Ngôn Tình Kiều Kiều Vô Song

Kiều Kiều Vô Song
Chương 20: Lòng dạ


Thấy đám Kinh Ly xuất hiện, Chu Ngọc vứt khăn tay đi, nhẹ nhàng nói: “Được rồi, lôi thị xuống, đừng để những tiểu cô ở đây kinh sợ.”

Thế là Trang mẫu bị bịt miệng lôi đi, quá trình này rất nhanh, nhóm quý nữ đang chậm chạp đi đến cửa không hề thấy được.

Sau khi Kinh Ly đi ra, ánh mắt nàng ta không hề nhìn vào Cơ Tự mà là đánh giá Nguyệt Hồng đang đứng phía sau trước tiên. Tiếp theo lại duyên dáng đi đến bên cạnh Chu Ngọc, mỉm cười nhẹ giọng hỏi: “Thứ lỗi cho A Ly mắt kém, không biết vị nữ lang này đến từ gia tộc nào?” Tuy giọng nói rất dịu dàng nhưng ánh mắt lại mang theo sự chế giễu. Người ta thường bảo, đánh giá một quý tộc không chỉ nhìn chủ nhân mà còn phải xem cả hạ nhân. Thiếu nữ đang cầm sáo ngọc kia tuy yêu kiều, nhưng chỉ nhìn nô tỳ phía sau là biết ngay nàng ta chỉ là nữ lang nhà nghèo của ít rồi.

Kinh Ly đứng đầu nhóm quý nữ ở Kinh Châu, nàng ta vừa cất lời, chúng quý nữ đều đồng loạt nhìn về phía Cơ Tự. Cái nhìn soi mói của họ có thể dễ dàng khiến kẻ yếu mềm trở nên tự ti. Cơ Tự cũng bị những ánh mắt này ép lùi vài bước, nhưng dù vậy, vẻ mặt nàng vẫn trấn tĩnh, trái lại Nguyệt Hồng thì sợ đến run lẩy bẩy. Vì thế càng lúc càng có nhiều ánh mắt chế nhạo giống như Kinh Ly.

Đúng lúc này, Chu Ngọc lên tiếng với giọng nói ôn hòa: “Nàng họ Cơ.”

Hắn đứng chắp tay sau lưng, nhìn Cơ Tự vô cùng dịu dàng, trả lời về dòng họ nàng như thể đương nhiên.

Nhóm quý nữ khẽ ngạc nhiên, A Bích cười rộ: “Họ Cơ ư? Sao ta không biết huyện Kinh có thế gia nào họ Cơ nhỉ?”

A Bích vừa dứt lời, cả nhóm đều cười rộ lên, Kinh Ly liếc nhìn cây sáo ngọc trong tay Cơ Tự rồi nhỏ nhẹ nói: “Có lẽ do kiến thức của chúng ta hạn hẹp rồi.” Giọng nói có vẻ hòa nhã mang theo vài phần cảm thông nhưng lại càng khiến mọi người cười lớn hơn.

Không ngờ, mấy vị lang quân Chu thị bên cạnh còn để tâm hơn cả Cơ Tự, Chu Loan lập tức sầm mặt. Chu Ngọc thì mỉm cười, hờ hững nói: “Nàng là hậu duệ của Hoàng đế. Ngày xưa nhà Chu xưng bá trung nguyên hơn tám trăm năm, phàm là quý nhân đều mang họ Cơ. Những dòng họ còn lại khác chỉ là gia nô của họ Cơ thôi.”

Chu Ngọc nói xong, đám quý nữ không cười nổi nữa, ngay cả mấy lang quân thế gia cách đó không xa cũng trở nên yên lặng. Lời của Chu Ngọc hơi cay nghiệt, đặc biệt là câu cuối cùng. Hắn ám chỉ đời trước của tất cả những con cháu thế gia ở đây chỉ là hạ nhân của Cơ thị mà thôi. Bọn họ hoàn toàn không xứng lên mặt với Cơ Tự.

Kinh Ly chính là người ê chề nhất ở đây, với nhan sắc tuyệt mỹ như nàng ta, xưa nay đều được người khác nâng niu trong bàn tay. Thế nhưng nam tử mà nàng ta muốn gả ở đây lại bảo vệ một nữ nhân tầm thường thua xa nàng ta, cũng may không có nhiều người biết tâm ý của mình chứ không Kinh Ly quả thật đã mất hết mặt mũi rồi.

Trong không khí yên lặng như tờ, chỉ có Cơ Tự kinh ngạc nhìn về phía mấy lang quân Chu thị. Nói thật ra nàng vô cùng khó hiểu, trong vài lần tiếp xúc ngắn ngủi, Cơ Tự biết Chu Ngọc là người lòng dạ thâm sâu. Thế mà hắn chỉ vì chút chuyện cỏn con như là người ta coi thường xuất thân của nàng lại chỉ trích bọn họ thậm tệ ư? Hơn nữa, không chỉ có hắn, mà cả nhóm Chu Loan cũng giận dữ ra mặt.

Cuối cùng Chu Linh phá vỡ không khí im lặng, cất tiếng: “Chư vị, thời gian không còn sớm, chúng ta nhập tiệc thôi.”

Đúng như Chu Ngọc đã nói, yến hội này tổ chức cho riêng Cơ Tự, vì có một màn vừa nãy nên lúc mọi người thấy Cơ Tự đều giữ thái độ xa cách. Về phần Kinh Ly, nàng ta chỉ nói vài câu qua loa với mấy lang quân Chu thị rồi dẫn mọi người rời đi.

Buổi yến hội kéo dài đến lúc mặt trời ngả về tây, nhưng dù là việc Chu Ngọc xử trí Trang mẫu hay đám quý nữ Kinh Châu ra về giữa chừng đều không ảnh hưởng đến không khí buổi tiệc. Lúc chạng vạng, nhóm Chu Ngọc tiễn Cơ Tự ra tận xe.

Ngồi trong xe lừa nhìn từng chiếc xe bò chạy trên phố, nghe tiếng rao hàng văng vẳng truyền đến, Cơ Tự vẫn im lặng suốt. Bấy giờ Nguyệt Hồng ló đầu nhìn ra ngoài rồi quay lại hỏi: “Nữ lang, nô tỳ có thể nói chuyện chưa ạ?”

Cơ Tự thờ ơ gật đầu. Nguyệt Hồng lập tức thẳng người, tay phải đặt lên ngực, mắt sáng lấp lánh, kích động nói: “Lang quân Chu Ngọc tài ba quá. Nữ lang, nữ lang, lang quân bảo vệ người trước mặt nhiều người như vậy thật sự rất tốt. Nô tỳ nghĩ, thế gian này không có nam nhân nào tốt như lang quân Chu Ngọc đâu. Trời ạ, trời ạ, mới vừa rồi thấy lang quân che chở cho nữ lang, lạnh lùng đáp trả đám người kia, nô tỳ cũng si mê luôn. Nữ lang, lang quân thật sự rất, rất thích người đấy.”

Nàng mở mắt ra, nhìn Nguyệt Hồng rồi thở dài: “Hóa ra, một người không có kiến thức sẽ giống như kẻ mù... Những hành vi đó của Chu Ngọc chứng tỏ hắn thích ta, bảo vệ ta sao?”

Nguyệt Hồng trợn trừng mắt, kinh ngạc hỏi: “Lẽ nào không phải?”

Cơ Tự cười khẩy: “Trước giờ, Cơ Tự ta ở đất huyện Kinh này tuy bị khinh thường, bị bắt nạt, nhưng tuyệt đối không có ai căm thù ta. Mà từ hôm nay trở đi, Trang phủ hận ta, Trang Thập Tam hận ta, và cả Kinh Ly cùng mấy mươi con cháu thế gia ở Kinh Châu cũng hận ta nốt.”

Nguyệt Hồng ngơ ngác, há hốc miệng hồi lâu vẫn không thốt nổi một lời.

Cơ Tự lại lạnh lùng nói: “Chu Ngọc lòng dạ thâm hiểm, Trịnh Huống cũng nói, mấy ngày họ ở huyện Kinh vẫn luôn thu thập đủ loại tin tức có liên quan đến ta. Lẽ nào họ không biết ta từng thích Trang Thập Tam sao? Tổ chức yến hội ở biệt viện Trang Phủ và để Trang mẫu chủ trì, lại lấy cớ xử trí Trang mẫu, chiêu này là thủ đoạn trả thù của Chu Ngọc cho việc ta từng thích Trang Thập Tam đấy.”

Nguyệt Hồng ngây dại nhìn Cơ Tự.

Cơ Tự nói tiếp: “Trước hôm nay, Chu Ngọc đòi cưới ta, ta còn có thể ra sức từ chối, nhưng sau hôm nay, Cơ Tự ta chỉ có thể đi theo con đường hắn đã sắp đặt thôi. Thứ nhất, hắn khiến ta đắc tội với mấy mươi phú hộ ở Kinh Châu làm ta không đất dung thân ở đây nữa. Thứ hai, kể từ hôm nay ai ai cũng biết hắn bênh vực ta, một lang quân xuất sắc như vậy ta không vừa ý, vậy còn lang quân nào dám để mắt đến ta nữa?”

Cơ Tự nói một mạch đến đây, bất giác lắc đầu, đưa tay day đầu mày, thì thầm: “Lần này ta đã đi sai nước cờ rồi, ta vốn không nên đến đây. Lúc thấy nhiều xe ngựa ta vẫn không hề cảnh giác, bị tính kế quả thật đáng đời.”

Lúc này, rốt cuộc Nguyệt Hồng lắp bắp: “Vậy, vậy phải làm sao đây?”

Cơ Tự tựa vào vách xe, nhắm hai mắt lại, khẽ nói: “Đành đi một bước tính một bước thôi.”

Trong trang viên Cơ thị nhỏ bé, ngoại trừ Cơ Tự ra cũng không có ai túc trí đa mưu. Cho nên, sau khi trở về trang viên, nàng ngồi trong thư phòng đến nửa đêm, nghĩ nát óc cũng không tìm ra cách nào phá vỡ cục diện trước mắt này. Từ góc độ người ngoài, Chu Ngọc chính là một phu quân hoàn mỹ vô cùng. Nhưng Cơ Tự cảm thấy, nàng đã chết không rõ nguyên nhân một lần rồi, đời này phải sống sao cho tỉnh táo một chút, thông minh một chút và phải quang minh chính đại gả cho người khác mới được.

Hôm sau, trời vừa hửng sáng Trịnh phủ đã phái người đến, Cơ Tự đành phải tới đó một chuyến. Lần này nàng được Trịnh phủ tiếp đãi long trọng, cả phủ đều nghĩ nàng sắp gả vào Chu gia, hưởng thụ vinh hoa phú quý của Chu gia rồi. Vừa ngồi được giây lát, Trịnh phu nhân đã dẫn theo một mỹ thiếu niên mười ba mười bốn tuổi, diện mạo không hề giống Cơ Tự, nhưng có ngũ quan thanh tú, dáng vóc thì xấp xỉ nàng đến. Bà ta nói với Cơ Tự, thiếu niên này chính là huynh trưởng của nàng.

Lúc Cơ Tự rời khỏi Trịnh phủ, trong lòng liền nghĩ: Tuy hiện tại có rất nhiều chuyện phức tạp nhưng vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết nhất chính là Trịnh thị, nhưng muốn cài bẫy họ cũng không phải dễ.

Nàng nghĩ suốt một ngày một đêm vẫn không đưa ra được kế sách gì, lại cảm thấy người xung quanh mình trở nên yên lặng khó hiểu, trong cơn tức giận, nàng dẫn theo Dữ Trầm, Tôn Phù và mười mấy hộ vệ ngồi xe lừa ra khỏi huyện Kinh.

Lúc xe lừa đi trên đường lớn, cảnh sắc xung quanh đẹp đến lạ thường. Cơ Tự bỗng hỏi: “Nghe nói Tạ Lang vẫn còn ở Kinh Châu đúng không?”

Mọi người giật mình, lát sau, Tôn Phù trả lời trước: “Chắc là còn ở ạ. Thân phận Tạ Lang như vậy, bất kể đến hay đi cũng sẽ náo động toàn thành. Nếu không nghe người ta nói Tạ Lang rời đi, thì chính là vẫn còn ở.”

Cơ Tự khẽ “ừ” một tiếng, lát sau nàng nói khẽ: “Đến thành Kinh Châu đi.”

Tôn Phù kinh hãi: “Nữ lang muốn đi gặp Tạ Lang ư?”

Cơ Tự mỉm cười, khép hờ mắt, im lặng một lát rồi từ từ nói: “Nghe nói người này tài trí vô song, chuyện gì cũng nằm trong dự liệu. Ta muốn gặp người một lần.” Nói không chừng có thể biết được nguyên nhân Chu Ngọc muốn cưới nàng từ chỗ Tạ Lang thì sao.

Đám hạ nhân lập tức vâng dạ, xe lừa chuyển hướng đi thẳng đến cổng thành Kinh Châu.

Từ huyện Kinh đến Kinh Châu chưa đến bốn mươi dặm, trong suốt quãng đường Cơ Tự thường thấy có khá nhiều người dân vác bao ngô đi đến thành, có cả thai phụ bụng to vượt mặt cũng vác bao ngô lê từng bước trên đường cái.

Ngoài xe lừa, giọng Tôn Phù truyền đến: “Nếu như tiền Tứ Thù có thể dùng thì tốt rồi, ít ra tiền đồng cũng không nặng bằng bao ngô.” Chốc lát y lại nói, “Nữ lang, theo tôi thấy, người cũng đừng phiền não như thế. Dù sao nữ lang xuất thân phú quý, Chu phủ kia oai vệ nhưng lẽ nào họ dám đánh giết chính thê hay sao? Cùng lắm nữ lang cứ gả đi. Nếu thật sự không cam lòng thì người cũng có thể không lấy Chu Ngọc, gả cho Chu Loan cũng được. Tôi thấy Chu Loan có vẻ đáng tin hơn.”
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 21: Hấp dẫn


Cơ Tự chỉ thoáng cười, không tỏ ý kiến. Ánh mắt nàng nhìn sang bên cạnh, bởi vì thời này ra ngoài không ai đoán được mình sẽ gặp việc gì bất trắc hay không, nên mỗi lần đi đâu nàng đều chuẩn bị đầy đủ tiền vàng. Nhất là kể từ khi nàng vơ vét được từ hang ổ của toán cướp La Đại Đầu thì lại càng chuẩn bị kỹ hơn. Hai là hiện nay các thế gia quyền quý đều chú trọng cốt khí phong lưu, Cơ Tự cũng học được cách vận dụng thế mạnh của mình trong lúc mấu chốt. Thế nên mỗi lần xuất hành nàng đều mang theo một bộ nhạc cụ. Có sự chuẩn bị chu đáo này, trong lòng nàng cũng vững tin với việc bản thân mạo muội bái phỏng Tạ Lang, con trai trưởng của đại sĩ tộc quyền quý hàng đầu kia hơn.

Nhưng ngoài dự liệu là khi nàng tới chùa Khô Vinh ở Kinh Châu, hỏi thăm mới biết Tạ Lang không còn ở Kinh Châu mà đã đến Xích Bích rồi. Suy đi nghĩ lại, cuối cùng Cơ Tự vẫn quyết định đuổi theo đến đó.

Xích Bích cách Kinh Châu không xa, nàng nghỉ ngơi tại khách đ**m một buổi tối, sáng ngày hôm sau mới thong thả lên đường. Lúc đến nơi, trời đã sắp hoàng hôn. Nàng đứng bên bờ Xích Bích, nhìn con sông Trường Giang cuồn cuộn chảy về hướng Đông, bỗng chốc tâm hồn như si như say. Đây là chiến trường cổ lừng danh trong Tam Quốc, đến hôm nay nơi này đã xây dựng không ít bến tàu và có vô số thuyền bè qua lại.

Tôn Phù đứng bên hô lên: “Mau nhìn xem, những người kia đều là phu kéo thuyền đấy.”

Cơ Tư quay đầu nhìn lại, chỉ thấy trên bãi đá ngầm bên phải, mười mấy phu kéo chỉ mặc khố, buộc dây thừng vào người để kéo con thuyền lên từng chút từng chút, vừa hò những làn điệu cổ xưa vừa vịn vách đá mượn sức.

Cơ Tư nhanh chóng dời mắt đi. Lúc này có mấy chiếc xe ngựa chạy đến, trong xe chở rất nhiều đại sĩ phu mặc bào rộng tay dài, mũ miện đai lưng, dường như còn loáng thoáng nhắc đến Tạ Lang nữa. Cơ Tự lập tức bảo Lê thúc mau đánh xe lừa đến gần. Quả nhiên xe lừa vừa chạy đến, nàng liền nghe một người trung niên nói: “Tạ Lang kia cứ lưu luyến ở đây vài ngày rồi, lão phu chỉ ước gì hắn mau rời đi thôi.”

Một người khác lập tức cười to: “Công Vọng thật sự mong muốn Lâm Lang Tạ thị rời đi thế ư, lẽ nào sợ mấy tiểu cô nhà người bị hắn hút hồn hay sao?”

Mọi người cười ồ lên. Một sĩ phu gần ba mươi tuổi cất lời: “Cũng không thể trách Lâm Lang Tạ thị được. Hắn đã ở lì trên thuyền rồi mà vẫn thu hút mấy nữ nhi kia, bản thân hắn đâu còn cách nào khác.”

Câu nói vừa dứt, tiếng cười càng vang dội hơn.

Cơ Tự lưu ý đến điều này, khẽ căn dặn Tôn Phù và Dữ Trầm: “Tạ Lang ở đây không hề che giấu hành tung, hai thúc đi hỏi thăm xem Tạ Lang đang ở thuyền nào.”

Nhóm hộ vệ vội vàng vâng dạ. Sau khi họ đi do thám, Cơ Tự lại quay đầu đăm chiêu nhìn những phu kéo thuyền ở bến tàu, dường như có ký ức nào đó đang trỗi dậy trong đầu nàng...

Hai canh giờ sau, khi trời đã chạng vạng, màn đêm dần dần kéo đến từ phía chân trời, nhóm Tôn Phù đã trở về bẩm báo: “Nữ lang, hỏi ra rồi. Ở phía trước chưa tới một dặm có bãi Phong Ba, lang quân Tạ gia đang ở tạm trên thuyền hoa neo đậu tại đó. Nữ lang, lần này chúng ta đến rất đúng dịp, nghe nói rạng sáng ngày mai lang quân Tạ gia sẽ ngồi thuyền khác đi đến đất Thục.”

Cơ Tự gật đầu, mắt vẫn mải miết nhỉn những phu kéo kia. Tôn Phù khẽ nói: “Nữ lang, mấy người này ăn mặc lõa lồ, người nhìn họ làm gì?”

Cơ Tự quay đầu lại, cười thật tươi với Tôn Phù: “Tranh thủ lúc trời còn chưa tối, mọi người dùng bữa đi thôi.”

Thấy nụ cười rạng rỡ của nàng, mọi người hơi giật mình, Tôn Phù vui mừng nói: “Nữ lang, có phải người đã nghĩ ra cách tiếp cận lang quân Tạ thị rồi không?” Trong đám nô tài, Tôn Phù xem như là người lõi đời nhất, y hiểu rất rõ, với người như Tạ Lang, nói không chừng người đã quên mất ân giúp đỡ trên đường gì đó từ lâu rồi. Thế mà hôm nay Cơ Tự muốn tiếp cận, còn muốn cầu cứu đại quý nhân chỉ là có duyên được một lần gặp gỡ như vậy, quả thật nàng phải nghĩ ra biện pháp tốt mới được.

Cơ Tự cười: “Mặc kệ những việc này, cứ dùng cơm trước đã.”

Chẳng mấy chốc màn đêm đã phủ xuống, hôm nay là ngày rằm, đối với những người áo cơm không lo, đêm trăng tròn cũng là một loại phong cảnh nên thơ, nhưng với những phu kéo thuyền thì đêm nay vô cùng vất vả, bên bãi đá ngầm đốt đuốc sáng ngời.

Nhóm Cơ Tự mướn một chiếc thuyền hoa không lớn, có sức chứa chỉ đủ mười mấy người. Trong nhóm còn có thêm hai sĩ phu trung niên, khi Cơ Tự và hai người kia đi đến mũi thuyền, trùng hợp bên bờ sông vang lên điệu hò kéo thuyền buồn bã thê lương: “Hò ơi, vách đá cheo leo, dựng thẳng đôi bờ... Hò ơi, quỷ thần phù hộ, thân này trường an... Hò ơi, mồ hôi mướt áo, bám vách trèo lên Hò ơi, dù cho khổ nạn kiếp này, chỉ mong kiếp tới ngày ngày ấm no... Hò ơi...”

Điệu hò này khàn khàn vang vọng trong gió đêm như thể đến từ trăm cuộc bể dâu hàng nghìn năm trước, khiến lòng người đau đáu niềm thương không sao tả xiết.

Cơ Tự quay đầu, nghiêm túc nói với hai sĩ phu kia: “Hai người có nắm chắc điệu hò này chứ?”

Một người cười sang sảng: “Chuyện này rất đơn giản, tiểu cô đừng lo.”

Cơ Tự cười rộ, ra lệnh: “Khởi hành, nhớ lời ta dặn, cứ đi chậm thôi.”

“Vâng.” Trong tiếng hô của chủ thuyền, thuyền hoa bắt đầu dập dềnh trôi theo dòng nước.

Chiếc thuyền hoa Cơ Tự thuê là loại thuyền dạo hồ, chuyên dành cho mấy quý nhân tổ chức du yến. Dưới ánh đuốc chiếu rọi, trông nó vô cùng xa hoa nhưng tốc độ thì gần như bằng không, chỉ thuận theo gió lướt đi, vừa hay cùng một nhịp điệu của mấy phu kéo thuyền trong đêm kia.

Lúc câu hò “thân này trường an” vang lên lần nữa, thuyền hoa của Cơ Tự chợt nổi trống. Mỗi một tiết tấu của tiếng trống này đều khớp với từng chữ trong câu hò của đám phu kéo. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, có vài vị khách của những chiếc thuyền chở hàng xung quanh đi ra xem. Mà nhóm phu kéo thuyền trên bãi đá ngầm thì lại như được tiếp thêm sức mạnh.

Trong điệu hò man mác và tiếng trống bi hùng thì chợt tiếng Huyên (1) bay đến, nó réo rắt vô cùng như thể tiếng nhạc chúc phúc đến từ những cuộc săn thú thời viễn cổ, thúc đẩy tinh thần của phu kéo thuyền, khiến tiếng hò của họ càng vang vọng xa xăm.

(1) Huyên là một nhạc cụ dân gian làm bằng đất nung, hình dáng như quả trứng gà rỗng ruột và có sáu lỗ.

Lần này tất cả người trong thuyền hàng đều ra ngoài, nhìn về phía thuyền hoa của Cơ Tự.

Lúc này tiếng đàn lại nổi lên vô cùng thần bí, hết sức xa xưa, rất đỗi tiêu điều và cực kỳ dễ nghe. Nếu nói tiếng trống và tiếng huyên vừa rồi chẳng qua chỉ đệm nhạc cho giọng hò, thì tiếng đàn này vừa ngân lên đã khiến cho cho tất cả mọi người trên thuyền hàng đều phải nín thở.

Thuyền Tạ Lang đang neo cách đó không xa. Lúc tiếng nhạc này truyền đến, chàng đang đứng ở mũi thuyền ngắm trăng. Xưa nay chàng thường xuyên qua lại với những tài tử khắp nơi, đêm trăng tròn vằng vặc thế này, dĩ nhiên bên cạnh chàng còn có những vị ẩn sĩ khác. Họ cùng ngồi bên đống lửa, vừa thưởng thức cá hoa vàng nướng nổi tiếng Xích Bích, vừa ngâm thơ luận phú.

Tiếng nhạc trong đêm đa tình như thế thoáng chốc đã khiến cả thuyền im lặng lắng nghe. Bỗng một người nắm chặt tay người bên cạnh, kích động nói: “Mau, mau chèo thuyền đến đó.”

Trong tiếng thét ra lệnh, chiếc thuyền nhanh chóng lao về phía âm nhạc cất lên. Chỉ chốc lát sau, họ liền thấy được cảnh tượng rung động rõ ràng trước mắt và cũng nghe thấu bản nhạc như thể tiếng hồn của đất trời tự thuở xa xưa. Giọng hò u uất của phu kéo thuyền lẫn khách trên thuyền hàng, cùng tiếng trống mạnh mẽ, tiếng huyên réo rắt đều hòa vào tiếng đàn, tạo thành một bản hùng ca bi tráng nhất thế gian này.

Chưa từng có khoảnh khắc nào khiến Tạ Lang xúc động như thế. Dưới bầu trời đêm trong vắt, trăng sáng vằng vặc, ngọn lửa trên thuyền hoa kia phừng phực trong gió tạo nên khung cảnh vô cùng tráng lệ. Gần như chàng đã rung động tận tâm can trong vô thức. Mà mấy người bạn bên cạnh chàng đều giơ tay áo lau đi nước mắt.

Giờ khắc này đất trời hóa thành dòng nước cuộn trào, còn con người tựa như chiếc thuyền cô độc lênh đênh. Trong tiếng đàn văng vẳng, mấy ẩn sĩ phía sau lưng Tạ Lang bất giác cùng cất cao tiếng ca.

Thật lâu sau, khi phu kéo thuyền đã xong việc, câu hò cũng dừng lại, tiếng nhạc vang dội ngỡ như kéo dài vĩnh hằng mới dần lắng xuống. Tay Cơ Tự đặt trên dây đàn, lúc nốt nhạc cuối cùng ngân vang, hai sĩ phu kia đều quay đầu lại nhìn nàng với ánh mắt ngưỡng mộ.

Người hoàn hồn trước tiên chính là Tôn Phù, y đi đến khẽ nói bên tai Cơ Tự: “Nữ lang, quả nhiên Tạ Lang đã đến.”

Cơ Tự vẫn đắm chìm trong dư âm khúc nhạc chợt thanh tỉnh trở lại, nàng ngẩng đầu nhìn mặt sông gợn sóng lăn tăn, ánh trăng bập bềnh theo dòng nước phía trước, từ từ nở nụ cười, lòng thầm nghĩ: Khúc đàn Xích Bích Ca này chính là sáng tác của Tạ Lang, trong ký ức của nàng, sau này khúc nhạc này được truyền khắp cõi nam bắc và cũng được người đời ca ngợi có một không hai. Nàng mang khúc nhạc này ra để thu hút Tạ Lang, làm sao mà chàng có thể không chú ý, làm sao mà chàng có thể không rung động được cơ chứ?
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 22: Giải quyết phân nửa


Thế nhưng vào lúc này, phía xa lại truyền đến tiếng ồn
ào. Cơ Tự bất chấp thân phận nữ tử, ôm đàn đi đến mũi thuyền hoa. Vừa
đứng ở đầu thuyền, nàng mới phát hiện bến tàu đèn đuốc sáng rực, nhóm Tạ Lang cũng phát hiện ra điều gì đó bất thường, đang quay đầu lại xem.

Cơ Tự nhìn theo ánh mắt họ, chỉ thấy một con thuyền lao nhanh đến, một
thanh niên đứng trên thuyền bắt chéo tay trước ngực hành lễ với Tạ Lang: “Có phải lang quân Tạ gia ở đây không? Chủ công nhà tôi truyền lời rằng ngài có chuyện đột xuất, không thể đến Xích Bích này, bảo thuộc hạ mau
chóng mời lang quân lên thuyền, đến bến tàu huyện Du Giang cách đây một
trăm dặm chờ ạ.”

Thanh niên kia vội vã đến đây, vì thế giọng nói gấp gáp và hơi thở còn
hổn hển. Tạ Lang quay đầu nói nhỏ với các bạn mình vài câu, rồi chàng
vẫy tay ra hiệu thanh niên kia tới. Thế là con thuyền của họ kề gần
thuyền hoa.

Thấy Tạ Lang sắp lên thuyền rời đi, Cơ Tự sững sờ, mấy lần định cất lời
gọi chàng nhưng cuối cùng chỉ đành im lặng. Đúng lúc này Tạ Lang quay
đầu lại, dưới ánh trăng và ánh đuốc, khuôn mặt tuấn tú khiến mọi thứ lu
mờ của chàng ẩn chứa biểu cảm phức tạp. Chàng nhìn Cơ Tự đăm đăm rồi
quay đầu sai đám hạ nhân gì đó. Một tỳ nữ nhanh chóng cầm giấy bút đến.

Trên mũi thuyền hoa, Tạ Lang cầm bút viết nhoay nhoáy, sau đó một gã lực lưỡng cột tờ giấy vào mũi tên rồi bắn “bụp” một phát về phía bên trái
Cơ Tự. Sau nữa, Tạ Lang đứng dưới ngọn đuốc xa xa, bắt chéo tay trước
ngực chào Cơ Tự, trong gió sông hây hây, cử chỉ chàng tiêu sái, gương
mặt tinh khiết như tiên quân giữa phàm nhân. Trong lúc Cơ Tự thảng thốt, chàng bỗng cười với nàng rồi quay người nhảy qua thuyền bên cạnh.

Đến tận khi con thuyền kia chở nhóm Tạ Lang rời đi, đám Tôn Phù mới hoàn hồn lại, vội vàng rút mũi tên rồi dâng tờ giấy cho Cơ Tự. Dữ Trầm sầu
não nói: “Thật là trùng hợp, sớm biết Tạ Lang đi nhanh vậy thì nữ lang
đừng đánh đàn làm gì.”

Cơ Tự không đến ý đến y, cầm lấy tờ giấy soi dưới ngọn đuốc. Trên trang
giấy viết mấy hàng chữ Hành Thư bay bổng: “Đêm nay khanh mệt mỏi đến độ
này, lẽ nào vì chuyện biệt viện Trang gia ở huyện Kinh sao? Khanh đừng
lo nghĩ nhiều, ngay ngày đó ta đã căn dặn thế tộc Kinh thị, bảo họ không được tìm khanh gây phiền phức rồi.” Tuy chữ viết rất vội nhưng vẫn thấy được nét thanh thoát phong khoáng.

Trong khoảnh khắc đó, Cơ Tự chỉ cảm thấy vui sướng quá đỗi, nàng cúi đầu chớp mắt, nén lại những giọt lệ chực trào: Chàng đúng là một người tốt.

Đối với Cơ Tự, nỗi sợ hãi gần như long trời lỡ đất kia, thế mà đã được
vị quý nhân chỉ tình cờ gặp gỡ đã giải quyết giúp nàng từ lâu. Nếu không phải tối nay nàng tìm đến, e rằng mãi mãi không biết được chàng đã giúp mình như thế. Trong chốc lát, một cảm giác ấm áp và vui sướng khôn tả
ào ạt tràn đến.

Sau phút vui mừng, Cơ Tự cất tờ giấy kia như vật quý, lòng thầm nghĩ:
Đây là chính tay Lâm Lang Tạ thị viết, từ lâu đã nghe người ta nói, bất
cứ tiểu cô nào ở Kiến Khang hay ở Kinh Châu đều cực kỳ si mê chàng. Ngay cả một tờ giấy chàng tiện tay viết ra cũng có người tình nguyện bỏ hàng trăm lượng vàng để mua. Ừ, trăm lượng vàng với mình là cả gia tài rồi,
vì thế phải cất chung tờ giấy này với đống bảo vật mới được.

Thấy Cơ Tự khi nãy còn cau mày buồn bực, giờ đã vui vẻ hớn hở, đám người Tôn Phù hai mắt tỏa sáng, Lê thúc cao hứng hỏi han: “Nữ lang, có phải
mọi chuyện đã được giải quyết rồi không?”

Cơ Tự quay đầu lại cười: “Ừ, chuyện khó giải quyết nhất đã không còn nữa.”

Nói đến đây, nàng ngáp dài, vui vẻ ra lệnh: “Đi thôi, chúng ta nghỉ ngơi một buổi tối ở Xích Bích, mai hãy về.”

”Vâng ạ.” Trong tiếng cười vang của đám người Lê Thúc, Cơ Tự trả tiền
cho hai văn sĩ trung niên kia, sai chèo thuyền hoa chạy mau chóng trở về bến tàu.

Nháy mắt ngày hôm sau đã đến, Cơ Tự vơi đi một nửa tâm sự nên tối hôm
qua ngủ rất say, sáng sớm tỉnh lại cũng không vội đi về huyện Kinh mà
dẫn theo nhóm hộ vệ dạo chơi ở Xích Bích một buổi.

Lúc Cơ Tự lên xe lừa đã vào giữa trưa, cả nhóm đi trên con đường tắt
chạy thẳng về huyện Kinh. Khi đi qua con đường núi nhỏ, bỗng bên dưới
vọng lên những tiếng khóc thét khiến mọi người đều rùng mình. Nhóm Tôn
Phù lập tức nhảy xuống lừa, cảnh giác nhìn xung quanh, Dữ Trầm chạy đến
xe lừa của Cơ Tự, nói nhỏ: “Nữ lang, âm thanh truyền đến ở đường cái bên dưới, tốt nhất chúng ta nên đi xem thử.”

Cơ Tự gật đầu ra lệnh: “Buộc miệng lừa lại, đừng để chúng kêu ra tiếng.” Rồi nàng cũng nhảy xuống xe lừa, rón rén đi theo Tôn Phù về phía trước. Họ len lỏi qua rừng cây rậm rạp, đi đến một khe núi lúc này mới thấy rõ tất cả mọi chuyện xảy ra bên dưới.

Bên dưới có năm sáu xe bò, cả chủ nhân trên xe lẫn hộ vệ khoảng năm mươi người. Nhưng hiện tại năm mươi người này lại co rúm, khóc giọt ngắn
giọt dài tuyệt vọng nhìn đám thổ phỉ.

Đúng vậy, chính là thổ phỉ, chúng gồm khoảng ba bốn mươi gã hung hãn,
cầm trường đao sắc lẻm, giương cung tên nhằm hướng bọn họ. Đúng lúc này
Cơ Tự khẽ kinh ngạc thốt lên. Tôn Phù vội nhỏ giọng hỏi: “Nữ lang, sao
thế?”

Cơ Tự nói: “Ta biết những người kia.”

Đúng vậy, nàng biết tất cả chủ nhân của sáu chiếc xe bò kia, còn có một
người nàng từng có duyên gặp mặt những hai lần chính là Kinh Ly. Còn gần với xe Kinh Ly là xe của tiểu cô A Bích, ngoài ra bốn chiếc xe bò còn
lại là mấy lang quân thế gia lần trước đi theo Kinh Ly đến biệt viện
Trang gia. Có điều khác với dáng vẻ cao sang quyền quý lần trước, lần
này họ vô cùng chật vật.

Kinh Ly co ro trong một góc xe bò cùng đám tỳ nữ nhà mình. Tiểu cô A
Bích thì thét gào không thôi, còn đám lang quân thế gia thì khóc lóc,
mặt xám ngoét như tro tàn. Lúc này đám hộ vệ dũng mãnh của họ đã quỳ mọp trên đất, đang cầu xin bọn thổ phỉ tha cho.

Thấy cảnh như vậy, Cơ Tự lạnh mặt nói: “Bọn cướp chỉ có ba bốn mươi người, sao họ không chống trả?”

Lê thúc ở bên cạnh khe khẽ nói: “Lần trước lão nô thấy mấy quý nhân này
đã nghĩ đến, nếu họ gặp phải thổ phỉ, chắc chắn là không ai chạy thoát.” Trong ánh mắt khó hiểu của Cơ Tự, Lê thúc nói tiếp, “Nữ lang, người xem đi, mấy vị lang quân kia ngay cả đi đường cũng phải cần người dìu, còn
mấy hộ vệ thì bước chân yếu ớt, tuy thân hình rắn chắc nhưng giọng nói
cũng thều thào giống hệt với chủ nhân họ, vừa nhìn đã biết là đám người
nhát như cáy rồi.”

Cơ Tự gật đầu, do dự giây lát rồi khẽ ra lệnh: “Lê thúc, thúc và Dữ Trầm đánh mấy chiếc xe lừa kia đi.” Không chờ họ thắc mắc, nàng liền nói
tiếp, “Những người còn lại kiếm mấy tảng đá tới đây, nhớ là càng nhiều
càng tốt.”

Nàng vừa dứt lời, mọi người đều biết nữ lang nhà mình đã quyết định cứu
người rồi. Tuy họ còn hơi chần chờ nhưng cuối cùng vẫn không phản bác.

Nơi này rất nhiều tảng đá to đùng, chỉ chốc lát sau, hai bên Cơ Tự đã
chất đầy đá. Dưới mệnh lệnh của nàng, đám hộ vệ cột mấy con lừa lại với
nhau. Sau khi đã chuẩn bị tốt tất cả, Cơ Tự nói: “Ta vừa gõ trống thì Lê thúc quất đám lừa ngay nhé, để chúng đồng thời hí lên, còn Tôn thúc thì lập tức đẩy đống đá xuống chân núi, đồng thanh hét lên 'giết' nghe
không?”

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau rồi đáp: “Dạ rõ ạ.”

Cơ Tự quay người đi đến chỗ đặt cái trống to. Tay nàng cầm lấy hai nhánh cây, hít sâu vào rồi vung tay đánh xuống thật mạnh, nhất thời một trận
trống “đùng, đùng, đùng” hùng hồn xuyên qua rừng cây, xông thẳng lên
tầng mây.

Trong tiếng trống dồn dập, mười mấy con lừa đồng thời hí vang. Tiếng
trống, tiếng lừa, và đống tro bụi do đống đá tảng lăn xuống dấy lên,
cộng thêm tiếng mười mấy người hò hét, trong phút chốc tạo nên khí thế
ngút trời.

Bọn cướp lập tức kinh hồn bạt vía. Xưa nay hai quân giao chiến, trước
tiên là phải tạo khí thế khuấy động. Trong lúc bọn cướp kinh hãi trước
biến cố đột ngột, có hộ vệ bật dậy, gào to: “Chúng ta được cứu rồi,
chúng ta được cứu rồi.”

Đám hộ vệ phấn chấn, rối rít đứng dậy, rút binh khí, cầm cung tên, lao
lên liều chết với bọn cướp còn chưa kịp phòng bị. Bọn cướp ít người nào
dám kiên trì đương đầu, kẻ thủ lĩnh vừa huýt sáo một tiếng, cả bọn hoảng hốt chạy lủi vào rừng, thoáng chốc đã mất tăm mất tích.

Thấy bọn cướp đã rút lui, đám Kinh Ly thoát chết cũng kích động. Đầu
tiên ôm người bên cạch khóc lóc mừng rỡ, sau đó Kinh Ly hắng giọng gọi
to: “Mau, mau mời ân nhân cứu mạng chúng ta đến đây.”

A Bích cũng nức nở nói: “Hôm nay nếu không nhờ những ân nhân này, chúng ta đã không may mắn sống sót rồi.”

Mấy lang quân thế gia cũng hùa theo: “Đúng vậy, đúng vậy, mau mời mấy ân nhân đến đây. Chỗ ta còn rất nhiều vàng, ta có thể dùng vàng xin ân
nhân hộ tống chúng ta về thành.”

Nhưng trong tiếng kêu gọi của đám Kinh Ly, phía đỉnh núi lại không có
động tĩnh gì cả. Lát sau hộ vệ bọn họ phái đi đã trở lại báo rằng: “Trên sườn núi cỏ cây dập nát, dấu chân loạn xạ, rõ ràng vừa rồi có người ở
đấy, nhưng không thấy bóng dáng nào nữa cả, xem ra ân nhân đã đi rồi.”

Điều này khiến đám Kinh Ly hoảng sợ, bọn họ cuống cuồng leo lên xe, hớt hải chạy về Kinh Châu.

Mãi đến lúc đi xa rồi, nhóm Dữ Trầm cuối cùng không nhịn được, vây quanh Cơ Tự, Lê thúc cất lời hỏi trước: “Nữ lang, không phải chúng ta nên lấy lòng những người này sao?”

Tôn Phù cũng nói: “Đúng đấy, chúng ta cứu mạng họ mà, ân đức này vô cùng to lớn đấy.”

”Ân đức ư?” Trong xe lừa, giọng Cơ Tự lành lạnh, “Ta chỉ là một nữ tử
yếu đuối mang theo mười mấy người hộ vệ, nhưng lại hơn hẳn năm mươi hộ
vệ của sáu thế gia chỉ biết bó tay chờ chết. Các người dám chắc những
người này sẽ cảm kích ta sao?” Nhóm hộ vệ há hốc miệng, không thốt nổi
một câu. Cơ Tự nói tiếp, “Hơn nữa, ta còn tận mắt chứng kiến cảnh chật
vật thảm hại của những kẻ này, chỉ cần một kẻ trong đó cảm thấy nhục
nhã, muốn lấy oán báo ân, ta cũng khó lòng phòng bị.”
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 23: Trang Thập Tam


Lại nói bên này, sau khi nhóm Tạ Lang ngồi thuyền khác
rời đi, ánh nắng sớm mai dần ló dạng phía Đông. Chàng đặt chiếc đàn ngọc trên gối, tay dạo cung đàn, tiếng nhạc thanh nhã bay vút lên tầng
không. Gần như tiếng đàn của Tạ Lang vừa vang lên, hai vị ẩn sĩ bên cạnh cũng đồng thời gõ trống và thổi huyên hợp tấu.

Nếu Cơ Tự có mặt ở đây, nhất định có thể nhận ra ba người đang hợp tấu chính là bản Xích Bích Ca.

Khi ấy bầu trời hửng sáng, cò trắng lượn đầy mặt sông, ba trăm người
trên thuyền đều im lặng lắng nghe tiếng đàn của chàng. Hồi lâu sau, Tạ
Lang khoát tay, tao nhã đẩy đàn ngọc ra, cười sang sảng nói: “Khúc nhạc
này thế nào?”

Nhóm ẩn sĩ vỗ tay khen ngợi: “Rất hay, tang thương hùng tráng, thật có
thể nói là tuyệt thế. Hôm ấy lần đầu nghe khúc đàn này bọn ta còn tưởng
khúc đàn cổ nào đó, không ngờ tiểu cô kia tấu lại là khúc đàn của Tử
Diễm.”

”Khúc tiểu cô Cơ thị tấu tựa như ánh trăng tối qua, tuy thanh nhã thật
đấy, nhưng lại đau thương cùng cực, tựa thể hồn ma oán thán. Mà khúc
nhạc Tử Diễm tấu giống như buổi bình minh hôm nay, nắng sớm trong suốt,
soi vạn dặm giang sơn làm toát lên nét bi hùng. Đúng là cách tấu nhạc
khác nhau sẽ mang đến hiệu ứng khác nhau.”

Hóa ra trí nhớ của Cơ Tự về kiếp trước quá mơ hồ, khúc Xích Bích Ca mà
nàng tấu tối qua thật ra không phải nguyên bản của Tạ Lang sáng tác.
Khúc đàn trong trí nhớ của Cơ Tự là khúc nhạc đã được cải biên lại từ
khúc của Tạ Lang vào bốn mươi năm sau. Qua ngần ấy năm biển hóa nương
dâu, hơn nữa khi ấy vương triều Lưu Tống cũng đã đi đến hồi diệt vong,
một tài tử nhà nghèo đứng bên bờ Xích Bích, cảm khái thế sự xoay vần,
liền cải biên lại khúc Xích Bích Ca của Tạ Lang. Bởi vì trong lòng y
mang nỗi buồn thương, nên dù khúc nhạc này còn hoa mỹ hơn cả bản của Tạ
Lang nhưng lại mang theo uất ức, thiếu vài phần phóng khoáng. Có điều
bởi vì nguyên khúc là do Tạ Lang sáng tác, tài tử kia chỉ sửa lại vài
đoạn nên trên danh nghĩa vẫn là của chàng. Nói cách khác, Xích Bích Ca
thời đấy có hai khúc, một bản là nguyên tác của Tạ Lang, một bản là Cơ
Tự đã tấu tối qua.

Hôm đó ở chùa Khô Vinh, sau khi Cơ Tự thổi tiêu đi xuống núi, Tạ Lang
mới tấu lên khúc Xích Bích Ca mình vừa sáng tác. Thế là những ẩn sĩ này
đều cho rằng Cơ Tự ở dưới chân núi nghe Tạ Lang đánh đàn, sau đó cải
biên lại trong vòng vài ngày, đến tối qua vì muốn cầu kiến Tạ Lang nên
nàng cố ý tấu khúc nhạc này.

Trong tiếng bình luận của mấy ẩn sĩ, Tạ Lang chậm rãi đứng dậy, áo bào
phấp phới, bước về đầu thuyền. Nhìn dòng sông mênh mông phía trước,
trong đầu chàng bất giác hiện ra khung cảnh tráng lệ tối qua và cả vị
tiểu cô khiến chàng vừa hoang mang vừa thưởng thức kia.

***

Sau khi cứu giúp đám người Kinh Ly khỏi kiếp nạn, nhóm Cơ Tự liền tăng
tốc về thẳng Kinh Châu. Họ nghỉ lại Kinh Châu một đêm, lúc về đến huyện
Kinh đã là buổi chiều hôm sau.

Vừa đến cổng trang viên nhà mình, Cơ Tự đã bị kinh sợ vì đám đông chen
chúc trước cổng. Không chỉ nàng mà ngay cả nhóm Tôn Phù, Dữ Trầm cũng
ngơ ngác nhìn nhau. Cơ Tự vội vàng bảo Lê thúc đánh xe vào ngõ hẻm, vẫy
tay nói với Tôn Phù: “Thúc đi nghe ngóng xem chuyện gì xảy ra thế.”

Tôn Phù quay lại rất nhanh, y tươi cười kề đến xe lừa bẩm báo: “Nữ lang, những người kia đều đến bái phỏng người. Trong bọn họ có người là bạn
bè, có người là đồng liêu với lão đại nhân trước đây, còn có người mới
chuyển đến cạnh trang viên chúng ta. Tôi hỏi thăm rồi, những người này
biết nữ lang được Chu lang ở Kiến Khang yêu thương, định cưới làm chính
thê nên cố ý chạy đến để nhờ vả nữ lang đấy ạ. Đặng Lý Chính còn nói nữ
lang thân cô thế cô, gả vào Chu gia sẽ bị người khác bắt nạt, nên nhờ
người mượn thế.”

Hóa ra là vậy, Cơ Tự day ấn đường rồi khẽ nói: “Thúc lặng lẽ qua đấy báo cho người trong phủ biết, bảo họ lan truyền tin đồn rằng chưa biết khi
nào ta về, có lẽ khoảng một hai tháng nữa.” Chớp mắt nàng lại gọi Tôn
Phù, “Khoan đã, thúc bảo mọi người cất hết lương thực và vật trưng bày
trong nhà vào hầm đi. Nếu có người đòi ở lại trang viên chờ thì họ nhất
quyết khóc lóc không đồng ý nhé.”

”Vâng.”

Nhìn bóng dáng Tôn Phù rời đi, Cơ Tự vô cùng phiền muộn, thế gian trọng
hai từ “hiếu đạo” nhất, những người này mượn danh nghĩa là bạn của phụ
thân và tổ phụ nàng, cũng có nghĩa là trưởng bối của nàng. Nếu nàng xử
lý không tốt, chắc chắc sẽ mang tiếng xấu khắp vùng, rồi cũng có ngày bị người thiên hạ biết được và chỉ trích.

Nghĩ ngợi một lát, Cơ Tự ra lệnh: “Chúng ta đi thôi, tìm một khách đ**m nghỉ ngơi đã.”

”Vâng.”

Ngày hôm sau, Tôn Phù đã đến bẩm báo, nói Trang Thập Tam đi ra ngoài học một thời gian ngắn đã trở về rồi, hắn biết mẫu thân mình bị bắt uống
thuốc độc cho câm rồi bị bán đến một thôn miền núi hẻo lánh nào đó, liền phẫn nộ như sắp điên lên, cầm kiếm đòi đi tìm nhóm Chu Ngọc. Sau khi bị người Trang phủ ngăn cản, hắn liền đánh xe chạy đến Cơ phủ. Khi ấy Tôn
Phù vô tình chạm mặt hắn, đến tận bây giờ y vẫn còn sợ ánh mắt âm u lạnh lẽo của Trang Thập Tam lúc bấy giờ.

Nói đến đây, Tôn Phù vô cùng lo lắng: “Nữ lang, Trang Thập Tam lang đã hận người thấu xương rồi.”

Cơ Tự không trả lời. Tuy chuyện nàng yêu Trang Thập Tam đã là kí ức rất
xa xưa, nhưng dù sao trong hai kiếp nàng cũng chỉ từng thích một mình
hắn, nên khi nghe được tin tức của hắn, nàng vẫn luôn có chút xao động.
Huống chi trong trí nhớ của Cơ Tự, Trang Thập Tam tuy không phải tài tử
học cao hiểu rộng, nhưng hắn rất có thiên phú trong kinh doanh. Nàng nhớ năm nàng hai mươi tuổi, Trang Thập Tam cũng gần được coi như là vua của đất Kinh Châu này.

Thấy sắc mặt Cơ Tự không tốt, đám nô tài đều im thin thít, mọi người
nhìn nàng với ánh mắt lo âu. Lát sau, Cơ Tự cười gượng với họ, nói: “Sau này đừng nhắc đến chuyện của Trang Thập Tam nữa.”

”Vâng.”

”Tôn thúc, thúc tiếp tục ra ngoài nghe ngóng thêm tin tức đi.”

Đến ngày thứ ba, Tôn Phù đến báo cho Cơ Tự một tin tốt, y nói mấy người
chờ ở ngoài trang viên Cơ phủ đã giải tán, mà còn do chính Chu Ngọc ra
mặt dàn xếp vụ này. Có điều lúc đó Tôn Phù không dám lộ diện, nên hoàn
toàn không biết cụ thể Chu Ngọc đã nói gì và làm gì với mấy người kia.

Nếu mọi người đã tản đi, Cơ Tự cũng nên trở về trang viên thôi. Thấy
nàng về phủ, Cơ Đạo chạy nhanh đến, Nguyệt Hồng cũng vui vẻ chạy tới,
gọi í ới: “Nữ lang, nữ lang, lần này nô tỳ được phen nở mày nở mặt rồi,
bất kể đi đến đâu đều có người gọi nô tỳ là Nguyệt Hồng tỷ tỷ ngọt xớt.
Hi hi, cũng nhờ vào nữ lang cả đấy.”

Cơ Tự ôm lấy Cơ Đạo xoay vòng vòng, hôn lên khuôn mặt của cậu một cái
rồi lườm Nguyệt Hồng, lạnh lùng nói: “Họ lấy lòng ngươi là có ý đồ.”

Nguyệt Hồng ôm mặt, cười tít mắt: “Nô tỳ biết chứ, họ đều ao ước phú quý của đại thế tộc Kiến Khang thôi, muốn thân cận tiểu thư để hưởng nhờ
phúc, nhưng một tỳ nữ cỏn con như nô tỳ sao mà làm chủ được chuyện này
cơ chứ. Hì hì, nhưng việc này cũng không cản trở nô tỳ tiếp nhận hảo ý
của họ.” Nguyệt Hồng kề đến bên cạnh Cơ Tự, đắc ý, “Lần này nô tỳ kiếm
được những hai mươi lượng vàng, nữ lang, người có muốn chia không?”

Cơ Tự chẳng buồn để ý, dù sao chỉ cần Nguyệt Hồng không hứa hẹn lung
tung gì với người ta là được, còn những việc khác thì nàng không quan
tâm.

Đêm đến, nàng tắm rửa thay quần áo, ngồi trong sân đánh đàn một lát,
thấy bầu trời đầy sao sáng lấp lánh, nàng nhất thời cao hứng dạo bước
trong phủ một vòng, lại vô thức đi đến cổng lớn. Tuy đêm đã khuya, nhưng cửa hông trang viên vẫn còn mở, có thể thấy rõ ngoài phố. Cơ Tự thoáng
nhìn bâng quơ, nhưng nào ngờ chỉ vừa liếc mắt, nàng đã thấy chiếc xe bò
lẳng lặng đỗ trong đêm tối.

Tuy cách năm sáu mươi mét, nhưng trăng sao sáng tỏ, hai bên cổng còn đốt đuốc nên Cơ Tự trông rõ chàng thiếu niên gầy gầy lạnh lùng đứng bên
cạnh xe bò kia. Đó là bóng dáng của Trang Thập Tam.

Cơ Tự giật mình, lúc nàng nhìn vào đôi mắt sáng quắc của hắn, quả thật
khiến nàng kinh hãi, bất giác lùi về sau vài bước. Đây chính là Trang
Thập Tam, kẻ tâm cơ thâm trầm xưng bá trên đất Kinh Châu, cũng là người
đàn ông nàng vừa yêu vừa hận nhất trong cuộc đời hai mươi năm ngắn ngủi
trước đây. Nàng muốn dời mắt đi nhưng không tài nào làm được.

Không biết qua bao lâu, một giọng nói vang lên phía sau: “Nữ lang, đã trễ thế này rồi sao người còn chạy đến đây?”

Là giọng của Lê thúc. Cơ Tự như thể choàng tỉnh khỏi cơn ác mộng, nhanh
chóng quay đầu lại nhìn y. Nhưng vừa quay lại nhìn ra phố thì bóng người đứng trong bóng đêm cũng biến mất, chỉ còn chiếc xe bò lẻ loi đỗ đó mà
thôi.

Lê thúc đi đến, khóa cửa hông lại, nói nhỏ: “Nghĩ cho kỹ thì lang quân
Chu gia đúng là ác độc, tuy Trang mẫu miệng lưỡi cay nghiệt nhưng cũng
không phải người xấu xa cho lắm. Ôi, nếu lúc ấy có người khuyên nhủ ngài ấy thì tốt rồi, cũng tránh bị Trang Thập Tam lang căm hận thế này.”

Cơ Tự nhìn cánh cửa hông từ từ khép lại, thầm nghĩ trong lòng: Lê thúc
nói sai rồi, khi ấy mẫu thân của Trang Thập Tam thật sự muốn rót độc
khiến ta câm rồi bán đi. Kiếp trước bà ta ỷ vào Trang Thập Tam hiếu
kính, không biết đã dùng chiêu này hại biết bao nhiêu người rồi. Ngay cả Lê thúc cũng rơi vào độc thủ của bà ta, mà nàng cũng nhiều lần bị bà ta hành hạ sống dở chết dở. Mẫu thân của Trang Thập Tam là kẻ lòng dạ ác
độc, có khi bà tay ra tay hại người không phải vì lý do người ta bất lợi với bà, mà chẳng qua là bà ta thích thôi.

Không biết ký ức này xuất hiện từ đâu cứ không ngừng kéo đến bủa vây lấy tâm trí Cơ Tự. Nàng hoảng loạn không nói thêm gì với Lê thúc nữa, lảo
đảo chạy ngay về phòng mình.
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 24: Trả thù


Suốt cả đêm Cơ Tự cứ trằn trọc không ngon giấc, nàng dự tính có lẽ phải rời xa huyện Kinh ngay thôi. Nhưng mộ phần sáu đời tổ tông của nàng đều ở đây, muốn vứt bỏ nào có dễ như thế? Cơ Tự đi đến thư phòng, cầm lên một quyển sách, tỉ mỉ dùng vải trắng lau đi bụi bặm trên đó, nhìn hàng chữ Giản nho nhỏ quen thuộc của phụ thân để lại, bất giác mắt nàng ươn ướt.

Nếu nói về kiến thức, phụ thân thua xa nàng hiện giờ, cho nên kể từ khi bị chứng đau đầu, nhớ lại chuyện kiếp trước, Cơ Tự chưa từng để ý đến số sách mà phụ thân để lại. Bây giờ nhìn vật nhớ người, nàng lại nghiêm túc lật xem từng quyển.

Lật giở liên tiếp qua bốn năm quyển sách, Cơ Tự cầm đến quyển Sơn Hải Kinh, quyển sách này nàng đã thuộc lòng từ lâu, nên tốc độ lật xem rất nhanh. Lúc nàng lật đến trang viết về dị thú Luy Ngư, bỗng thấy dưới góc phải có để lại một hàng chữ của tổ phụ nàng: Lúc hơn mười tuổi, từng thấy tổ phụ ngày đêm xem một bản đồ, hỏi thăm thì người bảo rằng đây là bản đồ bảo tàng gia tộc ta.”

Bản đồ bảo tàng ư? Gia tộc nàng có bảo tàng sao? Phút chốc tim Cơ Tự đập như trống dồn, lời đồn về Trịnh gia kia lập tức hiện lên trong đầu. Nguyên một ngày hôm đó Cơ Tự đều ru rú trong thư phòng, nhưng điều khiến nàng thất vọng là, dù nàng đã lật hết cả nghìn quyển sách còn lại, cũng không tìm được những dòng chữ tương tự, càng không hề thấy bức bản đồ nào.

Đến chập tối, Cơ Tự tức giận buông quyển sách cuối cùng xuống, thầm nghĩ: Có lẽ đây chỉ là truyền thuyết thôi. Có điều, dù nghĩ như thế, nhưng nàng vẫn lưu tâm đến việc này.

Thấm thoắt một ngày nữa trôi qua. Ngày thứ ba, Cơ Tự vừa mới dùng điểm tâm thì Dữ Trầm đã đến bẩm: “Nữ lang, tiểu cô và lang quân Trịnh gia đều đến đây, họ nói đã lâu không gặp nữ lang, nên rất nhớ người.”

Họ mà nhớ ta sao? Cơ Tự cười khẩy đứng dậy: “Vậy thì đi gặp họ thôi.”

Lúc Cơ Tự ra đến cổng, xe lừa của anh em Trịnh thị đang ung dung đỗ ở đó, thấy Cơ Tự đi đến, Trịnh Mật mím môi trừng mắt nhìn nàng, còn Trịnh Huống thì vẫy tay luôn miệng gọi: “A Tự, A Tự, bên này, bên này!”

Cơ Tự đi đến, cười nói: “Hiếm khi A Mật và Trịnh huynh đến đây, A Tự vô cùng vinh hạnh.” Nàng leo lên xe lừa, giống như chưa từng lời qua tiếng lại với Trịnh Mật, cười tít mắt nói với nàng ta, “A Mật, mấy ngày không gặp, ngươi càng lúc càng đẹp rạng rỡ.”

Trịnh Mật hừ khẩy khinh thường. Cơ Tự không buồn đoái hoài, hỏi tiếp: “A Mật, chúng ta chuẩn bị đi đâu chơi thế?”

Trịnh Mật không trả lời, Trịnh Huống bên cạnh đã cười hềnh hệch nói: “Đi Túy Tiên Lâu. A Tự, mấy tháng nay muội không chịu qua lại với bọn ta gì cả, mọi người rất nhớ muội đấy.”

Cơ Tự thoáng ngơ ngác, hơi chần chờ nói: “Vậy Trang Thập Tam...”

Trịnh Huống ngắt lời nàng: “Trang Thập Tam cái gì? Hôm qua hắn đã rời khỏi huyện Kinh rồi. Hì hì, ngày hôm nay Túy Tiên Lâu đã là sản nghiệp của Trịnh Huống ta.”

Gì cơ? Cơ Tự khẽ giật mình, nàng nhìn Trịnh Huống, nghĩ thầm: trước kia Trịnh Huống luôn như hình với bóng với Trang Thập Tam, ta còn tưởng rằng họ là bạn tốt, nào ngờ Trang Thập Tam vừa xảy ra chuyện, Trịnh Huống lại có vẻ hả hê như thế.

Thấy Cơ Tự sững sờ, Trịnh Mật bên cạnh cười khẩy: “Ngươi hại mẫu thân hắn, khiến hắn mất hết mặt mũi, bây giờ còn giả vờ vô tội nữa à?”

Trịnh Huống vội quay đầu lại, lạnh lùng quát: “A Mật!”

Trịnh Mật lại hừ khẩy rồi quay đầu đi. Trịnh Huống đành cười làm lành với Cơ Tự: “Cơ Tự, muội đừng phiền lòng, A Mật không có ý gì đâu.”

Cơ Tự cúi đầu, khe khẽ thở dài: “Muội biết mà.” Nói thì nói thế, nhưng rốt cuộc nàng không còn hứng thú chuyện trò gì nữa.

Xe lừa chạy trên phố huyện Kinh náo nhiệt, Cơ Tự vừa ngắm cảnh bên ngoài vừa suy nghĩ: Hóa ra Trang Thập Tam đã bán sản nghiệp rồi rời khỏi huyện Kinh. Nhưng hắn làm như vậy lại khiến nàng càng sợ hơn. Mím môi chốc lát, nàng quyết định: Vẫn nên mau mau rời khỏi huyện Kinh thôi. Trước khi rời đi cũng phải tìm kiếm hết cả trong lẫn ngoài trang viên mới được. Nếu tổ phụ đã để lại câu kia, không chừng gia tộc ta đúng là có bảo tàng gì thật.

Đúng lúc này giọng Trịnh Mật vang lên bên cạnh: “Chuyện gì thế nhỉ? Sao huyện Kinh lại đông người vậy?”

Cơ Tự giật mình, quay đầu lại nhìn, quả nhiên thấy trên phố huyện Kinh đầy những người ăn xin đầu bù tóc rối, chân không nhem nhuốc.

Lúc này Trịnh Huống nói: “Họ đến từ huyện Chương Thủy lân cận, nghe nói ở đó có một huyện lệnh mới đến, vừa nhậm chức đã tăng thuế rất cao, khiến dân chúng thu hoạch lương thực xong cũng không đủ giao nộp.”

Huyện Chương Thủy? Gần như vừa nghe thấy ba chữ kia, đầu óc Cơ Tự bỗng lóe sáng. Thấy nàng thất thần, Trịnh Huống quay đầu lại, ân cần hỏi thăm: “A Tự, muội đang nghĩ gì thế, sao lại thừ người ra như vậy?”

Cơ Tự hoàn hồn lại, nàng nhìn Trịnh Huống rồi nhanh chóng cúi đầu, nhăn mày nói: “Mấy hôm trước muội ở trong tửu lâu thành Kinh Châu có nghe thấy hai người trò chuyện, họ bảo hang ổ của bọn cướp lớn nhất vùng chúng ta nằm ở huyện Chương Thủy. Bây giờ huyện lệnh mới kia làm như vậy chẳng phải là tiếp tay cho bọn cướp sao?”

Trịnh Huống nghe đến đây thì tim giật thót, thoáng chốc y cười ha ha nói: “Không đến nỗi thế đâu.” Tuy nhiên trong lòng lại nghĩ: Sao ta thấy lời này của A Tự có điều gì ấy nhỉ?

Đến tận khi vào Túy Tiên Lâu, trong suốt thời gian tán gẫu với mấy người bạn hữu, Trịnh Huống vẫn mải nghĩ đến việc này. Vừa đưa Cơ Tự về nhà xong xuôi, y đã vội vàng chạy đến thư phòng phụ thân, bẩm báo: “Phụ thân, hôm nay con nghe A Tự nói một chuyện, vẫn mơ hồ không rõ, nên đặc biệt đến bẩm với phụ thân.”

Trịnh lão gia rất để tâm đến đứa con trai thông minh này, ông ta quay người, mỉm cười hỏi: “Ồ? Nó nói cái gì?”

Trịnh Huống bẩm: “A Tự nói, mấy hôm trước ở tửu lâu Kinh Châu có nghe thấy hai người tán gẫu với nhau, bảo hang ổ của bọn cướp lớn nhất vùng này nằm ở huyện Chương Thủy.”

Trịnh Huống vừa dứt lời, Trịnh lão gia liền đứng bật dậy. Thấy phụ thân phấn chấn đến mức mặt đỏ gay, Trịnh Huống hơi giật mình, vội hỏi: “Phụ thân nghĩ ra gì sao?”

Trịnh lão gia đi vài bước, rồi hạ giọng nói với Trịnh Huống: “Ta cũng từng nghe nói đến chuyện của huyện lệnh Chương Thủy. Hắn đến Chương Thủy không chỉ tăng thuế lên chót vót, còn dẫn theo cả nghìn quân lính riêng. Nghe nói, từ nửa tháng trước, bọn cướp ở huyện Chương Thủy đã bị tiêu diệt sạch, ngay cả mấy gã lưu manh ở thôn làng nho nhỏ cũng trốn bằng hết.”

Trịnh Huống nghĩ ngợi một hồi, đột nhiên hai mắt sáng rực, ngẩng đầu, đầy vẻ kích động nói với phụ thân: “Phụ thân, nói như vậy, nếu chúng ta may mắn, có lẽ sẽ dễ dàng moi được ổ của bọn cướp sao?”

Trịnh thị phất lên vốn là nhờ trộm được bảo tàng của Cơ thị, chỉ trong vòng một đêm đã trở thành phú hộ. Quay đầu còn vờ rộng lượng, vứt vài lượng vàng cho cha con Cơ thị, thế là nghiễm nhiên mang danh lương thiện tri ân, cái cảm giác vui sướng khi ấy đến giờ ông ta vẫn nhớ mãi không quên. Vì thế, khi Trịnh Huống vừa nói đến “moi ổ bọn cướp”, Trịnh lão gia đã kích động đến mức môi run run.

Đúng lúc này, bỗng Trịnh Huống nhíu mày, lắc đầu liên tục: “Không đúng, không đúng, một sự kiện lớn như thế làm sao mà mấy người không đâu ấy lại biết được. Nói không chừng huyện lệnh Chương Thủy kia đã tỏ tường, chỗ vàng bạc ấy đã sớm rơi vào tay gã rồi.”

Trịnh lão gia cũng nghĩ như thế, nhưng vẫn không muốn từ bỏ ý định: “Như vậy đi, con dẫn theo mấy chục người đến huyện Chương Thủy mang danh nghĩa là thu mua ruộng đất rồi dò la thử xem sao, nhớ phải thăm dò được chuyện của huyện nha đấy.”

“Vâng ạ.”

Huyện Chương Thủy cách huyện Kinh chưa đến trăm dặm, không đến sáu ngày, Trịnh Huống đã phái người mang thư về báo, huyện lệnh Chương Thủy hoàn toàn không biết chuyện hang ổ bọn cướp, tất cả chú ý của gã chỉ nhắm vào việc đất đai mà thôi. Theo Trịnh Huống suy đoán, huyện lệnh kia muốn thông qua chiêu này, khiến dân chúng phải bán tháo ruộng đất, cuối cùng gã sẽ tiện tay thu mua, biến ruộng của dân làng trở thành tư sản của gã. Trịnh Huống còn nói, một nghìn lính riêng của huyện lệnh Chương Thủy kia chỉ có mỗi một nhiệm vụ là bảo vệ bản thân gã thôi.

Tin tức ấy khiến Trịnh lão gia mừng như điên. Thế là ông ta liền dẫn theo trăm hộ vệ còn lại trong trang viên, vội vàng đi đến huyện Chương Thủy. Việc mười ba năm trước đã dạy Trịnh lão gia biết, phú quý ở đời xưa nay đều phải trải qua nguy hiểm mà có được. Tuy lời Cơ Tự nói chưa chắc là thật, huyện Chương Thủy cũng không nhất định có hang ổ của bọn cướp, mà cho dù có thật đi chăng nữa thì cũng chưa chắc ông ta sẽ tìm ra được. Nhưng trong mắt Trịnh lão gia, khó khăn cỏn con này quả thật không đáng gì, dù không có thì cha con họ chỉ coi như đi một chuyến tay không thôi. Còn lỡ như có, thì đây chính là khoản đại phú kéo dài cả trăm năm của Trịnh thị đấy.

Nhưng điều khiến cha con Trịnh thị không ngờ là việc họ dẫn theo hộ vệ nhà mình không ngừng lén lén lút lút, loanh quanh trên đất huyện Chương Thủy suốt vài ngày đã truyền đến tai huyện lệnh. Thế là, trong lúc cha con Trịnh thị đang mải lục tung cả dãy núi liền bị mấy trăm binh lính vây bắt. Đến tận khi hai cha con họ bị áp tải đến trước mặt huyện lệnh, Trịnh lão gia vẫn còn hoang mang, ông ta suy tính, nếu tình huống không ổn thì sẽ tiết lộ tin tức kia cho huyện lệnh Chương Thủy biết là xong. Nhưng ông ta cũng không liệu được rằng, vừa mới bẩm báo tin tức kia ra, huyện lệnh Chương Thủy liền chẳng nói chẳng rằng, sắc mặt hầm hầm dữ tợn, sai người g**t ch*t cha con họ ngay lập tức.
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 25: Trịnh thị suy tàn


Bốn ngày sau, tin tức cha con Trịnh thị bị cướp giết truyền về từ huyện Chương Thủy. Ba ngày sau đó, Trịnh mẫu phải bán đi hai trăm mẫu ruộng tốt mới chuẩn bị đủ tiền để nhận lại thi thể của phu quân và con trai mình từ tay nha dịch.

Trải qua cửa ải lần này, cả gia tộc Trịnh thị có thể nói là bị tổn thương nguyên khí nặng nề, chẳng những mất hai người đàn ông trụ cột trong nhà, còn mất luôn cả hai trăm bộ khúc của gia tộc. Mà đây mới chỉ là khởi đầu cho mọi chuyện về sau thôi.

Hai trăm thanh niên trai tráng kia chết đi, người nhà họ đau thương tuyệt vọng, theo tình theo lý thì Trịnh phủ phải đền bù thiệt hại cho gia đình họ, nhưng cha con Trịnh thị cũng bị giết, Trịnh mẫu và Trịnh Mật đều hoảng sợ, chỉ muốn nắm chặt tiền trong tay, một đồng cũng sợ mất, huống chi là giao ra một khoản tiền lớn để đền bù chứ? Vì thế, qua một đêm, Trịnh phủ đã trở thành nơi hỗn loạn, gia quyến của hai trăm bộ khúc kia canh giữ, khóc lóc vật vã ở trước cửa suốt ngày suốt đêm.

Vào ngày thi thể Trịnh lão gia và Trịnh Huống được chuyển về, Cơ Tự có đến bái tế một lần. Nói cho cùng, Trịnh lão gia và Trịnh Huống gián tiếp chết trong tay nàng, nên khi đối mặt với linh đường u ám kia, dù Cơ Tự có hàng nghìn lý do để tự bào chữa đi nữa, trong lòng cũng thấy rất gượng gạo.

Đúng vậy, cha con họ mắc mưu của Cơ Tự. Hôm ấy nghe đến huyện Chương Thủy, nàng bỗng nhớ lại một sự kiện rất lớn. Vụ án huyện Chương Thủy từng náo động cả Giang Nam ngày ấy. Nguyên nhân là do dân làng phát hiện ra kim sa trong nước sông. Trong sông có kim sa thì có khả năng lớn là trên núi có mỏ vàng, tin tức ấy vô tình bị gia tộc họ Thạch hùng bá ở Kinh Châu biết được. Thế là sau khi bí mật điều tra tình hình huyện Chương Thủy, Thạch thị phái ra một hậu bối đi nhậm chức huyện lệnh huyện Chương Thủy. Tiếp theo thông qua chức huyện lệnh này mà cưỡng ép chiếm đoạt cả nghìn mẫu ruộng, bao trọn vùng núi Chương lẫn sông Chương Thủy, biến vùng đó trở thành tài sản riêng của gia tộc mình.

Trong mắt Thạch huyện lệnh, hành vi cha con Trịnh thị vừa lén lút thăm dò vừa lục soát cả khu núi chính là có ý nhăm nhe đến mỏ vàng nhà gã. Thế nên khi nghe cha con Trịnh thị nói lý do là đến tìm kiếm hang ổ bọn cướp thì càng thịnh nộ hơn. Vì gã cho rằng lý do này là cha con họ bịa đặt. Gia tộc gã đã điều tra huyện Chương Thủy lâu như vậy, lại mang theo cả nghìn quân quét sạch giặc cướp ở đây một lượt, làm sao gã không biết ở huyện Chương Thủy này còn có hang ổ lũ cướp gì nữa hay không? Sau khi g**t ch*t cha con Trịnh thị ngay tại chỗ, gã còn sai người báo tử đến Trịnh phủ, cũng thuận tiện điều tra một phen, biết Trịnh thị không hề có lai lịch gì, mà vợ con của bọn họ cũng không biết họ đến huyện Chương Thủy để làm gì, lúc này gã mới bình tĩnh lại.

Trong trí nhớ của Cơ Tự, Thạch thị vì tư lợi đã ép bức dân làng trở thành dân lưu lạc, tiếp theo Kinh Châu lại gặp phải lũ lụt hai năm liền, dân chúng vô cùng khốn khổ. Thế là nhóm lưu dân của huyện Chương Thủy dấy lên mồi lửa, cuối cùng trở thành bạo động lan rộng khắp cả châu. Sự việc này được đặt tên là Loạn Kinh Châu, bắt nguồn từ việc Thạch thị sưu cao thuế nặng, liên lụy thêm cả mấy mươi huyện trong vùng, dẫn đến cái chết cho hàng chục vạn người.

Trong lúc Cơ Tự đang luyện viết chữ trong thư phòng thì Trịnh Mật mặc áo tang xông vào gọi to: “A Tự, ngươi phải giúp ta!”, Nàng ta bất chấp nắm lấy tay áo Cơ Tự định lôi nàng đi.

Cơ Tự giật ống tay áo, bước lùi lại, nhíu mày nói: “A Mật, rốt cuộc là xảy ra chuyện gì, ngươi còn chưa nói rõ nữa.”

Trịnh Mật nổi giận, hét ầm lên: “Còn cần phải nói nữa sao? Nhà ta cả ngày bị đám dân đen kia chặn cổng, khóc lóc phiền chết đi được. Bọn họ thấy Trịnh gia ta chỉ còn mẹ góa con côi liền mở miệng đòi hỏi vô lý quá đáng. Cơ Tự ngươi vốn là người của Trịnh gia ta, xảy ra đại sự như vậy sao ngươi lại không ngó ngàng đến? Đi, ngươi đi nói với lang quân Chu gia, bảo họ ra mặt đuổi đám ruồi nhặng kia đi cho ta. Ta biết chắc chắn lang quân Chu gia sẽ đồng ý, lần trước mấy người kia kéo đến muốn mượn danh nghĩa của nhà ngươi, Chu Ngọc liền ra mặt giải quyết, lần này đến lượt nhà ta, bất cứ giá nào ngươi cũng phải xin lang quân Chu gia ra mặt giúp đỡ mới được.”

Trong tiếng quát tháo the thé của Trịnh Mật, Cơ Tự vẫn điềm nhiên: “Ta không phải người Trịnh gia.”

Trịnh Mật khẽ giật mình. Nàng ta trừng mắt nhìn Cơ Tự, dần dần biểu hiện khuôn mặt trở nên luống cuống, từ không kiên nhẫn chuyển thành hoang mang, nhưng miệng vẫn cố hét: “Lời này của ngươi là sao?”

Cơ Tự cười nhạt, nhìn thẳng vào Trịnh Mật: “Chẳng sao cả, ta chỉ phát hiện hình như ngươi đã quên mất một điều, Cơ Tự ta không hề có liên quan gì đến Trịnh phủ ngươi cả.”

Cơ Tự vừa dứt câu, mặt Trịnh Mật đã trắng bệch. Nàng ta ngơ ngác nhìn Cơ Tự một hồi, mới dịu giọng xuống, nói: “A Tự, nhà ta đã xảy ra chuyện, phụ thân và ca ca ta đều chết cả rồi, nhiều năm qua nhà ta luôn giúp đỡ ngươi, giờ ngươi khoanh tay bàng quan như vậy không sợ người khác mắng ngươi là đồ vong ân phụ nghĩa sao?”

Nghe thấy lời nói của Trịnh Mật, Cơ Tự bật cười, mà tiếng cười này của nàng lại khiến sắc mặt đang trắng bệch của Trịnh Mật chuyển thành xanh mét. Cơ Tự lùi về phía sau, ngồi xuống ghế với tư thái tao nhã, rồi ngẩng đầu nói với Trịnh Mật: “A Mật, hôm nay chúng ta nói cho rõ ràng với nhau đi.”

Ra hiệu cho nàng ta ngồi xuống, Cơ Tự chậm rãi cất lời: “A Mật, ngươi phải hiểu hai việc. Một là nhóm bộ khúc nhà ngươi chết là vì làm việc cho gia đình ngươi, nên chuyện bồi thường cho họ là đương nhiên. Chuyện như vậy, đừng bảo là nói với lang quân Chu gia, ngay cả nếu những người đó cáo trạng đến trước mặt hoàng đế cũng là họ hợp lý. Hai là, nói cho mẫu thân của ngươi biết, nể tình qua lại nhiều năm, ta sẽ đi nói với lang quân Chu gia rằng phụ thân và ca ca ngươi chết không rõ ràng...”

Bấy giờ Trịnh Mật kích động đứng bật dậy, Cơ Tự lại ra hiệu cho nàng ta ngồi xuống, mới lạnh lùng nói tiếp: “Nhưng với chuyện này, ta có một yêu cầu. Ngươi đi nói với mẫu thân ngươi trả lại hai lá thư giả kia cho ta.” Sau đó nàng đứng lên, “Về phủ đi, nhớ phải chuyển lời lại với mẫu thân ngươi không sót một chữ đấy.”

Trịnh Mật cắn môi nhìn Cơ Tự hồi lâu, cuối cùng nghiến răng, quay người chạy ra ngoài. Quả như Cơ Tự suy đoán, chưa đến một canh giờ, Trịnh Mật liền chạy đến đưa lại cho Cơ Tự hai lá thư giả kia. Cũng khó trách tại sao Trịnh phu nhân lại chịu thỏa hiệp dễ dàng như vậy. Đối với bà ta, mối thù chết chồng và con quan trọng hơn tất cả. Hai là trong nhà hiện giờ không có lấy một nam nhân, giữ lại hai lá thư giả kia thì có ích gì? Dù cho có với lên được vinh hoa phú quý, người đắc lợi cũng không phải mẹ góa con côi bọn họ.

Cơ Tự nói rất giữ lời, hôm ấy nàng lập tức đi tìm nhóm Chu Ngọc, mượn cớ là nghe được lời đồn đại nên nói chuyện xảy ra ở huyện Chương Thủy cho họ nghe. Tấu chương về việc huyện Chương Thủy có mỏ vàng là tin tức long trời lở đất, kinh động cả triều đình, thậm chí mấy sĩ tộc cũng phải động tâm. Chưa đến nửa tháng sau, triều đình đã phái người đến điều tra hết cả vùng Kinh Châu.

Bất cứ việc gì, một khi được phơi bày dưới ánh sáng thì mọi hắc ám sẽ trở thành tro bụi. Cả gia tộc Thạch thị mặc dù giàu có nhất vùng, thủ đoạn tàn nhẫn, nhưng so ra trong đám người quyền quý chân chính thì cũng chỉ là một gia tộc hạ đẳng mà thôi. Tất cả mọi việc lớn nhỏ ở huyện Chương Thủy nhanh chóng bị phanh phui. Mấy ngày sau, triều đình ra phán quyết: Gia tộc Thạch thị vì tư lợi cá nhân suýt đã dấy lên cảnh dân nổi can qua, nên phải bị tru di cả nhà, tịch thu gia sản. Còn cha con Trịnh thị bị Thạch huyện lệnh giết hại được triều đình minh oan, còn đền bù cho một khoản. Kể cả hai trăm bộ khúc kia cũng được triều đình bồi thường cho mỗi mạng một vài lượng vàng.

Về phần mỏ vàng ở huyện Chương Thủy đã điều tra ra được thực ra vàng cũng không có bao nhiêu, nhưng vùng này lại nhiều ruộng đất màu mỡ, cuối cùng nhà mẹ đẻ của Thái hậu ra tay, biến cả huyện trở thành trang viên tư sản của mình. Còn tất cả dân làng trong huyện đều được trả tiền xứng đáng, trở thành tá điền trong trang viên của họ. Sau khi tin tức này truyền ra, những lưu dân bên ngoài liền rối rít chạy về quê. Phải biết rằng, thời đại này một người dân tự do làm sao bằng một tá điền cho gia đình quyền quý, thực lực hùng hậu, sẵn sàng lo cho họ áo cơm chứ? Thế nên, việc nhà mẹ đẻ Thái hậu ra tay mua lại ruộng đất, bất kể là trên hay dưới đều hoan hỉ vui mừng.

Cuối cùng, huynh đệ Chu thị được ca tụng dù ra ngoài du ngoạn vẫn không quên quốc kế dân sinh, đúng là nức tiếng hiền thần. Về phần Cơ Tự chịu ra mặt vì nhà mẹ nuôi cũng được người người khen ngợi là tính tình thiện lương, dù mẹ con Trịnh thị ngang ngược, nhưng dưới áp lực của dư luận cũng phải gọi Cơ Tự một tiếng ân nhân. Cả câu chuyện kết cục đến đây thật sự có thể coi là an hòa vui vẻ.
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 26: Thong dong


Sau khi giải quyết xong mối đại họa Trịnh thị, Cơ Tự cảm thấy rất thoải mái, nàng nhắm mắt lười biếng ngồi trên chiếc xích đu, dù gió Đông thổi lạnh thấu xương nhưng vẫn mải mê đung đưa qua lại.

Bỗng một loạt tiếng bước chân truyền đến, giọng non nớt của Cơ Đạo vang lên phía sau: “Tỷ, trời rét rồi, tỷ đừng chơi xích đu nữa, xuống đây chơi với đệ còn vui hơn.” Cậu dụ dỗ nàng như thể đứa bé.

Cơ Tự quay đầu lại, Cơ Đạo mới tám tuổi nhưng ngũ quan đã tuấn tú, có thể nhìn ra được dáng vẻ cậu khi lớn lên sẽ tuấn tú nho nhã như thế nào. Nàng cười ngọt ngào với cậu bé, rồi nhảy xuống khỏi xích đu, ôm lấy cậu, vùi mặt cọ cọ vào hõm cổ cậu, lẩm bẩm: “Nhưng tỷ tỷ không sợ lạnh, hơn nữa tỷ tỷ còn thấy rất vui. A Đạo, đã lâu lắm rồi tỷ không được vui vẻ như vậy.”

Phải nói, kể từ khi nhớ lại chuyện kiếp trước, Cơ Tự chưa một ngày nào vui như vậy. Trước đó, không biết do trí nhớ ấy gây ảnh hưởng hay là do nguyên nhân khác, vẻ mặt nàng luôn u sầu, dù có cười thì nét cười vẫn không chạm được đến đáy mắt. Mà biến hóa này, mọi người lại chỉ cho rằng nàng vì mất người thân mà đau lòng, tính tình thay đổi, nên họ cũng chỉ âm thầm lo lắng cho nàng, không dám hỏi han gì cả.

Cơ Đạo vội vàng dang hai tay ra, giống như đại trượng phu ôm Cơ Tự vào lòng, ra vẻ ông cụ non: “Là vì chuyện Trịnh gia sụp đổ sao? Ừ, Trịnh gia là một khối u ác tính, hiện tại họ lụn bại là tốt nhất, tránh liên lụy đến tỷ tỷ.”

Nghe thấy giọng điệu của cậu, Cơ Tự buồn cười, thế là hôn chụt vào má cậu một cái. Trong nháy mắt, gương mặt Cơ Đạo đỏ bừng lên, khẽ hừ khẩy khinh thường rồi quay ngoắt đầu đi, nhưng vành tai cũng bắt đầu đỏ ửng theo. Dáng điệu xấu hổ này của cậu khiến Cơ Tự thấy rất thích thú. Trong trí nhớ của nàng, đứa bé này vốn luôn như vậy, mỗi lần nàng hôn cậu, cậu sẽ đỏ gay cả mặt. Tận khi đã mười hai, mười ba tuổi, bắt đầu hiểu chuyện hơn, mỗi khi cậu đến, đợi nàng hôn vài cái rồi mới giả bộ làm mặt lạnh tránh ra, nhưng hôm sau thì vẫn nghiêm trang tới gặp nàng. Nếu hôm nào nàng quên không hôn cậu, cậu còn lạnh lùng nhìn nàng cho đến tận khi nàng nhớ ra mới thôi.

Đột nhiên nhớ lại những chuyện này, lòng Cơ Tự mềm nhũn, nàng liền ngả luôn đầu lên bờ vai Cơ Đạo, làm nũng: “A Đạo, A Đạo, chừng nào đệ mới lớn lên đây? Tỷ tỷ rất muốn thấy đệ lớn lên đấy.” A Đạo của nàng tài ba như thế, sau này cậu lớn lên nhất định có thể chia sẻ mọi ưu phiền với nàng, còn có thể chống đỡ một góc trời cho nàng.

Không đúng, nàng là trưởng tỷ, Tiểu A Đạo vẫn là trẻ con, sao nàng lại có thể hèn yếu trông mong một đứa bé đi bảo vệ mình chứ?

Đúng lúc này, hai cánh tay cậu đang ôm nàng bỗng siết lại, quyết đoán nói: “Kể từ năm nay, mỗi ngày đệ sẽ ăn thêm nửa bát cơm, còn luyện cả thương, tỷ tỷ yên tâm, qua hai năm nữa Cơ Đạo đủ mười tuổi rồi, nhất định sẽ giúp tỷ gánh vác việc nặng nhọc trong nhà.”

Cơ Tự nở nụ cười: “Ừ, ừ, ừ, tỷ sẽ đợi Tiểu Cơ Đạo lớn lên. Chờ Cơ Đạo cao lớn, cường tráng, chờ Cơ Đạo học văn luyện võ, chờ Cơ Đạo biết hết mọi việc, tỷ tỷ sẽ không làm gì nữa, mỗi ngày chỉ ngồi chơi đánh đu thôi.” Nói đến đây nàng cười khanh khách.

Cậu bé quay đầu, nhìn nàng với đôi mắt tròn xoe: “Tỷ, cả năm qua tỷ không vui vẻ gì, bây giờ cuối cùng mọi chuyện cũng đã trôi qua hết rồi.”

Cơ Tự biết, sở dĩ mình vui vẻ không phải là vì khổ nạn đã qua hết, mà là nàng đã chịu thả lỏng tâm tình. Thông qua từng sự việc, nàng phát hiện mình có đủ thực lực để ứng phó những chuyện bất trắc. Điều này vô cùng quý báu trong thời đại hoang loạn này.

Thế gian này chỉ có hai loại người không sợ hãi. Một là kẻ đã thấu rõ tất cả mọi chuyện, biết chỉ cần sống ở thời này là không thể tránh khỏi những việc kia. Họ vì cơ trí mà đạt đến ngưỡng phóng khoáng cởi mở, người đương thời gọi là danh sĩ. Hai là người vô cùng may mắn như Cơ Tự, có đủ năng lực biết trước mọi tai họa, bình an trôi qua.

Hai chị em cứ ôm nhau như thế một hồi, Cơ Đạo bỗng nói: “Tỷ, Chu Ngọc kia không hề thích tỷ, tỷ đừng gả cho hắn.” Trong giọng nói của cậu có chút buồn bực, thậm chí cả khóe mắt cũng có phần hoe đỏ.

Cơ Tự không chú ý đến nỗi kích động của cậu, nàng gật đầu, thản nhiên nói: “Tỷ biết chứ. Lang quân giống như Chu Ngọc lòng sâu tựa biển, thích hay không thích với hắn là chuyện rất xa vời.”

Nhắc đến Chu Ngọc, lúc này nàng mới phát hiện, ngoại trừ lần kia đến cửa cầu cứu chuyện huyện Chương Thủy, hai ba tháng nay nàng đều không qua lại gì với hắn. Huynh đệ Chu thị rất bận, kể từ hồi yến hội ở biệt viện Trang thị họ cứ phải xã giao với những thế tộc Kinh Châu suốt. Rồi từ khi xảy ra chuyện ở huyện Chương Thủy cho đến tận hiện tại, họ lại phải bận tiếp đãi những quan lại quyền quý đến từ Kiến Khang kia.

Dĩ nhiên nguyên nhân quan trọng nhất trong đó là, theo ý Chu Ngọc, hắn đã giải quyết xong vấn đề nan giải là Cơ Tự, giờ chỉ cần ngồi yên trên đài cao chờ nàng nghĩ thông suốt, rồi quyết định tự chui đầu vào lưới của hắn thôi. Thế nên, dù hai người có tình cờ gặp qua, Chu Ngọc cũng không buồn để ý đến nàng.

Cơ Tự nghĩ, trên đời này giá trị luôn nằm ở vị thế, có lẽ nàng có chút giá trị thật, nhưng trong mắt Chu Ngọc, giá trị của nàng chỉ là một vật trang trí mang cái tên chính thê, chờ chân chính lấy về được rồi thì cũng không còn gì quan trọng cả.

Thấm thoắt lại một ngày trôi qua, hôm sau thời tiết ấm áp hiếm có, Cơ Tự mặc bộ váy màu lam, vạt váy thêu hoa sen, bên ngoài khoác áo bào gấm màu đỏ, trông vô cùng lộng lẫy, chuẩn bị đi dạo hồ.

Huyện Kinh nằm bên bờ Trường Giang, trong huyện có vô số hồ lớn nhỏ, cái hồ mà Cơ Tự định đến chơi tuy diện tích không lớn, nhưng quanh co uốn lượn trải dài, bên hồ còn có núi non hữu tình, cũng được xem như là một thắng cảnh.

Từ sớm Tôn Phù và Lê thúc đã đứng chờ ở mũi thuyền, thấy Cơ Tự đi đến, họ vội vàng lên đón. Cơ Tự khẽ gật đầu rồi chậm rãi lên thuyền. Những người lớn lên ở vùng sông nước không ai không giỏi bơi lội, nhóm Tôn Phù, Lê thúc cũng là một trong những cao thủ. Sau khi Cơ Tự lên thuyền, Tôn Phù chống sào trúc, nhẹ nhàng đẩy con thuyền chở nàng đi dạo chơi trong hồ.

Đứng đầu thuyền ngắm dãy núi trùng điệp phía chân trời, cùng đám ruộng bậc thang màu mỡ, Cơ Tự như si như say, nàng lấy tiêu ngọc cất giữa ống tay áo ra, thổi réo rắt. Trong phương diện thổi tiêu, Cơ Tự đã tiến đến trình độ tài ba hiếm có, giờ phút này tâm trạng nàng thoải mái, tiếng tiêu vừa thổi lên tựa như một con hạc trắng, bay lượn vài vòng trên mặt đất rồi vút cao lên tận bầu trời. Khúc nhạc nghe vô cùng thanh khiết tiêu dao.

Lúc này Cơ Tự không chú ý đến, nơi sơn cốc phía trước có một con thuyền hoa đang thả neo. Trong thuyền là Chu Ngọc đang tiếp đãi mấy vị đồng liêu ở Kiến Khang. Những người này đều là đại thần do bản tấu chương của hắn thu hút mà đến. Bây giờ vụ án đã xong, họ đi đến đâu cũng nhận được vô số lời tán tụng, bá tánh thấy họ thì quỳ rạp xuống đất tung hô họ là thanh liêm. Điều này khiến chúng thần và huynh đệ Chu thị vô cùng vui sướng, lần này ăn mừng cũng cảm thấy rất tâm đắc.

Đang lúc này họ nghe được tiếng tiêu lượn lờ theo gió thổi đến. Chỉ nghe qua vài đoạn, một đại thần liền xuýt xoa: “Không ngờ huyện Kinh nho nhỏ như thế lại có nhân tài ẩn dật. Tiếng tiêu này quả là trác tuyệt.”

Một đại thần khác lại hỏi Chu Ngọc: “Ngọc lang ở huyện Kinh nhiều ngày như thế, có quen biết với người thổi tiêu này không?”

Chu Ngọc vẫn còn trong trạng thái tim đập loạn nhịp, hắn lắng nghe một hồi, đôi mắt đen như mực bỗng sáng rực. Lát sau, Chu Ngọc đứng dậy, đi ra mũi thuyền, chúng đại thần cũng đi theo. Tất cả những người chứng kiến đều giật mình. Chỉ thấy mặt hồ sóng gợn lăn tăn phía có một con thuyền từ từ trôi đến, đứng trên mũi thuyền là một cô nương thanh tú tinh khôi, váy hoa phất phơ, môi anh đào đặt lên tiêu ngọc, tiếng tiêu du dương bay bổng kia chính là do nàng thổi ra. Khoảnh khắc này hiển nhiên nàng đã hoàn toàn đắm chìm trong thế giới riêng của mình, hòa vào non nước.

Đang lúc mọi người im lặng lắng nghe, thuyền Cơ Tự dần dần lướt qua thuyền của Chu Ngọc rồi đi thẳng. Từ đầu đến cuối nàng không hề chú ý đến sự hiện hữu của bọn họ, cũng không hề liếc mắt nhìn họ một cái nào. Mà nam nhân trên thuyền hoa kia cũng không thấy hắng giọng gọi nàng.

Không biết trôi qua bao lâu, tiếng tiêu dần lắng xuống, khi nốt nhạc cuối cùng chấm dứt, mới có người thở dài.

“Cảnh tượng này quả thật rất phong lưu.” Lát sau, người nọ lại than thở, “Khúc nhạc hoàn toàn hòa nhập vào cảnh hồ, thật vô cùng tuyệt diệu, sợ rằng sau này cũng khó mà được nghe lại.”

Chu Ngọc vẫn im lặng không tiếp lời. Trước kia trong mắt hắn, Cơ Tự cũng giống như huyện Kinh này, nếu bàn về phong tình tuyệt diễm thì thua xa người Kiến Khang. Nhưng đây là lần đầu tiên hắn thấy được phong thái tự tại của Cơ Tự, nét phong lưu này rõ ràng không hề thua kém bất cứ cô nương Kiến Khang nào cả.
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 27: Kính trọng


Đến tận xế trưa, gió Bấc nổi lên, Cơ Tự mới để mũi thuyền chuyển hướng quay về. Trở vào trong thuyền, Cơ Tự vừa nhấp chút rượu cho ấm người, vừa rủ mắt đăm chiêu.

Thấy nàng mải suy nghĩ đến xuất thần, Lê thúc ở bên cạnh tò mò hỏi: “Nữ lang đang suy nghĩ gì thế?”

Cơ Tự ngẩng đầu nhìn y, thành thật nói: “Ta đang nghĩ làm sao mới có thể khiến cho lang quân Chu Ngọc không xin cưới ta nữa.”

Lê thúc trầm mặc, lát sau, y nhỏ giọng: “Nữ lang, bây giờ cả huyện Kinh này đều biết người là dâu của Chu gia rồi, nếu thật sự không gả cho họ, sau này nữ lang còn có thể gả cho ai nữa?” Dứt lời, Lê thúc thoáng buồn bã.

Cơ Tự nhìn ông một cách kỳ lạ: “Thúc lo cái gì? Cơ phủ chỉ còn một mình ta, ta không gả cho người khác, thì vẫn có thể tự kén rể mà.” Nói đến đây, Cơ Tự trở nên phấn chấn, “Chờ ta kiếm đủ tiền là sẽ nuôi một phu lang. Đến lúc đó con cái sinh ra sẽ theo họ ta, gia tộc Cơ thị sẽ được truyền thừa, cũng không đến nỗi có lỗi với liệt tổ liệt tông.”

Chu Ngọc lòng dạ thâm sâu, tính toán khó lường, rõ ràng nàng có năng lực tự làm giàu, cần gì phải dây dưa với đám người ấy?

Lê thúc thật sự không biết từ đâu mà Cơ Tự có ý nghĩ này, y trợn to mắt chết lặng nhìn Cơ Tự, rất lâu không thốt ra được lời phản bác nào.

Đến chiều, Cơ Tự quay trở về trang viên, vừa vào cổng đã thấy ngay lang quân như ngọc kia đang đứng dưới cây nhãn trong sân nhà mình.

Từ đằng xa đã thấy nàng, hắn nhướng mắt nhìn Cơ Tự với vẻ tha thiết, môi mỏng khẽ nhếch: “A Tự trở lại rồi à? Chu Ngọc đợi khanh đã lâu lắm rồi đấy.”

Cơ Tự thật không ngờ, chủ nhân không có nhà mà hắn lại dám ngang nhiên ở trong phủ, hôm nay trông thấy mình còn có vẻ rất tự nhiên, như thể hắn mới là chủ nhân ở đây vậy.

Liếc nhìn Chu Ngọc, Cơ Tự mỉm cười: “Khách quý đến chơi khiến Cơ Tự vui mừng quá đỗi.” Nói đến đây, nàng cất cao giọng: “Nguyệt Hồng, mang sập ra ngoài đây, hôm nay trời trong xanh, chính là ngày lành cảnh đẹp.”

Sập được mang lên, Cơ Tự liền quay người, khẽ thi lễ với Chu Ngọc: “Chu lang, xin mời.”

Lúc này Chu Ngọc liền xác định, Cơ Tự đã khác khi trước rất nhiều. Thời gian trước, dù nàng có cười nhưng trông không rạng rỡ, khuôn mặt luôn ẩn giấu nét u sầu, giống như trong lòng đang chất chứa muôn vàn tâm sự vậy. Nhưng hiện tại, sóng mắt nàng như làn thu thủy, gương mặt xán lạn, cả người tỏa sáng, ngôn ngữ cử chỉ mang theo phong thái của con cháu sĩ tộc mấy trăm năm. Sự mạnh dạn của những sĩ tộc kia là đến từ thế lực của gia tộc, đến từ những người hâm mộ xung quanh họ. Còn tiểu cô trước mắt này, vẻ thong dong của nàng từ đâu mà có được?

Chu Ngọc bất chợt thấy vô cùng hứng thú. Hắn ngồi xuống, Cơ Tự đi đến bên cạnh, tao nhã hâm rượu rồi rót rượu, cười nói vu vơ: “Không biết hôm nay lang quân đến đây có gì chỉ giáo?”

Tư thái của nàng quá tự nhiên, lúc nói chuyện âm điệu cũng trầm bổng như tiếng ca, điều này khiến Chu Ngọc vô thức nhìn nàng đăm đăm. Lát sau, Chu Ngọc khẽ cười: “Bên ngoài nắng rất đẹp, ta đã hẹn với mấy người bạn dạo hồ ngắm mai nở. Nhớ đến nàng nên cố ý đến mời.”

Nói xong, hắn thản nhiên đứng dậy chìa tay ra với Cơ Tự. Nam nhân này rõ ràng chỉ đứng đấy, mỉm cười nhìn nàng mà không nói lời nào nhưng lại mang theo dáng vẻ chuyên chú như thể muốn khắc hình bóng nàng vào tận đáy lòng. Dĩ nhiên, Cơ Tự biết rõ, đây tuyệt đối chỉ là ảo giác.

Cơ Tự quay đầu nhìn hắn một hồi, bỗng “ồ” lên: “Tiểu nữ luôn cảm thấy, lúc Chu lang nhìn ai đó, ánh mắt khác hẳn mọi người, cho đến hôm nay rốt cuộc phát hiện, hóa ra Chu lang có đôi mắt đào hoa.”

Chu Ngọc đúng là mắt đào hoa, mắt sâu hút, khóe mắt có một chút đỏ nhạt, lúc nhìn người thì sóng mắt lúng liếng, trông vô cùng đa tình. Nghe thấy Cơ Tự nhận xét như thế, Chu Ngọc sầm mặt lại.

Thời này thuật bói toán cực kỳ thịnh hành, hình dáng một đôi mắt được phân ra năm sáu kiểu, bậc thượng đẳng đương nhiên là mắt rồng mắt phượng, còn mắt đào hoa này vì đa tình lẳng lơ nên bị liệt vào hàng hạ đẳng. Chu Ngọc làm quan trong triều, cũng có người từng chỉ vào mắt hắn nói hắn là người không đàng hoàng, nên lời nói lúc này của Cơ Tự thật sự là đâm trúng chỗ đau của hắn.

Nhìn thấy Chu Ngọc không vui, chẳng những Cơ Tự không hề lo lắng, ngược lại còn cười thầm trong lòng. Khi nãy lúc mới vừa gặp mặt, Chu Ngọc đã lộ rõ vẻ hứng thú, nhưng đấy không phải chuyện tốt gì. Giờ đây thấy hắn giận như thế, tâm trạng nàng thoắt cái trở nên vui vẻ.

Lúc này Chu Ngọc vung tay áo đi trước. Sau khi hắn đi được mấy bước, thấy Cơ Tự vẫn còn đứng yên đấy thì quay đầu lại, liếc nhìn nàng, nhẹ giọng hỏi: “Thật sự không muốn đi cùng ta à?”

Câu nói này tuy giọng điệu dịu dàng nhưng gần như là uy h**p.

Cơ Tự nhìn thẳng vào mắt hắn, nghĩ ngợi chốc lát rồi nở nụ cười khoe hàm răng trắng: “Chu lang đã thành tâm mời, Cơ Tự nào dám chối từ.” Dứt lời nàng cũng cất bước, đi lên phía trước Chu Ngọc.

Hai người đi ra khỏi phủ, mấy hộ vệ của Chu Ngọc đang đứng hầu bên cạnh xe bò thấy Cơ tiểu cô sải bước đi đến, lại nhìn lang quân nhà mình đi ở phía sau, tức thì đều cúi đầu.

Triều đại này cách đi đứng giữa người và người đều có chuẩn mực nghiêm túc. Trong mắt đám hộ vệ, hiển nhiên thân phận Cơ Tự thấp hơn lang quân nhà mình, lại còn là một nữ tử, thế mà lang quân lại cho phép nàng đi trước mình, rõ ràng vô cùng cưng chiều nàng. Ôi, hi vọng đến Kiến Khang rồi, Cơ tiểu cô này sẽ học được quy củ, nếu không trong phủ sẽ náo nhiệt lắm đây.

Cơ Tự lên xe lừa nhà mình, hai chiếc xe nhanh chóng chạy đi giữa phố huyện Kinh dưới sự bảo vệ của nhóm hộ vệ. Nhìn mặt trời rực rỡ, một hộ vệ cất lời: “Đã lập đông lâu như vậy rồi mà thời tiết huyện Kinh vẫn ấm áp. Lẽ nào ở huyện Kinh không bao giờ có tuyết à?”

Lê thúc đáp lời: “Có tuyết chứ, dĩ nhiên là có tuyết rồi.”

Trong xe lừa, Cơ Tự nheo mắt nhìn bầu trời, bụng thầm nghĩ: Ngày mai trời sẽ đổ tuyết, trận tuyết năm nay còn rất lớn nữa đấy.

Có điều nàng không hề nói ra điều này. Bản lĩnh nhìn trời đoán được mưa gió là kiến thức của đạo gia, kiến thức này dùng trong thời khắc mấu chốt có thể mang đếnnhững chấn động. Cơ Tự còn chưa có ý định khoe khoang điều này.

Đi một hồi, trước tầm mắt đã là bến tàu, trên bến đang neo mấy chiếc thuyền hoa, vài nam nữ ăn mặc trang trọng đang đứng đấy. Thấy Chu Ngọc đi đến, mọi người đều thi lễ với hắn, mà gần chiếc xe bò bên cạnh bến tàu cũng có hai cô nương đang nắm tay thi lễ với Chu Ngọc.

Vừa nhìn thoáng qua, Cơ Tự đã nhận ra mấy cô ở đây đều là những ca nhi hát xướng và nữ nhi của các gia tộc hùng mạnh đất Kinh Châu.

Gần như Chu Ngọc vừa bước xuống xe, mấy thiếu nữ đã vây lại quanh hắn. Lúc này Cơ Tự cũng xuống xe lừa, nàng vừa cất bước định đi về phía Chu Ngọc thì có một thiếu nữ chen vào đẩy nàng ra. May mà Lê thúc lẹ mắt, vội vàng đỡ nàng, nếu không hôm nay Cơ Tự sẽ xui xẻo té ngã trước mặt mọi người rồi.

Đang lúc Cơ Tự lảo đảo đứng chưa vững, hai thiếu nữ khác quay đầu lại, thấy vậy cười khúc khích chế giễu nàng. Lại thêm một thiếu nữ khác đi đến phía sau Cơ Tự, khẽ khàng nói: “Tỷ tỷ lúc ở Kinh Châu đã nghe nói ở huyện Kinh có một thiếu nữ hàn vi, nhưng thủ đoạn hơn người, suýt nữa khiến cho lang quân Chu gia cưới về làm thê tử. Muội muội, cách ăn mặc của muội thật sự trông còn khó coi hơn cả mấy ca nhi kia nữa.”

Thiếu nữ này tuy nói cười nhẹ nhàng, ra vẻ như thân thiết nhưng hàm ý lời nói lại vô cùng cay nghiệt. Cơ Tự ngẩng đầu, nhìn sang Chu Ngọc vẫn đang dịu dàng nhìn mình, nàng liền cất bước đi ngang qua thiếu nữa kia, nhấc chân lên rồi giẫm xuống một cái thật mạnh.

Nàng ta nào có tâm ý đề phòng chuyện thế này, bất thình lình bị giẫm trúng, không khỏi hét lên đau đớn. Nhưng đây mới chỉ là bắt đầu thôi. Đúng lúc đó Cơ Tự chợt quay người, tay phải giơ lên, tát một cái thật mạnh. Nháy mắt bên má phải nàng ta hiện lên một dấu tay đỏ bừng.

Tất cả mọi người đều yên lặng như tờ, đồng loạt quay đầu nhìn về phía này.

Chu Ngọc cũng nhìn sang, thấy người ra tay chính là Cơ Tự, hắn liền kinh ngạc, ánh mắt lướt qua tiểu cô đang rưng rưng nước mắt, trông có vẻ vô cùng yếu đuối mỏng manh kia. Hắn gạt mọi người ra, đi đến hỏi: “Xảy ra chuyện gì?”

“Lang quân Chu gia, hu hu hu...” Nàng ta rụt rè chạy về phía Chu Ngọc.

Chu Ngọc cau mày lại, liếc nhìn nàng ta. Hắn lăn lộn chốn quan trường đã lâu, ánh mắt lúc này lộ ra vẻ uy nghiêm, tiểu cô kia hơi sững sờ rồi dừng bước lại, không dám đến gần nữa.

Lúc này Chu Ngọc lại hỏi: “Đã xảy ra chuyện gì?” Trong mắt mọi người, Cơ Tự xem như đã là người của hắn, cho nên hắn hoàn toàn có quyền chất vấn nàng.

Cơ Tự liếc nhìn tiểu cô đang khóc lóc nũng nịu kia, hờ hững nói: “Nàng bất kính với ta, nên bị ta tát.”

Cơ Tự chẳng qua chỉ là một nữ cô nhi, bây giờ vì người ta bất kính với mình mà dám thẳng tay tát đối phương, câu nói kia quả thật là gây nên xôn xao.

Trong lúc đám nữ nhân cười khẩy chế giễu, Chu Ngọc nhíu mày: “Nàng phải ghi nhớ thân phận của mình.” Tiếng cười xung quanh càng to hơn, song Chu Ngọc thản nhiên nói tiếp, “Sau này mấy chuyện như vậy cứ sai đám tỳ phụ đi làm, đừng để mất thể thống.”

Tiếng cười mọi người liền im bặt. Về phần Cơ Tự, giờ này nàng rất hài lòng. Lúc trước từng có rất nhiều lời đồn đại, có người nói Chu Ngọc cưới nàng làm thê tử, nhưng đa phần những người khác đều nói Chu Ngọc thực ra chỉ muốn nạp nàng làm thiếp thôi, dù sao thế lực bên nhà Cơ Tự thật sự quá đơn bạc.

Vì vậy nàng đã sớm nghĩ đến, phải tìm một cơ hội khiến người ta tận mắt nhìn thấy Chu Ngọc kính trọng nàng mới được. Chỉ có như vậy, sau khi Chu Ngọc rời đi, giá trị của nàng mới không bị giảm sút, không cho kẻ nào có cơ hội dám ngang ngược đến làm nhục nàng.

Hiện tại, nàng thực vô cùng hài lòng.
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 28: Tấm lòng Chu Lang


Hôm nay tụ hội ở đây ngoại trừ Chu Ngọc ra còn có mấy quan lại đến từ kinh thành Kiến Khang và những con cháu thế tộc thường hay giao hảo với Chu Ngọc. Mà những tiểu cô xuất hiện trong trường hợp này đương nhiên là ái nữ của một vài gia tộc thực lực không mạnh hoặc thân phận không cao, đến chỉ để mong sau này có cơ hội trở thành thiếp của một vị đại nhân nào đó.

Thế nên, Chu Ngọc vừa nói ra lời kia đã khiến cho không khí trở nên yên lặng như tờ. Trong nháy mắt, những tiểu cô đang vây quanh hắn đều mang vẻ mặt phức tạp mà tản đi. Chu Ngọc đi đến bên cạnh Cơ Tự, sau đó ánh mắt tuy hướng về phía thuyền hoa, miệng vẫn mỉm cười, nhưng lời nói ra lại không hề khách sáo: “Khanh khanh, ta lại giúp nàng một việc lớn rồi.”

Nghe thấy lời nói của Chu Ngọc, Cơ Tự khẽ giật mình, lập tức hiểu ra mưu tính của mình đều bị Chu Ngọc nắm rõ trong lòng bàn tay. Nàng bất giác chau mày, nghĩ ngợi: Người này quá thông minh, thật sự không phải là người đáng để nàng đem lòng yêu thích.

Trong lúc nàng nghĩ thầm, giọng nói của Chu Ngọc lại ôn hòa vang lên: “Thật ra thì ta đã giúp A Tự rất nhiều việc. Thời gian trước ta còn giúp nàng trừng trị mấy kẻ Trang gia, nghĩ là không quan trọng nên mới không nói cho nàng biết.”

Hắn không nhắc đến thì thôi, vừa nhắc đến Cơ Tự liền bốc hỏa. Nàng tức giận trừng mắt nhìn hắn, nghiến răng nói: “Tai họa đó là do Chu lang tự chuốc về. A Tự vốn tưởng rằng Chu lang ít ra cũng phải có chút áy náy, hiện tại mới biết hóa ra Chu lang lại thật sự đắc ý như thế!”

Chu Ngọc khẽ cười, hắn vẫn không nhìn nàng, đôi mắt đào hoa tiếp tục liếc mắt đưa tình khắp nơi: “Hóa ra A Tự vẫn luôn trách ta à? Ôi, thật ra thì A Tự cứ khéo lo thôi, cho dù nàng không đi cầu cứu, ngày nào ta còn ở huyện Kinh, mấy đám người vô năng ở Kinh Châu kia cũng sẽ không dám đi làm khó nàng. Dù ta rời đi chăng nữa, bọn họ đã biết nàng là vị hôn thê của ta, cũng sẽ không dám gây chuyện với nàng đâu.”

Hóa ra người này còn biết cả chuyện nàng đến nhờ Tạ Lang cứu giúp ư? Hàng mày Cơ Tự nhíu chặt.

Hắn nhích lại gần nàng thêm một bước, ống tay áo hai người chạm vào nhau, giọng Chu Ngọc lại dịu dàng vang lên: “Khanh khanh, ta chỉ muốn cưới nàng thôi mà. Tâm ý khẩn thiết này lẽ nào có sai lầm gì sao?” Nói lời cuối, trong giọng điệu hắn còn mang theo vài phần ấm ức.

Cơ Tự suýt nữa nổ tung vì tức giận. Cái tên lang quân ngả ngớn, tự cho mình là đúng này thật thối tha! Hứ!

Cơ Tự giận đến cực điểm, khuôn mặt non nớt đỏ gay cả lên. Tuy nàng còn nhỏ tuổi nhưng vẫn có thể thấy được vẻ đẹp vô song khi lớn lên sau này. Chu Ngọc liếc sang, không hề kiêng dè mà nhìn xoáy vào nàng, đôi mắt nheo lại, nét cười càng lúc càng đậm.

Đúng lúc này một quan viên trên thuyền hoa cất lời, gọi Chu Ngọc đến xem tranh. Cơ Tự đang đứng đối mặt với Chu Ngọc bỗng nhác thấy một người. Đó là một ca nhi trang điểm tỉ mỉ, cười duyên dáng, đi đến từ phía sau Chu Ngọc. Cơ Tự cảm thấy nàng ta có điểm khá kỳ quái.

Biểu cảm biến hóa của Cơ Tự cũng khiến Chu Ngọc chú ý, hắn nhanh chóng quay đầu lại.

Có lẽ vẻ mặt của Cơ Tự đã khiến cô nương kia cảnh giác, hành động của Chu Ngọc lúc này lại càng làm cho nàng ta bất an hơn. Ca nhi vừa tiến đến phía sau lưng Chu Ngọc bỗng thét lên, đồng thời rút ra một thanh đoản kiếm, đâm về phía Chu Ngọc.

Khi ấy mọi người đang vui vẻ, nào có ai ngờ sẽ có thích khách xuất hiện!

Cơ Tự lập tức đẩy Chu Ngọc sang một bên, bản thân chắn ngay trước mặt hắn.

Chu Ngọc lập tức gào lên: “Người đâu, mau đến đây!”

Bởi vì Cơ Tự kịp thời cảnh giác, nữ thích khách kia đã sớm bị bại lộ, một hộ vệ kịp bay đến đá bay ả đi, té ngã xuống đất. Mấy hộ vệ khác cũng đồng loạt lao đến, ghì chặt ả xuống. Chu Ngọc giận dữ, sải bước đi đến, giẫm lên mặt nữ thích khách, nghiến răng quát lên: “Nói, ai phái ngươi đến đây?”

Nữ thích khác cười lạnh, vừa định cất lời thì đột nhiên phía sau lại vang lên tiếng ồn ào, chỉ nghe thấy mấy tiếng đồng thanh hô lên: “Cẩu tặc, nộp mạng đi!”

Giữa đám người trên bến tàu đột ngột xuất hiện tới mười mấy tên cường tráng, họ rút kiếm trong tay áo ra, phóng về hướng Chu Ngọc và mấy chiếc thuyền hoa. Biến cố bất ngờ xảy ra này khiến mọi người trở tay không kịp.

Thấy đám thích khách lao đến, người trên thuyền và bến tàu rối loạn cả lên. Mấy kẻ con cháu thế gia kia thì hét ầm ĩ, núp phía sau mấy hộ vệ của đám quan viên, thậm chí có vài tiểu cô ôm luôn lấy cánh tay của mấy quan viên cao lớn, có chết cũng không chịu buông ra.

Thời buổi này vốn khinh võ trọng văn, đám sĩ tộc thường coi vóc dáng mảnh mai là đẹp. Thế là khi đám thích khách chém ngang eo người ta, khiến máu văng tung tóe, hai thiếu nữ vừa nhìn thấy máu đã thét lên ngất xỉu.

Quang cảnh lúc này hoàn toàn hỗn loạn.

Dù Cơ Tự là người trấn định nhất lúc này cũng bị đám người kia chen chúc, gào thét, nhắm mắt chạy bừa va phải làm cho loạng choạng. Thân thể vốn bé nhỏ của nàng trong tình cảnh loạn lạc thế này không tài nào tự vệ được. Thấy những thích khách kia càng lúc càng đến gần, Cơ Tự lùi lại từng bước. Ngay khi nàng lui đến được một góc mà nàng tự cho rằng đã an toàn thì đột ngột bên phải vang lên mấy tiếng thét, rồi một người nhào về phía Cơ Tự. Chỉ nghe thấy “ùm” một tiếng, nàng đã rơi thẳng xuống nước.

Lúc này đang vào tiết lạnh giá, tuy mặt trời trên cao vẫn chiếu sáng rực rỡ nhưng dòng nước vẫn giá buốt như băng. Cơ Tự bị nước tràn vào miệng đột ngột cũng trở nên hoảng loạn. Trong lúc bối rối, nàng liều mạng vùng vẫy tay chân, hoang mang hô lên: “Cứu mạng! Cứu mạng!”

Chu Ngọc nghe thấy tiếng kêu của nàng trước tiên, hắn lập tức quay đầu lại. Thấy Cơ Tự bị rơi xuống nước, hắn liền biến sắc, nhanh chóng sải bước tới, cởi ngoại bào ném đi, nhảy ngay xuống.

Lúc Chu Ngọc đang bơi về phía Cơ Tự, bỗng phía bên cạnh cách hắn không xa truyền đến tiếng gọi khàn khàn quen thuộc của một ông lão: “Chu Thập Tam, cứu, cứu ta.”

Chu Ngọc quay đầu, thấy một quan viên cả người đều đã chìm dưới nước, chỉ còn nửa cánh tay đang vươn lên bấu víu vào cạnh thuyền hoa. Quan viên này là đại thần chủ sự trong vụ án huyện Chương Thủy, cũng là huynh đệ của Thái hậu, chính là quốc cữu của hoàng đế.

Giờ phút này cánh tay cố nắm lấy cạnh thuyền hoa của quốc cữu đang từ từ trượt xuống từng chút, từng chút. Chu Ngọc đang do dự thì nghe thấy “bõm” một tiếng, quốc cữu gia đã rơi hẳn xuống nước. Thân thể của ông ta nặng nề, thể lực thì yếu kém, mới vừa rơi xuống nước, trên đỉnh đầu đã nổi đầy bong bóng.

Chu Ngọc nhanh chóng quay đầu thoáng nhìn qua Cơ Tự đang quơ tay loạn xạ kêu cứu, lại quay đầu nhìn về phía quốc cữu. Dần dần, đôi mắt hắn đỏ lên. Rốt cuộc, Chu Ngọc hít sâu vào, đạp nước bơi về phía quốc cữu, đưa tay kéo ông ta lên.

Trong lúc Chu Ngọc kéo theo quốc cữu gia, bơi từng chút lên bờ, Cơ Tự cảm thấy mình càng lúc càng chìm xuống, thân thể càng lúc càng nặng. Tầm mắt nàng bắt đầu mờ dần, nước xâm nhập vào phổi khiến nàng không thở nổi. Nhưng nàng vẫn cố gắng mở to mắt, nhìn rõ bóng dáng Chu Ngọc đang kéo người khác càng lúc càng xa.

Lúc này nàng không biết nên cảm thấy buồn cười, hay là nên đau khổ khi đã đứng kề bên bờ vực cái chết. Nhưng trước khi thật sự chết ngạt, trái lại Cơ Tự thấy tỉnh táo hơn rất nhiều. Đúng lúc ấy, bên tai nàng bỗng vang lên một giọng nói: “Hít vào bằng miệng, người nghiêng về phía trước, tay bơi chân đạp. Đúng, chính là vậy, đầu vươn lên cao, nhanh chóng hít không khí vào, thân thể nghiêng về phía trước. Đúng, là vậy đấy.”

Trong lúc nàng chìm xuống, giọng nói Cơ Đạo khi đã trưởng thành càng lúc càng vang rõ ngay bên tai, rồi từ từ tràn ngập cả đầu óc nàng. Xưa nay rơi xuống nước tối kỵ nhất là hoảng loạn, Cơ Tự cứ như thế lấy lại lý trí.

Cơ thể Cơ Tự nổi dần lên từng chút, từng chút, nàng gắng đạp hai chân, làm nước văng tung tóe. Nàng loáng thoáng nghe thấy trên bờ có tiếng ai đó nhảy xuống nước, đoán là bọn hộ vệ đến giải cứu. Không biết trải qua bao lâu, Cơ Tự cảm nhận có một đôi tay mạnh mẽ nắm lấy mình, sau đó cả người nàng được lôi về phía bờ. Khi Cơ Tự được nâng lên bờ, trong lúc gần hấp hối gắng mở mí mắt, nàng thấy được chính là bóng dáng Lê thúc nhà mình. Hóa ra cứu nàng cuối cùng cũng chỉ có người của nàng.

Không biết tại sao Cơ Tự lại thấy buồn cười, nàng nhếch môi, sau đó hoàn toàn chìm vào hôn mê.

Cơ Tự tỉnh lại trong cơn ho sặc sụa. Vừa thấy nàng mở mắt, đám người Nguyệt Hồng và Lê thúc liền nhào đến, vui mừng phát khóc nhìn nàng. Lê thúc nghẹn ngào: “Nữ lang, người tỉnh rồi à? Thật là tổ tông phù hộ mà.”

Nguyệt Hồng bên cạnh mừng rỡ chạy đi, gọi với ra ngoài: “Lang quân Chu Ngọc, nữ lang nhà ta tỉnh rồi.”

“Lang quân Chu Ngọc ư?” Cơ Tự lẩm bẩm.

Trả lời nàng là Nguyệt Hồng đang chạy lại, giọng nói giòn giã: “Đúng, đúng vậy ạ. Nữ lang, người không biết đâu, Ngọc lang Chu thị đã trông nom ở đây suốt một ngày rồi. Lần này có rất nhiều người bị thương và rơi xuống nước, trong đó có cả đại quan ở Kiến Khang. Các đại phu ở Kinh Châu đã bị họ mời hết, nhờ Chu Ngọc lang quân nổi giận đưa lệnh bài của mình ra, mới cưỡng ép mời được một đại phu tới khám bệnh cho nữ lang. Nếu không nữ lang không thể tỉnh lại nhanh thế đâu.” Nàng ta nói xong liền liếc thấy bóng dáng đang đứng ở cửa, lập tức vội vàng đứng thẳng dậy, cao hứng gọi, “Lang quân Chu Ngọc, người vào rồi à?” Sau đó quay lại nói với Cơ Tự, “Nữ lang, lang quân Chu Ngọc vào thăm người kìa.”
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 29: Bảo tàng của Cơ thị


Cơ Tự chậm rãi quay đầu, hé mắt nhìn lại. Nhờ ánh sáng phản chiếu mờ mờ của tuyết hắt vào từ cửa sổ, nàng thấy được một khuôn mặt tái nhợt có chút vui mừng pha lẫn áy náy. Chỉ nhìn thoáng qua, nàng lại nhắm mắt. Nguyệt Hồng vội vàng kéo chăn đắp cho nàng, quay đầu ngại ngùng nói: “Lang quân Chu Ngọc, nữ lang còn rất yếu.”

Chu Ngọc gật đầu, khàn giọng nói: “Ta biết.” Lúc quay người đi, Chu Ngọc bỏ lại một câu, “Ta sẽ quay lại sau.”

Rơi xuống nước vào mùa đông giá rét như thế sau này rất dễ yếu ớt. May mà sức khỏe của Cơ Tự khá tốt, hơn nữa lúc nàng vùng lên tự cứu mình lại k*ch th*ch tiềm lực của cơ thể, uống vào vài thang thuốc đại phu cho, trong người cũng thấy có chuyển biến rõ rệt.

Hôm ấy, Cơ Tự lười biếng ôm chăn ngồi trên sập, Nguyệt Hồng vui mừng bẩm báo: “Nữ lang, nữ lang, lang quân Chu Ngọc lại đến thăm người.”

Cơ Tự từ từ ngồi dậy, ra hiệu cho Cơ Đạo đang đọc sách rời đi, rồi mỉm cười với nam tử đang đứng lặng bên cửa: “Người đến rồi à?”

Chu Ngọc không hề lên tiếng đáp lại, dường như bị nghẹn gì đó nơi cổ họng, chỉ biết nhìn Cơ Tự, môi khẽ mấp máy nói không nên lời. Dù Nguyệt Hồng có ngốc nghếch đến đâu, lúc này cũng mơ hồ nhận ra giữa nữ lang nhà mình và Chu Ngọc có điều gì đó khang khác.

Trong lúc Nguyệt Hồng đang nhìn trân trối, giọng nói Cơ Tự lại vang lên: “Nguyệt Hồng, ngươi ra ngoài một lát đi, ta muốn nói chuyện riêng với lang quân Chu Ngọc.”

“Vâng, vâng.”

Khi cửa phòng được đóng lại, Chu Ngọc cất lời, giọng hắn khản đặc, chật vật: “A Tự, ta... ta thật xin lỗi.”

Cơ Tự ngẩng đầu nhìn hắn. Đối diện với cái nhìn của nàng, Chu Ngọc khẽ nghiêng đầu đi, rồi quay lại, nhìn nàng với ánh mắt chăm chú: “Những ngày qua, đêm nào ta vừa đặt lưng xuống cũng sẽ mơ thấy nàng, mơ thấy tình cảnh ngày hôm đó.” Giọng Chu Ngọc khàn đến mức không nghe rõ từng âm điệu, “A Tự, nàng hãy mắng ta đi.”

Cơ Tự lắc đầu, khẽ khàng: “Chu Ngọc, ta sẽ không gả cho người.”

Vô cùng đơn giản nhưng lại hết sức trực tiếp, giọng nàng rất thanh tỉnh, không chứa oán giận, cũng không hề chần chừ.

Gương mặt tuấn tú của Chu Ngọc phút chốc tái nhợt đi, thân hình cao lớn cũng lui về sau một bước. Hắn nhìn Cơ Tự, môi mấp máy, trong đôi mắt đào hoa như có muôn vàn lời, thậm chí còn ẩn chứa vẻ cầu xin, nhưng kết quả hắn lại chọn cách im lặng. Hắn không tài nào bộc bạch cho Cơ Tự biết rằng, mấy ngày qua hắn không ngừng trằn trọc, hắn thật sự rất quan tâm đến nàng.. Khoảnh khắc ấy sở dĩ hắn từ bỏ không cứu nàng, là vì nàng không quan trọng với hắn như hiện tại.

Gương mặt Chu Ngọc đầy ắp vẻ đấu tranh, cũng vương rất nhiều luyến tiếc, nam tử luôn thuận lợi trong tình trường này lần đầu tiên phát hiện, hóa ra mình cũng sẽ có một ngày rơi vào hoàn cảnh như thế.

Không biết trải qua bao lâu, Chu Ngọc mới khẽ nói: “Nhưng mà, ta không muốn đánh mất nàng nữa...” Dứt lời, hắn mím môi sải bước ra ngoài.

Đưa mắt nhìn theo bóng lưng Chu Ngọc, Nguyệt Hồng cúi đầu đi đến trước sập Cơ Tự ngồi, nói: “Nữ lang, khi nãy lúc lang quân Chu gia bỏ đi hình như sắp khóc.”

Cơ Tự không để ý đến nàng ta, chỉ khẽ nói: “Gọi Tôn Phù vào.”

“Vâng.”

Lát sau, Tôn Phù tiến vào, lúc này Cơ Tự có chút mệt mỏi, hờ hững nói: “Ta bảo thúc đi lan truyền lời đồn kia với người hầu của Chu gia, thúc đã làm chưa?”

Tôn Phù thở dài: “Nói rồi ạ. Người hầu kia nghe tin người vẫn ho không ngừng, lại thấy Hoàng đại phu bảo sau này người có thể sẽ lưu lại mầm bệnh trong người, sắc mặt liền trắng bệch.”

Cơ Tự đáp: “Nói rồi thì tốt, ta đã không còn là lương phối của Ngọc lang Chu thị nữa, mối duyên này đến đây chấm dứt.”

Tất cả đều như Cơ Tự suy đoán, nửa tháng sau Chu Ngọc lại đến, sau khi bị nàng cự tuyệt lần nữa, cuối cùng hắn không nói gì cả, cất bước bỏ đi không hề quay lại. Bốn mươi ngày sau, Cơ Tự mới tĩnh dưỡng thân thể khỏe mạnh như cũ. Bấy giờ Cơ Tự cũng biết được hôm đó đi ám sát Chu Ngọc và mấy vị đại thần là dư nghiệt của Thạch thị. Hóa ra tai họa này vốn có liên quan đến nàng, Cơ Tự thầm thở dài.

Bây giờ là mùa đông, bên ngoài tuyết đã tích tụ cao đến gần nửa người, tuyết rơi dày như vậy rất hiếm ở phía Nam. May mắn Cơ Tự đã sớm dự liệu về trận tuyết này, nên trong trang viên đã cho chuẩn bị đầy đủ tất cả, dù không ra khỏi cửa mọi người vẫn có thể ăn ngon ngủ yên.

Bỏ qua những chuyện phiền muộn, Cơ Tự nhớ lại việc bảo tàng mà tổ phụ từng nhắc đến kia, liền bận rộn bắt tay vào dẫn nhóm Lê thúc lục soát khắp trang viên nhà mình. Nào là thư phòng, hầm chứa, phòng củi, từ đường rồi tất cả gian phòng ngủ. Cơ Tự hạ lệnh, nói cho dù là vách nhà hay xà ngang cũng không được bỏ qua dù chỉ một tấc.

Ngày hôm ấy, Cơ Tự đang đích thân lục soát phòng chứa củi thì bỗng nghe tiếng Lê thúc vui mừng truyền đến: “Nữ lang, người mau xem cái này đi.”

Cơ Tự giật mình, vội vàng quay đầu lại. Lê thúc ôm đến một rương gỗ trông khá tầm thường, nhưng chiếc khóa rương gỗ lại là loại khóa Lỗ Ban vô cùng phức tạp.

Cơ Tự kích động ôm lấy rương gỗ hỏi: “Cái này tìm được ở đâu?”

Lê thúc nói: “Chỗ giấu chiếc rương này lạ lắm, nó được đặt trên xà ngang nhà xí, màu của chiếc rương này còn giống hệt màu xà nhà. Hì hì, nếu không phải nữ lang nói phải tìm từng ngóc ngách trong phủ, thật đúng là không ai nghĩ đến chỗ kia có thể cất giấu đồ.”

Cơ Tự cũng nở nụ cười: “Chính vì không ai nghĩ đến nên vật này mới còn tồn tại đến bây giờ.” Nàng chỉ vào vân gỗ trên rương, “Thúc, thúc xem chiếc rương này đi, ít nhất cũng phải có từ sáu bảy mươi năm trước ấy nhỉ.”

Lê thúc đánh giá một lượt, gật đầu nói: “Sợ là còn hơn thế nữa.” Nháy mắt y lại hỏi, “Nữ lang, khóa này mở làm sao?”

Cơ Tự lắc đầu: “Để ta nghĩ cách đã.”

Trong một tháng tiếp theo, quỹ thời gian của hai chị em Cơ Tự và Cơ Đạo hầu như dồn hết vào chiếc rương này. Đặc biệt là Cơ Đạo, cậu bé trời sinh thông minh, không có mấy chuyện có thể làm khó cậu, đột nhiên gặp được một chiếc rương gỗ không cách nào mở ra, cậu cảm thấy hứng thú vô cùng.

Một buổi tối, Cơ Tự đang ngồi thêu thì bỗng nghe thấy bên cạnh truyền đến một tiếng “cạch” rất nhỏ, nàng sững người, từ từ quay đầu lại.

Cơ Đạo cũng đang mang vẻ mặt sửng sốt y hệt nàng, tay cậu vẫn còn đang đặt trên khóa. Hai chị em trân trối nhìn nhau một hồi, Cơ Tự bỗng nhào đến, run run nói: “A Đạo, đệ mở được khóa rồi hả?”

Cậu vừa phì cười, Cơ Tự đã bịt kín miệng cậu lại, nhỏ giọng nói: “Khẽ thôi, mặc dù bộ khúc và người hầu đều là thân cận nhưng dù sao cũng không phải người ở trong gia đình, chuyện cơ mật không thể để người khác nghe thấy.”

Cơ Đạo gật đầu liên hồi, sau đó hai chị em cùng nhìn về phía chiếc rương. Cơ Tự hít một hơi thật sâu rồi mới run rẩy mở nắp rương gỗ ra, nhưng bên trong chỉ có một bức tranh. Họ hơi thất vọng, lãng phí mấy tháng nay mà chỉ lục ra được một bức tranh thôi sao.

Không đúng!

Bỗng Cơ Tự bật dậy, nàng cầm lấy quyển Sơn Hải Kinh, lật nhìn lại hàng chữ tổ phụ đã ghi chú trong đó, rồi bỏ xuống, cẩn thận cầm bức tranh kia lên.

Đây là một bức tranh thủy mặc, vẽ một ngọn núi vô cùng tú lệ, trên đỉnh mây mù loáng thoáng có thể thấy được gác chuông chùa nhô lên. Bên dưới có một hàng chữ.

“Cơ Thành Lâm đề chữ tại đỉnh Hạc Ỷ Kiến Khang.”

Đúng lúc này Cơ Đạo đang cầm rương gỗ xem xét, vội nói: “Tỷ tỷ, trên rương này còn có chữ.”

Cơ Tự hoảng hốt, vội vàng đặt bức tranh xuống, nhìn thấy bên trong thành rương có hai hàng chữ:

“Tám trăm năm quyền thế vô thượng, sáu trăm năm suy bại chìm nổi.

Đây chính là một trong hai mươi mốt bảo tàng của tộc ta.”

Quả nhiên, trên đỉnh Hạc Ỷ ở Kiến Khang được mô tả trong bức tranh là một trong các bảo tàng của gia tộc nàng. Cơ Tự kích động đến mức run lẩy bẩy.

Bất chợt Cơ Đạo khe khẽ nói: “Tỷ tỷ, đệ nghe nói Trịnh gia sở dĩ giàu có như vậy là nhờ cướp được bảo tàng từ tay tổ phụ. Tỷ nói xem có phải họ đã vét sạch chỗ này rồi không?”

Cơ Tự ngắm nhìn kỹ bức tranh, lắc đầu trả lời: “Rương này có ít nhất sáu mươi năm qua chưa ai phát hiện, mà mười ba năm trước tổ phụ mới qua đời, khi đó cho dù người có phát hiện ra bảo tàng gì thì đó cũng không phải là chỗ này.”

Cũng không biết trải qua bao lâu, Cơ Tự luôn nhìn chằm chằm vào bức tranh chợt cất lời: “A Đạo, chúng ta dời nhà đến Kiến Khang đi, đệ đồng ý không?”

Đôi mắt phượng của Cơ Đạo chớp chớp nhìn tỷ tỷ nhà mình, dõng dạc nói: “Tỷ đi đâu thì đệ sẽ theo đến đó.”
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 30: Tái ngộ


Đến khi tuyết tan, cành liễu đâm chồi, khí trời vừa trở nên ấm áp, Cơ Tự liền nhận được tin tức huynh đệ Chu thị đã rời khỏi huyện Kinh. Sau khi họ đi rồi, việc giữa Cơ Tự và Chu Ngọc không hề có hôn ước cũng theo đó mà truyền khắp Kinh Châu. Chỉ trong một đêm, người Cơ phủ liền nhận ra tình cảnh ngày càng khó khăn của mình. Không nói đến Cơ Tự, ngay cả tỳ phụ trong nhà ra ngoài mua mấy lượng muối cũng bị người ta cố ý làm khó. Mà đây mới chỉ là bắt đầu thôi.

Có một hôm, Cơ Tự bỗng phát hiện bên ngoài tường rào trang viên nhà mình xuất hiện rất nhiều dấu chân quái lạ. Nàng lập tức nghĩ đến những đại tộc ở Kinh Châu mà mình từng đắc tội, tuy Tạ Lang đã cảnh cáo họ không được gây phiền hà cho nàng, nhưng giờ người đi trà lạnh, Tạ Lang đã rời khỏi Kinh Châu lâu như vậy, những người kia lại cố ý che giấu hành động, làm sao mà chàng tra ra được?

Cơ Tự lại nghĩ đến chuyện hồng tai dẫn đến nạn đói khắp Kinh Châu hai năm liền, cuối cùng quyết định cấp tốc dời nhà đến Kiến Khang. Mọi người trong nhà đều muốn bán chỗ đất đai ở huyện Thanh Thủy và cửa hàng ở huyện Khúc Thủy đi, cầm theo vàng bạc cho chắc. Nhưng Cơ Tự nghĩ ngợi một hồi xong lại bác bỏ. Cơ Tự nói, từ huyện Kinh đến Kiến Khang nghìn dặm xa xôi, hiện nay thổ phỉ nhan nhản, mang toàn bộ tài sản trên người thì không ổn.

Cuối cùng nàng quyết định, tất cả sản nghiệp đều giữ nguyên đấy, trang viên cũng để lại, chỉ mang theo nhóm bộ khúc, tỳ phụ, Nguyệt Hồng, Lê thúc, Tôn Phù, Dữ Trầm lên đường đến Kiến Khang thôi.

Trước khi đi, Cơ Tự nói với những tá điền, về sau Kinh Châu có thể sẽ gặp thiên tai, bảo họ thu hoạch lúa thì cất cả lại mà dùng, cũng căn dặn họ, bất kể là tình huống nào cũng không được chứa chấp người ngoài trong trang viên nhà mình.

Khi nàng xuất hành là vào tiết tháng tư, Cơ Tự đến Kinh Châu trước, ở lại Kinh Châu mười ngày, nàng mang mấy thứ như san hô, hoặc tượng ngọc dễ vỡ trong đống châu báu của La Đại Đầu ra đổi lấy ngựa tốt. Đất Kinh Châu từ xưa đến nay là nơi binh biến giao tranh, đến thời tam quốc lại trở thành thành lũy quân sự quan trọng. Thế nên vật dụng quân gia ở nơi đây chất lượng đều tốt hơn Kiến Khang, mà ngựa chính là một trong số đó. Ngựa tốt thế này, nhưng giá bán ra ở Kinh Châu chỉ bằng một phần tư ở Kiến Khang thôi.

Cơ Tự đổi nửa xe châu báu thành tám con ngựa, lại mời người thuần ngựa đến, chỉ trong vòng vài ba ngày, bảy tám con ngựa tốt đã trông như một đám ngựa già xấu xí. Thật ra ngựa cũng được chia thành tám chín đẳng cấp, giá tiền cũng khác nhau một trời một vực. Nếu là ngựa hoang bình thường, giá cũng chỉ bằng một con lừa, nhưng nếu lên đến hàng tuấn mã, thì giá trị sẽ ngang nghìn vạn lượng vàng. Cơ Tự biến ngựa tốt thành ngựa xấu, dù không thể hoàn toàn phòng ngừa lũ đạo tặc, nhưng ít ra cũng có thể giảm bớt ánh mắt người khác dòm ngó.

Một ngày sau Cơ Tự đến được Xích Bích, chọn một con thuyền chở khách lớn nhất để đi. Sau khi an trí đám ngựa ở tầng dưới cùng, Cơ Tự và nhóm hạ nhân đều lên tầng trên như bao người khách khác.

Khoang tầng trên rất lớn, có sức chứa chừng hai trăm người khách. Cơ Tự vừa đi lên khoang thuyền đã nghe thấy tiếng cầm sắt đang hòa tấu, nàng quay lại liền thấy mười mấy sĩ tộc với phong thái ngời ngời, mũ miện đai lưng tề chỉnh.

Thấy Cơ Tự nhìn mấy sĩ tộc kia, Lê thúc kề sát tai nàng nói: “Nữ lang, tôi nghe ngóng được, mười mấy người kia đều là đại tộc đến từ đất Thục đấy ạ.”

Cơ Tự gật đầu. Đang lúc định xoay người đi thì nghe thấy giọng nói yêu kiều của một quý nữ truyền đến: “Ca ca nhà ta nói, nếu ai có thể chỉ ra sai lầm của huynh ấy, huynh ấy nhất định sẽ mang nghìn vàng ra đền...”

Cơ Tự nhếch môi, Nguyệt Hồng nén cười: “Nữ lang, nếu người chịu bộc lộ tài năng thì sẽ kiếm được nghìn vàng đấy.”

Lê thúc ở bên cạnh không hiểu, hỏi: “Nữ lang, mấy người này đang làm gì thế ạ?”

Cơ Tự khẽ cười: “Mấy người này đang gây dựng thanh thế, nói đúng hơn là họ muốn tạo ra một danh sĩ.”

Nguyệt Hồng thì thầm: “Tự tuyên truyền bản thân như vậy thật không biết xấu hổ. Nữ lang, chúng ta cách xa bọn họ ra một chút.”

Cơ Tự lắc đầu: “Ngược lại mới đúng. Nếu những người này hám danh như vậy thì chắc chắn họ sẽ tránh xa những chuyện thị phi. Kẻ lòng dạ độc ác khôn cùng trên đời này rất đông, có thể gặp được đồng bạn không màng thị phi mới là phúc của chúng ta.” Nàng quay lại ra lệnh với Tôn Phù, “Thúc cho người tìm hiểu, xem có phải bọn họ định đến Kiến Khang không. Nếu phải thì đoạn đường này chúng ta sẽ đồng hành với họ.”

“Vâng.”

Lát sau, Tôn Phù trở lại, vẻ mặt vui mừng: “Nữ lang, người đoán đúng rồi, quả nhiên họ đến Kiến Khang. Tôi mới dò ý, họ đã đáp ứng rồi.”

“Rất tốt.” Cơ Tự nhoẻn miệng cười, nàng nhìn những người khách đất Thục thực lực khá mạnh này, tâm tình nhẹ nhõm hẳn.

Cứ thế ngày lại qua ngày, nhóm Cơ Tự đã ở trên thuyền được một tháng. Một tháng nay vì có nhóm khách Thục nên trên thuyền vẫn không ngừng ca múa, Cơ Tự cũng thấy thư giãn hơn. Hôm ấy, thuyền tiến vào địa giới Dương Châu. Cơ Đạo hằng năm chỉ ru rú trong huyện Kinh, chưa từng đi đâu khác, suốt quãng đường gần như cậu cứ ngồi lỳ bên cửa sổ khoang thuyền cả ngày lẫn đêm. Nhìn mặt trời mọc rồi lặn trên sông Trường Giang, ngắm núi xanh hai bên bờ sông, bây giờ lại sắp có cơ hội thấy được Dương Châu trong truyền thuyết thì quá đỗi vui mừng.

Cơ Tự mặc nam trang đi đến mũi thuyền. Nàng đứng chung với mọi người, ngắm nhìn mặt trời đang dần lặn về phía Tây, rồi ngẩng đầu nhìn lên phía trước. Tuy phong cảnh vẫn là đồi núi chập chùng, ngay cả bóng dáng Dương Châu thế nào còn chưa thấy, nhưng ai ai cũng hưng phấn.

Trong lúc Cơ Tự mải ngắm dãy núi non hùng vĩ đến xuất thần thì bỗng từ đằng sau eo núi phía trước lao ra một chiếc thuyền lá. Người trên thuyền này hiển nhiên là cao thủ, chiếc thuyền lá trong tay y được chèo vút đến như tên bắn.

Chiếc thuyền lá nhanh chóng chèo đến bên thuyền khách lớn, từ khoảng cách rất xa người thanh niên đội đấu lạp trên thuyền đã bắt chéo tay chào, hắng giọng nói: “Xin hỏi chủ thuyền có ở đây không?”

“Có, có!” Chủ thuyền béo ú dẫn theo mấy thuyền viên vui vẻ chạy đến.

Thanh niên trên thuyền khách sáo nói: “Là thế này, chủ công nhà ta đang bố trí mai phục để tiêu diệt bọn cướp ở thủy vực phía trước. Xin chủ thuyền cập vào một vịnh gần đây.” Y nhìn thoáng qua mặt trời, nói tiếp, “Cùng lắm là sáng mai vào giờ Thìn canh ba mọi người có thể khởi hành.”

Một sĩ tộc trên thuyền cất giọng cười khẩy: “Ngươi bảo chúng ta dừng là chúng ta phải dừng à? Nực cười!”

Gần như sĩ tộc này vừa cất tiếng thì trên thuyền đã có mười mấy giọng nói đồng thời vang lên: “Khách quan xin đừng nói lung tung.”

Chủ thuyền vội vàng giải thích: “Khách quan hiểu lầm rồi, lang quân đây là có ý tốt thôi.” Nói đến đây, lão quay đầu lại, cười hềnh hệch với thanh niên trên thuyền lá, chắp tay hành lễ, “Ngay từ lúc ở Kinh Châu, tiểu nhân đã nghe nói, có một đại nhân vật đến từ Kiến Khang, dọc đường quét sạch vô số giặc cướp, cho nhóm dân đen như chúng tôi cuộc sống an bình. Hôm nay may mắn gặp được, quả thật là phúc ba đời của lão đây.”

Chủ thuyền vừa dứt câu, bỗng nhiên từ thủy vực phía trước truyền đến tiếng trống dồn dập.

“Đùng, đùng, đùng!” Tiếng trống mạnh mẽ phá tan không gian hoàng hôn yên bình, khiến cả vùng nước như sôi trào cả lên.

Lẫn trong tiếng trống là tiếng hô hào chém giết theo gió bay đến, Cơ Tự cất bước đi lên phía trước, vươn cổ nhìn ra xa.

Mắt Cơ Tự khá tinh, thấy trên vùng nước cách đó mấy trăm mét, có một con thuyền nhẹ chở một lang quân huyền y lướt qua. Dù con thuyền kia đi rất nhanh, nhưng Cơ Tự vừa nhìn đã nhận ra ngay, lang quân dáng vóc cao ráo đứng ở đuôi thuyền, dù có đeo mặt nạ nhưng vẫn tỏa sáng khiến cho người ta ngạt thở kia chính là Tạ Lang.

Thật sự không ngờ được, đến nơi đây rồi vẫn còn có thể nhìn thấy bóng dáng của chàng.
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 31: Thành Dương Châu


Khi tia nắng cuối cùng tắt hẳn, phía chân trời cũng dần tối đen. Thuyền khách neo ở sau ngọn núi không ngừng bàn tán xôn xao, bởi vì tiếng trống trận, tiếng chém giết và ánh đuốc sáng rực cách đó không xa vẫn không ngừng truyền đến. Đêm tối trở nên huyên náo và đầy rẫy sát khí.

Lòng Cơ Tự xốn xang, nàng vẫn đứng ở mũi thuyền giống như mọi người, lắng nghe âm thanh truyền đến từ nơi lửa cháy hừng hực bên kia. Cảnh náo nhiệt này kéo dài đến tận rạng sáng. Ngày mới vừa đến, người thanh niên chèo thuyền lá kia lại xuất hiện, y gọi lớn từ đằng xa: “Chư vị có thể đi rồi.”

Trên thuyền reo hò hoan hô vang dội, trong tiếng ra lệnh của chủ thuyền, thuyền khách bắt đầu khởi hành, chạy ra giữa sông. Chiếc thuyền con kia vẫn đứng yên một bên.

Chờ đến khi thuyền khách đi ngang qua y, Cơ Tự mới thình lình cất giọng hỏi: “Xin hỏi lang quân, các người có đi đến Kiến Khang không?”

Cơ Tự vừa thốt ra lời này, mọi người trên thuyền đều quay đầu nhìn nàng. Thanh niên kia nhìn về phía Cơ Tự, kéo thấp đấu lạp trên đầu xuống, chắp tay trước ngực nói: “Chuyện này ta không biết.” Dứt lời, y chèo con thuyền nhẹ nhàng lướt đi luôn.

Thấy Cơ Tự vẫn còn dõi mắt nhìn theo người nọ, Tôn Phù nhỏ giọng hỏi: “Nữ lang, người đang suy nghĩ gì thế?” Bởi vì trong khoảng thời gian này, Cơ Tự có thể nhìn thấy trước mọi sự việc nên uy vọng của nàng ngày càng cao, Tôn Phù thấy nàng cất lời hỏi thăm người kia liền cho rằng nàng lại có chủ ý gì đó.

Cơ Tự quay đầu nhìn Tôn Phù: “Ta chỉ nghĩ, nếu có thể đồng hành cùng với họ thì thật không cần lo lắng gì nữa.”

Hiện giờ Cơ Tự cảm thấy rất khó chịu, nàng nghĩ tật xấu kiếp trước của mình lại tái phát rồi. Kiếp trước, so với những người đồng trang lứa, nàng khá giỏi trong việc xem xét thời thế, nói cách khác là tự trong cốt tủy nàng luôn có ý nghĩ bắt quàng dựa dẫm vào cường giả. Còn Tạ Lang, chàng chân chính là một cường giả, lúc này trong vô thức nàng muốn đồng hành với chàng, một phần là do đảm bảo an toàn, còn phần khác, nàng vẫn có suy nghĩ bám víu lấy chàng.

Như vậy không tốt chút nào! Cơ Tự mím môi, thầm nghĩ, kiếp này dù thế nào đi nữa ta vẫn phải sống có tự trọng, nhất định không thể bám víu vào kẻ khác mà sống được!

Trong lúc nàng đang suy nghĩ miên man, thuyền khách đã chạy đến giữa sông, buồm căng lên, bắt đầu tăng tốc. Chỉ trong chốc lát, thuyền khách đã băng qua vài ngọn núi, đến được chỗ hôm qua Tạ Lang vây giết bọn cướp. Vừa liếc mắt nhìn, có thể thấy bên bãi nước cạn còn trôi nổi vài trăm thi thể, cũng như xác thuyền lẫn binh khí.

Bên cạnh Cơ Tự truyền đến tiếng nôn mửa, chính là từ nhóm sĩ tộc đất Thục kia.

Thuyền khách xuôi gió chạy đi, đến trưa chủ thuyền đến, lớn tiếng nói: “Chư vị, phía trước là bến tàu của huyện Dương Châu, thuyền chúng ta có chút vấn đề nên phải neo lại đấy hai ngày, đợi khi tu sửa xong sẽ lập tức khởi hành.”

Nghe tin này ai ai cũng than thở, bất mãn. Có điều dù mọi người đều thấy khó chịu nhưng không ai phản đối cả. Bởi vì thuyền đi giữa chừng gặp phải sự cố,phải dừng lại tu sửa vốn là chuyện thường xuyên xảy ra trong thời này. Ngược lại, cả quãng đường hơn nghìn dặm từ Kinh Châu đến Kiến Khang, nếu trong quá trình đi mà không hề xảy ra vấn đề gì, đó mới gọi là hiếm có khó tin.

Lúc chủ thuyền nói chuyện, Cơ Tự nhìn chằm chằm vào mặt lão rồi quan sát cả mấy thuyền viên cách đó không xa. Chờ mọi người tản đi hết, Cơ Tự nghiêng đầu khẽ nói với Tôn Phù: “Thuyền vừa cập bờ, chúng ta lập tức mang đồ rời đi.”

“Gì cơ?” Tôn Phù kinh hãi, y khẽ hỏi, “Nữ lang, có chuyện gì không ổn ư?”

Cơ Tự nhỏ giọng: “Ta không nói được là có gì không ổn, chỉ thấy là lạ thôi.” Nàng quả quyết ra lệnh, “Báo với mọi người làm theo lệnh của ta đi.”

“Vâng.”

Đến chiều, bến tàu dần dần hiện ra trong tầm mắt mọi người. Nhìn nhà cửa san sát hai bên bờ sông, trông về cổng thành Dương Châu ở phía xa xa, tâm trạng Cơ Tự trấn định: May mà nơi này là vùng đất phồn hoa.

Gần như thuyền vừa cập bờ, nhóm Lê thúc đã bắt đầu bận rộn, thấy họ lỉnh kỉnh khiêng hòm rương, lão chủ thuyền chạy đến hỏi: “Khách quan chuẩn bị đi đâu thế? Sửa thuyền tuy nói là mất hai ngày nhưng nhiều khi chỉ cần một buổi đã xong rồi, khiêng hàng lên lên xuống xuống thế này sẽ làm trễ thời gian mất.”

Cơ Tự nhìn vẻ mặt tái nhợt của lão, kéo thấp mũ sa, mỉm cười: “Không cần đâu, chúng tôi sẽ xuống thuyền ở đây luôn.”

“Như vậy sao được?” Lão chủ thuyền kêu lên thất thanh, “Không phải khách quan bảo muốn đến Kiến Khang sao?”

Cơ Tự lạnh giọng nói: “Chúng tôi đổi ý, muốn nghỉ lại nhà người quen ở Dương Châu này đã.” Nói đến đây, nàng thi lễ với mọi người xung quanh, lúc chào những sĩ tộc ở đất Thục kia, nàng hơi ngập ngừng rồi hắng giọng nói, “Thành Dương Châu cảnh sắc rất tốt, nếu chư vị không vội sao không tranh thủ dạo chơi nơi này.” Nàng chỉ nghi ngờ nên không dám nói thẳng, thốt ra câu này xong liền quay người dẫn nhóm hạ nhân xuống thuyền.

Hai người trung niên trong đám thế gia đất Thục im lặng nhìn theo bóng lưng Cơ Tự. Lát sau một người trong đó bỗng ra lệnh: “Báo với mọi người khiêng đồ xuống thuyền, chúng ta cũng sẽ dạo chơi ở thành Dương Châu vài ngày đã.”

Đám con cháu đi chung liền ồ lên, một thiếu niên thắc mắc: “Tam thúc, khiêng đồ lên xuống phiền phức lắm ạ.”

Gã trung niên quay đầu lại trừng mắt nhìn y, liếc nhanh qua chủ thuyền rồi khẽ nói: “Các ngươi thì biết cái gì? Đây là địa bàn của họ, đến lúc đó nửa đêm lỡ đâu có mấy người lẻn lên thuyền, g**t ch*t mọi người, rồi lái thuyền đi thì ai mà biết được chứ?”

Lúc này lão chủ thuyền lại chạy đến, luống cuống đến mức đầu đầy mồ hôi, giọng nói cũng hoang mang: “Khách quan, khách quan, các người làm gì thế? Thuyền của lão chỉ xảy ra chút vấn đề thôi, cùng lắm là một buổi có thể sửa xong ngay, đang yên đang lành sao lại phải phiền phức như vậy?”

Càng thấy chủ thuyền bối rối, gã trung niên càng thêm kiên quyết. Bởi bất kể là nhóm Cơ Tự hay nhóm khách Thục này, lúc lên thuyền đều đã trả tiền đầy đủ, có rời đi giữa chừng như vậy lão cũng không thiệt hại gì. Đã không thiệt hại mà lão lại cứ rối rắm như thế đã đủ nói lên phía lão chắc chắn có vấn đề rồi.

Thế là trong nháy mắt, nhóm thế gia đất Thục đều mang tất cả đồ đạc lẫn xe ngựa xuống thuyền, cả con thuyền to lớn như thế giờ chỉ còn lại lèo tèo vài tiểu thương. Có một thuyền viên lặng lẽ kề tai nói nhỏ với lão chủ thuyền: “Thúc có làm nữa không?”

“Bốp” một tiếng, lão chủ thuyền quay lại cho gã một cái tát, nghiến răng tức giận: “Làm cái gì mà làm? Vài món hàng cỏn con còn lại đó đáng để lão đánh mất tiếng tăm không?” Trong tình cảnh hằng năm chiến tranh loạn lạc liên miên, tất cả những người bôn ba bên ngoài đều có âm mưu quỷ kế riêng của mình. Lão chủ thuyền này cũng giống như bao chủ thuyền khác, lúc không có lợi ích to lớn nào bày ra trước mắt thì họ chính là thương nhân chân chính, đưa một chuyến thuyền chỉ để kiếm về vài đồng bạc lẻ. Nhưng nếu gặp được nhóm khách nào béo bở như đám sĩ tộc đất Thục này, thì họ cũng không ngần ngại hóa thân thành tặc, giữa đường giết người cướp của. Việc thế này chỉ cần làm một lần là nửa đời no đủ, một khi đắc thủ là giàu sụ rồi.

Lại nói phía bên này, sau khi xuống thuyền Cơ Tự liền căn dặn Tôn Phù: “Nghĩ cách dò la hành tung của lang quân Tạ gia, đoạn đường này tốt nhất là chúng ta nên đi theo người, tuy chậm một chút nhưng hơn ở chỗ được an toàn vô lo.”

“Lang quân Tạ gia?” Tôn Phù chẳng hiểu ra sao, “Không phải năm ngoái lang quân Tạ gia đã về Kiến Khang rồi sao? Sao nữ lang biết được người đang ở Dương Châu?”

Cơ Tự hoàn hồn lại, vì nàng có ấn tượng sâu sắc với Tạ Lang, tất nhiên vừa nhìn đã nhận ra hắn, nhưng nhóm Tôn Phù thì không hề biết người vây giết bọn cướp trên sông kia chính là chàng. Nàng cũng không muốn giải thích nhiều, trực tiếp ra lệnh: “Bảo thúc làm thì cứ làm đi, hỏi nhiều làm gì?”

“Vâng.”

Lát sau nhóm Cơ Tự tìm được một tửu lâu, chuẩn bị vào dùng cơm, nào ngờ vừa ngồi xuống đã nghe thấy mấy người khách xung quanh nghị luận: “Nghe nói Lâm Lang Tạ gia chuốc phải phiền phức rồi.”

“Gì cơ? Con cháu đại sĩ tộc như vậy lẽ nào còn có ai dám gây chuyện với y à?”

“Không phải là cố tình làm khó, do đội ngũ của Tạ gia kia có người bị mắc chứng thương hàn, còn lây bệnh cho mấy hộ ở huyện Ngô nữa. Trong ba trăm năm nay, mười người bị thương hàn là có chín người mất mạng, giờ đây cả huyện Ngô lòng người hoang mang, dù danh tiếng Lâm Lang Tạ gia có tốt đẹp cỡ nào cũng không thể chống đỡ được cái mạng đâu. Bây giờ người trong huyện Ngô đều muốn đuổi bọn họ đi, nhưng bọn họ có thể đi chỗ nào khác được chứ? Nghe nói thái thú Dương Châu đã hạ lệnh không cho y vào thành rồi.”

“Gì cơ, đội y nhiễm thương hàn á?”

“Vậy phải làm sao đây, người Dương Châu của chúng ta sẽ không bị nhiễm bệnh theo chứ?”

“Lâm Lang Tạ gia này coi như là xui xẻo rồi.”

“Các người cứ khéo lo, Trần Quận Tạ thị là gia tộc thế nào? Nói không chừng họ còn có thể mời được thần y về chữa cho y đấy.”

“Thần y? Bây giờ là thời buổi nào rồi, làm gì có thần y nữa. Theo ta thấy ấy mà, Lâm Lang Tạ gia lần này coi như toi rồi, cứu được y chỉ có Trương Trọng Cảnh thánh y thời Đông Hán sống lại hoặc là quyển “Thương Hàn Tạp Bệnh Luận” của Trương Trọng Cảnh đột nhiên xuất hiện lại trên thế gian thôi. Nếu không chỉ với cái tiếng truyền nhiễm ôn dịch đã đủ xóa sạch cái tiếng danh sĩ của y đi rồi.”

Xung quanh vẫn còn xôn xao bàn tán, Cơ Tự cúi đầu nắm chiếc đũa, chấm đầu đũa vào nước, hí hoáy viết lên bàn. Nếu có ai chú ý, nhất định có thể nhìn ra thứ nàng đang viết chính là mấy chữ “Thương Hàn Tạp Chứng Luận, bài thuốc Quế Chi”.

Cơ Tự mím chặt môi, lúc những người này nhắc đến Trương Trọng Cảnh và quyển “Thương Hàn Tạp Chứng Luận” kia, thình lình trong đầu nàng liền xuất hiện một quyển sách chữ viết rất rõ ràng, mà tiêu đề của quyển sách kia chính là “Thương Hàn Tạp Chứng Luận” mà mọi người vừa nói.
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 32: Thành công


Thế mà nàng có thể thuộc lòng Thương Hàn Tạp Chứng Luận ư! Cơ Tự rất ngạc nhiên, nàng im lặng lật từng trang sách trong ảo giác.

Đúng rồi, kiếp trước nàng bị thiêu sống cũng vì mang tiếng là bệnh thương hàn. Sau khi Cơ Đạo xưng vương, tịch thu được cuốn sách này từ một gia tộc nào đó, khi ấy nàng chỉ là hồn ma lật xem hai lần, không ngờ bây giờ lại nhớ được toàn bộ. Dĩ nhiên trí nhớ cũng có hạn, xưa nay nghề y cần sự kiên trì và cố gắng không ngừng nghỉ suốt mấy mươi năm, cộng thêm có thiên phú mới thành công. Hiện tại cùng lắm nàng chỉ là kẻ học thuộc sách y mà thôi.

Mọi người vẫn còn bàn luận rôm rả trong tửu lâu, Cơ Tự đã tỉnh táo lại, từ từ cầm lấy chiếc đũa, ăn hết bát cơm.

Sau đó nàng đứng dậy, nói với Tôn Phù: “Đi hỏi xem huyện Ngô ở phía nào.”

“Vâng.”

Xế chiều, đội ngũ của Cơ Tự đã xuất hiện trên đường cái đến huyện Ngô. Lúc này huyện Ngô đã hoàn toàn rơi vào trạng thái phong tỏa, người trong huyện nghĩ trăm phương nghìn kế để đi ra ngoài còn người bên ngoài thì trăm triệu lần không dám vào trong, vì thế trên đường chẳng có lấy một bóng người.

Chủ hiệu thuốc nghe Cơ Tự bảo muốn mua thuốc đem đến huyện Ngô cũng không hề nâng giá. Ai ai cũng tin vào quỷ thần, luân hồi của đạo Phật, nên đa số đều rất lương thiện.

Huyện Ngô cũng không xa, đội ngũ của Cơ Tự đi ngựa nên tốc độ rất nhanh, chạng vạng đã đến cổng huyện. Nhìn cánh cổng khép chặt, từ xa đã loáng thoáng nghe thấy tiếng khóc rấm rức, cờ trắng giương cao trên cổng thành, Lê thúc bên cạnh bặm môi, bất an hỏi: “Nữ lang, người có chắc không?”

Cơ Tự chỉ gật đầu với y, không hề trả lời. Lát sau, họ đã đến cổng.

Ngay từ lúc họ vừa xuất hiện, mười mấy người trên cổng thành đã đứng dậy, thấy xe ngựa họ dừng lại liền có một người trung niên hắng giọng hô to: “Các ngươi là ai? Đến đây làm gì?”

Cơ Tự gật đầu với Lê thúc, y đứng trên xe ngựa, bẩm báo: “Chủ nhân nhà tôi mang theo mười xe thảo dược xin cầu kiến lang quân Tạ gia.”

Gã trung niên vừa nghe thấy mười xe thảo dược thì hai mắt sáng ngời, hắng giọng nói: “Xin chờ.” Rồi vội vã rời đi.

Chỉ chốc lát sau, cổng thành mở rộng. Lần này ra đón Cơ Tự là bốn vị lang quân cao lớn anh tuấn. Trên người mấy lang quân này đều toát lên phong thái thư hương, dường như đã quen gặp tầng lớp quyền quý nên ai ai cũng thanh cao hơn cả nhóm sĩ tộc đất Thục trên thuyền.

Mà Cơ Tự cũng khá quen với bốn người này, họ chính là hộ vệ thân cận của Tạ Lang.

Bốn hộ vệ cũng không ngờ người đến là tiểu cô từng gặp trước kia, họ nhìn nhau trân trối. Không biết nghĩ đến điều gì, họ bỗng hành lễ với Cơ Tự, cảm kích nói: “Tiểu cô thật trượng nghĩa!”

Trang viên Tạ Lang tạm tá túc ở phía bắc huyện Ngô, từ xa thấy Cơ Tự đi đến, đám hạ nhân đồng loạt cúi đầu, trong ánh mắt đều mang theo vài phần cảm phục.

Đưa Cơ Tự đến bên cạnh bờ hồ, một hộ vệ khẽ nói: “Lang quân nhà ta đang ở trong đình, tiểu cô cứ đến đó là gặp.”

Thấy Cơ Tự chần chờ, hộ vệ kia thoáng nhìn nàng, bất giác an ủi với giọng hiền hòa: “Người chỉ là một tiểu cô nho nhỏ, vì lang quân nhà ta mà không tiếc dấn thân mạo hiểm, lang quân nhà ta sẽ cảm kích tấm chân tình của người.”

Cơ Tự trợn to mắt kinh ngạc nhìn hắn. Đến tận khi hộ vệ kia chắp tay chào rồi sải bước rời đi, nàng mới tỉnh táo lại. Những người này cho rằng nàng yêu thương Tạ Lang sâu đậm, dù biết rõ huyện Ngô lâm vào tuyệt cảnh nhưng không tiếc dấn thân vào biển lửa ư! Thảo nào họ nhìn nàng với ánh mắt cảm động như thế, thảo nào họ lại thán phục nàng như thế!

Cơ Tự sầm mặt, phút chốc trong đầu chợt thoáng qua một ý niệm mơ hồ: Ngược lại cũng có thể lợi dụng ý nghĩ của họ rồi.

Nhưng nháy mắt, Cơ Tự liền bác bỏ, nàng âu sầu ngẫm nghĩ: Rõ ràng đã nói kiếp này phải làm người ngay thẳng, tại sao lại bị ý nghĩ quỷ quái kia ám mãi không biết?

Trong hoa viên cây cối xanh mướt, Cơ Tự mới đi được vài bước đã thấy bóng dáng bạch y quen thuộc. Phong thái đó thật sự quá tuấn tú, dù chỉ là bóng lưng thôi cũng tỏa ra ánh hào quang. Cơ Tự thầm khó chịu, cất bước vang dội, chầm chậm đi đến phía sau Tạ Lang.

Thoáng nhìn qua Tạ Lang đang khép hờ mắt, Cơ Tự khẽ chào, hắng giọng nói: “Cơ thị A Tự tham kiến Tạ lang.”

Tạ Lang không quay đầu lại, chàng chỉ hỏi nàng với giọng hòa nhã êm ái: “Vì sao A Tự đến đây?”

Cơ Tự nhìn chàng, nghĩ ngợi rồi thành thật nói: “Ta mang theo mười xe thảo dược tới.”

Tạ Lang chậm rãi quay đầu lại. Người này như thể trời sinh luôn tỏa nắng, thật sự có thể khiến người ta nhìn đến hoa mắt váng đầu. Lúc đến, Cơ Tự từng nghĩ hiện tại chắc Tạ Lang đang phiền muộn lắm. Nhưng nàng không ngờ chàng vẫn ung dung thản nhiên, tác phong phóng khoáng như vậy. Vẻ tao nhã khắc trong cốt cách, hằn sâu trong huyết mạch này đã tô đậm nét phi phàm cho chàng. Nhưng dĩ nhiên, chàng cũng chỉ là người phàm mà thôi.

Không biết là vì muốn chứng minh lang quân trước mắt có thể dễ dàng khiến nữ tử khắp thiên hạ đều tương tư, nhưng không thể khiến nàng si mê, hay là vì gì khác, nàng nhìn vào ánh mắt Tạ Lang, bỗng cười rạng rỡ, vui vẻ nói: “Còn tưởng có thể thấy Tạ lang tinh thần sa sút, không ngờ cố nhân vẫn phong thái rạng ngời, thật khiến người ta mừng hụt.”

Cơ Tự vừa thốt ra lời này, bản thân liền hoảng hốt, còn Tạ Lang thì bật cười sang sảng. Sau khi cười xong, Tạ Lang khẽ thở dài: “Nơi đây đã thành vùng đất chết, tiểu cô như nàng thật không nên đến đây.”

Chàng đưa tay ra hiệu cho Cơ Tự ngồi xuống đối diện, rồi cúi đầu tao nhã châm rượu cho nàng. Cách đó không xa truyền đến tiếng đàn sáo hòa âm.

Không biết tại sao, thấy lang quân cao quý vô song trước mắt đích thân rót rượu cho mình, Cơ Tự lại lo sợ. Ý nghĩ xấu xa lại ùa đến, nàng không muốn mình của kiếp này ti tiện hơn bất cứ ai.

Hít sâu một hơi, Cơ Tự nâng chung rượu Tạ Lang đưa đến, nhấp một hớp rồi nói thẳng: “Lang quân Tạ gia, ta còn mang theo một quyển sách, quyển sách kia có tựa là Thương Hàn Tạp Chứng Luận.”

Động tác nâng chung rượu của Tạ Lang bỗng khựng lại, chàng ngẩng đầu nhìn Cơ Tự.

Lần đầu tiên nàng phát hiện, ánh mắt của chàng lại có cảm xúc phức tạp lẫn cảm động như vậy.

Nhìn nàng một hồi, Tạ Lang đặt chung rượu trong tay xuống, đứng dậy cúi người thật sâu trước Cơ Tự: “A Tự, đa tạ nàng.”

Cơ Tự cười khúc khích, vẻ mặt thoải mái: “Khoan hẵng tạ ơn đã. Lần này A Tự đến là muốn làm một giao dịch với lang quân thôi.”

Tạ Lang nhìn nàng với ánh mắt sáng ngời trong veo mang theo vẻ thích thú và ẩn chứa đôi nét dịu dàng. Tay trái chàng giữ lấy ống tay áo tay phải, nhẹ nhàng rót rượu cho nàng lần nữa, rồi mỉm cười nói: “Được.”

“Tốt.” Cơ Tự nhanh chóng nói, “Bộ khúc của ta không nhiều lắm, đi lại bên ngoài không an toàn, ta muốn đi cùng lang quân đến Kiến Khang. Vì không để mất dấu lang quân, sau này nếu người đến thành nào thì xin báo trước với ta một tiếng.”

Yêu cầu này nhỏ nhặt đến mức không thể gọi là yêu cầu được, Tạ Lang lại nhìn nàng rồi chớp mắt nói: “Được.”

Cơ Tự phấn khởi, ngồi thẳng người nói tiếp: “Lần này ta dời nhà đến Kiến Khang, sau này nếu có bị người ta bắt nạt, xin nhờ đại quý nhân như lang quân đây giúp đỡ đôi lần.”

Tạ Lang lại mỉm cười: “Được.”

Cơ Tự lại nói: “Đúng rồi, có lẽ sau khi ta đến Kiến Khang sẽ giả trang làm nam tử, nếu lang quân có nhận ra thì xin giả bộ như không biết nhé.”

Đây mà gọi là yêu cầu à? Tiểu cô chỉ có duyên gặp vài lần, không tiếc dấn thân mạo hiểm, còn mang quyển Thương Hàn Tạp Chứng Luận vô cùng quý báu của mình ra giúp chàng một phen. Thế nhưng nàng lại tỏ thái độ hai người không nợ gì nhau, lải nhải đưa ra một loạt yêu cầu, mà những yêu cầu ấy lại vô cùng đơn giản.

Đúng lúc này, Cơ Tự hít sâu vào để tiếp thêm can đảm, nàng nói: “Sách không ở trong tay ta, ta có thể đọc thuộc nội dung trong sách cho người nghe.”

Tạ Lang thoáng nhìn nàng rồi khẽ gật đầu, triệu gọi một người hầu đến: “Mời Hoàng công đến đây một chuyến.”

“Vâng.”

Chốc lát sau, một ông lão đầu tóc bạc phơ theo người hầu Tạ gia đến bên hồ. Tạ Lang ra hiệu cho người hầu lui xuống, rồi chỉ vào Cơ Tự nói: “Hoàng công, Cơ tiểu cô mang kỳ thư Thương Hàn Tạp Chứng Luận của gia tộc bí mật cất giữ đến cứu giúp trăm nghìn bá tánh của huyện Ngô.”

Tạ Lang gần như vừa thốt lời, khuôn mặt hồng hào của Hoàng công bỗng tỏa sáng. Lão nhìn Cơ Tự với vẻ cảm kích, không nói một lời, cúi người thật sâu bái xá nàng.

Lúc Cơ Tự vội vàng né tránh, giọng Tạ Lang lại vang lên: “Hoàng công, ta và công đều biết kỳ thư như Thương Hàn Tạp Chứng Luận là gia bảo ai ai cũng thèm muốn. Cơ tiểu cô đại nghĩa tiết lộ, chúng ta không thể không biết nặng nhẹ. Không được Cơ tiểu cô cho phép, Hoàng công không thể truyền cuốn sách này cho đệ tử của mình, và cũng không thể tiết lộ cho bất cứ ai khác.”

Đúng như lời Tạ Lang nói, thời này kiến thức là vô giá, mà một gia tộc phúc trạch có được kiến thức để truyền thừa cho con cháu đời sau thì càng quý báu hơn bất kỳ tài phú nào. Trong lịch sử, sau khi Trương Trọng Cảnh viết ra Thương Hàn Tạp Chứng Luận đã bị một gia tộc ở Giang Nam bí mật cất giấu mấy trăm năm, cho đến thời Đường Tống mới dần lưu truyền ra ngoài.

Hoàng công nghiêm túc đáp: “Vâng.”

Quyển Thương Hàn tuy rất nhiều chữ, nhưng Hoàng công vốn là cao thủ y học, Cơ Tự chỉ vừa nói ra, lão đã như được vén lớp mây mù, hai mắt sáng quắc. Quyển thánh y này được trình bày và phân tích vô cùng chi tiết, cho dù một tên lang băm cũng có thể dựa theo đó mà chữa khỏi bệnh, huống chi là Hoàng công chứ? Ngay ngày hôm sau, Hoàng công đã bắt đầu bốc thuốc cho người bệnh.

Cứ thế, buổi tối Cơ Tự thuật lại Thương Hàn Tạp Chứng Luận cho Hoàng công, còn ban ngày thì Hoàng công dùng thảo dược mà Cơ Tự mang đến chữa bệnh cho mọi người.

Mỗi người chỉ cần uống bốn năm thang thuốc liền khỏi. Hiện tại trong huyện Ngô chỉ có vài chục người mắc bệnh, chưa dùng hết một xe thuốc thì số người bệnh nặng đã vơi đi phân nửa rồi.

Thấm thoát mười ngày trôi qua, không khí trong huyện từ u uất, tang tóc đã trở nên hoan ca vui mừng.
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 33: Cảm tạ và kiếm tiền


Hoàng công là danh y ở Dương Châu, đã là danh y lại có kỳ thư Thương Hàn Tạp Chứng Luận trong tay, thế nên ổ bệnh ở huyện Ngô đã chẳng còn gì nguy hại được nữa. Thế là mới mười ngày trôi qua, sau khi bệnh thương hàn ở huyện Ngô được chữa trị tận gốc, trong khoảng thời gian ngắn toàn thành đều vui mừng hân hoan. Cơ Tự chỉ ở ngồi trong trang viên cũng có thể nghe thấy từng tiếng hoan hô và tiếng nhạc vui vẻ ngoài kia.

Trong hoa viên, một loạt tiếng bước chân truyền đến, hóa ra là nhóm Lê Thúc và Tôn Phù tới. Trông thấy Cơ Tự, mấy người hầu đều mặt mày hớn hở, Lê Thúc gọi từ xa: “Nữ lang, ở bên ngoài cả thành đều đang ăn mừng kìa, người không ra sao?”

Cơ Tự mỉm cười, “Ừ, ta không ra đâu.”

“Vậy sao được? Không nói gì khác, chỉ bằng mười xe thảo dược mà nữ lang quyên tặng thì người nên ra ngoài nhận lời cảm ơn của dân chúng mới phải!” Tôn Phù hớn hở nói, y nhận lấy chén trà Nguyệt Hồng đưa tới uống một hơi cạn sạch rồi chép miệng cảm thán: “Tôi lớn ngần này rồi nhưng đây là lần đầu tiên được nếm trải cảm giác đi đến đâu cũng được người người xoay quanh. Những người dân đó tôn kính tôi thì cũng thôi đi, không ngờ ngay cả người của Trần Quận Tạ thị cũng nhìn tôi với ánh mắt nể trọng, một số người thân thiện còn đến nói đùa với tôi nữa. Đãi ngộ này ngay cả Huyện lệnh của huyện Ngô cũng không có. Vinh dự này đều do nữ lang người ban cho, đời này Lão Tôn được đi theo nữ lang, quả thật đáng giá.”

Lúc này, Lê Thúc mới hỏi: “Nữ lang, tất cả mọi người đều muốn đích thân tới tạ ơn trực tiếp với người, có người dân còn muốn lập bài vị trường sinh cho người nữa, tại sao người không ra ngoài?”

Cơ Tự mỉm cười nói: “Các người thay ta ra mặt thì cũng vậy mà.” Nàng thầm nghĩ trong lòng: Tất nhiên ta không thể ra ngoài rồi. Nếu ta ra ngoài thì chuyện này càng được lan truyền rộng rãi.

Nàng hiểu rất rõ, chuyện mình quyên thảo dược cứu người chỉ có dân chúng ở huyện Ngô cảm động mà thôi, còn lời đồn đại thế gian luôn bóng bẩy thêm mắm dặm muối mới truyền xa nhất. Chuyện nàng làm truyền đến Kiến Khang tất nhiên sẽ biến thành: Một tiểu cô họ Cơ đến từ huyện Kinh, bởi vì ái mộ Tạ Thập Bát mà không tiếc tán gia bại sản, dấn thân mạo hiểm để đổi lấy nụ cười của Tạ mỹ nam...

Lời đồn đại như vậy chỉ tổ hủy hoại thanh danh của nàng, cứ ồn ào như vậy, nói không chừng người của Trần Quận Tạ thị vì không để người đời cười chê họ vong ân bội nghĩa, sẽ ép Tạ lang nạp nàng làm thiếp, nếu vậy thì mất nhiều hơn được rồi.

Trong lúc Cơ Tự suy nghĩ miên man, bên ngoài truyền đến tiếng bước chân.

Trong sự nghênh đón của người hầu, người chậm rãi đi đến chính là Hoàng công vừa được mỹ danh thần y sau đợt dịch bệnh này. Hoàng công tươi cười, đến trước mặt Cơ Tự, lão vuốt chòm râu hoa râm cười sang sảng: “Tiểu A Tự, lão phu đã lan truyền ân đức của cô cho mọi người biết rồi, cô cứu trăm nghìn người dân huyện Ngô nên họ đều muốn lập bài vị trường sinh cho cô đấy.”

Cơ Tự khẽ thi lễ, mỉm cười nói: “Chính Hoàng công mới là người cứu trăm nghìn dân chúng, chẳng qua A Tự được hưởng ké tiếng thơm mà thôi.”

Hoàng công lắc đầu, ông cười vang dội: “Lão phu nói cô cứu trăm nghìn dân chúng vẫn còn hơi khiêm tốn rồi, theo như Phật gia thì việc Tiểu A Tự đã làm phải được gọi là công đức vô lượng mới phải!” Dứt lời, lão hành đại lễ với Cơ Tự.

Cơ Tự không tránh kịp đành phải nhận đại lễ của lão, thầm suy ngẫm: Nếu như ta không có trí nhớ của kiếp trước, không có được cuốn sách Thương Hàn Tạp Chứng Luận trong đầu thì e rằng lần này dân chúng huyện Ngô thật đúng là chạy trời không khỏi nắng. Như vậy quả thật ta cũng xứng đáng để nhận đại lễ của ông ta.

Lại một loạt tiếng bước chân vang lên bên ngoài. Lần này là mười mấy hộ vệ của Tạ thị, họ ồ ạt chạy đến thi lễ với nàng, sau đó một hộ vệ nói: “Đại ân của tiểu cô, ta sẽ ghi nhớ suốt đời.” Một hộ vệ khác lại nói: “Nghe nói tiểu cô định định cư ở Kiến Khang, sau này nếu có gì cần sai bảo thì cứ việc nói một tiếng.”

Lúc bệnh dịch đột ngột bùng phát, họ bị tất cả người ở các huyện châu bài xích, khiến những hộ vệ bên cạnh Tạ lang vốn kiêu ngạo thành thói rơi vào thế bị động vô cùng, mà khi đó khốn khổ biết bao, vì thế bây giờ bọn họ rất cảm kích nàng!

Sau khi tiễn nhóm hộ vệ Tạ gia đi, lại có người đến nữa, lần này là Huyện lệnh huyện Ngô đến cảm tạ.

Không khí tưng bừng cứ kéo dài như vậy suốt nửa tháng. Đến tận khi một tháng qua đi, người dân huyện Ngô mới hoàn toàn bình tĩnh trở lại từ sau cơn hưng phấn tìm được đường sống trong chỗ chết. Đến khi huyện Ngô nối lại giao thông với các khu vực xung quanh, thái thú Dương Châu mới tự mình tới cửa chuộc tội với Tạ Lang. Nhưng ngay từ nửa tháng trước, lúc tình hình dịch bệnh thương hàn dần được khống chế, Tạ Lang đã mang theo mấy trăm bộ khúc biến mất khỏi đây. Mà bây giờ đội ngũ của chàng để lại huyện Ngô đã cùng nhóm Cơ Tự chạy bon bon trên đường cái rồi, khiến thái thú Dương Châu mất công đến một chuyến.

Tháng Năm ở Dương Châu không hề nóng bức, dưới ánh mặt trời soi sáng rực rỡ, một đoàn xe đang đi trên con đường quanh co khúc khuỷu.

Tạ Quảng là một trong bốn hộ vệ thân cận bên cạnh Tạ Lang, quay đầu nhìn đội ngũ của Cơ Tự, liếc qua chiếc xe nặng nề thồ không biết bao nhiêu thứ của Cơ Tự. Hắn cười nói với Tôn Phù: “Nghe nói nữ lang nhà ngươi dốc hết toàn bộ gia sản còn lại đổi thành cây trẩu (1) đặc sản ở huyện Ngô phải không? Chậc chậc chậc, đầy mười lăm xe trẩu, có thể thiêu chết tám trăm, một nghìn tên cướp rồi!”

(1) Cây trẩu còn gọi là cây dầu sơn, ngô đồng, mộc đu thụ, cho ta một loại dầu sơn rất quý. Dầu trẩu mau khô, khi kết thành màng có tính chất chóng ẩm chịu được thời tiết biến đổi cao, sức co giãn tốt, có tác dụng chống gỉ, công dụng chủ yếu của trẩu là dùng hạt ép dầu để pha sơn, quét lên vải cho khỏi mưa ướt. Tro trẩu mới dùng làm phân bón ruộng. Làm thuốc người ta dùng nhân hạt trẩu đốt thành than, tán bột hoà với mỡ lợn bôi chữa chốc lở, mụn nhọt. Vỏ cây trẩu sắc với nước ngậm chữa sâu răng.

Hắn thật sự không nghĩ nổi Cơ Tự mua nhiều cây trẩu như vậy có mục đích gì, vì thế nên câu nói có vài phần hài hước.

Tôn Phù giỏi giao tiếp, khá thân quen với Tạ Quảng, y cười sang sảng nói: “Những việc nữ lang chúng tôi làm, người bình thường không hiểu nổi đâu, dù sao người cũng chưa bị thua lỗ lần nào. Nhà tôi không phải vốn có nửa xe châu báu sao? Nhưng lúc mua mười xe thảo dược đã dùng hết hơn nửa rồi, tôi đoán nữ lang thấy tiếc nên muốn kiếm lại tiền từ chỗ cây trẩu này đấy.”

Mặc dù thời này nhóm thế gia luôn khinh thường thương nhân, hộ vệ như Tạ Quảng cũng như vậy. Hắn cười sang sảng: “Ta đây đợi xem tiểu cô nhà ông kiếm tiền bằng cách nào.”

Nửa tháng sau, Tạ Quảng đưa nhóm người của Cơ Tự đến huyện Dương Thủy, sau khi dặn dò nàng ở đây chờ họ thì mang theo đội ngũ đi mất.

Huyện Dương Thủy, tên cũng như ý nghĩa của nó, sông ngòi ở huyện này nhiều vô kể, có một nhánh sông đổ thẳng ra Trường Giang. Sau khi đoàn người của Cơ Tự ổn định chỗ ở tại lửu lâu, nàng liền phái nhóm Tôn Phù bắt đầu tìm hiểu huyện Dương Thủy có đặc sản gì, cũng như giá cả từng thứ.

Hai ngày sau, Tôn Phù báo cho Cơ Tự, huyện Dương Thủy có đặc sản là cá cơm, còn về cây trẩu thì không nghe nói nơi đây có cần hay không.

Cơ Tự vẫn không vội, nàng chỉ ra lệnh: “Đi điều tra tiếp đi, xem nơi đóng thuyền của Dương Châu ở đâu.”

“Vâng.” Rất nhanh, Tôn Phù lại đến bẩm báo, y nói cho Cơ Tự biết, phía Bắc Dương Châu có huyện Chu Sơn nổi tiếng là huyện chuyên đóng thuyền ở Dương Châu.

Thế là Cơ Tự tiếp tục phái người hỏi đường đến huyện Chu Sơn, rồi chuẩn bị kế hoạch.

Lại nói, huyện Chu Sơn ngay bên sông Trường Giang, nếu xuất phát bằng đường thủy từ huyện Dương Thủy thì chỉ cần rẽ qua hai nhánh sông là vào thẳng sông Trường Giang, nếu thuận lợi thì chỉ cần ba ngày là đến huyện Chu Sơn.

Sau khi tìm hiểu rõ tất cả lộ trình, Cơ Tự chi tiền cố ý thuê một thuyền lớn, sau đó chuyển cây trẩu ở mười lăm chiếc xe kia lên, xuất phát đi thẳng đến huyện Chu Sơn.

Bởi vì nàng thuê riêng một con thuyền nên quãng đường này tất nhiên rất an toàn, lại đi gấp cả ngày cả đêm, đến rạng sáng ngày thứ tư, nhóm Cơ Tự đã có mặt tại huyện Chu Sơn. Sau đó nàng sai đám Tôn phù đến các xưởng đóng thuyền lớn hỏi thăm giá mua cây trẩu.

Lúc chạng vạng, đám người Tôn Phù đã trở về. Y vừa vào phòng nàng, chưa kịp thở lấy hơi đã hưng phấn bẩm báo cho Cơ Tự: “Nữ lang, nữ lang, sao người biết mua bán cây trẩu sẽ có lợi nhuận cao như vậy?” Y thật sự phấn khích, chưa đợi Cơ Tự mở miệng đã nói: “Nữ lang biết không, lúc tôi vừa đến xưởng tàu kia, mới mở miệng nói có cây trẩu cần bán là những chưởng quỹ của xưởng liền vây lại, họ ra giá rất cao.” Y giơ tay, vô cùng đắc ý thì thầm với Cơ Tự: “Nữ lang, giá bọn họ đưa ra còn cao gấp đôi giá chúng ta mua vào đấy!”

So với Tôn Phù đang kích động, Cơ Tự lại điềm tĩnh hơn nhiều. Nàng rót cho Tôn Phù một chén nước, rồi mới cất lời: “Chuyện này chỉ cần nghĩ thôi đã biết rồi, thời nay bất kể đường núi hay đường bộ đều nguy hiểm, giặc cướp nhiều vô kể, giống như từ huyện Ngô đến huyện Dương Thủy, nếu không phải chúng ta theo đuôi đội ngũ của Tạ thị thì tất cả xe của chúng ta có dám chở toàn cây trẩu không? Mà đối với người buôn bán bình thường, chỉ riêng mười lăm chiếc xe kia đã phải phái hai trăm bộ khúc đi theo bảo vệ, chưa kể chi phí cho hai trăm bộ khúc này và xe lừa đã tốn gấp ba lần so với chúng ta rồi. Mà đây mới chỉ là một đoạn đường ngắn thôi đấy!”

Nhắc tới đây, Cơ Tự hờ hững nói: “Phải gấp năm lần! Nếu có ai ra giá gấp năm lần thì thúc hẵng bán!”

Tôn Phù hưng phấn đến nỗi cánh mũi phập phồng, “Đúng! Ngày mai tôi liền ra giá gấp năm lần với họ. Nếu có người đồng ý chi trả, chúng ta sẽ bán ngay lập tức!”

Cơ Tự vốn cho rằng, giá cả tăng vọt lên gấp năm lần thì đợt mua bán này ít nhất cũng phải kéo dài mười ngày nửa tháng mới xong. Nhưng nào ngờ ngay buổi tối hôm đó, Tôn Phù liền đem khế ước trao đổi về. Hóa ra, trong mắt chưởng quỹ của những xưởng đóng thuyền kia, giá như vậy vẫn hời chán!

Lần giao dịch này, Cơ Tự chọn lấy hàng đổi hàng, mười lăm xe trẩu đổi lấy ba mươi thuyền đánh cá. Theo như chưởng quỹ xưởng đóng thuyền hướng dẫn, nàng dùng dây thừng buộc thuyền đánh cá phía sau con thuyền Cơ Tự thuê kéo theo phía sau, sáng sớm hôm sau xuất phát trở về.

Huyện Dương Thủy vốn là huyện vùng sông nước, có cái gọi là lên núi dựa sơn, xuống nước dựa thủy, cho nên nghề đánh bắt cá ở nơi đây tương đối phát triển. Vì thế, nhóm Cơ Tự vừa về đến huyện Dương Thủy, chỉ mất ba ngày đã bán sạch thuyền đánh cá không thừa lại chiếc nào. Chẳng qua bởi vì đường từ Dương Thủy đến huyện Chu Sơn thông suốt nên lợi nhuận bán thuyền đánh cá không lớn, mỗi một chiếc thuyền cũng chỉ bán lãi được một phần ba.

Cứ như vậy, trong vòng nửa tháng, một nửa xe châu báu của nàng đã tăng lên gấp hơn sáu lần, trừ đi các khoản chi phí khác thì vàng bạc châu báu còn thừa lại cũng chỉ hơn hai xe.

Nhớ khi xưa, lúc Cơ Tự còn sống, nàng không phải là chưa từng cùng đám người Tôn Phù, Lê Thúc, Dữ Trầm đi buôn bán bao giờ. Nhưng mỗi khi đi buôn họ chỉ có cảm giác đường xá gian nan, nạn cướp bóc nhiều vô kể, lợi nhuận kiếm được không nhiều. Nào giống như Cơ Tự bây giờ, chỉ chơi đùa thôi đã tăng tài sản của mình lên bốn năm lần.

Tôn Phù sửng sốt kêu lên: “Nữ lang, nữ lang. Người không tiếc lấy mười xe thảo dược hối lộ lang quân Tạ gia, có phải muốn theo đuôi họ là vì ý định này không?”

Cơ Tự liếc y, thản nhiên nói: “Tất nhiên rồi, lực lượng hộ vệ của Tạ gia hùng hậu, theo chân họ lên đường, chúng ta chẳng những không phải quan tâm đến vấn đề an toàn mà còn có thể nhân cơ hội này thu mua đặc sản các nơi, kiếm được một khoản tiền kha khá. Nếu không thúc cho rằng chỉ với một xe châu báu lấy được ở chỗ La Đại Đầu lúc trước, đã có thể cho chúng ta một cuộc sống sung túc tại Kiến Khang sao? Ta nói cho thúc biết, muốn sống ở Kiến Khang không hề dễ chút nào, chưa kể giá phòng nơi đó cao ngất ngưởng, ngay cả ăn, mặc, ở, đi lại, bất kể chi phí nào cũng cao từ gấp năm đến mười lần lúc ở huyện Kinh. Ta không mau chóng kiếm tiền thì chỉ bằng mấy cái đồng bạc này, lúc đến Kiến Khang chúng ta sẽ phải thắt lưng buộc bụng đấy!”

Nói tới đây, Cơ Tự khoanh tay, ngồi thẳng lưng trông ra dãy núi xa xa ngoài cửa sổ, thầm nhủ: Cả đời trước ta bám lấy đám quyền quý, rước lấy bao nhiêu nhục nhã, cuối cùng còn chết không rõ ràng. Đời này ta sẽ không bám víu lấy ai, chỉ bằng năng lực của mình, nhất định phải sống thoải mái trong cái thời loạn lạc này, không vì tiền mà khốn đốn, không vì danh tiếng mà khổ sở, không sợ sống, không sợ chết, sống một cuộc đời tiêu diêu tự tại!
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 34: Thích và không thích


Tạ Lang đứng trên thuyền cao, nhìn huyện Dương Thủy dần hiện trong tầm mắt, quay đầu hỏi: “Cơ tiểu cô vẫn luôn ở huyện Dương Thủy à?”

“Không phải đâu ạ.” Tạ Quảng trả lời chàng, hắn chậc chậc luôn miệng, “Phải công nhận tiểu cô này thật đúng là có bản lĩnh. Ban đầu lúc đi đến huyện Dương Thủy, nàng mang toàn bộ gia sản của mình mua cây trẩu đặc sản của huyện Ngô, chất đầy cả xe không chừa một chỗ nào. Khi ấy người hầu của nàng nói, Cơ tiểu cô sẽ dựa vào chỗ cây trẩu này kiếm lại khoản tiền mua mười xe thảo dược cho dân huyện Ngô, tôi còn không tin nữa. Kết quả á! Kết quả là chúng ta để nàng ở Dương Thủy hơn nửa tháng, thế mà nàng ta kiếm ra số tiền gấp năm lần lúc ban đầu chỉ bằng mười lăm xe trẩu kia.” Hắn vỗ tay, “Lang quân, người thấy tiểu cô này có lợi hại không?”

Tạ Lang mỉm cười, quay đầu nhìn dòng sông mênh mông phía trước, khẽ nói: “Nàng ư? Chắc chắn sẽ khiến người ta phải lau mắt mà nhìn đấy.” Thoáng chốc chàng ra lệnh, “Gửi chim bồ câu, bảo người báo với Cơ tiểu cô, nói là Kiến Khang có việc, ta phải lập tức trở về, bảo nàng đến thẳng bến tàu huyện Dương Thủy chờ ta.”

“Vâng.”

Bên này, Cơ Tự nhận được tin của Tạ Lang liền mừng rỡ, nàng còn tưởng sẽ phải chờ hơn nửa năm cơ! Nàng xuất phát vào lúc hoàng hôn nhá nhem, chạy một mạch đến bến tàu huyện Dương Thủy, vừa tới đã thấy ngay con thuyền cao hai tầng sừng sững và Tạ Lang tóc đen buông xõa, bào rộng tay dài đứng ở tầng hai kia.

Khi ấy, tia nắng chiều cuối cùng đang khoe sắc tàn của nó với trời đất, nhuộm những áng mây xung quanh thành đỏ đỏ tím tím. Còn chàng thì quay lưng về phía ánh tà dương, hai tay vung lên, ung dung đánh trống. Ánh chiều soi lên người chàng khiến khuôn mặt nửa sáng nửa tối, chàng rủ mi dài che đi đôi mắt luôn ôn hòa đến mức như chất chứa bao nỗi thương cảm kia.

Hai tay chàng cầm hai chiếc dùi, sống lưng thẳng tắp, theo động tác gõ trống, đường nét cơ bắp bên dưới bào trắng như ẩn như hiện.

Nhưng trọng điểm không phải điều này mà là ở tiếng trống kia, rõ ràng nó rất thong dong, rõ ràng người đánh vô cùng tao nhã nhưng khoảnh khắc ấy lại khiến Cơ Tự rơi nước mắt. Mà không chỉ có nàng, ngay cả mấy trăm người qua lại trên bến tàu cũng dừng bước tức khắc, ngơ ngác nhìn con thuyền, nhìn bóng dáng khuấy động lên tiếng trống dưới trời chiều kia.

Bỗng Cơ Tự bừng tỉnh, nàng biết lý do mình rơi lệ rồi. Hóa ra, bóng dáng tuyệt mỹ kia kết hợp với cảnh hoàng hôn u buồn, cộng thêm tiếng trống trầm bổng và tiếng sóng vỗ vào bờ ì oạp đã khiến nàng rung động. Vì nàng không thể níu giữ khoảnh khắc tuyệt đẹp trước mắt này, thế nên bi thương cùng cực.

Đúng rồi, đây mới là cái hay của tiếng trống lúc tà dương, đây mới là cái đẹp của buổi hoàng hôn, cả đất trời như hòa vào làm một trước mắt con người.

Tạ Lang đánh xong tiếng trống cuối cùng, chàng chậm rãi buông dùi xuống, bắt tay ra sau lưng, quay đầu lại nhìn bầu trời. Trong giây phút đó, Cơ Tự thấy khóe mắt chàng hơi long lanh.

Nàng ngẩn ngơ đứng bên bờ nhìn nam tử kia. Chàng có tất cả mọi thứ thế nhân khát vọng, tài hoa, tuấn tú, gia thế, tôn quý, quyền lợi, trí tuệ và những thứ tốt đẹp khác nữa. Thế nhưng giờ khắc này chàng lại lẻ loi đứng trên mặt sông, im lặng rơi lệ dưới ánh nắng cuối chiều.

Chàng đang cảm thấy cô quạnh sao? Hóa ra chàng cô quạnh đến thế, nỗi cô quạnh khi nhìn nhân thế u mê, khắp nơi tang thương và khát vọng thay đổi tất cả. Nhưng ngay cả lúc tiêu diệt giặc cướp chàng vẫn phải đeo mặt nạ để người đời không biết mình là ai.

Đây là lần đầu tiên Cơ Tự phát hiện, lang quân nổi danh phong lưu khắp thiên hạ lại có nỗi cô đơn khắc cốt ghi tâm đến vậy. Nàng không biết mình đã đứng ngẩn ngơ bao lâu, cũng không biết bản thân đã ngắm bóng hình kia bao lâu, đến tận khi Tạ Quảng đến bên nàng, khẽ gọi: “Cơ tiểu cô, nên lên thuyền rồi” thì nàng mới choàng tỉnh.

Cơ Tự dẫn mọi người đi theo Tạ Quảng lên thuyền. Giữa sắc trời chạng vạng, cánh buồm giương lên cao, trong tiếng hò của phu kéo thuyền, chiếc thuyền nhổ neo vươn ra sông lớn. Cho đến khi ánh nắng cuối cùng biến mất tại chân trời và sao giăng lấp lánh trên cao, Cơ Tự vẫn thấy Tạ Lang đứng bắt tay ở đầu thuyền.

Dưới ánh sao, Cơ Tự không kiềm lòng được cất bước nhẹ nhàng, chậm rãi đi đến phía sau chàng. Bước chân của nàng rất khẽ, gần như không vang lên một tiếng động, lúc cách chàng khoảng mười bước thì nàng dừng lại.

Ngay sau đó giọng nói khẽ khàng của Tạ Lang vang lên: “Cơ Tự?”

Cơ Tự vội vàng nhỏ giọng đáp: “Là ta.”

Dưới trời đêm mờ tối, Tạ Lang quay đầu lại, đôi mắt lấp lánh như sao nhìn Cơ Tự, chàng nói khẽ: “Nàng đừng sợ ta. Cơ Tự, nàng rất tốt, lần này đã giúp ta cứu được vô số sinh linh, ta rất cảm kích.”

Dứt lời chàng quay đầu đi, nhìn bờ sông trong bóng tối một hồi lại từ từ nói: “Đêm đã khuya, bên ngoài rất lạnh, nàng chỉ là một tiểu cô nên chú ý chăm sóc bản thân, trở vào đi.”

Cơ Tự “ừ” một tiếng, nghe lời quay đầu rời đi. Có điều lúc đến cửa khoang thuyền, cuối cùng lại không nhịn được quay lại lẳng lặng nhìn chàng.

Hiển nhiên thuyền của Tạ gia đã được cải tạo, tốc độ rất nhanh, hôm sau Cơ Tự vừa tỉnh giấc, đẩy cửa sổ ra đã thấy thuyền tiến vào Trường Giang rồi.

Tháng Năm mưa nhiều nên mực nước trên sông Trường Giang rất cao, có nhiều thuyền bè qua lại. Nhìn một hồi Cơ Tự mới phát hiện, trên con sông mênh mông này chỉ có ba chiếc thuyền lớn như của Tạ Lang, còn lại nơi xa thì có mười mấy chiếc đang căng buồm chạy về phía Nam.

Lúc Cơ Tự đi đến mũi thuyền đã thấy Tạ Lang bạch y như tuyết, áo mũ chỉnh tề ngồi trên sập, mặt hướng ra con sông, thản nhiên đọc sách. Tạ Thập Bát ăn mặc sang trọng, phong thái cao quý kết hợp với động tác nhàn nhã khiến cho mũi thuyền đơn sơ bỗng trở thành cung vàng điện ngọc.

Cơ Tự hơi thảng thốt, phút chốc lại thầm nghĩ: Dù chàng có tuấn tú quý phái bậc nhất và được nữ nhân cả thiên hạ yêu thích cũng không liên quan gì đến ta. Ta chỉ là một người qua đường mong muốn hưởng thụ cuộc sống bình yên mà thôi.

Cũng kỳ lạ, nàng vừa nghĩ như thế đã cảm thấy áp lực từ ánh hào quang trên người Tạ Lang giảm đi rất nhiều. Cơ Tự lập tức thoải mái đi đến, khẽ cười chào hỏi: “Tạ lang quân dậy sớm quá.” Chớp mắt, nàng lại thở dài, “Sớm mai ấm áp, Trường Giang vạn dặm đã là cảnh đẹp tột cùng rồi. Thế mà ở mũi thuyền lại có thêm một Tạ Thập Bát khiến ta muốn ngắm cảnh cũng không dám cất bước. Là lỗi của lang quân đấy!”

Lời nói của nàng mang ý tị hiềm rõ rệt.

Tạ Lang thong thả buông cuốn sách trong tay xuống, quay đầu nhìn nàng. Chỉ liếc mắt chàng đã thấy buồn cười, cất lời: “Nói như thế thì đúng là ta không phải rồi.” Lại nhìn chằm chằm Cơ Tự chốc lát, chàng mỉm cười, “Ta còn tưởng A Tự yêu thích ta nữa kìa, hóa ra là ghét bỏ.”

Cái tên này, ngay trước mặt tiểu cô người ta mà lại dám nói thẳng thừng là nàng thích mình á! Đúng là đồ mặt dày, đồ vô sỉ!

Cơ Tự đỏ mặt, trừng mắt nhìn Tạ Lang chốc lát rồi hờ hững nói: “Thập Bát Lang không biết rồi, cho dù nữ nhân khắp thiên hạ này đều thích người thì A Tự vẫn nhất định không thích người đâu.” Nàng vừa dứt lời, không chỉ có Tạ Lang kinh ngạc mà mấy hộ vệ đứng đằng xa cũng giật mình.

Nàng không thích chàng ư? Nàng không thích chàng mà lại dấn thân mạo hiểm cầu kiến chàng à? Nàng không thích chàng mà lại nhìn chàng bằng ánh mắt như thế sao?

Lúc này Cơ Tự nhìn vào khuôn mặt ngạc nhiên của Tạ Lang, nghiêm túc nói: “Cuộc đời của A Tự giống như nước sông Trường Giang này, thề rằng phải cuồn cuộn chảy qua muôn dặm non sông, nhưng chưa từng nghĩ đến cuối cùng sẽ đổ vào biển nào. Đối với A Tự, Tạ Thập Bát người giống như ngọn núi Thái Sơn hoa đào bát ngát. Người xem đi, núi Thái Sơn tuy đẹp nhưng một là nó quá cao, hai là khung cảnh quá hùng vĩ, ba là hoa đào nở rộ. Một ngọn núi như vậy làm sao phù hợp với con sông mong ước vô tư tự tại chứ?”

Cơ Tự đã sớm quyết định mình phải thản nhiên, không hề tơ tưởng với chàng từ lâu rồi. Thứ nhất, những việc nàng từng làm đúng là rất dễ khiến người ta hiểu lầm, như vậy không tốt, Kiến Khang có rất nhiều cô nương ái mộ Tạ Thập Bát, nàng không muốn chỉ vì đi chung một đoạn đường với Tạ Lang mà dẫn đến vô số kẻ địch. Thứ hai là nếu nàng đã thỉnh cầu Tạ Thập Bát bảo vệ mình, thì sau này sẽ có rất nhiều thời điểm cần qua lại với nhau, cho nên, nàng phải tỏ rõ lập trường của mình, muốn hai bên chỉ trở thành bạn bè trong sáng mà thôi.

Làm bạn là tốt nhất, làm bạn là tốt nhất, nàng cũng không muốn tạo ra nhiều chuyện mờ ám như kiếp trước để rồi cuối cùng hại người hại mình.

Tạ Lang vẫn nhìn Cơ Tự với vẻ mặt ngỡ ngàng, bởi vì ngạc nhiên mà mặt chàng hơi hất lên. Bất kể là lần trước nàng phong trần mệt mỏi chạy đến huyện Ngô, nói với chàng rằng mình mang theo Thương Hàn Tạp Chứng Luận, hay là tối qua nàng im lặng đi đến bên cạnh chàng, nhìn chàng với đôi mắt lúng liếng. Tất cả hành động cử chỉ của nàng đều tinh tường nói cho chàng biết, nàng đã đem lòng thích chàng rồi.

Nhưng người hôm qua còn ngây dại ngắm nhìn chàng, giờ khắc này lại nói với giọng điệu vô cùng thản nhiên, chân thành và quả quyết với chàng rằng nàng tuyệt đối không thích chàng đâu.

Lúc này, bất kể giọng nói hay thần thái của nàng đều không hề giả bộ, còn tỏ rất rõ trước nay nàng đều thật sự nghĩ như vậy.

Việc này thật đúng là lý thú đây!

Tạ Lang chậm rãi đứng dậy, trong ánh nắng sớm mai, thân hình chàng cao lớn phóng khoáng, chân đi guốc mộc, tay áo bay phất phơ đi về phía nàng. Chàng đến trước mặt Cơ Tự, hơi nghiêng người, đôi môi hoàn mỹ như cánh cung như vô ý lướt qua vành tai nàng, hơi thở nhè nhẹ theo gió thổi vào tai nàng: “Nhưng mà nữ nhân trong thiên hạ nhiều như thế, ta chỉ cần A Tự nàng yêu thích ta thôi...”

Cuối cùng chàng còn thở dài một tiếng nhẹ bẫng như mang theo vẻ mất mát và buồn bã vô vàn thật vậy.
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 35: Hành động của Tạ Lang


Nếu một lang quân có phong thái tuyệt đỉnh như vậy kề tai người nói những lời dịu dàng mờ ám thì người sẽ có cảm giác gì? Riêng Cơ Tự, lúc này mặt nàng đã đỏ như gấc, ánh mắt nhìn phía Tạ Lang trở nên ngơ ngẩn giống hệt tối qua.

Tạ Lang phì cười, đương lúc Cơ Tự cảm thấy không ổn, sắc mặt sa sầm thì chàng đã phất áo bào, tiêu sái rời đi với tốc độ cực nhanh.

Cái tên này mà lại giở trò sắc dụ với nàng ư!

Cơ Tự nhất quyết không thừa nhận mình quan tâm chàng, nàng sầm mặt nhếch môi cười lạnh. Đồ Tạ Lang là mặt dày, đồ Tạ Lang vô sỉ, ngay cả chiêu sắc dụ thấp kém kia mà cũng đem ra sử dụng.

Sau việc này, lúc Cơ Tự đối mặt với Tạ Lang không còn kính sợ như trước nữa. Có lẽ bởi vì nàng cảm thấy chàng cũng chỉ là kẻ phàm tục, hoặc cũng có lẽ lúc chàng nhìn nàng luôn mang biểu cảm cố nhịn cười, thế nên nàng không thể nào tôn kính chàng cho nổi.

Hôm ấy mới vừa xế chiều, Cơ Tự đang lơ mơ ngủ trưa thì nghe thấy tiếng đàn vang lên bên ngoài. Tiếng đàn vô cùng êm ái, như khắc họa cảnh Trường Giang mênh mông và trời xanh vạn dặm, khiến Cơ Tự nghe như si như say.

Thoáng chốc nàng bật dậy khỏi giường, sau đó đi rửa mặt kỹ càng rồi mặc bộ váy áo thật đẹp, chân đi guốc mộc, lộc cộc đến mũi thuyền, thấy Tạ Lang đang ngồi đấy đánh đàn, bạch y phất phơ như tiên nhân hạ phàm.

Giờ khắc này cảnh sông Trường Giang phải nói là cực kì hoa lệ. Vô số thuyền bè rải rác cập các bến, ngọn núi cách đó không xa muôn hoa thi nhau khoe sắc, cây cối xanh tươi chen lẫn với hoa dại muôn màu soi bóng xuống dòng sông, khiến người ta say đắm ngắm nhìn. Huống chi, trên cảnh sông tươi đẹp thế này, còn có một nhạc công tài nghệ cao siêu đang ôm đàn tấu khúc.

Trong lúc Cơ Tự hai mắt tỏa sáng ngắm cảnh thiên nhiên rực rỡ và mỹ nam tao nhã thì một loạt tiếng bước chân vang lên, hộ vệ Tạ Quảng đi đến cạnh lang quân nhà mình, bẩm báo: “Lang quân, Tạ Tài loáng thoáng nghe trong gió truyền đến tiếng khóc bèn cho người đi dò xét, phát hiện ra phía trước khoảng ba dặm có một nhánh sông, nơi đó núi non hiểm trở bao vây ba mặt, là đoạn sông vô cùng thuận lợi cho đám thủy tặc mai phục! Tiếng khóc chính là truyền đến từ nơi đó.”

Tạ Thập Bát vẫn ung dung đánh đàn, không hề ngẩng đầu, hờ hững nói: “Đã vậy thì đến đó xem sao.”

“Vâng!”

Chiếc thuyền bắt đầu giảm tốc độ. Chạy được một lúc thì một loạt tiếng bước chân lại vang lên, hộ vệ Tạ Khánh vội vã chạy tới, khẽ bẩm: “Lang quân, không thể đi tiếp được! Tạ Tài dò thám được, trên sông này phải có ít nhất ba mươi chiếc thuyền. E rằng đội ngũ như vậy nhất định có quân số hơn gấp mấy lần chúng ta, chúng ta không đối phó được đâu ạ!”

Hai tay Tạ Lang đặt trên dây đàn, dần dần ngừng khảy. Chàng đứng lên, liếc mắt đánh giá nơi cuối nhánh sông kia, rồi lại ngẩng đầu nhìn trời một chốc rồi nói: “Không sao, cứ tiếp tục tiến lên!”

“Vâng!” Thuyền lại chạy về phía trước, bắt đầu rẽ vào nhánh sông kia.

Lúc Cơ Tự đang kiễng chân quan sát nhánh sông phía trước thì tiếng cười trầm ấm của Tạ Lang truyền tới: “Cơ tiểu cô có nguyện tô điểm mày ngài, làm bạn cầm tiên tử cho ta không?”

Người này rõ ràng muốn nàng đóng vai một mỹ tỳ hầu hạ bên mình mà bày đặt nói chuyện văn thơ, nào là “tô điểm mày ngài, bạn cầm tiên tử“.

Cơ Tự khẽ hừ mũi, thầm nghĩ: Không biết chàng đã bỏ bốn mỹ tỳ kia ở đâu rồi, lúc này không có tỳ nữ nên mới muốn ta sắm vai đó đây mà.

Tạ Lang đã nói thế, Cơ Tự đành phải vào khoang thuyền chuẩn bị. Chỉ trong giây lát, nàng đã trang điểm thành một mỹ nhân tuyệt sắc, yểu điệu thướt tha đi tới bên cạnh Tạ Lang.

Tạ Lang đâu ngờ nàng chỉ chải chuốt qua loa đã thay đổi kinh người như vậy, không khỏi mi mắt cong cong ẩn chứa nét cười chiêm ngưỡng nàng vài lần.

Thấy chàng bị mình hấp dẫn, Cơ Tự hơi đắc ý, khóe miệng nhoẻn lên, kiêu ngạo ưỡn ngực.

Lúc này, thuyền đã tiến vào nhánh sông có núi non vây quanh, ghềnh thác lên xuống dễ cho bọn thủy tặc mai phục.

Gần như là thuyền lớn vừa tiến vào, mười mấy thuyền khách lớn nhỏ đều giật mình. Bởi vì trên bến nước phía trước, có khoảng gần ba mươi thuyền hàng cỡ trung đang bỏ neo, mà trước những thuyền hàng có một tên thủy tặc tay cầm trường kích, khuôn mặt đằng đằng sát khí! Ba mươi thuyền hàng, mỗi con thuyền đều đông nghịt thủy tặc, nhân số chắc phải hơn một nghìn!

Mà giờ phút này, mười mấy con thuyền khách lớn nhỏ bị những chiếc thuyền hàng này bao quanh, người người trên thuyền đều co rúm lại, có người khóc lóc thảm thiết, có người khản giọng dập đầu xin tha, tỉnh cảnh vô cùng thê lương.

Những thuyền khách này đều có ký hiệu đồng nhất, hiển nhiên là cả một gia tộc di dời, chẳng qua số họ đen đủi, lúc sắp đến sông Trường Giang thì lại lọt vào vòng mai phục của đám thủy tặc.

Ngay lúc này, thuyền của Tạ thị bất ngờ xông đến, thật đúng là làm rối màn hay.

Người trên những chiếc thuyền khách thì mừng rỡ hô lên, toán cướp quay đầu nhìn họ với vẻ mặt hung tợn. Giọng Tạ Quảng hơi lo lắng khẽ truyền đến, “Lang quân, bọn chúng đông người quá, phải gấp mấy lần chúng ta!” Thấy Tạ Lang vẫn bình tĩnh bất động, hắn lại vội vàng thưa: “Hiện tại chỉ còn cách cuối cùng là cho người lặn xuống nước đục thuyền kẻ địch, thế nhưng bây giờ đang vào ban ngày ban mặt, một khi người của chúng ta ở dưới nước bị phát hiện thì kế sách tập kích bất ngờ này sẽ hỏng bét!”

Nói tới đây, Tạ Quảng lại khuyên: “Lang quân, thừa dịp còn cách một khoảng xa, chúng ta chuyển hướng rời đi thôi.” Hiển nhiên những điều Tạ Quảng nói cũng chính là tiếng lòng của đám hộ vệ, ngay sau đó, tất cả ánh mắt trông mong của mọi người đều đổ dồn về phía Tạ Lang.

Nhưng Tạ Lang vẫn vô cùng điềm tĩnh, chàng ngẩng đầu nhìn trời dường như đang phán đoán hướng gió, rồi thong thả nói: “Những bậc hiền triết đã nói, trong cảnh thái bình thịnh thế, quốc gia phồn vinh mà bản thân nghèo hèn chính là một điều hổ thẹn. Còn thân ở thời loạn thế, người người nghèo khó chỉ mình giàu có thì cũng đáng hổ thẹn nốt. Thân ta ở tình cảnh hổ thẹn, gặp phải việc này, dù sao cũng phải làm vài chuyện giúp những người đáng thương kia mới đúng.”

Nói đến đây, giọng chàng nhỏ dần, ngón tay thon dài khẽ dạo dây đàn, sau đó là tiếng đàn du dương vang lên, Tạ Lang ra lệnh bằng chất giọng trong trẻo: “Hạ buồm, từ từ tiến vào vòng vây của bọn thủy tặc.”

Chúng hộ vệ đồng loạt thưa vâng.

Thế là mũi thuyền vốn quay ngang hoàn toàn chuyển hướng, chầm chậm xuôi theo chiều gió hướng về đám thủy tặc kia.

Mà hành động này thật ngoài dự kiến của mọi người. Đám cướp vốn đã bao vây thuyền khách lại một chỗ đều kinh hoảng, bọn chúng đồng loạt quay đầu nhìn gã thủ lĩnh chột mắt đứng đầu thuyền. Còn những vị khách trên thuyền vốn đã bó tay chờ chết đều đồng thời đứng lên, ngẩng đầu trông về phía thuyền Tạ Lang, vừa khẩn trương vừa mong đợi.

Trong ánh nhìn chăm chú của gần hai nghìn người, chiếc thuyền lớn chẳng những không hoảng loạn mà thuyền trưởng còn cho hạ buồm xuống, lúc này đám cướp mới trông thấy vị lang quân thế gia mũ miện đai ngọc, áo bào phiêu diêu ngồi ở đầu thuyền.

Lang quân bạch y thoát tục đang nhàn nhã gảy đàn, ánh nắng ban trưa soi lên gương mặt chàng, phản chiếu lên vẻ sang quý khiến người ta trầm trồ. Đứng cạnh lang quân là một tỳ nữ tuyệt sắc, động tác tao nhã, dịu dàng hâm rượu cho chàng.

Phong thái thong dong của hai người đều sáng chói dưới ánh mặt trời, gần như khiến người người hoa mắt si mê. Trong khoảng thời gian ngắn, toán cướp nhìn nhau trân trối.

Một lát sau, một gã đầu trọc cao to vạm vỡ không nhịn nổi hắng giọng quát: “Con bà nó, tóm lại bọn con cháu thế gia kia muốn làm gì?”

Mấy tên thủy tặc kia nào dám hô to gọi nhỏ, chỉ có gã chột mắt kia vẫn nhìn Tạ Lang và Cơ Tự. Y hỏi một kẻ văn sĩ phía sau: “Phương Bình, ngươi giỏi về cầm kỹ, trong tiếng đàn của gã bạch y kia có gì bất thường không?”

Kẻ văn sĩ kia cũng đang nhìn Tạ Lang và Cơ Tự không chớp mắt, nghe vậy lắc đầu, nói: “Khúc nhạc hắn tấu tên là x**n th** Dao, kẻ này cầm kỹ cao siêu, tiếng đàn không hề loạn nhịp.” Y lại quay đầu nhìn Cơ Tự bên cạnh Tạ Lang, nàng đứng thẳng tắp, đang ân cần hầu rượu cho chàng, “Cả tỳ nữ nhỏ tuổi bên cạnh y cũng rất trầm ổn. Nhưng bọn họ chỉ có một chiếc thuyền, binh sĩ thiện chiến trên thuyền đó không thể nào quá ba trăm... Chẳng lẽ y đang bắt chước mưu lược của Gia Cát Lượng, áp dụng Không Thành Kế với chúng ta?”

Nghe thấy ba chữ Không Thành Kế, gã thủ lĩnh chột mắt cười khẩy, y hô to với đám thuộc hạ: “Nếu thế ta chính là Tư Mã Ý đấy! Mặc kệ hắn có dùng kế hay không, mọi người chuẩn bị, lập tức vây đánh chiếc thuyền kia!”

Y nhìn Cơ Tự duyên dáng yểu điệu với ánh mắt thèm thuồng, cười phô hàm răng vàng, khàn giọng hô hào đám thuộc hạ: “Đúng là một mỹ tỳ tuyệt sắc, các huynh đệ, đêm nay ta sẽ thưởng nàng ta cho các ngươi!”

Gã chột mắt vừa dứt lời, tiếng cười khả ố của đám cướp vang dậy đất trời. Trong tiếng huýt sáo liên tiếp, từng chiếc thuyền hàng chuyển hướng bao vây thuyền lớn của Tạ Lang.

Nhóm thuyền khách vui mừng quá đỗi, thấy đám cướp dời sự chú ý đi nơi khác, mấy người lớn tuổi rỉ tai thầm thì một lúc rồi khẽ ra lệnh cho thuyền chạy đi.

Gã chột mắt đã hạ lệnh như thế, nhưng thuyền của Tạ Lang lại yên tĩnh đến mức quái lạ, tuy đám thủy tặc chuyển lái tiến đánh thuyền chàng nhưng cuối cùng vẫn phải cẩn thận vài phần, giảm tốc độ đi đôi chút.

Đúng lúc này, Tạ Thập Bát đang ngồi đánh đàn trên mũi thuyền với tư thái điềm nhiên, bỗng tiếng đàn trở nên mạnh mẽ vang dội. Theo tiếng đàn tính tang dồn dập, một cơn gió lạnh thổi đến, mọi người đột nhiên phát hiện chẳng biết tự lúc nào, trên đỉnh đầu mây đen đã vần vũ, che kín cả bầu trời. Nói cách khác, trong khoảnh khắc này bầu trời chợt tối sầm!

Cơ Tự chợt hiểu ra, thảo nào Tạ Lang cứ liên tiếp nhìn trời, thảo nào chàng bạo gan lấy hai trăm người đối chiến với một nghìn tên thủy tặc, hóa ra chàng đã sớm biết thời tiết thay đổi, chuẩn bị chu toàn từ lâu rồi. Người này trên thông thiên văn dưới tường địa lý, quả thật là bác học đa tài.

Trong cảnh trời đất tối mù, loáng thoáng có vài tiếng lõm bõm rơi xuống nước rất nhỏ ở đuôi thuyền, Cơ Tự biết nhóm Tạ Tài đã lặn xuống nước.

Nàng không muốn bị đám cướp phát hiện, thế là ngay lúc tiếng đàn của Tạ Lang chuyển nhịp hùng hồn như mưa to gió lớn đang kéo đến, cánh tay ngọc ngà của Cơ Tự đột nhiên cởi ngoại bào lụa đỏ của mình xuống, đi chân trần nhẹ nhàng nhảy múa trên đầu thuyền.

Không ngờ Cơ Tự lại xoay người múa lượn, Tạ Lang ngẩng đầu lên, chỉ vừa thoáng nhìn chàng đã khẽ thảng thốt. Phút chốc trong ánh mắt chàng toát lên vẻ tán thưởng, tiếng đàn cũng trở nên du dương êm ái dìu theo bước nhảy của nàng.

Tiếng đàn của Tạ Lang càng lúc càng nhanh, vút lên tận bầu trời, cùng lúc đó trên tầng mây đột ngột rơi xuống từng hạt mưa lớn, hòa với tiếng đàn tạo nên một khúc nhạc kỳ ảo.

Mà lúc này Cơ Tự cũng múa đến xuất thần, áo lụa trong tay nàng biến hóa thành muôn hình vạn trạng, động tác uyển chuyển nhuần nhuyễn. Xiêm y bị mưa xối ướt đẫm bó sát vào những đường cong duyên dáng, mơ hồ toát lên vẻ tuyệt diễm khiến lòng người rạo rực.

Bất kể là tiếng đàn chuyển biến bất ngờ của Tạ Lang hay điệu múa lả lướt của Cơ Tự đều trở thành bức tranh tuyệt đẹp khiến đám thủy tặc ngây dại, đồng loạt ngẩn ngơ nhìn hai người họ. Không ai nghe thấy tiếng nước ùng ục chảy vào boong tàu không ngừng truyền đến.

Chợt lúc này, một tên thủy tặc kêu lên, “Thủ lĩnh, thủ lĩnh, toi rồi, đám thỏ đế kia dám lén lút chuồn mất rồi!”

Gã chột mắt vội quay đầu lại, ngay sau đó y liền trông thấy mười mấy chiếc thuyền khách kia đã tản đi, lặng lẽ chuyển lái bỏ trốn!

Bà nó, thế mà y lại bị một tên ẻo lã và một con nhóc làm mê mẩn tâm hồn, khiến đám cá đã nằm trên thớt có cơ hội chuồn đi!

Gã chột mắt giận dữ quát lên, “Chặn chúng lại! Mau chặn chúng lại!” Rồi y quay về hướng thuyền lớn, nhìn Tạ Lang tự nhiên tấu đàn trong mưa và Cơ Tự thanh thoát nhảy múa chợt quát lên: “Ranh con, dám sử dụng mỹ nhân kế với ông! Quân bay đâu tiến lên, bắt giữ thuyền của chúng cho ta!”

Lập tức bốn chiếc thuyền thủy tặc vây quanh thuyền lớn, những chiếc còn lại thì đồng loạt đuổi theo đám thuyền khách kia. Nhưng ngay vào lúc này, lẫn trong tiếng đàn của Tạ Lang đột nhiên vang lên tiếng giết chóc liên tiếp!

Một con thuyền thủy tặc truyền đến tiếng hét to: “Con bà nó, sao thuyền của chúng ta bị nước vào được nhỉ?”

Tiếng hét ấy dường như là một tín hiệu, trong nháy mắt ba mươi con thuyền đều đồng thời truyền đến tiếng kêu kinh hoảng, “Thuyền chúng tôi cũng bị rỉ nước rồi.” “Chuyện gì xảy ra thế này?” “Thủ lĩnh, không ổn rồi, có kẻ lặn xuống sông đục thuyền của chúng ta!”

Trong lúc ba mươi thuyền thủy tặc rối như mớ bòng bong thì tiếng đàn bỗng im bặt. Tạ Lang đứng lên, chàng lấy một tấm khăn tay thong thả lau nước mưa trên mặt rồi vung tay lên ra lệnh: “Phóng hỏa!”

Khoảng trăm hộ vệ lao ra vun vút, Cơ Tự chỉ liếc mắt đã nhận ra trong những hộ vệ này còn có cả nhóm bộ khúc Lê Thúc và Tôn Phù của nàng nữa. Ai ai cũng giương căng cung tên, bắn hỏa tiễn vèo vèo c*m v** đám thuyền thủy tặc. Cũng không biết đó là loại dầu lửa gì mà rõ ràng trời đang mưa nhưng không dập tắt được chúng. Lửa từ từ lan rộng rồi bùng cháy khắp thuyền.

Lúc này đám cướp trở nên rối ren. Bất kể là boong thuyền bị rỉ nước hay bị hỏa tiễn công kích đều khiến chúng hoàn toàn rơi vào cảnh hỗn loạn.

Dưới sự giúp đỡ của người hầu, Tạ Lang đã thay áo bào, cao nhã đứng trên mũi thuyền, nói với giọng hờ hững: “Đi thôi!”

Vừa dứt lời, cánh buồm căng lên, thuyền lớn chuyển hướng, chở mấy chục người còn lại nhanh chóng rẽ vào Trường Giang. Chiếc thuyền lớn đi rất nhanh, loáng cái đã bỏ xa toán thuyền thủy tặc kia.

Chạy được hơn một dặm, thuyền lại thả neo. Họ nhìn mặt sông, chờ những bộ khúc lén lặn xuống nước đục thuyền trở lại. Mười mấy chiếc thuyền khách kia cuối cùng cũng tìm được cơ hội trốn thoát, từng chiếc từng chiếc chạy qua thuyền lớn rồi dần biết mất ở phía xa xa sông Trường Giang.

Không ngờ những thuyền khách từng được mình cứu đến khi chạm mặt lại không có một ai đứng ra nói câu cảm ơn, lập tức nhóm Tạ Quảng và Tôn Phù sa sầm mặt. Tạ Quảng nóng tính, tức tối nói: “Lang quân, đáng nhẽ chúng ta không nên cứu đám người đáng khinh kia! Mới vừa rồi chúng ta mạo hiểm cứu họ, thế mà đám người này tráo trở, gặp chúng ta lại không nói được một câu tạ ơn chỉ lo chạy thoát thân! Hừ, thật đúng là không bằng súc sinh!”

Đối mặt với sự phẫn nộ của Tạ Quảng, Tạ Thập Bát chỉ mỉm cười bình thản, chàng khảy dây đàn trong tay, ôn hòa nói: “Có câu nói, quân tử vô tư phóng khoáng, tiểu nhân ngay ngáy ưu tư. Đối với những kẻ tiểu nhân cả ngày lo lắng hoảng sợ này, chúng ta chỉ nên thương hại chứ đừng yêu cầu xa vời gì với họ thì hơn.”

Lúc này nhóm hộ vệ đi đục thuyền địch đã trở về, sau khi Tạ Quảng kiểm tra quân số, quay ra báo cáo với Tạ Thập Bát: “Lang quân, người đã về đủ cả rồi.”
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 36: Về đến Kiến Khang


Tạ Lang khẽ gật đầu, nói: “Được rồi đi thôi.”

Thấy thuyền căng buồm sắp đi, Cơ Tự đảo xung quanh Tạ Lang vài bước, tự nhủ: Hơn nghìn tên thủy tặc cơ đấy, chắc chắn chúng đã huy động hết toàn bộ lực lượng rồi.

Nghĩ đến đây, nàng lặng lẽ nhìn sang Tạ Lang. Thế mà chàng vẫn thong thả chỉnh dây đàn, động tác tao nhã, mặt mày điềm tĩnh, như thể trận giết chóc lấy ít thắng nhiều khi nãy không hề liên quan đến mình vậy.

Thấy thuyền sắp sửa khởi hành, Cơ Tự càng sốt ruột hơn, thế là nàng quay về phía Tạ Lang, thi lễ thật sâu với chàng, khách sáo hỏi: “Thập Bát lang, không biết câu "Thiên dữ phất thủ, phản thụ kỳ cữu" là có ý gì?”

Cơ Tự nhìn Tạ Lang không chớp mắt, chờ chàng trả lời.

Nhưng Tạ Thập Bát vang danh thông tuệ khắp thiên hạ này bây giờ lại trở nên ngốc nghếch vô cùng, không hề hiểu được lời nhắc nhở của nàng. Ngược lại khóe môi chàng nở một nụ cười, thản nhiên nhận lấy chung rượu người hầu đã hâm nóng đưa đến, nhấm nháp một hớp rồi mới trả lời: “À, nghĩa là nói trời ban mà không lấy thì sẽ thiệt thân.”

Ai cần chàng giải thích nghĩa câu ấy cơ chứ? Nàng cũng là người cơ trí, làm sao một câu nói đơn giản vậy mà cũng không hiểu được.

Cơ Tự dẩu môi, nhìn con thuyền đã bắt đầu lao đi, đành nói huỵch toẹt ra luôn: “Lang quân Tạ gia, không biết hang ổ của đám thủy tặc kia có nhiều vàng bạc không nhỉ?”

Nàng nghĩ câu nói này chắc đủ thẳng thắn rồi chứ?

Lúc này Tạ Lang mới bỏ chung rượu xuống, quay đầu nhìn Cơ Tự, mỉm cười: “A Tự thiếu tiền tiêu à? Thiếu bao nhiêu? Đi nói với Tạ Quảng một tiếng đi.”

Cơ Tự nghẹn lời trân trối nhìn Tạ Lang hồi lâu, rồi đưa mắt nhìn áo bào chàng bay bay trước mũi thuyền, nàng hít sâu một hơi, chán nản bỏ đến bên cạnh Lê thúc, lẩm bẩm: “Thúc, hôm nay ta mới phát hiện, hóa ra Tạ Thập Bát này là một tên ngu dốt.”

Nàng lặng lẽ nhìn về phía lang quân nhàn nhã nằm trên sập, ung dung đọc sách, nhỏ giọng nhấn mạnh: “Dốt đặc luôn.”

Lúc này thuyền lớn đã chạy hết tốc lực, Cơ Tự oán giận một hồi, trong lòng vẫn còn bức bối bèn trở vào trong khoang. Lát sau, trên cổ tay nàng xuất hiện một chiếc vòng huyết ngọc bóng loáng. Nàng đeo vòng tay thản nhiên đi đến bên cạnh Tạ Lang, giơ tay lên cho ánh nắng chiếu vào rồi thở dài ngâm nga khen ngợi: “Long lanh sáng chói, như máu như lửa, nhìn xa thì rực rỡ, để gần thì trong veo... Ôi, sớm biết có người ngốc nghếch thế, lúc trước ta nên giữ lại mấy thứ đeo chơi cho rồi.” Dĩ nhiên câu cuối cùng giọng nàng nhỏ đến mức gần như là thì thầm.

Bên này nàng đang khoe của, bên kia chợt vang lên giọng nói êm tai của Tạ Lang: “Tạ Quảng.”

Tạ Quảng nhanh nhảu chạy đến. Tạ Lang không hề ngẩng đầu lên, chậm rãi nói: “Theo luật Đại Tống ta, tội đột nhập trộm cắp sẽ xử ra sao?”

Tạ Quảng hơi giật mình. Hắn ngạc nhiên một hồi, quay đầu thấy vòng tay của Cơ Tự, kinh ngạc nói: “Ơ? Đây không phải là bảo vật La Đại Đầu cướp được sao? Thảo nào lần trước chúng ta lục soát cả phủ của chúng mà mãi không thấy chiếc vòng tay này. Hóa ra đã ở trong tay Cơ tiểu cô. Cơ tiểu cô, La Đại Đầu mất nhiều vật báu như thế là do các người lấy à?”

Cơ Tự đỏ mặt, nàng nhanh chóng cúi đầu, lặng lẽ liếc nhìn Tạ Thập Bát, lí nhí nói: “Lang quân nhà ngươi không phải là quân tử chính trực, coi tiền như rác sao?”

Bên này, Tạ Quảng vẫn chưa hiểu việc nàng trộm vòng tay và lang quân nhà hắn coi tiền như rác có liên quan gì, thì bên kia Tạ Thập Bát đã không tài nào kiềm chế mà nhoẻn cong khóe môi. Chàng phất áo bào quay người rời đi, giọng nói nén cười truyền đến: “Tạ Quảng, Cơ tiểu cô có nghi ngờ về chuyện của đám thủy tặc kia, ngươi giải thích một chút cho nàng ấy nghe đi.”

Tạ Quảng vội thưa vâng, hắn quay lại nói với Cơ Tự: “Không biết vừa rồi Cơ tiểu cô có chú ý ba mươi chiếc thuyền của đám thủy tặc kia không? Thuyền của chúng đều là cỡ trung, sức chứa lên đến hơn trăm người, nhưng trên mỗi thuyền chỉ có ba mươi tên thôi. Hơn nữa, mũi thuyền đều được cải tạo thuận tiện cho việc nhanh chóng chuyển hướng. Tình huống như thế chứng tỏ vài điều, một là đám thủy tặc này không phải toán cướp chuyên nghiệp, hai là quần áo của chúng được trang bị thuận tiện hành động. Thủy tặc có hai đặc điểm này bình thường đều rất khó tìm ra hành tung, mà thỏ khôn có những ba hang, thế lực phía sau chúng chắc chắn cực kỳ to lớn...”

Nói đến đây Cơ Tự đã hiểu ra tất cả. Hóa ra không phải Tạ Thập Bát không muốn lấy những tài vật kia, mà căn bản là không lấy được. Nhóm của họ vội vã trở về Kiến Khang, lại gặp phải loại thủy tặc khôn ranh và còn có thế lực hùng hậu chống lưng nên không thể nào đánh một trận cân tài cân sức được.

Trong lúc Cơ Tự nghĩ được tỏ tường, còn đang thầm trách Tạ Lang bày đặt ra vẻ thần bí thì cách đó không xa, Tạ Thập Bát thanh tao thoát tục như thần tiên kia lại buông lời nhẹ nhàng theo gió bay đến: “Tạ Quảng, ngươi còn chưa nói cho Cơ tiểu cô biết tội đột nhập trộm cắp sẽ bị xử...”

Chàng chưa kịp nói hết, Cơ Tự đã “a” lên một tiếng rõ to rồi vội vàng ôm đầu nói: “Ôi ta đau đầu quá, mới vừa rồi múa trong mưa nên bị cảm lạnh rồi, đã thế còn thấy nhiều thi thể máu me quá, thật là đáng sợ...” Nói xong, tiểu cô nương vừa bị lạnh vừa bị kinh sợ chạy lủi vào khoang thuyền như một chú thỏ, sau đó đóng chặt cửa phòng, có chết cũng không ra.

Tạ Lang kiềm nén nãy giờ bỗng bật cười sang sảng.

Đám Tạ Quảng cũng phì cười, Tạ Tài quay đầu lại nhìn vào khoang thuyền, khen ngợi: “Mới vừa rồi nếu không phải Cơ tiểu cô nhanh trí, bỗng xoay người nhảy múa thì việc này sẽ không thuận lợi như thế.”

Tạ Quảng cũng gật đầu tán thành: “Phải đấy, nàng ấy mới chỉ mười ba mười bốn tuổi thôi, tiểu cô thông tuệ như vậy ở Kiến Khang cũng rất hiếm có.”

Tạ Lang tiện tay đặt sách sang một bên, bưng chung rượu nhấp một hớp, chàng nhoẻn môi cười: “Không bàn đến mấy việc khác, riêng điệu múa của nàng có thể nói là lả lướt uyển chuyển, cực kỳ bất phàm.” Rồi chàng rủ mi khẽ nói, “Chỉ mong đoạn đường tiếp theo sẽ không có sóng gió gì nữa.”

Hành trình tiếp theo quả nhiên là thuận buồm xuôi gió như Tạ Lang đã nói. Cứ thế nửa tháng sau, thành Kiến Khang đã xuất hiện trong tầm mắt.

Sau khi tiến vào cảnh nội Kiến Khang, thuyền họ lập tức treo cờ xí của Trần Quận Tạ thị, trên đường đi qua, tất cả thuyền bè đều vội vã dạt sang một bên. Đến khi bến tàu xuất hiện, Cơ Tự mới phát hiện những chiếc xe ngựa đông nghịt ngoài kia đều đến đây với mục đích đón Tạ Thập Bát.

Trong khoảnh khắc thuyền cập bến, bỗng bến tàu vang dậy tiếng hoan hô reo hò của hơn nghìn người. Mà trong những tiếng reo vang này, hơn phân nửa là của đám thiếu nữ.

Tạ Lang vừa xuống thuyền đã bị đám đông ào đến vây quanh chật kín. Thấy những cô nương vui mừng kêu thét danh hiệu “Tạ Thập Bát”, nhìn đám danh sĩ phong lưu, quyền quý đứng đầu cũng nhẹ nhàng ùa đến, Cơ Tự chợt phát hiện, hóa ra việc cười hòa nhã với mọi người, chỉ là chàng hạ thấp địa vị của mình ra vẻ khiêm tốn mà thôi.

Sau khi nhóm người Tạ thị đi xuống hết, đoàn người Cơ Tự mới bắt đầu xuống thuyền. So sánh với cảnh náo nhiệt bên kia, bên này mười mấy người Cơ Tự vô cùng lặng lẽ.

Đang lúc nhóm Cơ Tự cho xe ngựa xe lừa ra khỏi khoang thuyền và khiêng đồ đạc lên xe thì Tạ Quảng đột nhiên gạt đám người, đi nhanh đến trước mặt nàng, lấy một miếng ngọc bội trong ngực ra, nói: “Cơ tiểu cô, đây là vật lang quân nhà ta đưa cho cô. Người nói, đây là tín vật của người, dựa vào nó, cô có thể đến Tạ phủ cầu kiến người bất cứ lúc nào. Lang quân nhà ta còn nói, chỉ sợ mọi người mới đến Kiến Khang còn chưa quen với cuộc sống nơi đây. Cơ tiểu cô có cần ta an bài chỗ ở giúp cô không?”

Không ngờ Tạ Thập Bát thật sự để tâm đến việc của nàng, Cơ Tự hết sức cảm kích. Có điều nàng vô cùng rõ ràng, nhờ cậy nhiều thì người ta cũng bớt nhiệt tình, nàng chỉ cần mượn lực của Tạ Thập Bát trong lúc mấu chốt thôi, chuyện tìm nhà vặt vãnh này đừng kinh động đến chàng thì hơn.

Nghe lời từ chối khéo của Cơ Tự, Tạ Quảng tiếc nuối quay người rời đi. Đúng lúc này, cách đó không xa, mấy giọng nói của thiếu nữ ríu rít vang lên.

“Nàng ta là ai? Nữ nhi Dữ gia hay là nữ nhi Vương gia?”

“Nói gì thế? Cô không thấy tỳ nữ phía sau nàng ta à? Tỳ nữ th* t*c như vậy thì chủ nhân làm sao mà là nữ nhi sĩ tộc được chứ?”

“Không đúng, khi nãy ta hỏi thăm, mấy người bên cạnh Tạ Thập Bát vừa nhắc đến tiểu cô quê mùa này đều rất khách khí đấy.”

Thế là trong lúc Cơ Tự bận rộn chỉ đạo hạ nhân chất đồ lên xe thì một giọng nói yêu kiều vang lên phía sau nàng: “Khuyết điểm của Thập Bát ca ca chính là ở chỗ này. Huynh ấy luôn đối xử ôn hòa khách sáo với mấy nữ tử hàn môn, quê mùa. Ôi, Thập Bát ca ca khách sáo là do khí chất danh môn, phong thái thế gia, sợ là có một số người vì vậy mà tưởng mình cao giá rồi.”

Câu nói này vừa thốt ra, mười mấy tiếng cười khúc khích liền hùa theo, Cơ Tự giật mình, từ từ quay đầu lại. Nàng nhìn thấy bốn nữ tử sĩ tộc.

Đây là lần đầu tiên Cơ Tư gặp được nữ tử sĩ tộc của Kiến Khang. Thật không hổ con cháu dưới chân thiên tử, khoan hẵng bàn đến dung nhan của bốn cô nương này, chỉ nói đến khí chất cao sang quyền quý toát ra từ người họ là thứ mà sĩ tộc Kinh Châu không bao giờ có được. Đương nhiên khí chất vốn có này không phải vì ý chí mà là vì kiêu ngạo. Trong thời đại môn hộ quyết định tất cả, phân biệt giai cấp rõ rệt thế này, thì những nữ tử sĩ tộc gần như vừa sinh ra đã có một đám người hầu hạ, vô số nhà nghèo khó vừa thấy họ đã quỳ mọp bên đường, nhìn họ bằng đôi mắt đầy ngưỡng mộ rồi.

Lúc Cơ Tự đối mặt với Tạ Thập Bát không hề cảm nhận được kiểu hợm hĩnh ăn sâu vào trong máu như thế từ chàng. Nhưng giờ phút này đối mặt với bọn họ, nàng mới biết được cái cảm giác khinh thường chẳng buồn ngó đến là gì rồi.

Đúng vậy, Tạ Thập Bát là danh sĩ mang chí hướng cao cả, cơ trí khoáng đạt, lòng chàng tựa núi sông nên có thể dung nhận tất cả mọi người. Còn mấy nữ tử sĩ tộc này chẳng qua là chim tước trong mây, họ không nhận thấy được bản thân mỏng manh, căn cơ yếu ớt, điều vững tin duy nhất của họ chính là bản thân đang đứng ở tít tầng mây. Đương nhiên trong mắt họ, Cơ Tự chỉ là thứ đồ chơi chìm trong vũng bùn mà thôi.

Thấy Cơ Tự quay đầu lại, một tiểu cô mặt mũi thanh tú chừng mười lăm, mười sáu tuổi, để tỳ nữ dìu mình, duyên dáng đi vài vòng quanh nàng, rồi đôi môi anh đào khẽ cười nói: “Dung mạo tuy rạng rỡ nhưng tay có vết chai, quả nhiên là hạng ti tiện.”

Sau đó nàng ta quay đầu nhìn Nguyệt Hồng và Lê thúc: “Cử chỉ th* t*c, đi đứng không có quy củ, xiêm y cũ rách, quả nhiên là thấp kém.”

Rồi nhìn về phía xe lừa xe ngựa của Cơ Tự, lại cười khinh: “Càng xe lem luốc, rèm xe bẩn thỉu, không huy hiệu gia tộc, quả nhiên là hạ đẳng.”

Sau khi sỉ nhục Cơ Tự ba lần, nàng ta quay lại cười duyên với nhóm bạn của mình: “Ba vị tỷ tỷ, ba tỷ đừng qua đây, cái thứ đê hèn dung tục này sẽ làm bẩn mắt mất.” Tiếp theo lại quay về phía Cơ Tự, chậm rãi nói, “Tiểu cô này, nếu bình thường ngươi xuất hiện trước mặt ta với cái dáng vẻ bẩn thỉu làm dơ mắt ta thế này, ta đã sai người g**t ch*t ngươi rồi. Niệm tình ngươi đi cùng với Thập Bát lang, hôm nay ta tạm tha cho ngươi một lần. Nhớ kỹ, ta họ Dữ, tên là Dữ Thi Nhi, tiểu cô Dữ gia không so đo với ngươi, ngươi phải nhớ kỹ ân đức này đấy.”

Nói xong, nàng ta không buồn nhìn Cơ Tự nữa, ngúng nguẩy cất bước rời đi.

Lúc này, bất kể là Lê thúc hay là Tôn Phù đều đỏ bừng cả mặt. Nhưng họ chỉ biết phẫn nộ trong lòng mà thôi, bởi vì đây là Kiến Khang, và ả kia là nữ nhi của nhà quyền quý nên họ không thể phạm thượng.

Khi Dữ Thi Nhi vừa quay người, một tỳ phụ mang theo mấy tỳ nữ vội vàng chạy đến, thấy thế mặt nàng ta sa sầm, quát khẽ: “Đi đứng phải từ tốn, các ngươi vội vàng hấp tấp như thế còn ra thể thống gì nữa?”

Nhưng tỳ phụ kia đầu mướt mát mồ hôi, cũng bất chấp bị Dữ Thi Nhi quát mắng, vừa tiến lên đã vội hỏi: “Ngũ tiểu cô, có phải sáng nay người đã động vào món đồ Tam tiểu cô đặt trong rương gỗ khắc hoa ở trên bàn không?”

Dữ Thi Nhi giật mình, nàng ta nhíu mày: “Trong đó đâu có thứ gì.”

Câu nói ấy rõ ràng đã thừa nhận nàng ta có động vào rương gỗ rồi. Tỳ phụ kia lập tức bủn rủn, ngã quỵ xuống đất. Trong tiếng kêu “thôi rồi, thôi rồi” không ngớt của tỳ phụ kia, một cô nương mặt tròn thanh nhã bưng một chiếc hộp trong tay, dẫn theo năm sáu tỳ phụ bước đến, rồi đặt hộp gỗ xuống đất, quát lên: “Dữ Thi Nhi, cô dám động vào đồ trong hộp này ư?”

Dữ Thi Nhi còn đang không hiểu ra sao, ngơ ngác nhìn mấy người này, cô nương kia đã sầm mặt, mở chiếc hộp gỗ ra trước mắt mọi người, sau đó lấy một bức bình phong thêu hoa từ trong hộp mở ra cho mọi người cùng xem.

Có người hoảng hốt hô lên: “Hồi Văn Tú?”

“Đúng vậy.” Cô nương mặt tròn từ từ nói, “Đây là Hồi Văn Tú đã thất truyền trăm năm, bức bình phong này là cái cuối cùng còn tồn tại trên thế gian này. Phu nhân chúng ta đã sai người tìm mất năm năm, tốn biết bao công sức mới lấy được, chuẩn bị làm quà chúc thọ cho Thái hậu vào tháng sau.” Nói đên đây, nàng ta nhẹ phẩy bức bình phong, cho mọi người thấy được nó đã bị cắt thành hai nửa.

Trong lúc mọi người xuýt xoa tiếc nuối, cô nương kia quay mặt nhìn Dữ Thi Nhi, lạnh lùng nói: “Ngũ tiểu cô, xưa nay bất kể cô làm gì, phu nhân cũng không so đo với cô bao giờ, nhưng việc lần này quả thật đã gây ra họa lớn rồi. Phu nhân đã bẩm với Thái hậu về bức bình phong này, Thái hậu cũng rất mong đợi. Thế mà giờ đây cô lại phá hủy nó chỉ vì ân oán cá nhân...”

Nàng ta chưa nói hết, Dữ Thi Nhi đã ngã xuống đất, tái mặt run run nói: “Không, không, không phải ta, ta không làm, ta không làm.”

Nhưng lúc này nàng ta nói gì cũng vô ích. Thấy Dữ Thi Nhi bị mấy vú già lôi đi, một tiêu cô vừa rồi còn hùa với nàng ta khinh thường Cơ Tự khẽ nói: “Lần này Thi Nhi gây ra họa lớn rồi.”

“Sợ rằng nàng ấy không thể trở mình được nữa đâu.”

“Chủ yếu là bình phong này Thái hậu đã biết đến, muốn cứu Dữ Thi Nhi trừ phi tìm ra người tinh thông cách thêu Hồi Văn Tú, thêu lại một bức giống hệt như vậy dâng lên Thái hậu thôi. Nếu không Dữ Thi Nhi sẽ nguy hiểm...”

Trong tiếng bàn luận xôn xao, Cơ Tự lẳng lặng đứng đó, ánh mắt nàng nhìn chăm chăm vào bức bình phong đã bị cắt kia. Không ai biết, giờ khắc này, lòng nàng đang cuộn trào sóng cả: Hình như mình biết cách thêu này, mà còn vô cùng tinh thông nữa.
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 37: Tài vật tổ truyền


Đúng rồi, hai mươi năm sau, tình hình chính trị coi như ổn định, các kiểu thêu thùa đều phát triển trên diện rộng. Mười lăm năm sau Thiên tử hạ lệnh, thành lập Cục Thêu thùa, ban thưởng lớn để tìm kiếm những người có tay nghề cao siêu khắp thiên hạ. Lúc này chủ nhân của Hồi Văn Tú là một người đàn bà thị lực đã kém hơn bốn mươi tuổi, đứa con trai độc nhất thì bị bệnh chết đột ngột, bà ta chỉ còn đứa cháu trai chưa đến mười tuổi, vì không nuôi nổi cháu trai nên bà ta đành chấp nhận là người đầu tiên dâng tuyệt kĩ tổ truyền cho Cục Thêu thùa để đổi lấy khoản tiền thưởng lớn.

Nhớ lúc ấy, gần như là nữ tử khắp thiên hạ đều học Hồi Văn tú, năm năm sau, tiếp nối bà ta lại có hai kiểu thêu thất truyền là Hoàn Nguyệt Tú và Sơn Hà Tú được dâng lên. Trong khoảng thời gian ngắn, hầu như nhóm tiểu cô ở Kiến Khang, Dương Châu hay Kinh Châu đều thuần thục ba cách thêu này, từ phố lớn ngõ nhỏ đều là ưa chuộng kiểu màu mè như vậy.

Lúc ấy, tuy Cơ Tự đã mất từ lâu nhưng hồn phách nàng vẫn bám vào miếng ngọc bội trên ngực Cơ Đạo. Sau khi nàng mất, trước tiên Cơ Đạo nhận tổ quy tông, dùi mài kinh sử mấy năm liền, sau lại đi khắp các miền non nước, kết giao với không ít kì nhân dị sĩ, mà những người đó đều thân thiết với Cơ Đạo như hình với bóng. Về phần thêu thùa, hình như nàng học từ nữ nhi của Cơ Đạo. Đúng rồi, cô bé kia vô cùng hiếu học, thường xuyên ở lì trong phòng luyện thêu hết lần này đến lần khác, nhưng cô bé không có thiên phú, khiến Cơ Tự đứng bên nhìn cũng bực đến độ giậm chân.

Chẳng qua, Cơ Tự không thể cứ vậy đứng ra giúp đỡ Dữ Thi Nhi được.

Thấy nàng ta mới vừa rồi còn diễu võ giương oai, không ai bì nổi trước mặt nàng bây giờ đã bị vú già bịt miệng, kéo lên xe ngựa giống như chết rồi, Cơ Tự cười thầm: Một con chim tước đứng trên mây, chỉ một cơn gió thổi qua đã rơi ngã.

Nàng khinh thường nhìn thoáng qua Dữ Thi Nhi, rồi nhìn về phía ba nữ tử kia, nhớ kỹ kí hiệu gia tộc cũng như tên họ của họ rồi bước lên xe.

Lúc này, đoàn xe Tạ thị bắt đầu lên đường. Mà theo hành động của họ, cả bến tàu đều nhộn nhịp đi theo.

Chờ tất cả mọi người đi hết, nhóm Cơ Tự mới bắt đầu khởi hành. Nàng bảo Tôn Phù đang ở phía ngoài đến dặn: “Trước hết tạm thời thuê một chỗ ở tạm, rồi đi hỏi thăm xem ở Kiến Khang có ngọn núi mang tên đỉnh Hạc Ỷ không.”

Thành Kiến Khang đúng thật là nơi son phấn thơm ngát, phồn hoa tựa gấm. Cơ Tự đi tới nơi đâu cũng đều bắt gặp các đại sĩ tộc sống trong nhung lụa từ bé, bất kể là nam hay nữ đều có người theo hầu như mây, khí thế bức người, khiến đám Lê thúc gần như cúi gập người tránh ven đường, đợi người ta khuất bóng rồi mới dám cử động.

Bởi vì tính e dè theo bản năng nên lúc chúng nô bộc nhờ người mối lái thuê nhà, đã cố chọn Tây thành cách xa trung tâm Kiến Khang.

Sau khi nói chuyện người mối lái xong, Lê thúc vội vàng chạy tới bên cạnh xe ngựa Cơ Tự, còn chưa nhìn thấy người y đã hổn hển kêu lên: “Nữ lang, sao nhà cửa ở Kiến Khang lại đắt thế chứ? Chẳng qua chỉ là một sân viện có hai gian, lại còn ở vùng ngoại thành, đã thế không có cả một cái tường rào mà thuê nửa năm phải mất những ba trăm lượng vàng! Trời ạ ba trăm lượng cơ đấy, nếu ở huyện Kinh, đủ để mua được cả trang viên rồi! Còn nữa, giá nhà mua nơi này cao khiếp vía, cửa tiệm môi giới dẫn tôi xem một tiểu viện, vừa hỏi người ta đã bảo phải năm nghìn lượng vàng nhất giá không bớt!”

Bắt đầu từ thời Đông Tấn, Kiến Khang bị các đại tiểu gia tộc chia vùng. Hiện tại, hoàng triều Lưu Tống càng vững chắc thì càng ngày càng có nhiều người dời đến Kiến Khang, nên đất nơi đây đã bị phân chia không thừa một mảnh. Trong tình huống như thế, giá nhà Kiến Khang đắt đỏ là chuyện tất nhiên.

Lúc này, Cơ Tự nói: “Tạm thời đừng thuê nhà vội, tìm một tửu lâu ở trước đã.”

Ngày hôm sau, Tôn Phù đã hỏi thăm được vị trí của ngọn núi Hạc Ỷ kia. Đó là một ngọn núi nhỏ không nổi tiếng cho lắm, mà nó còn không ở trong nội thành, cách Kiến Khang một trăm dặm. Tìm được nơi cần đến, sáng sớm ngày thứ ba Cơ Tự liền xuất phát.

Lúc ấy mặt trời vừa ló dạng, nhóm Cơ Tự đi trên ngã tư đường, nơi nơi đều nghe được tiếng khèn, và cả bóng dáng của những lang quân thanh thoát tựa thần tiên chậm rãi đi ra từ mấy thanh lâu. Mà những người này mỗi khi gặp đoàn Cơ Tự cũng sẽ thỉnh thoảng sẽ liếc mắt nhìn xe ngựa của nàng.

Tôn Phù ghé gần xe ngựa, khẽ hỏi: “Nữ lang, họ nhìn chúng ta với ánh mắt thế là sao ạ?” Lát sau y lại nói: “Tôi thấy hơi bất an.”

Trong xe ngựa, rèm xe mở rộng, Cơ Tự rời mắt đi, nàng hờ hững nói: “Tại ta sơ xuất, chờ đến lúc từ núi Hạc Ỷ về sẽ lập tức xử lý tám con ngựa này.”

Hóa ra là ngựa ở Kiến Khang rất đắt, rất nhiều đại sĩ tộc khi xuất hành đều ngồi xe bò xe lừa. Trong tình huống như thế, một người quê mùa như Cơ Tự ngay cả kí hiệu gia tộc cũng không có mà lại dám cưỡi tám con ngựa đi nghênh ngang trên phố. Trong mắt rất nhiều quý tộc, quả thực nàng giống như nhà giàu mới nổi khiêu khích bọn họ, cũng vì vậy mà ánh mắt họ mang theo vài phần bất thiện.

Nghe câu trả lời của Cơ Tự, Tôn Phù im lặng một chốc, cuối cùng khẽ nói: “Nữ lang, họ chính là sĩ tộc cao quý à?” Xưa nay y quen sống ở huyện Kinh không có sĩ tộc nào, nhất thời chưa thể chấp nhận việc nhà mình bị đẩy xuống tầng chót của xã hội.

Đúng lúc này, Tôn Phù nghe thấy nữ lang nhà mình cất giọng trong trẻo nhưng lạnh lùng: “Thúc sai rồi. Cơ gia cũng là sĩ tộc cao quý!”

Nàng vừa dứt lời, nhóm Tôn Phù nhìn nhau trân trối, hồi lâu không thốt lên lời.

Sau đó Cơ Tự vẫn cứ im lặng. Đoạn đường này đi rất nhanh, đến buổi chiều, cuối cùng nhóm Cơ Tự cũng tới núi Hạc Ỷ.

Ngắm ngọn núi không hề nguy nga hiểm trở, nhưng có vài phần tươi đẹp trước mắt, Lê thúc mừng rỡ gọi: “Nữ lang, trên kia có một ngôi chùa đấy.”

Cơ Tự khẽ mỉm cười, nàng nhớ tới bản đồ bảo tàng có một góc vẽ một ngôi chùa, rồi chầm chậm nói: “Thiên hạ danh sơn tăng chiếm đa(1), núi Hạc Ỷ có chùa chiền thì chứng tỏ cảnh sắc nơi này rất đẹp.”

(1)Trích từ câu thành ngữ: Thế gian hảo ngữ thư thuyết tận, thiên hạ danh sơn tăng chiếm đa. Dịch nghĩa: Lời hay sách chép từng pho, danh sơn thiên hạ thầy tu chiếm nhiều.

Giọng Dữ Trầm vang lên phía ngoài, “Suốt dọc đường nữ lang và tiểu lang luôn thì thầm to nhỏ, rốt cuộc muốn tìm gì ở núi Hạc Ỷ này?”

Tất nhiên Cơ Tự không đáp, mà trong xe ngựa, Cơ Đạo vẫn vùi đầu đọc sách cũng không trả lời. Cơ Tự không biết cụ thể bảo tàng nhà mình ở đâu, nàng vén rèm xe, lại bàn bạc với Cơ Đạo một hồi rồi quyết định trực tiếp đến vị trí ngôi chùa có trong bức bản đồ kia.

Quản nhiên núi Hạc Ỷ phong cảnh thanh khiết, dọc đường leo lên núi chỉ nhìn thấy khe suối róc rách, trên đường núi cây cối chọc trời, trong sơn cốc sương trắng vờn quanh.

Đến lúc mặt trời xuống núi, nhóm Cơ Tự mới tới một ngôi chùa. Ngôi chùa trước mắt này được xây theo dáng một ngọn tháp, trên cửa đề ba chữ to “Bạch Vân Tự” trông có vẻ khá cũ, không biết đã được xây một trăm năm hay hai trăm năm trước nữa. Không gian trong chùa cũng không lớn, khách hành hương thưa thớt.

Cơ Tự nắm tay Cơ Đạo, đi thẳng tới chính điện. Sau khi cùng chúng bộc dân hương, Cơ Tự quay sang chú tiểu bên cạnh, nói khách khí: “Ta họ Cơ là khách viễn phương đến từ huyện Kinh, không biết có thể cầu kiến phương trượng của quý tự không?”

Chú tiểu chắp hai tay lại, “Nữ thí chủ chờ một lát.”

Dõi theo bóng chú tiểu rời đi, Cơ Đạo ở bên cạnh nhỏ giọng nói: “Tỷ tỷ, vừa rồi đệ có để ý, dưới chân núi có khoảng nghìn mẫu ruột phì nhiêu, đều là tư sản của ngôi chùa này.”

Cơ Tự đáp “ừ” một tiếng.

Chỉ chốc lát sau, chú tiểu đi đến, chắp tay trước ngực nói với Cơ Tự: “Nữ thí chủ, phương trượng cho mời người.”

Chú tiểu vừa thốt lời, Cơ Tự và Cơ Đạo đã nhìn nhau cười, trong lòng đều thả lỏng.

Để lại chúng bộc ở bên ngoài, Cơ Tự và Cơ Đạo cùng đến gặp phương trượng Bạch Vân tự. Vị phương trượng này khoảng năm mươi tuổi, mặt mày phúc hậu, chòm râu dài điểm hoa râm.

Thấy tỷ đệ Cơ Tự, phương trượng chắp hai tay, nói: “A di đà Phật, hai vị tiểu thí chủ nói mình họ Cơ phải không?”

“Đúng vậy.” Cơ Tự thoăn thoắt lấy tấm bản đồ bảo tàng trong ngực ra: “Đại sư, tiểu nữ tìm thấy bức vẽ tổ truyền này nên cố ý tìm tới đây.”

Phương trượng nhìn qua bức vẽ, lại chắp hai tay trước ngực, “Gọi Tịnh Không tới đây.”

Chú tiểu đáp: “Vâng.”

Chỉ chốc lát, một hòa thượng trung niên có tướng mạo gầy gò, có phần chính trực đi tới. Ông hành lễ với phương trượng rồi cất lời, “Phương trượng tìm con ạ?”

Phương trượng nhìn về phía tỷ đệ Cơ Tự: “Hai vị thí chủ này tìm ngươi, họ họ Cơ.”

“Họ Cơ ư?” Tịnh Không lập tức nheo mắt lại.

Cơ Tự đáp: “Vâng, chúng tôi là hậu duệ của Hoàng đế.” Nàng đưa tấm bản đồ bảo tàng đến trước mặt Tịnh Không.

Ông chỉ nhìn thoáng qua, liền quay sang hỏi Cơ Đạo: “Vị tiểu thí chủ này cũng họ Cơ à?”

Cơ Tự hơi sửng sốt, nàng còn chưa kịp nói thì Cơ Tự đứng bên đã đáp: “Không, chỉ có tỷ tỷ con mới đích thực là con cháu Cơ thị, con chỉ là con nuôi thôi.”

Khuôn mặt Tịnh Không thoáng qua vẻ thất vọng. Ông bình tĩnh đánh giá Cơ Tự, một lát sau ông chắp tay lại hỏi, “Nữ thí chủ có vật chứng nào không?”

Cơ Tự nói: “Còn có một hộp gỗ và lời tổ phụ tôi để lại năm xưa.” Dứt lời, nàng đưa hộp gỗ cất giấu tấm bản đồ bảo tàng trước mặt Tịnh Không, sau đó mở quyển Sơn Hải Kinh ra, lật đến trang có dòng chữ mà tổ phụ nàng lưu lại.

Tịnh Không nhận lấy hộp gỗ xem xét: “Đúng rồi, chắc chắn là con cháu Cơ thị.” Thoáng cái, giọng điệu ông mang theo vài phần thương cảm, “Khi xưa hoàng đế tám trăm năm vương tôn nối dài, hôm nay chỉ còn lại một nữ tử thôi sao?”

Một lát sau, Tịnh Không xốc lại tinh thần sau nỗi bi thương, ông nói với Cơ Tự: “Người đã có tấm bản đồ bảo tàng này và cả hộp gỗ làm chứng, tuân theo lời giao ước lúc trước, lão nạp tất nhiên sẽ giao tài vật của Cơ thị cho người.”

Nghe thấy hai chữ tài vật, không chỉ phương trượng mà thậm chí cả Tiểu Cơ Đạo cũng lui ra ngoài. Chẳng mấy chốc, trong thiện phòng chỉ còn lại hai người Cơ Tự và Tịnh Không.

Tịnh Không nói tiếp: “Năm đó tổ tiên Cơ thị và phương trượng tiền nhiệm của Bạch Vân tự giao hẹn chuyện này vào thời điểm loạn lạc, không ai biết ngày mai ra sao. Ngay cả bây giờ lão nạp cũng không thể hoàn toàn xác định nữ thí chủ chắc chắn là huyết mạch của Cơ thị hay không. Nhưng người đã đưa ra bản đồ bảo tàng cùng với chiếc hộp kia, tuân theo lời giao ước năm đó, ta sẽ giao tài sản Cơ thị cho người.”

Sau khi dẫn Cơ Tự đi tới thiện phòng của mình, ông mới nói tiếp: “Năm xưa lệnh tổ để lại tài sản cho Bạch Vân tự chúng tôi giữ gìn, tổng cộng có một trang viên gồm mấy chục người hầu và ba nghìn mẫu ruộng tốt.”
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 38: Năng lực của cơ tự


Có những ba nghìn mẫu ruộng tốt ư? Trời ạ, nhà nàng có đến ba nghìn mẫu ruộng tốt ở cái nơi Kiến Khang tấc đất tấc vàng này cơ đấy! Hai mắt Cơ Tự sáng rỡ, hưng phấn đến mức người lâng lâng bay bổng.

Tịnh Không lại nói: “Có điều hoàng triều Lưu Tống mới thành lập, ba nghìn mẫu ruộng tốt của quý phủ và cả năm nghìn mẫu ruộng tốt ở Bạch Vân Tự của chúng tôi đều bị họ tịch thu rồi. Cũng nhờ phương trượng Bạch Mã Tự ra tay, bệ hạ mới chịu trả lại cho chùa chúng tôi một nghìn mẫu ruộng, về phần của quý phủ, xin thứ cho lão nạp vô năng.”

Cơ Tự thất vọng một hồi, nhưng thoáng chốc nàng cũng đã nghĩ thông, liền khách sáo trả lời: “Việc này không phải lỗi của đại sư, hoàng triều thay đổi phải đo đạc đất đai lần nữa là chuyện tất nhiên, không ai có thể ngăn cản được.”

Không ngờ Cơ Tự hiểu chuyện như thế, thiền sư Tịnh Không nở nụ cười, chắp tay cảm ơn nàng đã thông cảm: “Hiện tại trang viên kia cũng nhờ có người hầu đắc lực của quý phủ cộng thêm vị trí ở nơi bình thường nên vẫn còn may mắn giữ được đến nay. Trong trang viên có hơn ba mươi mẫu ruộng, cũng coi như giải quyết được vấn đề cư trú ở Kiến Khang của nữ thí chủ.”

Nói đến đây, ông lấy một chiếc hộp gỗ mục trên đầu giường, rút ra một tấm khế ước đã ngả vàng nhưng vẫn còn nguyên vẹn đưa cho Cơ Tự.

Đến tận khi nàng rời khỏi Bạch Vân Tự vẫn còn ngoái đầu nhìn lại. Chuyến đi đến núi Hạc Ỷ này có thể nói là cực kỳ thuận lợi. Năm xưa tổ tiên chọn người ủy thác tài vật vô cùng sáng suốt, bởi vì thời này người đáng tin nhất chính là nhóm thiền sư.

Tôn Phù, Lê Thúc hết sức vui mừng, họ đã bị giá nhà trên trời ở Kiến Khang đả kích đến mức ngạt thở, nghe thấy Cơ thị còn có một trang viên nhỏ ở thành Kiến Khang thì nhất thời mừng rỡ quá đỗi.

Dù thiền sư Tịnh Không đã bảo vị trí trang viên của nàng không tốt, nhưng Cơ Tự không ngờ nó lại tệ đến vậy. Theo địa chỉ khế ước đã ghi, Cơ Tự tìm được trang viên ở sâu trong ngõ, lưng tựa núi, tuy nói là trong thành Kiến Khang nhưng thực tế cách trung tâm rất xa, còn ở khu nghèo khổ nhất, không được đám sĩ tộc để mắt nhất.

Nhìn chằm chằm trang viên không thốt nổi một câu, mãi lúc sau bỗng một ông lão xuất hiện. Qua cánh cửa xập xệ, lão nhìn đội xe ngựa xa hoa của Cơ Tự, cảnh giác hỏi han: “Xin hỏi quý khách đến từ đâu?”

Cơ Tự bước đến, lấy khế ước ra, từ tốn nói: “Ta họ Cơ, đến đây nhận lại di sản của tổ tiên.”

Nàng còn tưởng rằng những hạ nhân này sống ở đây lâu đã xem nơi này như là nhà của mình, sẽ chống đối chủ nhân mới là nàng bước vào. Không ngờ ông lão kia quay vào báo, nháy mắt cả nhóm nam nữ chừng ba mươi người nhanh chóng đi ra, cung kính đứng xếp hàng, mở rộng cửa phủ nghênh đón Cơ Tự.

Ông lão kia đứng đầu hàng cầm lấy khế ước của nàng xem một hồi, lại lật quyển sách có chữ viết của tổ phụ nàng mang đến. Ông quay sang cung kính nói với nàng: “Lão bộc Trịnh Ngô cùng nhóm hạ nhân bái kiến tiểu cô.”

Cơ Tự vội vàng bước đến đỡ lão. Trịnh Ngô bèn quay lại hô lớn người phía sau: “Mọi người, tiểu cô của chúng ta đã trở lại rồi.”

Gần như Trịnh Ngô vừa hô lên, tất cả người hầu đứng phía sau thoáng chốc trở nên nghiêm trang khí thế. Dù xiêm y sờn cũ, dù trên đó còn lưu lại vài vết bẩn, nhưng giờ khắc này, họ đều đứng thẳng lưng, khiến Cơ Tự có cảm giác như nhìn thấy những hạ nhân đứng bên cạnh Tạ Thập Bát kia.

Chỉ phút chốc, Trịnh Ngô vô cùng tầm thường dường như đã trở thành lão nho đầy bụng thi thư, học thức uyên bác. Dù tiểu tỳ nữ trông còn ngây ngô nhưng lại mang vẻ trí thức khác hẳn với những nữ nhi bình thường.

Nhất thời nhóm Tôn Phù, Nguyệt Hồng đứng sau lưng Cơ Tự bỗng cảm thấy xấu hổ cho bản thân mình.

Thấy Cơ Tự ngạc nhiên, Trịnh Ngô vuốt chòm râu dài, chậm rãi cười nói: “Có thể tiểu cô không biết, chúng tôi tuy là người hầu nhưng đều là con cháu của những gia phó của gia tộc Cơ thị thống nhất thiên hạ hơn tám trăm năm.”

Cơ Tự nghe đến đây, hoảng hốt nói: “Ý Trịnh thúc nói mọi người là tùy tùng của gia tộc ta từ thời Đông Chu à?”

Trịnh Ngô gật đầu: “Đúng vậy. Mấy trăm năm qua thời thế đổi thay, gia tộc Cơ thị không thể chấn hưng trở lại. Ba trăm năm trước, tổ tiên đã để lại di ngôn, người nói: Vương triều thay đổi là việc tất yếu, nhưng dù giang sơn đổi chủ thì gia phong cũng tuyệt đối không thể thay đổi. Người căn dặn, tộc nhân đời sau của Cơ thị dù là chủ hay tớ đều phải hiểu biết thi thư.”

Lão hành lễ với vị chủ nhân tưởng như kiếp này không bao giờ được gặp mặt: “Tiểu cô đừng thấy lão đã già cả ốm yếu mà coi thường, những năm qua chúng tôi vẫn ghi nhớ lời Lâm Tín công dạy bảo, hễ rảnh rỗi là sẽ tự đọc sách làm thơ. Cho nên dù thế gian đều nói Vương - Tạ mới là gia tộc đệ nhất, nhưng gia phó của Vương - Tạ chắc chắn sẽ không giỏi thi thư, nhạc vũ thượng cổ được như chúng tôi đâu.”

Trịnh Ngô kiêu ngạo: “Có câu trăm năm thế tộc, nghìn năm thế gia. Bất kể sau này tiểu cô ra vào trường hợp nào, chúng tôi tuyệt đối không làm mất mặt người.”

Cơ Tự không ngờ trong một đêm mình lại có một nhóm người hầu tinh thông nhạc vũ đã thất truyền nhiều năm và đầy bụng chữ nghĩa. Hơn cả thế, những người này còn một mực trung thành với gia tộc Cơ thị suốt mấy trăm năm nữa.

Thấy Cơ Tự hài lòng, Trịnh Ngô gọi người hầu đến giới thiệu từng người với nàng. Họ của những người này theo thứ tự là Trịnh, Tề, Tần, vừa khéo là ba họ chư hầu của thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Tiếp theo Cơ Tự bận tìm hiểu tình trạng hiện nay của trang viên. Nhóm người Trịnh Ngô canh giữ trang viên này, sống nhờ vào ba mươi mẫu ruộng nương và may vá qua ngày. Nhưng vị trí trang viên không tốt, mấy năm nay họ thường xuyên chống đỡ vài ba âm mưu hòng chiếm trang viên làm của riêng của những người khác.

Mà Cơ Tự không ngờ là, thư phòng trong trang viên này lại có hơn vạn quyển tàng thư của trăm họ thời Tiền Tần. Với lượng tàng thư phong phú và người hầu học thức siêu phàm như vậy cũng đủ để chứng minh bản chất gia tộc nàng với bất cứ ai rồi.

Bấy giờ, Tôn Phù đi một vòng quanh trang viên trở về bẩm: “Nữ lang, tuy trang viên khá lớn nhưng hơi hoang tàn.”

Đúng là vậy, phòng ốc cũ mục, nơi nơi dột nát, tường rào đã sụp hơn phân nửa, xiêm y đầy mụn vá và dáng vẻ xanh xao vàng vọt của nhóm hạ nhân đã nói rõ điều đó. Song không thể trách họ được, ruộng tốt thì bị chiếm, mấy người này có thể kiên trì coi giữ trang viên đợi hậu duệ của gia tộc Cơ thị đến đã là rất trung thành rồi.

Cơ Tự lập tức ra lệnh: “Trịnh thúc, kể từ hôm nay trở đi, thúc chính là đại quản sự của Cơ phủ ta, Tôn Phù là nhị quản sự. Lần này ta mang ba xe vàng bạc đến đây, hai người đem ra chi tiêu trước. Trang viên đã có chủ nhân thì không thể đổ nát như thế được.”

Trịnh Ngô dạ rõ to.

Cơ Tự gật đầu: “Bán tám con ngựa kia đi, sau này chúng ta ra ngoài bằng xe lừa.”

Nhóm hạ nhân lại đáp: “Vâng ạ.”

“Nghe nói giá lương thực của Kiến Khang không đắt, hãy mua nhiều một chút dự trữ.”

“Vâng ạ.”

Cơ Tự nhớ đến một việc, lại nói: “Nghe nói ăn gạo có thể khiến da dẻ người ta trắng trẻo mịn màng, sau này trong phủ dù là nam hay nữ, già hay trẻ đều được ăn cơm cả.”

Nàng vừa dứt lời, nhóm người hầu đều im lìm. Thấy họ trở nên lặng phắc như thế, Cơ Tự vừa định quay đầu hỏi thăm thì đã thấy nhiều người hầu ở phía sau Trịnh Ngô đỏ hoe mắt.

Đột nhiên nàng hiểu được, thời đại này chỉ có quý nhân mới được dùng gạo, nhìn dáng vẻ của nhóm người trong trang viên, e rằng bình thường ngay cả ngô họ cũng rất hiếm khi được ăn. Quyết định của Cơ Tự đã khiến mọi người xúc động muôn vàn.

Niên đại này, chỉ cần tướng mạo đẹp là có thể vào triều làm quan. Nên dù nhóm người hầu có tinh thông nhạc vũ, nhạc khí thượng cổ đi nữa, mà lại xanh xao vàng vọt thì có mấy ai tin chủ nhân họ sẽ là quý nhân. Vì thế, dù gạo rất đắt nhưng chẳng ai mở miệng từ chối.

Đúng lúc này, Cơ Tự lại nói: “Ngoài ra cứ cách ngày phải ăn một bữa thịt, đến khi no bụng mới thôi.”

Qua hồi lâu, Trịnh Ngô mới khàn giọng nói: “Nhưng như vậy rất tốn kém ạ.”

Nghe thấy thế, Cơ Tự mỉm cười: “Đừng lo, kiếm tiền là chuyện cực kì dễ.” Nàng vừa nói xong, năm mươi mấy người hầu đều sửng sốt, đồng loạt ngẩng đầu nhìn Cơ Tự.

...

Ngồi trong góc từ đường tối tăm, Dữ Thi Nhi nghĩ, có lẽ kiếp này của mình sẽ kết thúc tại đây rồi. Hai mắt nàng ta đờ đẫn nhìn xà ngang trên trần, vẻ mặt tuyệt vọng, thật sự không cam lòng.

Dữ Thi Nhi là đích nữ dòng thứ ba của Dữ phủ. Nàng ta xinh đẹp đáng yêu đi đến đâu cũng được chào đón. Mọi người thường bảo, điểm yếu duy nhất của nàng là mẫu thân đã qua đời quá sớm.

Nhưng đối với Dữ Thi Nhi mà nói, mẫu thân mất sớm có gì quan trọng đâu. Di nương của nàng đối xử với nàng còn tốt hơn cả con gái ruột. Ban đầu vì để di nương bước lên vị trí vợ cả, nàng đã khen không biết bao lời trước mặt phụ thân và tổ mẫu, còn làm rất nhiều chuyện tốt nữa.

Nàng chỉ không ngờ, hóa ra lòng người đáng sợ như vậy, có một số người, khi không lộ ra nanh độc thì không ai biết họ là rắn. Xưa nay, di nương hết mực cưng chiều, mặc nàng thích làm gi thì làm, trước kia nàng luôn cho rằng đó là thương, hôm nay mới hiểu được, hóa ra chỉ là nâng lên để rồi đạp xuống thật đau. Ngày đó rõ ràng bên trong hộp gỗ nàng động vào không hề có bất cứ thứ gì. Nhưng vừa quay người đã bị quy chụp tội danh phá hoại bức bình phong Hồi Văn Tú. Cho dù nàng có giải thích thế nào, nhưng vì hành vi kiêu căng thường ngày của mình nên chẳng có lấy ai tin.

Dữ Thi Nhi nhắm hai mắt, khóe mắt từ từ chảy ra hai dòng lệ. Lúc nước mắt tuôn rơi như chuỗi châu bị đứt, bỗng phía trước truyền đến tiếng bước chân. Giọng nói của người bạn thân thiết Vệ Cẩm của nàng vang lên phía bên ngoài: “Các người canh giữ ở đây, ta vào nói chuyện với Thi Nhi.”

Dữ Thi Nhi vội vàng mở mắt ra, thất thểu bò dậy, bóng dáng Vệ Cẩm đã xuất hiện trước cửa. Nhìn thấy Dữ Thi Nhi gầy đến mức không còn ra hình người nữa, mắt Vệ Cẩm đỏ bừng, lao đến vịn lấy tay Dữ Thi Nhi, nức nở nói: “Chưa tới mười ngày sao ngươi lại gầy guộc đến thế này?”

Dữ Thi Nhi cũng nghẹn ngào: “A Cẩm, ngươi đến đây để gặp ta lần cuối sao? Có phải đời này ta sẽ bị giam đến chết già ở nơi đây không?”

“Dĩ nhiên không phải rồi.” Vệ Cẩm nhớ lại nhiệm vụ lần này, vội vàng kề tai Dữ Thi Nhi nói nhỏ, “Thi Nhi, ngươi có muốn đi ra ngoài không?”

Ra ngoài ư? Dữ Thi Nhi kích động nói: “A Cẩm, ta có nằm mơ cũng muốn thoát khỏi chỗ này.”

Vệ Cẩm gật đầu, khẽ nói: “Ta cũng nghĩ như vậy.” Nói xong, nàng ta lén lút lấy một chiếc khăn tay trong ngực ra, đưa đến trước mặt Dữ Thi Nhi, “Sáng nay có một kẻ giấu mặt đưa vật này đến chỗ ta. Ngươi nhìn xem.”

Mời vừa cầm lên xem, Dữ Thi Nhi liền mừng rỡ như điên, đột nhiên nhào đến cửa sổ, nương ánh sáng xem thật kỹ.

Thấy Dữ Thi Nhi cầm khăn tay run run, Vệ Cẩm nói: “Ngươi cũng nhận ra chi tiết hoa sen được thêu kiểu Hồi Văn Tú đúng không? Người đưa tấm khăn này nói, chỉ cần ngươi chịu bỏ một căn nhà hai gian ở phố chính thì chủ nhân của hắn sẽ giúp ngươi thêu lại bức bình phong đã bị cắt rách kia như lúc ban đầu, mà còn tuyệt đối không để người ta nhìn ra dấu vết nữa.” Ngập ngừng một hồi, Vệ Cẩm nói tiếp, “Người đó còn nói, chỉ còn hai mươi mấy ngày nữa là đến lễ mừng thọ của Thái hậu rồi, đổi một trang viện lấy cơ hội trở mình, ngươi có bằng lòng không?”

Trên thực tế, Dữ Thi Nhi là đích nữ thế gia, dù mẫu thân đã mất sớm nhưng có để lại của hồi môn cực kỳ hậu hĩnh cho nàng. Chỉ một trang viên ở trên phố chính đổi lấy tính mạng thì có là gì. Giá như vậy còn chưa đến mức thừa nước đục thả.

Dữ Thi Nhi cắn môi, mừng đến phát khóc, run giọng nói: “Đối phương cần bao lâu?”

“Người nọ nói, giao bức bình phong kia cho họ càng sớm càng tốt, về phần trang viên, lúc xong việc thì một tay giao bình phong, một tay giao khế ước.”

“Được. Nếu đối phương có thể giúp ta sửa lại bức bình phong kia, đừng nói là một trang viên, dù bảo Dữ Thi Nhi ta sau này ngày ngày thắp nhang cầu phúc cho bài vị trường sinh của họ ta cũng không oán thán hối hận. Ngươi nói với người nọ, bất kể họ là ai, ơn cứu mạng này ta sẽ suốt đời không quên.”
 
Kiều Kiều Vô Song
Chương 39: Kiến Khang phong lưu


Có nhà ở khiến Cơ Tự yên tâm hẳn. Lúc này chưa nhận được bức bình phong nên Cơ Tự có thời gian rảnh rỗi. Thấy trời cao vời vợi, trong không khí lượn lờ hương hoa cam hoa xoan, Cơ Tự chọn một tỳ nữ tên Tần Tiểu Thảo, rồi dẫn theo Tôn Phù ngồi lên xe lừa ra ngoài dạo.

Trang viên của Cơ Tự cách phố chính khá xa. Lúc xe lừa vừa rẽ qua một ngõ hẻm, Tôn Phù ngồi phía ngoài vô cùng cao hứng nói với nàng: “Nữ lang, người đoán xem tám con ngựa của chúng ta sẽ bán được với giá bao nhiêu?”

Người hầu Cơ gia hiện tại cũng học theo nàng, hễ mở miệng là nhắc đến tiền, nếu để nhóm sĩ tộc nghe thấy, nhất định sẽ nói người nàng sặc mùi tiền cho xem. Tuy nhiên, tiền đúng là thứ nàng yêu thích nhất hiện nay, nàng cao hứng thuận miệng hỏi, “Giá bao nhiêu?”

Tôn Phù nhìn xung quanh, rồi hạ giọng, đắc ý giơ một ngón tay: “Nếu ở Kinh Châu, có thể mua được hẳn mười hai con ngựa như thế đấy! Thành ra lãi được một nửa!”

“Khá đấy.” Cơ Tự thật sự vui vẻ.

Tôn Phù đắc ý nhoẻn miệng cười nói: “Giá này có là gì? Tôi hỏi được, số lượng ngựa ở Kiến Khang cực ít. Theo tôi thấy thành Kiến Khang to thế này mà chỉ có vài con ngựa, vậy thì giá tiền phải cao gấp mấy lần ở Kinh Châu mới đúng!”

Hẳn là Tôn Phù không biết, Kiến Khang ít dùng ngựa như vậy là có lí do cả. Gia huấn Lương thị có nói, sĩ tộc Kiến Khang sợ ngựa như sợ hổ.

Phải giải thích chuyện này thế nào đây nhỉ? Sĩ tộc thời này, bất kể thứ gì cũng nhất định phải chọn loại tốt nhất, đắt tiền nhất mới phô bày được gia thế của mình. Với thẩm mỹ như vậy, nếu như xe của bọn họ là xe ngựa, thì chắc chắn sẽ chọn những con ngựa cao to oai vệ mới xứng. Nhưng tình huống chân thật lại là, sĩ tộc chi tiêu lãng phí đủ kiểu khiến vóc dáng mảnh mai, đồng thời cũng đặt ra quy chuẩn gầy thì mới đẹp. Mà tuấn mã oai vệ với khí thế uy dũng chỉ có ở chiến trường kia vừa cất tiếng hí đã làm nhiều sĩ tộc đứng gần hoảng sợ, run như cầy sấy rồi. Thế nên, loài lừa hiền lành thấp bé, đi lại chậm rãi càng hợp ý nhóm sĩ tộc hơn.

Cũng vì vậy mà ngựa mới không thịnh hành ở Kiến Khang, không phải không được sĩ tộc ưa thích, đồng thời người Kiến Khang thấy người cưỡi ngựa hoặc ngồi xe ngựa sẽ xem họ là kẻ man di dưới ách thống trị của người Tiên Ti phương Bắc, sẽ bị cho là loại nhà giàu mới nổi, trong lòng sẽ khinh thường chán ghét. Dù cho là Tạ Lang lúc ở Kiến Khang cũng chỉ ngồi xe lừa hay xe bò thôi.

Mỗi khi Tôn Phù nhắc đến tiền, tinh thần luôn phấn khởi, y vui vẻ nói: “Nữ lang, tôi làm theo lời người phân phó, đổi tất cả xe ngựa trong phủ thành xe lừa. Xe bò ở Kiến Khang cũng đắt hơn so với huyện Kinh nhiều lắm, chỉ có lừa dễ mua nên tôi mua một lèo những hai mươi tư chiếc xe lừa cho phủ ta, cộng thêm những chiếc xe cũ, chúng ta đã sở hữu ba mươi chiếc xe lừa rồi.”

Tần Tiểu Thảo, tuy chỉ mới mười bốn tuổi nhưng học hành có thiên phú. Song vì nàng ta sống trong cảnh nghèo khó quá lâu, hiện tại đột nhiên nghe thấy Tôn Phù nói nhà mình có ba mươi chiếc xe lừa, hai mắt bỗng tỏa sáng, khuôn mặt rạng rỡ như thể rất thỏa mãn rất kiêu hãnh vì điều đấy.

Cơ Tự cũng khẽ mỉm cười, nàng nói với ra ngoài: “Thúc xử lý chuyện này rất tốt.”

Trong lúc này, xe lừa Cơ Tự đã đến phố lớn. Khó khăn lắm mới đến đây, Cơ Tự liền trầm trồ vì cảnh phồn hoa choáng ngợp trước mắt. Mười ngày trước lúc nàng đến Kiến Khang, thứ nhất là chưa qua phố lớn, thứ hai là đi quá vội vã nên chưa kịp ngắm những nhân vật phong nhã vang danh thiên hạ này.

Nhưng bây giờ nàng đã đặt chân đến nơi này, đã tận mắt chứng kiến sông Trường Giang trải dài từ Nam ra Bắc, thành Kiến Khang phồn hoa thịnh vượng mà người người Trung Nguyên đều khao khát đêm ngày đây rồi.

Cơ Tự vén rèm xe lên, ngơ ngẩn ngắm người đến người đi trên phố, nhìn dân chúng áo bào đai ngọc, tỏa hương thơm ngát, nhìn bầu không khí huyên náo tiếng mời chào mua hàng, trong chốc lát, nàng trở nên mê mẩn.

Tần Tiểu Thảo ở bên cạnh thấy Cơ Tự quay đầu, ngơ ngác nhìn bờ đê ngoài kia, không khỏi khẽ nói: “Tiểu cô, nơi đó là Huyền Học quán và Quốc Học quán mới được bệ hạ cho xây dựng, người muốn đến đó tham quan không?”

Cơ Tự vội vàng gật đầu. Xe lừa lập tức lăn bánh.

Lúc xe lừa vừa lên đê, Cơ Tự liền bị hương thơm nồng nặc xộc vào mũi, chỉ thấy mùi son phấn và hương hoa hòa lẫn với nhau, trên sông xuất hiện mười mấy chiếc thuyền lá nhỏ, mà trên mỗi chiếc đều là những lang quân trẻ tuổi tuấn mỹ hoặc thanh thoát mặc áo bào rộng, người đứng kẻ ngồi.

Thời này chính là giai đoạn trong lịch sử người ta quan tâm đến vẻ bề ngoài nhất, cái đẹp họ tôn thờ là phải mảnh khảnh, trắng trẻo, thanh tú, thông minh khí khái. Cho nên Cơ Tự thoáng trông qua đã thấy ngay nhóm lang quân tác phong nhẹ nhàng, bào rộng guốc mộc, tướng mạo anh tuấn nổi bần bật đằng kia.

Bây giờ đang giữa xuân, cảnh sách vô cùng tươi đẹp, tiết trời ấm áp, hương thiên nhiên thoang thoảng, toát lên ý vị nhàn nhã, hoa lệ.

Cơ Tự bảo: “Đi dạo quanh đê một lát.”

Tôn Phù vội vàng đáp lời, chẳng qua xe lừa chỉ đi được một đoạn, Cơ Tự đành phải xuống đi bộ. Hôm nay nàng quyết định ra ngoài để dạo chơi nên chỉ dẫn theo Tần Tiểu Thảo, hai chủ tớ giống như mọi sĩ tộc xung quanh, chân giẫm guốc mộc vang lóc cóc, thong dong đi về phía bờ sông.

Hai người vừa tới bờ sông, Cơ Tự chỉ vô tình liếc mắt nhìn qua, đột nhiên thấy người đi đường xung quanh đều sững lại. Trên bờ đê, dòng xe cộ ngược xuôi, rèm xe đều đồng loạt vén lên, từng khuôn mặt xinh đẹp hoặc lộng lẫy lần lượt nhìn ra phía sau nàng, nàng không khỏi quay đầu nhìn theo. Vừa quay lại, nàng cũng trở nên ngây ngẩn.

Hóa ra là một đội ngũ đang chậm rãi tiến đến, đi đầu hàng là một lang quân tầm hai mươi ba, hai mươi bốn tuổi.

Vị lang quân này đầu đội khăn quan, áo bào bay bay trong gió. So với lang quân gầy gò bên cạnh, vóc dáng hắn rõ ràng cao to oai phong hơn, khuôn mặt trắng trẻo tuấn tú, đặc biệt là cặp mắt kia sâu hút và rất u sầu, lúc hắn ngẩng đầu nhìn gì đó, ánh mắt kia sẽ khiến người ta ảo giác ước gì cuộc đời này cứ mãi đắm chìm vào đôi mắt ấy.

Cơ Tự không khỏi khẽ hỏi: “Vị lang quân kia là ai?”

Tần Tiểu Thảo quay đầu trông rồi nói: “Đây là phò mã Văn Đô của công chúa Tố Hòa.” Tần Tiểu Thảo biết Cơ Tự vẫn còn lạ lẫm với mọi điều ở Kiến Khang, liền nhỏ giọng nói: “Văn Đô là sĩ tử hàn môn, từ bé đã nổi tiếng thần đồng ở Dương Châu, năm trước vô tình gặp công chúa Tố Hòa, bị nàng ta bèn ép ngài ấy làm phò mã.”

Nói tới đây, giọng Tần Tiểu Thảo càng lúc càng nhỏ: “Theo tin đồn từ dân chúng và các quan lại, năm đó không chỉ có mình công chúa Tố Hòa nhắm trúng Văn Đô thôi đâu, nghe nói hai vị công chúa đều trao lòng cho ngài ấy. Một nàng công chúa được bệ hạ yêu thương nhất sinh bệnh vì tương tư ngài ấy nữa đấy ạ. Sau này bệ hạ biết được, liền triệu kiến Văn Đô, lúc ấy Văn Đô tiếp kiến, thực sự tài hoa và cử chỉ nho nhã nên được bệ họa yêu quý, sau có ý định tác thành cho ngài và vị công chúa tương tư đến sinh bệnh kia. Vậy mà ngày hôm ấy, lúc Văn Đô nghỉ lại trong cung, không hiểu tại sao lại ngủ với vị công chúa Tố Hòa kia. Sau chuyện ấy, công chúa Tố Hòa và vị công chúa chia còn tranh vãi một trận rõ to.”

Tần Tiểu Thảo sáp lại gần Cơ Tự, kể tiếp: “Chuyện ấy vẫn chưa là gì, sau khi vị công chúa kia khỏi bệnh còn ép buộc triệu kiến Văn Đô đã cưới công chúa Tố Hòa vào phủ của mình, giữ rịt trong phủ suốt hơn một tháng!”

Cơ Tự nghe đến đó, hỏi thêm: “Cho nên Văn Đô dây dưa với cả vị công chúa đó ư?”

“Thế mà ngược lại đấy ạ!” Tần Tiểu Thảo thở dài: “Nếu như vậy thì nữ tử khắp thế gian sẽ không sùng bái Văn Đô vậy đâu. Dù Văn Đô bị nhốt trong phủ một tháng nhưng vẫn giữ khoảng cách với vị công chúa kia. Nghe nói trong một tháng đó, vị công chúa kia ngày ngày cưỡng ép cùng giường với ngài ấy, còn có mấy lần cầm kiếm gác lên cổ nhưng Văn Đô vẫn không chịu chạm vào nàng ta. Cuối cùng lúc công chúa đó đành để ngài xuất phủ, lúc tiễn đi còn không kiềm nổi mà khóc nức nở. Nữ lang người không biết đâu, vị công chúa kia thực sự là một mỹ nhân đấy ạ, một mỹ nhân mến mộ ngài nhưng ngài không hề động chạm vào nàng ta, dù nàng ta có săn sóc dịu dàng, nói năng nhỏ nhẹ đến cỡ nào người cũng không đáp một lời, lại chẳng hề có một hành động quá phận. Vì thế ai ai cũng nói, Văn Đô đã nho nhã tuấn tú lại có tâm chí kiên định.”

Cơ Tự nghe đến đó, ánh mắt nhìn Văn Đô cũng thoáng vẻ tán thưởng, nàng dõi mắt nhìn đội ngũ của Văn Đô rời đi, chậm rãi nói: “Ta biết tại sao hắn không chạm đến vị công chúa kia rồi.”

“Tại sao?” Lần này, Tần Tiểu Thảo lại tò mò, vội vàng quay đầu hỏi.

Cơ Tự ngẩng đầu nhìn đám mây trắng phương xa, từ từ nói: “Hắn vốn là người có tài cao chí lớn, nhưng không ngờ bị một nàng công chúa gài bẫy, trở thành phò mã. Nhưng ván đã đóng thuyền, hắn đành phải chịu đựng. Nhưng muốn khiến một người đường đường là đấng nam nhi như hắn trở thành vật tranh giành giữa hai nàng công chúa, biến thành lộng thần tiểu nhân thì hắn cực kì khinh thường!”

Giọng Cơ Tự không lớn nhưng ngay vào lúc này đây, khi câu nói vừa dứt, phía sau gốc cây to truyền đến một tiếng vỗ tay giòn giã, “Nói hay lắm!”

Một lang quân đại sĩ tộc mặc áo bào rộng bước ra, lang quân này mặt mày tuấn tú, hơi có vẻ gầy gò nhưng dĩ nhiên ở thời đại này nó trở thành kiểu tiêu sái phóng khoáng.

Lang quân sĩ tộc này nghe lén người ta chuyện trò, nhưng không hề xấu hổ chút nào. Hắn khẽ gật đầu với Cơ Tự, khen ngợi: “Nếu Văn Đô nghe thấy lời này của tiểu cô, chắc chắn sẽ coi cô như tri kỷ!”

Hắn bỏ lại những lời này rồi dứt khoát sải bước, không có ý nấn ná bắt chuyện với nàng.

Trong lúc hai chủ tớ thầm thì to nhỏ, dòng sông phía trước có ai đó tiến đến, các thiếu nữ xung quanh hò hét chói tai.

Tần Tiểu Thảo quay đầu lại, nhác trông qua liền cười nói với Cơ Tự: “Nữ lang, hôm nay chúng ta may mắn quá, trong năm vị mỹ nam của Kiến Khang, vừa rồi người mới được gặp một vị, còn một vị nữa bây giờ đã đến rồi.”

“Năm vị mỹ nam của Kiến Khang ư?” Cơ Tự tò mò hỏi.

Tần Tiểu Thảo ngâm nga: “Đúng vậy, đúng vậy, người ta nói Nam Bắc có hai vị danh sĩ, Kiến Khang có năm vị mỹ nam, họ đều là nam nhân trong mộng của các khuê nữ đấy.”
 
Back
Top Dưới