi, xin làm kẻ bầy tôi trung thành suốt đời.

Cô gái quay nhìn tỳ nữ mỉm cười rồi sai dọn tiệc vào phòng ngủ.

Trong phòng cũng màn gấm tua thêu, chăn là thơm phức, nàng bảo Quách ngồi lên giường.

Uống thêm một lúc, mấy lần nói:

- Chàng xa nhà đã lâu, nay tạm về cũng không sao.

Hết canh một Quách vẫn chưa cáo từ, cô gái gọi tỳ nữ cầm đèn lổng tiễn ra.

Quách im lặng, giả say lăn ra giường, lay gọi gì cũng không động, nàng bèn sai các tỳ nữ đỡ dậy cỡi quần áo ra, một nàng vuốt chỗ kín của Quách nói:

- Gã trai này mặt mũi ôn nhã mà sao cái này chẳng có chút gì văn vẻ!

Đặt Quách xuống giường rồi cùng cười rộ đi ra.

Cô gái cũng lên nằm, Quách trở mình, nàng hỏi:

- Say lắm không?

Quách đáp:

- Tiểu sinh có say đâu!

Chỉ là mới nhìn thấy người tiên tâm thần đã điên đảo đó thôi.

Cô gái nói:

- Đây là Thiên cung, trời chưa sáng đã phải ra, nếu vào động phủ thấy buồn chán thì chẳng bằng sớm từ biệt.

Quách nói:

- Nay có người ban đêm nhặt được đóa hoa, mò cánh ngửi mùi mà không có đèn đuốc, tình cảnh ấy làm sao chịu được?

Nàng cười, sai lấy thêm đèn đuốc.

Vừa sang canh tư đã gọi tỳ nữ cầm đèn ôm áo đưa Quách ra.

Vào động phủ thấy trần thiết tinh xảo, chỗ ngủ lót nệm da, trải thảm lông dày cả tấc.

Quách đã cởi giày khoác chăn mà người tỳ nữ còn bịn rịn chưa đi, để ý nhìn kỹ thấy dung mạo xinh xắn bèn đùa hỏi:

- Người chê ta không văn vẻ là nàng phải không?

Cô ta cười đá vào cái gối nói:

- Chàng cứ nằm uỡn ra đi, đừng có lắm lời.

Nhìn chiếc giày của cô ta thấy đính viên ngọc trai to bằng hạt đậu lớn, Quách nắm lấy kéo cô ta vào lòng, ôm ấp vuốt ve, cô ta không kìm được cứ rên lên.

Quách hỏi bao nhiêu tuổi, đáp mười bảy.

Hỏi:

- Xử nữ cũng biết tình sao?

Đáp:

- Thiếp không còn là xử nữ, nhưng hoang vắng đã ba năm rồi.

Quách hỏi dò tên họ quê quán thứ bậc người tiên, cô ta nói:

- Đừng hỏi!

Đây dù không phải thượng giới cũng là cõi trần hiếm có, nếu cứ muốn biết rõ e không có đất mà chôn đâu.

Quách nghe thế không dám hỏi nữa.

Đêm sau cô gái quả mang đèn tới cùng nhau ăn ngủ, ngày nào cũng vậy.

Một đêm nàng vào nói:

- Vẫn mong cùng nhau vui vầy mãi mãi, không ngờ tình người ngăn trở, nay phải quét dọn thiên cung, không thể lưu chàng ở đây được nữa, xin cùng chuốc chén từ biệt.

Quách rơi nước mắt, xin cho chiếc áo lót làm kỷ vật.

Cô gái không cho, chỉ tặng một cân vàng ròng, trăm hạt ngọc châu.

Uống cạn ba chén, Quách bỗng say lịm.

Khi tỉnh dậy thấy tay chân như bị trói chặt, không duỗi chân được, cũng không ngóc đầu lên được.

Gắng sức lăn lộn thì nhào xuống giường, mò mẫm thấy mình bị nhét vào cái túi gấm, ngoài có dây buộc chặt.

Ngồi lên ngẫm nghĩ, thấy cái giường mờ mờ mới biết đang trong phòng sách nhà mình.

Lúc ấy Quách rời nhà đã ba tháng, người nhà đều cho là đã chết.

Quách lúc đầu không dám kể rõ chuyện, sợ bị tiên trừng phạt, nhưng lòng vẫn lạ lùng ngờ vực, thỉnh thoảng lại lén kể cho bạn bè, nhưng không ai biết duyên cớ do đâu.

Cái túi chăn vẫn để ở đầu giường, mùi hương ngát phòng, xem kỹ thì là loại vải Hồ Châu tẩm hương liệu, trân trọng cất đi.

Sau có quan lớn Mỗ nghe chuyện, hỏi kỹ rồi cười nói:

- Đó là người quen của Giả hậu, chứ người tiên nào lại làm thế.

Nhưng nên giữ kín chuyện này, lộ ra thì chết cả họ đấy.

Có người thầy đồng vẫn ra vào các nhà quyền quý nói rằng hình dáng lầu gác như thế thì rất giống dinh Nghiêm Đông.

Quách nghe thế khiếp đảm, đưa cả gia đình đi biệt xứ, không bao lâu Nghiêm bị giết mới trỡ về.

*[Người quen của Gia hậu: Tấn thư chép vợ Tấn Huệ đế là Giả thị hoang dâm, thường bắt cóc đàn ông con trai đẹp trai khỏe mạnh trong dân gian về để hành lạc, nói với họ rằng mình là thần tiên].

*[Nghiêm Đông: tức Nghiêm Thế Phồn, quyền thần triều Minh, nổi tiếng độc ác xa hoa].
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 159+160


CHƯƠNG 159: OAN NGỤC

Nhất Thời Hước Ngữ Khinh Tương Thuật

Cứ Tác Viên Thư Hãi Thính Văn

Thái Tức Lâm Đâm Đô Hối Hối

Trầm Oan Hà Xứ Tố Tướng Quân

Dịch:

Nói Giỡn Không Dè Xuýt Chết Oan

Cho Là Khẩu Nghiệt Có Liên Quan

Ngán Thay Công Lý Mơ Hồ Nhỉ

Linh Hiển Đâu Ngờ Gặp Tướng Quân



Chu sinh người huyện Dương Cốc (tỉnh Sơn Đông), tuổi trẻ tính hời hợt, ưa đùa cợt.

Vì vợ chết nên tới gặp bà mối, nhân thấy vợ người láng giềng của bà ta xinh đẹp bèn nói đùa:

- Quý hàng xóm đẹp quá, nếu ta cưới được thì hay lắm.

Bà mối cũng đùa rằng:

- Cứ giết chồng người ta đi, thì ta sẽ tính giùm cho.

Sinh cười nói:

- Được thôi!

Hơn tháng sau, chồng người ấy đi đòi nợ bị giết ngoài đồng.

Quan huyện sai bắt chức dịch trong làng, đánh đập tóe máu nhưng rốt lại vẫn không có manh mối gì.

Chỉ có bà mối kể lại chuyện sinh nói đùa, quan vì thế nghi là Chu sinh, sai bắt tới hỏi thì nhất quyết không nhận.

Quan huyện lại ngờ rằng người đàn bà tư thông với sinh, sai bắt luôn, tra tấn rất tàn khốc, người đàn bà không chịu nổi bèn nhận bừa.

Quan lại tra hỏi Chu, Chu nói:

- Đàn bà yếu ớt không chịu đau nổi nên nhận bừa, có điều đã chết oan còn mang thêm tiếng xấu bất trinh, giả như quỷ thần vô tri thì ta cũng không nỡ.

Thôi để ta khai thật, đúng đấy, ta muốn giết chồng để lấy người vợ, chuyện này đều do ta làm, nàng ta không biết gì đâu.

Hỏi có chứng cớ gì không, sinh đáp là có chiếc áo vấy máu làm bằng.

Quan sai tới nhà lục soát thì không thấy, lại tra tấn, Chu chết đi sống lại mấy lần bèn nói:

- Đây là vì mẹ ta không nỡ đưa ra để ta phải chết thôi, để ta tự đi lấy.

Quan cho giải về nhà, sinh nói với mẹ:

- Đưa áo con ra thì con phải chết, mà không đưa ra thì con cũng chết.

Đàng nào con cũng chết, thôi mẹ đưa ngay ra đây đi.

Bà mẹ khóc đi vào phòng, lát sau cầm tấm áo đưa ra.

Quan khám nghiệm thấy đúng là có vết máu, kết án xử chém sinh, bàn đi xét lại nhiều lần không ai nói gì khác, được hơn một năm thì định ngày hành quyết.

Hôm ấy quan huyện vừa mới điểm danh phạm nhân chợt có một người đi thẳng vào công đường, trợn mắt nhìn quan huyện mắng lớn:

- Ngươi mù mờ như thế làm sao coi việc dân?

Bọn nha dịch mấy mươi người xúm vào bắt, người ấy gạt tay một cái, cả đám ngã dúi dụi.

Quan huyện khiếp sợ toan chạy, người ấy nói lớn:

- Ta là Chu Tướng quân dưới trướng Quan Đế đây!

Tên quan ngu xuẩn kia mà nhúc nhích thì ta giết chết tươi đấy!

Quan huyện run sợ đứng im, người ấy nói:

- Kẻ giết người là Cung Tiêu, chứ họ Chu có dính líu gì tới?

Nói xong ngã lăn xuống đất ngất đi, lát sau tỉnh lại, mặt không còn chút máu, hỏi tên họ thì là Cung Tiêu.

*[Chu tướng quân dưới trướng Quan Đế. tức Chu Thương, cận tướng của Quan Vũ nhà Thục Hán, khi Quan Vũ bị Đông Ngô giết thì tự tử chết theo, về sau cũng được thờ cúng chung với Quan Vũ, là người mặt đen cầm thanh long đao đứng hầu vẫn thường được vẽ trong các bức tranh Quan Vũ đọc kinh Xuân thu trước nay].

Bắt lấy tra hỏi thì y nhận hết tội.

Té ra Cung vốn là kẻ liều lĩnh, biết là người kia đi đòi nợ về, cho rằng có mang nhiều tiền trong người bèn giết chết, nhưng chẳng được đồng nào.

Nghe Chu sinh nhận tội bừa, trong lòng ngầm lấy làm may mắn, nhưng hôm ấy bỗng tự đi vào công đường mà không biết gì cả.

Quan huyện hỏi Chu lấy chiếc áo vấy máu ở đâu ra, Chu cũng không rõ, gọi mẹ Chu lên hỏi, thì ra là bà cắt cánh tay lấy máu bôi vào, khám tới cánh tay trái của bà thì thấy có vết dao cắt vào còn chưa lành hẳn.

Quan huyện cũng kinh ngạc, sau đó bị hặc tội vì vụ này, kế bị cách chức giam cầm rồi chết.

Hơn năm sau mẹ người đàn bà muốn gả chồng cho con, nàng cảm nghĩa của Chu, bèn lấy Chu.

____________________________________

CHƯƠNG 160: LƯU PHU NHÂN

Tàng Kim Mạc Tiếu Chỉ Khu Khu

Lợi Thị Tùng Tri Phúc Mệnh Thù

Địa Hạ Khổ Vô Doanh Vận Xứ

Khước Lai Nhân Thế Mịch Đào Chu*

*Tức Đào Chu Công hay Phạm Lãi.

Dịch:

Bo Bo Vàng Đấu Tính Dài Lâu

Phúc Phận Sinh Tài Vốn Khác Nhau

Địa Phú Kinh Doanh Không Có Chỗ

Cõi Trần Đành Phải Kiểm Đào Chu



Liêm sinh người huyện Chương Đức (tỉnh Hà Nam), lúc trẻ ham học nhưng mồ côi sớm, nhà rất nghèo.

Một hôm đi khỏi nhà, tối về lạc đừơng vào một thôn nọ, gặp một bà già đi tới nói:

- Liêm công tử đi đâu thế, trời tối lắm rồi.

Sinh đang lo lắng nên cũng không kịp hỏi là ai, chỉ xin ngủ nhờ.

Bà già dẫn sinh đi tới một phủ đệ lớn, có hai a hoàn cầm đèn lồng đưa một người đàn bà ra, thấy khoảng hơn bốn mươi tuổi, cử chỉ phong thái ra dáng đại gia.

Bà già bước lên thưa:

- Liêm công tử đã tới!

Sinh vội rảo bước tới làm lễ, người đàn bà vui vẻ nói:

- Công tử tuấn tú lắm, đâu phải chỉ là một phú ông.

Lập tức bày tiệc đón tiếp, ngồi bên cạnh mời mọc rất ân cần, nhưng riêng mình nâng chén không mấy khi uống, cầm đũa không mấy khi gắp.

Sinh ngại ngùng áy náy, mấy lần hỏi thăm gia thế, bà cười đáp:

- Cứ uống cạn ba chén lớn ta sẽ nói cho chàng biết.

Sinh uống xong, bà nói:

- Chồng ta họ Lưu, làm khách ở Giang Tả (vùng Giang Tây) gặp tai biến chết rồi.

Ta góa bụa sống một mình ở nơi vắng vẻ này, nhà cửa ngày càng sa sút.

Tuy có hai đứa cháu nội nhưng nếu không phải lũ ăn tàn phá hại thì cũng là hạng bất tài vô dụng.

Công tử tuy khác họ nhưng kiếp trước là ruột thịt, vả lại tính tình thuần hậu cẩn thận nên ta mới ra mặt gặp gỡ.

Cũng chẳng có chuyện gì phiền, chỉ là ta có một ít vàng chôn giấu, muốn gởi công tử đem đi buôn bán, có lời thì chia, cũng không tới nỗi chết già không được ai biết.

Liêm từ chối, lấy cớ tuổi còn trẻ lại chỉ là kẻ học trò khờ khạo, sợ phụ sự ủy thác lớn lao.

Bà nói:

- Đọc sách trước hết là để mưu sinh, công tử lại vốn thông minh, chuyện gì mà không làm được.

Rồi sai tỳ nữ mang vàng ra giao, tất cả hơn tám trăm lượng, sinh lo sợ cố từ chối.

Bà nói:

- Ta cũng biết công tử chưa quen giao thiệp buôn bán, nhưng cứ thử xem, chắc chắn không thua lỗ đâu.

Sinh lo rằng số vốn lớn như thế thì một người không đủ sức coi sóc nên bàn họp bạn đi buôn chung.

Bà nói:

- Không cần đâu, chỉ cần tìm một người thành thật tháo vát theo giúp công tử là đủ.

Lại bấm đốt tay tính toán, nói:

- Được người họ Ngũ thì rất tốt!

Rồi sai đầy tớ thắng ngựa chở vàng đưa sinh về, nói:

- Đến cuối năm xin chờ làm tiệc tẩy trần.

Lại ngoảnh lại dặn người đầy tớ rằng:

- Con ngựa này thuần, có thể cưỡi được, vậy tặng luôn cho công tử, khỏi cần dắt về.

Sinh về tới nhà thì đã canh tư người đầy tớ buộc ngựa rồi chào về.

Hôm sau sinh đi khắp nơi tìm người giúp việc, quả được một người họ Ngũ, bèn trả công hậu để thuê.

Ngũ già đời trong việc đi xa, lại là người ngu tối vụng về song cẩn thận, sinh đưa hết tiền bạc cho giữ, cùng nhau qua lại buôn bán ở Kinh Tương (vùng Hồ Nam).

Cuối năm trở về, tính lại thì vốn đã tăng gấp ba lần, sinh cho rằng nhờ sức của Ngũ nhiều, nên ngoài công xá còn thưởng thêm cho rất hậu, định là không cho chủ nhân biết.

Vừa về tới nơi, người đàn bà đã sai người ra đón, hai người cùng vào.

Thấy trên sảnh đã bày tiệc sẵn, người đàn bà bước ra, hết lời khen ngợi an ủi.

Sinh nộp cả tiền bạc, tính hết sổ sách, nhưng bà không ngó ngàng gì tới.

Giây lát mời vào tiệc, có cả ban hát ca múa nhộn nhịp, Ngũ cũng được mời tiệc riêng ở nhà ngoài, say khướt mới về.

Sinh thì vì chưa có vợ nên ở lại ăn Tết luôn.

Hôm sau lại xin tính toán sổ sách, người đàn bà cười nói:

-

Sau này không cần làm thế nữa, ta đã biên chép từ lâu rồi.

Rồi giở sổ cho sinh xem, thấy ghi chép rất rành mạch, ngay cả khoản thưởng thêm cho Ngũ cũng thấy có trong đó, sinh kinh ngạc nói:

- Phu nhân quả là người thần!

Qua mấy hôm, cho ăn ở rất chu tất, đãi sinh như con cháu trong nhà.

Một hôm bày tiệc trên sảnh, đặt một ghế chủ một ghế khách dưới thềm cũng bày một bàn, nói với sinh rằng:

- Ngày mai là ngày Tài tinh lâm chiếu, đúng dịp nên lên đường, hôm nay ta bày tiệc tiễn chủ tớ công tử cho thêm phần khởi sắc.

Ngũ cũng được gọi tới, cho ngồi ở bàn dưới thềm.

Một lát thì ban hát ra diễn, chiêng trống vang tai, người của ban hát bước lên trình danh sách các vở tuồng.

Sinh bảo diễn vở Đào Chu giàu có, người đàn bà cười nói:

- Đó là điềm báo trước đấy, chắc công tử sẽ được Tây Thi làm nội trợ.

*[Đào Chu giàu có: Đào Chu tức Phạm Lãi, người thời Xuân Thu, theo giúp Việt Vương Câu Tiễn, sai mỹ nhân là Tây Thi qua dùng sắc đẹp để quyến rũ Ngô vương Phù Sai, ly gián triều dình, làm rối triều chính nước Ngô.

Sau khi Câu Tiễn diệt Ngu, Phạm Lãi bỏ quan, đưa Tây Thi rời nước Việt, thay tên đổi họ đi buôn bán khắp nơi, trở thành cự phú, sau cùng ở lại nước Tề, tự xưng là Đào Chu công].

Tan tiệc lấy toàn bộ số vàng đưa sinh, nói:

- Lần này đi không kể ngày tháng, nếu không thu được vạn lượng vàng xin đừng về.

Ta với công tử nương dựa nhau do phúc mệnh, tin cậy nhau như gan ruột, đừng nhọc công làm sổ sách làm gì.

Việc bán buôn lời lỗ ở phương xa thế nào tự ta có thể biết được.

Sinh vâng dạ lui về.

Rồi lên đường tới đất Hoài Thương (huyện Hoài ân tỉnh Giang Tô) xin làm thầu buôn muối, hơn một năm thì vốn đã tăng gấp mấy lần.

Nhưng sinh ham học, ngoài những lúc tính toán buôn bán vẫn không quên sách vở, bạn bè cùng giao du đều là kẻ văn sĩ.

Lại thấy đã có nhiều tiền nên thầm muốn nghỉ buôn bán, dần dần giao hết công việc cho Ngũ.

Sinh chơi thân với Tiết sinh ở huyện Đào Nguyên (tỉnh Hồ Nam), nhân đi ngang ghé thăm, nhưng cả nhà đều đang ở chỗ khác.

Trời đã tối không sao gọi về, người giữ cổng giữ sinh lại, dọn giường nấu cơm tiếp đãi.

Sinh hỏi kỹ về chủ nhân, thì ra đại để lúc ấy người ta đồn nhảm rằng triều đình muốn tuyển con gái nhà lương dân làm lễ vật hoà thân để yên biên cuơng, dân gian náo động, nghe nói ai trẻ tuổi chưa vợ thì không cần mai mối, cứ đưa con gái tới tận nhà gả cho, tới nỗi có người trong một đêm cưới luôn được hai vợ.

Tiết cũng vừa cưới một người vợ con nhà vọng tộc, nhưng sợ xe ngựa rầm rập quan huyện biết được nên dời về ở trong làng.

Gần hết canh một, sinh vừa đi nằm chợt nghe tiếng mấy người gọi cổng vào nhà, không rõ người giữ cổng nói gì, chỉ nghe một người hỏi:

- Quan nhân đã không có nhà, vậy ai thắp đèn trong kia?

Người giữ cổng đáp là Liêm công tử, khách từ xa tới.

Giây lát người vừa hỏi bước vào, áo mũ đẹp đẽ, vừa chào xong đã hỏi ngay tên họ quê quán.

Sinh đáp xong, người ấy mừng rỡ nói:

- Té ra là đồng hương với ta, vậy nhạc gia là ai thế?

Sinh đáp còn chưa có vợ, người ấy càng vui mừng, rảo bước ra gọi một thiếu niên cùng vào, làm lễ chào hỏi rất cung kính rồi nói:

-_Thưa thật với công tử, bọn ta họ Mộ, đêm nay tới đây là đưa cô em tới gả cho Tiết quan nhân, gặp tình cảnh thế này đang không biết làm sao, tiến lui đều khó, lại gặp được công tử há chẳng phải là số phận ư?

Sinh vì chưa biết họ là ai nên còn ngần ngừ chưa dám ưng thuận, Mộ lại mặc kệ lời từ chối, cứ gọi người đưa cô dâu vào.

Phút chốc có hai bà già đưa một cô gái vào ngồi trên giường, sinh liếc nhìn thấy khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, xinh đẹp không ai bằng.

Sinh mừng rỡ, sửa mũ áo tạ ơn Mộ, lại bảo ngươi giữ cổng dọn rượu tiếp đãi, cùng nhau trò chuyện rất vui vẻ.

Mộ nói:

- Tổ tiên bọn ta vốn là người huyện Chương Đức, dòng họ bên mẹ cũng là thế gia nhưng nay đã sa sút.

Nghe nói ông bà ngoại còn có hai người cháu nội, không rõ tình cảnh ra sao.

Sinh hỏi họ tên, Mộ đáp:

- Ông ngoại bọn ta họ Lưu tên Huy Nhược, nghe nói cư ngụ cách huyện thành ba mươi dặm về phía bắc.

Sinh nói:

- Nhà ta ở phía đông nam huyện thành, cách nơi ấy khá xa, lại tuổi còn nhỏ nên giao thiệp chưa nhiều, quen biết cũng ít.

Trong huyện có rất nhiều người họ ấy, nhưng nghe nói phía bắc huyện thành có Lưu Kinh Khanh, cũng là bậc văn sĩ nhưng không rõ có đúng không, có điều nhà thì nghèo.

Mộ nói:

- Mồ mả tổ tiên bọn ta vẫn còn ở huyện Chương Đức, vẫn muốn đưa quan tài cha mẹ về ở quê cũ nhưng vì chưa lo đủ tiền bạc nên còn lần lữa.

Nay em gái bọn ta được theo công tử về, bọn ta càng quyết ý về quê.

Sinh nghe thế, khẳng khái nhận sẽ thu xếp.

Hai người họ Mộ rất vui mừng, uống vài ly rượu rồi chào về.

Sinh bảo người hầu thay đèn đi ngủ, đêm ấy vợ chồng yêu thương nhau rất đằm thắm.

Hôm sau Tiết nghe tin vội trở vào thành, xây một dãy nhà riêng cho sinh ở.

Sinh trở lại đất Hoài, tính toán tiền bạc xong, lưu Ngũ ở lại rồi mang hành trang tiền bạc về lại Đào Nguyên, cùng hai người họ Mộ đưa quan tài cha mẹ và cả hai gia đình về quê.

Về tới nhà, sinh thu xếp đâu đó xong, đem tiền bạc tới chỗ chủ nhân thì thấy ngùoi đầy tớ dắt ngựa trước kia đã đứng đón trên đường đưa vào nhà.

Người đàn bà ra đón, vui vẻ nói:

- Đào Chu công đưa được Tây Thi về rồi.

Hôm trước là khách, chứ hôm nay là cháu rể của ta rồi đấy nhé.

Rồi bày tiệc đón mừng, đối xử càng thêm thân thiết.

Sinh khâm phục là có tài biết trước, bèn hỏi phu nhân cùng mẹ vợ mình có họ hàng xa gần thế nào, bà đáp đừng hỏi, về sau sẽ tự biết thôi.

Rồi chất vàng lên bàn, chia làm năm phần, tự mình lấy hai phần, nói:

- Ta thì chẳng dùng gì tới, chỉ giữ lại để cho cháu đích tôn thôi.

Sinh thấy phần mình quá nhiều, chối từ không nhận.

Bà buồn rầu nói:

- Nhà ta sa sút, cây cối trong sân bị người ta chặt làm củi, cháu nội lại ở xa quá, cửa nẻo ngày càng tiêu điều, phiền công tử lo giùm.

Sinh vâng dạ, nhưng xin chỉ nhận một nửa số vàng.

Bà ép cầm cả rồi tiễn sinh ra cổng, gạt lệ quay vào.

Sinh lấy làm lạ lùng ngờ vực, ngoảnh lại nhìn toà phủ đệ thì là ngôi mộ lớn, mới hiểu ra rằng phu nhân chính là bà ngoại vợ mình.

Về tới nhà bèn xuất tiền mua một khoảnh ruộng quanh mộ, tu bổ dọn dẹp rất đẹp đẽ tươm tất.

Họ Lưu có hai cháu nội, lớn tức Kinh Khanh còn thứ tên Ngọc Khanh, là kẻ rượu chè cờ bạc lêu lổng, cả hai đều nghèo.

Hai anh em tới nhà sinh tạ ơn, sinh đều tặng cho rất hậu, từ đó thường qua lại với nhau.

Sinh kể đầu đuôi việc mình đi buôn, Ngọc Khanh nghĩ thầm rằng trong mộ ắt có vàng, đêm tối rủ mấy tên cờ bạc tới đào mộ tìm, phá vỡ quan tài phơi cả xương cốt ra nhưng không được chút gì, thất vọng tan đi.

Sinh được tin mộ bị phá, báo cho Kinh Khanh, Kinh Khanh tới gặp sinh rồi cùng đi xem.

Vào tới huyệt mộ thì thấy số vàng phu nhân giữ lại trước đây vẫn chồng chất trên án, Kinh Khanh muốn chia đôi với sinh.

Sinh nói:

- Phu nhân giữ số vàng này lại vốn là để chờ dịp cho huynh thôi mà.

Kinh Khanh bèn chở cả về.

Kế báo lên huyện, quan tư lùng bắt rất gấp, sau bắt đước người bán một chiếc trâm ngọc trong mộ, tra hỏi mới biết Ngọc Khanh là kẻ chủ mưu.

Quan huyện muốn trị tội Ngọc Khanh thật nặng, Kinh Khanh hết sức kêu xin cho mới được khỏi tội chết.

Cả hai nhà cùng ra sức sửa sang trong ngoài ngôi mộ, so ra còn bền chắc đẹp đẽ hơn lúc trước.

Từ đó Liêm Lưu cùng giàu có, duy Ngọc Khanh vẫn nghèo như cũ.

Sinh và Kinh Khanh thường chu cấp cho, song rốt lại vẫn không đủ cho y cờ bạc.

Một đêm có bọn cướp vào nhà sinh trói người khảo của, sinh chôn vàng cứ một ngàn năm trăm lượng vàng là một vò, bèn chỉ chỗ cho chúng đào, bọn cướp lấy được hai vò.

Lúc ấy chỉ có con ngựa ma trong tàu, chúng bèn thắng cương vào chở vàng đi, lại bắt sinh theo, ra tới ngoài đồng mới thả cho về.

Người trong thôn thấy ánh đèn đuốc của bọn cướp còn chưa xa lắm, hò hét đuổi theo, chúng hoảng hốt bỏ chạy.

Mọi người đuổi tới chỗ ngôi mộ thì thấy vàng rơi tung toé trên đường mà con ngựa thì biến thành tro giấy, mới biết con ngựa cũng là ma.

Đêm ấy nhà sinh chỉ mất có một chiếc vòng vàng mà thôi.

Vốn trước đó bọn cướp bắt vợ sinh, thấy nàng xinh đẹp toan cưỡng hiếp, nhưng có một tên đeo mặt nạ quát thét bảo thôi, giọng nói giống như Ngọc Khanh.

Bọn cướp bèn tha vợ sinh, chỉ lột chiếc vòng vàng nàng đeo ở tay.

Sinh vì vậy ngờ đó là Ngọc Khanh, nhưng cũng thầm cám ơn y.

Sau bọn cướp bán chiếc vòng vàng đánh bạc, bị công sai bắt được, tra hỏi bè đảng thì quả trong đó có Ngọc Khanh.

Quan huyện tức giận, dùng trọng hình trị tội.

Kinh Khanh bàn với sinh định đem nhiều tiền lo lót để cứu, nhung chưa kịp làm gì thì Ngọc Khanh đã chết trong ngục, từ đó sinh vẫn cấp dưỡng cho vợ con y.

Về sau sinh thi đỗ Cử nhân, con cháu mấy đời đều giàu có.

Than ôi, tự dạng chữ “tham" ngang sổ chấm phết rất giống chữ "bần", hạng người như Ngọc Khanh đủ để làm điều răn vậy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 161+162


CHƯƠNG 161: THẦN NỮ

Phác Lậu Y Quan Ngạnh Giới Thân

Xa Trung Úy Tặng Diệc Tiền Nhân

Vị Khanh Chúc Đạ Mông Sương Lệ

Bất Tích Châu Hoa Trì Dữ Nhân

Dịch:

Áo Mũ Quê Mùa Thân Cứng Cỏi

Xe Qua Mến Tặng Cũng Tiền Nhân

Vì Nàng Sớm Tối Dầm Sương Lạnh

Cho Mất Châu Hoa Chẳng Ngại Ngần



Mễ sinh là ngươi đất Mân (tỉnh Phúc Kiến), người kể chuyện quên mất tự hiệu quận ấp.

Vào quận thành chơi, say đi ngoài phố, nghe trong một tòa nhà lớn có tiếng đàn sáo ầm ĩ, hỏi người ở quanh thì họ đáp nhà ấy mở tiệc mừng thọ, song ngoài cổng trong sân lại rất vắng vẻ.

Lắng tai nghe thấy tiếng sênh phách vang lừng, sinh đang say lấy làm ưa thích, không hỏi là nhà ai, cứ ra đầu phố mua lễ vật chúc mừng rồi đưa thiếp vào, xưng là vãn sinh.

Có người thấy sinh ăn mặc tầm thường bèn hỏi có họ hàng thế nào với ông già kia, sinh đáp không có.

Người ấy nói nhà ấy là người nơi khác tới đây ngụ cư, không rõ là quan gì nhưng rất kiêu kỳ, không phải là họ hàng thì gặp làm gì?

Sinh nghe thấy hối hận, nhưng danh thiếp đã đưa vào rồi.

Phút chốc có hai thiếu niên ra đón khách, trang phục rực rỡ, dáng điệu phong nhã, vái chào sinh rồi mời vào.

Thấy một ông già ngồi quay mặt về hướng nam, hai bên bày mấy bàn tiệc, khách có sáu bảy người đều như bậc quý quan, thấy sinh vào đều đứng lên làm lễ, ông già cũng chống gậy đứng dậy.

Sinh đứng hồi lâu đợi đón khách mà ông vẫn không rời khỏi chỗ.

Hai thiếu niên đỡ lời, nói:

- Phụ thân già yếu, vái chào khó khăn, anh em bọn ta xin thay mặt tạ ơn bậc cao hiền hạ cố.

Sinh khiêm tốn đáp tạ xong, họ mời vào một bàn phía trên, bên cạnh ông già.

Giây lát ban nhạc ra múa hát ở dưới, sau tiệc bày bình phong lưu ly che đám phụ nữ trong nhà.

Tiếng đàn sáo ầm ĩ, khách khứa không thể chuyện trò gì nữa.

Sắp tan tiệc, hai thiếu niên đứng lên, đều rót chén lớn mời khách, chén đựng khoảng ba đấu.

Sinh ngần ngại nhưng thấy khách nhận cũng nhận.

Giây lát nhìn quanh thấy chủ khách đều đã cạn chén, bất đắc dĩ cũng phải cố uống.

Thiếu niên lại rót, sinh thấy mệt quá đứng lên cáo lui, thiếu niên nắm áo giữ lại.

Sinh say quá gục xuống đất, thấy có người lấy nước lạnh rưới vào mặt, chợt tỉnh dậy nhìn thì khách khứa đã về hết, chỉ còn một thiếu niên xốc cánh tay đưa ra, bèn chào về.

Sau đó lại qua ngang cổng, thì thấy đã dời đi ở chỗ khác.

Sinh từ quận về, tới ngang chợ có một người trong quán bước ra mời vào uống rượu.

Nhìn thì không quen nhưng cũng theo vào, thấy trong bàn đã có người làng là Bão Trang ngồi trước.

Hỏi người đó thì là họ Chư, làm nghề mài gương trong chợ.

Hỏi sao biết mình, Chư nói:

- Ông có biết người khao thọ hôm trước là ai không?

Sinh đáp không biết, Chư nói:

- Ta ra vào nhà ấy nhiều lần, ông già họ Phó, nhưng không rõ quê quán quan tước.

Lúc tiên sinh vào mừng thọ, ta đang ở dưới thềm nên biết mặt.

Chiều tối tan tiệc chia tay về, đêm Bão Trang chết trên đường.

Cha Bão không biết Chư, cứ tên sinh mà kiện.

Khám thấy xác Bão Trang có vết thương nặng, sinh bị kết án mưu sát, khép vào tội chết, chịu đủ mùi gông cùm nhưng vì chưa bắt được Chư, không đủ chứng cớ nên còn để đấy.

Hơn năm, quan Trực chỉ đi tuần tra các nơi, xét biết bị oan tha sinh ra.

Nhà cửa ruộng vườn đã mất hết mà mũ áo nho sinh cũng bị lột, nhưng sinh nghĩ có thể xin lấy lại được nên lại xách khăn gói lên quận.

Trời xế chân mỏi ngồi nghỉ cạnh đường, thấy một chiếc kiệu nhỏ từ xa đi tới, có hai tỳ nữ áo xanh đi kèm hai bên.

Kiệu đã đi qua bỗng dừng lại, không biết bên trong nói gì, giây lát một tỳ nữ áo xanh tới hỏi sinh có phải chàng họ Mễ không?

Sinh giật mình đứng dậy nói phải.

Hỏi sao nghèo túng tới mức này, sinh kể lại duyên do.

Lại hỏi đi đâu, sinh lại trả lời.

Tỳ nữ áo xanh quay về chiếc kiệu nói chuyện với bên trong, lát sau trở lại mời sinh tới trước kiệu.

Trong kiệu có một bàn tay búp măng vén rèm lên, liếc nhìn thì là một giai nhân tuyệt thế.

Nàng nói với sinh:

- Chàng không may gặp chuyện rủi ro, nghe thấy mà buồn.

Ngày nay dinh Học sứ không phải là nơi ra vào tay không được, nhưng giữa đường không có gì tặng.

Bèn rút một cành hoa khảm ngọc cài trên tóc đưa sinh, nói:

- Vật này có thể bán được một trăm đồng vàng, xin cầm lấy.

Sinh lạy tạ, toan hỏi lai lịch thì kiệu đi rất nhanh đã ra xa rồi, không rõ là ai nữa.

Cầm cành hoa ngắm nghía thấy trên khảm ngọc trai, không phải vật tầm thường, liền cất kỹ rồi lên đường.

Tới quận đưa đơn, trên dưới vòi vĩnh hạch sách rất khổ, giở cành hoa ra ngắm, không nỡ bán bèn quay về.

Trở về không có nhà ở, phải nương tựa anh trai và chị dâu.

May được anh hiền, lo lắng chăm sóc cho nên nghèo mà vẫn không phải bỏ học.

Năm sau sinh lên quận thi khoa Đồng tử, lầm đường lạc vào núi sâu.

Lúc ấy đang tiết Thanh minh, người du xuân rất đông, có mấy cô gái cưỡi ngựa đi tới, trong có một nàng, chính là người ngồi trong kiệu năm trước.

Thấy sinh nàng dùng cương hỏi đi đâu, sinh trả lời.

Cô gái giật mình hỏi:

- Chàng vẫn chưa lấy lại được khăn áo nho sinh à?

Sinh thẹn, rút cành hoa khảm ngọc trong áo ra, nói:

- Không nỡ bỏ vật này nên vẫn còn là Đồng tử.

Cô gái đỏ bừng cả mặt, dặn ngồi đợi ở góc đường, dong ngựa chậm rãi đi.

Hồi lâu, một tỳ nữ ruổi ngựa tới đưa sinh một cái gói, nói:

- Nương tử nói ngày nay cửa quan Học sứ như cái chợ, xin tặng hai trăm lượng bạc làm vốn tiến thủ.

Sinh từ chối, nói:

- Nương tử làm ơn cho ta đã nhiều rồi!

Tự nghĩ thi đỗ không phải là khó, không dám nhận món tiền lớn này.

Chỉ xin được biết họ tên để vẽ một bức hình, đốt hương tưởng bái nương tử là đủ.

Tỳ nữ không nghe, đặt gói tiền xuống đất rồi đi.

Từ đó sinh chi dùng đầy đủ, nhưng rốt lại vẫn không thèm cầu cạnh, sau đỗ đầu vào trường huyện.

Đưa cả tiền cho anh, anh khéo buôn bán nên trong ba năm khôi phục được hết cơ nghiệp cũ.

Lúc ấy Tuần phủ Phúc Kiến là học trò ông nội sinh, giúp đỡ rất nhiều nên anh em trở nên giàu có.

Nhưng sinh vốn là ngươi trong sạch ngay thẳng nên tuy quen thân với quan lớn mà không lần nào tới nhờ vả.

Một hôm có khách mặc áo cừu cưỡi ngựa tới cổng, cả nhà đều không biết là ai.

Sinh ra xem thì là công tử họ Phó, bèn vái chào mời vào, thăm hỏi trò chuyện, bày rượu khoản đãi.

Khách lấy cớ bận từ chối, nhưng cũng không nói tới chuyện ra về.

Khi cơm rượu bày lên, công tử đứng dậy xin nói chuyện riêng, mời vào nhà trong thì lạy sụp xuống đất.

Sinh kinh ngạc hỏi có chuyện gì, công tử buồn bã nói:

- Phụ thân mắc vạ lớn có điều muốn nhờ quan Tuần phủ, không phải anh thì không ai nói giúp được.

Sinh từ chối, nói:

- Ông ta tuy là chỗ quen biết lâu đời nhưng trước nay ta chưa bao giờ vì việc riêng mà cầu cạnh xin xỏ ai cả.

Công tử phục xuống đất khóc lóc năn nỉ, sinh nghiêm sắc mặt nói:

- Tiểu sinh với công tử chẳng qua chỉ nhân một bữa tiệc mà quen nhau, sao lại đem chuyện mất danh tiết ép buộc nhau thế?

Công tử thẹn quá, đứng dậy từ biệt rồi đi.

Hôm sau sinh đang ngồi một mình thì có một người áo xanh bước vào, nhìn ra thì là tỳ nữ đưa tiền tặng trong núi trước kia.

Sinh giật mình đúng dậy, người ấy hỏi:

- Chàng quên cành hoa khảm ngọc rồi sao?

Sinh đáp:

- Dạ dạ, không dám quên!

Người ấy nói:

- Công tử hôm qua là anh ruột của nướng tử đấy.

Sinh nghe thế mừng thầm, vờ nói:

- Chuyện đó khó tin lắm, nếu được nương tử thân hành tới đây nói cho một câu, thì dù là vạc dầu sôi cũng xin nhảy vào, nếu không thì thật không dám vâng lệnh.

Tỳ nữ ra lên ngựa đi, đến khuya trở lại gõ cửa bước vào nói:

- Nương tử tới rồi!

Chưa dứt lời thì cô gái rầu rĩ bước vào, ngoảnh mặt vào vách mà khóc, không nói một câu.

Sinh vái lạy nói:

- Tiểu sinh không có nàng thì làm sao có ngày nay, nếu có điều gì sai bảo, dám đâu không vâng lời?

Cô gái nói:

- Kẻ được cầu cạnh thường khinh người, kẻ đi cầu cạnh thường sợ người.

Nửa đêm lặn lội, trước nay nào biết tới cái khổ này, chỉ vì sợ người đấy thôi, còn nói gì nữa?

Sinh an ủi, nói:

- Sở dĩ tiểu sinh không nhận lời ngay là vì sợ xong việc rồi khó được gặp nhau lần nữa thôi.

Khiến nàng phải đêm hôm lặn lội sương gió, ta biết tội rồi.

Nhân cầm tay áo cô gái vuốt khẽ, nàng nói:

- Ông thật là người tệ, không nghĩ tới ơn nghĩa trước lại toan nhân lúc người ta nguy cấp.

Ta lầm rồi, ta lầm rồi?

Rồi tức giận bỏ ra, lên kiệu toan đi.

Sinh đuổi theo tạ lỗi quỳ xuống chặn đường.

Người tỳ nữ cũng khuyên giải, nàng như nguôi giận, ngồi trong kiệu nói với sinh:

- Nói thật với chàng, thiếp không phải là người mà là thần nữ.

Phụ thân làm Đô lý ty ở Nam Nhạc, vô tình thất lễ với địa quan, sắp bị tâu lên Thượng đế, nếu không có ấn tín của quan đầu hạt đây thì không sao gỡ được.

Nếu chàng không quên nghĩa cũ, thì lấy một tờ giấy vàng xin đóng ấn cho thiếp.

Rồi giục kiệu đi.

Sinh quay vào run sợ mãi, rồi thác chuyện trừ ma lên xin.

Tuần phủ cho là việc mê tín nhảm nhí không cho, sinh đem nhiều tiền đút cho ngươi tâm phúc của ông ta, y nhận lời nhưng tìm được cơ hội.

Về nhà thì người tỳ nữ đã chờ ở cổng, sinh kể lại mọi chuyện, cô ta im lặng đi ra như giận sinh không hết lòng.

Sinh đuổi theo tiễn, nói:

- Xin về thưa với nương tử rằng nếu việc không xong thì ta sẽ liểu mạng chết theo.

Quay vào trằn trọc cả đêm không nghĩ ra được kế gì, gặp lúc trong dinh có người thiếp yêu của Tuần phủ muốn mua ngọc, bèn lấy cành hoa khảm ngọc lên biếu, nàng ta thích lắm, liền trộm ấn đóng cho sinh.

Mang về tới nhà thì người tỳ nữ cũng vừa tới.

Sinh cười nói:

- May mà không nhục mệnh, nhưng vật mấy năm nghèo khổ xin ăn không nỡ bán nay đã phải bỏ vì chủ nhân của nó rồi!

Kế kể lại mọi chuyện, nói:

- Vàng ròng vứt đi ta cũng không tiếc, nhưng nhờ nhắn với nương tử rằng cành hoa khảm ngọc thì phải đền đấy.

Qua mấy hôm, Phó công tử tới tạ ơn, biếu một trăm lượng vàng.

Sinh sầm mặt nói:

- Sở dĩ ta làm thế là vì lệnh muội đã ban ơn cho ta không cầu báo đáp thôi, nếu không thì dù vạn lượng vàng cũng há đủ thay đổi danh tiết sao!

Cố ép thì sinh lời lẽ sắc mặt càng giận dữ, công tử thẹn thùng ra về, nói:

- Chuyện này chưa xong được!

Hôm sau người tỳ nữ vâng mệnh cô gái đem biếu một trăm viên ngọc, hỏi:

- Bấy nhiêu đủ đền cành hoa khảm ngọc rồi chứ?

Sinh đáp:

- Ta trọng cành hoa ấy không phải vì quý ngọc trai, nếu không vật báu vạn dật tặng cho ngày trước ta đã bán đi để làm một anh nhà giàu rồi, còn nâng niu giữ gìn cam chịu nghèo khó làm gì?

Nương tử là người thần, tiểu sinh nào dám mong gì khác.

Nay may đã báo đáp được chút ơn lớn, chết cũng không ân hận.

Người tỳ nữ đặt ngọc lên án, sinh vái tạ rồi trả lại.

Qua mấy hôm, công tử lại tới sinh cho bày tiệc khoản đãi, công tử cũng sai người hầu xuống nấu nướng.

Hai người đối diện cạn chén, vui vẻ như người nhà.

Vừa gặp lúc có ngươi biếu rượu nếp đắng, công tử khen ngon, uống luôn trăm chén, mặt đã hơi đỏ, nói với sinh rằng:

- Ông ngay thẳng thanh cao mà hai anh em ta đều mờ tối không biết sớm, thật vô cùng xấu hổ với kẻ quần thoa.

Cha ta cảm đức lớn, không biết lấy gì báo đáp, muốn cho em gái ta kết duyên với ông, chỉ sợ ông hiềm u minh khác nẻo.

Sinh mừng mùng sợ sợ không biết trả lời thế nào.

Công tử từ biệt ra về, nói:

- Đêm mai là mồng chín tháng bảy, lúc trăng vừa lên, có cô cháu gái Thiên tôn lấy chồng, đó là giờ tốt, nên sửa soạn phòng hoa.

Đêm sau quả đưa cô gái đến, mọi cái không khác gì người thường.

Sau ba ngày, cô gái đối với người trong nhà từ anh chị tới tôi tớ lớn nhỏ đều có quà tặng.

Lại rất hiền thục, thờ chị dâu như mẹ chồng.

Mấy năm không sinh nở, khuyên chồng lấy vợ lẽ nhưng sinh không nghe.

Gặp lúc anh đi buôn ở Giang Hoài mua về cho một người thiếp trẻ tuổi họ Cố tên Bác Sĩ, dung mạo cũng xinh xắn, vợ chồng đều mừng.

Chợt thấy trên tóc nàng có cài cành hoa khảm ngọc rất giống vật cũ năm trước, rút xuống xem quả đúng, lấy làm lạ hỏi.

Nàng đáp:

- Trước có người vợ của quan Tuần phủ chết, tỳ nữ của bà ta ăn cắp đem bán ở chợ, cha thiếp mua luôn đem về, thiếp rất thích.

Cha thiếp không có con trai, chỉ sinh được một mình thiếp, nên xin gì cũng được.

Sau cha thiếp mất, nhà cửa sa sút, thiếp phải sống nhờ ở nhà bà họ Cố.

Bà Cố là vai dì của thiếp, thấy ngọc trai nhiều lần muốn đem bán, vì thiếp nhảy xuống giếng tự tử nên đến nay mới còn.

Vợ chồng mừng nói:

- Vật qua mười năm lại về chủ cũ, chẳng phải là số sao?

Cô gái lấy ra một cành hoa khảm ngọc khác, nói:

- Vật này không có đôi lâu lắm rồi!

Nhân ban luôn cho ngươi thiếp, tự tay cài lên tóc cho.

Người thiếp lui ra, hỏi gia thế cô gái rất kỹ nhưng người nhà đều không dám nói, bèn lén nói với sinh rằng:

- Thiếp trông nương nữ không phải là người trần.

Trong khoảng mắt và mày có thần khí, hôm qua cài cành hoa cho, thiếp được nhìn gần, thấy vẻ đẹp từ trong da thịt toát ra, không phải như người thường chỉ hơn nhau ở chỗ xấu dẹp trắng đen thôi đâu.

Sinh cười, nàng nói:

- Xin chàng đừng nói gì để thiếp thử xem.

Nếu là thần thì mình muốn gì cứ nhân lúc vắng người thắp hương cầu khấn thì họ sẽ biết.

Cô gái có đôi tất thêu rất đẹp, Bác Sĩ thích nhưng chưa dám nói, lập tức thắp hương cầu khấn trong phòng.

Sáng ra cô gái dậy sớm, chợt mở rương lấy đôi tất sai tỳ nữ đem cho Bác Sĩ.

Sinh thấy thế bật cười, cô gái hỏi duyên cớ, bèn kể lại chuyện, nàng nói:

- Con nhãi mới ranh làm sao!

Nhân thấy Bác Sĩ thông minh càng yêu thưong, mà Bác Sĩ càng cung kính, cứ mờ sáng là tắm gội tới hầu.

Sau Bác Sĩ sinh một lần được hai trai, hai người chia nhau nuôi.

Năm sinh tám mươi tuổi, diện mạo cô gái vẫn như lúc chưa lấy chồng.

Sinh mắc bệnh, nàng thuê thợ đóng quan tài, bảo làm to gấp đôi bình thường.

Lúc sinh chết nàng không khóc, các con vùa ra ngoài thì nàng nằm vào áo quan mà chết, vì vậy cùng chôn chung, đến nay vẫn truyền tụng là Ngôi mộ quan tài to.

_____________________________________

CHƯƠNG 162: TƯƠNG QUẦN

Đệ Huynh Ác Thủ Tụ Tuyền Đài

Đẩu Tửu Bôi Canh Dạ Quỉ Lai

Tư Thú Huyết Ngân Lưu Ngọc Uyển

Tảo Trù Hữu Ý Hướng Cao Tài

Dịch:

Họp Mặt Anh Em Chốn Dạ Đài

Bát Canh Đấu Rượu Mỗi Đêm Mời

Cổ Tay Ngầm Rạch Còn Rây Máu

Sớm Đã Lưu Tâm Mến Trọng Tài



Án Trọng là người huyện Diên An tỉnh Thiểm Tây, ở chung với anh là Bá, anh em rất thương yêu nhau.

Bá được ba mươi tuổi thì chết, kế đó vợ cũng chết.

Trọng rất đau đớn, thường nghĩ nếu có hai con trai sẽ để một đứa làm con nuôi lo việc hương hỏa cho anh.

Nhưng vừa sinh được một trai thì vợ Trọng chết.

Trọng lo vợ kế không thương con mình nên chỉ định cưới thiếp.

Thôn bên có người bán tỳ nữ, Trọng qua xem mặt nhưng không vừa ý, trong lòng chán nản lại bị bạn bè giữ lại uống rượu nên say khướt mới về.

Dọc đường gặp bạn học cũ là Lương sinh, Lương nắm tay mời mọc về nhà bằng được, Trọng say quá cũng quên bẵng bạn đã chết nên đi theo.

Vào cổng thấy không phải là căn nhà ngày trước, lấy làm lạ hỏi thì bạn đáp mới dời nhà về đây.

Vào tới nhà, Lương định lấy rượu ra mời thì rượu trong nhà đã hết, bèn dặn Trọng ngồi đợi rồi xách vò đi mua.

Trọng ra cổng đứng ngóng, thấy một người đàn bà cưỡi ngựa đi qua, có đứa nhỏ khoảng tám chín tuổi theo sau, mặt mũi dáng vẻ giống hệt anh mình, thấy chạnh lòng bèn rảo bước theo.

Hỏi đứa nhỏ họ gì, nó đáp là họ Án.

Trọng càng kinh ngạc, lại hỏi cha cháu tên gì, nó cười đáp là không biết.

Trò chuyện tới đó thì tới nhà, người đàn bà xuống ngựa vào trong.

Trọng cầm tay đứa nhỏ hỏi:

- Vào xem cha cháu có nhà không?

Nó dạ dạ rồi vào.

Giây lát có một người đàn bà bước ra nhìn, thì đúng là chị dâu Trọng.

Chị dâu ngạc nhiên hỏi sao chú lạỉ tới đây, Trọng buồn bã theo vào, thấy nhà cửa cũng cao ráo sạch sẽ.

Hỏi anh đi đâu, chị dâu đáp:

- Đi đòi nợ chưa về!

Lại hỏi người đàn bà cưỡi ngựa là ai, đáp:

- Đó là thiếp của anh chú, họ Cam, sinh được hai trai.

Đứa lớn là A Đại, đi bán hàng chưa về, đứa chú gặp là A Tiểu.

Trọng ngồi một lúc lâu, đỡ say mới biết rằng mình gặp đây toàn là ma, nhưng vì anh em vốn thương yêu nhau nên cũng không sợ hãi gì.

Chị dâu hâm rượu dọn cơm, Trọng nóng ruột muốn gặp anh nên giục A Tiểu đi tìm.

Lát sau nó khóc lóc trở vể, nói:

- Nhà họ Lý thiếu nợ không chịu trả, lại đánh nhau với cha.

Trọng nghe thế vội cùng A Tiểu chạy tới nhà họ Lý, thấy hai người đang đè anh xuống đất đấm dá.

Trọng tức giận xông vào đánh túi bụi khiến bọn kia dạt cả ra, cứu được anh đứng dậy.

Bọn kia đều bỏ chạy, Trọng đuổi theo túm được một người, đánh cho bò lê bò càng.

Rồi đứng lên cầm tay anh khóc ròng, anh cũng khóc.

Về tới nhà, mọi người kéo lên hỏi han, rồi bày rượu dọn cơm, anh em cùng uống với nhau.

Lát sau có một thiếu niên bước vào, khoảng mười sáu mười bảy tuổi, Bá gọi là A Đại, bảo tới chào chú.

Trọng kéo nó tới gần rồi nhìn anh khóc, nói:

- Đại ca dưới suối vàng có được hai trai nhưng phần mộ trên kia không ai quét dọn, con em thì còn nhỏ lại mồ côi mẹ, biết làm thế nào?

Bá cũng bùi ngùi, chị dâu Trọng bèn nói:

-_Hay là cứ cho A Tiểu đi theo chú?

A Tiểu nghe thế cứ nép vào nách Trọng, có vẻ quyến luyến không muốn rời ra.

Trọng vỗ về nó, lòng càng thêm chua xót, hỏi có thích theo chú không?

Nó thưa là thích, Trọng nghĩ tuy nó là ma không phải người, nhưng có nó bên cạnh cũng được an ủi hơn không, mới thấy vui vẻ.

Bá nói:

- Theo chú lên trần gian thì không được lười biếng, cứ ăn nhiều thịt vào, ban ngày phải ra ngoài nắng đến trưa thì thôi.

Con mới sáu bảy tuổi, qua xuân sang hạ thì sẽ mọc xương thịt như người, có thể lấy vợ sinh con, chỉ duy không được thọ thôi.

Đang khi trò chuyện, thấy ngoài cửa có một cô gái đứng nghe, ý tứ rất đằm thắm.

Trọng nghĩ là con gái anh bèn hỏi, anh đáp:

- Cô ấy tên Tương Quần, là em gái người thiếp của anh, mồ côi cả cha mẹ, ở đây đã mười năm nay.

Trọng hỏi có chồng chưa, Bá đáp chưa, nhưng mới rồi có người mai mối tới hỏi cho một nhà làm ruộng ở thôn Đông.

Cô gái nói khe khẽ ngoài cửa:

- Ta không lấy chồng chăn trâu ở nhà quê đâu.

Trọng chợt thấy yêu mến, nhung chưa tiện nói ra.

Cơm xong Bá vào dọn giường trong phòng sách, giữ Trọng ngủ lại.

Trọng vốn không muốn ở lại nhưng có ý quyến luyến Tương Quần, định tìm cách dò ý anh, nên chào Bá rồi vào phòng.

Lúc ấy mới đầu mùa xuân, khí trời còn lạnh, mà trong phòng chẳng có chút than lửa nào, Trọng lạnh run cầm cập ngồi một mình trước đèn, thầm muốn có chút rượu uống.

Bỗng A Tiểu đẩy cửa bước vào, đặt một bát canh, một đấu rượu lên bàn.

Trọng mừng quá, hỏi ai nấu, nó đáp là dì Tương.

Trọng uống rượu xong, nó lại bưng chậu than vào khơi tro thổi lửa đặt xuống dưới giùong.

Trọng hỏi:

- Cha mẹ cháu ngủ chưa?

Nó đáp:

- Ngủ lâu rồi!

Lại hỏi:

- Cháu ngủ ở đâu?

Nó đáp:

-_Ngủ chung với dì Tương!

Rồi chờ chú nhắm mắt mới khép cửa đi.

Trọng nghĩ Tương Quần thông minh hiểu ý mình, càng thêm yêu mến, lại thấy nàng chăm sóc được A Tiểu, nên càng quyết ý cưới bằng được, trằn trọc thâu đêm không hề chợp mắt.

Sáng ra nói với anh rằng:

- Em lẻ loi không có vợ, phiền đại ca lưu ý cho.

Bá nói:

- Nhà ta chẳng phải nghèo khó gì, có tiền thì cưới được vợ, chứ dưới cõi âm này dẫu có ngươi đẹp cũng e chẳng ích lợi gì cho em.

Trọng nói:

- Người xưa cũng có vợ ma, có hại gì đâu.

Bá có vẻ hiểu ý, liền nói:

- Tương Quần cũng đẹp, vả lại nếu lấy chiếc kim lớn đâm vào người mà máu chảy không thôi thì cũng có thể làm vợ người sống, cần gì phải gấp?

Trọng nói:

- Có Tương Quần chăm sóc cho A Tiểu thì cũng được.

Bá lại lắc đầu Trọng năn nĩ mãi.

Chị dâu Trọng nói:

- Nếu thế thì bắt lấy Tương Quần thử xem, nếu không được thì thôi.

Rồi cầm kim bước ra, gặp Tương Quần ngoài cửa vội chụp lấy cổ tay nàng thì đã thấy có vết máu rõ ràng, té ra nàng nghe Bá nói đã tự đâm kim vào tay để thử rồi, chị dâu Trọng phì cười buông tay nàng ra.

Người thiếp của Bá nghe thế nổi giận sấn tới trước mặt Tương Quần, dí tay vào trán nàng xỉa xói, mắng:

- Con đĩ không biết thẹn, muốn trốn theo chú nó à?

Ta nói cho ngươi biết là đừng có mơ.

Tương Quần vừa thẹn vừa uất, chạy đi định tự tử cả nhà náo loạn.

Trọng ngượng quá vội chào anh chị, dắt A Tiểu đi.

Anh dặn:

- Em cứ về đi, đùng đưa A Tiểu xuống đây nữa, sợ làm tổn hại sinh khí của nó.

Trọng vâng dạ.

Về tới nhà, nói dối tăng tuổi của A Tiểu lên, bịa chuyện rằng anh có cưới người thiếp, đứa nhỏ này là đứa con của anh, mồ côi từ lúc còn trong bụng mẹ.

Mọi người thấy nó giống Bá như đúc, đều tin là thật.

Trọng dạy A Tiểu học, bắt cứ mang sách ra nắng ngồi đọc, ban đầu nó khổ lắm, sau dần dần quen.

Đến giữa tháng sáu thì bàn ghế cũng nóng như thiêu mà đứa nhỏ vẫn nô đùa đọc sách, không hề kêu ca.

Đứa nhỏ lại rất thông minh, đêm đêm nằm với chú gác chân lên nhau, đọc bài thuộc làu làu Trọng được an ủi rất nhiều, lại vì không quên được Tương Quần nên cũng không nghĩ gì tới việc cưới thiếp nữa.

Một hôm có hai bà mối tới bàn chuyện hỏi vợ cho A Tiểu, nhưng trong nhà không có ai lo chuyện cơm nước mời khách, Trọng ngồi mà lòng như lửa đốt.

Chợt người chị dâu họ Cam từ ngoài đi vào nói:

- Chú đừng trách, ta đưa Tương Quần tới cho chú đây.

Hôm trước vì nó không biết thẹn nên ta mới chửi cho, chứ người đường đường như chú mà không chịu theo thì còn muốn theo ai!

Trọng thấy Tương Quần đứng phía sau, vô cùng mừng rỡ, mời chị dâu ngồi, nói rõ việc có khách ở nhà trước rồi bước vội ra.

Giây lát quay vào thì Cam thị đã đi.

Tương Quần xắn tay áo vào bếp, dao thớt khua ran, phút chốc thức ăn dọn lên la liệt, món nào cũng ngon lành.

Khách về rồi, Trọng vào thì Tương Quần đã ăn mặc đẹp đẽ ngồi ngay ngắn trong phòng, hai ngươi bèn làm lễ giao bái.

Đến tối, nàng muốn ngủ chung với A Tiểu như trước, Trọng nói:

- Ta lấy khí dương để ủ ấm cho nó, không thể rời ra được.

Vì vậy để nàng ở một phòng riêng, chỉ khi chiều tối cùng nhau ăn uống mới cho A Tiểu tới gặp thôi.

Tương Quần chăm sóc con Trọng như con đẻ, Trọng càng khen ngợi nàng là hiền.

Một đêm vợ chồng nằm chung, Trọng hỏi đùa rằng cõi âm có người đẹp không.

Tương Quần nghĩ ngợi hồi lâu rồi đáp:

- Chưa thấy, nhưng có cô gái láng giềng là Uy Linh Tiên, nhiều người cho là đẹp, có điều mặt mũi cũng như mọi người nhưng trang điểm khéo lắm.

Thiếp quen chị ta đã lâu, nhưng vẫn khinh bỉ là kẻ lẳng lơ.

Nếu muốn thì trong chớp mắt là gặp được ngay, nhưng hạng người ấy không đáng mời mọc.

Trọng nóng ruột muốn gặp một lần, nàng cầm bút như định viết thư, kế lại buông xuống nói:

- Không được, không được!

Trọng ép mấy lần, nàng nói:

- Đừng để bị thị quyến rũ đấy!

Trọng hứa sẽ theo lời Tương Quần liền vạch mấy nét lên giấy như vẽ bùa rồi đem ra ngoài cửa đốt.

Giây lát có tiếng rèm khua rồi tiếng cười khanh khách, nàng ra đón Uy Linh Tiên vào, thấy tóc búi cao, dung mạo như tranh vẽ.

Tương Quần kéo cùng ngồi xuống giường, uống rượu trò chuyện.

Uy Linh Tiên mới gặp Trọng thì lấy tay áo che miệng, không chịu nói chuyện với chàng, nhưng uống vài chén rồi thì cười đùa ngả ngớn chẳng e ngại gì.

Trọng trong lòng mê mẩn như bị hớp hồn, nhưng lại ngại có Tương Quần trước mặt, mà Tương Quần cũng ra sức đề phòng, không lúc nào rời chàng.

Chợt Uy Linh Tiên đứug lên, vén rèm bước ra.

Tương Quần bước theo, Trọng cũng bước theo, Uy Linh Tiên dắt tay Trọng bước mau vào phòng khác.

Tương Quần hận lắm nhưng không biết làm thế nào, chỉ uất ức quay vào phòng nghe ngóng mà thôi.

Lát sau Trọng trở vào, Tương Quần trách:

- Chàng không nghe lời thiếp, sợ là sắp tới không khước từ được thị đâu.

Trọng ngờ là nàng ghen tuông, bực bội quay ra.

Đêm sau Uy Linh Tiên không được mời cũng tự tới, Tương Quần tỏ vẻ hằn học, đối xử chẳng có chút gì lễ phép, Tiên lại cùng Trọng đưa nhau qua chỗ khác.

Mấy đêm liền như thế, Tương Quần cứ thấy Tiên tới là mắng chửi nhưng cũng không sao ngăn cấm thị được.

Hơn tháng thì Trọng ngã bệnh không dậy nổi, rất hối hận bèn gọi Tương Quần qua ngủ cùng phòng để canh chừng.

Gần sáng Tương Quần mệt mỏi hơi lơ là, thì người và ma đã lại hành lạc với nhau rồi.

Tương Quần vác gậy tới đánh Uy Linh Tiên, con ma căm tức đánh trả, Tương Quần yếu ớt nên tay chân đều bị thương tích.

Trọng bệnh cứ ngày một nặng, Tương Quần khóc nói:

- Thiếp còn mặt mũi nào nhìn thấy chị thiếp nữa?

Vài hôm sau Trọng mê man rồi chết, vừa nhìn thấy hai người lính lệ cầm trát bước vào, bất giác theo ra.

Trên đường đi sợ không có tiền bạc gì, năn nỉ hai người lính lệ tiện đường ghé vào nhà anh.

Anh nhìn thấy hoảng sợ tái mặt, hỏi em gần đây đã làm việc gì?

Trọng đáp:

- Có làm gì đâu, chỉ là cái bệnh bị ma làm thôi.

Rồi kể thật mọi chuyện.

Anh nói:

- Ra thế!

Rồi đưa một túi bạc ra nói với hai người lính lệ rằng:

- Xin cảm phiền cầm cho, tội của em ta không tới nỗi phải chết, xin cứ tha ra, ta sẽ sai thằng con ta đi theo hai vị, chắc chắn không có chuyện gì đâu.

Rồi gọi A Đại sai tiếp đãi hai người, trở vào nhà trong kể lại chuyện cho vợ nghe, bảo Cam thị gõ vách gọi Uy Linh Tiên qua.

Giây lát Tiên qua, nhìn thấy Trọng định chạy trốn, bị Bá túm lấy tóc mắng:

- Đồ con đĩ.

Sống làm đàn bà bất trinh, chết làm con ma mất nết, đã trăm đứa cưỡi vạn đứa đè rồi lại còn ám em ta à?

Rồi đánh cho tóc mây rối bù, mặt hoa bầm tím.

Hồi lâu có một bà già vào nhà, lạy phục xuống đất năn nỉ.

Bá lại trách bà để cho con gái buông tuồng, nhiếc móc một hồi mới bảo đưa con gái về.

Rồi Bá đưa Trọng về, chớp mắt đã tới nhà, vào thẳng trong phòng, Trọng chợt tỉnh dậy mới biết vừa rổi là mình đã chết.

Bá trách Tương Quần:

- Ta với chị cô cho rằng cô hiền thục đảm đang mới sai theo em ta, nay lại muốn giục cho nó chóng chết à?

Nếu không hiềm danh phận anh chồng em dâu, thì ta đã đánh cho một trận rồi đấy!

Tương Quần sợ sệt thẹn thùng khóc thút thít, lạy Bá tạ lỗi.

Bá quay nhìn A Tiểu mừng rỡ nói:

- Con đã đúng là người sống rồi.

Tương Quần định đi làm cơm, Bá từ chối nói:

- Chuyện của em ta còn chưa xong, ta không rảnh được.

A Tiểu năm ấy được mười ba tuổi, đã hơi lớn nên biết quyến luyến cha, thấy cha ra đi, rơi nước mắt đi theo.

Bá nói:

- Theo chú sướng lắm, cha đi rồi sẽ trở lại mà.

Rồi chớp mắt đã biến mất, từ đó không gặp nhau nữa.

Sau A Tiểu cưới vợ sinh dược một con trai, đến ba mươi tuổi thì chết, Trọng chăm chút đứa nhỏ như chăm nom cháu ngày trước.

Năm Trọng hơn tám mươi tuổi thì nó hơn hai mươi tuổi, mới cho ra ở nêng.

Tương Quần không sinh nở lần nào, một hôm nói với Trọng rằng:

- Thiếp về nhà trước đuổi chuột được chứ?

Rồi ăn mặc đẹp đẽ vào giường nằm mà chết.

Trọng cũng chẳng đau xót gì, nửa năm sau cũng chết.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 163+164+165+166+167+168+169


CHƯƠNG 163: LA TỔ

Thê Noa Cửu Biệt Hạnh Bình An

Quyết Tuyệt Như Hà Nhất Đán Phan

Đàn Việt Năng Tương Đao Phóng Hạ

Tiện Thành Phật Tổ Diệc Phi Nan

Dịch:

Vợ Con Xa Cách Được Bình An

Quyết Liệt Từ Đây Dứt Bụi Trần

Đàn Việt Buông Tay Đao Bỏ Xuống

Thời Thành Phật Tổ Ở Ngay Gần



La Tổ người huyện Túc Mặc (tỉnh Sơn Đông), lúc trẻ nghèo khổ nhưng thích bay nhảy.

Năm ấy trong họ phải cắt một người đi lính thú ngoài biên, bèn cho La đi.

La ở ngoài biên vài năm, sinh được một trai, lại được viên Thủ bị chỉ huy yêu mến.

Kế viên Thủ bị được thăng làm Tham tướng Thiểm Tây, muốn đem La cùng đi.

La bèn gởi gắm vợ con cho người bạn là Lý Mỗ rồi lên đường, suốt ba năm không có dịp về thăm.

Gặp lúc Tham tướng muốn gởi thư lên biên ải phía bắc, La thưa xin cầm thư đi để nhân tiện đường ghé thăm vợ con, Tham tướng ưng thuận.

La về tới nhà, thấy vợ con đều khoẻ mạnh, cũng được yên lòng, nhưng nhìn thấy dưới gầm giường có đôi giày đàn ông, trong lòng ngờ vực.

Kế qua nhà Lý cám ơn, Lý bày rượu khoản đãi rất ân cần, vợ cũng nói Lý giúp đỡ đối xử tử tế, La cảm động lắm.

Hôm sau nói với vợ rằng:

- Ta phải đi đưa thư cho chủ, chắc tối không về kịp đâu, nàng đừng chờ!

Rồi ra cửa lên ngựa đi nhưng ngầm núp lại gần đó, đến khuya quay về thì nghe tiếng vợ và Lý uống rượu chuyện trò, nổi giận phá cửa vào.

Hai người sợ hãi quỳ xuống van lạy.

La đã tuốt đao nhưng lại tra vào vỏ, nói với Lý rằng:

- Ta vẫn coi ngươi là con người, nay lại như thế này, nếu giết đi chỉ làm bẩn đao của ta thôi.

Vậy ta giao hẹn với ngươi, ngươi nhận lấy vợ con ta thì cũng phải ghi tên làm lính thay ta, ngựa nghẽo khí giới ta để cả lại đây cho ngươi, ta đi đây!

Rồi bỏ đi.

Người làng cùng báo lên quan, quan phạt đánh trượng Lý.

Lý bẩm thật mọi chuyện, nhưng việc không có gì làm bằng nên không tra xét được, sai tìm La khắp nơi vẫn không nghe tin tức gì.

Quan ngờ rằng Lý tư thông với vợ nên giết chồng, càng giam cầm Lý và vợ La nghiêm ngặt, hơn một năm thì hai người đều chết trong ngục, quan sai lấy ngựa trạm đưa con La về Túc Mặc.

Về sau ở dinh Thạch Hạp có dân vào núi kiếm củi gặp một đạo sĩ ngồi trong hang, không thấy ăn uống gì.

Mọi người đều lấy làm lạ, đem thức ăn dâng, có người nhận biết nói đó là La.

Cơm gạo chất đầy trong hang mà rốt lại La vẫn không ăn, lại tỏ vẻ ghét sự ồn ào, vì thế mọi người cũng dần dần ít tới đó.

Vài năm sau ngoài cửa hang cỏ mọc như rừng, có kẻ tới nhòm trộm vào thấy La vẫn ngồi yên chỗ cũ không hề di chuyển.

Lại khá lâu sau, người ta thấy La ra khỏi hang đi dạo trên núi, cho là đã bỏ đi, nhung tới nhìn vào hang thì thấy trên áo La vẫn đầy bụi như cũ, càng lấy làm lạ.

Vài ngày sau lại tới xem thì thấy da thịt rã xuống, té ra đã tọa hóa từ lâu rồi.

Dân vùng ấy lập miếu thờ, cứ cách ba tháng lại thắp hương đất vàng khấn khứa ngoài cổng.

Sau con La tới đó, người ta đều gọi là:

- La Tổ nhỏ!

Giao hết tiền đèn hương cho.

Đến nay con cháu vẫn mỗi năm tới đó một lần thu tiền đèn hương.

Lưu Tông Ngọc ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông) kể cho ta nghe chuyện này rất rõ ràng, ta cười nói:

- Những người mộ đạo Phật trên đời hiện nay không mong làm thánh hiền mà chỉ mong thành Phật tổ, xin nói với tất cả bọn họ rằng nếu muốn thành Phật ngay lập tức thì cứ buông đao xuống đất thôi.

____________________________________

CHƯƠNG 164: QUẤT THỤ

CÂY QUẤT

Ngư Hiên Trùng Lý Thụ Tiên Tri

Cập Giới Qua Kỳ Cảm Biệt Ly

Quất Ấm Thảng Tương Đường Ấm Tỉ

Hậu Tiên Băng Ngọc Hệ Nhân Ti

Dịch:

Trở Lại Ngư Hiên Cây Bảo Trước

Đến Kỳ Qua Đại* Cảm Sầu Bi

Nếu Đem Bóng Quất Cam Đường Đọ**

Băng Ngọc Xui Người Nhớ Trước Sau***

(*) Đến kỳ hạn người mới đến thay người cũ.

(**) Bóng cam đường là điên ông Thiệu Bá.

Dân nhớ công đức mà không chặt cành cam đường chỗ ông ở trước.

(***) Băng thanh ngọc nhuận ví với bố vợ và con rể.



Ông Lưu người Thiểm Tây làm Huyện lệnh Hưng Hóa (tỉnh Giang Tô).

Có người đạo sĩ tới hiến một chậu cây cảnh, nhìn ra thì là một cây quýt nhỏ, thân cây vừa bằng ngón tay, ông từ chối không nhận.

Nhung ông có cô con gái nhỏ mới sáu bảy tuổi, hôm ấy gặp ngày sinh nhật, đạo sĩ nói:

- Vật này không đáng biếu đại nhân thưởng ngoạn, chỉ là để chúc tiểu thư được phúc thọ thôi.

Ông bèn nhận.

Cô gái vừa nhìn thấy cây quýt thì mừng quýnh, đem đặt trong phòng ngủ, sớm tối chăm sóc, chỉ sợ nó bị thương tổn.

Năm ông Lưu thôi giữ chức Huyện lệnh, cây quýt đã lớn, bắt đầu kết trái.

Khi ông thu xếp hành trang lên đường, thấy nó nặng nề cồng kềnh, bèn bỏ lại.

Cô gái ôm cây quýt kêu khóc, người nhà nói dối rằng:

- Chỉ đi một thời gian sẽ trở lại mà!

Cô gái tưởng thật mới nín khóc.

Nhung lại sợ có người khoẻ mạnh vác đi mất, bèn sai người nhà dời ra trồng dưới thềm rồi mới chịu lên đường.

Cô gái về nhà, sau được gả cho họ Trang.

Năm Bính tuất Trang thi đỗ Tiến sĩ, được cử làm Huyện lệnh Hưng Hóa.

Phu nhân rất mừng, song thầm nghĩ đã hơn mười năm, cây quýt chắc không còn.

Tới nơi thì cây quýt đã lớn hơn mười ôm, trái kết từng chùm từng chùm, kể tới hàng ngàn.

Hỏi thăm những người sai dịch cũ, họ đều nói sau khi ông Lưu đi, cây quýt rất tươi tốt nhưng không kết trái, đây là lần đầu tiên có trái, phu nhân lấy làm lạ lùng.

Trang giữ chức ba năm, cây quýt ra trái rất sai, đến năm thứ tư thì xơ xác không có một cái hoa nhỏ.

Phu nhân nói:

- Chàng không làm quan ở đây lâu nữa đâu!

Đến mùa thu quả nhiên Trang được giải nhiệm.

______________________________________

CHƯƠNG 165: MỘC ĐIÊU MỸ NHÂN

MỸ NHÂN TẠC BẰNG GỖ

Phân Minh Khối Lỗi Dã Đăng Trường

Như Kiến Minh Phi Tái Thượng Trang

Kim Liệt Cẩm Tiên Nhân Sất Trục

Dương Cừu Trĩ Vĩ Khuyển Đề Nang

Dịch:

Múa May Phỗng Gỗ Khéo Ra Trò

Giống Hệt Chiêu Quân Lúc Cống Hồ

Trang Sức Yên Cương Chó Làm Ngựa

Mỹ Nhân Phi Ngựa Chạy Vù Vù



Nhà buôn Bạch Hữu Công kể lúc ở sông Lạc (huyện Lịch Thành tỉnh Sơn Đông) thấy một người mang cái giỏ tre, dắt hai con chó lớn, lấy trong giỏ ra một người đẹp bằng gỗ cao hơn một thước, tay chân có thể cử động được, xinh đẹp như người sống.

Kế lấy chiếc nệm gấm nhỏ phủ lên lưng chó, đặt người đẹp bằng gỗ ngồi lên, rồi quát chó chạy mau.

Người đẹp bằng gỗ tự cử động, dong ngựa diễn kịch, đứng lên bàn đạp rồi nằm rạp xuống, ưỡn lưng ngã người tựa lên đuôi ngựa, vái lạy đứng ngồi vô cùng linh hoạt.

Lại diễn vở Chiêu Quân xuất tái, lấy ra thêm một người gỗ khác, đội mũ gắn lông trĩ, mặc áo bằng da dê cưỡi chó theo sau, Chiêu Quân cứ nấn ná quay nhìn thì người mặc áo da dê vung roi thúc đi mau, giống hệt như người sống vậy.

*[Chiêu Quân xuất tái: Chiêu Quân ra ải.

Chiêu Quân là cung nữ đời Hán Nguyên đế, bị triều đình gả cho chúa Thiền Vu để hòa thân, lúc ra cửa ải vào đất Thiền Vu nàng có gảy khúc đàn tỏ lòng nhớ nước].

____________________________________

CHƯƠNG 166: KIM VĨNH NIÊN

Ảo Mộng Cơ Kinh Vọng Tương Lai

Thùy Tri Lão Bụng Cánh Hàm Thui

Tiêu Điều Mộ Cảnh Bằng Thùy Úy

Ngọc Thụ Hoàn Tòng Tâm Địa Bồi

Dịch:

Ảo Tưởng Hầu Do Vọng Tưởng Xui

Trai Già Nào Tưởng Bọc Châu Thai

Điu Hiu Vẫn Cảnh Chi An Ủi

Cây Ngọc Cần Nên Phúc Địa Bồi



Kim Vĩnh Niên người huyện Lợi Tân (tỉnh Sơn Đông) tám mươi hai tuổi không có con, vợ thì bảy mươi tám tuổi, tự nghĩ đã hết hy vọng.

Chợt nằm mộng thấy thần nói:

- Lẽ ra ngươi phải tuyệt tự nhưng nghĩ tới ngươi buôn bán lương thiện nên cho một đứa con trai.

Kim tỉnh dậy kể với vợ, vợ nói:

- Thật là mơ mộng hão huyền, hai người đều đã sắp vào quan tài cả rồi, con ở đâu ra?

Không bao lâu người vợ thấy bụng máy động, mười tháng sau sinh được một con trai.

____________________________________

CHƯƠNG 167: HIẾU TỬ

CON HIẾU

Di Thể Nguyên Nan Thảo Hủy Hương

Nại Hà Mẫu Thị Bệnh Cao Hoang

Tiên Tương Hiếp Nhục Thân Phu Thiếp

Hảo Vị Đương Khoa Tục Dị Phương

Dịch:

Di Thể Đành Không Được Hủy Hương

Mẫu Thân Khốn Nỗi Bệnh Cùng Đường

Thịt Hông Đành Cắt Làm Cao Đán

Nối Ngoại Khoa Thêm Một Dị Phương



Trước núi Đông Hương ở phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) có Chu Thuận Đình thờ mẹ rất có hiếu.

Mẹ bị cái nhọt lớn ở đùi, đau không chịu nổi, đêm ngày rên rỉ.

Chu bưng cơm sắc thuốc hầu hạ quên ăn quên ngủ mà mấy tháng mẹ vẫn không khỏi.

Chu lo lắng không biết làm sao, nằm mơ thấy cha về nói:

- Mẹ con bị bệnh may nhờ được con có hiếu, nhưng bệnh này không có mỡ người thoa vào thì không khỏi được, con vất vả tội nghiệp quá.

Tỉnh dậy lấy làm lạ, liển trở dậy lấy dao cắt thịt ở sườn, thịt đứt ra nhưng không đau lắm, vội lấy vải bó quanh bụng, cũng không thấy chảy máu.

Rồi rán thịt lấy mỡ thoa cho mẹ, lập tức hết đau ngay.

Mẹ mừng rỡ hỏi thuốc gì mà hay thế, Chu tìm lời nói dối.

Bệnh mẹ dần dần bớt, Chu vẫn giấu kín vết thương chỗ cắt thịt, vợ con cũng không biết.

Đến khi lành hẳn, có cái sẹo to bằng bàn tay, vợ hỏi mới rõ sự tình.

____________________________________

CHƯƠNG 168: SƯ TỬ

Toa Nghê Vị Kiến Đán Văn Danh

Cống Tự Tiêm La Vạn Lý Trình

Năng Sử Kê Mao Suy Tận Lạc

Thử Trung Vật Lý Tín Nan Minh

Dịch:

Sư Tử Nghe Tên Chửa Thấy Qua

Muôn Trùng Cống Vật Tự Tiêm La

Thổi Hơi Nhẵn Trụi Lông Gà Rụng

Vật Lý Xem Đây Cũng Lạ Mà



Nước Tiêm La cống sư tử, tới đâu cũng có người đón xem đông nghẹt.

Nhìn hình dáng thì khác hẳn lời đồn hay tranh vẽ, lông đen ánh vàng dài khoảng vài tấc.

Có người ném cho con gà nó giơ vuốt chụp lấy rồi thổi, thổi một hơi thì lông gà rụng sạch, về lý kể cũng lạ.

_____________________________________

CHƯƠNG 169: TỬ ĐỒNG LỆNH

LÀM QUAN TỬ ĐỒNG

Tiêu Lộc Đương Niên Tiếu Trịnh Nhân

Mê Ly Thảng Hoảng Cảnh Phi Chân

Tử Đồng Tái Nhậm Tiên Cô Triệu

Mộng Đái Lôi Đồng Mộng Cánh Thần

Dịch:

Cười Chuyện Đấu Hươu Người Nước Trịnh

Mê Ly Hoảng Hốt Cảnh Không Chân

Tử Đồng Tái Nhiệm Tiên Cô Báo

Mộng Tới Hai Phen Mộng Diệu Thần



Tiến sĩ Thường Đại Trung là người Thái Nguyên (tỉnh thành Sơn Tây).

Tới kinh đô chờ bổ nhiệm, đêm nằm mơ thấy Văn Xương đế quân tới gặp, rút thẻ bói thì được cái thẻ Tử Chàng, lấy làm lạ.

Sau Thường có đại tang trở về, hết tang trở lên kinh chờ bổ nhiệm, lại nằm mơ giống lần trước, tự nghĩ hay là mình đước bổ làm Tri huyện Tử Chàng chăng?

Sau quả nhiên đúng thế.

*[Văn Xương đế quân tới gặp, rút thẻ bói thì được cái thẻ Tử Chàng: Văn Xương đế quân theo truyền thuyết là họ Trương, sống vào thời Đường, giỏi văn học, chết làm thần coi việc khoa cử công danh.

Tử Chàng là tên huyện thuộc tỉnh Tứ Xuyên, là nơi ở của Văn Xương đế quân nên người ta còn gọi vị thần này là Tử Chàng đế quân.

Cái thẻ Tử Chàng dịch chữ "Tử Chàng lệnh", chữ “lệnh" đây còn có nghĩa là quan Tri huyện].
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 170+171


CHƯƠNG 170: GIẢ PHỤNG TRĨ

Nhất Chẩm Du Tiên Mộng Sạ Hồi

Vĩnh Hoa Chuyển Nhãn Thặng Hàn Hôi

Thiếu Niên Thịnh Khí Tiêu Ma Tận

Tự Hữu Lâu Thuyền Tiếp Dẫn Lai

Dịch:

Chiếc Gối Du Tiên Giấc Mộng Vèo

Vinh Hoa Chớp Mắt Khói Mây Tiêu

Hăng Sag Chí Trẻ Tiêu Ma Hết

Tự Có Lâu Thuyền Tiếp Dẫn Theo



Giả Phụng Trĩ người huyện Bình Lương (tỉnh Cam Túc) tài danh đứng đầu một thời nhưng cứ đi thi là rớt.

Một hôm đi đường gặp người Tú tài tự xưng là họ Lang, phong thái tiêu sái, nói chuyện đâu vào đấy nên mời cùng về nhà, đưa văn bài ra nhờ sửa cho.

Lang đọc xong, không khen ngợi lắm, nói:

- Văn chương của túc hạ thi khảo khóa thì đỗ đầu có thừa, mà vào trường thi thì đội bảng cũng thiếu.

Giả nói:

- Vậy thì làm thế nào!

Lang đáp:

- Chuyện đời nhìn lên thì khó, cúi xuống thì dễ, cần gì ta phải nói nữa.

Rồi chỉ ra vài bài văn của vài người làm mực thước.

Đó đều là những kẻ Giả vốn khinh bỉ, nên nghe thế cười đáp:

- Kẻ học lập ngôn quý ở chỗ được lời bất hủ, như thức ăn ngon sánh với bát trân mà thiên hạ không cho là xa xỉ chứ ăn cắp công danh như thế thì dẫu có làm tới khanh tướng cũng vẫn hèn hạ.

Lang nói:

- Không phải thế.

Văn chương dẫu hay mà thân phận hèn hạ cũng không được lưu truyền, nếu ông muốn ôm sách vở đến chết thì được, bằng không thì các quan chấm thi đều tiến thân bằng thứ văn chương tầm thường ấy cả, sợ không đọc nổi văn ông thì không lọt được vào mắt họ đâu.

Giả vẫn khăng khăng giữ ý mình, Lang đứng dậy cười nói:

- Kẻ thiếu niên hào hùng thật!

Rồi chào đi.

Mùa thu năm ấy Giả thi hương lại rớt, sầu muộn bất đắc chí, chợt nhớ lời Lang nói bèn tìm những bài văn Lang đã chỉ cho miễn cưỡng đọc.

Chưa hết bài thì buồn ngủ díp mắt, trong lòng ngờ vực không rõ là vì sao.

Lại qua ba năm, sắp đến kỳ thi thì Lang lại tới, gặp nhau rất vui vẻ, nhân đưa bảy đề bài mình nghĩ ra bảo Giả làm.

Qua hôm sau đòi xem, cho là không được, bảo làm lại, làm xong lại chê.

Giả đùa, bèn xào xáo những câu văn sáo rỗng không ai nghe được trong các bài thi rớt ghép lại thành bài, chờ Lang tới đưa cho xem.

Lang mừng nói:

- Thế này thì được rồi!

Rồi bảo phải học thuộc lòng, dặn đi dặn lại bảo đừng có quên.

Giả cười nói:

- Nói thật với ông, nhũng bài này không phải ta thật lòng viết ra, chớp mắt là quên ngay, có đánh đòn cũng không nhớ nối đâu.

Lang ngổi ở đầu bàn, nói cứ cố đọc lại một lượt, kế bảo Giả vén áo lên, lấy bút vẽ một đạo bùa trên lưng rồi đi, nói:

- Bấy nhiêu là đủ rồi, đọc sách cho lắm cũng chỉ vô dụng.

Giả xem lại đạo bùa thì rửa đi không sạch, thấm luôn vào thịt rồi.

Đến khi vào trường thi thì bảy đề bài đều đúng như của Lang, Giả nhớ lại các bài đã làm thì đều quên sạch, chỉ có những bài chắp vá để đùa là nhớ rõ mồn một.

Nhưng đặt bút xuống lại thấy xấu hổ, cũng muốn sửa đổi một ít, song nghĩ nát óc mà không thay được chữ nào, mặt trời đã xế đành chép đúng rồi nộp quyển mà ra.

Lang chờ đã lâu, hỏi sao muộn thế, Giả kể thật lại rồi xin xóa lá bùa, nhưng nhìn lại thì đã mờ hết.

Nhớ lại lúc làm bài trong trường thi, thấy như là sống kiếp khác, vô cùng lạ lùng.

Nhân hỏi Lang sao không dùng cách ấy để đi thi, Lang cười đáp:

- Chỉ vì ta không nghĩ tới việc thi ấy nên cũng không đọc nổi loại văn ấy.

Rồi hẹn Giả ngày mai qua chỗ mình chơi, Giả ưng thuận.

Lang đi rồi, Giả đem bản thảo bài làm ra xem lại, thấy khác hẳn lòng mình, lấy làm ấy náy, cũng chẳng qua thăm Lang, chán nản về nhà.

Không bao lâu ra bảng, quả Giả đỗ đầu.

Lại lấy bản thảo cũ ra xem, đọc tới đâu toát mồ hôi tới đó, đọc xong thì áo ướt đẫm, tự nhủ:

- Văn chương này mà truyền ra thì làm sao dám gặp kẻ sĩ trong thiên hạ nữa?

Còn đang hổ thẹn thì Lang chợt tới, nói:

- Muốn thi đỗ thì đã thi đỗ rồi, còn buồn gì nữa?

Giả đáp:

- Ta đang nghĩ đúng là mâm vàng chén ngọc lại đem đựng phân chó, thật không còn mặt mũi nào gặp người quen, định sẽ vào núi gò mai danh ẩn tích, vĩnh viễn cắt đứt với thế tục đây!

Lang nói:

- Như thế thì rất cao thượng, chỉ e rằng không làm được thôi.

Nếu làm được ta xin đưa ông tới gặp một người, có thể được trường sinh thì cái danh thơm ngàn thuở cũng không đáng tiếc, huống hồ là chuyện giàu sang thoảng qua ư?

Giả mừng giữ Lang ngủ lại, nói:

- Cho ta nghĩ kỹ lại đã!

Sáng ra nói với Lang rằng:

- Ý ta đã quyết rồi!

Rồi không nói gì với vợ con, theo Lang nhẹ nhàng ra đi, dần dần vào núi sâu, tới một tòa động phủ, bên trong như một cõi trời đất riêng biệt.

Thấy có một ông già ngồi trong sảnh đường, Lang dẫn Giả vào ra mắt, gọi là thầy.

Ông già hỏi:

- Sao về sớm thế?

Lang thưa:

- Ngươi này lòng đạo đã bền, xin thầy thu nạp!

Ông già nói:

- Ngươi đã tới đây, thì phải đặt thân mình ra ngoài thế tục mới đắc đạo được.

Giả dạ dạ vâng lời.

Lang đưa tới một phòng, sắp xếp chỗ ngủ rồi, lại đem cơm tới mới đi.

Phòng cũng sạch sẽ, có điều cửa lớn không có cánh cửa, cửa sổ không có chấn song, bên trong chỉ có một chiếc giường và một cái bàn.

Giả cởi giày lên giường, trăng đã lên chiếu vào phòng.

Thấy hơi đói bèn lấy cơm ra ăn, ngon ngọt khác thường.

Thầm nghĩ chắc Lang sẽ lại tới, nhưng ngồi chờ hồi lâu vẫn im ắng, chẳng có tiếng động nào, chỉ thấy mùi hương man mác khắp phòng, tâm thần nhẹ nhõm, cảm nhận được cả khí huyết đang vận hành.

Chợt có tiếng động lớn như mèo gãi sồn sột, hé mắt nhìn ra thấy có con cọp ngồi dưới thềm, thoáng hoảng sợ nhưng nhớ tới lời thầy dặn, lập tức trấn tĩnh ngồi yên.

Cọp như biết có người, dần dần vào tới gần giường, thở khìn khịt ngửi chân Giả.

Giây lát trong sân lại có tiếng phành phạch như gà bị trói giãy giụa, con cọp lập tức chạy đi.

Giả ngồi một lúc nữa thì có mỹ nhân bước vào, hương thơm sực nức, im lặng lên giường ghé tai Giả nói nhỏ:

- Thiếp tới rồi đây!

Lúc nói nghe hơi thở cũng thơm phức.

Giả vẫn thản nhiên không động đậy, mỹ nhân lại hạ giọng hỏi:

- Ngủ rồi à?

Giọng nói rất giống vợ nhà.

Giả hơi động lòng, mở mắt nhìn kỹ thì đúng là vợ mình.

Hỏi làm sao tới được đây, vợ đáp:

- Lang sinh sợ chàng thấy hiu quạnh muốn về, sai một bà già đưa thiếp tới.

Vừa nói xong thì nghe tiếng ông già quát tháo, dần dần tới gần phòng, vợ Giả vội vùng dậy nhưng không có chỗ nào trốn núp, bèn leo qua chỗ tường thấp chạy ra ngoài.

Giây lát Lang theo ông già vào, ông già cầm trượng đánh Lang ngay trước mặt Giả, rồi sai đuổi khách đi.

Lang cũng đưa Giả theo chỗ tường thấp ra ngoài, nói:

- Ta mong mỏi còn ông viễn vông, không khỏi có chỗ hấp tấp, nhưng không ngờ ông lại chưa dứt được tình duyên làm ta bị trách phạt.

Bây giờ hãy tạm về đi, sau này sẽ có ngày gặp lại.

Bèn chỉ đường cho về, vái chào rồi chia tay.

Giả nhìn xuống núi thấy quê nhà đã trước mắt, nghĩ rằng vợ chân yếu chắc còn trên đường, bèn rảo bước đi, hơn một dặm thì tới cổng nhà.

Nhưng thấy tường vách tiêu điều khác hẳn cảnh ngày trước, già trẻ trong thôn chẳng thấy có ai quen, bắt đầu khiếp sợ.

Chợt nhớ đến tình cảnh Lưu Nguyễn từ Thiên Thai trở về cũng đúng như thế này nên không dám vào nhà, ngồi đợi trước cửa nhà đối diện.

Hồi lâu trong nhà có ông già chống gậy bước ra, Giả vái chào rồi hỏi nhà Giả Mỗ ở đâu, ông già chỉ đáp:

- Đúng là nhà ấy đấy, có phải khách muốn hỏi chuyện lạ không?

Ta biết rõ lắm.

Nghe đồn rằng ông ta được tin thi đỗ thì bỏ trốn, lúc ấy con trai mới bảy tám tuổi, đến năm mười lăm tuổi thì bà mẹ chợt ngủ mãi không tỉnh dậy.

Lúc người con còn sống thì hàng ngày vẫn thay áo đổi nệm cho mẹ, khi chết rồi hai người cháu nghèo khổ, phòng ốc hư dột chỉ lấy cành lá che tạm thôi.

Tháng trước phu nhân chợt tỉnh dậy, tính lại thì đã hơn trăm năm rồi.

Gần xa nghe chuyện lạ tới hỏi thăm nườm nượp, đến nay mới hơi thưa đấy.

Giả chợt hiểu ra, nói:

- Ông không biết đấy, chứ ta là Giả Phụng Trĩ đây!

Ông già cả kinh, chạy qua nhà Giả báo tin.

Lúc ấy cháu nội đích tôn của Giả đã chết, cháu thứ hai tên Tường đã hơn năm mươi tuổi, thấy Giả mặt mũi còn trẻ ngờ là bịa đặt.

Lát sau phu nhân ra mới nhận biết Giả, ứa lệ gọi cùng vào nhà.

Khổ nỗi nhà không có phòng ốc gì, mới vào tạm nhà cháu nội, thấy trai gái lớn nhỏ chạy vào xúm xít đầy nhà, đều là chắt chít, tất cả đều nghèo hèn ít học.

Cháu dâu trưởng là Ngô thị dọn cơm mời Giả, thức ăn chỉ có rau, lại bảo con thứ hai là Quả cùng vợ qua ở chung phòng với mình, nhường phòng lại cho ông bà.

Giả vào nhà cháu nội ở thấy bụi bặm bẩn thỉu, đông đúc ồn ào, mới có vài ngày đã thấy không sao chịu nổi.

Nhà hai cháu nội chia nhau đem cơm nước cho ông bà, nhưng nấu nướng rất không vừa miệng.

Người làng thấy Giả mới về, ngày ngày còn mời đi uống rướu, chứ phu nhân thì thường không ngày nào được ăn no.

Ngô thị vốn là con gái nhà sĩ nhân, được dạy dỗ có khuôn phép nên còn kính trọng ông bà, chứ nhà Tường thì việc cơm nước ngày càng tệ, có hôm còn gọi qua ăn cùng.

Giả nổi giận dắt phu nhân đi, mở trường dạy học ở thôn Đông, thường nói với phu nhân rằng:

- Ta rất hối hận đã trở về, nhưng không kịp nữa.

Nên bất đắc dĩ phải theo nghiệp cũ, nếu trong lòng không có gì xấu hổ thì giàu sang cũng chẳng khó.

Như thế hơn năm, Ngô thị vẫn thường cung đốn tiền gạo chứ cha con Tường thì bặt tăm.

Năm ấy Giả thi đỗ vào trường huyện, quan huyện trọng văn tài nên tặng cho rất hậu, nhờ vậy trong nhà cũng được dư dật.

Tường mon men tới thăm, Giả gọi vào bảo tính hết phí tổn cho mình trước đây, lấy tiền đưa trả rồi cấm cửa không cho gặp nữa.

Kế mua nhà mới, gọi Ngô thị về cùng ở.

Ngô thị có hai con trai, con lớn vẫn giữ nghề làm ruộng, con thứ là Quả rất thông minh, Giả bảo theo học chung với học trò mình.

Giả từ lúc trong núi về, đầu óc càng minh mẫn, không bao lâu liên tiếp thi đỗ Cử nhân rồi Tiến sĩ.

Vài năm sau được lấy hàm Thị ngự ra làm Tuần phủ Chiết Giang, oai danh lừng lẫy, trong nhà lầu gác đài tạ, dưới thềm yến ẩm đàn ca, nổi tiếng một thời.

Giả là người cứng cỏi, không sợ kẻ quyền quý nên đụng chạm tới nhiều quan lón trong triều, bèn dâng sớ xin về hưu nhưng chưa có chỉ dụ thì đã gặp tai họa.

Nguyên Tường có sáu con trai, đều là hạng vô lại, tuy Giả đã cấm cửa không cho lui tới nhưng vẫn mượn danh Giả tác oai tác phúc, chiếm đoạt nhà cửa ruộng vườn của dân, người làng đều sợ.

Có tên Ất vừa cưới vợ, bị con thứ của Tường cướp làm thiếp.

Ất vốn là người trí trá nên người làng giúp tiền cho y đi kiện, chuyện tới tai trlều đình, các quan đểu dâng sớ hặc tội Giả.

Giả không có cách nào biện hộ nên bị bắt giam.

Được một năm thì Tường và đứa con thứ chết trong ngục, Giả được chỉ sung quân ở huyện Liêu Dương (tỉnh Liêu Ninh).

Năm ấy Quả vào học trường tỉnh đã lâu, tính rất nhân hậu, nổi tiếng tài giỏi.

Phu nhân sinh được một con, năm ấy mười sáu tuổi, gởi gắm cho Giả rồi dắt một lão bộc, một bà già đi với chồng.

Giả nói:

- Giàu sang hơn mười năm cũng không lâu bằng một giấc mộng, nay mới biết trường vinh hoa đều là một cõi địa nguc, hối hận vì Lưu Nguyễn lại gây ra thêm một cái án oan nghiệt vậy.

Vàỉ hôm tới bờ biển xuống thuyền, thấy xa xa có một chiếc thuyền lớn chèo tới, đàn sáo rộn rã, bọn người hầu đều như thần tiên.

Thuyền tới gần thì có một ngừữi bước ra, tươi cười mời quan Thị ngự qua trò chuyện một lúc Giả nhìn thấy người ấy vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, nhảy luôn qua thuyền lớn, bọn lính áp giải không dám ngăn cản.

Phu nhân vội vàng bước theo nhưng thuyền lớn đã rời xa, uất ức nhảy luôn xuống biển.

Loi ngoi được vài bước thì có một người thả tấm lụa xuống cứu lên.

Bọn lính áp giải bảo nhà thuyền chèo mau đuổi theo, vừa đuổi vừa quát tháo.

Chợt nghe có tiếng trống thúc vang vang như sấm hòa vào với tiếng sóng ầm ầm, trong chớp mắt thì chiếc thuyền kia biến mất.

Người lão bộc của Giả nhận ra người trên thuyền, nói đó là Lang sinh.

_____________________________________

CHƯƠNG 171: TAM SINH

BA KIẾP ĐẦU THAI

Tam Tải Toàn Niên Nhất Nhật Tranh

Hà Kham Quý Quý Trưởng Văn Hành

Cừu Tần Lũy Thế Nan Tiêu Thích

Bất Quyết Song Mâu Oán Bất Bình

Dịch:

Ba Năm Mài Dũa Một Ngày Thi

Mờ Mịt Trường Quan Suýt Hiểm Nguy

Mấy Kiếp Tầm Cừu Khôn Giải Thoát

Chẳng Moi Hai Mắt Oán Còn Ghi



Anh Mỗ ở Hồ Nam nhớ được chuyện ba kiếp trước.

Kiếp đầu làm quan huyện, được cử làm khảo quan kỳ thi hương.

Có danh sĩ tên Hưng Vu Đường bị đánh rớt uất ức mà chết, cầm quyển thi tới âm ty kiện.

Đơn kiện vừa đưa lên, những sĩ tử thi rớt mà chết kéo tới hàng vạn người, tôn Hưng đứng đầu, lúc tan lúc họp.

Mỗ bị bắt tới đối chất với Hưng, Diêm Vương hỏi Mỗ coi việc cân nhắc văn chương, tại sao lại đánh rớt người tài sĩ mà lấy đỗ kẻ tầm thường.

Mỗ phân trần rằng ở trên còn có quan Chủ khảo, mình chẳng qua chỉ là kẻ thừa lệnh mà thôi.

Diêm Vương lập tức phát thẻ bài sai đi bắt viên Chủ khảo, hồi lâu giải tới, Diêm Vương thuật lại lới Mỗ, viên Chủ khảo nói:

- Ta chẳng qua chỉ là người xem lại lần cuối, nếu các quan Giám khảo không đưa bài lên thì làm sao ta đọc được?

Diêm Vương nói:

- Không được đổ lỗi cho nhau như thế, hai ngươi đều không làm tròn phận sự như nhau thôi.

Vừa sắp phạt đánh đòn hai người thì Hưng không vừa lòng bước ra gào lớn, đám ma đứng dưới thềm cũng la hét phụ họa.

Hưng nói trừng phạt như vậy quá nhẹ, phải khoét cả hai mắt để trị tội không biết đọc văn.

Diêm Vương không chịu, đám ma càng la hét tợn, Diêm Vương nói:

- Tội của họ không phải là không muốn được văn hay, chỉ là ngu dốt thôi.

Đám ma lại xin mổ tim, Diêm Vương bất đắc dĩ sai lột áo hai người, lấy dao bén rạch bụng, hai người đổ máu kêu la, đám ma vô cùng vui sướng, đều nói:

- Bọn ta uất ức dưới suối vàng chưa lần nào được phát tiết nỗi hận, nay nhờ Hưng tiên sinh mới được hả giận.

Vui vẻ tan đi.

Mỗ chịu tội mổ bụng xong, bị giải tới Thiểm Tây đầu thai làm con nhà thường dân.

Năm hai mươi tuổi thì trong vùng có bọn giặc lớn gây loạn, Mỗ bị ép theo.

Quan quân đánh dẹp phá tan, bắt được rất nhiều, Mỗ cũng bị bắt nhưng nghĩ mình bị ép chứ không phải thật lòng làm giặc, còn có thể phân trần được.

Đến khi ra mắt quan trên, thấy cũng chỉ hơn hai mươi tuổi, Mỗ nhìn kỹ thì ra là Hưng, sợ hãi nói:

- Chắc ta chết rồi!

Kế đó Hưng cho tha hết những kẻ bị bắt, duy có Mỗ tới sau thì không cho phân trần gì, sai đem xử chém.

Mỗ tới âm ty đưa đơn kiện Hưng, Diêm Vương không cho bắt ngay để chờ Hưng hướng hết lộc số.

Ba mươi năm sau Hưng mới tới đối chất, Diêm Vương thấy coi thường mạng người nên phạt làm súc vật.

Lại xét lại việc làm của Mỗ thấy lúc trước từng đánh đập cha mẹ, cũng phạt như Hưng.

Mỗ sợ kiếp sau Hưng báo thù, nên xin làm con vật lớn.

Diêm Vương bèn phạt Mỗ làm chó lớn, Hưng làm chó nhỏ.

Mỗ thác sinh ở chợ phủ Thuận Thiên (tỉnh Hà Bắc), một hôm đang nằm ở đầu đường thấy có người khách từ Nam lên, dắt theo một con chó lông vàng to bằng con mèo, nhìn lại thì ra là Hưng.

Mỗ khinh là nhỏ xông vào cắn, bị con chó nhỏ táp vào cổ họng, đeo dính như cái lục lạc.

Con chó lớn rẫy ra rồi đè con chó nhỏ xuống cắn, người trong chợ xúm lại giằng ra không được.

Lát sau cả hai cùng chết, lại xuống âm ty tranh cãi với nhau.

Diêm Vương nói:

- Oan oan tương báo đến bao giờ mới thôi được, nay ta sẽ cởi mối thù oán cho các ngươi.

Rồi phán kiếp sau Hưng sẽ làm con rể Mỗ.

Mỗ sinh ra tên Khánh Vân, năm hai mươi tám tuổi thi đỗ Cử nhân.

Sinh được một gái đoan trang đẹp đẽ, các nhà thế tộc tranh nhau nhờ người tới hỏi, Mỗ đều chối từ.

Ngẫu nhiên qua chơi quận bên, gặp lúc quan Học sứ xếp hạng các Chư sinh, người đứng đầu là họ Lý, thật ra là Hưng.

Mỗ đưa về nơi trọ, đối xử rất ân cần, hỏi tới gia đình thì chưa có vợ, bèn hứa gả con gái cho.

Mọi người đều cho rằng Mỗ quý kẻ có tài, chứ không biết thật ra là số phận.

Kế đó Lý cưới con gái Mỗ, vợ chồng rất hòa hợp nhưng chàng rể cậy tài coi thường cha vợ, cả năm không tới thăm một lần, cha vợ cũng nhịn.

Sau chàng rể trung niên lận đận, lao đao mãi vẫn không thi đỗ, Mỗ tìm đủ cách giúp đỡ cho mới được đắc chí ở khoa danh, từ đó hai người thương yêu nhau như cha con ruột vậy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 172+173


CHƯƠNG 172: TRƯỜNG ĐÌNH

Khu Quỷ Tân Truyền Nhất Quyển Thư

Đắc Phùng Giai Lệ Tín Phi Hư

Phương Danh Tảo Tác Phân Ly Sấm

Băng Ngọc Thiên Nan Tích Oán Trừ

Dịch:

Khu Quỉ Bùa Linh Mới Được Truyền

Lứa Đôi Gặp Gỡ Thật Kỳ Duyên

Phương Danh Sớm Báo Điềm Ly Biệt

Băng Ngọc Oán Hiềm Vốn Khó Quên



Thạch Đại Phác người Thái Sơn (huyện Thái An tỉnh Sơn Đông) thích thuật nhương quỷ trừ tà.

Có vị đạo sĩ gặp mặt khen là thông minh, nhận làm đệ tử, mở tráp lấy hai quyển sách, quyển thượng dạy trừ hồ, quyển hạ dạy trừ ma, đưa quyển hạ cho Thạch, nói:

- Cứ giữ kỹ sách này sẽ có cơm ngon vợ đẹp.

Thạch hỏi tên họ, đạo sĩ đáp:

- Ta là Vương Xích Thành ở quán Nguyên Đế thôn Bắc Biện Thành (tỉnh thành Hà Nam).

Rồi ở lại vài ngày dạy hết cho các ấn quyết.

Thạch từ đó rất giỏi bùa phép, những kẻ mang lễ vật nhờ trừ tà ếm quỷ nối nhau tới mời.

Một hôm có ông già tới, tự xưng là họ ông, bày đầy tiền lụa ra bàn nói có con gái bị bệnh ma làm gần chết, xin Thạch tới xem.

Thạch nghe bệnh đã nguy, chối từ không nhận lễ vật, chỉ tạm tới để xem ra sao.

Đi hơn mười dặm vào thôn trong núi, tới nhà thấy phòng ốc hành lang đều hoa lệ đẹp đẽ.

Vào phòng thấy cô gái nằm trong màn the, tỳ nữ vén màn lên, Thạch nhìn thấy nàng khoảng mười bốn mười lăm tuổi, thoi thóp trên giường, hình dung khô héo.

Tới gần xem, chợt nàng mở mắt ra nói:

- Thầy giỏi đã tới!

Cả nhà mừng rỡ cho biết rằng nàng đã không nói năng gì đã mấy ngày rồi.

Thạch ra ngoài hỏi bệnh tình, ông già đáp cứ tối đến lại thấy một thiếu niên vào ngủ chung với nàng, đuổi bắt thì biến mất, lát sau lại xuất hiện, ngờ là ma.

Thạch nói:

- Nếu là ma thì đuổi không khó, chỉ sợ là hồ thì thật không phải chuyện ta dám biết.

Ông già nói:

- Không phải đâu, không phải đâu!

Thạch bèn vẽ bùa đưa cho.

Đêm ấy Thạch ngủ lại đó khuya thấy một thiếu niên áo mũ chỉnh tề đi vào.

Thạch nghĩ là người trong gia đình chủ nhân, bước ra hỏi, thiếu niên đáp:

- Ta là ma đây, cả nhà họ ông đều là hồ, ta thích nàng Hồng Đình nên tới đây.

Ma mà ám hồ thì không hại gì tới âm đức, việc gì ông phải giúp họ chia rẽ nhân duyên của ta?

Chị nàng là Trường Đình còn đẹp hơn nhiều, ta xin kính cẩn để lại nguyên vẹn cho bậc cao hiền.

Nếu họ hứa gả cho ông thì ông hãy giúp họ, ông cưới xong ta sẽ không tới đây nữa.

Thạch ưng thuận.

Đêm ấy thiếu niên không vào, cô gái hơi khỏe hơn.

Sáng ra ông già mừng rỡ kể với Thạch, mời Thạch vào xem bệnh.

Thạch đốt lá bùa đi rồi ngồi thăm bệnh, thấy sau tấm màn thêu có một nữ lang xinh đẹp như thiên tiên, biết đó là Trường Đình.

Xem bệnh xong bèn đòi nước rửa phòng, nữ lang vội xách nước vào lúc lui tới cùng dọn dẹp, Thạch ngây ngất ngẩn ngơ, chẳng còn nghĩ gì tới việc trừ tà ếm quỷ cả.

Thạch ra từ biệt ông già, lấy cớ về nhà chế thuốc, mấy ngày không trở lại.

Ma càng lộng hành, trừ Trường Đình ra thì cả nhà từ con dâu tới tỳ nữ đều bị hành dâm.

ông già lại sai đầy tớ mang ngựa tới đón, Thạch thác bệnh không đi.

Hôm sau ông già tự tới, Thạch giả đau chân chống gậy bước ra.

ông già chào xong hỏi thăm, Thạch đáp:

- Đây là cái khổ của kẻ góa vợ đây.

Đêm qua đứa tớ gái dọn giường vấp ngã làm cái lò sưởi rơi vào chân ta.

Ông già hỏi sao đã lâu mà không cưới vợ khác, Thạch đáp:

- Chỉ hận là không gặp được nhà nào thanh cao như nhà ông.

Ông già im lặng bước ra, Thạch theo tiễn chân, nói:

- Lúc nào đỡ bệnh sẽ tự tới, đừng nhọc công dời gót ngọc tới đây làm gì.

Vài hôm sau ông già lại tới, Thạch khập khiễng ra đón.

Ông già hỏi han đôi ba câu rồi nói:

- Vừa rồi ta bàn với chuyết thê, nếu ông đuổi được ma cho cả nhà yên ổn, thì có tiểu nữ Trường Đình được mười bảy tuổi, xin sai tới phụng sự bậc quân tử.

Thạch mừng rỡ lạy phục ngay xuống, rồi nói nếu ông già có nhã ý như vậy thì đâu dám có bệnh mà chần chừ.

Lập tức lên đường, cùng cưỡi ngựa đi.

Vào nhà xem qua hết những người bị ma làm rồi, lại sợ xong việc bị họ nuốt lời, xin bàn rõ với vợ chồng ông già.

Bà già bước ra nói:

- Tiên sinh còn ngờ sao?

Lập tức lấy chiếc trâm cài đầu của Trường Đình đưa Thạch làm tin.

Thạch vái lạy xong liền tập hợp tất cả người nhà lại làm phép nhương trừ, riêng Trường Đình không bị gì thì vẽ một tấm bùa sai người nhà đưa tặng cho nàng đeo.

Đêm ấy yên ắng, ma quỷ bặt tăm, chỉ có Hồng Đình còn rên rỉ không thôi.

Thạch làm nước phép vào rảy cho nàng, bệnh tật lập tức tiêu tan gần hết.

Thạch định chào về, ông già níu kéo giữ lại, đến xế chiều dọn rượu thịt lên la liệt, mời mọc rất ân cần, canh hai chủ nhân mới chào khách đi nghỉ.

Thạch vừa đi nằm thì nghe tiếng gõ của rất gấp, trở dậy mở cửa thì Trường Đình bước vào, dáng vẻ hớt hãi, nói là nhà thiếp mài dao muốn giết chàng, nên trốn ngay đi, nói xong vội quay ra.

Thạch hoảng sợ không còn hồn vía nào, vội leo qua tường bỏ chạy, thấy xa xa có ánh lửa vội chạy tới, thì ra là người làng đi săn đêm.

Thạch chờ họ săn xong cùng về, trong lòng căm túc không biết trút vào đâù, định tới đất Biện tìm Xích Thành nhưng nhà có cha già mắc bệnh đã lâu, nghĩ ngợi đêm ngày chưa biết tính bề nào.

Một hôm có hai chiếc kiệu tới dừng ở cửa, thì là bà vợ ông già đưa Trường Đình tới, hỏi Thạch rằng:

- Đêm trước về rồi sao không tính kế?

Thạch thấy mặt Trường Đình thì nỗi căm tức đều tiêu tan nên cũng không nói ra chuyện mình tính toán.

Bà già giục hai người làm lễ giao bái ngay tại sân, xong rồi Thạch định làm cơm mời, bà nói:

- Ta đang bận rộn, không thể ngồi yên ăn ngon.

Lão già nhà ta đầu óc tối tăm, nếu có gì không phải xin chàng vì Trường Đình mà nghĩ tới già này một chút thì may lắm.

Rồi lên kiệu đi.

Té ra ông già định giết con rể thì bà già không hay, đến lúc ông ta đuổi theo Thạch không kịp trở về thì bà mới biết, rất lấy làm bất bình, ngày nào cũng cãi vã với chồng.

Trường Đình cũng khóc lóc không chịu ăn uống, bà già bèn ép đưa con gái tới cho Thạch, chứ họ ông không muốn.

Trường Đình vào nhà rồi, Thạch hỏi han mới rõ sự tình.

Được hai ba tháng, họ ông gọi con gái về thăm nhà, nhưng Thạch cho rằng nàng sẽ không được trở lại nên không cho đi, từ đó thỉnh thoảng Trường Đình lại rơi lệ.

Hơn một năm nàng sinh con trai, đặt tên là Tuệ Nhi, thuê vú nuôi cho bú nhưng đứa nhỏ hay khóc, đêm nào cũng phải trả về ngủ với mẹ.

Một hôm nhà họ ông lại mang kiệú tới, nói bà già nhớ con gái lắm.

Trường Đình càng buồn bã, Thạch không nỡ giữ nên để nàng đi.

Nàng định bế con theo nhưng Thạch không cho, nàng bèn về một mình.

Lúc ra đi hẹn một tháng sẽ quay về, nhưng nửa năm liền vẫn không có tin tức gì, Thạch cho người đến hỏi dò tin túc thì nhà cũ bỏ không không có ai ở.

Được hai năm Thạch không mong đợi nữa, nhưng đứa con nhớ mẹ đêm nào cũng khóc ngằn ngặt, lòng như dao cắt.

Kế cha bệnh mất, Thạch càng thêm thương tâm nên thành bệnh nằm liệt giường, việc tang lễ gác đó không sao tiếp đón khách khứa tới viếng.

Đang lúc bối rối chợt nghe tiếng đàn bà khóc lóc đi vào, nhìn ra thì là Trường Đình mặc tang phục.

Thạch đau lòng quá kêu lên một tiếng rồi ngất đi, người hầu gáỉ hoảng sợ la lớn, Trường Đình mới nín khóc vào chăm sóc.

Hồi lâu Thạch mới tỉnh, nghĩ rằng mình đã chết, nói có lẽ đang gặp nhau ở suối vàng.

Nàng nói:

- Không phải đâu.

Thiếp bất hiếu không được lòng cha, bị giữ lại ba năm, thành ra phụ lòng chàng.

Gặp lúc dời nhà đi Hải Đông đi ngang đây, nghe tin cha chàng mất, thiếp tuân lệnh cha phải dứt tình nhi nữ nhưng không dám vâng lời sai mà bỏ lễ cha chồng con dâu.

Thiếp về đây mẹ biết chứ cha không biết đâu.

Đang nói thì đứa nhỏ tới sà vào lòng, dứt lời nàng vỗ về con, khóc nói:

- Ta có cha nên con không có mẹ!

Đứa nhỏ cũng òa khóc, cả nhà đều rơi lệ.

Nàng bước ra coi việc nhà, thức ăn mang lên cúng trước linh cửu đều đầy đủ sạch sẽ.

Thạch được an ủi rất nhiều, nhung mắc bệnh đã lâu, nhất thời gấp rút không sao đứng dậy, Trường Đình bèn mời người anh họ ngoại của Thạch ra tiếp khách thay.

Chôn cất xong Thạch mới đứng dậy được, chống gậy lo việc cúng trăm ngày.

Kế Trường Đình từ biệt về để chịu tội trái lệnh cha, nhưng chồng níu con gào đành ẩn nhẫn ở lại.

Không bao lâu có người tới nói bà già mắc bệnh, nàng nói:

- Thiếp vì cha chàng mà tới, chàng lại không vì mẹ thiếp bị bệnh mà cho thiếp đi sao?

Thạch ưng thuận.

Trường Đình bảo người vú bế con đi chơi rồi rơi lệ ra cửa lên đường, suốt mấy năm không trở về, cha con Thạch cũng dần dần quên đi.

Một hôm sáng sớm vừa mở cửa thì Trường Đình nhẹ nhàng bước vào, Thạch hoảng sợ hỏi, nàng rầu rĩ ngồi xuống giường than:

- Thiếp sinh trưởng nơi khuê các, coi một dặm đã là xa, nay chỉ một ngày một đêm mà phải đi cả ngàn dặm, mệt gần chết.

Thạch hỏi kỹ, nàng muốn đáp lại thôi, hỏi mãi mới khóc nói:

- Nay nói ra cho chàng hay, chỉ sợ điều làm thiếp đau lòng lại làm chàng khoái ý thôi.

Năm rồi bên nhà tới đất Tấn (tỉnh Sơn Tây), ngụ trong nhà thân hào họ Triệu.

Chủ khách giao du thân mật, cha mới gả Hồng Đình cho công tử nhà ấy.

Công tử vốn phóng đãng, gia đình không yên ấm, em thiếp về kể với cha, cha bèn giữ lại nửa năm không cho về.

Công tử giận, chẳng biết mời được người ác ở đâu tới, sai thần tướng xiềng khóa cha già giải đi, cả nhà hoảng sợ trong chớp mắt bỏ chạy tứ tán.

Thạch nghe thấy không kìm được bật cười ha hả, Trường Đình tức giận nói:

- Người ta tuy bất nhân cũng vẫn là cha thiếp, thiếp làm vợ chàng mấy năm chỉ có vui vẻ không có hờn oán, nay người mất nhà tan, trăm miệng lưu ly, dẫu chàng không thương cha cũng phải xót cho thiếp chứ.

Thế mà nghe chuyện lại vui sướng múa lên, chẳng có lấy nửa lời an ủi, sao mà bất nghĩa đến thế?

Rồi phất tay áo bỏ ra, Thạch chạy theo tạ lỗi thì đã đi xa rồi, nghĩ lại thấy ân hận, trách mình nhẫn tâm.

Qua hai ba hôm thì bà già và con gái cùng tới.

Thạch mừng rỡ hỏi thăm an ủi thì mẹ con cùng lạy phục xuống đất.

Thạch hoảng sợ hỏi, hai người đều khóc, Trường Đình nói:

- Thiếp nổi giận bỏ đi, nay lại không thể giữ ý lại định nhờ người, còn mặt mũi nào nữa?

Thạch nói:

- Tuy cha bất nhân nhưng ơn của mẹ, tình của nàng thì ta không bao giờ quên.

Vả lại nghe tai họa mà vui cũng là thói thường của con người, sao nàng không nhịn ta một chút?

Nàng nói:

- Mới rồi gặp mẹ trên đường, mới biết người bắt cha chính là thầy của chàng.

Thạch nói:

- Nếu đúng như thế thì cũng rất dễ, có điều nếu cha nàng không về thì cha con nàng chia lìa, nhưng e nếu cha nàng về thì chồng nàng khóc, con nàng khổ mà thôi.

Bà già bèn thề độc, Trường Đình cũng thề nhất định sẽ đền ơn.

Thạch bèn khăn gói lên đường tới đất Biện, hỏi đường tới quán Nguyên Đế thì Xích Thành mới trở về chưa lâu, bèn vào ra mắt.

Xích Thành hỏi sao lại tới đây, Thạch nhìn xuống bếp thấy một con hồ già bị trói hai chân trước treo lên, cười nói:

- Đệ tử tới đây lần này chỉ vì con quỷ già kia.

Xích Thành hỏi, Thành thưa:

- Đó là cha vợ của con đấy!

Rồi kể lại mọi chuyện.

Đạo sĩ cho rằng hồ gian trá xảo quyệt không thể khinh suất tha ra, Thạch nài nỉ mãi mới ưng thuận.

Nhân lại kể rõ các thủ đoạn gian trá của hồ, hồ nghe thấy nép mình rúc vào lồng, có vẻ hổ thẹn.

Đạo sĩ cười nói:

- Té ra nó cũng còn biết xấu hổ.

Thạch vào bếp xách ra, lấy dao cứa dây, hồ đau quá nghiến răng kèn kẹt.

Thạch cứ ỡm ờ không chịu cắt cho đứt hẳn, cười hỏi:

- Cha đau lắm thì phải, thôi không cắt nữa được không ạ?

Hồ trừng trừng nhìn Thạch, vẻ rất căm hờn, kế được thả, vẫy đuôi ra khỏi quán đi luôn.

Thạch chào thầy ra về, thì ba ngày trước đã có người tới báo tin ông già được thả, bà già liền về trước để con gái ở lại chờ Thạch.

Thạch về tới, nàng ra đón lạy phục xuống đất, Thạch kéo đứng lên nói:

- Nếu nàng không quên tình nghĩa vợ chồng thì đừng cám ơn.

Nàng nói:

- Từ nay trở đi bên nhà lại về ở chỗ cũ, làng xóm gần đây tin tức dễ dàng, thiếp muốn về thăm cha, ba ngày sẽ trở lại chàng có tin không?

Thạch đáp:

- Con sinh ra không có mẹ cũng chưa hề sứt mẻ, ta hàng ngày vắng bóng vợ đã trở thành quen nếp, thế mà không làm như Triệu công tử lại lấy ơn báo oán, như thế là đã hết lòng với nàng rồi.

Nếu nàng không trở lại thì đó là bởi nàng phụ nghĩa, nhưng dẫu đạo lý như vậy vẫn không cần nói rõ, có gì mà không tin?

Hôm sau Trường Đình đi, hai ngày thì trở về, Thạch hỏi sao đi mau thế, nàng đáp:

- Cha vì chuyện chàng chọc ghẹo ở đất Biện, tức tối không quên, cứ lải nhải nói mãi, thiếp không muốn nghe nữa nên về sớm.

Từ đó hai mẹ con qua lại với nhau luôn, nhưng cha vợ chàng rể vẫn không hề thăm viếng gì nhau.

_____________________________________

CHƯƠNG 173: TỊCH PHƯƠNG BÌNH

Nhất Tâm Luyến Phụ Cánh Ly Hồn

Hồng Nhật Hà Do Chiến Phú Bồn

Bất Ngộ Nhị Lang Thần Tấn Quyết

Cửu U Hô Dụ Oán Vô Môn

Dịch:

Xuất Hồn Vì Nỗi Xót Thương Cha

Chậu Úp Mặt Trời Khó Rọi Qua

Nếu Nhị Lang Thần Không Thẩm Vấn

Khiếu Oan Âm Phủ Hết Đường A



Tịch Phương Bình là người huyện Đông An (tỉnh Hà Bắc).

Cha tên Liêm, thẳng tính nhưng nóng nảy, vì vậy có hiềm khích với nhà giàu họ Dương trong làng.

Họ Dương chết trước, mấy năm sau Liêm mắc bệnh nguy kịch, nói với mọi người rằng:

- Lão Dương nay đang lo lót để âm ty sai người bắt ta.

Giây lát toàn thân tấy đỏ lên, gào thét rồi chết.

Tịch buồn thảm bỏ ăn, nói:

- Cha ta thật thà chất phác, nay bị quỷ dữ lấn hiếp, ta phải xuống âm phủ rửa hờn cho cha mới được.

Từ lúc ấy không nói năng gì cả, lúc ngồi lúc đứng, dáng vẻ như kẻ ngây ngốc, thì ra hồn đã lìa khỏi xác.

Ban đầu Tịch ra khỏi cửa, không biết đi đâu, nhưng thấy trên đường có người bèn hỏi thành ấp.

Lát sau vào tới thành, thì cha đã bị hạ ngục.

Tới cửa ngục, xa thấy cha đang nằm dưới thềm, có vẻ rất khổ sở, ngước lên thấy con, nước mắt trào ra, kế nói:

- Bọn ngục lại đều ăn hối lộ, được dặn dò nên ngày đêm đánh đập tra khảo cha, đùi vế dập nát cả rồi.

Tịch tức giận mắng bọn ngục tốt:

- Nếu cha ta có tội cũng đã có phép vua, bọn quỷ chết dịch chúng bay há lại được ngang ngược như thế à?

Rồi trở ra tìm bút viết đơn, gặp lúc Thành hoàng ra phiên hầu buổi sáng, bèn đệ đơn kêu oan.

Họ Dương sợ, đút lót cả trong ngoài mới ra đối chất.

Thành hoàng cho rằng lời tố cáo của Tịch không có bằng cứ, không thèm xét xử.

Tịch uất ức mà không có chỗ giãi bày, mò mẫm tới hơn trăm dặm thì tới quận, đem việc quan lại chức dịch riêng tư túi trình với Quận thú, dây dưa nửa tháng mới được xử.

Quận thú sai đánh Tịch một trận, phê đơn cho như Thành hoàng đã xét.

Tịch về huyện, nếm đủ mùi gông cùm, đau đớn oan ức không sao hả giận.

Thành hoàng sợ lại thưa kiện, sai nha dịch giải về nhà, nha dịch đưa tới cổng rồi đi.

Tịch không chịu vào, lại trốn xuống điện Diêm Vương, tố cáo Quận thú Huyện lệnh tham tàn.

Diêm Vương lập tức cho bắt tới đối chất, hai người mật sai kẻ tâm phúc tới thương lượng, hứa biếu ngàn vàng, nhưng Tịch không chịu.

Vài hôm sau, chủ nhà trọ nói với Tịch:

- Ông ngang quá, quan trên đã năn nỉ mà còn cố chấp không chịu.

Nay nghe đâu ai cũng đều có thư gởi gắm cho Diêm Vương, sợ việc hỏng mất.

Tịch cho là lời đồn vu vơ cũng chưa tin lắm.

Lát sau có người mặc áo đen gọi vào hầu, lên tới công đường thấy Diêm Vương có vẻ tức giận, không cho nói năng gì, sai đánh ngay hai mươi gậy.

Tịch lớn tiếng hỏi:

- Tiểu nhân có tội gì?

Diêm Vương im lặng như không nghe thấy.

Tịch bị đánh kêu lớn:

- Bị đòn là đáng lắm!

Ai bảo ta không có tiền!

Diêm Vương càng giận, sai đặt lên giường lửa.

Bọn quỷ tốt lôi Tịch xuống, nhìn sang thềm phía đông thấy có chiếc giường sắt đốt lửa ở dưới, mặt giường đỏ rục.

Bọn quỷ cởi áo Tịch ra, đặt nằm lên giường lăn qua lật lại, vô cùng đau đớn, xương thịt cháy đen, khổ vì không chết được.

Khoảng hơn một giờ, quỷ nói:

- Đủ rồi!

Rồi đỡ dậy, bảo xuống giường mặc áo, may là còn gượng đi được, lại trở lại trước thềm.

Diêm Vương hỏi còn dám kiện nữa không, Tịch đáp:

- Oan lớn còn chưa giải thì tấc lòng vẫn chưa thôi, nếu nói không kiện nữa thì là lừa dối đại vương mất, nhất định sẽ kiện nữa!

Lại hỏi lấy lời lẽ gì mà kiện, Tịch đáp:

- Những điều thân mình phải chịu đây đều là lời lẽ rồi.

Diêm Vương lại nổi giận, sai dùng cưa xẻ thân ra, hai tên quỷ tốt liền kéo Tịch đi, thấy một cây gỗ dựng đứng cao hơn tám chín thước, dưới có hai tấm ván đặt ngửa, máu me bê bết từ trên tới dưới.

Đang sắp chịu trói, chợt trên thềm có tiếng kêu lớn gọi họ Tịch, hai tên quỷ tốt lập tức điệu trở lại.

Diêm Vương lại hỏi còn dám kiện nữa không, Tịch đáp nhất định sẽ kiện nữa, Diêm Vương sai bắt ra cưa mau.

Tới nơi bọn quỷ tốt lấy hai tấm ván kẹp Tịch lại rồi trói vào cây gỗ, lưỡi cưa vừa kéo xuống đã thấy đỉnh đầu tách dần ra, đau không chịu nổi nhưng cũng cố nhịn không kêu lên, bọn quỷ tốt nói:

- Gã trai này mạnh mẽ thật!

Lưỡi cưa ken két kéo xuống dần tới ngực, nghe một tên quỷ tốt nói:

- Người này chí hiếu vô tội, kéo chệch lưỡi cưa một chút, đừng làm thương tổn quả tim của y.

Liền cảm thấy lưỡi cưa vòng vèo kéo xương, còn đau gấp đôi.

Giây lát nửa người tách ra, cởi dây buộc ván ra thì hai mảnh thân đều đổ xuống.

Quỷ tốt lên thềm cao giọng trình báo, trên thềm sai chắp thân thể lại rồi giải lên gặp.

Hai tên quỷ tốt lập tức xô hai mảnh thân dính lại, Tịch cảm thấy chỗ vết cưa đã liền còn đau rát như muốn xé ra, đi được nửa bước đã quỵ xuống.

Một tên quỷ tốt rút sợi dây lưng bằng tơ ra đưa cho Tịch, nói:

- Tặng cho cái này để đền đáp lòng hiếu của ngươi.

Tịch cầm lấy buộc vào lưng chợt thấy khỏe lại, hết cả đau đớn, bèn lên thềm sụp lạy.

Diêm Vương lại hỏi như trước, Tịch sợ lại phải chịu cực hình tàn độc, bèn đáp không kiện nữa, Diêm Vương lập tức sai đưa về dương gian.

Lính lệ đưa ra cửa bắc, chỉ đường về rồi quay đi.

Tịch nghĩ âm ty lại còn ám muội hơn trần thế, nhưng không có đường nào để kêu với Thượng đế thì biết làm sao.

Thế gian vẫn truyền thần Nhị Lang ở Quán Khẩu là họ hàng bên ngoại của Thượng đế, thông minh chính trực, tới kêu với ông ắt linh ứng phi thường.

Thầm mừng vì hai tên lính lệ đã đi, bèn xoay người đi về phía nam.

Đang lúc rong ruổi chợt có hai người đuổi tới, nói:

- Đại vương ngờ rằng ngươi không chịu về, quả đúng.

Rồi bắt đưa về gặp Diêm Vương, Tịch nghĩ thắc Diêm Vương sẽ tức giận hơn, tai họa lại càng thảm khốc, nhưng Diêm Vương không hề có sắc giận, nói với Tịch rằng:

- Ngươi quả thành thực hiếu thảo, nhưug nỗi oan của cha ngươi ta đã rữa sạch cho rồi, nay đã đầu thai vào nhà giàu sang, chẳng cần ngươi phải kêu nài nữa.

Nay đưa ngươi về, cho ngươi sản nghiệp ngàn vàng, lại cho thêm tuổi thọ, ngươi thỏa nguyện chưa?

Rồi ghi vào sổ, đóng ấn lớn vào, cho nhìn tận mắt.

Tịch tạ ơn lui xuống, quỷ tốt cũng cùng ra, tới đường xua đi, mắng:

- Thằng giặc gian hoạt cứ tráo trở khiến người ta phải chạy ngược chạy xuôi muốn chết!

Nếu còn giở trò sẽ bắt bỏ vào cối lớn nghiền cho nát vụn ra.

Tịch trừng mắt quát:

- Thằng quỷ định làm gì?

Tính ta chịu được dao cưa nhưng không chịu được roi vọt đâu.

Cứ quay lại gặp đại vương, nếu ông cho ta tự về thì cần gì ai vất vả đưa tiễn?

Rồi quay ngoắt trở lại.

Hai tên quỷ tốt sợ ngọt ngào khuyên về, Tịch cố ý đi chậm rãi, cứ được vài bước lại ngồi xuống nghỉ cạnh đường, chúng nuốt giận không dám nói gì nữa.

Khoảng nửa ngày thì tới một thôn, có ngôi nhà cánh cổng khép hờ, quỷ tốt kéo vào ngồi nghỉ, Tịch nhân ngồi tựa trên bậc cửa.

Hai tên quỷ tốt nhân lúc không đề phòng, xô Tịch vào trong cửa, định thần nhìn lại thấy mình đã là đứa trẻ sơ sinh, phẫn uất kêu khóc không chịu bú, ba ngày thì chết, hồn ở nơi xa xôi vẫn chăm chăm tìm về Quán Khẩu.

Đi được vài ngàn dặm chợt gặp một chiếc xe cắm lọng lông chim đi tới, cờ quạt kiếm kích chắn ngang bèn băng qua đường để tránh, đụng vào hàng lỗ bộ nên bị đội kỵ mã dẹp đường bắt trói, giải tới trước xe.

Ngẩng nhìn thấy trong xe có một thiếu niên tướng mạo khôi vĩ, hỏi Tịch là ai.

Tịch đang lúc lòng đầy oán hờn không nơi phát tiết, lại nghĩ đây ắt là quan lớn, hoặc giả có thể ra oai làm phúc, bèn kể hết nỗi oan khổ.

Người trong xe truyền lệnh cởi trói cho, bảo đi theo xe.

Giây lát tới một nơi, có hơn mười viên quan ra đón bên đường.

Người ngồi trong xe chào hỏi tất cả rồi chỉ Tịch nói với một viên:

- Đây là người dưới âm ty, đang muốn tới tố cáo, nên xét rõ trắng đen ngay.

Tịch hỏi đám tùy tùng mới biết người ngồi trong xe là Cửu Vương Điện hạ, con thứ chín của Thượng đế, còn người đước dặn dò chính là thần Nhị Lang.

Tịch nhìn Nhị Lang thấy mình cao râu rậm, không như thế gian vẫn đồn.

Cửu Vương đi rồi, Tịch theo Nhị Lang tới một công thự, thấy cha và họ Dương cùng đám nha lại đều đã có mặt.

Phút chốc trong xe lại có tù nhân bước ra, thì là Diêm Vương, quận thú và Thành hoàng.

Lập tức lên thềm tra hỏi đối chất, thì lời Tịch khai không có chỗ nào gian dối.

Ba viên quan run rẫy như chuột bò mọp dưới đất.

Nhị Lang cầm bút phê bản án, giây lát sai đưa xuống cho những kẻ can án cùng xem.

Lời phê như sau:

Kẻ làm vua cõi U minh kia: tước tới bậc vương, chịu ơn Thượng đế.

Lẽ ra phải giữ mình trong sạch mà thống lĩnh quần thần, chứ không nên nảy ý gian tham để chuốc lời chê trách.

Nhưng lại cờ giong lọng mở, khoe mẽ chức quyền, dê độc lang tham, làm nhơ danh tiết.

Búa rìu vạc đẽo, thịt da mấy kẻ được còn, kình ngạc nuốt ăn, sâu kiến muôn dân đáng xót.

Phải múc nước Tây Giang, cho nước rửa ruột đốt giường Đông Bích, mời bác vào vò.

*[Múc nước Tây Giang, cho ngươi rửa ruột: Ngũ đại sử chép Vương Nhân Dụ nhà Chu mơ thấy có người tự mổ bụng lấy nước Tây Giang gột rửa.

Đây ý nói trị tội cho bỏ thói xấu cũ].

*[Đốt giường Đông Bích, mời bác vào vò: Tư trị thông giám chép Kim ngô đại tướng quân Khưu Thần Tích có tội bị giết.

Có người tố cáo Hữu Thừa tướng Chu Hưng cũng thông mưu với Thần Tích, Thái hậu sai Lai Tuấn Thần hỏi cung.

Tuấn Thần và Hưng vừa hỏi cung xong, cùng ăn cơm, Tuấn Thần hỏi “Tù nhân nhiều kẻ không nhận tội, nên làm thế nào?", Hưng nói "Lấy vò lón đặt than chung quanh đốt lên, cho tù nhân vào thì chuyện gì mà không nhận".

Tuấn Thần bèn sai đốt vò như Hưng nói, rồi nói với Hưng "Có người tố cáo ông, mời ông vào vò”.

Hưng khiếp sợ nhận tội.

Đây ý nói dùng cách của kẻ làm quan ác để trị tội họ].

Thành hoàng, Quận thú là cha mẹ con dân, bề tôi Thượng đế.

Tuy rằng chức quan không lớn, nhưng kẻ hết lòng không ngại cong lưng, có khi thượng cấp bất công, thì người có chí cũng cần cứng cổ.

Thế mà trên dưới phóng tay tàn ác, mặc cho dân chúng khốn cùng, lại cứ ngang tàng thỏa ý gian tham, chẳng kể quỷ ma ốm đói.

Vì của đút mà trái phép, thật dạ thú mà mặt người.

Phải rửa tủy nhổ lông, theo phép âm ty chịu tội, kế lột da đổi lốt, bắt lên dương thế đầu thai.

Bọn sai nha thì đã ở âm tào, khác xa nhân thế.

Lẽ ra phải cửa công rèn tính hạnh, chờ lúc hoàn sinh, sao dám làm bể khổ nổi ba đào, gây thêm tội nghiệt?

Ngông nghênh giày xéo, mặt chó ra vẻ lầm lỳ, nhảy nhót thét gào, oai cọp chặn đường hống hách.

Lộng quyền ra oai dữ, để U minh biết lính ngục là to, theo đóm để ăn tàn, giúp quan ác giết dân đen cho sướng.

Phải đem ra pháp trường, chân tay chặt hết, bỏ vào vạc nóng, gân cốt luộc nhừ.

Họ Dương kia giàu có bất nhân, tinh ma lắm chước.

ánh vàng chói đất, khiến điện Diêm La tăm tối mây mù, hơi đồng ngút trời, làm thành Uổng tử mịt mờ nhật nguyệt.

Hơi tanh thừa còn sai được quỷ, sức bạc mạnh thông cả tới thần.

Nên tịch thu gia sản họ Dương, để ban thướng hiếu tâm chàng Tịch.

Lập tức sai áp giải cả bọn ra núi Đông Nhạc hành quyết.

Lại nói:

- Tịch Liêm, nghĩ tới con ngươi hiếu nghĩa, tính ngươi hiền lành, cho tăng tuổi thọ thêm ba kỷ nữa.

Rồi sai hai người đưa về làng.

Tịch bèn sao lại bản án, dọc đường hai cha con cùng đọc.

Về tới nhà Tịch tỉnh lại trước, bảo người nhà mở quan tài xem thì thấy xác cha còn cứng đờ lạnh ngắt, chờ trọn ngày mới ấm dần lên rồi sống lại, tìm tới tờ sao bản án thì không thấy đâu nữa.

Từ đó ngày càng giàu có, trong khoảng ba năm ruộng tốt khắp nơi, mà con cháu họ Dương thì trở nên nghèo khổ, bao nhiêu nhà cửa ruộng vườn đều thành của họ Tịch.

Trong làng có người mua ruộng nhà ấy, đêm ngủ mơ thấy thần quát:

- Đó là của họ Tịch, ngươi làm sao có được?

Trước chưa tin lắm, đến khi trồng trọt thì cả năm không thu hoạch được một đấu thóc, vì thế phải bán lại cho Tịch.

Cha Tịch sống đến hơn chín mươi tuổi mới mất.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 174+175


CHƯƠNG 174: TỐ THU

A Huynh Mạch Vọng Dĩ Thành Tiên

A Muội Y Nhân Kịch Khả Tiên

Khổng Vệ Thông Thông Lưu Bí Thuật

Bồng Lai Viễn Vọng Chỉ Vân Yên

Dịch:

Anh Nay Mạch Vọng Nhập Tiên Hương

Em Gái Bơ Vơ Thật Đáng Thương

Trên Ngựa Vội Vàng Lưu Bí Thuật

Bồng Lai Mây Khói Thẳm Mang Mang



Du Thận tự Cẩn Am là con nhà thế gia cũ ở phủ Thuận Thiên (tỉnh Hà Bắc).

Lên kinh ứng thí, trọ ở ngoài thành, thường gặp một thiếu niên ở nhà đối diện, thấy hình dung đẹp đẽ, trong lòng rất thích.

Lân la làm quen, chuyện trò thấy phong thái càng hơn người, cả mừng nắm tay đưa về chỗ mình trọ, bày tiệc thết đãi.

Hỏi tới tên họ, thiếu niên tự xưng là người Kim Lăng (tỉnh Giang Tô), họ Du tên Sĩ Thầm, tự Tuân Cửu.

Công tử nghe nói cùng họ với mình càng thêm quý mến, nhân kết làm anh em.

Thiếu niên bèn giảm một chữ trong tên, đổi tên là Thầm.

Hôm sau công tử tới thăm, thấy nhà cửa sáng sủa sạch sẽ nhưng vắng vẻ không có người hầu.

Thiếu niên đưa công tử vào nhà trong, gọi em gái ra chào, thấy khoảng mười ba mười bốn tuổi, da dẻ mịn mà, bạch ngọc cũng không trắng bằng.

Giây lát nàng bưng trà ra mời khách, như là trong nhà không có cả tỳ nữ.

Công tử lấy làm lạ, trò chuyện vài câu rồi về, từ đó thương yêu họ như em ruột.

Tuân Cửu ngày nào cũng tới nhà công tử trọ chơi, nhưng nếu giữ lại ngủ thì lấy cớ em gái ở nhà một mình từ chối.

Công tử nói:

- Em làm khách ngoài ngàn dặm, nhà lại không có trẻ sai vặt, hai anh em đều yếu ớt, làm sao mà sống.

Tính lại chẳng bằng cứ về chỗ ta, cũng có gian phòng hẹp ở được, em thấy sao?

Tuân Cửu mừng rỡ, hẹn để sau khi công tử thi xong.

Hôm công tử thi xong, Tuân Cửu tới mời, nói:

- Đêm Trung thu trăng sáng như gương, cô em Tố Thu có ly rượu nhạt mời, xin anh đừng làm nó buồn.

Rồi kéo vào nhà trong, Tố Thu ra chào, hỏi thăm vài câu rồi trở vào nhà trong buông rèm nấu nướng.

Giây lát tự bưng mâm ra, công tử đứng dậy nói:

- Muội tử vất vả quá, ta thật không đành lòng.

Tố Thu cười quay vào, lát sau rèm vén lên, một tỳ nữ áo xanh mang bầu rượu ra, kế lại có một bà già mang cá lên.

Công tử kinh ngạc hỏi:

- Bọn này ở đâu ra thế?

Tại sao không ra hầu sớm để làm phiền tới muội tử.

Tuân Cửu mỉm cười nói:

- Tố Thu lại giở trò ma rồi!

Chỉ nghe sau rèm có tiếng cười khanh khách, công tử không hiểu đầu đuôi ra sao.

Kế tan tiệc, người tỳ nữ và bà già dọn dẹp mâm chén, công tử bật ho văng nước bọt trúng áo người tỳ nữ, cô ta ngã lăn xuống đất, bát chén vỡ nát.

Nhìn lại thì là một hình nhân bằng vải cắt ra, cao chừng bốn tấc.

Tuân Cửu phá lên cười, Tố Thu cũng cười bước ra dọn dẹp dưới đất rồi quay vào, lát sau người tỳ nữ lại trở ra, đi lại hầu hạ như cũ.

Công tử vô cùng kinh ngạc, Tuân Cửu nói:

- Đó chẳng qua thuật mọn mời thần Tử Cô muội tử học được lúc nhỏ đó thôi.

Công tử nhân dịp hỏi sao hai em đều đã lớn khôn mà chưa cưới vợ lấy chồng, Tuân Cửu đáp vì sau khi cha mẹ mất hai anh em lưu lạc nay đây mai đó, chưa có chỗ ở nhất định nên mới để chậm như vậy.

Rồi bàn bạc định ngày lên đường, kế bán nhà dắt em gái theo về quê công tử.

Về tới nhà, công tử dành chỗ cho hai người ở, sai một tỳ nữ qua hầu hạ.

Vợ công tử là con gái quan Thị lang họ Hàn, rất yêu thương Tố Thu, ăn uống gì cũng có nhau, công tử với Tuân Cửu cũng thế.

*[Tử Cô: nữ thần trong tín ngưỡng dân gian Trung Hoa, tục truyền có thể nhập vào các hình nhân bằng vải hay bằng giấy].

Tuân Cửu rất thông minh, đọc sách chỉ đưa mắt qua là được mười hàng, làm văn thì ngay cả các bậc lão thành cũng không bằng được.

Công tử khuyên dự thi khoa Đồng tử, Tuân Cửu nói:

- Nếu theo đuổi nghiệp khoa cử thì cũng khổ như anh thôi.

Tự xét mình phúc mỏng không kham nổi việc công danh, vả lại theo nghiệp ấy thì phải lo lắng về sự được mất nên không muốn.

Ba năm sau công tử lại thi rớt, Tuân Cửu tức giận hăng hái nói:

- Thi đỗ thì có gì mà khó đến như vậy?

Em lúc đầu không muốn mê đắm trong chuyện thành bại nên cam phận ở yên thôi.

Nay thấy đại ca thi không đỗ, bất giác nổi nóng, Đồng tử già mười chín tuổi cũng phải thi mới được.

Công tử mừng rỡ, đến kỳ thi đưa Tuân Cửu vào trường, ba kỳ thi ở huyện, ở phủ, ở tỉnh đều đỗ đầu, lại càng ra sức cùng công tử đóng cửa đọc sách.

Qua năm sau khảo thí, cả hai đều đứng đầu phủ huyện.

Tuân Cửu rất có tiếng tăm, xa gần tranh nhau gả con gái cho nhưng đều chối từ.

*[Khoa Đồng tử một loại khoa thi sát hạch những người có học trước khi đi thi hương, dành cho người từ 15 tuổi trở xuống, tương tự kỳ thi "thông kinh" ở Việt Nam ngày trước].

Công tử ra sức khuyên nên lấy vợ, bèn hứa là thi hương xong sẽ ưng.

Thi xong, những ngướỉ hâm mộ tranh nhau chép văn bài của Tuân Cửu truyền tay đọc, Tuân Cửu cũng tự cho rằng mình không thể đỗ tới thứ hai.

Đến khi ra bảng, thì cả hai anh em đều rớt.

Lúc bấy giờ đang uống rượu, công tử nghe tin còn gắng gượng cười nói, nhưng Tuân Cửu thì tái mặt đánh rơi luôn ly rượu ngã gục ngay xuống bàn.

Đỡ lên giường thì bệnh đã thành nguy kịch rồi.

Vội gọi em gái tới, mở to mắt nhìn công tử nói:

- Hai người chúng ta tình như anh em nhưng thật ra không phải đồng tộc.

Nay em tự biết mình có tên trong sổ ma rồi, Tố Thu đã trưởng thành, mong anh thương yêu đùm bọc cho, cưới làm thiếp cũng được.

Công tử biến sắc nói:

- Em ta mê sảng nói bậy rồi đấy, định coi ta là hạng mặt người dạ thú sao?

Tuân Cửu khóc ròng, công tử lập tức bỏ món tiền lớn ra mua quan tài gỗ tốt cho.

Tuân Cửu bảo đỡ mình đứng dậy, gắng gượng bước vào nằm trong quan tài, dặn em gái rằng:

- Ta chết rồi thì đóng ngay nắp lại, đừng để bất cứ ai mở ra nhìn.

Công tử còn định hỏi han thì đã tắt thở.

Công tử đau xót như anh em ruột chết, nhưng thầm ngờ về lời trối lạ lùng bèn tìm cớ sai Tố Thu ra ngoài rổi mở quan tài xem.

Thấy trong quan tài chỉ có quần áo như xác ve lột, khều lên nhìn thì thấy có con mọt sách dài hơn thước nằm chết cứng ở giữa.

Đang lúc hoảng sợ chợt Tố Thu trở vào thê thảm nói:

- Đã là anh em sao còn ngờ sợ nhau?

Đúng là như anh thấy, không dám giấu diếm, nhưng nếu chuyện này mà đồn rộng ra thì thiếp không dám ở đây lâu nữa đâu.

Công tử nói:

- Lễ là bởi tình mà đặt ra, đã có tình với nhau thì khác loài cũng thế thôi.

Chẳng lẽ muội tử không biết lòng ta sao?

Cho dù là vợ ta ta cũng không nói đâu, xin đừng lo lắng.

Rồi vội chọn ngày lành tháng tốt chôn cất tử tế.

Trước kia công tử bàn gả Tố Thu cho nhà thế gia nhưng Tuân Cửu không muốn, khi Tuân Cửu chết rồi công tử lại bàn với Tố Thu, nàng cũng không chịu.

Công tử nói:

- Muội tử nay đã hai mươi tuổi, lớn rồi mà không lấy chồng, mọi người sẽ nói ta thế nào?

Nàng đáp:

- Nếu thế thì xin tùy ý anh, nhung tự xét mình không có phúc, không muốn lấy chồng giàu sang, học trò nghèo thì được.

Công tử nói:

- Được!

Không mấy ngày sau, người mai mối nối nhau tới nhưng không có đám nào được như Tố Thu muốn.

Trước có Hàn Thuyên là em vợ công tử tới điếu tang Tuân Cửu, nhìn thấy Tố Thu trong lòng yêu thích, muốn hỏi cưới làm thiếp, bàn với chị, chị vội bảo đừng nói ra, sợ công tử biết.

Hàn về không sao quên Tố Thu bèn nhờ mai mối bắn tin, hứa sẽ giúp công tử làm quen với quan Chủ khảo kỳ thi hương sắp tới.

Công tử nghe nói cả giận, đánh người nhắn tin một trận rồi đuổi ra, từ đó không hề đi lại với Hàn.

Gặp lúc có cháu nội quan Thượng thư cũ là Giáp, sắp cưới vợ thì vợ bỗng chết cũng sai người mai mối tới Công tử vốn biết nhà Giáp giàu sang nhưng muốn gặp gỡ một lần, nhân hẹn với người mối, bảo Giáp đích thân tới gặp.

Đến ngày hẹn công tử cho buông rèm phía sau, bảo Tố Thu tự xem mặt.

Giáp tới, bọn người hầu mặc áo cừu cưỡi ngựa béo sáng rỡ cả đường làng, nhìn tới người thì thanh tú đẹp đẽ như con gái.

Công tử cả mừng, mọi người cũng đều khen ngợi, chỉ có Tố Thu là không vui.

Công tử không nghe, thuận cho cưới, sắm sửa nhiều nữ trang, tốn kém bao nhiêu cũng không tiếc.

Tố Thu cố ngăn, chỉ xin cho dắt theo một tỳ nữ già để hầu hạ thôi nhưng công tử không chịu, vẫn tặng cho nàng rất nhiều.

Đám cưới xong, vợ chồng rất hòa thuận, nhưng anh và chị dâu thường nhớ nhung nên cứ mỗi tháng nàng lại về thăm một lần.

Lần nào về thì trâm vòng nữ trang mang theo cũng lấy cớ đưa chị dâu cất giùm, chị dâu không biết ý nên cũng nhận giữ.

Giáp lúc nhỏ mồ côi, mẹ ở góa nuôi con nên vô cùng thương yêu chiều chuộng.

Hàng ngày lại giao du gần gũi với kẻ xấu nên bị chúng dụ dỗ trai gái cờ bạc, những cổ vật gia truyền trong nhà đều lấy trộm mang bán để lấy tiền chơi bời.

Hàn Thuyên cùng Giáp có họ hàng, mời Giáp tới uống rượu để dò xét, xin đưa hai người thiếp và năm trăm lượng vàng để đổi lấy Tố Thu.

Ban đầu Giáp không chịu, nhung Hàn nài nỉ mãi, Giáp xiêu lòng song cũng sợ công tử không chịu nhịn.

Hàn nói:

- Ta với y rất gần gũi, vả lại Tố Thu không phải là em ruột của y, nếu việc đã rồi thì y cũng thẳng làm sao được.

Vạn nhất có thuyện gì ta xin chịu cả, cha ta còn đó, lại sợ một Du Cẩn Am à?

Rồi sai hai người thiếp ăn mặc đẹp đẽ ra hầu rượu, lại nói:

-Nếu làm được như lời ước thì hai nàng là người của ông đấy.

Giáp bị mê hoặc, hẹn ngày đổi vợ rồi ra về.

Đến ngày hẹn, Giáp sợ Hàn lừa gạt, tối ra chờ trên đường, quả nhiên có cỗ kiệu tới, mở rèm ra nhìn thì đúng có hai người thiếp của Hàn, liền đưa về giấu trong phòng sách.

Đầy tớ của Hàn giao đủ năm trăm lượng vàng xong, Giáp chạy vào nhà trong bịa rằng công tử bệnh thình lình, gọi Tố Thu về.

Tố Thu chưa kịp trang điểm gì, vội vàng lên đường.

Kiệu ra khỏi nhà thì đêm đã khuya, lạc đường không biết chỗ nào, đi mãi hồi lâu vẫn không thấy tới.

Chợt thấy có hai ngọn đuốc lớn đi tới mọi người mừng rỡ thầm nghĩ có thể hỏi đường.

Không bao lâu tới trước mặt, té ra là con mãng xà lớn, hai mắt sáng như đèn.

Mọi người phát hoảng bỏ chạy tán loạn, vút chiếc kiệu lại bên đường.

Trời gần sáng mới tụ họp nhau quay lại thì chỉ còn có chiếc kiệu không, đều cho rằng Tố Thu đã bị mãng xà nuốt rồi.

Quay về báo với chủ nhân, Hàn chỉ còn cách cúi đầu thở dài tíếc rẻ mà thôi.

Vài hôm sau, công tử sai người qua thăm em gái, mới biết đã bị người ác cướp đi mất.

Ban đầu cũng không ngờ là em rể bịa đặt, đến khi dắt người tỳ nữ trở về, hỏi rõ tình trạng mới biết là có chuyện, vô cùng tức giận lên báo cả phủ huyện.

Giáp sợ qua gặp Hàn cầu cứu, nhưng Hàn vì mất cả chì lẫn chài đang buồn bã hối tiếc nên từ chối không giúp.

Giáp thẫn thờ không biết làm sao, trát đòi của phủ huyện gởi đến tới tấp, chỉ còn cách hối lộ cho bọn công sai xin khất lần.

Hơn một tháng thì vàng bạc, quần áo cầm bán sạch, công tử lại lên các quan trên đòi tra xét rất gấp, quan huyện cũng tuân lệnh, Giáp biết không thể che giấu được nữa mới ra đầu thú.

Lên tới công đường, Giáp khai thật mọi chuyện, xin quan trên bắt Hàn tới đối chất.

Hàn sợ, thú thật với cha, lúc ấy cha Hàn vừa về trí sĩ, giận con làm việc phạm pháp, sai trói giải lên quan.

Lên tới quan, Hàn nói việc gặp mãng xà, các quan đều cho là bịa đặt vu vơ, bọn gia nhân đi đón Tố Thu đều bị tra tấn.

Giáp cũng bị đánh mấy trận, may là mẹ bán cả vườn ruộng lo lót hết cả trên dưới nên bị đòn nhẹ, không tới nỗi chết, còn bọn gia nhân của Hàn đều chết trong ngục.

Hàn bị giam giữ lâu ngày trong ngục nên tình nguyện giúp Giáp ngàn lượng vàng hối lộ cho công tử xin bãi nại, công tử không chịu.

Mẹ Giáp lại xin đưa thêm cả hai người thiếp, chỉ xin cứ để vụ án lại để dò tìm Tố Thu.

Vợ công tử cũng nghe lời thím dâu, ngày đêm nài nỉ công tử mới ưng thuận.

Nhà Giáp sa sút, phải bán nhà cửa để lo tiền, nhưng lúc gấp rút chưa bán được nên đưa hai người thiếp qua trước, xin đưa tiền qua sau.

Qua vài hôm, giữa khuya công tử đang ngồi trong phòng sách, chợt Tố Thu dắt một bà già thình lình bước vào.

Công tử hoảng sợ hỏi:

- Muội tử vẫn không sao chứ?

Nàng đáp:

- Con mãng xà kia là em dùng thuật nhỏ biến ra.

Đêm ấy em chạy vào nhà một vị Tú tài, xin mẹ y cho nương tựa.

Y nói là có quen anh, hiện đang đứng ngoài cổng, xin anh cho vào.

Công tử vội vàng xỏ ngước giày chạy ra, thắp đèn lên nhìn thì không không phải ai khác mà là Chu sinh, danh sĩ ở huyện Uyển Bình (tỉnh Hà Bắc), vốn chơi thân với nhau từ lâu.

Bèn nắm tay kéo vào, khoản đãi nồng hậu, trò chuyện hồi lâu mới biết đầu đuôi sự tình.

Lúc đầu Tố Thu hớt hãi chạy tới nhà sinh, bà mẹ cho vào nương náu, hỏi thăm biết là em gái công tử đã định qua báo tin ngay nhưng nàng ngăn lại nhân ở chung với bà.

Thấy nàng thông minh hiểu được ý mình bà thích lắm, lấy việc con trai chưa có vợ ra nói riêng với Tố Thu, ngõ ý muốn cưới nàng làm dâu.

Tố Thu chối từ nói chưa được lệnh của anh, sinh vì chơi thân với công tử cũng không chịu cưới vợ không có người mai mối.

Nên vẫn ngày ngày nghe ngóng, biết chuyện kiện tụng đã xong Tố Thu chào mẹ sinh về, bà sai sinh dắt một bà già đưa nàng vể, nhờ bà ta làm mối luôn.

Công tử thấy Tố Thu ở nhà sinh đã lâu chắc có tình ý mà chưa nói ra, nên nghe bà già thưa chuyện rất vui mừng, lập tức đính ước với sinh.

Tố Thu trở về giữa khuya là có ý muốn chờ công tử nhận vàng xong mới cho mọi người biết, nhưng công tử không chịu, nói:

- Trước đây ta căm tức không sao phát tiết, nên mới đòi vàng cho họ nghèo mạt luôn cho bỏ ghét, nay đã gặp lại được muội tử, vạn dật vàng cũng đâu đổi được!

Rồi sai người báo với hai nhà Giáp và Hàn là thôi không kiện nữa, khỏi đưa vàng qua.

Lại nghĩ Chu sinh vốn không giàu có gì, nhà thì xa xôi rước dâu cực khổ, bèn sai đón mẹ sinh dời tới, ở trong nhà cũ của Tuân Cửu.

Sinh cũng sắm sửa đủ tiền lụa lễ vật, làm lễ thành hôn.

Một hôm chị dâu đùa hỏi Tố Thu:

- Nay có chồng mới còn nhớ người chung chăn gối yêu thương nhau mấy năm trước không?

Tố Thu ngoảnh lại hỏi người tỳ nữ:

- Còn nhớ không?

Chị dâu không hiểu cứ hỏi mãi, thì ra ba năm làm vợ Giáp nàng đều để người tỳ nữ làm chuyện chăn gối thay mình.

Cứ đến đêm nàng lại lấy bút vẽ lại lông mày cho rồi bảo đi, người tỳ nữ có ngồi đối diện trước đèn Giáp cũng tưởng là Tố Thu.

Chị dâu càng lạ lùng, xin dạy cho thuật ấy nhưng nàng chỉ cười không đáp.

Năm sau tới kỳ thi, Chu sinh định đi cùng với công tử, Tố Thu nói là không cần nhưng công tử cứ ép sinh cùng đi.

Khoa ấy công tử đỗ Cử nhân còn sinh trượt, trở về ngầm có ý chán ngán công danh, năm sau mẹ chết, nên từ đó không nhắc tới chuyện khoa cử nữa.

Một hôm Tố Thu nói với chị dâu:

- Trước đây chị muốn học phép thuật, nhưng em không muốn người ta nghe thấy đâm ra ngờ sợ nên mới giữ kín.

Nay sắp vĩnh biệt, gần đến ngày lên đường rồi, xin ngầm truyền lại cho chị, cũng tránh được nạn binh lửa.

Chị dâu hoảng sợ hỏi, nàng đáp:

- Ba năm nữa chốn này sẽ không còn làng xóm, em yếu ớt không không kham nổi sự lo sợ nên định ra ẩn nơi bờ biển.

Đại ca là người trong trường phú quý không thể đi cùng em được, nên xin từ biệt!

Rồi dạy phép thuật cho chị dâu.

Vài hôm sau tới chào công tử, công tử giữ lại không được, chảy nước mắt hỏi đi đâu nhưng nàng không nói.

Sáng ra vợ chồng dậy sớm, dắt một người hầu tóc bạc, đem hai cỗ kiệu lên đường.

Công tử sai người ngầm theo sau hộ tống, đi tới địa giới huyện Giao phủ Lai Châu (tỉnh Sơn Đông) chợt có làn hơi mù bốc lên che khuất cả ánh sảng mặt trời, mù tan rồi thì không thấy ba người nữa, không rõ đi về đâu.

Ba năm sau, giặc Sấm nổi loạn, làng xóm thành đất hoang, Hàn phu nhân cắt vải làm hình nhân đặt trong cửa.

Bọn giặc kéo tới thấy có thần Vi Đà đửng giữa đám mây cuồn cuộn, thân cao hơn trượng, khiếp sợ bỏ chạy, gia đình công tử nhờ vậy được yên ổn.

Về sau có người đi buôn tới vùng bờ biển, gặp một ông già rất giống người hầu tóc bạc nhưng râu tóc đều đen nhánh nên làm ngơ không dám chào.

Ông già dừng chân cười nói:

- Công tử nhà ta vẫn mạnh khỏe chứ.

Nhờ nhắn lại giùm là cô Thu vẫn được yên vui.

Ngươi ấy hỏi Tố Thu ở đâu, ông già đáp:

- Xa lắm, xa lắm!

Rồi thoăn thoắt bước đi.

Công tử nghe kể lại, sai người tới đó hỏi thăm khắp cả nhưng rốt lại không có manh mối gì.

*[Giặc Sấm: tức Lý Sấm (Lý Tự Thành), lãnh tụ khởi nghĩa nông dân cuối thời Minh].

___________________________________

CHƯƠNG 175: KIỀU NỮ

A Thừa Xú Nữ Xáng Tri Danh

Hà Ý Khuynh Tâm Hữu Mạnh Sinh

Ngự Vũ Tồn Cô Báo Tri Kỷ

Cư Nhiên Tiết Nghĩa Nhất Thân Tinh

Dịch:

Dung Sắc Nàng Kiều Xấu Nổi Danh

Nào Tưởng Khuynh Tâm Có Mạnh Sinh

Bảo Vệ Con Côi Báo Tri Kỷ

Tiết Nghĩa Gồm Kiêm Ở Một Mình



Kiều sinh ở huyện Bình Nguyên (tỉnh Sơn Đông) có người con gái đen đúa xấu xí, sút mũi thọt chân, hăm lăm hăm sáu tuổi chưa ai dạm hỏi.

Ở huyện có Mục sinh hơn bốn mươi tuổi, góa vợ mà nghèo quá không cưới được ai mới hỏi cưới nàng.

Sau ba năm nàng sinh một trai, không bao lâu Mục sinh chết, nhà càng nghèo túng, khốn quẫn quá thì về xin mẹ cho ăn.

Mẹ không lo nổi, nàng cũng tức giận không về nữa, dệt thuê sinh sống qua ngày.

Có Mạnh sinh vợ chết để lại con trai là Ô Đầu mới đầy năm, không có người chăm sóc con nên nóng lòng muốn cưới vợ khác, nhưng người mối chỉ cho mấy đám vẫn chưa vừa ý.

Chợt gặp Kiều thị mừng lắm, nhờ người đánh tiếng.

Nàng từ chối, nói:

- Đói rét thế này, nếu theo quan nhân sẽ được ấm no, lẽ nào không muốn.

Nhưng tật nguyền xấu xí không được như người ta, chỉ còn tự tin ở chỗ có đức thôi, nếu thờ hai chồng thì quan nhân còn yêu thương chỗ nào?

Mạnh càng cho là hiền, lại thêm mến mộ, nhờ người mối đem tiền bạc vải lụa tới nói với bà mẹ.

Bà mừng rỡ tới nhà con gái cố khuyên nhủ, nhưng nàng thề không lấy chồng khác.

Bà hổ thẹn, xin gả con gái út cho Mạnh, người nhà đều mừng nhưng Mạnh không chịu.

Không bao lâu Mạnh bất ngờ bị bệnh chết, Kiều thị tới viếng tang, khóc lóc hết sức thảm thiết.

Mạnh vốn không có thân thích nên chết rồi thì bọn vô lại trong thôn đều làm càn, lấy hết cả vật dụng trong nhà, lại toan chia nhau chiếm đoạt ruộng vườn nhà cửa, tôi tớ cũng đều trộm cắp lặt vặt bỏ trốn, chỉ còn một bà vu bế đứa nhỏ khóc lóc trong phòng.

Kiều thị hỏi biết chuyện rất bất bình, nghe Lâm sinh chơi thân với Mạnh bèn tới nhà nói:

- Vợ chồng bè bạn là giềng mối lớn của con người, thiếp vì quá xấu xí nên bị coi rẻ, chỉ có Mạnh sinh biết, trước đây tuy cố từ thối nhưng trong lòng đã ưng thuận.

Nay người đã chết mà con còn nhỏ, tự nghĩ mình phải đền đáp ơn tri kỷ.

Nhưng nuôi đứa con côi còn dễ chứ chống bọn cướp ngày mới khó, nếu thấy không có cha mẹ anh em mà ngồi nhìn con chết nhà tan không giúp thì trong ngũ luân không còn có bạn bè nữa.

Thiếp không mong ông làm gì nhiều, chỉ cần làm một lá đơn thưa lên quan, còn việc chăm sóc đứa con côi thì thiếp không dám từ chối.

Lâm nói:

- Vâng!

Nàng chào vể.

Lâm định làm theo lời nàng, bọn vô lại căm tức toan giết.

Lâm sợ quá, đóng cửa không dám ra khỏi nhà.

Kiều thị đợi mấy ngày không thấy tin tức gì, khi tới hỏi thì gia sản của họ Mạnh đã bị cướp sạch.

Nàng giận quá xăm xăm lên thưa với quan, quan hỏi nàng là người thế nào với Mạnh, nàng đáp:

- Ông là quan coi một huyện, cứ dựa vào lý thôi, nếu nói sai thì kẻ thân thích cũng không thể chối tội, nếu nói đúng thì dù là người qua đường cũng phải nghe.

Quan giận lời lẽ ngang tàng, thét đuổi ra, nàng căm giận không có nơi giãi bày, khóc lóc tố cáo với một vị thân sĩ.

Tiên sinh Mỗ nghe chuyện cho là có nghĩa khí, nói giúp với quan huyện, quan tra xét quả đúng, liền trị tội bọn vô lại, trả hết tài sản lại cho nhà họ Mạnh.

Có người bàn khuyên Kiều thị ở lại nhà Mạnh chăm sóc đứa con mồ côi nhưng nàng không chịu, khóa cửa nhà Mạnh, bảo bà vú bế Ô Đầu về nhà mình, cho ở riêng một gian.

Những khoản chi dùng cho Ô Đầu thì đều cùng bà vú tới nhà Mạnh mở cửa lấy thóc bán, còn mình không hề đụng tới chút gì vẫn nghèo khổ nuôi con như trước.

Vài năm sau Ô Đầu lớn lên, nàng mời thầy về dạy học, còn con mình thì bắt tập làm lụng.

Bà vú khuyên cho hai đứa cùng học, nàng nói:

- Ô Đầu học hành tốn kém là tiền của nó, còn nếu ta làm hao tốn tiền bạc của người cho con mình học thì làm sao tỏ rõ được lòng này?

Lại mấy năm nữa, nàng dành dụm cho Ô Đầu được mấy trăm thùng thóc, liền hỏi cưới con gái nhà thế tộc cho, sửa sang nhà Mạnh bảo về mà ở.

Ô Đầu khóc xin nàng về ở cùng, nàng cũng nghe theo nhưng vẫn dệt thuê kiếm sống như trước.

Vợ chồng Ô Đầu giằng lấy khung cửi con thoi mang cả đi, nàng nói:

- Mẹ con ta chỉ ngồi ăn không thì làm sao yên lòng được?

Rồi sớm tối coi sóc việc trong nhà, sai con trai ra canh ruộng nhà Ô Đầu như kẻ làm thuê vậy.

Nhưng vợ chồng Ô Đầu có chút lỗi lầm là nàng trách mắng không hề bỏ qua, mà nếu hơi có vẻ bỏ ngoài tai thì nàng buồn rầu muốn đi, vợ chồng quỳ xuống ăn năn mới chịu ở lại.

Không bao lâu Ô Đầu vào học ở trường quận, nàng từ biệt đòi về, Ô Đầu không cho, lại góp tiền cưới vợ cho con Mục.

Nàng bảo con về nhà riêng ở, Ô Đầu giữ lại không được bèn sai người ngầm mua một trăm mẫu đất ở thôn bên cạnh, sau đó tặng cho.

Sau Kiều thị bị bệnh đòi về, Ô Đầu không chịu, lúc bệnh nặng dặn:

- Thế nào cũng phải đưa ta về chôn ở nhà.

Ô Đầu vâng dạ nhưng khi nàng chết lại đem vàng nói với con Mục xin cho hợp táng với Mạnh sinh.

Lúc chôn cất, quan tài chợt nặng chình ình, ba mươi người không nhấc lên nổi, còn con Mục chợt ngã lăn ra đất, bảy khiếu đổ máu, tự nói:

- Thằng con mất nết kia, tại sao lại bán mẹ ngươi như thế hả!

Ô Đầu sợ, vào lạy lục khấn khứa con Mục mới khỏi.

Rồi hoãn việc chôn cất lại vài hôm, sửa sang phần mộ Mục sinh hợp táng nàng vào đó.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 176+177


CHƯƠNG 176: MÃ GIỚI PHỦ

Càn Cương Bất Chấn Tự Di Tu

Thử Bệnh Nan Tương Dược Lực Sưu

Danh Đắc Tiên Nhân Cần Bố Trí

Tông Tự Nhất Tuyến Lại Trường Lưu

Dịch:

Nghe Sư Tử Rống Vía Hồn Bay

Không Thuốc Nào Hay Chữa Bệnh Này

Nhờ Được Người Tiên Khéo Xếp Đặt

Tông Tự Truyền Dõi Mãi Sau Đây



Dương Vạn Thạch là Chư sinh ở phủ Đại Danh (tỉnh Hà Bắc), bình sinh có tật sợ vợ.

Vợ là Doãn thị, tính hung dữ lạ thường, cứ có chuyện gì trái ý là đánh đập nguời ăn kẻ ở trong nhà.

Cha Dương hơn sáu mươi tuổi lại góa vợ, Doãn thị coi như đầy tớ.

Dương và em là Vạn Chung thường lén mang thức ăn cho cha không dám để Doãn thị biết, song quần áo cha rách nát, sợ bị chê cười nên không cho ông gặp mặt khách khứa.

Vạn Thạch bốn mươi tuổi vẫn không có con trai, cưới thiếp là Vương thị nhưng cả ngày không dám trò chuyện với nàng một câu.

Hai anh em lên quận thi gặp một thiếu niên tướng mạo thanh tú, trang phục phong nhã, cùng trò chuyện thích lắm, hỏi tới họ tên thì tự xưng là Giới Phủ, họ Mã.

Từ đó giao du với nhau ngày càng thân thiết, kết nghĩa làm anh em.

Đến khi chia tay, hẹn nửa năm sau sẽ gặp lại, nhưng Mã chợt dắt tiểu đồng tới nhà Vương.

Gặp Dương ông đang cởi áo bắt rận ngoài cổng, Mã tưởng là đầy tớ bèn xưng tên họ nhờ vào thưa với chủ nhân.

Dương ông khoác áo rách đi vào, có nguời nói cho Mã biết đó là cha Dương.

Mã đang giật mình ngạc nhiên thì anh em Dương để đầu trần ra đón, vào tới sảnh đường vái chào nhau xong, Mã xin ra mắt cha.

Vạn Thạch từ chối nói cha vừa ngẫu nhiên bị bệnh, giục ngồi xuống cùng trò chuyện vui vẻ, chiều tối lúc nào cũng không hay.

Vạn Thạch mấy lần ra bảo dọn cơm nhưng mãi chẳng thấy mang lên, hai anh em thay nhau ra vào gọi mãi mới có một người đầy tớ gầy ốm mang bầu rượu vào.

Trong chốc lát ba người uống hết rượu, ngồi chờ một lúc lâu, Vạn Thạch đứng lên gọi mấy lần, toát cả mồ hôi trán, người đầy tớ mới bưng mâm lên, thức ăn còn chưa chín mà cũng chẳng có món nào ngon lành.

Ăn xong, Vạn Thạch vội vã trở vào, Vạn Chung mang chăn ra ngủ chung với khách.

Mã trách nói:

- Trước đây ngờ hai ông là bậc cao nghĩa mới kết làm anh em, nay thấy cha già không được ăn no mặc ấm, người ngoài cũng phải xấu hổ.

Vạn Chung sa nước mắt đáp:

- Chuyện đau lòng này rất khó nói ra.

Nhà ta không may gặp phải người chị dâu hung dữ, cha anh đều nhu nhược, có khi cũng bị đánh đập mắng nhiếc.

Nếu không phải là anh em kết nghĩa, thật ta không dám nói ra chuyện xấu xa này đâu.

Mã than thở hồi lâu rồi nói:

- Lúc đầu ta tính ở chơi vài hôm rồi đi, nay nghe chuyện lạ lùng này thật không thể không mắt thấy tai nghe cho rõ.

Vậy ông xếp một gian phòng trống cho ở, cơm nước ta sẽ tự lo.

Vạn Chung nghe lời, lập tức nhường phòng mình cho Mã ở.

Khuya tới lén đem cơm sang mời khách mà còn sợ Doãn thị biết.

Mã biết ý, hết sức từ chối không ăn, lại xin mời Dương ông tới cùng ăn ở với mình.

Hôm sau ra chợ mua vải may áo quần cho Dương ông, cha con anh em đều cảm kích rơi nước mắt.

Vạn Chung có đứa con tên Hỷ Nhi mới bảy tuổi, đến ngủ với ông nội.

Mã vỗ về nó, nói:

- Đứa nhỏ này phúc thọ nhiều hơn cha, nhưng phải mồ côi khổ cực sớm đây.

Doãn thị nghe Dương ông được ăn no mặc ấm cả giận chửi mắng, nói Mã vô cớ dây vào chuyện nhà người khác.

Ban đầu còn rủa lằm bằm trong phòng, sau dần dần tới gần phòng Mã mắng lớn tiếng cho Mã nghe.

Anh em họ Dương sợ toát mồ hôi không biết làm sao ngăn cản, song Mã vẫn làm như không nghe thấy gì.

Người thiếp Vương thị có thai được năm tháng Doãn thị mới biết, lột áo quần đánh đập tàn nhẫn rồi bắt Vạn Thạch quỳ xuống đội khăn buộc yếm đàn bà vào người, lấy roi đánh đuổi đi.

Lúc ấy Mã đang có mặt ngoài cổng, Vạn Thạch xấu hổ không chịu ra, sau bị đánh đau quá phải chạy ra, Doãn thị cũng đuổi theo, xoa tay giẫm chân chửi rủa, người ta xúm lại xem đông nghịt.

Mã chỉ vào Doãn thị quát:

- Đi ngay!

Thị lập tức quay người chạy mau trở lại như bị ma đuổi, bỏ cả giày tất, tụt cả vải bó chân trên đường, chạy chân trần vào nhà, mặt không còn chút máu.

Lát sau lại hồn, tỳ nữ đưa giày tất tới, mang vào xong chợt khóc nức nở, gia nhân không ai dám hỏi.

Mã giục Vạn Thạch cởi khăn yếm ra, Vạn Thạch co người nín thở như sợ khăn yếm rơi xuống, Mã phải ép cởi ra cho mà vẫn lo lắng không yên, sợ mắc tội tự cởi.

Nghe ngóng chờ vợ nín khóc mới dám vào nhà, rón rén tới trước mặt, vợ lại không nói câu nào, đứng lên đi vào phòng ngủ.

Vạn Thạch lúc ấy mới đỡ lo lắng, cùng em thầm lấy làm lạ lùng.

Gia nhân cũng đều cho là chuyện kỳ quái, họp nhau xì xào bàn tán, Doãn thị nghe loáng thoáng càng xấu hổ tức tối, lại vác roi đánh đầy tớ suốt lượt.

Gọi tới người thiếp, người thiếp bị thương nặng không dậy nổi, Doãn thị cho là giả vờ, tới tận giường đánh đập mắng nhiếc, người thiếp băng huyết trụy thai.

Vạn Thạch nhân lúc không người khóc lóc kể với Mã, Mã an ủi khuyên nhủ rồi bảo tiểu dồng bày rượu thịt cùng uống tới khuya, không cho Vạn Thạch về phòng.

Doãn thị trong phòng, giận chồng không về, đang lúc căm tức chợt nghe có tiếng lay khung cửa, vội gọi tỳ nữ thì cửa phòng đã bật tung, một người to lớn bước vào, bóng che trùm cả phòng, mặt mũi hung ác như quỷ.

Kế lại có vài người theo vào, ai cũng cầm dao sắc.

Doãn thị hoảng sợ suýt ngất, định la lên thì người to lớn kề dao vào cổ nói:

- La lên thì ta giết ngay!

Doãn thị vội vàng đưa tiền lụa ra xin chuộc mạng, người to lớn nói:

- Ta là sứ giả của âm ty, không cần lấy tiền, chỉ muốn lấy quả tim của mụ đàn bà hung dữ thôi.

Doãn thị càng sợ.

Người to lớn bèn lấy dao sắc rạch ngực Doãn thị, vừa kể vừa hỏi:

- Như chuyện này có đáng giết không?

Mỗi việc lại rạch một nhát.

Tất cả những việc hung ác đều kể ra mà rạch, không dưới vài mươi nhát, sau cùng lại nói:

- Người thiếp có con trai cũng là nối dõi cho ngươi, sao lại nhẫn tâm đánh cho tới trụy thai?

Chuyện này thì không tha được.

Rồi gọi mấy người kia tiếp tay để mổ bụng xem gan ruột của mụ đàn bà ác độc, Doãn thị dập đầu xin tha mạng, chỉ nói là đã biết tội rồi.

Chợt nghe cửa giữa mớ toang, có tiếng nói:

- Dương Vạn Thạch tới rồi, nếu đã biết tội thì tạm tha cho một lần.

Rồi ào ào tan đi.

Giây lát Vạn Thạch vào, thấy vợ bị cởi trần trói thúc ké, trước ngực bị dao rạch ngang dọc nát bét, vội cởi trói hỏi.

Biết nguyên do cả sợ, ngờ là do Mã.

Hôm sau kể lại với Mã, Mã cũng sợ.

Từ đó Doãn thị hơi bớt hung dữ, suốt mấy tháng không dám chửi mắng một câu.

Vạn Thạch cả mừng nói với Mã, Mã nói:

- Nói thật với ông nhưng xin đừng để lộ ra, chuyện hôm trước là ta dùng thuật mọn để dọa đấy, nay gia đình đã yên ấm, xin tạm chia tay.

Rồi chào đi.

Doãn thị cứ đến chiều tối là giữ Vạn Thạch làm bạn, cười nói rất vui vẻ.

Vạn Thạch bình sinh không đưọc hưởng thú vui như vậy nên lại lấy làm ngượng nghịu không biết ngồi đứng thế nào.

Một đêm Doãn thị nhớ lại diện mạo người to lón, lấy làm run sợ, Vạn Thạch muốn lấy lòng vợ bèn hơi lộ ra đó là giả.

Người đàn bà lập tức vùng dậy căn vặn đầu đuôi, Vạn Thạch biết đã lỡ lời nhưng hối không kịp đành phải kể thật hết.

Doãn thị đùng đùng nổi giận chửi lón, Vạn Thạch sợ quá quỳ rạp dười giường, người đàn bà không ngó ngàng gì tới.

Vạn Thạch lạy lục năn nỉ đến canh ba, Doãn thị nói:

- Muốn tha thì phải rạch dao vào ngực đủ số, hận này mới tiêu tan được.

Rồi vùng dậy vào bếp xách dao lên, Vạn Thạch cả sợ bỏ chạy, người đàn bà đuổi theo, chó sủa gà kêu náo động, tôi tớ đều thức dậy đổ ra.

Vạn Chung không biết chuyện gì vội lấy thân mình che cho anh.

Người đàn bà đang chửi mắng chợt thấy Dương ông tới, nhìn tới quần áo càng sôi giận lập tức sấn tới xé nát quần áo mới của ông, tát vào mặt rồi nắm râu giật.

Vạn Chung thấy thế nổi giận, vớ đá ném trúng trán Doãn thị, Doãn thị ngã lăn ra chết ngất.

Vạn Chung nói:

- Ta chết mà cha và anh ta được sống, thì có tiếc gì!

Rồi nhảy xuống giếng tự tử, vớt lên thì đã chết.

Lát sau ngữời đàn bà tỉnh lại, nghe nói Vạn Chung đã chết cũng hả giận.

Chôn cất xong, người em dâu thương con thề không lấy chồng khác, Doãn thị chửi mắng không cho ăn uống, gọi người gả đi.

Còn lại đứa con mồ côi sớm tối bị đánh đập, phải theo tôi tớ xin cơm thừa canh cặn mà ăn, qua vài năm gầy guộc võ vàng, hơi thở thoi thóp.

Một hôm Mã chợt tới, Vạn Thạch dặn gia nhân không được nói cho Doãn thị biết.

Mã thấy Dương ông rách rưới như cũ, vô cùng kinh ngạc, lại nghe nói Vạn Chung đã chết, giẫm chân than thở.

Đứa con Vạn Chung nghe Mã tới ra chào, đầu tiên gọi là chú Mã, Mã không biết là ai, nhìn kỹ mới nhận ra, hoảng sợ nói:

- Sao cháu lại tiều tụy đến thế này?

Dương ông bèn úp mở kể lại mọi chuyện.

Mã căm tức nói với Vạn Thạch:

- Trước đây ta vẫn nói ngươi không phải con người, quả không sai.

Nhân duyên hai người chỉ có bấy nhiêu, giết đi thì đã làm sao?

Vạn Thạch không đáp, chỉ cúi đầu ôm mặt khóc lóc.

Vừa ngồi trò chuyện được một lúc thì Doãn thị biết Mã tới, không dám ra đuổi khách, chỉ gọi Vạn Thạch vào, tát tai bắt phải tuyệt giao với Mã.

Vạn Thạch rưng rưng nước mắt trở ra, trên mặt còn vết tát rõ ràng, Mã nổi giận nói:

- Ngươi đã không thể ra oai, cũng không thể dứt tình đuổi đi à?

Người ta đánh cha giết em mà còn nhịn nhục, sao đáng gọi là người?

Vạn Thạch co người lại như chạnh lòng, Mã lại nói khích:

- Nếu như không đuổi đi thì cũng phải dằn mặt, nếu có chết cũng không sợ.

Ta có vài người bạn thân đều làm quan lớn, nhất định sẽ ra sức giúp đỡ, chắc chắn không việc gì đâu.

Vạn Thạch nghe theo hùng hổ rảo bước vào trong, nhưng vợ vừa quát định làm gì thì cả kinh thất sắc, quỳ rạp chống tay xuống đất nói:

- Mã sinh bảo ta bỏ!

Người đàn bà càng căm tức, ngoái nhìn quanh tìm dao gậy, Vạn Thạch hoảng sợ lại chạy ra.

Mã thóa mạ, nói:

- Ngươi thật là hết dạy đưọc rồi!

Rồi mở tráp lấy thuốc ra hòa vào nước đưa Vạn Thạch uống, nói:

- Đây là Trượng phu tái tạo tán, không thể khinh suất mà dùng, vì có thể làm người ta bị bệnh, nhưng nay bất đắc dĩ phải cho ông dùng thử.

Vạn Thạch uống xong, giây lát thấy khí tức đầy bụng như lửa cháy bùng bừng không thể nhịn được thêm một phút, xăm xăm đi vào phòng vợ, quát tháo như sấm.

Doãn thị chưa kịp hỏi, Vạn Thạch đã đá cho ngã lăn ra rồi đấm túi bụi.

Người đàn bà thân thể không còn chỗ nào lành lặn nhưng đầu tiên còn chửi bới.

Vạn Thạch rút dao trong lưng ra, người đàn bà hỏi:

- Người rút dao có dám giết ta không?

Vạn Thạch không đáp, cắt một miếng thịt trên đùi vợ ném xuống đất, vừa định cắt thêm miếng nữa, người đàn bà kêu khóc xin tha.

Vạn Thạch không nghe, lại cắt nữa.

Tôi tớ thấy Vạn Thạch hung dữ quá vội xúm vào liều mạng giật dao kéo ra ngoài.

Mã đứng lên đón, cầm tay khen ngọi, Vạn Thạch còn chưa hết giận, mấy lần lại định xông vào nhà trong, Mã phải ngăn lại, giây lát dược lực tan dần mới ngồi rũ ra như sắp chết.

Mã dặn:

- Ông đừng lo, làm chồng chỉ cần ra oai một lần như thế thôi.

Phu nhân khiếp sợ rồi, không phải là sớm tối lại dám xử sự như trước đâu, cũng như trước thì chết mà nay được sống, từ nay về sau thế nào cũng bỏ cũ đổi mới, nếu ông lại sợ sệt một lần nữa thôi thì không làm thế nào được đâu

Rồi bảo Vạn Thạch vào nhà trong xem, vợ run sợ nhịn đau bảo tỳ nữ đỡ dậy định bò tới lạy, ngăn lại mới thôi.

Ra nói lại với Mã, cha con cùng chúc mừng nhau, Mã chào đi, hai cha con cùng giữ lại.

Mã nói:

- Ta có việc đi qua Đông Hải, lúc nào trở về sẽ gặp nhau.

Hơn một tháng sau Doãn thị gượng dậy được, thờ chồng rất kính cẩn, nhưng lâu ngày biết chồng không có tài gì khác dần khinh nhờn, dần cười nhạo, dần mắng chửi, thói cũ lại bộc lộ.

Dương ông không chịu nổi, nhân đêm trốn tới Hà Nam, vào miếu làm đạo sĩ, Vạn Thạch cũng không dám đi tìm về.

Hơn một năm Mã tới, biết chuyện ngậm ngùi trách móc, lập tức gọi đứa con Vạn Chung ra đặt lên lưng ngựa chở đi.

Từ đó người làng đều không nể trọng gì Vạn Thạch, quan Học sứ về khảo xét vì thế truất bỏ chức Chư sinh của Vạn Thạch.

Lại bốn năm năm sau, nhà bị cháy, tiền bạc trong nhà đều thành tro, lửa bén qua nhà láng giềng, người trong thôn lên quận kiện cáo, quan lại phạt bắt Vạn Thạch phải đền tiền.

Từ đó gia sản khánh kiệt, đến nỗi không có nhà mà ở, người quanh vùng bảo nhau đừng cho Vạn Thạch ở nhờ.

Anh em Doãn thị ghét người đàn bà hung dữ, cũng từ chối không giúp đỡ.

Vạn Thạch cùng khốn bán thiếp cho nhà giàu, dắt vợ xuống nam, tới địa giới Hà Nam thì hết tiền ăn đường, vợ không chịu theo, lải nhải đòi tái giá, gặp lúc có người đồ tể vừa chết vợ bỏ ra ba trăm đồng mua về.

Vạn Thạch còn một mình, ăn xin quanh quẩn vùng ấy, tới cổng một nhà giàu bị người gác quát tháo đuổi đi không cho đứng trước cổng.

Giây lát có một vị quan nhân bước ra, Vạn Thạch quỳ rạp xuống đất khóc lóc năn nỉ, vị quan nhân nhìn kỹ hồi lâu rồi hỏi qua tên họ, kinh ngạc nói:

- Là bác đây mà, tại sao lại nghèo tới mức này?

Vạn Thạch nhìn kỹ lại thì ra là Hỷ Nhi, bất giác khóc rống lên rồi theo vào nhà, thấy trong sảnh đường vàng ngọc lóa mắt.

Giây lát tiểu đồng đỡ Dương ông ra, gặp nhau mừng mừng tủi tủi, Vạn Thạch mới thuật lại hết nhũng việc đã qua.

Đầu tiên Mã dắt Hỷ Nhi tới đó, vài hôm ra tìm Dương ông về cho ông cháu ở chung, lại rước thầy dạy Hỷ Nhi học, đến năm mười lăm tuổi được vào trường huyện, năm sau thi đỗ Cử nhân, vừa lấy vợ xong thì Mã từ biệt muốn đi ông cháu cùng khóc lóc giữ lại, Mã nói:

- Ta không phải là người mà là hồ tiên thôi, các bạn đồng đạo chờ đã lâu rồi.

Rồi đi.

Hỷ Nhi nói tới đó bất giác rơi lệ, nhân nghĩ tới người thiếp của Vạn Thạch trước đây cũng bị hành hạ như mình, càng thêm thương xót, bèn lấy xe kiệu mang tiền đi chuộc Vương thị về cho Vạn Thạch, hơn một năm sinh được một con trai, vì thế coi là vợ đích.

Doãn thị theo người đồ tể nửa năm, lại hung hăng dữ tợn như trước, chồng tức giận lấy dao mổ heo đâm xuyên qua vế, xỏ dây vào treo lên xà nhà, thịt cứ toác ra.

Doãn thị kêu gào đứt hơi láng giềng mới hay, qua đỡ xuống rút dây ra, rút tới đâu đau đớn la thét tới đó, bốn bên láng giềng đều nghe.

Từ đó cứ thấy mặt người đồ tể là run lẩy bẩy, về sau vết thương lành lại nhưng chỗ ấy bị mất thịt, đi đứng rất khó khăn, chỉ biết sớm tối hầu hạ, không dám hó hé.

Người đồ tể lại càng hung dữ, cứ uống rượu say về là đánh đập chửi mắng, lúc ấy Doãn thị mới biết nỗi khổ của nhũng người bị mình hành hạ trước kia.

Một hôm, Dương phu nhân cùng bà bác lên dâng hương ở chùa Phổ Đà, nhũng phụ nữ nhà thường dân ở quanh đó đều tới làm lễ ra mắt chào hỏi, Doãn thị cũng có trong đám nhưng cứ núp phía sau không dám bước lên.

Vương thị cố ý hỏi người ấy là ai, gia nhân bước lên thưa là vợ đồ tể họ Trương, nhân quát gọi bước lên bảo lạy Thái phu nhân.

Vương thị cười nói:

- Người đàn bà này làm vợ đồ tể thì lẽ ra không thiếu thịt ăn, sao lại bị xẻo một miếng thế?

Doãn thị vừa thẹn vừa tức, về nhà định treo cổ tự tử nhưng dây đứt không chết, người đồ tể vì vậy càng ghét.

Hơn một năm người đồ tể chết, Doãn thị đi trên đường gặp Vạn Thạch, từ xa nhìn thấy đã quỳ xuống, nước mắt ròng ròng, Vạn Thạch vì có gia nhân nên không dám nói câu nào, trở về nói với cháu, muốn đón về lại nhưng cháu nhất định không chịu.

Người đàn bà bị dân làng khinh ghét nên lâu không có ai lấy, phải theo bọn ăn mày kiếm sống.

Vạn Thạch có lần hẹn gặp trong chùa, cháu biết được, cho là nhục nhã bèn ngầm xúi bọn ăn mày phá đám, Vạn Thạch bèn thôi.

Chuyện này ta không biết kết cục ra sao, đoạn đưới đây là do ông Tất soạn.

____________________________________

CHƯƠNG 177: VÂN THÚY TIÊN

Danh Hoa Cao Chiếm Nhất Chi Xuân

Nhãn Thính Huỳnh Ngôn Biệt Tặng Nhân

Lưu Đắc Hoàng Kim Vô Dụng Xứ

Phân Minh A Mẫu Ngộ Nhi Thân

Dịch:

Danh Hoa Xuân Chiếm Một Cành Von

Sao Nỡ Nghe Lời Dỗ Ngọt Ngon

Giữ Được Hoàng Kim Không Chỗ Đụng

Rõ Ràng Mẹ Khiến Lỡ Thân Con



Lương Hữu Tài vốn là người đất Tấn (tỉnh Sơn Tây), lưu lạc tới đất Tế (tỉnh Sơn Đông) làm nghề bán hàng rong, không có vợ con điền sản, theo người trong thôn lên Thái Sơn chơi.

Lúc ấy đang tháng tư, người ta lên núi dâng hương rất đông, lại có nhiều tăng ni dắt hàng chục hàng trăm đệ tử quỳ la liệt trước bàn thờ thần, cứ theo nén hương cháy làm cỡ, gọi là quỳ hương.

Tài thấy trong đó có một nữ lang xinh đẹp khoảng mười bảy mười tám tuổi, thích lắm bèn giả làm khách dâng hương tới quỳ bên cạnh.

Lại làm ra vẻ quỳ lâu mỏi gối, vịn tay vào chân nàng.

Cô gái giận dữ quay nhìn rồi xích ra.

Tài lại xích tới gần, lát sau lại làm như trước.

Cô gái đứng phắt lên không quỳ nữa bỏ ra, Tài cũng đứng lên theo chân nhưng không biết nàng đi đàng nào, thất vọng buồn bực ra về.

Dọc đường thấy cô gái đi theo một bà già, hình như là mẹ, vội rảo bước theo.

Mẹ con vừa đi vừa nói chuyện, bà già nói:

- Con đi lễ Bà là hay lắm.

Con không có em trai em gái, chỉ cần Bà phù hộ cho lấy được người chồng tốt miễn hiếu thuận là được, chẳng cần gì phải là con vua cháu chúa.

Tài mừng thầm, mon men bắt chuyện hỏi thăm, bà già nói mình họ Vân, cô gái là con ruột, tên Thúy Tiên, nhà ở phía tây núi, cách bốn mươi dặm.

Tài nói:

- Đường núi gập ghềnh mà bác thì già yếu, em thì ẻo lả thế này làm sao về kịp?

Bà đáp:

- Trời đã xế, mẹ con ta định ghé nhà cậu cháu ngủ nhờ.

Tài nói:

- Lúc nãy nghe bác nói kén rể không kể nghèo hèn, vậy cháu chưa có vợ, bác thấy được không?

Bà hỏi cô gái, nàng im lặng, hỏi mấy lần mới nói:

- Y ít phúc, lại phóng đãng vô hạnh, tâm tính khinh bạc mà hay tráo trở, con không thể làm vợ một gã vô lại được.

Tài nghe thế vội tỏ ra chân thành, chỉ trời thề thốt.

Bà già mừng rỡ nhận lời, cô gái thì không thích, tỏ vẻ vùng vằng, bà mẹ phải cố làm cho nàng vui lên.

Tài ân cần xách hộ hành lý, tìm hai chiếc kiệu núi cho hai mẹ con, mình thì đi bộ theo như người hầu, cứ tới đoạn đường nào gập ghềnh lại quát tháo bọn phu kiệu bảo phải cẩn thận không được lắc mạnh, lo lắng ân cần lắm.

Không bao lâu tới một xóm, bà già bảo Tài cùng vào.

Có ông bà già ra đón, là anh trai và chị dâu bà Vân, bà nói Tài là con rể, vừa đúng ngày tốt không cần chọn lựa nữa, cho làm lễ cưới luôn đêm nay.

ông cậu cũng vui vẻ, dọn cơm rượu mời Tài, kế cho Thúy Tiên ăn mặc đẹp đẽ ra làm lễ rồi dọn giường giục đi ngủ.

Cô gái nói:

- Ta vốn biết ngươi bất nghĩa, nhưng bị mẹ ép buộc nên phải theo, nếu ngươi ăn ở tử tế thì chẳng lo gì đói rét.

Tài vâng dạ.

Sáng hôm sau thức dậy, bà mẹ bảo Tài cứ về trước, mình và con gái sẽ tới ngay.

Tài về quét dọn nhà cửa xong thì bà già đưa con gái tới.

Vào nhà thấy trống trơn bèn nói:

- Thế này thì lấy gì mà sống?

Ta sẽ trở lại ngay, giúp thêm chút ít cho đỡ khổ.

Rồi ra đi.

Hôm sau có mấy người gia nhân trai gái mang dủ thứ áo quần chén bát tới xếp đầy nhà rồi đi ngay không ở lại ăn cơm, chỉ lưu lại một người tỳ nữ hầu hạ.

Tài từ đó chỉ ngồi không ăn sẵn, hàng ngày cứ theo bọn vô lại rượu chè cờ bạc, dần dà ăn cắp cả nữ trang của vợ để chơi bời.

Cô gái khuyên nhiều lần không được, hết cách chỉ còn biết giữ kỹ lưỡng hòm như đề phòng giặc cướp.

Một hôm đám cờ bạc tới thăm Tài, nhìn thấy cô gái đều kinh ngạc tấm tắc khen ngợi, nói đùa với Tài:

- Ông giàu có lớn, lo gì nghèo khó?

Tài hỏi sao nói thế, chúng đáp:

- Mới rồi thấy mặt phu nhân, thật là người tiên, lại gặp lúc gia đình không hòa thuận, nếu đem bán làm vợ lẽ phải được trăm lượng vàng còn bán cho nhà chứa phải được ngàn lượng, có ngàn lượng vàng trong nhà thì lo gì không tiền uống rượu đánh bạc?

Tài không đáp nhưng thầm cho là đúng.

Về nhà cứ nhìn vợ thở dài, lúc lúc lại than nghèo quá không biết làm sao sống.

Cô gái làm như không nghe, Tài cau có đập bàn ném bát, chửi mắng tỳ nữ, làm đủ trò gây gổ.

Một đêm cô gái mua rượu cùng uống, chợt nói:

- Chàng vì nghèo túng mà lo nghĩ ngày đêm, thiếp cũng chẳng có cách gì lo toan để chia sẻ, há không hổ thẹn, nhưng không có vật gì đáng giá, chỉ có con hầu này, đem bán đi cũng đủ vốn buôn bán lặt vặt.

Tài lắc đầu nói:

- Nó thì đáng bao nhiêu!

Uống thêm một lúc, nàng nói:

- Thiếp có tiếc gì với chàng đâu, khổ cái là đã kiệt lực rồi.

Nghĩ lại thấy cứ nghèo túng thế này, cho dù theo nhau tới chết chẳng qua cũng chỉ là khổ sở suốt đời, làm sao mở mày mở mặt được.

Không bằng cứ đem thiếp bán cho nhà giàu thì hai người đều có lợi, chắc được giá hơn con hầu nhiều.

Tài làm ra vẻ kinh ngạc, nói làm gì phải tới nỗi như vậy nhưng nàng cứ nói mãi, vẻ mặt rất nghiêm trang.

Tài mừng nói:

- Để ta tính lại!

Liền đánh tiếng với một vị quan lớn đang mua ca kỹ làm con hát, vị quan đích thân tới nhà Tài, thấy cô gái rất thích, sợ không mua được ngay, bèn làm giao kèo mua tám trăm quan, việc thế là xong.

Cô gái nói:

- Mẹ thường ngày thấy nhà rể nghèo vẫn lo lắng cho, nay đã dứt hết tình nghĩa, thiếp phải về thăm một lần.

Vả lại chàng đoạn tuyệt với thiếp thì cũng phải nói cho mẹ biết chứ.

Tài lo bà mẹ cản trở, nàng nói:

- Đây vốn là do thiếp muốn, cam đoan không có việc gì đâu.

Tài bèn theo nàng đi.

Gần nửa đêm mới tới nhà mẹ vợ, gõ cổng vào thấy lầu gác hoa lệ, đầy tớ đi lại tấp nập.

Tài thường ngày ở với vợ vẫn muốn tới thăm mẹ nhưng cô gái cứ ngăn cản nên làm rể hơn một năm vẫn chưa lần nào tới nhà bà nhạc, lúc ấy cả sợ nghĩ rằng con gái nhà giàu có như thế này ắt không chịu làm nàng hầu con hát.

Cô gái dẫn Tài lên lầu, bà già kinh ngạc hỏi:

- Sao vợ chồng lại tới đây?

Nàng oán hờn nói:

- Con vẫn nói y bất nghĩa, nay quả đúng.

Rồi lấy trong túi ra hai nén vàng đặt lên bàn, nói:

- May mà không bị đứa tiểu nhân lừa lấy, nay xin trả cho mẹ.

Mẹ kinh ngạc hỏi duyên cớ, nàng đáp:

- Y muốn bán con đi, có giữ vàng cũng vô dụng.

Rồi chỉ mặt Tài mắng:

- Đồ chó, ngày trước ngươi gánh hàng bán rong, mặt mũi lem luốc như ma, lúc đầu gần ta mồ hôi còn chua loét, cáu ghét rơi ra muốn sập giường, tay chân thì chai cộm cả tấc khiến người ta suốt đêm lợm mửa, từ khi lấy ta chỉ ngồi ăn không mới lột được lớp da quỷ sứ đi.

Có mẹ ở đây, ta có đặt chuyện cho ngươi không?

Tài cúi đầu không dám hó hé, nàng lại nói:

- Ta biết mình không có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành để làm vợ bậc quý nhân, chứ với hạng đàn ông như ngươi thì dám nói là xứng đôi vừa lứa, mà ta không làm gì lầm lỗi sao ngươi nỡ dứt cả nghĩa vợ chồng không nghĩ tới chút tình hương lửa.

Ta há không đủ sức làm nhà lầu mua ruộng tốt sao, chỉ vì thấy ngươi là kẻ ít phúc phận, có tướng ăn mày, không thể sống với nhau trọn đời được thôi.

Nàng nói xong, bọn tớ gái kéo tới vây đặc chung quanh thóa mạ, đều nói cứ giết đi, cần gì phải nói này nọ.

Tài khiếp sợ quỳ mọp dưới đất, nói đã ăn năn rồi.

Cô gái càng tức giận, nói:

- Bán vợ con đã là đại ác, sao ngươi còn nỡ lòng coi rẻ người bạn đầu gối tay ấp đem bán đi làm đĩ chứ?

Nàng chưa dứt câu, mọi người đều sôi máu, kẻ rút trâm tóc, người vớ kéo may xúm vào đâm túi bụi.

Tài kêu la xin tha mạng, cô gái ngăn mọi người lại, nói:

- Thôi tạm tha cho hắn, y bất nhân nhưng ta không nỡ thấy y khiếp sợ như thế.

Rồi dắt mọi người xuống lầu.

Tài ngồi nghe ngóng một lúc, thấy không có tiếng người, toan bỏ trốn.

Chợt ngẩng nhìn trời thấy sao đêm lặn hết, phương đông đã hừng sáng, trời đất mênh mang.

Kế đèn lửa cũng tắt hết, nhìn lại thấy không có nhà cửa gì cả mà mình thì đang ngồi trên vách đá cheo leo, cúi xuống thấy ở dưới là vực sâu thăm thẳm, khiếp đảm sợ rơi xuống.

Vừa nhúc nhích thì ầm một tiếng, tảng đá đang ngồi lở ra rơi luôn xuống vực.

May vách núi có cây khô đâm ngang nên Tài vướng lại không rơi xuống, nằm vắt bụng trên thân cây, tay chân chẳng có chỗ nào bấu víu, nhìn xương vực thấy mờ mịt không biết sâu bao nhiêu trượng, không dám động đậy.

Sợ muốn tắt thở, toàn thân đẫm máu, kiệt sức mê mụ ngất đi luôn.

Mặt trời lên cao mới có người tiều phu nhìn thấy, tìm dây dòng xuống cứu lên, đặt trên sườn núi, thấy hơi thở thoi thóp bèn khiêng cho về nhà.

Về tới thấy cửa mở toang, trong nhà trống trơn như ngôi chùa nát, giường chiếu vật dùng đều biến mất, chỉ còn chiếc võng rách và cái bàn mục là vật cũ của mình, lê lết lên nằm, hàng ngày đói bụng lại qua các nhà láng giềng xin ăn.

Kế mắc bệnh lở loét, toàn thân máu mủ bê bết, người làng ghét tính nết khinh bạc đều khạc nhổ đuổi đi.

Tài hết cách sống, bán nhà vào ở trong hang núi, hàng ngày ra đường xin ăn, luôn giắt theo lưỡi dao trong mình.

Có người bảo đổi dao lấy thức ăn, Tài không chịu, nói:

- Ở trong núi phòng hùm beo, phải có dao để tự vệ.

Sau gặp kẻ khuyên mình bán vợ trên đường, bèn tới gần kể lể rồi rút dao đâm chết.

Quan xét biết rõ sự tình nên cũng không nỡ cùm kẹp tra tấn, chỉ giam lại trong ngục, kế đói rét mà chết.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 178+179


CHƯƠNG 178: NHAN THỊ

Phiên Phiên Ngọc Mạo Tích Vô Tài

Cân Quốc Phiên Năng Cập Đệ Lai

Tương Kiến Khuê Trung Cơ Thiếp Tiếu

Uy Lăng Khả Thị Cựu Tây Đài

Dịch:

Phây Phây Mặt Ngọc Tiếc Vô Tài

Đành Nhượng Quần Thoa Bẻ Quế Thôi

Cơ Thiếp Có Chăng Cười Vụng Lén

Oai Phong Vốn Vẫn Sợ Tây Đài



Mỗ sinh ở phủ Thuận Thiên (tỉnh Hà Bắc) nhà nghèo, gặp năm mất mùa theo cha tới đất Lạc (tỉnh Hà Nam) sinh sống.

Tính ngu độn, năm mười bảy tuổi mới viết chữ được thẳng hàng nhưng diện mạo tuấn tú, pha trò giỏi, viết thư tài nên không ai biết là trong bụng rỗng tuếch.

Được ít lâu cha mẹ nối nhau qua đời, còn trơ trọi một mình, dạy học cho trẻ con ở đất Lạc để sinh sống.

Lúc ấy trong thôn có cô gái mồ côi họ Nhan là con một bậc danh sĩ, thông minh từ nhỏ.

Khi cha còn sống thường dạy cho học, chỉ đọc qua một lần là nhớ không quên, hơn mười tuổi đã làm được thơ, cha nói:

- Nhà ta có nữ học sĩ, chỉ tiếc là không được đội mũ thôi.

Vì vậy rất yêu quý, muốn tìm rể sang.

Cha mất, mẹ nàng vẫn theo ý ấy nhưng ba năm chưa thỏa nguyện, kế cũng mất.

Có người khuyên nên lấy học trò giỏi, nàng cho là phải nhưng chưa gặp được ai.

Gặp khi người đàn bà hàng xóm qua chơi trò chuyện, có cầm một tờ giấy viết chữ gói chỉ thêu, nàng mở ra xem thì là thư của Mỗ sinh gởi cho chồng chị ta.

Cô gái xem đi xem lại, khen chữ viết đẹp, chị ta biết ý nói nhỏ:

- Người ấy trẻ tuổi đẹp trai, mồ côi giống cô, tuổi cũng xấp xỉ, nếu bằng lòng thì ta dặn chồng ta nói cho là xong.

Nàng im lặng không đáp.

Chị ta về nói với chồng, y vốn chơi thân với sinh bèn kể lại, sinh mừng lắm, nhân có chiếc nhẫn vàng của mẹ để lại bèn nhờ đưa tới làm sính lễ.

Rồi chọn ngày cưới luôn, vợ chồng rất hòa hợp, đến lúc đọc thấy văn sinh, nàng cười nói:

- Văn với chàng tựa hồ như hai ngườí, thế này thì chừng nào mới thi đỗ được?

Từ đó sóm hôm đốc thúc chàng học hành, nghiêm khắc như thầy trò, buổi tối thì thắp đèn ngồi vào bàn ngâm nga trước cho chồng đọc theo, đến canh ba mới nghỉ.

Cứ thế hơn một năm, sinh đã thạo lối văn trường ốc nhưng thi mấy lần đều rớt, nghĩ lại thân danh lận đận, sinh sống khổ cực, tình cảnh buồn tênh, hu hu khóc lóc.

Cô gái mắng:

- Chàng không phải là đàn ông, đội mũ thật uổng.

Nếu ta bỏ khăn yếm đổi làm đàn ông thì đoạt công danh dễ như nhổ cỏ vậy.

Sinh đang buồn bực, nghe vợ nói quắc mắt giận dữ đáp:

- Đàn bà chưa vào trường thi cử lần nào, cứ tưởng đoạt công danh phú quý dễ như đun nước nấu cháo trong bếp.

Nếu được làm đàn ông, thì cũng như người ta thôi!

Nàng cười nói:

- Chàng đừng giận, chờ đến kỳ thi thiếp xin cải trang thay chàng vào trường, nếu cũng thi rớt như chàng thì xin không dám coi thường danh sĩ trong thiên hạ nữa.

Sinh cũng cười nói:

- Nàng vẫn chưa biết nỗi cay cực đâu, xin cứ nếm thử cho biết mùi thi cử, chỉ sợ lộ ra bị láng giềng cười cho thôi.

Nàng nói:

- Thiếp không nói đùa đâu.

Chàng thường nói còn gian nhà cũ ở đất Yên (tỉnh Hà Bắc), thiếp xin cải trang làm em trai theo chàng về đó ở.

Chàng xa quê từ nhỏ, ai biết là giả?

Sinh ưng thuận.

Nàng vào phòng đội khăn mặc áo đàn ông rồi bước ra hỏi:

- Nhìn xem thiếp có làm con trai được không?

Sinh nhìn quả thật là một thiếu niên đẹp trai, mừng rỡ từ biệt làng xóm, được các bạn thân tặng tiễn cho ít nhiều bèn mua một con ngựa đỡ chân, đưa vợ về quê.

Người anh con bác của sinh còn sống, thấy hai em tuấn tú rất vui mừng, sớm hôm chăm nom giúp đỡ.

Lại thấy thức khuya dậy sớm chăm chỉ học hành, càng thêm yêu quý, thuê cho một đứa nhỏ để sai vặt, nhưng cứ chiều tối là hai người bảo nó về.

Trong làng có đám cưới đám giỗ thì anh tới thăm hỏi chứ em chỉ ngồi nhà học, về làng nửa năm mà ít người thấy mặt, có ai xin gặp thì anh từ chối giùm.

Đọc tới văn bài của em ai cũng kinh lạ, có người xô cửa vào gặp thì vái chào qua loa rồi tránh mặt ngay.

Khách khứa thấy phong tư lại càng hâm mộ, vì thế rất nổi tiếng, các nhà thế gia tranh nhau hứa gả con gái cho.

Người anh con bác bàn tới chuyện ấy thì nhoẻn miệng cười, ép lấy vợ thì nói đã thề quyết chí lập công danh, không thi đỗ thì không lấy vợ.

Gặp lúc quan Học sứ mở kỳ khảo hạch, hai anh em cùng đi thi, anh lại trượt, em đỗ đầu rồi thi hương đỗ Cử nhân thứ tư, qua năm sau thi đỗ Tiến sĩ, được bổ làm Tri huyện Đồng Thành (tỉnh An Huy), làm quan có tiếng tốt nên dần được thăng làm Chưởng ấn Ngự sử Hà Nam, giàu có ngang bậc vương hầu.

Sau thác bệnh xin nghỉ, được cho về trí sĩ.

Khách khứa tới thăm chật cổng, đều từ tạ không tiếp một ai.

Từ lúc là Chư sinh đến khi làm quan không hề nói tới chuyện cưới vợ, ai cũng lấy làm lạ.

Sau khi trí sĩ mới có tỳ nữ, người ta ngờ có ăn ngủ với họ nhưng người chị dâu để ý dò xét thì không có gì bậy bạ.

Nhà Minh mất, thiên hạ đại loạn, mới nói với chị dâu:

- Nói thật với chị, em là vợ Tiểu lang, vì thấy đàn ông bết bát không lập thân nổi nên tức giận làm cho biết tay, chỉ sợ lộ ra, nhà vua triệu vào tra hỏi bị thiên hạ cười thôi.

Chị dâu không tin, cô gái cởi giày đưa bàn chân cho xem, chị mới kinh ngạc, nhìn chiếc giày thấy trong độn đầy vải vụn.

Từ đó nàng bảo sinh nhận lấy chức hàm, mình thì đóng cửa trở lại làm đàn bà.

Nhưng bình sinh không chửa đẻ, nên bỏ tiền ra cưới vợ lẽ cho sinh, nói:

- Người ta làm quan lớn thì mua hầu cưới thiếp tự cung phụng mình, mà ta làm quan mười năm chỉ ở một mình, chàng có phúc trạch gì mà ngồi không hưởng hầu non gái đẹp?

Sinh đáp:

- Có ba mươi người đẹp trai, tùy nàng lựa chọn!

Người ta kể cho nhau mà cười Lúc ấy cha mẹ sinh đã được phong tặng mấy lần, thân hào nhân sĩ tới thăm viếng đều coi sinh như quan Thị ngự.

Sinh thẹn về sự tập tước của vợ nên chỉ yên phận Chư sinh, suốt đời đi đâu cũng không dùng võng lọng.

*[Có ba mươi người đẹp trai: Sơn Âm công chúa em gái Tống Phế đế thời Nam triều được anh yêu quý, có lần đi cùng kiệu, hỏi vua rằng "Trong sáu cung của bệ hạ có hàng vạn người mà thiếp chỉ có một Phò mã, sao không công bằng quá thế?”.

Vua bèn chọn ra ba mươi người đẹp trai cho nàng tùy ý chọn lựa].

___________________________________

CHƯƠNG 179: TIỂU TẠ

Hoạn Nạn Tương Thừa Hạnh Thoát Ly

Doãn Hình Đố Niệm Dĩ Tiềm Di

Phản Hồn Hương Nhiệt Song Châu Hợp

Đạo Sĩ Hà Lai Thuật Điếc Kỳ

Dịch:

Hoạn Nạn May Đâu Được Thoát Ly

Ghen Tuông Dần Cũng Lại Phai Đi

Phản Hồn Hương Đốt Song Châu Hợp

Đạo Sĩ Đâu Hay Thuật Diệu Kỳ



Nhà quan Bộ lang họ Khương ở Vị Nam (tỉnh Thiểm Tây) có nhiều ma quỷ hay dọa người nên phải dọn đi, để lại một người tớ già trông coi.

Người ấy chết, thay mấy người khác cũng đều chết, nhà đành bỏ hoang.

Trong làng có Đào sinh tên Vọng Tam, tính phong lưu thích gặp gỡ đám ca kỹ, nhưng cứ hơi say thì bỏ về.

Bạn bè bảo kỹ nữ đuổi theo kéo lại cũng cười không cưỡng nhưng cả đêm không đụng chạm gì tới.

Thường ở trong nhà Bộ lang, nửa đêm có người tỳ nữ tới khêu gợi nhưng sinh kiên quyết cự tuyệt không làm việc trái lễ, Bộ lang vì vậy rất nể trọng.

Nhà Đào vốn nghèo, lại góa vợ, có mấy gian nhà tranh ẩm thấp nóng nực không sao chịu nổi, nên xin Bộ lang cho ở nhờ ngôi nhà bỏ hoang.

Bộ lang vì nhà có ma nên từ chối, sinh bèn làm bài Tục Vô quỷ luận đưa xem, lại nói:

- Ma thì còn làm gì được?

Bộ lang thấy xin mãi đành bằng lòng.

*[Tục Vô quỷ luận: tức dựa theo nhan đề các bài Vô quỷ luận của Nguyễn Chiêm thời Tấn và Lâm Uẩn thời Đường].

Sinh tới quét dọn gian chính sảnh vào ở, chập tối để quyển sách ở đó về lấy đồ dùng, khi trở lại thì không thấy đâu, lấy làm lạ bèn lên giường nằm ngửa im lặng chờ xem động tĩnh.

Khoảng ăn xong bữa cơm nghe có tiếng giày dép, hé mắt nhìn thấy hai cô gái ở phòng trong đi ra, đặt trả quyển sách bị mất lên bàn.

Một nàng khoảng hai mươi tuổi, một nàng khoảng mười bảy mười tám tuổi, đều rất xinh đẹp, cứ quanh quẩn cạnh giường nhìn nhau cười, sinh vẫn im lặng không động đậy.

Nàng lớn nhấc một chân đặt lên bụng sinh, nàng nhỏ bưng miệng cười, sinh thấy tâm thần rạo rục như không kìm được, nhưng lập tức đè nén tà niệm, không đếm xỉa gì tới.

Nàng lớn lại tay trái vuốt râu, tay phải tát nhẹ chanh chách vào mặt sinh, nàng nhỏ cười bò ra.

Sinh vùng dậy quát:

- Lũ quỷ dám hỗn thế à?

Hai cô gái hoảng sợ bỏ chạy biến mất.

Sinh sợ phải khổ sở suốt đêm, định về nhà ngủ nhưng lại xấu hổ vì nói một đàng làm nột nẻo bèn khêu đèn ngồi đọc sách, trong góc tối vẫn có bóng ma chập chờn nhưng không hề đếm xỉa.

Gần nửa đêm để đèn đi nằm, vừa chợp mắt đã có người lấy vật gì nho nhỏ ngoáy vào lỗ mũi rất ngứa ngáy, hắt hơi ầm lên, chỉ nghe trong góc tối có tiếng cười khúc khích.

Sinh không nói gì, vờ ngủ chờ xem tiếp, giây lát thấy nàng nhỏ vê tờ giấy vào vế, rón rén bước tới gần.

Sinh vùng dậy quát lại lủi trốn, vừa chợp mắt lại bị ngoáy vào tai, bị quấy nhiễu suốt đêm không sao chịu nổi, đến lúc gà gáy thì yên ắng, sinh mới được ngủ yên.

Cả ngày không nghe thấy gì nhưng mặt trời vừa lặn lại hiện hình, sinh bèn nấu cơm ban đêm để thức luôn đến sáng.

Đêm ấy nàng lớn ngồi bó gối trên ghế nhìn sinh đọc một lúc rồi đưa tay che sách, sinh tức giận nắm lấy thì vụt biến mất, giây lát lại giật lấy sách, sinh phải lấy tay đè lên sách mà đọc.

Nàng nhỏ thì lẻn ra phía sau lấy hai tay bịt mắt sinh rồi dang ra xa đứng cười.

Sinh chỉ tay mắng:

- Đồ quỷ con!

Ta mà bắt được sẽ giết hết.

Hai nàng không hề tỏ vẻ sợ hãi.

Sinh thấy thế đùa nói:

- Chuyện gối chăn nghiêng ngửa ta không thích, chọc ghẹo làm gì vô ích.

Hai nàng mỉm cười quay vào bếp chẻ củi vo gạo nấu cơm cho sinh.

Sinh nhìn vào khen:

- Hai nàng làm thế chẳng hơn nhảy nhót nghịch ngợm sao?

Phút chốc cơm chín lại tranh nhau lấy đũa bát dọn cơm ra bàn, sinh nói:

- Cảm ơn hai nàng giúp đỡ, không biết lấy gì báo đáp.

Hai nàng cười nói:

- Trong cơm có trộn thuốc độc đấy.

Sinh đáp:

- Ta với hai nàng không có oán thù, làm gì tới nỗi hại nhau như vậy.

Ăn hết bát này hai nàng lại tranh nhau qua lại đơm bát khác, sinh vui vẻ, dần dần thành lệ.

Lúc đã thân mật cùng nhau trò chuyện, sinh hỏi họ tên, nàng lớn nói:

- Thiếp họ Kiều tên Thu Dung, nó họ Nguyễn tên Tiểu Tạ.

Lại hỏi từ đâu tới đây ở, Tiểu Tạ cười đáp:

- Chàng ngốc còn chưa dám để lộ thân thể ra một lần thì ai cần anh hỏi nhà cửa, định hỏi cưới à?

Sinh nghiêm trang đáp:

- Đối diện với người đẹp làm sao vô tình được, nhưng âm khí mà người trần vương phải ắt chết, nếu không thích ở chung thì ta đi nơi khác cũng được, nếu thích thì ai yên phận nấy.

Nếu không yêu thương thì ta đâu dám xúc phạm hai người đẹp, nếu yêu thương thì cần gì giết một gã cuồng sinh?

Hai nàng đổi sắc mặt nhìn nhau, từ đó không đùa nghịch quá quắt nữa, mà nếu thỉnh thoảng thọc tay vào bụng sinh tụt quần xuống đất, sinh cũng không giận.

Một hôm sinh chép bài chưa xong có việc phải ra ngoài, quay vào thấy Tiểu Tạ đang nằm bò ra bàn cầm bút chép thay, thấy sinh thì buông bút ngượng nghịu cười.

Tới gần xem, thấy tuy chưa ra chữ nhưng cũng ngay hàng thẳng lối khen rằng:

- Nàng có khiếu lắm, nếu thích môn này ta sẽ dạy cho.

Rồi ôm nàng vào lòng, cầm cổ tay dạy viết.

Thu Dung từ ngoài vào thấy thế biến sắc như có ý ghen, Tiểu Tạ cười nói:

- Lúc nhỏ thường được cha dạy cho nhưng bỏ lâu rồi, nay cầm bút thấy cứ mơ mơ màng màng.

Thu Dung không nói gì, sinh hiểu ý nhưng làm như không biết, cũng ôm nàng vào lòng, đưa bút cho cầm, nói:

- Ta xem thử nàng có viết được không.

Viết vài chữ rồi đứng lên nói:

- Nét chữ nàng Thu cứng cáp lắm!

Thu Dung mới vui vẻ.

Sinh liền rọc giấy cho tập viết phóng, bảo hai nàng viết theo còn mình thắp một ngọn đèn riêng ngồi học, mừng thầm vì ai cũng có việc để làm không quấy nhiễu nữa.

Viết xong, hai nàng mang tới đứng trước bàn chờ sinh chấm điểm, Thu Dung chưa được đi học nên nguệch ngoạc chưa ra chữ, sinh chấm xong nói không bằng Tiểu Tạ thì có vẻ thẹn, sinh an ủi khích lệ mới mới lấy lại vẻ mặt bình thường.

Từ đó hai cô gái coi sinh như thầy, ngồi thì gãi lưng, nằm thì bóp chân, chẳng những không dám khinh nhờn mà còn tranh nhau chiều chuộng.

Hơn tháng sau chữ viết của Tiểu Tạ đã ngay ngắn đẹp đẽ, sinh vô tình khen ngợi, Thu Dung xấu hổ nước mắt ròng ròng, sinh tìm đủ cách an ủi mới nguôi.

Kế dạy cho học, cả hai đều thông minh lạ thường, nói qua một lần là hiểu, không bao giờ phải hỏi lại, thường cùng sinh đọc sách suốt đêm.

Tiểu Tạ lại dẫn em trai là Tam lang tới xin theo học, khoảng mười lăm mười sáu tuổi, dung mạo tuấn tú, đem cái như ý bằng vàng làm lễ ra mắt, sinh bảo cùng học với Thu Dung, tiếng đọc sách râm ran, sinh từ đó thành ra mở trường dạy ma.

Bộ lang nghe tin rất mừng, thỉnh thoảng cấp gạo củi cho sinh.

Được vài tháng Thu Dung và Tam lang đã biết làm thơ, thường xướng họa với nhau.

Tiểu Tạ ngầm dặn đừng dạy Thu Dung, sinh ừ, Thu Dung dặn đừng dạy Tiểu Tạ, sinh cũng ừ.

Một hôm sinh sắp đi thi, hai cô gái khóc lóc đưa tiễn.

Tam lang nói:

- Chuyến này nên cáo ốm đừng đi, nếu không e gặp chuyện không hay.

Sinh cho rằng cáo ốm trốn thi là nhục nên cứ đi.

Vốn trước đó sinh hay làm thơ mỉa mai thời thế, các nhà quyền quý trong huyện ghét lắm, ngày đêm nghĩ cách hãm hại, lúc ấy ngầm hối lộ quan học chính vu cáo là hạnh kiểm không tốt, bắt sinh bỏ ngục.

Sinh hết cả tiền, phải xin ăn các bạn tù, tự nghĩ là đã hết đường sống.

Chợt có một người lãng đãng bước vào, thì ra là Thu Dung đem cơm vào cho.

Nàng nhìn sinh khóc nức nở, nói:

- Tam lang lo chàng gặp chuyện không lành, nay quả không sai.

Tam lang cùng tới đây với thiếp, đang kêu oan ở nha môn.

Kế nói thêm vài câu rồi quay ra, không ai trông thấy.

Hôm sau quan pháp ty ra đường, Tam lang đón kiệu kêu oan, quan nhận đơn, Thu Dung vào ngục báo cho sinh rồi trở ra nghe ngóng tin túc, ba ngày không thấy vào Sinh lòng buồn bụng đói, thấy một ngày dài như một năm.

Chợt Tiểu Tạ tới, buồn bã hốc hác như sắp chết, nói:

- Thu Dung về ngang miếu Thành hoàng bị viên Phán quan mặt đen ở chái tây bắt vào ép làm vợ lẽ.

Thu Dung không chịu, hiện đang bị nhốt trong ngục tối.

Thiếp lặn lội cả trăm dặm, mỏi mệt gần chết, tới cổng bắc lại bị gai già đâm vào gan bàn chân đau thấu xương, e rằng không thể tới đây được nữa.

Rồi đưa chân cho xem, máu chảy ròng ròng, kế đưa sinh ba lượng vàng rồi khập khiễng bước ra biến mất.

Quan pháp ty xét việc Tam lang khiếu nại, cho rằng Tam lang không có họ hàng thân thích gì mà kêu oan cho sinh, định đánh đòn thì Tam lang ngã xuống đất biến mất.

Quan lấy làm lạ, xem tới đơn thấy lời lẽ bi thiết, cho giải sinh ra lấy cung, hỏi Tam lang là ai.

Sinh giả không biết, quan hiểu là oan bèn tha cho về.

Sinh về thì nhà vắng ngắt không có ai, khuya Tiểu Tạ mới tới, buồn rầu nói:

- Tam lang ở nha môn ra bị thần ở đó bắt giải xuống âm ty, Diêm Vương thấy có nghĩa khí nên đã cho đầu thai làm con nhà giàu.

Thu Dung thì vẫn còn bị giam, thiếp đưa đơn kêu với Thành hoàng lại bị ngăn trở không vào được, làm sao bây giờ?

Sinh tức giận nói:

- Thằng quỷ già mặt đen, sao dám như thế?

Ngày mai ta sẽ xô đổ tượng nó xuống, đạp nát ra thành bùn đất, rồi rạch mặt Thành hoàng hỏi tội tại sao để cho thuộc hạ hoành hành như vậy, y đang ngủ mơ à?

Hai người buồn rầu căm tức ngồi với nhau, bất giác gần hết canh tư, chợt Thu Dung lãng đãng bước vào, hai người vừa mừng vừa sợ vội vàng hỏi han.

Thu Dung khóc nói:

- Nay vì chàng mà phải muôn vàn cay đắng, Phán quan hàng ngày cứ đem dao gậy ra bức bách, đêm nay chợt tha thiếp về nói: Ta làm thế này chỉ vì thường yêu nàng, nay nàng không muốn thì ta cũng không ép buộc, xin nói với quan Hình bộ họ Đào đừng khiển trách ta.

Sinh nghe cũng hơi hả dạ, nhân muốn ngủ chung, nói:

- Hôm nay xin chết vì hai nàng!

Hai cô gái buồn rầu nói:

- Lâu nay được dạy bảo cũng hơi biết nghĩa lý, nỡ nào vì yêu chàng mà giết chàng sao?

Nhất định không chịu, nhưng đều ôm đầu bá cổ sinh như vợ chồng, mà hai nàng vì cùng trải qua hoạn nạn nên không còn ghen tức gì nhau nữa.

Gặp lúc có vị đạo sĩ gặp sinh trên đường, nói trên người sinh có tà khí.

Sinh thấy lời nói lạ lùng bèn kể lại mọi chuyện.

Đạo sĩ nói:

- Ma ấy tốt lắm, không nên phụ họ!

Rồi vẽ hai lá bùa trao cho sinh, dặn:

- Về đưa cho hai nàng ấy rồi chờ xem phúc mệnh.

Nếu nghe ngoài cổng có tiếng khóc thương con gái chết thì nuốt lá bùa chạy mau ra, ai tới trước sẽ được sống lại.

Sinh lạy tạ nhận lấy về đưa hai nàng, kể lại lời đạo sĩ dặn.

Hơn tháng sau quả nghe có tiếng khóc thương con gái chết, hai nàng tranh nhau chạy ra, Tiểu Tạ vội vàng quên nuốt lá bùa, thấy có chiếc xe tang đi ngang, Thu Dung bước thẳng lên chui luôn vào quan tài biến mất.

Tiểu Tạ không vào được, khóc lớn trở về, sinh ra nhìn thì là đám tang con gái phú ông họ Hác.

Mọi người đều thấy có một cô gái chui vào quan tài, đang ngờ sợ thì nghe bên trong có tiếng động vội dừng lại mở ra xem thì thấy cô gái đã thoi thóp thở, bèn xin nghỉ lại ngoài phòng học của sinh để săn sóc.

Chợt nàng mở mắt hỏi Đào sinh, Hác gặng hỏi, nàng đáp:

- Ta không phải là con gái ông đâu.

Rồi kể rõ sự tình.

Hác chưa tin lắm, muốn khiêng về, nàng không chịu, chạy luôn vào phòng học của sinh nằm không ra nữa, Hác bèn nhận sinh làm con rể rồi về.

Sinh vào nhìn thấy dung mạo tuy khác nhưng xinh đẹp không kém Thu Dung, mừng là còn hơn cả điều mình mong muốn, cùng nhắc chuyện cũ.

Chợt nghe tiếng ma nức nở, thì ra Tiểu Tạ đang khóc trong góc tối, rất thương xót vội cầm đèn tới, hết lời an ủi nhưng nàng vẫn đau đớn khóc ròng, áo xiêm đẫm lệ, gần sáng mới biến đi.

Sáng ra họ Hác sai tớ gái mang rương hòm của con gái qua chỗ sinh, đối xử như cha vợ chàng rể vậy.

Đến tối sinh vào phòng thì Tiểu Tạ lại khóc lóc, cứ thế sáu bảy đêm, vợ chồng đều mủi lòng không sao làm lễ hợp cẩn được.

Sinh lo nghĩ nhưng không tìm ra cách nào, Thu Dung nói:

- Đạo sĩ là người tiên, tìm tới cầu xin lần nữa may ra ông thương mà giúp cho.

Sinh cho là phải, tìm tới nơi đạo sĩ ở, lạy lục bày tỏ chuyện mình, nhưng đạo sĩ khăng khăng nói rằng không có phép thuật nào.

Sinh van nài mãi, đạo sĩ cười nói:

- Chàng ngây này làm phiển người ta quá, thôi vì ta có duyên với ông, xin đem hết phép thuật ra vậy.

Rồi theo sinh về, đòi một gian phòng tĩnh mịch, đóng cửa ngồi trong, dặn không được gọi hỏi gì, hơn mười ngày không ăn không uống, lén nhìn vào thì thấy nhắm mắt như đang ngủ.

Một hôm vừa rạng sáng, có cô gái trẻ vén rèm bước vào, mắt long lanh răng trắng muốt, kiều diễm rực rỡ, khẽ cười nói:

- Lặn lội suốt đêm mệt quá, bị các người đeo đẳng quấy rầy phải bôn ba hơn trăm dặm mới tìm được một ngôi nhà tốt, bần đạo mang theo về đây, chờ cô ta nhập hồn vào giao lại là xong.

Chập tối Tiểu Tạ tới, cô gái đứng lên ôm chầm lấy, hòa vào nhau thành một rồi ngã lăn xuống đất nằm cứng đờ.

Đạo sĩ trong phòng bước ra, chắp tay chào rồi đi.

Sinh vái lạy tiễn chân, trở vào thì cô gái đã tỉnh, đỡ lên giường thấy hơi thở đều đặn, trong người khỏe khoắn nhưng còn ôm chân kêu đau, vài hôm mới đi lại được.

Sau sinh thi đỗ làm quan, có người bạn cùng khoa là Sái Tử Kinh có việc ghé qua nhà sinh, ở lại vài ngày.

Tiểu Tạ từ hàng xóm về, Sái nhìn thấy vội đuổi theo sát gót, Tiểu Tạ nép người lánh đi, thầm tức giận là kẻ khinh bạc.

Sái nói với sinh:

- Có một việc vô cùng kỳ quái, không biết nói ra được không?

Sinh hỏi, Sái đáp:

- Ba năm trước em gái ta chết yểu, qua hai đêm thì thi thể biến mất, đến nay vẫn còn lấy làm ngờ vực.

Mới rồi nhìn thấy phu nhân, sao giống em ta quá.

Sinh cười nói:

- Vợ ta quê mùa, làm sao giống được lệnh muội, nhưng đã là bạn đồng khoa với nhau, tình nghĩa thân thiết, ngại gì không để ra chào.

Liền vào trong bảo Tiểu Tạ mặc bộ quần áo liệm ngày trước ra chào khách, Sái cả kinh nói:

- Đúng là em gái ta mà!

Rồi khóc ròng.

Sinh bèn kể lại đầu đuôi, Sái mừng nói:

- Vậy thì như em gái chưa chết, ta phải về ngay báo tin mừng cho cha mẹ mới được.

Rồi ra về.

Sau vài hôm cả nhà kéo qua, về sau cũng thường đi lại thăm hỏi như họ Hác vậy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 180+181


CHƯƠNG 180: HUỆ PHƯƠNG

Khúc Nghiệt Sinh Nhai Khẩu Cận Hồ

Hà Kỳ Trung Quỹ Hữu Tiền Thù

Tương Ly Mạc Vị Nan Tương Kiến

Ký Thủ Đường Cung Khất Xảo Đồ

Dịch:

Nghề Mọn Quanh Co Miệng Đủ No

Dè Đâu Nội Tướng Có Tiên Cô

Xa Nhau Đừng Bảo Không Còn Gặp

Khất Xảo Đường Cung Nhớ Kỹ Đồ



Mã Nhị Hỗn ở trong cửa đông phủ thành Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) làm nghề bán mì, nhà nghèo không có vợ, cùng mẹ vất vả làm ăn.

Một hôm bà già ở nhà một mình, chợt có cô gái đẹp tới, tuổi khoảng mười bảy, mười tám, quần áo mộc mạc nhưng dung nhan lộng lẫy.

Bà già hoảng sợ căn vặn, nàng cười nói:

- Con thấy hiền lang thành thật chăm chỉ, nên xin gởi thân vào nhà mẹ.

Bà già càng sợ, nói:

- Nương tử là người tiên mà nói câu ấy, làm mẹ con ta giảm thọ mấy năm.

Cô gái cứ nài nỉ, bà già cho rằng là nàng hầu vợ lẽ của nhà quyền quý trốn đi nên càng ra sức cự tuyệt, cô gái bèn đi.

Ba ngày sau lại tới, quanh quẫn mãi không chịu đi.

Hỏi họ tên, nàng đáp:

- Mẹ chịu cho ở thì con mới nói, nếu không thì không cần phải hỏi.

Bà già nói:

- Con trai ta nghèo thấu xương, được người vợ như thế này nếu không xứng đôi cũng là điều không hay.

Cô gái cười ngồi xuống cạnh giường, ngọt ngào năn nỉ.

Bà già khước từ, nói xin nương tử đi ngay cho, đùng gieo họa cho nhau.

Cô gái bèn đi ra, bà già nhìn theo thấy đi về phía tây.

Lại vài ngày sau, có bà Lữ ở hẻm phía tây tới, nói với Mã rằng:

- Cô gái láng giềng của ta là Đổng Huệ Phương mồ côi không nơi nương tụa, tình nguyện làm vợ hiền lang, sao lại không chịu?

Mã nói thật điều mình nghi ngờ lo lắng, bà Lữ nói:

- Làm gì có chuyện đó?

Nếu có gì rắc rối cứ bắt tội già này.

Mã mừng rỡ ưng thuận.

Bà Lữ đi rồi, mẹ Mã quét nhà dọn giường để chờ con dâu tới làm lễ.

Chiều tối cô gái phiêu hốt tự tới, vào nhà lạy mẹ theo đúng nghi lễ rồi nói với bà già rằng:

- Con có hai tỳ nữ, chưa được lệnh mẹ nên không dám gọi tới.

Bà già nói:

- Mẹ con ta nghèo khó không biết sai khiến tôi tớ, hàng ngày chỉ kiếm được chút lời đủ sống, nay thêm một nàng dâu xinh đẹp yếu ớt chỉ biết ngồi không đã sợ không đủ ăn, còn thêm hai tỳ nữ thì hít gió mà sống à?

Cô gái cười nói:

- Bọn tỳ nữ tới đây thì không làm phiền mẹ phải nuôi đâu, tự chúng có cái ăn mà.

Hỏi tỳ nữ ở đâu, nàng bèn gọi Thu Nguyệt, Thu Tùng, chưa dứt tiếng thì hai tỳ nữ đã như chim én bay rơi xuống đứng ngay trước mặt, nàng sai quỳ xuống lạy ra mắt mẹ.

Kế Mã về, mẹ ra đón kể chuyện, Mã mừng rỡ vào nhà thấy rường chạm cột vẽ lộng lẫy như cung điện, trong thì bàn ghế bình phong rèm màn rực rỡ lóa mắt, sợ hãi không dám vào.

Cô gái tươi cười đứng dậy chào đón, Mã thấy như là thiên tiên càng sợ muốn lui ra.

Cô gái kéo ngồi xuống dịu dàng trò chuyện, Mã mừng rằng còn quá cả điều mong ước, lúng túng không biết làm sao, bèn đứng lên định ra dọn rượn.

Cô gái ngăn lại nói không cần, rồi sai hai tỳ nữ bày tiệc.

Thu Nguyệt liền lấy một cái túi da cầm bước ra sau cửa đập bồm bộp rồi luồn tay vào trong lấy rượu thịt ra, đều còn nóng hổi ngon lành.

Kế đi ngủ thì gối hoa nệm gấm, mềm mại ấm áp phi thường.

Sáng dậy ra cửa thì vẫn là nhà tranh như cũ, hai mẹ con đều lạ lùng.

Bà già định tới chỗ bà Lữ hỏi thăm về cô gái, vào nhà rồi trước tiên tạ ơn làm mối.

Bà Lữ ngạc nhiên nói:

- Lâu lắm không tới thăm bà, làm gì có chuyện cô gái hàng xóm nào nhờ vả làm mối?

Bà già càng ngờ vực, kể lại hết đầu đuôi câu chuyện.

Bà Lữ cả sợ, lập tức cùng bà già tới gặp cô gái.

Nàng cười ra đón, hết sức cảm tạ về việc tác hợp cho mình.

Bà Lữ thấy nàng xinh đẹp thông tuệ kinh ngạc trợn mắt há miệng hồi lâu, cũng chẳng tranh cãi gì, chỉ vâng vâng dạ dạ mà thôi.

Cô gái tặng một cái như ý bằng gỗ trắng, nói:

- Không có gì để cảm tạ, chỉ xin dâng vật này để bà bác gãi lưng thôi.

Bà Lữ nhận lấy ra về, nhìn lại thì là một chiếc trâm bằng bạc.

Mã từ khi có vợ càng mở mang nghề cũ, nhà cửa đều đổi mới.

Trong tủ có vô số gấm vóc lụa là cho Mã tùy ý lấy, nhưng ra khỏi nhà cũng chỉ mặc áo vải cốt nhẹ nhàng ấm áp mà thôi, cô gái cũng để cho mặc ý.

Được bốn năm năm, chợt nói:

- Thiếp bị đày xuống trần gian hơn mười năm, vì có duyên với chàng nên tạm lưu lại ở đây, nay xin chia tay.

Mã cố giữ lại, nàng nói:

- Xin chàng cưới vợ khác để có con nối dõi, hàng năm thiếp sẽ tới.

Rồi biến mất.

Mã bèn cưới con gái họ Tần.

Ba nàm sau, vào đêm Thất tịch, vợ chồng đang trò chuyện thì cô gái chợt bước vào cười nói:

- Có vợ mới vui vẻ không nhớ người xưa à?

Mã kinh ngạc đứng dậy bùi ngùi kéo nàng ngồi chuyện trò hỏi han.

Cô gái nói:

- Thiếp đang đưa Chúc nữ qua sông Ngân, nhân lúc rảnh tới thăm một chút.

Hai người ngồi dựa vào nhau chuyện trò không ngớt.

Chợt trên không có tiếng người gọi:

- Huệ Phương!

Cô gái vội đứng lên từ biệt.

Mã hỏi ai gọi, nàng đáp:

- Đó là người chị em bạn của thiếp tới, chị ấy không chịu chờ lâu đâu.

Mã tiễn ra cửa, cô gái nói:

- Chàng thọ được tám mươi tuổi, đến lúc chết thiếp sẽ tới chôn chàng.

Nói xong biến mất.

Nay Mã hơn sáu mươi tuổi, cũng chỉ là người thành thật chất phác không có gì nổi bật.

______________________________________

CHƯƠNG 181: TIÊU THẤT NƯƠNG

Phấn Nhị Chi Hương Tập Ỷ Diên

Ôn Nhu Hương Diệc Hữu Tiền Duyên

Tiêu Lang Vị Ẩm Tâm Tiền Túy

Tụ Đắc Lăng Cân Cánh Điểu Nhiên

Dịch:

Phấn Sáp Son Hương Trước Tiệc Chen

Ôn Nhu Làng Cũng Có Tiền Duyên

Tiêu Lang Chưa Uống Lòng Say Trước

Khăn Lụa Trong Tay Biến Mất Liền



Từ Kế Tường là người huyện Lâm Truy (tỉnh Sơn Đông), ngụ ở trang Ma Phòng tại phía đông huyện thành, theo việc học hành nhưng chưa thi đỗ thì bỏ học làm thư lại.

Một hôm đi thăm nhà vợ, đường đi qua khu mộ họ Vu, chiều tối say về, qua ngang thấy lầu chạm gác trổ, có ông già ngồi trước cổng.

Từ say rượu khát nước, vái chào ông già xin nước, ông già đứng lên mời khách vào.

Vào tới sảnh đường đưa trà ra mời, Từ uống xong, ông già nói:

- Trời tối khó đi, cứ tạm nghỉ lại đây, sáng mai hãy về được chứ?

Từ cũng thấy mệt mỏi, vui vẻ nghe theo.

ông già bèn sai người nhà dọn rượu đãi khách, rồi nói với Từ.

- Lão phu có một câu mong ông đừng cho là đường đột.

Ông là con nhà gia giáo, có thể lấy thêm vợ lẽ.

Ta có đứa con gái nhỏ chưa chồng, muốn cho về hầu hạ phu nhân, mong ông rủ lòng ưng thuận.

Từ đang ngượng nghịu không biết trả lời ra sao, ông già đã sai người báo với họ hàng, lại vào bảo con gái trang điểm.

Giây lát có bốn năm bọn ăn mặc đẹp đẽ nối nhau kéo vào, cô gái cũng trang điểm lộng lẫy bước ra, dung nhan tuyệt thế, cùng ngồi vào tiệc.

Từ tâm thần điên đảo, chỉ muốn vào ngủ cho mau, rượu được vài tuần đã nằng nặc từ chối không nhận lời mời của ai nữa, ông già bèn sai a hoàn dẫn vợ chồng vào phòng.

Từ hỏi họ tên, cô gái đáp là họ Tiêu, thứ bảy, lại hỏi kỹ gia thế lai lịch, nàng nói:

- Thiếp tuy hèn mọn nhưng lấy chồng là thư lại thì cũng không làm ai phải xấu hổ, cần gì vất vả dò xét tới ngọn nguồn?

Từ say mê nhan sắc, nàng lại rất mực ngọt ngào nên không ngờ vực gì nữa.

Cô gáì nói:

- Nơi đây không thể ở được, thiếp thấy chị nhà hiền hậu, chắc không cản trở đâu, chàng về ngăn cho một gian phòng riêng, thiếp sẽ tự tới.

Từ ưng thuận.

Rổi ôm choàng lấy nàng dìu lên giường, khi tỉnh dậy thì vòng tay ôm trống không, khi trời sáng hẳn chỉ thấy bóng thông che rợp ánh nắng, dưới mình toàn là rơm rạ dày cả thước, sợ hãi than thở về kể lại cho vợ.

Vợ đùa ngăn ra một phòng riêng, đặt giường vào rồi khép cửa bước ra nói:

- Đêm nay cô dâu mới sẽ tới đấy!

Hai vợ chồng cùng cười.

Chập tối, vợ đùa kéo Từ tới mở cửa, nói:

- Chẳng lẽ cô dâu mới chưa có trong này sao?

Vào tới thì mỹ nhân ăn vận lộng lẫy đã ngồi trên giường, thấy hai người vào đứng lên đón, vợ chồng rất ngạc nhiên.

Cô gái che miệng cười khúc khích, vái chào rất kính cẩn, vợ Từ liền bày tiệc hợp hoan cho hai người.

Cô gái hàng ngày dậy sớm làm việc nhà không chờ sai bảo, một hôm nói với Từ rằng bọn chị em đều muốn tới nhà ta chơi một lần.

Từ lo lúc vội vàng không có gì đãi khách, nàng nói:

- Các chị em đều biết nhà ta không giàu, định đưa thức ăn tới trước, chỉ phiền nhờ chị nhà nấu nướng cho thôi.

Từ nói với vợ, vợ bằng lòng.

Ăn sáng xong quả có người mang rượu thịt tới, đặt gánh xuống đó rổi đi, vợ Từ liền vào bếp nấu nướng.

Sập tối có sáu bảy nữ lang tới, người lớn nhất chỉ khoảng bốn mươi tuổi trở lại, cùng ngồi quanh bàn ăn uống, cười nói râm ran cả phòng.

Vợ Từ núp ngoài cửa sổ lén nhìn, chỉ thấy chồng và cô Bảy ngồi đối diện với nhau còn bao nhiêu khách khứa đều không thấy hình bóng, đến mãi gần khuya mới vui vẻ ra về.

Cô gái đưa khách chưa trở vào, vợ Từ vào nhìn lên bàn thấy mâm chén đều sạch nhẵn, cười nói:

- Chắc đám nhãi con này đều đói, nên ăn cứ như chó liếm thớt!

Lát sau cô gái trở vào, hết lời cảm ơn, giằng lấy bát đĩa đem rửa, giục chị đi nghỉ.

Vợ Từ nói:

- Khách tới chơi nhà mình lại để tự họ chuẩn bị thức ăn, thật là chuyện buồn cười, mai này phải lo liệu mời một bữa.

Mấy hôm sau Từ theo lời vợ, bảo cô gái lại mời khách.

Khách tới ăn uống rất tự nhiên nhưng chừa lại bốn đĩa không hề động tới, Từ hỏi thì cả bọn cười rộ đáp:

- Lần trước phu nhân chê bọn ta xấu tính, nên dành lại cho người vất vả nấu nướng.

Trong bọn có một nàng khoảng mười tám mười chín tuổi, hai lần đều mặc xiêm áo trắng, thấy nói vừa góa chồng, cô gái gọi là chị Sáu, dáng vẻ kiều mỵ, khéo nói hay cười, có vẻ thích Từ, cứ tìm lời nói đùa để trêu ghẹo.

Rồi đặt tửu lệnh, cử Từ làm giám tửu, cấm không được trêu chọc nhau.

Cô Sáu phạm lỗi nhiều lần, phải uống hơn chục chén liên tiếp, bắt đầu chuếnh choáng, vóc ngọc nghiêng ngã khó lòng ngồi vững.

Không bao lâu bỏ ra, Từ thắp đèn vào tìm thì thấy say ngủ trong màn tối, ghé mặt lại gần kề sát vào môi vẫn không hay biết gì, lấy tay sờ dưới quần thấy chỗ kín gồ lên, lòng đang xao xuyến thì trong tiệc nhao nhao gọi Từ lang, vội kéo lại áo cho nàng, thấy trong tay áo có chiếc khăn là, bèn lấy trộm bước ra.

Đến khuya mọi người đều đã rời bàn mà chị Sáu vẫn chưa tỉnh, cô Bảy vào lay gọi mới ngáp dài đứng dậy, sửa quần vuốt tóc theo mọi người về.

Từ canh cánh nhớ nhung không sao khuây khỏa, tìm tới chỗ vắng người định lấy chiếc khăn ra ngắm thì đã biến mất, ngờ rằng đánh rơi lúc tiễn khách bèn cầm đèn soi kỹ nhưng trong nhà dưới thềm đều không có, lấy làm bứt rứt.

Cô gái hỏi, Từ nói trớ qua chuyện khác, nàng cười nói:

- Đừng nói dối, chủ cái khăn đã lấy đi rồi, tìm kiếm làm gì cho vất vả.

Từ kinh ngạc kể lại tình thật, lại nói là rất tưởng nhớ.

Cô gái nói:

- Chị ấy với chàng không có túc phận, duyên số chỉ có bấy nhiêu thôi.

Từ hỏi duyên cớ, nàng đáp:

- Kiếp trước chị ấy là ca kỹ, chàng là sĩ nhân, gặp chị ấy thích lắm nhưng bị cha mẹ ngăn trở, không được toại nguyện nên lâm bệnh nguy kịch, sai người nhắn với chị ấy rằng: Ta không dậy được nữa, chỉ mong nàng tới cho sờ vào da thịt một cái thì chết cũng không tiếc hận gì.

Chị ấy chiều theo lời, nhưng thình lình bận việc không đi ngay được, đến tối mới tới thì người bệnh đã chết, nên kiếp trước chị ấy với chàng có duyên được sờ một cái là thế, còn hơn nửa thì đừng có mong.

Sau Từ lại làm tiệc mời các chị em cô gái, riêng chị Sáu không tới, Từ nghi nàng ghen nên oán giận lắm.

Một hôm cô gái nói với Từ:

- Nếu thiếp cản trở chàng với chị Sáu thì đúng là có lỗi, nhưng thật ra chị ấy không chịu tới thì trách gì thiếp chứ?

Nay cái duyên ân ái tám năm sắp hết, xin hết sức vì chàng mưu tính một phen để chàng hết nghi ngờ.

Tuy chị ấy không tới nhưng ai cấm ta sang, cứ vào tận nhà mà gặp, biết đâu nhân định thắng thiên cũng chưa biết chừng.

Từ mừng rỡ nghe theo, cô gái nắm tay phơi phới lướt đi như bay trên không, khoảnh khắc đã tới nhà, thấy ngói vàng sảnh rộng, cổng nẻo quanh co chẳng khác gì lần trước.

Cha mẹ vợ cùng ra nói:

- Có đứa con gái vụng về được con đùm bọc đã lâu, nhưng bọn ta tuổi già sức yếu không tới thăm được, chắc con không trách chứ?

Rồi lập tức bày tiệc thết đãi, cô gái hỏi các chị em dâu, bà mẹ nói đều đã lấy chồng, chỉ còn con Sáu ở đây thôi.

Cô gái lập tức sai tỳ nữ đi mời, lâu quá không thấy tới, nàng vào trong kéo ra.

Cô Sáu ra tớỉ chỉ cúi đầu im lặng, không cười đùa như trước kia.

Giây lát ông bà già cáo từ vào nghỉ, cô gái nói với cô Sáu:

- Chị quá tự trọng, làm người ta oán em.

Cô Sáu cười khẽ nói:

- Người khinh bạc như y làm sao gần gữi được?

Cô gái cầm hai ly rượu của hai người đổi cho nhau ép phải uống rồi nói:

- Môi đã chạm nhau rồi, còn giả vờ làm gì?

Giây lát cô Bảy cũng bỏ đi, trong phòng chỉ còn hai người.

Từ bèn đứng lên định ép buộc, cô Sáu dịu dàng chống cự.

Từ níu vạt áo nàng quỳ xuống nài nỉ, nàng dần dần xiêu lòng, đưa nhau vào phòng.

Vừa mở dây lưng, chợt nghe tiếng reo hò vang dậy, ánh lửa chiếu vào khe cửa đỏ rực.

Cô Sáu cả kinh xô Từ ra đứng dậy nói:

- Tai họa tới thình lình, làm sao bây giờ?

Từ đang luống cuống không biết làm gì thì nàng đã trốn mất không thấy đâu nữa.

Từ ngậm ngùi ngồi lại một lúc thì nhà cửa đều biến mất, có hơn mười người thợ săn mang ưng cầm đao tràn tới, ngạc nhiên hỏi:

- Ai mà ban đêm lại núp ở đây?

Từ nói dối là lạc đường rồi xưng tên họ.

Một người hỏi:

- Vừa đuổi theo một con chồn, có thấy không?

Từ đáp không thấy.

Nhìn kỹ chỗ ấy, té ra là khu mộ họ Vu, vội đứng lên ra. về, lòng vẫn mong cô Bảy lại tìm đến.

Ngày trông điềm thước, đêm bói hoa đèn, mà không thấy tăm hơi đâu cả.

Chuyện này là do Đổng Ngọc Huyền kể lại.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 182+183+184+185+186+187+188


CHƯƠNG 182: CỐ SINH

Tảo Thức Lưu Niên Tự Trịnh Hoa

Khởi Tri Ảo Ảnh Mộng Trung Đa

Anh Nhi Thúc Hối Thành Đài Bối

Sổ Thập Xuân Thu Nhất Sát Na

Dịch:

Thời Giờ Thấm Thoắt Tựa Thoi Đưa

Biết Bao Ảo Cảnh Giấc Mơ Qua

Trẻ Con Thoắt Đã Thành Già Khụ

Mấy Chục Xuân Thu Một Sát Na



Cố sinh người Giang Nam, làm khách ở huyện Tắc Hạ (tỉnh Sơn Đông) bị đau mắt, ngày đêm rên rỉ, không thuốc men nào chữa được.

Hơn mười hôm thì đỡ đau, nhưng cứ nhắm mắt lại là thấy một tòa phủ đệ lớn, bốn năm lần tới chỉ thấy cổng khép hờ, sâu bên trong có người qua lại nhưng nhìn từ xa không thấy rõ gì cả.

Một hôm đang chăm chú nhìn ngó chợt thấy mình đã lọt vào bên trong, qua ba lần cửa vẫn không gặp một ai.

Có tòa sảnh đường lớn dưới trải thảm lông màu đỏ, nhìn vào thấy bên trong toàn là trẻ con, đứa thì ngồi, đứa thì đứng, đứa thì bò, không biết bao nhiêu mà kể.

Đang khi ngạc nhiên thì một người từ nhà trong đi ra nhìn sinh nói:

- Tiểu vương tử vừa nói có khách xa tới, quả đúng.

Rồi mời vào.

Cố ngần ngại không dám, người ấy ép mãi mới vào.

Hỏi đây là đâu, người ấy đáp:

- Phủ đệ của vương thế tử thứ chín, thế tử bị sốt rét mới khỏi, hôm nay tân khách tới mừng, tiên sinh thật là có duyên.

Chưa dứt lời lại có người từ trong chạy ra giục vào mau.

Phút chốc tới một nơi đình đài chạm trổ, lan can sơn son, có một ngôi điện quay mặt về hướng bắc, thềm gồm chín bậc, lên tới nơi thì khách đã đông đủ.

Thấy một thiếu niên ngồi ngoảnh mặt về phía bắc, Cố biết là vương tử bèn sụp lạy, khách khứa đều đứng cả dậy, vương tử kéo Cố vào dãy bàn phía đông.

Uống được vài chén thì đàn sáo trổi lên, các ca kỹ lên thềm diễn vở Hoa Phong chúc.

*[Hoa Phong chúc: sử chép có người đất Hoa Phong tới chúc thọ vua Nghiêu, người sau lấy tích này diễn thành kịch.

Đây có ý chúc thọ vương tử].

Mới được ba màn thì chủ quán trọ và đầy tớ đưa cơm trưa vào, tới đầu giường gọi, Cố nghe thấy rất rõ ràng, sợ vương tử biết song chẳng ai nghe thấy cả.

Bèn nói thác là thay áo bước ra, ngước nhìn thì mặt trời đã xế, thấy đầy tớ đứng ngay đầu giường mới sực hiểu là chưa từng rời khỏi quán trọ.

Lòng áy náy muốn quay lại ngay, bèn bảo người đầy tớ đóng cửa ra ngoài.

Vừa nhắm mắt lại thì thấy cung điện nhà cửa như cũ, vội vàng theo đường cũ trở vào, tới chỗ đám trẻ con lúc nãy thì không thấy đứa nào nữa mà chỉ có vài mươi người tóc rối lưng gù nằm ngồi bên trong, thấy Cố cùng cất tiếng chửi mắng:

- Đồ vô lại ở đâu vào đây nhòm ngó thế.

Cố hoảng sợ không dám phân trần, rảo bước ra phía sau, lên điện ngồi lại chỗ cũ, thấy trên cằm vương tử đã mọc thêm bộ râu.

Vương tử cười hỏi đi đâu, tuồng đã diễn tới màn bảy rồi, rồi lấy chén lớn ra phạt.

Giây lát diễn xong, đám ca kỹ lại trình danh sách các vở tuồng lên, Cố chấm vở Bành Tổ lấy vợ.

Bọn ca kỹ lập tức lấy chén gáo dừa dâng rượu, phải tới năm đấu.

Cố rời chiếu từ tạ, nói thần bị đau mắt, không dám uống say.

Vương tử nói:

- Ông đau mắt thì có quan Thái y ở đây, cứ nhờ khám cho.

Trong dãy bàn phía đông lập tức có một người bước tới lấy hai ngón tay vạch mí mắt Cố ra, rồi lấy trâm ngọc chấm thuốc mỡ trắng tra vào, bảo nhắm mắt ngủ một lúc.

Vương tử sai tiểu đồng dắt Cố vào phòng trong bảo nằm, thấy chăn nệm êm ấm thơm tho nên ngủ quên luôn.

Không bao lâu chợt nghe tiếng chiêng khua ran, giật mình tỉnh dậy, ngờ là bên ngoài còn đang diễn tuồng, mở mắt nhìn thì ra là con chó trong quán trọ đang liếm dầu trong chảo, mà mắt dường như đã khỏi đau hẳn.

Vội nhắm mắt lại nhưng không thấy gì nữa cả.

*[Bành Tố cưới vợ: Sử ký của Tư Mã Thiên chép Bành Tổ thọ tám trăm tuổi, sống qua ba đời vua, cưới bốn mươi chín người vợ, có năm mươi bốn con trai, người sau lấy tích này diễn thành kịch.

Đây có ý chúc tụng vương tử sống lâu, có nhiều con nối dõi].

_____________________________________

CHƯƠNG 183: CHU KHẮC XƯƠNG

Chưởng Thượng Minh Châu Khứ Phục Hồi

Ảo Hình Chân Thị Phí Nghi Sai

Văn Trường Khoa Đệ Khuê Vy Phúc

Cánh Sử Dung Nô Tọa Hưởng Lai

Dịch:

Hạt Ngọc Trên Tay Mất Lại Về

Ảo Hình Thực Cũng Khó Lương Say

Văn Trường Khoa Bảng Khuê Phòng Phúc

Mà Kẻ Ngây Thơ Hưởng Đủ Bề



Cống sĩ ở đất Hoài Thượng là Chu Thuận Nghĩa tuổi đã năm mươi chỉ sinh được một con trai tên Khắc Xương, rất yêu thương.

Năm Xương mười ba mười bốn tuổi, phong tư rất đẹp đẽ nhưng không thích học hành, thường trốn học đi chơi với bọn trẻ con, có khi cả ngày không về, Chu cũng biết.

Một hôm đã tối mịt vẫn chưa thấy về, vội đi tìm thì không thấy đâu, vợ chồng kêu khóc cơ hồ không muốn sống nữa.

Hơn một năm Xương chợt tự về, nói là bị người đạo sĩ bỏ thuốc mê bắt đi, may mà không làm hại, nhân lúc ông ta đi vắng bèn trốn về.

Chu mừng quá cũng chẳng hỏi han gì nhiều, đến khi dạy cho học thì Xương còn thông minh gấp đôi ngày trước.

Qua năm sau, Xương học hành càng tấn tới, kế thi đỗ vào trường phủ, tiếng tăm lừng lẫy, các nhà thế gia tranh nhau hứa gả con gái cho nhưng Xương không muốn lấy vợ.

Có con gái Tiến sĩ họ Tnệu có sắc đẹp, Chu ép con cưới về, nàng ấy về rồi thì vợ chồng cười nói với nhau rất vui vẻ, nhưng Xương vẫn ngủ một mình.

Hơn năm sau, Xương thi hương đậu Cử nhân, Chu càng thỏa dạ, nhưng tuổi ngày càng lớn càng mong có cháu nội để bế nên thường nói móc để chọc ghẹo Xương, nhưng Xương vẫn lờ đi như không hiểu.

Bà mẹ thì không nhịn được, cứ sớm tối ngầy ngà, Xương biến sắc bỏ ra, nói:

- Ta đã muốn bỏ đi lâu rồi, nhưng chưa đi ngay vì nhớ tới ơn cha mẹ chăm sóc nuôi nấng thôi.

Chứ thật ta không sao lấy vợ sinh con để thỏa ý cha mẹ đâu.

Bây giờ thì xin đi, còn nàng ta xin tùy ý, muốn về nhà thì về.

Bà mẹ đuổi theo kéo lại thì Xương đã ngã xuống, chỉ còn mũ áo không như xác ve lột, cả sợ ngờ là Xương đã chết, đó chỉ là hồn ma trở vể, đành ngậm ngùi đau xót mà thôi.

Hôm sau, chợt Xương cưỡi ngựa dắt đầy tớ trở về, cả nhà khiếp sợ, tới gần hỏi han thì nói là bị người ác bắt đi bán cho nhà phú thương, phú thương không có con nên coi như con đẻ.

Sau khi có Xương chợt sinh được một con trai, thấy Xương nhớ nhà nên cho đưa về.

Hỏi tới chữ nghĩa thì vẫn ngu độn như trước, mới biết đây đúng là xương, còn người vào trường phủ đỗ thi hương chỉ là ma giả làm Xương mà thôi.

Nhưng trộm mừng là việc chưa bị tiết lộ, bèn bảo Xương nhận luôn danh hiệu Cử nhân.

Vào phòng ngủ thì vợ mơn trớn đùa cợt như rất quen thuộc, mà Xương thì thẹn thò như mới cưới vậy, hơn năm thì sinh được một con trai.

______________________________________

CHƯƠNG 184: BÀ DƯƠNG THẦN

Mộc Ngẫu Phi Tương Tọa Vị Tranh

Đồng Tông Giải Cấu Khởi Vô Tình

Bà Dương Hồ Lý Phong Đào Cấp

Tiểu Đĩnh Như Phi Phá Lăng Nghinh

Dịch:

Tượng Gỗ Khôn Đem Vợ Thứ Giành

Đồng Tông Gặp Gỡ Vốn Thâm Tình

Hồ Bà Dương Nọ Phong Ba Cấp

Rẽ Sóng Thuyền Veo Tới Tiếp Nghinh



Hoắc Trạm Trì làm Tư lý huyện Nhiêu Châu (tỉnh Giang Tây), đi ngang hồ Phiên Dương, thấy trên hồ có đền thờ thần, dừng lại vào viếng.

Trong đền có pho tượng Đinh Tấn Lang bằng gỗ mà nhà họ Hoắc vẫn cho là một vị thần đặt ở sau cùng.

Hoắc nói:

- Đây là bậc tôn quý trong họ ta, sao lại đặt ở sau cùng?

Bèn đưa lên ngôi vị phía trên.

Kế lên thuyền đi, gặp trận gió lớn thổi gãy cột buồm, thuyền bị đắm, cả nhà kêu khóc.

Chợt có một chiếc thuyền nhỏ lướt sóng tới, vòng cạnh thuyền quan kéo nhanh Hoắc lên, kế người nhà đều cùng leo lên, thấy người kia giống hệt vị thần của nhà họ Hoắc.

Không bao lâu sóng lặng, nhìn lại thì người ấy đã biến mất.

____________________________________

CHƯƠNG 185: TIỀN LƯU

SÔNG TIỀN

Đài Âm Uyển Ngọa Tiếu Hề Đồng

A Đổ Cư Nhiên Mãn Ác Trung

Thủy Tín Tiền Văn Nguyên Bạch Thủy

Thế Gian Vô Xứ Bất Lưu Thông

Dịch:

Thơ Thẩn Trong Vườn Dưới Bóng Râm

Tiền Đâu Tay Vốc Ngã Ra Nằm

Mới Hay Tiền Của Như Là Nước

Vốn Vẫn Lưu Thông Chẳng Thể Tham



Lưu Tông Ngọc người huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông), có đầy tớ là Đỗ Hòa ngẫu nhiên di trong vườn, thấy tiền chảy như dòng nước, sâu rộng hai ba thước.

Đỗ vừa sợ vừa mừng, lấy tay vốc một vốc, rồi nằm đè lên trên.

Khi cúi xuống lần nữa thì dòng tiền đã biến mất, nhưng vốc tiền trong tay vẫn còn.

____________________________________

CHƯƠNG 186: DƯƠNG BA NHÃN

Hối Văn Hiện Xứ Đạo Nguy Ky (Cơ)

Ngẫu Ngữ Sơn A Nhân Tích Hi

Khả Tiếu Thế Đa Phong Giám Khách

Bất Như Dị Loại Tảo Tri Ky

Dịch:

Hối Văn Đã Hiện Họa Tai Chờ

Núi Vắng Đêm Thanh Nói Chẳng Ngờ

Tướng Thuật Nhiều Người Trên Cõi Thế

Không Bằng Dị Loại Sớm Tri Cơ



Một người thợ săn đêm vào trong núi, thấy một người lùn cao khoảng hai thước nhảy nhót đi dưới khe.

Lúc sau lại một người nữa tới, cũng cao như thế, gặp nhau cùng trò chuyện, hỏi nhau đi đâu.

Người tới trước nói:

- Ta định đi xem mắt Dương sẹo, lần trước gặp thấy khí sắc tối tăm, dữ nhiều lành ít.

Người tới sau nói:

- Ta cũng nghĩ thế, ngươi nói không sai.

Người thợ săn biết không phải là người bèn quát lớn, hai người lập tức biến mất.

Đêm ấy săn được một con chồn, mắt bên trái có một cái sẹo lớn, to bằng đồng tiền.

_____________________________________

CHƯƠNG 187: LONG HÍ CHÂU

RỒNG VỜN CHÂU

Thảm Vãn Dạ Khốc Vạn Dân Ai

Thuần Lại Hung La Vô Vọng Lai

Quyền Đắc Tri Trù Như Quyền Hổ

Nhất Gia Đoạn Tống Nhất Thanh Lôi

Dịch:

Hoang Dã Khóc Gào Dân Cảm Thương

Quan Thanh Bỗng Chốc Mắc Tai Ương

Nuôi Quen Con Nhện Như Nuôi Hổ

Uổng Mạng Toàn Gia Tiếng Sét Vang



Từ công làm Huyện lệnh Tế Đông (tỉnh Sơn Đông), trong công thự có ngôi lầu, dùng để chứa thức ăn, liên tiếp bị ăn vụng, vung vãi cả ra trên đất, bọn gia nhân nhiều lần bị quở trách, bèn rình bắt.

Thấy một con nhện to bằng cái đấu, sợ hãi chạy đi báo với ông, ông lấy làm lạ, bèn sai bọn thị tỳ hàng ngày vứt mồi cho ăn.

Con nhện quen dần, lúc đói thì ra tìm người, ăn no thì bỏ đi.

Hơn mấy năm, ông ngẫu nhiên đang duyệt văn án, con nhện chợt đến nằm mọp dưới bàn.

ông cho rằng nó đói, vừa mới sai người nhà mang mồi cho ăn, đã thấy hai con rắn nhỏ bằng chiếc đũa nằm cạnh con nhện, con nhện co chân rút bụng, dáng vẻ rất sợ hãi.

Trong chớp mắt rắn to ra bằng quả trứng ông sợ hãi bỏ chạy.

Chợt một tiếng sấm lớn vang lên, cửa nẻo đổ sập, ông ngất đi, phu nhân và tôi tớ hoảng sợ chết mất bảy người, ông cũng bệnh hơn tháng thì chết.

Ông là người liêm chính thương dân, ngày chôn cất, nhân dân tới phúng điếu khóc than đầy đường.

_____________________________________

CHƯƠNG 188: DỊCH QUỈ

SAI QUỶ

Lê Khâu Năng Tứ Chủ Nhân Ông

Cánh Dữ Tầm Thường Bộc Nệ Đồng

Kim Nhật Thượng Truyền Bàn Vận Pháp

Khả Tri Quỉ Diệc Dị Lao Lung

Dịch:

Biết Lựa Chiều Theo Ý Chủ Nhân

Như Người Phục Dịch Rất Chăm Ngoan

Nay Còn Truyền Lại Phương Bàn Vận

Sai Quỉ Đâu Là Chuyện Khó Khăn



Thầy thuốc họ Dương ở Sơn Tây giỏi thuật châm cứu, lại có thể sai khiến ma quỷ, mỗi lần ra khỏi nhà thì cưỡi lừa cầm roi, đều là ma quỷ.

Một đêm cùng bạn đi từ nơi khác về, trên đường gặp hai người to lớn dị thường, bạn cả kinh.

Dương hỏi ai, hai người nói là Vương chân dài, Lý đầu to ra đón chủ nhân.

Dương nói:

- Đi lên trước dẫn đường!

Hai người cung cúc đi lên trước, Dương đi chậm thì đứng lại chờ, như là nô lệ vậy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 189+190+191+192+193


CHƯƠNG 189: TAM TRIỀU NGUYÊN LÃO

Tiểu Mạ Do Tha Tiếu Mạ Gia

Lao Nhân Trường Lạc Tín Kham Khoa

Đường Khai Họa Cẩm Tiêu Doanh Thiếp

Thử Thị Tam Triều Tể Tướng Gia

Dịch:

Mặc Ai Cười Mắng Mặc Ai Kêu

Lão Vẫn Làm Ngơ Hướng Lạc Đều

Câu Đối Hoành Phi Thêu Gấm Vóc

Đây Nhà Tể Tướng Trải Ba Triều



1.

Quan Tể tướng nọ vốn làm quan triều Minh, từng hàng giặc, sĩ phu đều chê cười.

Lúc già về nhà, dựng miếu thờ tổ tiên, có mấy người ghé vào ngủ đêm ở đó.

Sáng ra, thấy trong miếu có một tấm biển đề: "Nguyên lão ba triều" và một đôi câu đối viết "Một hai ba bốn năm sáu bảy, Hiếu đễ trung tín lễ nghĩa liêm", không biết treo lúc nào, lấy làm lạ nhưng không hiểu ý nghĩa.

Có người đoán rằng:

- Vế đầu ngầm ý là Vương Bát. vế sau ngầm nói là vô sỉ.

Có lẽ đúng thế.

*[Vế đầu vô sĩ: Ở đây có chỗ chơi chữ, vì vế đầu chỉ đếm tới số bảy, vế sau còn thiếu chữ "sỉ" (Hiếu đễ trung tín lễ nghĩa liêm sỉ).

Vương Bát nguyên văn là “vong bát", nhưng trong Hán ngữ chữ "vong" (quên) được coi là đồng âm với chữ "vương" (họ Vương).

Người Trung Quốc xưa hay dùng từ Vương Bát với ý nghĩa như quân khốn khiếp].

2.

Quan Kinh lược họ Hồng đánh phương nam khải hoàn, về ngang Kim Lăng, lập đàn tế tướng sĩ chết trận.

Có người môn nhân cũ tới yết kiến, lạy xong xin trình bài văn tế.

Hồng vốn ghét văn chương, lấy cớ mắt kém từ chối.

Người ấy nói vậy xin cảm phiền cố nghe cho ta được đọc qua một lượt.

Rồi rút bài văn tế trong tay áo ra cất giọng sang sảng đọc lớn, thì ra là bài văn của vua Sùng Trinh triều Minh cũ ngự chế tế Kinh lược họ Hồng.

Đọc xong khóc lớn bỏ đi.

*[Kinh lược họ Hồng: tức Hồng Thừa Trù, cuối đời vua Sùng Trinh nhà Minh làm Tổng đốc Hà Bắc Liêu Dưong, đánh nhau với quân Thanh ở Tùng Sơn thua trận đầu hàng, sau giúp nhà Thanh đàn áp phong trào phản Thanh phục Minh, làm tới chức Vũ Anh điện Đại học sĩ của triểu Thanh.

Sau trận Tùng Sơn có lời ngoa truyền Hồng đã tử trận nên vua Sùng Trinh đích thân làm bài văn tế Hồng].

_____________________________________

CHƯƠNG 190: DẠ MINH

ĐÊM SÁNG

Nhật Trạo Phiên Nhiên Hải Thượng Qua

Tiêu Thâm Quái Vật Phóng Quang Đa

Thảng Phùng Hoàn Vũ Thăng Bình Nhật

Sĩ Thứ Ung Canh Phục Đán Ca

Dịch:

Lờ Lững Thuyền Trôi Trên Mặt Biển

Đêm Khuya Quái Vật Lóe Hào Quang

Nước Non Nếu Thủa Thanh Bình Nhỉ

'Phục Đán' Người Ta Chắc Hát Vang



Có người khách buôn đi buôn ở Nam Hải, nửa đêm trong thuyền chợt sáng rực, trở dậy xem thì thấy có một con vật to lớn, nửa người nhô lên khỏi mặt nước sừng sững như núi, mắt như hai vầng dương mới mọc, ánh sáng soi khắp bốn phía, cả một vùng rộng lớn sáng như ban ngày.

Y hoảng sợ hỏi nhà thuyền, không ai biết là gì, đều nằm rạp xuống nhìn trộm.

Giây lát con vật ấy từ từ lặn xuống nước.

Về sau y tới Mân Trung (vùng Phúc Kiến) người ở đó nói đêm ấy trời chợt sáng bừng rồi tối lại ai cũng cho là lạ lùng, tính lại thì đúng vào đêm y thấy sự quái lạ trên thuyền.

_____________________________________

CHƯƠNG 191: ĐIỂU NGỮ

NGHE ĐƯỢC TIẾNG CHIM

Điểu Ngữ Sưu Thu Vị Dị Tri

Hà Lai Đạo Sĩ Vị Thông Từ

Ngân Châu Lạp Chúc Tham Vô Yếm

Đãi Chí Phao Quan Hối Dĩ Trì

Dịch:

Ríu Rít Chim Kêu Chửa Dễ Hay

Đâu Dè Đạo Sĩ Hiểu Ra Ngay

Ngân Châu Lễ Vật Tham Không Chán

Lúc Bãi Quan Xong Hối Dã Chày



Ở Trung Châu có đạo sĩ đi xin ăn trong làng xóm, ăn no rồi nghe tiếng quạ kêu, bèn nói với chủ nhân coi chừng cháy nhà.

Chủ nhân hỏi duyên do, đáp:

- Chim vừa nói Cháy nhà khó cứu, sợ lắm!

Mọi người đều cười, không ai đề phòng.

Hôm sau, quả nhiên bị cháy, lan ra luôn mấy nhà, mới phục ông ta là thần.

Có người hiếu sự theo hỏi, gọi ông ta là tiên.

Đạo sĩ nói:

- Ta bất quá là nghe hiểu được tiếng chim thôi, đâu phải là tiên.

Lúc ấy có con chim sẻ kêu trên cây, mọi người hỏi nó nói gì, đạo sĩ đáp:

- Chim sẻ nói: Mừng sáu nuôi mừng sáu nuôi, mười bốn mười sáu thì chôn.

Chắc là nhà nào có con sinh đôi, hôm nay là mùng mười, không quá năm sáu ngày nữa thì đều chết.

Hỏi ra quả có hai đứa bé tự nhiên mà chết, ngày tháng đều đúng.

Quan huyện nghe chuyện lạ, gọi đạo sĩ tới, đãi làm khách.

Gặp lúc có bầy vịt đi ngang sân, quan hỏi chúng nói gì, đạo sĩ đáp:

- Nội thất của minh công ắt đang có chuyện tranh cãi, vịt nói Bãi bãi, hỏi ông ta, hỏi ông ta.

Quan huyện rất phục, đại khái vì thê thiếp cãi nhau, ông ta bực mình nên bỏ ra ngoài.

Một hôm khác đang ngồi, bầy vịt lại đi ngang, quan huyện lại hỏi.

Đạo sĩ đáp:

- Lời nói hôm nay khác với hôm trước, đại khái là chuyện minh công đang tính toán thôi.

Hỏi tính toán chuyện gì, đáp:

- Chúng nói Sáp một trăm tám, tiền một ngàn tám.

Quan huyện thẹn, ngờ là đạo sĩ nói mỉa, đạo sĩ xin đi, quan huyện không cho.

Qua mấy ngày, quan huyện tiếp khách chợt nghe tiếng chim cuốc kêu, khách hỏi, đạo sĩ đáp:

- Nó nói là Bãi quan về bãi quan về.

Mọi người đều ngạc nhiên biến sắc, quan huyện cả giận, đuổi đạo sĩ đi.

Không bao lâu, quả nhiên việc quan huyện ăn hối lộ bị phát giác.

Than ôi, vị tiên kia đã răn trước rồi, mà tiếc cho người tham lam không chịu tỉnh ngộ!

Tục đất Tế (tỉnh Sơn Đông) gọi ve là “Sảo thiên", loại màu xanh là "Đô liễu”.Trong huyện ta có hai cha con, cùng là học trò hạng thanh xã đi khảo khóa hàng năm.

Chợt có con ve bay tới đậu vào áo, người cha mừng nói:

- Sảo thiên là điềm tốt!

Một đứa nhỏ thấy thế cãi:

- Sảo thiên đâu mà sảo thiên, đô liễu đấy!

Hai cha con không vui, kế quả nhiên đều thi rớt, bị truất về làm dân.

*[Hạng thanh xã: Học chính toàn thư chép thời Thanh có lệ khảo khóa học trò hàng năm, chia làm sáu hạng mà thăng giáng, hạng thứ năm và thứ sáu gọi là thanh và xã, nếu lại thi rớt sẽ bị truất làm dân].

*[Quả nhiên đều thi rớt, bị truất về làm dân: ở đây có chỗ chơi chữ.

“Sảo thiên” nghĩa đen là hơi khác đi, nên người cha mới mừng, cho là điềm thi đỗ, sẽ được lên hạng, nhưng “Đô liễu” nghĩa đen là đều thôi rồi, đây ý nói đó là điềm báo cả hai cha con cùng bị truất].

____________________________________

CHƯƠNG 192: LĂNG GIÁC

Mãn Địa Binh Qua Trương Biệt Ly

Chung Trệu Chiêm Dĩ Tụng Phong Thi

Phu Thê Đồng Cảm Từ Bi Lực

Tân Phụ Hoan Nghinh A Mẫu Thì

Dịch:

Khắp Chốn Can Qua Não Biệt Ly

Cả Ngày Chỉ Biết Đọc Phong Thi

Vợ Chồng Cùng Cảm Từ Bi Lực

Mẹ Gặp Nàng Dâu Thật Bất Kỳ



Hồ Đại Thành là người đất Sở (tỉnh Hồ Nam).

Mẹ vốn thờ Phật, trên đường Thành đi học tới trường có miếu thờ Quan âm, mẹ dặn đi qua là phải vào làm lễ.

Một hôm vào miếu, thấy có cô gái dắt theo đứa nhỏ đùa giỡn bên trong, tóc xõa che hết trán nhưng phong thái rất yêu kiều.

Năm ấy Thành mười bốn tuổi, trong lòng ưa thích bèn hỏi tên họ, cô gái đáp:

- Ta là con gái của người thợ vẽ họ Tiêu nhà ở phía tây miếu này, tên Lăng Giác.

Anh hỏi làm gì vậy?

Thành lại hỏi đã có chồng chưa, cô gái bẽn lẽn đáp:

- Chưa!

Thành hỏi:

- Ta làm rể nhà em có được không?

Cô gái thẹn thùng nói:

- Chuyện đó ta không làm chủ được!

Nhưng đưa mắt long lanh nhìn Thành từ trên xuống dưới, có ý vui mừng, Thành bèn trở ra.

Cô gái theo sau dặn với:

- Cha ta vốn quý trọng ông Thôi Nhĩ Thành, cứ nhờ ông mai mối chắc là được.

Thành đáp:

- Được rồi!

Vì thấy nàng thông minh lại đa tình nên càng hâm mộ, về nói hết với mẹ.

Mẹ chỉ có Thành là con nên ít khi trái ý, lập tức nhờ ông Thôi làm mai.

Nhưng họ Tiêu đòi sính lễ nhiều nên việc không thành, Thôi ra sức thuyết phục rằng Thành là con nhà tử tế lại có tài, Tiêu mới ưng thuận.

Thành có ông bác già mà không con, làm học quan ở Hồ Bắc, vợ chết tại nhiệm sở, mẹ Thành sai con tới giúp việc tang.

Mấy tháng sau Thành định về thì ông bác lại chết, phải ở lại ít lâu nữa.

Gặp lúc có toán giặc lớn cướp phá Hồ Nam, tin nhà đứt hẳn.

Thành trốn lánh trong dân gian, sống thui thủi một mình một bóng mà thôi.

Một hôm có bà già khoảng bốn mươi tám, bốn mươi chín tuổi tới đi quanh làng đến tận trưa, nói rằng gặp lúc loạn lạc không có nhà cửa mà về, định tự bán mình.

Có người hỏi giá, bà đáp:

- Không thèm làm đầy tớ, cũng không muốn làm thê thiếp, chỉ cần có kẻ chịu nhận làm mẹ thì ta sẽ theo về không cần giá cả.

Ai nghe thấy cũng cười.

Thành tới nhìn diện mạo thì thấy có hai ba phần giống mẹ mình, động lòng thương xót.

Lại thầm nghĩ rằng mình lẻ loi một thân, không ai may vá cho bèn đón về, đối xử như kẻ làm con.

Bà già vui mừng, từ đó nấu cơm khâu giày cho Thành, ân cần như mẹ, Thành làm việc gì trái ý thì trách mắng, song hơi có điều gì buồn khổ thì vỗ về an ủi như con đẻ.

Một hôm chợt nói với Thành:

- Sống ở đây yên ổn nhưng may mắn mà không được vui vẻ, có điều con đã lớn, dẫu là ở nơi đất khách quê người nhưng nhân luân không thể bỏ phế.

Hai ba ngày nữa mẹ sẽ cưới vợ cho con.

Thành khóc nói:

- Con đã có vợ rồi, chỉ là nam bắc đôi nơi cách trở thôi.

Bà già nói:

- Thời loạn ly thì việc người cũng đổi thay, làm sao chờ được?

Thành lại khóc nói:

- Chưa nói tới việc vợ chồng đã hẹn ước với nhau thì không thể phụ bạc, cứ nghĩ xem ai lại đem con gái cưng gả cho kẻ rày đây mai đó?

Bà già không đáp, chỉ lo may sắm rèm màn chăn gối, chuẩn bị rất đầy đủ chu đáo, Thành cũng không biết vợ ở đâu ra.

Một hôm trời vừa tối, bà dặn Thành:

- Ở nhà một mình đừng có ngủ, để mẹ đi xem cô dâu mới tới chưa.

Rồi ra cửa đi.

Đến hết canh ba vẫn chưa về, Thành rất đỗi ngờ vực lo lắng, chợt nghe ngoài cửa có tiếng ồn ào, ra nhìn thì thấy có một cô gái ngồi trong sân, tóc tai rối bời đang khóc nức nở.

Thành ngạc nhiên hỏi han nhưng cô ta không đáp, hồi lâu mới nói:

- Anh cưới ta về đây không phải là điều may đâu, ta chỉ có chết thôi.

Thành hoảng sợ không biết chuyện gì, cô gái nói:

- Ta lúc trẻ đã lấy Hồ Đại Thành, không ngờ chàng đi Hồ Bắc không có tin tức gì, cha mẹ ép ta về với anh, thân ta thì còn bắt về được chứ lòng ta thì không bắt theo được đâu.

Thành nghe thấy òa khóc, nói:

- Ta là Hồ Đại Thành đây, nàng là Lăng Giác đấy ư?

Cô gái hoảng sợ nín bặt, đầu tiên còn không tin, kế theo vào nhà thắp đèn nhìn kỹ mới nói:

- Không phải là nằm mơ chứ?

Rồi đổi buồn làm vui, cùng nhau kể lễ nỗi niềm xa cách nhớ nhung.

Vốn trước đó trong cơn loạn lạc thì đất Hồ Nam hàng trăm dặm không có bóng người, họ Tiêu dắt gia đình chạy tới phía đông Trường Sa (tỉnh thành Hồ Nam), lại hứa gả con gáỉ cho Chu sinh, nhưng đang loạn lạc không thể làm đám cưới nên đên ấy đưa con gái tới nhà Chu.

Cô gái khóc không chịu sửa soạn gì cả, người nhà cứ ép đẩy lên kiệu, trên đường đi cô gái lăn ra khỏi kiệu rơi xuống đất, chợt có bốn người khiêng kiệu tới nói là người của nhà họ Chu đón dâu, đỡ nàng lên kiệu, đi nhanh như bay, tới đây mới dừng.

Có một bà già kéo vào sân nói:

- Đây là nhà chồng cô, cứ vào đừng có khóc, mẹ chồng cô thì vài hôm nữa sẽ gặp thôi.

Rồi đi mất.

Thành hỏi rõ mọi việc mới biết bà già là thần, hai vợ chồng bèn thắp hương cùng khấn khứu xin cho mẹ con được đoàn tụ.

Mẹ Thành từ khi binh lửa dấy lên, cùng các bạn bè phụ nữ chạy vào hang núi ẩn náu.

Một đêm nghe đồn ầm lên là giặc tới, mọi người kinh hoàng chạy trốn tứ tán.

Chợt có một đồng tử đưa ngựa cho mẹ Thành cưỡi, đang lúc gấp rút bà cũng không kịp hỏi là ai.

Đồng tử đỡ bà lên ngựa, ngựa phi rất nhanh, chớp mắt đã tới bên hồ.

Ngựa đạp trên mặt nước phóng như bay, dưới vó không hề nổi sóng.

Không bao lâu đồng tử đỡ bà xuống, chỉ một căn nhà nói:

- Trong đó ở được đấy!

Mẹ Thành lạy tạ, ngẩng đầu nhìn thì thấy ngựa đã biến thành con Kim mao hẩu cao hơn trượng, đồng tử nhảy lên dong đi.

Mẹ Thành vừa gõ cổng thì thấy cánh cổng đã mở, có người bước ra hỏi, nghe giọng nói quen thuộc lấy làm lạ, nhìn kỹ thì té ra là Thành.

Mẹ con ôm nhau khóc, vợ Thành cũng kinh ngạc choàng dậy, cả nhà vô cùng mừng rỡ.

Ngờ rằng bà già là Quan âm đại sĩ hiện thân, vì vậy càng chuyên cần tụng kinh Quan âm, từ đó ở luôn lại Hồ Bắc, dựng nhà làm ruộng ở đó.

*[Hồ: tức hồ Động Đình, ngăn cách hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc].

*[Kim mao hẩu: thần thú lông vàng, vẫn được gọi là sư tử lông vàng.

Chữ "hẩu” theo âm Việt Hán là "khổng", đây đọc theo Thanh âm.

Ở nhiều chùa chiền và trong các lễ hội của người Nam Bộ thường có thờ cúng và nghi lễ "múa hẩu”, chính là xuất phát từ các truyện tích về con Kim mao hẩu này].

*[Quan âm đại sĩ: tức Quan Thế âm Bồ tát].

_____________________________________

CHƯƠNG 193: HÌNH TỬ NGHI

Song Diễm Hốt Tòng Thiên Thượng Lạc

Thiên Kim Y Cựu Kháo Trung Tàng

Phi Quan Tướng Thuật Như Thần Nghiệm

Họa Phúc Do Nhân Tự Chủ Trương

Dịch:

Hai Nàng Tiên Tự Trên Trời Xuống

Ngàn Lạng Vàng Nguyên Dưới Hố Vùi

Tướng Thuật Như Thần Dù Ứng Nghiệm

Chủ Trương Họa Phúc Chính Do Ngươi



Huyện Đằng (tỉnh Sơn Đông) có Dương Mỗ theo đảng Bạch Liên giáo học được phép thuật tả đạo.

Sau khi Từ Hồng Nho bị giết Dương may mắn lọt lưới, bèn đem phép thuật ngao du khắp nơi, trong nhà thì vườn ruộng lầu gác đủ cả, nổi tiếng giàu có.

Tới nhà thân hào ở Tứ Thượng (thuộc tỉnh Sơn Đông), dùng ảo thuật làm trò vui, đàn bà con gái trong nhà đều ra xem, Dương liếc thấy con gái nhà ấy xinh đẹp, khi về nhà mưu bắt cóc.

Vợ kế Dương là Chu thị cũng phong vận, Dương bèn cho nàng ăn mặc lộng lẫy giả làm tiên nữ, đưa cho con chim gỗ dạy cách sử dụng, rồi dắt lên lầu đẩy ra.

Chu thấy thân thể nhẹ như chiếc lá lãng đãng theo mây bay đi, không bao lâu đám mây dừng lại không bay nữa, biết là đã tới nơi.

Đêm ấy trăng sáng vằng vạc, từ trên nhìn xuống thấy rõ cả, Chu bèn cầm con chim gỗ ném xuống, con chim xòe cánh bay thẳng tới phòng cô gái.

Cô gái thấy con chim màu sặc sỡ bay vào, gọi tỳ nữ bắt lấy thì nó đã tung rèm cửa lướt ra ngoài.

Cô gái đuổi theo, con chim rơi xuống đất đập cánh phành phạch, vừa tới gần thì nó vọt lên đũng quần, giãy giụa rồi đội cô gái bay lên, xông thẳng vào trong mây.

Cô gái kêu gào, Chu đứng trong mây nói:

- Người hạ giới đừng sợ, ta là Hằng Nga trong Nguyệt điện đây.

Ngươi là con gái thứ chín của Vương mẫu ngẫu nhiên bị đày xuống trần, Vương mẫu hàng ngày nhớ nhưng nên tạm gọi lên gặp một lần, rồi sẽ đưa về ngay thôi.

Rồi buộc tay áo vào nhau mà đi.

Vừa tới địa giới huyện Tứ Thủy (tỉnh Sơn Đông) thì gặp người ta bắn pháo hoa trúng cánh chim, con chim hoảng sợ sa xuống kéo cả Chu theo, rơi vào nhà một người Tú tài.

Người Tú tài tên Hình Tử Nghi, nhà rất nghèo nhưng tính cương trục.

Có người đàn bà láng giềng đang đêm qua khêu gợi, Hình cự tuyệt không cho vào, người đàn bà căm tức bỏ đi, đặt điều với chồng là Hình dụ dỗ.

Ngươì chồng vốn là kẻ vô lại, sáng chiều tới trước cổng chửi mắng, Hình vì vậy bán nhà qua ở thôn khác.

Nghe nói có thầy tướng họ Cố giỏi đoán phúc thọ của người, bèn tới gặp.

Cố vừa nhìn thấy cười nói:

- Ông giàu có ngàn chung, sao lại mặc áo rách tới gặp người, định nói ta có mắt không tròng sao?

Hình chê nói sai, Cố nhìn kỹ rồi nói:

- Đúng thế, tuy còn nghèo khổ nhưng hầm vàng không còn xa đâu.

Hình lại chê nói sai, Cố nói:

- Không những hoạnh tài giàu có mà còn được vợ đẹp nữa kia.

Hình vẫn không tin, Cố đẩy ra cửa nói:

- Cứ đi đi, cứ đi đi, khi nghiệm rồi ta mới tới lấy tiền tạ ơn mà.

Đêm ấy Hình ngồi một mình dưới trăng, chợt có hai cô gái trên không rơi xuống, nhìn thấy đều xinh đẹp, sợ hãi cho là yêu quái bèn gặng hỏi.

Ban đầu họ không chịu nói, Hình toan kêu lớn gọi láng giềng tới, Chu sợ mới nói thật, lại xin đừng lộ chuyện ra, hứa sẽ theo hầu hạ suốt đời.

Hình nghĩ con gái nhà thế gia không cùng loại với với vợ kẻ yêu nhân bèn sai người báo cho gia đình cô gái.

Cha mẹ cô gái từ khi con gái bay đi cùng khóc lóc lo sợ, chợt được thư báo tin, mừng rỡ quá đỗi, lập tức sắp sửa xe kiệu tới ngay, tạ ơn Hình trăm lượng vàng rồi đưa con gái về.

Hình được vợ đẹp đang lo nhà nghèo chỉ có bốn bức vách, được vàng rất khoan khoái, qua tạ ơn Cố, Cố lại nhìn mặt nói:

- Chưa phải đâu, chưa phải đâu, vận may đã tới, trăm lượng vàng có đáng gì?

Rồi không nhận tiền tạ ơn.

Vốn là họ Thân về rồi bèn xin quan trên bắt Dương, Dương đoán biết nên đã bỏ trốn không biết đi đâu, quan bèn tịch biên gia sản, phát lệnh bắt Chu.

Chu sợ hãi kéo áo Hình khóc lóc, Hình cũng hết cách, chỉ tạm hối lộ cho đám công sai rồi thuê xe kiệu chở Chu tới nhà Thân năn nỉ xin cứu giúp.

Thân cảm vì có nghĩa nên hết sức chạy chọt, được nộp tiền chuộc tội cho Chu, bèn giữ cả hai vợ chồng ở lại trong nhà, vui vẻ như thân thích.

Con gái Thân lúc nhỏ đã nhận sính lễ của họ Lưu, Lưu nhất thời làm quan vinh hiển, nghe nói cô gái từng ngủ lại nhà Hình, cho là nhục nhã bèn gởi thư tuyệt hôn.

Thân bàn gả cho người khác, cô gái nói với cha mẹ thề theo Hình.

Hình nghe rất mừng, Chu cũng mừng, tình ngưyện xin làm vợ lẽ, nhưng Thân còn lo là Hình nghèo khổ.

Lúc ấy nhà cửa của Dưong được quan dem bán đấu giá, Hình mua rồi hai vợ chồng cùng về, bỏ tiền túi ra mua đồ đạc thuê tôi tớ, trong mươi ngày đã hết sạch tiền, chỉ mong cô gái tới để được Thân giúp đỡ.

Một đêm Chu nói với Hình rằng:

- Người chồng tội lỗi của thiếp là Dương Mỗ có chôn ngàn lượng vàng dưới lầu, chỉ có thiếp biết, mới rồi ra chỗ đó xem thấy gạch đá vẫn còn nguyên, có khi hầm vàng chôn cất vẫn còn nguyên chưa biết chừng.

Bèn cùng nhau tới đó đào lên, quả tìm được vàng, vì thế tin Cố xem tướng hay, tạ ơn rất hậu.

Sau đó cô gái vu quy, mang về rất nhiều tiền bạc, chỉ trong vài năm Hình trở nên giàu có đứng đầu một quận.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 194+195


CHƯƠNG 194: LỤC ÁP QUAN

Tiên Nhân Do Tự Tác Thư Dung

Niên Thiếu Thiên Năng Trạch Chủ Tòng

Thập Tải Y Lưu Tác Vương Xán

Độ Tương A Áp Khứ Vô Tông

Dịch:

Đâu Bỗng Người Tiên Xin Viết Mướn

Thanh Niên Hợp Ý Chủ Nhân Ông

Mười Năm Vương Xán Nương Lưu Biểu

A Áp Mang Theo Tự Biệt Tông



Ông Triệu ở huyện Vũ Lăng tỉnh Hồ Quảng làm quan tới chức Cung chiêm thì trí sĩ về nhà, chợt có một thiếu niên tới cổng xin giúp việc giấy tờ.

Ông cho gọi vào, thấy nho nhã như học trò, hỏi họ tên thì nói là Lục áp Quan, không cần tiền công, ông bèn giữ lại.

Lục thông tuệ hơn đám tôi tớ bình thường, thư từ của ông gởi đi đều cho y tùy ý mà viết, lá nào cũng văn hoa.

Lại những lúc chủ nhân chơi cờ với khách, Lục liếc qua rồi chỉ nước là thắng, Triệu vì thế càng yêu mến.

Bọn tôi tớ thấy y được chủ nhân coi trọng, hùa nhau trêu chọc, đòi phải mời tiệc.

Áp Quan ưng thuận, nhân hỏi tất cả có bao nhiêu người, vừa lúc tá điền các nơi về tính sổ, khoảng hơn ba mươi người, họ tính luôn cả vào để làm khó.

Áp Quan nói:

- Bấy nhiêu thì rất dễ, nhưng khách đông, lúc bất ngờ không lo liệu kịp, xin mời ra quán rượu.

Rồi mời tất cả ra quán rượu ngoài phố.

Ngồi yên xong, rượn vừa bày ra, có người cầm bầu đứng lên nói:

- Các anh khoan hãy rót.

Xin hỏi hôm nay ai đứng ra mời?

Nên đưa tiền ra làm tin trước mới có thể yên tâm nhậu nhẹt, nếu không uống một hồi vài ngàn chén rồi tan về thì lấy đâu mà trả?

Mọi người đều nhìn Áp Quan, Áp Quan cười nói:

- Các vị nói ta không có tiền chắc?

Ta có đủ đây!

Rồi đứng lên vói vào mâm nắm lấy một vắt mì ướt bằng nắm tay, ngắt ra ném lên bàn, đều biến thành chuột nhắt chạy rối rít đầy bàn.

Áp Quan chụp bừa một con xé làm đôi, kêu chóe một tiếng thì bụng toác ra, lấy được một thỏi vàng nhỏ.

Bắt tiếp con nào cũng thế, phút chốc hết chuột thì vàng vụn chất đầy trước mặt, rồi nói:

- Bấy nhiêu mà không đủ cho bọn mình uống rượu à!

Mọi người đều kinh lạ, kế cùng nhau uống thả sức.

Tan tiệc, tính ra hơn ba lượng vàng, mọi người đem cân mớ vàng vụn thì vừa đủ số.

Có kẻ định bẩm lại chuyện lạ cho chủ nhân biết nên xin một mẩu nhỏ bỏ túi, về tới nhà kể lại cho Triệu nghe, Triệu bảo đưa mẩu vàng cho xem, tìm lại thì đã mất.

Quay lại hỏi chủ quán thì vàng đều hóa ra gai góc, về bẩm với Triệu.

Triệu căn vặn, Áp Quan nói:

- Anh em bạn đòi ta phải đãi tiệc, nhưng thật tình túi rỗng không tiền, lúc nhỏ học được trò mua vui, nên làm thử thôi.

Mọi người lại bắt trả tiền rượu, Áp Quan nói:

- Ta không phải là kẻ ăn quịt đâu ở thôn Mỗ có mớ rơm đem ra đập lại có thể được hai thạch lúa mì, thừa sức trả tiền rượu.

Rồi mượn một người đi theo.

Sẵn dịp người tá điền thôn ấy về, bèn đi cùng.

Tới nơi thấy lúa mì đã giê sạch, đổ đống trên sân tới mấy hộc, mọi người vì vậy càng lấy làm lạ lùng.

Một hôm Triệu tới nhà bạn dự tiệc, thấy giữa phòng có chậu lan rất tươi tốt thích lắm, về nhà cứ khen ngợi mãi.

Áp Quan nói:

- Nếu quả thật ông thích thứ lan ấy thì cũng không khó!

Triệu còn chưa tin, sáng sớm vào phòng sách chọt ngửi thấy mùi hương lạ thơm phức, nhìn lại thì có một chậu lan, cành lá chỗ thưa chỗ dày đều giống hệt như chậu lan mình đã thấy, nghi là y ăn cắp về bèn căn vặn.

Áp Quan nói:

- Hoa cỏ nhà ta gom trồng có hàng trăm hàng ngàn loại, cần gì phải ăn cắp!

Triệu cho là y nói dối, vừa gặp lúc người bạn kia tới chơi, nhìn thấy chậu lan, giật mình nói:

- Sao mà giống hệt chậu lan nhà ta!

Triệu nói:

- Ta vừa mua được, nhưng cũng không biết vì sao họ có mà bán, mà lúc ra khỏi nhà, ông còn nhìn thấy chậu lan không?

Người bạn đáp:

- Ta không vào phòng sách nên không biết là còn hay mất, nhưng làm sao mà nó tới đây được!

Triệu nhìn Áp Quan, Áp Quan nói:

- Chuyện này không có gì khó, cái chậu nhà ông bị vỡ, có vá một chỗ, còn cái chậu này thì lành.

Kế xem lại mới tin là đúng.

Tối đến Áp Quan nói với chủ rằng:

- Trước nay ta nói ở nhà ta có nhiều hoa cỏ ai cũng ngờ là dối trá, nay phiền ông dời gót ngọc, nhân lúc sáng trăng tới xem một chuyến, nhưng mọi người đều không ai theo được, duy A Áp thì không sao.

Áp vốn là tiểu đồng của Triệu, ông bèn theo lời.

Ra khỏi nhà đã có bốn người khiêng kiệu chờ bên đường, Triệu bước lên thấy đi nhanh hơn ngựa phi, phút chốc vào tới núi sâu, chỉ ngửi thấy mùi hương lạ thấm vào tận xương tủy.

Không bao lâu tới một tòa động phủ, thấy nhà cửa cao ráo sáng sủa khác hẳn nhân gian, nơi nào cũng đặt đá trồng hoa, chậu bồn xinh xắn ngời sáng tỏa hương, loại lan nào cũng có vài mươi chậu, thảy đều tươi tốt đẹp đẽ, Triệu xem xong Áp Quan lại sai kiệu đưa về.

Áp Quan theo Triệu hơn mười năm, sau Triệu không bệnh mà chết, Áp Quan bèn dắt A Áp ra cửa không biết là đi đâu.

____________________________________

CHƯƠNG 195: TRẦN TÍCH CỬU

Mộng Lý Đoàn Viên Sự Hữu Vô

Giai Thành Uất Ức Thuật Song Du

Do Lai Chí Hiếu Thần Năng Cách

Khởi Vị Viêm Lương Kế Hiệu Thù

Dịch:

Trong Mộng Đoàn Viên Sự Khéo Kỳ

Khóm Du Bên Mộ Mọc Xanh Rì

Từ Xưa Chí Hiếu Thần Thông Cảm

Ấm Lạnh Khôn Đem Để Đọ Bì



Trần Tích Cửu là người huyện Phì (thuộc tỉnh Giang Tô).

Cha là Tử Ngôn, là bậc danh sĩ trong huyện, có nhà giàu họ Chu thấy có tiếng tăm bèn đính ước làm thông gia.

Trần thi mấy lần không đỗ mà nhà lại nghèo, bèn du học tới đất Tần (tỉnh Thiểm Tây) mấy năm không có tin tức gì.

Chu vì vậy ngầm có ý hối hôn, lại gặp lúc gả con gái út làm vợ kế Hiếu liêm họ Vương, thấy Vương nộp sính lễ rất hậu, người mạnh ngựa khỏe nên càng chán ghét Tích Cửu nghèo hèn, quyết ý tuyệt hôn.

Hỏi con gái thì nàng không chịu, Chu tức giận cho ăn mặc xấu xí đưa tới gả cho Tích Cửu, tám chín ngày bếp không nổi lửa, Chu cũng không thương xót gì lắm.

Một hôm sai bà già làm thuê mang thức ăn tới cho cô gái, vào nhà nhìn mẹ Tích Cửu nói:

- Ông chủ sai ta tới xem cô nhà chết đói chưa.

Cô gái sợ mẹ chồng xấu hổ, gượng cười nói át đi, nhân dọn thức ăn ra trước mặt mẹ.

Bà già kia ngăn lại nói:

- Không cần làm thế, từ khi cô về đây chưa từng uống qua một chén nước suông của nhà họ, thức ăn của nhà ta chắc lão lão đây không mặt mũi nào mà ăn đâu.

Bà mẹ tức xanh cả mặt lạc cả giọng, bà già cũng không sợ, lớn tiếng xỉa xói, đang lúc ầm ĩ thì Tích Cửu từ ngoài vào, hỏi biết chuyện nổi giận túm tóc người đàn bà vả vào mặt rồi tống ra khỏi cửa.

Hôm sau Chu tới đón con gái, nàng không chịu về, hôm sau nữa Chu lại tới, dắt thêm nhiều người chửi bới rầm rĩ như định gây sự đánh nhau, bà mẹ gượng khuyên cô gái về, nàng gạt lệ lạy mẹ rồi lên kiệu đi.

Vài hôm sau Chu lại sai người tới bắt Tích Cửu làm tờ tình nguyện ly hôn, mẹ ép Tích Cửu viết, chỉ mong Tử Ngôn trở về sẽ tính cách khác.

Họ hàng Chu có người từ Tây An (tỉnh thành Thiểm Tây) tới, biết Tử Ngôn đã chết từ lâu, bà Trần đau thương uất ức thành bệnh rồi chết.

Trần lúc tang gia bối rối đợi vợ về nhưng mãi không thấy, càng thêm bi phẫn, có mấy mẫu ruộng xấu bèn đem cầm bán làm đám tang.

Chôn cất xong Tích Cửu lên đường, vừa đi vừa xin ăn, tới đất Tần mong tìm hài cốt của cha.

Tới Tây An hỏi thăm khắp nơi, có người nói vài năm trước có một thư sinh chết ở quán trọ, người ta chôn ngoài cửa đông, nay mồ mả đã mất dấu.

Tích Cửu không biết làm sao, chỉ còn cách sáng ra chợ ăn xin, tối vào chùa ngủ nhờ để chờ tìm người biết chỗ.

Một tối đi ngang đám mả hoang gặp mấy người ra chặn đường đòi trả tiền cơm, Tích Cửu nói:

- Ta là người xứ khác, ăn xin ở đây, thiếu tiền cơm các vị lúc nào?

Bọn kia cùng nổi giận xúm lại đè Tích cửu xuống đất, lấy cái áo rách của trẻ con chôn ở đó nhét vào miệng rồi đấm đá.

Tích Cửu kiệt sức khản tiếng, dần dần nguy cấp, chợt cả bọn hoảng sợ nói:

- Quan nha ở đâu tới thế này!

Rồi bỏ Tích Cửu ra biến mất.

Giây lát có xe ngựa kéo tới sai xem người nằm là ai, lập tức có mấy người đỡ Tích Cửu lên dắt tới trước xe.

Người trong xe nói:

- Con ta đây mà, lũ quỷ mất dạy kia sao dám thế!

Đuổi ngay theo trói chúng nó lại, không được để đứa nào chạy thoát.

Tích Cửu thấy có người rút nắm giẻ nhét miệng ra, định thần nhìn kỹ thì đúng là cha mình, khóc lớn nói:

- Con tìm hài cốt cha khổ quá, nay cha vẫn còn sống sao?

Cha nói:

- Ta không phải là người mà là Tổng quản Thái Hàng, chuyến này tới đây cũng vì con đấy.

Tích Cửu càng khóc lóc thảm thiết, cha dịu ngọt an ủi, Tích Cửu vừa khóc vừa kể chuyện nhạc gia hối hôn.

Cha nói:

- Đừng lo, nay vợ con đang ở chỗ mẹ, mẹ nhớ con lắm, cứ tạm tới đó một lúc đã.

Bèn bảo lên xe cùng ngồi đi như mưa bay gió cuốn, khoảnh khắc tới một nơi công thự, xuống xe vào mấy lần cửa thì thấy mẹ ở đó.

Tích Cửu sụt sùi khóc nghe dạy, thấy vợ đứng gần mẹ bèn hỏi:

- Vợ con ở đây thì cũng đã chết rồi sao?

Mẹ đáp:

- Không phải, đây là cha con đón tới, chờ con về rồi sẽ đưa đi ngay.

Tích Cửu nói:

- Con xin ở lại hầu hạ cha mẹ chứ không muốn về.

Mẹ nói:

- Con cay đắng lặn lội tới đây chỉ vì tìm hài cốt của cha, nay nếu không về thì chí trước thế nào?

Vả lại con hiếu hạnh đã thấu tới Thiên đế, người đã cho con giàu có muôn lượng vàng, vợ chồng còn được huởng nhiều lắm, sao lại nói không về?

Tích Cửu sa nước mắt, cha hối thúc mấy lần, Tích Cửu khóc lạc cả tiếng, cha tức giận hỏi:

- Ngươi không đi phải không?

Tích Cửu sợ hãi nín khóc, mới hỏi mộ cha ở đâu, cha kéo đi nói:

- Ngươi đi thì ta sẽ nói cho, cứ ra khỏi đám mả hoang hơn trăm thước, có hai cây bạch du một lớn một nhỏ là đúng.

Rồi kéo đi rất gấp, cũng không kịp từ biệt mẹ.

Ngoài cửa có người đầy tớ khỏe mạnh dắt ngựa đứng chờ, Cửu lên ngựa rồi cha dặn thêm:

- Chỗ con nằm ngủ mọi khi có chút ít tiền đi đường, phải mau mau thu xếp về ngay, tới chỗ ông nhạc đòi vợ lại, chưa đòi được thì đừng thôi.

Tích Cửu vâng dạ lên đường, ngựa đi rất mau, lúc gà gáy thì tới Tây An, người đầy tớ đỡ xuống ngựa, Tích Cửu còn đang vái chào nhờ cám ơn cha mẹ thì người ngựa đã biến mất.

Bèn lần về chỗ ngủ mọi hôm, dựa vào vách ngồi nghỉ chờ sáng, thấy chỗ ngồi có hòn đá to bằng nắm tay cấn vào đùi, trời sáng nhìn lại thì là một nén bạc.

Liền mua quan tài thuê xe tới chỗ hai cây bạch du tìm được hài cốt cha, bốc mộ quay về.

Hợp táng với mẹ xong thì nhà không còn gì, may mà người làng thương là có hiếu đều cho ăn uống.

Định đi đòi vợ nhưng tự liệu là không đủ sức đánh nhau, bèn rủ người anh họ là Thập Cửu cùng đi.

Tới nhà Chu người giữ cổng chặn lại đuổi đi, Thập Cửu vốn là kẻ vô lại bèn chửi mắng ầm ĩ.

Chu sai người ra khuyên Tích Cửu về, hứa sẽ đưa con gái tới ngay, Tích Cửu bèn trở về.

Lúc trước cô gái về nhà, Chu trước mặt nàng cứ chửi bới con rể và bà thông gia, cô gái không nói gì chỉ quay vào vách sa nước mắt.

Bà Trần chết Chu cũng không cho nàng biết, khi được tờ tình nguyện ly hôn còn ném trước mặt nàng nói:

- Nhà họ Trần đuổi ngươi rồi đây!

Cô gái nói:

- Con chưa từng hung dữ ngỗ ngược, sao họ lại đuổi con?

Rồi muốn trở về hỏi cho ra lẽ, nhưng Chu cấm cản không cho đi.

Sau đó Tích Cửu đi Tây An, Chu lại phao tin Tích Cửu đã chết để con gái hết trông đợi nữa.

Chuyện ấy vừa đồn ra, có quan Trung hàn họ Đỗ tới hỏi cưới Chu ưng thuận, sắp tới ngày cưới cô gái mới biết, khóc lóc bỏ ăn, lấy khăn phủ lên mặt, hơi thở chỉ còn như sợi tơ.

Chu đang lúc không biết làm sao thì thấy Tích Cửu tới cổng chửi bới không nể nang gì, nghĩ rằng con gái ắt sẽ chết bèn đưa nàng tới nhà Tích Cửu, định là con gái chết rồi sẽ ra tay cho hả giận.

Tích Cửu về tới nhà thì bọn người đưa cô gái cũng tới, còn sợ Tích Cửu thấy nàng bệnh nặng không chịu nhận vào, bèn khiêng vào cửa đặt xuống đó rồi ra về ngay.

Láng giềng lo lắng thay, đều bàn táng trả lại cho Chu nhưng Tích Cửu không chịu, đỡ nàng lên giường thì đã tắt hơi, mới cả sợ.

Đang lính quýnh thì con Chu dắt mấy người vác khí giới xông vào đập phá hết nhà cửa Tích Cửu chạy trốn, bọn kia lùng sục khắp nơi.

Láng giềng ai cũng bất bình, Thập Cửu bèn họp hơn mười người xông vào đánh cứu, anh em con họ Chu đều bị đánh sứt đầu mẻ trán phải bỏ chạy.

Chu càng tức giận, kiện lên quan, quan sai bắt bọn Tích Cửu Thập Cửu.

Tích Cửu lúc sắp lên quan, nhờ láng giềng trông nom giúp xác vợ, chợt nghe trên giường như có tiếng thở tới gần xem thì nàng đã mở mắt ra, giây lát thì đã xoay người lại được.

Tích Cửu mừng quá, lên quan phân trần, quan huyên giận Chu vu cáo, Chu sợ, phải đút lót rất hậu mới khỏi tội.

Tích Cửu trở về, vợ chồng nhìn nhau vừa mừng vừa tủi.

Trước là lúc cô gái bỏ ăn nằm yên, đã định bụng quyết chết, chợt có người vào kéo dậy nói:

- Ta là gia nhân họ Trần đây, mau mau đi theo ta thì vợ chồng được gặp nhau, nếu không thì không kịp đâu.

Nàng bất giác thấy mình đã ra ngoài cổng, có hai người đỡ lên kiệu, khoảnh khắc đã tới một nơi công thự, thấy cha mẹ chồng đều ở đó.

Nàng hỏi đây là nơi nào, mẹ chồng đáp:

- Không cần hỏi, rồi sẽ đưa con về.

Một hôm thấy Tích Cửu tới đã mừng thầm, nhưng vừa gặp đã chia tay, trong lòng lạ lùng ngờ vực.

Cha chồng thì không rõ làm việc gì mà mấy ngày không về nhà, đêm sau chợt về nói:

- Ta ở núi Vũ Di (thuộc huyện Sùng An tỉnh Phúc Kiến) về muộn mất hai hôm, khó lòng giữ gìn cho con trai, phải đưa con dâu về ngay.

Rồi lấy xe kiệu đưa cô gái về, nàng chợt thấy nhà cửa, bàng hoàng như vừa tỉnh mộng.

Cô gái và Tích Cửu cùng kể lại việc đã qua, đều ngạc nhiên mừng rỡ, từ đó vợ chồng lại được sum họp, nhưng sớm tối không biết lấy gì mà ăn.

Tích Cửu bèn mở trường dạy trẻ trong thôn, lại ra sức học hành, thường tự nhủ:

- Cha nói trời cho nhiều tiền lắm, nay thì nhà trơ bốn bức vách, chẳng lẽ dạy trẻ con mà phát tích được sao?

Một hôm từ trường về, gặp hai người hỏi:

- Ông là Trần Mỗ phải không?

Tích Cửu đáp phải, hai người lập tức rút xích sắt ra xiềng lại, Tích Cửu không hiểu vì sao.

Giây lát người làng xúm lại hỏi han, mới biết là bị bọn cướp trên quận khai gian.

Mọi người thương là oan, gúp tiền đút lót cho hai người công sai, nhờ thế dọc đường Tích Cửu cũng không bị hành hạ.

Tới quận ra mắt Thái thú, Tích Cửu kể lại gia thế, Thái thú ngạc nhiên nói:

- Đây là con bậc danh sĩ, dáng vẻ nho nhã như thế đời nào lại làm giặc.

Rồi sai tháo xiềng cho Tích Cửu giải bọn cướp lên tra tấn thật tàn nhẫn, chúng mới cùng khai là do Chu cho tiền dặn làm thế.

Tích Cửu thuật lại đầu đuôi chuyện cha vợ chàng rể trở mặt vói nhau, Thái thú càng giận dữ, lập tức ra lệnh bắt Chu rồi bày tlệc mời Tích Cửu, nói chuyện thân thuộc, té ra Thái thú là con Tri huyện cũ đất Phì là Hàn công, từng là học trò của Tử Ngôn.

Kế tặng Tích Cửu một trăm lượng vàng làm tiền nghiên bút, lại đưa hai con ngựa đỡ chân, rồi vì Tích Cửu bất chợt lên quận nên hỏi lấy văn bài gởi tới các quan trên, tán tụng lòng hiếu của Tích Cửu, từ chức Tổng chế trở xuống ai cũng có quà tặng.

Tích Cửu từ quận rủng rỉnh tiền bạc trở về, vợ chồng đều được an ủi rất nhiều.

Một hôm vợ Chu khóc lóc tới, gặp con gái quỳ rạp xuống không đứng lên, cô gái hốt hoảng hỏi han mới biết là Chu đã bị đóng gông giam vào ngục.

Cô gái khóc than tự quy tội về mình, chỉ muốn tìm cái chết.

Tích Cửu bất đắc dĩ phải lên quận nài nỉ xin tha cho Chu, Thái thú bèn ra lệnh cho tự chuộc tội, phạt thêm một trăm thạch gạo, phê:

- Thưởng cho người con hiếu Trần Tích Cửu.

Chu về tới nhà, mở kho xúc gạo lẫn cả trấu chở qua, Tích Cửu nói với cô gái:

- Cha nàng thật là lấy bụng tiểu nhân đo lòng quân tử, chẳng lẽ cho rằng ta sẽ nhận nên trộn trấu vào gạo à?

Rồi cười từ chối không lấy.

Tích Cửu nhà tuy hơi dư dật nhưng tường cũ rào thưa, một đêm có bọn trộm vào nhà, người đầy tớ chợt tỉnh giấc la lớn nên chỉ bị mất hai con ngựa.

Hơn nửa năm sau, Tích Cửu đang đêm ngồi đọc sách nghe có tiếng đập cửa, hỏi thì không thấy ai đáp, bèn gọi đầy tớ dậy cùng ra xem, vừa mở cửa thì có hai con ngựa phóng vào, chính là hai con ngựa bị mất trước đó.

Hai con ngựa chạy thẳng vào tàu thở phì phì, mồ hôi ròng ròng, đốt đuốc vào soi thấy mỗi con chở một cái túi da, mở ra xem thì toàn là bạc nén trắng xóa, vô cùng kinh ngạc không biết ở đâu ra.

Về sau nghe nói đêm ấy có bọn cướp lớn đến cướp nhà Chu, vơ vét đầy túi trở ra thì gặp quan quân đuổi theo rất gấp nên nhảy lên những con ngựa chở nhẹ bỏ chạy, hai con ngựa này thì nhớ nhà chủ cũ nên phóng về.

Chu từ lúc trong ngục trở về, những vết đòn tra tấn ngày càng nặng thêm, lại bị đánh cướp nên bệnh nặng rồi chết.

Cô gái đêm nằm mơ thấy cha mang xiềng xích tới nói:

- Những việc ta làm lúc bình sinh nay hối không kịp nữa, nay bị hình phạt dưới âm ty, không phải cha chồng con thì không ai cứu được, con hãy vì ta mà xin chồng con gởi một lá thư.

Nàng tỉnh dậy kêu khóc, Tích Cửu hỏi han mới biết chuyện, nhưng từ lâu cũng định tới Thái Hàng một chuyến nên ngay hôm ấy lập tức lên đường.

Tới nơi sắm sửa đủ lễ vật tam sinh cúng cha, lập tức có mua sương rơi xuống chỗ ấy, chờ xem còn thấy gì nữa không thì suốt đêm yên ắng, bèn trở về.

Chu chết, vợ con càng nghèo thêm, toàn nhờ con rể út chu cấp, nhưng Hiếu liêm họ Vương gặp đợt khảo xét quan huyện mắc tội tham nhũng, cả nhà bị đày đi Thẩm Dương (tỉnh Liêu Ninh) nên càng không biết nhờ cậy ai, Tích Cửu vẫn thường chu cấp cho.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 196+197


CHƯƠNG 196: VU KHỨ ÁC

Văn Trường Phản Phúc Trượng Tuần Hoàn

Lữ Để Tương Phùng Vâng Phục Hoàn

Vô Hạn Lao Tao Ca Đương Khốc

Cá Trung Tư Vị Vấn Tôn San

Dịch:

Trường Văn Phản Phúc Xoay Vần Khó

Quán Trọ Tương Phùng Qua Lại Luôn

Mấy Độ Lao Tao Cười Khóc Dở

Này Mùi Cay Ngọt Hỏi Tôn Sơn



Đào Thánh Dụ ở huyện Bắc Bình (tỉnh Hà Bắc) là kẻ sĩ có tài Trong niên hiệu Thuận Trị (1644-1661) lên kinh ứng thí, ở trọ ngoài thành.

Tình cờ ra ngoài thấy một người mang tráp sách cứ quanh quẩn như chưa tìm được chỗ ở, hỏi han thì cũng là học trò, trò chuyện thấy có phong thái danh sĩ.

Đào thích lắm mời về ở cùng.

Khách cả mừng, mang túi vào nhà, từ đó ở chung.

Khách tự nói là người phủ Thuận Thiên, họ Vu tên Khứ Ác, vì Đào lớn hơn nên coi như anh.

Tính Vu ưa nhàn nhã, thường ở một mình trong phòng, trên bàn không có quyển sách nào, Đào mà không trò chuyện thì chỉ nằm im lặng mà thôi.

Đào ngờ vực, lục lọi rương tráp thấy ngoài nghiên bút ra chẳng có gì đáng giá lấy làm lạ bèn hỏi.

Vu cười đáp:

- Chúng ta là người đọc sách, chẳng lẽ đến lúc khát nước mới lo đào giếng sao!

Một hôm hỏi mượn sách của Đào, về phòng đóng cửa chép rất nhanh, hết ngày được năm mươi tờ.

Đào rình xem thấy cứ chép xong bài nào là đốt bỏ bài ấy, càng lấy làm kỳ quái.

Hỏi nguyên cớ thì Vu đáp:

- Ta làm thế để khỏi đọc thôi mà.

Bảo đọc lại nhũng sách đã sao thì đọc vanh vách một lúc vài thiên, không sai một chữ.

Đào thích lắm, muốn học thuật ấy, Vu nói không được, Đào ngờ là bủn xỉn, giận dỗi trách móc.

Vu nói:

- Ông thật không thể tất cho ta chút nào cả!

Nếu không nói ra thì không hả lòng, mà nói ra e ông ngờ sợ, làm sao bây giờ.

Đào bảo cứ nói không hề gì, Vu nói:

- Ta không phải là người mà chỉ là ma thôi.

Nay dưới âm ty cũng theo khoa mục mà trao chức quan, ngày mười bốn tháng bảy vâng chiếu khảo xét quan trường, ngày mười lăm sĩ tử vào trường, cuối tháng ra bảng.

Đào hỏi khảo xét quan trường để làm gì, Vu đáp:

- Đó là ý thận trọng của Thượng đế, bất kể là quan lại tốt xấu đều phải khảo xét tất, người có văn học thì cho chấm thi, người không hiểu văn chương thì không cho dự vào.

Đại khái các thần dưới âm cũng như các quan trên trần, các vị đắc chí có người không đọc kinh sử, chẳng qua chỉ là lúc còn trẻ mượn văn học để cầu công danh, trộm được chút công danh rồi thì bỏ bê việc học, giữ chức mười mấy năm thì những kẻ sĩ văn học còn chữ nghĩa gì trong bụng nữa?

Cho nên trên trần gian những kẻ ít học thừa thế hãnh tiến mà kẻ anh hùng lại thất chí, chỉ vì thiếu một lần khảo xét như vậy đấy.

Đào cho là rất đúng, vì vậy càng kính sợ Vu.

Một hôm Vu từ ngoài vào, có vẻ lo lắng, than rằng:

- Ta sinh ra nghèo hèn, tự nghĩ sau khi chết sẽ khá hơn, không ngờ xuống suối vàng vẫn còn lận đận.

Đào hỏi nguyên do, Vu đáp:

- Nay Văn Xương đã được phong làm Đô La quốc vương, việc khảo xét quan lại cũng bỏ luôn, thần linh trôi nổi, ma quỷ xiêu dạt mấy mươi năm đều được chấm văn, bọn ta còn trông mong gì được nữa?

Đào hỏi đám ấy là những ai, Vu đáp:

- Có nói ra thì ông cũng không biết, nhưng nêu qua một hai người thì cũng rõ được đại khái, như quan coi nhạc Sư Khoáng, quan giữ kho Hòa Kiểu vậy.

Ta tự nghĩ rằng mình số không thể dựa, tài không thể cậy, chẳng bằng bỏ quách không thi cho xong.

Nói xong có vẻ ấm ức, định thu xếp hành lý lên đường, Đào kéo lại an ủi bèn thôi.

*[Văn Xương: tức Văn Xương Đế quân, vị thần coi việc văn học khoa cử trong truyền thuyết Trung Hoa].

*[Quan coi nhạc...

Hòa Kiểu: Sư Khoáng là nhạc quan nước Tấn thời Xuân thu, mù mắt nhưng thẩm âm rất giỏi.

Hòa Kiểu là người thời Tấn, nhà giàu nhưng tính rất keo kiệt, làm quan giữ kho của triều đình, bị Đỗ Dự chê là kẻ mê tiền.

Sư Khoáng, Hòa Kiểu đây chỉ những kẻ không có đại tài đại chí nên không có độ lượng dung người].

Đến đêm rằm tháng bảy Vu nói với Đào:

- Ta sắp vào trường thi, phiền ông lúc sáng tinh mơ ra thắp hương ngoài cửa phía đông thành, gọi Khứ ác ba lần, ta sẽ tới.

Rồi ra cửa đi.

Đào mua rượu nấu thức ăn chờ, khi trời vừa sáng làm theo lời dặn.

Không bao lâu Vu dắt một thiếu niên tới, Đào hỏi tên họ, Vu đáp:

- Đây là Phương Tử Tấn, là bạn thân của ta, tình cờ gặp nhau trong trường thi, y nghe tiếng ông rất muốn làm quen.

Bèn cùng nhau về chỗ Đào trọ, thắp đèn chào hỏi, thiếu niên phong thái như cây ngọc, thái độ lại rất nhu mì khiêm tốn, Đào rất yêu thích, nhân nói:

- Bài thi của Tử Tấn chắc rất đắc ý!

Vu nói:

- Nói ra thì buồn cười, chứ trong trường ra bảy đề y đã làm được quá nửa, nhưng khi hỏi tới tên quan Chủ khảo bèn vứt hết bỏ ra, thật là kỳ nhân.

Đào quạt lò hâm rượu bày lên, nhân hỏi:

- Đề thi trong trường ra sao?

Khử Ác chắc đỗ đầu chứ?

Vu đáp:

- Thư nghệ, kinh luận mỗi thứ một đề, ai có khả năng thì làm thêm bài sách vấn.

Từ xưa rất nhiều người ngăn lấp đường tà mà phong tục đến nay đã thành xấu xa tệ hại không thể gọi tên được, không phải chỉ mười tám tầng địa ngục mà đủ trừng trị, mà mười tám tầng địa ngục không đủ để trừng trị thì còn có cách nào để trừng trị?

Có kẻ nói nên đặt thêm một hai ngục nữa, nhưng như thế rất trái với ý hiếu sinh của Thượng đế, vậy thì nên thêm hay không?

Hay có cách nào khác để làm trong sạch ngay từ cội nguồn không?

Kẻ sĩ các ngươi cứ nói hết đừng giấu diếm, bài ta làm tuy không hay nhưng được một phen khoái ý.

Bài biểu thì theo đề Tạ ơn nhân dịp diệt sạch Thiên ma, ban cho các bầy tôi long mã và thiên y khác nhau.

Kế là bài thơ theo đề Dao Đài ứng chế, bài phú Hoa đào ở Tây trì, ba đề ấy thì ta cho rằng trong cả trường không có bài thứ hai.

Nói xong vỗ tay, Phương cười nói:

- Bây giờ thì cứ để ông tha hồ khoái trá, vài hôm nữa mà không khóc ròng thì mới thật là đàn ông đấy.

Trời sáng Phương muốn chào đi, Đào giữ lại ở cùng, Phương không chịu, hẹn tối sẽ tới nhưng ba ngày không thấy đâu.

Đào bảo Vu đi tìm, Vu nói:

- Không cần, Tử Tấn là người đường đường chứ không phải là kẻ vô tâm.

Mặt trời vừa xế, quả nhiên Phương tới, đưa cho Đào một quyển sách, nói:

- Thất hứa ba ngày là để sao lại các bài làm cũ của ta, tất cả hơn trăm bài kính nhờ ông phẩm bình.

Đào mở ra đọc thích lắm, đọc một câu là khen một câu, được một hai bài thì cất vào tráp.

Trò chuyện cùng nhau đến khuya, Phương bèn ở lại, ngủ cùng giường với Vu.

Từ đó thành lệ, đêm nào Phương cũng tới, Đào cũng không có Phương thì không vui.

Một đêm Phương hớt hải bước vào nói với Đào:

- Bảng đã ra, Vu Ngữ huynh trượt rồi!

Vu đang nằm nghe thế hoảng sợ vùng dậy, nước mắt giàn giụa, hai người hết sức an ủi mới thôi khóc nhưng chỉ nhìn nhau im lặng, không khí nặng nề không sao chịu nổi.

Phương nói:

- Nghe nói Đại Tuần hoàn Trương Hoàn hầu sắp tới tuần sát, e những kẻ thi rớt sẽ đặt vè này nọ, nếu không thì văn trường sẽ có chuyện thay đổi.

*[Trương Hoàn hầu: tức Trương Phi.

Xem truyện Hoàn hầu].

Vu nghe có vẻ mừng rỡ, Đào hỏi nguyên cớ, Vu đáp:

- Hoàn hầu Dục Đức cứ ba mươi năm một lần đi tuần sát âm ty, ba mươi lăm năm một lần đi tuần sát dương thế, hai nơi ấy có điều gì bất bình cứ đợi ông ta tới là xong hết.

Rồi đứng lên kéo Phương cùng đi, qua hai đêm mới trở về.

Phương nói với Đào rằng:

- Ông không chúc mừng Vu Ngữ huynh sao?

Đêm rồi Hoàn hầu tới xé nát bảng cũ, những người có tên trên bảng ba phần chỉ còn có một, lại duyệt cả lại những quyển bị chấm rớt, tìm được Vu Ngũ huynh mừng lắm, tiến cử làm Tuần hải sứ Giao Nam, chỉ sớm tối là có xe ngựa tới đón thôi.

Đào mừng rỡ đặt tiệc chúc mừng, uống được vài chén, Vu hỏi Đào:

- Nhà ông có chỗ trống không?

Đào hỏi để làm gì, Vu đáp:

- Tử Tấn cô đơn không nhà cửa, lại không nỡ rời ông nên tiểu đệ muốn mượn chỗ cho y nương dựa.

Đào mừng rỡ nói:

- Nếu thế thì quá may mắn, mà cho dù nhà cửa không rộng rãi thì ở chung phòng cũng có hề gì?

Có điều nhà còn có cha già, nên ta còn phải thưa trước.

Vu nói:

- Vốn biết tôn đại nhân nhân từ phúc hậu có thể nương dựa, ông sắp đến ngày vào trường, nếu Tử Tấn không chờ được thì về trước được không?

Đào bảo Phương cứ ở lại làm bạn ở đất khách, chờ mình thi xong sẽ cùng về.

Hôm sau trời vừa tối thì có xe ngựa tới cổng đón Vu lên đường phó nhiệm.

Vu đứng lên nắm tay Đào nói:

- Từ nay xin vĩnh biệt, có một câu muốn nói nhưng sợ ông nhụt chí tiến thủ.

Hỏi câu gì, Vu đáp:

- Số ông lận đận sinh không gặp thời, khoa này mười phần chỉ có một phần đỗ, khoa sau Hoàn hầu đi tuần sát dương thế, công đạo bắt đầu sáng tỏ thì mười phần có ba phần đỗ, đến khoa thứ ba mới có hy vọng.

Đào nghe thế muốn thôi không thi nữa, Vu nói:

- Không phải đâu, đó đều là số trời, cho dù không thể biết rõ nhưng số đã khổ thì phải chịu cho hết thôi.

Kế nhìn Phương nói:

- Đừng chần chừ nữa, sáng mai giờ ngày tháng năm đều tốt, xin đem xe lọng đưa ông về, ta cưỡi ngựa đi cũng được.

Phương vui vẻ từ biệt, Đào trong lòng rối loạn mờ mịt không hiểu Vu dặn dò Phương những gì, chỉ gạt lệ đưa tiễn, thấy xe ngựa chia đường, trong chớp mắt đã đi hết, mới hối hận là Tử Tấn ra đi chưa có một lời gởi gắm, nhưng đã không kịp nữa.

Thi xong ba kỳ không được như ý lắm, lặn lội trở về, vào cổng hỏi Tử Tấn thì trong nhà không ai biết cả.

Nhân kể lại với cha, cha mừng rỡ nói:

- Nếu thế thì khách tới lâu rồi!

Trước là ông Đào ngủ trưa, nằm mơ thấy có xe lọng ngừng ở cổng, một thiếu niên đẹp trai trong xe bước ra, lên thềm vái lạy.

Ông kinh ngạc hỏi có việc gì thiếu niên đáp:

- Đại ca hứa cho ở nhờ nhưng phải vào thi không về cùng được nên con tới trước.

Nói xong xin vào lạy mẹ, ông đang ngần ngại chối từ thì bà vú trong nhà ra nói:

- Phu nhân sinh được công tử!

Giật mình tỉnh dậy lấy làm lạ.

Hôm ấy Đào kể lại chuyện đều khớp với giấc mộng, mới biết đứa nhỏ chính là hậu thân của Tử Tấn, hai cha con cùng mừng rỡ đặt tên đứa nhỏ là Tiểu Tấn.

Đứa nhỏ sinh ra rất hay khóc đêm, mẹ khổ quá, Đào nói:

- Nếu đúng là Tử Tấn thì thấy con vào phải nín khóc.

Vì phong tục kiêng cho trẻ mới sinh thấy người lạ nên không cho Đào gặp, nhưng mẹ vì đứa nhỏ khóc không biết làm sao bèn gọi Đào vào.

Đào gọi đứa nhỏ nói:

- Tử Tấn đừng khóc nữa, ta tới rồi đây.

Đứa nhỏ đang khóc ngằn ngặt, nghe thế chợt im bặt, mở mắt nhìn Đào chằm chằm như ngắm người quen, Đào xoa đầu nó rồi bước ra, từ đó nó không khóc đêm nữa.

Mấy tháng sau thì Đào không dám gặp, vì cứ thấy Đào là nó giơ tay đòi bế, bỏ đi thì khóc không chịu nín, Đào cũng phải bế nó đùa giỡn.

Năm bốn tuổi đứa nhỏ rời mẹ, cứ sang ngủ chung với anh, anh đi đâu thì nằm thức đợi đến lúc về.

Anh nằm dạy đọc Mao thi, em trên gối líu lo đọc theo, một đêm thuộc hơn bốn mươi câu.

Đào lấy quyển văn cũ của Tử Tấn dạy cho, đứa nhỏ vui thích học theo, đọc qua là nhớ thuộc lòng, nhưng lấy văn người khác cho đọc thử thì không thuộc ngay được.

*[Mao thi: tức kinh Thi].

Lên tám chín tuổi thì mặt mày sáng láng, rõ ra là Tử Tấn.

Đào hai lần đi thi hương đều rớt, đến khoa năm Đinh dậu chuyện trường thi vỡ lỡ, các quan Giám khảo nhiều người bị trị tội, đường tiến thân của sĩ tử bắt đầu mở rộng, đó là nhờ Trương Tuần sát.

Đào khoa sau thi đỗ Tú tài, kế đi thi hội nhưng nguội lạnh chí tiến thủ nên ở ẩn dạy em, thường nói với mọi người rằng:

- Ta có niềm vui này, quan chức cũng không thèm đổi.

*[Khoa năm Đinh dậu chuyện trường thi vỡ lỡ: theo nội dung câu chuyện thì có lẽ là năm Đinh dậu 1657 trong đời vua Thuận Trị nhà Thanh.

Chưa rõ về sự kiện này].

____________________________________

CHƯƠNG 197: PHƯỢNG TIÊN

Liêu Tế Thân Gia Hữu Phú Bần

Tiên Tiên Nghi Trước Mạc Nhân Tuần

Lang Quân Cập Đệ Quy Lai Nhật

Đệ Nhất Tiên Thù Kinh Lý Nhân

Dịch:

Giai Tế Giàu Nghèo Có Khác Nhau

Gia Roi Bước Trước Gắng Lên Mau

Lang Quân Bẻ Quế Cung Trăng Xuống

Đổi Khách Đài Gương Cảm Khái Sâu



Lưu Xích Thủy người huyện Bình Lạc (tỉnh Quảng Tây), còn nhỏ đã thông minh đẹp trai, mười lăm tuổi đã vào học trường huyện.

Cha mẹ mất sớm đâm ra chơi bời bỏ học.

Nhà không dư dật mà ưa chải chuốt, quần áo chăn nệm đều là thứ tốt đẹp.

Một tối được người ta mời uống rượu, lúc đi quên tắt đèn, uống được vài chén sực nhớ ra vội quay về.

Nghe trong phòng có tiếng trò chuyện khe khẽ, núp nhìn vào thấy một thiếu niên ôm một cô gái đẹp nằm trên giường.

Nhà Lưu xây trên phủ đệ của một nhà quyền quý bỏ hoang, thường có nhiều chuyện quái dị nên biết ngay là hồ nhưng cũng không sợ, sấn vào quát:

- Giường ta cho các ngươi nằm ngáy đấy à?

Hai người hoảng hốt vơ quần áo trần truồng bỏ chạy, trên giường còn sót một cái quần lụa tía, trên dải có đính cái túi con.

Lưu thích lắm nhưng sợ bị lấy trộm lại, liền giấu vào trong chăn rồi ôm chặt.

Giây lát có một tỳ nữ đầu tóc rối bù bước vào, xin Lưu trả lại, Lưu cười đòi phải báo đáp.

Tỳ nữ xin đổi rượu, Lưu không chịu, xin tặng vàng, cũng không chịu, bèn cười quay ra.

Lát sau trở lại nói:

- Cô cả ta nói nếu cho xin lại thì xin đền ơn bằng một người vợ đẹp.

Lưu hỏi là ai, đáp:

- Nhà ta họ Bì, cô cả là Bát Tiên, người cùng nằm lúc nãy là chàng họ Hồ.

Cô hai là Thủy Tiên đã gả cho quan nhân họ Đinh ở huyện Phú Xuyên (tỉnh Quảng Tây).

Cô ba là Phượng Tiên còn đẹp hơn hai cô lớn nhiều, chắc chắn chàng sẽ vừa lòng.

Lưu sợ nuốt lời, nói xin ngồi chờ tin hay, tỳ nữ đi hồi lâu rồi quay lại nói:

- Cô cả ta nhắn với quan nhân đây là chuyện tốt lành làm sao vội vã được.

Cô ta vừa nói xong thì bị cô Ba chửi mắng, phải chờ vài hôm, chứ nhà bọn ta không phải loại hứa bừa rồi nuốt lời đâu.

Lưu bèn trả lại cái quần.

Qua mấy hôm vẫn không thấy tin tức gì, chập tối Lưu đi chơi về, vừa đóng cửa ngồi xuống chợt hai cánh cổng tự mở toang, có hai người lấy chăn khiêng một nữ lang, nắm lấy bốn góc chăn bước vào nói:

- Đưa dâu tới rồi đây!

Cười đặt lên giường mà đi.

Lưu tới nhìn, thấy nàng còn say chưa tỉnh, mùi rượu nồng nặc, mặt mũi đỏ hồng, xinh đẹp tuyệt trần.

Lưu mừng quá, cầm chân cởi tất rồi ôm lấy nàng cởi áo xiêm ra.

Cô gái hơi tỉnh hé mắt thấy Lưu nhưng không vùng vẫy gì được, chỉ tức tối nói:

- Con đĩ Bát Tiên bán ta rồi!

Lưu ôm ấp vuốt ve, cô gái thấy người Lưu lạnh quá, cười khẽ đọc:

- Đêm nay là đêm gì, Gặp chàng trai lạnh giá.

Lưu nói:

- Cứ chờ xem nàng ơi, Thế này mà lạnh hả?

Rồi ân ái với nàng.

Xong rồi cô gái nói:

- Con nhãi vô sỉ làm bẩn giường người ta rồi đem thiếp đổi lấy cái quần à!

Thế nào cũng phải trả thù.

Từ đó đêm nào cũng tới, gối chăn rất đằm thắm.

Một hôm lấy cái xuyến vàng trong tay áo ra nói với Lưu:

- Cái này là của Bát Tiên!

Mấy hôm sau lại đem tới một đôi giày thêu gấm khảm ngọc cực kỳ tinh xảo, dặn Lưu cứ khoe ầm lên.

Lưu đem khoe với khắp bạn bè, ai tới xem cũng tặng tiền biếu rượu, Lưu từ đó thành ra có món hàng lạ.

Một đêm cô gái tới, chợt nói xin từ giã, Lưu lấy làm lạ hỏi, nàng đáp:

- Bà chị vì việc đôi giày mà giận thiếp, định dọn nhà đi xa để chia cách hai ta.

Lưu lo lắng xin trả lại đôi giày.

Cô gái nói:

- Không cần phải thế.

Bà ấy đang định làm như vậy để ép thiếp, nếu trả lại là trúng kế đấy.

Lưu hỏi sao không ở lại một mình, nàng đáp:

- Cha mẹ đi xa, một nhà hơn mười miệng ăn đều trông vào anh Hồ xoay xở, nếu thiếp không đi theo, sợ con mụ lắm mồm ấy lại bịa đặt này nọ.

Từ đó không tới nữa.

Qua hai năm, Lưu nhung nhớ không khuây, tình cờ đi đường gặp một nữ lang cưỡi ngựa thong thả đi, có người lão bộc cầm dây cương chen qua sát người, qua rồi lại nhấc tấm khăn che mặt ngoảnh nhìn Lưu, phong tư vô cùng xinh đẹp.

Giây lát lại có một thiếu niên phía sau vượt lên, Lưu nói:

- Không biết nàng ấy là ai mà đẹp quá?

Rồi khen nức nở.

Thiếu niên chắp tay cười nói:

- Ông quá lời rồi, đó là người vợ quê của ta đấy.

Lưu hoảng hốt ngượng ngùng xin lỗi, thiếu niên đáp:

- Có gì đâu.

Nhưng Nam Dương có ba ông Cát thì ông chiếm được rồng rồi, ta thì tầm thường có gì đáng nói.

Lưu nghe câu nói lấy làm ngờ, thiếu niên lại hỏi:

- Anh không nhận ra kẻ nằm trộm trên giường sao?

Lưu mới biết đó là chàng họ Hồ, anh em bạn rể với mình, bèn chuyện trò chọc ghẹo nhau rất vui vẻ.

Thiếu niên nói:

- Cha mẹ mới về, ta định tới thăm, ông đi cùng không?

Lưu mừng rỡ, theo vào núi Oanh Sơn trên núi vốn có nhà dân trong huyện lánh nạn tới ở.

*[Nam Dương có ba ông Cát thì được rồng: thời Tam quốc anh em Gia Cát Cẩn, Gia Cát Lượng và em họ là Gia Cát Đản ẩn cư ở Nam Dương, đều có tiếng tài giỏi, trong đó Lượng tức Khổng Minh giỏi nhất, có hiệu là Ngọa Long.

Sau Cẩn theo giúp Ngô, Lượng theo giúp Thục, Đản theo giúp Ngụy, người ta vì thế có câu "Thục được rồng, Ngô được hổ, Ngụy được chó”.

Đây ý nói Lưu lấy được người đẹp nhất trong ba chị em Bát Tiên].

Cô gái xuống ngựa vào, lát sau có mấy người ra đón, nói:

- Lưu quan nhân cũng tới rồi!

Vào ra mắt ông bà nhạc thấy một thiếu niên áo giày sang trọng ngồi trước ở đó, ông già nói:

- Đây là anh rể họ Đinh ở Phú Xuyên.

Mọi người vái chào nhau rồi cùng ngồi.

Lát sau rượu thịt bày lên la liệt, mọi người cười nói râm ran, ông già nói:

- Hôm nay cả ba chàng rể cùng tới chơi, có thể nói là cuộc gặp gỡ hay đẹp, lại không có người ngoài, cứ gọi cả bọn trẻ ra làm một bữa tiệc đoàn viên.

Giây lát ba chị em kéo nhau ra, ông già sai lấy thêm ghế cùng cho ngồi cạnh chồng.

Bát Tiên thấy Lưu cứ che miệng cười.

Phượng Tiên cũng theo đà mà đùa giỡn chọc ghẹo, Thủy Tiên thì dung mạo hơi kém hơn hai người, nhưng có vẻ nghiêm trang đường bệ, cả bàn cười nói ầm ĩ mà nàng chỉ cầm ly rượu cười nụ.

Rồi đó giày dép lẫn lộn, lan xạ thơm lừng, cùng nhau uống rượu vô cùng vui vẻ.

Lưu nhìn thấy ở đầu giường bày đủ nhạc cụ bèn cầm chiếc sáo ngọc xin thổi chúc thọ ông già.

Ông mừng rỡ, bảo ai rành loại nào thì chơi loại ấy, mọi người tranh nhau chọn, chỉ trừ Đinh và Phượng Tiên.

Bát Tiên nói:

- Đinh lang không rành thì thôi, chứ ngươi sao không chịu động đậy gì cả?

Rồi cầm cái phách ném vào lòng Phượng Tiên, tìếng tơ trúc đan vào nhau dìu dặt.

Ông già vui vẻ nói:

- Người nhà ta giỏi nhạc lắm!

Các con đều biết múa hát, sao không trổ tài.

Bát Tiên kéo Thủy Tiên đứng lên, nói:

- Trước nay Phượng Tiên vẫn là giọng vàng tiếng ngọc, không dám làm phiền nó vất vả, còn hai chị em ta có thể hát khúc Lạc Phi.

Hai người múa hát vừa xong thì tỳ nữ bưng lên một cái mâm vàng đựng trái cây, không ai biết là trái gì.

ông già nói:

- Đây là từ Chân Lạp đem qua, gọi là trái Điều Bà La.

Rồi cầm mấy trái đưa cho Đinh.

Phượng Tiên không vui, nói:

- Chẳng lẽ cha lại thương rể giàu ghét rể nghèo à?

Ông già nhếch mép chưa trả lời, Bát Tiên đã nói:

- Vì cha thấy Đinh lang ở huyện khác nên coi như khách đấy thôi, chứ nếu bàn về lớn nhỏ thì đâu phải chỉ em Phượng mới có chồng nghèo.

Phượng Tiên vẫn không vui, cởi áo đẹp ra, đưa trống phách cho tỳ nữ rồi hát một khúc Phá dao, vừa hát vừa sa nước mắt, hát xong phất tay áo bỏ ra, mọi người đều mất vui.

Bát Tiên nói:

- Con nhãi vẫn cao ngạo như xưa.

Bèn đuổi theo nhưng thấy đâu.

Lưu xấu hổ cũng chào ra về, đi được nửa đường thấy Phượng Tiên ngồi bên vệ đường, gọi cùng ngồi xuống nói:

- Chàng là đàn ông mà không giúp vợ hả giận được à?

Trong sách tự có nhà vàng, xin chàng làm được như thế.

Rồi đưa chân ra nói:

- Ra cổng đi mau, gai đâm nát cả giày rồi, vật thiếp tặng có mang theo không?

Lưu lấy ra đưa cho cô gái thay, rồi xin lại đôi đã rách.

Nàng nhoẻn miệng cười nói:

- Chàng cũng chảng ra sao, mấy lần thấy giữ cả những đồ dùng khi chăn gối.

Nếu thương yêu nhau thì xin tặng cho vật này.

Rồi đưa Lưu một tấm gương, nói:

- Muốn thấy thiếp thì lúc nào đọc sách mỏi mệt cứ lấy ra nhìn, không thì không bao giờ thấy nhau đâu.

Nói xong biến mất.

Lưu buồn rầu trở về, nhìn vào gương thấy Phượng Tiên đứng quay lưng như đi xa ra hàng trăm bước, nhớ lời nàng dặn bèn tạ khách buông màn học hành.

Một hôm thấy người trong gương đã quay mặt lại, chúm chím như sắp cười, càng quý tấm gương, lúc không có ai lại lấy ra ngắm nghía.

Hơn tháng thì bắt đầu chán nản, đi chơi quên cả giờ về.

Trở về nhìn bóng người trong gương thấy vẻ mặt rầu rĩ như muốn khóc, hôm sau lại nhìn thì thấy quay lưng lại như lúc đầu, mới hiểu ra là vì mình bỏ bê việc học hành.

Bèn đóng cửa ra sức dùi mài kinh sử ngày đêm không nghỉ, hơn tháng thì người trong gương quay mặt trở ra.

Từ đó nghiệm thấy cứ lúc nào học hành bê trễ thì tỏ vẻ buồn bã, mấy ngày sau chăm chỉ lại thì tỏ vẻ vui mừng, vì vậy treo luôn tấm gương trước mặt như đang đối diện với thầy học vậy.

Như thế liền hai năm, Lưu đi thi một lần đỗ ngay, mừng rỡ nói:

- Nay thì có thể gặp Phượng Tiên của ta rồi.

Lấy tấm gương ra nhìn, thấy mày ngài cong cong, răng ngà he hé, dáng vẻ mừng rỡ hiển hiện trước mảt, nhớ quá cứ nhìn chằm chằm không chớp mắt.

Chợt người trong gương nhoẻn miệng cười nói:

- Bây giờ mới biết thế nào là người yêu giữa bóng gương, tình nhân trong bức vẽ.

Lưu mừng rỡ nhìn quanh thì Phượng Tiên đã đứng sau ghế, liền nắm tay hỏi thăm ông bà nhạc.

Nàng đáp:

- Sau hôm chia tay thiếp không về nhà lần nào, cứ náu thân trong hang núi, từ xa chia sẻ nỗi vất vả với chàng.

Lưu đi dự tiệc mừng ở quận, cô gái xin cùng đi, cùng ngồi một xe mà không ai thấy nàng.

Lúc sắp trở về, nàng bàn với Lưu giả như vừa cưới nàng ở quận, về tới nhà mới hiện thân tiếp khách, coi sóc việc nhà, mọi người đều kinh ngạc vì nàng quá đẹp chứ không biết là hồ.

Lưu được cử làm việc dưới quyền quan huyện Phú Xuyên, tới đó yết kiến nên gặp Đinh, Đinh kéo về nhà khoản đãi rất trọng hậu, nói:

- Cha mẹ mới dời nhà qua chỗ khác, vợ ta tới thăm sắp về rồi, phải gởi thư báo để tất cả cùng tới mừng.

Lưu ban đầu tưởng Đinh cũng là hồ, đến khi hỏi kỹ họ hàng quê quán mới biết là một nhà buôn lớn ở Phú Xuyên.

Nguyên một hôm Đinh từ nhà khác trở về, gặp Thủy Tiên đi một mình, thấy nàng đẹp liếc nhìn, nàng xin đi nhờ ngựa, Đinh mừng đưa về phòng sách ăn ở với nhau, thấy lách được qua song cửa vào phòng mới biết là hồ.

Nhưng nàng nói:

- Chàng chớ ngờ vực, thiếp thấy chàng là người thành thực nên nguyện theo nương tựa.

Đinh yêu quý nên không lấy ai nữa.

Lưu về thuê một căn nhà rộng của nhà quyền quý, sắp đặt nơi ăn chốn ở cho khách, đã quét dọn sạch sẽ nhưng chưa có đủ bàn ghế vật dùng, qua đêm thì thấy phòng ốc đã được bày biện lộng lẫy.

Mấy hôm sau quả có hơn ba mươi người giương cờ chở lễ vật tới, xe ngựa đông đúc chật đường.

Lưu vái chào rồi đưa ông nhạc cùng Đinh, Hồ vào nhà khách, Phượng Tiên đón mẹ và hai chị vào nhà trong.

Bát Tiên nói:

- Con nhãi nay đã lên bà rồi, không oán bà mối nữa chứ.

Xuyến với giày của ta còn không?

Phượng Tiên tìm đưa trả, nói:

- Giày thì còn đây, nhưng hàng ngàn người đã nhìn nát ra rồi.

Bát Tiên cầm giày đập vào lưng Phượng, nói:

- Đánh cái này để gởi cho Lưu lang?

Rồi ném đôi giày vào lửa, khấn rằng:

Lúc mới như hoa tươi

Khi cũ như hoa rã

Nâng niu chưa dám dùng

Hằng Nga đà mượn đỡ.

Thủy Tiên cũng khấn thay rằng:

Từng lồng búp măng ngọc

Bước ra muôn người khen

Nếu để Hằng Nga thấy

Thương bóng nguyệt không tròn.

Phượng Tiên cời tro đọc tiếp:

Tối tối lên trời xanh

Một sớm rời nơi cũ

Lưu lại bóng nho nhỏ

Cho cả thế gian nhìn.

Rồi vun tro vào mâm, cao hơn mười phân, thấy Lưu bước vào bưng đưa, nói là Bát Tiên tặng, thấy toàn là giày thêu, hệt như đôi trước.

Bát Tiên vội bước ra hất cái mâm xuống đất, chi còn lại một hai chiếc nguyên lành, lại cúi xuống thổi mới tan hết không còn dấu tích.

Mấy hôm sau Đinh vì nhà ở xa nên cùng Thủy Tiên về trước, Bát Tiên còn ham đùa giỡn với em gái, ông già và Hồ thúc giục mấy lần, mãi đến trưa mới cùng mọi người ra về.

Lúc họ mới tới, xe kiệu rầm rộ, người ra xem đông như chợ, có hai tên cướp nhìn thấy người đẹp chết mê chết mệt nên mưu chặn đường cướp lấy, lúc ấy theo dõi thấy họ đã ra khỏi thôn bèn đuổi theo, nhưng chỉ cách có một tầm tên mà giục ngựa phóng nhanh vẫn không theo kịp.

Đến một chỗ đường hẹp, hai bên là vách núi, kiệu đi chậm lạỉ, chúng đuổi kịp vung đao hò hét, mọi người bỏ kiệu chạy tứ tán.

Một tên xuống ngựa mở rèm thì bên trong chỉ có một bà già, ngờ là bắt lầm bà mẹ, vừa quay nhìn chung quanh thì bị chém vào tay phải rồi bị trói nghiến lại, định thần nhìn lại thấy không phải là đường núi mà là cổng phủ thành Bình Lạc, còn bà già trong kiệu là mẹ Tiến sĩ họ Lý dưới quê lên.

Tên cướp tớì sau cũng bị chém chân ngựa bắt trói tại cổng thành.

Lý bắt giải nộp quan Thái thú, vừa tra hỏi đã nhận tội.

Lúc ấy có một tên cướp khét tiếng đang bị truy nã, hỏi ra thì chính là y.

Mùa xuâu năm sau Lưu thi đỗ Tiến sĩ.

Phượng Tiên cũng sợ chuốc họa nên từ chối không cho bạn bè thân thích tới chúc mừng.

Lưu cũng không lấy vợ khác, lúc làm quan tới chức Thị lang mới nạp thiếp, sinh được hai trai.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 198+199


CHƯƠNG 198: ĐỔNG KHÁCH

VỊ KHÁCH HỌ ĐỔNG

Khẳng Khái Khâm Hoài Phụ Bán Sinh

Như Hà Gia Thất Đốn Oanh Tình

Dị Nhân Biệt Hữu Tri Nhân Thuật

Trung Hiếu Quan Đầu Biện Đắc Thanh

Dịch:

Khâm Hoài Khẳng Khái Phụ Bình Sinh

Gia Thất Mà Sao Vẫn Nặng Tình

Hiệp Khách Biết Người Riêng Có Thuật

Hiếu Trung Không Thể Giả Hư Danh



Đổng sinh là người Từ Châu (tỉnh Giang Tô), thích kiếm thuật, hay khoe khoang tự phụ.

Tình cờ đi đường gặp một người khách, sinh trò chuyện, toàn thở ra giọng anh hùng.

Hỏi tên họ, khách nói là họ Đồng người huyện Liêu Dương (tỉnh Liêu Ninh), lại hỏi đi đâu, đáp:

- Ta xa nhà đã hai mươi năm, nay vừa từ hải ngoại về!

Đổng nói:

- Ông ngao du bốn biển, quen biết nhiều người, có thấy ai là bậc dị nhân không?

Đồng hỏi loại dị nhân nào, Đổng bèn nói rõ sở thích của mình, lấy làm hận không được bậc dị nhân nào truyền thụ cho.

Đồng nói:

- Ở đâu mà không có dị nhân, nhưng phải là tôi trung con hiếu thì mới được truyền thụ cho thuật ấy.

Đổng hăng hái tự nói mình sẽ làm được như thế, rồi rút ngay kiếm ra, vỗ vào mà hát, lại chém đứt một cây nhỏ bên đường để khoe kiếm sắc.

Đồng vuốt râu mỉm cười, nhân mượn xem, Đổng bèn đưa cho.

Đồng xem qua một lượt, nói:

- Đây là loại thép làm áo giáp đúc ra, còn ám mồ hôi, chỉ là hạng chót.

Ta tuy chưa học kiếm thuật nhưng cũng có một thanh dùng được.

Rồi rút trong áo ra một thanh đoản kiếm dài khoảng một thước, cầm gọt gươm của Đổng như cắt rau dưa, cắt tới đâu sắt vụn rơi lả tả tới đó.

Đổng khiếp quá, cũng xin cầm xem, múa may đâm chém mấy nhát rồi trả lại, mời Đồng ghé lại nhà, khẩn khoản mời ngủ lại, lạy lục xin học kiếm pháp.

Đồng tạ từ nói không biết, Đổng vỗ gối hứa hẹn hùng hồn, Đồng chỉ kính cẩn ngồi nghe.

Đến khuya chợt ở nhà bên có tiếng quát tháo đánh trói ầm ỉ.

Nhà bên là nơi cha Đổng ở, Đổng giật mình tới bên vách nghe ngóng, chỉ nghe có giọng giận dữ nói:

- Gọi con ngươi ra mau, ta sẽ tha cho!

Giây lát lại có tiếng đánh đập, tiếng rên rỉ không dứt, đúng là tiếng của cha.

Đổng cầm ngọn mác muốn xông qua, Đồng cản lại nói:

- Qua đó sợ không sống được đâu, xin ông nghĩ cách vạn toàn!

Đổng hoảng sợ xin chỉ giáo, Đồng nói:

- Bọn cướp gọi đích danh thì đã rắp tâm giết ông.

ông không có anh em gì khác, hãy trối trăn cho vợ con đã.

Ta sẽ mở của giúp ông dọn dẹp đám thối tha này.

Đổng theo lời vào nói với vợ, vợ níu áo khóc, Đổng bao nhiêu hùng tâm chợt tiêu tan, bèn cùng nhau lên lầu, tìm cung kiếm tên đề phòng bọn cướp đánh qua.

Còn đang luống cuống thì nghe tiếng Đồng trên nóc lầu cười nói:

- May là bọn cướp chạy rồi!

Đốt đuốc soi thì khách đã biến mất, rón rén qua xem thì cha uống rượu ở nhà hàng xóm vừa cầm đuốc về tới, mà trước sân chỉ toàn là cọng rơm cháy dở, mới biết Đồng là bậc dị nhân.

___________________________________

CHƯƠNG 199: ÁI NÔ

Tuế Lan Chấp Chí Tại Môn Trường

Nhất Nguyệt Huân Đào Thập Tải Cường

Tha Nhật Tương Phùng Liêu Báo Đức

Tặng Tương Thi Tỷ Bạn Duy Phòng

Dịch:

Năm Tàn Làm Lễ Bái Sư Môn

Một Tháng Gia Công Học Tập Dồn

Ngày Khác Tương Phùng Còn Báo Đức

Tặng Cho Thị Nữ Bạn Thần Hôn



Từ sinh người huyện Hà Gian (tỉnh Hà Bắc), tới dạy học ở huyện Ân (tỉnh Sơn Đông), đầu tháng chạp về nhà.

Trên đường gặp một ông già nhìn kỹ rồi hỏi:

- Từ tiên sinh nghỉ dạy rồi à, sang năm sẽ mở lớp ở đâu?

Sinh cười đáp:

- Vẫn chỗ cũ!

Ông già nói:

- Ta tên Kính Nghiệp họ Thi, có đứa cháu gọi bằng cậu đang tìm thầy giỏi, vừa nhờ người tới Đông Chàng mời ông Lữ Tử Liêm, nhưng ông ta đã nhận tiền dạy ở Tắc Môn (tỉnh Sơn Đông).

Nếu tiên sinh nhận dạy cho, thì số lương xin trả gấp đôi ở huyện Ân.

Từ lấy cớ đã hứa với chỗ cũ từ chối, ông già nói:

- Thủ tín như thế thật là quân tử, nhưng từ nay đến năm mới cũng còn khá lâu, xin dâng một lượng vàng bái kiến, mong tiên sinh tạm lưu lại dạy cho cháu, sang năm sẽ bàn lại, được không?

Từ bằng lòng.

Ông già xuống ngựa dâng phong bao lễ vật rồi nói:

- Nhà ta không xa lắm, có điều hơi chật hẹp, khó chứa súc vật.

Xin tiên sinh cho ngựa với đầy tớ về, đi bộ với ta cũng hay.

Từ nghe theo, đem hành chất lên ngựa của ông già, đi ba bốn dặm, trời sập tối mới tới nhà, thấy cửa đóng đinh đồng nổi, tay nắm chạm thú, rõ ràng là nhà thế gia.

Ông già gọi cháu ra vái chào, là một đồng tử khoảng mười ba mười bốn tuổi.

Ông già nói:

- Em rể ta là Tưởng Nam Xuyên, lúc sống làm Chỉ huy sứ, chỉ để lại có đứa con này, cũng không phải ngu độn, chỉ là quen tật lười biếng thôi, nay được tiên sinh đạy đỗ cho một tháng thì hơn học mười năm.

Không bao lâu dọn tiệc mời rất linh đình, nhưng lên xuống phục dịch toàn là tớ gái, có một tỳ nữ cầm hồ rượu đứng chầu chực, tuổi khoảng mười lăm mười sáu trở lại, rất mực phong vận, khiến Từ thấy xao xuyến.

Tiệc tan, ông già sai thu xếp chỗ ngủ cho Từ xong mới cáo từ đi ra.

Trời chưa sáng đứa nhỏ đã tới phòng học, Từ vừa dậy đã có tỳ nữ tới hầu khăn lược, chính là nàng cầm hồ rượu tối qua.

Ngày ba bữa cơm đều do nàng mang lên, tối đến lại tới dọn giường.

Từ hỏi sao không có tớ trai, chỉ cười không đáp, trải nệm xong là đi.

Hôm sau lại tới, Từ theo vào trêu cợt, nàng cười không chống cự, rồi ôm ấp nhau, nhân nói:

- Nhà này không có đàn ông, những việc bên ngoài thì nhờ cậu Thi.

Thiếp tên ái Nô, phu nhân kính mến tiên sinh, sợ đám tớ gái không được sạch sẽ nên cho thiếp lại hầu.

Nay phải giữ kín việc này, nếu để lộ ra thì cả hai sẽ mất mặt đấy.

Một đêm nằm chung rồi ngủ quên đến sáng, bị công tử bắt gặp.

Từ xấu hổ, trong dạ bất an, đến tối, Ái Nô tới nói:

- May là phu nhân trọng chàng, nếu không thì hỏng cả rồi.

Công tử vào kể, phu nhân vội bịt miệng không cho nói, như là sợ chàng nghe được, mà cũng chỉ dặn thiếp đừng ở lâu trong phòng học thôi.

Nói xong đi ngay.

Từ vô cùng biết ơn phu nhân.

Nhưng công tử không chăm học, Từ quở trách thì phu nhân cứ tìm cách xin cho, lúc đầu còn sai tỳ nữ, dần dần đích thân ra đứng ngoài cửa nói với thầy, vừa nói vừa khóc, mà cứ tối đến lại hỏi con về bài vở ban ngày.

Từ chịu không nổi, tức giận nói:

- Đã dung túng cho con lười biếng, lại hối thúc ép con siêng năng, làm thầy loại học trò ấy thì ta không quen, xin phép cáo từ.

Phu nhân sai tỳ nữ tới tạ lỗi, Từ mới thôi.

Từ ngày vào dạy, lần nào muốn ra ngoài ngắm cảnh cũng thấy cửa nẻo khóa chặt, một hôm uống rượu say thấy bực tức gọi tỳ nữ hỏi nguyên cớ, nàng đáp:

- Không có gì khác đâu, chỉ vì sợ công tử bỏ bê việc học thôi.

Nếu tiên sinh nhất định muốn ra ngoài, xin chờ lúc ban đêm.

Từ nổi giận nói:

- Nhận vài đồng vàng rồi phải chịu cấm cố đến chết à?

Bảo ta ban đêm trốn ra, là đi đâu?

Lâu nay vẫn xấu hổ vì chỉ ăn không, tiền lương vẫn còn trong túi đây.

Bèn lấy vàng ra đặt lên bàn, thu xếp hành trang định đi.

Phu nhân bước ra, im lặng không nói câu nào, chỉ lấy tay áo che mặt nghẹn ngào, sai tỳ nữ đưa lại vàng, mở khóa tiễn ra.

Từ thấy cửa nẻo chật chội, nghiêng mình lách ra đi vài bước chợt có ánh nắng soi tới, té ra mình vừa dưới mộ chui lên.

Nhìn bốn phía thấy hoang vắng tiêu điều, thì là một ngôi mộ cũ, cả sợ nhưng lại cảm vì có nghĩa, bèn bán vàng đắp mộ cao lên, trồng cây chung quanh rồi đi.

Năm sau Từ lại qua ngang chỗ ấy, ghé vào lễ bái rồi lên đường, thấy ông Thi từ xa tới cười nói thăm hỏi rồi khẩn khoản mời mọc.

Từ biết là ma nhưng muốn nhân dịp hỏi thăm phu nhân nên theo vào thôn, vào quán gọi rượu cùng uống, trời tối lúc nào không biết.

Ông già đứng lên trả tiền rượu rồi nói:

- Nhà ta không xa mấy, em gái ta cũng vừa về thăm nhà, mong tiên sinh dời gót ngọc tới chơi, để quét sạch rủi ro giùm lão phu.

Ra khỏi làng vài chặng lại có một dãy nhà, ông già gõ cửa vào, cầm đèn dẫn khách vào.

Một lát Tưởng phu nhân ra chào, lúc ấy Từ mới nhìn kỹ, thì là một người đẹp khoảng bốn mươi tuổi.

Phu nhân lạy tạ nói:

- Dòng họ sa sút, nhà cửa tiêu điều, ơn đức của tiên sinh thấm tận xương khô, thật không biết lấy gì báo đáp.

Nói xong khóc ròng, kế gọi Ái Nô ra, nhìn Từ nói:

- Thiếp vốn yên mến đứa tỳ nữ này, nay xin đưa tặng để tiên sinh đỡ vắng vẻ nơi đất khách, mà có cần gì nó cũng hơi biết đón ý.

Từ dạ dạ.

Lát sau hai anh em đi ra, để Ái Nô ở lại hầu hạ.

Gà vừa gáy ông già đã tới đưa tiễn, phu nhân cũng ra dặn tỳ nữ phụng sự tiên sinh cho chu đáo, lại nói với Từ:

- Từ nay trở đi càng nên kín đáo, chuyện hai người gặp gỡ nhau quá lạ lùng, e những kẻ hiếu sự lại đặt điều nọ kia.

Từ dạ rồi cáo từ, cùng Ái Nô cưỡi chung ngựa.

Tới nơi dạy chỉ ở một phòng, ăn ngủ với nhau, lúc có khách nàng không tránh đi mà người ta cũng không nhìn thấy.

Từ vừa hơi muốn gì là nàng đã làm ngay, lại giỏi môn đồng cốt, bị bệnh gì chỉ xoa bóp một lần là khỏi.

Đến tiết Thanh minh hai người cùng về khu mộ, nàng chào bước xuống, Từ dặn cho gởi lời cám ơn phu nhân, nàng vâng dạ rồi biến mất.

Mấy hôm sau Từ quay lại, đang định tìm quanh mộ thì đã thấy nàng ăn mặc lộng lẫy ngồi dưới gốc cây, bèn cùng lên đường, cả năm thường đi lại như thế.

Từ muốn cùng nhau về quê, nàng nhất quyết không chịu.

Cuối năm từ biệt nơi dạy về đó, hẹn ngày gặp lại, nàng đưa tới chỗ ngồi hôm trước, chỉ đống đá nói:

- Đây là mộ của thiếp.

Lúc phu nhân chưa xuất giá, thiếp đã theo hầu hạ, chết yểu chôn ở đây.

Nếu chàng qua ngang, cứ thắp cho một nén hương, sẽ gặp lại nhau.

Sau khi chia tay về quê, Từ vô cùng nhớ nhung, tới đó khấn khứa nhưng tuyệt không thấy tăm hơi, bèn mua hòm quật mộ định mang hài cốt nàng về quê để ghi nhớ một thời yêu dấu.

Huyệt vừa mở ra, Từ tự bước xuống, thấy nàng nhan sắc vẫn như còn sống nhưng tuy thịt da chưa nát mà y phục đã mủn ra như tro, trâm ngọc xuyến vàng đều còn mới, lại nhìn tới thắt lưng thấy có cái gói bọc mấy nén vàng bèn cuốn lại giắt vào lưng.

Rồi cởi áo ngoài đắp lên xác nàng, ôm đặt vào quan tài, thuê xe chở về mang vào một gian nhà riêng, mặc xiêm áo thêu cho, một mình ăn ngủ bên cạnh để chờ linh ứng.

Bỗng Ái Nô từ ngoài vào cười nói:

- Tên giặc cướp mộ ở đây à?

Từ ngạc nhiên mừng rỡ hỏi thăm, nàng nói:

- Hôm trước thiếp theo phu nhân qua phủ Đông Xương (tỉnh Sơn Đông) ba ngày, trở về thì nhà cửa đã trống không.

Nhiều lần bảo cùng về vẫn không nghe là vì thiếp chịu ơn phu nhân từ nhỏ nên không nỡ xa lìa mà thôi.

Nay đã cướp xác về đây xin chôn cất sớm cho thiếp được đội ơn sâu.

Từ hỏi:

- Xưa có người chết đã trăm năm vẫn sống lại được, nay xác nàng còn nguyên, sao không làm theo như thế?

Nàng than rằng:

- Chuyện đó là có định số, chứ những sự linh dị mà thế gian đồn đại quá nửa là huyễn hoặc.

Nếu thiếp muốn đứng lên đi lại cũng chẳng có gì khó, chỉ hiềm không thể giống như người sống nên không làm thôi.

Rồi mở quan tài bước vào, cái xác liền đứng dậy, rỡ ràng khả ái, nhưng sờ vào người thì thấy lạnh như băng.

Nàng toan nằm lại vào quan tài, Từ cố ngăn cản thì nói:

- Thiếp được phu nhân yêu mến rất mực, chủ nhân đi làm ăn xa về có mấy vạn lượng vàng, thiếp lấy trộm một ít cũng không tra hỏi ráo nết.

Sau lúc ốm nặng sắp chết, lại không có ai là thân thích bèn giấu kỹ trong người để cùng chôn một chỗ.

Phu nhân thương thiếp chết yểu, lại liệm thêm nhiều châu báu nên sở dĩ xác thân chưa nát chẳng qua là nhờ chút hơi thừa của vàng bạc châu báu thôi, nếu hiện thân sống ở đời thì làm sao lâu dài được?

Như chàng nhất quyết muốn thế thì xin đừng ép thiếp ăn uống, nếu làm linh khí tan mất thì du hồn cũng phải tiêu tan.

Từ bèn dựng một gian tịnh xá để ở với nhau.

Nàng cười nói như người thường nhưng không ăn không ngủ, không gặp người lạ.

Hơn năm sau Từ uống rượu hơi say, cầm chén ép đổ cho nàng, nàng lập tức ngã lăn xuống đất, máu trong miệng chảy ra đầm đìa, hết ngày thì thân xác tan rã.

Từ hối hận thì việc đã rồi, bèn chôn cất thật hậu.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 200+201


CHƯƠNG 200: TIỂU MAI

Lai Khứ Phiêu Nhiên Liễu Bất Đồng

Cảm Ân Đồ Báo Kế Hà Công

Miễu Cô Vô Dạng Quy Lai Nhật

Thủy Tín Giai Danh Hóa Hỷ Hồng

Dịch:

Lui Tới Phiêu Nhiên Khéo Lạ Lùng

Nghĩa Ơn Đền Đáp Nặng Ghi Lòng

Cô Nhi Khang Cát Ngày Về Tới

Mới Thấy Rằng Tên Đúng Hỷ Hồng



Vương Mộng Trinh ở huyện Mông Âm (tỉnh Sơn Đông) là con nhà thế gia, tình cờ đi chơi Chiết Giang thấy một bà già ngồi khóc trên đường.

Hỏi han, bà đáp:

- Chồng ta đã chết chỉ để lại có một đứa con trai, nay nó phạm tội tử hình, ai mà cứu được?

Vương vốn khẳng khái bèn ghi nhớ họ tên rồi bỏ tiền túi lo lót, kế được tha tội.

Người kia ra khỏi ngục nghe nói là Vương cứu mình, ngỡ ngàng không hiểu vì sao, tìm tới nhà trọ khóc lạy tạ rồi hỏi.

Vương đáp:

- Không có gì khác, chỉ là vì ta thương mẹ ngươi già cả mà thôi.

Người kia cả sợ, nói mẹ mình đã chết lâu rồi, Vương cũng lấy làm lạ.

Đến tối bà già tới tạ ơn, Vương trách là lừa dối, bà nói:

- Nói thật ta là con hồ già ở Đông Sơn, hai mươi năm trước có gặp gỡ cha thằng bé một đêm, nên không nỡ để người đã chết đau khổ.

Vương rợn người đứng lên tỏ vẻ kính trọng, định hỏi thêm cho rõ thì bà già biến mất.

Trước đó vợ Vương vốn hiền thục, mộ đạo Phật, không uống rượu.

Trong nhà dành riêng ra một gian phòng sạch sẽ treo hình Quan âm để cầu con trai nối dõi, hàng ngày thắp hương khấn khứa.

Mà Thần Phật lại rất linh thiêng, thường báo mộng dạy những điều cần tránh, nhờ vậy mọi việc trong nhà đều theo dó mà làm.

Sau vợ Vương mắc bệnh nặng bèn sai dời giường vào gian thờ, lại đặt riêng một chiếc nệm gấm trong phòng mà thường đóng kín cửa như giấu diếm điều gì.

Vương cho là tin nhảm nhưng lại nghĩ rằng vợ bệnh nặng mê sảng nên không nỡ trái ý.

Vợ Vương mắc bệnh hai năm, rất ghét tiếng ồn, thường che màn nằm một mình, lắng nghe thì như đang nói chuyện với người nào nhưng mở cửa nhìn thì không có ai.

Lúc nằm bệnh không lo lắng điều gì, duy có đứa con gái mười bốn tuổi, chỉ ngày ngày lo sửa soạn quần áo cưới bảo lấy chồng.

Con gái lấy chồng rồi, nàng gọi Vương tới cạnh giường cầm tay nói:

- Nay xin vĩnh biệt.

Khi thiếp vừa mắc bệnh, Bồ Tát đã báo mộng nói không còn sống lâu được, nhưng niệm tình còn có chuyện chưa làm xong nên ban cho ít thuốc kéo dài hơi tàn đợi đến lúc gả chồng cho con.

Năm ngoái Bồ Tát trở về Nam Hải, lưu lại thị nữ Tiểu Mai săn sóc cho thiếp.

Nay sắp chết, người bạc phận không sinh nở được, thiếp rất thương Bảo Nhi, sợ chàng lấy phải vợ ghen thì mẹ con mất nơi nương tựa.

Tiểu Mai xinh đẹp lại hiền thục, chàng nên cưới làm vợ kế.

Vương vốn có người thiếp sinh được một trai đặt tên là Bảo Nhi, lúc ấy cho lời vợ là hoang đường, bèn hỏi:

- Nàng vẫn thờ kính Thần Phật, nay nói những lời như thế, chẳng cũng bất kính ư?

Vợ đáp:

- Tiểu Mai săn sóc thiếp hơn một năm nay không nề vất vả, thiếp đã nài nỉ khẩn cầu rồi.

Hỏi Tiểu Mai đâu, vợ nói:

- Không có trong phòng sao?

Vương định hỏi nữa thì nàng nhắm mắt tắt thở.

Đêm ấy Vương thức giữ linh cữu, nghe trong phòng có tiếng nức nở, cả sợ ngờ là ma, gọi đám tớ gái mở khóa vào xem thì thấy là một cô gái xinh đẹp khoảng mười sáu tuổi mặc áo tang.

Mọi người cho là thần cùng cúi lạy, cô gái lau nước mắt đỡ dậy.

Vương chăm chú nhìn, nàng chỉ cúi đầu.

Vương nói:

- Nếu lời trối của người đã khuất là đúng thì mời nàng lên nhà trên cho con trẻ, đầy tớ trong nhà lạy chào, nếu không thì ta cũng không dám vọng tưởng để mắc phải tội lỗi.

Nàng đỏ mặt bước ra, cùng lên nhà trên, Vương sai tớ gái trải chiếu rồi bước vào lạy trước, cô gái cũng lạy trả, kế tới mọi người trong nhà theo thứ tự lớn nhỏ ra vái lạy.

Nàng nghiêm trang ngồi nhận lễ, duy đến lượt người thiếp thì đứng lên đỡ dậy.

Từ khi vợ Vương mắc bệnh nằm liệt giường kẻ ăn người làm sinh thói lười biếng ăn cắp, việc nhà đã lâu không có ai coi sóc.

Mọi người làm lễ ra mắt xong, xếp hàng đứng hầu, cô gái nói:

- Ta cảm lòng thành của phu nhân nên lưu lại trần gian, lại được ủy thác cho việc lớn.

Các ngươi đều nên tự mình sửa đổi, gắng sức cho chủ, những lỗi lầm trước đây ta không hỏi tới, nếu không thì đừng nói trong nhà không có người.

Mọi người cùng nhìn lên thấy nàng giống hệt bức tranh Quan âm lay động lúc có làn gió thổi qua, nghe thế run sợ đều dạ ran.

Nàng cắt đặt mọi người lo việc tang đâu vào đấy, từ đó lớn nhỏ trong nhà không ai dám trễ nải.

Cô gái cả ngày lo toan công việc trong ngoài, Vương định làm gì cũng hỏi qua nàng mới làm.

Tuy một ngày gặp nhau mấy lần, nhưng không nói một câu riêng tư.

Sau tang lễ Vương muốn nhắc lời vợ dặn nhưng không dám nói thẳng bèn nhờ người thiếp ngỏ ý.

Cô gái nói:

- Ta đã nhận lời phu nhân dặn dò cặn kẽ, không thể từ chối, nhưng hôn phối là việc lớn, không thể quấy quá.

Hoàng tiên sinh là vai bác, ngôi cao đức lớn, xin mời ông làm chủ hôn thì ta xin vâng mệnh.

Lúc bấy giờ quan Thái bộc họ Hoàng ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông) đã về trí sĩ, là bạn của cha Vương, vẫn đi lại thân thiết với nhau.

Vương lập tức tới thăm kể rõ mọi việc, Hoàng lấy làm lạ bèn cùng tới nhà Vương, cô gái nghe báo liền ra lạy chào.

Hoàng vừa trông thấy, kinh ngạc cho là người tiên, không dám nhận lễ, kế tặng quà rất hậu, làm đám cưới xong rồi về.

Cô gái đưa tặng gối êm giày ấm, chu đáo như thờ cha mẹ chồng, từ đó hai nhà càng thêm thân thiết.

Sau lễ hơp cẩn, Vương vẫn coi nàng là thần nên trong lúc yêu đương vẫn có phần cung kính, thỉnh thoảng lại dò hỏi về việc Bồ Tát ăn ở ra sao.

Cô gái cười nói:

- Chàng thật ngốc quá, làm gì có chuyện thần thánh nào lấy người trần thế?

Vương lại căn vặn nàng từ đâu tới, nàng đáp:

- Không cần phải hỏi kỹ, nếu cho là thần thì cứ sớm tối thờ phụng, sẽ không mắc tội.

Cô gái với người dưới thường khoan dung, lúc nào nói cũng cười nhưng đám tớ gái đang đùa giỡn với nhau vừa thấy bóng nàng là im bặt.

Nàng cười bảo:

- Chẳng lẽ các ngươi còn cho ta là thần sao?

Ta mà là thần thánh gì, thật ra là em phu nhân, nhưng ít khi đi lại, chị ta ốm nhớ em nên ngầm nhờ bà Vương ở thôn nam gọi ta tới, ở đây sợ ngày đêm gần gũi anh rể có điều không tiện nên nói thác là thần, ở kín trong phòng chứ thật ra có phải là thần thánh gì đâu!

Mọi người vẫn chưa tin lắm nhưng hàng ngày hầu hạ bên cạnh thấy nàng chẳng khác gì người thường nên những lời bàn tán cũng hết dần.

Nhưng với đám tôi tớ ngu si bướng bỉnh mà Vương đánh mắng vẫn không dạy dỗ được, nàng chỉ nói một câu là ai cũng ngoan ngoãn vâng lời, đều nói:

- Không rõ vì sao, chứ thật ra không sợ hãi gì nhưng cứ thấy mặt nàng là mềm lòng, không nỡ làm điều gì trái ý.

Từ đó mọi việc trong nhà đều tốt đẹp lên, trong vài năm mà ruộng tốt liền bờ, kho thóc đầy ắp.

Vài năm sau người thiếp sinh một gái, nàng cũng sinh một trai, đứa nhỏ mới sinh ra đã có một nốt ruồi son trên cánh tay phải, nhân đặt tên là Tiểu Hồng.

Lúc đầy tháng, cô gái bảo Vương làm tiệc lớn mời Hoàng, Hoàng gởi quà mừng rất hậu nhưng từ tạ không tới vì già yếu không đi xa được, nàng sai hai bà già qua nài nĩ Hoàng mới tới.

Nàng bế đứa nhỏ ra vạch tay trái để giải thích tên con, lại hỏi đi hỏi lại rằng nốt ruồi ấy là tốt hay xấu.

Hoàng cười đáp:

- Đo như thế là tốt, nên thêm một chữ vào tên, gọi là Hỷ Hồng.

Nàng mừng lắm bước ra lạy tạ.

Hôm ấy đàn sáo vang nhà, thân thích tới mừng đông nghẹt, Hoàng ở chơi ba ngày mới về.

Chợt ngoài cổng có xe ngựa tới đón cô gái về thăm nhà, mọi người vì suốt mười năm không hề thấy nàng có họ hàng gì lui tới nên đều xôn xao bàn tán.

Nhưng cô gái làm như không nghe thấy, cứ sửa soạn hành trang bế con đi, bảo Vương theo tiễn.

Vương đi theo, được khoảng hai ba mươi dặm tới một chỗ vắng, cô gái dừng xe gọi Vương xương ngựa lên buông rèm trò chuyện, nói:

- Vương lang, Vương lang!

Sum họp ngắn ngủi, chia ly lâu dài, chàng có đau lòng không?

Vương hoảng sợ hỏi nguyên do, nàng nói:

- Chàng biết thiếp là ai không?

Vương đáp không biết, nàng hỏi:

- Trước đây chàng có cứu một người bị tội chết ở Giang Nam, đúng không?

Vương đáp có.

Cô gái nói:

- Bà già khóc trên đường ấy là mẹ thiếp, vì cảm nghĩa của chàng nên nghĩ cách báo đáp, mới nhân việc phu nhân mộ đạo Phật bảo thiếp giả làm thần, thật ra là để đem thiếp báo ơn chàng.

Nay may mắn sinh được đứa con này, thế là toại nguyện.

Thiếp thấy chàng sắp đến vận xấu, nếu để đứa nhỏ này ở nhà e không nuôi được, nên phải mang theo để tránh tai ách cho con.

Chàng nhớ là lúc nào trong nhà có ai chết thì cứ lúc gà gáy canh đầu phải tới rặng liễu trên bờ đê Tây Hà, chờ người cầm đèn lồng hoa quỳ tới đón đường cầu khẩn mới có thể thoát nạn.

Vương hứa sẽ nhớ, lại hỏi ngày trở lại, nàng đáp:

- Không thể tính trước, nhưng chỉ cần chàng nhớ kỹ lời thiếp thì ngày tái ngộ cũng không xa lắm đâu.

Lúc lên đường cầm tay Vương khóc ròng, kế lên xe đi nhanh như bay, Vương nhìn theo đến khi khuất bóng mới quay về.

Sáu bảy năm sau Tiểu Mai vẫn bặt tăm, chợt bệch dịch lan tràn khắp nơi, người chết như rạ.

Một người tớ gái trong nhà bị bệnh ba ngày rồi chết, Vương vẫn nhớ lời cô gái dặn nhưng hôm ấy có khách, uống rượu say ngủ quên, tỉnh dậy nghe tiếng gà gáy vội tìm ra rặng liễu trên đê, thấy có ánh đèn le lói song đã xa rồi, vội đuổi theo nhưng đi được một bước thì thấy xa thêm trăm bước, càng duổi theo thì ánh đèn càng xa, dần dần không thấy đâu nữa.

Vương buồn rầu trở về, vài hôm sau mắc bệnh nặng rồi chết.

Họ hàng Vương có nhiều kẻ vô lại, thấy thế cùng ức hiếp con côi vợ góa, lúa ruộng trái vườn công nhiên gặt hái, nhà cửa ngày càng sa sút.

Qua năm sau Bảo Nhi lại chết, trong nhà không có ai là chủ, bọn chúng càng ngang ngược, chiếm hết ruộng vườn, bắt hết trâu ngựa.

Lại muốn chia nhau cả nhà cửa, vì người thiếp của Vương còn ở đó bèn dắt mấy người tới bắt ép đem bán.

Người thiếp thương đứa con gái nhỏ, mẹ con bịn rịn khóc lóc, láng giềng đều thương xót.

Đang lúc nguy cấp chợt nghe ngoài cổng có tiếng xe ngựa đỗ lại, mọi người nhìn ra thì Tiểu Mai dắt con trai bước xuống.

Nàng nhìn quanh thấy mọi người đang nhao nhao như cái chợ, bèn hỏi đó là ai, người thiếp khóc lóc kể lại.

Cô gái biến sắc mặt, lập tức sai người theo hầu đóng cổng khóa lại.

Bọn kia toan chống cự nhưng tay chân tự nhiên nhũn ra, cô gái ra lệnh trói tất cả lại vào cột nhà, mỗi ngày cho ăn ba bát cháo loãng, sai một lão bộc tới báo ngay cho ông Hoàng, kế vào nhà khóc lóc thảm thiết rồi nói với người thiếp rằng:

- Đó là số trời, ta đã định về từ tháng trước lại vì mẹ ta ốm nặng nên chần chừ đến nay, không ngờ trong chớp mắt chàng đã thành người thiên cổ!

Lại hỏi tới các tôi tớ cũ thì đều bị người trong họ cướp đi, càng thêm thương cảm.

Hôm sau tôi tớ nghe tin nàng tới đều trốn về, gặp lại nhau đều sa nước mắt.

Bọn người trong họ bị trói cùng kêu rằng đứa nhỏ kia không phải là con Mộ Trinh, cô gái cũng không thèm tranh cãi.

Kế ông Hoàng tới, nàng dẫn con ra đón, Hoàng cầm tay đứa nhỏ kéo tay áo bên trái lên thì nốt ruồi son vẫn còn đó, bèn chỉ cho mọi người thấy chứng cứ đích xác.

Liền hỏi kỹ về những vật đã mất, những người đã lấy, biên hết vào sổ báo lên quan huyện.

Quan bắt tất cả bọn vô lại lên đánh mỗi tên bốn chục roi giam lại rồi lục soát nhà cửa, ruộng đất trâu ngựa đều trở về chủ cũ.

Hoàng sắp về cô gái dắt con ra khóc lạy rồi nói:

- Thiếp không phải là người trần, chú đã biết rổi.

Nay xin đem đứa con côi này gởi gắm cho chú.

Hoàng đáp:

- Lão phu còn một hơi thở cũng cố lo lắng cho nó.

Hoàng về rồi, cô gái xếp đặt việc nhà xong, gởi con cho người thiếp rồi mang lễ vật ra mộ cúng chồng, nửa ngày không về, ra xem thấy mâm bàn rượu thịt vẫn còn đó mà người đã biến mất.

_____________________________________

CHƯƠNG 201: TÍCH NỮ

NGƯỜI DỆT CỬI

Thúy Đại Chu Anh Tưởng Ngọc Dung

Ngân Hà Siêu Cách Mạc Trùng Trùng

Thanh Thiên Bích Hải Phiêu Nhiên Khứ

Doanh Đắc Tân Từ Xướng Ảo Nùng

Dịch:

Mày Liễu Môi Son Vóc Ngọc Ngà

Ngân Hà Thấp Thoáng Bóng Hằng Nga

Trời Xanh Biển Biếc Bâng Khuâng Bước

Một Khúc Tân Từ Áo Não Ca



Huyện Thiệu Hưng (tỉnh Chiết Giang) có người quả phụ đêm ngồỉ đánh sợi, chọt có một cô gái đẩy cửa bước vào cười nói:

- Bà không mệt sao?

Nhìn ra thấy khoảng mười tám mười chín tuổi dung nhan đẹp đẽ, áo xiêm lộng lẫy.

Bà già kinh ngạc hỏi:

- Cô ở đâu tới đây?

Cô gái đáp:

- Thương bà ở một mình, nên tới làm bạn.

Bà già ngờ là thê thiếp nhà giàu sang trốn đi, cứ căn vặn mãi.

Cô gái nói:

- Bà đừng sợ, thiếp dù là hồ, cũng giống bà thôi.

Thiếp mến bà là người trong sạch nên tới ở chung, cả hai đều đỡ vắng vẻ, thế không tốt sao?

Bà già lại ngờ là hồ, trầm ngâm do dự, cô gái bèn lên giường đánh sợi giúp, nói:

- Bà đừng lo việc kiếm sống thế này thiếp giỏi bậc nhất, quyết không làm phiền nhau về cái ăn cái uống đâu.

Bà già thấy nàng dịu dàng khả ái nên bằng lòng.

Đến khuya nàng nói với bà già:

- Có gói chăn gối mang theo còn để ngoài cổng, lúc nào nghỉ phiền bà cầm vào giùm.

Bà già ra, quả thấy một gói y phục liền đem vào cô gái mở ra bày trên giường, không biết là loại gấm lụa gì mà thơm phức mịn màng không gì sánh kịp.

Bà già cũng trải chăn đệm ra cùng nàng ngủ chung một giường, nàng vừa cởi quần áo ngoài ra thì có mùi hương lạ thơm nức cả phòng.

Lúc đi nằm, bà già thầm nghĩ gặp người đẹp thế này mà tiếc rằng mình không phải là đàn ông, cô gái đang nằm cười nói:

- Bà đã bảy mươi tuổi mà còn vọng tưởng à?

Bà già đáp:

- Đâu có!

Nàng nói:

- Đã không vọng tưởng, sao lại muốn làm đàn ông?

Bà già càng biết chắc là hồ, cả sợ, cô gái lại cười nói:

- Muốn làm đàn ông để làm gì, sao còn sợ ta chứ?

Bà già càng khiếp sợ, run bần bật lay động cả giường.

Cô gái nói:

- Mật chỉ lớn có bấy nhiêu mà lại muốn làm đàn ông.

Nói thật ta chính là người tiên nhưng không phải là loại gái gây tai họa đâu, chỉ cần bà kín miệng thì tự nhiên đủ cái ăn cái mặc.

Sáng ra bà già dậy sớm sụp lạy bên giường, cô gái kéo đứng lên, tay mịn như mỡ đông, tỏa mùi hương ấm, da thịt chạm tới là thấy rạo rực.

Bà già động tâm lại suy nghĩ vẩn vơ, cô gái mỉm cười nói:

- Bà già vừa mới run bần bật đây mà lại nghĩ ngợi gì thế?

Nếu bà là đàn ông, chắc sẽ chết vì tình.

Bà già nói:

- Nếu ta là đàn ông thì đêm qua làm sao sống được?

Từ đó hai người hòa hơp, hàng ngày cùng làm việc, nhìn thấy sợi cô gái đánh ra mịn đều óng ánh, đem dệt thành vải thì sáng ngời như gấm, bán được giá gấp ba.

Bà già đi đâu thì đóng cửa, có ai tới thăm thì bà tiếp đãi ở phòng khác, cô gái ở đó nửa năm mà không ai biết.

Về sau bà già dần dần nói lộ ra cho láng giềng biết, đám chị em quen biết kéo nhau tới nhờ nói giùm xin cho được gặp cô gái.

Nàng trách móc, nói:

- Bà không giữ gìn lời nói, thì ta không ở đây lâu được đâu.

Bà già hối hận vì đã lỡ lời, vô cùng ăn năn, nhưng những kẻ xin cho được gặp cô gái ngày càng đông, có người còn toan lấy quyền thế ép buộc.

Bà già khóc lóc bày tỏ, cô gái nói:

- Nếu là chị em bạn gái thì gặp mặt cũng không hại gì, sợ đám đàn ông khinh bạc tới gặp rồi giở trò suồng sã.

Bà già lại năn nỉ, nàng mới ưng thuận.

Hôm sau đám đàn bà già trẻ cầm hương đèn chen nhau đầy cổng, cô gái ghét phiền rộn nên bất kể là sang hèn đều không trò chuyện, chỉ im lặng ngồi thẳng nghe họ chào hỏi mà thôi.

Bọn thiếu niên trong làng nghe đồn nàng đẹp, thần hồn điên đảo nhưng bà già đều cự tuyệt không cho gặp.

Có Phí sinh là danh sĩ trong huyện, dốc hết gia sản đem món tiền lớn tới mua chuộc bà già, bà nhận lời xin cho.

Cô gái đã biết trước, trách:

- Bà bán ta à?

Bà già quỳ rạp xuống đất tự thú.

Cô gái nói:

- Bà thì tham tiền đút lót, ta thì cảm mối si tình, có thể cho gặp một lần, nhưng thế là hết duyên phận rồi đấy.

Bà già lại dập đầu năn nỉ, nàng bèn hẹn hôm sau.

Sinh nghe tin mừng rỡ, sắm đủ hương đèn tới, vào cửa chắp tay vái dài.

Cô gái ngồi trong rèm tiếp chuyện, hỏi:

- Chàng phá tán gia sản để gặp nhau, có điều gì dạy bảo thiếp?

Sinh đáp:

- Thật không dám có ý gì khác, chỉ là nghe tiếng Mao Tường, Tây Tử mà thôi.

Nếu không chê là ngu tối ngang bướng, cho được mở rộng tầm mắt một lần thì kẻ hèn này đã thỏa nguyện rồi.

Còn chuyện lành dữ đã có số trời, không cần nói tới.

Chợt thấy sau tấm rèm vải dung nhan tỏa sáng chiếu ra, mày biếc môi son đều nhìn thấy rõ tựa hồ không bị rèm màn ngăn cách.

Sinh ý động thần dao, bất giác lạy sụp xuống.

Lạy xong đứng lên thì tấm rèm như dày nặng hơn, chỉ nghe tiếng mà không thấy gì nữa.

Đang ngậm ngùi trộm tiếc chưa nhìn thấy được phần dưới bỗng dưới tấm rèm nhô ra hai chiếc hài thêu cong mũi xinh xắn không dài hơn ngón tay.

Sinh lại cúi lạy, cô gái trong rèm nói vọng ra:

- Thôi chàng về nghỉ, thiếp cũng mệt rồi!

*[Mao Tường, Tây Tử tức Mao Tường và Tây Thi, người nước Việt thời Chiến quốc, nổi tiếng là giai nhân trong lịch sử Trung Hoa].

Bà già mời sinh qua phòng khác pha trà tiếp đãi, Sinh đề lên vách một bài từ điệu Nam hương tử như sau:

Ẩn ước họa liêm tiền

Tam thốn lăng ba ngọc duẫn tiêm.

Điểm địa phân minh, liên biện lạc tiêm tiêm.

Tái trước trùng đài cánh khả liên

Hoa thấn phượng dầu loan

Nhập ác ưng tri nhuyễn tự miên

Đãn nguyện hóa vi hồ điệp khứ lộ biên

Nhất khứu dư hương tử diệc cam.

Dịch:

(Thấp thoáng trước màn là

Măng ngọc hài thêu mấy tấc hoa

Chấm đất rỡ ràng cánh sen rụng la đà

Đài gương gặp lại nghĩ thương ta

Có hóa được làm trâm

Vào trong mới biết tóc mây mềm

Chỉ mong hoá bướm lượn bên nàng

Ngửi chút hương thừa, chết cũng cam.)

Đề xong ra về.

Cô gái xem bài từ không vui, nói với bà già:

- Ta nói duyên phận đã hết, nay quả không sai.

Bà già quỳ rạp xuống đất chịu tội, nàng nói:

- Không phải chỉ riêng bà có tội.

Ta ngẫu nhiên sa vào nghiệp tình, đem sắc đẹp cho người ta thấy nên mới bị lời bậy bạ làm nhơ nhuốc, đều là tự mình chuốc lấy, còn trách ai được?

Nếu không đi mau cho xa, sợ sẽ đắm vào vực tình, kiếp sau cũng khó mà thoát ra khỏi.

Rồi xách khăn gói đi ra, bà già đuổi theo giữ lại thì trong chớp mắt đã biến mất.
 
Back
Top Bottom