Cập nhật mới

Khác LỊCH SỬ TRUNG QUỐC 5000 NĂM

Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
DƯƠNG VÔ ĐỊCH


Tống Thái Tổ mất 13 năm mới diệt được 5 nước phương nam.

Sau đó, ông đem quân đánh Thái Nguyên, đô thành của Bắc Hán.

Bắc Hán cầu cứu quân Liêu, quân Tống bị đánh bại.

Không lâu sau, Tống Thái Tổ bị bệnh mất, em ông là Triệu Khuông Nghĩa kế thừa ngôi hoàng đế.

Đó là Tống Thái Tông.

Tống Thái Tông quyết tâm hoàn thành sự nghiệp thống nhất miền bắc.

Năm 979, ông thân dẫn 4 đạo quân vây đánh đô thành Thái Nguyên của Bắc Hán.

Quân Liêu lại đến cứu, Tống Thái Tông cử quân chặn đường quân tiếp viện.

Thành Thái Nguyên nằm trong nhiều lớp bao vây, ngoài không có viện binh trong không còn lương thảo.

Vua Bắc Hán là Lưu Kế Nguyên không còn cách gì, đành đầu hàng.

Dưới quyền Lưu Kế Nguyên có 1 lão tướng là Dương Nghiệp, cũng quy phục triều Tống.

Tống Thái Tông từ lâu đã nghe nói Dương Nghiệp võ nghệ cao cường, rất quý trọng, phong làm đại tướng.

Đánh xong Bắc Hán, Tống Thái Tông muốn thừa cơ đánh Liêu để thu hồi những đất đai đã mất.

Quân Tống tiến công dữ dội khiến mấy tướng Liêu giữ các châu giáp Tống phải đầu hàng.

Quân Tống đánh tới U Châu (nay là Bắc Kinh), phía Liêu phái đại tướng Da Luật Hưu Ca đến cứu, 2 bên đánh 1 trận lớn ở sông Cao Lương (phía tây thành Bắc Kinh hiện nay).

Quân Tống đại bại, Tống Thái Tông phải chạy về Đông Kinh bằng một chiếc xe nhẹ.

Từ đó về sau, quân Liêu không ngừng đánh vào biên giới Tống.

Tống Thái Tông vô cùng lo lắng, liền cử Dương Nghiệp làm thứ sử Đại Châu, giữ chắc Nhạn Môn Quan.

Năm 980, triều Liêu cử 10 vạn quân đánh Nhạn Môn Quan.

Lúc đó trong tay Dương Nghiệp chỉ có mấy ngàn binh mã, ít hơn quân địch rất nhiều.

Dương Nghiệp là 1 lão tướng có nhiều kinh nghiệm, biết rằng không thể đọ sức với địch, liền giữ đại bộ phận binh lực ở Đại Châu, tự mình dẫn mấy trăm kỵ binh, lặng lẽ đi đường nhỏ, luồn vào sau lưng địch ở phía bắc Nhạn Môn Quan.

Quân Liêu tiến xuống phía nam, dọc đường không gặp sức chống cự nào, đang dương dương đắc ý thì bỗng từ phía sau vang lên tiếng hô "giết" rồi bụi cuốn mù mịt, 1 dòng kỵ binh xuất hiện phía sau như mãnh hổ xông vào đàn dê, chém giết tơi bời.

Quân Liêu không phòng bị trước, lại không rõ đối phương có bao nhiêu quân, nên hoang mang sợ hãi, hàng ngũ rối loạn, không sao chống đỡ nổi, bỏ chạy tan tác lên phía bắc.

Dương Nghiệp dẫn quân truy kích, chém rất nhiều quân Liêu, giết chết 1 quí tộc Liêu và bắt sống 1 tướng Liêu khác.

Sau đại thắng Nhạn Môn Quan, danh tiếng Dương Nghiệp vang dội.

Quân Liêu cứ nhìn thấy cờ hiệu có chữ "Dương" là sợ hãi bỏ chạy không dám giao phong.

Mọi người đặt cho Dương Nghiệp 1 biệt hiệu là "Dương Vô Địch".

Dương Nghiệp lập được công lớn cũng khiến cho 1 số người ghen ghét, dâng sớ tấu lên Tống Thái Tông, nói xấu Dương Nghiệp.

Tống Thái Tông đang muốn dựa vào Dương Nghiệp nên không chú ý đến những lời vu cáo đó, mà bọc mọi sớ tấu đó lại, cử người mang tới cho Dương Nghiệp xem.

Thấy Tống Thái Tông hết lòng tín nhiệm mình như vậy, Dương Nghiệp vô cùng cảm động.

Mấy năm sau, hoàng đế Liêu là Cảnh Tông Da Luật Hiền mất, người nối ngôi là Liêu Thánh Tông Da Luật Long Tự mới 12 tuổi, mẹ là Tiêu thái hậu chấp chính.

Một tướng giữ biên giới dâng sớ tấu lên Tống Thái Tông, nhận định rằng tình hình chính trị nước Liêu không ổn định, nên nhân cơ hội này thu phục lại vùng đất đã mất gồm 16 châu ở Yên Vân.

Tống Thái Tông tán thành ý kiến đó.

Năm 896 liền cử Tào Bân, Điền Trọng Tiến, Phan Mỹ dẫn 3 vạn quân bắc phạt, đồng thời cử Dương Nghiệp làm phó tướng cho Phan Mỹ.

Ba đạo quân xuất phát, đánh thắng trận đầu.

Đạo quân của Phan Mỹ, Dương Nghiệp ra khỏi Nhạn Môn Quan, nhanh chóng thu phục được 4 châu.

Nhưng cánh quân của Tào Bân vì đơn độc quá sâu, bị quân Liêu đánh cho đại bại.

Tống Thái Tông vội hạ lệnh cho các đạo quân Tống rút về.

Phan Mỹ, Dương Nghiệp được lệnh, liền dẫn quân hộ tống nhân dân thuộc 4 châu rút về thôn Lang Nha.

Lúc đó, quân Liêu đã tiến chiếm Hoàng Châu (nay ở phía đông huyện Sóc, Sơn Tây), binh lực rất mạnh.

Dương Nghiệp đề nghị phái quân hư trương thanh thế để thu hút chủ lực quân Liêu, rồi bố trí quân mai phục nơi hiểm yếu trên đường rút quân để yểm hộ cho quân dân Tống rút lui.

Giám quân là Vương Thẩm phản đối ý kiến của Dương Nghiệp, nói: "Chúng ta có mấy vạn tinh binh, còn sợ gì chúng?

Theo tôi, chúng ta cứ việc hành quân đàng hoàng trên đường lớn ven Nhạn Môn Quan cũng đủ làm kẻ địch trông thấy mà sợ mất vía".

Dương Nghiệp nói: "Hiện nay địch mạnh ta yếu.

Nếu làm như vậy thì nhất định thất bại".

Vương Thẩm cười mỉa mai: "Dương tướng quân chẳng phải có biệt hiệu là Vô Địch sao?

Mà nay trước kẻ địch lại co lại không dám đánh, hay là có toan tính gì khác?".

Câu nói đó làm Dương Nghiệp nổi giận.

Ông nói: "Không phải là tôi sợ chết.

Chỉ vì thấy hiện nay chưa có thời cơ, sợ binh lính phải chết uổng, nếu các ông muốn đánh, tôi xin đánh trận đầu".

Chủ tướng Phan Mỹ cũng ủng hộ chủ trương của Vương Thẩm.

Dương Nghiệp không làm thế nào được, đành dẫn binh mã dưới quyền xuất phát.

Trước khi lên đường, ông chảy nước mắt nói với Phan Mỹ: "Trận này nhất định sẽ thắng bại.

Tôi vốn định chờ đúng thời cơ, đánh địch một trận đau để báo đáp quốc gia.

Nay mọi người trách tôi sợ địch, tôi không thể không tìm đến cái chết".

Tiếp đó, ông chỉ về hướng Trần Gia Cốc trước mặt (Trần Gia Cốc - nay ở phía nam Sóc, Sơn Tây) nói với Phan Mỹ: "Mong các ông bố trí phục binh và cung thủ, khi tôi thua trận, rút tới đó các ông sẽ đem quân tiếp ứng, từ hai bên đánh ép lại, thì có hy vọng chuyển bại thành thắng".

Dương Nghiệp tiến quân chưa xa, quả nhiên bị quân Liêu phục kích.

Tuy Dương Nghiệp chiến đấu anh dũng, nhưng quân Liêu vẫn ùa lên như nước triều.

Dương Nghiệp chống đỡ không nổi, đành vừa đánh vừa lùi, nhử quân Liêu tới Trần Gia Cốc.

Lúc đó, mặt trời vừa khuất núi, Dương Nghiệp lui tới đó, thấy 2 bên vắng lặng, không hề thấy có tăm hơi 1 lính Tống nào, không hiểu Phan Mỹ đã dẫn chủ lực đi đâu?

Nguyên do là sau khi Dương Nghiệp xuất phát, Phan Mỹ có đưa người ngựa đến Trần Gia Cốc.

Sau khi ở đó 1 ngày, không thấy tin tức Dương Nghiệp.

Vương Thẩm cho rằng nhất định quân Liêu đã rút lui rồi.

Ông ta sợ Dương Nghiệp lập được công đầu, liền giục Phan Mỹ rút bỏ phục binh rời khỏi Trần Gia Cốc.

Tới khi nghe tin Dương Nghiệp thua trận, liền dẫn quân rút chạy theo 1 đường khác.

Dương Nghiệp thấy tại nơi hẹn không có phục binh, thì uất ức giậm chân, rồi đành chỉ huy bộ hạ quay lại giáp chiến với quân Liêu đang đuổi sát sau lưng.

Tướng sĩ đem hết sức chiến đấu, nhưng quân Liêu xông lên mỗi lúc 1 nhiều.

Về sau, bên mình Dương Nghiệp chỉ còn lại hơn 100 lính, ông cố cầm nước mắt, lớn tiếng bảo các binh lính: "Anh em đều còn cha còn mẹ, gia đình, không nên cùng ta bỏ xác ở đây.

Mau Mau tìm cách thoát khỏi vòng vây trở về để triều đình hiểu rõ tình cảnh của chúng ta".

Binh lính nghe những lời đó, lại thấy Dương Nghiệp xông pha, tắm máu chiến đấu, đều xúc động rơi nước mắt, không ai chịu rời bỏ Dương Nghiệp.

Cuối cùng, binh lính đều chết hết, con trai Dương Nghiệp là Dương Diên Ngọc và bộ tướng Vương Quí cũng hy sinh.

Dương Nghiệp bị thương hơn 10 chỗ, khắp mình đều đầy máu vẫn hăng hái chém giết, sát thương mấy trăm địch.

Bất ngờ, có 1 phát tên bắn trúng con ngựa đang cưỡi, khiến cả người và ngựa ngã lăn ra đất.

Lính địch nhân dịp ùa lại, bắt sống Dương Nghiệp.

Quân Liêu khuyên dụ Dương Nghiệp đầu hàng.

Ông ngẩng đầu lên thở dài nói: "Ta đây vốn định tiêu diệt các ngươi để báo đáp lại quốc gia, không ngờ bị gian thần hãm hại, đến nỗi toàn quân bị tiêu diệt, còn mặt mũi nào sống trên đời này nữa?.

Ông tuyệt thực 3 ngày đêm rồi hy sinh.

Tin Dương Nghiệp hy sinh truyền về Đông Kinh, khắp triều đình đều than tiếc, Tống Thái Tông mất 1 viên dũng tướng, rất buồn rầu liền giáng chức Phan Mỹ và cách chức Vương Thẩm để xét tội.

Sau khi Dương Nghiệp mất, con cháu đều kế thừa sự nghiệp của ông.

Con ông là Dương Diên Chiêu, cháu là Dương Văn Quảng đều lập công trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tống.

Sự tích anh hùng của gia đình này được người người ngợi khen và truyền tụng.

Trong dân gian lưu truyền những câu chuyện về "Dương gia tướng" là dựa trên cơ sở sự tích có thực để phát triển lên.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
VƯƠNG TIỂU BA KHỞI NGHĨA


Tống Thái Tông đánh Liêu, kết quả bị đại bại, lại mất dũng tướng Dương Nghiệp nên không dám đánh Liêu nữa.

Ngoài ra, tình hình chính trị trong nước cũng không ổn định, đặc biệt là vùng Xuyên Thục liên tiếp nổ ra các cuộc khởi nghĩa nông dân, làm cho triều Tống lúng túng, khó đối phó.

Trong thời Ngũ Đại, vùng Xuyên Thục lần lượt có 2 chính quyền cát cứ là Tiền Thục và Hậu Thục, suốt trong thời gian dài không có chiến tranh.

Vì vậy, thời Hậu Thục, kho tàng quốc gia đầy ấp.

Sau khi Tống Thái Tổ diệt Hậu Thục, để cho tướng sĩ cướp bóc Thành Đô, vận chuyển tài sản về Đông Kinh, khiến cho dân chúng vô cùng phẫn nộ.

Đến đời Tống Thái Tông, lại thiết lập nha môn, độc quyền việc mua bán ở đây.

Trà và tơ lụa do đất Thục sản xuất đều bị triều đình độc quyền thu mua.

Một số địa chủ và thương nhân thừa cơ đầu cơ tích trữ, mua rẻ bán đắt, khiến dân chúng đất Thục vô cùng khổ sở.

Ở huyện Thạch Thành (nay ở tây nam huyện Quan, Tứ Xuyên) có 1 nông dân tên là Vương Tiểu Ba, cùng với em vợ là Lý Thuận đều sống bằng nghề buôn trà.

Vương Tiểu Ba hết đường sinh sống, liền quyết tâm khởi nghĩa.

Năm 993, Vương Tiểu Ba tụ hợp hơn 100 nông dân trồng chè và dân nghèo, nói với họ: "Thời buổi bây giờ, người nghèo thì càng nghèo; kẻ giàu thì ngày càng giàu thêm, thật hết sức bất công.

Nay chúng ta cùng nhau nổi dậy tiêu diệt cảnh bất công đó, các vị thấy thế nào?".

Những người đã nếm trải mọi nỗi khổ do quan lại, địa chủ, phú thương bóc lột; nghe Vương Tiểu Ba nói, đều nhiệt liệt hưởng ứng ngay.

Tin tức truyền đi, dân nghèo các nơi đều nô nức tham gia quân khởi nghĩa của Vương Tiểu Ba.

Không quá 10 ngày, đã tập trung được mấy vạn người.

Có được quân mã, trước hết Vương Tiểu Ba đánh chiếm Thạch Thành rồi thừa thắng tiến đánh Bành Sơn (nay thuộc Tứ Xuyên).

Huyện lệnh Bành Sơn là Tề Nguyên Chấn, là 1 tham quan giỏi đục khoét.

Tống Thái Tổ từng có lệnh cấm các quan địa phương nhận hối lộ và tham nhũng của công.

Một lần, triều đình cử quan khâm sai tới Thục điều tra.

Tề Nguyên Chấn nghe tin khâm sai sắp tới, vội phân tán mọi của cải vơ vét được gửi vào các nhà phú thương.

Quan khâm sai tới huyện Bành Sơn, không điều tra được hành động tham nhũng nào của quan địa phương, liền về tâu lên triều đình.

Triều đình liền hạ lệnh khen thưởng cho Tề Nguyên Chấn về sự tận tụy và thanh liêm.

Tề Nguyên Chấn lừa bịp được triều đình rồi, lại càng vơ vét dữ dội hơn trước.

Vương Tiểu Ba biết rõ nhân dân Bành Sơn hết sức thâm thù Tề Nguyên Chấn, liền dẫn quân khởi nghĩa tiến đánh Bành Sơn.

Được sự hưởng ứng tích cực của nhân dân trong huyện, nghĩa quân nhanh chóng chiếm được huyện thành, giết chết tên đại tham quan Tề Nguyên Chấn, đem hết mọi tiền bạc của hắn chia cho dân nghèo.

Vương Tiểu Ba lại đem quân tiến lên phía bắc, tiến công Giang Nguyên (nay ở đông nam Sùng Khánh, Tứ Xuyên).

Tướng Tống giữ Giang Nguyên là Vương Khởi đem quân chống lại, 2 bên giao phong 1 trận lớn ngoài thành Giang Nguyên.

Quân của Vương Tiểu Ba chiến đấu hết sức anh dũng, Vương Khởi không chống nổi, liền giương cung bắn lén.

Vương Tiểu Ba bị thương, máu chảy đầy mặt vẫn tiếp tục chỉ huy tiến công, cuối cùng đánh bại quân Tống, giết chết được Vương Khởi.

Nghĩa quân tiến chiếm Giang Nguyên, nhưng Vương Tiểu Ba bị chết vì vết thương quá nặng.

Tướng sĩ nghĩa quân tôn Lý Thuận lên thay Vương Tiểu Ba làm thủ lĩnh, tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân chống lại triều đình.

Dưới sự chỉ huy của Lý Thuận, nghĩa quân ngày càng đông đảo, liên tục đánh hạ rất nhiều thành trì, giết chết nhiều tham quan ô lại.

Cuối cũng, nghĩa quân tiến công thành thị trung tâm của đất Thục là Thành Đô.

Các quan văn võ ở Thành Đô không chống đỡ nổi, đều phải bỏ chạy.

Năm 994, dưới sự ủng hộ của quân lính và nhân dân, Lý Thục thành lập chính quyền Đại Thục.

Lý Thục làm Đại Thục vương vừa chấn chỉnh quân mã, vừa phái binh đi đánh các châu quận xung quanh.

Thế lực nghĩa quân lan rộng khắp khu vực từ Kiếm Các ở mặt bắc đến Vu Hiệp ở mặt đông.

Tin tức truyền tới Đông Kinh, Tống Thái Tông giật mình hoảng sợ, vội bàn bạc với tể tướng: "Không ngờ Lý Thuận lại ghê gớm như vậy!.

Nhất định phải cử binh mã đi đánh mới được".

Tống Thái Tông cử hoạn quan Vương Kế Ân chia quân làm 2 đường, cử 1 bộ phận chặn nghĩa quân ở mặt Vu Hiệp, còn tự mình dẫn đại quân tiến về Kiếm Môn.

Kiếm Môn là con đường huyết mạch từ Tây Xuyên thông qua Quan Trung.

Sau khi Lý Thuận chiếm Thành Đô, cũng phái tướng đem quân đánh Kiếm Môn, không may bị quân triều đình đánh chặn, bị thất bại.

Vương Kế Ân đi qua Kiếm Môn 1 cách thuận lợi, tập hợp quân Tống ở địa phương tiến đánh Thành Đô.

Lúc đó, nghĩa quân ở Thành Đô còn tới mười mấy vạn, nhưng qua nhiều lần giao chiến với quân địch, bị tử thương hơn 3 vạn.

Cuối cùng, Thành Đô bị phá vỡ, Lý Thuận hy sinh trong chiến đấu.

Sau này, truyền thuyết dân gian nói rằng khi Thành Đô bị đánh chiếm, Lý Thuận không chết mà hóa trang thành 1 hòa thượng, bí mật chạy khỏi Thành Đô, tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu.

Khi quân Tống vào Thành Đô, bắt được 1 người có râu dài rất giống Lý Thuận, liền cho đó là Lý Thuận và giết đi.

40 năm sau, trên đường phố Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông xuất hiện 1 lão ông.

Có người nhận ra ông già đó là Lý Thuận, quan triều đình liền sai người bắt lại và bí mật giết trong ngục.

Truyền thuyết đó không hẳn là đáng tin, nhưng nó chứng tỏ Lý Thuận rất có ảnh hưởng trong quần chúng.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
KHẤU CHUẨN CHỐNG LIÊU


Triều Liêu khinh thường triều Tống hèn kém, nhiều lần đem quân xâm phạm biên giới.

Tới khi con Tống Thái Tông là Triệu Hằng lên nối ngôi, tức là Tống Chân Tông, thì có người tiến cử Khấu Chuẩn làm tể tướng, vì Khấu Chuẩn có lòng trung thành, làm việc lại quyết đoán.

Tống Chân Tông hỏi: "Nghe nói Khấu Chuẩn là người hiếu thắng và cố chấp, thì làm thế nào?".

Vị đại thần đó nói: "Nay triều Liêu tiến phạm Trung nguyên, chính là cần một người như Khấu Chuẩn mới đảm đương được việc lớn".

Trong thời Tống Thái Tông, Khấu Chuẩn đã giữ 1 số chức vụ quan trọng, bao gồm chức phó tể tướng.

Ông nổi tiếng về sự chính trực và mạnh dạn can ngăn.

Một lần, ông vào triều trình bày công việc, có ý kiến khác với Tống Thái Tông.

Tống Thái Tông không muốn nghe, nổi giận đứng dậy toan trở về cung.

Khấu Chuẩn túm chặt tay áo, giữ Tống Thái Tông lại, mời Tống Thái Tông ngồi xuống nghe ông nói hết.

Tống Thái Tông đành ngồi lại, sau đó khen rằng: "Ta có Khấu Chuẩn thật giống như Đường Thái Tông có Ngụy Trưng".

Nhưng cũng chính vì ông có nhân cách chính trực nên làm mất lòng 1 số quí tộc, sau bị gạt ra khỏi triều đình, đi làm tri châu ở 1 địa phương.

Lần này, Tống Chân Tông thấy tình hình biên giới khẩn cấp nên mới chấp nhận sự tiến cử của các đại thần, triệu Khấu Chuẩn trở lại kinh thành.

Năm 1004, Tiêu thái hậu và Liêu Thánh Tông của triều Liêu dẫn hơn 20 vạn quân tiến xuống phía nam, quân tiền phong tiến tới Thiền Châu (nay là Bộc Dương, Hà Nam).

Văn thư cáo cấp tới tấp được chuyển về triều đình.

Khấu Chuẩn khuyên Chân Tông đem binh thân chinh, phó tể tướng Vương Khâm Nhược và 1 đại thần khác là Trần Nghiêm Tẩu lại ngầm khuyên Chân Tông dời đô.

Vương Khâm Nhược là người miền Giang Nam nên khuyên dời đô xuống Kim Lăng.

Trần Nghiêm Tẩu là người Thục, lại khuyên Chân Tông chạy vào Thành Đô.

Tống Chân Tông do dự, không biết nghe theo ý kiến nào, cuối cùng triệu kiến tể tướng mới là Khấu Chuẩn, hỏi ông: "Có người khuyên trẫm dời đô xuống Kim Lăng, có người lại khuyên trẫm dời vào Thành Đô.

Khanh xem nên làm thế nào?".

Khấu Chuẩn liếc nhìn thấy Vương Khâm Nhược và Trần Nghiêm Tẩu đứng gần đó đã đoán được tình hình, liền nghiêm giọng nói: "Kẻ nào khuyên bệ hạ như thế xin đem chém đầu ngay!".

Ông trình bày với Chân Tông rằng: chỉ cần nhà vua ngự giá thân chinh thì sĩ khí được cổ vũ, nhất định sẽ đánh lui được quân Liêu.

Nếu bỏ Đông Kinh mà chạy xuống phía nam, thì lòng người dao động, kẻ địch sẽ thừa cơ tiến vào, đất nước sẽ khó lòng giữ được.

Tống Chân Tông nghe Khấu Chuẩn nói, có phần vững dạ, quyết định ngự giá thân chinh và mang theo Khấu Chuẩn đi chỉ huy quân đội.

Đại quân tiến tới Vĩ Thành (nay ở đông nam huyện Hoạt, Hà Nam), nghe tin quân Liêu rất mạnh đang tiến xuống, 1 số đại thần đi theo hoảng sợ.

Nhân lúc Khấu Chuẩn vắng mặt, xin Chân Tông tạm lui quân để tránh sức mạnh của địch.

Tống Chân Tông vốn rất nhu nhược, nghe những ý kiến đó lại dao động, gọi Khấu Chuẩn tới bàn.

Tống Chân Tông nói: "Mọi người đều nói với trẫm rằng tốt nhất là chạy xuống phương nam.

Khanh thấy thế nào?".

Khấu Chuẩn nghiêm túc trả lời: "Những kẻ chủ trương chạy xuống phương nam đều là lũ nhút nhát và ngu xuẩn.

Hiện nay quân địch đã áp tới gần, lòng người rung động.

Chúng ta chỉ có thể tiến lên một bước, chứ quyết không thể lùi một tấc.

Nếu tiến lên, thì sĩ khí của quân dân Hà Bắc sẽ tăng lên gấp trăm lần; nếu chỉ lùi mấy bước thì toàn quân sẽ tan rã, quân địch sẽ đuổi tiết, bệ hạ có muốn về Kim Lăng cũng không được nữa".

Tống Chân Tông nghe thấy lời Khấu Chuẩn kiên quyết, có lý, không nói gì được nữa, nhưng trong lòng vẫn phấp phỏng lo sợ, không biết quyết định thế nào.

Khấu Chuẩn ra khỏi hành cung, vừa may gặp ngay Điện tiền đô chỉ huy sứ Cao Quỳnh, liền hỏi dồn: "Ngài được quốc gia gây dựng cho, được giưc địa vị như ngày nay, nên báo đáp thế nào?".

Cao Quỳnh trả lời: "Tôi xin lấy cái chết để đền đáp!".

Khấu Chuẩn lại dẫn Cao Quỳnh cùng đi vào hành cung, trình bày 1 lần nữa ý kiến của mình với Tống Chân Tông, rồi nói: "Nếu bệ hạ vẫn cho lời của thần là không đúng thì xin hỏi Cao Quỳnh".

Cao Quỳnh đứng bên cạnh tiếp lời: "Tể tướng nói rất đúng.

Các tướng sĩ cấm quân đều có gia đình ở Đông Kinh, không ai muốn chạy xuống phương nam.

Chỉ cần bệ hạ thân chinh tiến lên Thiền Châu thì chúng thần sẽ quyết tâm tử chiến, nhất định sẽ đánh bại được quân Liêu!".

Tống Chân Tông chưa trả lời, Khấu Chuẩn liền giục tiếp 1 câu: "Thời cơ không thể để mất, xin bệ hạ lập tức động thân".

Dưới sự thúc giục của Khấu Chuẩn, Cao Quỳnh và các tướng sĩ, Tống Chân Tông quyết định lên đường tới Thiền Châu.

Lúc đó, quân Liêu đã vây Thiền Châu từ 3 mặt.

Quân Tống bố trí cung nỏ từ ở nơi hiểm yếu.

Chủ tướng Liêu là Tiêu Đạt Lan cũng mấy kỵ binh đi trinh sát địa hình, lọt vào trận địa đã mai phục cung nỏ của quân Tống, bị cung nỏ bắn mãnh liệt.

Tiêu Đạt Lan trúng tên, chết tại trận.

Chủ tướng Liêu bị chết, Tiêu thái hậu vừa thương tiếc vừa sợ hãi.

Bà lại nghe tin Tống Chân Tông ngự giá thân chinh, thấy triều Tống không thể bắt nạt, liền chủ trương giảng hòa.

Thành Thiền Châu bao gồm cả 2 bờ nam bắc Hoàng Hà, Tống Chân Tông được các văn võ đại thần như Khấu Chuẩn, Cao Quỳnh hộ vệ, vượt qua Hoàng Hà vào thành bắc Thiền Châu.

Lúc này, các đạo quân Tống đã tập trung lại tới Thiền Châu.

Các tướng sĩ Tống thấy lá cờ thêu rồng vàng của Tống Chân Tông đều hoan hô như sấm dậy, sĩ khí lên rất cao.

Tiêu thái hậu phái sứ giả đến thành doanh quân Tống giảng hòa, yêu cầu triều Tống cắt nhượng đất đai cho Liêu.

Tống Chân Tông thấy quân Liêu nói đến hòa đã trúng ý của mình.

Ông bàn với Khấu Chuẩn: "Cắt nhượng đất đai thì không được, nhưng nếu người Liêu đòi hỏi tiền bạc vải vóc thì trẫm thấy có thể đáp ứng được".

Khấu Chuẩn vội phản đối giảng hòa, nói: "Chúng muốn hòa thì yêu cầu chúng phải trả lại ta mười sáu Yên Vân, chứ làm sao còn cho chúng tiền bạc vải vóc?".

Nhưng Tống Chân Tông 1 mực muốn hòa, không chấp nhận ý kiến Khấu Chuẩn, cử sứ giả là Tào Lợi Dụng đến doanh trại Liêu đàm phán về điều kiện nghị hòa.

Trước khi Tào Lợi Dụng lên đường, Tống Chân Tông dặn dò: "Nếu họ đòi bồi thường, không thoái thác được thì có thể nhận mỗi năm một trăm vạn lạng bạc".

Khấu Chuẩn đứng cạnh nghe nói thế rất bực mình, nhưng không tiện tranh cãi với Tống Chân Tông.

Khi Tào Lợi Dụng lên đường vừa ra khỏi cửa, Khấu Chuẩn nắm chặt tay Tào Lợi Dụng, nói: "Số tiền bồi thường không được quá ba mươi vạn.

Nếu không khi anh trở về, ta sẽ xin cái đầu anh đấy!".

Tào Lợi Dụng biết Khấu Chuẩn không nói đùa, nên khi tới trại Liêu, ra sức cò kè mặc cả, đi tới thỏa thuận là hàng năm triều Tống phải nộp cho Liêu 30 vạn lạng bằng tiền và vải lụa.

Khi Tào Lợi Dụng trở về, gặp lúc Tống Chân Tông đang ăn cơm, không tiếp kiến ngay được.

Chân Tông nôn nóng muốn biết ngay kết quả đàm phán, liền sai 1 tiểu thái giám ra hỏi hàng năm phải nộp bao nhiêu.

Tào Lợi Dụng thấy đây là việc cơ mật quốc gia, chỉ có thể tâu riêng với hoàng đế.

Thái giám yêu cầu ông nói con số khái lược, Tào Lợi Dụng đành giơ 3 ngón tay lên làm ám hiệu.

Thái giám vào tâu lại, Tống Chân Tông tưởng rằng Tào Lợi Dụng đã nhận bồi thường mỗi năm 300 lạng thì bất giác kêu lên: "Sao nhiều thế?".

Sau khi suy nghĩ 1 lát, ông lại tự an ủi, nói: "Thôi, kết thúc được cuộc chiến tranh này, cũng đành chấp nhận thôi!".

Ăn cơm xong, Chân Tông gọi Tào Lợi Dụng vào hỏi tỉ mỉ, thấy Dụng nói mỗi năm chỉ phải nộp 30 vạn lạng, ông Tông mừng quá đỗi, luôn mồm khen ngợi Tào Lợi Dụng giỏi giang, khéo tranh biện.

Sau đó, 2 bên Tống - Liêu chính thức kí hòa ước.

Hàng năm, triều Tống phải nộp cho Liêu 20 vạn tấm lụa và 10 lạng bạc.

Khỏi phải nói số tiền bồi thường lớn đó trở thành 1 gánh nặng lâu dài đè lên vai nhân dân Bắc Tống.

Lịch sử gọi cuộc giảng hòa này là "Minh ước Thiền Uyên" (vì Thiền Châu còn có tên Thiền Uyên quận, nên hòa ước Thiền Châu mới được gọi như vậy).

Do Khấu Chẩn kiên trì đòi chống Liêu nên đã cứu Tống thoát khỏi thất bại.

Tống Chân Tông thấy Khấu Chuẩn có công, rất kính trọng ông.

Nhưng kẻ chủ trương rút chạy là Vương Khâm Nhược lại gièm pha với Tống Chân Tông rằng Khấu Chuẩn buộc vua thân chinh tức là đem tính mạng hoàng đế đổ vào 1 canh bạc, thật là sỉ nhục cho quốc gia.

Tống Chân Tông nhớ lại tình hình khi ở Thiền Châu, vẫn còn sợ toát mồ hôi, liền chuyển sang oán Khấu Chuẩn, cuối cùng đã cách chức tể tướng của con người đầy lòng yêu nước đó.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NGUYÊN HẠO XÂY DỰNG TÂY HẠ


Tống Chân Tong dùng biện pháp thỏa hiệp, giữ yên được mặt bắc với Liêu, nhưng trong lúc đó, tộc Đảng Hạng (1 trong những dân tộc ít người ở miền tây bắc Trung Quốc) có 1 số quí tộc thừa dịp Tống mãi đối phó với Liêu, thường xuyên đem quân xâm phạm biên giới Tống.

Tống Chân Tông đối phó quá mệt mỏi, đành lại áp dụng biện pháp thỏa hiệp, phong thủ lĩnh Đảng Hạng là Lý Kế Thiên làm thứ sử Hạ Châu, tiết độ sứ Đinh Nạn Quân.

Năm 1004, Lý Kế Thiên chết, Tống phong con ông là Lý Đức Minh làm Tây Bình vương, hàng năm ban cho ông nhiều vải lụa tiền bạc mới giữ yên được tình hình trong hơn 13 năm.

Con của Lý Đức Minh là Nguyên Hạo có nhiều hoài bão lớn, Hạo thông thạo Hán văn và Phật học, nhiều lần đem đánh các bộ lạc Thổ Phồn và Hồi Hột, mở rộng được bờ cõi.

Ông khuyên cha không nên tiếp tục xưng thần với Tống, Đức Minh không muốn tách khỏi Tống, liền nói với con: "Suốt ba mươi năm nay, chúng ta có áo gấm để mặc, đều là do triều Tống ban thưởng, chúng ta không nên bội phản họ".

Nguyên Hạo nói: "Mặc quần áo da, chăn nuôi dê cừu, là phong tục của dân Đảng Hạng chúng ta.

Người anh hùng hảo hán, nên tự mình tạo lập nên sự nghiệp chứ sao lại đi tham những lợi lộc nhỏ nhặt đó?".

Đức Minh hỏi: "Theo ý con thì nên làm thế nào?".

Nguyên Hạo nói: "Những thứ được ban thưởng chỉ để cho chúng ta hưởng thụ, nhưng dân trong bộ lạc vẫn rất nghèo khổ.

Theo ý con, chi bằng ta cự tuyệt triều cống và huấn luyện quân đội, để tiến vào cướp và tước đoạt đất đai.

Như vậy, từ trên xuống dưới sẽ đến giàu có, chẳng tốt hơn sao?".

Nhưng Lý Đức Minh vẫn không làm theo ý kiến đó.

Tới khi Lý Đức Minh chết, Nguyên Hạo kế thừa tước vị Tây Bình vương, mới bắt đầu thực hiện ý đồ của mình Ông đặt ra quan chức, chỉnh đốn quân đội, chuẩn bị thoát ly khỏi sự khống chế của triều Tống và thành lập chế độ riêng.

Chú Hạo là Sơn Ngộ khuyên ông không nên chống lại Tống, Hạo không nghe theo.

Sơn Ngộ trốn chạy sang phía Tống.

Các quan chức ở Diễn Châu thuộc Tống không muốn gây rắc rối với Nguyên Hạo, liền bắt Sơn Ngộ trao trả.

Biết ý định của mình đã bại lộ, Nguyên Hạo liền chính thức xưng đế vào năm 1038, lấy quốc hiệu là Đại Hạ, lấy Hưng Khánh (nay là thành phố Ngân Xuyên thuộc khu tự trị Ninh Hạ) làm quốc đô.

Vì quốc gia này ở phía tây bắc triều Tống nên lịch sử gọi là Tây Hạ.

Sau khi Nguyên Hạ lên ngôi, liền gửi biểu yêu cầu triều Tống công nhận.

Lúc đó, Tống Chân Tông đã chết, con ông là Tống Nhân Tông Triệu Trinh đang tại vị.

Vua tôi triều Tống sau 1 hồi bàn bạc, thấy đây là hành động chống Tống của Nguyên Hạo, liền hạ lệnh thu hồi tước vị Tây Bình vương, đoạn tuyệt việc buôn bán và công bố lệnh tróc nã Nguyên Hạo dán ngoài cửa quan Tống.

Lúc đó, quân phòng thủ ở tây bắc có tới ba bốn mươi vạn, nhưng đều phân tán trong mấy trăm trại thuộc 24 châu do triều đình trực tiếp chỉ huy, không có sự phối hợp với nhau.

Thêm nữa, quân Tống từ lâu không hề tác chiến, không được huấn luyện.

Còn kỵ binh Tây Hạ đều được chỉ huy tập trung, rất cơ động linh hoạt.

Vì vậy, quân Tống luôn thua trận.

1 năm sau, quân Tây Hạ tiến công Diên Châu, quân Tống lại bị đại bại.

Tống Nhân Tông rất tức giận, lập tức cách chức tri châu Diên Châu là Phạm Ung rồi cử 2 đại thần là Hàn Kỳ và Phạm Trọng Yên tới Thiểm Tây để chỉ huy cuộc chiến tranh với Tây Hạ.

Phạm Trọng Yên tới Diên Châu, tiến hành cải cách lại chế độ quân sự vùng biên giới.

Ông chia 1 vạn 6000 người ngựa ở Diên Châu thành 6 đạo quân do 6 viên tướng giỏi chỉ huy, ngày đêm thao luyện, khiến quân Tống xưa nay vốn rời rạc, nay đã nâng cao được sức chiến đấu rất nhiều.

Quân Tây Hạ thấy phía Tống đã phòng bị nghiêm chỉnh, không dám xâm phạm Diên Châu nữa.

Họ đồn nhau: "Lão Phạm trẻ này (chỉ Phạm Trọng Yên) có nhiều mưu lược quân sự, không dễ bắt nạt như lão Phạm già (chỉ Phạm Ung) đâu!".

Phạm Trọng Yên phân tích lực lượng 2 bên, chủ trương tăng cường phòng phủ kiềm chế binh lực của Tây Hạ, nhưng Hàn Kỳ là võ tướng, rất hăng hái, lại chủ trương cần phải tiến công.

Tháng 2 năm 1041, quân Tây Hạ do Nguyên Hạo đích thân chỉ huy, tiến đánh Vị Châu.

Hàn Kỳ tập trung tất cả người ngựa và chọn ra 1 vạn 8000 dũng sĩ do Nhâm Phúc cầm đầu ra trận.

Nhâm Phúc dẫn mấy ngàn kỵ binh xông sang địch, giao chiến với 1 toán quân Hạ.

Quân Hạ bỏ cả lừa ngựa, tháo chạy.

Nhâm Phúc phái quân trinh sát, thấy báo cáo là phía trước không có nhiều quân Hạ, liền thúc quân đuổi gấp.

Đuổi suốt 3 ngày đêm, tới Hảo Thủy Xuyên (nay là phía tây Long Đức, Ninh Hạ) thì trời đã tối.

Nhâm Phúc hạ lệnh cho quân lính dừng lại nghỉ, dự định tới 6 hôm sau sẽ hội họp với 1 cánh quân khác theo kế hoạch định trước, rồi sẽ đánh cho địch 1 trận tơi bời.

Hôm sau, Nhâm Phúc dẫn 1 số quân ven theo Hảo Thủy Xuyên tiến về phía tây, tới chân Lục Bàn Sơn không thấy quân Hạ đâu cả.

Sau khi lùng sục, phát hiện ven đường có mấy chiếc hộp dát bạc được bọc kín.

Binh lính Tống xem xét, nghe thấy có tiếng động lao xao, liền báo cáo với Nhâm Phúc.

Phúc sai quân lính mở hộp thì thấy 1 đàn hàng trăm chim bồ câu bay vù ra.

Đàn chim bồ câu có đeo sáo dưới chân, bay lượn trên đầu quân Tống, phát ra tiếng sáo vang dậy.

Thì ra, quân Tây Hạ cố tình nhử thua để nhử quân Tống đuổi theo tới chân Lục Bàn Sơn.

Tại đây Nguyên Hạo đã cho mai phục 10 vạn tinh binh, chỉ đợi khi đàn chim bồ câu bay lên, là tung quân ra đánh bao vây chặt quân Tống lại.

Quân Tống ra sức phá vây, chiến đấu suốt từ sớm tới trưa, lại thấy bên trận Tây Hạ phất 1 lá cờ lớn, nhiều quân Tây Hạ lại từ 2 bên đánh ập tới.

Quân Tống vừa đánh vừa lùi, rất nhiều người bị rơi xuống vực.

Nhâm Phúc bị hơn 10 mũi tên bắn trúng.

Có binh sĩ khuyên ông thừa cơ chạy khỏi chiến trường.

Nhâm Phúc nói: "Ta mang danh là một đại tướng, nay bị đánh thua, chỉ còn một chết mà thôi".

Ông lại xông vào giáp chiến, bị quân Tây Hạ giết chết.

Trong trận này, Nguyên Hạo thắng lớn, quân Tống tử thương nghiêm trọng.

Hàn Kỳ được tin, vô cùng thương tâm, dâng thư lên triều đình xin chịu tội.

Tống Nhân Tông cách chức Hàn Kỳ.

Phạm Trọng Yên tuy không trực tiếp chỉ huy trận này, nhưng cũng bị gièm pha vu cáo, bị triều đình giáng chức.

Từ đó về sau, giữa Tống và Tây Hạ nhiều lần xảy ra chiến tranh.

Quân Tống luôn bị hao binh tổn tướng.

Tống Nhân Tông không thể không sử dụng lại Hàn Kỳ và Phạm Trọng Yên vào việc giữ biên giới phía bắc.

Hai người đồng tâm hiệp lực, phủ dụ sĩ tốt, giữ nghiêm kỷ luật.

Quân Tây Hạ không dám tiến công nữa.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
ĐỊCH THANH KHÔNG SỢ XUẤT THÂN HÈN KÉM


Khi Hàn Kỳ, Phạm Trọng Yên mới tới Thiểm Tây, có người tiến cử với 2 ông 1 viên tướng nhỏ địa phương tên là Địch Thanh, rất anh dũng thiện chiến, có tài năng của 1 đại tướng.

Phạm Trọng Yên đang cần tướng có tài, nghe nói thế rất phấn khởi, yêu cầu người đó kể rõ lai lịch về Địch Thanh.

Địch Thanh vốn là 1 người lính thường trong đội cấm quân trong kinh thành, từ nhỏ đã tinh thông võ nghệ, thành thạo mọi loại vũ khí và cưỡi ngựa bắn cung, lại thêm có sức khỏe và can đảm, nên được chọn làm 1 tướng nhỏ.

Sau khi Nguyên Hạo xưng làm hoàng đế Tây Hạ, Tống Nhân Tông cử cấm quân đi phòng thủ biên giới, Địch Thanh được cử tới Bảo An (nay là Chí An) thuộc Thiểm Tây.

Không lâu sau, quân Tây Hạ tiến công Bảo An.

Quân Tống ở Bảo An đã nhiều lần bị quân Tây Hạ đánh thua, nên nghe nói tới giao chiến là đã sợ hãi.

Tướng phòng thủ Bảo An là Lư Thủ Cần rất lo lắng trước tình hình đó.

Thấy vậy Địch Thanh xin làm tiên phong để chống lại Tây Hạ.

Lư Thủ Cần thấy Địch Thanh tình nguyện làm xung phong thì hết sức vui mừng, liền cấp cho 1 số quân mã, cử ra giao chiến với quân Tây Hạ.

Mỗi lần ra trận, Địch Thanh đều thay đổi trang phục, xõa tóc, đeo mặt nạ bằng đồng chỉ để hở 2 con mắt sáng quắc.

Ông cầm 1 ngọn thương dài dẫn đầu xông xáo chém giết.

Quân Tây Hạ từ ngày tiến đánh Tống, chưa từng gặp.

Thấy hình dáng Địch Thanh cổ quái như vậy, chúng đã có vẻ sợ.

Bị Địch Thanh và quân Tống tiến đánh mãnh liệt, trận thế Tây Hạ rối loạn, tan vỡ lùi về sau.

Địch Thanh và quân Tống đánh tràn sang, thắng 1 trận lớn.

Tin thắng trận truyền về triều đình, Tống Nhân Tông rất phấn khởi, thăng chức cho Lư Thủ Cần và thăng Địch Thanh lên 4 cấp.

Tống Nhân Tông còn muốn triệu Địch Thanh về kinh thành tiếp kiến.

Nhưng sau đó, Tây Hạ lại xâm phạm Vị Châu, Địch Thanh phải phải dẫn quân chống lại nên Tống Nhân Tông đành bỏ ý định triệu kiến Địch Thanh về và sai người vẽ hình Địch Thanh gửi về triều đình.

Mấy năm tiếp sau, quân Tây Hạ vẫn liên tục xâm phạm biên giới, khiến dân cư không lúc nào được yên.

Địch Thanh trước sau đã tham gia hơn 25 trận đánh lớn nhỏ, 8 lần bị trúng tên, nhưng không trận nào không thắng lợi.

Quân lính Tây Hạ hễ nghe thấy tên Địch Thanh là đều sợ hãi không dám giao chiến.

Phạm Trọng Yên thấy cấp dưới tiến cử, lập tức tiếp kiến Địch Thanh, hỏi ông đã đọc qua sách gì.

Địch Thanh vốn xuất thân binh lính, biết rất ít chữ, không thể trả lời là đã đọc sách gì.

Phạm Trọng Yên khuyên ông: "Nay ngươi đã là một viên tướng.

Làm tướng mà không thông tỏ cổ kim, chỉ dựa vào sức mạnh và lòng dũng cảm thì không đủ".

Sau đó, ông giới thiệu cho Địch Thanh 1 số sách cần đọc.

Được Phạm Trọng Yên nhiệt tình khuyến khích, Địch Thanh hết sức xúc động.

Từ đó, ông tranh thủ những lúc không có trận mạc, miệt mài đọc sách.

Mấy năm sau, ông đọc thuộc lòng binh pháp của các danh tướng đời Tần - Hán về sau.

Lại vì lập nhiều chiến công, luôn được thăng cấp có tiếng tăm rất lớn.

Sau, Tống Nhân Tông điều ông về kinh thành, làm mã quân Phó đô chỉ huy.

Triều Tống có 1 chế độ tàn bạo, là thích chữ vào mặt binh lính để đề phòng họ đào ngũ.

Khi làm lính, Địch Thanh cũng đã từng bị thích chữ.

Hơn 10 năm làm tới đại tướng, trên mặt Địch Thanh vẫn còn lưu những chữ đó.

Một lần, sau khi triệu kiến Địch Thanh, Tống Thái Tông cho rằng trên mặt đại tướng mà còn thích chữ thì thật là mất thể diện, liền bảo Địch Thanh về nhà đắp thuốc để xóa bỏ những chữ đó đi.

Địch Thanh tâu: "Bệ hạ đã không nề hà hạ thần thân hèn kém, căn cứ chiến công mà phong cho hạ thần địa vị như ngày nay, khiến hạ thần rất cảm động.

Còn những chữ trên mặt này, hạ thần xin được giữ lại để binh lính nhìn thấy, sẽ biết cần phải phấn đấu vươn lên như thế nào?".

Tống Nhân Tông nghe trả lời, rất tán thưởng kiến thức của Địch Thanh và càng quý trọng ông.

Sau đó Địch Thanh còn lập nhiều chiến công, được thăng làm Khu mật sứ, nắm việc quân sự trong toàn quốc.

Từ 1 tên lính thường thăng tới chức Khu mật sứ là 1 sự kiện chưa từng có trong lịch sử triều Tống.

Có 1 số đại thần cho rằng Địch Thanh xuất thân hèn kém, khuyên Nhân Tông không nên cất nhắc ông lên chức vụ cao đến thế.

Nhưng lúc này, Tống Nhân Tông đang cần trọng dụng tướng tài, không nghe theo những ý kiến đó.

Địch Thanh là Khu mật sứ, luôn có người cho rằng địa vị đó không tương xứng với xuất thân của ông.

Một người tự xưng là dòng dõi Địch Nhân Kiệt, 1 danh tướng đời Đường, tặng Địch Thanh 1 bức hình Địch Nhân Kiệt và nói: "Ngài chẳng phải là con cháu Địch Công sao?

Nên nhận Địch Công làm tổ tiên của mình đi!".

Địch Thanh khiêm tốn cười đáp: "Tôi vốn xuất thân hèn kém, ngẫu nhiên có cơ hội được lên chức vị cao, sao dám nhận xằng là dòng dõi Địch Công".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
PHẠM TRỌNG YÊN CẢI CÁCH CHÍNH TRỊ


Do Phạm Trọng Yên giữ nghiêm kỷ luật quân đội và chú ý sự giảm nhẹ đóng góp cho nhân dân vùng biên giới, nên lực lượng phòng thủ của Bắc Tống được tăng cường.

Tây Hạ gây chiến với Bắc Tống trong mấy năm, không thu được lợi gì.

Nên đến năm 1043, Nguyên Hạo phải xưng thần và cầu hòa Triều Tống đồng ý hàng năm cung cấp cho Tây Hạ 1 số tiền bạc, vải vóc và trà uống.

Từ đó biên giới Tống mới tạm thời được yên ổn.

Phạm Trọng Yên không những là nhà quân sự mà còn là nhà chính trị gia và văn học gia nổi tiếng đời Tống.

Ông là người huyện Ngô thuộc Tô Châu, mồ côi cha từ nhỏ.

Vì nhà nghèo, người mẹ bất đắc dĩ phải tái giá với 1 người họ Chu.

Phạm Trọng Yên trưởng thành trong 1 hoàn cảnh vô cùng gian khổ, thường đọc sách trong 1 ngôi miếu cổ, ngày không có đủ 3 bữa ăn, thường phải ăn cháo.

Nhưng ông quyết tâm khắc khổ học tập, thường đọc sách tới khuya, nhiều khi mệt mỏi tới mức không mở được mắt, phải vã nước lạnh vào mặt cho tỉnh để tiếp tục học.

Ròng rã nhiều năm gian khổ như vậy, cuối cùng ông trở thành 1 người rất có học vấn.

Ban đầu, Phạm Trọng Yên làm gián quan trong triều, vì thấy tể tướng Lã Di Giản lạm dụng chức quyền, đưa người thân quen vào làm quan, bèn mạnh dạn tố cáo với Nhân Tông.

Lã Di Giản phản công lại, nói Phạm Trọng Yên kết giao bè đảng để ly gián quan hệ vua tôi.

Tống Nhân Tông tin theo lời Lã Di Giản, liền biếm trích Phạm Trọng Yên xuống phương nam.

Mãi tới khi chiến tranh với Tây Hạ, Phạm Trọng Yên lập công lớn, Tống Nhân Tông mới thấy ông đích thực là 1 nhân tài.

Lúc bấy giờ, triều Tống vì nội chính thối nát, lại thêm có chiến tranh với Liêu và Tây Hạ, tiêu phí rất nhiều tiền của, tài chính gặp khó khăn lớn.

Tống Nhân Tông bèn điều Phạm Trọng Yên từ Thiểm Tây về kinh thành, phong ông làm phó tể tướng.

Phạm Trọng Yên vừa về tới nơi, Nhân Tông tiếp kiến ngay, yêu cầu thảo ra phương án trị nước.

Phạm Trọng Yên thấy triều đình có quá nhiều mặt thối nát, không thể cải cách ngay 1 lúc mà phải đi từ từ từng bước.

Nhưng vì Nhân Tông liên tục thúc giục, ông liền đề ra 10 hạng mục cải cách, gồm những nội dung chủ yếu như sau:

1 - Định kì sát hạch quan lại.

Căn cứ vào thành tích cai trị mà thăng cấp, giáng cấp.

2 - Hạn chế nghiêm ngặt việc con cai các đại thần dựa vào thế cha để ra làm quan.

3 - Cải cách chế độ khoa cử.

4 - Thận trọng trong việc chọn lựa và đề bạt quan đứng đầu các địa phương.

Còn những vẫn đề khác như khuyến khích nông trang, giảm nhẹ lao dịch, tăng cường quân bị giữ nghiêm pháp luật...

Tốn Nhân Tông đang có lòng hăng hái cải cách, sau khi xem xong phương án của Phạm Trọng Yên, liền lập tức phê chuẩn và cho thi hành khắp trong nước.

Lịch sử gọi phong trào cải cách này là "Khánh Lịch tân chính" (Khánh Lịch là niên hiệu của Tống Nhân Tông từ 1041 đến 1049).

Để thúc đẩy tân chính (chính sách mới), Phạm Trọng Yên liền cùng Hàn Kỳ, Phú Bật thẩm tra 1 số quan chức để cử xuống các bộ (đơn vị hành chính thới Tống) làm chức giám ti (quan giám sát).

Một hôm, Phạm Trọng Yên ngồi trong dinh duyệt danh sách các giám ti, phát hiện thấy 1 người xưa nay là kẻ tham lam, làm trái pháp luật, liền cầm bút xóa tên người đó đi, chuẩn bị lấy người khác thay vào.

Phú Bật đứng cạnh, thấy thế không nỡ, liền nói với Phạm Trọng Yên: "Phạm Công, một nét bút của ngài, làm cho cả nhà người ta phải khóc đây!".

Phạm Trọng Yên nghiêm túc trả lời: "Nếu không để một nhà phải khóc, thì sẽ làm cho dân cả một bộ phải khóc".

Phú Bật nghe trả lời, vụt hiểu ra, càng khâm phục kiến thức và tính cương trực của Phạm Trọng Yên.

Tân chính do Phạm Trọng Yên vừa đem ra thi hành, đã như chọc vào tổ ong.

Tất cả hoàng thân quốc thích, đại thần quyền quý, tham quan ô lại đều la lối om sòm, gieo rắc tin đồn chống lại tân chính.

Những đại thần xưa nay vốn không ưa Phạm Trọng Yên, ngày ngày nói xấu Phạm Trọng Yên với Tống Nhân Tông, nói ông và 1 số người kết bè đảng, lạm dụng chức quyền.

Tống Nhân Tông thấy nhiều người phản đối quá, cũng sinh dao động.

Phạm Trọng Yên thấy mình không thể ở lại kinh thành được, liền tự động xin đổi về biên giới Thiểm Tây.

Tống Nhân Tông đành phải điều ông đi.

Phạm Trọng Yên vừa đi khỏi, Tống Nhân Tông liền hạ lệnh phế bỏ tân chính.

Vì đề xướng cải cách chính trị, Phạm Trọng Yên bị rất nhiều kẻ đả kích, nhưng ông không vì thế mà nản lòng.

Một năm sau, 1 người bạn cũ của ông là Đằng Tông Lượng, làm quan ở Nhạc Châu (trị sở nay ở Nhạc Dương, Hồ Nam) đứng ra tu tạo lại Nhạc Dương Lâu, 1 danh thắng ở đó, mời Phạm Trọng Yên viết cho 1 bài văn kỉ niệm.

Phạm Trọng Yên vung bút viết ngay bài "Nhạc Dương Lâu ký".

Trong bài văn nổi tiếng đó, Phạm Trọng Yên đề cập đến 1 người có hoài bão chính trị xa rộng, cần phải có tư tưởng " Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ".

Hai câu danh ngôn đó được người đời sau truyền tụng.

Và Nhạc Dương Lâu cũng nhờ bài văn nổi tiếng đó của Phạm Trọng Yên mà nổi tiếng thêm.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
ÂU DƯƠNG TU CẢI CÁCH VĂN PHONG


Sau khi Phạm Trọng Yên bị gạt bỏ và rời khỏi triều đình, người cộng sự của ông là Phú Bật vi ủng hộ ông, bị vu cáo là đồng đảng của Phạm Trọng Yên, bị cách hết quan chức.

Hàn Kỳ biện hộ cho Phạm Trọng Yên và Phú Bật, cũng bị liên lụy.

Lúc đó, 1 số người khác tuy đồng tình với Phạm Trọng Yên nhưng không dám ra mặt bênh vực ông.

Chỉ có gián quan là Âu Dương Tu cả gan dâng sớ lên Tống Nhân Tông, nói: "Từ xưa tới nay, kẻ xấu hãm hại người tốt, đều vu cáo người tốt là bè đảng, chuyên quyền.

Phạm Trọng Yên là nhân tài quan trọng của quốc gia, cớ sao lại bị bãi miễn.

Nếu bệ hạ tin theo lời kẻ xấu thì chỉ khiến kẻ xấu đắc ý, quân thù vui mừng".

Âu Dương Tu là nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc, quê ở Lư Lăng (nay là Vĩnh Phong, tỉnh Giang Tây).

Khi ông mới 4 tuổi, cha bị bệnh mất, bà mẹ dẫn ông đến Tùy Châu (nay là huyện Tùy, Hồ Bắc) dựa vào người chú để mưu sinh.

Bà mẹ Âu Dương Tu quyết tâm cho Âu Dương Tu học hành, nhưng nhà nghèo, không có tiền mua giấy bút.

Bà thấy trong cái ao trước nhà có mọc nhiều cói, liền dùng cọng cói thay bút dạy Âu Dương Tu viết chữ trên đất bùn.

Cậu bé Âu Dương Tu được mẹ giáo dục từ nhỏ nên sớm yêu thích đọc sách.

Khi lên 10 tuổi, Âu Dương Tu thường xuyên đến 1 nhà có nhiều sách trong làng mượn sách đọc và chép lại những đoạn thấy hứng thú.

Một lần, ông đến mượn sách của nhà họ Lý, phát hiện thấy trong đống giấy cũ 1 cuốn sách nhàu nát.

Ông giở xem, thấy đó là văn tập của Hàn Dũ, 1 nhà văn nổi tiếng đời Đường, liền mượn chủ nhà, đem về đọc.

Đầu đời Tống, trong xã hội có xu hướng ưa chuộng lời văn hào nhoáng mà coi nhẹ nội dung.

Vì vậy, văn phong thời này chú trọng sự đẹp đẽ của ngôn từ nhưng rất trống rỗng, nghèo nàn về nội dung.

Âu Dương Tu đọc tản văn của Hàn Dũ, thấy văn chương lưu loát, lập luận thấu triệt khác hẳn với văn chương thịnh hành đương thời.

Ông ra sức nghiền ngẫm, học tập văn phong của Hàn Dũ.

Khi trưởng thành, ông tới Đông Kinh tham gia thi tiên sĩ, liên tục đỗ đầu 3 vòng thi.

Khi mới hơn 20 tuổi, tiếng tăm của Âu Dương Tu đã vang dội trên văn đàn.

Ông không giữ chức quan cao, nhưng rất quan tâm đến triều đình và mạnh dạn can gián hoàng đế.

Khi Phạm Trọng Yên vi va chạm với Lã Di Giản mà phải biếm trích xuống phương nam, rất nhiều đại thần đồng tình với Phạm Trọng Yên, chỉ có viên gián quan Cao Nhược Nạp là cho rằng Phạm Trọng Yên bị biếm trích là đúng.

Âu Dương Tu rất phẫn nộ, viết 1 lá thư kịch liệt công kích Cao Nhược Nạp là người không biết liêm sĩ.

Vì việc đó, ông bị giáng chức, điều về địa phương, 4 năm sau mới được trở lại kinh thành.

Lần này, Âu Dương Tu lại đứng ra phát biểu bênh vực tân chính của Phạm Trọng Yên, khiến bọn quyền quý trong triều nổi giận.

Chúng tìm mọi chứng cớ vu vơ, gán cho Âu Dương Tu 1 số tội danh.

Triều đình lại biếm Âu Dương Tu đi Từ Châu (nay là huyện Từ, An Huy).

Từ Châu là nơi có phong cảnh đẹp, 4 xung quanh là núi.

Đến Từ Châu, ngoài những giờ làm việc công, Âu Dương Tu thường du lãm sơn thủy.

Ở địa phương có 1 hòa thượng xây 1 tòa đình trên Lang Nha Sơn thuộc Từ Châu làm nơi nghỉ cho du khách.

Âu Dương Tu thường tới tòa đình đó uống rượu.

Ông tự xưng là "Túy ông" (ông già say) và đặt tên cho tòa đình đó là "Túy Ông đình".

Bài tản văn "Túy Ông đình ký" của ông là 1 kiệt tác được người đời truyền tụng.

Âu Dương Tu làm quan địa phương hơn 10 năm trời.

Sau Tống Nhân Tông nhớ tới văn tài của ông, mới triệu ông về kinh thành, phong làm Hàn lâm học sĩ.

Sau khi nhận chức hàn lâm học sĩ, Âu Dương Tu ra sức đề xướng việc cải cách văn phong.

Một lần, kinh thành tổ chức khoa thi tiến sĩ, ông được cử làm chủ khảo.

Thấy đây là 1 cơ hội để cải cách văn phong lựa chọn nhân tài.

Âu Dương Tu đọc kĩ các quyển thi, thấy quyển nào chỉ có hình thức hào nhoáng mà nội dung trống rỗng thì đánh trượt hết.

Kết quả khóa thi, 1 số người không đỗ rất căm tức Âu Dương Tu.

Một hôm, ông cưỡi ngựa đi đi ra đường, bị 1 đám thí sinh bị đánh trượt ngăn lại, ồn ào chửi mắng và gây sự.

Sau nhờ có lính tuần tra đến giải tán, ông mới được vô sự.

Qua việc đó, tuy Âu Dương Tu bị 1 số áp lực, nhưng văn phong trong thi cử nhờ đó mà có biến chuyển lớn.

Mọi người đều ngả theo xu hướng viết những bài văn có nội dung sâu sắc bằng lời lẽ giản dị.

Âu Dương Tu không những chỉ ra sức cải cách văn phong, mà còn chú trọng phát hiện và bồi dưỡng nhân tài.

Rất nhiều người vốn không nổi tiếng lắm, nhờ được ông tán thưởng và tiến cử, đều trở thành những danh gia.

Những người nổi tiếng nhất là Tăng Cung, Vương An Thạch, Tô Tuân và 2 con là Tô Thức (tự là Đông Pha), Tô Triệt.

Trong lịch sử văn học, người ta ghép Âu Dương Tu và 5 người trên cũng với Hàn Dũ, Liếu Tông Nguyên thời Đường thành 1 danh sách, gọi là "Đường Tống bát đại gia" (8 tác gia văn xuôi lớn đời Đường - Tống).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
BAO CHỬNG MẶT SẮT VÔ TƯ


Sau khi tân chính do Phạm Trọng Yên đề xướng bị thất bại, triều đình Bắc Tống ngày càng thối nát.

Đặc biệt là tại phủ Khai Phong thuộc kinh thành, nạn tham ô, hối lộ, lộng quyền của các đại thần quyền quý lại càng đặc biệt nghiêm trọng.

Các hoàng thân quốc thích trắng trợn, không coi phép nước ra gì.

Tới khi Bao Chửng đảm nhiệm chức tri phủ Khai Phong thì tình hình này mới thay đổi được chút ít.

Bao Chửng là người vùng Hợp Phì thuộc Lư Châu (nay là Hợp Phì, An Huy), từng làm huyện lệnh huyện Thiên Trường.

Một lần, trong huyện xảy ra 1 vụ án: 1 nông dân ban đêm buộc bò trong chuồng, đến sáng thấy bò nằm ngay dưới đất, miệng đầy máu.

Vạch miệng bò ra xem, thì thấy lưỡi đã bị cắt đứt.

Người nông dân đó vừa tức giận vừa đau xót, liền lên huyện tố cáo, xin Bao Chửng giúp tìm ra kẻ đã cắt lưỡi bò.

Vụ án khó khăn không đầu mối này làm thế nào để tìm tra ra đây?

Bao Chửng suy nghĩ 1 lát rồi bảo người nông dân: "Anh khoan làm ầm ĩ về vụ này.

Hãy trở về làm thịt con bò đó rồi ra sẽ nói sau".

Nông dân xưa nay vốn rất quý bò này, không đành lòng giết bò.

Vả lại, theo pháp luật hiện hành, thì không ai được tự tiện giết bò cày.

Nhưng suy đi tính lại, con bò đã bị cắt lưỡi cũng chẳng thể sống được bao lâu nữa, và quan đã bảo giết, thì không còn sợ phạm pháp.

Người nông dân đó trở về, quả nhiên ngả bò ra giết.

Ngay hôm sau, nha môn huyện Thiên Trường có 1 người cáo giác tội tự tiện giết bò của người nông dân nọ.

Bao Chửng gọi người tố cáo vào, rồi đập bàn quát lớn: "Tên này to gan thật.

Ngươi cắt lưỡi bò của người ta rồi lại còn dám tới đây để tố giác sao?".

Kẻ tố giác nghe thấy thế sợ hãi ngay ra không cãi được, vội dập đầu thành thật nhận tội lỗi.

Thì ra kẻ cắt lưỡi bò vốn có hiềm khích với người nông dân kia, nên đã lẻn vào cắt lưỡi bò rồi lại đi tố giác người đó tự tiện giết bò cày, vi phạm lệnh cấm.

Sau vụ đó, Bao Chửng trở nên nổi tiếng vì tài xử án.

Sau khi làm quan địa phương ở mấy nơi, đến chỗ nào, Bao Chửng cũng phế bỏ việc lạm thu thuế má, giải quyết các vụ án oan.

Sau đó, ông được điều về kinh thành làm gián quan, đề xuất nhiều kiến nghị hay lên triều đình.

Tống Nhân Tông muốn chỉnh đốn trật tự ở phủ Khai Phong nên điều Bao Chửng ra làm tri phủ Khai Phong.

Phủ Khai Phong là nơi tập trung hoàng thân quốc thích và thế lực hào môn quyền quý.

Trước đây, ai làm quan ở đó, cũng đều thông đồng với giới quyền quý, nhận hối lộ va bao che mọi hành động ngang ngược của chúng.

Bao Chửng nhận chức, quyết tâm chấn chỉnh lại thói hủ bại đó.

Theo quy định của triều Tống, ai muốn đến cáo giác ở nha môn, trước tiên phải nhờ người viết đơn, rồi nhờ bọn thơ lại chuyển lên tri phủ.

Bọn thầy cò và lưu manh liền lợi dụng việc đó để vòi tiền.

Bao Chửng bỏ quy định đó, cho phép nhân dân hễ có điều gì muốn tố giác, có thể gióng trống ở cổng phủ.

Cứ có tiếng trống, là cửa phủ mở rộng để mọi người tiến vào trực tiếp tố cáo.

Như vậy, bọn thơ lại không thể vòi tiền người dân được nữa.

Một năm, phủ Khai Phong bị nước sông dâng cao, vì dòng sông Huệ Dân bị nghẽn, nước không tiêu nhanh được.

Bao Chửng điều tra, thấy nguyên nhân làm cho dòng sông bị nghẽn là do 1 số hoạn quan và nhà quyền quý xâm chiếm đất đai, xây dựng vườn hoa và lầu các, ngăn cản dòng chảy.

Bao Chửng lập tức hạ lệnh, yêu cầu các phủ vườn phải dỡ bỏ mọi kiến trúc xâm phạm đến dòng sông.

Một số nhà quyền quý không chịu dỡ, phủ Khai Phong liền cử người đến đốc thúc.

Bọn này bướng bỉnh, đưa ra 1 số giấy tờ bịa đặt, nói đất đó là gia sản do tổ tiên để lại.

Bao Chửng điều tra kĩ càng, phát hiện những tờ giấy đó là giả mạo.

Ông nổi giận, buộc những kẻ đó phải lập tức phá vườn hoa, đồng thời viết sớ tấu dâng lên Tống Nhân Tông.

Bọn đó thấy chuyện trở thành lớn, sợ Nhân Tông cho điều tra thì sẽ bất lợi, đành phải dỡ bỏ vườn hoa.

Bọn quý tộc thấy Bao Chửng là việc nghiêm minh, đều sợ hãi không dám hoành hành ngang ngược nữa.

Có kẻ muốn mua chuộc Bao Chửng, đưa lễ vật tới đút lót, nhưng mọi người đều khuyên: đừng mơ tưởng điều đó, Bao Chửng xưa nay vốn nổi tiếng thanh liêm.

Khi ông ta làm quan ở Đoan Châu (nay là Triệu Khánh, Quảng Đông) là nơi chuyên sản xuất nghiên mực, 1 số đặc sản nổi tiếng.

Hoàng cung quy định, hàng năm quan địa phương phải nộp 1 số nghiên mực cho triều đình sử dụng.

Một số quan địa phương lấy cớ nộp cống vật cho triều đình, thường bắt dân nộp dư ra, dùng làm đồ biếu xén cho các đại thần.

Số nghiên mực bị nộp thêm nhiều gấp hàng chục lần số phải tiến vào cung vua.

Khi Bao Chửng đến Đoan Châu làm quan, chỉ thu đủ số tiến vua, không thu thêm 1 chiếc nào.

Suốt thời kì ở đó, trước sau ông không hề lấy riêng 1 chiếc nghiên nào cho mình.

Nghe chuyện đó, kẻ đút lót biết không thể lợi dụng được Bao Chửng, đành bỏ ý định đó.

Từ đó, dân khắp phủ Khai Phong không ai không biết Bao Chửng là 1 quan thanh liêm.

Dân gian lưu truyền câu ca dao: "Đừng hòng đút lót hai nơi; một là Bao Chửng, hai thời Diêm Vương".

Bao Chửng cũng rất nghiêm khắc với thân thích bạn bè.

Có người thân muốn dựa thế ông để mưu cầu việc riêng, nhưng ông không hề chiếu cố.

Sau này, thân thích bạn bè biết tính ông, không ai dám tìm đến nhờ vả nữa.

Tống Nhân Tông rất quý trọng Bao Chửng, thăng ông lên chức Khu mật phó sứ.

Ông làm quan to, nhưng sinh hoạt gia đình rất giản dị, như người dân bình thường.

5 năm sau, ông bị bệnh mất, để lại di chúc: con cháu đời sau nếu làm quan mà tham ô thì không được phép về nhà, khi chết đi không được chôn trong khu phần mộ của nhà họ Bao.

Vì suốt cuộc đời Bao Chửng làm quan thanh liêm, nên không những lúc còn sống được nhân dân ca ngợi; mà khi mất đi, mọi người vẫn tôn sùng, coi như 1 mẫu mực về quan thanh liêm, tôn xưng ông là "Bao Công" hoặc gọi ông là "Bao Đãi chế", "Bao Long đồ" (quan tước của Bao Chửng lúc còn sống là Thiên Chương Các đãi chế và Long Đồ Các học sĩ).

Trong dân gian lưu truyền rất nhiều câu chuyện về Bao Công mặt sắt vô tư, dám chống lại bọn quyền quý.

Người ta còn xây dựng tiểu thuyết và kịch bản về Bao Công xử án.

Tuy đại đa số trong đó là những chuyện hư cấu, nhưng điều đó cũng phản ánh lòng kính mộ của dân gian với 1 vị quan thanh liêm, chính trực.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
VƯƠNG AN THẠCH BIẾN PHÁP


Tống Nhân Tông làm hoàng đế 40 năm, tuy có sử dụng 1 số đại thần chính trực như Phạm Trọng Yên, Bao Chửng, nhưng vì không quyết tâm cải cách nên đất nước ngày càng suy yếu.

Ông không có con, nên khi chết đi, triều đình phải chọn 1 con em trong hoàng tộc đưa lên làm vua.

Đó là Tống Anh Tông.

Anh Tông nối ngôi được 4 năm thì chết vì bệnh.

Thái tử Triệu Húc lên nối ngôi, đó là Tống Thần Tông.

Khi lên ngôi, Tống Thần Tông mới 20 tuổi, là 1 thanh niên hăng hái và có chie tiến thủ.

Thấy đất nước suy yếu, ông muốn tiến hành cải cách.

Nhưng nhìn xung quanh đều là các lão thần thời Tống Nhân Tông.

Ngay cả đến Phú Bật là người trước kia từng ủng hộ tân chính, nay cũng đã già yếu, rụt rè.

Tống Thần Tông nghĩ, muốn cải cách hiện trạng, nhất định phải tìm được 1 trợ thủ đắc lực.

Trước khi lên ngôi, bên cạnh Thần Tông (lúc đó còn là thái tử) có 1 viên quan là Hàn Duy, thường nêu những ý kiến rất hay, được Thần Tông tán thưởng.

Hàn Duy nói: "Những ý trên đều do người bạn của tôi là Vương An Thạch nói ra".

Tống Thần Tông tuy chưa được gặp Vương An Thạch nhưng nhờ đó mà đã có ấn tượng tốt về ông.

Nay đã làm hoàng đế, muốn có 1 trợ thủ, tự nhiên ông nhớ tới Vương An Thạch.

Ông liền hạ chiếu vời Vương An Thạch lúc đó đang làm quan ở Giang Ninh về kinh thành.

Vương An Thạch là 1 văn học gia và chính trị gia nổi tiếng thời Tống, người ở Lâm Xuyên, Phủ Châu (nay ở phía tây Phủ Châu, Giang Tây).

Khi còn trẻ, văn chương của ông đã rất xuất sắc, được Âu Dương Tu khen ngợi.

Năm 20 tuổi, Vương An Thạch đỗ tiến sĩ, làm quan ở mấy huyện địa phương.

Khi đang làm quan ở Ngân Huyện (nay là huyện Ngân, Triết Giang), trong huyện có thiên tai nghiêm trọng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.

Vương An Thạch tổ chức dân làm thủy lợi, phát triển giao thông, thúc đẩy mọi việc trôi chảy.

Mỗi khi tới kì giáp hạt, người nghèo không đủ ăn, ông sai mở kho cho dân vay lương thực.

Sau khi thu hoạch sẽ nộp trả nhà nước với số lợi tức vừa phải.

Như vậy, nông dân nghèo khỏi phải đi vay nặng lãi, đời sống bớt khó khăn.

Vương An Thạch làm quan địa phương hơn 20 năm, tiếng tăm ngay càng lớn.

Tống Nhân Tông triệu ông về, trao cho ông chức quan phụ trách việc tài chính. vừa tới kinh thành, ông dâng lên hoàng đế 1 bức "Vạn ngôn thư" (tờ tấu khoảng 1 vạn chữ) nêu lên những chủ trương cải cách về tài chính.

Tống Nhân Tông vừa phế bỏ tân chính của Phạm Trọng yên, nay lại nghe nói tới cải cách thì thấy phiền phức quá, liền gác bỏ sớ tấu 1 bên, không xem xét tới.

Vương An Thạch biết triều đình không có quyết tâm cải cách và không thể cộng tác với các triều thần, nên nhân dịp bà mẹ tạ thế, liền xin từ chức về nhà.

Lần này, ông nhận được lệnh triệu của Tống Thần Tông, lại nghe nói Thần Tông đang tuyển chọn nhân tài, liền phấn khởi lên kinh thành.

Vương An Thạch vừa tới, Tống Thần Tông lập tức triệu kiến riêng.

Đầu tiên, Thần Tông hỏi ngay: "Theo khanh, muốn trị lý quốc gia, cần băt tay vào công việc gì trước?".

Vương An Thạch từ tốn trả lời: "Theo hạ thần, trước hết cần bắt đầu từ việc cải cách chế độ pháp luật cũ, xây dựng chế độ pháp luật mới".

Tống Thần Tông yêu cầu ông về nhà, viết lại tỉ mỉ những ý kiến về cải cách.

Ngay đêm đó, Vương An Thạch đã khởi thảo 1 chương trình cải cách, và hôm sau trình kên Tống Thần Tông.

Tống Thần Tông thấy những ý kiến đó đều hợp ý với mình, nên càng tín nhiệm Vương An Thạch.

Năm 1069, Tống Thần Toogn phong Vương An Thạch lên chức phó tể tướng.

Lúc đó, trong triều về danh nghĩa vẫn có tới 4 tể tướng, người thì ốm đau, người thì già cả, có người tuy không già cả ốm đau nhưng hễ nghe đến cải cách là luôn mồm kêu khổ.

Vương An Thạch hiểu rõ, cộng tác với những người đó thì không thể làm được việc lớn, nên đã tâu xin Thần Tông tuyển dụng 1 số quan chức trẻ và thành lập 1 số tổ chức chuyên định ra pháp luật mới, giành quyền biến pháp (thay đổi pháp luật) về tay mình.

Như vậy, ông đã thực sự bắt tay vào việc thực hiện cải cách.

Những nội dung chủ yếu trong công cuộc biến pháp của Vương An Thạch gồm:

1 - Luật thanh miêu: cho vay lúa lúc giáp hạt và thu lại sau mùa gặt.

Biện pháp này được vận dụng ở huyện Ngân, nay đem mở rộng ả toàn quốc.

2 - Luật thủy lợi: triều đình khuyến khích địa phương mở mang thủy lợi, khai khẩn đất hoang.

3 - Luật miễn sai dịch: mọi loại sai dịch của nhà nước, từng hộ dân không phải đi phục vụ mà do nhà nước bỏ tiền ra thuê người làm.

Sau đó, nhân dân căn cứ theo sự giàu nghèo, nộp 1 khoản tiền cho nhà nước.

Những người thuộc giới quan chức và địa chủ trước kia không phải làm sai dịch nay cũng phải nộp tiền.

Luật này khiến nhà nước tăng được thu nhập và giảm nhẹ được gánh nặng cho người nghèo.

4 - Luật do ruộng đánh thuế: để chống địa chru lấn chiếm đất đai, khai gian diện tích và nhân khẩu, triều đình tổ chức việc đo ruộng rồi căn cứ vào diện tích thực tế và đẳng cấp ruộng đất mà đánh thuế.

5 - Luật bảo giáp: triều đình tổ chức cư dân theo địa bàn cư trú.

Cứ 10 nhà là 1 bảo, 50 nhà là 1 đại bảo, 10 đại bảo là 1 đô bảo.

Gia đình nào có 2 con trai thành niên, thì lấy 1 người làm bảo đinh, lúc nông nhàn phải tham gia luyện tập quân sự, thời chiến lấy vào quân đội đi đánh trận.

Biện pháp của Vương An Thạch có tác dụng tích cực đối với việc củng cố nền thống trị của triều Tống, tăng thêm thu nhập cho quốc gia.

Nhưng nó xâm phạm tới lợi ích của đại địa chủ, bị rất nhiều đại thần phản đối.

Một hôm, Tống Thần Tông gọi Vương An Thạch tới, hỏi: "Bên ngoài, mọi người đang bàn luận, nói chúng ta không sợ trời, không nghe theo dư luận của người, không tuân theo quy củ của tổ tông, khanh thấy phải làm thế nào?".

Vương An Thạch thản nhiên trả lời: "Bệ hạ chăm lo đến chính sự, như vậy là có thể ngăn được sự biến động của trời.

Bệ hạ hỏi han đến ý kiến của dưới, như vậy là đã chiếu cố đến dư luận.

Vả lại, ý kiến của mọi người cũng có điều sai, chỉ cần chúng ta làm đúng lẽ thì sợ gì mọi người bàn luận.

Còn như quy củ xưa của tổ tông, vốn không phải là cái gì cố định bất biến!".

Vương An Thạch kiên trì 3 điều không sợ, nhưng Tống Thần Tông lạ không kiên quyết được như ông, thấy có quá nhiều người phản đối, liền sinh dao động.

Năm 1074, vùng Hà Bắc có hạn hán lớn, suốt 10 tháng liền không có mưa, nông dân hết lương thực, lưu tán khắp nơi.

Tống Thần Tông đang lo lắng vì điều đó, thì 1 viên quan thừa cơ dâng lên 1 "bức họa về dân lưu tán", nói do biến pháp của Vương An Thạch đã tạo nên hạn hán, xin hoàng đế bãi chức của Vương An Thạch.

Tống Thần Tông xem bức họa, chỉ biết thở ngắn than dài, suốt đêm không ngủ.

Bà và mẹ của hoàng đế là Tào thái hậu và Cao thái hậu cũng khóc lóc với Tống Thần Tông, nói Vương An Thạch đã làm rối loạn cả thiên hạ, ép nhà vưa phải đình chỉ luật mới.

Vương An Thạch thấy luật mới khó thực hiện được, liền bực bội dâng sớ xin từ chức.

Tống Thần Tông đành để Vương An Thạch rời Đông Kinh, về nghỉ tại phủ Giang Ninh.

Năm sau, Tống Thần Tông lại triệu Vương An Thạch về kinh thành làm tể tướng.

Vừa được mấy tháng, thì có sao chổi xuất hiện.

Đó vốn là hiện tượng bình thường của thiên nhiên, nhưng thời bấy giờ, lại cho là 1 triệu chứng báo điều dữ.

Tống Thần Tông lại hoảng sợ, yêu cầu các đại thần nêu ý kiến về triều đình.

Phái bảo thủ lại thừa cơ tấn công luật mới.

Vương An Thạch ra sức biện hộ, xin Thần Tông không nên nghe theo những ý kiến mê tín dị đoan nhưng Tống Thần Tông vẫn ngần ngừ không quyết định.

Vương An Thạch không có cách gì thực hiện được luật mới, nên vào năm 1076, lại 1 lần nữa xin từ chức tể tướng, trở về phủ Giang Ninh.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
THẨM QUÁT NGHIÊN CỨU KHOA HỌC


Từ đời Tống Chân Tông (1008-1023) về sau, triều Tống nhờ việc biếu xén tiền bạc và vải lụa cho Liêu mà giữ được an ninh ở biên giới phía bắc trong 1 thời gian dài.

Nhưng triều Liêu thấy Tống mềm yếu, muốn lấn lướt để xâm chiếm đất đai của Tống.

Năm 1075, triều Liêu phái đại thần là Tiêu Hy đến Đông Kinh, yêu cầu hoạch định lại biên giới.

Tống Thần Tông cử đại thần đàm phán với Tiêu Hy.

Hai bên tranh luận suốt mấy ngày không đạt tới kết quả nào.

Tiêu Hy nhất định nói là Hoàng Vĩ Sơn (nay ở tây nam Nguyên Bình, Sơn Tây) và dải đất 30 dặm ở đó là cương giới của triều Liêu.

Đại thần do Tống Thần Tông cử đi đàm phán không nắm vững địa hình vùng đó, nên tuy biết rằng điều Tiêu Hy nói là vô lý nhưng không có chứng cớ gì để bác lại.

Tống Thần Tông liền phái Thẩm Quát đi đàm phán.

Thẩm Quát là người vùng Tiền Đường thuộc Hàng Châu, vốn đứng về phía ủng hộ tân pháp của Vương An Thạch.

Ông có tác phong làm việc nghiêm túc, tỉ mỉ, lại tinh thông địa lý.

Khi nhận nhiệm vụ, trước hết ông đến khu mật viện, lục tìm và tra cứu rõ ràng mọi hồ sơ lưu trữ liên quan đến việc hoạch định biên giới từ trước tới nay, thấy rõ vùng đất đó là của Tống.

Ông bèn tâu với Tống Thần Tông.

Tống Thần Tông nghe vậy rất phấn khởi, liền sai Thẩm Quát vẽ thành bản đồ đưa cho Tiêu Hy xem, Tiêu Hy không nói gì được nữa.

Tống Thần Tông liền phái Thẩm Quát đi sứ tới Thượng Kinh (kinh thành của Liêu, nay thuộc khu tự trị Nội Mông, phía bắc Tập Ninh).

Trước hết, Thẩm Quát thu thập rất nhiều tư liệu về địa lý, yêu cầu các nhân viên tùy tòng học thuộc.

Đến Thượng Kinh, tể tướng triều Liêu là Dương Ích Giới đàm phán với Thẩm Quát về biên giới.

Trước các vấn đề do phía Liêu nêu ra, Thẩm Quát và các quan chức trong phái đoàn đều đối đáp trôi chảy, có bằng chứng xác thực.

Dương Ích Giới thấy khó có kẽ hở nào để lợi dụng, liền giở thủ đoạn ngang ngược nói: "Các ngài cứ một mực kỳ kèo từng tấc đất, chẳng lẽ muốn đoạn tuyệt quan hệ với chúng tôi chăng?".

Thẩm Quát trả lời hùng hồn đầy lý lẽ: "Các ngài đã làm trái minh ước trước kia, muốn dùng vũ lực để uy hiếp chúng tôi chăng?

Nếu xảy ra xung đột, chắc các ngài cũng không lợi gì đâu?".

Các quan chức triều Liêu không áp đảo được Thẩm Quát bằng lý lẽ, lại ngại nếu làm căng quá cũng không có lợi gì, nên đành rút bỏ những yêu cầu vô lý của họ.

Thẩm Quát dẫn phái đoàn ra về.

Dọc đường, qua mỗi địa phương, ông đều vẽ tất cả núi cao sông lớn và các địa hình hiểm trở vào bản đồ, đồng thời gi chép rõ ràng mọi phong tục tập quán của từng địa phương làm phụ lục kèm theo.

Về tới Đông Kinh, ông chỉnh lý lại rồi dâng lên Tống Thần Tông.

Tống Thần Tông thấy Thẩm Quát lập được công, liền phong ông làm hàn lâm học sĩ.

Để giữ gìn an ninh cho triều Tống, Thẩm Quát hết sức coi trọng việc nghiên cứu địa hình.

Một lần, Tống Thần Tông phái ông tới Định Châu (nay là huyện Định, Hà Bắc) kiểm tra.

Ông giả làm người đi săn, bỏ ra hơn 20 ngày khảo sát kỹ địa hình vùng biên cảnh, rồi dùng que gỗ và nến nung chảy để đắp thành mô hình, miêu tả y hệt địa hình vùng đó.

Trở về Định Châu, ông sai thợ mộc căn cứ vào mô hình, điêu khắc thành mô hình gỗ, rồi dâng lên Tống Thần Tông.

So với bản đồ vẽ trên giấy, mô hình lập thể rõ ràng là dễ xem hơn rất nhiều.

Tống Thần Tông rất tán thưởng các tấm bản đồ và mô hình do ông chế ra.

Năm sau, liền hạ lệnh cho ông vẽ bản đồ toàn quốc.

Nhưng không lâu sau, Thẩm Quát bị kẻ xấu vu cáo nên bị triều đình biếm trích đi Tùy Châu (nay là huyện Tùy, Hồ Bắc).

Ở đây, tuy điều kiện rất khó khăn, nhưng ông vẫn kiên trì hoàn thành tấm bản đồ đang làm dở.

Sau đó, ông bị đổi đi làm quan mấy nơi khác.

Đến đâu, ông cũng chú ý quan sát địa hình, chỉnh lý lại bản đồ.

Kiên trì suốt 12 năm, cuối cùng ông đã hoàn thành bức bản đồ toàn quốc chính xác nhất, mang tên "Thiên hạ quận quốc đồ".

Thẩm Quát không những đát thành tựu xuất sắc trong nghiên cứu địa lý, mà còn là 1 nhà khoa học quan tâm rộng rãi.

Ông rất tinh thông nhiều lĩnh vực như thiên văn, lịch pháp, âm nhạc, y dược, toán học.

Từ rất lâu, ông đã nghiên cứu thiên văn, lịch pháp.

Sau đó, khi làm việc ở Ty thiên giám, thấy nhiều người là việc ở đây đều thuộc loại bất học vô thuật, không biết cách sử dụng dụng cụ đo đạc thiên văn.

Từ khi tới Ty thiên giám, ông cho bố trí thêm nhiều dụng cụ đo đạc.

Để quan sát và xác định chính xác vị trí của Bắc Cực Tinh, ông miệt mài suốt 3 tháng, đêm mào cũng dùng dụng cụ thiên văn theo dõi, cuối cùng đã tính toán được chính xác vị trí của hành tinh quan trọng này.

Vào những năm cuối đời, Thẩm Quát ẩn cư ở Nhuận Châu (nay là Trấn Giang, Giang Tô), tại Mộng Khê viên.

Ông ghi chép lại thành quả nghiên cứu trong suốt cuộc đời, viết nên tác phẩm "Mộng Khê bút đàm".

Trong tác phẩm này, ngoài việc ghi chép những thành quả nghiên cứu của mình, ông còn ghi lại rất nhiều phát minh sáng tạo của nhân dân lao động đương thời.

Trong đó, đặc biệt nổi tiếng là phát minh về kỹ thuật ấn loát bằng chữ rời của Tất Thăng.

Kỹ thuật ấn loatx là 1 trong 4 phát minh lớn của Trung Quốc thời cổ.

Trước thời Bắc Tống, đã có kỹ thuật in mộc bản.

Nhưng làm bản khắc gỗ tốn nhiều thời gian, và khi đã làm xong bản khắc muốn thay đổi 1 chữ trong đó thì phải bỏ đi, khắc lại bản (trang) khác.

Khi về thăm quê ở Tiền Đường, Thẩm Quát thấy 1 người thợ già tên là Tất Thăng, dùng 1 loại đất sét thật mịn, cắt thành rất nhiều mảnh vuông nhỏ, khắc chữ lên rồi cho vào lò nung chín, tạo thành 1 chữ rời.

Dùng loại chữ rời này xếp thành bản in, tiện lợi hơn bản khắc gỗ rất nhiều.

Thấy việc mới là này, Thẩm Quát hết sức hứng thú, xem xét hết sức tường tận, rồi ghi chép, miêu tả trong "Mộng Khê bút đàm", người đời sau đọc sách này, mới hiểu rõ được lai lịch của kỹ thuật in chữ rời.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TƯ MÃ QUANG VIẾT "THÔNG GIÁM"


Sau khi Vương An Thạch bị bãi chức tể tướng, Tống Thần Tông còn duy trì tân pháp thêm gần 10 năm nữa.

Năm 1085, Tống Thần Tông bị bệnh mất.

Thái tử Triệu Hủ mới lên 10 lên nối ngôi, đó là Tống Triết Tông.

Vì Triết Tông nhỏ tuổi nên tổ mẫu (bà) là Cao thái hậu lâm triều chấp chính.

Cao thái hậu vốn vẫn chống lại tân pháp, nên khi nắm quyền, bà liền triệu Tư Mã Quang là người xưa nay kịch liệt chống tân pháp về triều làm tể tướng.

Tư Mã Quang là đại thần có danh tiếng nhất thời đó.

Ông là người vùng Hạ huyện, Thiểm Châu (nay là huyện Hạ, Sơn Tây), nổi tiếng từ hồi còn nhỏ.

Năm lên 7, ông bắt đầu chuyên tâm đọc sách.

Bất kì là ngày hè nóng nực hay ngày đông giá rét, ông đều không lúc nào rời sách, có lúc quên cả anh uống.

Ông không những chăm đọc sách, mà còn rất linh lợi.

Một hôm, ông cùng các bạn nhỏ chơi đùa ngoài sân, trong sân có 1 vò lớn đựng nước, 1 chú bé trèo lên miệng vò, sơ ý ngã nhào vào trong vò.

Vò lớn nước sâu, chú bé đó bị chìm nghỉm.

Những đứa trẻ khác thấy vậy, đều sợ hãi kêu khóc, có đứa chạy đi kêu người lớn đến cứu.

Tư Mã Quang không hề hoảng hốt, chạy đi kiếm 1 hòn đá lớn, dùng hết sức đập mạnh vào thành vò.

Một tiếng "choang" lớn, vò bị vỡ, nước ào chảy ra và chú bé trong vò được cứu sống.

Sự việc ngẫu nhiên đó là cậu bé Tư Mã Quang trở nên nổi tiếng.

Ở Đông Kinh và Lạc Dương, người ta vẽ câu chuyện đó thành tranh, và lưu truyền rộng rãi.

Khi Tống Thần Tông tại vị, Tư Mã Quang làm hàn lâm học sĩ.

Ông vốn là bạn thân với Vương An Thạch.

Sau này, khi Vương An Thạch đề xướng cải cách, Tư Mã Quang giữ lập trường bảo thủ, 2 người bắt đầu xung đột ý kiến và không hợp tác với nhau nữa.

Khi Vương An Thạch làm tể tướng, biện pháp cải cách nào do ông đề ra cũng bị Tư Mã Quang phản đối.

Một lần, Tư Mã Quang đề nghị Tống Thần Tông phế bỏ luật thanh miêu.

Đồng thời, lấy tư cách bạn cũ, viết 1 bức thư trách Vương An Thạch đã xâm phạm quyền hạn của các quan chức khác, bới chuyện thị phi, vơ vét tiền của, không chịu nghe ý kiến của người khác.

Vương An Thạch viết thư trả lời phản bác từng điều trong bài ý kiến trách cứ của Tư Mã Quang.

Thư viết: "Tôi chịu mệnh lệnh của hoàng thượng để cải cách pháp chế, sao lại nói là xâm phạm quyền hạn của các quan chức khác; làm việc cho quốc gia sao có thể nói là bới chuyện thị phi; lo kiếm tiền cho dân, sao có thể nói là vơ vét tiền của; bác bỏ những luận điểm sai lầm, sao có thể nói là không nghe ý kiến người khác".

Nhận được thư trả lời, Tư Mã Quang tức uất người, nhưng thấy Vương An Thạch đang được hoàng đế nâng đỡ, không thể làm gì được.

Sau ông xin từ chức, rời kinh thành, đến ở Lạc Dương, không hỏi han gì đến chính sự, đóng cửa chuyên viết sách.

Vốn từ lâu, Tư Mã Quang đã rất quan tâm nghiên cứu lịch sử.

Ông cho rằng người cai trị đất nước nhất định phải thông hiểu lịch sử từ xưa tới nay để rút ra những bài học về hưng thịnh và suy vong.

Ông thấy rằng, từ Thượng Cổ đến thời Ngũ Đại có quá nhiều sử sách, 1 hoàng đế không thể có thời gian xem cho hết.

Vì vậy, từ lâu ông đã bắt tay vào việc viết 1 cuốn sử từ thời Chiến Quốc tới thời Ngũ Đại.

Khi Tống Anh Tông tại vị, ông đã dâng lên 1 phần bản thảo.

Tống Anh Tông thấy bộ sử đó có tác dụng tốt với củng cố nền thống trị của vương triều, hết sức tán thưởng, liền thành lập 1 tổ chức biên soạn do ông đứng đầu để hoàn thành bộ sử đó.

Khi Tống Thần Tông lên ngôi, Tư Mã Quang lại dâng lên Thần Tông 1 bộ phận đã biên soạn xong.

Tống Thần Tông tuy không tán thành chủ trương chính trị của ông, nhưng lại hết sức ủng hộ việc biên soạn bộ sử này.

Ông tập hợp hơn 2400 cuốn sách mà mình thu góp được từ thời trẻ, trao trả cho Tư Mã Quang làm tư liệu để hoàn thành bộ sách.

Tống Thần Tông còn tự mình đặt tên cho bộ sử này là "Tư trị thông giám" (xem xét suốt lịch sử để giúp cho việc trị nước).

Từ sau khi bãi quan trở về Lạc Dương, Tư Mã Quang chuyên tâm viết "Tư trị thông giám".

Trước sau bỏ ra 19 năm, ông mới hoàn thành.

Đây là bộ sử biên niên ghi chép sự việc từ thời Chiến Quốc (năm 403 TCN, khi nước Tấn chia 3) đến thời Ngũ Đại (959 CN), gồm 1362 năm.

Để viết bộ sử đồ sộ này, Tư Mã Quang và những người cộng sự đã thu nhập và chỉnh lý 1 khối lượng tư liệu to lớn, ngoài chính sử của các triều đại, còn tham khảo hơn 300 trước tác lịch sử khác.

Theo nói lại, bản thảo khi hoàn thành, chứa đầy 2 gian nhà.

Do tư liệu phong phú, chọn lựa thỏa đáng và khảo chứng nghiêm túc, lại có lời văn sinh đông, tinh tế nên "Tư trị thông giám" trở thành 1 trong những trước tác lịch sử có giá trị lớn nhất trong lịch sử sử học Trung Quốc.

Nó đã cung cấp tư liệu tương đối hoàn thiện cho việc nghiên cứu lịch sử của những nhà nghiên cứu đời sau.

Trong suốt 19 năm đằng đẵng, Tư Mã Quang dồn hết tinh lực cho bộ sách này.

Vì miệt mài làm việc suốt ngày tới đêm khuya liên tục trong 1 thời gian dài, nên khi hoàn thành "Tư trị thông giám", sức khỏe của ông bị suy kiệt, mắt mờ, răng rụng nhiều.

Ông được đánh giá là nhà sử học nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc (người Trung Quốc ghép ông sau Tư Mã Thiên, tác giả bộ Sử ký và gọi 2 ông là "lưỡng Tư Mã".

Suốt hơn 10 năm, Tư Mã Quang lánh ở Lạc Dương viết sách, nhưng vì trước đó ông đã là 1 nhân vật nổi tiếng trong phái phản đối tân chính, nên các quan chức thuộc phái bảo thủ vẫn rất mến mộ ông.

Tuy ông luôn nói là không quan tâm tới chính trị nữa, nhưng rất nhiều người vẫn coi ông như 1 "tể tướng" thực thụ.

Ngay cả đến người dân thường cũng biết Tư Mã tướng công hiện ở Lạc Dương.

Cao thái hậu lên chấp chính, lập tức triệu Tư Mã Quang về triều đình.

Tuy Tư Mã Quang đã già và nhiều bệnh tật, nhưng ông không hề thay đổi quan điểm chống lại tân pháp của Vương An Thạch.

Vừa nhận chức tể tướng, việc làm đầu tiên của ông là phế bỏ tân pháp.

Có người khuyên ngăn ông là Thần Tông vừa qua đời, mà bỏ ngay pháp lệnh do Thần Tông ban hành đi thì không nên.

Tư Mã Quang giận dữ bác lại: "Pháp lệnh của tiên hoàng đế, cái gì tốt thì không thể thay đổi, chứ còn những cái do Vương An Thạch bày ra đều gây hại cho dân.

Sao lại không được đổi?

Vả lại hiện nay, Cao thái hậu chấp chính, mà Cao thái hậu là mẫu thân của Thần Tông.

Là mẹ mà thay đổi chủ trương của con thì sao lại không được?".

Do giữ quan điểm như vậy, nên Tư Mã Quang bất chấp sự phản đôi của rất nhiều quan chức.

Vào năm 1086, ra lệnh xóa bỏ toàn bộ tân pháp do Vương An Thạch xây dựng nên.

Vương An Thạch được tin đó, hết sức uất hận, không lâu sau chết trong buồn bực.

Còn Tư Mã Quang do già yếu và bệnh tật, cũng chết vào tháng 9 năm đó.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TÔ ĐÔNG PHA CHƠI XÍCH BÍCH


Khi lên làm tể tướng, Tư Mã Quang gọi về triều đình tất cả các đại thần đã bị Tống Thần Tông biếm trích.

Trong số đó, có 2 nhà văn nổi tiếng thời Tống là 2 anh em Tô Thức, Tô Triệt.

Hai anh em Tô Thức là người vùng My Sơn thuộc My Châu (nay là My Sơn, Tứ Xuyên).

Khi mới ngoài 20 tuổi, 2 người được cha là Tô Tuân dẫn lên kinh thành thi tiến sĩ, quan chủ khảo là Âu Dương Tu, đang chú ý chọn lựa nhân tài trong số thí sinh.

Sau vòng thi đầu, ông đọc các quyển thi, thấy 1 bài văn đặc sắc, liền vỗ bàn khen hay.

Bài văn đã rọc phách, không biết được tên tác giả là ai.

Âu Dương Tu nghĩ viết được 1 bài văn như thế này, nhất định phải là 1 người cự phách trên văn đàn.

Âu Dương Tu nói chung biết được ở kinh thành những ai có chút tiếng tăm về căn chương.

Nhưng ông đoán mãi, không xác định được tác giả, chỉ căn cứ vào văn phong mà cho rằng có thể đó là bài của Tăng Củng, học trò ông.

Ông vốn định cho bài văn đó đỗ đầu nhưng lại sợ bị người khác nghĩ mình thiên vị học trò, nên xếp bài văn đó đỗ thứ 2.

Tới ngày ráp phách để treo bảng, Âu Dương Tu mới biết bài văn đặc sắc đó không phải là của Tăng Củng, mà là của Tô Thức, 1 thanh niên từ xa mới tới kinh thành.

Sau khi được lấy đỗ, theo lệ, Tô Thức vào bái kiến thầy chủ khảo Âu Dương Tu.

Sau khi đàm luận 1 hồi, Âu Dương Tu thấy Tô Thức có phong độ đàng hoàng, tài hoa xuất chúng, rất yêu mến.

Khi Tô Thức ra về, Âu Dương Tu nói với Mai Nghiêu Thần, 1 đồng sự già: "Một nhân tài xuất chúng như thế này thực là hiếm có.

Ta nên nhường đường cho người này.

Anh ta thật hơn mọi người một cái đầu!".

Câu nói trên của Âu Dương Tu truyền ra ngoài.

1 số văn nhân khác không chịu phục, cho rằng kinh thành nhiều nhân tài thế này, lẽ nào lại thua 1 thanh niên non nớt vừa bước vào đời.

Nhưng khi được đọc thơ văn đầy tài hoa và khí phách của ông, mọi người mới thấy lời đánh giá của Âu Dương Tu là đúng.

Tô Thức trở nên nổi tiếng, và người em của ông, chàng thanh niên Tô Triệt mới 19 tuổi cũng đỗ tiến sĩ trong năm đó.

Không cần phải nói cũng biết Tô Tuân, người cha của họ sung sướng đến ngần nào.

Nhưng Tô Tuân cũng mang nặng 1 nỗi niềm canh cánh.

Nguyên do là bản thân Tô Tuân vốn cũng là 1 người sở trường về tản văn.

Khi còn trẻ, ông không chăm lo học hành, tới năm 27 tuổi, thấy người khác thành đạt liền vùi đầu đọc sách.

Một năm sau, ông đi thi tiến sĩ, nhưng không trúng.

Trở về nhà, ông giận dữ, đem đốt bỏ hết văn chương mình đã viết ra và học lại từ đầu, quả nhiên tiến bộ rất nhanh.

Lần này, đưa 2 con lên kinh thành, thấy 2 con còn trẻ măng mà đã đỗ tiến sĩ, ông mừng cho con và cũng buồn cho mình.

Nghe nói Âu Dương Tu là người rất coi trọng văn tài, ông liền đem hơn 20 bài văn của mình viết trong mấy năm nay, nhờ người chuyển cho Âu Dương Tu, xin ông chỉ giáo.

Âu Dương Tu xem thấy văn chương của Tô Tuân, có phong cách già dặn, rất có cá tính, liền tiến cử với tể tướng Hàn Kỳ.

Hàn Kỳ cũng rất tán thưởng, liền đặc cách cử ông làm Hiệu thư lang trong Bí thư tỉnh mà không cần qua thi cử.

Như vậy, 3 cha con Tô Tuân đều nổi tiếng ở kinh thành.

Người ta gọi gộp cả 3 người là "Tam Tô".

Khi Vương An Thạch ban hành tân pháp, thì Tô Tuân đã chết.

Tô Triệt đã có thời gian làm việc dưới quyền Vương An Thạch, nhưng sau không hợp, bị giáng chức và bị điều khỏi kinh thành.

Tô Thức chủ động xin điều đi xa, lần lượt làm thứ sử Hàng Châu, Hồ Châu (nay là huyện Ngô Hưng, Triết Giang).

Đến nơi nào, ông cũng mở mang xây đắp công trình thủy lợi, giảm thuế má, khuyến khích sản xuất, làm những việc có ích cho đời sống nhân dân.

Sau đó, Tô Thức thấy quan lại và cường hào địa phương ở Hồ Châu hoành hành ngang ngược thì rất không hài lòng.

Ông làm thơ châm biếm những việc đó.

Không ngờ, những bài thơ ấy được truyền về kinh thành, bọn quan liêu thù ghét ông nhặt ra trong đó 1 số câu, lấy đó làm bằng chứng vu cáo Tô Thức phỉ báng triều đình, phạm tội đại nghịch vô đạo.

Chúng cách chức Tô Thức, bắt ông giải về Đông Kinh, giam vào nhà ngục, toan xử tội chết.

Tô Thức bị giam vừa đúng 100 ngày chịu mọi nỗi khổ cực.

Sau đó, vì xét thấy thực ra không có tội gì lớn, Tống Thần Tông liền hạ lệnh tha ông ra và biếm trích tới Hoàng Châu (nay là Hoàng Cương, Hò Bắc).

Tô Thức đến Hoàng Châu, với 1 chức quan nhỏ không có thực quyền, trên thực tế là sống cuộc sống lưu đày.

Ông nghèo tới mức không đủ sống.

Sau nhờ bạn bè giúp đỡ, kiếm được 1 mảnh đất, tự mình cày cuốc.

Ông còn tự san đất, dựng 1 căn nhà nhỏ trên sườn dốc phía đông, liền tự đặt cho mình 1 biệt hiệu, là "Đông Pha cư sĩ" (cư sĩ ở sườn dốc phía đông).

Do đó, về sau, người ta thường gọi ông là Tô Đông Pha.

Trong những năm tháng thất ý về chính trị, Tô Thức thường du ngoạn khắp núi sông, viết thơ ca để thổ lộ tâm tình.

Một lần, ông nghe nói bên Trường Giang có 1 nơi danh thắng có tên là Xích Bích, liền hẹn với mấy người bạn, thuê 1 con thuyền nhỏ cùng đi chơi trong 1 đêm trăng sáng, trời trong.

Tại đây, ông nhớ lại trận đánh lớn giữa Tào Tháo và Chu Du thời Tam Quốc, trong lòng xúc động, trào dâng tình cảm.

Khi trở về, ông viết nên bài "Xích Bích phú" nổi tiếng.

Tô Thức không chỉ sở trường về thơ và tản văn, mà còn đạt được nhiều thành tựu về sáng tác từ.

Những bài từ của ông có phong cách hào phóng khác hẳn mọi người.

Sau chuyến đi chơi Xích Bích, ông còn viết 1 bài từ theo điệu "Niêm nộ kiều", có những câu như sau:

"Sông lớn chảy về đông, sóng vùi dập

bao nhân vật phong lưu thiên cổ

Phía tây thành lũy cổ, dân nói rằng

đó là Xích Bích của Chu Lang

Đá loạn chọc mây, sóng dữ vỗ bờ,

cuộn lên ngàn đống tuyết.

Núi sông như họa,

Từng chứng kiến biết bao hào kiệt".

Tô Thức là người học rộng đa tài, nhưng ông đã phạm 1 sai lầm không nhỏ về địa lý.

Vì Xích Bích ở Hoàng Châu không phải là nơi Chu Du hỏa thiêu quân Tào.

Xích Bích thời Tam Quốc nằm ở thượng du thành phố Vũ Hán ngày nay, còn Xích Bích thuộc Hoàng Châu lại nằm ở hạ du của Vũ Hán.

Nhưng, do sự nhầm lẫn này của Tô Thức nên Xích Bích ở Hoàng Châu cũng trở nên nổi tiếng.

Để kỉ niệm nhà văn lớn này, người ta gọi Xích Bích ở Hoàng Châu là "Đông Pha Xích Bích" (Xích Bích của Tô Đông Pha).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
MẠNG LƯỚI VẬN CHUYỂN ĐÁ, HOA


Cao thái hậu chết sau 8 năm cầm quyền, từ đó Tống Triết Tông thân nắm triều chính.

Đối với việc tổ mẫu trọng dụng phái bảo thủ, vị hoàng đế trẻ tuổi vốn không ưng ý.

Khi tự mình chấp chính, Tống Triết Tông liền trọng dụng lại phái cải cách.

Nhưng, cái gọi là "phái cải cách" bây giờ không còn muốn thực lòng cải cách triều chính như Vương An Thạch và các đồng sự của ông trước kia nữa.

Nội bộ phái này chia xẻ 7, tranh quyền đoạt vị liên miên.

Một số phần tử cơ hội giương chiêu bài cải cách để mưu cầu lợi ích riêng tư.

Tới khi Tống Triết Tông chết, con là Triệu Cát lên nối ngôi, tức là Tống Huy Tông, thì triều chính càng hỗn loạn.

Tống Huy Tông là kẻ chơi bời buông thả nổi tiếng, chỉ mải tìm thú vui chơi, không biết gì đến việc quốc gia.

Ông có 1 viên quan tâm phúc là Đồng Quán, khéo đoán ý hoàng đế, chuyên sưu tập các bức thư họa quí về cho hoàng đế thưởng ngoạn.

Một hôm, Đồng Quán đến Tô Châu để săn tìm họa phẩm, thì gặp Thái Kinh, là 1 viên quan bất đắc chí.

Thái Kinh muốn dựa vào Đồng Quán để tiến thân, liền dẫn Đồng Quán đi săn tìm các bức thư họa quí, đồng thời tặng Đồng Quán mấy bức bình phong và họa phẩm do chính mình sáng tác.

Đồng Quán được Thái Kinh giúp đỡ, đem những thứ đó về Đông Kinh, dâng lên Tống Huy Tông và khoe là đã tìm được cho hoàng thượng 1 nhân tài hiếm có.

Thái Kinh tới Đông Kinh, đem theo 1 số tay chân giúp hắn hoạt động.

1 viên quan cùng phe cánh tâu với Huy Tông: "Thực hiện tâm pháp là việc lớn, trong các triều thần không có ai làm nổi việc đó.

Nếu bệ hạ muốn kế thừa di chí của Thần Tông, thì không thể không sử dụng Thái Kinh".

Viên quan đó còn dâng lên Huy Tông 1 bản danh sách, trong đó viết tên những người thuộc phái bảo thủ ở cột bên phải, những người thuộc phái cải cách ở cột bên trái.

Những người được ghi ở cột bên phải đều là các đại thần đương triều, còn ở cột bên trái chỉ có 2 người, trong đó có Thái Kinh.

Tống Huy Tông xem, rất ưng ý, lập tức phong Thái Kinh làm tể tướng.

Thái Kinh lên cầm quyền, liền giương chiêu bài cải cách, ghép 1 loạt các quan chức chính trực, bất kì là bảo thủ hoặc tán thành cải cách vào 1 tội danh chung, là "gian đảng".

Hắn còn xin Tống Huy Tông dựng 1 tấm bia bên ngoài Đoan Lễ Môn ghi tên các thành viên, "gian đảng" gồm 120 người, trong đó có Tư Mã Quang, Văn Ngạn Bắc, Tô Thức, Tô Triệt, gọi chung là "Nguyên Hựu gian đảng" (Nguyên Hựu là niên hiệu thời đầu 1086-1094 của Tống Triết Tông).

Những ai đã chết, đều bị xóa quan chức; những ai còn sống, đều nhất loạt bị cách chức, lưu đày.

Như vậy, các quan chức chính trực đều bị gạt khỏi triều đình, còn đồng bọn của Thái Kinh cứ dần leo lên các chức vụ cao nhất.

Tân pháp của Vương An Thạch, đến tay Thái Kinh thì hoàn toàn biến dạng.

Như luật miễn dịch, vốn là làm giảm sự đóng góp lao dịch cho nhân dân.

Nhưng bọn Thái Kinh lại không ngừng tăng tiền đóng góp, biến luật này thành biện pháp bóp nặn nhân dân.

Tống Huy Tông và Thái Kinh còn rất mê tín đạo sĩ, ra sức xây dựng Đạo quán.

Có 1 đạo sĩ tên là Lâm Linh Tố, nói càn với Tống Huy Tông rằng: trên trời có 9 tầng, tầng cao nhất gọi là thần tiêu, trong cung thần tiêu có Ngọc Thanh Vương, là con cả của Thượng Đế.

Tống Huy Tông là con cả Thượng đế giáng trần.

Trong cung thần tiêu có 800 tiên quan, Thái Kinh, Đồng Quán đều là các tiên quan tái thế.

Những lời lẽ lăng nhăng đó lại làm cho Huy Tông vui mừng.

Bọn này dâng Huy Tông 1 tôn hiệu, là Giáo chủ đạo quân hoàng đế.

Thế là Huy Tông liền trở thành thủ lĩnh của các đạo sĩ.

Tống Huy Tông mê mải theo đuổi cuộc sống hưởng lạc, thối nát.

Đồng Quán liền tìm mấy ngàn thợ khéo vùng Tô Châu, Hàng Châu, hàng ngày chế tác mọi đồ điêu khắc từ ngà voi, sừng trâu, vàng bạc, rễ cây và các loại hàng dệt, dâng lên để hoàng đế thưởng ngoạn.

Mọi vật liệu dùng để chế tác, đều bắt nhân dân phải nộp.

Qua 1 thời gian, Tống Huy Tông thấy chán các thứ đó, muốn tìm kiếm 1 số kì hoa dị thảo để đổi khẩu vị.

Để bợ đỡ Tống Huy Tông, Thái Kinh, Đồng Quán liền phái 1 tên lưu manh tên là Chu Miễn đứng ra thành lập 1 tổ chức gọi là "ứng phụng cục" (cơ quan cung ứng để phục vụ hoàng đế) ở Tô Châu, chuyên đi thu thập hoa quí, đá lạ.

Dưới quyền Chu Miễn có 1 lũ tay sai thực hiện công việc này.

Hễ nghe nói nhà dân nào có loại hoa, cây cảnh quí hoặc thứ đá lạ có hình thù độc đáo, là bọn này dẫn lính tới niêm phong bằng giấy vàng, liệt vào loại phải tiến cống hoàng đế, yêu cầu chủ nhà bảo quản kỹ lưỡng.

Nếu để xảy ra hư hỏng, liền bị liệt vào tội "đại bất kính", nhẹ thì phạt tiền, nặng thì bị tù tội.

Có những gia đình có cây và đã quá lớn, mang ra không lọt cửa, bọn lính lập tức dỡ nhà, phá tường để đem ra.

Bọn quan chức và lính tráng làm công việc này thừa cơ hạch sách nhân dân, đòi cung phụng, đút lót.

Những gia đình chẳng may có cây quý, đá lạ thường bị quấy nhiễu đến khuynh gia bại sản, có người phải bán vợ đợ con, lưu lạc khắp nơi.

Chu Miễn tập trung mọi thứ hoa, đá, trưng tập từng đoàn thuyền lớn chở về Đông Kinh.

Thuyền bè không đi, chúng huy động cả thuyền chở lương của triều đình và thuyền buôn tư nhân, đổ hết lương thực và hàng hóa trên thuyền đi, xếp hoa, đá vào.

Số thuyền lớn như vậy tất nhiên cần đến nhiều phu chèo thuyền và kéo thuyền.

Thế là trên các dòng sông, thuyền đi lại như mắc cửi, dân phu ngày đêm vất vả phục vụ công việc chuyên chở.

Đội ngũ vận chuyển đó được gọi là "hoa thạch võng" (mạng lưới vận chuyển hoa, đá).

Thuyền tới Đông Kinh, Tống Huy Tông thấy các kì hoa dị thạch, vô cùng phấn khởi, liền gia phong quan tước cho Chu Miễn.

Càng kiếm được nhiều, quan tước của Chu Miễn càng cao.

Số quan liêu quyền quý do đó đều tranh nhau kết thân với Chu Miễn.

Mọi người gọi "ứng phụng cục" do Chu Miễn đứng đầu ở Tô Châu, Hàng Châu là "triều đình nhỏ ở đông nam", đủ biết quyền lực của Chu Miễn lớn tới chừng nào.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
PHƯƠNG LẠP KHỞI NGHĨA


Mạng lưới vận chuyển hoa, đá làm cho cả vùng đông nam điêu linh, khốn khổ.

Những địa phương sản xuất cây cảnh, hoa và khai thác đá chịu tai họa nghiêm trọng nhất.

Vùng Thanh Khê thuộc Mục Châu (nay là huyện Thuần, Triết Giang) là nơi sản xuất các loại kì hoa dị thạch thường bị ứng phụng cục của Chu Miễn cử người đến vơ vét.

Phương Lạp là 1 người địa phương, nhà có 1 vườn cây sơn, thường lấy nhựa sơn đem bán làm nguồn nuôi sống gia đình.

Từ ngày có bọn Chu Miễn, gia đình Phương Lạp bị chúng hạch sách rất nhiều.

Phương Lạp thấy hoàn cảnh của mình cũng giống như các cư dân trong vùng, liền quyết tâm tổ chức họ lại để chống lại quan triều đình.

Năm 1120, mấy trăm nông dân khổ cực và thâm thù quan lại tụ tập trong vườn sơn nhà Phương Lạp.

Phương Lạp xúc động nói với họ: "Nhà nước giống như một gia đình.

Nếu trong một gia đình, người dưới làm làm lụng quanh năm, chịu cực chịu khổ để có được miếng cơm manh áo, mà cha anh lại tiêu phí bừa bãi.

Người dưới hơi có gì làm họ không ưng ý là họ chửi bới đánh đập.

Các ngươi xem như thế có được không?".

Mọi người đồng thanh đáp: "Không được!".

Phương Lạp lại nói: "Chưa nói tới việc những người cha anh đó chi tiêu hoang phí, họ còn đem của cải trong nhà để biếu xén, cầu thân với kẻ khác, như thế có được không?".

Mọi người lại phẫn nộ trả lời: "Sao có thể như thế được!".

Phương Lạp rưng rưng nước nắt nói: "Hiện nay quan lại thu thuế và bắt lao dịch nặng nề như thế, mà bọn chúng còn hạch sách đòi đút lót nữa.

Dân chúng ta sản xuất được bao nhiêu sơn, giấy cũng bị chúng vơ vét sạch sanh.

Chúng ta lao động cực nhọc suốt năm mà kết cục cả nhà từ già đến trẻ đều chịu đói rét, ngay đến cơm cũng không được bữa nào no, các ngươi thấy như thế nào?".

Nghe đến đó, mọi người đều gầm lên: "Xin ngài hạ lệnh!

Chúng tôi xin làm theo lệnh của ngài!".

Được nông dân ủng hộ, Phương Lạp liền lấy danh nghĩa diệt Chu Miễn, phát động cuộc khởi nghĩa.

Phương Lạp đảm nhiệm chức thống soái, tự xưng là "Thánh Công".

Các tướng sĩ quấn các loại khăn khác nhau để làm dấu hiệu phân biệt.

Đội ngũ nghĩa quân đầy phẫn nộ, lùng giết quan lại địa phương, đốt dinh thự.Khắp vùng phụ cận Thanh Khê, dân chúng đã khổ nhiều vì quan lại, nên đều rầm rộ hưởng ứng Phương Lạp.

Chưa tới 10 ngày, quân khởi nghĩa đã tụ tập được mấy vạn người ngựa.

Quan quân địa phương tới trấn áp, bị nghĩa quân đánh cho tan tác, 2 tướng Tống bị giết chết.

Nghĩa quân thừa thắng tiến đánh huyện Thanh Khê, đuổi quan huyện đi.

Sau đó, lại liên tục đánh hạ mấy chục huyện thành và nhanh chóng đánh tới Hàng Châu.

Tin cấp báo về tới Đông Kinh, Tống Huy Tông sợ cuống cuồng, vội phái Đồng Quán dẫn 15 vạn quân xuống miền đông nam dẹp nghĩa quân.

Đồng Quán đến Tô Châu, biết rõ việc chuyên chở hoa quí đá lạ dẫn tới sự phẫn nộ cao độ của nhân dân,liền lập tức lấy danh nghĩa Tồng Huy Tông, hạ 1 chiếu thư, thừa nhận sai lầm và ra lệnh hủy bỏ "ứng phụng cục", cách chức Chu Miễn.

Dân chúng miền đông nam thấy triều đình làm như vậy thì tiêu tan cơn giận dữ, đâu có ngờ rằng chính lúc đó, Đồng Quán đang gấp rút dàn quân để trấn áp nghĩa quân.

Các cánh quân do Đồng Quán chỉ huy ào ạt tiến công, khiến Phương Lạp bất đắc dĩ phải lùi về Thanh Khê, giữ Bang Nguyên Động trong vùng khe núi sâu, tiếp tục chiến đấu.

Quân triều đình không thuộc đường núi, đang gặp khó khăn, thì trong hàng ngũ nghĩa quân có kẻ phản bội, đứng ra dẫn đường cho quân triều đình.

Cuối cùng, quân triều đình tiến tới Bang Nguyên Động, Phương Lạp bị bất ngờ nên bị bắt giải về Đông Kinh và bị giết hại.

Khởi nghĩa Phương Lạp tuy thất bại, nhưng đã giáng 1 đòn nặng vào sự thống trị của triều Tống.

Trong lúc đó, ở miền bắc cũng nổ ra cuộc khởi nghĩa qui mô lớn.

Tống Giang cùng 36 tráng sĩ khởi binh ở Hà Bắc, rồi lưu động tác chiến ở Thanh Châu, Tề Châu, Bộc Châu (nay đều tại tỉnh Sơn Đông) đánh cho quân triều đình kinh hồn bạt vía, hễ nghe thấy nghĩa quân tới là tan chạy.

Tại Lương Sơn Bạc, thuộc Sơn Đông cũng nổ ra cuộc khởi nghĩa của ngư dân.

Theo truyền thuyết, quân khởi nghĩa của Tống Giang cũng tới Lương Sơn Bạc.

Sau này, trong dân gian lưu truyền câu chuyện về "108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc", chính là dựa trên sự kiện trên mà phát triển ra.

Vào cuối thời Nguyên, đầu Minh, nhà văn Thi Nại Am dựa vào truyền thuyết khởi nghĩa Lương Sơn Bạc, gia công và hư cấu thêm để viết nên bộ tiểu thuyết "Thủy Hử", đã khắc họa thành công hình tượng nghệ thuật về rất nhiều anh hùng hảo hán Lương Sơn Bạc như Lâm Xung, Lỗ Trí Thâm, Võ Tòng...Bộ tiểu thuyết này đã trở thành 1 trong những tiểu thuyết trường thiên ưu tú trong lịch sử văn học Trung Quốc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
A CỐT ĐẢ TRONG BỮA TIỆC CÁ ĐẦU NĂM


Sau khi Đống Quán trấn áp cuộc khởi nghĩa của Phương Lạp không lâu, triều Kim ở đông bắc phái sứ giả đến Đông Kinh, thúc giục Bắc Tống đánh Yên Kinh, phối hợp với Kim cùng đánh Liêu.

Nguyên do là triều Liêu qua mấy lần nội loạn và bị lực lượng khởi nghĩa của các dân tộc liên tục nổi dậy, đã trở nên thối nát và suy yếu.

Trong thời kì đó, tộc Nữ Chân ở đông bắc Trung Quốc dần dần lớn mạnh lên.

Nhân dân Nữ Chân bị quí tộc Liêu thống trị và áp bức từ lâu, sớm nảy nở tinh thần phản đối mãnh liệt.

Mùa xuân năm 1112, Thiên Tộ Đế của triều Liêu là Da Luật Diên Hỉ tuần du tới Xuân Châu (nay thuộc tỉnh Cát Lâm) hào hứng tổ chức 1 cuộc đánh cá ở Hỗn Đồng Giang (nay là Tùng Hoa Giang), và hạ lệnh cho các tù trưởng thuộc bộ tộc Nữ Chân đến triều kiến.

Theo phong tục địa phương, những con cá bắt được đầu tiên trong vụ đánh cá xuân, sẽ dành để cúng tổ tiên và mở tiệc ăn mừng.

Năm đó, Liêu Thiên Tộ Đế mở tiệc cá đầu năm ở Xuân Châu, mời các tù trưởng uống rượu.

Qua mấy tuần rượu, Thiên Tộ Đế có phần say, hạ lệnh cho các tù trưởng uống rượu, lần lượt ra biểu diễn các điệu múa của bộ lạc mình.

Các tù trưởng dù không muốn, nhưng đều không dám chống lệnh, phải miễn cưỡng ra múa.

Đến lượt 1 thanh niên, anh ta vẫn lặng lẽ, giương mắt nhìn Thiên Tộ Đế, không động đậy gì.

Người thanh niên đó là con của tù trưởng bộ lạc Hoàn Nhan là Ô Nhã Thúc tên là A Cốt Đả.

Liêu Thiên Tộ Đế thấy A Cốt Đả dám ngang nhiên không tuân lệnh của mình trước mọi người thì bực tức, giục anh ta ra múa.

Các tù trưởng khác sợ đắc tội với Thiên Tộ Đế, cũng khuyên A Cốt Đả ra múa.

Nhưng, dù ai thúc, A Cốt Đả cũng không chịu, khiến Thiên Tộ Đế rất lúng túng.

Bữa tiệc cá đầu năm vì vậy mà phải giải tán trong không khí kém vui.

Liêu Thiên Tộ Đế không nổi nóng tại chỗ, nhưng sau khi tan tiệc, liền nói với đại thần là Tiêu Phụng Tiên: "Tên nhãi con A Cốt Đả ngạo nghễ như thế, thật không thể tha thứ được.

Chi bằng sớm giết hắn đi, để tránh phát sinh hậu hoạn".

Tiêu Phụng Tiên cho rằng A Cốt Đả không có lỗi gì lớn, nếu giết đi sẽ gây nên sự bất mãn của các tù trưởng, liền nói: "Hắn là một kẻ lỗ mãng không hiểu lễ tiết, không đáng chấp.

Ngay dù hắn có dã tâm, thì một bộ lạc con con cũng không làm được chuyện gì!".

Liêu Thiên Tộ Đế thấy Tiêu Phụng Tiên nói có lý, liền bỏ qua chuyện đó.

A Cốt Đả đương nhiên không phải là không biết múa, nhưng vốn là người có tính cách cứng rắn, đã bất mãn từ lâu với chính sách áp bức của quí tộc Liêu đối với nhân dân Nữ Chân.

Nay, thấy triều Liêu ngày càng thối nát, liền quyết tâm tách khỏi Liêu.

Không lâu sau, cha của A Cốt Đả là Ô Nhã Thúc chết.

A Cốt Đả chuẩn bị kế vị làm tù trưởng bộ lạc Hoàn Nhan.

Ông cho xây dựng thành lũy, chuẩn bị vũ khí, huấn luyện người ngựa, từng bước thống nhất các bộ lạc thuộc tộc Nữ Chân, chuẩn bị chống lại Liêu.

Liêu Thiên Tộ Đế được tin A Cốt Đả chuẩn bị chiến tranh, liền phái người đến quở trách, đồng thời điều động người ngựa thuộc mấy bộ lạc Hà Bắc tiến về đông bắc để uy hiếp.

A Cốt Đả nói với bộ hạ: "Nay người Liêu sắp ra tay, chúng ta cần ra tay trước để tránh bị động".

Ông cho tập trung 2500 kỵ binh của các bộ lạc Nữ Chân, tự mình dẫn đầu, tập kích vào quân Liêu.

Quân Liêu bị bất ngờ, hoảng hốt tan chạy.

Liêu Thiên Tộ Đế được tin, lập tức phái đại quân đến trấn áp, bị quân A Cốt Đả đánh thua 1 trận lớn bên sông Hỗn Đồng.

Quân Nữ Chân thừa thắng truy kích, binh lực phát triển tới 1 vạn người.

Năm 1115, A Cốt Đả chính thức lên ngôi hoàng đế ở Hội Ninh (nay ở phía nam A Thành, Hắc Long Giang), lấy quốc hiệu là Đại Kim.

Đó là Kim Thái Tổ.

Sau khi lên ngôi, Kim Thái Tổ đem quân tiến đánh thị trấn quan trọng của triều Liêu ở đông bắc là Hoàng Long Phủ (nay là huyện Nông An, Cát Lâm), Liêu Thiên Tộ Đế phái hơn 2 vạn kỵ binh và bộ binh đến phòng thủ đông bắc, bị quân Kim đánh cho đại bại, mất sạch vũ khí và đồ quân dụng.

Liêu Thiên Tộ Đế muốn giảng hòa, nhưng Kim Thái Tổ không thuận, mà chỉ đích danh, yêu cầu Thiên Tộ Đế đầu hàng.

Thẹn quá hóa giận, Liêu Thiên Tộ Đế tổ chức 1 đội quân gồm 70 vạn người, thân dẫn đầu tiến lên Hoàng Long Phủ.

Kim Thái Tổ hạ lệnh cho tướng sĩ củng cố thành lũy, đào sâu hào thành, chuẩn bị chống lại.

Chính vào lúc đó, triều Liêu xảy ra nội loạn, Liêu Thiên Tộ Đế vội hạ lệnh rút quân.

Kim Thái Tổ thừa cơ truy kích, mấy chục vạn quân Liêu nhanh chóng tan vỡ.

Liêu Thiên Tộ Đế cắm đầu chạy, suốt ngày đêm vượt mấy trăm dặm mới bảo toàn được tính mạng.

Vì đại bộ phận binh lực của triều Liêu đã mất, các dân tộc ở miền bắc từ lâu đã căm hận sự thống trị của quí tộc Liêu, rầm rộ vùng lên khởi nghĩa.

Có người đề nghị với Tống Huy Tông: nhân lúc triều Liêu sắp diệt vong, nên cử binh thu phục lại vùng đất Yên Vân.

Tống Huy Tông liền cử sứ giả từ Sơn Đông đi đường biển lên đông bắc, hội kiến với Kim Thái Tổ, thương lượng cùng đánh quân Liêu.

Hai bên thỏa thuận, là sau khi diệt Liêu, Bắc Tống sẽ thu hồi lại 16 châu Yên Vân mà đời Hậu Tấn đã cắt nhượng cho Liêu, đồng thời chuyển số tiền bạc, vải lụa hàng năm cống nạp cho Liêu sang cống nạp cho Kim.

Lịch sử gọi thỏa thuận đó là "Hải Thượng chi minh" (minh ước trên biển).

Quân Kim đánh xuống phía nam, liên tục tấn công 4 kinh thành của Liêu, còn để lại Yên Kinh sẽ do Tống tiến đánh theo thỏa thuận trong minh ước.

Đồng Quán vừa trấn áp xong cuộc khởi nghĩa Phương Lạp, liền dẫn 15 vạn quân lên phía bắc.

Ông chủ quan cho rằng, chủ lực quân Liêu đã bị quân Kim tiêu diệt thì việc chiếm Yên Kinh sẽ không khó khăn gì.

Ngờ đâu quân Liêu tuy suy yếu, những còn mạnh hơn quân Tống rất nhiều.

Đồng Quán bị thua liền 2 trận, không những không chiếm được Yên Kinh, mà còn hao binh tổn tướng, mất hết số vũ khí thương thảo tích lũy được trong nhiều năm.

Để trốn tránh trách nhiệm thua trận, Đồng Quán cử người ngầm đề nghị Kim đánh Yên Kinh.

Quân Kim liền chiếm Yên Kinh, nhưng không giao lại cho Bắc Tống.

Đồng Quán đnàh thương lượng, giao toàn bộ số tô thuế hàng năm ở Yên Kinh là 1 vạn quan tiền cho triều Kim để chuộc lại Yên Kinh.

Qua đó, triều Kim thấy rõ được sự suy yếu và thối nát của Bắc Tống.

Năm 1125, em Kim Thái Tổ là Kim Thái Tông Hoàn Nhan Thạnh cử tướng truy kích Liêu Thiên Tộ Đế, tiêu diệt triều Liêu.

Sau đó, quân Kim tiến xuống phía nam, tiến công vương triều Bắc Tống.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ CƯƠNG GIỮ ĐÔNG KINH


Sau khi diệt triều Liêu, Kim Thái Tông lấy cớ triều Tống thu nhận 1 hàng tướng của Liêu, liền chia quân làm 2 đường, tiến đánh Bắc Tống.

Cánh quân phía tây do Tông Hàn (còn có tên Chiêm Hãn) dẫn đầu tiến đánh Thái Nguyên, cánh quân phía đông do Tông Vọng (còn có tên Oát Ly Bất) dẫn đầu đánh Yên Kinh, rồi cùng tiến đánh Đông Kinh.

Tin cáo cấp bay tới tấp về triều đình ở Đông Kinh.

Kim Thái Tông còn cử sứ giả tới, buộc triều Tống phải dâng đất và xưng thần.

Khắp mặt văn võ trong triều sợ hãi không biết làm thế nào, chỉ có Thái thường thiếu khanh (chức quan lo việc lễ nhạc và tế tự) là Lý Cương kiên quyết chủ trương chống lại quân Kim.

Cánh quân phía đông của Kim hạ xong Yên Kinh, buộc hàng tướng Tống là Quách Dược Sư dẫn đường, đến thẳng Đông Kinh.

Tống Huy Tông thấy tình hình nguy hiểm vừa sợ vừa uất, kéo tay một đại thần nói: "Ôi!

Thật không ngờ người Kim lại đối đãi với ta như thế".

Chưa nói xong đã nghẹn cổ, ngất lịm đi.

Các đại thần cuống cuồng vực dậy, gọi quan thái y đến cứu.

Khi tỉnh lại, Huy Tông bảo đại thần mang giấy bút tới, viết 1 câu "truyền ngôi cho Đông cung", rồi tuyên bố thoái vị.

Không lâu sau, ông mang theo 2 vạn thân binh, chạy đi Hào Châu (nay là huyện Hào, An Huy) lãnh nạn.Thái tử Triệu Hoàn lên ngôi, tức là Tống Khâm Tông thăng Lý Cương làm binh bộ thị lang và hạ chiếu sẽ thân chinh đánh Kim.

Kỳ thực, Tống Khâm Tông cũng chẳng hơn cha là bao.

Sau khi làm bộ hăng hái như thế, ông ta vẫn thấp thỏm, không nêu ra được chủ kiến gì.

Quân Tống liên tiếp thua trận, tình hình Đông Kinh trở nên căng thẳng.

Hai tể tướng Bạch Thời Trung và Lý Bang Ngạn khuyên Tống Khâm Tông chạy khỏi kinh thành.

Bản thân Tống Khâm Tông cũng rất dao động, không biết xử sự ra sao.

Lý Cương nghe biết việc đó, lập tức xin triều kiến Tống Khâm Tông, nói: "Thái thượng hoàng (chỉ Tống Huy Tông) truyền ngôi cho hoàng thượng, chính là mong bệ hạ giữ vững được kinh thành, Bệ hạ sao có thể bỏ đây mà đi được?".

Tống Khâm Tông chưa kịp trả lời, tể tướng Bạch Thời Trung đã cướp lời: "Quân địch lớn như thế, sao có thể giữ được?".

Lý Cương bác lại: "Thành trì khắp trong nước, không đâu kiên cố bằng kinh thành.

Vả lại, kinh thành là trung tâm của cả nước, văn võ bá quan đều tập trung ở đây.

Chỉ cần hoàng thượng đôn đốc việc kháng chiến, thì sao lại không giữ được?".

Một hoạn quan đứng ở bên cũng lảm nhảm rằng thành trì của Đông Kinh không vững chắc, không thể chống nổi cuộc tiến công của quân Kim, Tống Khâm Tông liền sai Lý Cương đi thị sát.

Lý Cương đi 1 lát, trở lại nói: "Hạ thần đã xem xét, lầu thành vừa cao vừa chắc, hào quanh thành tuy có cạn và hẹp, nhưng nếu ta bố trí tinh binh có cung nỏ mạnh, thì không lo gì không giữ được!".

Sau đó, ông còn đề xuất nhiều biện pháp phòng thủ, xin Tống Khâm Tông duy trì đoàn kết quân dân chung sức giữ thành, đợi viên quân các nơi đến, sẽ tổ chức phản công.

Tống Khâm Tông còn hơi do dự, nói: "Vậy thì, ai có thể đảm đương trọng trách giữ thành?".

Lý Cương nhìn lướt các đại thần, rồi nói: "Thời bình, nhà nước dùng chức cao bổng hậu để đãi ngộ các quan, chính là để mọi người ra sức vào lúc nguy cấp này.

Các vị tể tướng Bạch Thời Trung, Lý Bang Ngạn nên đứng ra đảm đương trách nhiệm giữ thành".

Bạch Thời Trung, Lý Bang Ngạn đứng bên, nghe nói thế thì hoảng sợ, trắng bệch cả mặt.

Bạch Thời Trung giận dữ vặc lại: "Lý Cương!

Sao ông lạ thế?

Bản thân ông có biết giữ thành không?".

Lý Cương ung dung nói: "Nếu bệ hạ không cho là thần thiếu năng lực, trao cho thần nhiệm vụ chỉ huy quân đội giữ thành, thì thần xin tình nguyện đem tính mạng ra báo đáp quốc gia!".

Tống Khâm Tông thấy thái độ Lý Cương kiên quyết như vậy, liền trao cho ông phụ trách toàn bộ công việc phòng thủ.

Bọn Bạch Thời Trung và 1 số hoạn quan vẫn chưa từ bỏ ý định khuyên Khâm Tông rút chạy, nên khi Lý Cương vắng mặt, chúng lại xúm vào khuyên khiến Khâm Tông dao động, xiêu lòng.

Sáng hôm sau, khi Lý Cương vào triều, đã thấy cấm quân xếp hàng 2 bên đường, ngựa xe, nghi trượng đã chuẩn bị xong xuôi, chỉ đợi Khâm Tông lên xe là xuất phát.

Lý Cương đùng đùng nổi giận lớn tiếng hỏi các tướng sĩ cầm quân: "Rút cuộc lại, các ngươi muốn bảo vệ kinh thành muốn bỏ chạy?".

Các tướng sĩ đồng thanh đáp: "Xin tình nguyện bảo vệ kinh thành!".

Lý Cương và các tướng lĩnh cấm quân cùng nhau vào cung, tâu với Tống Khâm Tông: "Gia đình của các tướng sĩ cấm quân đều ở kinh thành.

Họ không muốn bỏ đây mà đi.

Nếu buộc họ đi, vạn nhất trên đường họ trốn trở lại, kẻ địch đuổi tới, thì ai sẽ bảo vệ hoàng thượng?".

Tống Khâm Tông thấy bỏ chạy cũng nguy hiểm, mới bất dĩ phải ở lại.

Lý Cương lập tức trở ra, tuyên bố với mọi người: "Hoàng thượng đã quyết định ở lại giữ kinh thành.

Từ nay ai còn dám đề xuất việc bỏ chạy, sẽ nhất luật xử trảm!".

Binh lính nghe nói thế, đều cảm động hoan hô vang dậy.

Sau khi giữ được Khâm Tông ở lại, Lý Cương liền tích cực phòng thủ, bố trí binh lực mạnh xung quanh thành, có các loại vũ khí phòng thủ, đồng thời phái tinh binh ra giữ kho lương thực ngoài thành, đề phòng địch đánh lén.

Ba ngày sau, Tông Vọng đã dẫn quân Kim đến chân thành.

Họ dùng mấy thuyền chở chất cháy, đi từ thượng lưu xuống, chuẩn bị hảo công vào Tuyên Trạch Môn.

Lý Cương chiêu mộ 2000 quân cảm tử, dàn ra dưới thành chống lại.

Thuyền quân Kim vừa tới, binh sĩ dùng câu liêm giữ chặt, không cho tiếp cận chân thành.

Lý Cương còn sai binh sĩ ném đá lớn xuống hỏa thuyền, khiến nhiều thuyền bị chìm, rất nhiều quân Kim rớt xuống nước.

Tông Vọng thấy Đông Kinh phòng thủ kiên cố, không dễ gì hạ được ngay, liền thông tri cho Bắc Tống, đồng ý nghị hòa.

Tống Khâm Tông và bọn Lý Bang Ngạn đã muốn hòa từ lâu, lập tức phái sứ giả sang trại Kim thảo luận về điều kiện giảng hòa.

Tông Vọng đưa ra nhiều điều kiện khắt khe, đồng thời tiếp tục đánh thành.

Lý Cương trèo lên lầu thành, thân chỉ huy việc chống trả.

Quân Kim dùng vân thê (1 loại thang dài) toan xông lên mặt thành.

Lý Cương hạ lệnh cho cung nỏ bắn mạnh, quân Kim rụng xuống chồng chất dưới chân thành.

Lý Cương liền ra lệnh cho mấy trăm dũng sĩ dùng dây leo xuống chân thành, đốt cháy vân thê của quân Kim, giết chết mấy chục tướng Kim.

Quân Kim vừa bị giết, vừa chết chìm dưới hào, nhiều không kể xiết.

Trong lúc Lý Cương chỉ huy tướng sĩ liều mạng chống địch, thì sứ giả Tống trở về, mang theo những điều kiện giảng hòa của phía Kim.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HOẠT ĐỘNG THỈNH NGUYỆN CỦA THÁI HỌC SINH


Những điều kiện giảng hòa do tướng Kim Tông Vọng đưa ra hết sức hà khắc.

Hắn đòi Bắc Tống bồi thường rất nhiều tiền bạc, bò, ngựa vải vóc, cắt nhượng đất đai 3 trấn: Thái Nguyên, Trung Sơn, Hà Giang cho Kim; Tống Khâm Tông phải tôn xưng hoàng đế Kim là bá phụ. phải các thân vương, tể tướng sang Kim làm con tin.

Tống Khâm Tông và bọn Lý Bang Ngạn 1 lòng cầu hòa, chuẩn bị tiếp nhận toàn bộ.

Lý Cương nghe tin triều đình chuẩn bị tiếp nhận những điều kiện nhục nhã trên, thì vô cùng tức giận, ông ra sức phản đối việc bồi thường và cắt đất, chủ trương kéo dài thời gian đàm phán để chờ viện binh các nơi kéo về rồi sẽ phản công.

Tống Khâm Tông nghe ông trình bày, sốt ruột nói: "Việc của khanh là cầm quân giữ thành, còn việc hòa đàm để sau sẽ nói!".

10 ngày sau, quân cứu viện từ các địa phương lần lượt tới ngoại thành, gồm tất cả 20 vạn người, sĩ khí trong quân đội giữ Đông Kinh lên cao.

Quân Kim chỉ có 6 vạn đang vây thành, Tông Vọng thấy tình hình bất lợi, vội dẫn quân lùi về sau, co cụm trong các thành lũy.

Các đại tướng trong số quân cứu viện là Chủng Sư Đạo và Diêu Bình Trọng đều ủng hộ chủ trương kháng chiến của Lý Cương.

Chủng Sư Đạo là 1 lão tướng giàu kinh nghiệm, chủ trương cầm cự dài ngày, đợi đến khi quân Kim hết lương thảo, buộc phải rút sẽ tìm cơ hội phản kích.

Nhưng Diêu Bình Trọng lại có tâm trạng nóng vội, chủ trương đem quân tập kích doanh trại Kim vào ban đêm để bắt sống Tông Vọng.

Kế hoạch tập kích đó bị tiết lộ, quân Kim được tin, đã sẵn sàng đối phó.

Diêu Bình Trọng tập kích không thành công, lại bị quân Kim phục kích, tổn thất hơn 1000 người ngựa.

Một số đại thần thuộc phải chủ hàng, nhân cơ hội này tung tin là quân cứu viện đã bị tiêu diệt toàn bộ và công kích Lý Cương là đã chuốc lấy tai họa.

Tống Khâm Tông tin lời bọn này, cuống cuồng sợ hãi, vội phái sứ giả sang trại Kim tạ tội, đồng thời cách chức Lý Cương và Chủng Sư Đạo.

Tin tức truyền ra, toàn thành Đông Kinh xao động, quân dân đều phẫn nộ, đặc biệt là những học sinh trường Thái học, tất cả đều xôn xao căm uất.

Thái học sinh Trần Đông là 1 thanh niên nhiệt thành yêu nước.

Khi Đông Kinh bị quân Kim vây đánh, Trần Đông đã dẫn đầu các Thái học sinh, 3 lần dâng thư lên Tống Khâm Tông, xin Khâm Tông xử trảm 6 tên quốc tặc gồm: Thái Kinh, Đồng Quán, Chu Miễn...Việc đó gây chấn động khắp trong ngoài triều đình, buộc Khâm Tông phải đem 6 tên đó ra trừng trị.

Trần Đông và Lý Cương vốn không quen biết nhau, nhưng hành động kiên quyết kháng chiến của Lý Cương khiến Thái học sinh vô cùng khâm phục.

Hôm đó, Trần Đông dẫn đầu mấy Thái học sinh ùa tới ngoài Tuyên Đức Môn của hoàng cung, dâng thư thỉnh nguyện, yêu cầu triều đình khôi phục chức cho Lý Cương, Chủng Sư Đạo; trừng trị các gian tặc Lý Bang Ngạn, Bạch Thời Trung.

Trong thư thỉnh nguyện, họ khẩn thiết nói: "Khi nghe lệnh bãi chức Lý Cương, quân dân toàn thành đều đau xót khóc ròng.

Thấy như vậy thì sẽ sớm trở thành vong quốc nô, làm như vậy chẳng phải là đã trúng kế quân thù hay sao?".

Quân dân thành Đông Kinh nghe nói Thái học sinh thỉnh nguyện, đều tự động kéo đến trước Tuyên Đức Môn.

Chỉ trong chốc lát, đã tụ tập tới mấy vạn người.

Lúc đó, vừa gặp Lý Bang Ngạn thoái triều đi ra, quần chúng nổi giận, xông tới chửi mắng thậm tệ, có người còn ném đá và gạch ngói tới tấp.

Lý Bang Ngạn vội ôm đầu chạy trở lại hoàng cung.

Tống Khâm Tông ở trong cung, nghe báo quần chúng đang giận dữ, hết sức lo sợ, vội phái 1 viên quan ra truyền chỉ, nói: "Lý Cương dùng binh thất bại, triều đình bất đắc dĩ phải bãi chức.

Đợi đến khi quân Kim rút đi, sẽ lập tức phục chức".

Quần chúng không chịu, xông thẳng vào sân triều, ra sức gõ "đăng văn cổ" (là loại trống lớn, dùng khi có việc gấp cần báo) đến mức mặt trống thủng toang.

Tiếng hô kháng nghị vang trời dậy đất, tri phủ Khai Phong chạy tới, đe dọa Thái học sinh: "Các ngươi sao dám uy hiếp hoàng thượng?".

Thái học sinh lớn tiếng đáp lại: "Chúng tôi lấy lòng trung nghĩa uy hiếp hoàng thượng, còn tốt hơn là bọn gian thần uy hiếp hoàng thượng bán nước!".

Vừa nói vừa xông tới, toan bắt viên tri phủ, khiến ông ta sợ hãi lủi mất.

Các tướng lĩnh quân cấm vệ thấy tình hình không có cách nào dẹp được, liền vào cung yêu cầu Tống Khâm Tông đáp ứng yêu cầu của mọi người.

Tống Khâm Tông không thể làm khác, liền phái người triệu Lý Cương vào cung, tuyên bố trước quần chúng: là khôi phục ngay chức vụ của Lý Cương và Chủng Sư Đạo.

Quần chúng vẫn chưa yên tâm, vừa lúc đó Chủng Sư Đạo đi xe tới, mọi người vén rèm xem, thấy đúng là Chủng lão tướng quân, liền hoan hô như sấm dậy rồi mới lục đục giải tán.

Cuộc thỉnh cầu của Thái học sinh kết thúc thắng lợi.

Sau khi được phục chức, Lý Cương chỉnh đốn lại đội ngũ, trọng thưởng cho những người anh dũng diệt địch.

Trận thế quân Tống hùng mạnh, sĩ khí lên cao.

Tông Vọng thấy tình hình đó, có phần sợ hãi, không đợi triều Tống giao đủ khoản bồi thường, vội vàng rút quân.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HAI HOÀNG ĐẾ LÀM TÙ BINH


Do quân và dân Đông Kinh kiên quyết kháng chiến, tướng Kim là Tông Vọng buộc phải lui quân.

Chủng Sư Đạo kiến nghị với Tống Khâm Tông là nhân lúc quân Kim rút quan Hoàng Hà, nên phát động 1 cuộc tập kích để tiêu diệt chúng.

Đây là 1 ý kiến hay, nhưng Tống Khâm Tông không những không làm theo mà còn cách chức luôn Chủng Sư Đạo.

Sau khi quân Kim rút đi, Tống Khâm Tông và 1 số đại thần cho rằng từ nay lại có thể yên tâm sống cuộc sống thái bình rồi.

Họ liền đón Huy Tông trở lại Đông Kinh.

Lý Cương nhiều lần nhắc nhở Tống Khâm Tông là phải tăng cường quân bị, phòng ngừa quân Kim tiến công trở lại.

Nhưng mỗi lần nêu ý kiến đều bị các đại thần thuộc phí đầu hàng ngăn trở.

Tống Khâm Tông cũng bực mình, cho là Lý Cương nhiều lời.

Ngờ đâu, cánh quân phía đông của Tông Vọng vừa rút, nhưng cánh quân phía tây của Tông Hàn vẫn không chịu thôi, tiếp tục vây đánh Thái Nguyên.

Tống Khâm Tông cử đại tướng Chủng Sư Trung đem quân lên cứu, nhưng đi tới nửa đường đã bị quân Kim vây chặt, Chủng Sư Trung thua trận, hy sinh.

Các đại thần thuộc phái đầu hàng đang không muốn Lý Cương có mặt ở triều đình, liền xui Tống Khâm Tông cử Lý Cương lên Hà Bắc tham gia chiến đấu.

Một số đại thần chính trực thấy không nên để Lý Cương rời kinh thành vào lúc này, nhưng Tống Khâm Tông nhất định điều ông đi.

Lý Cương biết rõ mình bị gạt bỏ, nhưng vì là được điều đi đánh Kim, nên ông không muốn thoái thác.

Khâm Tông cấp cho ông 1 vạn 2000 người.

Ông xin triều đình cấp quân phí bằng bạc, vải vóc và tiền, mỗi thứ trị giá 1 triệu lạng.

Triều đình chỉ cấp cho ông 20 vạn lạng.

Lý Cương muốn được chuẩn bị đầy đủ rồi sẽ xuất phát, nhưng Tống Khâm Tông sợ ông kéo dài thời gian nên liên tục thúc giục.

Lý Cương đành dẫn quân vội vã lên đường.

Đến Hà Dương, Lý Cương chiêu mộ thêm binh mã, nhưng triều đình lập tức ra lệnh buộc ông phải giải tán số quân mới chiêu mộ được và tiến lên Thái Nguyên ngay.

Lý Cương chia quân làm 3 đường để đánh địch, nhưng các tướng lĩnh do triều đình trực tiếp chỉ huy không chịu tuân theo sự điều động của ông.

Ba cánh quân thiếu sự thống nhất chỉ huy, kết quả bị đại bại.

Lý Cương chỉ là thống soái trên danh nghĩa mà không có quyền chỉ huy trên thực tế, đành xin triều đình cho từ chức.

Bọn chủ hàng liền công kích ông là luôn nói đánh Kim, mà khi đánh lại để hao binh tổn tướng.

Tống Khâm Tông liền cách chức Lý Cương, biếm trích ông xuống miền nam.

Vua tôi triều Kim rất sợ Lý Cương, nay Lý Cương đã bị bãi chức nên họ không còn e ngại gì nữa.

Kim Thái Tông liền hạ lệnh cho Tông Hàn, Tông Vọng tiến công Đông Kinh.

Lúc đó, thành Thái Nguyên đã bị cánh quân phía tây của Tông Hàn bao vây suốt 8 tháng.

Tướng chỉ huy phòng thủ Thái Nguyên là Vương Bẩm chỉ huy quân và dân kiên quyết chống giữ.

Quân Kim dùng mọi biện pháp đánh thành, đều bị Vương Bẩm đánh lui.

Lâu ngày, trong thành hết lương, quân lính phải giết lừa ngựa và bò để ăn đỡ đói.

Bò ngựa hết, họ phải ăn tới dây da trên cung nỏ.

Dân chúng đều ăn rau dại và cám, nhưng không 1 ai chịu đầu hàng.

Cuối cùng, thành Thái Nguyên bị vỡ.

Sau khi dẫn đầu binh kính kịch chiến trong từng ngõ phố, Vương Bẩm nhảy xuống sông Phần tự tận.

Sau khi Thái Nguyên thất thủ, 2 cánh quân Kim tiến xuống phía nam.

Các đạo quân Tống nghe tin Đông Kinh nguy cấp, chủ động đem quân tới cứu.

Tống Khâm Tông và các đại thần thuộc phái chủ hàng chỉ lo cắt đất cầu hòa nên lại ra lệnh cho họ dẫn quân trở về địa phương.

Lúc đó, quân Tống phòng thủ ở bờ nam Hoàng Hà còn tới 12 vạn bộ binh và 1 vạn kỵ binh.

Cánh quân phía tây của Tông Hàn tới bờ bắc Hoàng Hà, không dám dùng sức mạnh để vượt sông.

Đến đêm, họ hư trương thanh thế, cho binh lính đánh trống suốt đêm.

Quân Tống ở bờ nam nghe tiếng trống bên bờ bắc, tướng quân Kim vượt sông tiến công, liền đua nhau bỏ doanh trại chạy trốn.

Chỉ trong thời gian ngắn, 13 vạn quân Tống đã rút chạy sạch trơn.

Tông Hàn không mất chút sức nào, đã vượt sông thuận lợi.

Cánh quân phía đông của Tông Vọng cũng đánh chiếm Đại Danh (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) rồi vượt sông tiến xuống.

Hai cánh quân ngày càng tới gần Đông Kinh làm Tống Khâm Tông khiếp đảm.

Số đại thần thuộc phái đầu hàng ngày ngày rỉ rả nói với Khâm Tông là ngoài việc xin hòa ra, không có cách nào khác.

Tống Khâm Tông đành cử em là Khang vương Triệu Cấu đến chỗ Tông Vọng xin hòa.

Triệu Cấu đi qua Từ Châu (nay là huyện Từ, Hà Bắc).

Quan cai trị Từ Châu là Tông Trạch nói với Triệu Cấu: "Triều Kim muốn điện hạ tới nghị hòa chỉ là thủ đoạn đánh lừa thôi.

Chúng đã đem quân đến sát kinh thành, thì nghị hòa còn có tác dụng gì nữa?".

Dân chúng Từ Châu cũng ngăn ngựa của Triệu Cấu lại, không cho ông ta tới trại Kim cầu hòa.

Triệu Cấu sợ bị quân Kim bắt giữ, liền dừng lại ở Kim Châu (nay là An Dương, Hà Nam).

Không lâu sau, 2 cánh quân Kim đã tới chân thành Đông Kinh, bắt đầu tiến công mãnh liệt.

Trong thành chỉ còn 3 vạn quân cấm vệ, nhưng sớm rời rã, bỏ trốn mất quá nửa.

Tướng lĩnh các địa phương vì đã có lệnh triều đình nên không ai đem quân về cứu Đông Kinh.

Lúc này, Tống Khâm Tông mới muốn gọi Lý Cương trở về, nhưng không kịp nữa rồi.

Tống Khâm Tông cuống quýt không biết làm gì.

Trong kinh thành có 1 tên đại bịp, tên là Quách Kinh.

Hắn ta huênh hoang là biết pháp thuật, chỉ cần thu thập đủ 7779 "thần binh"là có thể bắt sống tướng Kim, đánh lùi quân Kim.

Một số đại thần liền bu lấy hắn, coi hắn như 1 cọng rơm cứu mạng, giúp hắn tụ tập bọn lưu manh côn đồ làm "thần binh".

Đến khi quân Kim đánh thành, Quách Kinh và các "thần binh" của hắn vừa giao phong đã tan vỡ, thành Đông Kinh nhanh chóng bị quân Kim đánh chiếm.

Tống Khâm Tông thấy ngày tàn đã đến, khóc thảm thiết rồi đành cùng mấy đại thần đem thư đầu hàng đến trại quân Kim.

Tông Hàn bắt Tống phải cắt nhượng toàn bộ đất đai vùng Hà Đông, Hà Bắc; đồng thời phải hiến cho Kim 10 triệu thoi vàng, 20 triệu thoi bạc, 10 triệu tấm vải lụa.

Tống Khâm Tông phải chấp nhận hết, quân Kim mới tha cho ông về thành.

Khâm Tông ra sức vơ vét vàng bạc của dân chúng kinh thành để nộp cho quân Kim.

Tướng Kim thấy nộp quá chậm, mấy hôm sau lại gọi Tống Khâm Tông đến trại, giam lại, nói khi nào nộp đủ vàng bạc mới tha.

Tống Khâm Tông sai 24 viên quan chia nhau dẫn quân Kim đi khám xét khắp nhà ở của hoàng thân, quốc thích, quan lại và nơi trụ trì của hòa thượng, đạo sĩ.

Cuộc khám xét kéo dài hơn 20 ngày, ngoài vàng bạc châu báu bị cướp, còn mất theo nhiều bảo vật và toàn bộ bản đồ của các châu phủ trong cả nước.

Tháng 4 năm 1127, Tông Hàn, Tông Vọng cùng quân Kim đã bắt giải Tống Huy Tông, Tống Khâm Tông cùng 2-3 ngàn người trong hoàng tộc và quan lại đi cùng với của cải cướp được lên phía bắc.

Vương triều Bắc Tống kể từ khi Triệu Khuông Dận xưng đế đến nay là 167 năm.

đã kết thúc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TÔNG TRẠCH BA LẦN HÔ "VƯỢT SÔNG"


Sau khi Bắc Tống diệt vong, Khang vương Triệu Cấu từ Tương Châu chạy xuống Nam Kinh (nay là Thương Khâu, Hà Nam, không phải thành phố Nam Kinh ngày nay).

Tháng 5 năm 1127, Triệu Cấu lên ngôi hoàng đế, đó là Tống Cao Tông.

Vươn triều Tống cầu an này, sau còn dời đô xuống Lâm An (nay là Hàng Châu, Triết Giang).

Lịch sử gọi nó là Nam Tống.

Sau khi Tống Cao Tông lên ngôi, dưới áp lực của dư luận, buộc phải triệu Lý Cương về triều làm tể tướng.

Nhưng trên thực tế, Cao Tông chỉ tín nhiệm 2 người thân tín, đó là Hoàng Tiềm Thiện và Uông Bá Ngạn.

Lý Cương đề xuất nhiều chủ trương chống Kim.

Ông nói với Cao Tông: "Muốn thu phục Đông Kinh, nhất định phải sử dụng Tông Trạch".

Tông Trạch là 1 tướng kiên quyết chống Kim.

Trước khi Bắc Tống diệt vong, Tống Khâm Tông đã có lần cử ông làm sứ giả đi giảng hòa.

Tông Trạch nói với mọi người: "Tôi đi sứ lần này, không mong còn sống trở về.

Nếu người Kim chịu lui quân thì thôi, nếu không tôi sẽ đấu đến cùng.

Thà mất đầu chứ nhất quyết không để nước bị nhục".

Tống Khâm Tông thấy khẩu khí Tông Trạch cứng như vậy, sợ ông gây trở ngại cho hòa đàm, liền rút chức sứ giả của ông và điều ông đi làm quan ở Từ Châu.

Khi quân Kim đánh Đông Kinh lần thứ 2.

Tông Trạch dẫn quân đánh Kim, thắng liền 13 trận, tạo được tình thế thuận lợi.

Ông viết thư cho Triệu Cấu lúc đó còn là Khang vương, yêu cầu ông ta chiêu tập quân các lộ cùng về hội họp cứu viện Đông Kinh.

Ông còn viết thư cho 3 tướng khác, yêu cầu họ phối hợp hành động.

Ngờ đâu họ không những không đem quân tới, àm còn cười giễu ông là kẻ điên rồ.

Tông Trạch không còn biện pháp gì, đành đơn độc dẫn quân tác chiến.

Một lần, cánh quân do ông dẫn đầu bị quân Kim bao vây, số lượng quân Kim đông gấp 10 lần quân Tống.

Tông Trạch nói với tướng sĩ: "Hôm nay, tiến cũng chết mà lui cũng chết.

Chúng ta quyết từ chỗ chết, xông lên chém giết để tìm ra con đường sống!".

Tướng sĩ đều hăm hở, anh dũng xông lên, 1 người địch nổi 100, quả nhiên đánh lui được quân Kim.

Tống Cao Tông từ lâu đã biết sự dũng cảm của Tông Trạch, lần này được Lý Cương tiến cử, liền phong Tông Trạch làm tri phủ phủ Khai Phong.

Lúc này tuy quân Kim đã rút khỏi phủ Khai Phong (tức Đông Kinh), nhưng thành Khai Phong trải qua 2 cuộc chiến, tường thành đã bị hủy hoại hết.

Dân chúng và binh sĩ sống lẫn với nhau; lại thêm quân Kim còn ở bờ bắc Hoàng Hà, nên lòng người Khai Phong luôn thấp thỏm, trật tự xã hội không ổn định.

Tông Trạch có uy tín rất cao trong quân và dân.

Tới Khai Phong, ông hạ ngay 1 mệnh lệnh: "Phàm kẻ nào cướp bóc của dân, đều sẽ bị nghiêm trị".

Mệnh lệnh đã ban bố, nhưng trong thành vẫn xảy ra mấy vụ cướp.

Tông Trạch liền xử tử phạm nhân tại chỗ, khiến trật tự trong thành dần được ổn định.

Nhân dân Hà Bắc không chịu nổi cảnh cướp bóc chém giết của quân Kim, đều đua nhau tổ chức nghĩa quân, đánh bại quân Kim.

Lý Cương chủ trương dựa vào nghĩa quân, tổ chức đội ngũ mới để chống Kim.

Sau khi Tông Trạch đến Khai Phong, liền tích cực liên lạc với nghĩa quân.

Nghĩa quân các vùng thuộc Hà Bắc đã từng nghe uy danh của Tông Trạch, nên đều tự nguyện chịu sự chỉ huy của ông.

Tại Hà Đông, có 1 thủ lĩnh nghĩa quân là Vương Thiện, tụ tập 7 vạn người ngựa, muốn tập kích vào Khai Phong.

Tông Trạch được tin, liền 1 mình 1 ngựa đến gặp Vương Thiện, nhỏ nước mắt nói: "Hiện nay nhà nước đang nguy cấp, nếu có được mấy người anh hùng như ngài, cùng đồng tâm hiệp lực kháng chiến thì người Kim đâu dám xâm phạm đến chúng ta nữa!".

Vương Thiện bị thuyết phục, cảm động rơi nước mắt, nói: "Kẻ này xin nghe theo sự chỉ huy của Tông Công".

Những toán nghĩa quân khác như Dương Tiến, Vương Tái Hưng, Lý Quí, Vương Đại Lang đều có từ mấy vạn tới mấy chục vạn người ngựa.

Tông Trạch cũng cử người tới liên lạc, thuyết phục họ đoàn kết nhất trí cùng chống Kim.

Nhờ vậy, việc phòng thủ ở ngoại vi thành Khai Phong được củng cố, lòng dân trong thành ổn định, lương thực sung túc, giá cả ổn định, tình trạng rối loạn được khắc phục.

Nhưng chính vào lúc Tông Trạch chuẩn bị tiến lên phía bắc để khôi phục Trung nguyên thì Tống Cao Tông và bọn Hoàng Tiềm Thiện, Uông Bá Ngạn lại sợ Nam Kinh chưa được an toàn, toan tiếp tục chạy sâu xuống miền nam.

Vì chống lại việc chạy xuống miền nam, nên Tông Trạch bị Tống Cao Tông cách chức.

Tông Trạch hết sức nóng ruột, liền tự dẫn quân vượt qua Hoàng Hà, giao ước với các đạo nghĩa quân cùng nhua chống Kim.

Ông cho xây dựng xung quanh Khai Phong 24 thành lũy và lập các trại quân ven bờ Hoàng Hà liền khít nhau như vây cá, gọi là "liên châu trại", lại được nghĩa quân các địa phương thuộc Hà Đông, Hà Bắc cũng phối hợp, hưởng ứng lẫn nhau, nên lực lượng phòng ngự của quân Tống ngày càng mạnh.

Tông Trạch nhiều lần dâng sớ tấu, yêu cầu Cao Tông trở về Khai Phong để chủ trì việc chống Kim.

Nhưng sớ tấu đến tay bọn Hoàng Tiềm Thiện, đều bị chúng dìm đi.

Không lâu sau, Tống Cao Tông lại rời Nam Kinh, chạy xuống Dương Châu.

Quả nhiên ít lâu sau, quân Kim chia mấy đường rầm rộ tiến công.

Kim Thái Tông phái đại tướng Ngột Truật (còn có tên là Tông Bật) tiến công Khai Phong.

Trước hết, Tông Trạch cử bộ tướng giữ Lạc Dương và Trịnh Châu.

Khi Ngột Truật dẫn quân tiếp cận Khai Phong, Tông Trạch phái mấy ngàn tinh binh, vòng tới sau lưng địch, cắt đưt đường lui, sau đó đánh kẹp địch từ 2 mặt trước sau, khiến Ngột Truật bị đại bại, phải rút chạy.

Một lần khác, tướng Kim là Tông Hàn dẫn quân đánh Lạc Dương, Tông Trạch phái bộ tướng Quách Chấn Dân, Lý Cảnh Lương dẫn quân tập kích, nhưng bị thất bại.

Quách Chấn Dân đầu hàng quân Kim, Lý Cảnh Lương sợ tội nên bỏ trốn.

Tông Trạch cử người tìm bắt được Lý Cảnh Lương, trách mắng: "Đánh trận bị thất bại, vốn có thể tha tội.

Nhưng nay ngươi lại tự ý bỏ trốn, tức là không coi chủ tướng vào đâu nữa!".

Nói xong, lập tức sai lôi Lý Cảnh Lương ra xử trảm.

Sau khi Quách Chấn Dân đầu hàng quân Kim, Tông Hàn cử 1 tướng Kim cùng đi với Quách Chấn Dân đến Khai Phong để khuyên Tông Trạch đầu hàng.

Tông Trạch tiếp kiến họ trong đại sảnh đường phủ Khai Phong.

Ông nói với Quách Chấn Dân: "Nếu ngươi chết ở chiến trường thì có thể được coi là một vong hồn trung nghĩa.

Nhưng nay ngươi đầu hàng địch, trở thành một tên phản bội, còn mặt mũi nào mà gặp ta nữa!".

Rồi quát lớn, ra lệnh cho binh sĩ lôi Quách Chấn Dân ra chém.

Tông Trạch lại quay đầu cười nhạt với viên tướng Kim đến khuyên hàng, nói: "Ta giữ thành này, đã chuẩn bị sống mái với các ngươi.

Ngươi là tướng của triều Kim, không có tài xông pha trên chiến trường, lại toan dùng lời lẽ lừa bịp để lung lạc ta sao?".

Tướng Kim sợ hãi, mặt mũi nhợt nhạt, chỉ nghe tiếng quát lớn, rồi bị các binh sĩ kéo ra chém đầu.

Tông Trạch liên tục giết 3 người, tỏ rõ quyết tâm sắt đá chống lại quân Kim, làm cho sĩ khí quân Tống lên cao.

Ông dùng kỷ luật nghiêm minh và tài chỉ huy linh hoạt, đánh cho quân Kim thua liền mấy trận.

Tướng sĩ Kim vừa sợ hãi, vừa khâm phục Tông Trạch, đều gọi ông là Cụ Tông.

Dựa vào lực lượng nghĩa quân Hà Bắc, Tông Trạch không ngừng mở rộng quân số, tích trữ lương thảo, cho rằng hoàn toàn đủ lực lượng thu phục Trung nguyên.

Ông liên tiếp gửi hơn 20 sớ tấu, mời Cao Tông trở về Khai Phong.

Nhưng tất cả cũng đều bị bọn Hoàng Tiềm Thiện dìm đi.

Lúc đó, Tông Trạch đã là 1 ông già gần 70 tuổi.

Do quá uất ức, ông bị lên nhọt độc ở sau lưng rồi ốm liệt.

Một số tướng dưới quyền đến thăm thì bệnh của ông đã rất nặng.

Ông mở mắt, xúc động nói: "Tôi vì chưa báo được thù cho nước, trong lòng uất ức nên mới mắc bệnh này.

Chỉ cần những người còn sống gắng sức diệt địch thì tôi dù nhắm mắt cũng không ân hận".

Các tướng lĩnh nghe lời ông, đều xúc động rơi nước mắt.

Khi mọi người trở ra, chỉ nghe tiếng ông ngâm 2 câu thơ của Đỗ Phủ:

"Xuất sư vị tiệp thân tiên tử,

Trường sử anh hùng lệ mãn khâm"

Dịch thơ:

"Ra quân chưa thắng, lìa đời

Anh hùng mãi mãi lệ rơi đầm đìa"

Sau đó, ông cố sức hô lớn: "Vượt sông!

Vượt sông!

Vượt sông!", rồi nhắm mắt.

Quân dân Khai Phong nghe tin Tông Trạch tạ thế, tất cả đều thương khóc thảm thiết.

Sau khi Tống Trạch mất đi, triều Tống cử Đỗ Sung làm trấn thủ Đông Kinh.

Đỗ Sung là 1 tên ngu muội, tàn bạo.

Vừa tới Đông Kinh, hắn lập tức phá bỏ mọi công trình phòng ngự do Tông Trạch dựng lên.

Chẳng bao lâu, toàn bộ vùng Trung nguyên rơi vào tay quân Kim.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NỮ TỪ NHÂN LÝ THANH CHIẾU


Quân Kim hoành hành khắp Trung nguyên nhưng vương triều Nam Tống không hề chuẩn bị chống lại.

Tống Cao Tông vẫn chìm đắm trong cuộc sống xa hoa hưởng lạc ở hành cung Dương Châu.

Tháng giêng năm 1129, tướng Kim Tông Hàn dẫn quân xuống miền nam, liên tiếp đánh chiếm nhiều thành trì.

Các quan chức triều Tống ở các địa phương kẻ thì đầu hàng, kẻ thì chạy trốn.

Quân tiên phong của Kim nhanh chóng vượt qua Hoàng Hà, tiến sát Dương Châu.

Tống Cao Tông đang mải mê vui chơi ở hành cung Dương Châu, nghe tin quân Kim đánh tới, vội cuống cuồng cùng 5-6 tên thái giám thân tín, lên ngựa chạy thẳng ra bờ sông, kiếm được 1 chiếc thuyền nhỏ, qua sông ngay trong đêm.

Quân Kim thả sức cướp bóc, tàn sát ở Dương Châu; rồi phóng hỏa, biến Dương Châu thành 1 đám đất cháy rụi.

Sau đó chúng mới chịu chuyên chở của cải cướp bóc được lên miền bắc.

Tống Cao Tông chạy tới Lâm An, liền cách chức Hoàng Tiềm Thiện và Uông Bá Ngạn.

Trong nội bộ triều đình Nam Tống xảy ra lục đục lớn.

Thấy sự thối nát của Nam Tống là thời cơ có thể lấn lướt, vào tháng 10 năm đá, Kim Thái Tông lại cử Ngột Truật dẫn đại quân đánh xuống phía nam, chiếm Kiến Khang (nay là thành phố Nam Kinh, Giang Tô).

Tống Cao Tông thấy quân Kim gần tới gần, lại vội bỏ Lâm An chạy xuống Việt Châu (nay là Thiệu Hưng, Triết Giang), rồi chạy tiếp xuống Minh Châu (nay là Ninh Ba, Triết Giang).

Ngột Truật dẫn quân đuổi sát, Tống Cao Tông hết đường, liền lấy thuyền vượt biển rồi chạy xuống Ôn Châu (thuộc ven biển Triết Giang) cho tới khi quân Kim rút về bắc, mới lại trở về Lâm An.

Quân Kim cướp bóc tàn bạo và vương triều Tống thối nát chạy dài khiến nhân dân chịu tai họa cùng cực, rất nhiều gia đình lâm vào cảnh nhà tan cửa mất.

Nữ từ nhân nổi tiếng Lý Thanh Chiếu cùng chung số phận bi thảm đó.

Lý Thanh Chiếu vốn quê quán tại Lịch Thành (nay là Tế Nam, Sơn Đông), là 1 nữ từ nhân nổi tiếng trong văn học lịch sử Trung Quốc.

Cha là Lý Cách Phi, cũng là 1 văn học gia, từng làm quan dưới thời Tống Huy Tông.

Vì là người chính trực, lại là học trò của Tô Thức, nên bị Thái Kinh đả kích.

Từ nhỏ, Lý Thanh Chiếu đã được cha đào luyện, hết sức yêu thích văn chương, mê say thi, họa.

Đặc biệt là về sáng tác từ, bà đã đạt được thành tựu xuất sắc.

Năm 18 tuổi, bà kết hôn với Triệu Minh Thành, cũng là 1 quan gia tử đệ.

Hai vợ chồng vô cùng hòa hợp, ngoài lòng yêu thích văn chương, còn có 1 niềm say mê chung là sưu tập đồ kim thạch (đồ đồng và bia đá có khắc bài văn hoặc bức họa).

Những đồ kim thạch đó vừa thể hiện tính nghệ thuật thời cổ đại Trung Quốc, vừa là tư liệu lịch sử quý giá.

Khi đó, Triệu Minh Thành còn học trong trường Thái học ở Đông Kinh.

Hai gia đình Triệu, Lý tuy đều làm quan to, nhưng không thật giàu có, không có tiền để họ mua văn vật.

Nhưng điều đó không làm giảm lòng yêu thích kim thạch của họ.

Vào các dịp mồng 1, ngày rằm, Triệu Minh Thành được về thăm nhà, liền đem 1 số quần áo tới hiệu cầm đồ cầm với giá rẻ, rồi lấy tiền đi tới chùa Đại Tướng Quốc.

Chùa Đại Tướng Quốc là ngôi chùa lớn nhất Đông Kinh, thường tổ chức các lễ hội.

Trong lễ hội, có bày bán đủ loại thương phẩm và thư tịch, đồ cổ và thư họa.

Triệu Minh Thành tới đây, thấy đồ kim thạch nào ưng ý, đều bỏ tiền mua.

Về nhà, 2 vợ chồng cùng nhau thưởng thức, phân loại, coi đó là lạc thú lớn nhất trong cuộc sống.

Hai năm sau, Triệu Minh Thành ra làm quan.

Ông dùng toàn bộ số lương bổng để mua đồ kim thạch và sách vở.

Người cha của ông có 1 số bạn bè thân thích làm việc trong Tàng thư các (kho lưu trữ).

Ở đó có rất nhiều sách cổ không lưu truyền ra bên ngoài.

Qua những người đó, Triệu Minh Thành tìm mọi cách mượn sách về sao chép.

Cứ như vậy, số đồ kim thạch và thư họa ngày càng nhiều.

Lý Thanh Chiếu liền lập ra 1 kho sách, chỉnh lý và thống kê đầy đủ, hễ phát hiện thiếu sót là tìm mọi cách bổ sung, chỉnh lý.

Qua sự chuyên cần trong gần 20 năm, Triệu Minh Thành biên soạn xong 1 tác phẩm ghi lại văn vật lịch sử cổ đại, gọi là "Kim thạch lục".

Trong những năm đất nước rung chuyển, không còn điều kiện để vùi đầu nghiên cứu văn vật nữa.

Khi Đông Kinh bị đánh chiếm, Lý Thanh Chiếu và Triệu Minh Thành đang ở Tri Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông).

Sau đó, tình thế ngày càng nguy ngập, Lý Thanh Chiếu theo Triệu Minh Thành xuống Kiến Khang.

Họ đem theo 15 cỗ xe chở đầy đồ kim thạch và sách vở quý giá nhất.

Sau đó quân Kim đánh chiếm Thanh Châu, hơn 10 gian nhà chứa đầy văn vật mà Lý Thanh Chiếu để lại quê nhà, bị chiến hỏa thiêu thành tro bụi.

Sau khi tới Kiến Khang, Triệu Minh Thành nhận được chiếu lệnh, được cử làm tri phủ ở Hồ Châu.

Trong tình cảnh loạn lạc lúc đó, Lý Thanh Chiếu không thể cùng đi với Triệu Minh Thành.

Khi chia tay, Lý Thanh Chiếu hỏi chồng: "Vạn nhất quân Kim đánh tới, thiếp nên làm thế nào?".

Triệu Minh Thành kiên quyết nói: "Thì lại mang mọi thứ chạy đi như trước.

Nếu không được thì trước hết bỏ lại đồ dùng gia đình.

Nếu vẫn không đem đi được hết, thì đành bỏ cổ vật và thi họa lại, nhưng có mấy thứ lễ khí cổ, hiền thê nhất định phải bảo vệ tốt, coi như tính mạng của mình!".

Không ngờ, sau cuộc chia tay này, Triệu Minh Thành mắc bệnh sốt rét rồi mất.

Chồng bị chết khiến Lý Thanh Chiếu đau thương vô hạn.

Nhưng điều quan trọng nhất là phải kế thừa hoài bão của chồng, giữ gìn tốt bộ sưu tập văn vật.

Triệu Minh Thành có người em rễ ở Hồng Châu (nay là Nam Xương, Giang Tây), Lý Thanh Chiếu liền nhờ người vận chuyển đến Hồng Châu 2 vạn cuốn sách và 2 vạn bản khắc kim thạch.

Không ngờ, chẳng bao lâu sau đó, quân Kim đánh tới Hồng Châu, toàn bộ số văn vật đó không biết tăm tích ra sao.

Khi Triệu Minh Thành ốm nặng, có 1 học sĩ là Trương Phi Khanh đến thăm.

Ông ta đem theo bên mình 1 chiếc bình ngọc.

Lý Thanh Chiếu là người rất giỏi giám định văn vật, nhìn qua đã thấy chiếc bình đó không phải bằng ngọc thật mà là 1 loại đá.

Sau đó, Trương Phi Khanh lại mang chiếc bình đó đi.

Sau khi Triệu Minh Thành chết, có 1 số người nói vu vơ là Triệu Minh Thành đã tặng 1 số của vật quý cho người triều Kim (tức học sĩ Trương Phi Khanh).

Lời đồn đại đó khiến Lý Thanh Chiếu chịu tiếng oan, bà muốn vào minh oan với triều đình, nhưng triều đình của Tống Cao Tông đã bỏ chạy rồi.

Lý Thanh Chiếu phải chạy nạn khắp nơi.

Khi bà định cư ở Thiệu Hưng, số văn vật cái thì bị tán thất, cái thì bị lấy cắp, chỉ còn lại 1 vài cái lẻ loi, tàn khuyết.

Non sông đất nước tả tơi, văn vật quý giá mất mát là 1 đòn nặng về tinh thần giáng xuống Lý Thanh Chiếu.

Bà đã viết rất nhiều thơ, ừ phản ánh tình trạng nhà tan nước mất.

Từ của bà đã đạt được thành tựu nghệ thuật rất cao, nhiều bài mang tinh thần yêu nước nồng nàn.

Trong 1 bài thơ, bà tỏ tâm trạng bất mãn trước việc vượt sông trốn chạy của tầng lớp thống trị Nam Tống.

Thơ viết:

"Sống, nên làm hào kiệt,

Chết, làm ma anh hùng.

Nay còn nhớ Hạng Vũ,

Không chịu về Giang Đông".
 
Back
Top Bottom