Cập nhật mới

Ngôn Tình Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam

Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 80: Quân Thần Ly Biệt – Phần 4


Ngón tay Đơn Tà khẽ lướt trên miệng chén trà, nét mặt vẫn bình thản, chỉ là trong ánh mắt thoáng qua một tia cảm xúc, như gợn sóng nhè nhẹ, rồi nhanh chóng biến mất. Hắn chẳng phản bác Khương Thanh Tố, xem như ngầm thừa nhận — đúng là trong lòng có chua xót, có khó chịu.

Đã biết Đơn Tà không muốn nghe nữa, Khương Thanh Tố cũng không định nói tiếp. Đợi khi nào hắn muốn, nàng lại kể cho hắn nghe sau.

Đơn Tà tuy không muốn dính vào chuyện cũ giữa nàng và Triệu Doãn, nhưng trong lòng càng để tâm hơn — liệu hiện tại Khương Thanh Tố có thật sự thoát ly được khỏi dĩ vãng hay không. Hắn hỏi: “Lần này quay lại cố thổ, nàng có suy nghĩ gì chăng?”

“Chỉ là muốn ăn ngon uống ngon…” Khương Thanh Tố chống tay lên cằm, còn chưa nói hết lời thì đã nghe thấy bên dưới có tiếng tranh cãi.

Nàng hơi nghiêng người nhìn xuống, thấy mấy tú tài tụ lại, nam nữ đều có, bốn nam hai nữ. Tiếng họ nói khá lớn, chia bè phái rõ rệt, khiến người đi đường xung quanh cũng dừng lại xem.

Một trong số bốn nam tử lên tiếng: “Kẻ ủng hộ tội thần phản quốc, không xứng ở trong thi phú trà lâu này!”

Nói xong, hắn ta vung tay ném một cây bút xuống đất, rơi ngay dưới chân hai nữ tú tài. Hai cô nương này khí chất khác biệt — một người có vẻ rụt rè, trốn phía sau, nắm chặt tay áo người còn lại.

Người còn lại thì sắc sảo hơn, thẳng lưng ngẩng đầu, diện mạo mang vài phần anh khí. Thấy cây bút vấy bụi dưới chân mình, nàng trừng mắt nhìn kẻ vừa ném, nói: “Ta với ngươi vốn không thù không oán, sao lại ra tay như vậy?”

“Không thù? Vừa nãy ngươi ở Văn Mặc Hiên khen ngợi đạo trị quốc của tội thần phản quốc Khương Thanh Tố, xúc phạm chẳng phải chỉ ta, mà là cả văn sĩ thiên hạ, là bá quan triều đình, là toàn bộ Đại Chiêu quốc này!” Một nam tử khác lớn tiếng quát.





Nữ tử ấy cúi người nhặt bút lên, thấy bút đã nứt gãy thì khẽ cười khinh bỉ: “Người khác dùng bút để viết chữ, ngươi lại dùng bút để ném người, quả là uổng mang danh tú tài.”

Nam tử kia sắc mặt sượng sùng, nói: “Rõ ràng là ngươi sai trước, còn dám chụp mũ cho người khác!”

“Ta sai chỗ nào? Lời ta nói tại Văn Mặc Hiên, hiện tại vẫn dám nói lại, nói trước mặt bách tính, thậm chí ngày sau đối mặt thánh thượng, ta cũng dám nói!” Nàng bước lên vài bước, kéo theo đồng bạn phía sau, mắt không chút sợ hãi: “Thi phú trà lâu có phải do Khương Thanh Tố xây nên? Có phải nơi này dành cho văn sĩ thiên hạ, bất luận nam nữ, đều có thể vào đây bàn luận? Nếu ngươi thật sự căm ghét nàng, vậy người nên rời khỏi đây là ngươi, chứ không phải đuổi nữ tú tài khỏi nơi nàng bỏ tiền ra xây nên!”

“Ngươi…” Nam tử nhất thời cứng họng, nữ tử kia vẫn không nhún nhường: “Ngươi là tú tài, ta cũng là tú tài. Ngươi chẳng qua dựa vào nhà có chút bạc, lại mang thân nam nhi mà h**p đáp nữ nhi yếu thế. Có bản lĩnh, chúng ta tỷ thí văn tài, đừng dựa vào kẻ đông thế mạnh!”

Lời vừa dứt, Khương Thanh Tố đang ngồi trên lầu hai liền vỗ tay khen ngợi: “Nói rất hay.”

Tiếng nàng cất lên, khiến những người bên dưới đều ngẩng đầu nhìn. Nữ tử ấy bắt gặp ánh mắt của Khương Thanh Tố thì có chút xấu hổ. Vừa nãy nàng chỉ vì tức giận và uất ức mà bộc phát, trong đám đông không ai bênh vực nàng, đồng nghĩa với sự mặc nhiên đồng thuận lời chỉ trích kia.

Xưa nay thế nhân bất luận nam hay nữ, đều xem thường việc nữ nhi làm quan. Dù năm xưa Khương Thanh Tố chỉ trong vài năm đã làm đến chức tể tướng Đại Chiêu, hiến nhiều sách lược trị quốc, thì sau lưng vẫn bị người chê cười gièm pha.

Bốn nam tử lời lẽ không đấu lại được một nữ nhi, chỉ biết hầm hừ rời đi. Mà nữ tử kia, ngoài việc được Khương Thanh Tố thưởng thức, còn khiến một nam tử đang ngồi trong kiệu gần đó phải kéo rèm nhìn suốt một hồi. Đợi khi cuộc náo động tan, người ấy mới buông rèm, cho người khiêng kiệu rời đi.

Nữ tử kia kéo tay bạn mình cùng bước vào thi phú trà lâu. Khương Thanh Tố thấy người xem đều giải tán, mới thu ánh mắt lại, quay sang Đơn Tà cười hỏi: “Chàng thấy nàng ấy nói thế nào?”

“Khí thế quá mạnh, lời lẽ gay gắt. Trong hoàng thất và triều đình như nàng từng kể, e rằng khó sống lâu.” Đơn Tà đáp, Khương Thanh Tố mắt sáng rực, hạ giọng nói: “Ta cũng nghĩ như vậy.”

“Trước kia nàng cũng vậy?” Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố tựa cằm lên lòng bàn tay, mím môi cười: “Lúc ta làm quan còn ngạo mạn hơn nàng ấy nhiều. Khi giữ chức Đại Lý Tự khanh, cả kinh đô không ai ta không dám bắt, quan lớn trong triều thấy ta còn phải tránh đường, đúng là một Hắc Diêm Vương sống.”

“Ngạo mạn như thế?” Đơn Tà cảm thấy thú vị, nhìn nàng đầy ôn hòa.

Khương Thanh Tố gật đầu: “Dĩ nhiên. Nhưng về sau, có lẽ Triệu Doãn thấy ta quyền lớn lấn át, bèn danh nghĩa đề bạt, thực chất giáng chức, cho ta làm tể tướng toàn văn chức, mỗi ngày chỉ lên triều dâng sớ, ngoài ra chẳng được dùng đến.”

Nhắc đến Triệu Doãn, lông mày Đơn Tà lại chau lại. Khương Thanh Tố đổi tay che miệng, ngón tay đang đặt trên tay Đơn Tà khẽ móc lấy ngón út hắn, siết nhẹ, ánh mắt đối diện, cong cong cười: “Đơn đại nhân thật là tốt, chuyện gì cũng chiều theo ta.”

Đơn Tà ngẩn người, khẽ nói: “Thật chẳng ra thể thống gì.”

“Không công vụ, ta với chàng đâu phải đồng liêu. Ta thích chàng, nắm tay chàng một chút cũng không được sao?” Khương Thanh Tố vừa dứt lời, mặt Đơn Tà lại càng trở nên kỳ quặc. Nàng thấy buồn cười, còn định nói tiếp thì thấy hai nữ tử lúc nãy từ dưới lầu đi tới.

Hai người họ ban đầu chỉ thấy mỗi Khương Thanh Tố, vì nàng nhoài nửa người ra ngoài xem náo nhiệt, không trông thấy Đơn Tà. Nay đến gần tầng hai, thấy là một nam một nữ ngồi cùng nhau, tay còn chạm nhau, liền đoán được quan hệ hai người.

Nữ tử đi trước chắp tay với Khương Thanh Tố: “Đa tạ vị phu nhân này.”

“Tạ ta chuyện gì?” Khương Thanh Tố mỉm cười nhìn họ.

“Vừa nãy ta quả thực quá l* m*ng, nếu không có phu nhân ra mặt, chỉ sợ ta sẽ thành trò cười giữa chốn đông người.” Nói xong, nàng tự giới thiệu: “Ta là Lục Hinh, còn đây là Giang Nguyệt.”

Nói đoạn, Lục Hinh kéo Giang Nguyệt ra giới thiệu.

Khương Thanh Tố liếc mắt là đã nhìn ra — hai tiểu cô nương này gia thế cũng thường, e là thấy nàng dám ra mặt khiến bốn vị tú tài nam mất mặt, liền tưởng nàng là quý nhân nơi kinh đô, sinh tâm muốn kết giao.

Khương Thanh Tố đứng dậy, vòng qua bàn ngồi xuống bên cạnh Đơn Tà, chừa lại chỗ bên cạnh để hai vị cô nương ấy cùng ngồi. Nàng gọi thêm hai chén trà, trong khi ấy, ánh mắt của hai cô gái kia thỉnh thoảng lại liếc nhìn vị nam tử ngồi cạnh nàng, khiến khóe môi nàng cong lên, cười càng thêm sâu.

Nàng chủ động mở lời: “Vừa rồi nghe cô nương tranh luận, hình như có ý bênh vực cố Khương Tể tướng thì phải?”

“Không phải bênh vực, chỉ là nói đúng sự thật mà thôi.” Lục Hinh đáp: “Phụ thân ta cũng là quan trong triều, từng làm việc tại Đại Lý Tự, dưới trướng Khương Tể tướng hai năm. Khi ấy Khương đại nhân làm Đại Lý Tự khanh, tuy có gây ra nhiều tranh luận trong triều, nhưng phụ thân ta dẫu cảm thấy nữ nhi mà hành sự cứng rắn như vậy là quá độc đoán, vẫn không khỏi khâm phục nàng dũng cảm không sợ quyền quý. Theo lời phụ thân ta, nàng là một vị quan tốt.”

“Nhưng nàng phản quốc.” Khương Thanh Tố lạnh nhạt nói.

Lục Hinh khựng lại, mím môi rồi nói: “Năm xưa chứng cứ buộc tội nàng tuy có, nhưng lý do phản quốc rất khiên cưỡng. Phụ thân ta chính là giám trảm quan trong vụ ấy, nhưng ông luôn cho rằng nàng không phải người có dã tâm.”

“Biết người, biết mặt… khó biết lòng.” Khương Thanh Tố nâng chén trà, nhấp một ngụm, lại hỏi: “Phụ thân cô nương đã từng làm quan ở Đại Lý Tự, năm tháng trôi qua ắt cũng có chút địa vị tại kinh đô. Vì sao vừa nãy vẫn bị mấy tên tiểu tử kia ức h**p?”

Lục Hinh vẻ mặt cứng đờ, khóe môi treo nụ cười khổ: “Kỳ thực năm đó khi tuyên án Khương tể tướng, thánh thượng vốn đã xuống chỉ muốn tha mạng cho nàng, không ngờ thánh chỉ đến chậm một bước. Khi hoàng thượng biết nàng đã bị hành quyết thì nổi giận lôi đình, phụ thân ta bị liên lụy, giáng chức lưu đày đến Hỗ Châu.”

Tay Khương Thanh Tố đang cầm chén trà khẽ run, đôi mày khẽ nhướng, không ngờ khi nàng chết, Triệu Doãn từng hạ chỉ tha mạng cho nàng. Khi ấy nàng bị giam trong ngục, dốc hết cách van xin chỉ để được gặp hắn một lần. Vài tháng trời đằng đẵng trong ngục tối, người kia một lời cũng không truyền tới, khiến nàng tuyệt vọng, cam chịu cái chết. Nào ngờ thứ nàng chờ được lại là một thánh chỉ đến muộn.

Đơn Tà thấy nàng thất thần, liền khẽ khép nắp chén, âm thanh sứ chạm nhau nhẹ vang lên, khiến Khương Thanh Tố giật mình tỉnh lại. Nàng liếc nhìn Đơn Tà, sắc mặt hắn không vui, nàng mím môi, chỉ đáp Lục Hinh: “Thì ra là vậy.”

Sau khi Lục Hinh và Giang Nguyệt uống trà xong rời đi, Khương Thanh Tố liền kéo tay Đơn Tà. Hắn rút tay lại, hỏi: “Nàng còn muốn quay lại nhìn hắn một lần nữa?”

“Chàng đừng giận ta mà.” Khương Thanh Tố cố tình nắm lấy tay hắn không buông.

Đơn Tà nhíu mày: “Biết hắn từng muốn tha mạng cho nàng, nàng cảm kích sao?”

“Đừng giận mà…” Khương Thanh Tố lại lặp lại câu ấy.

Đơn Tà khẽ hừ trong mũi: “Vừa rồi thất thần, có phải chợt nhận ra trong lòng vẫn còn hắn?”

“Trong lòng ta chỉ có chàng.” Khương Thanh Tố khoác tay hắn, kề sát người: “Ta nào phải kẻ ngốc. Năm năm vì hắn dốc hết tâm huyết nơi quan trường, cuối cùng đổi lại chỉ là một sợi dây tay, vài bức thư chẳng rõ thật giả mà hắn liền giam ta vào ngục, hạ tử tội. Dù có thánh chỉ tha mạng, ta cũng không thể tha thứ. Làm sao còn tình cảm gì?”

“Vậy nàng không cam lòng, là vì còn lưu luyến?” Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố thở dài: “Ta lo lắng, chỉ vì sợ chàng hiểu lầm.”

“Ta có thể hiểu lầm gì? Nàng và hắn thanh mai trúc mã, hắn từng cứu nàng. Còn ta và nàng chỉ là đồng liêu hai mươi mốt năm, chưa từng hứa hẹn điều gì…” Giọng Đơn Tà càng nói càng chua, tay cũng siết chặt lại.

Khương Thanh Tố thấy vậy, vừa buồn cười vừa bất đắc dĩ: “Aizz, tính tình chàng thật khó chiều.”

Đơn Tà liếc nàng một cái, Khương Thanh Tố nói: “Chính bởi ta và hắn quen biết từ nhỏ, hắn càng phải tin ta, càng phải giữ lời. Hắn không làm được, là hắn phụ ta. Chàng thì khác, chàng đã thấy đủ người, đủ quỷ, đủ yêu, đủ linh, lại vẫn có thể thích ta — một kẻ chẳng có gì đặc biệt. Chàng chưa từng trách phạt, còn luôn âm thầm bảo vệ. Chàng là tốt nhất.”

Câu “chàng là tốt nhất” ấy, nàng nói giọng mềm mại, khóe môi cong cong, ánh mắt sáng như sao, soi thẳng vào lòng Đơn Tà, như ngọn lửa đốt sạch cơn ghen giấu trong ngực hắn.

“Uống xong chén trà này, chúng ta về thôi.” Đơn Tà thở dài, khẽ siết tay nàng.

Khương Thanh Tố chần chừ: “Ta… tạm thời chưa muốn về.”

“Ở lại vì còn việc muốn làm?” Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố nhìn thẳng vào mắt hắn: “Xưa nay toàn là ta đoán chàng, giờ đến lượt chàng đoán thử xem — ta muốn làm gì? Nếu đoán đúng, lại nghĩ thử xem, có thể dung túng ta một lần được chăng?”

Đơn Tà trầm ngâm: “Nàng muốn lật lại vụ án?”

“Quả nhiên chàng thấu lòng người.” Khương Thanh Tố thu lại nét đùa giỡn, khẽ gật đầu: “Tranh luận vừa rồi giữa Lục Hinh và bọn nam tử kia thoạt nhìn là chuyện nhỏ, nhưng nguyên do sâu xa lại là vết thương trong lòng ta. Khương gia ta bị diệt vì tội danh gán ghép, dẫu được giải oan, không ngờ mấy năm sau ta lại bị dùng chiêu đó mà chết oan. Nếu ta đầu thai, quên hết mọi chuyện thì thôi. Nhưng suốt hai mươi mấy năm qua, mỗi lần về nhân gian đều nghe người ta nói ta phản quốc. Ban đầu ta chẳng dám quay lại kinh thành. Giờ đã trở về, cái gai này nhổ ra, chẳng đau như tưởng. Vậy thì mấy cái gai còn lại… cũng nhổ nốt đi. Dù sao…”

Nàng quay sang nhìn Đơn Tà, nói khẽ: “Dù sao… chàng ở đây.”

Như lời Thẩm Trường Thích từng nói — có Vô Thường đại nhân bên cạnh, còn sợ gì nữa?

Không có gì phải sợ. Vậy thì, hãy rửa sạch oan khuất, để quá khứ hoàn toàn khép lại.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 81: Quân Thần Ly Biệt – Phần 5


Khương Thanh Tố quyết định lưu lại kinh thành, đợi thời cơ thích hợp sẽ vào hoàng thành một chuyến, rồi lại ghé qua Đại Lý Tự, xem có thể tìm được cơ hội gì để lật lại bản án hay không. Đã có chủ ý, Đơn Tà cũng không phản đối, nàng liền tự mình chọn lấy một tửu lâu, trước tiên nghỉ tạm một đêm.

Nàng không có hành lý, tay khoác tay Đơn Tà, giả vờ phu thê, tìm một gian thượng phòng trong khách đ**m bên cạnh Thi Thư Trà Lâu. Trời đã xế chiều, cả ngày nay Khương Thanh Tố chưa ăn uống gì, chỉ nhấp trà qua loa, bèn kéo tay Đơn Tà ra phố tìm chút mỹ thực cho ra hồn.

Hai người vừa bước ra khỏi khách đ**m, liền có một bóng người vận áo lam xám lướt tới đụng ngay vào bọn họ. Đơn Tà lập tức chắn trước Khương Thanh Tố, người nọ còn chưa kịp tới gần, Đơn Tà đã muốn giơ chân đá văng đi. Khương Thanh Tố thoáng nhìn thấy liền gọi: “Là Thẩm!”

Nói rồi vội kéo Đơn Tà lùi lại, Thẩm Trường Thích ngã sấp xuống đất. May mà chưa bị Đơn Tà đá trúng, nếu không với cái thân thể yếu ớt kia, e rằng hồn phách lại tan tác một trận.

Thẩm Trường Thích nằm rạp dưới đất, dù chẳng thấy đau đớn gì, vẫn kêu lên một tiếng “ôi chao”, rồi chống tay đứng dậy, phủi phủi bụi trên người, trước tiên chắp tay thi lễ với Khương Thanh Tố: “Đa tạ Bạch đại nhân cứu mạng.”

Rồi bĩu môi, vai rũ xuống, trông thật tội nghiệp: “Hai vị đại nhân bỏ rơi ta, sao không để lại một lời? Ta đi khắp kinh thành cũng chẳng tìm ra.”

Khương Thanh Tố ngẩn người, bỗng nhiên tỉnh ngộ, khẽ “ồ” một tiếng: “Ta quên mất ngươi rồi.”

Thẩm Trường Thích: “……”

Lại càng thêm tủi thân.





Khương Thanh Tố khẽ “ấy” một tiếng: “Ngươi đừng buồn, hay là đốt quỷ phù gọi Chung Lưu tới kinh thành chơi cùng ngươi nhé?”

Thẩm Trường Thích ban đầu muốn đồng ý, nhưng đột nhiên cảm thấy sau lưng lạnh toát. Quay sang nhìn Đơn Tà, quả nhiên sắc mặt Hắc Vô Thường chẳng có chút biểu cảm nào, ánh mắt lạnh buốt như sương đông, môi mím chặt, rõ ràng đang cảnh cáo hắn đừng gây rắc rối. Thẩm Trường Thích đành rụt cổ nói: “Kh…không cần đâu.”

“Ta và Đơn đại nhân đang định tìm chỗ ăn uống, hay ngươi cùng đi?” Khương Thanh Tố lại hỏi.

Thẩm Trường Thích nghe nói đi ăn, mắt lập tức sáng rỡ, nhưng cảm giác băng giá lại ùa tới. Hắn nhìn Đơn Tà thêm lần nữa, lòng đầy uất ức, nhưng sắc mặt của Hắc Vô Thường không thể không nhìn. Tuy sau khi Khương Thanh Tố đảm nhận chức Bạch Vô Thường, tính nết của Đơn Tà đã thay đổi không ít, song Thẩm Trường Thích vẫn nhớ rõ hơn bốn trăm năm trước bản thân đã sống thế nào. Muốn được an yên lâu dài trong Thập Phương điện, nghe lời vẫn là lựa chọn đúng đắn.

Vì vậy hắn vẫy tay, cố nặn ra một nụ cười gượng: “Không… không cần đâu, hai vị đi đi, ta vừa ăn no rồi, không đói.”

Khương Thanh Tố hơi nhướng mày, khóe miệng vẫn nở nụ cười: “Vậy cũng được, ngươi cứ ở lại khách đ**m nghỉ ngơi.”

Khương Thanh Tố vừa cười, Thẩm Trường Thích chợt nhận ra, nhìn theo bóng hai người, một đen một trắng, dần khuất trong đám đông, hắn khẽ rít qua kẽ răng: Bạch đại nhân nhất định biết rõ hắn đang bị Hắc đại nhân uy h**p, lại còn giả vờ làm người tốt muốn chăm sóc hắn, thực chất biết rõ hắn không dám trái ý Hắc đại nhân.

Tâm cơ thật sâu! Hai người này quả nhiên là một đôi! Không phải người cùng một nhà thì không vào chung một cửa, mấy vị Bạch Vô Thường đời trước đều quá ngoan ngoãn rồi.

Thẩm Trường Thích phất tay áo, quay lại khách đ**m, chợt nhớ mình chẳng có tiền thuê gian phòng tốt thế này. Lục trong túi bạc, chỉ đủ gọi một đĩa hạt dưa cùng một ấm trà, thế là hắn chỉ gọi hai món ấy, định ngồi ăn đến khi hai vị đại nhân trở về.



Đồ ăn ngon ở kinh thành nhiều vô kể, những món Khương Thanh Tố từng ăn có một nửa đã không còn bán, nhưng nửa còn lại vẫn còn.

Lần trước Đơn Tà đến tiệm bánh Ngọc Tử mua bánh nếp đường đỏ, nàng từng bảo bánh đó không ngon, ngon nhất vẫn là bánh cam giòn, lớp vỏ giòn từng lớp, lúc ăn dính cả vào môi, trên rắc mè thơm, bên trong là mứt cam mềm mịn.

Tiệm Ngọc Tử hiện giờ ngày càng lớn, việc làm ăn vẫn phát đạt, hàng người đứng chờ mua điểm tâm nối dài cả con phố. Cửa tiệm chặn nửa lối đi, Khương Thanh Tố muốn ăn bánh cam giòn, liền bảo Đơn Tà xếp hàng.

Nàng vỗ vai Đơn Tà cười nói: “Phu quân cứ ngoan ngoãn xếp hàng, ta đi mua bánh nướng cho chàng, ta nhớ phía trước khoảng mười mấy tiệm có một chỗ bán bánh nướng, vỏ giòn nhân thịt, tuyệt đối ngon lành.”

Đơn Tà thấy nàng định rời đi, liền đưa tay giữ lấy áo choàng của nàng. Khương Thanh Tố khựng lại, ngoái đầu cười hỏi: “Còn lời gì muốn nói?”

Khoảnh khắc nàng quay đầu, ánh đèn phố vừa chớp lên, tóc nàng rũ xuống, chẳng mang chút dáng vẻ phụ nhân, đôi mắt sáng long lanh, trông như một tiểu thư khuê các hoạt bát, ngây thơ, hoàn toàn khác biệt với hình tượng người tâm địa độc ác mà miệng lưỡi thế gian từng nhắc tới.

Đơn Tà từ từ buông tay, chỉ nói: “Đừng đi xa.”

Khương Thanh Tố mỉm cười sâu hơn: “Xa được bao nhiêu? Ngay phía trước thôi, chàng còn có thể trông thấy ta.”

Nói rồi liền tung tăng chạy về phía trước.

Thực ra cách đến mười mấy gian hàng thì chẳng thể trông thấy được nữa. Đến đêm, kinh thành mới thực sự bắt đầu náo nhiệt, dù vẫn còn cách giờ giới nghiêm mấy canh giờ, mà lại gần đến lễ Nguyên Sóc, nên những nơi phồn hoa càng thêm đông đúc. Hai bên đường, lầu các treo đầy đèn hoa, từng dãy từng dãy đèn màu vắt ngang qua phố, nối liền hai cửa tiệm bằng dải lụa đỏ, tràn ngập khí tượng thịnh thế.

Khương Thanh Tố chạy một mạch tới tiệm bánh nướng, quả nhiên vẫn còn ở đó. Trước nàng chỉ có hai người đang xếp hàng, nàng cũng thuận thế đứng chờ, tiện thể ngẩng đầu nhìn quanh. Cảnh vật nơi này nếu đẹp đẽ, dường như cũng chẳng khác bao nhiêu so với ký ức thời thơ ấu của nàng.

“Hứa Đại nhân, ngài đi thong thả.” Cách tiệm bánh một con ngõ nhỏ, là một tửu lâu, bên trong người ngồi đông đúc, phía ngoài dừng lại hai cỗ kiệu. Người trong kiệu phía sau vừa bước xuống đã tiến lên trước mở màn kiệu cho người bên trong, cười hì hì nói: “Đại nhân đi chậm thôi, Từ đại nhân và Ngô đại nhân đều đang chờ trong đó rồi.”

Khương Thanh Tố liếc nhìn hai người đó, kẻ cúi đầu khúm núm nàng không nhận ra, nhưng người bước ra từ trong kiệu lại thấy có chút quen mắt.

Triều đình người họ Hứa lại có quyền thế ở kinh thành vốn không nhiều. Khi nàng còn làm quan trong triều, có một vị Thượng thư bộ Lễ họ Hứa, năm xưa từng muốn lấy lòng dòng họ hoàng hậu, nhân dịp sinh thần của hoàng hậu mà định tổ chức đại lễ linh đình. Nhưng trước ngày đó, Khương Thanh Tố đã lấy cớ trong thành còn nạn dân thiếu lương, dâng sớ ngăn cản, đồng thời buộc tội ông ta một bản, kết quả bị giáng xuống làm Thị lang.

Từ đó về sau, họ Hứa an phận không ít, mãi cho đến khi nàng chết, suốt hơn hai mươi năm đủ để ông ta lại tung hoành ngang dọc.

“Cô nương, còn mua không đấy?” Có người phía sau thúc giục. Khương Thanh Tố thu lại ánh mắt, thấy tới lượt mình rồi, liền cười đáp: “Mua hai cái.”

Chỉ ba chữ ấy thôi, vị đại nhân họ Hứa cách đó chưa đến mười bước bỗng khựng lại, nghiêng người nhìn về phía nàng. Chỉ một ánh mắt, vị lão nhân ấy suýt nữa đứng không vững, chân run rẩy, may có người đứng bên vội vàng đỡ lấy.

“Ôi chao! Hứa đại nhân! Ngài sao vậy?”

Khương Thanh Tố cầm lấy bánh nướng, không quay đầu lại, kéo mũ trên áo choàng lên, xoay người đi vào đám đông.

Người họ Hứa kia sững sờ, chẳng rõ nghĩ gì, run rẩy giơ tay chỉ vào bóng dáng áo choàng trắng như tuyết kia trong dòng người, môi tím tái, mắt trợn lớn: “Người… người kia! Mau, mau bắt nàng lại!”

Lập tức, đám thuộc hạ phía sau đồng loạt lao vào đám đông, hơn mười người xông lên, trong dòng người vang lên một tiếng hô kinh hãi, bóng dáng áo trắng vừa còn lướt qua, nháy mắt đã không thấy đâu nữa.

Hơn mười người lục soát khắp con phố mấy vòng, vẫn chẳng tìm ra nữ tử vận áo choàng lông hồ trắng. Khi quay lại tửu lâu, Hứa đại nhân không vào ăn mà ngồi ngoài cửa, tay cầm ghế, chờ tin tức.

“Đại nhân, không tìm thấy.” Kẻ dẫn đầu báo lại.

Vị Hứa đại nhân, vốn nổi tiếng nóng tính, giờ phút này lại trầm mặc. Ông ta nhíu mày, một tay đặt lên ngực, ánh mắt cúi thấp, hít sâu một hơi rồi lắc đầu: “Không… không phải nàng. Có lẽ là ta nhìn nhầm rồi.”

Người ấy đã chết hai mươi mấy năm, chính ông tận mắt thấy đầu nàng rơi, chiếu chỉ của hoàng thượng đã gần ban xuống, khi ấy máu nàng còn nóng. Sau đó hoàng thượng viện cớ bệnh không thượng triều một thời gian, cũng chẳng tổ chức tang lễ long trọng, chỉ treo vài dải lụa trắng ở Khương phủ. Ngay cả hôm an táng, Tương Thân Vương còn phái người đích thân nghiệm quan. Đúng là nàng, không sai.

Người chết… sẽ không sống lại.

“Thôi thôi, e là ta già rồi, càng già… càng sợ báo ứng.” Hứa đại nhân nói xong, khẽ lắc đầu, rồi chậm rãi quay vào trong tửu lâu.



Ngay trong con ngõ nhỏ cạnh tửu lâu, Khương Thanh Tố đứng trong bóng tối, cắn một miếng bánh cam giòn. Gió chẳng thể lay động lông hồ trên áo nàng, còn Đơn Tà thì đứng phía sau, hai tay ôm hết đồ ăn mà vẫn chưa đụng tới.

“Ta biết mà, cái chết của ta ắt có liên quan đến lão ấy.” Khương Thanh Tố bĩu môi, ngoái đầu nhìn Đơn Tà, thấy hắn vẫn chưa ăn, hơi nhướng mày: “Sao chàng không ăn? Ngon lắm! Chàng ngửi thử đi.”

Nàng đưa chiếc bánh cam giòn đã cắn một miếng tới gần hắn. Đơn Tà hơi khựng mắt, chẳng ngửi, mà cúi đầu cắn ngay vào phần nàng đã ăn, lớp mứt cam dính bên môi, hắn li.ếm nhẹ một cái, khiến Khương Thanh Tố sững người một thoáng.

“Đơn đại nhân, chàng như vậy là không ổn đâu.” Nàng khẽ giọng nói.

“Chỗ nào không ổn?” Đơn Tà hỏi lại.

Khương Thanh Tố thu bánh về, cắn môi nói: “Đây là bánh của ta mà.”

Đơn Tà đưa gói bánh trong tay ra: “Cho nàng một cái khác.”

Khương Thanh Tố lại lấy thêm một cái, hai tay mỗi tay cầm một chiếc. Nàng cắn môi, khẽ nói: “Chàng thế này cũng không ổn.”

“Lại có gì không ổn?” Đơn Tà bước lên một bước, Khương Thanh Tố lùi lại, khẽ dừng: “Chàng không thể làm như không có chuyện gì mà trêu ghẹo ta.”

“Ta khi nào trêu nàng?” Đơn Tà dừng lại, mũi chân gần như chạm vào nàng, hắn cúi đầu, đúng lúc bắt gặp hàng mi dài như cánh quạt đang rũ xuống của nàng.

Khương Thanh Tố nói: “Ta bảo chàng ngửi thử, chàng lại ăn, ăn thì thôi, còn li.ếm môi… Chàng biết rõ ta thích chàng mà.”

“Vì nàng thích ta, nên ta không được liế.m môi sao?” Đơn Tà cúi thấp thêm chút nữa, nhìn sâu vào mắt nàng, cất giọng: “Ngẩng đầu lên.”

Khương Thanh Tố ngẩng lên, vừa chạm vào ánh mắt hắn, Đơn Tà đã cúi đầu hôn nhẹ lên mí mắt nàng, chỉ như chuồn chuồn điểm nước. Khương Thanh Tố đỏ bừng mặt, vội lui về sau một bước, nhưng con ngõ vốn hẹp, chỉ đủ hai người sánh vai, đã chẳng còn chỗ lui.

Nàng sững người, mím môi hỏi: “Chàng làm vậy là có ý gì?”

“Chính nàng nghĩ đó là gì?” Đơn Tà nhìn thấy hai chiếc bánh cam giòn trong tay nàng đã rơi vụn lớp vỏ, mắt hắn dịu lại đôi phần, hỏi: “Còn ăn không?”

Khương Thanh Tố hoàn hồn, nhét nốt miếng bánh còn lại vào miệng, má phồng lên, lúng búng đáp: “Ăn, ta còn chưa ăn bánh nướng mà.”

“Vậy thì đi thôi.” Đơn Tà dẫn đầu bước ra khỏi ngõ, Khương Thanh Tố ngẩng tay áp mu bàn tay lên mí mắt vừa bị hôn, nhẹ nhàng nhảy bước nhỏ đuổi theo. Khi đến bên Đơn Tà, nàng nói: “Ta nhớ có lần chàng từng nói với ta một câu.”

“Câu nào?” Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố đáp: “Hôn, là vì thích.”

Đơn Tà không phản bác, Khương Thanh Tố cười càng tươi.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 82: Quân Thần Ly Biệt – Phần 6


Khương Thanh Tố ở lại kinh thành hai ngày, mỗi ngày đều ghé Thi Thư Trà Lâu thưởng trà. Mỗi lần nàng đến, luôn ngẫu nhiên gặp Lục Hinh. Ban đầu, Lục Hinh chỉ khẽ gật đầu xem như chào hỏi, nhưng một ngày gặp nhau đến ba bốn lượt, nàng liền chủ động lại bắt chuyện cùng Khương Thanh Tố.

Lục Hinh là một nữ tử có kiến văn rộng rãi, chẳng những tinh thông học vấn mà còn thấu hiểu thực tiễn. Nàng cùng Khương Thanh Tố luận bàn về những chủ đề học thuật mà Khương Thanh Tố từng nêu trên triều khi còn sống. Lục Hinh chẳng giống kẻ khác xem đó như giấy trắng mực đen suông, trái lại, còn có thể nối tiếp những điều mà Khương Thanh Tố chưa kịp thực hiện.

Vài lần gặp mặt, Khương Thanh Tố càng thêm yêu mến nữ tử này. Trừ hình dung dung nhan, Lục Hinh quả thực rất giống bản thân nàng một thuở.

“Những lời Bạch phu nhân nói khiến tiểu nữ thật sự sáng tỏ tâm trí. Không biết gia đình phu nhân vốn xuất thân thế nào?” Lục Hinh hít sâu một hơi, hướng về Khương Thanh Tố thi lễ. Chỉ cần nhìn khí chất cũng nhận ra đôi phu phụ này không phải người thường. Qua vài lần đối thoại, nàng càng thêm khâm phục kiến thức sâu rộng của đối phương, nhịn không được bèn hỏi han.

Khương Thanh Tố chống một tay dưới cằm, tựa mình vào tường, dáng ngồi lười nhác thoải mái, tay cầm chén trà, nhưng nhìn vào lại như đang nhấm nháp chén rượu.

Nàng khẽ cười nói: “Ta từng đọc sách vài năm, sau đó gả cho phu quân. Chàng làm thương nhân, đi khắp đại giang nam bắc, kiến thức rộng rãi nên hiểu biết nhiều. Nào dám sánh với tiểu thư học cao hiểu rộng, không phải xuất thân thư hương hay danh môn vọng tộc gì đâu.”

“Lời nói dễ, hành thì khó. Ta tự cho mình đã đọc hết thi thư, vậy mà mỗi lần gặp phu nhân đều được nghe nhiều điều chưa từng biết tới, càng chưa từng nghĩ tới. Nói về học thức, phu nhân quả là cao nhân, có thể xưng là lương sư!” Lục Hinh vừa nói, mắt liền sáng rực: “Hay là ta bái phu nhân làm thầy?”

Khương Thanh Tố thoáng dừng lại, trong ánh mắt Lục Hinh, nàng thấy rõ một tia minh mẫn lanh lợi. Nàng không phủ nhận Lục Hinh là người có tài. Nếu là trước kia, chẳng cần Lục Hinh mở lời, nàng đã chủ động dẫn đường cho người như vậy. Nhưng nay, nàng là Bạch Vô Thường của địa phủ, giả dạng trà khách nơi đây chẳng qua để nghe ngóng chút tin tức triều đình, sao có thể để bản thân dính líu quá sâu.

Nàng liền lắc đầu: “Xưng thầy thì ta không dám nhận. Nhưng tạm thời ta sẽ không rời đi, nếu cô nương cảm thấy lời ta có chút thú vị, thì mỗi ngày ta sẽ cố gắng đến đây cùng cô trò chuyện một lát.”





Lục Hinh hơi thất vọng, song lại thấy bản thân vừa rồi có chút đường đột, bèn mỉm cười tỏ vẻ xin lỗi.

Đúng lúc này, dưới lầu Thi Thư Trà Lâu, một đoàn người đứng thành hàng ngay ngắn, có vẻ là gia đinh nhà quyền quý. Người đứng vững xong, từ xa có một cỗ kiệu màu lam sẫm từ từ đến gần, dừng lại trước cổng phía Đông của trà lâu. Khương Thanh Tố liếc nhìn cờ nhỏ trên kiệu, là người nhà họ Hứa.

Nàng hơi cau mày, cứ ngỡ sẽ là Hứa Hoài — chính là người nàng từng gặp lúc mua bánh nướng hai hôm trước — không ngờ lại bước ra một nam tử trẻ tuổi, độ hai mươi mấy, khoác áo choàng, tóc dài búi cao, phong thần tuấn tú, khí độ bất phàm.

“Là Hứa đại nhân…” Lục Hinh cũng nhìn qua cửa sổ thấy được, sau một tiếng thở than, mặt liền ửng đỏ. Khương Thanh Tố thấy thế, khẽ nhướng mày: “Hứa đại nhân này là ai?”

“Phu nhân không biết ư?” Lục Hinh sửng sốt, mỉm cười: “Phu nhân cùng Bạch tiên sinh ngao du tứ phương, chưa từng lâu ngày ở kinh thành, dĩ nhiên không rõ… Vị Hứa đại nhân ấy là con trai đương kim Thượng thư bộ Hộ Hứa Hoài, tên là Hứa Văn Nhược, hiện là Đại lý tự khanh, cũng là tâm phúc của hoàng thượng.”

“Hứa Văn Nhược… Đại lý tự khanh.” Khương Thanh Tố thầm lặp lại. Năm xưa án của nàng vẫn bị dồn ép trong Đại lý tự, nếu có thể kết giao cùng Hứa Văn Nhược, e rằng sẽ là một đột phá quan trọng.

Hứa Văn Nhược đã bước vào trà lâu, Khương Thanh Tố liếc nhìn thấy ánh mắt Lục Hinh còn vương chút không nỡ, liền nở nụ cười: “Lục cô nương thích vị Hứa đại nhân ấy.”

Lời nói chẳng phải câu hỏi, mà là đâm trúng tim đen. Lục Hinh sửng sốt, lại chẳng phủ nhận ngay. Nàng vốn tính thẳng thắn, liền đáp lời: “Lúc ta thi hương từng gặp qua một lần. Hứa đại nhân trẻ tuổi tài cao, lại cương trực không a dua, có phong thái sấm sét mà không kiêu ngạo, ta thực lòng khâm phục.”

Khương Thanh Tố mỉm cười sâu hơn. Tai nàng được Đơn Tà thi pháp, có thể nghe được lời trò chuyện dưới lầu của Hứa Văn Nhược, nghe xong nàng lộ vẻ bất ngờ, liếc sang Lục Hinh đang nhẹ nhấp trà, có chút thẹn thùng vì lời nói vừa rồi.

Khương Thanh Tố đặt chén trà xuống nói: “Thất lễ một lát.”

Lục Hinh tưởng nàng muốn ra ngoài một chút, liền gật đầu mỉm cười. Khương Thanh Tố vừa tới góc cầu thang gỗ xuống lầu liền ẩn thân, thấy Hứa Văn Nhược đã hỏi được điều mình cần, đang hướng lên lầu, nàng lập tức xoay người đi trước một bước, liếc nhìn Lục Hinh vẫn ngồi bên cửa sổ đầy tâm tư thiếu nữ, lòng nàng trầm xuống.

Nàng bước nhanh hơn, lập tức nhập vai.

Vừa rồi dưới lầu, Hứa Văn Nhược đến tìm Lục Hinh. Không rõ tại sao vị đại lý tự khanh trong lời kể của Lục Hinh lại biết thân phận của nàng ấy, nhưng một khi hắn chủ động đến, Khương Thanh Tố nhất định phải chớp lấy cơ hội này, tiếp cận tất cả những gì liên quan đến Đại lý tự.

Hứa Văn Nhược không dẫn theo đầy tớ, chỉ có hai thị vệ. Thị vệ dừng chân tại bậc thang tầng hai, còn Hứa Văn Nhược tự mình nhìn quanh, thấy bên cửa sổ chỉ có một nữ tử, liền bước tới, đứng bên cạnh nàng mới mở lời: “Lục cô nương.”

Khương Thanh Tố ngoảnh lại nhìn, đúng lúc gió lùa qua, mái tóc bên thái dương tung nhẹ, nàng khẽ đưa tay vén gọn sau tai, hơi sững người rồi đứng lên hành lễ: “Hứa đại nhân.”

“Cô nương nhận ra ta?” Hứa Văn Nhược có chút bất ngờ.

Khương Thanh Tố mím môi đáp: “Hôm mới đến kinh thành trọ ở trà lâu này từng trông thấy ngài một lần.”

“Còn hai tháng nữa là đến kỳ hội thí, trước đó các cử nhân đều tạm trú tại đây. Ta vì thay hoàng thượng phân ưu, thỉnh thoảng đến thăm các nhân tài tương lai của quốc gia.” Hứa Văn Nhược nói chuyện không nhanh không chậm, giọng trầm ấm dễ nghe. Khương Thanh Tố thầm nghĩ nếu thật sự kết giao được với hắn, cũng xem như giúp Lục Hinh một tay.

“Hứa đại nhân… tới tìm ta sao?” nàng hỏi.

Hứa Văn Nhược gật đầu: “Đúng vậy. Mấy hôm trước ta đi ngang qua đây, thấy Lục cô nương lấy thân nữ tử yếu mềm mà biện luận cùng bốn vị cử nhân, khí phách phi thường, nên muốn gặp mặt.”

Khương Thanh Tố hơi cúi đầu tỏ vẻ thẹn thùng, môi vẫn nở nụ cười: “Khiến đại nhân chê cười rồi.”

“Sau đó ta vào cung, kể lại lời của Lục cô nương với hoàng thượng, hoàng thượng đối với cô nương rất có hứng thú.” Hứa Văn Nhược vừa dứt lời, Khương Thanh Tố lập tức sững sờ.

Triệu Doãn lại hứng thú với Lục Hinh? Xét về tuổi tác, Triệu Doãn giờ đã quá năm mươi, còn Lục Hinh xinh đẹp lanh lợi, dẫu có được thu nạp vào cung thì… hắn còn có thể làm được gì?

Thấy Lục Hinh ngẩn người tại chỗ, Hứa Văn Nhược mỉm cười, khẽ nói: “Là ta nói chưa rõ, khiến cô hiểu lầm. Hoàng thượng đối với cô nương có hứng thú, không phải như cô nghĩ, mà là có ý định khảo nghiệm. Nếu cô nương vượt qua kỳ thi, có thể được ban một chức quan, phò tá triều đình.”

Khương Thanh Tố nghe vậy mới thở phào, thì ra là bản thân nghĩ sai rồi, liền quay lại hành lễ với Hứa Văn Nhược: “Là Lục Hinh mạo muội, xin thứ lỗi.”

“Cũng không thể trách cô. Cô là nữ tử, lời ta lại chưa rõ ràng, hiểu lầm cũng là lẽ thường.” Hứa Văn Nhược tiếp lời: “Hiện nay triều đình toàn là các lão thần, mà những người ấy lại hay ỷ vào tuổi tác để lên mặt. Hoàng thượng không hài lòng, vì thế giao việc tuyển chọn hiền tài, bổ sung nhân lực cho ta đảm nhiệm. Ta tìm đến cô nương cũng là vì việc này.”

Khương Thanh Tố chỉ hơi cúi người, không đáp, chờ Hứa Văn Nhược nói tiếp.

Quả nhiên, chẳng bao lâu sau hắn đã hỏi: “Cô nương thấy thế nào về gian thần phản quốc Khương Thanh Tố?”

“Việc này…” Khương Thanh Tố thoáng ngập ngừng, trong lòng đã đoán được đôi phần dụng ý của đối phương, liền ngẩng đầu nhìn sang. Hứa Văn Nhược thấy nàng như do dự, tưởng nàng sợ hãi, nhưng ánh mắt ấy, nàng đã nhìn thấu phần nào tâm tư trong lòng hắn.

“Cứ nói thẳng, trong lòng cô nương nghĩ thế nào, cứ nói ra.” Hứa Văn Nhược dịu giọng.

Khương Thanh Tố thu tay lại, đứng thẳng người, ánh mắt thẳng thắn đối diện: “Cố tướng Khương đại nhân là một vị hiền thần. Khi còn sống, bà vì dân vì nước, vì triều đình mà chọn nhân tài, còn xây dựng Thi Thư Trà Lâu để thiên hạ văn nhân có nơi luận bàn thi thư, quả là một nữ tử kỳ tài đương thế.”

“Nhưng bà ta phản quốc.” Ngón tay Hứa Văn Nhược gõ đều lên mặt bàn.

Khương Thanh Tố đáp: “Điều đó chưa chắc.”

“Bằng chứng đã rõ ràng, bà ta đã bị xử trảm, sao lại nói chưa chắc?” Hứa Văn Nhược hỏi.

Khương Thanh Tố hít sâu một hơi, đáp: “Người đã chết, là chết không đối chứng. Bà ấy chỉ là một nữ tử, đã làm đến chức Tể tướng, lúc bị cáo phản quốc cũng là lúc được Thánh Thượng sủng ái nhất. Xin mạo phạm nói một câu, khi đó bà ấy đã là kẻ chỉ dưới một người, trên vạn người, địch quốc có thể cho bà ta lợi ích gì hơn thế? Động cơ đã chẳng vững, dẫu có chứng cứ đưa ra, cũng khó tránh khỏi khiến người nghi ngờ.”

“Quả là lời nói không biết sợ chết.” Hứa Văn Nhược dừng tay, bỗng nhiên đứng dậy. Hắn cao hơn Lục Hinh rất nhiều, vài bước đã áp sát. Khương Thanh Tố buộc phải lùi lại, nhìn hắn với ánh mắt cảnh giác.

Hứa Văn Nhược hơi nheo mắt hỏi: “Cô nương có nguyện đến Đại Lý Tự làm việc?”

Khương Thanh Tố sững người, dường như hiểu được điều gì, lập tức hành lễ: “Đa tạ Hứa đại nhân đề bạt.”

“Chức vụ ta cho không tính, phải là hoàng thượng ban mới là thật. Nhưng ta tán thưởng dũng khí của cô nương. Dẫu là nam tử, chưa chắc đã có thể nói ra lời ấy. Hy vọng cô không chỉ dám nói, mà còn dám làm.” Nói đoạn, hắn rút trong tay áo ra một vật, đưa tới.

Khương Thanh Tố cúi đầu nhìn, chính là bài tín ra vào Đại Lý Tự. Tay nàng khẽ run, vẫn nhận lấy, trong lòng không khỏi dở khóc dở cười.

Thế gian lại có chuyện trùng hợp đến thế, đúng lúc nàng muốn minh oan, cơ hội liền xuất hiện trước mặt. Nói gì thì nói, nàng với Triệu Doãn trong một vài phương diện đúng là rất hiểu nhau. Nhưng… hắn làm vua mấy chục năm, tâm cơ đã càng sâu, càng hiểm.

Hứa Văn Nhược rời đi. Khương Thanh Tố cất bài tín đi, cũng không định giao lại cho Lục Hinh. Chuyện lần này, cứ để Lục Hinh chẳng hay biết thì hơn. Nếu để nàng biết bị nhập hồn, còn vô tình chuốc lấy chuyện rắc rối thế này, biết đâu lại quay lưng, cho rằng Khương tướng chính là yêu nữ phản quốc thật sự.

Đợi đến khi người dưới lầu cũng tan hết, Khương Thanh Tố mới rời khỏi thân thể Lục Hinh. Trong ngực nàng là khối ngọc bội, nhìn Lục Hinh vì bị mượn xác nhập hồn mà gục đầu ngủ gật bên bàn, nàng bước lại, khom người khẽ lay nàng tỉnh: “Tỉnh dậy đi.”

Lục Hinh từ từ mở mắt, nhìn thấy Khương Thanh Tố thì dụi nhẹ mi tâm, lẩm bẩm: “Sao ta lại ngủ quên thế này…”

“Chắc ta đi hơi lâu. Đã mệt rồi thì về nghỉ đi thôi, giờ cũng không còn sớm. Ta cũng phải về khách đ**m, kẻo phu quân ta lại lo lắng.” Khương Thanh Tố vừa nói, vừa chắp tay sau lưng, nhìn Lục Hinh còn ngái ngủ mà khẽ thở dài, chào từ biệt, rồi rời khỏi Thi Thư Trà Lâu.

Lúc nàng ra khỏi trà lâu, đúng lúc một cơn gió lạnh thổi tới. Nàng kéo mũ choàng lên đầu, lớp lông tuyết hồ trắng che kín nửa khuôn mặt. Vừa bước khỏi tửu lâu, nàng thở ra một hơi trắng xoá, lòng thầm nghĩ: ngày mai là Nguyên Sóc, có thể dẫn Đơn Tà đi ăn bánh chẻo rồi.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 83: Quân Thần Ly Biệt – Phần 7


“Vậy tức là… Bạch đại nhân lại làm quan rồi?” Thẩm Trường Thích gắp một chiếc bánh chẻo, vừa chớp mắt vừa hỏi Khương Thanh Tố.

Khương Thanh Tố liếc nhìn hắn, hơi cau mày: “Sao vậy? Ở Âm ty ta không phải cũng là quan sao?”

“Phải phải, ngài luôn là đại nhân.” Thẩm Trường Thích vừa nhai bánh vừa ậm ừ: “Ý ngài nói, là muốn mượn thân phận nữ cử nhân Lục Hinh, kết giao với Đại lý tự khanh, rồi từ Đại lý tự tra lại hồ sơ vụ án, giải oan cho bản thân?”

“Chính là thế, chỉ là mọi chuyện thuận lợi hơn ta dự liệu.” Khương Thanh Tố gắp một cái bánh chẻo bỏ vào bát Đơn Tà. Đơn Tà đang đọc sách, ngước mắt nhìn chiếc bánh, Khương Thanh Tố mỉm cười: “Hôm nay là Nguyên Sóc, ăn bánh chẻo là truyền thống.”

“Đúng đúng!” Thẩm Trường Thích gật đầu: “Khi ta còn sống cũng thế.”

“Vốn dĩ không có tục ấy.” Đơn Tà nói: “Sau này mới truyền lại.”

Khương Thanh Tố nghe thế, có chút hiếu kỳ: “Chàng sống bao lâu rồi? Trải qua bao nhiêu triều đại, cải cách, biến thiên lịch sử vậy?”

Đơn Tà không trả lời, chỉ gắp chiếc bánh chẻo rồi cho vào miệng, Khương Thanh Tố cười khẽ. Thẩm Trường Thích ăn liền mấy cái mà vẫn chưa nghe hết chuyện, sốt ruột hỏi: “Thế thuận lợi thế nào?”

Khương Thanh Tố liếc hắn, thở dài: “Triệu Doãn cũng muốn lật lại án cho ta.”





“Cái gì?! Ngài đã chết hơn hai mươi năm rồi, giờ hắn còn định lật lại án làm gì?” Thẩm Trường Thích bĩu môi.

Khương Thanh Tố đáp: “Chuyện này ta không rõ. Nhưng hôm nay Hứa Văn Nhược đến tìm Lục Hinh, lời nói mang ý rằng muốn nàng đến Đại lý tự tra án của ta. Hứa Văn Nhược vốn là Đại lý tự khanh, nếu muốn tra án, hắn thuận tiện hơn ai hết. Vậy mà lại phái một nữ cử nhân, xuất thân bình thường, không địa vị, nhưng gan dạ và quyết đoán đi tra, chỉ có một khả năng.”

Thẩm Trường Thích nhìn chằm chằm nàng. Khương Thanh Tố hờ hững cắn một chiếc bánh chẻo: “Ấy là Triệu Doãn muốn lật án, nhưng chẳng thật tâm muốn minh oan. Có lẽ trong lòng hắn, ta thực sự là kẻ phản quốc. Bởi vậy mới không để Hứa Văn Nhược điều tra, mà chọn một kẻ mới làm bia đỡ đạn. Nếu tra ra được điều gì thì công lao thuộc về Lục Hinh, nếu không tra được, chọc giận văn võ bá quan, thì Lục Hinh chịu trận.”

“Nhưng Lục Hinh chỉ là một cô nương thôi mà? Hoàng đế với Hứa Văn Nhược kéo nàng vào vòng xoáy triều chính, chẳng phải quá tàn nhẫn sao?” Thẩm Trường Thích nhếch môi: “Nước sâu thế này, may mà ta không làm quan.”

Khương Thanh Tố trừng mắt liếc hắn, tiếp tục gắp bánh cho Đơn Tà. Nàng không nói ra, nhưng thực lòng cũng chẳng hiểu vì sao. Đã hơn hai mươi năm, nàng không cam lòng bởi chết oan, còn Triệu Doãn thì sao lại không dứt ra được? Trừ khi, có điều gì khiến hắn buộc phải làm vậy.

Hai đĩa bánh chẻo, Đơn Tà chỉ ăn có hai cái, lại toàn là Khương Thanh Tố gắp cho mới chịu ăn, phần còn lại thì chui cả vào bụng Thẩm Trường Thích. Khương Thanh Tố cũng coi như ăn đã miệng.

Kinh thành vẫn phồn hoa náo nhiệt, phố xá đủ trò biểu diễn, tạp kỹ, nhưng Khương Thanh Tố không tham gia. Nàng trèo lên mái nhà khách đ**m, dưới bóng đêm, phóng mắt nhìn vạn ánh đèn sáng rực nơi kinh thành.

Trước đây, nàng chưa từng đứng ở nơi cao như vậy để nhìn xuống. Trong hoàng thành có một tòa tháp gọi là Kỳ Nhạn Lâu, cao mười hai tầng. Từ đỉnh nhìn xuống, có thể thấy trọn vẻ phồn vinh của kinh đô. Nàng từng ngang qua Kỳ Nhạn Lâu vô số lần, nhưng chưa từng nghĩ sẽ lên đó để nhìn kỹ mảnh đất mình đang sống.

Nàng từng lãng mạn, cũng từng bi quan, cuối cùng phiêu bạt năm năm, nhìn thấu nhân tình thế thái. Khi ấy, nàng nghĩ trong hoàng cung có người nàng muốn cất nhắc, cũng có kẻ nàng muốn giết. Những người đó, đều là cái gai trong mắt Triệu Doãn.

Hai mươi mấy năm cuộc đời, nàng đều xoay quanh hắn mà sống. Hôm nay, một lời của Thẩm Trường Thích đã gõ đúng nơi mềm yếu trong lòng nàng.

Áo bào đen lướt qua bên cạnh, Khương Thanh Tố ngẩng đầu, thấy Đơn Tà đứng bên cạnh mình. Nàng híp mắt nhìn hắn: “Đứng làm gì? Ngồi xuống đi.”

Thấy Đơn Tà không động, nàng nói tiếp: “Chàng nếu ngại bẩn, ta lau cho.”

Chưa kịp động tay, Đơn Tà đã nhẹ nhàng lắc đầu, ngồi xuống cạnh nàng. Khương Thanh Tố nhoẻn miệng cười, Đơn Tà hỏi: “Nàng đang nghĩ đến Triệu Doãn?”

Khương Thanh Tố sững người, chẳng biết nên gật đầu hay lắc đầu. Nàng nghĩ về cả cuộc đời mình, tất nhiên có cả hắn. Nhưng nghĩ tới người ngồi bên là kẻ hay ghen, nàng đành giấu đi, chỉ nói: “Thẩm vừa nói, Hứa Văn Nhược kéo Lục Hinh vào triều làm bia đỡ đạn, thật tàn nhẫn.”

“Quả thực là tàn nhẫn.” Ánh mắt Đơn Tà nhìn về phía hoàng thành sáng rực phía xa: “Theo nàng nói, hoàng gia, triều đình là nơi gió tanh mưa máu, không thích hợp với những người sống chân thành.”

“Vì lời ấy, ta mới chợt nhớ… chính ta cũng từng ở tuổi Lục Hinh, bị Triệu Doãn kéo vào triều làm bia đỡ đạn.” Khương Thanh Tố mím môi, chủ động nắm lấy tay áo Đơn Tà.

Một là sợ hắn nổi giận rồi rời đi, hai là lòng nàng chộn rộn, cần có thứ gì đó để bám víu cho yên lòng.

“Ta từng nghĩ, hắn cưới người khác là vì đại nghiệp. Hắn sai ta giết người là vì giang sơn. Trong mắt hắn, hoàng hậu và những phi tần do đại thần tiến cử đều không phải điều hắn thực sự muốn. Trước khi có quyền thế, ta là tri kỷ của hắn. Sau khi có quyền thế, ta là cánh tay phải. Ta từng chắc chắn, hắn yêu ta.”

Khương Thanh Tố lắc đầu: “Ta biết rõ bị lợi dụng, nhưng không hối hận, vì tin rằng trong tim hắn, ngoài giang sơn ra, người có vị trí nhất chính là ta. Giờ nghĩ lại, hắn giành được ngôi báu, có hậu cung mỹ nhân, rõ biết ta có tình ý, vẫn kéo ta vào cơn lốc chính trị… Thật tàn nhẫn, thật… vô tình.”

Đơn Tà không nói gì. Khương Thanh Tố quay sang nhìn hắn: “Chàng sẽ không đối xử với ta như hắn chứ?”

“Nhất định phải đem ta ra so với Triệu Doãn sao?” Đơn Tà đối diện với ánh mắt nàng, trong con ngươi hắn phản chiếu gương mặt mong manh của nàng. Câu nói ấy khiến Khương Thanh Tố thoáng đau lòng, vô thức lắc đầu: “Không phải vậy.”

“Nếu không phải đem so sánh, thì chỉ là tự dọa mình mà thôi.” Đơn Tà mím môi: “Mỗi lần nàng nhắc đến Triệu Doãn, ta đều khó chịu trong lòng. Muốn giận, nhưng lại chẳng thể nổi giận với nàng. Khương Thanh Tố, cả đời này ta chưa từng có tình cảm như vậy với ai. Trước khi gặp nàng, không biết yêu là gì, không hiểu tình ái là gì. Vì thế ta không hiểu, nếu nàng không yêu hắn, sao vẫn không buông xuống được? Mỗi lần nhắc đến hắn lại đau lòng, như thể không nỡ, lại như luyến tiếc.”

Khương Thanh Tố sững người. Nàng chưa từng nghĩ rằng mình đã khiến Đơn Tà có ảo giác như vậy. Vừa định mở lời giải thích, Đơn Tà lại tiếp: “Trước đây ta không hiểu, nhưng hôm nay thì hiểu rồi. Tiểu nhị trong quán nói một câu, ‘một lần bị rắn cắn, mười năm sợ dây thừng’, ta chợt hiểu — nàng chính là như vậy. Bị Triệu Doãn tổn thương, thất vọng đến nỗi không muốn đầu thai chuyển kiếp. Nên nàng mới nói những lời ấy với ta, không phải nàng không tin ta, mà là nàng sợ.”

Khương Thanh Tố nhìn hơi thở khẽ phập phồng của hắn, nhất thời quên cả phản ứng. Đơn Tà khẽ đưa tay vuốt lại một lọn tóc bị gió thổi tung của nàng, dịu dàng nói: “Vậy thì hãy nhìn cho kỹ, cảm nhận cho rõ. Ta không phải rắn, cũng chẳng phải dây thừng. Ta là Đơn Tà.”

Khương Thanh Tố chớp mắt nhìn khuôn mặt hắn, trái tim dần dần bình tĩnh lại. Nàng nói: “Ta có những điều không thể buông, có nỗi đau, nhưng không phải vì Triệu Doãn. Mà là không buông được chính bản thân mình, không xứng đáng với những ngu dại mà ta từng phạm phải.”

Im lặng một lát, nàng khẽ cụp mắt, lại nói: “Ta cũng có điều không nỡ, có điều luyến tiếc. Nhưng không nằm nơi trần thế, mà đang ở ngay bên ta.”

Đôi mày Đơn Tà hơi nhướng lên. Khương Thanh Tố mím môi, hít sâu một hơi, ngẩng đầu nhìn hắn: “Chàng nói chàng không phải rắn, không phải dây thừng, vậy hãy cho ta thêm thời gian. Cho ta kết thúc quá khứ, khi ấy, ta không còn là thiên kim họ Khương, cũng chẳng còn là Tể tướng Đại Chiêu.”

Đôi mắt Đơn Tà dịu lại, khẽ đáp: “Được, chỉ ba ngày.”

“Vậy ba ngày thì ba ngày.” Khương Thanh Tố đáp chắc nịch.

Khóe môi Đơn Tà khẽ cong, đôi mắt phượng cong cong, mày giãn ra, trong khoảnh khắc hắn cười, như hoa xuân nở giữa đông lạnh, ấm áp tràn về. Trái tim Khương Thanh Tố đập thình thịch, chẳng tự chủ được mà chỉ nhìn mỗi đôi mắt đang cười ấy, phảng phất như nhìn thấy một tiên nhân hạ phàm nơi đỉnh mây.

Một bông tuyết rơi xuống mũi nàng. Khương Thanh Tố bừng tỉnh, đưa tay khẽ chạm. Ngẩng đầu lên nhìn trời, bầu trời đêm đen thẫm, ngay cả những ngôi sao nhỏ cũng lặng lẽ ẩn mình, những bông tuyết trắng nhẹ nhàng rơi xuống — ngày đầu tiên của năm mới, kinh thành đã bắt đầu có tuyết.

Nàng đưa tay đón một bông tuyết giữa không trung, còn chưa kịp nở nụ cười thì dưới lầu vang lên tiếng pháo hoa. Có người dân mang theo con trẻ ra đốt pháo, pháo nổ tung rực rỡ giữa trời đêm, vang động cả một vùng trời, tuy âm thanh lớn nhưng lại rất đẹp.

Khương Thanh Tố thở dài một hơi, tâm trí bỗng rộng mở và tĩnh tại. Ngoài ra, còn có chút xao xuyến chẳng thể xua tan.

Nàng lại nhìn Đơn Tà, phát hiện hắn vẫn đang chăm chú nhìn mình, chưa từng dời ánh mắt. Trong lòng nàng chợt rung động, tựa như bị một thế lực vô hình dẫn dắt, nàng khẽ đặt tay lên đùi hắn, nghiêng người tới gần, nhắm mắt lại, đặt một nụ hôn nhẹ nhàng lên môi hắn.

Pháo hoa vẫn còn nở, tuyết trắng vẫn rơi. Khi nụ hôn ấy kết thúc, tất cả dường như đều ngưng lại. Khương Thanh Tố mở mắt, nhìn pháo hoa đang ngưng giữa không trung, nhìn những bông tuyết đang lơ lửng trước mặt, chẳng hiểu vì sao Đơn Tà lại hạ kết giới.

Bên trong kết giới, mọi thứ tĩnh lặng; bên ngoài ắt hẳn vẫn là một mảnh náo nhiệt.

Đơn Tà đưa tay khẽ nâng cằm nàng, bả vai Khương Thanh Tố khẽ rùng mình, cảm nhận được ngón cái hắn đang nhẹ nhàng lướt qua môi mình — nàng nhớ, lần trước nàng hôn hắn, hắn cũng làm vậy.

Nàng nhìn vào đôi mắt như vực sâu kia, ngẩn ngơ: “Chàng… sao lần nào ta hôn chàng xong, chàng cũng cứ như đang trêu ta vậy…”

Lời chưa dứt, Đơn Tà đã nghiêng người, khép đôi mắt phượng, môi mềm lại áp lên môi nàng. Bàn tay đang nâng cằm cũng chuyển thành ôm lấy gương mặt nàng.

Trái tim Khương Thanh Tố đập loạn, hơi thở cũng rối loạn. Nàng có thể cảm nhận hơi thở Đơn Tà phả lên mặt mình, có thể cảm nhận được sự mềm mại và ấm áp khi môi kề môi.

Nàng hoàn toàn bối rối. Lần này không phải là một nụ hôn nhàn nhạt, mà ngọt ngào như mật.

Đơn Tà như một đứa trẻ không nỡ ăn ngay viên kẹo mạch nha, cứ mãi mân mê, nếm đi nếm lại. Bàn tay ôm lấy má nàng cũng luồn ra sau đầu, những ngón tay trắng đẹp xuyên qua mái tóc nàng, khẽ cong lại, nhẹ nhàng như vu.ốt ve một món trân bảo.

Khi nụ hôn chấm dứt, Khương Thanh Tố đã bắt đầu thở d.ốc, mặt nàng đỏ ửng, thậm chí không dám nhìn hắn.

Đơn Tà lại hôn thêm lên khóe môi, rồi lại lên má, lên mắt — nói chung, trên gương mặt nàng, chỗ nào có thể hôn, hắn đều khẽ khàng đặt một nụ hôn.

Nàng co vai lại, hai tay chống xuống ngói để khỏi ngã, cánh tay khẽ run, giọng khàn khàn: “Chàng… chàng hôn đủ chưa?”

“Còn nàng thì sao?” Đơn Tà hỏi ngược lại.

Mặt nàng càng đỏ hơn, vội lấy tay che mặt, quay người bước xuống: “Ta phải về nghỉ, mai còn đến Đại Lý Tự trình diện.”

Đơn Tà nhìn bóng dáng loạng choạng xuống lầu của nàng, khẽ vung tay áo, ngẩng đầu hứng gió. Kết giới tan đi, ngoài trời pháo hoa cũng đã tàn, ánh mắt hắn dừng nơi hoàng thành, chậm rãi chìm sâu vào trầm mặc.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 84: Quân Thần Ly Biệt – Phần 8


Thẩm Trường Thích cảm thấy có chút sợ hãi, ngẩng đầu nhìn tấm biển treo cao trên cổng lớn — ba chữ “Đại Lý Tự” dù trong tiết trời tuyết phủ vẫn sáng rực lạ thường.

Hai bên cổng Đại Lý Tự, trên thân sư đá phủ đầy tuyết trắng, cây cối xung quanh cũng bị tuyết bao phủ thành một màu trắng xóa. Mấy người đứng gác trước cổng mặc triều phục chỉnh tề, dáng đứng thẳng tắp. Từ lúc Khương Thanh Tố và Thẩm Trường Thích vừa xuất hiện nơi đầu phố này, ánh mắt bọn họ đã dõi theo hai người suốt đoạn đường, chưa từng rời đi.

Thẩm Trường Thích lén nhìn người bên cạnh. Cô gái mới chừng mười sáu mười bảy tuổi, thân khoác cử nhân phục màu vàng nhạt, trong tay cầm bài thông hành mà Hứa Văn Nhược đã đưa hôm qua.

Thẩm Trường Thích vẫn còn thấp thỏm. Hắn vốn là Quỷ sai của địa phủ, nào từng nghĩ có ngày sẽ bước chân vào “Thập Phương điện” của nhân gian. Vốn dĩ Khương Thanh Tố định để Vô Thường đại nhân đi cùng, nhưng vị ấy chỉ nói một câu: “Chuyện của nàng, tự nàng làm đi. Ta không đi.”

E rằng Vô Thường đại nhân thực sự đã chán ghét Triệu Doãn đến mức cực điểm, ghét đến mức ngay cả Đại Lý Tự do hắn quản lý cũng không muốn đặt chân vào.

Đơn Tà không đi, Khương Thanh Tố chỉ còn cách kéo Thẩm Trường Thích theo, thêm người thêm việc dễ bề xoay xở. Lúc này, thân vận văn sinh y, Thẩm Trường Thích đứng lẩy bẩy, hai chân run rẩy dưới tà áo dài, quay sang nhìn “Lục Hinh” bên cạnh hỏi nhỏ: “Bạch đại nhân, ngài chắc chắn chúng ta vào được chứ?”

Khương Thanh Tố liếc hắn, lắc đầu vẻ bất mãn: “Ngươi làm ở địa phủ bao nhiêu năm rồi? Còn nhát gan như vậy, theo bên cạnh Đơn Tà gần năm trăm năm còn không tiến bộ!”

Thẩm Trường Thích bĩu môi: “Chính vì ở cạnh Vô Thường đại nhân nên mới ngày càng nhát gan đấy!”

Phải biết rằng, trong địa phủ, Vô Thường đại nhân còn đáng sợ hơn cả Diêm Vương.





Khương Thanh Tố hít sâu một hơi: “Ngươi nếu thật sự sợ, thì đi một bên mà ẩn thân rồi theo sau ta. Nếu không phải sợ ta một mình xoay không xuể, thì chẳng dẫn ngươi theo đâu! Đừng run nữa, Đơn Tà chỉ cho ba ngày, ta cũng chẳng muốn chìm đắm mãi trong chuyện cũ.”

Dứt lời, nàng cất bước đi trước. Thẩm Trường Thích đành bất đắc dĩ, đợi nàng đi xa rồi mới ẩn thân đi theo.

Vừa đến cổng Đại Lý Tự, liền có binh lính ngăn lại: “Cử nhân dừng bước, nơi này không phải chỗ ngươi có thể tùy tiện vào.”

Y phục trên người Khương Thanh Tố cho thấy thân phận nàng là nữ cử nhân. Dù cử nhân có thể được phong quan bất cứ lúc nào, con đường quan trường rộng mở, nhưng rốt cuộc hiện giờ vẫn chưa có chức vị, không thể ra vào những nơi trọng yếu như thế.

Khương Thanh Tố đưa bài thông hành trong tay ra, tên lính ngẩn ra, đưa mắt đánh giá nàng hai lượt, rồi thi lễ một cái, nghiêng người nhường đường.

Khương Thanh Tố biết bài trong tay đại biểu cho điều gì. Khi còn làm Đại Lý Tự khanh hai năm trước kia, nàng luôn mang theo bài này bên mình — thấy bài như thấy chính khanh. Có điều nay đã nhiều năm trôi qua, bài này được Hứa Văn Nhược giao cho nàng một cách dễ dàng, tất nhiên không còn quyền uy như trước.

Đến Đại Lý Tự, việc đầu tiên là tìm Hứa Văn Nhược. Trong tự có một khu chuyên dành cho quan viên thụ lý hoặc xử lý hồ sơ vụ án, nơi đây là chỗ làm việc của Đại Lý Tự khanh, Thiếu khanh, Tự thừa, Tự chính các cấp.

Khương Thanh Tố cùng Thẩm Trường Thích đến nơi thì thấy bên trong vắng tanh không một bóng người, chỉ có một người gác cửa đang quét sân. Thấy có người đến, liền hỏi: “Ngươi là ai? Đến tìm ai?”

Khương Thanh Tố ngẩn người, quét mắt qua y phục người đó rồi đáp: “Thiếu khanh đại nhân.”

Thẩm Trường Thích nhướng mày — ông lão lưng còng, râu dài đang quét dọn ấy lại chính là Đại Lý Tự Thiếu khanh? Thật không nhìn ra.

Thiếu khanh nhếch môi: “Mắt ngươi cũng tinh đấy.” Đoạn phẩy nhẹ vạt áo, che lại đồ án hình thú lộ ra dưới lớp áo. Ông lại hỏi: “Ngươi chính là nữ cử nhân mà Hứa Văn Nhược nói tới?”

Khương Thanh Tố gật đầu: “Chính là ta, hôm nay tới nhậm chức, không biết Hứa đại nhân an bài cho ta công việc gì?”

“Việc của ngươi Hứa Văn Nhược đã nói với ta. Gần đây quốc sự bận rộn, hắn cùng mấy vị thượng thư bị triệu vào cung. Việc ngươi cần làm, hắn nói ngươi thông minh, qua một phen trò chuyện hẳn đã hiểu dụng ý của hắn. Ta chỉ cần dẫn ngươi đến Tàng thư lâu là được.” Lão Thiếu khanh tuổi tác cao, dùng chổi như gậy chống, bước chậm rãi dẫn đường cho Khương Thanh Tố và Thẩm Trường Thích.

Khương Thanh Tố mím môi, quả nhiên đúng như nàng đoán — lần này muốn lật lại án, rõ ràng là ý chỉ của Triệu Doãn. May là nàng ứng biến lanh lẹ, nếu là Lục Hinh thực sự đến đây, e rằng với sự non nớt và thiếu kinh nghiệm, nhất thời chẳng thể hiểu hết thâm ý trong đó.

Tàng thư lâu nằm phía bên phải Đại Lý Tự, là một tòa lầu lưu trữ toàn bộ hồ sơ vụ án, chứng cứ, và ghi chép từ khi khai quốc đến nay. Đại Chiêu đã có hơn hai trăm năm lịch sử, mỗi năm ít nhất cũng có một hai vụ án khiến Đại Lý Tự phải vắt óc tra xét, tài liệu nơi đây nhiều như sao trời biển cả.

Đến nơi, vị Thiếu khanh nọ bỏ mặc nàng rồi rời đi, không hề nói thêm lời nào hay hướng dẫn gì. Khương Thanh Tố bất đắc dĩ lắc đầu, quay sang nói với Thẩm Trường Thích: “May là ta mang ngươi theo.”

Tàng thư lâu có lính canh gác khắp nơi, nhưng do được Thiếu khanh đích thân dẫn tới nên không ai ngăn cản. Bên trong chỉ có vài người đang tìm chứng cứ cho vụ án nào đó, hai viên lại ngồi ở cửa trước ghi chép hồ sơ.

Khương Thanh Tố đi dọc theo hành lang, người trong lầu chỉ liếc mắt nhìn nàng rồi lại cúi đầu, không ai chào hỏi, nàng thở phào — xem ra Hứa Văn Nhược quả thực quản lý Đại Lý Tự rất nghiêm minh.

Tài liệu trong Tàng thư lâu được phân loại theo niên đại, nàng đã chết hai mươi sáu năm, chỉ cần lần theo thời gian là có thể xác định khu vực tương ứng. Sau đó nhờ Thẩm Trường Thích lật tìm từng mục, kiểm tra dấu ký tên xem có thể phát hiện hồ sơ liên quan đến nàng hay không.

Thẩm Trường Thích chưa tìm được, nhưng Khương Thanh Tố đã tìm thấy. Mỗi tập hồ sơ đều được cất trong hộc kéo để bảo quản. Ngăn có tên nàng bên ngoài, mở ra bên trong toàn là những bằng chứng kết tội nàng phản quốc năm xưa.

Khương Thanh Tố vốn biết rõ vụ án của mình hoàn toàn là vu oan giá họa, khi đó chính Thiếu khanh Đại Lý Tự — Khúc Xương — từng đến gặp nàng trong ngục, nói rằng chứng cứ không nhiều, nhưng từng món đều chí mạng.

Khương Thanh Tố chưa từng tận mắt thấy mấy món gọi là “chứng cứ” đó, chỉ biết là một chiếc vòng tay và vài phong thư. Quả nhiên, khi mở ngăn kéo mang tên mình ra, bên trong có mấy bức thư và chiếc vòng tay, ngoài ra không còn gì khác.

Nàng mở thư ra xem, chỉ mới đọc dòng đầu tiên đã cau mày — nét chữ giống hệt của nàng, gần như không sai một nét. Nếu không phải biết chắc bản thân chưa từng viết những thư này, thì suýt nữa nàng đã nghi ngờ liệu có phải mình đã viết mà quên mất.

Thư được gửi cho một vị tướng của địch quốc, nội dung khiến nàng vừa thả lỏng đôi mày thì lại chau chặt trở lại.

Lúc này, Thẩm Trường Thích cũng tìm được hồ sơ vụ án của nàng, thở phào mở ra xem. Bên trong ghi chép vô cùng sơ sài, chỉ có vài dòng ghi thời gian bị phát hiện phản quốc và ngày hành hình. Thông thường một vụ án phải mở đường đường đại đường xét xử, thẩm cung, hỏi tội, mọi bước đều phải lưu trữ thành văn. Nhưng vụ án của nàng — không mở đường, không thẩm xét — rõ ràng có người đứng sau thao túng.

“Bạch đại nhân! Ta tìm được tờ nhận tội của ngài rồi!” Thẩm Trường Thích hạ giọng gọi, lấy ra tờ giấy có dấu tay máu của Khương Thanh Tố. Trong bản nhận tội không chỉ nhận tội phản quốc, mà còn khai thêm mười hai vị quan viên khác.

Khương Thanh Tố không để tâm, Thẩm Trường Thích bèn cúi người xem thư nàng đang cầm. Xem thư rồi lại đối chiếu với bản nhận tội, hắn nhướng mày: “Ngài còn viết thư tình cho tướng địch nữa cơ à?”

Khương Thanh Tố trừng mắt nhìn hắn: “Ta lần đầu tiên nhìn thấy mấy bức thư này.”

“Không phải ngài viết? Thế còn bản nhận tội kia thì sao?” Thẩm Trường Thích đặt bản nhận tội trước mặt nàng. Khương Thanh Tố thở dài: “Bản nhận tội là ta viết. Khi ấy thân thể ta suy yếu, trong ngục nhiều lần thổ huyết, lòng biết mình không còn cứu được, bèn muốn giúp Triệu Doãn lần cuối, kéo theo mười hai đại thần từng cấu kết với Tương Thân Vương cùng xuống nước. Những người đó, vốn chẳng cùng chiến tuyến với ta.”

“Ngài thật tàn nhẫn…” Thẩm Trường Thích rít lên: “Lỡ trong số đó có người vô tội thì sao?”

Khương Thanh Tố liếc hắn: “Lúc ấy ai còn nghĩ được xa xôi đến thế. Nhưng những bức thư này thật kỳ quặc. Ta từ nhỏ lớn lên ở kinh thành, ngoài năm làm Thị lang bộ Công phải đi khắp Đại Chiêu thì chưa từng bước ra khỏi biên giới nửa bước. Bao giờ quen được tướng địch? Trong thư còn đầy lời tình ý nồng nàn.”

“Dưới đây còn có bản đồ năm thành mười ba huyện.” Thẩm Trường Thích rút ra một tờ giấy gấp kỹ, mở ra thấy khổ giấy lớn, toàn là địa điểm trọng yếu về quân sự.

“Thời ta làm Tể tướng, toàn bộ binh quyền đều đã giao lại cho Triệu Doãn. Bản thân ta lấy đâu ra bản đồ quốc phòng?” Khương Thanh Tố lắc đầu: “Mấy chứng cứ này đầy sơ hở. Nếu là Triệu Doãn xem qua, nhất định sẽ không tin, nhưng hắn lại không chịu gặp ta lần cuối, thậm chí chẳng cho ta cơ hội biện giải nơi công đường.”

“Còn chiếc vòng tay này nữa.” Thẩm Trường Thích cầm lấy, xem hoa văn rồi ngẩn người: “Bạch đại nhân, ngài từng thấy chiếc vòng này chưa?”

“Chưa từng.” Khương Thanh Tố đáp, rồi bỗng khựng lại, như sực nhớ điều gì: “Không, ta từng thấy.”

Nàng cầm vòng lên xem, nói: “Ta nhớ lần đến Thi Thư Trà Lâu từng gặp một bé gái đi lạc mẫu thân. Ta giúp tìm thấy mẫu thân cho con bé, để cảm ơn, nó tặng ta chiếc vòng này. Ta nhận lấy nhưng không thích đeo mấy thứ đó, liền đưa cho nha hoàn đi cùng.”

“Đây là vật định tình ở Nam Di. Chỉ tặng cho nam nhân mình yêu mới tự tay đan kiểu hoa văn như vậy.” Thẩm Trường Thích sờ cằm nói: “Ngài bị gài bẫy rồi.”

Khương Thanh Tố hỏi: “Ngươi biết kiểu này sao?”

Thẩm Trường Thích đáp: “Chung Lưu từng đi khắp nơi cứu được một cô gái Nam Di, nàng ấy tặng hắn một chiếc như vậy. Ta đã thấy rồi.”

Khương Thanh Tố hít sâu, đặt lại toàn bộ giấy tờ vào ngăn, cau mày: “Lúc ta nhận vòng tay này, Nam Di còn chưa phát binh đánh Đại Chiêu. Vài tháng sau mới phát động chiến tranh. Giờ nghĩ lại, thì ra bên cạnh ta sớm có nội gián. Ta kết thù khắp triều đình, chủ yếu nhằm vào Tương Thân Vương. Người hại ta, tất là kẻ của hắn.”

“Hắn chỉ trông vào một cái vòng và mấy bức thư ám muội để khiến Nam Di đánh Đại Chiêu ư?” Thẩm Trường Thích hỏi.

Khương Thanh Tố lắc đầu: “Không. Ngươi thông minh hơn ta một lần đấy. Tương Thân Vương xưa nay luôn ngầm thông đồng với Nam Di. E là ngay từ khi Triệu Doãn đăng cơ, mối liên kết ấy đã hình thành. Một chiếc vòng Nam Di và mấy bức thư giả bằng nét chữ của ta — đúng là hành động mà một nữ quan có thể bị quy tội phản quốc.”

“Không ai biết ngài yêu hoàng đế sao?” Thẩm Trường Thích hỏi.

Khương Thanh Tố sững lại: “Chuyện ấy… không quan trọng. Quan trọng là — Triệu Doãn tin rồi.”

“Cô nương đang nói chuyện với ai vậy?” — một giọng nói bỗng vang lên.

Khương Thanh Tố giật mình quay đầu nhìn lại, chỉ thấy phía sau dãy giá đựng hồ sơ, Hứa Văn Nhược vận quan phục đang đứng đó.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 85: Quân Thần Ly Biệt – Phần 9


Hứa Văn Nhược bước đi không vội không chậm, Khương Thanh Tố nhìn khoảng cách từ nơi hắn vừa cất tiếng đến chỗ mình, vẫn còn khá xa. Vừa rồi nàng nói chuyện với Thẩm Trường Thích cũng cố tình hạ thấp giọng, chắc hẳn hắn không nghe thấy.

Sắc mặt Hứa Văn Nhược không hề thay đổi, càng khiến Khương Thanh Tố chắc chắn suy đoán của mình. Nàng khẽ mím môi, lắc đầu nói: “Không có gì, chỉ là đọc tài liệu nhập tâm, quen miệng đọc nhỏ thành tiếng.”

Nói xong, nàng lập tức hành lễ: “Bái kiến Hứa đại nhân.”

Hứa Văn Nhược khẽ nhấc tay nâng nàng dậy, ánh mắt dừng lại trên hồ sơ mà nàng vừa mở, khóe môi khẽ nhếch như mỉm cười: “Cô nương quả nhiên rất thông minh.”

Khương Thanh Tố không đáp. Hứa Văn Nhược hỏi: “Phát hiện được gì rồi?”

“Không có công đường thẩm vấn, chỉ có bản nhận tội. Tạm thời… vẫn chưa thấy điều gì.” Khương Thanh Tố đáp.

Hứa Văn Nhược mỉm cười nhẹ: “Không có công đường xử án, chính là phát hiện rồi. Cô có biết vì sao lại không có không?”

Khương Thanh Tố ngẩn ra, ngẫm nghĩ kỹ về tình hình Đại Chiêu lúc nàng bị giam vào ngục. Thật ra đến lúc chết nàng cũng không hay biết khi đó Đại Chiêu đang trong tình thế chiến tranh với Nam Di, nhưng sau khi chết thì rõ ràng hơn nhiều.

“Hai mươi sáu năm trước là lúc Nam Di x*m ph*m l*nh th* Đại Chiêu. Khương Tể tướng bị cáo phản quốc là tội lớn, một nữ tể tướng thông đồng với địch quốc sẽ khiến triều cục chao đảo. Hoàng thượng vì muốn ổn định lòng người, không thể để phản thần có cơ hội biện hộ.” Khương Thanh Tố nói.



Hứa Văn Nhược khẽ nhếch môi: “Đầu óc cô xoay chuyển nhanh thật, tự biện cho vụ án mù mờ ấy một lý do hợp lý. Quả thực hai mươi sáu năm trước là lúc Nam Di xâm phạm Đại Chiêu. Nhưng nguyên nhân Khương Tể không được đưa ra công đường, không phải vì hoàng đế, mà là vì dân chúng.”

Khương Thanh Tố sửng sốt: “Vì dân chúng?”

Nàng chưa từng làm điều gì bất lợi cho bách tính. Dù tay nàng từng vấy máu, thì những người đó cũng đều là kẻ gây loạn triều chính.

Hứa Văn Nhược buông tập hồ sơ, chắp tay sau lưng nói: “Việc này phải tra trong sử sách của Thái sử lệnh. Khi Khương Tể tướng vừa bị buộc tội phản quốc, cho dù hoàng thành phong tỏa tin tức, vẫn chỉ trong một đêm mà truyền khắp kinh đô. Khương Tể tướng vào ngục, trăm họ quỳ trước Đại Lý Tự, tay cầm khăn trắng viết bằng máu, khẩn cầu xử trảm phản thần. Dư luận nổi lên, chắc chắn có người đứng sau thao túng. Phía trước chiến sự khốc liệt, phía sau bách tính ép giết. Dù có tìm ra kẻ giật dây, cũng không thể cứu được mạng của Khương Tể tướng. Bà ấy phải chết mới có thể bịt miệng thiên hạ.”

“Vậy nên… nhất định không thể để bà ấy được ra công đường, không thể cho bà ấy cơ hội tự biện hộ.” Nghe đến đây, lòng Khương Thanh Tố chợt lạnh băng.

“Cô nương định làm gì tiếp theo?” Hứa Văn Nhược quay đầu nhìn nàng. Khương Thanh Tố nhận ra chẳng biết từ lúc nào mình đã bước ra khỏi Tàng thư lâu, đi theo hắn.

Nàng mím môi, cúi đầu hỏi: “Hứa đại nhân có gì cần sai khiến, xin cứ nói thẳng.”

“Đúng như cô nói, Khương Tể chưa chắc là kẻ phản quốc. Sự thật thế nào, hiện nằm trong tay Lục cô nương. Nếu cô giúp bà ấy rửa oan, bà ấy sẽ cảm tạ cô. Còn nếu cô chứng thực tội danh ấy, trong cung cũng sẽ có người được giải thoát.” Hứa Văn Nhược thẳng lưng bước vào một tiểu viện, môi vẫn điểm nụ cười nhàn nhạt.

Khương Thanh Tố hơi nhíu mày — người trong cung được giải thoát? Ý hắn là Triệu Doãn? Hứa Văn Nhược muốn ám chỉ rằng suốt hai mươi sáu năm qua, Triệu Doãn sống trong dằn vặt lương tâm?

Khương Thanh Tố không tin. Trong mắt nàng, kẻ này tâm tư sâu không lường được, lời nói đầy mập mờ, chuyên gạt gẫm những cô nương ngây thơ.

Thấy Hứa Văn Nhược đã đi xa, nàng vội theo kịp, luôn giữ khoảng cách nửa bước phía sau hắn. Hứa Văn Nhược lại nói: “Khi ta nhận chức Đại Lý Tự khanh, từng xem lại hồ sơ vụ Khương Tể tướng phản quốc không dưới mấy lần. Phải nói là tin tức quá ít, triều cục khi đó cũng chẳng phải hoàng đế nói một là một. Vụ án này như lớp sương mù, cô nương nếu có thể vén được lớp sương ấy, ta sẽ vì cô xin một chức quan với hoàng thượng.”

Khương Thanh Tố mím môi: “Thứ cho ta mạo muội, vì sao Khương Tể tướng đã chết hơn hai mươi năm rồi, nay vẫn cần phải minh oan cho bà?”

Hứa Văn Nhược bước đến bên một cành mai phủ tuyết, đỏ thắm như lửa, nửa che bởi tuyết trắng. Hắn hái một đóa, đưa cho nàng: “Đưa tay ra.”

Khương Thanh Tố chìa tay, Hứa Văn Nhược đặt cành hoa vào tay nàng. Nàng nhìn đóa hồng mai còn vương tuyết, khẽ nhướng mày: “Đại nhân cảm thấy Khương Tể tướng bị oan sao?”

“Một đời người, khó tránh khỏi sai lầm. Có sai lầm thì phải có người sửa chữa.” Hứa Văn Nhược nghiêng đầu nhìn bước chân của nàng, nhận ra nàng luôn giữ khoảng cách đúng mực nửa bước phía sau, khóe môi khẽ cong đầy thú vị: “Cô nương trông thật không giống một nữ cử nhân mới vào kinh.”

Khương Thanh Tố sững người, Hứa Văn Nhược chỉ xuống chân họ nói: “Trông như một người đã quan trường nhiều năm, nắm rõ quy củ chốn quan trường.”

Khương Thanh Tố lập tức hiểu ý, liền giải thích: “Gia phụ từng làm quan ở kinh thành, trước lúc ta lên đường, ông dặn dò rất kỹ, sợ ta tuổi trẻ bồng bột, đắc tội người khác.”

Hứa Văn Nhược lắc đầu: “Không, cô nương không giống lời phụ thân cô nói. Ngược lại, rất thông minh, tiến thoái đúng mực.”

Khương Thanh Tố cúi đầu: “Hứa đại nhân quá khen.”

“Đi thôi, ta đưa cô đến Thời Lục lâu.” Hứa Văn Nhược chắp tay sau lưng, bước nhanh về một hướng khác.

Lầu Thời Lục vốn ghi lại nhất cử nhất động của các quan viên trong triều bị kết án, từ khi nhập ngục cho tới lúc tử hình hoặc được phóng thích. Lầu này chính là do Khương Thanh Tố khi còn đảm nhiệm chức Đại Lý Tự khanh đích thân cho lập. Khi ấy, nàng từng xử lý mấy kẻ miệng kín như bưng, dẫu lấy vợ con ra uy h**p vẫn không hé môi, nên nàng mới sai người ghi lại hành vi thường ngày của chúng, mong tìm ra sơ hở — bởi lẽ chẳng ai có thể mãi mãi cảnh giác, luôn sẽ có lúc sơ suất.

Nàng chẳng ngờ chính mình sau khi cho lập Thời Lục lâu không bao lâu, lại cũng rơi vào cảnh lao ngục.

Tự nhiên, mọi hành vi của nàng trong mấy tháng bị giam cũng đều bị ghi lại.

Đến Thời Lục lâu, Hứa Văn Nhược đẩy cửa bước vào. Dù mới thành lập chưa lâu, nhưng lượng tư liệu nơi đây chẳng hề kém cạnh Lầu Hồ Sơ, bởi từng giờ từng khắc đều có ghi chép, trải qua hơn hai mươi năm đã chất đầy mấy bức tường.

Trong lầu chỉ có hai người đảm nhiệm ghi chép và hai người trông coi. Hứa Văn Nhược vừa vào, hai người ghi chép liền lặng lẽ lui xuống.

Khương Thanh Tố đi theo sau, thấy Hứa Văn Nhược kéo ra một chiếc hộp nơi góc khuất, bên trong là một xấp dày ghi chép lại sinh hoạt của nàng khi ở trong lao ngục — ăn, ngủ, tỉnh, mộng.

Hắn đặt hộp lên bàn, đẩy đến trước mặt nàng: “Ở đây, có lẽ còn có manh mối giúp phá án.”

Khương Thanh Tố đưa tay vuốt mũi. Nàng sống thế nào, đương nhiên còn rõ hơn cả những gì được ghi lại. Nhưng Hứa Văn Nhược thì không biết điều đó. Xem điệu bộ của hắn, dường như thật tâm muốn giúp nàng rửa oan, chỉ là không rõ lời hắn từng nói — “có người phạm sai, phải có người sửa chữa” — rốt cuộc ám chỉ điều chi.

Giao lại hồ sơ xong, Hứa Văn Nhược đi làm việc khác, trong lầu chỉ còn lại Khương Thanh Tố đang mượn thân xác Lục Hinh, và Thẩm Trường Thích từ đầu vẫn im lặng.

Khương Thanh Tố mở từng trang xem, Thẩm Trường Thích đột nhiên nói: “Bạch đại nhân, ta thấy Hứa Văn Nhược hình như có tình ý với ngài…”

“Cái gì mà có tình ý?” Nàng liếc xéo hắn một cái.

Thẩm Trường Thích gãi đầu: “Thì… là có tình ý ấy.”

Nàng trừng mắt, rồi tiếp tục xem hồ sơ. Phần đầu toàn là ghi chép vụn vặt, ăn uống thường nhật. Đến những tờ sau, nàng mới thấy điều bất thường:

Ngày mười chín, giờ Hợi: Nói tiếng Nam Di, không rõ nội dung.

Ngày hai mươi, giờ Tý: Kêu lớn đòi gặp Thánh Thượng, xin giáng chức đến Nam Di.

Ngày hai ba, giờ Sửu: Có vẻ hối hận, nguyện nhận tội chịu hình.

Khương Thanh Tố biết rõ mình bị chém đầu vào ngày hai mươi bảy, ngày hai ba quả thật nàng nhận tội và viết nhận tội thư, kéo theo mười hai vị đại thần khác xuống nước, nhưng nàng chưa từng nói tiếng Nam Di, càng chưa từng xin đi làm quan nơi địch quốc.

Đã bị nhốt vào tử lao, lại được giám sát nghiêm ngặt, mà những câu như vậy vẫn bị ghi vào hồ sơ, thì rõ ràng trong Đại Lý Tự có người của Tương Thân Vương.

Năm xưa khi nàng bị giam, Tương Thân Vương từng đích thân đến, buông lời cay nghiệt, trách nàng phá hoại đại sự. Nàng khi ấy còn ngây thơ, cho rằng lời hắn sẽ được ghi chép lại và đến tay Triệu Doãn. Nay nghĩ lại, chỉ thấy nực cười.

“Cũng may lúc viết thư nhận tội ta đã đề phòng, bắt buộc phải có Thiếu khanh và năm vị Đại Lý Tự thừa ở đó chứng kiến, ký nhận, cuối cùng giao cho Thiếu khanh giữ. Cũng may Khúc Xương là đệ tử của ta, nếu không bản cung nhận tội ấy e là cũng bị người ta sửa đổi rồi.” Nàng lắc đầu, xếp lại tất cả giấy tờ.

Trời bên ngoài đã ngả tối, Khương Thanh Tố bảo: “Đi thôi, về trước đã, nơi này tra được từng ấy là đủ rồi.”

Hai người trở lại Thi Thư Trà Lâu, vừa vào cửa liền gặp bạn của Lục Hinh— Giang Nguyệt.

“Lục Hinh, cả ngày hôm nay không thấy ngươi đâu.” Giang Nguyệt hỏi.

Khương Thanh Tố mím môi, làm ra vẻ mệt mỏi dựa vào Giang Nguyệt: “Ta nhức đầu, đỡ ta một chút.”

Nói xong liền rời khỏi thân xác, Lục Hinh ngất đi, Giang Nguyệt hoảng hốt gọi người đỡ vào. Nàng thì tránh đám đông, vòng qua khách đ**m sát bên.

Thẩm Trường Thích đã về trước, đang cùng Đơn Tà ngồi ở góc sảnh, đưa thông hành lệnh cho hắn.

Khương Thanh Tố bước tới, vừa ngồi xuống liền bị Đơn Tà ngẩng đầu nhìn.

Nàng thấy ánh mắt kia kỳ lạ, rụt vai hỏi: “Sao vậy?”

“Nam nhân kia thích nàng?” Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố chưa hiểu ý, liếc qua đã thấy Thẩm Trường Thích đang ôm mặt, liền nhặt một hạt lạc ném vào trán hắn, tức giận: “Ngươi lại nói bậy bạ gì với Đơn đại nhân? Ngươi giỏi ăn nói, ngay cả người chết cũng kể như sống lại.”

“Lời ấy không đúng, ta không thể kể sống người chết.” Thẩm Trường Thích nhỏ giọng lẩm bẩm: “Mà Hứa Văn Nhược ấy, đúng là có phần nghiêng tình với ngài…”

Đơn Tà nhíu mày, Khương Thanh Tố thở dài: “Hắn đưa ta đâu phải là hoa, mà là tuyết trên hoa. Ta hỏi hắn có tin ta bị oan không, hắn tặng hoa mai phủ tuyết, ý bảo ‘tuyết minh oan khuất’.”

“Ngài xem, ta lại không hiểu tầng nghĩa ấy, mà ngài lại hiểu.” Thẩm Trường Thích cúi đầu, muốn tàng hình.

Khương Thanh Tố tức đến nỗi đập bàn: “Ngươi ngốc thì nói ngươi ngốc!”

Đơn Tà đẩy thông hành lệnh về phía nàng, nàng vẫn còn tức, bèn nói: “Ngươi ghen với ta với Đơn đại nhân sao? Hay là thích Đơn đại nhân?”

“Khụ khụ.” Đơn Tà đưa tay che miệng, ánh mắt liếc sang Thẩm Trường Thích suýt khóc. Khương Thanh Tố chỉ thẳng vào hắn: “Bịt miệng hắn lại!”

Thẩm Trường Thích kinh hãi: “Ta đâu có ——”

“Phong.”

“….”

“Ngày mai ta đi với nàng.” Đơn Tà nói.

Khương Thanh Tố mỉm cười: “Được.”

Hắn lại đưa quạt gõ lên trán nàng: “Xem như phạt.”

Khương Thanh Tố “á” một tiếng, xoa đầu, khẽ nói: “Ta làm gì sai chứ?”

Đơn Tà liếc nhìn Thẩm Trường Thích sắp khóc, nhẹ giọng: “Ăn nói không suy nghĩ.”

Khương Thanh Tố sững người — quả là nàng lỡ lời thật.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 86: Quân Thần Ly Biệt – Phần 10


Miệng của Thẩm Trường Thích bị phong lại, chắc chắn không thể ăn uống gì, Khương Thanh Tố liền kéo Đơn Tà ra ngoài dùng bữa, để mặc hắn một mình trong khách đ**m.

Khương Thanh Tố dẫn Đơn Tà ra khỏi khách đ**m, trên đường đi kể lại chuyện ban ngày trong Đại Lý Tự đã xem qua thư tín cùng vật chứng vu oan. Đơn Tà nhướng mày:

“Vu oan nàng tư tình với tướng quân địch quốc?”

Khương Thanh Tố gật đầu, vẻ mặt u uất:

“Chàng cũng thấy thật vô lý đúng không? Lúc ta chết, bọn họ gán cho ta nhiều tội danh, nhưng chưa từng đề cập đến chuyện tội phản quốc được xác lập từ mấy bức thư tình không phải do ta viết.”

“Nàng không kêu oan?” Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố thở dài:

“Sao lại không? Chỉ là chẳng có đường kêu oan mà thôi. Từ lúc ta bị giam vào ngục, chỉ gặp ba người—một là Tương Thân Vương đến để giễu cợt, một là Khúc Xương, lần đầu đến để biểu lộ trung thành, lần thứ hai là khi ta viết thư nhận tội. Ngoài ra chỉ có người mang cơm đến, nhưng là người câm điếc, chẳng thể nói một lời với ta.”

“Đáng thương.” Đơn Tà nghe xong, khóe mắt lại lộ ra một tia ý cười, đưa tay xoa đầu Khương Thanh Tố khiến nàng ngơ ngác.

“Chàng thấy buồn cười à?” Khương Thanh Tố hỏi.

Đơn Tà đáp:

“Chỉ thấy ngu ngốc mà thôi.”

Khương Thanh Tố nghe thế, thở dài:

“Thấy chưa, ngay cả chàng, người chưa từng gặp ta khi còn sống, cũng nói là ngu ngốc, thì đừng nói gì đến người ngồi trên ngôi vị kia nữa.”



“Chuyện này chỉ có hai khả năng.” Đơn Tà khẽ nắm lấy tay Khương Thanh Tố:

“Một, Hoàng đế muốn nàng chết. Hai, Hoàng đế không có quyền quyết định.”

“Lúc ấy Đại Chiêu đang giao chiến với Nam Di, tin ta phản quốc còn chưa xác thực đã bị rò rỉ, chưa đầy một tháng, cả nước đều biết, bách tính cũng hô hào đòi xử tử ta. Những điều này hôm nay ta mới biết.” Nói xong, ánh mắt nàng dừng lại ở một quầy bán bánh hấp ven đường, kéo tay Đơn Tà đi tới:

“Ta muốn ăn cái này.”

Đơn Tà gật đầu:

“Được.”

Khương Thanh Tố mua một miếng bánh hấp, còn nóng hổi, bên trên có táo đỏ. Nàng cắn một miếng, thấy mùi vị ngon lành, liền đưa tới miệng Đơn Tà. Hắn thoáng nhìn, ngừng một nhịp rồi mới cúi đầu cắn một miếng.

“Ngon không?” Khương Thanh Tố hỏi, mắt sáng rỡ.

Đơn Tà đáp:

“Ngọt.”

“Ta thích đồ ngọt.” Khương Thanh Tố cười, lại đút cho Đơn Tà một miếng nữa rồi mới nói:

“Ta nghĩ ra một cách để rửa sạch oan khuất của mình.”

Đơn Tà mím môi:

“Liên quan tới việc nàng muốn lấy lòng ta à?”

Khương Thanh Tố bước chân khựng lại, có chút ngượng ngùng:

“Chàng đoán ra rồi?”

“Không.” Đơn Tà lắc đầu.

Khương Thanh Tố thở dài, miệng còn ngậm bánh hấp:

“Ta như vậy là chết không có chứng cứ, mà còn đã chết mấy chục năm, rất nhiều thông tin hữu ích đều bị dòng thời gian cuốn trôi. Lúc này chỉ có thể dùng chút mưu mẹo, lấy đạo người trả lại cho người.”

“Nàng biết ai là kẻ muốn giết nàng năm đó không?” Đơn Tà hỏi.

“Triều đình văn võ bá quan, ít ai không ghét ta. Nhưng nếu nói ai hận ta nhất, chắc chắn là Tương Thân Vương.” Khương Thanh Tố nói:

“Khi xưa Triệu Doãn vì nhà họ Khương mà lật đổ Đại hoàng tử, khiến Tương vương bị vạ lây. Sau này Triệu Doãn lên ngôi, để xoa dịu tạm thời liền phong Tương vương làm Tương Thân Vương. Dù vậy, Triệu Doãn vẫn kéo ta vào cuộc, khiến Tương Thân Vương bực tức không nói nên lời, chỉ có thể âm thầm chịu đựng, nên lập mưu hãm hại ta. Sau khi ta vào ngục, hắn là người đầu tiên tới gặp ta, nghiến răng nghiến lợi, vừa muốn giết ta vừa muốn thấy ta bị giày vò.”

Ánh mắt Đơn Tà dừng nơi một điểm phía trước, giữa mày khẽ nhíu, nhưng quay sang Khương Thanh Tố thì sắc mặt vẫn bình thản:

“Nàng định trả lại thế nào?”

“Hắn đã vu oan ta, thì ta cũng không ngại hắt lại chậu nước bẩn đã tích tụ hơn hai mươi năm lên người hắn. Chỉ là cách làm hơi khéo léo một chút, chàng có thể sẽ không vui.” Khương Thanh Tố gãi mặt, thấy Đơn Tà không nói gì, liền nhỏ giọng nói:

“Ta định viết thư tình cho Triệu Doãn.”

Bước chân Đơn Tà dừng lại, ánh mắt lạnh lẽo nhìn sang Khương Thanh Tố, nàng lập tức đưa miếng bánh hấp tới bên miệng hắn:

“Chàng ăn đi.”

“Không ăn.” Đơn Tà nhíu mày: “Nói rõ ràng.”

“Tương Thân Vương vu oan ta vì yêu tướng địch mà phản quốc. Dù lý do ấy chưa bị công khai, nhưng người trong kinh thành phần lớn đều biết. Một nữ tướng, quyền cao chức trọng, hai mươi lăm tuổi chưa lấy chồng, chỉ có tình cảm mới khiến lòng người dao động. Muốn chứng minh ta không phản quốc, tất phải loại bỏ lý do này.” Khương Thanh Tố mím môi:

“Năm ấy ta đối với Triệu Doãn có tình cảm, tuy người khác không rõ, nhưng sự dung túng của Triệu Doãn dành cho ta, cả triều đều thấy. Nếu khéo lợi dụng, trong thời gian ngắn ta có thể lật lại vụ án.”

“Đây là đạo người trả lại cho người của nàng?” Đơn Tà rõ ràng không hài lòng:

“Kẻ khác giả mạo bút tích của nàng viết thư tình, nàng cũng tự tay viết một bức? Trong đầu nàng rốt cuộc đang nghĩ cái gì vậy?”

“Là để rửa oan!” Khương Thanh Tố đáp, rồi chêm thêm:

“Còn vì chàng nữa.”

Đơn Tà nghẹn lời, nhìn Khương Thanh Tố với vẻ mặt đầy ý làm nũng kia, chân mày ngày càng nhíu lại, tức giận trong lòng mà chẳng biết phát ra sao.

“Nàng cố ý chọc giận ta phải không?” Đơn Tà nói.

Khương Thanh Tố cười khẽ, đưa tay kéo tay áo của Đơn Tà:

“Chàng là tốt nhất…”

Lần đầu tiên được lợi khi làm nũng với Đơn Tà, Khương Thanh Tố liền ghi nhớ điều này. Người này ngoài mặt lạnh lùng, dữ tợn, nhưng thực chất lại “mềm không ăn cứng”. Nếu nàng cứng rắn, Đơn Tà có khi lập tức mang nàng về địa phủ, thu hồi pháp lực giúp nàng qua lại nhân gian địa phủ. Nhưng nếu nàng mềm mỏng, Đơn Tà thường sẽ thuận theo ý nàng.

“Ta chẳng tốt chút nào cả.” Đơn Tà hất tay Khương Thanh Tố ra, sải bước đi thẳng. Khương Thanh Tố lập tức đuổi theo, nắm chặt lấy cổ tay hắn:

“Ta sẽ viết cho chàng một bức! À không… ba bức! Mười bức! Mỗi chữ đều là chân tình, mỗi câu đều khẩn thiết, thiết tha, tâm can… tâm…”

Một ánh mắt của Đơn Tà đã khiến nàng ngậm miệng. Khương Thanh Tố mím môi, vẫn kéo lấy tay hắn không buông. Đơn Tà giơ tay còn lại lên, nàng thấy hắn cầm cây quạt, tưởng sắp bị đánh nên vội nhắm mắt, khẽ nghiêng đầu.

Nhưng cây quạt trong dự đoán không rơi xuống, ngược lại là ngón tay chạm vào khóe môi nàng. Khương Thanh Tố mở mắt, thấy Đơn Tà lau vết táo đỏ ở miệng mình:

“Viết đi.”

“Viết cho ai? Cho chàng hay cho Triệu Doãn?” Khương Thanh Tố hỏi, người vừa được dỗ xong lại lộ vẻ khó chịu. Nàng bật cười:

“Nếu chàng là nam tử chốn nhân gian, chắc hẳn sẽ bị nữ nhân xoay vòng vòng.”

“Không hẳn.” Đơn Tà thu tay lại:

“Nếu không phải là người ta thật tâm, một lời ta cũng lười nghe.”

Lần này đến lượt Khương Thanh Tố đỏ mặt. Nàng biết Đơn Tà chịu đồng ý, trong lòng vẫn còn giận, nhưng nàng cũng không còn cách nào khác. Vụ án hơn hai mươi năm trước, ghi chép liên quan cực kỳ ít ỏi, chỉ còn vài món vật chứng được bảo tồn. Nàng đành phải làm giả trên những chứng cứ ấy, phá ngược chúng để đòi lại công bằng.

Phía bên kia dòng người, có vài người được phủ đinh hộ tống bước tới. Đơn Tà thấy bên phải có một cây cầu, người bên kia chưa có ý định lên, hắn liếc nhìn Khương Thanh Tố đang ăn bánh, đôi mắt thỉnh thoảng liếc về phía mình, bèn mím môi kéo nàng:

“Sang bên kia đi dạo một chút.”

“Được thôi.”

Hắn dẫn nàng lên cầu. Một người mặc đen, một người mặc trắng, cả hai khoác áo lông cáo, bóng dáng nổi bật. Vừa bước lên cầu đã khiến nhiều người ngoái nhìn. Đơn Tà bước chậm rãi, nhưng sải chân lại lớn hơn trước. Khương Thanh Tố mải mê ăn uống, không nhận ra điều khác thường.

Lúc này, một nhóm người đang vây quanh một nam nhân ở giữa đám đông. Có người ghé sát, hạ giọng nói:

“Đại nhân Hứa, long thể của Hoàng thượng…”

“Chỉ là bệnh nhẹ, không có gì đáng ngại.” Hứa Văn Nhược đáp. Bên cạnh hắn là vài vị đại nhân trong triều. Lần này bị lôi ra ngoài, e là do phe Tương Thân Vương nóng ruột, muốn từ hắn dò la tin tức.

“Nhưng Hoàng thượng đã hơn một tháng không lên triều, chỉ truyền vài vị đại thần vào cung nghị sự. Tiếp tục thế này, e có người tung tin bậy.” Một người khác nói.

Hứa Văn Nhược liếc nhìn vài người đó, hơi cau mày:

“Nếu các ngươi không đồn, còn ai có thể lan truyền?”

Nói rồi, hắn nhíu mày bực bội, ánh mắt rời khỏi những người đó, vô tình dừng lại nơi đầu cầu—một nữ tử trong váy trắng, khoác áo lông hồ tuyết, môi nở nụ cười nhạt, ánh mắt nhìn về chiếc thuyền nan dưới cầu. Chỉ một bên mặt ấy thôi, Hứa Văn Nhược bỗng rùng mình.

“Đại nhân Hứa, chúng ta chỉ lo cho thánh thể Hoàng thượng, ngài nói vậy thật khiến người ta lạnh lòng.”

“Phải đấy… Ta nghe nói trong cung đã có lời dị nghị nên mới lo lắng…”

“Hứa đại nhân? Hứa đại nhân!”

Có người vỗ vai, Hứa Văn Nhược giật mình tỉnh lại. Nhìn lên cầu, đã không còn bóng nữ tử ấy, chỉ còn người qua lại tấp nập.

Hắn cau mày, nói lời từ biệt:

“Chuyện hôm nay đến đây thôi. Mong các vị giữ kín lời. Nếu còn ai tung tin đồn nhảm, ta tất sẽ tấu lên Hoàng thượng xử nghiêm.”

Cảnh cáo xong, hắn chắp tay hành lễ, rồi vội vàng đẩy người đi về phía cây cầu. Đến nơi, đảo mắt nhìn quanh, thấy không ít người mặc áo trắng, nhưng không ai khoác áo hồ ly. Sau mấy lượt tìm kiếm vẫn không thấy bóng dáng ấy, lòng hắn sinh nghi: chẳng lẽ mình nhìn nhầm?

Gương mặt ấy, hắn từng thấy biết bao lần trong Tử Thần điện, một bức họa treo ngay cạnh giá sách. Các đại thần được triệu vào điện đều rợn gáy khi nhìn thấy, bởi tranh vẽ chính là Khương Thanh Tố—nữ tướng bị oan mà chết hai mươi sáu năm trước.

Hoàng thượng treo tranh ấy trong điện, không nói lời nào nhưng ai cũng hiểu. Ngoài cảm giác hối hận và thương xót, bức họa còn là một lưỡi dao. Mỗi lần những kẻ từng quỳ trong Nghị Chính điện bước vào Tử Thần điện, thấy bức tranh, máu trên lưỡi dao như nhỏ thẳng vào tim họ.

Hứa Văn Nhược chưa từng gặp Khương Thanh Tố. Khi bà ấy bị xử trảm, hắn còn chưa chào đời. Nhưng hắn đã nhìn bức họa ấy vô số lần, ánh mắt vừa rồi, không thể nhầm được.

Chẳng lẽ trên đời thực sự có người giống nhau đến vậy? Hay do gần đây hắn cứ mãi chú tâm vào vụ án của Khương Thanh Tố, mới sinh ra ảo giác?

Gió lạnh thổi qua cầu, Hứa Văn Nhược chỉnh lại áo choàng, cuối cùng đành quay đầu bước xuống.

Đầu kia con đường, Khương Thanh Tố vừa bước ra khỏi tiệm bánh, tay cầm túi giấy dầu đựng mứt. Bánh hấp đã ăn hết, giờ nàng chuyển sang ăn mứt. Tự mình nếm thử một miếng thấy ngon, liền đưa đến miệng Đơn Tà.

Khương Thanh Tố tựa đầu vào vai Đơn Tà nói:

“Đơn đại nhân à, có thấy vị nào của nhân gian cũng thật ngon không?”

“Ta chỉ biết nàng ham ăn thôi.” Đơn Tà vừa dứt lời, Khương Thanh Tố đã chỉ về phía trước:

“Ô! Mía ngào đường!”

Đơn Tà thở dài khẽ khàng:

“Quả nhiên không nên để nàng tiếp xúc quá sâu với Thẩm Trường Thích.”

Quả thật bị lây tật tham ăn mất rồi.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 87: Quân Thần Ly Biệt – Phần 11


Sáng sớm hôm sau, Thẩm Trường Thích—với cái miệng bị phong suốt đêm—sau khi rửa mặt xuống lầu, liền thấy Khương Thanh Tố đã ngồi trong đại sảnh của khách đ**m, không biết từ đâu lấy được văn phòng tứ bảo, tay chống cằm, cầm bút, mày hơi chau, vẻ mặt đầy khó xử.

Thẩm Trường Thích bước nhanh vài bước đến gần xem. Có vẻ Khương Thanh Tố đang chìm trong suy nghĩ, chẳng biết là không phát hiện ra hắn hay vì không muốn để ý mà vẫn giữ nguyên tư thế ấy, đầu bút lông đã gần khô mực, vậy mà vẫn không có hành động nào.

Hắn đứng phía sau nàng, tay chắp sau lưng, cúi người xem.

Tiểu nhị đứng cửa ngáp dài trên băng ghế, chưởng quầy thì chậm rãi mài mực. Lúc này nắng sớm rọi vào, phủ một lớp vàng ấm qua khung cửa sổ chiếu lên mặt Khương Thanh Tố và tờ giấy trước mặt nàng. Trên giấy chỉ có bốn chữ “Đơn Tà thân khải”, ngoài ra không có gì thêm.

Thấy nàng còn ngẩn người, Thẩm Trường Thích lên tiếng:

“Bạch đại nhân đang viết thư sao?”

Khương Thanh Tố thở dài, quay đầu liếc hắn một cái:

“Ngươi biết viết thư không?”

Thẩm Trường Thích gật đầu:

“Khi còn sống có viết, chết rồi thì không. Viết cho ai xem nữa đâu?”

Khương Thanh Tố bĩu môi:

“Ta cũng thế.”

“Chẳng phải đại nhân đang viết cho Vô Thường đại nhân đó sao?” Thẩm Trường Thích ngồi xuống bên phải nàng, học theo tư thế chống cằm, khẽ kêu một tiếng:

“Mực trong nghiên khô gần hết rồi, ngài ngồi bao lâu rồi?”



“Chắc khoảng một khắc rồi…” Khương Thanh Tố thở dài.

“Mà mới viết được bốn chữ?” Thẩm Trường Thích kéo khóe môi:

“Mà sao lại viết thư cho Vô Thường đại nhân? Người ở ngay trên lầu, muốn gặp là gặp. Trong địa phủ chỉ có ngài dám nói thẳng với Vô Thường đại nhân, viết thư này chẳng phải rườm rà lắm sao?”

Khương Thanh Tố liếc hắn một cái:

“Ngươi biết gì chứ?”

Nàng phải viết xong mười bức thư cho Đơn Tà mới có thể viết thư cho Triệu Doãn. Tưởng rằng với lòng mình hiện tại, viết vài bức tình thư cho Đơn Tà không khó, nào ngờ tối qua trằn trọc không ngủ nổi, sáng sớm đã gọi cả khách đ**m dậy để chuẩn bị bút mực, vừa viết được bốn chữ thì tắc bút đến giờ.

Nàng không có điều gì là không thể nói với Đơn Tà, nhưng đối mặt với tờ giấy trắng này, lại chẳng biết bắt đầu từ đâu.

“Ngài nói thử xem muốn viết gì, biết đâu ta giúp được chút ý tưởng.” Thẩm Trường Thích nói xong thì gọi tiểu nhị đang buồn ngủ mang hai xửng bánh bao tới, rồi hỏi tiếp:

“Chẳng lẽ viết tình thư à?”

“Ngươi cũng biết?” Khương Thanh Tố nheo mắt nhìn hắn, Thẩm Trường Thích bật cười:

“Ngài hôm qua cùng ta đọc những bức thư tình ở Đại Lý Tự, trên đó bao câu thơ trăng sao, ngài cứ chọn lấy vài câu.”

“Giấy mực đầy những lời hoa mỹ thì đẹp đấy, nhưng lòng chân thật ở đâu?” Khương Thanh Tố hỏi.

Thẩm Trường Thích khựng lại, xoa cằm:

“Cái đó ta chịu.”

Khương Thanh Tố thở dài:

“Bảo ta viết tình thư cho Triệu Doãn thì dễ, cổ kim bao nhiêu câu thơ tình, dùng bừa cũng được. Nhưng viết cho Đơn Tà… hừm, khó. Ngươi chưa thấy căn phòng hắn—sách chất đầy, cả bia đá cũng có. Hắn sống quá lâu, những câu thơ hay nhất với chúng ta, với hắn chẳng là gì cả.”

Thẩm Trường Thích nói:

“Ngài đã có lòng ấy, thì còn ngại gì? Viết ra điều mình muốn viết là được. Dù hắn sống lâu, đã nghe đủ lời hay ý đẹp, thì ngài viết gì với ngài ấy cũng như nhau.”

Chiếc bút vừa chấm mực của Khương Thanh Tố khựng lại, giọt mực rơi xuống giấy. Quả thật, với Đơn Tà, nàng viết gì cũng không thể khiến hắn bất ngờ.

Tiểu nhị đem bánh bao lên, Khương Thanh Tố đẩy vai Thẩm Trường Thích:

“Ngươi sang bàn bên mà ăn.”

Thẩm Trường Thích “vâng” một tiếng rồi chuyển sang bàn kế bên. Khương Thanh Tố nhìn ra ngoài cửa sổ, người đi đường mỗi lúc một đông, lòng nàng xoay chuyển đủ điều. Tình cảm chân thành, thật khó thể viết trọn trên giấy, chữ nhiều chữ ít không quan trọng, miễn người nhận hiểu là đủ.

Nàng cúi đầu, vò nát tờ giấy đã hỏng, rút ra một tờ mới, vung bút viết liền. Một bức xong, để sang bên hong khô, chưa kịp khô đã viết bức tiếp theo.

Thẩm Trường Thích vừa ăn vừa lén nhìn, không rõ nàng viết gì, chỉ biết mỗi tờ chưa đến năm chữ. Tình thư kiểu này, Vô Thường đại nhân thấy chắc tức chết.

Khương Thanh Tố viết xong cả mười bức, giấy trải đầy mặt bàn. Nàng chẳng thể viết được câu từ bóng bẩy, chỉ có thể đem một tấm chân tình thẳng thắn dâng lên Đơn Tà.

Thẩm Trường Thích cầm bánh bao tới liếc nhìn một tờ:

“Nguyện từ nay về sau, hai ta thấu hiểu nhau. Mười chữ vậy thôi?!”

Khương Thanh Tố mỉm cười gật đầu:

“Phải.”

“Ôi trời… chẳng biết nên nói tình thư của ngài là phí giấy hay tiết kiệm mực nữa.” Thẩm Trường Thích ăn nốt, chậc lưỡi lắc đầu.

Khương Thanh Tố nói:

“Ngươi không hiểu rồi. Mười chữ này, thiếu một cũng không được, thiếu một tờ cũng không xong. Ghép lại, mới là lời tỏ tình chân thành.”

Nàng chẳng thể nói ra những lời yêu sâu sắc. Nàng và Đơn Tà chưa trải qua sóng gió, không có dằn vặt nghi kỵ, càng không có yêu hận đan xen. Nàng đơn giản là thích hắn, còn hắn cũng đơn giản mà tốt với nàng.

Chung thủy bền bỉ mới là điều khó nhất. Những lời yêu đương hoa mỹ ai cũng nói được, như Thẩm Trường Thích đã nói, bao nhiêu câu thơ hay ca tụng tình yêu, chẳng câu nào hợp với họ. Mối tình này, chỉ cần kéo dài mãi là đủ—hai lòng thấu hiểu, không rời không bỏ, ấy là điều nàng mong.

Khương Thanh Tố lại ngồi xuống, bắt đầu gấp giấy. Thẩm Trường Thích hỏi:

“Ngài lại làm gì thế?”

“Gấp mười con hạc giấy, để những bức thư này bay vào tim chàng.” Khương Thanh Tố khẽ cười, viết xong mười bức thư, tâm trạng nàng rất tốt.

“Ngài không sợ ngài ấy mở ra thấy chỉ có mười chữ rồi nổi giận sao?” Thẩm Trường Thích vừa hỏi vừa thấy khả năng này lớn, thậm chí đang nghĩ có nên rời khỏi kinh thành đi tìm Chung Lưu chơi một thời gian.

Khương Thanh Tố mỉm cười:

“Ngươi không hiểu đâu.”

Nếu nàng trực tiếp trao thư, Đơn Tà đọc có thể cảm động hoặc tức giận. Nhưng nếu gấp thành hạc giấy, nàng nhớ rõ trong phòng hắn vẫn treo hai chiếc mặt nạ và con bướm cỏ xanh biếc kia—hạc giấy này, hắn nhất định không nỡ mở. Không mở, thì vĩnh viễn chẳng biết trong thư là mười chữ, hay ngàn lời yêu.

Thẩm Trường Thích nếu biết được tâm tư này của Khương Thanh Tố, ắt hẳn sẽ lẩm bẩm một câu: “Không hổ là từng làm quan to, trong bụng đầy ruột cong.”

Khương Thanh Tố ôm lấy mười con hạc giấy trong lòng bàn tay, tung tăng nhảy nhót chạy lên lầu.

Thẩm Trường Thích chờ mãi cũng chẳng thấy có đợt lạnh lẽo nào như dự đoán tràn xuống.

Khương Thanh Tố viết tình thư cho Triệu Doãn, Đơn Tà ngồi ngay bên nhìn. Trước mặt nàng là một quyển thơ từ, vừa viết vừa lật giở, mỗi lần chép một câu lại quay sang hắn mà nói:

“Đều là giả cả.”

Đơn Tà nhìn nàng, thấy rõ là nàng cố tình diễn trò cho mình xem, nhưng vẫn cam chịu chấp nhận.

Hắn đưa tay điểm vào những con hạc giấy trước mặt, một luồng khí xanh biếc nhập vào từng con. Những con hạc vỗ cánh bay lên, xoay quanh thân hắn thành một vòng tròn. Chúng bay với tư thế khác nhau, có con còn nhẹ nhàng đậu lên tay hắn như bướm, rồi lại vỗ cánh bay đi.

Khương Thanh Tố thấy hắn tự mình chơi vui như vậy, bèn thở phào nhẹ nhõm—xem như chuyện tình thư đã qua cửa.

Nàng viết ba bức thư gửi Triệu Doãn, mỗi bức thể hiện một tâm cảnh khác nhau: một là lúc nàng mới nhậm chức Đại Lý Tự khanh, một là khi nàng làm tể tướng, và một là trùng khớp với thời điểm trong chứng cứ nàng bị vu là liên lạc với tướng địch—vài ngày trước khi vào ngục.

Bức thứ nhất, viết về nỗi đau đớn giữa ngục tù, máu tanh và hôi thối, nhưng vì Triệu Doãn, nàng có thể chịu đựng tất cả, chỉ mong không phụ lòng tin của hắn.

Bức thứ hai, kể nỗi uất ức khi giao lại quyền hành lúc làm tể tướng, nhưng vì tình cảm dành cho hắn, có quyền hay không cũng chẳng sao, chỉ cần giúp hắn trị quốc.

Bức thứ ba là những lời yêu đương sâu sắc bịa ra, thẳng thắn và mạnh mẽ, đủ sức đánh lừa người khác.

Khương Thanh Tố đặt ba bức thư lên trước mặt Đơn Tà. Hắn đang chơi hạc giấy, ngẩng mắt nhìn nàng:

“Sao vậy?”

Khương Thanh Tố nói:

“Phiền chàng giúp ta biến chúng thành giấy cũ.”

Hơn hai mươi năm trôi qua, giấy mực sao còn mới được. Đơn Tà nghe vậy liền cầm quạt phe phẩy nhẹ nhàng lên ba bức thư. Giấy rơi xuống, mép giấy dần vàng úa, loang lổ, đến khi chạm đất đã là thư cũ xỉn màu, viền xơ xác, còn mang mùi ẩm mốc.

Khương Thanh Tố gấp gọn mấy bức thư, cất vào lòng, hỏi Đơn Tà:

“Hôm qua chàng hứa với ta, giờ có thể cùng ta ra ngoài chưa?”

“Đi đâu?” Đơn Tà hỏi.

“Về nhà ta.” nàng đáp.

Khi đến kinh đô, nghe tiểu nhị khách đ**m kể rằng dù nàng bị kết tội phản quốc, Triệu Doãn vẫn ban cho nàng một lễ tang thể diện. Từ đó về sau, phủ Khương không có người ở, cũng không ai tu sửa, đồ vật nguyên trạng, chỉ có lính gác ở cửa chính và cửa hông.

Muốn vào phủ, nàng phải tìm lý do. Nàng đến trà lâu tìm Lục Hinh, mượn cớ mua sách để dẫn người vào ngõ nhỏ rồi mượn xác nhập hồn. Lệnh bài của Hứa Văn Nhược thì Đơn Tà cầm, đưa cho nàng, còn bản thân thì ẩn thân.

Từ trong ngõ bước ra, Khương Thanh Tố đã thành Lục Hinh, tiến thẳng về phía Khương phủ.

Kinh thành có ba nơi Khương Thanh Tố không muốn đến: hoàng thành, Ngọ môn, và Khương phủ.

Khương phủ là nơi nàng sống suốt hai mươi lăm năm—cha, nương, huynh đệ muội, mọi người thân yêu và hồi ức đều ở đó. Sinh tử nàng đã nhìn thấu, đối với cố nhân có thể buông bỏ, nhưng với quê cũ, vẫn còn vương vấn.

Nàng bước qua những con phố quen thuộc, hơn hai mươi năm qua, tất cả đã thay đổi đến nỗi nàng khó lòng nhận ra. Chỉ khi đến trước cửa phủ, nơi đây vẫn như xưa. Cây liễu ngoài cửa phủ phủ đầy tuyết trắng, thân cây đã lớn hơn nhiều; hai con sư tử đá, chân chúng vẫn còn vết khắc hình trăng non do nàng nghịch ngợm dùng dao nhỏ của đường huynh khắc lên từ thuở nhỏ.

Khương Thanh Tố vừa đến trước cửa, trời lại bắt đầu đổ tuyết. Rõ ràng buổi sáng vẫn nắng, giờ lại âm u.

Hai binh sĩ gác cửa thấy nàng tiến đến liền giơ tay ngăn:

“Phủ cũ, không được tùy tiện vào.”

Khương Thanh Tố ngẩng đầu nhìn tấm biển treo trước phủ, lớp sơn vàng trên đó đã bong tróc, tuyết trắng che mờ tầm nhìn, hai chữ “Khương phủ” đã chẳng còn rõ ràng.

Nàng mím môi, lấy ra lệnh bài của Hứa Văn Nhược. Hai lính gác nhìn nhau, rồi chắp tay hành lễ:

“Thì ra là đại nhân của Đại Lý Tự, tiểu nhân mắt kém, xin thứ lỗi.”

Khương Thanh Tố thu lệnh bài, bước chậm đến trước cửa phủ. Nàng đưa tay nhẹ đẩy cánh cửa, bụi bám rơi xuống lả tả. Trước mắt là một khoảng sân phủ đầy tuyết, mạng nhện giăng kín, cả không gian nhuốm màu xám u ám.

Nàng nâng váy bước vào một bước—ngay khoảnh khắc ấy, dường như thời gian quay ngược bốn mươi năm.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 88: Quân Thần Ly Biệt – Phần 12


“Vũ ca ca! Đợi muội với!”

Một tiểu cô nương khoảng mười một tuổi chạy băng băng vào phủ, tấm biển treo trên cổng vẫn còn ánh vàng sáng chói, rõ ràng là mùa tuyết rơi, vậy mà cô bé mặc áo bông vẫn bám theo một thiếu niên chừng mười bốn mười lăm tuổi phía trước.

“Cha! Cha! Con bắt được cá rồi!”

Khương Vũ vừa chạy vào chính sảnh, trong đó có hai người đàn ông đang ngồi uống trà. Nhìn thấy hai đứa nhỏ người dính đầy bùn đất, cả hai cùng nhíu mày.

Khương Đô úy đặt chén trà xuống, nhìn con trai nhăn mặt:

“Nhìn ngươi kìa, lấm lem như khỉ bùn, ra thể thống gì? Còn là người kèm học của Ngũ hoàng tử nữa chứ!”

Khương Vũ cười hì hì, giơ cao hai con cá còn đẫm nước, xỏ bằng sợi cỏ khô:

“Cha xem, con với Phi Nguyệt vừa đi bắt cá, ở cái ao nhỏ ngay phía trước phủ, mặt băng dày, đứng lên cũng chẳng sao, con liền dẫn muội ấy đi bắt cá.”

“Ngươi… ngươi thật là không biết nguy hiểm là gì! Nếu băng nứt thì ngươi chết đã đành, còn hại cả muội ngươi theo!” Khương Đô úy sắp nổi giận, Khương Thượng thư vội can:

“Đại ca, đừng giận lũ nhỏ nữa, về rồi là tốt rồi mà.”

Khương Thanh Tố nghe đại bá quát liền hơi sợ, nắm lấy tay áo của Khương Vũ. Thấy huynh bị mắng cúi gằm mặt, nàng cố lấy dũng khí nói nhỏ:

“Đại bá, Vũ ca làm thế là vì bá mẫu đó. Dạo này trời lạnh, mặt băng dày, ngoài chợ chẳng ai bán cá. Bá mẫu bệnh, cứ ho mãi, Vũ ca biết bá mẫu thích ăn cá nên mới rủ ta đi bắt.”

Khương Đô úy nghe xong, dù còn giận cũng chẳng đành lòng mắng nữa, đành xua tay:

“Thôi được rồi, sau này đừng dại dột nữa.”

“Biết rồi, cha.”

Khương Vũ vẫn còn thấy áy náy.

Khương Đô úy nói tiếp:

“Biết rồi thì mau về phòng thay đồ, coi chừng cảm lạnh.”

Nghe cha vẫn lo cho mình, Khương Vũ liền nhe răng cười, kéo tay Khương Thanh Tố chạy về phía nhà bếp, đặt cá xuống rồi mới chịu về thay áo.

Khương Thanh Tố thay áo xong liền chạy sang phòng bên cạnh, lao vào thì thấy Khương Thanh Oánh đang cuộn tròn trong chăn đọc sách. Tiểu cô nương tám tuổi ấy rất sợ lạnh, thấy tỷ tỷ vừa vào người đã đầy hơi sương băng giá, bèn hỏi:

“Tỷ lại đi chơi với Vũ ca à?”

“Ừ, đi bắt cá đó, vui lắm, đợi trời ấm lên tỷ dẫn muội theo.”

Khương Thanh Tố nói rồi lấy từ trong người ra hai thứ, đặt một cái lên bàn cạnh giường:

“Tỷ mua cho muội bánh cam của tiệm Ngọc Tử Cao, muội thích nhất đúng không? Nhưng chỉ được ăn hai miếng thôi, còn lại để sau khi ăn cơm trưa và uống thuốc xong mới được ăn, nghe chưa?”

Khương Thanh Oánh thể trạng yếu, quanh năm dùng thuốc, ít khi ra khỏi viện. Nàng luôn ngưỡng mộ tỷ tỷ có thể rong chơi cùng Khương Vũ, lại còn thân thiết với Ngũ hoàng tử. May thay mỗi lần tỷ tỷ về đều mang theo chút đồ ăn ngon, giúp nàng đỡ thèm.

Vừa cảm ơn xong thì Khương Thanh Tố đã quay lưng bước đi.

“Đi đâu nữa vậy? Không nói chuyện với muội một chút à?”

Khương Thanh Oánh níu.

“Tỷ còn phải mang trống lắc cho A Tiêu nữa, lát nữa quay lại.”

Khương Thanh Tố đáp, vén rèm bông dày chạy ra. Khi rèm rơi xuống, cơn gió thổi qua làm sợi dây đỏ treo con côn trùng cỏ dưới mái hiên đung đưa. Vẫn là màu xanh biếc.

A Tiêu mới hai tuổi, đang tập nói, có thể tự vịn đứng vài bước, trống lắc là đồ chơi thích hợp.

Khương Thanh Tố chạy vào phòng, thấy mẫu thân đang bón cháo cho đệ đệ, nàng cười lao tới, hôn lên mặt đệ đệ một cái, rồi mới lấy trống ra trêu chọc em.

“Con chỉ biết theo Vũ ca chạy nhảy. Nó là nam nhi, sau này còn theo đại bá ra chiến trường, nghịch tí không sao. Nhưng con là nữ tử, cứ thế này ai dám lấy về làm thê tử?”

Người phụ nữ dịu dàng nói, nhưng tay vẫn ân cần phủi tuyết trên tóc nàng.

Khương Thanh Tố cười toe: “Triệu Doãn bảo sau này sẽ cưới con, con chẳng lo bị ế.”

“Gọi gì là Triệu Doãn? Đó là Ngũ hoàng tử!”

Mẫu thân nàng khẽ than.

Khương Thanh Tố vẫn cười:

“Lần trước con gọi hắn là Ngũ hoàng tử, hắn còn giận cơ, bảo con xem hắn như người xa lạ không muốn chơi với hắn nữa. Mà con thấy Triệu Doãn như vậy sau này chẳng ai dám lấy hắn thật—tuy là hoàng tử, nhưng suốt ngày chỉ biết chơi, chẳng học hành gì.”

“Phi Nguyệt!”

Mẫu thân nhíu mày.

“Thôi mà, con không nói nữa.”

Khương Thanh Tố làm nũng, rồi len lén múc một thìa cháo của đệ đệ. Nhưng chưa kịp đút cho bé thì A Tiêu đã khóc ré lên. Nàng vội cầm trống lắc dỗ dành.

Dọc theo trí nhớ, nàng bước đến trước một cánh cửa. Dưới xà nhà treo một sợi dây đỏ đã chuyển màu đen, mà con côn trùng cỏ treo bên dưới đã chẳng thấy đâu.

Nàng hít sâu một hơi, mím môi nói nhỏ:

“Phòng ta… ở ngay bên cạnh đây.”

Băng qua cổng vòm trong sân nhỏ, phía bên kia chính là nơi Khương Thanh Tố đã sống suốt những năm tháng thiếu thời. Đơn Tà theo nàng từ đầu đến cuối, thấy nàng chẳng nói một lời, cũng không vào phòng ngay, mà đi một vòng quanh nơi từng ở, cuối cùng mới bước vào sân nhà cũ, nơi đã từng thuộc về nàng. Người vừa nãy còn mang vẻ sầu cảm, lúc này bỗng nhiên bật cười.

“Có chuyện gì sao?” Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố chỉ vào một góc sân, nói:

“Đơn đại nhân, chàng nhìn kìa, kia có phải là cây mai không?”

Cành liễu của cây mai rủ rậm rạp, hoa hồng nhạt nở rộ tươi tắn. Cây mọc ở góc tường, phần lớn nằm trong sân, một nhánh vươn ra ngoài. Tuyết trắng phủ lên hoa, cánh rụng rơi đầy đất, mùi hương nhè nhẹ lan theo gió.

Đơn Tà nói:

“Cũng hơn ba mươi năm rồi nhỉ?”

Khương Thanh Tố mím môi, khẽ thở dài:

“Phải đó, ngày Khương gia được giải oan, ta đã trồng nó. Không ngờ sau từng ấy năm không ai chăm sóc, vậy mà vẫn sống, còn lớn mạnh thế này.”

Nàng khẽ gật đầu, rồi bâng quơ hỏi đùa:

“Thập Phương điện có thể trồng hoa không?”

Lúc hỏi, nàng đã đi tới cửa phòng mình, Đơn Tà theo sau hỏi lại:

“Trồng hoa làm gì?”

“Đơn đại nhân à, chàng ở Thập Phương điện không biết đã bao nhiêu năm, chắc đã quen với cảnh sắc nơi địa phủ. Nhưng chàng nhìn xem nhân gian, hoa cỏ đủ sắc đủ hương. Địa phủ thì xám xịt một màu, hoa duy nhất là Bỉ Ngạn, còn không thể chạm, lại càng chẳng thể trồng trước cửa nhà.”

Khương Thanh Tố đẩy cửa bước vào:

“Thập Phương điện có đẹp cách mấy, vẫn thấy lạnh lẽo. Nếu có thêm hoa cỏ, chắc chắn sẽ sinh động hơn nhiều.”

Nàng đứng giữa căn phòng vừa quen thuộc vừa xa lạ. Một nơi nàng từng sống hai mươi lăm năm nhân thế, một nơi lại ròng rã hai mươi sáu năm trong âm phủ—nếu tính thời gian, âm phủ còn lâu hơn.

Cảm xúc dâng tràn, nhưng nàng cũng chẳng để mình sa đà quá lâu. Nàng vẫn nhớ nơi giấu bí mật thời thơ ấu—ngăn bí mật dưới giường. Bên trong là những “bảo vật”: viên bi thủy tinh, đoá trâm đầu tiên nàng nhận được, khăn tay muội muội thêu tặng, đôi bông tai tân tẩu tặng khi Khương Vũ thành thân, và cả ngọc bội do Triệu Doãn trao.

Ngoài ra, còn vô số lá thư nàng viết cho Triệu Doãn suốt những năm tháng sau khi hắn cưới vợ—tất cả đều chưa từng gửi, chỉ là nơi nàng trút nỗi lòng.

Khương Thanh Tố lấy ra ba bức thư mới viết hôm nay, nhét vào trong ngăn bí mật, vuốt lại mấy món đồ, không mang theo bất cứ gì.

Cúi người khó nhọc đẩy ngăn về lại chỗ cũ, nàng phủi tay, thở phào nhẹ nhõm:

“Giờ chỉ chờ ta nói cho Hứa Văn Nhược biết chỗ này thôi.”

Đơn Tà hỏi:

“Trừ ba bức thư ấy, nàng còn cách nào khác không?”

Khương Thanh Tố đi đến bên bàn, lau bụi bám dày đặc, thổi nhẹ rồi nói:

“Ta đã có đường lui. Dù chiêu này không rửa oan ngay lập tức, cũng sẽ khiến Đại Lý Tự mở lại vụ án. Nhưng ta cảm thấy, chỉ với chút đầu mối này thôi, Triệu Doãn và Hứa Văn Nhược đã có thể làm to chuyện.”

“Đã thế thì, để ta cùng nàng dạo thêm trong Khương phủ này một vòng?” Đơn Tà gợi ý.

Mắt Khương Thanh Tố sáng lên:

“Đơn đại nhân từ khi nào học được cách an ủi người khác vậy?”

Đơn Tà mím môi, ánh mắt hơi xao động nhưng vẫn sâu kín. Khương Thanh Tố thấy tay hắn giấu sau lưng, môi khẽ nhúc nhích, biết hắn định nói tiếp nên không hỏi thêm.

Quả nhiên, vừa bước ra khỏi sân, nàng đã nghe hắn nói:

“Sổ sinh tử của nàng sớm đã bị thiêu huỷ, ta không tra được quá khứ, cũng không hiểu được cuộc đời nàng. Hiếm có dịp về nơi nàng từng sống, xem như là để ta được gặp nàng trong quá khứ.”

“Vậy chàng sẽ không thích quá khứ của ta đâu.”

Khương Thanh Tố cười toe, rồi như sực nhớ ra điều gì, kéo tay hắn:

“Ta nhớ rồi! Trong hậu viện có một cây táo đông, cây mai trong sân còn nở rộ thế kia, biết đâu cây táo cũng sống. Hồi nhỏ ta hay trèo lên hái ăn, đi, chúng ta đi hái táo!”

Nàng kéo tay hắn chạy về sau viện. Dù mấy chục năm không trở lại, nhưng nàng vẫn nhớ rõ từng lối nhỏ. Đến hồ nước sau viện, quả nhiên thấy cây táo lớn đã rất to, cành trĩu quả đỏ rực. Táo rụng đầy dưới đất, một số đã chìm trong lớp cỏ dại mọc ngập hồ, có quả bị tuyết che phủ.

Khương Thanh Tố ngẩng đầu nói:

“Chàng đợi ta, ta trèo lên hái.”

“Cao quá rồi.”

Đơn Tà cũng ngẩng nhìn—đa phần quả đã đỏ mọng, cành bị tuyết đè thấp, hắn chỉ cần vươn tay là với được vài quả.

“Những quả đó bị thâm rồi, không ngon đâu. Chàng nhìn trên kia kìa, quả đỏ, chắc chắn ngọt. Chẳng phải chàng nói muốn gặp ta trong quá khứ sao? Ta sẽ cho chàng thấy ta khi còn bé thích làm gì.”

Nói xong, nàng phủi tay, bám vào thân cây trèo lên. Nhờ thân xác Lục Hinh khỏe mạnh, nàng leo rất nhanh, chẳng mấy đã lên đến nhánh cây to. Đứng trên cao, nàng cúi nhìn Đơn Tà cười:

“Đơn đại nhân, nếu chàng gặp ta khi ấy, chàng còn thích không?”

Tuyết vẫn bay đầy trời, Đơn Tà trong bộ y phục đen đứng giữa nền tuyết trắng. Dưới bức tường phủ rêu, một thiếu nữ áo vàng thắt đai xanh đứng trên cành táo, sáng rực cả khung cảnh. Tay hắn siết nhẹ cây quạt sau lưng, ánh mắt nheo lại như xuyên qua lớp da thịt của Lục Hinh, nhìn thấy tận linh hồn Khương Thanh Tố—thấy được nàng của năm mười lăm, mười sáu tuổi.

Ánh mắt nàng không có bi thương vì mất nhà, không có tuyệt vọng vì tình cảm phản bội, cũng không có sự lãnh đạm sau bao năm làm quan—chỉ có một đôi mắt sáng ngời, trong trẻo như nước, và nụ cười vô tư vô lự.

Đơn Tà khẽ cong môi, mắt dịu dàng:

“Thích, chứ.”
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 89: Quân Thần Ly Biệt – Phần 13


Khương Thanh Tố đứng trên cây nghe Đơn Tà nói xong thì khựng lại, vẻ thẹn thùng thoáng hiện trên khuôn mặt, nàng quay đầu, bĩu môi rồi cúi người hái táo cho hắn ăn.

Cách nàng hái táo chẳng mấy dịu dàng – không phải từng quả một, mà là… bẻ cả cành. Một nhánh táo trĩu quả bị nàng quăng xuống đất tuyết phủ, Đơn Tà lùi một bước, nhướng mày nhìn hành động thô bạo kia, rồi ngẩng đầu—nàng lại bẻ tiếp nhánh thứ hai.

Bẻ đến nhánh thứ ba thì dừng lại. Đôi tay nàng đã đỏ ửng vì lạnh, xuống cây một cách cẩn thận. Nhìn bàn tay cầm bút của Lục Hinh, nàng thoáng áy náy.

Có những người sinh ra vốn là tiểu thư khuê các, khác hẳn nàng—một người lớn lên với tính cách ngang tàng, không gò bó.

Đi tới trước mặt Đơn Tà, Khương Thanh Tố nói:

“Mấy cành này đem về ăn đi, tiện thể cho Thẩm cũng nếm thử. Hôm ta với chàng bỏ hắn ở khách đ**m, chàng có thấy mặt hắn sưng lên không…”

Đơn Tà cắt lời, nhìn vào khuôn mặt ửng hồng của nàng, nhẹ giọng:

“Ta muốn hôn nàng.”

Khương Thanh Tố sững người, mắt mở to, câu nói bất ngờ khiến nàng có phần bối rối. Hô hấp nghẹn lại, tay lạnh giá vô thức bấu vào vạt áo, nàng chớp mắt hỏi:

“Sao tự nhiên nói vậy?”

“Vì ta thích.”

Đơn Tà không vòng vo. Lời hắn thốt ra khiến mặt nàng đỏ bừng như táo đông giữa tuyết. Nàng cựa chân, mím môi:

“Chuyện này… Đây không phải là chuyện chàng nên hỏi người khác.”

“Ta biết. Nhưng ta không muốn hôn nàng ta, ta nói là nói với nàng. Ra đi.”

Đơn Tà đáp.



Khương Thanh Tố lúc ấy mới ý thức mình còn đang trong thân xác của Lục Hinh. Nếu giờ Đơn Tà hôn, hôn cũng chỉ là hôn Lục Hinh, không phải nàng.

Nàng do dự. Nếu ra khỏi thân thể bây giờ, e là quá chủ động, như thể nàng mong được hắn hôn vậy. Nhưng nếu không ra, thì lời của Đơn Tà thật sự khiến nàng động lòng.

Chỉ trong chốc lát, nàng vẫn chọn rời khỏi thân thể Lục Hinh. Hồn phách tách rời, Lục Hinh mềm nhũn ngã vào lòng nàng. Khương Thanh Tố đỡ nàng tựa vào gốc táo, rồi đứng dậy, trước mặt là Đơn Tà cách ba bước chân.

Nàng bước tới, mũi giày chạm vào mũi giày hắn. Nàng đã không còn trẻ, chết khi hai mươi lăm tuổi, dẫu dung mạo không già đi, nhưng so với Lục Hinh mười bảy mười tám vẫn kém một bậc.

Nàng chưa từng lo về dung mạo khi đứng trước Đơn Tà. Suốt hai mươi mấy năm nàng luôn mặc bạch y, tóc búi bằng một chiếc trâm ngọc, chẳng quan tâm đến châu báu hay mỹ sức. Cả đôi hoa tai Chung Lưu và Thẩm Trường Thích lấy tên Đơn Tà tặng nàng, nàng cũng chưa đeo.

Giờ đứng gần hắn, nàng bỗng nghĩ, giá như chải tóc gọn gàng hơn, giá như ra ngoài có chút son hồng thì tốt.

Nhưng Đơn Tà không quan tâm đến điều đó. Nói muốn hôn là hôn thật. Khi nàng vừa đứng gần, hắn vươn tay ôm eo nàng, cúi đầu hôn xuống.

Tay nàng đặt trên ngực hắn, nắm lấy lớp lông cáo, đầu ngón tay siết trắng. Tuyết rơi không ngớt, gió lùa giữa những nhịp thở, tiếng tim đập như rõ ràng vang lên.

Bàn tay Đơn Tà luồn qua áo choàng ôm lấy lưng nàng. Hơi thở hòa quyện, hàng mi khẽ rung. Trái tim Khương Thanh Tố đập loạn—dù đã chết, trái tim tĩnh lặng ấy, từ khi vào Thập Phương điện, vì Đơn Tà mà không ít lần sống lại.

“Ta đã đọc thư nàng viết cho ta.”

Đơn Tà thì thầm, môi vẫn dán vào môi nàng, mắt khẽ mở, nhìn vào mắt nàng chớp nhẹ. Giọng khàn khàn, trầm ấm.

Khương Thanh Tố sững người. Tưởng hắn không vui, nào ngờ Đơn Tà cười nhẹ, ôm nàng chặt hơn, cúi đầu lại hôn:

“Ta thích.”

Tựa vào gốc táo, Lục Hinh cảm thấy đầu mình choáng váng. Mơ hồ mở mắt, chỉ thấy trước mắt là tuyết trắng và hai bóng người ôm nhau trong tuyết. Rồi nàng lại ngất lịm đi.

Khi Khương Thanh Tố rời khỏi Khương phủ, hai lính gác cổng thấy nàng cầm ba cành táo thì tròn mắt ngạc nhiên. Nàng đưa tay gãi mũi, như không có gì, bước đi thản nhiên.

Về khách đ**m, táo được rửa sạch đem lên. Quả nhiên ngọt và giòn. Đơn Tà—vốn kén ăn, không ai đút không ăn—mà cũng ăn mấy quả. Còn Thẩm Trường Thích thì khỏi phải nói, nhét liên tục, Khương Thanh Tố còn không tranh nổi với hắn.

Còn vài quả, Thẩm Trường Thích còn muốn ăn tiếp, nhưng bị ánh mắt Đơn Tà dọa cho không dám đưa tay.

Khương Thanh Tố ăn xong thì đồ ăn cũng được dọn lên. Cả buổi sáng nàng viết tình thư, đi Khương phủ, giờ phải đến Đại Lý Tự tìm Hứa Văn Nhược để nói về những bức thư trong phủ.

Còn Lục Hinh thì xui xẻo thật. Cứ thấy có gì đó là lạ, mỗi lần gặp Bạch phu nhân đều như mất trí nhớ. Như sáng nay, vốn hẹn cùng đi mua sách, mà kết cục là bị Bạch phu nhân kể rằng nàng bị cái cốc từ tầng lầu rơi trúng đầu bất tỉnh, được đưa về khách đ**m nghỉ ngơi. Tỉnh dậy thì đã trưa.

Lục Hinh cảm kích tấm lòng của Bạch phu nhân, mà chẳng nhớ được bị cái cốc nào ném trúng cả.

Khương Thanh Tố mượn thân thể Lục Hinh, không thể không bịa chuyện. Dù sao, nàng xưa nay nói dối thành thật, ứng biến cũng không thiếu.

Nàng mua một chiếc khăn lụa mới, lấy cớ tặng khăn mà đến trà lâu gặp Lục Hinh. Lục Hinh nhận khăn vui vẻ, vì trong mắt nàng, Bạch phu nhân luôn mang khí chất thần bí, nhất định có thế lực lớn phía sau.

Nói chuyện một lúc, Khương Thanh Tố liền mượn thân thể. Sau khi nhập hồn, nàng vỗ vỗ vạt áo, tay đặt lên ngực—trái tim đập rộn ràng, nàng khẽ than:

“Qua ngày mai, ta sẽ không mượn thân thể ngươi nữa. Để trả ơn, ta sẽ cầu được cho ngươi một chức quan.”

Nói xong, nàng rời khỏi trà lâu, che ô đi về phía Đại Lý Tự.

Tuyết hôm nay đặc biệt dày. Từ ngày Nguyên Sóc đến nay, tuyết chưa từng ngừng. Sông nhỏ trong thành đều đã đóng băng, thuyền nan cũng không thể rẽ sóng nữa.

Khương Thanh Tố đang bước giữa nền tuyết dày, trong đầu còn vẩn vương suy nghĩ—làm sao mở lời với Hứa Văn Nhược khi gặp mặt. Nhưng chưa kịp đến Đại Lý Tự, nàng đã gặp hắn trên đường.

Hứa Văn Nhược ngồi trong một chiếc kiệu vải màu nhạt. Khi gọi “Lục Hinh”, Khương Thanh Tố liền dừng bước, thấy hắn vén rèm kiệu, nở nụ cười nhẹ với nàng.

Kiệu dừng lại bên cạnh, Hứa Văn Nhược bước xuống, bảo kiệu phu và thị vệ đi trước, rồi đứng trước mặt Khương Thanh Tố:

“Thật trùng hợp, ta đang định đến trà lâu tìm cô nương.”

Thấy tuyết phủ trên vai hắn, nàng liền đưa cây ô trong tay cho hắn. Hứa Văn Nhược cao hơn Lục Hinh một đoạn, đứng dưới ô hơi cúi mình, có vẻ không thoải mái nên nói:

“Để ta cầm.”

Khương Thanh Tố gật đầu:

“Hứa đại nhân tìm ta có chuyện gì?”

“Ngày hôm nay cô nương không đến Đại Lý Tự.”

Hắn hơi nhíu mày: “Việc ta giao tuy khó, nhưng thời gian mà thượng cấp cho ta cũng chẳng nhiều.”

Khương Thanh Tố đáp thản nhiên:

“Thì ra là vậy, ta sáng nay đã đến Khương phủ một chuyến.”

Hứa Văn Nhược vốn đến đây là để hỏi chuyện đó. Thấy nàng chủ động nói ra, càng thêm tin tưởng rằng “Lục Hinh” không có đề phòng gì với mình, bèn hỏi:

“Có phát hiện gì không?”

“Có một số điều, nhưng trước khi nói, ta muốn hỏi Hứa đại nhân vài câu.”

Nàng đáp.

Hắn nhướng mày: “Cứ hỏi.”

“Lật lại vụ án của Tể tướng Khương, là ý chỉ của Hoàng thượng, phải không?”

Hứa Văn Nhược hít sâu, gật đầu:

“Đúng vậy, là thánh ý.”

“Hôm qua ở Đại Lý Tự, ta nghe ngài nói: ‘Có người phạm sai, phải có kẻ bù đắp.’ Ý gì vậy?”

Khương Thanh Tố tiếp tục.

Hứa Văn Nhược hơi cau mày, vì câu hỏi ấy gợi lại sự bất mãn trong lòng. Nhưng khi nhìn vào đôi mắt nàng—một ánh nhìn lạnh lùng, vượt xa tuổi đời của Lục Hinh—hắn sững lại. Đôi mắt đó không phải của thiếu nữ non nớt, mà như có thể nhìn thấu hắn.

“Nếu Hứa đại nhân đã cho phép hỏi, vậy xin hãy thành thật.”

Khương Thanh Tố cúi mắt:

“Ta biết Hoàng thượng và ngài đang lợi dụng ta. Một là ta không có bối cảnh, thân phận trong sạch; hai là ta trẻ tuổi, không sợ quyền lực; ba là ta khâm phục Khương Tể tướng, sẵn sàng dốc sức rửa oan; bốn… cho dù thất bại, người bị tổn thương chỉ có ta, Hoàng thượng và ngài không hề hấn.”

Hứa Văn Nhược ngạc nhiên trước sự phân tích sắc sảo này. Từ sự đánh giá hời hợt ban đầu, lúc này hắn bắt đầu thật sự tò mò về “Lục Hinh”.

“Nàng quả thật không đơn giản.”

Hắn thừa nhận.

Khương Thanh Tố tiếp tục:

“Biết rõ mà vẫn chấp nhận làm đao trong tay Hứa đại nhân, ta chỉ mong ngài đối đãi thành thật, đừng che giấu.”

“Phụ thân ta từng là Thượng thư bộ Lễ, nàng có biết?”

“Biết.”

Khương Thanh Tố gật đầu.

“Hơn hai mươi năm trước, ông đã là Thượng thư bộ Lễ. Khi ấy Hoàng hậu xuất thân quyền quý, thế lực vững mạnh trong triều. Phụ thân ta là người xuất thân hàn môn, làm quan bằng thực lực, từng bước đi lên. Nhưng ông đã đi sai một nước cờ.”

Hứa Văn Nhược chậm rãi nói:

“Để giữ vị trí Thượng thư, ông bám vào nhà mẹ đẻ Hoàng hậu, lấy cớ tổ chức sinh nhật xa hoa cho bà. Khương Tể tướng lúc đó đã dâng tấu vạch tội, khiến ông bị giáng chức.”

Khương Thanh Tố đương nhiên nhớ chuyện này, mới vài ngày trước nàng còn gặp lại phụ thân hắn.

“Phụ thân ta khi ấy lạc lõng giữa triều đình, muốn tìm chỗ dựa là lẽ tự nhiên. Nhưng vì thù ghét Khương Tể tướng, ông đã bị người lợi dụng. Có kẻ đưa ông vài bức thư, bảo đó là bằng chứng Khương Tể tướng yêu tướng Nam Di.”

Hắn tiếp:

“Phụ thân ta so sánh nét chữ, thấy không khác gì nên viết tấu chương trình lên triều. Chính ông là người đầu tiên bắt đầu chuỗi bi kịch đẩy Khương Tể tướng đến chỗ chết.”

“Dựa vào đó mà khẳng định Khương Tể tướng bị oan?”

Khương Thanh Tố hỏi.

Hứa Văn Nhược lắc đầu:

“Không, ông chỉ cảm thấy có điều không đúng. Sau đó thấy một người bán chữ vỉa hè, sao chép y hệt danh gia thư pháp. Phụ thân ta thấy giống tới chín phần, hoảng sợ. Ngày hôm sau, người ấy chết.”

Khương Thanh Tố sững người.

“Suốt hai mươi mấy năm, phụ thân ta vẫn giằng xé giữa đúng và sai. Dù không có bằng chứng cụ thể, ông luôn bị ám ảnh.”

Hứa Văn Nhược cười nhạt: “Và vết gợn ấy cũng vương trong lòng ta.”

“Nên khi biết Hoàng thượng muốn xét lại vụ án, ngài liền tìm người phù hợp?”

Khương Thanh Tố hỏi.

“Đúng. Và ta đã gặp nàng.”

Hắn khẽ đặt tay lên vai nàng:

“Có thể động cơ của ta không hoàn toàn vì lẽ phải, nhưng ta cũng không định lợi dụng nàng làm chuyện xấu. Nàng còn gì muốn hỏi?”

Khương Thanh Tố cúi nhìn bàn tay trên vai, chậm rãi nói:

“Hết rồi. Nhưng… ta muốn gặp Hoàng thượng.”
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 90: Quân Thần Ly Biệt – Phần 14


Khương Thanh Tố cảm kích trong lòng khi Hứa Văn Nhược chịu thẳng thắn nói ra. Nàng hiểu, nỗi day dứt suốt hai mươi năm trong lòng phụ thân hắn, người làm con như hắn hẳn cũng không thể yên lòng. Hắn là một người con hiếu thảo—chỉ tiếc, tuổi còn trẻ đã thâm sâu, khiến Khương Thanh Tố nhớ tới chính mình năm xưa.

Quan có tâm cơ thường phải tính toán thiệt hơn, khó đạt đến sự công chính tuyệt đối—giống như nàng thuở ấy.

Nghĩ đến đây, Khương Thanh Tố lại thấy Triệu Doãn quả thật là người kỳ lạ. Ai đến gần hắn cũng trở nên khôn khéo uẩn khúc. Nhưng suy nghĩ lại, e là triều cục bức người, chẳng thể hoàn toàn trách hắn. Dù sao, ngày trước Triệu Doãn chưa bước chân vào triều chính, cũng là một thiếu niên hồn nhiên vô tư.

Nghĩ đến đó, nàng bật cười. Hứa Văn Nhược đang che ô đi bên cạnh, thấy “Lục Hinh” cười cong mắt, tim hắn chợt lỡ một nhịp:

“Nàng cười gì vậy?”

Khương Thanh Tố hoàn hồn, đáp:

“Không có gì.”

Hứa Văn Nhược nói:

“Ta đồng ý cho nàng gặp Hoàng thượng—sau khi vụ án được lật lại.”

Khương Thanh Tố lắc đầu:

“Không được. Chậm nhất là ngày mai, ta phải gặp Hoàng thượng.”

Hắn nheo mắt: “Liên quan đến vụ án?”

Nàng ngập ngừng một lát rồi gật:

“Cũng coi như vậy. Ta đến Khương phủ, thấy vài thứ liên quan đến Hoàng thượng. Nếu muốn rửa oan cho Khương Tể tướng, phải xác minh với Hoàng thượng. Nếu thật, thì chứng cứ phản quốc năm xưa không còn hiệu lực. Nếu không… ta cũng chẳng còn cách nào khác.”



Nghe đến đây, Hứa Văn Nhược đưa tay gạt mấy sợi tóc bị gió làm rối trên trán, ánh mắt xa xăm nhìn con đường phủ đầy tuyết:

“Vậy ta biết nàng định hỏi Hoàng thượng điều gì rồi.”

“Thật sao?” Khương Thanh Tố nhìn hắn.

Hắn gật đầu:

“Không giấu gì nàng, Hoàng thượng quả có tình cảm đặc biệt với Khương Tể tướng. Từ ngày lên ngôi, hậu cung không thiếu người, nhưng chẳng ai thực sự lọt vào tim ngài. Bao đời đế vương luôn có người sủng ái, còn tim của Hoàng thượng… đã chôn theo cái chết của bà ấy rồi.”

Khương Thanh Tố mím môi. Không ngờ lại được nghe những lời này từ một người khi nàng chết còn chưa ra đời. Nàng không ngắt lời, mặc Hứa Văn Nhược tiếp tục kể “tình sử” của Hoàng đế.

“Hoàng thượng không say đắm nữ sắc. Ngoài ba hoàng tử và hai công chúa, gần như không hề có tình cảm với ai. Mấy năm trước, trong cung có một vũ cơ dựng một vở diễn cho Hoàng thượng, ngài mới động tâm chút ít. Nhưng chỉ nửa năm, tình cảm ấy cũng tiêu tan. Theo ta, Hoàng thượng cũng có một khúc mắc trong lòng.”

Hắn cười nhạt:

“Nhà đế vương vô tình là lẽ thường. Dù là người ngài yêu nhất, Hoàng thượng cũng dám hạ chỉ gi.ết ch.ết.”

Khương Thanh Tố thấy nụ cười kia khiến lòng không dễ chịu—câu nói ấy như cố tình nhắm thẳng vào nàng, như thể hắn đã nhìn thấu thân phận thật sự của nàng.

Nàng dời mắt, chạm tay lên sống mũi:

“Hứa đại nhân nói vậy chẳng sợ tội khi quân sao?”

“Trước mặt Hoàng thượng ta cũng dám nói như vậy.”

Hắn mỉm cười, thấy nàng có chút phản ứng, càng cảm thấy thú vị:

“Hiện giờ triều cục bất ổn, ngầm sóng ngầm, Hoàng thượng cần người làm việc. Ta hết lòng tận lực, chia sẻ gánh nặng, ngài sẽ không dễ dàng động sát khí vì vài lời thật.”

Khương Thanh Tố gật đầu, không biết đáp gì, chỉ có thể khen:

“Hứa đại nhân thật bản lĩnh.”

Câu này khiến hắn nghẹn lại, khẽ mím môi. Chợt nhận ra mình có phần lố bịch. Hắn chẳng qua đoán “Lục Hinh” có thể có ý định vào cung, liền mượn chuyện nói xấu Hoàng thượng để dập tắt hy vọng đó. Nào ngờ nàng chẳng phản bác, lại quan tâm sự nghiệp của hắn.

Lòng sĩ diện nổi lên, hắn lại trót nói ra những lời thường không nói. Đúng là tự chuốc cười.

“Ngày mai ta sẽ đưa nàng vào cung gặp thánh thượng.”

Hắn nói.

Lời đột ngột khiến Khương Thanh Tố sửng sốt. Nàng lùi lại một bước, chắp tay hành lễ, giọng trầm thấp, xuất phát từ tâm can:

“Đa tạ Hứa đại nhân.”

Thấy vậy, Hứa Văn Nhược nắm lấy cổ tay mảnh khảnh lộ ra ngoài áo, kéo nàng trở lại dưới ô:

“Nàng tìm được gì trong Khương phủ?”

Khương Thanh Tố nhìn bàn tay hắn đang giữ tay mình, bản năng muốn rút ra. Nhưng nhớ tới việc Lục Hinh thích Hứa Văn Nhược, mình lại đang mượn thân thể nàng, nên đành nhẫn nhịn.

Nàng đáp:

“Trong khuê phòng Khương Tể tướng có một ngăn bí mật dưới giường. Nơi ấy là chỗ Hoàng thượng sai người canh giữ, ta vào được nhưng không thể tùy tiện lấy đồ. Mọi thứ vẫn để lại nguyên chỗ, Hứa đại nhân có thể sai người đến lấy, ngày mai dâng lên Hoàng thượng.”

Hắn hỏi:

“Nơi kín đáo như vậy nàng sao biết?”

Khương Thanh Tố đáp khẽ:

“Tối qua Khương Tể tướng báo mộng cho ta, bảo ta tìm.”

Hứa Văn Nhược nhếch môi, biểu cảm cứng đờ. Nàng thấy vậy thì cười khẽ:

“Phụ nữ thường hay giấu đồ quý dưới gầm giường. Nhà ta cũng có chỗ như thế, chỉ là tình cờ đoán trúng thôi.”

Nụ cười ấy khiến Hứa Văn Nhược bất giác nhớ đến thiếu nữ áo trắng nghiêng đầu bên cầu hôm qua. Hai nụ cười đè lên nhau, gần như trùng khít. Nếu không vì ngoại hình khác nhau, hắn đã tin người trên cầu chính là nàng.

Cớ sao thế gian lại có người khiến người ta tò mò đến vậy? Khiến hắn không kìm được muốn khám phá. Hắn nghĩ—phải chăng Khương Tể tướng được vẽ trong bức họa ở Tử Thần điện cũng là người như thế? Vừa mềm mại như liễu trong gió xuân, vừa cứng cỏi như trúc dưới mưa bão. Vừa là thép đã tôi, lại là lụa quấn tay.

Cuộc trò chuyện kéo dài đến cổng Đại Lý Tự. Hắn cứ tưởng nàng sẽ cùng mình vào, nào ngờ nàng dừng lại trước cửa.

Hắn khựng lại, thấy nàng rút từ áo ra thẻ bài hắn đưa mấy hôm trước, đưa lại, liền cau mày:

“Ý nàng là gì?”

“Ngài từng nói, chức quan ngài hứa chẳng có giá trị. Mai ta sẽ tự mình xin một chức từ Hoàng thượng. Hơn nữa… ta đã tìm được manh mối có thể lật lại vụ án của Khương Tể tướng—coi như giúp Hứa đại nhân một tay. Vậy cũng xin Hứa đại nhân… tha cho ta một lần.”

Khương Thanh Tố cười mím môi:

“Ta không rõ vì sao Hoàng thượng lại muốn khơi lại vụ án cũ đã hai mươi năm. Nhưng cảm giác mách bảo—nơi này sóng ngầm dữ dội. Ta, một nữ tử nhỏ bé, sẵn lòng phụng sự triều đình, nhưng trong chốn đao kiếm vô hình… thân xác này yếu ớt, không chịu nổi đâu.”

Hứa Văn Nhược biết nàng thông minh, cũng từng tận mắt chứng kiến sự thông tuệ ấy, song chẳng ngờ trước cửa Đại Lý Tự lại thêm một lần kinh ngạc, hoặc nên nói là kinh diễm.

Quả thực, Hoàng thượng muốn lật lại vụ án, chuyện này chẳng hề đơn giản. Kẻ ngồi trên long ỷ mong cầu kết cục song toàn, mà đã là song toàn thì tất phải đổ máu. Lục Hinh còn quá trẻ, nếu không phải vì mấy ngày qua có sự tiếp xúc và những điều bất ngờ, e rằng hắn đã buông tay để nàng tự bơi giữa dòng nước đục, sống chết mặc nàng. Nhưng hiện tại… Hứa Văn Nhược lại thấy có chút không nỡ.

Vì thế, hắn nhận lấy lệnh bài, nói: “Ngày mai nếu nàng cầu được chức quan, ấy là phúc phần của nàng. Với trí tuệ của nàng, sau này tất sẽ có chỗ đứng chốn triều đình.”

“Lục Hinh lòng dạ hẹp hòi, chẳng dung được triều cục. Nếu có gắng dung, cũng chỉ dung nỗi an dân lạc quốc, thái bình thiên hạ.” – Khương Thanh Tố thốt một câu ngôn từ chuẩn mực.

Hứa Văn Nhược bật cười thành tiếng. Kẻ vốn ôn hòa trầm lặng lần đầu tiên cười lớn, sau tiếng cười sảng khoái, nói: “Nếu thật là lòng như thế, thì cũng đâu phải nhỏ bé gì.”

Khương Thanh Tố khẽ gật đầu với hắn, nàng che ô xoay người rời đi, bước chân dứt khoát, không hề vướng bận. Nàng vô tình bị cuốn vào vòng xoáy, vậy mà vẫn có thể toàn thân lui ra một cách sạch sẽ.

Chỉ còn Hứa Văn Nhược đứng trước cửa Đại Lý Tự, đón gió tuyết, trông theo bóng dáng gầy gò dưới tán ô giấy dầu vàng, tay siết chặt lệnh bài, lòng bàn tay có chút lạnh, mà trong tâm lại thấy nóng bừng.

Lần thứ hai, Khương Thanh Tố đem Lục Hinh ngất xỉu trao vào tay Giang Nguyệt, rồi ung dung trở về khách đ**m. Vừa bước vào, liền thấy trong khách đ**m, một nam tử áo đen đang đánh cờ với Thẩm Trường Thích. Khương Thanh Tố mắt sáng rỡ, liền chạy lại gần: “Đánh cờ đấy à?!”

Giọng nàng mang theo vẻ vui mừng. Đơn Tà cầm quân đen, Thẩm Trường Thích giữ quân trắng. Bàn cờ phía quân trắng đã rối loạn không chịu nổi. Thẩm Trường Thích vò tóc ngồi đối diện, Khương Thanh Tố thì lại thấy thú vị, liếc nhìn Đơn Tà: “Đơn đại nhân cũng biết đánh cờ sao?”

“Biết chứ!” – Thẩm Trường Thích giọng mang chút ấm ức – “Năm đó đánh cờ với Diêm Vương, khiến người thua đến không còn mảnh giáp. Nói sao nhỉ, chuyện đó đã là ba mươi năm trước rồi. Vô Thường đại nhân và Diêm Vương chính là đánh cờ tại kinh thành.”

Khương Thanh Tố ngẩn người, ngồi xuống cạnh Đơn Tà, ánh mắt dừng lại nơi tay hắn. Ngón tay hắn khớp xương rõ ràng, da trắng, dài và gọn, móng tay hồng hào tròn đều. Khi thả quân đen xuống, tiếng cờ chạm bảng khiến lòng nàng rung động không thôi.

Nàng hỏi Thẩm Trường Thích: “Diêm Vương cũng từng đến nhân gian sao?”

Thẩm Trường Thích gật đầu: “Đúng vậy, hơn ba mươi năm trước, bỗng dưng địa phủ có một trận chết chóc dữ dội, người chết toàn là hạng chẳng lành, mười mấy gia chủ mang theo cả nhà đến khóc trước điện Diêm Vương. Sau khi giải quyết xong, Diêm Vương liền lên nhân gian giải sầu. Nói là giải sầu, thực chất là chẳng muốn làm nữa.”

Khương Thanh Tố thấy Thẩm Trường Thích đã buông xuôi đánh bừa, trong lòng ngứa ngáy, hận chẳng thể ra tay thay. Miệng nàng vẫn hỏi: “Rồi sao nữa?”

“Rồi Vô Thường đại nhân cũng theo lên nhân gian. Ngài không biết đâu, ấy là lần đầu tiên trong hơn ngàn năm Diêm Vương rời âm phủ. Hai vị đại nhân đánh cờ ở quán trọ cao nhất con phố kia kìa.” – Thẩm Trường Thích đưa tay chỉ – chỗ đó gần hoàng thành, giữa lòng kinh đô, phong cảnh nhìn từ đó hẳn là tuyệt đẹp.

Đơn Tà lại hạ một quân cờ, Khương Thanh Tố rít lên một tiếng, xem ra ván cờ của Thẩm Trường Thích là không cứu nổi rồi.

“Lúc đó Vô Thường đại nhân hứa với Diêm Vương, đánh mười ván, chỉ cần thắng một ván là được tự do qua lại. Kết quả, Diêm Vương thua sạch mười ván, quân trắng bị ăn sạch không còn mống nào.” – Thẩm Trường Thích chống cằm kể tiếp – “Nhưng đến ván thứ mười một thì Diêm Vương giở trò, khiến Vô Thường đại nhân thua một quân, được thưởng một tia Minh Hỏa chơi.”

Khương Thanh Tố khẽ nhướn mày: “Minh Hỏa…”

Nàng đột nhiên nhớ lại ngày mình chết, lần đầu biết đến sự tồn tại của địa phủ, liền đến điện Diêm Vương, xin được xem Sổ sinh tử. Nàng từng hứa với Triệu Doãn một lời thề ngốc nghếch, để ngăn nó thành sự thật, nàng nhất quyết không chịu đầu thai.

Khi đó, Diêm Vương đang nâng niu một chân đèn, lửa trên đèn cháy rực ánh lam u ám. Khương Thanh Tố giở sổ sinh tử của mình, thấy đoạn tình duyên và kết cục đã định, liền giận đến mức mượn lửa thiêu cháy quyển sổ.

Chân đèn đổ, Minh Hỏa thiêu rụi cả sổ sinh tử rồi cũng tắt. Nàng hả giận, còn Diêm Vương thì run tay chỉ vào nàng, nửa ngày không nói nên lời, tức giận lắp bắp: “Ngươi! Ngươi ngươi ngươi…”

Khương Thanh Tố khi ấy còn đưa tay sờ lên vết hằn trên cổ, nói: “Để đền cho ngài cây đèn, ta sẽ ở đây làm việc thay ngài.”

Giờ nhớ lại, thấy chuyện xưa thật buồn cười.

Khương Thanh Tố bật cười tươi, Thẩm Trường Thích chẳng còn sức mà phản kháng, Đơn Tà cũng chau mày, hiển nhiên đã thấy chán. Khương Thanh Tố liền đứng dậy, đẩy Thẩm Trường Thích sang một bên: “Ván sau để ta đánh.”

Nàng vừa ngồi xuống, Đơn Tà đã ngẩng mắt nhìn nàng một cái. Vừa hay đến lượt hắn hạ cờ, một quân đen rơi xuống, trúng ngay cái bẫy Thẩm Trường Thích đặt ra nhưng đã bị nhìn thấu từ lâu. Khương Thanh Tố cười rạng rỡ: “Ha ha ha! Ta thấy ta có thể xoay chuyển càn khôn đây!”

Thẩm Trường Thích chỉ biết nhếch mép – Vô Thường đại nhân thiên vị rõ ràng mà!
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 91: Quân Thần Ly Biệt – Phần 15


Khương Thanh Tố cùng Đơn Tà đánh cờ suốt nửa ngày, đến nửa đêm, Thẩm Trường Thích thực sự không thể tiếp tục chịu đựng. Mỗi lần Khương Thanh Tố sắp thua, Đơn Tà lại nhường một nước, để nàng có cơ hội gỡ lại, kéo dài ván cờ thêm chút nữa.

Đối với hành vi rõ ràng thiên vị này, Thẩm Trường Thích chỉ có thể dùng hai chữ để hình dung – uất ức!

Rõ ràng hắn mới là kẻ theo hầu Vô Thường đại nhân lâu nhất, trước sau tận tụy không dám có nửa câu oán trách. Khó khăn lắm mới có cơ hội được đối cờ, vậy mà đối phương lại không hề lưu tình. Đổi lại là Khương Thanh Tố thì khác, hiện tại Bạch Vô Thường đại nhân chính là miếng thịt nơi đầu tim của Hắc Vô Thường đại nhân, là tâm can, là bảo bối, cả bàn cờ như một cuộc tán tỉnh ngọt ngào, hắn thật sự không thể chịu nổi nữa.

Thế là Thẩm Trường Thích sớm lui về phòng, nhằm vào bàn cờ hôm nay, viết một hai trang tiểu thuyết s*c t*nh để xả giận. Tối nay trên trang giấy của Âm dương sách, Hắc Bá Vương chẳng thèm ôn nhu với Bạch tiểu thư, cứ thế áp nàng lên bàn cờ mà ra sức hành hạ. Lấy cớ viết sách, Thẩm Trường Thích ngấm ngầm xả hết mọi uất ức trong lòng.

Tầng trên, trên trang giấy là cảnh sắc triền miên của hắc bạch song nhân, hương mồ hôi rịn ướt, còn nơi đại sảnh tầng dưới, dưới ánh đèn và tuyết trắng bên cửa sổ, hắc bạch song nhân kia vẫn đang lặng lẽ đối cờ.

Phố xá ngoài khách đ**m đã không còn ai qua lại, nhiều cửa tiệm cũng đã tắt đèn chuẩn bị nghỉ ngơi. Gió tuyết thổi lên bệ cửa sổ đọng lại một lớp dày. Tiểu nhị tựa cầu thang ngáp mấy lượt không chịu nổi, bèn mang đến một cây đèn cùng hai ngọn nến cho đôi phu thê mãi mê đánh cờ, rồi mới chào một tiếng, lui xuống nghỉ ngơi.

Người đã đi hết, trong đại sảnh trống trải chỉ còn hai người. Đơn Tà liếc mắt nhìn Khương Thanh Tố, đối phương trông như đang chăm chú hạ cờ, kỳ thực tâm tư chẳng biết đã bay đến nơi đâu.

Trước kia khi ở cùng Khương Thanh Tố, Đơn Tà luôn là người giữ được bình tĩnh, luôn là nàng không nhịn được mà mở lời trước, nói dăm ba câu là thành một tràng dài. Nhưng lần này, hắn không nhịn được sự tĩnh lặng ấy nữa, cũng không muốn nhịn, bèn mở miệng hỏi:

“Nàng đang nghĩ gì vậy?”



Khương Thanh Tố ngẩng đầu nhìn hắn một cái, đáp: “Tâm sự của ta rõ ràng đến thế sao?”

“Cũng không hẳn.” – Đơn Tà nói – “Chỉ là trực giác.”

Khương Thanh Tố đưa tay vuốt mặt, hít sâu một hơi rồi nói: “Hôm nay ta đã đề cập với Hứa Văn Nhược về việc ngày mai vào cung, hắn đã đồng ý.”

“Là nàng đang nghĩ đến việc vào cung gặp Hoàng đế thì nên mở lời thế nào?” – Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố lại nhìn hắn, thấy người này thái độ kỳ lạ, lại chẳng hề tức giận, nàng mím môi lắc đầu: “Kỳ thực không phải, ta vẫn luôn nghĩ liệu có nên nói với chàng chuyện này. Ta không muốn giấu chàng, nhưng lại sợ nói ra sẽ khiến chàng nổi giận. Thế nhưng giờ nhìn chàng, lại chẳng giống như đang giận.”

“Ta không tức giận.” – Đơn Tà lại hạ một quân cờ. Khương Thanh Tố vội quan sát bàn cờ. Đơn Tà tiếp lời – “Nếu nàng thực lòng muốn đoạn tuyệt với quá khứ, thì phải nhìn rõ tình thế hiện tại. Việc nàng vào cung gặp hắn cũng là lẽ thường. Ta chỉ cần biết trong lòng nàng không còn vương tình ý với hắn là được, những chuyện khác ta không bận tâm.”

Khương Thanh Tố nhìn rõ bàn cờ, đặt xuống một quân, nghe xong lời ấy liền nhẹ nhõm thở ra: “Chàng yên tâm, theo tuổi tác nhân gian mà tính, hiện giờ hắn cũng đã là lão già quá nửa đời người. Ta gặp lại hắn, nhiều lắm chỉ là than thở một câu thế sự vô thường, năm tháng như đao bén, còn có thể sinh lòng gì nữa?”

“Nhỡ hắn vẫn phong thần tuấn lãng thì sao?” – Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố lắc đầu: “Vậy cũng chẳng động lòng. Dẫu có đẹp đến đâu cũng chẳng thể sánh bằng chàng.”

Một câu này khiến tay Đơn Tà cầm quân cờ hơi khựng lại, chân mày giãn ra đôi chút. Vốn dĩ nếu hắn hạ quân này xuống, Khương Thanh Tố sẽ toàn bàn thất bại. Miệng thì bảo không tức giận, nhưng lúc đánh cờ vẫn cố dồn nàng vào đường cùng. Thế mà chỉ vì câu nói ấy, đường cờ của hắn lại chuyển hướng.

Khương Thanh Tố thấy rõ điều đó, môi khẽ cong, ngẩng đầu nhìn hắn. Trong đôi mắt nàng phản chiếu ánh nến, lấp lánh sáng rực, và cả khuôn mặt của Đơn Tà.

Nàng nói: “Chàng xem, ta đã biết Đơn đại nhân là người tốt nhất, không chỉ đẹp mà còn lương thiện, lại còn tha cho ta một mạng.”

Tim Đơn Tà khẽ đập hai cái, vừa thấy buồn cười vừa tức, đây đâu phải đánh cờ, rõ ràng là đang so đấu tâm tư. Đơn Tà cam lòng nhún nhường, mà Khương Thanh Tố cũng đoán chắc hắn sẽ như thế, lời ngon tiếng ngọt thốt ra chẳng chút ngập ngừng.

Đơn Tà đặt cờ xuống, nói: “Trễ rồi, về nghỉ ngơi đi.”

Khương Thanh Tố bưng đèn theo sau, vừa rọi đường vừa nói: “Ta thật lòng thích Đơn đại nhân.”

Bước chân Đơn Tà khựng lại, đáp: “Ta biết.”

“Thật lòng thích, rất thích.” – Nói xong câu đó, lòng Khương Thanh Tố ấm áp lạ thường, không hẳn là cố tình nói cho người phía trước nghe, mà chỉ đơn giản là đem những điều trong lòng, trong đầu, nói ra thành lời.

Về tới phòng, Khương Thanh Tố nằm trên giường mà lòng vẫn hân hoan, trằn trọc mãi chẳng thể chợp mắt. Nàng liền trở dậy, đẩy cửa sổ ra, ngắm nhìn tuyết trắng rơi không ngớt. Ánh mắt nàng hướng về phía hoàng thành, nơi ấy đã sớm tắt đèn từ lâu.

Không hiểu vì sao, chỉ đánh mấy ván cờ cùng Đơn Tà, nàng nhìn lại hoàng thành, nhìn lại nơi chợ trước cổng Ngọ Môn nơi nàng từng bị xử trảm, trong lòng lại không hề đau đớn. Dường như nỗi đau đè nặng bấy lâu trong tim đã bị gió lạnh cuốn đi sạch, chỉ để lại hơi ấm dịu dàng.

Khương Thanh Tố từng sợ hãi kinh đô, nhưng khi thật sự tới nơi mới phát hiện chẳng có gì đáng sợ. Nàng từng sợ nhổ đi gai nhọn trong tim, nhưng khi thật sự nhổ rồi mới hay, chẳng đau đớn như tưởng tượng. Đơn Tà đã làm đúng, ép nàng trở lại kinh thành là chuyện tốt.



Sáng hôm sau tuyết vẫn rơi không ngừng. Khương Thanh Tố đến Thi Thư trà lâu tìm Lục Hinh, khiến nàng ta cũng có phần sợ hãi. Hai người ngồi trong một góc trà lâu, Khương Thanh Tố thấy ánh mắt Lục Hinh nhìn nàng có chút phòng bị và kỳ lạ, bèn mím môi cười nhẹ: “Ngươi sợ ta à?”

Lục Hinh lắc đầu: “Không! Chỉ là thấy lạ thôi.”

Khương Thanh Tố nói: “Ta thích ngươi, bởi vì ngươi khiến ta nhớ lại chính mình thuở trước, nên không kiềm được muốn gần gũi, xem ngươi như muội muội. Chậm nhất là ngày mai ta sẽ cùng phu quân rời kinh đô, hôm nay đến tìm ngươi trò chuyện, nếu ngươi thấy ta phiền, ta lập tức rời đi.”

Nói xong, nàng giả vờ định đứng dậy, Lục Hinh vội vàng lắc đầu kéo tay áo nàng: “Không không! Bạch phu nhân! Ta không thấy phiền, chỉ là dạo này cơ thể không khỏe, nghe Giang Nguyệt nói, ta cứ hay ngất xỉu…”

“Để ta tìm đại phu cho ngươi.” – Khương Thanh Tố đáp.

Lục Hinh lại nói: “Không cần đâu, đại phu đã khám rồi, không có gì nghiêm trọng.”

“Ta biết một y quán trong kinh, đại phu ở đó từng xuất thân từ ngự y viện trong cung, y thuật cao minh. Ngươi còn trẻ, có bệnh không thể kéo dài, nên đi khám xem.” – Khương Thanh Tố nói xong, liền đứng dậy nắm lấy tay nàng, gương mặt đầy vẻ lo lắng.

Lục Hinh vốn định từ chối, song nghĩ tới dạo gần đây bản thân hay ngất xỉu, cảm giác khác thường, lại thấy ánh mắt lo lắng chân thành của Khương Thanh Tố, trong lòng chợt mềm xuống. Quả thực, vị đại phu từng khám cho nàng cũng chỉ là người ở y quán thông thường, khó thể so sánh với ngự y từng xuất thân từ trong cung. Vì thế, cuối cùng nàng vẫn gật đầu, theo Khương Thanh Tố ra ngoài khám bệnh.

Khương Thanh Tố dẫn nàng đi vào một lối nhỏ, nói là đường tắt, đến một nơi vắng vẻ thì đột nhiên dừng lại, xoay người nhìn về phía Lục Hinh, ánh mắt dịu dàng kèm theo nụ cười ấm áp. Lục Hinh nhìn nàng mỉm cười như vậy, trong lòng cũng thấy ấm áp theo.

Bạch phu nhân quả thực là người tốt, nàng không nên nghi ngờ. Giang Nguyệt từng nói mỗi lần gặp Bạch phu nhân, nàng đều ngất xỉu, còn nghi là bị hạ dược. Lục Hinh không tin, người có thể cùng nàng luận thế đạo ở trà lâu, nói chuyện sâu sắc như vậy, sao có thể là kẻ hạ độc?

Khương Thanh Tố nắm tay nàng, nói: “Những ngày qua, đa tạ ngươi.”

“Đa tạ ta?” – Lục Hinh nghi hoặc. Sau mới nghĩ lại, chỉ sợ đối phương là nữ tử theo phu quân bôn ba tứ xứ, hiếm có tri kỷ cùng trò chuyện. Mình bầu bạn giải khuây, nàng ấy cảm kích cũng là phải.

Khương Thanh Tố không giải thích thêm, chỉ nói: “Trước khi rời đi, ta sẽ dốc sức, tặng ngươi một món quà.”

Dứt lời, nàng nghiêng người, trực tiếp nhập thân vào Lục Hinh. Thời gian hẹn với Hứa Văn Nhược để vào cung đã đến, nàng không thể trì hoãn thêm, lập tức hướng về Đại Lý Tự mà chạy.

Kiệu của Hứa Văn Nhược đậu trước cửa Đại Lý Tự đã lâu vẫn chưa động, hắn đứng giữa gió lạnh, hơi thở phả ra từng làn trắng xoá, kiệu phu cũng lạnh đến phát run. Hắn cúi đầu nhìn lệnh bài trong tay, lông mày hơi nhíu lại.

Bỗng nghe có tiếng động, Hứa Văn Nhược ngẩng đầu nhìn về đầu phố, vừa vặn thấy Lục Hinh khoác áo choàng dày, thở d.ốc chạy tới. Khoé môi hắn thoáng nở nụ cười, bước nhanh tới đón: “Nàng đến muộn rồi.”

“Thật xin lỗi! Hứa đại nhân, ta đã cố chạy hết sức.” – Khương Thanh Tố chống tay lên gối, nghĩ thầm: làm quỷ vẫn sướng hơn, chạy bao xa cũng chẳng thấy mệt, thân thể này mới chạy nửa phố đã thở không ra hơi, suýt quỳ luôn rồi.

Hứa Văn Nhược mím môi: “Nàng mà không tới, ta thật sự phải cùng nàng thất ước với Hoàng thượng rồi. Ta mang cả cái đầu này ra đánh cược với nàng đấy.”

Khương Thanh Tố nhìn hắn một cái, chớp mắt cười: “Ngài chẳng phải đã đến Khương phủ lấy được vật rồi sao? Có ta hay không, ngài đều là người lập công.”

Lời này khiến Hứa Văn Nhược nghẹn họng, nén tức mà cười, giơ tay gõ nhẹ lên đầu nàng: “Đi thôi!”

Hai người lần lượt bước lên hai cỗ kiệu. Suốt dọc đường, Khương Thanh Tố vẫn vén rèm ngắm nhìn bên ngoài. Từ Đại Lý Tự đến hoàng thành không xa, dùng kiệu chẳng qua vì quan lại sợ lạnh, sợ mệt, muốn che gió chắn tuyết mà thôi.

Khương Thanh Tố nhìn những cảnh vật quen thuộc, lòng trăm mối ngổn ngang. Ngày xưa khi còn làm quan trong triều, nàng cũng từng ngồi kiệu đi vào đến trước cổng hoàng thành như thế này.

Khi đến nơi, Khương Thanh Tố xuống kiệu, đập vào mắt là tường đỏ ngói vàng của cổng cung, chính là Ngọ Môn. Họ vừa đi vòng qua nơi xử trảm tội thần năm xưa, nàng chỉ thấy từ xa cái đài cao đã phủ dày một lớp tuyết. Lúc bước qua cổng cùng Hứa Văn Nhược, tâm trạng nàng thực khó tả.

Gương mặt ngoài kinh thành đã thay đổi nhiều, nhưng cảnh vật trong hoàng cung dường như vẫn không khác mấy, ngoại trừ vài nơi đã được tu sửa, những chỗ khác vẫn như xưa.

Khương Thanh Tố đi theo sau Hứa Văn Nhược, suốt dọc đường không nói một lời, đầu hơi cúi, lễ nghi nhập cung còn thuần thục hơn cả Hứa Văn Nhược. Hắn đều thấy hết, càng cảm thấy nàng mang theo bí mật, chỉ là bí mật gì thì hắn không đoán ra.

“Hoàng thượng đang ở Tử Thần điện.” – Hứa Văn Nhược nói.

Khương Thanh Tố gật đầu. Hắn lại dặn: “Lúc diện thánh phải hành lễ…”

“Ta biết.” – Khương Thanh Tố ngắt lời hắn, sắc mặt nghiêm nghị. Trên khuôn mặt trẻ trung vô tà kia, đến cả vẻ ngây thơ cũng chẳng muốn giả nữa.

Người dẫn họ đến Tử Thần điện là thái giám bên cạnh Hoàng thượng – kẻ đã hầu hạ từ thời còn là Ngũ hoàng tử. Khương Thanh Tố nhận ra hắn, tên là Minh An, giờ đã là Tổng quản thái giám, đến Hứa Văn Nhược cũng phải nhường ba phần.

Minh An dẫn họ tới trước Tử Thần điện, cung điện nguy nga hiện ra trước mắt. Hai bên đường lát đá trắng chất đầy tuyết trắng. Cửa điện chỉ mở một cánh, treo rèm dày chắn gió, trước cửa là một hàng tiểu thái giám đứng chờ.

Một tiểu thái giám vén rèm mời Hứa Văn Nhược vào trước, để Khương Thanh Tố đợi bên ngoài. Tai nàng thính, nghe rõ cuộc đối thoại bên trong.

Giọng Triệu Doãn đã khác xưa, khàn đục, yếu ớt, mang theo vẻ già nua, từ tốn cất tiếng: “Truyền nàng vào để trẫm nhìn một cái.”

Chỉ một câu, bên trong đã có thái giám ra truyền chỉ, mời Khương Thanh Tố tiến điện.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 92: Quân Thần Ly Biệt – Phần 16


Tấm rèm dày treo nơi cửa được vén lên, Khương Thanh Tố cúi đầu, khom mình bước vào. Tử Thần điện, nơi này nàng đã từng đến không biết bao nhiêu lần. Bước chân của nàng không nhanh không chậm, khoảng cách đều đặn, mãi cho đến khi nhìn thấy một vạt áo quan phục của Đại Lý Tự khanh mới dừng lại. Nàng không nhìn người kia, chỉ lập tức quỳ xuống bái lạy.

“Dân nữ Lục Hinh, khấu kiến Hoàng thượng, vạn tuế vạn tuế vạn vạn tuế.”

“Thật đúng là một đứa trẻ…” – Triệu Doãn mở miệng, giọng nói không nghe ra cảm xúc, yếu ớt, như thể bất kỳ lúc nào cũng có thể đứt đoạn: “Bình thân nói chuyện đi.”

Lục Hinh đứng dậy, hơi nép sau bên phải Hứa Văn Nhược. Lúc này nàng mới ngẩng đầu chậm rãi nhìn về phía Triệu Doãn. Người đàn ông mặc long bào sắc vàng rực đang tựa vào trường kỷ phủ đầy đệm mềm, trên đùi đắp da thú để giữ ấm, dưới chân có hai lò than, trong tay cầm một chén trà nóng, nắp trà đặt bên tay phải, chén còn bốc hơi nghi ngút.

Chỉ trong khoảnh khắc ánh mắt họ chạm nhau, Khương Thanh Tố bỗng thấy có chút xa lạ.

Triệu Doãn đã già.

Lòng người, suy cho cùng vẫn có chút không cam lòng. Dù hiện tại Khương Thanh Tố đã buông bỏ, nhưng khi mới đặt chân đến kinh đô, nàng vẫn từng nghĩ, có lẽ sẽ chạm mặt Triệu Doãn trong một lần vi hành. Nàng muốn để hắn thấy mình – người từng bị chém đầu giữa chợ, mang danh phản quốc hơn hai mươi năm – vẫn có thể bình thản mà đứng trước mặt hắn.

Nàng từng tưởng tượng ra cảnh tượng ấy: Triệu Doãn có thể sẽ ngạc nhiên, có thể là khiếp sợ, cũng có thể là hối hận. Bởi Khương Thanh Tố biết, ngay cả nàng mà hắn còn có thể hạ lệnh xử tử, trên đời này sẽ chẳng còn ai có thể thật tâm đối đãi với hắn như vậy nữa.

Hắn đáng lẽ phải hối hận, đáng lẽ phải sống cả đời bị dày vò trong nỗi đau đó.



Giờ phút này, trong lòng Khương Thanh Tố dâng lên một trận đau xót. Nàng thấy rõ năm tháng đã chẳng nương tay với người đàn ông này. So với những kẻ đồng niên, hắn trông càng yếu nhược hơn, gầy hơn cả những gì nàng tưởng tượng. Đôi mắt ấy đã chẳng còn vẻ phong thần tuấn tú năm nào, mi mắt hơi sụp, bên dưới phủ một tầng đen u ám, nhưng trong mắt vẫn còn đó sự tinh anh.

Triệu Doãn vừa nhìn thấy gương mặt Lục Hinh đã lộ ra chút thất vọng, không giống với hình ảnh trong trí nhớ, cũng chẳng có vẻ gì là đặc biệt như Hứa Văn Nhược từng nói.

Hắn nhấp một ngụm trà, yên lặng hồi lâu, bao nhiêu lời mở đầu từng nghĩ tới đều gác lại. Không phải người hắn mong chờ, vậy thì không cần phải nói những lời hắn từng muốn nói.

Ánh mắt Khương Thanh Tố lướt một vòng trong Tử Thần điện. Nơi này chẳng thay đổi là bao, chỉ có sau bàn làm việc cạnh ghế dài của Triệu Doãn treo thêm một bức họa. Đó là một bức chân dung toàn thân, người trong tranh mặc y phục màu sương trắng, trang điểm nhẹ nhàng, trên môi là nụ cười mờ nhạt. Màu sắc tranh mơ hồ, chỉ có ngũ quan là rõ nét.

Khương Thanh Tố nhìn thấy chính mình trong bức họa, lòng khẽ chùng xuống. Bức tranh này là do Triệu Doãn tự tay vẽ, khi hắn còn là Ngũ hoàng tử – Văn Vương, chưa từng nghĩ tới ngai vàng. Hắn chẳng học hành nghiêm chỉnh nhưng chữ nghĩa, thư họa đều đẹp. Nàng nhận ra nét bút của hắn.

Nàng không ngờ, trong tâm trí hắn, nàng vẫn dừng lại ở lứa tuổi mười lăm, mười sáu – khi còn tươi đẹp nhất.

“Khánh khanh nói ngươi có ý muốn lật lại vụ án của Khương Tể tướng, còn bảo ngươi tìm được chứng cứ.” – Triệu Doãn lên tiếng.

Khương Thanh Tố hoàn hồn, lại nhìn về phía người đàn ông kia, hắn đã rũ mắt nhìn chén trà, không còn hứng thú như ban đầu.

“Khởi bẩm Hoàng thượng, dân nữ tìm được một vật trong phòng Khương Tể tướng tại Khương phủ, nội dung hoàn toàn trái ngược với chứng cứ kết tội phản quốc năm xưa. Có thể chứng minh vụ phản quốc khi ấy là có người cố ý vu oan giá họa.” – Khương Thanh Tố đáp.

Triệu Doãn khẽ “ừ” một tiếng, Hứa Văn Nhược lập tức mở vật vừa dâng lên khi nãy, đặt lên bàn nhỏ trước mặt Triệu Doãn.

Hắn liếc mắt nhìn, vừa trông đã thấy miếng ngọc bội năm xưa mình từng tặng cho Khương Thanh Tố. Chén trà trong tay khẽ rung, Triệu Doãn đưa tay cầm lấy ngọc bội, nheo mắt nhìn một hồi lâu rồi hỏi:

“Chứng cứ là gì?”

Giọng nói có chút khàn.

Khương Thanh Tố đáp: “Là thư, do chính tay Khương Tể tướng viết, nhưng chưa từng gửi đi.”

Triệu Doãn đặt ngọc bội lên đùi, cầm lấy tập thư. Giấy đã cũ, dày, ố vàng, mang theo mùi mốc nhẹ. Hắn lật từng trang, nét chữ đúng là của Khương Thanh Tố.

Khương Thanh Tố hạ giọng: “Dân nữ từng nhìn thấy chứng cứ kết tội Khương Tể tướng tại Đại Lý Tự, nội dung nói rằng ngài ấy phản quốc vì si mê tướng quân nước địch. Nhưng khi dân nữ vào Khương phủ mới biết, người mà Khương Tể tướng một lòng thương yêu, từ rất lâu trước kia, chưa từng thay đổi.”

Khi còn sống không thay đổi, đến chết mới thay. Nàng không nói dối, nhưng khi thốt ra những lời này, ánh mắt lại nhìn Triệu Doãn – người đang chăm chú đọc thư – mà cảm thấy không đành lòng.

Nàng biết Triệu Doãn từng đối xử không tốt với mình, nhưng cũng chưa bao giờ thật lòng oán hận. Bởi tất cả những tổn thương đó đều là do chính nàng tình nguyện chấp nhận. Hai mươi năm qua, hắn vẫn treo bức họa nàng trong Tử Thần điện, đủ để chứng minh dù hắn không yêu nàng, nhưng cũng tự biết bản thân có lỗi với nàng.

Vì thế, để lật lại vụ án, Khương Thanh Tố đành một lần nữa chọc thủng trái tim hắn – thứ đã vá lành suốt hai mươi năm qua.

Đối với Triệu Doãn mà nói, nếu không đọc những lá thư này, hắn còn có thể tự lừa mình rằng Khương Thanh Tố chỉ cảm kích, không yêu mình. Nhưng đọc rồi… chính là lần thứ hai hắn phải chứng kiến cái chết của nàng – chân thật, đẫm máu, không thể chối bỏ.

Triệu Doãn đọc rất chậm, từng chữ từng câu, ngay cả dấu mực nhòe cũng không bỏ sót.

Tử Thần điện im lặng hồi lâu, cho đến khi Triệu Doãn đặt bức thư xuống, không khí tĩnh mịch ấy mới bị phá vỡ bởi một tiếng cười khổ và một tiếng thở dài sâu thẳm.

“Nét chữ nếu có thể giả, thì ai dám chắc những bức thư này là thật? Biết đâu chứng cứ trong Đại Lý Tự mới là chân thật, còn thứ ngươi mang đến, lại chỉ là giả mạo?” – Triệu Doãn hỏi.

Lần này hắn ngẩng đầu nhìn Khương Thanh Tố, ánh mắt hơi đỏ, nhưng nàng không cho rằng hắn sẽ khóc. Bao nhiêu năm làm quân vương, nước mắt sớm đã thành thứ xa xỉ. Người đứng trên thiên hạ càng cao, lệ càng chóng cạn.

Khương Thanh Tố mím môi đáp: “Vẫn còn một chứng cứ khác có thể xác minh những bức thư này là thật. Nhưng dân nữ có một thỉnh cầu.”

Hứa Văn Nhược nghe nàng nói vậy, lông mày khẽ nhíu, khẽ nhắc nhở bằng giọng trầm thấp: “Hiện tại không phải lúc cầu quan.”

Khương Thanh Tố liếc nhìn Hứa Văn Nhược, môi khẽ nhếch nở nụ cười nhàn nhạt, cảm kích hắn ta nhắc nhở, nhưng điều nàng muốn nói không phải là chuyện đó.

Triệu Doãn thu hết ánh mắt của hai người vào trong mắt, con ngươi hơi tối lại, chỉ lạnh nhạt nói: “Nói đi.”

“Dân nữ chỉ mong, những điều sắp nói sau đây, Hoàng thượng đừng hỏi lý do, chỉ cần phái người kiểm chứng là được.” – Khương Thanh Tố trầm giọng.

Triệu Doãn gật đầu: “Được.”

“Vật chứng khác có thể chứng minh tâm ý của Khương tướng trước khi chết, nằm tại tử lao của Đại Lý Tự – nơi giam giữ Khương tướng năm đó suốt mấy tháng. Ở khe tường cạnh giường đá, hòn đá thứ hai có khắc một bài thơ.” – Khương Thanh Tố chậm rãi nói. Nhắc đến đây, ký ức như cuộn sóng ùa về, nàng thậm chí còn nhớ rõ tâm trạng khi ấy, khoé môi treo một nụ cười chua xót:

“Trường dạ bất thành miên,

Minh nguyệt hà chước chước,

Tưởng văn tán hoán thanh,

Hư ứng không trung nặc.”

Triệu Doãn buông tay, chén trà rơi xuống đất vỡ tan, Hứa Văn Nhược sững sờ lùi một bước, mấy tiểu thái giám hoảng hốt quỳ rạp, tưởng Hoàng thượng nổi giận.

“Ngươi… biết bài thơ này?” – Triệu Doãn hỏi, ánh mắt ngập tràn kinh hãi.

Khương Thanh Tố đối diện thẳng ánh mắt ấy, thấy rõ vẻ thất thần trong đáy mắt Triệu Doãn, lòng nàng lại lạnh thêm một tầng. Hóa ra, năm ấy bức thư nàng nhờ người chuyển, hắn quả thực đã từng thấy qua.

Khương Thanh Tố mím môi, cúi người thi lễ: “Hoàng thượng từng hứa, sẽ không hỏi.”

Hứa Văn Nhược hoàn toàn bối rối, chưa từng nghe mật thám báo lại chuyện Khương Thanh Tố từng đến tử lao Đại Lý Tự. Nơi đó dù có lệnh bài cũng không dễ ra vào, nàng tuổi trẻ, vừa đến kinh thành không lâu, sao lại biết rõ trong tử lao có thơ Khương Tố để lại trước lúc lâm chung?

“Trẫm không hỏi… Trẫm… không hỏi.” – Triệu Doãn nhìn nàng, ánh mắt từ đầu đến chân dò xét, nhưng cuối cùng vẫn không dám hỏi.

Hắn sợ, sợ càng hỏi, lòng càng loạn. Bao nhiêu năm qua tâm hắn cố giữ bình lặng, nay lại vì một bài thơ, một phong thư, mà trở nên tan hoang.

Năm ấy, đêm mưa tầm tã, Khúc Xương gấp rút đến cửa cung, giao một vật cho thái giám, dặn bằng mọi giá phải đưa tận tay Hoàng thượng.

Thứ đó được gói kỹ trong giấy dầu, từng tầng một truyền tay, cuối cùng được đưa đến Tử Thần điện. Lúc ấy Triệu Doãn chưa ngủ, từ khi Khương Thanh Tố bị bắt giam, hắn hầu như không thể chợp mắt.

Hắn biết vật kia từ đâu đến, biết Khúc Xương là người của ai. Hắn sợ, không dám mở ra xem. Trong Tử Thần điện, hắn đỏ mắt đi qua đi lại, bức thư bị bỏ xó trên bàn suốt một tháng không dám động đến, đến mức cả góc bàn cũng không dám chạm vào.

Mãi đến ngày Khương Thanh Tố bị xử trảm, lòng rối bời, hắn nhìn bức thư tưởng như nhỏ máu, rốt cuộc cũng run tay mở ra.

Trong đó không có gì ghê gớm, chỉ là một mảnh giấy thô, bị nước mưa làm nhòe mực, chữ vẫn còn lờ mờ – chính là bài thơ ấy. Khi ấy ngực hắn như bị đâm mạnh, tay run run bấu ngực thở không nổi, một ngụm máu nghẹn trong cổ họng trào ra. Một tiểu thái giám sợ đến ngất xỉu, những kẻ khác cuống cuồng đi tìm thái y.

Chưa kịp chẩn trị, một thánh chỉ được viết vội đã được phóng ngựa đưa ra khỏi cung.

Nàng không thể chết!

Dù cái giá phải trả có lớn thế nào, nàng cũng không thể chết!

Nhưng ngựa nhanh không bằng đao sắc. Khi thái giám bưng chiếc khăn thấm máu trở lại, thái y còn đang chữa trị, Triệu Doãn trông thấy máu là phát điên, hất tung mọi thứ trước mặt, ho dữ dội, máu không ngừng trào nơi khoé môi. Thái y và thái giám sợ tới mức quỳ rạp, không ngừng khuyên nhủ: “Hoàng thượng bớt giận, bảo trọng long thể!”

Sau đó Triệu Doãn ngất lịm, mê man mấy ngày liền. Không thể thượng triều, ngoài viện báo là phong hàn, thực ra đến giường cũng không xuống nổi.

Phong thư kia, bài thơ kia… cuối cùng bị hắn đốt. Hắn cho rằng như vậy có thể lừa mình, lừa rằng Khương Thanh Tố dù chết cũng không còn yêu hắn. Nếu nàng chết mà mang theo nỗi hận, thì hắn còn có thể sống tiếp. Nhưng nếu nàng vẫn còn yêu… thì hắn thật sự chẳng biết phải đối mặt thế nào.

Giờ đây, Lục Hinh lại biết bài thơ ấy, khiến Triệu Doãn chấn động. Hắn sợ nàng biết nhiều hơn nữa, sợ trái tim đã chôn vùi ba mươi năm lại một lần tan nát. Nên… hắn không hỏi.

Triệu Doãn lập tức hạ chỉ phái người đến Đại Lý Tự tra xét. Sau đó, điện Tử Thần lại yên tĩnh trở lại. Khi mảnh chén vỡ được thu dọn sạch sẽ, Triệu Doãn mới lên tiếng: “Khánh khanh ra ngoài chờ. Trẫm có lời muốn hỏi riêng nàng.”

Hứa Văn Nhược liếc Lục Hinh đầy lo lắng, nhưng vẫn lui ra ngoài.

Triệu Doãn phất tay cho toàn bộ thái giám lui xuống, kể cả Minh An thân cận cũng không được ở lại.

Cuối cùng trong điện chỉ còn hai người.

Triệu Doãn nhìn Lục Hinh – hay đúng hơn là Khương Thanh Tố – khẽ hỏi: “Ngươi có biết, lòng người vừa cứng rắn, vừa dễ vỡ. Ngươi thông minh như vậy, lại không hiểu… Nếu năm đó trẫm muốn thừa nhận tình cảm với Phi Nguyệt, thì án phản quốc đó đã chẳng được xác lập.”

Ý tứ rõ ràng: Hắn không muốn những chứng cứ này được công nhận.

Khương Thanh Tố đã đoán trước kết cục này, chỉ bình thản nói: “Chuyện Hoàng thượng giao cho Hứa đại nhân, dân nữ đã tận lực hoàn thành. Còn xử trí thế nào, là ý nguyện của Hoàng thượng.”

“Ngươi đã xem những bức thư đó, vậy có cho rằng trẫm tàn nhẫn?” – Triệu Doãn lại hỏi. Hắn nhìn thấy bàn tay đang siết chặt của Lục Hinh, ngón cái liên tục miết vào đốt ngón trỏ – y hệt thói quen của nàng ấy khi nói dối. Triệu Doãn khựng lại, bất giác hối hận vì đã hỏi.

“Hoàng thượng từng nói, lòng người tuy tàn nhẫn, nhưng cũng có khi yếu mềm. Dân nữ… không cho rằng Hoàng thượng tàn nhẫn.” – Khương Thanh Tố đáp.

“Ngươi nói dối cũng có động tác y hệt nàng ấy.” – Triệu Doãn khẽ nhúc nhích, định đứng dậy đến gần, nhưng lại thôi. – “Trẫm và nàng cùng lớn lên, thuở thiếu thời từng cùng trồng một cây dưới viện Khương phủ. Cây còn chưa trưởng, nàng đã ôm tội danh mà rời đi.”

“Có đôi khi trẫm nghĩ, năm ấy dưới gốc hoa hoè, trẫm không nên vì một chén rượu mà kéo nàng vào triều cục. Nếu không vì sự ích kỷ nhất thời ấy… có lẽ trẫm đã không cô đơn nhiều năm đến thế.”
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 93: Quân Thần Ly Biệt – Phần 17


“Chi bằng ta vào triều làm quan, giúp chàng mài đi những góc cạnh không nghe lời kia.”

Khi xưa, Khương Thanh Tố nói ra lời ấy, mấy cánh hoa hoè rơi vương trên mái tóc nàng. Triệu Doãn trẻ tuổi khẽ động ngón tay, định đưa tay gỡ hoa giúp nàng, nhưng trong lòng lại bởi lời nói kia mà khởi tâm tư khác.

Hắn hiểu rõ sự thông minh của Khương Thanh Tố, nàng lớn lên bên cạnh Khương Vũ – một người sinh ra đã là kẻ trong chốn quan trường. Khương Thanh Tố chịu ảnh hưởng sâu đậm, thậm chí từng nói ra vài lời trọng yếu trước mặt Khương Thượng thư.

Triệu Doãn mừng rỡ. Nếu Khương Thanh Tố làm quan, hắn có thể lấy quốc sự mời nàng nhập cung, dẫu tạm thời không thể cưới nàng, vẫn có thể ban cho nàng chức cao lộc hậu, không còn bị khinh khi, lại có thể ngày ngày gặp mặt, kể cũng là kế hay.

Năm đó Triệu Doãn đáp ứng rồi, hắn nở nụ cười rạng rỡ, má hơi ửng hồng: “Được! Nàng vào triều, ta phong nàng làm đại quan!”

Lời đã nói, khó lòng đổi lại. Nếu được một lần nữa, Triệu Doãn nghĩ, hắn sẽ không nói câu ấy. Từ khi cưới Thái tử phi, hắn đã mang nợ Khương Thanh Tố. Nếu được một lần nữa, Triệu Doãn sẽ không viết thư cho nàng vào ngày đại hôn, dùng cách đó để giữ nàng bên cạnh mình.

Hắn đã trả lại công bằng cho nhà họ Khương, nhưng lại tước đoạt tự do của Khương Thanh Tố, giam giữ trái tim nàng, vĩnh viễn không thể đáp lại.

Nghĩ đến đây, môi Triệu Doãn khẽ động, bỗng cảm thấy miệng đắng lưỡi khô, chẳng rõ vì sao lại nói với một đứa trẻ mười lăm, mười sáu tuổi những điều này, dù sao nàng tuổi còn nhỏ, cũng chưa chắc hiểu được.

“Trẫm và Phi Nguyệt đều không tin trên đời có quỷ thần. Khi trẫm vừa được phong làm Văn Vương, có phủ đệ riêng, Khương Vũ gan to, cùng Phi Nguyệt bàn bạc giả làm ma quỷ dọa trẫm, kết quả bị trẫm đánh một trận.” Triệu Doãn hồi tưởng quá khứ, ánh mắt dịu lại mấy phần: “Khương Vũ, là tri kỷ cả đời của trẫm. Phi Nguyệt, là người trẫm…”



Lời chưa kịp nói xong, Triệu Doãn lại lặp lại: “Trẫm không tin quỷ thần, nhưng hôm nay gặp ngươi, trẫm tin rồi.”

Khương Thanh Tố sững sờ, tay trái siết chặt, Triệu Doãn lại nói: “Đến động tác lúc ngươi căng thẳng, cũng giống hệt nàng ấy. Lẽ nào ngươi thật sự là nàng ấy đầu thai chuyển thế?”

Khương Thanh Tố vội vàng hành lễ: “Dân nữ kinh hãi.”

“Trẫm chỉ tiện miệng nói thôi.” Triệu Doãn bỗng mất hứng, bao lời trong lòng vì hai chữ “kinh hãi” kia mà nén xuống, không muốn nói tiếp.

Hắn đưa tay ôm lấy ngực, ho khan mấy tiếng như khó thở. Minh An bên ngoài nghe thấy động tĩnh lập tức bước vào, luống cuống đưa khăn tay, Triệu Doãn vừa nhìn khăn liền mặt mày tái nhợt, hất phắt Minh An ra: “Mang đi!”

Lúc này Minh An mới nhớ ra mình đã làm chuyện ngu xuẩn gì. Hứa Văn Nhược cũng bước vào, thấy Triệu Doãn gục trên ghế dài, thở d.ốc không ngừng, chân mày nhíu lại, liền dặn một tiểu thái giám: “Mau truyền ngự y tới!”

“Dạ!” Tiểu thái giám hoảng loạn chạy ra ngoài.

Minh An mang chậu nước trở lại thì Triệu Doãn đã dùng tay áo che miệng, ho ra một tay áo đầy máu. Giữa mùa đông mà mồ hôi đầm đìa, khiến Khương Thanh Tố sợ hãi.

Hứa Văn Nhược biết không nên làm rối thêm, liền nói: “Hoàng thượng nên sớm nghỉ ngơi. Vi thần đưa Lục Hinh lui trước.”

Triệu Doãn chẳng còn sức bận tâm, phất tay ra hiệu cho họ lui, ho không dứt, tay còn lại siết chặt ngọc bội lấy từ hộp cũ của Khương Thanh Tố, đầu ngón tay trắng bệch.

Ra khỏi Tử Thần điện, ngoài trời tuyết vẫn chưa ngừng rơi.

Khoảnh khắc thấy Triệu Doãn ho ra máu, Khương Thanh Tố bất chợt thấy hối hận. Triệu Doãn, ngoài là bạn thuở nhỏ, người nàng từng đem lòng yêu, nay cũng chỉ là một lão nhân gần đất xa trời. Nàng vì rửa oan cho bản thân, phơi bày tình xưa ra trước mặt, khiến hắn xấu hổ, gợi lại vết thương cũ, còn khiến hắn thổ huyết, chẳng rõ bản thân có sai hay chăng.

Hứa Văn Nhược thấy sắc mặt Lục Hinh không tốt, tưởng nàng vừa rồi bị dọa sợ, liền an ủi: “Không cần lo lắng, tình trạng này của hoàng thượng đã mấy tháng rồi. Nghe nói bệnh cũ tái phát, vốn đã là chứng mãn tính, không liên quan nhiều tới chuyện hôm nay.”

Khương Thanh Tố nghe xong, sững sờ, nàng hỏi: “Đại nhân đã sớm biết hoàng thượng và Khương Tể tướng xưa kia tình cảm sâu đậm, triều thần chắc cũng đều biết, cớ sao chứng cứ vớ vẩn kia lại khiến Tể tướng mất mạng?”

“Gây nên cái chết của Tể tướng, chưa bao giờ là chứng cứ.” Hứa Văn Nhược lắc đầu, đưa tay phủi lớp tuyết trên vai Khương Thanh Tố, chậm rãi nói: “Khi Tể tướng vừa bị giam, hoàng thượng xem xong những bức thư, đang cơn giận dữ, ngài ấy và phụ thân ta đều nhận ra nét chữ là của Tể tướng, nhất thời nôn nóng, chưa suy xét kỹ. Nhưng với tình cảm của họ, giận dữ tan đi, tất nhiên sẽ nhận ra đó là giả.”

“Chỉ trách… thời cuộc lúc ấy không thuận. Tin đồn phản quốc lan ra, mỗi ngày dân chúng thay nhau kéo đến Đại Lý Tự đòi xử tử Khương Thanh Tố. Hoàng thượng phải sai binh tạm thời trấn áp, nhưng Nam Di công đánh Đại Chiêu ngày càng dữ dội.” Hứa Văn Nhược nhíu mày, những lời này cũng là phụ thân hắn kể lại: “Khi ấy, dưới trướng Tương Thân Vương có hơn năm mươi người, đồng loạt quỳ trước cửa Quốc Chính điện, miệng không ngừng gào thét: nếu không giết Khương Tể tướng, quyết không đứng dậy.”

Triệu Doãn trong cơn thịnh nộ, đã đập phá sạch mọi thứ trong điện Quốc Chính. Trước hàng dài thái giám, đại thần quỳ rạp, hắn gần như phát cuồng hét lớn: “Các ngươi đang ép trẫm! Đây là tạo phản!”

“Hoàng thượng! Khương Thanh Tố phản quốc chứng cứ rõ ràng, tiền tuyến chiến sự cam go, nếu để tướng sĩ biết hoàng thượng dung túng kẻ phản quốc, át sẽ làm rối quân tâm, mong hoàng thượng nghĩ kỹ!”

“Thỉnh hoàng thượng hạ chỉ xử trảm Khương Thanh Tố, lấy đó mà chấn hưng quân tâm!”

“Hoàng thượng! Nay tin đã truyền ra khỏi kinh đô, chẳng bao lâu sẽ tới Xá Dương thành, quân địch đã có bản đồ phòng ngự, chiến hỏa ngút trời, tướng quân Từ Đường đã lấy cái chết giữ nước, hoàng thượng lại muốn bảo vệ Khương Thanh Tố, chẳng phải khiến Từ tướng quân nản lòng hay sao?!”

“Thỉnh hoàng thượng hạ chỉ xử trảm Khương Thanh Tố! Họa này không thể lưu!”

“Hoàng huynh!!” Triệu Doãn tóc tai rối bời, một lọn buông trước trán, mắt đỏ ngầu tơ máu. Hắn lảo đảo bước đến trước mặt Tương Thân Vương, hai tay nắm lấy cổ áo y, mười ngón run rẩy, nhìn vào khuôn mặt đối phương, hắn hiểu rõ tất cả đều là mưu kế của người ấy.

Tương Thân Vương chưa từng nhắm vào Khương Thanh Tố. Người hắn muốn giết, từ đầu đến cuối, là Triệu Doãn – người đang ngồi trên ngai vàng. Khương Thanh Tố chỉ là con cờ để hắn dọa nạt, uy h**p Triệu Doãn.

Triệu Doãn nếu lui một bước, Khương Thanh Tố chết, hắn giữ được giang sơn. Nếu tiến một bước, Khương Thanh Tố sống, hắn mất lòng dân, mất sự tín nhiệm và trung thành của bá quan.

“Hoàng huynh…” Triệu Doãn cắn răng đến bật máu, buông cổ áo Tương Thân Vương, ngã ngồi xuống đất: “Tương Thân Vương… ngươi quả thật là… lật tay thành mây, úp tay thành mưa.”

“Thỉnh hoàng thượng hạ chỉ xử trảm Khương Thanh Tố!”

“Thỉnh hoàng thượng hạ chỉ xử trảm Khương Thanh Tố!”

“Thỉnh hoàng thượng…”

Triệu Doãn thân khoác long bào, yếu ớt bò dậy, mặc kệ các đại thần đang quỳ rạp, chân trần từng bước một rời khỏi điện Quốc Chính, giọng khản đặc: “Người đâu… Trẫm muốn hạ chỉ! Trẫm muốn hạ chỉ! Nữ tể tướng Đại Chiêu – Khương Thanh Tố…”

“Thông đồng nghịch tặc, mê hoặc quân vương.” Giọng Tương Thân Vương vang lên lãnh đạm.

Triệu Doãn nghẹn ngào, vung tay áo, bước ra khỏi điện Quốc Chính: “Cứ theo lời Tương Thân Vương viết đi…”

Khương Thanh Tố chưa từng nghĩ rằng, cái chết của mình lại là do văn võ bá quan quỳ lạy trước điện Quốc Chính mà thành.

Tuyết trắng dưới chân in hằn từng dấu, nàng cúi đầu, nghe xong lời Hứa Văn Nhược kể, trong lòng lại trống rỗng, chẳng còn cảm giác đau đớn hay khó chịu.

Tất cả là lựa chọn của Triệu Doãn, hắn không sai. So với giang sơn xã tắc, một Khương Thanh Tố quả thực không là gì cả.

Việc hắn có thể ghi nhớ nàng hơn hai mươi năm trời, đã đủ để chứng minh nàng năm xưa không yêu lầm người. Nay đã rõ ngọn ngành, cho dù là từ miệng Hứa Văn Nhược nói ra, Khương Thanh Tố cũng đã hoàn toàn buông bỏ.

Khi xưa không hận Triệu Doãn, giờ lại càng không hận.

Tranh đấu trong hoàng thất, vốn chẳng phải thứ mà một kẻ không quyền không thế như nàng có thể can thiệp. Văn võ khắp triều, nếu không là người thao túng cục diện, cũng chỉ là quân cờ trong tay hoàng gia. Kẻ cầm quân một bên là Triệu Doãn, bên kia là Tương Thân Vương.

Năm đó Triệu Doãn mất Khương Thanh Tố, còn Tương Thân Vương đánh mất cơ hội duy nhất để phế ngôi Triệu Doãn. Từ đó trở đi, Triệu Doãn không còn nhược điểm, dù là Khương Thanh Tố hay Khúc Xương, Hứa Văn Nhược hay kẻ khác, đều là những quân cờ trong bàn cờ cả đời của hai người.

Khương Thanh Tố biết, cái chết của mình không uổng, coi như đáng giá.

Nàng khẽ mím môi cười nhẹ, ngẩng đầu nhìn Hứa Văn Nhược, ánh mắt sáng trong, chân mày cong cong: “Vừa rồi ta quên không cầu xin hoàng thượng cho làm quan, không biết Hứa đại nhân có thể thay ta cầu một chức chăng?”

Hứa Văn Nhược khựng lại. Hắn vốn tưởng nàng sẽ hỏi han về chuyện trong cung, không ngờ lại nhớ đến chuyện quan chức, bèn đáp: “Được thôi, nàng đến làm ở Đại Lý Tự thì sao?”

“Ta là nữ nhi, đến Đại Lý Tự chẳng phải hơi… máu tanh ư?” Khương Thanh Tố cười khẽ.

Hứa Văn Nhược nói: “Vậy thì đến Thái Sử viện.”

“Chép sử nhàm chán, so ra Đại Lý Tự cũng không tệ.” Lời ban đầu chỉ là câu nói đùa, thực ra Khương Thanh Tố mượn thân thể Lục Hinh ba ngày, tất nhiên nên giúp nàng tạo cơ hội gần gũi Hứa Văn Nhược.

Hứa Văn Nhược nghe nàng nói vậy, lòng không khỏi xao động.

Hắn tuổi vừa hơn hai mươi, chưa từng cưới vợ. Phụ thân hắn sốt ruột, nhưng thực ra là do hắn mắt cao hơn đầu, chẳng để ý đến những tiểu thư khuê các tầm thường, cảm thấy nhàm chán. Vài ngày qua tiếp xúc với Lục Hinh, hắn dần dần sinh hứng thú. Tim hắn chẳng ít lần loạn nhịp vì nữ tử trước mắt, nay nàng đã nguyện đến Đại Lý Tự làm quan, Hứa Văn Nhược cũng muốn trước khi thành đồng liêu, tỏ rõ tâm ý.

Ra cung đường xa, hai người trò chuyện vòng đến một tiểu viện, trong sân trồng đầy mai đỏ, sắc hoa rực như lửa, phủ đầy tuyết trắng.

Hứa Văn Nhược bước đến hái một đóa, thổi đi tuyết trên hoa, tiến tới trước mặt Khương Thanh Tố. Nàng thấy cành mai liền nhoẻn miệng cười: “Thổi tuyết mai hiện, ý của Hứa đại nhân là oan khuất của Tể tướng đã được rửa, chân tướng năm xưa có thể công khai thiên hạ?”

Hứa Văn Nhược thoáng ngẩn người, lắc đầu đáp: “Không phải, chỉ là… mai đỏ hợp với nàng.” Dứt lời, hắn đưa tay cài nhành hoa lên tóc nàng. Lần này, Khương Thanh Tố lại sững người.

Ánh mắt nàng nhìn thẳng khiến Hứa Văn Nhược hơi lúng túng. Hắn cúi đầu cười nhẹ, hỏi: “Lục cô nương đã có người trong lòng chưa?”

Câu hỏi ấy, nếu Khương Thanh Tố còn không hiểu thì đúng là uổng phí một đời làm người.

Bước chân nàng hơi nhanh hơn, không nói lời nào. Hứa Văn Nhược theo sau, sắc mặt không vui: “Nàng đã có người trong lòng?”

Khương Thanh Tố cũng khó lòng phản bác. Lục Hinh thực sự có người trong lòng, chính là Hứa Văn Nhược. Nhưng nếu nàng thay Lục Hinh đáp ứng bây giờ, trong khi Lục Hinh chẳng nhớ gì cả, như vậy có công bằng không?

Tới cổng cung, Hứa Văn Nhược bất ngờ nắm lấy tay nàng: “Nếu có gì muốn nói, xin cứ nói thẳng. Nếu muốn từ chối, cũng xin từ chối trước mặt ta. Nhưng ta cần một lý do.”

Khương Thanh Tố nghĩ ngợi rồi đáp: “Mấy ngày nay ở cùng Hứa đại nhân, Lục Hinh cảm tạ đại nhân đã quan tâm chăm sóc. Nhưng ta nhất tâm chỉ vì minh oan, không nghĩ đến tình cảm nhi nữ. Những gì xảy ra gần đây, những gì suy đoán được, chẳng để lại ấn tượng tốt đẹp gì cả.”

“… Ta hiểu rồi…” Hứa Văn Nhược buông tay. Nàng cho rằng hắn là kẻ tâm cơ thâm trầm, giỏi bày mưu tính kế.

Khương Thanh Tố lắc đầu: “Không phải! Thật ra Lục Hinh còn nhiều thiếu sót Hứa đại nhân chưa biết. Hay là thế này, chúng ta lập một ước định. Mọi chuyện trong ba ngày qua về Khương Tể tướng, từ nay không ai nhắc lại. Ta không trách đại nhân bày kế dụ ta, đại nhân cũng đừng trách ta suy nghĩ nhiều. Từ ngày mai, chúng ta làm lại từ đầu. Nếu khi đó, Hứa đại nhân vẫn có thể chấp nhận toàn bộ con người của Lục Hinh, thì hãy tới tìm ta, khi ấy, ta tuyệt không từ chối.”

Hứa Văn Nhược ngẩn người, không ngờ lại là lời như vậy. Hắn gật đầu: “Ta đồng ý. Chuyện ba ngày qua, từ nay sẽ không nhắc lại. Văn thư nhận chức của nàng, ta sẽ sớm lo liệu, khi nàng nhập Đại Lý Tự, chúng ta bắt đầu lại.”

Khương Thanh Tố thở phào, khẽ gật đầu: “Đa tạ Hứa đại nhân.”

“Ta cũng… đa tạ nàng.” Hứa Văn Nhược nói: “Ta đưa nàng về.”

“Đưa tới Đại Lý Tự là được rồi. Hứa đại nhân còn bận việc, đoạn đường còn lại, Lục Hinh tự về.”

“Vậy cũng được.”
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 94: Quân Thần Ly Biệt – Phần 18


Lục Hinh lại một lần nữa tỉnh lại giữa khoảng trống ký ức, nhưng lần này nàng tỉnh dậy trong chính gian phòng của mình. Thi Thư Trà lâu dành riêng cho nữ cử nhân nghỉ ngơi, mỗi gian chia cho hai người, nàng ở cùng Giang Nguyệt.

Giữa chỗ ngủ của hai người có một bức bình phong ngăn cách. Bên ngoài trời đã tối đen, Lục Hinh đưa tay xoa trán, trong đầu mơ hồ nhớ lại bản thân thường hay ngất xỉu, Bạch phu nhân lo lắng nên đưa nàng đi khám. Hình như lúc hai người đến một con hẻm thì nàng bất tỉnh, còn vì sao ngất, thì nàng không nhớ nổi.

Trong lòng có chút ngột ngạt, vừa định xuống giường thì tay vô tình chạm phải vật gì đó đặt trên đầu giường. Lục Hinh ngẩn ra, cúi đầu nhìn, đó là một phong thư. Nét chữ trên phong thư thanh tú mà có khí cốt, chẳng phải nét mực của nữ tử khuê các thông thường.

Trên phong bì đề bốn chữ: “Lục Hinh thân khải.”

Lục Hinh mở thư ra xem, càng đọc càng kinh ngạc. Chỉ cần nhìn đầu thư là biết ngay là bút tích của ai.

Lúc Khương Thanh Tố viết thư là mượn tay Lục Hinh mà viết, mực bút cũng còn trên bàn cạnh giường nàng.

“Lục Hinh muội:

Được muội bầu bạn mấy ngày, lòng ta vô cùng cảm kích.

Muội tư chất hơn người, có tài làm quan, thông minh hoạt bát, mấy ngày qua tiếp xúc, ta dường như thấy lại chính mình năm xưa nơi muội. Ta biết muội thầm mến Đại Lý Tự khanh, trước khi rời đi, nghĩ cách tặng muội một món lễ, xem như lời cảm ơn đã quấy rầy mấy hôm, mong muội không chê.

Lễ mọn vài hôm sau sẽ đến, hy vọng mai sau muội làm quan, luôn giữ tâm ban đầu, tận tâm vì dân, đó là phúc của thiên hạ.

Ta chỉ là một kẻ vô danh nơi hồng trần, nếu có người hỏi, xin muội đừng nhắc đến tên ta.”

Lục Hinh nắm lá thư trong tay, lòng đầy nghi hoặc. Nàng nhớ rõ trước đó Khương Thanh Tố từng nói muốn cảm ơn nàng, giờ thư lại nhắc đến một món lễ, nhưng không biết là gì.

Đang ngẩn ngơ thì bỗng có cơn gió vô hình thổi đến, thổi bay tờ thư trong tay. Lục Hinh vội bò ra cửa sổ nhìn theo, nhưng tờ giấy trắng chữ đen kia, vốn dĩ nên trôi theo gió, lại bỗng dưng biến mất không dấu vết, tìm thế nào cũng không thấy.

Khương Thanh Tố nói sẽ rời đi, thật ra vẫn chưa. Trong ba ngày ấy, nàng đã nhìn lại toàn bộ những gì xảy ra lúc mình chết năm xưa.

Để tránh mặt Lục Hinh, nàng dọn đến khách đ**m khác, dọn gần hoàng thành hơn nên cũng gần nơi náo nhiệt. Nhiều hàng ngon đều tập trung ở đó, không chỉ nàng mà Thẩm Trường Thích cũng ưa thích.

Mấy ngày vui mừng của Nguyên Sóc đã qua, tuyết rơi mấy ngày liền cuối cùng cũng ngừng. Kinh đô vẫn phủ một màu trắng xóa, bên đường có không ít người tuyết do bọn trẻ con đắp.

Mùa đông là mùa của kẹo hồ lô. Khương Thanh Tố cầm hai xâu kẹo trong tay, vừa ăn vừa cau mày: “Chua quá, chẳng ngon gì cả.”

Đơn Tà liếc nàng: “Đi Liễu Thành chứ?”

“Đi, nhưng chờ thêm vài hôm đi. Ta thư viết rõ ràng sẽ tặng Lục Hinh một món đại lễ, mà cái tên Hứa Văn Nhược kia làm ăn thật chậm, nay là ngày thứ ba rồi vẫn chưa thấy Lục Hinh được phong quan. Nếu vài ngày nữa còn chưa có tin, đêm ta sẽ sai Thẩm lòi cái lưỡi dài kia ra, đến Hứa phủ dọa hắn một phen.” Khương Thanh Tố lại ăn một viên kẹo, chua đến nỗi mày liễu cau chặt.

Thẩm Trường Thích theo sau hai người, tay ôm một gói mạch nha, miệng đang nhai, nói lúng búng: “Dọa hắn ngốc thì sao?”

Khương Thanh Tố đáp: “Ngốc thì tính của ngươi, không ngốc thì tính của ta.”

Thẩm Trường Thích chậc một tiếng: “Còn có thể vô lý hơn không?”

“Vậy ngốc hay không ngốc đều tính của ngươi, đủ vô lý rồi chứ?” Khương Thanh Tố khóe môi cong cong, ánh mắt rạng rỡ. Thẩm Trường Thích nghe vậy nghẹn lời, Đơn Tà bên cạnh lại thấy thú vị, lông mày nhướng lên, ánh mắt cũng dịu đi đôi phần.

Đúng lúc đó, phía trước truyền đến tiếng vó ngựa dồn dập. Khương Thanh Tố giật mình, bị Đơn Tà kéo tay lùi vào ven đường. Chỉ thấy không chỉ một con ngựa, sáu con tuấn mã đen đi đầu mở đường, theo sau là một đoàn quan binh – chính là cấm quân trong hoàng thành, đi ngang qua rồi rẽ phải nơi giao lộ sau lưng họ.

Khương Thanh Tố nhíu mày. Giao lộ ấy rẽ phải chính là đến vương phủ của Tương Thân Vương. Nàng khựng lại, lẩm bẩm: “Đã xảy ra chuyện gì?”

Đơn Tà liếc nàng, hỏi: “Sao không đi Liễu Thành ngay bây giờ?”

Khương Thanh Tố ngẩng đầu nhìn hắn, cảm thấy có điều gì đó trong lời. Nàng hỏi: “Chàng biết gì rồi?”

“Không biết, chỉ đoán thôi.” Đơn Tà dứt lời liền nắm tay nàng đi tiếp: “Dù sao cũng chẳng liên quan gì đến chúng ta.”

Dù không biết Đơn Tà đoán đúng bao nhiêu, nhưng sự kiện cấm quân rầm rộ vây phủ lần này, rất nhanh đã dấy lên làn sóng dư luận trong kinh thành. Khương Thanh Tố rốt cuộc cũng hiểu, thế nào gọi là “một đêm truyền khắp thành đô” – thủ pháp ấy, giống hệt như khi nàng năm xưa bị vu tội phản quốc.

Phủ Tương Thân Vương đã bị phong tỏa. Toàn bộ gia quyến bị bắt giam tại Đại Lý Tự chờ thẩm. Nói là “chờ thẩm”, e rằng cũng chẳng có phiên thẩm nào nữa.

Tương Thân Vương là huynh trưởng của Triệu Doãn, cùng mẹ với Đại Hoàng tử – tức Thái tử cũ. Ông ta vốn là Tam hoàng tử, lớn hơn Triệu Doãn bảy, tám tuổi.

Nay đã ngoài sáu mươi mà vẫn khỏe mạnh, trái ngược hẳn với Triệu Doãn đang thân thể suy kiệt, ngày nào cũng phải uống thuốc, thỉnh thoảng lại thổ huyết. Nói không hay thì, nếu xét sức khỏe, Triệu Doãn hẳn phải đi trước.

E rằng Triệu Doãn cũng tự biết điều này, nên càng thấy thân thể không ổn, lòng càng thêm lo sợ.

Sau khi phủ Tương Thân Vương bị niêm phong mấy ngày, khắp ngõ lớn hẻm nhỏ, từ chủ quán cho đến ăn mày, ai ai cũng bàn tán tội danh của Tương Thân Vương. Khương Thanh Tố nghe ngóng những lời ấy, chắp nối lại, cũng đại khái đoán ra được sự tình.

Hôm nàng theo Hứa Văn Nhược vào cung, những bức thư, cùng bài thơ nàng khắc bằng ngọc trâm trong tử lao Đại Lý Tự, đều trở thành chứng cứ quan trọng để lật lại bản án.

Ngày nàng rời khỏi hoàng cung trong thân thể Lục Hinh, Hứa Văn Nhược lập tức vào cung gặp Triệu Doãn. Ngoài hắn ra, những thế lực vẫn trung thành với Triệu Doãn cũng lần lượt bước vào ván cờ hiển hiện rõ ràng kia, cam nguyện trở thành quân cờ, trong đó có cả phụ thân của Hứa Văn Nhược.

Vị hoàng đế đã nhiều tháng không thượng triều rốt cuộc chỉnh tề y phục, chậm rãi bước vào điện Quốc Chính. Ngồi lên long ỷ, việc đầu tiên hắn làm là ném tất cả chứng cứ năm xưa vu tội phản quốc Khương Thanh Tố cùng bằng chứng Hứa Văn Nhược dâng lên xuống giữa đại điện.

Không ai ngờ rằng, sau hơn hai mươi năm, hơi thở ấy Triệu Doãn vẫn nhẫn nhịn, đến nay mới bùng phát.

Ngay khi những mảnh chứng cứ năm xưa bị ném xuống đại điện, phụ thân Hứa Văn Nhược là người đầu tiên quỳ xuống. Một khi đã quỳ, tức là cam tâm nhận tội, cũng là tự mình giải thoát, vứt bỏ bao nhiêu năm do dự cùng rối ren.

Việc Hứa Thượng thư là người đầu tiên nhận tội khiến tất cả triều thần kinh ngạc. Ông thừa nhận mình chính là người dâng mấy bức thư buộc tội Khương Thanh Tố năm đó, là người viết lá tấu đầu tiên. Nhưng ông cũng khai rõ, những bức thư đó vốn là do người khác đưa cho ông.

Người đưa thư không ai khác, chính là phò mã đương triều – muội phu của Tương Thân Vương. Phò mã xưa nay không giữ chức vụ quan trọng, phần lớn thời gian chỉ thong dong tiêu dao. Vừa nghe Hứa đại nhân khai ra tên mình, phò mã cũng lập tức quỳ xuống, miệng kêu oan nhưng không dám phản bác mạnh mẽ.

Tương Thân Vương vốn đã hận kẻ bất tài này, nay thấy phò mã định “hy sinh”, cũng mặc cho diễn trò “chó cắn chó” giữa chốn triều đình. Phò mã sợ chết, khóc lóc thảm thiết, trong khi Triệu Doãn ngồi trên long ỷ nhìn đám quan lại bên dưới, từng người từng người, đều là bạn đồng hành mấy chục năm, vậy mà ai nấy cũng giữ tâm riêng, không ai muốn bị kéo theo.

Vụ án phản quốc của Khương Thanh Tố được rửa sạch. Ngày tuyết đầu mùa ngừng rơi sau hai mươi sáu năm, cả kinh thành đều biết rằng, nữ tể tướng đầu tiên của Đại Chiêu năm ấy, là bị oan khuất mà chết. Có người còn đặc biệt nhớ lại năm đó tiết thu đầu mùa, kéo nhau đến chợ trước Ngọ Môn xem chém đầu.

Hứa Thượng thư bị bãi quan. Dù sao ông cũng tuổi cao sức yếu, thân thể đã chẳng còn tốt, sớm đã muốn rút lui. Con trai ông – Hứa Văn Nhược hiện đang nắm chức trong triều, lại được hoàng thượng tin tưởng, ông chẳng còn gì lo lắng.

Những kẻ khác can dự vào vụ án, tội trạng nghiêm trọng hơn, đều bị Đại Lý Tự giam lỏng chờ điều tra.

Triệu Doãn nhớ rõ từng gương mặt trong nhóm hơn năm mươi người ép ông năm xưa. Có người đã chết trong suốt hai mươi sáu năm, có người rõ ràng tuổi còn lớn hơn ông mà vẫn sống khỏe mạnh. Khi Tương Thân Vương – sáu mươi tuổi – bị hai thái giám áp giải đến quỳ trong Quốc Chính điện, đám đại thần từng cùng ông ta quỳ ép Triệu Doãn năm đó nay đều quỳ xuống cầu xin tha mạng.

Tóc Triệu Doãn đã bạc trắng, mắt vằn tơ máu. Ông chầm chậm bước xuống từ long ỷ, có Minh An đỡ bên cạnh, đi dọc theo hàng người run rẩy kia, ánh mắt từng người lướt qua, giống hệt năm xưa họ ép ông cúi đầu, nhưng hôm nay lại là van xin ông tha mạng.

Đại Lý Tự xét xử vô cùng nhanh chóng. Hơn hai mươi đại thần liên quan bị giam giữ, Tương Thân Vương bị lôi đi vẫn cao giọng kêu gào: “Không có chứng cứ! Vì sao lại nói tất cả là ta dàn dựng!”

Triệu Doãn không giải thích, ánh mắt lạnh lùng nhìn Tương Thân Vương. Ánh mắt ấy, chính là cái nhìn vô tình năm xưa khi hắn dẫn bá quan định tội Khương Thanh Tố — dứt khoát, không thương tiếc.



Triều đình thay máu. Các nữ cử nhân trong Thi Thư trà lâu rôm rả phấn khởi, quan chức bỏ trống nhiều, đồng nghĩa cơ hội lập công lập nghiệp cũng nhiều. Người đầu tiên nhận được tin vui là Lục Hinh.

Lúc đó nàng đang uống trà với Giang Nguyệt, hai người cầm sách chuyện trò, gương mặt còn mang nét hồng hào thiếu nữ, mơ mộng viễn cảnh làm quan, đưa ra chính sách thay đổi đất nước.

Những kẻ từng cãi vã với nàng trước cửa trà lâu cũng có mặt, ngồi bàn kế bên, giọng điệu mỉa mai: “Có người vẫn còn nằm mộng giữa ban ngày. Dù triều đình có thiếu người thì cũng chẳng đến lượt con gái một tri phủ nhỏ.”

Lục Hinh không để tâm, nhưng lại có người thay nàng lên tiếng. Người chưa đến, tiếng đã vang từ cầu thang: “Giờ thì con gái tri phủ nhỏ đã làm quan, chẳng rõ thiếu gia nhà Thị lang đến khi nào mới được thăng tiến đây?”

Gã kia ngớ người, nhìn ra cầu thang, liền thấy Hứa Văn Nhược trong quan bào Đại Lý Tự xuất hiện. Tất cả cử nhân đứng dậy hành lễ: “Kính chào Hứa đại nhân!”

Hứa Văn Nhược đi ngang qua thiếu gia nọ, hắn vội vàng lên tiếng: “Hứa đại nhân, tại hạ không có ý mạo phạm…”

Chưa nói dứt câu, Hứa Văn Nhược đã lạnh lùng đi thẳng, không buồn liếc mắt.

Người ta đồn Hứa Văn Nhược mắt cao hơn đầu, trừ người hắn coi trọng thì chẳng ai lọt mắt. Cảnh ấy khiến tên thiếu gia đỏ mặt xấu hổ.

Hứa Văn Nhược dừng lại trước mặt Lục Hinh, rút từ sau lưng ra một tờ chiếu thư: “Lục cử nhân, tiếp nhận lệnh bổ nhiệm.”

Lục Hinh sững người, mãi không phản ứng. Hứa Văn Nhược hơi nhíu mày, khẽ ra hiệu. Lục Hinh hồi thần, vội vàng hành lễ.

Hứa Văn Nhược tuyên đọc: “Trưởng nữ tri phủ Lô Châu, nữ cử nhân Lục Hinh, tài mạo song toàn, thiên tư thông tuệ. Nay phong làm Đại Lý Tự – Tự thừa. Mong Lục Tự thừa tận tâm vì nước, tận lực vì dân, bảo quốc thái dân an.”

Câu cuối chính là câu mà Lục Hinh từng nói với hắn. Hắn trả lại nguyên văn, thấy nàng đỏ mặt, liền trao chiếu thư tận tay nàng.



Lúc Thẩm Trường Thích chạy tới khách đ**m, Khương Thanh Tố và Đơn Tà đang ngồi tầng cao nhất, chỗ cạnh lan can đánh cờ. Nơi này từng là chỗ Diêm Vương năm xưa chán việc mà đến tiêu khiển, nay Khương Thanh Tố ngồi đúng vị trí ấy.

Thẩm Trường Thích chạy đến, uống ngụm trà xong mới thở ra: “Bạch đại nhân, ta thấy rồi – Hứa Văn Nhược đích thân giao chiếu thư cho Lục Hinh.”

Khương Thanh Tố nhíu mày, chỉ ừ nhẹ một tiếng.

Thẩm Trường Thích ngơ ngác: “Ờ? Ngài chờ tin này bao ngày, không phải để yên lòng sao?”

Khương Thanh Tố khẽ chậc: “Yên lòng gì chứ? Ta giờ đang lo đây này! Thẩm, lại đây nhìn thử, ván này có còn cứu được không?”

Nàng kéo Thẩm Trường Thích tới gần bàn cờ. Đã đánh mười ván với Đơn Tà, nhưng ván nào cũng thua, bị đối phương áp chế toàn cục. Ván thứ mười một này, nàng đã kiệt lực, đầu ong ong vì rối.

Thẩm Trường Thích nhếch miệng: “Ván này thì ta chịu.”

Khương Thanh Tố quay sang Đơn Tà: “Chàng không thể nhường ta một nước sao?”

“Nhường nàng thì nàng vui à?” Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố cứng họng. Thẩm Trường Thích lau mồ hôi, thầm nghĩ: Lạy trời, giờ cả Vô Thường đại nhân cũng biết nói móc người ta rồi.

Sực nhớ một việc trên đường quay về, Thẩm Trường Thích nói thêm: “Phải rồi, hôm nay còn có chuyện khác. Hoàng thượng hạ chỉ phong Đại hoàng tử làm Thái tử, phần lớn việc triều chính đều giao cho Thái tử xử lý. Có vẻ người đã già yếu, không còn sức cáng đáng nữa.”

Khương Thanh Tố nghe vậy, tay cầm quân cờ hơi khựng lại, mắt tối xuống. Nàng đột nhiên hiểu ra then chốt của vụ lật án vừa rồi – tại sao Triệu Doãn lại chọn thời điểm này.

Nàng ngẩng đầu nhìn Đơn Tà, quân cờ trên tay mãi chưa hạ, chỉ hỏi: “Lần trước chàng nói đoán được, hẳn là đoán được chuyện này phải không?”

Đơn Tà mím môi, không trả lời.

Khương Thanh Tố khẽ cong khóe môi, nở một nụ cười mang theo vị đắng: “Rốt cuộc, ta vẫn quá ngây thơ, mãi mãi chẳng đấu lại người nơi triều chính. Trong hoàng thành, ai nấy đều là tinh anh. Triệu Doãn là hoàng đế, càng là tinh anh trong số tinh anh, sao có thể làm chuyện vô nghĩa như vậy?”

“Lật lại án, chẳng qua chỉ là cái cớ để hắn dọn đường cho hoàng tử mà thôi. Triệu Doãn bốn mươi mới có con trai, trước đó toàn là công chúa. Nay ba đứa con trai – một đứa mười ba, một đứa mười hai, một đứa mười tuổi. Hắn thân thể đã suy, tự mình biết không thể chống đỡ bao lâu. Trong khi đó, triều chính còn phân nửa nằm trong tay Tương Thân Vương, hắn sợ sau khi mình chết, ba hoàng tử trở thành bù nhìn. Thế nên trước khi chết, hắn bố trí một bàn cờ – vừa để bảo đảm Thái tử thuận lợi đăng cơ, vừa giải nỗi hận bị uy h**p suốt bấy lâu.”

Khương Thanh Tố mím môi: “Đó chính là lý do hắn chọn bây giờ để lật án.”

“Nếu Tương Thân Vương chết sớm, quyền lực triều đình nằm trọn trong tay hắn, thì cho đến lúc hắn chết đi chuyển sinh, ta cũng chẳng có cơ hội lật lại bản án.” Nàng nhẹ nhàng thở dài, lắc đầu: “Dù không có những chứng cứ ta đưa ra, Hứa Văn Nhược cũng sẽ thay hắn biện ra vài lý do đúng lúc. Lật án cho ta, chỉ là một cái cớ, thuận tay mà thôi.”

Thẩm Trường Thích nghe nàng nói, lại liếc nhìn Đơn Tà ngồi đối diện, sắc mặt Vô Thường đại nhân tệ đến mức muốn đào hố trốn đi.

Khương Thanh Tố đặt một quân cờ xuống. Khi Đơn Tà chuẩn bị đi nước tiếp theo, nàng đưa tay đỡ trán, đôi mắt khẽ khép: “Ta từng nghĩ mình đã thoát ra khỏi bàn cờ, không ngờ vẫn luôn nằm trong cục diện hắn bày sẵn.”

Đơn Tà hạ quân đen, rơi đúng bẫy mà Khương Thanh Tố đã giăng từ sớm. Thẩm Trường Thích mắt sáng lên, kêu to: “Vô Thường đại nhân, ngài đây là…” Rõ ràng là nhường ván!

Khương Thanh Tố thấy quân cờ rơi xuống, lập tức phong tỏa đường thoát, gương mặt còn đượm sầu đã bừng sáng nụ cười, nuốt trọn một quân đen của Đơn Tà, ánh mắt nàng như có sao trời lấp lánh.

Lắc lắc quân cờ trong tay, Khương Thanh Tố hân hoan: “Đơn đại nhân thua rồi!”

Thẩm Trường Thích nhìn nàng đổi sắc mặt mà sững người, hóa ra nãy giờ toàn là diễn? Phải rồi, suýt quên mất — Bạch đại nhân từ trước tới giờ chưa từng đỏ mặt khi lừa người.

Đơn Tà mím môi gật đầu nhận thua. Khương Thanh Tố cười chưa tắt đã nhắc: “Chàng từng nói, chỉ cần thua ta một quân, sẽ đáp ứng một điều kiện của ta. Điều kiện ấy, ta chưa nghĩ ra, sau này sẽ nói với chàng.”

“Được.” Đơn Tà vui vẻ đồng ý.

Khương Thanh Tố thắng một ván thì hào hứng hẳn lên, cúi đầu dọn bàn cờ: “Chơi tiếp chơi tiếp!”

Đơn Tà nâng chén trà bên cạnh, nhấc nắp, nhấp một ngụm. Trà nhạt trôi xuống cổ họng, ánh mắt hắn dừng nơi góc thành gần Ngọ Môn, bất giác nhớ về mùa thu ba mươi mốt năm trước.

Khi ấy, Diêm Vương ngồi đối diện hắn, ván cờ thứ mười một, Diêm Vương chỉ tay ra ngoài: “Này, Đơn Tà, nhìn kìa, có tử tù.”

Đơn Tà quay đầu nhìn ra ngoài, thấy nơi góc đường có một nữ tử bị áp giải. Đài xử trảm còn đang lau dọn vết máu của người trước. Nàng dựa vào tường, người canh giữ có vẻ cố tình buông lỏng, xiềng xích cũng chẳng buộc chặt.

Nữ tử không bỏ trốn, đôi mắt sáng rực vẫn nhìn về phía Ngọ Môn, dù biết mình sắp chết, ánh mắt vẫn mang theo hy vọng.

Cuối cùng, nàng bị kéo lên đài, khuất bóng sau khúc quanh. Đơn Tà quay lại nhìn bàn cờ, Diêm Vương ngồi đó như chưa hề xảy ra chuyện, làm bộ kinh ngạc: “A, ngươi thua ta một quân.”

Đơn Tà nhìn quân cờ bị đổi chỗ, đành bất lực hỏi: “Ngài muốn gì?”

“Cho ta mượn một ngón Minh Hỏa chơi một lát.”

Đơn Tà thoát khỏi ký ức, đưa ánh nhìn trở lại. Đối diện hắn, Khương Thanh Tố nghiêng mặt đôi lúc để lộ vết sẹo dưới cổ áo cao – nhàn nhạt một vòng, nhưng thật chói mắt.

“Đơn đại nhân, ván này nếu ta lại thắng, chàng phải đi Chương Châu với ta ăn gà nướng đất sét đấy nhé.” Khương Thanh Tố cười rạng rỡ.

Lông mày Đơn Tà giãn ra, vẻ mặt thư thái, đặt chén trà xuống gật đầu: “Được.”

Duyên với Địa phủ khởi từ nơi này, duyên với nhân thế cũng đoạn tại nơi này. Hoa nở là gieo tử, hoa tàn là gieo sinh. Thế gian từ đây chẳng còn nữ tể tướng Đại Chiêu, chỉ còn người trước mắt.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 95: Nhân Quỷ Thư – Phần 1


Vân Tiên thành – được bao bọc bởi núi non trập trùng, dựa núi kề sông, có dòng suối chảy qua giữa lòng thành, phía sau thành là ngọn núi lớn với một thác nước kỳ lạ. Nhìn từ xa, thác nước ấy như một tiên nữ đang gội đầu. Mây mù quanh năm lượn lờ khắp núi rừng, khiến cả Vân Tiên thành tựa như đảo Bồng Lai nơi trần thế, cái tên thành cũng từ đó mà ra.

Tuy bị núi non vây quanh, Vân Tiên thành lại nổi danh nhờ sản sinh linh đan diệu dược, từ lâu triều đình đã cho mở đường núi, hiện có ít nhất sáu lối thông thương dẫn thẳng vào thành, vô cùng thuận tiện. Thành cũng vì thế mà quy tụ vô số phú thương.

Trong thành, tiệm thuốc và y quán san sát, quán rượu bán thuốc thiện cũng không thiếu. Không biết là kẻ tinh đời nào, lại nghĩ ra việc mở một thư trai giữa chốn Vân Tiên thành này.

Thư trai thông thường chỉ là một gian nhỏ, bên trong chất đầy sách vở tạp loại, trả tiền để đọc. Nhưng từ khi có người kể chuyện, kẻ đến mua sách đọc ngày một ít. Thư trai này thì khác – chủ nhân chịu chi tiền lớn, mua lại ba hiệu thuốc và y quán, phá dỡ rồi xây lại, dựng lên một toà lầu cao bốn tầng giữa Vân Tiên thành, chứa hàng vạn cuốn sách. Người ta bảo, số lượng sách ở đó chẳng thua gì hoàng thành.

Người dân Vân Tiên thành dõi theo tòa thư trai mọc lên từ nền đất trống, xây suốt từ mùa hè năm ngoái tới tận tiết xuân phân năm nay. Cây liễu đã nhú chồi non, hoa dưới tán cũng rộ nở từng đóa, thì thư trai mới chính thức hoàn tất.

Thương nhân ngoại thành đến mua thuốc không biết gì về thư trai này. Sau khi mua xong dược liệu, định mua ít lương khô dùng dọc đường, vừa đến một hàng bán bánh đã thấy không ít người tay ôm pháo hoa, tụ tập trước cửa thư trai.

Thương nhân tò mò, cau mày hỏi: “Lão ca, toà lầu to thế kia, chẳng lẽ là khách đ**m hay tửu lâu gì à?”

“Đâu có, là thư trai đó.” Ông cụ bán bánh đáp: “Xây gần cả năm trời rồi, cuối tháng trước mới hoàn thành, hôm nay chọn ngày đẹp khai trương. Nếu ngài không vội, nán lại chút còn kịp tham gia náo nhiệt.”

Thương nhân xuýt xoa: “Thư trai? Xây lớn như thế? Còn hoành tráng hơn cả tửu lâu nổi tiếng ở kinh đô, chẳng phải quá xa xỉ sao?”



“Ấy, người ta có tiền mà.” Ông cụ cười đáp: “Chủ thư trai này thần bí lắm, ta ngày ngày bày hàng ở đây còn chưa từng thấy mặt. Chỉ toàn thợ khéo được thuê về trông nom thi công. Ông có biết ai là người thiết kế toà lầu này không? Là người vẽ bản thiết kế nổi danh – Tô Mặc Như họa đấy.”

“Trời! Vậy chắc là người trong triều mới mời nổi người như vậy. Bảo sao tráng lệ thế này.” Thương nhân quyết định nán lại xem thử thư trai mở cửa.

Mọi sự đã chuẩn bị đâu vào đó, người tới xem đông nghịt. Hai hàng pháo hoa pháo chuột đặt đầy trước cửa thư trai, hơn chục nho sinh dáng vẻ thư sinh đang tất bật quanh toà lầu. Bỗng có tiếng vó ngựa vang lên từ xa.

Kẻ cưỡi ngựa ăn vận đơn sơ, áo vải thô, bên hông đeo hồ lô, râu ria xồm xoàm. Tuy tóc tai có chút chải chuốt, nhưng vẫn mang vẻ bất kham.

Ngựa dừng trước thư trai, người kia xuống ngựa, đảo mắt nhìn quanh, hỏi: “Biển hiệu đâu?”

“Ở đây ạ!” Người bên cạnh đáp, rồi cùng vài người khác vào trong bê ra. Biển hiệu to lớn cần đến bốn nho sinh hợp sức mới khiêng được, bên trên phủ tấm vải đỏ.

Người đàn ông râu rậm một tay vác biển, tay kia đỡ lấy. Ngẩng đầu nhìn chỗ treo biển, hắn mũi chân điểm đất, phi thân như gió, nhẹ nhàng đáp lên cao, khiến đám đông vỗ tay reo hò: “Tuyệt kỹ!”

Khi tấm biển được treo lên, hắn thuận tay giật miếng vải đỏ, lộ ra ba chữ to vàng óng như rồng bay phượng múa — “Vô Sự Trai”.

“‘Vô Sự Trai’? Ý gì vậy?”

“Ai biết đâu, mà này, trong đó thật có vạn cuốn sách sao?”

“Người treo biển là ai thế? Chưa từng gặp bao giờ.”

Đám đông xôn xao. Người đàn ông quăng tấm vải đỏ lên lưng ngựa, dắt ngựa đi về phía hậu viện thư trai, vừa đi vừa nói: “Đốt pháo, khai trương!”

Một người đàn ông ăn mặc nhã nhặn, trạc hơn bốn mươi, vừa nghe câu đó liền cười tươi, sai các nho sinh đồng loạt châm pháo. Pháo đầu tiên vừa nổ, “Vô Sự Trai” lập tức trở nên náo nhiệt.

Người đàn ông râu rậm dắt ngựa vào chuồng, cho ăn cỏ xong liền xốc lại tóc tai cho rối tung, chuẩn bị vào thư trai từ cửa sau, thì phía sau vang lên tiếng gọi.

“Chung Lưu, hôm nay râu cạo rồi phải không? Gọn gàng hơn nhiều đấy.” Thẩm Trường Thích tay xách hai hộp bánh, vừa chạy vừa nói: “Ta thấy ngươi ngoài đám đông rồi, oai phong lẫm liệt thật.”

“Ta không thích kiểu oai phong này.” Chung Lưu kéo quần, phàn nàn: “Mặc bộ này ngột ngạt chết đi được.”

“Bộ này với thường ngày khác gì đâu?” Thẩm Trường Thích nhìn hắn từ đầu đến chân, thấy quần áo vẫn lôi thôi, Chung Lưu nghiêm mặt nói: “Huynh không thấy ta thay dây lưng to bản cho chỉnh tề à?”

“Thấy… thấy rồi.” Thẩm Trường Thích méo miệng, khoác vai đối phương: “Cũng lâu lắm rồi ta không gặp ngươi, thời gian qua trôi dạt nơi đâu vậy?”

“Bắt Lạc Ngang.” Chung Lưu đáp: “Hai năm trước Bạch đại nhân bảo ta truy bắt Lạc Ngang, không để hắn gây họa khắp nơi. Vụ án Khúc Tiểu Hà kết thúc, ta đi tìm hắn, mấy tháng mới tìm thấy, lại mất thêm vài tháng đuổi theo…”

“Dừng!” Thẩm Trường Thích xua tay: “Ta không hứng thú. Nói ngắn gọn — bắt được chưa?”

Chung Lưu lắc đầu: “Chưa.”

“Thật giỏi quá đi!” Thẩm Trường Thích cười khẩy, giơ ngón tay cái chế giễu. Thấy Chung Lưu trợn mắt thở phì phì, hắn liền nhún bước chạy lên lầu, vừa chạy vừa gọi lớn: “Ê, Bạch đại nhân, bánh hoa quế ngài thích ta mang về rồi đây nhé!”

Bên ngoài “Vô Sự Trai”, pháo vẫn nổ vang trời — náo nhiệt đến tận mây xanh.

Phía trước “Vô Sự Trai” là thư trai, phía sau lại là trà quán dành cho khách nghỉ chân. Trà quán chỉ chiếm một phần ba diện tích “Vô Sự Trai”, kèm theo một hoa viên nhỏ để thưởng hoa. Lúc này, trên lầu hai của trà quán, hai người đang thưởng trà, nghe tiếng pháo nổ liền đồng loạt nghiêng đầu nhìn về phía cầu thang.

Thẩm Trường Thích vài bước đã lên đến nơi, đặt chiếc hộp gỗ sơn đỏ chạm trổ lên bàn.

Khương Thanh Tố trong bộ bạch y, mày mắt cong cong, mang theo nụ cười dịu nhẹ. Nàng mở hộp ra, bên trong là món bánh hoa quế tinh xảo, hương thơm thanh khiết lan tỏa. Nàng lập tức cầm lấy một miếng nếm thử: “Ừm, ngon thật. Bánh hoa quế của Vân Tiên thành đúng là cực phẩm.”

“Chẳng lẽ ngài lưu lại Vân Tiên thành chỉ vì bánh này thôi sao?” Thẩm Trường Thích ngồi xuống một chiếc ghế bên cạnh, trêu chọc.

Khương Thanh Tố rất nhanh đã ăn xong một miếng, vừa nhai vừa nhìn hắn nói: “Còn lý do nào khác sao? Nếu ‘Vô Sự Trai’ làm ăn ổn, ta định mở thêm một cái ở Liễu Thành. Dù sao, kẹo hồ lô ở đó là ngon nhất ta từng ăn.”

Chung Lưu vừa lên lầu nghe vậy thì sửng sốt: “Còn muốn mở thêm à?”

“Ngươi tiếc tiền sao?” Khương Thanh Tố liếc hắn.

Chung Lưu vội xua tay: “Không không, sao lại tiếc được?” Dù sao tài sản nhà họ Chung cũng nhờ vận khí từ Vô Thường đại nhân mà ngày một dồi dào. Dù không phải phú hộ giàu nhất Đại Chiêu, cũng đủ sống xa hoa không cần lo cạn của. Giúp Bạch Vô Thường mở một thư trai, chẳng sao cả.

Quả thực, “Vô Sự Trai” treo bảng dưới danh nghĩa nhà họ Chung, nhưng người thật sự có ý định mở nó lại là Khương Thanh Tố.

Mấy ngày qua, Chung Lưu tuy bôn ba khắp nơi không gặp được mọi người, nhưng hai hôm trước khi “Vô Sự Trai” quyết định khai trương, Khương Thanh Tố đã kéo Đơn Tà đến Vân Tiên thành, lúc ấy mọi người mới tề tựu.

Hôm đó, Khương Thanh Tố vẫn cầm bánh hoa quế trong tay, vừa ăn một miếng đã nhét nửa miếng còn lại vào miệng Đơn Tà. Đơn Tà không đen mặt cũng không nhổ ra, khiến Chung Lưu không cần đoán nữa – hai vị đại nhân này, đã ở bên nhau rồi.

Nhất là ánh mắt kỳ quặc của Thẩm Trường Thích, suýt nữa nhướn mày lên báo thiên hạ.

Chỉ cần Khương Thanh Tố có mặt, sát khí quanh Đơn Tà lập tức giảm một nửa. Chung Lưu và Thẩm Trường Thích ngồi cạnh cũng chẳng thấy khó chịu gì – phải biết rằng trước đây, bọn họ toàn phải đứng hầu, Đơn đại nhân chẳng bao giờ cho ngồi.

Pháo vẫn nổ giòn giã bên ngoài, Thẩm Trường Thích hỏi: “Sao lại đặt tên là ‘Vô Sự Trai’?”

“Vì ta rảnh quá không có việc gì làm nên mở chơi thôi.” Khương Thanh Tố vừa nói vừa ăn miếng thứ hai, rồi mới nhớ ra đối diện còn có Đơn Tà, bèn đưa hộp bánh về phía hắn: “Nếm thử đi.”

Đơn Tà khẽ lắc đầu: “Nàng ăn đi.”

Khương Thanh Tố cũng không khách sáo – nàng biết Đơn Tà chưa chắc cảm nhận được vị thơm ngọt của bánh, chẳng bằng để mình ăn cho thoả. Nhưng nghĩ thế lại thấy tội cho hắn – sống dưới âm ty vốn đã tẻ nhạt, đến ăn uống cũng chẳng thấy thú vị.

Năm ngoái tiết Nguyên Sóc, tuyết lớn rơi khắp kinh thành, Khương Thanh Tố kéo Đơn Tà cùng thay đổi kết cục ghi trong sử sách của mình. Sau đó nàng biết, Đơn Tà cho phép nàng làm thế cũng vì người liên quan đến nàng, trong số mệnh vốn đã có đại nạn. Sinh tử bộ đã ghi rõ những ngày đó mang điềm xấu, kết cục khác nhau, Khương Thanh Tố chỉ chọn một trong những ngã rẽ ấy mà thôi.

Giải quyết xong chuyện mình, nàng cùng Đơn Tà rời kinh, chu du tứ phương. Khi mùa hạ rực rỡ, họ đến Vân Tiên thành. Khương Thanh Tố ăn bánh hoa quế thấy ngon, lại cảm thấy địa thế nơi đây tốt.

Nàng từng buột miệng: “Nơi này cái gì cũng tốt, nhưng hình như người thích đọc sách lại ít quá. Trong cả thành chỉ có hai thư trai nhỏ xíu, quá đáng tiếc.”

“Muốn đọc sách gì?” Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố cười rạng rỡ: “Thập Phương điện nhiều sách, ta đọc cũng đủ. Chỉ là nghĩ, triều đình Đại Chiêu mất một loạt quan viên, thu năm qua thi hương tuy có thêm nhiều cử nhân, nhưng chưa hẳn ai cũng có tài. Những tháng gần đây, vùng nghèo khó không nói làm gì, ngay cả nơi giàu có như Vân Tiên thành cũng xem nhẹ việc đọc sách. Xem ra chỉ có những nơi gần kinh thành mới chú trọng văn học.”

Nghe nàng nói vậy, Đơn Tà không vui: “Nàng vẫn không quên được thú vui làm quan sao?”

Khương Thanh Tố nghe ra vẻ chua trong lời hắn, bèn nhét miếng bánh vào miệng hắn hỏi: “Ngọt không?”

“Cũng tạm.” Đơn Tà đáp.

Khương Thanh Tố mới nói: “Ta ở âm ty cũng là quan đấy nhé, mà quan chức không nhỏ đâu. Chỉ là, ta thấy sự suy vong của Đại Chiêu, e rằng chưa đến vài chục năm nữa sẽ chẳng còn thời thịnh trị. Mà đọc sách vốn chẳng phải chuyện xấu. Nếu ta còn sống, có tiền sẽ dùng hết để mở thư trai. Mở một cái to ở Vân Tiên thành, rồi thêm một cái ở chỗ lần trước ta đến, mở miễn phí, cho người ta đọc sách!”

Lúc ấy, Đơn Tà chỉ cười cười. Khương Thanh Tố cũng chỉ là lời nói đùa miệng, ai ngờ, rời Vân Tiên thành xong, “Vô Sự Trai” lại thật sự được xây dựng bằng ngân lượng nhà họ Chung, bắt đầu từ đó.

Nghĩ lại, Khương Thanh Tố thấy buồn cười – lời đùa ngông cuồng mình từng nói, lại bị Đơn Tà ghi nhớ và thực hiện.

Ngoài kia tiếng pháo đúng lúc ngưng, Khương Thanh Tố cười bảo: “Thật náo nhiệt.”

Phía trước “Vô Sự Trai” đang vang vọng tiếng chào mừng của người chủ sự, toàn là lời khách sáo khai trương. Đúng lúc này, Đơn Tà khẽ nhíu mày, Khương Thanh Tố lập tức nhìn về phía Thẩm Trường Thích: “Thẩm, lấy âm dương sách!”

Thẩm Trường Thích ngớ người, vừa rút Âm Dương Sách ra, liền nghe thấy phía trước “Vô Sự Trai” náo loạn, kèm theo tiếng người hét thất thanh.

“Có người bị thiêu chết rồi!!!”
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 96: Nhân Quỷ Thư – Phần 2


Ngày khai trương đầu tiên của “Vô Sự Trai”, ngay sau khi pháo và pháo hoa vừa dứt, chỉ trong chớp mắt trước cửa đã có người chết cháy.

Đây rõ ràng chẳng phải điềm lành. Đám đông hoảng hốt, phần lớn lập tức quay đầu bỏ chạy. Chỉ còn lác đác vài người đứng lại, hoặc vì tò mò, hoặc vì quen biết người chết, mà lúng túng vây quanh.

Người quản lý thư trai – được thuê với giá cao – hoàn toàn ngây ra, không biết xử trí ra sao. Hơn chục nho sinh phụ giúp từ trước giờ cũng lùi hết vào trong trốn, sợ bị đám cháy liên lụy.

Nhóm người đang thưởng trà ở lầu sau trà quán lập tức đi ra. Quản lý thư trai chỉ nhận ra Chung Lưu – biết là người nhà họ Chung, lại là chủ nhân thực sự của thư trai này, bèn vội vàng kéo tay hắn, hoảng hốt kêu lên: “Đông gia! Chuyện này… chết người rồi, phải làm sao đây?!”

Chung Lưu vỗ vỗ vai ông ta trấn an: “Đừng vội, để ta xem đã.”

Chung Lưu vừa ra đến, người quản lý liền thấy phía sau hắn còn ba người khác – một nam nhân mặc như thư sinh, môi đỏ răng trắng, nhìn như tiên sinh giữ sổ sách.

Sau lưng hắn là một nam, một nữ – nam mặc huyền y đầy khí thế, nữ vận bạch y, mày mắt như tranh vẽ. Hai người này, vừa nhìn đã biết là bậc rồng trong người, phượng giữa dân gian. Chỉ đi ngang, quản lý thư trai cũng không nhịn được mà lùi lại hai bước.

Trước “Vô Sự Trai” hỗn loạn vô cùng. Mặt đất đầy xác pháo còn sót, tro bụi vẫn còn lẫn lộn.

Góc tường đối diện không xa, một người đàn ông toàn thân đang cháy rực, lửa cháy ra vệt dài như dấu vết vùng vẫy của người ấy. Cả thân người đen sạm, chết trong tư thế quái dị khủng khiếp.

Chung Lưu tiến lên, thấy lửa lan cả sang vách tường. Hắn mở nắp hồ lô bên hông, hớp một ngụm nước phun ra, mưa bụi dập tắt lửa, chỉ còn làn khói đen mờ nhạt.

Thẩm Trường Thích cũng tiến lại, thấy thi thể cháy đen thì suýt nữa ói ra, vội quay đầu che miệng, run giọng hỏi: “Chuyện quái gì thế? Không lẽ do pháo hoa nhiều quá gây cháy?”

“Không phải do pháo đâu.” Chung Lưu lùi lại một bước, nhìn chằm chằm vào thi thể cũng thấy rờn rợn.

Khương Thanh Tố khoác tay Đơn Tà bước tới. Nàng không đến gần xác chết, chỉ đứng xa quan sát. Từng chứng kiến trăm ngàn cái chết kỳ quái, Khương Thanh Tố từ lâu đã tôi luyện được gan dạ.

Xem kỹ vết cháy trên đất, nàng nói: “Chỗ hắn đứng cách xa pháo. Vết cháy có lẽ do vùng vẫy khi bị thiêu. Trước tiên, hãy hỏi lại quá trình cụ thể.”

Nàng quay sang hỏi người quản lý thư trai: “Tiên sinh xưng hô thế nào?”

“Tiểu nhân họ Lê, tên Thái Hòa.” Người kia đáp.

Chung Lưu cũng nói: “Lão Lê, hai vị đây là quý nhân, sẽ tạm ở hậu viện thư trai, không ai được quấy rầy. Có gì họ sẽ tự tìm ngươi.”

Lê Thái Hòa nghe vậy lập tức cúi đầu chắp tay: “Đa tạ chỉ điểm.”

Khương Thanh Tố gật đầu, kéo tay Đơn Tà bước vào trong, rồi gọi: “Thẩm, xem kỹ âm dương sách chưa?”

Thẩm Trường Thích chột dạ nhớ ra, vội theo sau.

Nghe Lê Thái Hòa kể lại: khi pháo nổ gần xong, chỉ còn vài chùm pháo hoa, giữa đám đông bỗng vang lên tiếng hét đau đớn của một người đàn ông. Mấy người bạn ông ta còn hỏi han, nhưng chỉ vài câu sau, hắn đã không thể mở miệng.

Từ bụng người kia đột nhiên bốc lên một luồng lửa đỏ, hắn hộc máu, rồi ngọn lửa thiêu cháy cả bụng và quần áo. Ngọn lửa như từ trong người lan ra tứ chi, máu me nhỏ xuống đất, da thịt bốc khói.

Kẻ ấy lăn lộn giữa đường, vừa lăn vừa bắt lửa từ xác pháo còn lại. Cả thân thể hắn – tóc, áo, chân tay – nhanh chóng cháy rực. Người trong đám đông la hét bỏ chạy. Bạn bè hắn hoảng loạn nhưng không rời khỏi. Cuối cùng, kẻ ấy gục chết ở góc tường, toàn thân vẫn bốc cháy.

Khương Thanh Tố nhíu mày. Nơi đó chẳng có gì dễ bắt lửa. Lê Thái Hòa kể kỹ càng – lửa cháy từ trong người ra, ban đầu áo hắn vẫn nguyên, sau mới bị cháy, chắc chắn là đúng.

Nghe xong, Khương Thanh Tố liếc nhìn Đơn Tà. Hắn nhíu mày, không tiện nói giữa chốn đông. Chung Lưu thấy thế, liền bảo: “Ngươi đi thu dọn hiện trường, chuyện xấu ngày đầu thế này, ta quyết định mấy hôm tới tạm thời không mở cửa thư trai.”

Lê Thái Hòa vâng dạ, ra ngoài dọn dẹp và báo quan đem xác đi.

Khi người đã rời khỏi, Thẩm Trường Thích mới trải âm dương sách lên bàn: “Vô Thường đại nhân… ta, ta đọc không hiểu.”

Khương Thanh Tố nhìn vào, tim đập mạnh – nét chữ này giống hệt ký tự trên quỷ phù Đơn Tà từng đưa, giống với loại chữ viết bằng chu sa trên xác chết trong trận pháp ở Liễu Thành do Lang Tranh Ý bày ra.

Nàng không đọc nổi – chỉ có Đơn Tà biết.

Đơn Tà liếc qua dòng chữ, đáp gọn: “Vân Tiên Thành – Tô Cừu.”

Khương Thanh Tố nhíu mày: “Sao lại hiện ra kiểu chữ cổ thế này? Khác hẳn mấy vụ trước.”

“Người này khác với các xác chết trước.” Đơn Tà trầm giọng: “Tên Tô Cừu này mang vật rất lạ. Việc này, khó rồi.”

“Vậy ta và Thẩm đến bắt hồn hắn hỏi thử?” Khương Thanh Tố đề nghị.

Thẩm Trường Thích lập tức thu âm dương sách, chuẩn bị đi. Nhưng Đơn Tà lắc đầu: “Không cần.”

“Sao vậy?” nàng hỏi.

“Hồn phách… không còn.”

“Không còn? Ý gì?” Khương Thanh Tố sững sờ.

Đơn Tà giải thích: “Người chết, linh hồn sẽ không lập tức về âm phủ. Đầu tiên có ‘lệnh gọi hồn’, sau mới thực sự xuất hồn. Hồn phách sau khi lìa thể sẽ quanh quẩn quanh xác một lúc rồi mới vào ‘Ly Hồn Đạo’ dẫn về địa phủ. Nhưng từ lúc hắn chết đến giờ, ta không hề thấy linh hồn quanh đó. Nghĩa là – hồn phách đã không còn ở nhân gian.”

Lần này, đừng nói là Khương Thanh Tố, ngay cả Thẩm Trường Thích cũng nghe mà mù mịt, hoàn toàn không hiểu nổi.

Nhận được ánh mắt dò hỏi từ Khương Thanh Tố, Thẩm Trường Thích lắc đầu, chậm rãi nói: “Ta tại vị hơn bốn trăm năm, chưa từng chứng kiến hiện tượng nào như thế.”

“Ngươi chưa thấy cũng phải, ngay cả ta… cũng là lần đầu tiên thấy.” Đơn Tà vừa dứt lời, ba người trong sảnh đều sững sờ.

Đơn Tà chậm rãi nhếch môi, ánh mắt mang theo vài phần lãnh đạm cùng hung tàn: “Cách đây mấy ngàn năm, lại có một trận pháp đối nghịch với Địa phủ được nghiên cứu ra.”

Mấy ngàn năm trước, đúng vào thời loạn thế, đợt tu sĩ đầu tiên xuất hiện trên thế gian. Khi ấy, tu luyện và tà tu chưa phân rạch ròi, linh thể và yêu tộc cũng chưa tách biệt. Mọi linh hồn đều phải đi qua Địa phủ, nhưng có tu sĩ và yêu quái tìm được đường tắt, họ bắt giữ được đặc tính của hồn phách, từ đó sáng tạo ra vô số trận pháp nhiếp hồn bắt quỷ.

Trải qua mấy chục năm, Khương Thanh Tố từng chứng kiến Mai Linh dùng bản thể giam cầm linh hồn, khiến người chết sống lại về đêm; Bát trường sinh vay mệnh không trả, thay đổi kết cục người khác; thịt người bị nghiền nát đúc thành thần tượng, cúng ngàn nhà hương hỏa, mưu đồ trở thành giả thần; Trấn Hồn Trận dùng da người và huyết chó làm dẫn, giam hồn nơi Ly Hồn Đạo không đến không đi; dùng vật môi giới thiết lập trận pháp đổi mệnh, gia tăng thọ mệnh, cải biến vận mệnh.

Từng việc từng chuyện, Đơn Tà đã thấy nhiều, chẳng còn lấy gì làm lạ. Dù trận pháp có biến hóa, khẩu quyết có đổi thay, nhưng bản chất vẫn không khác, đều có thể hiện trên Âm dương sách.

Chỉ riêng lần này là khác.

Một điều hiếm có trong nghìn năm, khiến Đơn Tà thoáng nổi hứng thú, nhưng chẳng phải thiện ý.

Thẩm Trường Thích và Chung Lưu đã lâu lắm rồi chưa thấy biểu cảm này trên gương mặt Vô Thường đại nhân. Cười như không cười, khoé môi nhếch nhẹ, nhưng sát khí và hàn ý lại nặng nề hơn trước gấp bội. Trong khoảnh khắc, cả hai đồng loạt đứng lên, lùi về sau một bước, hơi cúi đầu, tỏ rõ dáng vẻ chờ lệnh.

Khương Thanh Tố cũng ngây người. Lần đầu tiên là vì nụ cười của Đơn Tà, lần thứ hai là vì phản ứng của Thẩm Trường Thích và Chung Lưu.

Nàng nhớ hình như mình từng thấy nụ cười ấy của Đơn Tà, khi vừa tới Thập Phương điện điều tra vụ án của Mai Linh và Lý Mộ Dung. Lúc đó, do một hồn một phách trong người bị bản thể của Mai Linh hấp thụ, tâm trí nàng không ổn định, trông như một đứa trẻ ngây dại. Chính khi ấy, Chung Lưu và Thẩm Trường Thích đã đưa một hồn một phách của nữ quỷ bị bắt ở chốn phong nguyệt nhập vào thân thể nàng.

Khương Thanh Tố lúc đó nhìn thấy nụ cười ấy của Đơn Tà, nhưng không phải từ ký ức của nàng, mà là từ ký ức còn sót lại trong linh hồn nữ quỷ kia, nhìn thấy Đơn Tà lúc đối mặt với nữ quỷ đó.

Nghĩ đến đây, Khương Thanh Tố bỗng nhận ra người trước mắt sau hơn hai mươi năm đã thay đổi rất nhiều. Có lẽ do nàng và y tâm ý tương thông, nên đã bỏ qua cảm giác ban đầu y đem lại—tựa như sói đứng trên đỉnh tuyết, lạnh lẽo mà mãnh liệt.

Khương Thanh Tố mở miệng: “Đơn đại nhân… định xử trí thế nào?”

Đơn Tà liếc nhìn nàng, nét lạnh nơi chân mày và khóe mắt giảm đi đôi chút, khí thế bức người trên thân cũng nhẹ nhàng hơn, khiến Chung Lưu và Thẩm Trường Thích đứng bên cuối cùng không còn run rẩy nữa.

“Trước hết tra xem kẻ tên Tô Cừu là ai, đã là người trong Vân Tiên thành, tất có kẻ biết.” Đơn Tà nói: “Tình huống hôm nay là trường hợp đầu tiên, e rằng chẳng bao lâu nữa sẽ tái diễn.”

Dứt lời, Đơn Tà lạnh lùng quét mắt về phía Thẩm Trường Thích. Thẩm Trường Thích đã lâu không nhận được ánh mắt ấy, lập tức quỳ rạp xuống đất, trán chạm đất, cắn chặt môi dưới. Hắn hiểu lần này sai lầm là do mình.

Hắn là quỷ sai của Thập Phương điện, Đơn Tà giao Âm dương sách cho hắn hằng ngày đọc, kịp thời phản ánh tình hình nhân gian. Nay để xảy ra chuyện chết người mới phát hiện dị thường trong sách, rõ ràng là hắn sơ suất.

Từ khi Đơn Tà ở cùng Khương Thanh Tố, tính tình đã dịu đi nhiều. Thẩm Trường Thích cũng dần học theo nàng, đôi khi cư xử thiếu chừng mực, thậm chí sao nhãng công việc. Nếu giờ bị phạt, hắn cũng chỉ đành cam chịu.

“Thẩm! Ngươi xem ngươi làm nên trò gì! Vô Thường đại nhân giao Âm dương sách cho ngươi là vì tin tưởng, ngươi không được phép mắc lỗi như vậy!” Khương Thanh Tố giành nói trước khi Đơn Tà lên tiếng: “Đã sai thì phải chịu phạt!”

Nàng lấy cây roi lông gà đặt dưới bàn lên, siết chặt trong tay, bước đến trước mặt Thẩm Trường Thích, quất mấy roi lên lưng hắn: “Lỗi hôm nay, ta đánh ngươi. Nếu còn tái phạm, ta sẽ để Vô Thường đại nhân đích thân xử lý!”

Dứt lời, Khương Thanh Tố cảm nhận được ánh nhìn lạnh băng của Đơn Tà rơi lên lưng mình, nàng hít sâu một hơi, không rõ hành động đứng ra che chở cho Thẩm Trường Thích lần này, rốt cuộc là đúng hay sai.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 97: Nhân Quỷ Thư – Phần 3


Thẩm Trường Thích tự nhiên biết Khương Thanh Tố đang ra mặt bảo vệ mình, ngay cả Chung Lưu cũng nhận ra điều ấy, chỉ là đối diện với cơn giận của Đơn Tà, Chung Lưu không dám như Khương Thanh Tố đứng ra can thiệp.

Khương Thanh Tố lại dùng roi lông gà quất thêm mấy cái nữa, Thẩm Trường Thích quỳ rạp không dám phát ra tiếng động nào. Kỳ thực, bị đánh như vậy cũng chẳng đau đớn gì.

Sau khi chết hóa thành quỷ hồn, liền không còn cảm giác đau đớn. Dù Khương Thanh Tố có quất roi lên người hắn cả trăm lần, Thẩm Trường Thích cũng không chau mày, tất cả chẳng qua là diễn cho Đơn Tà xem. Nàng đã nói đến nước này, thì xem Đơn Tà xử trí ra sao.

Khương Thanh Tố liên tục quất hơn hai chục roi, Đơn Tà mới chậm rãi mở miệng: “Nàng không thấy mệt sao?”

Khương Thanh Tố hơi ngẩn người, liền vứt roi sang một bên, quay đầu nhìn Đơn Tà. Trên tay hắn đang cầm một chén trà, ánh mắt vẫn thâm trầm, tâm tình chưa hề dịu lại, song hắn cũng không tiếp tục nhắc đến việc trừng phạt Thẩm Trường Thích nữa.

Khương Thanh Tố đưa tay xoa trán, biết việc này tạm coi là qua rồi. Nếu Thẩm Trường Thích còn phạm lỗi nữa, e rằng nàng cũng không giữ được hắn.

Lỗi nhỏ còn có thể tha thứ, cùng lắm là bị một roi Trấn Hồn Tiên. Nhưng Khương Thanh Tố còn nhớ, khi nàng mới đến Thập Phương điện, Thẩm Trường Thích từng vì một việc mà bỏ lỡ mấy ngày quan trọng trong cái chết của Lý Mộ Dung, kết cục là bị đánh đến mức không thể hiện hình. Đó không phải nỗi đau thân thể, mà là nỗi đau từ linh hồn.

Khương Thanh Tố ngồi lại chỗ cũ, nghiêng đầu liếc nhìn Đơn Tà. Đơn Tà gọi: “Chung Lưu.”

“Có thuộc hạ.” Chung Lưu khom người, ánh mắt liếc sang Thẩm Trường Thích vẫn còn quỳ rạp, mím môi, thoáng lộ vẻ sợ hãi.





“Đi một vòng trong Vân Tiên thành, hỏi cho rõ hết thảy mọi việc liên quan đến Tô Cừu.” Đơn Tà phân phó. Chung Lưu lập tức đáp lời, rồi đứng dậy chạy ra ngoài, bắt đầu điều tra việc liên quan đến Tô Cừu.

Khương Thanh Tố nhìn Thẩm Trường Thích vẫn còn quỳ, trong lòng không khỏi xót xa. Bình thường nàng đã coi Thẩm Trường Thích là bằng hữu, nay lại không phải trong cung, còn giữ lễ nghi như vậy, nhìn thế nào cũng thấy không ổn.

Khương Thanh Tố nói: “Đi dạo hậu viện một lát đi.”

Đơn Tà đặt chén trà xuống, liếc nàng một cái rồi đứng dậy. Khương Thanh Tố biết hắn đã đồng ý, liền thở phào nhẹ nhõm. Đơn Tà rời đi, Thẩm Trường Thích mới có thể đứng dậy, tránh để lát nữa Lê Thái Hòa và những người khác bước vào, lại nhìn thấy cảnh này mà sinh dị nghị.

Khi đi ngang qua Thẩm Trường Thích, Đơn Tà lạnh nhạt nói: “Đem trà đổ đi.”

Khương Thanh Tố quay đầu nhìn lại chén trà lúc nãy Đơn Tà cầm, vẫn còn nửa chén đặt trên bàn. Nàng không hiểu rõ ý câu ấy, song cũng nhận ra đây xem như là cho phép Thẩm Trường Thích đứng dậy.

Chờ hai người rời đi, Thẩm Trường Thích mới từ từ đứng lên, thở dài một hơi, cúi đầu nhìn Âm dương sách trong tay, đưa tay day trán, vừa rồi quả là một phen kinh hồn táng đảm.

Hắn đi đến cạnh bàn, vừa chạm tay vào chén trà thì cảm thấy đau buốt truyền đến từ đầu ngón tay, vội buông tay, chén trà rơi xuống đất vỡ vụn. Nước trong chén bắn tung tóe lên y phục và da thịt hắn. Nước văng ra như tia lửa trong ngọn lửa lớn, đốt cháy y phục hắn. Ngọn lửa xanh u uẩn bốc lên rồi lập tức tắt, để lại khói xanh bốc nghi ngút.

Thẩm Trường Thích cúi đầu nhìn vết nước dính trên tay mình, làn da như bị thiêu cháy, thịt da nứt toác.

Lúc này, đôi mày nhíu chặt mới từ từ giãn ra—may là… chỉ là đau phần x*c th*t. Nếu Vô Thường đại nhân thật sự vì một lời của Khương Thanh Tố mà bỏ qua không trừng phạt, e rằng mấy ngày tới hắn sẽ sống trong nơm nớp bất an.

Bị phạt thì tốt, bị phạt rồi… tức là chuyện này coi như đã qua, về sau không truy cứu nữa.

Khương Thanh Tố và Đơn Tà đi đến hậu viện của Vô Sự Trai. Nàng nhanh chân đi lên vài bước, vươn tay nắm lấy tay áo Đơn Tà: “Chàng vừa rồi vì sao lại giận dữ đến thế?”

Đơn Tà nói: “Hắn làm sai chuyện, ta không nên tức giận sao?”

Khương Thanh Tố mím môi: “Không phải không nên…” Chỉ là đã rất lâu rồi không thấy Đơn Tà nổi giận đến vậy.

Hậu viện bị trà lâu bao quanh một nửa, từ tầng hai của trà lâu vẫn có thể nhìn thấy cảnh sắc trong sân, nhưng lúc này hai người không đi lên lầu, mà cùng nhau dạo bước dưới hành lang dài tầng dưới.

Đơn Tà liếc nhìn Khương Thanh Tố, nói: “Tư giao là tư giao, công vụ là công vụ.”

Khương Thanh Tố sững người, rồi gật đầu: “Ta hiểu.”

Đơn Tà làm Hắc Vô Thường đã hàng vạn năm, dù trước nay chưa từng cùng ai sinh tình cảm như với nàng, cũng không có nghĩa vì nàng mà phá bỏ quy tắc Địa phủ ngàn đời. Khương Thanh Tố cũng không thích để cảm xúc cá nhân chen vào công vụ thường nhật, nhất là sau khi đã từng bị thiệt thòi.

“Vụ án này, Đơn đại nhân định thân chấp chưởng?” Khương Thanh Tố hỏi.

Đơn Tà khẽ ừ: “Nếu để nàng đi, e là nguy hiểm.”

Khương Thanh Tố khựng bước, mím môi cười nhẹ: “Có nguy hiểm chẳng phải còn có Đơn đại nhân bảo hộ sao?”

Đơn Tà đi tới lầu các ở cuối hành lang, nơi ấy có một phương đình nhỏ chỉ đủ chỗ cho hai người đánh cờ. Giờ đang là chính ngọ, ánh dương chói lọi chiếu xuống, ngồi trong đình vừa hay che nắng, lại có thể thấy giả sơn và hoa cỏ trong viện.

Đơn Tà ngồi xuống ghế đá bên bàn nhỏ trong đình: “Trên đời này không phải chuyện gì ta cũng có thể khống chế, có những bất ngờ là điều khó tránh.”

Từ khi bắt đầu thích một người, mới thấu hiểu tâm tình này, càng dễ sinh tâm lý được mất. Những vụ án thông thường, Đơn Tà vừa nhìn là thấu, biết rõ độ nguy hiểm, giao cho Khương Thanh Tố một mình xử lý cũng không sao. Nhưng có những vụ, đến cả hắn cũng không dò ra manh mối, thì càng không thể để một Bạch Vô Thường mới nhậm chức hai mươi năm như Khương Thanh Tố liều thân mạo hiểm.

Khương Thanh Tố hiểu ý hắn, cũng biết mình năng lực có hạn. Lúc cần nhất là tự biết mình, không gây thêm rối loạn cũng coi như trợ giúp.

Nàng ngồi xuống phía đối diện, nói: “Ta vẫn lấy làm lạ, vì sao hồn phách một người lại đột nhiên biến mất? Nếu lúc bị thiêu hắn vẫn còn sống, thì hồn phách ắt phải ở trong thân thể, mà từ lúc cháy đến khi chết cũng chỉ trong một tuần trà chưa đầy, xung quanh cũng chẳng có đạo sĩ bắt quỷ nào, ai có thể giữa bao người cướp mất hồn phách hắn ?”

“Vậy nàng nghĩ, làm sao mà cướp?” Đơn Tà nhìn nàng.

Khương Thanh Tố mím môi: “Trừ phi, ngọn lửa kia có vấn đề.”

Đơn Tà không nói gì, chỉ ra hiệu nàng nói tiếp. Khương Thanh Tố nói: “Lúc nãy Lê Thái Hòa có nói, ngọn lửa cháy từ trong ra ngoài. Theo ta biết, thân thể người không thể tự bốc cháy từ bên trong, nếu là cháy từ ngoài vào thì còn có thể hiểu. Một đám lửa thiêu cháy cả hồn phách, nhất định là có người bày trò ở chỗ khác. Trên đời trận pháp tà thuật nhiều vô kể, e là ngay cả Đơn đại nhân cũng không thể biết hết.”

“Thực sự ta cũng không rõ nguyên do.” Đơn Tà khẽ chau mày: “Nàng còn nhớ vụ bà chủ khách đ**m ở huyện Địch Thủy muốn biến phu quân mình thành giả thần chứ?”

“Nhớ chứ.” Khương Thanh Tố gật đầu, năm đó nàng từng bị một người một chó kia khiến buồn nôn đến cực điểm.

Đơn Tà nói: “Ta từng nói với nàng, nghìn năm trước cũng từng có người làm vậy, hơn nữa kẻ đó còn thành công, ta chẳng thể làm gì hắn. Sở dĩ thành công, là vì trận pháp đó lần đầu tiên xuất hiện trước mặt ta, ta chưa từng biết có việc dùng nhục thân đúc tượng thần, hưởng hương hỏa trở thành giả thần, bởi vậy mới chủ quan, để đối phương thoát khỏi số mệnh.”

Khương Thanh Tố hỏi: “Cho nên, đây cũng là lần đầu tiên chàng gặp phải hồn phách bị lửa thiêu từ trong ra ngoài tiêu tan, chàng không nắm chắc?”

Đơn Tà nâng tay, cây roi dài bên hông hóa thành cây quạt xếp trong tay, hắn nhẹ nhàng phe phẩy: “Không dám chắc mười phần, nhưng có một điểm—Âm dương sách chỉ hiện tên một người, đây mới là then chốt.”

“Tô Cừu…” Khương Thanh Tố nhíu mày.

Đơn Tà nói: “Người vừa chết, tuyệt không phải Tô Cừu.”

Người đó không chết theo Sổ sinh tử, loại trường hợp này lẽ ra phải xuất hiện trên Âm dương sách, nhưng sách lại không hiện danh tính người ấy, hẳn là có thứ gì đó che đậy… mục đích chính là để tránh né Âm dương sách, lẩn tránh sự điều tra của Thập Phương điện.

Khương Thanh Tố chống tay lên bàn, hơi nghiêng người về phía trước, đôi mắt mở lớn hỏi: “Vậy Tô Cừu, liệu có liên quan đến chuyện này không?”

Nếu sau khi Tô Cừu chết có tên trên Âm dương sách, thì cách chết khác với người đàn ông vừa rồi, có thể là hai vụ án.

Đơn Tà lắc đầu: “Bạch đại nhân, dùng trí tuệ của nàng nghĩ thêm chút nữa, còn khả năng nào?”

Tô Cừu đã chết, được ghi vào Âm dương sách, chứng tỏ hồn phách vẫn còn, chỉ là chưa vào Âm ty chờ luân hồi. Người đàn ông vừa rồi chết, hồn phách tiêu tan, không lưu lại dấu vết, ngay cả Sổ sinh tử e rằng cũng bị xóa bỏ. Nếu không phải hai vụ án, thì chỉ còn một khả năng—

“Là Tô Cừu giết người đàn ông kia.” Khương Thanh Tố ngẩn ra: “Lần này không phải người dương gian gây rối, mà là quỷ âm phủ giết người!”

Những vụ án trước đều là người sống không cam lòng, nghĩ đủ cách lưu giữ hồn phách người đã khuất, hoặc làm những việc cực đoan hơn để cứu vãn, cuối cùng chẳng qua hại mình hại người, tự chuốc tội nghiệt.

Vụ án lần này quái dị, hóa ra lại là người chết không chịu rời đi nhân gian, lại có được pháp môn kinh thiên động địa, giết người diệt hồn.

Đơn Tà gật đầu: “Ta cũng nghĩ như vậy.”

“Có căn cứ gì?” Khương Thanh Tố hỏi.

“Chữ viết trên Âm dương sách chính là bằng chứng.” Đơn Tà nói: “Trừ phi được ta cho phép, bằng không bất cứ ai chết không theo Sổ sinh tử đều sẽ hiện lên Âm dương sách, cho dù chỉ trong thời gian ngắn cũng không ngoại lệ. Tô Cừu biết không thoát được sự giám sát của ta, nên giở trò, sau khi chết liền bày trận, thay đổi thời gian hồn phách hiện thế.”

Khương Thanh Tố lắng nghe.

Đơn Tà tiếp tục: “Chữ viết ấy rất cổ, nếu truy về nguồn, ít nhất có vài nghìn năm, thời đó toàn bộ ghi chép đều dùng loại chữ này. Nếu có ai xuất hiện trên Âm dương sách, tất sẽ dùng loại chữ đó. Hắn thi pháp thay thời, khiến mọi thông tin về bản thân đều hiển thị là từ mấy ngàn năm trước, mưu đồ qua mặt ta, đoán rằng ta không hiểu loại chữ đó, ít nhất cũng có thể kéo dài thêm một thời gian.”

Khương Thanh Tố nghe rõ, liền nói: “Hắn không biết chàng sống quá lâu rồi.”

Đơn Tà liếc nhìn nàng: “Ta sống chưa lâu, mới mấy năm thôi.”

Khương Thanh Tố khựng lại, đối diện ánh mắt của hắn, bỗng nhiên hiểu ra hàm ý trong lời nói của Đơn Tà.

Hắn sống chưa lâu—trước khi tên hắn được viết trên bùa Hắc Kim, Đơn Tà không tính là kẻ sống.

Khương Thanh Tố mím môi: “Tra được Tô Cừu rồi, chàng định xử lý thế nào?”

“Người càng nguy hiểm, càng không thể để lưu lại.” Đơn Tà đáp: “Bảo Thẩm Trường Thích trở về Địa phủ một chuyến, tìm được Sổ sinh tử của Tô Cừu rồi mang đến.”

Khương Thanh Tố đứng dậy chuẩn bị gọi Thẩm Trường Thích, Đơn Tà bất ngờ đưa tay kéo nàng lại. Khương Thanh Tố quay đầu nhìn hắn, một cơn gió nhẹ lướt qua viện, mùi hương hoa phảng phất theo làn gió mà đến.

“Gì vậy?” Khương Thanh Tố nghi hoặc nhìn hắn.

Đơn Tà dừng một chút, nói: “Ta làm việc có lẽ không hợp ý nàng, nếu nàng thấy không thuận, chi bằng để Thẩm Trường Thích đưa nàng đến Liễu Thành dạo một vòng.”

Khương Thanh Tố chớp mắt, hiểu được hàm ý của hắn, mím môi cười: “Vô Thường đại nhân rất dịu dàng, ta biết mà.”

Dù có đôi khi hành sự hơi máu lạnh tàn nhẫn, nhưng trong tình huống đặc biệt, kể cả có đích thân ra tay, cũng là sự quyết đoán cần thiết.

“Ta sẽ không gây rối cho Vô Thường đại nhân. Người đã chết rồi, chẳng lẽ còn chết thêm lần nữa?” Khương Thanh Tố rút tay về, hơi cúi người nhìn nam nhân đang ngồi trong đình, cười nói: “Nếu sau này cảm thấy nhàm chán, ta sẽ đến Liễu Thành, đến lúc đó mang kẹo hồ lô cho chàng.”

Đơn Tà giãn mày: “Được.”

Khương Thanh Tố đưa một ngón tay chọc lên trán hắn, nhướng mày vài cái: “Không nhíu mày, trông mới đẹp trai chết đi được.”

Nói xong một câu trêu ghẹo, nàng quay người rời đi, để lại Đơn Tà ngồi một mình trong phương đình. Khi Khương Thanh Tố đi tới cuối hành lang, bước vào Vô Sự Trai, lông mày Đơn Tà lại dần dần chau lại.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 98: Nhân Quỷ Thư – Phần 4


Chung Lưu mất một ngày lang bạt khắp thành Vân Tiên, chuyên chọn những nơi uống trà nghe kể chuyện ngồi lại. Thành Vân Tiên vốn có sản nghiệp của Chung gia, thêm vào đó người nhà họ Chung vốn bám rễ nơi đây nhiều năm, được bọn họ mách bảo, hắn mới nắm được đại khái thân thế của Tô Cừu.

Trên Sổ sinh tử tuy có ghi chép, nhưng không đủ tường tận, lời đồn trong dân gian thì chẳng thể hoàn toàn tin tưởng. Phải kết hợp cả hai, mới có thể hiểu được đôi phần về Tô Cừu.

Khi Chung Lưu quay về, Khương Thanh Tố và Đơn Tà đang đối cờ trong trà lâu, Thẩm Trường Thích ngồi cách ba chiếc bàn, trước mặt có dĩa hạt dưa nhưng chẳng hề động đến, trái lại cúi đầu nghiên cứu kỹ càng Sổ sinh tử của Tô Cừu. Hễ phát hiện điểm khả nghi là lập tức đánh dấu, sắp xếp rõ ràng rồi mới trình báo Đơn Tà.

Chung Lưu bước đến đúng lúc Khương Thanh Tố tới lượt hạ cờ. Ván này nàng xem như thua trắng, không còn cơ hội cứu vãn, liền giở chiêu cù nhầy, buông cờ không đánh nữa, rồi hỏi Chung Lưu: “Tình hình hỏi được thế nào rồi?”

“Được bảy tám phần.” Chung Lưu đáp: “Tô Cừu vốn là một tú tài ở huyện Địch Thủy, học vấn cũng khá, theo lời những người từng tiếp xúc với hắn, hắn nhất định có thể cá chép hóa rồng, thi đậu lên kinh. Nhưng mùa thu năm ngoái xảy ra chuyện, hắn vì làm thơ sỉ nhục hoàng thượng, bị tri phủ bắt giam.”

Khương Thanh Tố chỉ vào chiếc ghế bên cạnh ra hiệu bảo hắn ngồi. Chung Lưu nhìn sang Đơn Tà, đối phương vẫn dán mắt vào bàn cờ, sắc mặt không được tốt, Thẩm Trường Thích thì còn ngồi tận bên kia, nên hắn không dám ngồi, chỉ lắc đầu từ chối.

Khương Thanh Tố hỏi: “Tính tình hắn ra sao?”

“Người thì rất tốt. Nghe nói sau khi thi đậu tú tài, hắn mở một thư đường nhỏ trong sân nhà mình, con cháu nhà nghèo quanh vùng không có tiền đi học, đều có thể đến nhà hắn học chữ, nghe giảng bài. Hắn tính tình khiêm tốn, chưa từng gây sự với ai, lão thái bà sống cạnh nhà hắn nói hắn là đứa trẻ thuần lương, tuyệt chẳng phải loại người dám viết thơ sỉ vả hoàng thượng.” Chung Lưu đáp.

Khương Thanh Tố gật đầu: “Thơ ở đâu?”





“Không có.” Chung Lưu nhíu mày: “Không ai từng thấy thơ cả, chỉ nghe người ta đồn như vậy thôi.”

Khương Thanh Tố nhíu mày: “Vậy hãy kể rõ về chuyện thơ từ ấy.”

“Tô Cừu thi đậu tú tài bốn năm trước, nhưng mãi không thi tiếp. Mãi đến năm kia, khi hoàng thượng mở lại kỳ thi cho nữ giới, cải tổ hàng ngũ triều đình, hắn mới nổi hứng. Mùa thu năm ngoái tham gia thi Hương. Lẽ ra thi ở Dư Thành thuộc Chiết châu đậu cử nhân thì có thể vào kinh chờ thi Hội, nhưng đúng vào lúc thi cử nhân thì xảy ra chuyện. Người Vân Tiên nói, tin từ Dư Thành truyền về rằng hắn ngạo mạn tự cao, làm thơ mỉa mai vụ Tương Thân Vương cùng mấy chục đại thần chết oan hai năm trước, chửi hoàng thượng là hôn quân, vì vậy bị tước danh tú tài, giam vào đại lao.” Chung Lưu kể.

Khương Thanh Tố hơi nhướng mày: “Có thể là bị vu oan?”

“Rất nhiều người nói vậy, nhưng quan lớn ép dân đen, Tô Cừu không phải con cháu hào môn phú hộ, cũng đành bó tay.” Chung Lưu đáp.

Khương Thanh Tố chau mày hỏi tiếp: “Bị giam từ mùa thu năm ngoái, đến nay đã nửa năm, sao chưa thấy xét xử?”

Chung Lưu đáp: “Chưa từng bị xử, cho nên càng giống là bị giá họa. Tri phủ không dám để chuyện lộ ra, nên giam hắn đến chết. Nghe nói hắn chết vì bệnh mười ngày trước trong ngục.”

“Chí lớn không thể thực hiện, lại mang nỗi oan, chết bệnh nơi ngục tối… trách gì oán khí quá nặng, đến mức tìm cách sát hại người khác.” Khương Thanh Tố hỏi: “Người chết hôm qua, đã tra ra chưa?”

“Cũng tra rồi, người chết hôm qua là công tử nhà họ Giả ở thành Vân Tiên, kẻ càn rỡ, chuyên trêu ghẹo phụ nữ lương thiện. Trước đây vì vừa mắt con gái một vị đại phu, liền ép gia đinh uống thuốc độc, ném xác trước cửa nhà vị đại phu, vu cho bán thuốc giả. Đại phu tức giận quá độ chết tại chỗ, cô con gái phải bán mình chôn cha, vào phủ hắn làm tỳ nữ… sau đó bị đánh chết.” Chung Lưu kể.

“Đúng là đại ác nhân.” Khương Thanh Tố chống cằm, ngón tay gõ nhẹ má, nàng quay sang nhìn Đơn Tà. Hắn vẫn ngồi im trên ghế, mắt không rời bàn cờ, Khương Thanh Tố hỏi: “Đơn đại nhân, vụ án của ngài, ngài thấy sao?”

“Nàng đã hỏi hết rồi, còn cần ta nói gì nữa?” Đơn Tà ngẩng mắt nhìn Khương Thanh Tố.

Khương Thanh Tố khựng lại, rồi cười tươi: “Ta quen rồi mà. Xem như giúp ngài một tay, tiết kiệm nước bọt, không cần cảm ơn.”

Chung Lưu nghe vậy mà lạnh sống lưng, e rằng chỉ có Bạch đại nhân mới dám đùa giỡn như vậy khi Vô Thường đại nhân sắc mặt lạnh lùng.

Đơn Tà hỏi: “Ngươi nói Tô Cừu mới chết mười ngày trước?”

“Đúng vậy.” Chung Lưu đáp.

Khương Thanh Tố hỏi: “Có gì khả nghi sao?”

“Mười ngày, làm sao có thể nghiên cứu ra cách giết người hủy hồn?” Đơn Tà học theo dáng nàng, chống cằm hỏi lại Chung Lưu: “Cho ngươi mười năm, ngươi nghĩ ra nổi không?”

“…Ta… ta nghĩ không ra.” Trận pháp trừ tà hàng yêu hắn dùng hiện giờ toàn là do tổ tiên truyền lại, học hết đã khó, lại còn muốn tự sáng chế? Mười năm quá ngắn.

Khương Thanh Tố sững người: “Ý ngài là, hắn có người đứng sau giúp?”

“Nhiều chuyện đều có uẩn khúc, bao nhiêu vụ án đến giờ, vụ nào không có kẻ phía sau? Không chỉ từ khi nàng đến Thập Phương điện, ngay cả trước đó, nhiều vụ thiếu mất manh mối then chốt.” Đơn Tà nói: “Ta từng bảo Chung Lưu điều tra, nhưng bất kể một năm, mười năm hay một trăm năm, hắn cũng không lần ra được gốc rễ đằng sau.”

Chung Lưu sắc mặt trắng bệch, lập tức nhận lỗi: “Là thuộc hạ vô năng.”

“Không phải vô năng, mà là còn trẻ.” Đơn Tà đem quân cờ đen trắng hoán đổi, cầm lấy quân trắng tiếp tục hạ xuống bàn cờ, liếc nhìn Khương Thanh Tố một cái, trên mặt nàng liền nở nụ cười, tựa hồ Đơn Tà rơi vào thế hiểm, nàng thì chiếm thế thượng phong.

“Hiểu rõ chuyện Thập Phương điện.” Đơn Tà hạ một quân, Khương Thanh Tố nhanh chóng đáp lại.

“Biết tìm người có thể lợi dụng.” Lại một quân được đặt, Khương Thanh Tố nhíu mày nhẹ.

“Còn am hiểu vô số cổ pháp.” Đơn Tà ngẩng đầu nhìn nàng, Khương Thanh Tố mím chặt môi.

“Hiện nay còn chế ra pháp hủy hồn chưa từng thấy, khiến người chết không vào được Âm dương sách.” Quân trắng của Đơn Tà đã vây quanh quân đen của Khương Thanh Tố, nàng cảm giác như sắp bị bao vây toàn cục, tay cầm quân đen không động đậy.

Đơn Tà liếc mắt nhìn Chung Lưu: “Không vào Âm dương sách, thì sẽ vào đâu?”

Khương Thanh Tố do dự hồi lâu mới hạ cờ, vừa đặt xuống đã phát hiện mình rơi vào bẫy của Đơn Tà, nhưng đã hạ rồi thì không thể hối hận—ván này, Đơn Tà thắng.

Chung Lưu mím môi: “Thuộc hạ sẽ tiếp tục điều tra kẻ đứng sau chuyện này.”

Đơn Tà đặt quân cờ trắng kết thúc ván cờ, lắc đầu: “Không cần. Có sinh ắt có tử, sinh tử tương sinh tương khắc, thay vì truy xét ngọn nguồn, chi bằng tra xem trong thành Vân Tiên này có ai đang hấp hối, hoặc người nào trong thời gian ngắn đã chết nay sống lại.”

“Rõ.” Chung Lưu lập tức rời trà lâu đi điều tra.

Khương Thanh Tố áp hai tay lên má, nhìn bàn cờ trước mặt, hai mắt đầy vẻ khó tin: “Sao chàng làm được vậy? Ván cờ ban nãy ta còn có đường sống sao?!”

“Muốn từ tử lộ tìm sinh cơ, cũng chẳng phải điều gì khó.” Đơn Tà cầm quạt gõ nhẹ vào trán nàng: “Chỉ cần trước khi hạ cờ, đã mang tâm thế ‘hướng tử sinh tồn’ là được.”

Khương Thanh Tố xoa trán, nơi bị gõ còn đau nhức.

Đơn Tà khi cùng nàng đối cờ, sớm đã tính toán toàn bộ đường đi nước bước khiến nàng bại trận. Mỗi bước đi của nàng đều rơi vào cạm bẫy hắn bày ra, mà trong mỗi cạm bẫy ấy, hắn lại âm thầm để lại một con đường sống. Bảo sao vừa nãy nàng nói chuyện với Chung Lưu, hắn chẳng thèm đáp lời—hóa ra đang suy tính làm sao xoay chuyển càn khôn trong thời gian ngắn nhất.

Khương Thanh Tố bĩu môi: “Đánh cờ chàng hơn ta, ta thua không oan. Nhưng vô duyên vô cớ gõ đầu ta là sao?”

Đơn Tà lạnh nhạt: “Nàng can dự vào án của ta, xem như trừng phạt nhẹ.”

Khương Thanh Tố định mở miệng tranh cãi, liền nghe Thẩm Trường Thích lên tiếng: “Vô… Vô Thường đại nhân… Chung Lưu ban nãy chỉ tra được sinh tử của Tô Cừu, chưa điều tra toàn diện. Trên Sổ sinh tử ghi lại, hắn từng có một người con gái tâm đầu ý hợp, cũng là người thành Vân Tiên, họ Lôi, tên Nguyệt Nhược, hiện vẫn còn sống.”

Thẩm Trường Thích vừa nói xong, Khương Thanh Tố theo thói quen liền đưa tay cầm lấy Sổ sinh tử hắn dâng lên, nhưng nghĩ tới cú gõ ban nãy, lại đưa cho Đơn Tà: “Chàng xem đi, ta không xem nữa.”

Lông mày đang nhíu của Đơn Tà giãn ra, thấy cây quạt vẫn còn trong tay hắn, Khương Thanh Tố liền đưa tay giật lấy, mở ra phe phẩy vài cái cho mát.

Một người xem sách, một người đứng yên, chẳng có gì thú vị. Đã hứa không can thiệp, nàng cũng chẳng tiện nhiều lời, liền nói: “Ta đi mua bánh quế hoa ăn đây.”

Nói xong, nàng phe phẩy quạt đi xuống lầu, vừa ra khỏi trà lâu là đến cửa Vô Sự Trai.

Hôm qua có người chết trước cửa Vô Sự Trai, nên hôm nay vắng vẻ lạ thường. Lê Thái Hòa biết mấy hôm nay chẳng có gì làm, liền cùng mấy người quản lý thư trai chui đầu vào đống sách, chỉ để lại một người trông cửa. Dù là trông cửa cũng ôm sách mà đọc say sưa.

Trên đời có nhiều kẻ đọc sách không đậu, mười người trong Vô Sự Trai đều là tú tài. Lê Thái Hòa là thương nhân yêu sách, Vô Sự Trai trả công hậu hĩnh cho ông ta, lại bao toàn bộ chi phí thi cử năm sau cho mười tú tài kia. Nơi đây cất giữ vạn quyển sách, so với nhiều nơi trong hoàng thành kinh đô còn hơn, đương nhiên có người nguyện ý đến.

Khương Thanh Tố phe phẩy quạt, liếc nhìn Vô Sự Trai, chỉ tầng trệt thôi mà đã kín đầy sách. Nàng vốn thích bánh quế hoa của thành Vân Tiên, nay mở thư trai để người ta đọc sách, dạy người làm người, ai ngờ ngay trước cửa nhà mình lại xảy ra án mạng. Không biết thư trai này sau này còn hoạt động nổi không.

“Xin hỏi… ta có thể vào đọc sách không?” Một giọng nữ dịu dàng vang lên ngoài cửa.

Vô Sự Trai vốn có bốn cửa, nay chỉ mở một. Thiếu nữ kia mặc xiêm y lụa là, thoạt nhìn liền biết là tiểu thư khuê các xuất thân phú quý. Dung mạo xinh đẹp, nhưng giữa đôi mày có chút nhàn nhạt u sầu, sau lưng có một tiểu tỳ nữ theo hầu, ngoài cửa còn có kiệu đang đợi.

Tú tài đang đọc sách thấy có người liền ngẩng đầu, nhớ tới lời Lê Thái Hòa dặn, dạo này không tiếp khách, bèn nói: “Cô nương, mấy hôm nữa hãy quay lại.”

“Vâng.” Thiếu nữ có chút thất vọng, xoay người định rời đi, liền thấy Khương Thanh Tố đi tới sau lưng tú tài kia, dùng quạt gõ nhẹ lên đầu hắn: “Có lý nào lại đuổi kẻ yêu sách ra khỏi thư trai?”

Dứt lời, nàng cười nói với cô gái đứng cửa: “Cô nương xin dừng bước, Vô Sự Trai ngày ngày mở cửa, ai muốn đọc sách đều có thể vào.”

Tú tài kia nhận ra Khương Thanh Tố, nghĩ đến cả Đông gia của Vô Sự Trai là Chung Lưu cũng bị nàng cùng phu quân gọi đến gọi đi, liền hiểu nàng thân phận không thấp, e rằng là đại quan từ kinh thành cũng nên. Không dám trái lời, lập tức đứng dậy mở cửa, mở toang bốn cửa lớn, Vô Sự Trai lập tức sáng sủa hẳn.

Sách phần lớn cất trên ba tầng lầu trên, tầng trệt chủ yếu là tạp văn, truyện giai thoại. Nhưng chỉ riêng tàng thư tầng một đã đủ khiến người kinh ngạc.

Thiếu nữ ấy quay lại, khẽ gật đầu với Khương Thanh Tố: “Đa tạ phu nhân.”

“Đáng lý nên vậy. Cô nương muốn đọc sách loại nào? Ta có thể sai người dẫn cô đi. Trong Vô Sự Trai, sách phân loại rõ ràng, rất nhiều mục, nếu cô tự tìm, e rằng cả ngày cũng chưa chắc thấy được.” Khương Thanh Tố liếc nhìn ra ngoài chiếc kiệu ngoài cửa.

Chiếc kiệu giản dị nhưng chất liệu cực tốt, ngay cả tiểu tỳ nữ đi theo cũng mặc y phục không tầm thường. Quan trọng nhất là… dưới rèm kiệu có treo một dải lụa, trên đó thêu chữ “Lôi”.

Nhớ tới lời Thẩm Trường Thích vừa nói—người Tô Cừu yêu tên là Lôi Nguyệt Nhược, là người thành Vân Tiên, còn sống. Có khi… người trước mặt, chính là người họ đang tìm.
 
Lắng Nghe Vô Thường Nói - Ôn Tam
Chương 99: Nhân Quỷ Thư – Phần 5


Tình cảm giữa Lôi Nguyệt Nhược và Tô Cừu thực ra lại giản đơn, chỉ là tiểu thư nhà giàu đem lòng yêu mến một thư sinh nghèo có tài. Song thân nhà họ Lôi vốn không phải hạng thế lực, chỉ cần Tô Cừu có thể cho Lôi Nguyệt Nhược một cuộc sống ấm êm, có công danh hay không cũng chẳng phải chuyện đáng bận tâm.

Tô Cừu mãi chưa cưới Lôi Nguyệt Nhược, cũng chính vì lẽ đó. Công danh tuy dễ, nhưng chốn triều đình sóng ngầm cuồn cuộn, hắn vốn khinh thường cầu cạnh. Trong mắt hắn, khó nhất vẫn là tiền tài. Dẫu có đỗ tú tài, vào kinh cũng cần một khoản lớn, chưa kể còn phải bôi trơn khắp nơi chốn trong triều.

Chính vì vậy, Tô Cừu không cao chẳng thấp, mang một thân tài học mà không nơi thi triển, cuối cùng bị giam hãm đến chết trong lao ngục.

Lôi Nguyệt Nhược, mấy ngày trước khi hay tin Tô Cừu chết, đã đóng cửa phòng mình mấy hôm không bước ra. Vừa hay lúc đó Vô Sự Trai khai trương, chẳng rõ duyên cớ gì lại hấp dẫn được nàng, tiểu thư khóc lóc suốt trong phủ Lôi mới chịu bước chân ra khỏi phủ, ra ngoài giải sầu.

Trong Sổ sinh tử của Tô Cừu đại khái ghi lại từ khi hắn quen biết, hiểu rõ, rồi yêu thương Lôi Nguyệt Nhược. Khương Thanh Tố tuy cảm thương Lôi Nguyệt Nhược, nhưng lại chẳng thương hại Tô Cừu.

Chết oan thì đáng thương, nhưng chết rồi còn lưu luyến dương gian, thậm chí sinh lòng tà niệm hại người thì quả là đáng giận.

Khương Thanh Tố vốn định ra ngoài mua bánh hoa quế, lại vòng về, tiễn mắt Lôi Nguyệt Nhược lên lầu tìm sách. Nàng phe phẩy quạt quay về, vừa vào trà lâu đã thấy Đơn Tà đang cúi đầu xem Sổ sinh tử của Tô Cừu. Khương Thanh Tố bước tới ngồi xuống, ánh mắt sáng ngời nhìn hắn.

Đơn Tà không động đậy, tay giữ Sổ sinh tử, trang sách tự lật.

Khương Thanh Tố dùng quạt gõ nhẹ lên bàn, Đơn Tà lúc này mới liếc mắt nhìn nàng, hỏi:

“Bánh hoa quế mua về rồi sao?”



“Ta dường như gặp tiểu thư nhà họ Lôi ở dưới lầu.” Khương Thanh Tố nói.

Đơn Tà hỏi: “Quả nhiên nàng chẳng thể ngồi yên được, phải không?”

Khương Thanh Tố chống cằm, làm ra vẻ uất ức:

“Ta đâu có xen vào, chỉ là muốn giúp đỡ.”

Đơn Tà khẽ thở dài, lắc đầu:

“Chẳng có gì đáng xem cả, ta đi cùng nàng mua bánh hoa quế.”

Sổ sinh tử giao cho Thẩm Trường Thích mang về Âm ty, những điều cần xem đã xem rồi. Có điều trước lúc Thẩm Trường Thích rời đi, Khương Thanh Tố nói một câu: “Mang theo cả của Lôi Nguyệt Nhược lên xem thử, biết đâu từ nàng ta lại tìm được manh mối.”

Thẩm Trường Thích liếc nhìn Đơn Tà đã xuống lầu, lời họ nói hẳn Vô Thường đại nhân đều nghe thấy, nhưng chẳng ngăn cản, xem ra cũng dung túng Khương Thanh Tố không ít.

Khương Thanh Tố và Đơn Tà bề ngoài như một đôi phu thê, e rằng do ở cùng quá lâu, ngay từ đầu đã giả làm vợ chồng, nên cử chỉ ngày càng tự nhiên. Huống hồ hai người vốn có tình ý, giả làm vợ chồng lại chẳng hề gượng gạo.

Ra khỏi Vô Sự Trai, Khương Thanh Tố khoác tay Đơn Tà, nói:

“Ta đâu có ý quấy rầy chàng phá án, nếu thấy ta phiền phức, vậy hãy để ta đến Liễu Thành mua hồ lô đường ăn là được.”

Giọng nàng nói có phần dỗi hờn, Đơn Tà dĩ nhiên không để bụng, chỉ hơi nhướn mày, đáp:

“Nàng quá thông minh, nhưng lắm lúc thông minh lại thành dở. Ta khuyên nàng đến Liễu Thành…”

“Cũng là để bảo vệ ta.” Khương Thanh Tố nói trước lời hắn, mỉm cười:

“Nếu ta thấy nguy hiểm, chỉ cần đốt một tấm quỷ phù gửi xuống Âm ty, nơi đó không ai có thể hại được ta.”

Đơn Tà im lặng không nói, Khương Thanh Tố tiếp lời:

“Chàng đã chịu cùng ta ra ngoài mua bánh, xem ra cũng đã có hướng điều tra.”

Đơn Tà nhẹ giọng ừ một tiếng:

“Tô Cừu không chết tại Vân Tiên Thành. Nếu hắn muốn giết người, kẻ đầu tiên phải giết hẳn là kẻ hại chết hắn, chẳng cần giết một kẻ ác chẳng mấy ân oán. Việc hắn bỏ qua kẻ thù ở Dự Thành, trở về Vân Tiên Thành chỉ có một nguyên do.”

“Vì Lôi Nguyệt Nhược?” Khương Thanh Tố ngước mắt nhìn hắn.

Đơn Tà gật đầu:

“Nhân gian vốn nhiều kẻ si tình, quay lại Vân Tiên Thành, tất không ngoài dính líu đến Lôi Nguyệt Nhược. Nếu hắn muốn lộ mặt, người đầu tiên biết chắc chắn sẽ là nàng ta. Chỉ cần theo sát nàng, tất sẽ tìm ra Tô Cừu.”

Nếu hồn ma muốn ẩn thân sau khi chết, có trăm ngàn cách né tránh tai mắt của Thập Phương điện. Những lúc như vậy, Thập Phương điện mới phải ra tay tìm kiếm.

Có hồn ma còn dễ truy dấu, chẳng qua là luyến tiếc phú quý nhân gian, hoặc nam nữ si tình chẳng nỡ âm dương cách biệt. Ngoài việc bị người dương làm phép ép lưu luyến trần thế, thì chính là quỷ nơi âm giới quay lại bên người sống bầu bạn.

Như Tô Cừu thế này, chẳng biết học được pháp thuật giết người từ đâu, còn có thể giấu thân phận khỏi Âm dương sách, loại này vừa hiếm lại khó xử lý.

Khương Thanh Tố nói:

“Hiện tại Lôi Nguyệt Nhược đang ở Vô Sự Trai đọc sách, có cần ta đến kết thân chút không?”

Đơn Tà hỏi:

“Nàng thật sự muốn phá án này sao?”

“Ta chỉ muốn giúp chàng thôi.” Khương Thanh Tố nói.

Đơn Tà đáp:

“Vậy thì an tĩnh ăn bánh hoa quế đi, khi nào cần nàng, ta sẽ nói.”

Khương Thanh Tố bĩu môi. Hai người sóng vai đi trên phố, không ít kẻ qua đường ngoái nhìn. Một người mặc đen, một người áo trắng, khí chất phi phàm, khắp thành cũng khó thấy được đôi nào như thế.

Đến tiết Xuân phân, người đi lại trên phố Vân Tiên Thành rất nhiều. Muôn loài hoa nở rộ, nhiều loài còn có thể làm dược liệu, hương hoa có thể an thần, tụ khí, sắc màu rực rỡ bày khắp ven đường.

Khương Thanh Tố thấy bên đường có một bà lão bán hoa, tay chống một cây gậy, trên gậy treo vài thanh gỗ ngang, hoa xâu thành từng chuỗi treo lủng lẳng. Nàng chỉ tay:

“Tặng ta một chuỗi được không?”

Ánh mắt Đơn Tà rơi lên các chuỗi hoa ven đường, trong muôn màu sắc kia, hắn lập tức nhìn thấy chuỗi bạch lan, hoa bạch lan được xâu bằng dây đỏ, hương thơm thanh mát còn chưa lại gần đã phảng phất trong không khí.

Khương Thanh Tố kéo hắn đến bên bà lão, còn chưa mở miệng nói mua hoa gì, Đơn Tà đã trực tiếp lấy chuỗi bạch lan vừa nhìn thấy, trả tiền, rồi đeo vào cổ Khương Thanh Tố.

Khương Thanh Tố cúi nhìn chuỗi bạch lan trước ngực, mùi thơm trong lành xen chút ngọt ngào. Nàng nhìn sang Đơn Tà, khẽ mỉm cười hỏi:

“Đơn đại nhân thích loại hoa nào? Ta cũng tặng chàng một chuỗi.”

Đơn Tà đáp:

“Ta không thích hoa.”

Khương Thanh Tố nói:

“Gạt người, ta từng thấy chàng đứng giữa biển hoa Bỉ Ngạn không biết bao lần rồi.”

Đơn Tà liếc nhìn nàng một cái, chỉ một ánh nhìn ấy thôi, Khương Thanh Tố lập tức hiểu ra. Loài hoa Đơn Tà thích, nàng chẳng có cách nào tặng nổi.

Hoa Bỉ Ngạn nhiều vô số, dẫu các quỷ sai và Âm ty nơi địa phủ mỗi người nắm một bó, e rằng cũng chẳng hái hết được một nửa. Mà biển hoa đỏ thắm nơi tận cùng sông Vong Xuyên mênh mông không thấy bờ, chính là vì không ai dám động đến.

Người chết ngang qua, quỷ sai trú ngụ lâu năm nơi địa phủ, cho tới cả Diêm Vương trị vì ngàn năm, chỉ cần chạm vào hoa Bỉ Ngạn, hồn phách đều bị ảnh hưởng. Không phải ai cũng như Đơn Tà, có thể đứng giữa biển hoa ấy mà mặc gió thổi qua thân.

Khương Thanh Tố không nói thêm gì nữa, Đơn Tà lặng lẽ cùng nàng đi đến chỗ bán bánh hoa quế, mua hai hộp mang về.

Về đến Vô Sự Trai, Khương Thanh Tố bảo người pha một tách trà lài, đặt bên bàn, tự mình ngồi cạnh trà lâu hóng gió, ăn điểm tâm. Trên bàn đặt một ván cờ, nàng và Đơn Tà đang đấu dở thì Chung Lưu trở về.

Chạy đi chạy lại mấy lượt, trán Chung Lưu đầy mồ hôi. Truy tìm một người nhỏ bé đã chết thì khó, nhưng nếu tra một kẻ chết rồi sống lại thì lại dễ, chỉ cần hỏi han quanh bốn phía thành Vân Tiên, lần theo manh mối là có thể xác thực được.

Người chết là chuyện thường, chết rồi sống lại mới là điều bất thường.

Chung Lưu chạy đến trước mặt Khương Thanh Tố, vừa định mở miệng bẩm báo thì nhận ngay một ánh mắt ra hiệu, nàng khẽ nghiêng đầu về phía Đơn Tà. Lúc ấy hắn mới sực nhớ ra.

Trước kia phá án đều tìm Vô Thường đại nhân, mấy mươi năm theo bên Khương Thanh Tố đã thành thói quen, ngược lại ít khi tìm đến Đơn đại nhân.

Chung Lưu lập tức đứng thẳng, cung kính nói:

“Bẩm Vô Thường đại nhân, tiểu nhân điều tra nửa ngày, quả có phát hiện. Phía tây thành Vân Tiên có một nam nhân khoảng chừng bốn mươi tuổi chết rồi sống lại. Người này ba hôm trước chết, hôm qua chuẩn bị nhập quan, đến lúc đậy nắp quan tài có người nói thấy hắn mở mắt. Mọi người tưởng gặp phải thi biến, ai nấy đều sợ ngất. Nhưng hắn lại thản nhiên bước ra khỏi quan tài, vết thương chí mạng vẫn còn, vậy mà lại sống lại. Hôm nay nhà ấy còn mở tiệc ăn mừng, tang sự hóa thành hỷ sự.”

Đơn Tà khẽ ừ một tiếng. Khương Thanh Tố trong bụng đầy thắc mắc, mà không tiện lên tiếng hỏi, gấp đến độ sốt ruột.

Chung Lưu hiểu ý, thấy ánh mắt cùng môi mấp máy chưa nói thành lời của nàng là đã đoán được nàng định hỏi gì, bèn nói tiếp:

“Người ấy lúc lên núi hái thuốc chẳng may rơi xuống, bị cành cây gãy nhọn đâm xuyên ngực mà chết. Xem xét thời gian sống lại cũng trùng hợp với lúc Vô Sự Trai khai trương. Sau khi sống lại, miệng vết thương tự khép miệng đóng vảy, quả là kỳ dị.”

Đơn Tà liếc nhìn Chung Lưu, hắn lại tiếp lời:

“Người ấy làm công trong y quán, thường ngày phụ giúp đại phu. Theo lời hàng xóm, y là người tốt, chết đi ai cũng tiếc thương. Nay sống lại, đúng là một kỳ tích.”

“Ngươi nói xong rồi?” Đơn Tà hỏi.

Chung Lưu mím môi, gật đầu:

“Dạ, đã nói xong.”

Đơn Tà quay sang Khương Thanh Tố hỏi:

“Bạch đại nhân còn nghi vấn gì chăng?”

Khương Thanh Tố vốn định lắc đầu, nhưng khi ánh mắt dừng lại trên bàn cờ, nàng lại gật đầu, hỏi:

“Ta có thể đổi quân rồi đánh tiếp được không?”

Đơn Tà nâng chén trà lài, khẽ nhấp một ngụm, đưa ánh mắt cho phép. Khương Thanh Tố cười hì hì, liền đem quân đen chuyển lại.

Lúc này mới thấy nàng đánh cờ đầy khí thế. Ván cờ vừa rồi nàng đã tính kỹ, nước nào cũng là tử lộ. Dẫu đổi lại là Đơn Tà, e rằng cũng khó lòng xoay chuyển.

Đơn Tà nhìn một cái là thấy rõ bố cục của nàng, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười mơ hồ, ánh mắt dịu dàng nói:

“Chả trách vừa rồi cứ để ta công liên tục, nàng chẳng thèm thủ, hóa ra là cố ý chờ đổi quân, muốn nhìn ta xoay chuyển thế cờ nơi tử địa?”

Khương Thanh Tố giơ một ngón tay lắc lắc, rồi cầm lấy một miếng bánh hoa quế ăn:

“Ta có thấy sinh khí đâu nhé.”

“Ta cũng không thấy.” Đơn Tà đáp, rồi cầm quân trắng, tưởng chừng vô tình mà hạ xuống bàn cờ.

Khương Thanh Tố nhìn thế cờ, hỏi:

“Từ lời Chung Lưu vừa rồi, ngài thấy ra điều gì?”

“Bạch đại nhân chẳng phải đã nói rồi sao?” Đơn Tà hỏi ngược lại.

Khương Thanh Tố nói:

“Là ngài chủ động nhắc tới, ắt là muốn nói với ta, cứ xem như cho ta một bài học vậy.”

“Thế gian không có sinh thì không có tử, không có tử thì cũng chẳng có sinh, sinh tử tương sinh, điểm này không thể thay đổi. Nay đã có người sống lại, vậy cái chết kia ở đâu?” Đơn Tà hỏi.

Khương Thanh Tố sững lại, rồi hiểu ra ngay.

Nam nhân hái thuốc nơi tây thành Vân Tiên chết là cái chết bình thường, lẽ ra hồn phách đã phải về Âm ty báo danh. Nếu người đó không lưu luyến nhân gian, cùng ngày chết có thể đã đi đầu thai. Nếu vậy thì không thể có chuyện chết rồi sống lại.

Nếu người sống lại vẫn là bản thân thì hồn phách sẽ ghi trong Âm dương sách. Nhưng nếu là của kẻ khác thì chưa chắc…

Khương Thanh Tố hỏi:

“Ý ngài là, người kia kỳ thực chưa từng sống lại?”

Đơn Tà đáp:

“Ta muốn nói, hiện giờ thành Vân Tiên, người sống và kẻ chết đều đếm đủ số, ta cũng đã hiểu vì sao hồn phách người kia không có, mà trong Âm dương sách cũng chẳng ghi tên.”
 
Back
Top Bottom