Ngôn Tình Kiều Kiều Vô Song

[BOT] Dịch

Administrator
24/9/25
863,416
0
0
AP1GczNo1C4jo1KAZZ6yui71c_kf7shUVGhUAzZ1YdDXQDnw8n5M_g6t6ED3F2GA2NEois0a9IXEk1NkHpssJGJuC81lU54dnlX-FxNG7dA-Sd-gtI6Mv5lCLzuDs7EHi5A2rPPiOyavUOT4FaiTfoUuzQxe=w215-h322-s-no-gm

Kiều Kiều Vô Song
Tác giả: Lâm Gia Thành
Thể loại: Ngôn Tình, Trọng Sinh, Gia Đấu, Cổ Đại, Khác
Trạng thái: Full


Giới thiệu truyện:

Tác giả: Lâm Gia Thành

Editor (c1-c148): Hàn Vũ Phi & Kentu (kites.vn).

Editor (c149-end): Frenalis

Thể loại: ngôn tình, cổ đại, trọng sinh, loạn thế thời Nguỵ Tấn, cung đình hầu tước, hào môn thế gia, gia đấu, triều đấu, HE

Văn án:

Nàng có một ấu đệ đã phải nếm trải biết bao nỗi khổ trên thế gian, nhưng mãi đến sau khi xưng vương mới khóc nức nở trước mộ nàng.

Nàng có một tổ tiên vô cùng vĩ đại, nhưng chỉ còn là vinh quang trong truyền thuyết mà thôi.

Gia thế nàng phú quý, dáng vẻ nàng xuất chúng, nhưng khi nàng mất lại chỉ vào tuổi đôi mươi...

Lời tác giả:

《 Kiều Kiều Vô Song 》là bộ thứ ba trong hệ liệt Nguỵ Tấn của Lâm Gia Thành.

Bộ thứ nhất 《 Mị Công Khanh 》, thời kỳ Đông Tấn, câu chuyện tình yêu của danh sĩ Vương Thất Lang cùng Trần Dung.

Bộ thứ hai 《 Nam Triều Xuân Sắc 》, thời kỳ Nam Bắc triều Trần quốc, một câu chuyện xưa của tuyệt sắc mỹ nhân Trương Khởi cùng Lan Lăng Vương.

Bộ thứ ba 《 Kiều Kiều Vô Song 》, thời kỳ Nam Bắc triều Lưu Tống, Tạ Lang cùng nữ nhân Cơ thị.

Lời người dịch:

Truyện Lâm Gia Thành nhìn chung đều là trai đẹp gái xinh và chemistry tung tóe. Nhưng điều đặc sắc nhất ở truyện này không chỉ riêng về tình cảm, mà còn ở bối cảnh chiến loạn của Nam Bắc Triều và tư tưởng lối sống của danh sĩ thời Tấn. Hi vọng các bạn cũng sẽ yêu thích tác phẩm này​
 
Có thể bạn cũng thích
  • Lên Nhầm Kiệu Hoa
  • Ca Ca Bệnh Kiều, Soái Tạc Thiên!
  • Gả Cho Bác Sĩ Kiều
  • Đông Cung Tàng Kiều
  • Kiều Sủng Vi Thượng
  • Cục Cưng Ngốc Nữ Tiểu Kiều Thê
  • Kiều Kiều Vô Song
    Chương 1: Có nàng Cơ Tự


    Kinh Châu tháng Bảy cây cối xanh um tươi tốt, mưa gió triền miên.

    Một chiếc xe lừa chạy chầm chậm trên đường cái đi từ thành Kinh Châu đến huyện Thanh Sơn. Khoảng thời gian này Kinh Châu cứ mưa mãi không ngớt, đường cái lầy lội đầy bùn đất, ổ gà khắp nơi. Cả chiếc xe lừa và ba người hầu đang cưỡi lừa đều bị bùn lầy bắn bẩn lấm lem. Mãi đến khi vào tới huyện Thanh Sơn, cả xe lẫn người mới biết đến cảnh khô ráo là như thế nào.

    Nét mặt ba người hầu bên cạnh chiếc xe lừa có vẻ thoải mái, một người đàn ông chạc ba mươi tuổi ghé lại gần xe lừa, hưng phấn báo: “Nữ lang, cuối cùng cũng đến nơi rồi.”

    Màn xe được vén lên, một thiếu nữ ló mặt ra. Nàng tên Cơ Tự, năm nay khoảng mười ba mười bốn tuổi. Tuy tuổi tác còn nhỏ nhưng đã toát lên nét xinh đẹp. Vầng trán rộng, sóng mũi cao thẳng đến tận ấn đường, mái tóc dài đen nhánh. Người dân Thanh Sơn đều mặt vàng răng đen, chỉ mình nàng có hàm răng trắng bóng đến lóa mắt, vừa nhìn đã biết là cô nương yêu kiều có xuất thân phú quý rồi. Thế nhưng nếu đem so với những cô nương cùng trang lứa ở vùng Giang Nam, dáng vóc nàng có vẻ cao gầy hơn, hàng mày dài đến gần hai bên tóc mai và đôi mắt phượng trong veo càng làm nổi bật lên vẻ ngây thơ xinh xắn có chút kiêu ngạo của nàng.

    Cơ Tự ló đầu ra, nhìn từng thửa ruộng dưới bờ đê và thôn làng lấp ló sau rừng cây. Dần dần mắt nàng ngây dại, hàng mày cau chặt, bất động thật lâu.

    Người đàn ông kia kinh ngạc gọi: “Nữ lang? Nữ lang? Người sao thế?”

    Cơ Tự còn đang lẳng lặng quan sát thôn làng kia bất chợt giơ hai tay ôm đầu, r*n r*.

    Hai người đàn ông và người đánh xe lừa đồng thời lo lắng gọi: “Nữ lang? Nữ lang?”

    Cơ Tự khẽ lắc đầu, giọng nói khàn khàn: “Ta không sao.”

    Người đánh xe ngồi phía trước lo âu hỏi han: “Nữ lang, cả tháng nay người cứ đau đầu mãi, bảo người đi xem bói người lại không thích, muốn mời thầy thuốc thì xung quanh đây lại không có đại phu nổi danh...”

    Không đợi ông cằn nhằn xong, Cơ Tự liền hắng giọng ngắt lời: “Lê thúc, ta không sao đâu.” Nàng ngồi thẳng lưng, tuy sắc mặt vẫn còn tái nhợt nhưng gần như nàng đã bình tĩnh lại, “Dạo gần đây trong đầu ta hay xuất hiện ảo giác, chắc do nghỉ ngơi không tốt thôi.”

    Lúc Cơ Tự nhắc đến “ảo giác”, vẻ mặt hơi khác thường. Đồng thời nàng lại quay đầu nhìn về phía cánh đồng mênh mông bát ngát dưới chân đê.

    Nơi đây có đến trăm mẫu ruộng phì nhiêu đều thuộc sở hữu của nàng, mà nó cũng chính là tài sản quan trọng nhất của Cơ Tự hiện tại.

    Đây là lần đầu tiên nàng đến huyện Thanh Sơn, trước kia cũng chưa từng có dịp được ngắm phong cảnh nơi đây. Nhưng vừa rồi nàng mới chỉ nhìn thoáng qua, trước mắt đã xuất hiện ảo giác. Trong ảo giác, cơn hồng thủy đục ngầu nghiêng trời lệch đất cuồn cuộn ập đến, sau khi phá vỡ bờ đê trước mặt, chúng tuôn trào ùng ục nhấn chìm cả thôn làng khói bếp lượn lờ, rừng cây xanh tốt này.

    Nhưng khi nàng vừa chớp mắt, ảo giác kì dị kia lập tức biến mất.

    Đây không phải là lần đầu tiên Cơ Tự thấy ảo giác, suốt một tháng nay, những ảo giác tương tự đã xuất hiện bốn lần rồi. Lần thứ nhất là khi vừa gặp người xa lạ nàng đã biết ngay tên họ và lai lịch của đối phương. Lần thứ hai là lúc nàng đang đi trên đường cái, tình cờ nghe thấy tiếng đàn liền đoán được tên đàn cổ đối phương đang sử dụng là gì, giai điệu tiếp theo sẽ thư thế nào và bị lỗi nhịp ở đâu... Nhưng trên thực tế nàng chỉ là cô nương mới mười ba mười bốn tuổi mới tiếp xúc với đàn mà thôi.

    Lần thứ ba thì lại càng ly kỳ hơn. Khi nàng nghỉ tại khách đ**m, nghe thấy mấy kẻ học sĩ đàm đạo viển vông suốt một canh giờ. Ngay từ câu đầu tiên họ nói, nàng đã biết nó được trích từ điển cố nào, nội dung câu tiếp theo sẽ ra sao và tiếp nữa sẽ thế nào.

    Còn lần thứ tư cũng chính là bây giờ, nàng đã thấy cơn đại hồng thủy khi nãy. Nghĩ đến những ảo giác mình đã chứng kiến ba lần trước đều linh nghiệm, sắc mặt Cơ Tự rất khó coi.

    Lúc này giọng Lê thúc vang lên: “Nữ lang, phía trước có đường, chúng ta vào thôn không?”

    Cơ Tự mấp máy môi, nàng nhìn xa xăm một hồi rồi chỉ về phía bờ đê: “Bây giờ vẫn còn sớm, đi dạo ven đê một lát đã.”

    “Vâng!” Trong tiếng trả lời vang dội của hai hộ vệ, con lừa lại lóc cóc bước đi, chiếc xe tiếp tục lăn bánh về phía trước.

    Lúc đó, mặt trời mới chếch về phía Tây, thời tiết tháng bảy tháng tám nóng hừng hực, mặt trời chói chang trên cao như thiêu đốt cả vùng đất.

    Nhưng trong không khí oi ả thế này, phía Đông lại vang lên tiếng sấm rền. Hộ vệ Dữ Trầm năm nay gần ba mươi tuổi nhìn về phía Đông, reo lên: “Lại có sấm rồi! Nửa tháng nay ngày nào cũng sấm đánh rền vang, không biết hướng đó đã bị mưa gió ngập lụt đến mức nào nữa.”

    Một hộ vệ khác tên Tôn Phù có vóc dáng nhỏ thó, khuôn mặt tam giác, vẻ mặt lanh lợi nói: “Đội lái buôn chúng ta gặp năm ngày trước chẳng nói rồi còn gì, khoảng thời gian này có đến bảy tám huyện đều mưa mãi không dứt, họ kể miếu Long Vương ở nơi đó hương khói còn vượng hơn cả năm trước.”

    Hai hộ vệ ung dung tán gẫu, thỉnh thoảng nhìn lướt sang nữ lang nhà mình. Thấy sắc mặt Cơ Tự trắng như tờ giấy, họ đều lo lắng.

    Đi một lúc, giọng Lê thúc vang lên ở phía trước: “Ơ, đông người quá, không biết mấy dân làng này đang làm gì vậy nhỉ?” Ông đứng trên xe rướn cổ ngó nghiêng.

    Mọi người đều nhìn theo ánh mắt của Lê thúc. Tôn Phù hô lên: “Hình như họ đang tu sửa thổ long đấy. Để tôi xem thử...” Ông nhón chân lên nhìn, lập tức nói, “À phía sau rừng cây kia có một miếu thổ địa mới xây. Đúng rồi, có lẽ địa thế miếu thổ địa quá thấp, đám dân làng lo trời mưa sẽ làm ngập tượng thần, chọc giận ngài thổ địa nên vội xây thổ long chặn nước lại.”

    Cơ Tự cũng nghiêm túc nhìn.

    Ở phía Tây cách họ một hai dặm có một miếu thổ địa mới xây trong rừng cây nhỏ, nhóm dân làng đang tay xách vai gánh từng đống đất để lấp khe núi phía sau miếu thổ địa.

    Từ thời Đông Hán đến nay đã hơn hai trăm năm, chiến tranh nổi lên khắp nơi, vương triều lần lượt thay đổi. Chuyện thế gian chính là vậy, không phải dương áp đảo âm thì là âm cưỡi cổ dương. Giống như thời đại bây giờ, người chết quá nhiều, nhưng lại không thấy long khí của triều đình được vạn dân khuất phục kia có thể đường đường chính chính áp đảo ma quỷ. Dân sinh đồ thán, cuộc sống khốn cùng không tài nào có được dương khí sinh cơ để trấn áp tai họa, cho nên bệnh tật triền miên, thần hồn nát thần tính khiến dân chúng đương thời đều tin vào quỷ thần răm rắp. Mà người dân trên đất Kinh Châu lại càng nổi tiếng thích xây “dâm tự” Dâm tự là chỉ những nơi cúng bái không hợp lễ chế.

    Đúng lúc này, sáu chiếc xe bò xa hoa chạy đến từ phía đối diện. Nhìn khí thế long trọng kia, Lê thúc vội vàng điều khiển xe lừa tránh sang một bên. Đội xe bò phía trước càng lúc càng đến gần, Tôn Phù nhìn thoáng qua rồi nhanh chóng cúi đầu, ông quay mặt sang một bên, vui mừng và kích động nhỏ giọng nói: “Nữ lang, đó là xe của nhóm thế gia vọng tộc đấy ạ.”

    Cơ Tự đáp “ừ”, nàng cũng như ba người hầu, đều cúi đầu tránh đường với thái độ cung kính.

    Chỉ trong chốc lát, sáu chiếc xe bò theo hàng theo lối chạy nhanh đến chỗ họ. Còn cách một quãng xa, Cơ Tự đã nghe thấy tiếng cười đùa rôm rả từ đội xe bò truyền đến, loáng thoáng có tiếng thiếu niên lang nói: “Nghe nói Lư Tử Do trú chân ở thôn La Thủy trước mặt đây, ta còn tưởng rằng đó là nơi sơn thủy hữu tình thế nào, không ngờ nó lại quá đỗi tầm thường.”

    Thiếu niên lang vừa dứt lời, mấy tiếng cười lại vang giòn giã. Lúc này một giọng nói thốt lên: “Thập Tam lang, vậy chúng ta cũng đến thôn La Thủy đi.”

    Trong tiếng cười cười nói nói rôm rả, thoáng chốc họ đã đến gần. Vẻ mặt của nhóm Lê thúc càng tỏ ra cung kính khép nép hơn, nhất là Tôn Phù đứng bên cạnh Cơ Tự, gần như thân người đã còng hẳn xuống, cái dáng vẻ nịnh nọt lấy lòng kẻ bề trên của ông vốn là bản chất không thể nào che giấu.

    Người trong đội xe bò cũng thờ ơ liếc mắt nhìn Cơ Tự, một gã trung niên cười khẽ rồi cất lời: “Ồ, tiểu cô này tướng mạo khá thanh tú đấy.”

    Gần như gã vừa nói xong, một thiếu niên lang trẻ tuổi bên cạnh gã lập tức tiếp lời: “Nếu Thập Cửu thúc vừa ý kiểu nữ tử có xuất thân bần hàn này thì cứ lấy về thôi.”

    Cơ Tự thoáng mím chặt môi.

    Gã trung niên cười sang sảng: “Cũng không hiếm lạ đến mức ấy, đừng nên chuốc phiền phức thì tốt hơn.”

    Sau khi gã trung niên nói ra câu này, những ánh mắt nhìn vào người Cơ Tự đã lạnh nhạt đi rất nhiều. Đội xe bò nhanh chóng đi qua, trong ánh mắt đưa tiễn của nhóm Cơ Tự, họ tiến thẳng vào thôn La Thủy dưới bờ đê.

    Nhìn theo bóng dáng họ khuất dần, Cơ Tự khẽ nhếch môi, không khỏi day đầu mày. Mới vừa rồi nàng lại xuất hiện ảo giác, trong cơn hồng thủy cuồn cuộn nhấn chìm cả thôn La Thủy có mười mấy thi thể mặc áo gấm trôi lềnh bềnh.

    Thật là... Mấy người này chẳng qua chỉ thuận miệng bình phẩm nàng vài ba câu thôi mà...

    Nàng nhăn mày chốc lát rồi đột ngột đi về phía miếu thổ địa, nhìn xung quanh khe núi kia một hồi. Sau đó quay đầu nhìn về phía bờ đê lúc nàng đến, lại trông lên bầu trời hướng Đông sấm chớp liên hồi.

    Cơ Tự chỉ về phía Đông, nói nghiêm túc: “Phù thúc, nếu phía Đông xảy ra hồng thủy, sau đó ngập đến chỗ chúng ta đang đứng, thúc nói xem liệu nó có phá vỡ bờ đê này rồi cứ thế tràn vào khe núi này không?”

    Lê thúc cười nói trước: “Nữ lang, người lại lo nghĩ không đâu rồi. Huyện Thanh Sơn không có mưa, sợ gì hồng thủy chứ?” Ông chỉ vào đội xe bò có khí thế oai vệ kia, “Họ đều là những nhân vật lớn học rộng biết nhiều, cao nhân nào chẳng có, họ đã không sợ thì nữ lang có gì phải sợ?”

    Tôn Phù cung kính đáp: “Lão Lê nói đúng, đội xe vừa rồi đi qua toàn là thế gia vọng tộc. Đương nhiên những thế gia vọng tộc cao quý nhường này đã đọc bao nhiêu sách ốc, có việc gì mà chưa từng thấy qua? Họ đều không cảm thấy bất ổn thì sao nữ lang phải suy nghĩ nhiều làm gì?”

    Lúc Tôn Phù nói đến thế gia vọng tộc, Cơ Tự cười nhạt nhướng mày. Thế nhưng trong nháy mắt, vẻ kiêu ngạo trên mặt nàng lại biến thành sầu lo. Nàng thầm thở dài, dằn xuống những suy nghĩ bộn bề trong lòng, nhìn ba người hầu với ánh mắt kiên định.

    Tôn Phù đành nghiêm túc nhìn theo phía tay nàng chỉ, Dữ Trầm ở bên cạnh tiếp lời: “Đương nhiên là sẽ tràn vào khe núi, địa thế miếu thổ địa rõ ràng rất thấp, vùng đất khá rộng, còn có khe núi xả lũ nữa. Nhưng đến khi những dân làng này chặn xong khe núi, rồi đắp thổ long cao lên hai trượng thì chưa chắc sẽ bị ngập lụt.”

    Cơ Tự gật đầu.

    Ảo giác vừa rồi thật sự quá chân thực, nàng chỉ vừa thất thần đã thấy thảm cảnh xác chết trôi nổi chồng chất, nhà tranh lềnh bềnh, quạ đen bay khắp cánh đồng. Chúng chân thực đến nỗi dường như nàng có thể ngửi thấy cả mùi hôi thối của xác chết trôi bốc lên nữa.

    Cơ Tự lại quay đầu nhìn về phía thôn làng, lúc nãy ảo giác xuất hiện, hình như nàng còn nghe thấy một giọng nói vang lên trong đầu, chính trận hồng thủy này đã nhấn chìm trăm mẫu ruộng phì nhiêu của nàng, khiến nàng bị tổn thất nặng nề về tài sản và cũng gây ra bao sóng gió liên tiếp về sau, khiến cả đời này nàng không còn cơ hội trở mình.
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 2: Vu sư và công tử


    Lúc này Dữ Trầm lại nói: “Vùng này ít nhất cũng phải có đến trăm nghìn mẫu ruộng, hơn nghìn dân làng. Nếu hồng thủy ập đến thì những người này khó mà giữ được tính mạng rồi.” Y cười nói với Cơ Tự: “Nếu nữ lang thật sự lo lắng thì ta tạm thời đừng vào trong thôn nữa, cứ ở bên ngoài chờ xem tình hình thế nào đã rồi quyết định.”

    Cơ Tự gật đầu. Nàng dằn xuống tâm trạng bất ổn, hồi tưởng lại cặn kẽ những âm thanh và hình ảnh thoáng nghe thấy khi bị ảo giác vừa rồi, thầm nghĩ: Không, đây không phải là ảo giác!

    Ngay lập tức nàng ra quyết định. Thật là kì lạ, vừa hạ quyết tâm, nỗi lòng thấp thỏm bất an cũng chợt trở nên bình tĩnh.

    Cơ Tự hít sâu một hơi, quyết đoán ra lệnh: “Đi thôi! Chúng ta đến nhà của vu sư nổi danh nhất vùng này.”

    Người thời này vô cùng tin quỷ thần, cũng vì thế mà vu sư nhiều nhan nhản. Hầu như ở huyện thành nào cũng có một nhóm vu sư có già có trẻ, nổi tiếng lẫn vô danh. Những vu sư này thường giải quẻ cho dân chúng, xem phong thủy và chủ trì các lễ tế quỷ thần, đôi khi còn có vu sư kiêm cả đại phu chữa bệnh nữa. Không đúng, hẳn phải nên nói thế này, những thần y tài ba nhất đương đại đều giỏi vu thuật, giống như Đào Hoằng Cảnh và Cát Hồng. Bởi vì có sự tồn tại của lớp người như họ mà thời đại này thuật Đơn Đạo (1) và quỷ thần mới thấm nhuần vào lòng dân hơn.

    (1) Thuật Đơn Đạo có từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, tu theo đường tự tiềm thức bản thân giác ngộ để thao túng sinh mạng, hướng tới trường sinh.

    Nghe Cơ Tự yêu cầu như vậy, ba người còn lại đều sững sờ. Họ nhìn thoáng qua nhau, Lê thúc lớn tuổi nhất dè dặt khuyên: “Nữ lang, người nghiêm túc ư? Đây không phải là chuyện nhỏ có thể nói đùa được đâu, liên quan đến tính mạng của hơn một nghìn người dân đấy. Nếu như đó là lời tiên đoán về thiên tai, có thể sẽ trở thành việc hệ trọng kinh động đến các chư công trong châu quận, chúng ta không gánh nổi trách nhiệm này đâu. Hơn nữa nữ lang cũng thấy đấy, bây giờ trong thôn La Thủy còn có nhóm quý tộc, nếu kinh động đến họ mà không có một lời giải thích hợp lý thì sẽ xảy ra việc lớn đấy.”

    Cơ Tự nhìn chằm chằm y một hồi, chỉ nói: “Đến nhà vu sư! Những chuyện còn lại ta tự có chủ trương.”

    Cơ Tự là chủ nhân của ba người Lê thúc, Tôn Phù và Dữ Trầm, quan hệ chủ tớ có cấp bậc rõ rệt. Ba người hầu nghe giọng điệu nàng có vẻ không vui nên cũng không dám chần chừ nữa. Lại nghe thêm lời quả quyết của Cơ Tự, tuy trong lòng vẫn còn khó tin nhưng cũng không khuyên nổi nàng nên đành phải nghe theo.

    Chỉ chốc lát sau, họ đã tìm được đến nơi ở của vu sư nổi tiếng nhất vùng. So với những căn nhà tranh bình thường của thứ dân, ngôi nhà gỗ của vu sư trước mắt họ có hai tầng, trông cao sang quý hơn nhiều.

    Sau khi Lê thúc lấy mười cân ngô để đút lót, vợ con và đồ đệ của vu sư kia bèn lui xuống, nhường không gian lại cho mấy vị khách đường xa tới thăm.

    Lão vu sư đã sáu mươi tuổi ngẩng khuôn mặt vàng vọt lên nhìn Cơ Tự đeo mạng che mặt đang đi đến, rồi lại liếc thoáng qua Lê thúc đang khiêng hơn năm mươi cân bạc và ngô, ung dung nói: “Các ngươi đến gặp ta để cầu xin điều gì?”

    Cơ Tự khẽ liếc mắt ra hiệu cho Tôn Phù, sau đó cất bước đi đến đối diện vu sư rồi ngồi xuống. Cùng lúc đó Lê thúc và Dữ Trầm đứng cửa phòng và cửa sổ liền cẩn thận đóng lại.

    Lúc này vu sư vẫn còn nhìn đau đáu vào túi tiền trên đống ngô, mãi sau lão mới thờ ơ nhìn Cơ Tự. Lão ta hỏi lại họ lần nữa bằng chất giọng na ná người Lạc Dương: “Cô muốn cầu xin điều gì?”

    Cơ Tự khẽ liếc nhìn Tôn Phù đứng sau lưng lão già vàng vọt kia, rồi mới nhìn ông ta, nói nghiêm túc: “Người dân trong thôn La Thủy đang đắp thổ long để che chắn cho miếu thổ địa, ta hi vọng ngài có thể thông báo cho họ biết, trong vòng nửa tháng sau huyện Thanh Sơn sẽ liên tục có mưa lớn.”

    Cơ Tự vừa dứt lời, lão ta đã cười sang sảng nhe cả hàm răng vàng khè, quát to: “Vớ vẩn! Ăn nói vớ vẩn! Nữ lang đang nói đùa đấy à?”

    Chợt nghe thấy một tiếng “keng”, Tôn Phù rút thanh đoản kiếm ra từ ống tay áo ra, đặt lên cổ lão ta.

    Phía đối diện, Cơ Tự vẫn ngồi ngay ngắn tiếp tục cất lời: “Tất nhiên đây không phải là chuyện đùa.”

    Sắc mặt lão vu sư sa sầm, trợn trừng đôi mắt ngả vàng nhìn Cơ Tự, chẳng màng thanh đoản kiếm đang đặt trên cổ mình, phẫn nộ quát lên: “Một nữ lang nhỏ tuổi như ngươi mà cũng dám đe dọa ta ư?”

    Cơ Tự đáp: “Thầy có thể không đồng ý, nhưng ta đã vào đây rồi thì không có đạo lý nào tay trắng ra ngoài được. Nếu thầy không chịu làm theo, ta đành phải lấy mạng thầy thôi. Ta thấy xà ngang của căn phòng này rất chắc chắn, nếu treo cổ ngài ở đây, rồi lấy máu của ngài viết bức thư tuyệt mệnh 'Nửa đêm ta quan sát thiên tượng, tiên đoán trong nửa tháng tới huyện Thanh Sơn sẽ có mưa to... Vì tiết lộ thiên cơ nên bị yêu ma quỷ quái g**t ch*t...', chỉ vài lời như thế ta cũng đã đạt được mục đích của mình rồi.”

    Lão ta nghe xong, vẻ mặt thay đổi đột ngột. Cuối cùng ánh mắt nhìn về phía Cơ Tự cũng mang theo nét sợ hãi.

    Cơ Tự khẽ cười: “Xem ra thầy đã hiểu ý ta nói, nếu đã vậy thì chúng ta nên bàn bạc một số chuyện tiếp theo cần làm đi.”

    Thôn La Thủy.

    Trên toàn huyện Thanh Sơn, chỉ mỗi thôn La Thủy nổi tiếng có phong cảnh nên thơ, bên trái thôn làng nho nhỏ có một hồ nước xanh trong như ngọc, thấy rõ cả đáy. Giữa hồ nước có cồn cát nhỏ mà bầy chim thường đậu trông cực kì tráng lệ. Cho nên người dân thôn này cũng không lạ gì việc mấy con cháu thế tộc thường đến đây.

    Khi đội xe bò bệ vệ tiến vào thôn, dân làng đều tỏ vẻ cung kính, lẳng lặng cúi đầu nghênh đón, ngay cả trẻ con cũng im lặng đứng chờ hai bên vệ đường mà không hề ồn ã đuổi theo, trông vô cùng lễ phép.

    Trần Thập Cửu năm nay ba mươi lăm tuổi khuôn mặt trắng nõn thấy thế cảm thán: “Không biết Lư Tử Do nghĩ thế nào, nếu đã thích nơi này như vậy sao lại để mấy dân đen trồng trọt ở đây làm gì, không vận dụng thế lực của Lư thị Kinh Châu biến chỗ này thành trang viên nhà mình cho rồi?”

    Thiếu niên lang vẫn luôn cung kính ngồi cùng gã lập tức cười đáp: “Ai mà hiểu nổi ý nghĩ của những danh sĩ như y được chứ?” Lúc bấy giờ, nhà Tấn diệt vong, thiên hạ do Lưu thị xuất thân bần hàn cai quản, tuy phong thái vẫn còn đó nhưng danh sĩ đã mất đi nhiều. Nhiều hơn cả là càng ngày càng có nhiều người cậy danh nghĩ mình là con cháu quyền quý, giả làm danh sĩ để ngồi không ăn bám.

    Đúng lúc này, thiếu niên tuấn tú Tô Thập Tam lang giật mình nói: “Sao ở đây lại có khách vậy nhỉ?”

    Mọi người nhìn theo ánh mắt của hắn, quả nhiên thấy bảy tám cỗ xe ngựa xa hoa đang đỗ trước ngôi nhà nhỏ có chiếc cầu phao bằng gỗ, thấp thoáng sau rừng cây và cách cồn đất chim đậu khoảng bốn mươi mét.

    Nam triều hằng năm đều chinh chiến, nhưng ngựa vẫn vô cùng hiếm thấy. Toàn bộ cỗ xe trước mắt này đều sử dụng ngựa kéo, hơn nữa tất cả đều là loại tuấn mã thượng hạng, đây có thể gọi là xa hoa lãng phí vô độ rồi.

    Kể cả Trần Thập Cửu tự xưng là danh môn sĩ tộc, thế lực gia tộc còn vượt xa gia tộc khác rất nhiều, nhưng giờ khắc này gã cũng phải kinh sợ. Mắt gã nhìn đăm đăm vào những chiếc xe ngựa kia: “Trên xe ngựa không có huy hiệu của gia tộc, ta không biết người bên trong có lai lịch thế nào.”

    Gần như gã vừa dứt lời, một chuỗi tiếng đàn du dương truyền đến từ trong ngôi nhà nhỏ. Cùng lúc tiếng đàn vang lên, đám người Trần Thập Cửu bất chợt trợn to hai mắt.

    Những người này đều thuộc dòng dõi thư hương, mấy trăm năm qua các đời con cháu đều một bụng sách vở, nghiên cứu cầm kỳ thi họa. Với xuất thân như vậy, cho dù họ không có học hành đàng hoàng nhưng khả năng nhìn người cũng không đến nỗi tầm thường. Cũng chính vì không tầm thường nên chỉ với tiếng đàn loáng thoáng trong căn nhà kia đã khiến tâm trí họ lạc lối, quên cả hít thở.

    Tiếng đàn vừa mới vang lên rồi lại im bặt, hiển nhiên người nọ chỉ tiện tay lướt trên dây đàn, sau đó trong nhà loáng thoáng có tiếng người nói chuyện. Giọng nói ấy không lớn, chỉ lát sau cánh cửa phòng được mở ra, mười hộ vệ có vóc dáng cao to, phong thái hiên ngang lui ra ngoài, tiếp đến là bốn tỳ nữ.

    Gần như vừa nhìn rõ mặt của mấy tỳ nữ, thiếu niên nào đó đứng sau Trần Thập Cửu sơ ý giẫm phải viên đá, ngã phịch xuống đất. Nhưng y cũng không mất mặt, bởi vì ngay cả người vốn mang tiếng phong lưu như Trần Thập Cửu cùng với đồng bạn của y đều ngây dại ngắm bốn tỳ nữ kia.

    Bốn người họ đều mặc áo gấm mỏng tang, dung nhan như họa, quả thực phải khen rằng họ đẹp tuyệt thế. Với sắc vóc như thế, dù chỉ một người xuất hiện ở bất kì nơi đâu cũng khiến nơi đó xôn xao nhốn nháo, nhưng ở đây có đến những bốn người, hơn nữa thân phận của họ chỉ là thị tỳ cho người ta thôi.

    Trong lúc đám người nín thở ngóng nhìn, một công tử vận bộ bạch y thong thả bước ra ngoài.

    Tô Thập Tam bỗng bừng tỉnh, hóa ra bốn nô tỳ này cũng chỉ bình thường thôi. Bởi vì thứ khiến người ta si mê choáng váng trên thế gian này không phải là khuôn mặt xinh xắn mà là phong tư khí phách không gì sánh bằng của công tử kia.

    Công tử bạch y như mặt trời tỏa ánh hào quang, sau khi chàng ra khỏi căn nhà gỗ, liền thờ ơ liếc mắt nhìn đám người Trần Thập Cửu. Dưới ánh nhìn của chàng, mọi người bao gồm cả Trần Thập Cửu đều bất giác cúi đầu hành lễ.

    Công tử bạch y khẽ gật đầu đáp lễ họ rồi cất bước đi về chiếc xe ngựa của mình. Sau đó đoàn xe bắt đầu khởi hành, hùng dũng lướt qua đám người Trần Thập Cửu, đi trên con đường quanh co uốn lượn.

    Mọi người vẫn dõi mắt nhìn theo.

    Cũng không biết qua bao lâu, Tô Thập Tam lang hoàn hồn trước, y vui sướng kêu lên: “Là hắn! Đó chính là Tạ lang, Tạ Thập Bát lang của Trần Quận Tạ thị! Lý công từng bảo, 'thế chi tuấn ngạn, tạ chi lâm lang' (2), ngoài Tạ lang ra không ai có phong thái khí khái nhường này cả!”

    (2) Ý nghĩa câu này khen Tạ Thập Bát tuấn tú, tài đức hơn người, dáng vẻ như ngọc quý sáng chói.

    Cái tên “Tạ lang” vừa xuất hiện, lập tức dấy lên tiếng bàn tán xôn xao. Hai mắt Trần Thập Cửu sáng rỡ: “Người vừa nãy chính là Tạ lang sao? Thảo nào, thảo nào.”

    “Thảo nào người đời đều nói rằng Tạ lang phong lưu, ngay cả đến nơi thâm sơn cùng cốc này hắn cũng mang theo bốn tỳ nữ tuyệt sắc, quả nhiên phong lưu hơn người.”

    “Đã thấy Tạ lang rồi mà còn bảo bốn tỳ nữ kia tuyệt sắc à? Với tư thái của Tạ lang, nam nữ phàm trần đều không đáng nhắc đến!”

    Bảy tám người trong đám thế gia vọng tộc càng bàn luận càng hưng phấn. Gặp được Tạ lang, họ không còn hứng thú với chuyện đến bái phỏng Lư Tử Do nữa.

    Mà vào lúc này, những người dân đang hối hả đắp thổ long tu sửa miếu thổ địa đã quay về. Hai ba trăm dân làng cầm cuốc, dắt trâu, vừa đi vừa nói chuyện khiến ngôi làng miền núi yên tĩnh thoáng cái ồn ào hẳn lên.

    Trần Thập Cửu ngước nhìn bầu trời, ngạc nhiên hỏi: “Mặt trời còn chưa xuống núi, sao bọn dân đen này đã về nhà rồi? Tu sửa thổ long còn chưa xong đã lười biếng, thế mà cũng gọi là cung kính thần linh được à.”

    Chợt lúc này một người dân hô to: “Các nhà các hộ nghe cho kỹ đây! Lão vu sư phán rằng trong nửa tháng tới huyện Thanh Sơn sẽ liên tục có mưa to! Các nhà các hộ nghe cho kỹ đây! Lão vu sư phán rằng, trong vòng nửa tháng tới huyện Thanh Sơn sẽ liên tục có mưa to.”

    Người dân kia vừa dứt lời, vô số phụ nữ trong thôn ló đầu ra khỏi nhà tranh. Trong nghi vấn không ngừng của mọi người, người dân kia lại hắng giọng hô to, “Các nhà các hộ nghe cho kỹ đây! Hiện tại sắp thu hoạch vụ thu, chúng ta không thể để thóc bị ướt, tranh thủ trong bốn ngày trời quang mây tạnh tới đây, mọi người mau gác lại mọi việc vặt trong nhà để tiến hành thu hoạch vụ mùa đi. Đồng thời mỗi nhà phải cử ra một thanh niên trai tráng đi sửa chữa đê điều, đắp lại chỗ bị rò rỉ, đề phòng mưa to dẫn đến lũ lụt!”
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 3: Hồng thủy đến rồi


    Nhóm thế tộc đã hiểu tại sao những người này lại ngừng xây đắp thổ long, hóa ra là vu sư nơi này đoán rằng sẽ có mưa to. Tuy trong nhóm có vài người học rộng biết nhiều, nhưng không một ai biết gì về xem thiên tượng. Cho nên họ cũng nghe theo lời tiên đoán kia.

    Sau khi bàn luận về Tạ Lang một hồi, họ ra lệnh cho đám tôi tớ bắt đầu dựng vách nhà tranh bên cạnh căn nhà gỗ của Lư Tử Do.

    Từ thời Tam Quốc đến nay, người đời đều quý trọng các vị ẩn sĩ, bất kể thế tộc, đại sĩ tộc hay hoàng thất luôn tiếp đãi họ một cách long trọng. Lư Tử Do chính là ẩn sĩ nổi danh trên đất Kinh Châu, đám người Trần Thập Cửu đến đây bái phỏng hắn với mục đích một là nhân cơ hội này du sơn ngoạn thủy, hai là mượn danh của hắn nâng tầm giá trị bản thân.

    Nhưng nói cho cùng, ẩn sĩ trên đời đa phần là người chính trực và ngạo mạn, tuy đám Trần Thập Cửu mang danh thế tộc nhưng chưa bao giờ được tiếng thơm để đời. Nếu họ cứ trực tiếp đến cầu kiến Lư Tử Do, sẽ có khả năng cao là bị đuổi ra khỏi cửa. Thế nên mỗi khi họ tới bái phỏng một vị ẩn sĩ nào đó, sẽ chọn ở bên cạnh nhà đối phương vài ngày, nếu có thể vô tình trò chuyện đôi câu với nhau thì càng tốt, còn nếu bị đối phương khinh thường thì cũng chẳng sao. Miễn là có thể trở thành hàng xóm cách vách và tỏ lòng thành kính, sau khi trở về sẽ có chuyện để rêu rao rồi.

    Thấm thoát đã đến ngày thứ tư.

    Trong những ngày qua, đám thế tộc ban ngày thì ngao du núi rừng, đêm đến thì trở về thôn La Thủy nghỉ ngơi, đem thỏ săn được ra nướng và cùng ngồi đàm huyền luận đạo, quả thật là phong nhã vô vàn.

    Tối ngày thứ tư, Lư Tử Do mới đi ra khỏi nhà gỗ. Hắn khoảng ba mươi tuổi, khuôn mặt gầy guộc, tay áo rộng bị gió đêm thổi bay phất phới tựa thần tiên hạ phàm.

    Đám người Trần Thập Cửu vừa thấy hắn xuất hiện liền đồng loạt đứng dậy. Lúc họ chuẩn bị nghênh đón, Lư Tử Do lại đi vào trong thôn.

    Lư Tử Do tình cờ gặp những người dân đang bước đi vội vã, khuôn mặt họ đều mang tâm sự nặng nề, mọi người đang nhao nhao bàn luận: “Bốn ngày qua bầu trời không có lấy một áng mây, nắng như thiêu như đốt, làm gì giống như đang sắp mưa chứ?”

    “Đúng đấy, ta cũng thấy hôm nay rất nóng, hoàn toàn không giống như sắp mưa tầm tã đâu.”

    “Có phải lão Hoàng đã đoán sai rồi không?”

    Mưa tầm tã ư? Lư Tử Do nheo mắt nhìn bầu trời một hồi rồi hắng giọng hỏi: “Ai nói sắp mưa?”

    Bọn họ không dám nói tiếp nữa, vội vàng tiến lên cung kính hành lễ: “Bẩm Lư công, vu sư phán rằng trong nửa tháng này huyện Thanh Sơn sẽ mưa to liên tục.”

    “Mưa to liên tục sao?” Lư Tử Do cười sang sảng, hắn chỉ về phía Tây, “Chân trời phía Tây sáng rực, đám côn trùng đều nằm yên trong tổ của mình, lại có gió Bắc hiu hiu, ai bảo là sắp mưa hả?” Lư Tử Do vuốt râu, “Đừng nói là mưa, nửa tháng sau không bị hạn hán là may lắm rồi.”

    Lư Tử Do là ai chứ? Ngay cả những kẻ cao sang quyền quý kia cũng phải đến cửa cầu kiến đại nhân vật như hắn đấy! Thế là sau một hồi im lặng, đám dân làng tròn mắt nhìn nhau, không thốt nên lời.

    Lát sau, Lí Chính hô lên: “Chết rồi, lão Hoàng vô dụng kia đã làm cản trở chúng ta sửa miếu thần rồi. Chúng ta đã thắp nhang, chọn xong ngày lành tháng tốt, mà lại bỏ dở việc xây đắp thổ long giữa chừng. Nếu thật sự có mưa to thì chúng ta còn có lý do chính đáng, ai dè bây giờ trời vẫn nắng nóng, chỉ sợ ngài thổ địa sẽ trách chúng ta chậm trễ cho xem.”

    “Đi hỏi lão Hoàng thôi!”

    “Đúng, phải hỏi lão cho rõ mới được!”

    Đám dân làng càng nói càng kích động, mọi người quay đi, tay cầm cuốc tay xách đòn gánh, chạy về phía nhà lão Hoàng như bầy ong vỡ tổ.

    Lư Tử Do lẳng lặng nheo mắt trông theo đám dân làng hùng hùng hổ hổ. Lúc này, đám người Trần Thập Cửu cũng lao tới rồi vội vàng hành lễ với Lư Tử Do, một quản gia bắt chuyện: “Lão Hoàng kia có căn nhà hai tầng, lại có kẻ hầu người hạ, vợ con được mặc áo gấm hẳn hoi. Nếu không biết lão chỉ là vu sư bình thường, có lẽ người ta còn cho rằng lão là phú hào nữa cơ. Ban đầu ta còn tưởng hắn có bản lãnh thực sự mới giàu có như thế.”

    Các hộ trong thôn La Thủy chỉ lợp mái nhà tranh, nhưng vu sư họ cung phụng lại có nhà cao cửa rộng, tôi tớ hầu hạ, đây không phải là hút máu dân thì là gì? Quản gia kia vừa nói xong, Lư Tử Do liền cau mày: “Đã thế chúng ta cũng đi theo những dân làng này chất vấn lão Hoàng xem.”

    Đám người Trần Thập Cửu ào ào đáp vâng, thế là nhóm thế tộc cũng cùng đi theo đám dân làng.

    Lúc người dân thôn La Thủy phát hiện Lư Tử Do cùng với nhóm thế tộc cũng đi theo thì lại càng kích động. Chẳng mấy chốc nam nữ già trẻ cả thôn đều chạy ra, hòa vào dòng người hùng hổ đi đến nhà lão Hoàng ở trấn nhỏ ven đê.

    Trong buổi chiều hôm chạng vạng, khoảng hơn một nghìn người tham gia hóng chuyện, gây rối và cả nhóm thế tộc cùng nhau chen chúc nhốn nháo trên đường, làm kinh động đến cả người dân ở trấn cách đó mười dặm. Lúc họ đến bờ đê thì một loạt tiếng chân lừa dồn dập truyền đến, hai người hầu của Trần Thập Cửu đã chạy vào trấn từ trước bắt giữ và áp tải lão Hoàng tới đây.

    Thấy đám người đông nghịt phía trước, lão Hoàng có dự cảm chẳng lành, vô thức run lẩy bẩy cả người. Đến khi lão bị ném phịch trước mặt dân làng thì người đã đổ mồ hôi đầm đìa.

    Người dân như bầy ong vỡ tổ bao vây lấy lão, tức giận chửi mắng: “Lão Hoàng, vì sao lão lại gạt bọn ta?”

    “Rõ ràng không có mưa mà lão lại bảo có mưa, nếu ngài thổ địa tức giận thì ai đứng ra gánh vác tội này đây hả?”

    “Lão Hoàng, mấy năm gần đây bọn ta luôn tin lão, thế mà lão lại lừa gạt...”

    Trong tiếng ồn ào, Lí Chính trong thôn quát lên, đám dân làng liền im bặt.

    Lão Hoàng mừng thầm, ngẩng đầu nhìn thấy mấy quý tộc đang đi từ hướng ngược sáng đến. Sắc mặt lão xám ngoét, bản năng sinh tồn trỗi dậy, nhào đến trước chân Lư Tử Do, nước mắt giọt ngắn giọt dài: “Đại nhân, đại nhân ơi! Không phải như thế, không phải tiểu nhân muốn bảo có mưa đâu, tiểu nhân bị người ta ép phải làm như vậy ạ.”

    Lão càng nói càng tỉnh táo: “Đại nhân, tiểu nhân là bị uy h**p. Bọn chúng có bốn người, cầm đầu là một tiểu cô chừng mười ba mười bốn tuổi. Chúng ngụ ở trấn trên, tiểu nhân có thể đưa mọi người đến đấy.”

    Câu này rõ lạ, bất kể là Tô Thập Tam hay Trần Thập Cửu đều phì cười, Lư Tử Do cũng nhăn mày, tỏ vẻ hoàn toàn không tin.

    Đúng lúc này lão Hoàng trông thấy bốn người Cơ Tự đang đi từ miếu thổ địa về phía này, lão đứng phắt dậy, cất giọng the thé: “Chính là bọn chúng, đại nhân, chính là bốn người đằng trước kia kìa.”

    Tất cả mọi người đều quay ngoắt lại.

    Hôm nay Cơ Tự đến kiểm tra đê điều, xa xa thấy biển người đông nghịt nên tự dưng nổi tính hiếu kỳ. Nhưng vừa đến gần đã thấy lão Hoàng quỳ ở đấy, còn vừa chỉ vào mình vừa hô to, thoáng chốc Cơ Tự chợt hối hận.

    Mà lúc này hơn một nghìn đôi mắt đang nhìn nàng chằm chằm.

    Cơ Tự mấp máy môi, hiểu ra đã không tài nào rút lui được rồi. Thế là trong tiếng kêu gào của lão Hoàng, Cơ Tự từ từ bước tới chỗ đám người Lư Tử Do.

    Cơ Tự thi lễ với Lư Tử Do và nhóm thế tộc, cất giọng trong trẻo: “Cơ thị nữ Kinh Châu tham kiến chư công.”

    Đám người Trần Thập Cửu vốn không tin lời của lão Hoàng, dù sao Cơ Tự chỉ là một tiểu cô còn ít tuổi, vô duyên vô cớ sao lại muốn lừa dân làng làm gì? Nhưng hiện tại nhìn thấy biểu cảm của ba nô bộc phía sau Cơ Tự, họ lập tức hiểu điều lão Hoàng nói là sự thật.

    Lư Tử Do chợt cảm thấy hứng thú, hắn vuốt râu, tò mò hỏi: “Nữ tử này, sao cô lại bịa đặt nói dối như thế? Lão phu thật sự không biết chuyện này có ích gì cho cô?”

    Nàng cười khổ, bản thân cũng muốn giải thích nhưng lại phát hiện ngay lúc này đây, dù nàng có nói gì cũng không hợp lý. Nàng không thể kể những dự đoán của mình cho người đàn ông thông thái trước mắt được. Bởi vì nàng chỉ là một tiểu cô bình thường, nàng còn có cuộc sống riêng của mình, còn có rất nhiều kế hoạch muốn hoàn thành. Nàng không thể để tương lai của mình và cả gia tộc mang cái danh vu sư, từ đó bị người ta liệt vào hàng hạ đẳng, vĩnh viễn không thể ngoi lên tầng lớp cao quý.

    Thấy làn môi Cơ Tự run run nhưng mãi lâu không thốt ra một chữ giải thích, mấy dân làng cố nén lửa giận, ngay cả Lư Tử Do cũng mất kiên nhẫn.

    Trần Thập Cửu mở miệng trước, gã nói: “Khổng Tử có dạy, chỉ có nữ tử và tiểu nhân là khó dạy, nữ tử này biết rõ mình đã làm sai chuyện nhưng lúng túng không nói nổi một câu, rõ ràng là trong lòng có điều gì khuất tất. Lư công, đối với loại nữ tử dân đen này thì hà cớ gì phải nhiều lời?”

    Gã lại quát lên: “Người đâu, giải cô ta đến nha huyện đi.”

    Cơ Tự ngẩng phắt đầu lên. Môi nàng khẽ hé, định cất lời thì đột nhiên phương xa truyền đến tiếng nổ ầm ầm. Âm thanh kia kinh người, rung chuyển cả mặt đất, như có hàng vạn con ngựa phi nước đại, lại như thể mang theo oai phong của trời đất khiến lòng người kinh hoàng.

    Mà trong khoảnh khắc tiếng nổ rền trời vang lên, trâu bò hay lừa đều gầm vang, chúng liều mạng vùng vẫy, muốn thoát khỏi dây trói của chủ nhân. Cùng thời khắc đó, tiếng kêu rền trời và tiếng hét bi thảm xé nát ruột gan truyền đến từ nơi xa: “Hồng thủy đến rồi... hồng thủy đến rồi...”

    Ngay sau đó là một bóng dáng hộ vệ giục ngựa phi đến, từ xa đã gào lên: “Nhanh, nhanh, tất cả mau chạy đến chỗ cao đi, đê huyện đã vỡ rồi, lũ lụt kéo đến rồi.”

    Có điều tiếng gào của người hộ vệ đã bị tiếng ầm ầm kia át đi trong nháy mắt. Mọi người vội ngẩng đầu lên, thấy cuối chân trời là một cột sóng trắng xóa khổng lồ ập đến. Chỉ trong thời gian vài câu nói, chúng đã từ phía trấn nhỏ đổ ập đến trước mặt mọi người.

    Xưa nay uy phong của trời đất là điều đáng sợ nhất thế gian. Trong phút chốc, đám dân làng sợ đến mức gào thét không ngừng, còn nhóm thế tộc thì sợ đến bủn rủn tay chân ngã phịch xuống đất.

    Thấy tất cả mọi người hỗn loạn, Lư Tử Do quát to: “Trật tự, trật tự!”

    Trong hoàn cảnh này cần nhất là có người chỉ đạo, tiếng quát của Lư Tử Do vừa vang lên, đám người rối như mớ bòng bong lập tức ngước mắt nhìn hắn với lòng tôn kính tột cùng.

    Trong âm thanh vang rền của cơn hồng thủy đang ào ào kéo đến, Lư Tử Do quát lớn: “Gấp cái gì? Đừng quên mấy ngày qua các người đã gia cố đê đập thế nào.” Đồng thời hắn chỉ về phía miếu thổ địa, “Với lại, địa thế nơi đó thấp hơn, hồng thủy đến thì sẽ đổ dồn vào đấy thôi.”

    Lư Tử Do vừa dứt lời liền giật mình, hắn quay phắt đầu lại nhìn Cơ Tự bằng ánh mắt khó tin.
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 4: Tương ngộ


    Lúc này, nàng đang quan sát tình hình xung quanh. Khác hẳn đám dân làng đang không ngừng kêu gào hỗn loạn và nhóm thế gia vọng tộc đang bủn rủn chân tay kia, nàng vẫn bình tĩnh nhìn đăm đăm vào hướng xảy ra lũ lụt, ánh mắt sáng ngời cơ trí.

    Chỉ bằng một ánh mắt thôi Lư Tử Do liền hiểu ra, quả nhiên những điều nàng làm là có dự tính cả rồi! Tiểu cô này đã tiên đoán được nạn hồng thủy này sẽ xảy ra, và còn chuẩn bị hết các biện pháp phòng chống thiên tai nữa.

    Đúng lúc này, tiếng reo hân hoan của dân làng vang lên, “Đại nhân! Đại nhân mau nhìn đi.”

    Lư Tử Do vội quay đầu nhìn lại. Quả nhiên cơn hồng thủy nghiêng trời lệch đất đang dâng cao, tràn qua bờ đê rồi ồ ạt trút xuống mảnh đất trũng chỗ miếu thổ địa. Trong chớp mắt, cơn hồng thủy tràn qua khe núi, bao vây lấy miếu thổ địa. Dòng nước lũ cuồn cuộn đập vào con đê, tưởng chừng như sắp phá tung chân đê rồi lao vào nuốt chửng thôn La Thủy, nhưng lại bị khe núi và vành đai bằng đất sau miếu thổ địa chia cắt, từ từ hạ xuống rồi trở nên bình lặng.

    Ban đầu mực nước cơn hồng thủy đã dâng cao đến tận bờ đê, nhưng vừa được điều tiết liền giảm xuống nửa thước, cho dù là đám dân làng dốt nát đến mấy cũng biết nguy hiểm đã được giải trừ.

    Qua phút vui mừng khôn xiết lúc đầu, theo sau là những tiếng kêu khóc liên tiếp vang lên. Đây là tiếng khóc vui sướng của những người sống sót sau cơn đại họa, cũng chính là tiếng khóc hân hoan khi tìm được đường sống trong chỗ chết.

    Lư Tử Do vui vẻ ra mặt, hắn không sợ chết nhưng cũng chưa bao giờ được nếm trải cảm giác cận kề với cái chết như khi nãy. Vào thời khắc này, cảm giác vui mừng như được tái sinh xuất hiện trong đầu hắn. Lư Tử Do ngẩng đầu, nhìn về phía mấy gã trai tráng đang phi nước đại từ tiểu trấn đến đây, không khỏi vuốt râu cười lớn.

    Mấy gã trai tráng đi về phía Lư Tử Do: “Lư công còn ở đây ạ, cuối cùng bọn tiểu nhân cũng có mặt mũi về báo cáo với Tạ Lang rồi! Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc khi nãy, thật sự khiến chúng tiểu nhân sợ hãi tột cùng. Lư công bình yên vô sự cũng chính là phúc của Kinh Châu.”

    Bấy giờ huyện lệnh Thanh Sơn cũng đến và cả những nhân vật văn danh hiền tài ở huyện Thanh Sơn cùng tề tựu đông đủ. Đứng giữa đám người vui vầy, Lư Tử Do chợt quên mất sự tồn tại của Cơ Tự. Đến những hai canh giờ sau, khi cơn hồng thủy đã rút đi, hắn mới biết được nhóm Cơ Tự đã rời khỏi huyện Thanh Sơn tự bao giờ, không khỏi có chút hụt hẫng.

    ...

    Theo huyện Thanh Sơn đang dần khuất dạng, đám người Tôn Phù nhìn Cơ Tự với ánh mắt vừa kính nể vừa nghi hoặc. Đi được một lúc, Dữ Trầm không nhịn được bèn hỏi: “Nữ lang, không phải người đã bảo phải giải quyết trăm mẫu ruộng kia hay sao? Sao bây giờ lại bỏ đi?”

    Cơ Tự đang ngắm dãy núi xanh xa xa, nghe vậy nàng khe khẽ đáp: “Không, ta không có ý định bán nữa.”

    Nàng vừa dứt lời, Lê thúc vui vẻ nói: “Đúng là nên như thế. Vốn trăm mẫu ruộng phì nhiêu ở huyện Thanh Sơn là của hồi môn mà năm ấy chủ mẫu để lại cho người. Bây giờ chỉ vì một câu nói của gã họ Trang kia mà nữ lang định bán của hồi môn của mình lo tiền cho hắn ra ngoài học, quả thật là dại dột.” Huống chi gã họ Trang kia cũng không có vẻ gì là yêu thích nữ lang nhà mình cho lắm...

    Mấy người Tôn Phù đều hiểu được ngụ ý của Lê thúc, song tất cả cũng chỉ biết cúi đầu lặng im. Bởi vì trước kia có người vừa nhắc đến vấn đề này thì ngay lập tức bị nữ lang nhà mình la mắng, nàng tuyệt đối không cho phép bất kì kẻ nào chê Trang lang không tốt. Nửa tháng trước, cũng bởi vì gã họ Trang kia mà nữ lang còn bị một cơn bạo bệnh, suýt chút nữa không giữ nổi tính mạng.

    Nhớ đến lúc nữ lang nằm liệt trên sập suốt mười ngày, ngay sau khi vừa mới hồi phục sức khỏe được một chút đã vội vàng chạy tới huyện Thanh Sơn, dự định bán của hồi môn đi để đưa tiền cho hắn đi học. Còn nàng, cũng vì cơn bệnh nặng đó mà cuối cùng để lại di chứng thường xuyên bị đau đầu đến tận bây giờ...

    Đương nhiên Cơ Tự không biết tâm sự của ba nô bộc, nàng vẫn ngắm phong cảnh nơi xa và nghĩ tới trận hồng thủy vừa rồi. Tuy ba ảo giác trước đó đều được kiểm chứng, nhưng cho đến khi trận hồng thủy thực sự xảy ra, nàng mới hoàn toàn tin rằng bản thân quả thật có thể thấy được những thứ mà người bên cạnh không tài nào nhìn thấy.

    Xe Cơ Tự không chở đồ đạc gì nhiều, sau khi rời khỏi huyện Thanh Sơn liền nhẹ nhàng chạy thẳng về phía Kinh Châu. Trên đường về họ đi qua biết bao thôn xóm, vô số huyện thành. Khắp nơi đều là phong cảnh tráng lệ, dãy núi hùng vĩ và bao lớp anh tài xuất hiện, nhưng nhóm Cơ Tự không vì cảnh sắc nên thơ mà dừng lại giống như những vị danh sĩ kia. Nửa tháng cứ thế trôi qua, quãng đường về Kinh Châu đã rút ngắn đi một nửa.

    Ngày hôm ấy, bầu trời quang đãng, gió Nam hây hẩy, khiến tinh thần người ta thư thái vô vàn.

    Cơ Tự đứng ở đường cái, ngắm mặt trời đang dần lặn về Tây, nhìn ráng chiều nhuộm đỏ vòm không, nhất thời như lạc vào cõi tiên.

    Một loạt tiếng chân lừa “lóc cóc” truyền đến, Dữ Trầm chạy tới bẩm báo với Cơ Tự: “Nữ lang, đằng trước không có một thôn làng hay khách đ**m nào hết, ngay cả ngôi miếu để dừng chân cũng không có.”

    Lê thúc vẫn trông chừng cách Cơ Tự nửa bước, nghe thế thở dài: “Vậy thì chúng ta đành phải nghỉ tạm ngoài trời thôi.”

    Ở cái nơi hoang vu hẻo lánh trước không thôn làng sau không khách đ**m này, chẳng những ngủ ngoài trời có thể gặp yêu ma quỷ quái hay dã thú mà có khi còn gặp phải thổ phỉ nữa. Nếu không phải là vạn phần bất đắc dĩ thì không ai chọn cảnh màn trời chiếu đất thế này.

    Đúng lúc này lại vang lên tiếng vó lừa của Tôn Phù đang chạy đến từ một hướng khác. Từ xa đã thấy ba người họ đang ngóng chờ mình, y mặt mày hớn hở reo lên: “Nữ lang, nữ lang, có một đoàn xe ở phía sau chúng ta đang sắp đến, mới vừa rồi tôi trèo lên cây quan sát, thấy đội ngũ này rất hùng hậu, tất cả mọi người đều cưỡi ngựa, vừa nhìn qua đã biết có vũ lực hơn người.”

    Những lời Tôn Phù vừa nói không chỉ khiến y mà ngay cả Cơ Tự và những người còn lại đều mừng rỡ. Trời đã sắp tối rồi, nếu họ có thể cùng nghỉ đêm với đội ngũ có vũ lực hùng mạnh kia tại đây thì chắc chắn an toàn hơn rất nhiều.

    Trong lúc mấy chủ tớ họ còn đang cười cười nói nói, đội ngũ mà Tôn Phù miêu tả đã đến.

    Người còn chưa xuất hiện mà đất cát đã bay mịt mù, tiếng vó ngựa rầm rập chạy đến. Nhóm Cơ Tự vội vàng đứng sát mép đường. Chỉ chốc lát sau, tám cỗ xe ngựa đều dùng tuấn mã cao lớn hợp thành xa giá xuất hiện ngay trước mắt nhóm họ.

    Mỗi một chiếc xe có bốn con ngựa kéo, mà những con ngựa này động tác vô cùng đồng đều, tiến lùi như một cho thấy đã được huấn luyện kỹ càng. Rõ ràng chỉ có tám chiếc xe mà khí thế của nó vô cùng hùng dũng, khiến nhóm Tôn Phù liên tục nuốt nước bọt.

    Đoàn xe càng lúc càng gần, chẳng mấy chốc đã đến trước mặt nhóm Cơ Tự. Cũng giống như bầy ngựa của họ, kỵ sĩ cưỡi trên lưng ngựa đều có vóc dáng cao lớn hiên ngang, khí thế bất phàm. Đám Tôn Phù chỉ thoáng liếc mắt đã sợ hãi đến mức ngừng thở, không dám ngẩng đầu lên.

    Đương nhiên nhóm Cơ Tự chỉ có bốn người và một chiếc xe lừa cũng chẳng đáng để đối phương chú ý. Hai kỵ sĩ thờ ơ nhìn sang, ngay sau đó liền ngoảnh đi nơi khác. Đoàn xe ngựa đi được một quãng về phía trước rồi dừng lại tại nơi cách nhóm Cơ Tự khoảng nửa dặm.

    Nhìn họ người người bận rộn chuẩn bị hạ trại nghỉ đêm, Tôn Phù thở phào nhẹ nhõm, y nhỏ giọng nói.”Nữ lang, họ cũng định hạ trại ở đây đấy.”

    Cơ Tự đáp “ừ”, sai Lê thúc mau đánh xe lừa đến đấy: “Trong vòng hai mươi dặm quanh đây, khó có thể tìm được nơi nào địa thế thuận lợi như chỗ này. Miễn không phải kẻ ngốc thì tất nhiên sẽ chọn ở đây rồi.” Sau đó nàng lập tức phân phó: “Ở lại thì ở lại, các ngươi đừng vì đối phương cao quý mà phải hạ mình!”

    Đám Tôn Phù đồng thanh thưa vâng.

    Chỉ chốc lát sau xe lừa dừng lại, trong lúc Cơ Tự đi về phía đội ngũ quyền quý kia, đám Tôn Phù cũng bê gạo và vài món đồ trên xe ngựa xuống để chuẩn bị hạ trại.

    Cơ Tự vừa mới cất bước, trong đội ngũ quyền quý chợt vang lên tiếng đàn thánh thót. Đây là lần đầu tiên Cơ Tự nghe thấy tiếng đàn khẳng khái mà du dương như thế, nó vô cùng êm tai, nhạc khúc vừa vang lên đã khiến người nghe tâm tình thư thái, sinh lòng khát cầu.

    Nàng ngẩn ngơ giây lát rồi tiếp tục cất bước.

    Năm sáu người trong đội ngồi quây quần bên đống lửa vừa nhóm, bảy tám hộ vệ cường tráng vẫn đang dựng trại, còn hai tỳ nữ thì bận rộn chuẩn bị bữa tối. Với những danh sĩ quyền quý thì đây là cảnh thường thấy, nhưng đối với Cơ Tự thì lại vô cùng hiếm hoi. Hai chân nàng nặng như đổ chì không sao cất bước nổi, vừa ngước lên nhìn đã bị ánh sáng chói lòa phía trước làm nhức mắt. Nàng phải cố gắng lắm mới có can đảm ngẩng đầu nhìn thẳng phía trước.

    Cuối cùng chỉ còn hai hộ vệ và hai tỳ nữ ngồi bên cạnh đống lửa. Những hộ vệ này đều mang vẻ oai phong, ai ai cũng có phong thái của quý nhân. Còn tỳ nữ thì thuộc hàng tuyệt sắc, họ có đôi mắt sáng như tinh tú cùng với hàm răng trắng đều như bắp.

    Nhưng những người này đều không phải trọng điểm. Mà nổi bật chính là vị công tử bạch y ngồi dưới cây nhãn đang thong thả gảy đàn kia.

    Rõ ràng phía sau chàng là dãy núi xanh thẳm, trên đầu là những áng mây trắng trôi lượn lờ. So với vùng đất mênh mông bát ngát, một linh hồn thế tục cao quý chẳng đáng là gì. Thế nhưng khoảnh khắc này, Cơ Tự lại cảm thấy quần áo mình đang mặc quá nhếch nhác, tướng mạo vẫn còn non nớt chưa đến kì nảy nở và cử chỉ của mình cũng không được tao nhã...

    Đây là nỗi rung động và tự ti khó diễn tả thành lời, tựa như kẻ phàm trần đối diện với bạch ngọc, tạo nên cách biệt một trời một vực.

    Cuối cùng Cơ Tự cũng không còn can đảm để tiến lên nữa. Nàng ngẩn ngơ giây lát rồi sau đó cúi đầu chầm chậm thối lui...

    Giờ khắc này, tuy nàng đã nhụt chí, nhưng trong một tháng nay nàng đã củng cố sức mạnh tinh thần cho mình, dù nàng thối lui nhưng cũng phải thối lui với tư thái thong dong.

    Sau khi Cơ Tự quay về không lâu, một kỵ sĩ bước đến bên cạnh Tạ Lang. Tiếng đàn bất chợt dừng lại.

    Tạ Lang quay đầu: “Thư của ai?”

    “Tin được gửi đến từ huyện Thanh Sơn, là của Lư Tử Do ạ.”

    Ngón tay thon dài và trắng nõn của Tạ Lang nhẹ nhàng cầm phong thư rồi mở ra. Vừa mới đọc vài dòng, chân mày chàng đã chau lại, khẽ cười nói: “Lý thú nhỉ.”

    Kỵ sĩ kia tò mò hỏi: “Lang quân, Lư Tử Do gửi thư nói về điều gì thú vị sao?”

    Tạ Lang mỉm cười: “Ừ, Lư Tử Do nói rằng có một tiểu cô tiên đoán thôn La Thủy sẽ gặp nạn hồng thủy, nhờ lời vu sư bảo dân làng làm hai việc, vì thế đã cứu hắn và hơn một nghìn tính mạng của dân làng. Hắn ca ngợi nàng ấy là một người có tài, chỉ tiếc rằng ta đã đi quá sớm nên không có cơ hội gặp gỡ nhân vật bậc này.”

    Tạ Lang thong thả cất phong thư, khóe mắt chàng liếc về phía nhóm Cơ Tự: “Ngươi đi nói với tiểu cô kia rằng ngủ ở ngoài trời thường hay phát sinh biến cố, bảo họ dựng trại gần đây một chút, chúng ta mới có thể chiếu cố được phần nào.”
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 5: Khá hay đây


    Theo tia nắng cuối chiều biến mất, màn sương đêm mỏng manh bao phủ lên khắp cõi đất trời. Lúc này bốn người Cơ Tự đã dựng lều bên phải đội ngũ của Tạ lang, hai đống lửa gần kề, vừa nhìn thoáng qua liền thấy ngay công tử quý tộc như núi cao vời vợi khiến người ta ngước nhìn.

    Tiếng đàn trầm bỗng văng vẳng dưới dãy ngân hà rực rỡ. Không gian dần tối, ánh sao làm cảnh sắc trở nên mông lung, Cơ Tự không nhịn được quan sát công tử quý tộc bạch y kia. Tướng mạo chàng tuấn tú hơn người, nhìn một hồi bỗng tim nàng đập rộn rã.

    Thấy sắc mặt nàng khác thường, Lê thúc ở bên cạnh ân cần hỏi han: “Nữ lang, người sao thế?” Gọi hai tiếng liền, Cơ Tự mới bừng tỉnh, hoàn hồn lại.

    Nàng vội vàng quay đầu lại nói: “Không, ta không sao.”

    Nàng không sao cả, chỉ là khi quan sát chàng trai kia thì ảo giác lại xuất hiện như bốn lần trước, bỗng biết được thân phận của chàng.

    Chàng tên Tạ Lang, là trưởng tử của Trần Quận Tạ thị, một gia tộc đứng đầu giới quý tộc và còn trên cả vương hầu. Hơn nữa, chàng còn vô cùng cơ trí, thông tuệ hơn người, chẳng qua tính cách có chút phong lưu mà thôi.

    Trong khoảnh khắc đó, tim Cơ Tự đập thình thịch: Nếu có thể bám víu được nhân vật bậc này thì...

    Ý nghĩ này chợt thoáng qua trong đầu, nhưng khi hai chữ “bám víu” kia xuất hiện, không hiểu sao đáy lòng nàng lại dâng lên cảm giác chán ghét bản thân vô cùng. Như thể nàng từng vì hai chữ này mà gây ra vô số tai tiếng, đánh mất mặt mũi rất nhiều lần vậy.

    Tiếng đàn du dương lượn lờ trôi theo dòng suy nghĩ miên man của Cơ Tự.

    Chớp mắt đã bước sang một ngày mới. Trời vừa sáng, ngoài lều đã truyền đến giọng một hộ vệ của Tạ thị: “Xin chuyển lời với tiểu cô nhà ngươi, lang quân nhà ta nói tiếp theo người sẽ đi thẳng đến Kinh Châu. Nếu tiểu cô không ngại thì hãy đi chung, như vậy đôi bên sẽ tiện giúp đỡ lẫn nhau hơn.”

    Cơ Tự nghĩ thầm, bốn người bọn ta còn có thể giúp đỡ cho người khác ư? Tạ Lang thân là đại quý tộc, rõ ràng là đang giúp đỡ nàng nhưng vẫn nói chuyện vô cùng uyển chuyển, thật sự là một người tốt.

    Dằn nỗi xúc động, Cơ Tự vội đứng dậy đáp: “Đa tạ ý tốt của Tạ lang, tiểu nữ xin nhận.”

    Hộ vệ bên ngoài ừ một tiếng rồi nói: “Hiện tại cũng không còn sớm nữa, nửa canh giờ sau chúng tôi sẽ lên đường.”

    Cơ Tự đáp: “Đa tạ.”

    Hộ vệ Tạ thị ngoài cửa quay người rời đi, chốc lát sau y đã về đến doanh trướng của lang quân nhà mình. Thấy chàng vừa v**t v* tuấn mã vừa ngắm dãy núi phía xa, áo bào bay bay trong gió, hộ vệ liền cười nói: “Lang quân, tiểu cô kia rất thú vị, nàng ta biết người họ Tạ đấy.”

    Tạ Lang quay đầu, mày chau lại: “Nàng biết ta họ Tạ à?”

    “Vâng ạ. Không ngờ tới vùng quê hẻo lánh thế này cũng có thể gặp được tiểu cô biết lang quân, ngạc nhiên thật.”

    Tạ Lang im lặng.

    Chẳng mấy chốc đoàn xe đã lên đường. So với tốc độ ngựa của đội Tạ Lang thì lừa của nhóm Cơ Tự cứ chậm rì rì, gần như bằng người ta đi bộ. Lúc Cơ Tự vén rèm xe thấy đối phương đang cố ý thả chậm tốc độ vì mình, khuôn mặt chợt đỏ bừng vì xấu hổ, cũng may mà tình trạng này kéo dài không bao lâu.

    Xế chiều hôm đó, một đoàn xe chạy đến từ ngã ba khác. Đoàn xe này khoảng chừng ba bốn mươi người, trong đoàn có đủ cả xe ngựa, xe bò lẫn xe lừa. Họ nhìn thấy đội ngũ oai hùng của Tạ Lang liền gấp rút đuổi theo, suốt quãng đường còn luôn dòm ngó đánh giá Tạ Lang trong xe ngựa.

    Nhìn ánh mắt sáng quắc như bắt được vàng của đám người mới tới và thái độ khinh thường của những hộ vệ kia, Cơ Tự chợt cảm thấy vô cùng may mắn. May mà lúc trước nàng gạt phăng ý định bám víu vào Tạ Lang vừa manh nha trong đầu đị. May là ngay từ lúc đầu nàng cũng đã nhắc nhở ba nô bộc chú ý hành vi. Thế nên tuy nhóm nàng rõ ràng yếu thế nhất nhưng lại được người của Tạ Lang quan tâm rất nhiều.

    Có thêm mấy mươi người gia nhập, đội ngũ càng trở nên đông đảo. Lúc đi qua mấy bản làng miền núi, đám thổ phỉ chỉ dám đứng nhìn từ xa rồi chạy mất.

    Thấm thoắt hoàng hôn lại đến, nhóm Cơ Tự vẫn dựng lều bên cạnh doanh trướng đội ngũ của Tạ Lang như đêm qua, ngay cả đống lửa cũng đốt bên cạnh đống lửa của họ.

    Cách ba trăm bước, đám người mới kia cũng dựng trại và nhóm lửa, thỉnh thoảng họ lại liếc nhìn về nhóm của Cơ Tự. Nhất là ánh mắt của bốn năm thiếu nữ khi nhìn Cơ Tự rõ ràng mang theo vài phần hâm mộ và ghen ghét.

    Khói bếp bốc lên, chẳng mấy chốc bữa tối đã được nấu xong. Đám người kia thấy Cơ Tự bưng bát cơm cháy chan nước sôi và một đĩa cá khô bày trước mặt liền cất tiếng cười khinh thường.

    Trong tiếng cười khúc khích, bốn thiếu nữ ra hiệu cho người hầu bưng thức ăn rồi đi theo họ về phía Cơ Tự. Trong nhóm đó có một thiếu nữ chừng mười lăm, mười sáu tuổi, mặt mũi sáng sủa, xinh đẹp đáng yêu, nàng ta khẽ nhún chào Cơ Tự rồi cất giọng yêu kiều: “Muội muội dùng thức ăn của ta đi. Ta thấy muội chỉ mới mười ba, mười bốn tuổi, còn đang trong giai đoạn phát triển, với lại còn bôn ba cả tháng nữa mới về đến Kinh Châu, vì thế càng phải ăn nhiều thức ăn bổ dưỡng mới tốt.”

    Nói đến đây, thiếu nữ kia ra lệnh với người hầu phía sau: “Mang vài món thịt thà rau quả của Ngô gia chúng ta cho vị muội muội này, nhớ phải để muội ấy ăn thỏa thuê đấy.” Rồi nàng ta trông về phía Tạ Lang đang xem thư từ cách đó không xa, đoạn lại nhìn về phía Cơ Tự, “Đúng rồi, đừng giữ lại mấy món trước mặt muội nữa, vứt hết đi thôi.”

    Tuân theo lệnh của nàng ta, một phụ nữ trung niên đi đến, vung tay áo toan hất đổ đĩa cá khô trên bàn. Cơ Tư đưa tay ngăn lại hành động của thị.

    Nàng ngẩng đầu, liếc nhìn thị bằng đôi mắt trong veo như nước, sau đó quay đầu nhìn về phía thiếu nữ ra lệnh kia: “Tỷ tỷ này, tỷ muốn lấy lòng quý nhân thì cũng đừng lấy ta làm bàn đạp chứ!”

    Cơ Tự vừa thốt ra lời này, không khí chợt yên tĩnh. Nhóm hộ vệ và bốn tỳ nữ xinh đẹp đồng loạt quay đầu nhìn nàng, ngay cả bàn tay thon dài trắng ngần của Tạ Lang đang cầm lá thư cũng thoáng khựng lại.

    Gương mặt tươi cười của thiếu nữ kia bỗng đỏ bừng. Thấy nàng ta nước mắt rưng rưng, nhất thời quên cả giải thích thì một thiếu nữ có khuôn mặt tròn tròn lanh lợi phía sau bèn trong trẻo cất lời: “Cô có ý gì? Biểu tỷ của ta vốn có lòng tốt, cô không biết cảm kích thì thôi lại cay nghiệt nói ra những lời khó nghe như vậy, đúng là thứ vong ơn bội nghĩa.”

    Thiếu nữ mặt tròn vừa thốt ra năm chữ “thứ vong ơn bội nghĩa”, Cơ Tự liền nhướng hàng mày đen nhánh sắc sảo, lạnh giọng hỏi: “Biểu tỷ của cô có lòng tốt ư? Ta có xin ăn biểu tỷ cô không? Hay phải nói là, chưa được sự cho phép của ta mà biểu tỷ cô dám sai người hất thức ăn trên bàn ta đi, còn lấy giọng ban ơn cho ta cơm canh chính là kính ta trọng ta sao?”

    Bốn người nọ nghẹn lời.

    Cơ Tự dời mắt đi, vô cùng nghiêm túc: “Các cô muốn làm quen với vị Lâm lang Tạ gia khoan dung độ lượng, phong lưu kiệt xuất, học rộng hiểu nhiều trước mặt kia thì cứ bước đến tự giới thiệu mình còn được việc hơn. Ta vẫn còn nhỏ tuổi, tính tình lại bộc trực ngay thẳng, nếu như lỡ miệng nói điều gì làm mất lòng người khác thì sẽ không hay cho lắm.”

    Cơ Tự vừa dứt lời, xung quanh yên lặng như tờ. Lúc này Tạ Lang cũng phải quay đầu lại nhìn nàng.

    Đúng như lời nàng nói, với nhân vật như Tạ Lang, mấy cô nương kia làm những việc này quả thật là phiền phức. Bởi cái kiểu nữ nhi buông lời cay nghiệt hạ nhục đối phương chỉ vì tranh giành tình cảm là nhàm chán nhất.

    Nhưng câu cuối cùng của Cơ Tự lại khiến Tạ Lang khá kinh ngạc. Phải biết rằng mấy chữ bình luận lâm lang Tạ gia khoan dung độ lượng, phong lưu kiệt xuất, học rộng hiểu nhiều là do ẩn sĩ Hoàng Công nổi danh đương thời thuận miệng nhận xét vào ba tháng trước. Từ Hàng Châu đến Kinh Châu cách hơn nghìn dặm, hơn nữa thời này việc lưu truyền tin tức còn nhiều khó khăn, tiểu cô trước mắt này chắc chắn không thể nào biết được câu nói kia. Vậy thì nàng nghe được câu bình luận này từ đâu? Nếu nàng chưa từng nghe thấy, lẽ nào nàng còn nhỏ tuổi đã nhìn thấu được tính cách của chàng hay sao?

    Dù cho Cơ Tự thật lòng muốn đề cử cách cho mấy người kia lấy lòng Tạ Lang, hay là chỉ ăn nói thẳng thắng thì trong câu nói đều mang theo ba phần hóm hỉnh cởi mở, thể hiện được phong cách riêng độc đáo của nàng.

    Trong phút chốc, bất kể là mấy thiếu nữ Ngô thị hay là nhóm người Tạ Lang đều sửng sốt đến nỗi không biết nói gì. Lát sau tiếng cười của Tạ Lang khe khẽ truyền đến, chàng thuận theo Cơ Tự, hỏi mấy thiếu nữ kia: “Có chuyện gì không?”

    Mấy người này nào có chuyện gì? Đúng như lời Cơ Tự đã nói, ý định của bọn họ là chỉ muốn lấy nàng làm bàn đạp để gây sự chú ý với mỹ nam kiêm đại quyền quý như Tạ Lang mà thôi. Bọn họ đỏ mặt, bối rối trả lời: “Không có, không có gì.”

    Tạ Lang lại cười, chàng cầm lấy thư, ôn hòa nói: “Không việc gì thì mọi người về lều đi, mai mốt không được đến gây chuyện với tiểu cô này nữa.”

    Mấy người kia càng luống cuống hơn, vâng dạ đáp “không dám, không dám” rồi vội vàng lui xuống.

    Cơ Tự cố gắng ăn nhanh cho xong bữa, cả ngày ngồi xe lắc lư cũng đã mệt mỏi rồi, nàng khẽ nhún chào mọi người, sau đó mang theo người hầu trở về lều của mình.

    Nhìn bóng lưng nàng dứt khoát rời đi dưới ánh sao, một hộ vệ không nhịn được nói: “Lang quân, sao tiểu cô này lại biết rõ về người như vậy?” Lát sau, y lại nói, “Rõ ràng nàng ta rất hiểu biết về lang quân, nhưng vẫn luôn giữ chừng mực trước mặt người. Tiểu nhân cảm thấy tiểu cô này được dạy dỗ rất tốt.”
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 6: Trở về


    Sau khi Cơ Tự quay về lều của mình, Tôn Phù chạy đến nhỏ giọng hỏi: “Nữ lang, vị quý nhân kia là lang quân của Trần Quận Tạ thị à?” Lúc y nhắc đến “Trần Quận Tạ thị”, giọng nói thoáng run lên, kích động không sao tả xiết.

    Thấy vẻ mặt Cơ Tự bình thản, Tôn Phù chỉ tiếc rèn sắt không thành thép: “Nữ lang, người có biết Trần quận Tạ thị là gia tộc thế nào không? Nhớ năm đó các sĩ tộc trong thiên hạ đồng loạt dời xuống phía Nam, lúc bọn họ đến vùng Giang Nam liền bị những sĩ tộc mấy trăm năm nơi đây ghét bỏ và bài xích. Nhưng lúc bấy giờ, con em của Trần Quận Tạ thị và Lang Gia Vương thị xuất hiện với dáng vẻ ung dung quý phái, phong thái bất phàm, bỗng chốc khiến tất cả nam nhân đều khuất phục. Cho dù những kẻ có tài trí hơn người chăng nữa thì cũng tự cảm thấy hổ thẹn vì dáng vẻ thô kệch của bản thân. Cho tới bây giờ, nào còn ai dám bàn tán về con em hai nhà Vương - Tạ nơi phố lớn ngõ nhỏ nữa chứ... Ôi, tại sao tôi lại kể về những chuyện này làm gì nhỉ? Tóm lại là nữ lang à, người phải nhớ rằng sống ở trên đời này, nếu như có thể được lang quân Tạ thị kia khen ngợi một câu thì ngay sáng ngày mai thôi, những người đến cửa cầu hôn nữ lang có thể xếp hàng dài từ đầu đường đến cuối phố đấy. Còn nếu có thể được lang quân Tạ thị coi trọng một chút thì vị trí của gia tộc ta cũng được nâng lên một hai bậc...”

    Tôn Phù cố nén kích động, hạ giọng nói: “Nữ lang, có thể được Tạ Lang quay đầu liếc mắt một lần thôi đã là chuyện mà thiếu nữ trên khắp thế gian này dù có nằm mơ cũng không được. Rõ ràng hôm nay vị Tạ Lang kia có ý bênh vực người, sao ngay cả mấy lời khách sáo mà người cũng không nói câu nào, ít ra cũng phải bước đến cám ơn chứ, sao lại quay ngoắt trở về lều như vậy?” Y tiếc đến nỗi muốn giậm chân, “Nữ lang ơi nữ lang, đây chính là phúc phận ngàn năm một thuở của người và gia tộc ta đấy!”

    Cơ Tự ngước mắt nhìn về phía Tôn Phù, nói: “Thúc lầm rồi, là ta đang cậy thế người ta mới đúng.” Nàng rời mắt đi, cũng không có ý định giải thích tiếp nữa, chỉ quả quyết nói: “Sau này mọi người nên chú ý ăn nói, nhớ phải giữ lễ giống như trước kia.” Nói tới đây, Cơ Tự phất tay cho đám Tôn Phù lui xuống.

    Một đêm trôi qua, hôm sau vừa rạng sáng đội ngũ đã lên đường.

    Nữ lang Ngô thị có mặt mũi sáng sủa, xinh đẹp động lòng người mà mọi người gặp tối hôm qua giờ mắt đã sưng húp, mặt mày hốc hác, trông như gặp phải chuyện uất ức lắm vậy. Nhất là mỗi lần nàng ta nhìn Cơ Tự, ánh mắt như thể có độc. Nhưng dù nàng ta có hận đến đâu thì cũng chỉ dám len lén lườm nguýt Cơ Tự vài lần, thỉnh thoảng người bên cạnh nàng ta thấy được sẽ vội vàng kéo nàng ta lại, khẽ trách mắng vài câu.

    Trong tình cảnh ngoài mặt vừa ôn hòa vừa bình lặng thế này, chẳng mấy chốc đã mười mấy ngày qua đi.

    Trong vòng mười ngày vừa rồi, dù Cơ Tự có cơ hội đến gần Tạ Lang nhưng cũng không thừa dịp này đến gần chàng. Rõ ràng chàng rất ôn hòa, rõ ràng rất dễ nói chuyện, nhưng lại khiến nàng có cảm giác chàng cao xa không thể nào với tới. Nàng và Tạ Lang tựa như dải ngân hà và khe suối dưới chốn phàm trần, cách nhau bởi cửu trọng thiên cao vời vợi.

    Đến ngày thứ mười lăm, trong đội xe rộ lên những tiếng hoan hô. Thành Kinh Châu đã ở ngay trước mắt.

    Cơ Tự đang ngủ chập chờn trong chiếc xe lừa dằn xóc, bên ngoài truyền đến giọng nói hưng phấn của Lê Thúc, “Nữ lang mau nhìn xem, tiểu lang đến kìa, tiểu lang đến đón người kìa.”

    Tiểu đệ ư? Cơ Tự vụt mở to mắt, vội rướn cổ ra nhìn. Quả nhiên ở phía trước chừng ba trăm mét, có ba bóng dáng hai lớn một nhỏ đang đứng đấy, cậu bé nhỏ nhắn ấy không phải là ấu đệ của nàng thì ai?

    Nhìn thấy tiểu đệ, Cơ Tự vui sướng tột độ, nàng phấn khích ló đầu ra, giục Lê thúc: “Lê thúc, đi nhanh lên, đi nhanh lên.”

    Lê thúc vui mừng đáp vâng, quất mạnh vài roi, đánh xe lừa vọt lên trước mấy chiếc xe ngựa.

    Khi ấy bóng dáng nho nhỏ kia cũng đã nhìn thấy Cơ Tự. Ngay lập tức cậu vui mừng reo lên, lao thẳng về phía Cơ Tự. Đúng lúc Cơ Tự cũng xuống xe lừa, vội vàng chạy về phía tiểu đệ.

    Nàng bước đi khẩn cấp, cúi người ôm chặt lấy tiểu đệ mới bảy tuổi. Thân thể gầy gò ấm áp ấy khiến lòng nàng chợt dâng trào một nỗi xúc động khôn tả.

    Vào lúc này, Cơ Đạo giơ tay v**t v* gương mặt nàng, cất giọng ngô nghê, “Tỷ, tỷ đừng khóc.”

    Tại sao ta lại khóc nhỉ?

    Cơ Tự cuống quýt giơ tay lau mặt, quả nhiên trên mu bàn tay vương vài giọt nước mắt. Nàng cố mở to mắt nén những giọt lệ đang chực tuôn rơi, ngại ngùng cười nói với cậu: “Tỷ đâu có khóc, chẳng qua bị bụi bay vào mắt thôi.”

    Trong giây phút ôm lấy tiểu đệ, nàng chợt có cảm giác vui sướng mất rồi lại được. Dường như nàng từng mất đi tất cả, nhưng sự mất mát lớn nhất chính là chưa từng che chở cho đứa bé trước mắt này trong quãng thời gian trưởng thành, để cậu phải gánh chịu quá nhiều nỗi đau không đáng phải nhận.

    Cơ Tự bình tĩnh lại, liền cảm thấy xấu hổ vì đã thất lễ. Nàng nhanh chóng đứng lên, nắm lấy tay ấu đệ rồi dẫn theo đám nô bộc đi về phía đoàn xe của Tạ thị.

    Cơ Tự đứng ngoài xe ngựa của Tạ Lang, khẽ nhún chào với người bên trong rồi cất lời cảm kích: “Cơ Tự đa tạ lang quân đã giúp đỡ trong suốt thời gian vừa qua.”

    Rèm xe ngựa được vén lên. Khuôn mặt Tạ Lang xuất hiện, ánh mắt chàng liếc qua những giọt lệ còn vương trên đôi mi nàng, cất giọng dịu dàng êm ái, “Nàng họ Cơ à? Có phải là hậu duệ của Hoàng đế không?”

    Vừa nghe đối phương nhắc tới tổ tiên nhà mình, Cơ Tự bất giác đứng thẳng lưng, hơi cúp mắt rủ vai, hành lễ đúng chuẩn rồi mới trả lời: “Lang quân thật thông thái.”

    Tạ Lang gật đầu, giọng chàng trầm thấp mang theo vẻ hòa nhã: “Ta sẽ dừng chân tại Kinh Châu một thời gian, nếu nàng gặp phải chuyện gì khó khăn cứ tới tìm ta.”

    Chàng vừa dứt lời, màn xe đã buông xuống, che đi tầm mắt của Cơ Tự. Đến mãi khi đoàn xe kia khuất bóng, Cơ Tự vẫn còn ngơ ngác đứng đó.

    Thấy thế, Tôn Phù hạ giọng nói: “Nữ lang, tuy lang quân Tạ gia rất tốt, nhưng người đừng nên thích ngài ấy. Với kiểu quý tộc nhà cao cửa rộng này, người chỉ có thể dựa dẫm chứ không thể động lòng được đâu.”

    Cơ Tự quay lại, mỉm cười với Tôn Phù: “Ta biết mà.” Rồi nàng lại quay đầu dõi mắt theo hướng đoàn xe rời đi, thì thầm, “Nhưng mà đã từ lâu lắm rồi ta chưa từng nghe thấy ai nói với ta như vậy.”

    Đã lâu đến mức nàng tưởng chừng quên mất mình vốn là một nữ tử yếu đuối, cũng muốn được người khác đối xử dịu dàng, quan tâm chăm sóc và chở che...

    Trong nháy mắt, nàng lại lắc đầu thật mạnh xua đi ý nghĩ vẩn vơ trong đầu.

    Lúc sau nàng lại thầm nhủ: Thảo nào Tạ Lang mang danh phong lưu khắp thiên hạ. Với thân phận cùng tướng mạo và khí chất phong độ ngời ngời như thế mà chàng lại cố ý hạ mình đối xử ân cần với một tiểu cô bình thường. Như vậy làm sao mà những nữ tử trong thiên hạ này gặp phải chàng mà có thể không động lòng cho được?

    Trong lúc Cơ Tự nghĩ ngợi, đột nhiên cổng thành phía trước mở rộng, đồng thời vang lên những tiếng reo hò náo nhiệt.

    Nhìn đám nữ tử ăn vận lộng lẫy thơm tho túa ra từ cổng thành như cơn hồng thủy ập đến, Tôn Phù hoảng hốt kêu lên: “Thôi rồi, thôi rồi, huy hiệu trên xe ngựa Tạ Lang đều đã được che hết, còn ra lệnh hạ nhân đội đấu lạp nhưng vẫn bị người ta nhận ra.”

    Dòng người trong thành đổ ra quá kinh hoàng, cùng những tiếng hò hét chói tai, ngay cả đám nô bộc như Tôn Phù cũng kinh ngạc đến bàng hoàng. Cơ Tự thầm bật cười ngẫm nghĩ: Công tử thế gia vọng tộc, quần là áo lượt, anh tuấn phong lưu đang ung dung ngồi trên xe kia đã quá quen với việc này, các người lo lắng dư thừa rồi.

    Sau khi đoàn xe của Tạ thị vào thành, nhóm Cơ Tự cũng lên xe lừa đi về phía trang viên nhà mình.

    Thời đại này, bất kể là thế gia vọng tộc danh môn quý phái, địa chủ lớn bé hay là tiểu gia tộc hoàn toàn suy tàn như Cơ gia, cách tích cóp tài sản thường thấy nhất là mua đất tậu nhà, cho nên đâu đâu cũng xây dựng đủ mọi trang viên lớn nhỏ.

    Tổ phụ Cơ Tự từng làm quan lại ở huyện, và cũng từng là thương nhân nên mua được một phần đất không nhỏ. Một năm trước, phụ thân Cơ Tự đi buôn ở tỉnh khác thì bị thổ phỉ g**t ch*t, tiếp theo mẫu thân của nàng cũng ra đi theo phụ thân, sau đó nữa Cơ Tự đồng ý yêu cầu của mấy thiếp thất để họ rời đi. Bây giờ, trong trang viên nho nhỏ kia, chủ nhân thực sự chỉ còn lại mỗi mình nàng. Bởi vì tuy trên danh nghĩa Cơ Đạo là đệ đệ của nàng nhưng người trong trang viên cũng như người quen đều biết cậu chỉ là một cô nhi do phụ mẫu Cơ Tự đưa về nhà nuôi dưỡng thôi.

    Trang viên dù nhỏ nhưng vẫn còn lại chút gia sản, Cơ Tự là người thừa kế duy nhất chẳng những là nữ tử mà tuổi tác cũng chưa lớn, cho nên đến bây giờ đều do gia đình mẹ nuôi nàng giúp đỡ quản lý, còn gã Trang lang Cơ Tự thích kia cũng chính là cháu trai của bà ta.

    Trước cửa trang viên đỗ vài chiếc xe bò, từ xa đã thấy đám người Cơ Tự chạy đến, liền chạy lên đón. Rèm xe bò đi đầu được vén lên, người anh nuôi Trịnh Huống của Cơ Tự cười nói: “A Tự, cuối cùng muội cũng về rồi. Thấy muội lâu quá vẫn chưa trở lại, Trang ca ca của muội sốt ruột định xuất phát đi tìm muội kia kìa.”

    Nói tới đây, Trịnh Huống nhìn về chiếc xe bò phía sau, gọi người thiếu niên tuấn tú đang ngồi bên trong: “Trang Thập Tam, huynh thấy không? Mới chỉ ra ngoài hơn hai tháng thôi mà tiểu A Tự của chúng ta chẳng những đen hơn mà cũng trở nên kiêu căng rồi, đến giờ muội ấy vẫn chưa chịu xuống xe hành lễ với các huynh nữa.”

    Đằng sau xe của Trịnh Huống là bốn năm thiếu niên nhà giàu ở huyện Kinh bên cạnh thành Kinh Châu, đặc biệt Trang Thập Tam còn là nhân vật số một số hai ở đất huyện Kinh này. Thứ nhất là vì Trang gia là một trong ba nhà phú hộ của huyện, thứ hai là kể từ khi Trang Thập Tam lên sáu đã được gọi là thần đồng, hơn nữa tướng mạo hắn tuấn tú, có thể nói là tình nhân trong mộng của biết bao thiếu nữ ở vùng này.

    Một thiếu niên được người người theo đuổi như vậy sau khi vô tình gặp được Cơ Tự vào nửa năm trước liền bắt đầu quan tâm đến nàng, nhiều lần còn thân cận lấy lòng nàng. Trong lòng Cơ Tự trước kia, những hành động của Trang Thập Tam đều chứng tỏ rằng hắn thích nàng.

    Ba tháng trước, sau khi Cơ Tự biết Trang Thập Tam có ý định ra ngoài đi học liền muốn tặng hắn một món quà để hắn luôn nhớ đến mình. Ngay lúc đó nàng nhớ tới huyện Thanh Sơn có khoảng trăm mẫu ruộng, nhưng vì cách Kinh Châu quá xa nên khó quản lý và thu tô nên muốn bán đi lấy tiền mua quà tặng Trang Thập Tam, vì thế mới có chuyến đi đến huyện Thanh Sơn lần này.

    Tuy nhiên không biết tại sao, thiếu niên khiến Cơ Tự quyến luyến không thôi ba tháng trước, lần gặp lại này nỗi lưu luyến kia bỗng tan thành mây khói. Như thể có một cảm giác chán ghét và bi thương khôn tả đang trào dâng trong lòng nàng.
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 7: Khoe tài


    Cơ Tự nhanh chóng rủ mi, nàng cúi đầu thi lễ với mấy thiếu niên, mệt mỏi nói: “Đa tạ các vị đại huynh đã đến đón, A Tự đi đường mệt mỏi rã rời, có thể...”

    Không đợi nàng nói xong, thiếu niên Trang Thập Tam đã cất giọng: “Chúng ta đi...” Vừa dứt lời, xe bò của hắn đã dẫn đầu chuyển hướng.

    Lê thúc ở bên cạnh lo lắng: “Nữ lang, mấy vị tiểu lang kia không giận thật chứ?”

    Cơ Tự thong thả nói: “Hình như có một chút. Sau khi ta vào trang viên, các người hãy phao tin đồn rằng ta bị bệnh, và đi tìm một vu sư đến nhà xem thử.”

    “Vâng.”

    Xe lừa chạy vào trang viên nho nhỏ, chỉ có năm người hầu ở lại giữ nhà, họ thấy xe lừa liền vui mừng chạy ra đón. Một tỳ nữ mặt tròn chừng mười lăm, mười sáu tuổi reo vang lao đến: “Nữ lang, nữ lang, cuối cùng người đã về rồi.”

    Vì tang sự của cha mẹ, Cơ Tự gần như đã tiêu hết một nửa gia sản, lại cho đám thiếp thất kia một phần ba gia sản còn lại để họ ra đi. Hiện giờ tài sản của Cơ phủ còn quá ít ỏi, mấy người hầu kia đều là người đã đi theo cha mẹ nàng nhiều năm, vì thân như người nhà nên nàng mới chọn giữ lại.

    Cơ Tự nắm tay đệ đệ nhảy xuống xe lừa, thoáng chốc mọi người đã vây quanh họ. Cơ phủ huyên náo trong tiếng cười nói rộn rã rất lâu.

    Chớp mắt một ngày lại trôi qua. Hôm sau khi Cơ Tự vừa rửa mặt xong, Lê thúc đi đến báo với nàng: “Nữ lang, mới vừa rồi tôi thấy nô bộc của Trịnh Huống đứng nói chuyện với Tôn Phù.”

    Nói chuyện với Tôn Phù ư? Cơ Tự kinh hoảng, vội vàng đứng dậy: “Mau, gọi Tôn Phù đến đây.”

    Tôn Phù vừa đến, Cơ Tự đã hỏi ngay: “Thúc, thúc đã kể với người ta chuyện chúng ta đã làm ở huyện Thanh Sơn rồi hả?”

    Tôn Phù giật mình, ngạc nhiên đáp: “Kể rồi ạ, nữ lang tạo được tiếng vang như vậy, dĩ nhiên phải tuyên truyền rồi.”

    Cơ Tự ngắt lời y: “Vậy thúc có kể với hắn là chúng ta không hề bán một trăm mẫu ruộng ở huyện Thanh Sơn không?”

    Tôn Phù nói: “Dĩ nhiên, đây chính là của hồi môn của nữ lang, ta không thể để những người đó đàm tiếu rằng ngay cả của hồi môn của mình mà nữ lang cũng không giữ được.”

    Cơ Tự than thầm, nàng xua tay: “Thôi, thôi, đến đâu hay đến đó vậy.”

    Quả nhiên, b*** chiều hai chưởng quỹ cửa hàng bán gạo của nàng đến tìm, nói rằng lúc họ đến bến tàu lấy hàng, mấy thương nhân hợp tác lâu năm đều bội ước mặc dù đã nhận tiền cọc từ trước. Bọn họ nói rằng Trang phủ tuyên bố với mọi người, sau này không ai được làm ăn với Cơ phủ.

    Chắc chắn chuyện này do Trang Thập Tam làm.

    Cơ Tự nhất thời vừa đau buồn vừa muốn cười lạnh, nàng nhắm chặt mắt lại. Hai tỳ nữ hầu bên cạnh thấy Cơ Tự im thin thít, liền lo lắng. Một lúc lâu sau, Cơ Tự mới mở mắt ra: “Lấy bộ nam trang màu xanh ngọc kia đến đây, ta đi ra ngoài một chuyến.”

    Sau khi cha mẹ qua đời, công việc buôn bán trong nhà vẫn phải tiếp tục, vì thế mọi người đã quen với việc Cơ Tự giả trai đi làm việc nên lập tức nghe theo. Dáng lông mày của Cơ Tự khí khái, vừa mặc nam trang vào như lớn thêm vài tuổi, làn da mịn màng căng mọng kết hợp với ngũ quan tinh sảo còn vương nét ngây ngô khiến nàng càng có phong thái quân tử như ngọc.

    Vừa ra khỏi trang viên, Lê thúc không đợi Cơ Tự hạ lệnh đã đánh xe đến nơi Trang Thập Tam thường có mặt. Đây không phải là lần đầu tiên Trang Thập Tam nổi giận, bốn tháng trước hắn cũng nổi giận như vậy một lần, mà kể từ sau lần đó, Cơ Tự lại càng si mê kinh cẩn hắn hơn.

    Xe lừa chạy trên đường phố huyện Kinh, nghe tiếng đàn thấp thoáng truyền đến từ lầu các hai bên, Cơ Tự khép hờ mắt, nhàn nhã gõ nhịp theo tiết tấu lên càng xe. Nàng không hề phẫn nộ mà còn thư thả thảnh thơi, điều này hoàn toàn trái ngược với tính cách nữ lang ngày thường. Lê thúc sững sờ quay đầu lại nhìn, rất lâu vẫn chưa hoàn hồn lại được.

    Đúng lúc này, giọng Cơ Tự vang lên trong xe lừa: “Thúc, dừng đây thôi, ta tự đi.”

    Lê thúc vội vàng đánh xe lừa chạy vào ngõ hẻm, nói: “Nữ lang, tôi ở nơi này chờ người.”

    “Ừ.”

    Cơ Tự sửa sang lại áo bào, rảo bước đến Túy Tiên Lâu cách đó trăm bước. Đây là quán rượu nhất nhì ở huyện Kinh, thuộc sản nghiệp của Trang Thập Tam, và cũng là nơi tụ hội chè chén xưa nay của hắn và đám học sinh kia.

    Cơ Tự vừa bước vào Túy Tiên Lâu liền phát hiện nơi đây náo nhiệt khác thường. Chỗ ngồi ở đại sảnh lầu dưới đã kín, mà mấy người khách ai ai cũng ngẩng đầu, nghiêm túc nhìn lên lầu. Nàng đi đến chỗ tiểu nhị, còn chưa kịp cất lời hỏi thăm thì bỗng lầu hai vang lên tiếng cười đắc ý.

    “Ta đã nói cái huyện Kinh cỏn con này làm gì có nhân tài.” Có người khinh thường nói, “Tấu khúc, các người không cảm được; làm thơ, các ngươi không thông; luận phú thì lại càng không đối được. Nếu không phải biết huyện Kinh này còn có đại danh sĩ Lư Tử Do, bọn ta đã gần như cho rằng cái nơi này không có nổi một mống anh tài nào rồi.”

    Câu nói này châm biếm cay nghiệt vô cùng, một khi lan truyền ra ngoài sẽ ảnh hưởng đến tất cả kẻ học sĩ ở huyện Kinh. Cơ Tự tò mò thầm nghĩ: Không biết Trang Thập Tam nghe thấy lời này sẽ có cảm giác gì nhỉ?

    Nàng bước lên cầu thang. Thời đại này, khoảng cách giàu nghèo vô cùng rõ ràng. Ví dụ như người nghèo phần lớn là xanh xao vàng vọt, răng bị ố đen, còn đám con cháu nhà giàu thì trắng trẻo mịn màng, chỉ nhìn bề ngoài là biết ngay kẻ đó thuộc lớp người nghèo hay người giàu, thứ dân hay quý tộc. Hơn nữa thời này còn thịnh hành thuật bói toán, mà Cơ Tự hiện tại dù ngũ quan chưa sắc nét, cử chỉ còn hơi vụng về, nhưng dung mạo của nàng thật sự rất đẹp, làn da trắng mịn, khí chất cũng bất phàm, gần như là kiểu con cháu thế tộc “đối diện không thấy tai, xin hỏi con nhà ai” (1) điển hình. Cho nên tuy có vô số ánh mắt nhìn nàng chằm chằm ở dưới lầu, nhưng không một ai dị nghị về việc Cơ Tự tự tiện lên lầu cả.

    (1) Trong xem tướng, tướng mạo nhìn đối diện nhưng không thấy tai là vô cùng thần bí. Tai người là một đặc điểm xem tướng quan trọng, không những có thể nhìn thấy được sức khỏe của thiếu niên mà còn thấy được phúc khí của người già.

    Cơ Tự rón rén đi đến ngã rẽ ở góc lầu hai. Từ hướng này có thể nhìn bao quát bên trong, mà người bên dưới lại không thể trông thấy nàng. Chỉ vừa liếc mắt, nàng đã thấy ngay vẻ mặt xanh mét, hết sức khó coi của đám người Trang Thập Tam và Trịnh Huống.

    Còn bên kia là năm sáu người vùng khác đến. Tuổi tác những người này không lớn, phía sau họ là mấy tỳ nữ xinh đẹp ôm những loại nhạc cụ khác nhau. Cũng có vô số học sinh hàn môn ăn mặc theo kiểu nho gia, đếm sơ sơ quả thật là không ít người.

    Sau khi mấy người này châm chọc chán chê thì một nữ nhạc kỹ môi mỏng xinh xắn, trang điểm tinh tế, cười duyên đứng dậy. Nàng ta ôm một cây đàn tranh, khẽ nhún chào mọi người, giòn giã nói: “Ta cũng xin nhóm lang quân ở huyện Kinh chỉ giáo một khúc có được không?”

    Trong tiếng cười phá lên cùng tiếng vỗ tay rào rạt lẫn tiếng vỗ đùi đen đét, cô nương kia nhẹ nhàng ngồi xuống, bàn tay trắng nõn khẽ gảy, tiếng đàn tranh ngân lên. Có điều nàng ta vừa đàn vài điệu thì một thiếu niên vỗ tay gọi to: “Các vị tài tử huyện Kinh thấy trình độ nhạc kỹ đàn tranh nhà ta thế nào?”

    Từ trước đến giờ, Trang Thập Tam và đám thiếu niên huyện Kinh có thể viết mấy bài thơ phú là đã hay lắm rồi, làm sao có thể giống với đám con cháu thế gia, nuôi bầy nhạc kỹ, đắm chìm nghiên cứu thi ca qua năm này tháng nọ chứ? Vì vậy không có ai trả lời được vấn đề đơn giản này.

    Trong khoảng thời gian ngắn, chỉ có những kẻ vùng khác kia cười nghiêng ngả và tiếng đàn tranh du dương, còn những người bị bọn họ thách thức thì lại mím chặt môi, mặt mày tái nhợt.

    Cơ Tự xem đến đây, ánh mắt lóe sáng. Nàng hắng giọng, rồi đột ngột cất lời với chất giọng trong trẻo pha lẫn chút lạnh lùng của thiếu niên: “Khúc đàn tranh Thanh Sơn Dao này chú ý vào thủ pháp thong thả tao nhã để làm ánh lên cảnh hoàng hôn bao phủ vạn dặm núi xanh... Còn đoạn ngắn nữ nhạc kỹ nhà ngươi gảy chưa đến nửa khắc lại theo đuổi sự tráng lệ nên thêm âm rung hai lần, dạo đàn một lần. Rõ ràng là khúc nhạc tiêu dao tự tại tuyệt vời lại trở thành bản nhạc phù phiếm huyên náo, quả thật là thẹn với Lư công.”

    Nàng vừa dứt câu, đám người đang cười cợt trên lầu chợt ngẩn ngơ.

    Nữ nhạc kỹ đàn tranh kia vụt đỏ mặt, mắt lệ rưng rưng, ấm ức nhìn về phía mấy tiểu lang. Nhưng mấy tiểu lang kia vốn có am hiểu về nhạccụ, chẳng lẽ bọn họ lại không biết những gì đối phương nói đều là sự thật sao?

    Đám người đến từ vùng khác kia chết lặng, không khí im ắng, nhóm Trang Thập Tam và Trịnh Huống rốt cuộc thở phào nhẹ nhõm, cất tiếng cười to. Trang Thập Tam đứng lên, hắng giọng cao hứng nói: “Vị hiền tài này đã đến sao không vào tụ họp?” Lúc này tuy hắn cảm thấy giọng nói kia khá quen nhưng dưới sự kích động lại không suy nghĩ nhiều.

    Ngoài dự đoán của mọi người, giọng nói trong trẻo lạnh lùng kia cất lên: “Không cần thiết.” Rồi lại nói tiếp, “Không phải các người nói huyện Kinh của ta không có nhân tài sao? Tiếp tục nào.”

    Rõ ràng nàng đang khiêu chiến! Đám người vùng khác nghe thế cười khẩy, một gã trong nhóm liếc mắt ra hiệu với một nho sinh lớn tuổi. Nho sinh kia đứng dậy, gã hiểu ý chủ nhân mình, nghe giọng đã biết thiếu niên không lộ diện kia còn khá trẻ, nếu tuổi còn nhỏ vậy thì tất cả đều dễ dàng giải quyết thôi.

    Gã khẽ hắng giọng, vuốt râu dài, chậm rãi nói: “Ta không hiểu biết nhiều về nhạc khí, nếu tiểu lang đã có lời, vậy thì tại hạ xin lĩnh giáo tiểu lang một vấn đề về nho gia, đó là câu 'như dục sắc nhiên' trong Lễ Ký - Tế Nghĩa. Trịnh Công Huyền đã chú thích thế nào, mà Vương Công Túc lại chú thích ra sao?”

    Gã nho sinh vừa đặt câu hỏi, đám thiếu niên đều nhìn nhau trân trối. Không bàn đến thời này địa vị nho học đã xuống dốc, học giả ngày càng ít, mà dù cho có nho sinh nổi danh ở đây e rằng cũng không thể đọc hết chú thích của tất cả học giả trong thiên hạ được. Gã nho sinh kia yêu cầu thiếu niên trẻ tuổi đọc ra chú thích của hai nhà đại nho cuối thời Đông Hán là Trịnh Huyền và Vương Túc về Lễ Ký, có thể thấy được gã đang làm khó đây.

    Nhưng không ngờ, sau khi gã nho sinh đó hỏi xong, thiếu niên kia lại lần nữa cất tiếng: “Trịnh công chú thích, ‘như dục sắc giả, dĩ thời nhân vu sắc hậu giả dĩ dụ chi’. Còn trong Thánh Chứng Luận của Vương Túc thì nói, ‘như dục kiến phụ mẫu chi nhan sắc, Trịnh hà đắc tỉ phụ mẫu vu nữ sắc’.”

    Không một ai ngờ được thiếu niên kia có thể đọc vanh vách chú thích kia, gã nho sinh sửng sốt, còn đám người Trang Thập Tam và Trịnh Huống thì lại cất tiếng cười vui mừng và hoan hô vang dội, đặc biệt Trịnh Huống còn bắt đầu huýt sáo. Bọn họ thật sự quá đắc ý, quá vui sướng rồi, nhất là lúc thấy sắc mặt mấy thiếu niên thế tộc ngông cuồng tự đại trở nên khó coi, niềm vui này lại càng tăng thêm bội phần.

    Tiếng cười tạm dừng, thiếu niên ở cầu thang lại cất lời: “Nói đến đàn tranh, đàn sắc và trống, tại hạ cũng mới học được một hai tháng, không biết có thể thỉnh giáo chư quân một chút không?”

    Trong giọng điệu châm chọc lạnh lùng, thiếu niên mặc trường bào màu lam, như ngọc như họa chắp hai tay, chậm rãi đi từ thang lầu đến.
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 8: Thủ đoạn


    Thiếu niên kia vừa xuất hiện, Trịnh Huống liền đứng vụt dậy, trái lại Trang Thập Tam ngồi bên cạnh y có biểu hiện bình tĩnh hơn, thế nhưng bàn tay đang cầm bình rượu cũng khựng lại.

    Cơ Tự không nhìn về phía họ, nàng chắp hai tay, chậm rãi đi tới nhạc kỹ đang gảy đàn trước mặt. Nàng cau mày khẽ khoát tay, ý bảo nhạc kỹ kia lui ra. Bất kể trước mặt mọi người huy hoàng cỡ nào thì cuối cùng trong lòng nhạc kỹ này cũng vẫn hơi hơi tự ti. Thị thấy Cơ Tự có phong thái quyền quý lẫm liệt nào còn dám chần chờ, thế là vội vàng cúi đầu khom lưng lui ra.

    Cơ Tự đặt chiếc đàn lên đầu gối, tay trái khẽ nhấn tay phải khẽ lướt, trong nháy mắt tiếng đàn du dương ngân lên. Chơi đàn là thú vui của lớp quân tử và sĩ phu yêu thích nhất, cũng vì vậy mà mức độ thưởng thức nhạc kỹ đàn rất cao.

    Cái gọi là người trong nghề vừa ra tay đã biết ngay trình độ thế nào. Lớp thiếu niên gảy đàn thường sẽ bày ra vài kỹ xảo cao siêu mà làm mất đi tình cảm ẩn chứa trong khúc nhạc. Nhưng thiếu niên lang như ngọc trước mắt họ lại dung hợp cả hai thứ này vô cùng thành thạo, tiếng đàn vừa ngân lên đã đưa mọi người lạc vào một cảnh tượng huyền ảo lóa mắt, bi hùng biển hóa nương dâu. Cảnh tượng hoa nở hoa tàn, xuân đi thu đến đẹp đẽ vô cùng, nhưng lại ẩn sâu nét tang thương, lạnh lẽo khi vạn vật cận kề cái chết... Đây quả thực là cầm kỹ tuyệt đỉnh rồi!

    Lúc mọi người ở đây nghe như si như say, một vài người có trình độ uyên thâm còn ngân ngấn lệ, ngón tay Cơ Tự khẽ đẩy cây đàn về phía trước một cách tự nhiên.

    “Sao không tấu đàn nữa vậy?” Một công tử thế gia vốn đang say trong tiếng nhạc bật thốt. Gã vừa dứt lời, nhìn thấy nụ cười chế giễu trên khuôn mặt đám người Trang Thập Tam bèn lập tức tỉnh táo lại.

    Một công tử thế gia khác cũng đứng lên, chắp tay thi lễ với Cơ Tự, cảm khái: “Quả là tầm nhìn của chúng tôi hạn hẹp nên mới không biết huyện Kinh có nhân tài ẩn dật. Tiểu lang còn nhỏ tuổi nhưng đã thông thái đa tài, thật là khiến người người thán phục.”

    Mấy công tử thế gia khác cũng đứng lên nói với Cơ Tự:

    “Tiểu lang tài cao khiến chúng tôi thật sự hổ thẹn.”

    “Chúng tôi đúng là không bằng tiểu lang.”

    Nhìn thấy bọn họ cuối cùng cũng nhận thua, Trịnh Huống đứng lên, y kiêu ngạo nói: “Coi như các ngươi thức thời.” Mấy thiếu niên huyện Kinh vốn đã thấy khó chịu từ lâu, họ càng nhao nhao nói: “Các ngươi đã biết mình không bằng thì mau cút đi!”

    Lời nói của những thiếu niên này chẳng hề khách khí, mấy công tử thế tộc tuy có ý định muốn kết giao với Cơ Tự nhưng theo tình hình hiện tại cũng không thể mở miệng được.

    Bọn họ vừa mới bước xuống cầu thang, Trang Thập Tam đã nắm lấy tay Cơ Tự, giọng nói như thể ra lệnh: “Đi theo ta.” Hắn kéo Cơ Tự đến một sương phòng.

    Cửa sương phòng đóng sầm lại, ngăn cách họ với những ánh mắt nhòm ngó bên ngoài. Sau khi Trang Thập Tam đóng cửa xong, hắn quay đầu nhìn đã thấy Cơ Tự ngồi trên sập, vẻ mặt thờ ơ, cử chỉ nhàn nhã.

    Chỗ Cơ Tự ngồi gần cửa sổ, lúc đó có vài vạt nắng chiếu qua cửa sổ, soi trên gương mặt nõn nà của nàng, khiến dung nhan xinh xắn kia dường như có thể phát sáng. Từng sợi lông tơ trên gương mặt nàng cũng rực rỡ óng ánh dưới ánh mặt trời.

    Trang Thập Tam không khỏi ngơ ngẩn ngắm nhìn. Một lát sau hắn hắng giọng, ngồi xuống đối diện Cơ Tự.

    Trang Thập Tam vừa rót cho mình và Cơ Tự chén rượu, vừa lạnh nhạt nói: “Thật không ngờ nàng cũng thông minh đa tài đấy.” Nói tới đây, hắn ngẩng đầu nhìn vào đôi mắt long lanh trong veo như nước của của nàng, trái tim hắn lại đập rộn ràng lần nữa.

    Dằn lại tình cảm trong lòng, khuôn mặt tuấn tú của Trang Thập Tam trở nên nghiêm túc: “Biểu hiện của nàng hôm nay rất tốt, giúp ta giữ được mặt mũi.” Cuối cùng hắn không nhịn được hạ giọng, ôn hòa nói: “Nàng xem thử bao giờ rảnh rỗi để ta đưa nàng đến gặp mẫu thân.”

    Hắn bảo đưa nàng đến gặp mẫu thân của hắn chẳng phải đang định cho nàng một danh phận rồi sao? Bất kể hắn có yêu thích nàng đến cỡ nào thì trong lòng hắn, một kẻ mồ côi như Cơ Tự cuối cùng vẫn cũng không xứng làm chính thê của hắn. Dù trong lúc hắn biết rõ nàng có tài trí hơn người nhưng vẫn luôn cố chấp với ý nghĩ đó.

    Cơ Tự nén lại những suy nghĩ đang lóe lên, ngước hàng mi thật dài rồi chậm rãi nói: “Ta muốn thương lượng một vụ làm ăn với chàng.”

    Trang Thập Tam nhướng mày rồi nheo mắt lại, xác định trên mặt Cơ Tự không hề mảy may vui sướng khi hắn đưa ra lời hứa hẹn với nàng. Sắc mặt hắn dần khó coi.

    Lúc này Cơ Tự chỉ tiếp tục nói: “Sau chuyến đi đến huyện Thanh Sơn, ta gặp được một vị con cháu của Tạ thị...”

    Trang Thập Tam ngắt lời nàng, “Con cháu của Tạ thị nào?” Khi nói đến chữ “Tạ”, ngữ điệu của hắn lại cao lên, có vài phần khinh thường và chế giễu.

    Cơ Tự ngẩng đầu nhìn hắn, nghiêm túc nói: “Con cháu của Trần Quận Tạ thị.”

    Trang Thập Tam cười nhạt, nhưng sau đó hắn đanh mặt, cau mày hỏi: “Nàng nói thật ư? Đúng là con cháu của Trần Quận Tạ thị sao?” Thấy Cơ Tự gật đầu, hắn nói tiếp: “Đúng là số nàng may mắn. Nếu như vậy, chắc hẳn nàng từng nói chuyện với người hầu bên cạnh vị con cháu Tạ thị kia rồi hả?”

    Cơ Tự biết, với thân phận hiện giờ của mình, nếu nàng cứ khăng khăng nói rằng mình từng được trưởng tử của Trần Quận Tạ thị ra tay tương trợ, tất nhiên Trang Thập Tam chắc chắn sẽ không tin. Nếu đã vậy thì cứ kệ cho hắn tự điều tra đi. Thế là nàng bỏ qua đề tài này, tiếp tục nói: “Ta còn đồng hành với họ một khoảng thời gian khá dài, vô tình nghe thấy gã kia bẩm báo với Tạ lang quân rằng phía Bắc Ngụy vừa có hành động bất thường, có binh lính thường quanh quẩn ở bên ngoại huyện Khúc Thủy...”

    Trang Thập Tam là một người vô cùng nhạy bén, hắn đứng phắt dậy, vội vàng hỏi nhỏ, “Chính tai nàng nghe thấy họ nói thế ư?”

    Cơ Tự ngẩng đầu, nàng nhìn xoáy vào mắt Trang Thập Tam, trả lời: “Đúng vậy.”

    Trang Thập Tam chầm chậm đi vài bước trong sương phòng rồi quay lại nói với nàng: “Được rồi, nàng về trước đi.” Hắn vừa dứt lời đã vội vã mở cửa bước ra.

    Cơ Tự chờ đến khi bóng dáng hắn xuất hiện ở ngoài phố mới dần dần nở nụ cười. Nàng ngửa đầu uống một hơi cạn sạch chén rượu rồi thong thả bước ra khỏi quán rượu.

    Lê thúc vừa đánh xe lừa vừa nghe nữ lang nhà mình vui vẻ ngâm nga trong xe, y cười hì hì hỏi: “Có chuyện tốt gì khiến nữ lang cao hứng như vậy?”

    Bên trong xe lừa, giọng nói nhẹ nhàng của Cơ Tự vang lên, “Ừ, mụ chủ nô tham lam trơ tráo mà ta hận nhất sắp tức giận đến nỗi hộc máu rồi. Ta cảm thấy cực kì thoải mái.”

    “Mụ chủ nô?” Lê thúc nghĩ hồi lâu mà vẫn chưa rõ, bèn hỏi: “Nữ lang, người kết thù với mụ ta từ khi nào vậy? Sao lão nô không biết nhỉ?”

    Cơ Tự chỉ cười thần bí chứ không trả lời. Nàng về đến phủ còn chưa được một canh giờ, người hầu mà hai chưởng quỹ cửa hàng bán gạo của nàng sai tới đang phấn chấn chạy đến bẩm báo rằng Trang gia đã thu hồi lại lệnh cấm, còn có cả chưởng quỹ ba nhà bán lương thực đích thân tới tận cửa nhận lỗi. Sau khi người hầu đó đến đây, tiểu lang Trang gia còn phái người chở ba xe lương thực tới, nói là để tạ lỗi thay chủ nhân của bọn họ...

    Tại huyện Kinh, Trang phủ chủ yếu kinh doanh buôn bán lương thực, cũng chiếm đến tám phần việc xuất nhập lương thực ở đây. Cũng chính bởi vì thế mà Trang Thập Tam chỉ nói một câu thôi đã không còn thương nhân bán gạo nào dám làm ăn với cửa hàng của Cơ Tự nữa.

    Có điều Trang gia đã phát triển ở huyện Kinh bao nhiêu năm nay rồi, đã đến lúc nên mở rộng quy mô. Nhưng cho tới bây giờ buôn bán lương thực đều liên quan đến tình hình dân sinh, Trang gia muốn mở rộng sự nghiệp há có chuyện dễ dàng đến thế? Hôm nay, sau khi Trang Thập Tam có được tin tức kia, hắn lập tức về phủ, lệnh cho nô bộc chuyển tất cả lương thực của Trang gia đến huyện Khúc Thủy, rồi tìm chỗ giấu kín đi.

    Trang Thập Tam định chờ đến khi xác nhận tin tức Bắc Ngụy công thành là thật, giá gạo ở huyện Khúc Thủy nhất định tăng lên, hắn cũng có thể nhân cơ hội này kiếm được một khoản tiền lớn trong chiến tranh. Còn về phần nguy hiểm, hắn chỉ thao túng chính giữa, khi giá gạo đôn lên đến một khoảng nhất định, hắn sẽ lập tức bán ra, như thế sẽ không phải lo gì nữa.

    Quả nhiên, hai thuyền lương thực của Trang Thập Tam đã được chuyển đến huyện Khúc Thủy ngày thứ ba, xung quanh huyện Khúc Thủy đều cấp báo tình hình bất ổn, có người phát hiện doanh trướng của quân tiên phong Bắc Ngụy.

    Trong một đêm, giá lương thực ở huyện Khúc Thủy tăng lên gấp đôi!

    Trang Thập Tam vui mừng quá đỗi, hắn nghĩ Cơ Tự quả nhiên là vừa yêu hắn vừa có thể trợ giúp hắn. Ngay lúc bấy giờ, hắn hạ lệnh bán hết lương thực cho cửa hàng buôn bán lương thực của huyện Khúc Thủy rồi chạy suốt đêm trở về.

    Trang Thập Tam chính là một trong những con cháu của dòng chính Trang thị, lần này hắn còn lập công lớn, đúng là vẻ vang.

    Vừa xuống bến tàu, Trang Thập Tam liền về phủ, đứng giữa đoàn người nghênh đón, hắn trông thấy mẫu thân của mình.

    Trang mẫu nhìn Trang Thập Tam mặt mày hớn hở đi tới liền dằn mạnh chung trà lên kỷ, cười gằn mắng: “Nhát như cáy!”

    Nụ cười của Trang Thập Tam sững lại.

    Ngũ quan Trang mẫu tinh xảo, thế nhưng lại có một đôi mày xếch và đôi môi rất mỏng, trông có vẻ vô cùng lươn lẹo và bạc tình. Bà ta nhìn thẳng vào con trai còn đang ấm ức, đứng phắt lên lạnh giọng mắng: “Cơ hội ngàn năm một thuở mà con chỉ đi kiếm chút ít tiền đã trở lại rồi à. Thập Tam lang, mẫu thân thật sự thất vọng vì con!”

    Trang Thập Tam cúi đầu.

    Lúc này Trang mẫu khẽ vẫy tay gọi nô tỳ bưng đến một hộp gỗ rồi lấy ra một chùm chìa khóa: “Đây là chìa khóa nhà kho, của cải mà tổ tiên Trang gia tích cóp một trăm ba mươi năm đều ở đây.” Trong lúc Trang Thập Tam ngẩng vụt đầu lên nhìn, Trang mẫu nói tiếp: “Con là con trai ruột của ta, lần này chính là cơ hội cực kỳ tốt để con lên vị trí thừa kế. Thập Tam lang, trong khoảng thời gian con đi vắng, mẫu thân đã đem toàn bộ tiền bạc trong phủ mua lương thực rồi, con mang theo đống lương thực này đến huyện Khúc Thủy một chuyến nữa đi.”

    Trang mẫu nói: “Xưa nay chiến tranh thường diễn ra rất lâu, ta nghe đồn trận chiến lần này Bắc Ngụy phát động công thành, ít nhất phải kéo dài đến nửa năm hoặc một năm. Con đến huyện Khúc Thủy một chuyến nữa, thay Trang phủ ta kiếm hàng triệu bạc về đây đi!”

    Trong khoảng thời gian này mẫu thân đã đem toàn bộ tiền trong nhà để mua lương thực ư? Trang Thập Tam vừa mừng lại vừa lo, hắn luôn luôn tin tưởng và nghe theo mẫu thân mình, giờ phút này lại càng không mảy may nghi ngờ quyết định của bà.

    Thấy thần thái trong mắt con trai, vẻ mặt Trang mẫu dịu đi, bà nói tiếp: “Không ngờ con bé cô nhi họ Cơ kia lại mang phúc đến cho nhà ta, chờ con từ huyện Khúc Thủy về, mẫu thân sẽ cưới ả làm thiếp cho con... Dù sao cũng do ả tiết lộ tin tức kia cho con, coi như thưởng cho ả vị trí thiếp thất của con vậy.”
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 9: Tính toán và đắc lợi


    Trang Thập Tam chắp tay thi lễ, lễ phép trả lời: “Đa tạ mẫu thân.”

    Đúng là không ai hiểu con bằng mẹ, Trang mẫu vừa nhìn đã nhận ra tuy giọng hắn bình thản nhưng thực ra trong lòng thì rất vui sướng. Điều này khiến bà nảy sinh vài phần chán ghét Cơ Tự chưa từng gặp mặt kia.

    Dõi mắt tiễn con trai ra ngoài, Trang mẫu nhắm mắt tụng niệm kinh Phật một lát rồi nói: “Đi, đi gặp nữ cô nhi kia.”

    Sau cơn bạo bệnh hai tháng trước, không hiểu vì sao đầu óc Cơ Tự bỗng có thêm rất nhiều kiến thức. Cơ Tự nghĩ, nàng phải để người khác cảm thấy những kiến thức này là do nàng khổ học mới có được, thế nên hễ rảnh rỗi là lại vùi đầu vào sách vở hoặc cầm kỳ thi họa.

    Hôm ấy, Cơ Tự đang đọc sách thì bất chợt ngoài trang viên vang lên những tiếng ồn ào. Cơ Tự ngơ ngác đứng dậy, hàng loạt tiếng bước chân dồn dập truyền đến. Cổng trang viên Cơ thị bị người ta cưỡng chế xông vào, mấy tỳ nữ vênh váo đi theo sau một phu nhân ăn vận lộng lẫy uy nghi tới.

    Họ nhìn Cơ Tự trước mặt, hất cằm hỏi: “Cô chính là Cơ Tự à?”

    Cơ Tự kinh ngạc: “Là ta.” Nàng nhíu mày hỏi lại, “Các người là ai?”

    Mấy tỳ nữ không trả lời nàng, chỉ nói: “Cơ Tự, phu nhân nhà ta muốn gặp cô, đến đây bái kiến đi.” Dứt lời, Cơ Tự bị họ lôi đến trước mặt Trang mẫu.

    Nhìn thấy Trang mẫu có chiếc cằm thon thả, luôn khinh khỉnh nhìn người qua khóe mắt, Cơ Tự thầm cười khẩy. Nàng đã nghĩ đến sẽ có ngày họ gặp mặt nhau, chỉ không ngờ ngày này đến quá sớm.

    Lúc này, một tỳ nữ quát lên: “Tiểu cô còn đứng thừ ra đó làm gì? Đây chính là Trang phu nhân nhà ta đấy.”

    Đương nhiên ta biết đó là Trang phu nhân rồi! Cơ Tự lạnh lùng nghĩ, năm đó lần đầu tiên nàng gặp Trang phu nhân, còn chưa nói được hai câu đã bị đuổi ra khỏi cửa. Mà trong khoảnh khắc nàng quay người đi, chung trà nàng vừa uống liền bị Trang phu nhân đập nát, chiếc sập nàng ngồi cũng bị đốt trụi sau lưng. Trang phu nhân nói, ngay cả làm thiếp thất cho Trang thập tam nàng cũng không xứng.

    Không biết tại sao bản thân đột nhiên lại có nhiều ký ức thế này, Cơ Tự thất thần, chẳng buồn đếm xỉa gì đến Trang phu nhân.

    Trong mắt Trang phu nhân ánh lên nỗi tức giận, bà ta đánh giá Cơ Tự từ trên xuống dưới một lượt, hờ hững nói: “Ngươi là Cơ Tự?”

    Cơ Tự không hề hành lễ, đáp “vâng” rồi lại hỏi, “Phu nhân là ai? Ban ngày ban mặt mà dám ngang nhiên xông vào phủ người khác, không sợ người đời bàn tán sao?”

    “Bàn tán?” Trang phu nhân khẽ cười, liếc nhìn trang viện nhỏ xíu cũ kỹ, cất giọng khinh thường, “Ngay cả ngươi còn là món đồ chơi mà con trai ta thích thì cầm chẳng thích thì ném, huống chi phủ đệ rách nát này của ngươi là cái thá gì?”

    Trang phu nhân được tỳ nữ dìu đi vài bước, vừa quan sát trang viên nhỏ vừa nói: “Ở cái đất huyện Kinh này, phu nhân ta đây thích tới đâu thì tới, thích đi đâu thì đi, bao nhiêu năm rồi chưa ai dám đứng chắn đường trước mặt ta như vậy đâu. Mà thôi, nể tình ngươi đề xuất một chủ ý không tệ cho Thập Tam, bổn phu nhân tha cho ngươi một lần. Nếu không, chỉ bằng việc ngươi bất kính với ta như thế đã có đủ lý do để ta bán ngươi đến phương xa làm nô tỳ rồi.”

    Thời này vì hằng năm chiến loạn, việc thống kê nhân khẩu có sơ hở rất lớn nên kiểu buôn người đen tối xuất hiện nhiều vô kể, hơn nữa còn ngày càng phát triển. Đa số tá điền lao động cho các tiểu địa chủ hà khắc đều xuất thân từ nô bộc, mà một phần nô bộc này là lưu dân cùng đường phải làm thuê kiếm sống, phần còn lại là do bị đem bán.

    Thoáng chốc Cơ Tự tím mặt, nàng nhớ ra rồi, chỉ vì bảo vệ nàng mà Lê thúc mới lỡ lời đắc tội mụ đàn bà độc ác này, sau đó bị mụ ta bán làm nô bộc.

    Thấy Cơ Tự giận đến nỗi cả người run run không thốt nổi một câu, Trang phu nhân khinh miệt liếc nhìn nàng rồi hợm hĩnh quay đầu, gọi đám nô tỳ theo hầu lên xe ngựa ra về.

    Đến tận khi Trang phu nhân rời đi, Cơ Tự mới cười gằn một tiếng, quay người nhìn mấy nô tỳ đang đứng chết lặng, nàng hỏi: “Chỗ Tôn Phù có truyền tin tức nào về không?”

    Một tỳ nữ vội vàng trả lời: “Có ạ, y vừa mới gửi thư đến, báo rằng tình hình huyện Khúc Thủy quả như nữ lang đã đoán. Đám nhà giàu sợ cảnh chiến tranh giết chóc nên đã bán tống bán tháo cả cửa hàng. Từ trước đến giờ mấy cửa hàng đó luôn có giá trên trời nên không ai dám mơ tưởng, nhưng hiện tại chỉ với một xe lương đã có thể đổi được một cửa hàng rồi. Cả thuyền lương thực của chúng ta đổi được những năm cửa hàng. Y còn nói thêm, chậm nhất là hai mươi ngày nữa, sau khi họ giải quyết mọi chuyện thỏa đáng là có thể trở về.”

    Bên kia, Trang Thập Tam vì mưu tính việc lớn nên bất chấp nghỉ ngơi, áp tải mười thuyền lương thực đến huyện Khúc Thủy lần nữa.

    Tình huống ở huyện Khúc Thủy quả nhiên đúng như lời Trang mẫu nói, dù tin đồn đại có căng thẳng thật sự nhưng Bắc Ngụy vẫn chưa dấy binh bao vây thành. Hơn nữa cũng vào lúc này, giá lương thực ở huyện Khúc Thủy đã tăng gấp năm lần lúc trước.

    Trang Thập Tam hết sức vui mừng. Con người chính là vậy, đứng trước lợi nhuận khổng lồ, chẳng ai có thể thoát khỏi cám dỗ của đồng tiền dù người đó có tỉnh táo cỡ nào đi nữa. Trước đó không lâu Trang Thập Tam còn biết dừng tay đúng thời điểm, nhưng bây giờ còn chưa nhìn thấy bóng dáng người Bắc Ngụy, mà giá lương thực vẫn không ngừng tăng cao, và tất cả lương thực xung quanh huyện Khúc Thủy đều nằm trong tay hắn, chỉ cần hắn vẫn giữ mãi mà không bán ra, giá lương thực chắc chắn sẽ còn tăng tiếp.

    Dằn lại nỗi hưng phấn mãnh liệt trong lòng, Trang Thập Tam nghĩ sau vụ này cả Kinh Châu đều biết đến đại phú hào Trang thị cho xem. Phút chốc hắn lại nghĩ, A Tự giúp ta làm lên việc lớn, sau khi trở về ta phải lén cho nàng một chút của hồi môn, để nàng nở mặt nở mày gả cho ta, dù sau này không được làm chính thê cũng chẳng ai dám bắt nạt nàng.

    Trong lúc Trang Thập Tam đang âm thầm đắc ý, có một tin tức truyền khắp huyện Khúc Thủy khiến hắn kinh hãi.

    Bắc Ngụy rút quân rồi!

    Không biết nhận được thư gì mà toán binh lính Bắc Ngụy quanh quẩn ngoài thành Kinh Châu đã gấp đến nỗi chưa kịp tấn công huyện Khúc Thủy đã dứt khoát rút lui. Quân Bắc Ngụy vừa rút, trong một đêm huyện Khúc Thủy lại yên bình như trước, mọi người không còn nơm nớp lo sợ việc lương thực nữa. Chỉ một canh giờ sau, giá lương thực vẫn tăng cao không ngừng bỗng giảm mạnh.

    Biến cố xảy ra quá nhanh, lúc Trang Thập Tam gắng gượng không tức đến thổ huyết, nghiến răng tính toán phải chuyển đống lương thực này về đâu mới có thể lấy lại tiền vốn lúc ban đầu thì thái thú thành Kinh Châu cùng huyện lệnh Khúc Thủy và mấy vị quan danh tiếng đột ngột phái binh lục soát bắt mấy thương nhân bán lương thực. Hóa ra, mấy quan viên này căm hận đám gian thương tăng giá nên đến tính sổ đây mà.

    Thế là món nợ này được tính hết lên đầu Trang Thập Tam. Quan binh hùng hổ kéo đến chỗ ở của hắn, chẳng những tịch thu hết lương thực mà còn bắt giam hắn lại. Nếu không phải mấy người bạn văn nhân quen biết của Trang Thập Tam ở huyện Khúc Thủy nói giúp cho hắn thì suýt nữa hắn đã bị quan phủ chụp mũ là gian thương mang đi xử tử rồi.

    Tuy giữ được tính mạng nhưng mười thuyền lương thực của Trang Thập Tam cuối cùng đã bị thu mất. Sau khi tin tức của Trang Thập Tam truyền về huyện Kinh, Trang mẫu phun ra mấy ngụm máu tươi rồi ngất lịm.

    Lần này bà ta hôn mê đến tận ba ngày, khi vừa tỉnh lại địa vị của Trang thị đã mất, họ vốn là gia tộc hàng đầu ở huyện Kinh, thậm chí có thể lên đến hàng đầu châu thành nhưng thoáng cái đã trượt xuống hàng thứ hai. Dù Trang thị tiêu hết bạc của gia tộc, nhưng may mà họ vẫn còn hàng nghìn mẫu đất đai, mười mấy cửa hàng, và vài trang viên nên mới miễn cưỡng giữ được địa vị này.

    Trang Thập Tam trở về chịu sự phán xét của gia tộc. Thứ nhất là Trang Thập Tam còn trẻ, thứ hai hắn vốn đã dừng tay kịp thời, và cuối cùng người lạm quyền sử dụng bạc của gia tộc đem đi mua lương thực không phải hắn, chẳng qua hắn chỉ là người làm việc thay cho mẫu thân của mình thôi. Thế nên gia tộc không hề xử phạt Trang Thập Tam, nhưng mẫu thân Trang Nam thị của hắn thì bị tước mất quyền quản lý trong gia tộc, giáng xuống làm thiếp.

    Trong cơn phong ba bão táp này, Cơ Tự không hề khiến người của Trang gia thù hận, vì dù sao tin tức nàng cung cấp không hề sai, còn việc Trang thị thất bại là do bà ta có lòng tham không đáy. Lúc tin tức đó truyền đến tai Cơ Tự, nàng đang cùng cô con gái thứ ba của mẹ nuôi mình là Trịnh thị Mật nhi đến thành Kinh Châu dạo chơi.

    Nghe nhóm Trịnh Mật nhi tán gẫu về biến cố thê thảm của Trang thị, Cơ Tự thầm nghĩ: Trang Nam thị ngông cuồng tự đại, hễ mở miệng là đòi bán người khác thành nô bộc, bây giờ bản thân bị giáng làm thiếp, đến lúc bị người khác dọa bán chắc chắn sẽ có vẻ mặt rất đặc sắc đây.

    Bấy giờ tâm trạng nàng rất vui, bởi vì nhóm Tôn Phù đi huyện Khúc Thủy từ nửa tháng trước đã trở về rồi. Bọn họ còn mang về cho nàng khế đất năm cửa hàng mặt tiền trên phố tốt nhất ở đấy, lợi nhuận thu được của mấy cửa hàng này còn cao gấp hai lần ở huyện Kinh, chỉ trong một hai tháng, Cơ Tự đã tích cóp thêm một khoản kha khá vào của hồi môn cho mình rồi.

    Trong lúc nàng vui mừng khôn xiết thì giọng nói nũng nịu của Trịnh Mật vang lên: “Ôi, nếu lần này ta có thể được gặp Tạ Thập Bát lang một lần thôi thì sẽ không còn gì để tiếc nuối nữa.”

    Bạn thân của Trịnh Mật là Ngô thị Nguyệt Hoàn giễu cợt: “Hì hì, sợ là sau khi ngươi thấy Tạ Thập Bát cũng sẽ mắc bệnh tương tư giống như mấy cô nương khác thôi, kiểu gì cũng phải hối tiếc cả đời.”

    Trịnh Mật hứ một tiếng, rồi lại không nhịn được hỏi: “Tạ Lang thật sự tuấn tú bất phàm thế sao?” Nàng ta quay đầu nhìn Cơ Tự, “A Tự, nghe nói ngươi đã gặp mặt Tạ Lang rồi, ngươi nói xem chàng trông thế nào?”

    Trịnh Mật vừa thốt ra, năm sáu thiếu nữ đi cùng đồng loạt nhìn Cơ Tự. Những người này nghe nói Cơ Tự quen biết Tạ Lang nên mới đành kéo nàng cùng bọn họ đến thành Kinh Châu.

    Trong ánh mắt mong chờ của mấy thiếu nữ, Cơ Tự mỉm cười: “Quả thật dáng vẻ rất tuấn tú, khí chất cũng bất phàm.”

    “Chỉ vậy thôi à?” Trịnh Mật ngạc nhiên, “Ai cũng bảo Tạ Thập Bát đến Kinh Châu một tháng cũng giống như mùa xuân ở thành Kinh Châu đến sớm một tháng, cả con đường thơm ngát hương hoa khiến ai ai cũng phải mê mẩn ngắm nhìn... Thế mà ngươi nói như thể Tạ Lang chẳng khác gì mấy con cháu thế gia bình thường là bao thế hả?”

    “Đương nhiên là có khác.” Nàng nhìn đám thiếu nữ, nửa đùa nửa nhắc nhở, “ Tạ Thập Bát kia tuấn tú thì tuấn tú đấy, nhưng là lang quân phong lưu. Lang quân tốt trên thế gian này nhiều không kể xiết, thế nhưng Tạ Thật Bát là người không đáng si mê nhất. Thật ra so với dáng vẻ của hắn, nếu ta giả trang làm nam tử thì đẹp hơn hắn nhiều..”

    Lúc Cơ Tự buột miệng nói câu này, xung quanh chợt yên lặng như tờ, chốc lát sau một tiếng cười lớn vang lên phía sau nàng: “Đúng đấy, Tạ Thập Bát thực sự cũng chẳng phải siêu quần bạt chúng gì. Cho dù có siêu quần thật thì cũng trông liễu yếu đào tơ như đám tiểu cô thôi. Ha ha ha, ta thích câu tiểu cô này nói rồi đấy, nàng mau qua đây chúng ta làm quen với nhau nào.”
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 10: Tạ Lang


    Cơ Tự từ từ quay đầu lại. Cuối cùng nàng đã hiểu tại sao khi nãy nàng đang thao thao bất tuyệt, đám Trịnh Mật đột nhiên im lặng rồi. Đó là bởi vì ngay phía sau nàng khoảng hai mươi bước xuất hiện mười mấy chiếc xe bò, mà thời khắc này những chiếc xe đang vén rèm, bên trong đều là những con cháu sĩ tộc tuấn tú trắng trẻo, phóng khoáng lịch sự đang nhìn nàng như cười như không.

    Tuy nhóm người này chỉ ngồi xe bò nhưng những hộ vệ cao lớn, thị tỳ xinh đẹp phía sau và cả bọn họ đều toát lên một nét thanh nhã quyền quý. Hiển nhiên, thân phận họ tuyệt đối không tầm thường, rất có thể không phải là đám con cháu thế tộc ở thành Kinh Châu mà là các lang quân của đại sĩ tộc. Còn người nói chuyện vừa nãy chính là một sĩ phu khoảng hai mươi bảy hai mươi tám tuổi, gương mặt xấu xí nhưng lại mang một phong thái thanh nhã cổ xưa.

    Thấy Cơ Tự nhìn mình trân trân, người kia cười đến mặt đỏ gay, y vỗ đét vào đùi, vui mừng nói lớn: “Đây chính là ngày vui vẻ nhất trần đời của Trần Dịch Chi ta.” Y khoái trá chạy đến xe lừa của Cơ Tự, nghiêng người phô hàm răng vàng và đôi mắt híp tịt nhìn vào xe, hỏi Cơ Tự: “Xin cho hỏi quý danh của tiểu cô là gì?”

    Cơ Tự nhìn gã trước mắt mình, rồi lại trông đám người cách hơn hai mươi bước kia. Họ khoanh tay bàng quan, lười biếng ngửa đầu uống rượu hoặc cười tủm tỉm nhìn nhóm nàng. Nàng dần dần bình tĩnh lại, thầm nghĩ: Chuyện đã đến nước ngày rồi chỉ có thể đến đâu hay đến đó vậy.

    Nàng khẽ thi lễ với Trần Dịch Chi: “Tiểu nữ tên Cơ Tự.”

    “Họ Cơ ư?” Cũng giống như Tạ Lang, Trần Dịch Chi kinh ngạc nhướng mày, rồi cười toe toét nói: “Bây giờ người họ Cơ hiếm thấy lắm, hóa ra tiểu cô chính là hậu duệ của Hoàng đế.”

    Nói tới đây, y khách khí trò chuyện tiếp: “Tiểu A Tự, nàng tới thành Kinh Châu là định đến chùa Khô Vinh à? Ôi, ta từng nghe người ta nói cầu duyên ở chùa Khô Vinh linh nghiệm lắm đấy.” Y nói xong cũng không đợi Cơ Tự đáp lại, cười tít mắt bảo Lê thúc đánh xe: “Đi thôi, đến chùa Khô Vinh.” Vừa dứt lời, y giơ tay huýt sáo, mấy chiếc xe bò chạy tới vây xung quanh xe lừa của Cơ Tự, như đang ép chiếc xe lừa kia phải đồng hành với họ vậy.

    Đến khi xe lừa của Cơ Tự bị đội ngũ của những sĩ tộc kia bao quanh, đám người Trịnh Mật mới hoàn hồn lại. Bọn họ gọi mấy tiếng mà nhóm người phía trước vẫn không buồn đoái hoài, Trịnh Mật giơ tay đánh hộ vệ bên cạnh một cái khiến gã co rúm lại, nàng ta tức giận quát: “Tại sao A Tự có thể được đám lang quân kia đối đãi như vậy chứ?”

    Nữ lang đi cùng nàng ta đứng bên cạnh vội vàng kéo tay áo của nàng ta lại, nhắc nhở: “Nói nhỏ thôi. Ta thấy đám người kia khá bất phàm, e là người có lai lịch lớn. Ngươi có tức Cơ Tự thế nào đi nữa thì cũng nên đợi đến lúc về rồi trút giận cũng không muộn, ở đây cẩn thận chọc phải bọn họ đấy.”

    Trịnh Mật vội vàng ngậm miệng lại, sau một lát do dự, đám nữ tử đó không nhịn được bèn sai người đánh xe đuổi theo.

    Chùa Khô Vinh rất gần, nhóm Cơ Tự đi chưa đến hai khắc đã tới nơi.

    Đoàn người vừa mới đi lên đường núi đã nghe thấy phía trước truyền đến tiếng tiêu. Tiếng tiêu réo rắt, thổi tới nốt cao như thể xuyên qua tầng mây, tràn đầy linh hoạt kì ảo và tự tại, người thổi chắc phải thuộc hàng tài nghệ cực kì cao siêu đây.

    Gần như là tiếng tiêu kia vừa vang lên, nhóm lang quân đi phía trước Cơ Tự đều ngừng nói chuyện, chăm chú lắng tai nghe. Họ men theo tiếng tiêu đến sườn núi, có vài ngôi đình và hành lang cửu khúc được xây dựng trên nền đất bằng lát đá xanh rộng lớn.

    Vừa đến nơi, ánh mắt của họ không hẹn mà cùng nhìn về phía ngôi đình chính giữa. Nơi đó có hai người đang đánh cờ, một người là đại hòa thượng đầu trọc, mà người còn lại là lang quân bạch y.

    ... Cơ Tự thầm nghĩ, hóa ra cảnh tượng này cũng có thể gọi là hào quang lấp lánh, rực rỡ muôn màu.

    Lang quân bạch y ngồi trên sập, chăm chú chơi cờ cùng vị hòa thượng kia. Trên người chàng như có một quầng sáng lóng lánh, chiếu rọi cả núi xanh và khe suối, khiến chúng cũng trở nên lóa mắt và hoa lệ.

    Trước kia Cơ Tự từng nghe người ta nói, có một kiểu người cho dù có im lặng đứng giữa trăm nghìn người cũng sẽ trở thành tiêu điểm một cách tự nhiên. Mà hiện tại nàng đã hiểu đó là kiểu phong cảnh gì rồi.

    Chùa Khô Vinh chính là chùa nổi danh ở Kinh Châu, khách hành hương tới đây rất nhiều, đôi khi cũng có vài nữ khách. Cơ Tự vừa liếc mắt xung quanh liền không khỏi nghĩ thầm: Có lẽ tất cả nữ khách ở chùa Khô Vinh đều tập trung ở đây cả rồi...

    Đám tiểu cô rải rác khắp sườn núi, hoặc khẽ bàn luận thơ phú, hoặc ngồi thêu thùa, vẽ tranh, hoặc dẫn theo tỳ nữ làm duyên làm dáng đứng bên cạnh khóm cúc. Ai ai cũng ăn vận lộng lẫy, mỗi hành động cử chỉ đều được khéo léo tô điểm, chốc chốc lại liếc sang lang quân bạch y với ánh mắt si mê.

    Ánh mắt Cơ Tự nhìn lướt qua đám tiểu cô, thầm nghĩ: Không hổ danh lang quân phong lưu nổi tiếng thế gian. Nàng xua đi ý nghĩ vừa lóe lên trong đầu, khôi phục lại nỗi lòng bình lặng như nước.

    Lúc này ván cờ đã đến hồi kết, vị hòa thượng mặc áo cà sa khoát tay, nói: “Thôi, thôi, người cao tay quá, lão nạp nhận thua.”

    Tạ Lang còn chưa kịp trả lời thì một lang quân cao dong dỏng, phong thái phóng khoáng bên cạnh Cơ Tự liền nở nụ cười: “Tạ Thập Bát hắn đâu chỉ cao tay thôi đâu, nếu lần này không nhờ diệu kế của hắn thì làm sao Bắc Ngụy chịu rút quân chứ?”

    Cơ Tự đang cố gắng giữ lòng mình bình thản, lời nói của vị lang quân này mang theo khẩu âm phương Bắc, nàng chỉ nghe rõ được từ “cao tay”, còn mấy từ còn lại thì chỉ loáng thoáng.

    Một lang quân tuấn tú khác cũng chen lời: “Tạ Thập Bát huynh, huynh khiến bọn ta bôn ba khắp nơi, còn bản thân thì lại tiêu dao tự tại thế đấy.”

    Lang quân trắng trẻo khác thì cười lạnh: “Ai bảo Tạ Thập Bát tiêu dao vậy hả? Hắn vừa phải đánh cờ, vừa phải nghe mỹ nhân đệ nhất Kinh Châu thổi tiêu, đã thế còn phải thưởng thức sự yên bình nơi cửa Phật và hưởng thụ những ánh mắt hâm mộ của đám tiểu cô. Hắn bận lắm ấy chứ.”

    Hai chữ “bận lắm” này vừa thốt lên, mọi người liền cười vang. Mà trong tiếng cười rộn rã này, lang quân xấu xí Trần Dịch Chi kia là khoa trương nhất, y vội vàng chạy đến trước mặt Tạ Lang, đắc ý nói: “Tạ Thập Bát, mới vừa rồi bọn ta gặp được một vị cố nhân của ngươi, không biết ngươi còn nhớ hay không?” Y quay lại ra lệnh cho một cậu bé xanh xao, “Thiệu nhi, ngươi kể chuyện vừa rồi cho Thập Bát lang nghe đi.”

    Thế là trong tiếng cười sang sảng của đám lang quân, cậu bé kia cất lời: “Tạ Thập Bát kia tuấn tú thì tuấn tú đấy, nhưng là lang quân phong lưu. Lang quân tốt trên thế gian này nhiều không kể xiết, song Tạ Thật Bát là người không đáng si mê nhất.”

    Đối phương vừa lên tiếng, Cơ Tự liền giật nảy mình. Bởi vì từng lời nói, từng âm điệu, và từng câu nhấn nhá thốt ra từ cậu bé này giống hệt như giọng điệu của nàng.

    Cậu nói đến đây thì chợt dừng lại, trong tiếng cười kiềm nén của Trần Dịch Chi, cậu tiếp tục nhại theo giọng Cơ Tự: “Thật ra so với dáng vẻ của hắn, nếu ta giả trang làm nam tử thì đẹp hơn hắn nhiều.”

    Cậu bé vừa dứt câu, Tạ Thập Bát đang thong dong bỗng quay đầu lại, đôi mắt sáng lấp lánh như vì sao của chàng xuyên qua đám đông, nhìn về phía Cơ Tự.

    Thấy ánh mắt chàng, mặt Cơ Tự đỏ bừng. Mà trong lúc Tạ Lang kinh ngạc nhìn Cơ Tự, đám lang quân đã cười vang cả đất trời. Mấy người này rõ ràng vô cùng cao hứng, giọng cười rất lớn và rất khoa trương.

    Trong tiếng cười ầm ĩ, Tạ Lang đứng dậy, chậm rãi đi đến trước mặt Cơ Tự, cúi đầu nhìn nàng. Không biết đám lang quân vừa nhìn thấy điều thích thú gì đó, lại cười nghiêng ngả.

    Lúc này, Tạ Lang khe khẽ thở dài rồi cất lời: “Ta còn tưởng rằng trong hai mươi mấy ngày đồng hành vừa qua, Cơ tiểu cô đã xem ta là bạn tốt rồi.” Nói đến đây chàng đột nhiên cúi đầu xuống thấp hơn, kề sát vào tai Cơ Tự, nhẹ nhàng cười nói, “Nàng giả trang nam tử tuấn tú hơn ta nhiều hả? Tạ Lang không biết dung mạo của mình lại được đem so sánh với một tiểu cô đâu đấy.”

    Mặt Cơ Tự vốn đỏ gay, bởi vì nàng cảm thấy dù sao Tạ Lang đã giúp mình vài lần, thế nhưng nàng lại nói xấu sau lưng chàng như vậy quá bất kính. Song vào giờ khắc này, mặt nàng không đỏ nữa.

    Ngước gương mặt xinh xắn vẫn còn vương nét ngây ngô lên, Cơ Tự nhìn Tạ Lang bằng đôi mắt rưng rưng, khẽ nói: “Lang quân thật sự không phải lương xứng... Cơ Tự chỉ nói suy nghĩ trong lòng mình thôi.”

    Tuy Cơ Tự không nói rõ rằng chàng không phải kiểu quân tử đứng đắn, nhưng nàng cảm thấy được người trước mắt này nhìn nàng với đôi mắt sáng ngời, dịu dàng cười với nàng, và hành động kề sát vào nàng như vậy là rất bất ổn.

    Thoáng chốc, Cơ Tự vội vã hành lễ với Tạ Lang, xấu hổ nói: “Lang quân có ơn giúp đỡ Cơ Tự, Cơ Tự lại nghị luận về lang quân sau lưng là vô cùng bất kính, kính mong lang quân lượng thứ.”

    Lúc này Cơ Tự chỉ mới là cô bé mười ba, mười bốn tuổi, nhưng đôi mắt long lanh ngời sáng của nàng như có một làn sương khói bao phủ, ẩn chứa nét xa xăm, đượm buồn và ánh lên vẻ thần bí vô cùng.

    Tạ Lang mỉm cười nhìn Cơ Tự, chấp nhận lời xin lỗi của nàng. Trong tiếng cười ồn ào của đám bằng hữu, chàng nhìn rõ vẻ ái mộ nhưng lại khắc chế trở nên lạnh lùng trong ánh mắt tiểu cô trước mặt, bỗng chốc cảm thấy non nước Kinh Châu này có chút thú vị rồi đây.

    Còn Cơ Tự thì lại thấp thỏm bất an, bởi vì nàng nhạy bén cảm giác được, chỉ trong chốc lát, những ánh mắt nhìn nàng từ bốn phía có thêm rất nhiều sự cảnh giác, căm hận, chán ghét và dò xét. Mà chủ nhân của những ánh mắt kia chính là mấy cô nương ái mộ Tạ Thập Bát đang tản mát trên nửa ngọn núi này.

    Toi rồi! Tạ Thập Bát chỉ dạo chơi ở Kinh Châu một thời gian thôi, chẳng mấy chốc lại phất tay thong dong trở về Kiến Khang, nhưng nàng thì vẫn phải sống ở nơi đây. Nếu vì chàng mà chọc phải những cường địch như vậy thì đó mới chính là chuyện oan uổng nhất thế gian này.
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 11: Khoe khoang


    Cơ Tự nghĩ đến đây liền vội vàng ngẩng đầu, hé môi định nói gì đó với Tạ Lang. Nhưng vào lúc này, tiếng tiêu kia đang phóng vút lên tầng mây, lượn lờ vài hồi rồi dần dần dừng lại. Sau đó một thiếu nữ tuyệt đẹp cầm tiêu ngọc đi ra khỏi bụi cây.

    Thiếu nữ kia vận bộ bạch y, chân mang guốc mộc, trang điểm đơn giản, nhưng đường nét khuôn mặt lại quý phái hơn người. Nàng ta cất bước khoan thai đến trước mặt nhóm lang quân, khẽ nhún chào bọn họ rồi nhìn về phía Tạ Lang bằng đôi mắt long lanh, dịu dàng gọi một tiếng: “Lang quân Tạ gia.”

    Thiếu nữ cất lời, âm cuối hơi cao, là khẩu âm Lạc Dương pha lẫn Kinh Châu. Giọng nói nàng yêu kiều, khuôn mặt nàng vừa xinh đẹp vừa lanh lợi, cộng thêm đôi mắt đa tình gợn sóng lăn tăn kia, dù Cơ Tự là nữ nhưng trong khoảnh khắc này trái tim cũng đập rộn rã.

    Tạ Lang thấy thiếu nữ kia đến chào, khẽ mỉm cười đáp lại. Chàng chỉ cười thôi đã khiến nàng ta ngây ngẩn, thẹn thùng đỏ mặt, ngoan hiền đứng sau lưng Tạ Lang. Ánh mặt trời trải trên người họ như thêm vài phần rực rỡ.

    Chắc hẳn thiếu nữ này là đệ nhất mỹ nhân Kinh Ly của huyện Kinh mà khi nãy bọn họ nhắc đến rồi.

    Đến tận giờ phút này, Cơ Tự mới chợt phát hiện, việc Tạ Lang bỗng nhiên đến gần nàng, nói với nàng những lời khiến người ta hiểu lầm kia, người khác coi là thật cũng được, mà không thì cũng tốt, đều không quá quan trọng. Quan trọng là nàng đừng coi đó là thật, cũng không cần thiết phải cố gắng giải thích. Bởi vì với dáng vẻ hiện nay của nàng, nếu cất lời giải thích chỉ khiến đám người vốn xuất thân cao sang quyền quý ở đây chê cười mà thôi.

    Nghĩ đến đây, Cơ Tự không cười nổi, nàng rủ mắt xuống, chậm rãi lui sang một bên.

    Tất cả mọi người đều ca ngợi tiếng tiêu của Kinh Ly, trên đường núi cách đó năm mươi bước, còn có một tiếng cười trầm trầm truyền đến: “Ai cũng bảo tiếng tiêu của Kinh Ly và cảnh sắc của Trường Giang đều tuyệt nhất huyện Kinh này, hôm nay mới được nghe thấy quả nhiên là danh bất hư truyền.”

    Kinh Ly đúng là mỹ nhân hiếm có và quả thật cũng là một cao thủ thổi tiêu. Lúc này được người ta khen ngợi trước mặt mọi người như vậy, gò má nàng ta ửng hồng đẹp không sao tả xiết.

    Cơ Tự đứng bên cạnh, không nhịn được vừa nhìn ngắm Kinh Ly vừa thầm nghĩ: Không biết đến khi dung nhan của mình trổ mã hoàn toàn liệu sẽ hơn hay kém nàng ta đây?

    Lúc này đám lang quân đều tự tìm niềm vui cho mình, Trần Dịch Chi đòi đánh cờ với đại hòa thượng không được liền quấn lấy Tạ Lang, được mọi người vây quanh tầng tầng lớp lớp, bất giác đã quên mất Cơ Tự.

    Thấy cảnh này, Cơ Tự nghĩ ngợi rồi quyết định ra về. Lúc nàng xuống sườn núi, tiếng cười của một thiếu niên khác khá quen truyền đến: “Dũ huynh phóng đại đó à? Tiếng tiêu vừa rồi ta cũng nghe thấy, hay thì có hay thật, nhưng nếu so với cảnh đẹp ở Trường Giang thì cũng thái quá rồi. Còn chưa kể đến lần trước lúc ta ở huyện Kinh, gặp được một cao thủ, tiếng đàn nàng ta tấu phải nói là gần như nhập đạo. So với tiếng tiêu trầm bổng khi nãy thì hùng hồn hơn nhiều.” Nói đến đây y lại bổ sung, “Đúng rồi, người gảy đàn hôm đó là một tiểu cô tuổi còn rất trẻ, khoảng mười ba mười bốn thôi.”

    Người bên cạnh y cười to: “Tiểu cô mười ba mười bốn tuổi mà có tài đàn đến mức nhập đạo cơ à? Sở Tam nhi, đệ phóng đại quá rồi đấy.”

    “Tiểu Tam nhi chỉ được cái hay nói bừa, xưa nay gảy đàn là khó nhất, không phải lòng chứa non sông, vai mang vạn gánh thi thư thì sao có thể gọi là gần như nhập đạo chứ?”

    “Theo ta thấy, Tiểu Tam nhi cố ý nói vậy để khiêu khích tiên nữ Kinh Ly rồi. Chỉ sợ tiếng đàn tiểu cô kia tấu lên có thể giết bò ấy chứ.”

    “Ha ha ha ha.”

    Có tiếng cười khẽ của nữ tử pha lẫn trong tiếng cười vang dội kia, Cơ Tự không cần quay đầu lại cũng có thể biết đó là tiếng cười của Kinh Ly. Lúc này nàng đã sắp xuống đến chân núi, nàng đang đăm chiêu liền bất giác nhếch môi cười nhạt. Nàng thấy phía trước có ba bốn vị lang quân thế tộc đang đi đến, bèn hành lễ với một người trong số đó, cất giọng giòn giã: “Xin hỏi lang quân có thể tháo tiêu bên hông cho ta mượn một lát được không?”

    Thiếu niên được nàng hỏi chừng mười lăm, mười sáu tuổi, là lứa tuổi bắt đầu biết rung động, thấy Cơ Tự bắt chuyện với mình, y đỏ mặt, lật đật rút tiêu trúc ra, lắp bắp nói: “Mời, mời, mời, mời nàng dùng.”

    Cơ Tự thản nhiên cười với y, đưa tay nhận lấy thanh tiêu, khẽ thi lễ: “Đa tạ lang quân đã tặng.”

    “Không, không cần đâu.” Thiếu niên vội vã đáp lễ, mãi cho đến khi Cơ Tự cầm cây tiêu kia đi xa, y vẫn còn ngơ ngác ngẩng đầu dõi theo.

    Cơ Tự vừa đi vừa lấy khăn ra lau từng lỗ trên thanh tiêu, rồi đưa lên miệng thổi từ từ. Xưa nay tiếng tiêu vốn réo rắt, nàng vừa thổi lên âm thanh liền êm ái lượn lờ, nhất thời xung quanh trở nên yên tĩnh.

    Tiếng tiêu khi nãy của Kinh Ly như đưa người ta vào cõi tiên đã đủ thấy tài nghệ cao siêu cỡ nào. Nhưng đến khi tiếng tiêu của Cơ Tự vang lên, mọi người mới biết cái gì gọi là rung động. Nó tựa dòng nước mát trong đầm, dễ dàng thấm sâu vào linh hồn người ta, tuy cực nhạt, cực thanh nhưng cũng cực xa xôi. Như ngọn núi xanh, như ánh nắng chiều, như vòm không đỏ rực buổi hoàng hôn, rõ ràng là vẻ đẹp đất trời vào lúc rực rỡ nhất, tươi đẹp nhất thường được tô vẽ trên trang sách; nhưng qua tai người nghe lại phút chốc hiện lên dòng nước trôi xuôi không thể nào chảy ngược phía sau rừng xanh núi thẳm, thấy được vẻ lụi tàn phía sau ánh ráng chiều đỏ rực.

    Người ngoài nghề nghe thấy tiếng tiêu này sẽ cho rằng giống hệt với lúc Kinh Ly thổi, đều phiêu diêu bay bổng, tài nghệ siêu quần và thanh thoát như nhau. Điểm bất đồng duy nhất chính là nét tang thương ẩn sâu trong đó thôi.

    Từ thời Tam Quốc đến nay, người trong thiên hạ đã long đong giữa cảnh sống chết hơn hai trăm năm. Vô số đại tài tử, vô số người thông minh tuyệt đỉnh ôm ấp hoài bão phải dùng máu tươi và sự uyên bác của mình cố gắng thay đổi thế gian này, nhưng sự phấn đấu và cố gắng của họ lại không thể vẽ ra một lối thoát cho chúng sinh. Người trong thiên hạ đã tìm kiếm quá lâu trong đêm đen hắc ám, cho đến hôm nay họ đã nản lòng thoái chí, đã trở nên thờ ơ và lạnh nhạt, bàng quan nhìn vận mệnh thế gian, cũng đang bàng quan với vận mệnh của mình.

    Mà nỗi bi thương không thể diễn tả thành lời của đám sĩ phu cùng nhóm thế gia tài đức đều hiện rõ trong tiếng tiêu của Cơ Tự kia.

    Nếu nói vừa rồi mọi người còn cảm thấy khúc tiêu của Kinh Ly linh hoạt kỳ ảo như tiên nhạc, thì giờ khắc này họ chỉ cảm thấy tiếng tiêu của nàng ta thật buồn cười, tùy tiện và không đáng để nhắc đến mà thôi.

    Trên sườn núi, Trần Dịch Chi dừng thế cờ trong tay, nhóm Tạ Lang cũng đi đến bên sườn dốc, dõi theo tiếng tiêu.

    Trong ánh mắt của vô số người, thiếu niên khi nãy cho Cơ Tự mượn tiêu mặt đỏ bừng, khẽ nói: “Nhất định là tiểu cô khi nãy rồi, nhất định là nàng.”

    Một gã thanh niên mặt chữ điền bên cạnh cười nhạo: “Đừng có nằm mơ, nếu tiểu cô kia thổi tiêu hay đến vậy thì tại sao bản thân lại không mang theo tiêu bên người mà phải đi mượn tạm của ngươi chứ?”

    “Vẫn chỉ là một tiểu cô còn nhỏ tuổi thôi.”

    Ánh mắt Kinh Ly vẫn nhìn vào Tạ Lang đang chắp tay sau lưng nhìn xuống chân núi. Thấy tiếng tiêu đã lắng xuống từ lâu nhưng chàng vẫn không quay đầu lại, cuối cùng nàng ta không nhịn được đi đến phía sau Tạ Lang, cắn môi, khẽ nói: “Không biết vị kia là thần thánh phương nào mà thổi tiêu hay hơn cả tiểu nữ nữa.”

    Gã lang quân tuấn tú bên cạnh Trần Dịch Chi sải bước đi đến, ló đầu nhìn xuống dưới chân núi, cũng hỏi Tạ Lang: “Tạ Thập Bát, mới vừa rồi ngươi đi nhanh nhất, có thấy được người thổi tiêu kia không?”

    Lúc này Tạ Lang thôi nhìn chân núi, chàng cười nhẹ: “Thấy rõ.”

    Lần này tất cả mọi người đều cảm thấy hứng thú, Trần Dịch Chi nói lớn: “Dáng vẻ thế nào? Người đâu, người đâu, mau mời vị ẩn sĩ kia đến đây.”

    Không ngờ Tạ Lang lại nói: “Không cần đâu. Tiếng tiêu du dương, văng vẳng núi rừng... Hưởng thụ thì cứ hưởng thụ, cần gì cưỡng cầu việc khác?” Nói thì nói như vậy, nhưng nét cười nơi đáy mắt chàng cuối cùng trở nên sâu xa.

    Cơ Tự trở lại xe lừa, cây tiêu kia đã được nàng cất vào ngực. Cây tiêu trúc này không phải là vật sang quý, nếu Cơ Tự đã mượn cũng không cần phải cố đem trả lại làm gì.

    Lê thúc vung roi, xe lừa dần dần chạy ra phố, Cơ Tự không nhịn được vén rèm xe lên nhìn về phía đỉnh núi. Tuy cách khá xa nhưng nàng vẫn thấy được bóng dáng bạch y trong núi rừng xanh mướt kia. Dĩ nhiên bóng dáng bạch y này không nhất định là Tạ Lang, phải biết rằng trước kia trong nhà có tang thì người ta mới mặc đồ trắng, nhưng từ thời Ngụy Tấn đến nay, các danh sĩ lại thích mặc bạch y, cũng biến áo bào trắng, váy trắng, ngựa trắng thành trào lưu hiện nay.

    Hơn nữa, kể từ khi Tạ Lang đến Kinh Châu, đám lang quân thế tộc và sĩ tộc Kinh Châu rối rít bắt chước, cho nên người vận bạch y càng nhiều hơn.

    Lúc này, giọng Lê thúc vang lên bên ngoài: “Nữ lang, mới vừa rồi lão nô loáng thoáng trông thấy mấy tiểu cô A Mật, lúc người đi ra khỏi chùa có gặp họ không?”

    Nhóm Trịnh Mật cũng đến chùa Khô Vinh ư? Cơ Tự cau mày, nhẹ giọng trả lời: “Không có.”

    Lê thúc ở bên ngoài lại nói: “Mới vừa rồi lão nô thấy hình như họ có vẻ không vui, không biết là vì nguyên nhân gì?”

    Cơ Tự trả lời: “Chắc là không sao đâu. Thúc cũng biết đấy, con người A Mật hay tức giận lắm, có thể bị người ta cướp mất thứ gì nàng ta thích thôi.”

    Lê thúc cười hềnh hệch: “Nói cũng đúng.”

    Đúng lúc này, giọng Cơ Tự vang lên bên trong xe ngựa: “Thúc, ta không cần dùng đến hai cửa hàng gạo kia nữa, thúc mau tìm người bán đi.”

    Lê thúc lớn giọng trả lời: “Được, được, lão nô cũng đã nói với Tôn Phù như thế. Người của chúng ta quá ít, không bằng bán hai cửa hàng ở huyện Kinh đi, sắp xếp họ đến cửa hàng ở huyện Khúc Thủy cho rồi. Vùng đó buôn bán tốt hơn huyện Kinh nhiều, không thể cứ bỏ trống vậy được.”
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 12: Chu lang


    Suốt quãng đường Cơ Tự không nhìn thấy nhóm Trịnh Mật đâu cả, hiếm lắm mới đến thành Kinh Châu một chuyến, nàng dứt khoát đi mua một vài thứ cần thiết rồi cùng Lê thúc trở về trang viên.

    Trang viên của Cơ gia có hai mươi mấy gian phòng, năm mươi mẫu ruộng và gần nửa ngọn núi được ngăn bởi dòng suối rộng. Tuy nói chỗ này không nhỏ nhưng trong tất cả trang viên của huyện Kinh này, nó lại là nhỏ nhất. Bình thường, trang viên của các đại quý tộc giàu có chứa được những mấy trăm, mấy nghìn người, còn có thể tự cung tự cấp mọi thứ, thậm chí rất nhiều trang viên còn có đủ loại phân xưởng.

    Vừa vào trang viên, Cơ Đạo mới tám tuổi chạy đến, nhảy nhót vui mừng: “Tỷ tỷ, tỷ tỷ, tỷ đã về rồi.”

    Đứa bé này luôn như thế, mỗi lần nàng ra ngoài, người mong ngóng nhất chính là cậu, mà mỗi lần nàng trở về, người vui vẻ nhất cũng là cậu. Đúng rồi, bây giờ Cơ Đạo vẫn còn bé, cười lên liền lộ ra hàm răng bị sún hai chiếc. Hình như từ sau sinh nhật mười bốn tuổi của cậu, nàng không còn thấy cậu cười nữa. Cho dù đến năm bốn mươi tuổi, cậu tự xưng vương dưới sự ủng hộ của đám mãnh tướng, trên mặt cậu cũng không hề có nét cười...

    Vừa nghĩ đến đây, Cơ Tự liền cau mày, nàng lờ mờ đoán được, hình như vào năm Cơ Đạo mười bốn tuổi, mình đã mất. Thế nhưng những chuyện cậu trải qua sau này, sao nàng lại nhớ rõ ràng như thế? Hơn nữa, trong đầu nàng thậm chí còn hiện lên hình ảnh Cơ Đạo khóc nức nở trước mộ mình. Khi đó nàng đã chết rồi, sao còn thấy rõ mồn một mọi chuyện thế kia?

    Trong lúc Cơ Tự suy tư, Cơ Đạo đã vịn càng xe, trèo lên xe lừa, ngồi xuống đối diện Cơ Tự đang đăm chiêu, hớn hở nói: “Tỷ tỷ, hình như tỷ có tâm sự à?” Cậu bé nhăn mày, nghiêm túc nói, “Tỷ tỷ, mới vừa rồi Mật nhi Trình gia phái người đến tìm tỷ đấy. Đệ cảm thấy con người Trịnh Mật lòng dạ nhỏ nhen lắm, tỷ phải chú ý thật kỹ.”

    Cơ Tự cười xòa: “A Đạo thông minh quá, ngay cả Trình Mật lòng dạ nhỏ nhen mà cũng nhìn thấu.” Nhìn gương mặt mũm mĩm, đáng yêu của Cơ Đạo, đáy lòng nàng trào dâng cảm xúc thương yêu quá đỗi, bất chợt ôm lấy cậu, hôn chụt lên khuôn mặt nhỏ bé kia.

    Giống như trước đây, mặt Cơ Đạo lập tức đỏ ửng. Cậu khẽ giãy giụa, lắc lư người, đôi mắt chớp chớp lấp lánh nhìn Cơ Tự, chỉ thiếu điều viết dòng chữ “thêm nữa đi, đệ vẫn còn muốn nữa” lên mặt.

    Trong lúc hai tỷ đệ đang vui cười thì giọng Dữ Trầm truyền đến: “Nữ lang, Trịnh phủ vừa phái người đến, mời người đến nhà họ một chuyến.”

    Cơ Tự nhớ đến lời Cơ Đạo nói vừa rồi, nụ cười tắt ngúm: “Được, ta biết rồi.”

    Trịnh phủ có thể xem như xưng hùng xưng bá ở cái đất huyện Kinh này. Xe lừa của Cơ Tự đi đến cổng trang viên Trịnh thị to lớn gấp năm lần nhà mình, nàng than thầm. Mười ba năm trước Trịnh phu nhân chỉ là bà vú của mình thôi, nhưng mười ba năm sau Trịnh phủ lại có của cải gấp mười lần Cơ phủ rồi.

    Thấy xe lừa Cơ Tự đến, gã canh cửa xưa nay luôn mang vẻ mặt cau có, lần này đột nhiên lại cười vui vẻ, khúm núm nói chuyện với nàng: “Tiểu cô Cơ gia đến rồi ạ? Phu nhân nhà ta chờ tiểu cô mãi.”

    Cơ Tư gật đầu với gã, xe lừa chạy vào phủ.

    Trịnh phủ rất lớn, không ít người hầu kẻ hạ, sau khi Cơ Tự xuống xe, ai ai cũng mang vẻ mặt tươi cười, hành lễ chào hỏi nàng. Điều này khiến Cơ Tự hơi hoảng sợ. Nàng không kiềm được khựng bước, nhỏ giọng hỏi nô tỳ Nguyệt Hồng phía sau: “Ngươi có thấy là lạ không?”

    Đôi mắt Nguyệt Hồng đang nhìn xung quanh, nghe thế nhỏ giọng trả lời: “Lạ lắm ạ. Trước đây họ nhìn nữ lang giống như đề phòng kẻ trộm, lúc nào cũng chế giễu vài câu. Bây giờ lại coi người như miếng thịt béo, cứ hít lấy hít để ấy.”

    Cơ Tự nghe đến đây không nhịn được cười phì: “Cái ví dụ gì thế này!”

    Hai chủ tớ đang thì thầm to nhỏ thì Trịnh Mật tung tăng chạy đến từ phía đối diện, nhác thấy Cơ Tự liền nhào đến, đưa tay khoác vai nàng: “A Tự, ta đang định tìm ngươi đấy. Mau, mau, mau, đại ca đang tiếp khách ở thư phòng của phụ thân.”

    Cơ Tự bị Trịnh Mật lôi đi lảo đảo, hỏi: “Rốt cuộc là có chuyện gì thế?”

    “Ngươi đến thì sẽ biết thôi.” Nói xong, Trịnh Mật nhìn về phía Cơ Tự với ánh mắt hâm mộ nhưng lại ẩn chứa ghen ghét.

    Cơ Tự càng tò mò hơn. Bị Trịnh Mật lôi kéo, chỉ chốc lát nàng đã đến cửa thư phòng Trịnh lão gia.

    Xuất thân của Trịnh lão gia tuy không vẻ vang, nhưng kể từ khi phất lên, ông ta rất thích đọc sách, luôn luôn chú trọng giữ phong thái thanh nhã cao quý. Vì vậy cửa thư phòng ông nhìn thẳng ra vườn hoa nhỏ, trong vườn đầy cây cỏ quý hiếm, xanh um tươi tốt, hòn non bộ rải rác, trông rất trang nhã.

    Mà giờ phút này, vườn hoa tiếng đàn du dương, hương đưa thơm ngát.

    Cơ Tự rất am hiểu về đàn, vừa nghe thấy tiếng đàn kia, nàng khẽ nói: “Có khách quý đến à?” Tiếng đàn thánh thót thế kia chứng tỏ người đánh có tài nghệ bất phàm, chắc chắn không phải là loại nhà giàu mới nổi.

    Kể từ khi Trịnh Mật bước vào vườn hoa, gò má liền ửng hồng, mắt cũng sáng quắc. Nàng ta hoàn toàn không nghe thấy lời nói của Cơ Tự, chỉ lôi nàng xềnh xệch đến tận khúc cua trước mặt kia mới đột ngột ngừng bước.

    Đứng ở vị trí này có thể thấy rõ mồn một người trong vườn hoa. Cơ Tự khẽ giật mình nhìn theo ánh mắt của Trịnh Mật.

    Có bốn lang quân trẻ tuổi ngồi trong vườn, họ mặc áo bào tay rộng, mão miện lưng đai, chân đi guốc mộc. Bất kể mấy hộ vệ canh gác cách đó không xa, hay là đám nữ tỳ xinh đẹp quỳ hầu rượu, đều cho thấy bốn lang quân này có lai lịch rất lớn.

    Có thể gặp được nhân vật quyền quý ở cái đất huyện Kinh nhỏ bé này là chuyện vô cùng hiếm có. Càng khiến người ta ngạc nhiên hơn chính là bốn lang quân đều mang dáng vẻ tuấn tú, gương mặt na ná nhau, hình như là người một nhà.

    Trịnh Mật nhìn về phía lang quân ngồi giữa đang đánh đàn với ánh mắt đắm đuối. Người nọ khoảng mười tám tuổi, đẹp tựa ngọc quý, đôi mắt như làn thu thủy trong veo tĩnh lặng, ngón tay trắng trẻo khẽ lướt qua dây đàn toát lên vẻ tao nhã. Tiếng đàn văng vẳng du dương khiến phong thái đối phương càng trở nên siêu phàm thoát tục.

    Trịnh Mật như si như say khẽ nói: “Vị lang quân kia họ Chu, đến từ Hoàng Đô.” Rồi nàng ta quay đầu nhìn về phía Cơ Tư, ánh mắt mang theo vài phần ghen tỵ, “Cơ Tự, chàng đến đây vì ngươi đấy.”

    Cơ Tự thoáng chớp mắt, nhẹ giọng trả lời: “Ta không biết hắn.”

    Trịnh Mật cười khẩy, thoáng chốc hốc mắt đỏ hoe: “Ngươi không biết thì có làm sao? Đừng nói là ngươi, ngay cả Trịnh gia ta nghĩ mãi mà vẫn không hiểu, lang quân như Chu Ngọc sao tự dưng vô cớ coi trọng đứa cô nhi như ngươi, lại còn nói muốn cưới ngươi làm thê tử nữa?”

    Gì cơ? Cơ Tư kinh hoảng lùi về sau một bước, Nguyệt Hồng hoảng hốt chen lời: “Gì cơ?” Nháy mắt nàng ta trở nên vui vẻ, “Thật không, thật không? Vậy thì tốt quá.”

    Mặt Trịnh Mật sa sầm. Cơ Tự ngỡ ngàng nhìn Trịnh Mật hồi lâu. Hai người lớn lên cùng nhau từ hồi tấm bé, hiểu rất rõ về đối phương. Vì thế Cơ Tự nhanh chóng tin tưởng Trịnh Mật không hề nói đùa. Nàng dời mắt đi, nghĩ ngợi rồi từ từ vuốt thẳng ống tay áo, sau đó chậm rãi đi ra.

    Vườn hoa đang huyên náo, Cơ Tự vừa xuất hiện, Trịnh phu nhân liền “ồ” một tiếng rồi vui mừng đứng dậy, yêu thương gọi nàng là “Tự nhi“. Vị lang quân Chu Ngọc cũng ngẩng đầu nhìn nàng.

    Trịnh phu nhân bước đến, thân thiết nắm hai tay Cơ Tự, nói: “Đen hơn rồi, lại còn gầy đi nữa chứ.”

    Bà dắt tay Cơ Tự đến bên cạnh sập, vừa đi vừa giới thiệu: “Tự nhi, đây là bốn vị lang quân Chu gia, họ đều đến từ Kiến Khang. Nào, con tiến lên bái kiến chư vị lang quân đi.”

    Thấy Trịnh phu nhân cười nói nhẹ nhàng, Cơ Tự suy tính nhiều lần mới quyết định thuận theo. Thế là nàng bước đến, khẽ nhún chào Chu Ngọc, nói: “Cơ thị A Tự tham kiến lang quân.”

    Chu Ngọc đứng lên, mắt sáng lấp lánh nhìn Cơ Tự một hồi, khuôn mặt dần dần nở nụ cười thỏa mãn, thi lễ đáp trả Cơ Tự rồi ôn hòa nói: “Ta tên Chu Ngọc, sau này A Tự cứ gọi ta Thập Tam lang là được.”

    Thập Tam lang ư? Xưng hô như thế thì thân mật quá! Trong phúc chốc, đám người Trịnh gia ngơ ngác nhìn nhau, họ không dám tin lang quân quyền quý đến từ Kiến Khang này thực sự muốn cầu hôn Cơ Tự.

    Phía sau rặng cây, Trịnh Mật tức đến mức giậm chân: Sao con tiện nhân không cha không mẹ này lại may mắn thế chứ?

    Đối mặt với Chu Ngọc tuấn tú, Cơ Tự chỉ mỉm cười, không hề đỏ mặt. Nàng quay đầu thi lễ với lang quân gầy gầy, khí chất cao ngạo như cây tùng: “Cơ thị A Tự, tham kiến lang quân.”

    Lang quân này trông có vẻ lớn tuổi hơn Chu Ngọc một chút, y nở nụ cười khoe hàm răng trắng, sau khi đánh giá Cơ Tự từ trên xuống dưới, chợt nói: “Cơ thị A Tự à? Vầng trán cao, sống mũi thẳng, quả nhiên tướng mạo phi phàm. A Tự, ta tên Chu Chấn, nàng gọi ta Thập Nhất lang là được.”

    Cơ Tự gọi “Thập Nhất lang” rồi quay người khẽ chào lang quân thứ ba.

    Lang quân này đang đọc sách, nghe thấy thì hơi ngẩng đầu nhìn Cơ Tự. Y mày kiếm mắt sáng, tướng mạo khôi ngô, khẽ gật đầu, nói: “Ta tên Chu Linh, đứng hàng thứ mười bốn trong gia tộc. Ừ, nàng tốt hơn trong tưởng tượng của ta một chút.”

    Cơ Tự chuyển hướng về phía người thứ tư.

    Lang quân thứ tư này cũng có tướng mạo anh tuấn như ba người kia, nhưng trên người y toát ra vẻ lạnh lùng khó gần, ngũ quan sắc nét, tuổi tác xấp xỉ với Chu Ngọc. Y lẳng lặng đánh giá Cơ Tự một hồi, đoạn gật đầu, nói: “Ta tên Chu Lan, đứng hàng thứ mười lăm trong gia tộc, gọi ta là Thập Ngũ lang đi.”

    Sau khi bái kiến bốn vị Chu lang, Cơ Tự quay lại ngồi xuống sập. Lúc này, sắc mặt của đám người Trịnh thị khá khó coi, bốn vị lang quân này đều chưa có thê tử, từ trên xuống dưới Trịnh gia đều nhắm đến. Nhưng hiện tại, không bàn đến Chu Ngọc có dáng vẻ tuấn tú nhất kia, ba người còn lại dường như cũng mang vài phần kính trọng với cô nhi Cơ Tự này. Người Trịnh gia nghĩ, dung nhan của Trịnh Mật không hề kém cạnh Cơ Tự, nhưng khi nãy Trịnh Mật đến chào bốn người này, chỉ có mình Chu Ngọc ngẩng đầu lên nhìn thôi. Bấy giờ Trịnh phu nhân thầm hận trong lòng, bà luôn cảm thấy hình như bốn Chu lang này đều có hứng thú với Cơ Tự thì phải.
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 13: Vô ý


    Tiếng đàn lại ngân lên, trong khúc nhạc du dương, Chu Ngọc vừa lướt tay trên dây đàn vừa cười nói: “Nghe nói A Tự tinh thông âm luật, có thể đệm một khúc cho ta được không?”

    Hắn mỉm cười nhã nhặn, giọng nói bâng quơ, nhưng ánh mắt nhìn Cơ Tự rõ ràng mang theo sự chắc chắn và quyết đoán.

    Cơ Tự nhìn lại hắn rồi cúi đầu nói: “A Tự sao dám từ chối?”

    “Hay lắm.” Người cất lời là Thập Nhất lang Chu Chấn, y vỗ tay cười, “Mang nhạc cụ đến đây mời tiểu cô chọn.”

    “Vâng.” Trong tiếng vâng dạ đồng thanh, năm sáu tỳ nữ thướt tha cầm đủ các loại nhạc cụ đến.

    Cơ Tự nhìn thoáng qua họ rồi tiện tay nhận lấy một cây tiêu. Thấy Cơ Tự đưa tiêu lên đôi môi anh đào, khuôn mặt tuấn tú của Chu Ngọc nở nụ cười tươi tắn. Tay hắn dạo đàn, trong nháy mắt tiếng nhạc êm dịu khoáng đạt ngân vang đầy cõi đất trời. Khi tiếng đàn vút cao phá tận tầng mây thì tiếng tiêu cũng đã bắt đầu hòa âm phối khí. Trong tiếng đàn thánh thót, tiếng tiêu như thể một con hạc trắng vỗ cánh bay qua mặt hồ, sau vài vòng bay lượn, nó vờn theo tiếng đàn, đưa mọi người lên thẳng tầng mây.

    “Hay.”

    Chu Linh khen ngợi. Vào lúc này tiếng đàn đột ngột im bặt, cùng thời điểm đó Chu Chấn, Chu Loan cũng vỗ tay theo, mà sắc mặt của đám người Trịnh gia bên cạnh càng trở nên khó coi.

    Ngay sau đó, Chu Ngọc đẩy đàn ngọc ra đứng lên. Hắn cầm lấy một cuộn giấy, trải trên mặt bàn, hăng hái nói với Cơ Tự: “Tháng trước ta có vẽ bức tranh Xuân Sơn Tư Viễn, hiện còn thiếu vài hàng thơ, không biết A Tự có thể đề giúp ta không?”

    Vừa nghe đến bức tranh kia do đích thân Chu Ngọc vẽ, người Trịnh gia đồng loạt rướn cổ nhìn xem. Trịnh lão gia vừa liếc thoáng qua đã xuýt xoa khen ngợi: “Quả thật là danh tác đây mà.”

    Trước lời ca ngợi của ông ta, Chu Ngọc chỉ mỉm cười gật đầu, sau đó nghiêm túc nhìn Cơ Tự. Cơ Tự phớt lờ ánh mắt ghen ghét tóe lửa của Trịnh Mật, nghĩ thầm: Cứ bất động xem tình hình thế nào đã.

    Nàng cất bước đi đến bên cạnh Chu Ngọc. Cúi đầu nhìn tranh, lòng nàng chợt hoảng hốt: Không ngờ, Chu Ngọc quả thật là tài tử. Bất kể hắn đàn hay vẽ tranh đều có hàm súc, phong cách đặc biệt, mang một nét rất riêng độc đáo.

    Nhưng Chu Ngọc càng tài trí xuất chúng, trong lòng Cơ Tự càng nghi ngờ hơn.

    Thấy nàng chần chừ, Chu Ngọc đứng bên cạnh nhẹ giọng nói: “A Tự, mời!”

    Cơ Tự ngẩng đầu nhìn hắn rồi khẽ cười: “Nếu viết không hay, mong rằng Thập Nhất lang đừng chê trách.”

    Chu Ngọc cũng cười nhìn nàng, cất giọng ôn hòa: “Tất nhiên là không thể trách nàng được.”

    “Vậy A Tự xin tạ ơn lang quân trước.”

    Cơ Tự nhận lấy bút lông đã chấm mực trong tay hắn, lúc ngón tay hai người chạm vào nhau, đầu ngón tay Chu Ngọc như vô ý cong lại, trùng hợp móc vào lòng bàn tay Cơ Tự, khiến lòng bàn tay nàng ngứa ran rồi run lên, chiếc bút lông trong tay suýt nữa rơi xuống. Có điều dù như vậy, trên mặt Cơ Tự không hề hiện vẻ xấu hổ. Chu Ngọc vẫn chăm chú quan sát nàng không khỏi rủ mi mắt.

    Thoáng chốc, hàng chữ hành thư xinh đẹp được đề lên bên góc phải bức tranh: “Hoa rơi hữu ý đưa xuân đến, nước chảy vô tình gặp chiều đông.”

    Thế gian này có không ít người giỏi về lối chữ hành thư, nét chữ của Cơ Tự tuy không phải xuất chúng hiếm có, nhưng cũng lưu loát sinh động. Dù bút pháp còn hơi non tay nhưng khung chữ đã rõ nét, tài nghệ không thua kém gì những khuê tú thư hương thế gia.

    Cơ Tự viết xong hai hàng chữ liền đặt bút lông xuống, quay đầu nhìn về phía Chu Ngọc, mỉm cười rồi khẽ chào: “Trong nhà A Tự còn có việc bận, không làm lỡ việc của mấy vị lang quân nữa.” Dứt lời nàng cũng thi lễ với vợ chồng Trịnh thị, sau đó lập tức quay người bước đi.

    Đến tận khi bóng dáng Cơ Tự khuất khỏi tầm mắt mọi người, gương mặt Trịnh lão gia mới hiện lên vẻ tức giận, ông ta vừa định quát mắng thì Chu Chấn cười sang sảng: “Đúng là bây giờ cũng không còn sớm nữa, chư vị, chúng ta nên về khách đ**m rồi.” Nói xong Chu Chấn hất áo bào, không buồn chào xã giao với vợ chồng Trịnh thị, cứ thế rời khỏi vườn hoa.

    Mãi cho đến khi lên xe lừa, Nguyệt Hồng vẫn còn lo lắng nhìn Cơ Tự. Đến khi xe lừa lăn bánh, nàng ta không nhịn được nói: “Nữ lang, hành động vừa rồi của người có vẻ không tốt đâu, sẽ đắc tội Trịnh gia đấy.”

    Cơ Tự vẫn trầm tư, đến tận khi Nguyệt Hồng huých cùi chỏ vào nàng hai cái, nàng mới trả lời: “Nếu ta không làm như vậy mới là hậu hoạn vô cùng.”

    Từ khi nào mà chuyện chung thân đại sự của nàng đến lượt vợ chồng Trịnh thị làm chủ cơ chứ? Nếu đến mức này mà nàng vẫn còn nhún nhường thì vợ chồng Trịnh thị kia tuyệt đối sẽ lấn lướt, đem hôn nhân của nàng ra để đổi chác lấy lợi ích cho bản thân họ cho xem.

    ***

    Đoàn xe oai vệ của nhóm Chu Ngọc chạy trên đường về khách đ**m thu hút vô số người vây xem.

    Vừa vào phòng, khuôn mặt tuấn tú của Chu Ngọc liền sa sầm, hắn vừa cởi ngoại bào vừa sai hạ nhân: “Mang cái này đi đốt đi.” Hắn liếc nhìn tỳ nữ xinh đẹp cẩn thận gói kỹ ngoại bào, hờ hững dặn dò thêm, “Mấy thứ đã dùng qua như chung rượu đều vứt đi... Chỗ của Trịnh thị quá thấp hèn, quá th* t*c, nán lại thêm một khắc cũng làm cho người ta cảm thấy xúi quẩy.”

    Đám người hầu cuống quýt vâng dạ, Chu Chấn, Chu Loan bên cạnh cũng cởi ngoại bào ra đưa tỳ nữ mang đi đốt. Còn Chu Linh giở bức họa ra xem chốc lát, đột nhiên bật cười: “Thập Nhất huynh, tiểu cô kia đang mắng huynh đấy, hoa rơi hữu ý đưa xuân đến, ha ha, nàng nói huynh là kiểu tình lang hay gieo tình khắp nơi kìa.”

    Chu Loan, Chu Chấn bên cạnh cũng nở nụ người, ngay cả bản thân Chu Ngọc cũng nheo đôi mắt phượng cười theo.

    Chu Chấn nói thêm: “Không tồi, không tồi, thật là một tiểu cô thông minh. Có điều này đệ phải nói với Thập Nhất huynh, đệ thấy nàng thật sự không có ý gì với huynh đâu. Huynh nhìn hai câu thơ nàng đề đi. Nàng ấy không chỉ nói huynh phong lưu đa tình, mà thực tế lòng dạ còn lạnh hơn cả chiều đông đúng không? Hay thật, hay thật, dù sao đại nhân đã nói, nếu tiểu cô Cơ thị này không vừa ý huynh thì ba người bọn đệ cũng có thể thử xem. Hay là, đến lượt đệ ra sân nhé?” Y vừa dứt câu, tiếng cười lại vang lên giòn giã, vẻ mặt y rõ ràng đang chê cười Chu Ngọc.

    Không phải là họ cười trên nỗi đau của người khác, đường đời của Chu Ngọc luôn suôn sẻ, tài hoa lại cao, đi có mỗi một đoạn đường đã khiến không biết bao nhiêu tiểu cô xiêu lòng rồi. Thế nhưng đây là lần đầu tiên họ phát hiện, Chu Ngọc xưa nay tình trường đắc ý lại có lúc thất bại.

    ***

    Hai chủ tớ Cơ Tự nói đùa một hồi, sau lại suy đoán mãi mà vẫn không đưa ra được kết luận, Cơ Tự liền gác việc này sang một bên. Lúc trở về trang viên, Tôn Phù bẩm báo với nàng, đã có người hỏi mua hai cửa hàng gạo kia rồi, nàng hỏi thêm mới biết hóa ra là Trang gia.

    Trang gia đưa ra giá cũng hợp lý, hôm ấy Cơ Tự liền cầm khế đất đưa cho họ rồi lấy về hoàng kim. Hiện giờ, ở huyện Kinh này, ngoại trừ trang viên ra thì Cơ Tự đã không còn tài sản nào nữa.

    Không biết tại sao nghĩ đến mấy vị lang quân họ Chu, nàng lại cảm thấy thấp thỏm. Quan trọng nhất là chuyện họ làm thân không hề xuất hiện trong đầu của nàng. Nếu những hình ảnh nàng thấy được trong đầu là những điều từng trải qua kiếp trước, vậy thì lúc này nàng đã rơi vào vòng xoáy tình yêu với Trang Thập Tam, trong mắt nhiều người nàng đã là nữ lang không còn trong trắng nữa. Nói như thế dù những người kia có đến huyện Kinh, chỉ sợ nghe thấy tên của nàng cũng sẽ chạy dài thôi.

    Bởi vì cảm giác lo âu này nên Cơ Tự muốn kiếm thật nhiều tiền càng nhanh càng tốt. Nàng nghĩ, có tiền rồi thì nàng có thể rời khỏi huyện Kinh, thoát khỏi sự khống chế của Trịnh phủ bất cứ thời khắc nào. Có tiền trong tay, cho dù Chu Ngọc không rõ ý đồ kia muốn làm gì nàng, nàng cũng có thể linh hoạt ứng đối.

    Mà hiện giờ ngoại trừ một trăm mẫu ruộng bên thôn La Thủy, trang viên huyện Kinh, năm cửa hàng ở huyện Khúc Thủy, và khoảng ba mươi mấy người gồm cả hộ vệ, quản gia, tá điền đối với Cơ gia đều quá ít ỏi.

    Cơ Tự ngồi trong thư phòng, chốc chốc nhớ đến Tạ Lang, lát lát lại nghĩ đến bốn lang quân Chu gia, rồi lại tính phải kiếm tiền thế nào. Nàng càng nghĩ càng thấp thỏm bất an, thấy trời vẫn còn sớm liền dứt khoát mặc nam trang ra ngoài. Cơ Tự quả thật được ông trời ưu ái, lúc giả trai chỉ cần vẽ lông mày to ra một chút là sẽ không một ai nhận ra.

    Cơ Tự ngồi xe lừa đi lòng vòng quanh huyện Kinh, nàng thấy tiệm gạo nhà mình đã đổi thành biển hiệu của Trang thị chợt bần thần hồi lâu. Nàng nghĩ, năm xưa cha nàng để lại hai cửa hàng này cho nàng chắc cũng không nghĩ đến có ngày hôm nay.

    Cơ Tự cảm thấy mệt mỏi, khẽ thở hắt một hơi rồi ra lệnh: “Đi, đến Túy Tiên Lâu xem thử.”

    Túy Tiên Lâu là tửu lầu đứng đầu huyện Kinh. Nơi này người đến người đi, khách khứa nhiều vô kể, mỗi khi muốn hỏi thăm tin tức hoặc muốn biết bên ngoài xảy ra chuyện gì, nàng đều chọn đến đây trước tiên.

    Chỉ chốc lát, xe lừa đã dừng trước cửa tửu lâu, Cơ Tự dặn dò Lê thúc đôi câu rồi cất bước đi vào. Vừa ngồi xuống bàn gần dãy cửa sổ, nàng liền nghe thấy người phía trước nói: “Bây giờ thật là khó sống, quân Bắc Ngụy vừa rút lui được một dạo thì năm ngày trước ta lại nghe người ta nói đám cướp La Đại Đầu muốn tràn xuống thôn Hồ Sơn cướp của giết người, bây giờ mấy nghìn người ở thôn Hồ Sơn kia ai ai cũng hoang mang.”

    “Vậy thôn Hồ Sơn có xin cứu binh của quan phủ chưa?”

    “Cầu cứu á? Ai đi? Mấy năm nay giặc cướp nhiều vô kể, có lần nào quan phủ để tâm đến đâu?”

    “Đúng là mấy trang viên có bộ khúc hùng mạnh thì vẫn tốt hơn, nếu thôn Hồ Sơn cũng có một nhà như thế thì không sợ giặc cướp nữa rồi.”

    Thôn Hồ Sơn, La Đại Đầu, cứu binh của quan phủ ư? Nghĩ một hồi, mắt Cơ Tự sáng ngời, nàng vụt đứng dậy, vội vàng ném cho tiểu nhị mười mấy đồng rồi ra khỏi tửu lâu.

    Không ngờ Cơ Tự lại ra nhanh như vậy, Lê thúc liền hỏi: “Nữ lang, sao xong nhanh thế?”

    Cơ Tự nhìn y, mắt sáng lấp lánh: “Ta nghĩ ra cách kiếm tiền rồi.”
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 14: Lấy cắp


    Sáng sớm tháng Chín sương trắng lượn lờ. Trên đường cái cách thôn Hồ Thủy chừng bảy mươi dặm có một lữ quán do người dân tự xây dựng. Thường thì đối với những lữ quán kiểu này, chủ quán luôn chuẩn bị số lượng lớn lương thảo cho súc vật, cũng như thức ăn và nồi bếp để cung cấp cho người đi đường tự nấu nướng. Dĩ nhiên muốn sử dụng thì phải trả tiền.

    So với lữ quán bình thường, phòng của lữ quán này đều xây dựng bằng gỗ tấm, bề ngoài đẹp mắt, bên trong tinh xảo, nếu có đại sĩ phu đi ngang qua ắt hẳn sẽ thích nghỉ chân ở đây.

    Cơ Tự mặc nam trang, chậm rãi xuống xe lừa. Trong vòng bảo vệ của Lê thúc, Tôn Phù và mười mấy hộ vệ, nàng bước vào lữ quán. Giờ này vẫn còn sớm, trong lữ quán không có mấy khách ngủ lại, thấy đám người Cơ Tự đến, vợ chồng chủ quán vui mừng ra đón. Nhưng khi Cơ Tự cởi mũ sa ra, hai ông bà chủ bốn mươi mấy tuổi, tóc mai hai bên đã bạc trắng trông già hơn tuổi thật, lại mang vẻ mặt thất vọng dừng bước.

    Thấy họ mãi mà vẫn không tiến lên, Dữ Trầm tức giận, cất cao giọng: “Chủ quán có ý gì đây? Khách đến mà không tiếp à?”

    Đôi vợ chồng chủ quán liền bừng tỉnh, vội vàng tươi cười chạy đến. Chẳng qua sau khi đi đến trước mặt Cơ Tự, bà chủ thở dài, giọng khàn khàn khuyên nhủ: “Vị tiểu lang này, bây giờ còn sớm, đi về phía Nam chừng tám mươi dặm nữa sẽ có một trấn nhỏ... Không bằng tiểu lang qua đêm ở đó đi.”

    Ông chủ có khuôn mặt khắc khổ vàng vọt nói: “Đúng đấy, đúng đấy, ngủ ở lữ quán nhỏ của chúng tôi không được thoải mái đâu ạ.”

    Nghe lời hai vợ chồng này nói, Dữ Trầm đứng bên cạnh thấy buồn cười: “Ta vào nam ra bắc nhiều năm mà đây là lần đầu tiên thấy có người đuổi khách đấy.” Vừa dứt lời, sắc mặt Dữ Trầm liền sa sầm, ngay cả mười mấy người hộ vệ cũng mang vẻ mặt khó coi.

    Ông bà chủ thấy mười mấy vị đại hán sầm mặt cũng hoảng sợ, lập tức bà chủ lắp bắp giải thích: “Không, không, không phải.”

    Bà còn chưa nói xong, ông chồng ở bên cạnh liền chen lời: “Chư vị hiểu lầm rồi, sở dĩ chúng tôi bảo tiểu lang đây rời đi không phải có ý đuổi khách đâu, mà vì tướng mạo của tiểu lang thật sự quá tuấn tú thôi.”

    Trong sự kinh ngạc của mọi người, ông chủ tiếp tục than thở: “Tiểu lang khôi ngô đứng đâu cũng trở nên chói mắt như trân bảo. Không gạt chư vị, lữ quán của tôi thường xuyên phải nộp tiền bảo kê cho đám thổ phỉ trên núi, người của họ luôn giám sát nơi này. Nếu mấy tên kia biết lữ quán chúng tôi có tiểu lang ưa nhìn như vậy, không chừng sẽ nảy sinh ý đồ xấu. Ôi, ôi, năm ngoái lão đây gặp được một tiểu lang thanh nhã, còn đẹp hơn cả khách quan nữa. Đám thổ phỉ kia đến cướp hắn, sau đó nghe người ta nói là đã bị đem bán hầu hạ nhóm quyền quý ở Kiến Khang rồi. Có thể khách quan chưa nghe thấy chuyện này bao giờ, nhưng trong mắt người đời nay thì nữ tử có dáng vẻ xinh đẹp cũng thường thôi. Nếu nam tử nhà nghèo mà tuấn tú thì không ổn. Cho dù là bệ hạ cũng mắt nhắm mắt mở cho qua chuyện này...”

    Ý của ông ta là sợ Cơ Tự giải trai quá tuấn tú lọt vào mắt của đám cướp sẽ dẫn đến tai họa. Thoáng chốc, nhóm Dữ Trầm, Tôn Phù đều đen mặt.

    Cũng chẳng trách được họ kiến thức hạn hẹp, chuyến đi xa nhất trong cuộc đời họ chỉ đến huyện Thanh Sơn, còn kẻ bạo ngược họ gặp duy nhất chính là Trang gia. Thế gian này, quyền quý và thứ dân là như trời và đất, vì thế họ nào nghe nói việc nam nhân hứng thú với nam nhân bao giờ chứ? Ngay cả Cơ Tự biết được là do đột nhiên có rất nhiều ký ức mới, chứ lúc trước nàng cũng chưa một lần nghe nhắc đến.

    Chủ tớ họ nhìn đôi vợ chồng buồn rầu than thở, rồi ngơ ngác nhìn nhau, mọi người đang chờ Cơ Tự quyết định.

    Mà lúc này, Cơ Tự thật sự đang do dự. Trên đường đi, nàng đã nghĩ đi nghĩ lại mười mấy lần, chắc chắn không hề bỏ sót một chi tiết nhỏ nhặt nào, thậm chí nàng có thể tưởng tượng ra cảnh tượng thành công mỹ mãn chở đầy mấy xe tiền bạc về nhà nữa cơ. Nhưng nàng không thể ngờ lữ quán trước mắt này lại không muốn tiếp đãi mình.

    Suy tư chốc lát, Cơ Tự quả quyết nói: “Đi thôi, chúng ta đến trấn trên.”

    “Vâng.”

    Sau khi rời khỏi lữ quán, thấy Cơ Tự vẫn rầu rĩ không vui, Dữ Trầm cưỡi lừa sát lại, dè dặt nói: “Nữ lang, nếu hai người kia đã nói nam tử không an toàn bằng nữ tử, thì chi bằng người thay nữ trang đi ạ.”

    Cơ Tự dở khóc dở cười khiển trách: “Nói nhảm gì thế.” rồi nàng lớn tiếng ra lệnh, “Đi nhanh lên.”

    “Vâng.”

    Đến trấn Hồ Hà, Cơ Tự đã có kinh nghiệm, trước khi vào khách đ**m, nàng không hề cởi mũ sa ra.

    Thấm thoát nhóm Cơ Tự đã ở đây ba ngày. Sáng hôm đó, Cơ Tự vừa ăn sáng xong thì Tôn Phù dẫn theo bốn hộ vệ nhanh chóng đi đến. Y ghé sát vào Cơ Tự khẽ bẩm: “Nữ lang, bọn chúng tới rồi. Tôi đã thấy chúng ở cửa thành, cả mấy trăm người đều đeo túi vải dài, mặt hung ác, chắc chắn là đám cướp La Đại Đầu mà nữ lang nói. Có điều chúng không vào trấn mà cưỡi bò đi về phía Tây luôn.”

    Nói đến đây, Tôn Phù phấn khích: “Nữ lang, bây giờ có nên xuất phát đào khoét ổ của chúng không?” Đáng tiếc duy nhất là, hang ổ của bọn cướp cách trấn này phải đến trăm dặm. Nếu ở lữ quán hôm trước đi qua thì chỉ có hai ba mươi dặm thôi, nếu xuất phát từ đó thì có thể nói là thần không biết quỷ không hay.

    Lúc Tôn Phù đang thầm tiếc hận, Cơ Tự đứng dậy đội mũ sa vào, ngẫm nghĩ: Sào huyệt La Đại Đầu cách quá xa, đi đi lại lại một trăm dặm ít nhất cũng phải mất đến một hai ngày, chở đồ nặng sẽ giảm tốc độ, cả đi cả về cũng phải năm ngày. Trong vòng năm ngày sẽ có khả năng xảy ra nhiều biến cố, quá nguy hiểm.

    Nghĩ đến đây, nàng cũng thở dài, hạ giọng nói: “Khoan hãy đến sào huyệt của chúng đã, thúc căn dặn mọi người ăn no ngủ kĩ, trời vừa tối sẽ bắt đầu lên đường.”

    Tôn Phù vội vàng thưa vâng.

    Trời vừa sẩm tối, đám người Cơ Tự liền xuất phát. Bởi vì chiến tranh liên miên, dân chúng nghèo khổ, nên những thứ như nến chỉ có quý tộc mới dùng. Dân chúng bình thường đa phần đều không đủ ăn nên ban đêm thường tối đen như mực. Vì thế trong cả cái trấn to như vậy, cách mấy trăm mét mới có một cây đuốc, soi sáng khoảng một tấc vuông, không một bóng người đi lại ngoài đường.

    Cơ Tự sai người dùng bao vải bọc chân lừa lại, cả đoàn im hơi lặng tiếng rẽ vào một con ngõ bên cạnh trang viên ở phía Tây.

    Vị trí trang viên này rất hẻo lánh, nhìn từ bên ngoài không khác gì trang viên của Cơ Tự. Dưới ánh sao, nàng nhìn trang viên kia, rồi quay đầu nhỏ giọng hỏi: “Chuẩn bị đột nhập từ đâu?”

    Ban ngày đám người Tôn Phù đã đến đây rồi, y đáp ngay: “Bên cạnh góc tường phía Tây có một đống đá lộn xộn, vào từ nơi đó ạ.”

    Cơ Tự gật đầu: “Phải quan sát kỹ trước khi hành động, nếu bên trong không có động tĩnh thì hẵng ra tay. Có điều ta đoán, nơi này không có gã đàn ông nào đâu, cho dù có người thì cũng chỉ là mấy phụ nữ thôi. Các người đốt mê hương, khiến toàn bộ bọn họ hôn mê rồi hành động.”

    “Vâng.”

    Trong ánh nhìn chăm chú của Cơ Tự, Tôn Phù thử ném một hòn đá vào trong, nhưng trang viên vẫn im ắng. Lúc sau mười mấy hộ vệ lần lượt trèo tường nhảy vào.

    Cơ Tự không vào theo, nàng ngồi trong xe lừa, mắt sáng quắc nhìn chỗ tường bao, lòng thấp thỏm theo từng giây từng phút trôi qua.

    Trong trí nhớ của nàng, hành động đám La Đại Đầu giết người ở thôn Hồ Sơn đã sớm nằm trong dự tính của một đại nhân vật nào đó. Hành động của La Đại Đầu vốn không có sơ hở, điểm sai duy nhất chính là lúc gã ra tay trùng hợp thời điểm đại nhân vật kia tình cờ đi đến Kinh Châu. Lúc La Đại Đầu phao tin trắng trợn muốn giết cả thôn Hồ Sơn, gã không ngờ cuối cùng mình đã rơi vào vòng vây đã được chuẩn bị sẵn sàng của đối phương.

    Nàng nhớ, sau trận chiến đó, toán cướp La Đại Đầu bị tiêu diệt sạch, sau đó của cải mà gã đã cướp bóc được mười mấy năm nay ở hang ổ và cả chỗ trú chân trong trấn này đều bị đối phương vét sạch.

    Vốn Cơ Tự muốn thừa dịp đến sào huyệt chính của La Đại Đầu, nhưng bây giờ vì lý do an toàn, nàng đành đến trộm tiền tài ở trang viên này.

    Gần đến rạng sáng, mọi người mang mấy bao vải nặng ném ra khỏi tường bao, ngay sau đó Lê thúc và Tôn Phù cũng nhảy ra.

    Trong bóng tối, mắt hai người họ sáng rực. Thấy Cơ Tự, Tôn Phù hưng phấn thở hổn hển nói: “Bà nó, đúng là không thể trông mặt mà bắt hình dong, bên trong giàu khủng khiếp, nữ lang không biết đâu, có một cây san hô to đùng đặt chính giữa đại sảnh...”

    Cơ Tự ngắt lời y, vội hỏi: “Nhà kho thì sao? Có tìm được nhà kho không?”

    Tôn Phù ngẩn người, ngạc nhiên nói: “Còn có nhà kho nữa á?”

    Cơ Tự nghe đến đây thì đã hiểu, nàng nhìn về bầu trời hửng sáng đằng Đông, lắng nghe tiếng bước chân và tiếng người trò chuyện phía xa xa, bèn thở dài nói: “Thôi, nhiêu đây đã đủ rồi. Gọi mọi người ra đi, những thứ này cũng đủ cho chúng ta dùng một thời gian.”
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 15: Thu hoạch và Trịnh gia


    Vào lúc bình minh, sáu chiếc xe lừa của Cơ gia đi trên đường cái không hề khiến người khác chú ý. Trên thực tế, mấy ngày qua vùng Hồ Sơn này hẳn là nơi an toàn nhất, đám cướp La Đại Đầu bị lừa, vị đại nhân vật kia còn đem theo đội quân riêng mạnh đến mức đáng sợ lùng sục chúng khắp vùng này. Hiện tại tất cả thành viên trong toán cướp chỉ có thể im ỉm trốn chui trốn nhủi trong góc xó xỉnh nào đó như một con chuột. Trong tình hình này, Cơ Tự ra lệnh cho đoàn xe đi cả ngày lẫn đêm để mau chóng về tới huyện Kinh.

    May mà huyện Kinh chỉ cách nơi này ba trăm dặm, sau một phen chạy bán sống bán chết, đến ngày thứ tư, nhóm Cơ Tự đã về tới cửa nhà mình. Vừa vào trang viên, nàng liền sai người đóng cổng ngay lập tức, sau đó mọi người bắt đầu dỡ hàng.

    Hai xe đầu tiên chất đầy thóc do nhóm Tôn Phù lấy được từ nhà bếp của trang viên La Đại Đầu. Vào thời điểm này dù là tiền Ngũ Thù lúc trước hay là Tứ Thù của đương kim bệ hạ ban hành mới đây đều không được dân chúng tin tưởng. Đây là chuyện bất khả kháng, triều đại thay đổi quá nhanh, những người cất giữ tiền đã sớm phá sản theo các vương triều đổi ngôi rồi. Đối với dân gian, phổ biến nhất là trao đổi hàng hóa với nhau, mà lương thực là loại hàng dễ đổi nhất.

    Có lẽ, sau khi đám La Đại Đầu đi cướp bóc về sẽ mở tiệc ăn mừng, nên trong nhà bếp còn có thêm cá khô, rau củ. Đương nhiên, hai thứ này cũng bị khuân lên chiếc xe lừa thứ ba của Cơ Tự.

    Xe thứ tư, thứ năm chở các rương gỗ chứa toàn tơ lụa. Chiếc xe thứ sáu là thu hoạch lớn nhất chuyến này, đầy một xe vàng bạc, châu báu, đồ cổ, san hô và cả gốm sứ men ngọc bích... La Đại Đầu bày biện những thứ này trong phòng khách để khoe khoang, mỗi thứ đều có xuất xứ không hề tầm thường và thuộc hàng vô cùng quý hiếm.

    Mấy hạ nhân trong trang viên cười vui sướng, gương mặt ánh lên vẻ mỹ mãn. Mà biểu cảm mỗi khi họ nhìn Cơ Tự lại càng tôn kính khôn tả.

    Khác với tâm trạng của nhóm người hầu, lúc này Cơ Tự rất phiền muộn. Sáu xe đầy ắp tiền vật trước mắt tuy có vẻ rất nhiều nhưng đống lương thực cũng như tơ lụa có vẻ dọa người kia thật ra sẽ bay đi rất nhanh. Thứ đáng giá thực sự chính là chiếc xe chở châu báu, thế nhưng vì mỗi một đồ vật đều hiếm có nên nàng càng không thể tuồn hàng trộm cướp đem bán được. Gia thế nàng đơn bạc, vừa sợ dư nghiệt của đám cướp La Đại Đầu vừa sợ khiến người khác chú ý, cho nên xe châu báu kia trông thì giá trị đấy, nhưng lại không thể dùng được ở đất Kinh Châu này.

    Cơ Tự thở dài rồi lặng lẽ giấu những món châu báu vào nhà kho bí mật phía sau, còn lương thực và tơ lụa thì cất vào nhà kho bình thường để tạm tiêu dùng hàng ngày. Sau khi làm xong, Cơ Tự liền gạt hẳn chuyện La Đại Đầu ra khỏi đầu mình.

    Sáng hôm sau, Trịnh phủ lại phái người đến. Trên thực tế, trong khoảng thời gian Cơ Tự không có nhà, Trịnh phủ đã phái người đến tìm nàng vài lần rồi.

    Cơ Tự tiếp đón quản sự của Trịnh gia ở phòng khách. Gã chừng ba mươi sáu, ba mươi bảy tuổi, đã làm cho Trịnh phủ nhiều năm, điều này cũng đồng nghĩa với việc gã chứng kiến cả quá trình trưởng thành của Cơ Tự.

    Gã quản sự vừa uống trà vừa nói bằng giọng thất vọng: “A Tự, cha mẹ cô mất chưa đến một năm, thế mà cô lại trở nên xấc xược như vậy rồi. Phu nhân nhà ta chăm cô từ bé đến lớn, nói cho đúng thì bà đối với cô còn tốt hơn cả con gái ruột của mình. Nhưng cô đã đáp trả tình cảm của bà thế nào? Ngày đó ngay trước mặt khách quý, cô không chào lấy một câu đã phất tay áo bỏ đi. Giáo dưỡng của cô đâu? Lễ nghi của cô đâu? Mẹ nuôi thì cũng được coi là mẹ, hiếu đạo của cô đâu hả?”

    Nghe thấy câu cuối cùng của gã, Cơ Tự suýt bật cười. Nàng vội vàng cúi đầu, thầm nghĩ: Thôi, mình nên khoan dung với mấy “kẻ đọc sách” mà ngay cả con chữ cũng không biết này một chút đi.

    Quản sự Trịnh phủ nói tiếp: “Phu nhân và đại nhân vô cùng tức giận. A Tự, lần này ta đến để dẫn cô tới phủ tạ lỗi với hai vị trưởng bối đấy.”

    Nói đến đây, gã quản sự đứng dậy, ra lệnh cho hai mụ nô tỳ lực lưỡng như đàn ông: “Người đâu, mời tiểu cô lên xe.”

    Thấy hai người kia đi về phía mình, nàng liền đứng dậy cười nói: “Không cần, để tự ta đi.”

    Đây chính là lý do Cơ Tự luôn nhẫn nhịn Trịnh gia, có thể nói Trịnh gia là nô bộc của nhà nàng, nhưng nàng lại không thể lật mặt đối diện trực tiếp với họ. Thời này mỗi nhà giàu có đều sẽ nuôi vài hộ vệ trong trang viên, nói theo người hiện tại thì chính là bộ khúc. Những bộ khúc này bình thường có thể bảo vệ trang viên đề phòng trộm cướp, còn lúc theo chủ nhân ra ngoài thì làm hộ vệ. Dù Cơ Tự có nhóm Tôn Phù và Dữ Trầm làm bộ khúc nhưng Cơ gia quá nhỏ, bộ khúc của nàng vẻn vẹn chỉ có mười mấy người, mà Trịnh gia cường hào ác bá có những một hai trăm bộ khúc.

    Lúc xe bò lăn bánh, quản sự ở bên ngoài còn quát hỏi nàng với giọng chỉ trích: “A Tự, không phải cô có hai cửa hàng gạo trong huyện sao? Sao bây giờ đã biến thành của Trang gia thế hả?”

    Cơ Tự nghĩ: Quả nhiên là họ định thông qua việc buôn bán của hai cửa hàng gạo để răn đe ta đây mà. Nàng mỉm cười trả lời: “Ồ, là Trang gia muốn mua lại nên ta bán luôn cho họ rồi.”

    Gã quản sự hừ khẩy, răn dạy nàng: “A Tự, tuổi cô còn nhỏ vẫn chưa hiểu sự đời. Bán tiệm gạo rồi thì trăm mẫu ruộng của cô còn ích gì? Đủ nuôi sống cả nhà sao?”

    Cơ Tự rủ mắt, mím môi, nhủ thầm: Ta muốn bán hai cửa hàng kia để tránh các người hơi động một tý là mang nó ra bắt chẹt ta đấy!

    Một lát sau, giọng quản sự lại vang lên: “A Tự à, cô có biết lần này phu nhân đã tốn bao công sức vì mối hôn sự của cô không? Lang quân Chu Ngọc như thần tiên kia không phải dễ dàng xuất hiện đâu, là do đại nhân dốc lòng dốc sức mới mời được y đến. Lang quân đại phú đại quý, phong thái thần tiên như thế mà phu nhân và đại nhân không hề giữ cho con gái mình lại đi giới thiệu cho cô, đây là ân tình to lớn cỡ nào cô biết không?”

    Cơ Tự nghe đến đây sợ mình phì cười liền vội vàng giơ tay áo che miệng. Thật đúng là một khi con người đã trở nên hèn hạ thì sẽ không có gì sánh nổi. Họ dám mở mồm bịa đặt trắng trợn đến mức này cơ à? Nhóm Chu Ngọc tỏ rõ thái độ khinh thường đám người Trịnh thị như đống bùn dơ rành rành thế kia mà còn muốn lừa ai.

    Phải biết rằng, hôm ấy trực giác mách bảo cho nàng, nếu nàng nể mặt Trịnh thị thì chỉ sợ ngay cả vị trí của chính nàng cũng sẽ bị Chu Ngọc hạ thấp xuống năm phần nữa kìa.

    Vào lúc này tại trang viên Trịnh thị, Trịnh phu nhân vẫn luôn tức anh ách kể từ cái ngày Cơ Tự phất tay áo bỏ đi, đặc biệt là sau khi bà ta phái hai ba người đến nhưng không gặp được Cơ Tự thì càng căm tức hơn. Đám người hầu cũng bị liên lụy, lúc nào cũng trong tình trạng lo sợ bị đem ra làm chỗ xả giận.

    Căn phòng yên lặng đến mức không ai dám hít thở mạnh, bỗng chốc một giọng nói từ bên ngoài truyền đến: “Mẫu thân.” Trịnh Huống có vóc dáng cao gầy, mặt mũi thanh tú, tươi cười đi vào.

    Thấy đứa con trai yêu quý, Trịnh phu nhân nhoẻn môi cười khiến đám tỳ nữ cùng thở phào nhẹ nhõm.

    “Con đến rồi à? Mau ngồi đi.”

    Y ngồi xuống đối diện Trịnh phu nhân, sau khi uống hai hớp trà do tỳ nữ bưng tới mới nói: “Mẫu thân, con phái người đi thăm dò được rồi, bọn họ báo đám người Chu Ngọc đúng là đến từ Kiến Khang, mà họ còn có danh tiếng khá lớn ở đấy. Nghe nói Chu Loan là tướng quân nữa, còn Chu Ngọc thì có tài cao, hình như đương kim công chúa có ý chọn y làm phò mã ạ.”

    Nghe đến đây, Trịnh phu nhân kinh ngạc, ngồi thẳng dậy: “Sao những lang quân hiển hách đó lại chọn trúng đứa cô nhi như Cơ Tự được chứ?”

    Trịnh Huống lắc đầu: “Cái này con không biết... Con chỉ biết là bốn huynh đệ Chu thị nổi tiếng tài giỏi và tuấn tú ở Kiến Khang thôi.” Rồi đột ngột ra lệnh, “Tất cả lui xuống.”

    Thấy đám người hầu đã rời đi, Trịnh Huống mới kề sát vào Trịnh phu nhân, khẽ kể: “Mẫu thân, mấy ngày qua Chu Ngọc ba lần bốn lượt hỏi con về Cơ Tự, thái độ cực kỳ nghiêm túc. Con thấy có lẽ y định lấy Cơ Tự làm thê tử thật đấy. Hai ngày nay con đã suy nghĩ nhiều lần, lòng cứ thấp thỏm. Mẫu thân, tuy Cơ Tự còn nhỏ tuổi nhưng lòng dạ rất sâu xa. Mẫu thân có thấy không, mấy năm gần đây hai nhà chúng ta thường qua lại nhưng nào có hay biết ả có biệt tài gì, nhưng vài tháng trước, con nghe người ta nhận xét Cơ Tự là một người đa tài thông tuệ nữa cơ. Còn nữa, không chừng lần này ả vô lễ với chúng ta ngay trước mặt mấy vị Chu lang cũng có dụng ý cả đấy ạ.”

    Không đợi y nói xong, Trịnh phu nhân nghiến răng cười khẩy: “Con nói không sai, mẫu thân cũng đánh giá sai về nó rồi. Có một tài nữ ẩn núp ngay bên cạnh bao lâu nay mà ta lại không hề hay biết.”

    Trịnh Huống ngắt lời bà: “Con nghĩ tới nghĩ lui, cảm thấy nếu ả Cơ Tự vừa bước chân vào Kiến Khang, lại được hưởng vinh hoa phú quý từ Chu gia thì sẽ lập tức quên phắt người làm mối như chúng ta ngay thôi. Cho nên hôm nay lúc con và Chu Loan nói về Cơ phủ, con đã cố ý nói với y rằng Cơ Tự còn có một huynh trưởng song sinh, chẳng qua lúc đó bị kẻ thù đuổi giết, tổ phụ của Cơ Tự đã gửi huynh trưởng của ả đến phủ khác nhờ nuôi hộ. Con còn nói với Chu Loan, mấy năm qua kẻ thù của Cơ thị vẫn đang theo dõi Cơ phủ chờ thời cơ ra tay nên Cơ lão gia không dám đón con trai về. Cả cái chết của tổ phụ và phụ thân Cơ Tự cũng không phải ngoài ý muốn, là bị kẻ thù giết hại.”

    Trịnh Huống dằn nỗi phấn khích: “Mẫu thân, không biết Chu Loan đã điều tra được điều gì, thế mà khi con nói lời này, y lại tin ngay, còn nói một câu 'thì ra là vậy'. Hơn nữa, con cũng từng nghĩ nếu con nói như thế thì ý định cưới Cơ Tự trong lòng họ sẽ giảm đi, ai ngờ giọng điệu của Chu Loan không hề có vẻ gì là từ bỏ.”

    Trịnh phu nhân thoáng chốc hiểu ra: “Con trai, con bịa đặt ra nhân vật huynh trưởng, lẽ nào muốn tìm ai đó giả mạo hay sao?” Bà ta càng hưng phấn đứng bật dậy, “Rất tốt, kế hoạch rất tốt... Nếu con tiện nhân Cơ Tự kia không đáng tin thì ta cứ sắp xếp cho người của mình vào. Ta nghĩ, nếu con trở thành anh ruột của Cơ Tự, là anh vợ của Chu thị Kiến Khang, muốn mượn thế lực của Chu gia vào triều làm quan chẳng phải là chuyện quá dễ dàng hay sao. Con trai à con trai, nếu chuyện này được xử lý khéo léo, vậy Trịnh gia ta có thể một bước lên trời rồi. Con đã bàn với phụ thân chưa?”

    Nhắc đến Trịnh lão gia, Trịnh Huống hơi ủ rũ, khẽ nói: “Phụ thân hơi do dự, nhưng con nói đã lỡ nói với Chu thị thế rồi, vì thế người đành nói 'cũng được'.”

    Trịnh phu nhân khoát tay: “Đừng để ý đến phụ thân con, mẫu thân cảm thấy chủ kiến này rất tốt.”

    Vào cái thời dân chúng ít học như thế này, đối với Trịnh thị kiến thức nông cạn, ít đọc tàng thư lại không có người trí tuệ chỉ điểm, có thể nghĩ ra được kế sách này đã phải vắt hết toàn bộ trí óc rồi. Nói thật, bất kể Trịnh lão gia hay Trịnh phu nhân đều không biết chủ kiến hiện tại rốt cuộc là tốt hay xấu nữa kìa.
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 16: Huynh trưởng song sinh


    Cơ Tự ngồi trên xe bò tiến vào Trịnh phủ.

    Trang viên Trịnh thị có đến sáu trăm mẫu đất, ba trăm mẫu ruộng tốt, chiếm cả ngọn núi và một cái hồ, trông phong cảnh rất nên thơ hữu tình. Mấy năm trước, nửa đêm tổ phụ Cơ Tự dẫn theo Trịnh lão gia khi đó vẫn còn là nô bộc của nhà nàng đi ra ngoài làm việc gì đó vô cùng gấp gáp. Nửa năm sau, tổ phụ Cơ Tự bị thổ phỉ g**t ch*t, mười mấy hộ vệ đi theo chỉ còn lại một mình Trịnh lão gia. Bởi vì thất trách, ông ta hối hận khóc lóc đến nỗi bị ngất trước mặt phụ thân Cơ Tự mấy lần. Phụ thân mềm lòng nên sau khi trấn an một phen, còn xúc động nhất thời trả lại khế ước bán thân cho vợ chồng Trịnh thị. Nhưng chưa đến bảy tháng sau, Trịnh phụ liền mang về một đống tiền tài rất lớn, nói là lấy được của đám sơn tặc, từ đó Trịnh thị trở thành gia đình giàu có, còn Cơ phủ vốn là chủ nhân thì lại rơi vào cảnh nghèo túng, càng ngày càng lụn bại.

    Mấy năm qua có một vài lời đồn của cải mà Trịnh lão gia có được đều lấy từ bảo tàng của Cơ phủ, nhưng tin đồn thì cũng chỉ là tin đồn thôi, cử người điều tra cuối cùng vẫn không tìm ra một chứng cứ nào. Hơn nữa mấy năm đó ai ai cũng thấy vợ chồng Trịnh thị tôn kính cha mẹ Cơ Tự, nên chẳng ai nghĩ lời đồn kia là thật. Đến khi cha mẹ Cơ Tự qua đời, nàng thành cô nhi, thái độ của họ mới đột ngột thay đổi, cũng vì thế nàng mới nảy sinh nghi ngờ.

    Dằn xuống suy nghĩ trong đầu, Cơ Tự đi theo quản sự đến viện của Trịnh phu nhân. Lúc đi ngang qua vườn hoa nghe thấy tiếng cười đùa lảnh lót của cả nam lẫn nữ, đa phần đều là thiếu niên. Cơ Tự dừng bước, mỉm cười hỏi thăm: “Trong phủ có du yến à?”

    Quản sự đi phía trước trả lời: “Mật tiểu cô nói không vui nên mời mấy người bạn đến ngắm cúc.” Gã còn cố ý liếc nhìn Cơ Tự, ánh mắt như đang nói, sở dĩ Trịnh Mật không vui là vì cha mẹ nàng ta đã dành mối hôn sự tốt cho Cơ Tự đấy.

    Trong ánh mắt “cô phải cảm ơn đi” của quản sự, Cơ Tự khẽ mỉm cười: “Lòng dạ A Mật hơi nhỏ nhen nên mời bạn bè đến khuyên bảo cũng tốt.”

    Thoáng chốc gã sa sầm mặt. Rõ ràng Cơ Tự đã chiếm mất cơ hội tốt của Trịnh Mật, nhưng chẳng những nàng ta không cảm ơn mà còn chế giễu tiểu cô nhà mình lòng dạ hẹp hòi. Thật đúng là loại người khó ưa đáng ghét.

    Lúc này họ đã đi đến vườn hoa, khoảng hơn trăm bước phía bên trái có sáu bảy thiếu nam thiếu nữ ăn vận hoa lệ đang nô đùa vui vẻ. Thấy Cơ Tự từ đằng xa, Trịnh Mật đẩy người bên cạnh ra, chạy đến trước mặt nàng.

    “Ơ, hôm nay ngọn gió nào lại đưa khách quý đến đây thế nhỉ?”

    Trịnh Mật là chủ nhà, nàng ta vừa cất lời, mấy thiếu niên thiếu nữ phía sau đã biết ngay Cơ Tự không được chào đón, liền bật cười khanh khách.

    Cơ Tự ngẩng đầu lên nhắm bầu trời chốc lát, rồi mới quay đầu hòa nhã tiếp lời Trịnh Mật: “Có thể A Mật không biết điều này nhỉ, muốn biết hướng gió thì phải nhìn lá cây, nếu lá cây lay về phía Bắc thì chính là gió Nam đấy. Lúc này trời thu lành lạnh mà lại nổi gió Nam, chỉ e là trời sắp mưa rồi.”

    Trịnh Mật ngây ra như phỗng. Mấy thiếu niên nam nữ phía sau lại lắng tai nghe chẳng bỏ sót chữ nào, một thiếu niên tò mò hỏi: “Tại sao nổi gió Nam là trời sắp mưa?”

    Cơ Tự chưa kịp trả lời thì Trịnh Mật đã cất cao giọng, tức giận quát: “Ả họ Cơ kia, bổn tiểu cô có hỏi ngươi về gió hay sao? Ngươi đừng có đứng đó mà giả ngây giả dại.”

    Cơ Tự mở to đôi mắt trong veo nhìn nàng ta với vẻ vô tội. Trịnh Mật tức giận quá đỗi, vừa định quát mắng tiếp thì chợt thấy một thiếu niên chau mày nhìn về phía mình, nên lập tức ngậm miệng lại.

    Cơ Tự gật đầu với Trịnh Mật, vung tay áo, nhẹ nhàng bước đi không thèm để ý đến nàng ta nữa. Cơn giận mà Trịnh Mật khó khăn lắm mới dằn xuống được lại đột ngột xông lên tận óc.

    ***

    Khi Cơ Tự bước vào phòng của Trịnh phu nhân mới phát hiện bên trong không có bóng người hầu nào, ngoại trừ Trịnh phu nhân ra thì chỉ có mình Trịnh Huống ở đây và một tỳ phụ ở bên cạnh Trịnh Mật khi nãy. Thị đang ghé vào tai Trịnh phu nhân thì thầm gì đó, vừa thấy nàng lại im bặt.

    Xem ra đã có người bẩm báo chuyện vừa rồi đến tai Trịnh phu nhân rồi. Bẩm báo cũng tốt, cùng lắm thì coi như trở mặt, nàng không cần phải cố gắng hòa hoãn với họ nữa.

    Thế gian này có một số người, ta càng nhún nhường thỏa hiệp thì họ càng nghĩ ta dễ bắt chẹt, vì vậy càng ngày càng lấn lướt. Hiện tại Cơ gia nàng đã có tiền tài, có nhà có đất, bất kì lúc nào cũng có thể rời khỏi huyện Kinh. Nàng đã dám chống lại họ rồi.

    Trịnh phu nhân vẫy tay cho tỳ phụ lui, im lặng nhìn Cơ Tự hồi lâu. Ban đầu, bà ta còn định nói chuyện ngọt ngào giả dối với Cơ Tự, nhưng sau khi nghe tỳ phụ kia bẩm báo, thì không thèm giả bộ nữa. Bà ta hất cằm ra hiệu cho Cơ Tự ngồi xuống, lấy ra hai phong thư từ chiếc hộp gỗ bên cạnh: “A Tự, đây là thứ do tổ phụ và phụ thân ngươi năm xưa để lại, ngươi xem đi.”

    Cơ Tự đưa tay nhận, vừa liếc qua vài dòng, sắc mặt Cơ Tự thay đổi.

    Thấy nàng nén giận, Trịnh phu nhân và Trịnh Huống đồng thời nở nụ cười đắc ý.

    Cơ Tự xem kỹ hai phong thư. Lá thứ nhất bắt chước theo văn phong của tổ phụ nàng, trong thư nói Lưu Dụ bất tài chỉ biết độc sát đại thần, còn nói thiên tử như hắn không phải là phúc của muôn dân. Hiện tại ông tình nguyện hiến tặng tất cả tài phú của nhà mình cho ai có thể hạ bệ Lưu tặc, giành được giang sơn. Lưu Dụ là hoàng đế khai quốc lập nên triều đại Lưu Tống. Lá thư đại nghịch bất đạo này nhại theo văn phong của tổ phụ nàng sẽ bị khép tội phản tặc.

    Lá thứ hai bắt chước văn phong phụ thân Cơ Tự, nội dung trong thư còn ẩn chứa vẻ bất an, kể rằng có một ngày ông thông đồng với giặc cướp g**t ch*t một lang quân thế tộc ở Trường Giang, đoạn Xích Bích, bấy giờ ông phát hiện lang quân kia chính là con dòng chính của Lang Gia Vương thị. Dưới cùng còn ghi ngày tháng năm và chữ ký của phụ thân nàng. Với kiến thức của mình, nàng lập tức nhớ ra năm ấy Lang Gia Vương thị quả thật có một con cháu dòng chính xảy ra chuyện, nhưng chắc chắn không phải phụ thân nàng làm.

    Cơ Tự từ từ ngẩng đầu lên: “Các người có ý định gì?”

    Nếu đã chuẩn bị kỹ càng làm giả hai lá thư này, vậy mục đích cuối cùng của họ là gì?

    Bốp, bốp, bốp! Trịnh Huống vỗ tay cười đắc chí: “A Tự quả nhiên là người thông minh. Là thế này, hôm qua ta nói với lang quân Chu Ngọc rằng A Tự còn có một huynh trưởng song sinh đang ở nơi khác.”

    Cơ Tự đã hiểu. Thái độ nàng dịu đi, mỉm cười: “Hóa ra A Tự còn có một huynh trưởng song sinh à? Vậy sao Trịnh huynh không nói sớm ý định của mình cho A Tự biết? Cần gì phải làm giả hai phong thư này?”

    Trịnh Hướng cười sang sảng, y bỏ lại thư vào hộp gỗ: “A Tự yên tâm, muội gả đến làm dâu Chu gia, huynh trưởng của muội cũng là nhà mẹ đẻ thôi, sẽ giúp muội giữ vững địa vị ở đấy. Nếu muội ngoan ngoãn thì hai phong thư này chẳng khác nào hai tờ giấy vụn. Nhưng nếu muội làm trái lời ta, đến lúc đó đừng trách huynh trưởng ra tay tàn nhẫn.”

    Nói đến đây, Trịnh Huống gọi to: “Người đâu, tiễn khách.”

    Cơ Tự đứng dậy đi được hai bước, rồi bỗng quay đầu hỏi: “Không biết tương lai sẽ có bao nhiêu người biết chuyện lá thư này?”

    Trịnh Huống thấy giọng nàng hòa nhã có vẻ đã chịu thỏa hiệp, vui mừng trả lời: “A Tự yên tâm, chỉ có bốn người là cha mẹ và ta cùng với Trịnh quản sự biết mà thôi.”

    Cơ Tự nghe vậy liền gật đầu: “Vậy thì tốt, kính xin Trịnh huynh cất kỹ hai lá thư kia. Cáo từ.”

    Lúc Cơ Tự đi ra khỏi Trịnh phủ, Lê thúc liền đánh xe lừa đến đón. Nàng ngồi vào xe, nhìn ánh nắng rực rỡ bên ngoài, đột nhiên khẽ cười.

    Về đến trang viên, nàng liền nhốt mình trong phòng, khiến nhóm Lê thúc vốn bất an lại càng lo lắng hơn. Một lúc sau, cửa phòng cót két mở ra, mọi người đồng loạt quay đầu nhìn lại, sau đó trố mắt.

    Qua một hồi, Lê thúc mới gọi: “Nữ, nữ lang à?”

    “Ừ, là ta.”

    Cả nhóm người hầu đồng thời nở nụ cười, Tôn Phù vui mừng hỏi: “Nữ lang, người học ngón nghề này từ đâu thế? Hôm nay tướng mạo của người quả thật khiến người ta sửng sốt đấy.”

    Giờ phút này Cơ Tự đang giả trai, có điều khác với lúc xưa chỉ cần mặc nam trang, cột tóc theo kiểu nam tử là đã có thể thoải mái ra đường. Lần này nàng đã cải trang tỉ mỉ hơn rất nhiều, chỉ còn giống với lúc mặc nữ trang ba phần thôi, bảy phần còn lại hoàn toàn tuấn tú theo dáng vẻ của một nam tử thực thụ.

    Gương mặt mỹ thiếu niên mịn màng tinh khiết không hề thoa phấn của nàng dưới ánh mặt trời lại còn đẹp hơn gấp bội lần so với tướng mạo là nữ hiện tại của Cơ Tự. Không ai ngờ Cơ Tự lại có bản lĩnh bậc này cả.

    Tôn Phù nói tiếp: “Nữ lang, theo tôi thấy, phong thái hiện giờ của người có thể tạm thời so sánh với Tạ Lang được rồi đấy. Bốn huynh đệ Chu gia được xưng tụng là mỹ nam còn kém người vài bậc nữa.”

    Cơ Tự thầm nhủ: Nếu thật sự bị ép đến đường cùng, ta sẽ cải trang thành nam tử rồi sống với thân phận huynh trưởng song sinh của Cơ Tự là được.

    Hai lá thư giả kia chỉ nhằm mục đích đe dọa Cơ Tự sau khi gả đến Chu gia làm phu nhân thôi. Nếu nàng không gả vào Chu gia, vậy thì pha tính kế của Trịnh gia sẽ thất bại hoàn toàn. Trong mắt Trịnh gia, Cơ Tự nhất định sẽ động lòng với người có điền kiện như Chu Ngọc mà còn bằng lòng cưới nàng làm chính thê nữa. Dù hôm ấy nàng đã dứt khoát từ chối nhưng trong mắt họ nàng chỉ đang giở trò lạt mềm buộc chặt thôi.

    Sau khi Cơ Tự suy nghĩ tỏ tường những việc này, trong lòng không hề lo lắng gì cả. Song, nàng thoáng cảm thấy bốn huynh đệ Chu gia anh tuấn như thế mà cả bốn đều tỏ ý nhắm trúng nàng, thế nên cũng phải chuẩn bị chu toàn mới được. Bởi vì nàng có cảm giác, nếu mình thật có một huynh trưởng song sinh, như vậy khi đứng trước mặt bốn huynh đệ Chu gia, nàng sẽ có thêm vài phần lợi thế hơn rồi.
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 17: Thành ý


    Một ngày thấm thoát trôi qua. Hôm sau Cơ Tự dậy khá muộn, nàng ngẩn ngơ nhớ lại giấc mơ đêm qua, dường như nàng mơ quay lại thời còn bé, thấy phụ thân ngồi trong thư phòng lẩm bẩm “bảo tàng” gì đó.

    Bảo tàng nào nhỉ? Cơ Tự lắc đầu để xua đi cảm thấy đau âm ỉ, nàng vừa day ấn đường vừa nghĩ: Dạo gần đây mình đúng là bị tiền bạc làm mờ mắt rồi, ngay cả nằm mơ cũng thấy bảo tàng.

    Đúng lúc này có tiếng bước chân vang ngoài cửa hiên, chốc lát sau Dữ Trầm cất lời bẩm báo: “Nữ lang, lang quân Chu Ngọc đang đứng ngoài cổng, bảo rằng mời người đi ngắm cảnh ạ.”

    Nàng vội đứng lên, giang ra hiệu cho Nguyệt Hồng khoác áo choàng cho nàng, quay đầu lại căn dặn: “Gọi thêm mấy người ở chân núi đến hầu ta.”

    “Vâng.”

    Lúc Cơ Tự ngồi xe ra xuống cổng phủ ở chân núi đã thấy ngay lang quân có phong thái ngọc thụ lâm phong, đứng khoanh tay ở đấy. Giống như lần trước, Chu Ngọc mặc áo bào tay rộng, mỗi khi gió thu thổi qua, cơ thể cao gầy phiêu dật của hắn như muốn nương theo gió bay đi.

    Cũng bởi vì cảnh sắc này nên người và xe đi ngang qua cổng nhà nàng đều chậm lại, có vài nhà còn lặng lẽ mở cửa hông ra, đâu đó loáng thoáng vang lên tiếng cười nói khúc khích của mấy thiếu nữ.

    Cơ Tự ra hiệu cho Lê thúc đánh xe chạy đến, mỉm cười nói: “Chu lang quả thật chẳng kém gì Chu lang cả.”

    Chu lang trước là chỉ Chu Ngọc, còn Chu lang sau là Chu Du nổi danh Tam Quốc. Cơ Tự so sánh Chu Ngọc với Chu Du, mục đích đầu tiên là khen ngợi và nịnh nọt một cách thẳng thắn, và sau đó là thể hiện tài hoa của mình. Lời ca ngợi phong nhã của nàng hoàn toàn có thể so sánh với mấy quý nữ bụng đầy thi thư ở Kiến Khang rồi.

    Đôi mắt đen láy của Chu Ngọc trở nên sáng ngời, đong đầy nét cười: “Chu Ngọc thẹn không dám nhận.” Hắn nhanh chóng thi lễ, “Mời A Tự.”

    “Mời lang quân.”

    Sau khi hai người thi lễ với nhau, xe bò và xe lừa cùng lăn bánh. Khác với suy nghĩ của Cơ Tự, tuy xe bò của Chu Ngọc vén màn lên, nhưng hắn chỉ cúi đầu chau mày xem một chồng sách tre, không hề chủ động bắt chuyện với nàng.

    Trong làn gió hây hây và tiếng sách tre lạch cạch, họ đã đến núi Sở Đinh. Nhìn từng đàn chim bay lượn phía trước, Chu Ngọc đặt sách xuống, dợm bước ra khỏi xe bò trước. Sau khi xuống xe hắn cũng không hề nói chuyện với Cơ Tự, chỉ ngẩn ngơ nhìn đàn chim bay lượn trên sông.

    Cơ Tự đi đến sau lưng hắn, lúc này Chu Ngọc mới khẽ cất lời: “Nàng thấy phong cảnh nơi đây thế nào?”

    Cơ Tự mỉm cười nói: “Quên hết tâm cơ, tiêu dao vô cùng.”

    Rõ ràng Chu Ngọc chỉ hỏi phong cảnh, nhưng Cơ Tự lại dùng hai từ tiêu dao và tâm cơ ẩn chứa sự sắc bén. Cuối cùng Chu Ngọc cũng quay đầu lại, nghiêm túc nhìn Cơ Tự hồi lâu, chợt nở nụ cười khoe hàm răng trắng: “Chu Thập Tam lang ta được người người khen ngợi là phong thái bất phàm, bản thân lại có địa vị trong triều, sao A Tự vẫn chưa ưng?”

    Sáu chữ “sao A Tự vẫn chưa ưng” lại mang theo chút buồn phiền, kết hợp với phong thái như ngọc của hắn quả thật làm say lòng người.

    Cơ Tự cong cong đôi mắt, cười nói: “Tiểu nữ quả thật không dám. Đúng như Chu lang đã nói, lang quân là người có phong thái bất phàm, ngay cả công chúa cũng phủ phục trước gối người, hận không thể mỗi ngày cận kề sánh bước. Cơ Tự có tài đức gì lại được Chu lang đích thân cầu hôn chứ?”

    Hắn đã hỏi thẳng thì nàng cũng không cần tránh né làm gì nữa. Nàng đã nói thế nhưng vẫn không nhận được đáp án, trong lòng nhất thời khẩn trương, nghiêm túc nhìn xoáy vào Chu Ngọc, chờ hắn trả lời.

    Chu Ngọc khẽ cười, đôi mắt đen mang theo tình cảm trìu mến nhìn Cơ Tự chăm chú, ôn hòa cất lời: “Trên thế gian này, một nam tử đem lòng thích một nữ tử nào cần lý do gì.”

    Giờ khắc này ánh mắt hắn nhìn nàng đắm đuối, như thể chủ nhân của đôi mắt đã khắc ghi nàng trong tim, yêu thương thắm thiết, nhớ nhung đêm ngày... Giống như thật sự yêu nàng đến cuồng dại vậy.

    Nếu Cơ Tự chỉ là nữ lang mười ba tuổi, có lẽ giờ phút này trái tim nàng đã loạn nhịp, si mê quên cả lối về. Đáng tiếc hiện giờ nàng lại là người từng trải qua bao nỗi tang thương mất rồi.

    Thầm xua đi nỗi thất vọng, Cơ Tự mỉm cười tránh ánh mắt Chu Ngọc, khẽ thở dài: “Nếu Chu lang không định nói thật, thì tiểu nữ cũng không thể gả cho người được.”

    Lần này đến lượt Chu Ngọc cười khổ: “Nàng thật là.”

    Hai người ở núi Sở Đinh chưa đến một canh giờ thì Cơ Tự đã xin phép trở về trang viên của mình. Nàng cứ nghĩ rằng chuyện của Chu Ngọc sẽ lắng xuống một thời gian thì ngay ngày hôm sau nàng lại nhận được thiếp mời của hắn.

    Mà lần này lại không hề tầm thường, Chu Ngọc cử một hộ vệ đến đưa thiếp mời hoa mai lấy từ cống phẩm trong cung, kèm theo một bộ váy thêu khổng tước của đất Thục do đích thân hắn lựa chọn. Hơn nữa, Chu Ngọc còn nhắn rằng: “Yến hội lần này tổ chức cho riêng khanh.”

    Mà địa điểm tổ chức còn chính là biệt viện của Trang phủ. Đã từng là nhà giàu có nhất huyện Kinh, hiện giờ họ đang tích cực tìm kiếm mối làm ăn mới. Khi họ nghe nói có mấy vị lang quân đến từ Kiến Khang định thuê một trang viên tổ chức một buổi yến hội, vì thế Trang gia bèn ra tay. Bọn họ bái kiến Chu Linh, bày tỏ thành ý tha thiết, nguyện dâng biệt viện phong cảnh tú lệ nhà mình cho khách quý dùng tạm, mà tất cả những chi phí phát sinh đều do Trang gia gánh vác. Nói thật ra chi tiền mua một trang viên không phải là ý kiến hay. Bởi vì không phải ai cũng tu sửa trang viên của mình đến mức tinh xảo xinh đẹp đợi người khác đến mua cả. Thế nên, Trang thị vừa đưa ra thỉnh cầu này, Chu Ngọc lập tức đồng ý.

    Song, hiện giờ, quản sự tại biệt viện lại là mẫu thân của Trang Thập Tam. Thấy bà ta hăng hái chỉ đạo đám hạ nhân quét dọn trang trí, không còn ủ rũ như trước đây, một tỳ phụ thân cận với bà ta nở nụ cười: “Hôm nay phu nhân thật cao hứng.”

    Bà ta cười đến nỗi mặt đầy nếp nhăn: “Ngươi biết mấy vị Chu lang này là nhân vật có tầm cỡ thế nào không? Họ đến từ Kiến Khang đấy.”

    Thời đại này giao thông bất tiện, trên đường lại đầy rẫy nguy hiểm rình rập, rất nhiều người ở huyện Kinh lẫn Kinh Châu đến tận cuối đời vẫn chưa hề gặp người Kiến Khang lấy một lần. Với người đương thời, Kiến Khang là vùng đất thật thần bí, trù phú bậc nhất, và cũng cao xa vô cùng, mà người đến từ nơi đó toàn người xuất thân cao quý, tài ba lỗi lạc. Thế nên mấy hạ nhân vừa nghe đến đây đều kinh ngạc xuýt xoa.

    Trang mẫu cố gắng dằn lại nỗi kích động, đắc ý khoe khoang: “Vị lang quân Chu Ngọc kia là người được công chúa để mắt đấy. Không chỉ có Chu Ngọc mà ba vị Chu lang còn lại cũng là khách quý thường xuyên ra vào hoàng cung nữa.”

    Nói đến đây, bà cười tít mắt: “Vị lang quân Chu Ngọc kia bảo rằng hắn sẽ xem xét giao cho Trang phủ ta phân phối muối từ mỏ riêng của Chu phủ tại Kinh Châu. Phụ thân bảo, chỉ cần ta dốc sức trang trí biệt viện làm vui lòng Chu Ngọc, thúc đẩy cho việc này thành công là lập được công lớn cho Trang gia rồi. Đến khi Chu Ngọc thực hiện lời hứa thì ta lại sẽ có thể trở lại làm chính thê.”

    Đám hạ nhân nghe xong vui mừng quá đỗi, khom người hành lễ: “Chúc mừng phu nhân, chúc mừng phu nhân.”

    Trong lúc đang huyên náo, có người chạy đến hô to: “Khách quý đến rồi.”

    Vẻ mặt Trang mẫu liền nghiêm trang, dẫn mọi người ra ngoài đón khách.
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 18: Náo nhiệt thật đấy


    Huyện Kinh này nói lớn không lớn, nói nhỏ không nhỏ, nó là nơi gần Kinh Châu nhất trong tất cả các huyện, cũng vì vị trí này mà nó trở thành khu vực tập trung rất nhiều tài tử xuất sắc. Trang mẫu đã lan truyền việc Chu Ngọc tổ chức yến hội cho mọi người biết từ lâu, vì vậy lúc bà ta dẫn đám hạ nhân đi đến cổng đón khách, liền thấy ngay mười mấy chiếc xe bò hoa lệ dừng ở đấy, mà phía sau còn có những chiếc xe khác đang nối đuôi nhau chạy đến.

    Nhìn huy hiệu gia tộc trên từng chiếc xe, Trang mẫu nở nụ cười thỏa mãn. Lúc này phía xa xa bụi đất mịt mù, mọi người nhìn thấy một chiếc xe ngựa sang trọng đang dần đến gần, nhìn huy hiệu treo trên xe không phải đại thế gia hùng mạnh trong thành thì là ai được đây?

    Do đám con cháu thế gia chưa bước xuống, xe phía trước còn chưa đi, xe ngựa phía sau đã chạy đến, bỗng chốc hai dãy phố dài ngoài biệt viện Trang phủ đã đông nghịt người xe. Một lúc sau, có người kích động kêu lên: “Mau nhìn xem, đó là xe ngựa của Kinh phủ đấy!”

    “Đệ nhất mỹ nhân Kinh Ly tại đất Kinh Châu cũng đến kìa.”

    “Bề thế thật đấy, ngay cả Kinh Ly cũng đến.”

    “Kinh Ly đã đến rồi thì ắt hẳn những con cháu gia tộc giàu có ngưỡng mộ nàng cũng tới cho xem.”

    “Hôm nay náo nhiệt thật đấy.”

    Sự xuất hiện của Kinh Ly khiến không khí trở nên sôi sục.

    Đất Kinh Châu không thể sánh với Kiến Khang, năm đó các đại sĩ tộc phương Bắc di tản xuống phía Nam, đương nhiên họ chọn dừng chân ở đế đô Kiến Khang. Nhưng một số sĩ tộc và thế tộc không giành được địa bàn ở Kiến Khang, đành chọn những huyện lân cận Kiến Khang như là Dương Châu làm nơi đặt chân. Còn đất Kinh Châu này thì không bao giờ được các nhà quyền quý phương Bắc ngó ngàng đến. Chính vì thế mà hiện tại những nhà xưng hùng xưng bá ở Kinh Châu này đều là sĩ tộc bổn địa thôi. Với cái vùng lạc hậu, thiếu văn minh ở nửa bên sông Trường Giang này, không nhờ năm đó có các quý tộc phương Bắc xuôi Nam thì làm gì được mấy môn đệ thư hương chân chính. Cũng vì vậy, khi đệ nhất mỹ nhân Kinh Ly cùng với đám con cháu thế gia bổn địa đến đây, mấy vị Chu lang không hề lộ diện, và càng không ra đón.

    Thế nhưng Trang mẫu lại kích động đến mức lắp bắp: “Chư vị quý nhân quá bộ tới chơi thật là khiến tệ trang nở mày nở mặt.”

    Bọn họ không buồn đếm xỉa đến bà ta mà đi thẳng vào biệt viện. Nhìn trang viên được trang trí tinh tế, Kinh Ly không hề ngước mắt ngắm nhìn, mà đang tìm kiếm gì đó xung quanh.

    Một nữ tử đi bên cạnh có dung mạo chẳng kém Kinh Ly cười khẽ: “A Ly, tuy mấy vị Chu lang này cũng có địa vị trong mắt bệ hạ, nhưng cũng chỉ xuất thân là thế tộc bình thường thôi, A Ly có thể đi dạo với nhân vật như Tạ Lang thì họ đâu đáng để A Ly nể mặt vậy chứ?”

    Khuôn mặt tuyệt mỹ của Kinh Ly nở nụ cười, nàng ta khẽ nói: “A Bích không nghe người ta nói sao? Lần này Chu Ngọc đến Kinh Châu là định hỏi cưới thê tử đấy.”

    “Đương nhiên ta biết việc này.”

    “A Bích không biết đâu, tuy Tạ lang tốt nhưng chàng quá xuất chúng, con dòng chính của Trần Quận Tạ thị sẽ không cưới một nữ tử thế tộc bổn địa Kinh Châu làm chính thê đâu.”

    Nhìn thấy Kinh Ly sắp rơi lệ, A Bích thở dài, nhỏ giọng khuyên: “Nhưng làm thiếp cho Tạ thị Lâm Lang vẫn còn hơn xa chính thê của Chu thị mà.”

    Nghe A Bích nói thế, nàng ta cười buồn bã: “Làm sao ta lại không biết việc này cơ chứ? Nhưng con người Tạ lang thật sự độc nhất vô nhị giống như Kê Khang ngày xưa vậy. Chàng nói, thân ở loạn thế như tấm bèo trôi, sống nay chết mai nào ai hay biết. Chàng còn nói, tâm chỉ gửi núi sông, đã nhìn nhạt chuyện nữ sắc, lấy vợ cũng được, nạp thiếp cũng thế, cảm giác đều như nhau cả thôi. Nếu gặp được người hợp ý, thì chỉ cần một người là đủ, có nhiều hơn nữa chàng cũng không màng.”

    A Bích kinh ngạc, khẽ nói: “Chàng chỉ định cưới một người thôi á?”

    Thấy Kinh Ly chực rơi lệ, A Bích vội dằn xuống nỗi kinh ngạc: “Nói như vậy, Chu thị quả thật là lương phối của A Ly rồi.” Vì muốn Kinh Ly vui vẻ trở lại, nàng ta nói tiếp, “Chu thị và Kinh thị là môn đăng hộ đối, A Ly lại mỹ mạo bất phàm, nhất định Chu Ngọc hay Chu Loan nhìn thấy cũng sẽ đem lòng yêu thích thôi. Ôi, giờ ta chỉ mong A Ly và Chu Ngọc đừng quyết định ngày cưới sớm quá, ta vẫn không nỡ để A Ly rời khỏi Kinh Châu đâu.” Ngụ ý xem như Chu Ngọc là vật trong tay áo của Kinh Ly rồi.

    Hai nàng nói đến đây thì phía trước có người hô lên: “Mau nhìn xem, đó chính là Chu Ngọc đấy, cuối cùng mấy lang quân Chu thị cũng chịu lộ diện rồi.”

    “Quả nhiên người cũng như tên, tuấn tú như ngọc vậy.”

    “Nhưng ta thấy ba vị lang quân phía sau Chu Ngọc cũng cực kì xuất chúng.”

    “Đúng vậy, bốn vị lang quân Chu thị đều có tiếng ở hoàng cung cả mà.”

    Trong trang viên, đám con cháu thế tộc Kinh Châu rướn cổ ngóng nhìn về phía bốn người đang tỏa sáng đằng trước. Trang mẫu thầm nghĩ, vốn cảm thấy huynh đệ Chu Ngọc cũng chẳng có gì hơn người, nhưng đến khi tận mắt chứng kiến quả thật mới thấu cái gọi là cao quý như rồng như phượng, chói mắt vô cùng.
     
    Kiều Kiều Vô Song
    Chương 19: Xử lý


    Cơ Tự đến khá muộn. Lúc xe lừa nàng đến nơi, dòng người xe đông nghịt đằng trước không chỉ khiến Lê thúc mà ngay cả nàng cũng giật mình thảng thốt.

    Nhìn khí thế hoành tráng phía trước, tỳ nữ Nguyệt Hồng lắp bắp nói: “Nữ, nữ lang, hay là, chúng ta đừng đi nữa.”

    Không nói gì khác, chỉ nghĩ đến xe lừa nhà mình lạc lõng giữa đoàn xe tuấn mã cao lớn này thôi đã khiến người ta bủn rủn tay chân rồi. Lại nhìn vào ánh mắt khinh thường của đám hạ nhân canh giữ bên xe ngựa, dù là ai đi nữa cũng cảm thấy áp lực nặng nề.

    Cơ Tự trừng mắt nhìn phía trước một hồi rồi nói: “Ừ, phú hộ Kinh Châu đến đây không ít nhỉ, thật không ngờ bốn lang quân Chu thị lại danh tiếng lớn như vậy.”

    Thấy nàng đăm chiêu nhưng bình tĩnh đến lạ, Nguyệt Hồng và Lê Thúc đều bỗng cảm thấy mình cũng không còn hoảng hốt như trước nữa.

    Trong ánh mắt chờ mong của họ, Cơ Tự mỉm cười nói: “Đã đến thì phải vào. Lê thúc, sau khi ta xuống xe, thúc cứ đánh xe về trước.”

    Nàng xuống xe ngựa, rồi ra lệnh cho Nguyệt Hồng đang run run phía sau: “Đi theo ta. Nếu ngươi thấy sợ thì đừng lên tiếng nói chuyện với người khác.”

    “Vâng, vâng.”

    Con phố đến biệt viện vốn không lớn lại bị hai bên xe ngựa và xe bò đỗ kín, trở nên vô cùng chật hẹp. Cơ Tự thầm nghĩ: Nếu không phải Chu Ngọc đã nói trước, thì quả thật cảnh tượng này cực kì phù hợp để làm mất mặt người khác, đương nhiên nhất là với những người như nàng.

    Thấy Cơ Tự duyên dáng đi đến, mấy người hầu ở Trang gia ngăn nàng lại, một người biết nàng cau mày quát lên: “Tiểu cô Cơ thị, đây không phải là nơi cô có thể đến, mau đi cho!”

    Cơ Tự ngẩng đầu, nhìn thoáng qua người hầu kia: “Ngươi có thể đi hỏi lang quân Chu Ngọc rằng ta có nên tới hay không.”

    Vẻ mặt Cơ Tự quá điềm tĩnh khiến người hầu kia giật mình. Thị nghĩ ngợi rồi sai một người khác: “Đi bẩm báo phu nhân.”

    Trang mẫu đang phải tiếp đón những khách quý mang khí thế át người khiến bà ta lúng túng tay chân, cho nên vừa nghe người hầu bẩm báo, bà ta chợt thở phào nhẹ nhõm rồi vội vàng chạy đi. Vừa ra cổng đã thấy ngay Cơ Tự, bà liền ngây ra.

    Hôm nay Cơ Tự ăn vận lộng lẫy, mà vừa nhìn đã biết bộ váy nàng mặc trên người rất đắt tiền. Lâu ngày không gặp, tiểu cô này đã trở nên xinh đẹp thướt tha như ráng mây nhành liễu, có thể sánh ngang với bất cứ quý nữ nào trong viện rồi. Hình ảnh nàng bây giờ khác hẳn với con bé cô nhi ái mộ con trai mình trong ấn tượng của bà.

    Nhưng trong chớp mắt, Trang Nam thị liền cười lạnh. Bà ta ra hiệu một nô tỳ đến đỡ mình, ung dung đi về phía Cơ Tự, khẽ cười nói: “Cho đến hôm nay ta mới biết câu vượn đội mũ người là như thế nào.”

    Ý câu này là châm chọc Cơ Tử vốn dĩ chỉ là một con khỉ mà bày đặt đội mũ miện giả thành quý nhân.

    Đôi mắt tĩnh lặng như làn thu thủy của Cơ Tự nhìn Trang Nam thị chốc lát rồi nói: “Đây là thiếp mời do lang quân Chu Ngọc phái người đưa đến.” Nàng nhẹ nhàng giơ tấm thiếp mời ra trước mặt Trang Nam thị.

    Dáng vẻ Cơ Tự quá bình thản, quá tự nhiên, thậm chí không hề đếm xỉa đến lời châm chọc của bà ta, giống như một quý tộc chân chính đối mặt với mụ đàn bà chanh chua phố phường vậy.

    Trang Nam thị như bị người ta tát mạnh vào mặt, không nhịn được cười gằn: “Buồn cười, thật là buồn cười, cái loại hạ tiện như ngươi mà cũng nhận được lời mời của lang quân Chu gia sao?” Bà ta chỉ vào trong, “Ngươi biết bên trong có những ai không? Trong đó có đại mỹ nhân Kinh Ly, có con trai trưởng của Khâu gia, đại gia tộc bậc nhất Kinh Châu và cả Bích Ngọc của Hoàng gia ở Xích Bích đấy.”

    Bà ta cười sang sảng, rồi quay sang nhổ nước bọt vào Cơ Tự: “So với họ, ngươi là thá gì?”

    Cơ Tự nhíu mày tránh đi, sắc mặt cũng trở nên khó coi. Có điều may là lúc đến đây nàng đã có chuẩn bị, quay sang nói với Nguyệt Hồng đang run cầm cập: “Đưa đồ cho ta.”

    Nguyệt Hồng vội vàng mở hộp gỗ dâng cho nàng.

    Ban đầu Trang Nam thị thấy hộp gỗ kia thì càng cười chế nhạo hơn, bà ta cất giọng the thé: “Đúng là loại hạ tiện, cũng biết thừa ngươi định lấy tiền hối lộ ta mà.” Nhưng chỉ nói đến đây, nụ cười của bà ta liền cứng đờ.

    Trong chiếc hộp kia chỉ có cây sáo ngọc, Cơ Tự cầm cây sáo đặt ngang đôi môi đỏ thắm, thổi réo rắt.

    Cùng lúc đó nhóm Chu Ngọc đang chen ra khỏi vòng vây của đám thiếu nữ, vất vả lắm mới có thể thở được một hơi. Chu Chấn lau mồ hôi lấm tấm trên trán: “Mấy mỹ nhân huyện Kinh này đúng là nhiệt tình, nếu cứ tiếp tục như vậy, đệ sắp không trụ nổi nữa rồi.”

    Chu Linh ở bên cạnh cười khẩy: “Đó là vì đệ còn chưa cưới thê tử, chẳng qua họ muốn gả cho đệ thôi.”

    Chu Chấn mặc kệ y, quay sang nháy mắt với Chu Ngọc: “Thập Tam lang, huynh thấy vị đệ nhất mỹ nhân huyện Kinh không? Nàng ta luôn nhìn huynh với ánh mắt dịu dàng trìu mến, chỉ đợi vị lang quân hiểu ý là huynh đến cổng bái phỏng, sau đó thành đính ước đấy. Sao hả, có hứng thú với nàng ta không?” Chu Chấn còn cười hì hì nói thêm, “Đệ thấy Kinh Ly được đấy, hay là Thập Tam lang lấy nàng ta, nhường Cơ thị nữ lại cho đệ đi.”

    Chu Ngọc thờ ơ liếc nhìn Chu Chấn, mà ngay cả Chu Loan luôn im lặng nãy giờ cũng lườm y.

    Đúng lúc này ngoài cửa phủ bỗng truyền đến tiếng sáo du dương, nốt cao thì như mây vờn đỉnh núi, nốt thấp thì như sóng biển cuộn trào, chỉ vài tiếng nhạc vang lên đã phác họa cảnh tang thương đời người.

    Chu Ngọc nhận ra đầu tiên, hắn mỉm cười nói: “Cơ gia A Tự đến rồi.”

    Chu Linh thì thản nhiên nói: “Không ngờ Cơ Tự này cũng thích khoe tài giống như mấy nữ tử ở Kiến Khang vậy.”

    Người chưa tới tiếng sáo đã đến trước, không phải khoe tài thì là gì? Nhưng thời này ai cũng thích khoe mẽ Chu Linh có nói vậy cũng không có gì quá quắt.

    Chu Ngọc cười: “Dù sao nàng cũng là người mà ta xin cưới, nếu nàng muốn nở mặt nở mày thì cứ chiều theo ý nàng thôi.” Dứt lời, Chu Ngọc nhướng mày nói với mọi người, “Chư vị, chúng ta cùng nhau ra đón nàng đi.”

    Người ở đây đều có kiến thức về nhạc luật, vì vậy khi tiếng sáo vừa vang lên, xung quanh liền yên tĩnh, mà mấy người vây quanh Kinh Ly cũng đồng loạt nhìn nàng ta. A Bích thốt lên: “A Ly, người thổi sáo này tài nghệ không kém gì A Ly...” Còn chưa nói hết đã thấy vẻ mặt Kinh Ly thay đổi, nhăn nhó khó coi.

    Kinh Ly nghiến răng nói: “Ra gặp cũng chẳng tốn bao công sức... Đi, đi xem vị khách quý kia nào.” Thế là Kinh Ly cũng theo ra.

    Nhóm Chu Ngọc vừa đến cửa liền nghe thấy giọng điệu giễu cợt của Trang Nam thị lẫn trong tiếng sáo: “Ồ, trình độ bắt chước quý nữ cũng cao tay quá nhỉ. Đáng tiếc, có một số người không hiểu đạo lý: Đã là người hạ tiện thì làm gì cũng là hạ tiện thôi.”

    Bà ta lại nói: “Đừng cản, để cho ả thổi. Dù sao sau khi kết thúc khúc nhạc này, cái miệng của ả sẽ không còn dùng được nữa. Lần trước con tiện tỳ này hại ta bị giáng chức, các ngươi nói xem nếu lần này bản phu nhân cho ả uống thuốc độc bị câm rồi bán đi làm kỹ nữ ở mấy nơi hẻo lánh thì thế nào?”

    Lúc bà ta thốt ra hai chữ “kỹ nữ”, cánh cổng phía sau đã bị đá tung kêu ầm ầm. Trong nháy mắt, Chu Loan hông đeo trường kiếm xông ra, mà sau lưng y là đám người Chu Ngọc đang giận tím mặt. Chu Ngọc bước nhanh lên trước chặn Chu Loan lại. Thấy huynh trưởng chắn phía trước, Chu Loan khẽ giật mình rồi tỉnh táo lùi ra phía sau.

    Chu Ngọc đi đến trước mặt Trang Nam thị, lúc này vẻ mặt hắn đã trầm tĩnh, chỉ nhìn bà ta rồi hờ hững nói: “Cơn tức của Phu nhân cũng lớn thật đấy.”

    Sắc mặt Trang Nam thị trắng bệch, vội hoàn hồn, lập tức khom người nói: “Lang quân có điều không biết, tiện tỳ trước mắt này chỉ là một...”

    Không đợi Trang Nam thị nói hết, Chu Ngọc liền lùi về sau một bước, lấy khăn tay ra thong thả lau mặt mình: “Nước bọt của ngươi văng vào bổn lang quân rồi.”

    Trang Nam thị ngỡ ngàng, vội vàng cười nói xin lỗi, nhưng Chu Ngọc đã gắt giọng hỏi hộ vệ phía sau: “Ta ghét tiện phụ bẩn thỉu này nhưng lại không thích cảnh máu me, các người nói nên xử lý thế nào?”

    Một hộ vệ lễ phép trả lời: “Kinh Phật có dạy, kẻ ác độc trên thế gian rồi cũng sẽ có một ngày nhận được quả báo.”

    Chu Ngọc vỗ tay khen: “Hay cho câu rồi cũng sẽ có một ngày nhận được quả báo.” Hắn thuận miệng ra lệnh, “Vậy cứ làm theo lời thị nói, trước rót độc cho thị câm rồi bán làm kỹ nữ ở mấy nơi nghèo xơ nghèo xác kia đi.”

    Trang Nam thị sợ hãi nhưng vẫn cố nén bất an dò hỏi: “Lang quân Chu gia, người cũng thấy tiểu tiện tỳ này chướng mắt à?”

    Chu Ngọc không hề liếc nhìn bà, chỉ cau mày quát: “Vả miệng năm mươi cái rồi hẵng làm.”

    “Vâng.”

    Ngay sau đó, hai hộ vệ cường tráng tiến lên, bọn họ kẹp lấy Trang mẫu, giơ tay tát bôm bốp vào mặt bà ta.

    Đến tận khi mấy gã hộ vệ động thủ, Trang mẫu mới chợt hiểu ra, hóa ra người Chu Ngọc muốn xử lý chính là mình. Bà ta gào lên the thé: “Ta là chủ mẫu của Trang gia!” Nhưng đáng tiếc là đang bị người ta đánh nên làm gì nói được tròn vành rõ tiếng.

    Trong tiếng tát giòn giã, Chu Ngọc quay sang nhìn Cơ Tự. Thấy nàng cố ý trang điểm xinh đẹp và trang nhã, hắn nở nụ cười thỏa mãn, cất giọng hòa nhã: “A Tự, nàng không bị sao chứ?”

    Cơ Tự khẽ thi lễ, đang định trả lời thì một loạt tiếng bước chân cùng hương thơm ngan ngát bay đến theo gió. Hóa ra nhóm Kinh Ly tới rồi.
     
    Back
    Top Dưới