Cập nhật mới

Khác Liêu Trai Chí Dị ( Full )

Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 99+100+101


CHƯƠNG 99: LƯU HẢI THẠCH

Yêu Họa Tiềm Hưng Cơ Mạc Đào

Hà Kỳ Viện Thủ Hữu Đồng Bào

Cơ Thiếp Thốc Hốt Thành Tiều Tụy

Do Thị Ai Minh Tích Nhất Mao

Dịch:

Yêu Họa Mầm Gây Tránh Được Nao

Dè Đâu Giải Cứu Có Đồng Bào

Trá Hình Cơ Thiếp Sinh Tai Họa

Nhổ Sợi Lông Mà Vẫn Tiếc Sao?



Lưu Hải Thạch người huyện Bồ Đài (tỉnh Sơn Đông), tránh loạn tới ở Tân Châu (thuộc tỉnh Cát Lâm).

Năm ấy mười bốn tuổi học cùng thầy với người học trò ở Tân Châu là Lưu Thương Khách, nhân chơi thân với nhau nên kết nghĩa anh em.

Không bao lâu cha mẹ Hải Thạch mất, Hải Thạch mang hài cốt về quê, từ đó bặt tin.

Thương Khách nhà khá giả, đến năm bốn mươi tuổi có hai con trai, con trưởng là Cát, mười bảy tuổi đã là danh sĩ trong huyện, con thứ cũng thông minh.

Thương Khách lại nộp sính lễ cưới con gái nhà họ Nghê trong huyện, rất yêu dấu.

Nửa năm sau con trưởng đau óc rồi chết, vợ chồng đều buồn rầu.

Không bao lâu vợ lại mắc bệnh chết, vài tháng sau con dâu trưởng cũng chết, rồi tôi tớ cũng nối nhau chết, Thương Khách vô cùng thương xót đau buồn.

Một hôm đang ngồi buồn bã chợt người giữ cổng vào báo là Hải Thạch tới, Thương Khách mừng rỡ vội ra cổng đón vào.

Đang định hỏi thăm sức khỏe, chợt Hải Thạch kinh ngạc nói:

- Anh có cái tai vạ chết sạch cả nhà mà không biết sao?

Thương Khách ngạc nhiên không hiểu ý tứ.

Hải Thạch nói:

- Lâu quá không có tin tức, vẫn thầm nghĩ gần đây anh không được vui.

Thương Khách sa nước mắt kể lại mọi chuyện, Hải Thạch than thở hồi lâu rồi cười nói:

- Tai ương chưa hết, lúc nãy là phúng điếu cho anh, nhưng may là anh gặp được ta, vậy xin chúc mừng anh.

Thương Khách hỏi:

- Lâu quá không gặp chắc anh học được nghề thuốc giỏi lắm phải không?

Hải Thạch đáp:

- Chuyện đó thì không phải sở trường, nhưng những môn coi đất xem nhà thì có học.

Thương Khách mừng rỡ xin xem nhà cho, Hải Thạch bèn vào trong xem khắp trước sau, kế xin cho gặp mặt hết mọi người trong nhà.

Thương Khảch theo lời, gọi tất cả con trai con dâu, thê thiếp gia nhân tới sảnh đường, Hải Thạch nhìn kỹ từng người, tới họ Nghê thì ngửa mặt cười lớn không thôi.

Mọi người đang kinh hãi thì thấy cô gái họ Nghê run rẩy tái mặt, thân hình chợt co rúm lại chỉ còn hơn hai thước.

Hải Thạch lấy thước đánh vào đầu, nghe leng keng như gõ vào đá.

Hải Thạch nắm tóc cô ta xem sau gáy, thấy có mấy cọng lông trắng, toan nhổ thì cô gái rụt cổ quỳ xương kêu khóc xin tha đừng nhổ.

Hải Thạch giận dữ nói:

- Ngươi chưa bỏ hết lòng hung ác à?

Rồi nhổ cả ra, cô gái lập tức biến thành con vật đen như con mèo mun, mọi người cả sợ.

Hải Thạch tóm lấy bỏ vào tay áo, quay lại nhìn con dâu thứ của Thương Khách nói:

- Cháu bị ngấm chất độc đã nhiều, trên lưng ắt có sự lạ, xin cho ta xem.

Người con dâu xấu hổ không chịu vén áo lên, con trai Lưu phải ép vén lên, thấy trên lưng có sợi lông trắng dài khoảng bốn đất tay.

Hải Thạch lấy trâm khều ra, nói:

- Sợi lông này đã mọc lâu rồi, chỉ bảy ngày nữa ắt không sao cứu được.

Lại xem tới lưng con trai Lưu thì cũng có sợi lông trắng nhưng chỉ mới dài khoảng hai đốt tay, bèn nói:

- Thế này thì hơn một tháng sẽ chết!

Rồi xem khắp từ Thương Khách tới gia nhân, khều ra hết cho, nói:

- Nếu ta không tới, thì chắc cả nhà không ai sống nổi.

Lưu hỏi đó là con gì, Hải Thạch đáp:

- Cũng là hồ thôi, nhưng hút tinh khí người ta để tu luyện, chuyên làm chết người.

Thương Khách hỏi:

- Lâu quá không gặp ông, sao lại có phép thuật thần diệu như vậy, hay đã thành tiên rồi ư?

Hải Thạch cười đáp:

- Chỉ là theo thầy học chút thuật mọn thôi, đâu đáng nói là tiên?

Hỏi thầy là ai, Hải Thạch đáp:

- Là Sơn Thạch đạo nhân.

Con vật này thì ta không thể giết, định sẽ mang về nộp cho thầy.

Nói xong cáo từ, xem lại thấy trong tay áo trống không giật mình nói:

- Nó chạy mất rồi, ở cuối đuôi còn sợi lông lớn chưa nhổ nên nó trốn được.

Mọi người đều hoảng sợ, Hải Thạch nói:

- Nó đã bị nhổ hết lông trên cổ thì không thể biến ra hình người nữa, chỉ có thể biến thành thú, chắc chưa chạy xa đâu.

Bèn vào phòng xem xét lũ mèo, lại ra cổng tắc lưỡi gọi chó, đều nói là không có.

Tới mở cửa chuồng heo xem thì cười nói:

- Nó đây rồi!

Thương Khách nhìn, thấy trong chuồng dư ra một con heo, nghe tiếng Hải Thạch cười thì nằm mọp xuống không dám động đậy.

Hải Thạch nắm tai kéo ra, thấy ở chót đuôi có một sợi lông trắng cứng như cây kim, đang định nhổ thì con heo giãy giụa kêu khóc không cho nhổ.

Hải Thạch nói:

- Ngươi làm ác đã nhiều mà bị nhổ một sợi lông cũng không muốn à?

Rồi nhổ luôn ra, con heo lập tức biến thành chồn, Hải Thạch bỏ vào tay áo định đi luôn, Thương Khách giữ mãi mới ở lại ăn một bữa cơm.

Hỏi khi nào lại gặp nhau, Hải Thạch đáp:

- Chuyện đó khó biết trước, nhưng thầy ta có lời nguyền nên thường sai bọn ta ngao du khắp nơi cứu giúp cho người ta, cũng có thể sẽ gặp lại.

Sau khi chia tay, Thương Khách nhớ lại tên đạo nhân mới sực hiểu, nói:

- Hải Thạch thành tiên rồi!

Chữ sơn và chữ thạch hơp lại thành chữ Nham, chính là tên húy của tiên ông Lữ Động Tân.

____________________________________

CHƯƠNG 100: KHUYỂN ĐĂNG

NGỌN ĐÈN CHÓ

Minh Đăng Nhất Ảo Tác Miên Lư

Tái Ảo Hoàn Thành Tuyệt Thế Thù

Thảng Quắc Hồng Sam Phi Chủ Mệnh

Tương Phùng Khẳng Nhận Bạc Tình Vô

Dịch:

Ngọn Đèn Một Biến Thành Con Chó

Hai Biến Lại Thành Tuyệt Sắc Nương

Lột Áo Nếu Không Do Lệnh Chủ

Gặp Còn Nhận Kẻ Bạc Tình Chẳng?



Nhà Quang lộc tự khanh Hàn Đại Thiên có người đầy tớ đêm ngủ ngoài hè, thấy trên lầu có ánh đèn như sao sáng.

Không bao lâu ánh đèn lập lòe rơi xuống, tới đất thì biến thành con chó, hé mắt nhìn thấy nó đi vòng ra sau nhà.

Vội vùng dậy lẻn theo xem, vào tới trong vườn thấy biến thành cô gái, biết là hồ bèn quay lại chỗ ngủ.

Lát sau cô gái từ sau nhà tới, y vờ ngủ để chờ xem sao, cô gái bèn tới nằm đè lên.

Y làm ra vẻ vừa tỉnh ngủ, hỏi là ai.

Cô gái không đáp, y nói:

- Ánh đèn trên lầu là nàng đấy phải không?

Cô gái đáp:

- Đã biết rồi còn hỏi làm gì?

Rồi ngủ với nhau.

Từ đó cứ sáng đi khuya tới, dần dần thành lệ.

Chủ nhân biết được, sai hai người đầy tớ khác cùng tới ngủ kèm, nhưng cứ khi họ tỉnh dậy thì thấy mình đã nằm dưới đất, cũng không biết rơi khỏi giường lúc nào.

Chủ nhân càng tức giận, nói với người đầy tớ:

- Lúc nào nó tới thì phải bắt đem tới đây, nếu không thì ăn đòn.

Người đầy tớ không dám nói gì, dạ dạ lui ra, nhưng nghĩ bắt cô ta rất khó, mà không bắt thì sợ bị tội trăn trở không biết làm sao.

Chợt nhớ ra cô gái có chiếc áo lót mình màu đỏ, thường mặc sát vào người chưa lần nào cởi ra, ắt đó là chỗ yếu hại, có thể nắm lấy nó để uy hiếp.

Nửa đêm cô gái tới, hỏi:

- Chủ nhân dặn anh bắt ta phải không?

Y đáp:

- Đúng là có chuyện đó, nhưng hai ta ân tình thắm thiết, nỡ nào ta chịu?

Kế đó cùng lên giường, y lén cởi chiếc áo lót, cô gái vội kêu lên, giãy giụa vùng ra chạy mất, từ đó biệt tăm luôn.

Sau người đầy tớ từ nơi khác về, xa xa nhìn thấy cô gái ngồi cạnh đường, tới gần thì nàng lấy tay áo che mặt.

Y xuống ngựa gọi rồi hỏi:

- Sao lại làm thế?

Cô gái đứng dậy cầm tay y nói:

- Ta vẫn cho là chàng đã quên tình cũ, nay thấy có ý quyến luyến cố nhân thì có thể tha thứ.

Chuyện trước đây là theo lệnh chủ nhân, cũng không trách chàng được.

Nhưng duyên phận đã hết, nay có bữa tiệc nhỏ xin mời vào uống để chia tay.

Lúc ấy đang đầu mùa thu, lúa mì đang tốt, cô gái dắt y chui vào đám ruộng, thấy bên trong có một tòa phủ đệ lớn.

Y buộc ngựa rồi vào, thấy trong sảnh đường đã bày đầy rượu thịt, ngồi vào bàn thì đám tỳ nữ liên tiếp đưa thức ăn lên.

Mặt trời sắp lặn, người đầy tớ có việc phải về báo với chủ nhân bèn chia tay.

Khi trở ra thấy vẫn là ruộng lúa mì như cũ.

_____________________________________

CHƯƠNG 101: LIÊN THÀNH

Ngâm Tương Tân Cú Hiến Trang Đài

Bác Đắc Khuynh Thành Tiếu Kiểm Khai

Ung Nhục Khu Khu Hà Túc Tích

Đa Tình Hoàn Hữu Tuẫn Thân Lai

Dịch:

Câu Thơ Lựa Hiển Trước Trang Đài

Được Mỹ Nhân Coi Nhoẻn Miệng Cười

Thịt Ngựa Cỏn Con Đâu Đáng Tiếc

Nặng Tình Ắt Đã Thác Theo Ai



Kiều sinh người huyện Tấn Ninh (tỉnh Vân Nam), thuở trẻ rất nổi tiếng.

Năm hơn hai mươi tuổi tính gan dạ, chơi thân với Cố sinh, khi Cố mất thường chu cấp cho vợ con Cố.

Quan huyện lấy văn chương cùng sinh giao du thân mật, kế mất tại chức, gia đình nấn ná mãi không về được, sinh bỏ hết gia tài ra đưa linh cữu về quê quán, khứ hồi hơn hai ngàn dặm, vì thế sĩ lâm càng trọng, nhưng từ đó nhà cửa ngày càng sa sút.

Hiếu liêm họ Sử có con gái tên Liên Thành, giỏi thêu thùa, lại biết chữ nên Hiếu liêm rất thương yêu, đem bức tranh Thiếu nữ ngồi thêu mỏi mệt của nàng thêu ra cho các văn sĩ thiếu niên đề vịnh, ý muốn qua đó kén rể.

Sinh hiến bài thơ như sau:

Dung hoàn cao kết lục bà sa

Tảo hướng lan song tú bích hà

Thích đáo uyên ương hồn dục đoạn

Ám đình châm tiễn kiển song nga.

Dịch:

(Tóc xanh cao búi dáng thơ ngây

Sáng tới song thêu cảnh ráng mây

Thêu tới uyên ương hồn tựa đứt

Lén ngừng kim chỉ khẽ chau mày).

Lại một bài khen nàng thêu khéo rằng:

Tú tiễn khiêu lai tự tả sinh

Bức trung hoa điểu tự thiên thành

Đương niên chức cẩm phi trường kỹ

Hạnh bả hồi văn cảm thánh minh.

Dịch:

(Thêu như sống thật thấy tài chưa?

Hoa điểu trời xanh há kém thua

Hơn hẳn năm xưa người dệt gấm

Hồi văn may được cảm lòng vua)*

*[Tranh gấm, hồi văn may được cảm lòng vua: theo Trữ tình thi, đời Đường Vũ tông nàng họ Hầu có chồng là Trương Thấu làm tướng ra đồn thú ở biên cương mười năm không được về, nàng bèn thêu bài thơ hồi văn theo hình con rùa (tức bài thơ mà các dòng chữ đan chéo vào nhau trở đi trở lại tạo ra các ô hình quả trám giống mai rùa, chỗ nhô ra giống đầu rùa là chỗ bắt đầu bài thơ), tới cửa khuyết dâng lên Vũ tông, vua cảm động bèn cho Trương Thấu về].

Cô gái được thơ mừng lắm, trước mặt cha cứ khen sinh nức nở, nhưng cha chê sinh nghèo.

Nàng gặp ai cũng ca ngợi sinh, lại sai bà vú giả vâng lệnh cha đem tiền tặng giúp sinh học hành.

Sinh than rằng:

- Liên Thành là tri kỷ của ta!

Từ đó trong lòng luôn mơ tưởng như kẻ khát muốn uống nước.

Kế Sử Hiếu liêm nhận hứa gả nàng cho con nhà buôn muối Vương Hóa Thành, sinh mới tuyệt vọng, nhưng mộng hồn vẫn còn tơ tưởng.

Ít lâu sau, nàng mắc bệnh nặng nằm liệt giường, có nhà sư Tây Vực nói mình có thể chữa được, nhưng phải có một đồng cân thịt ở ngực đàn ông để trộn thuốc.

Sử sai người tới nhà họ Vương nói với con rể, con rể cười nói:

- Ông già ngây đòi cắt thịt ở ngực ta sao?

Người ấy về kể lại, Sử tức giận nói với mọi người rằng ai có thể cắt thịt cứu con gái thì sẽ gả nàng luôn cho.

Sinh nghe tin tới nhà Sử, tự cầm đao bén cắt thịt trước ngực trao cho nhà sư máu ướt đẫm cả áo, nhà sư rịt thuốc cho mới hết.

Nhà sư trộn thịt với thuốc thành ba viên cho uống trong ba ngày, cô gái liền khỏi bệnh.

Sử định làm theo lời hứa, nhưng trước tiên cho họ Vương biết, Vương nổi giận định kiện.

Sử bèn làm tiệc mời sinh, bày ngàn vàng trên án, nói:

- Mang ơn rất nặng, xin được báo đáp!

Rồi nói rõ lý do nuốt lời.

Sinh không vui, nói:

- Ta sở dĩ không tiếc miếng thịt trên ngực là để báo đáp người tri kỷ chứ có bán thịt đâu.

Rồi phẩy tay áo bỏ về.

Cô gái nghe thấy trong lòng không nỡ, nhờ bà vú tới an ủi, lại nói:

- Tài hoa như chàng chắc không phải khổ lâu, lo gì trên đời thiếu giai nhân.

Ta thường nằm mơ thấy điềm không lành, ba năm nữa ắt chết, chàng không cần tranh giành con người sắp chết này.

Sinh nói với bà vú:

- Kẻ sĩ chết cho người biết mình chứ không vì sắc đẹp.

Ta sợ Liên Thành chưa thật biết ta, chứ nếu nàng biết thật thì không lấy nhau cũng có hề gì.

Bà vú thay nàng thề thốt bày tỏ lòng thành, sinh nói:

- Nếu đúng thế thì lúc nào gặp nhau, chỉ cần nàng cười với ta một cái thì dù chết cũng không ân hận gì.

Bà vú bèn trở về.

Mấy hôm sau sinh tình cờ ra đường, gặp cô gái từ nhà chú về, đưa mắt liếc sinh nhoẻn miệng cười.

Sinh cả mừng nói:

- Liên Thành quả thật biết ta!

Gặp lúc họ Vương qua bàn chọn ngày đón dâu, bệnh cũ của cô gái lại phát, vài tháng thì chết.

Sinh tới viếng tang, đau lòng gào lớn một tiếng rồi chết luôn.

Sử cho khiêng về nhà, sinh tự biết mình đã chết nhưng cũng không buồn bã gì, cứ đi ra khỏi thôn, muốn gặp Liên Thành một lần.

Xa thấy trên đường phía tây bắc người đi nườm nượp như kiến, sinh trà trộn chen lẫn vào đó.

Giây lát vào một dinh thự gặp ngay Cố sinh.

Cố kinh ngạc hỏi:

- Sao ông lại tới đây?

Rồi lập tức cầm tay sinh định dắt về.

Sinh thở dài nói tâm nguyện còn chưa xong, Cố nói:

- Ta coi sổ sách ở đây cũng được tín nhiệm, nếu giúp đỡ đỡ gì thật không dám tiếc.

Sinh hỏi Liên Thành, Cố lập tức dẫn đi, qua mấy nơi thì thấy Liên Thành cùng một nữ lang áo trắng đang buồn bã ngồi ở góc hành lang.

Nàng thấy sinh tới đứng bật dậy như rất mừng rỡ, hỏi sao tới đây.

Sinh đáp:

- Nàng chết, ta đâu dám sống!

Liên Thành khóc nói:

- Kẻ phụ nghĩa thế này còn không phỉ nhổ bỏ đi, chết theo làm gì?

Nhưng đã lỗi hẹn với chàng kiếp này, thề kiếp sau sẽ báo đáp.

Sinh nói với Cố:

- Ông có việc xin cứ đi, ta vui sướng được chết chứ không thích sống nữa, nhưng phiền ông tra lại sổ sách xem Liên Thành thác sinh ở đâu để ta đi theo.

Cố gật đầu rồi đi.

Nữ lang áo trắng hỏi sinh là ai, Liên Thành kể lại, nữ lang nghe xong như cũng ngậm ngùi.

Liên Thành nói với sinh:

- Nàng này cùng họ với thiếp, tên Tân Nương, con gái quan Thái thú Trường Sa, cùng đi một đường tới đây nên rất thương yêu nhau.

Sinh liếc thấy nàng có vẻ dễ thương, đang định hỏi rõ hơn thì Cố đã quay lại nhìn sinh chúc mừng:

- Ta đã lo liệu cho ông xong rồi, nương tử đây nay được theo ông hoàn hồn, được chứ?

Hai người cùng mừng rỡ, đang định từ biệt thì Tân Nương khóc lớn nói:

- Chị đi thì em biết về đâu?

Xin rủ lòng thương xót cứu cho em được theo hầu.

Liên Thành thương xót nhưng không biết làm sao, quay qua bàn với sinh, sinh lại năn nỉ Cố.

Cố tỏ vẻ khó khăn, nói là không được, sinh năn nỉ mãi bèn nói:

- Để ta thử làm bừa xem sao!

Rồi đi.

Khoảng ăn xong bữa cơm thì quay lại xua tay nói:

- Biết mà, thật là vạn phần không sao giúp được.

Tân Nương nghe thế nghẹn ngào khóc lóc, cứ nép vào Liên Thành chỉ sợ nàng đi mất, buồn bã không biết làm sao, chỉ nhìn nhau im lặng, nét mặt thê thảm khiến người ngoài cũng phải mủi lòng.

Cố sinh phát phẫn nói:

- Thôi ông cứ đưa Tân Nương theo, nếu chẳng may có chuyện gì tiểu sinh xin chịu hết.

Tân Nương mới mừng rỡ theo sinh ra.

Sinh lo cho nàng đường xa không có ai đi cùng, Tân Nương nói:

- Thiếp đi theo chàng chứ không muốn về nhà.

Sinh nói:

- Nàng ngây quá!

Không về thì làm sao sống lại được.

Ngày khác ta tới Hồ Nam, xin đừng lánh mặt là may rồi.

Vừa lúc có hai bà già nhận trát tới Tràng Sa, sinh gởi Tân Nương theo, Tân Nương khóc từ biệt lên đường.

Trên đường về Liên Thành đi rất chậm, cứ hơn dặm lại nghỉ, nghỉ hơn mười lần mới thấy cổng làng.

Liên Thành nói:

- Sau khi sống lại e lại có chuyện lật lọng, xin cứ đòi lấy xác thiếp, thiếp sống lại ở nhà chàng mới không phải ăn năn về sau.

Sinh cho là đúng.

Bèn cùng nhau về nhà sinh, cô gái run rẩy như không đi nổi, sinh phải đứng lại chờ.

Nàng nói:

- Thiếp tới đây thấy chân tay run rẩy như không tự chủ được, e không được toại nguyện, phải bàn bạc thật kỹ, nếu không thì sau khi sống lại làm sao theo ý mình được?

Hai người cùng vào gian phòng cạnh nơi quàn quan tài, im lặng một lúc thì Liên Thành cười hỏi:

- Chàng có ghét thiếp không?

Sinh ngạc nhiên hỏi sao nói thế, nàng thẹn thùng đáp:

- Sợ việc không xong thì lại phụ chàng lần nữa, xin lấy hồn báo đáp chàng trước.

Sinh mừng rỡ, cùng nàng giao hoan hết sức đằm thắm, vì vậy lưu luyến không rời, ở cùng nhau luôn ba ngày.

Liên Thành nói:

- Lời ngạn có câu Nàng dâu có xấu cũng phải ra mắt cha mẹ chồng, cứ bịn rịn ở đây không phải là kế lâu dài.

Rồi nàng giục sinh vào nhập hồn, vừa tới cạnh quan tài thì sinh giật mình sống dậy.

Người nhà kinh ngạc lấy nước cháo đổ cho, sinh bèn sai người mời Sử tới, xin cho được đem xác Liên Thành về, nói là có thể làm cho nàng sống lại.

Sử mừng rỡ theo lời, vừa khiêng nàng tới nhà sinh, nhìn lại thì đã sống lại.

Nàng nói với cha rằng:

- Con đã trao thân cho Kiều lang, không có lý nào trở về, nếu có chuyện gì thay đổi thì chỉ có chết mà thôi.

Sử về sai tớ gái qua hầu hạ nàng.

Họ Vương nghe tin làm đơn kiện, quan ăn hối lộ xử bắt nàng về lại nhà Vương.

Sinh phẫn hận muốn chết, nhưng cũng không biết làm sao.

Liên Thành tới nhà Vương, phẫn uất bỏ ăn uống, chỉ mong chết ngay, cứ lúc vắng người là treo cổ lên xà nhà.

Qua hôm sau bệnh càng nặng, hơi thở thoi thóp, Vương sợ đưa nàng về nhà Sử, Sử lại cho khiêng về nhà sinh, Vương biết nhưng đành phải bỏ đó.

Liên Thành khỏi bệnh, thường nhớ Tân Nương, muốn gởi thư thăm hỏi nhưng vì đường xa đi lại khó khăn.

Một hôm gia nhân vào thưa ngoài cổng có xe ngựa khách lạ, vợ chồng chạy ra xem thì Tân Nưong đã vào tới sân, gặp nhau vừa mừng vừa tủi.

Quan Thái thú đích thân đưa con gái tới, sinh mời vào nhà.

Thái thú nói:

- Tiểu nữ nhờ ông mà được sống lại, thề không lấy ai khác, hôm nay ta làm theo ý nó.

Sinh bèn vái lạy theo lễ con rể cha vợ.

Sử Hiếu liêm cũng tới ba nhà đoàn tụ rất vui vẻ.

Sinh tên Niên, tự Đại Niên.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 102+103


CHƯƠNG 102: UÔNG SĨ TÚ

Thần Dũng Năng Tương Thạch Cổ Đầu

Hỷ Phù A Phụ Điệu Quy Châu

Đạp Viên Cánh Miễn Giang Ngư Phúc

Mạc Quái Nhân Gian Ái Kích Cầu

Dịch:

Thần Lực Ra Tay Quăng Trống Đá

Đón Cha Thuyền Nhẹ Thuận Quy Trình

Nhờ Tài Thoát Khỏi Nuôi Loài Cá

Chẳng Trách Người Ưa Học Đá Banh



Uông Sĩ Tú người đất Lô Châu (huyện Hợp Phì tỉnh An Huy), tính gan dạ khỏe mạnh, có thể nhấc được cái cối đá.

Cha con đều giỏi đá cầu, năm cha hơn bốn mươi tuổi qua sông Tiền Đường bị chết đuối.

Tám chín năm sau, Uông có việc đi Hồ Nam, đêm đậu thuyền trên hồ Động Đình.

Lúc ấy trăng rằm mọc ở phía đông, mặt nước phẳng lặng như tấm lụa.

Uông đang ngắm cảnh chợt có năm người dưới hồ nhô lên, cắp theo chiếc chiếu to trải lên mặt hồ, rộng chừng nửa mẫu, rồi lăng xăng bày rượu thịt, cốc chén va nhau thành tiếng nhưng không vang như tiếng sành sứ.

Bày xong, ba người ngồi xuống, hai người hầu rượu.

Trong ba người ngồi có một mặc áo vàng, hai mặc áo trắng, đều đội khăn đen cao vót, phía dưới liền luôn với vai áo, kiểu dáng rất kỳ lạ nhưng ánh trăng chập chờn không sao nhìn rõ.

Hai người hầu đều mặc áo đen, một người tựa tiểu đồng, một người tựa ông già.

Chỉ nghe người áo vàng nói:

- Đêm nay trăng đẹp quá, phải uống thật say.

Người áo trắng nói:

- Phong cảnh đêm nay giống hệt hôm Quảng Lợi vương thết tiệc ở đảo Lê Hoa.

Ba người chuốc rượu lẫn nhau, uống rất ngon lành nhưng nói hơi khẽ nên không nghe thấy gì nữa.

Người lái thuyền nép mình, không dám thở mạnh.

Uông nhìn kỹ người hầu già thấy rất giống cha nhưng nghe giọng nói lại không phải.

Sắp hết canh hai, chợt một người nói:

- Nhân lúc trăng sáng thế này, nên đá cầu một lúc cho vui.

Lập tức thấy đứa tiểu đồng nhảy xuống nước mang lên một vật hình tròn to đầy một ôm, bên trong như chứa thủy ngân, trong ngoài sáng quắc.

Ba người ngồi đứng cả dậy, người áo vàng gọi ông già cùng đá, quả cầu bay cao hơn trượng, lấp loáng chói mắt.

Chợt nghe "bình" một tiếng, quả cầu bay ra xa lọt vào thuyền.

Uông ngứa nghề lấy hết sức đá trả, thấy mềm nhẹ lạ thường.

Cú đá mạnh như phá vỡ, quả cầu vọt lên gần một trượng, chất sáng bên trong bắn ra rót xuống như cầu vồng rồi rơi mau xuống, quả cầu cũng như ngôi sao chổi lao thẳng xuống nước, kêu ùng ục rồi mất tăm.

Mấy người trên tiệc đều nổi giận nói:

- Thằng tục tử nào làm bọn ta mất hứng thế?

Người hầu già cười nói:

- Không kém không kém, đó là ngón Quặt sao băng của nhà ta đấy.

Người áo trắng bực giọng bỡn cọt ấy, túc giận nói:

- Ta đang bực mình, thằng hầu già lại dám đùa hả?

Mau cùng thằng nhỏ qua bắt tên ngông cuồng lại đây, không thì đầu gối sẽ được ăn chùy đấy.

Uông thấy không còn chỗ nào trốn được nên cũng không sợ nữa, xách đao ra đứng giữa thuyền.

Thấy ông già và đứa tiểu đồng cầm binh khí tới, nhìn kỹ thì đúng là cha mình, vội gọi lớn:

- Cha ơi!

Con đây mà!

Ông già cả sợ nhìn con buồn thảm, đứa tiểu đồng thấy vậy quay về ngay.

Ông già nói:

- Con trốn ngay đi, nếu không thì chết cả hai cha con bây giờ.

Chưa dứt lời thì cả ba người kia đã lên tới trên thuyền, người nào cũng mặt mũi đen sì, mắt to hơn trái lựu, túm lấy ông già lôi đi.

Uông cố sức giằng lại, thuyền chòng chành đứt cả dây neo.

Uông dùng đao chém vào tay họ, một cánh tay rơi xuống, người áo vàng bỏ chạy.

Một người áo trắng sấn vào Uông, Uông chém sả vào đầu, y rơi tõm xuống nước, cả bọn biến mất.

Uông định giong thuyền đi luôn trong đêm thì thấy có cái mõm to nhô lên mặt nước, sâu rộng như cái giếng, nước hồ bốn bên rót vào, réo lên ào ào.

Lát sau nó phun nước ra, sóng cao tận sao trời, hàng vạn chiếc thuyền cùng chòng chành, người trên hồ đều khiếp đảm.

Trên thuyền có hai cái trống đá đều nặng cả trăm cân, Uông nhấc một cái ném xuống đánh ầm như sét, sóng nước êm dần, ném luôn cái nữa thì sóng gió tắt hết.

Uông ngờ cha là ma, ông già nói:

- Số ta chưa chết, mười chín người cùng đắm thuyền đều bị yêu quái ăn thịt, ta nhờ biết đá cầu nên được toàn tính mạng.

Bọn yêu đắc tội với Long quân sông Tiền Đường nên trốn qua hồ Động Đình này, cả ba đều là cá thành tinh, quả cầu kia là bong bóng cá.

Cha con vui mừng, đang đêm chèo thuyền đi ngay.

Trời sáng thấy trong thuyền có cái vây cá đường kính tới bốn năm thước, chợt nghĩ ra đó là cánh tay chặt đứt được đêm qua.

_____________________________________

CHƯƠNG 103: TIỂU NHỊ

Toàn Bằng Phiến Ngữ Chỉ Mê Tân

Tự Thị Thông Minh Tuyệt Thế Nhân

Lân Ký Hưu Kinh Đa Dị Thuật

Bạch Liên Hoa Hiện Vị Nhi Thần

Dịch:

Được Lời Chỉ Dẫn Thoát Mê Tân

Trí Tuệ Thông Minh Thật Tuyệt Trần

Lân Lý Đừng Kinh Nhiều Phép Lạ

Bạch Liên Hoa Đã Hiện Nên Thân



Triệu Vượng người huyện Đằng (tỉnh Sơn Đông), vợ chồng đều thờ Phật, không ăn mặn, người trong vùng xếp vào hạng thiện nhân.

Nhà cũng khá giả, có một con gái tên là Tiểu Nhị rất thông minh xinh đẹp, Triệu rất thương yêu.

Năm nàng sáu tuổi, được cho theo anh là Trường Xuân cùng đi học, qua năm năm thì thuộc làu cả Ngũ kinh.

Có Đinh sinh là bạn học, lớn hơn ba tuổi, dáng người nho nhã phong lưu rất say mê nàng, nói với mẹ tới cầu hôn với họ Triệu, nhưng Triệu muốn gả nàng cho nhà đại gia nên chối từ.

Không bao lâu Triệu bị Bạch Liên giáo mê hoặc, khi Từ Hồng Nho làm phản, cả nhà đều theo giặc.

Tiểu Nhị học giỏi thông minh, phàm những phép thuật cắt giấy làm quân, rải đậu làm ngựa cho qua là hiểu ngay.

Có sáu cô gái nhỏ theo làm đồ đệ của Từ thì nàng giỏi nhất, nhờ vậy họa được hết phép thuật của Từ.

Triệu nhờ có con gái như vậy nên được Từ trọng dụng.

Năm ấy Đinh mười tám tuổi, đã vào học trường huyện nhưng không chịu cưới vợ vì không quên Triệu Nhị, bèn ngầm trốn đi tới xin làm quan của Từ.

Cô gái gặp Đinh rất mừng rỡ, đối xử trọng hậu khác hẳn người thường.

Cô gái vì là học trò giỏi của Từ, được coi sóc việc cơ nên đi đêm về hôm cha mẹ cũng không ngăn cấm được.

Đêm nào nàng cũng gặp Đinh, thường đuổi hết những người hầu đi, đến canh ba mới về.

Đinh nói riêng với nàng rằng:

- Tiểu sinh tới đây, nàng có biết ý mọn là gì không?

Cô gái đáp không biết.

Đinh nói:

- Ta không phải muốn cầu danh vị, sở dĩ tới đây thật ra cũng vì nàng mà thôi.

Bọn tả đạo chẳng làm được chuyện gì đâu, chỉ chuốc lấy diệt vong thôi, nàng là người thông tuệ mà không nghĩ tới điều đó sao?

Nếu trốn đi với ta, thì quyết không phụ nhau.

Cô gái sực nghĩ ra, chợt như tỉnh mộng, nói:

- Bỏ cha mẹ mà đi thì bất nghĩa, xin để ta nói với hai người đã.

Rồi vào trình bày lợi hại, Triệu không nghe, nói:

- Thầy ta là bậc thần nhân, há lại lầm lẫn sao?

Nàng biết không thể can ngăn, bèn búi tóc lại lấy ra hai con diều bằng giấy rồi cùng Đinh mỗi người cưỡi lên một con, diều vỗ cánh phành phạch như gọi nhau rồi sát cánh bay lên.

Đến sáng tới địa giới huyện Lai Vu (tỉnh Sơn Đông), nàng lấy ngón tay búng vào cổ diều, hai con diều xếp cánh hạ xuống.

Cô gái cất diều đi, lấy ra hai cỗ lừa rồi cùng tới làng Sơn âm, nói thác là người chạy loạn, thuê nhà ở lại đó.

Hai người vội vã ra đi nên không mang theo bao nhiêu tiền bạc, củi nước không đủ, Đinh rất lo lắng, nhưng hỏi láng giềng chẳng ai chịu cho vay mượn.

Cô gái lại không hề tỏ vẻ lo buồn, cứ cầm bán vòng xuyến, đóng cửa ở yên với nhau.

Đêm đến vặn nhỏ đèn ngồi nhớ lại những sách đã học.

Láng giềng bên tây họ Ông, là kẻ kiệt hiệt trong bọn lục lâm, một hôm về nhà, cô gái nói:

- Có láng giềng như thế ta còn lo gì nữa.

Hãy mượn ngàn vàng, liệu y cho không?

Đinh cho là khó, cô gái nói:

- Ta sẽ bắt y tình nguyện đưa chứ?

Rồi cắt giấy làm hình Phán quan âm ty đặt dưới đất, lấy cái lồng gà úp lên rồi kéo Đinh lên giường hâm rượu uống.

Lấy sách Chu lễ làm tửu lệnh, cứ nói quyển ấy trang nào dòng nào rồi cùng mở ra xem, ai được chữ có bộ thực (ăn), bộ thủy (nước), bộ dậu (như chữ tửu) thì phải uống, được chữ tửu (rượu) thì phải uống gấp đôi.

Kế cô gái được chữ tửu, Đinh lấy chén lớn rót đầy rượu bắt uống ngay, nàng bèn khấn:

- Nếu mượn được vàng về thì chàng phải được bộ ẩm.

Đinh giở sách được chữ miết (ba ba), cô gái cười lớn nói:

- Chàng được chữ miết, phải uống say như con ba ba.

Đang tranh cãi ầm lên chợt nghe trong cái lồng gà có tiếng lạch cạch, cô gái bước xuống nói:

- Tới rồi!

Rồi mở ra xem thì thấy vàng nén chất đống, Đinh vô cùng kinh ngạc mừng rỡ.

Về sau bà vú nhà họ Ông bế trẻ qua chơi, nói vụng rằng:

- Chủ nhân vừa về tới nhà, đang đốt đèn ngồi chợt mặt đất xé ra sâu không biết là bao nhiêu, có một vị Phán quan từ dưới bước lên nói "Ta là sai dịch dưới âm ty.

Thái Sơn Đế quân hội các ty tào ở âm phủ làm quyển sách ghi chép tội ác của bọn trộm cướp, làm một ngàn ngọn đèn mỗi ngọn nặng mười lượng vàng, người nào cúng một trăm ngọn thì dược xóa hết tội lỗi".

Chủ ta sợ quá thắp hương khấn khứa rồi cúng một ngàn lượng vàng.

Phán quan cầm lấy bước xuống dưới, mặt đất lại khép lại.

Hai vợ chồng nghe thế cố ý tặc lưỡi tỏ vẻ kinh ngạc.

Từ đó dần dần mua trâu ngựa, nuôi đầy tớ, xây nhà cửa.

Bọn vô lại trong làng thấy giàu có bèn họp đảng nhân đêm tới đánh cướp nhà Đinh.

Vợ chồng Đinh vừa tỉnh giấc thì thấy đèn đuốc sáng rực, bọn cướp đã đứng đầy trong nhà.

Hai tên bắt lấy Đinh, lại một tên khác thò tay vào bụng cô gái, cô gái vùng ra chỉ tay quát:

- Đứng im!

Tất cả mười ba tên cướp đều trợn mắt đớ lưỡi đứng sững ra như tượng gỗ.

Cô gái mới mặc áo bước xuống giường gọi gia nhân, trói cả bọn lại hỏi cung rõ ràng xong bèn nói:

- Người ở phương xa tới nương náu, lẽ ra phải giúp đỡ, sao lại bất nhân như thế?

Người ta ai cũng có lúc này lúc khác, các ngươi cùng quẫn thì cứ nói rõ, ta há lại nỡ giàu có đủ ăn một mình sao?

Cái thói sài lang lẽ ra phải giết hết, nhưng ta không nỡ, hãy tạm tha cho một lần, nếu tái phạm sẽ không tha đâu.

Bọn cướp dập đầu lạy tạ rồi đi.

Không bao lâu Từ Hồng Nho bị bắt, vợ chồng và con trai họ Triệu đều bị chém, sinh bỏ tiền tới xin chuộc đứa con nhỏ của Trường Xuân mang về.

Đứa nhỏ lúc ấy ba tuổi, Đinh nuôi nấng như con ruột, cho lấy họ Đinh, đặt tên là Thừa Triệu, từ đó người làng dần dần biết nó là hậu duệ của Bạch Liên giáo.

Gặp lúc có cào cào phá lúa, cô gái lấy giấy cắt làm mấy trăm con ó thả trên ruộng, cào cào đều tránh xa không dám vào ruộng nhà, nhờ thế không bị tổn hại gì.

Người làng đều ghen ghét kéo nhau lên thưa quan rằng nàng là dư đảng của Từ Hồng Nho, quan thấy nhà Đinh giàu cũng muốn làm tiền, bèn bắt Đinh.

Đinh đem nhiều tiền lo lót với quan mới được thả.

Cô gái nói:

- Lui tới buôn bán là kế tạm bợ, thế nào cũng bị tổn thất, mà đây là nơi làng xóm rắn rết, không thể ở lâu được.

Nhân bán hết cơ nghiệp dời đi, tới ở ngoài cửa Tây huyện thành.

Cô gái là người lanh lợi khéo léo, giỏi buôn bán, làm ăn còn hơn cả đàn ông.

Mở xưởng làm đồ pha lê, chỉ vẽ cho thợ cách làm, hàng làm ra đều tinh xảo đẹp đẽ những xưởng khác không sao bằng được, vì vậy bán giá cao mà vẫn chạy.

Được vài năm càng thêm giàu có, nhưng cô gái đốc thúc tôi tớ rất nghiêm, nhà có hàng trăm người ăn nhưng không ai dám lười biếng.

Lúc rảnh thường cùng Đinh pha trà đánh cờ hoặc đọc sách làm vui.

Từ tiền gạo thu chi cho tới công việc tôi tớ cứ năm ngày lại xem xét một lần, cô gái cầm thẻ, Đinh thì ghi sổ, đọc rõ từng việc.

Người siêng năng thì thưởng theo thứ bậc, người lười biếng thì đánh roi bắt quỳ, ngày hôm ấy thì không làm việc ban đêm, vợ chồng dọn rượu thịt gọi gia nhân vào ăn uống hò hát làm vui.

Cô gái xét việc sáng suốt như thần, mọi người không ai dám lừa dối nhưng nàng thường công xứng đáng nên công việc đều trót lọt.

Trong làng có hơn hai trăm nhà, nhà nào nghèo thì giúp vốn cho làm ăn, nhờ thế vùng ấy không có ai lười biếng rong chơi.

Gặp lúc đại hạn, nàng bảo người trong thôn đắp đàn ngoài ruộng, đang đêm ngồi kiệu ra đó lên đàn làm phép đảo vũ, lập tức mưa ngọt đổ xuống, trong năm dặm đều ngập bàn chân, mọi người càng cho là thần.

Cô gái ra ngoài ít khi che mặt, người trong làng đều nhìn thấy, có bọn thiếu niên tụ tập bàn vụng rằng nàng đẹp nhưng khi gặp nàng đều kính cẩn không dám nhìn thẳng mặt.

Cứ tới mùa thu lại cho tiền bọn trẻ con chưa đủ sức làm ruộng trong thôn thuê cắt cỏ đồ tô, qua hai mươi năm chất đống đầy trong nhà, người ta trộm chê cười.

Gặp lúc Sơn Đông đói kém, người ta phải ăn thịt nhau, cô gái đem cỏ nấu cháo cấp cho kẻ đói, các thôn chung quanh đều nhờ vào đó mà sống, không ai phải bỏ đi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 104+105


CHƯƠNG 104: CANH NƯƠNG

Phong Ba Hốt Địa Khởi Đồng Chu

Nhiễm Nhược Nga Mi Cánh Phục Thù

Tưởng Kiến Thương Thương Lân Tiết Liệt

Tam Sinh Trùng Hứa Phú Trù Mâu

Dịch:

Cùng Thuyền Bỗng Nổi Cơn Giông Tố

Mềm Yếu Nga Mi Báo Được Thù

Thấy Rõ Trời Thương Người Tiết Liệt

Ba Sinh Tái Tạo Phú Trù Mâu



Kim Đại Dụng là con nhà thế gia cũ ở Trung Châu (tỉnh Hà Nam), cưới con gái quan Thái thú họ Vưu tên Canh Nương, xinh đẹp mà hiền đức, vợ chồng rất thương yêu nhau.

Vì có bọn giặc nổi loạn, mọi người đều bỏ nhà tìm nơi trốn tránh, Kim dẫn gia quyến đi về miền nam.

Giữa đường gặp một thiếu niên cũng dắt vợ chạy loạn, tự nói là Vương Thập Bát ở đất Quảng Lăng (huyện Giang Đô tỉnh Giang Tô), tình nguyện dẫn đường.

Kim vui mừng, lúc đi lúc nghỉ đều có nhau.

Tới Hà Thượng, Canh Nương nói thầm với chồng:

- Đừng đi chung thuyền với người này.

Yđã mấy lần nhìn thiếp, ánh mắt láo liêng mà sắc mặt thay đổi, là người tâm địa khó lường.

Kim ưng thuận.

Nhưng Vương đã ân cần đi tìm thuê một chiếc thuyền lớn, lăng xăng khiêng vác hành lý lên giúp, rất là sốt sắng nên Kim không nỡ từ chối để đi riêng.

Lại nghĩ y có đem vợ theo, chắc cũng không có ý gì khác.

Vợ Vương cùng ngồi với Canh Nương trong thuyền, thấy ý tứ cũng hiền hậu dịu dàng, Vương thì ngồi trên mũi thuyền trò chuyện rì rầm với chủ thuyền như quen biết thân thiết với nhau từ lâu.

Không bao lâu mặt trời lặn mà đường sông quanh co dần dần không còn nhận ra phương hướng, Kim nhìn quanh thấy vắng vẻ hiểm hóc đã hơi ngờ sợ, lát sau trăng mọc, chỉ thấy lau sậy ngút ngàn.

Kế thuyền đậu lại, Vương mời cha con Kim ra ngoài ngắm cảnh, thừa cơ xô Kim xuống sông.

Cha Kim nhìn thấy định la lên thì bị người chủ thuyền cầm sào gạt xuống nước, cũng chìm luôn.

Mẹ Kim nghe tiếng bước ra xem, lại bị gạt rơi xuống nốt, bấy giờ Vương mới kêu cứu.

Lúc mẹ bước ra, Canh Nương ở phía sau đã rình thấy mọi việc, kế nghe nói cả nhà chết đuối cũng không có vẻ sợ hãi, chỉ khóc nói:

- Cha mẹ chồng đều chết, ta biết về đâu?

Vương vào thuyền khuyên:

- Nương tử đừng lo, xin theo ta về Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tô), nhà ta có ruộng đất đủ sống, quyết không có gì đáng ngại.

Nàng nín khóc nói:

- Nếu được như vậy là ta thỏa nguyện rồi!

Vương cả mừng, đối xử với nàng hết sức ân cần.

Tối đến kéo nàng đòi giao hoan, nàng nói thác là đang kỳ kinh, Vương bèn về chỗ vợ nằm.

Đến hết canh một, hai vợ chồng cãi nhau ầm lên, không biết vì chuyện gì, chỉ nghe vợ nói:

- Ngươi làm như thế thì e sấm sét đánh nát đầu ra.

Vương đánh vợ, vợ la lớn:

- Chết thì thôi chứ ta quyết không làm vợ thằng giặc giết người.

Vương tức giận gầm lên, túm lấy vợ lôi ra ngoài, nghe một tiếng ùm, rồi Vương kêu lên là vợ mình ngã xuống sông chết đuối rồi.

Không bao lâu tới Kim Lăng, Vương dẫn Canh Nương về nhà, lên sảnh đường ra mắt mẹ.

Mẹ ngạc nhiên vì không phải là con dâu cũ, Vương nói:

- Vợ con chết đuối, mới lấy người này!

Về tới phòng riêng, Vương lại muốn giở trò này nọ, Canh Nương cười nói:

- Đàn ông ngót ba chục tuổi mà còn chưa biết xử sự.

Cho dù là mua tỳ thiếp thì đêm thành thân cũng phải có ly rượu nhạt, nhà anh giàu có thì chuyện ấy cũng không khó, chứ lặng ngắt nhìn nhau thì còn ra thể thống gì?

Vương mừng rỡ bèn dọn tiệc đối ẩm, Canh Nương nâng chén mời rất ân cần.

Vương dần say, chối từ không uống nữa, nàng bèn rót một chén lớn gượng lả lơi mời mọc, Vương không nỡ chối từ liền uống cạn, lúc ấy say mèm, cởi tuột quần áo ra hối đi ngủ.

Canh Nương dọn mâm tắt đèn rồi nói thác là đi tiểu, ra ngoài phòng cầm dao trở vào, trong bóng tối lấy tay mò lên cổ Vương.

Vương còn vuốt tay nàng lè nhè lả lơi, Canh Nương ra sức cứa mạnh một nhát nhưng Vương không chết ngay, rú lên vùng dậy, nàng bồi thêm nhát nữa mới chết.

Mẹ Vương nghe có tiếng chạy qua hỏi, nàng cũng giết nốt.

Em trai Vương là Thập Cửu biết chuyện chạy tới, Canh Nương tự biết không thoát được vội tự tử nhưng lưỡi dao đã cùn không cứa sâu được, vội mở cửa bỏ chạy.

Thập Cửu đuổi tới thì nàng đã nhảy xuống ao rồi.

Thập Cửu gọi láng giềng cứu lên thì nàng đã chết nhưng dung mạo vẫn tươi đẹp như khi còn sống.

Mọi người cùng vào xem xác Vương, thấy có bức thư trên cửa sổ, mở ra xem thì là thư của nàng kể rõ sự oan khổ, đều cho rằng nàng trinh liệt, bàn nhau góp tiền chôn cất.

Sáng ra có mấy ngàn người tới xem, nhìn thấy dung mạo nàng đều vái lạy.

Trọn ngày thì quyên được trăm lượng vàng, chôn nàng ở phía nam thành, những kẻ hiếu sự còn đem mão ngọc áo bào liệm cho nàng, xây mộ rất to cao.

Lúc trước Kim sinh rơi xuống sông bám được tấm ván trôi trên sông nên không chết, chiều hôm sau trôi tới Hoài Thượng thì gặp một chiếc thuyền nhỏ vớt lên.

Thuyền này là của nhà phú hộ họ Doãn đặt trên sông để cứu người chết đuối, Kim tỉnh lại rồi bèn tới tạ ơn ông Doãn, ông đối xử rất tử tế, giữ Kim ở lại nhờ dạy con mình học.

Kim không rõ cha mẹ sống chết ra sao, đang còn ngần ngại chưa quyết thì có người tới thưa ông Doãn rằng vừa vớt được xác hai ông bà già.

Kim ngờ là cha mẹ mình, chạy tới nhìn mặt quả đúng.

Ông Doãn sắm quan tài chôn cất cho, sinh đang đau đón khóc lóc, lại nghe báo vớt được một người đàn bà, tự nói chồng mình là Kim sinh.

Kim giật mình gạt lệ ra xem thì người đàn bà đã tới, không phải Canh Nương mà là vợ Vương Thập Bát.

Nàng nhìn Kim khóc lớn, nói xin đừng bỏ nhau.

Kim nói:

- Ta đang lúc lòng dạ rối bời, còn rảnh đâu mà lo cho vợ người khác?

Nàng càng đau xót.

Doãn hỏi rõ đầu đuôi, mừng là đạo trời báo ứng, khuyên Kim lấy nàng làm vợ.

Kim chối từ nói đang có tang, vả lại đang định báo thù cho cha mẹ, sợ nàng yếu ớt sẽ bị liên lụy.

Nàng nói:

- Nói như chàng thì giả như Canh Nương còn sống chàng cũng vì việc cư tang và báo thù mà bỏ hay sao?

Doãn khen lời ấy, xin tạm thu dưỡng nàng thay, Kim mới ưng thuận.

Hôm chôn cất cha mẹ Kim nàng cũng mặc tang phục khóc lóc như là cha mẹ chồng thật.

Chôn cất xong, Kim định giắt dao đeo bị xin ăn tìm tới Quảng Lăng, nàng ngăn lại nói:

- Thiếp họ Đường, tổ tiên vốn ở Kim Lăng, cùng làng với gã lang sói ấy, lúc trước y nói ở Quảng Lăng là dối trá.

Vã lại bọn thủy khấu chốn sông hồ có một nửa là đồng đảng của y, coi chừng thù không trả được mà rước vạ vào thân.

Kim ngần ngừ không biết tính sao, chợt có tin đồn về chuyện cô gái giết chết kẻ thù, khắp một vùng sông hồ đều xôn xao, nói rõ ràng cả tên họ.

Kim nghe được một phen hả dạ nhưng càng đau đớn, chối từ không lấy Đường thị, nói:

- May mà ta không bị mang nhục, nhưng trong nhà có người vợ trinh liệt như thế thì đâu nỡ phụ lòng mà cưới vợ nữa.

Đường thị nói đã bàn bạc thành chuyện rồi, không chịu giữa đường chia tay, nguyện làm nàng hầu vợ lẽ.

Gặp lúc có Phó Tướng quân họ Viên quen biết Doãn, nhân lên đường phó nhiệm ở miền tây ghé thăm, gặp Kim rất thích, mời theo làm Ký thất.

Không bao lâu sau giặc cướp nổi loạn phạm vào kinh đô, Viên đánh dẹp lập công lớn, Kim cũng tham dự việc quân cơ, được bảo cư phong chức Du kích trở về, lúc ấy vợ chồng mới làm lễ thành thân.

Vài hôm sau Kim dắt vợ đi Kim Lăng viếng mộ Canh Nương, ngang huyện Trấn Giang (tỉnh Giang Tô) định lên Kim Sơn ngắm cảnh.

Đang xuôi dòng chợt có chiếc thuyền đi ngược chiều, trong có một bà già và một thiếu phụ, ngạc nhiên vì thấy thiếu phụ rất giống Canh Nương.

Thuyền Kim lướt mau qua, thiếu phụ nhô ra cửa sổ nhìn Kim, càng thấy thần thái giống nàng.

Kim kinh ngạc ngờ vực không dám đuổi theo hỏi, vội gọi lớn:

- Nhìn lũ vịt con đang bay trên trời kìa!

Thiếu phụ nghe thấy cũng lớn tiếng gọi:

- Chó con lại muốn ăn thịt mèo sao?

Đó là lời nói lóng của vợ chồng vẫn đùa nhau trong phòng riêng ngày xưa.

Kim giật mình cho quay chèo đuổi theo, tới gần thì quả là Canh Nương.

Con hầu đỡ Canh Nương qua thuyền Kim, vợ chồng ôm nhau khóc nức nở, người trên thuyền đều thương cảm.

Đường thị lấy lễ vợ thiếp chào Canh Nương, Canh Nương ngạc nhiên hỏi, Kim bèn kể lại mọi chuyện.

Canh Nương cầm tay Đường thị nói:

- Trò chuyện một lần với nhau trên thuyền, lòng vẫn không quên, không ngờ nay lại được Hồ Việt một nhà.

Đội ơn thay mặt chôn cất cha mẹ chồng, lẽ ra ta phải tạ ơn trước, sao lại làm lễ với nhau như thế?

Bèn so tuổi tác Đường thị kém một tuổi nên làm em.

Trước là canh Nương đã được chôn cất, cũng không tự biết đã bao lâu, chợt nghe có người gọi nói:

- Canh Nương, chồng ngươi không chết đâu, rồi vợ chồng sẽ được sum họp.

Liền thấy như vừa tỉnh mộng.

Sờ thấy bốn phía đều là vách tường, mới hiểu ra rằng mình chết đi đã được chôn, nhưng chỉ thấy hơi buồn bực chứ cũng không có gì khổ sở.

Có bọn thiếu niên bất lương biết nàng có nhiều vật tùy táng quý giá bèn đào mộ phá quan tài, đang định tìm tòi nhặt nhạnh thì thấy Canh Nương vẫn còn sống, cả bọn đều khiếp đảm.

Canh Nương sợ chúng làm hại nên năn nỉ, nói:

- May có các ông tới nên ta lại được nhìn thấy mặt trời, bao nhiêu trâm vòng xin cứ lấy hết, xin đem bán ta cho chùa làm ni cô thì có thể cũng được thêm ít nhiều, ta không nói lộ ra với ai đâu.

Bọn trộm dập đầu nói:

- Nương tử trinh liệt, thần người đều khâm phục.

Bọn tiểu nhân chẳng qua vì nghèo túng hết cách sống mà phải làm việc bất nhân này, chỉ cần nương tử không nói lộ ra là may lắm rồi, chứ đâu dám bán nương tử làm ni cô.

Canh Nương đáp:

- Đó là tự ta muốn mà!

Một tên nói:

- Cảnh phu nhân ở Trấn Giang góa chồng mà không có con, nếu gặp được nương tử ắt là mừng lắm.

Canh Nương tạ ơn rồi tự tháo hết các vật châu báu trang sức ra đưa, bọn trộm không dám nhận.

Nàng cố ép, cả bọn cùng lạy tạ nhận lấy rồi chở nàng đi.

Tới nhà Cảnh phu nhân, họ nói thác rằng nàng bị gió bạt thuyền lạc tới đây.

Cảnh phu nhân nhà giàu có mà lớn tuổi góa chồng vò võ một mình, gặp Canh Nương cả mừng, coi như con đẻ, hôm ấy là hai mẹ con đi chơi Kim Sơn trở về.

Canh Nương kể hết đầu đuôi xong, Kim bèn qua thuyền lạy mẹ.

Phu nhân tiếp đãi như con rể, mời tới nhà chơi mấy ngày mới cho về từ đó vợ chồng qua lại nhà bà luôn luôn.

_____________________________________

CHƯƠNG 105: CUNG MỘNG BẬT

Kim Nhật Trần Sa Túc Tế Bần

Tích Niên Kim Ngọc Đẳng Sa Trần

Bình Nguyên Hiếu Khách Thành Hư Thoại

Mao Toại Ung Suy Đệ Nhất Nhân

Dịch:

Xưa Kia Vàng Ngọc Tựa Sa Trận

Nay Lại Trần Sa Đủ Cứu Bần

Hiếu Khách Bình Nguyên Thành Truyện Hão

Chỉ Duy Mao Toại Tỏ Ân Cần



Liễu Phương Hoa người Bảo Định (tỉnh thành Hà Bắc), giàu có nhất vùng, tính phóng khoáng hiếu khách, trên tiệc thường có hàng trăm người.

Giúp người nguy cấp thì ngàn vàng cũng không tiếc, bạn bè khách khứa vay mượn không trả là thường.

Liễu chỉ có một người khách tên Cung Mộng Bật, người Thiểm Tây là không hề nhờ vả xin xỏ gì, mỗi lần tới chơi thì ở lại cả năm, ngôn ngữ trang nhã, phong thái tiêu sái, Liễu cùng ăn ở chuyện trò nhiều nhất.

Con trai Liễu tên Hòa, lúc ấy còn nhỏ, gọi Cung là chú, Cung cũng thích đùa giỡn với Hòa.

Mỗi lần Hòa ở trường học về thì cùng gỡ gạch lát dưới nền nhà lên vùi đá sỏi xương giả như chôn giấu vàng bạc làm vui.

Nhà có năm gian, đào bới chôn giấu khắp cả.

Mọi người cười là tính khí trẻ con nhưng Hòa lại rất yêu thích Cung, thân thiết với Cung hơn tất cả mọi người.

Hơn mười năm sau nhà sa sút dần, không thể thỏa mãn lòng mong cầu của nhiều người nên khách thưa dần, nhưng vẫn thường có mười mấy người hội họp chuyện trò đến sáng.

Đến lúc Liễu già thì nhà ngày càng sa sút, nhưng còn cắt ruộng đất bán được tiền mà đãi khách.

Hòa cũng phung phí, theo gương cha mời thết đám bạn nhỏ, Liễu cũng không ngăn cấm.

Không bao lâu Liễu bệnh chết, nhà nghèo đến nỗi không mua được quan tài.

Cung bèn bỏ tiền túi ra lo liệu việc tang cho Liễu, Hòa càng biết ơn, việc lớn nhỏ gì cũng nhờ chú Cung.

Mỗi lần Cung đi đâu về ắt có cất gạch đá trong tay áo, vào tới nhà thì ném vào những chỗ khuất, chẳng ai hiểu để làm gì.

Hòa trò chuyện với Cung thường lo nghèo khổ, Cung nói:

- Cháu không biết cái khó nhọc của việc kiếm tiền, đừng nói là không có tiền, dù có ngàn vàng đưa cháu cũng sẽ hết sạch ngay.

Kẻ nam nhi chỉ lo không tự lập thân được chứ lo gì nghèo?

Một hôm Cung từ giã, Hòa khóc dặn trở lại mau, Cung ừ rồi đi.

Hòa nghèo quá không đủ sống, trong nhà còn món gì cứ đem cầm bán, dần dần hết sạch.

Hàng ngày mong Cung tới lo toan giúp đỡ cho, nhưng Cung vắng tăm bặt tích như hạc vàng một đi không về lại.

Trước kia lúc Liễu còn sống đã hỏi con gái họ Hoàng ở huyện Vô Cực (tỉnh Hà Bắc) cho Hòa, nhà ấy cũng giàu có, sau nghe tin Liễu sa sút nên ngầm có ý hối hôn.

Khi Liễu chết Hòa báo tang Hoàng cũng không tới phúng điếu, còn nghĩ vì đường xa nên bỏ qua.

Hòa mãn tang xong, mẹ sai tự tới nhà nhạc gia xin hẹn ngày cưới, có ý mong Hoàng thương xót giúp đỡ cho.

Hòa tới, Hoàng nghe nói áo cũ giày rách bèn bảo người giữ cổng không cho vào, nhắn:

- Trở về lo được trăm lượng vàng hãy tới, nếu không từ nay xin thôi.

Hòa nghe thế khóc lớn, có bà già họ Lưu ở nhà đối diện với Hoàng thương xót đem cơm cho ăn, lại tặng ba trăm đồng tiền, an ủi bảo về.

Mẹ Hòa cũng buồn bã uất ức nhưng không biết làm sao, nhân nhớ tới khách khứa ngày xưa mười người có tới tám chín vay mượn chưa trả, liền bảo Hòa chọn những kẻ giàu có mà tới xin họ giúp đỡ.

Hòa nói:

- Trước kia họ giao du với nhà ta chỉ vì tiền bạc của nhà ta thôi.

Nếu con giong ngựa hay ngồi xe lớn thì dù mượn ngàn lượng vàng cũng không khó, nhưng nay nhà ta nghèo khó thế này, còn ai nhớ ơn xưa nghĩa cũ.

Vả lại cha cho người ta vay không hề làm giấy tờ gì, khó có bằng cớ mà đòi nợ.

Mẹ cứ ép, Hòa vâng lời, đi suốt hơn hai mươi ngày không đòi được một đồng, chỉ có người kép hát Lý Tứ xưa thường được Liễu giúp đỡ nghe chuyện tới tặng một đồng vàng.

Mẹ con cùng khóc lớn, từ đó thôi không trông mong gì ai nữa.

Cô gái họ Hoàng đến tuổi lấy chồng, nghe cha dứt tình với Hòa thầm cho là không phải.

Hoàng muốn gả cho người khác, nàng khóc nói:

- Liễu lang không phải sinh ra đã nghèo, giả như nay giàu hơn thì kẻ hỏi cưới con có cướp được của chàng không?

Nay thấy nghèo lại bỏ thì bất nhân lắm.

Hoàng không vui, tìm đủ cách khuyên mà rốt lại cũng không làm nàng lay chuyển được.

Hai vợ chồng cùng tức giận, sớm tối chửi mắng, cô gái cũng vẫn thế.

Không bao lâu, đang đêm có bọn cướp vào nhà, vợ chồng Hoàng bị nướng dùi đốt thịt tra khảo chết đi sống lại, bao nhiêu của cải đều bị cướp sạch.

Thấm thoát qua ba năm, nhà càng sa sút.

Có nhà buôn nghe tiếng cô gái đẹp, xin nộp sính lễ năm mươi lượng vàng, Hoàng thấy nhiều tiền bèn ưng thuận, định ép con gái bằng được.

Cô gái đoán biết, mặc áo rách bôi đen mặt, nhân đêm bỏ trốn, xin ăn dọc đường, trải hai tháng mới tới Bảo Định, hỏi thăm nhà Hòa rồi tìm thẳng vào.

Mẹ Hòa ngỡ là vợ kẻ ăn mày bèn xua đuổi, nàng nức nở thưa rõ, bà nắm tay nàng chảy nước mắt nói:

- Sao con lại ra nông nổi này?

Cô gái lại khóc lóc kể hết đầu đuôi, mẹ con Hòa đều khóc.

Kế múc nước cho nàng tắm rửa, thấy nhan sắc xinh đẹp, mặt mũi sáng sủa, mẹ con cùng mừng rỡ.

Nhưng nhà ba miệng ăn, mỗi ngày chỉ được một bữa, mẹ khóc nói:

- Mẹ con ta phải chịu cực khổ đã đành, chỉ thương cho nàng dâu thảo của ta thôi.

Nàng cười an ủi bà rằng:

- Con dâu của mẹ lúc trong đám ăn mày đã nếm đủ mùi cực khổ, hôm nay nhìn lại thấy như thiên đường khác với địa ngục vậy.

Mẹ mới vui vẻ.

Một hôm cô gái vào gian nhà bỏ không thấy cỏ dại mọc lan khắp nơi, tới phòng trong thì bụi bặm phủ đầy.

Trong góc tối có vật gì đó chất thành đống, bước vào thấy vướng chân, nhặt lên xem thì toàn là bạc ròng, giật mình chạy về nói với Hòa.

Hòa theo nàng vào xem, thì những gạch ngói ngày xưa Cung ném vào đó đều trở thành bạc nén trắng xóa.

Nhân nhớ lại lúc còn nhỏ thường cùng Cung chôn gạch đá trong nhà, biết đâu đều là vàng bạc.

Nhưng nhà cũ đã đem cầm cho láng giềng, vội qua chuộc lại thì thấy gạch lát nền đã vỡ cả, những chỗ chôn gạch ngói ngày xưa đều lộ cả ra, vô cùng thất vọng.

Đến khi đào tìm dưới đất thì thấy toàn là bạc ròng sáng loáng, trong chốc lát trở thành giàu có ức vạn.

Nhờ vậy chuộc ruộng vườn thuê tôi tớ, nhà cửa hoa lệ còn hơn ngày xưa.

Hòa vì thế hăng hái tự nhủ:

- Nếu không cố gắng lập thân, thật là phụ lòng chú Cung của ta.

Rồi ra sức học hành, ba năm sau đỗ Cử nhân.

Bèn đích thân đem trăm lượng vàng tới tạ ơn bà Lưu, y phục rực rỡ lóa mắt, mười mấy tùy tùng khỏe mạnh đều cưỡi ngựa đẹp như rồng.

Bà Lưu chỉ có một gian nhà, khách phải ngồi cả lên giường, người ngựa ồn ào vang động cả xóm.

Hoàng từ khi con gái trốn đi, người nhà buôn đòi lại món tiền sính lễ, nhưng đã tiêu mất một nửa nên phải bán nhà mới trả được.

Vì thế trở thành cùng quẫn như Hòa ngày xưa, nay nghe rể cũ giàu có sang trọng chỉ đóng cửa tự thương thân mà thôi.

Bà Lưu mua rượu dọn tiệc đãi Hòa, nhân kể con gái Hoàng hiền, tỏ ý tiếc vì nàng bỏ nhà đi mất, rồi hỏi Hòa lấy vợ chưa, Hòa đáp rồi.

Ăn uống xong, Hòa cố mời bà đi xem mặt vợ mình, rồi chở cùng về.

Tới nhà, nàng ăn mặc lộng lẫy bước ra, tỳ nữ xúm quanh như tiên, gặp nhau cùng sửng sốt, rồi cùng nhắc lại chuyện cũ, nhân hỏi thăm tin tức cha mẹ.

Bà Lưu ở lại vài ngày, được tiếp đãi rất tử tế, may sắm quần áo mới rồi cho đưa về.

Bà qua nhà Hoàng, kể lại tin tức cô gái và nhắn lời nàng hỏi thăm, vợ chồng cả kinh.

Bà Lưu khuyên tới thăm con gái nhưng Hoàng có vẻ ngần ngại, kế khổ cực quá không chịu nổi nên bất đắc dĩ phải đi Bảo Định.

Tới nơi thấy cổng kín tường cao, người giữ cổng trừng mắt nhìn, suốt ngày không nhắn gì được.

Mãi sau có một bà già đi ra, Hoàng nhũn nhặn năn nỉ, tự nói họ tên, nhờ lén báo cho con gái biết.

Một lát bà già trở ra dắt Hoàng vào căn nhà phụ, nói:

- Nương tử rất muốn gặp ông một lần nhưng sợ lang quân biết nên phải chờ cơ hội thuận tiện.

Ông tới đây bao lâu, đã ăn gì chưa?

Hoàng được dịp kể lể nỗi khổ.

Người đàn bà đem một bầu rượu, hai đĩa thức ăn bày ra trước mặt Hoàng, lại đặt lên năm đồng vàng, nói:

- Lang quân đang ăn tiệc ở trong phòng, e nương tử không tới được.

Sáng mai ông nên đi sớm, chớ để lang quân biết.

Hoàng vâng dạ, sáng dậy mang gói ra thì cổng chưa mở, phải đứng chờ.

Chợt có tiếng ồn ào nói ông chủ đi ra, Hoàng định nép mình tránh mặt nhưng Hòa đã nhìn thấy, ngạc nhiên hỏi là ai.

Tất cả gia nhân đều im lặng, Hòa giận nói:

- Ắt là kẻ gian, cứ bắt giải lên quan!

Chúng dạ vang đổ ra trói Hoàng vào gốc cây, Hoàng vừa sợ vừa thẹn không biết nói gì.

Không bao lâu người đàn bà hôm qua ra quỳ xuống thưa:

- Đây là cậu ruột ta, tới lúc chặp tối nên chưa kịp thưa với ông chủ?

Hòa bèn sai cởi trói.

Bà già dẫn Hoàng ra, nói:

- Vì ta quên dặn người giữ cổng nên có chuyện rắc rối.

Nương tử nhắn rằng lúc nào tưởng nhớ cứ nói bà nhà giả làm người bán hoa đi với bà Lưu tới.

Hoàng vâng dạ, về nhà kể chuyện với vợ, bà nhớ con gái vội qua nói với bà Lưu, bà Lưu bèn cùng đi, tới nhà Hòa qua hơn mười lớp cửa mới tới chỗ con gái ở.

Nàng mặc gấm vóc, đeo châu ngọc khắp mình, hương thơm ngào ngạt, thỏ thẻ kêu một tiếng thì tỳ nữ tớ gái xúm tới nhắc ghế mang gối, pha trà mời khách.

Mẹ con nói tiếng lóng chuyện trò, nhìn nhau rưng rưng nước mắt.

Đêm tới dọn phòng cho hai bà già nghỉ, thấy nệm ấm gối êm, nhà mình năm xưa tuy giàu có cũng chưa từng dùng qua.

Lưu lại năm ba ngày, nàng đối xử rất chu tất, bà dẫn nàng ra chỗ vắng khóc lóc hối hận về việc sai trái ngày trước.

Nàng nói:

- Mẹ con ta thì có lầm lỗi nào không bỏ qua được, nhưng chồng con tức giận không nguôi, chỉ sợ chàng biết thôi.

Nên cứ khi Hòa tới thì bà liền tránh mặt.

Một hôm đang ngồi chơi chợt Hòa bước vào nhìn thấy nổi giận quát:

- Mụ nhà quê nào lại dám ngồi ngang hàng với nương tử thế kia?

Nắm đầu tống cổ ra cho ta!

Bà Lưu vội bước lên nói:

- Đó là Vương tẩu làm nghề bán hoa, có họ với già, xin ông tha lỗi!

Hòa bèn chắp tay tạ lỗi rồi ngồi xuống nói:

- Bà đến chơi mấy hôm mà ta bận quá chưa hỏi chuyện được, lão súc sinh họ Hoàng còn sống không?

Bà Lưu đáp:

- Cả hai ông bà vẫn mạnh khỏe, có điều nghèo lắm, quan nhân quá giàu sang sao không nghĩ tình cha vợ chàng rể một chút.

Hòa đập bàn nói:

- Năm xưa không có bà thương xót cho bát cháo thì ta làm sao về tới được quê quán, nay còn muốn bắt lão mà lột da ra chứ nghĩ tình cái gì?

Nói tới đó căm giận quá dậm chân đứng dậy chửi mắng.

Cô gái bực tức nói:

- Họ dẫu bất nhân cũng là cha mẹ ta.

Ta từ xa xôi tìm tới đây rách chân nát gót, cũng tự thấy không phụ lòng chàng, sao chàng trước mặt con mà chưi mắng cha, khiến người ta không chịu nổi.

Hòa mới nguôi giận đứng dậy bỏ đi.

Vợ Hoàng thẹn tím mặt từ giã ra về, cô gái lấy hai chục đồng vàng đưa riêng cho mẹ.

Sau khi bà về, không có tin tức gì nữa.

Cô gái thương nhớ cha mẹ quá, Hòa bèn sai người tới mời, hai vợ chồng tới vẫn có vẻ thẹn thùng áy náy.

Hòa xin lỗi nói:

- Năm trước ông bà tới chơi lại không nói rõ, khiến ta mắc tội rất nhiều.

Hoàng chỉ dạ dạ.

Hòa may sắm quần áo mới cho, lưu lại hơn một tháng.

Hoàng vẫn thấy áy náy, mấy lần xin về.

Hòa tặng một trăm lượng vàng, nói:

- Người nhà buôn trước kia đưa năm mươi lượng, nay ta xin đưa gấp đôi.

Hoàng thẹn toát mồ hôi nhận lấy.

Hòa cho xe ngựa đưa về, cuối đời Hoàng sống cũng hơi dư dật.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 106+107+108


CHƯƠNG 106: HỒ THIẾP

Đao Châm Thanh Lý Tẩu Trù Nô

Thắng Tự Đương Niên Lạc Tú Vô

Nhất Lĩnh Dương Cừu Nguyên Tế Sự

Phu Nhân Sinh Tính Hủy Ngôn Hồ

Dịch:

Tiếng Thới Dao Rền Nhà Bếp Chạy

So Xưa Lạc Tú Dễ Gì Thua

Một Tấm Dương Cừu Chi Sá Kể

Chỉ Bời Phu Nhân Kị Nói Hồ



Lưu Động Cửu người huyện Lai Vu (tỉnh Sơn Đông) làm quan ở Phần Châu (tỉnh Sơn Tây), ngồi một mình trong dinh nghe ngoài sân có tiếng cười nói, dần tới gần rồi vào trong phòng.

Nhìn ra thì là bốn cô gái, một nàng độ bốn mươi tuổi, một nàng khoảng ba mươi, một nàng chừng hai mươi tư hai mươi lăm, cuối cùng là một nàng còn để tóc xõa.

Cả bốn đứng trước kỷ nhìn nhau cười, Lưu vốn biết trong dinh nhiều hồ nên không ngó tới.

Giây lát, nàng để tóc xõa rút ra chiếc khăn hồng đùa ném lên mặt Lưu.

Lưu nhặt lấy quăng lên cửa sổ, vẫn không thèm nhìn.

Bốn nàng cười rồi đi.

Một hôm nàng lớn nhất tới nói với Lưu:

- Em gái ta có nhân duyên với ông, xin đừng chê là hèn hạ.

Lưu ừ bừa, nàng ấy liền đi.

Lát sau cùng một tỳ nữ dẫn nàng để tóc xõa tới, đặt ngồi sánh vai với Lưu rồi nói:

- Thật là đẹp đôi.

Đêm nay động phòng hoa chúc, cố mà hầu hạ Lưu lang, ta về đây!

Lưu nhìn kỹ thấy nàng xinh đẹp vô song, bèn cùng vui vầy.

Hỏi tới lai lịch, nàng nói:

- Thiếp không phải là người, nhưng thật ra cũng là người.

Thiếp là con gái quan tiền nhiệm ở đây, bị hồ làm chết, xác chôn trong vườn.

Lũ hồ làm phép cho sống lại, cũng biến hóa như hồ vậy.

Lưu thò tay sờ phía sau, nàng hiểu ý cười nói:

- Chàng định nói là hồ thì có đuôi chứ gì?

Rồi quay người lại nói:

- Thử sờ xem nào!

Từ đó nàng ở lại luôn, đứng ngồi đều có đứa tỳ nữ ở bên, gia nhân đều tôn kính gọi là bà thứ, tôi tớ lên chào ra mắt đều được thưởng rất hậu.

Gặp dịp sinh nhật của Lưu, khách khứa đông đảo, tính ra tới ba chục mâm, phải có nhiều đầu bếp, đã sức gọi từ trước nhưng chỉ có một hai người tới, Lưu bực tức lắm.

Cô gái biết được bèn nói:

- Đừng lo!

Số đầu bếp đã không đủ dùng thì cứ cho mấy người tới về luôn cho xong.

Thiếp tuy kém cỏi nhưng nấu ba chục mâm cũng chẳng phải khó.

Lưu mừng rỡ, sai mang cá thịt tỏi gừng vào tư thất, gia nhân chỉ nghe tiếng dao thớt khua ran không dứt.

Cửa trong đặt một chiếc bàn, những người hầu để mâm lên đó, quay đi quay lại đã đầy thức ăn, bưng xong lại quay lại, hơn mười người đi lại liên tiếp mà lấy bao nhiêu cũng có.

Sau cùng người hầu vào gọi lấy bánh canh, bên trong nói:

- ông chủ không dặn trước, gấp gáp thế này làm sao có được?

Kế lại nói:

- Không còn cách nào, đành phải mượn vậy.

Giây lát gọi vào lấy bánh canh, nhìn lại thì thấy đã có hơn ba chục tô bánh canh bốc khói đặt trên bàn.

Khách về rồi, nàng nói với Lưu:

- Phải đưa tiền trả tiền bánh canh cho nhà nọ.

Lưu sai đem tiền tới nhà ấy thì họ mất bánh canh còn đang kinh ngạc, khi người nhà Lưu tới trả tiền mới hết ngờ vực.

Một hôm uống rượu đêm, Lưu chợt thèm rượu nếp đắng Sơn Đông, nàng xin đi lấy rồi ra cửa đi.

Giây lát trở về nói:

- Được một vò ngoài cửa, đủ uống mấy ngày rồi.

Lưu ra xem, quả có một vò, đúng là thứ rượu mới cất ở nhà.

Qua vài hôm, phu nhân sai hai người đầy tớ tới Phần Châu, giữa đường một người nói:

- Nghe nói phu nhân chồn hồ thưởng rộng rãi, chuyến này mà được tiền thưởng ta sẽ mua một cái áo lông chiên.

Nàng ở dinh đã biết cả, nói với Lưu:

- Người nhà ở quê sắp tới, đáng giận thằng đầy tớ vô lễ, phải trị mới được.

Hôm sau người đầy tớ vừa vào trong thành, đầu đã đau nhức, tới dinh thì ôm đầu kêu gào, mọi người đều bàn đi tìm thầy thuốc.

Lưu cười nói:

- Không cần chữa, đến lúc sẽ tự hết.

Mọi người ngờ là y phạm tội với bà thứ.

Người đầy tớ tự nghĩ mới tới đây chưa kịp cởi hành lý ra thì đã làm gì nên tội, nhưng không biết kêu van với ai đành phải bò tới năn nỉ.

Trong rèm có tiếng nói:

- Ngươi gọi phu nhân là đủ rồi, sao còn nói chữ hồ?

Người đầy tớ sực nhớ ra, lạy lục không thôi.

Trong rèm lại nói:

- Đã muốn có áo lông chiên sao lại vô lễ thế?

Kế nói tiếp:

- Ngươi khỏi rồi đấy!

Dứt câu thì người đầy tớ thấy hết đau, lạy tạ định lui ra, chợt trong rèm ném ra một cái bọc, nói:

- Đây là một cái áo lông dê non, ngươi cầm đi!

Y mở ra xem thì thấy có năm đồng vàng.

Lưu hỏi tin nhà, người đầy tớ thưa đều được vô sự chỉ có đang đêm bị mất một vò rượu, tính lại ngày giờ thì đúng vào đêm nàng đi lấy rượu.

Mọi người kính sợ nàng có phép thần thông, gọi là Thánh tiên.

Lưu vẽ tranh nàng, lúc ấy Trương Đạo Nhất làm quan Đề học sứ nghe chuyện lạ liền lấy tình đồng hương tới thăm Lưu xin được gặp mặt một lần, nàng từ chối.

Lưu đưa bức tranh cho xem, Trương giật lấy đem về treo cạnh chỗ ngồi, đêm ngày khấn khứa:

- Xinh đẹp như nàng muốn gì chẳng được, sao lại gởi thân cho lão già râu xồm?

Hạ quan không thua kém gì Động Cửu, sao không chiếu cố cho nhau một lần?

Nàng ở dinh chợt nói với Lưu:

- Trương công vô lễ phải trừng phạt một chút.

Một hôm Trương đang khấn khứa thấy như có ai cầm thước đánh mạnh vào trán đau điếng, cả sợ cuốn bức tranh sai người đem trả.

Lưu hỏi vì sao trả lại, người ấy giấu việc Trương bị đánh mà bịa chuyện trả lời, Lưu cười hỏi:

- Trán chủ ngươi có đau không?

Người ấy không dám nói dối phải kể thật.

Không bao lâu sau, rể Lưu là Nguyên sinh tới thăm, xin được ra mắt nhưng nàng từ chối.

Nguyên nài nỉ mãi, Lưu hỏi:

- Con rể nào phải người ngoài, sao cự tuyệt quá thế?

Nàng đáp:

- Con rể tới ra mắt ắt phải có gì tặng, nhưng y mong cầu quá lắm, ta tự thấy không làm vừa lòng y được nên không muốn gặp đó thôi.

Kế Nguyên lại cố nài nỉ, nàng hứa mười ngày sẽ cho ra mắt.

Đến ngày hẹn Nguyên vào, đứng ngoài rèm chắp tay vái rồi hỏi thăm sức khỏe, chỉ thấy loáng thoáng dung mạo nhưng không dám nhìn kỹ.

Kế lui ra, đi được mấy bước cứ ngoảnh lại nhìn chằm chằm, chỉ nghe tiếng nàng nói:

- Con rể quay lại kìa!

Dứt lời cười lớn, lanh lảnh như tiếng cú rúc.

Nguyên nghe thấy gân cốt nhũn cả ra, run rẫy tựa mất hồn.

Ra ngoài ngồi hồi lâu mới hơi định thần, bèn nói:

- Vừa nghe tiếng cười như nghe tiếng sét, thật không biết mình còn sống hay đã chết.

Giây lát người tỳ nữ vâng lệnh nàng đem ra hai mươi lượng vàng tặng Nguyên, Nguyên nhận rồi nói:

- Thánh tiên hàng ngày ở với ông chồng, há lại không biết tính ta phung phí chứ không quen dùng món tiền nhỏ sao?

Nàng nghe thế nói:

- Ta vẫn biết là thế, nhưng vừa lúc hết tiền, mới rồi cùng bạn bè đi Biện Lương (tỉnh thành Hà Nam) thì thành bị Hà Bá chiếm cứ, kho tàng đều ngập dưới nước, lặn xuống lấy mỗi người chỉ được bấy nhiêu, làm sao đầy được túi tham không đáy của y.

Vả lại nếu ta tặng cho thật hậu thì y phúc bạc cũng không thể hưởng được đâu.

Phàm mọi việc cô gái đều có thể biết trước nên có việc gì nghi ngờ cứ bàn với nàng là quyết được ngay.

Một hôm đang cùng ngồi chuyện trò, chợt nàng ngữa mặt lên trời cả kinh nói:

-Đại nạn sắp tới, làm sao bây giờ?

Lưu hoảng sợ hỏi người trong nhà lành dữ ra sao, nàng nói:

- Tất cả vô sự, chỉ có nhị công tử là đáng lo.

Không bao lâu nơi đây sẽ thành chiến trường, chàng nên xin đi công cán nơi xa mới khỏi nạn.

Lưu theo lời, xin quan trên cho đi áp tải lương tiền tới Vân Nam Quý Châu.

Đường sá xa xôi, ai nghe cũng thương xót cho Lưu, duy có cô gái lấy làm vui mừng.

Không bao lâu Khương Khôi làm phản, Phần Châu bị giặc chiếm làm sào huyệt, con trai thứ hai của Lưu từ Sơn Đông tới thì vừa gặp loạn, bị giết chết.

Thành bị hãm, quan lại đều bị hại, chỉ có Lưu đi công cán nơi xa được thoát, đến khi yên giặc mới trở về.

*[Khương Khôi làm phản: Khương Khôi là người cuối thời Minh, giữ chức Tổng binh Đại Đồng, khi Lý Tự Thành đánh tới thì Khôi đem thành đầu hàng, theo Tự Thành chống nhà Minh].

Sau Lưu dính líu vào vụ án lớn bị bãi chức, nghèo túng tới mức ngày không lo đủ hai bữa cơm, quan lại còn đòi hỏi hạch sách rất nhiều nên cùng quẫn lo lắng muốn chết.

Nàng nói:

- Đừng lo, dưới gầm giường có chôn ba ngàn đồng vàng, cũng đủ chi tiêu.

Lưu mừng rỡ hỏi đánh cắp được ở đâu, nàng đáp:

- Của vô chủ trong thiên hạ muốn lấy bao nhiêu cũng có, cần gì phải trộm cắp?

Lưu dùng số tiền ấy lo lót được thoát tội về quê, cô gái cũng đi theo.

Vài năm sau chợt bỏ đi, để lại cái túi giấy chứa mấy vật lại cho Lưu, trong có lá phướn nhỏ treo nhà đám ma dài độ hai tấc, mọi người đều cho là điềm bất tường, kế Lưu chết.

_____________________________________

CHƯƠNG 107: LÔI TÀO

THẦN SẤM SÉT

Đạp Ba Nhỉ Xuất Phan Vân Thướng

Thủ Chích Tinh Thần Hành Vũ Hồi

Thần Báo Giai Do Nhân Sự Trí

Thiếu Vi Hữu Diệu Phát Châu Thai

Dịch:

Cỡi Mây Đạp Sóng Vút Trời Cao

Làm Gió Làm Mưa Với Hái Sao

Thần Báo Cũng Do Nhân Sự Khiến

Thiếu Vi Vào Bụng Kết Thai Bào



Nhạc Vân Hạc và Hạ Bình Tử lúc nhỏ ở cùng làng, lớn lên học cùng trường, chơi với nhau rất thân.

Hạ thông minh từ nhỏ, mười tuổi đã nổi tiếng, Nhạc dốc lòng kính ái, Hạ cũng thường khuyên dạy cho không biết mỏi.

Nhạc học hành ngày càng tấn tới nhờ vậy cũng nổi tiếng, nhưng khoa cử lận đận, cứ đi thi là rớt.

Không bao lâu Hạ mắc bệnh dịch chết, nhà nghèo không chôn cất nổi, Nhạc khẳng khái đứng ra lo liệu, Hạ còn vợ góa con côi thì thường lui tới thăm hỏi, kiếm được chút ít gì cũng chia cho một nửa.

Vợ con Hạ nhờ vậy mới sống được, các bậc sĩ đại phu vì thế càng khen Nhạc hiền.

Nhà Nhạc không có của cải gì nhiều, lại còn chu cấp cho vợ con Hạ nên gia cảnh ngày càng sa sút, bèn than:

- Tài học như Bình Tử mà còn phải lận đận rồi chết, huống chi là ta?

Sự giàu sang ở đời phải đúng lúc, nếu cứ lo lắng tròn năm thì e sẽ chết trước cả giống vật nơi ngòi rãnh, phí cả một đời, chẳng bằng lo liệu cho sớm.

Từ đó Nhạc bỏ học đi buôn, làm ăn nửa năm thì cảnh nhà hơi khá lên.

Một hôm đi buôn tới Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tô), vào nghỉ trong quán trọ thấy một người cao lớn, bắp thịt cuồn cuộn cứ quanh quẩn cạnh chỗ mình ngồi, sắc mặt ảm đạm, có vẻ lo buồn.

Nhạc hỏi:

- Muốn ăn cơm không?

Người ấy cũng im lặng.

Nhạc đẩy mâm ra mời, y lấy tay bốc ăn, trong giây lát hết sạch.

Nhạc lại gọi thêm một mâm mấy phần cơm, y lại ăn hết, Nhạc bèn bảo chủ quán cắt thịt heo, bóc bánh chưng đầy mâm, y lại ăn sạch mấy phần nữa mới no, cảm tạ nói:

- Ba năm nay chưa từng được bữa nào ăn no thế này.

Nhạc hỏi:

- Ông là bậc tráng sĩ sao lại lưu lạc khổ cực tới mức này?

Y đáp:

- Ta mắc tội với trời, không thể nói ra được.

Nhạc hỏi quê quán nhà cửa, y đáp:

- Trên bộ không có nhà cửa, dưới nước không có ghe thuyền, chỉ sáng vào trong làng tối ra ngoàí ruộng thôi.

Nhạc sửa soạn hành lý ra đi, người ấy đi theo, bịn rịn không rời.

Nhạc từ tạ, y nói:

- Ông sắp gặp nạn lớn, ta không nỡ quên cái ơn cho một bữa ăn.

Nhạc lấy làm lạ, bèn cho y đi cùng, trên đường kéo vào quán ăn cơm, y từ chối nói:

- Cả năm ta chỉ ăn vài bữa thôi!

Nhạc càng lấy làm lạ.

Hôm sau qua sông, chợt sóng gió nổi lên, ghe thuyền chở thuê đều đắm cả, Nhạc và người ấy cũng chìm xuống sông.

Lát sau gió lặng sóng yên, y cõng Nhạc đạp sóng ngoi lên, đưa Nhạc lên một chiếc thuyền khách rồi lại rẽ nước đi.

Giây lát kéo về một chiếc thuyền, đỡ Nhạc qua dặn ngồi đó giữ rồi nhảy xuống nước, trồi lên thì hai tay xách hàng hóa bị chìm ném vào thuyền rồi lại lặn xuống, mấy lần lên xuống thì hàng hóa bị chìm được vớt lên đầy cả thuyền.

Nhạc cảm tạ nói:

- Ông cứu sống ta là quá đủ rồi, đâu dám mong lấy lại được hàng hóa.

Kiểm lại của cải thấy không bị mất gì, càng mừng rỡ kính phục y là thần, định dong thuyền đi thì y từ biệt, Nhạc cố giữ cùng qua sông.

Kế cười nói:

- Cái nạn thế này mà chỉ mất có một chiếc trâm vàng.

Người ấy muốn lại xuống nước tìm, Nhạc đang ngăn lại bảo thôi thì y đã nhảy xuống nước mất hút.

Nhạc kinh ngạc hồi lâu, chợt thấy y tươi cười trồi lên đưa cho chiếc trâm, nói:

- May là cũng tìm thấy!

Người trên sông ai cũng kinh lạ.

Nhạc đưa người ấy về nhà, ăn cùng mâm nằm cùng chiếu.

Cứ mười mấy ngày y mới ăn một bữa, mà ăn thì ăn rất nhiều.

Một hôm từ giã đi, Nhạc cố giữ lại, vừa lúc trời tối tăm như muốn mưa, nghe có tiếng sấm.

Nhạc nói:

- Không biết quang cảnh trong mây ra sao, sấm sét là vật gì, làm sao lên được trên trời mà xem một lần mới hết thắc mắc.

Người ấy cười nói:

- Ông muốn lên mây chơi à?

Giây lát chợt Nhạc thấy trong người mỏi mệt quá, lăn ra giường thiu thiu ngủ, khi tỉnh thấy người đong đưa không giống như đang nằm trên giường.

Mở mắt nhìn thì thấy đang trong mây, chung quanh trắng toát như bông, hoảng sợ vùng dậy thấy váng vất như đang đi thuyền, dưới chân thì mềm mại không phải là đất, ngẩng đầu thì thấy tinh tú ngay trước mắt, nghĩ rằng mình đang nằm mơ.

Nhìn kỹ thấy các ngôi sao khảm vào bầu trời như hạt sen trong gương sen, ngôi lớn bằng cái khạp, ngôi vừa bằng cái vò, ngôi nhỏ bằng cốc chén, lấy tay lắc thử thấy sao lớn bám chặt không nhúc nhích, sao nhỏ thì lung lay như có thể hái xuống.

Liền hái lấy một ngôi cất vào tay áo rồi vén mây nhìn xuống thì bể bạc mênh mông, thấy thành quách nhỏ như hạt đậu, kinh ngạc tự nghĩ nếu lỡ hụt chân một cái thì còn gì là mạng.

Bỗng thấy hai con rồng uốn lượn kéo một chiếc xe căng màn chạy tới, đuôi ngoắt thành tiếng vun vút như roi trâu.

Trong xe có cái bồn chu vi mấy trượng đựng đầy nước, có mấy mươi người cầm gáo múc nước tưới khắp trên mây.

Họ thấy Nhạc đều lấy làm lạ, Nhạc nhìn kỹ thì thấy trong bọn có người tráng sĩ bạn mình.

Y nói với mọi người:

- Đây là bạn ta!

Rồi đưa Nhạc một cái gáo bảo múc nước mà tưới.

Lúc đó trời đang đại hạn, Nhạc đón lấy cái gáo, vén mây nhìn về phía quê chăm chỉ múc tưới.

Lát sau người bạn nói với Nhạc:

- Ta vốn là thần sấm sét, vì trước đây làm mưa sai hẹn nên bị phạt đày ba năm, nay đã mãn hạn, từ đây xin vĩnh biệt.

Rồi lấy sợi dây buộc xe dài cả vạn thước bảo Nhạc bám vào một đầu để thả xuống đất.

Nhạc lo dây đứt, y cười nói không hề gì, Nhạc theo lời bám vào, thấy lơ lửng trong chớp mắt đã tới mặt đất, nhìn lại thì đang đứng ngoài làng, sợi dây thì thu dần vào trong mây không thấy đâu nữa.

Lúc ấy hạn hán đã lâu mới có trận mưa, nhưng ngoài mười dặm nước chỉ ngập ngón tay, chỉ có làng Nhạc thì hồ rạch tràn đầy.

Về tới nhà Nhạc mò lại trong tay áo thì ngôi sao đã hái vẫn còn, đem đặt lên bàn thì đen như hòn đá, đến đêm thì long lanh sáng rực chiếu rọi khắp nhà.

Nhạc càng quý báu gói lại cất kỹ, mỗi khi có khách quý thì mang ra thay đèn uống rượu ban đêm, nhìn thẳng vào thấy ánh sáng chói cả mắt.

Một đêm, vợ Nhạc ngồi trước ngôi sao chải tóc chợt thấy ánh sáng thu nhỏ mờ dần chỉ còn như con đom đóm, lại động đậy bay lên, giật nảy mình định kêu lên thì ngôi sao đã chui tọt vào miệng, vừa khạc thì đã xuống tới cổ họng.

Nàng sợ hãi chạy vào kể cho Nhạc, Nhạc cũng lấy làm lạ.

Kế nằm ngủ mơ thấy Hạ Bình Tử tới nói:

- Ta là sao Thiếu Vi những việc ông giúp cho ta vẫn nhớ không quên.

Lại nhờ ông thương mến đem ta trên trời về, có thể nói là có duyên với nhau, nay xin làm người nối dõi cho ông để đền ơn lớn.

Lúc ấy Nhạc đã ba mươi tuổi vẫn chưa có con, mơ thấy thế mừng lắm.

Từ đó vợ có mang, khi lâm bồn có ánh sáng chiếu khắp nhà như lúc đặt ngôi sao trên bàn, nhân đó đặt tên con là Tinh Nhi.

Tinh Nhi khôn ngoan lạ thường, năm mười sáu tuổi thi đỗ Tiến sĩ.

______________________________________

CHƯƠNG 108: ĐỔ PHÙ

BÙA ĐÁNH BẠC

Vị Liễu Tham Tâm Bác Cục Khai

Thử Trung Thắng Phụ Bản Nan Sai

Linh Phù Thảng Hứa Tương Truyền Thụ

Nhất Trịnh Hà Phương Bách Vạn Lai

Dịch:

Chưa Dứt Lòng Tham Hám Lợi Nhiều

Được Thua Trong Cuộc Khó Chiều Theo

Bùa Thiêng Phỏng Tự Do Truyền Thụ

Trăm Vạn Liền Tay Một Cái Gieo



Đạo sĩ họ Hàn ở miếu Thiên Tề trong huyện ta giỏi phép thuật, mọi người đều gọi là tiên.

Cha ta chơi thân với ông, cứ có dịp vào thành là ghé thăm.

Một hôm cha ta cùng chú ta vào thành, định tới thăm thì gặp Hàn trên đường, Hàn đưa chìa khóa nói:

- Xin cứ tới mở cửa vào ngồi đợi một lúc, ta sẽ về ngay.

Cha ta theo lời, tới miếu mở cửa vào thì Hàn đã ngồi ở trong, những việc như vậy rất nhiều.

Trước trong họ hàng có người hay cờ bạc, qua cha ta nên cũng quen Hàn, gặp lúc có một nhà sư ở chùa Thiên Phật tới, rất sành cờ bạc, đánh bạc rất lớn.

Người ấy gặp thích lắm, mang tiền tới chơi, thua nặng, càng cay cú.

Về cầm bán nhà cửa ruộng vườn tới chơi tiếp, hết đêm thì thua sạch, chán nản bất đắc chí ra về, tiện đường ghé Hàn, đầu óc thẫn thờ, ngôn ngữ luống cuống.

Hàn hỏi, người ấy kể lại mọi chuyện, Hàn cười nói:

- Thường đánh bạc thì không ai không thua, nếu ngươi chừa đánh bạc được thì ta sẽ giúp lấy tiền lại cho.

Người ấy nói:

- Nếu lấy lại được thì xin đem chày sắt đập nát hết xúc xắc.

Hàn bèn lấy giấy vẽ bùa đưa cho bảo giắt vào thắt lưng, dặn:

- Nếu lấy lại được hết tiền thua rồi phải thôi ngay, không nên được voi đòi tiên.

Lại đưa cho một ngàn đồng tiền, hẹn khi thắng rồi thì trả lại, người ấy cả mừng ra đi.

Nhà sư thấy chỉ có bấy nhiêu tiền coi thường không thèm chơi, người ấy cố ép, hẹn chỉ đánh một tiếng bạc thôi.

Nhà sư cười ưng thuận, người ấy đặt cả một ngàn đồng tiền.

Nhà sư gieo xúc xắc trước, chưa phân thắng bại, người ấy gieo liền thắng ngay.

Nhà sư lại đánh hai ngàn đồng tiền, lại thua, dần dần tăng tới mười mấy ngàn đồng.

Người ấy gieo lần đầu thì rõ ràng là điểm rất thấp quát lên một tiếng thì con xúc xắc lật lại thành điểm cao nhất, trong khoảnh khắc đã lấy lại được tất cả số tiền đã thua, nhưng nghĩ thầm kiếm thêm vài ngàn nữa cũng hay.

Bèn đánh thêm thì thua ngay, lấy làm kỳ quái đứng lên nhìn lại thắt lưng thì lá bùa đã biến mất, cả sợ bèn thôi không chơi nữa.

Bèn chở tiền về miếu, trả cho Hàn xong tính cả số bị thua trong tiếng bạc chót với số thắng được thì vừa khớp với số tiền bị thua trước đó.

Liền xấu hổ xin lỗi về việc mất lá bùa, Hàn cười nói:

- Nó ở đây rồi, ta đã dặn đừng tham mà ông không chịu nghe nên đến lấy về.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 109+110


CHƯƠNG 109: A HÀ

Động Phòng Liệu Lý Biệt Tàng Xuân

Cổ Kiếm Khan Đồng Mạch Thượng Trần

Thí Vấn Quảng Hàn Quỳnh Bảng Thượng

Kỷ Tằng Trước Cá Phụ Tâm Nhân?

Dịch:

Động Phòng Sửa Soạn Đón Riêng Xuân

Vợ Cả Coi Như Hạt Bụi Trần

Ướm Hỏi Cung Trăng Người Bẻ Quế

Những Tên Bạc Hạnh Tới Đâu Lần?



Cảnh Tinh Giả người huyện Văn Đăng (tỉnh Sơn Đông), lúc trẻ có tiếng tài giỏi, ở cạnh nhà Trần sinh, phòng sách chỉ cách nhau một bức tường ngắn.

Một hôm vừa chập tối, Trần đi qua một bãi đất vắng nghe trong tiếng con gái khóc trong đám tùng bách, tới gần thấy trên cành cây mọc ngang có sợi dây vắt qua như sắp treo cổ tự tử.

Trần hỏi han, cô gái gạt lệ nói:

- Mẹ đi xa gởi thiếp ở nhà người anh bên ngoại, không dè quân lang sói tàn ác nuôi nấng không ra sao, bơ vơ thế này thì chết đi còn hơn.

Nói xong lại khóc.

Trần cởi sợi dây khuyên nàng tìm người mà lấy, nàng lo không có ai để nương tựa, Trần mời về nhà mình ở tạm, cô gái bèn đi theo.

Về tới nhà khêu đèn nhìn kỹ thấy phong tư xinh đẹp, Trần rất thích, muốn làm ẩu, cô gái lớn tiếng chống cự, cãi nhau ồn ào vang qua bên kia vách.

Cảnh sinh leo tường qua xem, Trần mới buông nàng ra.

Cô gái thấy Cảnh cứ nhìn không chớp mắt, hồi lâu bỏ chạy, hai người cùng đuổi theo nhưng không biết nàng chạy về hướng nào.

Cảnh về nhà đóng cửa định đi ngủ thì cô gái lững thững trong phòng bước ra, ngạc nhiên hỏi, nàng đáp:

- Y đức ít phúc mỏng, không thể nương tựa suốt đời.

Cảnh mừng lắm gạn hỏi tên họ quê quán, nàng nói:

- Tổ tiên thiếp ở đất Tề (tỉnh Sơn Đông) nên lấy chữ Tề làm họ, tiểu tự là A Hà.

Cảnh buông lời trêu ghẹo, nàng cười không có vẻ chống cự gì lắm, bèn cùng ăn ở với nhau.

Nhà hay có đông bè bạn lui tới, cô gái thường núp kín trong phòng.

Qua mấy hôm nói:

- Thiếp phải tạm đi, nơi này đông người ồn ào mệt quá.

Từ nay xin hẹn nhau buổi tối thôi.

Cảnh hỏi nhà ở đâu nàng đáp:

- Cũng không xa lắm!

Rồi đi sớm, buổi tối quả nhiên lại tới.

Mấy hôm sau nàng lại nói:

- Hai ta tuy thương yêu nhau nhưng rốt lại vẫn là tự ý chung chạ.

Nay cha đi làm quan ở miền tây, sáng mai phải theo mẹ đi, định tìm dịp thưa rõ rồi sẽ theo chàng trọn đời.

Cảnh hỏi chia tay bao lâu, nàng hẹn khoảng một tuần rồi đi.

Cảnh nghĩ ở nhà học không tiện, mà dọn vào ở nhà trong thì lo vợ ghen, tính không gì bằng bỏ vợ, bèn quyết ý.

Vợ tới cứ mắng chửi, vợ nhục nhã không chịu nổi, khóc lóc đòi chết.

Cảnh nói với vợ:

- Cô chết sợ ta bị liên lụy, xin cứ về lại nhà cô.

Rồi giục đi mau.

Vợ khóc lóc nói:

- Thiếp theo chàng mười năm chưa làm điều gì thất đức, sao quyết dứt tình như thế.

Cảnh không thèm nghe, càng đuổi đi gấp, vợ bèn ra cửa đi.

Từ đó sơn phết tường vách, quét dọn nhà cửa, dài cổ trông ngóng A Hà, không ngờ tin tức vắng bặt như đá chìm xuống biển.

Vợ Cảnh bị đuổi rồi, mấy lần nhờ bạn thân nói giùm xin cho trở lại nhưng Cảnh không chịu, bèn lấy chồng họ Hạ Hầu.

Làng Hạ Hầu gần nhà Cảnh, vì chuyện bờ ruộng nên nhiều đời có hiềm khích với nhau, Cảnh nghe tin ấy càng tức giận, nhưng còn đợi A Hà trở lại để tự an ủi lỗi lầm.

Hơn một năm chẳng thấy tăm hơi, gặp ngày cúng Hải thần, trong ngoài đền trai gái tấp nập, Cảnh cũng tới đó.

Xa xa thấy một cô gái rất giống Hà, Cảnh tới gần thì nàng chen vào đám đông, theo ra tới ngoài cổng thì nàng đi rất nhanh, Cảnh đuổi theo không kịp tức tối bỏ về.

Nửa năm sau Cảnh đi trên đường thấy một nữ lang mặc áo đỏ cưỡi ngựa đen có đầy tớ dắt cương đi tới, nhìn ra thì là A Hà, bèn hỏi kẻ tùy tùng nương tử là ai, y đáp là vợ kế công tử họ Trịnh ở thôn Nam.

Cảnh lại hỏi công tử cưới bao lâu rồi, y đáp:

- Nửa tháng nay thôi!

Cảnh đang nghĩ hay mình lầm, thì nữ lang nghe tiếng trò chuyện quay lại, Cảnh nhìn thì đúng là Hà.

Thấy nàng đã lấy người khác, trong lòng giận sôi lên, kêu lớn:

- Nàng Hà sao lại quên lời hứa cũ?

Bọn tùy tùng nghe gọi bà chủ mình xúm lại toan đánh, cô gái vội ngăn lại vén khăn che mặt nói với Cảnh:

- Gã phụ lòng còn dám nhìn mặt nhau à?

Cảnh nói:

- Tự nàng phụ ta chứ ta phụ nàng lúc nào?

Nàng đáp:

- Phụ phu nhân còn tệ hơn phụ ta, với người kết tóc trăm năm còn thế huống hồ với kẻ khác?

Trước đây nhờ âm đức ông bà nên ngươi được ghi tên vào bảng thi đỗ, ta mới đem thân theo ngươi.

Nay vì việc bỏ vợ, âm ty đã phạt tước giảm lộc số của ngươi rồi.

Khoa này người đỗ thứ hai là Vương Xương thay vào tên ngươi đấy.

Nay ta đã theo Trịnh quân, ngươi đừng mơ tưởng nữa.

Cảnh gục đầu cụp tai không dám mở miệng, nhìn thấy cô gái thúc ngựa phóng như bay, chỉ còn biết não nề mà thôi.

Khoa thi ấy Cảnh trượt, người đỗ thứ hai quả họ Vương tên Xương, Trịnh cũng đỗ.

Từ đó Cảnh mang tiếng phụ bạc, bốn mươi tuổi không có vợ, nhà càng sa sút, thường tới ăn chực ở nhà bạn bè.

Một hôm ngẫu nhiên tới nhà Trịnh, Trịnh khoản đãi giữ lại ngủ đêm.

Cô gái lén ra nhìn khách, thấy Cảnh thương xót hỏi Trịnh:

- Người khách ở nhà trên có phải là Cảnh Khánh Vân không?

Trịnh hỏi vì sao biết, nàng nói:

- Lúc chưa lấy chàng từng lánh nạn ở nhà y, được y nuôi nấng cũng tử tế.

Tính nết y tuy hèn nhưng âm đức tổ tiên chưa dứt, vả lại còn là cố nhân của chàng, cũng nên giúp đỡ cho trọn nghĩa bạn bè.

Trịnh cho là phải, đưa áo quần mới cho Cảnh thay, giữ lại khoản đãi mấy ngày.

Nửa đêm Cảnh sắp đi ngủ có người tỳ nữ cầm hơn hai mươi đồng vàng vào tặng, cô gái thì đứng ngoài của sổ nói:

- Đó là của riêng ta đền đáp nghĩa cũ, nên về tìm cưới một người vợ tốt.

May là phúc đức tổ tiên còn lớn, cũng đủ giúp cho con cháu.

Từ nay nên ráng giữ nết, đừng để tổn thọ.

Cảnh cảm tạ.

Trở về bỏ ra hơn mười đồng vàng mua một tỳ nữ nhà thân hào, vừa xấu vừa dữ, sinh được một con trai về sau liên tiếp đỗ thi hương rồi thi hội.

Trịnh thì làm quan tới chức Lang trung bộ Lại, khi chết cô gái chôn cất xong trở về, vén rèm kiệu thì không có ai, bấy giờ mới biết nàng không phải là người.

Ôi! kẻ vô lương được mới nới cũ, rốt lại tổ lật mà chim cũng bay, trời cao báo ứng cũng thảm độc lắm!

____________________________________

CHƯƠNG 110: MAO HỒ

Phu Xích Nhi Mao Ký Tống Cung

Tiên Nhân Hình Ảo Cảnh Tương Đồng

Tam Kim Biệt Vị Mưu Tân Phụ

Bất Tại Tầm Thường Quốc Sắc Trung

Dịch:

Da Đỏ Nhiều Lông Buộc Xích Thằng

Người Tiên Biến Dạng Lựa Tương Đương

Chút Vàng Riêng Vị Mưu Tìm Vợ

Quốc Sắc Xem Ra Hẳn Khác Thường



Nhà nông Mã Thiên Vinh hơn hai mươi tuổi góa vợ, nghèo không cưới nổi vợ khác.

Một hôm đang bừa ruộng, thấy một thiếu phụ ăn mặc đẹp đẽ xuyên bờ đạp lúa đi ngang, sắc mặt đỏ sậm, cũng có vẻ phong lưu.

Mã ngờ là bị lạc đường, nhìn quanh không có ai bèn đùa trêu chọc, thiếu phụ cũng mỉm cười.

Mã muốn giao hoan tại đó, nàng nói:

- Ban ngày ban mặt làm thế sao được?

Chàng cứ về nhà khép cửa chờ, trời tối ta sẽ tới.

Mã không tin, nàng thề sẽ tới, Mã nói rõ phương hướng cửa ngõ nhà mình, nàng bèn đi.

Đến đêm quả tới, cùng nhau giao hoan, Mã thấy da thịt nàng rất mềm mại, thắp đèn soi thì da đỏ mỏng như trẻ sơ sinh, lông tơ đầy mình, lấy làm lạ.

Lại ngờ vì lai lịch nàng không rõ ràng, nghĩ biết đâu là hồ liền đùa hỏi thử, nàng nhận ngay không hề e ngại.

Mã nói:

- Đã là người tiên thì cầu gì được nấy, đã đội ơn thương yêu, sao không giúp luôn cho ta ít tiền qua cơn nghèo?

Nàng nhận lời, đêm sau tới, Mã hỏi tiền, nàng ra vẻ sửng sốt nói:

- Ta quên bẵng đi mất!

Lúc sắp đi Mã lại nhắc.

Đêm đến Mã hỏi lại quên món mình xin rồi phải không, nàng cười hẹn hôm khác.

Qua mấy hôm Mã lại hỏi, nàng cười rút trong tay áo ra hai nén bạc đáng giá năm sáu lượng vàng, ngoài rìa có hoa văn nhỏ nhìn rất thích mắt.

Mã mừng rỡ cất kỹ trong rương, nửa năm sau có việc cần dùng lấy đưa người ta xem, họ nói:

- Đây là chì mà!

Đưa lên răng cắn quả gãy ngay, Mã sợ quá nhặt lấy trở về, đến đêm người đàn bà tới, Mã tức tối trách móc, nàng cười nói:

- Phần số của chàng mỏng manh lắm, không dùng được tiền thật đâu.

Rồi cùng cười bỏ qua.

Mã nói:

- Nghe nói hồ tiên đều là bậc quốc sắc, nhưng rất là không đúng.

Người đàn bà nói:

- Bọn ta đều tùy theo người mình gặp mà hóa thân hiện hình, chàng đã không có phúc hưởng một đồng vàng thì nhan sắc chim sa cá lặn làm sao hưởng thụ được?

Ta xấu xí vấn không đủ để phụng sự bậc quý nhân, nhưng so với bọn chân to lưng gù thì là bậc quốc sắc đấy.

Qua mấy tháng chợt đưa cho Mã ba lượng vàng, nói:

- Chàng hỏi nhiều lần, ta vì thấy mạng chàng không thể có tiền để dành nên không cho, nay đến dịp cưới hỏi, xin đem số tiền cưới một người vợ để tặng chàng thay cho món quà chia tay.

Mã bày tỏ mình không có chuyện mai mối cưới hỏi gì cả, nàng nói:

- Một hai ngày nữa sẽ có bà mối tới.

Mã hỏi theo nàng thì vợ mình sắc đẹp ra sao, nàng đáp:

- Chàng muốn có bậc quốc sắc thì sẽ được bậc quốc sắc.

Mã nói:

- Ta không dám mong tới đó, nhưng ba lượng vàng làm sao đủ cưới vợ.

Nàng đáp:

- Đó là chủ ý của Nguyệt lão, không phải sức người làm được đâu.

Mã hỏi sao vội từ giã như thế nàng đáp:

- Đêm đêm tìm tới, rốt lại cũng không đâu vào đâu, vả lại chàng sẽ có vợ, giữ nhau tới cùng làm gì?.

Sáng hôm sau ra đi, đưa Mã một gói thuốc bột, dặn:

- Sau khi chia tay e chàng lâm bệnh, cứ uống thuốc này là khỏi.

Hôm sau quả có bà mối tới, Mã trước tiên hỏi nhan sắc người con gái, bà ta đáp ở giữa khoảng xấu đẹp, hỏi tiền sính lễ là bao nhiêu, đáp chỉ khoảng bốn năm lượng vàng.

Mã không nói giá cao, nhưng muốn nhìn thấy mặt.

Bà mối ngại rằng con nhà tử tế không chịu ra mặt, kế hẹn cùng tới đó sẽ tùy cơ tìm cách cho xem mặt.

Tới nơi, bà mối vào trước, bảo Mã đứng chờ ngoài thôn, hồi lâu trở ra nói:

- Được rồi, người họ hàng của ta cũng ở khu nhà ấy, xin chàng giả tới thăm người họ hàng của ta mà đi qua, chỉ cách gang tấc có thể nhìn rõ.

Mã theo lời, quả nhiên thấy cô gái ngồi trên sảnh đường, ngã mình xuống giường sai người gãi lưng.

Mã đi ngang nhìn lướt vào, thấy mặt mũi nàng quả đúng như bà mối đã nói.

Đến lúc bàn chuyện sính lễ, nhà gái không kèo nài gì cả, chỉ xin được một hai lượng vàng để mua sắm chút tư trang cho cô gái, Mã còn cò kè xin bớt.

Kế nộp tiền sính lễ, tạ ơn bà mối và người làm hôn thư xong tính ra vừa hết ba lượng vàng, cũng không tốn thêm đồng nào.

Kế chọn được ngày lành giờ tốt đón dâu, vợ vào tới nhà, Mã nhìn thì thấy bụng ỏng lung gù, cổ rụt như cổ rùa, nhìn xuống gấu quần thấy đôi hài dài cả thước mới sực nghĩ ra lời hồ nói là có lý do.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 111+112


CHƯƠNG 111: THANH MAI

Hà Hạnh A Hoàn Thất Tể Quan

Cách Hân Cựu Chủ Cộng Đoàn Loan

Cam Cư Thiếp Đăng Từ Đương Tịch

Nan Đắc Thanh Mai Vị Bất Toan

Dịch:

A Hoàn Quan Lớn Duyên May Lạ

Mừng Lại Đoàn Viên Với Chủ Xưa

Thủ Phận Cam Nhường Ngôi Mệnh Phụ

Thanh Mai Thực Hiếm Trái Không Chua



Trình sinh người Bạch Hạ (thuộc huyện Giang Ninh tỉnh Giang Tô) tính không không chịu câu thúc.

Một hôm từ ngoài về cởi đai áo thấy nặng như có vật gì bám vào, nhìn xuống không thấy gì nhưng vừa ngoảnh đi thì có cô gái sau áo hiện ra, vén tóc mỉm cưỡi, xinh đẹp tuyệt trần.

Trình ngờ là ma, cô gái nói:

- Thiếp không phải là ma mà là hồ!

Trình nói:

- Đã được giai nhân thì cho dù là ma cũng không sợ, huống chi là hồ.

Bèn cùng nhau giao hoan.

Hai năm sau nàng sinh được đứa con gái, đặt tên là Thanh Mai, thường nói với Trình đừng lấy vợ, ta sẽ sinh con trai cho chàng.

Trình tin lời không lấy vợ, thân thích bạn bè đều đàm tiếu, Trình xiêu lòng lại lấy con gái nhà họ Vương ở Hồ Đông.

Hồ nghe tin tức giận, tới cho con gái bú rồi giao cho Trình nói:

- Đây là món hàng phải bù tiền của nhà anh, nuôi sống hay giết chết là tùy anh, việc gì ta phải làm vú em cho người khác?

Rồi ra của đi thẳng.

Thanh Mai lớn lên thông minh, dáng mạo thanh tú giống mẹ.

Kế Trình bệnh chết, Vương thị tái giá gửi Thanh Mai cho người chú họ nuôi.

Chú phóng đãng vô hạnh, định đem bán để kiếm lợi.

Gặp lúc có Tiến sĩ họ Vương còn chờ bổ quan ở nhà, nghe tiếng nàng thông minh, liền bỏ món tiền lớn mua về sai hầu hạ con gái mình là A Hỷ.

Hỷ năm ấy mười bốn tuổi, dung nhan tuyệt thế, thấy Thanh Mai thích lắm, cho ngủ chung phòng.

Mai cũng khéo hầu hạ, có thể nhìn mặt biết ý chủ nên cả nhà đều thương mến.

Trong huyện có Trương sinh tự Giới Thụ, nhà rất nghèo không có của cải gì, thuê nhà Vương ở, tính rất hiếu thuận, cẩn trọng chăm học.

Thanh Mai tình cờ sang nhà, thấy sinh ngồi trên bậc thểm đá ăn cháo tấm, vào nhà nói chuyện với bà mẹ thì thấy trên bàn có cái giò heo.

Lúc ấy cha sinh ốm, sinh vào đỡ cha đi tiểu, nước tiểu dây bẩn ra áo sinh, cha thấy lấy làm ân hận, sinh vội che vết bẩn ra ngoài tự gột rửa, chỉ sợ cha biết.

Mai thấy thế lạ lắm, về kể rồi nói với cô chủ:

- Người khách thuê nhà của nhà ta không phải là kẻ tầm thường, nương tử không muốn lấy người chồng xứng đáng thì thôi, còn muốn lấy được người xứng đáng thì đó chính là Trương sinh đấy.

Cô gái sợ cha mẹ chê sinh nghèo, Mai nói:

- Không phải!

Việc này là ở nương tử, nếu thấy là được, thiếp sẽ nói riêng để chàng nhờ người làm mối.

Phu nhân ắt sẽ gọi nương tử tới hỏi, nương tử chỉ cần vâng dạ là tốt đẹp thôi.

Cô gái lại sợ nghèo hèn suốt đời sẽ bị người ta chê cười, Mai nói:

- Thiếp dám nói là biết xem tướng kẻ sĩ trong thiên hạ, quyết không lầm đâu.

Hôm sau Mai qua nói chuyện với bà Trương, bà hoảng sợ cho lời ấy là điềm không lành.

Mai nói:

- Tiểu thư nghe nói tới công tử cho là hiền đức, thiếp đã biết ý nên mới nói thế.

Người mối tới, hai người chúng ta nói giúp chêm thì việc có thể xong, mà nếu không được thì công tử cũng có gì nhục?

Bà Trương nói:

- Được rồi!

Rồi nhờ bà bán hoa họ Hầu tới nói.

Phu nhân nghe nói phì cười, kể lại với Vương, Vương cũng cười lớn, gọi con gái tới kể lại ý Hầu thị.

Cô gái chưa trả lời, Thanh Mai đã ra sức tán tụng Trương sinh hiền đức, đoan chắc là sẽ quý hiển.

Phu nhân lại hỏi:

- Đây là việc trăm năm của con, nếu ăn nổi cháo tấm thì ta sẽ gả ngay.

Cô gái cúi đầu hồi lâu rồi ngoảnh mặt vào vách nói:

- Giàu nghèo là số, nếu số tốt thì có nghèo cũng không lâu, mà kẻ không nghèo thì không bao giờ tới bước đường cùng.

Còn nếu số không tốt thì những bậc vương tôn gấm vóc trở thành không tấc đất cắm dùi có ít đâu?

Việc này xin tùy cha mẹ.

Bản ý Vương bàn với con gái là cũng định tìm một trận cười, khi nghe nàng nói thế thì không vui, nói:

- Ngươi muốn lấy họ Trương sao?

Cô gái không đáp, hỏi lần nữa vẫn không đáp, Trương tức giận nói:

- Quân này cốt cách bần tiện không khá được, lại muốn xách bị làm vợ thằng ăn mày, sao không biết nhục mà chết đi cho rồi!

Cô gái đỏ mặt uất ức, rưng rưng nước mắt bước ra, bà mối cũng lủi trốn.

Thanh Mai thấy việc không xong, muốn tự làm mối cho mình.

Mấy hôm sau đang đêm qua nhà sinh.

Sinh đang đọc sách, giật mình hỏi tới làm gì, thấy nàng ăn nói úp mở liền nghiêm nét mặt từ khước.

Mai khóc nói:

- Thiếp là con nhà tử tế chứ không phải kẻ dâm bôn, thấy chàng hiền đức nên xin theo nương tựa.

Sinh nói:

- Nàng yêu mà bảo ta là người hiền đức, nhưng đang đêm qua lại thì kẻ tự trọng cũng không làm, huống hồ là người hiền đức ư?

Phàm trước tư thông mà sau nên vợ chồng, người quân tử còn cho là không được, huống chi nếu không thể nên vợ chồng thì hai bên sẽ tự đặt mình vào đâu?

Mai hỏi'

- Vậy nếu vạn nhất mà nên được vợ chồng thì có chịu cưu mang cho nhau không?

Sinh đáp:

- Được người như nàng thì còn mong gì hơn, nhưng có ba điều không thể làm sao được nên không dám khinh suất nhận lời.

Mai hỏi:

- Ba điều gì?

Sinh đáp:

- Nàng không thể tự chủ thì không thể làm sao được, nếu nàng có thể tự chủ mà cha mẹ ta không bằng lòng thì không thể làm sao được, nếu cha mẹ ta bằng lòng mà thân nàng cao giá, ta nghèo không lo nổi thì càng không biết làm sao được.

Thôi nàng về ngay đi, chuyện giàn bầu ruộng dưa đáng sợ lắm!

Mai sắp đi lại dặn:

- Nếu chàng có lòng, xin cùng lo toan.

Sinh nhận lời.

*[Chuyện giàn bầu ruộng dưa: nguyên văn là "qua lý chi hiềm", lấy ý câu "Qua điền bất nạp lý, lý hạ bất chỉnh quan" (Đi ngang ruộng dưa thì đừng xỏ giày, đi ngang giàn bầu thì đừng sửa mũ), thì việc người quân tử thận trọng để tránh bị hiềm nghi].

Mai về, cô gái hỏi đi đâu, bèn quỳ mà tự thú.

Cô gái giận là dâm bôn toan đánh đòn, Mai khóc nói không có làm chuyện gì khác nhân kể thật mọi chuyện.

Cô gái than:

- Không đi lại cẩu thả là có lễ phải thưa với cha mẹ là có hiếu, không khinh suất nhận lời là có tín.

Có ba đức ấy ắt trời sẽ giúp, không lo gì nghèo đâu.

Kế hỏi:

- Em định thế nào?

Mai thưa:

- Làm vợ chàng!

Cô gái cười nói:

- Con nhãi ngây có thể tự chủ sao?

Mai nói:

- Không được thì chỉ còn chết thôi!

Cô gái nói:

- Ta sẽ làm cho ngươi được như nguyện.

Mai dập đầu lạy tạ.

Lại qua vài hôm, Mai nói với cô gái:

- Hôm trước là nói đùa hay quả có lòng từ bi thật?

Nếu quả thế thì còn chút việc mọn xin rủ lòng thương cho trọn.

Cô gái hỏi việc gì, Mai đáp:

- Trương sinh không có nhiều tiền cưới vợ mà tiểu tỳ cũng không có sức tự chuộc mình, nếu đòi nhiều tiền thì có chịu gả thiếp cũng như không gả mà thôi.

Cô gái ngẫm nghĩ rồi nói:

- Việc này thì ta không làm được rồi.

Ta nói gả chồng cho ngươi sợ còn chưa được, huống hồ còn nói không đòi tiền chuộc, điều ấy thì đại nhân ắt không nghe, mà ta cũng không dám nói kia.

Thanh Mai nghe thế nước mắt ròng ròng, chỉ xin thương xót cứu vớt.

Cô gái nghĩ hồi lâu rồi nói:

- Thôi vậy, ta có để dành riêng được vài lượng vàng, sẽ dốc túi ra giúp.

Mai lạy tạ, nhân lén qua nói với Trương.

Mẹ Trương cả mừng tìm đủ cách vay mượn được đủ số cất đó chờ tin mừng.

Vừa gặp lúc Vương được bổ làm Huyện lệnh Khúc ốc (tỉnh Sơn Tây), Hỷ nhân dịp nói với mẹ:

- Thanh Mai đã lớn, nay cha sắp phó nhiệm, chẳng bằng cho nó ra.

Phu nhân vốn thấy Thanh Mai khôn ngoan quá, sợ lại rủ rê con gái làm chuyện không hay, thường muốn gả đi mà sợ nàng không bằng lòng, nghe nàng nói thế mừng lắm.

Qua hai ngày có người đàn bà làm thuê lên thưa lại ý của họ Trương, Vương cười nói:

- Nhà ấy chỉ xứng với tỳ nữ nhà ta thôi, lần trước sao càn rỡ thế.

Nhưng mua tỳ thiếp nhà quan thì phải trả giá gấp đôi.

Cô gái vội bước lên nói:

- Thanh Mai hầu hạ con đã lâu, nếu đem bán làm thiếp thì thật không nỡ.

Vương bèn nhắn nhà họ Trương mang đủ số tiền mua ngày trước qua làm giấy tờ rồi gả Thanh Mai cho sinh.

Về tới nhà chồng, nàng hầu hạ cha mẹ chồng rất hiếu thảo, ân cần chăm sóc còn hơn cả sinh, mà làm lụng lại siêng năng, ăn uống cực khổ vẫn vui vẻ, vì thế cả nhà ai cũng yêu kính Thanh Mai.

Mai lại làm thêm việc thêu thùa, hàng bán rất chạy, người mua cứ tới chờ ở cửa chỉ sợ không mua được, có thêm ít tiền nên nhà cũng đỡ túng thiếu.

Lại thường khuyên chồng đừng lo việc nhà mà bỏ lỡ việc học, mọi chuyện trong nhà tự xin cáng đáng cả.

Nhân chủ cũ lên đường phó nhiệm, nàng qua tiễn A Hỷ.

Hỷ thấy nàng khóc nói:

- Em có nơi có chốn rồi, chứ ta thì không biết sẽ ra sao.

Mai đáp:

- Được thế này là nhờ ai mà dám quên, nhưng xin đừng nói là không bằng tiểu tỳ làm tiểu tỳ giảm thọ.

Rồi khóc mà chia tay nhau.

Vương tới đất Tấn nửa năm thì phu nhân chết, quan tài quàn ở trong chùa.

Lại hai năm sau Vương vì tham tang bị cách chức, phải bồi thường hàng vạn, dần dần nghèo túng không đủ ăn, đầy tớ đều bỏ trốn.

Lúc ấy có trận dịch lớn, Vương mắc bệnh rồi chết, chỉ còn một bà già ở với cô gái, không bao lâu bà già cũng chết, cô gái càng lênh đênh khổ cực.

Có bà già láng giềng khuyên đi lấy chồng, nàng nói:

- Ai chôn cất được cha mẹ sẽ xin theo về.

Bà già thương xót cho đấu gạo rồi về, nửa tháng sau lại qua nói:

- Ta đã hết sức giúp nương tử nhưng việc này khó quá!

Người nghèo thì không thể chôn cất cha mẹ cô, kẻ giàu thì chê cô là hậu duệ của gia dình sa sút, biết làm thế nào?

Còn có một cách nhưng sợ nương tử không theo được thôi.

Nàng hỏi:

- Cách gì?

Bà đáp:

- Ở đây có Lý lang muốn lấy vợ lẽ, nếu nhìn thấy dung nhan nương tử thì dù đòi tống táng cha mẹ thật linh đình ắt cũng không tiếc tiền.

Nàng khóc òa nói:

- Thiếp là con quan mà phải đi làm lẽ người ta sao?

Bà già im lặng bỏ đi.

Kế mỗi ngày nàng chỉ có một bữa cơm, cố sống để chờ người hỏi cưới nhưng được nửa năm thì không sao chi trì được nữa.

Một hôm bà già tới, nàng khóc nói:

- Khốn đốn thế này chỉ muốn tự tử, sở dĩ còn chần chừ sống tạm chỉ vì quan tài cha mẹ còn đó, mình đã phơi xác nơi ngòi rãnh thì ai thu nhặt nắm xương song thân, nên nghĩ lại chăng bằng nghe theo lời bà.

Bà già bèn dẫn Lý tới, vừa thoạt thấy nàng đã rất ưa thích, tức thì bỏ tiền ra lo việc tống táng, hai chiếc quan tài hạ huyệt xong thì đón cô gái về.

Vào chào vợ cả, vợ cả vốn dữ tợn hay ghen, lúc đầu Lý chưa dám nói là thiếp, chỉ nói thác là tỳ nữ mới mua.

Đến khi gặp nàng vợ Lý đùng đùng nổi giận, đánh đập đuổi ra không cho vào nhà.

Cô gái tóc tai rũ rượi, nước mắt giàn giụa, không còn nơi lui tới.

Có ni cô già đi ngang thấy thế mời về ở cùng, nàng mừng rỡ theo về.

Vào tới trong am, nàng lạy xin xuống tóc cho, ni cô không cho, nói:

- Ta thấy nương tử không phải là kẻ chịu kiếp phong trần, trong am chén sành gạo xấu cũng tạm đủ sống, cứ tạm ở lại chờ thời, đến thời cô sẽ tự đi mà.

Không bao lâu, bọn vô lại trong chợ thấy nàng đẹp, cứ tới đập cửa buông lời cợt nhã làm vui, ni cô không ngăn cấm được, nàng gào khóc định tự tử.

Ni cô tới xin ông Mỗ ở bộ Lại ra yết thị nghiêm cấm đám thiếu niên vô lại mới hơi nín tiếng.

Sau đang đêm có kẻ khoét tường nhà chùa, ni cô hô hoán mới bỏ đi, vì thế lại báo lên quan bộ Lại, bắt được tên cầm đầu đưa tới quận phạt roi mới dần dần được yên.

Lại được hơn năm, có vị công tử nhà quyền quý đi qua am, thấy cô gái vô cùng kinh ngạc, ép ni cô dỗ dành nàng, lại đưa nhiều tiền đến đút lót.

Ni cô tìm lời dịu ngọt nói:

- Nàng ta là con nhà trâm anh, không chịu làm lẽ, công tử cứ về, để thong thả chắc chắn ta sẽ làm được theo lệnh.

Lúc công tử đi rồi, cô gái toan uống thuốc độc tự tử, đêm nằm mơ thấy cha tới, buồn thảm nói:

- Ta không theo ý con khiến con phải tới nông nỗi này, ăn năn đã muộn nhưng con đừng vội chết, ước nguyện cũ vẫn có thể thành mà.

Nàng lấy làm lạ.

Sáng ra rửa mặt xong, ni cô nhìn thấy giật mình nói:

- Nhìn mặt em trọc khí đã tiêu hết, bọn càn rỡ không đáng lo nữa.

Phúc sẽ tới, đừng quên già này đấy.

Chưa dứt lời thì nghe tiếng gõ cửa, cô gái thất sắc nghĩ ắt là đầy tớ nhà công tử, ni cô ra mở cửa quả đúng.

Bọn chúng xúm vào hỏi tính việc thế nào, ni cô ngọt ngào giả lả xin hoãn ba ngày nữa.

Chúng nhắn lại lời chủ:

- Nếu việc không xong thì mụ phải liệu hồn!

Ni cô líu ríu vâng dạ, chúng bèn bỏ đi.

Cô gái vô cùng đau xót, lại muốn tự tử, ni cô ngăn lại.

Nàng lo ba ngày nữa chúng trở lại không biết trả lời thế nào, ni cô nói:

- Có lão thân ở đây, chém giết gì cứ để ta chịu cho.

Hôm sau vừa đến buổi trưa thì mưa như trút nước, chợt nghe có mấy người đập cửa réo gọi ầm ĩ, cô gái nghĩ rằng lại có chuyện, khiếp sợ không biết làm sao.

Ni cô đội mưa ra mở cổng, thấy có chiếc kiệu thơm dừng lại, mấy người tỳ nữ đỡ một người đẹp bước ra, đám tùy tùng đều oai vệ, mũ lọng rất lộng lẫy.

Ni cô ngạc nhiên hỏi thì họ đáp là gia quyến quan Tư lý tạm vào tránh mưa, bèn đưa vào trong điện dời sập mời ngồi.

Bọn tỳ nữ tớ gái túa vào thiền phòng tìm chỗ nghỉ, vào trong thấy cô gái đẹp quá liền chạy ra bẩm với phu nhân.

Không bao lâu tạnh mưa, phu nhân đứng lên xin đi xem thiền phòng, ni cô liền đưa vào.

Phu nhân nhìn thấy cô gái giật nảy mình nhìn không chớp mắt, nàng cũng nhìn lại hồi lâu, thì ra phu nhân không phải ai khác mà chính là Thanh Mai.

Hai người đều khóc lớn, nhân mới cùng kể lại chuyện đã qua, mới biết Trương ông đã ốm chết, Trương sinh mãn tang xong, liên tiếp đỗ thi hương rồi thi hội, được bổ làm Tư lý, đưa mẹ tới nơi phó nhiệm trước còn gia quyến đi sau.

Cô gái than:

- Hôm nay nhìn nhau sao thấy như một trời một vực?

Mai cười đáp:

- May là nương tử gặp bước gian truân chưa lấy chồng, chính vì trời muốn cho chúng ta sum họp đấy thôi.

Nếu không bị mưa cản trở thì làm sao có cuộc gặp gỡ này được, bên trong là có quỷ thần chứ không phải sức người làm được đâu.

Bèn lấy mũ ngọc áo gấm ra giục cô gái thay, nàng cúi đầu ngần ngừ, ni cô cũng khuyên nhủ.

Cô gái lo cùng ở chung thì danh không được thuận, Mai nói:

- Danh phận đã có từ trước, tiểu tỳ đâu đám quên ơn lớn, vả lại cứ nghĩ xem Trương lang có phải là kẻ phụ nghĩa đâu?

Rồi ép nàng thay quần áo, từ biệt ni cô ra đi.

Tới nơi, mẹ con Trương đều mừng rỡ, cô gái lạy nói:

- Ngày nay không mặt mũi nào nhìn mẹ!

Mẹ cười an ủi, nhân bàn chọn ngày làm lễ hợp cẩn.

Cô gái nói:

- Nếu trong am chỉ còn một đường sống bằng sợi tơ thì cũng không chịu theo phu nhân tới đây đâu, nếu còn nghĩ đến tình cũ, thì xin cất cho một túp lều để đặt tấm bồ đoàn ngồi niệm phật là đủ.

Mai cười không nói gì, đến ngày ôm các thứ trang sức lộng lẫy đến, cô gái hai bề không biết tính sao.

Giây lát nghe tiếng đàn sáo rộn rã, nàng càng không tự chủ được Mai sai đám tỳ nữ ép nàng mặc áo rồi kéo dìu ra.

Thấy sinh mặc triều phục vái lạy, nàng bất giác cũng vái theo.

Mai kéo nàng vào động phòng, nói:

- Để trống chỗ này chờ chị lâu rồi!

Kế ngoảnh nhìn sinh nói:

- Đêm nay được dịp đền ơn phải làm cho tốt đấy!

Rồi quay người bước ra.

Cô gái nắm ống quần kéo lại, Mai cười nói:

- Đừng giữ thiếp lại, chuyện này thì không làm thay nhau được đâu.

Rồi gỡ ngón tay cô gái ra bỏ đi.

Thanh Mai thờ phụng cô gái rất kính cẩn, không dám giành riêng phần ân ái, mà nàng vẫn thẹn thùng áy náy.

Vì vậy mẹ bảo cùng gọi nhau là phu nhân, nhưng Thanh Mai vẫn giữ lễ tỳ thiếp, không dám bê trễ.

Ba năm sau Trương được triệu về kinh, qua am ni cô, đem năm trăm lượng vàng để tạ ơn ni cô không nhận, cố ép mới nhận hai trăm lượng, dựng đền Đại sĩ lập bia cho Vương phu nhân.

Sau Trương làm quan tới chức Thị lang, Trình phu nhân sinh được hai trai một gái, Vương phu nhân sinh được bốn trai một gái.

Trương dâng thư trần tình, hai người đều được phong là Phu nhân.

*[Đại sĩ: tức Quan âm Đại sĩ, một danh hiệu khác của Quan Thế âm Bồ tát].

_____________________________________

CHƯƠNG 112: ĐIỀN THẤT LANG

Trọng Kim Lực Dữ Thoát Ki Tà

Đại Đức Phan Tương Nhất Tử Thù

Nhược Đắc Long Môn Truyền Thích Khách

Chỉ Thâm Tỉnh Lý Cộng Thiền Thu*

(Chỉ lý thâm tình là quê hương Nhiếp Chính, một hiệp khách thời Chiến Quốc).

Dịch:

Nhờ Ai Tài Lực Thoát Lao Tù

Một Thác Đành Đem Trả Nghĩa Sâu

Nếu Được Long Môn Truyền Thích Khách

Đáng Cùng Nhiếp Chính Tiếng Ngàn Thâu



Vũ Thừa Hưu người huyện Liêu Dương (tỉnh Liêu Ninh), tính thích giao du, bạn bè đều là kẻ sĩ có danh tiếng.

Đêm mơ thấy một người nói:

- Anh kết giao khắp trong nước nhưng đều là bạn thừa, chỉ có một người có thể cùng chia hoạn nạn thì lại không biết.

Hỏi đó là ai, người ấy đáp:

- Điền Thất Lang chứ ai!

Vũ tỉnh dậy lấy làm lạ.

Sáng ra gặp bạn bè nào cũng hỏi thăm Thất Lang là ai, khách có người biết đó là người thợ săn ở thôn Đông.

Vũ kính cẩn tới yết kiến, cầm roi ngựa gõ cửa.

Không bao lâu có một người bước ra, thấy khoảng hơn hai mươi tuổi lưng ong mắt báo, đội khăn mềm, vận áo ngắn quần cụt vá nhiều chỗ, chắp tay ngang trán hỏi khách ở đâu tới.

Vũ xưng tên họ, nói thác là đi đường mệt mỏi muốn vào nghỉ nhờ.

Hỏi Thất Lang, người ấy đáp:

- Chính là ta đây!

Rồi mời khách vào nhà.

Thấy có mấy gian nhà nát, vách chống bằng cây, vào một phòng nhỏ thấy trên cột treo đầy da cọp da sói mà không có giường ghế gì để ngồi, Thất Lang trải một tấm da cọp dưới đất.

Vũ cùng Thất Lang trò chuyện, thấy lời lẽ thật thà rất thích, liền tặng tiền để làm ăn.

Thất Lang không nhận, Vũ cố ép, Thất Lang bèn cầm vào nhà trong thưa lại với mẹ, giây lát trở ra đưa trả không lấy.

Vũ ép đôi ba lần, bà mẹ lọm khọm bước ra, nghiêm sắc mặt nói:

- Già này chỉ có đứa con đó, không muốn sai nó thờ người sang.

Vũ thẹn ra về, dọc đường ngẫm nghĩ không hiểu ý bà thế nào, có kẻ tùy tùng lúc nãy đứng sau nhà nghe được lời bà mẹ bèn kể lại cho Vũ.

Vốn là khi Thất Lang cầm tiền vào thưa, bà mẹ nói:

- Ta vừa thấy mặt công tử có sắc mờ tối, ắt sẽ gặp họa lớn.

Thường nghe Được người biết thì phải chia sẻ điều lo âu, được người giúp thì phải báo đáp lúc hoạn nạn, kẻ giàu lấy tiền báo đáp, người nghèo lấy nghĩa báo đáp.

Nay vô cớ mà được cho nhiều tiền là điềm không lành, e người ta muốn con đem cái chết báo đáp đấy.

Vũ nghe thế rất phục bà mẹ giỏi, nhưng càng dốc lòng hâm mộ Thất Lang.

Hôm sau làm tiệc mời nhưng Thất Lang từ chối không tới, Vũ bèn tới nhà đòi uống rượu, Thất Lang tự đi mua rượu, đem khô nai ra đãi khách hết sức niềm nở.

Qua hôm sau nữa Vũ mời, Thất Lang mới tới, cùng uống rượu trò chuyện rất vui vẻ nhưng tặng tiền bạc thì không nhận, Vũ nói thác là mua da cọp mới nhận.

Thất Lang về nhà xem lại số da cọp để dành thì không đủ so với số tiền, tự nghĩ phải đi săn nữa mới đủ giao nộp.

Vào núi liền ba ngày không săn được gì.

Gặp lúc vợ bệnh phải ở nhà lo thuốc thang không rảnh đi săn được, qua mười ngày vợ chết phải lo chôn cất, số tiền nhận được đem tiêu gần hết.

Vũ tới điếu tang, phúng viếng rất hậu.

Chôn cất vợ xong, Thất Lang lại mang nỏ vào núi, càng nóng lòng trả nợ Vũ, nhưng rốt lại vẫn không săn được gì.

Vũ nghe biết chuyện, khuyên đừng gấp, mong Thất Lang tới chơi một lần nhưng Thất Lang vẫn băn khoăn về nỗi còn thiếu nợ nên không chịu tới.

Vũ đòi giao số da đã có để Thất Lang tới, Thất Lang kiểm lại những bộ da cũ thấy mối mọt làm hư, lông rụng mất sạch, càng thêm buồn bã.

Vũ biết vội tới nhà, hết lời an ủi rồi vào xem những tấm da hư, nói:

- Thế này lại hay, ý ta là không cần những da có lông.

Rồi gỡ xuống đem ra, mời Thất Lang cùng về nhà chơi, Thất Lang không chịu đi, Vũ đành về một mình.

Thất Lang vẫn nghĩ ngợi về việc còn thiếu tiền Vũ, lại mang lương khô vào núi, qua vài đêm bắn được một con cọp, mang cả về đưa cho Vũ.

Vũ mừng bày tiệc khoản đãi, mời ở lại chơi ba hôm.

Thất Lang nhất quyết từ chối, Vũ sai khóa chặt cổng không cho về.

Tân khách thấy Thất Lang quê mùa chất phác, thầm cho rằng công tử chọn bạn sai, nhưng Vũ lo toan cho Thất Lang hơn tất cả khách khứa khác.

Vũ mang áo mới cho thay, Thất Lang chối từ không nhận, bèn nhân lúc Thất Lang ngủ lén đánh đổi, Thất Lang bất đắc dĩ phải mặc áo mới.

Sau về nhà lại vâng lời mẹ đem trả áo mới đòi áo cũ, Vũ cười nói:

- Về thưa giùm với lão mẫu rằng đã cắt áo cũ ra may lót giày rồi.

Từ đó Thất Lang thường sai mang thịt thỏ thịt hươu tới biếu, nhưng Vũ mời thì không tới nữa.

Một hôm Vũ tới nhà Thất Lang, gặp lúc Thất Lang đi săn chưa về bà mẹ ra đứng dựa cửa nói:

- Từ nay xin đừng rủ rê con ta nữa, cho khỏi mất lòng.

Vũ lễ phép chào, ngượng ngùng ra về.

Nửa năm sau, chợt gia nhân vào báo:

- Thất Lang vì tranh giành con beo săn được mà đánh chết người, hiện đã bắt giải lên quan rồi.

Vũ cả kinh, lập tức tới thăm thì Thất Lang đã bị đóng gông hạ ngục, gặp Vũ không nói gì, chỉ dặn:

- Từ nay phiền ông săn sóc giùm mẹ già.

Vũ đau xót trở ra, vội đem nhiều tiền đút lót quan huyện, lại đem trăm lượng vàng nhét cho gia đình người bị giết.

Hơn tháng họ không kiện cáo, quan bèn tha Thất Lang về, Bà mẹ cảm khái nói:

- Mạng sống của con nay là nhờ Vũ công tử mà có, không phải là già này được thương tiếc nữa.

Chỉ cầu mong công tử suốt đời không gặp tai họa, thì đó là cái phúc của con.

Thất Lang muốn tới tạ ơn Vũ, bà nói:

- Con tới thì tới, nhưng gặp công tử đừng có tạ ơn, ơn nhỏ còn tạ được chứ ơn lớn không tạ được đâu.

Thất Lang tới nhà Vũ, Vũ dịu ngọt an ủi.

Thất Lang chỉ dạ dạ, người nhà có kẻ lấy làm quái lạ vì hời hợt, nhưng Vũ mừng là thật thà, đối xử càng tử tế hơn.

Từ đó thường tới chơi nhà công tử hàng hai ba ngày, tặng cho vật gì cũng nhận, không chối từ mà cũng không tặng gì đáp lễ.

Gặp ngày sinh nhật của Vũ, khách khứa và bọn tùy tùng đông đúc, tối ngủ lại chật nhà, Vũ tới ngủ chung với Thất Lang trong một phòng nhỏ, ba người đầy tớ trải rơm nằm dưới giường.

Qua canh hai chúng đều ngủ say, hai người vẫn nhỏ to trò chuyện.

Thanh bội đao của Thất Lang treo trên vách bỗng tự vọt lên, tuốt ra khỏi vỏ đến mấy tấc, loảng xoảng thành tiếng, lóe sáng như chớp.

Vũ giật mình, Thất Lang cũng vùng dậy hỏi ba người nằm dưới giường là những ai, Vũ đáp đều là tôi tớ.

Thất Lang nói:

- Trong bọn này ắt có kẻ ác!

Vũ hỏi sao biết, Thất Lang đáp,Thanh đao này mua ở nước ngoài, giết người chưa từng dính máu, dòng họ ta đeo đã ba đời, chặt đầu người có tới hàng ngàn mà vẫn sắc bén như mới mài, gặp kẻ ác thì khua vang tuốt ra, chắc sắp phải giết người rồi.

Xin công tử nên thân người quân tử, xa kẻ tiểu nhân thì may ra tránh khỏi tai họa.

Vũ gật đầu, Thất Lang vẫn không vui, trằn trọc mãi trên giường.

Vũ nói:

- Lành dữ có số, sao lại lo lắng quá thế?

Thất Lang đáp:

- Ta chẳng sợ gì nguy hiểm, chỉ vì còn có mẹ già thôi.

Vũ nói:

- Làm gì mà tai họa tới mau thế được?

Thất Lang đáp:

- Không tới thì càng hay!

Đại khái ba người đầy tớ ngủ dưới giường, một là Lâm Nhi, Vũ rất vừa ý, một là đứa tiểu đồng khoảng mười hai mười ba tuổi, Vũ thường sai phái này nọ, một là Lý ứng tính rất bướng bỉnh, thường vì chuyện nhỏ cãi lại công tử, Vũ đã nhiều lần nổi giận.

Đêm ấy Vũ nghĩ thầm chuyện này chắc có dính líu tới nó nên sáng ra gọi tới nói khéo rồi bảo nó đi.

Con trưởng của Vũ là Thân, lấy Vương thị làm vợ.

Một hôm công tử đi vắng, sai Lâm Nhi coi phòng sách, trong phòng có cây cúc đang trổ hoa.

Vợ Thân nghĩ cha chồng đi vắng, phòng sách chắc vắng vẻ bèn một mình tới hái hoa cúc.

Lâm Nhi chợt xông ra níu kéo trêu ghẹo, nàng toan bỏ chạy thì Lâm Nhi bế xốc vào phòng.

Nàng kêu gào chống cự xám mặt khản tiếng, Thân chạy vào Lâm Nhi mới buông nàng ra bỏ trốn.

Vũ về nghe chuyện, nổi giận tìm Lâm Nhi nhưng không rõ đã trốn đi đâu, qua hai ba hôm mới rõ nó tới xin làm tôi tớ trong nhà quan Ngự sử Mỗ.

Mỗ làm quan ở kinh, việc nhà đều giao cho người em, Vũ lấy tình thân gởi thư đòi trả Lâm Nhi, em Mỗ cứ để đó không trả.

Vũ càng tức, thưa lên quan huyện, quan tuy có trát bắt mà lính không bắt, quan cũng không hỏi.

Vũ đang tức giận thì gặp lúc Thất Lang tới, Vũ nói:

- Lời ông nói đã nghiệm rồi!

Nhân kể lại mọi chuyện, Thất Lang nghe xong sắc mặt tái xanh không nói câu nào, bỏ về ngay.

Vũ sai bọn gia nhân đắc lực theo dõi Lâm Nhi, tối đến Lâm Nhi ra đường bị bọn kia bắt được trói lại mang về nộp Vũ.

Vũ lấy gậy đánh, Lâm Nhi gào thét chửi mắng rất hỗn láo.

Chú Vũ tên Hằng vốn là bậc trưởng giả sợ cháu nóng giận gây họa, khuyên đưa Lâm Nhi lên để quan trị tội.

Vũ nghe theo, giải Lâm Nhi lên công đường, nhưng nhà Ngự sử gởi thư tới quan huyện bèn thả Lâm Nhi ra, cho muốn theo ai tùy ý.

Lâm Nhi càng rông càn, trước chỗ đông người bịa đặt nói vung lên rằng Vũ tư thông với con dâu, Vũ không nhịn được, phẫn uất muốn chết.

Hôm sau Vũ tới cổng nhà Ngự sử kêu gào chửi rủa, người chung quanh khuyên giải bảo về.

Qua một đêm, chợt gia nhân vào bẩm Lâm Nhi bị người ta giết chết lóc thịt ném xác ngoài đồng trống, Vũ ngạc nhiên mừng rỡ, mới hơi hả dạ.

Kế nghe nhà Ngự sử kiện hai chú cháu, Vũ bèn đưa chú tới đối chất, quan huyện không nói năng gì, sai đánh Hằng, Vũ lớn tiếng nói:

- Đã vu cho tội giết người, lại làm nhục bậc thân sĩ à?

Chuyện này cứ hỏi ta, đừng kéo chú ta vào.

Quan huyện không thèm nghe, Vũ trợn mắt toan sấn lên, đám nha lại đánh đập ngăn lại.

Bọn đánh Hằng đều là chó săn của nhà quan, Hằng lại già yếu, chịu chưa đủ nửa số roi phạt đã tắt hơi chết rồi, quan huyện thấy chú Vũ đã chết cũng không xét xử nữa.

Vũ gào thét chửi mắng, quan huyện làm ngơ như không nghe thấy gì đành khiêng xác chú về, căm hờn đau xót không biết làm sao.

Nghĩ muốn bàn với Thất Lang, nhưng không thấy Thất Lang tới điếu tang, tự nghĩ mình đối xử với Thất Lang không tệ, sao lại làm ngơ như kẻ qua đường?

Cũng ngờ rằng kẻ giết Lâm Nhi là Thất Lang, nhưng lại nghĩ thế sao không bàn với mình?

Bèn sai người tới nhà Thất Lang thăm dò nhưng thấy cửa đóng im ỉm, láng giềng đều không rõ đi đâu.

Một hôm em Mỗ đang ngồi trong dinh trò chuyện với quan huyện, gặp ngày nộp củi đuốc, chợt một người tiều phu tới trước mặt, ném gánh củi xuống rút đao sắc sấn vào chém.

Em Mỗ hoảng sợ giơ tay lên đỡ, lưỡi đao lướt qua cánh tay rơi xuống, lại thêm nhát nữa rơi đầu.

Quan huyện cả sợ bỏ chạy, tiều phu còn nhìn quanh thì dám nha lại vội đóng cổng, cầm gậy gộc la lớn xúm lại, tiều phu liền tự đâm cổ chết.

Mọi người nhao nhao xúm lại nhận mặt, biết đó là Điền Thất Lang.

Quan huyện hoàn hồn mới trở ra xem xét, thấy Thất Lang nằm cứng đờ giữa vũng máu, tay còn cầm đao.

Vừa tới gần nhìn kỹ, xác chết chợt vùng dậy chém bay đầu quan huyện rồi lại ngã xuống.

Lính huyện tới bắt bà mẹ Thất Lang thì bà đã bỏ trốn từ mấy hôm trước.

Vũ nghe Thất Lang chết, chạy tới khóc lóc rất đau thương, có người nói là chính Vũ sai Thất Lang làm thế, Vũ bán hết điền sản lo lót mới được vô sự.

Xác Thất Lang bị vứt ra đồng trống hơn ba chục ngày, chim muông thay nhau canh giữ, Vũ thu nhặt về tống táng rất hậu.

Con trai Thất Lang tới lưu ngụ ở phủ Đăng Châu (tỉnh Sơn Đông) đổi họ là Đồng, lớn lên đi lính, nhờ quân công làm tới chức Đồng tri tướng quân, khi trở về Liêu Dương thì Vũ đã hơn tám mươi tuổi, chỉ cho biết mồ cha.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 113+114


CHƯƠNG 113: LA SÁT HẢI THỊ

CHỢ BIỂN NƯỚC LA SÁT

Nghiên Suy Đảo Trí Diệc Kỳ Văn

Hải Thị Đao Khai Vạn Lý Vân

Tất Cánh Văn Chương Năng Phú Quý

Thủy Tinh Cung Lý Bái Long Quân

Dịch:

Ngược Đời Xấu Đẹp Lạ Vô Cùng

Chợ Biển Mây Trôi Vút Vạn Trùng

Rút Lại Văn Chương Cao Phẩm Giá

Xui Duyên Kỳ Ngộ Chốn Long Cung



Mã Tuấn tự Long Môi là con nhà buôn bán, dung mạo đẹp đẽ.

Lúc trẻ phóng túng, giỏi ca múa, thường đi theo phường hát, lấy khăn gấm bịt đầu trông xinh xắn như con gái, nhân đó có hiệu là Tuấn Nhân.

Năm mười bốn tuổi vào học trường huyện, lập tức có tiếng là học giỏi.

Cha già yếu thôi buôn bán về nghỉ ở nhà, bảo sinh rằng:

- Mấy quyển sách kia đói không thể nấu, rét không thể mặc, con cứ nối nghiệp cha mà đi buôn thôi.

Từ đó Mã đi buôn, theo người ta ra buôn ngoài biển, bị bão trôi dạt mấy ngày đêm tới một nơi đô hội.

Người ở đó xấu xí lạ lùng, thấy Mã cho là yêu quái, kêu la bỏ chạy.

Ban đầu Mã thấy họ xấu xí sợ lắm, đến khi biết người xứ ấy sợ mình lại lấy đó lừa họ, thấy ai đang ăn uống thì chạy xộc tới, người ta sợ chạy thì ăn những thức họ bỏ lại.

Lâu ngày vào tới xóm núi, thấy ở đó cũng có kẻ dung mạo giống người nhưng áo quần rách rưới như ăn mày.

Mã ngồi nghỉ dưới gốc cây, người làng không dám tới gần, chỉ đứng xa nhìn, hồi lâu thấy Mã không phải là kẻ ăn thịt người mới mon men tới.

Mã cười trò chuyện với họ, tuy khác tiếng nhưng cũng hiểu được nửa phần, Mã nói rõ vì sao mình lạc tới đây Người làng mừng rỡ loan báo khắp làng xóm rằng khách không phải là kẻ bắt người ăn thịt, nhưng những kẻ xấu xí chỉ đứng xa nhìn rồi bỏ đi, không dám tới gần.

Những kẻ tới gần thì chỗ mũi miệng cũng giống người Trung Quốc, cùng bày rượu mời Mã.

Mã hỏi vì sao lại sợ mình, họ đáp:

- Thường nghe ông bà nói rằng cách đây hai vạn sáu ngàn dặm về phía tây có nước Trung Quốc, dân ở đó mặt mũi kỳ quái nhưng chỉ nghe đồn, nay mới tin là đúng.

Hỏi sao nghèo thế, họ đáp:

- Điều nước bọn ta quý chuộng không phải văn chương mà là tướng mạo.

Những người đẹp nhất làm thượng khanh, kế làm chức dân xã, hạng dưới chót cũng được quý nhân thương yêu nên có lương bổng nuôi vợ con.

Còn loại bọn ta lúc mới chào đời thì cha mẹ đều cho là điềm xấu vứt đi không nuôi, những nhà không nỡ bỏ là vì nối dõi tông môn thôi.

Mã hỏi nước này tên gì, họ đáp:

- Đây là nước Đại La Sát, kinh đô cách đây ba mươi dặm về phía Bắc.

Mã xin dẫn tới xem một phen, rồi đó gà gáy thức dậy cùng đi.

Trời sáng tới kinh, thấy kinh thành xây bằng đá đen như mực, lầu gác cao gần trăm thước nhưng ít lợp ngói mà lấy đá đỏ úp phía trên, dùng đá vụn trít các khe hở trông không khác gì đan sa.

Gặp lúc bãi chầu, các quan đội mão che lọng trong triều ra, người làng chỉ mà nói:

- Kia là quan Tướng quốc!

Mã nhìn thấy ông ta hai tai quặt ra phía sau, mũi có ba lỗ, lông mày che kín mắt như tấm rèm.

Lại có mấy người cưỡi ngựa ra, người kia nói:

- Kia là quan Đại phu!

Lần lượt theo thứ tự nói rõ quan chức của từng người, Mã thấy dung mạo đều ghê rợn kỳ quái, nhưng quan chức càng thấp thì diện mạo càng bớt xấu xí.

Lát sau Mã về, người trên đường phố trông thấy đều bỏ cbạy tán loạn, xô nhau ngã dúi dụi như gặp quái vật.

Người cùng đi ra sức phân trần, người trong chợ mới dám đứng xa xa mà nhìn.

Mã về rồi, người trong nước lớn nhỏ đều biết xóm núi có quái nhân, các nhà quyền quý tranh nhau muốn mở rộng kiến văn bèn sai người trong thôn mời Mã.

Nhưng Mã tới nhà nào thì người giữ cổng cũng đóng chặt cửa, đàn ông đàn bà lén nhìn qua khe cửa thì thào bàn tán, cả ngày không có một ai dám ra mặt đón tiếp.

Người làng nói:

- Ở đây có quan Chấp kích lang từng phụng mệnh tiên vương đi sứ ngoại quốc, là người từng trải lịch duyệt, may ra không sợ anh chăng?

Bèn tới nhà quan Chấp kích, quả nhiên ông vui mừng tiếp đón Mã như thượng khách.

Mã thấy diện mạo ông như người tám chín mươi tuổi, hai mắt lồi ra, râu ria tua tủa như lông nhím.

Ông nói:

- Ta lúc trẻ từng phụng mệnh vua đi sứ ngoại quốc rất nhiều, chỉ chưa tới Trung Hoa.

Nay đã hơn một trăm hai mươi tuổi lại được nhìn thấy nhân vật thượng quốc, không thể không tâu lên cho thiên tử biết.

Nhưng ta nương náu nơi rừng núi đã hơn mười năm không đặt chân tới triều đình, sáng mai xin vì ông cố đi một phen.

Rồi sai dọn tiệc đãi khách, rượu được vài tuần gọi phường nữ nhạc mười mấy người ra thay phiên múa hát, nàng nào mặt mũi cũng như quỷ dạ xoa, gấm trắng bịt đầu, áo đỏ quét đất, lời hát không nghe rõ là gì mà khúc điệu cũng kỳ quái, nhưng chủ nhân có vẻ vui thích lắm.

Hỏi Trung Quốc chắc cũng có thú vui này chứ, Mã đáp có.

Chủ nhân xin được nghe, Mã gõ bàn hát một khúc, chủ nhân vui vẻ nói:

- Lạ thay, tiếng hát như rồng ngâm phụng gáy, ta chưa từng được nghe bao giờ.

Hôm sau ông vào triều tiến cử Mã với quốc vương, nhà vua vui mừng xuống chiếu vời Mã.

Nhưng có hai ba vị đại thần nói hình dạng Mã quái gở, e làm kinh hãi thánh thể, vua bèn thôi.

Ông Chấp kích lập tức trở về kể cho Mã nghe, tỏ ý rất tiếc.

Mã ở đó lâu ngày, có hôm cùng chủ nhân uống rượu say, cầm gươm đứng dậy múa, lấy than bôi mặt đóng vai Trương Phi.

Chủ nhân cho là đẹp, nói:

- Xin khách đem bộ mặt Trương Phi tới ra mắt Tướng quốc, chắc Tướng quốc sẽ vui vẻ trọng dụng, khó gì không được chức cao lộc hậu.

Mã nói:

- Ôi!

Bôi mặt đùa giỡn thì còn được, chứ làm sao có thể mang bộ mặt này đi cầu chức tước?

Chủ nhân cố ép, Mã bèn theo lời.

*[Trương Phi: võ tướng và là em kết nghĩa của Lưu Bị, Tiên chủ nhà Thục Hán thời Tam quốc, tính tình thô mãng, mặt mũi dữ tợn].

Chủ nhân liền mở tiệc mời các quan tới uống rượu, bảo Mã vẽ mặt chờ sẵn.

Không bao lâu khách tới, ông gọi Mã ra chào, khách đều ngạc nhiên nói:

- Lạ quá, sao bữa trưóc xấu xí mà hôm nay xinh đẹp thế kia?

Rồi cùng nhau uống rượu hết sức vui vẻ.

Mã múa may hát khúc Dặc dương, cả tiệc đều phục lăn.

Hôm sau các quan cùng dâng biểu tiến cử Mã, vua mừng rỡ, sai đem cờ tiết đi vời.

Mã tới bái kiến, vua hỏi về đạo trị an của Trung Quốc.

Mã tâu bày cặn kẽ, vua rất khen ngợi, ban yến ở Ly cung.

Rượu ngà ngà, vua hỏi:

- Nghe nói khanh giỏi múa hát, có thể cho quả nhân nghe được không?

Mã liền đứng dậy múa, cũng bắt chước lấy gấm trắng bịt đầu, hát giọng ồm ồm.

Vua thích lắm phong ngay cho Mã chức Hạ Đại phu, thường ban yến riêng, ân sủng khác thường.

Lâu ngày các quan lớn nhỏ trong triều biết diện mạo Mã mang là giả, Mã tới đâu cũng thấy người ta rỉ tai nhau lơ là với mình, từ đó bị cô lập, trong lòng sợ sệt không yên, dâng sớ xin về hưu trí nhưng vua không cho.

Mã lại xin nghỉ phép, vua cho nghỉ ba tháng, bèn lấy ngựa trạm chở vàng bạc châu báu trở về xóm núi.

Người làng quỳ đón bên đường, Mã lấy vàng bạc chia cấp cho những kẻ đối xử tử tế với mình trước đây, tiếng reo mừng cảm ơn như sấm.

Dân làng nói:

- Bọn ta hèn mọn, được Đại phu cho tiền bạc, ngày mai ra chợ biển, sẽ tìm mua vật quý để đền ơn.

Mã hỏi chợ biển ở đâu, họ đáp:

- Chợ họp giữa biển, hội tụ châu báu hàng hóa của Giao nhân bốn biển, người ở bốn phương mười hai nước đều tới mua bán, trong đó có nhiều thần nhân dạo chơi, mây ráng rợp trời, ba đào cuồn cuộn.

Các bậc quý nhân tự trọng không dám xông pha nguy hiểm đều đưa vàng lụa nhờ bọn ta mua giùm các món quý lạ, nay sắp đến phiên chợ rồi.

*[Giao nhân bốn biển: Thuật dị ký chép ở Nam Hải có giống người là Giao nhân sống ớ dưới nước như cá, chuyên việc dệt vải, nếu khóc thì nước mắt hóa thành ngọc châu].

Mã hỏi tại sao biết sắp đến phiên chợ, họ đáp:

- Mỗi khi thấy chim đỏ bay liệng qua lại trên biển thì bảy hôm sau có phiên chợ.

Mã hỏi đi mất bao lâu, muốn cùng đi xem nhưng dân làng can ngăn, khuyên nên tự trọng thân phận, Mã đáp:

- Ta vốn là khách đi biển, sợ gì ba đào.

Không bao lâu quả có nhiều người nối nhau tới gởi tiền nhờ mua hàng giùm, Mã liền mang hành lý xuống thuyền.

Thuyền có vài mươi người, đáy phẳng lườn cao, có mười tay chèo, lướt đi như tên bay.

Qua ba ngày, trông thấy xa xa giữa chốn mây nước mênh mông có đài gác chập chồng, thuyền buôn đông đặc như kiến.

Giây lát tới dưới thành, thấy tường thành xây bằng những tảng đá cao như thân người, chòi canh cao chạm mây xanh.

Buộc thuyền vào thành, thấy trong chợ bày đầy các món kỳ trân dị bảo lớng lánh chói mắt, nhiều thứ trần gian không có.

Chợt một thiếu niên cưỡi ngựa đi tới, người trong chợ đều dạt ra tránh đường, nói đó là Tam Thế tử biển Đông.

Thế tử đi tới, nhìn Mã nói:

- Đây hẳn là người xứ lạ!

Liền có kẻ tùy tùng tới hỏi quê quán.

Sinh đứng bên đường chắp tay vái chào, tự nói tên họ quê quán.

Thế tử mừng nói:

- Được ông hạ cố tới đây, thật có duyên phận không ít.

Rồi đó đưa ngựa cho sinh cưỡi, mời cùng sóng vai đi ra cửa tây thành, vừa tới bờ cù lao thì con ngựa sinh cưỡi hý vang rồi nhảy xuống nước.

Sinh cả sợ kêu thất thanh thì thấy nước biển rẽ ra, hai bên dựng đứng như vách tường.

Giây lát thấy có cung điện, đồi mồi làm kèo, vảy cá làm ngói, bốn vách là pha lê lóng lánh chói mắt.

Sinh xuống ngựa vào trong ra mắt, ngẩng lên thấy Long quân ngồi trên, Thế tử tâu nói:

- Thần đi chơi chợ, gặp được bậc hiền sĩ Trung Hoa, xin dẫn kiến với đại vương.

Sinh bước lên vái lạy xong, Long quân nói:

- Tiên sinh là bậc văn sĩ, ắt văn chương hay lắm, quả nhân muốn phiền viết hộ bài phú Chợ biển, xin đừng tiếc lời châu ngọc.

Sinh dập đầu vâng lệnh, Long quân sai đem cho nghiên pha lê, bút râu rồng, giấy sắc trắng tựa tuyết, mực thơm ngát như lan.

Sinh lập tức viết xong bài phú hơn ngàn chữ dâng lên trước điện, Long quân khen ngợi nói:

- Tài lớn của tiên sinh làm thủy quốc vẻ vang thêm nhiều lắm.

Rồi hội họp thủy tộc mở tiệc lớn ở cung Thái Hà, rượu được vài tuần, Long quân nâng chén nhìn khách nói:

- Quả nhân có đứa con gái yêu chưa lấy chồng, muốn gả cho tiên sinh, tiên sinh có bằng lòng không?

Sinh rời tiệc bước ra thẹn thùng lạy tạ, chỉ dạ dạ mà thôi.

Long quân bèn quay lại dặn dò tả hữu.

Không bao lâu có mấy người cung nhân đỡ một nữ lang ra, vòng ngọc khua vang, nhã nhạc trỗi lớn.

Sinh lạy xong liếc nhìn thấy nàng xinh đẹp như tiên, công chúa lạy xong quay trở vào.

Giây lát bãi tiệc, có hai a hoàn cầm đèn lồng đưa sinh vào hậu cung.

Công chúa trang điểm lộng lẫy ngồi đợi, trong phòng kê giường san hô khảm bát bảo, rèm kết tú cầu điểm xuyết minh châu to như cái đấu, chăn nệm đều mềm mại thơm tho.

Trời vừa rạng sáng thì gái hầu trẻ đẹp đã xúm tới hầu hạ.

Sinh trở dậy ra triều đường lạy tạ, Long quân phong sinh làm Phò mã Đô úy, sai đưa bài phú ra các biển.

Long quân các biển đều sai sứ tới mừng, tranh nhau mời Phò mã tới uống rượu.

Sinh mặc quần áo thêu, cởi rồng xanh, tiền hô hậu ủng ra đi, mấy mươi võ sĩ cưỡi ngựa hộ vệ đều mang cung sơn son, mang giày cựa bạc sáng loáng xúm xít chung quanh, trên ngựa gảy đàn, trong xe gõ phách, trong ba ngày dạo chơi khắp các biển.

Từ đó danh tiếng con rể Long quân vang dậy bốn biển.

Trong cung có một cây ngọc thân đầy một ôm, gốc trong suốt như pha lê trắng, trong có lõi màu vàng nhạt nhỏ hơn cánh tay, lá như bích ngọc dày bằng đồng tiền mọc chi chít, sinh thường cùng vợ ngồi dưới bóng cây ngâm thơ thổi sáo.

Hoa nở đầy cây như hoa thiềm bồ, cánh hoa rụng xuống thì kêu leng keng, nhặt lên nhìn thấy như mã não đỏ chạm trổ, long lanh rất đẹp.

Lúc lúc có chim lạ tới đậu trên cây hót, lông màu vàng ánh, đuôi dài hơn thân, tiếng hót như ngọc khua ai oán làm người ta xót xa.

Sinh cứ nghe chim hót lại chạnh niềm cố hương, nhân nói với công chúa:

- Ta lạc lõng ba năm, bặt tin cha mẹ, cứ nghĩ tới lại đau lòng, nàng có thể theo ta về không?

Nàng nói:

- Tiên phàm hai lối, không thể theo được.

Nhưng thiếp cũng không nỡ vì tình vợ chồng mà khiến chàng lỗi đạo hiếu, xin thong thả sẽ tính.

Sinh nghe thế sa nước mắt, nàng cũng than:

- Tình thế này thật không thể tròn cả hai bề.

Hôm sau sinh đi chơi về, Long quân hỏi:

- Nghe nói Đô úy nhớ quê muốn về, sáng mai khởi hành được chăng?

Sinh từ tạ nói:

- Thần bơ vơ đất khách, đội ơn đại vương quá yêu, trong lòng chỉ mong có dịp báo đáp.

Nay xin cho tạm về thăm cha mẹ, rồi sẽ trở lại hầu đại vương.

Tối đến công chúa đặt tiệc từ giã, sinh hẹn ngày gặp lại, nàng nói:

- Tình duyên đôi ta đến đây là hết.

Sinh vô cùng đau xót, nàng nói:

- Cứ về phụng dưỡng mẹ cha để tỏ lòng hiếu thảo của chàng, chứ đời người hết hợp rồi tan, trăm năm cũng như sớm tối thôi, cần gì khóc lóc như lối đàn bà?

Từ nay về sau nếu thiếp thủ tiết vì chàng, chàng giữ nghĩa với thiếp, hai nơi vẫn một lòng thì là vợ chồng đấy, cần gì phải sớm tối giữ riệt lấy nhau mới gọi là bách niên giai lão?

Nếu phụ lời nguyền thì có lấy vợ lấy chồng cũng chẳng tốt lành đâu.

Còn nếu trên trần gian thiếu người nội trợ, thì cưới tỳ thiếp cũng được thôi.

Còn có một chuyện muốn nói, là từ ngày kết bạn, hình như thiếp đã có thai, phiền chàng đặt tên trước cho con.

Sinh nói:

- Nếu sinh con gái thì đặt tên là Long Cung, nếu sinh con trai thì đặt tên là Phước Hải.

Công chúa xin để lại một vật làm tin, sinh lúc ở nước La Sát được một đôi hoa sen bằng ngọc đỏ bèn lấy đưa cho nàng.

Công chúa nói:

- Ba năm sau, đúng ngày mùng tám tháng tư, chàng chèo thuyền ra Nam đảo, thiếp sẽ giao con.

Rồi lấy da cá làm túi, bỏ đầy châu ngọc vào đưa cho sinh, nói:

- Chàng giữ cho kỹ, bấy nhiêu thì ăn tiêu mấy đời cũng không hết.

Trời mờ sáng, Long vương bày tiệc tiễn hành, tặng cho rất hậu.

Sinh lạy tạ ra đi, công chúa ngồi xe dê trắng đưa lên tới tận bờ.

Sinh lên bờ xuống ngựa, nàng dặn dò tự bảo trọng rồi quay xe trở về, phút chốc đã xa tít, nước biển khép lại không thấy gì nữa, sinh bèn về nhà.

Từ khi sinh vượt biển, có người cho rằng đã chết, đến khi về tới người nhà đều kinh ngạc.

Cũng may là cha mẹ đều còn khỏe mạnh, duy vợ đã đi lấy chồng khác, mới sực hiểu câu nói "giữ nghĩa" của Long nữ là đã biết trước việc ấy.

Cha muốn cưới vợ khác cho nhưng sinh không nghe, chỉ mua thiếp.

Đúng kỳ hẹn ba năm sinh chèo thuyền ra đảo, thấy hai đứa nhỏ ngồi trên mặt biển vốc nước đùa giỡn, không động cũng không chìm.

Sinh tới gần bế, một đứa reo lên nắm tay sinh rồi nhảy vào lòng, đứa kia khóc lớn như giận sinh không dắt mình, sinh cũng bế cả lên.

Nhìn kỹ thì là một trai một gái, mặt mũi thanh tú, đội mũ hoa gắn ngọc, tức đôi hoa sen bằng ngọc đỏ.

Trên lưng một đứa đeo túi gấm, sinh mở ra xem thấy có bức thư như sau:

“Kính thăm cha mẹ bình an.

Thấm thoát ba năm, cách đường bụi đỏ, mênh mông một bể, dứt lối chim xanh.

Kết tương tư thành mộng, để nhưng nhớ làm đau, thăm thẳm trời xanh, hận nào sánh được?

Nhưng nghĩ Hằng Nga còn lạnh lùng trong cung quế, Chức Nữ phải tê tái cạnh sông Ngân, thì ta là hạng người nào mà mong trăm năm sum họp, thiếp nghĩ tới đó liền gạt nước mắt mà vui cười.

Sau khi từ biệt hai tháng thì thiếp sinh được song thai, đến nay đã bi bô đòi bế, hơi biết nói cười, ngó táo giành lê, không có mẹ cũng sống được, nên kính trao lại cho chàng.

Đôi hoa sen bằng ngọc đỏ chàng để lại, thiếp gài lên mũ chúng để làm tin, lúc nào ôm con trên gối thì cũng như có thiếp bên cạnh vậy.

Biết chàng đã giữ trọn lời nguyền, thiếp được an ủi rất nhiều, thề giữ trọn tình với chàng đến chết, vật trong rương cam thiếu dầu thơm, người trong kính lâu không son phấn.

Chàng như chinh nhân thì thiếp làm quả phụ, cho dù không gần gũi cũng vẫn có thể nói là duyên cầm sắt kia mà.

Chỉ nghĩ tới cha mẹ chồng đã bế cháu nội mà chưa gặp nàng dâu, kể theo tình lý cũng còn chưa trọn vẹn, nên năm sau tống táng mẹ, thiếp sẽ tớì mộ điếu tang cho trọn đạo dâu con.

Từ nay về sau thì Long Cung vô sự, còn nhiều lúc gặp nhau, Phước Hải sống lâu, cũng có đường lui tới.

Mong chàng khoẻ mạnh, thư chẳng hết lời”.

Sinh đọc đi đọc lại lá thư rơi lệ, hai đứa nhỏ ôm cổ, nói:

- Về nhà thôi!

Sinh càng đau xót, vỗ về hai đứa hỏi:

- Hai con có biết nhà ở đâu không?

Hai đứa khóc lóc líu lo đòi về.

Sinh nhìn ra thấy biển cả mênh mông, chân trời xa tít, bóng người mờ mịt, mây nước muôn trùng đành bế con quay thuyền ngậm ngùi trở về.

Sinh biết mẹ không còn sống lâu nữa nên lo sẵn mọi việc ma chay, trồng hơn trăm cây tùng quanh khu mộ.

Năm sau quả nhiên mẹ sinh mất, khi quan tài sắp hạ huyệt thì có cô gái mặc áo tang tới làm lễ.

Mọi người đang ngạc nhiên nhìn chợt gió bão nổi lên, sét nổ ầm ầm, kế mưa như trút nước, trong chớp mắt cô gái biến mất, những tùng bách mới trồng phần nhiều chết khô lúc ấy lại trở nên xanh tốt.

Phước Hải hơi lớn thường nhớ nhung mẹ, cứ nhảy xuống biển mấy ngày mới về.

Long Cung là con gái không đi được, chỉ biết đóng cửa ngồi khóc.

Một hôm đang ban ngày mà trời tối sầm, Long nữ chợt tới bảo con gái nín khóc rồi nói:

- Con sẽ lấy chồng, khóc lóc làm gì?

Rồi cho con gái một cây san hô cao tám thước, một hộp long não hương, một trăm viên ngọc minh châu, một đôi vòng vàng khảm bát bảo làm của hồi môn.

Sinh nghe nói vợ tới vội chạy vào nắm tay nàng khóc nức nở.

Giây lát trời nổi mua gió, sét đánh vang nhà, nàng biến mất.

____________________________________

CHƯƠNG 114: CÔNG TÔN CỬU NƯƠNG

Nguyệt Lạc Phong Lâm Lộ Yểu Minh

Băng Nhân Chuyển Tự Đắc Thính Đình

Nhất Song La Miết Lân Kỳ Tặng

Do Nhiễm Đương Niên Bích Huyết Tinh

Dịch:

Lối Mịt Rừng Phong Trăng Lẫn Bóng

Băng Nhân Lại Được Lứa Đôi Xinh

Một Đôi Tất Lụa Chia Tay Tặng

Còn Dính Năm Nào Vết Máu Tanh



Cái án Vu Thất phát ra, những kẻ liên lụy bị giết nhiều nhất là người hai huyện Thê Hà, Lai Dương (tỉnh Sơn Đông), mỗi ngày có tới mấy trăm người bị giải ra pháp trường xử chém, máu đen ngập đất, xương trắng ngút trời.

Quan trên nhân từ cấp cho quan tài, các hiệu bán quan tài trong thành Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) hết sạch cả hàng, vì vậy những người bị xử tử phần lớn được chôn ở cánh đồng phía nam thành.

*[Cái án Vu Thất: tức vụ khởi binh chống triều đình của Vu Thất ở huyện Thê Hà tỉnh Sơn Đông năm Thuận Trị thứ 18 (1661), bị nhà Thanh đàn áp rất thảm khốc].

Năm Giáp dần có thư sinh người huyện Lai Dương tới chơi Tắc Hạ (cửa nam thành Tế Nam), vì có hai ba người bạn bị xử tử nên nhân đó mua giấy tiền vàng bạc ra cúng ở đám mả hoang, rồi tới thuê một gian phòng trong chùa ở trọ.

Hôm sau vào thành lo công việc, xế chiều vẫn chưa về.

Chợt có một thiếu niên tới phòng trọ thăm, thấy sinh đi vắng liền bỏ mũ leo lên giường, để nguyên giày nằm ngửa, đầy tớ sinh hỏi chỉ nhắm mắt không trả lời.

Lúc sinh về trời đã nhá nhem, không nhìn rõ mặt bèn tới cạnh giường hỏi, khách trợn mắt nói:

- Ta đang chờ chủ ngươi, sao cứ hạch hỏi lôi thôi, chẳng lẽ ta là trộm cướp à?

Sinh cười nói:

- Chủ nhân đây!

Thiếu niên vội vùng dậy, đội mũ sửa áo ngồi xuống, vồn vã hỏi thăm.

Sinh nghe tiếng như người quen, vội gọi lấy đèn, thì ra là Chu sinh người cùng huyện, cũng chết trong nạn Vu Thất, cả sợ bỏ chạy.

Chu kéo lại nói:

- Ta với ông là bạn văn chương, sao vô tình với nhau như thế?

Ta tuy là ma nhưng vẫn canh cánh nhớ cố nhân, nay có chuyện muốn làm phiền, xin đừng coi là khác loài mà xử tệ.

Sinh bèn ngồi xuống xin nghe sai bảo, Chu nói:

- Cháu gái ông hiện ở một mình không có chồng, ta muốn cưới nàng về lo việc trong nhà, đã mấy lần nhờ mai mối dạm hỏi nhưng nàng cứ lấy cớ là không có lệnh của bậc tôn trưởng để từ chối, xin ông nói giúp cho một câu.

Trước sinh có đứa cháu gái gọi bằng cậu, mồ côi mẹ từ nhỏ nên sinh đem về nuôi, đến năm mười lăm tuổi mới về sống với cha.

Nàng bị bắt giải tới Tế Nam, nghe tin cha bị hành hình, gào khóc tắt hơi mà chết.

Sinh nói:

- Có cha nó đó, sao lại cầu ta?

Chu đáp:

- Cha nàng đã được người cháu bốc mộ mang đi, hiện không có ở đây.

Sinh hỏi cháu gái mình đang ở với ai, Chu đáp nàng ở chung với bà láng giềng.

Sinh ngại người sống không thể làm mai mối cho ma, Chu nói:

- Nếu ông chịu giúp thì xin phiền dời gót ngọc.

Rồi đứng dậy nắm tay sinh kéo đi.

Sinh từ chối, hỏi đi tới đâu, Chu nói:

- Cứ đi sẽ biết!

Sinh bèn miễn cưỡng đi theo.

Đi về phía bắc khoảng một dặm thấy có thôn xóm đông đúc, ước chừng mấy trăm nóc nhà.

Tới một gian nhà, Chu gõ cửa, lập tức có bà già ra mở cả hai cánh cửa, hỏi Chu tới có việc gì.

Chu nói:

- Làm phiền bà nói với nương tử rằng có ông cậu tới.

Bà già quay vào, giây lát trở ra mời sinh vào, nhìn Chu nói:

- Có hai gian nhà tranh chật chội, phiền công tử ngồi đợi ngoài cổng một lúc.

Sinh theo bà ta vào, thấy bên trong là nửa mẫu vườn hoang, có hai gian phòng nhỏ, đứa cháu gái khóc lóc đứng đón ở cửa, trong phòng đèn lửa lờ mờ.

Cô gái dung mạo vẫn xinh xắn như lúc còn sống, gạt lệ hỏi thăm tất cả các dì các mợ.

Sinh đáp:

- Mọi người khỏe cả, duy có vợ ta đã qua đời rồi.

Cô gái lại sụt sùi khóc, nói:

- Cháu lúc nhỏ được cậu mợ nuôi nấng, chưa có chút gì báo đáp mà không ngờ đã vùi xác nơi ngòi rãnh trước, rất đỗi ân hận.

Năm trước ông anh lớn con nhà bác tới mang hài cốt cha cháu về nhưng không nghĩ gì tới cháu, bơ vơ ngoài mấy trăm dặm như én thu lạc đàn, cậu lại không bỏ qua hồn ma vất vưởng, lại đốt cho vàng bạc, cháu đã nhận được rồi.

Sinh bèn kể lại lời Chu, cô gái cúi mặt im lặng.

Bà già nói:

- Chu công tử nhờ bà Dương tới dạm hỏi năm ba bận, già nói việc này rất đáng mừng nhưng nương tử không chịu tự lấy chồng kiểu qua quít, nay được ông cậu làm chủ hôn, mới ưng ý như thế đấy.

Bà ta vừa dứt lời thì một nữ lang khoảng mười bảy mười tám tuổi, có đứa hầu gái theo sau xăm xăm bước vào, vừa thấy sinh liền quay người toan chạy.

Cháu gái sinh nắm vạt áo kéo lại nói:

- Không cần phải làm thế, đây là cậu ruột ta, không phải người ngoài.

Sinh vái chào, nữ lang cũng khép nép đáp lễ.

Cháu sinh nói:

- Đây là Cửu Nương, họ Công Tôn ở huyện Thê Hà.

Ông thân sinh là con nhà thế gia cũ nhưng nay cũng sa sút, không thích chơi với ai, sớm tối chỉ qua lại bạn với cháu.

Sinh liếc thấy nàng mỉm cười miệng sáng tựa trăng thu, bẽn lẽn má hồng như ráng sớm, xinh đẹp như tiên bèn nói:

- Nhìn thì biết ngay là con nhà đại gia, chứ lều tranh vách đất làm sao có người đẹp như vậy được.

Cháu sinh nói:

- Đã thế còn là nữ học sĩ, thơ phú đều hay, trước nay cháu vẫn được nàng chỉ dạy.

Cửu Nương cười khẽ nói:

- Con nhãi bỗng dưng lại bêu xấu người, ông cậu cười cho kìa!

Cháu sinh lại cười nói:

- Cậu góa vợ chưa tục huyền, thế người như nương tử đây cậu có vừa ý không?

Cửu Nương cười chạy ra, nói:

- Con nhãi điên rồi!

Rồi bỏ đi.

Câu nói tuy giống như đùa giỡn nhưng sinh rất thích, cháu sinh biết ý bèn nói:

- Tài mạo Cửu Nương thiên hạ không ai sánh kịp, nếu cậu không chê là ma thì cháu sẽ nói giùm với mẹ nàng.

Sinh cả mừng nhưng ngại người với ma khó kết vợ chồng với nhau, cháu sinh nói:

- Không sao đâu, nàng với cậu vốn có túc duyên với nhau.

Sinh ra về, cháu gái tiễn ra, nói:

- Năm hôm nữa, lúc trăng thanh người vắng, sẽ sai người tới đón cậu.

Sinh ra ngoài cổng không thấy Chu đâu, nhìn về phía tây thấy nửa vành trăng trong ánh sáng mờ mờ còn nhận ra đường cũ.

Đi một quãng thấy phía nam có một ngôi nhà, Chu đang ngồi chờ trên bậc thềm ngoài cổng, đứng lên đón, nói:

- Ta chờ ông lâu rồi, mời ông quá bộ vào tệ xá.

Rồi cầm tay sinh đưa vào, ân cần cảm tạ.

Kế đưa ra một cái chén vàng, trăm hạt ngọc châu nói:

- Chẳng có gì đáng giá, xin nhận mấy thứ này thay sính lễ.

Kế nói:

- Trong nhà cũng có ít rượu dở, nhưng vật dưới âm ty sợ không mời khách quý được, làm thế nào?

Sinh khiêm tốn từ tạ, Chu tiễn tới nửa đường mới quay về.

Sinh về tới nơi trọ, các sư và đầy tớ xúm lại hỏi han, sinh giấu kín chuyện? nói:

- Ai nói ta gặp ma là nói bậy, mới rồi ta tới nhà người bạn uống rượu thôi.

Sau năm hôm quả thấy Chu tới, sửa giày phẩy quạt có vẻ đắc ý vui mừng lắm, vừa vào tới sân đã vái lạy.

Giây lát cười nói:

- Việc vui mừng của ông đã thu xếp xong, đêm nay làm lễ cưới rồi, xin mời lên đường.

Sinh nói:

- Ta vì không thấy có tin tức gì nên còn chưa nộp sính lễ, làm sao đã thu xếp xong?

Chu nói:

- Ta đã nộp thay cả rồi!

Sinh hết lời cảm tạ rồi cùng đi tới nơi vào thẳng nhà trong, thấy cháu gái ăn mặc đẹp đẽ tươi cười ra đón.

Sinh hỏi làm đám cưới lúc nào, Chu đáp đã ba hôm.

Sinh bèn đưa số vàng ngọc Chu tặng hôm trước để thêm vào của hồi môn cho cháu gái, cô gái từ chối hai ba lần mới nhận, rồi nói với sinh:

- Cháu tỏ ý cậu với Công Tôn phu nhân, phu nhân rất vui mừng, chỉ nói rằng đã già cả không có con cháu nào khác nên không muốn Cửu Nương lấy chồng xa, hẹn đêm nay cậu tới gởi rể tại nhà.

Nhà ấy không có đàn ông, để chồng cháu qua làm lễ với cậu cũng được.

Chu liền dẫn sinh đi tới cuối thôn thấy một ngôi nhà mở cổng sẵn, hai người lên thẳng sảnh đường.

Giây lát gia nhân báo phu nhân tới, có hai người hầu gái đỡ bà già lên thềm.

Sinh định lạy chào, phu nhân nói:

- Ta già yếu lọm khọm, không thể đáp lễ, xin bớt bớt nghi thức thôi.

Rồi sai đám hầu gái bày tiệc mừng.

Chu cũng gọi gia nhân đem ra một mâm riêng đặt trước mặt sinh, lại lấy ra một bầu rượu riêng để sinh uống.

Các món ăn trong tiệc không khác gì với trần gian, chỉ có chủ nhân tự rót uống chứ không mời mọc khách.

Kế tan tiệc, Chu ra về, hầu gái đưa sinh vào.

Tới phòng trong thấy Cửu Nương ngồi bên đuốc hoa đợi sẵn, duyên may giải cấu, người ngọc đa tình, gặp gỡ nhau vô cùng vui sướng.

Nguyên là trước kia mẹ con Cửu Nương bị giải lên kinh, nhưng tới Tế Nam thì mẹ nàng chết vì không chịu nổi khổ cực, Cửu Nương cũng tự vẫn chết theo.

Nay trên gối kể lại chuyện đã qua, nàng thổn thức không sao ngủ được, bèn khẩu chiếm hai bài thơ tứ tuyệt:

1)

Tích nhật la thường hóa tác trần

Không tương nghiệp quả hận tiền thân..

Thập niên lô lãnh phong lâm nguyệt

Thủ dạ sơ phùng họa các xuân.

Dịch:

(Xiêm áo ngày xưa hóa bụi trần

Luống đem nghiệp chướng hận tiền thân

Rừng bàng sương lạnh mười năm nguyệt

Lầu gác đêm nay mới sáng xuân).

2)

Bạch dương phong vũ nhiễu cô phần

Thùy tưởng Dương đài cánh tác vân

Hốt khải lũ kim sương lý khán,

Huyết tinh do nhiễm cựu la quần.

Dịch:

(Mưa gió mồ hoang quạnh bạch dương

Đâu ngờ mây lại phủ đài Dương

Chợt mở rương xưa nhìn vật cũ

Máu vấy xiêm y nghĩ đoạn trường).

Trời gần sáng, nàng giục sinh:

- Chàng nên về sớm, đừng để bọn tôi tớ sợ hãi.

Từ đó ngày đi đêm tới hết sức gắn bó.

Một đêm sinh hỏi Cửu Nương làng này tên là gì, nàng đáp:

- Là làng Lai Hà, trong làng phần nhiều là ma mới, vốn là người hai huyện Lai Dương và Thê Hà, nhân đặt tên như thế

Sinh nghe thế bùi ngùi than thở, nàng buồn rầu nói:

- Cô hồn ngàn dặm trôi nổi không nhà, tình cảnh mẹ con thiếp nói tới thật đau xót.

Nếu chàng nghĩ tới ơn nghĩa một đêm, xin thu nhặt giùm hài cốt mẹ con thiếp đem về chôn cất cạnh mồ mả ông bà cho được trăm đời có chỗ nương dựa thì chết cũng còn có tiếng thơm.

Sinh nhận lời, nàng lại nói:

- Người và ma khác loài, chàng cũng không nên ở lại chốn này lâu.

Rồi đưa tặng sinh cái khăn lụa, gạt lệ giục lên đường.

Sinh buồn rầu đi ra, trong lòng đau đớn, bồi hồi không nỡ ra về, nhân qua gõ cửa nhà Chu.

Chu chạy chân không ra đón, cháu sinh cũng trỗi dậy, tóc còn chưa chải, hoảng sợ ra hỏi han cậu.

Sinh ngậm ngùi hồi lâu mới thuật lại lời Cửu Nương.

Cháu gái sinh nói:

- Mợ mà không nói thì cháu cũng đã tính toán lâu nay, nơi đây không phải là trần gian, quả thật cậu không nên ở lâu.

Rồi đó nhìn sinh rơi lệ, sinh cũng ứa nước mắt từ biệt.

Trở về gõ cửa nhà trọ, nằm thao thức đến sáng, trở dậy muốn tìm mộ Cửu Nương thì nhớ ra là quên hỏi dấu tích.

Đến tối trở lại nơi đó thì thấy mồ mả ngổn ngang, không tìm ra được đường đi làng xóm đành than thở quay về.

Giơ chiếc khăn nàng tặng ra xem, gặp cơn gió thổi qua lập tức mủn ra, nát vụn như tro, bèn thu xếp hành trang về quê.

Liền nửa năm không thể yên lòng, lại tới Tế Nam mong có dịp gặp lại nàng.

Tới cánh đồng phía nam thành thì trời đã xế chiều, liền buộc ngựa vào gốc cây trước sân đình rồi đi mau vào bãi tha ma.

Chỉ thấy mồ mả trùng trùng, cỏ gai mút mắt, ma trơi lập lòe, chồn kêu ảo não, ghê lòng sởn gáy, sợ hãi đau xót trở về chỗ trọ, chán nản không muốn đi chơi đâu cả, dong ngựa về quê.

Đi được khoảng một dặm, nhìn thấy xa xa có một nữ lang thơ thẩn giữa đám mồ mả, lấy làm lạ vì dáng vẻ phong thái rất giống Cửu Nương, liền ra roi thúc ngựa tới gần nhìn thì đúng là nàng.

Sinh xuống ngựa định hỏi han, nhưng nàng bỏ chạy như không quen biết.

Sinh lại lên ngựa đuổi tới gần, nàng tỏ vẻ giận dữ lấy tay áo che mặt, sinh vội gọi tên Cửu Nương thì nàng biến mất.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 115+116+117+118


CHƯƠNG 115: HỒ LIÊN

CÂU ĐỐI CỦA HỒ

Lai Như Phi Yến Khứ Như Hồng

Nhã Hước Thành Liên Cú Tuyệt Công

Chúc Đối Vị Năng Khanh Mạc Tiếu

Nhi Kim Danh Sĩ Lậu Điêu Trùng

Dịch:

Tới Lui Phảng Phất Tựa Chim Bay

Đùa Nhã Thành Tiên Tuyệt Cú Thay

Khanh Chớ Cười Ta Không Đối Được

Điêu Trùng Danh Sĩ Mấy Ai Hay



Tiêu sinh là em con chú của Tiên sinh Thạch Hồng ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) đọc sách trong vườn, nửa đêm thấy có hai mỹ nhân tới, đều rất xinh đẹp, một nàng khoảng mười bảy mười tám, một nàng khoảng mười bốn mười lăm tuổi, vỗ vào bàn nhoẻn miệng cười.

Tiêu biết là hồ, nghiêm sắc mặt cự tuyệt.

Nàng lớn nói:

- Chàng râu cứng như sắt, sao không có khí sắc đàn ông thế?

Tiêu đáp:

- Ta bình sinh không dám biết tới người đàn bà thứ hai.

Cô gái cười nói:

- Thật là cổ hủ quá, chàng còn câu nệ chuyện ấy sao!

Quỷ thần thời hạ nguyên cũng đều lấy đen làm trắng, huống chi chuyện nhỏ nhặt trên giường.

*[Hạ nguyên: đây chỉ thời loạn lạc, phong tục suy đồi].

Tiêu lại xì khinh bỉ.

Cô gái biết là không lay chuyển được, bèn nói:

- Chàng là bậc danh sĩ, thiếp có một vế đối xin chàng đối giúp, nếu đối được thì bọn ta tự đi: "Mậu tuất đồng thể, phúc trung chỉ khiếm nhất điểm" (Mậu tuất cùng thể, trong bụng chỉ thiếu một điểm).

Tiêu ngẫm nghĩ hồi lâu không đối được, cô gái cười nói:

- Danh sĩ mà như thế à?

Ta đối thay cho cũng được: "Kỷ tỵ liên tung, túc hạ hà bất song khiêu" (Kỷ tỵ liền vết, dưới chân sao chẳng hai khều?).

Kế cười rộ bỏ đi.

Chuyện này là Tư khấu họ Lý ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) kể lại.

*[Mậu tuất... hai khều: đôi câu đối này có chỗ chơi chữ: trong Hán tự, chữ mậu và chữ tuất, chữ kỵ và chữ tỵ có tự hình gần như nhau, ngoài ra hai chữ "túc hạ" còn là một đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít với ý nghĩa trang trọng.

Hai cô gái hồ có ý chế nhạo nhân vật Tiêu sinh không có "phong thái đàn ông” vì không chịu thân mật với họ].

*[Tư khấu họ Lý: bản Hương Cảng chú nhân vật này tên Hoa Hy, tự Ngũ Huyền, thi đỗ Tiến sĩ năm Giáp tuất niên hiệu Sùng Trinh thời Minh (1628 -1643), làm quan tới chức Thượng thư bộ Hình, theo đó thì hai chữ "Mậu tuất" và “Kỷ tỵ" của hai cô gái hồ trong truyện này có lẽ không chỉ đơn giản là chơi chữ mà có thể còn dính dáng hay ám chỉ hai sự kiện chính trị nào đó khoảng cuối Minh đầu Thanh].

____________________________________

CHƯƠNG 116: PHIÊN PHIÊN

Sang Vỉ Du Sinh Cánh Ngộ Tiên

Tiên Nhân Phong Độ Tính Phiêu Nhiên

Tha Nhiên Cổ Trạo Trùng Tương Phường

Động Tại Bạch Vân Hà Xứ Biên

Dịch:

Lở Loét Thân Tàn Lại Gặp Tiên

Người Tiên Phong Độ Thực Phiêu Nhiên

Ngày Nao Thuyền Ngược Tìm Thăm Lại

Cửa Động Mây Mù Bịt Lối Lên



La Tử Phù người huyện Phần Châu (tỉnh Sơn Tây), cha mẹ đều mất sớm lúc tám chín tuổi, được chú là Đại Nghiệp nuôi.

Nghiệp làm Tả sương Quốc tử giám, giàu mà không có con nên yêu thương La như con ruột.

Năm La mười bốn tuổi bị kẻ xấu dụ dỗ đi uống rượu chơi gái, gặp lúc có một kỹ nữ ở Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tô) tới ngụ ở quận, sinh gặp gỡ rất thích, đâm ra say mê.

Khi nàng ta trở về Kim Lăng, sinh bỏ nhà trốn theo, ở kỹ viện nửa năm thì tiền bạc hết sạch, đám chị em đều rẻ rúng lạnh nhạt nhưng chưa thẳng thừng dứt tình.

Không bao lâu mắc bệnh lở loét, máu mủ thối tha ướt cả giường chiếu, bị đuổi đi, ra chợ xin ăn, người ở chợ cứ nhìn thấy là tránh xa.

Sinh sợ chết ở quê người bèn lên đường xin ăn trở về Sơn Tây, mỗi ngày đi được ba bốn mươi dặm, dần dần tới địa giới Phần Châu, nhưng lại nghĩ mình rách rưới hôi thối không mặt mũi nào về làng nên cứ quanh quẩn ở huyện bên cạnh.

Trời tối, sinh tới chùa trên núi định ngủ nhờ, dọc đường gặp một cô gái dung mạo như tiên, tới gần hỏi đi đâu.

Sinh kể thật chuyện mình, nàng nói:

- Ta là kẻ xuất gia, nơi ở có cái hang núi, có thể cho khách nghỉ lại, không sợ gì cọp sói.

Sinh mừng đi theo nàng vào tới giữa núi sâu, thấy một tòa động phủ, vào trong thì thấy trước cửa có khe nước chảy, có chiếc cầu đá bắc qua.

Đi thêm vài bước tới hai gian thạch thất, ánh sáng chói lọi không cần đèn đuốc.

Cô gái bảo sinh cởi bỏ quần áo ăn mày xuống khe mà tắm, nói:

- Tắm ở đó sẽ khỏi bệnh!

Lại kéo màn quét giường chiếu giục sinh đi ngủ, nói:

- Xin cứ đi nghỉ, ta sẽ may áo quần cho.

Kế lấy lá to như tàu lá chuối cắt may thành áo, sinh nằm nhìn thấy nàng may không bao lâu đã xong, xếp lại đem đặt ở đầu giường mình, nói:

- Sáng ra lấy mà mặc!

Rồi lên chiếc giường đối diện nằm ngủ.

Sinh sau khi tắm rửa sạch sẽ thấy những chỗ lở loét không đau đớn nữa, lúc tỉnh dậy sờ tới thì đều đã lên da non.

Trời sáng sắp dậy còn ngờ lá chuối không mặc được, cầm lên nhìn kỹ thì là gấm xanh bóng loáng.

Lát sau dọn cơm, cô gái lấy lá trên nói là bánh, sinh ăn thấy quả là bánh.

Nàng lại cắt lá thành hình gà và cá đem nấu nướng, ăn vào thấy đều như gà và cá thật.

Trong góc nhà có một cái vò đựng rượu ngon, cứ đem ra uống, khi nào đã vơi thì múc nước suối đổ thêm vào.

Mấy hôm sau sinh lành hẳn, qua giường cô gái xin ngủ chung, nàng nói:

- Gã khinh bạc vừa được yên thân đã sinh tà niệm.

Sinh đáp:

- Ta muốn đền ơn thôi!

Bèn cùng ngủ chung, vô cùng đằm thắm.

Một hôm có thiếu phụ bước vào cười nói:

- Con ranh Phiên Phiên vui sướng quá, chừng nào có bầu đấy?

Cô gái bước ra đón, cười nói:

- Nương tử Hoa Thành lâu quá không hạ cố tới chơi, hôm nay gió tây nam nổi mạnh mới bị thổi tới, đã được bế cậu bé chưa?

Hoa Thành đáp:

- Lại là một con nhãi.

Cô gái cười hỏi:

- Hoa cô mắn con gái thật, thế sao không đưa cháu tới chơi?

Hoa Thành đáp:

- Vừa khóc rồi ngủ yên đấy.

Rồi đó cùng ngồi uống rượu, lại nhìn qua sinh nói:

- Chàng trẻ này đốt hương thơm đấy.

Sinh nhìn thấy nàng khoảng hai mươi ba hai mươi bốn tuổi, vẫn còn khá đẹp, trong lòng thích lắm.

Lúc gọt trái cây lỡ làm rơi xuống dưới bàn bèn cúi xuống nhặt, lén sờ lên hài nàng, Hoa Thành nhìn qua chỗ khác cười như không hay biết.

Sinh đang vui mừng ngây ngất chợt thấy người lạnh ngắt, tự nhìn lại thì quần áo đã biến thành lá cây, vô cùng hoảng sợ, ngồi yên một lúc mới biến thành vải vóc như cũ, mừng thầm là hai nàng không thấy.

Lát sau trong lúc thù tạc lại gãi vào bàn tay Hoa Thành, Hoa Thành thản nhiên cười đùa như không biết gì sinh đang hồi hộp lo sợ thì quần áo đã biến thành lá cây, lát sau mới trở lại như cũ, vì thế hổ thẹn ngồi im không dám nghĩ bậy nữa.

Hoa Thành cười nói:

- Lang quân nhỏ nhà cô thật không đứng đắn, nếu cô không phải là nương tử mang hũ giấm thì e là y đã nhảy lên tới mây xanh rồi.

Phiên Phiên cũng mỉm cười đáp:

- Cứ mặc cho quân bạc bẽo chết rét.

Hai người cùng vỗ tay cười lớn.

Hoa Thành đứng lên nói:

- Con nhãi thức dậy khát sữa e khóc tới đứt ruột mất.

Phiên Phiên cũng đứng lên nói:

- Ham dụ dỗ chồng người ta, không nhớ gì tới cô Thành con cả.

Hoa Thành về rồi, sinh sợ Phiên Phiên trách mắng nhưng nàng vẫn đối xử như trước.

Không bao lâu hết thu qua đông, sương sa lá rụng, cô gái bèn nhặt lá rơi để làm lương ăn mùa đông, thấy sinh co ro bèn đem túi ra ngoài cửa động vốc mây trắng làm bông may áo rét cho sinh mặc, thấy ấm áp mềm mại mà nhẹ nhàng như bông mới vậy.

Qua năm sau nàng sinh một con trai rất xinh xắn thông minh, sinh hàng ngày trong động đùa chơi với con làm vui nhưng vẫn nhớ quê, muốn cô gái cùng về.

Nàng nói:

- Thiếp không theo được, thôi chàng cứ đi một mình.

Nấn ná hai ba năm, đứa con lớn dần, bèn đính ước thông gia với Hoa Thành.

Sinh thường lo nghĩ tới chú đã già, cô gái nói:

- Chú tuy đã già nhưng may là còn mạnh khỏe, không cần lo lắng, cứ chờ con cưới vợ xong thì đi hay ở tùy chàng.

Cô gái ở trong động cứ lấy lá làm giấy viết chữ dạy con học, đứa nhỏ học qua là thuộc lòng, nàng nói:

- Thằng nhỏ này có phúc tướng, thả vào cỏi trần thì chẳng lo gì không làm nên quan lớn.

Không bao lâu con sinh được mười bốn tuối, Hoa Thành tự đưa con gái tới gả.

Cô gái ăn mặc đẹp đẽ, dung nhan lộng lẫy, vợ chồng sinh cả mừng, cả nhà yến tiệc linh đình.

Phiên Phiên gõ trâm hát rằng:

Ta có con hiền

Không cần quan sang

Ta có dâu thảo

Không cần bạc vàng

Đêm nay tụ họp

Cả nhà hân hoan

Mời chàng một chén

Chúc chàng an khang.

Kế Hoa Thành ra về, hai người cùng vợ chồng con trai ở đối diện nhau trong động phủ.

Con dâu hiếu thảo, quấn quýt cạnh mẹ chồng, nàng thương yêu như con ruột.

Sinh lại bàn chuyện về quê, nàng nói:

- Chàng có cốt tục, rốt lại không thành tiên được, con ta cũng là người trong mạch phú quý, chàng nên đưa về để khỏi làm lỡ cuộc đời của nó.

Con dâu đang nghĩ việc từ giã mẹ thì Hoa Thành đã tới, hai con lưu luyến, nước mắt lưng tròng, hai bà mẹ an ủi, nói:

- Các con hãy tạm ra đi, sẽ có dịp trở lại mà.

Phiên Phiên cắt lá thành hình lừa, bảo ba người cưỡi về.

Đại Nghiệp lúc ấy đã già yếu về hưu, cho rằng cháu đã chết, chợt thấy sinh dắt con trai con dâu về, mừng rỡ như bắt được của báu.

Vào tới trong nhà, ba cha con nhìn lại áo quần của mình thấy đều biến thành lá chuối, xé ra thì bông lót bên trong nghi ngút bay lên không, bèn thay quần áo khác.

Sau sinh nhớ Phiên Phiên, dắt con vào núi thăm thì lá vàng lấp ngõ, cửa động mây phong, đành sa lệ quay về.

___________________________________

CHƯƠNG 117: XÚC CHỨC

CHỌI DẾ

Sa Kê Viễn Cống Cửu Trùng Thiên

Trách Hữu Thường Cung Lệ Bất Quyên

Hà Vật Si Nhi Thiên Trí Phú

Sinh Sinh Tử Tử Diệt Kham Liên

Dịch:.

Tiễn Cống Sa Kê Tới Cửu Trùng

Hằng Nam Định Lệ Trách Thường Cung

Vì Con Khờ Dại Nên Giàu Có

Tử Tử Sinh Sinh Cũng Não Lòng



Niên hiệu Tuyên Đức thời Minh (1426-1435) trong cung rất chuộng trò chọi dế, hàng năm bắt dân gian dâng nộp.

Vật này không phải sản ở Thiểm Tây nhưng Tri huyện Hoa Âm (tỉnh Thiểm Tây) muốn lấy lòng quan trên đem hiến một con, quan tỉnh cho chọi thử thấy hay bèn đòi đâng nộp thường xuyên.

Tri huyện lại đòi lý trưởng phải cung ứng, bọn du thủ du thực ở chợ tìm bắt được con nào hay là nhốt vào lồng nuôi, coi như món hàng quý.

Còn bọn lý dịch giảo hoạt lấy lệ dâng nộp dế để sách nhiễu dân chúng, mỗi con nộp lên đủ làm mấy nhà khuynh gia bại sản.

Trong huyện có Thành Danh đã dự khoa Đồng tử nhưng lâu không thi đỗ, tính chất phác nên bị bọn lý dịch gian giảo ép làm chức Lý chính, tìm đủ cách chối từ mà không được, chưa đầy một năm thì chút ít gia sản đã cạn kiệt.

Gặp kỳ nộp dế, Thành không dám sách nhiễu dân nhưng không có gì để bù, lo buồn chỉ muốn chết.

Vợ nói:

- Chết thì có ích gì, chẳng bằng cứ tự tìm bắt, biết đâu cũng được một con.

Thành cho là phải.

Bèn sáng đi tối về, cầm ống trúc lồng tơ bới đất lật đá khắp bãi hoang tường đổ, làm đủ cách mà không được, có bắt được hai ba con thì nhỏ yếu không đủ quy cách.

Quan trên theo hạn trách phạt, qua hơn mười ngày Thành đã bị đánh trăm trượng, hai mông máu me bê bết, ngay cả sâu con cũng không sao đi mà bắt nữa, trăn trở trên giường chỉ nghĩ tới việc tự tử.

Lúc ấy trong thôn có bà đồng gù lưng tới, bói toán như thần.

Vợ Thành đem tiền lễ tới, thấy gái non bà già đứng chật cổng ngõ.

Vào trong nhà thì có phòng kín buông rèm, ngoài rèm bày hương án, người tới bói thắp hương trong đỉnh rồi vái lạy, bà đồng đứng bên hướng lên không khấn khứa, môi mấp máy không biết là nói gì, ai cũng kính cẩn đứng chờ.

Lát sau trong rèm ném ra tờ giấy ghi rõ về việc người ấy muốn hỏi, không sai chút nào.

Vợ Thành đặt tiền lễ lên án rồi thắp hương vái lạy như những người trước, khoảng ăn xong bữa cơm thì tấm rèm lay động, mảnh giấy ném ra.

Giở ra xem không phải là chữ mà là bức vẽ, trong vẽ điện gác là chùa chiền, phía sau có hòn núi nhỏ đầy những tảng đá hình thù kỳ quái, gai góc tua tủa, có con dế nằm dưới, bên cạnh có con ếch như sắp nhảy lên, mở xem không hiểu nhưng thấy có con dế ám hợp với việc mình cầu khẩn nên cất vào người đem về đưa Thành xem.

Thành giở đi giở lại, nghĩ:

- Hay là bức vẽ này chỉ ta chỗ bắt dế chăng?

Nhìn kỹ quang cảnh trong đó thấy rất giống Đại Phật Các ở phía đông thôn, bèn gượng dậy chống gậy cầm bức vẽ tới sau chùa.

Ở đó có ngôi mộ cổ, lần quanh thấy đá nằm ngổn ngang đúng như trong bức vẽ bèn dò dẫm trong đám cây cỏ lắng nghe như tìm mũi kim hạt cải, bao nhiêu tâm trí sức mắt sức tai đều dốc ra hết nhưng không thấy gì cả.

Đang còn tìm kiếm thì chợt có một con ếch nhảy ra, Thành càng ngạc nhiên vội đuổi theo.

Con ếch nhảy vào đám cỏ, Thành theo vết vạch cỏ tìm thì thấy một con dế núp dưới gốc cây gai, vội chụp lấy thì nó chui vào kẽ đá, lấy cọng cỏ chọc vào nó vẫn nằm lỳ, đem ống đổ nước vào mới chịu chui ra, dáng vẻ rất khỏe mạnh, Thành đuổi theo vồ được.

Nhìn kỹ thấy nó mình to đuôi đài, cổ xanh cánh vàng, mừng quá nhốt vào lồng mang về.

Cả nhà vui mừng, dù là được ngọc báu liên thành cũng không bằng.

Rồi thả nó vào chậu nuôi, cho ăn chu đáo, gìn giữ nâng niu chờ tới kỳ hạn nộp quan.

Thành có đứa con trai chín tuổi rình lúc cha không có nhà lén mở chậu ra xem.

Con dế thừa cơ nhảy ra, nó đuổi theo mãi không được, đến khi chụp được vào tay thì dế đã gãy cẳng vỡ bụng, lát sau thì chết.

Đứa nhỏ sợ quá khóc lóc tới kể với mẹ, mẹ nó nghe thế mặt tái mét, hoảng sợ nói:

- Đồ oan nghiệt hết sống rồi, cha ngươi về sẽ nói chuyện với ngươi.

Đứa nhỏ khóc lóc bỏ đi.

Lát sau Thành về, nghe vợ kể lại như bị dội băng tuyết lên người, nổi giận đi tìm con nhưng không thấy đâu, kế tìm thấy xác con dưới giếng, đổi giận thành thương gào khóc muốn tắt hơi.

Vợ chồng quay mặt vào vách, nhà tranh không khói lửa nấu cơm, im lặng nhìn nhau không còn hy vọng gì nữa.

Trời gần tối liệm xác con, tới bế lên thì thấy còn thoi thóp thở, cả mừng bế đặt lên giường, nửa đêm thì đứa nhỏ sống lại.

Hai vợ chồng hơi nhẹ lòng, nhưng đứa nhỏ thần thái ngây ngốc như người gỗ, cứ ngủ mê mệt.

Thành nhìn tới lồng dế rỗng không thì đứt hơi nghẹn cổ, cũng không nghĩ gì tới con nữa, từ đêm đến sáng không sao chợp mắt, trời đã sáng rõ vẫn nằm đờ buồn bã.

Bỗng nghe tiếng dế gáy ngoài cửa, Thành giật mình vùng dậy nhìn thì dế vẫn còn sờ sờ, mừng rỡ chụp lấy.

Con dế kêu to một tiếng nhảy đi, Thành đuổi mau theo lấy bàn tay chụp lên thì thấy trống không như không có gì, giở tay lên thì nó lại nhảy vọt lên.

Thành đuổi mau theo tới góc tường thì không thấy đâu, ngơ ngẩn nhìn quanh thấy nó đậu trên vách, nhìn lại thấy vừa nhỏ vừa ngắn mà màu tía, không phải là con trước, cho là loại dở nhưng vẫn quanh quẩn nhìn ngó.

Chợt con dế từ vách nhảy xuống tay áo, Thành ngắm kỹ thấy hình dáng như con chó, cánh hoa mai, đầu vuông chân dài, có vẻ như dế hay, bèn mừng giữ lại.

Định đem lên nộp quan nhưng thấp thỏm lo quan không vừa ý quan, bèn nghĩ cho chọi thử xem sao.

Trong thôn có gã thiếu niên hiếu sự nuôi một con dế, nói là loại "Giải xác thanh" (Xanh vỏ cua), hàng ngày đem chọi với dế của bạn bè đều thắng, muốn giữ để kiếm lợi ai trả giá cao cũng không chịu bán.

Nhân qua thăm Thành thấy con dế Thành nuôi, y bịt miệng ôm bụng cười, đưa dế của mình ra, bỏ vào lồng chọi.

Thành nhìn thấy nó to lớn khỏe mạnh càng thêm xấu hổ, không dám cho chọi thử.

Thiếu niên cố ép, Thành nghĩ nuôi dế dở rốt lại cũng vô dụng, chi bằng cứ cho chọi thử mua vui, bèn cho dế vào lồng chọi.

Con dế nhỏ nằm mọp xuống không động đậy, ngơ ngơ như gà gỗ.

Thiếu niên lại cười rộ, lấy lông lọn chọc vào râu, nó vẫn nằm im, thiếu niên lại cười, lại chọc.

Con dế nổi giận xông thẳng ra, lúc sắp đánh thì phùng cánh gáy lớn, rồi vềnh râu cong đuôi nhảy xổ tới cắn cổ địch thủ.

Thiếu niên cả sợ vội gạt hai con dế ra không cho chọi nữa, con dế hiên ngang gáy vang như báo cho chủ biết nó đã thắng trận.

Thành mừng quá, đang cùng nhau ngắm nghía chợt có con gà sấn sổ xông tới mổ luôn một nhát vào dế.

Thành kinh hãi bật dậy la hoảng, may là gà mổ không trúng, con dế nhảy ra hơn một thước.

Gà sấn theo mổ lia lịa, con dế đã nằm dưới móng gà, Thành thảng thốt không biết làm sao cứu, giẫm chân tái mặt.

Nhưng gà lại rướn cổ lăn ra, tới gần nhìn thì thấy dế đã trên mào gà, cắn chặt không buông.

Thành càng kinh ngạc mừng rỡ, vội bắt dế bỏ vào lồng.

Hôm sau đem dâng Tri huyện, quan thấy dế nhỏ quát Thành, Thành kể lại chuyện lạ, quan không tin, cho chọi thử với dế của người khác đều thắng, lại đem gà ra thử thì quả như lời Thành nói.

Tri huyện bèn thưởng cho Thành, hiến dế cho Tuần phủ.

Tuần phủ cả mừng liền cho dế vào lồng vàng hiến vua, dâng sớ tâu rõ cái hay của nó.

Vào tới cung cho chọi thử với đủ thứ dế kỳ lạ của các nơi dâng lên như dế bướm, dế bọ ngựa, dế đánh dầu, dế trán tơ xanh thì con nào cũng thua.

Mỗi khi nghe tiếng đàn sáo thì nó lại nhảy nhót theo điệu nhạc, mọi người càng lấy làm lạ.

Vua rất vừa lòng, ban chiếu thưởng cho Tuần phủ ngựa hay vải quý.

Tuần phủ không quên kẻ hiến dế, không bao lâu tâu xin thưởng cho Tri huyện một cấp trác dị.

Tri huyện mừng, cho Thành được miễn sai dịch, dặn học quan lấy Thành đỗ Tú tài.

Hơn năm sau con Thành bình phục, kể rằng mình hóa thành dế, khoẻ mạnh chọi giỏi nay mới sống lại.

Quan tỉnh lại trọng thưởng, không quá vài năm nhà Thành ruộng vườn trăm khoảnh, lầu gác nguy nga, trâu dê cả ngàn con, ra khỏi nhà thì mặc áo cừu cưỡi ngựa tốt, giàu sang hơn cả các nhà thế gia.

_________________________________

CHƯƠNG 118: HƯỚNG CẢO

Bố Bào Trước Thể Biến Ô Đồ (Con Hổ)

Lợi Thốc Kinh Hồn Phản Cố Ngô

Nam Điện Tể Quan Xuy Đản Vọng

Khả Tằng Tri Hữu Sứ Quân Vô

Dịch:

Mặc Áo Bào Xong Biến Hồ Luôn

Trúng Tên Mất Vía Bỗng Hoàn Hồn

Thăng Đường Quan Tể Cho Là Đản

Uẩn Khúc Hay Đâu Trong Đó Còn



Hướng Cảo tự Sơ Đán người Thái Nguyên (tỉnh thành Sơn Tây), cùng anh là Thạnh rất thương yêu nhau.

Thạnh dan díu với một kỹ nữ tên Ba Tư, từng cắt máu ăn thề nhưng bà chủ đòi tiền chuộc quá nặng nên ước nguyện không thành.

Gặp lúc bà ta định hoàn lương, muốn bán Ba Tư trước.

Có công tử họ Trang vốn thích Ba Tư, xin mua làm thiếp.

Ba Tư nói với bà chủ:

- Đã mong cùng nhau rời nơi nước lửa là muốn ra khỏi địa ngục lên cõi thiên đường, nếu lại làm tỳ thiếp thì có khác nhau bao nhiêu đâu.

Nếu mẹ theo ý con thì Hướng lang cũng được mà.

Bà ta bằng lòng, bắn tin cho Thạnh.

Lúc ấy Thạnh góa vợ chưa tục huyền, được tin mừng lắm, dốc hết của cải cưới Ba Tư về.

Trang nghe tin, giận Thạnh cướp người mình yêu, ngẫu nhiên gặp Thạnh trên đường lớn tiếng chửi mắng.

Thạnh cãi lại, Trang quát sai tùy tùng vác gậy đánh chết rồi bỏ đi.

Cảo nghe tin chạy tới xem thì anh đã chết, vô cùng đau xót căm phẫn liền kiện lên quận.

Trang hối lộ khắp nơi, quan xử Trang chôn cất Thạnh rồi tha.

Cảo ôm nỗi phẫn uất không sao phát tiết, nghĩ chỉ còn cách đón đường giết Trang, hàng ngày cứ mang đao sác rình ở bụi rậm trên đường núi.

Lâu ngày việc tiết lộ, Trang biết mưu ấy nên ra khỏi nhà là phòng bị nghiêm ngặt, nghe ở Phần Châu (tỉnh Sơn Tây) có Tiêu Đồng dũng mãnh thiện xạ liền đem nhiều vàng tới đón về làm vệ sĩ.

Cảo không sao thi hành được kế nhưng hàng ngày vẫn đón rình.

Một hôm Cảo đang nằm rình bỗng mưa rào đổ xuống, cả người ướt đẫm lạnh run cầm cập, kế gió mạnh nổi khắp bốn phía, tiếp theo là mưa đá, toàn thân đau đớn tê dại.

Trên núi vốn có miếu thờ Sơn thần, Cảo gượng lần lên, tới nơi thấy vị đạo sĩ quen đang ở đó.

Trước đạo sĩ thường vào thôn khuyến hóa, Cảo thường cúng dường nên có biết Cảo.

Thấy quần áo Cảo ướt sũng, đạo sĩ đưa cho chiếc áo vải, nói:

- Cứ tạm thay đi!

Cảo thay xong bỗng thấy người cứng đờ phải ngồi chồm hổm, nhìn lại mình thấy mọc đầy lông lá, đã hóa thành cọp mà đạo sĩ thì không còn ở đó nữa.

Cảo vừa sợ vừa giận nhưng lại nghĩ nếu vồ được kẻ thù ăn thịt thì cũng hay.

Xuống tới chỗ rình lúc nãy thì thấy xác mình nằm trong bụi rậm, mới sực hiểu ra rằng mình đã chết, nhưng vẫn sợ diều quạ rỉa xác nên cứ quanh quẩn cạnh đó canh giữ.

Hôm sau thì gặp Trang đi ngang, cọp vọt ra tát y ngã ngựa, ngoạm đầu nhai nát.

Tiêu Đồng quay lại bắn trúng bụng cọp rồi khuỵu chân cũng bị vồ chết.

Cảo trong bụi rậm tan hoang chợt như tỉnh mộng, qua một đêm mới đi đứng được, lê bước về nhà.

Người nhà thấy Cảo mấy đêm liền không về đang ngờ sợ, thấy Cảo mừng rỡ xúm lại hỏi han, nhưng Cảo chỉ nằm rũ rượi không nói được.

Giây lát có tin Trang bị cọp vồ, mọi người tranh nhau tới trước giường báo tin mừng.

Cảo bèn nói:

- Con cọp ấy là ta đấy!

Rồi kể lại chuyện lạ lùng đã qua, từ đó tin đồn rộng ra.

Con Trang đau xót về cái chết của cha, nghe chuyện căm tức đầu đơn kiện Cảo, quan thấy chuyện quái đản lại không có bằng cứ nên không xét tới.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 119+120


CHƯƠNG 119: CÁP DỊ

CHIM BỒ CÂU KỲ DỊ

Loát Khẩu Hà Nhân Tác Dị Thanh

Liên Phiên Song Cáp Đấu Phỉ Minh

Nhạn Môn Thực Nhạn Chân Kham Tiếu

Bất Tích Trân Cầm Phó Đỉnh Phanh

Dịch:

Chim Miệng Kêu Thành Tiếng Lạ Thay

Đôi Bồ Câu Bỗng Lượn Nhào Bay

Nhạn Môn Ăn Nhạn Buồn Cười Nhỉ

Giết Thịt Trân Cầm Đáng Tiếc Thay



Chim bồ câu rất nhiều giống, đất Tấn (tỉnh Sơn Tây) có Khôn tinh, đất Lỗ (tỉnh Sơn Đông) có Hạch tú, đất Kiềm (vùng Quý Châu) có Dịch diệp, đất Lương (tỉnh Hà Nam) có Phiên khiêu, đất Việt (tỉnh Chiết Giang) có Chư tiêm, đều là những giống lạ.

Lại có các loại Hài đầu, Điểm tử, Đại bạch, Hắc thạch, Phu phụ tước, Hoa cẩu nhãn, bấm đốt ngón tay không thể kể hết, chỉ những kẻ ham thích mới biết rõ.

Công tử Trương Công Lượng ở huyện Trâu Bình (tỉnh Sơn Đông) nghiện nuôi chim câu, cứ theo sách Cáp tử kinh mà tìm, muốn có đủ hết các giống.

Nuôi nấng chim câu thì như chăm chút trẻ thơ, chim lạnh thì chữa bằng cỏ phấn, chim nóng thì cho ăn muối hạt.

Chim câu thích ngủ nhưng ngủ nhiều quá thì bị tê bại mà chết, Trương mua ở Quảng Lăng một con giá mười lượng vàng, thân rất nhỏ mà hay chạy, nếu thả xuống đất cứ chạy loanh quanh không ngừng, đến chết mới thôi nên phải có người bắt lại, ban đêm thả vào bầy cho các con khác kinh động để khỏi mắc bệnh tê bại, có tên là Dạ Du.

Những nhà nuôi chim câu ở vùng Tề Lỗ đều không sành bằng, công tử cũng lấy việc nuôi chim để kiêu hãnh.

Một đêm công tử đang ngồi trong thư phòng, bỗng một thiếu niên áo trắng gõ cửa bước vào, nhìn ra thì chưa từng quen biết.

Công tử hỏi, khách đáp:

- Kẻ phiêu bạt tên họ có gì đáng nói.

Ở xa nghe đồn công tư nuôi rất nhiều chim câu, bình sinh ta cũng ưa thích, xin được cho xem.

Trương đem hết ra, đủ cả năm sắc, rực rỡ như mây như gấm.

Thiếu niên cười nói:

- Lời đồn quả không ngoa, có thể nói công tử biết hết mọi sự trong nghề nuôi chim câu.

Ta cũng có đem theo một hai con, công tử có muốn xem không?

Trương mừng bèn đi theo thiếu niên.

Đêm trăng mờ mờ, đồng không mông quạnh, Trương đang thầm ngờ sợ thì thiếu niên chỉ ra phía trước nói:

- Xin cố đi thêm một đoạn, nơi ta ngụ không còn xa đâu.

Đi thêm mấy chặng thì thấy một khu nhà chỉ có hai gian.

Thiếu niên dắt tay Trương vào, thấy trong nhà không có chút đèn lửa.

Thiếu niên đứng giữa sân, bắt chước tiếng chim câu gù, chợt có một đôi chim bay ra, vóc dáng như chim thường nhưng lông tuyền màu trắng, bay cao ngang mái hiên, vừa gù vừa chọi, đánh nhau rất hăng.

Thiếu niên lấy tay xua, hai con nối cánh bay đi.

Thiếu niên lại chúm miệng kêu thành tiếng rất lạ, lại có hai con chim câu ra, con lớn to bằng con le, con nhỏ to bằng nắm tay đỗ xuống thềm múa như chim hạc múa.

Con lớn vươn cổ đứng thẳng, xòe cánh làm bình phong, nhún nhảy vừa gù vừa bước như dẫn dắt, con nhỏ vừa kêu vừa bay liệng lên xuống, có lúc đậu lên đầu con lớn, cánh chấp chới như chim én đáp xuống bãi lau, tiếng kêu lắc cắc như tiếng trống bỏi.

Con lớn thì vươn cổ đứng yên không động đậy, tiếng kêu càng gấp rút, nghe như tiếng khánh đá, hai giọng hòa vào nhau cũng có tiết tấu.

Kế con nhỏ bay vọt lên, con lớn lại lắc lư như chào gọi.

Trương tấm tắc khen ngợi không ngớt lời, tự biết mình kiến thức còn hẹp hòi bèn vái lạy thiếu niên xin được chia sẻ điều ưa thích.

Thiếu niên không chìu, Trương nài nỉ mãi, thiếu niên bèn quát đuổi hai con chim câu đang múa đi gọi hai con chim câu trắng ra, bắt lấy đưa Trương, nói:

- Nếu không ghét bỏ, xin biếu đôi này.

Trương nhận lấy ngắm nhìn, thấy mắt chim phản chiếu ánh trăng lấp lánh như hổ phách như không có tròng mắt mà con ngươi tròn đen láy như hạt tiêu kéo cánh lên thấy da thịt trong suốt có thể nhìn rõ tạng phủ.

Trương càng lấy làm lạ song vẫn chưa thỏa ý, lại nài xin nữa.

Thiếu niên nói:

- Còn có hai giống nữa chưa đưa ra trình, nhưng giờ không dám mời ông xem nữa.

Đang phân bua thì người nhà soi đuốc vào tìm chủ, Trương nhìn lại thì thiếu niên biến thành con chim câu trắng to như con gà bay vút lên trời, còn nhà cửa trước mắt cũng biến mất chỉ còn một ngôi mộ nhỏ trên trồng hai cây bách, bèn cùng gia nhân ôm đôi chim than thở kinh sợ ra về.

Thử bảo bay, chim vẫn thuần lạ như trước, tuy không phải là loại quý nhất nhưng cũng là giống hiếm có trên đời, vì vậy Trương càng yêu quý.

Qua hai năm, chim đẻ thêm được ba trống ba mái, dù là thân thích cầu xin Trương cũng không cho.

Có ông Mỗ bạn cha là bậc quý quan, một hôm gặp công tử hỏi nuôi chim câu được nhiều không.

Công tử dạ dạ cáo lui, nghĩ rằng ông cũng thích, muốn làm vừa lòng nhưng khó nỗi dứt ruột chia sẻ vật mình yêu thích.

Nhưng lại nghĩ bậc trưởng thượng đã hỏi tới thì không thể làm ngơ, không dám đưa chim thường bèn chọn hai con chim câu trắng bỏ vào lồng gởi biếu, tự cho rằng ngàn vàng cũng không sánh được.

Ngày khác gặp ông Mỗ, công tử có vẻ đắc ý nhưng không thấy ông nói một câu cảm ơn, không nhịn được bèn hỏi đôi chim hôm trước tốt không, Mỗ đáp cũng béo ngon.

Trương phát hoảng hỏi:

- Đã mổ thịt rồi ạ?

Ông đáp:

- Phải!

Trương cả kinh nói:

- Đó không phải loại chim câu thường, người ta vẫn gọi là giống Thát đát đấy ạ.

Ông Mỗ nhớ lại rồi nói:

- Mùi vị cũng không khác chim thường mấy.

Trương thương tiếc ôm hận trở về.

Đến tối Trương mơ thấy thiếu niên áo trắng đến trách:

- Ta thấy ông có lòng yêu thương nên mới đem con cháu gởi gắm, sao lại đem ngọc sáng ném cho thằng mù để tới nỗi chúng bị nấu nướng.

Nay ta dắt hết lũ con đi đây.

Nói xong hóa thành chim câu, các con chim câu trắng Trương nuôi đều bay theo.

Sáng ra Trương tới chuồng xem thì quả không còn con nào nữa, vô cùng ân hận bèn đem tất cả chim câu mình nuôi chia tặng bạn bè, vài hôm thì hết sạch.

____________________________________

CHƯƠNG 120: GIANG THÀNH

Hảo Nhân Duyên Thị Ác Nhân Duyên

Thử Tử Tương Phùng Túc Nghiệt Triền

Nhất Đán Hốt Ca Cù Mộc Cú

Thùy Tri Phật Lực Cánh Vô Biên

Dịch:

Phải Thiện Duyên Chăng Phải Ác Duyên

Đành Hanh Túc Nghiệt Đã Gây Nên

Bỗng Nhiên Một Sớm Ca Cù Mộc

Phật Lực Vô Biên Quả Diệu Huyền



Cao sinh ở huyện Lâm Giang (tỉnh Cát Lâm) tên Phồn, lúc trẻ thông minh tuấn tú, mười bốn tuổi đã vào học trường huyện, các nhà giàu tranh nhau hứa gả con gái cho.

Nhưng sinh kén chọn quá quắt, mấy lần cãi lời cha.

Cha là Trọng Hồng sáu mươi tuổi chỉ có sinh là con trai nên rất chiều chuộng, không nỡ làm trái ý con.

Trước ở thôn Đông có ông Phàn dạy trẻ ở phố, đưa gia đình tới thuê nhà sinh ở.

Phàn có con gái tiểu tự là Giang Thành cùng tuổi với sinh, lúc ấy đều khoảng tám chín tuổi, hai đứa nhỏ hàng ngày vẫn chơi đùa với nhau.

Sau Phàn dời đi, bốn năm năm không nghe tin tức.

Một hôm sinh đi trong hẻm, thấy một nữ lang vô cùng xinh đẹp, có một a hoàn nhỏ sáu bảy tuổi đi theo, không dám nhìn thẳng chỉ đưa mắt liếc.

Cô gái nhìn sững như muốn nói gì đó, nhìn kỹ thì té ra là Giang Thành.

Hai bên đều bất ngờ vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, không ai nói gì chỉ ngẩn ra hồi lâu rồi rời đi, đôi lòng bịn rịn.

Sinh cố ý thả chiếc khăn đỏ xuống đất rồi đi, a hoàn nhỏ nhặt lên mừng rỡ đưa cô gái, nàng cũng lấy khăn của mình giả nói với nó rằng:

- Cao Tú tài không phải ai lạ, đừng lấy vật của chàng làm rơi, đuổi theo mà trả lại đi.

Đứa a hoàn nhỏ quả nhiên đuổi theo đưa cho sinh.

Sinh được chiếc khăn cả mừng, về thưa với mẹ xin hỏi cưới Giang Thành.

Mẹ nói:

- Nhà ấy không có được nửa gian phòng, trôi nổi lưu lạc, đâu đáng cưới làm vợ.

Sinh nói:

- Tự con muốn thế, quyết không hối hận.

Mẹ do dự không dám quyết, bàn tính với Trọng Hồng, Hồng nhất quyết nói là không nên, sinh nghe thế buồn rầu bỏ cả cơm cháo.

Mẹ lo quá bèn nói với Cao:

- Họ Phàn tuy nghèo nhưng cũng không phải là hạng vô lại gian trá, để ta qua chơi nhà xem, nếu đứa con gái ấy có thể hỏi cưới được thì có hại gì.

Cao bằng lòng.

Mẹ sinh bèn mượn cớ đi lễ đền Hắc Đế ghé qua, thấy cô gái mắt sáng răng ngà, xinh đẹp tự nhiên thì ưa thích lắm, tặng cho tiền lụa rồi tỏ thật ý mình, bà Phàn khiêm nhượng từ chối nhưng sau cùng cũng nhận lời.

Bà về kể lại mọi chuyện, sinh mới tươi cười.

Năm sau chọn ngày tốt cưới Giang Thành về, vợ chồng rất thương yêu nhau.

Nhưng nàng hay giận hờn, trở mặt nhìn chồng như người lạ, miệng lưỡi đanh đá thường chao chát bên tai, sinh vì thương yêu nên cũng cố nhịn.

Cha mẹ sinh hơi biết chuyện trong lòng bực bội, lén trách mắng con trai, cô gái nghe được ghét lắm, càng chửi mắng chồng nhiều hơn.

Sinh dần dần cũng dằn giọng cãi lại, nàng càng giận dữ, vác gậy đánh đuổi ra ngoài phòng đóng cửa lại.

Sinh co ro bên ngoài không dám gõ cửa, đành ngồi bó gối ngủ dưới mái hiên.

Từ đó cô gái coi chồng như kẻ thù, ban đầu quỳ gối còn có thể phân trần, dần dần quỳ gối hết thiêng, chồng lại càng khổ.

Cha mẹ chồng trách mắng vài câu thì nàng cãi lại vô cùng hỗn láo, hai ông bà tức giận bắt sinh bỏ vợ, đuổi nàng về nhà cha mẹ ruột.

Phàn vừa thẹn vừa sợ, nhờ người bạn thân của Trọng Hồng tới năn nỉ xin cho Giang Thành trở lại nhưng Trọng Hồng không chịu.

Hơn năm sau sinh đi đường gặp cha vợ, ông níu áo kéo mời về nhà, hết lời xin lỗi, bảo con gái ăn mặc đẹp đẽ ra gặp.

Vợ chồng gặp nhau bất giác mủi lòng, Phàn bèn mua rượu về đãi con rể, mời mọc rất niềm nở.

Không bao lâu trời tối, ông cố giữ sinh ngủ lại, quét dọn phòng riêng bảo hai vợ chồng ngủ chung.

Sáng ra sinh về nhà, không dám nói thật với cha mẹ, chỉ tìm lời che đậy thêu dệt cho qua chuyện.

Từ đó cứ năm ba ngày sinh lại tới ngủ ở nhà cha vợ một đêm mà cha mẹ không biết.

Một hôm Phàn tự tới nhà Trọng Hồng, lúc đầu Trọng Hồng không tiếp, Phàn năn nĩ mãi mới ra mặt.

Phàn quỳ gối cầu xin, Cao không nhận, nói là để con trai mình quyết định.

Phàn nói:

- Đêm qua con rể ngủ lại nhà ta, không nghe nói gì khác cả.

Cao giật mình hỏi ngủ lại từ lúc nào, Phàn bèn kể lại, Cao thẹn thùng tạ lỗi, nói:

- Quả là ta không biết, chứ nếu nó thương yêu thì lẽ nào ta lại một mình căm ghét.

Phàn về rồi, Cao gọi con ra chửi mắng, sinh chỉ cúi đầu không nói gì.

Đang lúc ấy thì Phàn đưa con gái tới, Cao nói:

- Ta không thể chịu lỗi thay con, phiền ông làm chứng cho ta chia nhà ra ở riêng.

Phàn khuyên lơn nhưng Cao không nghe, dọn nhà riêng cho vợ chồng con, sai một tỳ nữ qua hầu hạ.

Hơn một tháng thấy rất yên ổn, cha mẹ sinh cũng mừng thầm.

Nhưng không bao lâu cô gái lại dần dần rông càn, mặt sinh thường có vết móng tay cào cấu, cha mẹ biết rõ nhưng còn nhịn để đó không hỏi tới.

Một hôm sinh không chịu nổi roi gậy, chạy qua nhà cha mẹ trốn, run rẩy như chim sẻ bị diều ó đuổi.

Hai ông bà còn ngạc nhiên hỏi han thì cô gái đã cầm gậy đuổi theo vào, tới ngay cạnh ông túm lấy sinh đánh túi bụi.

Ông bà quát tháo ầm ĩ nàng cũng không đếm xỉa gì tới, đánh chồng tới mấy mươi gậy mới hằm hằm bỏ đi.

Cao đuổi con ra, nói:

- Ta muốn tránh ồn ào nên mới ở riêng, còn ngươi thích nó thì trốn đi làm gì?

Sinh bơ vơ chẳng biết đi đâu, Cao sợ hành hạ quá thì con trai tự tử bèn cho ở riêng một chỗ, nấu cơm cho ăn.

Lại gọi Phàn tới, bảo qua mà dạy con gái.

Phàn vào nhà nói đủ lời để răn dạy, cô gái đã không nghe lại còn trả treo xách mé.

Phàn phủi áo bỏ đi, thề dứt tình cha con.

Không bao lâu, Phàn phẫn uất sinh bệnh, cùng vợ nối nhau chết.

Cô gái căm hận, cũng không về đưa đám, chỉ hàng ngày cách tường chửi mắng, cố ý cho cha mẹ chồng nghe, Cao để ngoài tai không đếm xỉa gì tới.

Sinh từ khi ở một mình thấy như thoát khỏi nước sôi lửa bỏng, nhưng thấy hiu quạnh, lén cho tiền bà mối họ Lý dẫn gái vào phòng sách, toàn chờ lúc đêm tối ra vào.

Lâu ngày cô gái nghe phong thanh bèn tới phòng sách mắng chửi, sinh hết sức phân trần là oan, chỉ trời vạch đất mà thề nàng mới về, từ đó hàng ngày rình rập chờ sinh sơ hở.

Một hôm bà Lý từ phòng sách ra thì nàng bắt gặp, gọi ầm lên.

Bà ta biến sắc, cô gái càng nghi ngờ nói với bà ta:

- Nói thật cho ta biết bà làm những gì thì may ra ta còn tha cho, nếu giấu diếm thì ta nhổ không còn một sợi tóc đấy.

Bà Lý run rẫy nói:

- Nửa tháng nay chỉ có kỹ nữ Vân Nương tới đây hai lần thôi.

Mới rồi công tử nói đi chơi núi Ngọc Ty gặp vợ họ Đào, thích đôi bàn chân nàng nhỏ nhắn nên dặn ta gọi tới.

Nàng ta tuy lẳng lơ nhưng cũng chưa chắc chịu làm như kỹ nữ, thật không rõ có được không.

Cô gái thấy bà ta thành thật nên tha cho, bà ta định đi thì nàng giữ lại.

Trời sập tối nàng quát bà ta rằng:

- Tới phòng sách trước, tắt hết đèn đi, nói họ Đào tới rồi.

Bà Lý theo lời, cô gái vào theo ngay, sinh mừng quá, kéo tay giục ngồi, tỏ lòng khát khao gặp gỡ, nàng im lặng không nói gì.

Sinh mò trong bóng tối cầm bàn chân nàng nói:

- Từ khi lên núi được thấy dung mạo người tiên một lần, lòng cứ nhớ nhưng cái này thôi.

Nàng vẫn im lặng.

Sinh nói:

- Mong ước bấy lâu nay mới toại nguyện, sao lại kề mặt mà không nhìn thấy nhau?

Rồi đích thân thắp đèn lên, soi tới thì té ra là Giang Thành!

Sinh sợ hãi thất sắc, đánh rơi chiếc đèn xuống đất, quỳ xuống run cầm cập như bị gươm kề cổ vậy.

Cô gái nắm tai kéo về, lấy kim đâm nát hai đùi rồi bắt nằm dưới giường, lúc nào tỉnh giấc lại chửi rủa kể tội.

Sinh đã sợ nàng như cọp nên cho dù lúc nàng nguôi giận thì lúc chăn gối cũng run rẫy không ra đàn ông, nàng tát vào mặt thét đuổi xuống, càng thêm chán ghét khinh bỉ không coi là con người nữa.

Sinh hàng ngày trong chốn hương xông xạ ủ mà như kẻ gian ở tù tôn kính người canh ngục vậy.

Cô gái có hai chị đều lấy chồng là Chư sinh.

Người chị lớn hiền lành ít nói, vẫn không hòa thuận với nàng.

Chị thứ hai lấy họ Cát, là người giảo quyệt khéo nói, ưa trang điểm chải chuốt, dung mạo không bằng Giang Thành nhưng về khoản ghen tuông hung dữ thì cũng xấp xỉ.

Hai chị em mà gặp nhau thì không nói sự gì khác, chỉ khoe những việc bắt nạt chồng, lấy làm đắc ý với nhau, vì thế đi lại rất thân thiết.

Sinh tới nhà họ hàng nào cô gái cũng giận dữ trách mắng, duy tới nhà Cát thì nàng có biết cũng không ngăn cấm.

Một hôm sinh uống rượu ở nhà Cát, lúc đã say Cát nhạo:

- Sao chú sợ vợ quá thế?

Sinh cười đáp:

- Thiên hạ có nhiều việc không sao hiểu nổi.

Ta sợ vợ ta là sợ sắc đẹp, nhưng có kẻ đẹp thua xa vợ ta mà người ta cũng sợ ngang ta, chẳng phải là quá đáng sao?

Cát thẹn quá không đáp được, đứa tỳ nữ nghe thế vào kể với vợ Cát, vợ Cát nổi giận cầm gậy sấn ra.

Sinh thấy dáng vẻ hung dữ vội xỏ giày toan chạy thì gậy đã đập trúng lưng, sinh bị ba gậy ngã quỵ ba lần không dậy nổi, dập cả trán, máu tuôn như xối.

Vợ Cát bỏ vào, sinh mới khập khiễng lê chân về nhà.

Vợ giật mình hỏi duyên cớ, lúc đầu sinh nghĩ mình chọc giận chị vợ mà bị đòn nên không dám nói, vợ gặng hỏi mấy lần mới kể rõ đầu đuôi.

Cô gái lấy lụa băng trán sinh xong, nổi giận nói:

- Chồng người ta ai mượn nó đánh giùm kia chứ?

Liền mặc áo ngắn tay, lận chày gỗ, dắt tỳ nữ theo.

Tới nhà Cát, chị hai tươi cười ra đón, cô gái chẳng nói chẳng rằng, rút chày đánh chị ngã gục, áo xống rách nát đau đớn, dập môi gãy răng vãi cả cứt đái.

Nàng về rồi chị hai vừa thẹn vừa tức sai chồng tới mách với Cao, sinh ra đón, hết lời an ủi.

Cát nói riêng với sinh:

- Ta tới đây vì bất đắc dĩ thôi, con mụ ấy hung dữ bất nhân, may nhờ có tay dì nó trừng phạt cho, chứ hai chúng ta có thù hiềm gì với nhau đâu.

Cô gái nghe thấy lập tức sấn ra chỉ mặt Cát mắng:

- Quân hèn hạ kia, vợ bị đòn mà lại đi lấy lòng người ngoài à, hạng đàn ông này không đánh cho chết còn để làm gì?

Rồi thét đem gậy ra, Cát hoảng sợ tông cửa chạy mất.

Sinh từ đó không còn nơi nào lui tới cả.

Có hôm bạn đồng học là Vương Tử Nhã tới chơi, sinh giữ chuyện trong phòng ra đùa nhau, có hơi quá đáng.

Gặp lúc cô gái ra nhìn lén khách, núp nghe rõ cả, bèn ngầm bỏ bã đậu vào canh bưng ra cho khách ăn.

Giây lát Vương thượng thổ hạ tả dữ dội, thở khò khè như sắp chết.

Nàng sai tỳ nữ ra hỏi:

- Còn dám vô lễ nữa không?

Vương mới hiểu ra là bệnh từ đâu tới bèn rên rỉ xin lỗi.

Nàng đưa nước đậu xanh nấu sẵn ra, Vương uống xong thì hết, từ đó bạn bè răn nhau, không ai dám ăn uống gì ở nhà sinh nữa.

Vương có quán rượu, trong quán có rất nhiều hồng mai nở, đặt tiệc mời bạn bè tới chơi, sinh lấy cớ họp văn xã trình với vợ xin cho đi dự.

Đến tối lúc đã say, Vương nói:

- Vừa mới có một danh kỹ ở Nam Xương (tỉnh thành Giang Tây) tới lưu ngụ ở đây, có thể gọi tới cùng uống rượu.

Mọi người cả mừng, duy sinh rời tiệc lấy cớ đã say xin về.

Mọi người kéo áo lại nói:

- Vợ ông tai mắt dẫu dài cũng không sao nghe thấy được chuyện ở đây.

Rồi cùng thề giữ kín không nói lộ ra, sinh bèn ngồi xuống.

Giây lát nàng kỹ nữ tới, khoảng mười bảy mười tám tuổi, vòng ngọc leng keng, tóc mây búi cao.

Hỏi tên họ, nàng xưng là họ Tạ, tiểu tự Phương Lan, nói năng trò chuyện vô cùng phong nhã, cả tiệc ai cũng say mê.

Nhưng Phương Lan chỉ để ý tới sinh, mấy lần để lộ ý tứ, mọi người biết được liền kéo hai người ngồi sánh vai nhau.

Phương Lan lấy ngón tay viết vào lòng bàn tay sinh chữ "ngủ”, lúc ấy sinh muốn về thì không đành, muốn ở thì không dám, lòng rối như tơ vò không thể tả được.

Nhưng cứ cúi đầu nghiêng tai thì thầm trò chuyện, càng say càng lả lơi phóng túng quên cả con sư tử ở nhà.

Một lát nghe trống canh một, khách trong quán rượu càng thưa, nhìn ra chỉ còn một thiếu niên đẹp trai ngồi dưới bóng đèn uống rượu một mình, bên cạnh có tiểu đồng cầm khăn đứng hầu, mọi người đều thầm khen là cao nhã.

Không bao lâu thiếu niên uống xong, đứng dậy đi ra, tiểu đồng ra theo rồi quay lại nói với sinh:

- Chủ ta chờ ông để xin thưa một câu!

Mọi người đều không biết là ai, duy sinh tái mặt không kịp cáo biệt bạn bè, vội vàng đi ra.

Thì ra thiếu niên là Giang Thành còn tiểu đồng là đứa tỳ nữ ở nhà.

Sinh theo về nhà, nằm mà chịu đánh, từ đó càng bị cấm cố chặt chẽ, tuyệt hết việc đi lại với bạn bè thân thích.

Quan học sứ xuống khảo thí, sinh thi rớt bị giáng xuống hạng thanh.

Một hôm sinh trò chuyện với đứa tỳ nữ, cô gái nghi là có tư tình liền lấy hũ rượu chụp lên đầu tỳ nữ đánh đòn rồi trói hai người vào nhau, lấy dao cắt thịt bụng hai người, đắp thịt của người này vào bụng người kia rồi cởi trói bảo tự băng bó lấy, hơn tháng sau miếng thịt vá ấy dính luôn vào bụng.

Cô gái thường lấy chân đạp lên bánh, kế ném vào chỗ đất cát bụi bặm rồi quát bảo sinh nhặt lên mà ăn, những việc như thế rất nhiều.

*[Hạng thanh: thời Thanh có lệ khảo khóa học trò hàng năm, chia làm sáu hạng mà thăng giáng, hạng thứ năm và thứ sáu gọi là thanh và xã, nếu lần sau lại thi rớt thì bị truất về làm dân].

Mẹ sinh vì việc của con ngẫu nhiên ghé qua, thấy con gầy như que củi, trở về khóc lóc muốn chết.

Đêm mơ thấy có ông già nói:

- Không cần phải lo phiền, đó là nhân quả kiếp trước.

Giang Thành vốn là con chuột trường sinh của Hòa thượng Tĩnh Nghiệp nuôi, công tử kiếp trước là học trò, một hôm tới chơi chùa vô tình đạp chết nó, nay là quả báo không thể sức người mà làm hồi tâm được đâu.

Mỗi sáng cứ thành tâm tụng niệm bài chú của Quan âm một trăm lần, tự nhiên sẽ thấy hiệu nghiệm.

Bà tỉnh dậy kể lại cho Trọng Hồng, cùng lấy làm lạ.

Vợ chồng theo lời chỉ dạy, hơn hai tháng cô gái vẫn ngang ngược như cũ, lại thêm điên cuồng.

Cứ nghe ngoài cửa có tiếng chiêng trống lại xõa tóc chạy ra nhìn dáo dác, hàng ngàn người chỉ trỏ bàn tán cũng mặc kệ.

Ông bà thấy con dâu như thế rất hổ thẹn nhưng không sao ngăn cản, chỉ chê bai thầm mà thôi.

Chợt có nhà sư già tới trước cổng thuyết pháp, người ta đứng xem kín như bức tường.

Sư thổi vào mặt trống thành tiếng kêu như trâu rống, cô gái chạy ra thấy người ta đứng dày đặc không có kẽ hở bèn gọi tỳ nữ đem ghế ra để đứng lên xem, thiên hạ đổ dồn mắt vào cũng thản nhiên như không hay biết gì.

Lát sau sư giảng kinh xong, xin một bát nước trong cầm tới trước mặt cô gái đọc lớn:

- Chớ giận hờn, Chớ giận hờn?

Kiếp trước chẳng phải giả, Kiếp này chẳng phải chân, ồ!

Chuột nên co cổ chạy, Đừng để mèo bắt ăn!

Đọc xong ngậm nước phun vào mặt nàng, son phấn trôi nhễ nhại nhỏ xuống cả áo quần.

Mọi người cả sợ, nghĩ rằng cô gái sẽ bừng bừng nổi giận, nhưng nàng im lặng lau mặt rồi vào, sư cũng bỏ đi.

Cô gái vào phòng ngồi ngẩn ra như mất hồn, cả ngày không ăn uống gì, kế dọn giường ngủ sớm.

Nửa đêm chợt gọi sinh dậy, sinh ngỡ định sai phái liền bưng chậu tiểu đưa lên.

Nàng đẩy chậu ra, ngầm nắm tay sinh kéo vào trong chăn, sinh vâng lệnh mà chân tay run lẩy bẩy như tiếp chiếu chỉ của vua.

Cô gái cảm khái nói:

- Làm cho chàng đến thế này, sao đáng gọi là người?

Rồi lấy tay xoa khắp người sinh, cứ tới vết dao gậy thì sụt sùi khóc lóc, lấy móng tay tự cào vào mình, hận không chết ngay tức khắc.

Sinh thấy thế bất nhẫn, ra sức an ủi.

Cô gái nói:

- Thiếp nghĩ vị hòa thượng lúc ban ngày ắt là Bồ Tát hóa thân, một chén nước lạnh mà như thay đổi cho cả gan ruột.

Giờ nghĩ lại những việc mình đã làm đều như ở kiếp khác, thiếp lúc trước chắc không phải là người chăng?

Có vợ chồng mà không biết âu yếm, có cha mẹ mà không biết phụng thờ, lòng dạ gì thế?

Sáng mai phải dọn qua ở chung với cha mẹ để thăm nom hầu hạ.

Vợ chồng nói chuyện suốt đêm như xa cách mười năm mới gặp lại.

Tảng sáng nàng lập tức trỗi dậy gói ghém quần áo vật dùng, sai tỳ nữ cầm giỏ còn mình mang gói, giục sinh đi trước gọi cửa.

Mẹ ra hoảng sợ hỏi han, sinh nói ý vợ.

Mẹ đang ngần ngại thì cô gái đã dắt tỳ nữ vào nhà.

Mẹ vào theo, nàng quỳ mọp xuống đất khóc lóc thảm thiết, chỉ xin tha tội chết.

Mẹ thấy là thật lòng cũng khóc nói:

- Con ta sao thay đổi mau thế?

Sinh kể lại tỉ mỉ chuyện trước, mẹ mới hiểu ra rằng giấc mơ trước kia đã ứng nghiệm, mừng rỡ sai tôi tớ dọn dẹp gian nhà cũ cho hai vợ chồng ở.

Cô gái từ đó thờ cha mẹ còn hơn cả con trai có hiếu, gặp ai cũng khép nép như cô dâu mới về nhà chồng, ai đùa nhắc lại chuyện cũ thì thẹn đỏ mặt.

Lại cần kiệm khéo buôn bán, qua ba năm cha mẹ không phải lo tới sinh kế mà nhà đã nổi tiếng giàu có cự vạn.

Năm ấy sinh thi đỗ Cử nhân, cô gái thường nói:

- Ngày trước thiếp gặp Phương Lan một lần, nay vẫn còn nhớ nàng.

Sinh vì không bị hành hạ đã lấy làm mãn nguyện, không dám mơ tưởng tới chuyện cưới hầu thiếp nên chỉ dạ dạ mà thôi.

Kế sinh vào kinh thi hội mấy tháng mới về, vào phòng thấy Phương Lan đang đánh cờ với Giang Thành, ngạc nhiên hỏi han, thì ra cô gái đem mấy trăm đồng vàng chuộc Phương Lan ra.

Lúc ta ở vùng Thiệu Hưng Chiết Giang được quen ông Vương Tử Nhã, cả đêm kể cho nghe rất rõ ràng.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 121+122


CHƯƠNG 121: BÁT ĐẠI VƯƠNG

Lệnh Doãn Như Hà Hoán Đại Vương

Túy Phùng Ân Chủ Cánh Khuynh Trường

Năng Tùng Quy Gián Năng Thù Đức

Đa Thiểu Y Quan Quyết Tửu Cuồng

Dịch:

Lệnh Doãn Mà Sao Gọi Đại Vương

Ân Nhân Say Gặp Lại Quỳnh Tương

Lỗi Hay Sửa Đổi Ơn Hay Báo

Biết Mấy Cân Đai Thẹn Tửu Cuồng



Phùng sinh ở huyện Lâm Thao (tỉnh Cam Túc), người thuật chuyện không nhớ tên, chỉ biết là dòng dõi thế gia đã sa sút.

Có người chài lưới thiếu nợ sinh không trả nổi nên cứ bắt được ba ba là đem lại biếu.

Có lần biếu con ba ba cực to, trán có đốm trắng, sinh thấy hình dạng lạ lùng liền thả ra sông.

Sau sinh đi thăm con rể trở về, tới bờ sông Hằng Hà thì trời vừa tối thấy một người say có hai ba tiểu đồng theo sau ngất ngưởng đi tới, thấy sinh hỏi là ai?

Sinh đáp bừa là kẻ đi đường, người say giận nói:

- Chẳng lẽ không có tên họ à, sao chỉ nói là kẻ đi đường?

Sinh sốt ruột lo về nên không buồn đáp, cứ đi thẳng qua mặt, người say càng giận, nắm lấy áo sinh không cho đi, mùi rượu nồng nặc.

Sinh rất khó chịu mà cố sức gỡ ra không được bèn hỏi ngươi tên gì, người say lè nhè đáp:

- Ta là Lệnh doãn cũ ở Nam Đô, ngươi định làm gì?

Sinh nói:

- Thế gian có thứ Lệnh doãn như vậy, thật là chửi cả thiên hạ.

May là Lệnh doãn cũ đấy, chứ nếu là Lệnh doãn mới chắc giết ráo người đi đường rồi phải không?

Người say giận lắm toan giở võ, sinh lớn tiếng nói:

- Phùng mỗ ta không phải là kẻ để yên cho người đánh đâu!

Người say nghe thế đổi giận làm vui, lảo đảo lạy rạp xuống nói:

- Té ra là ân chủ, mới rồi đường đột xin đừng bắt tội.

Rồi đứng dậy bảo kẻ tùy tùng về trước dọn rượu.

Sinh từ chối không được, người ấy nắm tay dắt đi vài dặm thì tới một xóm nhỏ, vào trong thấy nhà của đẹp đẽ như phủ đệ quý nhân.

Người say hơi tỉnh rượu rồi, sinh mới hỏi thăm tên họ là gì, y đáp:

- Nói ra xin chớ kinh hãi, ta là Bát Đại vương ở sông Thao đây.

Mới rồi tiên Thanh Đồng ở Tây Sơn mời đi uống rượu, không ngờ say quá nên xúc phạm tôn nhan, nghĩ rất hổ thẹn.

Sinh biết là yêu quái, nhưng thấy tình ý niềm nở nên cũng không sợ sệt gì.

Giây lát rượu thịt dọn lên ê hề, giục sinh ngồi vào tiệc.

Bát vương uống rất hào, dốc cạn liên tiếp mấy chén, sinh sợ y say lại sinh sự bèn giả say đòi đi nằm.

Bát vương hiểu ý cười nói:

- Ông sợ ta bừa bãi sao?

Xin chớ lo, phàm kẻ say vô hạnh rồi qua đêm nói rằng không nhớ đã làm những gì là nói dối thôi, bọn bợm rượu mất nết thì mười người có chín người như vậy đấy.

Nhưng ta tuy không dám sánh với người tốt song nghĩ lại cũng chưa từng dám làm điều vô lại với bậc trưởng giả sao ông cự tuyệt thẳng thừng như thế?

Sinh bèn ngồi xuống nghiêm sắc mặt can rằng:

- Ông đã tự biết, sao không sửa đổi?

Bát vương đáp:

- Lão phu lúc làm Lệnh doãn thì say sưa còn quá ngày nay, từ khi làm Thượng đế tức giận bị đày ra cù lao, cố bỏ thói cũ đã hơn mười năm.

Nay sắp chết mà còn lận đận không được vẫy vùng nên thói cũ lại nảy sinh mà không tự biết.

Nay xin kính cẩn vâng lời ông.

Đang chuyện trò thì nghe tiếng chuông chùa xa xa, Bát vương đứng lên cầm tay sinh nói:

- Gặp gỡ không được lâu, nay có một vật xin tặng để đền ơn lớn.

Vật này không nên mang lâu, khi nào được như nguyện rồi xin trả lại cho ta.

Rồi khạc ra một hình người bé tí dài hơn một tấc, lấy móng tay rạch vào cánh tay sinh, đau như xé ruột, đặt mau hình người lên rồi đè xuống, buông tay ra thì đã chìm hẳn vào trong thịt, vết móng tay vẫn còn mà chỗ đó gồ lên như mụn nhọt.

Sinh sợ hãi hỏi, Bát vương cười không đáp, chỉ nói:

- Ông nên đi thôi!

Rồi tiễn sinh ra.

Bát vương trở vào, sinh ngoảnh nhìn thì xóm làng nhà cửa đều biến mất, chỉ có một con ba ba lớn đang ì ạch bò xuống nước rồi mất tăm.

Sinh kinh ngạc sửng ra hồi lâu rồi tự nghĩ vật mình vừa được cho ắt là ngọc ba ba.

Từ đó mắt rất sáng, phàm nhưng nơi có châu báu, dù ở tận suối vàng cũng nhìn thấy được, ngay cả những món chưa từng biết cũng ứng khẩu gọi được đích danh, đào được mấy trăm lượng vàng chôn ngay dưói phòng ngủ, việc chi tiêu cũng đầy đủ.

Sau có người bán ngôi nhà cũ, sinh nhìn thấy tiền bạc chôn giấu vô số bèn bỏ nhiểu tiền ra mua, từ đó giàu có ngang bậc vương hầu, các loại ngọc quý hiếm trên đời trong nhà đều có đủ.

Lại được một tấm gương, phía sau chạm hình chim phượng đeo vòng, mây nước và Tương Phi, chiếu sáng cả dặm, có thể thấy rõ từng sợi tóc.

Người đẹp mà soi vào thì hình bóng sẽ in lại, lau chùi cũng không mất được, nếu thay quần áo khác soi lại hoặc người đẹp khác soi lên thì ảnh trước mới mất đi.

Lúc bấy giờ công chúa thứ ba trong Túc vương phủ nhan sắc tuyệt đẹp, sinh rất hâm mộ.

Gặp lúc công chúa đi chơi núi Không Động, sinh tới rình trong núi chờ khi công chúa trên kiệu bước xuống lấy gương ra soi rồi mang về đặt lên bàn, nhìn kỹ thấy mỹ nhân ở trong cầm khăn mỉm cười, miệng như muốn nói, mắt như muốn liếc, mừng rỡ cất kỹ.

Hơn một năm, vì vợ nói lộ ra, Túc vương nghe được cả giận, bắt giam sinh, đòi lấy tấm gương, định xử án chém.

Sinh hối lộ rất nhiều cho một quý nhân trong vương phủ, nhờ tâu với Túc vương rằng:

- Nếu vương tha thì bao nhiêu của báu trên đời muốn có cũng dễ, nếu không thì ta cũng tới chết là cùng, mà vương thì chẳng có lợi gì cả.

Vương muốn tịch biên gia sản và đày sinh đi xa, công chúa thứ ba nói:

- Y đã nhìn con, dù giết mười lần cũng không đủ gột rửa tiếng nhơ, chi bằng gả con cho y.

Vương không nghe.

*[Túc vương phủ: tức Túc Trang vương, hoàng tử thứ mười bốn của Minh Thái tổ nhà Minh, được phong là Hán vương, năm Hồng Vũ thứ 25 (1392) đổi phong là Túc vương, năm sau ra lập phủ đệ ở Cam Túc].

Công chúa đóng cửa không chịu ăn, Vương phi lo quá, cố nói với vưong, vương bèn thả sinh ra, lại sai vị quý nhân kia ngỏ ý với sinh.

Sinh từ chối nói:

- Người vợ từ lúc hàn vi không thể bỏ, ta thà chết chứ không dám vâng lệnh, nếu vương cho chuộc tội thì dốc hết gia sản ra cũng được.

Vương giận lại bắt giam sinh.

Vương phi triệu vợ sinh vào cung, định hạ độc giết chết.

Vợ sinh vào, đem chiếc giá gương san hô làm lễ ra mắt, lời lẽ mềm mỏng dễ thương, Vương phi hài lòng, sai bái kiến công chúa thứ ba, công chúa cũng thích, bèn đính ước làm chị em rồi sai người vào ngục dụ sinh.

Sinh nhắn vợ rằng:

- Con gái nhà vương hầu thì không thể lấy việc cưới trước cưới sau mà bàn lớn bé được đâu.

Vợ không nghe cứ về sắp đặt sính lễ đưa tới vương phủ, người đội lễ vật có tới hàng ngàn, nhiều loại châu quý ngọc lạ nhà vương cũng không biết tên.

Vương cả mừng gả công chúa cho sinh, công chúa vu quy cũng đem tấm gương về.

Một đêm sinh ngủ một mình, mơ thấy Bát vương nghênh ngang vào, nói:

- Vật ta đã tặng nay nên trả lại.

Mang nó lâu quá thì hao tổn tinh huyết, chiết giảm tuổi thọ.

Sinh vâng dạ, giữ lại uống rượu, Bát vương từ chối, nói:

- Từ lúc nghe ông khuyên, ta bỏ dứt rượu được ba năm rồi.

Rồi há miệng cắn vào cánh tay, sinh đau quá tỉnh dậy, nhìn lại thì chỗ mụn nhọt đã tiêu tan, từ đó lại như người thường.

____________________________________

CHƯƠNG 122: THIỆU NỮ

CÔ GÁI HỌ THIỆU

Thủy Tiễn Song Đồng Thiện Tướng Nhân

Viên Quy Lục Mạch Diệu Hồi Xuân

Thung Dung Đàm Tiếu Hành Vô Sự

Điền Tận Nhân Gian Đố Phụ Tân

Dịch:

Tinh Đời Con Mắt Tướng Coi Hay

Lục Mạch Hồi Xuân Thuật Diệu Thay

Cười Nói Ung Dung Tròn Phận Sự

Bến Ghen Cõi Thế Lấp Cho Đầy



Sài Đình Tân người huyện Thái Bình (tỉnh An Huy), vợ là Kim thị không sinh nở được mà tính cả ghen.

Sài bỏ ra trăm lượng vàng cưới thiếp, Kim đối xử rất tàn ác, qua năm sau thì người thiếp chết.

Sài uất ức ngủ riêng, mấy tháng liền không đặt chân tới phòng vợ.

Gặp ngày sinh nhật Sài, Kim tới ăn nói ngọt ngào làm lễ chúc thọ chồng, Sài không nỡ cự tuyệt, mới lại chuyện trò cười nói với nhau.

Kim bày tiệc trong phòng mời Sài, Sài lấy cớ đã say để từ chối, Kim ăn mặc lộng lẫy tự tới phòng Sài nói:

- Thiếp đã hết lòng trọn ngày, dù chàng có say cũng xin uống một chén rồi về.

Sài bèn vào phòng, uống rượu trò chuyện.

Vợ thong thả nói:

- Trước kia lỡ tay giết đứa tỳ nữ, nay đã hối hận, sao chàng còn để bụng oán hờn, há không còn tình vợ chồng sao?

Từ nay về sau xin cứ nạp thiếp, thiếp không dám trách móc gì chàng đâu.

Sài càng mừng, từ đó lại yêu thương vợ như trước.

Kim bèn gọi người mai mối tới bảo tìm người thiếp đẹp cho chồng, nhưng ngầm dặn cứ lờ đi, còn mình làm ra vẻ thúc giục.

Cứ thế hơn năm, Sài không chờ được bèn dặn khắp bạn bè thân thích nhờ tìm hỏi cho mình, được con gái nuôi của nhà họ Lâm, Kim vừa gặp đã tỏ vẻ mừng rỡ, cho cùng ăn cùng ngủ với mình, áo quần nữ trang cho tùy ý lựa dùng.

Nhưng Lâm vốn sinh ở đất Yên (tỉnh Hà Bắc) nên không thạo việc nữ công, ngay việc khâu giày cũng phải có người giúp cho.

Kim nói:

- Nhà ta vốn cần kiệm không phải như nhà vương hầu mà mua người như mua tranh để ngắm.

Rồi từ đó đưa cho gấm lụa bảo Lâm học cắt may như thầy dạy trò rất nghiêm khắc, ban đầu còn mắng chửi, kế thì đánh đập.

Sài trong lòng xót xa không biết làm sao, mà Kim lại càng tỏ vẻ yêu thương Lâm hơn trước, cứ đích thân trang điểm cho Lâm.

Nhưng gót giày hơi có vết nhăn là lấy thước sắt đánh vào hai chân, tóc hơi rối là tát vào hai má, Lâm không chịu nổi treo cổ tự tử.

Sài đau lòng xốn mắt, trách móc nặng lời.

Vợ giận nói:

- Ta thay anh dạy dỗ nàng ta thì có tội gì?

Lúc ấy Sài mới biết sự gian xảo của vợ, dứt hẳn tình vợ chồng, ngầm xây dựng phòng ốc nơi khác, nghĩ cách cưới vợ đẹp ở riêng.

Thấm thoát hơn nửa năm vẫn chưa tìm được người nào, ngẫu nhiên tới dự đám tang ở nhà bạn thấy một nữ lang khoảng mười sáu tuổi đẹp lộng lẫy, cứ sững người ra ngắm nhìn.

Cô gái thấy Sài có vẻ sỗ sàng bèn liếc nhìn rồi quay người đi, Sài hỏi người ta thì biết nàng họ Thiệu.

Thiệu là học trò nghèo, chỉ có một con gái là nàng.

Lúc nhỏ rất thông minh, cha dạy cho học, sách vở chỉ đọc qua là hiểu, lại rất thích đọc sách thuốc và sách xem tướng.

Cha rất thương yêu, có ai tới hỏi cưới thì cho nàng quyết định, nhưng kẻ giàu người nghèo gì cũng không giỏi bằng nên mười bảy tuổi vẫn chưa lấy chồng.

Sài hỏi rõ được ngọn ngành biết rõ là không thể hỏi cưới được nhưng vẫn bồi hồi, lại nghĩ rằng nhà Thiệu nghèo có thể lấy lợi làm động tâm, bèn bàn với vài bà mối nhưng không ai dám nhận lời, chán nản không còn hy vọng gì nữa.

Chợt có bà mối họ Giả tới bán ngọc cho Sài, Sài tỏ ý mình rồi cho nhiều tiền, nói:

- Chỉ cần bà nói rõ lòng thành của ta, còn họ có ưng hay không thì ta không trách gì bà.

Còn nếu vạn nhất mà việc xong, thì ngàn vàng ta cũng không tiếc đâu.

Bà Giả thấy được nhiều tiền bèn vâng dạ, tìm tới chuyện dằng dai với vợ Thiệu, nhìn thấy cô gái ngạc nhiên ca ngợi, nói:

- Cô nương đẹp quá, nếu tới viện Chiêu Dương thì chị em nhà họ Triệu có đáng gì.

Lại hỏi đã hứa gả cho ai rồi, vợ Thiệu đáp chưa, bà ta nói:

- Sợ gì không có bậc vương hầu làm rể quý.

*[Chị em nhà họ Triệu: tức chị em Triệu Phi Yến, Triệu Hơp Đức trong nội cung của Đường Minh Hoàng, được cho ở tại viện Chiêu Dương, rất được vua sủng ái].

Vợ Thiệu than:

- Nhà vương hầu thì không dám mong, chỉ cần tìm được thằng bé nào có học là tốt lắm rồi.

Của nợ nhà ta cứ chọn lựa này nọ, cả chục người không ưng được một đám, thật chẳng hiểu nó muốn những gì.

Bà Giả nói:

- Phu nhân không cần phải trách móc, người đẹp như thế chẳng biết kiếp trước tu được bao nhiêu phúc đức mới cưới được kia.

Hôm rồi có một chuyện rất buồn cười, là lang quân họ Sài nói thấy nhan sắc cô nương đây ở đám tang nhà ông Mỗ, xin dâng ngàn vàng làm sính lễ, há chẳng phải cú đói mơ sánh đôi với thiên nga sao?

Già này đã mắng cho mới chịu thôi đấy!

Vợ Thiệu cười khẽ chưa đáp, bà ta lại nói:

- Chỉ vì là nhà Tú tài khó mà sánh đôi, chứ nếu nhà khác thì như thế mất ít mà được nhiều, cũng nên ưng thuận.

Vợ Thiệu lại cười không đáp, bà ta bèn vỗ tay nói:

- Phải rồi, đứng về phía già này mà nói thì làm thế là sai đấy.

Hàng ngày già được phu nhân yêu thương, lên thềm còn được ngồi xếp bằng cho uống rượu, chứ phu nhân mà được ngàn vàng, ra xe ngựa vào lầu gác thì già tới cổng sẽ bị người gác cổng thét đuổi ra ngay.

Vợ Thiệu ngẫm nghĩ hồi lâu rồi đứng lên vào nói chuyện với chồng, lát sau ra gọi con gái vào, lát sau ba người cùng ra.

Vợ Thiệu cười nói:

- Con nhãi nhà ta lạ thật, bao nhiêu đám tốt đều không chịu mà nghe nói làm vợ lẽ lại ưng, chỉ sợ các bậc văn nhân cười cho.

Bà Giả nói:

- Nếu về đó mà sinh được một tiểu ca, thì đại phu nhân mà bằng được à?

Nói xong kể lại việc Sài định ở riêng, Thiệu càng mừng rỡ bèn gọi con gái nói:

- Cứ thử trò chuyện với bà Giả đi, việc này là do ngươi tự chủ trương, về sau đừng có hối hận mà oán trách cha mẹ.

Cô gái ngượng nghịu nói:

- Cha mẹ được phụng dưỡng chu đáo thì công nuôi con không uổng.

Huống hồ con tự thấy mình phận bạc, nếu làm vợ chính ắt sẽ bị giảm thọ, nếu phải chịu đựng đau khổ chút ít thì cũng chưa chắc không phải là điều may.

Hôm trước nhìn thấy chàng Sài, cũng có phúc tướng, con cháu ắt có kẻ làm nên.

Bà mối cả mừng chạy về báo, Sài mừng rỡ vì được quá cả lòng mong ước, lập tức đem ngàn vàng sắp xe kiệu tới cưới cô gái về ở nhà riêng, tôi tớ không ai dám nói một câu.

Cô gái nói với Sài rằng:

- Chàng tính toán có thể nói cũng như chim én làm tổ trên rèm, không phải là kế lâu dài.

Ngậm miệng lựa lời để giữ kín chuyện liệu có được không?

Chẳng bằng xin cứ về nhà cho sớm, nói thật ra ngay thì tai họa còn nhỏ.

*[Chim én làm tổ trên rèm: lấy ý lời của Quý Trát thời Xuân thu nói với Tôn Văn Tử, chỉ người tính việc trước mắt mà không nghĩ tới tai họa về lâu dài].

Sài lo là nàng sẽ bị đày đọa, nàng nói:

- Trên đời không có ai là kẻ không thể cảm hóa được, ta cứ giữ cẩn thận không có lỗi lầm thì bà ta làm sao giận được?

Sài nói:

- Không phải thế đâu, bà ta hung dữ phi thường, không thể nói tình lý mà cảm hóa được.

Cô gái nói:

- Thân làm lẽ mọn thì bị hành hạ là phải thôi, nếu không chịu thế mà cứ tạm bợ cầu sống thì liệu có được lâu dài không?

Sài cho là đúng nhưng rốt lại vẫn chần chừ không dám quyết.

Một hôm Sài đi vắng, cô gái mặc áo tỳ nữ ra cửa, sai đầy tớ dắt con ngựa cái già, có một bà già ôm cái bọc đi theo tới nhà Vợ Sài ở, lạy rạp xuống đất tự bày tỏ.

Vợ Sài lúc đầu nổi giận, kế nghĩ nàng tự tới thú có thể tha thứ lại thấy ăn mặc khiêm nhường hèn mọn, cũng hơi nguôi giận bèn sai tỳ nữ lấy áo gấm ra cho mặc, nói:

- Ta bị gả bạc bẽo kia rêu rao nói xấu với mọi người nên chịu tiếng oan, chứ thật ra đều là vì chồng bất nghĩa, bọn tỳ thiếp mất nết có chỗ mà khích bác, ngươi nghĩ xem kẻ giấu vợ cưới thiếp còn có phải là người không kia chứ?

Cô gái nói:

- Xem kỹ thì ông ấy cũng hơi hối hận, chỉ là không chịu xuống nước đó thôi.

Lời ngạn nói Người trên không chịu thua người dưới, còn theo lễ mà bàn thì vợ đối với chồng cũng như con đối với cha, vợ thứ đối với vợ cả vậy.

Nếu phu nhân chịu tỏ ra vui vẻ niềm nở thì có thể làm cho ông ấy hết hờn oán.

Vợ Sài nói:

- Tự y không chịu tới đây chứ ta có làm gì đâu?

Rồi lập tức sai các tỳ nữ dọn phòng cho cô gái ở, tuy không vui lắm nhưng cũng yên lòng.

Sài nghe tin cô gái tới nhà vô cùng hoảng sợ, thầm nghĩ dê vào miệng cọp thì không sao sống nổi, vội chạy mau về thì thấy trong nhà yên ắng, mới được yên lòng.

Cô gái ra cửa đón tiếp khuyên lơn, bảo tới phòng vợ cả Sài tỏ vẻ khó khăn, nàng khóc ròng, Sài mới xiêu lòng.

Cô gái tới gặp vợ Sài nói:

- Lang quân vừa về, tự thấy xấu hổ không còn mặt mũi nào tới gặp phu nhân, xin phu nhân tới cười cho một tiếng.

Vợ Sài không chịu, nàng nói:

- Thiếp đã nói rồi, chồng đối với vợ cũng như vợ cả đối với vợ lẽ.

Mạnh Quang nâng án ngang mày mà người ta không cho là nịnh nọt là vì sao?

Vì phận sự phải như thế thôi.

Vợ Sài theo lời, tới gặp Sài nói:

- Chàng như con thỏ khôn có ba hang, về đây làm gì?

Sài lừ mắt không đáp, cô gái lấy khuỷu tay huých ra hiệu bèn nhăn nhó cười gượng, vợ mới hơi dịu nét mặt.

*[Mạnh Quang nâng án ngang mày: Hậu Hán thư, Lương Hồng truyện chép Lương Hồng lúc hàn vi có vợ là nàng Mạnh Quang, xấu người nhưng hiền đức, mỗi khi dọn cơm cho chồng ăn đều kính cẩn nâng mâm ngang mày (cử án tề mi)].

Lúc vợ Sài ra, cô gái đẩy Sài theo, lại dặn nhà bếp làm tiệc, từ đó vợ chồng Sài lại hòa thuận.

Cô gái sáng dậy sớm mặc áo xanh tới hầu vợ Sài, bưng nước rửa mặt, hầu hạ khăn lược, giữ lễ tỳ nữ rất cung kính.

Sài vào phòng thì hết sức từ chối, hơn mười đêm mới cho ngủ lại một đêm, vợ Sài cũng thấy là hiền nhưng lại xấu hổ vì thấy mình không bằng nàng, thẹn thùng chuyển thành ghen ghét.

Song cô gái hầu hạ cẩn thận, không có lỗi lầm nào để bới móc, có khi chửi mắng qua loa thì nàng chỉ vâng dạ.

Một đêm vợ chồng có chuyện xích mích, sáng ra vợ Sài dậy trang điểm vẫn còn tức tối, cô gái bưng gương lỡ tay làm rơi vỡ, vợ Sài nắm tóc nàng trừng mắt nhìn.

Cô gái sợ quá quỳ xuống cầu khẩn, vợ Sài không nguôi giận đánh luôn vài mươi roi.

Sài không nhịn được nổi giận xông vào kéo nàng ra, vợ lu loa giằng lại.

Sài nổi giận giật roi đánh vợ rách cả mặt mới bỏ đi, từ đó vợ chồng coi nhau như kẻ thù.

Sài cấm cô gái không được tới phòng vợ nữa nhưng nàng không nghe, sáng ra dậy sớm quỳ ngoài màn, vợ Sài đập giường chửi lớn, quát đuổi đi không cho tới trước mặt, đêm ngày mắm môi nghiến lợi, rắp tâm chờ lúc nào Sài đi vắng sẽ trút hờn lên cô gái.

Sài biết ý, gác hết mọi việc, đóng cửa ở nhà không giao du với ai cả.

Vợ Sài không biết làm sao, chỉ hàng ngày đánh đập bọn tỳ nữ cho hả giận, tôi tớ trong nhà đều không chịu nổi.

Từ khi vợ chồng xích mích, cô gái cũng không dám cho Sài ngủ ở phòng mình, Sài từ đó ngủ một mình, vợ nghe biết cũng hơi yên lòng.

Có đứa tỳ nữ đã lớn vốn giảo hoạt, ngẫu nhiên trò chuyện với Sài, vợ Sài nghi là tư thông với nhau càng hành hạ tàn nhẫn, đứa tỳ nữ cứ lúc vắng người là căm tức chửi rủa.

Một đêm tới phiên nó hầu, cô gái dặn Sài không được cho tới, nói:

- Mặt cô ta có sát cơ, khó lường lắm!

Sài theo lời gọi tới, giả vờ hỏi tại sao làm điều ám muội, đứa tỳ nữ khiếp sợ không đáp được, Sài càng nghi ngờ, xét trong áo tìm được con dao sắc, nó không còn lời gì để nói, chỉ quỳ mọp xin tha chết.

Sài muốn đánh đòn, cô gái ngăn lại nói:

- Sợ phu nhân nghe được thì nó không còn cách sống.

Tội nó vẫn không thể tha được, nhưng chẳng bằng bán đi cho nó được toàn mạng mà ta còn được tiền.

Sài cho là phải, gặp lúc có người mua tỳ thiếp vội bán đi.

Vợ Sài thấy không bàn bạc gì với mình bèn trách móc chồng, lại giận lây qua cô gái, chửi mắng càng tàn tệ.

Sài uất ức nhìn cô gái nói:

- Đây là nàng tự chuốc lấy đấy nhé, nếu trước cứ để cho nó giết đi thì làm gì có ngày hôm nay?

Nói xong bỏ đi.

Vợ Sài thấy lời nói kỳ quái, hỏi khắp cả người hầu nhưng không ai biết, hỏi cô gái nàng cũng không đáp, càng bực dọc phiền muộn, túm áo nàng chửi té tát.

Sài bèn quay vào nói rõ mọi chuyện, vợ Sài cả kinh dịu giọng với cô gái, nhưng lại chuyển sang giận là không nói sớm với mình.

Sài cho rằng vợ đã hết hiềm khích nên không đề phòng nữa, một hôm có việc đi xa, vợ Sài bèn gọi cô gái tới hỏi tội, nói:

- Kẻ giết chủ thì tội không tha được, người tha nó là có ý gì?

Cô gái bị bất ngờ không đáp được, vợ Sài bèn nung đỏ sắt đốt mặt nàng, muốn phá hủy dung mạo.

Đám tớ gái đều bất bình thay, nghe tiếng rú người nhà đều khóc lớn xin chịu chết thay nàng.

Vợ Sài thấy thế không đốt mặt nữa, lấy kim đâm vào sườn nàng hơn hai mươi nhát mới đuổi đi.

Sài về thấy mặt cô gái bị thương, cả giận muốn qua tìm vợ, nàng nắm áo kéo lại nói:

- Thiếp đã biết rõ nơi đây là chậu lửa nhưng vẫn dám vào, chứ lúc lấy chàng há cho rằng nhà chàng là thiên đường hay sao?

Cũng vì biết mình bạc phận nên làm thế để tạo vật bớt ghét thôi.

Yên lòng nhịn nhục chịu khổ thì còn có lúc hết tai họa, chứ nếu lại làm trời tức giận, thì hố thẳm đã lấp bằng lại sụt xuống mất.

Rồi lấy thuốc băng bó những chỗ bị đất, vài ngày thì hơi đỡ, chợt cầm gương soi mừng rỡ nói rằng:

- Hôm nay thì chàng nên chúc mừng thiếp, bà ta nung đất làm đứt hết nhữug nét mờ tối trên mặt thiếp rồi.

Rồi lại sớm tới phụng sự vợ cả, chu đáo kính cẩn như xưa.

Kim trước thấy mọi người khóc lóc tự biết mình đã bị cô lập, hơi có ý hối hận, thường gọi cô gái vào cùng làm việc với mình, lời nói sắc mặt đều ôn hòa.

Hơn một tháng chợt bị bệnh không ăn uống gì được, Sài giận là không chết ngay, không ngó ngàng gì tới.

Vài hôm sau thì bụng Kim trướng lên to như cái trống, ngày đêm nằm rũ liệt, cô gái hầu hạ quên ăn quên ngủ, Kim càng biết ơn nàng.

Cô gái nói là mình biết y lý, nhưng Kim nghĩ trước đây mình hành hạ nàng quá tàn ác, ngờ là nàng sẽ báo thù nên cố từ tạ.

Kim là người coi sóc việc nhà có khuôn phép, tôi tớ đều răm rắp nghe lệnh nhưng từ khi mắc bệnh thì họ cũng bỏ bê việc nhà.

Sài phải đích thân đứng ra coi sóc bận bịu vất vả nhưng gạo muối trong nhà không ăn mà tự hết, vì vậy lại có ý muốn vợ khỏe lại để coi sóc việc nhà, bèn đón thầy về cắt thuốc.

Kim nói rằng mình uất ức sinh bệnh nên thầy nào bắt mạch cũng bảo là bị bệnh uất kết, đổi qua mấy thầy mà vẫn không khỏi, ngày càng nguy hơn.

Lại định sắc thuốc, cô gái bước lên nói:

- Loại thuốc này thì hàng trăm thang cũng vô ích, chỉ làm bệnh nặng thêm thôi.

Kim không tin, cô gái ngầm lấy thuốc riêng tráo vào, Kim uống xong, trong khoảng một bữa ăn thì đi ngoài ba lần liên tiếp, bệnh như khỏi hẳn, càng cười là cô gái nói sai, rên rỉ gọi nàng hỏi:

- Vị nữ Hoa Đà kia, nay thì thế nào?

Cô gái cùng đám tỳ nữ đều cười, Kim hỏi nguyên do, mọi người mới nói thật.

Kim khóc nói:

- Thiếp hàng ngày vẫn đội ơn như trời che đất chở của nàng mà không biết, từ nay về sau xin tuy vẫn giữ việc gia chính nhưng được nghe nàng dạy bảo.

*[Nữ Hoa Đà: Hoa Đà là một vị danh y nổi tiếng ở Trung Hoa thời Tam quốc, đây Kim thị có ý chế nhạo nên gọi cô gái họ Thiệu như vậy].

Không bao lâu Kim khỏi bệnh, Sài mở tiệc ăn mừng, cô gái cầm bầu rượu đứng hầu bên cạnh, Kim đứng dậy giật lấy cái bầu rượu, kéo nàng ngồi sánh vai với mình.

Đến khuya cô gái kiếm cớ rời bàn tiệc, Kim sai hai tỳ nữ kéo trở lại ép cùng mình ngủ chung với Sài, từ đó công việc thì cùng bàn ăn uống thì cùng mâm, chị em ruột cũng không hòa thuận bằng.

Không bao lâu cô gái sinh được một trai, sinh nở xong hay bị bệnh, Kim đích thân chăm sóc như hầu hạ mẹ ruột.

Về sau Kim bị mắc chứng đau tim, mỗi khi lên con đau thì mặt mày tái xanh chỉ muốn chết.

Cô gái vội mua mấy mũi châm bạc, khi Kim lên cơn đau như tắt thở, nàng lại theo huyệt châm cứu thì lập tức hết đau.

Hơn mười ngày lại phát đau, nàng lại châm, qua sáu bảy ngày lại phát, tuy cô gái châm cứu là theo tay hết đau ngay, không tới nỗi khổ sở lắm, nhưng Kim trong lòng cứ nơm nớp sợ bệnh lại phát.

Một đêm nằm mơ thấy tới một nơi như đền miếu, tượng thần trong điện đều cử động, thần hỏi:

- Ngươi là Kim thị phải không?

Ngươi tội ác đa đoan, lẽ ra đã tận số rồi, nhưng nghĩ ngươi biết sửa lỗi nên chỉ giáng tai họa để trừng phạt qua loa thôi.

Trước đây giết hai nàng tỳ thiếp thì đó là chuyện quả báo, chứ Thiệu thị có tội gì mà tàn nhẫn đến thế?

Việc ngươi đánh đập nàng thì đã có Sài sinh trừng trị rồi, cũng coi như đã xong, nhưng ngươi còn thiếu một vết nung trên mặt và hai mươi ba nhát kim đâm vào sườn nàng, nay bị đau ba lần chỉ mới đủ số lẻ, lại muốn hết hẳn bệnh kia à?

Ngày mai sẽ phát lại đấy?

Kim tỉnh dậy sợ lắm, còn nghĩ rằng mộng mị không thật nhưng ăn sáng xong quả lên cơn đau, còn hơn cả mấy lần trước.

Cô gái tới châm cho, cơn đau theo tay giảm ngay nhưng nàng ngờ vực nói:

- Bệnh này chỉ cần chữa như thế thôi mà sao gốc bệnh không dứt?

Xin đốt ngãi để cứu, không thế không được, có điều sợ phu nhân không chịu nổi.

Kim nhớ lại giấc mộng nên không tỏ vẻ khó khăn, nhưng lúc cắn răng rên rỉ chịu đau lại nghĩ thầm còn mười chín vết đâm, không biết sẽ biến chứng ra những gì, chẳng bằng cứ chịu khổ luôn một hôm cho hết nợ, về sau khỏi phải chịu khổ nữa nên lúc mồi ngãi cứu cháy tàn rồi lại xin cô gái làm tiếp.

Cô gái cười nói:

- Chuyện châm cứu chẳng lẽ cứ muốn là làm à?

Kim nói:

- Không cần chọn huyệt đạo gì cả, xin cứ phiền đốt cho mười chín chỗ.

Cô gái cười bò ra không chịu.

Kim càng nài nỉ, trở dậy quỳ trên giường lạy lục, cô gái vẫn không nỡ.

Kim bèn kể thật lại giấc mộng, nàng bèn châm chước theo kinh mạch đốt cho đủ số.

Từ đó Kim bình phục, quả nhiên không bị lên cơn đau nữa, tự mình ăn năn, đối xử với người dưới cũng không bao giờ có vẻ giận dữ.

Đứa con trai tên là Tuấn, tuấn tú thông minh hơn người, cô gái nói:

- Đứa nhỏ này có tướng làm quan đây.

Năm tám tuổi Tuấn nổi tiếng là thần đồng, năm mười lăm tuổi thi đỗ Tiến sĩ được trao chức Hàn lâm.

Năm ấy vợ chồng Sài đều bốn mươi tuổi, Thiệu phu nhân khoảng ba mươi hai, ba mươi ba tuổi mà thôi, đem xe kiệu về thăm cha mẹ, làng xóm đều cho là vinh dự.

ông Thiệu sau khi gả con gái thì nhà giàu hẳn lên nhưng các bậc văn nhân đều không muốn giao du, đến lúc ấy mới có người lui tới.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 123+124


CHƯƠNG 123: CỦNG TIÊN

Tụ Lý Càn Khôn Đại Nhược Hà

Khoáng Phu Oán Nữ Cộng Bao La

Hoàn Quân Giai Lệ Miên Quần Tụ

Sát Tận Tiên Tâm Nhất Phiến Bà

Dịch:

Tay Áo Càn Khôn Rộng Biết Bao

Chồng Mong Vợ Nhớ Thảy Thu Vào

Cho Tròn Đôi Lứa Gây Giòng Giống

Từ Mẫn Tiên Ông Phép Thuật Cao



Đạo nhân họ Củng, không có tên tự, cũng không rõ quê quán ở đâu.

Có lần tới xin ra mắt Lỗ vương nhưng người canh cổng không chịu vào báo, gặp lúc một quý nhân trong vương phủ đi ra, đạo nhân vái chào ngỏ ý.

Quý nhân thấy quê mùa bèn đuổi đi, kế lại trở lại, quý nhân nổi giận sai người đuổi đánh.

Tới chỗ vắng người, đạo nhân cười đưa ra trăm lượng vàng nhờ kẻ đuổi theo nói lại với quý nhân rằng:

- Ta cũng không cần gặp vương, chỉ nghe nói cây cỏ lâu đài trong vườn hoa sau vương phủ là danh thắng trên đời, nếu dẫn ta vào xem một phen là mãn nguyện rồi.

Kế lại lấy tiền bạc ra đút lót người đuổi theo, người ấy mừng rỡ về thưa, quý nhân cũng mừng liền dẫn đạo nhân vào cửa sau, dạo xem khắp nơi rồi theo lên lầu.

Quý nhân đang tựa bên cửa sổ thì đạo nhân xô một cái, chỉ thấy mình rơi ra ngoài lầu, may có sợi dây leo vướng ngang bụng nên còn treo lơ lửng trên không.

Nhìn xuống thấy sâu chóng mặt mà sợi dây cứ kêu rắc rắc như sắp đứt, sợ quá la ầm lên.

Không bao lâu mấy tên thái giám chạy tới, vô cùng hoảng sợ vì thấy quý nhân cách mặt đất rất xa, lên lầu cùng xem thì thấy đầu dây buộc vào lầu Muốn cởi ra để cứu nhưng thấy dây nhỏ quá không thể dùng sức, tìm đạo nhân khắp nơi nhưng ông đã biến mất, đành bó tay hết cách về tâu với Lỗ vương.

Vương tới nhìn thấy rất lấy làm lạ, sai rải cỏ khô dưới lầu, định chặt đút dây.

Chuẩn bị vừa xong thì dây leo tự đứt mà chỉ cách mặt đất không đầy một thước, mọi người đều cười ngất.

Vương sai hỏi xem đạo sĩ ở đâu, nghe nói ở nhờ nhà Tú tài họ Thượng bèn tới hỏi thì ông đi chơi chưa về.

Kế gặp nhau giữa đường, bèn đưa về ra mắt vương.

Vương cho ngồi ăn tiệc, đòi làm trò vui, đạo sĩ thưa:

- Thần là người quê mùa, không có tài gì lạ, nay được thương tới xin hiến một ban nữ nhạc để chúc thọ vương gia.

Rồi lần trong tay áo lấy ra một mỹ nhân đặt xuống đất, nàng dập đầu lạy vương xong, đạo sĩ bảo diễn vở Dao Trì yến để chúc vương muôn tuổi.

Mỹ nhân lên sạp hát mấy câu, đạo sĩ lại lấy ra một người nữa, tự xưng là Tây Vương Mẫu, giây lát lấy ra Đổng Song Thành, Hứa Phi Quỳnh, tất cả tiên nữ trên trời đều lần lượt ra mắt.

Sau cùng là Chức Nữ tới yết kiến, dâng vương một bộ áo trời màu vàng lóng lánh chiếu sáng cả nhà.

Vương nghĩ là đồ giả đòi xem, đạo sĩ vội nói không nên nhưng vương không nghe cứ giở ra xem, quả thấy áo trời liền lạc không có đường may, không phải sức người làm được.

Đạo sĩ tỏ vẻ không vui, nói:

- Thần hết lòng thờ đại vương nên tạm mượn áo của Thiên Tôn cho xem, nay bị trọc khí nhiễm vào, làm sao trả lại cho chủ cũ?

Vương lại nghĩ những người ca hát ắt đều là tiên nữ, muốn giữ lại vài nàng nhưng nhìn kỹ lại thì đều là con hát thường ngày trong phủ.

Lại ngờ khúc hát ấy thì họ chưa từng học qua, hỏi tới thì họ cũng ngơ ngác không tự biết.

Đạo sĩ lấy bộ áo trời châm lửa đốt rồi cho vào trong tay áo, khám tới thì không thấy đâu nữa.

Vương vì thế rất trọng đạo sĩ, giữ ở lại trong phủ.

Đạo sĩ nói:

- Tính quê mùa thấy cung điện như chậu lồng, không bằng ở nhà Tú tài được tự do hơn.

Nên cứ đến khuya lại về nhà Thượng Tú tài.

Hôm nào vương cố giữ thì cũng ngủ lại, mỗi lần có yến tiệc lại đảo lộn hoa cỏ bốn mùa làm vui.

Vương hỏi:

- Nghe nói người tiên cũng không thể quên tình, có đúng không?

Đạo sĩ đáp:

- Có lẽ người tiên thì đúng thế, chứ thần không phải là người tiên nên lòng như cây khô thôi.

Một đêm đạo sĩ ngủ lại trong vương phủ, vương sai một ca kỹ tới nhìn.

Nàng vào phòng, gọi mấy tiếng không thấy đáp, thắp đèn soi thấy đạo sĩ nhắm mắt ngồi trên giường, lay gọi thì hé mắt một cái rồi nhắm lại, lại lay nữa thì ngáy vang lên.

Xô mạnh thì ông ngã lăn ra mà vẫn ngủ say, ngáy vang như sấm.

Gõ lên trán thấy cứng ngắt chồn cả ngón tay, có tiếng như gõ vào gang sắt, bèn về bẩm lại với vương.

Vương sai lấy kim đâm thì đâm không vào, xô thì thấy nặng không thể lay chuyển, gọi thêm hơn chục người xúm lại khiêng ông ném xuống dưới giường, nghe như tảng đá nặng ngàn cân rơi xuống đất.

Sáng tới thấy ông vẫn ngủ dưới đất, kế tỉnh dậy cười nói:

- Ngủ một giấc say như chết, rơi cả xuống giường mà không biết.

Sau vương sai đám con gái nhân lúc ông nằm ngồi tới cấu véo làm vui, nhưng véo cái đầu thì da thịt còn mềm, qua cái thứ hai đã cứng như sắt đá.

Đạo sĩ ở nhà Thượng Tú tài, thường suốt đêm không về, Thượng khóa cửa đi ngủ, đến sáng ra mở của đã thấy đạo sĩ nằm trong phòng.

Lúc trước Thượng dan díu với ca kỹ Huệ Ca, đã thể lấy nhau.

Huệ phong nhã hát hay, ngón đàn nổi tiếng một thời, Lỗ vương nghe tiếng triệu nàng vào hầu hạ, vì thế đôi bên tuyệt đường đi lại, lòng thường thương nhớ nhưng không sao nhắn gởi gì được.

Một đêm Thượng hỏi đạo sĩ có gặp Huệ Ca không, đạo sĩ đáp:

- Các ca kỹ trong phủ ta đều gặp qua nhưng không rõ là nàng nào.

Thượng tả dung mạo tuổi tác, đạo sĩ mới nhớ ra.

Thượng xin nhắn giùm một câu, đạo sĩ cười nói:

- Ta là người tu hành, không thể đưa tin cho ông được.

Thượng năn nỉ không thôi, đạo sĩ đưa tay áo ra nói:

- Nếu nhất định muốn gặp nàng một lần thì mời vào đây.

Thượng nhìn vào thấy to rộng như gian nhà liền khom người chui vào, lạí thấy sáng sủa sạch sẽ, rộng bằng cái phòng khách, bàn ghế vật dùng không thiếu món nào, ở trong không hề thấy khổ cực buồn bã.

Đạo sĩ vào phủ đánh cờ với Lỗ vương, chờ lúc Huệ Ca tới gần, giả phất tay áo phủi bụi, Huệ Ca bị hút vào mà chẳng ai thấy.

Thượng đang ngồi một mình tơ tưởng chợt thấy có mỹ nhân từ mái hiên rơi xuống, nhìn lại thì là Huệ Ca.

Hai người ngạc nhiên mừng rỡ, âu yếm nhau rất mực.

Thượng nói:

- Duyên lạ hôm nay không thể không ghi lại, xin cùng làm thơ liên cú.

Rồi viết lên vách rằng "Hầu môn tự hải cửu vô tung" (Cửa hầu tựa biển mỏi mòn trông).

Huệ nối theo "Thùy thúc Tiêu lang kim hựu phùng" (Ai biết người xưa lại tái phùng).

Thượng viết tiếp "Tụ lý càn khôn chân cá đại" (Tay áo bao la trời đất rộng).

Huệ viết "Ly nhân tư phụ tận bao dung" (Dung trai xa vợ gái thương chồng).

Vừa viết xong chợt có năm người bước vào, đội mũ có góc, mạc áo đỏ nhạt, nhìn ra đều không quen biết, mà họ cũng im lặng không nói chỉ bắt Huệ Ca đi.

Thượng kinh hãi không rõ vì sao, đạo sĩ về nhà gọi Thượng ra hỏi chuyện tình tự, Thượng giấu giếm không kể hết.

Đạo sĩ mỉm cười cởi áo, lộn tay áo ra cho xem.

Thượng nhìn kỹ thấy có tự tích lờ mờ nhỏ như chân kiến, té ra là bài thơ liên cú.

Mười mấy hôm sau lại xin vào phủ, trước sau cả thảy ba lần.

Huệ Ca nói với Thượng rằng:

- Thiếp nghe trong bụng máy động rất lo lắng, vẫn phải lấy lụa thắt lại.

Nhưng trong vương phủ tai mắt rất nhiều, thảng hoặc một sớm sinh nở thì biết tìm chỗ nào giấu được trẻ khóc.

Phiền chàng bàn tính với tiên ông họ Củng, cứ thấy thiếp xoa bụng ba lần thì nhờ người ra tay cứu vớt.

Thượng theo lời, trở về thấy mặt đạo sĩ liền quỳ rạp xuống không chịu đứng lên.

Đạo sĩ kéo đứng lên, nói:

- Hai người nói với nhau những gì ta đã biết rồi, xin đừng lo lắng.

Dòng giống nhà ông chỉ nhờ có một chút đó, ta đâu dám không hết lòng giúp đỡ.

Nhưng từ nay không cần vào đó nữa, điều ta muốn báo đáp cho ông vốn không phải chỉ ở việc tư tình thôi đâu.

Mấy tháng sau đạo sĩ từ ngoài vào cười nói:

- Ta đã đưa công tử về đây rồi, mau lấy tã lót ra.

Vợ Thượng rất hiền, hơn ba mươi tuổi sinh nở mấy lần mà chỉ nuôi được một trai, vừa sinh con gái đầy tháng thì chết, nghe Thượng nói ngạc nhiên vui mừng đích thân ra đón.

Đạo sĩ thò vào tay áo lấy đứa nhỏ ra, nó im lặng như đang ngủ mà rốn còn chưa cắt, vợ Thượng đón lấy bế lên mới khóc oa oa.

Đạo sĩ cởi áo nói:

- Máu đẻ làm dơ áo thế này là đạo môn kỵ nhất, nay vì chuyện của ông mà vật cũ hai mươi năm một sớm phải bỏ đi.

Thượng đưa áo khác cho thay, đạo sĩ dặn:

- Cái áo cũ của ta chớ bỏ, chỉ cần xé một mảnh bằng đồng tiền đốt đi mà uống thì có thể chữa được chứng khó sinh và trụy thai.

Thượng vâng lời.

Lâu sau đạo sĩ chợt nói với Thượng:

- Chiếc áo cũ của ta nên giữ lại chút ít mà dùng, sau khi ta chết cũng đừng quên!

Thượng cho là lời bất tường nhưng đạo sĩ không nói gì mà ra đi, vào gặp vương nói:

- Thần muốn chết!

Vương giật mình hỏi, đạo sĩ đáp:

- Đó là số trời đã định, còn nói gì được.

Vương không tin cố giữ lại, đánh xong một ván cờ đạo sĩ vội đứng lên, vương lại ngăn cản, xin phép ra nhà ngoài vương bèn cho.

Đạo sĩ ra đó nằm xuống, nhìn lại thì đã chết rồi.

Vương sắm sửa quan tài mai táng tử tế.

Thượng tới điếu tang rất đau xót, bấy giờ mới hiểu là đạo sĩ đã báo trước.

Cái áo cũ của đạo sĩ để lại làm thuốc thôi sản rất hay, người tới xin nối gót ngoài cổng.

Ban đầu còn cho cái tay áo vấy máu, kế cắt tới cổ áo vạt áo chỗ nào cũng hiệu nghiệm.

Sau Thượng nhớ lời đạo sĩ dặn, e vợ sẽ gặp nạn khi sinh nở nên cắt một mảnh dính máu to bằng bàn tay cất kỹ.

Gặp lúc Lỗ vương có nàng ái phi lâm bồn ba ngày không sinh được, các thầy thuốc đều hết cách, có người kể lại chuyện Thượng, vương lập tức triệu vào, ái phi chỉ uống một chén thuốc là sinh được ngay.

Vương cả mừng, tặng tiền bạc vải vóc rất hậu nhưng Thượng đều từ chối không nhận.

Vương hỏi vậy muốn gì, Thượng đáp:

- Thần không dám nói!

Gạn hỏi mấy lần Thượng mới dập đầu thưa:

- Nếu được đội ơn trời thì chỉ xin ban cho nàng ca kỹ cũ Huệ Ca là đủ.

Vương triệu nàng tới hỏi tuổi, nàng thưa:

- Thiếp vào phủ năm mười tám tuổi, qua mười bốn năm rồi.

Vương thấy nàng đã lớn tuổi bèn gọi tất cả các ca kỹ ra cho tùy thích chọn lựa nhưng Thượng không ưng ý một ai.

Vương cười nói:

- Anh học trò này khờ quá, hay mười năm trước có đính ước với nhau rồi?

Thượng kể thật mọi chuyện, vương liền sai đem đủ xe kiệu đưa Huệ Ca về với Thượng, cho luôn nàng những tiền bạc vải vóc đã ban làm của hồi môn.

Đứa con trai Huệ sinh tên Tú Sinh, "Tú” là ẩn nghĩa chữ "Tụ” (tay áo) vậy, năm ấy đã mười một tuổi.

Vợ chồng thường nhớ ơn người tiên, năm nào đến tiết Thanh minh cũng đi viếng mộ.

Có người đi buôn ở Trung Châu (tỉnh Tứ Xuyên) lâu năm, gặp đạo sĩ trên đường trao cho một quyển sách, nói:

- Đây là sách trong phủ Lỗ vương, lúc đi vội quá chưa kịp trả lại, nhờ ông trả hộ.

Người ấy về nghe tin đạo sĩ đã chết không dám tâu, Thượng bèn cầm sách vào tâu hộ.

Lỗ vương mở ra xem thì đúng là sách đã cho đạo sĩ mượn, lấy làm ngờ vực sai quật mộ đạo sĩ lên xem thì chỉ thấy quan tài rỗng không.

Sau con trai Thượng chết yểu, may có Tú Sinh nối dõi, càng phục lời tiên tri của tiên ông họ Củng.

____________________________________

CHƯƠNG 124: MAI NỮ

CÔ GÁI HỌ MAI

Uổng Pháp Đô Nhân Thụ Đạo Tiền

Dạ Đài Mãi Tiếu Diệc Kham Liên

Thương Tâm Tối Thị Mai Gia Nữ

U Phách Trầm Luân Thập Lục Niên

Dịch:

Lạm Hình Uổng Pháp Bởi Tham Tang

Mãi Tiếu Dạ Đài Kể Cũng Thương

Thực Não Lòng Thay Mai Thị Nhỉ

Trầm Luân Mười Lẻ Sáu Năm Trường



Phong Vân Đình người Thái Hàng (tỉnh Sơn Tây) tình cờ lên quận, ban ngày nằm ngủ trong nhà trọ.

Lúc ấy Phong tuổi trẻ vừa góa vợ, lúc hiu quạnh thường hay tơ tưởng.

Đang đăm đăm ngưng thần, thấy trên tường có bóng con gái rõ ràng như vẽ, tự nghĩ vì mơ tưởng nên thấy thế, nhưng hồi lâu không thấy động đậy, cũng không biến đi.

Lấy làm lạ vùng dậy nhìn thì là người thật, lại gần nữa thì rõ ràng là một thiếu nữ nhăn mặt thè lưỡi, có một vòng dây thắt quanh cổ.

Sinh sợ hãi nhìn không chớp, thấy cô gái động đậy muốn bước xuống, biết là ma thắt cổ nhưng đang ban ngày mà tính cũng gan dạ nên không sợ lắm, nói:

- Nương tử như có điều oan khuất, tiểu sinh xin hết sức.

Cái bóng từ tốn bước xuống nói:

- Gặp gỡ thoáng qua, đâu dám vội mang việc lớn làm phiền quân tử, nhưng bộ xương khô dưới suối vàng không rút lưỡi vào được, không cắt bỏ dây được, xin chặt thanh xà ngang đốt đi, thì ơn ấy lớn như Thái Sơn.

Sinh nhận lời, cái bóng biến mất.

Sinh gọi chủ nhân tới hỏi về chuyện vừa thấy, chủ nhân nói:

- Mười năm trước nơi đây là nhà họ Mai, đang đêm có tên trộm lẻn vào bị Mai bắt được giải lên quan Điển sử.

Điển sử nhận ba trăm bạc của tên trộm, vu cho con gái họ Mai tư thông với y, toan bắt lên tra xét, nàng nghe tin thắt cổ chết.

Sau vợ chồng họ Mai nối nhau chết, ngôi nhà này mới về tay ta.

Khách trọ vẫn thấy sự quái dị, nhưng không có phép gì làm cho yên.

Phong đem lời ma kể lại, chủ nhân tính toán thấy phải dở nhà thay thanh xà ngang, phí tổn không ít nên có vẻ khó khăn.

Phong bèn góp tiền giúp thêm, chữa xong lại vào ở.

Đêm đến cô gái họ Mai tới cảm tạ, sắc mặt vui vẻ, phong thái yêu kiều, Phong thích lắm muốn cùng giao hoan.

Cô gái thẹn thùng nói:

- Khí âm lạnh lẽo, không những đã làm hại cho chàng mà nếu làm như thế thì tiếng nhơ lúc sinh tiền dẫu nước sông Tây Giang cũng không rửa sạch được.

Sẽ có lúc sum họp với nhau, nhưng nay thì chưa.

Phong hỏi lúc nào, nàng chỉ cười không đáp.

Phong hỏi uống rượu không, cô gái đáp không uống được.

Phong nói:

- Đối diện với người đẹp mà cứ giơ mắt buồn bã nhìn nhau thì còn ý vị gì?

Nàng đáp:

- Bình sinh thiếp chỉ biết có trò đánh cờ ngựa, nay hai người ngồi buồn bã, đêm khuya lại khổ không có bàn cờ.

Canh dài chẳng có gì tiêu khiển, hãy cùng chơi trò giao tuyến.

Phong nghe theo ngồi bó gối xòe ngón tay, trao qua chuyền lại hồi lâu, Phong hoa cả mắt không biết manh mối đâu nữa.

Cô gái cứ miệng giảng cằm hất ra hiệu, càng chơi càng biến ảo vô cùng tinh diệu, Phong cười nói:

- Đây là tuyệt kỹ trong khuê phòng đây.

Nàng đáp:

- Trò này thiếp tự nghĩ ra, chỉ cần hai sợi dây là có thể chơi được, người ta không chịu để ý đấy thôi.

Về khuya càng mệt mỏi, Phong ép đi ngủ, cô gái nói:

- Thiếp là người cõi âm không ngủ, xin chàng cứ nghỉ đi Thiếp có biết thuật xoa bóp, xin trổ hết tài giúp chàng ngon giấc.

Phong theo lời, cô gái chụm hai tay xoa nhẹ một lượt từ đỉnh đầu tới gót chân, tay lướt tới đâu gân cốt tê mê tới đó.

Kế lại nắm tay đấm khẽ như cầm nắm bông thúc, Phong thấy khoan khoái không sao tả được.

Nàng đấm tới lưng thì mắt Phong đã ríu lại, đấm tới đùi thì dã ngủ say rồi.

Đến khi tỉnh dậy thì đã gần trưa, cảm thấy xương cốt đều nhẹ nhàng khoan khoái khác hẳn mọi hôm, lòng càng yêu mến bèn đi quanh nhà cất tiếng gọi nhưng không có một tiếng đáp lại.

Chiều tối cô gái mới đến, Phong hỏi:

- Nàng ở chỗ nào làm ta tìm gọi khắp nơi thế?

Nàng đáp:

- Ma thì không có chỗ ở nhất định, chỉ là dưới đất thôi.

Phong hỏi dưới đất có chỗ trống ở được à, nàng nói:

- Ma không có đất cũng như cá không có nước vậy.

Phong nắm cổ tay nàng nói:

- Nếu nàng sống lại thì ta xin dốc hết cơ nghiệp để cưới.

Cô gái cười nói:

- Cần gì phải dốc hết cơ nghiệp!

Chơi đến nửa đêm, Phong hết sức nài ép, nàng nói:

- Chàng đừng ép thiếp, có nàng kỹ nữ ở đất Chiết (tỉnh Chiết Giang) tên Ái Khanh vừa tới trọ ở nhà láng giềng phía bắc, dáng vẻ rất phong nhã, tối mai thiếp sẽ gọi nàng cùng tới tạm thay cho thiếp được không?

Phong bằng lòng.

Tối hôm sau nàng dắt một thiếu phụ đến, tuổi khoảng ba mươi trở lại, mắt liếc mày đưa, có vẻ phóng đãng.

Ba người ngồi ngã ngớn đánh cờ ngựa, xong ván cờ cô gái đứng lên nói:

- Cuộc vui đang nồng, thiếp phải đi đây!

Phong định kéo lại thì nàng đã biến mất.

Hai người bèn lên giường ôm nhau vui thú, Phong hỏi gia thế thì thiếu phụ cứ ậm ừ không chịu đáp, chỉ nói:

- Nếu chàng yêu thiếp thì cứ gõ tay lên vách tường phía bắc gọi khẽ "Hồ lô tử” là thiếp tới ngay.

Nếu gọi ba lần không thấy là thiếp đang bận, đừng gọi nữa!

Trời sáng lách qua khe hở trên bức tường phía bắc đi mất.

Hôm sau cô gái tới, Phong hỏi Ái Khanh, nàng đáp:

- Bị công tử họ Cao gọi đi hầu rượu nên không tới đây được.

Kế thắp đèn cùng trò chuyện, cô gái như có điều muốn nói nhưng mấp máy môi lại im lặng.

Phong gặng hỏi nhưng rốt lại nàng vẫn không chịu nói mà chỉ thở dài.

Phong ép nàng cùng chơi đùa, đến canh tư mới đi.

Từ đó hai nàng tới luôn, cười nói rộn rã thâu đêm, phố phường đều biết cả.

Có viên Điển sử Mỗ cũng là con nhà thế tộc cũ ở đất Chiết (tỉnh Chiết Giang), vợ cả gian dâm với đầy tớ bị xuất, cưới tiếp người vợ kế họ Cố, rất thương yêu nhau nhưng được một tháng nàng đã chết yểu vô cùng đau xót.

Nghe nói Phong có quen với ma thiêng, muốn nhờ hỏi giùm việc nhân duyên dưới âm ty bèn cưỡi ngựa tới tìm.

Phong lúc đầu không nhận lời, Mỗ hết sức nài nỉ không thôi, Phong bèn bày rượu cùng ngồi, nhận lời gọi hộ nàng kỹ nữ ma.

Trời sập tối bèn gõ vách gọi, chưa dứt tiếng thứ ba thì Ái Khanh đã tới, ngước nhìn thấy khách biến sắc định chạy, Phong lấy người chặn đường cản lại.

Mỗ nhìn kỹ chợt nổi giận ném ly rượu vào Ái Khanh, chớp mắt nàng biến mất.

Phong kinh ngạc không hiểu vì sao, đang định hỏi chợt trong góc tối có bà già bước ra mắng:

- Thằng giặc tham lam bỉ ổi làm hỏng cả cây tiền của ta rồi, đền ngay ba chục quan tiền đây!

Rồi cầm gậy đập vào đầu Mỗ.

Mỗ ôm đầu rên rỉ, nói:

- Đó là Cố thị vợ ta bị chết trẻ, đang còn đau đớn thì ngờ đâu lại làm con ma bất trinh, có dính líu gì tới bà chứ?

Bà già tức giận nói:

- Ngươi vốn là thằng giặc vô lại ở Giang Chiết, mới mua được sợi dây lưng gắn miếng sừng đen được đeo thắt lưng gắn miếng sừng màu đen đã hếch mũi lên.

Ngươi làm quan có kể gì đen trắng, ai có ba trăm quan thì ngươi coi là cha!

Thần giận người oán, sắp tận số rồi, cha mẹ ngươi phải kêu xin dưới âm ty xin đưa nàng dâu quý vào lầu xanh để trả món nợ tham lam thay ngươi mà còn chưa biết à?

*[Sợi dây lưng gắn miếng sừng đen: theo quan chế triều Thanh, chức Điển sử].

Nói xong lại đánh.

Mỗ lạy lục van xin, Phong sợ hãi không biết làm sao cứu.

Chợt cô gái họ Mai trong phòng bưóc ra, trợn mắt lè lưỡi, vẻ mặt trông rất ghê rợn, sấn tói lấy cây trâm dài đâm vào tai Mỗ.

Phong hoảng quá lấy người che đỡ cho khách, cô gái vẫn căm tức không nguôi.

Phong khuyên nói:

- Dù y có tội nhưng nếu chết ở đây thì tiểu sinh có lỗi, xin ném chuột đừng để vỡ đến lọ quý.

Cô gái bèn kéo bà già nói:

- Thôi hãy tạm tha cho hắn, xin bà nể mặt ta mà nghĩ tới chàng Phong.

Mỗ run sợ lủi đi, về tới công thự sợ hãi phát bệnh đau óc, nửa đêm thì chết.

Đêm hôm sau cô gái hiện ra cười nói:

- Khoái thật!

Bao nhiêu uất ức đã phát tiết được cả rồi.

Phong hỏi có thù oán gì với y, nàng đáp:

- Trước kia thiếp đã nói y ăn của đút rồi vu cho thiếp thông gian, ôm mối căm hờn đã lâu, vẫn thường định nhờ chàng rửa hờn một phen nhưng lại tự thẹn chưa có chút ơn đức gì nên cứ định nói lại thôi.

Đêm qua nghe tiếng đánh chửi ầm ĩ, lén tới rình xem, không ngờ lại gặp kẻ thù.

Phong ngạc nhiên hỏi:

- Đó là kẻ vu cáo cho nàng à?

Cô gái đáp:

- Y làm Điển sử ở đây đã mười tám năm, mà thiếp chết oan cũng được mười sáu mùa nóng lạnh rồi.

Phong hỏi bà già là ai, nàng đáp là một kỹ nữ già, lại hỏi tới Ái Khanh, nàng đáp rằng đang ốm.

Kế nhoẻn miệng cười hỏi:

- Thiếp từng nói sẽ có lúc sum họp với nhau, nay quả không còn lâu nữa.

Chàng vẫn nói xin dốc hết cơ nghiệp để cưới thiếp, còn nhớ không?

Phong đáp:

- Nay ta vẫn muốn thế mà.

Cô gái nói:

- Nói thật với chàng, hôm thiếp chết đã đầu thai vào nhà Hiếu liêm họ Triển ở Diên An (tỉnh thành Thiểm Tây), chỉ vì thù lớn chưa trả nên còn dùng dằng ở đây.

Xin lấy vải mới làm cái túi ma để thiếp đi theo chàng, tới nhà họ Triển cầu hôn chắc xong việc.

Phong lo gia thế quá chênh lệch, sợ sẽ không xong, nàng nói:

- Cứ đi đừng lo gì!

Phong theo lời, cô gái dặn:

- Dọc đường cẩn thận đừng gọi thiếp, đợi đến đêm hợp cẩn thì lấy túi trùm lên đầu cô dâu rồi gọi lớn rằng “Đừng quên!

Đừng quên!

Phong gật đầu, vừa mở túi ra cô gái đã nhảy luôn vào, Phong mang cái túi tới Diên An hỏi thăm quả có Hiếu liêm họ Triển sinh được một con gái dung mạo cực kỳ xinh đẹp nhưng mắc bệnh ngây ngốc, lại hay lè lưỡi ra ngoài miệng như chó lúc trời nóng, mười sáu tuổi vẫn chưa có ai dạm hỏi, cha mẹ rất phiền muộn.

Phong tới nhà đưa danh thiếp, kể rõ gia thế, trở về nhờ mai mối tới ngỏ ý.

Triển mừng giữ Phong gửi rể trong nhà, cô gái vô cùng ngây ngốc, không biết cả làm lễ, phải sai hai tỳ nữ đỡ vào phòng.

Đám tỳ nữ vừa lui thì nàng phanh vạt áo để hở cả vú ra, nhìn Phong cười ngớ ngẩn.

Phong trùm túi lên đầu nàng rồi gọi.

Cô gái ngó sững Phong như có ý ngờ vực, Phong cười hỏi:

- Nàng không quen tiểu sinh à?

Rồi giơ cái túi cho xem.

Cô gái chợt tỉnh ra, vội khép áo lại, mừng rỡ cùng vui vẻ trò chuyện.

Sáng ra Phong vào thăm hỏi cha vợ, Triển an ủi nói:

- Con nhỏ ngây ngốc không biết gì, may được thương tới, nếu ông có lòng thì trong nhà không thiếu bọn tỳ nữ lanh lợi, ta xin tặng không tiếc.

Phong ra sức phân trần rằng nàng không ngây ngốc, Triển rất ngờ vực.

Không bao lâu cô gái tới, cử chỉ đều nết na khuôn phép, Triển vô cùng lạ lùng, nàng chỉ ngượng nghịu mỉm cười.

Triển gạn hỏi, nàng thẹn thùng không nói được, Phong bèn kể qua đầu đuôi, Triển cả mừng, yêu thương nàng còn hơn lúc trước.

Bèn cho Phong cùng học với con trai là Đại Thành, chu cấp rất đầy đủ.

Được hơn một năm, Đại Thành dần dần đâm coi thường Phong, vì em rể anh vợ không hợp nhau nên đám gia nhân cũng bới lông tìm vết.

Triển bị nói ra nói vào cũng ngấm, dần lạt lẽo với Phong.

Cô gái biết chuyện, nói:

- Nhà cha vợ không thể ở lâu, phàm những người ở nhà cha vợ lâu đều là hạng hèn hạ.

Nay chưa tới lúc quá căng thẳng, nên đi ngay.

Phong cho là phải, thưa với Triển, Triển muốn giữ con gái lại, nàng không nghe.

Cha và anh đều tức giận, không cho xe ngựa đưa về, cô gái bỏ tiền riêng ra mua ngựa mà về.

Sau đó Triển gọi về thăm nhà nhưng cô gái từ chối, đến khi Phong thi đỗ Hiếu liêm mới qua lại với nhau.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 125+126+127


CHƯƠNG 125: QUÁCH TÚ TÀI

TÚ TÀI HỌ QUÁCH

Điểu Ngữ Sưu Thu Dạ Vị Ương

Nguyệt Trung Hào Ẩm Khoái Phi Trường

Đạp Kiên Tác Hí Thành Tu Đạo

Quy Lộ Hà Sầu Cưỡng Bán Vong

Dịch:

Bỗng Nửa Đêm Nghe Chim Hót Lên

Dưới Trăng Hào Ẩm Chén Bay Liền

Đạp Vai Trò Biến Đường Xa Vút

Mà Lối Quay Về Sợ Lại Quên



Người học trò ở Quảng Đông là Quách Mỗ, chiều tối từ nhà bạn về, vào núi lạc đường tới một chỗ cây cối gai góc um tùm.

Khoảng quá canh một nghe trên núi có tiếng cười, vội vàng lần tới, gặp hơn mười người đang ngồi dưới đất uống rượu, từ xa nhìn thấy Quách cùng ồ lên nói:

- Trong mâm đang thiếu một người khách, hay quá, hay quá.

Quách ngồi xuống rồi, thấy một nửa trong bọn đội khăn nhà nho, bèn xin chỉ đường về.

Một người cười nói:

- Ông thật lẩm cẩm, trăng sáng thế này không ngắm lại hỏi đường sá gì?

Rồi rót ngay một chén đưa qua.

Quách uống thấy thơm ngát, bèn dốc cạn một hơi, lại một người nghiêng bầu rót tiếp, Quách vốn hay rượu, lại vì lặn lội khát khô miệng, lại uống một hơi cạn chén, mọi người đều khen ngợi:

- Hảo lắm, thật đáng là bạn của bọn ta!

Quách vốn phóng khoáng giỏi đùa giỡn, học được tiếng các loài chim rất giống, bèn đứng lên đi tiểu, giả tiếng chim én kêu, mọi người ngờ vực nói:

- Nửa đêm sao lại có chim én kêu?

Quách lại giả tiếng chim cuốc, mọi người lại càng ngờ vực.

Quách trở vào ngồi xuống, chỉ cười không nói gì.

Mọi người đang nhao nhao bàn tán, Quách ngoảnh ra ngoài giả tiếng chim vẹt, nói:

- Tú tài họ Quách say rồi, đưa y về thôi!

Mọi người kinh ngạc lắng tai thì im bặt không nghe thấy gì nữa, giây lát Quách lại làm tiếp.

Đến lúc biết là Quách làm, mọi người mới cùng cười ồ, đều chúm miệng bắt chước nhưng chẳng ai làm được.

Một người nói:

- Tiếc là Thanh Nga tử chưa tới!

Lại một người nói:

- Trung thu lại họp mặt ở đây, Quách tiên sinh thế nào cũng phải tới đấy.

Quách kính cẩn vâng dạ.

Một người đứng lên nói:

- Khách đã có tuyệt kỹ như thế, bọn ta cũng hiến trò chồng người cho vui, được không?

Rồi đó mọi người ồn ào đứng lên, người đầu tiên đứng thẳng, lập tức có một người nhảy lên vai, cũng đứng thẳng.

Cứ thế được bốn người thì cao không thể nhảy lên được nữa.

Người tiếp theo vịn vào vai, đạp lên tay những người dưới như leo thang mà lên, trong giây lát hơn mười người đã chồng lên hết, nhìn thấy như sắp chạm vào mây, Quách còn đang ngạc nhiên nhìn ngó, thì cột người đổ vật xuống đất biến thành một con đường dài.

Quách kinh hãi đứng ngẩn ra hồi lâu rồi theo đường ra về.

Hôm sau bụng đau buốt, nôn ra nước màu xanh như rỉ đồng có thể nhuộm vải mà hôi hám không sao chịu nổi, ba ngày mới hết.

Tìm tới chỗ cũ thì thấy rượu thịt vương vãi, bốn bề gai góc chẳng có đường sá gì.

Đến Trung thu Quách định tới chỗ hẹn, nhưng bạn bè can ngăn nên thôi.

_____________________________________

CHƯƠNG 126: A ANH

Anh Vũ Năng Ngôn Diệc Khả Nhân

A Ông Tảo Hứu Kết Hôn Nhân

Nhất Điêu Duyên Tận Nan Trùng Hợp

Hãi Tuyệt Ly Nô Cơ Táng Thân

Dịch:

Anh Vũ Tinh Khôn Biết Tiếng Người

Nghe Ông Sớm Đã Hứa Hôn Rồi

Một Mai Duyên Kết Khôn Trùng Hợp

Mất Vía Mèo Tha Xuýt Bỏ Đời



Cam Ngọc tự Bích Nhân là người huyện Lô Lăng (tỉnh Giang Tây).

Cha mẹ mất sớm, để lại em trai tên Giác tự Song Bích mới năm tuổi, nhờ anh nuôi nấng.

Ngọc tính hữu ái, chăm nom em như con ruột, sau Giác dần dần lớn lên, diện mạo thanh tú lại thông minh học giỏi nên Ngọc càng yêu thương, thường nói:

- Em ta đường đường thế này không thể lấy vợ tầm thường.

Nhưng kén chọn quá nên rốt lại không được đám nào.

Gặp lúc lên chùa núi Khuông Sơn học, gần khuya đi nằm nghe ngoài cửa sổ có tiếng con gái trò chuyện, nhìn ra thấy ba bốn nữ lang trải chiếu ngồi trên mặt đất, có mấy tỳ nữ bày rượu và thức ăn, người nào cũng xinh đẹp.

Một nàng hỏi:

- Tần nương tử!

Tần nương tử!

Sao A Anh không tới?

Nàng ngồi dưới đáp:

- Hôm qua nó từ cửa ải Hàm Cốc (tỉnh Thiểm Tây) tới bị kẻ ác làm bị thương tay phải nên không thể cùng tới chơi, thật đáng hận.

Một nàng nói:

- Đêm trước mơ thấy một chuyện sợ quá, hôm nay còn toát mồ hôi.

Nàng ngồi dưới xua tay nói:

- Chớ nói ra, chớ nói ra!

Đêm nay chị em tụ họp vui vẻ, nói tới chuyện đáng sợ sẽ mất vui.

Nàng kia cười nói:

- Con nhãi này nhát gan quá, chẳng lẽ có cọp sói tới vồ đi à!

Nếu muốn ta đừng nói thì hát một bài chuốc rượu cho chị đi.

Cô gái bèn ngâm khẽ:

Mơn mởn hoa đào nở trước hiên

Xưa hội đạp thanh

Hẹn ước chưa từng quên

Nhủ xóm đông cô bạn gái

Đợi chút chớ lo phiền

Mang được mũi giày thêu phượng

Tới nhau liền.

Cô gái ngâm xong, mọi người đều khen hay.

Đang lúc vui cười chợt có một người đàn ông to lớn từ ngoài đi vào, mắt trợn xanh lè, diện mạo xấu xí hung tợn.

Mọi người cùng la hoảng:

- Yêu tinh tới đấy!

Rồi nhao nhao chạy tứ tán như chim vỡ tổ.

Duy có nàng vừa hát yếu ớt không chạy kịp nên bị bắt, kêu la thảm thiết cố gượng chống cự.

Người đàn ông giận dữ gầm lên, cắn đứt lìa một ngón tay nàng nhai luôn tại chỗ, cô gái lập tức ngã nhào xuống đất như chết rồi.

Ngọc thương xót không sao nhịn được liền tuốt kiếm đạp cửa xông ra chém trúng đùi người kia, bắp đùi đứt lìa, y mang vết thương bỏ chạy.

Ngọc đỡ cô gái vào nhà, thấy mặt nàng xám ngoét, máu ướt sũng tay áo, xem lại thì bị đứt ngón tay cái bên phải bèn xé vải băng bó cho.

Lúc ấy nàng mới rên rỉ nói:

- Cái ơn cứu mạng, biết lấy gì đền đáp?

Ngọc từ lúc thấy nàng đã ngầm nghĩ tới việc của em trai bèn ngỏ ý, cô gái nói:

- Kẻ tật nguyền không thể lo việc nội trợ được, xin sẽ làm mai người khác cho lệnh đệ.

Ngọc hỏi tên họ, nàng đáp là họ Tần.

Ngọc bèn lấy chăn đắp cho nàng nằm nghỉ còn mình đem chăn chiếu qua chỗ khác ngủ.

Sáng ra vào thăm thì trên giường trống không, nghĩ rằng cô gái đã tự ra về, nhưng tìm hỏi các thôn xóm gần đó thì không có ai họ ấy, nhờ các bạn bè thân thích tìm khắp nơi cũng không có tin tức gì, trở về kể lại với em, hối tiếc như mất của.

Một hôm Giác tình cờ đi chơi ngoài đổng, gặp một nữ lang khoảng mười sáu tuổi, dung mạo xinh đẹp cứ nhìn mình mỉm cười như định nói gì, kế liếc quanh bốn phía rồi hỏi:

- Chàng có phải là Nhị lang họ Cam không?

Giác đáp:

- Phải!

Nàng nói:

- Lệnh tôn từng đính ước hôn nhân cho chàng với thiếp, sao nay lại bỏ lời ước cũ mà đính ước với họ Tần?

Giác nói:

- Tiểu sinh mồ côi từ nhỏ nên chuyện dạm hỏi thế nào không từng hay biết, xin nàng nói rõ tên họ để về hỏi lại gia huynh.

Cô gái nói:

- Không cần phải nói rõ, chỉ cần chàng nói một câu ưng thuận thì thiếp sẽ tự tới.

Giác lấy cớ chưa có lệnh anh để từ chối, cô gái cười nói:

- Anh chàng ngây thơ lại sợ ông anh đến thế kia à?

Đã thế thì thiếp họ Lục ở thôn Sơn Vọng tỉnh Sơn Đông, trong ba ngày nữa xin chờ tin chàng.

Rồi từ giã đi.

Giác về kể lại với anh chị, anh nói:

- Toàn là bịa đặt, lúc cha mất thì ta đã hơn hai mươi tuổi, nếu có chuyện ấy thì làm gì mà ta không biết.

Lại vì nàng đã đi một mình ngoài đồng mà còn bắt chuyện với đàn ông nên càng khinh bỉ.

Nhân hỏi dung mạo nàng ra sao, Giác đỏ mặt không nói gì, chị dâu cười nói:

- Chắc là đẹp lắm!

Ngọc nói:

- Trẻ con thì biết gì xấu đẹp mà cho dù cô ta có đẹp cũng không thể bằng họ Tần, đợi xem nếu chuyện họ Tần không xong thì tính đám này cũng chưa muộn.

Giác im lặng đi ra.

Qua vài hôm Ngọc đi đường thấy một cô gái thiếu nữ vừa đi vừa khóc phía trước bèn kìm ngựa liếc nhìn, thấy xinh đẹp tuyệt trần liền sai đầy tớ tới hỏi han.

Cô gái nói:

- Ta trước kia đã đính hôn với Nhị lang nhà họ Cam, vì nhà nghèo dời đi xa, đứt tuyệt tin tức.

Gần đây mới về nghe nhà họ Cam thay lòng đổi dạ bỏ lời ước cũ nên tới hỏi ông anh là Cam Bích Nhân xem tính toán cho thiếp thế nào.

Ngọc vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, nói:

- Ta chính là Cam Bích Nhân đây.

Gia phụ trước kia hẹn ước thế nào, thật ta không biết.

Đây cách nhà ta không xa, mời cùng về bàn tính.

Bèn xuống ngựa nhường cho cô gái cưỡi, đi bộ cầm dây cương dắt ngựa đưa nàng về nhà.

Cô gái tự nói tiểu tự là A Anh, không có anh em nào khác, chỉ có người chị bên ngoại là họ Tần ở chung, lúc ấy Ngọc mới hiểu ra người cô gái họ Tần nói tới chính là nàng.

Ngọc muốn sai người báo tin cho nhà nàng biết nhưng nàng nhất định cản lại, cũng mừng thầm là em mình lấy được vợ đẹp nhưng sợ nàng lẳng lơ sẽ bị chê cười.

Lâu ngày thấy cô gái rất đoan trang, lại mềm mỏng khéo nói, hầu hạ chị dâu như mẹ, chị dâu cũng rất yêu thương.

Gặp tiết Trung thu, vợ chồng đang ăn uống thân mật, chị dâu sai gọi mãi, Giác còn phân vân thì cô gái bảo người đi gọi cứ về trước nàng sẽ tới sau, nhưng kế cứ ngồi ở nhà hồi lâu vẫn không có ý ra đi.

Giác sợ chị dâu chờ, giục đi ngay nhưng nàng chỉ cười, rốt lại cũng không đi.

Sáng ra nàng vừa trang điểm xong thì chị dâu tới thăm, hỏi sao đêm qua ngồi đối diện với mình mà có vẻ không vui, nàng mỉm cười.

Giác thấy lạ gặng hỏi, căn vặn ồn ào.

Chị dâu cả kinh nghĩ nếu nàng không phải là yêu ma thì làm sao có phép phân thân?

Ngọc cũng sợ, đứng ngoài rèm nói:

- Nhà ta đời đời tu nhân tích đức, vốn không có oán thù gì với nhau, nếu là yêu ma thì xin đi mau, chớ giết em ta!

Nàng thẹn thùng nói:

- Thiếp vốn không phải là người, chỉ vì ngày xưa cha có lời đính ước nên chị Tần cứ khuyên bảo tới đây, tự biết không sinh đẻ gì được nên vẫn muốn từ biệt ra đi, sở dĩ còn bịn rịn chỉ vì anh chị đối xử tử tế mà thôi.

Nay đã ngờ vực thì xin vĩnh biệt.

Rồi chớp mắt biến thành chim anh vũ bay mất.

Trước kia khi Cam ông còn sống có nuôi một con anh vũ rất khôn, thường tự tay cho ăn.

Lúc ấy Giác mới bốn năm tuổi, hỏi cho chim ăn làm gì, cha đùa nói:

- Để nó làm vợ ngươi!

Có khi sợ chim ăn chưa no lại gọi Giác:

- Không đem thức ăn ra đây thì con dâu ta chết đói mất.

Gia nhân cũng đều lấy đó đùa Giác, sau chim tuột dây bay mất, đến lúc ấy mới sực nghĩ ra cô gái nói lời đính ước cũ là chuyện đó.

Nhưng Giác tuy biết rõ nàng không phải là người vẫn thương nhớ không khuây, chị dâu cũng nhớ nhưng cứ sớm chiều sa lệ.

Ngọc hối hận mà không biết làm sao, hai năm sau hỏi cưới con gái nhà họ Khương cho em nhưng rốt lại trong lòng vẫn áy náy.

Có người anh họ làm quan Tư lý ở đất Việt (tỉnh Quảng Đông), Ngọc tới thăm khá lâu không về.

Gặp lúc giặc cướp dấy loạn, xóm làng chung quanh quá nửa thành đất hoang.

Giác cả sợ đưa gia đình vào lánh nạn trong hang núi, thấy trai gái lẫn lộn, không biết là những ai.

Chợt nghe tiếng con gái nói nhỏ, giọng rất giống A Anh, chị dâu giục Giác tới gần xem thì quả là nàng, Giác mừng quá nắm chặt cánh tay nàng không buông ra.

Cô gái nói với người cùng đi rằng:

- Chị cứ đi trước, ta còn đợi chị dâu.

Kế chị dâu tới thấy A Anh nghẹn ngào khóc lóc nàng an ủi mấy chặp rồi nói đây không phải là nơi yên ổn, khuyên nên về nhà.

Mọi người sợ giặc tới, nàng quả quyết là không sao, bèn dắt díu nhau về.

Cô gái lấy đất xoa lên cửa, dặn cứ ở bên trong không được ra ngoài, ngồi nói năm ba câu rồi quay người định đi, chị dâu vội nắm chặt cánh tay, lại sai hai tỳ nữ giữ chặt hai chân, nàng bất đắc dĩ phải ở lại.

Nhưng không chịu về phòng riêng, Giác hẹn ba bốn phen nàng mới tới một lần.

Chị dâu cứ nói Khương thị không thể làm vừa lòng thúc thúc, cô gái bèn dậy sớm trang điểm cho Khương, chải tóc đánh phấn xong mọi người đều thấy xinh đẹp hẳn lên, cứ thế ba ngày thì nghiễm nhiên trở thành một mỹ nhân.

Chị dâu lấy làm lạ, nhân nói:

- Ta không có con, vẫn muốn mua một người thiếp nhưng chưa có dịp, chẳng biết đám tỳ nữ có thể trang điểm như thế được không?

Nàng nói:

- Ai cũng có thể làm cho đẹp lên được, chỉ là kẻ tư chất tốt thì dễ làm hơn thôi.

Bèn xem tướng tất cả tỳ nữ trong nhà, chỉ có một người vừa đen vừa xấu là có tướng sinh con trai, liền gọi vào tắm rửa rồi lấy phấn trộn với thuốc thoa cho, như thế ba ngày thì sắc mặt dần đổi ra màu vàng, sau hai mươi tám ngày thì phấn thuốc thấm vào da thịt, trở thành dễ coi.

Hàng ngày nàng chỉ đóng cửa vui cười, không nhắc gì tới việc binh lửa.

Một đêm tiếng la thét nổi lên bốn bên, cả nhà không biết tính sao, kế nghe ngoài cửa có tiếng người ngựa rầm rập kéo đi.

Sáng ra mới biết cả thôn bị cướp phá tan nát, bọn cướp túa ra lục soát khắp nơi, những người trốn núp trong hang hốc đều bị giết bị bắt, cả nhà càng thêm biết ơn cô gái, coi nàng như thần.

Cô gái chợt nói với chị dâu rằng:

- Lần này thiếp tới đây vì cảm ơn nghĩa của chị không thể quên, nên muốn chia sẻ nỗi lo ly loạn.

Anh sắp về tới, thiếp ở đây cũng như lời ngạn vẫn nói ‘Nửa dơi nửa chuột, con người đáng cười’.

Thiếp đi đây, lúc nào rảnh sẽ ghé thăm chị.

Chị dâu hỏi người đang đi đường liệu có yên ổn không, nàng đáp:

- Trên đường có nạn lớn nhưng đây không phải như chuyện người ngoài, chị Tần mang ơn nhiều ắt sẽ đền đáp, chẳng bị gì đâu.

Chị dâu giữ lại qua đêm, trời chưa sáng nàng đã ra đi.

Ngọc từ Quảng Đông về, nghe tin quê nhà loạn lạc, gấp rút đi mau.

Giữa đuùng gặp giặc, thầy trò bỏ ngựa, buộc tiền bạc vào lưng núp vào bụi gai rậm.

Một con Tần Các Liễu bay tới đậu trên bụi gai, xòe cánh ra che, Ngọc nhìn chân thấy mất một ngón thầm lấy làm lạ.

Lát sau bọn giặc bổ vây bốn phía, lùng sục khắp chốn, hai thầy trò Ngọc nín hơi không dám thở mạnh, lúc bọn giặc đã rút con chim mới bay đi.

Về tới cùng vợ kể chuyện đã qua, mới biết Tần Các Liễu chính là mỹ nhân mình cứu mạng trước kia.

Về sau cứ gặp lúc Ngọc đi vắng thì tối đến A Anh lại tới ngủ lại, tính khi Ngọc sắp về thì ra đi.

Giác có khi gặp nàng ở chỗ chị dâu, mời tới chỗ mình thì nàng hứa nhưng không bao giờ tới.

Một đêm Ngọc đi vắng, Giác đoán rằng A Anh sẽ tới bèn núp chờ, không bao lâu quả nhiên nàng tới, Giác nhảy ra lôi kéo vào phòng mình.

Nàng nói:

- Thiếp với chàng duyên phận đã hết, nếu cố sum họp e sẽ bị trời ghen ghét, nên giữ lại chút tình đó để thỉnh thoảng còn gặp nhau.

Giác không nghe, rốt lại cùng nhau giao hoan.

Sáng qua chỗ chị dâu, chị dâu lấy làm lạ, nàng cười nói:

- Giữa đường bị cường khấu bắt cóc, khiến chị phải nhọc lòng chờ đợi.

Kế trò chuyện vài câu rồi vội vàng ra đi.

Không bao lâu có con mèo lớn ngậm con chim anh vũ đi ngang cửa phòng ngủ, chị dâu sợ quá, ngờ đó là A Anh, lúc ấy đang tắm cứ tạt nước gào lớn.

Mọi người đổ ra đánh con mèo cướp được chim anh vũ lại, thấy cánh bên trái bết máu, hơi thở thoi thóp.

Chị dâu đặt trên gối vuốt ve hồi lâu chim mới tỉnh lại, lấy mỏ rỉa cánh, giây lát bay lên vòng vòng trong phòng, gọi chị dâu nói:

- Xin vĩnh biệt chị, em oán Giác lắm!

Rồi vỗ cánh bay thẳng, không thấy trở lại nữa.

_____________________________________

CHƯƠNG 127: NGƯU THÀNH CHƯƠNG

Du Hồn Điểu Điểu Cánh Hà Chi

Thiên Lý Kinh Thương Tự Cựu Thì

Trích Nhĩ Thượng Năng Trừng Tiếu Phụ

Tử Kiên Thả Hỉ Phó Cô Nhi

Dịch:

Du Hồn Lãng Đãng Có Đâu Ngờ

Ngàn Dặn Kinh Doanh Chẳng Khác Xưa

Còn Lấy Quyền Oai Trừng Vợ Bạc

Lại Mừng Nhà Cửa Ủy Con Cô



Ngưu Thành Chương là người buôn vải ở tỉnh Giang Tây, lấy vợ là Trịnh thị sinh được một trai một gái.

Năm Ngưu ba mươi ba tuổi bị bệnh chết.

Con trai tên Trung, năm ấy mười hai tuổi, con gái thì mới lên tám.

Mẹ không thể thủ tiết, bán hết nhà cửa lấy tiền bỏ túi đi tái giá, để lại hai đứa con không biết làm sao mà sống.

Có người chị dâu họ của Ngưu năm ấy đã sáu mươi tuổi, nghèo mà góa chồng bèn đem hai cháu về nuôi.

Vài năm sau bà chết, nhà càng nghèo, nhưng Trung đã hơi lớn, nghĩ muốn nối nghiệp cha nhưng không có vốn.

Em gái lấy chồng họ Mao, Mao vốn giàu có, cô gái năn nỉ chồng cho mượn vài mươi đồng vàng đưa anh.

Trung theo người ta đi Kim Lăng, trên đường gặp cướp, tiền bạc mất sạch, bơ vơ không sao về được.

Một hôm ngẫu nhiên đi ngang cửa hiệu, thấy chủ hiệu rất giống cha mình, trở ra hỏi thăm thì tên họ cũng giống, ngạc nhiên kinh sợ nhưng không dám bắt chuyện, chỉ ngày ngày quanh quẩn gần đó để xem ý tứ, nhưng người ấy cũng không ngó gì tới.

Cứ thế ba ngày, thấy tiếng cười giọng nói dáng vẻ cử chỉ đúng là cha mình nhưng không dám bắt chuyện làm quen, bèn nhờ những người làm công giới thiệu là đồng hương, xin vào làm thuê.

Làm giấy tờ xong, chủ nhân nhìn tới tên họ quê quán, có vẻ giật mình, hỏi cha mẹ là ai.

Trung khóc nói tên cha, chủ nhân sửng sờ như bị mất vật gì.

Hồi lâu hỏi mẹ ngươi khỏe không, Trung lại không dám nói là cha đã chết bèn lựa lời đáp:

- Cha ta sáu năm trước đi buôn không về, mẹ đã đi lấy chồng khác ta may được bà bác nuôi nấng chăm sóc, nếu không thì chết đói lâu rồi.

Chủ nhân thê thảm nói:

- Ta là cha ngươi đây!

Rồi nắm tay con bùi ngùi dắt vào nhà cho ra mắt mẹ kế.

Mẹ kế họ Cơ, đã hơn ba mươi tuổi mà không sinh nở gì, gặp được Trung mừng lắm, bày tiệc ăn mừng.

Ngưu vẫn thở than không vui, muốn về quê một lần, vợ lo cửa hiệu không có ai coi sóc cố ngăn cản.

Ngưu bèn dạy con các việc buôn bán giao dịch, được ba tháng đem hết sổ sách giao cho con, thu xếp hành lý về quê.

Lúc Ngưu đi rồi, Trung nói thật việc cha chết với mẹ kế, Cơ thị cả kinh nói:

- Ông ấy buôn bán ở đây, có nhiều người quen mới lưu lại buôn bán, cưới ta sáu năm rồi, sao lại nói là đã chết?

Trung bèn kể rõ, hai người cùng ngờ vực không hiểu vì sao.

Qua một ngày một đêm thì Ngưu đã về, dắt theo một người đàn bà đầu tóc rối bù, Trung nhìn thì là mẹ ruột của mình.

Ngưu kéo tai người đàn bà chửi:

- Sao lại bỏ con ta?

Người đàn bà quỳ rạp xuống đất không dám động đậy, Ngưu cắn vào cổ, người đàn bà kêu Trung rằng:

- Con cứu mẹ với, con cứu mẹ với!

Trung bất nhẫn xông vào can, lấy thân che cho mẹ.

Ngưu còn giận dữ, người đàn bà đã biến mất, mọi người cả sợ la ầm lên là ma, nhìn tới Nơưu thì mặt mày trắng bệch, quần áo rơi hết xuống đất mà biến thành một làn khói đen từ từ tan mất.

Mẹ con cùng kinh hãi than thở, nhặt áo mũ chôn cất.

Trung thừa kế gia tài có hàng vạn lượng vàng, sau về nhà hỏi thăm thì người mẹ ruột đã đi lấy chồng chết đúng hôm ấy, cả nhà đều nhìn thấy Ngưu Thành Chương.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 128+129


CHƯƠNG 128: THANH NGA

Huyện Viên Tằng Thám Tú Phòng Xuân

Tạc Thạch Trùng Liên Động Phủ Nhân

Đạo Sĩ Tặng Sam Như Hữu Ý

Độ Tha Hiếu Tử Tác Tiên Nhân

Dịch:

Khoét Tường Xuân Sắc Phòng Hương Ngỏ

Động Phủ Đôi Phen Tạc Đá Nguyền

Đạo Sĩ Tặng Sam Chừng Có Ý

Độ Chàng Hiếu Tử Trở Thành Tiên



Hoắc Hoàn tự Khuông Cửu là người đất Tấn (tỉnh Sơn Tây).

Cha làm quan Huyện úy, mất sớm lúc sinh còn rất nhỏ.

Sinh thông minh hơn người, mười một tuổi đã nổi tiếng thần đồng, được vào học trường huyện, Nhưng mẹ thương con quá mức, cấm ra khỏi sân nhà nên mười ba tuổi vẫn không phân biệt được chú bác cô cậu.

Trong làng có Bình sự họ Vũ mộ đạo thần tiên, vào núi tu luyện không về, có con gái tên Thanh Nga mười bốn tuổi nhan sắc tuyệt đẹp, thuở nhỏ đọc trộm sách vở của cha, vốn thích Hà tiên cô.

Lúc cha vào núi ở ẩn rồi nàng lập chí không lấy chồng, mẹ cũng không biết làm sao.

Một hôm sinh gặp nàng ngoài cổng, trẻ con chưa biết gì chỉ thấy rất yêu mến không nói nên lời về nói thật với mẹ, xin nhờ người dạm hỏi.

*[Hà tiên cô: tiên nữ duy nhất trong nhóm Bát tiên theo truyền thuyết Trung Hoa].

Mẹ biết là không xong nên ngần ngại, sinh buồn bực không vui, mẹ sợ con buồn bèn nhờ người tới ngỏ ý, quả nhiên họ Vũ từ chối, sinh đứng ngồi lo nghĩ không biết tính sao.

Gặp lúc có vị đạo sĩ tới cổng, cầm cái xẻng nhỏ dài khoảng một thước, sinh mượn xem qua một lượt, hỏi dùng vào việc gì.

Đạo sĩ nói:

- Để đào lấy thuốc, tuy nhỏ nhưng có thể đào thủng đá cứng.

Sinh chưa tin lắm, đạo sĩ lập tức chém vào viên đá trên tường, viên đá theo tay rơi xuống mà nát ra như đậu phụ, sinh rất lạ lùng, cầm ngắm không nỡ rời tay.

Đạo sĩ cười nói:

- Công tử đã thích thì ta xin tặng!

Sinh cả mừng lấy tiền trả ơn nhưng đạo sĩ không nhận, chào đi.

Sinh cầm về chém thử vào gạch đá không gì không vỡ, bèn nghĩ dùng khoét tường thì có thể thấy được mặt mỹ nhân mà không hề biết đó là chuyện phạm pháp.

Đến khuya yên ắng bèn trèo tường ra đi, thẳng tới nhà họ Vũ, khoét qua hai lớp tường mới vào tới sân giữa.

Thấy trong gian phòng nhỏ còn đèn, núp nhìn vào thấy Thanh Nga đã mặc đồ ngủ.

Giây lát đèn tắt, bốn bề không một tiếng động, sinh khoét tường vào thì cô gái ngủ say.

Bèn khẽ cởi giày leo lên giường, lại sợ cô gái giật mình tỉnh dậy sẽ quát mắng đuổi đi nên nằm phục xuống cạnh chiếc chăn thêu, lắng nghe hơi thở thơm ngát, tự thấy được an ủi rất nhiều.

Nhưng vì suốt nửa đêm đào khoét, đã quá mệt mỏi nên vừa nhắm mắt lại bất giác đã ngủ luôn.

Cô gái tỉnh dậy nghe tiếng ngáy khò khò, mở mắt ra nhìn thấy ánh sáng lọt vào chỗ vách bị khoét thủng, cả sợ choàng dậy khẽ lay đứa tỳ nữ mở cửa rón rén bước ra, gõ cửa sổ gọi bọn đàn bà trong nhà cùng thắp đuốc cầm gậy kéo tới.

Thấy một cậu học trò tóc còn để chỏm ngủ say trên giường, nhìn kỹ biết là Hoắc sinh, lay gọi mới tỉnh.

Sinh vùng dậy, mắt long lanh như sao băng, như cũng không sợ sệt gì lắm, chỉ thẹn thùng không nói câu nào.

Mọi người chỉ trỏ mắng là giặc cướp, quát tháo dọa dẫm, sinh mới rơi nước mắt nói:

- Ta không phải là giặc cướp, thật lòng chỉ vì yêu mến nương tử, muốn được gần gũi hương thơm một lần thôi.

Mọi người lại ngờ việc khoét qua mấy lớp tường vách không phải sức đứa trẻ con làm được, sinh đưa cái xẻng cho họ xem, nói rõ sự lạ lùng.

Họ cùng thử cũng hoảng sợ, ngạc nhiên coi là của thần cho, định cùng tới báo cho phu nhân.

Cô gái cúi đầu suy nghĩ như có ý không muốn, mọi người đoán biết ý nàng bèn nói:

- Anh chàng này cũng là con nhà có tiếng tăm, chẳng có gì là nhục nhã, chẳng bằng cứ thả về cho để cậy mai mối lại tới vậy, còn sáng ra cứ thưa với phu nhân là có trộm vào nhà là được chứ gì?

Cô gái không đáp, mọi người bèn giục sinh đi, sinh đòi cái xẻng, họ cùng cười nói:

- Chú nhỏ khờ vẫn không quên cái vật hung dữ này à?

Sinh liếc thấy cạnh gối có một chiếc thoa, lén nhét vào tay áo, bị đứa tỳ nữ trông thấy mách ngay với cô gái nhưng nàng không nói gì cũng không tức giận, một bà già vỗ vào gáy sinh nói:

- Đừng nói tới chuyện khờ khác, chỉ cái ý ấy thôi cũng đã sai trái lắm rồi.

Rồi kéo ra, sinh lại qua lỗ tường thủng ra về.

Về nhà sinh không dám nói thật với mẹ, chỉ xin mẹ cậy mai mối lại tới hỏi.

Mẹ không nỡ từ chối ra mặt, chỉ nhờ khắp các bà mối tìm gấp đám khác cho sinh.

Thanh Nga nghe chuyện hoảng hốt, lén sai người thân tín bắn tin cho mẹ sinh, bà mừng rỡ liền nhờ người mai mối tới.

Gặp lúc đứa tỳ nữ nhỏ nói lộ chuyện hôm trước ra, Vũ phu nhân lấy làm nhục nhã, vô cùng căm tức, thấy bà mụ tới càng tức giận, cầm gậy vạch đất chửi mắng sinh, nhiếc móc luôn bà mẹ.

Bà mối sợ quá lủi về kể rõ tình hình, mẹ sinh cũng nổi giận nói:

- Thằng ranh con làm những gì thì ta đều mờ mịt, sao lại vô lễ với ta?

Lúc bắt được sao không giết đôi đãng nhi dâm phụ luôn đi?

Từ đó gặp họ hàng thân thuộc đều nói vung lên.

Cô gái nghe chuyện xấu hổ muốn chết đi, Vũ phu nhân hết sức ăn năn nhưng không sao cấm được mẹ sinh đừng nói.

Cô gái lại sai người tới năn nỉ mẹ sinh, lại thề không bao giờ lấy người khác, lời lẽ bi thiết.

Mẹ sinh cảm động, thôi không rêu rao nữa nhưng cũng bỏ luôn ý định cầu hôn.

Gặp lúc ông Âu ở Tần Trung (tỉnh Thiểm Tây) tới làm Huyện lệnh ở đó, đọc văn của sinh rất quý trọng, thường gọi vào dinh chơi, đối xử rất tử tế.

Một hôm ông hỏi sinh có vợ chưa, sinh đáp chưa, ông hỏi kỹ hơn, sinh đáp:

- Trước đã có hẹn ước với con gái quan Bình sự họ Vũ, sau vì chuyện xích mích nhỏ nên nửa đường gãy gánh.

Ông hỏi bây giờ còn muốn cưới nàng không, sinh đỏ mặt không đáp ông cười nói:

- Ta sẽ tác thành cho anh!

Rồi lập tức sai quan Huyện úy và Giáo dụ tới nộp sính lễ cho nhà họ Vũ.

Vũ phu nhân mừng rỡ, hôn ước mới định.

Qua năm sau cô gái về nhà chồng, vào tới phòng ném cái xẻng xuống đất nói:

- Đồ dùng làm giặc cướp này phải vứt đi.

Sinh cười nói:

- Đừng quên bà mối chứ.

Rồi trân trọng đeo bên người không rời lúc nào.

Cô gái là người nhu mì trầm mặc, mỗi ngày tới hầu mẹ chồng ba lần xong thì đóng cửa ngồi im lặng, không lưu ý lắm tới việc nhà.

Nhưng khi mẹ chồng ăn cưới điếu tang đi vắng, thì nàng coi sóc việc nhà đâu vào đấy.

Hơn hai năm sau nàng sinh một trai đặt tên là Mạnh Tiên, chỉ giao cho bà vú chăm sóc như cũng không thương yêu gì lắm.

Lại bốn năm năm sau, chợt nói với sinh:

- Tình duyên vợ chồng đã tám năm, nay thì chia ly dài lâu, sum họp ngắn ngủi, biết làm thế nào?

Sinh cả kinh gạn hỏi, nàng chỉ im lặng, kế mặc quần áo đẹp đẽ vào lạy mẹ chồng rồi quay về phòng, sinh theo vào hỏi thì nàng đã lên giường nằm mà tắt hơi rồi.

Mẹ con sinh rất đau đớn, mua quan tài chôn cất.

Mẹ sinh đã già yếu, cứ bế cháu lại nhớ con dâu, ruột gan như xé, vì thế mang bệnh nằm liệt giường.

Dần dần bà bỏ cả ăn uống, chỉ thèm canh cá, nhưng gần đó không có cá, phải đi xa hơn trăm dặm mới mua được.

Lúc ấy tôi tớ lừa ngựa đều sai đi công việc, sinh tính chí hiếu, nóng ruột không chờ được liền mang tiền một mình ra đi, đêm ngày không nghỉ chân.

Khi trở về tới giữa núi thì mặt trời đã lặn, hai chân đau nhức không bước nổi nữa.

Phía sau có một ông già đi tới, hỏi:

- Bị phồng chân phải không?

Sinh dạ dạ.

Ông già bèn kéo sinh vào vệ đường, đánh đá lấy lửa, lấy giấy gói thuốc xông hai chân sinh rồi bảo đi thử xem, sinh thấy chẳng những hết đau mà còn cứng cáp hơn, hết sức cảm tạ.

Ông già hỏi có việc gì mà gấp gáp như thế, sinh nói vì mẹ bệnh, nhân kể lại nguyên cớ.

Ông già hỏi sao không lấy vợ khác sinh đáp vì chưa tìm được đám nào khá.

Ông già chỉ xóm núi xa xa nói:

- Chỗ đó có một giai nhân, nếu chịu đi theo thì lão sẽ làm mai cho ông.

Sinh từ chối nói mẹ bệnh dang chờ có cá ăn nên không được rảnh, ông già chắp tay chào, bảo ngày khác tới thôn hỏi già Vương rồi từ biệt đi.

Sinh về nhà nấu cá dâng mẹ, mẹ ăn được chút ít, vài hôm sau thì khỏi bệnh.

Sinh bèn sai đầy tớ dẫn ngựa đi theo tìm ông già, tởi chỗ cũ thì không thấy xóm làng gì cả.

Loanh quanh hồi lâu, bóng chiều dần buông xuống mà hang núi dày đặc không thể nhìn rõ nơi xa, bèn cùng người đầy tớ chia nhau lên đỉnh núi để tìm làng xóm.

Nhưng đường núi gập ghềnh không đi ngựa được, đi bộ lên tới thì trời đã sẩm tối, nhìn ngó bốn phía chẳng thấy làng xóm nào, vừa định trở xuống thì lạc mất đường, lòng như lửa đốt.

Sinh đang dò dẫm thì hụt chân rơi xuống vực, may là bên dưới mấy thước có một ngôi nhà bỏ hoang, sinh rơi lên nóc, rộng vừa đủ dung thân, nhìn xuống đen ngòm không trông thấy đáy, sợ quá không dám động đậy.

Lại may là vách núi có những cây nhỏ to bằng song cửa, sinh định thần hồi lâu thấy bên chân có một cửa động nhỏ, trong lòng mừng thầm bèn dựa lưng vào đá, giật lùi chui vào, thấy hơi yên tâm, chờ trời sáng để kêu cứu.

Giây lát thấy xa xa trong động có đốm sáng như ngôi sao, đi lần vào khoảng hai ba dặm chợt thấy nhà cửa, không có đèn đuốc gì mà sáng như ban ngày, có một mỹ nhân trong phòng đi ra, nhìn ra thì là Thanh Nga.

Nàng thấy sinh giật mình hỏi:

- Sao chàng tới được nơi đây

Sinh không kịp tỏ bày, nắm tay nàng khóc lớn, nàng an ủi bảo nín.

Hỏi thăm mẹ và con, sinh kể hết cảnh khổ, nàng cũng buồn bã.

Sinh hỏi:

- Nàng chết đã hơn một năm rồi, đây là âm ty phải không?

Cô gái đáp:

- Không phải!

Đây là động tiên.

Lúc trước thiếp chết không phải là thật đâu chàng chôn đó chỉ là một cây gậy trúc thôi.

Nay chàng tới là có duyên phận thành tiên.

Rồi dẫn sinh vào chào cha, thấy một người đàn ông râu rậm ngồi trong sảnh đường, sinh rảo bước tới lạy, cô gái thưa là Hoắc lang tới, ông giật mình đứng lên cầm tay sinh trò chuyện rồi nói:

- Con rể tới rất hay, nên ở lại đây!

Sinh chối từ là mẹ ở nhà mong đợi, không ở lâu được.

Ông nói:

- Ta cũng biết thế, nhưng về muộn đôi ba ngày thì có hề gì.

Rồi bày cơm rượu thết đãi, xong sai tỳ nữ dọn giường ở phòng khách, trải nệm gấm cho sinh nghỉ.

Sinh lui về phòng, kéo cô gái ngủ chung, nàng chối từ nói:

- Đây là nơi nào mà đòi giở trò bậy bạ?

Sinh nắm tay nàng không chịu buông, đứa tỳ nữ cười chế nhạo, nàng càng hổ thẹn.

Đang còn giằng co thì ông nhạc vào, quát nói:

- Quân phàm tục làm nhơ động phủ của ta, bước ngay đi.

Sinh vốn nóng tính, xấu hổ không nhịn được, giận dữ đáp:

- Tình vợ chồng ai mà nhịn được, bậc trưởng thượng sao lại rình nhìn?

Ta đi thì không khó, nhưng lệnh nữ cũng phải đi theo.

Ông không biết nói sao, đành bảo con gái đi theo rồi mở cổng sau đưa ra, nhưng lừa sinh ra rồi thì cha con đóng sập cửa lại.

Sinh ngoảnh nhìn thì thấy vách đá cao ngất không có chỗ hở, bơ vơ một mình không biết về đâu, nhìn lên trời thì trăng xế sao thưa, ngậm ngùi hồi lâu, hết đau tới hận, nhìn vào vách đá kêu gào, không nghe ai lên tiếng đáp.

Sinh phẫn uất quá, rút cái xẻng trong lưng ra đục phá vách đá, vừa đục vừa chửi, trong chớp mắt đã khoét thủng ba bốn thước, nghe văng vẳng có tiếng người nói:

- Nghiệt chướng thay!

Sinh càng ra sức đục mau, hai cánh cửa động chợt hé ra, ông nhạc đẩy Thanh Nga ra nói:

- Bước ngay, bước ngay!

Vách đá lại liền lại như cũ.

Cô gái oán trách nói:

- Đã thương yêu lấy thiếp làm vợ, sao lại đối xử với ông nhạc như thế?

Đạo sĩ già ở đâu cho chàng cái vật hung dữ đó, quấy nhiễu người ta muốn chết.

Sinh có được cô gái rồi cũng đã mãn nguyện, không buồn tranh cãi, chỉ lo đường đi hiểm trở khó về.

Cô gái liền bẻ hai nhánh cây, mỗi người cưỡi lên một nhánh, lập tức biến thành ngựa chạy rất mau, giây lát đã về tới nhà, lúc ấy sinh mất tích đã bảy ngày.

Lúc đầu khi chủ tớ sinh lạc nhau, người đầy tớ tìm không được bèn về thưa lại với mẹ sinh.

Bà sai gia nhân tìm khắp trong núi không thấy dấu vết gì, đang lo sợ thì nghe tin con về, mừng rỡ ra đón, ngẩng đầu nhìn thấy Thanh Nga kinh hãi suýt ngất.

Sinh thuật qua mọi chuyện, bà càng thêm vui mừng.

Cô gái vì hành trạng có chỗ lạ lùng, ngại người ta lo sợ nên xin mẹ dọn nhà đi nơi khác.

Mẹ sinh theo lời, vì vốn có nhà ở làng khác liền dời tới ở đó, người ta đều khôngbiết về nàng.

Ăn ở với nhau mười tám năm, nàng sinh một gái, gả cho họ Lý cùng huyện.

Sau bà mẹ qua đời, nàng nói với sinh:

- Trong ruộng nhà ta có ngôi đất Chim trĩ ấp tám quả trứng có thể chôn mẹ, cha con chàng nên đưa linh cữu mẹ về đó an táng.

Con chúng ta đã lớn, cứ để nó ở lại giữ mộ, không cần trở về”.

Sinh theo lời, chôn cất mẹ xong trở về một mình, hơn tháng sau Mạnh Tiên về thăm thì cha mẹ đã đi mất.

Hỏi lão bộc thì thưa là đi đám tang chưa về trong lòng biết là có chuyện lạ nhưng chỉ còn cách than thở mà thôi.

Mạnh Tiên nổi tiếng văn hay nhưng lao đao chốn trường ốc đến bốn mươi tuổi vẫn chưa thi đỗ.

Sau nhờ chân Cống cử vào kinh thi hội gặp một người cùng tên, thấy khoảng mười bảy mười tám tuổi, phong thái tuấn dật thích lắm.

Nhìn tới quyển thi đề:

- Lẫm sinh Hoắc Trọng Tiên ở Thuận Thiên.

Giật mình kinh hãi bèn nói tên mình.

Trọng Tiên cũng ngạc nhiên hỏi kỹ quê quán, Mạnh nói rõ ràng, Trọng Tiên mừng nói:

- Lúc đệ lên đường vào kinh, gia phụ có dặn vào trường nếu gặp người nào họ Hoắc ở Sơn Tây thì đó là họ hàng, nên cùng giao thiệp, nay quả đúng.

Nhưng sao tên tự chúng ta giống nhau như thế?

Mạnh Tiên hỏi tới danh tính ông bà cha mẹ xong giật mình nói:

- Đó là cha mẹ ta đấy!

Trọng Tiên nghĩ tuổi tác không hợp, Mạnh Tiên nói:

- Cha mẹ đều là người tiên, làm sao lấy dung mạo mà bàn số tuổi được?

Nhân kể lại chuyện xưa, Trọng Tiên mới tin.

Thi xong hai người không màng nghỉ ngơi, sai thắng ngựa cùng về, vừa tới cổng thì gia nhân ra đón nói đêm trước Thái ông và phu nhân đi đâu mất, hai người cả kinh.

Trọng Tiên chạy vào hỏi vợ, vợ đáp:

- Chiều hôm qua còn cùng ngồi uống rượu, mẹ nói "Vợ chồng con còn nhỏ chưa trải việc đời, ngày mai anh cả con tới thì ta không lo gì nữa”.

Sáng ra vào phòng thì không thấy cha mẹ đâu cả.

Anh em nghe nói dậm chân kêu khóc, Trọng Tiên muốn đi tìm nhưng Mạnh Tiên cho là vô ích mới thôi.

Khoa ấy Trọng Tiên đỗ Cử nhân, vì phần mộ tổ tiên ở cả Sơn Tây nên theo anh về đó.

Cũng hy vọng cha mẹ còn ở cõi trần, tìm kiếm thăm hỏi khắp nơi nhưng rốt cuộc vẫn không thấy tung tích.

____________________________________

CHƯƠNG 129: NHA ĐẦU

Tiêu Độn Thông Thông Đảo Hán Cao

Bình Khang Lạc Tịch Yếm Đồng Thao

Thất Trung Hữu Tử Tuy Thần Vũ

Tẩy Tủy Hoàn Kỳ Cánh Phạt Mao

Dịch:

Mải Mốt Đêm Chuồn Đến Hán Giang

Bản Tâm Đã Ngán Cảnh Bình Khang

Trong Nhà Dù Có Con Thần Vũ

Tẩy Tủy Thay Lông Sửa Tính Cương



Chư sinh Vương Văn người huyện Đông Xương (tỉnh Sơn Đông), lúc trẻ tính thành thật.

Đi chơi tới đất Sở (tỉnh Hồ Nam), qua sông Hoàng Hà, nghỉ lại ở nhà trọ, nhân rảnh rỗi dạo bước ngoài cửa.

Có người đồng hương là Triệu Đông Lâu buôn bán lớn, thường mấy năm không về, gặp Vương cầm tay mừng rỡ, mời tới chỗ mình chơi.

Tới nơi sinh thấy có mỹ nhân ngồi trong phòng, ngạc nhiên dừng bước.

Triệu kéo vào, lại đứng ngoài cửa sổ gọi Nật Tử bảo đi chỗ khác, Vương bèn vào.

Triệu dọn cơm rượu thết đãi, cùng nhau trò chuyện.

Vương hỏi đây là nơi nào, Triệu đáp:

- Đây là một nhà chứa nhỏ, ta xa nhà lâu ngày nên tạm lấy làm nơi ngủ.

Trong lúc hai người trò chuyện, Nật Tử cứ lui tới ra vào, Vương áy náy không yên, đứng dậy từ biệt, Triệu cố giữ ngồi lại.

Chợt một thiếu nữ đi ngang qua cửa, nhìn thấy Vưong liếc mắt đưa tình, thấy phong tư xinh đẹp như thần tiên.

Vương vốn đứng đắn, nhưng đến lúc ấy thấy say mê điên đảo, bèn hỏi người đẹp ấy là ai.

Triệu đáp:

- Đó là con gái thứ hai của bà chủ nhà chứa này, tiểu tự là Nha Đầu, vừa mười bốn tuổi.

Bọn khách chơi giàu có nhiều lần đưa tiền bạc ngỏ ý với bà mẹ nhưng nàng nhất định không chịu, đến nỗi bị bà đánh đập, nàng lấy cớ còn nhỏ tuổi xin tha, nay còn đang chờ người nộp sính lễ.

Vương nghe thế cúi đầu yên lặng tơ tưởng, trò chuyện lơ đãng cứ hỏi gà lại đáp vịt.

Triệu đùa nói:

- Nếu anh ưng ý thì ta xin làm mai cho.

Vương bùi ngùi nói:

- Thật không dám có ý ấy!

Nhưng trời đã xế chiều vẫn không nói tới chuyện ra về.

Triệu lại đùa hỏi, Vương nói:

- Thật rất cảm tạ lòng tốt của ông, nhưng cạn túi biết làm sao được?

Triệu biết tính nàng cứng cỏi, ắt không chịu tiếp nên hứa giúp thêm mười lượng vàng.

Sinh cảm tạ về nhà trọ, dốc hết tiền bạc tới, được năm lượng bèn ép Triệu nói giùm với mụ dầu, quả nhiên mụ chê ít.

Nha Đầu nói:

- Hàng ngày mẹ vẫn trách con không làm cây tiền cho mẹ, nay xin theo ý mẹ.

Con mới học ra đời, còn nhiều dịp báo đáp ơn mẹ, xin đừng vì cái cớ nhỏ mọn mà khước từ Thần Tài.

Mụ dầu thấy nàng vốn bướng bỉnh, nay đã chịu ra tiếp khách nên rất mừng rỡ bèn nhận lời, sai tỳ nữ đi mời Vương lang.

Triệu không nuốt lời được bèn lấy tiền đưa thêm.

Vương cùng cô gái vui vầy rất sung sướng, kế nàng nói:

- Thiếp là kẻ hạ tiện chốn yên hoa, không xứng sánh đôi với chàng, nay được đội ơn thương tới rất cảm kích, nhưng chàng dốc túi mua một đêm vui, ngày mai sẽ ra sao?

Vương rơi lệ sụt sùi, cô gái nói:

- Chàng đừng buồn, thiếp gởi thân trong chốn phong trần song không phải thật lòng muốn thế, chỉ vì chưa gặp được người thành thật xứng đáng trao thân gởi phận như chàng mà thôi, xin nhân đêm cùng nhau trốn đi.

Vương mừng rỡ vùng dậy, cô gái cũng dậy, nghe trống đã điểm canh ba, nàng vội đổi y phục giả làm con trai cùng nhau đi ngay.

Sinh gõ cửa nhà trọ, vốn có hai con lừa bèn lấy cớ có việc gấp gọi đầy tớ lên đường.

Cô gái lấy bùa buộc vào chân người đầy tớ và tai lừa, thả cương chạy thật nhanh, không cho mở mắt, chỉ nghe gió rít ào ào bên tai.

Sáng ra tới cửa Hán Giang (thuộc tỉnh Hồ Bắc) thuê nhà ở lại, Vương kinh ngạc vì chuyện lạ, nàng nói:

- Nói ra xin chàng đừng sợ, thiếp không phải là người mà là hồ thôi.

Vì mẹ tham dâm nên hàng ngày bị ngược đãi, lòng vẫn oán hờn, nay may mắn thoát khỏi bể khổ, ở ngoài trăm dặm thì mẹ không thể biết được, may ra có thể yên ổn.

Vương yên lòng không ngờ vực gì nữa, chỉ chậm rãi nói:

- Trong phòng có người đẹp như đoá phù dung mà nhà nghèo trơ bốn bức vách, thật khó yên lòng, sợ rốt lại nàng sẽ bỏ đi.

Cô gái nói:

- Sao lại lo lắng chuyện ấy?

Nay buôn bán cũng đủ sống, nhà có ba miệng ăn, sống đạm bạc cũng có thể no đủ, cứ bán con lừa lấy tiền làm vốn.

Vương theo lời, mở ngay một cửa hàng nhỏ trước cổng, cùng đầy tớ làm lụng, bán rượu và nước tương.

Cô gái thì may thuê thêu mướn, hàng ngày kiếm dư tiền chợ, ăn uống cũng đầy đủ.

Hơn một năm dần dần nuôi được tôi tớ, Vương từ đó không phải đích thân làm lụng nữa, chỉ đứng trông nom.

Một hôm chợt cô gái buồn rầu nói:

- Đêm nay sẽ có nạn, biết làm thế nào?

Vương hỏi thì nàng đáp:

- Mẹ đã biết tin tức của thiếp, ắt sẽ kiếm chuyện, nếu sai chị Nật tới thì chúng ta khỏi lo, chỉ sợ bà đích thân tới thôi.

Đến khuya nàng mừng rỡ nói:

- Không sao, là chị Nật tới!

Không bao lâu Nật Tử đẩy cửa vào, nàng tươi cười ra đón, Nật Tử mắng:

- Con nhãi không biết nhục, bỏ trốn theo trai, mẹ sai ta trói ngươi dẫn về.

Rồi lấy dây ra buộc vào cổ nàng.

Cô gái tức giận nói:

- Chỉ theo một người thì có tội gì?

Nật Tử càng tức, kéo nàng đứt cả vạt áo.

Tôi tớ trong nhà cùng đổ tới, Nật Tử sợ hãi chạy đi.

Cô gái nói:

- Chị ấy về báo ắt mẹ sẽ đích thân tới, sắp có vạ lớn, phải tính kế ngay.

Liền sắp xếp đồ đạc định dời nhà đi chợt bà mẹ sồng sộc bước vào, nét mặt hầm hầm nói:

- Ta đã biết con nhãi vô lễ, phải tự tới mới xong.

Cô gái quỳ xuống khóc lóc năn nỉ, mụ ta không nói gì, cứ nắm tóc nàng lôi đi.

Vương tha thiết nhớ thương, bỏ cả ăn ngủ, vội tới Đại Hà định chuộc nàng về, nhưng tới nơi thì cửa nhà như cũ mà người ở khác xưa.

Hỏi người ở đó thì không ai biết mụ dọn nhà đi đâu, đành đau xót trở về.

Rồi đó cho hết đồ đạc, mang tiền về Sơn Đông.

Vài năm sau tình cờ lên Yên Kinh, qua Viện mồ côi thấy một đứa nhỏ bảy tám tuổi, người đầy tớ lấy làm lạ vì rất giống chủ mình nên cứ quay nhìn chằm chằm.

Vương hỏi sao cứ nhìn đứa nhỏ, người đầy tớ cười thưa rõ, Vương cũng cười nhìn kỹ đúa nhỏ thấy dáng vẻ hiên ngang, tự nghĩ chưa có con nối dõi, nhân thấy giống mình nên yêu mến xuất tiền ra chuộc.

Hỏi tên họ, nó đáp là Vương Tư, Vương nói:

- Cháu bị cha mẹ bỏ rơi lúc còn trong tã, làm sao biết được tên họ?

Nó đáp:

- Thầy học con vẫn nói lúc nhặt được con thì thấy trước bụng có viết hàng chữ "Con của Vương Văn ở Sơn Đông".

Vương cả sợ nói:

- Ta chính là Vương Văn, nhưng lấy đâu ra thằng con này, chắc là ai trùng tên đó thôi.

Nhưng cũng mừng thầm nên rất thương yêu.

*[Con của Vương Văn ở Sơn Đông: theo lối chiết tự trong chữ Hán thì chữ Tư có thể hiểu như Văn tử (con của Văn)].

Khi về tới quê, ai thấy cũng biết ngay là con của Vương không cần phải hỏi.

Tư dần lớn lên, vạm vỡ khỏe mạnh, thích săn bắn chứ không lo làm ăn, thích đánh nhau ưa giết người, Vương cũng không sao kiềm chế được.

Tư lại tự nói có thể nhìn thấy ma quỷ hồ tinh nhưng không ai tin, gặp lúc trong làng có nhà nọ bị hồ ám mời tới xem.

Tư tới nơi chỉ vào nơi hồ trốn núp, bảo mấy người cứ theo chỗ mình chỉ mà đánh, lập tức nghe tiếng hồ kêu, lông máu ngỗn ngang, từ đó được yên ổn, vì vậy mọi người càng lấy làm lạ.

Một hôm Vương đi trong chợ chợt gặp Triệu Đông Lâu, thấy khăn áo xốc xếch, mặt mũi tiều tụy, bèn sửng sốt hỏi vì sao.

Triệu buồn bã xin chờ thong thả sẽ kể, Vương liền dẫn về nhà thết đãi.

Triệu nói:

- Mụ dầu bắt được Nha Đầu về, đánh đập tàn nhẫn, khi dời nhà lên Bắc rồi lại muốn ép gả cho người ta, nhưng nàng thề không lấy hai chồng nên mụ còn nhốt để đó.

Nàng sinh được một con trai, mụ vứt ra đường, nghe nói được đưa vào Viện mồ côi, nay chắc đã trưởng thành, đó là giọt máu của ông đấy.

Vương sa nước mắt nói:

- Nhờ trời thằng nhỏ đã về đây rồi!

Rồi kể lại đầu đuôi, kế hỏi:

- Sao ông lại tới nông nỗi này?

Triệu than:

- Nay mới biết không thể quá tin vào sự tử tế ở chốn lầu xanh, nhưng còn nói gì được nữa?

Nguyên lúc mụ dầu dời nhà lên Yên Kinh, Triệu cũng nhân buôn bán đi theo, những hàng hóa nặng nề khó chở thì bán rẻ hết, dọc đường lại gánh vác sự chi tiêu, phí tổn rất lớn nên ăn vào vốn rất nhiều.

Nật Tử lại đòi hỏi quá quắt nên trong mấy năm, vốn liếng hàng vạn lượng vàng hết sạch.

Mụ dầu thấy Triệu hết tiền, ngày càng khinh rẻ, Nật Tử dần dần cũng đi ngủ ở các nhà giàu có, thường mấy đêm liền không về.

Triệu căm tức không nhịn được nhưng không biết làm sao.

Gặp lúc mụ dầu đi vắng, Nha Đầu trong cửa sổ gọi Triệu nói:

- Chốn lầu xanh vốn không có tình nghĩa, sở dĩ gắn bó chiều chuộng chỉ vì tiền đó thôi.

Ông mà còn lưu luyến nơi này, ắt sẽ gặp họa lớn đấy.

Triệu sợ hãi như mới tỉnh mộng, lúc sắp lên đường lén tới thăm nàng, nàng đưa một lá thư nhờ chuyển tới Vương, Triệu bèn đi.

Nhân kể lại tình cảnh của Nha Đầu rồi lấy thư đưa Vương, thư viết:

- Được biết thằng Tư đã về với chàng.

Tai ách của thiếp thì ông Đông Lâu đã biết rõ, đó là cái oan nghiệt kiếp trước, còn biết nói gì!

Thiếp bị giam trong phòng tối, không thấy ánh mặt trời, đòn roi nát thân, lửa đói đốt ruột, một ngày dài như một năm.

Nếu chàng không quên lúc ở Hán Giang, đêm tuyết chỉ có chiếc chăn đơn, ôm nhau cho ấm thì xin nên cùng con mưu tính giải thoát cho thiếp ra khỏi tai ách.

Mẹ và chị thiếp tuy tàn ác cũng là cốt nhục, xin đừng làm cho thương tổn, đó là điều thiếp mong mỏi vậy.

Vương xem thư khóc ròng, lấy vàng lụa ra đưa chân Triệu.

Lúc ấy Tư đã mười tám tuổi, Vương kể rõ đầu đuôi, nhân đưa cho xem thư mẹ.

Tư tức giận trợn mắt tưởng chừng rách khóe, ngay hôm ấy lên đường vào kinh, hỏi thăm tới được nơi mụ dầu đất Ngô ở thì đang lúc ngựa xe dày đặc trước cổng.

Tư xông thẳng vào, Nật Tử đang uống rượu với khách, thấy Tư cầm đao biến sắc, Tư sấn tới chém chết.

Khách khứa cả sợ cho là giặc cướp, nhưng nhìn lại xác Nật Tử thì thấy đã hóa ra con chồn.

Tư xách dao vào thẳng nhà trong thấy mụ dầu đang sai bảo tỳ nữ làm thức ăn, Tư xông tới gần cửa thì mụ biến mất.

Tư nhìn quanh rồi rút mau cung tên bắn lên xà nhà, một con chồn bị bắn xuyên tim rơi xuống, Tư liền chặt lấy đầu.

Tìm được chỗ mẹ bị giam, vác đá phá tung cửa, mẹ con cùng khóc không ra tiếng.

Mẹ hỏi mụ dầu, Tư đáp đã giết rồi.

Mẹ oán trách nói:

- Sao con không nghe lời ta?

Rồi sai mang ra ngoài đồng chôn cất.

Tư giả vâng dạ nhưng lột lấy bộ da giấu đi.

Kế kiểm lại rương hòm của mụ đầu, lấy hết vàng bạc rồi đưa mẹ về.

Vợ chồng gặp lại nhau nửa mừng nửa tủi, kế hỏi về mụ dầu, Tư nói đang trong túi con.

Giật mình hỏi lại, nó lấy hai bộ da dâng lên.

Mẹ tức giận mắng:

- Thằng con ngỗ nghịch sao dám làm thế?

Rồi gào khóc tự đánh mình, lăn lộn dưới đất muốn chết đi.

Vương hết sức khuyên giải an ủi, quát bảo con đem chôn hai bộ da, Tư uất ức nói:

- Nay được yên vui đã quên ngay lúc bị roi vọt à?

Mẹ càng giận dữ gào khóc không thôi.

Tư đi chôn hai bộ da rồi trở về thưa, mẹ mới hơi nguôi giận.

Vương từ khi cô gái trở về, trong nhà càng thêm sung túc, lại nhớ ơn Triệu, báo đáp rất hậu, Triệu lúc ấy mới biết mẹ con mụ dầu đều là hồ.

Tư thờ phụng cha mẹ rất có hiếu, nhưng có ai lỡ xúc phạm thì lớn tiếng gầm thét.

Cô gái nói với Vương:

- Con ta có sợi gân hung dữ, nếu không đâm hủy đi thì về sau thế nào cũng vì giết người mà mất nghiệp.

Tối đến chờ Tư ngủ say, ngầm lấy dây trói chặt tay chân.

Tư tỉnh dậy nói:

- Con không có tội gì!

Mẹ nói:

- Ta định chữa bệnh cho con, đừng kêu la.

Tư gào lớn lăn lộn nhưng không vùng ra được.

Cô gái lấy kim lớn đâm vào cạnh xương mắt cá chân của nó, sâu tới ba bốn phân, dùng sức ngoáy mạnh đứt nghe răng rắc, lại đâm vào khuỷu tay và sau gáy, cũng làm như vậy, kế cởi trói cho, vỗ về bảo cứ ngủ yên.

Sáng ra Tư tới hầu cha mẹ, sa nước mắt nói:

- Con từ khuya đến sáng nhớ lại việc làm trước đây, thật đều không phải giống người.

Cha mẹ cả mừng, từ đó Tư nhu mì nhỏ nhẹ như con gái, làng xóm đều khen là hiền đức.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 130+131


CHƯƠNG 130: DƯ ĐỨC

Họa Đường Tiểu Chước Báo Cư Đình

Điệp Vũ Hoa Phi Túy Bất Tinh

Lưu Đắc Long Cung Súc Thủy Khí

Hảo Tòng Tàn Thạch Khất Điên Linh

Dịch:

Uống Rượu Phong Đình Ở Lại Đêm

Hoa Bay Bướm Múa Bỗng Say Mềm

Long Cung Bể Cũ Còn Lưu Lại

Đá Vỡ Xin Làm Thuốc Thọ Thêm



Doãn Đồ Nam ở Vũ Xương (tỉnh thành Hồ Bắc) có gian nhà riêng cho một vị Tú tài thuê ở, suốt nửa năm cũng chưa từng tới chơi.

Một hôm gặp ngoài cổng, thấy còn rất trẻ nhưng dung nghi đẹp đẽ, phục sức sang trọng, rảo bước tới cùng trò chuyện thấy nho nhã khả ái.

Lấy làm lạ về nói với vợ, vợ sai tỳ nữ tìm cớ qua hỏi han để dò xét, thấy trong nhà còn có người em gái xinh đẹp như tiên, những non bộ cây cảnh quần áo đồ chơi đều không phải là những món từng nghe thấy.

Doãn không rõ là hạng người nào, bèn tới xin yết kiến nhưng gặp lúc người ấy vắng nhà.

Hôm sau người ấy tới đáp lễ, xem danh thiếp mới biết là họ Dư tên Đức.

Đến lúc trò chuyện hỏi kỹ gia thế cứ trả lời quanh co, Doãn hỏi gặng thì nói:

- Nếu muốn qua lại với nhau thì ta không dám từ chối, nhưng ta không phải là trộm cướp đào vong, cần gì phải hỏi kỹ lai lịch?

Doãn xin lỗi, sai mang rượu ra mời, trò chuyện cười nói rất vui vẻ.

Đến tối có hai tên đầy tớ dắt ngựa cầm đèn tới đón Dư về.

Hôm sau Dư gởi thư mời chủ nhân để đáp lễ, Doãn tới nhà thấy trên tường đều dán loại giấy sáng loáng trong suốt như gương, lò đồng hình sư tử đốt trầm hương, mùi thơm rất lạ.

Trên bàn có bình ngọc xanh cắm hai cái lông đuôi chim phụng, hai cái lông cánh chim công, đều dài hơn hai thước, một bình pha lê cắm nhánh cây đầy hoa không biết tên gì, cũng cao khoảng hai thước, cành rủ xuống bàn, lá thưa hoa dày mà đều chưa nở, dáng như con bướm khép cánh, đài hoa như râu bướm.

Trên tiệc chỉ có tám món ăn mà thơm ngon lạ thường.

Kế Dư sai tiểu đồng đánh trống giục hoa làm tửu lệnh, tiếng trống vừa nổi lên thì những nụ hoa trong bình đều run rẩy như muốn rụng xuống.

Giây lát cánh hoa như cánh bướm từ từ giương ra, kế đến tiếng trống cuối cùng ầm một tiếng, những đài hoa rơi cả xuống, hoa biến thành một con bướm bay sa vào lòng Doãn.

Dư cười đứng dậy mời một chén lớn, Doãn vừa uống cạn thì con bướm cũng bay mất.

Lúc sau trống lại nổi, hai con bướm bay xuống đậu trên mũ Dư.

Dư cười nói:

- Kẻ làm luật lệ hóa ra lại tự phạt mình.

Rồi cũng uống hai chén lớn.

Hổi trống thứ ba kết thúc thì hoa rụng tơi bời dính cả vào áo vào mũ hai người, đứa tiểu đồng đánh trống cười bước lên đếm, Doãn dược chín bông, Dư được bốn bông.

Doãn đã say không thể uống hết, gượng uống ba chén rồi rời tiệc bước ra, vì thế càng lấy làm lạ về Dư.

Nhưng Dư tính ít giao du, thường đóng cửa ở nhà không đi lại với người chung quanh.

Doãn gặp mọi người cứ kể vung lên, những kẻ nghe chuyện lạ tranh nhau tới xin gặp Dư, mũ lọng chen chúc ở cửa, Dư không chịu được, chợt tới từ giã chủ nhân.

Dư đi rồi, Doãn vào nhà thấy sân trống quét dọn sạch sẽ không vương chút bụi, sáp đèn đọng lại vun đầy dưới thềm, những giấy dán cửa sổ bị rách vẫn còn dấu tay, duy sau nhà còn sót lại một cái vò bằng đá trắng chứa khoảng một thạch, trông rất khả ái.

Doãn cầm về đổ nước vào nuôi cá vàng, hơn một năm nước vẫn trong như mới đổ vào.

Sau người đầy tớ dọn dẹp nhà cửa bưng đi lỡ tay làm mẻ, nước trong vò cũng không đổ ra, nhìn thì thấy mép vò vẫn còn nguyên mà sờ lên thì thấy trống không, đưa tay vào trong thì nước theo tay rẽ ra, rút tay ra thì nước lại hợp lại, mùa đông cũng không đóng băng.

Một hôm nước trong vò chợt kết lại thành khối pha lê, cá bên trong vẫn bơi lội như cũ.

Doãn sợ người ta biết mang để trong phòng kín, nếu không phải là trai gái dâu rể trong nhà thì không đưa ra cho xem.

Lâu ngày tin tức đồn rộng ra, những người đòi xem vật lạ tới chen chúc ở cổng.

Một đêm tháng chạp chợt cái vò tan ra thành nước ướt đầm mặt đất, cá bên trong cũng cũng biến mất nhưng mảnh vò mẻ vẫn còn nguyên như cũ.

Chợt có đạo sĩ tới xin, Doãn lấy đưa cho xem, đạo sĩ nói:

- Đây là vật chứa nước ở Long cung.

Doãn kể chuyện lạ vò mẻ mà nước không chảy ra, đạo sĩ nói:

- Đó là hồn của cái vò!

Rồi nài nỉ xin một mảnh nhỏ.

Doãn hỏi dùng làm gì, đạo sĩ đáp:

- Lấy đó chế thuốc uống thì có thể trường sinh.

Doãn lấy cho một mảnh, đạo sĩ mừng rỡ cảm tạ ra về.

_____________________________________

CHƯƠNG 131: PHONG TAM NƯƠNG

Hối Bị Tình Ti Nhất Lũ Khiên

Phượng Thoa Tích Nặng Thái Triền Miên

Khởi Tri Sắc Giới Vô Đoan Phá

Bất Phục Phi Thăng Đệ Nhất Thiên

Dịch:

Một Sợi Tơ Tình Khéo Vấn Vương

Thoa Vàng Trao Tặng Luống Da Mang

Đâu Dè Sắc Giới Không Dưng Phá

Uổng Phí Phi Thăng Đệ Nhất Từng



Nàng Mười một họ Phạm là con gái quan Tế tửu ở Lộc Thành, lúc nhỏ đã tuyệt đẹp lại rất phong nhã.

Cha mẹ vô cùng yêu quý, có ai tới dạm hỏi đều cho tự chọn lựa nhưng nàng chưa ưng đám nào.

Gặp tiết Thượng nguyên, các ni cô ở chùa Thủy Nguyệt mở hội Vu Lan, hôm ấy con gái quanh miền tới lễ bái rất đông, nàng cũng tới xem.

Đang lúc dạo cảnh chùa thấy có một thiếu nữ theo sát, mấy lần nhìn nàng như muốn bắt chuyện, nhìn kỹ thấy là một thiếu nữ khoảng mười sáu tuổi, nhan sắc cực đẹp trong lòng rất ưa thích cứ nhìn chăm chăm.

Thiếu nữ mỉm cười hỏi:

- Chị có phải là cô Mười một họ Phạm không?

Nàng đáp phải.

Cô gái nói:

- Nghe danh đã lâu, quả lời đồn không sai.

Nàng Mười một cũng hỏi quê quán họ tên, thiếu nữ đáp:

- Thiếp họ Phong, bày vai thứ ba, ở thôn gần đây.

Hai người cầm tay chuyện trò vui vẻ, yêu mến nhau không muốn rời.

Nàng Mười một hỏi sao chỉ đi một mình, thiếu nữ đáp:

- Cha mẹ thiếp mất sớm, nhà chỉ có một bà vú già phải coi nhà không di cùng được.

Nàng Mười một sắp về, Phong nhìn sững ứa nước mắt, nàng cũng buồn rầu, liền mời Tam nương ghé chơi.

Phong nói:

- Nhà nương tử là nơi lầu son gác tía, thiếp lại vốn không phải là họ hàng, sợ sẽ bị chê cười.

Nàng Mười một cố mời, Phong hẹn hôm khác, nàng rút một cành thoa vàng đưa tặng, Phong cũng lấy chiếc trâm biếc cài trên tóc đáp lễ.

Nàng Mười một về nhà tưởng nhớ thiết tha, lấy chiếc trâm Phong tặng ra xem thì không phải vàng cũng không phải ngọc, người nhà đều không ai biết là thứ gì, rất lấy làm lạ.

Hàng ngày cứ mong Phong tới chơi, buồn rầu phát bệnh.

Cha mẹ hỏi biết chuyện, sai người dò hỏi khắp các thôn xóm quanh vùng nhưng không ai biết.

Gặp tiết Trùng dương, nàng Mười một buồn bã, gọi tỳ nữ đỡ ra vườn, trải nệm dưới giậu cúc ngồi chơi, chợt có một cô gái trèo lên tường nhìn qua, nhìn lại thì là cô gái họ Phong.

Cô gái gọi:

- Đỡ ta với!

Đứa tỳ nữ chạy ra đỡ, Phong nhảy luôn xuống.

Nàng Mười một ngạc nhiên mừng rỡ, đúng phắt lên kéo Phong cùng ngồi xuống nệm, trách nàng lỗi hẹn rồi hỏi từ đâu tới đây?

Phong đáp:

- Nhà thiếp cách đây xa lắm, thỉnh thoảng tới chơi nhà cậu, trước đây nói ở thôn gần đây là nói nhà cậu thôi.

Từ lúc chia tay cũng nhớ nhung lắm, nhưng kẻ nghèo hèn giao du với người sang thì chưa lên tới cổng đã thấy hổ thẹn, sợ bị gia nhân trong nhà không vừa mắt nên ngần ngại không muốn tới.

Mới rồi đi ngang ngoài tường, nghe trong này có tiếng con gái liền trèo lên nhìn, cũng mong được gặp nương tử, giờ đã thỏa nguyện.

Nàng Mười một kể lý do mình bị bệnh, Phong khóc như mưa, kế nói:

- Chuyện thiếp tới xin giữ kín cho, chứ để thiên hạ bàn tán này kia thì khó chịu lắm.

Nàng Mười một ưng thuận, kéo về phòng mình cùng ăn ngủ, đốc hết tâm sự.

Dần dần khỏi bệnh, kết làm chị em với nhau, quần áo trang sức đều dùng chung, có ai tới thì Phong lánh mặt sau màn.

Qua năm sáu tháng, Phạm công và phu nhân mới biết chuyện.

Một hôm hai người đang đánh cờ thì phu nhân thình lình bước vào, vừa nhìn thấy Phong kinh ngạc nói:

- Thật xứng là bạn của con ta?

Nhân nói với nàng Mười một:

- Trong khuê phòng có người bạn tốt thì là điều cha mẹ vui mừng, sao con không thưa sớm.

Nàng Mười một bày tỏ ý Phong, phu nhân nhìn Phong nói:

- Tam nương làm bạn với con ta là điều ta rất vui, sap lại phải giấu diếm?

Phong đỏ bừng cả mặt, chỉ im lặng mân mê tà áo mà thôi.

Phu nhân đi rồi, Phong bèn cáo biệt, nàng Mười một cố giữ lại mới thôi.

Một đêm chợt Phong hớt hải từ ngoài chạy vào, khóc nói:

- Ta đã nói rằng không thể ở lại nay quả nhiên gặp chuyện vô cùng nhục nhã này!

Nàng Mười một giật mình hỏi han, nàng đáp:

- Vừa rồi ra thay áo bị một thiếu niên chặn đường chọc ghẹo, may mà chạy thoát, như thế thì còn mặt mũi nào ở lại nữa?

Nàng Mười một hỏi kỹ vóc dáng mặt mũi rồi tạ lỗi, nói:

- Xin đừng trách, đó là ông anh ngốc nghếch của em, để em thưa với mẹ đánh đòn trị tội.

Phong nhất định từ biệt, nàng Mười một xin đợi đến sáng, Phong nói:

- Nhà ông cậu sát ngay gần đây, chỉ xin cái thang cho ta trèo qua tường thôi mà.

Nàng Mười một thấy không giữ lại được liền sai hai đứa tỳ nữ cùng trèo qua tường tiễn nàng đi, được nửa dặm thì Phong từ tạ, hai tỳ nữ trở về, nàng Mười một nằm phục xuống giường khóc lóc thảm sầu như mất bạn trăm năm vậy.

Vài tháng sau, đứa tỳ nữ có việc tới thôn bên, chiều tối trở về gặp Phong giữa đường, có bà già theo sau.

Đứa tỳ nữ mừng rỡ chào hỏi, Phong cũng rầu rĩ hỏi thăm sức khỏe nàng Mười một, đứa tỳ nữ kéo áo Phong nói:

- Cô Ba ghé lại chơi đi, cô ta trông mong gần chết.

Phong nói:

- Ta cũng nhớ muội tử, nhưng không muốn để người nhà biết, về cứ mở sẵn cửa vườn, ta sẽ tự tới.

Đứa tỳ nữ về kể lại, nàng Mười một mừng quá theo lời ra vườn thì Phong đã vào tới rồi.

Hai người gặp nhau cùng kể lể tình thương nhớ, rì rầm mãi không ngủ.

Phong thấy đứa tỳ nữ đã ngủ say bèn trỗi dậy qua nằm chung với nàng Mười một, nói nhỏ:

- Thiếp vốn biết muội tử chưa hứa hôn, nhưng lấy tài sắc dòng dõi mà bàn thì lo gì em không lấy được người chồng danh giá.

Nhưng đám công tử bột thì không đáng nói tới, nếu muốn có một người chồng xứng đáng thì xin đừng kén chọn giàu nghèo.

Nàng Mười một cho là phải, Phong nói:

- Chỗ chùa chúng ta gặp nhau trước đây nay lại mở đạo trường, ngày mai chịu khó đi một chuyến, thiếp sẽ chỉ cho một người chồng như ý.

Thiếp lúc nhỏ có đọc sách xem tướng, chắc chắn không sai đâu.

Tảng sáng Phong đi trước, hẹn gặp nhau ở chùa, lúc nàng Mười một tới thì Phong đã có ở đó rồi.

Hai người dạo quanh chùa một vòng, nàng Mười một mời Phong đi cùng xe về, dắt tay nhau ra cổng thì thấy một Tú tài khoảng mười bảy mười tám tuổi, mặc áo vải không trang sức nhưng dung mạo anh tuấn.

Phong bấm tay nàng Mười một nói:

- Người này có tài Hàn lâm đấy!

Nàng Mười một liếc qua, Phong từ giã nói:

- Muội tử cứ về, ta sẽ tới ngay!

Chiều tối quả nhiên Phong tới, nói:

- Ta đã dò hỏi rất rõ ràng, người ấy là Mạnh An Nhân ở cùng làng này.

Nàng Mười một biết chàng nhà nghèo cho là không được, Phong nói:

- Sao muội tử cũng sa vào thói đời như thế?

Người ấy mà nghèo hèn suốt đời thì ta xin khoét mắt không xem tướng kẻ sĩ trong thiên hạ nữa.

Nàng Mười một hỏi:

- Vậy thì làm thế nào?

Phong đáp:

- Xin đưa một vật cho ta cầm tới đính ước.

Nàng Mười một nói:

- Sao chị lại dễ dàng thế?

Cha mẹ em đều còn sống, nếu không chịu thì sao?

Phong đáp:

- Thì chính vì sợ hai vị không chịu nên mới làm thế mà thôi.

Nếu em quyết ý, thì sống chết cũng làm sao ép uổng được.

Nàng Mười một cho là không nên, Phong nói:

- Cơ nhân duyên của nương tử đã phát động nhưng ma chướng chưa tiêu tan, hôm nay ta tới để báo đáp tình nghĩa lâu nay đấy.

Xin từ giã ở đây, sẽ lấy cành thoa vàng được tặng trước đây giả mệnh em tặng chàng.

Nàng Mười một đang còn định bàn lại, Phong đã bước ra đi luôn.

Lúc ấy Mạnh sinh nhà nghèo nhưng học giỏi, có ý kén vợ xứng đôi nên mười tám tuổi chưa hỏi cưới ai.

Hôm ấy đi chơi chùa trông thấy hai người đẹp, về nhà cứ bồi hồi tơ tưởng, vừa hết canh một thì Phong Tam nương gõ cửa bước vào.

Sinh khêu đèn nhìn mặt thì ra là một trong hai người đẹp mình trông thấy lúc sáng, mừng quá hỏi han.

Phong nói:

- Thiếp họ Phong, chị em bạn của nương tử Mười một họ Phạm.

Sinh thích lắm không buồn hỏi kỹ, sấn ngay tới ôm chầm lấy, Phong đẩy ra nói:

- Thiếp không phải như Mao Toại đem thân tự tiến mà là Tào Khâu đưa tin mai mối thôi.

Nàng Mười một họ Phạm muốn kết nhân duyên nên nhờ ta làm mai mối đây.

Sinh kinh ngạc không tin, Phong bèn đưa cành thoa vàng ra, sinh mừng quá thề:

- Làm phiền nàng vất vả lo toan cho như thế, ta mà không cưỡi được nàng Mười một thì xin ở vậy suốt đời.

Phong bèn ra đi.

Sáng ra sinh nhờ bà già láng giềng tới nói với Phạm phu nhân, phu nhân chê sinh nghèo, cũng không hỏi ý con, từ chối lập tức.

Nàng Mười một nghe thấy thất vọng lắm, rất oán Phong làm lỡ mình, nhưng thoa vàng khó mà đòi lại, chỉ còn cách thề chết giữ trọn lời nguyền.

Mấy hôm sau có con trai vị quan Mỗ tới cầu hôn, còn sợ không được nên nhờ quan huyện đứng ra làm mối.

Lúc ấy Mỗ đang giữ chức lớn, Phạm công có ý sợ bèn hỏi nàng Mười một, nàng tỏ vẻ không vui, mẹ gạn hỏi cũng không đáp, chỉ khóc sướt mướt.

Kế sai người nói riêng với phu nhân rằng ngoài Mạnh sinh ra thì đến chết không lấy ai cả.

Phạm công nghe thế càng tức giận, bèn hứa hôn với người con vị quan Mỗ, lại ngờ con gái tư tình với Mạnh sinh nên càng gấp rút chọn ngày tốt làm đám cưới cho mau.

Nàng Mười một phẫn uất bỏ ăn, suốt ngày chỉ nằm trong phòng.

Đến đêm trước ngày cưới chợt trỗi dậy soi gương trang điểm, phu nhân mừng thầm.

Giây lát tỳ nữ chạy vội tới thưa tiểu thư đã thắt cổ tự tử, cả nhà kinh hãi than khóc nhưng hối hận không kịp nữa, ba ngày sau đem chôn cất.

Mạnh sinh từ khi bà già láng giềng về kể lại, phẫn hận muốn chết nhưng vẫn dò la tin tức, mong có dịp cứu vãn tình thế.

Nghe tin Phạm công hứa gả nàng Mười một, lửa hận thiêu đốt ruột gan, muôn vàn ý nghĩ đều dứt bỏ.

Không bao lâu nghe tin ngọc lấp hương chôn, vô cùng đau xót, hận không được chết cùng người đẹp.

Chờ tối ra cửa, định nhân lúc đêm tối tới khóc mồ nàng Mười một một lần, chợt có một người đi tới, tới gần thì ra là Phong Tam nương.

Phong nhìn sinh nói:

- Mừng cho chàng nhân duyên đã thành.

Sinh rơi nước mắt hỏi:

- Nàng không biết nàng Mười một đã chết à?

Phong đáp:

- Sở dĩ ta nói đã thành chính là vì nàng đã chết đấy.

Mau gọi gia nhân đào mồ lên, ta có thuốc lạ có thể cứu nàng sống lại.

Sinh theo lời, liền đào mộ phá quan tài rồi lấp huyệt lại như cũ, tự cõng cái xác cùng Tam nương về.

Về tới nơi đặt nàng Mười một lên giường đổ thuốc cho, giây lát thì sống lại.

Nàng thấy Tam nương liền hỏi đây là nơi nào, Phong chỉ vào sinh nói:

- Đây là Mạnh An Nhân!

Nhân kể lại mọi việc, nàng Mười một mới chợt như tỉnh mộng.

Phong sợ việc tiết lộ, bèn đưa đi cách đó mười lăm dặm, ẩn náu ở một xóm núi.

Phong định từ giã ra đi, cô khóc lóc giữ lại làm bạn với mình, để ở một gian riêng.

Kế đem bán những vật trang sức chôn theo để sinh sống, cũng hơi dư dật.

Phong mỗi khi thấy sinh tới là vội vàng lánh mặt, nàng Mười một thong thả nói:

- Chị em ta còn hơn cả ruột thịt, nhưng rốt lại cũng không thể sum họp suốt đời, tính lại chẳng bằng cứ bắt chước hai chị em Nữ Anh Nga Hoàng cùng lấy vua Thuấn.

Phong nói:

- Thiếp lúc nhỏ học được thuật lạ, thở hít có thể trường sinh nên không muốn lấy chồng.

Nàng Mười một cười nói:

- Những thuật trường sinh trên đời vẫn truyền tụng có tới hàng đống, nhưng đã có ai học theo mà được trường sinh?

Phong đáp:

- Cái thuật mà thiếp học được không phải như người đời vẫn biết.

Thuật người đời vẫn truyền chẳng phải là chân truyền, chỉ có Ngũ cầm đồ của Hoa Đà là đúng.

Phàm hành giả luyện công ai cũng muốn khí huyết được lưu thông, nếu bị ngưng trệ vướng mắc mà làm theo tư thế con cọp thì hết ngay, không phải là hiệu nghiệm à?

*[Ngũ cầm đồ của Hoa Đà: Hậu Hán thư, Hoa Đà truyện chép Hoa Đà là bậc danh y, có một cách tập luyện thân thể tên là "Ngũ cầm chi hý" mô phỏng tư thế, động tác của năm giống vật là cọp, hươu, gấu, vượn, chim.

Ngũ cầm đồ đây có lẽ chỉ các bức vẽ hướng dẫn về cách tập luyện nói trên].

Nàng Mười một ngầm bàn mưu với sinh, bảo sinh giả có việc đi xa, đến đêm cố ép Phong uống rượu thật say cho sinh vào làm bừa.

Tam nương tỉnh dậy nói:

- Muội tử hại ta rồi.

Nếu không phá sắc giới mà tu luyện thành đạo thì có thể lên tới tầng trời thứ nhất.

Nay vướng vào mưu gian, cũng là mệnh vậy.

Bèn đứng dậy từ giã, nàng Mười một bày tỏ lòng thành, năn nỉ xin tha lỗi.

Phong nói:

- Nói thật ta là hồ, vì thấy em xinh đẹp chợt nảy lòng yêu mến, như con tằm nhả kén tự buộc lấy mình mới có chuyện ngày hôm nay.

Đó là vì tình nghiệt chứ không phải sức người, còn ở lại đây thì ma chướng càng sâu, không biết tới đâu là hết.

Nương tử phúc trạch còn nhiều, xin tự bảo trọng.

Dứt lời thì biến mất, vợ chồng kinh ngạc than thở hồi lâu.

Qua năm sau sinh đỗ cả thi hương lẫn thi hội, làm quan tới chức Hàn lâm, đưa danh thiếp tới yết kiến Phạm công, Phạm công thẹn thùng hối hận không chịu tiếp, sinh năn nỉ mãi mới ra gặp Sinh vào lạy chào theo lễ con rể rất cung kính, Phạm công nổi giận ngờ là sinh chế nhạo.

Sinh xin nói chuyện riêng rồi kể hết mọi việc, Phạm công chưa tin lắm, sai người tới nhà sinh xem mới kinh ngạc vui mừng nhưng ngầm dặn người nhà giữ kín đừng nói rộng ra vì sợ có tai biến.

Hai năm sau, vị quan Mỗ phạm tội bị phát giác, cha con đều bị sung quân ở Liêu Hải, nàng Mười một mới về thăm cha mẹ.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 132+133


CHƯƠNG 132: HỒ MỘNG

GIẤC MỘNG HỒ

Ký Đắc Hài Bôi Tiêm Thủ Kình

Mộng Trung Yến Tiếu Thượng Phân Minh

Dã Tư Bút Mặc Truyền Thiên Cổ

Mạc Đạo Tiên Nhân Bất Ái Danh

Dịch:

Tay Búp Măng Nâng Chuốc Chén Quỳnh

Cuộc Vui Trong Mộng Nhớ Phân Minh

Cũng Mong Bút Mực Truyền Muôn Thuở

Ai Bảo Rằng Tiên Chẳng Hiếu Danh



Tất Di Am bạn ta tính phóng túng khác người, hào hùng tự tại, mặt béo râu rậm, kẻ sĩ đều biết tiếng.

Nhân vì có việc tới ở nhà riêng ông chú làm Thứ sử, nghỉ ngơi trên lầu, nghe đồn trong lầu có nhiều hồ.

Tất mỗi khi đọc truyện Thanh Phượng thường tỏ lòng hâm mộ, hận không được một lần gặp gỡ.

Nhân ở trên lầu cứ mong mỏi tơ tưởng, kế về phòng thì trời đã tối, lúc ấy đang tháng hè nóng bức bèn nằm ngủ ngay giữa cửa.

Đang ngủ thì có người lay gọi, tỉnh dậy nhìn thì thấy một người đàn bà hơn bốn mươi tuổi nhưng vẫn còn phong vận.

Tất giật mình trỗi dậy hỏi là ai, người đàn bà cười nói:

- Ta là hồ, được chàng có lòng mơ ước, thầm cảm lòng mà tới.

Tất nghe thấy mừng rỡ, buông lời đùa cợt ve vãn, người đàn bà cười nói:

- Thiếp già rồi, nếu người ta không ghét bỏ thì tự mình cũng thấy hổ thẹn.

Có đứa con gái nhỏ đến tuổi cập kê, có thể hầu khăn lược, đêm mai xin ông ở đây một mình, nó sẽ tới.

Dứt lời ra đi.

Tối hôm sau Tất đốt hương ngồi chờ, quả nhiên người đàn bà dắt con gái tới, thấy phong thái xinh đẹp, trên đời không hai.

Người đàn bà dặn con gái:

- Tất lang có túc duyên với con, cứ ở lại đây, sáng mai phải về sớm, đừng ngủ quên đấy.

Tất kéo tay nàng vào màn, cùng nhau vui thú, xong rồi nàng cười nói:

- Chàng béo vừa nặng vừa ngốc, làm người ta không sao chịu nổi.

Chưa sáng nàng đã ra đi, chập tối lại tới, nói:

- Bọn chị em định mở tiệc chúc mừng tân lang, ngày mai xin chàng cùng đi.

Tất hỏi ở đâu, nàng đáp:

- Chị cả đứng ra mời, cách đây cũng không xa.

Đêm sau Tất ngồi đợi lâu quá không thấy nàng tới, dần dần mỏi mệt nằm gục xuống bàn.

Chợt cô gái bước vào nói:

- Làm phiền chàng phải đợi lâu!

Rồi cầm tay Tất dẫn đi.

Tới một nơi nhà cao cửa rộng, đi thẳng vào sảnh đường thì thấy đèn đuốc giăng giăng nhiều như sao trời.

Giây lát chủ nhân bước ra, thấy tuổi khoảng hai mươi, trang điểm sơ sài nhưng vô cùng xinh đẹp, khép nép chúc mừng mới.

Sắp vào tiệc thì tỳ nữ vào báo:

- Cô Hai tới!

Kế thấy một nữ lang vào, khoảng mười tám mười chín tuổi, nhìn cô gái cười nói:

- Em gái thế là biết mùi tình rồi, có vừa lòng không chàng rể mới không.

Cô gái cầm quạt đập vào lưng chị, trợn mắt nhìn, nàng Hai nói:

- Nhớ lại lúc nhỏ đùa vật lộn với em, em sợ bị cù vào mạng sườn, chị mới giơ ngón tay quát nạt từ xa là đã cười bò ra, kế giận ta, nói sẽ lấy phải anh chồng lùn tịt, ta nói con nhãi sau này sẽ lấy phải anh chàng rậm râu đâm cho nát môi ra, nay quả đúng thế.

Nàng Cả cười nói:

- Chẳng trách dì Ba lại giận dỗi, rể mới đang ở đây mà ăn nói bừa bãi như thế.

Kế đó cùng nhau vào tiệc, uống rượu cười nói rất vui vẻ.

Chợt một cô gái nhỏ bế một con mèo tới, khoảng mười một mười hai tuổi, tóc còn chưa kết bím nhưng cốt cách đã lộ vẻ xinh đẹp.

Nàng Cả nói:

- Em Tư cũng muốn xem mặt anh rể à?

Nhưng ở đây hết chỗ rồi!

Rồi bế cô nhỏ đặt ngồi lên đùi lấy bánh trái cho ăn.

Lát sau lại bế đặt vào lòng nàng Hai, nói:

- Nó đè lên đùi ta nặng quá!

Nàng Hai nói:

- Con nhãi to xác nặng hàng trăm cân, ta ốm yếu làm sao chịu nổi.

Đã muốn xem mặt anh rể, thì anh rể vốn to lớn, đùi to dễ ngồi lắm.

Rồi bế xốc em đặt vào lòng Tất, Tất thấy người cô nhỏ thơm tho mềm mại mà nhẹ như không, bèn ôm lấy cho uống rượu cùng chén với mình.

Nàng Cả nói:

- Con nhãi đừng quá chén, say rồi luống cuống thì anh rể cười cho đấy!

Cô nhỏ nhoẻn miệng cười, lấy tay chọc mèo cho nó kêu lên.

Nàng Cả nói:

- Còn không vứt đi, cứ ôm lấy nó cho lây bọ chét.

Nàng Hai nói:

- Xin lấy con mèo làm tửu lệnh, mọi người cứ cầm đũa chuyền cho nhau, tới ai mà mèo kêu thì người ấy phải uống.

Mọi người theo lời.

Cứ đũa tới tay Tất là mèo lại kêu, Tất vốn uống rượu rất hào, uống liền mấy chén lớn mới biết cứ đũa tới mình là cô nhỏ lại véo mèo cho kêu lên.

Mọi người cười ầm, nàng Hai nói:

- Thôi em đi ngủ đi, ngồi tê cả chân ông anh, không khéo chị Ba lại phiền.

Cô gái nhỏ bèn bế mèo đi ra.

Nàng Cả thấy Tất tửu lượng cao liền gỡ cái độn tóc rót rượu mời, Tất nhìn thấy cái độn chỉ khoảng một thăng nhưng khi uống thì thấy rượu nhiều như mấy đấu, uống cạn nhìn lại thì hóa ra là tàu lá sen.

Nàng Hai cũng muốn mời, Tất chối từ nói không uống nổi nữa, nàng bèn lấy ra cái hộp đựng nhẫn nhỏ như viên đạn rót rượu vào nói:

- Nếu không uống được nhiều thì xin uống một chút cho ta vui.

Tất nhìn thấy nghĩ chỉ một hớp là hết, nhưng uống liên tiếp hàng trăm hớp vẫn không cạn.

Cô gái ngồi cạnh bèn lấy cái chén hạt sen thay cái hộp đựng nhẫn, nói:

- Đừng để kẻ gian lừa gạt!

Đặt cái hộp lên bàn thì là một cái tô lớn.

Nàng Hai nói:

- Việc gì đến ngươi?

Vợ chồng mới ba ngày mà yêu thương đến thế kia à?

Tất cầm lấy cái chén đua lên miệng dốc cạn, chợt thấy vật trong tay mềm mềm, nhìn kỹ thì không phải là chén mà là một chiếc giày thêu, đường kim mũi chỉ cục kỳ khéo léo.

Nàng Hai vội giật lấy, mắng:

- Con nhãi đánh cắp giày người ta lúc nào thế?

Chẳng trách gì chân ta cứ lạnh toát.

Rồi đứng dậy vào nhà trong thay giày.

Cô gái mời rượu khắp lượt rồi đứng lên từ biệt, tiễn Tất ra tới ngoài thôn, bảo cứ về một mình.

Tất chợt tỉnh thì ra là giấc mộng, nhưng thấy trong miệng vẫn còn mùi rượu thơm phức, lấy làm lạ lùng.

Đến tối cô gái tới, nói:

- Đêm qua say rượu chưa chết à?

Tất nói vẫn đang ngờ là giấc mộng.

Nàng nói:

- Các chị em sợ chàng say sưa ngông cuồng nên thác vào giấc mộng đấy, chứ thật ra không phải mộng đâu!

Cô gái cùng Tất đánh cờ, Tất thường thua, nàng cười nói:

- Chàng hàng ngày vẫn nghiện môn này, thiếp cứ nghĩ là giỏi lắm, nay xem ra cũng chỉ thường thường vậy thôi.

Tất xin chỉ dạy cho, cô gái nói:

- Thuật chơi cờ là do người chơi tự lĩnh hội mà ngộ, thiếp làm sao giúp chàng được cứ mỗi ngày nghiền ngẫm thêm một ít thì may ra có thể khá lên.

Qua vài tháng, Tất thấy đánh cờ hơi lên tay, cô gái đánh thử rồi cười nói:

- Còn chưa được, còn chưa được?

Tất ra ngoài chơi với các bạn cờ thì ai cũng thấy giỏi hơn hẳn, có người lấy làm lạ.

Tất vốn tính ngay thẳng thành thật không quen giấu diếm bèn nói lộ ra, cô gái biết ngay, trách:

- Chẳng lạ gì bạn bè không chơi với gã cuồng sinh, đã dặn đi dặn lại là phải kín miệng, sao chàng còn làm như thế?

Rồi giận dỗi bỏ đi.

Tất xin lỗi mãi nàng mới hơi nguôi, nhưng từ đó tới ngủ lại thưa hơn trước.

Được hơn một năm, một đêm nàng tới ngồi im nhìn Tất, rủ đánh cờ thì không đánh, bảo đi ngủ cũng không ôi, buồn rầu hồi lâu rồi nói:

- Chàng xem thiếp với Thanh Phượng ai hơn?

Tất đáp:

- Nàng hơn nhiều chứ!

Cô gái nói:

- Thiếp tự thẹn là không bằng, nhưng ông Liêu Trai là bạn văn chương với chàng, nhờ chàng phiền ông viết cho một thiên tiểu truyện, chưa chắc sau ngàn năm đã không có người mong mỏi như chàng.

Tất nói:

- Ta vốn có ý ấy, nhưng vì nhớ lời nàng dặn nên còn giữ kín.

Cô gái nói:

- Đúng là trước kia thiếp có dặn thế thật, nhưng nay đã sắp chia tay, còn e ngại gì nữa.

Tất hỏi đi đâu, nàng đáp:

- Thiếp và em Tư được Tây Vương Mẫu triệu làm Hoa điểu sứ, không thể tới đây được nữa.

Tất xin dặn dò vài lời, nàng nói:

- Bỏ tức giận thì bớt lỗi lầm!

Rồi đứng lên cầm tay Tất nói:

- Chàng tiễn thiếp một đoạn!

Đi khoảng một dặm thì nhỏ lệ chia tay, nàng nói:

- Hai ta có lòng, biết đâu sẽ có ngày gặp lại.

Rồi đi.

Ngày mười chín tháng chạp năm Khang Hy thứ 21 (1682), ông Tất cùng ta nằm gác chân lên nhau trò chuyện ở Xước Nhiên Đường, kể lại tỉ mỉ chuyện lạ này.

Ta nói:

- Có hồ như thế thì bút mục Liêu Trai cũng được vẻ vang.

Bèn ghi chép lại.

*(Truyện Thanh Phượng nằm ở chương 13).

______________________________________

CHƯƠNG 133: CHƯƠNG A ĐOAN

Nhất Lâm Cổ Quỷ Kiêm Tân Quỷ

Túng Sử Cương Trường Dã Tự Thương

Lại Hữu Đạo Tràng Năng Sám Hối

Mộng Trung Tằng Thuyết Kiến Đoan Nương

Dịch:

Nặng Nề Âm Khí Rừng Khuya Rợn

Dạ Sắt Dù Cho Cũng Cảm Thương

Nhờ Có Đạo Tràng Hay Sám Hối

Giấc Mơ Còn Nói Thấy Đoan Nương



Thích sinh người huyện Vệ Huy (tỉnh Hà Nam), lúc trẻ đã chín thắn, gan dạ dám nhận việc lớn.

Lúc ấy có nhà đại tộc có tòa phủ đệ, giữa ban ngày thấy ma hiện hình, người nhà nối nhau chết nên xin bán rẻ.

Sinh thấy rẽ bèn mua để ở, nhưng nhà rộng mà người ít, những lầu gác ở phía đông cỏ mọc như rừng, đành tạm bỏ hoang, tôi tớ cứ đêm đêm la hoảng, kêu là có ma.

Hơn hai tháng thì một người tỳ nữ chết, không bao lâu thì vợ sinh đang lúc chiều tối tới khu lầu gác hoang phế, về phát bệnh vài hôm cũng chết.

Gia nhân càng sợ khuyên dời đi chỗ khác, sinh không nghe, nhưng góa vợ trơ trọi một mình, trong lòng đã buồn rầu, bọn tôi tớ lại cứ đem những chuyện quái lạ trong nhà ra nói.

Sinh nóỉ giận hầm hầm mang chăn gối ra ngủ một mình trong ngôi đình bỏ hoang, để đèn chờ xem sự lạ nhưng hồi lâu không thấy gì, dần dần thiếp đi.

Bỗng có người thò tay vào chăn sờ soạng vuốt ve, sinh tỉnh dậy nhìn thì là một người tỳ nữ già mặt mày nhăn nheo đầu tóc rối bù trông rất ghê tởm.

Sinh biết là ma, nắm cánh tay đẩy ra cười nói:

- Tôn giá thì ta không thể vâng mệnh!

Bà ta hổ thẹn rút tay lại, thất thểu bỏ đi.

Giây lát một nữ lang từ phía tây bắc đi ra, dáng dấp xinh đẹp, sấn tới trước đèn giận dữ mắng gã học trò ngông ở đâu dám tới đây nằm, sinh trỗi dậy cười nói:

- Tiểu sinh là chủ nhà này, đợi nàng để đòi tiền phòng thôi.

Rồi vùng dậy trần truồng đuổi bắt.

Cô gái vội bỏ chạy, sinh chạy tới phía tây bắc trước chặn đường, nàng cùng đường ngồi luôn xuống giường.

Sinh tới gần, dưới ánh đèn thấy nàng đẹp như tiên bèn ôm vào lòng.

Cô gái cười nói:

- Gã học trò ngông không sợ ma ư?

Ta sẽ vật chết đấy.

Sinh cởi tuột áo quần ra, nàng cũng không chống cự lắm, xong rồi bèn nói:

- Thiếp họ Chương tên A Đoan, lấy phải thằng chồng lêu lổng, tính hung ác bất nhân cứ chửi mắng đánh đập nên phẫn uất chết yểu, chôn ở đây hơn hai mươi năm rồi.

Dưới nền nhà này toàn là mồ mả.

Sinh hỏi người tỳ nữ già là ai, nàng đáp:

- Cũng là một con ma cũ ở đây, hầu hạ cho thiếp.

Có người sống ở bên trên thì ma quỷ bên dưới không yên nên mới rồi sai mụ ra đuổi chàng đi.

Sinh hỏi mụ sờ soạng để làm gì, nàng cười đáp:

- Mụ ta đã ba mươi năm nay chưa được gần gũi đàn ông, kể cũng đáng thương, nhưng thật không tự biết xét mình.

Đại khái ai yếu bóng vía thì ma càng quấy phá, ai cứng cỏi thì ma không dám xúc phạm.

Nghe chuông chùa xóm bên dứt tiếng, nàng mặc quần áo bước xuống giường nói:

- Nếu chàng không nghi ngờ, thì đêm thiếp sẽ lại tới.

Trời tối, quả thật nàng lại tới, cùng nhau mây mưa rất hoan lạc.

Sinh nói:

- Vợ ta chẳng may qua đời, ta thương xót không khuây, nàng có thể đưa giúp về đây được không?

Cô gái nghe thế càng thêm ngậm ngùi, nói:

- Thiếp chết hai mươi năm mà không có ai nghĩ nhớ tới một lần, chàng quả là người đa tình, thiếp xin cố hết sức.

Nhưng nghe nói nương tử đã có chỗ đầu thai rồi, không biết còn ở dưới âm ty không.

Qua đêm sau nàng nói với sinh rằng:

- Nương tử sắp được đầu thai vào nhà giàu sang nhưng vì lúc còn sống vì mất đôi hoa tai mà đánh đập đứa tỳ nữ khiến nó treo cổ tự tử, còn kiện tụng chưa xong nên chưa đi, nay đang tạm ở lại chỗ Dược Vương, có người canh giữ.

Thiếp sai mụ tỳ nữ đi lo lót, có khi sắp về tới.

Sinh hỏi sao nàng lại được thong thả, cô gái đáp:

- Phàm ma quỷ chết oan nếu không tự tới khai báo thì Diêm Vương không sao biết được.

Vừa hết canh hai thì người tỳ nữ già đưa vợ sinh về, sinh nắm tay vợ đau xót khóc lóc, vợ cũng rơi lệ không nói được gì.

Cô gái từ giã, nói:

- Hai người cứ nói chuyện với nhau, đêm khác sẽ gặp lại.

Sinh an ủi hỏi thăm việc đứa tỳ nữ tự tử, vợ đáp:

- Không hề gì, đã xử xong rồi!

Rồi lên giường ôm ấp yêu đương như lúc còn sống, từ đó lại ăn ở với nhau như thường.

Năm ngày sau, vợ sinh chợt khóc nói:

- Ngày mai thiếp phải đi Sơn Đông, đến lúc vĩnh quyết rồi, biết làm thế nào?

Sinh nghe nói rơi lệ sụt sùi, vô cùng đau đớn.

Cô gái khuyên nói:

- Thiếp có một cách có thể giúp hai người tạm thời sum họp.

Hai người cùng gạt lệ hỏi cách gì, nàng xin lấy mười xấp giấy tiền đem đốt ở dưới gốc cây hạnh trước gian nhà phía nam để hối lộ với người áp giải đi đầu thai xin hoãn lại ít lâu.

Sinh theo lời, đến tối thì vợ về nói:

- May nhờ có Đoan nương nên nay được sum vầy thêm mười hôm.

Sinh mừng rỡ không cho Đoan về mà giữ lại cùng nằm chung giường từ đêm đến sáng, chỉ sợ cuộc vui chóng tàn.

Qua bảy tám ngày, thấy kỳ hạn sắp hết, vợ chồng khóc lóc suốt đêm, hỏi cô gái có kế gì không.

Nàng nói:

- Tình thế này khó mà làm như lần trước, nhưng muốn thử thì không có trăm vạn không được.

Sinh bèn đốt đủ số.

Hôm sau cô gái tới mừng rỡ nói:

- Thiếp nhờ người nói với kẻ áp giải, lúc đầu y ra vẻ khó khăn, đến khi thấy có nhiều tiền mới xiêu lòng, giờ đã lấy con ma khác đi đầu thai thay nương tử rồi.

Từ đó ban ngày cũng không về, bảo sinh đóng kín cửa, thắp đèn không lúc nào tắt.

Cứ thế hơn một năm, chợt cô gái mắc bệnh, thẫn thờ buồn bã, hoảng hốt như thấy ma.

Vợ sinh vỗ về nàng, nói:

- Đây là bệnh ma làm!

Sinh hỏi:

- Đoan nương đã là ma rồi, lại còn ma nào làm cho bệnh nữa?

Vợ sinh đáp:

- Không phải, người chết thành ma, ma chết thành mị, ma sợ mị cũng như người sợ ma vậy.

Sinh muốn mời thầy cúng, vợ nói:

- Bệnh của ma thì làm sao người chữa được?

Bà Vương ở thôn bên đang làm thầy cúng dưới âm ty, có thể gọi tới.

Nhưng từ đây tới đó đường xa mười dặm, mà thiếp chân yếu không đi bộ được, xin chàng đốt cho con ngựa giấy.

Sinh theo lời, ngựa giấy vừa cháy tàn thì tỳ nữ dắt con ngựa lông đỏ tới trước sân đưa dây cương cho vợ sinh, trong chớp mắt biến mất.

Giây lát cùng một bà già cưỡi chung ngựa tới, buộc vào cột hiên.

Bà già vào ngồi xuống, lắc lư lên đồng, ngã lăn xuống đất một lúc rồi bò dậy nói:

- Ta là Hắc Sơn đại vương đây, nương tử đây bệnh nặng lắm, may mà gặp tiểu thần, phúc trạch không kém đâu.

Bệnh này là bị ma làm nhưng không sao không sao, muốn khỏi phải cúng ta thật hậu, vàng trăm nén, tiền trăm quan, cỗ bàn một tiệc, không được thiếu món nào.

Vợ sinh răm rắp vâng dạ.

Bà ta lại ngã xuống đất rồi tỉnh lại, nhìn vào người bệnh quát tháo rồi thôi.

Kế xin về, vợ sinh tiễn ra tới sân, tặng luôn cho con ngựa, bà ta vui vẻ ra về.

Vào nhìn thấy cô gái như hơi tỉnh táo, vợ chồng cả mừng vỗ về hỏi han, nàng chợt nói:

- Thiếp sợ không trở về nhân gian được nữa, cứ nhắm mắt là thấy oan quỷ hiện ra, cũng là số mệnh vậy.

Rồi khóc sướt mướt.

Qua đêm sau bệnh nàng càng nặng, co quắp run rẩy như thấy vật gì, cứ kéo sinh lên nằm chung, rúc đầu vào lòng sinh như sợ bị bắt đi, sinh đứng lên đi đâu thì kinh hoảng kêu la, cứ thế luôn sáu bảy ngày, vợ chồng không biết tính sao.

Gặp hôm sinh đi vắng nửa ngày mới về, nghe tiếng vợ khóc hoảng hốt vào hỏi thì Đoan nương đã chết trên giường, xác vẫn còn đó.

Sinh giở chăn nhìn thấy xương trắng phau phau, thương xót gào khóc, đem tống táng như người, chôn cạnh mồ mả ông bà.

Một đêm vợ sinh nằm mơ khóc thổn thức, sinh lay gọi hỏi chuyện gì thì đáp:

- Vừa rồi mộng thấy Đoan nương tới nói chồng nàng làm mị giận nàng chết rồi mà không giữ tiết nên tới đòi mạng, xin lập đạo tràng siêu độ cho.

Sinh đậy sớm định làm theo lời, vợ ngăn lại nói:

- Việc siêu độ cho ma chết thì chàng không làm được đâu.

Rồi trở dậy đi, giây lát trở về nói:

- Ta đã sai người đi mời sư, phải đốt tiền trước cho họ làm lộ phí.

Sinh theo lời, mặt trời vừa lặn thì tăng chúng kéo cả tới, trống chiêng nạo bạt đều giống hệt như ở trần gian, vợ cứ nói ồn ào điếc cả tai nhưng sinh không nghe thấy gì cả.

Cúng xong, vợ sinh lại nằm mơ thấy Đoan nương về tạ ơn, nói:

- Thù oán đã rửa sạch rồi, sắp đi thác sinh làm con gái Thành hoàng, nhờ nói lại cho chàng Thích biết.

Vợ sinh về nhà ba năm, gia nhân lúc đầu nghe biết rất sợ, lâu ngày dần quen, sinh đi đâu vắng thì đứng ngoài cửa sổ thưa bẩm việc nhà.

Một đêm, nàng nhìn sinh khóc nói:

- Người lính áp giải vong hồn đi đầu thai trước đây đã để lộ việc man trá, nay âm ty lùng bắt thiếp rất gấp, e không thể sum họp lâu nữa.

Mấy hôm sau quả nhiên bị bệnh, nói:

- Vì nặng tình chàng nên chỉ muốn chết mãi chứ không thích được thác sinh, nhưng nay sắp phải vĩnh biệt, chắc cũng là số chăng?

Sinh lo sợ hỏi có cách nào thoát không, nàng nói:

- Chuyện này thì không có cách gì đâu.

Sinh hỏi liệu có bị trừng phạt gì không, vợ đáp:

- Cũng bị trừng phạt qua loa, tham sống mới là tội to chứ tham chết chỉ là tội nhỏ.

Nói xong nằm yên không động đậy, nhìn kỹ thì dung mạo thân thể dần dần biến mất.

Sinh cứ ra ngủ một mình trong đình để chờ có ngày gặp lại, nhưng rốt lại vẫn bặt tăm, từ đó gia nhân ở yên.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 134+135


CHƯƠNG 134: HOA CÔ TỬ

Giải Cấu Nguyên Vô Kháng Lệ Duyên

Hoa Cô Tình Ý Tự Triền Miên

Vị Lang Bất Tích Tàn Sinh Mệnh

Trì Ngã Phi Thăng Nhất Bách Niên

Dịch:

Khéo Đâu Gặp Gỡ Kết Lương Duyên

Tình Ý Hoa Cô Khắng Khít Bền

Tan Mệnh Vì Chàng Không Nỡ Tiếc

Trăm Năm Đành Chậm Việc Lên Tiên



An Ấu Dư là Bạt cống ở đất Thiểm (tỉnh Thiểm Tây), tính phung phí hay làm việc nghĩa, lại thích phóng sinh, thấy ai săn được chim muông là bỏ nhiều tiền mua rồi thả ra.

Gặp lúc nhà ông cậu có tang, sinh tới giúp việc đưa đám, chiều tối trở về qua núi Hoa Nhạc, bị lạc đường trong núi, trong lòng lo sợ, chợt thấy cách khoảng một tầm tên có ánh đèn lửa bèn rảo bước tới.

Được mấy bước bỗng thấy một ông già lưng còng kéo lê gậy, cắt đường đi mau tới.

An dừng bước định hỏi thăm thì ông già đã hỏi trước là ai.

An thưa chuyện mình lạc đường, lại nói chỗ có đèn lửa chắc là xóm núi, định tới ngủ nhờ.

Ông già nói:

- Đó không phải là nơi yên ổn, may mà lão phu tới đây, cứ theo lão về, nhà tranh cũng có chỗ nghỉ ngơi.

An cả mừng đi theo, khoảng một dặm thì tới một xóm nhỏ.

Ông già gõ phên cửa, một bà già ra mở cửa hỏi:

- Ông đã về đấy à?

Ông già đáp:

- Phải!

An vào thấy nhà thấp nhỏ thật hẹp, ông già khêu đèn giục ngồi rồi bảo bà già có gì ăn thì đem lên mời khách, lại nói:

- Đây không phải ai khác mà là ân nhân của ta đấy.

Bà đi lại khó khăn, cứ gọi Hoa Cô dọn rượu.

Lát sau một cô gái bưng mâm vào rồi đứng cạnh ông già, đưa mắt liếc trộm.

An nhìn lại thấy mặt hoa da phấn, xinh đẹp như tiên.

Ông già ngoảnh lại sai hâm rượu, trong gian phòng phía tây có lò than, cô gái bước vào nhóm lửa.

An hỏi lão truựng là ai, ông già đáp:

- Lão phu họ Chương, bảy mươi tuổi chỉ có một đứa con gái đó, trong nhà ít tôi tớ, vì ông không phải là người lạ nên mới dám gọi vợ con ra bái kiến, xin đừng chê cười!

An hỏi:

- Nhà con rể lão trượng ở đâu?

Ông già đáp còn chưa có ai.

An luôn miệng khen cô gái xinh đẹp thông minh, ông già đang khiêm nhường đáp lại chợt nghe cô gái la hoảng, chạy vào thì là rượu sôi trào ra bốc cháy.

Ông già dập tắt xong, mắng:

- Con nhãi lớn rồi mà rượu sôi không biết à?

Nhìn thấy cạnh lò có hình nữ thần Tử Cô bằng ruột cây quỳ còn bện chưa xong lại mắng:

- Tóc bồng bồng như thế mà còn như trẻ con.

Bèn cầm lên cho An xem, nói:

- Nó tham làm cái này để kiếm ăn nên để rượu sôi trào ra, được bậc quân tử quá khen, há chẳng thẹn chết sao?

An ngắm kỹ thấy mắt mày xiêm áo làm rất khéo léo bèn khen rằng:

- Tuy giống như trò chơi của trẻ con nhưng cũng đủ thấy là rất sáng dạ.

Chuốc chén hồi lâu, cô gái mấy lần ra rót rượu, nhoẻn miệng tươi cười không hề có vẻ ngượng nghịu.

An chăm chú nhìn, thấy lòng xao xuyến.

Chợt nghe tiếng bà già gọi, ông già đi vào, An thấy không có ai bèn nói với cô gái:

- Nhìn thấy dung mạo người tiên làm ta điên đảo, muốn nhờ mối lái dạm hỏi mà sợ không được, ý nàng thế nào?

Cô gái cầm bầu rượu tới cạnh lò, im lặng như không nghe thấy, hỏi mấy lần không đáp, sinh bèn bước vào phòng.

Cô gái đứng lên nghiêm mặt nói:

- Chàng cuồng vào phòng định làm gì?

An quỳ rạp nài nỉ, nàng đi mau tới cửa định chạy ra, An đứng bật dậy chặn đường, ôm lấy nàng hôn hít.

Cô gái run rẩy kêu lên, ông già vội chạy vào, An buông tay bước ra, vô cùng thẹn thùng sợ sệt.

Cô gái thong thả nói với cha:

- Rượu lại sôi trào, không có chàng đây chạy vào thì cả cái bầu cũng cháy luôn rồi.

An nghe thế mới yên lòng, càng biết ơn nàng, thần hồn điên đảo bỏ luôn ý định mới rồi.

Rồi đó giả say rời bàn, cô gái cũng bước ra, ông già trải chăn đệm xong đóng cửa đi.

An không ngủ được, chưa sáng đã gọi ông già dậy chào về.

Về tới nhà, sinh lập tức nhờ bạn thân tới cầu hôn, nhưng họ đi trọn ngày trở về mà không tìm được nhà cô gái.

An bèn sai đầy tớ thắng ngựa tìm đường lần tới.

Tới nơi chỉ thấy vách núi cao ngất không có xóm làng nào, hoi thăm thôn xóm gần đó thì có rất ít người họ Chương.

An thất vọng ra về, bỏ cả ăn ngủ, từ đó mắc bệnh choáng váng, gượng húp chút nước cháo thì nôn nao muốn mửa, lúc mê sảng cứ gọi nàng Hoa Cô.

Người nhà không hiểu ra sao, chỉ suốt đêm vây quanh chăm sóc nhưng bệnh tình ngày càng nguy ngập.

Một đêm những người chăm sóc mệt mỏi ngủ cả, sinh mơ màng thấy có người lay, hé mắt nhìn thì thấy Hoa Cô Tử đứng ngay bên giường, bất giác tỉnh táo hẳn, nhìn nàng chằm chằm ứa nước mắt.

Cô gái nghiêng đầu cười nói:

- Chú nhỏ ngây sao lại tới nông nỗi này?

Rồi lên giường ngồi trên đùi An, lấy hai tay day huyệt thái dương.

An thấy có mùi xạ hương thơm ngát xộc vào mũi thấm tận xương.

Nàng day một lúc An chợt thấy trán đổ mồ hôi, dần dần thân thể chân tay cũng thế.

Nàng nói nhỏ:

- Trong phòng có nhiều người, thiếp ở lại không tiện, ba ngày nữa sẽ tới thăm chàng.

Lại lấy trong tay áo thêu ra mấy cái bánh bao đặt lên đầu giường rồi lặng lẽ ra đi.

Đến nửa đêm An ra hết mồ hôi thấy đói bèn lấy bánh ăn, không biết nhân gì mà thơm ngon lạ thường, ăn liền ba cái rồi lấy áo đậy lên chỗ còn lại thiếp đi.

Trời sáng hẳn mới tỉnh giấc, thấy như trút được gánh nặng.

Ba ngày ăn hết bánh, tinh thần càng sảng khoái bèn cho người nhà ra hết.

Lại sợ cô gái tới không vào được bèn lén ra chỗ sân thông vào thư phòng mở hết then cửa.

Không bao lâu quả nhiên cô gái tới, cười nói:

- Chàng ngây không tạ ơn bà lang à?

An mừng quá ôm lấy nàng cùng giao hoan, ân ái hết mực.

Kế cô gái nói:

- Thiếp mạo hiểm chịu tiếng xấu chỉ vì báo đáp ơn lớn chứ thật không thể chung sống với nhau mãi mãi, xin chàng sớm liệu chia tay.

An im lặng hồi lâu rồi hỏi:

- Vốn bình sinh đã quen biết gia đình nàng ở đâu, quả thật không nhớ.

Cô gái không đáp, chỉ nói:

- Chàng tự nghĩ thì biết!

Sinh nài nĩ xin được gàn bó dài lâu, nàng nói:

- Đêm nào cũng lén tới thì không xong, mà lấy nhau như vợ chồng cũng không được.

An nghe nói vô cùng buồn bã, cô gái bèn nói:

- Nếu muốn cưới nhau, đêm mai xin mời chàng tới nhà thiếp.

An bèn đổi buồn làm vui, hỏi:

- Đường sá xa xôi, chân nàng nhỏ bé làm sao tới đây được?

Cô gái đáp:

- Thiếp vốn chưa về nhà, bà điếc bên láng giềng là hàng dì của thiếp, vì việc chàng mà nấn ná đến nay, sợ ở nhà lo lắng.

An cùng nàng ngủ chung, chỉ thấy hơi thở da thít đều thơm ngát bèn hỏi:

- Nàng xông loại hương gì mà thấm cả vào da thịt thế?

Cô gái đáp:

- Thiếp sinh ra đã thế, không phải do xông hương đâu.

An càng lấy làm lạ.

Sáng ra nàng dậy từ biệt, An sợ lạc đường, nàng hẹn sẽ chờ trên dường.

Chiều tối An phóng ngựa đi, quả thấy cô gái đứng chờ, đưa tới chỗ cũ.

Hai ông bà vui vẻ đón tiếp, cơm rượu không có món nào ngon, có cả những thứ rau tạp.

Kế mời khách đi nghỉ, cô gái không nhìn ngó gì tới, An càng nghi ngại.

Mãi đến khuya nàng mới tới nói:

- Cha mẹ cứ rì rầm không ngủ khiến chàng phải chờ lâu.

Hai người quấn quít cả đêm, nàng nói với An:

- Gặp mặt đêm nay rồi xa nhau trăm năm đấy.

An ngạc nhiên hỏi, nàng đáp:

- Cha thấy xóm nhỏ này lẻ loi vắng vẻ nên sắp dời nhà đi xa, gặp gỡ chàng đêm nay nữa là thôi.

An không nỡ buông nàng ra, ngẩng lên cúi xuống than thở, đang còn lưu luyến thì trời sáng dần, chợt ông già sấn vào mắng:

- Con nhãi làm nhơ nhuốc gia phong khiến ta nhục nhã muốn chết!

Cô gái tái mặt vội vàng chạy mất, ông già cũng bước ra, vừa đi vừa mắng.

An sợ hãi quýnh quáng, không biết làm sao đành lẻn ra trốn về.

Mấy ngày bồi hồi, trong lòng bứt rứt không yên, nhân nghĩ đến đêm lần tới trèo tường vào xem sao, ông già đã nói ta có ơn với họ thì dù việc lộ ra chắc cũng không trách móc nặng lời.

Bèn nhân đêm tối lẻn tới, lần mò trong núi, lạc lối không biết đi đường nào, sợ quá đang tìm lối về thì thấy trong hốc núi thấp thoáng có nhà cửa.

Mừng rỡ đi tới thấy tường cao cổng rộng như nhà thế gia, mấy lớp cổng còn chưa đóng.

Hỏi thăm nhà họ Chương thì có một người tỳ nữ ra hỏi là ai mà đang đêm hỏi thăm nhà họ Chương, An đáp:

- Đó là người quen với ta, ngẫu nhiên quên mất nhà.

Người tỳ nữ nói:

- Chàng trai không phải hỏi họ Chương nữa, đây là nhà mợ nàng, Hoa Cô hiện đang ở đây, để ta vào báo.

Trở vào không bao lâu thì quay ra mời An vào, vừa vào tới hành lang thì Hoa Cô đã rảo bước ra đón, nói với người tỳ nữ:

- Chàng An lặn lội đến nửa đêm chắc đã mệt lắm, mau sửa soạn chỗ ngủ đi!

Lát sau dắt tay An vào màn, An hỏi sao trong nhà không có ai khác, cô gái đáp:

- Mợ đi vắng, để thiếp ở lại trông nhà, may được gặp chàng, há không phải là duyên số ư?

Nhưng trong lúc dựa kề An lại thấy rất hôi tanh, trong lòng ngờ có điều lạ.

Cô gái ôm cổ An, thè lưỡi liếm vào lỗ mũi, thấy như mũi kim đâm đau thấu tận óc.

An sợ quá vội vàng giãy giụa nhưng thân thể như bị thùng lớn trói chặt, giây lát ngất đi không biết gì nữa.

An không về, người nhà tìm kiếm khắp nơi, có người nói chiều tối gặp An trên đường núi.

Người nhà vào núi tìm thì thấy An trần truồng nằm chết dưới vách đá cao ngất, khiếp hãi lạ lùng không hiểu vì sao.

Cáng về tới nhà, cả nhà đang xúm lại than khóc thì có một nữ lang tới viếng, từ ngoài cổng gào khóc đi vào, vỗ thây day mũi An, nước mắt ròng ròng kêu lớn:

- Trời ơi, trời ơi, sao mà ngu dại như thế?

Gào khóc khản cả tiếng lát sau mới nín, nói với người nhà:

- Xin để đó bảy ngày đừng liệm!

Mọi người không biết là ai, toan hỏi thì cô gái không buồn chào hỏi, nuốt nước mắt đi thẳng ra, mời giữ cũng không ngoảnh lại.

Đi theo thì trong chớp mắt đã biến mất, mọi người ngờ là thần bèn kính cẩn vâng lời.

Đêm nàng lại tới khóc như hôm trước, qua bảy đêm chợt An tỉnh lại trở mình rên rỉ, người nhà đều kinh hãi.

Cô gái bước vào nhìn nhau nghẹn ngào, An giơ tay xua mọi người lui ra.

Cô gái lấy ra một bó cỏ, nấu với một đấu nước cho uống ngay trên giường.

Giây lát An nói được, thở dài nói:

- Giết ta lần nữa là nàng mà cứu ta lần nữa cũng là nàng.

Nhân kể lại những việc đã gặp.

Cô gái nói:

- Đó là con tinh rắn giả làm thiếp, trước đây chàng lạc đường lần đầu nhìn thấy ánh đèn chính là nó đấy.

An hỏi:

- Nàng có thể làm cho người chết sống lại, xương khô mọc thịt như thế, không phải là tiên sao?

Cô gái đáp:

- Đã định nói ra từ lâu nhưng sợ chàng sợ hãi.

Năm năm về trước chàng đi trong núi Hoa Sơn có mua con chương người ta săn được rồi thả ra phải không?

An đáp:

- Đúng là có việc ấy!

Nàng nói:

- Con chương ấy chính là cha thiếp, trước đây thiếp nói chàng có ơn lớn chính vì cớ đó.

Hôm trước chàng đã đầu thai vào nhà Chủ chính họ Vương ở thôn Tây, thiếp cùng cha kiện với Diêm Vương nhưng Diêm Vương không nghe.

Cha thiếp xin hủy đạo chết thay chàng, năn nỉ bảy ngày mới xong.

Nay được gặp nhau là may mắn lắm, nhưng chàng tuy sống vẫn bị bại liệt, phải lấy được máu rắn ấy hòa với rượu mà uống thì mới khỏi.

Sinh căm hờn nghiến răng nhưng lo không có phép gì bắt được.

Cô gái nói:

- Chuyện ấy không khó, nhưng giết nhiều sinh linh sẽ làm lụy cho thiếp trăm năm không được lên tiên thôi.

Hang của nó ở sườn núi cũ, cứ chờ lúc sắp trưa chất cỏ mà đốt, bên ngoài chuẩn bị cung cứng thì sẽ bắt được yêu vật.

Dứt lời cáo biệt, nói:

- Thiếp không thể thờ chàng trọn đời, thật rất đau lòng, nhưng vì việc của chàng mà công phu tu hành đã mất bảy phần, xin chàng thương xót cho.

Một tháng nay máy động, sợ là nghiệt căn, còn là trai hay gái năm sau sẽ gởi lại thôi.

Rồi rơi lệ ra đi.

Qua đêm, An thấy từ thắt lung trở xuống như chết rồi, cấu véo không biết đau, bèn đem lời cô gái nói với người nhà.

Người nhà tới nơi làm như lời nàng, chất lửa đốt hang thì có con rắn lớn màu trắng xông qua lửa trườn ra, bao nhiêu cung nỏ cùng châu vào bắn chết.

Khi lửa tắt vào hang thì thấy mấy trăm con rắn lớn nhỏ chết thui khét lẹt.

Người nhà đem về lấy máu rắn cho An uống, ba ngày thì hai chân dần dần xoay trở được, nửa năm mới đứng dậy nổi.

Sau đó một mình vào núi, gặp bà già ôm mảnh chiếu cói làm tã bọc một đứa bé trao cho, nói:

- Con gái già gởi cho lang quân!

Toan hỏi thăm thì chớp mắt đã không thấy đâu, giở ra xem thì là con trai, bèn bế về nhà rồi không lấy vợ nữa.

_____________________________________

CHƯƠNG 135: TÂY HỒ CHỦ

Nhất Bức Hồng Cân Đề Hảo Cú

Mỹ Nhân Chân Cá Tối Lân Tài

Thù Ân Hợp Cộng Trường Sinh Quyết

Hội Hướng Long Cung Phát Tích Lai

Dịch:

Một Bức Khăn Hồng Đề Tuyệt Cú

Mỹ Nhân Thực Cũng Bậc Nhân Tài

Đền Ơn Cùng Huyện Trường Sinh Quyết

Phát Tích Long Cung Đã Lựa Nơi



Trần sinh tên Bật Giáo, tự Minh Doãn là người đất Yên (tỉnh Hà Bắc).

Nhà nghèo, theo Phó tướng quân Giả Quán làm chức Ký thất, đậu thuyền trên hồ Động Đình, có con thuồng luồng nổi lên mặt nước bị Giả bắn trúng lưng.

Có con cá ngậm đuôi thuồng luồng không nhả ra cũng bị bắt, kéo lên thuyền chỉ còn thoi thóp, nhưng con thuồng luồng cứ há miệng ngáp như xin cứu.

Sinh động lòng trắc ẩn xin Giả tha ra, sẵn trong túi có thuốc trị thương bèn đùa lấy buộc vào vết thương rồi thả xuống nước, nó lặn hụp giây lát rồi mất tăm.

Hơn năm sau sinh về bắc lại qua hồ Động Đình, bị gió lớn lật thuyền, may vớ được một cái ống tre, vật vờ cả đêm mới vướng gốc cây dừng lại, sinh bèn leo lên bờ.

Có xác chết trôi theo dạt vào, nhìn xem té ra là đứa tiểu đồng, cố sức kéo lên thì đã chết cứng.

Sinh đau xót buồn bã ngồi cạnh cái xác nghỉ mệt, chỉ thấy thấy núi con chồng biếc, liễu nhỏ vờn xanh, chẳng có ai qua lại mà hỏi thăm đường sá.

Từ sáng sớm đến quá giờ Thìn buồn rầu không biết đi đâu, chợt thấy xác đứa tiểu đồng khẽ động đậy, mừng rỡ vỗ gọi, giây lát nó nôn ra mấy đấu nước rồi tỉnh lại.

Liền cùng nhau phơi quần áo trên tảng đá, gần trưa thì khô mặc lại được, nhưng trong bụng cồn cào đói không chịu nổi.

Bèn dắt nhau vượt mau qua núi mong gặp xóm làng, vừa lên tới lưng núi thì nghe tiếng lục lạc đang lắng tai nghe thì thấy hai thiếu nữ cưỡi ngựa phóng tới vó ngựa khua ran, đều đội khăn hồng bịt trán, búi tóc cắm lông trĩ, mặc áo tía chít tay, thắt lưng gấm xanh, vai mang cung tên.

Qua khỏi đỉnh núi thấy mấy mươi kỵ mã đang săn bắn trong đám gai góc, đều là mỹ nữ, ăn mặc như nhau.

Sinh không dám đi nữa, chợt có một người đàn ông đi bộ tới, thấy như lính chăn ngựa bèn ra hỏi thăm.

Người ấy đáp:

- Đó là công chúa Tây Hồ lên Thủ Sơn săn bắn.

Sinh kể lại chuyện mình, nói cả việc đang đói, người lính mở túi lấy gói cơm đưa cho rồi dặn:

- Nên tránh cho xa, phạm giá là chết đấy.

Sinh sợ hãi vội rảo bước xuống núi, thấy trong đám rừng rậm thấp thoáng có điện gác, cho là chùa chiền, tới gần xem thì thấy tường quét vôi trắng ngoài có khe suối chảy qua, cổng son mở hờ trong có cầu đá đi vào.

Sinh vịn cánh cửa nhìn vào thấy đài tạ san sát như vườn Thượng uyển trong cung vua, lại ngờ là vườn nhà quan.

Dò dẫm lần vào, thấy dây mây bò ngang, đá lạ chắn lối, mùi hoa thơm ngát.

Qua mấy thỗ rẽ lại là một nơi viện gác khác, có vài mươi cây dương liễu cao chạm hiên nhà, chim núi kêu một tiếng thì hoa liễu cùng bay, gió vườn thổi thoáng qua thì lá cây tự rụng, cành vật đẹp mắt thỏa lòng khác hẳn cõi trần.

Đi xuyên qua tiểu đình tới một giá đu cao tận mây xanh, nhưng dây buộc đong đưa, vắng vẻ không có ai nên ngờ là gần nơi khuê các, e ngại không dám vào nữa.

Chợt nghe tiếng ngựa hí ran ngoài cổng rồi như có tiếng con gái cưỡi nói, sinh và tiểu đồng vội núp vào khóm hoa dày.

Không bao lâu tiếng cười nói tới gần, nghe một nàng nói:

- Hôm nay đi săn không may, chẳng săn được bao nhiêu.

Lại một nàng nói:

- Nếu không có công chúa bắn rơi một con nhạn thì hôm nay chỉ hao tốn sức người sức ngựa vô ích.

Giây lát có mấy nàng áo đỏ đỡ một nữ lang lên ngồi trong tiểu đình, mặc nhung phục chít tay, tuổi khoảng mười bốn mười lăm, tóc mượt lồng mây, lưng thon đảo gió, nhụy ngọc hoa vàng cũng không ví được.

Bọn tỳ nữ dâng trà đốt hương, khói cuốn như gấm chất.

Giây lát cô gái đứng lên bước xuống thềm, một tỳ nữ nói:

- Công chúa cưỡi ngựa mệt nhưng còn chơi du được không?

Công chúa cười gật đầu, liền có kẻ đỡ vai người xốc nách, kẻ xắn quần người cầm giày đỡ nàng lên đu.

Công chúa duỗi hai cánh tay trắng như ngọc nắm dây đu, nhún chân trần nhẹ nhàng như chim én lên tới mây xanh.

Kế bọn tỳ nữ lại đỡ nàng xuống, cùng nói:

- Công chúa thật là nàng tiên!

Rồi cười nói râm ran đi về.

Sinh nhìn trộm hồi lâu, thần hồn điên đảo, chờ lúc tiếng cười nói đã tắt hẳn bèn bước tới dưới chiếc đu bồi hồi tơ tưởng, chợt thấy cạnh rào có chiếc khăn đỏ, biết là của người đẹp làm rơi mừng rỡ nhặt lấy cho vào tay áo.

Bước lên tiểu đình thấy trên bàn có bút mục bèn đề một bài thơ vào khăn rằng:

- Nhã hý hà nhân nghĩ bán tiên, Phân minh Quỳnh nữ tán kim liên.

Quảng Hàn đôi lý ưng tương đố, Mạc tín lăng ba tiện thượng thiên (Trên đu mỹ lệ tựa tiên nga, Quỳnh nữ Dao đài giỡn rắc hoa, Nguyệt điện Hằng Nga ghen sắc đẹp, Đừng tin gót ngọc tới trời xa).

Đề xong ngâm nga rồi đi ra, quay lại lối cũ thì mấy lớp cửa đã đóng chặt.

Sinh ngần ngừ không biết tính sao bèn trở vào dạo xem gần hết các nơi lầu gác.

Chợt một cô gái tới, ngạc nhiên hỏi sao vào được đây, sinh vái chào nói:

- Ta là kẻ lạc đường, xin ra ơn cứu cho!

Nàng hỏi có nhặt được chiếc khăn đỏ không, sinh đáp:

- Thưa có, nhưng đã bôi bẩn vào rồi, làm sao bây giờ?

Rồi đưa chiếc khăn ra.

Cô gái cả kinh nói:

- Ngươi chết không có đất chôn rồi.

Khăn này là đồ ngự dụng của công chúa, bôi lem luốc vào thế này thì làm sao!

Sinh tái mặt năn nỉ cứu giúp cho, cô gái nói:

- Cái tội lén vào cung cấm dòm dỏ đã không tha được rồi, ta thấy ngươi là học trò nho nhã cũng có ý chu toàn cho, giờ lại tự gây tai vạ thì ta làm sao giúp nổi.

Rồi cuống quýt cầm chiếc khăn chạy đi.

Sinh lo sợ nơm nớp, hận là không có cánh mà bay đi, chỉ còn cách vươn cổ chờ chết.

Hồi lâu cô gái trở lại khẽ chúc mừng nói:

- Chàng có cơ được sống rồi.

Công chúa xem đi xem lại chiếc khăn mấy lần, không hề tỏ vẻ tức giận, có khi sẽ tha cho chàng đi.

Cứ chịu khó chờ ở đây, đừng có vịn cây leo tường nhìn ngó gì, nếu bị bắt gặp sẽ không được tha đâu.

Trời đã xế chiều, lành dữ ra sao sinh không đoán chắc được, mà lửa đói thiêu đốt trong bụng thấy như sắp chết.

Không bao lâu cô gái cầm đèn đi tới, có một tỳ nữ bưng hộp thức ăn và bầu rượu dọn ra cho sinh ăn.

Sinh vội hỏi tin tức, nàng hỏi:

- Vừa rồi ta thừa dịp thưa chàng Tú tài trong vườn thả được thì thả, nếu không người ta sẽ chết đói.

Công chúa ngẫm nghĩ rồi nói:

- Đêm hôm khuya khoắt bảo người ta đi đâu?

Rồi sai đem cơm ra cho chàng ăn, thế thì không phải là điềm dữ.

Sinh suốt đêm nơm nớp không sao yên tâm, đến hết giờ Thìn cô gái lại đem cơm ra cho ăn.

Sinh năn nỉ nhờ xin giùm, nàng nói:

- Công chúa không nói giết cũng không nói tha, ta là kẻ hầu hạ đâu dám thưa gởi lằng nhằng.

Kế mặt trời ngã về tây, sinh vẫn chờ đợi không thôi, chợt cô gái thở hổn hển chạy tới nói:

- Chết rồi, có người lắm lời đã nói cho vương phi biết, vương phi mở chiếc khăn xem rồi ném xuống đất, mắng ầm lên là ngông cuồng, tai họa không còn xa đâu.

Sinh cả kinh, mặt không còn sắc máu, quỳ rạp xuống đất van xin.

Chợt nghe tiếng người nhao nhao kéo tới, cô gái phẩy tay tránh đi, liền có mấy người cầm dây ào ào kéo vào.

Trong bọn có một tỳ nữ nhìn kỹ sinh rồi nói:

- Tưởng ai, té ra là Trần lang!

Rồi ngăn những người cầm dây lại, nói:

- Hãy khoan, hãy khoan, đợi ta bẩm với vương phi đã!

Rồi quay người chạy mau đi, giây lát trở lại nói:

- Vương phi mời Trần lang vào!

Sinh run rẩy đi theo.

Qua mấy mươi lần cửa tới một nơi cung điện, rèm ngọc móc vàng, lập tức có mỹ nữ cuốn rèm xướng Trần lang đã tới.

Thấy trên điện có một mỹ phụ ngồi, y phục lộng lẫy, sinh quỳ rạp xuống đất dập đầu nói:

- Thần lẻ loi từ vạn dặm tới đây, xin tha cho mạng sống.

Vương phi vội bước tới đích thân kéo sinh đứng lên, nói:

- Ta không gặp bậc quân tử thì làm gì còn có ngày hôm nay.

Bọn tỳ nữ không biết gì, xúc phạm tớì quý khách, biết lấy gì chuộc tội?

Lập tức sai dọn tiệc, rót rượu bằng chén ngọc, sinh mờ mịt chẳng hiểu vì sao.

Vương phi nói:

- Cái ơn tái tạo vẫn hận không có gì báo đáp, con gái ta được thương yêu đề thơ vào khăn cho, cũng là duyên trời, đêm nay xin sai nó theo hầu hạ.

Sinh không ngờ được hơn cả lòng mong mỏi, trong lòng bàng hoàng không sao nói nên lời.

Trời vừa tối, một tỳ nữ bước lên nói:

- Công chúa đã trang điểm xong đang chờ.

Rồi dẫn sinh vào trướng.

Chợt nghe đàn sáo trỗi inh ỏi, dưới thềm đều rắc hoa giấy, từ nhà ngoài tới phòng trong đều treo đèn lồng, có vài mươi mỹ nữ đỡ công chúa ra làm lễ giao bái, mùi lan xạ sực nức.

Kế hai người dắt nhau vào màn tình tự ân ái.

Sinh hỏi:

- Kẻ trôi nổi tha phương bình sinh chưa từng bái kiến, bôi bẩn khăn quý được thoát rìu búa là may rồi, lại còn được ban cho mối duyên lành, thật là ngoài lòng mong mỏi.

Công chúa nói:

- Mẹ thiếp là vương phi của Long quân hồ này, cũng là con gái Giang Dương vương, năm ngoái về thăm nhà tình cờ dạo chơi trên hồ bị tên bắn trúng.

Đội ơn chàng giải cứu, lại xoa thuốc cho, cả nhà đều cảm kích, lòng hằng không quên.

Chàng đừng vì khác loài mà nghi ngại, thiếp theo Long quân đã học được bí quyết trường sinh, xin cùng chàng chung hưởng.

Sinh lúc ấy mới sực hiểu ra nàng là thần nhân, bèn hỏi sao người tỳ nữ kia biết mình, công chúa đáp:

-_Hôm ấy trong thuyền trên hồ Động Đình, chắc thấy một con cá nhỏ ngậm đuôi thuồng luồng, đó là nó đấy.

Sinh lại hỏi lúc bắt được mình đã không giết chết sao lại chần chừ không thả đi, nàng cười nói:

- Thiếp mến tài chàng nhưng không thể tự chủ nên thao thức cả đêm, người ngoài nào có ai hiểu cho?

Sinh than:

- Nàng thật là người tri kỷ của ta, còn người đem cơm cho ta là ai?

Nàng đáp:

- Đó là A Niệm, cũng là người tâm phúc của thiếp.

Sinh nói:

- Lấy gì đền ơn cô ta?

Công chúa cười nói:

- Sẽ có ngày nó hầu hạ chàng, lúc ấy lo đền ơn cũng chưa muộn.

Sinh hỏi đại vương đang ở đâu, nàng đáp:

- Cha theo Quan Thánh đánh giặc Xuy Vưu chưa về.

Ở đó vài hôm, sinh lo gia đình thấy bặt tin sốt ruột trông ngóng bèn viết thư báo tin bình yên, sai tiểu đồng về trước.

Gia đình sinh nghe tin đắm thuyền ở hồ Động Đình, vợ con để tang đã hơn năm, đến khi tiểu đồng về tới mới biết là sinh còn sống.

Nhưng tin tức xa xôi cách trở, người nhà rốt lại vẫn e rằng sinh trôi nổi khó lòng trở về.

Nửa năm sau sinh chợt trở về, áo cừu ngựa tốt, trong túi đầy châu báu.

Từ đó giàu có cự vạn, hàng ngày yến ẩm ca hát vô cùng xa hoa, các nhà thế gia cũng không bằng được.

Trong bảy tám năm sinh được năm con trai, ngày nào cũng mở tiệc mời khách, nhà cửa đồ dùng tiếp đãi vô cùng sang trọng.

Có người hỏi tao ngộ thế nào, sinh nói thật cả không giấu diếm gì.

Có người bạn chơi từ nhỏ tên Lương Tử Tuấn làm quan ở Giang Nam hơn mười năm mới về qua ngang hồ Động Đình thấy một chiếc thuyền cửa sổ sơn son, bao lơn thếp vàng, trong có tiếng đàn sáo réo rắt, dập dềnh trong khoảng khói sóng, lúc lúc lại có mỹ nhân mở cửa sổ ngắm cảnh.

Lương nhìn vào thấy trong thuyền có một thiếu niên nằm gác đầu lên đùi mỹ nhân, bên cạnh có hai nàng trẻ đẹp tuổi chừng đôi tám hầu hạ đấm bóp, nghĩ chắc là một vị quý quan ở vùng Tương Sở (tỉnh Hồ Bắc) nhưng thấy rất ít tùy tùng đi theo, chú mục nhìn kỹ thì ra là Trần Minh Doãn, bất giác bước ra mạn thuyền gọi ầm lên.

Sinh nghe gọi bèn sai dừng chèo, bước ra đầu thuyền mời Lương qua.

Lương vào thuyền thấy món ăn thừa đầy trên bàn, mùi rượu còn sực nức.

Sinh lập tức sai dẹp hết, giây lát có năm ba tỳ nữ xinh đẹp dâng trà mời rượu, các món sơn hào hải vị đều là các thứ chưa từng trông thấy.

Lương kinh ngạc hỏi:

- Mười năm không gặp, sao ông phú quý đến mức này?

Sinh cười đáp:

- Ông cho rằng Tú tài nghèo này không phát tích được à?

Lương hỏi người cùng uống rượu vừa rồi là ai, sinh đáp:

- Đó là người vợ quê mùa của ta!

Lương càng lấy làm lạ, hỏi đem gia quyến đi đâu, sinh đáp đi về miền tây.

Lương định hỏi nữa thì sinh vội sai ca hát chuốc rượu.

Một lời vừa buông ra thì trống chiêng vang lên điếc tai, trong có tiếng đàn sáo xen vào, không nghe thấy tiếng cười nói trò chuyện nữa.

Lương thấy gái đẹp đầy trước mắt, nhân lúc say lớn tiếng nói:

- Ông Minh Doãn có cho ta một phen hưởng thú tiêu hồn không?

Sinh cười đáp:

- Túc hạ say rồi, nhưng có món tiền đủ cưới một người thiếp đẹp có thể tặng cho cố nhân.

Rồi sai tỳ nữ dâng lên một viên ngọc minh châu, nói:

- Bấy nhiêu có mua nàng Lục Châu cũng không khó, để ông hiểu cho là ta không keo cú.

Kế từ biệt, nói:

- Ta đang gấp chút việc nhỏ, không thể cùng cố nhân trò chuyện lâu hơn.

Rồi đưa Lương về thuyền, nhổ neo chèo thuyền đi thẳng.

Lương về, qua nhà sinh nghe ngóng thì sinh đang uống rượu với khách, càng thêm ngờ vực liền hỏi:

- Mới hôm trước còn gặp ông trên hồ Động Đình, làm sao mà về mau như thế?

Sinh đáp:

- Làm gì có chuyện ấy?

Lương bèn thuật rõ mọi việc đã gặp, cả tiệc đều khiếp sợ, sinh cười nói:

- Ông lầm rồi, chẳng lẽ ta có thuật phân thân sao?

Mọi người đều lấy làm lạ nhưng nghĩ mãi không sao hiểu nổi.

Sau sinh thọ tới tám mươi mốt tuổi thì chết, người nhà tẩn liệm xong ngạc nhiên vì thấy quan tài quá nhẹ, mở ra xem thì chỉ có quan tài trống không mà thôi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 136+137+138


CHƯƠNG 136: NGŨ THU NGUYỆT

Phiến Thạch Lưu Đề Địch Số Tinh

Mai Hương Chấp Tải Cánh Trùng Sinh

Minh Truy Thị Hữu Linh Phù Tại

Thu Nguyệt Ư Kim Thập Bội Minh

Dịch:

Phiến Đá Tựa Đề Tinh Dịch Số

Ba Mươi Năm Thác Lại Sinh Hồi

Thoát Thân Cây Cỏ Linh Phù Sẵn

Nay Ánh Trăng Thu Tỏ Gấp Mười



Vương Đỉnh tự Tiên Hồ người đất Tần Bưu (huyện Cao Bưu tỉnh Giang Tô) tính khảng khái, có sức khỏe, giao du rộng.

Năm mười tám tuổi vợ chết, mỗi lần đi chơi xa thường cả năm không về.

Anh là Nại, danh sĩ đất Giang Bắc, rất thưong yêu em, thường khuyên em không nên đi xa, muốn hỏi vợ cho.

Sinh không nghe, thuê thuyền tới Trấn Giang thăm bạn.

Bạn đi vắng, nhân thuê một gian gác nơi quán trọ, nhìn thấy sóng nước êm đềm, núi Kim Sơn ngay trước mắt, trong lòng thích lắm.

Hôm sau bạn tới mời về nhà mình ở, sinh từ chối không đi.

Được hơn nửa tháng, đêm mơ thấy một nữ lang khoảng mười bốn mười lăm tuổi, dung mạo xinh đẹp lên giường cùng ngủ, tỉnh dậy thì thấy di tinh, lấy làm lạ nhưng cũng cho là ngẫu nhiên.

Đến đêm lại mơ thấy như thế, liền ba bốn đêm, trong lòng rất lạ, không dám tắt đèn, tuy nằm im trên giường mà vẫn nơm nớp đề phòng.

Vừa chợp mắt đã mơ thấy cô gái lại tới, đang ôm ấp chợt giật mình tỉnh dậy, vội mở mắt nhìn thì thấy một cô gái đẹp tiên vẫn đang trong vòng tay.

Cô gái thấy sinh tỉnh, có vẻ thẹn thùng sợ sệt.

Sinh tuy biết nàng không phải là người nhưng trong lòng rất thích, không buồn hỏi han, cứ ra sức vần vò.

Cô gái như không chịu nổi, nói:

- Cuồng bạo như thế chẳng lạ gì người ta không dám nói rõ.

Sinh bấy giờ mới hỏi kỹ, nàng đáp:

- Thiếp họ Ngũ tên Thu Nguyệt.

Thân phụ là bậc danh nho, tinh thông Dịch số, rất thương yêu thiếp nhưng thường nói thiếp không thọ nên không hứa gả cho ai cả.

Về sau đến năm thiếp mười lăm tuổi quả chết yểu, ông đào huyệt ở phía đông gian gác này mà chôn, không đắp mộ cũng không có bia, chỉ đặt cạnh quan tài một phiến đá đề "Con gái là Thu Nguyệt, chôn không mồ, ba mươi năm sau gả về Vương Đỉnh".

Đến nay đã ba mươi năm thì chàng vừa tới, thiếp rất mừng muốn tự ra mắt nhưng còn thẹn thùng nên phải thác vào giấc mộng đó thôi.

Vương cũng mừng, lại đòi hành sự tiếp, nàng nói:

- Thiếp cần một ít khí dương để mong sống lại, thật không ngại gì chuyện gỉó mưa ấy.

Sau này duyên lành vô hạn, cần gì phải cứ đêm nay.

Rồi trở dậy ra đi.

Đêm sau lại tới, ngồi đối diện cười đùa vui vẻ như quen nhau từ lâu kế tắt đèn lên giường, thấy không khác gì người sống.

Có điều khi nàng trở dậy thì tinh khí chảy ra thấm ướt cả chăn nệm.

Một đêm trăng sáng vằng vặc, cùng dạo bước trong sân, sinh hỏi cô gái dưới cõi âm có thành quách không, nàng đáp:

- Cũng như trên trần thôi.

Thành phủ dưới cõi âm không ở đây mà cách độ ba bốn dặm, nhưng lấy đêm làm ngày.

Sinh hỏi người sống tới xem được không, nàng đáp:

- Được!

Sinh xin tới xem, nàng bằng lòng, bèn nhân ánh trăng ra đi.

Cô gái nhẹ nhàng đi như gió, Vương cố sức đuổi theo, giây lát tới một nơi, nàng nói không còn xa nữa.

Vương nhướng mắt nhìn mà không thấy gì, cô gái lấy nước bọt bôi lên hai mi mắt, sinh mở ra thấy sáng gấp mấy lần lúc bình thường, nhìn cảnh ban đêm mà rõ như ban ngày.

Chợt thấy tường thành ẩn hiện trong mây mù, người trên đường đông đúc như đi chợ.

Kế có hai tên lính trói ba bốn người giải ngang, lấy làm lạ vì người đi cuối giống hệt anh, rảo bước tới gần thì đúng là anh.

Giật mình hỏi sao anh tới đây, anh thấy sinh ứa nước mắt ướt không biết có việc gì mà bị bắt giải đi.

Vương tức giận nói:

- Anh ta là người quân tử giữ lễ sao lại bị trăng trói như vậy?

Rồi xin hai tên lính cởi trói cho.

Lính không chịu lại tỏ vẻ rất ngạo nghễ, sinh tức tối toan gây sự, anh ngăn lại nói:

- Đây là lệnh quan, phải tuân theo để giữ phép.

Chỉ hiềm ta thiếu tiền chi dùng, bị họ hạch xách khổ lắm, em về nên lo tính cho.

Sinh nắm tay anh khóc thất thanh, tên lính giận kéo mạnh cái gông, anh ngã ngay xuống.

Sinh thấy thế lửa giận đầy bụng không sao nhịn được liền rút ngay thanh bội đao chém đứt đầu y, tên kia thét lên, sinh lại chém luôn.

Cô gái cả kinh nói:

- Giết sai nha của quan là tội không thể tha được, nếu chậm trễ sẽ có tai họa.

Xin chàng lập tức tìm thuyền về bắc, về tới nhà đừng hạ lá phướn xuống, đóng chặt cửa không cho ai ra vào, sau bảy ngày thì không lo gì nữa.

Vương bèn dắt anh đi, ngay trong đêm thuê một chiếc thuyền nhỏ vội vàng về bắc.

Về thấy khách khứa tới viếng tang, biết là anh đã chết thật, liền đóng cổng cài then, vừa vào thì anh đã biến mất, vào tới phòng thì người chết đã tỉnh lại, gọi:

- Ta đói chết mất, đem mì lại mau!

Lúc đó anh đã chết hai ngày, người nhà đều kinh hãi, sinh bèn kể rõ mọi chuyện.

Bảy ngày sau mở cửa bỏ lá phướn, người ta mới biết anh sinh đã sống lại, họ hàng bạn bè kéo tới hỏi thăm chỉ bịa đặt trả lời.

Lại nghĩ tới Thu Nguyệt, càng thêm nhưng nhớ bèn quay xuống nam.

Tới gian gác cũ thắp đèn ngồi đợi rất lâu mà cô gái vẫn không tới, thiu thiu sắp ngủ thì thấy một người đàn bà tới nói:

- Nương tử Thu Nguyệt nhắn với lang quân rằng hôm trước vì hai tên sai nha bị giết, thủ phạm trốn mất, họ bắt dược nương tử hiện đang giam trong ngục, bọn ngục tốt nhìn thấy là hành hạ, ngày ngày trông chờ lang quân, xin nghĩ cách cứu giúp cho.

Vương buồn rầu phẫn uất liền đi theo người đàn bà.

Tới một tòa thành, theo cửa Tây vào, người đàn bà chỉ một cái cổng nói:

- Nương tử đang bị giam trong đó.

Sinh vào thấy có rất nhiều phòng, tù phạm rất đông nhưng không có Thu Nguyệt.

Lại vào một cửa nhỏ, thấy trong gian phòng hẹp có đèn lửa, Vương tới gần cửa sổ nhìn vào thì thấy Thu Nguyệt ngủ trên giường lấy tay áo che mặt kêu khóc, bên cạnh có hai tên ngục tốt đang vuốt má nắm chân nàng trêu chọc.

Cô gái kêu khóc càng thảm thiết, một tên ôm cổ nàng nói:

- Đã là tội phạm mà còn giữ trinh tiết à?

Sinh nổi giận không nói không rằng, rút đao xông vào chém mỗi đứa một nhát như phát cỏ rồi cướp lấy cô gái chạy ra, may là không ai biết.

Vừa tới quán trọ thì sinh chợt tỉnh dậy, đang lạ lùng vì giấc mộng dữ thì thấy Thu Nguyệt chảy nước mắt đứng cạnh.

Sinh giật mình trỗi dậy kéo nàng ngồi, kể lại giấc mộng.

Cô gái nói:

- Đó là thật chứ không phải mộng đâu.

Sinh kinh sợ nói:

- Vậy thì làm sao bây giờ?

Cô gái than:

- Đây cũng là số phận, chờ đến ngày cuối tháng thì thiếp mới được sống lại, nhưng giờ việc đã gấp thì làm sao chờ được?

Xin đào ngay chỗ chôn thiếp rồi đưa thiếp cùng về, hàng ngày cứ gọi tên thiếp thì qua ba ngày có thể sống lại.

Nhưng chưa đủ thời hạn, xương mềm chân yếu không thể lo việc nhà giúp chàng thôi.

Nói xong vội vàng định đi, chợt quay lại nói:

- Thiếp suýt nữa thì quên mất, nếu âm ty đuổi theo thì làm thế nào?

Khi còn sống cha thiếp có truyền cho một đạo bùa, nói ba mươi năm sau có thể cho hai vợ chồng cùng đeo.

Rồi lấy giấy bút vẽ mau hai lá bùa, nói:

- Một lá thì chàng đeo, còn một lá thì dán vào lưng thiếp.

Sinh đưa nàng ra, tới chỗ nàng biến mất thì đào lên, khoảng hơn một thước thấy có chiếc quan tài đã mục nát, bên cạnh có tấm bia nhỏ như lời nàng nói.

Mở quan tài xem thấy nhan sắc nàng như còn sống bèn bế vào trong phòng, xiêm y theo gió tan hết.

Dán bùa xong sinh lấy chăn bọc kín lại, cõng ra bờ sông gọi thuyền ghé vào, nói thác rằng em gái ốm nặng, phải đưa về nhà.

May được gió nam thổi mạnh, vừa vừa sáng đã về tới nhà, bế nàng vào đặt nằm đâu đấy xong mới nói với anh chị, cả nhà nhớn ngác nhìn nhau nhưng cũng không ai dám nói thẳng là sự huyễn hoặc.

Sinh mở chăn, gọi to Thu Nguyệt, đêm thì ôm xác nàng mà ngủ.

Thi thể nàng ngày càng ấm dần, ba ngày thì sống lại, bảy ngày sau thì đi lại được, bèn thay quần áo ra chào chị dâu, lãng đãng không khác gì thần tiên.

Nhưng ngoài mười bước thì phải có người đỡ cho đi, nếu không thì xiêu vẹo theo gió như muốn ngã, người ta nhìn thấy cho rằng nàng mang bệnh như thế lại càng đẹp thêm.

Nàng thường khuyên sinh:

- Oan nghiệt của chàng rất sâu, nên tích đức tụng kinh để sám hối, nếu không sợ không sống lâu được.

Sinh vốn không tin Phật, lúc ấy bèn dốc lòng quy y, về sau không việc gì cả.

____________________________________

CHƯƠNG 137: LIÊN HOA CÔNG CHÚA

Mộng Hồn Thùy Tín Trục Phong Nha

Lục Thủy Liên Khai Nhất Đóa Hoa

Thảng Thốt Quý Vô Kim Ốc Tại

Ngộ Nhân Hảo Sự Thị Trường Xà

Dịch:

Mộng Hồn Lẽo Đẽo Dạo Phong Nha

Nước Biếc Sen Bừng Nở Đóa Hoa

Luống Hẹn Nhà Vàng Không Đúc Sẵn

Duyên May Lỡ Bởi Rắn Gây Ra



Đậu Húc tự Hiểu Huy người huyện Giao Châu (tỉnh Sơn Đông), ngủ trưa mơ thấy một người mặc áo vải tới đứng cạnh giường nhìn ngó quanh quẩn như muốn nói điều gì, sinh hỏi thì đáp tướng công mời ông tới chơi.

Sinh hỏi tướng công là ai, người ấy nói:

- Nhà cũng ở cạnh đây!

Sinh theo người ấy ra đi, vòng qua tường nhà mình thì tới một nơi lầu gác trùng trùng nối nhau muôn lớp, quanh co qua lại thấy có muôn nhà ngàn cổng khác xa nhân thế.

Lại thấy cung tần nữ quan đi lại nườm nượp, đều hỏi người áo vải:

- Đậu lang tới đó à?

Người áo vải gật đầu.

Chợt một vị quý quan ra đón, chào hỏi rất cung kính, vào tới sảnh đường, sinh hỏi:

- Trước nay chưa từng quen biết nên không tới bái kiến, nay được quá yêu đón rước khiến ta rất e ngại.

Vị quý quan đáp:

- Đức vua của ta thấy tiên sinh dòng dõi thanh bạch vẫn hằng hâm mộ rất muốn gặp mặt.

Sinh càng sợ hãi, hỏi đại vương là ai, vị quý quan đáp lát nữa sẽ biết.

Không bao lâu có hai nữ quan tới, cầm hai lá cờ dẫn sinh đi, vào mấy lần cửa thì thấy một bậc vương giả ngồi trên điện.

Vương thấy sinh thì bước xuống thềm đón theo lễ chủ khách.

Làm lễ tương kiến xong thì vào tiệc, món ngon vật lạ bày lên la liệt.

Ngẩng nhìn thấy trên điện có tấm biển đề hai chữ Quế Phủ, sinh bối rối không biết nói gì.

Vương nói:

- Là láng giềng gần gũi, tình ắt phải khắng khít, ông cứ tự nhiên đừng ngại.

Sinh dạ dạ.

Rượu được vài tuần, dưới thềm sênh ca trỗi lên nhưng không có chiêng trống, âm thanh rất nhỏ.

Một lát vương chợt nhìn tả hữu nói:

- Trẫm có một câu phiền các khanh đối: Tài nhân đăng quế phủ (Tài nhân lên phủ quế).

Cả tiệc còn đang nghĩ, sinh đối ngay:

- Quân tử ái liên hoa (Quân tử thích hoa sen).

Vương nói:

- Liên Hoa là tiểu tự của công chúa, sao lại trùng hợp như thế, há không phải là túc duyên sao.

Hãy truyền gọi công chúa ra chào quân tử.

Giây lát tiếng vòng ngọc khua vang, hương thơm sực nức, công chúa ra tới, tuổi khoảng mười sáu mười bảy, dung mạo tuyệt thế.

Vương sai nàng lên lạy chào sinh, nói:

- Đây là tiểu nữ Liên Hoa!

Công chúa chào xong trở vào.

Sinh thấy nàng tâm thần rúng động, ngồi thừ ra tơ tưởng, vương nâng chén mời cũng như không thấy.

Vương như hơi biết ý, nói:

- Con gái ta cũng có thể sánh đôi với ông nhưng tự thẹn không cùng loài thì làm thế nào?

Sinh vẫn còn ngơ ngẩn cũng không nghe thấy, người bên cạnh đạp nhẹ vào chân nói:

- Vương mời mà ông chưa thấy vương nói mà ông chưa nghe sao?

Sinh thẫn thờ đứng lên bước ra nói:

- Thần đội ơn lớn, không ngờ quá say luống cuống, xin được tha thứ, nhưng trời đã xế, đại vương lại bận việc, thần xin cáo từ.

Vương đứng dậy nói:

- Được gặp mặt bậc quân tử, ta rất thỏa lòng, sao lại vội cáo từ như thế?

Nhưng khanh đã không muốn ở ta cũng không dám ép, nếu nghĩ tới nhau ngày khác quả nhân sẽ lại mời.

Rồi sai nội quan đưa sinh ra.

Trên đường nội quan nói:

- Vừa rồi vương nói công chúa có thể sánh đôi với ông, như là có ý muốn chọn làm Phò mã, sao ông im lặng không nói gì?

Sinh giẫm chân hối hận, mỗi bước mỗi thở dài than tiếc, kế về tới nhà thì chợt tỉnh dậy, thấy mặt trời đã lặn, ngồi ngây ra nhớ lại giấc mộng rất rõ ràng.

Tối đến ra nhà học tắt đèn ngủ sớm, có ý đợi giấc mộng cũ nhưng không thấy gì, đành thở than hối tiếc mà thôi.

Một đêm sinh ngủ chung với một người bạn chợt thấy viên nội quan hôm trước tới nói đại vương sai mời, sinh mừng rỡ đi theo, vào gặp vương lạy phục xuống bái yết.

Vương đỡ dậy mời ngồi bên cạnh, nói:

- Từ khi chia tay đến nay biết khanh nhọc lòng tơ tưởng, muốn cho tiểu nữ hầu hạ áo khăn, nghĩ chắc khanh không chê bỏ.

Sinh lập tức lạy tạ.

Vương liền sai các quan học sĩ đại thần ngồi tiếp rượu, xong tiệc cung nhân bước lên nói:

- Công chúa đã trang điểm xong!

Liền thấy mấy mươi cung nữ đỡ công chúa ra, che mặt bằng khăn gấm đỏ, nhẹ nhàng yểu điệu bước lên nệm lông chiên làm lễ giao bái với sinh.

Kế đưa hai vợ chồng về phòng riêng, lúc động phòng nàng rất nhu thuận.

Sinh nói:

- Có nàng trước mắt thật vui mừng quên chết, nhưng e cuộc gặp gỡ hôm nay chỉ là giấc mộng thôi.

Công chúa bịt miệng sinh nói:

- Rõ ràng là thiếp với chàng đang ở đây, sao lại là mộng!

Sáng ra sinh đùa trang điểm cho công chúa, kế lấy dây lưng đo quanh hông nàng, lại gang tay đo chân.

Công chúa cười hỏi:

- Chàng điên à?

Sinh đáp:

- Ta nhiều lần bị giấc mộng đánh lừa nên phải nhớ kỹ để nếu là giấc mộng cũng đủ mà nhớ nhau.

Đang đùa giỡn thì một cung nữ chạy mau vào nói:

- Yêu quái vào cửa cung, đại vương đã lánh ra biệt điện, tai vạ tới rồi.

Sinh cả kinh vội tới gặp vương, vương cầm tay sinh khóc nói:

- Được quân tử không bỏ, đang muốn sum họp lâu dài, nào ngờ trời giáng tai nghiệt, vận nước sắp đổ, biết tính sao đây?

Sinh sửng sốt hỏi sao nói thế, vương lấy một bản tâu trên án trao cho, sinh mở ra đọc thấy viết rằng:

- Hàm Hương điện Đại học sĩ thần Hắc Dục xin tâu về việc yêu quái tai dị phi thường phải sớm dời đô để giữ vận nước.

Theo lời báo của Hoàng môn quan thì ngày mùng sáu tháng năm có một con mãng xà dài ngàn trượng tới chiếm giữ ngoài cung, nuốt sống thần dân trong ngoài tất cả hơn một vạn ba ngàn tám trăm mạng, đi qua nơi nào thì lâu đài đều thành gò bãi vân vân.

Thần lấy can đảm ra xem quả thấy rõ rắn tinh đầu tựa núi non, mắt như sông biển, ngẩng đầu thì nuốt hết cung điện, duỗi thân thì sụp cả lâu đài.

Thật là hung dữ ngàn đời chưa thấy, tai vạ muôn kiếp không từng.

Xã tắc tôn miếu nguy trong sớm tối, xin Hoàng thượng sớm đưa cung quyến dời tới nơi yên ổn.

Sinh đọc xong tái cả mặt, liền có cung nhân chạy vào cấp báo yêu quái tới, cả điện khóc lóc kêu gào vô cùng thê thảm.

Vương cuống quýt không biết làm sao, chỉ khóc ngoảnh lại nói:

- Phiền tiên sinh lo cho tiểu nữ!

Sinh nghẹn ngào về phòng thì công chúa đang cùng tả hữu ôm đầu kêu khóc, thấy sinh vào liền nắm áo nói:

- Lang quân tính sao cho thiếp đây?

Sinh đau xót muốn chết, cầm tay công chúa nói:

- Tiểu sinh nghèo hèn thẹn không có nhà vàng, chỉ có ba gian nhà tranh, cứ cùng về đó tạm lánh được không?

Công chúa rơi lệ nói:

- Việc gấp rồi còn lựa chọn gì nữa, xin dẫn thiếp đi mau!

Sinh bèn đỡ nàng ra đi, không bao lâu về tới nhà.

Công chúa nói:

- Nhà này rộng lớn yên ổn còn hơn nước cũ.

Nhưng thiếp theo chàng tới đây còn cha mẹ thì nương tựa vào đâu, xin xây cho một gian nhà riêng để cả nước theo về ở.

Sinh lấy làm khó khăn, công chúa gào khóc nói:

- Không cứu giúp được lúc nguy cấp, thì chàng làm được gì?

Sinh an ủi qua loa rồi vào phòng trong, công chủa nằm phục xuống giường kêu khóc thảm thiết không sao khuyên giải, sinh nóng lòng mà không có cách nào, chợt giật mình tỉnh dậy mới biết là giấc mộng.

Nhưng bên tai vẫn còn tiếng than khóc nức nở chưa dứt, nghe kỹ thì không phải là tiếng người mà là hai ba con ong bay lượn vo ve trên gối, bèn kêu to là chuyện lạ.

Người bạn hỏi han, sinh kể lại giấc mộng, bạn cũng kinh ngạc lạ lùng cùng trở dậy nhìn mấy con ong thấy cứ bay đậu trên áo sinh, đuổi cũng không đi.

Bạn khuyên làm tổ cho chúng ở, sinh theo lời mướn thợ về làm.

Vừa dựng xong hai vách tổ đã thấy đàn ong từ ngoài tường liên tiếp bay vào, nóc tổ chưa lợp thì đã đậu đen đặc trong đó.

Tìm xem chúng từ đâu bay tới thì là ở cái vườn cũ của ông già hàng xóm, trong vườn có một tổ ong đã hơn ba mươi năm, sinh đẻ rất nhiều.

Có người kể việc của sinh cho ông già nghe, ông ra xem thấy tổ ong vắng ngắt.

Giở vách tổ lên nhìn thấy có con rắn dài hơn một trượng liền bắt giết đi, mới biết con mãng xà ngàn trượng chính là nó.

Từ ngày ong vào ở nhà sinh, sinh nở càng đông đúc hơn.

_____________________________________

CHƯƠNG 138: LỤC Y NỮ

CÔ GÁI ÁO XANH

Khuy Song Hữu Nữ Dạ Tuần Tuân

Nhất Khúc Thanh Ca Điệu Nhập Thần

Cư Xử Bất Lao Quân Nhự Vấn

Lục Y Nguyên Thị Vệ Cung Nhân

Dịch:

Song Khuya Cô Ả Ngó Băn Khoăn

Một Khúc Thanh Ca Điệu Nhập Thần

Lai Lịch Bận Chi Chàng Gạn Hỏi

Áo Xanh Này Chính Vệ Cung Nhân



Vu sinh tên Cảnh tự Tiểu Tống là người huyện ích Đô (tỉnh Sơn Đông).

Ra học ở chùa Lễ Tuyền, đêm đang đọc sách chợt một cô gái đứng ngoài cửa sổ khen:

- Vu tướng công chăm học thật?

Vu ngạc nhiên đứng lên nhìn, thấy nàng khoác áo xanh mặc váy dài, xinh xắn không ai bằng.

Vu biết không phải là người, hỏi kỹ quê quán thì nàng nói:

- Chàng nhìn thiếp thì biết không phải là kẻ ăn thịt người, hỏi kỹ làm gì?

Vu thấy yêu mến, bèn cùng đi ngủ, cởi tới chiếc áo lót mình bằng lụa thấy eo lưng nàng nhỏ chưa đầy hai chét tay.

Đêm gần tàn thì cô gái trở dậy ra đi, từ đó đêm nào cũng tới.

Một đêm cùng uống rượu, lúc trò chuyện thấy nàng rất sành âm luật, Vu nói:

- Giọng nàng êm ái, nếu hát một khúc ắt người nghe phải tiêu hồn.

Cô gái cười nói:

- Chẳng dám hát vì sợ chàng tiêu hồn đó thôi.

Vu cố nài nỉ, nàng nói:

- Thiếp chẳng tiếc gì, chỉ sợ người khác nghe thấy nếu chàng đã thích thì xin phô bày cái dở, nhưng xin hát nhỏ để tỏ ý thôi đấy!

Rồi lấy hài nhè nhẹ đánh nhịp, dựa ghế hát rằng:

- Thụ thượng ô cựu minh, Trám nô trung dạ tán.

Bất oán tú hài tư, Chỉ khủng lang vô bạn (Trên cây quạ kêu ầm, Thiếp nửa đêm chạy tản.

Chẳng oán hài ướt đầm, Chỉ e chàng không bạn).

Tiếng hát nhỏ như sợi tơ, chỉ nghe được loáng thoáng, nhưng lắng nghe thì thấy uyển chuyển mượt mà làm rung động lòng Người.

Cô gái hát xong, mở cửa nhìn ra, nói:

- Coi chừng bên ngoài có người.

Rồi đi quanh nhà xem xét một vòng mới quay vào.

Sinh hỏi:

- Sao nàng lo lắng quá thế?

Nàng cười đáp:

- Ngạn ngữ có câu Con ma sống trộm thường sợ người, là nói tới thiếp đấy!

Kế cùng đi ngủ, nàng buồn bã không vui, nói:

- Số phận nhỏ nhoi có lẽ chấm dứt ở đây chăng?

Vu vội hỏi han, cô gái đáp:

- Thiếp thấy trong lòng lo lắng, trong lòng lo lắng thì lộc số của thiếp đã hết rồi.

Vu an ủi rằng:

- Trong lòng lo lắng hay mi mắt máy động là chuyện thường tình, sao nàng vội nói thế?

Cô gái hơi yên lòng bèn cùng nhau ân ái.

Đêm vừa tàn, cô gái khoác áo bước xuống giường, đang định mở cửa lại bồi hồi quay vào nói:

- Không biết có chuyện gì mà thiếp thấy sợ quá, xin tiễn thiếp ra cửa.

Vu liền trở dậy đưa nàng ra tới ngoài cửa.

Cô gái nói:

- Chàng cứ đứng đây trông cho thiếp, thiếp vượt khỏi tường rồi hãy trở vào.

Vu đáp:

- Được!

Thấy cô gái đã rẽ qua hành lang không thấy bóng dáng đâu nữa, đang định quay vào thì nghe tiếng nàng kêu cứu rất gấp, Vu vội chạy tới nhưng nhìn quanh không thấy đâu.

Nghe tiếng kêu vọng ra từ mái hiên, ngẩng đầu nhìn kỹ thì thấy một con nhện to bằng viên đạn đang bắt một con vật nhỏ, con vật đang rên rĩ đau đớn.

Vu phá mạng nhện khều xương, gỡ bỏ tơ nhện quấn quanh thì là một con ong xanh thoi thóp sắp chết.

Bèn mang về phòng, đặt lên đầu bàn cho nghỉ ngơi, hồi lâu con ong mới bò được, từ từ leo lên chiếc nghiên nhúng mình vào mực, kế ra nằm mọp xuống ghế, bò thành chữ "tạ", giương cánh mấy lần rồi theo song cửa sổ bay đi từ đó không trở lại nữa.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 139+140


CHƯƠNG 139: HÀ HOA TAM NƯƠNG TỬ

Vị Mưu Lương Thất Báo Thâm Ân

Hà Đế Khinh Dung Lạp Hỏa Ôn

Thạch Thái Linh Lung Hoa Thái Diễm

Trường Lưu Sa Bí Bạn Tiêu Hồn

Dịch:

Lương Duyên Tính Cuộc Báo Đền Ơn

Ngắt Cuống Sen Về Sấy Lửa Ôn

Đá Tuyệt Long Lanh Hoa Tuyệt Đẹp

Lưu Khăn Choàng Lụa Ủ Tâm Hồn



Tông Sương Nhược, người đất Hồ Châu (huyện Ngô Hưng tỉnh Chiết Giang) là kẻ sĩ nhân.

Một ngày mùa thu đi thăm đồng, thấy có đám lúa rậm lay động rất mạnh, lấy làm ngờ vục, lội xuống ruộng tới xem thì ra là một đôi trai gái đang ân ái với nhau, phì cười quay lên.

Kế người con trai xấu hổ thắt quần hấp tấp đi thẳng, cô gái cũng đứng dậy, Tông nhìn kỹ thấy rất xinh xắn, trong lòng ưa thích cũng muốn nọ kia nhưng ngại mang tiếng suồng sã.

Bèn tới cạnh phủi quần áo cho, nói:

- Chơi đùa trong dâu có vui không?

Nàng cười không đáp.

Tông đứng sát vào nàng, khẽ vén áo lên thấy da thịt nõn nà bèn vuốt ve sờ soạng từ trên tới dưới.

Cô gái cười nói:

- Tú tài cổ hủ muốn làm gì thì cứ làm, sờ mó lung tung làm gì?

Tông hỏi họ tên, nàng đáp:

- Một bận gió xuân rồi thì đường ai nấy đi, cần gì hỏi rõ, định lưu tên tuổi để lập phường trinh sao?

Tông nói:

- Ngủ với nhau trên đồng trong cỏ là việc bọn đầy tớ chăn heo vẫn làm, chứ ta không quen.

Thấy nàng xinh đẹp, cho dù hẹn hò riêng tư cũng phải tự trọng, sao lại qua quít như thế?

Cô gái nghe thế tỏ vẻ bằng lòng, Tông nói:

- Nhà vắng cách đây không xa, xin mời qua chơi.

Cô gái nói:

- Ta đi đã lâu, sợ người ta ngờ, đến khuya thì được.

Kế hỏi kỹ Tông đường sá nhà cửa rồi theo đường tắt rảo bước đi luôn.

Tối đến cô gái quả tới nhà học của Tông, cùng nhau mây mưa vô cùng đằm thắm, dần dà hết ngày này tháng khác mà không ai hay biết.

Gặp lúc có nhà sư Phiên nghỉ lại ở chùa trong thôn gặp Tông kinh ngạc hỏi:

- Người ông có tà khí, đã gặp việc gì rồi?

Tông đáp không có gì.

Qua vài hôm chợt bị bệnh, hàng đêm cô gái đều mang trái cây thức ăn tới ân cần chăm sóc như vợ chồng, nhưng đi ngủ thì cứ ép Tông phải ăn nằm với mình.

Tông mắc bệnh không sao kham nổi, nghi nàng không phải là người nhưng cũng không có cách nào dứt ra được, nhân nói:

- Hôm trước hòa thượng nói ta bị yêu tinh mê hoặc, nay quả bị bệnh, lời ấy nghiệm rồi.

Ngày mai ta sẽ mời ông tới xin bùa yểm.

Cô gái biến sắc, Tông càng ngờ vực, hôm sau sai người đến kể tình thật với nhà sư.

Sư nói:

- Đó là hồ, phép thuật còn kém, cũng dễ bắt thôi!

Rồi vẽ hai đạo bùa đưa cho, dặn:

- Về lấy một cái vò sạch đặt cạnh giường, dán bùa vào miệng vò, đợi khi hồ bị hút vào thì úp ngay một cái chậu lên, dán bùa lên chậu rồi đổ nước vào bắc lên bếp mà đun thì có thể giết được nó.

Gia nhân làm theo lời, đến khuya cô gái mới tới, lấy quýt vàng từ tay áo ra, vừa tới cạnh giường thăm hỏi Tông, chợt nghe miệng vò kêu soạt một tiếng, cô gái đã bị hút ngay vào.

Gia nhân nhảy ra bịt miệng vò dán bùa lên, đang định đem đun.

Tông thấy quýt vàng tung tóe trên đất, nghĩ lại tình nghĩa chợt cảm động bèn sai thả ra.

Vừa gỡ bùa mở chậu thì cô gái trong vò chui ra, run rẫy sợ sệt cúi đầu nói:

- Thiếp tu luyện sắp thành đại đạo mà chỉ suýt nữa hóa ra tro than.

Chàng thật là người nhân đức, thiếp thề sẽ báo đền.

Rồi đi.

Vài ngày sau bệnh Tông càng nặng, gia nhân ra chợ mua quan tài, trên đường gặp một cô gái hỏi:

- Ngươi có phải người nhà của Tông Sương Nhược không?

Người gia nhân đáp phải.

Cô gái nói:

- Tông lang là biểu huynh của ta, nghe nói bị bệnh nặng cũng định tới thăm nhưng lại gặp việc không đi được, có một thang linh dược, phiền đưa về giùm.

Người gia nhân bèn nhận lấy đem về.

Tông vì trong họ hàng bên ngoại không có chị em nào nên biết là hồ đền ơn.

Uống thuốc xong quả nhiên đỡ hẳn, mười ngày thì bình phục, rất cám ơn hồ, ngẩng lên không khấn khứa xin được gặp lại một lần.

Một đêm Tông đang đóng cửa ngồi uống rượu một mình chợt nghe có tiếng búng tay vào cửa sổ, vội xô cửa bước ra xem thì là cô gái hồ.

Tông cả mừng chắp tay cảm tạ, kéo vào cùng uống rượu.

Cô gái nói:

- Từ khi chia tay đến nay cứ canh cánh trong lòng không biết lấy gì báo đền ơn lớn.

Nay đã tìm được cho chàng một mối duyên lành, vậy đã hết tội với chàng chưa?

Tông hỏi là ai, nàng đáp:

- Chàng không biết được đâu.

Giờ Thìn sáng mai chàng cứ tới Nam Hồ, nếu thấy cô gái hái ấu đội khăn tơ trắng thì hãy chèo thuyền đuổi mau theo.

Nếu lạc mất cứ xem bên đê có bông sen nào cuống ngắn ẩn dưới tán lá thì hái mang về, hơ lửa nến vào rễ sẽ được một người vợ đẹp, lại thêm tuổi thọ.

Tông nhớ kỹ lời dặn, kế cô gái cáo biệt, Tông cố níu kéo.

Nàng nói:

- Từ khi gặp tai ách chợt ngộ ra đạo lớn, nay đâu còn tham tình chăn gối mà chuốc lấy oán thù?

Rồi nghiêm nét mặt chào đi.

Tông theo lời nàng dặn, tới Nam Hồ thấy gái đẹp hái sen trong đầm rất đông, có một nàng buông rủ bím tóc, mặc áo trắng như băng, xinh đẹp tuyệt trần.

Giục chèo thuyền mau theo, chợt nàng mất hút liền ghé vào đám sen ven hồ, quả có một nhánh sen hồng cao không đầy một thước liền hái lấy mang về.

Tới nhà đặt lên ghế, cắm nến bên cạnh định thắp lửa lên hơ, ngoảnh đi ngoảnh lại đã hóa thành một mỹ nhân.

Tông vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ lạy phục xuống, cô nói:

- Chàng ngây kia, ta là hồ đây, sẽ ám chàng cho mà xem.

Tông không tin, nàng hỏi:

- Ai chỉ cho chàng làm như thế?

Tông đáp:

- Tự tiểu sinh biết nàng, cần gì ai chỉ?

Rồi nắm lấy cánh tay nàng kéo vào lòng, cô gái theo tay ngã xuống đất hóa thành hòn đá lạ cao khoảng một thước, bốn mặt lấp lánh.

Tông bèn bưng đặt lên bàn, đốt hương vái lạy khấn khứa.

Đến đêm đóng cửa cài then thật chặt, chỉ sợ đá biến mất.

Sáng ra xem lại thì không phải là đá mà là một cái áo khoác bằng the trắng thoang thoảng mùi hương, trải ra xem thì những chỗ cổ áo vạt áo vẫn còn vết người mặc.

Tông ôm vào giường đắp chăn nằm ngủ, tối trở dậy thắp đèn, quay lại thì cô gái bím tóc đã nằm trên giường.

Tông mừng quá nhưng sợ nàng lại biến hóa nên năn nỉ khẩn cầu rồi mới mon men tới.

Cô gái cười nói:

- Thật là nghiệt chướng, chẳng biết kẻ nào lắm lời lại chỉ cho gã khùng này làm chuyện chết người như thế.

Rồi không chống cự nữa.

Nhưng trong lúc ân ái có lúc như không chịu nổi, nhiều lần xin thôi.

Tông không nghe, nàng nói:

- Nếu như thế ta sẽ biến đi!

Tông sợ bèn thôi.

Từ đó hai ngườí rất hòa hợp, mà vàng lụa thường đầy trong rương, cũng không biết từ đâu ra.

Cô gái gặp người khác chỉ dạ dạ như không thốt được thành lời, Tông cũng tránh không kể những điều kỳ lạ về nàng.

Nàng mang thai hơn mười tháng, tính ngày lâm bồn thì vào phòng, dặn Tông đóng chặt cửa không cho ai vào rồi lấy dao tự rạch bụng lấy con ra, bảo Tông xé lụa băng lại, qua đêm thì lành.

Được sáu bảy năm nàng nói với Tông:

- Thiếp đã trả hết nợ ân tình, xin từ biệt.

Tông nghe thế rơi nước mắt nói:

- Lúc nàng về thì ta nghèo khó không thể tự lập, nhờ nàng mới hơi được thong thả sao nỡ nói chia ly sớm như vậy?

Vả lại nàng không họ hàng thân thích, sau này con không biết mẹ cũng là điều đáng hận.

Cô gái cũng buồn rầu nói:

- Có hợp ắt có tan, đó là lẽ thường.

Con ta có phúc tướng, chàng cũng được thọ, còn mong gì nữa?

Thiếp vốn họ Hà, nếu chàng thấy nhớ nhưng cứ ôm vật cũ của thiếp gọi "Nàng Ba Hoa sen" thì sẽ thấy mặt.

Dứt lời bước ra nói:

- Thiếp đi đây!

Tông đang hoảng hốt quay nhìn thì nàng đã bay lên cao quá đầu người.

Tông vội nhảy lên níu giữ, nắm được chiếc hài, hài tuột ra rơi xuống đất hóa thành con chim én bằng đá đỏ như son, trong ngoài trong suốt như thủy tinh, liền nhặt lấy cất đi.

Kiểm lại trong hòm thấy chiếc áo khoác the trắng lúc nàng mới về vẫn còn, mỗi khi nhớ nhưng ôm lấy gọi "Nàng Ba" thì lại thấy nàng thướt tha tươi cười hiện ra như lúc bình sinh, chỉ không nói lời nào mà thôi.

Bạn ta nói Hoa mà biết nói ra nhiều chuyện, Đá chẳng nên lời mới đáng người, câu thơ hay ấy của Phóng Ông là để tả nàng đấy.

*[Phóng Ông: tức Lục Du, hiệu Phóng ông, nhà thơ nổi tiếng thời Nam Tống].

_____________________________________

CHƯƠNG 140: KIM SINH SẮC

Kiếm Quang Dược Dược Nộ Như Sinh

Tĩnh Dạ Kinh Thinh Cửu Hữu Thanh

Quỷ Nhược Hữu Linh Năng Tuyết Hận

Tiền Nhân Hậu Quả Tối Phân Minh

Dịch:

Kiếm Quang Lóe Sáng Nổi Lôi Đình

Đêm Vắng Trong Quan Giận Quát Inh

Chết Có Anh Linh Hay Tuyết Hận

Trước Sau Nhân Quả Rất Phân Minh



Kim Sinh Sắc người đất Tấn Ninh (huyện Lâm Phần tỉnh Sơn Tây), lấy vợ người họ Mộc cùng thôn, sinh được một con trai mới một tuổi.

Kim chợt mắc bệnh nặng, tự nghĩ ắt phải chết, nói với vợ rằng:

- Ta chết rồi nàng nên lấy chồng khác, đừng thủ tiết làm gì.

Vợ nghe thế ngọt ngào thề thốt, hứa sẽ thủ tiết đến chết.

Kim gọi mẹ tới nói:

- Con chết rồi phiền mẹ nuôi thằng bé, đừng bắt nàng phải thủ tiết.

Mẹ khóc gật đầu.

Kế quả Kim chết, bà Mộc tới điếu tang xong nói với mẹ Kim rằng:

- Trời làm tai họa, con rể chết yểu, con gái ta còn trẻ, bà định làm thế nào?

Mẹ Kim đang đau đớn, nghe bà ta nói thế không kìm được giận dữ, lớn tiếng đáp:

- Nó phải thủ tiết!

Bà Mộc có vẻ thẹn thùng nín bặt.

Tối đến ngủ với con gái, nói riêng với nàng rằng:

- Người ta ai cũng có chồng, mà con còn đủ cả chân tay, lo gì không có chồng được?

Con gái nhỏ không sớm lo lấy chồng khác, cứ chăm chăm ôm bọc tã nuôi con chẳng phải ngu sao?

Nếu mẹ chồng con bắt phải thủ tiết, thì không nên đối xử tử tế.

Mẹ Kim bước qua nghe được câu cuối càng thêm bực dọc, sáng hôm sau nói với bà Mộc rằng:

- Con trai ta có dặn lại là không nên bắt vợ nó thủ tiết, nay bà đã gấp gáp không chờ được, thì ta bắt phải thủ tiết.

Bà Mộc tức giận ra về.

Mẹ Kim đêm nằm mơ thấy con về sa nước mắt khuyên nhủ, trong lòng lấy làm lạ.

Bèn sai người nói với họ Mộc, hẹn chôn xong thì cho vợ Kim đi lấy chồng, nhưng hỏi các thầy tướng số đều nói rằng năm nay hướng mộ như thế lấy chồng không có lợi.

Vợ Kim tự nghĩ mình còn trẻ, trong lúc để tang vẫn không quên son phấn.

Ở nhà chồng thì còn mặc đồ trắng, chứ lúc về thăm nhà thì ăn mặc lộng lẫy, mẹ Kim biết được rất không hài lòng, nhưng vì thấy trước sau nàng cũng lấy người khác nên phải nhịn, từ đó người đàn bà càng phóng túng.

Trong thôn có tên vô lại là Đổng Quý, thấy vợ Kim đẹp thích lắm, đưa tiền đút lót cho người đàn bà láng giềng xin tỏ ý giùm.

Nửa đêm từ nhà bà ta trèo tường vào tới thẳng phòng người đàn bà rồi ngủ với nhau, đi lại suốt tuần, tiếng xấu lan ra chỉ có mẹ Kim là không biết.

Phòng người đàn bà ban đêm chỉ có một đứa tớ gái nhỏ, là tâm phúc của thị.

Một đêm nghe trong quan tài có tiếng động lớn như tiếng pháo nổ, đứa tớ gái ngủ ở giường ngoài thấy người chết từ sau trướng bước ra, mang kiếm vào phòng trong, kế nghe hai người khiếp sợ rú lên.

Giây lát thấy Đổng trần truồng chạy vụt ra, không bao lâu thấy Kim nắm tóc vợ kéo ra, người đàn bà kêu khóc.

Mẹ Kim giật mình tỉnh dậy, thấy người đàn bà trần truồng chạy ra, đang định đóng cửa, hỏi không thấy đáp, bước ra nhìn theo thì không nghe thấy gì nữa, cũng chẳng biết là đi đâu.

Trở vào phòng người đàn bà thì đèn đuốc còn sáng, thấy có đôi giày đàn ông bèn gọi đứa tớ gái, nó run rẩy bước ra kể lại chuyện lạ, mẹ Kim chỉ còn run sợ ngạc nhiên mà thôi.

Đổng chạy trốn qua ngang nhà láng giềng, núp lại dưới góc tường, hồi lâu nghe tiếng người dần im mới đứng lên.

Trên người không còn tấc vải mà đêm lạnh giá, vào nhà người đàn bà láng giềng định mượn quần áo.

Thấy trong nhà có một gian phòng, hai cánh cửa chỉ khép hờ bèn chui vào.

Mò mẫm trên giường trúng bàn chân con gái, biết là con dâu người đàn bà láng giềng, nảy lòng dâm tà bèn nhân đó hành dâm.

Cô ta tỉnh dậy hỏi ngươi về rồi đấy à, Đổng đáp phải.

Trước là con trai người đàn bà láng giềng có chuyện tới thôn Bắc, dặn vợ đóng cửa chờ mình về.

Khi trở về nghe trong phòng có tiếng người, sinh nghi lắng nghe, cả giận vác giáo xông vào.

Đổng hoảng sợ chui xuống gầm giường trốn, người kia đuổi vào đâm chết, lại muốn giết luôn vợ, vợ khóc lóc kể lại là bị lầm, y mới tha.

Nhưng không hiểu người dưới gầm giường là ai, bèn gọi mẹ đốt đèn lên soi mới biết.

Nhìn thấy Đổng vẫn còn thoi thóp thở, hỏi từ đâu tới, Đổng kể lại, nhưng mấy chỗ bị thương máu tuôn như suối, giây lát thì chết.

Bà mẹ sợ hãi run rẩy nói với con trai:

- Bắt được kẻ gian dâm mà giết có một người, ngươi thấy có được không?

Người con trai bất đắc dĩ phải giết luôn vợ.

Đêm ấy ông Mộc vừa đi ngủ, chợt nghe ngoài cửa có tiếng lôi kéo, ra nhìn thì thấy lửa cháy chỗ chái nhà nhưng người đốt vẫn chưa đi.

Ông Mộc kêu lớn, gia nhân đổ cả ra, may mà lửa vừa bén còn dễ dập tắt.

Bèn sai người mang giáo mác đuổi bắt kẻ đốt nhà, thấy có một người leo trèo thoăn thoắt như vượn vượt qua tường đi mất.

Phía ngoài tường là vườn đào của nhà ông, quanh vườn có tường rào rất chắc chắn, mấy người bắc thang leo lên nhìn thì không thấy tăm hơi gì.

Duy dưới tường có một khối gì động đậy, hỏi không thấy đáp, bắn vào thấy mềm mềm.

Mở cửa ra xem thì là một cô gái trần truồng nằm đó, mũi tên xuyên suốt qua bụng, thắp đèn tới nhìn kỹ thì là con gái ông Mộc tức vợ Kim.

Họ hoảng sợ báo với chủ nhân, vợ chồng Mộc đau đớn muốn chết không hiểu vì sao.

Cô gái nhắm mắt, sắc mặt xám như tro, hơi thở mong manh như sợi tơ, sai nhổ mũi tên nhưng không rút được phải đạp chân lên ngực mới rút ra được.

Cô gái rên lên một tiếng, máu vọt ra tắt hơi luôn.

ông Mộc cả sợ không biết làm sao, sáng ra kể lại tình thực với mẹ Kim, quỳ xuống van xin.

Nhưng mẹ Kim không hề tức giận, chỉ kể lại nguyên do rồi bảo tự chôn cất lấy.

Kim có người anh con bác là Sinh Quang tức giận tới nhà ông Mộc chửi mắng cả những chuyện trước, ông Mộc thẹn thùng đưa tiền đút lót bảo thôi, nhưng mọi người không biết kẻ gian dâm với vợ Kim là ai.

Kế con trai người đàn bà láng giềng đem xác kẻ gian tự thú bị trừng phạt qua loa rồi tha về.

Nhưng anh vợ y là Mã Bưu hay thưa kiện lại kiện rằng em gái bị oan.

Quan bắt người đàn bà láng giềng, bà ta sợ bèn khai thật đầu đuôi.

Lại gọi mẹ Kim, mẹ Kim thác là có bệnh, nhờ Sinh Quang thay mình đối chất, trình bày mọi việc.

Lúc bấy giờ chuyện giấu diếm trước đều vỡ lỡ, quan sai bắt vợ chồng ông Mộc, mọi người đều khai thật, lúc ấy mới rõ cả mọi việc.

Mộc vì muốn gấp gả chồng cho con gái khiến cho nàng mắc tội gian dâm, tự mình phải chuộc tội gia sản khánh kiệt.

Người đàn bà láng giềng dẫn đường cho kẻ gian dâm, bị phạt đánh trượng mà chết, cái án ấy kết thúc.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 141+142


CHƯƠNG 141: BÀNH HẢI THU

Ngọc Địch Tân Phiền Bạc Hạnh Lang

Quyến Lan Mộng Tỉnh Khách Hoàn Hương

Lăng Cân Nhất Bức Phân Minh Tại

Mạc Bả Tam Niên Cựu Ước Vương

Dịch:

Sáo Ngọc Hòa Ca Bạc Hạnh Lang

Canh Tàn Mộng Tỉnh Khách Hồi Hương

Của Tin Khăn Lụa Còn Nguyên Vẹn

Ước Cũ Năm Nào Có Nhớ Chăng?



Chư sinh Bành Hiếu Cổ ở phủ Lai Châu (tỉnh Sơn Đông) ra học ở nhà khác cách nhà khá xa, tiết Trung thu không về, vắng vẻ không có bạn.

Nghĩ trong thôn không có ai chuyện trò được chỉ có Khâu sinh là danh sĩ trong huyện, nhưng vốn có tiếng xấu, Bành thường khinh bỉ.

Trăng lên càng thấy buồn, bất đắc dĩ đành viết thiếp mời Khâu.

Đang uống rượu thì có người gõ cửa, tiểu đồng ra xem thì là một thư sinh muốn yết kiến chủ nhân.

Bành ra mời khách vào, vái chào xong cùng ngồi xuống quanh bàn rượu.

Hỏi họ tên quê quán, khách đáp:

- Tiểu sinh là người Quảng Lăng (huyện Giang Đô tỉnh Giang Tô), cùng họ với ông, tự là Hải Thu.

Gặp đêm trăng đẹp thế này, ở nhà trọ càng thấy buồn, nghe tiếng ông cao nhã nên tự tới ra mắt.

Bành nhìn thấy người ấy áo vải sạch sẽ chỉnh tề, trò chuyện phong nhã, cả mừng nói:

- Té ra là người đồng tông, đêm nay là đêm gì mà gặp được khách quý thế này!

Liền sai rót rượu, mời mọc như bạn thân từ lâu.

Xem ý tứ thì khách có vẻ rất khinh Khâu, Khâu ngẩng lên bắt chuyện thì ngạo mạn không đáp lễ.

Bành thẹn thay cho Khâu bèn nói lảng sang chuyện khác, trước tiên xin hát một khúc dân ca giúp vui, kế ngửa mặt ho hắng rồi hát khúc Hào sĩ Phù Phong sĩ Phù Phong: bài thơ của Lý Bạch thời Đường, cùng nhau vui cười.

Khách nói:

- Ta không biết hát, không lấy gì đáp lại khúc Dương xuân, vậy xin nhờ người khác hát thay được không?

Bành xin vâng lời.

Khách hỏi ở phủ thành Lai Châu có danh kỹ nào không, Bành đáp không.

Khách im lặng hồi lâu rồi nói với tiểu đồng của Bành:

- Ta vừa gọi một người tới ngoài cổng, cứ ra dẫn vào đây!

Tiểu đồng ra quả thấy một cô gái đang ngập ngùng ngoài cửa bèn dẫn vào, thấy tuổi khoảng đôi tám trở lại, xinh đẹp như tiên.

Bành ngạc nhiên hết sức, kéo nàng cùng ngồi.

*[Hào sĩ Phù Phong: tên bài thơ của Lý Bạch thời Đường].

Cô gái mặc áo màu lá liễu, quàng khăn màu vàng, hương thơm sực nức bốn phía.

Khách an ủi nói làm phiền lặn lội ngàn dặm, cô gái mỉm cười dạ dạ.

Bành lấy làm lạ gạn hỏi, khách đáp:

- Quý địa khổ cái không có giai nhân, ta vừa phải gọi nàng đây trên thuyền ở Tây Hồ tới đấy.

Rồi nói với cô gái:

- Khúc Chàng bạc tình nàng vừa hát trên thuyền hay lắm, xin hát lại lần nữa.

Cô gái bèn ca rằng:

Bạc hãnh lang, Khiên mã tẩy xuân chiểu.

Nhân thanh viển, mã thanh yểu, giang thiên cao, sơn nguyệt tiểu.

Điệu đầu khứ bất quy, Đình trung sinh bạch hiểu.

Bất oán biệt ly đa, Đãn sầu hoan hội thiểu.

Miên hà xứ?

Vật tác tùy phong nhứ.

Tiện thị bất phong hầu, Mạc hướng Lâm Cùng khứ.

Chàng bạc tình, Tắm ngựa ao xuân nọ.

Giọng người xa, tiếng ngựa khuất, trời sông cao, trăng núi nhỏ.

Quay đầu đi không về, trong sân ngày rạng tỏ.

Ly biệt quen không hờn, Sum vầy buồn ít có.

Ngủ nơi đâu?

Đừng như tơ theo gió.

Cho dù chẳng phong hầu, Chớ tới Lâm Cùng đó.

*[Chớ tới Lâm Cùng đó: nguyên văn là "Mạc hướng Lâm Cùng khứ", câu trong bài Cổ biệt ly của Mạnh Giao "Dục biệt khiên lang y, Lang kim đáo hà xứ?

Bất hận quy lai trì, Mạc hướng Lâm Cùng khứ" (Chia tay níu áo chàng, Đi đâu vào sương gió?

Chẳng hận người lâu về, Chớ tới Lâm Cùng đó).

Sử ký, Tư Mã Tương Như truyện chép Tương Như người Thành Đô nhà nghèo tới nương tựa Huyện lệnh Lâm Cùng, nhân gặp con gái Trác Vương Tôn là Văn Quân mới góa chồng bèn gãy khúc phượng cầu hoàng khêu gợi, Văn Quân bèn đang đêm trốn theo Tương Như về quê nhưng nghèo khổ quá bèn cùng trở lại Lâm Cùng mở quán bán rượu.

Đây ý nói đừng bỏ mất chí khí].

Khách rút chiếc sáo ngọc trong ống giày theo khúc hát mà thổi, khúc dứt thì tiếng sáo cũng ngừng.

Bành kinh ngạc khen ngợi không thôi, nói:

- Từ Tây Hồ tới đây đâu phải chỉ ngàn dặm, thế mà trong khoảnh khắc gọi người tới được, chẳng phải là tiên sao?

Khách đáp:

- Đâu dám nói là tiên, nhưng coi muôn dặm chỉ như trong sân ngoài cổng.

Đêm nay gió trăng trên Tây Hồ còn đẹp hơn hôm trước, không thể không tới chơi một chuyến, ông có thể đi chơi với ta không?

Bành đang muốn xem xét việc lạ liền nhận lời nói rất may mắn.

Khách hỏi đi thuyền hay ngựa, Bành nghĩ ngồi thuyền đỡ mệt hơn bèn đáp xin cho đi thuyền.

Khách nói:

- Chỗ này gọi thuyền hơi xa, trên Thiên Hà chắc có người chở đò.

Bèn giơ tay lên không vẫy gọi:

- Thuyền ơi xuống đây!

Bọn ta muốn tới Tây Hồ, không tiếc tiền thưởng đâu.

Giây lát một chiếc thuyền kết hoa từ trên không lướt xuống, mây khói vướng vít chung quanh, mọi người cùng bước lên.

Thấy một người cầm mái chèo ngắn, đoạn cuối giắt đầy lông chim dài trông như cái quạt vừa phe phẩy thì gió mát ào ào nổi lên, thuyền dần bay vào mây xanh lướt về phía nam, đi nhanh như tên bắn.

Trong khoảnh khắc thuyền đáp xuống nước, chỉ nghe đàn sáo rộn ràng, chiêng trống ầm ĩ.

Bước ra mũi thuyền nhìn quanh thấy trăng in khói sóng, thuyền dạo choi đông như họp chợ, những người chân sào đều gác mái chèo để mặc thuyền tự trôi, nhìn kỹ thì đúng là Tây Hồ.

Khách lấy các món ăn lạ và rượu ngon sau khoang ra vui vẻ đối ẩm.

Lát sau một chiếc lâu thuyền tới gần rồi đi sát bên cạnh, nhìn qua song cửa thấy trong khoang có hai ba người đang ngồi quanh bàn cờ cười nói.

Khách rót một ly rượu đưa cô gái, nói:

- Xin cạn chén này rồi sẽ đưa nàng về.

Lúc cô gái đang nâng chén, Bành lưu luyến bồi hồi, chỉ sợ nàng đi mất, bèn khẽ đạp vào chân nàng.

Cô gái đưa mắt liếc ngang, Bành càng xao xuyến, xin hẹn ngày gặp lại.

Cô gái nói:

- Nếu thương yêu nhau, cứ hỏi tên Quyên Nương thì ai cũng biết.

Khách lập tức lấy chiếc khăn lụa của Bành trao cho nàng, nói:

- Ta thay ông ấy ước hẹn ba năm sau.

Kế đứng lên đặt cô gái vào lòng bàn tay, nói:

- Tiên ư!

Tiên ư!

Rồi kéo cửa sổ thuyền bên cạnh đưa nàng qua, song cửa sổ chỉ rộng vài tấc mà cô gái trườn qua không có gì vướng víu.

Giây lát nghe thuyền bên nói:

- Quyên Nương tỉnh rồi!

Rồi lập tức lướt đi, nhìn xa xa thấy đã ghé vào bờ, người trong thuyền nhốn nháo bước lên.

Bành chợt thấy mất hứng, bèn nói với khách muốn lên bờ một lúc cùng xem qua phong cảnh.

Còn đang bàn bạc thì thuyền đã tự ghé vào bờ.

Bành rời thuyền lên bộ dạo quanh, đi khoảng hơn một dặm thì khách phía sau đi tới, dắt một con ngựa bảo Bành giữ rồi lập tức quay đi, dặn:

- Đợi ta mượn thêm hai con ngựa nữa.

Nhưng hồi lâu không tới.

Trên đường đã vắng người, ngẩng nhìn thấy trăng xế về tây, trời đã sắp rạng mà không rõ Khâu đi đâu.

Bành dắt ngựa loanh quanh không biết nên đi hay ở, bèn giong cương tới nơi thuyền đậu thì cả người lẫn thuyền đều biến mất, nghĩ tới trong túi rỗng không, càng thêm lo sợ.

Trời sáng rõ, thấy trên mình ngựa có một cái túi nhỏ, lục xem thấy có ba bốn lượng bạc, bèn mua thức ăn rồi ngẩn ngơ chờ, bất giác đã đến trưa.

Nghĩ bụng cứ hỏi thăm Quyên Nương sẽ dần dần hỏi được tin Khâu, nhưng nói tới tên Quyên Nương thì không người nào biết.

Bành thất vọng buồn bã, hôm sau lên đường.

Con ngựa rất hay, may mà không gặp chuyện gì, nửa tháng mới về tới nhà.

Lúc ba người cưỡi thuyền bay lên, đứa tiểu đồng về báo chủ nhân đã lên tiên, cả nhà đau buồn khóc lóc, nghĩ rằng sẽ không về nữa.

Bành buộc ngựa vào, người nhà ngạc nhiên mừng rỡ xúm lại hỏi han, Bành mới kể hết những việc kỳ lạ, lại nghĩ chỉ có mình trở về, sợ nhà Khâu biết tin sẽ qua gạn hỏi bèn dặn người nhà giữ kín.

Kế lại nói tới con ngựa ở đâu mà ra, mọi người thấy là của tiên cho bèn rủ nhau ra chuồng xem, tới nơi chẳng thấy ngựa đâu, chỉ thấy Khâu sinh bị buộc cạnh chuồng bằng dây cương cỏ, phát hoảng gọi Bành ra xem.

Thấy Khâu gục đầu dưới máng cỏ, mặt xám như tro, hỏi gì cũng không đáp, chỉ chớp chớp hai mắt mà thôi.

Bành bất nhẫn sai cởi dây cương vực lên giường, thấy Khâu như người mất hồn, đổ cháo cho cũng nuốt được chút ít.

Đến nửa đêm hơi tỉnh muốn ra nhà xí xốc nách đưa đi thì són ra mấy cục phân ngựa.

Lại cho ăn uống qua loa mới bắt đầu nói được.

Bành tới cạnh giường hỏi han, Khâu kể:

- Sau khi rời thuyền, y dẫn ta dạo chơi trò chuyện, tới chỗ vắng vỗ đùa vào gáy, ta liền ngã ra mê man, nằm giây lát định thần nhìn lại thấy mình đã hóa ra thân ngựa, tâm trí vẫn tỉnh táo, chỉ có không nói năng được mà thôi.

Chuyện này thật vô cùng nhục nhã, không thể kể cho vợ con được, xin ông đừng nói lộ ra.

Bành nhận lời, sai đầy tớ dắt ngựa đưa Khâu về.

Bành từ đó không sao quên được Quyên Nương.

Ba năm sau vì người anh rể làm Phán quan ở Dương Châu, Bành nhân tới thăm.

Ở đó có Lương công tử là nhà thế giao mở tiệc mời Bành tới uống rượu, trong tiệc có mấy người ca kỹ đều tới yết kiến.

Công tử hỏi Quyên Nương, người nhà thưa là bị ốm.

Công tử túc giận nói:

- Con tiện tỳ lên mặt làm cao, đem dây đi trói mang lại đây cho ta.

Bành nghe tên Quyên Nương, giật mình hỏi là ai, công tử đáp:

- Thị là con hát số một ở Quảng Lăng, có chút danh tiếng nên đâm ra vô lễ.

Bành ngờ chỉ là ngẫu nhiên trùng tên nhưng vẫn hồi hộp, chỉ mong được thấy mặt ngay.

Không bao lâu Quyên Nương tới, công tử giận dữ kể tội.

Bành nhìn kỹ thì đúng là người đã gặp hôm Trung thu, bèn thưa với công tử:

- Nàng này với ta là chỗ quen biết cũ, mong ông tha cho.

Quyên Nương nhìn kỹ Bành, dường như có vẻ ngạc nhiên.

Công tử chưa hỏi kỹ lại, cứ sai mời rượu.

Bành hỏi còn nhớ khúc Chàng bạc tình không, Quyên Nương càng kinh hãi, nhìn Bành chằm chằm rồi mới cất tiếng hát, nghe giọng hát vẫn giống như đêm Trung thu năm trước.

Rượu tàn, công tử sai nàng hầu hạ chăn gối cho khách.

Bành nắm tay nàng hỏi:

- Lời hẹn ba năm hôm nay mới làm được chăng?

Quyên Nương đáp:

- Năm trước theo người ta chơi thuyền ở Tây Hồ, thiếp uống chưa được mấy chén chợt như say, lúc mơ mơ hồ hồ bị một người nhấc lên đặt xuống một thôn, có một tiểu đồng dẫn thiếp vào nhà, thấy trên chiếu rượu có ba người mà chàng là một.

Sau đó đi thuyền tới Tây Hồ, người ta đưa thiếp về thuyền cũ qua song cửa sổ, nắm tay ân cần từ biệt.

Mỗi khi nhớ lại vẫn nghĩ là mộng ảo, nhưng chiếc khăn lụa sờ sờ ra đó, thiếp vẫn trân trọng cất giữ.

Bành kể lại mọi việc rồi cùng nhau than thở, Quyên Nương co người rúc vào lòng Bành, nức nở nói:

- Người tiên đã làm mối cho nhau, xin chàng đừng cho thiếp là kẻ phong trần vứt đi mà quên người trong bể khổ.

Bành đáp:

- Lời hẹn trên thuyền chưa từng ngày nào lãng quên, nếu nàng có lòng thì ta có phải dốc túi bán ngựa cũng không tiếc.

Sáng hôm sau Bành kể với công tử, lại mượn anh rể ngàn vàng xóa sổ cho nàng rồi đưa nhau về quê.

Tình cờ tới gian nhà riêng của Bành, nàng vẫn nhận ra được nơi uống rượu năm xưa.

_____________________________________

CHƯƠNG 142: TÂN LANG

Ca Xúy Thanh Lư Dạ Vị Lan

Động Phòng Khởi Liệu Thặng Cô Loan

Tân Lang Ý Tự Mơ Hồ Thậm

Ưng Tác Ly Hồn Thiến Nữ Khan

Dịch:

Hoa Chúc Sinh Ra Tiệc Chửa Tàn

Động Phòng Sao Bỗng Phượng Xa Loan

Tân Lang Tình Tự Mơ Hồ Quá

Chừng Thả Hồn Theo Hút Mỹ Nhân



Hiếu liêm Mai Ngẫu Trường người Giang Nam nói ông Tôn người cùng hương làm Huyện lệnh Đức Châu từng xử một vụ án lạ.

Lúc đầu trong thôn có người cưới vợ cho con trai, ngày đón dâu thân thích láng giềng đều tới mừng.

Uống rượu đến khuya, chàng rể ra, thấy cô dâu ăn mặc đẹp đẽ đi vòng ra sau nhà, sinh nghi đuổi theo.

Sau nhà có khe nước dài, có chiếc cầu nhỏ bắc qua, cô dâu mới bước lên cầu đi luôn.

Chàng rể càng ngờ vực, gọi thì cô dâu không đáp, chỉ lấy tay vẫy chồng, chồng vội đuổi theo, chỉ cách gang tấc mà không sao đuổi kịp.

Đi vài dặm vào tới một thôn, vợ dừng lại nói:

- Nhà chàng vắng vẻ, ta không quen ở, xin mời chàng tạm tới ở nhà thiếp, vài ngày sẽ lại về.

Nói xong giơ tay gõ cửa, có đứa nữ đồng ra mở cửa, vợ bước vào trước, y bất đắc dĩ vào theo.

Vào trong thấy cha mẹ vợ đều ngồi trên sảnh, nói với con rể rằng:

- Con gái ta lúc nhỏ được nuông chiều, chưa từng rời ra một khắc, nay một sớm rời nhà nên trong lòng nhưng nhớ.

Nay cùng chồng về đây ta rất thỏa lòng, cứ ở đây vài hôm ta sẽ sai người đưa về.

Rồi cắt nhà riêng cho ở, giường gối đều đầy đủ, y bèn ở lại.

Khách ở nhà thấy chàng rể lâu quá không tới đổ ra đi tìm, thấy trong phòng chỉ có cô đâu mới mà không biết là chồng đi đâu.

Tìm kiếm hỏi han khắp xa gần cũng không có tin tức gì, cha mẹ rơi lệ cho rằng đã chết rồi.

Được nửa năm, nhà bên vợ thương con gái không có chồng, bèn xin với cha mẹ chú rể cho con gái mình lấy chồng khác.

Người cha càng đau buồn, nói:

- Không tìm thấy xương cốt quần áo gì, làm sao biết được con ta đã chết?

Mà nếu nó chết thì chôn cất xong cũng phải một năm mới được tái giá, nay sao lại gấp gáp như vậy?

Cha cô gái càng tức giận bèn kiện lên quan.

Ông Tôn lấy làm lạ lùng nhưng không biết làm sao, ra lệnh phải chờ ba năm, giữ lại cái án ấy để xét sau.

Chàng rể ở nhà cô gái, người nhà cũng rất chiều chuộng, thường bàn việc trở về, vợ ưng thuận nhưng cứ lần lữa không đi ngay.

Được nửa năm y nóng ruột không yên tâm muốn về một mình, nhưng vợ cố giữ lại.

Một hôm cả nhà nhớn nhác như có tai họa, cha vợ vội vàng nói với con rể:

- Vốn định hai ba hôm sẽ đưa vợ chồng về, không ngờ quần áo tư trang còn chưa đủ, nay lại gặp tai họa, bất đắc dĩ xin đưa con về trước.

Kế đưa y ra cửa rồi quay ngay vào, có vẻ rất vội vàng.

Y đang tìm đường đi, quay lại nhìn thì thấy nhà cửa đều biến mất, chỉ thấy một ngôi mộ cao, cả sợ tìm đường về ngay nhà.

Về tới nhà kể lại hết đầu đuôi nhân lại lên quan kể lại, ông Tôn bắt cha cô gái lên khuyên dụ lại đưa cô gái về, lúc ấy mới làm lễ hợp cẩn.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 143+144


CHƯƠNG 143: THẦN TIÊN ĐẢO

Khinh Bạc Mạng Căng Tài Tử Khí

Gia Du Tương Nại Mỹ Nhân Hà

Tiên Nhân Đảo Thượng Quy Lai Hậu

Thủy Bả Không Hoa Thị Giáp Khoa

Dịch:

Khinh Bạc Đừng Khoe Phẩm Giá Cao

Riễu Đùa Ngăn Được Mỹ Nhân Sao

Từ Chơi Tiên Đảo Về Sau Thấy

Giáp Bảng Không Hoa Chẳng Quý Nào



Vương Miễn tự Mẫn Trai người đất Linh Sơn (thuộc tỉnh Quảng Đông) có văn tài, nhiều lần đỗ đầu văn trường nên tính khí kiêu ngạo, hay chửi mắng làm nhục nhiều người.

Tình cờ gặp một đạo sĩ, ông nhìn Vương nói:

- Tướng ông rất sang, nhưng vì khinh bạc bị chiết trừ gần hết rồi.

Trí tuệ như ông, nếu sửa mình tu đạo thì còn có thể được ghi tên vào sổ tiên.

Vương cười khẩy nói:

- Phúc trạch thế nào thật không biết được, mà chẳng lẽ trên đời lại có tiên sao?

Đạo sĩ nói:

- Kiến thức của ông sao lại kém thế?

Chẳng cần tìm đâu xa, như ta chính là tiên đây.

Vương càng cười là khoác lác, đạo sĩ nói:

- Ta thì có gì đáng lạ, nếu chịu đi theo ta thì có thể gặp ngay vài mươi vị chân tiên.

Vương hỏi ở đâu, đạo sĩ đáp:

- Chỉ trong gang tấc!

Rồi kẹp gậy vào giữa hai đùi, đưa một đầu cho Vương bảo cưỡi như mình, dặn Vương nhắm mắt rồi quát lớn một tiếng:

- Bay!

Vương thấy gậy to ra hơn chiếc túi đựng năm đấu gạo bay lên không, lén sờ vào thấy vẩy cứng xếp lớp, sợ quá không dám động đậy.

Giây lát đạo sĩ quát:

- Dừng lại!

Gậy liền thu lại hạ xuống một phủ đệ lớn lầu gác nối nhau liên tiếp như nơi ở của bậc đế vương.

Có ngôi đài cao hơn trượng, trên đài có mười một tòa điện tráng lệ đẹp đẽ không đâu sánh được.

Đạo sĩ dẫn Vương lên, sai tiểu đồng bày tiệc mời khách.

Trên điện đặt mấy mươi bàn tiệc, bàn ghế màn trướng nhìn hoa cả mắt, đạo sĩ thay quần áo đẹp đẽ để chờ.

Giây lát khách khứa từ trên không đáp xuống, người cưỡi rồng cọp, kẻ cưỡi loan phượng không như nhau, ai cũng mang theo nhạc khí, lại có người là đàn bà, có người là đàn ông, đều để chân trần.

Trong đám duy có một người đẹp cưỡi chim phượng sặc sỡ, ăn mặc kiểu trong cung, có đứa thị nhi ôm một nhạc khí dài khoảng năm thước trở lại, không phải đàn cầm không phải đàn sắt, chẳng biết là đàn gì.

Tiệc rượu bắt đầu, món ngon vật lạ đầy bàn, ăn vào thấy thơm ngon khác hẳn thức ăn dưới trần.

Vương ngồi im lặng, chỉ chăm chú nhìn người đẹp, trong lòng ưa người lại muốn nghe nhạc, chỉ sợ rốt lại nàng không đàn bản nào.

Rượu tàn, một ông già nói lớn:

- Được Thôi chân nhân có nhã ý gọi tới, hôm nay có thể nói là hội lớn, nên thả sức vui vẻ.

Xin những ai mang nhạc khí cùng loại thì họp thành đội để tấu nhạc.

Thế là ai vào đội ấy, tiếng tơ trúc dìu dặt vang tới trời cao, duy nàng cưỡi chim phượng thì tài đàn không ai sánh kịp.

Khi đàn sáo đều đã im tiếng, đứa thị nhi mới mở túi gấm lấy đàn ra đặt ngang trên ghế, cô gái rung cổ tay ngọc như gảy đàn tranh, tiếng lớn gấp bội đàn cầm, mãnh liệt đủ có thể hởi dạ, êm đềm thì có thể tiêu hồn.

Đàn khoảng nửa thời gian nấu chín nồi cơm, cả điện im phăng phắc không có một tiếng ho, hết khúc thì một tiếng ngân lớn vang rền như gõ vào khánh đá.

Mọi người cùng khen ngợi, nói:

- Bản đàn của Vân Hòa phu nhân tuyệt diệu thật.

Kế đều đứng lên cáo biệt, hạc kêu rồng ngâm cùng lúc tan đi cả.

Đạo sĩ bèn đặt giường ngà nệm gấm cho Vương ngủ.

Vương vừa gặp người đẹp lòng đã rung động, sau khi nghe nhạc càng thêm tơ tưởng, nghĩ mình có tài năng, muốn hiển đạt công danh dễ như nhổ cỏ, khi đã được phú quý rồi muốn gì chẳng được, khoảnh khắc trong lòng ngổn ngang trăm mối.

Đạo sĩ như đã biết, nói với Vương:

- Ông kiếp trước là bạn học với ta, sau vì không bền chí nên sa vào lưới tục.

Ta vẫn không coi ông là người lạ, thật tình muốn đưa ông ra khỏi vũng nước đục.

Không ngờ ông mê muội đã sâu, mờ mịt không gọi tỉnh được.

Nay sẽ đưa ông về, chưa hẳn không có ngày gặp lại, nhưng muốn làm tiên trên trời thì phải đến kiếp sau.

Rồi chỉ phiến đá dài dưới thềm bảo Vương nhắm mắt ngồi lên, dặn kỹ không được nhìn.

Kế lấy roi quất đá bay lên, Vương nghe tiếng gió rít ù ù bên tai, không biết đã đi được bao xa, chợt nghĩ chưa nhìn rõ cảnh vật phía dưới xem ra sao bèn lén hé mắt thì thấy biển lớn mênh mông không có bờ bến, cả sợ lập tức nhẳm mắt lại nhưng người đã theo đá cùng rơi xuống bùm một tiếng mất tăm như chim âu lặn.

May là vốn ở gần biển nên hơi biết bơi, nghe có người vỗ tay reo:

- Hụt chân đẹp lắm!

Đang lúc nguy cấp thì có một cô gái kéo lên thuyền, nói:

- May mắn may mắn, Tú tài trúng nước rồi!

Vương nhìn thì thấy nàng khoảng mười sáu mười bảy tuổi, dung mạo xinh đẹp.

Vương ra khỏi nước rét run xin đốt lửa hơ áo, cô gái nói:

- Theo ta về nhà sẽ có cách, nếu được vừa ý xin đừng quên nhau.

Vương nói:

- Sao lại nói thế?

Ta là tài tử ở Trung nguyên, ngẫu nhiên gặp chuyện không may, nếu qua được con quẫn bách này xin lấy thân đền đáp, đâu chỉ không quên mà thôi.

Cô gái chống sào đẩy thuyền đi nhanh như bay, chốc lát đã tới bờ, lấy bó hoa sen mới hái trong thuyền lên rồi dẫn Vương cùng đi.

Đi được nửa dặm thì vào thôn, tới một ngôi nhà cánh cổng sơn son quay về hướng Nam, qua mấy lần cổng, cô gái vào trước.

Lát sau một người đàn ông bước ra, khoảng hơn bốn mươi tuổi, vái chào mời lên thềm, sai người hầu lấy mũ áo giày tất cho Vương thay, kế hỏi nhà cửa quê quán.

Vương đáp:

- Không dám dối nhau, chắc ông có nghe qua tài danh của ta.

Thôi chân nhân rất yêu mến gọi lên trời, nhưng ta tự nghĩ công danh dễ như trở bàn tay nên không muốn ẩn dật.

Người đàn ông đứng lên kính cẩn nói:

- Nơi đây gọi là Đảo tiên, xa hẳn cõi người.

Ta tên Văn Nhược họ Hoàn, mấy đời sống nơi hẻo lánh, may sao lại được gặp bậc tài danh.

Rồi đặt tiệc ân cần mời mọc.

Kế thong thả nói:

- Ta có hai con gái, đứa lớn là Phương Vân được mười sáu tuổi, đến nay chưa gặp người xứng đôi, muốn cho hầu hạ bậc cao nhân, ông thấy sao?

Vương nghĩ là cô gái hái sen bèn đứng dậy cảm tạ.

Hoàn mời vài người tuổi cao đức cả trong làng đến, nhìn quanh một lượt rồi lập tức sai gọi con gái.

Không bao lâu nghe có mùi hương lạ sực núc, hơn mười tỳ nữ xinh đẹp đỡ Phương Vân ra, xinh xắn lộng lẫy như hoa sen chiếu nắng sớm.

Nàng vái chào rồi ngồi xuống, các tỳ nữ đứug hầu, cô gái hái sen cũng trong số đó.

Rượu được vài tuần thì một cô gái để tóc bím từ trong ra, mới hơn mười tuổi mà dáng vẻ đã xinh đẹp, tươi cười dựa vào khuỷu tay Phương Vân, ánh mắt long lanh.

Hoàn nói:

- Con gái không ở trong phòng, ra đây làm gì?

Rồi quay ra nói:

- Đây là Lục Vân, con gái nhỏ của ta, cũng khá thông minh, nhớ được nhiều sách vở.

Nhân bảo ngâm thơ cho khách nghe, cô gái bèn đọc ba bài Trúc chi từ, giọng ngâm êm ái dễ nghe.

Hoàn cho nàng ngồi cạnh chị rồi nói:

- Vương lang là bậc thiên tài, văn thơ ắt nhiều lắm, có thể cho ta được nghe chỉ dạy không?

Vương hiên ngang đọc một bài thơ cận thể rồi tự đắc nhìn quanh, trong có hai câu:

- Một thân thừa chút râu mày đó, Nửa hớp cho tan uất hận này.

Ông già láng giềng đọc đi đọc lại, Phương Vân cúi đầu nói:

- Câu trên là Tôn Hành Giả rời động Hỏa Vân, câu dưới là Trư Bát Giới qua sông Tử Mẫu.

Cả tiệc vỗ tay cười ầm.

*[Câu trên là Tôn Hành Giả...qua sông Tử Mẫu: Tây du ký thuật việc Tôn Ngộ Không tới động Hỏa Vân bị yêu ma là Hồng Hài nhi phóng lửa tam muội đốt suýt chết và việc Trư Bát Giới tới nước Tây Lương uống nước sông Tử Mẫu nên có thai, phải uống nước suối Giải thai mới khỏi, đây Phương Vân dẫn ra để xuyên tạc hai câu thơ đầy "khẩu khí anh hùng" của Vương Miễn].

Hoàn xin đọc bài khác, Vương bèn đọc bài thơ Chim nước:

- Đầu đầm kêu kíu kít...

Chợt quên mất câu kế, còn đang nhớ lại thì Phương Vân ghé tai em thầm thì rồi che miệng cười.

Lục Vân thưa với cha:

- Chị ấy nối câu tiếp theo cho anh rể, là Mông chó vãi bì bùm.

Cả tiệc lại cười ồ, Vương có vẻ thẹn.

Hoàn trừng mắt nhìn Phương Vân, khi Vương đã có vẻ bình tĩnh rồi lại xin Vương đọc văn.

Vương cho rằng người ngoài cõi trần không biết văn bát cổ bèn khoe bài làm được chấm hạng nhất ở trường, đầu đề là hai câu:

- Hiếu thay, Mẫn Tử Khiên...

Câu phá đề là:

- Thánh nhân khen lòng hiếu của bậc đại hiền...

Lục Vân nhìn cha nói:

- Thánh nhân không gọi học trò bằng tên tự, câu "Hiếu thay...”

ắt là lời của kẻ khác.

Vương nghe thấy cụt hứng.

Hoàn cười nói:

- Trẻ con biết gì!

Không cốt chuyện ấy, chỉ cần bàn văn thôi.

Vương bèn đọc tiếp, cứ được vài câu hai chị em lại nói khẽ vào tai nhau như bình luận nhưng thì thào nên không nghe rõ.

Vương đọc đến đoạn hay, thuật lại cả lời bình của học quan rằng:

- Chữ chữ đều thống thiết.

Lục Vân nói với cha:

- Chị nói nên bỏ chữ "thiết” đi.

Mọi người đều không hiểu, Hoàn sợ con ăn nói khó nghe nên không dám gạn hỏi.

Vương đọc xong lại thuật lời tổng bình, trong có câu:

- Trống yết đánh một tiếng thì muôn hoa đều rụng.

Phương Vân lại che miệng nói vào tai em, hai người cùng cười không ngẩng lên được.

Lục Vân lại nói với cha:

- Chị nói trống yết phải đánh bốn tiếng.

Mọi người vẫn không hiểu.

Lục Vân máy miệng định nói, Phương Vân nín cười quát:

- Con nhãi mà nói thì ta đánh chết!

Mọi người ngờ vực cứ đoán mò này nọ, Lục Vân không nhịn được bèn nói:

- Bỏ chữ "thiết” đi, nói “thống” tức là “bất thông”.

Đánh bốn tiếng trống là “bất thông lại bất thông" vậy.

Mọi người cười ầm, Hoàn nổi giận quát con rồi đứng lên rót rượu xin lỗi mãi.

*[Thống tức là "bất thông”: theo Đông y, nếu trên người có chỗ nào đau thì đó là vì huyết mạch không lưu thông, Phương Vân nhân đó để chê văn của Vương Miễn là bất thông].

Vương lúc đầu thị tài kiêu căng, trong mắt không coi ai ra gì, đến lúc ấy hùng khí tiêu tan, mồ hôi đầm đìa.

Hoàn xin lỗi an ủi, nói:

- Vừa nghĩ được một câu xin mọi người cùng đối: Vương tử thân biên, vô hữu nhất điểm bất tự ngọc (Bên cạnh chàng Vương, chẳng có điểm nào không tựa ngọc).

Mọi người chưa kịp đối thì Lục Vân đọc ngay:

- Mẫn ông đầu thượng, tái trước bán tịch tức thành quy (Trên đầu ông Mẫn, thêm vào tịch nữa sẽ thành rùa).

Phương Vân cười sặc sụa véo sườn em liền mấy cái.

Lục Vân giằng ra bỏ chạy, quay lại nói:

- Việc gì đến chị?

Chỉ mắng anh ấy bao nhiêu thì không thấy là sai, người ta nói một câu lại không cho à?

Hoàn quát nạt mới cười rồi đi.

Các ông già láng giềng cáo từ xong, các tỳ nữ dẫn vợ chồng vào phòng, đèn nến giường màn đã sắp đặt tươm tất.

Vương thấy trong phòng tân hôn sách vở đầy giá không thiếu loại nào, hỏi qua những chỗ khó vợ đều trả lời trôi chảy, lúc ấy mới thấy xấu hổ vì hiểu biết của mình còn nông cạn.

*[Vương tử thân biên...tịch tức thành quy: đôi vế đối này là chơi chữ.

Trong Hán tự chữ vương thêm một chấm bên cạnh thì thành chữ ngọc, đây ông Hoàn có ý tán tụng Vương Miễn cái gì cũng hay, còn chữ Mẫn thêm chữ tịch (đêm) thì thành chữ quy (con rùa), đây Lục Vân có ý chế nhạo Vương Miễn là đến đêm tân hôn sẽ trở thành đần độn luôn như con rùa, vì Vương Miễn tên tự là Mẫn Trai].

Phương Vân gọi Minh Đang thì cô gái hái sen chạy tới vâng dạ, nhờ vậy Vương mới biết tên nàng.

Vương mấy lần bị châm chọc, e rằng trong chốn khuê phòng không được coi trọng, may là Phương Vân tuy ác khẩu nhưng trong chốn phòng the lại rất đằm thắm.

Vương ở yên rảnh rỗi lại ngâm nga, vợ nói:

- Thiếp có lời hay, không biết chàng có chịu nghe theo không?

Hỏi lời gì thì nàng đáp:

- Từ nay chàng đừng làm thơ nữa, cũng là một cách che giấu cái dở của mình đấy.

Vương xấu hổ quá bèn gác bút luôn.

Lâu ngày dần thân mật với Minh Đang, bèn nói với Vân rằng:

- Minh Đang có cái ơn cứu mạng cho tiểu sinh, xin ít nặng lời cau mặt với nàng.

Phương Vân ưng thuận, cứ những lúc vợ chồng vui chơi trong phòng cũng gọi nàng, đôi bên càng ưa nhau, thường ngầm tỏ tình ý.

Phương Vân hơi biết, nhiều lần trách móc nhưng Vương cứ mồm năm miệng mười ra sức thanh minh.

Một đêm cùng uống rượu, Vương cho là vắng vẻ, bảo vợ gọi Minh Đang.

Phương Vân không chịu, Vương nói:

- Sách gì nàng cũng đọc, sao chẳng nhớ mấy chữ Độc lạc nhạc?

Phương Vân nói:

- Thiếp nói chàng bất thông, nay càng nghiệm.

Cách chấm câu còn chưa biết à?

Mình cần thì thích người khác cũng cần, nhưng nói tới chuyện vui mà hỏi có cần không thì đáp không.

Vương phì cười bèn thôi.

Gặp buổi chị em Phương Vân có hẹn với cô gái láng giềng, Vương được dịp liền dẫn Minh Đang vào, ân ái hết mực.

Đến tối thấy bụng dưới hơi đau mà dương vật rụt hết vào, cả sợ nói với Phương Vân.

Vân cười nói:

- Chắc vì báo ơn Minh Đang rồi!

Vương không dám giấu bèn khai thật, Phương Vân nói:

- Chàng tự chuốc họa, thật thiếp không còn cách nào.

Nếu không đau ngứa thì để mặc thế cũng được.

*[Độc lạc nhạc: lấy từ câu trong Mạnh tử “Độc lạc nhạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc?" (Một mình vui nhạc và cùng mọi người vui nhạc, cái nào vui hơn?)].

*[Mình cần...

đáp không: nguyên văn là "Độc yếu nãi lạc ư nhân yếu, vấn lạc thục yếu hồ, viết bất].

Mấy ngày sau không khỏi, Vương lo lắng kém vui, Phương Vân biết ý nhưng không hỏi gì, chỉ chăm chú nhìn chồng, ánh mắt như nước thu trong vắt, sáng như sao buổi sớm.

Vương nói:

- Nàng có thể nói trong lòng ngay thẳng nên mắt sáng.

Phương Vân cười nói:

- Còn chàng thì có thể nói trong lòng không ngay thẳng nên mất sáng.

Bởi người ta thường nói chữ mất gần như chữ mắt nên nàng lấy đó để đùa.

Vương cười ngất năn nỉ xin chữa cho, nàng nói:

- Chàng không chịu nghe lời nói phải, trước đây chưa chắc đã không nghi là thiếp ghen chứ biết đâu là đứa tỳ nữ ấy vốn không thể gần gũi.

Lúc trước thật vì yêu thương mà nói, nhưng chàng cứ như đàn khảy tai trâu nên phát ghét bỏ mặc không hỏi tới, nếu không đã chữa cho rồi.

Nhưng thầy thuốc phải thăm chỗ đau trước.

Rồi sờ vào dưới áo Vương niệm chú rằng:

- Chim vàng, chim vàng, chớ đậu cành gai.

Vương bất giác cười lớn, cười xong thì khỏi bệnh.

Mấy tháng sau Vương vì còn cha già con nhỏ thường nhớ nhung, tỏ ý với vợ.

Nàng nói:

- Về thì không khó, nhưng không có ngày sum họp nữa mà thôi.

Vương sa nước mắt xin cùng về, nàng nghĩ đi nghĩ lại mới ưng thuận.

Ông Hoàn bày tiệc tiễn, Lục Vân cầm giỏ vào nói:

- Chị sắp đi xa mà không có gì tặng, chỉ sợ khi tới Hải Nam không có nhà mà ở nên đêm qua đã làm giúp chị lầu gác, xin đừng chê là sơ sài.

Phương Vân cảm ơn nhận lấy, Vương tới gần xem thì là cỏ nhỏ tết làm lầu gác, ngôi lớn thì bằng quả cam, ngôi nhỏ thì bằng quả quít, khoảng hơn hai mươi gian, kèo cột rui mè đều rõ ràng, bên trong đủ cả giường nằm rèm trướng to bằng hạt vừng.

Vương coi như đồ chơi của trẻ con nhưng thầm khen cô nhỏ khéo tay.

Phương Vân nói:

- Nói thật với chàng bọn thiếp đều là địa tiên, vì có túc duyên nên được theo nhau, vốn không có ý bước tới cõi trần nhưng vì chàng còn có cha già nên không nỡ trái lời.

Khi nào cha đủ tuổi trời thì phải trở lại đây.

Vương kính cẩn xin vâng.

Hoàn hỏi muốn đi thuyền hay đi xe, Vương sợ sóng gió nguy hiểm nên xin đi đường bộ.

Ra thì thấy ngựa xe đã chờ ngoài cổng bèn từ biệt lên đường.

Xe ngựa đi nhanh như bay, chốc lát tới bờ biển, Vương lo không có đường đi.

Phương Vân rút ra một tấm lụa trắng ném về phía nam, tấm lụa biến thành con đê dài bề rộng vài trượng, chớp mắt xe ngựa phóng qua, đê cũng rút lại dần.

Tới một chỗ nước triều tràn lên, bốn phía mênh mông, Phương Vân bảo dừng lại rồi xuống xe lấy những lầu gác bằng cỏ ra, cùng mấy người bọn Minh Đang bày biện theo thứ lớp, chớp mắt đã hóa thành một phủ đệ lớn.

Mọi người cùng vào cởi bỏ hành lý ra, thấy không khác gì lúc còn trên đảo, những bàn ghế giường tủ trong phòng ngủ cũng giống hệt.

Lúc ấy trời đã tối bèn ngủ đêm ở đó.

Sáng hôm sau Phương Vân bảo Vương về đón cha mẹ.

Vương sai thắng ngựa phóng về làng cũ, tới nơi thì nhà cửa đã thuộc về người khác.

Hỏi người làng mới biết mẹ và vợ đều đã chết, chỉ còn cha già.

Con trai Vương mê cờ bạc bán sạch nhà cửa ruộng vườn, ông cháu không có chỗ ở phải thuê nhà tại thôn tây trú ngụ.

Vương lúc mới trở về vẫn còn ý niệm công danh chưa dứt, khi nghe chuyện nhà như thế trong lòng đau xót, thầm nghĩ nếu được giàu sang cũng chỉ như ảo ảnh.

Bèn phóng ngựa qua thôn tây thấy cha ăn mặc rách rưới, mặt mày già sọm rất thương xót, cha con gặp nhau khóc lạc cả tiếng.

Hỏi tới thằng con hư đốn thì đi đánh bạc chưa về, Vương bèn chở cha đi.

Phương Vân lạy chào xong, nấu nước mời cha chồng tắm rồi đưa áo gấm cho ông mặc, dọn phòng sạch cho ông nghỉ, kế lại mời các bạn già cũ tới chơi với cha, phụng dưỡng còn hơn các nhà thế tộc.

Một hôm đứa con tìm tới, Vương cấm cửa không cho vào, chỉ cho hai mươi lượng vàng, sai người nhắn rằng:

- Cầm về cưới vợ rồi lo làm ăn, nếu còn tới nữa thì sẽ đánh cho chết tươi.

Đứa con khóc lóc mà đi.

Vương từ khi trở về rất ít giao du, nhưng nếu bạn cũ tình cờ tới thăm thì tiếp dãi ân cần, khiêm nhường khác xa ngày trước.

Riêng có Hoàng Tử Giới vốn là bạn học thuở trước cũng là bậc danh sĩ mà lận đận thì Vương giữ lại chơi rất lâu, thường kể chuyện kín cho nghe, biếu tặng rất hậu.

Được ba bốn năm thì Vương ông mất, Vương bỏ hàng vạn quan tiền chôn cất, tống táng đủ lễ.

Bấy giờ con trai Vương đã lấy vợ, vợ kiềm thúc rất chặt chẽ nên cũng bớt cờ bạc.

Ngày chôn cất Vương ông nàng mới được ra mắt cha mẹ chồng, Phương Vân vừa gặp đã biết là người giỏi việc nhà bèn cho vợ chồng ba trăm lượng vàng để mua ruộng đất nhà cửa.

Hôm sau Hoàng và con Vương tới thăm hỏi thì lầu gác đều biến mất không biết là ở đâu.

______________________________________

CHƯƠNG 144: HỒ TỨ NƯƠNG

Duyệt Tận Viêm Lương Nhất Thuấn Trung

Tứ Nương Chân Hữu Đại Gia Phong

Quái Tha Tỳ Tử Thiên Tu Oán

Quyết Thủ Song Mâu Huyết Tiễn Hồng

Dịch:

Thói Đời Ấm Lạnh Thoáng Nhìn Qua

Phong Độ Cô Tư Thực Đại Gia

Tỳ Nữ Riêng Còn Gây Oán Hận

Khoét Luôn Hai Mắt Máu Chan Hòa



Trình Hiếu Ân người đất Kiếm Nam (tỉnh Tứ Xuyên), lúc trẻ rất thông minh, giỏi văn chương.

Cha mẹ đều mất sớm, nhà nghèo không có chút của cải, không biết làm gì để sống, tới xin làm thuê giữ việc sổ sách cho quan Thông chính ty họ Hồ.

Ông Hồ sai làm văn để thử tài, rất hài lòng, nói:

- Người này không nghèo mãi được, có thể gả con gái cho.

Ông Hồ có ba trai bốn gái, đều đã hứa cưới gả cho các nhà đại gia ngay từ lúc mới sinh ra, chỉ có con gái út là Tứ Nương là con người thiếp, mẹ mất sớm nên đến tuổi cập kê vẫn chưa hứa gả cho ai, bèn gả cho Trình.

Có kẻ chê cười cho rằng ông Hồ già nua lú lẫn, nhưng ông không hề đếm xỉa tới, cắt nhà cho sinh ở, chu cấp rất đầy đủ.

Các công tử khinh bỉ không thèm ngồi ăn chung với Trình, bọn tôi tớ cũng về hùa.

Sinh im lặng không so hơn kém, chỉ ra sức học hành.

Bọn họ dè bỉu chê bai, Trình vẫn học hành không nghỉ, họ làm ầm ĩ cạnh chỗ học thì Trình mang sách vào phòng vợ ngồi đọc.

Lúc trước khi Tứ Nương chưa lấy chồng, có người thầy bói giỏi biết số phận sang hèn xem tướng cho cả nhà đều không khen ngợi ai, chỉ khi Tứ Nương tới mới nói:

- Cô này đúng là bậc quý nhân!

Đến khi Tứ Nương lấy Trình, các chị em đều gọi là quý nhân để chế nhạo.

Nhưng Tứ Nương đoan chính cẩn trọng ít nói, cứ làm như không nghe thấy, dần dần tới bọn tớ gái cũng gọi như vậy.

Tứ Nương có đứa tỳ nữ tên Quế Nhi nghe thế rất bực tức, nói lớn:

- Biết đâu lang quân nhà ta làm nên bậc quý quan thì sao?

Người chị thứ hai của Tứ Nương nghe thấy khinh bỉ nói:

- Trình lang mà làm được quý quan thì khoét tròng mắt ta đi.

Quế Nhi tức giận nói:

- Chỉ sợ lúc ấy không móc tròng mắt ra được thôi.

Người chị thứ hai của Tứ Nương có đứa tỳ nữ tên Xuân Hương thấy thế nói:

- Nhị Nương mà nuốt lời ta sẽ móc mắt thay cho.

Quế Nhi càng tức tối đập tay Xuân Hương lập lời thề, nói:

- Đánh cuộc hai tròng mắt đấy!

Nhị Nương giận là hỗn láo tát Quế Nhi, Quế Nhi kêu gào rầm rĩ, phu nhân nghe biết chuyện nhưng không biết bênh vực ai, chỉ nhếch mép cười.

Quế Nhi về kêu khóc với Tứ Nương, Tứ Nương đang kéo sợi không tức giận cũng không nói gì, chỉ bình thản kéo sợi như không nghe thấy.

Gặp ngày sinh nhật của ông Hồ, các con rể đều tới mang quà mừng thọ chất đầy sân.

Đại Nương đùa hỏi Tứ Nương:

- Nhà ngươi mừng thọ vật gì?

Nhị Nương nói:

- Hai con mắt mang một cái mồm!

Tứ Nương thản nhiên không hề tỏ vẻ xấu hổ, mọi người thấy nói gì nàng cũng như không hiểu, càng xúm vào chế nhạo.

Chỉ có người thiếp yêu của ông Hồ là Lý thị, mẹ ruột của Tam Nương là coi trọng Tứ Nương, thường quan tâm thương xót nàng, vẫn nói với Tam Nương rằng:

- Tứ Nương bên trong thông minh mà bề ngoài chất phác, giữ kín khôn ngoan không để lộ ra, bọn ranh con kia đều không tự biết mình đang trong cõi bao la, huống hồ Trình lang ngày đêm ra sức học hành, há lại ở dưới người măi sao?

Con đừng có học thói xấu của họ, cứ đối xử với nàng cho tốt, ngày khác còn dễ nhìn mặt nhau.

Nên Tam Nương mỗi khi về thăm nhà vẫn trò chuyện vui vẻ với Tứ Nương.

Năm ấy Trình nhờ ông Hồ được vào học trường huyện, năm sau quan Học sứ về khảo thí sĩ tử thì ông vừa chết, Trình cư tang như con ruột, chưa được dự thi.

Kế mãn tang, Tứ Nương đưa tiền cho bảo lên đường dự thi khoa Di tài, dặn rằng:

- Trước nay ở đây lâu mà không bị đuổi đi là nhờ có cha già còn sống, nay thì muôn phần không được nữa, nếu chàng thi đỗ thì may ra lúc trở về mới có nhà ở thôi.

Lúc Trình lên đường, Lý thị và Tam Nương tặng tiễn rất hậu.

Trình vào trường ra sức nghiền ngẫm làm bài, quyết tâm thi đỗ bằng được.

Nhưng không bao lâu ra bảng thì bị đánh rớt, rầu rĩ uất ức khó nỗi trở về.

May là trong túi còn tiền, bèn lên đường vào kinh.

Lúc ấy bên nhà vợ có nhiều người làm quan trong kinh, Trình sợ họ biết được chế nhạo mĩa mai bèn thay tên đổi họ, khai dối quê quán xin náu thân ở nhà bậc quan lớn.

Quan Ngự sử họ Lý người Đông Hải (huyện Diệm Thành tỉnh Sơn Đông) gặp Trình rất quý trọng, nhận làm môn khách, giúp cho tiền bạc học hành, nộp tiền mua cho chức Cống sinh bảo ứng thí ở phủ Thuận Thiên.

Trình thi mấy kỳ đều đỗ, được trao chức Thứ Cát sĩ, lúc ấy bèn nói thật mọi chuyện.

Ông Lý cho mượn ngàn lượng vàng, sai người tới Kiếm Nam mua nhà cho Trình trước.

Lúc ấy Hồ Đại Lang vì cha chết nên bán những nhà đẹp ruộng tốt nhân mua lấy, sau đó sai xe ngựa tới đón Tứ Nương.

Trước là khi Trình thi đỗ Tiến sĩ có người tới báo tin mừng, cả nhà nghe thấy phát ghét, lại nhìn thấy tên họ không phải là Trình bèn quát đuổi đi.

Gặp hôm Tam Lang cưới vợ, khách khứa thân thích tới ăn mừng, các anh chị em đều có mặt, chỉ Tứ Nương là không được anh trai chị dâu gọi tới.

Chợt có một người chạy vào dâng thư của Trình gởi Tứ Nương, các anh em mở ra xem, nhìn nhau tái mặt.

Khách khứa thân thích trong tiệc đều xin gặp Tứ Nương, các chị em đều lo lắng chỉ sợ Tứ Nương căm hòn không chịu tới.

Không bao lâu thấy nàng thong thả bước vào, kẻ thì chúc mừng, kẻ thì mời ngồi, kẻ thì hỏi thăm ầm ĩ cả phòng.

Ai nghe cũng nghe Tứ Nương, ai nhìn cũng nhìn Tứ Nương, ai nói cũng nhắc Tứ Nương, nhưng Tứ Nương vẫn bình thản như cũ.

Mọi người thấy nàng vẫn thế cũng hơi yên tâm, rồi đó tranh nhau rót rượu mời Tứ Nương.

Đang lúc ăn uống vui vẻ, chợt ngoài cửa có tiếng kêu khóc rất gấp, cả tiệc lạ lùng hỏi nhau, chợt thấy Xuân Hương chạy xộc vào, mặt mũi đầy máu.

Mọi người cùng hỏi, cô ta chỉ khóc không đáp, Nhị Nương quát hỏi mới mếu máo thưa:

- Quế Nhi đòi móc tròng mát con, nếu không giảng ra được thì đã bị nó khoét mắt rồi.

Nhị Nương sượng ngắt, mồ hôi toát ra chảy trôi hết cả son phấn, Tứ Nương vẫn im lặng.

Cả tiệc im lặng không ai nói một câu, khách khứa thấy thế lục tục chào về.

Tứ Nương ăn mặc đẹp đẽ, chỉ lạy chào Lý phu nhân và Tam Nương rồi lên xe đi, mọi người mới biết người mua nhà ruộng là Trình.

Tứ Nương vừa về tới nhà mới, đồ dùng còn thiếu thốn, phu nhân và các công tử đều tặng đầy tớ vật dùng nhưng Tứ Nương không nhận gì cả, chỉ nhận một tỳ nữ của Lý phu nhân tặng.

Không bao lâu Trình về dự đám giỗ, xe ngựa tùy tùng đông đặc như mây, tới nhà nhạc gia vào lạy linh cữu ông Hồ, kế lạy chào Lý phu nhân, các công tử vừa đội mũ mặc áo xong ra chào thì Trình đã lên kiệu đi rồi.

Ông Hồ chết, các công tử hàng ngày cứ lo tranh giành gia tài không ngó ngàng gì tới linh cữu, qua mấy năm chỗ quàn quan tài hư dột, chỉ tạm lấy nhà rộng làm lăng mộ mà thôi.

Trình thấy thế đau xót, cũng không bàn bạc với các công tử, chọn ngày chôn cất, mọi nghi lễ đều lo liệu đầy đủ.

Ngày tống táng mũ lọng chen chúc tới thăm viếng, xóm giềng đều ca ngợi.

Hơn mười năm sau Trình làm quan lớn, phàm gặp những người làng có chuyện nguy cấp đều hết sức giúp đỡ.

Kế Nhị Lang giết người bị bắt, việc đưa tới quan Tuần phương là bạn đồng khoa với Trình, tin tức rất gấp.

Đại Lang nhờ cha vợ là Quan sát họ Vương viết thư nhờ vả nhưng không thấy trả lời, càng thêm sợ hãi, muốn tới nhờ em gái nhưng thấy xấu hổ.

Bèn xin Lý phu nhân viết thư cầm đi, tới kinh không dám vào ngay, rình lúc Trình đi chầu mới tìm vào nhà, mong Tứ Nương nghĩ tình anh em mà quên hiềm khích cũ.

Người giữ cổng vừa báo tin, lập tức có bà vú cũ ra đưa Đại Lang vào sảnh đường, bày rượu thịt ra mời qua loa.

Đại Lang ăn uống xong thì Tứ Nương ra, mặt mày tươi tắn hỏi:

- Đại ca nhiều việc bận rộn, sao lại ngàn dặm vất vả tới đây.

Đại Lang lạy phục xuống đất khóc lóc kể lể nguyên do, Tứ Nương đỡ đứng lên cười nói:

- Đại ca đường đường là đàn ông thì chuyện đó có gì là lớn sao lại làm thế.

Em đây chỉ là một người đàn bà nhưng anh đã thấy kêu khóc với ai bao giờ chưa?

Đại Lang liền đưa thư của Lý phu nhân ra, Tứ Nương nói:

- Nương tử ở nhà các anh đều là người trời, cứ nhờ cha anh các nàng là lập tức xong việc ngay, sao lại bôn ba tới đây?

Đại Lang không biết nói sao, chỉ năn nỉ lạy lục.

Tứ Nương giận dữ nói:

- Ta tưởng là anh trai lặn lội tới thăm em gái, té ra là vì có tội lớn nên tới cầu xin bậc quý nhân à?

Rồi phẩy tay áo bỏ vào.

Đại Lang thẹn thùng uất ức ra về, tới nhà kể lại tường tận, cả nhà lớn nhỏ ai cũng chửi rủa, Lý phu nhân cũng cho rằng Tứ Nương tàn nhẫn.

Qua vài hôm Nhị Lang được tha về nhà, mọi người cả mừng, càng cười nhạo Tứ Nương chuốc lấy sự hờn oán chê bai.

Chợt có người bẩm Tứ Nương sai người tới hầu.

Lý phu nhân, bèn gọi vào.

Người ấy dâng vàng lụa xong, nói phu nhân gởi thư về việc cậu hai, công việc gấp quá chưa có thư trả lời, xin dâng chút lễ mọn thay thư phúc đáp.

Lúc ấy mọi người mới biết Nhị Lang được tha về là nhờ sức của Trình.

Về sau Tam Nương dần dần sa sút, Trình giúp đỡ báo đáp rất hậu, lại vì Lý phu nhân không có con trai nên đón bà về phụng dưỡng như mẹ ruột.
 
Back
Top Bottom