Ngôn Tình Khánh Hi Kỷ Sự

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!

[BOT] Dịch

Quản Trị Viên
Tham gia
24/9/25
Bài viết
1,446,322
Phản ứng
0
VNĐ
361,707
khanh-hi-ky-su.jpg

Khánh Hi Kỷ Sự
Tác giả: Hồng Trư Hiệp
Thể loại: Ngôn Tình, Cổ Đại
Trạng thái:


Giới thiệu truyện:

Bạn đang đọc truyện Khánh Hi Kỷ Sự của tác giả Hồng Trư Hiệp. Là một bộ dựa vào lịch sử, nhưng viết những điều hư cấu bên lề, tác giả đột hiện sự chân thật, tinh tế của từng nhân vật, lột tả được nội tâm, tình cảnh của họ.

Khánh Hi Kỷ Sự mang đậm phong cách cổ xưa, nơi hoàng cung nguy nga tráng lệ, cũng khắc khoải vô số nỗi niềm, của những người đang và phải tranh đấu.

Một thiếu niên thay đổi tên mình, mang áo xanh, dù là bóng dáng mờ mịt, cũng khiến người khác nhìn thấy không thể quên được.

Gió mây biến ảo, kẻ trung hiền bị diệt cả nhà. Hắn niết bàn sống lại ở cõi a tì địa ngục nhưng cam chịu làm nô tài ti tiện chốn thâm cung để con của kẻ thù sai bảo, chỉ mong tự tay loại bỏ đất phiên, dẹp loạn biên cương, hoàn thành chí lớn của cha.

Máu và nước mắt đầy vạt áo song mặt không đổi sắc, hắn thâu tóm anh tài, thu nạp thuộc hạ cũ ở trong ngoài cung đình, khắp trời nam đất bắc tung hoành ngang dọc để lúc kiếm sắc ra khỏi vỏ sẽ trảm kẻ gian tà, rửa sạch tủi nhục hận thù.

Hung Nô đến xâm phạm, đất phiên mưu phản, bốn phía loạn lạc, dưới hàng ngàn hàng vạn âm mưu, tương lai cõi Trung Nguyên khó mà lường được. Song đối với hắn lại là cơ hội tốt duy nhất lóe lên trong nháy mắt rồi biến mất…​
 
Có thể bạn cũng thích !
  • Lôi Uyển Khanh, Em Dám Tính Kế Tôi
  • Khanh Khanh Của Tôi
  • Khanh Khanh Ta Ta
  • Dư Phong - Khanh Kiểm
  • Khanh Yêu Anh Thẩm - Chước Oản Khanh
  • Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 1: 1: Thái Giám Thất Bảo


    Mùa xuân năm Khánh Hi thứ mười tới rất sớm, mới tiết tháng Hai đã làm người ta ấm áp đến mức không dùng sức được.

    Lúc băng tuyết năm ngoái bắt đầu tan, hoa trong ngự hoa viên cũng đã nở rộ khắp nơi, nhất là mảnh rừng mai ấy, tranh nhau đua nở tỏa hương thơm mát vô ngần.
    Thái giám Thất Bảo còng lưng cúi đầu đi qua chỗ ấy, lòng thầm cảm kích trời xanh ban thưởng hậu hĩnh cho lão.

    Lão biết đây đã là mùa xuân cuối cùng của mình rồi.

    Mùa đông giá rét vừa qua ấy khiến lão mỗi ngày lăn lộn khó ngủ, chẳng những đầu gối đau nhức cả ngày mà ngay cả lúc lão thầm vận nội lực, dưới sườn phải cũng sẽ mơ hồ trướng lên, mạch máu toàn thân không thông suốt làm lão phiền chán muốn nôn.

    Lão nghĩ mình đã già cả rồi, người sáu mươi ba tuổi rồi thì không thể làm việc như trước đây, bây giờ chuyện nào có thể không cần lo thì cố hết sức lo ít thôi.

    Nhưng chỉ lúc gió mát phất qua người lão, lão lại đột nhiên muốn cất tiếng hát vang, niềm vui trong lòng tràn ngập trong mỗi mạch máu, ngay cả trên mặt cũng lóe lên ánh sáng mà người tuổi trẻ ít có.

    Lão không khỏi sờ tay vào ngực, lặng lẽ v**t v* ống tiêu nhỏ ấy, đè nén nỗi kích động muốn lấy nó ra tấu một khúc.
    – Thầy hãy cẩn thận.

    – Thái giám nhỏ bên cạnh thấy lão lảo đảo thì vội vàng đỡ lấy.
    – Không sao.

    – Thái giám Thất Bảo thở phào một cái – Khang Kiện, đến phía trước xem thử có phải thái hậu đã uống rượu xong rồi hay không.
    – Vâng.
    Khang Kiện là học trò nhỏ nhất của thái giám Thất Bảo, tuổi mới mười bảy mười tám.

    Sau khi lớn tuổi, lòng dạ của thái giám Thất Bảo mềm mại hơn lúc còn trẻ, cũng yêu quý cậu học trò còn tấm bé này một cách khác thường nên vẫn giữ ở bên chưa để cậu ta đến hầu hạ các cung.

    Nay nhìn bóng lưng cậu ta phấn khởi tung tăng thì mới hơi hối hận đã không để ý dạy dỗ nghiêm khắc.

    Nghĩ đến ngày sau cậu ta không tránh khỏi việc phải chịu khổ, thái giám Thất Bảo lại có thêm sự bất đắc dĩ mà bình sinh không có.
    Mới quẹo một khúc cua, cậu ta đã thấy thị tòng như mây bên đình Mai.

    Thái hậu đang dẫn hoàng hậu và hai phi Truân, Nghị cùng ngắm mai, quần áo đầy màu sắc lòa xòa trong đình gỗ xây ở đỉnh hòn non bộ, làn gió thơm kèm theo tiếng nói cười nhẹ nhàng của các phi tần thổi tan đi.

    Một bóng người màu hoa hạnh bay xuống từ giữa núi đá, đó chính là Cát Tường – anh học trò lớn nhất của thái giám Thất Bảo.
    – Thưa thầy, thầy có khỏe không ạ?- Y hỏi thăm thái giám Thất Bảo rồi lại nói – Thái hậu truyền thầy tới đáp lời.
    – Được.

    – Thái giám Thất Bảo nói – Con cũng ở đây? Hoàng thượng cũng tới à?
    Cát Tường đi theo hoàng đế đã được bốn năm rồi.

    Y làm việc lão luyện chu đáo, cho tới nay chưa từng có chút sai lầm nào trong mọi việc lớn nhỏ, vì vậy dầu mới hai mươi tám đã thăng tới thái giám Thượng bảo lĩnh sự hầu vua tòng ngũ phẩm, ai nấy trong các cung đều tin phục.
    – Hoàng thượng vừa về từ ngoại ô phía tây, nhân lúc qua đây thăm hỏi nên cũng ngồi xuống uống hai chén rượu ạ.
    – Như vậy thì vừa hay.

    – Thái giám Thất Bảo sửa lại quần áo trong cung, khẽ phất phất trần, leo bậc thềm lên đình Mai.
    – Thần xin thỉnh an thái hậu nương nương, vạn tuế gia, hoàng hậu nương nương và hai vị nương nương.
    Khi lão khấu đầu, hai vị phi tần trẻ tuổi lập tức ngừng cười nói, thậm chí còn khom người không được tự nhiên trên chỗ ngồi.

    Chỉ nghe thấy thái hậu cười nói:
    – Anh Mai, đứng lên đứng lên.

    Cát Tường nói anh có chuyện quan trọng phải về, làm khó anh Mai xa xôi như vậy còn tới hầu hạ.
    Tiếng thái hậu trong suốt, trầm lắng bình tĩnh như vào nước biển mùa đông.

    Thái giám Thất Bảo ngẩng đầu lên vừa hay có thể thấy ánh mắt sáng ngời của bà, vẫn làm lão đắm đuối như bao năm qua.
    – Gần đây nô tỳ không thường xuyên hầu hạ trước mặt thái hậu nương nương, mỗi ngày chỉ có thể khẩn xin thái hậu, vạn tuế gia và các vị nương nương an khang cát tường.

    Sau khi già cả, dầu muốn hầu hạ trước mặt nương nương cũng là có lòng mà không đủ sức.
    – Đúng vậy… – Thái hậu lẳng lặng thở dài, bà kẹp lấy cánh hoa rơi liệng xuống chỗ ngồi ở giữa ngón tay – Lúc mới gặp gỡ anh Mai hình như cũng là tiết đầu xuân thế này…
    Bà buồn bã hồi tưởng lại trong nháy mắt rồi cười nói với các phi bên cạnh:
    – Năm đó trong ngoài cung đình thái giám Thất Bảo đều có tiếng là “thần tiên”.

    Đầu xuân hàng năm lúc hoa mai nở rộ, tiên đế đến cầu Nhiên Xuân ở rừng mai thì đều có thái giám Thất Bảo mặc áo trắng múa dưới mai đỏ, thật sự chỉ có núi băng đỉnh tuyết mới có thể so bì với dáng vẻ thanh khiết ấy.

    Vì đó mà tiên đế mới gọi là “Mai thị”.

    Đáng tiếc các con còn trẻ, chưa từng trông thấy cảnh ấy.

    – Bà than thở – Nói như thế, anh Mai cũng phải hơn sáu mươi tuổi, đã đến lúc nên nghỉ ngơi để các học trò làm việc rồi.

    Bảy học trò mà anh dạy dỗ người này hơn người kia, anh cũng bớt phải nhọc lòng.
    – Vâng, được thái hậu khen ngợi là phúc của chúng nó.

    Nô tỳ không còn có ích nữa rồi, hai năm qua vẫn ăn chùa lương bổng trong cung mà lòng bất an.

    Hôm nay xin thái hậu nể tình, để nô tỳ về quê sống tiếp.

    Đã đi hơn năm mươi năm, lớn tuổi rồi thì muốn trở về thăm ạ.
    Thái hậu trầm mặc trong khoảnh khắc, đình Mai dường như nghiêm túc cô quạnh không có gió.

    Các phi khẽ cụp mi mắt, chỉ có thái giám Thất Bảo vẫn ngẩng mặt, mặc cho ánh mắt thái hậu quét trên mặt.

    Hoạn quan tuổi quá sáu mươi mà mặt mày vẫn như xưa, chỉ là nếp nhăn khóe mắt đã khắc sâu, lại khiến người ta không khỏi liên tưởng liệu sự mài mòn của năm tháng có đau đớn hay chăng.

    Cuối cùng thái hậu lại cười, nói với các phi chung quanh:
    – Các con nghe nghe lời y nói kìa, như thể trong cung không nuôi nổi y vậy.

    Thất Bảo!
    Từ lúc đó bà mới gọi thẳng tên của thái giám Thất Bảo, thái giám Thất Bảo bèn chỉnh đốn lại tinh thần, cung kính thưa:
    – Vâng.
    – Ta thấy công vụ hai năm nay anh đảm đương cũng rất khá, đám thanh niên nào có thể so bì với con mắt chọn mua ở cục Châm Công[1] như anh?
    [1] Tên một cơ quan của hoạn quan, một trong tám cục của nhà Minh, chuyên tạo quần áo trong cung.
    – Tạ ơn thái hậu quá khen.

    Chỉ là nô tỳ tuổi tác đã cao, nào còn phân rõ được quần áo xấu đẹp, công vụ hai năm này đều là trò của nô tỳ làm, nghe thái hậu nương nương khen ngợi thế thì nô tỳ đã có thể yên tâm rồi.
    Thái hậu nhìn áo kép nhẹ như bẫng mà như có điều suy nghĩ, hỏi:
    – Học trò của anh nhiều, không biết là ai thế?
    – Một đưa Khu Ác, một đứa Tịch Tà.
    – Cho dù thật sự nỡ để anh về nhà thì anh định giao việc chọn mua cho ai đây?
    – Khu Ác thận trọng hơn ạ.
    Thái hậu khe khẽ hừ một tiếng:
    – Thứ cần khi thu mua[2] hàng dệt cho cục Châm Công là mắt nhìn.

    Anh đừng khiến cả người lẫn vật đều dính vào thứ mà ta nhìn không quen mắt rồi đưa tới trước mặt ta.

    – Bà chọn từ ít khắc nghiệt hơn, ngay cả chính bà cũng có cảm giác ấy.
    – Anh tự xem đi thôi.

    – Cuối cùng bà nói.
    [2] Đầu thời Minh, sau khi thu hoạch xong mà không đủ hoặc không phù hợp với yêu cầu của bộ phận thì sẽ quan phủ sẽ bỏ tiền mua sắm từ thương nhân.

    Thời vua Anh Tông (1436-1449) hoạn quan ở khắp nơi, chuyên đảm nhiệm việc thu mua.
    – Vâng, thái hậu nương nương nói rất đúng.

    – Thái giám Thất Bảo tiếp lời hết sức tự nhiên – Luận về phẩm cách thì Tịch Tà cao hơn.
    – Vậy để Tịch Tà đi.

    – Thái hậu chậm rãi nói – Ta rất thích cậu học trò út Khang Kiện của anh, anh đi rồi thì cứ gọi cậu ta đến cung Từ Ninh hầu.
    – Vâng, tạ ơn ân điển của thái hậu.
    – Việc thu mua trong cung trước nay hãy liên hệ với bộ Hộ, giao lại xong xuôi thì bảo Tịch Tà đến chỗ hoàng thượng tạ ơn.
    – Vâng.

    – Thất Bảo dập đầu với hoàng đế – Tạ ơn ân điển của hoàng thượng.
    Gió mát mùa xuân của năm Khánh Hi thứ mười khẽ phất qua gương mặt hoàng đế mang đến hương thơm ngọt ngào của hoa mai.

    Hắn ta nhíu đôi mày nhếch đến sát tóc mai và nheo cặp mắt lại nhìn bầu trời xanh thẳm đến đờ ra.

    Lúc người nô tài già có ảnh hưởng lớn nhất trong cung này đi, hắn ta chỉ cầm chén rượu, không yên lòng nói:
    – Miễn đi.
    Có lúc Thái giám Thất Bảo sẽ nghĩ tới tương lai.

    Người sáu mươi ba tuổi rất khó nói còn có tương lai gì, chẳng qua là khi lão nhìn hai người học trò bên cạnh, lão liền nghĩ tới bên trong tòa cung điện sẽ có những sóng to gió lớn thế nào.

    Thấm nhuần ở trong cung năm mươi tám năm, tất nhiên sẽ nhìn thấu tỏ hơn.

    Giống như đánh cờ vây vậy, hai con cờ then chốt lại được mình dùng thời gian chín năm khổ tâm bày bố nhưng lúc này chẳng qua chỉ là tàn cục trong mắt mình mà thôi.

    Mỗi lần nghĩ đến chỗ ấy, kẻ trọn đời tịch mịch ít khi động sắc mặt như lão cũng sẽ hơi tự đắc.
    Thái giám Thất Bảo nghỉ ngơi ở biệt đình.

    Cát Tường buộc con lừa vào lan can cho lão.

    Tịch Tà thì bưng ấm nước tới, lão chậm rãi uống hết mấy ngụm.

    Trên sườn núi cỏ thơm nối liền đến chân trời, vắng vẻ không tiếng động, chỉ có cơn gió dịu dàng kêu khẽ lượn quanh gò đất.

    Thái giám Thất Bảo lấy ống tiêu từ trong ngực ra đặt bên môi, trong ống tiêu chảy ra một chuỗi âm thanh du dương.

    Lão không kiềm được mà cười ha hả vài tiếng rồi đứng dậy, sải bước ra ngoài biệt đình, dùng sức hít lấy không khí mùa xuân.

    Đoạn lão lại giơ ống tiêu lên, tập trung tư tưởng, đột ngột thổi cho thỏa thuê.

    Âm sắc xán lạn như chảy thẳng xuống theo hẻm rồi vòng quanh núi.

    Tiếng tiêu bay vút cùng cơn gió tựa như tiếng cười dài tịch mịch truyền tới từ chốn xa xăm.

    Thái giám Thất Bảo buông ống tiêu, đưa hai cánh tay ra đón gió và cười to:
    – Có kẻ mười năm mài một thanh kiếm, hôm nay ta có thể được gọi là mười năm tấu một khúc rồi! Quả là thỏa thuê lòng người, thỏa thuê lòng người.

    – Lão bỏ đi vẻ kính cẩn thường ngày, khí khái hào hùng tung bay giữa hai lông mày, có thể thấy vẻ hào hiệp như lưỡi dao sắc bén giấu mình mấy chục năm đột nhiên ra khỏi vỏ chiếu vào hai mắt người ta.
    Lão chợt quay đầu lại nói:
    – Đi đây!
    – Thầy ơi! – Cát Tường vội vàng tiến ra đón – Thầy định đi đâu? Trở về Hàn Châu ạ?
    Thái giám Thất Bảo dừng bước, mỉm cười nói:
    – Trở về Hàn Châu gì chứ? – Lão xoay người nhìn cung viện xán lạn dưới chân núi rồi nói – Ta chỉ là một tên hoạn quan mà thôi, rời khỏi mảnh cung đình ấy thì chẳng là cái thá gì.

    Thế giới rộng lớn mênh mông vô ngần cũng chẳng có đất cho ta dung thân, các con cũng giống như vậy.
    Lão nhìn hai người học trò rồi bảo:
    – Mặc dù sau này các con nhất định sẽ mây mưa thất thường, thậm chí một tay che trời nhưng chỉ cần rời khỏi nó thì sẽ giống như ta hôm nay, không chốn để về.
    Tịch Tà đi tới nói:
    – Thầy ơi.
    Thái giám Thất Bảo mỉm cười v**t v* mái tóc đen mềm mại của hắn, dịu dàng nói:
    – Con phải tự thu xếp ổn thỏa đấy.
    Lão cởi con lừa ra, vòng tay ra sau mà dắt đi theo con đường quanh co khúc khuỷu.

    Cát Tường và Tịch Tà quỳ rạp xuống đất, lặng lẽ khấu đầu về phía bóng lưng lão.

    Cơn gió mạnh trên không dường như còn thấp thoáng tiếng cười của thái giám Thất Bảo.
    Đừng đọc ở chỗ reup nữa, vui lòng đọc tại vongnguyetlau10.wordpress.com để mình mau cập nhật chương mới.
    Hoàng đế hí hoáy quân cờ trong tay, trong lòng hơi do dự, mắt thấy một con rồng lớn ở góc trên đã như con thú bị nhốt và mảnh cờ sống giữa trung tâm bàn cờ chỉ có mấy quân lẻ loi, quả là nhảy cũng không được mà nối liền cũng chẳng xong.

    Càng nghĩ hắn ta càng không khỏi tức giận:
    – Chẳng lẽ hôm nay lại để em thắng? – Hoàng đế trợn mắt với Thành Thân vương ở đối diện, ném con cờ vào trong hộp.
    Thành Thân vương cười hì hì, phe phẩy cây quạt trong tay và nói:
    – Hoàng thượng lại mệt rồi, chi bằng hôm nay tới đây thôi.
    Hoàng đế trợn mắt nhìn người em trai ruột thịt nhỏ hơn mình hai tuổi này, vừa định mở miệng đã nghe thấy Cát Tường bước nhanh tới ngoài mành bẩm:
    – Khởi bẩm vạn tuế gia, Tịch Tà mới nhậm chức thu mua của cục Châm Công đến tạ ơn ạ.
    Hoàng đế đang xấu hổ, nhờ y chen vào nên không khỏi cảm thấy sảng khoái, vì vậy nói:
    – Để hắn vào đi.
    Thành Thân vương không kiềm được vỗ tay khen:
    – Hay cho một tên nô tài, tới thật là đúng lúc! Quả thật không có giây phút nào không chiều theo lòng người.

    Nếu không phải thái hậu đã cho hoàng thượng sớm hơn một bước thì thần còn muốn đưa hắn về làm người hầu trong vương phủ đấy.
    – Để ở chỗ của em thì đúng là dao trâu mổ gà.

    – Hoàng đế nói – Chỗ nào trong vương phủ của em chứa chấp được hạng nhân vật này chứ?
    Ngoài cửa có tiếng bước chân nhẹ nhàng, một thái giám trẻ tuổi gầy gò mặc quần áo màu xanh trong cung được Cát Tường dẫn theo cúi đầu đi vào, quỳ xuống dập đầu ở bên ngoài rèm rồi nói:
    – Nô tỳ Tịch Tà tạ chủ long ân, hoàng thượng vạn phúc kim an.
    Hoàng đế chỉ cảm thấy lúc làm lễ thân thể hắn tao nhã, giọng nói trong trẻo nền nã, chưa nhận ra đã yêu thích mấy phần, nói:
    – Đứng lên đi.
    – Dạ.

    – Tịch Tà đứng dậy, thõng tay đứng bên ngoài.
    Hoàng đế sai người vén màn lên:
    – Vào đây đáp lời.
    Tịch Tà vội bước mấy bước vào trong rồi chậm rãi ngẩng đầu lên.

    Hoàng đế không khỏi hít một hơi lạnh, còn nghe thấy Thành Thân vương bên cạnh không kìm được mà “A” một tiếng.

    Chỉ thấy thiếu niên trước mắt thanh thản lạ thường, khuôn mặt trắng như tuyết không mang theo tạp sắc, dưới ánh mặt trời êm dịu lại trong suốt như băng lạnh càng làm bật lên đôi mắt hếch có ánh sáng linh hoạt không gì sánh được.

    Trong ánh mắt chuyển động như có sông băng phá đê ra khiến cơn lạnh lẽo thấm vào da, làm người ta không thể nhìn thẳng.
    Hoàng đế vẫy tay với hắn, hắn đến gần hơn một chút.

    Hoàng đế lại cẩn thận quan sát, thấy hắn chừng mười mấy tuổi, khác xa những thái giám mập mạp khác, thể trạng rất gọn mà khỏe mạnh, nhất cử nhất động tuy là kính cẩn nhưng lại mang theo vẻ hào hiệp.
    – Khanh tên là Tịch Tà?
    – Vâng.
    – Quê cũ ở đâu?
    – Nô tỳ là người kinh thành.
    – Ồ, hiếm có đấy.

    – Hoàng đế hỏi – Vào cung được mấy năm rồi?
    – Nô tỳ vào cung muộn, mới chín năm ạ.
    – Thầy khanh rất coi trọng khanh đấy.
    – Là nhờ sự yêu thương của thầy và sự cất nhắc của thái hậu với hoàng thượng ạ.
    – Công việc của khanh không dễ làm đâu.

    – Hoàng đế cười nói – Trước nay cục Châm Công và cục Nội Chức Nhiễm[3] tiếp xúc với nương nương các cung.

    Trước giờ con mắt thưởng thức của thái hậu không tầm thường, những nữ chủ nhân trẻ tuổi bây giờ cũng không dễ hầu hạ.

    Thầy khanh là thái giám kiêm giữ ấn hai cục, vẫn luôn được thái hậu coi trọng.

    Khanh cũng nên tự thu xếp cho ổn thỏa.

    Không nói chuyện khác, trên các khoản mục đã phải hết sức cẩn thận.
    [3] Tên cơ quan của hoạn quan, một trong tám cục nhà Minh chuyên phụ trách việc nhuộm vải vóc cho hoàng đế và cung đình sử dụng.
    – Vâng, xin tuân lệnh thánh.
    Cát Tường ở bên cười nói:
    – Hai năm qua cơ thể thầy không khỏe, mọi việc đều do sư đệ này của thần xử lý, tạm coi như thỏa đáng.
    Hoàng đế nói:
    – Vậy thì vất vả rồi, còn tuổi nhỏ mà làm việc lại chu đáo.
    Tịch Tà nói:
    – Thầy nô tỳ đã từng nói, giải quyết công việc đều như đánh cờ, mỗi một bước đều phải lường trước chuyện sau này ra sao mới có thể thỏa đáng được.
    – Ô! – Thành Thân vương phe phẩy cây quạt nói – Thái giám Thất Bảo còn biết chơi cờ cơ à?
    – Vâng, thầy của nô tỳ rất rành đạo này.
    Hoàng đế đột nhiên hỏi:
    – Khanh cũng biết đạo đánh cờ sao?
    – Mấy sư huynh đệ chúng nô tỳ đều biết đôi chút ạ.
    Cát Tường nói:
    – Trong đó Tịch Tà là người giỏi đánh cờ nhất đấy ạ.
    Hoàng đế trỏ về phía bàn cờ, cười nói:
    – Vậy phải kiểm tra khanh.

    Khanh xem bước tiếp theo trẫm nên đi thế nào?
    Tịch Tà nhanh chóng liếc trông bàn cờ rồi thưa:
    – Hoàng thượng đã định là người thắng cuộc, nô tỳ sao dám nói bừa?
    Thành Thân vương bật cười một tiếng, nói:
    – Không ngại, anh lại đây xem đi.
    Hoàng đế đã biết không thể cứu vãn nhưng nghe lời ấy của hắn thì khá kinh ngạc, bảo:
    – Khanh nói nghe xem nào.
    Tịch Tà tâu:
    – Hàng rồng ở góc trên này sắp thoát vòng vây, tạo thành thế vây với trung tâm bàn cờ.

    Chỉ e mảnh quân trắng bên cạnh của Thành Thân vương có nguy hiểm.
    Hoàng đế cười nói:
    – Con rồng này thoát vòng vây thế nào? Khanh chơi cho trẫm xem đi.
    – Nô tỳ không dám.
    – Không phải ngại.

    – Thành Thân vương vội vàng nói – Ý chỉ hoàng thượng đấy.
    Tịch Tà thấy hoàng đế gật đầu mới nhặt một quân đen hạ xuống bàn cờ, thì ra là Tiểu Phi[4], con rồng dài kia lập tức có phong thái phá mây mà ra.

    Thành Thân vương nhìn kỹ, không khỏi nhíu mày, khép quạt lại tập trung tinh thần để suy ngẫm.
    [4] Một trong các phương pháp thường dùng để củng cố quân cờ bị cô lập trong cờ vua.
    Hoàng đế rất hứng khởi, cười nói:
    – Nước cờ hay.
    Tịch Tà cúi đầu nói:
    – Nô tỳ có tội đi quá giới hạn.
    – Nào có chuyện ấy, khanh dọa cả Thành Thân vương tự xưng cao thủ hàng đầu kinh thành cho trẫm mặt mũi rồi, ha ha.
    Lúc bấy Tịch Tà mới nở một cười rực rỡ, đôi mắt vốn mang sự lạnh lẽo bỗng làm người ta bất giác thấy có gió xuân thổi vào mặt.
    – Tạ ơn hoàng thượng đã khen ngợi.
    Hoàng đế gật đầu nói:
    – Người hầu giỏi giang, đừng để thầy khanh mất mặt đấy.
    – Vạn tuế gia! – Thái giám dâng bút tên Như Ý vào bẩm – Thái phó[5] Lưu Viễn đang xin gặp ở ngoài cung Càn Thanh ạ.

    ========== Truyện vừa hoàn thành ==========
    1.

    Mùa Hè Năm Ấy Thật Đẹp
    2.

    Hàng Xóm Của Tôi Là Cô Giáo
    3.

    Hồn Của Ba Tôi Bám Theo Anh Chàng Học Thần Cao Lãnh
    4.

    Trở Về Năm Tháng Bố Tôi Là Hotboy
    =====================================
    [5] Chức quan thuộc hàng tam công, dưới thái sư và trên thái bảo, có trách nhiệm nuôi nấng vua.
    Hoàng đế và Thành Thân vương đều ngẩn ra, các nội giám bỗng hít khí nín thở, gian điện phụ hoàn toàn tĩnh mịch.

    Sắc mặt hoàng đế khó coi, một lát mới nói:
    – Cát Tường đi mời thái phó, trẫm gặp ông ta ở thư phòng.

    – Đoạn nói với Thành Thân vương – Em ở đây chờ ta.
    Mới nói xong đã thấy Cát Tường đi vào với vẻ mặt xấu hổ, tâu:
    – Bẩm vạn tuế gia, Lưu Viễn trả lời vì có công việc khẩn cấp nên không đợi giá ở ngự thư phòng nữa.

    Bây giờ Lưu Viễn đang ở bên ngoài tẩm điện xin gặp ạ.
    Thành Thân vương nhìn hoàng đế, hoàng đế hít vào một hơi rồi gật đầu, bình tĩnh trở lại và nói:
    – Vậy thì gặp ở đây.

    Thành Thân vương không cần phải tránh đâu.
    Tiếng bước chân nặng nề vang lên, Lưu Viễn to bè bè bước nhanh vào, quỳ xuống hành lễ dưới chân hoàng đế.
    – Xin thầy đứng lên.

    – Hoàng đế khá khách sáo đối với vị đại thần cố mệnh này[6] – Chuyện gì mà phải tâu gấp thế?
    [6] Là đại thần được hoàng đế giao cho trọng trách trị nước trước khi mất.
    – Thánh thể hoàng thượng ra sao ạ? – Lưu Viễn ngồi lên trên ghế mà Như Ý mang tới, nhìn hoàng đế từ trên xuống dưới rồi hỏi.
    – Trẫm khỏe.
    – Nhiều ngày nay không thấy hoàng thượng đến buổi chầu sớm, nếu đã không phải là vì thánh thể không khỏe thì vì cớ gì vậy?
    Hoàng đế hết sức bối rối, dĩ nhiên không lên tiếng.
    Tiếng nói của Lưu Viễn vô cùng vang dội, cao giọng nói tiếp:
    – Nhiều ngày không thấy hoàng thượng đích thân quản lý triều chính, mỗi ngày chỉ cùng thân vương chơi cờ săn bắn, ngày ngày theo giá mà chẳng thấy một bề tôi nào can gián.

    Hoàng thượng xao lãng triều chính như vậy, có biết dư luận giới thượng lưu trong ngoài triều đình và dân gian như thế nào chăng?
    Hoàng đế lúng túng nói:
    – Thầy dạy rất đúng.
    – Nay phương bắc có Khuất Xạ Thị[7] tiến xuống nam, tây nam lại có người Miêu làm loạn, mà quốc khố thì trống không, lương bổng cho đại quân không đủ, khó mà chinh phạt.

    Đáng lẽ ra giờ nên là lúc để Ông Trực của bộ Binh, La Tấn của bộ Hộ hiến kế sách, sao bên cạnh hoàng thượng không trông thấy hai người họ góp lời hầu vua?
    [7] Một tộc phương Bắc Trung Quốc sau bị Hung Nô xâm chiếm.
    Đây là lúc Thành Thân vương nên tranh cãi đôi câu thay hoàng đế, y ngắt lời cười nói:
    – Thưa thầy, mấy ngày trước hai người Ông Trực và La Tấn đã góp lời trước vua lâu rồi, chủ ý của bọn họ không gì ngoài tăng thuế để xuất chinh, đã cầm tấu chương được phê đi làm việc rồi.

    Hôm nay ngày dài, hoàng thượng phê xong tấu sớ từ sáng sớm rồi…
    Nhưng Lưu Viễn lại liếc Thành Thân vương với đôi mắt sáng quắc, Thành Thân vương lập tức ngậm miệng lại.
    – Có vương triều nào bị thay thế mà không phải do hoàng đế bỏ bê triều chính.

    – Lưu Viễn nói – Việc quan trọng trước mắt là bổ nhiệm kẻ hiền tuấn, cách xa bọn tiểu nhân.
    Cuối cùng lão đưa mắt bắn thẳng đến đám nội thần Cát Tường, Như Ý và Tịch Tà.
    – Nhất là những tên quan hoạn cả ngày xúi giục hoàng thượng mua vui này…
    Lão vừa dứt lời, nội thần khắp phòng đều không khỏi thầm hít một hơi khí lạnh, đứng trang nghiêm không dám ho he.
    – Nên biết hoạn quan xu nịnh, gặp được quyền hành to lớn thì tất lộng uy quyền, kiêu căng hống hách, con mắt hẹp hòi của triều đình và dân gian ắt sẽ gây nên tổn hại đối với thánh uy của vua, có trăm hại mà không được lấy một lợi.

    Còn có đứa tỏ văn chương, tường kim cổ, trổ tài trí tuệ, gặp vua làm việc gian, dụ vua sa vào thanh sắc để chuyên quyền.

    Bấy nhiêu triều đại nhiều vô số kể.

    Vì nỗi ấy hoàng thượng không nên quá gần gũi với nội thần, luôn nhớ việc chỉnh đốn cung vua, càng phải phân biệt kẻ có dã tâm lộng quyền để mau chóng trừng phạt…
    Lão thao thao bất tuyệt, cuối cùng hoàng đế đã không còn kiên nhẫn nữa, gượng cười nói:
    – Thầy ơi, mấy nội thần này chẳng qua chỉ ở bên hầu hạ trong lúc trẫm chơi cờ với thân vương thôi, chưa có lúc sơ sẩy lười biếng bao giờ, càng chưa từng nói tới việc chính trị.

    Nghe thầy nói tùy tiện xử trí người khác thì từ rày còn có ai dám hầu hạ bên cạnh nữa? Vả, mấy nội thần này luôn làm việc thận trọng, là người mà thái hậu tự mình điều đến cung Càn Thanh.

    Cho dù thầy không tin trẫm thì cũng nên tin thái hậu mới phải.
    Những lời này nói liền một hơi, Lưu Viễn chỉ đành thưa:
    – Thần không dám.

    – Lão cúi đầu suy nghĩ một lát, mặt đỏ lên, lớn tiếng nói – Nhưng nói đến thái hậu, thần có một lời.

    Họ ngoại của thái hậu tổng cộng có bốn vị thân vương, không công mà chiếm được đất phiên giàu có đông đúc, không phải nộp tiền thuế.

    Từ khi được ơn huệ của thái hậu đã gần mười năm, chính là vì thế mà quốc khố trống rỗng…
    – Câm miệng! – Hoàng đế quát lão, cau mày nói – Thuế khóa đất phiên của bốn vị thân vương vốn là phần thưởng của triều đình.

    Bốn vị thân vương có công cần vương với ta, Lưu khanh dựa vào đâu mà có thành kiến với họ ngoại? Mặc dù khanh là đại thần cố mệnh được tiên đế phong cũng không nên bàn luận về thái hậu ở trước mặt trẫm.

    Hơn nữa dẫu không kể đến công lao lớn trong năm đầu Khánh Hi thì chỉ việc bốn vị thân vương cam nguyện trấn thủ chỗ man di mọi rợ đã có công lao cực lớn với đất nước, với trẫm rồi.

    Khanh ở nơi này gièm pha là có ý gì?
    – Hoàng thượng, lão thần luôn trung thành hết mực, chỉ trông mong hoàng thượng tự mình lo liệu triều chính, trói buộc đất phiên, bổ nhiệm nhân tài.

    Hoàng thượng không tin lão thần, lão thần chỉ có lấy cái chết ra để can gián thôi.
    – Khanh đã mấy mươi tuổi rồi mà sao còn không hiểu chuyện như thế? Động một tí là lấy cái chết ra để ép buộc, ai ai cũng đều giống khanh thì bảo vị hoàng đế như trẫm phải làm sao đây? – Hoàng đế tức giận đến phát run, nói – Thị vệ mời thầy đi ra ngoài, tự xét lại mình ở nhà đi.
    Lập tức có đại thần Hạ Dã Niên dẫn dắt thị vệ mang người vào bắt Lưu Viễn ra.

    Lưu Viễn đã đi xa rồi nhưng tiếng kêu khóc vẫn không dứt bên tai, hoàng đế cả giận nói:
    – Lão thất phu, thật là mất hứng! – Đoạn phẩy tay áo một cái rồi đi vào trong.
    Lưu Viễn há lại chịu thôi, vẫn cứ hô hoán vọng vào cung Càn Thanh nhưng đều bị Hạ Dã Niên ngăn cản.

    Lưu Viễn tức giận quở trách Hạ Dã Niên một trận, thấy hoàng đế thật sự không có động tĩnh gì thì mới được học trò của đồng liêu nửa khuyên nửa đỡ về phủ.
    Phủ của Lưu Viễn xây ở trên đường lớn Thiên Đức phía tây, phủ đệ của thái phó nên mùi sách khắp nơi.

    Đối diện phòng sách của Lưu Viễn còn có một sân hoa đào.

    Đương mùa tháng ba, gió đêm lướt qua làm hoa rơi lả tả, rơi xuống trên bậc thềm ngoài phòng sách.

    Tính tình của Lưu Viễn rất gàn bướng, nửa đêm trằn trọc, cuối cùng lại bò người dậy, đốt ngọn nến to trong phòng sách, vẫn khuyên nhủ hoàng đế hết nước hết cái trong tấu chương.

    Chợt nghe trên bậc thềm ngoài cửa “Keng” một tiếng, lão ngẩng đầu lên quát một tiếng: “Ai?” Rồi rút thanh kiếm trên tường ra, xách nó rảo bước nhanh ra bên ngoài cửa.
    Chỉ thấy bốn người đàn ông che mặt ở dưới bậc thềm, ai nấy đều cầm lưỡi dao sắc bén trong tay, ngạc nhiên nhìn tay đồng bọn khác.

    Trên mặt đất là chiếc đao thép mà người nọ làm rơi, lấp lánh phản chiếu ánh nến trong phòng sách.
    Lại nghe bên phòng sách có người nói: “Đêm khuya đến thăm thật thất lễ.” Lại có hai người tới.

    Người nói chuyện cao to cường tráng, giọng điệu tao nhã.

    Tuy hỏi thăm Lưu Viễn nhưng lại lạnh lùng quét mắt đến chỗ mấy tên thích khách: “Không khéo lại gặp phải cảnh phủ nhà thái phó hát hí khúc, không biết là từ đâu ra thế?”
    Đám người che mặt đều lấy làm kinh hãi, ngẩng đầu nhìn hai người tới, chỉ thấy trên mặt mỗi người đeo một chiếch mặt nạ dữ tợn bằng đồng.

    Người đàn ông kia giắt kiếm bên hông, giơ tay lên ngăn cản Lưu Viễn, nói: “Thái phó ngắm hoa thì không nên vội một chốc một lát, đợi tôi đuổi năm thằng giặc con cả gan làm loạn này rồi nói sau.”
    Kẻ bịt mặt cầm đầu cười lạnh nói: “Mấy anh em bọn tao làm chuyện đầu đao đầu l**m máu này nhiều năm rồi, dựa vào mày thì có thể làm gì được bọn tao chứ?”
    Tiếp đó có một tên đồng bọn vóc dáng gầy guộc tiếp lời: “Đúng vậy, đuổi cổ chúng nó đi.”
    Hai người khác theo sát phía sau, ba người vội múa binh khí lao thẳng tới Lưu Viễn ở trước cửa phòng sách.

    Người đàn ông che mặt cao giọng cười, ngón trỏ trái nhẹ nhàng b*n r*, trường kiếm bên hông xoẹt cái đã tuốt ra khỏi vỏ.

    Bắn nhanh vào ấn đường của tên bịt mặt có vóc người cao gầy, người đó cả kinh hãi hùng, dùng Thiết bản kiều[8] ngã về phía sau, gió lạnh đập vào mặt, khó khăn lắm mới né được.

    Nhưng vừa đứng dậy, bóng đen đã lóe lên trước mắt.

    Người đàn ông kia tới còn nhanh hơn phi kiếm, xẹt qua đỉnh đầu gã, tóm lấy trường kiếm rồi nhẹ nhàng kinh hoạt xoay người trên không trung, một kiếm mang theo thế như sấm như gió, chia ra giữa lưng của ba người.
    [8] Một loại tuyệt chiêu cứu mạng trong võ thuật, dùng để né tránh ám khí của địch.

    Bình thường ám khí tới quá nhanh, không kịp nhảy lên hoặc tránh sang bên cạnh, chỉ đành cứng người, đột ngột ngửa về đằng sau để ám khí lướt qua mặt.
    “Cẩn thận!” Tên bịt mặt cầm đầu hét to một tiếng, quơ đao bổ về phía sau lưng người đàn ông.

    Thân pháp của người đàn ông ấy còn nhanh hơn đao pháp của gã, không để ý tới lưỡi đao sau lưng, thân thể hạ xuống phía dưới, tiến vào trận địa của ba người kia như con ưng khổng lồ cướp thức ăn.

    Cổ tay hắn ta khẽ lật, giễu cợt hai tiếng, người đàn ông ấy đã móc lấy khăn đội đầu buộc tóc của hai người, còn rảnh rỗi đã cho tên gầy kia một cú.

    Một cú ấy rất mạnh mẽ, thân thể người kia bay lên trời rồi rơi thẳng xuống mũi đao của tên bịt mặt cầm đầu.

    Tên cầm đầu khiếp vía, vội vàng thu đao lại nhưng không thể cản được thế tới, hai người đập vào nhau, lăn thành một cục.
    Lúc bấy Lưu Viễn mới phục hồi tinh thần lại, hét lớn: “Người đâu, người đâu.”
    Tên bịt mặt cầm đầu thấp giọng nói: “Thật là hóc búa, không liều mạng thì không có cách nào trở về báo cáo kết quả được đâu.”
    Thích khách bị thương lại nói: “Đại ca, chỉ sợ cái tay này của em đã tàn phế rồi.”
    Tên bịt mặt cầm đầu nghe vậy thì lấy làm kinh hãi, chỉ thấy gã nhị đau đến mức đầu đổ đầy mồ hôi lạnh, tay phải mềm nhũn rũ xuống, xương cốt trên bàn tay gần như đứt từng khúc một.

    Gã không khỏi giận dữ, rút ra một cái nỏ mạnh từ bên hông, b*n r* hai mủi tên, bắn thẳng vào Lưu Viễn dưới mái hiên.

    Chuyện xảy ra ngột, thế tới của tên nỏ lại nhanh, người đàn ông ấy cáhc Lưu Viễn có hơn mười bước chân nên không cứu kịp.

    Một người đeo mặt nạ đồng khác có vóc nhỏ yếu ở bên Lưu Viễn vẫn đứng chắp tay sau lưng, dáng vẻ như thể không có võ công.
    “Xong việc rồi!” Người bịt mặt mở cờ trong bụng, không kiềm được mà thốt lên.
    Nhưng người đeo mặt nạ đồng ấy lại bước một bước lên trước, đưa một cánh tay nõn nà hơn cả cánh hoa từ trong tay áo, nhẹ nhàng búng một cái ở trên hai mũi tên.

    Thế đến của tên nỏ bị áp chế, một tiếng rít gào, nhanh như chớp bắn ngược về phía người bịt mặt kia.

    Thậm chí người bịt mặt ấy còn chưa kịp có ý định né tránh, đỉnh đầu đã đau buốt, hai mũi cắm phập trên búi tóc của gã.
    Người đeo mặt nạ đồng lại vẫn đứng chắp tay sau lưng như thể chưa từng nhúc nhích.

    Ở trong mắt của năm thích khách, việc hắn ra tay trôi qua rồi biến mất tựa như ảo ảnh mà ánh trăng rọi xuống.
    Tiếng đầy tớ ồn ào xuyên vào trong sân.

    Người đàn ông kia cười khẩy bảo: “Chủ nhân nhà tao từ bi, không cần mạng của mày, chúng mày còn ở nơi này làm gì nữa? Còn không mau cút đi?”
    Năm người đã hồn xiêu phách lạc từ lâu, lúc này nghe được đại xá như thế thì leo tường chạy trốn nhanh như chớp.
    Người đàn ông kia cười nói với người đeo mặt nạ đồng: “Khinh công của mấy thằng ranh này rất có tiến bộ đấy, về sau phải để ý chúng nó hơn.”
    Lưu Viễn vội bảo: “Nếu khônag bắt được năm tên cướp sông cướp chợ ấy thì sau này sẽ còn hại người.”
    Người đeo mặt nạ đồng nhưng vẫn phát ra tiếng cười trong trẻo: “Năm tên đại nội thị vệ xuất thân từ con em nhà dòng dõi, bổng lộc hằng năm sung túc, nếu không có mệnh lệnh trên người thì sẽ không đi làm ngón trò này đâu.”
    “Bọn họ là thị vệ trong cung ư?” Sắc mặt Lưu Viễn bỗng trắng bệch.
    Tiếng bước chân của đầy tớ đã vào sân, người đeo mặt nạ đồng nói: “Tôi có chuyện quan trọng muốn bàn với thái phó, để những người không liên quan trông thấy thì sẽ không tiện lắm.” Nói rồi cùng người đàn ông nhặt thanh đơn đao do thích khách đánh rơi và nhanh chóng lui vào trong phòng.
    “Lão gia có ổn không?” Bọn đầy tớ cuống quýt xông tới, cùng hỏi thăm.
    “Tôi không sao.” Lưu Viễn nghe xong lời của người đeo mặt nạ đồng thì tâm thần chấn động, môi vẫn đang run rẩy, “Lui xuống hết đi, để tôi yên tĩnh một lát.” Lão không để ý đến vẻ kinh ngạc của mọi người, vào nhà đóng cửa lại.
    Người đeo mặt nạ đồng gật đầu nói với Lưu Viễn: “Lưu thái phó, bọn tôi tới l* m*ng vì có nguyên nhân, xin hãy thứ lỗi.”
    “Hai vị là…”
    Người đeo mặt nạ đồng lại không để ý tới câu hỏi của Lưu Viễn, tùy tiện chọn một cái ghế rồi ngồi xuống.

    Người đàn ông chỉ đứng phía sau hắn, vừa nhìn đã biết có phân chia chủ tớ.

    Người đeo mặt nạ đồng cười nói: “Đã bao nhiêu năm rồi mà tính nôn nóng của thái phó vẫn không thay đổi.

    Tính cách cương trực là tốt, nhưng nếu chọc vào họa sát thân thì sợ rằng…”
    Lưu Viễn nói: “Lão hủ hết sức trung thành, có thể chết vì hoàng thượng chết thì chết cũng có ý nghĩa, chết cũng không hối tiếc.”
    Người đàn ông kia cười thất thanh, nói: “Chủ nhân, tôi đã nói Lưu thái phó đần độn không linh hoạt, đã hết thuốc chữa từ lâu rồi mà.

    Đêm nay nhọc công chủ nhân tự mình đi chuyến này, ngoại trừ cứu lão một mạng ra thì lại công cốc trở về.

    Mỗi ngày để lão tranh cãi ầm ĩ ở trước mặt hoàng đế thì chẳng thà cho người ta lấy cía mạng già của lão trước.”
    “Anh nói cái gì?” Mày râu của Lưu Viễn dựng ngược, trợn mắt nhìn người đàn ông kia.
    Trong phòng đột nhiên tràn đầy tiếng cười tươi mát, người đeo mặt nạ đồng nói: “Thuộc hạ của tôi nói năng đắc tội, xin thái phó bớt giận.”
    Lưu Viễn bảo: “Rốt cuộc hai vị là ai? Có ý đồ gì?”
    “Nếu không thành thật báo cho biết thì e thái phó trách móc.” Người đeo mặt nạ đồng cười nói, “Tại hạ họ Nhan, thuộc hàng thứ chín trong nhà.”
    Lưu Viễn đột nhiên ngã ngồi ở trên ghế, thịt béo toàn thân run rẩy kịch liệt, nhìn con mắt của người đeo mặt nạ đồng tản ra như tro tàn.

    Cái tên giống như lời nguyền rủa được chậm rãi phun ra từng chữ một từ trong miệng lão: “Diêm, Diêm vương…”
    Ai ơi nhớ lấy câu này, reup không khéo có ngày rụng răng.
    Sau giờ Ngọ ngày tiếp theo, Thành Thân vương xin gặp ở bên ngoài ngự thư phòng cung Càn Thanh, một lát sau có thái giám hầu đi ra truyền chỉ nói: “Hoàng thượng khẩu dụ, mời Thành Thân vương đợi giá bắn cùng ở vườn Tử Nam.”
    Thành Thân vương lĩnh chỉ nói: “Được.

    Sao hoàng thượng lại muốn bắn tên nhỉ?”
    Tiên đế có mười một vị hoàng tử, tám vị công chúa.

    Lúc thái hậu còn làm phi thì dạy dỗ hai đứa con trai rất nghiêm khắc, rất ít khi cho bọn họ giao du thân thiết với những hoàng tử khác.

    Nói đến bạn chơi thì từ nhỏ đến lớn chỉ có hai người họ mà thôi.

    Lúc còn tấm bé, hoàng đế và Thành Thân vương đã ham đánh cờ, nhưng tài đánh cờ của hoàng đế hơi kém, từ lúc nhỏ đã hễ chiến là bại, càng bại càng chiến, đã thua liên tiếp mấy chục năm.

    Cho đến khi đăng cơ, Thành Thân vương cũng vẫn trước sau như một, chưa từng nhường nhịn chút nào.

    Lòng hiếu thắng của hoàng đế rất mạnh, giống như việc thảm bại ngày hôm trước, chưa bao giờ có chuyện hôm sau không lấy lại danh dự.
    Hoàng đế mặc một bộ áo kép bó ống tay áo màu tím mới làm, thần thái phấn chấn dẫn người vào vườn Tử Nam.

    Trong cung đã đổi thành quần áo mùa xuân, Thành Thân vương thấy cái áo kép này cắt quá chật, ngược lại làm nổi bật lên dáng vẻ oai hùng, vai rộng eo thon của hoàng đế.
    “Thì ra hoàng thượng đang thử quần áo mới.”
    Hoàng đế cười nói: “Mẫu hậu nói xiêm áo trong cung trước sau rộng thùng thình, người trẻ tuổi mặc không khỏi có vẻ mất tinh thần.

    Năm nay cục Châm Công đã sửa lại kiểu dáng.

    Mẫu hậu còn nói, nếu như em thích thì bảo cục Châm Công làm giống vậy cho em.” Nói xong thì đeo nhẫn rồi đón lấy cung tên Cát Tường dâng lên, kéo ra bắn ngay, một mũi tên trúng giữa hồng tâm, hai ba mươi tên thái giám đi theo không ngừng vỗ tay khen hay.
    Thành Thân vương cười khổ nói: “Từ nhỏ thần đã không bằng hoàng thượng trong chuyện cưỡi ngựa bắn cung này rồi, mặc quần áo mới cũng vẫn chịu thua, tội gì trang hoàng đẹp đẽ để mà bẽ bàng.”
    Hoàng đế nói: “Hôm nay có chuyện mới.

    Thái phó Lưu Viễn cáo ốm trên tấu sớ, đòi ở nhà tĩnh dưỡng.

    Lão còn kiêm cả thượng thư bộ Lại nên bảo học sinh của lão là Thái Tư Tề quản lý hộ.”
    “Nhất định là hôm qua hoàng thượng khiển trách lão nên tự lão muốn ở nhà suy ngẫm.

    Thế thì hoàng thượng cũng có thể yên tai một khoảng thời gian rồi.”
    Hoàng đế khẽ cười lạnh: “Yên tai sao? Ngược lại cũng không chắc đã là chuyện tốt.”
    Thành Thân vương hơi chấn động, tên b*n r* lập tức mất độ chuẩn xác, bắn không trúng bia thì cũng thôi, lại còn bay về phía một đám nội giám, dọa cho những thái giám nhỏ ấy vắt chân lên cổ mà chạy.

    Thái giám bên cạnh hoàng đế đã quen với tình cảnh này nên đều nghiêm trang làm như không thấy.

    Chỉ có hoàng đế vỗ vai Thành Thân vương, nói: “Cho tới hôm nay ta thật sự không thể chịu được phép bắn cung của em nữa rồi.

    Thầy dạy em cưỡi ngựa bắn cung là ai? Để ta thay em cách chức của y, hỏi tội y dạy hư học sinh.”
    “Việc ấy không đáng để làm phiền hoàng thượng đâu ạ.” Thành Thân vương cười nói, “Tuy thầy của thần không phải thượng tướng bộ Binh nhưng cũng là thị vệ thống lĩnh thân tín của mẫu hậu.

    Giờ mẫu hậu đang ở cung Từ Ninh hỏi gã, hôm nay hoàng thượng tha cho hắn cũng được.”
    Tình cảnh lúc này của Hạ Dã Niên quả thực không hay.

    Đêm qua gã sai người anh em Hạ Thiên Khánh dẫn theo bốn người thị vệ Hoàng Đản, Tiền Việt, Trương Xuất, Phùng Mậu đi ám sát Lưu Viễn, không ngờ lại thất bại quay về.

    Nhưng điều làm người ta lo lắng nhất chính là hai kẻ nửa đường xông ra đấu đá.

    Mặc cho năm tên thị vệ lão luyện này đấu mấy chiêu nhưng từ đầu đến cuối chưa từng nhìn ra nội tình của hai người ấy.

    Hạ Dã Niên lăn lộn nhiều năm ở trong cung đình, biết rõ lợi hại, không dám giấu giếm, chỉ đành bẩm báo theo sự thật với thái hậu.

    Thái hậu nghe xong thì chậm rãi buông chén trà, trầm mặc một lát.

    Đầu Hạ Dã Niên đầy mồ hôi lạnh, gã cúi đầu không dám ngẩng lên.
    “Ôi! Khanh quá tự tung tự tác rồi.” Thái hậu khẽ thở dài ở bên trong mành, “Lưu Viễn là bề tôi đắc lực.

    Chẳng qua là bàn vài câu về phiên vương họ ngoại, cũng không đến mức để khanh phái người đi dọa lão.”
    “Thần tội đáng muôn chết!” Hạ Dã Niên khấu đầu.
    “Được rồi.” Thái hậu mỉm cười, “Đại thần trong triều các khanh đùa nhau cũng cần có chừng mực.

    Có điều thuộc hạ của khanh không phải kẻ đầu đường xó chợ, làm sao lại để người trong phủ thái phó dạy dỗ thế?”
    “Thái hậu thánh minh.

    Thuộc hạ của thần trở về bẩm báo rằng đã gặp hai cao thủ ở trong Lưu phủ.

    Một người trong đó lấy một địch năm mà không rơi vào thế hạ phong, một kẻ khác thì còn biết dùng phép tà, có thể bắn ngược mũi tên mà gã b*n r*.

    Người do thần phái đi thực sự không phải là đối thủ của bọn họ, có một người bị phế cánh tay phải, có thể sống sót rút lui đã may mắn rồi.”
    Thái hậu hơi trầm tư, quay đầu nhìn về nữ quan Hồng Tư bên Ngôn bên cạnh và nói: “Cô có cảm thấy nghe rất giống một người không?”
    Hồng Tư Ngôn biến sắc nói: “Chẳng lẽ thái giám Thất Bảo còn ở kinh thành?”
    “Việc này quyết không phải.” Hạ Dã Niên nói, “Thần đã phụng ý chỉ của thái hậu phái người trông coi lão, hôm qua họ báo lại rằng giờ lão ở Thanh Châu, bị bệnh trong khách đ**m.”
    Thái hậu nói: “Cho dù Thất Bảo còn ở kinh thành cũng sẽ không đối nghịch với ta.” Rồi xoay về hướng Hạ Dã Niên nói, “Hạ khanh, khanh hãy an ủi chăm sóc thị vệ bị thương đi.

    Chuyện này không nên nhắc lại nữa, đế tránh làm thị vệ mất mặt.”
    Thái hậu thấy Hạ Dã Niên hành lễ rút lui rồi mới hỏi Hồng Tư Ngôn: “Cô cảm thấy thế nào?”
    “Hạ Dã Niên quả thực rất am hiểu thánh ý của thái hậu.

    Biết thái hậu ghét Lưu Viễn tranh cãi ầm ĩ nên không ngại xuống tay giết lão.”
    “Gã thì biết cái gì chứ!” Thái hậu cười nhạt, “Đại thần trong triều có mấy người còn hướng về hoàng đế? Đều bị gã nhổ bỏ từng kẻ một thì sau này hoàng đế còn dùng người nào được nữa? Tuy rằng Hạ Dã Niên theo sát ta nhưng những năm gần đây được không ít lợi từ phiên vương.

    Tất nhiên ta không tin gã dám cả gan giờ trò gì, song cũng biết từ tận đáy lòng của gã không khỏi muốn suy xét thay đám phiên vương.

    Gã chỉ cho rằng suy cho cùng thì phiên vương họ ngoại và ta đều ở trên một chiếc thuyền mà lại quên mất hoàng đế là đứa con trai ruột thịt của, là thánh chủ của cả Trung Nguyên!”
    “Nếu thái hậu để mặc lão già Lưu Viễn kia thì chỉ e lão sẽ chăm chăm vào mọi chuyện, mỗi ngày đều làm om sòm, sớm muộn sẽ gây ra chuyện đấy ạ.”
    “Không cần sợ việc này.” Thái hậu chỉ một đống tấu chương trên bàn rồi nói, “Lão đã học được sự khôn khéo rồi, hôm nay cáo ốm trên tấu sớ, cuối cùng cũng có thể khiến người ta thái bình một thời gian.”
    “Suy cho cùng thì để ở trong triều vẫn sẽ không yên ổn, hay là mượn cớ đuổi về quê quán dưỡng lão, đợi một thời gian lại mời lão trở về…”
    “Lưu Viễn có rất nhiều học sinh đồng đảng trong triều, chỉ sợ sau việc ấy bọn chúng mê hoặc lòng người, kích động hoàng đế chống lại ta.

    Đến lúc đó chỉ có phiên vương được ích lợi thôi.

    Bây giờ tuyệt đối không thể động đến lão ngay ngoài sáng.

    Con gái của lão lấy Đề đốc Binh mã năm thành họ Viên, vốn dĩ hắn bị bọn giặc đâm chết, Viên Tấn đóng giữ kinh thành không hiệu quả, tất nhiên không thoát khỏi liên quan.

    Lại để thân tín của Hạ Dã Niên nhận chức Đề đốc Binh mã năm thành.

    Trong triều không có Lưu Viễn tranh cãi ầm ĩ, bên ngoài cửa cung cũng thay thành người của ta, như vậy một hòn đá ném trúng hai con nhạn, có thể nhổ bỏ Lưu Viễn tận gốc.

    Hạ Dã Niên rất thông minh, có điều có người nhúng tay vào biến khéo thành vụng.”
    “Không biết hai nhân vật chen vào đó là ai.

    Nếu võ công cao cường thì vì sao không bắt thích khách lại thẩm vấn?”
    Thái hậu cười nói: “Còn cần thẩm vấn sao? Chắc chắn hai người kia đã biết là thị vệ trong cung lâu rồi, sợ xé rách mặt mọi người nên cố ý thả chúng về.”
    “Đúng vậy, nếu Lưu Viễn không biết là thích khách trong cung thì với tính tình của lão sao lại cáo ốm ở nhà?”
    Thái hậu cười khổ nói: “Chỉ sợ Lưu Viễn còn tưởng rằng là ta phái người giết lão, bây giờ coi ta là kẻ hai mặt rồi.

    Con người Lưu Viễn rất tốt, chính kiến cũng không tệ, chỉ là thời cơ không đến.

    Không nên quá ép buộc hoàng đế, bây giờ chậm lại mới có lợi đối với tất cả mọi người.”
    Hồng Tư Ngôn nói: “Thần nói lời này có lẽ sẽ khiến thái hậu tức giận, nhưng mấy vị vương gia nhà mẹ đẻ chủ nhân cũng thật quá phận, nếu tính cách hoàng thượng giống thái hậu thì sớm muộn cũng sẽ xảy ra chuyện lớn.”
    Thái hậu ngửa đầu trông Hồng Tư Ngôn rồi u ám nói: “Người đó đã chết, tiên đế cũng đi mất, hoàng đế cũng vô cùng cảnh giác ta.

    Cả đời này của ta chẳng có niềm vui, chẳng mấy chốc là đến điểm cuối, còn muốn thấy ta thủ túc cốt nhục tương tàn sao? Cô nói không sai, ta thật mong bây giờ mình mù hai con mắt để khỏi phải trông thấy bọn họ ngọc nát đá tan.”
    Ngày hôm đó có người của cục Châm Công tới cắt áo xuân cho Thành Thân vương.

    Thành Thân vương vốn không thích để ý tới chuyện này nhưng nghe người báo lại rằng kẻ cầm đầu là thái giám thu mua Tịch Tà, bèn luôn miệng bảo người đi gọi đến.

    Thành Thân vương vốn có tính ưa sạch sẽ, không thích người khác hí hoáy ở trên người nhưng hôm nay lại cười hì hì đợi hai nội giam đo đạc xong mới nói với Tịch Tà: “Ta biết tài đánh cờ của anh cao siêu, nếu đã tới thì chi bằng chơi một ván cờ với ta đi.”
    Sư gia của vương phủ bày bàn cờ trong vườn hoa rồi ở bên xem.
    “Ngồi đi.” Thành Thân vương cười nói.

    “Nô tỳ xin mạn phép.” Tịch Tà hành lễ.
    Hai người bố trí tọa tử[9], Tịch Tà để quân trắng xâm nhập vào góc tạo thế.

    Thành Thân vương dùng quân đen đối phó lại.

    Lại thấy ngón tay trơn bóng nõn nà hạ cờ của Tịch Tà tản ra cảm giác mát mẻ dưới mặt trời ngày xuân thì không khỏi ngẩn ra.

    Nhìn mặt của hắn, thấy sắc mặt hắn lãnh đạm thì khẽ mỉm cười, trong lòng không khỏi rung động.
    [9] Quy tắc áp dụng trong cờ vây Trung Quốc cổ đại, ban đầu sẽ đặt hai quân đen hai quân trắng ở vị trí trong hình rồi hai bên sẽ từ cơ sở này mà bắt đầu bày bố.
    “Vương gia.” Tịch Tà thấy y thất thần, không kiềm được nhắc nhở một câu.
    “A, đúng.” Lúc này Thành Thân vương mới tiếp tục hạ cờ.
    Sau hơn mười nước đi, đường cờ của Tịch Tà đã vào khuôn thước.

    Thành Thân vương vẫn thấy cho dù mình biến hóa quay cuồng thì thế cờ của đối thủ lại giống như biển khói trào dâng, thong dong đối phó, bình chân như vại.

    Sau một ván, hai người lại hoà.
    Thành Thân vương cười nói: “Ta biết anh ngại thắng ta, còn chơi cờ nữa thì ta chỉ có nước bẽ mặt thôi.”
    Tịch Tà đứng dậy hành lễ nói: “Vương gia khiêm tốn quá.”
    “Không chơi cờ nữa.” Thành Thân vương đột nhiên dắt tay Tịch Tà, dịu dàng nói, “Chi bằng ở đây ăn cơm với ta rồi hẵng đi.”
    Bàn tay Thành Thân vương hơi mang theo hơi ấm ẩm ướt.

    Không thấy vẻ mặt Tịch Tà thay đổi gì, nụ cười vẫn y nguyên, chỉ chậm rãi rút tay về và nói: “Vương gia trọng thưởng, từ chối thì bất kính.

    Chỉ là trời đã tối, chỉ sợ cửa cung đóng lại nên không dám ở lại thêm nữa ạ.”
    Thành Thân vương bất đắc dĩ, cho hắn cáo lui.

    Sau khi thấy hắn đi xa rồi mới cười hỏi Triệu sư gia bên cạnh: “Thế nào?”
    “Băng thanh ngọc khiết, tuyệt sắc!” Triệu gia sư tấm tắc khen, “Có điều, học sinh khuyên ngài đừng nên có ý đồ với hắn.”
    “Sao thế?”
    “Người này thông minh hơn người, làm việc điềm tĩnh, không lộ mừng giận, tuyệt không phải hạng hiền lành.”
    Thành Thân vương vẫn chưa hết hi vọng, hỏi tới: “Làm sao anh biết được?”
    “Trông mặt mà bắt hình dong thôi ạ.” Triệu sư gia nói, “Không phải học sinh nịnh để vương gia vui, cả đời học sinh hiếm thấy được kỳ tài ngút trời như vương gia.

    Nhưng vừa này xem cờ đã biết ngay Tịch Tà này thông minh song lại xảo quyệt…”
    Thành Thân vương cười nói: “Anh đang nịnh cho ta vui? Muốn nói là trí tuệ của hắn vượt xa ta thì có.”
    Triệu sư gia cười làm lành nói: “Vương gia minh giám.

    Không nói đến chuyện hắn có chí lớn gì, chỉ mới sự thông minh trên đạo đánh cờ này thôi cũng đã đủ để làm người ta rợn cả tóc gáy rồi.”
    Thành Thân vương gật đầu, mặt mày có vẻ buồn bã, thở dài: “Chỉ là không biết hạng nhân vật như thế làm sao có thể làm việc cho ta.

    Một Cát Tường rất có phong độ của bậc đại tướng, Như Ý thì hết sức hào hiệp, lại thêm Tịch Tà này.

    Trong bảy học trò của thái giám Thất Bảo có ít nhất ba bốn kẻ tất thành người tài.

    Thái giám Thất Bảo quả là giỏi giang!”
    Hơn một tháng liền sau đó, hoàng đế lúc nào cũng cho đòi Thành Thân vương theo giá nhưng tuyệt không nhắc tới đánh cờ nữa.

    Thành Thân vương ngứa nghề khó nhịn nhưng dù sao đối thủ cũng là sư gia, thực khách, cho dù là đại thần trong kinh cũng không dám thắng y, mặc dù tài đánh cờ cao tới đâu cũng phải khúm núm.

    Thành Thân vương vốn đã khó gặp đối thủ, lúc này càng cảm thấy mình thắng mà không anh hùng nên rất mất hứng.
    Ngày hôm đó cuối cùng hoàng đế cũng sai người đến gọi hắn đánh cờ cùng.

    Thành Thân vương tới điện phụ của cung Càn Thanh thì thấy trên bàn đặt ở giường êm gần cửa sổ đã bày bàn cờ, một thái giám áo xanh đứng hầu cờ cho hoàng đế, còn Như Ý thì ở bên xem.

    Vì vậy y cười nói: “Hoàng thượng vạn phúc, thì ra gần đây đã có người làm việc của thần, thần đến toi công rồi.”
    “Em đừng bẻm mép nữa, mau vào đi.” Hoàng đế có vẻ rất phấn khởi.

    Đám nội giám Như Ý đều hé miệng cười chào hỏi Thành Thân vương.

    Thành Thân vương ngó Như Ý và nói: “Như Ý đang cười trộm, chắc là muốn thầm chơi xỏ sau lưng ta thay vạn tuế gia.”
    “Nô tỳ không dám.”
    Thành Thân vương liếc mắt nhìn thái giám hầu cờ một cái, thấy vẻ kính cẩn trên khuôn mặt lãnh đạm trắng như tuyết, nhưng không nhìn ra vui giận.

    “Thì ra là Tịch Tà, là cao thủ trong cung.

    Tình hình chiến đấu của hoàng thượng thế nào?”
    Hoàng đế nói: “Hắn lại không dám thắng ta, tìm hắn chơi cờ, thắng mà không anh hùng.”
    “Cùng nỗi bi ai trong lòng giống mình.” Thành Thân vương thầm thở dài trong lòng.
    Đám nội giám bày lại bàn cờ rồi dâng trà mới lên.

    Hoàng đế và Thành Thân vương vẫn dùng bố cục thường ngày.

    Sau khi hạ mấy nước cờ, Thành Thân vương đã mơ hồ cảm thấy không ổn.

    Hôm nay thủ đoạn của hoàng đế tuyệt vời, mỗi chiêu đều khắc chế đường cờ của mình chứ không quấn lấy đấu đá với mình giống bình thường.

    Sau hơn trăm nước, hoàng đế đã chiếm thế thượng phong, cuối cùng thắng ba đường.

    Hôm nay hoàng đế có thể rửa nhục nên lòng dạ khoan khoái, không khỏi cười ha ha.
    “Thì ra hơn một tháng qua hoàng thượng nằm gai nếm mật để nghĩ cách đánh bại quân địch giành chiến thắng.” Thành Thân vương than thở, “Nhất định là tên nô tài xấu xa Tịch Tà này, tháng trước còn cố ý tới tìm hiểu đường cờ của thần.”
    Như Ý ở bên khom người cười làm lành, nói: “Vương gia quả có con mắt tinh tường.”
    Hoàng đế sai người thu quân cờ lại rồi nói: “Chúng ta lại làm ván nữa, trẫm vẫn sẽ thắng em.”
    Thành Thân vương cười bảo: “Chơi cờ như thế thì không có gì thú vị cả, chi bằng thần và hoàng thượng cùng cá cược.”
    “Được!” Hoàng đế không kiềm được hứng thú dạt dào, “Em định đánh cược gì?”
    “Giả sử thần thắng hoàng thượng thì hoàng thượng hãy ban thường Tịch Tà cho thần.” Nói rồi liếc nhìn Tịch Tà.
    Đám Như Ý đều lấy làm kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau.

    Vẻ mặt Tịch Tà vẫn là khoan thái bình tĩnh, chẳng ừ hử gì.
    Nhưng hoàng đế lại lắc đầu nói: “Không phải trẫm sợ thua em mà việc này là không thể.

    Lúc tiên đế còn sống cũng đã nói, dù thế nào thì nội giám cũng là một con người, nào giống như món đồ mà đưa tới đưa lui.”
    Cuối cùng mặt mày Tịch Tà cũng hơi thay đổi, khóe miệng nở một nụ cười bình thản như nước, quay đầu lại nhìn hoàng đế.
    Thành Thân vương bị bẽ mặt thì hơi ảo não, ngay khí thế đã thua trước rồi nên tất nhiên có thể tưởng tượng được kết cục của ván thứ hai.

    Cuối cùng y không thể không đau xót hạ quyết tâm phải về suy ngẫm thật kĩ đối sách để quay lại gỡ vốn.
    Hoàng đế cho mọi người lui, chỉ chừa lại Tịch Tà.

    Ánh mặt trời ấm áp mùa xuân chiếu nghiêng trên cửa sổ, gió mát phất qua rặng liễu truyền đến tiếng “xào xạc” vui tai.

    Hoàng đế ngắm nghía quân cờ như có điều suy nghĩ, trong phòng chỉ có sự lặng yên khiến người ta vừa ý.
    “Khanh từng đọc sách dạy đánh cờ trước đây của trẫm và Thành Thân vương rồi, cũng đã tự mình đánh với nó.

    Khanh cảm thấy rốt cuộc tài đánh cờ của nó như thế nào?”
    “Tài đánh cờ của thân vương cực kỳ cao minh, nếu nói là cao thủ hàng đầu kinh thành cũng không quá đáng.”
    “Nó thật sự lợi hại như vậy ư?”
    “Vâng.

    Nếu nô tỳ không đọc được sách dạy đánh cờ trước đây của thân vương thì không dễ để thắng ngài ấy.”
    “Thế khanh xem rốt cuộc trẫm kém nó ở chỗ nào?”
    Tịch Tà cười: “Tài đánh cờ của hoàng thượng và Thành Thân vương không mấy chênh lệch.

    Nhìn cờ có thể đoán người, cờ của hoàng thượng rầm rộ phóng khoáng chính như bản thân hoàng thượng có sự quyết đoán hơn người.

    Thành Thân vương thì giỏi quấn lấy đấu đã để cướp giết.

    Trước kia hoàng thượng không địch lại thế tiến công ác liệt của Thành Thân vương là bởi vì hoàng thượng quá lo đến chỗ tiểu tiết.

    Nếu hoàng thượng có lòng cẩn thận phân tíhc đường cờ của thân vương thì tương lai Thành Thân vương sẽ không còn là đối thủ của hoàng thượng nữa.”
    “Sao lại nói vậy?”
    “Phần lớn sự dứt khoát và quyết đoán dựa vào bẩm sinh.

    Còn mưu lược thì có thể để ngày sau bổ túc.

    Thành Thân vương giỏi mưu lược, hoàng thượng chỉ dựa vào sự quyết đoán trời sanh nhưng nhiều năm qua đã có thể ngang ngửa với thân vương.

    Nếu lại có người nghĩ ra mấy cách đối phó khắc chế đường cờ của ngài ấy thay hoàng thượng thì dĩ nhiên hoàng thượng sẽ chiếm thế thượng phong rồi.”
    “Người đó chính là khanh đấy.” Hoàng đế không khỏi nở nụ cười.
    Tịch Tà thành thật nói không khách sáo: “Đúng vậy ạ.”
    Hoàng đế chỉ cảm thấy mỗi lời nói việc làm của Tịch Tà hôm nay khác một trời một vực với ngày thường, có thể nói là sắc bén như dao, nhắm thẳng vào tim mình, trong chốc lát chỉ cảm thấy chưa từng có việc hợp ý như vậy nên lòng dạ không khỏi khoái trá.
    Tịch Tà cười theo hoàng đế rồi lại từ tốn nói: “Đạo đánh cờ nhỏ nhoi này là như thế mà đạo trị quốc lớn lao cũng chẳng khác bao.

    Mưu lược là đường gian, phàm là người ở vị trí đỉnh cao thì lòng dạ sáng trong, bản thân sẽ không coi trọng.

    Trong số bá chủ thiên hạ của các triều đại có mấy kẻ là thiên tài mưu lược chứ? Từ trước đến giờ đều là người nắm chắc thời cơ, biết người mà dùng để giành được thiên hạ.

    Cho nên vạn tuế gia chắc chắn sẽ là thánh chủ một triều đại.”
    Hoàng đế giật mình, quay sang cười nói: “Khanh đọc được mấy cuốn sách mà đã ở đây nói càn.

    Kẻ mới hai mươi mấy tuổi như khanh thì biết cái gì chứ?”
    Tịch Tà mỉm cười khom người nói: “Vâng.”
    Hoàng đế lại cúi đầu hí hoáy thế cờ, im lặng một lát rồi đột nhiên phiền muộn quăng quân cờ lên trên bàn cờ, thế cờ tàn bị quăng cho tan tác.

    Hoàng đế đứng dậy chắp tay sau lưng đi mấy bước rồi cười khẩy bảo: “Biết người mà dùng? Văn võ cả triều trông thấy bốn thân vương đó thì đều khúm na khúm núm.

    Người như Lưu Viễn cả ngày mở miệng ra là nói mớ lý thuyết trung quân báo quốc nhưng chỉ biết làm om sòm trước mặt trẫm.

    Dẫu trẫm có hào khí ngút trời thì có thể dùng được kẻ nào chứ?”
    Tịch Tà khom lưng nhặt quân cờ bên chân lên và nói: “Thật ra bên cạnh hoàng thượng vẫn luôn có nhân vật đại trí đại tuệ.”
    “Hả? Là ai?”
    “Thầy của nô tỳ chính là một trong số ấy.”
    “Thái giám Thất Bảo?”
    “Vâng, chắc hẳn hoàng thượng đã biết tại sao thầy của nô tỳ lại được gọi là thái giám Thất Bảo.”
    Hoàng đế khôi phục chút bình tĩnh, bật cười nói: “Không phải là vì nhận bảy học trò các khanh sao?”
    “Hoàng thượng có chỗ không biết, lúc thầy nô tỳ còn trẻ tinh thông bảy loại kỹ thuật chơi đàn, đánh cờ, viết thư pháp, vẽ tranh, cưỡi ngựa, dùng kiếm, bắn cung.

    Tên thái giám Thất Bảo vốn là do tiên đế ban tặng.”
    “Cho dù lão tinh thông mọi thứ nhưng sao có thể xưng là đại trí đại tuệ được?”
    “Vốn dĩ tinh thần và thể lực của con người có hạn, nhưng có nhiều người đã vượt qua trí tuệ trời sinh của đại đa số, càng không cần nói đến chuyện thành thạo bốn kỹ năm chơi đàn, đánh cờ, viết thư pháp và vẽ tranh.

    Đợi cho văn võ song toàn thì tự nhiên sẽ là kỳ tài ngang dọc trong trời đất.

    Thầy nô tỳ vẫn luôn theo hầu giá của tiên đế và thái hậu, trước nay cũng làm không ít chuyện thay thái hậu.”
    Lời nói của Tịch Tà rất mực uyển chuyển, hoàng đế cũng biết mẫu hậu mình được tiên đế sủng ái mười bảy năm không suy sút thì tất có duyên cớ bên trong.

    Tiên đế có mười một vị hoàng tử, mình có thể leo lên ngai vàng thì nhất định là nhờ trước đây mẫu hậu và thái giám Thất Bảo đã nhọc lòng.
    “Khanh nói không sai, nhưng bây giờ không biết thái giám Thất Bảo đã đi đến đâu, không nhắc tới lão cũng được.”
    Tịch Tà lại mỉm cười nói: “Nô tỳ không dám bàn về người đại trí đại tuệ nhưng bây giờ trong cung kẻ có thể xưng là mưu lược gia cũng có mấy người.”
    Hoàng đế quay người lại, nhìn nụ cười trên mặt Tịch Tà rồi cười hỏi: “Chẳng lẽ khanh là một trong số đó?”
    Tịch Tà chậm rãi cầm một quân đen trong tay đặt xuống bàn cờ, ánh sáng trong mắt chiếu ra bốn phía, sự lạnh lẽo làm chói mắt người ta, nói một cách rõ ràng: “Đúng vậy ạ.”.
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 2: 2: Thế Tử Đông Vương


    Đầu hạ hàng năm đầu hạ, hoàng thất đều ngược dòng sông Ly đi về phía tây, đến hành cung Thượng Giang tránh nắng theo thông lệ.

    Đầu tháng sáu sẽ có thượng thư bộ Lễ tấu xin hoàng đế chọn ngày tốt rời kinh.

    Loan giá từ cửa Chu Tước cung Thanh Hòa của Ly đô đến cầu Phụng Thiên để qua sông Ly rồi lên trên đường Chu Tước, vòng tới bến đò đường ngự ở Thượng Giang thì lên thuyền.

    Phố xá hai bờ sông Ly của kinh thành rất đỗi phồn hoa, chẳng những người qua đường trên mặt đất như dệt cửi mà thuyền trên mặt sông cũng như thoi đưa, buồm giương tận trời.

    Nhưng hàng năm chỉ có một hai ngày này là dân chúng trong phạm vi hai dặm phải lảng tránh không thấy một bóng người, màn vàng rủ đất khắp hơn mười dặm bờ sông, thị vệ san sát, nghiêm ngặt cung kính.

    Ngự giá dùng hai chiếc thuyền rồng ba tầng, mỗi chiếc có hai trăm người người đàn ông chèo thuyền chia thành hai tiểu đội.

    Một chiếc có hoàng đế và thân vương, cận thần lên ngồi, hoàng hậu, phi tần, nữ quan hầu hạ thái hậu và hai vị thái phi lên ngồi một chiếc khác.

    Võ tướng thủy binh, đại thần thị vệ ngồi hơn hai mươi chiếc thuyền đi theo giá.

    Còn có vô số thuyền nhỏ với người dẫn đường, hộ vệ, kẻ đi đoạn hậu, vận tải vật ngự dụng, uốn lượn tới bảy tám dặm, trùng điệp đi về phía tây.

    Ly đô có một tòa cửa nước, trước đây cửa chính đóng, chỉ mở cửa nhỏ ở bên cho tàu buôn và thuyền đánh cá lui tới thông hành.

    Vừa vào tháng Sáu đã có tổng binh thủy sư ở kinh thành giám sát quân sĩ sơn lại cửa chính một lần nữa và buộc gấm vàng, treo đèn màu.

    Cho đến ngày ngự giá rời kinh thì đóng cửa nhỏ lại, hai mươi quân sĩ lắc ván sắt ở đầu thành hai bờ sông, dùng xích sắt kéo hai then cửa nước lên.

    Ở trên mặt nước có hai chiếc thuyền nhỏ khác lấy móc sắt mượn sức thuỷ triều sông Ly để kéo Long môn nặng nghìn cân ra.
    Năm nay khác với năm trước, loan giá rời kinh qua Long môn chỉ có một con thuyền thái hậu ngồi để rời kinh, theo giá chỉ có đại thần hộ vệ nên sự phô trương nhỏ hơn một nữa so với năm ngoái.
    Hoàng đế không đi theo thái hậu vì một duyên cớ lớn là mười lăm tháng Sáu trùng vào ngày lễ lớn mà các phiên vương vào chầu và cống nạp sáu năm một lần.

    Mùa thu năm thứ tư Khánh Hi, thái hậu còn đang nhiếp chính, chuyện lớn nhất năm ấy chính là tuyển phi cho đại hôn của hoàng đế.

    Lúc đó hoàng đế chỉ mới mười tám tuổi, chỉ một việc ấy thôi đã có vô số lễ nghi phiền phức làm hắn ta sứt đầu mẻ trán.

    Thêm vào đó người anh em ruột thịt của hoàng đế là Cảnh Nghi mười sáu tuổi đã trưởng thành nên phải chọn dinh, gia phong làm Thành Thân vương.

    Đồng thời còn phải chuẩn bị đón lễ bắt đầu tự mình chấp chính.

    Cả một năm không có thời gian yên tĩnh nên không có ấn tượng gì đối với chuyện phiên vương cống nạp năm ấy.

    Năm nay có thể nói là lần đầu tiên hoàng đế được phiên vương vào yến kiến từ khi tự mình chấp chính tới nay nên không chỉ có hoàng đế vô cùng chú trọng mà các nha môn trong kinh cũng phải nghe tin lập tức hành động, bận rộn đến mức chân không dính bụi, nào có lòng thảnh thơi tránh nóng.
    Trước kia phiên vương luôn cống nạp vào mùa thu nhưng vì lần trước sau khi phiên vương vào chầu thì vẫn ở lại đến tận lễ mừng hoàng đế tự mình chấp chính hoàn tất mới trở về đất phiên.

    Lúc đó đã là đầu tháng Mười một, trời đông giá rét, nhất là mấy vị phiên vương phương bắc, dọc theo đường đi tuyết lớn đầy trời, khổ không thể tả.

    Nhà mẹ đẻ thái hậu là phiên vương Lương châu, Lương vương đương thời chính là cậu của thái hậu, tuổi già sức yếu, bị trúng gió, năm sau tạ thế vì bệnh phổi.

    Thái hậu thấy phiên vương các chốn vào chầu vào tháng chín, phần lớn sẽ khởi hành ở giữa mùa hè nóng bức, lúc trở về lại khó tránh khỏi nỗi cực khi trời lạnh nên cố ý đổi ngày vào chầu đến tháng Sáu.

    Vậy thì lúc các phiên vương khởi hành trời còn chưa nóng nực, khi về cũng đã gần đến đầu thu, bớt được rất nhiều khổ cực.
    Đối với hoàng đế mà nói, tránh nắng là chuyện quan tám cũng ừ, quan tư cũng gật.

    Lấy lời của hoàng đế tự nói thì là: “Chốn chốn đều là màn vàng vây quanh, chẳng trông thấy gì thì có chi hoan lạc?” Hoàng đế phe phẩy cây quạt, hóng mát dưới gốc cây ở vườn hoa, ve đậu trên ngọn liễu, kêu ré lên từng quãng.”Trẫm cũng chẳng thấy trong cung này nóng lắm.”
    Cát Tường đang múa bút thành văn trên bàn đá, nghe vậy thì ngẩng đầu lên thưa: “Tất nhiên hoàng thượng không lạ gì nhưng mấy đứa chúng nô tỳ lại muốn nương nhờ hoàng thượng mà đi ra ngoài một lát.”
    “Ai nói không đi nữa? Từ nơi này đến Thượng Giang mà dùng ngựa giỏi thì chưa đầy nửa ngày đường, các thứ chuyện xong xuôi thì chúng ta cưỡi ngựa tới đó.”
    Cát Tường nói: “Hoàng thượng đã dự định gặp mặt từng người trong mười hai phiên vương, chỉ sợ đợi sau khi gặp hết thì cũng sắp vào thu rồi.”
    Hoàng đế ngó Cát Tường đang sao chép danh sách, nói: “Việc này chẳng mất mấy ngày đâu, trẫm định dẫn mấy thân vương quan trọng cùng đi thỉnh an thái hậu, số còn lại thì sẽ tống khứ về đất phiên trước ngày hai mươi tháng Sáu.” Nói rồi không khỏi cười lạnh lùng, “Bọn họ làm vương bên ngoài, sống những ngày tháng tiêu dao sung sướng, sáu năm mới tới một lần đã oán giận luôn mồm.

    Trẫm chỉ muốn bọn họ bôn ba trở về trong ngày hè nóng bức, để bọn họ chịu chút khổ thì mới biết phiên vương không dễ làm như thế.”
    Cát Tường luôn thận trọng, chỉ mỉm cười nói: “Hoàng thượng thánh minh.”
    Hoàng đế chợt hỏi: “Sao không trông thấy Tịch Tà?”
    Như Ý ở trước cửa nguyệt[1] của vườn cười nói: “Khẩu dụ lúc trước của hoàng thượng là lúc này không gặp bất cứ kẻ nào.

    Tịch Tà đã tới được một lúc rồi nhưng không dám thông báo ạ.”
    [1] Là một loại hình cửa đi lại đặc trưng của kiến trúc Trung Hoa như đây là một bức tường trong khu vườn hoặc trong nhà mà có một lối đi hình tròn (giống như hình Mặt Trăng tròn) dành cho người đi bộ, phía trên bức tường này có lợp ngói, loại cửa này không có chức năng đóng mở, sử dụng chủ yếu vào mục đích trang trí.
    cửa nguyệt
    Hoàng đế cười nói: “Khanh đừng giận dỗi trẫm, gọi hắn vào đi.”
    Thời tiết đã hơi nóng bức rồi nhưng Tịch Tà vẫn là có phong thái như băng tuyết, dù chờ ở bên ngoài đã hơn nửa ngày nhưng không ra lấy một giọt mồ hôi.

    Sau khi thỉnh an, hắn nói: “Chuyện hoàng thượng muốn nô tỳ dò la đã rõ rồi ạ.”
    Cát Tường, Như Ý lặng lẽ lui ra, hoàng đế gật đầu bảo: “Nói đi.”
    “Các phiên vương khác thì không cần nhắc đến.

    Trong bốn thân vương ngoại trừ Lương vương Tất Long tự mình đến chầu để đề nghị kết thông gia với công chúa Cảnh Giai ra thì ba thân vương khác đều sai thế tử của thân vương đi thay.”
    “Cái gì?” Hoàng đế đã nổi cơn thịnh nộ, sắc mặt tái xanh, cau mày lại, “Lễ mừng sáu năm mới có một lần mà dám không tự mình vào kinh…”
    “Ắt hẳn ba vị thân vương sẽ nói mình đã già cả nhiều bệnh, không thể bôn ba, vả lại cũng không còn sống được mấy năm nữa, hoàng thượng trẻ trung khoẻ mạnh nên tất nhiên sẽ do đại thần trẻ tuổi phò tá, mặc dù thế tử của mình thế tử chỉ có tài hèn sức mọn nhưng vẫn mong có thể sớm ngày gặp vua, được hoàng thượng dìu dắt.”
    “Nói rất có lý đấy.” Hoàng đế giận quá thành cười.
    Tịch Tà nói tiếp: “Cùng đi theo Lương vương có đại thần ty lễ và mười sáu tên nội thần của ngài ấy, chắc là để tiện cho việc bàn chuyện hôn nhân.

    Ngoài ra có hai viên phó tướng dẫn năm trăm hộ vệ từ Lương châu, không tính là đi quá giới hạn.”
    Hoàng đế nói: “Lúc này Tất Long chỉ muốn lấy công chúa Cảnh Giai trước, đương nhiên sẽ không sinh nhiều rắc rối.”
    “Đến tận ngày mùng một tháng sáu thế tử của Hồng Thất Trú mới khởi hành, dẫn theo một đề đốc, năm thống lĩnh quân đội, hai nghìn tinh binh cưỡi ngựa giỏi đi gấp, dọc đường đi còn gây rối ở các địa phương…”
    Hoàng đế cười khẩy bảo: “Hắn ta chẳng qua chỉ là cháu ngoại trai của mẫu hậu, thế mà đã diễu võ dương oai như vậy, đợi đến khi hắn làm thân vương thì trong thiên hạ còn có người mà hắn đặt vào mắt nữa ư?”
    “Nếu hoàng thượng hỏi tội này của hắn ta thì cha con Hồng vương tất sẽ lấy cớ ven đường đi qua núi Đa nhiều giặc cỏ để qua loa tắc trách.”
    “Những kẻ khác thì sao?”
    “Thế tử của Tây vương Bạch Đông Lâu đi thuyền ngược dòng sông Hàn lên phía bắc, binh sĩ hộ vệ có một ngàn người, sáu gã tham tướng.

    Nhưng trong sáu gã tham tướng ấy có hai tên không phải người Hán.”
    “Người Miêu à?”
    “Vâng ạ.

    Trước nay trong triều không có người Miêu nào được làm quan, lai lịch của hai kẻ ấy kỳ quặc, hình như võ công rất cao.”
    Người Miêu làm loạn còn là chuyện trong hai năm gần đây.

    Đất phiên của Tây vương ở Long môn xa xôi, tây kề Miêu Cương, nam giáp Đại Lý.

    Đàn áp người Miêu vốn chính là chức trách của Tây vương.

    Mấy tháng trước hoàng đế còn xuống chiếu hỏi vì Tây vương không dẹp được giặc.

    Lúc đó Tây vương tâu lại rằng, binh sĩ người Miêu không có chỗ ở cố định, đến không bóng đi không hình, một khi càn quét thì sẽ chui vào đất Đại Lý nên rất khó dẹp yên.
    “Như vậy xem ra Bạch Đông Lâu vốn có cấu kết với người Miêu, quả là đáng giận.”
    “Thế tử của Tây vương sẽ không dưng mà dẫn hai tên người Miêu này vào kinh, rõ ràng là muốn liên lạc với ai đó.

    Chỉ là không biết đối phương là ai, rốt cuộc muốn bàn chuyện gì nên nô tỳ không dám nói bừa.

    Tuy Tây vương giật dây người Miêu cải trang thành đại thần tới kinh bái kiến đã là tội lớn, song vì chưa biết mục đích chuyến này của họ nên hiện nay chưa thể đánh rắn động cỏ.”
    “Đông Vương thì sao?”
    Tịch Tà cười nói: “Nói ra thật xấu hổ, nô tỳ không tường tận lắm về chuyện phía đông.

    Chỉ biết là lần này trong số những người mà thế tử Đỗ Mẫn của Đông vương mang theo có một cao thủ tuyệt đỉnh.”
    “Có ý gì?” Hoàng đế không tỏ chuyện trên giang hồ nên vẻ mặt không khỏi mù mờ.
    “Người này tên Lôi Kỳ Phong, có kẻ nói võ công của y đã đến cảnh giới trích diệp phi hoa[2], lấy khí để dùng kiếm, là cao thủ tiếng tăm lừng lẫy trên giang hồ.

    Nếu không phải nhờ tiếng tăm của y thực sự quá vang dội thì lấy kiến thức hạn hẹp của nô tỳ, chắc chắn sẽ không biết Đông vương đã chiêu mộ được cao thủ bậc này.”
    [2] Đầy đủ là “Trích diệp phi hoa, thương nhân lập tử”.

    Trong tiểu thuyết võ hiệp, chân khí của cao thủ võ lâm đạt tới mức nhất định thì có thể dùng cánh hoa hoặc lá cây để tấn công địch.

    Người bị đánh trúng chết ngay tức khắc nhưng kinh mạch cả người vẫn hoàn hảo, không tìm ra vết thương, lan đến người bên cạnh thì lại bị khí mạnh xâm chiếm thường đứt kinh mạch.
    “Trích diệp phi hoa?” Hoàng đế cười nói, “Khanh đừng tỏ vẻ bí hiểm với trẫm.

    Rốt cuộc võ công của y cao cỡ nào?”
    Tịch Tà suy nghĩ một lát rồi thưa: “Lấy ngay thị vệ đại nội mà nói thì hơn một nửa chưa phát hiện ra y tới gần đã để y bẻ đầu xuống rồi.”
    Hoàng đế không khỏi rùng mình, bảo: “Thế lực của Đông vương cực lớn, thế tử lên kinh chầu dẫn cả một ngàn tám trăm người rồi mà còn dùng cao thủ như vậy bảo vệ ư?”
    Tịch Tà nói: “Lôi Kỳ Phong là sát thủ, tất nhiên không phải là để bảo vệ thế tử của Đông vương mà là tới giết người.”
    Hoàng đế nhíu mày: “Nếu như y muốn làm chuyện không có lợi với trẫm…” Vẻ âu lo trên mặt hắn ta nhìn thì giống như đang khó hiểu hơn.
    Tịch Tà thấy thế thì cười nói: “Cho dù Đông vương hống hách cũng không đến mức đại nghịch bất đạo như vậy đâu ạ.

    Dẫu Lôi Kỳ Phong to gan lớn mật vào cung ám sát nhưng trong thị vệ vẫn có một hai người có thể đỡ được một chiêu nửa thức của y.”
    “Sau một chiêu nửa thức thì sao? Lẽ nào trong cung nhiều thị vệ như thế mà không có một ai là đối thủ của y à?”
    “E là trong thị vệ thì không có đâu ạ.” Lúc Tịch Tà nói những lời này thì không nhịn được mà nở nụ cười, “Song hoàng thượng không cần quá lo, mặc cho cao thủ như thế nào xâm phạm thì bên cạnh hoàng thượng cũng có người ắt có thể hộ giá.”
    Hoàng đế ngẫm nghĩ cẩn thận nhưng vẫn không hiểu được, bèn hỏi: “Kẻ nào?”
    “Đại sư ca của nô tỳ.”
    “Cát Tường?” Hoàng đế kinh ngạc, “Cát Tường ư?”
    “Thưa vâng.” Tịch Tà thấp giọng cười nói, “Kiếm pháp của đại sư ca nô tỳ hơn người, chắc là hoàng thượng không biết.”
    Ánh mắt hoàng đế bỗng sáng ngời, vẻ mặt không kiềm chế được sự hưng phấn, nhìn ngó bên ngoài vườn rồi thấp giọng hỏi: “Võ công của y cao lắm à?”
    “Rất cao ạ.” Tịch Tà cũng thầm thì nói.
    “Chi bằng bảo y vào biểu diễn một phen.”
    Tịch Tà vội nói: “Tuyệt đối không được đâu ạ.

    Đại sư ca mà biết nô tỳ lắm mồm, lúc này sẽ không nói gì nhưng e đến tối sẽ tới lấy mạng nô tỳ mất.”
    Hoàng đế không khỏi cười to vài tiếng, sau đó tỏ vẻ nuối tiếc mà than: “Tiếc thay trẫm không thể trông tận mắt.”
    Tịch Tà cười nói: “Việc này không khó đâu ạ.

    Tuy nô tỳ chỉ biết một chiêu nửa thức nhưng có thể học cho hoàng thượng xem.”
    “Được!” Hoàng đế vỗ tay bảo, “Lấy vật gì đó để ví dụ thôi cũng được.”
    Tịch Tà đi tới bên dưới một cây liễu, bẻ một cái cành nhỏ dài mềm mại: “Nô tỳ thất lễ, xin hoàng thượng thứ tội.”
    Hoàng đế gật đầu, chỉ thấy vẻ cười trong mắt Tịch Tà tán đi, ánh sáng vàng bừng lên trong đôi mắt, cổ tay nhẹ nhàng run lên, cành cây mềm mại đột nhiên thẳng tắp, lá trên cành bị đánh bay ra, chậm rãi bay trên không trung.

    Tịch Tà giơ cánh tay phải, đâm nhanh một cái trên không, mơ hồ mang theo tiếng sấm sét xé gió đâm vào làm đau màng nhĩ hoàng đế.

    Tịch Tà cười uyển chuyển, cành liễu mới từ từ rủ xuống.

    Tịch Tà không đếm xỉa đến vẻ mặt sửng sốt của hoàng đế, dâng cành liễu đến trước mặt hắn ta và nói: “Nô tỳ học kiếm pháp trong nhà đại sư ca, không múa đẹp như các thị vệ, xin hoàng thượng chớ chê cười.”
    Hoàng đế nhớ Tịch Tà chỉ đâm trên không một cái, đã thấy ngọn liễu non mềm xuyên qua ba chiếc lá, sau khi kinh hãi thì không nhìn được cười nói: “Khanh làm trẫm mơ hồ rồi.

    Đây là pháp thuật gì đấy?”
    Tịch Tà nói: “Nô tỳ chỉ cách đại sư ca hay luyện kiếm, tuy thủ pháp sử dụng lực của nô tỳ và đại sư ca không giống nhau, song tựu trung vẫn có mấy phần giống nhau.”
    “Đây chỉ là cành liễu thôi, nếu như là thật kiếm thì sao?”
    “Nô tỳ không biết việc ấy, trong cung trừ thị vệ ra thì còn ai khua đao múa thương đâu ạ?”
    Gần trưa, gió mát thong dong thổi vào trong vườn hoa, cơn nóng nực của cả một ngày dần tiêu tan, ngay cả ve hè cũng yên tĩnh hưởng thụ sự mát mẻ đến chậm, quên mất phải kêu đến đứt hơi khản tiếng.

    Cát Tường và Như Ý đang cảm thấy gió mát phất qua người, tinh thần hết sức phấn chấn thì đã trông thấy Tịch Tà mỉm cười đi tới.
    “Hoàng thượng cho đòi hai vị sư ca vào hầu đấy.”
    Hai người đi vào trong vườn hoa, thấy hoàng đế đứng ở dưới bóng liễu với vẻ mặt hồng hào, trong tay còn cầm cành liễu đâm vào không trung phát ra tiếng “xào xạc” không dứt.
    Vui lòng đọc tại vongnguyetlau10.wordpress.com để mình mau cập nhật chương mới.
    Ngày mùng mười tháng Sáu, phiên vương các nơi đã lục tục đến kinh, chỉ dắt trăm người quan tòng và thị vệ vào kinh thành theo ý chỉ của hoàng đế, những hộ vệ và binh sĩ khác đều hạ trại ở mười dặm ngoài cửa Phủ Dân phía nam, không được vào thành.
    Giám sát quân đội đất phiên ngoài cửa Phủ Dân vốn nên là việc của đại doanh trấn giữ kinh thành Ly đô, nhưng vì năm đầu Khánh Hi, đại doanh kinh thành Ly đô bị người khác xúi giục làm loạn, sau khi bị bốn vị thân vương họ ngoại của thái hậu đàn áp thì lập tức xin giải tán.

    Vì cớ đó mà nay việc hóc búa ấy được giao cho ty Binh mã ngũ thành.

    Từ khi Đề đốc Binh mã ngũ thành Viên Tấn nhận công việc tiến thoái lưỡng nan ấy là cả ngày than thở.

    Phiên vương đều là hoàng thân quốc thích, không thể đắc tội bất kỳ ai.

    Nhưng nếu những tên chó săn hoành hành ngang ngược của phiên vương gây ra chuyện thì sẽ không tránh được chuyện triều đình hỏi tội mình không trấn giữ được.

    Hắn ta đành phái một đốc thống trong nha môn chọn ra năm ngàn người đóng ở ngoài cửa Phủ Dân, phân phát vật khao thưởng mà triều đình ban xuống, đồng thời phòng thủ nơi hiểm yếu.
    Ngày mười hai tháng Sáu, thế tử của Hồng vương là Hồng Định Quốc đến kinh, vào ở dịch quán trên đường Bạch Hổ.

    Bây giờ hai ngàn người mà hắn ta dẫn theo chỉ do ba quan trung quân thống lĩnh.

    Chạng vạng hôm ấy đã có hơn một trăm sĩ tốt kết đàn rời đại doanh định đi lên đường núi hướng vào kinh.

    Gián điệp của ty Binh mã ngũ thành lập tức cấp báo cho Đốc thống Dương Lực Hòa ở ngoài thành.
    Dương Lực Hòa không khỏi cuống cuồng nói: “Mau chọn đủ hai ngàn người ngựa, chặn chúng lại trước khi chúng lên đường cái.”
    Nhưng tướng quân du kích Lục Tuần đang hóng mát dưới chòi che nắng cùng hắn ta lại nói: “Đại nhân gượm đã, việc này tuyệt đối không được.”
    “Vì sao?”
    “Hai nghìn binh mã mà chỉ chặn vẻn vẹn một trăm người, bị người vên trên biết được sẽ không tránh được việc trách tội chúng ta làm mất mặt triều đình.”
    “Nói có lý, nói có lý.”
    “Theo góc nhìn của mạt tướng, chỉ cần phái hai, ba trăm người lập trạm kiểm soát trên đường cái, đợi chúng đến thì khuyên chúng về là được.

    Ở đây thì gọi người báo cho Viên đại nhân hay, trong kinh tự có Viên đại nhân điều động, chúng ta thì nghe mệnh mà làm, không đến nỗi có sai sót.”
    “Đợi chúng lên đường cái thì e đã muộn.”
    “Lên đường cái tất nhiên cũng cách xa doanh trại của chúng, dầu không khuyên chúng quay về được thì phải cưỡng ép giữ chân, không đến mức để cho chúng mật báo, gây xích mích thị phi, tạo ra binh biến.”
    Hai chữ “binh biến” dọa cho Dương Lực Hòa đổ đầy mồ hôi lạnh.

    Hắn ta nói: “Có lý! Tuy chỉ có hơn một trăm người nhưng sự việc quan trọng, không biết phái ai chặn chúng mới tốt?”
    Lục Tuần đã biết củ khoai nóng bỏng tay này sẽ lại bị Dương Lực Hòa ném về, bèn cười nói: “Phương pháp là do mạt tướng đưa ra nên tất nhiên sẽ do mạt tướng đi một chuyến.

    Lúc này đại nhân hãy phái người giục ngựa truyền lại cho quan trung quân dưới trướng thế tử của Hồng vương để khiển trách nghiêm khắc, một lát nữa thì để gã dẫn người về.”
    Hơn một trăm kẻ đi ra từ doanh của thế tử Hồng vương phần lớn là lính già dày dạn, hiếm khi được tới kinh thành một chuyến nên chỉ muốn hưởng lạc một phen nên lúc bấy mới thoát đội đi ra.

    Vừa lên đường cái, chúng không kiềm được nhảy cẫng lên hoan hô, kêu la om sòm.

    Mới đi được một dặm, phía trước đã có một lán trà, thời tiết nóng bức nên mọi người hoan hô một tiếng, chỉ muốn đi cướp trà để uống.
    “Đứng lại!” Đột nhiên có quân sĩ trẻ tuổi dùng trường kiếm chặn ở giữa đường, “Các anh là sĩ tốt của phiên vương, vì sao không phải nghe thánh mệnh trú quân ở vùng ngoại ô mà lại muốn đi về phía kinh thành?”
    Người cầm đầu trong đám ấy họ Lý, là một ngũ trưởng[3], được mọi người vây quanh, đi ra nói: “Chúng tôi tới từ đất phiên, chỉ muốn vào trong kinh thành ngắm chốn phồn hoa thì có gì không được?”
    [3] Một chức vụ quan quân thấp nhất trong quân đội phong kiến, đứng đầu năm người.
    Quân sĩ kia cười khẩy nói: “Tôi không tranh cãi với anh.

    Nếu anh đã là tên cầm đầu của đám người này thì đi theo tôi tới trước mặt Lục tướng quân của chúng tôi mà thưa.”
    “Đi thì đi.

    Lẽ nào tôi còn sợ đám quan sai kinh thành các anh?” Những kẻ còn lại đều đang hô hào, Lý ngũ trưởng được người khác ủng hộ rầm rộ nên vênh váo hống hách đi theo y tới lán trà.
    Trong quán trà có một tướng quân mặc chiến bào màu xanh lam đang ngồi, bên hông treo đao, thấy Lý ngũ trưởng kiêu căng vô lễ cũng không nổi giận mà chỉ tiếp tục uống hai hớp trà rồi cúi đầu bảo: “Muốn nhìn cảnh đời để mở mang tầm mắt ấy là chuyện thường tình của con người nên tôi không trách các anh.

    Song thánh thượng đã có ý chỉ không cho các anh vào thành, lại ban rất nhiều vật khao thưởng.

    Các anh nên giữ khuôn phép đợi ở trong doanh, chớ nên ra ngoài gây chuyện.”
    “Đừng nhắc đến khao thưởng gì đó nữa” Lý ngũ trưởng chống nạnh cười to, “Triều đình khinh chúng tôi đến từ nông thôn sao? Cho ăn cơm thừa rượu cặn là có thể đuổi bọn tôi? Bọn tôi là thân binh của Hồng thân vương đấy, bình thường đã ăn thịt cá, nào thèm những thứ bỏ đi ấy!”
    “Đúng đúng!” Bên cạnh còn có người hát đệm, “Chúng tôi bôn ba mấy ngàn dặm tới đây, triều đình không chiêu đãi chúng tôi thì tự chúng tôi vào trong thành tìm vui thú.”
    “Cho dù là trấu cũ thóc vụn thì thánh mệnh vẫn là thánh mệnh.” Người quân sĩ đó thấy dáng vẻ kiêu căng phách lối ấy của chúng thì không nhịn được nói.
    “Chúng tôi là thân binh dưới trướng của Hồng thân vương, chỉ cần thân vương và thế tử gia nói một câu thì ăn c*t cũng bằng lòng.

    Anh đi mà nói với thế tử gia của bọn tôi ấy.”
    Lục Tuần khẽ cười một tiếng, lúc này mới ngẩng đầu nhìn Lý ngũ trưởng bảo: “Chỉ một câu nói này các anh đã phạm vào tội lớn rồi.

    Ngay cả hoàng thượng cũng không coi ra gì tức là muốn tìm đường chết rồi.

    Lúc này thế tử của các anh đang ở trong kinh, các anh muốn liên lụy đến thế tử à? Tôi khuyên các anh trở về ngay đi, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, thế là xong xuôi.”
    Lý ngũ trưởng thấy y hơn ba mươi tuổi, khuôn mặt điềm tĩnh, khí chất văn nhã.

    Lúc đầu gã không coi y ra gì nhưng giờ đã thấy trong đôi mắt của y ngưng tụ sự chết chóc, không giận mà uy thì cả kinh trong lòng, Song thấy nơi đây chỉ có Lục Tuần và hai quân sĩ kia, trong quán trà cũng chỉ có hai vị khách khác, lúc này lại đâm lao phải theo lao, cứng đầu nói: “Không cần anh xen vào việc của chúng tôi.

    Đi thôi!”

    Vẻ chết chóc trong mắt Lục Tuần hừng hực, y quát lên: “Bắt lấy!”
    Hai bên đường cái đột nhiên tuôn ra hơn ba trăm binh lính của ty Binh mã ngũ thành, đều cầm binh khí vây lấy chúng.
    “Lục Tuần này là một tướng tài đây.” Hai vị khách trong quán trà thấy cảnh tượng ấy mà không hề e sợ.

    Hai người đều kéo mũ rơm xuống quá thấp, người có vóc dáng gầy nhỏ trong đó nói với người đàn ông vạm vỡ bên cạnh.
    “Vâng.

    Có lẽ chủ nhân không biết, mười năm trước y còn là người trong đại doanh của kinh thành đấy, sau bị điều đến ty Binh mã ngũ thành.

    Nói ra thì coi như là thuộc hạ của của lão vương gia.

    Bây giờ chủ nhân muốn làm quen y không?”
    “Không vội.

    Chuyện chúng ta dùng binh là chuyện mấy năm sau, giờ đã dẫn dắt y ra thì lại chọc vào tai mắt của người.”
    Ai ơi nhớ lấy câu này, reup không khéo có ngày rụng răng.
    Hôm mười lăm tháng Sáu, hoàng đế ở điện Thanh Hòa, trăm quan mặc quần áo vào chầu đứng trên thềm son theo thứ tự, cúi đầu dập ba lần trong tiếng nhạc.

    Lưu Viễn dẫn trăm quan hô hào muôn năm: “Thánh cung vạn phúc.” Tiếng Lưu Viễn như thể kiềm một luồng khí, vang dội lạ thường.
    Hoàng đế mỉm cười gật đầu, Cát Tường cao giọng tuyên: “Hoàng thượng truyền phiên vương các nơi vào yết kiến!” Trống nhạc nổi lên, mười hai vị phiên vương đều mặc cổn miện, lần lượt đi ra từ cửa đông, sáng loáng trong khói tím, được thái giám nội tán dẫn tới trước mặt vua, đi ra theo hơn một trăm quan, làm lễ tám lạy.

    Người dẫn đầu là phiên vương ở Sào châu, chú của hoàng đế, đã hơn năm mươi tuổi, chòm râu hoa râm run rẩy theo đôi môi, nói: “Thần là phiên vương Sào châu Lương Dũng, nay gặp ngày mười lăm tháng Sáu năm Khánh Hi thứ mười mà vào yết kiến, xin lạy chầu hoàng đế bệ hạ.”
    “Vạn tuế!” Cả đại điện phát ra tiếng vọng trầm thấp theo.
    Hoàng đế khom người: “Các vị phiên vương ở xa tới đã khổ cực rồi, bình thân đi.” Hoàng đế lẳng lặng đưa mắt lên người phiên vương họ ngoại đứng sau phiên vương hoàng thất.

    Khói tím lượn lờ tản ra từ lư hương đồng trên đại điện quấn quýt quanh hoàng đế khiến hắn ta cảm thấy khuôn mặt của bốn người trẻ tuổi ấy đang chìm trong bóng tối vô tận, không nhìn rõ được, chỉ có hình rồng tròn màu vàng trên áo cổn của họ là tản ra ánh sáng lóa mắt.
    “Lấy nhẫn nại bỏ tính nóng nảy.” Hoàng đế nhiều lần suy xét lời nói của Tịch Tà, ngay cả lời ca tụng trau chuốt hoa lệ theo thể biền ngẫu[4] của phiên vương Sào châu Lương Dũng hôm ấy cũng không nghe.

    Mãi đến khi quần thần hô vang “Vạn tuế” mới lấy lại tinh thần.
    [4] thuật ngữ được dùng để chỉ thể văn trong đó các câu đối xứng từng đôi một.

    Theo chữ Hán, biền nghĩa là hai con ngựa đi song song, ngẫu là chẵn đôi.
    “Vất vả rồi.” Hoàng đế nói, “Đêm nay ban tiệc rượu ở dinh Quang Lộ.” Đoạn lui về cung Càn Thanh nghỉ ngơi.

    Lát sau sai Cát Tường truyền ý chỉ, cho đòi thân vương Lương châu Tất Long, thế tử của thân vương Hồng châu hôn Hồng Định Quốc, thế tử thân vương Thú Hải Hắc Châu Đỗ Mẫn và thế tử thân vương Chinh Man Long Môn Bạch Vọng Cương.
    Tuy Lương vương Tất Long còn trẻ nhưng cũng là một thân vương chính thức, khác với thân phận thế tử nên dẫn đầu đi vào, ba thế tử xếp thành một hàng ở phía sau, cùng hành lễ.
    Hoàng đế luôn miệng kêu bình thân, cười nói: “Lương vương vất vả rồi, trên đường có khỏe không? Trước khi đi tránh nắng, thái hậu và thái phi vẫn còn hỏi về khanh, công chúa Cảnh Giai cũng lo lắng, muốn trẫm quan tâm đến khanh.

    Giờ xem ra Lương vương trẻ tuổi anh tuấn, oai hùng đầy triển vọng, trẫm yên tâm rồi, công chúa Cảnh Giai quả có phúc.”
    “Tất Long bất tài, nhờ được lọt mắt xanh được lấy công chúa, cảm nhận sâu sắc ơn vua cuồn cuộn, xúc động đến rơi nước mắt.

    Thần nguyện tan xương nát thịt, máu chảy đầu rơi để báo ơn rồng.”
    Những lời ấy được Lương vương nói lưu loát như thường, khóc lóc kể lể.

    Hoàng đế không khỏi rùng mình, cười nói: “Khanh có cái tâm là phúc của triều đình.

    Mấy ngày nữa khanh hãy theo trẫm lên Thượng Giang thỉnh an và đề nghị kết thông gia với thái hậu, thái phi.

    Hai vị bề trên mà thấy Lương vương anh tuấn đầy hứa hẹn như thế thì đoán chắc sẽ mừng lắm.”
    “Vâng, tạ chủ long ân.”
    Hoàng đế nhấp một ngụm trà rồi thở một hơi, lúc này mới hỏi ba thế tử: “Ba vị thân vương có khỏe chăng? Ba vị thân vương canh giữ quân đội biên giới hết lòng hết sức, thực là khổ cực! Lần này không tự mình đến, trẫm rất nhớ mong họ, cơ thể các thân vương vẫn tốt cả chứ?”
    Thế tử của Hồng vương giành quỳ xuống trước nói: “Cha thần tuổi tác đã cao, trăm thứ bệnh quấn lấy tấm thân.

    Thần không đành lòng thấy cha bôn ba khổ cực nên giành đến chầu thay.

    Đây là tấu thỉnh an của cha thần.”
    Cát Tường dâng tấu lên tay hoàng đế.

    Hoàng đế nhìn Hồng Định Quốc đang quỳ.

    Suy cho cùng cũng là cháu ruột thái hậu nên mặt mày giống mẫu hậu đến mấy phần, đều trắng nõn thanh tú đúng như những người nhà Hồng đã từng gặp, chỉ có đôi môi mỏng đang mím có vẻ khá quyết đoán.

    Hắn ta mở tấu sớ ra đọc hai hàng, thấy cách dùng từ của Hồng Thất Trú thảm thiết như thể không bao lâu nữa là phải chết vậy, trong lòng không khỏi cười nhạt.

    Đợi lúc nhìn thấy đoạn văn “Khuyển tử Hồng Định Quốc của thần tầm thường mặc theo tự nhiên đến bái yết thay, muốn được thánh thượng quan tâm, dẫn dắt thành tài, sớm ngày san sẽ vì nước” thì vô cùng ngạc nhiên vì việc ấy không khác những gì Tịch Tà nói.
    “Lần này thế tử dẫn theo hai nghìn binh mã vào kinh, lúc đi ngang qua núi Đa có giặc cỏ gây rối chăng?”
    Hồng Định Quốc hơi xấu hổ.

    Đây vốn là lí do của mình, giờ lại để hoàng đế hỏi trước.

    Nếu trả lời không có giặc cỏ quấy rầy thì hoàng đế tất hỏi mình vì sao còn mang nhiều binh mã như vậy vào kinh.

    Nếu nói là có giặc cỏ, hoàng đế lại hỏi mình tình hình chiến đấu ra sao.

    Hắn ta do dự một lát rồi trả lời: “Thần dẫn đại quân qua ranh giới, dọc đường khá thái bình, chỉ có quân tiên phong bắt được hai ba tốp trinh thám của lũ giặc, bây giờ đang tạm giữ trong huyện nha ngay đất ấy.” Hắn ta nghĩ thầm cả dãy huyện nha nơi núi Đa có chốn nào không nhốt mấy thằng giặc, lời nói láo này xem như là tròn trịa.
    Hoàng đế bảo: “Thế tử dũng mãnh phi thường, tất nhiên bọn giặc nghe tiếng là sợ mất mật.

    Giặc cỏ ở núi Đa vẫn là mối họa lớn của triều đình, nếu lúc thế tử trở về còn phải đi ngang qua thì cứ đóng quân đang ở vùng núi Đa, san sẻ diệt giặc thay trẫm.”
    Hồng Định Quốc hoàn toàn không ngờ tới hoàng đế sẽ phái mình đi dẹp giặc nên không khỏi ngẩn ra.

    Hắn ta còn chưa nghĩ ra nên đáp thế nào, hoàng đế đã bảo Cát Tường xuống chiếu thư: “Trao cho thế tử Hồng Định Quốc của thân vương Hồng châu là tướng quân Chiêu Dũng, dẫn năm nghìn phiên binh đi diệt giặc vùng núi Đa.”
    Hồng Định Quốc lập tức trấn định như lúc ban đầu, khóe miệng khôi phục biểu cảm kiên nghị trước sau như một: “Tạ chủ long ân.

    Thần tất sẽ nỗ lực đền đáp triều đình.”
    Hai vị thế tử Đỗ Mẫn của Đông vương và thế tử Bạch Vọng Cương của Tây vương cũng dâng tấu thỉnh an lên theo.

    Hoàng đế biết thể nào cũng na ná như nau nên chỉ để ở bên chứ không xem và nói với họ: “Thái hậu là dì của các khanh, vô cùng nhớ mong các khanh.

    Ngày hai mươi tháng Sáu, Lương vương và ba vị thế tử hãy theo trẫm đi thỉnh an thái hậu.”
    Sáng trăng “quân tử” dạo chơi, Dạo đi dạo lại có nơi mất truyện
    Sau tiệc đêm ở ở dinh Quang Lộc, Hồng Định Quốc trở lại dịch quán, thống lĩnh quân đội dưới trướng đua nhau tới oán giận hôm nay thế tử nhận việc cực nhọc.”Rốt cuộc hoàng đế có ý định gì? Thế này không phải là muốn thế tử của chúng ta ở bên ngoài chịu khổ hay sao?”
    Hồng Định Quốc lại cười nói: “Hoàng đế muốn áp chế nhuệ khí của chúng ta, cho chúng ta việc khổ sai, không ngờ lại tính lầm.

    Ta dẫn năm nghìn binh đóng ở núi Đa thì chẳng phải là cách Trung Nguyên gần hơn một bước ư? Phụ vương mà biết thì ắt sẽ nói trong cái rủi có cái may.

    Các anh ở đây oán giận chỉ vì lo mình xuất chinh chịu khổ ở bên ngoài chứ có thật sự đau lòng cho thế tử của các anh đâu?”
    “Thế tử gia muốn mấy người chúng tôi theo đến núi Đa ạ?” Các thống lĩnh quân đội binh nghe vậy thì cả kinh.
    Hồng Định Quốc cười nhạt bảo: “Các anh là người đắc lực nhất mà ta tuyển ra, các anh không đi thì kẻ nào đi?” Nhấp một ngụm trà rồi lại hỏi, “Mặt khác, người rời doanh gây chuyện mấy hôm trước đã ghi lại tên hết chưa? Giao cho các anh về xử trí đấy.” Nói đoạn vẫy tay cho mọi người lui rồi bảo cận thị hầu hạ cuộc sống thường ngày của mình, “Lúc này chắc hẳn y đã tới rồi, gọi y vào đi.” Cận thị mở cửa ra, khẽ gọi một tiếng về phía hành lang, tức thì một cái bóng đen chợt lóe vào trong phòng.
    “Gần đây thầy Lôi có khỏe không?” Giọng điệu Hồng Định Quốc khách sáo nhưng mặt lại lạnh như băng, không mấy vui vẻ.
    “Lôi Kỳ Phong thỉnh an thế tử gia.”
    “Thầy Lôi phát tài ở chỗ Đông vương, chắc đã làm không ít việc nhỉ?”
    “Nhận tiền của người thì phải trừ tai hoạ cho người, khác với tình cảm giữa chủ tử và tiểu nhân.”
    “Thầy Lôi đừng nhắc đến tình cảm nữa, nói ra lại khiến người ta chê cười.

    Một hai năm rồi, đừng nói đến việc tới thỉnh an lão vương gia ở Hồng châu, ngay cả ta đến kinh thành đã ba bốn ngày cũng không thấy bóng dáng thầy đâu.”
    “Tiểu nhân hành động không tiện cho lắm, Đỗ Mẫn rất đa nghi, tối nay tiểu nhân mạo hiểm tới đây chỉ muốn nói cho thế tử gia một tin tức.”
    “Nói đi!” Hồng Định Quốc nói, “Lần này lại muốn thầy giết kẻ nào?”
    Lôi Kỳ Phong nhỏ giọng nói bên tai Hồng Định Quốc, Hồng Định Quốc cau mày hỏi: “Sao y cũng ở kinh thành?”
    “Tối hôm qua vào kinh đấy ạ.”
    “Nói như thế, dã tâm của nhà họ Đỗ phía đông không nhỏ đâu.” Hồng Định Quốc nói, “Đỗ Mẫn muốn thầy chừng nào thì ra tay?”
    “Ngay đêm nay ạ.”
    Lôi Kỳ Phong mặc quần áo đen, dưới hàng mày đẹp trong sạch như núi Thái Sơn sau cơn mưa là đôi mắt lộ ra sự mê man vô hạn.

    Hình như vì luôn ghé qua khi đêm xuống nên khuôn mặt người tuổi trẻ nhận được linh khí ánh trăng tràn đầy vẻ bi thảm.

    Mỗi khi thấy phong thái bình chân như vại lúc y giết người trước đây, ý muốn giết chóc trong lòng Hồng Định Quốc sẽ đột ngột bành trướng.
    “Đi đi.” Hồng Định Quốc nắm chén trà thật chặt, phiền muộn đuổi y.
    “Vâng.” Lôi Kỳ Phong đi còn nhanh hơn, lướt lên nóc nhà như một cơn gió mát, thổi tan vào trong trời đêm.
    Đường Định Hoàn đại lộ Câu Trần ở góc đông bắc kinh thành, người sống ở nơi này phần lớn là những người bán sức lao động cực khổ như kéo thuyền, khiêng kiệu và những nhà túng bấn, không nhiều gian nhà trọ vì giá quá rẻ, chật ních những tiểu thương và nghệ nhân giang hồ dừng lại ở kinh muốn qua ranh sông Ly.

    Lúc này đã qua canh ba, vốn gánh hàng quà vặt đầy đường nhưng giờ cũng đã thu dọn, chỉ còn một hai gái giang hồ vẫn kéo dài cái bóng cô độc, quanh quẩn ở ngoài nhà trọ.

    Lôi Kỳ Phong lẳng lặng nằm ở trên nóc chái nhà phía đông sân sau “Hồng Vận Lai”.

    Đó là nhà trọ lớn nhất trên con đường này, trong sân sau ít cũng có thể chưa hai mươi, ba mươi người.

    Nhân lúc nửa đêm vắng vẻ không tiếng động, có hai bóng người như gió táp rơi xuống phía sau y.
    “Lôi Kỳ Phong đã tới rồi.” Giọng địa phương đặc sệt của người này không giống người Trung Nguyên, đôi chân trần thoăn thoắt đi tới bên Lôi Kỳ Phong.
    “Bọn họ có mười người, thầy Lôi muốn một mình ra tay hay là muốn chúng tôi giúp giải quyết vài tên đây?”
    Lôi Kỳ Phong trông hai người đàn ông vạm vỡ da đen thui, mặc trang phục người Hán nhưng lại xắn ống quần lên để lộ hai chân thì lạnh lùng bảo: “Tôi lấy tiền của người ta thì phải làm việc cho họ, tôi chẳng quan tâm các anh muốn thế nào.

    Thế nhưng vương tử Đại Lý đang trong phòng là của tôi, nếu các anh dám động đến y thì tôi sẽ lấy mạng các anh trước.”
    “Không dám!” Một người trong đó nói, “Chúng ta chỉ muốn giúp một tay, nếu thầy Lôi không thích thì anh em bọn tôi ở đây xem trò vui thì cớ sao mà không làm?”
    Lôi Kỳ Phong làm như mắt điếc tai ngơ, lông mày vừa nhíu lại, người thình lình bay nhanh về phía trước.

    “Vèo” một tiếng, một mũi lông trắng thon dài găm vào chỗ nóc nhà mà y ẩn náu lúc đầu, làm nát bấy mái ngói bị bắn trúng, mảnh vụn văng vào má làm đau hai người đàn ông vạm vỡ.

    Lôi Kỳ Phong đã xẹt qua cửa lấy ánh sáng trên nóc nhà (hình dưới), rơi xuống nóc buồng tây.
    Trong nhà giữa có người nhàn nhã đi tới, một người đàn ông vạm vỡ mặc áo trắng, giắt kiếm bên hông vẫy tay nói với hai người đàn ông to con trên nóc nhà: “Đứng xem trò vui không thôi thì quá thất lễ, hai vị sứ Miêu cũng hoạt động một chút đi.”
    “Sẩy tay rồi.” Hai cái người Miêu liếc nhau rồi phi người vội vàng rút lui.
    Nhưng người đàn ông vạm vỡ mặc áo trắng nhanh hơn, rút kiếm chặn đứng đường lùi của họ, kiếm như giao long thẳng vào mặt hai người.
    Lôi Kỳ Phong không thèm để ý tình hình nguy hiểm của hai người Miêu, đôi mắt trong suốt như trăng sáng trong làn nước thu chăm chú nhìn chàng trai đang giương cung định bắn trên nóc nhà.

    Chàng trai áo trắng đeo mặt nạ đồng, cây cung lớn trong tay gần như xấp xỉ với thân hình mảnh mai của hắn.

    Trăng tròn như đêm nay, tên bạc lông trắng trên cung phản xạ ánh sáng điềm tĩnh, khóa chặt yết hầu Lôi Kỳ Phong như lưỡi rắn.

    Thoạt nhìn đã thấy tuy hai tay của chàng trai thanh tú đẹp đẽ nhưng lại kiên định lạ thường.

    Song điều mà Lôi Kỳ Phong để ý hơn là ánh mắt phóng ra từ sau tấm mặt nạ đồng của chàng trai mang theo sự lạnh lẽo thấm vào da thịt, mơ hồ xâm nhập tuỷ sống và xương cốt khắp người y làm kẻ trải trăm cuộc chiến như y lại sinh ra nỗi sợ hãi không dám nhìn thẳng.
    Kéo một cây cung lớn như vậy, cuối cùng cũng có lúc kiệt sức.

    Lôi Kỳ Phong đang chờ đợi thời cơ chỉ xuất hiện trong tích tắc ấy.

    Nhưng hai người Miêu phía đông lại không địch nổi thế kiếm của của người đàn ông vạm vỡ áo trắng, một người trong đó lui ra ngoài vòng tròn, phu ra một mảnh sương trắng từ trong tay áo, phủ lên phía người đàn ông áo trắng.
    “Phóng độc à?” Người đàn ông áo trắng cười dài một tiếng rồi nhảy lên trên không, tiếng trường kiếm gào rít mãnh liệt, ngoài dự đoán mọi người, cả người lẫn kiếm đều phóng về phía Lôi Kỳ Phong.
    Lôi Kỳ Phong gặp biến không hoảng, chẳng lùi mà còn tiến tới, người bất chợt ghì xuống, nhanh như sao băng, vung kiếm sắc lên không trung, thẳng đến nhà giữa.

    Chàng trai đeo mặt nạ đồng đè cung xuống, tên lông trắng lao nhanh xé toạc không trung, xuyên qua vai phải Lôi Kỳ Phong.

    Lôi Kỳ Phong chỉ khẽ run trên không trung nhưng thế đi không bị cản trở, nhảy vào trong phòng, đâm một kiếm về phía vương tử Đại Lý đang trốn ở góc tường.

    Trên đỉnh đầu lại ầm vang một tiếng thật lớn, một bóng trắng phá nóc mà vào trong bụi của những miếng ngói, ngăn cản thế đi của y.

    Lưỡi kiếm của Lôi Kỳ Phong càng mau hơn, lúc cơn gió lạnh được tạo nên từ mũi kiếm lay động vạt áo trước ngực của chàng trai đeo mặt nạ đồng, một tiếng rít mới đâm vào màng nhĩ mọi người, “Keng” như tiếng kim loại đập vào nhau.

    Chàng trai đeo mặt nạ đồng lấy hai ngón tay kẹp mũi kiếm, thân kiếm như con rắn bạc múa loạn ở trong tay hai người, tiếng rồng ngâm chấn động làm người trong phòng phải bưng tai tránh né.

    Ánh sáng lạnh trong mắt chàng trai đeo mặt nạ đồng càng bừng lên, nội lực vội thúc vào cánh tay phải cầm kiếm của Lôi Kỳ Phong.

    Máu tươi từ vai phải của Lôi Kỳ Phong túa ra ào ào, chảy xuống dọc theo thân kiếm.

    Nhưng vì ba tấc trước hai ngón tay của chàng trai đeo mặt nạ đồng như có gió mạnh cản lại nên chúng chảy tí tách xuống mặt đất.

    Ánh mắt Lôi Kỳ Phong dẫn mê man, cố gắng tỉnh lại, hét lớn một tiếng rồi đột ngột nhảy khỏi mặt đất, bỏ trốn qua cái lỗ lớn trên đỉnh đầu.
    “Không cần đuổi theo.” Chàng trai đeo mặt nạ đồng quát người đàn ông vạm vỡ mặc áo trắng vừa nhảy vào phòng chỉ muốn thừa thắng xông lên, “Cứ để y đi.”
    “Vâng.”
    Tiếng của chàng trai lưu thủy trong veo như nước: “Giờ y bị thương nặng, không phải là đối thủ của anh, anh có thể yên tâm sắp xếp vương tử Đại Lý đến phủ của Lưu Viễn.”
    “Vâng.”
    Vương tử Đại Lý đi đến vái một cái thật sâu.

    Chàng thiếu niên chặn lời của y, khẽ ho một tiếng rồi mới nói: “Tôi đã biết ý định khi tới đây của vương tử, ngài chỉ cần nói rõ với Lưu thái phó thì lão tự sẽ giúp ngài bẩm báo với hoàng đế.” Nói xong thì xoay người muốn đi, lại bị vương tử Đại Lý tóm lấy cổ tay.
    Cổ tay trắng đập vào mắt ở trong lòng bàn tay vương tử Đại Lý làm y bỗng hơi rối loạn ở trong tiếng vọng của thiếu niên: “Cô nương chờ một lát, còn chưa hỏi…”
    Ánh sáng trong mắt chàng trai đeo mặt nạ đồng tối đi, vương tử Đại Lý nhìn thấy rất rõ ràng, ấy mới biết tức giận cũng có thể như vậy trầm tĩnh lạnh lùng như băng, xuyên thủng lòng người.

    Y khẽ rùng mình trong ánh mắt của chàng thiếu niên, trong cơn mờ mịt sợ hãi bị chàng trai đeo mặt nạ đồng nhẹ nhàng vùng tay ra.

    Đợi khi y ngớ ra, đuổi đến ngoài cửa đã chỉ thấy bóng áo trắng như tuyết đó tan trong ánh trăng, phút chốc liền biến mất.
    Thân anh như thằng ăn trộm cắt rào, Đụng lê anh cũng bẻ, gặp đào anh cũng quơ
    Hai mươi tháng Sáu, hoàng đế dẫn theo bảy vị phiên vương và thế tử cùng đến hành cung ở Thượng Giang tránh nắng và đi săn.

    Ngoại trừ ba người anh em cùng cha khác mẹ của hoàng đế muốn đi gặp thái phi thỉnh an ra thì còn có bốn vị thân vương và thế tử Hồng, Lương, Đông, Tây nhà mẹ thái hậu.

    Nội thần theo giá là sáu người thân tín của hoàng đế, trong đó có Cát Tường và Như Ý.

    Vì cầu hôn công chúa Cảnh Giai nên những thứ cống nạp lần này của Lương vương không chỉ có vô số kỳ trân dị bảo mà còn có hai trăm xấp lụa của Lương châu.

    Đặc sản của Lương châu có băng tằm, tơ băng được tạo ra rất óng ánh, cực dễ nhuộm màu.

    Cho nên tơ lụa Lương châu lộng lẫy đẹp đẽ, vô cùng cao quý, luôn là loại tốt nhất mà triều đình chỉ đích danh để cống nạp.

    Xưa nay thái hậu rất chú trọng đến áo quần, còn thích gấm Lương nên hoàng đế cố ý lệnh cho cục Châm Công, cục Nội Chức Nhiễm chọn ra năm xấp để mang đến cho thái hậu thẩm định và chọn lựa.

    Vì Tịch Tà thu mua trong cục Châm Công bị cảm nắng, đang nằm trên giường nghỉ ngơi cho nên ngày hai mươi tháng Sáu chưa đi theo hoàng đế, chỉ tấu lại hai ngày nữa cơ thể khá lên sẽ lập tức chạy tới Thượng Giang nghe sai bảo.

    Cục Châm Công phái thái giám đắc lực khác là Khu Ác giám sát việc vận chuyển gấm, đi theo giá vua.
    Sáng sớm hoàng đế đã cưỡi ngựa xuất phát.

    Dọc đường các thân vương và thế tử đi cùng đều còn trẻ, ngoại trừ thế tử Tây vương trước giờ người yếu lắm bệnh, bị tụt lại phía sau ra thì những người khác đều ra roi thúc ngựa, phóng như bay.

    Nhất là thế tử Đỗ Mẫn của Đông vương, tràn đầy thể lực, vẫn luôn vượt lên đầu mọi người, theo sát hai bên hoàng đế.

    Đỗ Mẫn hơn ba mươi tuổi, vóc người thon dài, hình thể khôi ngô, khuôn mặt anh tuấn hào phóng vì thường dẫn quân trên biển phơi nắng nên ngăm đen.

    Ngay cả hoàng đế trông thấy cũng không khỏi muốn khen gã oai hùng dũng mãnh.

    Liều mạng chạy như điên ven sông Ly như vậy, quả nhiên chính ngọ đã đến hành cung Thượng Giang.

    Vừa vào ranh giới Thượng Giang đã cảm thấy địa thế bao la, rừng cây bát ngát, gió mát đập vào mặt làm người ta vui tươi thanh thản.
    Hồng Định Quốc cười nói: “Đúng là hành cung tránh nắng, quả nhiên là thắng địa của hoàng gia.”
    Hoàng đế cười nói với ba người anh em của mình: “Trước đây năm nào mấy đứa các em cũng tới, lần này phải hết lòng chủ nhà, thay trẫm chiêu đãi Lương vương và ba vị thế tử đấy.”
    Hành cung Thượng Giang có mặt trời ấm áp, mùi hoa thấm vào người, kiến trúc tinh xảo độc đáo, long lanh tao nhã không giống hoàng cung.

    Mọi người theo hoàng đế đi một đoạn đường quanh co rất dài mới đến các Ỷ Hải mà tiên đế thường ở, làm lễ xong, lúc bấy mới tới thăm nhà riêng thỉnh an thái hậu.
    Thái hậu đang ngủ trưa, Hồng Tư Ngôn truyền lời ra nói: “Chắc hoàng đế và các vị phiên vương đã mệt mỏi, hôm nay hãy nghỉ ngơi trước, không cần tới thỉnh an, ngày mai mỗi người hãy xin gặp sau.” Rồi nói với ba hoàng tử của tiên đế, “Bên chỗ hai vị thái phi nhất định đã đợi đến mức sốt ruột rồi, ba vị vương gia mau thay quần áo đi lạy đi thôi.” Nói xong thì liếc mắt một cái với thế tử của Đông vương.
    Đỗ Mẫn vội vã tắm gội xong xuôi, chỉ dẫn một người theo đến phía đông của hành cung.

    Lúc bấy vừa sau giờ Ngọ, ai nấy đều ở trong phòng nghỉ ngơi, im ắng không có một ai.

    Đỗ Mẫn ngựa quen đường cũ, vòng mấy khúc, xuyên qua một cánh rừng, đã trông thấy nhà riêng ở phía trước.

    Bên ngoài cửa cung chỉ có một mình Hồng Tư Ngôn đứng dưới bóng cây phe phẩy quạt tròn hóng mát, nhìn thấy Đỗ Mẫn đi ra từ trong rừng bèn chép miệng vào trong cung.
    “Anh ở đây chờ ta.” Đỗ Mẫn nói với người hầu đi theo mình rồi xách áo, nhẹ nhàng nhảy vào cửa.

    Người hầu trẻ tuổi tỏ vẻ mặt mờ mịt, chọn một chỗ mát mẻ dựa vào cây to nghỉ ngơi.

    Hồng Tư Ngôn làm như không thấy, tiếp tục phe phẩy cây quạt của mình.
    Đỗ Mẫn nhẹ nhàng đẩy cửa chính điện ra đánh “két” một tiếng trong sự yên tĩnh, không khí lành lạnh trong điện làm gã khẽ rùng mình.

    Trên chỗ ngồi chính giữa điện không có ai, nghe thấy sau bức rèm bên phải có người khẽ cười một tiếng, nói: “Bên này.”
    Đỗ Mẫn vén rèm lên, thái hậu đang nằm nghiêng ở trên giường mát, mặc bộ áo mỏng màu trắng nhuộm mẫu đơn, chỉ dùng một cây trâm vàng cài trên mái tóc đen, tay phải trắng nõn đang cầm một cái quạt tròn thêu vàng, uể oải rủ xuống trước ngực.
    “Thái hậu vạn phúc kim an.” Đỗ Mẫn quỳ xuống dập đầu, cái lễ này tiêu sái tự nhiên, bắp thịt rắn chắc làm áo bào tơ mỏng manh ngày hè phồng lên.
    Thái hậu cười nói: “Một năm không gặp, thế tử vẫn uy vũ anh tuấn như vậy, ta hết sức yên tâm.”
    “Dung nhan của thái hậu vẫn không suy sút, an khang cát tường, thật là phúc của xã tắc.”
    “Khanh không học cái tốt, chỉ được cái miệng lưỡi trơn tru.” Thái hậu mỉm cười, “Bên ngoài nóng lắm nhỉ?”
    “Đúng là khá nóng ạ!” Đỗ Mẫn đứng thẳng người, nới lỏng cổ áo, “Trong phòng này cũng chẳng mát gì cả.”
    Thái hậu phì cười, liếc mắt nhìn gã.

    Đỗ Mẫn cởi áo choàng ra rồi vứt trên mặt đất, chậm rãi đi về hướng thái hậu.

    Thái hậu dắt tay gã, dẫn gã ngồi lên trên giường mát: “Khanh còn muốn đến thăm ta?”
    “Tôi chạy như điên cả đường chỉ mong mỏi sớm được trông thấy thái hậu.” Tiếng nói của Đỗ Mẫn trầm thấp rung động, sâu lắng động lòng người, cúi đầu trông đôi mắt mềm mại như tơ của thái hậu.

    Trong không khí trong trẻo sáng rõ, khuôn mặt thái hậu lấp lánh lạ thường, đôi môi đầy đặn lộ ra tiếng cảm thán kéo dài.

    Đỗ Mẫn kìm lòng không đậu hôn xuống thật sâu.
    Hai cánh tay trắng nõn của thái hậu khoát lên trên da thịt ngăm đen lấp lánh ánh vàng của gã: “Sang năm khanh lại đến chứ?”
    “Nhất định.”
    Anh đánh ngạch vô thấu bàn thờ, Trước anh quơ đồ lặt vặt sau anh rờ bộ lư.
    Hoàng đế nghỉ ngơi hai canh giờ, thứ đầu tiên nghĩ tới sau khi tỉnh dậy là năm xấp gấm Lương, sai người lập tức mang tới, tự mình nhìn thêm một lần.

    Thấy Cát Tường và Như Ý vẫn đổ đầy mồ hôi, vội vàng sắp xếp vật ngự dụng, bèn nói: “Trẫm muốn đến cung thái hậu thỉnh an, các khanh cứ tiếp tục bận rộn ở đây đi.

    Khu Ác này là sư đệ của các khanh, để y đi theo là được.”
    Cát Tường biến sắc nói: “Khu Ác chưa từng hầu hạ bên cạnh chủ nhân bao giờ, nên để nô tỳ đi thôi ạ.”
    “Cùng là trò của thái giám Thất Bảo, chỉ cần trẫm dẫn dắt thì tất sẽ có tương lai.”
    “Tạ ơn vạn tuế gia.” Khu Ác vội vàng quỳ xuống dập đầu, không thấy rõ biểu cảm trên mặt y thế nào.
    Tức thì có hai thái giám nhỏ nâng gấm theo Khu Ác, theo giá đi đến nhà riêng.

    Xa xa đã trông thấy Hồng Tư Ngôn ngồi ngoài cung, vừa ngẩng đầu thấy đám người hoàng đế liền xoay người đi vào trong cung.
    “Hồng cô cô!” Hoàng đế kêu lớn.
    Lúc này Hồng Tư Ngôn mới dừng chân lại ở bên cửa cung, quỳ xuống cười nói: “Nô tỳ không nhìn thấy hoàng thượng, tội đáng chết vạn lần, xin vạn tuế gia thứ cho tội thất lễ của nô tỷ.”
    Bà ta là người cũ mà nhà mẹ thái hậu mang vào cung, hơn mười tuổi đã hầu hạ thái hậu.

    Hoàng đế vô cùng khách sáo tôn trọng bà ta, cười nói: “Hồng cô cô đứng lên đi.

    Thái hậu đang làm gì đấy? Đã ngủ dậy chưa?” Hắn ta liếc qua cậu thanh niên nằm rạp trên mặt đất ở bên cạnh, hỏi, “Đây là gã sai vặt của ai? Ngẩng đầu cho trẫm nhìn một cái.”
    Mặt mày cậu thanh niên trong trẻo nhưng vẻ mặt lại mơ màng, có vẻ đang chịu nỗi đau đớn nào đó.
    “Dáng dấp không tệ.”
    Hồng Tư Ngôn cười gượng một tiếng, nói: “Đây là người đi theo thế tử của Đông vương.

    Đỗ Mẫn đang thỉnh an thái hậu đấy ạ.”
    “Vừa lúc, trẫm cũng vào thỉnh an.”
    “Xin cho phép nô tỳ thông báo một tiếng.”
    “Bên trong là mẫu hậu ruột thịt của trẫm, có gì vội vàng chứ?” Hoàng đế thấy vẻ mặt Hồng Tư Ngôn mập mờ, càng không nhiều lời với bà ta mà dẫn người vào thẳng.
    “Vạn tuế gia đợi đã.” Hồng Tư Ngôn đi theo phía sau luôn miệng gọi.
    Hoàng đế đẩy cửa ra, chỉ nghe thấy thái hậu nói: “Bên ngoài ồn ào cái gì đấy?”
    Hoàng đế vội vã chào: “Mẫu hậu vạn phúc.” Đoạn vén mành lên vào điện phụ.

    Thái hậu sửa sang lại tóc mai và ngồi dậy khỏi giường mát: “Chuyện gì mà vội vã thế? Bôn ba nửa ngày cũng không biết nghỉ ngơi cho tốt.

    Trông nắng ăn đen đi không ít rồi kìa.”
    Hoàng đế quan sát chung quanh, không thấy có người nào khác.

    “Nhi thần nghe nói Đỗ Mẫn thỉnh an ở đây, sao giờ lại không thấy người đâu? Mà sao bên cạnh thái hậu cũng không có ai hầu hạ?”
    “Gã nói một hồi xong thì liền đi.

    Ta hơi mệt, ngủ thì sợ người khác làm ồn nên người hầu hạ đều lui cả.”
    Hoàng đế nhìn chằm chằm cửa sổ mở rộng ở phía bắc điện phụ, cúi đầu che đậy khóe mắt đang giật, nói: “Vâng.”
    “Hoàng đế tới có chuyện gì khác không?” Ánh mắt lạnh lùng của thái hậu tỉ mỉ quét lên trên mặt của ba tên thái giám sau lưng hoàng đế.
    “À, Lương vương cống nạp hai trăm xấp gấm thượng hạng nên con mang một ít qua đây để mẫu hậu xem trước.”
    Ba tên thái giám dâng gấm đến trước mặt thái hậu, thái hậu thờ ơ chẳng màng lật qua lật lại: “Hiếm khi được hoàng đế nhọc lòng.”
    Sau một hồi trầm mặc lúng túng, hoàng đế không yên lòng nói: “Nếu mẫu hậu mệt mỏi thì con xin cáo lui.”
    Thái hậu nghĩ một đằng nói một nẻo, cười: “Giờ đã sắp đến bữa tối rồi, hoàng đế ở đây ăn cơm rồi hẵng đi.”
    “Con còn mang theo vài việc chính trị qua đây, muốn thương lượng với Cảnh Nghi nên không quấy rầy mẫu hậu nghỉ ngơi nữa.”
    Thái hậu mỉm cười nói: “Hoàng đế bận rộn đi vậy.”
    Từ lúc trở về trong chiều hôm ấy là mặt mày hoàng đế âm u cả ngày, động một tí là nổi trận lôi đình.

    Chẳng những đám người Cát Tường, Như Ý đều câm như hến mà ngay cả Thành Thân vương đến Thượng Giang với thái hậu trước tới đó thỉnh an cũng không trông thấy hoàng đế tươi tỉnh.
    “Cần tên nô tài ngu xuẩn này làm gì!” Hoàng đế đập bút mà Tiểu Hợp Tử dâng tới xuống mặt đất, “Có bút nào chấm mực như thế sao?”
    “Hoàng thượng bớt giận.” Thành Thân vương vội nói, “Cần gì phải nổi giận với tên nô tài nhỏ nhoi này?”
    “Em đừng có mà lắm lời!”
    Thành Thân vương ngây ngẩn cả người, không biết đáp lại thế nào.

    Cả căn phòng chỉ có tiếng dập đầu “cốp cốp” của Tiểu Hợp Tử.
    “Là do nô tỳ không dạy dỗ tốt, xin hoàng thượng bớt giận.” Cát Tường là thầy của Tiểu Hợp Tử, quỳ xuống bình tĩnh nói.
    Hoàng đế thở dài, để mặc mọi người ở bên ngoài, trầm mặc khẽ vuốt bàn cờ ở dưới cửa sổ.

    Gió mát cũng không thể làm giảm sự chán nản trong lòng hắn ta, sự quyết đoán lạnh lùng nghiêm nghị chưa từng có tuôn ra từ trong lòng hắn ta.
    “Giết!”
    “Đoạt!”
    Một con cờ đen rơi lanh lảnh vào trong bàn cờ, một cánh tay trắng đến mức trong suốt đưa ra rồi lập tức rụt về.
    “Hoàng thượng vạn phúc.” Tiếng nói trong trẻo của Tịch Tà vang lên bên tai.
    “Khanh tới nhanh thế?” Hoàng đế giật mình, trên chiếc trán nóng như có gió lạnh phất qua, đảo mắt nhìn mọi người, đều là gương mặt như trút được gánh nặng.
    “Nô tỳ nghĩ hoàng thượng, thái hậu sẽ có sai khiến nên sáng sớm hôm nay chạy tới.” Tiếng Tịch Tà trong trẻo lại có vẻ mệt mỏi rã rời.
    “Bị cảm nắng đã khá hơn chưa?”
    “Có sự quan hoài của hoàng thượng, tự nhiên đã khỏe rồi ạ.

    Hoàng thượng đang giận ai vậy?”
    Hoàng đế cười nói: “Không, chỉ là trời nóng nực nên hơi phiền.”
    “Đây là lần đầu tiên nô tỳ đến hành cung Thượng Giang, không ngờ sau hành cung núi nối nhau liên miên, rừng rậm cũng nhiều.

    Xưa nay hoàng thượng am hiểu bắn cung cưỡi ngựa, nhất định sẽ có thu hoạch lớn.”
    Hoàng đế phấn chấn tinh thần, bảo: “Nói không sai, tới một ngày rồi mà không tìm được việc gì vui, giờ chúng ta đi săn đi.”
    Thành Thân vương vội cười làm lành: “Vâng, thần cũng muốn đi đấy ạ.

    Giờ nhiều người quay lại, chi bằng bảo thị vệ dọn sạch bãi săn đã, để tránh có kẻ đụng phải thánh giá.”
    Hoàng đế bắt đầu xoa tay: “Được! Các khanh lấy cung tên của trẫm tới đây.

    Tịch Tà, khanh cũng đi theo đi.”
    “Nô tỳ cũng đi ạ?” Tịch Tà cười nói, “Công phu trên ngựa của nô tỳ kém cỏi lắm.”
    Truyện chỉ được đăng tại vongnguyetlau10.wordpress.com Ngoài ra đều là nơi ăn cắp.
    Trong chốc lát kèn lệnh đã vang lên kéo dài thảm thiết trong bãi săn, tỏ ý bảo bãi săn yên lặng.

    Trước cửa trái Tụ Lộ hoàng đế ở đã chuẩn bị chừng mười thớt ngựa, đoàn người phóng lên ngựa.

    Thành Thân vương dẫn người hầu trong vương phủ lên phía trước mở đường, thị vệ đại nội phi ngựa truyền lệnh, kèn lệnh xuất chinh trỗi dậy.

    Đã có thị vệ hành cung đuổi cầm thú từ chung quanh vào bãi săn từ lâu.

    Hoàng đế dẫn trên dưới một trăm con chiến mã nhảy vào rừng rậm, trăm thú tức khắc chạy loạn, vạn tên cùng bắn, tiếng giết lay trời.
    Hoàng đế tuổi còn trẻ, sau hai canh giờ mới thấy mệt, bèn ghìm ngựa cười sai người kiểm kê thu hoạch của mọi người.

    Tất nhiên hoàng đế săn được nhiều nhất, ngoài hơn hai mươi con thú nhỏ còn bắn được hai con hươu lớn.

    Thành Thân vương cũng có thu hoạch, chỉ là vài con hoẵng hươu cáo thỏ.

    Trong nội thần trừ Như Ý bắn được một con chim trĩ ra thì những người khác đều không thu hoạch được gì.
    Hoàng đế nói: “Các khanh còn phải để tâm hơn, lần tới sẽ cho các khanh và người trong phủ của Thành Thân vương đọ tài bắn cung.”
    Tất cả mọi người tỏ vẻ mặt ngượng nghịu.

    Thành Thân vương cười nói: “Không phải hoàng thượng đang làm khó họ mà là làm khó thần.”
    Hoàng đế mới cười, chợt nghe phía trước truyền đến tiếng bách thú ầm ĩ và từng trận cung tên thấp thoáng thì cau mày hỏi: “Không phải đã truyền chỉ dừng săn rồi sao, là thị vệ dưới trướng kẻ nào vẫn còn lắm chuyện?”
    Phó thống lĩnh thị vệ Khương Phóng tâu: “Thần cảm thấy không phải thị vệ, gan bọn họ có to bằng trời cũng không dám bắn cung trước ngự giá.”
    Chỉ chốc lát sau đã có người báo lại: “Không phải thị vệ mà là thế tử Đỗ Mẫn của Đông vương dẫn người trong vương phủ của mình vào bãi săn ạ.”
    Thành Thân vương cả giận nói: “Đồ hỗn hào, không biết bãi săn đã được dọn sạch, chỉ có hoàng thượng ở bên trong hay sao?”
    “Thần hỏi ngài ấy như vậy thì ngài ấy trả lời là thái hậu đã ân chuẩn cho ngài ấy vào bãi săn, bây giờ biết hoàng thượng ở đây nên đã dẫn người lui ra rồi ạ.”
    Bắp thịt trên mặt hoàng đế không tự chủ được mà co quắp, khuôn mặt anh tuấn thay đổi đến mức dữ tợn vô cùng.

    “Không ai được nhúc nhích!” Hoàng đế lạnh lùng nói rồi đoạt lấy hũ tên trong tay Cát Tường, hét lớn một tiếng, giục ngựa chạy như bay về phía trước.

    Gió đập vào mặt đâm khiến ánh mắt hắn ta nóng rực đau rát, phía trước đã thấp thoáng thấy bóng chiến bào hình rồng trong của Đỗ Mẫn.

    Hắn ta chẳng mang cành cây trong rừng làm trầy cánh tay, rút ba mũi tên gắn lông vũ từ phía sau ra, giương cung bắn về hướng Đỗ Mẫn.
    Lông đen xé gió, thế như chẻ tre nhưng đã có ba mũi tên nhọn đuổi theo nhanh hơn, lóe lên trước mặt hoàng đế như sao rơi.

    Phía trước truyền đến tiếng “keng” lanh lảnh, sáu nhánh tên dài cùng quấn lấy nhau rơi xuống cỏ.

    Đỗ Mẫn thấp thoáng nghe thấy âm thanh, quay đầu lại, lát sau đã đi mất không thấy bóng dáng đâu.
    Hoàng đế nắm thật chặt cây cung trong tay, nhìn chằm chằm phía trước, cả người đều đang phát run.
    “Nô tỳ bắn rơi tên của hoàng thượng trong tình thế cấp bách.” Tịch Tà giục ngựa chạy tới từ phía sau, lăn khỏi yên ngựa rồi thưa, “Xin hoàng thượng thứ cho nô tỳ tội đáng chết vạn lần.”
    Hoàng đế đã hung thần ác sát, cúi đầu dùng đôi mắt tràn đầy tia máu nhìn chằm chằm Tịch Tà, gân xanh trên mu bàn tay liên tiếp nổi lên dữ dội theo sự run rẩy.

    Hắn ta đột nhiên giận dữ gầm lên một tiếng, nhảy phắt xuống ngựa, đẩy Tịch Tà ngã nhào xuống đất, hai tay bóp chặt lấy cổ họng của hắn và quát lên dữ tợn: “Ngươi lại dám ngăn cản ta!”.
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 3: 3: Khu Ác


    Tịch Tà há lại dám phản kháng, dần dần không còn sức lực trong đôi tay càng thu càng chặt của hoàng đế.

    Khuôn mặt hắn đỏ bừng lên, chỉ có hai mắt vẫn vô cùng tỉnh táo, đang cắn răng nghiến lợi dốc hết sức lực bỗng nở nụ cười dịu dàng hướng về phía hoàng đế.
    Máu khắp người hoàng đế đang cuộn trào mãnh liệt lên đầu, thấy Tịch Tà vẫn đang mỉm cười thì đột nhiên cảm giác được cơn lạnh thấu xương thoát ra từ không khí xung quanh khóa chặt lấy trái tim mình giống như chiếc lưỡi dài của con rắn độc, làm cả người hắn ta hãi hùng.

    Lúc này hắn ta mới khôi phục chút lý trí, chậm rãi buông lỏng tay ra, trước mắt chợt biến thành màu đen, ngay cả khuôn mặt Tịch Tà cũng trở nên lờ mờ.

    Hoàng đế lật người, nằm ngửa trên đất, hãy còn th* d*c không dừng.

    Ánh mặt trời xuyên vào trong rừng, đâm vào làm hắn ta không mở nổi mắt.

    Hai con ngựa chiến tắm nắng ở bên chủ, xung quanh đã không còn tiếng la giết từ lâu, ngay cả chim cũng bắt đầu hót líu lo, dường như trong trời đất rộng lớn đều an nhàn tốt lành như thế, chỉ có sự chết chóc trong cơ thể mình là dời sống lấp biển.

    Hắn ta nghe thấy Tịch Tà bò dậy, quỳ ở bên cạnh mình, có vẻ vẫn chưa thể mở miệng nói chuyện nên không khỏi quay đầu cười nói với hắn: “Khanh thế nào?”
    Trên chiếc cổ trắng như tuyết của Tịch Tà in rõ mấy dấu tay đỏ tươi, vật lộn chốc lát mới miễn cưỡng cười thưa: “Thần vốn đã trúng gió rồi, giờ càng thấy hoa mắt chóng mặt.” Nói thì nói vậy nhưng lại che ngực ngã xuống bên hoàng đế.
    Hai người nhìn lên bầu trời xanh, mây trắng treo trên cao, sừng sững bất động, cỏ xanh trong rừng quất vào mặt, mùi thơm ngát thấm người.
    Hoàng đế đột nhiên bật cười ra tiếng, nói: “Khanh thật to gan!”
    Tịch Tà sức cùng lực kiệt, lười biếng tâu: “Vâng.”
    Hoàng đế bảo: “Nếu không phải khanh ngăn ta thì đã bắn chết Đỗ Mẫn rồi.”
    Tịch Tà nói: “Cho dù nô tỳ không ngăn hoàng thượng lại thì hoàng thượng cũng không bắn chết ngài ấy được.”
    “Nói xằng, ba mũi tên này đã rời dây cung, há có lý nào gã lại không chết được?”
    “Vốn dĩ là không nhưng Lôi Kỳ Phong đang ở bên cạnh ngài ấy, đừng nói ba mũi tên, dù vạn tên cùng bắn, Lôi Kỳ Phong cũng có thể bảo vệ ngài ấy một cách an toàn.”
    “Bất kể có thể giết gã hay không, vừa bắn ba mũi tên này ra, ta đã hối hận rồi.”
    Tịch Tà nghe vậy không khỏi cười phì.
    Hoàng đế lại nói: “Không sai, lấy binh lực mà nói, hiện tại gã mạnh ta yếu, thảo nào lần này bốn thân vương vào chầu lại diễu võ dương oai tới vậy.

    Một khi ta không nhịn được thì trước mắt chính là tai ương binh biến, không cần nói cũng biết kết cục.

    Cũng may có ba mũi tên nhanh của khanh, nếu không cái họa này đã ập tới rồi.”
    “Hoàng thượng thánh minh.” Tịch Tà ca tụng sự phát hiện muộn màng của hoàng đế, trong nụ cười toàn là vẻ đùa nghịch.
    Hoàng đế chợt thở dài.

    “Tịch Tà, lúc này chỉ có một mình khanh chịu nghe ta nói.

    Ban đầu trước đây khi ta còn chưa đăng cơ thì còn có thể tâm sự với Cảnh Nghi, chọc giận nó thì còn có thể đấm đá nhau.

    Giờ nó thấy ta cũng phải giống những người khác, lớn tiếng quát nó một câu đã khiếp vía rồi, bình thường cũng mang vẻ mặt úp mở, không nói thật lòng.

    Tuy khanh chỉ chơi cờ với ta được mấy tháng nhưng ta lại cảm thấy khanh gần gũi giống như anh em mình vậy.”
    Tịch Tà ngạc nhiên, vội cười nói: “Nô tỳ chỉ là đầy tớ hèn mọn trong cung, toàn học lá mặt lá trái, a dua nịnh hót.

    Hoàng thượng nói như vậy là lấy mạng của nô tỳ rồi.”
    “Chỉ một câu này nói đã biết khanh khác những kẻ khác.

    Những kẻ ấy sao dám tự nói lá mặt lá trái, a dua nịnh hót?”
    “Đây là do nô tỳ lỡ lời.”
    Hoàng đế nhìn hắn cười to, xoay người ngồi dậy, nói: “Bây giờ nghĩ lại thấy lời của khanh quả không sai, cái gọi là ‘Bổ nhiệm kẻ tài, tăng cường thân binh, loại trừ đất phiên, trưng thu thuế, dẹp bốn phương’ quả thực có lý.

    Lần này phiên vương vào chầu, cũng chỉ có hai mươi ngàn người của ty Binh mã ngũ thành bố trí phòng thủ kinh thành, thực là trứng chọi đá! Chỉ mỗi hơn một trăm người đi ra từ trong trại của Hồng vương thôi đã làm bọn họ sợ đến mức hồn xiêu phách lạc, ta còn phải xấu hổ thay bọn họ.

    Binh lực tổng cộng của bốn tên thân vương những hai trăm tám mươi ngàn, chỗ ta thì ngay cả đại tướng nào là người của mình cũng không biết, cứ nói ngay thị vệ trong cung đã có biết bao thân tín của chúng.

    Ở trong chốn hoàng thành này có ngày nào đó mà không phải nơm nớp lo sợ?” Hoàng đế hung dữ hừ một tiếng rồi nói tiếp, “Dẫu ta có muốn đề bạt mấy thân tín nhưng có ai khiến người ta tin được?”
    Tịch Tà nói: “Có khối người trong lòng chỉ có hoàng thượng, hoàng thượng cứ nhìn cẩn thận thì sẽ biết ngay.

    Không nói bọn họ trước, chỉ Lưu Viễn thôi, mặc dù bình thường không biết quan tâm đến ý thánh nhưng thật sự trung thành tận tâm.

    Học sinh của ngài ấy lại nhiều, phần lớn đều thanh liêm tự trọng, bảo ngài ấy tiến cử vài người thì chắc chắn sẽ không sai.”
    “Có lý.

    Bộ binh thì sao?”
    “Phiên vương đều thiện chiến, lúc này đại tướng của bộ binh toàn mấy lão già cổ hủ ngu ngốc, tướng sĩ trẻ thì không được đề bạt, tương lai tất không phải đối thủ của các phiên vương.

    Chỉ đành từ từ để ý trong hai năm này, đề bạt một vài người dũng mãnh thiện chiến từ trong quan quân tầng dưới để cho bọn họ nắm binh quyền mà không động đến tai mắt kẻ khác, đến khi dùng binh thì mới giao nhiệm vụ lớn.

    Tuy không phải là ý kiến hay gì song bây giờ cũng chỉ đành vậy thôi ạ.”
    “Ngoại trừ khanh ra thì thật sự không có người thân tín để bàn bạc những việc này, khanh lại là nội thần, ít nhiều cũng có phần bất tiện.”
    Tịch Tà nói: “Nói đến chuyện này, nô tỳ lại nhớ tới một người.”
    “Ai?”
    “Thành Thân vương ạ.”
    “Cảnh Nghi?”
    “Vâng.

    Thành Thân vương là anh em ruột của hoàng thượng, chẳng những mưu trí cao siêu mà còn có thân phận thân vương, có thể giao thiệp với quần thần thay hoàng thượng.

    Điều mà hoàng thượng không thể nói thì cứ bảo thân vương nói kín đáo sẽ tiện hơn.”
    Hoàng đế cười bảo: “Vốn là ý kiến hay, có điều Cảnh Nghi tuổi còn trẻ, không chen chân vào việc chính trị, nay để nó gánh cái trách nhiệm này có phải là hơi sớm không?”
    Ánh mắt Tịch Tà lại sâu xa lạnh lùng, hắn nói: “Tuy Thành Thân vương còn trẻ nhưng lo xa nghĩ rộng, ý chí lớn lao, đẩy ngài ấy ra làm đối thủ một mất một còn với các phiên vương sớm hơn thì chẳng những chặt đứt được đường lui của các phiên vương mà còn chặt đứt đường lui của Thành Thân vương.”
    Hoàng đế rùng mình, chỉ cảm thấy trong ngoài cung này không chỉ có sóng lớn cuộn trào mãnh liệt mà còn có mạch nước ngầm chảy xiết, trong chốc lát không biết nói gì.
    Tịch Tà lại cười an ủi, nói: “Vạn tuế gia là thánh chủ một đời, Thành Thân vương cũng chắc chắn là hiền vương một đời.

    Nô tỳ nói xằng nói xiên, xin hoàng thượng thứ tội.

    Song, dầu phiên vương to gan lớn mật, muốn làm chuyện đại nghịch bất đạo thì bên cạnh hoàng thượng còn có một ngọn núi dựa lớn nên chắc chắn không đáng lo.”
    Sắc mặt hoàng đế tối tăm, nói: “Ta biết khanh muốn nhắc đến thái hậu, ta là con trai ruột của người nên đương nhiên không sai.

    Có điều mấy phiên vương đều là người nhà mẹ thái hậu, thái hậu cũng sẽ thiên vị.” Trong lòng đột nhiên lại nhớ tới Đỗ Mẫn, hắn ta cười khẩy bảo: “Hai ngày trước Lưu Viễn tấu rằng vương tử Đại Lý là Đoàn Bỉnh lén đến Ly đô, muốn cầu hôn công chúa trong triều, nói là nếu có công chúa kết thân với Đại Lý, ủng hộ anh ta kế vị thì tương lai Đại Lý sẽ thần phục Trung Nguyên, mãi mãi thân thiện hữu hảo.”
    Tịch Tà nói: “Thì ra vương tử Đại Lý cũng ở kinh thành, vậy thì người Lôi Kỳ Phong muốn giết chính là ngài ấy ư?”
    “Ta cũng nghĩ như vậy.

    Hai vương tử Đại Lý tranh đấu rất dữ dội, Đông vương, Tây vương muốn giết anh ta thì ắt là muốn nâng đỡ một vương tử khác là Đoàn Thừa kế vị.

    Không cần nói cũng biết chúng giành binh lực của Đại Lý để làm gì.”
    “Xem ra nhà họ Đỗ của Đông vương đã không đợi được nữa rồi.

    Tây vương Bạch Đông Lâu đã già, con trai Bạch Vọng Cương lại là một con ma bệnh, giờ vội vã nương nhờ Đông vương, tương lai hai nhà bọn họ hợp binh lại thêm Đại Lý thì thật sự là nuôi ong tay áo.” Tịch Tà thở dài một hơi rồi lại nói, “Bây giờ nô tỳ hiểu biết tỏ tường về ba phiên vương khác, chỉ có bên Đông vương là không rõ lắm.

    Những tai mắt này vốn là do thầy nô tỳ sắp xếp, tin tức bị chặt đứt như thế làm nô tỳ hơi bận lòng, muốn tự mình đi một chuyến.”
    “Vốn dĩ nội thần không dễ rời kinh, nếu như không dưng thả khanh đi ra ngoài, e tấu sớ vạch tội của quần thần dâng lên sẽ khủng khiếp đấy.”
    Tịch Tà chỉ cười lãnh đạm, nói: “Nô tỳ muốn đi thì tất nhiên sẽ có cách.”
    Hoàng đế cười nói: “Vậy là tốt rồi.

    Trời không còn sớm nữa, lúc này chắc chắn bọn họ đều sợ đến đần độn luôn rồi, khanh trở về với trẫm thôi.”
    “Vâng.”
    Hoàng đế thấy cổ Tịch Tà vẫn vừa đỏ vừa sưng, xé một dải gấm trắng từ trên vạt áo xuống quấn quanh cổ Tịch Tà rồi cười bảo: “Che lại, để bọn họ nhìn thấy thì không hay.”
    Truyện chỉ được đăng tại vongnguyetlau10.wordpress.com Ngoài ra đều là nơi ăn cắp.
    Lương vương Tất Long và thái hậu, thái phi quyết định thời gian lấy công chúa Cảnh Giai vào mùa xuân năm sau, mọi việc xong xuôi mới trở về Lương châu.

    Anh ta là thân vương cuối cùng về đất phiên, lúc này đây, mùa hạ cũng coi như kết thúc rồi.
    Trở lại Ly đô, thái hậu sai người kiểm kê sính lễ của Lương vương, nhân lúc đầu thu nên muốn cục Châm Công dùng gấm được cống nạp cắt quần áo thu đông.

    Bởi vì Tịch Tà là thái giám thu mua mà thái giám Thất Bảo chỉ đích danh nên cục Châm Công bèn để hắn đáp lời trước mặt thái hậu.

    Tịch Tà đối chiếu lệnh bài với kho cung ứng trong nội phủ rồi mở kho chữ Bính, chọn mấy màu mà thái hậu vẫn thích, sau đó lại chia ra chừng mười xấp có hoa văn tao nhã trắng trong thuần khiết.

    Đang sai người lấy, quay lại gọi hai người quen sai khiến thì gặp ngay thái giám Trương Cố quản lý cục Châm Công.

    Lão gọi hắn sang bên cạnh, thấp giọng nói: “Cậu gọi Tiểu Lâm Tử, Tiểu Bính Tử à? Hai người kia đều không còn nữa rồi.”
    Tịch Tà cố làm ra vẻ kinh ngạc, cười nói: “Được yêu mến nên thăng chức rồi ạ? Trương công công thiên vị dìu dắt họ, bình thường việc khó làm đều đẩy lên trên người tôi, giờ có công việc béo bở lại không biết thương tôi.”
    Trương Cố cắn răng nói: “Còn không phải vì cậu à? Lần trước cho cậu đi Thượng Giang mà lại trúng gió nên đành bảo Khu Ác dẫn chúng nó đi, chẳng biết trúng phải tà ở đâu mà khi trở về đầu tiên là Tiểu Lâm Tử bị bệnh chết, hôm qua Tiểu Bính Tử đến chỗ chủ nhân Nghị phi cắt xiêm y không biết vì duyên cớ gì mà đụng phải phượng giá, cứ thế bị đánh chết tươi.

    Mấy ngày nay cậu vẫn bị bệnh cho nên không biết đấy thôi.”
    Tịch Tà niệm kinh Phật, nói: “Tội lỗi tội lỗi.

    Nói đi nói lại, công việc lúc này quan trọng, hai người bọn họ không còn thì ai đi với tôi mới được đây?”
    “Khu Ác đang ở trong đó, các cậu đều là tay già đời, giờ chỉ có các cậu đi tôi mới yên tâm.”
    Tịch Tà lắc đầu nói: “Ngũ sư ca của tôi là một người e thẹn, đừng thấy bình thường thận trọng lão luyện nhưng khi thực sự gặp nương nương, chỉ sợ một đôi lời của anh ấy đối đáp không khéo léo thì chẳng phải là muốn mạng của anh sao?”
    Vừa lúc Khu Ác đi tới, Trương Cố nói: “Bữa trước vạn tuế gia còn nói muốn trọng dụng Khu Ác, ý bảo cậu ta lộ diện ở trước mặt các chủ nhân nhiều hơn.

    Nay cậu luôn đi lại trước mặt vạn tuế gia, tất nhiên tương lai vô cùng tận, anh em các cậu vẫn luôn thân nhau như tay chân thế mà không biết dẫn cậu ta cùng thăng chức.

    Tôi không nhiều lời với hai anh em cậu nữa, các cậu cứ đi chuyến này đi.”
    Tịch Tà và Khu Ác liếc nhau, chỉ đành lĩnh mệnh.
    Đến cung Từ Ninh mới biết không chỉ thái hậu ở bên trong mà còn có hai vị công chúa Cảnh Giai, Cảnh Ưu ở chỗ đó trò chuyện với thái hậu.

    Hai người dập đầu thỉnh an, thái hậu nói: “Đứng lên đáp lời.

    Không phải các ngươi là trò của Thất Bảo sao? Ai là Khu Ác, ai là Tịch Tà thế? Ngẩng đầu cho ta xem nào.”
    Hồng Tư Ngôn ở bên cười nói: “Trông ngoại hình của Tịch Tà này không tệ, thái hậu nhìn đuôi lông mày của hắn kìa, trong trẻo cứ như con gái Lương châu ấy.”
    Thái hậu cười quở trách: “Cô càng già càng đổ đốn, sao lại so con gái Lương châu tốt đẹp với thái giám nhỏ chứ?” Lại thấy vóc người Khu Ác cao gầy, thể trạng tráng kiện, khuôn mặt ngăm đen mắt to mày rậm, khóe miệng mang theo vẻ quật cường thì lại hỏi Hồng Tư Ngôn: “Cô xem có phải đứa bé này khá giống người kia không?”
    Hồng Tư Ngôn miễn cưỡng nói: “Bề ngoài và vẻ mặt đều có chỗ tương tự.”
    Thái hậu đột nhiên hỏi Khu Ác: “Bao nhiêu tuổi rồi?”
    “Nô tỳ hai mươi mốt tuổi.”
    “Trước khi vào cung mang họ gì?”
    Khu Ác trả lời: “Họ Nhan ạ.”
    Thái hậu cười khẩy một hồi rồi nói: “Sao, ở trong cung có quen không?”
    Khu Ác cười thưa: “Mọi thứ trong cung đều tốt, nô tỳ ở quen rồi ạ.”
    “Mọi thứ đều tốt?” Thái hậu nở nụ cười chua ngoa, “Ngươi cho rằng ngươi vào cung là để hưởng phúc sao? Bây giờ sẽ để ngươi cho biết chỗ không tốt trong cung! Người đâu, mau dạy dỗ tên nô tài ăn nói xằng bật này!”
    Hai thái giám quản chuyện xử phạt trong cung Từ Ninh lôi Khu Ác ra cửa cung đánh một lúc.

    Tịch Tà vội vàng quỳ xuống, dập đầu nói: “Xin thái hậu tha mạng, thái hậu…”
    Thái hậu mỉm cười, khoan thai nói: “Chuyện không liên quan tới ngươi.

    Ngươi là đứa trẻ ngoan, ngươi nói cho ta biết trong cung này như thế nào?”
    Tịch Tà trả lời: “Nô tỳ là một kẻ hèn mọn, nhờ hưởng phúc của thái hậu, vạn tuế gia và chủ nhân các cung nên mới có thể ăn ngon mặc đẹp.

    Tuy không bàn được đến chuyện báo đáp ơn của chủ, song nếu có thể ra sức trâu ngựa, không làm chủ tức giận đã là phúc của nô tỳ.”
    Thái hậu cười nói: “Ngươi là kẻ biết điều đấy.

    Đứng lên đi.”
    Hai cô công chúa đã bao giờ thấy cảnh ấy, công chúa Cảnh Giai sợ đến mức mặt mày trắng bệch, công chúa Cảnh Ưu thì kéo ống tay áo của thái hậu và nói: “Mẫu hậu cần gì phải nổi giận với loại nô tài nhỏ nhoi này? Hôm nay là ngày lành của chị Cảnh Giai, chi bằng tha cho nô tài kia một con đường sống, coi như tích phúc cho chị.”
    Hồng Tư Ngôn cười theo nói: “Công chúa nói phải, giờ đã đánh gãy hai chân rồi, tên nô tài ấy cũng đã biết lợi hại, đã rút ra bài học rồi ạ.” Thấy thái hậu vẫn không lên tiếng, lại nhỏ giọng nói bên tai thái hậu: “Chỉ lát nữa là hoàng thượng sẽ tới, bắt gặp thì không hay đâu ạ.

    Vả lại hôm nay mà đánh chết y, sau thái hậu lại phải hối hận.”
    “Không sai.” Thái hậu gật đầu, Hồng Tư Ngôn lập tức đi ra ngoài dừng hình phạt.

    Chợt nghe thái giám báo lại hoàng đế giá lâm.
    Không lâu sau xin gặp hoàng đế ở cửa, sau khi mỗi người trong nhà hành lễ xong, thái hậu trỏ vào công chúa Cảnh Giai rồi nói: “Cô em gái này của con sắp lấy chồng xa, mấy ngày này hãy gặp nhau nhiều hơn, sau này không trông thấy được nữa đâu.”
    Hoàng đế cười nói: “Lời của mẫu hậu đau buồn quá! Sau này phiên vương lên kinh cùng em qua đây thì sẽ có lúc gặp thái hậu và thái phi thôi.” Hắn ta đảo mắt nhìn công chúa Cảnh Ưu rồi cười nói: “Con cũng đã thầm tính việc hôn nhân của Cảnh Ưu trong lòng rồi, mẫu hậu chớ dễ dàng hứa nó cho người khác.”
    “Nhân vật tài ba nào đấy? Giờ không thể nói sao? Con chỉ cần bàn với mẹ con bé là Dương thái phi thôi, đừng làm cô ta cảm thấy con khiến Cảnh Ưu ấm ức rồi lại so bì với Cảnh Giai, nói ông anh trai làm hoàng đế này trọng bên này khinh bên kia.”
    Cảnh Ưu ở bên đỏ mặt, cúi đầu không nói.

    Hoàng đế nói: “Vừa lúc Tịch Tà cũng ở đây, thời gian kết hôn của Cảnh Giai cũng không xa nữa, cục Châm Công cũng nên suy nghĩ chuyện đặt mua đồ cưới cho công chúa rồi.”
    Tịch Tà trả lời: “Nô tỳ đã xem qua gấm trong kho cung ứng của nội phủ, phần lớn là gấm Lương.

    Đáng ra gấm Lương cực tốt nhưng công chúa đến Lương châu, gấm hồi môn đều là đồ vốn của nhà chồng thì khó tránh khỏi không thỏa đáng.

    Nô tỳ muốn xin chỉ để xin ý kiến ạ.”
    Thái hậu gật đầu nói: “Nói có lý.

    Trong nước thứ có thể sánh ngang với gấm thì chỉ có tơ lụa Hàn châu, trong kho còn nữa không?”
    “Trong kho còn một ít ạ nhưng trong cung không mấy khi sử dụng nên hoa văn đều đã lỗi thời, dầu lấy hết ra cũng không quá tầm trăm xấp.

    Nô tỳ nghĩ nên bảo Hàn châu cống nạp một ít nhưng lại sợ thứ được cống tới mang theo vẻ phố chợ, không hợp với thân phận hoàng gia.”
    “Đúng lắm!” Thái hậu gật đầu nói, “Tơ lụa Hàn châu lưu hành trong dân gian, ta vốn không thích, thì ra là vì vậy.”
    Tịch Tà cười nói: “Nô tỳ có ý này, chỉ sợ nói ra thái hậu trách tội.”
    “Sao lại học cái giọng điệu đó của thầy ngươi thế? Cứ việc nói đi.”
    “Nô tỳ muốn tự mình đến Hàn châu một chuyến, xem phẩm chất hàng dệt nơi đó ra sao rồi đặt mấy trăm mẫu, bảo họ theo đó mà chế tạo gấp, chắc là có thể kịp thời gian kết hôn của công chúa.”
    Hoàng đế liếc nhìn Tịch Tà, nói thầm trong lòng: “Thì ra là thế!” nhưng miệng lại mắng: “Khanh lại suy nghĩ viển vông, nội thần không dưng rời kinh vốn là việc cực kỳ rầy rà.

    Nếu như khanh gây học bên ngoài thì chết mấy lần cũng chẳng đủ đâu.”
    Thái hậu ngăn hoàng đế lại: “Nói gì vậy? Ta thấy là đây ý kiến hay.

    Công chúa lấy chồng mà vẫn không được tính là việc lớn sao? Liên quan đến mặt mũi của triều đình, tất nhiên phải để người trong cung tự mình đi một chuyến mới được.”
    “Mẫu hậu…”
    Thái hậu cười nói: “Xem hoàng đế nôn nóng kìa, các em gái đều ở đây đấy.

    Ta còn không biết hoàng đế không nỡ để Tịch Tà đi, sợ không có ai chơi cờ vui đùa với người sao? Chẳng phải người và Cảnh Nghi chơi rất vui sao? Chỉ một hai tháng thôi, có gì mà vội vàng?”
    Hoàng đế vẫn không muốn, hắn ta do dự một lát rồi mới nói với Tịch Tà: “Mẫu hậu đã bằng lòng rồi, khanh còn không tạ ơn đi?”
    Tịch Tà quỳ xuống dập đầu, nghe thái hậu nói: “Chỉ mình ngươi đi ra ngoài thì sẽ khiến người khác không an lòng.

    Sư đệ Khang Kiện của ngươi ở đây làm việc khéo léo, các ngươi cùng đi thì có thể chăm nom lẫn nhau.

    Không được gây chuyện ở bên ngoài, làm xong việc thì mau mau về kinh.”
    Tịch Tà lĩnh chỉ rồi lui ra, trở lại viện Cư Dưỡng, đến thẳng phòng của Khu Ác.

    Viện Cư Dưỡng vẫn là nơi thái giám Thất Bảo ở, lúc nhiều người nhất là khi bảy học trò còn ở, ngày nào cũng cãi nhau, tiếng người huyên náo.

    Giờ đây ngoại trừ Tịch Tà, Khu Ác còn có Tiểu Thuận Tử – trò của Tịch Tà thì không còn ai nữa.

    Tịch Tà ở buồng tây, Khu Ác ở buồng đông, nhà giữa vẫn y nguyên như lúc thái giám Thất Bảo ở, mỗi ngày đều có người quét tước.
    Tiểu Thuận Tử đang chạy ra từ phòng Khu Ác, cầm phương thuốc trong tay, bị Tịch Tà túm lại thì trả lời: “Thái y nói vết thương của ngũ sư bá không có gì đáng ngại, chỉ là hai chân bị gãy rồi, chăm sóc mấy tháng thì rồi sẽ khỏe lại.”
    “Nhanh đi lấy thuốc đi.” Tịch Tà vung tay buông cậu ra, còn mình thì vào nhà lên tiếng chào hỏi thái y.

    Khu Ác ở trên giường nghe thấy, miễn cưỡng cười nói: “Tịch Tà qua đây nói chuyện với anh mới không cảm thấy đau nhức nữa.

    Hôm nay đúng là số con rệp, chỉ đáp sai có một câu đã gãy chân rồi.”
    Tịch Tà ngồi bên giường của Khu Ác, cầm tay lấy y và nói: “Sư ca, thái hậu đánh anh không phải vì anh đáp sai đâu.”
    Khu Ác cười nói: “Là bởi vì anh họ Nhan?” Y nhìn sắc mặt đau xót của Tịch Tà, nói: “Không trách em việc này đâu.

    Có điều sau này chân sư ca không còn dùng được nữa, từ rày không thể che chở cho em, em nhất định phải tự coi chừng.”
    “Em biết.” Tịch Tà gật đầu rồi lại nói như đinh đóng cột bên tai Khu Ác, “Nay mụ đánh anh, tương lai em sẽ khiến mụ trả lại gấp bội.”
    Qua hai ngày, hoàng đế hạ chỉ xuống.

    Tịch Tà đến phủ Nội vụ[1], giám Ty lễ[2] lĩnh công văn giấy tờ của các bộ rồi thu dọn hành lý cùng Khang Kiện, Tiểu Thuận Tử.

    Cát Tường và Như Ý đặc biệt tới chào tạm biệt, để Tiểu Hợp Tử ở lại viện Cư Dưỡng chăm nom Khu Ác.

    Khu Ác ở trên giường còn lớn tiếng nói: “Đi đi đi đi, chờ em trở về thì anh đã khỏe rồi.”
    [1] Là cơ quan quản lý việc sinh hoạt và tài chính của hoàng gia.
    [2] Là một trong mười hai giám quản lý thái giám và công việc trong cung thời Minh, quản lý tất cả lễ nghi, hình phạt, quản lý công việc, cai quản các dịch bên trong hoàng thành.
    Ba người rời cung mới thay quần áo của thái giám.

    Từ sau khi vào cung, Tiểu Thuận Tử chưa từng ra ngoài, dọc đường đi nhìn cái gì cũng thấy mới mẻ, khoa tay múa chân kêu la om sòm.

    Ba người lên đường lớn Thiên Hình, đang muốn quẹo đến bến đò ẩn trên đường vòng để mướn thuyền thì Tiểu Thuận Tử lại lớn tiếng hỏi: “Thầy ơi, thầy ơi, thầy xem đó không phải là phủ Tông nhân[3] sao?”
    [3] Cơ quan quản lý nội bộ hoàng tộc, trông nom sổ sách của hoàng tộc, soạn thảo ngọc phả, ghi chép ngày sinh và ngày mất cùng sơ yếu lý lịch của mọi thành viên trong hoàng tộc, cộng thêm việc thờ cúng đền miếu trong hoàng tộc.

    Ban đầu, Phủ Tông nhân chỉ là nơi lưu giữ ghi chép, song về sau thì cơ quan này cũng có quyền hạn giải quyết các vấn đề có liên quan đến các thân vương, công tử và công tôn trong hoàng tộc.
    Khang Kiện cười nói: “Thằng nhóc không va chạm xã hội! Phủ Tông nhân đâu ra, nhà chính của phủ Tông nhân ở trong cửa Chu Tước, đó chỉ là nhà ngục của phủ Tông nhân thôi.”

    Biểu cảm trên mặt Tịch Tà giống như bị lưỡi dao sắc bén đâm phải, hắn rùng mình rồi nói với Tiểu Thuận Tử: “Thế thì đã sao? Con có thể an phận hơn không?” Nhưng bản thân lại không nhịn được mà nhìn chằm chằm cái biển ở cửa, ba chữ “phủ Tông nhân” to lớn đang tỏa ra ánh sáng màu đỏ như máu dưới ánh mặt trời.
    Vui lòng đọc tại vongnguyetlau10.wordpress.com để mình mau cập nhật chương mới.
    Lúc rảnh rỗi, Nhan Cửu mười hai tuổi sẽ đếm song sắt trước mặt.

    Trong phòng giam của phru Tông nhân, từ đông sang tây, tổng cộng có mười hai cái song sắt, giống như tuổi của mình.

    Từ tây sang đông tổng cộng mười hai cái, vĩnh viễn sẽ không thay đổi, có phải giống tính mạng mình sẽ đột ngột dừng lại không thay đổi nữa ở năm mười hai tuổi hay không?
    Người anh ruột thịt Nhan Tương đang nằm ngủ say trong lòng mẹ, còn mình thì đang tiếp tục đếm con số không đổi này trong sự vắng vẻ thê lương, “Mười một, mười hai.” Góc áo bào màu đỏ xẹt qua khóe mắt mình, hắn ngẩng đầu lên là có thể trông thấy bóng dáng tao nhã thon dài đang chỉ huy ngục tốt chuyển hơn mười vò rượu đến.

    Tiếp đó đã có người mở ra khóa cửa nhà tù tạo ra âm nhạc rộn ràng và lanh lảnh như kịch võ biểu diễn tại nhà vậy.

    Hai tay ngục tốt tiến đến, kéo Nhan Cửu ra.
    “Con trai đi đây.” Lúc Nhan Cửu ra khỏi nhà tù thì làm lễ với mẹ, Nhan Tương bị chúng kéo ra khỏi lòng mẹ, xô vào người Nhan Cửu.

    Trịnh vương phi khóc òa lên như phát điên.
    Tất cả con trai trong nhà đều tập trung ở trong phòng giam của cha.

    Nhan Cửu khá thất vọng, cô em gái Nhan Trinh mà hắn luôn muốn gặp không có ở đây.

    Cô bé mười tuổi xinh xắn ấy lúc nào cũng mở chiếc khăn tay bằng lụa Hàn tinh xảo ra, để lộ một quả đào đỏ ửng như hai gò má mình, “Quả này được hái từ trên cây đào trong sân của mẹ em đấy!” Cô bé cười, giậm chân nói, “Ôi chao, chiếc khăn tay này dính lông đào rồi, không thể dùng được nữa.” Khăn tay nhẹ nhàng bay mất, rơi xuống đám cỏ đọng đầy sương cùng với tiếng cười của Nhan Trinh.
    Nhất định là lúc đùn đẩy vừa rồi, nó đã rơi từ trong tay áo mình ra bên ngoài song sắt.

    Nhan Cửu dùng sức đưa tay ra, chỉ thiếu một chút nữa là có thể chạm tới chiếc khăn tay đã bị người ta giẫm bẩn.

    Người mặc áo đỏ kia dừng ở trước mặt hắn, một cánh tay trắng nõn sạch sẽ nhặt khăn tay lên rồi đút vào trong tay Nhan Cửu.
    “Nô tỳ Thất Bảo xin dập đầu trước Nhan thân vương.” Thái giám tổng quản Thất Bảo mặc áo đỏ quỳ xuống bên ngoài phòng giam.
    “Anh Mai, xin hãy đứng lên, xin hãy đứng lên.” Nhan vương chắp tay sau lưng, cười đi tới từ cửa sổ.

    Nhan vương chinh chiến Hung Nô hơn hai mươi năm nên da mặt ngăm đen, hai hàng mày dài nhuộm hết vẻ gió bụi chinh chiến, chỉ có lúc cười mới trở nên nho nhã thân thiết, biểu lộ ra phần bản sắc của dòng dõi hoàng thất, “Mấy năm không gặp, dung mạo anh Mai vẫn như xưa, sau này thành tiên ắt cũng không phải việc khó.”
    Thái giám Thất Bảo nói: “Vương gia coi trọng nô tỳ rồi.”
    Nhan vương cười nói: “Nay anh Mai tới, có phải là mang theo ý chỉ cuối cùng tới không?”
    “Vâng, ý chỉ của thái hậu là con trai trên mười lăm tuổi và Vương phi, thị phi, quận chúa đều ban cho tự sát, con trai chưa trưởng thành thì phạt vào cung làm nô.”
    Thế tử Nhan Khải chỉ có mười chín tuổi nhưng lại đứng ra quát to: “Bảo yêu phụ đó mơ giấc mộng ngàn thu của mụ đi, con cháu nhà họ Nhan bọn ta đều là hậu duệ hoàng thất, há có thể vào cung làm nô cho mụ?” Rồi xoay người nói với mười anh em của mình: “Con cháu họ Nhan không sợ chết thì đứng đằng sau anh!”
    Con trai Nhan vương tuy còn nhỏ tuổi nhưng ai nấy đều không sợ chết, trên khuôn mặt non nớt đều là vẻ quyết đoán, đồng loạt đứng ở sau Nhan Khải.

    Thái giám Thất Bảo niệm tiếng Phật rồi ngẩng đầu nhìn lên, lại có một cậu bé lẻ loi đứng ở trong phòng giam, không có ý dịch bước.
    “Đồ hèn nhát sợ chết!” Nhan Tương vừa nhảy ra từ sau người Nhan Khải đã muốn cho hắn một quyền ngay ngực.
    Nhan vương đưa tay ngăn lại, đi tới trước mặt Nhan Cửu, ngồi xổm xuống nắm lấy hai vai của hắn, dịu dàng nói: “A Cửu, có phải phụ vương chiều hư con rồi nên giờ đây không có dũng khí chết cùng phụ vương không?”
    Nhan Cửu bình tĩnh nói: “Không phải, con không sợ chết.

    Nhưng con biết nghiệp lớn chí hùng của phụ vương chưa được hoàn thành, bây giờ ai nấy đều chết rồi thì kẻ nào thay phụ vương hoàn thành nghiệp lớn dẹp yên bốn cõi, giang sơn quy về một mối đây?”
    Nhan vương cười nói: “Con còn nhỏ, không biết lấy thân phận của mình vào cung làm nô sẽ hung hiểm bực nào, chỉ sợ chưa báo thù thay phụ vương đã bị người giết hại rồi.

    Cần gì đi chịu tội chứ?”
    “Con trai tuy nhỏ nhưng cũng biết vào cung là thế nào.

    Dầu nhục nhã hơn nữa, con cũng cam lòng.”
    “Được!” Nhan vương không khỏi cười to, nói, “A Cửu, con hãy nhớ kỹ, giờ chết là chuyện tốt.

    Nếu như một khi con đã lựa chọn sống sót là phải cố gắng tranh đấu, không được phụ cơ hội sống lại mà ông trời đã cho con lần này.”
    “Dạ.”
    Nhan vương nắm tay hắn, dẫn hắn đến trước mặt thái giám Thất Bảo rồi nói: “Anh Mai, đây là đứa con mà ta thích nhất, nay giao lại cho anh.”
    Thái giám Thất Bảo quan sát tỉ mỉ cậu bé có tâm trí vượt xa cái tuổi mười hai và nói: “Nô tỳ đã hiểu ạ.”
    Nhan Cửu quỳ xuống, dập đầu với thái giám Thất Bảo, “Thưa thầy, sau này tính mệnh của trò xin giao cho thầy.”
    Thái giám Thất Bảo gật đầu, nói với Nhan vương: “Vương gia còn nhớ nhiều năm về trước, có người nêu ý kiến với vương gia phải sớm ngày đút lót số tiền lớn để kết giao với nô tỳ không?”
    Nhan vương cười nói: “Hiếm khi anh còn nhớ rõ.”
    “Không sai, lúc đó vương gia nói: ‘Nghe đàn là biết nhã ý, nghe tiếng đàn của y đã biết thái giám Thất Bảo không phải kẻ dung tục, cần gì dùng những thứ mánh khóe âm mưu ấy làm bẩn y.’ Tuy nô tỳ chưa bao giờ quen thân với vương gia nhưng nghe được lời ấy đã đủ cảm thấy tình cảm sâu sắc thấu hiểu của vương gia.

    Dầu nô tỳ chưa từng làm được chuyện gì giúp vương gia lúc ngài còn sống nhưng bây giờ nô tỳ có thể cam đoan với vương gia, chỉ cần Thất Bảo còn một hơi thở cũng ắt sẽ bảo vệ được đứa bé này chu đáo.”
    Nhan vương run giọng nói: “Anh Mai là tri kỷ của ta, trong này còn có một bí mật lớn, hy vọng anh Mai giữ giúp ta.”
    “Vâng.”
    Nhan vương nhẹ nhàng nói bên tai thái giám Thất Bảo hai câu, thái giám Thất Bảo luôn bình tĩnh như không lại biến sắc, toàn thân run rẩy, tay chân lạnh buốt.
    Nhan vương lại cười nói: “Anh Mai, hai ta là tri kỷ đã lâu, anh giỏi cả đàn lẫn sáo, sao lúc này không đàn một khúc, lấy sự hùng tráng tiễn cha con ta lên đường?”
    Thái giám Thất Bảo cao giọng cười, lấy một ống tiêu nhỏ ra từ trong ngực rồi nói: “Tiêu này là do vương gia ban tặng, nay dùng nó tiễn đưa vương gia đúng là giúp vui.” Rồi quay đầu lại nói với ngục tốt tránh ở phía xa: “Rượu đâu?”
    “Không cần rượu!” Nhan vương đưa tay rút kiếm đeo bên hông thái giám Thất Bảo, nói với mười đứa con trai của mình, “Các con muốn chết ở vuốt độc của thái hậu hay thà chết dưới kiếm của phụ vương?”
    Nhan Khải cười nói: “Tất nhiên thà để phụ vương đâm chết.”
    “Tốt!” Nhan vương giơ cao kiếm cười to.
    Thái giám Thất Bảo hiểu ý cười, tiếng tiêu nhanh chóng được tấu lên như tiếng sấm chốn sa trường, giục giã gan ruột người ta.
    Nhan vương nhắm ngay tim Nhan Khải, chỉ một kiếm, Nhan Khải không rên lấy một tiếng, ngã xuống cũi, toàn thân còn đang co quắp.

    Nhan Cửu hít vào một ngụm khí lạnh, nhắm mắt không đành lòng nhìn nữa, lại nghe thấy Nhan vương quát lớn: “A Cửu, mở to mắt nhìn các anh em của con đi.

    Từ rày về sau, trong lòng con không còn sợ gì nữa, cũng không còn chuyện không đành lòng ra quyết định nữa.”
    Nhan Cửu siết chặt nắm tay, trợn to hai mắt, chỉ thấy ánh đỏ đầy trước mắt, áo cổn hoa lệ trước ngực các anh em tràn ra nhiều đóa mẫu đơn đỏ tươi như thể sợ không đủ diễm lệ.

    Nhan Ngọc, Nhan Linh, Nhan Giảo, Nhan Duệ, Nhan Ngạc, Nhan Chung, Nhan Đoàn, Nhan Khiết dựa vào bức tường lạnh lẽo, nền đất lạnh lẽo, cũng dựa vào những đóa hoa đỏ nở rộ ấy.
    Nhan Khảm đột nhiên hét lớn với hắn dưới kiếm của Nhan vương: “Tiểu Cửu báo thù cho anh!”
    “Báo thù, báo thù!” Nhan Cửu cắn răng bẩm bẩm nói, “Em phải bắt mụ trả lại gấp bội, trả lại gấp bội!”
    Nhan vương nhìn thi hài đầy đất, chậm rãi xoay người dịu dàng cười nói với Nhan Cửu: “Đứa con ngoan.” Trường kiếm đỏ màu máu cắt cổ mình.

    Tiếng tiêu kéo dài âm cuối, dần dần ngừng hơi.

    Nhan Cửu nhìn chòng chọc máu tươi của cha trên mu bàn tay mình, lẳng lặng nói với thái giám Thất Bảo: “Thầy ơi, chúng ta đi thôi.”
    Nhan Cửu kéo áo bào của thái giám Thất Bảo, xuyên qua hành lang tĩnh mịch, gió lạnh trong ngày đông giá rét đâm vào làm cả người hắn co rụt lại.

    Thái giám Thất Bảo ôm hắn lên yên ngựa, dùng áo choàng của mình che phủ cơ thể bé nhỏ của hắn, chậm rãi buông dây cương ra rồi đi dọc đường Thiên Hình hướng về cung Thanh Hòa.
    Chỉ lát nữa là bước sang năm mới rồi, tuy thời tiết rét buốt nhưng người đi trên đường vẫn chật như nêm, tiếng rao hàng của tiểu thương, mùi đồ ăn ngập tràn toàn bộ đô thành vui sướng hân hoan.

    Nhan Cửu chỉ cảm thấy hồn phách của mình đang rời rạc trong không khí lạnh lẽo trên bầu trời thành phố, lạnh lùng đánh giá tương lai, không biết năm mới sắp tới kia sẽ có ý nghĩa thế nào đối với mình.
    Thái giám Thất Bảo đột nhiên ghìm ngựa, tiếng gầm rú của chàng trai mới đâm vào tai Nhan Cửu.
    “Ai dám kéo em gái tôi đi?” Một cậu bé mặc bộ quần áo rách rưới ôm chặt hai đứa bé hơn tựa như đang nổi điên, vài người lớn thì vung gậy gộc đánh vào người cậu bé.
    “Chúng mày ăn chùa đồ trong lầu của bọn tao, còn không chịu bỏ tiền ra thì tất nhiên phải kéo em gái mày đi bán rồi.”
    “Tôi đã làm việc trong lầu rồi, các ông không trả tiền công thì thôi, còn muốn bán em gái tôi, nào có chuyện như thế?”
    Thái giám Thất Bảo mỉm cười, nói ở trên ngựa: “Dừng tay.”
    Mọi người thấy đó là một quan hoạn trung niên cao quý thì tức thì không dám đánh nữa.

    Chưởng quỹ của quán rượu chạy ra từ bên trong và nói: “Ôi chao, thì ra là Thất Bảo công công, hiếm thấy hiếm thấy! Sao ngài lại rảnh rỗi tới nơi này thế?”
    Thái giám Thất Bảo cười nói: “Ta bảo này, chưởng quỹ Trương càng phất lên mà không có tiến bộ gì cả.

    Sao lại bắt nạt trẻ con bên đường vậy?”
    “Oan quá! Đứa bé này tên A Đại, bữa trước đến làm công, chúng tôi thấy nó chịu thương chịu khó nên có lòng giữ nó lại, không ngờ nó lại trộm đồ trong lầu để nuôi sống hai đứa nhãi con đó.” Nói rồi oán hận đối với ba đứa bé kia, còn giơ tay ra chiều muốn đánh, “Ngài nghĩ xem, suy cho cùng thì chúng tôi cũng không thể làm ăn lỗ vốn được, đúng không ạ?”
    “Lão gia!” A Đại đó chạy tới ôm lấy chân Thất Bảo, nói, “Xin lão gia cứu ba anh em tôi, tôi nguyện làm trâu làm ngựa cho ngài.”
    Thái giám Thất Bảo trông thấy cậu ta mắt to mày rậm, uy vũ mạnh mẽ thì cười bảo: “Cứu anh em các cậu vốn rất dễ, muốn em trai cậu sống sung túc, để em gái cậu lấy người tốt cũng không khó.

    Có điều ta là công công trong cung, cậu cũng bằng lòng đi với ta à?”
    A Đại nói: “Bằng lòng, bằng lòng ạ.

    Bây giờ em trai em gái tôi sắp chết đói rồi, tôi chỉ vào cung làm thái giám thôi đã cứu được tánh mạng của chúng nó.”
    Thái giám Thất Bảo gật đầu nói: “Tốt, cậu đừng có hối hận đấy.

    Chưởng quỹ Trương, đứa bé này đi theo tôi, hai đứa kia thì ông cứ sắp xếp cho ở chỗ ông trước, hôm nay sẽ có người tới dẫn chúng nó đi.

    Ông hãy cho chúng nó ăn no, thay quần áo khác, dù sao cũng sẽ không bạc đãi ông đâu.”
    A Đại vui vẻ ra mặt, ngẩng đầu lên thì vừa lúc thấy một gương mặt thiếu niên buồn thảm lộ ra từ trong áo choàng của thái giám Thất Bảo liếc cậu ta một cái.
    Thái giám Thất Bảo dẫn hai cậu bé vào cung, trở lại viện Cư Dưỡng thì cho những học trò khác lui cả, nói với hai cậu bé trạc tuổi nhau: “Nơi này là hoàng cung, hai đứa có đồ gì của mình thì lấy hết ra đi, bị người ta nhìn thấy thì là tội lớn đấy.”
    Nhan Cửu đã bị nhốt trong phòng giam hơn một tháng rồi, nào còn vật gì vi phạm lệnh cấm, A Đại thì càng hai bàn tay trắng.
    Thái giám Thất Bảo nói: “A Đại, bây giờ cậu có hối hận cũng không còn kịp nữa rồi, em trai em gái của cậu đều ở trong tay ta, muốn chúng lên trời, muốn chúng xuống địa ngục đều do một mình ta định đoạt.

    Cậu muốn chúng có cuộc sống tốt thì phải đồng ý một việc với ta.”
    A Đại rùng mình, bảo: “Ngài cứ nói, chỉ cần các em của tôi sống tốt thì muốn tôi chết ngay lúc này cũng được.”
    Thái giám Thất Bảo cười nói: “Ai cần cậu chết chứ?” Lão trỏ vào Nhan Cửu bên cạnh, “Sau này cậu hãy coi đứa bé này như anh em ruột của cậu mà chăm sóc, bảo vệ, thậm chí chết vì nó.

    Cậu có bằng lòng không?”
    A Đại nhìn Nhan Cửu rồi cười nói: “Người anh em, về sau cứ theo tôi.”
    Nhan Cửu liếc cậu ta một cái, không nói gì.

    Thái giám Thất Bảo trông hai người họ không kiềm được mỉm cười, nói tiếp: “Còn nữa.”
    “Còn nữa?” A Đại khá sốt ruột.
    “Từ nay về sau, cậu họ Nhan.”
    Nhan Cửu giật mình sợ hãi, nhìn chằm chằm vào sắc mặt tươi cười hòa nhã của thái giám Thất Bảo.

    Thái giám Thất Bảo tiếp tục nói với A Đại: “Nếu người khác hỏi xuất thân của cậu thì cậu hãy nói mình họ Nhan, thuộc hàng thứ chín trong nhà.”
    A Đại khinh thường nói: “Tại sao tôi phải thay tên đổi họ?”
    Thái giám Thất Bảo cười nói: “Cậu thay tên đổi họ là để cứu người nhà của cậu.

    Bằng không, dẫu chúng chạy trốn tới chân trời góc biển, ta cũng có thể giết cả nhà chúng.”
    Nụ cười lạnh lẽo vô tình của thái giám Thất Bảo đâm vào làm cả người A Đại run rẩy, “Vâng, tôi biết rồi.”
    “Thế thì tốt!” Thái giám Thất Bảo gật đầu rồi nói với Nhan Cửu, “Lấy ra đây.”
    “Cái gì ạ?”
    “Thứ trong ngực con.”
    Nhan Cửu chậm rãi lấy chiếc khăn tay từ trong ngực ra, thái giám Thất Bảo nhận lấy rồi hỏi: “Bảo con lấy ra, vì sao không nghe lời của ta?” Nói rồi nhấc cái nắp lò sưởi lên, ném ngay vào.
    Làn khói nhẹ tỏa ra từ miếng lụa nhỏ nhắn cũng mềm yếu vấn vít.

    Nhan Cửu nhìn nó bị đốt chậm rãi cho đến lúc biến mất, biết một khi chiếc khăn tay duy nhất cho phép mình còn có chút lên hệ đến thân phận vương tử Nhan vương biến mất thì mình sẽ phải tạm biết chuyện ngày trước mãi mãi.
    “Sao sắc mặt con khó coi như vậy?” Thái giám Thất Bảo khắc nghiệt hỏi, “Cha mẹ chết à?”
    Cơn tức vừa mới bừng lên trong mắt Nhan Cửu, thái giám Thất Bảo đã vả một chưởng lên trên mặt hắn, “Cười!”
    Nhan Cửu bị lão đánh cho lui lại mấy bước, ôm mặt nuốt máu trong miệng xuống bụng rồi lại đi lên, nở nụ cười xán lạn với thái giám Thất Bảo, nói: “Vâng thưa thầy.”
    Thái giám Thất Bảo kéo hắn lại, dịu dàng bảo: “Vậy mới là đứa bé ngoan.

    A Đại, về sau ở trong cung con tên Khu Ác, con thì sao?” Lão nhìn ánh mắt lạnh lẽo trên khuôn mặt tươi cười của Nhan Cửu, “Tên Tịch Tà vậy.” Nói rồi không cưỡng nổi sự đắc ý, “Cát Tường, Như Ý, Chiêu Phúc, Tiến Bảo, Khu Ác, Tịch Tà, đến khi nhận thêm một anh học trò nữa thì ta chính là thái giám Thất Bảo danh xứng với thực rồi.”
    Ai ơi nhớ lấy câu này, reup không khéo có ngày rụng răng.
    Tịch Tà dẫn Khang Kiện và Tiểu Thuận Tử kiếm thuyền ở bến đò, chỉ nghe thấy xa xa có người kêu lớn: “Lục gia, Thất gia, xin dừng bước.”
    Khang Kiện nói: “Đây không phải là phó thống lĩnh thị vệ Khương Phóng sao?”
    Tịch Tà nói: “Hai người ở đây chờ tôi.” Còn mình thì ra đón, chắp tay hỏi: “Đại thống lĩnh có chuyện gì gấp thế?”
    Khương Phóng cười nói: “Ngoại trừ thánh mệnh thì còn có chuyện gì gấp nữa? Sớm hôm nay hoàng thượng hỏi anh đã đi chưa, nhớ ra có thứ chưa giao cho anh nên lệnh tôi rời cung chạy tới.” Đoạn cởi một cái bọc gấm vàng dài mảnh từ sau lưng.
    Tịch Tà quỳ xuống dùng hai tay đón lấy rồi mở ra xem, thì ra là một chuôi kiếm dài mộc mạc, nghe Khương Phóng nói: “Hoàng thượng bảo anh dùng kiếm này phòng thân, đi đường cẩn thận.”
    Tịch Tà rút kiếm ra, ánh sáng lạnh vui mắt, trên thân kiếm chạm khắc hai chữ “Tĩnh Nhân”.

    Đó vốn là tên thời niên thiếu của hoàng đế, lúc đăng cơ lại nói “Nhân ái là đạo của thánh hiền.

    Quả nhân có tài đức gì mà dám tự ý giữ mình chữ ‘Nhân’” cho nên đổi tên thành “Tĩnh Nhưng”.

    Ắt hắn đây chính là kiếm lúc nhỏ của hắn ta.

    Tịch Tà cười nói: “Ơn vua mênh mông cuồn cuộn, không thể báo đáp.

    Xin đại thống lĩnh trở về bẩm lại với hoàng thượng, hãy nói Tịch Tà tất sẽ làm việc cẩn thận, không phụ ơn thánh.”
    Khương Phóng đột nhiên thấp giọng nói: “Tôi đã chuẩn bị thuyền xong rồi, chủ nhân cứ ngồi trên con thuyền trắng đang giương buồm lúc này, đi đường cẩn thận.”
    “Ta biết rồi, chuyện trong kinh nhờ anh nhé, có việc gì thì mau mau báo ta biết.”
    “Vâng!” Khương Phóng tỏ vẻ buồn rầu, nói, “Chủ nhân cũng phải để ý cơ thể.

    Kiếm khí của Lôi Kỳ Phong lợi hại, đã làm tổn thương đến phổi, không phải chuyện đùa đâu.”
    Tịch Tà gật đầu cười, “Không có gì đáng ngại, lần này ra ngoài sẽ không khua đao múa thương, ta tự sẽ cẩn thận điều dưỡng.”
    “Vâng.” Khương Phóng lớn tiếng nói, “Vậy xin tạm biệt tại đây, các vị thuận buồm xuôi gió.”
    Con thuyền buồm trắng kia đang cập bến, Tịch Tà vén góc áo, đeo kiếm lên thuyền.

    Hai người Khang Kiện và Tiểu Thuận Tử phía sau cười nói, lấy hành lý cùng lên thuyền.

    Người cầm lái điểm cây gậy trúc, thuyền nhẹ nhàng trôi vào trong sông.

    Cây cầu vắt ngang nam bắc phía trước chính là cây cầu Phủ Cương trên đường vòng, trên cầu xe cộ người ngựa qua lại như thoi đưa, dưới cầu vạn thuyền cùng qua.

    Mọi người ngẩng đầu nhìn tảng đá lớn dưới chân cầu phủ đầy rêu xanh, Khang Kiện và Tiểu Thuận Tử không khỏi tấm tắc kêu kỳ lạ.

    Khang Kiện nói: “Trước đây cũng từng qua cây cầu kia, không ngờ nhìn từ dưới cầu lại càng thêm đồ sộ.” Người cầm lái ở đuôi thuyền bèn mỉm cười, lớn tiếng nói: “Các vị coi chừng đấy, trước mặt đã đến Vọng Long Môn rồi, sắp hạ buồm rồi.”
    Bốn người chèo thuyền hết sức vội vàng, mái chèo cùng di chuyển, nhẹ nhàng linh hoạt xuyên qua Vọng Long Môn, tức thì trước mắt khoáng đạt, sông lớn lững lờ chảy về hướng đông, mặt trời mới mọc chói mắt hắt xuống tạo thành những con rắn vàng đang múa loạn trên mặt sông.

    Người chèo thuyền giương hai chiếc buồm lớn, xuôi dòng mà đi theo gió tây..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 4: 4: Thập Lục Lang Ở Hàn Châu


    Hàn châu ở phía đông hồ Thiếu, sông Hàn chảy từ bắc xuống nam, lượn quanh thành rồi tụ vào hồ Thiếu.

    Xưa nay chốn này là vùng đất giàu lắm cá nhiều thóc, áo cơm đủ đầy.

    Nhất là vì núi non vây quanh, khí hậu ấm áp, thích hợp với việc trồng dâu nuôi tằm nên từ trăm năm trước nơi đây đã là khu vực chính sản xuất ra tơ lụa của Trung Nguyên.

    Cộng thêm đường thủy thông suốt khiến tơ lụa ở đây được vận chuyển đến khắp nơi trong nước, xuôi dòng sông Hàn bán đến Đại Lý xa xôi, từ lâu đã có câu ca “Xiêm nhiều màu sắc trong khắp thiên hạ đều đến từ Hàn châu”.
    Phía tây hồ Thiếu lại có con sông khác chảy vào.

    Từ ba châu Thanh, Hồng, Đốc ven Giang Đông thì nơi chảy đến đầu tiên chính là Hàn châu.

    Cho nên thành Hàn châu chẳng những là chốn thương nhân Trung Nguyên lui tới thường xuyên mà còn có cả đoàn buôn lái từ Đại Lý, Tây Vực thường qua lại như thoi đưa, vì vậy thành phố phồn hoa, mang tác phong của kẻ kĩ, vẻ nho nhã hưng thịnh.
    Người đời gọi tơ lụa Hàn châu là “tơ Hàn”, “lụa Hàn”, có tính mềm mại óng ánh, hàng dệt đẹp đẽ nho nhã, trở thành một trường phái bên cạnh sự dày nặng ung dung, hoa lệ rực rỡ của tơ lụa Lương châu.

    Trăm năm trở lại đây Hàn châu vẫn luôn có một truyền thống, lụa Hàn hảo hạng thực sự thì tất phải chọn cô gái xinh xắn, khéo léo trong các nhà có truyền thống đan dệt để dệt, gọi đó là “lụa Tiểu Hàn”.

    Sản lượng của lụa Tiểu Hàn cực nhỏ, ấm áp đẹp đẽ như ngọc, vả lại vì cái sở thích đồ truyền thống thêm vẻ bóng bẩy nên không chỉ có giá cả rất cao mà còn là vật quý mà những kẻ giàu có quý tộc vơ vét, tất nhiên sẽ rất khó tìm thấy trên thị trường.

    Nhà thơ Giang Cư Phóng của triều đại trước từng du lịch đến đây, thấy các cô con gái bận việc cửi thoi thì liền có câu “Ngón tay chải sợi nhuộm ráng sớm, thoi dẫn cảnh xuân dệt xiêm Hàn”.
    Tên tuổi nổi như cồn một thời, ấy vậy mà vì gần hai mươi năm qua trong cung đình không thích lụa Hàn “quá nhẹ”, cống nạp lên các thức xinh đẹp.

    Các nhà truyền thống đan dệt ở địa phương đều thầm phê bình, đều thấy sở thích của triều đình là một chuyện nhưng vì bố chính sứ[1] Hàn châu không ra sức ngợi ca chỗ độc đáo của tơ lụa Hàn châu ở kinh thành, khiến cho Hàn châu Trung Nguyên lại bại bởi đồ của người Hồ ở Lương châu, bèn dùng những lời lẽ không hay mà trách móc.
    [1] Vị trưởng quan ty Bố chính thời Minh, thuộc bộ Hộ.

    Ty Bố chính phụ trách các vấn đề tài chính, hành chính như thuế khóa, đinh điền, đê điều, hộ tịch lẫn trọng trách truyền đạt chính sách và chủ trương của triều đình.
    Đầu tháng Tám, ty Bố chính sứ đột nhiên báo cho phường hội đan dệt rằng: Bởi vì thời gian kết hôn của công chúa Cảnh Giai sắp tới nên trong cung đã phái người tới lựa chọn lụa Tiểu Hàn để làm của hồi môn cho công chúa, các xưởng đan dệt nhuộm đều phải dâng lên đồ tinh tế để so sánh, cuối cùng lựa chọn mười nhà trong số đó để chỉ định dệt lụa rồi cống nạp, thời gian so sánh là mười lăm tháng Tám.

    Như một hòn đá làm cả hồ dậy sóng, người Hàn châu chạy vạy kháo nhau, phải biết răng một khi được chọn cống nạp tơ lụa cho triều đình, bất kể là ai thì đó cũng là sự vinh dự không gì sánh bằng, nói là cửa nhà phát sáng, che chở đến tận đời con đời cháu cũng không quá đáng.

    Hơn một nghìn xưởng vội dệt lụa mới suốt đêm, chỉ sợ tiền thưởng ấy bị người khác cướp mất.

    Vì vậy trên thị trường rầm rộ việc tranh mua tơ mới, sỉ nhục thủ đoạn của đối thủ, thậm chí còn có chuyện nhiều người đánh nhau bằng khí giới xảy ra.
    Hội trưởng phường hội Thường Trọng Nguyên thấy ai nấy đều có vẻ như sắp tẩu hỏa nhập ma nên hôm ấy không nhịn được mà tới trước cửa ty bố chính sứ xin gặp.

    Không ngờ bố chính sứ Đổng Lý Châu lại tự mình đi ra gặp ông ta.
    Khách và chủ ngồi vào chỗ của mình, Thường Trọng Nguyên vừa mở miệng đã oán trách: “Đại nhân, ở Hàn châu nơi có thể dệt ra lụa Tiểu Hàn thật sự chỉ có bốn mươi năm mươi nhà nhưng vị sứ bên trên lại đòi tất cả xưởng trong Hàn châu phải tham gia so sánh.

    Nay giá tơ mới trên thị trường tăng cao, còn có kẻ kiếm chác được món lãi kếch sù từ đó.

    Tiểu nhân thực sự ngại không ép xuống được, mong sứ bên trên và đại nhân thu hồi mệnh lệnh đã ban ra, để phường hội đề cử mười cửa tiệm cũ cũng đã đủ rồi.”
    Đổng Lý Châu cười nói: “Hội trưởng toàn lo chuyện không đâu.

    Triều đình chỉ muốn cống nạp hai ba trăm xấp, đợi so sánh xong thì giá tơ sẽ hạ thôi.

    Hơn nữa vị sứ này còn trẻ tuổi, làm việc lại chu đáo, không muốn chỉ nghe lời nói một phía của phường hội mà phải tự xem mới xong.” Đoạn lấy một cây quạt xếp từ trong tay áo ra và nói, “Hội trưởng xem thứ này đi.”
    Thường Trọng Nguyên nhận vào tay rồi mở ra xem, thì ra không phải quạt giấy mà là quạt làm từ lụa Tiểu Hàn, ngoài ra trên mặt quạt còn thêu mấy nhánh trúc đen như khói như mực, phiêu dật tuấn tú, lúc hợp lại khung quạt rất kín kẽ, có thể thấy người thêu nhành trúc này có tay nghề lão luyện, cách dùng kim tinh tế, nhất định là một nhà có tiếng tăm.
    Đổng Lý Châu nói: “Vốn là vị công công trẻ kia thấy chuôi quạt này ở trong phòng sách của tôi thì vô cùng ưa thích, hỏi ra mới biết Hàn châu còn có nhiều phường thêu bèn muốn chọn mười mấy thợ thêu vào cung làm việc cho cục Châm Công mấy tháng.”
    Thường Trọng Nguyên nói: “Thợ thêu tinh xảo ở Hàn châu là chuyện của vài chục năm gần đây thôi, tiểu nhân thấy nơi có thể thêu được quạt cỡ này ở Hàn châu không quá hai nhà đâu.”
    “Hả? Có hai nhà?”
    “Vâng, một nơi là phường thêu Phúc Địa, bên trong có mấy ông thầy già có thể thêu ra hàng cao cấp cỡ này.

    Nói ra thì có lẽ đại nhân cũng biết ông chủ của phường thêu này, chính là Ngô Thập Lục – ông chủ lớn của cục Thừa Vận sông Hàn.
    “Đúng vậy, món đồ này đến từ trong phường thêu của ông ta đấy.”
    “Quán thêu Hiệt Châu còn lại thì sợ là đại nhân có chỗ không biết, nghề thêu ở Hàn châu bắt nguồn từ nó đấy.

    Hai chục năm trước có một người Đại Lý tên Tống Biệt đến Hàn châu mở quán thêu, thu nhận học trò, thợ thêu đứng đầu Hàn châu bây giờ đều đến từ học trò của ông ta.

    Nay quán thêu này chỉ nhận học trò nữ, dựa vào việc nhận học trò để sống qua ngày, có rất nhiều cô con gái của nhà truyền thống đan dệt hoặc nhà buôn giàu có đều học nghề từ thầy của quán thêu.

    Một khi hàng thêu tươi đẹp của quán này được cho ra mắt thì sẽ làm rúng động như thể vật trên trời, bị người ta tranh nhau góp nhặt, ngay cả tiểu nhân từ trước đến giờ cũng chưa từng thấy.”
    “Đây đúng là chuyện mới mẻ, qua vài ngày nữa sẽ có người thấy thôi.” Dứt lời thì bưng trà tiễn khách.
    Thường Trọng Nguyên tạm biệt xong đi ra rồi lên xe, người làm vội chạy về nhà, đi được nửa đường thì đột nhiên ghìm chặt ngựa bất động.

    Thường Trọng Nguyên nghe thấy bên ngoài om sòm một hồi, vén mành lên hỏi: “Có chuyện gì đấy?”
    “Thưa lão gia, phía trước xảy ra chuyện lớn, cầu gãy rồi ạ.”
    Đang nói thì một đội thân binh của nha môn châu phủ hò hét dẹp đường chạy tới cứu người.

    Người đi trên đường kêu la om sòm: “Cầu Trường Hồng gãy rồi, cầu Trường Hồng gãy rồi.”
    “Chết người rồi!”
    Thường Trọng Nguyên xuống xe, kéo một người trẻ tuổi lại hỏi: “Có chuyện gì thế?”
    Người trẻ tuổi vội nói: “Cầu Trường Hồng phía trước sụp rồi, ba, bốn mươi người trên cầu rơi xuống nước, vừa mò được hai anh tú tài nhưng đã tắt thở rồi.”
    Thường Trọng Nguyên nghĩ mới một canh giờ trước mình vừa đi qua cầu thì không khỏi hãi hùng.
    “Lão gia, không về từ chỗ này được, chi bằng đổi đường sang cầu Phi Hà để qua sông?”
    Thường Trọng Nguyên gật đầu, than thở: “Năm ngoái mới xây cái cầu kia mà giờ đã sụp rồi.

    Ôi, tội lỗi.” Đoạn nghĩ lại rồi bảo, “Đã như vậy, chúng ta tiện đường đi đến cục Thừa Vận một chuyến.”
    Cục Thừa Vận sông Hàn không phải cơ quan nhà nước, Ngô Thập Lục được gọi là ông chủ lớn cũng được thuộc hạ ở trong cục gọi là bang chủ.

    Ông ta nắm giữ ban phái lớn có thế lực trải rộng toàn bộ khu vực sông Hàn này mấy chục năm, người cũng biến thành tròn vo, thấy ai cũng cười hì hì chào hỏi.

    Nhưng cho dù ông ta có vẻ mặt mỉm cười như phật Di Lặc song ở Hàn châu vẫn có tin đồn rằng lúc còn trẻ Ngô Thập Lục này giết người cướp của, không từ bất cứ việc xấu nào.

    Chỉ nhìn mấy viên tướng lớn đắc lực dưới tay ông ta thôi, mắt ai nấy đều mắt lộ vẻ hung tợn, người mang tác phong của lũ cướp thì đã biết rõ xuất thân của ông ta quyết không phải phường thiện lương.

    Cho nên ở trong đất Hàn châu không ai dám nói một chữ không đối với cục Thừa Vận, cho dù là trông thấy người của cục Thừa Vận đi ra thôi cũng phải đi đường vòng để tránh.

    Sớm hôm nay, Quách Thập Tam dẫn mười người mới từ trong cục bước ra đã thấy người đi đường trước cửa nhao nhao chạy trốn, không khỏi cả giận nói: “Gặp ma đấy à? Chạy còn nhanh hơn cả thỏ.” Thuộc hạ đã không còn lạ gì đối với tình cảnh này từ lâu, biết Thập Tam lang tiếng tăm lừng lẫy này sáng sớm hôm nay đã không thoải mái, bấy giờ mới nói câu oán trách nên không ai dám nhiều lời.

    Quách Thập Tam nhổ nước bọt xuống mặt đất, căm hận nói: “Chẳng biết hôm qua lão cáo già kia nói gì với bang chủ mà hôm nay ông mày đã xui xẻo ôm phải việc không biết xấu hổ như thế.”

    Mọi người biết lão cáo già trong miệng hắn ta chắc chắn là Thường Trọng Nguyên – hội trưởng phường hội đan dệt Hàn châu, bèn khuyên nhủ: “Gia cần gì tức giận? Bang chủ muốn gia làm chuyện xui xẻo này tất nhiên có cái lý của mình.”
    “Cần mày lắm miệng à? Ông mày không biết sao?”
    Mọi người chỉ cười, không dám nói nữa.

    Chạy vội tới phía tây thành, qua một mảnh rừng trúc, phía trước thấp thoáng một căn nhà ba sân, trước cửa rủ mành xanh, bên cạnh treo một chiếc biển đơn sơ: “Quán thêu Hiệt Châu”.
    “Gia, chính là chỗ này.”
    Quách Thập Tam phủi bụi trên quần áo, thu vẻ mặt hung hãn lại, nghiêm nghị vén mành lên rồi dẫn người vào phòng.
    Một thằng bé đứng sau quầy ở bên trong, thấy nhiều người đàn ông vạm vỡ như thế xông vào thì hơi hãi, run rẩy hỏi: “Các vị có việc gì vậy?”
    Quách Thập Tam nói: “Bọn ta có việc muốn gặp thầy thêu của quán.”
    “Thầy lớn tuổi rồi, mấy năm trước đã không còn ở trong quán, đã chuyển đến nơi khác dưỡng bệnh rồi ạ.”
    Quách Thập Tam chê cậu dài dòng, nói: “Thế thì người coi việc hiện tại của các người.”
    “Thầy cả của chúng tôi ở trong phòng, để tôi đi hỏi xem có tiện gặp các vị hay không, xin các vị chờ trong giây lát.”
    Thằng bé quay vào trong nhà.

    Quách Thập Tam thấy căn phòng này không có cả một cái ghế cho khách thì miệng lại không nhịn được mắng vài câu th* t*c, thấy thằng bé kia lại quay lại nói: “Các vị, thầy cả nói mình chỉ là hạng đàn bà con gái, không tiện đi ra gặp khách, huống hồ nơi đây chỉ dạy người thêu hoa, nếu như các vị không đến báo danh nhập học cho nữ quyến trong nhà thì mời về cho.”
    Quách Thập Tam nén giận cười nói: “Cậu nói lại với thầy cả của cậu, bọn ta là người của cục Thừa Vận mà cũng không gặp sao?”
    Thằng bé không dám ngước mắt lên, lắp bắp nhỏ giọng nói: “Thầy cả đã nói, nếu như người của cục Thừa Vận đến thì càng không gặp.”
    “Thật to gan!” Quách Thập Tam lộ bộ mặt hung ác, vẫy tay nói với người phía sau, “Dỡ bức tường này ra cho ta, để ta xem cô ta có gặp hay không!”
    Đám người lớn tiếng đáp lại, đẩy thằng bé ra, rút binh khí từ trong quần áo ra, bước hai ba bước đạp đổ tấm bình phong gỗ trước mặt.

    Thấp thoáng sau cái giá thêu to lớn trong phòng là một cô gái áo trắng vẫn đang ngồi cúi đầu thêu hoa mà không hề để tâm.
    Quách Thập Tam thấy trên tấm lụa trắng ấy thêu một hiệp sĩ nâng kiếm, gió vỗ vào ống tay áo, máu dính trên vạt trước, sát khí cuồn cuộn giữa chân mày, còn có một thanh trường kiếm lẫm liệt mang theo cơn ớn lạnh, dường như sắp phá lụa ra thì hồn phách của hắn ta đột nhiên bị khiếp sợ, hít vào một hơi lạnh.
    “Gia!” Người đàn ông to con bên cạnh nói, “Chúng ta tới không phải để ngắm các đàn bà con gái nơi này đâu.”
    Quách Thập Tam nhấc chân đạp gã sang một bên, cả giận nói: “Cái thằng nhóc khốn nạn dung tục nhà mày thì biết cái gì?”
    Lúc bấy cô gái sau giá mới nhẹ giọng cười.
    Quách Thập Tam ho một tiếng rồi bảo: “Cô nương, ông chủ Ngô của bọn ta có chuyện cần cô giúp, có tiện chăng?”
    Cô gái bên trong cười nói: “Khắp thiên hạ tuyệt không một ai sánh bằng tài thêu của phường thêu Phúc Địa, đã là phường có một không hai trên đất Hàn châu từ lâu.

    Không biết quán thêu nhỏ nhoi này của tiểu nữ còn có thể giúp ông chủ Ngô việc gì?”
    “Cô nương thông minh thanh khiết thế, sao không biết triều đình muốn chọn thợ thêu tốt nhất đất Hàn châu lên kinh? Quán thêu Hiệt Châu không màng vệc tục đã bao nhiêu năm, nay xin đừng ngại tặng hư vinh nho nhỏ này cho phường thêu Phúc Địa, được chứ?”
    “Tệ quán đã không ra hàng thêu từ lâu, trong các học trò nữ cũng không có nhân tài có thể so bì với phường thêu Phúc Địa.

    Phần thưởng này tất nhiên là của ông chủ Ngô rồi, cần gì phiền các vị tự mình đi một chuyến?“
    Quách Thập Tam cười nói: “Cô nương hiểu chuyện là cái tốt.

    Hai ngày này quan sai trong kinh đã vào thành, ông chủ Ngô của bọn ta nói cục Thừa Vận nguyện bỏ ra một vạn lượng bạc xin quán thêu Hiệt Châu đóng cửa để giúp mọi người đạt được chuyện tốt này.”
    Nàng kia nghe vậy thì cười nhạt bảo: “Cục Thừa Vận các người lũng thị trường ở trên mặt sông Hàn thì đã đành, ngay cả cái quán thêu cũng không bỏ qua.

    Ngày trước để tránh tranh chấp với các người, cha tôi đã thề không ra hàng thêu, thay vào đó nhận học trò để kiếm miếng cơm.

    Quán thêu này là hai mươi năm tâm huyết của cha, nay há lại cho các người nói đóng là đóng?”
    “Thế thì cô nương phụ lòng tốt của người khác rồi.

    Bọn ta tới là muốn cái quán thêu này phải đóng cửa ngay hôm nay, xin cô nương tránh đi cho, bọn ta sắp dỡ bỏ ngôi nhà này rồi.

    Ra tay đi!”
    Mọi người hét lên một tiếng, đang xoa tay thì thấy một ánh sáng bạc đập vào mặt, đâm vào ấn đường của mình, vừa thấy đau xót, sợi màu trong phòng kéo lại, mười một cái kim bạc lại đột ngột trở lại kệ thêu.
    Cô gái kia lạnh lùng nói: “Các người dám động đến căn nhà này thì tôi sẽ khiến tất cả các người mù mắt trở về.”
    “Hay cho một con đàn bà rượu mời không uống chỉ thích uống rượu phạt! Dám ra tay với ta? Lên cho ta.”
    Quách Thập Tam vốn cảm thấy bắt nạt một quán thêu nhỏ nhoi thật mất mặt, lúc này lại chịu thiệt thòi thì không khỏi thẹn quá hóa giận, dẫn mọi người nhân chỗ tường vụn bị phá, định bụng xông vào trong.
    Lúc này đã có người vén mành nhảy vào, một tiếng cười vang lên: “Ôi! Thật ngại quá, có phải chúng tôi đi nhầm chỗ chăng?”
    Quách Thập Tam và đám thuộc hạ cuống quýt thu tay lại, xoay người trợn mắt nhìn, trông thấy kẻ đi vào là ba chàng trai mặc quần áo trắng trong mộc mạc.

    Người nói chỉ chừng mười lăm mười sáu tuổi, mặt mày thanh tú, vẻ mặt thông minh, tay cầm roi ngựa, không ngừng lắc lắc.

    Cậu chàng đứng bên cậu lớn hơn ba bốn tuổi, lông mày nhếch lên sát tóc mai, bình tĩnh thong dong, khóe miệng mỉm cười, hết sức tao nhã.

    Hai người họ chặn trước một cậu bé, thấy bọn họ hung thần ác sát cũng không sợ, chỉ cười hì hì xem trò vui.

    Cậu thiếu niên cầm roi ngựa hỏi tiếp: “Xin hỏi các anh đây, nơi này có phải quán thêu Hiệt Châu phỏng?”
    Quách Thập Tam nói với người bên cạnh: “Bọn này tới đánh giúp đấy, cứ trừng trị ráo hết cả đi, không tha cho đứa nào sất.”
    “Vâng!” Có ba người đàn ông to con vượt qua đám người, đánh về phía ba cậu thiếu niên.
    Cậu chàng cầm roi ngựa không khỏi hoảng sợ nói: “Sư thúc cứu con, bọn họ muốn giết người rồi.”
    Chàng trai bên cạnh cậu nhíu mày, nói với giọng the thé: “Sao các người không hỏi rõ phải trái đã đánh rồi?” Nói đoạn nhảy tới một bước, cánh tay khẽ rung lên, tay áo phất trên đao kiếm của kẻ tiến tới như mây trôi cuộn lên trong gió, không ngờ đã cướp lấy ba thanh đao kiếm vào trong tay mình.

    Cậu ta bứt ra nhẹ nhàng lui về chỗ cũ, vẫn mỉm cười cất giọng the thé mà nói: “Còn kẻ nào tới nữa không?”
    Thoạt tiên Quách Thập Tam lấy làm kinh hãi, nghe giọng nói the thé của cậu ta thì không khỏi rùng mình bảo: “Yêu tinh gì vậy? Bất nam bất nữ! Xem chiêu đây.” Rồi một đao phủ đầu bổ về phía cậu thiếu niên kia.
    Thiếu niên kia nghe hắn ta nói như vậy thì cơn tức trào dâng lên trên má, sát khí ngưng tụ giữa lông mày, hai tay ủ trong ống tay áo khẽ run, thấy đao của Quách Thập Tam đã đến trước mặt, vẻ hung tợn lóe lên trong con ngươi, đang muốn ra tay thì lại có một cánh tay nhỏ xinh trắng như tuyết kéo góc áo cậu ta.

    Cậu thiếu niên kia không thèm để ý lưỡi đao của Quách Thập Tam bổ đến mà xoay người cúi đầu nói: “Sư ca…” Thế đao này của Quách Thập Tam như chẻ tre, lúc chỉ còn nháy mắt là chém tới đó người thiếu niên ấy, hắn ta chỉ cảm thấy một cơn gió mạnh nhỏ bé đâm trên mu bàn tay mình, binh khí không cầm được rơi xuống đất thì không khỏi hoảng sợ nói: “Giả thần giả quỷ cái gì, mau ra đây!”
    Một chàng trai mặc áo lam chắp tay sau lưng mang phong thái ung dung thong thả bước ra.

    Đôi mắt hướng lên trên khuôn mặt trắng như tuyết đảo qua mọi người tại đây, ai nấy chỉ cảm thấy ánh sáng lạnh lẽo chói mắt, hô hấp trở nên cứng lại, nhao nhao lùi về phía sau mấy bước.
    Chàng trai kia mỉm cười nói: “Sư đệ và học trò của tại hạ không hiểu chuyện, xin các vị chớ chê cười.”
    Tiếng hắn cũng nhỏ nhẹ nhưng trầm tĩnh lạnh lẽo, trong suốt động lòng người.

    Hắn thấy mọi người nhìn nhau thì nói tiếp: “Xin hỏi nơi này có phải quán thêu Hiệt Châu chăng?”
    “Phải!” Cô gái kia chậm rãi đi ra từ sau giá thêu, nói: “Tiểu nữ là thầy cả Minh Châu hiện tại của quán thêu, ba vị có gì chỉ giáo?”
    Chàng trai mặc áo lam kia không có mở miệng, ánh mắt chỉ là dừng ở trên kệ thêu trong phòng, vẻ mặt điềm tĩnh cũng trở nên hơi dao động.

    Cậu thiếu niên trẻ nhất không nhịn được mà đáp thay hắn: “Thầy nhà tôi nghe nói hàng thêu chỗ chị đứng đầu thiên hạ, muốn mua vài món về kinh.”
    Minh Châu tách mấy người đàn ông lực lượng kia ra, đi tới gần họ hon rồi nói: “Thì ra mấy vị là người của kinh thành? Không biết xưng hô như thế nào?”
    “Tôi tên Tiểu Thuận.” Cậu thiếu niên kia thấy nàng xinh đẹp thì không khỏi giành trả lời, “Đây là thầy tôi, tên Tịch Tà, hàng thứ sáu trong nhà.

    Đây là sư thúc Khang Kiện của tôi, đứng hàng thứ bảy trong nhà.”
    “À!” Minh Châu cười nói, “Thì ra là Lục gia, Thất gia và thiếu gia Tiểu Thuận.

    Đồ thêu ở đây không bán ra ngoài.

    Nhưng ba vị ở xa tới, tặng một hai thức cũng không hề gì, xin mời vào bên trong.”

    Cả đời này Tiểu Thuận Tử chưa từng được người ta gọi là thiếu gia bao giờ, không khỏi mặt mày hớn hở đi tới trước mặt Minh Châu, quan sát tỉ mỉ.

    Thấy nàng mới tròn đôi mươi, cằm nhọn, vô cùng thanh tú, lúc mỉm cười sinh ra một loại thần thái cực kỳ quyến rũ động lòng người.

    Cậu trông thấy mà vẻ mặt hốt hoảng, vội vàng vái chào, “Chị tặng cho, từ chối thì bất kính, nhận lấy thì ngại ngùng.”
    Quách Thập Tam thấy bốn người này khách dáo đi vào trong như thể đã quen biết từ lâu, không một ai để bọn họ vào mắt thì cả giận nói: “Này, đứng lại!”
    Tịch Tà quay đầu nói với Khang Kiện: “Lần này là em không phải, đã cầm đồ của người ta, còn không mau trả đi?”
    “Vâng.” Khang Kiện nhẹ nhàng phẩy tay áo một cái, ba thanh binh khí đoạt được găm xuống trước chân Quách Thập Tam, lún vào tảng đá chừng hai tấc.

    Khang Kiện cười nói: “Xin lỗi, sau này sẽ đến tạ lỗi với ông chủ Ngô của các anh.”
    Quách Thập Tam thấy võ công của cậu ta cao hơn mình mấy lần, chỉ sợ Tịch Tà kia càng mạnh hơn cậu ta, trong bụng xét thấy không có phần thắng nên chỉ đành quát đám thuộc hạ: “Còn ở nơi này làm gì? Chờ bị chém sao?”
    Truyện chỉ được đăng tại vongnguyetlau10.wordpress.com Ngoài ra đều là nơi ăn cắp.
    Mười một người ảo não trở lại cục Thừa Vận, kể lại sự việc cho Ngô Thập Lục nghe.
    Sư gia lo việc ngày thường Đào Tiên Hà ngồi bên cạnh Ngô Thập Lục căm hận nói: “Tôi đã nói anh là tên ngu xuẩn mà.

    Anh không phải đối thủ của ba người kia nhưng chẳng lẽ chúng lại ở trong quán thêu cả đời à? Cho dù Minh Châu kia lợi hại, song cũng chỉ là hạng đàn bà con gái, chờ bọn chúng đi thì chẳng phải các anh muốn dỡ là dỡ được quán thêu này à?”
    Bình thường Quách Thập Tam rất kiêu ngạo nhưng thấy Đào Tiên Hà thì không dám hó hé.

    Ngô Thập Lục nói: “Không thể l* m*ng như thế, lần này người đến từ kinh thành chính là ba hoạn quan trẻ tuổi, nghe Thập Tam lang nói ra thì có vẻ tương tự.”
    Đào Tiên Hà nói: “Bang chủ nói không sai, Thập Tam lang, anh đã gặp bọn họ rồi thì bây giờ đi theo dõi để tìm ra lai lịch của bọn họ đi.”
    Quách Thập Tam đáp một tiếng rồi đi ngay, quay về còn nhanh hơn lúc đi, xông vào cửa như một trận gió và nói: “Bang chủ, ba thằng nhãi đó ở ngay cửa, được lão cáo già Thường Trọng Nguyên kia đưa tới đấy.”
    Ngô Thập Lục cười nói: “Quả nhiên chính là chính chủ tìm tới cửa, đó là quan nhà trời, mau mở cửa chính để nghênh đón nào.” Còn mình thì thay xiêm áo đi ra ngoài đón, nồng nhiệt thân thiết với Thường Trọng Nguyên xong thì chắp tay vái chào.
    “Ba vị này là người bên cạnh thái hậu và hoàng thượng, lần này xuống Hàn châu chọn lụa để cống nạp.

    Ông chủ Ngô đã từng gặp chưa?”
    “Chưa chưa, mấy vị này là quan bên trên, sao thảo dân có duyên được gặp chứ?”
    Tịch Tà tiến lên phía trước nói: “Tiếng tăm của ông chủ Ngô uy chấn bốn bể, ngưỡng mộ đã lâu ngưỡng mộ đã lâu.”
    Mọi người khiêm nhường một hồi rồi phân chủ khách ngồi xuống ở nhà chính, không nói gì ngoài chuyện vận chuyển lụa Hàn cống nạp như thế nào, nhờ cậy cục Thừa Vận ra sức giúp đỡ như thế nào.

    Bàn việc bình thường xong, Tịch Tà nói: “Từ lâu tôi đã nghe nói rằng trong cục Thừa Vận sông Hàn có một chỗ núi đá có ngàn lỗ sáng long lanh, các lỗ thông với nhau, không biết có thể được ngắm hay chăng?”
    Ngô Thập Lục cười nói: “Quan trên ở trong cung có gì mà chưa từng thấy mà lại yêu thích vật nhỏ nhoi ấy?”
    Thường Trọng Nguyên nói: “Không đâu, tôi đã từng thấy ngọn núi này, thật là một vật thần.

    Ông chủ Ngô không để quan trên trông thấy, tất là vì có lòng giấu cho riêng mình.”
    “Ha ha, hội trưởng nói như vậy lại chứng tỏ tôi không phóng khoáng.

    Vậy mời các vị dời gót.”
    Tịch Tà nói với Khang Kiện: “Ở đây ngồi với hội trưởng, anh đi một lát rồi sẽ quay lại.”
    Khang Kiện hun đúc ở trong cung đình đã lâu, đã sớm quen với chuyện bị người khác vứt lại này rồi, chỉ có một mình Tiểu Thuận Tử là bĩu miệng ra, tỏ vẻ không bằng lòng.
    Tức thì Đào Tiên Hà tiếp khách trong nhà, còn Ngô Thập Lục thì dẫn Tịch Tà xuyên qua mấy cái sân.

    Sau khu rừng trúc trước mặt, tảng đá long lanh in vào tầm mắt, con suối dưới đá trong như gương sáng, một cái muôi gỗ được đặt ngang trên đó.

    Ngô Thập Lục xắn tay áo lên, múc một muôi nước trong, chậm rãi đổ xuống từ trên đỉnh tảng đá, trong đá như có tiếng đàn khẽ vang lên, ngàn dòng nước phun ra ngoài bắn xuống mặt nước.

    Trong sân tức khắc vang đầy âm thanh tự nhiên, hơi nước lúc ẩn lúc hiện tạo ra một chiếc cầu vồng bảy màu dưới ánh mặt trời như bước vào cõi tiên.

    Khuôn mặt trong suốt của Tịch Tà cũng được chiếu vào trông xinh đẹp như tranh vẽ, hắn khéo léo cười nói: “Vật thần, đúng là vật thần.”
    Ngô Thập Lục chậm rãi buông muôi gỗ xuống, nhìn cầu vồng biến mất vào hư vô, lạnh lùng nói: “Ly đô cách Hàn châu hai con sông, xa xôi nghìn dặm, lần này tiểu vương gia tới không chỉ là để xem tòa núi giả này của thuộc hạ thôi đấy chứ?”
    Tịch Tà cười nói: “Dầu không thể khuyên anh Thập Lục trở về dưới trướng Nhan vương, chỉ nhìn cảnh đẹp bậc này thôi cũng không uổng chuyến này.”
    Ngô Thập Lục cười khẩy nói: “Nhan vương gia đã qua đời nhiều năm, thuộc hạ cũ li tán, bao nhiêu chí lớn cũng tan thành mây khói cả rồi.

    Sao tiểu vương gia lại nói ra lời này?”
    “Hơn mười năm trước anh Thập Lục phụng lệnh phụ vương tới Hàn châu tạo dựng cục Thừa Vận, vẫn luôn là đầu rồng của thế lực phía đông.

    Nay Đông vương ngày càng lớn mạnh, Hàn châu lại là chỗ cư ngụ của ông ta, nếu tôi muốn nắm giữ điểm quan trọng của ông ta thì ắt phải nhờ anh Thập Lục giúp đỡ.”
    “Bây giờ cục Thừa Vận chẳng qua chỉ là đám thổ phỉ lũng đoạn thị trường trên giang hồ, tiểu vương gia có chí cổn miện[2], tự có cao nhân giúp đỡ.

    Từ trên xuống dưới cục Thừa Vận có mấy ngàn miệng ăn, đều muốn ăn miếng cơm yên bình, thuộc hạ có nhà có cửa, thứ cho không thể tuân lệnh nữa.”
    [2] Cổn: áo long cổn (lễ phục của vua chúa thời xưa), miện: mũ miện dành cho quan lớn, vua chúa.

    Cổn miện dành cho vua chúa, vương công quý tộc mặc vào những dịp lễ trọng đại như tế trời đất, tế tông miếu… Chí cổn miện chỉ chí làm vua chúa, vương hầu.
    “Chí cổn miện?” Tịch Tà không khỏi bật cười, “Tôi chẳng qua chỉ là một kẻ tàn phế, nói gì đến chí cổn miện? Nay thiên hạ chia năm, tôi chỉ chọn một chủ nhân chính đáng mà hầu hạ, nào có dã tâm cỡ ấy?”
    “Tiểu vương gia biết tôi là kẻ tiểu nhân chỉ sợ thiên hạ không loạn mà, dẫu thiên hạ thực sự loạn lạc, sông Hàn cũng sẽ có người đi thuyền, cục Thừa Vận vẫn phát tài như trước, có khi nước nhà gặp nạn tiền thu vào lại càng nhiều đấy.

    Ha ha!”
    Tịch Tà nheo mắt nhìn ông ta, khoan thai nói: “Tuy anh Thập Lục là cây cột chống trời của cục Thừa Vận nhưng thuộc hạ cũ của phụ vương cũng chẳng ít, chỉ sợ không phải ai nấy đều nghĩ như vậy đâu.”
    “Còn một vài người nhưng kẻ thì già, người thì bệnh, còn có thể làm gì nữa? Nếu nói có thể làm gì thì giết con đ* kia mới là việc đúng đắn.

    Tiểu vương gia không báo thù cha, lại ở đây làm việc cho con trai mụ đ* ấy, nếu lão vương gia ở dưới suối vàng mà biết được, hừ hừ.”
    “Tôi hiểu rồi.” Tịch Tà nói, “Anh Thập Lục tức là tức tôi đây mà.”
    “Không sai, tôi không để bụng chuyện ngài tham sống sợ chết, vào cung làm nô.

    Nhưng nếu không phải Khương Phóng sợ liên lụy tới ngài, không cho phép tôi vào cung ám sát con mụ đ* kia thì tôi đã chính tay cắt đầu mụ từ chín năm trước báo thù cho lão vương gia rồi, cần gì chờ tới bây giờ lòng như nước tù, làm việc cướp bóc này.”
    “Anh Thập Lục…”
    “Im đi! Ngài không cần nói nhiều, chỉ cần làm thái giám khâm sai của ngài, bớt quản chuyện của tôi lại.”
    Tịch Tà gật đầu, cười nói: “Không hợp thì cần gì nhiều lời.

    Anh Thập Lục, qua mấy ngày tôi còn tới đấy.”
    Ngô Thập Lục vẫn cười híp mắt đưa hắn về nhà chính, mọi người lại nói vài câu chuyện phiếm, không đợi cục Thừa Vận giữ lại ăn cơm đã chào rồi quay về.

    Ngô Thập Lục nói với Đào Tiên Hà: “Chuyện cống nạp lần này đã được quyết định rồi, tôi thấy số đội thuyền mà bọn họ cần ít nhất cũng phải cống nạp một ngàn xấp lên kinh.

    Chuyện tôi bảo anh làm thế nào rồi?”
    “Năm nay tơ mới thượng hạng trên thị trường vốn đã ít, chín phần đã ở trong nhà kho của ta rồi.

    Tuy lúc mua vào giá rất cao, song chờ khi bọn họ bắt đầu chế tạo lụa để cống nạp thì e giá đã cao chọc trời.”
    “Tốt!” Ngô Thập Lục cười nói, “Chính là ngón trò này.

    Quán thêu Hiệt Châu đó cũng phải làm nhanh, không nói được Tống Minh Châu thì không biết đi tìm cha cô ta sao?”
    Đào Tiên Hà lấy làm kinh hãi, nói: “Tôi không thể trêu vào người này được đâu.

    Lúc đầu nghĩ chúng ta ra tay trước thì sẽ chiếm được lợi thế, buộc Tống Minh Châu đóng cửa, dẫu ông ta tức giận nhưng nể tình qua lại nhiều năm với bang chủ thì sẽ thôi.

    Nay muốn tôi đấu trực tiếp với ông ta, he he, tha cho tôi đi.”
    “Tất nhiên anh không phải là đối thủ của ông ta.

    Anh bảo Nhị Thập lang đi nói, trước giờ nó có tình cảm thắm thiết với Tống Biệt, chắc có thể thành công.”
    Lý Song Thực được người khác gọi là Nhị Thập lang, là nguyên lão tạo dựng cục Thừa Vận, ở trong bang đức cao vọng trọng, là nhân vật đứng sau Ngô Thập Lục.

    Năm đó theo Ngô Thập Lục xuôi nam gây dựng sự nghiệp, trải qua cả trăm trận chiến, bây giờ đà chủ của mười phân đà lớn trong cục Thừa Vận ven sông Hàn có đến sáu người là học trò kề cận dưới trướng y.

    Bấy giờ nghe Đào Tiên Hà nói thì không muốn chút nào nhưng không thể tùy tiện làm xấu mặt Ngô Thập Lục nên hôm sau chỉ đành hậm hực ra ngoài, chạy tới căn nhà dưỡng bệnh của Tống Biệt ở ngoại ô.
    Ngô Thập Lục chỉ nói chuyện đã được quyết định, đang ở trong cục chờ tin tức của y, ngờ đâu chẳng những Lý Song Thực quay về với vẻ mặt tái nhợt mà phía sau còn có một người trung niên râu dài gầy như củi khô chậm chạp theo xuống từ trên xe, chính là Tống Biệt mà năm đó được gọi là tay thêu điệu nghệ.
    Ngô Thập Lục hít một hơi rồi vội vàng nhấc giày, tươi cười ra đón.

    “Lão Tống! Kể từ lúc chia tay ông vẫn khỏe chứ?”
    “Tôi dưỡng bệnh đang yên đang lành, chính ông làm phiền đấy, không bị ông làm cho cực khổ đến chết đã may mắn lắm rồi.” Tống Biệt mang vẻ mặt ốm đau, nói năng thều thào, chỉ có hai mắt đảo qua mặt Ngô Thập Lục là vẫn như lưỡi dao.
    Ngô Thập Lục biết ông ta khó đối phó, cười ha hả bảo: “Nói gì vậy? Bạn cũ gặp lại, mời vào trong phòng.”
    Tống Biệt ngồi xuống ho một hồi, thở hổn hển một lúc lâu mới nói: “Ông chủ Ngô đúng là mê tiền, thấy nhiều năm nay tôi không nói gì nên xem thường, ngay cả con gái tôi cũng không bỏ qua.

    Đang yên đang lành, sao lại muốn đập quán của tôi?”
    “Lão Tống đúng là hẹp hòi, tôi chỉ muốn giành được phần thưởng ngon nghẻ.

    Để con gái mình được chọn làm thợ thêu, vào kinh chơi mấy tháng, không cẩn thận là đắc tội, dẫn đến cái họa nghìn cân, đáng để ông tự mình chạy một chuyến không?”
    Tống Biệt nói: “Tôi không thích nghe lời ông nói đâu.

    Ông nuông chiều con gái của ông, lẽ nào con gái nhà tôi không phải hòn ngọc quý trên tay sao? Không phải là ông không biết, cha con bọn tôi đã không dính vào việc dung tục này từ lâu rồi, cần gì làm điều thừa thãi?”
    “Tôi biết ông kiêu ngạo, không để bụng việc này.

    Nhưng ai bảo quán thêu Hiệt Châu đã lộ mặt trước quan trên triều đình chứ? Con gái của tôi chân tay vụng về, nào phải là đối thủ của Minh Châu?”
    Tống Biệt cười lạnh nói: “Quan trên triều đình cái gì? Ông hầu hạ Nhan vương nhiều năm, ngay cả cậu chủ nhỏ của mình mà cũng không nhận ra sao?”
    Ngô Thập Lục sầm mặt lại, nói: “Sao? Ông đã trông thấy hắn rồi à?”
    Lý Song Thực ở bên nói: “Anh Thập Lục, chuyện tiểu vương gia đã tới lớn như thế mà sao không cho em biết?”
    Tống Biệt nói tiếp: “Một quán thêu nho nhỏ, ông muốn đập thì đập, tôi cũng không thèm lý luận với ông.

    Thành thật mà nói, hôm nay tôi tới để làm thuyết khách.”
    “Trong lòng tôi biết rất rõ ông muốn nói gì, có điều cục Thừa Vận sẽ không xen vào việc hục hặc lẫn nhau trong triều đình nữa.”
    “Ban đầu cục Thừa Vận chính là kết quả của việc hục hặc với nhau trong triều đình, nay muốn dừng tay như vậy, nào nhẹ nhõm thoải mái như ông nói? Bây giờ các thuộc hạ cũ khác của Nhan vương đã quy về dưới cờ của tiểu vương gia từ lâu rồi, mấy người các ông được Nhan vương ân sủng không thua gì kẻ khác, rốt cuộc tại sao ông cứ khư khư cố chấp vậy?”
    Ngô Thập Lục cười khẩy bảo: “Không cần nhắc đến ơn huệ của lão vương gia, nếu như không phải phụng lệnh lão vương gia tới đây tạo dựng cục Thừa Vận, bọn ta đã lập được chiến công hiển hách lúc còn trong đại quân từ lâu, bây giờ chắc chắn đã có địa vị cực cao, nào trông như bọn cướp sông cướp biển thế này.

    Nếu không để giúp lão vương gia thành công thì ông há lại không giết hết đám chó gà trong triều Đại Lý mà lại đi cầm kim ẩn mình để rồi cuối cùng phải bệnh chết nơi đất khách quê người hay sao?”
    Tống Biệt không khỏi cười, giận dữ nói: “Được được được, bạn cũ mấy chục năm mà ông lại nói ra những lời như vậy.”
    “Ha ha, giờ trong mắt Thập Lục lang chỉ có bốn chữ vinh hoa phú quý thôi!” Ngô Thập Lục cười to, “Tuy con gái tôi không bằng Minh Châu nhưng cũng xinh xắn, sau này đưa nó vào cung, ngộ nhỡ được hoàng đế vừa ý thì tôi sẽ là quốc trượng, còn có thể đền bù chõ bao nhiêu năm cực khổ thê lương của tôi.

    Anh Tống biết chí lớn của tôi rồi thì đừng tranh giành với tôi nữa nhé?”
    Tống Biệt nói: “Ông không nghe tôi khuyên thì thôi, ông muốn đưa con gái ông đi làm hoàng hậu nương nương cũng là chuyện của ông.

    Song, ông phải biết cục Thừa Vận này chẳng phải của ông, mượn từ đâu thì trả về nơi đó đi, việc lớn thế này không thể chỉ do một mình ông quyết định được.”
    “Ông không cần uy h**p tôi.” Ngô Thập lục nói, “Trong cục Thừa Vận này ai dám nói một chữ không với tôi?”
    Tống Biệt hừ lạnh một tiếng rồi đứng dậy và nói: “Cũng đành, tôi không thuyết phục được ông, để chủ nhân thực sự tới nói vậy.

    Tiểu vương gia muốn tôi chuyển lời lại cho ông, hãy cho ngài thêm một cơ hội gặp mặt, thế nào?”
    “Miễn đi.” Ngô Thập Lục nói, “Chỉ cần hắn còn bước vào cục Thừa Vận một bước thì tôi sẽ đánh hắn ra ngoài.”
    Tống Biệt cười nhạt, chắp tay đi liền.
    Lý Song Thực nói: “Anh Thập Lục, thầy Tống nói không sai, cục Thừa Vận này không phải là của hai ta.

    Trước đây Nhan vương gia phát cho vài chục vạn lượng bạc trắng để chúng ta lập nghiệp mới có cái bang lớn nhất miền đông nam ngày nay.

    Giờ tiểu vương gia tới đây, chỉ muốn chúng ta dò la tin tức, phân công nhiệm vụ cho các tai mắt sẵn có, vừa không đòi chúng ta phải để đầu đao l**m máu, hay chém giết bằng gươm thật giáo thật, không có quá nhiều tác hại tới cục Thừa Vận.

    Nếu như anh Thập Lục ngại phiền thì chi bằng cứ làm chuyện buôn bán nghiêm chỉnh, còn việc này thì giao cho em đi làm, có được chăng?”
    Ngô Thập Lục cười bảo: “Em làm thế không phải là muốn chia rẽ bang hội sao? Chúng ta có ngày hôm nay không phải là nhờ tiền của Nhan vương mà là chúng ta chung lưng đấu cật.

    Bây giờ em muốn làm riêng thì cục Thừa Vận này còn có tương lai sao?”
    Lý Song Thực không kềm chế được, phát tác ra, nói: “Anh Thập Lục chẳng những hẹp hòi mà đầu óc cũng không bằng trước đây.

    Tiểu Cửu vương gia này từ nhỏ đã có suy nghĩ khác người, không nói đến chuyện Nhan vương tự mình dạy dỗ mà mới bảy tám tuổi đã cùng xuất chinh với đại quân, Nhan Vương yêu quý cỡ nào chứ? Thầy hai phía tây cũng là nhân vật lợi hại thế mà hai năm qua quay về dưới cờ ngài ấy ngoan ngoãn tuân theo, hơn nữa lúc nào cũng gửi thư khuyên anh.

    Hôm nay em đã gặp tiểu vương gia này rồi, chí khí ngài ấy không kém lão Nhan vương, chỉ sợ thủ đoạn độc ác rèn luyện suốt mấy năm ở trong cung còn có phần hơn.

    Thế mà anh lại để bụng chuyện vụn vặt, em sợ rằng cục Thừa Vận này tạo dựng dễ dàng, phân tán cũng mau chóng đấy.”
    “Hắn mới hai mươi, lại chỉ biết khom lưng uốn gối để giữ mạng, muốn anh phục hắn thì còn sớm lắm.

    Cơ nghiệp mấy chục năm của cục Thừa Vận không phải hắn nói hủy là hủy được đâu.” Ngô Thập Lục cười khẩy một tiếng, bỏ Lý Song Thực lại rồi đi vào trong, trên đường gặp phải Đào Tiên Hà và Quách Thập Tam thì thấp giọng nói: “Giờ các người âm thầm giam lỏng Nhị Thập lang lại, làm việc cẩn thận.”
    Xưa nay Quách Thập Tam chịu phục Lý Song Thực, mặt mày không khỏi lộ vẻ vô cùng khó xử.

    Ngô Thập Lục bảo: “Cậu không cần lo lắng, mọi chuyện kết thúc thì tôi sẽ tự mình nhận tội với nó.

    Còn cả Tống Biệt cũng vậy.”
    Đào Tiên Hà nói: “Việc này khó đấy! Tống Biệt vừa ra khỏi cửa trở về quán thêu Hiệt Châu, sáng sớm hôm nay đã có trọng binh của nha môn Bố chính sứ ty canh gác ở đó, suy cho cùng thì vẫn không thể đối chọi ngoài sáng với người của quan phủ được.”
    Ngô Thập Lục nói: “Chỉ cần ông ta không đi ra từ trong quán thêu là được, các anh phái người canh chừng cho kỹ vào.”
    Ai ơi nhớ lấy câu này, reup không khéo có ngày rụng răng.
    Đảo mắt đã đến ngày mùng mười tháng Tám, tơ mới trên thị trường Hàn châu đã tơ dùng hết, còn có mấy trăm xưởng chưa kịp hoàn thành lụa mới, nhao nhao đến chỗ Thường Trọng Nguyên kể khổ.

    Thường Trọng Nguyên bèn nói với Tịch Tà: “Việc khác đều là chuyện nhỏ, tiểu nhân chỉ sợ đến lúc dệt lụa cống nạp thực sự lại không có tơ mới thượng hạng, không nộp được lên.”
    Tịch Tà cười nói: “Tôi đã xem hồ sơ của bộ Hộ, mỗi năm tơ mới sản xuất từ Hàn châu không chỉ chừng này, chắc chắn có người biết tình hình bên trong, đầu cơ tích trữ từ trước.”
    “Việc này tuyệt đối không thể đâu ạ.” Thường Trọng Nguyên vội vàng phủi sạch quan hệ với mình, “Tôi đã điều tra rồi, kho sợi của các xưởng lớn trong phường hội đều không trữ quá nhiều hàng.”
    “Không phải tôi nghi ngờ phường hội các ông, trong Hàn châu kẻ có thể có sức của để mua đứt nhiều tơ mới như vậy thì chắc chắn là người khác.”
    Thường Trọng Nguyên bừng tỉnh: “Dạ dạ dạ, quan trên nói chí phải, có thể làm chuyện như vậy thì cũng chỉ có cục Thừa Vận tiền muôn bạc biển thôi.”
    Lập tức mấy chục người lo việc trong phường hội chạy tới cục Thừa Vận tìm Ngô Thập Lục lý luận nhưng bị Ngô Thập Lục cười hì hì đánh ra ngoài.

    Sao Thường Trọng Nguyên lại chịu để yên, trở về nói lại, lập tức kích động làm mọi người lòng đầy căm phẫn, không quan tâm bình thường cục Thừa Vận hung hãn thế nào, tập hợp hơn ngàn người đến chửa bới ở trước cửa của cục Thừa Vận.
    Lúc này cục Thừa Vận đang loạn trong giặc ngoài.

    Không nói đến việc lúc trước vì tranh mua tơ mới mà bỏ một lượng lớn tiền mặt vào, gần đây việc quay vòng ngày càng trầy trật, hơn nữa không biết tại sao tin tức Lý Song Thực bị giam lỏng lại bị tiết lộ ra ngoài, vài đà chủ phân đà do y nâng đỡ đi đường suốt đêm, chạy về tổng đà ứng biến.

    Ngô Thập Lục lập tức phái người đi chặn đường, ai ngờ lại báo lại rằng chỉ chặn được thuyền, còn người thì không thấy ai cả.
    Ngô Thập Lục nở nụ cười dữ tợn, nghe ngoài cửa ồn ào không thôi, đang một mình suy ngẫm trong phòng thì thấy cửa mở ra, con gái Ngô Thái Lân của mình dâng trà vào và nói: “Cha lại đang rầu rĩ đấy à?”

    Ngô Thập Lục nhận trà rồi cười nói: “Không, có cảnh đời gì mà cha con chưa từng thấy chứ? Chuyện nhỏ này sao có thể làm khó cha được?”
    Ngô Thái Lân nói: “Cha không lừa được con đâu, chỉ có khi không quyết định được việc lớn thì cha mới ở chỗ này sầu muộn về cuộc đời.”
    Ngô Thập Lục than thở: “Con là đứa trẻ thông minh, ban đầu cha nghĩ cha con ta cùng nhau làm việc lớn này thì dầu hài cốt chẳng còn cũng có thể báo đáp ơn nghĩa của chủ cũ.

    Ngờ đâu còn chưa hoàn thành, cha đã mắc mưu người khác rồi.

    Trải qua cơn biến này, không biết tương lai ai sẽ định đoạt cục Thừa Vận này.”
    Ngô Thái Lân khuyên nhủ: “Cha chỉ canh cánh chuyện xưa nên mới rầu rĩ không vui, chi bằng buông tay mặc kệ, con cùng cha trở về quê nhà ở Thanh châu, chú Nhị Thập, bác Tống muốn làm gì cũng không còn can hệ gì đến chúng ta nữa, có được không ạ?”
    “Con chỉ biết nói lời trẻ con thôi.

    Cha ở chỗ này là vì phụng lệnh người khác, được người nhờ cậy, há có thể nói đi là đi?”
    “Nếu cha tình sâu nghĩa nặng với lão Nhan vương, còn ở Hàn châu đợi tin tức của tiểu vương gia đó nhiều năm thì vì sao bây giờ hắn tới cửa xin cha giúp đỡ mà cha lại không chịu?”
    “Cha vốn nghĩ hắn nhẫn nhục vào cung là để báo thù cho cha, nào ngờ chín năm trôi qua lại thành chó săn của hoàng đế.

    Trước nay đám thuộc hạ cũ của Nhan vương bọn cha chỉ hầu hạ một mình lão vương gia, lão vương gia bị thái hậu và hoàng đế g**t ch*t thì làm sao cha có thể thông qua hắn mà làm việc cho hoàng đế được?” Đang nói đến chỗ tức giận, ông ta chợt nghe phía cổng ồn ào một hồi, sau đó thì im bặt.
    Hai cha con liếc nhau, trong lòng biết có biến.

    Tiếng bước chân vội vã vang lên ngoài cửa, Ngô Thái Lân ra mở thì thấy một sư gia trong phòng thu chi của Đào Tiên Hà áo mũ không chỉnh tề xông đến, bẩm: “Bang chủ, Tống Biệt đó dẫn sáu vị phân đà chủ vào cục thả Nhị Thập lang, còn đến phòng thu chi giam Đào sư gia lại.

    Đào sư gia bảo tiểu nhân lén lút đi ra, bẩm lại cho bang chủ hay.”
    “Tới nhanh vậy à?” Ngô Thập Lục lấy làm kinh hãi.

    Theo suy tính của ông ta, người trong mấy phân đà này bỏ thuyền lên đất liền rồi dùng ngựa giỏi đi gấp, muốn đến Hàn châu e còn cần một hai ngày, không ngờ đêm nay đã vào cục Thừa Vận rồi.
    “Nhị Thập lang vừa mới tới trước cổng, nói với người của phường hội đan dệt rằng ngày mai sẽ mở kho tơ mới, phân phát cho họ, bây giờ đang hướng tới nơi này.”
    Ngô Thập Lục gật đầu rồi đuổi ông ta ra ngoài, còn mình thì tháo thanh đao lớn trên tường xuống, đeo ở hông.

    Ngô Thái Lân vội nói: “Cha gượm đã, chú Nhị Thập nhân hậu, dẫu đến cũng sẽ không gây tổn thương đến cha đâu.

    Cha muốn làm gì vậy?”
    Ngô Thập Lục cười nhạt bảo: “Con không biết thủ đoạn trước đây của Diêm vương, tiểu vương gia đó là con trai ruột của ngài, thủ đoạn độc ác giống hệt nhau.

    Chuyện cha tích tơ bí mật cỡ nào mà vẫn bị hắn biết, còn xúi giục người trong phường hội đan dệt đối chọi với cha.

    Học trò, thuộc hạ của Nhị Thập lang tới thần tốc như vậy, chỉ sợ trước khi hắn đến Hàn châu đã báo để chúng tới rồi.

    Hắn đã có lòng diệt trừ cha thì đêm nay còn thân thiện được nữa sao?”
    Nhưng trước cửa lại có tiếng cười vang lên, “Anh Thập Lục nói đúng hết thảy, song tôi tốn nhiều công sức chỉ muốn anh Thập Lục nghe tôi nói mấy câu thôi.”
    Chàng trai mặc áo trắng như tuyết đứng ngoài cửa, lưng đeo trường kiếm, thanh tú ung dung, ánh mắt lạnh hơn ánh trăng lẳng lặng chiếu vào người Ngô Thập Lục.
    Ngô Thập Lục kéo con gái ra phía sau, nói: “Tiểu vương gia trăm phương ngàn kế chẳng qua là muốn có cục Thừa Vận này mà thôi.

    Giờ đã xong xuôi, còn có có gì để nhiều lời nữa?”
    “Anh Thập Lục là đại tướng mà phụ vương nhìn trúng, cục Thừa Vận do một tay anh tạo dựng, bất kể thế nào cũng phải cần anh Thập Lục giúp đỡ.

    Huống hồ…” Tịch Tà mỉm cười nhìn Ngô Thái Lân, “Anh Thập Lục quật cường dũng mãnh, nếu giờ không thuyết phục được anh thì e tương lai anh sẽ gây chuyện sau lưng tôi, phái thích khách vào cung, liên lụy đến mấy ngàn miệng ăn trong cục Thừa Vận thì chẳng phải là phá hỏng chuyện lớn của tôi ư?”
    Ngô Thập Lục biết kế lớn trước kia của đã bị hắn nhìn thấu, bèn nói: “Nếu tiểu vương gia có lòng dựng cờ mưu phản thì tôi có thể thề sống chết mà đi theo, nếu muốn tôi cùng ngài làm nô cho tên hoàng đế kia thì tuyệt đối không thể.”
    Tịch Tà trầm tĩnh nói: “Sao anh Thập Lục không chịu hiểu cho, thân phận hiện tại của tôi là gì, sao có thể dựng cờ mưu phản, sau này cầm quyền chuyên quyền thế nào?”
    “Vậy thì không cần nhiều lời nữa.

    Ngài tới đòi mạng tôi, có thể giết được hay không thì cứ đánh hai chiêu trước rồi hẵng nói.” Ông ta chỉ một lòng muốn bảo vệ cho con gái thoát chết, một đao sử dụng mười phần công lực, chém ngay đầu Tịch Tà.
    Tịch Tà không ngờ ông ta lại ra tay, thân hình thoắt một cái, đột nhiên lui lại.

    Ngô Thái Lân cũng là học trò do chính Tống Biệt dạy, nhào người lên, kim bạc trong tay áo bắn đến ngực Tịch Tà.

    Tịch Tà biết nghề kim nhà họ Tống có một không hai khắp gầm trời, chiêu này đã được chính Tống dạy cho thì ắt lợi hại nên không dám thờ ơ, nhẹ nhàng nghiêng người né tránh, trong chớp mắt, trưởng kiếm đã ra khỏi vỏ, vung lên chặt đứt sợi chỉ màu mà Ngô Thái Lân dùng kim bạc kéo ra.

    Ngô Thập Lục rất sợ con gái gặp hiểm, tạt qua bên cạnh Tịch Tà, lại bổ một đao.

    Không hổ là đại tướng trong đội quân năm đó, một đao này có cái uy của ngàn quân.

    Tịch Tà thầm hiểu đao này của ông ta có uy chứ không thể tấn công, chỉ ép mình tránh đi, tiện thể để con gái trở ra nguyên vẹn.

    Có điều nếu để sổng mất ông ta lúc này thì sẽ có vô số phiền phức, trường kiếm đành quay lại, đón đỡ một cái từ dưới lên.

    Ngô Thập Lục mới cảm thấy cơ thể và đầu óc bị chấn động mạnh thì Tịch Tà đã đẩy nhẹ một chưởng, đẩy thân thể to lớn là vậy của ông ta vào phòng.
    Tịch Tà theo vào trong phòng, trường kiếm đặt ở vai ông ta, tay trái trỏ vào không trung phía sau, đánh bay ám khí mà Ngô Thái Lân bắn tới từ ngoài cửa.

    Lúc này máu trong ngực cuồn cuộn, hắn biết vết thương cũ đã tái phát, không khỏi nghiêm nghị nói: “Mưu ma chước quỷ của anh bằng tôi, võ công cũng chẳng bằng tôi, cái gì tôi cũng mạnh hơn anh mà điều gì làm anh không thể chịu phục? Lần này anh muốn tranh giành chuyện thợ thêu vào cung rõ ràng chính là muốn ám sát thái hậu và hoàng đế, không tiếc đưa con gái vào miệng cọp, có thể thấy lòng báo thù của anh không thua gì năm đó, sự chân thành đối với phụ vương không hề tiêu giảm.

    Lẽ nào quyết tâm tự tàn hại cơ thể vào cung báo thù của tôi vẫn không đáng để anh lấy một phần mười lòng tận hiến với phụ vương ra mà đối đãi ư? Tôi tám tuổi đã theo phụ vương chinh phạt Hung Nô phương bắc, cả đường ngồi trên ngựa của anh Thập Lục, may có anh Thập Lục liều mạng che chở cho tôi chu đáo.

    Khi đó anh Thập Lục có từng cảm thấy ngày sau tôi sẽ là kẻ nhát gan sợ chết không?”
    “Không!” Ngô Thập Lục lớn tiếng nói, “Hai trăm ngàn đại quân sụp đổ trước mặt cũng không thể lay động sắc mặt của tiểu vương gia.”
    “Lúc đó anh Thập Lục chặn hai mũi tên cho tôi, anh Thập Lục còn nhớ lời mình nói sau đó không?”
    Ngô Thập Lục nhấn mạnh từng chữ: “Nay đi theo lão vương gia, tương lai sẽ bám gót tiểu vương gia.”
    Tịch Tà nghe đến cả giọng nói của ông ta vẫn giống hệt như lúc đó thì tâm trạng không khỏi xao động, một chuỗi tiếng ho dữ dội bật ra từ trong lồng ngực, dưới ánh nến trường kiếm khẽ run ở trong tay hắn dập dờn như sóng nước.

    “Anh Thập Lục thấy tôi còn nhỏ nên lúc đó thuận miệng nói bừa à?”
    “Không phải.” Ngô Thập Lục nhớ lại sự hùng tráng ngày trước, lệ nóng doanh tròng.
    Tịch Tà lấy tay trái xoa ngực, cảm thấy hơi khó thở, khuôn mặt trắng như tuyết bị nhuộm màu đỏ bi thảm như thể không cầm nổi kiếm nữa.

    Đột nhiên ánh sáng lạnh trong mắt thu lại, mũi kiếm nhắm thẳng vào yết hầu Ngô Thập Lục.

    Hắn nói: “Anh Thập Lục có ơn cứu mạng tôi, tiếc nỗi trước nay cục Thừa Vận này do anh cầm đầu, dẫu tôi có lòng chừa đường sống cho anh, chỉ sợ sau này anh sẽ sinh sự khiến Nhị Thập lang và thầy Tống không thể làm mọi người phục tùng.

    Tôi chỉ hỏi anh một lần nữa, anh có bằng lòng trở lại dưới trướng của tôi không?”
    “Chết ở dưới kiếm của tiểu chủ nhân cũng không hề gì!” Ngô Thập Lục nhìn chằm chằm hai chữ Tĩnh Nhân trên thân kiếm, nói, “Tôi chỉ không rõ vì sao tiểu chủ nhân từ nhỏ đã tài cao chí xa mà lại cam chịu làm nô tài cho con trai của mụ đ* kia.”
    Tịch Tà nói: “Vì sao năm đó anh Thập Lục theo phụ vương khởi sự?”
    “Nhan vương gia lập chí quét sạch phiên vương để nước giàu binh mạnh, càn quét bọn mọi, thực hiện nghiệp lớn thống nhất Trung Nguyên.”
    Tịch Tà lạnh lùng nói: “Không sai.

    Tôi ở trong cung, muốn giết thái hậu dễ như trở bàn tay.

    Chỉ là mụ mà chết thì quần hùng Hồng, Lương, Đông Tây cùng nổi lên, cắt cứ Trung Nguyên, còn nói gì đến nghiệp lớn thống nhất thiên hạ nữa? Phân tranh nổi lên bốn phía, trăm họ trôi giạt, còn nói gì đến mộng đẹp nước giàu? Nay tôi chỉ là một quan hoạn, chỉ đành mượn tay hoàng đế diệt trừ phiên vương cho tròn chí phụ vương thì có lỗi gì? Tôi xúi giục mẹ con chúng bất hòa, máu mủ tàn hại lẫn nhau, báo cái thù diệt cả nhà thì có gì không đúng? Nếu việc chỉ dùng một kiếm là kết thúc thì tôi cần gì chịu nhục đến thế? Tôi đường đường là hậu duệ hoàng thất, vì hoàn thành chí cha mà chịu nhục như vậy nhưng lại không có được chút tình xưa của anh?”
    “Tiểu vương gia!” Ngô Thập Lục lấy hai tay nắm lấy trường kiếm, run giọng nói, “Cuối cùng Ngô Thập Lục tôi chết cũng được minh bạch.

    Cớ làm sao mà tiểu vương gia không nói những lời này từ sớm?”
    Tịch Tà nhìn hắn cười khổ nói: “Anh cho tôi cơ hội nói sao?” Nói rồi cánh tay run lên cất kiếm trở về, lui lại mấy bước, ngồi trên ghế thở hổn hển.
    Ngô Thập Lục đứng lên, cất tiếng cười to và nói: “Không sai, Ngô Thập Lục tôi đúng là lão khọm lú lẫn, da mặt cũng dày, bây giờ còn muốn đi theo chủ nhân.

    Không biết liệu chủ nhân có thấy quá muộn không?”
    Tịch Tà cho trường kiếm vào vỏ, nói: “Không muộn, tôi chỉ chờ những lời này của anh Thập Lục thôi đấy.”
    Ngô Thập Lục quay đầu nói với Ngô Thái Lân ngoài cửa: “Cất ám khí trong tay con đi rồi mau mau mời bác Tống và chú Nhị Thập tới đây để hôm nay đám đàn ông chúng ta đoàn tụ, phải uống một bữa cho ra trò mới được.”.
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 5: 5: Minh Châu


    Đúng ngày mười lăm tháng Tám, ngày thu trong xanh thoáng đãng, trời trong nắng ấm.

    Vùng ven sông của Hàn châu dựng một sân khấu rực rỡ sắc màu, chung quanh người người nhốn nháo, chen chúc nhau khiến ngày hội so tài chật như nêm cối.

    Bố chính sứ Đổng Lý Châu tự mình đến, hơn hai mươi người từ cục dệt nhuộm của châu, phường hội dệt nhuộm, người thu mua của cục Châm Công, cục Nội Chức Nhiễm trong cung kết hợp lại làm giám khảo cùng lên trên đài cao.

    Trên đài bày mấy chục cái xà ngang để treo lụa đẹp tham gia thi thố, bỗng chốc gió khua la gấm, người rợp trong xiêm áo đủ sắc cầu vồng.

    Mọi người đi xuyên lụa Hàn như bước chậm trong mây, trôi giạt không biết điểm đến.
    Bận rộn cho tới trưa, cuối cùng cũng chọn ra mười cửa hiệu lâu đời có thể đan dệt ra lụa thượng hạng.

    Tuy các xưởng không được chọn nhưng vì lụa Hàn tham gia thi thố đều là hàng tinh hoa khó gặp nên đã có người ra giá cao tranh mua ngay trong hội tưng bừng náo nhiệt.

    Vì cục Thừa Vận sông Hàn chú ý đến toàn cục, bán tháo tơ mới, cuối cùng lần thi thố này mới kết thúc tốt đẹp nên buổi trưa Đổng Lý Châu đã ở mở tiệc chiêu đãi đám Ngô Thập Lục, Lý Song Thực ở lầu Hàn Vận.

    Tất nhiên trong tiệc còn có quan viên Hàn châu, Tịch Tà, Khang Kiện, phương hội dệt nhuộm và các Hàn châu các giới danh sĩ, phú ông.
    Rượu qua ba tuần, Thường Trọng Nguyên nói: “Cuộc thi lụa Hàn lần này xem như là một việc trọng đại trong suốt nhiều năm qua ở Hàn châu.

    Đổng đại nhân mở tiệc rượu ở đây, tại hạ xin có một tiết mục góp vui.” Nói đoạn vỗ tay liên tiếp, có bốn cô gái áo xanh đương tuổi xuân thì mang một tấm bình phong chín mặt đi ra rồi từ từ mở ra.
    Thường Trọng Nguyên nói: “Thưa các vị, thầy thêu tấm bình phong này ra giá sáu ngàn lượng với tôi, các vị xem thử xem thế nào?”
    Mọi người mới cười ông ta nói thách nói tướng.

    Có người bảo: “Dầu ông dùng sợi vàng chỉ bạc mà thêu nhưng cũng chỉ là một tấm bình phong, nào giá trị những sáu ngàn lượng chứ?” Lời mới vừa ra khỏi miệng lại chợt kinh hãi kêu lên theo mọi người.

    Chỉ thấy mỗi một nhân vật trên bình phong đều xuất trần phiêu dật, mang phong thái của tiên, sống động như thất.

    Nhất là đôi mắt hẹp dài của Tiêu Tương phi tử[1] ẩn vẻ linh động, ai oán xa xăm làm hồn xiêu phách lạc.

    Mọi người chỉ thấy cơn gió mát khẽ phất qua nhân vật trong đó hất tung làn váy dài và mái tóc mây thong thả bước ra, ai nấy đều không kìm được mà hít một hơi, xúm lại nhìn kỹ.
    [1] Ý chỉ hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh, vợ của Đế Thuấn.

    Khi Ngu Thuấn đến đất Thương Ngô bên bờ sông Tương thì ngã bệnh qua đời.

    Hai bà thương khóc chồng ngồi cạnh mộ bên bờ sông Tương khóc ròng rã suốt 7 ngày 7 đêm.

    Chỗ nước mắt của 2 bà rơi xuống mọc ra bụi trúc nên người đời gọi luôn đó là Tương phi trúc.

    Sau khi khóc than thì Nga Hoàng cùng Nữ Anh đều trầm mình xuống sông để tuẫn tiết theo chồng, hóa thành nữ thần sông Tương hay còn gọi là Tương phi.
    Tự có người không nhịn được mà hỏi: “Anh Thường, anh lấy được tác phẩm thần kỳ này ở Hàn châu thật à? Không biết là đồ thêu của thầy ở tiệm nào?”
    Thường Trọng Nguyên nói: “Bức tranh Cửu Ca này là do thầy cả Tống Minh Châu của quán thêu Hiệt Châu thêu đấy.” Mọi người nhao nhao gật đầu: “Thảo nào thảo nào…”
    Chợt có người lớn tiếng nói: “Hội trưởng Thường, tôi bằng lòng bỏ ra bảy ngàn lượng, anh hãy tặng lại tác phẩm thần kỳ này tặng cho tôi, được chứ?”
    Thường Trọng Nguyên cười nói: “Tuyệt đối không được.

    Mừa năm qua đồ thêu lưu truyền ra ngoài từ quán thêu Hiệt Châu này có thể đếm được trên đầu ngón tay.

    Đến nay mới được trông thấy hàng thêu bởi bậc thầy như vậy, lại độc chỉ có cái tấm bình phong này thôi.

    Tôi có được rồi lấy ra để mọi người đánh giá, anh lại muốn chiếm lấy thì tuyệt đối không được.”
    Dẫu ông ta đã nói liền hai câu “tuyệt đối không được” nhưng vẫn có người nói: “Tôi thêm năm trăm lượng nữa.”
    Cứ thế giá cả liên tiếp tăng vọt, Thường Trọng Nguyên vội bảo: “Cất đi, cất đi, chỉ sợ lát nữa sẽ có người muốn ra tay cướp đấy.”
    Chợt nghe Đổng Lý Châu cười nói: “Hội trưởng gượm đã, tôi bằng lòng dùng một vạn lượng xin hội trưởng bỏ thứ yêu thích ấy.

    Hội trưởng nghĩ thế nào?”
    Thường Trọng Nguyên khó xử nói: “Nếu đại nhân đã ra giá cao muốn mua thì sao tiểu nhân dám giấu làm của riêng?” Đoạn nói với thuộc hạ, “Gập vào rồi đưa đến phủ của đại nhân đi.”
    Tất cả mọi người đều nói với Đổng Lý Châu: “Chúc mừng đại nhân có được vật báu.”
    Đổng Lý Châu rất đắc ý, cạn mấy chén với mọi người, thỏa thuê mà về.
    Lúc gần đi Thường Trọng Nguyên kéo Tịch Tà lại, thấp giọng nói: “Thưa công công, hôm qua tiểu nhân kiểm kê lại tơ mới mà cục Thừa Vận dâng lên một lần nữa, hàng thượng hạng thật sự có thể làm đồ cống nạp vẫn không nhiều lắm, chỉ sợ vẫn chưa đủ số lượng.”
    Tịch Tà cười nói: “Ông không cần lo lắng, đến lúc thì những tơ mới thượng hạng sẽ tự nhiên xuất hiện thôi, ông chỉ cần mang những mẫu này rồi phân công xuống dưới là được.”
    Thường Trọng Nguyên thấy hắn không quan tâm, chỉ đành nói: “Tiểu nhân nghe Đổng đại nhân nói công công muốn mang một nhóm thợ thêu vào kinh, không biết có việc này không?”
    “Ban đầu dự tính như thế, song tôi lo cưỡng ép những thợ thêu này phải xa cách cha mẹ anh em thì cũng phải tội.

    Vả, thợ cả trong cục Châm Công cũng không thiếu, tôi nghĩ chi bằng dẫn một hai thợ thêu của phường thêu Phúc Địa vào cung chỉ bảo một hai điều là được.”
    “Phải phải, triều đình nhân từ, suy nghĩ thật chu đáo.”
    “Ngày mai tôi phải về cung báo cáo, chuyện nơi đây còn phải nhờ vào hội trưởng.”
    “Nhất định nhất định.”
    Truyện chỉ được đăng tại vongnguyetlau10.wordpress.com Ngoài ra đều là nơi ăn cắp.
    Tịch Tà đi ra, một mình dạo phố Hàn châu, chỉ chốc lát sau Ngô Thập Lục đã đi theo.

    Hai người hiểu ý cười, không nói nhiều mà xem lướt qua trên mấy con phố phồn hoa.

    Trông phía trước có một đám đông hăm hở vây quanh nhìn thứ gì đó, Tịch Tà nói: “Chúng ta cũng đi xem trò vui nào.”
    Đến gần mới biết có người dán một bức thiếp thật to ở đối diện nha môn phủ châu, Ngô Thập Lục tách mọi người ra để Tịch Tà nhìn kỹ.

    Bức chữ này rồng bay phượng múa, hành văn liền mạch lưu loát, nói là nha môn ty bố chính sứ của phủ châu thu sưu cao thuế nặng, cầu Trường Hồng mới xây nhưng vì tham ô trái pháp luật ăn bớt ăn xén nguyên vật liệu khiến cầu hoàn thành chưa được một năm đã sụp, nhiều dân chúng bị thương vong.

    Tịch Tà thấy áng văn này không chỉ chữ nào chữ nấy đều là châu ngọc, còn nhằm trúng chỗ then chốt, tầm nhìn sâu xa thì hết sức kích động.
    Ngô Thập Lục nói: “Hôm nay là đợt thi hương cuối cùng, học sinh các nơi đều ở Hàn châu.

    Đã thế ít ngày trước cầu Trường Hồng sụp khiến hai anh khóa đi thi bị chết đuối.

    Đám người đọc sách trăm miệng một lời, chỉ e sẽ lại gây loạn.”
    Tịch Tà nói: “Áng văn này cực hay, rất có tầm nhìn.

    Anh đi thăm dò xem rốt cuộc là kẻ nào làm.”
    Ngô Thập Lục cười nói: “Không cần điều tra! Người có thể viết loại văn này không ít, song kẻ dám can đảm dán ở đối diện nha môn thì chỉ có một thôi.

    Đó là lãng tử nổi tiếng cả Hàn châu, tên Hoắc Viêm, tự là Liệu Nguyên.

    Mấy đời trước của nhà họ Hoắc đều làm quan trong triều, nói ra thì còn là thế gia vọng tộc giàu có của địa phương, ai nấy đọc sách đi lên, chỉ có anh ta từ khi hiểu chuyện đã lăn lộn ở ngõ liễu tường hoa.

    Hai năm trước anh ta si mê một cô chốn lầu xanh, ngày ngày tiêu tiền như nước, suýt làm mẹ anh ta tức chết, mãi đến khi nàng kia lại bị bán đến Ly đô mới thôi đấy.

    Giờ cuối cùng cũng yên lòng lại, cũng kịp kỳ thi hương năm nay.”
    Tịch Tà cười nói: “Đúng là một người có chí khí hiệp nghĩa và tấm lòng nhân từ, không chừng còn hợp tính anh Thập Lục đấy.”
    Ngô Thập Lục vội vàng lắc đầu bảo: “Tôi kính trọng vì anh ta là kẻ không câu nệ tiểu tiết, hào hiệp ngay thẳng, cũng đã gặp được mấy lần.

    Chỉ là cả ngày anh ta đảo quanh trong son phấn, khà khà, vậy thì không dám tâng bốc đâu.”
    Tịch Tà thấy chữ viết trên áng văn còn mới tinh, chắc là mới vừa viết, bèn nói: “Chẳng lẽ trưa nay Hoắc Viêm này nộp bài thi xong đi ra lại viết áng văn này rồi dán ở đây? Đúng là kẻ tài hoa, tôi rất muốn dùng anh ta.

    Chỉ sợ anh ta dẫn đầu gây sự sẽ rước họa vào thân.

    Mùa xuân sang năm là thi hội rồi, lúc này tuyệt đối không thể sinh thêm thị phi được.”
    “Vâng, tôi sẽ lo liệu.”
    Đột nhiên nghe nha dịch trong nha môn quát lên, một đội người xông ra xua đuổi bá tính vây xem.

    Tịch Tà và Ngô Thập Lục không muốn gây sự nên lặng lẽ bỏ đi.
    Ngày hôm sau, Tịch Tà đã dẫn Khang Kiện và Tiểu Thuận Tử về kinh.

    Họ đến nha môn ty bố chính sứ chào tạm biệt Đổng Lý Châu trước.

    Đổng Lý Châu vội vã nói với hắn mấy câu rồi lệnh cho đám sư gia tiễn hắn đến bến đò.

    Người đi đường mang vẻ mặt hoang mang, chạy vội ra chung quanh, nhà buôn nhát gan thì vội vàng đóng mặt tiền cửa hàng.

    Thấp thoáng nghe tiếng người huyên náo ở trường thi, bầu không khí bất an đang lan tràn từ nơi đó ra cả Hàn châu.
    Khang Kiện kéo góc áo Tịch Tà, đưa mắt ra hiệu.

    Tịch Tà khẽ xua tay, lệnh cho cậu ta không được lên tiếng rồi chắp tay nói với sư gia của ty bố chính sứ: “Đã sắp đến bến đò rồi, xin sư gia về đi thôi.

    Các vị mang công vụ quan trọng trong người, bọn tôi cũng đau đáu nhớ nhà, không phiền các vị đưa tiễn nữa.”
    Người của ty bố chính sứ đều biết hôm nay có kẻ kết bè kết đảng gây rối nên không tiện ở lâu, bèn nói rằng: “Thuận buồm xuôi gió.” Rồi lập tức vội vã trở về.
    Khang Kiện nói: “Sư ca, chuyện này có cần tấu rõ để vạn tuế gia biết không?”
    “Không được.” Tịch Tà nói, “Chúng ta chỉ tới thu mua tơ lụa, lĩnh công việc bên trong, nếu nói nhiều một câu thì sau này sẽ nhiều thêm một tội.

    Quay về cứ bẩm rõ lại với hoàng thượng về chuyện của mình là được.”
    Tiểu Thuận Tử xách hành lý, ngắm đúng lúc ngồi xuống con thuyền buồm trắng, mới vừa ló đầu vào trong khoang thuyền, đá cất tiếng hoan hô: “Chị Minh Châu.”
    Chỉ thấy lông mày nàng thiếu nữ trong khoang thuyền đã mềm mại, sóng mắt lại trong, chính là Tống Minh Châu của quán thêu Hiệt Châu.
    Tịch Tà cười hỏi: “Cô nương cũng tới đưa tiễn à?”
    Minh Châu cười bảo: “Không phải.

    Công công muốn dẫn thợ thêu lên kinh nhưng tay nghề của người trong phường thêu Phúc Địa đó tầm thường cỡ nào chứ? Vào cung thể nào cũng khiến người ta chê cười Hàn châu không có ai.

    Tôi đã nói với Thường Trọng Nguyên rồi, muốn đi thì để tôi đi, nào đến phiên bọn họ?”
    Mấy ngày nay Khang Kiện và Tiểu Thuận Tử đã đến quán thêu Hiệt Châu nhiều lần nên đã thân thuộc với Minh Châu, biết tài thêu của nàng có một không hai trong thiên hạ lại thích sự dịu dàng sảng khoái của nàng, thấy nàng muốn lên kinh thì tất nhiên là mở cờ trong bụng, luôn miệng khen phải.
    Tịch Tà biết trong đó tất có nguyên nhân bèn gọi nàng ra đầu thuyền, thấp giọng hỏi: “Cô nương muốn làm gì đấy?”
    Minh Châu cười nói: “Cha tôi thấy Cửu gia một mình ở chốn hiểm nguy, Khương Phóng lại có nhiều chỗ không tiện.

    Mặc dầu võ công tôi không bằng Cửu gia và Khương Phóng, nhưng lại là con gái, lúc Cửu gia hết cách phân thân ở trong cung thì chắc chắn có thể giúp Cửu gia làm việc.”
    “Việc này không thể để cho ông ta tự quyết định được.

    Trong cung hết sức hung hiểm, nếu cô mà có bất trắc gì thì tôi biết ăn nói thế nào với cha cô? Cô lập tức rời thuyền, nói với cha cô là tôi xin nhận tấm lòng, không dám để cho cô nương mạo hiểm.”
    “Cha tôi đã biết Cửu gia sẽ không cho phép nên mới bảo tôi chờ trên thuyền.

    Cửu gia không cần nói với cha tôi đâu, lần này ra ngoài là do tôi tự nguyện.

    Ngô Thập Lục có bản lĩnh cao cường, biết ngài không dẫn tôi đi, chắc chắn sẽ nghĩ cách để con gái của ông ta là Ngô Thái Lân trà trộn vào cung để bảo vệ Cửu gia.

    Bây giờ cùng lắm Cửu gia chỉ phải hai người chọn một, chi bằng lúc này thuận tiện dẫn tôi đi đi.”
    Tịch Tà bảo: “Sao tính cha cô lại giống anh Thập Lục thế? Sợ sinh lắm con gái à? Không biết ngoan ngoãn ở nhà chọn rể chờ kết thông gia mà ai nấy đều muốn đưa đi mạo hiểm giết người.”
    Minh Châu nghe trong lời hắn có ý khinh mình là một cô gái, không khỏi tức giận nói: “Là con gái thì đã làm sao? Tôi thấy so với đám Ngô Thập Lục, Lý Song Thực chẳng kém cạnh gì, đàn ông bọn họ cả ngày tỏ vẻ hung thần ác sát mà vẫn chẳng phải là đối thủ của tôi.

    Chính ngài cũng đâu phải là đàn ông chính hiệu gì, sao cứ lấy ánh mắt tệ hại của họ mà nhìn người!”
    “Cái gì?” Tịch Tà nghe vậy tức giận đến mức run lên, giận quá hóa cười nói, “Miệng lưỡi cô đúng là sắc bén.”
    Minh Châu thấy hắn đã phát cáu thì cười nói: “Cửu gia đừng nóng giận, tôi thấy Cửu gia là một nhân vật lớn nên mới đi theo Cửu gia lên kinh.

    Nếu Cửu gia thấy tôi vô dụng thì hẵng khiến tôi về, không phải là xong rồi sao?”
    Khang Kiện và Tiểu Thuận Tử thấy bọn họ nói ở đầu thuyền một hồi lâu, đều đã mất kiên nhẫn.

    Nhất là Tiểu Thuận Tử, cậu chỉ mong Minh Châu đi cùng nên không nhịn được mà thúc giục: “Thầy ơi, người chèo thuyền lại hối kia kìa! Rốt cuộc chúng ta còn đi không ạ?”
    Tịch Tà đành cười nói: “Được, được, đi mau, đi mau! Còn không lái thuyền thì e cả con gái Ngô Thập Lục cũng muốn đi theo đấy.”
    Minh Châu hé miệng cười, thấp giọng nói: “Cảm ơn Cửu gia tác thành cho.”
    Tịch Tà nói: “Sau này tuyết đối không được lọt ra hai chữ ‘Cửu gia’ nữa.

    Nếu cô có lòng thì cứ gọi Lục gia.”
    “Vâng thưa Lục gia.”
    Chỉ nghe Tiểu Thuận Tử nhảy cẫng lên hoan hô, kéo tay Minh Châu hỏi han hết sức thân mật.

    Khang Kiện thấy Tịch Tà lắc đầu cười khổ thì hỏi: “Sư ca than thở gì thế? Cô nương Minh Châu hiền lành lanh lẹ, dọc đường có thêm bạn đồng hành, đâu đến mức khiến sư ca khó xử như vậy.”
    Tịch Tà cười nói: “Có một mình Tiểu Thuận Tử đã không được yên tĩnh rồi, có thêm Minh Châu một hỏi một đáp thì e chưa tới Ly đô đã ép anh nhảy thuyền rồi.”
    Đoạn đường này lên sông Tố, dọc đường dùng người kéo thuyền nên tốn thêm ba ngày so với lúc tới.

    Ở cửa khẩu Song Long vòng vào sông Ly, Ly đô đã lọt vào tầm mắt.

    Sắc trời đã tối, mọi người e cửa cung khóa rồi nên không đi vội mà cửa Vọng Long để lên bờ, ở dịch quán trước.

    Sớm hôm sau, sau khi lệnh cho Tiểu Thuận Tử với Minh Châu ở bên ngoài cửa cung chờ chỉ, Tịch Tà mang kiếm Tĩnh Nhân giao cho Khương Phóng cất giữ rồi mới cùng Khang Kiện tới bên ngoài cung Càn Thanh xin gặp để báo cáo.

    Sau khi nghe ngóng mới biết được hôm nay hoàng đế không có buổi chầu sớm, đã qua cung Từ Ninh thăm hỏi.

    Hai người đều nói vừa hay rồi lại vội tới cung Từ Ninh.
    Thái hậu và hoàng đế nghe thấy họ tấu lại thì đều rất đỗi hài lòng, xem lụa Tiểu Hàn thắng trong cuộc thi lần này do Tịch Tà mang về xong, thái hậu bèn nói: “Trong vài chục năm nay, thủ công mỹ nghệ của Hàn châu đã có tiến bộ rất lớn đấy, các ngươi làm rất khá.”
    Tịch Tà thưa: “Lần này đến Hàn châu, chúng nô tỳ có một thu hoạch bất ngờ.

    Thì ra đồ thêu ở Hàn châu không hề tầm thường.

    Lần này nô tỳ tự quyết định mang về một thợ thêu.

    Đồ thêu của cô gái này quả thật có thể coi là ‘người có một không hai trong nước’ đấy ạ.”
    Thái hậu cười bảo: “Trong cục Châm Công các ngươi cũng có thợ thủ công già dặn hơn ba mươi năm rồi, ngươi thấy cũng không bằng cô ta à?”
    Khang Kiện nói: “Nô tỳ từng thấy hàng thêu của cô ấy, quả thật xứng với hai chữ ‘thợ trời’.

    Mười lăm tháng Tám lần trước bố chính sứ Đổng Lý Châu của Hàn châu mở tiệc rượu, trong bữa tiệc có người mang một tấm bình phong chín cánh của cô ấy ra, ra giá đã sáu ngàn lượng rồi.”
    Hoàng đế cười hỏi: “Cái gì? Sáu ngàn lượng?”
    “Vâng, mọi người trong tiệc đua nhau yết giá tranh mua, nếu không có Đổng Lý Châu ra giá một vạn lượng mua trước thì chỉ sợ cuối cùng không biết phải lấy giá nào để mua.”
    Hoàng đế đột nhiên biến sắc bảo: “Đổng Lý Châu lấy đâu ra số bạc này mà dễ dàng tiêu một vạn lượng mua một tấm bình phong như thế?”
    Khang Kiện biết mình đã lắm lời, vội thưa: “Nô tỳ không biết việc ấy.”
    Thái hậu nói: “Đã vậy thì ta phải gặp cô nương này.”
    Tức thì có người truyền chỉ ra ngoài cửa cung gọi Minh Châu.

    Minh Châu tới điện cung Từ Ninh, miệng xưng dân nữ rồi dập đầu hành lễ.

    Thái hậu thấy nàng thanh tú thì nói với Hồng Tư Ngôn: “Cô nhìn cô nương này xem có giống phong cách của Đoàn Thời phi ngày trước không.”
    Hồng Tư Ngôn nói: “Đúng ạ, nô tỳ cũng thấy không giống người Trung Nguyên.”
    Minh Châu bẩm: “Thái hậu quả là nhìn rõ mọi việc.

    Dân nữ có cha là người Đại Lý, hai mươi năm trước chuyển nhà đến Hàn châu.

    Minh Châu hơn một tuổi đã đến Trung Nguyên định cư, không còn nhớ chuyện của Đại Lý nữa rồi.”
    Thái hậu nói: “Thảo nào, công chúa Đại Lý đến cung trong Trung Nguyên trước kia cũng khéo tay, giỏi việc nữ công như thế.

    Nghe nói một món hàng thêu của ngươi đáng giá ngàn vàng, có việc này chăng?”
    “Dân nữ chẳng qua chỉ tốn thêm chút công sức, may được bà con Hàn châu cổ vũ, sao dám xưng là một món ngàn vàng?”
    Thái hậu quay đầu lại hỏi Tịch Tà: “Không biết cô nương Minh Châu này có mang đồ thêu vào cung không? Ta muốn xem thử.”
    Tịch Tà cười nói: “Chỗ nô tỳ thì không có nhưng có lẽ bản thân Minh Châu có mang theo vài thứ.”
    “Đúng ạ.” Minh Châu nói, “Dân nữ vội thêu một món, vốn muốn dâng lên cho thái hậu, chỉ sợ không hợp quy củ trong cung nên không dám lấy ra.

    Nếu thái hậu đã hỏi đến thì mời thái hậu đánh giá.” Nói đoạn nhận lấy bọc đồ của mình từ trong tay Tiểu Thuận Tử, mở một bộ xiêm la trăm chin chầu phượng ra.
    Trên điện bỗng như trong cảnh xuân nhẹ nhàng, hương hoa tỏa ra khắp nơi, như có trăm con chim líu lo bên tai, phượng vàng sáng trong lượn quanh xà nhà.

    Thái hậu hít vào một hơi và nói: “Thật tuyệt diệu!” Rồi vội vàng rời chỗ tới gần quan sát, lập tức có bốn cung nữ tới giơ xiêm la ra hộ.
    Tịch Tà nói: “Nô tỳ chưa từng thấy chiếc xiêm la này, nay cũng phải nghẹn họng nhìn trân trân.”
    Hồng Tư Ngôn cười bảo: “Nếu thái hậu thích thì cứ mặc thử vào trước đã.”
    Minh Châu hầu thái hậu khoác lên, mặc lên người bộc lộ hết mỗi một bông hoa một nhánh cỏ, mỗi một sợi lông một cái cánh, phượng vàng quấn thân, trăm chim lượn quanh lưng, hoa lệ xán lạn, ung dung khôn kể.
    Thái hậu đưa tay nhấc ống tay áo lên nhìn kỹ hoa văn trên tay áo, chỉ thấy lông nh** h** đều được làm cẩn thận đến từng phân từng hào, hai mắt của lũ chim đều đen nhánh sáng ngời tựa như thấm đẫm vẻ xuân.

    Bà bước chậm tới trước gương, giơ cánh tay ra chậm rãi xoay người, chim bay hoa nở này dường như vờn bay theo gió, múa lượn khắp phòng theo thân mình, càng bật lên dung mạo đẹp đẽ, dáng người tuyệt vời của bà, mặc dù tuổi đã quá tứ tuần vẫn có thể khen ngoại hình nghiêng nước nghiêng thành.
    Thái hậu nhìn người trong gương, chợt thở dài, nói: “Nếu ngày ấy mà mặc quần áo như vậy rồi cùng anh Mai múa một khúc chia tay thì thế nào đây?” Bà xoay người lại cười bảo, “Ắt hẳn hoàng đế sẽ cảm thấy mẫu hậu người lớn tuổi rồi mà vẫn như trẻ con thấy quần áo mới thì càng không có triển vọng.”
    Hoàng đế cũng làn lần đầu trông thấy thợ trời, kinh ngạc đến mức hoa mắt mê man, chỉ nói: “Không dám ạ.” Khiến thái hậu và Hồng Tư Ngôn đều cười rộ lên.
    Thái hậu bảo Minh Châu: “Ngươi tới để làm đồ cưới cho công chúa, trong nhà còn có cha mẹ anh em nên không ai dám giữ ngươi cả đời, chỉ mong ngươi dạy bảo đám vụng về ở cục Châm Công kia để mắt ta đỡ phải trông thấy mấy thứ dung tục là đã tốt lắm rồi.”
    Hoàng đế cười nói: “Lời ấy của thái hậu cũng mắng rốt cả Tịch Tà rồi, sớm biết tự rước lấy nhục thì cần gì mang Minh Châu vào cung?”
    Thái hậu nói: “Nó là đứa trẻ ngoan, trong lòng còn nhớ tới chủ, biết dốc lòng làm việc, hoàng đế phải thưởng cho nó đấy.”
    Tịch Tà bèn vội vàng tạ ơn.

    Minh Châu thì dịu dàng dập đầu tâu: “Thái hậu hoà nhã từ bi, dân nữ nguyện ở trong cung hầu hạ thái hậu cả đời.”
    Tất nhiên là thái hậu và hoàng đế đều khen ngợi không ngớt, chỉ có Tịch Tà biết lời ấy của nàng ám chỉ điều gì, chỉ đành cười khổ theo mọi người.
    Thái hậu lại hỏi sắp xếp cho Minh Châu thế nào, Tịch Tà trả lời: “Suy cho cùng thì Minh Châu không thể về cục Châm Công của nội giám, nô tỳ thấy nên ở cục Thượng Công[2], đợi sau khi công chúa lấy chồng còn có thể dạy dỗ việc học nữ công trong cung.

    Sở Bắc Ngũ vẫn còn phòng trống, gần ngay viện Cư Dưỡng nô tỳ đang ở.

    Bởi vì nàng tới từ dân gian, nô tỳ sợ nàng không biết lễ nghi, thất lễ trước mặt các vị chủ nhân nên xin để nô tỳ giám sát trước đã.

    Vả, nơi đó cũng gần cục Châm Công, mọi việc thuận tiện.”
    [2] Một trong sáu cục của nữ quan, cai quản việc may vá, quản lý vàng bạc châu báu, lụa là gấm vóc…
    “Rất tốt!” Thái hậu nói, “Cục Thượng Công còn có ghế trống, nay phong Minh Châu làm nữ quan chưởng chế của cục Thượng Công.”
    Minh Châu lĩnh chỉ tạ ơn đi ra.

    Tịch Tà cười nói: “Thế cũng tốt, cô vừa bào đã là nữ quan chính bát phẩm, tôi còn phải gọi cô là đại nhân rồi.”
    Minh Châu hừ một tiếng nói: “Tôi hiếm lạ hay sao?”
    Cát Tường trước cửa đưa mắt ra hiệu với Tịch Tà, thấp giọng nói: “Em mau mau về viện Cư Dưỡng đi.”
    “Chuyện gì thế ạ?”
    Cát Tường không tiện nói nhiều, chỉ lắc đầu.
    Tịch Tà không kịp sắp xếp cho Minh Châu, dẫn nàng và Tiểu Thuận Tử vội về viện Cư Dưỡng, vừa lúc đụng phải Như Ý đang đi ra, trông thấy Tịch Tà thì kéo hắn lại và nói: “Em trở về thật đúng lúc, trễ nữa là không gặp được đâu.”
    “Khu Ác?” Tịch Tà giật nảy mình, chạy vội tới buồng đông, thấy Khu Ác hấp hối, sắc mặt tái xanh, hai mắt hãy còn mở to, nhìn thấy Tịch Tà vẫn miễn cưỡng cười nói: “Em về rồi, không ngờ anh em ta còn có thể gặp mặt lần nữa.”
    Tịch Tà vội nói: “Lúc em đi vẫn còn yên lành, sao giờ lại thế?”
    “Chân anh mưng mủ không chữa được, vận lộn hơn một tháng, nay không chịu nổi nữa rồi.”
    “Thái y đâu? Họ không đến xem à?”
    “Tới rồi.” Khu Ác cười bảo, “Họ còn nói nội thương của anh chưa lành.

    Mẹ nó, chẳng có câu nào hay cả.” Lời lẽ của Khu Ác vẫn mang vẻ phố chợ, hễ nóng nảy là lại bật ra lời lẽ bẩn thỉu.

    Y đảo mắt nhìn lên nhìn về phía cửa rồi nói, “Úi, xin lỗi, ở đây còn có khách nữ cơ đấy.”
    Tịch Tà nói: “Đây là thợ thêu em mang tới từ Hàn châu, tên Minh Châu.”
    Khu Ác bảo: “Trước nay em làm việc đều có ý sâu xa, cô nương này cũng chẳng phải nhân vật đơn giản.” Nói đoạn vẫy tay với Minh Châu, xem xét cẩn thận rồi bảo Minh Châu, “Cô nương, tôi được thầy gửi gắm, vẫn luôn che chở cho người sư đệ này.

    Tôi không được nữa rồi, từ rày cô chăm sóc thay tôi có được không?”
    Minh Châu thấy y sắp chết mà suy nghĩ vẫn nhanh nhạy, tự nhiên như thường thì vô cùng kính phục, cười nói: “Ngũ gia yên tâm, cứ giao cho tôi.”
    Khu Ác cười “ha ha” rồi mơ màng thiếp đi.
    Bỗng chốc đã sắp vào đêm, vẻ mặt Tịch Tà càng thêm nghiêm trọng, siết chặt hai tay, canh giữ ở trước giường Khu Ác.

    Chợt nghe Khu Ác hừ một tiếng, chậm rãi tỉnh lại thì vội vàng dâng nước lên, cảm thấy da thịt chạm vào tay nóng hầm hập, biết Khu Ác sốt cao không ngừng thì trong lòng không khỏi nóng như lửa đốt.
    Khu Ác vịn tay hắn uống mấy ngụm nước xong thì đã tỉnh táo hơn một chút, nhìn Tịch Tà nói: “Em sáu, đêm nay hai ta vĩnh biệt, anh có mấy chuyện nhất định phải nói.”
    Tịch Tà biết lúc này có an ủi nhiều hơn nữa cũng vô dụng, bèn bảo: “Sư ca cứ việc nói, em đang nghe đây.”
    Khu Ác gắng gượng phục hồi tinh thần, nói: “Ta làm anh em đã chín năm, anh đối đãi với em như anh em ruột của mình.

    Trong bảy anh em cùng thầy, tình cảm giữa hai ta là tốt nhất, anh cũng hiểu rõ con người em nhất.

    Tuy mấy năm nay thầy toàn dạy em mánh khóe nham hiểm độc ác, nhưng anh biết em là người thiện nhân.

    Mặc dầu trước đây anh không biết em đã kết mối thù gì với thái hậu, song vẫn muốn khuyên em, thù hận không làm người khác tổn thương được đâu, mà lại làm tổn thương chính mình đấy.”
    “Sư ca…”
    “Em hãy nghe anh nói hết đã.

    Thói đời luân hồi, có tiền căn mới có hậu quả, thù hằn không báo xong được đâu.

    Sư ca sắp chết rồi, em từng nói muốn thái hậu đền gấp bội, nhưng mạng người chỉ có một, em có thế để bà ta chết hai lần ư? Em báo thù trên người con trai ruột của bà ta, bọn họ lại thù oán em thế nào? Phải nói tình cảnh bây giờ của sư ca không thể oán hận thái hậu, muốn hận thì người sư ca hận chắc chỉ có thầy thôi.

    Thầy khiến anh tàn phế, lại lấy em trai em gái anh ra uy h**p, muốn anh làm thế thân cho em.

    Nhưng thầy lại dốc túi truyền dạy cho anh, lúc nào cũng che chở, từ nhỏ anh đã không cha không mẹ, thầy đãi chúng ta như cha mẹ ruột, còn khiến anh em ta làm lại từ đầu, trong lòng anh vẫn cảm kích thầy muôn phần.

    Nay chắc thầy đã ở dưới suối vàng chờ anh rồi.” Khu Ác nói rồi không nhịn được mà cười một tiếng, “Năm đó thầy nói nhận bảy trò mới là thái giám Thất Bảo danh xứng với thực, nếu thấy đêm nay anh đi, nhất định sẽ trách anh chết sớm, hại sau khi thầy qua đời đã nhanh chóng biến thành thái giám Lục Bảo như vậy, ha ha.”
    Tịch Tà nhớ lại tình cảnh vào cung năm đó, vẫn buồn đau như bị dùi đâm đến mức mình trăm lỗ ngàn khe, trong chốc lát nói không nên lời.
    “Lúc phải dừng tay thì dừng tay.

    Em sáu à, chỉ nghe một câu của sư ca thôi, đừng làm việc quá tuyệt tình, đến lúc đó sẽ hối hận đấy.”
    Tịch Tà nói: “Sư ca, lời anh nói đều đúng, nhưng nay em chỉ cảm thấy lòng đầy thù hận không chỗ phát tiết, như thể có một lưỡi dao sắc sắp tuốt khỏi vỏ từ trong thân thể thì dừng tay thế nào được?”
    Khu Ác thản nhiên cười nói: “Anh không trông mong em đồng ý với anh ngay bây giờ, em cứ nhớ kỹ là được.”
    Minh Châu bưng chén cháo vào thăm bệnh, bưng đến trước mặt Khu Ác, đút cho y ăn.

    Khu Ác cười ăn hai miếng, đột nhiên sặc ra một ngụm máu lớn, phun vào làm cháo trắng như tuyết trở nên đỏ thẫm, không cầm được cố hết sức dựa vào gối, nhìn Minh Châu mỉm cười nói: “Cô nương, cô thật giống em gái tôi.” Dứt lời ánh mắt dần dần tan rã, mỉm cười tắt thở dưới ánh nến.
    Tuy Minh Châu chỉ ở chung một ngày với y nhưng biết lòng dạ y lương thiện, rất hào hiệp nên trong bụng cũng vô cùng thương xót, đang muốn an ủi Tịch Tà, đã thấy khuôn mặt trong suốt của hắn lạnh lùng không một giọt nước mắt, lẩm bẩm nói: “Sao anh không hận em, vì sao không hận em? Em gái, em trai anh đã bị thầy giết diệt khẩu lâu rồi, anh còn đãi em như anh em ruột làm cái gì!” Sau đó đẩy Minh Châu, tông cửa xông ra.

    Khu Ác vừa chết, lập tức có người cấp báo cho cung Từ Ninh biết.

    Hồng Tư Ngôn thấy thái hậu đã đi ngủ nên thấp giọng cho người đó lui, hơi do dự một lát nhưng vẫn nhẹ nhàng đánh thức thái hậu.
    “Có chuyện lớn gì à?”
    Hồng Tư Ngôn nói: “Không phải là chuyện lớn ạ.

    Nửa canh giờ trước, Khu Ác đã chết rồi.”
    Thái hậu ngẩn ra, miễn cưỡng nói: “Một tên nô tài chết mà cũng phải báo cho ta biết lúc nửa đêm à?”
    “Dạ.” Hồng Tư Ngôn nói, “Nô tỳ l* m*ng, mời thái hậu tiếp tục nghỉ ngơi.” Bà ta thấy thái hậu trầm mặc không nói gì thì, cắn môi tùm chặt chăn gấm rồi ngồi xuống bên giường của thái hậu mà thở than, “Nay lời thề độc năm đó của cô nương đã ứng nghiệm rồi, người nhà họ Nhan đều đã chết hết, không còn nỗi lo về sau, con trai ruột của mình lại là ngồi ở ngôi cửu ngũ, còn có điều gì không như ý nữa?”
    Thái hậu nhìn Hồng Tư Ngôn, cười bảo: “Từ khi ta theo tiên đế đã không sống được một ngày như ý rồi, dẫu tất cả người nhà họ Nhan đều bị ta trù chết thì làm sao ta có thể vui vẻ được? Năm đó hạ chiếu giết cả nhà hắn, ta lại đau đớn tột cùng, thà rằng mình chết đi còn hơn.

    Khu Ác còn ở trên đời, ta cảm thấy có người đời sau của hắn ở trong cung, đợi đứa bé kia đến báo thù thì lại còn có chút hi vọng.

    Nay dưới trời xanh trong cõi dương gian đã không còn dây mơ rễ má gì đến hắn nữa, ngay cả giọt máu cuối cùng của hắn cũng tan thành tro bụi thì cung điện giá băng này còn có thứ gì đáng để ta vướng bận nữa?”
    Hồng Tư Ngôn thấy bà nói đau khổ thì vội nói: “Thái hậu còn có hoàng đế mà.”
    “Tĩnh Nhân đụng phải chuyện của ta ở Thượng Giang, bây giờ trong lòng tất đang hận ta, vội vã muốn trừ Đỗ Mẫn.” Thái hậu thu lại sự xót xa trong mắt, ánh mắt bỗng trở nên sắc bén, nói, “Vốn tưởng Tịch Tà rời cung là để làm chuyện này cho hoàng đế, mới đặc biệt phái Khang Kiện theo dõi, không ngờ lại là Khang Kiện lắm miệng bẩm báo, đúng là đứa nô tài vô dụng.”
    Hồng Tư Ngôn khuyên nhủ: “Khang Kiện còn nhỏ, dầu gì cũng là học trò của Thất Bảo, nô tỳ thấy học trò Thất Bảo đều cũng không tệ, thái hậu đừng vì tức giận trong chốc lát mà làm lỡ mất nhân tài này.”
    “Cô nói không phải không có lý, chỉ sợ anh em chúng trăm miệng một lời, đều đi tâng bốc hoàng đế.

    Đợi hoàng đế hoàn thành mọi việc, chúng sẽ làm mưa làm gió thì sẽ biến thành mối họa.”
    Hồng Tư Ngôn cười nói: “Một nội thần nho nhỏ mà thôi, sao phải sợ hắn lật tung trời chứ?”
    Thái hậu đột nhiên hỏi: “Cô cảm thấy Tịch Tà thế nào?”
    Hồng Tư Ngôn suy nghĩ một lát rồi đáp: “Nô tỳ thấy điệu bộ của hắn từa tựa Thất Bảo, đều cẩn thận từng li từng tí, không chịu nói hơn một câu.”
    Thái hậu gật đầu nói: “Ta đoán Thất Bảo đã truyền hết y bát[3] cho hắn đấy.

    Đó cũng là một nhân vật, cũng may lúc này tuổi tác còn nhỏ, chưa ra thể thống gì.”
    [3] vốn chỉ áo cà sa và cái bát mà những nhà sư đạo Phật truyền lại cho môn đồ, sau này chỉ chung tư tưởng, học thuật, kỹ năng… truyền lại cho đời sau.
    Hồng Tư Ngôn than thở: “Chỉ sợ tuổi tác quá nhỏ, không hiểu chuyện thôi ạ.

    Bao năm nay trong cung, thái giám nhỏ có mặt mày thanh tú đều sẽ kề cận hoàng đế, chưa có ngoại lệ.

    Hoạn quan mê hoặc chủ nhân luôn không phải số ít.

    Nô tỳ chỉ sợ hắn quá gần gũi hoàng đế thôi.”
    Thái hậu cười nói: “Nay lòng dạ Tĩnh Nhân đều đặt ở việc chính trị, cô cứ việc yên tâm đi! Tối nay ta còn thấy nó canh cánh chuyện Đổng Lý Châu trong lòng kia kìa, chỉ sợ ngày mai sẽ có hành động đấy.”
    Ai ơi nhớ lấy câu này, reup không khéo có ngày rụng răng.
    Ngay từ đầu hoàng đế chỉ nghi Đổng Lý Châu có hành vi tham ô vơ vét của cải, đang muốn sai người điều tra, không ngờ hôm sau lại truyền đến tin tức tú tài Hàn châu kết thành bầy để gây chuyện, kích động dân biến.

    Cùng ngày đã có Thành Thân vương Cảnh Nghi, thái phó Lưu Viễn cùng dâng sớ hạch tội bố chính sứ hàn châu là Đổng Lý Châu và tri phủ Hàn châu mao Trăn.

    Điều càng làm hoàng đế nổi trận lôi đình là Đổng Lý Châu không đàn áp được cục diện lại xin trợ binh từ Đông vương Đỗ Hằng.

    Cũng may học sinh gây rối, không nên trò trống gì, lại có các giới nhân sĩ đức cao vọng trọng, có thế lực đi ra hòa giải nên sau khi náo loạn hai ngày thì gió êm sóng lặng, cuối cùng không để cho Đổng Lý Châu làm ra việc dẫn sói vào nhà.
    Còn về việc cầu Trường Hồng sụp khiến nhiều người chết và bị thương, nếu không có học sinh náo loạn một hồi để lọt ra thì e Đổng Lý Châu sẽ giấu giếm không báo, hoàng đế sẽ không biết đầu đuôi.

    Hoàng đế bèn bàn bạc với Thành Thân vương và Lưu Viễn ngay, xem phái người đến Hàn châu điều tra thế nào.
    Hoàng đế nói: “Lần này người đi mang trách nhiệm trọng đại, nếu cũng là một tên tham ô trái pháp luật thì bảo triều đình ăn nói thế nào với dân chúng Hàn châu?”
    “Tiến cử người hiền không tránh kẻ thân thiết.” Lưu Viễn nói, “Thần có học sinh Miêu Hạ Linh, là thiêm đô ngự sử[4] của viện Đô Sát[5], là người thanh liêm tự trọng, cương trực không a dua nịnh bợ, có thể đảm đương trách nhiệm nặng nề này.”
    [4] Trong viện Đô sát, quan viên phục trách chính là hai người tả, hữu đô ngự sử (nhị phẩm, ngang hàng thượng thư), hai người tả, hữu phó đô ngự sử (chính tam phẩm), sau đó là bốn người thiêm đô ngự sử (chính tứ phẩm)
    [5] Triều Minh đổi đài Ngự sử thành viện Đô sát, cấp bậc ngang sáu bộ, lo việc giám sát, hạch tội và kiến nghị, cùng với bộ Hình, Đại Lý tự kết hợp thành tam pháp ti, nếu có vụ án trọng đại thì ba cơ quan tư pháp này sẽ cùng thẩm tra.
    Hoàng đế nói: “Người mà thái phó tiến cử ắt không tệ, chỉ mong có một phần mười lòng trung và sự thanh liêm của thái phó là trẫm đã yên lòng rồi.” Đoạn lập tức sai người ta viết chỉ thăng Miêu Hạ Linh làm phó đô ngự sử của viện Đô sát, đi tuần Hàn châu, lập tức khởi hành điều tra bố chính sứ Hàn châu Đổng Lý Châu và tri phủ Hàn châu Mao Trăn, truy bắt học sinh gây rối ở địa phương.
    Đợi hai người xin cáo lui rồi, hoàng đế lập tức cho đòi Tịch Tà hỏi chuyện.
    “Khanh ở Hàn châu mà sao lại không biết chuyện lớn như vậy? Cớ sao trở về không tâu rõ cho trẫm biết?”
    Tịch Tà cười nói: “Chính vì là chuyện lớn nên không cần nô tỳ tâu lại hoàng thượng cũng sẽ biết, cần gì vội vã nói ra làm người ta chú ý?”
    “Lời này của khanh lại đang ám chỉ kẻ nào đấy?”
    Tịch Tà nói: “Lần này đến Hàn châu, một mình nô tỳ là đủ rồi, cớ sao thái hậu còn phái Khang Kiện đi cùng ạ? Hoàng thượng nghĩ cẩn thận là sẽ biết thái hậu nương nương không yên lòng khi để một mình nô tỳ đi, cho nên khi về nô tỳ thực sự không dám nhiều lời.”
    Hoàng đế gật đầu nói: “Nơi đây chỉ có hai ta, khanh cứ nói hết những gì trẫm không biết đi.”
    Tịch Tà thưa: “Trong đó còn có một ẩn tình.

    Lúc nô tỳ ở Hàn châu đang kiểm kê lại tơ mới thượng hạng trên thị trường năm nay thì phát hiện thiếu mất sáu phần so với năm trước, phần lớn đều để người ta tranh mua hết vào ba bốn ngày sau khi ý chỉ của triều đình được ban xuống.

    Nô tỳ nghĩ kẻ mua tơ này thạo tin, sức của hùng hậu, hơn nữa vừa chẳng ngại đến lúc đó số tơ mới này không có cách nào bán ra, vừa không sợ quan phủ hỏi tội đầu cơ tích trữ tội của mình.

    Vậy nhất định là Đổng Lý Châu lén mua chỗ tơ mới ấy, muốn đợi lúc dệt lụa Hàn cống nạp mới đem nó bán với giá cao cho quan phủ.

    Ông ta là quan lớn ở Hàn châu, ai dám không theo? Chỉ tiếc bạc trong quốc khố cứ chảy vào trong túi bên hông của ông ta một cách uổng phí như vậy.”
    Hoàng đế không khỏi giận dữ, nói: “Tên tham quan táng tận lương tâm này, bây giờ trẫm sẽ bảo Miêu Hạ Linh tra xét chuyện này luôn cả thể.”
    Tịch Tà cười nói: “Vạn tuế gia bớt giận! Nô tỳ lại có một biện pháp khác.

    Nay người trung thành tận tụy bên hoàng thượng không ít, nhưng nếu tương lai muốn đấu đá chính diện với đám phiên vương thì kẻ được dùng đều phải có bản lĩnh cơ trí hơn người.

    Chi bằng mượn cơ hội này thăm dò xem Miêu Hạ Linh này có thể làm được việc lớn hay không, xem tự hắn ta có thể điều tra ra chuyện này hay không.”
    Hoàng đế cười nói: “Trước kia khanh nói mình là một nhà âm lược, trẫm còn không tin, nay lại nhìn ra một chút rồi đấy.”
    Tịch Tà khom người cười nói: “Mắt vạn tuế gia sáng như đuốc.”
    Hoàng đế nhấp một ngụm trà, đột nhiên bảo: “Nghe nói Khu Ác chết rồi, ban đầu trẫm muốn khích lệ để khanh vui vẻ hơn, hôm nay trông thấy mới biết khanh đã nghĩ thông rồi.

    Như vậy cũng tốt.”
    “Làm nô tài, ai mà không bị đánh chửi đâu ạ? Số Khu Ác khổ, đi sớm cũng là chuyện tốt.”
    “Ồ.” Hoàng đế chậm rãi dời ánh nhìn đến đôi mắt của Tịch Tà.

    Vẻ ấm áp nhỏ nhoi trong mắt Tịch Tà đã mất tăm cùng Khu Ác rồi, một cơn băng giá thuần túy lạnh thấu xương đâm vào làm đau mắt hoàng đế.

    Thật giống một lưỡi dao sắc bén, khi nghĩ tới chỗ này, trái tim hoàng đế khó chịu như thể đập hẫng mất một nhịp vậy..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 6: 6: Thám Hoa Hoắc Liệu Nguyên


    Tháng Hai đầu xuân năm Khánh Hi thứ mười, Hoắc Viêm lên đường đến kinh thành thi hội.

    Tuy rằng thời tiết còn hơi căm căm, gió trên mặt sông cũng lớn, song dầu gì cũng là lần đầu tiên y ra ngoài kể từ tháng Chín năm ngoái tới nay nên trong lòng khoái trá tung tăng chạy tới đầu thuyền trông ra cảnh sắc hai bờ sông, mặc cho gió mạnh thổi áo bào bay phần phật.

    Trong khoang thuyền, hai anh đồng hầu đèn sách sợ lạnh, lớn tiếng nói: “Thiếu gia mau vào đi, bên ngoài gió lớn sẽ cóng người đấy, thế thì bọn tôi không biết ăn nói với bà chủ thế nào đâu.”
    Hoắc Viêm chỉ cảm thấy lời nói của hai anh “đồng” hầu hạ đèn sách lớn gấp đôi mình này không thú vị, mặt mũi thì khó ưa, chẳng muốn lý đến họ.

    Khổ nỗi đây lại l người làm lâu năm mà mẹ chọn riêng cho, trên danh nghĩa là người hầu, chẳng bằng nói là người giám thị thì càng thích hợp hơn.

    Y sợ về sau bọn họ nói bậy nói bạ ở trước mặt mẹ nên không dám l* m*ng, ngượng ngùng quay vào trong khoang, cười nói: “Sớm biết các anh lải nhải rách việc như thế thì tôi đã dẫn người khác đi rồi.”
    Hoắc Thụy đã đi ở ở nhà lâu năm nên biết tính tình hiền hòa của Hoắc Viêm, bèn cười nói: “Thiếu gia nói lời này thật là tội lỗi.

    Hai đứa già đầu chúng tôi không ở nhà làm quản gia mà đi theo thiếu gia ra ngoài lại còn bị oán trách.”
    Hoắc Tường cũng nói: “Việc này không thể trách chúng tôi được, là do thiếu gia hay gây họa nên bà chủ mới bảo chúng tôi đi cùng.”
    Hoắc Viêm sợ lát nữa bọn họ càng thao thao bất tuyệt nên ngắt lời họ, bảo: “Dạ dạ dạ, đều là tôi làm liên lụy các anh.” Trong lòng y biết rõ tai họa năm ngoái quá lớn nên lúc này cả nhà trông thấy y thì như chim sợ cành cong.

    Nếu y không phải lên kinh mưu cầu công danh thì e bà Hoắc vẫn không chịu cho y ra ngoài.
    Nguyên là mười lăm tháng Tám năm ngoái, Hoắc Viêm nộp bài thi sớm rồi ra khỏi trường thi, đắc ý trong bụng bèn uống rượu ăn mừng với mấy tay bạn thân, trong bữa tiệc bàn về tài tử Cao Tinh nổi tiếng ở huyện Đông Giang xấu số, không ngờ lại chết oan chết uổng ở cầu Trường Hồng, nếu không thì lần này chắc chắn sẽ tên đề bảng vàng, nở mày nở mặt cỡ nào.

    Hoắc Viêm cũng có gặp mặt Cao Tinh một lần, cũng thích vì anh ta thanh cao, tài hoa xuất chúng nên càng hận tên tham quan Đổng Lý Châu vơ vét mồ hôi nước mắt nhân dân một cách trắng trợn, còn xây một cây cầu nát hại chết người.

    Khi đó nhà họ Hoắc thấy xây cầu sửa đường là chuyện tốt hành thiện tích đức nên đã quyên góp vô số vàng bạc, ngờ đâu tất cả đều rơi vào túi riêng của bọn tham quan.

    Hoắc Viêm rượu vào thêm gan, vung tay một cái đã viết xong một bài văn lên tiếng phê phán Đổng Lý Châu, sai người dán trước nha môn phủ châu.

    Đợi họ sinh các nơi lục tục ra khỏi trường thi, nhao nhao hướng tới nơi này, mọi người còn trẻ nên nóng tính, càng nói thì lòng càng căm phẫn, lập tức quyết đình hôm sau tập hợp trước trường thi để đến trước nha môn ty bố chính sứ đồi lại lẽ phải.
    Hoắc Viêm lại uống thêm mấy chén, say quắc cần câu rồi dẫn gã sai vặt về nhà.

    Mới vừa quẹo đến một con đường nhỏ vắng vẻ, mấy người vạm vỡ xông ra từ hai đằng trước sau trong đêm tối, không nói gì, chỉ dùng một cái bao tải nhắm ngay đầu Hoắc Viêm mà chụp xuống, vác lên vai rồi tháo chạy.

    Gã sai vặt cả kinh thất sắc, đuổi theo mấy bước, bị người ta đá ngã, đợi bò được lên thì bọn giặc đã không thấy tăm hơi đâu nên chỉ đành chạy về nhà báo tin.
    Hoắc Viêm vốn tưởng toán giặc ấy chẳng qua là bọn bắt cóc, một ngày sau sẽ có người nhà đưa tiền tới chuộc, ngờ đâu lại bị nhốt liền nửa tháng.

    Tuy những kẻ này không làm khó y, vẫn có rượu thịt ăn uống, chỉ xích y ở trong thuyền, không hề có ý thả đi.

    Hoắc Viêm đã lường trước trong nhà lúc bấy e là đã long trời lở đất, lòng mẹ ắt như lửa đốt, song tính y ương ngạnh, không chịu nói lấy một câu xin tha.

    Một hôm bên ngoài thuyền có tiếng chém giết, không bao lâu sau có người mở cửa khoang thuyền ra, cúi đầu chui vào nói: “Công tử Hoắc có khỏe không?”
    Đó là người quen, chính là ông chủ lớn của cục Thừa Vận sông Hàn tên Ngô Thập Lục.

    Ông ta thấy y bèn cười nói: “Bà chủ nhà họ Hoắc muốn tôi cứu cậu về, bọn cướp kia đã chạy rồi, còn không mau mau đi theo tôi?”
    Về đến nhà, tất nhiên bà Hoắc rối rít cảm ơn Ngô Thập Lục rồi ôm Hoắc Viêm khóc rống một hồi mới đột nhiên căm giận nói: “Thằng súc sinh, để con gây họa ở bên ngoài, giờ học sinh gây chuyện đều bị phát lệnh truy nã rồi kia kìa.

    Nếu không cho con một bài học thì ngày sau nhà họ Hoắc gia tất sẽ bị con làm lụn bại hết.”
    Hoắc Viêm mới vừa thấy lời ấy kỳ quặc, bà Hoắc đã sai người dùng gậy đánh ập một trận.

    Từ đó về sau Hoắc Viêm không còn thấy ánh mặt trời, mỗi ngày bị bà Hoắc nhốt trong phòng đọc sách.

    Không lâu sau lại truyền tới tin triều đình phái người xuống điều tra Đổng Lý Châu, truy bắt học sinh gây chuyện.

    Hoắc Viêm thầm nghĩ ngày đó bài văn có thể gọi là thứ đầu sỏ gây tội là do mình viết, bất kể ra sao thì lần này không thể may mắn tiếp nữa, bèn ở nhà chờ quan sai tới cửa bắt đi.

    Ai ngờ bạn tốt mang tin tức tới bảo: “Ban đầu bài văn đó của anh Hoắc được cất ở ty bố chính sứ, tất nhiên khâm sai sẽ hỏi đến, Đổng Lý Châu bèn sai người mang tới, nào ngờ lật tung cả ty bố chính sứ cũng không tìm được cái vật chứng quan trọng này.

    Mạng anh Hoắc không đáng ngại thì tất có phúc về sau.” Quả nhiên một tháng sau Hàn châu gió êm sóng lặng, Đổng Lý Châu đã bị tịch thu tài sản và giam cầm.

    Khâm sai lại xem xét lại bài thi trong kì thi hương lần này, phàm là học sinh dẫn đầu gây chuyện thì đều lấy lại hết công danh, rồi lại chọn ra một trăm cử nhân.

    Bài văn của Hoắc Viêm đã tốt, lại không tham gia làm loạn nên đỗ giải Nguyên[1].

    Nhà họ Hoắc vui mừng phấn khởi, mở tiệc chiêu đãi khách.
    [1] Đỗ đầu kì thi hương.
    Trong này không thiếu Ngô Thập Lục được.

    Hoắc Viêm lặng lẽ nói với Ngô Thập Lục: “Ông chủ Ngô, lần này nhờ ơn ông cứu, tôi rất cảm ơn ông.”
    “Cậu giải Nguyên nói gì đấy! Trên mặt sông Hàn này đều là cái lờ bắt cá của tôi, đều là bà con với nhau, đuổi vài thằng giặc con thay cậu thì có xá gì.”
    Hoắc Viêm cười bảo: “Không phải việc này.

    Ông chủ Ngô vắt hết óc không cho tôi làm loạn, giữ công danh cho tôi mới có tôi hôm nay.

    Ơn lớn không lời nào cảm tạ hết được, ông cứ chờ tôi dập đầu hai cái với ông trước rồi lại nói.”
    Ngô Thập Lục kéo y lại và nói: “Gượm đã, sao lại nói thế? Cái gì mà làm loạn với không làm loạn?”
    “Tôi thích ông chủ Ngô thẳng thắn, đừng úp úp mở mở với tôi nữa.

    Ai mà không biết thế lực của ông trên mặt sông Hàn này? Muốn tìm được tôi thì hai ngày là đủ rồi, nào phải dùng tới mười ngày nửa tháng? Bà thân sinh ra tôi tính tình nhu nhược, tôi bị người ta trói đi nhiều ngày, đã quýnh muốn chết lâu rồi, còn đợi được tôi về mà đánh tôi mắng tôi cơ à?”
    “Hì hì!” Ngô Thập Lục xấu hổ cười, nói, “Cậu ciải Nguyên đúng thật thông minh.”
    Hoắc Viêm cười bảo: “Lúc đầu tôi cũng không mảy may nghi ngờ đâu, chẳng qua là tối hôm trước tôi đã bị trói đi, sao bà thân sinh ra tôi lại biết tôi gây họa bên ngoài cho được?”
    “Thì ra là bà chủ nhà họ Hoắc nói lỡ miệng.” Ngô Thập Lục bừng tỉnh, bảo, “Tôi chỉ sợ bà cụ bên nhà nôn nóng đến mất trí nên mới lặng lẽ nói cho bà ấy nghe, muốn bà ấy chớ nên sốt ruột, đợi tin tức bên ngoài qua rồi thì sẽ thả anh về.

    Ha ha, không ngờ một câu nói của bà ấy đã để lộ hết cả.”
    Hoắc Viêm nghiêm mặt nói: “Chỉ là tai vạ này là do tôi gây ra, nay tôi được vinh, những người khác lại bị tôi liên lụy.”
    Ngô Thập Lục nói: “Thanh niên các anh chỉ biết càn quấy, đang yên đang lành vì một Đổng Lý Châu nho nhỏ mà chôn vùi con đường sáng láng phía trước, đúng là không biết nặng nhẹ.

    Lúc đầu tôi cũng chẳng muốn lo chuyện của người đọc sách các anh, song chủ tôi quý anh là một nhân tài, sai tôi dốc sức giữ công danh cho anh, bằng không bây giờ anh ngồi đại lao mới biết lợi hại.

    Ngày sau anh tất sẽ làm quan trong triều đình, phải nhớ kỹ bài học lần này, trước khi làm việc, nhất thiết phải ngẫm nghĩ cho kỹ, bằng không thì tai họa về sau vô cùng vô tận đấy.”
    Hoắc Viêm nghe lời dạy của ông ta có lý, bèn nói: “Vâng, nay mới biết ông chủ Ngô chẳng những bản lĩnh cao cường mà còn hiểu việc lớn của quốc gia.

    Chẳng hay vị cao quý nào đã xin ông chủ cứu giúp?”
    Ngô Thập Lục nói: “Việc này không thể tùy tiện nói cho cậu biết được.

    Cậu chỉ cần thi hội cho tốt, tương lai làm quan cho tốt, coi như đã báo đáp được ân nghĩa của chủ tôi rồi.”
    Ngô Thập Lục nói xong thì định đi, Hoắc Viêm kéo ông ta lại hỏi: “Ông chủ, còn có chuyện này, có phải ông củ đã trộm bài văn của tôi ở trong nha môn ty bố chính sứ giúp thay tôi tiêu tai không?”
    Ngô Thập Lục cười: “Không thể tùy tiện nói lung tung lời như thế được đâu.

    Ngô Thập Lục này là dân lành trên đất Hàn châu, sao lại đi làm chuyện như thế?”
    Ngô Thập Lục không nói rõ nên tất nhiên Hoắc Viêm không đoán bừa nữa, cho đến hôm nay với y mà nói, đây vẫn là câu đố chưa được giải đáp.

    Lúc bấy không kiềm được quan sát bên ngoài từ trong khoang thuyền, thấy nước sông cuồn cuộn tạt vào trước mặt, không biết mình đang ở phương nao, chỉ tỏ tường rằng trên chiếc khóa vận mệnh quấn nơi cổ họng mình đang có một bàn tay vô hình nắm lấy, chỉ cần nhẹ nhàng kéo một cái thì mình đã không tự chủ được mà chạy vội về phía nó.
    Đến Ly đô rồi, sau khi nghe ngóng mới biết kì thi hội năm nay khác với năm trước, quan chủ khảo không phải thái phó Lưu Viễn mà là học sinh của lão là đô ngự sử viện Đô sát tên Miêu Hạ Linh, y cười nói trong lòng: “Người quen cũ đây rồi.” Năm ngoái kẻ phá án ở Hàn châu, còn chọn y đỗ giải Nguyên chính là tay ngự sử mặt sắt này.
    Miêu Hạ Linh nhờ chuyện tuần án Hàn châu đã thăng liền hai cấp, lại được hoàng đế tin một bề, chọn làm chủ khảo thi hội năm nay.

    Cử nhân các chốn đã nghe tiếng hắn ta từ lâu, đều biết hắn ta công chánh liêm khiết, làm việc nhanh nhẹn lợi hại, đều nói kỳ thi hội năm nay tất ngay thẳng, tuyển chọn người ưu tú nên cực kỳ yên tâm.
    Bên phía Miêu Hạ Linh thì như đi trên băng mỏng, trải qua một vụ án ở Hàn châu, hắn ta mới biết tai mắt của hoàng đế rất nhiều, cơ mưu sâu xa không như suy nghĩ trước kia của mình.

    Vừa từ Hàn châu trở lại, hoàng đế đã cho đòi Miêu Hạ Linh đến gặp một mình.

    Miêu Hạ Linh dâng tấu lên, bẩm tấu ngọn nguồn của vụ dân biến ở Hàn châu dựa vào sự thực, sau đó tịch thu gia sản của Đổng Lý Châu và Mao Trăn.

    Hoàng đế cầm tấu của hắn ta, khẽ mỉm cười nói: “Giờ phải đối chiếu đã.” Nói rồi lấy một bản liệt kê từ trong tay áo, lệnh cho thái giám Thượng bảo lĩnh sự Cát Tường đối chiếu từng hạng mục một, cuối cùng gật đầu nói: “Tốt, ngay cả khoản tiền mà Đổng Lý Châu mượn từ kho ra để tích trữ tơ mới cũng có, Miêu khanh chẳng những thanh liêm mà làm việc còn kỹ càng nhanh nhẹn, không phụ sự mong mỏi của trẫm.”
    Miêu Hạ Linh nghe vậy lại chẳng cảm thấy mừng rỡ chút nào mà ngược lại đầm đìa mồ hôi lạnh, lòng nghĩ mà thấy sợ, ngay cả ý chỉ thăng hắn ta làm đô ngự sử của viện Đô Sát của hoàng đế cũng không nghe, sau khi dập đầu hoảng sợ lui ra còn liên tục nói thầm trong lòng nguy hiểm thật.

    Thì ra tội trạng của đám quan viên Hàn châu như Đổng Lý Châu, Mao Trăn tham ô trái pháp luật là thật, Miêu Hạ Linh xin chỉ tìm và tịch thu gia sản của lũ quan mang tội có liên quan thì phát hiện vào đầu tháng Tám, Đổng Lý Châu mượn từ kho Hàn châu một mười hai vạn lượng bạc, thẩm tra đối chiếu chi tiêu trong phủ ông ta vào tháng Tám nhưng chưa tìm được đích đến của khoản tiền này, mười hai vạn lượng bạc không cánh mà bay.

    Miêu Hạ Linh là một kẻ tàn nhẫn, dù không thể thẩm vấn Đổng Lý Châu nhưng có thể đánh đập tra hỏi mấy tay sư gia của ông ta, dưới hình phạt nghiêm khắc mấy tay sư gia đều nhận Đổng Lý Châu mượn khoản bạc này mua đứt tơ mới thượng hạng trên thị trường Hàn châu, chỉ chờ lúc bắt đầu dệt lụa Tiểu Hàn để cống nạp thì lại đem các loại tơ mới ra bán cho quan phủ với giá cao, chỉ mua vào bán ra đã được mười mấy vạn lượng rồi.
    Mười mấy vạn lượng bạc trắng sáng loáng để ở trước mặt thì dù là ai cũng sẽ động lòng.

    Miêu Hạ Linh nghèo khốn đã lâu, chỉ nói chắc triều đình không biết việc này, lập tức nghĩ cách.

    Khi đang đắn đo suy xét, Lưu Viễn lại nghìn dặm xa xôi gửi thư đến, lời nói thành khẩn, cổ vũ hắn ta làm quan thanh liêm thì con đường phía trước sẽ thênh thang.

    Xưa nay Miêu Hạ Linh vẫn luôn kính phục ân sư Lưu Viễn, nhớ lại năm xưa mình chẳng qua chỉ là một anh học trò nghèo, văn vẻ cũng không quá mức xuất chúng, nhờ Lưu Viễn cảm thấy ngòi bút của hắn ta rất có khí khái, đưa hắn ta đậu tiến sĩ, lại cực lực tiến cử trước mặt hoàng đế, thế là lòng trở nên ấm áp, mới gạt bỏ suy nghĩ ban đầu.
    Ai ơi nhớ lấy câu này, reup không khéo có ngày rụng răng.
    Tinh mơ ngày mùng chín tháng Hai, Miêu Hạ Linh dắt chúng quan khảo thí vào trường thi, biết từ trước đến nay chuyện xui xẻo này khó mà gánh vác được, tuy hoàng đế còn trẻ tuổi nhưng không phải người chủ có thể lừa dối.

    Lòng mình thì như gương sáng, chỉ là không biết những người khác có chuyện vì tình riêng mà gian lận hay không, sau này sẽ liên lụy mình vào trong đó.

    Dầu hắn ta không yên lòng thế nào, cũng không dám nói bừa tình cảnh hôm gặp vua với mọi người, chỉ lệnh cho các quan khảo thí tụ tập lại, dặn đi dặn lại phải chọn học trò một các công chính, không phụ kỳ vọng của thánh thượng một lần nữa.
    Tảng sáng, bên này thì các thí sinh nối đuôi nhau vào bàn, bên kia thiên lao canh giữ cửa đường vòng.

    Một tiếng pháo nổ vào chính ngọ, vì là thủ phạm của vụ án ở Hàn châu mà hai gã quan có tội rơi đầu.

    Bỗng chốc triều đình và dân gian đều chỉnh đốn lại, chẳng những kính nể hoàng đế thêm vài phần mà còn làm trăm quan lại phải nhìn Thành Thân vương nhỏ xưa nay quen thói phong lưu song lần này lại không thể tha thứ mà tố cáo Đổng Lý Châu với cặp mắt khác xưa.
    Hoàng đế đã dâng lá cờ sát phạt, không ai dám ở lấy tính mệnh người thân ra nói đùa ở bước ngoặt này nên lần thi hội ấy thuận lợi công chính một cách lạ thường.

    Ngày hai mươi tháng Hai, Miêu Hạ Linh dâng danh sách một trăm cử nhân lên để hoàng đế đích thân xem.

    Thành Thân vương đã ngồi hầu ở bên cạnh, hoàng đế đưa danh sách cho y rồi nói: “Em xem đi.”
    Thành Thân vương nhìn kỹ một lần rồi gật đầu nói với Miêu Hạ Linh: “Không sai, mấy tài tử nổi danh ở địa phương đều có bên trong, chứng tỏ ông chọn công bằng.”
    Miêu Hạ Linh lại cả kinh, khom người nói: “Ngay cả cử nhân đến từ các địa phương mà Thành Thân vương cũng biết hết từng người, quả là hiểu rõ mọi việc.”
    Thành Thân vương cười nói: “Thế thì chưa chắc.” Đoạn lại xem danh sách lần nữa, hỏi, “Sao không thấy Hoắc Viêm mà ông cho đỗ giải Nguyên ở Hàn châu?”
    Hoàng đế cũng hỏi: “Lẽ nào văn không hay à?”
    “Không phải văn không hay ạ.” Miêu Hạ Linh cầm bài thi của Hoặc Viêm ra từ trong tay áo, nói, “Tài văn chương và cách nhìn nhận của y đều tốt, năm ngoái vì thế nên mới chọn y đỗ giải Nguyên.

    Nhưng sau đó thần nghe nói y chính là học sinh không an phận tham gia gây rối, chỉ là ty bố chính sứ không có chứng cứ bắt y, lúc ấy thần cũng rất hối hận.

    Đây là bài thi hội của y, kính mời hoàng thượng định đoạt.”
    Hoàng đế xem bài thi của Hoắc Viêm xong thì cười nói: “Đó là một người tài có ích, nếu Miêu khanh không có chứng cứ rõ ràng thì chớ phá hỏng công danh của y.”
    “Dạ, giờ thần sẽ sửa lại danh sách, cắt đi một người rồi thêm Hoắc Viêm vào.”
    Hoàng đế bèn bảo: “Không cần.

    Tuy nói từ trước chỉ lấy một trăm người, nhưng những học sinh này đều vất vả, nếu đã được khanh chọn thì có lẽ văn chương cũng ngang ngửa nhau, cần gì vì Hoắc Viêm mà làm lỡ tương lai của người khác?” Nói rồi đón lấy danh sách từ trong tay Thành Thân vương, tự mình nhấc bút thêm tên Hoắc Viêm ở cuối cùng.
    Miêu Hạ Linh dập đầu nói: “Hoàng thượng thánh minh, lòng dạ mênh mông nhân từ, là phúc của những cử nhân này, là phúc của thiên hạ xã tắc.”
    Hoắc Viêm đâu hay những ngoắt ngoéo này, sau khi yết bảng thì đến chào ân sư Miêu Hạ Linh rồi dạo chơi quanh Ly đô.

    Ly đô có chín nhịp cầu kéo dài khắp sông Ly, cảnh vật ở mỗi cây cầu đều khác nhau, tráng lệ vô song.

    Nếu đã tới, há có thể không nhìn ngắm? Hoắc Viêm không yên được một ngày, đi lung tung khắp chốn.

    Lúc bấy tiết rời còn lạnh, gió trên mặt sông lớn, y bị thổi mấy hôm, cuối cùng nhiễm bệnh.

    Thấy thi đình sắp tới, Hoắc Thụy và Hoắc Tường gấp đến độ xoay chung quanh, chỉ hận y không chịu ở yên, làm mình không biết ăn nói thế nào trước mặt bà chủ nên hễ trông thấy Hoắc Viêm thì mắt đều lộ vẻ dữ mà thở vắn than dài.

    Đảo mắt đã đến ngày thi đình mùng một tháng Ba, vừa sáng Hoắc Viêm đã dằn lòng uống hai chén thuốc giải nhiệt, mặc thêm một cái xiêm áo rồi gắng gượng đi vào thi đình.

    Trên đường đã đi qua nơi nào, gặp những ai, điện Thanh Hòa trông ra sao, thậm chí mình viết gì trong bài văn cũng không nhớ rõ, mơ mơ màng màng trở lại nhà trọ, đặt mình xuống là ngủ ngay.

    Y thầm nghĩ lần này xong rồi, chỉ mong bài văn xem tạm được, không có lời đại nghịch bất đạo đã may mắn lắm rồi.

    Đương lúc đần dại ra, chợt nghe tiếng bước chân chạy như điên, Hoắc Thụy đá tung cửa ra, gọi to: “Đỗ rồi, đỗ rồi, thiếu gia đỗ thám hoa rồi!”
    Hoắc Viêm nhảy phắt dậy từ trên giường, nhìn Hoắc Thụy cười ầm lên rồi ngã ngửa người về phía sau, bất tỉnh nhân sự.

    Trong khi hôn mê, y cảm giác có hai ngón tay lạnh như băng đặt ở trên cổ tay mình, có tiếng một lão già cười nói: “Không có gì đáng ngại, chàng thám hoa chỉ vì vui mừng quá nên mới ngất.

    Nay kê đơn thuốc rồi sắc theo thì đêm nay là có thể hạ sốt.

    Ha ha, ngày mai thám hoa còn phải vào điện vàng tạ ơn rồi đi diễu hành đỗ tiến sĩ, cơ thể mà không chăm sốc tốt thì không xong đâu.” Hoắc Viêm miễn cưỡng mở mắt ra, thấy một ông già mặc áo xanh khom người đứng dậy, một cậu trai người gầy gò xách cái hòm thuốc cho ông ta đi ra cửa.

    Chủ tiệm thì khom người chắp tay thi lễ, còn nói với Hoắc Thụy: “Đúng là chàng thám hoa! Kinh động đến cả thầy Trần thần y của thái y viện tới khám bệnh cho, ơn vua mênh mông cuồn cuộn, nhà trọ nhỏ này cũng được hưởng vinh.”

    Hoắc Viêm không tự chủ mà nhìn chằm chằm cánh tay trắng như tuyết của cậu trai kia, mãi đến hắn biến mất trong bóng tối ở hành lang ngoài cửa mới ngủ tiếp.
    Suy cho cùng cũng là thần y tiếng tăm lừng lẫy trong kinh thành, Hoắc Viêm mới uống một thang thuốc của thái y Trần Tương đã hết sốt cao.

    Lại uống thêm hai viên thuốc linh nghiệm bồi bổ hư nhược điều dưỡng tinh thần mà Trần Tương cố lòng để lại, tinh thần Hoắc Viêm phấn chấn hơn, mới có sức lực ứng phó lễ nghi phiền phức của hai ngày sau.
    Triều đình hết sức ân sủng tiến sĩ khóa mới, không chỉ hoàng đế ban tiệc ở chùa Quang Lộc rồi ban thưởng vô số mà ngay cả Thành Thân vương cũng mở tiệc ở vương phủ để chúc mừng họ.

    Từ lâu Hoắc Viêm đã nghe nói Thành Thân vương cũng là một người phóng khoáng, có tiếng không câu nệ tiểu tiết, thấy y răng trắng môi hồng, mắt mũi sáng trong, vẻ mặt ôn hoà, có phong phạm của hậu duệ hoàng thất thì càng ngưỡng mộ.

    Nếu không phải Thành Thân vương mang thân phận thân vương, còn phải cẩn thận tự trọng, thì đã có tiếng lãng tử giống y rồi, nói mấy câu với Hoắc Viêm đã cảm thấy vô cùng hợp ý.

    Trong bữa tiệc thân vương bàn luận trên trời dưới đất với các tiến sĩ, vẻ mặt phấn chấn.

    Mọi người còn trẻ, thấy vương gia ôn hòa thì đều ưa thích trong lòng, không hề gò bó.

    Uống rượu tới lúc say sưa, Thành Thân vương nói: “Thưa các vị, có rượu không khúc thì chẳng mất hứng lắm sao? Ở đây có cô đào đứng đầu kinh thành, mọi người hãy nghe một khúc của nàng.”
    Màn trúc đối diện phòng khách khẽ cuộn lên, một cô thiếu nữ ôm nghiêng tỳ bà, không thấy rõ mặt, chỉ thấy ngón ngọc của nàng khẽ vuốt, dây đàn tức thời chảy ra tiếng nước sắc hoa.

    Từng tiếng ca du dương mát rượi thấm lòng người chậm rãi vang tới, xuyên thấu vào cõi lòng Hoắc Viêm, y kinh ngạc đến mức mặt tái mét, đột nhiên đứng dậy, hai gò má lóe ra một màu như ánh lửa đỏ.

    Cô đào đó đang tình trông y, đôi mắt tím dập dờn như làn thu thủy, nhộn nhạo không ngừng.
    Truyện chỉ được đăng tại vongnguyetlau10.wordpress.com Ngoài ra đều là nơi ăn cắp.
    “Ty Giáo phường[2] nhiều đào kép như thế mà em không cần, cứ nhất định phải tìm cô ca nữ từ chốn ngõ liễu tường hoa tới.

    Viện Đô Sát đã có kẻ hạch tội em rồi đấy, em tự xem lại đi.”
    [2] Cơ quan quản lý âm nhạc thời xưa.
    Hoàng đế ném tấu sớ vào trong lòng Thành Thân vương.

    Thành Thân vương lật quan lật lại rồi cười nói: “Cô ca nữ này rất có tiếng ở kinh thành, người làm quen nhiều như vậy mà chỉ tố một mình thần là cớ làm sao? Vả lại chỉ tới góp vui chứ có cái gì quan trọng đâu ạ? Những tên đạo đức giả này không điều tra bè lũ tham quan thực sự, cho rằng tố cáo một thân vương rồi là có thể nổi danh, hoàng thượng cần bọn họ làm gì? Còn không bằng Khương Phóng sảng khoái hào phóng, hiểu thấu lòng thần.”
    “Em lại nói Khương Phóng làm cái gì? Dù rằng cô ca nữ kia do anh ta giới thiệu cho em cũng chỉ để vui chơi thôi, ai cho em lấy ra khoe khoang trong thời điểm coi trọng thể diện này? Em cứ mãi làm người ta phiền lòng thôi!” Hoàng đế không khỏi nhìn chằm chằm Thành Thân vương oán trách vài câu, “Tiến sĩ khóa mới bây giờ toàn là ngọc trắng không tỳ vết, cẩn thận những trò phong lưu của em dạy hỏng bọn họ đấy.”
    Thành Thân vương cười thưa: “Hoàng thượng coi thường những tay tiến sĩ khóa mới này rồi.

    Ngày ấy thám hoa khóa mới là Hoắc Viêm thấy cô ca nữ này thì hồn xiêu phách lạc, đứng dậy mà không để ý lễ nghi, ngay cả đũa rơi trên mặt đất mà cũng chẳng hay, cứ nhìn loạn thẳng vào nàng kia.

    Càng lạ là nàng kia cũng mày đưa mắt lại với y.

    Vừa hỏi phía dưới mới biết được trước đây hai người họ đã quen biết ở Hàn châu, nếu mẹ Hoắc Viêm không kiên quyết không cho phép thì e giờ đã là vợ bé của Hoắc Viêm rồi.”
    Hoàng đế không nhịn được cười nói: “Em thích nhất những chuyện thị phi này mà, cá mè một lứa với tay Hoắc Viêm này thôi.”
    Thành Thân vương vội tâu: “Vâng, hoàng thượng thánh minh! Nay thần tới chính là để nói hộ Hoắc Viêm.

    Nếu mẹ y không cho phép cô này vào cửa thì chi bằng hoàng thượng loại bỏ thân phận hèn mọn của nàng rồi ban hôn cho hai người họ.

    Hoắc Viêm là một nhân tài, sau việc này tất sẽ mang ơn hoàng thượng, từ rày còn sợ y không để hoàng thượng sử dụng nữa ư?”
    Hoàng đế nói: “Rất tốt, chi bằng lập tức soạn chỉ, em đi làm đi.” Bỗng nhiên hắn ta ngẫm nghĩ rồi lại hỏi Tịch Tà hầu hạ bên cạnh, “Khanh thấy thế nào?”
    Tịch Tà nói: “Ơn vua mênh mông cuồn cuộn, nô tỳ cũng mừng cho thám hoa Hoắc.

    Song, nô tỳ cảm thấy có chỗ không ổn.”
    Thành Thân vương nói: “Có chỗ nào không ổn, anh mau nói xem nào.”
    Tịch Tà nói: “Đây vốn là chuyện cực tốt nhưng lại dính dáng đến nơi xuất thân của nàng kia, bất kể thế nào vẫn không danh giá gì.

    Nếu chỉ bỏ thân phận thấp hèn của cô gái kia, Hoắc Viêm có thể đường hoàng cưới nàng vào làm vợ bé, với y mà nói đã có ít ơn huệ, chỉ cần y là kẻ hiểu chuyện thì vẫn sẽ mang ơn với hoàng thượng.

    Hoàng thượng ban hôn thì lại không hay.

    Chắc ở nhà Hoắc Viêm đã có vợ đầu, đến lúc ấy lại há chẳng phải làm loạn danh phận trong nhà y? Ngày sau lúc trọng dụng y lại cho triều thần khác một lý lẽ hạ thấp y, bên phía hoàng thượng thì sẽ không tránh khỏi việc có kẻ nói ngài chỉ muốn tốt cho bản thân mà không để ý đến phép cương thường trong thiên hạ, tạo ra một cái lệ không hay cho con cháu đời sau.

    Nô tỳ ăn nói l* m*ng, mong hoàng thượng thứ tội.”
    Thành Thân vương gật đầu lia lịa, đáp: “Anh nghĩ chu đáo hơn ta, vậy mới ra dáng.” Nói rồi nhướng mày bảo, “Có điều khó xử là thần đã bằng lòng với Hoắc Viêm rồi, hoàng thượng thấy nên nói với y thế nào đây.”
    Hoàng đế nói: “Tự em lắm chuyện còn muốn trẫm giải quyết hậu quả cho em à?”
    Tịch Tà cười thưa: “Đây là việc nhà của Hoắc Viêm, hoàng thượng đứng ra không khỏi thái quá.

    Nếu Thành Thân vương không tiện nói thì hay là để nô tỳ giảng cho y hiểu giúp Thành Thân vương, có được chăng?”
    Hoàng đế cười nói: “Tốt, Thành Thân vương cũng mong ước khanh qua chơi cờ với nó đấy.” Bàn bạc xong xuôi, hôm sau Thành Thân vương đã cho đòi Hoắc Viêm vào vương phủ, lấy danh nghĩa là hầu cờ.

    Hoắc Viêm xin gặp vào thời gian đã hẹn, nội thần trong vương phủ dẫn y tới vườn hoa bên hồ nước.

    Thấy xa xa Thành Thân vương một mình ngồi trên ghế mây, đầu gối phủ tấm nệm da, líu lưỡi lắc đầu nhìn bàn cờ mà vắt óc suy nghĩ thì cười thầm trong lòng, y báo tên rằng: “Thần Hoắc Viêm xin gặp.

    Chúc vương gia may mắn như ý.”
    Bấy giờ Thành Thân vương mới ngẩng đầu lên, cười nói: “Mau tới đây thay ta đánh một nước.”
    Hoắc Viêm cũng là một tài tử giỏi cờ nhưng vừa nhìn vào trong bàn cờ cũng nhíu mày theo, nói: “Việc này…” Suy nghĩ hồi lâu, y cầm quân đen lên bảo, “Miễn cưỡng đi một nước này vậy.

    Vương gia thấy thế nào?” Nói xong thì hạ cờ xuống bàn.
    Thành Thân vương nhìn rồi cười bảo: “Không nói dối anh, vừa rồi ta cũng nghĩ tới việc đi nước cờ này, chỉ sợ vẫn trúng mưu kế của người khác.

    Nếu ý kiến của hai ta đã giống nhau thì chi bằng cứ hạ nước này, xem hắn đối phó ra sao.”
    Hoắc Viêm nhìn chung quanh nhưng không thấy có người khác, lại nghe Thành Thân vương gọi về phía ven hồ: “Ta đánh xong rồi, đến anh đấy!”
    Lúc bấy Hoắc Viêm mới trông thấy chàng trai mặc quần áo quan hoạn đứng dưới gốc liễu, ném cần câu trong tay qua một bên, đến gần nhìn qua, bèn tiện tay đánh xuống một cái rồi bưng chén trà ở bên mà uống.

    Thành Thân vương đưa tay cướp lấy chén trà nói: “Nguội lâu rồi.” Y lại sai người dâng trà mới tới.

    Hoắc Viêm bên này đang cúi đầu nhìn về phía bàn cờ, không ngừng lắc đầu.
    Thành Thân vương cười nói: “Đây là cao thủ đứng đầu trong cung, thám hoa có biết không?”
    Hoắc Viêm thấy chàng trai đẹp đẽ vô song, dáng người cao gầy, luôn cảm thấy hình như đã từng quen biết.

    Chàng trai kia đã cười ôm quyền nói: “Thì ra là thám hoa Hoắc khóa năm nay, nô tỳ là Tịch Tà của cục Châm Công ở trong cung.”
    Thành Thân vương nói: “Hoắc Viêm, anh hãy thay tôi đánh hết bàn cờ này đi, tôi đi viết sớ quan trọng xong rồi quay lại.” Nói đoạn ấn Hoắc Viêm xuống chiếc ghế mình ngồi lúc trước.
    Tịch Tà cũng ngồi xuống, cười nói: “Mời thám hoa.”
    Hoắc Viêm ngẫm nghĩ một lúc lâu mới tiếp tục đánh.

    Tịch Tà thấy ván này đã giết đến giai đoạn giữa, Hoắc Viêm lại nắm cờ thay Thành Thân vương nên không tiện thắng y, thế tiến công giảm đi, đánh cực nhanh, cuối cùng tự nhiên lại hoà.

    Hoắc Viêm cười nói: “Tài đánh cờ của công công hơn người, tại hạ vô cùng bội phục.”
    “Đâu có!” Tịch Tà nói, “So bì thế nào được với đại tài tử họ Hoắc của Hàn châu.

    Năm ngoái lúc nô tỳ ở Hàn châu đã nghe tiếng thơm của thám hoa Hoắc, lúc đó không kịp gặp mặt thật là tiếc nuối.

    Nay nhờ phúc của vương gia có thể đánh cờ cùng anh thám hoa, trở về nói cho các sư huynh đệ biết thì chắc chắn sẽ khiến bọn họ cực kỳ hâm mộ.”
    Hoắc Viêm bèn vội vàng khách sáo khiêm tốn theo, nói: “Thì ra năm ngoái người ở Hàn châu chính là Tịch Tà công công, tại hạ ở Hàn châu chẳng có tiếng tăm gì, công công biết đến quả là nhọc lòng rồi.”
    Tịch Tà cười: “Thám hoa lang khiêm tốn quá! Một bài văn của anh đã tố cáo lật đổ hai vị quan lớn, kích động một cuộc dân biến.

    Thật là người xưa chưa từng làm, mà ngày sau cũng chẳng có ai, có thể xưng là thiên tài gây họa rồi!”
    Hoắc Viêm kinh ngạc đến biến sắc, nói: “Sao công công lại nói ra lời này?”
    Tịch Tà mỉm cười, lấy bài văn được gấp chỉnh tề ra từ trong ngực, dùng ngón tay trắng như tuyết đưa tới trước mặt Hoắc Viêm: “Lần đầu gặp mặt, chút lễ mọn bày tỏ lòng tôn kính.”
    Hoắc Viêm mở ra xem, thấy chính là bài văn gây chuyện thị phi của mình thì sợ đến mức vội vàng cất vào trong ngực và nói: “Thì ra là công công cứu giúp ở Hàn châu.”
    Tịch Tà ngắt lời y, mỉm cười bảo: “Không phải là cứu giúp gì cả.

    Lúc đó tôi chỉ cảm thấy văn chương của ngài hay, lấy ra xem thử, hôm sau đi mà quên trả về thôi.”
    Hoắc Viêm thầm nghĩ: Nào có chuyện ấy.

    Y vô cùng biết ơn Tịch Tà, nhìn khuôn mặt sáng tỏ của y mà không biết đền đáp thế nào.
    Tịch Tà nói: “Cô nương Tử Mâu có khỏe không? Gần đây thám hoa Hoắc thường qua lại chốn nào mà quấy rầy đến cả tai thánh thế? Hoàng thượng vốn định gả Tử Mâu cho thám hoa, thám hoa có nghe qua chưa?”
    Hoắc Viêm nói: “Chút chuyện nhỏ của bề tôi, sao dám quấy rầy thánh thượng?”
    Tịch Tà cười nhạt nói: “Bây giờ hoàng thượng còn trẻ tuổi, làm việc không chú ý nhiều đến tiểu tiết, bây giờ vì sủng ái một mình ngài mà biến việc nhà của ngài thành việc nước, tạo ra cái lệ này thì tương lai không quản được những kẻ khác noi theo, ắt sẽ ảo não trong lòng, tất bắt ngài mà hỏi, thật là trở ngại lớn với con đường phía trước của thám hoa Hoắc.

    Lần này đây là nô tỳ ngăn lại, thá hoa Hoắc chớ trách nô tỳ nhiều chuyện.”
    “Công công!” Lưng Hoắc Viêm đẫm mồ hôi lạnh, y nói, “Tôi cũng muốn bảo Thành Thân vương bẩm rõ để hoàng thượng thu lại mệnh lệnh đã ban ra.

    Nay có công công thay tôi giải thích trước mặt thánh thượng, bớt đi nhiều trắc trở, Hoắc Viêm vô cùng cảm kích.”
    Tịch Tà nói: “Ngài không cần cảm ơn tôi, đều là nhờ ơn của đương kim hoàng thượng mênh mông cuồn cuộn.

    Ý chỉ bãi bỏ thân phận thấp hèn của Tử Mâu do hoàng thượng ban đã ở chỗ Thành Thân vương, tự vương gia sẽ tìm người làm.

    Nhưng còn có một việc có lẽ sẽ khiến thám hoa khó xử.” Tịch Tà rút một tấm ngân phiếu ra từ trong tay áo, đưa cho Hoắc Viêm rồi nói, “Bà cụ bên nhà vốn không ưng mối hôn nhân này, lại xa ngoài ngàn dặm, thám hoa ở kinh thành nào có ngân lượng chuộc Tử Mâu ra.

    Chỗ này là ba ngàn lượng, thám hoa hãy cầm đi chuộc thân cho Tử Mâu, mua sản nghiệp ở kinh thành, sớm kết lương duyên, không nên phụ ý tốt của hoàng thượng.”
    “Việc này tuyệt đối không được.” Hoắc Viêm đáp mà không hề nghĩ ngợi.
    “Nói vậy là thám hoa ghét bỏ ư?” Tịch Tà thở dài, “Số ngân lượng này đối với nô tỳ mà nói chỉ là vật ngoài thân, không coi vào đâu.

    Cô nương Tử Mâu khổ sở chờ đợi ngài hai năm, nay thám hoa cần dùng gấp thì cần gì câu nệ với tiểu tiết? Chúng ta đều là người phóng khoáng, còn để bụng việc này sao?”
    Hoắc Viêm trào dâng nhiệt huyết trong lòng, gật đầu nói: “Phải, công công nói phải.”
    Tịch Tà cười nói: “Vậy thì tốt.

    Nô tỳ đi về trễ sợ hoàng thượng trách tội, giờ xin đi chào tạm biệt vương gia, thám hoa hãy chờ ở đây.”
    Hoắc Viêm đột nhiên hỏi: “Công công có quen Ngô Thập Lục chăng?”
    Tịch Tà quay đầu lại trả lời: “Ngô Thập Lục? Từng gặp hai lần, sao vậy?”
    Hoắc Viêm cười nói: “Không có gì.

    Chỉ là ngày sau công công có việc gì cần, xin cứ nói rõ với Hoắc tôi.”
    Tịch Tà mỉm cười: “Cùng làm việc vì hoàng thượng, sau này việc phải nhờ đến anh thám hoa còn nhiều nữa, xin hãy bảo trọng.”.
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 7: 7: Thẩm Phi Phi


    Không lâu sau thời tiết ấm áp hơn, thời điểm công chúa Cảnh Giai lấy Lương vương Tất Long sắp đến, lụa Tiểu Hàn mà Hàn châu cống nạp đã được vận chuyển toàn bộ đến kinh thành.

    Cục Châm Công đã làm xong mẫu xiêm y, lụa Hàn châu vừa đến bèn cắt theo đó, còn lại bốn trăm xấp thì đưa về kho, làm của hồi môn của công chúa, đến lúc thì sẽ bắt đầu vận chuyển.

    Minh Châu ở cục Châm Công cũng bận rộn vô cùng, trừ việc thêu gấp nhiều bộ xiêm áo quan trọng thì còn phải dạy cách thêu cho cục Châm Công.

    Ban đầu không thấy gì, sau nàng gặp Tịch Tà thì không khỏi căm hận nói: “Tôi đang yên đang lành không làm thợ cả, chạy vào trong cung làm nô cùng những người dung tục này đều là tại Lục gia cả.”
    Tịch Tà kinh ngạc nói: “Trách tôi? Trước đây tôi đã nói với cô rồi, không cho cô đi theo, nay hối hận lại muốn trách tôi?”
    “Những bộ xiêm áo này bộ nào phải làm, bộ nào không phải làm, chẳng phải vì một câu nói của Lục gia ư? Sao phải phân công xuống dưới ngần này công việc chứ?”
    Tịch Tà và Tiểu Thuận Tử đang nhai đồ ăn Hàn châu sở trường của Minh Châu, bèn dừng đũa lại, cười nói: “Sau này sẽ còn có càng nhiều công việc hơn, nếu cô không chịu thì sao không đợi sau khi công chúa lấy chồng trở về Hàn châu đi?”
    Minh Châu cười nói: “Mặc cho Lục gia nói như thế nào tôi cũng sẽ không trở về đâu.

    Chẳng qua là cảm thấy trong cung bí bách, hay là Lục gia dẫn tôi đi ra ngoài chơi một lát.”
    Tiểu Thuận Tử liên tục gật đầu: “Đúng vậy, đúng vậy, từ năm trước trở về không đi ra ngoài lần nào nữa cả, chị Minh Châu tới đã lâu mà chưa từng ngắm xem kinh thành nom như thế nào.

    Thầy rảnh rỗi, tiện thể dẫn luôn cả con ra ngoài với.”
    Tịch Tà đáp: “Chỉ cần là Minh Châu nói thì con đều hùa theo, nay trong cung bận tối mày tối mặt, ăn bữa cơm yên ổn đã chẳng dễ rồi, nào rảnh mà ra ngoài?”
    Vừa dứt lời, Như Ý cười hì hì đi vào, nói: “Ở đây thơm thế! Cục Châm Công các người không cần cơm do giám Thượng Thiện[1] phát, chỉ quan tâm mình được ăn ngon, có nhớ đến nhị sư ca như anh không?”
    [1] Một trong mười hai giám triều Minh triều, cùng phụ trách việc cung ứng thức ăn trong hoàng cung với tự Quang Lộc và cục Thượng Thực của nữ quan, nguyên liệu nấu nướng đến từ tự Quang Lộc.
    Minh Châu đứng lên nói: “Nhị gia mau ngồi đi, hiếm khi ngài đến, hay là cùng nhau ăn cơm trưa rồi hẵng đi?”
    Như Ý gắp ít đồ chay, ăn hai miếng rồi cười nói: “Hay là cô nương đến làm việc ở giám Thượng Thiện đi, cần gì để Tịch Tà sai khiến? Tiếc nỗi tôi mạng khổ ít phúc, không có thời gian thỉnh giáo tài nấu nướng của cô nương, lúc này hoàng thượng đang cho đòi Tịch Tà đấy.”
    Thành Thân vương đang ăn trưa với hoàng đế, thấy bọn họ tới thì cầm lấy một bộ áo hai lớp thêu vàng ở bên cạnh nói với Tịch Tà: “Đây là vật hoàng thượng vừa mới thưởng cho ta, tay nghề này không tầm thường.

    Có phải là do cô nương mà anh mang về từ Hàn châu thêu phỏng?”
    Tịch Tà nói: “Vâng ạ.” Đoạn nhìn hoàng đế cười nói, “Minh Châu tới từ dân gian, ít bị bó buộc, vừa oán giận thời gian này lắm việc.

    Nếu nàng mà biết hoàng thượng lấy đồ mà mình thêu gấp cho công chúa để thưởng người khác thì nhất định sẽ lại tức bực với nô tỳ.”
    “Khanh có gan nói bậy ở trước mặt trẫm mà còn sợ nàng? Chớ học Như Ý cả ngày giận dỗi trẫm.”
    Thành Thân vương nói: “Nghe nói một bức bình phong Bức tranh Cửu Ca nàng thêu trị giá một vạn lượng bạc trắng, mấy ngày nay Kim Quỹ có một tấm bình phong ra giá một vạn lượng, làm chấn động nửa kinh thành.

    Ta rất muốn mua về phủ, anh hãy thay ta đi xem có phải đồ do Minh Châu thêu không.”
    Tịch Tà nói: “Minh Châu đang ở trong cung, vương gia muốn gì chỉ cần lệnh nàng thêu, vả lại nô tỳ chỉ nhìn thoáng qua từ xa, giờ đi xem cũng không rõ được đâu ạ.”
    Hoàng đế nhìn quanh, thấy nội giám khác đứng cách xa, bèn thấp giọng nói: “Năm ngoái tịch thu nhà Đổng Lý Châu, Miêu Hạ Linh lục hết ty bố chính sứ của ông ta cũng không tìm được món đồ này.

    Lúc đó là khanh nói, Đổng Lý Châu dùng một vạn lượng mua một tấm bình phong để ở nhà cũng không dùng đến.

    Một cây cầu sập làm chết bao nhiêu người nhưng ông ta còn có chỗ dựa nên không lo ngại gì, nhất định là kẻ đứng phía sau rất giỏi, tấm bình phong ắt bày trong nhà chủ nhân phía sau ông ta.

    Lần này khanh đi điều tra rõ cho trẫm xem rốt cuộc tấm bình phong này đến từ nhà ai.

    Khanh xem không rõ thì dẫn Minh Châu cùng đi cũng không sao.

    Nữ quan rời cung bất tiện thế nào thì Thành Thân vương vừa mới nói rồi, nó sẽ báo cáo với thái hậu.”
    “Vâng.” Tịch Tà nói, “Nếu vạn tuế gia đã nói như vậy thì mai nô tù sẽ đi.” Hắn trở lại viện Cư Dưỡng kể với Minh Châu, tất nhiên là Minh Châu gật đầu bằng lòng, ngay cả Tiểu Thuận Tử cũng muốn cùng đi ra ngoài.
    Cuối cùng Minh Châu hé miệng cười, nói: “Lục gia, Minh Châu xin cảm ơn Lục gia trước.”
    Tịch Tà nói: “Cảm ơn tôi làm gì, không phải là vì hoàng thượng sai khiến ư?”
    Minh Châu cười nói: “Chẳng phải Lục gia đã biết tỏ tường chuyện tấm bình phong đó được Đổng Lý Châu cho kẻ nào, sao lúc này lại bán ra rồi sao? Còn cần đi thăm dò chắc? Chỉ cần nói thẳng với hoàng đế là xong, vòng vo như vậy là để dẫn tôi ra ngoài giải sầu đúng chứ?”
    Tịch Tà cười nói: “Làm nô trong cung thì điều quan trọng không phải là cái gì cũng biết mà là lúc nên giả vờ mơ hồ thì mơ hồ.

    Tỏ ra mình không gì không biết, lại làm người khác kiêng dè.”
    Minh Châu nói: “Dạ dạ dạ, Lục gia đang dạy dỗ tôi đây mà.

    Tôi sẽ làm như không biết.”
    Tinh mơ hôm ấy đã bắt đầu lất phất mưa phùn, không thể coi là thời tiết hợp để đi chơi song sự phấn khởi của Minh Châu và Tiểu Thuận Tử đều không hề giảm đi chút nào.

    Minh Châu mặc quần áo thái giám rời cửa cung cùng Tịch Tà.

    Ba người tìm gian nhà trọ để thay thành quần áo bình thường.

    Tịch Tà mặc áo màu chàm thêu chỉ vàng đi ở đàng trước, Tiểu Thuận Tử mặc quần áo của gã sai vặt cầm ô thay Minh Châu.

    Hơn một nửa cái ô lớn đều che trên đỉnh đầu Minh Châu, vai Tiểu Thuận Tử dần ướt nhưng vẫn mang vẻ mặt trung thành tận tụy.
    Tịch Tà quay đầu cười nói: “Trước nay chưa từng thấy con để tâm hầu hạ ta như thế, hay là con bái Minh Châu làm thầy một lần nữa, cứ gọi ta là sư thúc là được.”
    Việc nhân đức không nhường ai, Tiểu Thuận Tử mở miệng gọi Tịch Tà từ xa: “Sư thúc, sư thúc.”
    Minh Châu cười nói: “Lục gia thật là! Bình thường không để ý chuyện ăn, uống, mặc, dùng, ngày thường Tiểu Thuận Tử nhịn bợ như vậy, cũng không thấy ngài vui vẻ gì.

    Cớ sao chỉ cần cậu bé đối tốt với tôi một chút, Lục gia đã để bụng thế?”
    Tịch Tà đâu chịu đôi co với họ, bèn mỉm cười rồi quay đầu bước đi.

    Minh Châu và Tiểu Thuận Tử liếc nhau, cười trộm phía sau hắn.

    Đàng trước là cầu Song Thu, ba người đi lên hơn một trăm bậc thềm đá, bước trên mặt cầu được nước mưa cọ rửa, chậm rãi tiến về hướng bắc.

    Cánh rừng long nhãn thơm bờ bên kia sông Ly đang đâm chồi nảy lộc, đỏ bừng một khoảnh, ngâm ở trong không khí trong trẻo sắc xanh tươi chung quang.

    Tịch Tà dựa vào lan can đá, nhìn lá long nhãn xanh vàng rơi xuống dòng nước đến say sưa, người đạm mạc như thể trong suốt.
    Minh Châu tiến lên phía trước nói: “Tôi tới từ địa phương nhỏ, chưa từng thấy cảnh đời, không biết nơi đây có điển cố gì.

    Lục gia có thể nói cho tôi biết không?”
    Tịch Tà nói: “Nơi đây bờ bắc có long nhãn thơm, bờ nam có phong, hai mùa xuân thu đều có lá đỏ như mặt trời, nên mới gọi là ‘cầu Song Thu’.”
    Minh Châu cười nói: “Người đời đúng là lạ lùng, rõ ràng là mùa thê lương, một năm qua một lần còn chưa đủ.”
    “Mùa thu cũng có cái hay của mùa thu.” Tịch Tà nói, “Đợi đến thu năm nay chúng ta trở lại, cô xem xem có phải tốt hay không.”
    Minh Châu nói: “Tức là Lục gia còn có thể dẫn tôi đi? Vậy thì nhất định là tốt rồi.”

    Tịch Tà chỉ vào cầu phiêu Hạ phía tây, nói: “Cây cầu đó là một nơi đẹp đáng để đến vào mùa hạ.

    Trên cầu có ba tòa lầu gỗ tụ gió bốn mặt, ở đỉnh lầu thưởng trà hóng mát, nhìn cảnh sông từ xa, lúc thời tiết tốt có thể trông thấy tây có Định Quốc vắt ngang, đông có bảy cầu nối tiếp nhau.

    Dù là mùa xuân, thu, ngắm cầu Song Thu từ chỗ đó sẽ luôn thấy một bờ đỏ như máu, cũng là một phong cảnh đặc biệt.

    Hay là bây giờ chúng ta đến cầu Phiêu Hạ nhé?”
    Từ đó đến cầu Phiêu Hạ còn một chặng đường nữa, trời mưa đường trơn nên ba người không muốn đi, bèn thuê du thuyền ở dưới cầu, thảnh thơi trôi về phía “lầu nóng” của cầu Phiêu Hạ xây ở chính giữa sông Ly, bước lên bậc thang quanh co mà lên.

    Chốn ấy là vì hóng gió cảnh nên quen mở rộng song cửa từ xuân đến thu, vừa lên đến phòng trà tầng thứ ba, chợt gió mát đập vào mặt, mưa phùn dính áo, nhìn ra cảnh sắc chung quanh phía xa, trong mù mưa bụi chỉ có thể nhìn rõ cầu Định Quốc và cầu Song Thu.

    Tiểu Thuận Tử nói: “Ông trời đúng là làm mất hứng! Hiếm lắm mới ra được một chuyến, lại không nhìn thấy phong cảnh đẹp.” Tịch Tà và Minh Châu không khỏi mỉm cười, đều thấy mặc dù lúc này không thấy cảnh đẹp bảy cầu nối nhau nhưng lại hiếm có sự khoan khoái “Gió lành chải tóc biếc, mưa phùn nhuộm váy hoa”, vì vậy bèn sai tiểu nhị pha chè thơm, tĩnh tâm ngồi chơi.

    Hai người mới thấy gió mát thấm người thì bỗng một mùi thơm nồng xông vào mũi, một anh chàng mặc quần áo hoa lệ đi qua họ, chọn vị trí ngồi ở dưới cửa sổ đối diện.

    Minh Châu bị mùi hương trên người gã phả đến mức chau mày, lại thấy gã chải tóc bóng bẩy, quần áo hoa hòe hoa sói, ngồi vênh váo hống hách ở đó thì không khỏi nhẹ nhàng bật cười một tiếng.
    Tịch Tà thấp giọng bảo: “Cô chớ nên trêu chọc gã.

    Đó cũng là một tay già đời đấy.”
    Minh Châu cười nói bên tai Tịch Tà: “Nhìn dáng vẻ quê mùa đầu dầu má phấn của gã, ai mà thèm để ý đến gã chứ?”
    Anh chàng kia gọi một bình trà, hai đĩa điểm tâm, đột nhiên cau mày nói với tiểu nhị: “Ai cũng nói lầu trà các người tiếng tăm lừng lẫy ở kinh thành nhưng mở cửa làm ăn thế nào thế? Trời đang mưa mà không biết đường đóng cửa sổ vào, làm ướt hết cả quần áo của ta rồi.”
    Minh Châu nghe vậy thì suýt phun ngụm trà ra, vội vàng dùng khăn tay mà Tiểu Thuận Tử đưa tới che miệng cười.

    Tịch Tà nhịn cười, bảo: “Cô tuyệt đối không được gây sự cho tôi, đừng đi chê cười hắn.

    Chúng ta ra ngoài vì có chuyện đứng đắn phải làm, chi bằng giờ đi thôi.”
    Minh Châu khó khăn lắm mới có giọng điệu thấu đáo, nói: “Vâng, đi sớm mới tốt.” Đoạn lấy bạc vụn từ trong túi ra, sai Tiểu Thuận Tử tính tiền rồi đứng dậy theo Tịch Tà.

    Nàng vừa ngẩng đầu đã thấy anh chàng kia đang ẩn tình nơi khóe miệng, nhìn mình chằm chằm thì không khỏi thầm phát cáu, lửa giận trong mắt chợt dấy lên, sắc bén như dao.

    Anh chàng kia hơi kinh hãi, nước trà nóng bỏng đổ lên tay, nóng đến mức giật mình.

    Tịch Tà kéo ống tay áo của Minh Châu, thấp giọng hỏi: “Chẳng lẽ cô muốn chọc mù mắt gã?”
    Minh Châu cười nói: “Lục gia không cho tôi gây chuyện thì tạm tha cho gã vậy.”
    Tịch Tà bảo: “Cô đồng ý sảng khoái thế cũng làm tôi lo lắng đấy.”
    Chỉ chốc lát sau Tiểu Thuận Tử đã đuổi theo, nói: “Chị Minh Châu cười nhạo người kia nhất định đã làm mích lòng gã, vừa nãy gã còn chặn tôi hỏi tên chị đấy.

    Tôi không nói với gã, còn trợn trừng vài lần với gã nữa.”
    Minh Châu cả giận nói: “Như thế vẫn chưa đủ, nhẽ ra nên vả miệng gã thay tôi.”
    Tiểu Thuận Tử nói: “Thế giờ tôi quay lại đánh gã, trút giận cho chị.”
    Tịch Tà cười bảo: “Người kia rất giỏi võ công, con không đánh được gã đâu.

    Đợi Minh Châu dạy con vài mánh đã.”
    Ở Ly đô, phần lớn mặt tiền xưởng vải, cửa hàng may, phường thêu đều tập trung ở đường Kim Quỹ, nhiều nắm trước Tịch Tà thường theo thái giám Thất Bảo tới nên biết nơi có thể buôn bán bình phong hơn vạn lượng ở chốn này chỉ chừng ba bốn nhà, bèn tới thẳng “quán Hòa Quyên” lớn nhất trước tiên.

    Tiểu Thuận Tử hỏi ra, quả nhiên có món đồ này.
    Tịch Tà nói: “Chúng tôi hâm mộ tiếng tăm mà đến, muốn mở mang kiến thức.

    Nếu tốt thật thì sẽ mua.”
    Chủ quầy bảo: “Ở ngay trong phòng lớn tầng hai, mời các vị lên lầu.”
    Cả căn phòng lớn như vậy mà chỉ bày một tấm bình phong ấy.

    Minh Châu là bậc thầy trong nghề này, rất muốn xem thử trình độ hàng thêu của kinh thành nên thất vọng nói: “Sao không thấy những hàng thêu khác?”
    Chủ quầy cười đáp: “Cô nương, tấm bình phong này bày ở đây còn chưa đủ để cô ngắm ư? Những vật khác so sánh với nó thì chỉ càng thêm xấu xí, tục tằn, bảo từ này quán nhỏ này buôn bán thế nào được?”
    Tịch Tà đi tới gần bình phong, hỏi Minh Châu nói: “Thế nào?”
    Minh Châu gật đầu, nói: “Chính là cái này.”
    Tịch Tà nói với chủ quầy: “Vật này quả thật rất tốt.

    Nhưng thực sự đáng giá những một vạn lượng ư? Quán các ông lấy đâu ra số tiền đó để nhập loại mặt hàng này chứ?”
    Chủ quầy cười đáp: “Vị tiểu gia này hỏi là thế là phải, quán nhỏ này quả thật không có tiền vốn mua mặt hàng quý giá như thế, song dù sao kinh thành cũng ngay dưới chân thiên tử, người cất giấu thứ tốt rất nhiều.

    Không dối gạt tiểu gia, thứ này đến từ phủ của một vị quý nhân nhờ quán tôi bán hộ.”
    “À?” Tịch Tà trầm ngâm nói, “Ông nói như vậy, tôi lại thấy hơi lo.

    Người ta tùy tiện đưa ra cái giá trên trời, các ông bèn bán dựa theo đó, ai biết có đáng giá không.”
    Chủ quầy bảo: “Tiểu gia ơi, người nhờ chúng ta bán hộ tấm bình phong này là một kẻ cao quý nói sao làm vậy, sao có thể ăn nói ba hoa?”
    “Việc này thì không biết được đâu.” Minh Châu nói, “Chẳng biết là đồ của nhà ai? Hãy nói ra để cho chúng tôi yên tâm.”
    Chủ quầy bèn vội vàng lắc đầu, trả lời: “Thế thì không được.

    Vị gia đó nói, bất kể thế nào cũng không được tiết lộ thân phận của ngài ấy một mảy may.”
    Tịch Tà đã biết tình hình bên trong từ lâu nên không để ý, cười nói: “Vậy thì thôi.” Hắn không quan tâm chủ quầy nói khéo như rót mà chỉ lo xuống tầng, suýt nữa đụng phải một người hấp tấp chạy lên ở cửa thang gác, vội vàng nghiêng người nhường, chỉ nghe đó người đó cười nói: “Ta cũng xem thử tấm bình phong giá vạn lượng thế nào.”
    Minh Châu nghe tiếng gã thì sầm mặt lại, núp sau Tịch Tà, nhỏ giọng nói: “Tại sao lại là gã?”
    Tịch Tà cũng thở dài, lẩm bẩm cười nói: “Đúng là oan gia ngõ hẹp.” Thấy ánh chàng theo tiểu nhị lên lầu, được chủ quầy tiếp đón đi quanh bình phong thì không vội đi ngay mà muốn xem rốt cuộc gã muốn làm gì.
    Miệng anh chàng kia cứ tấm tắc lấy làm kỳ lạ: “Hàng tinh hoa tuyệt thế mà thực sự chỉ có giá một vạn lượng thôi à?”
    Minh Châu thấp giọng giận dữ nói: “Cái đồ quê kếch thì biết cái gì? Nếu gã dám đụng đến Bức tranh Cửu Ca này thì tôi sẽ chặt tay gã đi.”
    Lúc đầu anh chàng kia không coi ai ra gì nên không chú ý tới họ, bấy giờ nghe có người nói chuyện, quay đầu nhìn thấy Minh Châu thì bỗng lộ rõ vẻ vui mừng trên nét mặt, bước vội mấy bước lên phía trước, nói: “Thì ra lại là cô nương.

    Tiểu sinh có duyên với cô nương, lại gặp nhau ở đây.

    Tiểu sinh là Thẩm Phi Phi, xin hỏi phương danh của cô nương?”
    Minh Châu thấy gã ra vẻ tự cho là phong lưu, trong lòng chán ghét bèn nói với Tịch Tà: “Lục gia, chúng ta hãy tránh xa gã ra.”
    Tịch Tà nháy mắt với Tiểu Thuận Tử, bảo vệ Minh Châu xuống lầu trước.

    Anh chàng kia định đi theo thì bị Tiểu Thuận Tử cản lại, nói: “Vị gia này muốn làm gì đấy? Sao cứ nhìn xằng bậy chằm chằm vào cô nương nhà tôi, chưa nhận ra mình thiếu lễ độ à?”
    Thẩm Phi Phi nhìn bóng lưng Minh Châu, than thở: “Quả là một cô nương thanh tú nhất trần đời, không biết nàng tên là gì.”
    Tiểu Thuận Tử nói: “Có liên quan gì tới anh! Nếu anh dám nhiều chuyện thì bọn tôi sẽ tìm quan phủ bắt anh đấy.”
    Thẩm Phi Phi phục hồi tinh thần lại, cười khẩy nói: “Quan phủ? Tôi không sợ quan phủ đâu.”
    “Ơ hay, anh mới lớn lối làm sao! Chỉ cần anh dám đi theo, bọn tôi sẽ cho anh một bài học.” Mặc dù ngoài miệng Tiểu Thuận Tử không chịu thua thiệt nhưng trong lòng lại nghĩ Tịch Tà đã nói người này võ công rất cao, không dám ham chiến nên xuống lầu nhanh như chớp đuổi theo Tịch Tà, thêm mắm thêm muối kể lại lời của Thẩm Phi Phi một lần ở trước mặt Minh Châu.
    Minh Châu nói: “Tôi cảm thấy cái tên này rất quen tai, Lục gia có biết nơi nào có nhân vật như thế không?”
    Tịch Tà nói: “Thầy hai từng nhắc đến người này với tôi, gã là tên trộm “én bay cá lặn” Thẩm Phi Phi nổi danh trên đường Trung Dương ở Khoa châu.”
    “Thì ra là gã!” Minh Châu bừng tỉnh, “Từ lâu đã nghe nói gã tự xưng có dung mạo chim sa cá lặn, lại có khinh công vượt nóc băng tường nên tự mình đặt biệt hiệu ‘én bay cá lặn’, thảo nào lại ẻo lả đầu dầu má phấn như thế.” Nàng và Tiểu Thuận Tử che miệng cười một lát, đột nhiên lại nói, “Gã lăn lộn ở đường Trung Dương của Khoa châu, sao lại đến Ly đô? Liệu có ý đồ gì với tấm bình phong Bức tranh Cửu Ca này không?”
    Tịch Tà híp mắt, cười nói: “Gã là kẻ trộm, đương nhiên sẽ không bỏ qua thứ tốt.”
    Nếu Thẩm Phi Phi theo sau thì không tránh khỏi việc sẽ tiết lộ thân phận của họ, Tịch Tà nói một câu sắc trời không còn sớm, bèn về cung báo cáo.

    Hắn gặp hoàng đế bèn nói: “Chuyện này thật khó, người chủ quầy đó không chịu nói sự thực, nô tỳ khó khăn lắm mới điều tra ra kết quả.

    Hoàng thượng nghe xong sẽ bị giật mình đấy.

    Tấm bình phong này được đưa ra từ trong nhà thống lĩnh thị vệ Hạ Dã Niên.”
    Quả nhiên nằm ngoài dự liệu của hoàng đế: “Hạ Dã Niên? Trước nay gã và Đổng Lý Châu không hề qua lại cơ mà.”
    “Đúng vậy.” Tịch Tà nói, “Gã chẳng qua chỉ có cấp quan tòng nhị phẩm, không thể nói gì giúp Đổng Lý Châu.

    Nô tỳ phỏng đoán chắc chắn có người khác đưa tấm bình phong này cho Hạ Dã Niên.

    Hạ Dã Niên biết bức bình phong này thật ra là tang vật nên cất giấu mấy tháng, nay việc Đổng Lý Châu đã qua, bèn muốn sớm ngày bán nó đi.”
    Hoàng đế bảo: “Khanh hãy đi điều tra rõ chân tướng xem là ai đưa Bức tranh Cửu Ca này cho Hạ Dã Niên.

    Tay của người này đã vươn đến tận trong cung, không thể coi thường được.

    Nếu Hạ Dã Niên đã không tin được thì có cần bỏ gã thay kẻ khác không?”
    “Chắc chắn Hạ Dã Niên đã có một nhóm thân tín trong đám thị vệ, bỏ gã thay kẻ khác vào thì trừ việc động đến nhân vật trên đầu gã ra thì chẳng có lợi lộc gì.

    Khương Phóng thường hay bất hòa với gã, lại qua lại gần gũi với Thành Thân vương, chi bằng yêu cầu y âm thầm chú ý hành động và nhân vật qua lại với Hạ Dã Niên.

    Đến lúc hoàng thượng muốn trừ khử gã thì cả thân tín của gã cũng phải nhổ bỏ cả thể thì mới là đào tận gốc, trốc tận rễ.

    Bên cạnh hoàng thượng không có thị vệ tự mình cất nhắc, mấy năm nay đều là do thái hậu chọn, hay là mở lại khoa võ, chọn một nhóm thanh niên để trọng dụng.”
    Hoàng đế cười nói: “Đây là chuyện rất náo nhiệt, nên để con em nhà quan võ các nơi thi hương ở tỉnh, cách năm hẵng tới Ly đô thi hội.

    Trước kia đều do tuần phủ các nơi coi thi, nay khỏi cần sửa lại.

    Hai ngày nữa bảo bộ binh gửi công văn xuống.

    Song trẫm nghĩ nhanh nhất cũng phải một hai năm nữa mới có thể mở thi hội trở lại.”
    “Vâng, hoàng thượng thánh minh.

    Thi võ chọn tướng tài tương lai, không thể vội vàng gấp gáp.” Tịch Tà lại tâu, “Nô tỳ còn có chuyện muốn xin hoàng thượng bảo cho biết.

    Nếu bức bình phong này là hàng thật, không biết bây giờ nên xử trí như thế nào? Có cần mua về trong cung không ạ?”
    “Ngày mai khanh đi hỏi Thành Thân vương có muốn không.

    Nếu nó tiếc tiêu một vạn lượng thì để giám Ngự Dụng[2] mua vào đặt ở cung Từ Ninh.

    Thái hậu cũng rất thích đồ Minh Châu thêu đấy.”
    [2] Một trong mười hai giám thời Minh, quản việc chế tạo đồ gỗ như bình phong, giường, các đồ trang trí bằng gỗ mun, tử đàn, ngà…
    Tịch Tà cười nói: “Vậy thì phải nhanh, nay người có ý đồ với bức bình phong đó không ít đâu ạ.”
    Ai ơi nhớ lấy câu này, reup không khéo có ngày rụng răng.
    Ở trong nhà trọ, Thẩm Phi Phi buộc quần áo đi đêm cho chỉnh tề rồi đẩy cửa sau ra, nhẹ nhàng trèo lên nóc nhà.

    Đêm xuống còn có mưa nhỏ nên có vẻ hơi oi bức, xuyên qua không lâu sau thì trông thấy một khoảnh lớn toàn sân nhà đen nghịt trên đường Kim Quỹ.

    Gã nhảy lên trên bệ cửa sổ lầu hai của quán Hòa Quyên, đẩy cửa sổ một cái, không ngoài dự đoán, quả nhiên đã được khóa rất chắc chắn.

    Thẩm Phi Phi lấy dao găm từ hông ra, nhẹ nhàng đẩy then cài cửa sổ ra, nhảy vào trong phòng không một tiếng động.

    Đêm đó không có ánh trăng, trong phòng một màu đen kịt, Thẩm Phi Phi thắp sáng cây đốt lửa, dần dần có thể thấy rõ bình phong khung gỗ ngay giữa phòng vẫn mang phong cách cổ xưa trang nhã, lặng lẽ dựng đứng trên mặt đất, nhưng chín bức thêu phía trên đã không cánh mà bay.

    Gã không khỏi dùng sức dụi dụi mắt, lại đến gần chút nữa, vòng quanh khung gỗ vài vòng, cuối cùng chỉ cảm thấy đầu váng mắt hoa, vịn lấy khung gỗ bình phong, cau mày than vãn một tiếng thật dài: “Một vạn lượng… Một vạn lượng đấy!” Gã lại lắc đầu day trán hồi lâu, ngồi xổm trước tấm bình phong ngây ra một lúc rồi đột nhiên hung tợn nói: “Là thằng giặc con nào dám đoạt mối làm ăn với đại công tử Thẩm ta? Mau ra đây!” Cả người gã căng thẳng đợi một chốc, trong phòng vẫn im ắng không tiếng động, chỉ đành xấu hổ cười “hì hì” rồi nói, “Thì ra lầm.” Đoạn uốn éo đứng dậy, dập tắt cây đốt lửa, nhét về chỗ hông rồi đi tới phía cửa sổ, tay trái nhẹ nhàng đẩy cửa ra, tay phải vội vàng vung lại phía sau, dao găm bắn nhanh đến một góc tối ở cửa thang lầu.
    Chỉ nghe “keng” một tiếng, ánh sáng kim loại nhỏ bé lóe lên trong bóng tối, sau đó lại hoàn toàn tĩnh mịch.

    Thẩm Phi Phi không nghe thấy có tiếng người bị thương phát ra, lại không nghe thấy tiếng dao găm rơi xuống đất, thực sự không dám động đậy mà núp ở bên cửa sổ, cẩn thận lắng nghe nhưng trong phòng không còn động tĩnh nào nữa.

    Thẩm Phi Phi cười nói: “Các hạ cũng là cao nhân, nếu muốn cái bình phong đồng nát này thì tại hạ chắp tay xin nhường.

    Sau này gặp lại.” Gã ỷ vào khinh công ám khí xuất chúng, vốn rất ít khi để người khác vào mắt, lúc bấy muốn nhảy ra ngoài cửa sổ thì đột nhiên cảm thấy cổ tay phải đau xót, có thứ ám khí rất nhỏ xuyên thấu qua thịt, ghim vào trong khung cửa sổ.

    Tay phải Thẩm Phi Phi khẽ giãy ra thì càng đau thấu xương tủy.

    Thì ra là một sợi tơ cực nhỏ vô cùng sắc bén xuyên qua cổ tay gã, chỉ cần khẽ động đậy, sợi tơ sẽ cứa thật sâu vào trong thịt, máu me đầm đìa.

    Thẩm Phi Phi vội vàng dùng tay trái rút dao găm ra định cắt đứt sợi tơ.

    Không ngờ đối thủ vẫn làm theo cách cũ, ám khí nhanh như chớp găm luôn cả tay trái của gã lên trên tường.

    Hai tay Thẩm Phi Phi bị giữ, nghe thấy phía sau có người chậm rãi đi ra thì mồ hôi lạnh dần dần thấm qua áo, nói: “Anh hùng! Chẳng lẽ thực sự muốn mạng của tại hạ ư? Đều là người cùng nghề, xin hãy nương tay.” Chỉ cảm thấy hai sợi tơ lại căng lên, càng đau đến mức nhe răng trợn mắt.

    Người phía sau không nói một lời, bỗng làn gió thơm khẽ phất, bay vút ra cửa sổ bên cạnh Thẩm Phi Phi, tay áo xanh khẽ động, dao găm cắt đứt sợi tơ, “tinh” một tiếng bên tai Thẩm Phi Phi.
    Thẩm Phi Phi là tay trộm có tiếng đã lâu, mắt tinh cỡ nào chứ? Dầu thân pháp của người nọ nhanh như điện vẫn bị gã liếc mắt thoáng thấy chiếc cằm trắng nõn đẹp đẽ như ngọc hệt như trăng sáng phá mây trong đêm đen chiếu vào hai mắt người ta.

    Thẩm Phi Phi rung động trong lòng, không để ý hai cổ tay còn đang chảy máu, anh dũng đuổi theo.
    Thân pháp của bóng người trước mặt đẹp đẽ lưu loát, đi rất nhanh.

    Nhưng nếu Thẩm Phi Phi đã có tiếng là “én bay cá lặn” thì khinh công tất có chỗ độc đáo, dần dần vượt qua.

    Người nọ quẹo trái rẽ phải, bay vút trên nóc nhà trùng điệp nhưng không thể cắt đuôi gã.

    Phía trước có sông Ly cắt ngang, hiển nhiên là người nọ muốn sang sông từ cầu Song Thu, thân hình hơi trầm xuống, bay xuống đầu cầu.

    Thẩm Phi Phi kiên nhẫn theo sát qua cầu, trong nháy mắt đã đến bờ bắc của sông Ly nhưng trên cây cầu to như thế lại trống rỗng, hoàn toàn không có bóng người.

    Thẩm Phi Phi cảm thấy chỉ cách này người có mấy trượng, chắc chắn sẽ không mất dấu.

    Trong lúc gã nhìn ngang ngó dọc, trước mặt đột nhiên có một cơn gió thu sắc bén kéo tới, bèn vội vàng né tránh nhưng trán vẫn đau đớn, bị thứ gì đó đâm trúng, chợt sợ đến chảy mồ hôi lạnh ròng ròng.
    “Anh còn đuổi tôi không thôi thì cẩn thận mắt của anh đấy.” Chỉ nghe tiếng nói trong trẻo mềm mại truyền tới từ ngoài lan can cầu, một cái bóng yểu điệu thướt tha như nhảy vút lên không từ trong nước, bay xuống đầu sư tử ở lan can đầu cầu.

    Váy lụa màu của người nọ bay lượn, nhẹ nhàng phấp phới trong gió, mái tóc đen được búi lên.

    Trước mắt Thẩm Phi Phi như có sét đánh giữa trời quang, trong lòng sung sướng không sao tả xiết, xông về phía trước mấy bước rồi ngẩng đầu lớn tiếng nói: “Thì ra vẫn là cô nương! Chúng ta quả thật có duyên.”
    Minh Châu ở đầu cầu lạnh lùng sẵng giọng: “Có duyên cái gì? Chẳng qua đều có ý đồ với Bức tranh Cửu Ca này, gặp phải cũng là chuyện hết sức bình thường.

    Nếu anh còn quấn lấy không thôi thì tôi không khách sáo nữa đâu.”
    “Vâng vâng vâng!” Nhưng Thẩm Phi Phi lại đi về phía trước mấy bước, “Không biết phương danh của cô nương, là thiên kim của vị tiền bối nào? Trò giỏi của môn phái nào? Úi chao!” Lúc này cổ chân đau nhức, bị Minh Châu bắn một kom xuyên thủng, kéo căng sợi tơ làm Thẩm Phi Phi ngã nhào trên đất.
    Minh Châu nói: “Hai ta không phải người cùng đường, cần gì nhiều lời? Đừng làm tôi bực mình nữa.” Cổ tay nàng khẽ xoay, quấn sợi tơ lên trên lan can cầu, xoay người lao đi nhanh.
    Thẩm Phi Phi tay chân lanh lẹ, cắt sợi tơ rồi bổ nhào về phía trước, kéo góc váy của Minh Châu hỏi: “Cô nương, đi thong thả.

    Không biết sau này có còn dịp gặp lại không?”
    Minh Châu cả giận nói: “Đương nhiên là không! Anh có hiểu hai chữ ‘liêm sỉ’ không vậy?”
    “Hiểu thì hiểu.” Không ngờ mặt Thẩm Phi Phi lại nóng rần lên, ngượng ngùng buông váy Minh Châu ra và nói, “Chẳng qua tiểu sinh chỉ ngưỡng mộ dung nhan thần tiên của cô nương, không kiềm được muốn hỏi tên của cô nương, không ngờ lại làm cô nương tức giận như vậy.”
    Minh Châu cười lạnh bảo: “Võ công của anh thấp, phẩm hạnh không đoan chính thì dựa vào đâu mà hỏi tên tôi? Chờ khi anh ít nhất có thể đánh hòa với tôi thì hỏi lại cũng không muộn.”
    “Được!” Thẩm Phi Phi nói, “Tiểu sinh sẽ luyện tập hết sức, cô nương phải chờ tôi một năm nửa năm.”
    Minh Châu chưa từng người nào dây dưa không rõ như vậy, quả thật không biết phải làm sao, khẽ vuốt lan can cầu mà trầm ngâm.

    Thẩm Phi Phi nhắm mắt theo đuôi, đi tới bên Minh Châu, nói: “Sông Ly cuồn cuộn làm chứng, Thẩm Phi Phi tôi nhất định sẽ nỗ lực phấn đấu, ngày sau lại xin cô nương ghé mắt đến.”
    Minh Châu mỉm cười mềm mại đáng yêu.

    Thẩm Phi Phi nhìn thấy thế, cả trái tim và thần trí đều mê mẩn.

    Đương lúc mất hồn mất vía, đột nhiên gã cảm thấy thân thể nhẹ bẫng, trước mắt đã biến thành mặt sông tối om om, đã không còn chỗ nào mượn sức liền rơi xuống sông Ly từ trên đầu cầu.
    Minh Châu nghe thấy mặt sông “ùm” một tiếng mới phủi váy một cái, khẽ hừ một tiếng, nói: “Dựa vào anh mà cũng xứng bảo tôi chờ anh một năm nửa năm? Cứ luyện công phu trong nước trước đi đã.” Đoạn quay đầu giận dỗi nói về phía bóng người ở đầu cầu, “Lục gia chỉ khoanh tay ở một bên cười mà để mặc gã ồn ào.”
    Tịch Tà nhìn xuống làn nước dưới cầu, cười bảo: “Tuy gã làm người ta ghét nhưng cũng không bằng họa mà cô lén lút gây ra.

    Bao nhiêu người đăm đăm nhìn vào bức bình phong này, bên trong có bao nhiêu trắc trở, bị cô trộm đi thì càng đã loạn lại thêm phiền.

    Cả đêm tôi phải xem bao nhiêu điệp báo, còn phải đi theo cô giải quyết hậu quả.

    Dầu gì cô cũng gọi tôi một tiếng gia, thế mà không biết tính toán cho tôi gì cả.”
    Minh Châu cười nói: “Tuy chỉ là một bức bình phong song suy cho cùng thì đó cũng là thứ tôi khổ cực thêu ra.

    Nếu không vì muốn Thường Trọng Nguyên tiến cử tôi lên kinh thì tôi sẽ không lấy ra để những kẻ hám lợi đen lòng này xem đâu.

    Nay bị loại trộm này trộm đi thì càng không biết sẽ lưu lạc đến tay kẻ dung tục nào.

    Lục gia hãy thông cảm cho lòng dạ hẹp hòi của tôi, chớ tính toán với tôi.”
    Tịch Tà bảo: “Không bao lâu nữa Thành Thân vương sẽ mua nó vào vương phủ, dù sao kiệt tác của cô đặt trong vương phủ cũng nên yên tâm được rồi.”
    “Thành Thân vương là người tốt lành gì đâu, cuối cùng cũng không thoát khỏi kết cục tịch thu tài sản và bị giết cả nhà, nhưng dù sao cũng hơn tên trộm vặt kia một chút.” Minh Châu nói, “Dám nói đây là bình phong đồng nát, làm hai cổ tay gã bị thương còn chưa đủ đâu, nhẽ ra nên chọc mù mắt chó của gã.”
    “Mắt gã sớm muộn cũng là của cô thôi!” Tịch Tà không khỏi mỉm cười, liếc nhìn Minh Châu, “Người trên giang hồ nói, thứ mà Thẩm Phi Phi vừa ý, không tới tay thì sẽ không chịu thôi.”
    “Lục gia!” Minh Châu oán hận giậm chân.
    “Cô cứ từ từ hãy về cung.” Tịch Tà trỏ vào cái cuộn sau lưng Minh Châu, “Trả Bức tranh Cửu Ca về quán Hòa Quyên trước quan trọng hơn.”
    “Vâng.” Minh Châu xoay người đi mấy bước, bỗng nhiên thở thật dài, nói, “Tôi cực khổ đấu một hồi, chặn lấy Bức tranh Cửu Ca từ trong tay Thẩm Phi Phi, thế mà Lục gia chỉ mở miệng đã khiến nó của về chủ cũ.

    Mánh lới ‘Bọ ngựa bắt ve, chim sẻ ở sau’ này của lục gia quả là cao siêu.”
    Tịch Tà cười: “Trò xiếc bị nhìn thấu rồi, ha ha.”
    Trong cung bận rộn nửa năm, cuối cùng công chúa Cảnh Giai cũng khởi hành đúng hạn vào đầu tháng Tư.

    Cuối cùng cục Châm Công, cục Nội Chức Nhiễm cũng có thời gian nhàn rỗi.

    Ngày vui ngắn chẳng tầy gang, trong cung Nghị phi lại truyền ra vui tin, thời gian sinh của nương nương sinh vào cuối năm, thái hậu và hoàng đế đều có chỉ ý rằng các nha môn trong cung phải chuẩn bị sớm, chỉ chờ tiểu hoàng tử được sinh ra.
    Lúc hoàng đế mới được mười bảy tuổi, nữ quan Đặng Thị sinh ra một vị công chúa.

    Sau đại hôn, hoàng hậu đã từng có một vị hoàng tử, còn chưa đặt tên đã chết yểu ở trong tã lót.

    Những năm gần đây, ngay cả Thành Thân vương cũng có thêm hai vương tử, hoàng đế đã hai mươi lăm tuổi, vẫn không con nối dõi, chắc chắn là mối họa trong lòng triều đình.

    Cho nên hoàng đế hết sức coi trọng đối với tin vui có thai của Nghị phi lần này, đã lệnh cho viện thái y khám hằng ngày, sắp tới ngày sinh thì tiến cử bà đỡ vào cung, do thái hậu, hoàng hậu thẩm định tuyển chọn.
    Nghị Phi có thể sinh ra hoàng tử dường như đã là việc chắc chắn, không ai dám ảnh hưởng đến mong muốn của hắn ta nên đều tỏ vẻ mặt vui sướng theo chủ.

    Nhưng hầu lâu trong cung, phần lớn đều biết chuyện không như ý luôn khó lòng phòng bị.

    Hôm đó Tịch Tà tới hỏi việc này làm như thế nào, thái giám Trương Cố quản lý cục Châm Công không khỏi thở dài, bảo: “Nhiều năm rồi trong cung không có việc này rồi.

    Tuy cuối năm Nghị phi nhất có thể sinh thêm một vị hoàng tử cho vạn tuế gia nhưng phàm là sự việc thì luôn có lỡ như.

    Chúng ta làm nô tài, vẫn phải chú ý cẩn thận, cứ việc làm theo quy định cũ.” Nói rồi vươn hai ngón tay ra, “Làm hai phần.”
    “Vâng.” Tịch Tà suy nghĩ một lát, lại hỏi, “Làm theo quy cách nào ạ? Nếu như là hoàng tử thì dù không phải thái tử gia con vợ cả nhưng cũng là hoàng tử trưởng.

    Huống hồ Nghị phi xuất thân cao quý, là nương nương chính thức, không giống Đặng nương nương lúc trước.

    Ngài xem trước đây có tiền lệ hay không?”
    “Đâu ra cái loại tiền lệ này.” Trương cố nói, “Vạn tuế gia các đời đều đăng cơ lúc trưởng thành, lúc còn là thái tử trong Đông cung đã sinh con trai trưởng rồi.

    Nếu cậu thật sự để ý thì đành hỏi bộ lễ thôi.”
    “Vâng.”
    “Vạn tuế gia thường cho đòi cậu, chi bằng tìm cách hỏi ý hoàng thượng đi.”
    Tịch Tà cười bảo: “Hoàng thượng bận việc triều chính, nào có thời gian rảnh rỗi cho đòi tôi.

    Còn nữa, dù sao cũng còn bảy, tám tháng, lúc này nói ra thì có lẽ hoàng thượng sẽ cảm thấy thời gian còn sớm mà không để bụng mất.”
    Quả nhiên bị Tịch Tà đoán đúng, hoàng đế nghe bộ Lễ nhắc tới việc này thì không nhịn được nói: “Đó là chuyện cuối năm, bây giờ điều trẫm để ý không phải việc này.

    Chuyện quan trọng nhất vẫn là mẹ con bình an.

    Các khanh cứ viết một tấu chương dâng cho thái hậu, hoàng hậu xem là được.”
    Phiền não của hoàng đế là một chuyện khác.

    Công chúa Cảnh Giai đã vào ở dịch quán Lương châu.

    Ban đầu thời gian kết hôn vào mười lăm tháng Năm nhưng vì Hung Nô xâm phạm xuống phía nam, Lương châu đứng mũi chịu sào nên Lương vương Tất Long buộc phải đến các cửa ải quan trọng đôn đốc, chỉ sợ thời gian sẽ phải liên tục kéo dài.

    Tấu sớ khẩn cấp của thị lang bộ Lễ Đậu Căng hộ tống công chúa xuất giá tới kinh, xin chỉ thị của hoàng đế.
    Hoàng đế nói với Hoắc Viêm phác thảo chiếu thư: “Bảo anh ta chỉ cần chờ ở Lương châu, khi nào Tất Long trở về Lương châu thì lúc bấy sẽ làm lễ.”
    Thành Thân vương nói: “Hoàng thượng không thể trách anh ta được.

    Anh ta là một quan văn, đến nơi biên cương đó, nghe nói Hung Nô xâm phạm thì chắc chắn sẽ nơm nớp lo sợ.”
    Hoàng đế nói: “Tướng sĩ biên quan cũng làm từ máu thịt như anh ta, anh ta sợ chết thì có thể được nể tình mà tha thứ hay sao?”
    “Hoàng thượng đúng là!” Thành Thân vương cười nói, “Trong mắt không cho phép có một hạt cát.

    Chỗ thần có một quyển tấu chương đã giấu một ngày rồi, hoàng thượng xem xong chớ mắng người.”
    Hoàng đế nhận lấy, liếc mắt đã thấy ba chữ “Vu Bộ Chi” thì sầm mặt lại, cất tấu chương đi rồi nói với người chung quanh: “Các ngươi lui xuống cả đi.” Trông người trên điện đều đi hết mới bảo Thành Thân vương, “Em còn có mặt mũi nhắc đến người này à? Năm đó nếu không phải ta ngăn cản thì tên Vu Bộ Chi này đã bị mẫu hậu dùng gậy đánh chết lâu rồi, nay em lại muốn tiến cử y làm tri phủ Hàn châu, chỉ cần có tiếng gió thổi tới tai mẫu hậu thì y còn mạng nữa à?”
    Thành Thân vương nói: “Khi đó thần còn nhỏ nên không hiểu chuyện, bây giờ đã cải tà quy chính, đã cắt đứt qua lại với y nhiều năm.

    Chỉ là thần thấy y quả thật là một nhân tài, mấy năm nay địa phương của y bình yên vô sự, dân chúng an cư lạc nghiệp.

    Giờ là lúc hoàng thượng dùng người, lẽ nào cứ phải so đo hiềm khích ngày trước?”
    Hoàng đế nói: “Ta và y thì có hiềm khích ngày trước gì chứ? Em nói y là nhân tài, không ngại dùng y, có điều phải nói cho rõ ràng, đến lúc mẫu hậu lấy mạng của y thì em đừng có khóc lóc đến cầu xin ta.”
    Thành Thân vương nói: “Vâng.

    Vậy là hoàng thượng bằng lòng rồi?”
    “Nếu thực sự muốn dùng y, em hãy nói với đám Lưu Viễn một tiếng.

    Học sinh của Thái Tư Tề của lão sẽ được bổ sung vào bố chính sứ Hàn châu, bảo hắn ta tiến cử trên tấu sớ, dù sao cũng hơn em lôi ra thù mới hận cũ.”
    Thành Thân vương cười rồi hành lễ đi ra.
    Ít ngày sau, hoàng đế trả lời tấu thư của bộ Lại, bộ Binh, thăng chức cho thị lang bộ Lại Thái Tư Tề thành bố chính sứ nhị phẩm, ngay hôm đó đến ty bố chính sứ Hàn châu để nhậm chức.

    Nguyên tri phủ Lạc châu Vu Bộ Chi vào kinh để nghe lệnh điều động đến Hàn châu, nguyên đốc thống ty Binh mã ngũ thành Dương Lực Hòa thăng chức làm quan phó tổng binh trấn thủ Hàn châu, nguyên tướng quân du kích Lục Tuần thăng làm tham tướng giữ đường Đông Hải.
    Triều đình và dân gian tất nhiên lại bàn luận sôi nổi.

    Lần này Hàn châu bị thuyên chuyển nhiều, ngoại trừ Dương Lực Hòa đã qua tuổi tứ tuần, ba người còn lại đều là bề dưới mà trọng thần chẳng bao giờ để trong mắt.

    Thái Tư Tề mới ba mươi sáu tuổi đã là quan lớn chính nhị phẩm ở địa phương, xưa nay chưa từng có.

    Lục Tuần cũng mới ngoài ba mươi.

    Nhất là Vu Bộ Chi, năm ấy hai mươi bốn tuổi đã được điều từ địa phương nhỏ nơi biên cương đến nhậm chức ở Hàn châu quan trọng, ở trong mắt quần thần là hành động cả gan làm loạn của hoàng đế.

    Ngược lại có người lén nói, phần lớn các trọng thần của các phủ, bộ, viện, tự hiện nay đều vẫn cựu thần mà thái hậu bổ nhiệm lúc còn nhiếp chính, có kẻ cậy già lên mặt, thỉnh thoảng làm hoàng đế khó chịu.

    Hoàng đế thích đề bạt bề tôi còn trẻ vì có lòng hư vinh của người trẻ tuổi như mình trong đó nên chẳng có gì lạ.
    “Nói như vậy thì coi thường hoàng thượng rồi.” Thành Thân vương không cho là đúng, “Tuổi còn trẻ thì làm sao? Có thể làm được việc lớn là được, những lão già sắp chết này có làm được chuyện gì tốt không? Nếu không phải hoàng thượng anh minh, chỉ sợ người giống như anh phải chờ tới khi bọn họ chết hết mới có ngày nổi danh.

    Nay anh đã là sử quan ở viện Hàn Lâm, lại là khách ở trung thư, trong khóa năm nay chỉ có một mình anh được gần gũi hoàng thượng như vậy, bao nhiêu người nhìn vào đấy, chớ khiến hoàng thượng mất mặt.”
    “Vâng, vương gia nói phải.”
    Bàn cờ này đánh đến lúc cuối thì khiến Thành Thân vương bực tức, làm Hoắc Viêm bất ngờ.

    Y thấy từ sáng Thành Thân vương đã đứng ngồi không yên, không tập trung, lại nghĩ tới buổi chiều phải trở về cung Càn Thanh làm nhiệm vụ bèn vội vàng cáo từ.

    Thành Thân vương cũng không giữ y lại, sai người tiễn y ra ngoài phủ.

    Ở trước cổng lớn, vừa vặn nhìn thấy một viên quan mặc quần áo chính tứ phẩm xuống ngựa, Hoắc Viêm thấy anh ta cực kỳ trẻ tuổi thì không khỏi nhìn thêm mấy lần.

    Qun viên trẻ tuổi kia cũng khẽ gật đầu với y, vẻ phong lưu trong mắt vô hạn khiến người ta sinh ra cảm giác lóa mắt.

    Hoắc Viêm ngẩn người, nghe người đi theo hầu của anh ta nói với gã sai vặt trước cổng vương phủ: “Vu Bộ Chi mới nhận chức tri phủ Hàn châu bái kiến vương gia.”
    “Quả nhiên là Vu đại nhân đến, sáng nay vương gia đã hỏi nhiều lần đấy.

    Xin đại nhân chờ một lát, để tiểu nhân vào thông báo.”
    Thì ra chính là anh ta! Hoắc Viêm đã nghe nói trạng nguyên Vu Bộ Chi sớm hơn mình hai khóa này, mười tám tuổi đã đỗ cao trong kỳ thi đình, vốn dĩ con đường phía trước rộng mở thênh thang nhưng không biết phạm phải sai lầm gì mà bị cách chức tới Lạc Châu xa xôi, chịu khổ bốn năm năm mới về.
    Chốc sau gã sai vặt kia lại chạy tới, nói: “Mời đại nhân.”
    Vu Bộ Chi gật đầu theo gã sai vặt vào phủ, phía trước đã có sư gia họ Triệu của vương phủ đang chờ, dẫn anh ta đến viện mà Thành Thân vương sinh hoạt hằng ngày.

    Từ xa anh ta đã trông thấy Thành Thân vương đứng ở dưới hiên, cười vẫy tay với mình.
    Vu Bộ Chi bước vội mấy bước về phía trước, quỳ xuống dập đầu: “Thần Vu Bộ Chi thỉnh an vương gia.”
    Thành Thân vương phất phất tay, cho những người khác lui.

    Trong viện yên tĩnh, chỉ có tiếng hoa rơi chạm đất, Thành Thân vương ở trong bóng tối hành lang mỉm cười với anh ta: “Anh Vu vẫn khỏe sau khi ta chia tay chứ?”
    “Vâng, thần khỏe ạ.

    Mấy năm nay vương gia có an khang chăng?” Trong nháy mắt chọc đến sự trầm mặc trong tâm hồn người ta làm Vu Bộ Chi hơi run rẩy.

    Thành Thân vương chậm rãi nâng chiếc cằm xinh đẹp của anh ta lên, trông xuống ánh mắt của anh ta, thấp giọng nói: “Anh vì tôi mà bị giáng chức đến Lạc châu, tôi vì anh mà nhớ nhung thành bệnh, năm năm qua há có một ngày an khang?”
    “Cảnh Nghi!”
    Một loại hoa hồng đỏ rực rỡ tươi đẹp lộ ra từ đôi môi Vu Bộ Chi, tiếng gọi này như có màu sắc chói mắt chiếu rọi vào cảm xúc trong mắt Thành Thân vương, trong cơn gió vốn mát mẻ dần dần phả ra một luồng khí nóng bỏng làm Thành Thân vương khô miệng khô lưỡi.

    Thành Thân vương vội vã m*t xuống đôi môi dào dạt tình cảm của Vu Bộ Chi như thể nó chính là dòng suối trong mãi không cạn kiệt vậy..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 8: 8: Lương Vương Tất Long


    Tình hình của Lương châu đã vượt xa khỏi dự liệu của triều đình.

    Ban đầu họ cho rằng lần này kẻ xuôi nam vẫn là bộ tộc nhỏ gần mười năm nay sống rải rác ở phía bắc Nhạn môn, không ngừng đến gây rối nên lúc đó ngoại trừ một mình Lương vương lo lắng ra thì văn võ cả triều đều không xem trọng, thậm chí có kẻ còn cho rằng Lương vương không để ý đến thời gian kết hôn với công chúa mà đến tiền tuyến đôn đốc việc đàn áp bọn giặc vẻn vẹn ngàn người, trừ khả năng muốn mua danh cầu lợi ra thì chính là sự bất kính rất lớn đối với triều đình.

    Không biết hoàng đế từ đâu nghe được những lời bàn lén lút ấy mà lên án kịch liệt một trận trong triều, rằng: “Lương châu là cửa ngõ phía bắc của Trung Nguyên, Lương vương Tất Long tôn kính làm hết phận sự canh giữ, không tiếc việc lùi lại hôn kỳ tạ tội với triều đình, tự mình chống địch ở trận tiền.

    Các đại thần làm quan trong triều không biết nỗi khổ cực gian nan của tướng sĩ biên quan mà còn phỉ báng xằng bậy ở sau lưng.

    Từ rày nếu còn những lời đồn đại này truyền tới chỗ trẫm nữa thì phải chỉ đích danh đưa tới biên cương sung quân.”
    Nếu Hung Nô đã xâm phạm, Lương vương còn ở trận tiền thì hoàng đế sao yên vui cho được? Năm nay hoàng đế lại chưa theo thái hậu cùng đi tới Thượng Giang tránh nóng.

    Bấy giờ thống lĩnh thị vệ Hạ Dã Niên nhận việc bên ngoài, tuần sát trường thi võ ở các nơi nên hoàng đế đặc biệt ra lệnh Khương Phóng thay thế, bảo vệ thái hậu, thái phi lên đường và hầu giá ở hành cung.

    Tình hình lúc bấy hơi bất ổn, hoàng đế chỉ e thái hậu bị kinh sợ ở trên đường hoặc ở hành cung nên khiêm khắc lệnh cho Khương Phóng mang nhiều binh lính bảo vệ thái hậu ở hành cung, không được có sai sót.
    Ngày tám tháng Sáu, quân báo khẩn cấp từ Lương châu cách tám trăm dặm đến kinh, Hung Nô chừng vạn người đã công phá Nhạn Môn quan, đốt giết cướp đoạt, ba ngày thì lui binh, làm chết ba nghìn tướng sĩ, hơn hai nghìn dân chúng bị giết bị cướp, mất vô số lương thực súc vật.

    Lương vương Tất Long không kịp chờ lệnh của triều đình đã điều động ba vạn binh mã Lương châu ra cửa quan hiểm yếu, đóng ở vùng Nhạn môn, Xuất Vân.
    Hoàng đế lập tức trả lời quân báo, chấp thuận cho Lương vương điều động binh mã địa phương, lại lệnh cho bộ Binh, viện Xu Mật[1] và bộ Hộ cùng bàn đối sách, thúc giục việc phân phát lương bổng.
    [1] là cơ quan chính quyền trung ương chịu trách nhiệm về lực lượng quân sự của nhà nước
    Ngày mười lăm tháng Sáu, tiền tuyến truyền đến tin chiến thắng, cả vạn binh mã của Lương vương gặp Hung Nô, Hung Nô có một vạn người, lực lượng hai phe ngang nhau.

    Tất Long làm gương cho binh sĩ, chiến đấu quyết tử nửa ngày, may mắn có viện binh đánh lén cánh sườn Hung Nô làm Hung Nô đại bại bỏ chạy cả trăm dặm.

    Lương vương bị trúng một mũi tên trong lúc ác chiến, đã được đưa gấp về Nhạn Môn quan, trong lúc cấp bách vẫn còn xin công cho hai đại tướng dùng binh cơ trí, cứu viện kịp thời là Lưu Tư Hợi và Ô Duy.
    Hoàng đế xem tấu của Tất Long rồi đối chiếu với mật tấu của Tịch Tà, nói: “Tất Long không nói dối gì, anh ta gan dạ thành thật, là một hiền vương giỏi cầm binh.

    Vào lúc này của năm ngoái Tất Long đang ở trong kinh, khi đó trẫm cảm thấy tuy anh ta còn trẻ tuổi, lại lắm nao núng a dua nên không coi anh ta ra gì, nay nghe khanh tấu mới biết anh ta anh dũng thiện chiến, không có lòng riêng trong việc lớn của quốc gia, thật là đáng kính.

    Tiếc nỗi…”
    Tịch Tà nói: “Chỉ cần có thể làm việc cho hoàng thượng thì đều coi là người một nhà.

    Nay Tất Long ở tiền tuyến, lương thảo quân lương đều bị hoàng thượng khống chế, đã rơi vào trong tay hoàng thượng, Hung Nô xuôi nam lại thành cơ hội của hoàng thượng.

    Lời này của nô tỳ quả là đại nghịch bất đạo, xin hoàng thượng thứ tội.”
    Hoàng đế cười, nói: “Lời này có lý, nói riêng thì trẫm sẽ không trách khanh.

    Có điều Tất Long dùng binh dũng mãnh, cuộc chiến này cũng không kéo dài đâu.”
    Tịch Tà nói: “Nô tỳ cảm thấy bên trong này còn có nghi vấn.

    Năm ngoái Hung Nô xâm phạm chỉ lác đác hơn ngàn người, sao lần này đã đạt đến cả vạn? Lương vương vốn là người Hồ, có lắm tai mắt ở phía bắc Nhạn môn, nếu không biết Hung Nô hành động khác trước thì cần gì kéo dài thời gian kết hôn mà vội vàng đến các cửa ải quan trọng? Nô tỳ cảm thấy không thể coi thường cuộc giằng co với Hung Nô lần này được.”
    Hoàng đế bảo: “Hiếu Tông gia và tiên đế chinh phạt Hung Nô trong suốt hai mươi năm, năm Thượng Nguyên thứ sáu năm và năm thứ chín đuổi Hung Nô ra xa nghìn dặm, khó khăn lắm mới có mười lăm năm thái bình, lẽ nào chúng lại muốn ngóc đầu trở lại sao?”
    Tịch Tà nói: “Thiền Vu[2] đều có thủ đoạn tàn khốc, nhiều năm chinh chiến thống nhất các bộ tộc, chỉ sợ lúc này thảo nguyên nghìn dặm ngoài cửa ải đã không thể thỏa mãn dã tâm của ông ta rồi.”
    [2] Tên hiệu của vua Hung Nô.
    “Mấy năm trước trong tấu báo cáo của Lương vương còn nhắc tới tên Thiền Vu này, đã hơn năm mươi tuổi rồi, ắt hẳn trước khi chết muốn nếm thử cái ngon ngọt của Trung Nguyên.

    Phương Bắc có ông ta nhìn chằm chằm như hổ đói, ở đây lại thêm vài thân vương giấu giếm âm mưu, đúng là loạn trong giặc ngoài.”
    Tịch Tà cười lạnh lùng lạ thường, nói: “Quân đội tinh nhuệ của Hung Nô hung hãn sắc bén là mâu, đại quân chư hầu hùng bá một phương, mạnh ai lấy làm là thuẫn, hai bên đều là thần binh lợi khí trong tay hoàng thượng.

    Lấy cái mâu kia tấn công cái thuẫn kia, hoàng thượng cho rằng kết cục sẽ ra sao?”
    Hoàng đế phe phẩy cây quạt, chậm rãi bảo: “Chúng ta cũng coi như là người đang đùa với lửa.

    Muốn lửa này không đốt vào sân nhà mình thì phải tốc chiến tốc thắng.”
    Tịch Tà nói: “Hoàng thượng thánh minh.”
    “Chuyện khác thì cứ từ từ bàn bạc mà làm.” Hoàng đế nói, “Nhưng thời gian kết hôn của Cảnh Giai không thể làm chậm trễ mãi được.

    Nếu như trận chiến này mất hai ba năm, Tất Long khó có thể thoát thân, hoặc nếu chết trận thì chẳng phải Cảnh Giai sẽ chịu bất hạnh ư?”
    “Chỗ nô tỳ còn có một việc chưa tâu với hoàng thượng.

    Hai ngày trước công chúa đã lên đường đến Nhạn Môn quan, muốn thành thân với Lương vương trước quân đội.”
    Hoàng đế ném cây quạt xuống bàn, biến sắc nói: “Cái gì? Kẻ nào xúi bẩy nó đi đấy?”
    “Bề tôi nào dám giật dây công chúa mạo hiểm đâu ạ.

    Chuyện này chỉ có bản thân công chúa quyết định được thôi.”
    So với sầu lo thì hoàng đế càng cảm thấy việc này không thể tưởng tượng nổi.

    Hắn ta đi mấy bước xong cuối cùng đành cười nói: “Từ Lương châu tới Nhạn môn ít cũng phải đi mười ngày, trên đường hung hiểm cỡ nào.

    Nó không thèm để ý những việc này, vội vã muốn lấy người ta đến thế cơ à?”
    Công chúa Cảnh Giai đã chạy gấp ở trên thảo nguyên năm ngày rồi, tính ra đã đến Lương châu hai ngày, lộ trình đã qua bảy phần mười.

    Vén rèm cửa sổ xe ngựa lên, thứ có thể nhìn thấy vẫn là thảo nguyên và bầu trời xanh lam.

    Bởi vì gần đây Hung Nô làm loạn kịch liệt nên vùng Nhạn môn đã không còn ai dám chăn thả, thế nên nguyện vọng nhỏ nhoi là được trông thấy cảnh tượng dê bò thành đàn của công chúa Cảnh Giai cũng coi như tan vỡ.
    Không cần phải nói, lúc này chắc chắn triều đình Trung Nguyên đang trách mình tùy hứng, nhưng ở Lương châu, vừa nói mình muốn đến tiền tuyến theo Lương vương Tất Long thì “bao nhiêu người đàn ông hào sảng cũng phải đồng thanh hoan hô”.

    Vợ bé Hòa Lam của Lương vương cũng giơ ngón cái khen ngợi công chúa Cảnh Giai.
    “Nếu công chúa quyết ý đến Nhạn môn thì thần thiếp ắt sẽ hầu ở bên.” Hòa Lam có dáng người cao gầy, làn da trắng nõn được mái tóc dài đen nhánh thắt bím làm nổi bật lên như tuyết rơi, lộ ra vẻ linh lợi, lúc cười mang theo sự sảng khoái mà các cô gái Trung Nguyên ít có.

    Đặc biệt là tiếng phổ thông cuốn lưỡi của nàng ta khiến giống như âm nhạc, khiến người ta say mê.
    “Đây là cái gì thế?” Cảnh Giai nhìn nàng ta thấy thân thuộc, mới trỏ về phía cái móc câu màu vàng kỳ lạ ở bên hông nàng ta mà hỏi.
    “Vật này ư?” Hòa Lam lại cười, “Đây là cái móc mà con gái người Hồ chúng thần thiếp dùng để treo đao.

    Thần thiếp không dám đeo đao gặp công chúa, cho nên công chúa chỉ nhìn thấy vật này mới cảm thấy kỳ lạ.”
    “Cô cũng đeo đao à? Cởi cái móc này xuống cho ta xem một lúc được không?”
    Hòa Lam ngớ ra, nói: “Công chúa thứ tội, đây là vật Lương vương ban thưởng, ban ngày cởi xuống không may mắn lắm.”
    Cảnh Giai thở dài, nói: “Việc này còn phải chú ý nhiều vậy à?”
    “Cái móc treo này tên móc ly biệt, do người chồng đưa tặng cùng loan đao khi mang sính lễ đến, ban ngày không thể rời khỏi người, rời thì sẽ xa cách phu quân, tự quay về nhà mẹ đẻ, mãi mãi không gặp lại nữa.

    Cho nên người Hồ chúng tôi chỉ cần tháo móc ly biệt của vợ xuống là coi như bỏ vợ rồi.”
    Cảnh Giai cười nói: “Lúc Lương vương dâng sính lễ lên triều đình không có cái thứ này.”
    Hòa Lam nói: “Công chúa là người Trung Nguyên, lại là lá ngọc cành vàng, không thể so sánh với con gái người Hồ chúng thần thiếp được.”
    Từ đó trở đi, Cảnh Giai vẫn ngẫm nghĩ mãi những lời này.

    Lúc bấy xe ngựa đã lắc lư làm gân cốt nàng sắp nứt, bên tai lại truyền tới tiếng ca như ánh mặt trời rọi khắp thảo nguyên của Hòa Lam, đám hầu gái nhẹ nhàng hợp âm giống như mây trắng trôi ở chân trời.

    Trên móc ly biệt bên hông Hòa Lam treo một thanh đao cong như trăng non, châu sáng ngọc quý phản xạ ánh mặt trời đâm vào làm Cảnh Giai không mở mắt nổi.
    “Công chúa có biết cô nàng này chính là vợ bé mà Lương vương sủng ái nhất không?”
    Cảnh Giai thờ ơ với lời nói của Quý ma ma, lơ đãng nói: “Thật sao?”
    “Công chúa chớ coi thường nàng ta, trong phủ Lương vương đều gọi nàng ta là Hòa Lam phi đấy.

    Trước giờ Lương vương chưa có vương phi chính thất, không thể phong nàng ta, nay chỉ chờ công chúa và Lương vương thành hôn là sẽ cho nàng ta danh phận trắc phi.”
    “Ma ma đúng là người thích pha trò!” Cảnh Giai buông rèm cửa sổ xuống, thấp giọng nói, “Bà muốn đường đường một cô công chúa Trung Nguyên như tôi tranh giành tình cảm với một cô gái người Hồ hay sao?”
    “Nô tỳ không dám.”
    “Nếu không phải thấy bà đã nhiều tuổi như vậy mà còn theo tôi lên bắc thì lúc này đã vả miệng bà rồi.”
    Xe ngựa đột nhiên lắc lư, đột ngột ngừng lại, bên ngoài ngựa hí người kêu.

    Quý ma ma vén mành trước mặt lên, thò đầu ra hỏi: “Có chuyện gì thế?”
    Hòa Lam quay đầu ngựa lại đi tới, chỉ vào con đường cuồn cuộn bụi bay phương bắc, nói: “Có bốn năm nghìn người ngựa chỉ cách đây có hơn mười dặm.”
    Đậu Căng vội vã chạy tới, vừa lúc nghe được câu này, sắc mặt đã tái xanh, nói năng lộn xộn: “Công, công chúa, nên làm thế nào cho phải? Làm thế nào cho phải đây?”
    Hòa Lam nói: “Hai nghìn tướng sĩ Trung Nguyên, hai nghìn thị vệ hộ tống của Lương châu, miễn cưỡng có thể quyết chiến cùng bọn chúng, nhưng khó bảo vệ chu đáo cho công chúa.

    Nay chỉ đành để bốn ngàn người các người ngăn cản một lúc để tôi dẫn công chúa trốn ra phía sau gò núi hướng đông nam kia.”
    Tướng sĩ người Hán là Lỗ Tu cũng đi đến, gật đầu nói: “Cứ làm theo Hòa Lam phi nói, Đậu đại nhân mang mệnh lệnh, mời cùng tránh đi trước.”
    “Dạ dạ dạ.” Đậu Căng như được đại xá, nói với phu xe, “Còn không mau đi theo Hòa Lam phi.”
    Hòa Lam nói: “Lúc này còn dùng xe ngựa thế nào được? Công chúa, xin di giá ra bên ngoài, thần thiếp dẫn công chúa cưỡi ngựa đi.”
    Quý ma ma nói: “Cơ thể công chúa là lá ngọc cành vàng, gặp ngoại thần thì trái với lễ nghĩa, không thích hợp.”
    Đậu Căng vội la lên: “Lúc này chạy thoát thân quan trọng hơn, còn có thể chú ý việc này nữa ư?”
    Quý ma ma lập tức nghẹn lời, trở lại bên trong xe xin chỉ thị của công chúa.

    Đậu Căng sốt ruột đến mức đầu đầy mồ hôi lạnh, quay quanh xe ngựa.
    Công chúa Cảnh Giai ở bên trong trầm ngâm một lát, mới đeo khăn che mặt thật dày rồi để Quý ma ma đỡ ra.
    Quý ma ma nói: “Công chúa không biết cưỡi ngựa.

    Xin Hòa Lam phi chăm sóc.”
    “Tôi hiểu mà.” Hòa Lam đưa tay nhấc Cảnh Giai lên ngựa của mình, hét lớn một tiếng rồi dẫn đám hầu gái của mình và Đậu Căng phi nhanh về phía đông nam.

    Công chúa ôm chặt lấy eo Hòa Lam, chỉ lo vùi đầu vào lưng nàng ta nhưng người vẫn không ngừng run.
    Ngựa chiến nhảy lên sườn núi, trước mắt là khe núi bao la, phía sau đã truyền đến tiếng móng ngựa ầm ầm như sấm.

    Hòa Lam quay đầu nhìn rồi quát: “Đi mau!”
    Người Đậu Căng run như cầy sấy, vội nói: “Vâng.” Và là người đầu tiên lao xuống sườn núi.

    Hầu gái A Lưu bên cạnh Hòa Lam theo sát phía sau, chạy song song với Đậu Căng, rút con mã tấu[3] từ hông ra vung về phía cổ Đậu Căng.

    Ánh sáng trắng lạnh thấu xương, kèm theo đó là tiếng đứt gân gãy xương, đầu Đậu Căng bay ra cách cả trượng, đoạn thân thể còn ở giằng co trên yên một lát mới ngã xuống ngựa.
    [3] Mã tấu là cách gọi của một loại gươm truyền thống, nó có hình dạng là một thanh gươm dài có độ cong vừa phải, sắc một lưỡi, đa phần là cứng chứ không mềm như kiếm, phần chuôi cầm bằng gỗ để giảm trọng lượng (khác với kiếm và đao vì hai loại này phần chuôi thường làm bằng kim loại).

    Mã tấu là vũ khí tích hợp chuyên dụng của kỵ binh trong điều kiện chiến đấu trên lưng ngựa.

    Do mã tấu có sóng đao khá dày và bén một lưỡi nên tăng độ cứng cho vũ khí và tăng lực chém khi kết hợp với đà phi của ngựa – chữ “mã” là để chỉ ngựa (Kỵ Binh).

    Do sức sát thương cao, bền và dễ chế tạo nên mã tấu được trang bị rất phổ biến trong quân đội thời trung đại và một số đội quân hiện đại vẫn dùng để tăng khả năng chiến đấu cận chiến của bộ binh.
    Hòa Lam bay nhanh tới nói: “Dẫn ngựa của anh ta theo.”
    Dường như công chúa không biết đã xảy ra chuyện gì, chỉ lo ôm Hòa Lam không rời.

    Hơn mười con ngựa giỏi nhiều màu không ngừng phi nhanh về chỗ sâu trong thảo nguyên.

    Chốc sau mọi người đã lướt qua hai con dốc thoải, A Lưu tiến lên nói với Hòa Lam, “Phi tử, nơi này vẫn không thấy truy binh, lẽ nào sự việc có biến?”
    Hòa Lam cau mày bảo: “Dẫn theo nàng ta thì sẽ phiền phức, chi bằng giải quyết tại chỗ lúc còn chưa muộn.” Đoạn xoay người lại đẩy công chúa từ trên ngựa xuống.
    Công chúa thét lên một tiếng kinh hãi, lăn ra thật xa, nằm sấp tại chỗ r*n r* không ngừng.

    Đám phụ nữ người Hồ quay ngựa lại, vây quanh nàng mà cười đùa.
    A Lưu ở trên ngựa nói: “Dựa vào dáng vẻ này của cô, sao xứng làm vương phi của Lương vương, còn mơ mộng muốn chèn ép quận chúa Hòa Lam của bọn tôi?”
    Lúc Hòa Lam cười nhạt có sự quyến rũ động lòng người, đôi mắt long lanh màu lam sẫm ra hiệu cho A Lưu.

    A Lưu bèn nhảy xuống ngựa, cầm mã tấu tới nắm lấy tóc công chúa.

    Lưỡi đao sắc bén đâm vào cơ thể, máu b*n r* cực nhanh, trong nháy mắt ánh đao xuyên qua ngực A Lưu rồi đột nhiên biến mất.

    Trong lúc Hòa Lam kinh hãi đã thấy công chúa bay vút lên, một thanh kiếm màu xanh nhạt vọt ra từ trong quần áo cưới hoa lệ, nhanh chóng không tiếng động, mang theo luồng khí lạnh lẽo đâm về phía Hòa Lam.

    Gương mặt sau mạng che mặt giá lạnh, đen kịt đến mức trái ngược như một áng mây trắng trong bầu trời xanh vạn dặm.
    “Nam…” Nửa tiếng hứt kinh hãi của Hòa Lam bị thanh kiếm đâm đứt trong cổ họng.

    Thanh kiếm của chàng trai ập tới như sấm sét, trong lúc các hầu gái vẫn đang kinh ngạc đã giết liền năm người, năm hầu gái còn sót lại nhanh chóng giục ngựa chạy tan tác ra bốn phía.

    Chàng trai kia tháo hũ tên đeo sau lưng xác chết xuống, bắn liền năm mũi tên, năm hầu gái theo tiếng ngã ở dưới ngựa.
    Hòa Lam đang ôm cổ, nằm sấp trên ngựa hãy còn vùng vẫy, quần áo trước người đã bị máu tươi thấm ướt từ lâu.

    Chàng trai kia đi tới trước ngựa của nàng ta, kéo nàng ta xuống đất.

    “Lương vương còn có đôi lời nhắn nhủ tới cô.” Anh ta cúi người thong thả nói, “‘Hôm nay, cứ coi như bản vương có lỗi với cô vậy.’”
    Sự cảm thán của Hòa Lam nghẹt ở trong lồng ngực, trong đôi mắt sắp tàn của nàng ta, lúc chàng thanh niên nói câu này, trên mặt dường như mang theo một vẻ buồn thảm kỳ dị đến nỗi làm Hòa Lam ảo tưởng tới tình yêu thảm thiết vô hạn của Lương vương.
    Lỗ Tu nắm giữ cờ hiệu, lệnh bốn ngàn người lui lên trên con dốc thoải, nhìn từ trên cao xuống tản ra thành hình trăng non, vây quanh xe công chúa.

    Tướng sĩ Lương châu giỏi kiềm dây phóng ngựa nên sắp hàng ở trước tiên, chỉ chờ mũi tên được b*n r* là thúc ngựa ra tiến vào trận địa của địch.

    Quan binh Trung Nguyên theo công chúa tới có rất nhiều thị vệ trong cung hoặc người trong ty Binh mã ngũ thành, không giỏi chiến đấu trên ngựa, nhận lệnh quây xung quanh xe, lấy tịnh chế động.

    Tuy chức quan của Lỗ Tu đã đến tham tướng nhưng nhiều năm nay vẫn luôn giữ chức ở ty Binh mã ngũ thành, chưa bao giờ tự mình đến sa trường nên trong lòng không có mẫu, siết đôi tay đầy mồ hôi lạnh mà nhìn thống lĩnh thị vệ Lương châu là Xích Hồ.

    Xích đồ biết ý nói: “Tướng quân bày trận rất ổn thỏa, không sao cả.”
    Một lát sau, luồng bụi bay phía xa đã che khuất bầu trời xông đến trước mắt, còn có một con ngựa thoát ra khỏi hàng ngữ, chạy tới trước.

    Lỗ Tu nâng cao cờ lệnh, đang định phát lệnh thì Xích đồ đột nhiên lớn tiếng nói: “Tướng quân đợi đã! Thứ người kia cầm trong tay chính là cờ hiệu của Lương vương.”
    “Lương vương Tất Long cung nghênh phượng giá của công chúa.” Người nọ cầm cờ màu vàng đỏ trong tay, cao giọng hét lên.
    Lỗ Tu quát: “Không được cử động.

    Cẩn thận có bẫy.”
    “Quả thật là vương gia!” Trong đội ngũ có thị vệ của phủ Lương vương, gã trỏ vào một con ngựa giỏi màu đen dưới lá cờ lớn có chữ “Lương” phía trước, nói, “Đó là ngựa của vương gia.” Bốn ngàn người bên này mới vui mừng khôn xiết, hoan hô một hồi.
    Lương vương trúng tên đã khỏi hẳn, chạy tới trước trận tựa như gió lốc, ghìm chặt đầu ngựa rồi nhanh nhẹn nhảy xuống, phủ phục ở trước xe của công chúa mà dập đầu thỉnh an: “Thần Tất Long yết kiến phượng giá của công chúa.

    Công chúa cát tường như ý.”
    Bên trong xe truyền đến tiếng nói bình tĩnh của công chúa: “Lương vương bận rộn việc quân mà còn rời thành ba ngày để tới gặp đã đủ để bổn cung cảm nhận được tình cảm nồng hậu của Lương vương.

    Xin Lương vương hãy đứng lên.”
    Lương vương đứng lên rồi lại khom người nói: “Công chúa là lá ngọc cành vàng, không ngại xa xôi vạn dặm xuất giá đến tận nơi biên cương hoang vu này, Tất Long hết sức lo sợ, cảm ta ơn rồng triều đình.”
    “Lương vương nói quá lời rồi.

    Lương vương trấn thủ nơi hiểm yếu, là vật báu trong số trọng thần triều đình.

    Triều đình còn phải dựa vào Lương vương nhiều lắm, xin hãy giữ gìn cơ thể cao quý.”
    Họ thăm hỏi nhau một cách nho nhã lễ độ.

    Nếu Lương vương đã nín thinh không nhắc tới Hòa Lam thì công chúa cũng không muốn nhiều lời một chữ, ngay cả Đậu Căng cũng bị người khác quên sạch.
    Công chúa bình an đến Nhạn Môn quan, chọn ngày lành làm lễ hợp cẩn[4] với Lương vương xong, tấu tạ ơn của Lương vương cũng đến kinh nội trong vài ngày nữa.

    Hoàng đế biết được trong lúc gặp bọn giặc Hung Nô, Đậu Căng đã hi sinh để hộ giá thì cảm thán một hồi rồi truy phong sau khi mất thật hậu hĩ cho Đậu Căng.
    [4] lễ hai vợ chồng uống chung một chén rượu trong đêm tân hôn, theo phong tục thời trước.
    Còn về chuyện của Hòa Lam, Lương vương và vương phi không đề cập tới, Tịch Tà cũng không nói thì dĩ nhiên hoàng đế không thể nào biết được.
    Khương Phóng không nhịn được mà hỏi Tịch Tà: “Chủ nhân cảm thấy chuyện này không cần nói với hoàng đế ạ?”
    Tịch Tà nói: “Nếu công chúa đãbình yên vô sự thì chúng ta cũng không cần thiết chọc thủng chuyện xấu giữa hoàng thân quốc thích.

    Còn nữa, tôi còn chưa hiểu ngọn nguồn chuyện này, nói nhiều thì không biết sẽ dẫn tới điều gì nữa.”
    “Chủ nhân đang nghĩ gì vậy?”
    “Lôi Kỳ Phong.” Tịch Tà chậm rãi gập điệp báo lại rồi thở dài.
    Khương Phóng không khỏi ngẩn ra: “Lại là y?”
    Tịch Tà chuyển điệp báo tới tay Khương Phóng và nói: “Anh xem đi.

    Mười hai người chết sạch ở trong năm trượng xung quanh.

    Anh tự cho là mình có thân thủ nhanh như vậy à?”
    Khương Phóng vội vã xem qua một lần rồi cười khổ bảo: “Không ạ.”
    “Trước có tin đồn nói Lôi Kỳ Phong là người được Hồng vương nuôi lớn, bây giờ xem, quả nhiên không sai.”
    “Sao mà khẳng định được vậy ạ?”
    Tịch Tà nói: “Chúng ta luôn nói thiên hạ chia năm, ngoại trừ hoàng đế ra thì bốn thân vương mỗi người chiếm một phần.

    Thực ra nhìn vào tình hình hiện nay, phải nói là thiên hạ chia bốn mới phải.

    Bạch Đông Lâu tự biết mình, đã nương nhờ Đông vương từ lâu, địa bàn nhà họ Đỗ chiếm là hơn nửa vùng đông nam, lúc này đang hùng hổ hăm dọa, sao lại thỏa mãn một góc đông nam cho được? Vào tháng Năm, tin tức trong phủ Lương vương nói là người mà Đông vương phái đi Lương châu chúc mừng qua lại thân mật với cô vợ bé Hòa Lam của Tất Long.

    Cô gái này ở trong phủ Lương vương nổi tiếng hay ghen, cớ sao hôm mười ba tháng Sáu lại bảo vệ công chúa đến Nhạn môn? Lúc đó Lương vương biết được tin tức này sẽ nghĩ thế nào?”
    Khương Phóng nói: “Vả lại Hòa Lam này là quận chúa Nguyệt Thị[5] trước đây, năm đó Lương châu quy hàng Trung Nguyên, từ đó Nguyệt Thị làm khó dễ nhiều năm, lúc này sẽ không an phận.”
    [5] Tên một nước ở Tây Vực.
    “Đúng vậy!” Tịch Tà nói, “Nếu công chúa chết, Lương vương và triều đình sẽ trở mặt, Nguyệt Thị lại dùng lời nói gây loạn lạc.

    Hung Nô dòm ngó ở bên ngoài, Lương châu rối ren thì chắc chắn tan vỡ.

    Một khi Hung Nô xuôi nam, Lương vương và triều đình ốc còn không mang nổi mình ốc, thế lực của Hồng vương rất gần Lương châu, ở giữa chỉ cách sông Ly, sẽ không có ngày kê cao gối ngủ.

    Dẫu Đông vương không dấy binh phát động chiến tranh thì cũng là thời cơ tốt để khuếch trương thế lực.

    Như vậy, nói không chừng một phần tư thiên hạ này sẽ biến thành nửa giang sơn.”
    Khương Phóng cười hì hì: “Ông ta thà rằng đưa không một nửa vùng Trung Nguyên cho giặc Thát cũng coi như ông ta đủ tàn nhẫn đủ ác độc đủ đê tiện.”
    Tịch Tà cười nói: “Chúng ta cần phải ghi nhớ chiêu này trong lòng, rất đáng học tập đấy.”
    Khương Phóng bảo: “Nếu Lôi Kỳ Phong là quân cờ mà Hồng vương bố trí ở phía đông, y biết được chuyện lớn cỡ này thì ắt sẽ tự mình trở về Hồng châu báo tin.

    Ít nhiều thì Lương vương còn muốn mua mặt mũi của Nguyệt Thị, sao giết hoặc giam cầm Hòa Lam trước mặt mọi người được? Nếu đã có một sát thủ hàng đầu sẵn có trở về Hồng Châu thì chuyện xui xẻo này dĩ nhiên sẽ ụp lên đầu Lôi Kỳ Phong, vậy là ăn nói được rồi.”
    Tịch Tà than thở: “Dù Hòa Lam không có ý hại công chúa, chỉ sợ Lương vương vẫn muốn giết nàng ta.

    Nàng ta là cái gai mà Nguyệt Thị cắm trong thịt Tất Long, lại ghen tị như vậy thì dù năm xưa có bao nhiêu tình cảm cũng kém chí lớn của Lương vương và thể diện của công chúa.”
    Khương Phóng nói: “Nếu chủ nhân đã đoán chắc nịch như thế thì hà cớ gì còn nói không rõ ngọn nguồn trong đó?”
    Tịch Tà nói: “Chính là Đậu Căng đấy.

    Nếu Tất Long không muốn làm triều đình mích lòng thì chắc cũng sẽ bảo vệ cho Đậu Căng không chết mới phải.

    Vì sao lại để Hòa Lam dễ dàng dẫn Đậu Căng đi, khiến cho đầu một nơi thân một nẻo?”
    “Thuộc hạ nghĩ, Lương vương muốn bí mật xử quyết Hòa Lam.

    Có lẽ người biết rõ tình hình bên trong ở trong đội ngũ đưa dâu chỉ có Lôi Kỳ Phong, lúc đó không có những người khác ngăn cản Hòa Lam dẫn Đậu Căng đi.

    Mặt khác, Hòa Lam chết rồi, suy cho cùng sẽ phải ăn nói với Nguyệt Thị.

    Nếu công chúa không việc gì, chỉ ám sát khâm sai triều đình cũng đủ tội chết nên Tất Long đành phải hy sinh một con tốt thí như Đậu Căng.”
    “Như lời anh nói thì đã tốt!” Tịch Tà bảo, “Ta chỉ sợ có duyên cớ khác.

    Giả sử Lương vương một lòng muốn mượn tay Hòa Lam để diệt trừ Đậu Căng, vậy Đậu Căng này có thân phận gì? Nếu anh ta là người của Đông vương, Hòa Lam sẽ không giết anh ta.

    Nếu anh ta là người của Hồng vương thì với võ công của Lôi Kỳ Phong, sẽ không thể không cứu anh ta.

    Vậy anh ta là người của ai?”
    Khương Phóng khẽ rùng mình, đáp: “Thuộc hạ sẽ bắt tay điều tra rõ ngay ạ.”
    “Ở đây còn có chuyện gấp hơn.

    Nếu chuyện Hung Nô dùng binh đã như lửa xém lông mày thì việc ở Đại Lý nhất định phải làm cho nhanh, để bảo đảm lúc đó phía nam yên ổn.”
    “Thuộc hạ hiểu suy nghĩ của chủ nhân, nhưng việc này không vội vàng được.”
    Tịch Tà đột nhiên nhìn quanh ra bên ngoài, nói nhỏ: “Trong chuyện này Đông vương ở ngoài sáng, chúng ta ở trong tối, lẽ ra nên thành công.

    Nếu như Đại Lý thiếu người thì ở Hàn châu có Tống Biệt xuất thân từ họ lớn ở Đại Lý, có dũng có mưu, bảo Thập Lục lang hỏi thăm ý của ông ấy đi.”
    Khương Phóng bèn vội vàng gật đầu, cũng liếc ra ngoài cửa: “Vâng, thuộc hạ sẽ làm.”
    Hai người vội nói cho hết lời, thấy bên ngoài không có tiếng động, mới thở phào nhẹ nhõm.

    Khương Phóng cười hỏi: “Minh Châu vẫn thường tới ạ?”
    Tịch Tà nói: “Đang pha trà đấy.”
    Khương Phóng nói: “Nàng ta cũng trưởng thành rồi, sao không biết tính toán cho tương lai của mình?”
    Tịch Tà cười khổ, bảo: “Làm sao ta biết được.”
    Không biết vì sao câu ấy lại khiến Khương Phóng cảm thán, anh ta nói: “Tôi không hiểu nổi đám đàn bà con gái.

    Cứ nói ngay Hòa Lam này thôi, nếu đã chung giường mà mộng khác với Tất Long thì cớ làm sao cứ ghen tuông như vậy? Nếu thực sự là hai người thương yêu nhau thì sao nàng ta lại bán đứng Lương vương, kiếp này không được gặp lại nữa? Ôi! Đám đàn bà…” Anh ta liếc mắt thoáng nhìn bóng người khẽ động ở ngoài mành, Minh Châu đã bưng trà mát vào thì lập tức gắng nuốt câu nói kế tiếp vào.
    Minh Châu tươi cười bảo: “Thì ra Phó thống lĩnh cũng ở đây.”
    Khương Phóng cười xòa nói: “Tôi mới từ Thượng Giang về báo cáo với hoàng đế.

    Ngày mai phải về rồi.”
    Tịch Tà gật đầu lệnh cho Khương Phóng lui đi rồi mới nâng chén trà lên uống một ngụm, chợt nghe Minh Châu lầu bầu nói: “Cái gì mà ‘đám đàn bà’, ‘đám con gái’? Không biết tức tối ở đâu mà mang hết phụ nữ trong thiên hạ ra nói xấu một lần.”
    “Khụ khụ.” Tịch Tà sặc trà mát ở trong cổ họng, lấy khăn tay ra lau mồ hôi trên chóp mũi.
    Minh Châu phe phẩy quạt từ xa, đưa cơn gió nhẹ yếu ớt tới cho Tịch Tà: “Chắc lục gia nóng lắm nhỉ?” Nàng nhìn hắn hé miệng nở nụ cười.
    Ai ơi nhớ lấy câu này, reup không khéo có ngày rụng răng.
    Không lâu sau tân hôn, Tất Long đã trở về doanh trại ngoài Nhạn môn.

    Lúc này ba vạn tinh binh đều ở trong doanh trại ngoài cửa ải để nghe lệnh điều động.

    Bên trong Nhạn Môn quan vốn còn có bảy, tám nghìn người nhưng vì công chúa đã thành hôn nên quân đội triều đình hộ tống đến tất nhiên phải về Ly đô báo cáo, đồng thời các tướng sĩ trấn thủ Lương châu tới từ trước cũng vâng lệnh Tất Long trở về trấn thủ thành Lương châu để ngừa Lương châu sinh biến.

    Hiện nay theolys vương phi Cảnh Giai nên về vương phủ ở Lương châu nhưng chẳng biết tại sao mà Lương vương lại không hề nhắc đến, vì vậy vương phi vẫn ở Nhạn Môn quan, ở tạm nha môn canh phòng.

    Quý ma ma nhắc đến chuyện ấy với Cảnh Giai, nói rằng: “Trong Nhạn Môn quan chỉ có bốn, năm nghìn người, chiến tranh loạn lạc, nô tỳ cảm thấy thật sự không thích hợp.”
    Cảnh Giai cười nói: “Đây là chuyện cực chẳng đã.

    Trải qua chuyện của Hòa Lam, bà nghĩ Lương vương còn dám để một mình ta trong vương phủ ở Lương châu sao? Bên này có ba vạn đại quân hộ giá, chàng cũng yên tâm hơn.

    Lúc chàng đi đã nói với ta, nay biên quan căng thẳng, chàng không rời khỏi đó được, một thời gian nữa chắc chắn sẽ dẫn ta cùng trở về.”
    “Vậy phải đợi tới khi nào?”
    Cảnh Giai nói: “Cũng nhanh rồi.”
    Quý ma ma cười hỏi: “Công chúa khẳng định như vậy ư?”
    Cảnh Giai cười, mới định trả lời, đã nghe tiếng chuông báo động của chòi gác trên thành kinh hoàng truyền đến, kèn lệnh vang theo vọng khắp cả thành.

    “Có chiến tranh rồi.” Cảnh Giai đột ngột đứng dậy, chạy vội ra ngoài cửa, ngẩng đầu đã thấy khói báo động nổi lên trên cổng thành.

    Quý ma ma bắt lấy một cô hầu gái, nói: “Cô mau ra bên ngoài dò la xem rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.”
    Chưa đầy một khắc sau, cô hầu gái đó đã lập tức về bẩm, thấy vương phi đã thay quần áo cưỡi ngựa để đối phó với biến loạn, bèn nói: “Thật vừa lúc.

    Đô Lan canh phòng đã xin gặp ở bên ngoài, muốn mời vương phi bỏ thành để tránh chiến tranh.”
    Cảnh Giai biến sắc nói: “Bỏ thành? Mau gọi hắn ta vào hỏi rõ ràng.”
    Sự việc xảy ra khẩn cấp, vương phi truyền chỉ không tránh ngoại thần nhưng Đô Lan vẫn cúi đầu vào, làm lễ xong vẫn chưa mở miệng, Cảnh Giai đã vội vã hỏi: “Trong thành còn có bốn năm nghìn quan binh, chưa kịp đánh một trận mà đã muốn bỏ thành? Rốt cuộc Hung Nô có bao nhiêu người?”
    “Bẩm vương phi, thám tử vừa mới tới báo, đám Hung Nô này chừng tám nghìn người, trong vòng một canh giờ sẽ vây thành tấn công.

    Đại quân của vương gia đang di chuyển về phía đông, nhìn thấy khói báo động lại chỉ huy tới cứu, sợ phải mất nửa ngày.

    Thần chỉ e trong nửa ngày này bị bọn giặc phá thành, gây tổn hại đến vương phi nên sau khi suy xét thì quyết định dẫn bốn ngàn kỵ binh tinh nhuệ hộ tống vương phi tránh nạn trước khi chúng vây thành.

    Ý đồ của đám giặc này là tiền tài trong thành nên sẽ không đuổi tới cùng, vậy thì sẽ bảo vệ được vương phi không đến nỗi bị tổn hại.”
    Cảnh Giai nói: “Nếu ta không ở trong thành, tướng quân sẽ đưa ra quyết sách thế nào?”
    Đô Lan tỏ vẻ mặt khó xử, suy nghĩ một lát mới nói: “Thần chỉ biết dựa vào sự thực mà bẩm vương phi, thủ thành chính là chức trách của thần, nếu vương phi không ở trong thành thì thần nên dẫn quân dân toàn thành cố thủ đến chết.”
    “Vậy mới đúng!” Cảnh Giai nói, “Bốn ngàn người hộ tống ta ra khỏi thành thì chẳng phải là mặc cho chúng ức h**p tướng sĩ và mấy trăm ngàn dân trong thành hay sao? Vì lợi ích của một mình ta mà muốn chắp tay tặng thị trấn quan trọng ở biên thuỳ cho kẻ khác, vương gia hỏi tới thì anh ăn nói thế nào, triều đình hỏi tới thì vương gia phải ăn nói thế nào?”
    Đô Lan dập đầu tâu: “Vương phi dạy rất đúng, nhưng…”

    Quý ma ma ở bên nói: “Công chúa tuyệt đối không thể để mình ở nơi nguy hiểm được.

    Nếu công chúa có sơ suất gì thì tướng quân biết ăn nói thế nào với vương gia?”
    Cảnh Giai cười khẩy nói: “Ma ma thật lắm lời! Tướng quân đánh cược cả tính mệnh để bảo vệ ta an toàn thì lúc ta có sơ xuất gì, nhất định tướng quân đã chết trận nơi sa trường rồi, còn có gì để nói nhiều nữa.” Nàng lại tỏ vẻ mặt ôn hòa, nói với Đô Lan, “Tướng quân hãy nói thật với ta, nếu cố thủ nửa ngày này thì ngài chắc chắn bao nhiêu phần?”
    Đô Lan nói: “Hung Nô giỏi cưỡi ngựa bắn cung chứ không giỏi công thành.

    Trận chiến này, thần nắm chắc sáu phần.”
    Cảnh Giai gật đầu, kiên định bảo: “Tốt! Ta không đi đâu hết, quân dân cả thành chúng ta cứ cố sống cố chết giữ trong nửa ngày, chờ vương gia trở về.”
    Mạch máu của Đô Lan căng lên, anh ta nhảy dựng lên nói: “Thần đã rõ! Thần chắc chắn sẽ chiến đấu tới cùng với chúng.”
    Quý ma ma thấy Đô Lan sải bước đi mất, mới nói với Cảnh Giai: “Công chúa tội gì phải thế?”
    Cảnh Giai nói: “Con kiến hôi còn biết sống tạm bợ, ta há lại không biết thương tiếc cho bản thân? Nhưng từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài Lương châu đều là thiên hạ của người Hồ, các cô gái người Hồ thấy ta gầy yếu, không biết cưỡi ngựa bắn cung, chỉ coi ta là một kẻ nhu nhược, trong lời nói đã có ý khinh thường từ lâu.

    Nếu lúc này ta bỏ thành trốn đi thì cả đời này họ sẽ chế nhạo ta là con gái người Hán, ngay cả đứa con nối dõi của ta trong tương lai cũng bị họ bắt nạt.

    Trong cung ở triều đình đã không còn mẹ ruột ta, chỉ có thái hậu coi ta như con mình sinh ra, hoàng thượng còn biết thương ta, nhưng tính cách thái hậu cứng rắn hẹp hòi, trong mắt hoàng đế chỉ có giang sơn của mình, nếu biết vì một mình ta mà mất một thành trì thì tương lai cũng sẽ không làm chỗ dựa cho ta nữa, sau này ta còn có đường sống ư?”
    Quý ma ma than thở: “Công chúa nghĩ quá nhiều rồi.”
    Cảnh Giai nói: “Tranh đấu trong cung của chúng ta còn gay gắt hơn xa thế.

    Quý ma ma cũng là người ở trong cung nhiều năm, không phải không biết.

    Ở đây đã có một ví dụ sẵn có, tiên đế có một phi tần từ Đại Lý, phong hiệu là Đoàn Thời phi, ma ma còn nhớ không? Ta còn nhớ bà ta xinh đẹp nho nhã, lại khéo tay, tiếc nỗi không hòa nhập được với cung đình Trung Nguyên, sau hai mươi mấy tuổi vẫn chưa được tiên đế sủng hạnh, nay xuất gia ở am Phổ Thánh.

    Trước khi đi, thái hậu còn đặc biệt lấy bà ta làm ví dụ, bảo ta tuyệt đối không được bước lên vết xe đổ của bà ta.”
    Không lâu sau, trong thành ngoài thành tiếng kêu giết rầm trời, đoán là người Hung Nô đã bắt đầu công thành.

    Cảnh Giai đứng ngồi không yên, chỉ nghe trống hiệu trên thành lúc dồn lúc dập, tim của mình cũng đang đập loạn xạ.

    Qua hai canh giờ, tiếng chém giết giảm xuống, nội giám được phái lên trên cổng thành thăm dò tin tức về báo, lúc này thế tiến công của Hung Nô đã đến chặng cuối, đôi bên đều tử thương rất nhiều, Đô Lan đang mộ binh anh dũng chiến đấu vì chính nghĩa, sau khi bổ sung binh lực thì lại chiến đấu tiếp.

    Cảnh Giai nói: “E là chỉ còn bốn, năm trăm người bảo vệ nha môn này, ngươi truyền lời của ta, bảo bọn họ lên hết trên thành giết địch đi.”
    Lính đóng ở đây vừa đi, chỉ còn lại nội giám và cung nữ mà Cảnh Giai mang từ Trung Nguyên tới, họ run sợ trong lòng chen chúc thành đoàn ở trước cửa của Cảnh Giai, lắng nghe tiếng chém giết ở đầu thành, rướn cổ lên nhìn cổng, chỉ mong người đi tìm hiểu mang tin tốt về.

    Chốc lát sau, chỉ thấy năm gã đàn ông mặc quần áo người Hồ đi vào từ bên ngoài.

    Tất cả đều đoán họ là quân canh giữ ở Lương châu, bèn hét lên với họ: “Quân gia, bây giờ trên thành thế nào rồi? Vương phi đang chờ tin tức đấy.”
    Một người cầm đầu tiến lên phía trước nói: “Thì ra vương phi ở đây, chúng ta có tin gấp phải bẩm lại.”
    Thủ lĩnh thái giám lên nghênh đón hỏi: “Chuyện gấp gì vậy?”
    Người nọ ghé vào lỗ tai y cười nói: “Vương phi sắp toi mạng rồi, anh nói xem có gấp không?”
    Thủ lĩnh thái giám sửng sốt, mới phát giác trước mắt có ánh sáng lạnh lóe lên thì đã đầu một nơi thân một nẻo.

    Những người còn lại tức khắc kinh hãi hét lên luôn miệng, chạy ra bốn phía.

    Năm người kia chỉ vung đao đuổi mấy bước, thấy mọi người đều đã chạy xa rồi thì đá tung cửa nhảy vào trong phòng Cảnh Giai.

    Trong nhà giữa không có một bóng người, năm người kia liếc nhau rồi đi ra sau tấm bình phong.

    Nghe tiếng váy sột soạt nho nhỏ, người đàn ông cầm đầu lộ vẻ vui mừng, cầm đao nhào vào.

    Bên trong chính là Vương phi Cảnh Giai, thấy có người hung thần ác sát nhào tới, nàng không khỏi kêu lên sợ hãi, uốn người chạy đi.

    Người đàn ông kia tóm lấy xiêm áo của nàng, kéo vào trong lòng, lúc này chợt nghe có người ở phía sau khe khẽ thở dài như thể một cái lưỡi dài lạnh như băng l**m qua gáy khiến người ta nổi da gà khắp người.

    Người đàn ông kia chợt xoay người lại, chỉ thấy một nữ quan trung niên đang rút một con dao cong nhỏ từ trong ngực, nụ cười đói khát tàn nhẫn bừng lên trong đôi mắt xinh đẹp, nhắm ngay cổ tay của gã mà chém xuống.

    Người đàn ông kia kêu lên một tiếng thảm thiết, ôm cái tay cụt lăn lộn trên mặt đất, bàn tay đứt vẫn nắm thật chặt xiêm áo của Cảnh Giai.

    Cảnh Giai sợ đến suýt ngất đi, thở thoi thóp, thét chói tai: “Quý ma ma!”
    Cung nữ trung niên kia lấy bàn tay đứt từ trên người Cảnh Giai xuống mà mặt không đổi sắc, nói: “Đừng sợ, đừng sợ, có nô tỳ ở đây rồi.” Mặc dù giọng nói dịu dàng nhưng mắt vẫn đảo quanh người của bốn tên đàn ông còn lại.
    Bốn người đàn ông đều rùng mình, còn chưa kịp hành động, bóng Quý ma ma đã mang theo mũi dao cong nhọn vọt đến trước mặt họ như ma, một đường máu me tung tóe, bốn người đàn ông vạm vỡ ôm hầu ngã xuống dưới váy của Quý ma ma.
    Quý ma ma đi tới trước mặt kẻ cụt tay còn đang kêu gào thảm thiết, xoay ngược chuôi đao đánh gã ngất xỉu.
    Cảnh Giai che mặt, run rẩy nói: “Quý ma ma, bọn họ là người Hung Nô à?”
    Quý ma ma nhìn thi thể đầy đất, thưa: “Chắc là không phải! Khá giống với Hòa Lam đấy ạ.

    Cho một tên sống sót để đợi vương gia về rồi hỏi.”
    Cảnh Giai từ từ lộ mắt ra khỏi tay áo, nhìn chằm chằm bóng lưng Quý ma ma và hỏi: “Ma ma, rốt cuộc bà là ai?”
    “Nô tỳ là ma ma Quý thị nuôi công chúa từ khi còn nhỏ.” Quý ma ma cười, “Công chúa không rõ sao?”
    Cảnh Giai thở dài, lẩm bẩm nói: “Trước đây rất rõ nhưng bây giờ lại mơ hồ.”
    Quân dân Nhạn Môn quan đồng lòng vất vả chống đỡ nửa ngày, cuối cùng cũng trông thấy Lương vương hồi binh tới cứu.

    Hung Nô lui binh quá nhanh, ngoại trừ tổn thất một ít người trong lúc công thành ra thì vẫn chưa để Lương vương chiếm được lợi.

    So với thi hài đầy đất trên tường thành thì bốn cái xác trong phòng của Cảnh Giai và một tên cụt tay càng làm Tất Long kinh hồn táng đảm hơn, tức giận đến mức cả người run lên.

    Anh ta siết nắm đấm, dáng vẻ hung tợn dùng ngôn ngữ của người Hồ không ngừng chửi rủa này càng làm chạng vạng u ám ấy tăng thêm một bầu không khí mưu mô lo sợ bất an.
    Đêm đó, Tất Long vội vã viết tấu xin triều đình tăng binh, viết đến chỗ “Thiền Vu đã có thế lớn, binh lực bọn giặc tiệm kết lại, mưu toan dòm ngó Trung Nguyên phía nam.

    Bắc phạt Hung Nô là việc lớn của triều đình xã tắc, Tất Long thần trấn thủ một góc, thật sự không thể gánh vác trách nhiệm nặng nề này.

    Thần xin bệ hạ phái đại tướng quân bắc phạt, đóng quân ngoài Nhạn môn đấu với Hung Nô” thì nhíu mày lại không khỏi cười nhạt.
    “Vương gia!” Gã sai vặt ngoài cửa nói, “Vương phi tới ạ.”
    Tất Long cất tấu chương xuống dưới án kỷ, đến trước cửa đón.

    Vẻ mặt Cảnh Giai đã tốt hơn nhiều, cổ tay trắng ngần mà Tất Long nắm trong tay cũng khôi phục sự ấm áp.

    “Ta tới mời vương gia đi nghỉ ngơi.”
    “Không vội.” Tất Long kéo nàng ngồi lên trên giường, lấy ra một hộp gấm từ bên cạnh, “Thần có một vật muốn đưa cho công chúa.”
    Cảnh Giai nhìn Tất Long rồi lại hạ tầm mắt xuống.

    Tất Long thong thả mở hộp ra, mỉm cười nâng cây đao vàng cong như trăng rằm ra khỏi hộp, dùng móc vàng treo lên thắt lưng gấm trên eo nàng.

    Hai tay anh ta rộng lớn vững chắc như thể đã quen nắm giữ vận mệnh của người khác.
    Cảnh Giai v**t v* từng hạt châu ngọc trên vỏ vàng, tựa đầu lên vai Tất Long.
    “Mãi không chia lìa.” Giọng điệu chảy ra từ trong đôi môi của nàng có chứa sự dịu dàng vô hạn của con gái Trung Nguyên, dưới ánh nến vui mắt, trong hương thớm tản ra từ trên người nàng, trái tim Tất Long có sự dao động trong một chớp mắt..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 9: 9: Cao Dĩ Nhân


    Đầu tháng Tám, hoàng đế nhận được tấu của Tất Long, trước khi bàn bạc với quần thần để trả lời thì gọi Thành Thân vương và Lưu Viễn tới bàn trước.
    Lưu Viễn xem tấu của Tất Long xong thì gật đầu lia lịa, bảo: “Lương vương lo lắng rất đúng, chuyện tăng binh đã không thể chậm thêm nữa rồi.”
    Hoàng đế đã đoán lão sẽ nói lời ấy, thờ ơ cười khẩy nói: “Trẫm lại không thấy vậy.

    Lúc này người Hung Môn vùng Nhạn môn, Xuất Vân cũng chỉ có ba, bốn vạn.

    Tất Long luôn miệng nói Thiền Vu chưa từng lộ mặt, triều đình tùy tiện tăng binh lên tây bắc sẽ chỉ hao tài tốn của.

    Hai ngày trước bộ Hộ cũng nói quốc khố đang trống không đấy!”
    “Khuất Xạ Thị hung tàn thiện chiến, nếu không đóng quân phòng bị, chỉ e sau này sẽ có sơ xuất.”
    Hoàng đế nói: “Thái phó quá lo rồi.

    Trong tay Lương vương có tám vạn binh mã, hiện tại ở tiền tuyến phần lớn là tướng sĩ người Hán, trấn thủ phương Bắc là lời các đời Lương vương bọn họ hứa với triều đình.

    Anh ta còn có năm vạn lính Hồ thiện chiến không dùng đến, còn đòi triều đình xuất binh thay anh ta ư?”
    “Vâng.”
    “Nếu anh ta thiếu thốn lương bổng, triều đình có bao nhiêu sẽ cho anh ta bấy nhiêu, cực chẳng đã, triều đình sẽ trưng thu từ đất phiên.

    Trước đây thái phó từng nói, phiên vương vượt quyền về thuế má ở các nơi khiến quốc khố trống rỗng.

    Nay nạn nước ập đến, mượn một ít của họ chắc là được chứ.” Lưu Viễn nghĩ cuối cùng hoàng đế cũng tiếp nhận lời can gián thì không khỏi vui mừng khôn xiết, dập đầu “cộp cộp” nói: “Hoàng thượng thánh minh.”
    Hoàng đế bảo: “Đây là chuyện lớn, thái phó hãy trở về viết tấu chương rồi dâng lên, sáng sớm mai vào chầu sẽ bàn cùng bộ Binh, bộ Hộ.

    Lương vương đã ở tiền tuyến mấy tháng rồi, đã sắp vào thu, trẫm không đành lòng để công chúa Cảnh Giai ở mãi nơi xứ lạnh với anh ta.

    Hãy bảo Tất Long về Lương châu điều binh, đại quân bên ngoài Nhạn môn thì giao cho Lưu Tư Hợi dưới trướng anh ta dẫn dắt, phong làm tướng quân Phiêu Kị chính nhị phẩm.

    Giờ trẫm sẽ đi hỏi ý thái hậu, nếu thái hậu thấy thỏa đáng thì có thể nói chuyện trước mặt đám phiên vương.”
    Thành Thân vương khẽ cười hai tiếng “ha ha”, đợi Lưu Viễn đi rồi mới nói: “Mấy năm trước mẫu hậu thưởng hết thuế má đất phong cho bốn vị thân vương, nay hoàng thượng muốn lấy lại, chỉ sợ bọn họ sẽ không đồng ý đâu.”
    “Cởi chuông phải do người buộc chuông.” Hoàng đế nói, “Muốn bọn họ nôn tiền ra, chỉ có mẫu hậu nói mới xong.

    Em cùng trẫm đi thỉnh an nào.”
    “Vâng.” Thành Thân vương nói, “Thần ở bên đóng vai phụ cho hoàng thượng.”
    “‘Vai phụ’ này rất có ích đấy!” Hoàng đế cười nói, “Em lại học cách ăn nói đưa đẩy từ ai đấy?”
    Thành Thân vương cười đáp: “Hoàng thượng còn không rõ kẻ nào gần gũi với thần sao?”
    Hoàng đế cảm thấy nụ cười của y có thứ gì đó bất thường, chỉ lo gảy lá trà nổi trên mặt, nghe Cát Tường bên ngoài cất giọng the thé nói: “Hoàng thượng khởi giá rồi.” Hắn ta lại uống hai hớp trà rồi mới bỏ chén trà xuống và đứng dậy.
    Đi tới ngoài cung Từ Ninh, Khang Kiện đã được tin từ lâu nên vội vã khấu đầu ở trước ngự giá, nói: “Vạn tuế gia vạn phúc kim an.

    Hoàng hậu nương nương và Nghị phi nương nương đang ở bên trong thỉnh an thái hậu, không biết Thành Thân vương muốn tới, bây giờ đang tránh ở bên trong ạ.”
    Hoàng đế càng lo cho thai nhi, quay đầu nói với Cát Tường: “Chốc nữa bảo Nghị phi, sau này bớt đi lại, bớt ra ngoài cho dễ sinh.”
    Lát sau đã có Hồng Tư Ngôn đi ra hành lễ cười nói: “Mời hoàng thượng mau vào bên trong, Thành Thân vương cũng đã lâu không đến rồi, thái hậu rất nhớ nhung đấy ạ.”
    Thành Thân vương dập đầu theo hoàng đế.

    Thái hậu vẫy vẫy tay với y, ôm vào trong lòng nói: “Nhìn gầy đi không ít, người trong phủ con làm việc thế nào đấy? Không dốc lòng gì cả.”
    Thành Thân vương cười thưa: “Mẫu hậu chỉ thương con trai nên mới nói như vậy thôi, gần đây nhi thần còn béo hơn đấy.”
    “Nói bậy!” Thái hậu cười trách một câu rồi sai người dọn chỗ và nói với hoàng đế, “Gần đây hoàng đế rất bận rộn, sao mới chiều đã rỗi rãi qua đây thế?”
    Hoàng đế nói: “Bây giờ đang có chuyện chính xin ý chỉ của mẫu hậu ạ.”
    Thành Thân vương nói: “n là hôm nay nhận được tấu của Lương vương Tất Long, chỗ anh ta đang muốn triều đình xuất binh thay mình đấy.”
    “Hung Nô đã làm loạn ghê gớm như vậy cơ à? Mà giờ phải dùng tới binh lực của triều đình?”
    “Nhi thần cũng thấy quá vội!” Hoàng đế nói, “Nên nhi thần định bác bỏ tấu của anh ta.”
    Thái hậu cười bảo: “Hoàng đế muốn bác bỏ thì cũng đã bác bỏ rồi, còn chuyện gì cần tới hỏi ta nữa?”
    Thành Thân vương nói: “Còn không phải là vì chuyện lương bổng hay sao? Tất Long đòi binh chúng ta không cho nhưng lương bổng vẫn phải phát chứ ạ, dù sao thì chống Khuất Xạ Thị là chuyện lớn của triều đình mà.”
    “Bộ Hộ lại đang than nghèo à?” Thái hậu mỉm cười dần dần không đếm xỉa tới, vừa bảo Hồng Tư Ngôn lấy ra mấy quả nho lớn trong khay dâng lên để hoàng đế và Thành Thân vương ăn, vừa nói: “Hoàng đế tính thế nào?”
    Hoàng đế thở dài nói: “Nhi thần cũng chẳng có cách nào, muốn xin ý chỉ của mẫu hậu ạ.”
    Thành Thân vương nói ở bên thái hậu: “Mẫu hậu, hoàng thượng vì chuyện này mà ăn ngủ không yên.

    Chỉ dựa vào thuế mà triều đình thu ở các nơi thì có thu thêm nữa cũng chỉ như muối bỏ biển.

    Muốn bộ Hộ bỏ ra khoản chi lớn như vậy thì cũng làm khó bọn họ.”
    Thái hậu nhíu mày nghĩ một hồi mới nói: “Đây không thể tính là việc khó gì cả.

    Các thân vương, quận vương thoải mái ở đất phiên, cứ đòi họ một trăm tám mươi vạn lượng bạc đã chống đỡ trước, cũng chưa chắc tổn hại đến nguyên khí của họ.

    Nhưng trong cung chúng ta cũng phải tiết kiệm chi tiêu, không thể để người bên ngoài nói những lời khó nghe được.”
    “Vâng.” Hoàng đế không ngờ rằng thái hậu lại phá vỡ quy định nhanh như vậy, sau khi vui mừng lại thầm sinh ra chút sầu lo nhưng trên mặt thì vẫn cười nói, “Con chỉ sợ bọn họ sẽ oán giận thôi.”
    “Oán giận cái gì? Cho bọn họ tất cả thu nhập từ thuế ở đất phiên là phần thưởng ngoại lệ của ta, nay đòi chút tiền ứng phó nhu cầu cấp thiết, ai dám oán giận?”
    Hoàng đế gật đầu nói: “Hồng vương vốn là cậu, tất nhiên sẽ không nói gì.

    Hai vương Đông Tây lại là thân vương mà mẫu hậu phong, có lời của mẫu hậu thì nhi thần yên tâm rồi.” Đoạn hắn ta quay đầu lại nói với Cát Tường, “Khanh truyền ý chỉ của trẫm, từ ngày hôm nay trở đi, ngoại trừ mấy nơi của thái hậu, thái phi và Nghị phi thì chi tiêu ở các cung các viện các nha môn trong cung đồng loạt cắt giảm, giám Ti lễ quản lý toàn bộ chuyện này.”
    Cát Tường đáp thật nhanh, nói: “Tuân chỉ.”
    “Thế là được rồi.” Thái hậu mỉm cười nói, “Cát Tường nhớ kỹ, cho dù phụng ý chỉ làm việc cũng phải để ý cái ổn thỏa chậm rãi, chớ nóng vội.

    Nếu không thì sẽ ép nương nương các cung đều muốn tìm giám Ti lễ các ngươi gây phiền hà đấy.”
    Lời của thái hậu có ám chỉ khác, Cát Tường cúi đầu, dằn lòng không nhìn sắc mặt hoàng đế, vội vàng nói: “Xin tuân theo ý chỉ của thái hậu.”
    Thái hậu nom có vẻ mệt mỏi, hoàng đế và Thành Thân vương bèn đứng lên xin cáo lui.

    Thái hậu mới vẫy tay nói với Hồng Tư Ngôn: “Cô tới đây.”
    Hồng Tư Ngôn theo thái hậu vào bên trong điện, nhìn thái hậu đang cắn hàm răng trắng bóng cắn mạnh vào môi thì vội vàng đi lên trước nhẹ giọng nói: “Chủ nhân tức giận gì vậy? Bản thân chủ nhân cũng đã nói sớm muộn sẽ có một ngày như vậy rồi cơ mà.”
    Giọng thái hậu cay nghiệt vô tình, chậm rãi nói: “Cô hãy hỏi rõ cho ta xem rốt cuộc là kẻ nào đề xuất ý kiến cho Tĩnh Nhân.”
    “Vâng.”
    “Bọn họ không có kẻ nào an phận thủ thường cho ta cả.

    Tất Long muốn giữ tròn binh mã Lương châu; hoàng đế lại càng muốn mượn Hung Nô để tiêu hao thế lực của phiên vương.

    Mỗi người họ đều làm những trò xiếc đùa với lửa, không ai nghĩ tới quân địch đã vây bốn mặt.

    Cô mài mực cho ta đi, ta phải viết thư cho mấy phiên vương.”
    Hồng Tư Ngôn thấy thái hậu cầm bút không ngừng suy xét thì nhẹ nhàng để thỏi mực ngang trên nghiên rồi nói: “Ngày sau họ xung đột vũ trang, như nước với lửa, chủ nhân muốn đứng ở bên nào thì cần phải sớm quyết định thôi.”
    Thái hậu cười khẩy: “Hoàng đế là con trai ruột thịt của ta chứ không phải do ta lựa chọn.

    Chỉ là…” Bà cúi đầu nhìn mình tên Hồng vương mà mình viết ở trên lụa trắng như tuyết thì buồn rầu một lát, mới nói, “Hồng vương là tay chân của ta, con người chứ có phải cây cỏ đâu, há có thể tự hại cánh tay mình.”
    Hồng Tư Ngôn nói: “Nô tỳ nghe nói gần đây tai mắt của hoàng thượng rất nhạy bén, chủ nhân viết thư cũng phải cẩn thận.”
    Thái hậu mỉm cười, đặt bút như bay, vừa vung tay đã xong bốn phong thư, rồi nói: “Chỉ cần coi như ý chỉ của ta kà được.

    Để người của hoàng đế nhìn thấy cũng không sao, có điều phải đưa đến trước ý chỉ của hoàng đế để tránh sinh biến.”
    Hồng Tư Ngôn dùng con dấu của thái hậu niêm phong thư lại rồi sai người đưa gấp đi.

    Cưỡi ngựa đi gấp từ Ly đô tới Hồng châu mất năm ngày, lúc thư của thái hậu vào vương phủ ở Hồng châu thì bên triều đình mới bàn xong về việc trưng thu lương thức ở đất phiên, e rằng khi ý chỉ đến Hồng châu thì đã là chuyện của nửa tháng sau.

    Hồng vương giao thư của thái hậu cho tham sĩ bên cạnh là Phạm Thụ An xem rồi cười nói: “Hoàng đế sốt ruột rồi, giờ đã muốn ra tay với chúng ta.”
    Phạm Thụ An mười bảy tuổi đã đi theo Hồng vương, tới giờ đã hơn hai mươi lăm năm, mấy năm nay đã trở thành mưu sĩ chủ yếu của Hồng vương.

    Người suy nghĩ quá nhiều thì khó tránh khỏi sẽ giảm phúc, chiến tướng sa trường sáng sủa cường tráng trước kia, bây giờ gầy guộc, đôi mắt buồn ngủ luôn lim dim, ngay cả người lòng dạ sắt đá như Hồng vương trông thấy ông ta cũng khó tránh khỏi sinh ra cảm giác thương tiếc.
    “Theo thần thấy, hành động này của hoàng đế mang nhiều ý dò xét hơn.” Phạm Thụ An nói năng cũng chậm rãi, yếu ớt làm nghe người trăm mối cảm xúc ngổn ngang, “Kẻ địch mạnh ngay trước mắt, chắc rằng hắn ta không dám mạo hiểm lúc này đâu.”
    Hồng vương nói: “Dù là vậy cũng không thể xem thường, anh thấy nên đối phó ra sao?”
    “Theo như thư của thái hậu thì ý của hoàng đế hết sức kiên định, chỉ vài chục vạn lượng bạc, phía vương gia cũng không tiện dùng sức mạnh.

    Nói đi nói lại…” Phạm Thụ An hít vào một hơi, chậm rãi nhấp một ngụm trà, nội giám Lý Trình ở bên cạnh đã sốt ruột đến độ đưa mắt ra hiệu với ông ta.

    Nhưng Hồng vương đã quen rồi, vuốt râu dài mỉm cười không lên tiếng, nghe Phạm Thụ An im lặng phút chốc trong phòng sách rồi lại thong thả nói, “Lúc nào cũng nhận lời sẽ chỉ làm hoàng đế được đằng chân lân đằng đầu thôi.

    Vương gia cứ đồng ý với triều đình trước, sau này nhặt cái đinh mềm làm hắn ta chạm phải, không thể để cho hắn ta mò ra tình hình bên trong của chúng ta được.”
    “Nói phải lắm!” Hồng vương nói, “Vả lại thái hậu tự mình mở miệng, làm bà ta bẽ mặt thì chỉ đẩy bà ta về phe hoàng đế thôi.

    Định Quốc ở núi Đa cũng được vài ngày rồi, người dưới tay nó chưa từng thấy việc lớn, chưa chắc có tài năng, thằng bé này lại bảo thủ.

    Nghĩ đến mưu tính bảo nó đóng ở núi Đa khi trước, ta chỉ sợ nó biến khéo thành vụng.

    Nay triều đình lắm chuyện, phía đông núi Đa là Ly Đô nên càng hiểm yếu, ta nghĩ vẫn nên để anh đến chỗ Định Quốc để đôn đốc.”
    “Vâng, ngày mai thần sẽ lên đường.”
    “Bên đó cứ làm theo bàn bạc ban đầu, chỉ cần quần nhau với bọn giặc bướng, không cần thắng, kéo dài càng lâu càng tốt.”
    Cuộc hành trình lần này của Phạm Thụ An giống hệt như tính tình của ông ta, thong thả chậm rãi.

    Người đưa thư mà Hồng vương phái đến núi Đa trước đó đã mang hồi âm về rồi mà ông ta mới đến bên trong ranh giới núi Đa.

    Hồng Định Quốc biết ông ta chỉ đem theo hai người làm đến thì sợ ông ta gặp phải bọn giặc đánh cướp, bèn bảo thuộc hạ liên tục nghe ngóng ở chân núi, nhưng trước sau vẫn không thấy bóng dáng đâu.
    Vùng núi Đa gần nhiều hồ, mùa này cơn gió ẩm ướt ôn hòa từ mặt hồ phía đông nam thổi tới khiến cho dãy núi Đa luôn có khói mây bốc lên, đỉnh núi màu xanh đen như ẩn như hiện trong mây mù vấn vít.

    Hồng Định Quốc đã diệt cướp ở đây một năm rồi, biết lúc sương mù có nhiều tốp cướp xuống núi quấy nhiễu, từ khi đại quân tiến vào chiếm giữ dãy núi tới nay, chúng cũng thừa dịp sương mù dãy đặc che lấp mặt trời để đánh giáp lá cà với quan quân.

    Vì vậy sau khi cân nhắc, cuối cùng hắn ta không dằn được nữa, tự mình dẫn người đến miệng núi xem chừng.
    Từ xưa núi Đa chỉ có một con đường cái, lúc này cũng đã chìm trong mây khói màu sữa.

    Năm trăm kỵ binh theo sau Hồng Định Quốc, kề sát nhau mới có thể nhìn rõ mặt mày, hơi xa một chút thì chỉ nghe tiếng “leng keng” của chuông ngựa và mũ giáp, tiếng vó ngựa thì lại như sấm đánh trong mây, từ trong con đường cổ dũng mãnh tiến ra.

    Hồng Định Quốc giắt kiếm bên hông, tay nắm dây cương, vâng theo ý của Hồng vương mà đi ở giữa đội ngũ, mơ hồ cảm thấy chung quanh cất giấu nguy hiểm nên không dám chậm trễ thờ ơ.

    Chợt nghe kẻ dẫn đầu đằng trước hét lớn một tiếng: “Ai đấy?” Theo đó là kèn lệnh vang dồn dập, tiếng dây cung vang ào ào, bên này đã có một trận mưa tên bắn qua.
    Hồng Định Quốc nhíu mày hỏi: “Có chuyện gì đấy?”
    “Bẩm thế tử gia.” Người quay lại báo tin phóng ngựa chạy một lúc ở trong đội ngũ mới tìm được Hồng Định Quốc, “Phía trước phát hiện một nhóm người, hỏi mà không đáp, quay đầu đi liền, Ngải tham tướng sai người bắn cung, lúc này không rõ tử thương của đối phương thế nào.”
    Hồng Định Quốc lạnh lùng nói: “Đồ khốn! Nếu trận tên này mà bắn vào thầy Phạm thì một người trong số các ngươi cũng đừng hòng sống.

    Đã nhìn rõ ràng chưa?”
    “Nhìn rõ rồi ạ, ít nhất cũng có một trăm tám mươi người nên không phải là Phạm tướng quân.”
    Hồng Định Quốc mới vừa nghĩ tới ba chữ “bọn cướp đường” thì chợt nghe trong sơn cốc có tiếng rít gió của mũi tên bay, chung quanh đột nhiên vang tiếng ngựa hí người kêu, theo tiếng vọng trong núi khiến người ta chỉ cảm thấy khắp núi đồi sau màn sương mù dày đặc toàn là bóng đao lập lòe.

    Tinh binh của Hồng vương đã quen với cảnh tượng này, biết bọn giặc thích mai phục ở chỗ cao bắn cung xuống dưới nên nhao nhao giơ tấm thuẫn lên che người, trên đỉnh đầu như có một trận mưa xối xả trút xuống, một lượt tên nỏ bỗng bắn xuống.

    Chúng quân sĩ đợi trận tên nỏ bắn hết thì lập tức đội thuẫn giục ngựa tản ra đường núi bên cạnh, đưa cung tên từ trong khe hở ra không ngừng bắn trả lên trên núi.

    Mặc dù Hồng Định Quốc dẫn binh ở bên ngoài nhưng ít khi lâm cảnh hiểm, người đi theo chung quanh vừa tản ra thì bên cạnh không còn ai bảo vệ, một mũi tên loạn bay lướt qua xương sườn của hắn ta, còn chưa để hắn ta đổ mồ hôi lạnh xong, trong sương mù lại lao ra một mũi tên với lông đen, lao thẳng tới mặt hắn ta.

    Hồng Định Quốc “ối” một tiếng trong cổ họng, cúi đầu tránh né đã không còn kịp nữa thì khóe mắt lại trông thấy một bàn tay dày rộng vươn ra từ bên cạnh, nắm chặt mũi tên trong tay.
    “Thế tử gia có khỏe không?” Khuôn mặt của ông lão lộ vẻ tái nhợt đến dị thường ở trong không khí màu sữa, “Tiểu nhân là Phạm Lý Phúc, người làm trong nhà Phạm tướng quân.”
    “Thầy Phạm đến rồi ư?”
    “Đến rồi, đang ở trên núi ạ.” Thế tên trên núi ngừng dần, có người cười to vài tiếng, nói: “Hôm nay cho tiểu vương gia mặt mũi, ngày sau gặp, chúng ta lại đọ sức.”
    Tiếng vui cười chung quanh không dứt, tiếng vó ngựa dần biến mất vào trong núi.
    Trên đường hiện ra hai con ngựa gầy ốm lẻ loi, nghe thấy Phạm Thụ An khoan thai nói: “Thế tử gia ở phía trước à?”
    “Chú Phạm.” Hồng Định Quốc vui vẻ nói rổi nhảy xuống từ trên ngựa.

    Phạm Thụ An cũng xuống ngựa, nắm tay Hồng Định Quốc quan sát cẩn thận, trong đôi mắt hẹp dài chất đầy sự yêu thương vui mừng: “Một năm không gặp nhưng thế tử gia chẳng thay đổi gì.”
    “Luôn vùi ở nơi thế này, tính tình xấu đi nhiều lắm.” Nói đoạn vọng ra phía sau Phạm Thụ An, “Vừa nãy nhờ người trong phủ của chú Phạm giúp đỡ, vị ấy…”
    Phạm Thụ An vẫy tay nói: “Lý Khang, qua đây dập đầu với thế tử gia đi.”
    “Tiểu nhân Phạm Lý Khang, mong thế tử gia cát tường như ý.” Người đàn ông vạm vỡ này còn cao hơn kẻ cao lênh khênh như Hồng Định Quốc một cái đầu, mặt chữ điền vuông vức, môi dày, xem chừng chất phác ít nói.
    Phạm Lý Phúc cũng qua đây chào một lần nữa.

    Lúc này Hồng Định Quốc mới dẫn quân về doanh trại trong núi, bỗng nhiên nghĩ đến một chuyện, không nhịn được mà hỏi: “Chú Phạm mới vừa ở trên núi làm gì mà khiến cho những tên cướp này lập tức lui quân đi vậy?”
    “Cũng không có gì.” Phạm Thụ An không khỏi mỉm cười, “Chẳng qua là lên tiếng chào, nói thế tử gia ở đây.”
    “Hả?”
    “Chúng đã biết ý định của thế tử gia khi ở chốn này.

    Nếu mọi người đều ngầm hiểu, gặp dịp thì diễn, lỡ hôm nay ngộ thương thế tử gia, kết oán khó hóa giải với Hồng vương thì e một ngón tay của lão vương gia đã có thể nghiền nát hai mươi trại núi Đa của chúng rồi, thà rằng thấy đỡ thì thôi.”
    Hồng Định Quốc cười bảo: “Chẳng trách, một năm qua nhìn chung đều sống yên ổn với nhau.”
    Một vệt sáng vàng đột nhiên bắn vào trước mặt đội ngũ, thì ra sương mù lảng bảng tan, mặt trời nhô lên, dốc thoải xanh xanh hiện ra một dãy doanh trại liên tiếp trắng như tuyết dưới ánh mặt trời.

    Phạm Thụ An híp mắt gật đầu, chậm rãi nói: “Dựa lưng vào thế núi, nguồn nước thông suốt, ra vào rộng mở, không tệ.

    Mấy năm nữa, thế tử gia cũng sẽ là chủ soái lĩnh binh tài giỏi giống lão vương gia.”
    Hồng Định Quốc đáp: “Chú Phạm đang giễu cợt ta đấy à? Phụ vương hơn hai mươi tuổi đã đem binh đến biên cương xa xôi, huyết chiến cùng Hung Nô, kẻ làm con trai này đuổi kịp thế nào được?”
    “Không đâu, với tư chất của thế tử gia, quả thật có thể gọi là nhân kiệt đời nay.” Phạm Thụ An nói đến đây, giọng điệu lại trở nên u sầu lạ thường, Hồng Định Quốc thậm chí cảm thấy ông ta khẽ thở dài, khiến người ta cảm thấy chẳng lành.
    Phạm Thụ An giám sát quân đội trong doanh trại núi Đa không quá nửa tháng thì ý chỉ trưng thu lương thực của triều đình đã ban xuống.

    Người tuyên chỉ với Hồng châu chính là nội thần của giám Ti lễ.

    Hồng Định Quốc phái năm trăm người đón hắn ta vào doanh, hỏi ra mới biết không chỉ đất phiên mà hoàng đế còn phái người đến các phủ các châu giám sát lương thảo, điều động thuế khóa.

    Quan trưng thu lương ở Hồng châu phía tây họ Cao, tên Hậu, tự Dĩ Nhân, nguyên là lang trung ty Thanh Hồng của bộ Hộ.

    Hồng Định Quốc nghe vậy thì cười nói với Phạm Thụ An: “Thì ra bộ Hộ còn có ty này? Những năm gần đây thuế ruộng hai châu Thanh, Hồng vẫn do Hồng vương tự quản, ta còn tưởng ty này đã bị bỏ từ lâu rồi cơ.”
    Phạm Thụ An nói: “Thiên hạ chung quy vẫn là của đương kim hoàng đế, thế tử gia chớ nói lời này.

    Tôi có nghe nói về Cao Hậu này, tuy hắn ta không cùng bé đảng với Lưu Viễn nhưng lại cực kỳ nhiệt tình đối với chuyện loại bỏ phiên vương.

    Nói ra thì người này không lớn tuổi lắm, song lại từng đụng chạm với lão vương gia.”
    “Đụng chạm?” Hồng Định Quốc ngạc nhiên hỏi, “Nhưng ta còn chưa từng nghe nói đến người này bao giờ kia mà?”
    Phạm Thụ An mỉm cười tránh đề tài của Hồng Định Quốc, chỉ nói: “Hoàng đế phái Cao Hậu vào Hồng châu là muốn lão vương gia e dè bị dùng việc công để báo thù riêng, không tiện xuống tay với hắn ta.

    Chắc bên cạnh hoàng đế có cao nhân đây.”
    Hồng Định Quốc cười khẩy, nói: “Cao nhân? Lẽ nào chú Phạm cũng giống hoàng đế, cho rằng thiên hạ này còn có người nào mà nhà họ Hồng chúng ta không dám xuống tay sao?”
    Phạm Thụ An cười bảo: “Ha ha, chỉ sợ lão vương gia và thế tử gia suy nghĩ giống nhau.”
    Năm Khánh Hi thứ mười, Cao Hậu bốn mươi mốt tuổi.

    Lúc hắn ta dập đầu từ giã hoàng đế ở cung Càn Thanh, đại thái giám Cát Tường đã nhìn ra ấn đường hắn ta biến thành màu đen, mây đen bao phủ trên đầu, tuy Cát Tường không ngờ rằng vận mệnh của Cao Dĩ Nhân lại bị một câu nói hời hợt như vậy của Hồng Định Quốc quyết định nhưng y luôn cảm thấy chuyến này của con cháu nhà họ Cao chưa rõ sống chết, tiền đồ đáng lo.
    Cát Tường không phải người hay lắm miệng, nhất là lời như vậy thì dù là với Như Ý và Tịch Tà cũng không thể tùy tiện nói bừa.

    Lúc bấy đã qua Trung thu từ lâu, cũng sắp vào đông rồi, trong cung lại đang rối tung lên cắt giảm chi tiêu các cung do giám Ti lễ dẫn đầu, dù là nô tỳ bên cạnh các chủ nhân cũng phải xén hơn ba phần tiền tiêu hàng tháng.

    Kể từ đó, giám Ti lễ khó tránh khỏi trở thành mục tiêu công kích, ngay cả người thoải mái phóng khoáng như Như Ý mà cũng bắt đầu thận trọng từ lời nói đến việc làm, huống chi là Cát Tường trước nay lão luyện thận trọng.
    Năm ngoái cục Châm Công phải bận rộn làm quần áo bông mùa đông nhân việc này mà ăn bơ làm biếng, ngoại trừ Nghị phi chờ sinh, còn phải chuẩn bị ít quần áo cho trẻ sơ sinh ra thì trên dưới cả cung không ai làm đồ mới nữa.

    Toàn bộ người trong nha môn chỉ đành không ngừng thu xếp chọn lực gấm vóc trong kho cung ứng của nội phủ, chỉ còn thái giám quản lý là Trương Cố ngồi chơi trong phòng cung.

    Ánh mặt trời ấm áp của ngày trời trong xuyên qua cửa sổ, chiếu lên trên người, tuổi tác Trương Cố cũng đã cao, dần dà nhắm mắt ngủ gật, đột nhiên nghe tiếng mành vang lên “xào xạc”, mở mắt ra thì thấy một cái bóng áo xanh thò đầu vào trong.
    “Thằng khỉ gió nào đấy, mau lăn vào đây.”
    Tiểu Thuận Tử cười nói ở ngoài cửa: “Ông Trương, ngài nhàn rỗi ghê nhỉ?”
    Trương Cố chậm rãi ngửa người, nâng chén trà lên súc miệng, Tiểu Thuận Tử vội lấy ống nhổ hầu hạ ở phía dưới.
    “Thằng nhóc nhà cậu tới làm gì? Thầy cậu đỡ hơn chút nào chưa?”
    “Vẫn thế ạ.” Tiểu Thuận Tử thở dài, “Hơi ho, còn đâu thì vẫn khỏe.

    Thầy tôi bảo tôi tới hỏi thăm ông Trương, hỏi xem trong nha môn của ông Trương có việc gì cần làm không.”
    “Còn có việc gì cần làm nữa? Nhàn lắm! Về bảo Tịch Tà nên dưỡng bệnh thì dưỡng bệnh, nên điều trị thì điều trị, giờ còn trẻ mà sau Trung thu đã không thấy cậu ta có tinh thần gì cả, sau này làm sao hầu việc được?”
    “Vâng.”
    “À, đúng rồi!” Trương Cố lại nói, “Cậu đi ra phía sau trong phòng, cầm cái bọc da xanh lén đưa cho cô nương Minh Châu, nói là đồ dự bị cho công chúa nhỏ của Nghị phi, xin cô bé nên thêu gì thì thêu.”
    “Ôi!” Tiểu Thuận Tử chạy bước nhỏ, đi rất nhanh.
    Trương Cố cười, chợt nghe con chim trong lồng bên ngoài hành lang kêu “chiêm chiếp” ầm lên.

    “Vị nào thế nhỉ?” Trương Cố tụt xuống giường, lê đôi hài đi ra ngoài cửa.
    “Lão Trương, ngài có khỏe không?” Dưới hiên, một người thanh niên chừng hai mươi lăm hai mươi sáu tuổi, vận quần áo trong cung màu hoa hạnh, khuôn mặt tròn hồng hồng trắng trắng, môi đỏ như son.
    “Ô, anh ba.” Trương Cố biết tay Chiêu Phúc – học trò thứ ba của thái giám Thất Bảo là một nhân vật khó dây dưa, thầm thở dài trong lòng, cười rồi lại chào hỏi người phía sau gã, “Anh tư cũng tới à?”
    Tiến Bảo đang nghịch chim trong lồng, cười nói: “Lão Trương, trước kia không biết ngài còn thích nuôi mấy con vật nhỏ đấy.”
    “Đợt hè con chim này bay vào trong phòng tôi, bọn trẻ vồ được, thế là nuôi thôi.”
    Tiến Bảo cười khẽ: “Ai cũng bảo hễ vào cửa cung là sâu như biển, không ngờ cũng giống chim tước.” Ngữ khí của hắn ta tao nhã thong dong, nhưng người khác nghe thấy thì luôn có cơn ớn lạnh căm căm chẳng lành bò lên sống lưng.
    Trương Cố nói: “Hai anh hầu trước mặt hoàng hậu, sao lại rảnh rỗi mà đến chỗ này?”
    Chiêu Phúc nói: “Lão Trương đúng là quý nhân hay quên.

    Hai anh em tôi nghĩ áo bông mới chắc đã làm xong rồi, mà để mấy thằng thuộc hạ tới lấy thì không kính trọng ngài, vừa lúc buổi chiều không có việc nên tiện thể qua đây hỏi thăm ngài.”
    Trương Cố ngẩn người ra, hỏi: “Áo bông mới? Hai anh cứ nói đùa, vạn tuế gia đã hạ chỉ, còn có ai dám làm áo mới để mặc chứ?”
    Chiêu Phúc cười nói: “Lão Trương, hai anh em tôi đã nói với cục Châm Công từ đầu mùa xuân rồi, ngài còn nhớ không?”
    “Ôi, xin lỗi.

    Không phải là tôi quên, chỉ là năm nay từ xuân tới thu cục Châm Công không có lúc nào được nghỉ, tới lúc có thể rảnh rỗi làm xiêm áo cho người trong cung thì khác vạn tuế gia lại hạ chỉ xuống.

    Nếu hai anh có thể chín bỏ làm mười thì xuân tới tôi sẽ bảo bọn nhỏ làm xong sớm rồi đưa đến cho các anh.”
    Chiêu Phúc nhẹ nhàng cười gằn một tiếng: “Bọn tôi tạm mặc áo cũ cũng không hề gì, chỉ sợ hoàng hậu nương nương thấy chúng ta áo rách quần manh, lại răn dạy bọn tôi làm mất thể thống.”
    Trương Cố cũng là kẻ lõi đời, lập tức cười bảo: “Trong cung không có ai mặc quần áo mới, anh ba, anh tư lại được vinh dự vẻ vang đi lại ở ngự tiền, các chủ nhân hỏi tới thì chung quy sẽ không tốt.

    Hay là thế này, đằng nào giờ cục Châm Công cũng rỗi rãi, nhân công sẽ hiểu là áo bông của hai anh lấy từ tiền túi của tôi, người khác có hỏi tới thì cũng không tính là chi tiêu trong hoàng cung.”
    Chiêu Phúc nói: “Hai anh em tôi không nhận nổi lời này của lão Trương đâu.

    Bao năm nay bọn tôi muốn biếu ngài mà còn không có cơ hội đây này, làm sao có thể để ngài tiêu pha? Hơn nữa bọn tôi mang con bài ngà không giống đám nhóc áo xanh, thế thì vốn là chuyện danh chính ngôn thuận lại biến thành may áo quan riêng, bọn tôi không gánh nổi đâu.”
    Trương Cố tỏ vẻ không biết làm sao, trầm ngâm nói: “Cũng phải, anh ba xem nên làm thế nào?”
    Chiêu Phúc bỗng nghẹn lời, thình lình nghe Tiến Bảo lạnh lùng quát một tiếng: “Đứng lại! Trong mắt không có bề trên à?”
    Chỉ thấy ở hành lang đối diện Tiểu Thuận Tử ôm một cái bọc, đang cúi đầu đi vội ra ngoài.

    Cậu nghe Tiến Bảo gọi mình, mới lắp bắp, lần lữa đi tới, cho dù biết Tiến Bảo vẫn thanh lịch tao nhã, vẻ mặt ôn hoà cũng không dám ngẩng đầu nhìn lấy một cái mà thỉnh an: “Tam gia, tứ gia.”
    Chiêu Phúc cười lạnh bảo: “Tôi còn hỏi vì sao cậu thấy người là tránh, thì ra là mặc quần áo mới nên ngại gặp người khác.

    Suy cho cùng thì cũng là trò của người thu mua ở cục Châm Công, gần quan được ban lộc, lúc ai nấy đều thắt lưng buộc bụng, cậu còn có áo hai lớp mới mà mặc ra ngoài huênh hoang.”
    Trương Cố lấy làm kinh hãi, lúc này mới nhìn kỹ quả nhiên áo hai lớp của Tiểu Thuận Tử mới tinh, vẫn còn cả nếp.

    Lại nghe Chiêu Phúc lời mặn lời nhạt mà chỉ gà mắng chó thì không khỏi thẹn quá hóa giận, bảo: “Tiểu Thuận Tử, tam gia hỏi cậu đấy!”
    “Tôi, tôi…” Tiểu Thuận Tử sợ đến mức mặt trắng bệch, lui về phía sau mấy bước mà không nói ra được nguyên cớ.
    Chiêu Phúc lại bảo: “Nghe nói người thầy cậu không thoải mái, cả ngày dùng nấm tuyết, sữa để bồi bổ, không phải là sắp sánh bằng nương nương trong cung rồi sao? Sau này tam gia, tứ gia của cậu cứ làm người hầu cho thầy cậu là được, thể nào cũng có áo bông qua mùa đông.”
    Tiến Bảo mỉm cười không tiếp lời, vẫn nhàn nhã ở bên cho chim ăn gạo, khóe mắt thoáng thấy có người tiến vào cửa viện thì sầm mặt lại, thầm kéo tay áo của Chiêu Phúc.
    “Lão Trương đang tức ai đấy?” Người đi vào là Như Ý, gã đảo mắt thấy Tiểu Thuận Tử thì mắng, “Cậu trông mình đi, đã lớn thế này mà còn hay chọc giận, thằng sáu không quản được cậu, lão Trương của cục Châm Công cũng không quản được cậu, còn muốn tam gia, tứ gia cậu dạy bảo, có mất mặt không?”
    Chiêu Phúc, Tiến Bảo biết anh ta nói mình, bước lên trước chào hỏi: “Chào nhị sư ca.

    Chẳng qua là bọn em đang xem áo hai lớp mới của Tiểu Thuận Tử thôi.

    Nếu nhị sư ca tới thì nhất định là có ý chỉ của vạn tuế gia, bọn em không cản trở việc chính của nhị sư ca nữa.” Nói rồi hai người chắp tay cáo từ.
    Như Ý bảo: “Đừng, khó lắm mấy anh em ta mới được nói chuyện phiếm mấy câu mà.”
    Tiến Bảo cười nói: “Không phải là nhị sư ca không biết, bây giờ sư đệ được hoàng hậu sai đến chỗ Nghị phi nên bận lắm.

    Ngày khác mời nhị sư ca uống rượu say vậy.”
    “Cũng được.” Như Ý nhìn họ ra khỏi viện rồi mới hỏi, “Có chuyện gì thế?”
    Trương Cố nói: “Không có gì, già rồi, trí nhớ không tốt, quên mất áo bông cho hai anh.

    Vừa vặn Tiểu Thuận Tử đi ngang qua, bọn họ bèn vây quanh xem áo hai lớp mới của Tiểu Thuận Tử.”
    “Cái này không phải đồ mới đâu.” Tiểu Thuận Tử hết sức ấm ức, “Năm nay tôi cao lên không ít, áo hai lớp, áo bông của năm ngoái, thậm chí cả xiêm áo cũ của thầy cũng không mặc vừa.

    Chị Minh Châu mới tìm áo hai lớp của ngũ gia để may lại cho tôi mặc đấy.”
    Trương Cố cười bảo: “Thằng nhóc con, vừa rồi sự thông minh cơ trí đi đâu hết rồi, sao không nói sớm.”
    “Nhị gia biết mà, tôi thấy tam gia, tứ gia từ xa đã không dám thở mạnh chứ đừng nhắc đến nói chuyện.”
    Như Ý nghe cậu nói đây là vật Khu Ác để lại thì không khỏi thấy vật nhớ người, cười gượng bảo: “Thằng nhóc nhà cậu đã lớn ngang ngửa tôi rồi, sau này cũng có tiền đồ.

    Cậu chờ đấy, tôi hỏi lão Trương mấy câu rồi sẽ đi thăm thầy cậu.”
    Tiểu Thuận Tử vui vẻ nói: “Vâng.”
    “Cậu vui mừng cái gì, tôi đi qua là để bảo thầy cậu dạy bảo cậu, để cậu bớt ra ngoài gây chuyện thị phi.”
    Lúc họ đến viện Cư Dưỡng, Tịch Tà đang tựa trên giường đọc sách.

    Như Ý nói: “Em đừng dậy.

    Đã khỏe hơn chút nào chưa?”
    Tịch Tà khép sách lại đáp: “Không có chỗ nào không khỏe hết, chỉ muốn lén làm biếng vài ngày thôi ạ.”
    Tiểu Thuận Tử nói: “Thầy bị lạnh thì sẽ đau ngực, nhờ có tôi xoa bóp cho thầy đấy.”
    Tịch Tà cười bảo: “Ta chẳng còn mấy cái xương sườn chưa gãy đâu.

    Mau đi rót trà cho nhị gia!”
    Như Ý nói: “Anh mới từ cục Châm Công qua đây, hoàng thượng bảo anh đi hỏi xem bên kia chuẩn bị thế nào rồi.”
    “Chắc là cũng hòm hòm rồi.

    Nghị phi sinh trong tháng Mười một, đến bây giờ ai còn dám chậm trễ?”
    “Em đoán xem, anh đụng mặt thằng ba, thằng tư, nhờ ấy mà lại nhắc nhở anh hỏi em một việc đây.

    Hoàng hậu sai Tiến Bảo đến cung của Nghị phi rồi, nói là để người đắc lực hầu Nghị phi chờ sinh.

    Anh luôn cảm thấy khó chịu, em thấy thế nào?”
    Tịch Tà thấp giọng nói: “Nếu nói người trong cung không hy vọng Nghị phi sinh ra hoàng tử nhất thì chính là hoàng hậu.”
    Như Ý gật đầu, thấy Tiểu Thuận Tử bưng trà vào thì tiện miệng nói: “Không phải cậu muốn đi tìm Minh Châu à? Mau đi đi.” Chờ cậu đi xa rồi, anh ta mới thấp giọng hỏi, “Em xem liệu Tiến Bảo có…”
    Tịch Tà thở dài: “Chúng ta đều biết thủ đoạn của Tứ sư ca.

    Nếu như Nghị phi sinh công chúa thì mọi người đều thái bình.

    Nếu thực sự là hoàng tử thì e từ nay về sau cung Khánh Tường của nàng không được an bình.

    Đến lúc đó tất phải nhìn chằm chằm mỗi người.”
    Như Ý nói: “Bà đỡ là do thái hậu chọn, đã vào thăm nhiều lần.

    Hoàng hậu và Nghị phi đều hỏi bà ta rốt cuộc là rồng hay là phượng, tiếc là người đàn bà ấy rất kín miệng, sống chết không chịu nói một câu chắc chắn.”
    Tịch Tà phì cười, xoa ngực bảo: “Chẳng ai lại đi mở miệng nói lung tung, còn cần mạng nữa không?”
    Như Ý cau mày nói: “Em sáu, em nói thật với anh, rốt cuộc em bị bệnh gì? Trước đây không như vậy mà.

    Có phải hao quá nhiều sức lực chăng? Thái y đã xem qua chưa?”
    “Xem rồi ạ.

    Thầy Trần nói không sao, mùa đông năm nay chỉ cần uống viên thuốc của ông ta thì đầu xuân có thể khỏi hẳn.”
    “Trần Tương?” Như Ý thoải mái cười nói, “Ông ta nói không sao thì nhất định là không sao.”
    Thời tiết lạnh thật rồi.

    Trong tháng Mười một, bầu trời âm u, tuyết lớn xếp đống ở trên mây đen, không chịu rơi xuống làm lưu ly trên nóc cung không được ánh mặt trời rọi chiếu phải mất hết màu sắc.

    Trong cung phàm là người có chút thân phận thì đều trốn ở trong phòng, rất ít khi đi ra ngoài, tường ấm đốt lò sưởi, hơ đến mức miệng lưỡi khô không khốc, đối lập với cái âm u lạnh lẽo ở bên ngoài lại là một cảm nhận khác.

    Do hoàng đế ghét trong phòng khô hanh nên Cát Tường và Như Ý đã sai người chuyển hơn mười chậu hoa cỏ vào, hút hết khí nóng trong phòng, bất kể ở góc nào đều thấm đẫm mùi hương.

    Lúc rảnh, hoàng đế thích cầm mật tấu của các nơi đi tới trước hoa cỏ mà đọc, như thể việc này có thể đè nén sự thô bạo trong lòng xuống vậy.
    Từ sau khi cử sứ trưng thu lương thực đến các nơi, gần như chỉ trong vòng ba ngày sứ trưng lương trú ở đất phiên họ ngoại đều có mật tấu lên kinh, lại thêm tấu của bố chính sứ Hàn châu Thái Tư Tề, trong một đống tấu lớn không có câu nào khen các thân vương.

    Ngay cả Lưu Viễn và Thành Thân vương cũng không tiện xem những tấu sớ này, hoàng đế chỉ có thể hỏi Tịch Tà: “Chẳng lẽ thật sự đều có ý làm phản thế ư? Có phần quá phách lối càn quấy rồi đấy.”
    Tịch Tà nhặt mấy quyển ra nhìn cẩn thận, cười nói: “Hoàng thượng xem, ở đây nói Tây vương Bạch Đông Lâu lén chế cổn miện, giấu giếm ngọc tỷ, ý đồ mưu phản, nô tỳ cảm thấy rất giả dối.

    Cho dù Bạch Đông Lâu đại nghịch bất đạo đến thế, cũng sẽ không để áo cổ̀n ngọc tỷ của mình tùy tiện lộ ra, sao người chuyên đến thăm dò của triều đình lại dễ dàng biết được?”
    Hoàng đế nói: “Khanh thấy bên trong có chỗ nào giả dối?”
    “Tất nhiên chuyện này thà tin là có chứ không thể không tin.

    Có điều hoàng thượng đã biết dã tâm của chúng không nhỏ, kết đảng trở thành mối họa, nay dù ông ta thật sự có cổn miện ngọc tỷ thì hoàng thượng cũng không đến mức sửng sốt, không cần nổi giận.”
    Hoàng đế cười nói: “Khanh nói như vậy, trẫm quả thật là tức giận không đâu rồi.

    Nhưng nói đi cũng phải nói lại, vì lẽ gì mà trong những tấu sớ này đều nói về tội bất trung bất kính của các thân vương?”
    Tịch Tà nói: “Mọi người đều biết quyết tâm diệt trừ phiên vương của hoàng thượng.

    Những quan viên này hiểu rõ ý thánh nên tất nhiên sẽ chọn những lời hoàng thượng muốn nghe mà nói, có khi vội quá, khó tránh khỏi bịa đặt.

    Tấu sớ của Thái Tư Tề và Cao Hậu cũng có ít đầu mối đấy ạ.” Nói rồi đưa trả tấu sớ của hai người cho hoàng đế, “Ở đây nói trong số tiền thuế hằng năm của Đông vương Đỗ Hoàn có chừng năm mươi vạn lượng không về kho, không rõ đổ về đâu.

    Tấu của Cao Hậu cũng nói mấy ngày trước tướng quân du kích của Đốc châu áp tải mười chiếc xe lớn vào thẳng Hồng châu, tìm hiểu ra mới biết cứ hai ba tháng đều có người của Đốc châu áp tải đội xe đến Hồng châu, đến nay vẫn không biết vận chuyển hàng hóa gì, đi về phía nào.

    Mặt khác, Cao Hậu nghiên cứu hết sức tường tận về thuế má, điền sản, lực lượng canh phòng của hai châu Thanh, Hồng, có tài cán để hoàng thượng dùng đấy ạ.”
    “Hai người ấy rất đắc lực, xem như là dùng đúng rồi.” Hoàng đế đứng dậy thong thả đi đến trước hoa, than thở, “Trong triều đình còn có người như vậy không?”
    Cát Tường khẽ ho một tiếng ở bên ngoài, bẩm: “Vạn tuế gia, Tến Bảo trong cung Khánh Tường của Nghị phi đã chờ ở bên ngoài một lúc rồi, vạn tuế gia có muốn để hắn vào bẩm tấu không ạ?”
    Hoàng đế hỏi: “Hôm nay đã là mười mấy rồi?”
    “Bẩm vạn tuế gia,” Cát Tường cười nói, “Hôm qua là mười chín, nay đã là ngày hai mươi rồi ạ.”
    “Khanh đi hỏi Tiến Bảo xem có phải Nghị phi sắp sinh không.

    Nếu vậy thì bảo hắn mau trở về, bên kia quan trọng hơn.

    Tịch Tà,” Hoàng đế nói, “Trẫm muốn khanh đến cung Càn Thanh làm nhiệm vụ, khanh làm công hàm tóm lược mật tấu cho trẫm, giao trả việc của cục Châm Công đi.”
    “Được hoàng thượng dìu dắt, nô tỳ cảm động đến rơi nước mắt.” Tịch Tà dập đầu nói, “Nếu như…”
    Hoàng đế cười hỏi: “Nếu như thời cơ thích hợp hơn thì sẽ tốt hơn, đúng không?”
    “Hoàng thượng thánh minh.”
    Hoàng đế thở dài, nói: “Khanh về suy nghĩ lại đi.”
    Tịch Tà lui ra phòng ngoài, thấy Hoắc Viêm cầm tấu sớ trong tay ở dưới hiên, đang bảo đám thái giám nhỏ ba chân bốn cẳng cởi áo choàng xuống cho y.
    “Công công.” Hoắc Viêm chắp tay.
    “Anh thám hoa, hiếm thấy thật.” Tịch Tà cười rồi đến gần hơn, “Sắp hoàng hôn rồi, Hoắc thám hoa vẫn còn đang làm nhiệm vụ ư?”
    Hoắc Viêm nở nụ cười hết sức khó coi, trả lời: “Lưu thái phó bảo ty chức cầm văn kiện này đến ngay cung Càn Thanh, là văn kiện khẩn cấp của Hồng vương, giờ Thành Thân vương cũng sắp tới rồi.”
    Tịch Tà ngẩn ra, thấy thân hình Hoắc Viêm che khuất đám thái giám nhỏ, nhanh chóng mở tấu sớ của Hồng vương trong tay ra.

    Tịch Tà đọc nhanh như gió, xem đại khái rồi khẽ nhíu mày, chợt cười nói: “Hoàng thượng sẽ triệu kiến Hoắc thám hoa ngay thôi, giờ nô tỳ xin cáo từ.”
    Hoắc Viêm đợi trong chốc lát, nghe hoàng đế gọi mới dâng tấu chương vào.

    Thì ra hoàng đế đang chuẩn bị đến cung Từ Ninh chờ tin của Nghị phi cùng thái hậu, cả quần áo cũng đã thay, lúc này bèn cởi xiêm áo vừa dày vừa nặng ra, đoạt lấy tấu trong tay Hoắc Viêm và hỏi: “Tấu gấp gì đấy?”
    “Tấu hạch tội của Hồng vương ạ, hạch tội Cao Hậu ở hai châu Thanh, Hồng ra sưu cao thế nặng, tham ô không làm tròn trách nhiệm, ai nấy ở địa phương đều căm phẫn.

    Để tránh k*ch th*ch dân biến nên Hồng vương đã giam lỏng Cao Hậu ở trong dịch quán của Hồng châu, tấu gấp xin ý chỉ của hoàng thượng.”
    Hoàng đế vội vàng nhìn hết tấu chương, hỏi: “Lưu Viễn đã xem chưa?”
    “Thái phó đang chờ Thành Thân vương rồi cùng qua đây xin gặp.”
    Hoàng đế nói với Cát Tường: “Bọn họ đến thì cứ gọi vào.”
    Cát Tường thấy hoàng đế tức giận đến mức cả người run rẩy, mím chặt môi không lên tiếng thì biết rõ việc lớn tanh bành, bèn đi ra ngoài nhắc các nội giám đang làm nhiệm vụ cẩn thận ứng phó.

    Hoắc Viêm một mình đối mặt với hoàng đế, chân tay luống cuống, tiếng nước trong suốt trong bình đồng nhỏ giọt ở cung Càn Thanh lạnh thấu cả người y, mắt của y không ngừng liếc về phía cửa, thấy góc áo của Thành Thân vương chợt hiện vào.
    “Hoắc Viêm, anh đi ra ngoài đi.” Tiếng Thành Thân vương hiếm khi có vẻ lạnh lùng nghiêm nghị ấy.
    Hoắc Viêm lau mồ hôi lạnh, nhìn thoáng qua bóng lưng của hoàng đế rồi lặng lẽ lui ra.

    Cát Tường đang sai người xách ngọn đèn sáng, thấy y bình an đi ra thì cũng thở phào nhẹ nhõm.

    Mãi đến đêm khuya, Thành Thân vương và Lưu Viễn mới lui ra từ cung Càn Thanh, ai nấy đều mang sắc mặt tái xanh, xem ra không có kế hay gì.

    Hoàng đế một mình ở bên trong phòng, chỉ có thể thấy bóng hắn ta đi qua đi lại ở bên trong.
    Tiểu Hợp Tử được Cát Tường khiến đến cung Khánh Tường vội vã chạy về, nói khẽ với Cát Tường: “Thưa thầy, con thấy chỗ Nghị phi có nguy hiểm, đã dày vò cả đêm rồi, bây giờ vẫn chưa thấy tin tức của hoàng tử, mấy thái y đều chờ ở ngoài cung, chỉ sợ ngộ nhỡ đấy ạ.”
    Cát Tường gật đầu nói: “Ta biết rồi, con đừng nói mò với người khác.” Rồi lại thương lượng vài câu với Như Ý, y cẩn thận đẩy cửa ra, nói: “Vạn tuế gia, đêm đã khuya, nô tỳ mời vạn tuế gia đi nghỉ ngơi ạ.”
    Tay hoàng đế vẫn cầm tờ hạch của Hồng vương, lấy lại tinh thần, hỏi: “Đã qua giờ hợi rồi nhỉ?”
    “Đã sắp đến giờ Hợi ba khắc rồi ạ.”
    “Nghị phi thế nào rồi? Có tin chưa?”
    “Đã hỏi nhiều lần nhưng vẫn chưa có tin ạ.”
    “À.” Hoàng đế trở về bên hương án, xoa huyệt thái dương rồi chậm rãi nói, “Trẫm chờ một lát nữa.”
    Cát Tường biết hắn ta ám chỉ điều gì, sau khi lui ra thì lệnh thái giám nhỏ đang làm nhiệm vụ ở cung Càn Thanh tới hết cung Khánh Tường nghe ngóng nhưng cũng không có tin tốt nào.

    Cho đến khi giờ tý sắp quá mới nghe được tiếng bước chân chạy vào.
    Cát Tường thấy bóng dáng Tiến Bảo thì vội vàng đẩy cửa ra bẩm: “Vạn tuế gia, người của cung Khánh Tường đến rồi.”
    Hoàng đế bỗng đứng lên tới, thấy Tiến Bảo bước nhanh vào, phục xuống tại chỗ dập đầu: “Bẩm vạn tuế gia, giờ tý hai khắc Nghị phi đã sinh ra công chúa.”
    “Công chúa?”
    “Vâng.”
    Hoàng đế chỉ cảm thấy dầu mình là người đứng đầu thiên hạ, nhưng thiên hạ to lớn lại chẳng có chuyện nào vừa lòng như ý thì không khỏi nhẹ giọng cười nhạt, cầm tấu chương trong tay ném “bộp” lên trên hương án.
    “Vạn tuế gia…” Cát Tường tiến lên một bước.
    Hoàng đế chậm rãi lại ngồi xuống ghế, cười bảo: “Nghị phi vất vả rồi, công chúa sinh ra là niềm vui của xã tắc, trẫm rất mừng rỡ.

    Đêm nay đã khuya rồi, ngày mai trẫm sẽ đi thăm nàng và công chúa.”
    Ai ơi nhớ lấy câu này, reup không khéo có ngày rụng răng.
    “Lạnh quá!” Tiểu Thuận Tử móc cái bọc nho nhỏ ở trong ngực ra, đặt ở trên giường, “Lạnh quá!”
    Minh Châu nói: “Mau đến bên bếp lò hơ tay cho ấm, sắp ăn cơm rồi.”
    “Đã là giờ nào rồi mà thầy còn chưa ăn?”
    Minh Châu cười bảo: “Vì chờ cậu về đấy, ngay cả tôi cũng đói cùng đây.”
    Tịch Tà nghe tiếng đẩy mành trong phòng đi ra, Tiểu Thuận Tử vội vàng nói: “Thưa thầy, đồ ở trên giường đấy ạ.”
    Tịch Tà lục từ trong bọc ra mấy quyển sổ con bằng da trắng.

    Minh Châu thấp giọng hỏi: “Bảo Tiểu Thuận Tử cầm từ chỗ Khương Phóng không sao chứ?”
    Tịch Tà cười nói: “Không phải là không sao mà là không còn cách nào khác.

    Dù sao tấu sở phía tây đã chậm một hai ngày, lại chuyển tới chuyển lui, đến khi vào tay tôi thì chỉ sợ nhìn thấy cũng đã vô dụng rồi.”
    Tiểu Thuận Tử đói đến mức bụng sôi òng ọc, đã ngồi nghiêng ở trên mép giường từ lâu, thấy Minh Châu bưng mấy món ăn lên bàn, vốn định vỗ tay hoan hô nhưng đảo mắt thấy vẻ mặt Tịch Tà càng ngày càng nghiêm trọng thì rụt cổ, không dám lên tiếng.

    Minh Châu thừa dịp Tịch Tà khép cuốn sổ thứ nhất lại, hỏi vội: “Lục gia ăn cơm trước đã rồi hãy xem, có được không?”
    “Được!” Tịch Tà không yên lòng đáp một tiếng nhưng vẫn cứ tiếp tục lật xem, cuối cùng khẽ nhíu mày một cái.
    Minh Châu thấy Tiểu Thuận Tử ở bên không dám động đậy thì thở dài bảo: “Chúng ta ăn trước, thầy cậu còn phải một lát nữa cơ.”
    “Chờ đã!” Tịch Tà đột nhiên ngẩng đầu.
    “Gì vậy thầy?” Tiểu Thuận Tử lập tức buông chiếc đũa mới cầm lên.

    Tịch Tà khép quyển sổ trong tay lại, nói: “Bên ngoài có người đến.”
    “Tịch Tà!” Bên ngoài viện đã truyền đến tiếng của Như Ý, “Mau ra đây.”
    Tịch Tà thấp giọng bảo Minh Châu: “Cất vào.”
    Minh Châu cuốn sổ con vào trong bọc, vén mành lên lui vào phòng sau.
    Tịch Tà đi ra ngoài phòng, gió lạnh thổi vào làm hắn rùng mình, thấy Như Ý phe phẩy phất trần nghiêng người vào sân, một cái bóng cao to theo phía sau, chính là hoàng đế.
    “Hoàng thượng vạn phúc.” Tịch Tà dẫn Tiểu Thuận Tử quỳ xuống dập đầu ở trong sân, “Hoàng thượng hạ mình quá bộ đến làm nô tỳ không khỏi sợ hãi.”
    Hoàng đế cười nói: “Mau đứng lên, mặt đất lạnh lắm.”
    “Sao vạn tuế gia lại muốn đến chỗ này của nô tỳ vậy ạ?”
    “Không phải là mới từ chỗ Nghị phi ra đó sao? Hôm nay hình như thái hậu hơi trách nàng sinh ra công chúa, nói là năm sau phải chọn tú nữ vào cung lần nữa.

    Nàng cảm thấy ấm ức, khóc lóc kể lể cả nửa ngày, trẫm thấy bực mình nên muốn giải sầu.

    Nghe Như Ý nói buổi tối chỗ khanh luôn thổi bếp lò, bèn tới đây dựng lửa, uống hai chén.”
    “Nô tỳ không nhận nổi.” Tịch Tà thấy hoàng đế đi tới nhà giữa, vội nói, “Nhà giữa là chỗ ở trước kia của thầy nô tỳ, để không gần hai năm rồi, bên trong thật sự rất lạnh.

    Phòng nô tỳ đốt lửa, nếu hoàng thượng không ngại chỗ nô tỳ bẩn thì hãy nghỉ một lát ở trong phòng của nô tỳ, có được chăng?”
    Hoàng đế gật đầu vào nhà, thấy mấy món ăn trên bàn ở giường còn chưa động tới, bày ba bộ chén đũa thì cười hỏi: “Hóa ra Minh Châu cũng ở đây, người đâu rồi?”
    Minh Châu uyển chuyển đi ra từ bên trong, dập đầu thỉnh an.
    “Bây giờ mới biết cuộc sống của khanh thật tốt, trẫm chỉ nói khanh vẫn đang bệnh, còn cho rằng thê lương lắm, ngờ đâu khanh đã có người đẹp hầu hạ.”
    Minh Châu cười nói: “Nô tỳ bạc mệnh, ăn không quen sơn hào hải vị trong cung, có lúc nhớ đến món ăn quê nhà, bèn qua đây mượn cái bếp ở viện Cư Dưỡng để sử dụng.

    Để vạn tuế gia chê cười rồi.”
    Tịch Tà cũng thưa: “Thầy trò nô tỳ chỉ mặt dày huởng ké thôi ạ.”
    Như Ý cười nói: “Nếu hoàng thượng đã tới, Minh Châu cứ trổ hết tài năng, làm mấy món sở trưởng thật ngon, hoàng thượng thấy ngon, tất sẽ ban thưởng.”
    “Nô tỳ không h*m m**n phần thưởng của hoàng thượng, chỉ cần được hoàng thượng nói một chữ “ngon”, nô tỳ đã cảm thấy mãn nguyện rồi.”
    Hoàng đế ngồi ở trên giường, Tịch Tà đã lệnh cho Tiểu Thuận Tử hơ nóng đũa và chén rượu bạc, vừa hâm lại rượu tới nói: “Đây là rượu mà thầy nô tỳ giấu lúc trước, hoàng thượng uống tạm vậy.”
    Hoàng đế ngắm nhìn bốn phía, thấy trong phòng được dọn dẹp không nhiễm một hạt bụi, lại không có vật trang sức nào thì cười bảo: “Chỗ khanh thật sạch sẽ.” Đoạn chỉ vào hai chậu trúc lớn hình lưng rùa ở trong góc nói: “Thì ra phương pháp của Cát Tường và Như Ý học từ chỗ khanh.”
    “Hoa cỏ cũng có thể tu dưỡng con người.”
    “Hoa cỏ cũng có thể tu dưỡng con người.” Hoàng đế khẽ cười nhạt, “Trẫm vốn tưởng cỏ thơm khắp phòng có thể tạo thành khí độ thanh nhàn của con người, không ngờ mình vẫn không kềm chế được.”
    Tịch Tà rót rượu thay hoàng đế, nói: “Hoàng thượng thế này vì chuyện gì vậy?”
    Hoàng đế lắc đầu, mới vừa uống xong chén rượu này, Minh Châu đã lại thêm bốn món nhắm, còn cả dưa chua nàng muối theo cách của Đại Lý ở trong cung, cũng xếp lên hai cái mâm.

    Hoàng đế gắp một ít lên nếm, chỉ cảm thấy trong chua cay mang theo vị ngọt nhè nhẹ, thực là giòn tan ngon miệng, bèn khen một tiếng “Ngon”.
    “Như Ý, khanh khen ngợi tay nghề của Minh Châu nhiều ngày rồi, đi chỗ khác đi, có Tịch Tà hầu hạ trẫm rồi.”
    Như Ý cười nói: “Vạn tuế gia thương xót, nô tỳ tạ chủ long ân.” Rồi nháy mắt với Minh Châu và Tiểu Thuận Tử, sau đó lui ra ngoài.

    Trong phòng tĩnh lặng trong chốc lát, hoàng đế ngẩn ngơ nghĩ gì khác rồi lại uống cạn một chén, Tịch Tà lẳng lặng cầm bình rót đầy.
    “Khanh ngồi đi.” Hoàng đế chỉ vào chỗ đối diện chiếc bàn trên giường, không yên lòng cười, “Vừa mới nói cái gì nhỉ?”
    “Đang nói đến hoàng thượng nhọc lòng vì việc gì ạ.”
    Hoàng đế nói: “Khanh đã biết chuyện của Cao Hậu chưa?”
    “Đã nghe một ít.” Tịch Tà để bầu rượu xuống, ngồi nghiêng ở trên mép giường, “Hoàng thượng muốn hỏi gì ạ?”
    “Rốt cuộc hắn ta ở Hồng châu có giống Hồng vương tố cáo, làm những chuyện vơ vét của dân không?”
    “Lúc ở Hồng châu, Cao Hậu đặt quyền lợi chung lên quyền lợi riêng, là ngọc trắng không tỳ vết.” Mặt Tịch Tà ở dưới ngọn đèn trắng đến mức trong suốt, lúc cái từ “ngọc trắng không tỳ vết” được nói ra từ trong miệng hắn, hoàng đế không khỏi ớn lạnh cả kinh, “Hồng châu càng không có nỗi lo dân biến.”
    Hoàng đế dời ánh mắt đi: “Hồng vương tố cáo không có thật, ông ta vội vã giết Cao Hậu là vì nguyên nhân khác?”
    “Mấy ngày trước trong mật tấu Cao Hậu nói đã chạm đến chỗ đau của Hồng vương, không giết thì Hồng vương khó có thể an giấc.

    Trưng thu lương thực ở đất phiên thì càng can dự vào chính trị riêng của đất phiên, không giết thì làm sao có thể áp chế nhuệ khí của hoàng thượng?” Tịch Tà nói đến đây vẫn bình tĩnh hòa nhã, “Đây là lỗi của nô tỳ.

    Khánh Hi năm thứ nhất, binh mã cần vương của bốn vương vào kinh thành, lúc gia phong làm thân vương, chỉ có môn khách trung thư này biện luận dựa vào lí lẽ để phản đối việc gia phong cho bốn vương.

    Ngài ấy là cận thần bên cạnh tiên đế, tuy chức quan nhỏ nhưng lại làm triều đình và dân gian rúng động.

    Vốn tưởng rằng Hồng vương có chút kiêng dè với Cao Hậu, không tiện ra tay, thật sự không ngờ ông ta quả quyết lộng quyền, không coi ra gì, quả nhiên là người ngang ngược có dã tâm đương thời.

    Nô tỳ đầu óc hạn hẹp, đã nhìn lầm ông ta rồi.”
    “Tối hôm qua đã bàn đến khuya với Cảnh Nghi và Lưu Viễn, sư nói sư phải, vãi nói vãi hay, đến cuối cùng vẫn chưa bàn xong việc này phải xử trí thế nào.

    Cao Hậu này giữ hay bỏ, mà giữ như thế nào, bỏ như thế nào?” Hoàng đế thở dài, “Giữ Cao Hậu sẽ trở mặt với Hồng vương, không cần làm, chỉ nghĩ thôi cũng đã khá bận tâm về mười vạn binh mã trong tay ông ta, còn chưa nói đến việc thái hậu cũng sẽ làm khó dễ.

    Bỏ Cao Hậu thì thể diện của trẫm, thể diện của triều đình để vào đâu, các sứ trưng lương ở đất phiên khác biết được thì nhất định sẽ nhìn trước ngó sau, còn có thể làm được việc gì nữa?”
    “Hoàng thượng lo lắng rất đúng.” Tịch Tà gật đầu.
    “Khanh nghĩ sao?” Hoàng đế đột nhiên cười, “Khanh có chủ kiến trong lòng, đừng thừa nước đục thả câu.”
    “Vâng.” Tịch Tà cũng cười nói, “Nô tỳ đang nghĩ lúc đầu cử Cao Hậu đến Hồng châu, trước sân khấu là để trưng thu lương thực, thật ra còn là cơ sở ngầm của triều đình ở Hồng châu, để Hồng vương làm việc phải e dè.

    Nay Cao Hậu đã bị giam lỏng ở Hồng châu, bất kể là trên sân khấu hay dưới sân khấu thì ngài ấy cũng không còn cách nào hát tiếp vở hí này, khí thế của Hồng vương thúc bách, tất nhiên là bỏ.”
    “Bỏ?” Vì bất ngờ nên hoàng đế không khỏi ngẩn ra, “Bỏ thế nào?”
    Tịch Tà nói: “Thứ nhất, Cao Hậu không thể chết ở Hồng châu được, phải áp giải về bộ Hình luận tội; thứ hai, luận tội cũng nên có chứng cứ phạm tội xác thực; thứ ba, nô tỳ đoán hoàng thượng sẽ giữ bản hạch tội của Hồng vương mà không phát tán, nhắc nhở Hồng vương và các thân vương khác một câu, trước giờ đất phiên bình an vô sự, rốt cuộc là kẻ nào đang gây sóng gió?”
    “Việc thứ nhất không khó; việc thứ ba cũng dễ làm.

    Nhưng việc thứ hai…” Hoàng đế nói, “hơi bất tiện.

    Tên Cao Hậu này rất trong sạch, như khanh mới vừa nói, ngọc trắng không tỳ vết.” Hoàng đế liếc nhìn Tịch Tà, “Trẫm có thể xử hắn tội gì chứ?”
    Nụ cười của Tịch Tà ánh lên màu rượu mát lạnh trong chén: “Muốn gán tội cho người khác, sợ gì không có lý do?”
    Hoàng đế kinh ngạc cười nói: “Cái gì?”
    Ánh mắt Tịch Tà yên tĩnh như mặt nước phẳng lặng: “Nếu Cao Hậu đã thành đồ bỏ đi thì với hắn mà nói, tội gì cũng giống nhau cả.”
    Hoàng đế chậm rãi bưng chén rượu lên bên môi, mắt nhìn chăm chăm phiến lá xinh đẹp bừng bừng sức sống bên tường, trong lúc trầm ngâm lẳng lặng gật đầu.
    “A!” Ngoài cửa, Như Ý và Tiểu Thuận Tử khẽ hô một tiếng.
    Tịch Tà xoay người đẩy cửa sổ ra, cười nói: “Tuyết rơi rồi.”
    “Thế à?” Hoàng đế cũng đi đến trước cửa sổ, “Tuyết lớn quá!” Chỉ thấy trong viện đã trắng xóa một mảnh, bông bạc bay loạn, nhào vào trên chấn song, bậc thang đá xanh cũng bị những hạt nhỏ làm ướt, lờ mờ phản xạ ánh đèn tĩnh mịch.

    Hoàng đế cười bảo: “Đun rượu ngắm tuyết cũng là chuyện thú.”
    Thái giám Thất Bảo được thái hậu tin một bề nhiều năm, dù lão không phải tham lam nhưng ở viện Cư Dưỡng vẫn giấu không ít đồ tốt.

    Vò rượu lâu năm này trong vắt thơm nồng, hoàng đế không kiềm được mà uống thêm mấy chén, cuối cùng ngà ngà say, gối ở trên giường ngắm tuyết.
    Như Ý lặng lẽ đi vào, nhỏ giọng hỏi: “Vạn tuế gia, bên ngoài đã chuẩn bị liễn xong rồi, vạn tuế gia có muốn về cung Càn Thanh không ạ?”
    Hoàng đế nói: “Tịch Tà cầm bình rót cho ta, trộm được nửa đêm nhàn nhã trong kiếp phù du này.

    Giờ phải về thôi.”
    Như Ý đi lấy áo choàng của hoàng đế, Tịch Tà thì vén mành lên, hoàng đế đưa chén rượu cho Tịch Tà ở trước cửa rồi mới bước ra, chắp tay đứng ở dưới hiên: “Hôm nay trẫm mới biết, người bên cạnh khanh đều thật lòng đối tốt với khanh, trẫm rất hâm mộ khanh.”
    “Nô tỳ không dám nhận.”
    Hoàng đế nhìn thẳng vào ánh mắt lạnh lùng của Tịch Tà, chịu đựng cơn nhói trong mắt, chậm rãi nói: “Dầu trẫm có cả thiên hạ cũng ít có lúc như ý, nhiều lúc thất ý, nhìn thì việc gì cũng dễ như trở bàn tay, song thật ra những thứ trẫm thực sự để ý, có lẽ mãi mãi cũng không chiếm được.”
    Tịch Tà cười nói: “Nô tỳ là một kẻ làm nô tài, đã quen với cuộc sống tạm bợ nịnh bợ ton hót.

    Nô tỳ không hiểu được lời của vạn tuế gia đâu.”
    “Trẫm cũng từng nghĩ tới ngày tháng vui vẻ hòa thuận, bình tĩnh an nhàn.

    Người chung quanh không phải sợ khanh, dụ dỗ khanh, mưu tính khanh, họ biết khóc, biết cười, biết nói lời tri kỷ với khanh.” Khóe miệng hoàng đế hiện lên một nụ cười lạ lùng, “Tịch Tà, Minh Châu thông tuệ hơn người, giỏi đoán ý, thái hậu cũng rất thích, vả lại nàng phóng khoáng, không kiêu ngạo không siểm nịnh, bên cạnh trẫm đang thiếu người như vậy.

    Trẫm rất muốn nạp nàng làm phi, chỉ sợ khanh tiếc đấy.”
    Hình như trong bóng tối sau trụ hành lang có người hít vào một hơi, tuyết rơi cũng bị khí thế của hoàng đế lãm nhiễu loạn, quấn lấy nhau mà bay lên, đập vào khuôn mặt còn trắng hơn tuyết của Tịch Tà.

    Thế giới ở trong buổi đêm mờ tối không ánh sáng đang dần dần nhạt sắc, ánh mắt hoàng đế chợt chói ra vẻ loá mắt.

    Tịch Tà khẽ rùng mình ở trong cơn gió nhẹ, đi lên phía trước một bước, tiếng nói trong trẻo bình tĩnh hệt như thường ngày: “Minh Châu không phải nô tỳ, Minh Châu giống như mọi người trong gầm trời này, đều là của hoàng thượng, chỉ cần hoàng thượng muốn thì Minh Châu lập tức sẽ theo hoàng thượng.”
    “Tốt!” Hoàng đế vẫy tay với Như Ý.
    “Nhưng mà…“ Tịch Tà nói tiếp, “Minh Châu ở viện Cư Dưỡng và Minh Châu bên cạnh hoàng thượng sẽ không còn là một người nữa.

    Ở bên người ngồi trên vạn người như hoàng thượng, bất kể là ai đều không thể giành ánh sáng với nhật nguyệt, đợi ánh sáng của Minh Châu tắt dần, hoàng thượng lại thấy hối hận.

    Hoàng thượng…” Tịch Tà dần nở nụ cười, “Hoàng thượng thực sự muốn Minh Châu ư?”
    “Ha ha, chỉ có khanh thực sự hiểu ý trẫm, cũng chỉ có khanh dám nói một câu thật lòng với trẫm.” Hoàng đế nhìn hắn rồi bật một trận cười to, “Minh Châu, cô tạm thời cứ yên tâm ở đây đi!” Hắn ta lớn tiếng nói rồi lên liễn mà không quay đầu lại.

    Một đám đông tản đi theo hoàng đế, viện Cư Dưỡng lại tịch mịch im ắng, Minh Châu lặng lẽ đi ra từ sau trụ hành lang, khẽ gọi: “Lục gia.”
    Trong yên tĩnh, Tịch Tà cười với nàng: “Tôi uống quá chén nên nói sai rồi.” Hắn nâng chén sáng long lanh lên trước mắt, cầm thật cẩn thận, “Lục gia của cô cũng có lúc mê rượu mà hỏng việc.” Cổ tay rung lên, ném chén rượu ra chỗ tuyết xa xa.
    Minh Châu “ôi” một tiếng, thấp giọng bảo: “Dù môi Lục gia chưa bao giờ chạm vào chén rượu này thì tôi cũng vẫn phải cảm ơn nó, Lục gia không được tùy tiện ném vỡ nó đâu.”
    Tịch Tà nhìn Minh Châu cúi đầu cẩn thận tìm kiếm chén rượu trong tuyết, tuyết rơi điên cuồng mà xoay vòng trong gió, quất lên người nàng.

    Hoàng đế hai mươi lăm tuổi đang đánh giá lực lượng của Tịch Tà một lần nữa, bản tính quyền mưu của đế vương khiến cho hắn ta trổ hết tài năng từ dưới lớp mặt nạ của con rối.

    Có thứ gì đó cuối cùng cũng thoát khỏi khống chế, nhào tới phía mình một cách hỗn loạn.

    Lần đầu tiên Tịch Tà cảm thấy có một loại phiền muộn lực bất tòng tâm làm ngực nhâm nhẩm đau..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 10: 10: Lý Sư


    Địa thế hai bờ cầu Nhiên Xuân rất cao, cầu dài uốn cong, nhấp nhô ba vồng, là cầu hình vòm cao nhất to nhất trong chín cầu ở Ly đô, nối tiếp hai bờ sông là lầu son gác tía và hai mảnh rừng mai trên sườn núi.

    Cầu hình vòm nhảy ra từ trong biển mây đỏ tươi, ở dưới ánh mặt trời êm dịu của mùa xuân năm nay, lắc nhẹ ống tay áo, bước chậm rãi lên mười bậc trên cầu, lúc ngẩng đầu lên, chỉ thấy trên đỉnh màu xanh của cầu là sắc trời xanh thẳm vô ngần, quả là cảnh sắc “Cầu dài nối nhau tận trời biếc”.
    Phủ của Khương Phóng ở ngay gần đường đường Bỉnh Hoàn đại lộ Minh Đường, mỗi ngày vào cung làm nhiệm vụ, nếu không có việc gấp thì sẽ không cưỡi ngựa mà toàn từ cầu Nhiên Xuân bộ hành sang sông.

    Đương tiết xuân đi tới đỉnh cầu của vòm đầu tiên bèn dựa vào lan can nhìn ngắm cảnh hoa đỏ như lửa ở bờ nam, bao nhiêu phiền não đều tan trong hương hoa.
    “Ja, ja.” Bên kia cầu đột nhiên ầm ầm tiếng roi ngựa, tiếp theo là tiếng bánh xe lộc cộc.

    Vòm cầu này quá dốc nên có rất ít người đi xe.

    Khương Phóng hiếu kỳ, bèn đi xuống quan sát, chỉ thấy một thớt ngựa giỏi yên cương sáng loáng kéo chiếc xe tả tơi, phía sau là bốn năm thanh niên thân hình vạm vỡ không ngừng xoa mồ hôi trên đầu gắng sức đẩy xe lên cầu, khó khăn lắm mới lên được đỉnh cầu.

    Khương Phóng không khỏi xoay người lại nhìn kỹ chiếc xe.

    Một người trẻ tuổi nằm trên xe, đang đắp cái chăn bông, sắc mặt trắng bệch, cau mày nhịn đau.
    “Gượm đã!” Khương Phóng giật mình, tiến lên ngăn lại, “Tôi là thống lĩnh thị vệ Khương Phóng.

    Các anh có phải là võ cử nhân khóa năm nay không?”
    Mấy người tuổi trẻ vốn đang chất đầy uất ức, bị người chặn lại giữa cầu, đang định phát cáu, chợt nghe anh ta báo họ tên thì ai nấy đều giật mình cả.

    Lại thấy Khương Phóng mặt mày uy nghiêm, vận phục sức tòng nhị phẩm, phía sau còn có hai gã sai vặt cường tráng cao to cầm bọc xiêm áo cho hắn và thị vệ đeo đao, trong lòng biết không phải là giả, bèn vội vàng tiến lên dập đầu.
    “Võ cử nhân của phủ Trần Đàm, Hồ Động Nguyệt vấn an đại nhân.” Người thanh niên dẫn đầu mồm miệng lanh lợi, “Bọn tiểu nhân đều là võ cử nhân ở Trần Đàm khóa năm nay tới đây.”
    “Đứng lên đi.” Khương Phóng gật đầu, rảo bước tới xốc chăn bông trên người thanh niên kia.

    Chàng trai trẻ trên xe máu me khắp người, tay trái gãy xương, bị Khương Phóng tác động vào vết thương thì rên một tiếng, đau đến mức kêu lên thành tiếng.

    Khương Phóng nhìn kỹ vết thương của gã, cau mày nói, “Chuyện gì thế này? Các anh không gây họa, dùng binh khí đánh nhau với người ta ở kinh thành đấy chứ?”
    Hồ Động Nguyệt hô to: “Tuyệt đối không có việc này, xin đại nhân minh xét.” Đoạn trỏ vào người thanh niên bị thương trên xe rồi nói, “Tối hôm qua bọn tiểu nhân uống rượu ở ngõ Tiêu Chi, trong bữa tiệc mặc dù anh Cổ Lĩnh này nói năng mấy lời ngông cuồng vọng nhưng cả đêm đều ở trong phòng, không thấy anh ta đắc tội ai.

    Lúc sắp đi anh Cổ nói muốn vào phủ của ông bác Lương đại nhân của anh ta là hữu thị lang bộ Binh nên một mình cưỡi ngựa đi mất.

    Sáng nay Lương đại nhân sai người đến hỏi vì sao tối hôm qua không thấy anh Cổ đến, bọn tiểu nhân mới nhận thấy điềm xấu, nghĩ thầm có phải anh ta bị thứ trong tin đồn mấy hôm nay…”
    “Không được nói bậy!” Khương Phóng quát gã nói, “Còn là lời đồn vu vơ, không được nói bậy giữa đường.”
    Hồ Động Nguyệt rụt cổ lại, nói: “Vâng, bọn tiểu nhân chỉ đoán trong lòng, kết bầy đi ra ngoài tìm, cuối cùng ở trông thấy ngựa của Cổ Lĩnh ở bên mương sau đường Định Hoàn, người thì ở trong đống cỏ khô bên trên.”
    Khương Phóng hỏi: “Ngựa vẫn còn? Túi tiền cũng còn?”
    “Vâng ạ.”
    “Gã có thấy đối thủ không?”
    Trên xe, Cổ Lĩnh r*n r* một tiếng, khó nhọc nói: “Tiểu nhân không nhìn thấy, thằng giặc ấy đánh lén từ phía sau…”
    Khương Phóng mỉm cười: “Hắn dùng binh khí gì?”
    Cổ Lĩnh yếu ớt trả lời: “Kiếm ạ, nhưng không giống lắm.”
    Khương Phóng gật đầu, cười nói: “Vết thương thế của anh chỉ ở ngoài da, không có gì đáng ngại, chỉ là xương cánh tay nứt rồi, nối lại thì sẽ lành thôi.

    Tuy không tiện trong thi hội thật đáng tiếc, nhưng biết đạo ‘núi cao còn có núi cao hơn’ này cũng là chuyện tốt.”
    Cổ Lĩnh làm nha nội quen hô mưa gọi gió ở Trần Đàm[1], nghe Khương Phóng nói lời này thì tất nhiên hết sức không cam lòng.

    Khổ nỗi Khương Phóng là tổng quản thị vệ hoàng cung, tuy cha mình là tham tướng đứng đầu một phương nhưng vẫn kém Khương Phóng mấy cấp, dầu mình thi hội trúng tuyển cũng phải làm quan dưới trướng Khương Phóng, chỉ đành nói: “Vâng, đại nhân dạy rất đúng.”
    Khương Phóng còn phải vào cung làm nhiệm vụ nên cười nói với đám người: “Thi hội không còn xa nữa, các anh nên chữa thương thì chữa thương, nên luyện công thì luyện công, chớ có ham vui đùa, nhớ phải vươn lên.”
    Mọi người vội vàng vâng dạ, ôm quyền nhìn theo anh ta qua cầu.

    Khương Phóng dẫn gã sai vặt đi từ cửa Thanh Long vào hoàng thành, xa xa thấy hai nội giám áo xanh một trước một sau đi vào trong cửa thì tức khắc rảo bước mấy bước, cười nói: “Ôi, đây không phải là Lục gia Tịch Tà ư?”
    Chàng trai áo xanh quay đầu cười nói: “Nô tỳ thỉnh an đại nhân tổng quản.”
    Khương Phóng nâng cánh tay Tịch Tà lên, nói: “Miễn lễ, miễn lễ.

    Đại thái biện đi đâu về thế?”
    “Mới vừa ở bộ Hộ.” Tịch Tà quay đầu nói với Tiểu Thuận Tử, “Mau tới đây hành lễ với đại nhân tổng quản.”
    Không chỉ có Tiểu Thuận Tử mà thị vệ trông cửa cũng đều qua đây hành lễ với Khương Phóng.

    Ai nấy đều đã biết Tịch Tà được hoàng đế, thái hậu thậm chí Thành Thân vương ưa thích nên đều tươi cười, không lục soát người hắn, cứ thể để hắn vào cung.
    Khương Phóng đi sóng vai với Tịch Tà, cách xa mọi người rồi anh ta mới thấp giọng kể lại chuyện vừa thấy trên cầu Nhiên Xuân cho Tịch Tà nghe.
    Tịch Tà nói: “Đây là người thứ chín rồi.

    Kẻ này không mưu hòng tiền của mà ra tay với võ cử nhân khóa năm nay, rốt cuộc lai lịch thế nào?”
    “Xem từ vết thương trên người thằng nhóc vừa rồi thì võ công người này không yếu.” Khương Phóng cau mày nói, “Tuy vết thương nhiều, song đều rất nông, chứng tỏ người này ra tay thu phóng tự nhiên, rất có chừng mực, xem chừng xương cánh tay là do vũ khí cùn làm gãy, đều ở chính diện chứ không phải là đánh lén phía sau mới thành công như thằng nhãi họ Cổ đó nói.”
    Tịch Tà gật đầu bảo: “Nếu người này đã dùng kiếm, có thể lấy vỏ kiếm hoặc đầu kiếm bẻ gãy xương cốt con người thì xem ra cũng sử dụng kiếm pháp nội gia.

    Những võ cử nhân bị thương là người thế nào?”
    Khương Phóng cười nói: “Theo tôi thấy, chẳng qua võ công chỉ là loại nửa vời lại toàn kẻ tự cao tự đại, giờ vì giữ mặt mũi mà không chịu nói thật.”
    Tịch Tà bảo: “Ngay cả anh cũng nói bọn họ là loại nửa vời, xem ra đúng là chẳng ra sao rồi.”
    “Ha ha, võ công của gia cao hơn tôi mấy lần, nói như vậy tôi đúng là oan quá.” Khương Phóng cười vang nói rồi liếc mắt nhìn ngực Tịch Tà, “Tôi lại sợ tên gây chuyện thị phi này chính là Lôi Kỳ Phong.”
    Tịch Tà thấy vẻ giễu cợt trong mắt anh ta thì tóm lấy xiêm áo ngực mà cười nói: “Nếu là y thì tốt rồi, ta đang muốn báo thù một kiếm này đây.”
    Khương Phóng vội nói: “Cứ coi như tôi chưa nói gì, gia chớ hành động theo cảm tính.”
    “Đây là việc của ty Ngũ thành binh mã.” Tịch Tà nói, “Bề ngoài, không chỉ ta mà ngay cả anh tạm thời không cần lo.”
    “Vâng.”
    “Anh vẫn cứ âm thầm tìm hiểu đi.

    Nếu như tên này trừ khử đối thủ cho võ cử nhân nào đó thì chỉ là mấy việc gian lận nhỏ nhặt, chỉ ra và khiển trách rồi thôi; nhưng chuyện mở thi hội khoa võ năm nay quan trọng, nếu người này rắp tâm phá hoại, không có lợi đối với chúng ta thì đến lúc đó nhất định phải diệt trừ gã.”
    Trước mắt đã gần đến nội cung, Tịch Tà chia tay Khương Phóng ở cửa Hoa Đông, trở lại viện Cư Dưỡng đã thấy Như Ý đợi một lúc lâu ở trong chái nhà của Tịch Tà.
    “Sao dạo này không thấy Minh Châu nữa thế?” Như Ý nhìn chung quanh, rất lấy làm lạ.
    Tịch Tà cười đáp: “Em cũng chẳng biết.”
    Như Ý nói: “Hay là sợ nhìn thấy hoàng thượng?”
    Mặc dù vẻ mặt Tịch Tà không thay đổi nhưng ánh mắt lại né tránh: “Nàng ta thì sợ cái gì? Các tú nữ sắp được chọn vào cung rồi, hiểu biết hơn nàng nhiều.” Hắn xoay người nhận lấy chén trà từ trong tay Tiểu Thuận Tử rồi dâng cho Như Ý, hỏi, “Sao nhị sư ca lại tới đây thế?”
    Như Ý than thở: “Gần đây hoàng thượng nhức đầu lắm đấy.”
    Tịch Tà gật đầu bảo: “Em cũng nhìn ra.”
    “Hôm qua Thành Thân vương có mặt nên hoàng thượng không có cơ hội nói với em.

    Hôm nay người muốn anh thông báo cho em một tiếng, bất kể ra sao cũng phải nghĩ cách để Cao Hậu sớm nhận tội, những quan trưng lương khác đều đang nhìn Cao Hậu, sợ hãi không chịu nổi một ngày, lời nói trong mật tấy đều cẩn thận lắm.”
    Tịch Tà nói: “Để em nghĩ, nhưng không thể bảo đảm nhất định thành công đâu.”
    “Anh chỉ truyền lời thôi.” Như Ý cười bảo, “Hoàng thượng không nói gì em đâu, nên không thành công cũng chẳng sao.”
    Tịch Tà kéo Như Ý đang định sải bước ra cửa, nói: “Nhị sư ca!”
    Như Ý cười to bảo: “Em đừng vội, anh em mình cả, nói vui với em thôi chứ với người khác, anh không hé một chữ đâu.

    Trong cung chúng ta, người dám nói chữ ‘không’ với vạn tuế gia chỉ có anh em em thôi, ngay cả người làm sư ca như anh cũng cảm thấy hết sức uy phong.” Như Ý ghé sát vào tai Tịch Tà, thấp giọng nói, “Nói đi cũng phải nói lại, sư ca có một suy tính, chỉ cần tùy tiện tìm một nguyên nhân để Minh Châu rời cung, mua một căn nhà ở kinh thành rồi em cứ ở đó thành hôn với nàng là được.”
    “Xì!” Tịch Tà nghe đến cuối mới biết anh ta lấy mình làm trò cười, nghiêm khắc phỉ nhổ, “Bản thân nhị sư ca không biết xấu hổ thì thôi, còn muốn kéo anh em xuống nước.”
    Mắt thấy Như Ý nghênh ngang bỏ đi trong trận cười trong trẻo, Tịch Tà bèn xoay lại lạnh lùng nói với Tiểu Thuận Tử: “Con ở bên thích chí cái gì?”
    “Đâu có.” Tiểu Thuận Tử xua loạn hai tay, cúi đầu nhịn cười rồi vội vàng bỏ đi.
    Đêm đầu xuân vẫn rất lạnh, đứng ở trong sân có thể cảm giác lạnh lùng dần dần thấm đến tận xương cốt.

    Tiểu Thuận Tử đã thổi tắt đèn, từ đỉnh nóc nhà trệt của viện Cư Dưỡng dõi mắt nhìn khắp hoàng cung, mấy con đường lớn đèn đuốc sáng trưng, đèn đóm trong cung Khánh Tường của Nghị phi cũng xán lạn, chắc hẳn lúc này người đẹp được cưng chiều hết mực một thời đó nay phòng không chiếc bóng nên khó ngủ.

    “Trăng sáng sao thưa, ánh sáng đầy đất, không phải là thời điểm thích hợp xuất hành.”
    Tịch Tà cười nói: “Thấy bên viện của cô đã tắt đèn, tôi còn tưởng cô đã ngủ rồi.”
    Minh Châu như bước từ trên không trung tới: “Một tiếng động nhỏ của bên lục gia cũng không giấu được tôi.

    Gia muốn đi nơi nào vậy?”
    “Đại lao bộ Hình.”
    “Lần trước rời cung cũng trong mùa xuân, vội vội vàng vàng suốt một năm qua, dù sao lục gia cũng nên để tôi ra ngoài thả lỏng rồi.”
    Tịch Tà cười nói: “Cũng được, cô đi thay quần áo đi.”
    Minh Châu cười một tiếng: “Cứ coi là áo gấm đi đêm là xong, chẳng có gì quan trọng cả.

    Chỉ sợ thời gian tôi quay lại đã lạc mất lục gia.”
    Tịch Tà biết rất khó lay chuyển được nàng bèn thở dài, dẫn nàng đi về hướng đông bắc.

    Mảng cung điện ngói biếc này là khu vực cung Thanh Tri, xưa nay nơi đây là chỗ ở của hoàng tử và công chúa chưa trưởng thành, giờ ít có người ở.

    Buổi tối xuyên qua vườn tùng Minh Tri hẹp dài thì bóng cây càng lay động hơn, vô cùng thê lương.

    Hai người xuyên qua vườn Minh Tri, xa xa truyền đến tiếng chuông lanh lảnh trên tường thành, biết thị vệ trên tường thành vừa đi qua rung chuông.

    Bên đông bắc có một cửa nách vứt xó không dùng, có một bóng dáng cường tráng vẫy tay với bọn họ, chính là Khương Phóng.
    “Sau hai canh giờ nữa thuộc hạ sẽ tới đón chủ nhân về cung.” Tuy Khương Phóng nói với Tịch Tà nhưng lại cau mày nhìn Minh Châu chằm chằm.
    “Ta biết rồi.” Tịch Tà cười nói, “Minh Châu cũng đi.”
    Minh Châu nhẹ giọng cười, khẽ cúi mình: “Xin đại tổng quản lượng thứ.”
    Khương Phóng thấy Minh Châu thì đau đầu, không dám nhiều lời với nàng, vội vàng khẽ mở ra một khe cửa để hai người rời cung.

    Tịch Tà và Minh Châu vọt nhanh ra ngoài cửa, dọc theo con đường hẻm lớn phía đông hoàng thành và cung thành, nhảy qua cửa Thanh Long ở hoàng thành mà ra.
    Đại lao bộ Hình ở ngõ Xuyên Hòa đường Ẩn Hoàn, hai người lẻn vào bên trong, trước cửa đã có cai tù Đinh Vượng canh từ lâu.

    Gã thấy Tịch Tà mặc bào tơ đen, mặt nạ đồng đen thì lơ đễnh, nhưng lại thấy phía sau hắn còn có một thiếu nữ xinh đẹp ăn vận rực rỡ đi theo hầu bèn bật cười khanh khách: “Gần đây gia có khỏe không? Vị cô nương này là?”
    “Đây là người đi theo ta ra giải sầu.” Tịch Tà nói với Minh Châu, “Cô đến nơi khác một lát đi, sau nửa canh giờ hãy về đây.”
    Minh Châu biết hắn đang giải quyết việc cơ mật thì mỉm cười, tự đi chung quanh tản bộ.

    Lúc này ánh trăng đương độ rực rỡ, mùi hoa thơm lạt, trước mắt chợt lộ ra một mảnh trời lưu ly xanh thẳm tĩnh lặng hệt như ánh sáng trong vắt trên biển.

    Minh Châu đến gần hơn mới biết nơi này có điện Phật đối diện, chùa chiền sánh vai, vốn là một ngôi chùa vô cùng lớn, phía sau còn có ba tòa tháp Phật bảy tầng, từng lớp mái hiên vểnh cao xông thẳng lên ánh trăng như lông cánh chim, như chao như liệng.

    Minh Châu sợ khinh nhờn thần linh, không dám trèo cao nên chỉ đứng ở trên tường vây xa xa, khẽ tụng một câu: “A di đà phật, tội lỗi.” Trong lòng vừa mới thầm cầu nguyện, chợt nghe xa xa có người la to: “Không được.” tức thì dọa cho mặt nàng nóng lên.
    “Không được, anh không phải là đối thủ của hắn!” Tiếng hô xa xa trong sân càng cao hơn.
    Ý nghĩ lóe lên, Minh Châu vận sức nhảy vào bên trong tường, vừa lên trên tường đã nghe có người kêu lên đau lớn.
    “Như vậy đã là võ cử nhân rồi à? Để cao thủ mạnh nhất kinh thành là Tịch Tà đến đây đi.” Tiếng kẻ này xán lạn như ánh mặt trời, hào sảng thoải mái khôn tả.

    Sau khi cười to, một cái bóng đen tung người lên trên bức tường đối diện, đi về hướng bắc.

    Minh Châu nghe y nhắc đến tên Tịch Tà thì không khỏi kinh hãi, chẳng màng đến mấy người trong viện, dưới tình thế cấp bách bèn xẹt qua dân, mau chóng đuổi theo.
    Người phía trước cường tráng sung sức, nhưng tốc độ không bằng Minh Châu, đến gần đường Định Hoàn đại lộ Câu Trần dần bị nàng vượt qua.

    Minh Châu hiếu kỳ sốt ruột, đến gần hơn thì chợt thấy dường như người phía trước quay đầu lại, kinh hãi vội vàng vọt ra sau đầu hồi rồi lại ngẩng đầu thì đã không nhìn thấy bóng dáng người nọ nữa rồi.
    Giờ ngọ ngày hôm sau, lúc Khương Phóng tuần tra đến cửa đông thì thấy Tịch Tà dẫn theo một thằng nhóc mà mình không biết định rời cung.

    Sau khi đi lên hàn huyên vài câu, Khương Phóng nói: “Chủ nhân có biết hôm nay Cao Hậu đã dâng sớ thỉnh tội lên, thú nhận không e dè tất cả tội trạng mà bộ Hình đưa ra, nói lúc ở bộ Hộ mình ăn hối lộ trái phép, của công làm mẩy túi riêng, tiền tham ô nhiều vô số kể không? Sáng nay đã có người đi tịch biên dựa theo sớ cung khai của hắn ta.

    Cuối cùng hoàng đế cũng thở phào nhẹ nhõm, trong lòng vẫn hơi bực hắn ta khoe tài lâu ngày, làm hoàng đế không xuống đài được.

    Xem ra lần này chết chắc rồi.”
    Tịch Tà hỏi: “Trong nhà Cao Hậu sắp xếp xong chưa?”
    “Xong rồi ạ!” Khương Phóng nói, “Đã đặt tang vật ở nhà hắn ta nhiều tháng.”
    Tịch Tà cười lạnh bảo: “Năm đó người này hãm hại phụ vương ta, nay mất hết danh dự cũng là báo ứng.”
    Khương Phóng nói: “Hôm nay trên đường Thượng Trị, thuộc hạ còn nghe được một tin đồn rất thú vị rằng tối hôm qua có người tận mắt trông thấy kẻ đâm bị thương võ cử nhân gần đây chính là một cô gái.”
    Thằng nhóc sau lưng Tịch Tà bỗng nhiên cười phì.

    Khương Phóng kinh ngạc, ấy mới biết hóa ra thái giám nhỏ ấy là Minh Châu giả trang, không nhịn được nói: “Tôi biết rồi, lại là cô nương Minh Châu gây họa vào tối qua đúng không?”
    Tịch Tà vội nói: “Đúng là nghe nhầm đồn bậy.

    Nàng chỉ nhìn thấy hung phạm nên chúng ta muốn đi tróc nã kẻ đầu sỏ đây.”
    Khương Phóng vội hỏi: “Không phải chủ nhân không quản chuyện này sao?”
    Tịch Tà cười nói: “Người nọ chỉ tên muốn khiêu chiến cao thủ hàng đầu kinh thành, bất kể thế nào vẫn phải nể mặt y.”
    Khương Phóng không nghĩ ra, lẩm bẩm nói: “Cái gì mà cao thủ hàng đầu kinh thành? Chủ nhân chớ nhẹ dạ cả tin lời xúi giục của Minh Châu.” Lúc tỉnh táo lại ngẩng đầu nhìn thì Tịch Tà và Minh Châu đã đi xa rồi.
    Tịch Tà và Minh Châu đổi quần áo bình thường, theo con đường mà Minh Châu nhớ tối qua, đi thẳng tới đường Định Hoàn đại lộ Câu Trần.

    Nơi đây toàn là hộ buôn bán, người đi đường qua lại như thoi đưa đều là dân chợ búa cùng khổ.

    Hẻm nhỏ hai bên đại lộ Câu Trần chật hẹp âm u, nhà cửa chen chúc chật chội, sân vườn nho nhỏ chẳng những phải phơi quần áo mà còn muốn nuôi gà nấu cơm, nước bẩn đã dùng qua chỉ tạt vào trong hẻm nhỏ là xong việc nên bẩn thỉu không chịu nổi.

    Minh Châu thích sạch sẽ, không khỏi nhíu mày, ngẩng đầu thấy nơi này một nhà cháy là vạ lây cả khu nên đều phải sửa đầu hồi cao hơn nóc nhà có tác dụng như tường cách lửa tạm thời, bèn gật đầu nói với Tịch Tà: “Chính là chỗ này, tối hôm qua tôi núp mình ở sau đầu hồi kiểu này.”
    Tịch Tà trầm ngâm bảo: “Nơi đây đều là hộ gia đình, nghe giọng điệu người nọ chắc là tới từ tỉnh ngoài, tất nhiên lúc này đang ở nhà trọ.”
    Minh Châu nói: “Tôi lạc mất ở chỗ này, lúc đó người kia đang ở bên ngoài hai con đường.”
    “Thế thì đúng rồi.” Tịch Tà cười nói, “Phía trước có gian nhà trọ, tên là ‘Hồng Vận Lai’.”
    Minh Châu ngạc nhiên hỏi: “Sao lục gia biết?”
    Tịch Tà cười: “Lục gia cô tới đó đập nhau với người khác, còn suýt nữa thua ở đó đấy.”
    Minh Châu thấy tay phải hắn bất giác tóm lấy quần áo trước ngực thì không khỏi cười nói: “Thì ra nơi này còn gợi lên thù mới hận cũ của Lục gia đối với Lôi Kỳ Phong, lục gia phải cẩn thận đấy.”
    Suy cho cùng thì cũng là nhà trọ lớn nhất đất này, trước cửa Hồng Vận Lai là một con đường lớn thênh thang, người đi đường như dệt cửi, hai bên đường đều là người bán hàng rong, liều mạng thét to.

    Trước cửa Hồng Vận Lai cũng có một tiểu nhị mặt mày lanh lợi đang đứng, ân cần mời chào khách vào trong tiệm, thấy Tịch Tà và Minh Châu ăn vận hoa lệ, vẻ mặt cao quý thì vội chạy tới chắp tay hành lễ, cười nói: “Hai vị ở xa tới ạ? Nghỉ chân hay ở trọ? Tiệm nhỏ là quán trọ lớn nổi tiếng khắp kinh thành, vừa sạch sẽ vừa yên tĩnh, giá cả phải chăng, già trẻ…”
    Tịch Tà vội vàng cười ngắt lời gã: “Chúng tôi ăn cơm.”
    “Mời vào mời vào!” Tiểu nhị mang vẻ mặt tươi cười, “A Tam đâu, một chỗ trang nhã trên lầu cho hai khách…”
    Minh Châu đi theo Tịch Tà vào tiệm, thấp giọng cười nói: “Một chỗ trang nhã?”
    Quả nhiên không ngoài dự liệu, cái gọi là một chỗ trang nhã là một cái bàn vuông bẩn thỉu và bốn cái băng ghế, có điều dùng mành che ngăn cách với bên ngoài.

    Tịch Tà đánh giá chung quanh một lát rồi gật đầu cười nói: “Ừm, không tệ.”
    A Tam vắt cái khăn tay không nhìn ra màu sắc vốn có, đi qua rót trà cho hai người: “Hai vị dùng gì ạ?”
    Tịch Tà suy nghĩ rồi bảo: “Hai mặn hai chay, ba lượng bạc trắng, anh xem đó mà làm đi.”
    “Vâng ạ!” A Tam chạy ra ngoài gọi món ăn, chỉ chốc lát sau đã bưng lên một đĩa thịt bò kho tương, một đĩa cá rán, còn có cải trắng xào, đậu phụ.
    Tịch Tà thấy mặt Minh Châu lộ vẻ lúng túng, cầm chiếc đũa uể oải đảo trong mâm, thầm nghĩ việc này phải đánh nhanh thắng nhanh, bèn hỏi A Tam: “Tiểu nhị, tôi có chuyện muốn hỏi thăm anh.”
    A Tam tỏ vẻ đề phòng, vừa muốn ra sức khước từ song khó chống lại tiếng keng êm tai như nhạc tiên khi Minh Châu ném một thỏi bạc lên bàn, đập vào chén đĩa.

    “Vị gia này muốn hỏi gì ạ?” A Tam không kiềm được mà nuốt nước miếng, cất bạc vào trong ngực.
    “Xin hỏi có phải nhà trọ các anh có một vị khách giang hồ đeo kiếm không?”
    A Tam cười bảo: “Gia hỏi đúng rồi, trong quán trọ của chúng tôi toàn là người của giang hồ cả đấy.”

    Minh Châu hừ một tiếng, lại ném một thỏi bạc lên trên bàn.

    A Tam mặt mày rạng rỡ, mới vừa đưa tay ra liền bị Minh Châu dùng chiếc đũa gõ mạnh lên trên ngón tay một cái: “Cứ tùy ý cầm bạc thế à? Gia nhà tôi đang hỏi anh đấy.”
    A Tam cười khổ nói: “Gia, bình thường kẻ đeo kiếm tới ở trọ không nhiều lắm, nhưng gần đây mở lại khoa võ, trong tiệm toàn là cử nhân tới dự thi, không nói người đeo kiếm, ngay cả người mang đao cũng phải đến hai ba chục.”
    Minh Châu cười nhạt bảo: “Người thi võ đều được tuyển chọn từ đám con em dòng dõi quan lại triều đình, cái tiệm rách của các anh cũng xứng để cử nhân thi võ ở à? Anh không thành thật, vậy bắt anh đến quan phủ, tố cáo anh lừa tiền của gia nhà ta.”
    “Đừng, đừng!” A Tam hoảng sợ nói, “Không nói dối vị gia này, tiệm nhỏ quả thực có hai kẻ lão luyện trong giang hồ, một người trong đó đúng là đeo kiếm.

    Không phải tiểu nhân không thành thật mà là hai vị gia kia hung dữ lắm…”
    “Không sao.” Tịch Tà nói với vẻ mặt ôn hoà, “Chúng tôi được mời mà tới.

    Bọn họ ở gian nào? Giờ có ở trong tiệm không?”
    “Hàng bính chữ thiên ạ, nhưng vị gia đeo kiếm kia đã ra ngoài từ sáng rồi.” Tịch Tà cười nói: “Chúng tôi ở trong phòng chờ y về.

    Minh Châu, tính tiền thôi.”
    A Tam cầm bạc khen thưởng của Minh Châu, nói với theo bóng lưng hai người: “Hai vị cẩn thận đấy! Hai vị kia thật sự, thật sự hung dữ lắm.”
    Hàng bính chữ thiên ở lầu hai Hồng Vận Lai, cửa phòng khóa chặt, trông không giống có người ở.

    Minh Châu và Tịch Tà nhìn nhau, đều thầm nghĩ trong phòng không có ai, thật là mất hứng.

    Lại nghe trong phòng có cái gì rơi bịch xuống đất, Minh Châu bước lên trước gõ cửa, còn chưa kịp lên tiếng đã nghe bên trong có người hung ác quát: “Bảo các người chớ có quấy rầy cơ mà, điếc cả rồi à?”
    Minh Châu lui lại một bước, hít vào một hơi lạnh: “Lục gia, ngài không cảm thấy giọng nói này rất quen ư?”
    Tịch Tà đã không nhịn được cười, thở gấp cười nói: “Không.

    Cô thấy đây là giọng của ai?”
    “Chẳng lẽ, chẳng lẽ…” Minh Châu biến sắc, hai gò má đỏ bừng lên.

    Tịch Tà thấy tình thế không ổn, sợ Minh Châu lâm trận bỏ chạy bèn kéo tay nàng lại, lớn tiếng nói với bên trong: “Nếu anh Thẩm không mở cửa, chúng tôi sẽ xông vào đấy.”
    Người bên trong nói: “Anh dám!”
    Lời còn chưa dứt, Tịch Tà đã dùng một chưởng đánh văng khóa cửa, kéo Minh Châu bước qua cửa, đi vào trong nhìn thì không kìm được mà cười ra tiếng.

    Đối diện cửa có cái ghế, trên buộc chặt một thanh niên tuấn tú, chỉ tiếc người này tóc tai rối bù, không sửa sang đẹp đẽ lộng lẫy như trước.

    Một sợi dây nhỏ xuyên chiếc màn thầu treo từ trên xà nhà xuống, thanh niên kia đói không chịu nổi, đang há to mồm gặm màn thầu.

    Minh Châu trốn ra sau Tịch Tà trộm liếc mắt nhìn, cười và thấp giọng mắng: “Thẩm Phi Phi này cũng có hôm nay.” Chỉ thấy gã bị người ta giam cầm hành hạ như vậy thật là hả lòng hả dạ.
    “Anh Thẩm!” Tịch Tà kinh ngạc tiến lên, “Sao anh lại bị nhốt ở chỗ này?”
    Thẩm Phi Phi làm như không thấy hắn, mắt điếc tai ngơ, nhìn chằm chằm một góc quần áo rực rỡ lộ ra ngoài của Minh Châu phía sau Tịch Tà, cười híp mắt nói: “Cô nương nào vậy? Tới tìm tiểu sinh sao?”
    Trong lòng Tịch Tà biết với tính nết hác sắc của Thẩm Phi Phi, cho dù mình có hỏi gã một vạn câu cũng không thể khiến gã nhìn mình lấy một cái.

    Chợt thấy dưới đất còn có một chiếc màn thầu lăn xuống, chắc là vừa nãy gã lỡ miệng làm rơi xuống đất, thế là hắn mỉm cười, bước đến khom lưng nhặt lên.

    “Anh Thẩm, màn thầu của anh rơi trên mặt đất rồi.” Vậy là Minh Châu không còn chỗ trốn, bị Thẩm Phi Phi nhìn trực diện.
    “A!” Hai mắt Thẩm Phi Phi bỗng phát sáng, đã quên sạch tình cảnh quẫn bách của mình, mừng không kìm được, nói hết sức phong lưu, “Cô nương thần tiên! Cô còn nhớ tiểu sinh chăng?”
    Bấy giờ Minh Châu hận Tịch Tà không thua gì Thẩm Phi Phi, thấy Tịch Tà chắp tay đứng một bên thì tức nghẹn một bụng không chỗ phát tiết, chỉ đành trút hết giận lên Thẩm Phi Phi, lạnh như băng nói: “Xin hỏi anh là ai?”
    “Tiểu sinh chính là Thẩm Phi Phi đây!” Thẩm Phi Phi bất giác cựa mình một cái, suýt nữa cả người lẫn ghế ngã ngửa ra trên mặt đất, “Năm ngoái vào thời gian này, tiểu sinh tình cờ gặp gỡ cô nương, lúc ấy đã hẹn một năm sau gặp lại, cô nương không nhớ sao?”
    Minh Châu trầm ngâm một lát, ngạc nhiên nói: “Không có chút ấn tượng nào cả.

    Lục gia, ngài nhớ có người nào như vậy không?”
    Nước mắt Thẩm Phi Phi trực rơi lã chã: “Để gặp lại cô nương, tiểu sinh đã cải tà quy chính, trăm cay nghìn đắng kiếm ông thầy hay, nay học xong trở về, cô nương…”
    Minh Châu nói: “Nhìn anh bị người ta nhốt nơi này đã biết anh không làm được chuyện gì tốt, còn gì mà cải tà quy chính?”
    “Oan quá!” Thẩm Phi Phi vội la lên, “Tiểu sinh bị một tên ma đầu nhốt, ma đầu kia giết người như ngóe, đúng là một tên cướp…”
    Minh Châu không nhịn được, cười trách mắng: “Bản thân anh là chính nhân quân tử à?”
    Tịch Tà thấy Thẩm Phi Phi bị trói đã lâu, Minh Châu lại không chịu hỏi chuyện tử tế, vì vậy tiến lên cười nói: “Anh Thẩm, có chuyện gì thì từ từ nói, tôi cởi trói cho anh trước được không?”
    “Không được!” Trong cửa ngoài cửa bỗng có hai tiếng quát to.
    Không cần phải nói, Minh Châu đã đỏ mặt nhìn Tịch Tà hầm hầm.

    Ngoài cửa lại có một tiếng nói giống như ánh dương phá mây ra, bổ vào trong phòng.

    Một thanh niên ăn mặc lam lũ đeo trường kiếm sải bước tiến đến: “Các người là ai mà muốn thả kẻ cắp này chạy trốn?” Anh chàng này mặt mày ngăm ngăm, lông mày rậm thẳng tắp đen như mực, trợn to đôi mắt sáng ngời.

    Lúc y lớn tiếng nói chuyện thì bừng bừng tản ra dã tính phẫn nộ khiếp người như báo đốm, ngay cả Tịch Tà cũng phải lùi lại một bước, cười nói: “Vị huynh đài này chớ hiểu lầm, hai người bọn tôi không đến vì anh Thẩm.”
    Thẩm Phi Phi ở bên rướm lệ nói: “Lẽ nào cô nương không đến vì nhớ tiểu sinh ư?”
    “Thì ra các người là cùng một giuộc!” Chàng thanh niên chỉ quát một tiếng, người khác nghe thấy lại như tiếng mãnh thú rít gào, y bước lên một bước, rút kiếm đeo bên hông ra, nhắm ngay đầu Tịch Tà mà đâm.
    Tịch Tà thấy y còn trẻ nên l* m*ng, lên mặt nạt người thì không khỏi tức giận, ngón tay vọt ra lay động tay áo, kẹp mũi kiếm của y, nội kình giao nhau, có tiếng kim loại vang lên.

    Tịch Tà kinh ngạc nhìn thanh niên kia, chợt thấy trường kiếm trong tay y gỉ sét loang lổ, rộng gấp hai thân kiếm bình thường, đầu kiếm chỉ là cành cây cao su được vót thành, còn chẳng thèm sơn.

    Ý nghĩ chợt loé lên trong lòng, hắn thu tay lại nhẹ nhàng dịch sang bên, lớn tiếng nói: “Không phải anh đang tìm Tịch Tà à?”
    Đối với chàng thanh niên đó mà nói, hai chữ “Tịch Tà” giống như một câu chú, kiếm của y bỗng dừng giữa không trung, vẻ tàn bạo trên mặt đột ngột biến thành nụ cười xán lạn.

    Y ném kiếm lên bàn, chạy tới chế trụ hai vai Tịch Tà, nói: “Anh biết Tịch Tà?” Hai tay y rất khỏe, chỉ nghe xương bả vai Tịch Tà kêu lên răng rắc.
    Minh Châu lạnh lùng nói: “Anh b*p ch*t ngài ấy rồi thì không còn ai biết Tịch Tà nữa đâu.”
    Lúc này chàng trai mới buông tay ra, ngượng ngùng cười nói: “Xin lỗi.”
    Tịch Tà xoa xoa bả vai, thấy nụ cười hồn nhiên ngây thơ của y với vẻ đằng đằng sát khí mới nãy tưởng như hai người thì mỉm cười: “Tại hạ Khu Ác, có chút tình cảm qua lại với Tịch Tà.

    Tên họ của huynh đài là?”
    Chàng thanh niên toét miệng cười nói: “Tôi tên Lý Sư.”
    Tịch Tà gật đầu, ánh mắt lưu luyến trường kiếm trên bàn: “Xin hỏi anh Lý học từ vị cao nhân nào?”
    Lý Sư “ha” một tiếng: “Trước tiên chưa nói việc này vội.

    Tịch Tà đó ngụ ở chỗ nào? Làm sao anh biết tôi đang tìm hắn?”
    Tịch Tà chưa từng thấy người bộc trực như thế, ngẩn người bảo: “Anh Lý đi khiêu chiến võ cử nhân khắp nơi, nói muốn tìm Tịch Tà, tại hạ cũng mới biết mấy ngày nay thôi.”
    Lý Sư hướng về phía Thẩm Phi Phi cười nói: “Đầu óc anh vẫn rất có ích đấy, nhờ có anh đưa ra ý kiến này, vị Khu, Khu…”
    “Khu Ác.” Tịch Tà vội hỏi.
    “Đúng, nếu không sao Khu Ác lại tìm tới cửa chứ?”
    Thẩm Phi Phi cười khan một tiếng: “Quá khen.”
    Tịch Tà bảo: “Tại hạ cũng không rõ Tịch Tà hiện ở nơi nào, nhưng sai người truyền lời không khó.”
    “Vậy thì tốt.” Lý Sư mừng lắm.

    Tịch Tà sợ y ở gần thì lại tóm chặt lấy mình, bèn vội vàng lui lại một bước.

    “Anh nói với hắn, thầy Thất Bảo của tôi khen rằng võ công của hắn vượt xa tôi.

    Cùng một thầy dạy, tôi không tin hắn có thể mạnh hơn tôi bao nhiêu.

    Hãy hẹn một ngày, tôi muốn đọ sức với hắn một phen.”
    Mặc dù Tịch Tà đã có dự cảm nhưng đợi khi nghe thấy Lý Sư nói ra tin tức của thái giám Thất Bảo, vẫn rất mừng rỡ: “Giờ thầy ở nơi nao? Thầy có khỏe chăng?”
    “Không biết.” Lý Sư lắc đầu, “Thầy dạy võ cho tôi hơn một năm, sau đó thì không thấy tăm hơi.

    Anh cũng biết thầy tôi à?”
    Sự hân hoan của Tịch Tà bị y dội một chậu nước lạnh, hắn v**t v* trường kiếm trên bàn, run giọng nói: “Tôi chịu ơn thầy Thất Bảo nhiều lắm, vượt xa suy nghĩ của người bình thường.”
    Lý Sư cười nói: “Vậy là tốt rồi, chúng ta không phải là người ngoài! Để tôi gọi rượu và thức ăn tới, ăn mừng đôi ta quen biết.”
    Tịch Tà và Minh Châu kinh ngạc, vội lắc tay nói: “Rượu và thức ăn thì không cần, sao dám phiền anh tiêu pha?”
    Lý Sư trỏ vào Thẩm Phi Phi bảo: “Tôi không có gì, kẻ tiêu pha chính là tên trộm này.”
    Thẩm Phi Phi cười nói với Minh Châu: “Chỉ cần cô nương chịu ở lâu thêm một lát, tiểu sinh tiêu pha thì có sao?”
    “Thực sự không cần!” Tịch Tà nói, “Không có công không nhận lộc, đợi tại hạ tìm được Tịch Tà, truyền lời thay anh Lý rồi hai ta lại tụ họp cũng không muộn.”
    Lý Sư thấy Tịch Tà đã lộ ra ý từ chối bèn kéo hắn lại, bảo: “Gượm đã! Chúng ta không uống rượu cũng được, anh hãy nói cho tôi biết, rốt cuộc võ công của Tịch Tà đó như thế nào.”
    Tịch Tà nhớ lại vừa rồi mình đã để lộ ý muốn ra tay, nội lực cả hai giao nhau nhưng Lý Sư này lại như thể không hề hay biết, thực sự không mò ra nội tình của hắn, suy nghĩ một lát mới nói: “Chắc là cũng hàng anh em[2] với anh Lý.”
    Lý Sư đỏ mặt lên, hết sức ngượng ngùng.

    Tịch Tà và Minh Châu nhìn thấy thế thì rất hoài nghi, chỉ nghe hắn nói: “Cũng hàng anh em là có ý gì?”
    Tịch Tà nói: “Tức là ngang tài, không chênh nhau nhiều.”
    “À!” Lý Sư bừng tỉnh, “Vậy thì tốt.”
    Thẩm Phi Phi ở bên ho một tràng dữ dội, đưa mắt ra hiệu cho Tịch Tà, có ý cầu xin.

    Tịch Tà ngầm hiểu, cười nói: “Anh Thẩm này cũng là nhân vật có tiếng tăm lừng lẫy trên giang hồ mà còn sẩy tay dưới kiếm anh Lý thì có thể tưởng tượng được võ công của anh Lý ắt phải tuyệt diệu, trận này tất được phần thắng.

    Không biết hai vị quen biết ở đâu?”
    Lý Sư cả giận nói: “Quen biết gì chứ!” Lúc tức giận, y lại mang dáng vẻ dạ xoa Kim Cang, Thẩm Phi Phi không khỏi sợ run cả người, “Tên trộm này to gan lớn mật, chòng ghẹo con gái của bác Hồ ở trang bọn tôi, tôi từ đuổi theo gã hai nghìn dặm từ Bạch Dương đến kinh mới tóm được gã.

    Chờ việc ở kinh xong xuôi, tôi sẽ dẫn gã về dập đầu nhận sai với cô nương kia.”
    Minh Châu nghe vậy thì cười nhạt.

    Thẩm Phi Phi sợ đến mức sắc mặt tái nhợt, há mồm vừa định giải thích thì Lý Sư đã trách mắng gã: “Anh câm miệng!”
    “Thì ra anh Lý tới từ Bạch Dương.” Tịch Tà gật đầu nói, “Nguyên quán của anh Lý là Bạch Dương à?”
    “Hồ gia trang, huyện Hắc Phần, phủ Đại Sam, Bạch Dương!” Lý Sư lại nhếch môi nở nụ cười.

    Đối với chàng thanh niên này, sau khi bôn ba hai nghìn dặm nước non như tranh vẽ, cố hương dê bò khắp đất, cỏ thơm nối trời vẫn là một nơi mỹ lệ đa tình.
    “Đất Bạch Dương lắm hào kiệt!” Ánh mắt Tịch Tà lại dừng trên chuôi kiếm ỉ ấy, “Chẳng trách anh Lý biết dùng thanh kiếm to nặng như thế.”
    Lý Sư nói: “Kiếm này không phải của tôi.”
    “Ồ?”
    “Là kiếm thầy tôi để lại lúc sắp đi.

    Thành thật mà nói, kiếm to như vậy, tôi dùng cũng không thuận tay.”
    “Thế thì khó rồi.

    Tịch Tà toàn dùng vũ khí quý giá, anh Lý nên sớm chuẩn bị binh khí cho trận quyết chiến này đi.”
    “Sao lại nói thế?”
    “Thợ muốn khéo thì phải có khí cụ bén nhọn trước.” Tịch Tà vuốt thanh kiếm ỉ của Lý Sư, cười nói.
    “Có ý gì?” Lý Sư trợn to hai mắt, mù mịt không hiểu.
    Minh Châu tức giận trợn trắng với Tịch Tà, nói: “Ý của lục gia là muốn mổ lợn thì phải mài dao trước, kiếm của anh không dùng được nữa rồi.”
    “Nói vậy từ sớm thì không phải tôi đã hiểu rồi sao?”
    “Đần độn như vậy, chỉ có thể nói lời th* t*c cho anh nghe thôi.”
    Tịch Tà biết nàng còn đang giận mình, mắng mình một câu thì thôi, còn giận chó đánh mèo lên Lý Sư, chỉ đành nhẹ nhàng nói: “Minh Châu…”
    Lý Sư vội hỏi: “Minh Châu lại là gì nữa?”
    Minh Châu cả giận nói: “Minh Châu chính là tôi!”
    Thẩm Phi Phi trầm mặc không nói hồi lâu ở bên cạnh bỗng nhảy bật lên, vẻ vui mừng lộ rõ trên nét mặt: “Thì ra khuê danh của cô nương là ‘Minh Châu’…”
    “Anh đừng có lắm lời nữa.”
    “Vâng.” Thẩm Phi Phi bị một câu lạnh lùng của Minh Châu dọa cho tái mặt, cúi đầu ngậm miệng không nói như cũ.
    Tịch Tà bảo: “Chi bằng tại hạ tìm một thanh kiếm báu tặng cho anh Lý.

    Được chăng?”
    Lý Sư ngạc nhiên nói: “Vì sao? Tại sao tôi phải chiếm hời của anh?”
    Tịch Tà bật cười bảo: “Cái tên Tịch Tà này tự phụ lắm, nếu anh Lý mà cầm thanh kiếm này quyết chiến với hắn thì trong lòng hắn tất nhiên không thích, dưới cơn nóng giận, chưa biết chừng sẽ dừng tay không đấu nữa.

    Anh Lý và Tịch Tà đều coi là bạn của tại hạ, càng nên quyết chiến công bằng.”
    Lý Sư gật đầu nghiêm túc nói: “Không sai, tôi cũng không muốn để hắn cảm thấy tôi coi thường hắn.”
    “Thanh kiếm này cầm hơi nặng tay, anh Lý cảm thấy trọng lượng thế nào?”
    “Trọng lượng vừa vặn.”
    “Vậy xin anh Lý tặng thanh kiếm này cho, tại hạ sai người tìm một món vũ khí báu khác theo trọng lượng kiếm này, cho dù tặng kiếm cũng không nợ nhau.”
    Lý Sư hài lòng cười bảo: “Thật sự cảm ơn anh.”
    “Vậy thì trước khi quyết chiến, anh Lý đừng tìm võ cử nhân gây chuyện nữa.”
    “Việc này không cần anh nói, những người đó đều chỉ giỏi múa may chứ chẳng thú vị gì.”
    “Được!” Cuối cùng Tịch Tà cũng yên tâm, “Nơi đây là đất thị phi, anh Lý và anh Thẩm đừng ở nữa, tôi sẽ sai người mời hai vị đến ngụ ở nơi khác.

    Nếu tôi có được tin của Tịch Tà thì sẽ đến đó tìm hai vị.”
    “Ở đây không tốt sao?” Lý Sư ngắm nhìn bốn phía.
    “Không tốt!” Tịch Tà chặn lời gã.

    Thẩm Phi Phi là một người ham thích an nhàn, đã chê nơi này đơn sơ bẩn thỉu từ lâu, nghe Tịch Tà nói như thế thì liên tục gật đầu.

    Tịch Tà mỉm cười với gã, “Không cần phải nhốt anh Thẩm này nữa đâu, mấy ngày nữa cô nương Minh Châu và tại hạ còn đến thăm, chắc hẳn anh Thẩm sẽ ở cùng với anh Lý đúng chứ?”
    “Dạ dạ dạ!” Thẩm Phi Phi mừng quýnh, “Tiểu sinh sẽ đi theo Lý Sư, y đi hướng đông, tiểu sinh quyết không đi hướng tây.”
    Tịch Tà nói: “Nếu anh ta chạy trốn thì tại hạ sẽ chịu trách nhiệm bắt anh ta về giao cho anh Lý xử trí.”
    Lý Sư nhíu mày suy nghĩ: “Được, tôi tin anh.”
    Minh Châu tức giận hừ một tiếng, xoay người đi mất.

    Tịch Tà nói câu cáo từ, dùng tay nải cuốn thanh kiếm ỉ rồi vội vã đuổi theo.

    Hai người thuê xe ở trước cửa mà trở về.

    Tịch Tà vỗ thanh kiếm gỉ trong lòng, yên lặng xuất thần.

    Minh Châu ở bên lạnh lùng nói: “Lục gia hẹp hòi quá! Chỉ vì thanh kiếm này là đồ mà Thất Bảo công công từng sử dụng mà Lục gia đã dùng năng lực đội trời đạp đất để lừa được từ trong tay tên nhóc kia mà không thấy thẹn.”
    Tịch Tà cười bảo: “Người hiểu tôi chỉ có Minh Châu.

    Tôi tiểu nhân thế nào chỉ có cô biết thôi.” Hắn nhìn Minh Châu đỏ mặt quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, thầm thở dài vì mình buột miệng.

    Hai người xấu hổ trầm mặc trở lại cửa cung, Tịch Tà giao kiếm cho Khương Phóng, sai anh ta mang vào cung.

    Mãi đến lúc sắp ăn cơm tối, Khương Phóng mới có thời gian đưa kiếm tới viện Cư Dưỡng.
    “Một thanh kiếm nặng thật hay!”
    Tịch Tà nói: “Anh hãy chọn một món vũ khí sắc bén hạng nhất từ nhà kho theo trọng lượng của thanh kiếm này và một ngàn lượng bạc rồi đưa đến người tên Lý Sư ở hàng bính chữ thiên của Hồng Vận Lai, bảo y đêm nay lập tức dọn nhà.”
    “Hồng Vận Lai?” Khương Phóng líu lưỡi nhíu mày, “Lý Sư là ai, không có gì quan trọng thì tôi không muốn trêu chọc vào người của Hồng Vận Lai đâu.”
    Tịch Tà sa sầm mặt mày, nói: “Chính y là kẻ gần đây hay khiêu chiến đâm bị thương võ cử nhân, còn báo tên của ta đấy.

    Nếu không phải là học trò cuối cùng của thầy tôi…”
    “Thái giám Thất Bảo?” Khương Phóng chỉ cảm thấy trong đó dây mơ rễ má, khó thấy điểm cốt yếu.
    Tịch Tà nói rõ gốc ngọn với anh ta, rằng: “Kẻ này nhằm vào ta, anh không cần dính dáng vào trong.

    Anh lại bảo thầy hai phía tây dò la về một ông lão họ Hồ ở Hồ gia trang, huyện Hắc Phần, phủ Đại Sam, Bạch Dương, xem cha con ông ta có quan hệ gì với Thẩm Phi Phi.”
    Khương Phóng nói: “Vâng.

    Nhưng trước giờ thái giám Thất Bảo mưu tính sâu xa, chủ nhân phải cẩn thận xử trí việc này.”
    Hôm nay Minh Châu cũng có mặt, thấy Tịch Tà tươi cười nói với Lý Sư, chẳng ngờ lúc đó hắn đã nảy sinh ý muốn giết Lý Sư thì giá rét rùng mình.

    Mãi đến khi Khương Phóng tuân lệnh bỏ đi, nàng vẫn cảm thấy Tịch Tà u ám đáng sợ lạ thường, bèn nói lảng sang chuyện khác: “Lục gia, nghe hai người nói như vậy, Hồng Vận Lai là hắc đ**m ư?”
    Tịch Tà phì cười: “Không phải! Hồng Vận Lai là cơ sở ngầm của Đại Lý đóng ở trung nguyên, từ chưởng quầy đến tiểu nhị đều là nhân vật lợi hại, chỉ sợ hành động của Lý Sư đã không giấu được bọn chúng từ lâu rồi.

    Cô không cảm thấy tiểu nhị hôm nay khó chơi hơn tiểu nhị của tiệm bình thường à? Nếu không phải gã tưởng chúng ta là người trong nha môn, không muốn rước thêm thị phi thì đã không nói thật rồi.”
    “Ồ!” Minh Châu nói, “Mải nói chuyện, quên dọn cơm rồi.” Nàng bèn gọi Tiểu Thuận Tử bưng đồ ăn lên, ăn được hai miếng, đột nhiên oán giận rằng: “Lục gia, chuyện Lý Sư cũng cho qua nhưng tại sao còn muốn lo tên Thẩm Phi Phi không đâu đó? Kẻ phóng đáng giống như gã, chi bằng để Lý Sư một kiếm kết liễu cho lành.”
    Tịch Tà đáp: “Lý Sư bản tính hồn nhiên, võ công cao tới đâu cũng không phải đối thủ của Thẩm Phi Phi.

    Đừng thấy Thẩm Phi Phi cố chấp ở việc kia mà cho gã là kẻ điên điên khùng khùng, thật ra người này trẻ tuổi như vậy đã nổi danh từ lâu thì ắt có chỗ thông minh giảo tuệ.

    Chỉ nói ý kiến mà gã đưa ra cho Lý Sư thôi – khiêu chiến võ cử nhân để ép tôi ra mặt, chắc chắn là muốn mượn tay võ cử nhân diệt trừ Lý Sư, còn mình thì thoát thân.

    Ha ha…” Tịch Tà lắc đầu cười nhạt, “Đúng là bụng dạ nham hiểm, nếu gặp cơ duyên thì mai rày tất thành châu báu.

    Nếu gã thật lòng thật dạ với cô thì vẫn có thể xem là xứng đôi vừa lứa.”
    Minh Châu đỏ mặt sẵng giọng: “Lục gia nói bậy gì đó? Cái loại trộm này võ công thấp kém, mặt mày gian xảo mà cũng xứng!”
    Tịch Tà nói: “Tuy võ công Thẩm Phi Phi đó không bằng cô nhưng cũng tính là cao thủ hàng đầu, ngoại hình phong lưu phóng khoáng, tôi thấy cũng không tệ.”
    Minh Châu nói: “Phải, gã tuấn tú lịch sự, ai thích ai thì tự đi mà lấy gã, chớ nhiều lời ở trước mặt tôi.”
    Tịch Tà cười bảo: “Cô không còn nhỏ nữa, cứ ở mãi trong cung không phải là cách, chi bằng mau chóng về Hàn châu lập gia đình đi thôi.”
    Minh Châu nói: “Lục gia cứ nói đến chỗ này là lại con cà con kê.”
    “Cô vừa nghe đến chỗ này là lại qua loa lấy lệ, chẳng lẽ đã có người trong lòng, chỉ chờ hắn tới lấy cô về nhà?”
    Minh Châu mỉm cười, nói: “Trong lòng người tôi yêu chỉ có nghiệp lớn của thiên hạ, trước giờ chưa từng nhìn thẳng vào tôi.

    Tôi hết lòng hết dạ hầu hạ chàng, chàng lại chỉ tưởng đến chuyện sớm ngày gả tôi đi…”
    Tịch Tà giật nảy mình, lỡ đánh rơi chén rượu trong tay, nhìn Minh Châu với sắc mặt trắng bệch.

    Minh Châu nhanh tay, chộp lấy chén rượu, phì cười: “Lục gia uống rượu, nói đùa không coi là thật đâu.”
    Sắc mặt Tịch Tà hơi khá hơn một chút, vội vàng dời ánh mắt sang bên cạnh, nhận lấy chén rượu, bảo: “À, vậy thì tốt.”
    Tiểu Thuận Tử chẳng ừ chẳng hử, cứ vùi mặt vào trong bát mà lùa cơm.

    Tịch Tà nói với cậu: “Con không cần cố làm ra vẻ, con đang thầm cười trên nỗi đau của người khác, ta không nhìn ra được chắc?”
    Tiểu Thuận Tử nói: “Thầy chớ mắng con! Con chỉ giận thầy cảnh tượng hôm nay náo nhiệt như vậy mà thầy chẳng dẫn con đi, mở mang tầm mắt.

    Nếu con ở đó thì sẽ quất tên Thẩm Phi Phi vài cái trước, chị Minh Châu cần gì tức đến tận tối?”
    “Miệng ngọt ghê!” Tịch Tà không nhịn cười được, “Con muốn đi ra ngoài chơi thì cơ hội ngay trước mắt đấy.

    Ngày mai con theo ta đi một chuyến đến chủa Đông Hoằng Nguyện.”
    “Chùa Đông Hoằng Nguyện?” Minh Châu hỏi.
    “Chỗ cô gặp phải Lý Sư tối hôm qua chính là chùa Đông Hoằng Nguyện.

    Tôi vẫn chưa dò ra võ công của tên Lý Sư này rốt cuộc thế nào, bên kia đã có người từng đấu với y nên tôi đi hỏi thử.”
    Chùa Đông Hoằng Nguyện là chùa cổ nghìn năm, cùng chùa Tây Hoằng Nguyện được gọi là “viện chính của thiền gia”, ngoài ra trụ trì là đại sư Bi Tịch từng được tiên đế phong làm quốc sư, chùa chiền bình thường không thể sánh nổi.

    Chùa này qua lại rất gần gũi với quan lại nên có mấy võ cử nhân ở nhờ cũng chẳng phải chuyện hiếm lạ gì.

    Tịch Tà không dám l* m*ng, lấy thân phận nội thần đến đó cùng Tiểu Thuận Tử.

    Sau khi thắp hương, hắn tự xưng là Khu Ác, chỉ nói phụng lệnh của đại thái giám trong cung tới thăm con em của bạn cũ.

    Tiều tăng di thường thấy cảnh tượng hoành tráng, không coi Tịch Tà ra gì, cũng chẳng báo cho nhà sư lo việc biết đã để họ đi ra sương phòng sau viện đông tự tìm người quen.

    Tịch Tà tới trước cửa viện đông, đi qua ba người trẻ tuổi.

    Trong viện còn có một người trẻ bị lạnh nhạt đang đọc sách dưới mái hiên, anh ta ngẩng đầu trông thấy Tịch Tà tiến đến thì đặt sách xuống chắp tay nói: “Vị công công này có việc gì thế?”
    Người trẻ tuổi này thần sắc nho nhã, hình dáng đoan trang, giống như đã từng quen biết.

    Tịch Tà nói: “Tại hạ Khu Ác, là người của cục Châm Công trong cung.

    Tổng tọa trong cục nghe nói nơi này có võ cử nhân bị thương, lo không biết có phải con em của bạn cũ không nên bảo nô tỳ đến xem.”
    Chàng thanh niên đáp lễ nói: “Tiểu nhân Lục Quá và mấy anh bạn cùng ở đây đều là người núi Đô Quốc, không biết công công tìm người họ gì?”
    Tịch Tà than thở: “Núi Đô Quốc? Vậy thì không phải.

    Mấy ngày này có người làm loạn, đã quấy nhiễu đến tai thánh, tổng tọa muốn nô tỳ tới hỏi thăm ngọn nguồn, may ra còn có cái thưa với vạn tuế gia.

    Bây giờ thăm hỏi người bị thương, không biết có tiện không?”
    Lục Quá gật đầu mời Tịch Tà vào nhà, người thanh niên bị thương mới uống thuốc giảm đau, đang ngủ mê man.

    Lục Quá vén chăn lên, chỉ vào cánh tay trái của gã nói: “Đã cầm máu một ngày, vết thương cũng liền rồi, không nghiêm trọng lắm.”
    Tiểu Thuận Tử tiến lên cởi băng vải ra để Tịch Tà nhìn kỹ.

    Tịch Tà nhớ hôm qua Lý Sư đâm mình một kiếm, kiếm pháp có cái uy của sấm sét hệt như tính cách y vậy.

    Bây giờ nhìn vết thương này chỉ dài ba, bốn tấc trên da thịt cánh tay, cũng biết nội lực kiếm pháp của y đã đến cảnh giới thu phóng tự nhiên, không thể xem nhẹ.
    Mọi người lui ra, Tịch Tà hỏi tình cảnh đêm đó.

    Lục Quá đáp: “Kiếm pháp của người nọ rất cao, nhưng làm việc l* m*ng, chắc là nhằm vào cái danh võ cử nhân của bọn tại hạ.

    Thoạt nhìn thì thấy chiêu kiếm của y bình thường không có gì lạ, nhưng thật ra nhanh như tia chớp, uy lực cực lớn, chắc là kiếm pháp nội gia.”
    Tịch Tà thầm lấy làm lạ, với tuổi tác và xuất thân của Lục Quá, kẻ có thể nhìn ra được kiếm pháp nội gia thật sự không nhiều, trong lòng đã nhìn anh ta với con mắt khác.
    Lục Quá nói tiếp: “Đồng bạn này của tại hạ đánh nhau mấy chục hiệp với y, vô ý để y đâm bị thương cánh tay trái.

    Người nọ sợ những người khác cùng tái chiến, bèn lập tức chạy trốn trước.”
    “Y có nói gì không?”
    “Việc ấy thì không.”
    Theo tình cảnh Minh Châu thuật lại đêm ấy, chỉ sợ trong những người này không có một ai có thể qua ba hiệp dưới kiếm Lý Sư.

    Trong chuyện tiết tháo này, Lục Quá không hề che giấu, chỉ thổi phổng võ công Lý Sư lên thật cao, còn nói cuối cùng y bỏ chạy, uyển chuyển bảo toàn thể diện thay người mình.

    Hiếm có hơn, anh ta giấu nhẹm không đề cập đến câu nói quan trọng kia của Lý Sư, bớt đi rất nhiều thị phi.

    Tịch Tà không kìm được muốn khen anh ta am hiểu sâu sắc đạo làm tướng, tâm trí trưởng thành sớm, vượt xa tuổi tác.
    Tịch Tà hỏi: “Lúc đo Lục công tử có từng so chiêu với người nọ chưa?”
    Lục Quá mỉm cười: “Không ạ.

    Tại hạ đến kinh thành để cầu lấy công danh, sắp tới thi hội, lúc này lỡ mà bị thương thì với nước với nhà với bản thân đều không có chỗ ích lợi gì.

    Hơn nữa hoàng thượng thánh minh, mở lại khoa võ, nếu bỏ qua thi hội thì quả thật đã phụ ơn thánh.

    Vả, chúng tôi xuất thân là con em võ tướng, tập luyện bắn cung cưỡi ngựa, chuyện kiếm pháp này vốn không phải là sở trường của chúng tôi.

    Nếu võ công người nọ đã cao, lại có chuẩn bị mới đến, bọn tôi tranh hơn thua với y thì chắc chắn không có phần thắng.

    Lúc đó tại hạ vẫn khuyên bảo mấy anh bạn, đáng tiếc ai nấy đều có lòng háo thắng…” Lục Quá nói đến đây thì vội ngừng lại, “Cũng may chỉ có một người bị thương nhẹ, không đáng ngại lắm.”
    Tịch Tà gật đầu nói phải, chào rồi về cung.

    Lúc đó sách luận của năm võ cử nhân đứng đầu kỳ thi hương của các nơi đến tay Tịch Tà từ lâu, vì tán thưởng Lục Quá, Tịch Tà cố ý lật cuốn này ra xem.

    Quả nhiên tên thứ hai của vùng núi Đô Quốc là tên Lục Quá, hai tờ sách luận đều rất đặc sắc, lại xem dòng dõi y kể, thì ra là em thơ của Lục Tuần – tham tướng hiện canh giữ đường Đông Hải.

    Tịch Tà không khỏi mỉm cười, lấy ra một cuộn da trắng mới tinh, cẩn thận chép tên Lục Quá lên hàng đầu tiên.[1] chức quan cảnh vệ đời Đường, đời Ngũ Đại và đầu đời Tống, thường lấy con em của đại thần vào chức quan này, sau này dùng để chỉ con em quan lại, thường thấy trong Bạch thoại thời kỳ đầu
    [2] Tiếng Trung là 不相伯仲, ý là ngang hàng nhau.

    伯仲 nghĩa là thứ tự anh em trên dưới, chỉ anh em, rộng ra là chỉ những vật ngang hàng..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 11: 11: Lục Quá


    Ngày mùng chín, mười hai, mười lăm tháng Ba chính là thời gian thi võ.

    Mấy ngày này Tịch Tà bận bịu sàng lọc trước hơn năm trăm võ cử nhân một lần, liệt kê danh sách những người có sách luận ưu tú, võ nghệ siêu quần lúc thi hương rồi viết thành sớ.

    Lúc bấy không còn nhàn rỗi rời cung thăm Lý Sư được, chỉ đành lệnh cho Khương Phóng sai người không ngừng đi vào nhà trọ chăm sóc, chỉ nói không lâu sau sẽ có tin của Tịch Tà, xin y đợi thêm, chớ sốt ruột.

    Người thường đi là một ông lão họ Nghê, mỗi lần về đều nói: Lý Sư vô cùng yêu thích thanh kiếm Tà Nguyệt này, ngày ngày cầm kiếm tập võ, không đi đâu cả; mỗi ngày Thẩm Phi Phi đều ngồi đờ ra trước cửa sổ, trông thấy lão Nghê đi vào mới lập tức phấn chấn tinh thần, thấy phía sau ông không có ai đi theo thì lại tức thì một tỏ vẻ chán ngán.
    “Kiếm Tà Nguyệt?” Tịch Tà cười nói, “Bất kể thế nào đó cũng là kiếm yêu của anh, sao lại tặng Lý Sư?”
    Khương Phóng đáp: “Chủ nhân quên Tà Nguyệt là kiếm của chủ nhân rồi ư? Gia muốn tặng y vũ khí sắc bén nhất thì chỉ Tà Nguyệt là có trọng lượng thích hợp, có thể sánh với đối thủ của gia thôi.”
    “Nghe giọng điệu của anh kìa, lão Nghê rất quý mến Lý Sư đấy.” Tịch Tà cười khổ hỏi, “Sao ta lại không cảm thấy y có chỗ nào khiến người ta thích thế nhỉ?”
    Khương Phóng đáp: “Gia coi ấn tượng ban đầu là đúng, vì y đi khắp nơi la hét tên gia, khiến gia có thành kiến với y trước.” Trong lòng Khương Phóng lại nghĩ khác, cho rằng việc Tịch Tà để ý chính là Lý Sư lại lấy mất sự coi trọng của thái giám Thất Bảo, còn để thanh kiếm bình sinh quen dùng cho Lý Sư, tâm trạng mất mát lúc này của hắn giống như một đứa con thơ được chiều chuộng, đột nhiên có thêm một đứ em trai vậy.

    Vẫn là lòng dạ thiếu niên! Khương Phóng nghĩ tới đây không khỏi cười ha ha.
    “Anh cười cái gì?” Tịch Tà nói với ánh mắt sắc bén.
    Khương Phóng đang khó xử không biết đáp lại thế nào thì thấy Như Ý đi tới, lớn tiếng gọi Tịch Tà: “Hoàng thượng đợi đã lâu rồi, tại sao em còn kì kèo ở bên ngoài?”
    Lòng cảm kích của Khương Phóng đối với Như Ý thật khó diễn tả được, anh ta lễ độ cung kính vái chào: “Nhị gia mau dẫn Tịch Tà đi đi, đúng là vướng víu chết đi được.”
    Như Ý cười nói: “Anh em tôi có cùng suy nghĩ, đường đường là tổng quản thị vệ chứo ăn h**p em sáu của bọn tôi.”
    Khương Phóng liên tục nói đúng rồi đưa bọn họ vào cung Càn Thanh.
    Dừng thi đã hơn mười năm, hoàng đế mở lại kỳ thi võ, xử trí vô cùng cẩn thận, đặc biệt mang bài thi sách luận trận đầu tiên hôm mùng chín ra cùng xem với Tịch Tà.

    Mặc dù số cử nhân không nhiều như thi văn, trận đầu vẫn chọn đến hai trăm người, vừa xem vừa bàn như vậy mất trọn một ngày đến tận đêm khuya.
    Hoàng đế khép bài thi cuối cùng lại mới thấy đói, sai người truyền thiện.

    “Như vậy xem ra, Ông Trực chọn hơi quá rồi.”
    Tịch Tà nói: “Bởi vì phải góp đủ số lượng hai trăm người, làm khó cho thượng thư bộ Binh rồi.”
    Hoàng đế nói: “Thà thiếu không ẩu, tuyển nhiều người không dùng đến như vậy, tương lai lại ăn không bổng lộc.” Lập tức cắt đi hơn năm mươi bài thi, gọi Cát Tường vảo bảo, “Một trăm bốn mươi hai người này là do trẫm chọn.

    Khanh truyền chỉ cho Ông Trực, sao chép tên người làm các bài thi này, ngày mai là yết bảng đi.” Rồi nói với Tịch Tà, “Khanh ở đây ăn cùng trẫm.”
    Tịch Tà Từ nói: “Nô tỳ không dám.”
    Hoàng đế cười bảo: “Không phải là khanh không dám mà là không muốn.

    Trong viện Cư Dưỡng có Minh Châu đợi, sung sướng hơn ăn ở chỗ trẫm.”
    “Xin hoàng thượng tha cho nô tỳ.

    Hoàng thượng đúng là thù lâu, nô tỳ đành tìm một chỗ ở một mình.”
    “Thù lâu?” Hoàng đế cười nói, “Vì một Minh Châu, vẫn chưa đến mức đấy đâu.

    Nếu khanh thật lòng thích, trẫm thưởng nàng cho khanh có xá gì?”
    “Nô tỳ không thích Minh Châu.” Dường như Tịch Tà đã nổi nóng.
    Hoàng đế gật đầu: “Trẫm biết rồi.

    Khanh về đi.”
    Giọng nói hoàng đế hiếm khi lạnh lùng.

    Như Ý nhắm mắt làm ngơ, vẫn nghiêm trang sắp xếp bữa cơm, chỉ lúc hoàng đế nhìn chằm chằm bóng lưng thoăn thoắt không lay động của Tịch Tà, mới có thời gian liếc mắt một cái, lặng lẽ nuốt một tiếng thở dài về.
    Mười hai tháng Ba là trận thi võ thứ hai, thi bắn tên trên ngựa trước, mục tiêu xa ba mươi lăm bước làm quy tắc; sau đó thi bắn tên trên mặt đất, mục tiêu xa tám mươi bước, người trúng bốn tên khi cưỡi ngựa, trúng hai tên dưới đất trở lên thì sẽ đỗ.

    Số người giảm đi, hôm thi đình mười lăm tháng Ba chỉ còn tám mươi lăm người.
    Một ngày trước khi thi đình, hoàng đế vẫn đến cung Từ Ninh thăm hỏi, không tránh được việc thái hậu cũng hỏi đến thi võ khóa năm nay: “Thế nào, có nhân tài nào có thể kham được nhiệm vụ lớn không?”
    “Xem sách luận của họ, có vài người cực tốt, có vài kẻ vì xuất thân từ nhà võ tướng nên ít đọc sách.

    Cuối cùng còn dư lại tám mười lăm người cũng có thể xưng là văn võ song toàn.”
    Thái hậu cười bảo: “Ngày mai thi đình rồi, nhưng đây là thi võ, làm sao có thể vung đao múa thương ở trước đại điện được? Không ra thể thống gì cả.”
    Hoàng đế nói: “Trước đây vốn không có thi đình, chẳng qua là con trai còn trẻ thích náo nhiệt mới nghĩ ra ý ấy.

    Sau khi bàn với bộ Binh và bộ lễ, con đã chuẩn bị để thi đình ở ngoài cửa Càn Thanh.”
    “Con cũng muốn đi.” Công chúa Cảnh Ưu ở bên đột nhiên quấn lấy thái hậu nói, “Náo nhiệt như thế, con cũng muốn xem thử.

    Mẫu hậu đồng ý với con đi.”
    “Còn thể thống gì!” Hoàng đế trách mắng đầu tiên, “Đây là việc lớn của triều đình, em cho là xem kịch à? Mình mang thân phận công chúa, đứng ở ngoài cửa Càn Thanh còn ra gì nữa?”
    Thái hậu cười nói: “Chắc là đứa bé này nghe thấy mấy chữ ‘văn võ song toàn’ nên bắt đầu mơ mộng rồi.”
    “Trẫm đã có dự tính về việc hôn nhân của em rồi, em đừng nghĩ quàng nghĩ xiên.”
    Cảnh Ưu gấp đến độ mặt đỏ lên, lớn tiếng nói: “Hoàng huynh nói lung tung, ức h**p em, giờ em sẽ đi mách thái phi.”
    “Ôi!” Thái hậu ôm Cảnh Ưu bảo, “Đây là ta không đúng.

    Cảnh Ưu muốn xem náo nhiệt, không có gì đáng trách cả.

    Nó nói như vậy, ta cũng muốn đi xem thử.”
    Hoàng đế trở tay không kịp: “Mẫu hậu!”
    “Hoàng đế yên tâm.” Thái hậu bảo, “Bọn ta không đi ra, chỉ sai người buông rèm trong cửa Càn Thanh, không làm lỡ việc chính trị của hoàng đế đâu.”
    Đây chính là ý chỉ.

    Hoàng đế trông con mắt âm u dưới khuôn mặt tươi cười của thái hậu, nghe Cảnh Ưu vỗ tay vui cười thì chậm rãi gật đầu.
    Hôm mười lăm tháng Ba, Tịch Tà dậy từ rất sớm, nhìn lại cuốn sổ ghi danh sách thi võ một lần, quả nhiên người mình chọn sàng lọc trước đó đều còn cả, yên tâm đặt sổ đặt lên bàn, chỉ chờ Như Ý tới lấy.

    Tịch Tà lường trước hôm nay thi đình, lễ nghi phiền phức, hoàng đế sẽ bận rộn cả ngày, còn mình lại được nhàn rỗi vì thế nên hôm qua đã sai người đưa chiến thư tới chỗ Lý Sư, hẹn đầu giờ tị hôm nay gặp nhau ở am Tịnh Thủy thành tây.

    Minh Châu biết hôm nay hắn có việc nên cố ý qua đó chuẩn bị cơm sáng.

    Chưa tới giờ Thìn nhưng Cát Tường đã vung phất trần đi vào, nói: “Cô nương Minh Châu ban cho tôi bát sữa với.” Minh Châu cười y quá khách sáo, xoay người đi vào phòng bếp.
    Cát Tường nói: “Danh sách của em đã duyệt lại xong chưa?”
    “Rồi ạ.” Tịch Tà đưa sổ con cho Cát Tường.
    Cát Tường cười không nhận, nói: “Tự em dâng cho hoàng thượng đi, vạn tuế gia gọi em đến cung Càn Thanh đấy.”
    Tịch Tà cau mày nói: “Chuyện gì thế?”
    “Anh nào biết đâu.” Cát Tường thở dài, “Anh nói này em sáu, Như Ý đang lo thay em đấy, nó kể lại chuyện lúc trước cho anh rồi.

    Anh hỏi em, nếu em không thật lòng thích Minh Châu thì lúc đó cần gì từ chối, bây giờ hoàng thượng lại đang nhớ đến chuyện này.”
    Mắt Tịch Tà chợt co rụt lại: “Em tự lý của mình.”
    Cát Tường lạnh lùng bảo: “Anh thấy em đã quên hết lời thầy dạy dỗ rồi.”
    Tịch Tà nghe y lấy thái giám Thất Bảo ra răn mình thì vội vàng thõng tay đứng lên.
    “Tại sao phải làm chuyện hoàn toàn không cần thiết này? Em còn muốn sống không? Rốt cuộc Minh Châu này cho em bùa mê thuốc lú gì mà làm em to gan như vậy?”
    Dưới ánh mặt trời mới lên ngoài cửa, cái bóng thon dài chợt lóe lên trước mắt Tịch Tà, bóng mờ quả quyết khắc lên đôi môi mỉm cười của hắn: “Không phải là đại sư ca không biết, em từng làm chuyện hại mình lợi người chưa? Chỉ cần hoàng thượng nhắc lại việc này thì tức là thật sự thích Minh Châu, đồ càng khó lấy, hoàng thượng sẽ càng quý trọng.

    Nàng được yêu chiều càng lâu, há chẳng phải càng có lợi với chúng ta? Khi đó cho dù là một trăm Minh Châu, em cũng sẽ tìm đưa cho ngài.

    Chưa từng có quyết định nào mà em không đành lòng, càng chưa nói chỉ là một cung nữ.”
    Cát Tường nói: “Anh biết rồi.

    Anh chỉ nói cho em biết người như hoàng thượng quyết sẽ không từ bỏ ý định đâu.”
    “Vâng.”
    “Anh đã truyền lời xong, em thay quần áo rồi mau chóng đi đi.” Cát Tường thúc giục Tịch Tà vào bên trong phòng thay quần áo, còn mình thì bước thong thả ra cửa, cười nói với Minh Châu ở cửa: “Cô nương vất vả rồi, từ nhỏ sư đệ này của tôi làm việc chỉ nghĩ đến bản thân, chỉ cần là điều nó mong muốn thì bất kể cái gì nó cũng không tính toán.

    Người khó hầu hạ như thế, may nhờ có cô nương.” Âm cuối của Cát Tường kéo vừa dài vừa vang dội, mãi đến khi y đi mất tăm, cả viện vẫn còn vọng tiếng y.
    Tịch Tà vội vã cài nút áo, nghe Minh Châu phía sau lặng lẽ đi tới thì nói: “Minh Châu, tôi phải đến cung Càn Thanh, giờ Tỵ không kịp tới.

    Hôm nay Khương Phóng cũng không phân thân ra được, cô thay tôi rời cung đến am Thủy Tịnh, bảo Lý Sư đổi ngày khác.”
    Hắn nén chịu sự trầm mặc hồi lâu của Minh Châu, mãi đến khi nàng chậm rãi nói câu “vâng” mới quay người lại, không liếc Minh Châu lấy một cái mà cuộn lấy sổ con, chạy ra khỏi phòng.
    Hoàng đế đã mặc áo nón da xong, đợi Tịch Tà hành lễ rồi nhận lấy sổ con của Tịch Tà nhìn qua, sau đó nói: “Khanh hiểu rõ chuyện này hơn trẫm, lúc này trẫm cũng không nhớ được nhiều người như thế.

    Hôm nay khanh đi cùng trẫm.”
    Tịch Tà và Khương Phóng bên cạnh đều cả kinh, Khương Phóng thưa: “Hoàng thượng, việc này không hợp lễ.

    Tịch Tà chỉ là thái giám áo xanh của cục Châm Công thôi.”
    “Có gì nghiêm trọng chứ?” Hoàng đế rất thích vẻ chợt kinh ngạc trong mắt Tịch Tà, cười nói, “Bây giờ trẫm dẫn hắn xem cảnh tượng hoành tráng.”
    Tịch Tà quỳ xuống dập đầu: “Nô tỳ tuân chỉ.”
    Cát Tường tiến đến bẩm báo: “Vạn tuế gia, trăm quan và võ cử nhân đều ở ngoài cửa Càn Thanh chờ chỉ rồi ạ.”
    “Thái hậu đâu?”
    “Thái hậu đã ở cung Khôn Ninh nghỉ ngơi từ sớm, vừa rồi bắt đầu khởi giá từ cung Khôn Ninh, chưa đầy một khắc nữa sẽ giá đáo.”
    “Trẫm đi đón thái hậu.” Hoàng đế đứng dậy, vẫy tay với Tịch Tà và nói, “Tịch Tà đi theo.”
    Lúc này hai bên cửa Càn Thanh đã có trăm quan hầu hạ, võ cử nhân đứng ở giữa quảng trường mênh mông, năm mươi thị vệ ăn vận rực rỡ cầm đao ngăn cách họ ra xa khỏi ghế ngự ngoài cửa Càn Thanh.

    Một bức rèm che rủ ở bên trong cửa, trong đó đặt ghế ngự của thái hậu, bên cạnh có một ghế hầu.

    Giờ Thìn ba khắc, một thái giám áo màu hoa hạnh ngũ phẩm của giám Ti lễ đi ra từ trong cửa Càn Thanh, cầm roi trong tay, quất xuống đất vun vút, thái giám dẫn đường đi ra hét: “Hoàng thượng giá đáo! Chúng thần phục xuống!” Nhạc công hợp tấu nhạc lành, trong cửa Càn Thanh ầm ầm tiếng bước chân, bức rèm che khẽ lay động, đầu tiên là hai người Cát Tường, Như Ý lui ra dẫn đường để hoàng đế ngồi vào ghế.

    Sau lưng hoàng đế, ngoại trừ người cầm trượng ra thì còn có một thái giám áo xanh theo sát bên hoàng đế, đứng hầu bên ghế ngự.
    “Thánh cung vạn phúc.” Lấy Thành Thân vương làm đầu, chúng thần chúc tụng, ba quỳ chín lạy.
    Cát Tường tuyên: “Truyền tám mươi lăm người đám Úc Tri Thu thi võ khóa năm nay yết kiến!”
    Tám mươi lăm võ cử nhân đỗ kỳ thi hội nhất tề tiến lên quỳ xuống dập đầu.
    Hoàng đế nói: “Trung nguyên thái bình đã lâu, dân chúng xao nhãng chuyện bắn cung cưỡi ngựa, nay kẻ thù bên ngoài dòm ngó, triều đình há không khích lệ võ trị? May mắn có các khanh văn võ song toàn mới làm được việc lớn, sau này tuân theo kỷ luật quân đội, giết địch báo quốc, chớ phụ kỳ vọng của trẫm.”
    Mục thi đình là kỳ thi mà hoàng đế thêm vào, vốn không có quy chế cố định, lệnh cho tám mươi lắm võ cử nhân phát huy hết sở trường của mỗi bên, bất kể là trên ngựa dưới đất binh dài khí ngắn.
    Nơi đây ngoại thần nội thần đứng đầy cả quảng trường, không cần phải nói đến các đại tướng đã trải qua chốn sa trường của bộ Binh, đám người chung quanh hoàng đế như Tịch Tà, Khương Phóng, Cát Tường, Như Ý thì càng là cao thủ tu luyện cả nội ngoại, có người khoa chân múa tay làm sao có thể giấu được đôi mắt sáng như đuốc của họ.

    Mãi đến người đỗ thi hội thứ mười bốn Du Vân Dao lấy một thanh trường kiếm ở trên kệ, đứng giữa quảng trường, bẩm rằng sở trường của mình là kiếm pháp.

    Vóc người anh ta gầy guôc như thư sinh, âm thanh thong thả điềm tĩnh, ung dung nói nhưng cả quảng trường đều nghe được rõ ràng.

    Trong cửa Càn Thanh có tiếng vọng ong ong, làm đám người Tịch Tà xốc tinh thần lên.
    Cổ tay Du Vân Dao khẽ rung, kiếm kêu ong ong dần thành con rồng trắng nhàn nhã bơi.

    Hắn dùng bộ kiếm pháp này một cách từ tốn khoan khoái, trường kiếm phản chiếu ánh mặt trời lướt qua tạo thành mảnh ánh sáng bạc liên miên không ngừng lấp lóe, đến lúc say sưa thỏa thích thì cả người như thể đang phóng ra hào quang.
    Khương Phóng không kiềm được mà gật đầu lia lịa, suy đoán đây chính là kiếm pháp nhà họ Du thất truyền đã lâu.

    Nhà họ Du từng là dòng dõi thế gia vọng tộc ở nam hồ Thiếu, gần ba mươi năm cảnh nhà điêu tàn, thì ra con cháu đã làm quan, bây giờ mới có cơ hội tận mắt thấy.

    Kiếm pháp nhà họ Du phải khí định thần nhàn, tĩnh dật như thường nhưng chiêu kiếm lại rối ren phức tạp, trong mỗi một chiêu đều có ba bốn mươi biến chiêu, coi trọng việc dùng khí điều khiển cốt, lấy cốt đuổi kiếm, tạng phủ hình hài luôn động mới có thể tạo ra chiêu kiếm biến hóa.

    Chiêu của Du Vân Dao lướt qua vẫn còn để lại dư quang, chính là do ngọn kiếm đổi chiêu trong nháy mắt.

    Có người nói cao thủ thực thụ của nhà họ Du có thể thay đổi hơi thở đến mức nhỏ nhất, đến nỗi sử dụng một bộ kiếm pháp giống hệt như kiếm pháp bình thường mới tính là đạt đến cảnh giới tự nhiên như không.

    Quả nhiên nghe Như Ý bên cạnh thấp giọng lẩm bẩm: “Cũng may chỉ có bảy phần hỏa hầu, không đáng sợ.” Đám người Như Ý đã ở trong cung thấm nhuần từ nhỏ, có kiến thức phi phàm.

    So với Du Vân Dao thì lúc này Khương Phóng lại khen ngợi sư huynh đệ Như Ý nhiều hơn.
    Trong mục kiếm thuật, người đỗ đầu khoa thi hội khóa năm nay là Úc Tri Thu cũng báo danh.

    Tuổi gã chừng hai mươi hai, vóc người cường tráng, lông mày, lông mi rậm rạp, khuôn mặt trắng nõn lộ ra khí khái anh hùng tràn trề, đúng là thiếu niên tài giỏi đẹp trai.

    Kiếm pháp của gã thạo về ngoại gia, đại khai đại hợp, khí thế hào hùng như rồng bay hổ chồm, lộ vẻ xuất sắc.

    Trong đại tướng bộ Binh có người khá giỏi về công phu ngoại gia, lúc này mặt có vẻ khen ngợi, nếu không có hoàng đế ở đây thì sợ là đã trầm trồ khen hay rồi.
    Cuối cùng là đọ tài cung trên ngựa, người ứng cử rất nhiều, hoàng đế lệnh cách năm mươi bước, tám mươi bước, một trăm bước thì dựng bia, từ năm mươi bước trở đi mà trúng ba tên thì có thể bắn tiếp theo thứ tự, sai nội thần ghi lại thành tích của mọi người.

    Tới khoảng cách một trăm hai mươi bước vẫn có năm người không chệch một tên.

    Hoàng đế rất mừng, lệnh năm người đến gần báo tên.

    Lục Quá cũng ở trong năm người đó, lúc ngẩng đầu đáp lời thấy một hoạn quan trẻ tuổi đẹp đẽ vô cùng bên cạnh hoàng đế đang mỉm cười với mình, nhận ra là Khu Ác tới chùa Đông Hoằng Nguyện dò hỏi thì không khỏi lấy làm kinh hãi.
    Hoàng đế nói: “Thì ra Úc Tri Thu cũng giỏi cưỡi ngựa bắn cung.”
    “Vâng.” Úc Tri Thu cũng báo tên thi bắn cung trên ngựa, quả thực làm người ta không thể khinh thường.
    Hoàng đế đã có ý chức trạng nguyên thuộc về Úc Tri Thu, gật đầu nói: “Khanh am hiểu binh pháp, bất kể trên ngựa hay trên bộ đều có thể nói là thành thạo võ nghệ, quả là nhân tài tương lai của triều đình.

    Các khanh…” Hoàng đế nói với bốn người khác, “có muốn mài giũa với hắn nữa không?”

    Lục Quá nghe ra ý của hoàng đế, vốn muốn xin kiếu, đã thấy hoạn quan trẻ kia chậm rãi gật đầu với mình, trong đôi mắt lạnh như băng trở nên ấm áp vô ngần vì tràn đầy ý cổ vũ.

    Lục Quá khom người nói: “Bẩm hoàng thượng, võ cử nhân Lục Quá của núi Đô Quốc xin phân cao thấp với người đứng đầu thi hội.”
    Ba người kia cũng không muốn dễ dàng nhường vị trí trạng nguyên ngay lúc đó nên cũng đều phụ họa.
    Hoàng đế cười nói: “Tốt, không sợ kẻ địch mạnh là bản sắc của đại tướng.

    Lục Quá là người thứ hai trong thi hội, chắc cũng ngang ngửa Úc Tri Thu, giờ sẽ cho các khanh phân cao thấp.”
    Năm người lại phóng người lên ngựa lần nữa, đích đã chuyển tới một trăm năm mươi bước, loại mất ba người, chỉ còn Úc Tri Thu và Lục Quá.

    Lúc thi một trăm tám mươi bước, đám bề tôi ban võ đã đổi sắc.

    Cung được dùng lúc này đã là loại mà người tầm thường không thể kéo nổi, nhưng vẫn không thể bắn tới một trăm bước được.

    Khương Phóng bèn sai người lấy hai cây cung lớn mà mình dùng từ phòng thị vệ ra, tự mình đưa tới trước mặt hai người.

    Hai cây cung đều được chế tạo từ loại gỗ rắn chắc thô ráp, tô điểm bằng sừng tê, ngang ngửa chiều cao của mấy người ấy, dây to cỡ ngón út, thấp thoáng ánh vàng.

    Lục Quá tiện tay kéo một phát, mắt chợt lộ ra vẻ vô cùng kinh ngạc, nói với Khương Phóng: “Cung này là vật thần mà kẻ tục không thể dùng được.

    Tiểu nhân đi quá giới hạn, không dám nhận.”
    Úc Tri Thu cũng bảo: “Người có thể kéo được cây cung này tất là thượng tướng vô địch thiên hạ.

    Tiểu nhân sao dám sánh cùng?”
    Khương Phóng cười nói: “Phàm là binh khí thì đều là thứ giết người, là vật cực âm.

    Người dùng ít, tội lỗi mãi không tiêu tan, chủ nhân sẽ bị hại.

    Các anh cứ coi như đang giúp tôi, để chúng thả lỏng.”
    Hai người cảm phục hắn rộng rãi sảng khoái, sinh lòng hào hùng, nhìn nhau cười, cầm cung chiến tiếp.

    Ngoại trừ Khương Phóng ra, chỉ có Tịch Tà kéo hết được hai cây cung ấy, Lục Quá và Úc Tri Thu ở trên ngựa chỉ có thể kéo ra tám phần nhưng cũng đủ để bắn hơn hai trăm bước.

    Lục Quá cái tên lông trắng, Úc Tri Thu kéo tên lông đen, ngựa chiến chạy như bay, dây kêu như tiếng kim loại, sáu mũi tên b*n r* liên tiếp.

    Xa xa truyền đến tiếng nội thần kêu: “Sáu mũi tên đều trúng đích.”
    Trăm quan quên hết tất cả, ầm ầm khen hay.
    Úc Tri Thu vòng ngựa lại cười nói với Lục Quá: “Như thế thì không thể đọ tiếp nữa, dù chúng ta có thể bắn hai trăm bước nhưng nơi này không có chỗ lớn như vậy.” Đảo khóe mắt nhìn về phía chân trời xanh lam, một con én bay qua trên cao, “Chúng ta bắn con chim này để phân cao thấp đi.”
    “Không được!” Lục Quá kinh hãi, muốn ra tay ngăn cản thì đã muộn.

    Tiếng kêu đau buồn im bặt trên không trung, én quay cuồng mấy cái rồi rơi bộp xuống trước vua.
    Quần thần sợ đến tái mặt, Khương Phóng vội vàng chạy tới dùng áo bào phủ lên con én.
    Vẻ mặt hoàng đế không thay đổi, cười nói: “Nơi đây không có chỗ cho các khanh đọ nữa, đến đây thì dừng thôi.”
    Cát Tường truyền chỉ lệnh võ cử nhân lại hành lễ tạ ơn trước vua.

    Hoàng đế nói: “Người học võ coi trọng sự sảng khoái, muốn đánh nhanh thắng nhanh, không cần giống như thi văn.

    Bây giờ sẽ phân chia thứ tự.” Đoạn sai Cát Tường đưa thành tích vừa ghi chép tới, hoàng đế đột nhiên cất cao giọng bảo: “Đưa cho Tịch Tà đi, hắn tinh thông binh pháp kiếm thuật, chớ ngại chọn ra ba hạng giáp đầu thay trẫm.”
    Trong ngoài cửa Càn Thanh im phăng phắc, qua một lát mới có tiếng quần thần nhỏ giọng xôn xao.

    Nhờ ơn Lý Sư, bây giờ cái tên Tịch Tà đã lưu truyền rộng rãi trong võ cử nhân, nét mặt các võ cử nhân cũng vẻ kinh ngạc.

    Lưu Viễn đã tức đến mức cả người run lên, lẩm bẩm nói: “Không ra thể thống gì! Không ra thể thống gì!” Lão hất cánh tay đang đỡ mình của học sinh Miêu Hạ Linh bên cạnh ra, bước nhanh lên phía trước, đang định lên tiếng thì chỉ thấy bóng người áo xanh đẹp đẽ kia đã quỳ gối trước vua, tiếng nói trong trẻo tỏ tường: “Nô tỳ xin tuân theo thánh chỉ.”
    “Thì ra là thế!” Lưu Viễn rùng mình một cái, lúc này Diêm vương nhỏ đến theo bóng đêm đang leo lên cung điện triều đình giữa ban ngày ban mặt.
    “Nô tỳ đi quá giới hạn, trộm nghĩ ba người đỗ đầu nên lấy lần lượt là Lục Quá, Du Vân Dao, Úc Tri Thu.” Tịch Tà cầm lấy sổ con trong tay Cát Tường, tiếp tục bẩm một cách trôi chảy, “Giáp thứ hai là Đường Đống, Hồ Động Nguyệt, Thang Gia Mạc…” Hắn dùng tiếng nói khoan thai điềm tĩnh báo tất cả tên từ trong những ghi chép hỗn loạn kia, “… Bốn mươi hai người đám Hạ Bội lần lượt là giáp thứ ba.

    Xin ý chỉ của hoàng đế bệ hạ.”
    Hoàng đế hỏi thượng thư bộ Binh: “Ông khanh, khanh xem để sót, có lặp lại không?”
    “Bẩm hoàng thượng, không bỏ sót, cũng không có lặp lại ạ.”
    “Ông khanh có ý kiến khác không?”
    Vẻ mặt Ông Trực khó xử: “Bẩm hoàng thượng, thần không có ý kiến khác.”
    “Thái phó thấy thế nào?” Hoàng đế nhìn chằm chằm Lưu Viễn và hỏi một câu.

    Lưu Viễn không thể chịu đựng được nụ cười lạnh lẽo mà Tịch Tà quăng tới, biết mội khi lời mình ra khỏi miệng thì vận mệnh triều đình sẽ rẽ sang một phương hướng khác không rõ.

    Lão khom cơ thể to béo, cúi đầu chậm rãi nói: “Thần cho rằng hợp tình hợp lý, không hề có thiên vị.”
    Tiếng nói trầm tĩnh của hoàng đế đâm ra từ trong tiếng xôn xao lớn hơn của quần thần, tàn nhẫn khoét một dao ở trong lòng Lưu Viễn: “Vậy thì chuẩn theo tấu xin của Tịch Tà.”
    “Hoàng huynh điên rồi!” Công chúa Cảnh Ưu thấp giọng tự nói sau bức rèm châu, xoay mặt nói với thái hậu, “Mẫu hậu, sao hoàng huynh lại chỉ định một tên thái giám nhỏ lơ mơ được? Rõ ràng võ nghệ của Úc Tri Thu lia tốt nhất nhưng lại chỉ được mỗi thám hoa…”
    Thái hậu nở nụ cười từ trong sắc mặt âm trầm: “Đứa trẻ như con thì biết gì? Úc Tri Thu không biết tự kiềm chế, nóng lòng tham công, bắn tên sát sinh, chẳng những kinh động thánh giá, còn là điềm rủi.

    Chọn gã làm thám hoa là vì hoàng đế yêu tài không so đo tiểu tiết, đã là từ bi rồi.

    Tịch Tà hiểu rõ ý thánh, bình luận công bằng hợp lý, chọn rất khá!”
    “Thì ra là thế.” Cùng lúc ánh mắt công chúa Cảnh Ưu quanh quẩn ở trên người Úc Tri Thu đang dập đầu tạ ơn trước vua thì Thành Thân vương cũng đang dùng ánh mắt hứng thú quan sát khuôn mặt thất vọng của gã, không có ai chú ý tới Hồng Tư Ngôn lặng lẽ cúi người ở trước thái hậu.
    “Tịch Tà này không giữ được rồi.” Thái hậu nói bằng giọng nhỏ như tơ nhện.
    Lúc Tịch Tà xuống khỏi cung Càn Thanh đã là giờ lên đèn, vì đèn đuốc sáng trưng sau lưng mà khuôn mặt trở nên lạnh lùng tối tăm.
    Khương Phóng chào đón: “Chủ nhân…”
    “Vừa rồi hoàng đế đã có ý chỉ, điều ta tới cung Càn Thanh chuyên việc công hàm tóm lược mật báo, gọi là giữ bút trong phòng sách, về phẩm cấp thì tạm thời chưa thăng.

    Việc của cục Châm Công và cục Nội Chức Nhiễm phải giao lại trong hai tháng.”
    “Tôi không hỏi gia việc này.” Khương Phóng vội la lên, “Tình cảnh hiện tại của gia giống như én trong sào lửa.

    Rốt cuộc hoàng đế đang tính toán điều gì?”

    Tịch Tà khoát tay: “Ý tưởng của hoàng đế không tệ, chỉ là làm thái quá rồi.

    Hắn dè ta giỏi quyền mưu, khó khống chế, nay để ta lộ trước mặt mọi người, muốn ta thành cái đích của trăm mũi tên, khiến từ rày ta chỉ có khuất phục cánh của hắn mới có thể nguyên vẹn.

    Kể từ đó, hắn có ta bày mưu tính kế, ta cần hắn để sống yên thân, có thứ kiềm chế thì hắn mới không bị tổn hại.

    Chỉ tiếc hắn đã quên…” Tịch Tà lạnh lùng nói, “Mặc dù hắn là vua của thiên hạ, song có một người vẫn ngự trị ở trên hắn.”
    “Thái hậu?”
    Tịch Tà cười nói: “Không sai! Người khác thì đều dễ, chỉ có thái hậu tàn nhẫn sâu xa.

    Còn chưa biết được hoàng đế có bản lĩnh bảo vệ ta ở trước mặt thái hậu không.”
    Khương Phóng cả giận nói: “Lúc này rồi mà chủ nhân còn cười!”
    Tịch Tà nói: “Ta cũng chưa từng nghĩ tới chuyện bình an nấp sau màn đã có thể hoàn thành việc lớn, sớm muộn cũng sẽ có ngày giao chiến chính diện.

    Bây giờ cầm kiếm lâm trận, đấu anh chết tôi sống với chúng là xong.”
    Khương Phóng nói: “Không sai, từ hôm nay khắp nơi đều là sa trường.

    Cùng lắm là lúc cá chết lưới rách, tôi vào chém chết yêu phụ đó là xong.”
    Tịch Tà lên tiếng cười: “Nếu thật sự có lúc ấy thì chuyện này phải để lại cho ta làm.”
    “Chủ nhân phải tự cẩn thận đấy.”
    Tịch Tà gật đầu: “Hôm nay quần thần đều có vẻ oán trách, đối phó với họ không gì ngoài đe dọa, dụ dỗ.

    Lưu Viễn đã bị chúng ta đe doạ từ lâu, những người khác còn cần đút lót.

    Anh lại bỏ ra một khoản tiền đi, sớm muộn gì cũng có ích.”
    “Vâng.”
    Tịch Tà mỉm cười nói: “Đại thống lĩnh, từ nay về sau tiểu nhân sẽ đi lại trong cung Càn Thanh, mong đại thống lĩnh bao dung nhiều hơn.”
    Trong dư vị nụ cười của Tịch Tà, Khương Phóng trông bóng dáng gầy gò của hắn đi ra cửa Nhật Tinh, biến mất ở trong bóng tối đường Đông Đại Thiên.
    Đoạn cuối đường Đông Đại Thiên hẹp dài đang có một đội thái giám nhỉ cầm đèn đuốc trong tay lần lượt thắp đèn hai bên lên, giống như linh hồn dạo chơi xuyên qua trong bóng đêm sâu hun hút.

    Tiếng chuông trên tường thành phương xa bay tới theo gió, hoàng cung xa hoa náo nhiệt ban ngày lại bị đêm dài thê thảm tịch mịch thay thế.

    Tịch Tà chậm rãi xuyên qua trong đèn đuốc, đám thái giám nhỏ hai bên dừng lại, hành lễ hết sức cung kính với hắn.

    Hoàng cung quả là nơi mà tin tức được truyền đi nhanh nhất, cho nên cũng là nơi mà cái chết tới sớm nhất.

    Viện Cư Dưỡng yên ổn trước kia mà hôm nay cũng trở thành nơi mai phục đầy ý định giết người.

    Trong chái nhà tây đã tắt đèn, bên trong có tiếng hít thở khe khẽ.

    Tịch Tà cẩn thận nắm lấy vòng cửa, chậm rãi đẩy cửa phòng ra, trăng ngày mười lăm đã mọc lên ở phía đông, ánh trăng tỏa trên hai gò má thanh tú của Minh Châu.
    “Sao không thắp đèn?” Tịch Tà lắc sáng cây đánh lửa, đốt đèn lồng, “Hẹn lại Lý Sư vào ngày nào?”
    “Tôi chưa đi.” Minh Châu nói, “Hôm nay hoàng thành đều giới nghiêm, không ai được đi ra ngoài.

    Tiểu Thuận Tử bảo người của cục Châm Công gọi đi trả lời, vẫn chưa về.”
    Tịch Tà gật đầu nói: “Cũng được.”
    “Lúc tôi về…” Minh Châu nâng hai mắt lên, “đã nghe thấy tin đó rồi.”
    “Cô cũng biết rồi à?” Tịch Tà ngồi đối diện Minh Châu, “Từ ngày mai, tôi sẽ ít ở lại cục Châm Công, mỗi ngày đều đến cung Càn Thanh làm nhiệm vụ.

    Bề ngoài không còn dây dưa rễ má gì với cô, sau này e là không cách nào chăm sóc cho cô nữa.”
    Minh Châu trầm mặc không nói, Tịch Tà chỉ đành nói tiếp: “Tôi nhỡ hẹn với Lý Sư, dù sao cũng phải nói rõ lại, đêm nay định đến nhà trọ một chuyến để hẹn lại với y.

    Nếu cô không muốn ở trong cung nữa thì cùng đi với tôi, để Thẩm Phi Phi đưa cô về thẳng bên cha cô ở Đại Lý.”
    “Tôi đi cùng lục gia.” Minh Châu đứng dậy.
    Việc Tịch Tà muốn Minh Châu đi khỏi đất thị phi này đã không phải là ngày một ngày hai rồi, nhưng lúc này nghe nàng muốn đi vẫn không cầm được xót xa, cười gượng nói: “Tốt lắm, cô mau chóng thu xếp hành trang, sẽ có người mướn thuyền cho cô, đi xuống dọc theo sông Hàn là đến Đại Lý.”
    Minh Châu lắc đầu bảo: “Không cần, tôi còn theo lục gia quay về.”
    Tịch Tà nói: “Minh Châu!”
    Minh Châu dịu dàng cười bảo: “Tình cảnh của lục gia nguy hiểm, tôi không muốn rời khỏi lục gia.”
    Tịch Tà nói: “Tôi không phải loại chúa công có tình có nghĩa trong lòng cô nghĩ, chỉ cần có thể khiến tôi thành công báo thù thì dù là Khương Phóng tôi cũng có thể bán rẻ bất cứ lúc nào, huống chi là cô? Sau này nếu có người bắt cô để uy h**p tôi, tôi cũng sẽ không hề e dè chút nào; nếu có người đâm một kiếm về phía tôi, tôi nhất định sẽ lấy cô chắn phía trước; tôi mang đầy thù hận, không thể chứa thêm vật khác, tự cô phải nghĩ cho rõ ràng đi.”
    “Tôi đã suy nghĩ một ngày rồi!“ Giọng Minh Châu vô cùng kiên định, “Những thứ này gia nói đều là chuyện đương nhiên, bất kể gia bảo tôi làm gì, bất kể gia muốn tôi đi đâu, tôi đều sẽ nghe lệnh lục gia, bảo vệ lục gia, hầu hạ lục gia đến cuối cùng.”
    “Cuối cùng?” Tịch Tà thì thào đọc chữ làm người ta sinh ra rất nhiều phiền muộn ấy, nhìn đôi mắt trong suốt của Minh Châu.

    Mãi mãi đừng có cuối cùng, Tịch Tà lặng lẽ thủ thỉ trong lòng.
    Nửa đêm, Tịch Tà đeo thanh kiếm gỉ của thái giám Thất Bảo, dắt Minh Châu đi ra, đến thẳng nhà trọ.

    Tiệm này là cứ điểm mà năm đó Nhan vương thiết lập ở thành tây nên Tịch Tà tìm được ngay gian phòng Lý Sư ở.

    Trong phòng còn thắp đèn, Tịch Tà đẩy cửa vào, bên trong chỉ có một ông già.
    “Chủ nhân!” Người này chính là lão Nghê, thấy mặt Tịch Tà đeo mặt nạ bằng đồng đen thì lập tức tiến lên dập đầu.
    “Người đâu?”
    Lão Nghê trả lời: “Hôm nay sáng sớm đã đến am Am Tịnh Thủy, đến giờ vẫn chưa về, tiểu nhân cứ tưởng…”
    “Sáng nay ta có việc, không đến nơi hẹn.”
    “Chẳng lẽ bọn họ vẫn chờ ở am Tịnh Thủy?” Lão Nghê cau mày nói.
    Minh Châu cười nói: “Tên nhóc kia đúng là người thành thực.”
    Tịch Tà hừ một tiếng, nói với lão Nghê: “Nếu sáng mai y vẫn chưa về thì ông hãy đến am Tịnh Thủy nhặt xác cho y.”
    Trong lòng lão Nghê và Minh Châu đều ớn lạnh một trận.

    Thấy Tịch Tà xoay người ra ngoài, Minh Châu bèn nối gót đi ra.
    Am Tịnh Thủy do năm đời Nhan vương bỏ vốn xây dựng tu sửa, là chỗ lễ Phật lúc sinh thời và chỗ đặt áo quan sau khi chết của vương phi nội quyến các đời.

    Vì Nhan vương bị diệt cả nhà nên am viện sáu sân thanh nhã, đẹp đẽ bị bỏ hoang nhiều năm.

    Dưới trăng sáng, cỏ thơm chập chờn, quạ ngủ im ắng.
    Tịch Tà ném mặt nạ đi, rút thanh kiếm gỉ ra, nhỏ giọng khấn: “Rốt cuộc thầy lệnh Lý Sư đến đây có thâm ý gì, chỉ mong nhanh chóng tỏ rõ.

    Bằng không với tình hình nguy hiểm hiện nay của học trò, chỉ có thể g**t ch*t, chấm dứt nỗi lo ngày sau.”
    Trước đại điện chính là địa điểm hai người hẹn nhau.

    Tịch Tà và Minh Châu bay theo ánh trăng vào từ trên tường, hét lớn trên không: “Lý Sư!”
    Lý Sư nhảy bật khỏi thềm đá trước điện: “Tới rồi sao?” Kiếm Tà Nguyệt leng keng thoát ra khỏi vỏ, y tung người vọt về hướng Tịch Tà.

    Phía sau bỗng nhiên truyền đến tiếng Thẩm Phi Phi kêu to: “Đợi đã!”
    Thế kiếm của Lý Sư hơi hạ xuống đất, bay vút về sau mấy trượng, vững vàng rơi xuống đất, kinh ngạc nói: “Tại sao lại là anh?”
    Tịch Tà thấy trường kiếm của y vọt tới, vốn đã dừng thân pháp để ứng biến, lúc bấy lại dốc sức lần nữa, thế đi còn nhanh hơn lúc trước.

    Gió táp tới trước người Lý Sư, thân hình Tịch Tà khoan thai đứng trên mặt đất, tay áo thêu đầy sen vàng còn đang tung bay phấp phới, tôn lên khuôn mặt trắng như tuyết, như thể phật ngọc tồn tại trên đời, đã không còn là thiếu niên gầy yếu lễ độ hôm ở Hồng Vận Lai có thể sánh bằng.
    Lý Sư bị khí thế của hắn làm khiếp sợ, trợn mắt cười nói: “Võ công của anh thật giỏi! Tôi ngủ đến mơ hồ, còn tưởng là Tịch Tà tới nữa chứ.”
    Mặc dù Thẩm Phi Phi đang hỏi Tịch Tà nhưng ánh mắt lại buộc ở trên người Minh Châu: “Tịch Tà đâu? Vì sao sai hẹn không đến, hại chúng tôi đợi cả ngày?”
    Tiếng cười của Tịch Tà còn lạnh hơn cả bóng đêm: “Người các anh chờ đã đến rồi, tôi chính là Tịch Tà.”
    “Hả?” Lý Sư kinh ngạc hơn Thẩm Phi Phi nhiều, gãi đầu hỏi, “Chờ đã, không phải anh tên là Khu Ác à? Tôi đã rối tung cả rồi đây.”
    “Không phải!” Tịch Tà nói, “Nếu không giả danh Khu Ác, chỉ e ngày đó ở Hồng Vận Lai anh đã không kiềm được mà đánh nhau với tôi rồi.”

    Ánh mắt phân vân của Lý Sư cũng nhìn về phía Minh Châu, Minh Châu gật đầu nói: “Không sai, gia nhà tôi chính là người anh muốn tìm, nếu không phải sáng nay có việc gấp thì đã tới điểm hẹn lâu rồi.”
    “Anh luôn miệng muốn khiêu chiến với tôi, bây giờ còn do dự cái gì?” Thanh kiếm lớn của Tịch Tà vừa rung lên, cả sân vang ong ong, “Vật trong tay anh chính là thanh kiếm của tướng quân triều tôi, tôi đối xử trọng hậu với anh như thế, anh chớ để tôi thất vọng.”
    “Anh thực sự là Tịch Tà?” Hai mắt Lý Sư dần trở nên hung hãn, “Tôi không muốn ngộ thương anh đâu.”
    “Ha ha!” Tịch Tà cất lên một trận cười to the thé, “Chút võ công này của anh vẫn còn non lắm.”
    “Anh xem cẩn thận đi!” Lý Sư giận hắn lừa gạt mình nhiều ngày, xoay tay lại đã vọt một kiếm từ đuôi đến đầu về phía ngực Tịch Tà, bổ ra một đường sáng chói sắc bén như trăng non trên không trung.
    Tịch Tà vẫn ung dung, cười nói: “Thế mới là kiếm Tà Nguyệt.” Gần như không nhìn thấy thân pháp của hắn thì hắn đã lui lại hai trượng rồi.
    Khí thế của Lý Sư tăng vọt, cả người lẫn kiếm đuổi nhanh tới.

    Tịch Tà khẽ giơ kiếm gỉ lên, đâm thẳng hướng mũi kiếm sấm vang chớp giật của Lý Sư.

    Hai kiếm chưa giao nhau, Lý Sư đã thấy một luồng khí lạnh thấu xương tràn vào từ kiếm Tà Nguyệt, phải vội rót nội lực vào cánh tay phải, hợp lực dùng hết thế kiếm.

    Mũi hai thanh kiếm đập vào nhau, kiếm Tà Nguyệt cong thành cầu vồng, Lý Sư mượn lực rút ra.
    “Thú vị đấy.” Tịch Tà cất kiếm rồi cười, “Nền móng công pháp nội lực của anh là cùng một lộ với đại sư ca, nhưng thu phát vận hành thì không biết là công pháp gì.

    Chẳng lẽ là công pháp khác mà thầy sáng lập à?”
    Tuy thái giám Thất Bảo xuất thân từ quan hoạn nhưng nội công đã tập từ nhỏ lại chí dương chí cương, không biết vì sao mà sau năm ba mươi tuổi mới chuyển sang tu “An Ngung lục thiên” chí âm.

    Trong hàng học trò ngoại trừ Tịch Tà ra thì Cát Tường, Như Ý đều học nội công từ nhỏ, Chiêu Phúc, Tiến Bảo, Khu Ác và Khang Kiện thì chưa từng được thái giám Thất Bảo tự mình dạy, chỉ đại sư Lập Trí – chủ trì chùa Tường Phúc trong cung lui tới dạy cho tâm pháp cửa Phật.
    Công lực của Cát Tường, Như Ý đã đạt hơn hai mươi năm, đã có thể giấu tài từ lâu, không giống Lý Sư cả người toả ra khí chí dương, hơn nữa công pháp nội lực thu phát của Lý Sư lại còn nhanh chóng hung mãnh hơn, đến nỗi hôm ở Hồng Vận Lai bị Tịch Tà phát hiện nội lực từ lâu, kịp thời thu tay lại.
    Lý Sư thất bại kiếm này, nổi giận đùng đùng, hét lớn: “Vậy thì đã sao?” Chiêu kiếm của y đột nhiên thay đổi, trong sự cương liệt cứng rắn lộ ra vẻ thoải mái như không, cong người khẽ tung lên, mũi kiếm ngầm vây quanh Tịch Tà.

    Đột nhiên một ánh hào quang rọi vào mắt, là sát chiêu đánh bất ngờ của y.
    Tịch Tà đeo kiếm gỉ ở sau lưng, khẽ lắc người tránh ra, vẫn nhàn nhã nói: “Bộ kiếm pháp này của anh là do nhị sư ca Như Ý sáng chế khi hai mươi tuổi, trình độ của anh còn kém xa lắm.”
    Lý Sư lại nói: “Tôi là tôi, anh ta là anh ta.” Chiêu kiếm càng lúc càng nhanh, bóng y dần biến thành một đám mây đen, sấm sét chói mắt không ngừng bổ ra, vội vã xẹt qua bên người Tịch Tà.
    Tịch Tà ở giữa núi kiếm của y, thân hình lập tức biến ảo.

    Minh Châu và Thẩm Phi Phi chỉ thấy hắn mỉm cười đứng đó, áo trắng dập dờn như sóng, sen vàng trên vạt áo chiếu rọi ánh trăng bóng kiếm, biến hóa ra một vầng hào quang lờ mờ.

    Tiếng nói trong trẻo của hắn lại như sen Phật nở ra từ trong nước, nói: “Đủ rồi.”
    Hình như Minh Châu thấy cánh tay phải của hắn khẽ động, kiếm khí khắp trời của Lý Sư bỗng tiêu tan.

    Lý Sư lảo đảo lùi hai bước về phía sau, nhìn thấy sống kiếm Tà Nguyệt bị thanh kiếm gỉ của Tịch Tà đâm ra một vết lõm, lần đầu tiên trên mặt y xuất hiện vẻ hãi hùng.
    Thẩm Phi Phi vốn đã líu lưỡi với kiếm pháp của Lý Sư, song thấy Tịch Tà chỉ dùng một đã đánh cho khí thế của Lý Sư nát bấy, thậm chí mình còn không nhìn rõ Tịch Tà ra tay thế nào.

    Ấy mới biết công lực của Tịch Tà đã cao đến mức mình không thể tưởng tượng nổi, y bèn lớn tiếng gọi Lý Sư: “Này, nhận thua đi, anh kém xa lắm.”
    Lý Sư cả giận nói: “Anh bớt lải nhải đi, tôi vẫn chưa chắc đã thua đâu.”
    Tịch Tà thấy Lý Sư chẳng những có thể chống được một chiêu đánh trực diện của mình, còn dùng nội lực mạnh mẽ làm chấn động ngược lại mình, hơi thở ở ngực hơi ứ trệ, trong mắt cũng có vẻ kinh ngạc.

    Hắn vứt thanh kiếm gỉ trong tay cho Minh Châu: “Nội lực của người này cương cường, chỉ e y làm hỏng kiếm mà thầy dùng, cô cất kỹ cho ta.”
    Minh Châu lo lắng trong lòng nhưng lại cười đồng ý: “Vâng.”
    Lý Sư vô cùng tức giận, trợn to đôi mắt sáng: “Anh, không phải anh đang bắt nạt người khác sao?”
    Vẻ mặt tức giận ấy vẫn giống thiếu niên, ánh mắt sáng đơn thuần đến lạ thường, sao lại thấy giống như đã từng quen biết thế này? Ngực Tịch Tà đột nhiên đau nhói, môi trắng bệch, lùi về phía sau một bước.
    “Lục gia!” Minh Châu phát hiện vẻ mặt Tịch Tà khác thường, chạy về phía trước một bước.
    Tịch Tà khoát tay với nàng, hỏi Lý Sư: “Võ công của anh không bằng tôi, còn dám so à?”
    “So chứ!” Lý Sư nở nụ cười, “Dù hôm nay thua thì một ngày nào đó tôi sẽ mạnh hơn anh.”
    Nụ cười của y làm Tịch Tà cảm thấy trời đất quay cuồng, cảnh vật lạnh lẽo thê lương xung quanh đang bị thời gian đảo ngược cuốn vào viện Cư Dưỡng tươi đẹp dưới ánh mặt trời nhiều năm về trước.

    “Một ngày nào đó anh sẽ mạnh hơn em, nếu không làm sao anh có thể che chở cho em chứ?” Âm thanh xa xôi ấy oanh tạc trong đầu, Tịch Tà không hề nghe thấy Lý Sư hét lớn một tiếng ở phía sau: “Chúng ta vẫn chưa xong đâu, xem chiêu!”
    “Lục gia!” Tiếng thét chói tai của Minh Châu làm Tịch Tà thấy rõ mũi nhọn trước mắt.
    “Keng!” Hai ngón tay của Tịch Tà hợp với kiếm Tà Nguyệt, chậm rãi dịch mũi kiếm ra khỏi yết hầu mình, máu cả người tuôn ra làm nội lực của hắn lao nhanh, gấp gáp thúc giục về hướng Lý Sư.

    Phủ tạng của Lý Sư như bị băng đâm loạn, máu tròng tim cuồn cuộn, khó chịu không nói nên lời, dần dần suy sụp.

    Tịch Tà không hề có ý dừng tay, trong mắt đầy vẻ bi thương vô hạn, hận thù mọc lan tràn.
    Mặc dù Minh Châu biết Tịch Tà đã có ý muốn giết Lý Sư từ lâu, cũng hiểu tình cảnh lúc này không bình thường.

    Thẩm Phi Phi rút con dao găm bên hông ra, lớn tiếng nói: “Dừng tay! Đã phân thắng bại, không cần giết người!”
    Minh Châu cản Thẩm Phi Phi lại phía sau, tiến lên dịu dàng nói: “Lục gia, ngài thế nào?”
    Vẻ mặt Tịch Tà dần dần thu lại thành vẻ hờ hững, thả lỏng ngón tay ra, chậm rãi thẳng người lên: “Không sao.”
    Lý Sư không ngừng th* d*c, xoa ngực một lát mới gắng gượng đứng lên, nhìn Tịch Tà từ trên xuống dưới rồi giơ ngón tay cái, mặt nở cười nụ cười từ tận đáy lòng mà rằng: “Anh thật là mạnh!”
    Tịch Tà chắp tay sau lưng, mỉm cười bảo: “Anh cũng không tệ.

    Thầy chỉ truyền võ công cho anh trong một năm đá có chút thành tựu, mấy năm nữa tất sẽ là cao thủ hàng đầu.”
    Hắn xoay người bảo Minh Châu, “Đã phân thắng bại, chúng ta trở về thôi.”
    “Chờ đã!” Lý Sư cho kiếm vào bao, thở phì phò chạy lên nói, “Thầy có mấy lời muốn tôi truyền cho anh.”
    “Tôi không muốn nghe.” Tịch Tà thản nhiên nói.
    “Thế thì không được.” Lý Sư chặn trước mặt Tịch Tà, “Có liên quan tới tôi.”
    Tịch Tà nói với Minh Châu: “Đi thôi.”
    Minh Châu hơi do dự một lát rồi cầm lấy kiếm gỉ theo Tịch Tà nhảy ra khỏi am Tịnh Thủy.

    Phía sau truyền đến tiếng Lý Sư bền bỉ không thôi: “Thầy nói nếu tôi thua thì sau này hãy coi anh là anh em ruột, chăm sóc anh, bảo vệ anh, nghe lệnh của anh.

    Tôi đã bằng lòng rồi.

    Này…”
    Lúc Tịch Tà đẩy cửa sân, ánh mai đã bay lả tả trên lá mới xanh um tươi tốt của đám cây già trong viện Cư Dưỡng.

    “Cố nhân cũng như liễu tháng ba, sao chẳng dạy người biết tương tư”, Tịch Tà ngắt một phiến lá xanh mới, khuôn mặt tươi cười bừng bừng sức sống của Khu Ác trong ký ức vẫn như tươi sáng rõ ràng như đầu xuân.
    “Em đúng là biết bắt nạt người khác!” Khu Ác dùng sức trợn to hai mắt ở dưới ánh dương tươi đẹp nhường ấy.
    “Khinh công anh không bằng em thì đừng tranh với em.” Cổ tay Tịch Tà khẽ lật, làm sợi tơ quấn lên ngón tay, sự ngang ngược chuyên quyền của tiểu vương gia vẫn chưa biến mất hoàn toàn khỏi người cậu.

    Đây là mùa xuân năm Tịch Tà mười bốn tuổi, một con diều không rõ nguồn gốc đã chiếm sự vui vẻ ngắn ngủi của hắn và Khu Ác, làm họ hoàn toàn quên mất cái cây già đang trèo lúc này đã không thể chịu được thể lực dồi dào của họ nữa.
    “Cẩn thận!” Khu Ác hét lên, cành khô dưới chân Tịch Tà đang đập về đầu y.
    Người Tịch Tà bay lên, ngã xuống từ chỗ cao hơn hai trượng.

    Một cánh tay cường tráng non nớt vững vàng tóm được cổ tay cậu: “Anh đã bảo em cẩn thận rồi mà! Nhường em cướp đấy!” Mắt Khu Ác nhìn xuống gương mặt trắng bệch của Tịch Tà, cất tiếng cười to.
    “Này!” Điều làm Tịch Tà lo hơn là cành cây dưới chân Khu Ác truyền tới tiếng r*n r*.
    Nụ cười vẫn đọng trên mặt Khu Ác: “Ôi, không hay rồi!”
    Khi họ ngã xuống đất mà mặt ngửa lên trời, con diều nhuộm đỏ mạ vàng đang bị ngọn cây tươi tốt lắc vào bầu trời xanh thẳm lần nữa.
    “Ha ha.” Khu Ác cười đến mức thở không ra hơi.
    “Các con đang làm gì đấy?” Dưới hiên truyền đến tiếng quát giận dữ của thái giám Thất Bảo, “Lăn dậy mau.”
    Tịch Tà nhớ ánh mặt trời tươi đẹp vui mắt này đã xẹt qua trong sinh mệnh của hắn, ngày tháng sau đó u ám như trong nhà chính của viện Cư Dưỡng, tịch mịch mà trấn tĩnh, mặt mày mãi mãi không lộ cảm xúc.
    Tịch Tà chậm rãi dâng kiếm gỉ về chính giữa chiếc bàn, vẫn dùng gấm trắng cẩn thận bọc lại, nhẹ giọng khấn như trước đây: “Thầy cô quạnh ở bên ngoài, đi đường cẩn thận.

    Ơn thầy với học trò nặng như núi, nhất định phải khỏe mạnh, nhìn thấy ngày trò thành công.” Hắn yên lặng chắp hai tay một lát, cuối cùng khó nhọc thở hổn hển, run rẩy vịn lấy bàn.
    “Lục gia.” Minh Châu nhỏ giọng gọi.
    “Tôi không rõ.” Tịch Tà lại v**t v* thanh kiếm gỉ lần nữa, “Minh Châu ơi, vì sao khắp nơi trong cõi đời này đều là ràng buộc của tôi? Thầy mất Khu Ác chưa đủ, còn phải đưa Lý Sư tới cho tôi sai bảo? Nếu thầy toàn dạy tôi thủ đoạn chém đinh chặt sắt, vô tình vô nghĩa thì hà cớ gì còn muốn để những người này cứ mãi ràng buộc tôi? Tôi thực sự không rõ.”
    “Ràng buộc?” Minh Châu khẽ nhếch đôi môi xinh đẹp, lắng nghe thanh kiếm gỉ dần dần cuồn cuộn ra tiếng thét vang theo tâm huyết của Tịch Tà, dường như có tiếng cười của thái giám Thất Bảo khắc sâu trong đó..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 12: 12: Khang Kiện


    Đối với nội thần thường theo hầu hạ bên cạnh chủ nhân thì buổi sáng ngày xuân không làm nhiệm vụ mà được nhàn nhã đi lại trong cung thực sự là sự hưởng thụ xa xỉ.

    Khang Kiện đi ra từ cung Từ Ninh, đến cuối đường tây bên ngoài thì quẹo hướng viện Cư Dưỡng phía đông.

    Trong viện yên tĩnh không có tiếng người, cây đại thụ bên tay trái lại che đi mặt trời ấm áp, không biết đã làm cậu ta nhớ tới cái gì mà đờ ra mất một lúc.
    “Là thất gia à?” Một bóng dáng yểu điệu bước ra từ hành lang, lấy tay áo che mắt dịu dàng cười nói.
    Khang Kiện kinh ngạc giật mình: “Cô nương Minh Châu? Đã lâu không gặp.”
    “Đúng vậy.” Minh Châu đi tới nói, “Năm kia sau khi từ Hàn châu trở về chỉ gặp thất gia có hai lần.

    Thất gia đến đây là…”
    “À!” Khang Kiện cười bảo, “Nghe nói gần đây sư ca thăng chức đến cung Càn Thanh, hôm nay tôi được rảnh rang, muốn tới đây chúc mừng anh ấy.”
    “Thất gia tới không khéo.

    Mấy ngày này từ tinh mơ lục gia đã đến cung Càn Thanh rồi, cũng không biết chừng nào mới về.”
    Vẻ cười trong mắt Khang Kiện càng tươi hơn: “Cô nương vẫn đến đây mỗi ngày à? Sư ca còn được cô nương nhọc lòng.”
    Mặt Minh Châu hơi đỏ lên: “Thất gia đang nói gì vậy? Cẩn thận sư ca ngài biết sẽ giận đấy.”
    Tiểu Thuận Tử từ ngoài chạy vào, kêu la om sòm không phải lúc: “Quả nhiên chị Minh Châu ở chỗ này.”
    Minh Châu trách móc rằng: “Gì mà quả nhiên ở chỗ này? Ở trước mặt sư thúc cậu mà không biết có chừng có mực.”
    Tiểu Thuận Tử vội vàng hành lễ với Khang Kiện, hổn hển nói: “Không nhắc đến việc này nữa.

    Giờ tú nữ nhân đã vào cung chờ tuyển chọn, thái hậu ra ý chỉ muốn chị làm giám khảo nữ công.

    Thầy nhận được tin từ phủ Nội vụ, bảo chị mau về chờ chỉ đấy.”
    Minh Châu vội cáo từ với Khang Kiện, Tiểu Thuận Tử cũng muốn về cung Càn Thanh nghe Tịch Tà sai bảo, trong chớp mắt viện Cư Dưỡng lại vắng vẻ không người, chỉ có tiếng “xào xạc” nhỏ của lá cây mặc cho gió ấm thổi bay.

    Khang Kiện đi vào nhà giữa, cảnh vật như trước, không dính một hạt bụi, dường như thái giám Thất Bảo sẽ đi ra từ trong phòng.

    Khang Kiện quỳ phịch xuống trước chỗ ngồi chính giữa của thái giám Thất Bảo, không nén nổi khóc không thành tiếng.
    Từ tháng Tám năm trước đến nay, sứ trưng lương được phái đến các nơi không phụ lệnh vua, tổng cộng số lương trưng được là sáu trăm ngàn lượng.

    Vì Cao Hậu bị hạch tội nên thuế ruộng Hồng châu chưa được trưng đủ như mong muốn nhưng Hồng vương vẫn sai người chuyển hai trăm ngàn lượng bạc trắng đưa tới kinh thành đúng hạn.

    Hoàng đế chẳng những hết lời khen ngợi Hồng vương mà còn muốn ban tên cho thanh kiếm ngự dụng là “kiếm Định Quốc” rồi sai người dâng đến đại doanh núi Đa, phong con trai Hồng Định Quốc làm đô úy Thượng khinh xa, khen là dẹp giặc có công.

    Lần này vua tôi bọn họ làm bộ làm tịch khiến trong ngoài triều đình ca múa mừng cảnh thái bình.

    Thượng thư bộ Hộ La Tấn và thượng thư hộ Binh Ông Trực nhân đó mà dâng tấu, tấu xin xuống chiếu gọi sứ trưng lương các nơi trở về.
    Hoàng đế vẫn muốn sứ trưng lương sám sát việc chính trị ở các nơi, đành hỏi ý của mấy người tâm phúc.
    Tịch Tà cười nói: “Hai người La Tấn và Ông Trực có em vợ trưng lương ở đất phiên, có vết xe đổ của Cao Hậu, sợ rằng người thân có sơ xuất nên muốn họ sớm ngày về kinh cũng là chuyện thường tình của con người.”
    Thành Thân vương ở bên nói: “Thì ra là thế.”
    Hoàng đế bảo: “Ý của trẫm là để họ ở lại thêm một thời gian nữa.

    Trước mắt phương Bắc căng thẳng, các nơi không có ai giám sát, chỉ sợ đất phiên sẽ trở thành tai họa trong lòng.”
    Tịch Tà nói: “Nô tỳ lại lo việc khác.”
    Hoàng đế và Thành Thân vương đều “à” một tiếng: “Nói.”
    “Chức quan của sứ trưng lương không cao, lại ở nơi hiểm của phiên vương, như người cõng đá trên lưng, có thể chống đỡ được nửa năm, quả thật đã không dễ dàng, cần phải triệu về động viên và cho đoàn tụ với người nhà.

    Bên phía phiên vương bị người khác nhìn chòng chọc nửa năm ròng, đã muốn phát tác từ lâu, triều đình lại muốn bức ép nữa thì e sẽ chọc giận họ.

    Thi hành biện pháp chính trị có chặt có lỏng, dây căng quá thì sẽ đứt ạ.”
    Hoàng đế còn đang trầm ngâm, chỉ nghe Tịch Tà cười nói: “Điều nô tỳ lo lắng nhất vẫn là mỗi phiên vương đều giỏi quyền mưu và giàu mạnh, các sứ trưng lương này ở lại lâu, một khi chạm đến chỗ hiểm của họ, gặp phải thủ đoạn thâm độc thì cũng đành.

    Nhưng người chứ không phải cây cỏ, có dục có vọng, nếu tâm chí không kiên, bị người ta mua chuộc thì há chẳng phải hoàng thượng lại bị hổ cắn ngược ư?”
    Thành Thân vương gật đầu: “Hoàng thượng thật lòng thật dạ trọng dụng họ, nếu có người không biết phân biệt mà cùng gài bẫy hoàng thượng với kẻ khác thì quả thật là đáng chết.”
    Lưu Viễn cả kinh rét buốt, ngẩng đầu thấy nụ cười sâu xa của Tịch Tà thì lưng chợt túa ra một tầng mồ hôi lạnh.
    “Thái phó!” Hoàng đế gọi hai tiếng không thấy lão trả lời, đành cất cao giọng.
    “Hoàng thượng thứ tội, lão thần không chú ý.”
    “Thái phó thấy thế nào?”
    Lưu Viễn nói: “Thần cho rằng nỗi lo của Tịch Tà rất có lý.

    Nên triệu sứ trưng lương về trước thôi.”
    Hoàng đế lập tức quyết định, phê chuẩn sổ gấp của La Tấn và Ông Trực, muốn triệu sứ trưng lương bốn cõi trở về.

    Sau đó lại bàn đến chuyện chính trị khác, Cát Tường không nhịn được, lại tới thúc giục: “Vạn tuế gia, hôm nay là ngày tú nữ vào cung chờ tuyển chọn, thái hậu đã sai người đến thúc giục quá nhiều rồi, muốn vạn tuế gia đến tự chọn.”
    Hoàng đế nói: “Khanh đi mời thái hậu chọn thay trẫm là được, thực sự không thể phân thân rời khỏi cung Càn Thanh được.”
    “Bổ sung hậu cung cũng là chuyện lớn của hoàng gia.” Thành Thân vương khuyên nhủ, “Hoàng thượng tận mắt nhìn há lại không tốt hơn sao?”
    Cát Tường thưa: “Thái hậu còn có ý chỉ, hỏi trong phủ Thành Thân vương có thiếu người không, có thể tới cùng hoàng thượng ạ.”
    Thành Thân vương cười nói: “Anh bẩm lại với thái hậu, giai lệ trong phủ con trai nhiều lắm, năm nay không thiếu người.”
    Cát Tường lĩnh mệnh đi ra, hơn một canh giờ sau mới về, mừng khấp khởi mà bẩm: “Chúc mừng vạn tuế gia, thái hậu đã chọn mấy mỹ nhân tuyệt sắc thực thụ thay vạn tuế gia rồi ạ.”
    Hoàng đế cười to: “Mỹ nhân tuyệt sắc?” Lúc đó sắc đẹp của Nghị phi dẫn đầu hoàng phi trong cung, đã là giai lệ khó gặp lắm rồi, bởi vậy mới hỏi, “So với Nghị phi thì thế nào?”
    Cát Tường rất khó xử, suy nghĩ một lát thì thưa: “Nô tỳ chưa so sánh ạ.” Ngụ ý là chỉ e còn đẹp hơn.
    Hoàng đế nói: “Tất nhiên xinh đẹp là chuyện tốt nhưng không biết nhân phẩm tính cách thế nào.

    Nếu ỷ vào việc có sắc đẹp mà muốn cậy sủng ngang ngược, uổng cho thân xác thì há chẳng phải chuyện đáng tiếc?”
    Thành Thân vương ở bên vội ho một tiếng, hoàng đế mới thấy mình lỡ lời.

    Mẫu hậu mình chính là người có dung nhan tuyệt sắc, được yêu chiều mấy chục năm không suy giảm.

    Bèn nói ngay: “Hôm nay thái hậu phong những ai?”
    Cát Tường đáp: “Phong hai người là Hoà thục nghi và Hài thục nghi.”
    Hoàng đế nói: “Khi nào rỗi, trẫm sẽ đi xem.

    Hôm nay không còn sớm nữa, các người đều nghỉ ngơi đi thôi.”
    Lúc Tịch Tà và Tiểu Thuận Tử trở lại viện Cư Dưỡng, trùng hợp Minh Châu cũng mới vừa về.

    Tịch Tà cả ngày chưa cơm nước gì, khô miệng khô lưỡi.

    Minh Châu bèn đun trà tới, nói: “Hôm nay tuyển tú, tôi ở bên nhìn.

    Đất trung nguyên lớn, chẳng những là đầm rồng hang hổ mà ngay cả gái đẹp cũng muôn màu muôn vẻ.”
    Tiểu Thuận Tử nói ngọt: “Chị cứ đùa, nào có thể so với Đại Lý người giỏi đất thiêng, có thể tạo ra nhân vật như chị?”
    Tịch Tà uống nửa chén trà nhỏ, mới cười thì đột nhiên phất tay hất chén trà trong tay Tiểu Thuận Tử xuống đất.
    Tiểu Thuận Tử cả kinh giật mình: “Th, thầy, con nói sai rồi ạ?”
    “Trong trà có độc.” Tịch Tà há miệng nôn nước trà vừa uống ra, trấn tĩnh nói, “Tìm chút nước tới cho ta uống.”
    Tiểu Thuận Tử đã sợ đến đờ người, tay chân run rẩy.

    Dù gấp nhưng đầu óc Minh Châu nhanh nhạy, nàng nói: “Không được, chỉ e là đầu độc ở trong ang nước.” Tự mình xoay người chạy vội tới bên tủ đựng thức ăn, lấy ra hau lọ sữa dê mà sáng nay đưa tới từ bên trong, đút cho Tịch Tà.

    Tịch Tà chịu đói cả một ngày, trong bụng rỗng tuếch, chỉ gượng nôn ra sữa dê vừa uống rồi lại uống hơn nửa lọ để làm loãng độc tính.

    Song hắn vẫn cảm thấy độc dần tỏa ra hướng kinh lạc, không dám thờ ơ, lúc này bèn tựa vào tường ngồi xếp bằng, tập trung tinh thần, thầm vận nội lực vòng quanh để chống chọi.

    Chẳng bao lâu sắc mặt đã dần trở nên óng ánh trong suốt, khí trắng lay động tản ra quanh người, giọt nước ngưng tụ dày đặc trên tóc và quần áo chính là dấu hiệu của việc nội lực bị thúc giục hết mức.

    Minh Châu thấy hai tay hắn chuyển từ trắng thành đen, tầng khí đen kia lại từ từ biến mất, biết hắn đã ép độc tràn ra đầu ngón tay thì thấy an lòng hơn.

    Nàng vừa mới thở phào nhẹ nhõm, môi Tịch Tà lại đen lại, chợt sặc ra một ngụm máu tươi.

    Minh Châu biến sắc, vội tới đỡ lấy cơ thể Tịch Tà.
    “Thầy ơi!” Tiểu Thuận Tử gấp đến độ nước mắt ròng ròng.
    Hốc mắt Tịch Tà lõm sâu xuống, tựa ở trên bàn ho mạnh một hồi mới khó nhọc nói: “Mời thầy Trần lặng lẽ qua đây.

    Nhớ không được để lộ ra.”
    Tiểu Thuận Tử gật đầu, chạy như điên ra ngoài.
    Tịch Tà nói với Minh Châu: “Độc tính trong gian phòng này quá lớn, không thể ở nữa.” Rồi được Minh Châu chậm rãi dìu tới chái đông, ngồi ở trên giường, ho không ngừng, mồ hôi lạnh túa ra.
    Cũng may chẳng bao lâu sau Trần Tương đã xoa mồ hôi, chạy vội tới theo Tiểu Thuận Tử, lập tức được mời vào bên trong phòng khám bệnh.
    Tịch Tà phất tay cho Minh Châu và Tiểu Thuận Tử lui ra.

    Minh Châu không yên lòng, lặng lẽ ở ngoài cửa sổ lắng nghe.

    Trong phòng chỉ truyền tới tiếng ho từng cơn của Tịch Tà, một lát mới nghe được Trần Tương thở dài: “Độc đã tản ra rồi nhưng nội thương này bị phát tác lần hai, đã không thể khỏi được nữa.”
    Tịch Tà nói: “Là tôi không biết nặng nhẹ, vận công gấp gáp.

    Thầy xem rốt cuộc thương thế thế nào?”
    Trần Tương cười nói: “Không có gì, với nội lực tu hành của ngài bù vào thì nhiều lắm là ho hen một chút vào mùa đông.

    Chỉ tiếc ngài còn trẻ mà từ nay đã phải gánh căn bệnh này, không thể không nói là một chuyện đáng tiếc.” Sau đó im ắng một lúc, chắc là Trần Tương đang kê toa thuốc, “Ngài cũng đã là người lớn rồi, nhớ bớt đánh nhau với người khác đi.” Tịch Tà bật cười trong cơn ho.

    Trần Tương đột nhiên nói: “Cô nương Minh Châu vào đi, cô đợi như vậy không dễ chịu đâu!”
    Mặt Minh Châu nóng lên, đi vào nhà: “Để thầy chê cười rồi.” Trong lòng thì cảm phục ông già khô gầy này luôn có tác phong trấn tĩnh, tình hình như vậy mà bị ông ta nói dăm ba câu nhẹ nhàng hóa giải.
    Trần Tương lấy lọ thuốc ra đặt lên đầy bàn, chỉ ra cho Minh Châu phân biệt được đâu là viên thuốc trị ho, đâu là giải độc, còn đặc biệt đưa một lọ sừng trâu cho Tịch Tà và nói: “Viên thuốc này cực kỳ có ích cho việc tăng âm, là thuốc thiêng để trị nội thương của ngài.

    Tôi luyện mất sáu năm mới được mười hai viên, vốn định cho thầy ngài kéo dài tuổi thọ.” Ông ta “khụ” một tiếng, cười nói, “Nửa tháng một viên, nhớ dùng nội lực tiêu hóa.”
    Tịch Tà nhìn theo Trần Tương ra ngoài mới uống thuốc rồi vận công chữa thương.

    Minh Châu không dám đi xa bèn cùng Tiểu Thuận Tử ngồi ở gian ngoài chờ.

    Cho đến nửa đêm, Tịch Tà mở mắt ra, có vẻ tinh thần đã tốt hơn bảy phần, không còn ho nữa, đột nhiên hỏi: “Hôm nay có ai tới à?”
    Minh Châu và Tiểu Thuận Tử nhìn nhau, vẻ mặt thay đổi: “Sáng hôm nay Khang Kiện đã tới.

    Tôi bị thái hậu truyền đi, khi đó trừ Khang Kiện ra thì viện Cư Dưỡng không còn ai nữa.”
    Tịch Tà trầm mặc một lát, dâng lên vẻ mệt mỏi, nói: “Đêm đã khuya, ngày mai lại nói đi.”
    Ngày hôm sau, vẻ mặt và tinh thần Tịch Tà đã trông khá hơn.

    Nếu hắn không muốn lộ ra thì tất nhiên hoàng đế và Thành Thân vương không hề cảm giác được chút khác thường nào.

    Chỉ có hai người Cát Tường, Như Ý tinh mắt, thấy phong thái hắn tản mạn, giọng nói thậm thụt, kéo lấy hắn định hỏi thì đã có thượng thư sáu bộ bọn La Tấn, Ông Trực phụng chỉ xin gặp, bèn cho Tịch Tà chạy mất.

    Từ lâu đã có nội thần cung Càn Thanh đồn ra bên ngoài là Tịch Tà nói tốt cho sứ trưng lương ở trước mặt vua nên mấy ngày nay đám người La Tấn, Ông Trực đều âm thầm nhận được không ít lợi ích từ Tịch Tà, trong lúc vui mừng cũng tươi cười đối với Tịch Tà.

    Hoàng đế và Thành Thân vương đã vào thư phòng từ sớm, lúc này ở bên trong gọi người.

    Mọi người bàn bạc xem nên bắt đầu vận chuyển quân lương đến Lương châu thế nào.

    Hoàng đế nói: “Đương nhiên không thể dốc hết tám trăm ngàn lượng quân lương tới Lương châu trong một lần được.

    Lấy hai trăm ngàn lượng làm giới hạn, bắt đầu vận chuyển từng nhóm một.”
    Việc này bèn giao cho bộ Binh dẫn đầu lo liệu.

    Lại nói đến việc triệu sứ trưng lương về, hoàng đế bảo: “Các sứ trưng lương này ở ngoài nửa năm, ngược xuôi khổ cực vì triều đình.

    Lần này quân lương đã được sắp xếp xong, bọn họ không phụ mong mỏi của trẫm, có thể nói tấm gương của bề tôi, trẫm chuẩn bị triệu họ về, đều được lên chức phong thưởng.”
    La Tấn và Ông Trực mừng lắm, đang định tạ ơn thay sứ trưng lương thì thình lình nghe có người nói: “Thần có ý kiến khác.” Ấy chính là Ngô Tái Dư – đô ngự sử viện Đô Sát – ra khỏi hàng mà tâu, “Thần cho rằng triều đình dùng binh ở bắc không phải chuyện trong một hai năm, việc trưng thu thuế ở đất phiên không thể gián đoạn, các sứ trưng lương này ở đất phiên lâu ngày nên biết rất tường về chuyện chính trị của địa phương, vẫn nên ở lại nơi đó để phòng lúc triều đình cần quân lương.”
    Đây vốn là ý của hoàng đế, nếu không lo sứ trưng lương phản bội để phiên vương lợi dụng thì chắc chắn sẽ kiên trì để họ ở lại đất phiên.

    Vì vậy hắn ta nói với Ngô Tái Dư nói: “Trẫm cũng nghĩ tới lo lắng của Ngô khanh.

    Nhưng sứ trưng lương là người trong biên chế của bộ Hộ, gia quyến cũng ở kinh thành, bọn họ vì triều đình mà đi sứ phương xa nhiều tháng đúng là gian nan.

    Nay quân lương tạm không cần lo, ép họ ở lại canh giữ đất phiên thì không phải hành động của vị vua nhân ái.”
    La Tấn thở dài nói: “Hoàng thượng nhân từ thánh minh!”
    Ngô Tái Dư nói: “Xin hoàng thượng nghĩ lại, một ý nghĩ nhân ái lúc này thì tương lai thêm phần trắc trở.”
    “Ngô khanh, hôm qua trẫm và đám người Thành Thân vương, thái phó, Tịch Tà đã bàn cẩn thận việc này, lúc đó đã quyết định rồi.”
    Hoàng đế không nhắc tới Tịch Tà thì thôi, với vị trí đứng đầu viện Đô Sát, Ngô Tái Dư đã muốn ra sức gián vua ngăn chặn nội thần tham gia việc chính trị từ lâu, lúc này bèn nắm lấy cơ hội mà rằng: “Hoàng thượng, họa yêm hoạn bắt đầu từ việc tham dự vào chính trị.

    Hoàng thượng dung túng trong chốc lát, nuông chiều sinh hư, quang vinh làm dấy lửa, tất có sĩ phu tranh ton hót trước, tạo thành phe cánh.

    Lâu ngày sinh bè đảng, là nguồn cơn của sự l**n tr*ng n**c.

    Hoàng thượng càng không thể nhẹ dạ cả tin lời xúi giục của một hai nội thần mà đưa ra quốc sách sai lầm.”
    Hoàng đế biết sớm muộn gì người này cũng sẽ làm khó Tịch Tà, thấy ông ta dần nói đến chỗ hiểm, vẫn trấn tĩnh hỏi: “Cái gì mà xúi giục? Trong mắt khanh, hoàng đế là một người bị kẻ khác thao túng sao? Trong mắt khanh, các thần đều là phường nịnh hót à?”
    Ngô Tái Dư đáp: “Thần không dám.

    Mọi lo lắng canh cánh của thần đều vì hôm thi hội võ, hoàng thượng lệnh hoạn quan tự tiện chọn tiến sĩ mà ra.

    Lúc đó hoàng thượng thiếu cân nhắc, chỉ e sẽ trở thành trò cười của đời sau?”
    “À?” Hoàng đế nén giận nói, “Trò cười? Vậy thứ tự tiến sĩ khoa võ năm nay vốn nên thế nào? Khanh nói nghe thử xem.”
    Ngô Tái Dư bỗng nghẹn lời, ông ta chỉ cảm thấy lòng mình đầy căm phẫn, hoàn toàn chưa từng nghĩ tới còn có thứ tự tiến sĩ khoa võ năm nay nào tốt hơn.
    Hoàng đế lại hỏi: “Khanh có nghe được lời bất mãn gì trong tiễn sĩ võ không?”
    Tịch Tà dựa theo ý muốn một sự nhịn chín sự lành nên cười nói với hoàng đế: “Nô tỳ còn trẻ, lần này vượt quá chức phận, làm thay việc của người khác, trong tiến sĩ võ có người thấy bất công cũng là chuyện thường tình.”
    Hoàng đế há lại để Ngô Tái Dư làm càn, hắn ta nhìn chằm chằm không tha lại hỏi một câu: “Ngô khanh, rốt cuộc có hay không?”
    Ngô Tái Dư vốn đã cạn từ, lúc này thấy gương mặt cười như ngọc của Tịch Tà như thể đang trào phúng, không khỏi thẹn quá hóa giận, quát lên: “Cái tên hoạn nhà mi! Nay mê hoặc hoàng thượng, chuyên quyền triều chính, sớm muộn gì cũng sẽ làm bại hoại tổ tông xã tắc.

    Hoàng thượng minh giám!” Ông ta trỏ vào khuôn mặt trắng như tuyết của Tịch Tà, hô lên với hoàng đế, “Nô tài đê tiện cỡ ấy nên sớm trục xuất trị tội.”
    Tịch Tà đang yếu người nên hết sức nóng nảy, lúc này sắc mặt lạnh lẽo, vẻ hung ác bỗng dấy lên trong mắt.
    “Cạch” một tiếng, Thành Thân vương đặt mạnh chén trà lên trên bàn: “Ngô Tái Dư, ông hò hét cái gì? Trên triều đình mà miệng lại phun ra lời lẽ ô uế làm nhục hoàng thượng, thật là to gan!” Nhân vì năm ngoài Ngô Tái Dư tố y kết giao ca nữ, khoe lhoang trước mặt tiến sĩ khóa mới làm mất thể thống hoàng gia nên Thành Thân vương ôm hận với người của viện Đô Sát, nào chịu tha cho ông ta.
    Ngô Tái Dư mới thấy lỡ mồm quá thể bèn quỳ xuống đất xin chịu tội.
    Hoàng đế trầm mặt nói: “Đánh ra ngoài!”
    Tay Ngô Tái Dư này xưa nay thích làm chuyện mua danh cầu lợi nên nhân duyên cực kém.

    Tất cả mọi người ở đây đều từng bị ông ta tố cáo, thêm việc thấy hoàng đế và Thành Thân vương rõ ràng đều che chở cho Tịch Tà, kẻ nào dám đắc tội nên lúc này không một người xin tha cho ông ta.

    Hoàng đế đã xuôi xuôi, tiếp tục bàn chuyện, chưa phát hiện đã qua một canh giờ, đã tới chính ngọ.

    Cát Tường đi tới trước cửa nháy mắt với Tịch Tà.
    Tịch Tà tranh thủ thấp giọng nói với hoàng đế: “Vạn tuế gia, e là Ngô Tái Dư còn quỳ ở bên ngoài xin được trị tội, thời tiết nóng bức, tuổi tác của ông ta cũng đã cao…”
    Hoàng đế không muốn Tịch Tà gây thù hằn quá nhiều, bèn nói: “Cát Tường, bảo Ngô Tái Dư về hối lỗi, tự mình dâng tấu xin được trị tội.”
    Cơn tức này của Ngô Tái Dư không phải chuyện đùa.

    Ông ta trở lại phủ bèn đóng cửa phòng sách rồi nhục mạ Tịch Tà một trận.

    Người làm biết tính tình lão gia xưa nay không tốt, thấy ông ta nổi trận lôi đình, bị dọa cho chạy mất dạng.

    Đáng tiếc buổi chiều lại cứ có khách tới chơi, quản gia đành nhắm mắt mà gõ cửa, thưa: “Lão gia, thái giám Tịch Tà giữ bút ở phòng sách trong cung ở ngoài cửa đưa thiếp mời, lão gia có gặp không ạ?”
    Đúng là đổ thêm dầu vào lửa, Ngô Tái Dư hét lớn: “Không gặp! Anh bảo mấy thằng trước cửa đánh hắn về đi!”
    Quản gia đành nói tiếp: “Lão gia, hắn phụng ý chỉ của Thành Thân vương tới hỏi.

    Còn nói sáng hôm nay lão gia vẫn dồi dào tinh thần, xin lão gia chớ mượn cớ ốm không gặp.”
    Ngô Tái Dư cả giận nói: “Lẽ nào ta lại sợ hắn sao? Dẫn hắn vào đây.” Ông ta ngồi nghiêm chỉnh ở phòng khách, chỉ chờ ra oai phủ đầu với Tịch Tà.

    Không bao lâu sau tiếng bước chân ung dung vang lên trước cửa, Tịch Tà dẫn Tiểu Thuận Tử bước vào cửa, chắp tay nói: “Thỉnh an đại nhân Đô ngự sử.”
    Ngô Tái Dư nói: “Một tên nội thần nho nhỏ như anh mà chỉ làm chút lễ thế này ở trước mặt mệnh quan triều đình thôi à? Thành Thân vương có lời gì, anh cứ hành lễ xong hẵng nói.”
    Tịch Tà nhỏ giọng cười: “Ngô đại nhân, trên triều đình chúng ta đối chọi gay gắt, lúc riêng tư còn phải giả vờ nữa ư? Nô tỳ mượn cớ mang ý chỉ của Thành Thân vương chỉ để gặp đại nhân một lần.”
    Ngô Tái Dư cả giận nói: “Anh thật to gan, dám ngụy tạo ý chỉ của thân vương!”
    “Đại nhân muốn nổi giận thì đợi xem quà của tôi xong đã.

    Tiểu Thuận Tử, dâng danh mục quà tặng lên cho Ngô đại nhân.”
    “Anh cho rằng ta là người thế nào mà lại nhận hối lộ của hoạn quan?” Ngô Tái Dư chỉ cảm thấy vô cùng nhục nhã, “Ở trong mắt ta, chỗ vàng bạc tiền của này của anh chẳng qua chỉ là rác rưởi thôi.”
    “Vàng bạc tiền của?” Tịch Tà kinh ngạc nói, “Đại nhân coi khinh nô tỳ rồi.

    Trên đời này có người tham vàng bạc, có người háo sắc đẹp, có người nghiện thơ tranh.

    Đại nhân đều chẳng ham mấy thứ ấy, đại nhân ấy à…” Tịch Tà tự nhiên ngồi lên ghế khách, “thích tiếng thơm một đời, sau khi chết có một thụy hiệu hay, có đúng không ạ?”
    Ngô Tái Dư bị hắn mỉa mai trúng tim đen thì sững sờ trong chốc lát mới nổi giận nói: “Lớn mật.”
    “Tiểu Thuận Tử, Ngô đại nhân không nhận món quà này của chúng ta, con hãy mờ danh mục quà tặng ra để Ngô đại nhân nhìn thử.”
    Tiểu Thuận Tử cầm trục cuốn trong tay chậm rãi mở ra.

    Ngô Tái Dư mới vừa nhìn thấy hai chữ “Đồng châu” to, khóe miệng đã co giật.

    Đợi năm chữ “Đồng Châu án cầu vàng” hiện ra hết trước mắt, ông ta không kìm được mà đứng lên, cướp lấy trục cuốn trong tay Tiểu Thuận Tử, xé mấy cái cho nát vụn.
    “Ôi!” Tịch Tà che mặt đau lòng mà hô, “Đại nhân, sao nô tỳ lại không biết chữ? Nó là do nô tỳ mất cả một buổi chiều mới viết xong đấy…”
    Ngô Tái Dư cố tỉnh lại: “Tôi không rõ ý của anh.”
    “Không rõ?” Tịch Tà nói, “Đại nhân dựa vào vụ án này mà nổi danh bốn bể, có thể bước lên viện Đô Sát, sao lại quên mất nhanh như vậy? Tiểu Thuận Tử, giúp đại nhân Đô ngự sử nhớ lại nào.”
    “Mười lăm năm trước, cũng chính là năm Thượng Nguyên thứ mười thời tiên đế, đại nhân Đô ngự sử còn nhậm chứ tri phủ ở Đồng châu.

    Tháng Mười một năm ấy, phát hiện thi thể của một người đàn ông dưới cầu vàng trong thành Đồng châu, túi tiền đồ trang sức đều còn cả, nhận định là thương nhân bán tơ lụa Lữ Mỗ.

    Goá phụ Giả thị xác nhận Quản Song Hỉ giàu có ở địa phương vì cạnh tranh đất nông ngoại ô của Lữ Mỗ mà nhiều lần sai người tới cửa uy h**p.

    Ngô đại nhân bèn tìm bắt Quản Song Hỉ đến tra hỏi, dùng hình bức cung.

    Lúc đầu Quản Song Hỉ liều chết không nhận tội nhưng hình phạt quá dã man, cuối cùng nhận là mình thuê người sát hại Lữ Mỗ.

    Quản Song Hỉ giàu nhất Đồng châu, có quan hệ cá nhân rất tốt với đám quyền cao chức trọng chốn ấy như bố chính sứ Thượng Chi Nhân.

    Thượng Chi Nhân nhiều lần sai người tới Đồng châu cầu xin, Ngô đại nhân công chính nghiêm minh luôn từ chối thẳng thắn, còn tố cáo lên triều đình làm Thượng Chi Nhân và mười một quan viên địa phương đều bị cách chức điều tra, Quản Song Hỉ bị xử tội chết, chỉ đợi sau thu sẽ chém đầu.”
    “Công chính nghiêm minh, không sợ quyền quý, đúng là rường cột triều đình!” Tịch Tà hết sức cảm thán.
    “Tháng Hai năm sau, bổ đầu Tưởng Tiểu Điền của nha môn tri phủ Đồng châu bắt được tên chuyên cầm đao cướp hàng là Kim A Thuận ở trong thành.

    Dưới sự tra khảo của Tưởng Tiểu Điền, Kim A Thuận chẳng những cung khai tội trạng hiện hành mà còn thú nhận năm ngoái thấy hơi tiền nổi máu tham ở cầu vàng, g**t ch*t Lữ Mỗ, vì lúc ấy có người qua cầu nên không kịp cướp đi tiền tài của Lữ Mỗ mà chạy trốn ngay.

    Tưởng Tiểu Điền bẩm báo dựa theo đúng khẩu cung của Kim A Thuận cho tri phủ Ngô đại nhân.

    Ngô đại nhân nhờ án này mà nổi danh trong triều đình và dân gian, tháng Ba sẽ phải đến viện Đô Sát nhậm chức, lúc này há để cho Quản Song Hỉ lật lại bản án? Ngô đại nhân hứa cho số tiền lớn, giật dây Tưởng Tiểu Điền đánh chết Kim A Thuận ở trong ngục rồi tự mình đầu độc cho Tương Tiểu Điền chết, lúc này mới vào kinh thành nhậm chức.” Tiểu Thuận Tử mồm miệng lanh lợi, nói liền một mạch mặc cho Ngô Tái Dư nhiều lần hô to “câm miệng”.
    Tịch Tà hỏi: “Quản Song Hỉ thì sao?”
    Tiểu Thuận Tử đáp: “Mùa thu năm Thượng Nguyên thứ mười một, bị xử chém đầu ở Đồng châu rồi ạ.”
    Tịch Tà gật đầu nói: “Từng nghe thủ đoạn của đại nhân Đô ngự sử, để đạt được danh tiếng của mình mà ngay cả chức quan của con trai ruột, đại nhân đô ngự sử cũng có thể cách hết, đày đi sung quân, huống chi là một tay thổ hào? Thành thật mà nói, nô tỳ thực sự rất ngứa mắt kẻ thích mua danh trục lợi như đại nhân.”
    Cả người Ngô Tái Dư lẩy bẩy, run môi nói: “Nói vô căn cứ, nói vô căn cứ!”
    Tịch Tà thở dài: “Nếu như nô tỳ sinh sớm hơn vài chục năm, lúc ấy may mắn hầu hạ đại nhân thì chắc chắn sẽ thay đại nhân làm trò giết người diệt khẩu một cách triệt để.

    Nói đi nói lại, mấy năm nay Ngô đại nhân cũng vất vả, sau này tích phúc dưỡng sinh, tìm vài văn thần võ quan dễ bắt nạt để tố cáo, giải sầu thì cũng thôi.

    Lúc này nô tỳ xin đại nhân bớt hao tâm.” Hắn hoàn toàn không để ý đến vẻ mặt bi thảm của Ngô Tái Dư, cười nói, “Tới lâu như vậy, trà cũng không được một chén, giờ bưng trà tiễn khách, trà này là đại nhân bưng hay là nô tỳ bưng đây?” Dứt lời đứng dậy ra ngoài.
    Tiểu Thuận Tử quay đầu than thở: “Sắc mặt Ngô đại nhân không tốt, đại nhân phải bảo trọng đấy, đại nhân có gì sơ xuất thì thầy của nô tỳ khó xử lắm.”
    Đêm đã khuya, trong cung Từ Ninh chỉ có phòng ngủ của thái hậu vẫn thấp thoáng ánh đèn.

    Khang Kiện cẩn thận duỗi hai chân đã tê dại, cố chấp nằm rạp người dưới cửa sổ, cắn chặt răng, chỉ sợ hơi buông lỏng thì sẽ khiến răng hàm trên hàm dưới va vào nhau mà phát ra tiếng.

    Tuy giọng Hồng Tư Ngôn thấp nhưng mỗi một chữ đểu khiến cậu ta kinh hồn táng đởm.
    “Sáng nay hắn vẫn yên lành làm nhiệm vụ ở cung Càn Thanh, buổi chiều còn rời cung đến nhà Ngô Tái Dư một chuyến.”
    “Vậy tức là không thành công rồi.” Thái hậu nói, “Chẳng lẽ có tên nô tài nào tiết lộ tin tức?”
    Khang Kiện rùng cả mình.
    Bên trong có tiếng châu ngọc chạm nhau, chắc là Hồng Tư Ngôn đang dùng hai tay nhẹ nhàng chải đầu cho thái hậu.

    “Không phải đâu ạ.” Hồng Tư Ngôn nói, “Người của viện thái y nói, tối hôm qua có một thái giám nhỏ đi ra từ trong cung, hấp ta hấp tấp gọi Trần Tương đi.”
    “Chẳng trách hắn không chết.”
    “Theo nô tỳ thấy, việc này cũng đơn giản.

    Thái hậu hãy gọi Tịch Tà tới, tùy tiện tìm một nguyên nhân, đánh một trận đến chết là xong.”
    “Cách thì có nhưng không đến mức vạn bất đắc dĩ thì quyết không muốn đối chọi với hoàng đế ở ngoài sáng.

    Triều thần sẽ ra sao? Các phiên vương sẽ thế nào?”
    Hồng Tư Ngôn than thở: “Chủ nhân muốn chú ý đến hai bên con trai và nhà mẹ đẻ, thực sự là khó càng thêm khó.”
    “Bọn họ vội vã xung đột vũ trang.

    Hừ, đợi ta chết đi!”
    Khang Kiện chỉ nghe Hồng Tư Ngôn phì cười, đột nhiên có một bàn tay lạnh như băng từ phía sau che miệng cậu lại.

    Khang Kiện hồn xiêu phách lạc, xoay mặt lại nhìn, Tịch Tà đang để thẳng ngón tay trắng như tuyết trên môi, mỉm cười với cậu.

    Khang Kiện gật đầu, lặng lẽ đi theo Tịch Tà.

    Hồng Tư Ngôn còn đang nói ở bên trong: “Thái hậu nghìn thu vạn tuổi, nói lời như vậy không hiệu nghiệm.”
    Hai người ra khỏi cung Từ Ninh, cách đó không xa là vườn hoa Từ Ninh phía bắc, mấy hòn non bộ lung linh cao vót.

    Tịch Tà đi vào trước, Khang Kiện theo vào, bổ nhào xuống đất rồi ôm lấy chân Tịch Tà khóc không thành tiếng: “Sư ca, em có lỗi với anh.”
    Tịch Tà “xuỵt” một tiếng: “Em làm cái gì vậy? Đứng lên mà nói.”
    Khang Kiện lắc đầu: “Em biết có người muốn hại sư ca, em muốn mật báo cho sư ca nhưng lại không dám.

    Em, em…” Khang Kiện không nhịn được muốn nghẹn ngào khóc nức nở nhưng lại không dám cất tiếng trong đêm khuya vắng vẻ, bèn che mặt thút thít không ngừng.
    Tịch Tà vỗ về rằng: “Chuyện này không liên quan tới em, là rầy rà do sư ca tự gây nên.

    Không phải em đã tới viện Cư Dưỡng ư? Lòng em lo lắng cho anh, anh lại không biết sao?”
    Khang Kiện kéo tay Tịch Tà nói: “Em vỗn tưởng cô nương Minh Châu ở đó cả ngày, những người kia không thể thừa cơ, đâu ngờ thái hậu lại gọi nàng đi.

    Sư ca, anh thực sự không sao ư?”
    Tịch Tà cười nói: “Không phải anh vẫn yên lành đó à? Sao em vẫn thành thực như trước vậy? Mau đứng lên.”
    Khang Kiện lau nước mắt, vẫn quỳ trên mặt đất: “Sư ca, em không thể ở trong hoàng cung này nữa rồi.”
    Tịch Tà kéo cậu lên: “Nói lời ngốc nghếch gì thế? Người như chúng ta mà rời khỏi cung đình thì có thể đi đâu chứ? Em mới hai mươi tuổi, có thể có bao nhiêu của cải để cho em tiêu dao bên ngoài? Em mà đi thì chẳng phải mấy sư ca sẽ bị em liên lụy đến chết ư?”
    “Em từng nghĩ rồi, cùng lắm cạo đầu đi tu…”
    Tịch Tà sẵng giọng: “Câm miệng, chuyện này tuyệt đối không được.

    Cũng may tối nay anh tới, bằng không không biết em làm chuyện ngu xuẩn gì.” Nói rồi rút khăn tay từ trong tay áo ra đưa cho Khang Kiện, “Lau mặt đi.

    Vóc dáng còn cao hơn anh rồi, thế mà vẫn không có tiền đồ gì cả.”
    Khang Kiện bị hắn quát thì nín khóc, nhìn khuôn mặt lạnh nhạt của hắn thì hơi bình tĩnh lại.

    Tịch Tà bảo: “Anh tới là để chỉ cho em một con đường sống.

    Từ nay về sau, cứ coi như hai ta chưa từng có tình cảm sư huynh đệ, dù thái hậu muốn làm gì, em cũng đừng xen vào, cũng đừng dò la, lại càng không được báo tin cho anh.

    Biết càng ít thì sống càng lâu.”
    “Sư ca!”.

    ||||| Truyện đề cử: Gả Thay Ngọt Ngào |||||
    Tịch Tà cười nói: “Em yên tâm, giờ mỗi ngày sư ca đểu ăn cùng hoàng thượng, lẽ nào lại có kẻ bỏ độc vào trong bát của hoàng thượng? Dầu có người kiên quyết ám sát, sư ca cũng chẳng coi chúng ra gì đâu.

    Nhiều nhất là anh không may mắn bị chúng bẫy chết cũng là bản thân anh xui xẻo, em tuyệt đối không được lội vào vũng nước đục này.

    Em là học trò cuối cùng của thầy, lúc sắp đi thầy đặc biệt dặn dò mọi người chăm sóc cho em, nếu em có chuyện bất trắc thì anh còn mặt mũi nào xuống đất gặp thầy? Trở về đi.”
    Tịch Tà xoay người đi mất, bị Khang Kiện kéo tay áo lại: “Vì sao từ trước đến giờ đều là sư ca chăm sóc em? Từ nhỏ, có đồ nào dùng, có thức nào ăn mà không phải do sư ca cho em? Có lần nào không phải sư ca chịu đòn thay em? Nay sư ca nói như vậy, đúng là coi em như súc sinh không tim không phổi ư?”
    Tịch Tà sầm mặt lại: “Em cho rằng trưởng thành rồi thì có thể tạo phản à? Có thể nói ra như vậy à?” Thấy Khang Kiện tỏ vẻ bi thương, hắn lại nhẹ nhàng nói, “Trong sư huynh đệ ta chẳng mấy ai có bụng dạ tốt đẹp, em là người lương thiện, ắt có thể sống lâu trăm tuổi, trước sau vẹn toàn, ngày sau mọi người còn phải nhờ em thắp hương đấy.

    Về đi thôi!” Hắn cười một cách thoải mái, nhảy ra khỏi núi đá đi về hướng bắc, chỉ để lại Khang Kiện nắm chặt khăn tay, một mình trăn trở suy nghĩ.
    Thân pháp của Tịch Tà nhanh như sao băng, cảnh vật trước mắt như bay, chẳng bao lâu đã đến trước cửa viện Cư Dưỡng.

    Minh Châu vẫn đang đợi, thấy hắn bình an trở về thì tiến lên đón, hỏi: “Thành công rồi ạ?”
    Tịch Tà lập tức xóa đi vẻ mặt biết ơn, đau thương của Khang Kiện ra khỏi tim, cười nói: “Đợi xem thôi.”
    Lần này Tịch Tà bị người ta đầu độc nên đã hết sức cẩn thận trong chuyện ăn uống.

    Ban ngày ở cung Càn Thanh, hắn đều ăn món mà hoàng đế thưởng cho, nếu không thì lại ăn cùng Cát Tường và Như Ý.

    Trong viện Cư Dưỡng cũng đã đổi hết thành đũa bạc, Tiểu Thuận Tử không rời viện bất kể ngày đêm để ngừa kẻ khác thừa cơ.

    Phàm là đồ ăn, nước trà đều do Minh Châu nếm thử trước rồi mới dâng cho Tịch Tà dùng.

    Dù Tịch Tà không muốn nhưng khó ngăn nổi sự kiên trì của Minh Châu nên đành mặc nàng.
    Cẩn thận như vậy, hơn một tháng liền trời yên biển lặng, các đại thần trong triều cũng đều được đút lót số tiền lớn hết rồi.

    Hắn được hoàng đế hết sức tin tưởng, lại có quan hệ cá nhân rất tốt với Thành Thân vương, cộng thêm việc giỏi đoán ý người, chấp hành lễ nghĩa rất mực cung kính.

    Bởi vậu quần thần càng không nhiều lời, mỗi ngày gặp ở cung Càn Thanh thì đều gật đầu thăm hỏi hắn trước, không lâu sau đã nổi tiếng bên ngoài là tổng quản áo xanh.
    Lúc này một tháng kỳ hạn thăm viếng người thân của tiến sĩ khoa võ năm nay đã đầy, đều về bộ binh báo danh.

    Lục Quá thao lược hơn người, được bộ binh chọn làm quan từ lâu.

    Bốn mươi người nhóm Du Vân Dao, Úc Tri Thu được điều vào trong doanh thị vệ hoàng cung, do thống lĩnh thị vệ Hạ Dã Niên và Khương Phóng phân công.

    Bốn mươi bốn người còn lại thì nhậm chức ở ty binh mã ngũ thành trước.
    Giấy không gói được lửa, Tịch Tà đã điều tra rõ chuyện “bức tranh Cửu Ca” của Minh Châu được Đổng Lý Châu mua bằng ngàn vàng để biếu Đông vương lại chuyển đến chỗ Hạ Dã Niên từ lâu, đang tìm một cơ hội để báo cáo cho hoàng đế.

    Hoàng đế đã sinh cảnh giác với Hạ Dã Niên, biết gã vốn có cấu kết với Đông vương nên từ năm ngoái đã thường xuyên cử gã ra khỏi cung, lại vì vướng mắc về thế tử Đỗ Mẫn của Đông vương nên càng không để gã bảo vệ thái hậu lên Thượng Giang.

    Hạ Dã Niên làm quan nhiều năm, há lại không biết tránh hiềm nghi vào thời điểm này, cứ cáo bệnh ở nhà.

    Vậy nên lúc mở tiệc ở doanh thị vệ chiêu đãi người mới chỉ có một mình Khương Phóng làm chủ trì.
    Nghĩ đến hôm sau đã phải vào hoàng cung làm quan, đám thanh niên ai nấy đều hưng phấn hồi hộp, mặt mày có vẻ sung sướng.

    Hai người trước cửa đột nhiên vang tiếng hoan hô, thì ra là trạng nguyên Lục Quá khóa năm nay cũng được mời dự, tới đúng giờ.
    Khương Phóng đi ra khỏi phòng, mọi người tiến lên hành lễ.

    Khương Phóng cười nói: “Hôm nay là ngày tốt của các anh, chúng ta đều là kẻ học võ, chớ tỏ vẻ nho nhã làm gì.” Đoạn nói với người làm, “Mở tiệc!”
    Mọi người đều cất tiếng cười to, lần lượt ngồi vào vị trí, rót rượu chúc nhau, cùng tỏ chí lớn.

    Ở mỗi chỗ ngồi, Khương Phóng đều rót rượu một lần, vỗ tay lia lịa, mọi người im lặng nghe anh ta nói: “Lấy ra đây.”
    Bốn gã sai vặt mang hai cái bàn ra, trên che gấm đỏ nên không trông thấy là cái gì.

    Khương Phóng bảo: “Hôm đó chúng ta đều có mặt, biết anh trạng nguyên và thám hoa vẫn chưa phân cao thấp.

    Hôm nay đại hỉ, không thích hợp động hung khí nữa, chỉ xem tương lai ai trong các anh lập được nhiều công trên chiến trường hơn, công tích lớn hơn, chớ phụ hai món vũ khí tốt này.” Anh ta giơ tay lên vạch gấm đỏ ra, chính là hai cây cung lớn mạnh.
    Lục Quá và Úc Tri Thu bèn vội vàng đứng lên, vừa định từ chối thì bị Khương Phóng quát: “Trong mắt các anh rõ ràng nói là rất ưa thích, chớ vờ vĩnh trước mặt ta.

    Hai cây cung này, một ‘nhân’, một ‘nghĩa’, không phân ra anh em.

    Các anh cũng nên có tình nghĩa anh em như vậy, tương lai kề vai chiến đấu trên sa trường, cùng trừ Thát Lỗ.”
    “’Nhân Cung’?” Lục Quá và Úc Tri Thu đã biến sắc.

    Lục Quá nói: “Lúc đương kim thánh thượng vẫn còn là hoàng tử đã gặp phải mãnh hổ ở trên Thượng Giang cùng Thành Thân vương, lúc ấy có vị tướng quân bắn tên tới cứu, không ngờ lại kéo gãy hai cây cung mình dùng, tiên đế khen ngài ấy dũng mãnh nên sai người chế tạo riêng hai cây cung mạnh có một không hai, dùng tên của hai vị hoàng tử để đặt rồi ban thuởng cho vị tướng quân này.

    Thì ra…”
    Khương Phóng lại ngạc nhiên: “Các anh biết à?”
    Mọi người ngồi đó cười to.

    Úc Tri Thu nói: “Thưa đại thống lĩnh, dù việc này chưa truyền lại như sử nhưng cũng là chuyện mà con em võ tướng nghe nhiều nên thuộc.

    Có điều đại thống lĩnh không thích khoe khoang, không ai biết vị tướng quân kia chính là đại thống lĩnh thôi.”
    Lục Quá dùng tay vuốt dây cung, nói: “Được đại thống lĩnh ưu ái, Lục Quá cung kính không bằng tuân mệnh, xin nhận thưởng.” Rồi cùng Úc Tri Thu quỳ rạp xuống đất, song song tiếp nhận.
    Khương Phóng nhìn khuôn mặt bừng bừng sức sống của họ, biết lại là một đời tài năng mới quấn vào trong vòng xoáy phân tranh của triều đình.

    Trong thành cung, khắp nơi đều là cạm bẫy dối dan, trong những người trẻ tuổi này có bao nhiêu kẻ có thể lên mây xanh, lại có bao nhiêu người sẽ chết trong hỗn độn.

    Khương Phóng không nén được tiếng thở dài.
    Những một trận hoan hô của những người trẻ có thể xua đi rất nhiều phiền muộn của Khương Phóng.

    Tối ấy thoải mái chè chén, mãi đến khi sắp qua giờ Tuất, mọi người cáo từ, Khương Phóng lại dặn ngày mai phải chỉnh đốn đội ngũ ở thao trường của viện Thượng Tứ[1], tuyệt đối không được chậm trễ, lúc bấy mới tan.
    Để phân công đám đông đến các cửa các nơi, lại tiếp tục xem võ nghệ của mọi người nên Khương Phóng tự mình tuyển ra hai mươi người võ công xuất chúng hiện đang nhậm chức thị vệ, muốn họ thử tài với người mới.

    Lúc thi đình, kiếm pháp của hai người Du Vân Dao, Úc Tri Thu cao nhất nên giờ trở thành mục tiêu.

    Hạ Thiên Khánh tiến lên cười nói với Du Vân Dao: “Bảng nhãn! Thế nào? Nể mặt chỉ giáo mấy chiêu nhé?”
    Du Vân Dao không thích tranh đấu với người khác, lại biết hắn ta là anh em ruột của của tổng quản thị vệ Hạ Dã Niên, thấy ánh mắt hắn ta không có ý tốt bèn từ chối: “Tại hạ khoa chân múa tay, làm sao có thể lọt vào mắt của Hạ võ quan? Xin Hạ võ quan giơ cao đánh khẽ, tại hạ đỡ bị bêu rếu trước mặt mọi người.”
    Hạ Thiên Khánh nói: “Bảng nhãn thật là kiêu căng!”
    Khương Phóng cách không xa, bảo Du Vân Dao rằng: “Tiền bối muốn chỉ giáo anh mấy chiêu, anh còn chối từ cái gì?”
    Du Vân Dao đành chịu, lấy kiếm từ trên giá binh khí, thi lễ và nói: “Tại hạ đắc tội, xin Hạ võ quan nhẹ tay cho.” Đoạn lấy lễ của hậu bối mà tấn công một chiêu trước.
    Hạ Thiên Khánh dùng đao, đánh ra theo thức “cử hỏa thiêu thiên”.

    Một chiêu vừa xuống, Du Vân Dao liền biết hắn ta trời sinh có sức lực lớn nhưng gốc rễ nội lực lại nông, không tiện lấy nội lực liều với hắn ta.

    Kiếm của nhà họ Du thay đổi trong nháy mắt, lực sinh từ tim, chiêu kiếm hơi lui lại, ung dung hóa giải sức mạnh của hắn ta.

    Khinh công của Hạ Thiên Khánh cũng không tệ, uốn người lên di chuyển để đấu với anh ta.

    Kiếm Du Vân Dao chỉ tung bay bên cạnh mình, lúc binh khí đụng nhau thì thi triển tâm pháp chữ niêm, đẩy đơn đao của hắn ta ra, vừa không thể gây tổn thương cho hắn ta, lại không tìm được cách làm hắn ta biết khó mà lui nên giằng co không dứt mất một lúc.
    Úc Tri Thu bên kia cũng bị người khác tranh nhau đánh, kiếm chưa ra khỏi vỏ đã đã đối thủ ngã lăn trên mặt đất.

    Tình cảm của đám người Tiền Việt, Trương Xuất, Hoàng Đản rất tốt, một người chịu thiệt thì mọi người đều căm.

    Úc Tri Thu cười nói: “Các anh không phục thì cứ lên cả đi.” Gã lấy một địch ba màmặt không đổi sắc, còn tranh thủ nói với Du Vân Dao: “Người kia không phải đối thủ của anh Du, sao không sớm đuổi hắn đi?”
    Lúc này Hạ Thiên Khánh đã kiệt sức, thở phì phò như trâu, thấy Du Vân Dao vẫn không đổ một giọt mồ hôi, còn nhàn hạ nói: “Hạ võ quan, nếu không phân được cao thấp thì sao không dừng tay tại đây?” Hạ Thiên Khánh vốn muốn nói hai câu sĩ diện, đã định thu chiêu thì lại nghe Khương Phóng hét lớn một tiếng: “Tất cả dừng tay!”
    Tiếng Khương Phóng như sấm, Hạ Thiên Khánh gần anh ta nhất, sợ đến mức tay run lên, suýt làm rơi đơn đao xuống đất.

    Du Vân Dao nhanh tay, dùng trường kiếm đỡ ở trên sống đao, cười nói: “Đa tạ đã nhường.”
    Chẳng biết từ lúc nào đã có hai nội thần đến viện Thượng Tứ, một người mặc quần áo trong cung màu hoa hạnh phía trước chắc chắn là thái giám đứng đầu, một thái giám nhỏ mặc áo xanh theo phía sau.

    Hai người chắp tay hành lễ với Khương Phóng ở dưới hiên, Khương Phóng cũng kính cẩn khách sáo.

    Những thị vệ lanh lẹ đã chuyển ghế đến và pha trà, mời hai người ngồi xuống.

    Thái giám áo màu hoa hạnh kia cười nói the thé: “Không dám nhận, không dám nhận.

    Làm phiền, làm phiền rồi.” Đoạn nói nhỏ vài câu bên tai Khương Phóng, Khương Phóng bèn nói: “Du Vân Dao, Úc Tri Thu qua đây.”
    Hai người đến gần, quan sát bên trong.

    Dưới hiên rủ màn trúc, hai nội thần đều nấp trong bóng nên nhìn không rõ, chỉ cảm thấy thái giám áo màu hoa hạnh kia ngồi yên, rất có phong độ bậc đại tướng.

    Khương Phóng nói: “Hai người các anh bắt cặp biểu diễn đi.”
    Du Vân Dao và Úc Tri Thu hết sức khó xử.

    Từ hôm thi hội, hai người đã biết bản lĩnh của đối phương rất giỏi, vả lại gần đây luôn ở cạnh nhau, đã sinh ra cảm giác chung chí hướng.

    Ở đây chỉ có hai nội thần đến xem trò vui, sao có thể khiến họ liều mình đọ sức? Hai người cùng suy nghĩ, chỉ biến một cuộc do tài thành múa kiếm, nhảy trên nhảy dưới, hết sức lộn xộn khó coi.
    Thái giám áo hoa hạnh bên trong mành nhìn một hồi, cười thất thanh, “Đại thống lĩnh, đây chính là người nổi bật trong các tiến sĩ khoa võ năm nay đó ư? Sao mới đến chỗ đại thống lĩnh chưa được mấy ngày đã thành tốt nước sơn rồi?”
    Khương Phóng cười nói: “Họ còn trẻ không hiểu chuyện, không biết thể hiện bản lĩnh thật ở trước mặt đại gia.”
    Úc Tri Thu thấp giọng lẩm bẩm một câu với Du Vân Dao: “Một tên thái giám thì hiểu gì?”
    Bên trong mành có người nói: “Người mới nói là Úc thám hoa à? Mời hai vị tiến lên một bước để nói chuyện.”
    Úc Tri Thu và Du Vân Dao đều kinh hãi, đều nghĩ câu vừa rồi rất nhỏ, cách cả hành lang, không biết sao lại bị người trong mành nghe được, chỉ đành ngượng ngùng tiến lên.

    Màn trúc vừa vén ra, thái giám áo xanh kia bèn đi ra từ bên trong, ho vài tiếng mới nói: “Chức thị vệ liên quan đến an nguy của thánh thượng, đến họa phúc của xã tắc, không thể lười biếng một mảy may.

    Người bên cạnh vạn tuế gia phải là kẻ hầu hạ hết lòng hết dạ.

    Dù là người chí thân của các anh, chỉ cần gây nguy hiểm cho vạn tuế gia mảy may, các anh cũng phải dốc hết sức, liều cả tính mệnh ra mà giết.

    Nay các anh nương tay vì tình nghĩa cùng khóa thì mai rày làm sao vạn tuế gia có thể gửi gắm tính mạng mình cho các anh?” Tuy hắn ho dữ dội làm hỏng tiếng, khiến âm thanh hơi khàn nhưng vẫn tao nhã, êm tai khôn tả.
    Úc Tri Thu thấy tuổi hắn không đầy hai mươi, lại là quan hoạn không có phẩm cấp thì khinh thường trong lòng, vừa định mở miệng phản bác thì dường như thái giám áo xanh đó đã biết suy nghĩ của gã, ánh mắt lộ ra ý bảo ngừng.

    Úc Tri Thu như thể bị băng thình lình đâm vào mặt, không dám nhìn thẳng, cụp mắt không nói.
    Thái giám áo xanh ấy cười khẩy một tiếng, nói: “Một tên nội thần nhỏ nhoi như tôi không hiểu gì cả, nếu không phải hoàng thượng phái đi thì sao sư huynh đệ chúng tôi lại đến nơi này làm các vị phiền chán? Nô tỳ tặng các vị một câu: Hoàng cung là chốn đầm rồng hang hổ, trong kiếm pháp núi cao còn có núi cao hơn, các vị biết vươn lên mới tốt.” Hình như hắn đưa tay trỏ vào bên hông Úc Tri Thu, trường kiếm bên hông Úc Tri Thu leng keng nhảy ra ngoài vỏ.

    Thái giám khẽ phất tay áo xanh một cái đã cầm kiếm nơi tay, thân kiếm phản xạ ánh mặt trời xán lạn, ánh lên khuôn mặt trông như trong suốt của hắn.

    “Binh khí trong cung đều là vũ khí hiếm có, các anh phải xứng mới được.”
    Lúc này thái giám áo màu hoa hạnh đi tới, khuôn mặt đoan trang có vẻ vững vàng ôn hoà, miệng cười nói: “Em mới bao tuổi, hiểu được những gì mà bàn lung tung về kiếm pháp, cũng không biết thẹn.”
    Bấy giờ thái giám áo xanh mới cười uyển chuyển, vô cùng đẹp đẽ: “Đại sư ca dạy rất đúng.

    Về kiếm pháp, tôi còn kém xa lắm!” Cổ tay hắn rung lên, trường kiếm “keng” một tiếng, găm vào trong vỏ, vẫn còn kêu không ngừng.
    Thái giám áo màu hoa hạnh thấy hắn lại ho thì quở trách: “Mới giở giời là ho như thế.

    Biết rõ cơ thể không khỏe cũng không biết giữ gìn.

    Em bị bệnh gì đấy? Đại thống lĩnh…” Y cười nói với Khương Phóng, “Hai anh em tôi đã thấy thứ nên thấy, cũng nói điều nên nói rồi, không cản trở việc của đại thống lĩnh nữa, xin cáo từ.”
    Úc Tri Thu và Du Vân Dao nghẹn họng nhìn trân trân, sững sờ tại chỗ.

    Thình lình nghe “keng” một tiếng, hông Úc Tri Thu nhẹ đi, không ngờ thanh trường kiếm rung đến mức làm vỏ kiếm nát vụn, rơi xuống mặt đất.

    Hai người nhìn nhau, hãi hùng biến sắc, đều run hết tay chân, mồ hôi lạnh đầm đìa.
    Hạ Thiên Khánh bước lên cười nói: “Chỉ cần là học trò của thái giám Thất Bảo thì đừng nói đến chuyện hoàng thượng tin một bề, dù chưa từng lộ diện ở trước mặt chủ nhân thì tương lai cũng là nhân vật cỡ tổng quản.

    Ngay cả Khương thống lĩnh gặp sư huynh đệ bọn họ cũng phải tôn trọng mà gọi một tiếng gia.

    Ngay ngày đầu tiên các anh đã làm mếch lòng hai người.

    Ha ha, đúng là may mắn của các anh.”
    Du Vân Dao chắp tay hỏi: “Xin hỏi Hạ võ quan, hai vị kia là…”
    Vì vừa rồi anh ta nương tay không làm Hạ Thiên Khánh mất mặt nên hắn ta mới thành thật nói: “Các anh phiền to rồi, người mặc áo màu hoa hạnh ấy là Cát Tường – thái giám Thượng bảo lĩnh sự bên cạnh hoàng thượng, người áo xanh kia chính là Tịch Tà – tổng quản áo xanh chọn các anh đỗ tiến sĩ thay hoàng thượng đấy.”
    Cái tên “Tịch Tà” này cực kỳ vang dội ở trong tiến sĩ khóa năm nay.

    Hôm thi hội, mọi người cứ phủ phục trên mặt đất, nghe tiếng nói trong trẻo của hắn gọi tên mình.

    Ngoại trừ Lục Quá ra thì không có ai chú ý đến một quan hoạn áo xanh bên cạnh hoàng đế trông như thế nào, nay gặp mới biết hắn chẳng những võ công cao đến mức nghe mà rợn người, lại còn trẻ tuổi như vậy.

    Mọi người ồn ào, bàn luận ầm ĩ.
    “Đáng tiếc cơ thể hắn không khỏe…” Hồ Động Nguyệt than thở, “Nếu không có thể xin hắn ở lại bộc lộ mấy đường.

    Cát Tường là sư huynh hắn, ắt hẳn võ công còn cao hơn nữa, chỉ điểm cho chúng ta một hai chiêu đã có thể biết thêm không ít rồi.”
    Những lời này lại kích động đến nỗi lòng của Khương Phóng.

    Anh ta đã không được gặp Tịch Tà nhiều ngày, nay mới biết bệnh của hắn không nhẹ nên mặt có vẻ buồn rầu.
    Gần đây quả thực Tịch Tà ho đến khổ sở, không tiện hầu ở trước mặt hoàng đế, từ viện Tứ Thượng về thẳng viện Cư Dưỡng.

    Trong đường Đông Đại Thiên im ắng không người, chỉ có tiếng ho của hắn vang vọng xung quanh.

    Rẽ qua sở Bắc Ngũ, qua cửa nguyệt, hắn dừng bước ở sau cửa, xoa ngực mà than: “Sao em không nghe lời anh?”
    Người phía sau bước gấp lên mấy bước, thấp giọng nói ở bên tai Tịch Tà: “Hôm nay hoàng hậu, Nghị phi đến cung Từ Ninh thăm hỏi, thái hậu cho mọi người lui ra rồi nói một hồi.

    Sư ca cẩn thận đấy.” Cậu vội vã nói xong thì đi ngay.

    Tịch Tà trông bóng lưng cậu, biết sư đệ duy nhất đã rơi vào tròng đúng như mình lường trước.

    Người đơn thuần giống như Khang Kiện có thể sống trong cung được bao lâu đây? Tịch Tà nghĩ tới đây thì ngực lại quặn thắt.[1] Cơ quan cai quản ngựa dùng trong cung..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 13: 13: Mộ Từ Tư


    Sứ trưng cấp lương các nơi đã được triệu về, mật báo cũng bớt đi rất nhiều cho nên Tịch Tà có thời gian để điều dưỡng, dần dần bình phục.

    Sáng sớm hôm đó đã bị hoàng đế gọi đến xem bàn cờ mà hắn và Thành Thân vương chơi rồi lại giải thích một chặp cho hai người.

    Hoàng đế bỗng nhiên nhớ ra đã nhiều ngày chưa cưỡi ngựa bắn cung, liền cùng Thành Thân vương đi vào vườn Tử Nam, nghĩ mấy ngày trước Tịch Tà bị bệnh, không nên mệt nhọc, bèn bảo hắn đi về nghỉ.
    Vào tuần cuối[1] tháng Tư, thời tiết đã hơi nóng rồi.

    Tịch Tà nới xiêm áo ra, uống vài ngụm nước ấm, mới thở hổn hển, Tiểu Thuận Tử đã hoảng loạn tiến vào, lắp bắp nói: “Tứ gia, tứ gia tới rồi.”
    “Tứ gia thì làm sao?” Tiến Bảo theo sát, bước vào cửa, “Em sáu, tên học trò này của em thấy anh mà cứ như thấy ma, uổng công trước nay anh thương nó như vậy.”
    Tịch Tà đứng dậy cười nói: “Gần đây tứ sư ca có khỏe không? Tiểu Thuận Tử, qua đây dập đầu đi.”
    Tiến Bảo lắc đầu bảo: “Mệnh nô tài còn có cái gì mà tốt hay không tốt chứ? Đứng lên đi.” Hắn ta kéo Tiểu Thuận Tử lên, “Trong mắt trong lòng cậu chỉ có một mình em sáu, dập đầu vậy ấm ức lắm.”
    Tiểu Thuận Tử bị hắn ta chạm vào người thì giật nảy rùng mình một cái: “Tứ, tứ gia đừng lấy Tiểu Thuận Tử ra đùa, tôi đi pha trà cho tứ gia.”
    “Trà thì không cần.” Tiến Bảo nghiêm mặt nói, “Tôi mang theo ý chỉ của Nghị phi nương nương.”
    Tịch Tà phủi xiêm áo: “Nô tỳ Tịch Tà thỉnh an Nghị phi nương nương.” Hắn định quỳ xuống thì bị Tiến Bảo đưa tay ngăn lại.

    “Đến trước mặt nương nương hẵng thỉnh an.

    Hôm nay Hoà thục nghi đến cung Khánh Tường nói chuyện với nương nương một lúc.” Tiến Bảo nói đến đây thì thấp giọng bảo, “Hoà thục nghi vào cung đã được một tháng, ngay cả mặt hoàng thượng cũng chưa trông thấy.

    Vạn tuế gia cũng đã nhiều ngày không đến cung Khánh Tường.

    Hai vị nương nương nói đến đây thì nghĩ dạo này em sáu rất được sủng ở trước mặt hoàng thượng nên muốn anh lặng lẽ cho đòi em qua, hỏi em xem gần đây hoàng thượng yêu thích gì, thích đến nơi nào.”
    Tịch Tà mỉm cười: “Em đã biết, xin để em thay xiêm áo.

    Sư ca hãy ngồi một lát.

    Tiểu Thuận Tử, giúp ta phủi trang phục trong cung.” Hắn và Tiểu Thuận Tử đi vào phòng trong, vừa mặc quần áo, vừa thấp giọng nói với Tiểu Thuận Tử, “Ta cảm thấy hết sức kỳ quặc, con đến vườn Tử Nam tìm đại gia, nhị gia, kể việc này cho họ.

    Phải nhanh, nếu không tính mạng của ta sẽ có nguy đấy.”
    Tiểu Thuận Tử ra sức gật đầu, lại đi ra cùng Tịch Tà và tiễn hai người ra ngoài.
    Cung Khánh Tường ở đông lục cung, rất gần viện Cư Dưỡng.

    Bình thường Tịch Tà cắt thử quần áo cho Nghị phi thường xuyên tới chỗ này nên vừa vào cửa đã muốn đi đến chính điện.

    Tiến Bảo cười nói: “Bây giờ nương nương không ở chính điện, đang ở trong buồng lò sưởi phía tây đấy.” Dứt lời bèn bảo Tịch Tà chờ ở dưới bậc, còn mình vào thông báo.

    Lát sau, hắn ta đi ra bảo: “Nương nương đã cho mọi người lui rồi, em vào phía tay trái là được.”.

    ========== Truyện vừa hoàn thành ==========
    1.

    Mùa Hè Năm Ấy Thật Đẹp
    2.

    Hàng Xóm Của Tôi Là Cô Giáo
    3.

    Hồn Của Ba Tôi Bám Theo Anh Chàng Học Thần Cao Lãnh
    4.

    Trở Về Năm Tháng Bố Tôi Là Hotboy
    =====================================
    “Làm phiền sư ca rồi.”
    Trên gương mặt thanh tú của Tiến Bảo tỏa ra hào quang, nụ cười đoan chính xinh đẹp, nói: “Snh em mình cả, chớ nói lời như vậy.”
    Tịch Tà cười nhạt: “Sư ca chăm sóc em, em sẽ ghi nhớ.” Đây là lần đầu tiên Tịch Tà vào buồng lò sưởi phía tây cung Khánh Tường, ở giữa chỗ này không bày ghế mà chỉ trống không, hai bên có một phòng nhỏ được tách ra.

    Cửa phòng đóng kín, không một tiếng động, chỉ có thể nghe tiếng bước chân mình khẽ vang lên “sàn sạt”, càng cảm thấy nơi này tôi tăm mà oi bức, tản ra hương thơm kỳ dị khiến người ta dần dần thêm phần men say.

    Tịch Tà hết sức cẩn thận, thầm nghĩ phải bình tĩnh đối phó, kéo dài tới lúc hoàng đế tới rồi nói sau.

    Lúc bấy lễ nghĩa càng cung kính hơn, hắn khom người báo tên ở trước cửa, lớn tiếng nói: “Nô tỳ Tịch Tà nhận lệnh cho đòi đến thỉnh an nương nương.”
    “Kẻ nào to gan như vậy?” Cung nữ bên trong cánh cửa hét lớn một tiếng, chợt đẩy cửa đi ra, “Lại dám xông vào phòng tắm của nương nương?”
    Bức rèm che bị cung nữ kia rẽ sang hai bên, cơ thể thon dài trắng nõn giống như tia chớp chiếu sáng cả cung điện u ám mềm mại thở nhẹ trong gợn nước đang lăn tăn.

    Chỉ chớp mắt, cơ thể thiếu nữ diễm lệ đầy đặn mang theo vẻ xán lạn của nụ hoa nở rộ nổ tung như sấm rền ở trước mắt Tịch Tà, làm hắn hít một hơi lạnh, lùi lại phía sau mấy bước.

    Thế giới hỗn loạn kia đang gió cuốn mây tan chùn bước từ trong tầm mắt của hắn, ánh mắt chỉ bị ánh sáng như ngọc trắng ấy buộc chặt, không thể dời đi.
    “Tên nô tài nào mà to gan như vậy?” Nghị phi khoác áo mỏng đi ra khỏi căn phòng bên phải, thiếu nữ nấp ở phía sau một đám cung nữ trong tiếng quát phẫn nộ của nàng ta.
    “Nô tỳ Tịch Tà thỉnh an nương nương.” Tịch Tà kinh ngạc phát hiện tiếng của mình lại đang run rẩy, nghe thấy tiếng cười gằn của Nghị phi mà vẫn như tiếng ầm ĩ ngoài viện khi đương ngủ say bỗng tỉnh lại từ sự hồ đồ sau cơn kinh hoàng.
    “Đem tên nô tài này tới chính điện.” Nghị phi ra lệnh một tiếng, lập tức có mấy cung nữ cao lớn định tiến lên trói người.
    “Không cần!” Tiến Bảo phất tay xua họ đi rồi nói, “Em sáu, anh biết võ công của em cao cường.

    Chỉ vẻn vẹn mấy sợi dây thừng có thể làm gì được em chứ? Sư ca khuyên em một câu, lúc này hãy ngoan ngoãn đi thôi.”
    Tịch Tà đứng dậy phủi xiêm áo, trong nụ cười đã lộ ra phong thái sắc bén: “Tôi hiểu rồi, chỉ cần tôi sống sót thì sau này còn phải đa tạ sư ca đã chỉ cho.”
    Ánh mắt Tiến Bảo không hề nao núng, cười hì hì đợi Nghị phi ngồi lên ghế sau bức rèm che, chỉ vào dưới đất bên ngoài rèm, bảo Tịch Tà quỳ xuống.
    Nghị phi nói: “Việc này khó đây.

    Tên nô tài này là người hầu ở cung Càn Thanh, còn phải xin ý chỉ của hoàng hậu.”
    Chẳng bao lâu, thái giám nhỏ chạy ra ngoài đã truyền: “Hoàng hậu có ý chỉ, đùa giỡn tần phi, tự tiện xông vào màn trướng của chủ nhân thì không giữ được nữa.” Ý chỉ này quả thực tới quá nhanh, Nghị phi gật đầu nói: “Người đâu, mang ra ngoài đánh chết!”
    Tịch Tà biết lúc này biện bạch, cầu xin đều vô dụng, ngẩng đầu thấy vẻ tàn nhẫn, thỏa mãn, thích thú trong mắt Tiến Bảo thì ngờ được họ muốn đánh nhanh thắng nhanh, dù mình gắng gượng cũng sẽ gãy xương sống lưng chỉ trong chốc lát, tuyệt đối không thể may mắn tránh khỏi.

    Lúc suy nghĩ trong đầu xoay như chong chóng, thái giám cầm gậy đã đánh xuống, quát lên: “Mau tạ ơn!”
    Nghị phi thấy Tịch Tà chẳng kêu một tiếng, ánh mắt quăng tới lại lạnh như băng làm nàng ta kinh sợ, lo nghĩ, không khỏi cầm khăn tay lên, nhẹ nhàng lau đi mồ hôi hột nơi chóp mũi.
    “Hãy khoan!” Giọng nói êm dịu nhưng kiên quyết làm Nghị phi giật nảy mình, một thiếu nữ áo hoa chỉ chừng mười lăm mười sáu tuổi đi vào từ bên ngoài điện, làn váy và ống tay áp mang theo vẻ dịu dàng như mây trôi lướt qua trước mắt Tịch Tà, “Còn chưa hỏi rõ ngọn nguồn, sao nương nương lại muốn giết hắn?”
    Nụ cười của Nghị phi có chứa thần thái của người đàn bà quần quý đã thấm nhuần nhiều năm, nàng ta đứng dậy kéo thiếu nữ đến ngồi chung ở bên.

    “Hoà thục nghi vào cung chưa lâu, không biết những tên nô tài này xảo trá bỉ ổi.

    Hắn dám xông vào phòng riêng của chủ, đùa giỡn tần phi, là tội lớn không được phép ở trong cung.

    Hoàng hậu đã hạ ý chỉ, nay mà tha cho hắn thì tương lai sẽ là mối tai họa to lớn.”
    “Lời ấy của nương nương chưa thỏa đáng.

    Gì mà đùa giỡn tần phi? Người này…” Thiếu nữ vẫn chưa quen tùy tiện gọi người khác là nô tài, lúc dùng giọng nói dịu dàng nhắc đến “người này” thì ngoái đầu trông về phía Tịch Tà.

    Vì lông mi dài rậm che phủ nên mắt phượng hơi xếch đen như bóng đêm làm người ta mơ mộng.

    Vẻ mặt ửng đỏ sau khi tắm gặp phải ánh mắt mê man, nóng bỏng trên khuôn mặt trắng như tuyết của Tịch Tà thì càng đỏ lên, giống như hoa đào nỏ đầy dưới bầu trời xanh thẳm, cánh hoa đỏ bay tán loạn, lúc rực rỡ đến mức tận cùng lại sinh ra vẻ tươi đẹp vô hạn, “Rõ ràng lúc ở bên ngoài, người này đã nói là nhận lệnh cho đòi mà đến, đã báo tên xin gặp thì không thể gọi là ‘Tự tiện xông vào’ được.

    Cung nữ phục vụ trong phòng đã biết không thích hợp mà còn muốn mở cửa mới thật là không làm tròn bổn phận, sao có thể vu cáo ngược lại hắn đùa giỡn tần phi? Hai chữ ‘đùa giỡn’ này làm tổn hại danh dự em, chưa hỏi rõ, sao có thể đánh chết hắn được?”
    Nghị phi bị nàng hỏi đến ngẩn ra, chợt cười nói: “Đương kim hoàng hậu đã hạ ý chỉ, em chất vấn như vậy, lẽ nào muốn kháng chỉ à?”
    Thiếu nữ phất tay áo đứng lên, kiên định nói: “Kháng chỉ là một chữ ‘chết’.

    Việc này không hỏi rõ ràng, danh tiết của em bị tổn hại, không còn mặt mũi gặp người khác thì cũng là một con đường chết thôi.

    Em sẽ tự đến chỗ hoàng hậu, hoàng thượng và thái hậu để nói!”
    “Không ngờ nàng còn nhỏ tuổi mà lại rất có khí phách!” Hoàng đế nói lớn tiếng, sải bước vào cửa, sau đó mới nghe được một tiếng hô to của Cát Tường: “Hoàng thượng giá đáo!”
    “Hoàng thượng vạn phúc!” Nghị phi bước nhanh ra khỏi rèm, dẫn Hoà thục nghi và cung nữ thái giám quỳ xuống, trong lòng biết không ổn, cơ thể không ngừng run rẩy.
    “Vạn phúc cái gì!” Hoàng đế cưỡi ngựa xông thẳng vào cung Khánh Tường, trong tay vẫn nắm roi ngựa, quất trên không trung một cái, “Người bên cạnh trẫm đều sắp chết sạch rồi, có thể có lúc nào an bình à?” Đoạn xoay lại, dùng một tay nhấc Tịch Tà lên, thấy sắc mặt hắn trắng bệch, quần áo dính sơn đỏ trên gậy, đã chịu nhục thì không khỏi nổi cơn thịnh nộ, “Ngay cả người của cung Càn Thanh mà nàng cũng dám đánh chết, đi quá giới hạn tới mức này, trong mắt còn có trẫm không?”
    Nghị phi cố gắng nói: “Tên nô tài này đùa giỡn tần phi, hoàng hậu có ý chỉ nói không giữ được nữa.”
    “Đùa giỡn tần phi? Vậy bắt những người này tịnh thân làm gì?” Hoàng đế tùy tiện ngồi ở trên ghế, càng nói càng giận, đập “bốp” một chưởng ở trên bàn trà, “Tần phi? Tần phi nào? Sao trẫm chưa nhìn thấy?”
    Hoà thục nghi dập đầu nói: “Hoàng thượng vạn phúc.

    Nô tì Mộ thị, vào cung một tháng, vẫn chưa có duyên gặp vua.”
    Hoàng đế cười khẩy một tiếng: “Có người gặp mặt mỗi ngày thì đã sao, chẳng thấy tiến bộ hiền lương thục đức gì hết.”
    Cát Tường, Như Ý đều khuyên hoàng đế bớt giận.

    Tịch Tà quỳ trước chân hoàng đế, nói: “Là do nô tỳ không biết quy củ của cung Khánh Tường, tùy tiện vào điện.

    Xin hoàng thượng bớt giận!”
    “Rốt cuộc có chuyện gì?” Ánh mắt hoàng đế sáng quắc, căm tức nhìn Nghị phi.

    Nghị phi khấu đầu, lại nghẹn ngào không nói nên lời.

    Tiến Bảo đột nhiên quỳ bò lên trước, dập đầu vài cái rồi nói: “Vạn tuế gia bớt giận! Vốn là nương nương cho đòi Tịch Tà đến gian bên phải của buồng lò sưởi phía tây để hỏi, chắc là Tịch Tà không nghe rõ, báo tên xin gặp ở bên ngoài phòng tắm gian bên trái.

    Lúc đó Hoà thục nghi đang tắm, các cung nữ hoảng loạn để Tịch Tà bắt gặp.

    Nương nương quý trọng thanh danh của Hoà thục nghi nên mới xin ý chỉ xử phạt.

    Đây là một hiểu lầm, sai lầm của Tịch Tà vốn không lớn, nương nương cũng không có tội lỗi gì, xin vạn tuế gia bớt giận!”
    “Vậy là tốt rồi.” Hoàng đế nói thì nói vậy nhưng giọng vẫn u ám, “Nếu Tịch Tà vô ý thì việc hôm nay cho qua đi.

    Tịch Tà tạ tội với nương nương rồi về đi.”
    Tịch Tà quỳ nói: “Nô tỳ còn trẻ l* m*ng.

    Xin nương nương, Hoà thục nghi thứ cho tội đáng chết muôn lần của nô tỳ.”
    Hoàng đế sai Cát Tường đưa Tịch Tà về viện Cư Dưỡng rồi mới nói với mọi người: “Đứng lên cả đi, các người vô công rồi nghề cả ngày cũng không dễ dàng gì.”
    Nghị phi lau nước mắt, rũ tay đứng nghiêm một bên, nghe hoàng đế vẫn đang nói: “Nàng nên quản thúc người bên trong cung mình cho tử tế, về sau đừng để trẫm nghe thấy chuyện bỉ ổi thế nữa.”
    Hoàng đế chưa nguôi giận, đi tới ngoài cung Khánh Tường rồi mà vẫn chưa thấy liễn, bèn nói: “Chẳng lẽ còn muốn trẫm cưỡi ngựa về cung Càn Thanh à?”
    Như Ý tiến lên phía trước nói: “Vạn tuế gia, nơi đây cách cung Tiêu Cát của Hòa thục nghi không xa, chi bằng vạn tuế gia đến đó nghỉ một lát?”
    “Không đi đâu hết!” Hoàng đế vứt roi ngựa xuống mặt đất, “Về cung Càn Thanh!”
    Không lâu sau Cát Tường quay lại bẩm báo, Tịch Tà chỉ chịu một gậy, không có gì đáng ngại.

    Sắc mặt hoàng đế mới dịu lại, hắn ta truyền chỉ lệnh Tịch Tà sau này không được nhận lệnh truyền đòi đến các cung khác ngoại trừ cung Càn Thanh.

    Lúc bấy hắn ta mới thấy sợ hãi muộn màng đến mức đổ mồ hôi lạnh.
    Tịch Tà nhận được ý chỉ, nói với Khương Phóng tới hỏi thăm: “Đã ăn một gậy rồi mới được ý chỉ này, khả năng xoay chuyển của hoàng đế vẫn không nhanh bằng thái hậu.”
    Hắn nới lỏng phần trên áo, lộ ra một vết bầm đen trên lưng, làn da trắng như tuyết làm tôn lên nom dữ tợn lạ thường.

    Khương Phóng không dám thờ ơ, cẩn thận ấn xuống xương sườn của hắn, một lát sau mới thở phào nhẹ nhõm bảo: “May quá, xương cốt đều không sao.”
    Tiểu Thuận Tử mừng húm: “Vậy là tốt rồi, trông thật đáng sợ.

    Chung quy là công lực của thầy sâu xa.”
    Tịch Tà nói: “Không phải công lực ta sâu xa, là người cầm gậy kia nương tay.

    Con đi bọc một ngàn lượng bạc, lén lút tạ ơn hắn đi.”
    Tiểu Thuận Tử thè lưỡi: “Một ngàn lượng! Năm đó Tiểu Thuận Tử được người ta cứu một mạng, thầy chỉ cho có hai trăm lượng làm quà cảm ơn, tòm lại là tính mệnh thầy đáng tiền.”
    Khương Phóng “xì” một tiếng: “Thằng nhãi nhà cậu sao lại bì được với thầy cậu.

    Nếu là tôi thì năm đó sẽ trỏ vào mũi người kia, nghiêm khắc mắng hắn sao không để cho cậu sớm xong đời, giữ đến bây giờ ăn nói xấc láo khiến người chán ghét.”
    Tịch Tà mặc xiêm áo xong, cười nói: “Đại thống lĩnh sốt ruột đến điên rồi à? So đo với thằng nhãi này làm gì? Miệng chó của nó mọc ra được ngà voi à?”
    “Tôi sốt ruột.” Khương Phóng nghiêm mặt nói, “Trong cung chỗ nào cũng đều đâm sau lưng, trên đầu lục gia bao phủ mây đen, một khi có sơ xuất gì thì chẳng phải là hoàng thượng bỗng mất đi một cánh tay ư? Lúc này kẻ đầu tiên phải trừ chính là tên Tiến Bảo kia, còn hắn thì khó tránh khỏi thêm phần thị phi.”

    Tịch Tà nói: “Vẫn chưa cần vội như vậy, lúc này hắn ta ở ngoài sáng, không nên trò trống gì.

    Trừ hắn ta rồi, đối thủ vẫn sắp xếp người khác ở trong tối thì lại không dễ dàng đề phòng.

    Vả, sư huynh đệ cùng học một thầy đấu đá nhau thì chung quy sẽ làm người ta thấy chua xót.” Hắn nói thì nói vậy nhưng ánh mắt lại lóe lên ý khác.
    Khương Phóng ngầm hiểu, đứng dậy cáo từ.
    Tiểu Thuận Tử luôn nói năng không kiêng dè ở trước mặt Tịch Tà, đột nhiên hỏi: “Nói đi nói lại, tóm lại hôm nay thầy có trông thấy gì?”
    Tịch Tà giật mình, chỉ cảm thấy vầng hào quang diễm lệ ấy vẫn rọi ra một mảnh mê man trong lòng hắn, đôi mắt kinh hãi, cái eo mảnh, hai cánh tay duyên dáng của thiếu nữ che đậy hai ngọn đồi đầy đặn vẫn sống động như thật cứ mãi luẩn quẩn trong lòng hắn không chịu tan đi.

    Trong bồn tắm sơn đỏ cúa đai đồng mạ vàng, tấm lưng dịu dàng trắng ngần, dính đầy bọt nước như trăng sáng trắng muốt, e lệ nhô lên từ phía đông trong núi phủ mây mù.

    Vì sao nghĩ tới đây, mình lại dâng trào máu nóng, cả người như bị rút hết sức lực, cuối cùng chỉ còn lại hận thù thuần túy lạnh thấu xương? Nửa đêm đi dạo ngoài cửa, mặc cho gió đêm phất qua cả người nhưng lòng vẫn nhộn nhạo khó yên.

    Tịch Tà ngồi dưới hiên, ngửa đầu nhìn bầu trời, chợt có ý muốn ôm trăng sáng vào lòng mà khẽ khàng chạm tới.
    Chẳng phải cơ thể cô gái kia cũng hoàn hảo không tỳ vết giống vầng trăng sáng đó sao?
    Tịch Tà bỗng giật mình bừng tỉnh.

    Chẳng lẽ mình đã nảy sinh thứ gọi là d*c v*ng lần đầu tiên rồi ư? Nhiều năm trước mình từng nói “biết vào cung là có ý gì”, thì ra cho dù cậu bé mười hai tuổi tài trí hơn người, có can đảm có kiến thức nhưng vẫn chẳng hiểu gì cả.
    Mây trôi nhanh, ánh trăng bỗng nhiên biến mất, bóng tối đang khắc thật sâu vào khuôn mặt trong sáng trẻ trung của Tịch Tà.

    Hắn nghĩ trong khoảnh khắc đó mình đã mở được con mắt thứ ba, năm tháng của buổi loạn lạc vẫn luôn ở trong mắt mình nay trở nên thong thả dịu dàng.

    Đương lúc Minh Châu nương theo ánh mai đi vào trong viện, lần đầu tiên Tịch Tà phát hiện Minh Châu lại chậm rải, uyển chuyển vén nhẹ tóc mây như thế.

    Khi nàng nhìn lên ánh sáng ở ngọn cái cây già, khuyên tai xanh biếc sẽ nhẹ nhàng đong đưa ở chiếc cổ trắng nõn của nàng.

    Nàng đưa mắt trông lại, đôi môi cũng như thể lộ ra mùi thơm ngát của hoa sen nở rộ: “Lục gia dậy sớm thế không sao chứ?”
    Tịch Tà cười nói: “Ban đầu không có trở ngại gì, nhưng sau đó đặt lưng xuống giường thì hơi nhâm nhẩm đau, chỉ ngủ được hơn một canh giờ.

    Cô hãy pha ấm trà đặc để tôi tỉnh táo lại.”
    “Vâng.”
    Minh Châu đi pha trà, Tịch Tà tự đi thay quần áo.

    Tiểu Thuận Tử còn trẻ tham ngủ, Tịch Tà không so đo chuyện ấy với cậu nên vẫn chưa dậy thì hai người cũng không muốn đánh thức cậu, chỉ ngồi dưới hiên ăn lót dạ, nói mấy câu chuyện phiếm một lát.

    Lúc mặt trời mọc vẫn còn đẹp mà bấy giờ sắc trời càng ngày càng âm u, mây đen nhân gió đông ùn ùn kéo tới.

    Minh Châu đứng lên nói: “Chắc là trời muốn mưa.

    Hôm nay tôi còn phải đến cung Khánh Tường dạy thêu, chi bằng thừa dịp còn chưa mưa, lấy bọc đồ của tôi tới trước.”
    Tịch Tà hơi động trong lòng, mới định nói thì Minh Châu đã vội vã đi mất.

    Chẳng bao lâu sau mưa nhỏ đã tí tách bay xuống, Minh Châu ôm bọc đồ ở trước ngực, rảo bước quay lại.

    Tịch Tà cười nói: “Cô đúng là lười, sao không mở ô?” Nói rồi lấy khăn tay từ trong tay áo phủi đi hạt mưa nhỏ trong tóc nàng.
    Minh Châu nói: “Không ngờ mưa tới nhanh như vậy!” Nàng đi gấp nên mặt hây hây đỏ, lông mi cũng dính hạt mưa, con mắt đen láy phản chiếu sắc mưa, có một vẻ thông tuệ nhẹ nhàng hiếm thấy ở các cô gái trong cung.

    Minh Châu thấy hắn nhìn mình hồi lâu, cầm khăn tay mà ngẩn ra thì không khỏi cười, sẵng giọng: “Lục gia, ngài đang nhìn cái gì đấy?”
    Có người phì cười ngoài cửa, Như Ý căng tay áo che trên đầu, chạy đến dưới hiên, thấy vẻ mặt bối rối của Tịch Tà thì càng cười vui vẻ hơn: “Đúng đấy, em sáu đang nhìn cái gì đấy?”
    Minh Châu phỉ nhổ, nói: “Lại là nhị gia không đứng đắn này.”
    Như Ý bảo: “Học cách nói chuyện của cô là không đứng đắn, thế lục gia nhìn chằm chằm cô kia thì nghiêm chỉnh à?”
    Minh Châu đỏ mặt, nói: “Giờ tôi phải đến cung Khánh Tường rồi, không nói với nhị gia nữa.”
    “Chờ đã.” Tịch Tà kéo ống tay áo của nàng nói, “Tôi có mấy câu muốn nói với cô.”
    Như Ý cười to bảo: “Nói đi, nói đi, anh vừa ăn lót dạ vừa chờ!”
    Tịch Tà gọi Minh Châu vào trong phòng, nói nhỏ vài câu bên tai nàng, cuối cùng bảo: “Giao cho cô làm đấy.” Lúc bấy mới tiễn nàng ra bên ngoài, tự mình mở ô ra đưa cho nàng nói: “Cẩn thận.”
    Minh Châu gật đầu: “Tôi biết rồi.” Đoạn đi quanh co dưới chiếc ô trúc xanh.
    “Đáng tiếc!” Như Ý đột nhiên nói.
    “Nhị sư ca lại muốn nói gì?”
    “Không có gì.” Như Ý lắc đầu, “Thành Thân vương đang ở cung Càn Thanh chờ gặp em đấy.” Thấy Tịch Tà nhặt ô lên định đi, vội bảo, “Cứ thong thả thôi.

    Hoàng thượng nói rồi, chậm rãi đi vào là được.

    Cũng để cho anh ăn lót dạ và nghỉ một lát đã.”
    Tịch Tà cũng ngồi xuống, uống mấy ngụm trà rồi lại bắt đầu đờ ra.

    Như Ý lén liếc thấy, lặng lẽ cười.
    Thành Thân vương trông thấy Tịch Tà, gần như là nhảy lên, quan sát cả người hắn một phen mới cười nói: “Hôm qua ta cũng sốt ruột đến phát điên đấy.

    Hoàng thượng tới đúng lúc, anh không sao là được.”
    “Nhờ có lòng nhớ mong của vương gia.” Tịch Tà lại dập đầu tạ ơn với hoàng đế.
    Hoàng đế nghĩ đến chuyện ngày hôm qua vẫn nghiến răng nghiến lợi, biết rõ là thái hậu xui khiến lại không thể nói rõ, chỉ đành bảo: “Sau này khanh cũng phải cẩn thận, các chủ nhân trong cung ai nấy đều rất lợi hại đấy.” Hắn ta lại ban thưởng hai bình bạch dược mà Tây vương Bạch Đông Lâu cống nạp và mười lượng vàng cho Tịch Tà, vẫn cảm giác không thể bồi thường sự nhục nhã của hắn trước mặt mọi người, cơn tức lại lớn hơn, “Ngay cả người bên cạnh trẫm cũng dám nói giết là giết.

    Khanh chờ đấy, khi nào đó trẫm sẽ trút giận cho khanh.”
    Tịch Tà cười nói: “Hoàng thượng! Là do bản thân nô tỳ không cẩn thận, hai vị nương nương không so đo, nô tỳ đã muốn niệm Phật rồi, nào còn giận gì?”
    Thành Thân vương cũng thưa: “Qua rồi thì thôi, chẳng lẽ thật sự vì một nội thần mà xử phạt hoàng phi? Hoàng thượng đúng là tức đến hồ đồ rồi.

    Nào nào nào, sáng hôm nay không có việc gì, Tịch Tà cầm cờ cho hoàng thượng, chơi cờ, chơi cờ nào.”

    Mưa bên ngoài càng rơi càng to, hoàng đế nhìn hai người bọn họ cầm cờ chém giết, trong lòng lại sinh ra sự bình tĩnh vui vẻ, tình thế dần căng thẳng, sau này chẳng biết lúc nào mới có thời gian an nhàn thế này.

    Suy cho cùng thì tài đánh cờ của Tịch Tà cao hơn, hạ một nước xuống đã khiến Thành Thân vương đau khổ suy nghĩ hồi lâu, Tịch Tà một mực đỡ cằm yên lặng chờ.

    Nước này Thành Thân vương lại rơi vào thế bị động, đoán trước Tịch Tà nhất định sẽ đánh như bay nhưng một lát sau vẫn không thấy hắn có động tĩnh gì, y ngẩng đầu nhìn lên, Tịch Tà đã như đi vào cõi thần tiên từ lâu, không biết đang suy nghĩ gì.
    “Tịch Tà!” Ngay cả hoàng đế ngồi bên cũng thấy lạ.
    “A, vâng.” Tịch Tà nhìn bàn cờ, thuận tay đánh một quân.
    Hoàng đế lặng lẽ gọi Như Ý vào trước mặt, hỏi: “Sao thế? Chưa bao giờ thấy hắn không yên lòng như thế.

    Lẽ nào hôm qua chịu nhục trước mặt mọi người, đến bây giờ vẫn còn khó chịu à?”
    Như Ý phì cười, nói nhỏ ở bên tai hoàng đế.

    Trên mặt hoàng đế nổi lên nụ cười kỳ diệu, nói: “Thì ra là thế.”
    “Gì vậy ạ?” Thành Thân vương mới vừa đánh xong một nước, cũng lại gần, “Nói cho thần nghe thử với.”
    Hoàng đế cười gật đầu với Như Ý, Như Ý nhắc lại lời vừa rồi một lần.

    Thành Thân vương cất tiếng cười to: “Anh nói bậy, cho dù là nội thần, đã lớn như vậy rồi, làm sao lại không biết phụ nữ trông như thế nào.”
    Tịch Tà nghe những lời này, sắc mặt trắng nhợt cả ra, dường như vành mắt cũng đỏ lên theo.

    Hoàng đế nào biết là do sát tính của hắn đại phát, chỉ nghĩ lúc này hắn đang luống cuống tay chân trong tiếng cười của mọi người, lại nghe Thành Thân vương còn đang nói: “Sớm nghe Cát Tường nói Hoà thục nghi là nhân vật tuyệt sắc, hôm qua hoàng thượng thấy có phải vậy không?”
    Hoàng đế bảo: “Lúc trẫm đi vào, người đã quỳ khắp một phòng, nàng cúi đầu trả lời, còn có thể nhìn thấy gì?”
    Chợt nghe “cách” một tiếng lanh lảnh, Tịch Tà đánh một quân đen xuống bàn cờ, thu tay về rồi lạnh lùng nói: “Đã đánh cờ xong, nô tỳ xin cáo lui.”
    Hoàng đế và Thành Thân vương nghe giọng hắn chói tai, tình tình bỗng mãnh liệt thì giật nảy mình, kinh ngạc trông hắn chậm rãi lui ra rồi mới quan sát bàn cờ, quân đen kia rơi vào trong con rồng lớn giãy giụa hồi lâu của Thành Thân vương.

    Hai người tính toán rất lâu, ngẩng đầu lên nhìn vẻ mặt của nhau, cờ đến giai đoạn giữa, hơn bảy mươi quân cờ trắng bị một chiêu của hắn ăn sạch, Thành Thân vương chỉ còn lại ba mươi mấy quân cờ sống trên mặt bàn.

    Thành Thân vương lau mồ hôi, hai người cùng cười.
    “Làm người như Tịch Tà cũng phải lúng túng, hoàng thượng còn không mau đi xem xem Hoà thục nghi này là hạng nhân vật thế nào.” Thành Thân vương nói.
    Hoàng đế cười bảo: “Có lý.

    Cát Tường, Như Ý, lập tức truyền chỉ cho cung Tiêu Cát, đêm nay trẫm sẽ đến.”
    Thành Thân vương còn có ý khác, kéo Như Ý lại nói: “Anh là người phong lưu, anh hãy nói thành thật đi, ở ngoài cung có mấy cô vợ bé?”
    Như Ý cười nói: “Oan uổng, nô tỳ còn trẻ, nào có tiền mua đất xây nhà, không giống đại sư ca Cát Tường của nô tỳ…” Anh ta lại nói khẽ với Thành Thân vương, “Nô tỳ chỉ thường xuyên qua lại ở ngõ Lan Đình thôi.”
    “Tốt lắm, có việc giao cho anh đây.” Thành Thân vương bí mật bàn bạc với anh ta một hồi, chỉ chốc lát sau Như Ý đã cầm túi tiền đầy vàng của Thành Thân vương hì hì đi ra, vung vẩy tay áo lại đến viện Cư Dưỡng.
    Bên này Minh Châu cũng đã quay về, nói lại với Tịch Tà: “Nghị phi vốn không muốn gặp tôi, tôi chỉ nói có chuyện lớn liên quan đến tính mệnh mới gặp đấy.”
    Mọi người trong cung đều biết Minh Châu và Tịch Tà thân thiết.

    Lúc trước Nghị phi còn chưa kết oán với Tịch Tà, đã thích Tịch Tà giỏi đoán ý người, hầu hạ chu đáo, lại thích Minh Châu sảng khoái lanh lợi.

    Nay bị thái hậu xui khiến làm việc, ngược lại làm hoàng đế giận dữ trách mắng, tức giận đến mức đau bệnh ở trên giường, sao lại gặp nàng? Chỉ là cung nữ nói chuyện liên quan đến tính mệnh của nương nương, nói gì thì nói cũng phải gặp.

    Nghị phi chọc giận hoàng đế, rất sợ còn có tai hoạ về sau, chỉ đành ngồi dậy gọi nàng vào.
    Minh Châu dập đầu thưa: “Nương nương, sự việc quan trọng…”
    “Các cô xuống phía dưới.” Nghị phi phất tay cho mọi người lui, Minh Châu mới đến gần hơn.
    “Nương nương chớ giận, Tịch Tà có nói mấy câu muốn nô tỳ bẩm lại với nương nương.” Minh Châu thừa dịp Nghị phi còn chưa tức giận, tạ tội thay Tịch Tà trước.
    “Hắn còn có gì để nói nữa? Bây giờ là tâm phúc trong mắt hoàng thượng, chỉ sợ ở trong lòng hoàng thượng còn tôn quý hơn những tần phi bọn ta.”
    “Nô tài vẫn là nô tài, còn có thể lật trời hay sao?” Minh Châu cười nói, “Trong lòng Tịch Tà cũng không có ý trách nương nương.”
    Nghị phi hừ một tiếng.
    “Trong lòng Tịch Tà chỉ hận sư huynh đệ học cùng một thầy mà lại ầm ĩ như thế.” Minh Châu nhỏ giọng u oán nói, “Trong lòng đố kị sư đệ có quyền thế thì cũng thôi, tại sao còn muốn hãm hại nương nương?”
    Nghị phi “ồ” một tiếng, cuối cùng cũng đưa mắt nhìn Minh Châu.
    Minh Châu cười: “Nương nương là một người chủ tôn quý hiền lành, từ trước đến giờ đãi người dưới rất ôn hòa.

    Nếu tụi nô tỳ không đoán sai thì lúc đó tất có người khác giỏi trò xấu ở sau lưng.

    Bụng dạ kẻ này cũng chẳng hướng về Nghị phi nương nương đâu.”
    Nghị phi lãnh đạm nói: “Cô đang nói Tiến Bảo?”
    Minh Châu chẳng nói đúng sai, chỉ tiếp tục: “Xin nương nương nghĩ lại, trước đây có phải người này đã nói một mũi tên trúng hai con nhạn không ạ? Tịch Tà là một con, tạm thời không nhắc đến.

    Chỉ e tương lai Hoà thục nghi trẻ đẹp sẽ độc chiếm sự yêu chiều, không bằng cùng một thể…”
    Nghị phi cười lạnh nói: “Các cô nghĩ thật chu đáo.”
    “Bọn họ đều từ một thầy dạy mà ra nên cũng không khác nhau nhiều, chỉ là…” Minh Châu thở dài, “Dung sắc của nương nương nghiêng nước nghiêng thành, lại sinh cho hoàng thượng một vị công chúa, chỉ cần qua hai năm nữa tất sẽ sinh ra hoàng tử.

    Nương nương xuất thân tôn quý, tương lai mẫu nghi thiên hạ thì có khó gì? Chỉ vẻn vẹn một Hoà thục nghi, xuất thân nghèo hèn, có thể nhìn thấy mặt hoàng thượng hay không cũng chưa biết được, cần tên nô tài kia bận tâm làm gì chứ?”
    Nghị phi hơi động lòng, trên mặt hơi hiện nụ cười.

    Minh Châu vội vàng nói tiếp: “Nương nương lại nghĩ xem, chuyện này người ra mặt đều là nương nương, nếu hôm qua Tịch Tà chết thật, chủ nhân của ý chỉ kia chỉ cần thoái thác là nghe nương nương bẩm báo, bản thân hoàn toàn không biết là xong rồi, chỉ có một mình nương nương chịu trận lôi đình của hoàng thượng, chỉ sợ sau này sẽ không đến cung Khánh Tường nữa.

    Đến lúc ấy, ai mới là người cười?”
    Nghị phi rùng mình một cái, đứng lên hung ác nói: “Thì ra là thế, đây không phải là kế sách một mũi tên trúng hai con nhạn, vốn cũng đã gài bẫy cả ta, một mũi tên trúng ba con nhạn! Chuyện mà thành, mặt ngoài ả vẫn có thể lấy lòng, lại không làm mất lòng hoàng thượng.

    Hay cho một ả đàn bà cay độc!”
    Minh Châu nói: “Lòng dạ độc ác thì cũng đành, lại còn có rất nhiều nô tài nghĩ kế cho nàng ta.

    Nương nương có tin vui mang thai, lý ra nàng ta nên hận đến mức nghiến răng, làm cái gì có chuyện phái nô tài tâm phúc đến cung Khánh Tường? Bây giờ nghĩ lại, ngay cả nô tỳ cũng phải lau mồ hôi thay nương nương.

    Vẫn là Tịch Tà biết ơn nương nương đãi tụi nô tỳ không tệ, bảo người của cung Càn Thanh để ý hơn.

    Nương nương còn nhớ lúc ấy mỗi một thang thuốc người uống đều do Như Ý của cung Càn Thanh tự mình đến xem qua không? Nương nương chỉ nói là do vạn tuế gia phái đến, nhưng sao vạn tuế gia lường được dự tính của vị chủ nhân kia? Chẳng phải là hai sư huynh đệ bọn họ cùng hợp sức bảo vệ nương nương ư? Tịch Tà nghĩ tới đây vẫn rất đau lòng đấy ạ.”
    “Ta còn nghĩ tên Tiến Bảo này đang yên lành không làm nô tài ở cung Khôn Ninh lại trung thành tận tâm ở cung Khánh Tường, thì ra là một tên súc sinh giấu giếm dã tâm!” Hàm răng trắng như tuyết của Nghị phi cắn lên môi, đuôi lông mày đã lộ ra vẻ tàn nhẫn.
    Minh Châu nói: “Hôm qua nương nương có thấy hắn ta xoay chuyển mau nhường nào không? Hoàng thượng vừa đến đã phủi sạch quan hệ với mình, người như thế lõi đời khéo đưa đẩy, nương nương phải cẩn thận hơn.”
    Nghị phi gật đầu, thấy Minh Châu có ý xin cáo lui, rất lâu sau mới hạ quyết tâm, nói: “Cô về nói với Tịch Tà, không phải ta muốn làm khó dễ cho hắn, chỉ là trong cung có người nói hắn cả ngày cùng ăn cùng đi với hoàng thượng, dung mạo hắn quá xuất chúng, chỉ sợ hoàng thượng nảy suy nghĩ khác.

    Ôi, hôm nay hắn muốn cô truyền lời tới, ta rất cảm ơn hắn.

    Giờ hắn ở bên được hoàng thượng yêu quý, chỉ cần hoàng thượng còn đến cung Khánh Tường thì tương lai mọi người cùng chăm sóc nhau.”
    Tịch Tà nghe Minh Châu kể đến chỗ này thì cười bảo: “Tức là tôi giúp nàng ta leo lên ngôi hậu, nàng đảm bảo cho vinh hoa phú quý của tôi.

    Hừ hừ, mơ đẹp quá!” Hắn quay lại nói với Minh Châu, “Cô làm rất tốt, nếu cô ham tiền tài hay gì gì đó thì tôi có bạc để cám ơn cô đấy.”
    “Đừng nhắc tới cảm ơn với không cảm ơn.” Minh Châu đáp, “Chỉ cần lục gia không sợ tôi gây rắc rối, lại dẫn tôi đi ra ngoài một lát là được.”
    Tịch Tà mới đồng ý đợi thời tiết đẹp sẽ ra ngoài cung du ngoạn, chợt nghe Như Ý kêu to tiến đến: “Tịch Tà, hai anh em ta ra ngoài đi dạo nào!”
    Tịch Tà cau mày nói: “Mưa to thế chạy loạn khắp nơi làm gì? Nhị sư ca tự đi đi.”
    Như Ý cười nói: “Đây là hoàng thượng phái đi, sư ca muốn thành công thì không thể không có em giúp đỡ.

    Hoàng thượng đã cho phép rồi, còn không mau đi?”

    Tịch Tà hỏi mấy lần, Như Ý chỉ cười, không chịu nói là đi đâu, thúc giục hắn khoác áo dầu, đeo guốc đi mưa.

    Tiểu Thuận Tử cũng không bận rộn muốn tìm đồ che mưa của mình thì bị Như Ý gọi lại: “Có liên quan gì đến thằng nhãi nhà cậu? Việc bọn ta làm cơ mật cỡ nào chứ? Tốt nhất là cậu ngoan ngoãn trông nhà đi.” Minh Châu mù mịt, lo lắng nhìn hai người ra ngoài.

    Lúc này đã giờ Thân rồi, Như Ý vẫn thong thả, ra khỏi cung rồi qua cầu Thừa Vận, đến cửa Bảo Thạch trước, không thèm nhìn các quán nhỏ hai bên mà đến thẳng tiệp “Hồng Hạp”.

    Chưởng quầy từ bên trong nhìn thấy, chạy tới chắp tay thi lễ: “Nhị gia! Nhị gia! Trời mưa lớn như vậy còn ghé đến quán nhỏ, đúng là dát vàng cho quán, mời vào mời vào.”
    Như Ý gập ô cười nói: “Quán nhỏ cái gì? Dát vàng cái gì? Ngoại trừ trong cung thì chỗ của ông là lắm vàng nhất rồi, chớ chế nhạo tôi.” Đoạn trỏ vào Tịch Tà nói, “Đây là anh em tôi, mau lấy đồ trang sức đầu đẹp, thoa vòng đẹp của ông ra đây cho em sáu của bọn tôi xem thử.”
    Tịch Tà theo vào, kéo ống tay áo của Như Ý: “Nhị sư ca muốn làm gì đấy?”
    “Em quen hầu hạ ở bên cạnh chủ các cung, thấy nhiều châu báu vô giá hơn, mắt sáng như đuốc, thay anh chọn vài món tốt trước đi.”
    Chưởng quầy đã nâng từng hộp từng hộp đồ trang sức đắt đỏ trong tiệm ra.

    Tịch Tà nhìn một lát rồi chỉ vào một đôi đài sen phỉ thúy xanh biếc, một đôi vòng tay vàng khảm đồi mồi, nói: “Vẫn chưa thấy mấy vật này.”
    Chưởng quầy giơ ngón cái nói: “Đúng là người bên cạnh hoàng thượng, mắt thật tinh tường!”
    Như Ý nói: “Nếu đã tốt thì tôi sẽ lấy.”
    Người làm thuê tính bằng bàn tính xong, nói: “Tổng cộng bảy mươi ba lượng.”
    Chưởng quầy mắng: “Bảy mươi ba lượng cái gì? Bảy mươi lượng là bảy mươi lượng!”
    Như Ý cười, lấy ra hai tờ ngân phiếu bốn mươi lượng, nhét vào trong tay chưởng quầy: “Chỉ cần đồ tốt thì không thiếu chút tiền ấy đâu.”
    Chưởng quầy vội vàng sai người dùng hộp gỗ lom đựng đồ trang sức, bọc bằng giấy rắc vàng, lại sợ trời mưa làm ướt nên cố ý dùng lụa dầu bọc lại, cung kính tiễn tới cửa và dâng bằng hai tay.
    Tịch Tà thấy sắc trời dần tối bèn thúc giục: “Vậy cũng là việc? Cửa cung sắp khóa rồi, sư ca nên về sớm thôi.”
    Như Ý cười bảo: “Không giấu em, đêm nay hoàng thượng ở lại cung Tiêu Cát, không cần chúng ta nên cố ý để hai anh em ta nghỉ một ngày, sáng mai lại về cũng chẳng sao.”
    Tịch Tà nghe thấy ba chữ “cung Tiêu Cát”, sắc mặt lại trắng nhợt.

    Như Ý đã gọi xe, kéo hắn lên nói: “Khó lắm mới ra được, đi uống chén rượu đi!” Anh ta thì thầm vài câu với phu xe, xe ngựa bèn lộc cộc về hướng bắc, qua cầu Song Thu sang sông.

    Tịch Tà sẵng giọng: “Nhị sư ca đúng là thích làm theo ý mình, đang đi đến chỗ nào đấy?” Như Ý chỉ nói qua loa lấy lệ: “Đến rồi sẽ biết.” Xe ngựa đã quẹo mấy khúc cua, Tịch Tà tinh mắt, trông thấy trên hai chữ “Lan Đình” trên biển hiệu của nhà lầu phía trước, không khỏi phỉ nhổ: “Sớm đoán được nhị sư ca không đứng đắn thì em đã không ra ngoài.”
    Như Ý không nói lời nào, kéo hắn nhảy xuống xe: “Anh em ta không còn nhỏ nữa, cũng nên ra ngoài chơi đùa, có sao đâu?”
    Cát Tường thấy hoàng đế phê tấu chương quá muộn, tiến lên khuyên đi dùng cơm.

    Hoàng đế ném bút xuống, cười nói: “Sáng sớm còn nói đến cung Tiêu Cát, chi bằng ăn tối ở đó.”
    Cát Tường vui vẻ thay hoàng đế, phái người đến cung Tiêu Cát truyền tin, sai người chuẩn bị cỗ kiệu, mở mui che mưa xong rồi mời hoàng đế di giá.

    Cung Tiêu Cát ở phía bắc của đông lục cung, ven đường phải đi qua cung Khánh Tường.

    Hoàng đế nhớ đến trước giờ đều ở đi vào cửa Khánh Tường này, nhớ tới tình cảm năm xưa thì không khỏi muốn than Nghị phi hồ đồ.

    Suy cho cùng thì Cát Tường là kẻ giỏi đoán ý người, cách màn kiệu nói: “Vạn tuế gia, phía trước sắp qua cung Khánh Tường rồi, nghe nói hôm qua lúcNghị phi thức dậy, cơ thể không được dễ chịu…”
    Hoàng đế không nói một tiếng, chỉ từ tháo quạt xuống khỏi người, đưa ra ngoài mành.

    Cát Tường bèn vội vàng nhận lấy, chạy đến giao cho thái giám trước cửa cung Khánh Tường, thấp giọng nói: “Anh đi nói với Nghị phi nương nương, mặc dù vạn tuế gia còn bực bội nhưng dù sao đã có tình cảm nhiều năm với nương nương, nay hối hận lời nói hôm qua quá đáng nên cầm một tín vật tới, muốn nương nương tự trân trọng thân thể.

    Không có nương nương hầu hạ, vạn tuế gia cũng chẳng vui.” Thái giám mừng lắm, vội vàng cầm quạt chạy vào.
    Cát Tường lại đuổi kịp loan giá của hoàng đế, kêu to ở cửa cung Tiêu Cát: “Vạn tuế gia giá đáo!”
    Hoà thục nghi đã chờ chực hồi lâu, lúc này dẫn người trong cung đợi dập đầu đón giá: “Nô tì Mộ thị cung nghênh thánh giá của hoàng thượng, hoàng thượng vạn phúc kim an.”
    Hoàng đế đã nghe nói dung sắc của nàng hơn người nhưng lại chưa bao giờ lưu ý mà ngắm, lập tức tự mình tiến lên đỡ: “Đứng lên đi.” Hắn ta vốn định bảo nàng ngẩng đầu lên xem, lại thấy cổ tay nhỏ nhắn mềm mại trong tay đang run rẩy, trong lòng thương tiếc, không miễn cưỡng nữa.
    “Truyền thiện đi.” Hoàng đế ngồi rồi gật đầu với Cát Tường.

    Đây là bữa cơm trong cung tần phi, chỉ dâng lên mười sáu món ăn lớn nhỏ.

    Cát Tường tươi cười nâng chén ngọc đều đặn tới, ấy mới là rượu hợp cẩn.

    Hoàng đế nhận lấy uống một hớp, lại trao cho Hoà thục nghi, nàng khẽ ngửa đầu uống cạn.

    Cát Tường buột miệng khen, nói mấy lời may mắn.

    Hoàng đế cười nói: “Ngồi đi.”
    Cát Tường thấy Hoà thục nghi thấp thỏm lo âu, chỉ vắt khăn tay cúi đầu ngồi hầu thì cười nói: “Không phải là Hoà thục nghi sợ gặp người đấy chứ? Nếu như nô tỳ mà có ngoại hình như Hoà thục nghi thì sẽ lượn lờ trên đường cái cả ngày, chỉ sợ người khác không nhìn thấy thôi.”
    Hoàng đế cười rằng: “Không cần khanh đi khoe khoang, khắp kinh thành có người nào không biết khanh là một tên không biết xấu hổ?”
    Lúc bấy Hoà thục nghi mới ngẩng đầu lên cười, dung nhan diễm lệ bỗng làm muôn hoa thất sắc.

    Hoàng đế chợt thấy hoa mắt, ngây ra một lát, lúc tỉnh táo lại mới thấy vui sướng ngất ngây, than thở: “Thảo nào…”
    Cát Tường cười, lặng lẽ lui ra.

    Hoà thục nghi càng thấy bứt rứt, đỏ ửng mặt mày, vẻ xinh đẹp càng tăng lên.

    Hoàng đế nhìn nàng, uống chén rượu rồi hỏi: “Ở trong cung đã quen chưa?”
    “Vẫn ổn ạ.” Giọng Hoà thục nghi dịu dàng trang nhã.
    “Nhớ nhà không?”
    “Có lúc sẽ nhớ nhung ạ.”
    “À? Nàng cũng là con gái nhà quan lại, cha nhậm chức ở đâu? Trong nhà còn có những ai?”
    “Cha thần thiếp từng là đại tướng quân Tư mã Chấn bắc, hơn mười năm trước đã từ quan về quê, bây giờ cha mẹ đều ở nhà, còn có một anh trưởng.”
    “Nàng còn có một anh trưởng? Tên là gì? Đang nhậm chức gì? Sau này trẫm sẽ để ý, cũng tiện dẫn dắt hắn.”
    Hoà thục nghi lại cười một tiếng, nói: “Anh cả thần thiếp tên Xán, tự Ly Tư.

    Thần thiếp cũng không biết hiện giờ anh trưởng ở nơi nào.

    Trước kia cha thần thiếp đã nhờ bạn cũ chăm sóc để anh ấy làm quan nhưng anh lại không muốn, dưới cơn nóng giận đã trốn đi, sáu bảy năm rồi cũng không thấy về, bây giờ chắc đã tòng quân ở đâu đó.”
    Hoàng đế cười nói: “Họ Mộ, Mộ Xán, Mộ Ly Tư, nghe thật giống tên con gái.

    Theo như nàng nói, anh trưởng nàng cũng là một người con trai tốt có khí phách đấy.”
    Hoà thục nghi vội nói: “Tuy tên anh trưởng hơi mềm yếu nhưng là do một vị cao nhân tặng đấy ạ.

    Đạo sĩ kia xem tướng mạo của anh trưởng, nói trong mạng anh kim khí lớn mạnh, tính cách kiên cường, tất có tai nạn liên quan đến quân đội, trong tên phải có hỏa mới có thể khắc chế.”
    “Thì ra cha nàng cũng tin cái này?”
    “Ban đầu cha thần thiếp không tin, sau lại thấy anh trưởng quả nhiên thích võ nghệ binh pháp, mặc dù ngoại hình không xấu nhưng trời sinh tính cứng rắn giống như Kim Cang chuyển thế nên mới giậm chân đấm ngực mà hối hận, sớm biết thế trước đây đã đặt tên là Thán, tự Hỏa Thiêu là xong rồi.”
    “Mộ Thán[2], Mộ Hỏa Thiêu?” Hoàng đế không khỏi phì cười, “Vậy còn nàng thì sao, ở nhà gọi là gì?”
    Hoà thục nghi lại đỏ mặt: “Tên mụ của thần thiếp là Từ Tư.”
    “Mộ Từ Tư…” Hoàng đế chỉ cảm thấy cái tên này cực kỳ xứng với bộ dạng thướt tha uyển chuyển, đưa tình của nàng, trong lòng cảm thán một tiếng, lúc này tâm thần đều tập trung vào người nàng, tùy tiện ăn ít đồ ăn rồi nắm tay nàng chậm rãi đi về hướng tẩm cung.

    Mỗi khi đi một bước lại thấy tay Mộ Từ Tư lạnh hơn một chút, hắn ta ngồi vào mép giường, nắm tay nàng để vào lòng, cười nói: “Khá hơn chút nào chưa?”
    Trong mắt Mộ Từ Tư toàn là vẻ sợ hãi, nghi hoặc, thiếu nữ mười sáu tuổi ngây thơ thiếu nữ còn không biết hầu hạ, ra vẻ, chỉ run rẩy nói: “Chưa ạ.”
    Hoàng đế không nhịn được mà mỉm cười, ôm nàng ở trong lòng, cảm thấy ngực nàng mềm mại sát vào ngực mình, máu chảy cuộn trào mãnh liệt, t*nh d*c khó đè nén, bèn dùng đôi môi nóng bỏng hôn lên trán nàng mà rằng: “Lát nữa là ổn thôi.”[1] Tuần 10 ngày.
    [2] Thán 炭: than gỗ, than củi..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 14: 14: Tê Hà


    Ngõ Lan Đình tiếng tăm lừng lẫy ở kinh thành nên không giống những nơi khác, qua cổng chào là đèn hoa vui mắt, gió thơm lướt qua người.

    Vì là ngày mưa nên trên đầu có lán che mưa đỏ tươi bằng trúc, cả dặm đường hoàn toàn không hề bị ướt, trái lại cứ hơn mười bước sẽ có cột nước chảy xuống theo kênh trúc, đọng ở cống lộ thiên hai bên, tiếng nước róc ra róc rách, càng thêm vẻ lung linh nên thơ.

    Dọc đường du khách lũ lượt, tay áo hồng tranh nhau vẫy gọi ở hai bên, châu ngọc rung loạn trước mắt, quả là cảnh phồn hoa phung phí trong kinh.

    Như Ý hất vài cô gái đang quấn lấy, quay đầu cười nói: “Nhìn hai anh em ta phong lưu phóng khoáng vừa đứng ở đây đã hơn đứt người trên đường rồi.

    Chẳng trách ai nấy đều kéo chúng ta”.
    Tịch Tà cười khổ: “Chúng ta mặc áo dầu lụa xanh, óng ánh như chuồn chuồn, ai mà không biết là người đi ra từ trong cung, phong lưu cái gì!”.
    Như Ý ha ha cười to, khoác vai Tịch Tà đi về phía trước.

    Đi thẳng đến trước cửa của một căn nhà lớn ở giữa ngõ Lan Đình, bỗng thấy yên tĩnh hơn nhiều.

    Dưới hai chiếc đèn lồng đỏ ở cửa có một thằng nhỏ cài hoa bên tóc mai đang đứng, thấy Như Ý thì nói: “Nhị gia tới thật đúng lúc! Ma ma mới vừa nhắc tới đấy ạ”.
    “Ai thèm nhắc tới người vô tình vô nghĩa này?” Một người đàn bà đẹp mặc áo hoa đi ra từ bên trong, chập hơn ba mươi tuổi, che miệng cười nói với Như Ý: “Đã bao lâu rồi nhị gia không tới rồi? Tôi mới dặn bọn tây chân, nếu thấy nhị gia thì cứ đóng cửa lại, chớ gọi vào”.
    Như Ý kéo tay nàng nói: “Tôi chẳng những tới mà còn dẫn theo khách đấy.

    Em sáu, đây là cô nương Tê Hà”.
    Tịch Tà ở dưới bậc ngẩng đầu nhìn, bốn mắt giao nhau, cả hai cùng ngẩn ra.

    Tê Hà chợt cười nói: “Đó chính là lục gia ư? Có phải không? Mời vào!”.
    Dẫn hai người vào viện, men theo hành lang gấp khúc vòng qua tường xây làm bình phong ở cổng, một sân hải đường hiện ra trước mắt, cánh hoa bay lượn trong mưa, tôn lên đá vụn đầy rêu xanh.

    Đi qua chốn xa hoa trụy lạc đoạn trước trong ngõ, chợt cảm thấy vẻ thanh nhã phả vào mặt, tinh thần sảng khoái.

    Trước cửa phòng chính, hai bé gái để tóc trái đào cúi đầu kéo cửa gỗ chạm hoa ra, một tiếng hát véo von bỗng vang lên.
    “Lửa thơm không tiếc muốn đượm hết, sông xanh đa sầu chân trời quay”.
    Tỳ bà cuộn ra âm nước, réo rắt rồi ngừng lại, tiếng vỗ tay reo hò ầm ầm trong ghế lô buông rèm, còn có người cười nói: “Thì ra bài phú Nhiên Xuân của Giang Cư Phóng cũng có thể hát như thế, ha ha”.
    Lúc này cô ca kỹ mới đứng dậy để a hoàn nhỏ ôm tỳ bà lui về phòng sau.

    Tê Hà dẫn họ tùy tiện đi vào lô ghế riêng, cười nói: “Đó là một cô thanh quan mới[1] đến, luôn có kẻ chưa từng va chạm xã hội, cho rằng vậy là đã hát rất hay rồi, hai gia chớ chê cười”.

    Đoạn gọi a hoàn đến hầu hai người cời áo dầu guốc đi mưa ra rồi tự mình dâng trà tới: “Tôi đi thay quét phòng để hai gia uống rượu, hai gia ngồi ở đây một lát, nghe mấy khúc không lọt tai, tôi đi một lát sẽ trở lại”.
    Tịch Tà đợi nàng đi rồi mới hỏi: “Vị này là…”.
    “Chủ chứa ở đây, căn viện Tê Hà này chính là sản nghiệp của nàng, người phụ nữ này giỏi lắm!”
    Tịch Tà khảy lá trà trên mặt nước, chỉ cười một tiếng.
    Tê Hà quay lại rất nhanh, lại mời hai người dịch bước.

    Xuyên qua đại sảnh, phía sau là một đình viện, trồng hơn mười bụi cây mẫu đơn, một tòa lầu gỗ đối diện với chính đường hai tầng, trên tấm biển vết hai “Hồi Mâu” chẳng những đúng mực còn thêm chút đa tình.

    Tê Hà dẫn hai người lên lầu, mở một gian rồi cười nói: “Xin mời”.
    Như Ý bước vào trước, kêu lên: “Hay cho một mệnh quan triều đình, sao ngài cũng càn quấy ở nơi đây?”.
    Người đàn ông khôi ngô bên trong đứng dậy cười to: “Chính ngài là thái giám ngũ phẩm, không tính là có phẩm có hàm à?”.

    Vẻ mặt anh ta thoải mái, mắt hổ chứa uy, chính là Khương Phóng.
    Tịch Tà lại không hề kinh ngạc, tiến lên chắp tay: “Đại thống lĩnh”.
    “Lục gia”.

    Khóe miệng Khương Phóng mỉm cười, mời hai người ngồi xuống.

    Trên bàn tiệc mới bày rượu và thức ăn, Tê Hà bưng lên hai quyển sách một đỏ một xanh, hỏi Như Ý: “Nhị gia muốn ai tới tiếp đón?”.
    Như Ý đẩy quyển xanh ra nói: “Không cần thanh quan, anh em tôi tới lần đầu, đòi mấy người không hiểu chuyện này chích tay chọc chân cho chán ghét à?”.
    Lời vừa nói ra, Khương Phóng và Tê Hà đều rất mực lúng túng, không dám nhìn sắc mặt Tịch Tà.

    Khương Phóng ho một tiếng mới nói: “Đêm nay hai vị không trực ư?”.
    “Hoàng thượng cho chúng ta nghỉ, tôi bèn dẫn anh em tôi ra ngoài mở mang kiến thức”.

    Lập tức điểm danh Hàm Hương tiếp rượu, Tê Hà lại gọi Hải Lâm cho Tịch Tà, chờ đến Khương Phóng đã thấy anh ta đẩy quyển sách ra, mỉm cười nhìn Tê Hà nói: “Tôi không cần”.

    Tê Hà cất sách cười rồi tự đi, chẳng bao lâu sau đã dẫn hai ả đào đẹp tiến đến.

    Hàm Hương trước mặt vóc người đẫy đà, mày liễu mắt to, nhác trông sảng khoái giỏi ăn nói.

    Hải Lâm lại là người từ đầu đến chân không có một tấc nào không hiện vẻ đằm thắm, nhẹ nhàng cúi chào, lặng lẽ ngồi ở bên Tịch Tà.
    Như Ý lấy hộp đỏ bọc lụa, mở ra cho hai người xem: “Đây là lễ gặp mặt mà anh em tôi chọn riêng, tặng cho hai vị cô nương để chơi đấy”.
    Hàm Hương cầm vòng tay mà ngắm, biết giá không rẻ bèn cười nói: “Đa tạ lục gia, sao dám phiền ngài tiêu pha?”.

    Lại nhìn Như Ý cười nhạt một tiếng: “Nếu là đồ nhị gia tặng, cho dù là vật báu vô giá cũng phải làm nhị gia mất mặt.

    vì sao lâu như thế mà không đến thăm tôi? Chỉ sợ đã quên mất tôi từ lâu rồi, toàn mặc kệ người ta chờ đến nẫu ruột”.
    Như Ý ôm nàng vào lòng, cười bảo: “Viện Tê Hà các nàng chỉ có nàng là chua ngoa như vậy thôi, quên ai cũng không quên được nàng”.
    Hàm Hương phỉ nhổ: “Tôi sẽ kể lại lời này cho Tiểu Minh Nhi, ngày khác nhị gia sẽ biết thủ đoạn chua ngoa của nàng ấy”.
    Như Ý chỉ cười, uống chén rượu trong tay nàng.
    Hải Lâm cất hộp đỏ ở bên cạnh, nhẹ nhàng nói: “Đa tạ lục gia, lục gia uống rượu đi”.
    Tịch Tà đón lấy chén rượu từ trong tay nàng, uống một hơi cạn sạch, thấy mùi thơm cơ thể của nàng làm say lòng người, mặt đỏ lên trước.

    Khương Phóng nín cười thấy rõ, lặng lẽ đưa mắt ra hiệu với Như Ý.

    Hai kẻ này đều là nhân vật mạnh vì gạo, bạo vì tiền, sao không ngầm hiểu? Rót mấy lần rượu bèn vội kêu mệt.

    Như Ý ôm Hàm Hương đi.

    Khương Phóng chỉ làm như không thấy ánh mắt sắc bén của Tịch Tà, cười ha hả, đi theo Tê Hà.

    Trong phòng lớn như vậy chỉ còn Tịch Tà và Hải Lâm ngồi dựa vào nhau, Hải Lâm cười, lại khuyên Tịch Tà uống chút rượu, bày chút đồ ăn.

    Mấy chén rượu nguyên chất vào cổ họng, Tịch Tà dẫn thấy trong người, toàn là ý muốn v**t v* an ủi, thấy bàn tay nhỏ mềm mại của Hải Lâm hồng hào thì nắm trong tay, tựa đầu lên vai nàng.
    “Lục gia mệt rồi à?” Tiếng Hải Lâm hư ảo, dường như căn phòng tao nhã trước mắt cũng tỏa ra ánh sáng màu đỏ.

    Hắn được cô đào đẹp này đỡ lên trên giường, trong mê man đón lấy khăn tay lau mặt.

    Hải Lâm bưng chậu nước nóng ngâm chân, cởi áo cho hắn.

    Tịch Tà nằm ở trong chăn gấm, nhìn nàng tháo trâm gài tóc, tản mái tóc dài ra rồi nằm ở bên cạnh mình.

    Ngón tay trắng như tuyết của hắn hí hoáy lọn tóc của nàng, thấy nến đỏ hơi đong đưa, chiếu lên sóng mắt như tranh vẽ của nàng thì không cầm được mà cúi người m*t lấy đôi môi đỏ của nàng.

    Hải Lâm khẽ rên một tiếng, hai chân tr*n tr** chậm rãi quấn lên hông Tịch Tà, mặc cho ngón tay dần ấm lên của người thanh niên đang v**t v* da thịt ôn nhuận như ngọc khắp người một cách run rẩy.
    Dưới ánh nến, b* ng*c ấm đẹp như ngọc như trăng sáng nơi núi mù, đương khi cô thiếu nữ ấy xoay người, vòng eo há chẳng cũng nhỏ nhắn uyển chuyển như vậy ư? Khi nàng hoảng sợ đến mức cả người run rẩy, hai cánh tay há chẳng cũng mềm yếu vô lực như thế này ư? Lúc chiếc cổ thon dài mỏng manh của nàng ngẩng lên lộ ra tiếng rên lại đang trong vòng ôm của kẻ nào? Ghen ghét tựa như rắn độc phút chốc nhảy khắp người Tịch Tà, ý muốn v**t v* an ủi của thiếu niên mê man đó chợt biến mất dạng, thù hận và bi thương lạnh lẽo thấm vào khắc người hắn, ngón tay xoa ở cổ Hải Lâm cứng đờ càng ngày càng chặt.
    Màu máu nhanh chóng biến mất khỏi mặt Hải Lâm, nàng muốn kêu mà chẳng có sức, vô cùng hoảng sợ nhìn vẻ dữ tợn của Tịch Tà, hai mắt sắc bén như dao thì không cầm được lệ như suối trào, ngón tay lún sâu vào hai cánh tay của Tịch Tà, đầy ý cầu xin.
    “A!” Tịch Tà nghe thấy mình thở dài, chợt rút tay về, giãy giụa khỏi cơ thể Hải Lâm, nắm áo dài bên cạnh rồi nhảy từ trên giường xuống đất.

    Hải Lâm ho một tiếng rồi nhào tới ôm lấy chân Tịch Tà, phục trên mặt đất thở hổn hển nói: “Lục gia, lục gia đừng đi! Lục gia mà đi, ma ma sẽ đánh chết tôi mất”.
    Tịch Tà thấp giọng nói: “Chị ấy là một người dịu biết săn sóc, sẽ không làm vậy đâu”.
    Hải Lâm vội bảo: “Một người làm tú bà, không được như ý, bụng dạ luôn độc ác.

    Lục gia cứ coi thương xót tôi, không cứ vậy mà đi”.
    “Cô nói đúng, trước nay con người đều không được như ý.” Tịch Tà vốn đang hận thù khắc cốt ghi xương lại bị nàng nói đến mức mềm lòng.

    Hắn thấy nàng mặc áo lót trắng ủ rũ dưới đất, khẽ run rẩy thì khom người xuống lau đi nước mắt trên mặt nàng, dìu nàng ngồi lên giường: “Cô đừng khóc, chỉ cần cô không sợ tôi thì tôi sẽ không đi”.
    “Không sợ”.

    Lúc Hải Lâm nín khóc mà cười có vẻ hồn nhiên của thiếu nữ, lau khô vệt nước mắt, kéo Tịch Tà tựa vào vòng ôm mềm mại của nàng.

    Tịch Tà chỉ cảm thấy nhiều năm qua tâm thần đều mệt mỏi, chưa bao giờ an nhàn như vậy, ngoài cửa sổ ca bài hát hiếm thấy, mưa đêm vẫn nặng hạt, từng đóa mẫu đơn rực rỡ trên màn đỏ trước mắt cũng dần dần chập chờn.
    “Cửu gia!” Trong cơn mê man có người nhẹ nhàng lay người, Tịch Tà chợt mở mắt ra, ánh đỏ chiếu vào mắt, đã là ban ngày rồi.

    Bên gối đã không thấy tăm hơi Hải Lâm đâu, đến đánh thức lại là Tê Hà.
    “Mấy giờ rồi? Nhị sư ca của tôi đâu?” Trước nay Tịch Tà ngủ dễ giật mình, không ngờ đêm qua không mộng, ngay cả Hải Lâm rời giường ra ngoài cũng không biết.
    Tê Hà nói: “Nhị gia đã về cung từ sáng sớm rồi, thấy cửu gia ngủ say nên không cho quấy rầy, nói là hoàng đế đã biết, bảo cửu gia nghỉ ngơi cho tốt là được.

    Nô tỳ thấy sắp trưa, sợ gia lỡ mất chuyện gì nên mới đến hối dậy”.
    Tịch Tà ngồi xuống nói: “Đúng là hơi muộn rồi”.

    Hắn được Tê Hà hầu phủ thêm xiêm áo, đảo mắt thấy chỗ bị móng tay Hải Lâm đâm trên cánh tay đã dùng khăn lụa Hàn châu bọc lại, tựa như nhớ tới điều gì nên ngớ ra.
    “Cửu gia mệt mỏi rồi, không biết đã bao nhiêu năm không được an giấc”.

    Tê Hà cúi đầu đi hài cho hắn, nghẹn ngào nói.
    “Tôi không còn là cửu gia nữa rồi”.

    Tịch Tà mỉm cười bảo: “Gọi lục gia là được, chị cũng không cần tự xưng nô tỳ, người khác nghe thấy không tốt đâu”.
    “Vâng”.
    “Bao năm không gặp, vẫn chưa bồi thường chuyện không phải với chị thay me tôi.

    Chị sống có tốt không?” Hỏi ra lời này, Tịch Tà mới thấy thừa thãi.

    Nữ quan từng cầm tay dạy hắn viết chữ đọc sách ở vương phủ năm đó, chỉ vì mẹ đố kị loại trừ mà lưu lạc phong trần, còn có thể sống tốt hay sao?
    Tê Hà lại cười đáp: “Sao lại nói lời này? Là tôi không quen đối đãi với người khác, không thể trách vương phi.

    Sau khi xuất chinh trở về, việc đầu tiên lão vương gia là là thay tôi giết cả nhà tên vô lại kia, còn chuộc tôi ra, mua căn viện này cho tôi.

    Nay tôi vang danh kinh hoa, người sai khiến ngoài sáng đã có một hai trăm kẻ, có thể chia sẻ nỗi lo với gia, có gì không tốt?”.
    Mười tám năm trước Tê Hà chọn vào trong phủ Nhan vương, vì nàng có chút tiếng tăm tài nữ bên ngoài nên Nhan vương chỉ tên chăm sóc giáo dục đứa con thứ chín là Nhan Lâu.

    Trắc phi Trịnh thị sợ nàng được yêu chiều, thừa dịp Nhan vương dắt Nhan Khải và Nhan Lâu xuất chinh bèn bắt nàng làm lẽ của tiểu lại bộ lễ là Tùy An.

    Bà lớn trong nhà Tùy An là một người đàn bà đanh đá, không nói đến chuyện đánh mắng Tê Hà, bản thân Tùy An cũng là một tên mặt người dạ thú, mê cờ bạc, nợ người ta một nợ khổng lồ, cuối cùng lại đem bán Tê Hà vào lầu xanh.

    Lúc này Tịch Tà đoán Nhan Vương đã giết hết cả nhà Tùy An, chuộc thân mua chỗ ở cho Tê Hà cũng không phải hoàn toàn xuất phát từ lòng tốt chính nghĩa, cuối cùng chẳng qua là để sắp xếp thêm một đường cơ sở ngầm ở trong kinh.

    Nhưng Tê Hà chưa từng oán trách, quả là lấy ơn báo oán.
    Tê Hà lại nói: “Mấy năm nay chỉ từ miệng Khương gia và nhị gia biết được tin của lục gia, không ngờ đêm qua gặp được gia đã lớn như vậy.

    Lúc gia theo lão vương gia xuất chinh chỉ mới bảy tuổi, hôm trước khi đi tôi con đi giày cho gia đấy”.
    Tịch Tà nhớ lại mùa xuân ngoài cửa sổ phòng sách của Nhan vương đẹp như tranh vẽ, bàn tay trắng ngần của nàng cầm bút dạy mình học dịu dàng, tao nhã nhường nào.

    Nay thấy dung sắc nàng vẫn hệt như năm đó, song khóe mắt đuôi mày lại có thêm vẻ gió bụi bể dâu, mười mấy năm qua vẫn một thân một mình, tận tụy thay mình nắm giữ tám mươi hai đội ngũ trong kinh cho mình, ngón trò hiểm ác đã chiếm hơn nửa trong lòng, mà mình cũng trở nên ngoan độc xảo trá.

    Vẻ cao quý, hồn nhiên của một thầy một trò năm đó đều đã không còn sót lại gì, lúc này đều đã hoàn toàn thay đổi, bỗng đối mặt nhau mà không nói nên lời.
    Tê Hà dời ánh mắt đi, cười gượng rồi thấp giọng nói: “Nếu sau này gia còn đến, tôi vẫn luôn ở chỗ này chờ”.
    Tịch Tà gật đầu: “Sau này có việc muốn làm ở ngoài cung thì tôi sẽ tới nơi này của chị”.
    Tê Hà đẩy cửa sổ phía bắc ra: “Lục gia nhìn này”.

    Ngoài cửa sổ là một vùng trúc dài, xanh tươi che phủ tầm mắt.

    “Ngoài tường sau vùng trúc này còn có hai tòa lấu nhỏ, mở cửa nách ở đường bắc rất khuất.

    Lúc gia muốn tới, chỉ cần vào từ cửa sau thì sẽ không ai biết đâu”.
    Tịch Tà nói: “Vậy thì tốt, chị cũng phải cẩn thận”.

    Sau khi súc miệng rửa mặt, ăn ít trà bánh thanh đạm, Tịch Tà do dự một lát mới nói: “Chị này, tôi rất thích cô Hải Lâm kia, sau này chị đừng cố ép nàng”.
    Tê Hà không nhịn được cười một tiếng: “Không cần gia nói, tôi cũng biết.

    Ở đây còn có một việc, gia còn nhớ cô Tử Mâu đó không?”.
    “Là Tử Mâu mà hoàng đế chỉ định làm lẽ của Hoắc Viêm?”
    Tê Hà trầm mặt gật đầu: “Gần đây cái cô nương này không an phận đâu”.
    Tịch Tà cau mày hỏi: “Vẫn là tên họ An kia à?”.
    “Đúng vậy!” Tê Hà nói: “Vốn dĩ không cần gia nhọc lòng nhưng tôi nghĩ chuyện liên quan đến hơn mười mạng người nên vẫn bẩm lại cho gia biết”.
    Tịch Tà thản nhiên bảo: “Chị làm theo là được”.

    Lúc bấy bèn đứng dậy ra ngoài, bên ngoài mây mưa đã qua, đương lúc chính ngọ ấm áp, thấy gã sai vặt nâng đồ che mưa tối hôm qua đến, chỉ nói để ở trong viện bọn họ đi.

    Trên đỉnh đầu, cửa sổ hoa két một tiếng mở toang, là Hải Lâm nghe tiếng Tịch Tà nên ló mặt ra từ trong phòng, nở nụ cười xinh đẹp với hắn.

    Nàng nhẹ nhàng quăng một đóa hải đường trong tay xuống rồi mới mau chóng đóng cửa sổ lại.

    Tịch Tà ngẩng đầu nhìn, nhặt đóa hoa lên cài trên vạt áo, thong thả đi ra.
    Dẫu sao cũng là ban ngày nên ngõ Lan Đình khá quạnh quẽ, mấy người tôi tớ già quét đường ở trước cửa mỗi nhà, trên đường còn có mấy tiểu nhị của lầu rượu gánh hộp đựng thức ăn đưa đến mặt bàn trong lầu.

    Mặc dù dưới lán trúc mát mẻ nhưng thấy quang cảnh này vẫn khiến người ta lười biếng đến mức không xốc nổi tinh thần.

    Trước mặt lại có một người tuổi trẻ cúi đầu đi rất vội, Tịch Tà còn cách gã hơn bảy tám bước đã ngửi thấy mùi thơm nồng trên người gã, thầm cảm thấy buồn cười.

    Quả nhiên thân hình người trẻ tuổi kia đột ngột di chuyển, xuất hiện ở trước mặt Tịch Tà, đưa tay tới thăm dò hải đường trên vạt áo hắn.

    Tịch Tà khẽ búng ngón tay, kình lực đâm vào mu bàn tay của thanh niên nọ, ống tay áo phe phẩy làm thân thể gã xoay một vòng.

    Chàng trai kia khó lắm mới ổn định được hai chân, siết tay phải, cắn răng nhịn đau.
    Tịch Tà cười nói: “Anh thích thì cho anh đấy”.

    Đoạn đưa tay phủi một cái ở trên vạt áo, đóa hải đường kia rơi khỏi ngực hắn, cắm xoạt xuống tóc mai người trẻ tuổi kia.

    “Để anh Thẩm khổ sở đợi chờ một đêm đúng là thất lễ, hoa này coi như là tại hạ nhận lỗi vậy”.
    Thẩm Phi Phi ngượng ngùng thái hải đường xuống, hỏi: “Làm sao anh biết tiểu sinh đang chờ ở đây?”.
    “Tối hôm qua anh Thẩm đi theo, tại hạ vẫn luôn biết”.
    Thẩm Phi Phi mặt dày cười nói: “Ít ngày trước anh bảo người truyền tin tới, nói cô con gái của lão Hồ kia đã mừng rỡ đi lấy chồng, Lý Sư mới bằng lòng thả tiểu sinh ra.

    Tiểu sinh nhờ ơn, xin cảm ơn trước”.
    Tịch Tà gật đầu bảo: “Vậy là tốt rồi”.

    Đoạn xoay người định đi thì bị Thẩm Phi Phi tiến lên ngăn lại.
    “Đáng tiếc Lý Sư đó lại ép tiểu sinh hứa với y một việc, cứ khăng khăng ép tiểu sinh tìm anh.

    Tiểu sinh tìm khắp kinh thành cũng không có tin tức của anh, còn tưởng rằng đời này kiếp này sẽ lưu lạc ở đầu đường kinh sư, không ngờ…”.

    Thẩm Phi Phi quan sát quần áo trong cung của Tịch Tà từ trên xuống dưới: “Thì ra anh là công công trong cung, thảo nào không tìm được anh”.
    Tịch Tà cười lạnh nói: “Không tìm được tôi, anh Thẩm có thể đi thẳng một mạch.

    Trước nay Thẩm Phi Phi cũng không phải là người giữ chữ tín gì, chỉ e bên trong còn có nguyên nhân khác đúng không?”.
    Thẩm Phi Phi chỉ đành cười xòa hỏi: “Cô nương Minh Châu có khỏe không?”.
    “Khỏe lắm, phiền anh Thẩm nhớ tới rồi”.

    Tịch Tà chắp tay, lại định bỏ đi.

    Thẩm Phi Phi vội vàng nói: “Hãy khoan”.
    “Anh đã tìm được tôi, chỉ cần đi nói với Lý Sư, hiện giờ chớ làm lỡ chuyện chính của tôi”.
    Thẩm Phi Phi nói: “Tuy là tên Lý Sư này hung thần ác sát nhưng thật ra là một tên khờ khạo thành thật.

    Tiểu sinh nói với y cũng chẳng sao, chỉ sợ y cho là thật xông vào trong cung tìm anh.

    Nói thế nào các anh cũng là sư huynh đệ, có thể trơ mắt nhìn y đi chịu chết à?”.
    Tịch Tà cười bảo: “Anh Thẩm, anh cũng là một nhân vật trứ danh trên giang hồ, hơn mười sáu tuổi đã giết người phóng hỏa, không chuyện ác nào không làm, sao nay lại biến thành lòng dạ Bồ tát thế?”.
    Thẩm Phi Phi nghiêm mặt nói: “Nếu là người khác thì tôi chẳng thèm lo sống chết của y.

    Lý Sư ngây thơ chân chất, là người thực sự không có mảy may ý xấu nào, nếu y bị anh bẫy chết rồi, tôi và anh không xong đâu”.
    Tịch Tà cười thất thanh, mới định nói, đã thấy Thẩm Phi Phi đang nhìn về phía sau mình mà mặt mày hớn hở, nói: “Được rồi, chính chủ tìm anh đã đến rồi, anh nói với y đi”.
    Tịch Tà thầm hối hận đã để kế hoãn binh của gã kéo lại, xoay người lại quả nhiên thấy Lý Sư mang kiếm chạy như bay đến, trong miệng hãy còn hét lớn: “Tịch Tà, anh chớ chạy!”.
    “Đúng là oan nghiệt”.

    Tịch Tà không khỏi thở dài một tiếng, tiến lên nói phủ đầu: “Tôi nợ tiền anh à?”.
    Nụ cười sáng chói của Lý Sư cứng lại trên mặt, khó hiểu: “Không”.
    “Vậy vì sao anh cứ bám theo tôi không thôi, còn không trở về Hồ gia trang, huyện Hắc Phần, phủ Đại Sam, Bạch Dương của anh đi?”
    “Tôi đã cược với thầy rồi, nếu võ công của tôi không bằng anh, thừa nhận đã thua cược thì tôi nhất định phải đi theo anh”.
    Tịch Tà nói: “Tôi nói thật cho anh biết, tôi là thái giám trong cung, nếu anh muốn cả ngày theo tôi thì tịnh thân trước rồi hẵng nói”.
    Không ngờ Lý Sư lớn tiếng nói: “Được!” làm cho Tịch Tà và Thẩm Phi Phi giật nảy mình.
    Thẩm Phi Phi vội vàng cười bảo: “Đồ l* m*ng nhà anh” rồi ghé vào bên tai Lý Sư nói mấy câu.
    Quả nhiên Lý Sư tỏ vẻ mặt kinh hãi: “May mà anh nói trước, tôi còn tưởng chỉ là tắm rửa thôi chứ”.

    Y cau mày nói với Tịch Tà: “Việc này không thể được, còn có cách khác không?”.
    Tịch Tà lạnh mặt: “Không có”.
    “Tôi trốn trong cung cũng không được à?”
    Tịch Tà biết những lời này chắc chắn là do Thẩm Phi Phi dạy, trợn mắt với Thẩm Phi Phi, nói: “Càng không được! Không đợi anh chết, tôi đã bị anh hại chết trước rồi.

    Chi bằng anh về nhà trước, luyện võ mấy năm nữa rồi lại tìm tôi đọ sức, thế nào?”.
    Lý Sư cười bảo: “Anh đang lừa tôi, tôi vẫn nghe ra đấy”.
    Tịch Tà cười khẩy nói: “Anh vẫn không tính là ngốc.

    Võ công của tôi cao hơn anh cả chục lần, phải cần anh bảo vệ chăm sóc à? Anh muốn nghe tôi sai bảo thì trước tiên phải nói về một chuyện.

    Anh từng giết người chưa?”.
    Lý Sư giật mình: “Chưa”.
    Tịch Tà mỉm cười bảo: “Khi nào anh giết Thẩm Phi Phi thì coi như anh thật lòng, tôi cũng yên tâm giữ anh bên cạnh”.
    Thẩm Phi Phi hít một hơi khí lạnh, lùi lại một bước và lớn tiếng nói: “Sư huynh đệ các anh không vui vẻ, chuyện không liên quan đến tôi, đừng!”.
    Lý Sư cũng giận dữ, ánh mắt sáng quắc nhìn chằm chằm Tịch Tà, y nói: “Anh quá đáng rồi đấy! Gã không oán không thù với anh, anh đòi mạng gã làm cái gì?”.
    Tịch Tà hừ một tiếng: “Anh cho rằng gã là người tốt lành à? Mười ba tuổi gã đã quen thói trộm cắp, mười lăm tuổi đã bắt đầu giết người, lúc mười sáu tuổi một cây đuốc đốt trụi huyện nha sông Lục ở Khoa châu, làm chết hai mươi bảy người.

    Giờ muốn gã đền tử hình đền mạng thì chỉ sợ gã chết một lần vẫn chưa đủ đâu”.
    Thẩm Phi Phi thấy con mắt tức giận của Lý Sư quay lại dán ở trên người mình thì mặt không khỏi xám như tro tàn, giãy giụa nói: “Chờ đã”.
    “Tôi nói thật hay giả, anh hỏi anh Thẩm này là biết, tự xem mà làm đi”.

    Tịch Tà cao giọng cười, bỏ hai người ở trên đường, thong thả đi mất.
    Trở về cung, trong viện Cư Dưỡng chỉ có một mình Tiểu Thuận Tử đang lau mồ hôi, quạt bếp trà để pha trà dưới hiên.

    Nhìn thấy Tịch Tà trở về, cậu hoan hô một tiếng: “Thầy đã về rồi! Chị Minh Châu sắp điên rồi, nếu không phải nhị gia truyền thư tới thì e chị đã muốn rời cung tìm rồi.

    Vừa này cung Khánh Tường truyền tin đến nói là tứ gia đã về cung Khôn Ninh hầu hạ, chị Minh Châu dặn con nói cho thầy biết”.
    “Hắn đúng là một người cơ trí, trốn thật là nhanh”.

    Tịch Tà cảm thấy hơi thất vọng, ngồi một bên hỏi: “Giờ Minh Châu đang ở đâu?”.
    Tiểu Thuận Tử rót trà vào trong chén, dâng tới và nói: “Đến cục Thượng Công rồi ạ”.

    Cậu thấy trên cổ tay đón trà của Tịch Tà quấn lụa trắng thì cười hỏi: “Trên tay thầy là cái gì đấy?”.
    Tịch Tà cởi khăn tay lụa Hàn xuống, mặt trên còn lưu lại hương thơm của Hải Lâm.

    Ánh mặt trời xuyên qua tơ lụa nhỏ bé, chiếu lên ngón tay trắng sáng như tuyết của hắn.
    “Không có gì”.

    Hắn thuận tay ném khăn tay vào trong bếp trà, trông khói xanh lượn lờ tán đi rồi chậm rãi nói.
    “Cô nương, mặt trời gắt rồi, cứ đi lên trước cũng không có chỗ nghỉ chân, hãy để cho chúng tôi nghỉ lấy hơi được không?” Phu kiệu ở bên ngoài thương lượng với cô nhóc Bạch Dương.
    “Ôi, việc này thì phải hỏi tiểu thư của chúng tôi”.
    Tử Mâu vén màn kiệu lên, cười nói: “Nghỉ một lát cũng không sao”.
    Đã ra khỏi thành, cả vùng ngoại ô đều là đồng ruộng, trong mấy dặm chung quanh ngoại trừ các hộ gia đình, chỉ có căn đình nhỏ này tách ra, cho người đi đường qua lại một chốn nghỉ ngơi.

    Dưới bóng cây bên ngoài đình, một chiếc xe ngựa đẹp đã đỗ lại, thằng nhóc đánh xe lười biếng dựa vào càng xe mà xỉa răng, trong đình hai a hoàn vây quanh một vị phu nhân dâng trà, quạt mát.

    Bạch Dương nhìn từ xa, nói với phu kiệu: “Các anh nghỉ ngơi dưới bóng cây đi, tiểu thư vào trong đình ngồi một lát”.
    Tử Mâu được cô ta đỡ ra, ngồi xuống một góc trong đình.

    Hai a hoàn kia gật đầu mỉm cười với nàng, bưng chén trà lạnh tới nói: “Đều là người đi đường, nếu không chê thì mời dùng chén trà”.
    Tử Mâu vội nói: “Cảm ơn”.
    “Ôi, giọng nói này quen tai quá”.

    Phu nhân ngồi chính giữa buông chén trà xuống xoay người lại, kinh ngạc cười nói: “Đây không phải là Tử Mâu à?”.
    Tử Mâu và Bạch Dương thấy phu nhân kia thì đều kinh hãi.

    Tử Mâu làm rơi chén trà đánh cạch trên mặt đất, đứng lên run rẩy nói: “Ma, ma ma”.
    “Sao lại nói thế?” Người đàn bà kia che miệng cười: “Nay cô đã là bà hai nhà quan, có thể gọi tôi là chị Tê Hà là tôi đã niệm Phật rồi.

    Các cô đi đâu thế?”.
    “Chúng tôi…” Sắc mặt Tử Mâu trắng bệch, ấp a ấp úng một câu.
    Bạch Dương vội đáp: “Chúng tôi đi dâng hương”.
    “Dâng hương?” Tê Hà cười bảo: “Không nghe nói mười mấy dặm xung quanh có chùa có am.

    Các cô đi xa quá, thảo nào lại thương xót phu kiệu nhà mình, không ngồi cỗ kiệu của mình mà đi thuê người khiêng”.
    “Vâng”.

    Tử Mâu miễn cưỡng nói: “Chúng tôi đi xa, giờ xin cáo từ”.
    “Đừng!” Tê Hà đi lên kéo Tử Mâu lại và bảo: “Chậm một chút có hề gì.

    Lâu ngày không gặp, nói chuyện một lát đi”.
    Bạch Dương cười xòa nói: “Chúng tôi quả thực là vội lắm, ma ma để chúng tôi đi thôi”.
    Tê Hà cười: “Tôi nói với chủ mẫu của cô, không tới phiên cô xen mồm.

    Hiện nay chính vì có loại nô tài gian xảo như cô mới xúi giục chủ nhân làm chuyện xấu.

    Bản thân không suy nghĩ lại, khế ước bán thân vẫn còn ở trong viện tôi đấy, còn tưởng là có thể làm người trong sạch, thoải mái nói chuyện à?”.

    Đoạn nói với hai a hoàn của mình: “Đây vẫn là cô nương trong viện chúng ta, các cô trò chuyện với nó đi”.
    Hai a hoàn tiến lên, mặc cho Bạch Dương giãy giụa, bắt sang một bên, quát một tiếng trước: “Câm miệng”.
    Tê Hà kéo Tử Mâu ngồi xuống, than thở: “Nghe chị nói một câu, sau này chúng ta đừng đốt hương này nữa.

    Trước đây có phải là chị ép cô lấy chồng đâu, hỏi cô ba lần, là tự cô nói bằng lòng cơ mà.

    Tôi mừng rỡ chuẩn bị đầy đủ của hồi môn tiễn cô đi lấy chồng.

    Cô nói thích con bé Bạch Dương này, tôi không đòi cô một lượng bạc nào đã để cho cô mang đi, chính là để cô dốc lòng dốc sức hầu hạ chàng thám hoa.

    Rốt cuộc cô không được như ý ở chỗ nào? Không vừa lòng chỗ nào? Vì sao bây giờ còn trêu chọc tên họ An kia?”.
    Tử Mâu đã sợ đến hồn xiêu phách lạc rồi, thấp giọng khóc không thành tiếng: “Ban đầu là tôi sai, ma ma tha cho tôi đi.

    Người trong lòng tôi vẫn là công tử nhà họ An”.
    Tê Hà cười bảo: “Cô đúng là một kẻ si tình, đáng tiếc chỉ là hơi lẳng lơ.

    Cũng được, tùy cô vậy”.
    Tử Mâu thấy nàng dễ dãi như vậy, mới thấy kinh ngạc đã nghe hai tên phu kiệu đang ồn ào: “Có nhìn thấy phía trước không? Khói lớn quá, lẽ nào là cháy rồi hay sao?”.

    Tử Mâu chạy vội ra bên ngoài đình, chỉ thấy cách đó hai dặm khói đặc tận trời, chính là viện lớn nhà họ An, bèn quay đầu lại nhìn Tê Hà, trong vẻ kinh hoàng khiếp sợ đã quên mất bi ai: “Chị, chị…”.
    “Cô nương, đây không phải là nơi cô muốn đi hay sao?” Kiệu phu tiến lên hỏi.
    A hoàn của Tê Hà đi ra mắng: “Hừ, miệng các anh đứng là xúi quẩy.

    Cô nương này tới thăm mợ chủ nhà tôi, nay gặp trên đường nên không cần các anh nữa”.

    Nàng ta thanh toán chi phí đi lại của kiệu rồi đuổi phu kiệu đi.
    Tê Hà cười bảo: “Sao cơ? Chẳng lẽ cô thực sự đi đến nơi đó sao? Như vậy cũng tốt, chút chuyện xấu này của cô sẽ không còn người nào biết nữa, tránh để chàng thám hoa mất mặt.

    Cô không cần đi về phía trước nữa, xe của tôi lớn, để tôi chở cô về”.
    Bạch Dương nghe nàng nói đến “không còn người nào biết nữa” thì biết tính mạng mình khó giữ được, vừa định kêu cứu đã bị gã sai vặt kia tiến lên vả một cái vào miệng đến bất tỉnh, nhét vào trong xe.

    Hai a hoàn hầu hạ Tê Hà và Tử Mâu lên xe, gã sai vặt kia vẫn ngậm cây tăm, lười biếng vung roi da, chậm rãi chạy về thành.
    Tê Hà sắp xếp Tử Mâu về nhà, thấy người làm nhà Hoắc Viêm đi ra đón vào thì mới yên tâm quay lại ngõ Lan Đình.

    Xe đến trước cửa thì kịp lúc Khương Phóng đến.

    Nàng tự mình xuống xe, tiến ra đón và cười nói: “Khương gia, hiếm thấy”.

    Nhìn thấy hai người trẻ tuổi phía sau hắn, biết mà còn hỏi: “Hai vị này là thuộc hạ của Khương gia à?”.
    Khương Phóng nói: “Cô nói đúng rồi, hai vị này là bảng nhãn Du Vân Dao và thám hoa Úc Tri Thu của cuộc thi võ khóa năm nay, tới đây ra mắt cô nương Tê Hà”.
    Tê Hà thở dài: “Nhắc tới người tài giỏi đẹp trai trong thiên hạ thì luôn trăm sông đổ về một biển, chỉ cần là người bên cạnh hoàng thượng thì đều là kẻ bất phàm, sao không làm người ta thán phục cho được? Mời vào trong ngồi”.
    Hôm nay chính là thời gian điều động lại thị vệ trong cung, thị vệ mới trúng tuyển cũng điểm danh, phân đến các cửa các nơi.

    Vì mấy ngày trước hai người Du Vân Dao và Úc Tri Thu đã làm phật lòng đại thái giám Cát Tường và Tịch Tà nắm quyền trong cung nên trong lòng vô cùng lo sợ bất an.

    Quả nhiên, trong danh sách mới được điều đến cửa Càn Thanh, ngay cả bọn Hồ Động Nguyệt cũng được chọn, chỉ có Du Vân Dao và Úc Tri Thu bị phái đến làm việc ở thành cung, làm thị vệ cửa Tử Nam tầm thường.

    Khương Phóng thấy hai người ủ rũ thì đến cười nói: “Có gì đâu! Các anh vẫn là người trong hai mươi hạng đầu, tương lai còn dài, rồi sẽ có cơ hội để các anh kiến công lập nghiệp, không cần vội vã một chốc một nhát.

    Nói thế nào thì đây cũng là ngày đầu tiên các anh làm quan.

    Nào, chúng ta đi uống chén rượu”.
    Du Vân Dao và Úc Tri Thu còn trẻ hào sảng, nghe anh ta nói như vậy, chỉ ném chuyện không như ý ra sau đầu, thay đổi quần áo bình thường, theo anh ta dạo chơi dưới ngày trời trong xanh.

    Nào ngờ Khương Phóng rẽ mấy ngoặt, lại rẽ đến ngõ Lan Đình.

    Bọn họ đều là con em xuất thân từ gia đình nhà quan, gia giáo rất nghiêm, chẳng bao giờ đặt chân đến ngõ liễu tường hoa, trong lòng đang thấy không thích hợp, đã thấy Tê Hà cúi đầu đi ra khỏi xe.

    Nàng đã hơn ba mươi tuổi nhưng vẫn vô cùng xinh đẹp, ăn nói văn nhã, phong tháu cao quý, cách biệt trời vực với các cô gái trăng hoa tầm thường mà họ tưởng tượng.

    Lại thấy bố cục trong vườn khoan thai tĩnh mịch, người vật phong lưu đẹp đẽ thì bỗng chốc hốt hoảng ngẩn ngơ.
    Khương Phóng cười nói: “Đây là quán thanh nhã có tiếng tăm lừng lẫy trong kinh thành.

    Tôi là tên võ phu, không hiều nhiều lắm, chỉ là tay nghề của đầu bếp ở đây quả thật xứng là hàng đầu kinh sư, nhiều ngày không đến cho đỡ thèm liền cảm thấy xương cốt ngứa ngáy”.
    Tê Hà cười trách: “Khương gia không hiểu tình cảm thì thôi, nếu để cho các cô nương nghe thấy lời này, sau khi đau lòng nhất định sẽ đòi dỡ phòng bếp cho xem”.
    Ba người Khương Phóng đều là mệnh quan triều đình, lộ mặt ở trong chính sảnh thì rất bất tiện nên Tê Hà dẫn họ tới thẳng lầu Hồi Mâu phía sau.

    Lúc lên lầu hai đã có một thiếu niên ăn mặc xa hoa đứng ở hành lang, dựa vào lan can, nhận lấy chén rượu trong khăn tay của cô đào đẹp bên cạnh, cười uống một hơi cạn sạch.

    Hắn quay đầu nói với Khương Phóng: “Đợi đã lâu, sao giờ đại thống lĩnh mới đến?”.
    Du Vân Dao và Úc Tri Thu thấy hắn miệng cười ung dung, chính là Tịch Tà, nghĩ đến mấy ngày trước vừa mới nói năng l* m*ng với hắn, tất nhiên là rất xấu hổ.
    Tê Hà cười nói: “Thì ra lục gia cũng ở đây.

    Mấy vị có muốn ngồi chung không?”.
    Tịch Tà nói: “Chị không biết rồi, tôi chờ họ tới đấy, đã gọi người bày bàn tiệc xong lâu rồi”.
    “Gọi món gì thế?” Khương Phóng hỏi: “Có cá mè chua cay không? Tôi đến phòng bếp xem thử, học cách làm của họ”.

    Nói rồi cùng Tê Hà, Hải Lâm xuống lầu.

    Chỉ còn lại Du Vân Dao và Úc Tri Thu bất đắc dĩ chắp tay nói: “Đại tổng quản”.
    Tịch Tà nói: “Không dám nhận.

    Đó là lời đùa mà người khác lén nói, bây giờ nô tỳ vẫn là nô tài không phẩm cấp trong cung, hai vị nói như vậy, nô tỳ không nhận nổi.

    Xin mời”.

    Hắn đẩy cửa ra, vén rèm bên trong lên rồi mời hai người ngồi, ghế trên trống để lại cho Khương Phóng, tự mình cầm bình đến rót chén rượu cho hai người, nói: “Hôm nay tới là muốn xin lỗi hai vị”.
    Hai người lại càng hoảng sợ, Úc Tri Thu vội bảo: “Công công nói gì vậy? Muốn nói đến lỗi thì phải là bọn tôi có mắt như mù, lời nói ngày ấy rất xúc phạm.

    Tôi xin cạn trước chén rượu này coi như tạ tội”.
    Tịch Tà thấy hai người uống xong rượu vẫn tỏ vẻ mặt e sợ khó hiểu thì cười nói: “Hai vị đang nghĩ thầm rằng, đã vì mạo phạm sư huynh đệ các người mà hại bọn tôi bị phái đến ngoài cửa Tử Nam rồi, bây giờ mở tiệc Hồng Môn này, không biết lại định giở mánh lời gì, vẫn nên cẩn thận là tốt nhất, đúng không?”.
    “Không dám không dám”.

    Hai người bị lời nói của hắn vạch trần thì đều đỏ mặt lên.
    Tịch Tà nói: “Chuyện thường tình thôi, quá dễ phỏng đoán.

    Tôi cũng coi như là người học chút xíu võ thuật, hai vị thì càng không cần phải nói, chúng ta cứ sảng khoái đi”.
    Du Vân Dao cười rằng: “Nghe công công nói vậy, tôi cũng không ngại hỏi một câu, rốt cuộc công công có thâm ý gì?”.
    “Không ngờ anh Du đúng thật là người thẳng thắn!” Tịch Tà cười nói: “Thành thật mà nói, tuy sư huynh đệ chúng tôi xuất thân nghèo hèn, chỉ vì đã quen hầu hạ ở bên hoàng thượng nên mỗi người đều có tính tình cổ quái.

    Nếu không phải là nhân vật đương đại thì sư huynh đệ chúng tôi quả thật lười giao thiệp.

    Hai vị là hào kiệt, chúng ta cũng tính là vật họp theo loài, ý hợp tâm đầu”.

    Lúc hắn nói những lời này, vẻ kiêu ngạo tung bay trên mặt, hào hiệp lỗi lạc.

    Tuy tính cách Du Vân Dao và Úc Tri Thu khác xa nhưng đáy lòng thiếu niên đều ngông cuồng bất kham giống nhau, lập tức sinh ra sự gần gũi.
    Tịch Tà xua tay, bảo bọn họ đừng nói lời khiêm tốn, rằng: “Vạn tuế gia còn trẻ, chỉ một câu yêu cầu nô tỳ chọn võ tiến sĩ thay đã sinh ra không biết bao nhiêu trắc trở bên trong.

    Không giấu hai vị, từ đó về sau, tôi từng trúng độc, cũng từng chịu đánh.

    Hoàng ân của vạn tuế gia mênh mông cuồn cuộn, thương tính mệnh nô tỳ, nếu không hôm nay chúng ta sẽ không được ngồi trò chuyện cùng.

    Vạn tuế gia nói, khắp nơi trong cung đình đều là bẫy rập, bây giờ võ tiến sĩ bộc lộ tài năng, không nói đến việc bị người khác áp chế, chưa biết chừng mấy người nổi bật được chọn còn có thể gặp thủ đoạn độc ác của kẻ khác, khó khăn lắm mới chọn vào làm quan, bất kể thế nào cũng phải giữ được những rường cột tinh anh tương lai của triều đình.

    Tôi đã làm kẻ khác ghen ghét, các anh lại là người do tôi chọn thay, vốn đều cống hiến vì hoàng thượng, không có lòng riêng gì.

    Song chỉ sợ có vài người bụng chuột ruột gà, cho là chúng ta kết bè kết cánh, thể nào cũng coi các anh như cái đinh trong mắt.

    Bởi thế mấy ngày trước nô tỳ cố ý mạo phạm hai vị trên thao trường, tránh người ta lắm lời.

    Mong hai vị rộng lòng tha thứ”.
    Du Vân Dao và Úc Tri Thu ấy mới vỡ lẽ, không ngờ tranh đấu trong cung đã ác liệt như thế, đều rùng mình cả.

    Tịch Tà nói: “Nay hai vị được phái đến cửa Tử Nam là do hoàng thượng bàn bạc với Khương thống lĩnh đấy.

    Thị vệ cửa Càn Thanh đóng ở những nơi hiểm yếu trong cung, thị vệ cung Càn Thanh là cận vệ của hoàng thượng, không thể nói là không quan trọng.

    Nhưng người thường không biết, thị vệ cửa Tử Nam trước ba điện lớn, nội các, sáu bộ, phủ nội vụ, cả triều đình đều do thị vệ và cấm quân cửa Tử Nam nắm trong tay.

    Hoàng thượng nói, mặc dù trước kia cấm quân và thị vệ cửa Tử Nam không tính là người gần gũi hoàng thượng nhất, nhưng hai vị mới làm được việc lớn, tương lai còn dài, chắc chắn có thể thay hoàng thượng bảo vệ chỗ xung yếu này của triều đình”.
    Úc Tri Thu ấy mới biết đã được hoàng đế tin tưởng khen ngợi, không khỏi hăng hái.

    Nhưng Du Vân Dao lại nghiêm nghị ngẩn ra, nhìn Tịch Tà muốn nói lại thôi.

    Tịch Tà thấy rất rõ ràng, khẽ lắc đầu với anh ta, bảo anh ta chớ nói toạc ra.

    Úc Tri Thu bảo: “Ơn vua mênh mông cuồn cuộn, thần tất sẽ dốc sức cống hiến”.
    Tịch Tà cười nói: “Ban đầu là tôi lòng dạ hẹp hòi, nói với hoàng thượng, bọn họ còn trẻ, không hiểu được ý trọng dụng của hoàng thượng, vẫn phải nói rõ mới được.

    Lúc ấy vạn tuế gia cười tôi.

    Nay trông thấy, vẫn là hoàng thượng thánh minh, hai vị hiểu rõ ý vua, lấy đại cục làm trọng.

    Trái lại tôi mất công lo lắng, cô duyên vô cớ lại tranh mời khách với đại thống lĩnh”.
    “Ha ha, lục gia tiêu không hết tiền trong tay, chỉ một bàn rượu và thức ăn đã không nỡ đến thế cơ à?” Khương Phóng cười lớn, đi vào từ bên ngoài, gọi hầu gái đem cá mè đặt lên trên bàn tiệc: “Ba vị không đnahs không quen, lục gia cũng nên xin lỗi thuộc hạ của tôi, phạt một chén nào”.
    “Tôi sớm biết đại thống lĩnh là một người che chở kẻ dưới, rượu này không uống thì không xong rồi”.

    Tịch Tà bưng chén rượu lên chắp tay với Du Vân Dao và Úc Tri Thu, ngẩng đầu uống cạn.
    Úc Tri Thu nói: “Không dám nhận! Võ công của công công hết sức tuyệt diệu, ngày đó đã để chúng tôi mở mang tầm mắt”.
    Tịch Tà cười rằng: “Ngày đó liều mạng muốn khoe khoang đến nổi không thở được, làm các vị chê cười rồi”.
    “Ôi!” Khương Phóng nói: “Lục gia đừng khinh họ còn trẻ, họ mắt sáng như đuốc, sao không biết cảnh giới võ công của lục gia đã đến mức nhập hóa?”.
    “Chỉ sợ hai vị này còn lớn hơn tôi vài tuổi, sao tôi dám khinh họ còn trẻ được? Lời này của đại thống lĩnh sai rồi”.

    Tịch Tà cười to: “Kiếm pháp của hai vị hơn người, sau này còn phải xin chỉ bảo đấy”.
    Hắn sợ cửa cung khóa, rót rượu một lượt cho mọi người rồi thuận tiện cáo từ.

    Du Vân Dao và Úc Tri Thu mới biết hắn là người khá cởi mở, lúc này hơi lưu luyến không rời nhưng cũng chỉ đành thôi.
    Tịch Tà đi tới trước cửa vườn, Tê Hà chạy tới: “Lục gia phải đi rồi ư?”.

    Rồi liếc mắt ra phía ngoài liếc và nói: “Ngoài cửa có người vẫn luôn chờ tự lúc lục gia đến đấy, lục gia hãy cẩn thận”.
    Tịch Tà nhíu mày, quả nhiên lúc ra ngoài thì thấy Lý Sư tựa vào tường của con đường đối diện mà chờ.
    “Anh giết Thẩm Phi Phi rồi à?”
    “Không”.

    Lý Sư cúi đầu với thái độ khác thường.
    “Chẳng lẽ lời tôi nói không phải thực?”
    Lý Sư theo Tịch Tà chậm rãi đi về phía trước, qua một lát mới nói: “Lời anh nói đều là thực”.
    Tịch Tà quay đầu cười bảo: “Nếu anh đã không giết gã mà lại tìm đến tôi, chẳng lẽ là quyết định về Bạch Dương nên chào từ biệt với tôi à?”.
    “Cũng không phải”.

    Lý Sư giương con mắt trong veo lên: “Tôi cũng không biết có nên về không”.
    “Ồ?” Tịch Tà nhìn biểu cảm do dự phức tạp của y một cách vô cùng thích thú.
    Lý Sư nói: “Tôi nghe được rất nhiều chuyện của anh từ thầy.

    Lúc anh bảy tám tuổi đã giao chiến với Hung Nô, chỉ nguyện từ nhỏ đã là đuổi sạch Hung Nô, bảo vệ nền thái bình của Trung Nguyên”.
    “Tôi không giao chiến với Hung Nô, chỉ là trùng hợp ở đó thôi.

    Cho dù bây giờ võ công của tôi cao tới đâu cũng không thể đã đi đánh giặc từ lúc bảy tám tuổi được.

    Thế gian biến hóa nhanh chóng biết bao, chí nguyện của tôi đã khác trước từ lâu rồi”.
    “Thầy sẽ không lừa tôi đâu! Thầy còn dặn đi dặn lại tôi không được kể cho người khác nghe”.
    “Dù lời thầy là sự thật thì có liên quan gì đến anh?”
    “Tôi là người chăn nuôi ở Bạch Dương, ở đó, lúc dê bò di chuyển sẽ uốn lượn vài dặm, anh chị em đua ngựa chạy như bay cũng không phi đến biên giới thảo nguyên.

    Sau khi Hung Nô xuôi nam, thung lũng chăn thả của chúng tôi bị chúng chiếm mất, dê bò ngựa cũng bị chúng cướp vô số, mỗi ngày đều nguy hiểm đến tính mạng.

    Tôi có kiếm nhưng cũng chẳng chống nổi chúng nhiều người, tôi vốn muốn cùng anh đánh đuổi những con lang sói cướp thức ăn này, để các anh chị em của tôi đoạt lại đất của mình, con cháu đời sau người Bạch Dương sẽ không buồn không lo”.
    Tịch Tà cười: “Bạch Dương đã rất khá rồi, phía bắc Xuất Vân ngày ngày đều có người chết.

    Quét sạch Hung Nô không phải là chuyện mà hai người chúng ta tùy tiện nói là có thể hoàn thành, đây là chuyện của triều đình và quân đội”.
    “Tôi cũng từng muốn tòng quân”.

    Lý Sư nói: “Nhưng thầy nói với tôi, nếu như theo anh sẽ mạnh hơn tòng quân gấp trăm lần.

    Dù tôi có thể giết cả trăm người trên chiến trường cũng kém anh chỉ dùng một câu nói đã có thể đánh tan hơn vạn đại quân, cho nên tôi đã tìm đến anh.

    Nhưng mà…”.
    “Nhưng mà?”
    “Thẩm Phi Phi nói trước đây khi gã mười sáu tuổi đã giết tổng cộng ba mươi bảy người.

    Mặc dù gã biết mỗi người bọn họ đều đáng chết nhưng mỗi lần sau khi giết người đều hết sức khổ sở.

    Ba mươi bảy người này đều có vợ con lớn bé, dù tất cả mọi người trên đời đều hận chúng nhưng cha mẹ họ vẫn sẽ đau lòng, con cái của chúng vẫn sẽ biến thành trẻ mồ côi.

    Bọn họ không có chọc vào ai, tại sao phải chịu khổ như vậy? Bọn họ sẽ vô cớ báo thù với anh à? Giống như tôi vì người nhà của mình mà chiến đấu với Hung Nô, nói không chừng lý do giao chiến của chiến sĩ Hung Nô chết dưới kiếm tôi cũng giống tôi.

    Anh chị em và con cái của họ thì không nên có nhiều đất đai hơn để chăn thả bò dê của họ ư?”.
    Tịch Tà không ngờ lời như vậy lại được nói ra từ trong miệng một cậu chàng l* m*ng dễ kích động, kinh ngạc nở nụ cười: “Anh trúng độc của Thẩm Phi Phi rồi”.
    Lý Sư lại hỏi: “Chúng ta và Hung Nô giết tới giết lui như vậy là đúng hay sai? Rốt cuộc giết người báo thù giống Thẩm Phi Phi là đúng hay sai? Rốt cuộc giết một kẻ phạm tội để đền mạng là đúng hay sai? Tôi tòng quân giết địch sẽ có hơn trăm tên địch bị chết, nếu như tôi theo anh liệu có giết nhiều người hơn không? Từ trước đến giờ chỉ có thầy dạy lý lẽ cho tôi, giờ thầy không có ở bên nên chỉ có thể hỏi anh.

    Nếu như tôi không suy nghĩ cẩn thận thì tôi sẽ không biết sau này phải làm gì”.
    Tịch Tà cười lặng lẽ: “Thì ra anh còn là kẻ có phật tính.

    Anh hỏi như vậy đúng là làm khó tôi.

    Trước tiên tôi hỏi anh…” Hắn tùy ý chỉ một người qua đường nói: “Nếu như người này tiến lên giết tôi, anh có cản không?”.
    “Có chứ”.

    Lý Sư lớn tiếng nói.
    “Tôi chưa bao giờ bắt nạt hắn, thậm chí không biết hắn, chỉ là hắn vừa ý tiền tài trong túi tôi nên muốn lấy tính mạng của tôi.

    Trông thấy dao của hắn sắp đâm vào người tôi, anh không giết hắn thì tôi sẽ chết, anh sẽ làm sao?”.
    Lý Sư suy nghĩ một lát mới nói: “Tôi sẽ giết hắn”.
    “Nếu như người này là Thẩm Phi Phi thì sao?” Tịch Tà nhìn dáng vẻ vắt hết óc của Lý Sư mà khoái trá lạ thường.
    Qua một lát, Lý Sư mới nói: “Tôi sẽ ngăn cản gã, nhưng tốt nhất là gã chỉ bị thương, không cần phải chết”.
    Tịch Tà cất tiếng cười to: “Ở một khắc anh ra tay thì gã đã chết rồi.

    Nhưng nếu kẻ này là anh em của anh thì sao?”.
    Lý Sư nghẹn họng nhìn trân trân, trăm bề không lời giải, cuối cùng nói: “Tôi không biết”.
    Tịch Tà thở dài: “Lại giả sử không phải anh em anh tham tiền tài của tôi mà là tôi giết hại cha mẹ anh thì anh sẽ làm thế nào?”.
    Lý Sư không chút nghĩ ngợi: “Tôi sẽ không ngăn cản anh ấy”.
    “Đúng rồi”.

    Tịch Tà nói: “Chỉ cần giữ vững lập trường của mình thì mỗi một việc chúng ta làm đã không còn đúng sai gì nữa.

    Nói ngay như vừa rồi, đổi lại là Minh Châu thì nàng sẽ không quan tâm có phải tôi có thù oán với anh em của anh hay không, chỉ cần muốn làm tổn thương tôi thì nàng tất sẽ trừ khử thay tôi.

    Nếu con người thoát ly khỏi lập trường của mình để nhìn chúng sinh trôi giạt trên đời thì chẳng thà thành Phật cho rồi”.

    Hắn nói xong không kiềm được cười khẩy: “Nếu như pháp lực Phật tổ thiên thần vô biên, vận mệnh nhân duyên của chúng sinh trên đời đều do họ sắp xếp, nếu họ thật sự đại từ đại bi thì cớ sao lại nhìn cõi trần giết chóc không ngừng, oan oan tương báo? Mặc dù từ đầu tới cuối tôi đều là một kẻ xấu, vậy Phật tổ Bồ Tát thì tốt bụng thế nào mà lại để tôi sống ở trên đời để hại người? Không nói đến người nữa, ngay như chúng sinh đều có sát tính, lang sói săn cáo thỏ, hổ báo ăn dê bò, chúng ta đành phải giết người thì có gì nghiêm trọng mà anh phải rầu rĩ tới vậy?”.
    Lý Sư há miệng nhìn Tịch Tà chằm chằm, trong chốc lát nói không nên lời.

    Tịch Tà bảo: “Anh hỏi tôi, tôi bèn trả lời anh như thế, đều vì tôi không phải kẻ thiện tâm.

    Nếu anh đi theo tôi, chỉ e sau này không chỉ giết hơn vạn người.

    Đại tướng trong triều ta, có ai không phải vung cờ chiến, thi hài đầy đất sa trường chứ? Kẻ tuân lệnh bên cạnh tôi đều là nhân vật cùng hung cực ác, tôi cũng chẳng có lòng tốt với họ, chỉ cần cần thiết thì đều sẽ để họ chịu chết.

    Anh từng nghĩ tới cuộc sống như thế chưa? Nếu anh cảm thấy như vậy cũng không coi vào đâu thì tốt thôi, từ hôm nay trở đi tôi sẽ dạy anh võ công, để anh giết người phóng hỏa thay tôi, tay đầy máu tanh.

    Ngày nào đó vì muốn bảo vệ tính mạng, chỉ coi anh là đồ bỏ đi, khiến anh chết không rõ ràng là anh vừa lòng như ý rồi nhỉ? Nhưng tôi nói cho anh biết, bây giờ anh phải trả lời tôi ngay, tôi không có thời gian tiêu khiển với anh mỗi ngày đâu”.

    Hắn tiếp tục tiến lên, Lý Sư trầm mặc, vẫn theo sát phía sau hắn.
    Mắt thấy phía trước sắp ra khỏi cổng chào ngõ Lan Đình, Lý Sư đột nhiên nói: “Trước kia anh không đồng ý với tôi, thì ra là vì vậy?”.
    Tịch Tà nói mà không quay đầu lại: “Không sai”.
    “Anh sợ tôi bị anh hại chết nên không đồng ý để tôi đi theo anh?”
    Tịch Tà ngẩn ra, không khỏi xoay người lại, thấy ánh mắt Lý Sư ánh mắt lấp lánh mới nhận ra mình đã nói sai bèn lui về phía sau một bước, nói: “Gượm đã”.
    Lý Sư mang theo vẻ mặt tươi cười bừng tỉnh, tiến tới gần và nói: “Anh không muốn lừa tôi, rõ ràng chính là người lương thiện.

    Người như anh sao tính là cùng hung cực ác?”.
    Cơ thể Tịch Tà đã tựa trên cột của cổng chào, hoàn toàn không ngờ lời nói vừa rồi của mình lại làm tên Lý Sư ngay thẳng này nghĩ ra kết luận như vậy, sau khi buồn nản thì cười khẩy nói: “Nào có ai phân thiện ác dứt khoát rõ ràng được như anh? Đầu óc anh không thay đổi sao? Không phải đen thì chính là trắng à?”
    “Ha ha!” Lý Sư đã vứt hết nỗi hoang mang, cất tiếng cười to: “Cuối cùng tôi đã hiều rõ, bây giờ anh có muốn đuổi tôi đi cũng không được đâu”.
    “Này này, giữa ban ngày ban mặt mà dám chặn đường ăn cướp ở ngõ Lan Đình!” Phần lớn du khách ở Ngõ Lan Đình đều mang ngàn vàng trong túi, nếu như không ai nắm giữ tình hình thì đã đại loạn từ lâu, nào có cảnh phồn hoa như bây giờ.

    Lưu manh bảo kê ở ngõ Lan Đình thấy một người đàn ông vạm vỡ ăn mặc rách rưới siết chặt song quyền, thét to về phía thiếu niên gầy nhỏ ăn vận xa hoa, chỉ coi là giặc cướp bèn dẫn bốn năm người tiến lên cản lại.
    Lý Sư cười to nói: “Giết người thì đã sao? Các anh cứ xem như là đụng phải tay Diêm vương đi”.

    Vỏ kiếm bên hông vừa vang lên cành cạch đã rút kiếm ra.
    Tịch Tà quả thật chỉ sợ Lý Sư nghe vào lời nói kia của mình, giết người bừa bãi gây rắc rối bèn bước lên phía trước đè lại, quát lên: “Anh bớt giả điên đi, nói cái gì anh cũng cho là thật.” Lời ấy ra khỏi miệng thì càng hối hận không thôi, chỉ cảm thấy hôm nay phong độ trấn tĩnh bình thường bị thanh niên ngay thẳng này quấy nhiễu đến mức rối như tơ vò bèn trút hết cơn giận không tên lên mấy tên lưu manh, tiến lên hét lớn: “Chuyện của gia mà cũng cần bọn bay xía vào à? Cút!”.

    Tiếng rống to này đầy chân khí, ngay cả Lý Sư cũng thấy ngũ tạng chấn động, lắc lư mấy cái, càng không nói mấy tên lưu manh, chúng bị tiếng nói the thé đâm vào làm màng nhĩ đau nhức, máu tim cuồn cuộn, ôm đầu kêu đau.
    Tịch Tà hừ một tiếng, lôi tay áo Lý Sư rảo bước đi mất, chạy tới nơi yên tĩnh thì đột nhiên thở dài nói trong tiếng cười rực rỡ như vàng của Lý Sư: “Ý trời!”.
    [1] Bán nghệ không bán thân..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 15: 15: Úc Tri Thu


    Mùa hè ở Ly đô quả thực không dễ chịu, hơn triệu người chen chúc ở trong đô thành đã rất chật hẹp rồi, lại thêm một con sông lớn bốc hơi nước lên càng khiến cơn gió nhỏ như tơ nhện như dính ở trên người, oi bức đến không thở nổi.

    Trong chín cây cầu chỉ có cầu Phiêu Hạ còn khá mát mẻ, nhưng vì lắm người sang sông từ chỗ này, ngựa cũng chẳng chạy được.

    Đối với Khương Phóng mà nói, chắc chắn là đổ thêm dầu vào lửa.

    Khó khăn lắm mới đến trước lầu nóng, anh ta nhảy xuống ngựa, ném dây cương vào tay tiểu nhị và nói: “Chờ đấy!”.

    Đoạn bước nhanh lên lầu mà quan sát, vẫn không thấy bóng dáng của Tịch Tà và Minh Châu.

    Anh ta chỉ “ha” một tiếng, còn chưa kịp khó chịu đã quay đầu chạy xuống dưới, giục ngựa chạy tới am Tịnh Thủy.

    Khương Phóng buộc ngựa vào cây trước cửa am rồi chạy nhanh về phía điện chính.

    Quả nhiên nghe thấy Minh Châu nói ở trong sân: “Đúng là đần, nói mấy lần mới biết đây?”.
    “Vâng”.

    Lý Sư thành thật nói: “Cô múa lại một lần cho tôi xem”.
    Minh Châu than thở với Lý Sư: “Không trách anh được.

    Chiêu này là Đoạn hồn kiếm mà tứ sư huynh Tiến Bảo của anh sáng tạo ra, đồ ngốc nhà anh làm sao học nổi sự độc ác nham hiểm bên trong?”.

    Nói rồi cầm kiếm đứng dưới bóng cây, eo dịu dàng dãn ra, người bỗng ngửa về đắng sau, lật bàn tay một cái, mũi kiếm xẹt qua yết hầu mình cắm phậkp vào trên cây khô.

    Ánh mặt trời xuyên qua kẽ lá chiếu lên thân kiếm sáng như tuyết, chiếc cằm mảnh khảnh, trắng nõn ngửa thành một đường thẳng, đẹp đến mức lộng lẫy, giá rét.
    “Hay!” Thẩm Phi Phi ở bên cao giọng hoan hô.
    Tịch Tà gõ quạt lên ngón tay gã: “Anh còn đánh cờ nữa không?”.
    “Còn”.

    Thẩm Phi Phi vội vàng né tránh ánh mắt sắc bén của Minh Châu, trông bàn cờ nói: “Anh đánh chỗ nào đấy?”.
    Khương Phóng thấy họ hòa thuận vui vẻ, nhàn hạ thoải mái thì càng giận không chỗ phát tiết, sải bước vào trong sân rồi quát to: “Tống Minh Châu tiếp chỉ!”.
    Minh Châu vội vàng thu kiếm lại, vừa định cười nói với Khương Phóng đã thấy mắt anh ta như sắp phun ra lửa.

    Nàng không biết vì sao anh ta tức giận, bước vội mấy bước, tươi cười quỳ xuống nói: “Nô tỳ Minh Châu tiếp chỉ”.
    “Truyền ý chỉ của thái hậu, nữ quan Tống Minh Châu cục Thượng Công lập tức đến hành cung Thượng Giang dạy thêu thùa nữ công, chọn ngày khởi hành không được làm lỡ”.
    Dưới hiên, Tịch Tà đứng dậy, chắp tay sau lưng mà mỉm cười, thấy Minh Châu đứng dậy mới bảo: “Tức giận gì thế? Trời nóng bức, uống chén trà trước rồi hẵng nói”.
    Nếu Minh Châu đã chịu ấm ức, cơn bực dọc của Khương Phóng cũng tiêu hơn nửa, cướp lấy trà uống vài ngụm rồi nói: “Hoàng thượng muốn ngài giải quyết công việc của cục Châm Công nội trong tháng này nhưng ngài lại ra ngoài chơi, hai hôm chưa về cung thì đáng tội gì?”.
    Tịch Tà cười bảo: “Để Tiểu Thuận Tử làm chuyện này là được rồi.

    Nơi đây mát hơn trong cung, ở hai ngày để tránh nóng”.
    “Hừ hừ…” Khương Phóng cười khẩy, lấy ra ba cuốn sổ gấp da trắng từ trong ngực đưa cho Tịch Tà, “Xem cái này trước đi”.
    Tịch Tà tách khỏi Thẩm Phi Phi, mở cuốn thứ nhất.

    Thì ra là tai mắt trong kinh của Nhan vương bẩm rằng gần đây có người hành động, nghỉ lại am Tịnh Thủy, hỏi xem có cần điều tra rõ lai lịch hay không.

    Tịch Tà bật cười nói: “Lũ dâng miếu Long vương[1], những người này chăm chỉ đấy”.
    “Đây vốn là sản nghiệp của vương phủ, tất nhiên phải trông cho kỹ rồi”.
    “Không thể ở lại am Tịnh Thủy nữa”.

    Tịch Tà thở dài: “Chỗ hóng mát trong kinh thành không nhiều, dè đâu ta vất vả tổ chức mà giờ lại còn bị hại”.

    Hắn lại mở cuốn điệp báo khẩn cấp của Tống Biệt vốn đang ở cạnh vương tử Đại Lý là Đoàn Bỉnh ra, nhíu mày nói: “Một người trong cung? Anh nói xem là nhắm vào ai?”.
    “Kẻ y muốn giết là người trong cung, còn cần nói nữa sao? Đương nhiên là…” Khương Phóng đảo mắt, nhìn thấy Lý Sư nhìn mình chằm chằm với vẻ hung ác bèn nuốt hai chữ “chủ nhân” vào, thấp giọng nói: “Đương nhiên là ngài”.
    “Ta?” Tịch Tà không khỏi cười dài: “Đến đúng lúc lắm!”
    Khương Phóng vội nói: “Chỉ e võ công của y ngang hàng với ngài, nếu gặp phải thì ắt cả hai đều thiệt.

    Tôi không thấy ngài ở trong cung nên sốt ruột vô cùng, sao hễ nhắc tới Lôi Kỳ Phong là ngài lại hăng hái như thế?”
    Tịch Tà cười rằng: “Có thù không báo thì chẳng phải người quân tử”.
    Khương Phóng đành nói: “Không nói chuyện này nữa.

    Nên trả lời tấu của Tống Biệt thế nào đây?”.
    “Lôi Kỳ Phong mai phục ở Đại Lý là để đối phó Đoàn Bỉnh, nay Đông vương rút y lên kinh ám sát ta, nhất định là đã có thủ đoạn quyết sách khác ở Đại Lý.

    Anh trả lời Tống Biệt là ra tay trước mới chiếm được lợi thế.

    Vua Đại Lý chỉ có hai ngươi con trai, một người chết thì chỉ có Đoàn Bỉnh nối ngôi, không cần sợ trở mặt”.
    “Dám chắc là Đông vương ư?”
    “Lôi Kỳ Phong chỉ lượn quanh Hồng vương và Đông vương.

    Hồng Thất Trú lỗi lạc đa mưu, muốn đối phó tôi còn khinh phải lén lút.

    Chỉ là sao Đông vương lại đột nhiên kiêng dè ta chứ?” Tịch Tà lại xem lại sổ gấp một lần, chợt cười gằn: “Lôi Kỳ Phong, hừ hừ”.
    Khương Phóng rút sổ gấp của Tống Biệt ra khỏi tay Tịch Tà, nói: “Phong thư thứ ba còn quan trọng hơn”.
    Đó là điệp báo phía bắc, thiền vu Quân Thành đã dẹp yên các bộ phận của thảo nguyên, bị thương nặng trong trận chiến ở Hạ Lý Luân.

    Con trưởng Tả Đồ Kỳ vương của thiền vu là A Nạp đã điều binh mã Hung Nô đang tấn công vùng Nhạn Môn, Xuất Vân về doanh ứng biến, lúc này Hung Hô gần Lương châu đang lục tục lui binh.

    Tịch Tà gập sổ lại đánh cộp một tiếng, hỏi: “Chừng nào thì quân báo khẩn của Tất Long đến kinh?”.
    Khương Phóng đáp: “Đoán chừng còn bốn năm ngày”.
    “Vậy thì tức là đưa thẳng đến hành cung?” Tịch Tà nhìu mày: “Xem ra ta vẫn phải đến Thượng Giang một chuyến”.
    “Thời tiết này không tiện để chủ nhân đi lại”.

    Khương Phóng nói: “Vả lại Lôi Kỳ Phong đã ở kinh kỳ, chi bằng thuộc hạ truyền lời thay chủ nhân”.
    Tịch Tà lắc đầu: “Sự việc trọng đại, ta vẫn nên tự đi.

    Song không có ý chỉ, ta không tiện rời kinh.

    Anh hãy mau chóng về Thượng Giang, bảo hoàng đế truyền ta đến đó.

    Tróng các thị vệ dưới trướng anh có ai rỗi rãi không?”.
    Khương Phóng đáp: “Hiện đều ở Thượng Giang, chỉ có hai người Du Vân Dao, Úc Tri Thu là khá đáng tin”.
    “Biết rồi, anh lại xin thủ lệnh cho Úc Tri Thu, cứ nói gã thành thạo bắn cung cưỡi ngựa, hoàng đế muốn gã theo giá đi săn, khởi hành cùng ta cốt để hộ tống”.
    “Du Vân Dao há chẳng tốt hơn à?”
    “Nếu trên đường đi gặp phải Lôi Kỳ Phong, e là không chết người không xong.

    Du Vân Dao cơ trí, chín chắn, là một kẻ tài, ta không muốn bị mất anh ta sớm như vậy”.
    Hai người liếc nhau một cái, Khương Phóng chậm rãi gật đầu, cất sổ con định đi.

    Lý Sư đi toiws hỏi Tịch Tà: “Người này là ai thế?”.
    Tịch Tà nhỏ giọng nói: “Người này chính là đương kim thống lĩnh thị vệ, võ công rất lợi hại, có mấy tay võ cử nhân mà anh đấu lúc trước hiện là thuộc hạ của anh ta đấy”.
    “Võ công rất lợi hại?”
    Tịch Tà ở bên cạnh mỉnh cười nhìn đôi mắt Lý Sư bắt đầu phát sáng thì đi gọi Minh Châu dọn đồ về cung.
    “Này, anh đợi đã”.

    Lý Sư bước mấy bước đã đuổi kịp Khương Phóng: “Nghe nói võ công của anh không tệ, chúng ta so tài đi”.
    Khương Phóng cười nói: “Tôi là mệnh quan triều đình, anh là giặc cướp dân đen, không đánh cùng được đâu.

    Cáo từ”.
    Lý Sư quát to: “Để anh tiếp kiếm pháp của giặc cướp dân đen này!”.

    Y nâng ngang thanh kiếm định ra chiêu.
    Khương Phóng lướt về sau hơn một trượng nhanh như đại bàng, mũi chân nhẹ nhàng chạm đất, người đã lướt ra khỏi cửa, xa xa cười nói: “Kiếm pháp? Anh còn tệ lắm”.
    Tịch Tà nhìn vẻ mặt kinh ngạc của Lý Sư dần trở thành hâm mộ thì cười thở dài, thấp giọng lẩm bẩm: “Đáng tiếc”.

    Không ngờ Minh Châu đang ở xa xa liếc mình, vì vậy hắn mới ngượng ngùng nói: “Tôi chỉ muốn xem gần đây võ công của Lý Sư có tiến bộ không thôi”.
    Minh Châu liếc xéo hắn, tự đi dọn dẹp chén trà.
    Tịch Tà dặn đi dặn lại Lý Sư và Thẩm Phi Phi, bảo bọn họ không được ở am Tịnh Thủy nữa, lúc bấy mời chia tay về cung.

    Hôm sau Minh Châu theo Khương Phóng đến Thượng Giang, Tịch Tà sai Tiểu Thuận Tử thu dọn hành lý kỹ càng, chỉ chờ ý chỉ đến là khởi hành.

    Ai ngờ đợi hai ngày, đến chạng vạng ngày thứ ba mới nhận được khẩu dụ của hoàng đế.

    Thì ra lúc ấy hoàng đế không ở hành cung Thượng Giang, sau khi dẫn thị vệ đi bao vât thì săn bắn ở phía tây, nơi đó cách Thượng Giang nửa ngày đường.

    Tịch Tà sợ đi suốt đêm sẽ gặp Lôi Kỳ Phong đánh lén nên dù chuyện khẩn cấp cũng chỉ có thể đợi thêm một đêm.
    Hửng sáng hôm sau, hắn gặp Úc Tri Thu ở cửa Tử Nam, thấy vẻ mặt gã hồng hào.

    Người đeo cung lớn, quả là phong thái hiên ngang oai hùng.

    Hắn khen tốt trong lòng nhưng trước mặt mọi người vẫn chỉ chắp tay lạnh nhạt.

    Giục ngựa đến bên thành Ly đô thì vừa lúc cửa Nhạc phía tây mở rộng, vung roi ngựa lên, hai thớt ngựa giỏi chạy lên đường cái, đi thẳng về hướng tây.
    Tịch Tà hết sức cẩn thận, dọc đường không thấy bóng dáng Lôi Kỳ Phong đâu, đến tận hành cung Thượng Gian vẫn bình an vô sự, hai người thay ngựa tiếp tục phi nước đại.

    May mà lúc này có ít mây nên tránh được mặt trời nóng như thiêu như đốt đổ xuống đầu.

    Lúc thoáng thấy một vùng nóc cung điện đi săn dưới bầu trời xanh thẳm thì có một thớt ngựa giỏi đến đón ở đối diện.

    Hồ Nguyệt Động hô: “Hoàng thượng đang thả câu, hai vị hãy tới bờ sông nói chuyện”.
    Trên bờ sông có một chiếc bè trúc đang trôi, hoàng đế đeo nón che nắng, cầm cần câu mệt mỏi muốn ngủ.

    Khương Phóng đeo đao đứng ở bên đề phòng.

    Tịch Tà và Úc Tri Thu dậpp đầu thỉnh an ở trên bờ.

    Hoàng đế quay người lại cười nói: Các khanh lớn tiếng như vậy, cá đều bị dọa bơi đi mất rồi.

    Tịch Tà, khanh lên đây”.
    Thị vệ định dựng ván cầu.

    Tịch Tà xua tay, vén góc áo, nhẹ nhàng nhảy lên bè trúc.

    Bọn thị vệ thấy hắn bay như tiên thì đều không kiềm được khen hay.
    Hoàng thượng cười nói: “Chiêu thức ấy của khanh thật là đẹp”.
    “Vạn tuế gia có thu hoạch chưa ạ?”
    Hoàng đế lắc đầu: “Có lẽ trầm trời sinh không giỏi đạo này, bận rộn cả ngày cũng không câu được một con, nếu không đã thưởng một con cho khanh rồi”.
    “Mặc dù không có cá, nô tỳ vẫn phải tạ ơn hoàng thượng”.

    Tịch Tà cười, ánh mắt chiếu lên mặt sống.

    Nước sông phải chiếu núi xanh hai bên bờ, yên ả không gợn sóng, mặt trời gay gắt chợt lộ ra ánh sáng rực rỡ từ sau mây, rọi lấp lánh mặt nước.

    Tịch Tà nhìn đáy nước không nổi một gợn sóng, ánh sáng vàng trong mắt nhanh chóng rút đi.
    “Khanh vội lên đây là để báo chuyện gì?” Hoàng đế đưa cần câu cho Khương Phóng, lại nghe Tịch Tà cười gằn ở sau lưng, tay áo trước mắt khẽ động, thanh đao của Khương Phóng “keng” một tiếng ra khỏi vỏ, chém vào không trung, bè trúc bị Tịch Tà chắn ngang vỡ thành hai đoạn.

    Một bóng người màu xanh đột nhiên nhảy vọt ra từ trong nước, thế kiếm nhanh vô cùng, như có ánh sáng nhằm thẳng vào yết hầu Tịch Tà.
    Bè trúc dưới chân Tịch Tà bỗng nhiên phát lực như gió táp, chấn động đến mức một nửa mà hoàng đế và Khương Phóng đang đứng xông thẳng lên bờ.

    Trong chốc lát thân đao bảo vệ cơ thể, đã tóe ea vết sương bốc hơi.
    “Keng!”
    Mũi kiếm của Lôi Kỳ Phong đâm lên sống đao, một kích bị trượt song thế lui vẫn như tên, bắn về giữa không trung.

    Bè trúc đột nhiên chấn động đến nát vụn.

    Tịch tà vút lên theo, vung ngang đao đến ngực Lôi Kỳ Phong, khí trắng tản ra trong lưỡi đao bị ánh mặt trời chiếu ra một cái cầu vồng lóa mắt.

    Sát khí khắp người Lôi Kỳ Phong tụ tới mũi kiếm, ra sức đâm vào đỉnh cầu vồng.
    Mặt nước vang ầm ầm, dấy lên một cơn sóng vọt lên bờ sông, ngựa chiến dưới gốc liễu xao động không yên, lớn tiếng hí.

    Úc Tri Thu phản ứng nhanh nhất, đã tháo cung lớn, lọ tên xuống khỏi ngựa, vọt tới sống giương cung lắp tên.

    Hai bóng màu xanh trong vòng chiến hết hợp lại phân, xoay tít, rơi xuống giữa sông như ưng lớn.

    Úc Tri Thu nhắm chuẩn Lôi Kỳ Phong mặc áo ngắn, cầm kiếm, thét to một tiếng hai mũi lông đen cùng rời dây, nhắm vào giữa lưng Lôi Kỳ Phong.
    Tịch Tà thấy rõ ràng, lạnh lùng nói một tiếng “nhiều chuyện”, vọt đến sau người Lô Kỳ Phong, dùng ngón tay chọc nhanh, hai mũi tên đều bị hắn đánh bay.

    Trong vẻ mặt bi thảm của Lôi Kỳ Phong thoáng có nụ cười kinh ngạc, thế kiếm vốn đâm vào sau lưng Tịch Tà giảm nhẹ đi, chỉ đâm rách góc áo của hắn.

    Ánh nước đâm vào mắt, y lập tức nín thở, cùng rơi xuống nước với Tịch Tà.
    Nước sông yên ả, không dậy sóng, mọi người trên bờ bị trận đấu ác liệt vừa rồi làm cho hồn xiêu phách lạc, cứ trợn mắt mà nhìn.

    Khương Phóng quát to: “Ngây ra đấy làm gì? Hộ giá!”.
    “Hộ giá! Hộ giá!” Đám Hồ Động Nguyệt cao giọng thét to.
    “Lên thuyền, xuống sông”.

    Khương Phóng vội đến mức giậm chân: “Kẻ nên bắt thì bắt, nên cứu thì cứu!”.
    Hoàng đế nhìn chằm chằm nước sông, mồ hôi lạnh ướt áo, hung dữ nói: “Tịch Tà không về được thì các người cũng đừng sống nữa”.
    Đám thị vệ nhìn nhau, lau mồ hôi thưa: “Vâng”.
    Ngoài nửa dặm đột nhiên rào rào tiếng nước, nước sông như sôi, một bóng người bay vọt lên trời, vụt trên không trung rồi lại rơi xuống.
    “Đó là ai?”
    Khương phóng lắc đầu: “Thần không thấy rõ, giờ sẽ đến hạ du tìm ạ”.

    Đoạn gọi mấy người phóng người lên ngựa, chạy dọc theo sông nhưng không thấy có ai nổi lên mặt nước cả.
    Khương Phóng quay lại bàn mấy câu với hoàng đế, đều cảm thấy không thể quấy nhiễu người trong hành cung, chỉ e thái hậu và Hạ Dã Niên được tin thì sẽ tìm thấy Tịch Tà trước, lúc bị thương nặng thì dù một tên võ phu tầm thường cũng có thể lấy mạng hắn.

    Trong lúc lòng nóng như lửa đốt lại nghĩ ra một kế, sai người về hành cung cho đòi Thành thân vương cùng người hầu tùy tòng lấy danh nghĩa đi săn cùng để chạy tới cung săn.

    Sau khi tụ lại một chỗ thì tản người ngựa ra lục soát cẩn thận dọc theo hai bờ sông, đến tối vẫn bặt vô âm tín.
    Bên cạnh hoàng đế chỉ có Úc Tri Thu, càng ngày càng gấn hành cung.

    Úc Tri Tru thính tai lanh mắt, nghe thấy trong bụi cây trước mặt có tiếng động thì quát: “Kẻ nào?”.
    Hoàng đế thúc ngựa nhảy lên, quả nhiên thấy một người nằm ngửa trên cỏ, vạt áo buông tuồng, da thịt trắng nõn trông như băng tuyết dưới ánh trăng.
    “Tịch tà!” Hoàng đế kinh ngạc kêu lên, nhảy xuống ngựa chạy đến, bị Úc Tri Thu kéo lại.
    “Để thần xem trước ạ”.

    Úc Tri Thu chỉ e là thích khách, bước đến gần mấy bước rồi nói: “Quản đúng là Tịch Tà”.

    Gã đưa tay định đỡ, mới chạm vào thân thể hắn, chợt rụt tay lại.
    “Sao thế?”
    “Lạnh như băng ạ…” Úc Tri Thu hãi nói.
    Hoàng đế vội đi tới, đẩy Úc Tri Thu ra và ôm lấy người Tịch Tà, không khỏi rùng mình: “Chết rồi ư?” Bỗng chốc trước mắt trắng xóa, hồi lâu mới thấy Úc Tri Thu dùng sức lắc người mình.
    “Vạn tuế gia, vạn tuế gia, còn thở ạ”.
    “Thật không?” Hoàng đế thăm hơi thỏe của Tịch Tà, so với sắc mặt trắch bệch vừa rồi thì Tịch Tà đã hồng hào hơn, hắn ta mới phì cười một tiếng, “Dìu hắn lên ngựa của trẫm”.
    “Vâng”.

    Úc Tri Thu cởi áo ngoài của mình ra, bọc lên người Tịch Tà, cách một lớp quần áo nhưng vần thấy lạnh thấu xương, rùng mình mấy cái liền.
    Hoàng đế đón Tịch Tà lên yên ngựa, nói: “Khanh tức tốc liên lạc với những người khác, nói là đã tìm thấy rồi”.
    Úc Tri Thu vâng dạ, nhặt hết đồ của Tịch Tà ở dưới đất lên rồi phóng người lên ngựa mà đi.
    Hoàng đế chỉ thấy người Tịch Tà càng ngày càng lạnh, vội vàng cởi áo ngoài che kín hắn ở trước ngực.

    Cơn lạnh lập tức toán loạn khắp xương cốt như thể bị núi băng đè, hắn ta kêu “a” một tiếng, hơi rụt về sau, nhưng cúi đầu thấy vẻ đau đớn trên mặt Tịch Tà, cắn răng chịu đau thì không đành lòng, ôm chặt hắn vào trong lòng mình.

    Lúc bấy hoàng đế mới biết cái gì gọi là một ngày mà như một năm, thời gian cứ chậm rãi trôi qua như sông lớn, nhiệt độ cơ thể mình bị Tịch Tà tham lam rút đi mãnh liệt, cả người co rụt lại một chỗ, cóng đến mức xương cốt phát đau, khớp hàm lập cập.

    Chợt nghe Tịch Tà thở một hơi dài, khẽ nhúc nhích.
    “Khá hơn chưa?” Hoàng đế mừng nói.
    Tịch Tà gặp ánh mắt hoàng đế thì hình như có vẻ nghi hoặc chấn động, chân tay đột nhiên giãy giụa.
    Môi hoàng đế tái nhợt, rùng mình, cười to nói: “Chớ nhúc nhích, lát nữa Khương Phóng tới rồi nói sau”.
    Lúc này hai người cùng ngồi một ngựa, chậm rãi trở về hành cung.

    Trong rừng, côn trùng mùa hạ kêu ran cùng tiếng nước, mang đến cảm giác thanh thản.
    “Lúc thấy khanh, trẫm cứ tưởng khanh đã chết rồi”.

    Dường như hoàng đế vẫn đang trong cơn kinh hoàng, nhìn thấy khuôn mặt trắng ngần của Tịch Tà cố gắng nở nụ cười giễu cợt thì không khỏi ngây ra, ngẩng đầu trông về phương xa, cười bảo: “Có thể cưỡi cùng một ngựa với hoàng đế là chuyện hiếm có.

    Cảnh Nghi chỉ được ngồi trước ngựa trẫm trước lúc mười tuổi thôi, mà cũng là ở Thượng Giang, chạy mệt rồi, còn đòi trẫm bế nó xuống ngựa”.

    Hắn ta thản nhiên nhìn rừng cây sông lớn xung quanh: “Giờ cũng chẳng còn nữa”.
    Trăng rằm ngâm dưới sông, vảy bạc cuồn cuộn trên mặt sông, gió mát lượn vòng, ánh mắt Tịch Tà cũng dần trở nên sâu xa.

    Trên thảo nguyên vào mùa hè không lo của mười năm trước, ngựa của Nhan vương phi như sấm đánh, cờ xí đỏ tươi cuồn cuộn, liếc mắt không thấy bến bờ.

    Nhan Lâu ngồi ở trước ngựa cha anh, cũng có lúc buồn ngủ như bây giờ, cuộn mình vào trong lòng cha anh, có phải cũng bình yên dễ chịu như trong chớp mắt này không? Thời gian đó, giờ cũng chẳng còn nữa.

    Tịch Tà nhìn chiếc cằm đẹp đẽ như được đẽo gọt của hoàng đế, chỉ thấy sự ấm áp mà hoàng đế truyền tới thậm chí còn mang theo cảm xúc hầm hập, chảy xiết trong dòng máu mình, không nén được mà bật thốt lên: “Hoàng thượng!”.
    “Khương Phóng tới rồi!” Hình như hoàng đế không nghe thấy, giương mắt lên nói.
    “Vạn tuế gia!” Ngựa của Úc Tri Thu dẫn đầu đi đến, y ghìm chặt ngựa tâu: “Thị vệ mang ra ngoài đều đã đến rồi ạ”.
    Hoàng đế nói: “Tốt, khanh truyền chỉ bảo họ không được tới gần, chỉ cần Khương Phóng tới thôi”.
    Tịch Tà sờ thấy sao bào thị vệ đắp trên người mình thì gắng gượng đưa tay trả lại cho Úc Tri Thu: “Đa tạ”.
    Úc Tri Thu giao quần áo màu xanh trong cung đang vắt trên ngựa vào tay Tịch Tà, cười nói: “Bảo trọng”.

    Gã vừa định đi, đột nhiên nói: “Quên mất, đây cũng là đồ của công công”.

    Đoạn lấy ra một con dấu nho nhỏ từ trong ngực.
    Tịch Tà cầm lấy dây lụa màu sắc trên ấn vàng, lặng lẽ nhét vào hông cùng tấm biển gỗ.
    “Gì đó?” Hoàng đế còn hỏi một câu.
    “Con dấu thu mua ở hai cục của nô tỳ ạ”.
    “Sao vẫn chưa giao lại à?”
    “Vốn là sắp xong rồi nhưng có chuyện quan trọng, nô tỳ vội bẩm báo mới đến Thượng Giang trước”.
    Hoàng đế quờ lấy hông Tịch Tà rồi đặt hắn xuống đất, hai tay vẫn cóng đến run rẩy, nói: “Bất kể là chuyện khẩn cấp gì, ngày mai hãy nói”.
    Tuy nguyên khí đã dần hồi phục nhưng Tịch Tà vẫn cảm thấy mệt nhọc nên bằng lòng: “Vâng”.
    Khương Phóng đã phi ngựa chạy đến, đang định xuống thỉnh an thì bị hoàng đế giơ tay cản lại: “Trẫm về trước.

    Trời đã rối rồi, ngày mai hẵng điều binh lục soát thích khách.

    Các khanh cứ thong thả, cẩn thận đấy”.

    Ngựa tốt chồm lên, bọn thị vệ hét lớn gọi nhau phía xa, lửa đuốc lụi dần, chạy ra xa dọc theo bờ sông.
    Tịch Tà mặc quần áo trong cung vẫn còn hơi ẩm ướt lên người, cười nói: “Nguy hiểm thật! Tuy là đã đánh bay Lôi Kỳ Phong ra khỏi nước nhưng không ngờ chưởng lực của y cũng rất lợi hại, lại đánh nát nội tức của ta, suýt nữa làm tổn thương kinh mạch ta vì lạnh”.
    Khương Phóng trầm mặt nói: “Tôi ở bên cạnh, ngay cả Úc Tri Thu cũng bắn cung giúp đỡ, sao chủ nhân vẫn mạo hiểm một mình? Lần tới lại đùa với lửa như thế, cẩn thận tôi không bằng lòng đâu”.
    “Phải phải phải, lần sau không dám nữa”.

    Tịch Tà gật đầu lia lịa.
    Khương Phóng không phải là kẻ hay lải nhải, nổi tính lính, không kiềm được hỏi: “Cuối cùng hai người thắng bại thế nào? Lôi Kỳ Phong đã chết chưa?”
    “Chắc là chưa”.

    Tịch Tà đón lấy ánh sáng dập dềnh trên sông mà mỉm cười: “Nhưng giờ y cũng đau đớn không thua gì ta”.

    Hắn vận chuyển nổi tức một lần, ngạc nhiên nói: “Không ngờ trong cái rủi lại có cái may, sau khi nội tức tụ lại lần nữa, hình như còn dồi dào hơn trước”.
    Khương Phóng cười rằng: “Chủ nhân thôi ngay đi, cho dù võ công có cao hơn gấp chục lần cũng không đáng để mạo hiểm.

    Cứ chờ lúc về nghe Minh Châu mắng một trận đi”.
    Tịch Tà lấy con dấu ra từ bên hông, nương theo ánh trăng mà nhìn rồi đưa cho Khương Phóng: “Lén đặt cái này ở trong cung Thành Thân vương”.
    Khương Phóng nhận vào tay, ngạc nhiên nói: “Sao vậy?”.
    Tịch Tà nói với vẻ mặt u ám: “Không sao cả, anh chớ hỏi nhiều”.

    Cơn buồn ngủ dâng lên, cảm thấy hết hơi hết sức, về đến hành cung, vừa ngả đầu đã ngủ mất.
    Nếu không có người vén rèm đi vào trong nhòm thì Tịch Tà vẫn sẽ ngủ mê mệt không tỉnh.

    Hắn thấy kẻ nọ xoay người định đi thì vội vàng ngồi dậy gọi: “Nhị sư ca”.
    “Tỉnh rồi à?” Như Ý cười nói: “Tội lỗi, trách anh trách anh, nếu không em còn có thể ngủ thêm một lát nữa”.
    “Nhị sư ca tới từ chỗ hoàng thượng à?”
    “Đúng thế, hoàng thượng sai anh tới xem em đã khá hơn chưa.

    Nói là nếu vẫn nghỉ ngơi thì đừng quấy rầy”.
    Tịch Tà búi tóc lên, ho mấy tiếng, mới đi mấy bước đã thấy cả người bủn rủn.

    Hắn rót chén trà cho Như Ý rồi hỏi: “Bắt đầu lục soát thích khách rồi ạ?”.
    Như Ý thở dài: “Hôm qua đã lục soát cả ngày, sống không thấy người, chết không thấy xác.

    Vì chuyện này mà hoàng thượng còn khiển trách Hạ Dã Niên và Khương Phóng một trận đấy…”.
    “Cả một ngày? Đợi đã…” Tịch Tà đặt chén trà xuống: “Hôm nay là…”.
    “Hai mươi tám”.

    Như Ý cười nói: “Em không biết mình đã ngủ một ngày một đêm rồi à? Anh, đại sư ca và Minh Châu thay phiên tới gọi cũng chẳng thấy em nhúc nhích, nếu không phải đại sư ca nói không sao thì anh đã đưa tang cho em rồi.

    Ôi, em đi đâu đấy?”.
    Tịch Tà tìm cung y khoác lên người xong thì đi ra bên ngoài: “Nhỡ việc rồi! Hoàng thượng ngự giá ở đâu thế ạ?”.
    “Đang ở các Ỷ Hải, Lưu Viễn và Ông Trực dẫn theo vài đại tướng bộ binh mới từ trong kinh tới, giờ em đi e sẽ đụng phải đấy”.
    “Em đang cần việc này đây”.

    Tịch Tà rảo bước lên phía trước, bị Ngư Ý đuổi theo kéo lại: “Cả ngày chưa cơm nước gì, em còn chạy đi đâu nữa? Anh xin em hãy từ từ, có được không?”.
    Bấy giờ Tịch Tà mới thấy đầu váng mắt hoa, mây đen mù mịt trên đỉnh đầu, càng oi bức đến mức khó chịu.

    Như Ý kéo hắn ngồi xuống dưới hiên điện chếch của các Ỷ Hải rồi bưng ít bánh trái và trà ấm ra từ trong phòng, nói: “Em lót dạ trước đã, anh vào thông báo”.
    Tịch Tà đói đến cồn cào ruột gan, lại sợ hoàng đế cho đòi ngay nên ăn rất vội, bị kẹp râu rồng dính đường làm cho sặc đến ho ra tiếng.

    Trong điện chếch có người phì cười, nói: “Chủ nhân, người xem lối ăn của tên thái giám nhỏ này đi, nhất định là một tên nô tài ăn vụng”.
    Tịch Tà mới biết bên trong có ngọc giá của hoàng phi, vội đứng lên tránh đi thì rèm châu lách cách, một cung nữ mười lăm mười sáu tuổi bưng cái khay đi ra gọi: “Anh chờ một lát, nương nương thưởng cháo cho anh ăn này”.
    Tịch Tà nhận bằng hai tay, trong bát là cháo hạt sen táo đỏ thơm phức, biết là thức ăn của hoàng đế.

    Trong lúc hắn ngẩn ngơ, cung nữ kia đã cười bảo: “Đừng dập đầu làm nương nương không vui”.
    “Vâng”.

    Tịch Tà nhìn nàng uốn người vén rèm đi vào, trong phòng bỗng sáng lên, thiếu nữ vận áo sa màu trắng ngồi trên ghế tựa vô cùng đẹp mắt, chính là Hòa thục nghi Mộ Từ Tư.

    Tịch Tà ngây ra một lát thì nghe thấy Như Ý nói: “Em sáu, hoàng thượng gọi em đấy”.
    “Vâng”.
    Như Ý cười nói: “Không vội không vội, bát cháo này thật đúng lúc, uống xong hẵng đi”.
    Tịch Tà vội vã ăn xong thì vào dập đầu thỉnh an.
    Hoàng đế gật đầu với Cát Tường, Cát Tường tuyên: “Tịch Tà có công hộ giá, thăng hàng lục phẩm, hầu vua ở cung Càn Thanh, thưởng đai ngọc.

    Đặc biệt ban kiếm đi lại trước mặt vua”.
    Đây là vinh dự ít có, song nghĩ tới người Lôi Kỳ Phong hành thích không phải hoàng đế thì Tịch Tà không biết nên khóc hay cười, miệng nói tạ ơn rồi nhận lấy đai ngọc và kiếm ban, quả nhiên là kiếm Tĩnh Nhân hai năm không thấy.

    Hắn dập đầu xong đứng dậy, Thành Thân vương và Ông Trực bên cjanh đều mỉm cười với hắn, chỉ có Lưu Viễn vẫn tái xanh mặt mày, dán mắt nhìn thẳng xuống đất.
    Ông Trực cười nói: “Thì ra người hộ giá hôm kia là Tịch Tà, võ công cao cường thế thảo nào ngày đó hoàng thượng lại gửi gắm trọng trách thay mặt chọn tiến sĩ.

    Thần mắt mờ không nhìn ra được, suy cho cùng vẫn là hoàng thượng giỏi dùng người, quả thực là vị vua thánh minh”.
    Hoàng đế cười, Ông Trực lại bảo: “Quả nhiên hoàng thượng thiện lành ắt có trời giúp, chư thần phù hộ.

    Quân Thành đó đã bị trọng thương, khó có dã tâm ngấp nghé trung nguyên được nữa, tai nạn binh nhung này vì thế mà bị tiêu trừ, hoàng thượng đại hỉ rồi”.
    Hoàng đế lắc đầu nói: “Nhất thiết không được lơ là như thế, phen này ông ta trọng thương, tuy mấy năm nữa không thể xuôi nam nhưng khó đảm bảo ông ta sẽ không ngóc đầu trở lại, bộ binh vẫn phải làm việc cẩn thận”.
    “Xin hoàng thượng thứ cho nô tỳ lớn mật vượt quá giới hạn.

    Nô tỳ có lời muốn nói”.

    Tịch Tà tiến lên một bước nói.
    Dù đám người Ông Trực đã biết Tịch Tà tham mưu ở bên hoàng đế nhưng chưa từng nghe hắn nói thẳng vào việc chính trị trước mặt mọi người nên đầu ngớ ra.
    Hoàng đế lại không hề khó chịu, híp mắt cười: “Tịch Tà, khanh biết đang bàn chuyện gì ở đây không?”
    Tịch Tà khom người nói: “Quân Thành ạ”.

    Hắn thấy hoàng thượng gật đầu thì nói tiếp: “Theo ý kiến ngu dốt của nô tỳ, Quân Thành bị trong thương ở trận Hạ Lý Luân, chẳng những sẽ không tạm hoãn chiến tranh phương bắc mà ngược lại trận đại chiến Hung Nô này sẽ càng sớm hơn”.
    Có thể nói lời ấy làm bốn bề đều kinh ngạc, Ông Trực ngơ ngác, đột nhiên cất tiếng cười, nói: “Xin nghe cao kiến”.
    Tịch Tà thong thả nói: “Hai mươi lăm năm trước, Quân Thành vẫn còn là thủ lĩnh của nước Khuất Xạ, hãy chưa xưng đế.

    Những năm đầu Thượng Nguyên, Hung Nô đến bái yết, ông ta từng theo thiền vu Y Thứ Quyết đến trung nguyên.

    Lúc bấy đại phu[2] chùa Hồng Lư đến dịch quán Hung Nô, hỏi Quân Thành ăn uống ngủ nghỉ có chu đáo không.

    Quân Thành nhìn ra cung Thanh Hòa phía xa cười không đáp.

    Khi ấy Quân Thành mới chỉ hai mươi tám tuổi, đã có hùng tâm xưng đế ở trung nguyên, mấy năm nay ông ta chiếm đoạt đại nguyên, đã có đại quân, chỉ e suy nghĩ này càng hừng hực”.
    Lưu Viễn mới bảo: “Quan sử có chép việc ấy, Nước non Trung Hoa như tranh, sản vật phì nhiêu, chuyến đến trung nguyên tất đã dấy lên lòng dạ lang sói của ông ta”.
    Tịch Tà nói: “Trước giờ Hung Nô do các nước liên minh lại, đến hai mươi năm của ông ta, tộc Khuất Xạ chinh phạt thảo nguyên, các bộ lạc quy về dưới sự điều khiển của ông ta.

    Ông ta mơ giấc mộng hoàng đế bấy nhiêu năm, gót sắt không đạp lên trung nguyên thì e ông ta chết không nhắm mắt”.
    Ông Trực cười rằng: “Tiếc là ông ta trọng thương chưa lành, sao dẫn binh xuôi nam được?”.
    “Việc này năm mươi năm mươi.

    Hạ Lý Luân mà Quân Thành nuốt lần này chính là nước lớn phía bắc Hung Nô, vốn cần an ủi đàn áp mấy năm.

    Đợi ông ta dẹp yên trong nước thì chừng ba, bốn năm sau mới có thể xuôi nam.

    Ông ta co hai trăm nghìn binh mã cường tráng, lại không có nỗi lo về sau, sợ rằng đến lúc đó sẽ là một cuộc ác chiến.

    Nếu Quân Thành trọng thương không chữa khỏi mà chết, Hạ Lý Luân tất sẽ làm phản, Hung Nô nội đấu làm tiêu hao sẽ là chuyện không thể tốt hơn với trung nguyên ta, chỉ cần hoàng thượng sai mấy chục nghìn phiêu kỵ thừa dịp chúng nội loạn mà đuổi sạch thì chắc chắn biên giới phía bắc sẽ được thái bình ba, bốn mươi năm.

    Nhưng thể lực Quân Thành khỏe mạnh, truyền rằng lẫm liệt, oai như thiên thần, tuy nghe ông ta bị thương cực kỳ nghiêm trọng cũng có khả năng sẽ khỏi hẳn sau một thời gian”.

    Tịch Tà lắc đầu cười: “Quân Thành tự lượng sức mình, nói cho cùng thì đã năm mươi hai tuổi đầu rồi, biết chịu vết thương nặng này rồi thì cái chết sắp đến, không chịu nổi một hai năm.

    Đợi vết thương hơi bình phục thì chắc chắn ông ta sẽ muốn thực hiện gấp tâm nguyện, thời hạn xuôi nam sẽ tới sớm là năm sau”.
    Hoàng đế hơi trầm sắc mặt, hỏi: “Năm sau?”.
    Tịch Tà tâu: “Thế đến của ông ta hung mãnh, vội vã, nô tỳ thấy đây là thời cơ tốt nhất để đại phá Hung Nô”.
    Ông Trực vỗ tay, nói: “Không sai, nếu năm sau ông ta xâm phạm, trong nước chưa yên, bản thân lại bị thương nặng thì vừa hay để chúng ta thừa cơ”.
    “Cho nên vận mệnh biên giới phía bắc của trung nguyên được quyết định hoàn toàn bởi thương thế của Quân Thành ra sao”.
    Hoàng đế bèn hỏi: “Chẳng lẽ bây giờ không thể thừa dịp ông ta chưa ổn định được toàn cục mà tăng binh ở Nhạn môn, Xuất Vân để đập tan ông ta bằng một kích ư?”.
    Ông Trực tỏ vẻ khó xử, liếc nhìn Lưu Viễn.

    Lưu Viễn chỉ đành nói: “Ý của hoàng thượng nhằm trúng chỗ hiểm của Hung Nô nhưng hiện tại triều đình không binh không lương, Quân Thành lại co đầu rụt cổ ở Hạ Lý Luân nơi cực bắc, đại quân triều đình phải chạy băng băng ngoài ngàn dặm, không chuyển được lương thảo tới sẽ mất toi mấy chục nghìn tinh binh”.
    Lần này lại chọc vào chỗ đau của hoàng đế, hắn ta nắm chén trà nhìn một lúc, đột nhiên cười nói: “Biết rồi, là do trẫm nghĩ không thấu đáo.

    Lương Vương có rất nhiều tai mắt ở trong đất Hung Nô, Ông khanh và Lương vương cứ ba ngày là phải báo lại tình hình gần đây của Quân Thành một lần để trẫm biết.

    Trong chuyện quân bị, vì sắp xảy ra chiến tranh nên trưng binh trưng lương vô cùng khẩn cấp, các vị tức khắc về kinh, cùng với nội các, bộ lại mau mau viết tấu dâng lên, trẫm về kinh là phải trông thấy”.
    Thành thân vương nói: “Thần cũng sẽ về kinh”.
    Hoàng đế lắc đầu: “Em ở lại bên trẫm để có người bàn bạc mọi chuyện”.
    Sau khi chúng thần lui ra, hoàng đế đứng dậy đi qua đi lại: “Ông ta có hai vạn binh mã mà quân chấn bắc của trẫm chỉ có mười hai vạn, lại thêm quốc khố trỗng rỗng, xem không có ý định với đất phiên thì không thành rồi”.

    Hắn ta nhìn Tịch Tà nói: “Nhưng sứ trưng lương mới về chưa được hai tháng lại sai đi thì đám phiên vương sẽ không chịu để yên đâu”.
    Tịch Tà thưa: “Lo lắng của vạn tuế gia rất đúng, sự việc liên quan đến sống chết tồn vong của triều đình phải nghĩ ra kế sách vẹn toàn”.
    “Binh mã kinh kỳ còn có gần mười vạn, đều ở trong tay thái hậu, do Trịnh Quân Hải ở Cứ châu thao túng chặt chẽ.

    Nếu ngay cả lộ nhân mã này cũng phải triệu tập, đến lúc đó cửa mở rộng, há chẳng để Đông vương thừa cơ mà vào ư? Lại có người Miêu, loạn trong giặc ngoài thì vận mệnh triều ta…” Hoàng đế chậm rãi ngồi xuống ghế tựa, nhíu mày suy nghĩ.

    Cát Tường vội vàng đưa mắt ra hiệu cho Tịch Tà, Tịch Tà cười, không nói không rằng.

    Một trận sấm rền cuốn qua, xung quanh không gió, ngột ngạt đến mức thở cũng khó khăn.

    Hoàng đế đột ngột đứng phắt dậy, lớn tiếng quát to: “Đi vây lại!”.
    “Ôi?” Cát Tường sợ hết hồn, theo hắn ta ra khỏi phòng.
    Hoàng đế nhìn mây sét đầy trời, cười bảo: “Kẻ địch mạnh nhìn trung nguyên thèm thuồng, vua chẳng còn ngày được yên gối nữa.

    Đây có lẽ là mùa hè không lo cuối cùng của trẫm rồi, cớ sao phải mặt ủ mày chau? Gọi Hòa thục ra đây đi cùng với trẫm”.
    Mộ Từ Từ bước ra từ trong điện chếch, còn chói lóa hơn cả tia chớp.

    Mưa to gõ đồm độp vào chuối tây trong đình viện tựa như tiếng gót sắt.

    “Mưa rồi”.

    Nàng cười nói với hoàng đế, “Hoàng thượng vẫn đi ạ?”.
    “Mưa rào có sấm chớp” Tịch Tà nhẹ nhàng nói bên cạnh hoàng đế: “thì sẽ không kéo dài lâu”.
    Khương Phóng đang dẫn thị vệ lúc soát rừng rậm, thấy thế mưa không dừng thì lệnh cho mọi người tìm nơi tránh mưa.

    Úc Tri Thu mới đến Thượng Giang lần đầu, đến được chỗ có vật che chắn thì các thị vệ nguyên lão đã đứng đầy cả rồi.

    Gã ngẩng đầu trông thấy căn đình trắng trong núi bèn giục ngựa chạy đi.

    Không ngờ bên trong cũng có năm, sáu người đang trú, tất cả đều mặc đồ thị vệ, thấy gã xuống ngựa tiến đến thì lại hoảng loạn, co vào một góc ríu ra ríu rít cười một lúc.

    Một người trong đó tiến lên trước nói: “Này, tôi bảo này, anh không thấy nơi này toàn là người đang chen chúc hay sao, anh tìm chỗ khác trú mưa đi”.
    Úc Tri Thu ngây ra, nói: “Tôi thấy vẫn ổn mà, đều là người hầu giống nhau, các anh không thể vô lý được”.
    Mấy người kia đều cười ồ lên, tiếng cười lanh lảnh vui tai, trái lại làm Úc Tri Thu đỏ cả mặt.

    “Nghe các người nói kìa, chẳng giống thị vệ gì cả, lẽ nào là công công trong cung mặc quần áo thị vệ đi ra săn trộm à?”
    Người nói đầu tiên phỉ nhổ: “Công công gì chứ? Anh cẩn thận…”.
    “Nói nhiều với anh ta làm gì?” Một người trong đám đông nói: “Nếu đã có chỗ thì cứ để anh ta trú một lúc cũng chả sao”.
    “Vâng”.

    Người kia khẽ mỉm cười quay người đi về.
    Úc Tri Thu ôm quyền cười nói với thị vệ trẻ giải vây cho: “Đa tạ”.
    Khuôn mặt trắng ngần của người nọ bỗng hây hây, quay đầu không đáp.

    Úc Tri Thu hơi ngượng nghịu, dùng tay áo lau nước mưa trên mặt, nghe họ thấp giọng bàn tán xì xào, không tập trung nhìn ra chung quanh phía xa xa.

    Mưa như trút nước bay lả tả vào sông, khói trắng cuồn cuộn ở trên mặt nước, núi xanh bên bờ cũng tô sắc sẫm, cơn gió mạnh cuốn đi sự nóng nực kéo dài vô hạn làm lòng dạ người ta khoan khoái nhẹ nhàng.
    Đột nhiên có người than thở trong bụi cây: “Trận mưa này thật là đúng lúc, nếu không tôi nóng đến chết rồi, quả đúng là: Trời tốt, mưa lành tới[3]…”.
    Mấy người trong đình không khỏi cười vang, quả nhiên nghe hắn nói tiếp: “Đang xuân, đang…”.
    Bên cạnh còn có một kẻ góp vui, nghiêm túc hỏi: “‘Đang xuân đang’ rồi sao nữa?”.
    Ngay cả Úc Tri Thu cũng cười, cành cây vang lên “xào xạc”, hai thanh niên mặc quần áo của dân đen chui ra, một người trong đó giắt kiếm bên hông.

    Đám người Úc Tri Thu đều kinh hãi, mấy người vốn ở trong đình kinh ngạc kêu lên, lui về phía sau.
    Úc Tri Thu không dám thờ ơ, đi ra bên ngoài đình, rút kiếm ra, cao giọng quát: “Nơi này là đất cấm của hoàng gia.

    Các anh là ai?”.
    Thanh niên dẫn đầu áo hoa tóc dầu, bị ướt nước nên càng sáng bóng đến mức có thể soi gương, gã cười hì hì nói với người đàn ông khôi ngô phía sau: “Nghe thấy chưa? Đất cấm của hoàng gia đấy, xem anh còn nói tôi không biết đường không?”.
    “Ha ha, trách oan anh rồi”.

    Tiếng người này sang sảng, không có suy nghĩ mờ ám nào, cười nói: “Hay là hỏi thăm người này đi”.
    Thanh niên áo hoa lắc đầu rằng: “Vô dụng vô dụng, người này là thị vệ, chắc gì đã biết.

    Nhưng mấy người phía sau đều là các cô nương giả trang, quả thực là người trong nội cung, hỏi họ thì sẽ chính xác”.

    Nói rồi ánh mắt phát sáng, nhìn chằm chằm về phía thiếu niên thị vệ giải vây thay Úc Tri Thu.

    Lời vừa nói ra, Úc Tri Thu vô cùng kinh ngạc, cũng quay đầu nhìn thoáng qua.
    Lập tức có người đứng ra ngăn cản, quát lên: “Lớn mật, nhìn cái gì?”.
    Úc Tri Thu sợ hai người này là thích khách, không nói thêm lời nào, đột ngột đâm trường kiếm ra, chỉ nói: “Xem kiếm đây!”.
    Chàng trai áo hoa cười nói: “Thì ra là xem kiếm.” Thân hình lắc một cái, người đã phi lên trên nóc lợp từ lưu ly của cái đình trắng, đứng độc một chân, đón gió tung bay, thân pháp tuyệt vời.

    Mọi người trong đình sợ đến mức thét chói tai, chen chúc ở phía sau Úc Tri Thu.

    Úc Tri Thu biết võ công của đối thủ cao cường thì thầm kinh hãi, lui lại mấy bước che chở mấy thị vệ nữ giả nam trang, thấp giọng nói: “Các cô có thể đánh nhau không?”.
    Một người run cầm cập nói: “Không thể”.
    “Vậy còn không mau chạy?”
    “Vâng, tướng quân hãy tự giải quyết cho tốt”.

    Nàng đang định vắt chân lên cổ mà chạy thì chàng trai trên đình nhẹ nhàng nhảy xuống, đưa tay ngăn lại.
    Chàng trai khôi ngô kia quát lên: “Này, anh lại ngựa quen đường cũ đấy à? Bắt nạt con gái thì cẩn thận tôi thọc anh một kiếm trước đấy”.
    Chàng trai áo hoa thè lưỡi, rút tay về cười nói: “Tiểu sinh mạo muội rồi, chỉ muốn hỏi họ vài lời thôi”.
    Mặt Úc Tri Thu không đổi sắc, cất cao giọng: “Có chuyện gì thì hỏi tôi là được, để kiếm của tôi nói cho anh biết”.
    Chàng trai khôi ngô thấy gã dũng mãnh, cũng phải gật đầu khen, tránh một kiếm rồi nói với thiếu niên áo hoa: “Anh đợi ở một bên, không được ra tay”.

    Vóc dáng y cao lớn, thân pháp lại vô cùng lưu loát, uốn người ở dưới kiếm Úc Tri Thu tránh ba hiệp rồi nhanh chóng lui lại nửa trượng, trường kiếm lóe lên, tung người sát lại, chỉ một kiếm đã thổi rách tay áo trái của Úc Tri Thu.

    Úc Tri Thu lùi về phía sau mấy bước, mồ hôi lạnh xuất hiện trên trán, trầm giọng nói với phía sau: “Tôi chỉ có thể chống đỡ một lúc thôi, các cô còn không đi, đợi chúng tới lấy mạng à?” Dứt lời giơ kiếm đánh tiếp, kiếm pháp của gã kém xa chàng trai kia, chỉ dựa vào sự kiên cường để gắng gượng chống đỡ.

    Sau mấy chiêu, gã đã lâm vào thế cực kỳ nguy hiểm, sườn phải bị cứa thành một vết thương, mặc dù không sâu nhưng máu hòa với nước mưa chảy xuống, nom mà hãi.
    Các cô gái nhao nhao lui bước, chỉ có cô gái kia giậm chân, chạy vội tới trước ngựa của mình rồi tháo cung tên xuống, nhắm ngay thanh niên khôi ngô kia mà bắn.

    Chàng trai áo hoa đột ngột xuất hiện, quờ được mũi tên bay, cười nói: “Cô nương nhắm không chuẩn, chớ bắn trúng vị tướng quân này nhé”.
    Úc Tri Thu nghe giọng gã có ý cợt nhả thì rất khẩn trương, vừa phân tâm, ánh kiếm của đối thủ đã lóe trước mắt, xông thẳng vào yết hầu mình.

    Úc Tri Thu chợt lạnh lòng, chỉ nói không may, đã thấy mũi thanh kiếm kia rung động, tên bắn nhanh vào sống kiếm, một con ngựa chiến nhảy vào.

    Khương Phóng cầm cung trên ngựa, cười nói: “Thật là náo nhiệt!”.
    Hai chàng trai nhìn nhau, cũng cười lớn.
    Khương Phóng nói: “Úc Tri Thu, bảo vệ người đi trước”.
    “Đại nhân, hai người bọn họ…”
    “Hai người nữa đến cũng không việc gì”.

    Khương Phóng nhìn chằm chằm vào hai chàng trai, tức đến xanh mặt: “Anh cứ việc đi trước, xuống dưới gọi người lên đây”.
    Úc Tri Thu phóng người lên ngựa, dẫn mọi người phi nhanh xuống núi.

    Một người trong đó điều khiển ngựa tới gần, nói: “Úc tướng quân, chúng tôi không tiện, xin chia tay tại đây”.
    Úc Tri Thu gật đầu, quay đầu vẫn thấy cô gái thướt tha kia dừng ngựa lại nhìn, trong lòng rung động, không dám nhìn nữa, tăng sức vào roi trong tay, thúc ngựa xuống núi cầu viện.

    Bọn thị vệ nghe gã nói: “Trên núi có thích khách” thì ồn ào nhảy lên, vớ lấy vũ khí lên ngựa đi liền, còn chưa tới đình trắng đã thấy Khương Phóng một mình chạy tới, đều hỏi: “Đại thống lĩnh, thích khách đâu?”.
    Khương Phóng cười bảo: “Thích khách cái gì? Hai tên nông phu đi lầm đường, thấy tôi thì xoay người chạy vào trong rừng, ngựa của tôi không vào được.

    Các anh cẩn thận lục soát, cảnh cáo bọn họ và trục xuất đi rồi thôi”.
    Úc Tri Thu rất sốt ruột, mới định tranh cãi, Khương Phóng đã nháy mắt và kéo gã ra một chỗ, đợi không có ai mới nói: “Đã nói anh là một người mới rất khá mà.

    Anh biết người anh bảo vệ đi là ai không? Hai người kia ra tay công khai, giống hành động của thích khách à? Truyền đi sẽ làm mất mặt thái hậu, thái phi, lắm lời một câu thì tai họa về sau đã vô cùng rồi”.

    Lại trông cây cung trên ngựa của Úc Tri Thu mà than thở: “Lúc còn trẻ tôi cũng chẳng khác anh là bao, cũng bắn chết hai tên thích khách ở thượng giang đã cho rằng công cao cái thế.

    Nếu không phải là lúc ấy có người tặng tôi một câu, chỉ e đã làm con ma mơ hồ lâu rồi”.
    Úc Tri Thu rùng mình nói: “Vâng, đều nhờ đại thống lĩnh bảo cho”.
    Khương Phóng mỉm cười, rằng: “Mau che vết thương lại rồi tức tốc về nghỉ đi.

    Lần này anh có công, hoàng thượng sẽ không quên đâu”.
    Úc Tri Thu vội vàng móc băng vải từ trong ngực ra, cúi đầu bọc vết thương lại, bỗng nhiên hỏi: “Đại thống lĩnh, không biết người nọ tặng câu quan trọng gì?”.
    Khương Phóng ngửa mặt cười to: “E tướng quân đã thành chim sợ cành cong, thích khách lại thành mãnh hổ rồi!”.
    Tay Úc Tri Thu vuốt cung nhân nghĩa, nhìn Khương Phóng phóng ngựa đi xa, cơn khai ngộ lạnh lẽo trong suốt thấm quanh người.
    Mặc dù Úc Tri Thu ngậm miệng không nhắc đến chuyện này nhưng Hạ Dã Niên đã nghe phong thanh, nắm lấy cơ hội chạy tới hành cung, muốn vạch tội Khương Phóng trước mặt hoàng đế.

    Đến ngoài đình Tiễn[4], Cát Tường cản gã lại nói: “Đại nhân hãy khoan, chớ nên đi về phía trước nữa”.

    Rồi y liếc mắt vào trong: “Bên trong còn có phượng giá của nương nương”.
    “Lão thần l* m*ng.

    Xin công công thông báo một tiếng”.
    Cát Tường tỏ vẻ khó xử, nói: “Vạn tuế gia đang vui, đại nhân chờ một lát, nô tỳ thấy có cơ hội sẽ thông báo”.
    Bên trong, tiếng nội thần lớn tiếng khen hay, thì ra hoàng đế trăm phát trăm trúng, cảm thấy hơi chán rồi nên gọi người dời đích ra hơn một trăm hai mươi bước, đã không thể bắn đến, quay đầu cười nói với Mộ Từ Tư: “Nàng tới đây, trẫm dạy nàng bắn tên”.
    “Vâng”.

    Mộ Từ Tư cười như tranh vẽ, nhận lấy một cây cung mềm tinh xảo từ tay Như Ý, lấy cái bao tay bảo vệ ngón tay.

    Hoàng đế hỏi: “Bao nhiêu bước thì tốt đây?”.
    “Cái cung này yếu, sợ rằng với sức của thần thiếp thì mới hơn năm mươi bước đã không thể bắn đến rồi ạ”.
    Như Ý tự mình đo khoảng cách để dựng bia, cẩn thận tránh sang bên.

    Hoàng đế đứng sau Mộ Từ Tư, cầm tay giương cung cho nàng, ba mũi tên đầu chỉ có một mũi bắn không trúng bia, mọi người đều khen hay.

    Mộ Từ Tư tự mình bắn hai mũi, đều ra trò cả.

    Hoàng đế cười nói: “Rất tốt, luyện thêm thì chắc chắn định có thể trúng đích”.
    Đột nhiên Mộ Từ Tư ném cung, tháo bao tay bạc xuống, cau mày nói: “Thứ này thật vướng víu”.
    Hoàng đế đang sửng sốt đã thấy bàn tay trắng ngần của nàng rút ba mũi tên dài từ trong ống, ngậm lấy hai mũi dùng răng cắn, thả tay giương cung, “teng teng teng” ba mũi tên b*n r* liên tiếp.

    Như Ý nhìn lên bia, kinh ngạc nói: “Ba mũi tên đều trúng hồng tâm!”.
    Đám nội thần giật mình lại vỗ tay hoan hô.

    Hoàng đế vừa ngạc nhiên vừa cười: “Nàng, nàng dám lừa trẫm”.
    Mặt Mộ Từ Tư còn mang theo vẻ ửng đỏ vì dùng sức, cười nói: “Thần thiếp đâu có lừa hoàng thượng, hoàng thượng nói dạy thì thần thiếp không thể nói không được”.
    Như Ý nâng bia tới, nói: “Hoàng thượng lại trách oan rồi, nô tỳ nghe thấy rõ ràng, quả thực Hoà thục nghi chưa từng nói không biết bắn cung”.
    Hoàng đế cười to: “Trẫm quên mất nàng xuất thân là con nhà võ tướng.

    Tốt, Hoà thục nghi đọ sức với trẫm nào”.
    Đám nội thần nhóm thấy hoàng đế có ý thi tài cung với Hoà thục nghi thì đều ồn ào.

    Hoàng đế liếc thấy Cát Tường ở bên muốn nói lại thôi thì vẫy vẫy tay với y: “Chuyện gì?”.
    “Thống lĩnh thị vệ Hạ Dã Niên xin gặp ở ngoài ạ”.
    “Tìm thấy thích khách rồi à? Bảo gã nói ở ngoài hành lang đi”.

    Hoàng đế xoay người lại nói với Tịch Tà: “Tài cung của khanh rất tốt, chơi cùng Hoà thục nghi một lát trước đi”.
    Từ đầu Tịch Tà đã không nói được một lời, sắc mặt tái nhợt, bấy giờ khom người hành lễ, nói với Như Ý: “Một trăm bước”.

    Hắn có ý không vượt qua hoàng đế nhưng Mộ Từ Tư lại nói: “Sáu mươi bước, đổi cây cung khác đi” rồi cười với Tịch Tà.
    Tịch Tà vội vàng dời mắt, chỉ nghe Như Ý đánh chuông, giương cung rồi bắn.
    “Hai bên đều trúng!” Đám nội thần cười nói.
    Mùi hương thoang thoảng trên người Mộ Từ Tư bay tới như hương hoa rơi trong mưa, ngón tay mềm mại của nàng mò về hũ tên mang màu hồng trắng sáng mà chỉ thiếu nữ mới có, khẽ giương khẽ hợp như tia chớp ở trước mắt Tịch Tà làm hai mắt hắn đau nhức.

    Tiếng hoan hô của đám người dần dần bay đi, trong tai chỉ có từng tiếng kim loại kêu, tiễn theo đó rời dây cung, đâm về phía hồng tâm tươi đẹp trong mưa phùn.

    “Trúng!” Sau mỗi một tiếng hét của Như Ý, mũi tên kia lại như khoét vào tim, đau đến co rút.
    “A! Không hay rồi”.

    Đột nhiên Mộ Từ Tư nhẹ nhàng kêu lên, tay Tịch Tà run lên, mũi tên này bay khỏi, khó khăn lắm mới cắm ở rìa bia.
    “Hoà thục nghi trúng”.

    Mộ Từ Tư đã lấm tấm mồ hôi, cười nói: “Anh bị lừa rồi”.
    Tịch Tà thở phào, cười: “Nhà binh không ngại dối lừa, nô tỳ thua tâm phục khẩu phục”.
    “Vạn tuế gia gọi Tịch Tà”.

    Tiểu Hợp Tử đến gần nói.
    Tịch Tà buông cung, thi lễ xin cáo lui với Mộ Từ Tư rồi ra hành lang.

    Khương Phóng mới vừa đứng dậy từ dưới đất, hung hãn trợn mắt với Tịch Tà.

    Tịch Tà lấy làm lạ, chỉ nghe hoàng đế nói: “Đã là ngày thứ ba rồi mà vẫn tìm không được, sợ rằng đã để y chạy thoát.

    Tịch Tà, khanh đã đấu với thích khách kia, khanh thấy y còn sống hay đã chết?”.
    “Chắc còn sống ạ.

    Võ công người đó cực cao, chỉ cần y có thời gian thở một hơi thì có thể thoát thân.

    Nhưng thương thế của y cũng không nhẹ, sẽ không phạm đến thánh giá nữa”.
    Hoàng đế gật đầu nói: “Vậy là tốt rồi.

    Khương Phóng, các khanh cũng vất vả rồi, hôm nay lại quét sạch bãi săn rồi rút về thôi.

    Tịch Tà, khanh cũng đi một chuyến bảo đảm không có sơ hở đi”.

    Hoàng đế đứng lên định về, hỏi Tịch Tà: “Thế nào, thắng bại thế nào?”.
    Tịch Tà nói: “Nô tỳ thua”.
    “Khanh chơi cờ cũng thua, bắn tên còn bại bởi một cô gái?”
    “Nô tỳ không thể làm theo ý mình được”.

    Tịch Tà cười nói.
    Hoàng đế cười lớn đi mất.

    Khương Phóng vẫn nổi giận đùng đùng với Tịch Tà, hừ một tiếng bỏ đi.

    Tịch Tà đuổi theo, ngạc nhiên nói: “Sao vậy?”.
    “Sao vậy? Anh em tốt, bạn bè tốt của ngài ấy đúng là hai tên đần!”
    “Lý Sư? Thẩm Phi Phi?”
    “Vào tận ranh giới hành cung tìm ngài đấy! Tình nghĩa sâu nặng, không xa nổi một ngày”.
    Tịch Tà kinh ngạc, giận quá hóa cười: “Lũ khốn!”.
    Khương Phóng than thở: “Hoàng thượng hỏi việc này đấy.

    May là tôi đã dỗ chúng đi rồi, giờ đang ở trấn trên Thượng Giang, ngày mai ngài còn không lộ mặt thì e chúng lại đến đấy”.
    Tịch Tà trầm ngâm nói: “Còn có ai nhìn thấy nữa?”.
    “Úc Tri Thu, gã thì không lo.

    Chết nỗi còn có một nhóm người nữa”.
    Mặt Tịch Tà lạnh lẽo, hỏi: “Ai thế?”.
    Nụ cười của Khương Phóng mang theo vẻ mập mờ kỳ diệu, chậm rãi nói: “Công chúa Cảnh Ưu”.
    [1] Người một nhà mà lại không nhận ra dẫn đến xung đột, tranh chấp.
    [2] chức quan to thời xưa, dưới quan khanh, trên quan sĩ.
    [3] Câu đầu bài Đêm xuân mừng mưa của Đỗ Phủ.
    [4] Nơi hoàng đế tập cưỡi ngựa bắn tên..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 16: 16: Công Chúa Cảnh Ưu


    Hoàng đế đã quyết định ngày mùng một tháng Bảy sẽ về cung ở Ly đô nên hai mươi chín tháng Sáu là lần đi săn cuối cùng của năm nay.

    Mới vừa mưa to, thời tiết Thượng Giang vô cùng mát mẻ hợp dễ chịu, hoàng đế dậy thật sớm, tinh thần phấn chấn mà mặc giáp.

    Nghị phi Triệu thị, Hoà thục nghi Mộ thị, công chúa Cảnh Ưu đều mặc quân trang, tư thế hiên ngang đi tới cùng đám nội thần nữ vây quanh.

    Hơn trăm nội thần ngăn cách giữa Thành Thân vương và thị vệ với nội quyến trong cung.

    Kèn lệnh vừa vang lên, hoàng đế nhảy vào trước, Nghị phi và Hoà thục nghi cầm nỏ nhỏ trong tay theo sát phía sau.

    Hoàng đế thạo cung ngựa, thấy sừng hươu chợt lộ ra trong cây rừng bèn phóng ngựa đuổi theo.

    Hoà thục nghi cười, khẽ quát một tiếng rồi uốn lượn đi theo, thuật cưỡi ngựa không kém chút nào.

    Hai mũi tên đầu của hoàng đế đều hụt, mũi tên thứ ba cắm giữa cổ hươu, lại bắn bồi mũi nữa, huơu đực ngửa đầu kêu thảm một tiếng rồi ngã xuống đất, không ngừng th* d*c.

    Cát Tường nhảy xuống ngựa, rút dao găm từ hông, cắt cổ hươu lấy máu.

    Hoàng đế cười quay người lại đã thấy Hoà thục nghi buông dây cương, hai tay che mắt không đành lòng nhìn.
    “Không sao, đã tắt thở rồi”.

    Hoàng đế quay về bên nàng cười nói.
    Mộ Từ Tư vẫn che mắt, cứ lắc đầu mãi.

    Hoàng đế gỡ hai tay nàng ra, thấy hai mắt nàng nhắm nghiền, khóe mắt mang theo ánh lệ thì dịu dàng nói: “Cá lớn nuốt cá bé chính là như vậy.

    Hôm nay nàng không nhìn thì sau này sẽ luôn sợ hãi…”.
    Tính cách nàng là vậy, nói không nhìn thì sẽ không nhìn, dù hoàng đế nói thế vẫn chỉ lắc đầu thưa: “Không, hôm nay thần thiếp mới biết đây vốn là chuyện mình không thích, xin hoàng thượng đừng ép”.

    Chợt nghe hoàng đế hét lớn một tiếng: “Mở mắt ra”, làm giật mình, đành mở hai mắt ra.

    Hương thơm thoang thoảng trước mặt, hoàng đế cầm một một bó hoa lan vừa cúi người hái, cười nói: “Cái này đẹp chứ?”.
    Mộ Từ Tư nín khóc mà cười, nhận lấy rồi kẹp trên vạt áo lồng trong giáp: “Hoàng thượng thật giỏi dọa nạt người ta”.
    Hoàng đế nhìn nàng mỉm cười.

    Cát Tường bỗng qua đây, nhét mấy cành hoa lan vào trong tay hoàng đế rồi hướng về phía Nghị phi đang bĩu môi chậm rãi đi tới.

    Hoàng đế ngầm hiểu, lên đón và tự mình cài lên tóc mai của Nghị phi.

    Nghị phi được yêu chiều mà đâm lo sợ, run rẩy nói: “Tạ ơn hoàng thượng”.
    Mộ Từ Tư vỗ tay cười rằng: “Đẹp quá, chị thẹn đến đỏ mặt rồi”.
    “Nhóc con dám giễu cợt chị”.

    Quả thực Nghị phi đã đỏ mặt, thúc ngựa qua đây lấy một nhành từ vạt áo Mộ Từ Tư rồi cài lên tóc cho nàng.
    Cát Tường than thở: “Vạn tuế gia nhìn kìa, suy cho cùng là cách điệu Nghị phi nương nương tự tay cài hoa khác hẳn với đàn ông như hoàng thượng”.

    Làm sao Nghị phi không biết ngụ ý của y, trong lòng đắc ý mừng rỡ, nở nụ cười xinh đẹp với hoàng đế.
    Hoàng đế chỉ cảm thấy dung nhan hai người như tranh vẽ thì khen rằng: “Thật là đẹp đến cực hạn, trẫm trông các nàng mà vui vẻ khôn tả xiết”.
    Trong rừng cây vang tiếng móng ngựa, Như Ý chui ra ngoài nhìn, nói: “Thì ra vạn tuế gia ở chỗ này”.
    Cát Tường mắng: “Nói gì đấy?”.
    Trời mát mẻ như vậy mà đầu Như Ý lại đầy mồ hôi, hoàng đế mới hỏi: “Việc chi gấp mà chạy thành như vậy?”.
    Như Ý xấu hổ, nói: “Việc này… Vừa nãy người đi theo hầu công chúa Cảnh Ưu nói đã lạc mất công chúa, vốn không muốn làm hoàng thượng nhọc lòng…”.
    Thị vệ bên này vẫn chưa hay biết, xa xa ngoài vòng nội thần, Khương Phóng nhìn thấy Tịch Tà vô cùng buồn chán, lười biếng thả ngựa rong chơi bèn tiến lên bắt chuyện, thấy sắc mặt hắn mệt nhọc thì lo lắng nói: “Tinh thần công công có vẻ không tốt”.
    Tịch Tà cười: “Tối hôm qua, hai chó điên sủa dữ, ta đuổi thẳng đến trấn trên Thượng Giang, đánh chúng gần chết, gọi người dùng thuyền chở về kinh ngay trong đêm, đợi đại thống lĩnh về lột da chúng rồi chần để ăn”.
    Khương Phóng cười to: “Không tiêu hóa nổi đâu, đợi trời lạnh hơn hãy nói”.
    Tịch Tà than thở: “Không đợi trời lạnh được, có con chó điên chỉ chịu đúng đại thống lĩnh cắn thôi, tôi cũng không trói được”.
    “Hừ hừ!” Khương Phóng nói: “Công công dạy bảo giỏi lắm, đừng cố vờ như không biết”.
    Tịch Tà ho một tiếng, cười nói: “Đại thống lĩnh thử xem cũng không sao, để cho y biết vỏ quýt dày có móng tay nhọn.

    Y rèn luyện nhiều thì mới có lợi đối với hai ta”.
    Khương Phóng trầm ngâm trong chốc lát, chợt thấy nội thần rối loạn.

    Tịch Tà nói: “Chỉ sợ có sự cố gì, tôi về trước xem thử”.

    Chạy về đội ngũ, Như Ý bèn lặng lẽ nói với hắn.

    Tịch Tà cười bảo: “Nơi đây đều là đất của hoàng gia, bốn phía bãi săn có bao người giữ, không chạy ra được đâu.

    Nói không chừng là ngựa mệt nên tụt lại phía sau, để em vòng về xem thử”.
    “Chớ làm ầm lên đấy”.

    Như Ý nói: “Ngoại thần vẫn chưa biết đâu”.
    “Em biết mà”.

    Tịch Tà để ý, không dẫn người theo mà một mình giục ngựa trở về tìm kiếm.

    Hắn biết chỗ có thể nghỉ chân ở đây chỉ có nhà thuỷ tạ trong hồ, lúc sắp đến thì mau chóng quất roi ngựa vun vút, siết chặt dây cương, ghìm cho ngựa hí không ngừng.

    Quả nhiên ở con đường nhỏ bên hồ trước mặt có người phóng ngựa đến, quát: “Vị nào?”
    Tịch Tà cười nói: “Thì ra là Úc thám hoa, tại sao không ở phía trước?”.
    Úc Tri Thu đỏ mặt: “Lần đầu đến nên đi nhầm đường.

    Sao công công không hầu bên hoàng thượng?”.
    “Loạn rồi!” Tịch Tà trông bên cạnh giáp của Úc Tri Thu lộ ra một góc khăn trân châu, đưa tay ra hiệu ở trên người mình: “Công chúa lạc đường, nội thần đều đang tìm, thám hoa chớ đi lung tung, đụng phải phượng giá thì không hay đâu”.
    Úc Tri Thu nhét khăn trân châu vào ngực, thẹn đến mức muốn chui xuống đất.

    Tịch Tà cười nói: “Xin mau mau về đi, nô tỳ ra bên bờ xem thử, cáo từ”.

    Tách gốc liễu ra là thấy hai con ngựa thủng thẳng phía trước, công chúa Cảnh Ưu ngồi ở bên lan can nhà thuỷ tạ, đang ném đá vào trong nước.

    Nữ quan bên cạnh thấy Tịch Tà đến gần bèn vội vàng nói nhỏ bên tai nàng.

    Công chúa Cảnh Ưu bĩu môi xem thường, ngâm nga hỏi: “Anh là tâm phúc bên cạnh hoàng thượng, chỉ sợ hoàng thượng không thể rời khỏi một khắc, sao lại rảnh rỗi tới chỗ này?”.

    “Vạn tuế gia không thấy công chúa, nhớ đến nên mời công chúa về trước thánh giá của hoàng thượng”.
    Công chúa Cảnh Ưu đứng lên nói: “Người vây chung quanh, không có lúc nào được tự tại, trông thấy các người đã bực mình rồi”.

    Tịch Tà nhìn nàng tùy ý quất roi ngựa tới bèn vội vàng tránh ra xa hơn, chỉ thấy roi dài của công chúa lướt qua, lá liễu trong rừng bay loạn.

    Tịch Tà theo sau nàng, chỉ đành cẩn thận che mắt.

    Cảnh Ưu đột nhiên dừng bước, hỏi: “Có phải hôm nay rất mát không?”.
    Tịch Tà vội vàng cười theo nói: “Đúng ạ”.
    “Đã nói mà, gió mát biết bao”.

    Công chúa Cảnh Ưu đưa hai cánh tay ra, lá liễu bị gió cuốn qua đính vào quần áo, trên mặt, trên tóc của nàng, không biết nàng nhớ tới cái gì mà ngửa đầu vui vẻ cười.
    Sau khi đi săn, hoàng đế lại nghỉ ngơi một ngày, chuẩn bị vật ngự dụng rồi mới chào từ giã với thái hậu, để hoàng hậu lại hầu từ giá của thái hậu, thái phi, mang theo Nghị phi, Hoà thục nghi đi về kinh thành theo đường bộ.

    Vì đã lên chức, có được phẩm cấp nên chuyện đầu tiên của Tịch Tà là đến phủ nội vụ chuyển giao giấy tờ, xin đổi lệnh bài.

    Ai ngờ phủ nội vụ đã được tin từ lâu, quản sự đang cầm lệnh bài ngà trắng như tuyết đi ra, cười nói: “Con bài ngà của anh sáu đã làm được mấy ngày rồi, chúc mừng chúc mừng”.
    “Ôi, phiền các vị đại nhân để tâm rồi”.

    Tịch Tà vội vàng kêu Tiểu Thuận Tử dâng quà cảm ơn và đổi lệnh bài gỗ mun.
    “Nơi đây còn có quà mừng của Thành Thân vương, bảo tôi thay mặt giao cho anh sáu đây”.

    Quản sự bưng một cái tua đeo lệnh bào, trên tơ lụa buộc cài đầy ngọc xanh biếc, lấp lánh loá mắt.
    Tịch Tà suýt cười khẩy thành tiếng, nét mặt khó nén kinh ngạc: “Vương gia nhọc lòng rồi.

    Hôm khác sẽ dập đầu với vương gia”.

    Trở lại phòng, hắn ném bộp tua đeo lệnh bài lên trên bàn, nói với Tiểu Thuận Tử: “Khóa vào, đừng để ta trông thấy nữa”.
    “Vâng”.

    Tiểu Thuận Tử v**t v* từng hạt châu ngọc thượng hạng, không biết nó đã chọc giận gì Tịch Tà, thở dài lưu luyến không rời rồi đặt xuống đáy hòm.
    Lát sau trước cửa viện Cư Dưỡng đã đông như trẩy hội, các nha môn trong cung đều có mấy người tương quan nhân đến chúc mừng, uống chén trà xong mới tản đi.

    Lại có Nghị phi nói Tịch Tà có công hộ giá, sai người trong cung đến ban thưởng, cuối cùng lặng lẽ cười nói: “Nương nương muốn cảm ơn công công đã nói tốt ở trước mặt hoàng thượng”.
    “Xin bẩm lại cho nương nương hay…” Tịch Tà nói: “Hoàng thượng nghiêm chỉ không cho nô tỳ đi lại ở các cung nên chỉ đa tạ nương nương quan tâm ở đây thôi.

    Chỉ cần sau này nương nương rộng lượng, quý trọng đám người Hoà thục nghi thì hoàng thượng tất nhớ đến sự hiền huệ của nương nương trong lòng, so với người khác thì giống như trên trời dưới đất, chẳng phải sẽ cao hơn một tầng hay sao?”
    “Công công nói phải”.

    Người nọ thấy Tịch Tà hơi mệt mỏi liền vội vàng xin từ biệt.
    Tịch Tà hiếm khi rảnh rỗi, nâng chén trà lên, đã nguội từ lâu rồi.

    Từ sau khi hắn trúng độc làm vết thương cũ tái phát, Minh Châu luôn săn sóc chu đáo, vả lại trời thì nóng nên nước trà ấm vừa miệng.

    Lúc này nhớ tới Minh Châu vẫn còn ở Thượng Giang, không khí trong phòng như thiếu thứ gì, khiến hắn không sao tự tại được.
    Hôm sau thức dậy lúc hửng sáng, trên ghế ngoài phòng ngủ vẫn mắc quần áo trong cung mới giặt, mặt trên lại đặt một cái tua đeo lệnh bài mới tinh màu xanh đậm, trên tơ lụa mảnh nhường ấy chằng chịt một bông mai mới thêu, tài thêu tinh tế, thanh nhã đập vào mặt, chính là vết tích của Minh Châu.

    Tiểu Thuận Tử dụi mắt đi ra chào: “Thầy dậy sớm thế”.
    “Cái này từ đâu ra?”
    Tiểu Thuận Tử nhìn một lát: “Tối hôm qua con thu xếp hành lý thầy mang về từ Thượng Giang thì thấy, cứ tưởng hôm nay thầy muốn đeo.

    Hay là còn đổi cái cũ kia nhé?”.
    Tịch Tà nắm tua đeo lệnh bài ở trong tay, nhìn kỹ rồi mỉm cười: “Không, cái này là được rồi”.
    Tiểu Thuận Tử ghé vào trước mắt Tịch Tà, nói: “Con theo thầy nhiều năm như vậy, hiếm thấy thầy vui vẻ thật lòng.

    Cái tua đeo lệnh bài sợi vàng sợi bạc gì thế? Con phải nhìn cho kỹ, để mở mang kiến thức”.
    “Ba hoa!”
    Tiểu Thuận Tử vui vẻ “phì” một tiếng, uốn người bỏ chạy: “Thầy mau lên đi, nếu mà muộn thì người xui xẻo lại là chân chó Tiểu Thuận Tử này”.
    “Biết là tốt”.

    Tịch Tà vội vàng thay quần áo, chạy tới cung Càn Thanh, quả nhiên hoàng đế đã dậy, đứng ở bên ngoài tự quạt cho mình, ngửa đầu nhìn sắc trời.

    Tịch Tà dập đầu xong liền nói: “Còn chưa tới giờ, hoàng thượng đã chờ ở đây, lát nữa các thần mà biết lẽ nào không hãi?”
    “Chỉ là trẫm có điều bận lòng, không ngủ được.

    Hôm nay ngắm nhìn điện Thanh Hòa từ nơi này, lúc mặt trời mọc thì bầu trời xán lạn, cung điện huy hoàng, thảo nào bao nhiêu người thèm nhỏ dãi”.

    Hoàng đế nói: “Kẻ nào có thể dễ dàng nhường cho người khác món đồ tốt như vậy chứ? Bất kể trong nước ngoài nước, muốn tranh với trẫm thì phải chuẩn bị đền tính mạng đi thôi”.
    Như Ý buột miệng khen: “Chính là lý này”.
    Hoàng đế nói với Tịch Tà: “Hôm qua mới vừa về cung, Lưu Viễn và Miêu Hạ Linh đã dâng tấu, vẫn là chuyện trưng thu tiền và lương thực ở đất phiên, đại chiến sắp tới, không biết mộ lính ở các nơi có kịp hay không”.
    “Chỉ e diễn lại trò cũ không còn tác dụng nữa”.

    Tịch Tà thưa.
    Hoàng đế bảo: “Trẫm biết đám phiên vương không dễ đối phó.

    Hồng Châu là chỗ xung yếu khi Hung Nô xuôi nam, an nguy có can hệ cực lớn đến chuyện này, Hồng vương sẽ không sinh lắm thị phi.

    Chỉ là trong lòng cha con Đỗ Hoàn có ý đồ xấu, chỉ cần bắt lấy ông ta thì những người khác đều dễ xử lý”.
    Nói thì nói vậy, thật sự phải nghĩ ra được thượng sách ngay cũng rất khó, cuối cùng hoàng đế vẫn theo sớ mà đám Lưu Viễn dâng lên, để Miêu Hạ Linh dẫn đầu việc này, tăng số người tuần phủ, chiêu mộ binh lính, tăng thuế khoán các nơi.
    “Trăm họ đã rất khó, các khanh nhớ kỹ chức trách của tuần phủ không phải là kề dao trên cổ trăm họ ép họ nôn tiền ra, chuyện tăng thuế khoán phải cân nhắc dân tình địa phương, càng phải đề phòng những kẻ không có lương tâm mưu lợi bất chính từ đó”.
    Ông Trực nói: “Triều đình cần người thì muốn bao nhiêu có bấy nhiêu, nhưng ngựa lại là một chuyện khác”.
    Hoàng đế nói: “Từ trước đến nay, hai châu Thanh, Hồng và cả Bạch Dương tạo ra nhiều ngựa tốt, bộ binh hãy đi thương lượng với họ”.
    Tịch Tà chợt cười nói: “Tập tính dân Bạch Dương dũng mãnh, những dân chăn nuôi này thích mềm mỏng không thích cứng rắn, triều đình không thể cưỡng ép trưng thu, người phái đi càng phải lanh trí, giỏi giao thiệp”.
    Ông Trực nói: “Lời này có lý”.
    “Khanh tiến cử một người đi”.

    Hoàng đế nói với Tịch Tà.
    “Nô tỳ thấy Lục Quá rất khát”.
    “Liệu tuổi có quá trẻ không?” Ông Trực lại hơi lo âu.

    Xưa nay La Tấn và ông ta có quan hệ tốt, vội vàng lén kéo góc áo ông ta.

    Ông Trực lập tức hiểu ý, cười rằng: “Hãy để anh ta thử trước xem sao”.

    Thành Thân vương ngồi gần nên thấy rõ, lòng thầm mắng một câu cáo già: Lục Quá là người Tịch Tà tiến cử, dù làm việc không hiệu quả, thậm chí còn dấy lên dân biến ở Bạch Dương cũng không liên quan đến Ông Trực thì cớ sao không làm? Đến khi đi xuống từ trên điện, y lặng lẽ vẫy tay với Tịch Tà, hỏi: “Rốt cuộc Lục Quá này thế nào? Ông Trực đang chờ xem trò cười đấy!”
    Tịch Tà cười thưa: “Không sao cả, nô tỳ tự có sắp xếp, làm phiền vương gia nhọc lòng rồi.

    Nô tỳ xin nhận ban thưởng hôm qua của vương gia, đợi lúc rảnh rỗi sẽ đến phủ vương gia dập đầu.

    Có điều món đồ kia quá quý giá, sợ người khác thấy thì không tốt nên không dám mang theo bên mình”.
    Thành Thân vương nhìn nụ cười chói mắt của Tịch Tà, bỗng muốn nói lại thôi, chỉ bảo: “Vậy là tốt rồi, lúc rảnh rỗi anh hãy tới, ta sẽ chờ”.
    Người chọn làm tuần phủ vẫn đợi được định ra, ý hoàng đế là phải đợi tấu chương của Lương vương tới mới đi phân công, chỉ có một mình Lục Quá chưa được mấy ngày đã phải rời kinh đến Bạch Dương.

    Trong cung có người mang hộ thiếp mời tới, là Tịch Tà bày tiệc rượu ở ngõ Tiêu Chi tiễn anh ta.

    Lục Quá biết việc lần này chính là Tịch Tà tiến cử, biết hắn có việc muốn nhắn nhủ bèn từ chối tiệc rượu của đám Du Vân Dao, một mình đi.

    Tiểu nhị dẫn anh ta lên lầu, Tịch Tà đã từ trong phòng ra đón: “Anh Lục, đã lâu không gặp”.
    “Công công vẫn khỏe chứ?” Lục Quá thấy Tịch Tà thì cũng vui vẻ, hàn huyên vài câu rồi ngồi xuống, nói thẳng: “Lần này công công xin việc khó cho tôi, chắc sớm đã tính trước mọi việc, Lục tôi xin được chỉ cho một hai”.
    “Không dám!” Tịch Tà khom người: “Anh Lục là một người thông minh lão luyện, tôi cũng không vòng vo nữa.

    Đây là mật chỉ của hoàng thượng, anh Lục cầm đi, đừng xem vội”.
    Lục Quá quỳ xuống đón bằng hai tay, cẩn thận bỏ vào trong ngực.

    Tịch Tà nói: “Người Bạch Dương hung hãn nhưng hào hùng, nghĩa khí, xử trí thoả đáng rồi thì việc gì cũng dễ, nếu như đắc tội dân bản xứ tạo ra dân biến thì tính mệnh anh Lục và tính mạng của tôi đều rất khó nói”.
    Lục Quá nói: “Tôi cũng đã suy nghĩ chuyện này hồi lâu.

    Theo tôi thấy, chuyện này không thể coi trọng hai chữ ‘ép trưng’, bất kể tiền nhiều tiền ít thì triều đình bỏ vốn mua ngựa địa phương vẫn là kế hay”.
    Tịch Tà cười nói: “Tôi không nhìn lầm người rồi”.
    “Đấy chỉ là một chuyện”.

    Lục Quá cau mày bảo: “Tiền của triều đình không đủ, tôi lại đi với hai bàn tay trắng, lấy cái gì mua đây?”.
    Tịch Tà chỉ vào ngực Lục Quá, mỉm cười không nói.

    Lục Quá đưa tay sờ lên cuốn mật chỉ đó, bỗng bừng tỉnh.

    Tịch Tà nói: “Thủ lính người buôn ngựa vùng Bạch Dương Lạc châu họ Bạch, tôi đã thông qua bạn bè thông báo gã chăm sóc anh Lục.

    Chỉ sợ anh Lục không quen cuộc sống ở Bạch Dương nên dẫn anh Lục gặp một người bạn ở đây”.

    Tai nghe tiếng bước chân vang ở thang lầu thì cười nói: “Y tới đúng lúc thật”.

    Đoạn đứng dậy mở rộng cửa, kéo một thanh niên vào, Lục Quá vừa thấy đã hết sức ngạc nhiên.
    Thanh niên kia lớn tiếng nói: “Võ trạng nguyên gì? Người này là bại tướng dưới tay tôi, anh muốn tôi làm chân chạy cho anh ta, tôi không làm đâu”.
    Tịch Tà chế trụ cổ tay thanh niên kia, mặc cho thân hình người nọ cao lớn, giãy mấy cái làm mặt đỏ lên mà cũng không nhúc nhích mảy may.

    Tịch Tà vội vàng cười nói với Lục Quá: “Đây là anh em ta, tên Lý Sư, người Bạch Dương.

    Hai người đã gặp rồi đấy”.
    Lục Quá đứng lên nói: “Thì ra công công đã khiến y…”
    “Đã cái gì?” Lý Sư tỏ vẻ không vui: “Tôi đã nói rồi, tôi không làm”.
    Tịch Tà đặt y xuống ghế, cười nhạt bảo: “Không làm cũng được, anh cũng không cần làm chân chạy nữa.

    Về thẳng nhà đi, đừng lượn lờ trước mắt tôi nữa”.
    Lý Sư lập tức nản lòng, bĩu môi không nói lời nào.

    Lục Quá vội lắc tay, nói: “Tôi xin nhận ý tốt của công công trong lòng.

    Anh Lý này võ công cao cường, tôi lại từng chịu thiệt thòi từ y, trên đường anh Lý mà sơ xuất, công công tất sẽ trách tôi lợi dụg việc công để trả thù riêng.

    Nếu tôi xảy ra chuyện không may ở Bạch Dương, công công cũng sẽ oán giận anh Lý bắt nạt tôi võ công thấp.

    Hay là thôi đi”.
    Lý Sư nhảy bật lên, bắt vạt áo Lục Quá lại, nói: “Nghe này, Lý Sư tôi sẽ không bắt nạt người khác, có tôi thì anh đừng hòng có sơ xuất gì, đến Bạch Dương rồi, tôi đảm bảo anh sẽ bình an”.
    Tịch Tà cười nói: “Vậy là tốt rồi, chuyện này mà được thuận lợi thì chỉ cần hai tháng là về”.

    Hắn tác hai người ra, rót cho mỗi bên một chén rượu.

    Lý Sư căm tức liếc Lục Quá, “hừ” một tiếng, uống một hơi cạn sạch.

    Tịch Tà thấy đã giao củ khoai nóng Lý Sư này vào tay Lục Quá rồi liền vội rút người cáo từ, đi xuống lầu đã thấy Thẩm Phi Phi ngồi uống rượu, cười nói: “Anh Thẩm đang đợi ai đấy?”
    Thẩm Phi Phi ngửa đầu nhìn thoáng lên trên lầu, nói: “Dù sao cũng chẳng phải tên ngốc kia”.
    “Thế đang chờ tôi à?”
    “Có bốn phần”.
    Tịch Tà cười nói: “Còn có sáu phần ắt là mong được gặp Minh Châu một lần.

    Đáng tiếc giờ nàng ấy còn đang ở hành cung Thượng Giang, mấy ngày nữa mới về”.
    Một chén rượu sầu xuống bụng, Thẩm Phi Phi lắc đầu cười khổ nói: “Thẩm Phi Phi tôi tuấn tú lịch sự…”
    Tịch Tà vội nói: “Phải”.
    “Phong lưu phóng khoáng…”
    “Phải”.
    “Lại là một người đàn ông thực thụ, có điểm nào không mạnh bằng anh?”
    Tịch Tà biết gã đã ngà ngà nên không tức giận, chỉ cười rằng: “Trên trời dưới đất không so được”.
    “Vậy anh nói xem, vì sao tấm lòng của nàng đều đặt ở trên người anh?”
    Tịch Tà bỗng nghẹn lời, mình cũng trăm mối không lời giải, lắc đầu than thở: “Tôi không biết”.
    Thẩm Phi Phi cả giận nói: “Chờ nàng trở lại, tôi phải đi hỏi cho rõ”.

    Gã đặt bốp thỏi bạc lên bàn, đứng dậy đi.

    Tịch Tà vội vàng gọi người tính tiền, đuổi ra ngoài cửa, Thẩm Phi Phi đã không thấy bóng dáng.
    Tịch Tà đi xuyên qua trời chiều nóng hừng hực, một lần nữa suy nghĩ lại buổi nói chuyện với Thẩm Phi Phi, càng nghĩ càng thấy lòng dạ sầu muộn, trán má cực nóng, trở lại trong phòng thì tựa đầu lên trên giường.

    Có người nhẹ tay nhẹ chân mở cửa sổ ra cho thông gió, trên bàn đầu giường vang lên tiếp lộp cộp, quần áo lay động dưới đèn, Minh Châu hạ người xuống hỏi: “Lục gia ăn chút đồ nóng cho đổ mồ hôi nhé?”.
    Tịch Tà ngửa người, kinh ngạc hỏi: “Sao cô lại về?”.
    “Thái hậu về kinh, dĩ nhiên tôi theo về rồi”.
    “Có mệt không?”
    “Vẫn ổn.

    Trái lại Lục gia chạy tới liều mạng, lại chạy về vội vàng, sao không ốm cho được?”
    “Bị ốm á? Tự tôi lại không nhận ra”.

    Tịch Tà cười nói, ngồi ở bên bàn đón lấy cháo nóng trong tay Minh Châu: “Thái hậu không làm khó cô chứ?”.
    Minh Châu suy nghĩ một lát mới nói: “Không ạ.

    Lúc nào cũng nghe Ngô Thập Lục mở miệng ra là ‘yêu phụ yêu phụ’ nhưng nhiều ngày đi theo bên cạnh lại cảm thấy bà ta ôn hòa, cũng phân rõ phải trái”.
    Tịch Tà nói: “Tôi cũng biết”.

    Hắn đảo mắt nhìn thấy sắc trời tối om om: “Mấy giờ rồi, cảm thấy tôi ngủ giấc này đã rất lâu”.
    “Còn không phải ư? Đã qua canh ba rồi.

    Tôi tới từ lúc ăn cơm tối, gia vẫn ngủ không biết gì.

    Vừa nãy Tiểu Thuận Tử thấy hình như lục gia hơi nóng bèn chạy tới gọi tôi dậy”.
    Tay đang cầm cháo của Tịch Tà không khỏi run rẩy: “Phiền hai người rồi”.
    Ngoài cửa sổ khẽ soạt một tiếng, hai người cảnh giác quay đầu, đã thấy Khương Phóng liếc vào trong, cau mày hỏi: “Nhị vị đều ở đây à?”.
    Tịch Tà rất lấy làm lạ, nói: “Vào đây nói đi”.
    Khương Phóng cười, nhẹ nhàng bay vào từ cửa sổ, nói: “Tối hôm nay không yên ổn, có người bẩm tôi có tiếng động ở trên góc đông bắc thành cung, tôi chạy tới lại không thấy bóng người.

    Tôi nghĩ bình thường gia và cô nương hay ra vào từ nơi đó, dù đêm nay muốn rời cung thì tôi cũng nên nhận được tin, không để người ta làm ầm lên mà tới xem thử trước”.
    Minh Châu cười nói: “Chúng tôi muốn ra ngoài, cho dù đi qua trước mắt anh ta cũng chưa chắc sẽ để anh ta nhìn thấy”.
    Khương Phóng nói: “Phải phải phải.

    Thế thì lạ thật, nếu là thích khách thì trong cung lại chẳng có chút động tĩnh nào…”
    Tịch Tà đột nhiên nói: “A!”.
    “Sao vậy?”
    “Chẳng lẽ là Thẩm Phi Phi?”
    Ánh mặt trời lốm đốm xuyên qua bóng râm rậm rạp trên đỉnh đầu, vẽ hoa lên mặt Thẩm Phi Phi, đong đưa theo cơn gió muộn trên khuôn mặt mang tâm trạng bất ổn của gã.

    Thẩm Phi Phi bị chói mắt, dùng tay áo che đầu, trở mình, càng nghe càng thấy ve sầu kêu ra rả, chợt nhảy lên, dốc sức đá một cú về phía thân cây: “Ni cô đều chết sạch rồi, mày còn niệm kinh gì nữa!”.

    Ve sầu lập tức ngừng kêu, am Tịnh Thủy yên tĩnh không tiếng động.

    Thẩm Phi Phi lại ngẩn người, xoa từng vết kiếm trên thân cây, nhíu mày thật chặt.

    Khóe mắt gã thoáng thấy một thiếu niên gầy gò mặc áo lam đi vào cửa, chỉ cảm thấy hắn quấy rối nỗi phiền muộn tình cảm hiếm có của mình, hung dữ nói: “Nơi đây không có hương để thắp đâu, đi nơi khác đi”.
    Lông mày giá rét trên khuôn mặt trắng nõn của thiếu niên kia nhếch lên, lạnh lùng bảo: “Thẩm Phi Phi”.
    “Minh Châu cô nương!” Thẩm Phi Phi nghe tiếng nàng, tinh thần đột nhiên chấn động, vui vẻ ra mặt chạy tới: “Cô nương không chút phấn son, mặc quần áo nam lại trông như vậy, như vậy…” Sự hoan hỉ trong lòng gã xông lên, không khỏi nghẹn ngào.
    Minh Châu lùi lại một bước, cười nhạt nói: “Tên cậu tặc to gan lớn mật này! Quấn lấy tôi ở bên ngoài thì cũng đành, lại dám xông vào hoàng cung lúc đêm khuya!”.
    “Cái gì?” Nhiệt huyết của Thẩm Phi Phi bị nàng tạt một gáo nước lạnh, bỗng chết lặng người.
    “Anh xông vào hành cung Thượng Giang, nhờ có bạn của lục gia giải vây cho anh, anh còn không biết hối cải.

    Nếu như đêm qua gây ra họa lớn, chẳng phải lục gia bị anh liên lụy đến chết? Nếu không có lục gia mở một mặt lưới thì hôm nay tôi tới phải đâm anh một kiếm đầu tiên”.

    Minh Châu không kiềm được cơn giận, quát lên: “Bây giờ anh mau cút khỏi kinh thành cho tôi, còn để cho tôi trông thấy nữa thì nhất định sẽ kết liễu tính mạng của anh”.
    Thẩm Phi Phi ngây ngốc nhìn nàng phất ống tay áo xoay người ra ngoài, đột nhiên tỉnh lại, đuổi theo mấy bước, vọt đến trước mặt Minh Châu: “Chờ đã!” Lửa giận hừng hực đốt mắt Thẩm Phi Phi trở nên sáng như tuyết: “Cô nói đêm hôm qua tôi xông vào hoàng cung, cô trông thấy à? Bắt được à?”
    Minh Châu hừ một tiếng: “Lúc này anh chớ phủ nhận những lời không biết liêm sỉ mà anh đã nói với lục gia”.
    “Không sai, tôi định tìm cô.

    Nhưng làm sao tôi biết đêm hôm qua cô về kinh?”
    Minh Châu bị gã nói cho ngẩn ra.

    Thẩm Phi Phi đã tới gần một bước, bảo: “Nếu như Thẩm Phi Phi tôi muốn vào hoàng cung thì dù vạn người canh gác vẫn không thấy bóng dáng.

    Nếu tôi vào cung tìm cô, dù cho lật hết cung Càn Thanh cũng nhất định phải tìm bằng được mới thôi, quyết không dừng! Lục gia mà cô luôn miệng gọi, hừ hừ, vào hoàng cung giết người thì tính là chuyện lớn tài ba gì? Vì hắn, cô đã chuyện bé xé ra to, chạy tới giết tôi, chỉ sợ hắn chẳng cau mày lấy một cái.

    Hôm nay tôi nói cho cô biết, hắn không xứng với cô, không xứng!”
    Minh Châu giận dữ, tay giữ hai chiếc kim bạc, cổ tay trắng khẽ động đậy lại bị Thẩm Phi Phi nắm được, túm vào ngực.

    Gã nhìn chằm chằm vào mắt Minh Châu và nói: “Tôi thích cô là phải có được, tôi chẳng quan tâm tạo phản ai.

    Tôi chắc chắn sẽ tranh giành, chắc chắn sẽ đấu với Tịch Tà, cô chờ mà xem”.
    Minh Châu bị ánh mắt nóng của gã làm cho không mở nổi mắt, tay phải giãy giụa, sợi màu trong ống tay áo bay nhanh, một chiếc kim bạc xuyên thủng cổ tay Thẩm Phi Phi, đâm phậm lên quần áo trước ngựa gã.

    Gã khẽ nhíu mày, tay lại càng siết chặt hơn, nói: “Đau”.
    “Biết là tốt!” Minh Châu nghiến lợi nói: “Buông tay”.
    Trên gương mặt tức giận đến trắng bệch, ánh mắt trời càng sáng chói mắt.

    Ánh mắt Thẩm Phi Phi lấp lánh một lát mới chậm rãi thả lỏng ngón tay ra.
    Minh Châu rút tay về, dùng sức lau lên quần áo, vòng qua Thẩm Phi Phi đi lên trên bậc.

    “Này!” Nàng chắp tay sau lưng, dừng chân dưới bóng râm ở cửa, cao giọng cười, lại có chút phong thái hào hiệp, kiêu ngạo của thiếu niên quý tộc: “Anh cạnh tranh thế nào, đấu thế nào? Tôi chờ xem đấy”.
    “Hả?” Thẩm Phi Phi bỗng cảm thấy tiếng trời truyền đến, hoa bay đầy trời.

    Lúc đầu váng mắt hoa, hắn đuổi theo sau Minh Châu: “Cô nương Minh Châu, cô có ý gì?”.

    Trước cửa am, ngựa hí một tiếng, Minh Châu vòng đầu ngựa trợn mắt với gã từ xa, cách ngăn rừng liễu xanh biếc, rong ruổi đi xa.
    “Theo lời cô nói, tối hôm qua quả thực không phải Thẩm Phi Phi”.

    Tịch Tà nghe Minh Châu báo lại, cũng khá bất ngờ: “Nghe giọng điệu của gã, gã lại chưa từng nảy sinh ý nghĩ vào cung tìm cô.

    Gã có thể xông đến Thượng Giang, vì sao không vào trong này?”.
    “Lục gia mong gã vào gây sự lắm à?” Minh Châu hãy còn nhìn vết bầm đen trên cổ tay mình, trách móc một câu.
    “Để tôi xem nào”.

    Tịch Tà kéo tay Minh Châu, cười nói.

    Minh Châu trông mắt hắn cụp xuống thật thấp, cổ tay truyền đến nhiệt độ cơ thể mát mẻ của hắn, không lên tiếng.

    “Đúng là không biết chừng mực, chỉ sợ sẽ tím mấy ngày”.
    Minh Châu dùng tay áo che cổ tay lại, bảo: “Cũng chẳng sao”.
    Tịch Tà nhẹ giọng cười, đứng lên bước sang một bên: “Không phải Thẩm Phi Phi thì là ai? Rốt cuộc là người lộ nào? Muốn làm cái gì?” Trong lúc trầm ngâm, hắn than thở: “Càng nghĩ càng thấy đau đầu”.
    “Khương Phóng biết cách xử trí chuyện này, lục gia cần gì phải để ý?” Minh Châu nói: “Bây giờ chuyện quan trọng nhất vẫn là tin tức của Quân Thành ở phương bắc”.
    Tịch Tà nói: “Đúng, cô nói không sai.

    Điệp báo của chúng ta đã tới, quả nhiên Quân Thành dần dần hồi phục, người này đúng là cừ khôi”.
    “Tôi không rõ…” Minh Châu cau mày nói dưới ánh đèn: “Người hầu hạ gia trong thiên hạ đâu chỉ nghìn vạn, sao không tìm một hai kẻ có năng lực ám sát Quân Thành, một trận đại chiến trung nguyên sẽ bị tiêu trừ trong vô hình.

    Cho dù chiêu này thấp kém cũng không thể không nói công đức lớn lao”.
    “Mầm tai họa của trung nguyên không ở bên ngoài mà ở bên trong”.

    Tịch Tà thở dài một tiếng: “Hiện nay duy trì chút thái bình ấy toàn nhờ có kẻ thù bên ngoài dòm ngó, hai châu Hồng, Thanh mới không dám hành động thiếu suy nghĩ, như vậy, cai trị được hai vương Đông, Tây, triều đình mới có vài chục năm nghỉ xả hơi.

    Một ngày Hung Nô tự mình tan tác, hai vị vương gia phương Bắc không có nỗi lo phía sau, sẽ có cơ hội đưa đại quân xuôi nam.

    Nhà họ Đỗ phía nam lại tính xưng hoàng, trận nội chiến này kéo hơn mười năm thì trung nguyên phải chết bao nhiêu người?”.
    Minh Châu nói: “Lẽ nào giao chiến với Hung Nô lại có lợi khôn tả đối với triều đình?”.
    “Cái lợi này…” Tịch Tà mỉm cười nói: “Chỉ có để sau này chờ xem thôi”.
    Hoàng đế lấy được tin tức của Quân Thành là vào nửa tháng sau.

    Trong số tuần phủ mà đám Miêu Hạ Linh xin phái đi, chỉ có người phái đến chỗ Đông vương là hoàng đế không hài lòng lắm, bèn do bố chánh sử Hàn châu Thái Tư Tề và tri phủ Hàn châu Vu Bộ Chi kiêm nhiệm.
    Tuy hoàng đế biết lần này trưng thu quân lương đã chạm đến chỗ đau của đám phiên vương, tất sẽ sinh rắc rồi nhưng lúc này cũng chỉ đành mặc cho số phận, tạm thời gạt sang một bên, vội vã bàn bạc chuyện gấp khác với Tịch Tà.

    Hai tháng trôi qua, ngoại trừ Lục Quá, các nơi khác đều không thấy tin tức tốt nào được chuyển tới.
    Trước có tấu của Miêu Hạ Linh bẩm rằng thuế má của vài châu phủ đã nặng đến tột đỉnh, kho bạc lại không còn dư mấy, quan viên địa phương có nhiều hiềm nghi tham ô, không làm tròn trách nhiệm.

    Miêu Hạ Linh chủ trương điều tra, vội vã dâng liền ba tấu để xin chỉ.
    Còn có đám phiên vương tôn thất Sào châu không nhiều của cải, lần trước bị sứ trưng lương ép ra vài chục vạn lượng đã oán than dậy đất, lần này miễn cưỡng ép cũng không hợp với đạo làm người.

    Có mấy thân vương nóng mắt, khó tránh oán rằng Hung Nô đã lui quân, dưới thời thịnh trị thái bình mà hoàng đế còn trưng lương chuẩn bị lính, chê trách là quá hiếu chiến.

    Còn Hồng vương chỉ một mực lần lữa, người hoàng đế phái đi không đánh, không mắng, không thúc giục được vị vương gia già khí phách tuyệt thế, uy phong lừng lẫy này, đúng là không biết làm sao.

    Khiến hoàng đế phẫn nộ vẫn là Đông vương Đỗ Hoàn và Tây vương Bạch Đông Lâu.

    Bọn họ chẳng những từ chối giao nộp quân lương, còn bẩm trên tấu rằng: Giặc Oa, người Miêu làm loạn ở trong khu vực của mỗi người, lương bổng của lính phiên còn thiếu, nếu tất cả quân bị đều nộp lên trên triều đình, biên cương hai nơi căng thẳng thì mình không gánh nổi trách nhiệm.

    Trong lời nói có ý dọa dẫm, dùng thế lực bắt ép.
    Hoàng đế suýt nữa bóp nát tấu của hai người.

    Tịch Tà bước lên phía trước, hỏi: “Hoàng thượng nổi giận như vậy là vì chuyện gì vậy? Nô tỳ có thể xem hai quyển sổ con này không ạ?”.
    Hoàng đế thả lỏng ngón tay ra, từ trên khuôn mặt xanh mét lộ ra sắc chán nản, chậm rãi nói: “Khanh xem đi”.

    Hắn ta ngồi lên trên giường rồi nghiêng người nhìn Tịch Tà vuốt phẳng quyển sổ gấp, mau chóng đọc xong.

    “Quả nhiên vẫn là Đỗ Hoàn”.

    Hoàng đế ngửa mặt thở hắt ra: “Trẫm hận không thể…”.
    “Bạch Đông Lâu chỉ vẽ đường cho hươu chạy, không đáng để lo”.

    Tịch Tà nói: “Quyển tấu chương này của ông ta tới rất đúng lúc, nô tỳ phải chúc mừng vạn tuế gia trước”.
    “Lúc này rồi còn có gì để vui mừng?”
    Tịch Tà tâu: “Nô tỳ nhận được một tin, gần đây Đại Lý có sự thay đổi.

    Đoàn Bỉnh bị người ta hạ độc, suýt nữa mù mắt, hơn năm trăm người trong vương phủ hận thù sục sôi, nhảy vào phủ An Vương của Đoàn Thừa, không ngờ đã g**t ch*t Đoàn Thừa”.
    Hoàng đế ngẩn ra: “Đoàn Thừa chết rồi ư? Chuyện khi nào đấy?”.
    “Hai mươi sáu tháng Chín ạ”.

    Tịch Tà cười nói.
    “Nói bậy!” Hoàng đế không nhịn được, cũng cười: “Hôm nay mới là ngày mùng tám tháng Chín”.
    Tịch Tà nghiêm túc nói: “Đúng là vào ngày hai mươi sáu tháng Chín”.
    Hoàng đế nhìn bốn phía, chỉ có Cát Tường đứng bên ngoài: “Có bao nhiêu người biết chuyện này?”.
    “Rất ít ạ”.
    “Giết anh là tội lớn…” Hoàng đế ngồi dậy, thấp giọng hỏi: “Dù Đoàn Thừa chết, Đoàn Bỉnh ngồi yên được trên ngôi vương à?”.
    “Đại Lý chỉ còn một vương tử là Đoàn Bỉnh, chỉ cần công chúa trung nguyên gả cho, bề ngoài hoàng thượng ủng hộ anh ta thì trong triều Đại Lý sẽ không còn có ý kiến khác”.
    “Còn có mười tám ngày”.

    Hoàng đế gật đầu: “Hiện Miêu Hạ Linh ở Ngô châu, bảo hắn ta bí mật mang theo quốc thư của trẫm, phải đến được thành Đại Lý vào ngày hai mươi bảy tháng Chín, gặp mặt Đại Lý vương bàn việc kết thân”.
    Tịch Tà cười vén tay áo lên, chấm mực viết thư: “Hoàng thượng vẫn chưa chỉ ra rốt cuộc là gả vị công chúa nào?”.
    “Còn ai vào đây nữa? Tất nhiên là công chúa Cảnh Ưu rồi”.

    Hoàng đế không khỏi ưỡn người, lộ ra hàng mày hiên ngang: “Như vậy, Đoàn Bỉnh dựa theo trao đổi trước kia là dẹp yên người Miêu vì trung nguyên.

    Phía nam bớt đi một mối tai họa, lời Bạch Đông Lâu trong tấu chương chỉ chờ trẫm bác bỏ tử tế, xem ông ta còn kéo dài quân lương thế nào nữa”.
    “Đông vương sắp vào thế cô lập, công chúa lại được chồng hiền, hoàng thượng đại hỉ rồi”.

    Tịch Tà thấy mặt mày hắn ta tươi như hoa thì cũng vui vẻ thật lòng.
    Hoàng đế cười bảo: “Thật ra còn có một chuyện vui mừng nữa, trẫm đang bực bội nên quên nói.

    Lần này Lục Quá làm việc rất tốt, ngày mai hắn sẽ đến kinh báo cáo, trẫm muốn đích thân ngợi khen, khanh nói cho bộ binh đi”.
    Lúc này hoàng đế muốn dùng cơm tối, Tịch Tà tranh thủ thời gian lặng lẽ tụ họp với Khương Phóng, lệnh cho anh ta sai người đắc lực theo dõi người mà Miêu Hạ Linh hạ mật chỉ một cách sát sao, cần phải bảo vệ mật chỉ chu đáo, sau đó cũng hộ tống cả Miêu Hạ Linh đến Đại Lý được bình an, sự việc quan trọng, quyết không được tiết lộ chút tin tức nào.

    Khương Phóng cười bảo: “Người đắc lực? Ở đây sẵn có một người, lúc nhá nhem Lý Sư và Lục Quá vào kinh, gia lại đuổi thằng nhãi kia ra ngoài để tôi được sống mấy ngày thanh tĩnh thái bình”.
    “Ồ? Bọn họ đến rồi?” Tịch Tà vui vẻ trong lòng: “Nhưng lại đẩy Lý Sư đi cũng khó, đại thống lĩnh bỏ quá cho y tạm thời ở lại kinh thành đi”.

    Đợi việc ở cung Càn Thanh vừa xong, hắn vội vàng chạy về viện Cư Dưỡng, nói với Minh Châu: “Hôm nay Lý Sư về kinh rồi, chúng ta đi thăm y nào”.
    “Chỉ cần có thể ra ngoài giải sầu thì thăm ai cũng được”.

    Minh Châu cười hỏi: “Khi nào thì đi ạ?”
    “Các cung đều an giấc, chúng ta ra ngoài ngay thôi”.
    Tiểu Thuận Tử thấy hai người họ đều trông về hướng mình, bĩu môi nói: “Ăn, ngủ, giữ nhà”.
    “Thông minh hơn rồi đấy”.

    Minh Châu và Tịch Tà cùng cười.
    Họ đã quen đi con đường phía đông bắc này nhưng đến khi vườn Minh Tri, hơi sương đêm lẫn trong gió thu phả vào mặt làm Tịch Tà không kiềm được rùng mình.

    Minh Châu đi theo phía sau hắn nên thấy rõ, thấp giọng hỏi: “Lục gia sao thế? Lạnh à?”
    “Vẫn ổn”.

    Tịch Tà chỉ cảm thấy từng ngọn cây cọng cỏ trong vườn Minh Tri đều ngâm trong cơn ơn lạnh, buốt giá, dần dần xuyên qua quanh người mình.

    Mùa thu tới thật rồi.
    “A!” Đột nhiên một tiếng thở dài xa xăm truyền đến từ trong bóng cây, Tịch Tà và Minh Châu nhìn nhau, cúi mình lặng lẽ đi đến.
    Dưới cây tùng to như rồng, thiếu nữ áo tím đang tựa ở trên cành tùng rủ xuống, gắng sức mà ngất ngây ngửa cơ thể về đằng sau, vòng eo cong như cây cung căng hết cỡ, trong vạt áo sắc tím mềm mại, làn da trắng như tuyết đập vào mắt trong bóng cây âm u.

    Người trẻ tuổi dùng hai cánh tay khóa chặt lấy nàng đang chôn đôi môi run rẩy ở trên lồng ngực nàng.
    Minh Châu dùng âm thanh gần như không nghe được mà xì một tiếng khinh miệt, đỏ mặt trốn phía sau Tịch Tà.

    Dường như đôi nam nữ quấn lấy nhau không chịu nổi, bị cơn tình nóng bỏng của mình đốt sạch, chậm rãi buông lỏng hai cánh tay ra.

    Thiếu nữ thở hổn hển rõ ràng, đứng thẳng người, sườn mặt xinh đẹp quật cường được ánh trăng chiếu đến mức sáng trong lạ thường.

    Nàng nở nụ cười dịu dàng, v**t v* khuôn mặt đau khổ mà kích động trong sự nhẫn nại của người trẻ tuổi.

    Tịch Tà run lên bần bật, túm lấy áo chỗ ngực nén cơn ho dữ dội đột nhiên xông đến, cảm thấy Minh Châu đưa tay đỡ mình thì xua tay với nàng, chậm rãi lùi lại chỗ tối tăm sâu trong bóng cây.
    “Người tôi không khỏe, hôm nay không đi nữa”.

    Giọng Tịch Tà có vẻ gian nan, cố hết sức kiềm chế ý muốn giết người đang căng phồng muốn phá ra: “Minh Châu…” Hắn thở dài nói: “Không dùng được tên Úc Tri Thu này rồi”..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 17: 17: Lý Nộ


    Ngày mười tám tháng Bảy, Lục Quá đến châu Bạch Dương, đưa công văn cho bố chính sứ, mới vừa sắp xếp cho tham sự đi cùng ngủ lại dịch quán xong thì Lý Sư âm thầm đi theo đã đến cửa gặp.

    Nếu nói “xin gặp” thì không khỏi sỉ nhục cách làm người của Lý Sư, chẳng qua y chỉ đẩy sai dịch của dịch quán ra, sải bước vào trong viện, rống lên: “Lục Quá, anh có đi hay không?”.
    “Đi!” Lục Quá còn chưa tháo xuống hành lý trên yên đã dắt ngựa sửa sang lại cây cung lớn treo ở bên.
    “Tướng quân, hãy khoan!” Tham sự vội vàng chạy ra từ trong nhà: “Tướng quân định đi đâu?”.
    “Bạch Dương có hơn trăm bãi cỏ chăn ngựa, tôi đến từng nhà để ước lượng xem rốt cuộc có thể trưng thu bao nhiêu ngựa”.
    “Vậy tiểu nhân thì sao?”
    Lục Quá cười nói: “Anh điều tra rõ số lượng và ghi ngựa quan ở đây lại.

    Non nửa tháng nữa tôi sẽ về”.
    “Non nửa tháng?” Tham sự là một người không có chủ kiến, tặc lưỡi kêu khó, lại bị Lý Sư đẩy sang một bên.
    “Lải nhải cái gì?” Lúc Lý Sư trừng người khác quả thật rất có uy thế: “Bọn ta sẽ ăn tướng quân của anh à?”
    Lục Quá nở nụ cười, không nói hai lời dẫn ngựa ra quán rời đi, chạy qua một con đường, Lý Sư cũng đuổi theo.

    “Chúng ta đi hướng nào?” Lục Quá hỏi tên tay anh chị hung thần ác sát này.
    Lý Sư vung roi da lên trỏ vào mặt trời đang lặn dần: “Hướng tây!”
    Ra khỏi châu Bạch Dương, trong vòng năm dặm, bên đường còn có chút cây cối nhà cửa, lại đi về phía trước thì chính là cỏ thơm vô tận.

    Trước mắt vẫn là màu xanh biếc rậm rạp um tùm, xa xa ánh lên màu xanh thẳm của bầu trời, nếu không còn mây trắng bay cao thì người đã vào trong đất của dân tộc thiểu số phương bắc, khó phân biệt sự cao rộng của trời và sự xa xăm của đất.

    Đường cái thẳng tắp bị ánh tà nhuộm vàng óng, dần bị cỏ xanh che phủ, lúc đứt lúc liền, biến mất ở phương xa.
    Lục Quá nói: “Sắc trời không còn sớm, anh định qua đêm ở đâu?”.
    “Ngủ ngoài trời.

    Mùa này, đất nuôi thả của tôi luôn dời đến phía bắc núi Bạch Chi, đi nhanh thì chiều mai là đến”.

    Lý Sư nói rồi bỗng nghiêng mặt sang hỏi: “Tôi đã quên anh là người nam man, sói trên thảo nguyên dữ lắm, anh có sợ không?”.
    Lục Quá không khỏi bật cười, chẳng lý đến y.

    Nhưng Lý Sư là người nghiêm túc, suy nghĩ một lát rồi nói: “Nếu như anh sợ thì chúng ta đi dọc theo đường hướng tới huyện Hắc Phần”.
    “Không, tôi nghe anh sắp xếp”.
    “Tốt”.

    Lý Sư vừa cười, đột nhiên một tiếng ưng kêu trên trời cao, y ngẩng đầu nhìn một chấm đen bay đến gần từ trong áng mây, sắc mặt cũng đã thay đổi.
    Lục Quá đưa tay cầm cung, hỏi: “Sao thế? Có chuyện gì à?”.
    Lý Sư đè tay anh ta lại và nói: “Không, người một nhà”.
    “Người một nhà?” Lục Quá thấy trên mặt y thoáng vẻ sợ hãi thì càng khó hiểu.
    Con ưng xám kia xoay quanh một hồi ở đỉnh đầu Lý Sư rồi lại bay về hướng tây bắc.

    Lý Sư nói: “Đuổi theo nó, em gái tôi tới rồi”.
    “Em gái?” Lục Quá nhìn vóc dáng to cao, vạm vỡ của Lý Sư, nghĩ đến tính cách dạ xoa kim cang của y thì phác họa ra hình ảnh một cô gái to khỏe, không nhịn được mà phá lên cười.
    Lý Sư quay đầu hung dữ nói: “Cười cái gì? Tôi nói cho anh biết, nếu dám có ý đồ với em gái tôi thì tôi sẽ lấy mạng anh trước đấy”.
    “Dạ”.

    Lục Quá ngậm chặt miệng, theo sát y chạy nhanh hơn mười dặm đường cái.

    Mặt trời chiều to lớn đang bình tĩnh treo ở chân trời ngoài ngàn dặm, một đội người ngựa uốn lượn đi tới từ trong ánh sáng.

    Lý Sư quát to một tiếng, ra roi thúc ngựa, phóng đi nhanh như tên bắn.

    Một cái bóng thon thả nhảy lên từ trên lưng ngựa, bổ Lý Sư té nhào xuống cỏ, trong gió truyền đến tiếng cười như chuông bạc.

    Lục Quá ghìm chặt ngựa từ xa, trong nháy mắt chỉ nhìn thấy mái tóc của nàng tung bay trên không trung nhưng không phân rõ là do váy áo đỏ mà nàng mặc hay là do ánh nắng chiều nhuộm thành màu sắc xán lạn như thế.
    “Em ra đón anh thì bãi ngựa phải làm sao?” Lý Sư nắm lấy bả vai cô gái kia mà nói.
    “Nhạc Tử Nhi lo rồi, không sao đâu”.

    Thiếu nữ hất mái tóc ra phía sau, đột nhiên ra sức đạp một cú về phía bắp đùi Lý Sư: “Anh còn có mặt mũi hỏi! Im tiếng chạy bặt, hại em và Nhạc Tử Nhi bận trong bận ngoài.

    Anh còn nhớ tháng sau là ngày nào không? Nếu đến lúc đó mà anh không về thì sau này đừng hòng bước lên Bạch Dương một bước nữa”.
    Người chăn nuôi chung quanh đều cất tiếng cười to.

    Một lão già tóc muối tiêu nói: “Cô nương yên tâm, thiếu đông về chính vì nhớ đến chuyện lớn này đấy.

    Chẳng phải còn dẫn theo bạn tới hay sao? Đến lúc đó ắt sẽ tnwg bừng lắm đây”.
    Lúc bấy Lục Quá mới xuống ngựa tiến lên.

    Lý Sư gãi đầu nói: “Quên mất quên mất, đây là Lục Quá”.
    Lục Quá ôm quyền về phía mọi người, còn chưa kịp mở miệng, cô gái kia đã cướp lời: “Tôi là em gái người này, tên Lý Nộ.

    Những người này đều là người làm thuê trong bãi ngựa của bọn tôi”.

    Nàng kéo ông già kia nói: “Đây là bác Chiêm”.
    “Chiêm Thất”.

    Lão già kia cao giọng cười.
    Lục Quá khom người thi lễ: “Tại hạ Lục Quá…”
    “Biết rồi biết rồi”.

    Chiêm Thất cười nói: “Cậu hai họ Bạch đã truyền tin tới, tướng quân từ xa tới vất vả rồi”.
    “Đừng khách sáo nữa, muốn lần sờ trong bóng tối mà đi à?” Lý Nộ không phải là một cô nương hay khách sáo, bỏ lại Lục Quá và Lý Sư, tung người lên ngựa: “Mấy anh người làm, đi thêm mười dặm nữa chúng ta sẽ nghỉ ở bãi cỏ nhà họ Hồ”.

    Nàng lớn tiếng gọi đồng bạn, lại giành đi trước.
    Chiêm Thất lắc đầu cười nói: “Tướng quân chớ chê cười, vị đại tiểu thư này là người nóng tính”.
    Lúc mặt trời hoàn toàn chìm vào thảo nguyên, phương xa lại có thêm mấy chấm sao sáng, chạy gần mới biết là lửa trại hừng hực trước cửa lều vải trắng như tuyết, mấy người đàn ông vạm vỡ đi ra từ trong bãi ngựa đen nghịt, vui vẻ ôm lấy vai Lý Sư.

    Lý Sư trỏ vào Lục Quá, lớn tiếng cười nói mấy câu.

    Những người chăn nuôi ấy bèn đi tới vỗ lưng Lục Quá, cũng lớn tiếng mời: “Anh bạn tốt! Anh bạn tốt! Vào trong ngồi đi”.

    Lục Quá gần như là bị mấy người đàn ông túm vào trong lều.

    Anh ta mới vừa ngồi vững trên đệm da dê dưới đất, bác Hồ tóc muối tiêu là chủ ở đây đã rót rượu đầy bát to.

    Lý Nộ thì theo bà chủ bưng thịt dê bò và bánh nướng áp chảo đến, đôi mắt to đen láy vui sướng chuyển động trên gương mặt màu nâu phiếm hồng: “Uống rượu nào!” Tiếng nàng mời rượu giống như đang thét con ngựa non ham chơi rời khỏi đội.

    Lục Quá đón lấy rượu, uống một hơi cạn sạch trong ánh mắt của nàng.
    “Khụ”.

    Anh ta bỗng bị sặc, ho một tiếng: “Rượu này mạnh thật!”.
    Những người chăn nuôi cười vang, Lý Sư chế giễu: “Đồ nam man, nào biết chỗ hay của rượu này”.
    Lý Nộ nguýt Lý Sư, bảo Lục Quá: “Đừng để ý đến anh ấy”.
    “Rượu này có mùi thơm tin khiết, êm dịu, có phải là dùng sữa dê để ủ chăng?”
    Bác Hồ nói: “Không phải sữa dê, là sữa ngựa đấy, còn trộn với thiêu đao tử[1] mười năm”.
    Lục Quá giơ bát to lên, khen: “Rượu ngon”.
    Bác Hồ rất mừng, lại rót đầy cho anh ta.

    Lý Nộ đặt thịt dê nướng ở trước mặt Lục Quá: “Vừa uống rượu vừa ăn đi”.

    Lúc nàng khom lưng, mái tóc nhẹ nhàng phất qua đầu gối Lục Quá, Lục Quá khẽ rụt về phía sau, nàng đã cười hất mái tóc ra sau, vẫn hết sức phấn khởi uốn người đi ra ngoài.
    Bác Hồ nói với Lý Sư: “Cậu cả, đợi Nộ cô nương lấy chống, trong bãi nhà họ Lý chỉ còn một đứa bé Nhạc Tử Nhi, rốt cuộc chừng nào cậu định về?”.
    Lý Sư nói: “Tôi lên kinh là để đối phó Hung Nô, thấy sang năm chúng có ý xuôi nam, luốn muốn đợi đánh xong mới về”.
    Chiêm Thất nói: “Trong bãi ngựa không thể thiếu người lo liệu.

    Cô cả đã từng nói, dù lấy chống vẫn sẽ lo liệu bãi ngựa, đợi thiếu đông trở về thì sẽ trả lại cho nhà họ Lý”.
    Người làm công nhà họ Lý cười nói: “Tôi thì tình nguyện để cô cả lo.

    Thiếu đông là một người mà tiền chẳng lọt được vào mắt, thiếu đông mà lo liệu thì chỉ có ra không vào, người ở đây ai mà không biết”.
    Mọi người cười to khen phải.

    Lý Sư cười hai tiếng “ha ha”, bác Hồ mới nghiêm khắc vỗ vỗ lưng y, nói: “Đàn ông đàn ang chớ thua con gái! Học hỏi chuyện làm ăn đi”.
    “Tôi không cản nổi nó”.

    Lý Sư thật lòng nói.

    “Đừng bàn tán về tôi!” Ngoài cửa, Lý Nộ ném đống củi vào trong lửa trại, tiếng củi khô nổ “lách tách”, nàng bỗng nhiễn cất tiếng hát vang.

    Trẻ con nhà họ Hồ vây quanh nàng, hát vang theo, vỗ tay vui cười.

    Những người chăn nuôi dùng bánh nướng áp chảo cuốn thịt dê đưa vào tay Lục Quá, một bát chưa uống xong mà rượu nguyên chất lại tràn bát to.

    Lục Quá dần cảm thấy không chịu nổi men rượu, tiếng ca của Lý Nộ và tiếng cười của dân chăn nuôi cũng dần lúc có lúc không.

    Anh ta để bát rượu xuống, nhìn lửa trại ngoài cửa cẩn thận mà ngẩn ngơ.
    “Trong tháng Tư bị Hung Nô cướp năm sáu chục con ngựa, cũng may bọn người làm liều mạng rút về trăm dặm phía nam, mới giữ được phần lớn bãi chăn nuôi”.
    “Có người bị thương không?” Lý Sư hỏi.
    “Nhậm Giai chết rồi”.
    Lục Quá đang trong giấc nồng hơi kinh hãi, ánh đỏ lờ mờ hiện lên trước mắt, bóng lưng của anh em họ Lý u tối trong nắng mai.

    Lý Nộ nói: “Trong tháng Năm, anh thứ hai nhà họ Bạch đã tới một chuyến, lấy giá mười lăm lượng ba tiền một con, dắt đi một trắm bốn mươi con ngựa.

    Thượng tuần tháng Sáu còn có một tên buôn ngựa nữa tới, mười sáu lượng một con, tổng cộng tám mươi con.

    Bây giờ ngựa tốt thượng đẳng còn lại sáu phần, mỗi lần bán một ít, còn lại ba phần.

    Lúc đầu xuân, ngựa non còn nhiều hơn…”.
    “Được rồi được rồi, biết rồi”.

    Lý Sư đứng dậy.
    “Sao anh lại không nhẫn nại như thế?” Lý Nộ nhảy lên phủi váy, nói: “Hơn hai mươi tuổi rồi mà chẳng chịu suy nghĩ thành gia lập nghiệp? Đi vài ngàn dặm đường, có gặp được cô nương tốt nào không? Mau cưới về xử lý gia nghiệp đi”.
    “Không”.

    Lý Sư quay lưng lại, giận dỗi nói.
    “Thật là vô dụng”.

    Lý Nộ đưa tay vỗ gáy Lý Sư một cái: “Trong mắt ngoài đao thương gậy gộc ra thì không thấy gì khác cả”.
    Lý Sư không dám hó hé một câu, chỉ ôm đầu chạy xa.

    Lục Quá đứng dậy đi ra khỏi lều vài rồi lấy nước trong bầu treo trên lửa trại để rửa mặt.

    Anh ta thấy người làm thuê của Lý Sư đang giúp nhà bác Hồ đuổi đàn ngựa ra từ trong rào chắn.

    Ngàn thớt ngựa tốt tản ra như thể rất vui mừng, chạy vào trong thảo nguyên, tiếng vó ngựa “rầm rầm” vang lên liên miên, hoàn toàn không nghe được tiếng người.

    Bỗng nhiên có người vỗ vai mình, Lục Quá quay đầu lại thấy Chiêm Thất trỏ vào lều vải của bác Hồ, Lý Nộ và Lý Sư đang vẫy tay với Lục Quá ở bên đó.
    “Thì ra là võ trạng nguyên khóa năm nay”.

    Bác Hồ cũng ra đón, cười: “Vậy tức là đại tướng trong triều rồi”.
    Hóa ra lúc này ông ta mới biết thân phận của Lục Quá, mời anh ta ngồi vào trong lều.

    Sau khi hỏi rõ mục đích chuyến đi này, ông ta trầm ngâm một lát mới cười khẩy, hỏi: “Trưng thu? Hung Nô cướp, triều đình trưng, chẳng qua như nhau cả.

    Mấy năm nay quan đốc thúc dân nuôi, mười con ngựa trong nhà chăn nuôi ở Bạch Dương thì có hai con phải nộp thuế cho không triều đình, như vậy còn chưa đủ à? Nhà chăn nuôi lớn nhất trên đất Bạch Dương cũng chỉ nuôi không quá hai nghìn thớt ngựa, dầu anh trưng thu hết cả Bạch Dương cũng chỉ hơn ba vạn.

    Trong việc dùng binh của triều đình thì chỗ ấy chỉ là hạt muối bỏ bể nhưng lại là kế hoạch lớn sinh sát đối với các hộ chăn nuôi bọn tôi”.
    Lục Quá nói: “Ngựa quan của triều đình ở Bạch Dương chỉ có bảy, tám vạn, hộ chăn nuôi ở Bạch Dương lại có ba vạn ngựa hay thì làm sao có thể nói là như muối bỏ bể? Vả lại đương kim hoàng đế là vị vua thấu tình đạt lý, lúc tại hạ rời kinh, hoàng thượng đã nhiều lần căn dặn, không được cưỡng ép trưng thu”.
    “Không được cưỡng ép trưng thu?” Bác Hồ cười to hỏi: “Lẽ nào triều đình muốn mua ba vạn con ngựa này à?”.
    Lý Nộ cười nói: “Cứ coi ba vạn thớt ngựa này đều là hạng trung, giá thấp nhất là mười hai lượng một con thì thể nào cũng phải ba mươi sáu vạn lượng bạc trắng.

    Anh đã mang đủ trên người rồi à?”
    Lục Quá nói: “Chưa”.
    Bác Hồ nói: “Tướng quân đang đùa tiểu nhân đấy à?”.
    “Không dám”.

    Lục Quá vội bảo: “Quốc khố trống rỗng, địch ngấp nghe bên ngoài, ngân lượng của triều đình cũng có giới hạn, hiện tại đã phát phần lớn đến tiền tuyến ở Lương châu rồi, hoàng thượng và đại thần trong triều ăn ngủ không yên vì ít tiền này.

    Nếu như giá ngựa Bạch Dương không thấp hơn mười hai lượng thì e quốc khố sẽ bị móc sạch”.
    Bác Hồ nói: “Ý của tướng quân thế nào?”.
    “Bác xem triều đình mua một nửa, mượn một nửa, sáu lượng một con có được không?”
    “Hừ hừ!” Bác Hồ tức đến cười nhạt, không nói năng gì.
    “Tại hạ xin cam đoan đợi đánh giặc xong, triều đình nhất định sẽ trả lại một nửa tiền khất này”.
    “Đó là đánh thắng, nếu thất bại thì sao?”
    Lục Quá nói: “Bác Hồ, chúng tôi là người thành thật, giữ chữ tín, chưa bao giờ nói láo.

    Bây giờ Hung Nô có hai mươi vạn chiến sĩ căng dây cung, gót sắt há chỉ đặt ở phía bắc Nhạn môn? Nếu trận đại chiến này thất bại thì cung Thanh Hòa ắt sẽ bị đốt trụi, non nước vạn dặm mặc người chà đạp.

    Trong lúc nước mất nhà tan còn nói gì đến mười tám vạn lượng bạc nữa?”
    Bác Hồ trầm mặc trong khoảnh khắc, đột nhiên nói: “Tướng quân nói nhiều cũng vô ích, để lão hủ suy nghĩ đã.

    Xin mời”.
    Ý là đuổi khách.

    Cuối cùng Lục Quá hơi ủ rũ, nói câu cáo từ rồi lui ra ngoài lều.

    Lý Sư tiến lên trước nói: “Chớ vội, không thuyết phục được chỗ này thì lại đến bãi cỏ khác xem thử”.
    Nhưng trong lòng Lục Quá đã nghĩ khác: Hai nhà Đồ, Lý là hộ chăn nuôi lớn nhất Bạch Dương, nói là đầu bầy rồng cũng không ngoa.

    Nếu như bắt đầu đã bị nhà họ Hồ cự tuyệt, những hộ chăn nuôi khác trông thấy thì tất nhiên càng không cần phải nói.

    Đang lúc trong lòng hết sức do dự, anh ta nghe thấy Lý Nộ nói: “Này, các người! Nếu nơi này đã không thành công thì còn không mau lên đường, đến bãi cỏ nhà khác thuyết phục? Lèo nhèo làm người ta thấy ghét”.

    Nàng huýt sáo vang, mới đưa cánh tay trái ra, con ưng xám kia đã vỗ cánh phành phạch, đậu trên tay áo đỏ tươi của nàng.
    “Được!” Lục Quá cười nói: “Chờ tôi với”.
    “Chờ anh nữa”.

    Dường như Lý Sư rất sợ Lý Nộ vứt mình lại chỗ này, y vội vàng chạy theo Lục Quá đi thu dọn hành lý.

    Đường đi càng ngày càng về hướng tây, trong vòng hai ngày đã đi qua năm sáu hộ chăn nuôi.

    Nghe thấy Lục Quá tới để trưng ngựa, cuối cùng đều không tránh khỏi việc chia tay trong không vui.

    Lục Quá đã chuẩn bị trước nên không nóng vội, đến ngày thứ ba vẫn khách sáo tới thăm nhà họ Lữ.
    Chủ nhân nhà họ Lữ là Lữ Đồng đã nghe đồn từ trước, tươi cười đón Lục Quá vào.

    Lúc uống rượu, Lục Quá lại hỏi Lữ Đồng về chuyện chính.
    “Nửa giá à?” Lữ Đồng cười: “Dù sao cũng hơn là ép không!”.
    Quả ngoài dự liệu của Lục Quá: “Lữ trang chủ…”.
    Lữ Đồng khoát tay áo, nói: “Tôi đã nghe nói chuyện này được hai ngày rồi, tôi đã ước lượng cân nhắc cẩn thận, cảm thấy việc này liên quan đến vận mệnh của trung nguyên, không thể nói đến tư lợi bản thân chúng tôi như ngày thường được”.
    Lục Quá cả mừng, nói: “Hiếm có nhân vật trọng khí phách, vì đại cục như Lữ trang chủ”.
    “Quá khen”.

    Lữ Đồng cao giọng cười to.
    Lý Nộ liếc xéo ông ta một cái, nói: “Chú Lữ thì là nhân vật vì đại cục nỗi gì? Chẳng phải là vì bác Hồ không cho trưng thu nên chú nhất định phải hiến ngựa.

    Nếu bác Hồ mà đồng ý với Lục Quá từ hai ngày trước thì bây giờ chú Lữ ắt cắn chặt răng, sống chết giữ vài thớt ngựa gầy ốm kia là xong”.
    Lữ Đồng không cho là ngỗ ngược, đỏ mặt bảo: “Cô nương Tiểu Nộ đúng là tinh tường.

    Tôi và lão Hồ không đội trời chung, chỉ muốn làm ngược với lão.

    Nói đi nói lại, nếu đổi lại là bãi cỏ nhà họ Lý thì sẽ làm thế nào?”.
    Lý Nộ nói: “Có thể thế nào? Tướng sĩ xuất quan mà không có ngựa cưỡi, chẳng lẽ muốn bọn họ mở to mắt mở trông Hung Nô đánh vào à?”.
    Lý Sư nghe thấy không kìm được mà vỗ tay khen.

    Lữ Đồng lại hỏi Lục Quá: “Lục tướng quân nói, sau trận chiến này sẽ bổ sung đủ tiền nợ, có việc này chăng?”.
    Lục Quá hơi do dự một lát, Lý Nộ đã nói: “Anh ta là bạn của anh tôi, tôi tin anh ta!”
    Ngực Lục Quá nóng lên, gật đầu với Lý Nộ: “Tôi lấy tính mệnh ra đảm bảo”.
    Lữ Đồng vỗ tay nói: “Tốt!” Ông ta mới vừa đứng lên, Chiêm Thất đã vén mành vọt vào.
    “Hung Nô! Đã lội qua sông Mã tới đây rồi!”

    Lữ Đồng sầm mặt lại, đá văng cái hòm góc trên lều vải, bảy tám chuôi loan đao bên trong rơi ra đầy đất.

    Ông ta vứt cho Lý Nộ một chuôi, hỏi: “Bao nhiêu người?”.
    “Hơn ba mươi”.
    “Bác Chiêm, bác lại đưa người bảo vệ bầy ngựa đi trước”.

    Lý Nộ nhặt đao lên chạy vội ra ngoài trước.
    Lục Quá giữ Lý Sư lại, hỏi: “Chúng ta có bao nhiêu người?”.
    “Hai mươi bảy”.

    Lý Sư không nhịn được hất tay anh ta ra, rống lên một tiếng.
    Lục Quá chạy theo y đến trước ngựa của mình, gỡ bọc hành lý xuống, vội la lên: “Anh muốn liều mạng hay sao?”.
    Lữ Đồng đã lên ngựa, xách loan đao cả giận nói: “Chúng là sói! Không giết thì sẽ cắn người”.
    Lục Quá bảo: “Xông lên phía trước đánh giáp lá cà như vậy, chẳng phải là tự tìm đường chết? Hãy nghe tôi điều động một lát, được chứ?”.
    Lữ Đồng ngẩn ra: “Tôi quên mất, cậu là đại tướng trong triều”.
    “Nói đi”.

    Lý Sư sảng khoái ngoài dự đoán của mọi người, rút trường kiếm ra cầm trong tay: “Tôi nghe lời anh”.
    Lục Quá lập tức chỉ vào bảy người, lệnh họ mau mau hộ tống sáu trăm con ngựa trong bãi cỏ đi, giữ lại năm sáu chục thớt ở trong hàng rào để làm mồi.

    Không quan tâm lều vải, đồ quân nhu, cứ để nguyên tại chỗ.

    Những người còn lại kéo ngựa ẩn núp xong thì góp đủ gần hai trăm mũi tiên, giương cung mai phục.

    Lục Quá bôn ba mấy chỗ, chợt thấy cái bóng áo đỏ sau đống cỏ khô: “Nộ cô nương, cô còn ở đây à?”.
    “Làm sao?” Đôi mắt đen láy của Lý Nộ chuyển động, liếc nhìn anh ta: “Tôi là người lo liệu việc, tôi không ở đây thì người làm thuê của tôi nghe ai?”.
    Lục Quá biết nàng không nghe khuyên bảo, trầm giọng nói: “Cô cẩn thận đấy”.
    Lữ Đồng đột nhiên chạy tới hỏi: “Nhìn thấy thằng năm không?”
    “Không”.

    Lý Nộ ngạc nhiên nói: “Không đi theo ạ?”.
    “Cái thằng bé này!” Lữ Đồng thầm lo lắng cho đứa cháu trai, sốt ruột đỏ mặt giậm chân.
    Lý Nộ cao giọng nói: “Chú Lữ, nó chính là đứa trẻ lăn lộn mà lớn lên trên thảo nguyên, có thể tự lo cho mình, sẽ không làm chú mất mặt đâu”.
    “Nói rất hay”.

    Lữ Đồng nhìn ra một đường bóng đen phía xa: “Trước hết giết sạch bọn giặc này rồi nói”.
    Lục Quá thấy người ngựa Hung Nô tới gần, lớn tiếng bảo: “Các vị bình tĩnh, nghe tôi hiệu lệnh”.
    “Được!” Những người chăn nuôi lên tiếng hét lớn.
    Mạch máu của Lục Quá trương lên, tim đập thình thịch, sửa sang lại hũ tên, nắm chặt cung lớn trong tay và nằm rạp người ở sau xe.

    Anh ta nghe thấy Hung Nô cưỡi ngựa thét to cười to điên cuồng trong tiếng võ ngựa, ngựa thả trong bãi kinh hãi, vừa hí ầm lên vừa chạy như điên.

    Anh ta lại thò đầu ra xem lần nữa, chỉ thấy một mảnh loan đao vung vẩy trên không trung, bị ánh mặt trời chiếu sáng gai mắt như tuyết.

    Máu trong tim Lục Quá vọt lên, anh ta nhảy ra, giương cung bắn ngay: “Bắn tên!”
    Một trận tên loạn giết cho Hung Nô không kịp trở tay.

    Lục Quá phân công thoả đáng, trận mưa tên hình quạt của hai mươi dân chăn nuôi g**t ch*t hai cánh, lập tức có hơn mười tên Hung Nô đang cưỡi ngựa bị trúng tên ngã xuống.
    “Giết!” Lý Sư bắn hai đợt tên rồi hét to một tiếng, cầm kiếm Tà Nguyệt nhảy vào trận địa địch.

    Y nhảy vọt tận trời, lúc này chém ngã hai tên, đoạt lấy một vật cưỡi, vòng đầu ngựa đánh lén từ phía sau.

    Những người chăn nuôi khác bên này không có thân thủ tốt như y, bị kỵ binh Hung Nô xông từ trên xuống, làm hai người bị thương trước.

    Lục Quá thấy tình thế không ổn, liên tục bắn tên.

    Với sự mạnh mẽ của cung Nhân Nghĩa, tên nào tên nấy xuyên qua yết hầu, chỉ chốc lát đã kết liễu năm người.

    Những người chăn nuôi được anh ta giải vây, sĩ khí tăng vọt, ba, bốn người tập kết một chỗ, ra sức chống đỡ.

    Dẫu gì Hung Nô cũng kiêu dũng thiện chiến, trong lúc ngựa chiến phi nhanh, loan đao chém mạnh, chốn nào trên bãi cỏ cũng vô cùng nguy hiểm.

    Lục Quá không có cơ hội lên ngựa, chỉ đứng trấn định mà bắn ở trong loạn quân.

    Trước mắt đột nhiên lóe lên ánh bạc, một mũi tên lông đen quẹt qua cánh tay, găm vào càng xe bên cạnh anh ta.

    Lục Quá tiện tay nhặt lên lắp vào cung, kỵ binh Hung Nô chạy băng băng đến trước mặt.

    Anh ta đang định bắn cung, đã thấy không xa phía sau kẻ nọ, Lữ Đồng bị người ta dồn tới bên lều vải, cực kỳ nguy hiểm, đành đè trường cung xuống, xuyên thủng đầu đối thủ của Lữ Đồng.

    Đợi khi anh ta lại muốn tự cứu thì đã không kịp lấy tên từ trong hũ, kỵ binh kia nhếch môi cười to, loan đao nâng cao.

    “Phập” một cái, tia máu phun ra, loan đao và cả cánh tay của chủ nhân bay trên không trung, lần lượt rơi xuống bên chân Lục Quá.

    Lục Quá nghiêng người tránh khỏi con ngựa chiến vẫn đang chạy.

    Lý Sư vừa vung kiếm tới cứu giờ kẹp bụng ngựa, lại xông đến chỗ khác.
    Trong nháy mắt, kỵ binh Hung Nô chỉ còn mười bảy người, tên to con cầm đầu lớn tiếng gào thét, dẫn người lui về phía bắc.

    Một con ngựa trong đó chạy cuống quýt, đá ngã lăn đống cỏ khô, một đứa bé lăn ra từ trong cỏ, sợ hãi kêu lên.

    Lý Nộ cách gần nhất, đưa tay kéo mạnh nó về, ném về đống có nuôi súc vật.
    “Ai Mục Ngải!” Sau lưng nàng có tiếng người cười to một cách nham hiểm, hung bạo.

    Lý Nộ chỉ cảm thấy người mình nhẹ bẫng, một cánh tay to khỏe tóm lấy eo nàng từ phía sau, đặt nằm ngang trên yên, đuổi theo người Hung Nô trước mặt.
    “Anh ơi…” Tiếng Lý Nộ kêu cứu chợt đứt.

    Lục Quá thấy rõ, giật nảy mình, cao giọng kêu to với Lý Sư giết đến hưng phấn, vẫn chưa nhận ra ở bên kia: “Em gái anh bị bắt đi rồi!”.
    “Cái gì?” Lý Sư ngẩn ra, thấy Lục Quá phóng người lên ngựa nhanh chóng đuổi theo liền vội vàng thúc ngựa chạy tới, chẳng bao lâu đã chạy song song với anh ta: “Này, anh nói cái gì?”.
    Lục Quá chỉ vào con ngựa hơi tụt lại phía sau trong đám Hung Nô, nói: “Em gái anh bị chúng bắt đi rồi!”.
    “Súc sinh!” Khóe mắt Lý Sư sắp nứt ra, vừa rống to vừa vung mạnh trường kiếm trong tay: “Đợi ông mày lấy mạng chó cả nhà bọn mày đi”.
    Ngựa Lý Sư nhanh, đi sau mà lại vượt trước, khiến Lục Quá bị bỏ lại.

    Lòng Lục Quá nóng như lửa đốt, dốc sức ra roi, mắt thấy khoảng cách với Hung Nô càng ngày càng xa thì quả quyết tháo cung Nhân Nghĩa phía sau xuống.

    Lý Sư đang quay đầu lại, trông thấy thế bèn kêu lên: “Xa như vậy cũng bắn? Ngộ thương em gái tôi thì tôi và anh không xong đâu”.
    “Chớ lải nhải!” Lục Quá nổi giận gầm lên một tiếng, dốc sức làm cung Nhân Nghĩa căng hết cỡ, mắt nhìn đăm đăm tên kỵ binh thoáng lộ ra bóng lưng áo đỏ, ngón tay buông lỏng, dây kim loại teng teng rung đến mức làm cả người anh ta run lên.

    Mũi tên lông đen vẫn còn bay lắc trong cơn gió màu vàng, chỉ trong nháy mắt bóng lưng tên kỵ binh Hung Nô đã dừng lại, ngã khỏi lưng ngựa.

    Thiếu nữ áo đỏ nhẹ nhàng đứng dậy, trở mình lên yên, chạy băng băng về hướng nam.

    Binh sĩ Hung Nô còn sót lại ghìm chặt ngựa tức giận mắng, nhưng hình như e sợ tài bắn của Lục Quá nên không đuổi theo.
    Lúc bấy Lục Quá mới nhận ra hai cánh tay ê ẩm sưng lên, đã dùng hết sức.

    Vết thương trên cánh tay phải do Hung Nô bắn lén làm trầy lẳng lặng chảy ròng máu tươi, sũng cả chiến bào.

    Anh ta chậm rãi ghìm dây cương, cuộn cánh tay vào trong vạt áo.

    Lý Nộ dừng ngựa ở trước mặt anh ta, lau vết máu bên miệng rồi cười nói: “Đa tạ”.
    “Không…” Lục Quá nói hơi lắp bắp, anh ta cảm thấy chắc chắn là mình đau đến nỗi không nói nên lời rồi.
    Mắt Lý Nộ vẫn đảo một cách vui sướng: “Tài cung của anh thật phi thường, tiếc là ngựa chậm quá”.

    Nàng hếch cằm, nói: “Về thôi”.
    Một nhóm người ngựa đông nghịt chạy như điên tới trước mặt, người dẫn đầu là bác Hồ.

    Mọi người thấy họ bình an vô sự thì đều thở phào nhẹ nhõm.

    Hỏi ra mới biết, gần đây phía bắc bên kia sông Mã có thêm hơn trăm Hung Nô chiếm giữ, đứng mũi chịu sào chính là nhà họ Lữ, bác Hồ được thám báo nên dẫn hơn sáu mươi người làm thuê của mấy bãi cỏ tới cứu trợ.

    Mọi người bàn bạc ầm ĩ, bác Hồ thấy Lục Quá ôm cánh tay vào trong ngực thì dùng sức gật đầu.
    Mặt trời dần lặn, nơi này không thể ở lâu, những người chăn nuôi giúp nhà họ Lữ dỡ lều vải, chữa trị vết thương, chôn xác rồi kéo quân nhu lui về hướng nam, trên đường hội họp với bầy ngựa của nhà họ Lữ, sau khi trời tối thì đóng ở bờ sông.

    Lục Quá lấy nước lau sạch vết thương, chỗ rách vốn không sâu nhưng vì dùng sức quá độ nên máu thịt be bét, sức cùng lực kiệt, mắt không mở nổi, mới ngủ trong chốc lát đã thấy có kẻ đá đá người mình.
    “Ăn cơm rồi hẵng ngủ tiếp!” Lý Nộ mang cơm tối đến bảo.
    “Mệt muốn chết rồi nhỉ?” Lữ Đồng nói: “Suy cho cùng không sánh bằng nam nhi làm bằng sắt trên thảo nguyên bọn tôi được”.
    Lục Quá ngồi dậy, người đã ngồi đầy cả phòng.

    Có một bé trai bảy tám tuổi nhìn chằm chằm cung Nhân Nghĩa của mình với đôi mắt tỏa sáng.
    “Nhóc chính là bé năm nhỉ?” Lục Quá cười hỏi.
    Đứa bé kia đỏ mặt cười, chui vào trong lòng Lữ Đồng.
    Lữ Đồng nói: “Tướng quân, hôm nay nếu không nhờ cậu thì chẳng biết sẽ có bao nhiêu người chết.

    Tôi vẫn chưa nói câu cảm ơn, sao cậu có thể đặt mình xuống là ngủ?”.
    Lục Quá cười nói: “Hung Nô không ngờ chúng ta mai phục nên chúng ta nhặt được hời, sau này không được mạo hiểm như như vậy nữa”.
    Lữ Đồng nói: “Không cần nữa.

    Tôi đã nghĩ xong rồi, ngựa bên trong bãi cỏ của tôi sẽ bán cho triều đình với giá năm lượng một thớt, còn mình thì về nhà trong huyện mà ở.

    Một ngày còn chưa diệt được Hung Nô là một ngày bọn tôi không được sống yên, cần gì tính toán mấy ngàn lượng bạc?”.
    Bác Hồ nói: “Con ma già này, sao lại cướp lời của tôi? Lục tướng quân, Hồ tôi chẳng có gì khác nhưng ngựa giỏi lại cả ngàn thớt, ngựa khỏe hơn con ma già này nhiều, triều đình đánh nhau cứ dắt ngựa của tôi mà dùng”.
    Lục Quá cười nói: “Thưa hai vị, giá sáu lượng đã bàn xong rồi, chớ khách sáo.

    Hai vị đều là anh hào trọng khí tiết, Lục tôi xin đa tạ”.

    Anh ta đứng dậy vái tới đất, bị Lữ Đồng đưa tay ngăn lại.
    Người chăn nuôi khác cũng nói: “Nếu ba nhà Hồ, Lý, Lữ đều bằng lòng hiến ngựa, chúng tôi cũng không còn gì để nói.

    Có điều chúng tôi buôn bán nhỏ, không so được với nhà giàu như họ.

    Tướng quân nói sau chiến tranh triều đình sẽ trả tiền ngựa có thật không?”.
    Lữ Đồng nói: “Thưa các vị, mặc dù tôi là một kẻ thô kệch nhưng cũng là người làm ăn.

    Tôi thựa hiện vụ mua bán này không vì gì khác.

    Tôi tin lời của Lục tướng quân.

    Cậu ấy đã cược cả tánh mạng mình, bắn tên cứu tôi trước, Lữ Đồng tôi trông thấy rõ ràng.

    Nam nhi như vậy, chẳng lẽ không phải người giữ chữ tín hay sao?”.
    Ai nấy đều hoan hô.

    Lục Quá không ngờ bàn chuyện lớn xong nhanh như vậy, phấn khởi uống mấy chén, ồn ảo đến nửa đêm thực sự khó mà gắng được nữa.

    Nhóm dân chăn nuôi tận hứng mà về, vây quanh lửa trại cất giọng hát ca.

    Lữ Đồng vẫn còn đang tranh cãi với bác Hồ, hầm hừ nói: “Con ngựa mẹ nhà ông lừa ngựa của tôi, sinh ngựa tốt đều bị ông chiếm mất, tôi vẫn còn chưa tính món nợ này với ông đấy!”
    “Khà khà…” Mặt bác Hồ phiếm hồng: “Không nhắc tới việc này cũng được, con trai ông lừa con gái tôi làm vợ nhưng tôi đã nói gì chưa! Thằng năm, nhà ông ngoại lớn, về ở với ông ngoại, anh Hắc Tử của cháu đang chờ cháu đến chơi đấy!”.
    Lý Nộ phì cười, đuổi hai lão già ra ngoài, ở bên ngoài lẳng lặng buông mành cho Lục Quá.

    Lửa trại bị ngăn cách ở bên ngoài, trong lều lại tối sầm lại, Lý Sư trợn to hai mắt nằm ngửa mặt lên trời.

    Lục Quá thở một hơi, thong thả nói: “Ngày hôm nay là lần đầu tiên tôi giết người”.
    Lý Sư yên lặng chớp mắt một lát, trở mình trong tiếng ca vui sướng: “Tôi cũng vậy”.
    Từ đó về sau, trong một tháng, Lục Quá, Lý Sư và chủ nhân người làm hai nhà Hồ, Lữ bôn tẩu khắp nơi, khuyên bảo dân chăn nuôi hiến ngựa tham chiến.

    Đầu tháng Tám, bãi cỏ các nơi đã lục tục lui về trong phủ Bạch Dương, giao ngựa vào vườn nuôi của Bạch Dương.

    Lục Quá lệnh tham sự cùng đến điều người, ghi tên từng dân chăn nuôi hiến ngựa vào trong danh sách, trừ ngựa giống, ngựa non các loại ra, cuối cùng Lục Quá trưng được tổng cộng hai vạn năm nghìn thớt ngựa chiến ở Bạch Dương.

    Việc còn lại chỉ là chuyện ngân lượng thôi.

    Lục Quá tranh thủ đóng cửa lại, một mình lấy mật chỉ của hoàng đế, mở cái bao bằng gấm dầu vàng chói ra, một phong thư rơi ra trước, nét viết trên phong thư ngay ngắn nhưng thấm đẫm cơn giá lạnh.
    “Thuế muối châu Bạch Dương?” Lục Quá ngẩn ra, lại mở cuốn mật chỉ, xem xét tỉ mỉ thì càng không hiểu ra sao.
    Hôm sau cùng với tham sự và Lý Sư, Lục Quá tới nha môn thu thuế muối châu Bạch Dương, xin gặp quan viên tuần sát thuế Từ Lụy.

    Lý Sư không phải người trong quan trường nên buộc ngựa của ba người ở trên cọc rồi tới dưới gốc cây ôm kiếm chờ.

    Mới gần nửa canh giờ, cổng chính Từ phủ đã mở rộng, Từ Lụy cung kính tiễn Lục Quá đi ra.

    Khách và chủ nói mấy lời xã giao rồi chia tay tạm biệt.
    “Thế nào rồi?” Lý Sư hỏi.
    Lục Quá cau mày nói: “Đã có ngân lượng”.
    “Mười lăm vạn lượng?”
    “Đúng vậy”.
    Lý Sư cũng líu lưỡi nói: “Tôi mơ hồ luôn rồi.

    Chuyện mua ngựa này có liên quan gì đến thuế muối chứ? Mười lăm vạn lượng mà nói đưa là đưa, không ầm ờ tẹo nào à?”.
    Lục Quá lắc đầu nói: “Tôi cũng không hiểu, chỉ sợ phải hỏi lục gia mới biết được”.

    Anh ta lệnh tham sự mang ngân phiếu của Từ Lụy đến tiền trang điều đủ ngân lượng, ngày mai thanh toán tiền trưng ngựa cho dân nuôi ngựa, còn mình thì cùng Lý Sư ra khỏi thành đến vườn nuôi của Bạch Dương.

    Trên đường đi chợt thấy phía tây bụi bay tận trời, bầy ngựa đen nghịt phút chốc đã đến trước mắt.

    Lục Quá và Lý Sư dừng ngựa ở một bên để nhường đường, hơn ba ngàn con ngựa phi nhanh như thủy triều, dân chăn nuôi trẻ tuổi chạy băng băng qua lại, tiếng thét to trong trẻo xuyên ra từ trong tiếng vó ngựa chấn động lòng người, roi trong tay vòng trên không trung một tiếng “đốp” giòn vang.

    Một thanh niên dũng mãnh xoay mặt nhìn Lục Quá, gương mặt anh tuấn, cứng cỏi như điêu khắc đột nhiên cười to, vẫy tay về phía họ: “Này!”.
    “Này!” Lý Sư cũng hưng phấn lắc cánh tay.
    Xa xa, một thiếu niên mặt tròn lại càng vãy tay vui cười như điên ở trong khắp bầu trời đầy bụi đất.
    “Quen à?” Lục Quá hỏi.
    “Ha ha, sao không quen cho được? Đứa bé kia là Nhạc Tử Nhi, là anh em tôi đấy”.
    “Người còn lại thì sao?” Lục Quá cảm thấy dường như mình không thích cậu chàng anh tuấn kia, lười biếng hỏi một câu.
    Lý Sư cười nói: “Đó là Đào Tranh, hai ngày nữa gã sẽ thành thân với Nộ Nhi”.
    “Thật, thật sao?” Lục Quá bị bụi làm sặc, ho một tiếng.
    Lý Sư cẩn thận quan sát mặt anh ta: “Anh làm sao vậy? Môi trắng bệch cả ra”.
    Lục Quá cười nói: “Vết thương của tôi lại đau”.
    “Thôi, anh bớt đi! Đã lành được một tháng rồi”.

    Lý Sư cũng cười.
    Hai mươi hai tháng Tám là ngày lành mà Nộ cô nương – cô cả nhà họ Lý – đi lấy chồng.

    Bạn bè thân thích trên thảo nguyên tụ ở trước cái lều mới toanh trắng như tuyết của Đào Tranh, cao giọng hát ca dưới ánh chiều tà, tân nương cưỡi ngựa thong thả đến từ phía tây như ráng chiều quét đất.

    Hai tay vén khăn cô dâu của Đào Tranh không ngừng run rẩy, chọc cho mọi người cười to một trận.

    Giây phút con mắt đen láy trên khuôn mặt ửng đỏ của Lý Nộ chậm rãi nâng lên, Lục Quá đã biết hôm nay nhất định phải say rồi.

    Rượu mạnh đốt hầu, tim đau muốn vỡ làm anh ta rời khỏi đoàn người ồn ã từ lúc nào.

    Anh ta dang tứ chi ra, ngửa mặt nằm trên đất, cỏ thơm mang theo hơi thở vô ngần của bầu trời làm anh ta cảm thấy cô đơn bội phần.
    “Ở chỗ này làm gì đấy?” Lý Sư xách bầu rượu trong tay, ngồi xuống cạnh anh ta, ngắm nhìn sông ngân.
    Lục Quá nói: “Không được rồi, tôi đã không ngửi nổi mùi rượu nữa rồi”.
    “Đồ nam man!” Lý Sư nở nụ cười.
    Xa xa vẫn có tiếng ca không ngừng, Lý Sư ngửa đầu lại cạn một chén.

    “Lục Quá, tôi bảo này…” Y hỏi: “Ngày mai chúng ta về kinh rồi, anh có chuyện gì quan trọng vẫn chưa hoàn thành không?”.
    Lục Quá suy nghĩ một lát, lắc đầu đáp: “Không có, chuyện ở Bạch Dương đều xong rồi, không cần ở lại nữa”.
    “Nghe giọng điệu của anh cứ như ước gì được đi ngay ấy”.

    Lý Sư có vẻ không hài lòng.
    “Tôi là đồ nam man”.

    Lục Quá nói: “Anh biết mà”.
    Lý Sư cười ha hả, chỉ là từ đó về sau, không còn cười nhạo anh ta là người miền nam nữa, cứ thế Lục Quá cảm thấy đường quay về lại hơi không vững tâm và nhàm chán.
    Tết trùng dương mùng chín tháng chín, hoàng đế hầu thái hậu lên núi Ngọc Chỉ phía bắc kinh thành để lễ Phật, tất cả quan to của các phủ, tự, bộ, viện trong triều đều đi theo.

    Lục Quá mới về kinh, cho rằng hôm nay được rảnh rỗi nghỉ ngơi nhưng không ngờ sáng sớm đã nhận được thiếp mời của Tịch Tà, vội vàng ruổi ngựa tới chỗ hẹn ở cầu Phiêu Hạ.

    Tiểu nhị ân cần nhận dây cương đi buộc ngựa.

    Lục Quá ngẩng đầu lên, Tịch Tà đã cửa sổ tầng chót của lầu nóng, nhìn anh ta mỉm cười.
    “Ngựa hay!” Tịch Tà vừa thấy anh ta đã khen.

    Lý Sư cũng ngồi ở đấy chờ, nói: “Đó là ngựa của em gái tôi.

    Thớt ban đầu của Lục Quá vừa già vừa xấu, tệ vô cùng, em gái tôi mang ơn anh ta bèn tặng tuấn mã báo ơn”.
    “Chuyến này của anh Lục thuận lợi, làm việc rất tốt, hoàng thượng hết lời khen ngợi.

    Anh Lục hành động một lần đã thành danh, sau này sẽ lên như diều gặp gió, thật đáng mừng”.
    “Công công cứ đùa tại hạ”.

    Lục Quá nói.
    Tịch Tà nâng chén bảo: “Trùng dương lên Phiêu Hạ, mây xanh vọng kinh hoa.

    Hôm nay anh Lục đắc ý, hãy cạn chén này”.
    Ba người ngồi vào bàn, Lục Quá nói: “Tôi có mấy chuyện muốn xin công công bảo cho trước khi bẩm lại với bộ binh”.
    “Ồ?” Tịch Tà dùng khăn che miệng ho một tiếng, cười nói: “Không dám.

    Cách nhìn của anh Lục luôn cao siêu, tôi xin được chỉ bảo ở đây”.
    Lục Quá lấy một cuốn sổ gấp từ trong lòng ra cho Tịch Tà, nói: “Mời công công xem”.
    Tịch Tà đọc xong thật nhanh, mỉm cười nói: “Chế độ trà ngựa[2]?”
    “Đúng vậy”.

    Lục Quá chỉ vào Lý Sư nói: “Vẫn nhờ có y.

    Hôm em gái y là Lý Nộ thành thân, anh hai Bạch cũng tới chúc, thứ gã thồ tới đều là trà thô của vùng núi Đa trung nguyên, hỏi ra mới biết xưa nay các nước tây bắc thích trà trung nguyên, cứ bảy mươi cân[3] là được đổi một con ngựa tầm trung.

    Tôi nghĩ, trận chiến Hung Nô như lửa cháy ngang mày, hơn nửa tiền tài của nước nhà đã dùng hết cho việc binh, quốc khố trung nguyên trống rỗng.

    Nhưng trà muốn bao nhiêu thì có bấy nhiêu, nếu đổi thành ngựa với các nước phía tây thì trong hơn nửa năm này lại có vạn thớt ngựa tốt vào vườn, há không phải là chuyện tốt?”.
    Tịch Tà gật đầu nói: “Rất tốt! Tôi sẽ giữ lại tấuu chương này.

    Anh Lục hãy viết một bản khác rồi dâng cho Ông đại nhân của bộ binh”.
    “Vâng”.
    Tịch Tà nhét sổ gấp vào trong lòng, cầm quyển sổ khác ra đưa cho Lý Sư: “Gần đây tội bận việc, anh ở trong kinh luyện đàng hoàng tâm pháp nội gia trong này, tôi chờ anh tỏa hào quang đấy”.
    Lý Sư lật ngay trước mặt Lục Quá.

    Lục Quá chỉ thấy bên trên nhiều hình ít chữ nhưng nét nào cũng lạnh lẽo vô tình thì hơi động lòng, thấy Lý Sư lật tới cuối lại lộ vẻ bút lực ở đó không đủ, khí thế tản mạn.

    Tịch Tà chợt ho một cơn, Tiểu Thuận Tử bưng nước đến hầu hạ.
    Lý Sư nói: “Chắc đây chính là chữ của anh, sao càng viết càng kém thế?”.
    Tịch Tà cười nói: “Ôi, xin lỗi”.
    Tiểu Thuận Tử thừa dịp Tịch Tà bận th* d*c, cả giận nói: “Anh đúng là kẻ không biết phải trái.

    Thầy đương cơn đau ốm mà còn viết suốt đêm để ra được quyển sách này cho anh, anh còn ngại này chê kia.

    Anh có biết thầy ho, đến cuối cùng, ngay cả bút cũng không cầm được nữa không?”.
    “Con ca cẩm cái gì?” Tịch Tà nổi giận, rầy Tiểu Thuận Tử một câu.
    Lý Sư bảo: “Ốm thì phải nằm, chính hắn không biết giữ gìn, còn muốn ai tới thương hại hắn?”.
    Tiểu Thuận Tử đã tức đến mức mặt trắng bệch, Tịch Tà cũng không để ý đến họ.

    Lục Quá vội vàng chuyển đề tài, nói: “Đây là bức thư mà quan tuần sát thuế muối châu Bạch Dương Từ Lụy gửi cho công công.

    Tại hạ còn có một việc không rõ, trưng ngựa là chuyện của triều đình, vì sao lại đòi lấy tài sản riêng của quan tuần sát thuế muối?”.
    Tịch Tà cười nói: “Tướng quân có chỗ không biết, trên đất Bạch Dương, trước nay quan tuần sát thuế muối là công việc béo bở nhất.

    Thuế khóa vào trong tay, hắn không vội áp giải lên kinh mà lấy số tiền này cho vay lấy lãi, trong một năm ít cũng có gần mười vạn vào mồm.

    Năm tiền trang và bảy hiệu cầm đồ trong châu Bạch Dương đều là do Từ Lụy dùng tiền của hoàng thượng để mở.

    Thấy hắn giàu đến óc đầy bụng phệ, không tìm hắn thì tìm ai đòi tiền trưng ngựa đây?”.
    Lục Quá kinh ngạc nói: “Vì sao không tố cáo loại tham quan này lên hoàng thượng, bắt rồi trị tội?”.
    Tịch Tà nói: “Tiền hắn áp giải đến kho không thiếu một xu là được rồi.

    Còn nữa, tiền trong quốc khố có nhiều hơn nữa, chẳng qua là để không ở đó sinh mốc rơi bụi chứ có lợi ích gì? Chẳng thà để những tên tham quan vơ vét của cải này cầm đến kinh doanh, hoàng thượng lại đòi về vào lúc có ích.

    Vạn tuế gia là một vị vua sáng suốt, lúc này đối đầu với kẻ địch mạnh, không rảnh tính toán với chúng, chờ thêm vài năm nữa thì những tên tham quan ô lại này khó tránh khỏi kết cục bị tịch thu tài sản và giết cả nhà.

    Đến lúc đó cả gốc lẫn lãi đều trở về, không biết là được bao nhiêu tiền lời đây!”
    “Ồ?” Trong cơn khiếp sợ, Lục Quá dở khóc dở cười, nói: “Tôi hiểu rồi”.
    “Đây chỉ là kế sách tạm thời.

    Theo tính cách của vạn tuế gia, người đã muốn anh mang binh tịch thu tài sản nhà Từ Lụy lâu rồi, sao còn ban chỉ ngợi khen hắn bỏ tiền ra vì triều đình được? Nhưng trong các quan, có ai mà chưa từng làm chuyện trái lương tâm? Vào cục diện hiện nay, hễ giơ lá cờ sát phạt, dồn ép đại thần thì trong triều đại loạn ngay, còn nói gì đến đánh dẹp Hung Nô phía bắc nữa?”
    “Vâng”.
    Tịch Tà đưa thư cho Tiểu Thuận Tử: “Mở ra xem đi”.
    Trong phong thư không có gì khác, chỉ có một tờ ngân phiếu hai vạn lượng rơi ở trên bàn.

    Tịch Tà phì cười: “Thì ra mười lăm vạn lượng chạm đến gốc”.

    Hắn nhặt ngân phiếu lên, đưa đến trước mắt Lục Quá.
    “Công công làm gì vậy?” Lục Quá cả kinh nói.
    “Anh còn nợ người dân Bạch Dương mười lăm vạn lượng bạc, hoàng thượng không có ý chỉ muốn triều đình trả ơn huệ này à?”
    Lục Quá thẹn hỏi: “Công công đã biết rồi ư?”
    “Vạn tuế gia đã xem mật báo của anh, cũng thông cảm nỗi khổ của anh.

    Không dùng thủ đoạn này thì làm sao họ lại hiến ngựa chứ?”
    Lý Sư đang vùi đầu đọc sách, lúc này ừm một tiếng, đột nhiên nói: “Lục Quá, thì ra anh nói chiến tranh kết thúc thì triều đình sẽ trả nợ là dối trá à?”
    Tịch Tà cười khẩy bảo: “Lừa các người? Vẻn vẹn mười lăm vạn lượng bạc, dù triều đình không có cũng chưa chắc làm khó được tôi đâu”.
    “Công công!” Lục Quá nói.
    Tịch Tà khoát tay áo: “Chuyện này không có gì lớn, tôi sẽ chống thay anh Lục.

    Ngày mai lại chờ được gọi vào cung Càn Thanh đi, vạn tuế gia còn có ít lời muốn hỏi anh đấy”.
    Lục Quá có những lời này của hắn nên đã yên tâm.

    Hôm sau khi hoàng đế cho đòi, Ông Trực cũng ở đó.

    Hoàng đế khen ngợi mấy câu rồi hỏi: “Những chuyện khác đều tốt, chỉ là vẫn phải hỏi khanh chuyện tự ý điều binh”.
    “Vâng, trước khi điều binh, thần chưa được sự cho phép của bộ binh.

    Trong tháng Tám, hộ chăn nuôi ở Bạch Dương nộp ngựa vào vườn, bỗng chốc có hơn vạn ngựa, gần xa không có trọng binh đóng.

    Thần sợ Hung Nô quấy rầy đánh cướp nên tự ý điều một nghìn quan binh châu Bạch Dương để canh giữ vườn nuôi của Bạch Dương.

    Thần tự tiện chủ trương, tội đáng chết vạn lần, xin hoàng thượng giáng tội”.
    “Khanh có tội gì?” Hoàng đế cười nói: “Vừa nãy Ông khanh còn khen khanh quyết đoán, có phong độ đại tướng, vả lại sau đó kịp thời thông báo bộ binh, không có gì không thích đáng cả.

    Điều trẫm muốn hỏi khanh là hiện đại quân Hung Nô đang ở Hạ Lý Luân, kẻ khanh nói lại là người phương nào?”.
    “Những kẻ ấy là lính Hung Nô mất chỉ huy.

    Phía bắc Bạch Dương có chừng sáu tốp bộ tộc trăm người, mỗi tháng luôn có hơn trăm con ngựa cướp cho chúng, thật là nhiễu dân”.
    Hoàng đế nói: “Tấu chương hôm nay của Ông khanh muốn bàn về ‘chế độ trà ngựa’, trẫm cảm thấy rất hay.

    Mở chợ đổi lấy ngựa của các nước láng giềng phía tây, khó đảm bảo toàn những tốp nhỏ ấy của Hung Nô xuôi nam quấy rầy.

    Trẫm muốn cử binh mã bảo vệ chợ trà, vận chuyển ngựa, bao nhiêu người ngựa thì thích hợp?”.
    Lục Quá thấy Ông Trực đàng hoàng không khách sáo chiếm “chế độ trà mã” thành của mình, tuy hơi không vui, nhưng biết đạo làm tướng tuyệt đối không thể tranh công với cấp trên, cho nên mặt không đổi sắc, nói: “Bây giờ Hung Nô không nên trò trống gì, ba nghìn kỵ binh là đủ ạ”.
    Ông Trực nói: “Rất thỏa đáng”.
    Hoàng đế gật đầu: “Vậy thì Ông khanh lập tức lấy người đi làm việc này, điều động ba nghìn kỵ binh ra Bạch Dương càn quét những tốp Hung Nô nhỏ.

    Bộ hộ phải trưng đủ thuế trà trong tháng Mười, cung cấp để bộ binh điều động, không được làm lỡ”.
    Ông Trực thưa: “Hoàng thượng, ba nghìn người ngựa này do ai dẫn binh ạ? Thần tiến cử Lục Quá”.

    Ông ta đang báo đáp ân tình của Lục Quá tình, không ngờ hoàng đế lại lắc đầu.

    Cát Tường biết ý, cầm một danh sách trên hương án cho Ông Trực.
    Hoàng đế nói: “Bữa trước xem đánh giá thành tích của bộ binh, trẫm đã khoanh tròn những người này, bên trong cũng có Lục Quá.

    Khanh gửi công văn bộ binh, điều những quan tướng này vào kinh sau tháng Giêng chờ chỉ”.
    Ông Trực nhận danh sách thì hơi ngây người.

    Hoàng đế nói tiếp: “Còn nữa, khanh lệnh cho tham tướng các đạo các phủ tiến cử tướng sĩ thuộc hạ đắc lực, đối chiếu hai bên, có ai chưa được liệt kê trên danh sách của trẫm thì bẩm cho trẫm biết”.
    “Vâng”.

    Ông Trực bị mấy khẩu dụ của hoàng đế khiến cho không xoay mòng mòng, đi ra hỏi Lục Quá: “Anh xem vạn tuế gia có ý gì?”.
    “Hạ quan ngu muội, sao biết ý của thánh thượng? Đại nhân muốn biết chính xác thì chi bằng hỏi Tịch Tà trong phòng sách ấy”.
    “Nói không sai”.

    Ông Trực gật đầu, tìm thái giám nhỏ hỏi thăm.
    Thái giám nhỏ đó lại cười nói: “Bẩm đại nhân, đúng là không khéo, tối qua lục sư thúc của nô tỳ ngã bệnh, nô tỳ vừa mới phụng ý chỉ của vạn tuế gia đi hỏi, nói là muốn nghỉ một trận cho khỏe ạ”.
    Lục Quá mới biết cái “bận” Tịch Tà nói ở lầu Phiêu Hạ là có ý gì.

    Ra khỏi cung, anh ta dắt ngựa đi từ từ, vuốt lông bờm trơn bóng như tơ ở cổ ngựa, trong lòng biết ơn Tịch Tà đã định ra danh sách kia vì hoàng đế.

    Anh ta thực sự không muốn trở lại vùng thảo nguyên ánh chiều như tranh vẽ.

    Dù rằng ngựa cưỡi làm bạn bên cạnh mình lúc này là ngựa Lý Nộ cưỡi khi lấy chồng, nhưng mình luôn liều mạng quên đi khoảnh khắc đôi mắt đẹp lấp lánh diễm lệ hơn cả ráng chiều.
    Anh ta sợ thảo nguyên Bạch Dương.
    [1] Một loại rượu trắng cổ, rất mạnh, rượu ngon hàng đầu đông bắc Trung Quốc.
    [2] Một hình thức buôn bán đổi trà lấy ngựa truyền thống giữa người Hán và người Tây Tạng.

    Hình thức buôn bán đó xuất phát từ sự quan tâm của người Tây Tạng đối với trà vào thời nhà Đường.
    [3] Một cân bằng 0,5kg..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 18: 18: Tống Biệt


    Ngày hai mươi chín tháng Chín năm Khánh Hi thứ mười hai, điệp báo của Đại Lý truyền tới kinh.
    Chim bồ câu bay ngàn dặm chỉ mang tới có mấy chữ: “Việc đã định”.
    Nét bút của Tống Biệt không hề vội vàng hay kiêu ngạo mà thanh đạm đến mức không giống như đang tổng kết một trận giết chóc máu tanh.
    Ngày hai mươi sáu tháng Chín, gần nghìn nhân khẩu từ trên xuống dưới trong phủ Đoàn Thừa bị năm trăm tinh binh của Đoàn Bỉnh tràn vào lúc đêm khuya giết cho không chừa một mống.

    Đoàn Bỉnh nghe tin thì kinh hãi, dù hai mắt vẫn chưa thể nhìn được vì độc chưa tiêu hết vẫn lần mò đến phủ của anh cả để dập đầu tạ tội.

    Đại tướng Mã Tự – thuộc hạ cầm đầu chính biến của Đoàn Bỉnh – khóc lớn ba tiếng, chỉ nói: “Không ngờ lại hại chúa công vào tội bất nghĩa, lấy cái chết để tạ tội” rồi rút kiếm tự vẫn dưới chân Đoàn Bỉnh.

    Đoàn Bỉnh ôm xác khóc lóc thảm thiết một hồi bèn mang đầu người này đến trước linh cữu Đoàn Thừa.

    Đợi lúc sáng sớm Đoàn Bỉnh vào cung nhận tội với hoàng đế Đại Lý đã có một chiếc kiệu lớn gấm xanh lá đỗ ở trước cửa hoàng cung từ trước.

    Miêu Hạ Linh cầm quốc thư hòa thân của hoàng đế Khánh Hi trung nguyên, cúi đầu đi ra từ sau rèm, vừa lúc gặp ánh mắt của Đoàn Bỉnh.

    Hai mắt mù vì bị vương trưởng tử Đoạn Thừa đầu độc trong lời đồn mà lúc này lại sáng, phản chiếu mặt trời mới mọc, hăm hở, sặc sỡ loá mắt.
    Bởi vậy, Miêu Hạ Linh viết trong tấu chương ngày đó rằng: “Đoàn Bỉnh đã lộ tài năng, chí không nhỏ, nay trộm được ngôi vị hoàng đế Đại Lý, thần sợ sẽ được voi đòi tiên, không cam lòng ở dưới người khác, trở thành tai hoạ ngầm của trung nguyên”.
    Mười ngày sau, lúc tấu chương của hắn ta đến kinh, hoàng đế lại cố ý xem nhẹ những lời này, khép sổ gấp lại, nói với Cát Tường: “Đến cung của Dương thái phi”.
    Loan giá vừa mới dừng ở trước cửa cung Thọ Ninh, chợt nghe góc sau có tiếng bước chân dồn dập.

    Cát Tường liếc nhìn rồi cười nói: “Công chúa điện hạ vội vã làm gì thế?”.
    Trên trán công chúa Cảnh Ưu lấm tấm mồ hôi, có vẻ đã chạy tới, thấy ngự giá ở trước mặt thì dừng bước ngây ra, căng áo kép bào trên người: “Hoàng thượng vạn phúc kim an”.
    “Đúng là thiếu lễ nghĩa, không có quy củ”.

    Dương thái phi được tin nên đi ra đón chào từ trong cung, thấy thế bèn mắng công chúa Cảnh Ưu một câu.
    “Mẹ…” Công chúa Cảnh Ưu gấp đến mức mặt đỏ lên, nhìn hoàng đế muốn nói lại thôi.
    “Đừng bướng bỉnh”.

    Dương thái phi kéo nàng ra sau mình, mời hoàng đế ngồi trong chính điện: “Gần đây hoàng đế bận rộn việc triều chính, sao lại rảnh rỗi tới đây? Hôm qua còn nghe nói thế cục Đại Lý rung chuyển, hoàng đế hết sức lo âu, nay đều êm thấm rồi à?”.
    Trong cung, tin tức truyền đi rất nhanh, e là Dương thái phi và công chúa Cảnh Ưu đều đã biết chuyện hòa thân rồi.

    Hoàng đế không khỏi nở nụ cười, nói với Dương thái phi: “Chẳng những êm thấm mà còn có thêm một việc vui.

    Trẫm tới để chúc mừng thái phi đấy.

    Hai năm trước vương tử Đoàn Bỉnh của Đại Lý đã đề cập tới việc hôn nhân với trẫm.

    Trẫm từng nghe người ta nói, vương tử này tuấn tú lịch sự, làm việc quyết đoán, là một nhân tài vốn quý.

    Bây giờ hắn đã là vương trữ của Đại Lý, trẫm muốn gả công chúa qua thì sau này sẽ là vương hậu Đại Lý, hai nước nên duyên Tần Tấn[1], với đất nước, với gia đình, với công chúa và thái phi đều là chuyện may mắn”.
    Dường như Dương thái phi rất là thoả mãn với cuộc hôn nhân này, đặc biệt là khi nghe thấy hai chữ “vương hậu”, trên mặt lập tức có vẻ vui mừng, cuối cùng vẫn than thở: “Hoàng đế nghĩ không sai, chỉ là Cảnh Ưu lấy chồng xa, không có lúc về thăm viếng như công chúa Cảnh Giai, từ nay về sau, mẹ con ta không được gặp nhau nữa”.
    “Cảnh Ưu, em thấy có được không?” Hoàng đế thấy Dương thái phi không có ý kiến khác thì quay sang hỏi công chúa Cảnh Ưu.
    Công chúa Cảnh Ưu vẫn luôn cúi đầu, lúc này mới chậm rãi nói: “Bẩm hoàng thượng, Cảnh Ưu không muốn lấy”.
    “Cái gì?” Hoàng đế và Dương thái phi đều kinh ngạc.
    “Không muốn lấy ạ!” Công chúa Cảnh Ưu đứng lên nói: “Đoàn Bỉnh này giết anh đoạt quyền, không có trung hiếu cương thường, sao lại bắt em lấy người như thế?”.
    Hoàng đế cười nói: “Em thì hiểu gì? Nếu mọi chuyện đều theo khuôn phép cũ, nhìn trước ngó sau thì còn coi là hành động của bậc đại trượng phu thế nào được?”.
    “Nước mọi rợ bọn chúng đều như vậy cả…”
    “Câm miệng!” Dương thái phi cả giận nói: “Trước mặt hoàng đế mà con thế này thì còn thể thống gì?”.
    Công chúa Cảnh Ưu cười khẩy một tiếng: “Thì ra mẹ cũng không hướng về con.

    Con nói không lấy chồng thì đừng ai mong ép được con”.
    “Tạo phản rồi!” Dương thái phi nhìn nàng xoay người lao ra ngoài cửa thì thở dài: “Sao lại sinh ra thứ oan nghiệt như vậy?”.
    Hoàng đế cười nói với Dương thái phi: “Em gái lưu luyến thái phi, không muốn lấy chồng ở xa, hai ngày nữa suy nghĩ ra thì sẽ tốt thôi ạ”.
    Toàn bộ chuyện này đều do Dương thái phi làm chủ, hoàng đế đã yên tâm, lúc trở lại thì đến cung Khôn Ninh một chuyến.

    Khi hoàng hậu ra đón, trên mặt thậm chí còn có chút kinh ngạc.
    “Lâu không tới, chỗ nàng vẫn trắng trong mộc mạc như vậy, sao không mua sắm thêm?” Sợ rằng chỉ có cung Khôn Ninh còn giữ loại ghế cứng rắn này để dùng, hoàng đế rất không quen, mất tự nhiên xoay người.
    Hoàng hậu gầy hơn rồi, ngón tay như cành trúc yên lặng đặt trên đầu gối, tiếng nói lạnh nhạt đến mức không trộn lẫn chút tình cảm nào: “Nô tì cảm thấy như vậy lại an nhàn, làm phiền hoàng thượng nhớ mong rồi”.
    Hoàng đế lại đánh giá chung quanh trong chốc lát, cảm thấy hơi lúng túng và buồn chán, cười nói: “Trẫm có chuyện mời nàng đứng ra”.
    “Không dám”.

    Hoàng hậu cũng là người cực kỳ thông minh, chỉ nói: “Hoàng thượng muốn thần thiếp khuyên nhủ công chúa Cảnh Ưu thì nô tì sẽ làm theo”.
    Hoàng đế hơi đỏ mặt, ngượng ngùng nói: “Vậy là tốt rồi.

    Trẫm đi đây, nàng cũng hãy giữ gìn cơ thể.

    Nhìn nàng đi, gầy đến mức nào rồi, chính nàng không đau lòng, trẫm còn đau lòng đây”.
    Hoàng hậu vẫn tỉnh bơ: “Vâng.

    Cung tiễn thánh giá”.
    Hoàng đế đi ra từ trong điện u ám của cung Khôn Ninh, bị ánh mặt trời chiếu lên mới thấy hậm hực.

    “Không hợp nhau tới vậy cơ à?” Hoàng đế hỏi Cát Tường.
    “Hì hì”.

    Cát Tường vô cùng khó xử, miễn cưỡng cười làm lành một tiếng, không dám tiếp lời.
    Đến đêm, hoàng hậu lại tự mình tới cung Càn Thanh.

    Hoàng đế đang định đến cung Tiêu Cát, chỉ đành thôi, cho phép hoàng hậu ngồi trên giường, nghe nàng nói: “Thần thiếp không hoàn thành được chuyện này”.
    “Không sao, hôm nay không thuyết phục được nó thì ngày mai lại khuyên bảo tiếp.

    Chẳng qua là nó còn nhỏ, mặt mỏng nhát gan…” Hoàng đế thấy hoàng hậu từ từ lắc đầu thì hỏi: “Sao thế?”.
    “Theo thần thiếp thấy, công chúa đã quyết tâm không đến Đại Lý lấy chồng, chỉ sợ thần thiếp không thể khuyên được.

    Thần thiếp thấy công chúa như đinh đóng cột, chỉ sợ ép quá sẽ mất mạng người.

    Bởi vậy mới tới xin hoàng thượng bảo cho biết”.
    Hoàng đế không cho là đúng: “Ngày mai nàng thử lại lần nữa đi”.
    Đột nhiên hoàng hậu nở nụ cười: “Hoàng thượng đúng là không hiểu con gái”.
    “Cái gì?” Hoàng đế sửng sốt.
    Hoàng hậu đã đứng lên khom người: “Thần thiếp xin cáo lui”.
    “Có ý gì vậy?” Hoàng đế nhìn bóng lưng của nàng, hỏi Cát Tường.
    “Nô tỳ không biết”.
    “Không biết?” Cuối cùng hoàng đế cảm thấy hơi khó chịu: “Trong cung này từ trên xuống dưới không có gì là khanh không biết cả, nói!”.
    Cát Tường cười tâu: “Quả thực không biết ạ”.

    Thấy hoàng đế giận tái mặt, vội bảo: “Nô tỳ quả thực không biết tình hình bên trong.

    Hoàng thượng quên trong cung này, người được xưng là không gì không biết chỉ có…”.
    “Tịch Tà, gọi Tịch Tà!” Hoàng đế đứng lên.
    Tiểu Hợp Tử truyền lời tới viện Cư Dưỡng.

    Tịch Tà nghe xong thì ho một trận dữ dội không ngừng được, cuộn tròn ở trên giường gần như tắt thở mất một lúc.
    Minh Châu vẫy tay bảo Tiểu Hợp Tử lui xuống, bưng thuốc tới trước mắt Tịch Tà lại bị hắn lấy tay đẩy ra.
    “Lôi Kỳ Phong!” Tịch Tà che ngực thở hổn hển, hung tợn nói: “Lần tới gặp được y nhất định phải lấy mạng y”.
    Minh Châu lại phì cười: “Lục gia muốn lấy mạng người khác, chớ giận chó đánh mèo sang Lôi Kỳ Phong.

    Uống thuốc trước rồi nói”.
    Tịch Tà cau mày nhận lấy thuốc, uống một hơi cạn rồi chỉ vào hũ đường phèn đặt trên bàn, nói không ra lời.
    “Đắng à?” Minh Châu cười bảo: “Gần đây thuốc của thầy Trần càng ngày càng ghê gớm”.
    Tịch Tà xoay mặt lại hỏi: “Hiện giờ hoàng thượng đang ở nơi nào?”.
    Tiểu Hợp Tử bước lên phía trước nói: “Trước khi cháu đi ra, vạn tuế gia đang muốn đến cung Tiêu Cát”.
    “Cậu bẩm lại với hoàng thượng, bệnh tình của Tịch Tà thực sự rất nặng, không dậy nổi”.
    “Sư thúc, cháu sẽ khó xử…”

    “Đi đi, đi đi”.

    Minh Châu đẩy Tiểu Hợp Tử ra khỏi cửa: “Nói một tiếng với thầy cậu là không sao đâu”.
    Tiểu Hợp Tử xoay người lại hỏi: “Chị Minh Châu, anh em tôi vẫn ổn chứ? Sao không nhìn thấy vậy?”
    “Vẫn khỏe”.

    Minh Châu dịu dàng nói: “Không phải là bốc thuốc đấy sao? Lát về ngay thôi, tôi sẽ nói cho cậu ấy biết là cậu đã tới”.
    “Này”.

    Minh Châu nhìn Tiểu Hợp Tử ra khỏi cửa viện, nghe thấy tiếng soàn soạt trong bóng tối sau hành lang: “Đi rồi”.
    Tiểu Thuận Tử nhô đầu ra: “Đi thật rồi ạ?”
    “Cậu cũng biết làm việc cẩn thận đấy, xem như đã tiến bộ rồi.

    Anh cậu đi thật rồi.

    Thầy cậu đang chờ đấy, mau vào đi thôi”.
    Tiểu Thuận Tử cười nói: “Có một số việc, anh ấy không biết thì tốt hơn.

    Gặp rồi có thể tôi sẽ nói lung tung”.
    Tịch Tà đã khoác quần áo ngồi dậy, Tiểu Thuận Tử tiến đến bên cạnh hắn nói: “Con đã hỏi rồi, chính là đêm nay, vẫn là canh ba”.
    “Khương Thống lĩnh sắp xếp xong chưa?”
    “Nói là tuyệt không sai sót”.
    Tịch Tà lại từ từ nằm xuống, bảo: “Ta nghỉ thêm một lát, con chuẩn bị đi”.
    Loan giá của hoàng đế đã đến cung Tiêu Cát.

    Tiểu Hợp Tử đi vào trong lặng lẽ gọi một tiếng, thấy Cát Tường chạy ra ngoài thì lặp lại lời của Tịch Tà một lần.

    Cát Tường cười nói: “Không tới cũng không sao.

    Hoàng thượng đang bận đấy, lúc này đã quên mất rồi”.
    Cách bức rèm châu, quả nhiên thấy hoàng đế tươi cười nhìn Mộ Từ Tư bận trước bận sau rót rượu gắp thức ăn.

    Mới uống một chén rượu mà đã như say túy lúy.
    “Hoàng thượng nếm thử món này đi”.

    Mộ Từ Tư đẩy đĩa đến trước mặt hoàng đế.
    Mặt trên có dưa và trái cây bốn mùa như cà, bí đỏ các loại góp lại, sấy đến vàng óng.
    Hoàng đế cười nói: “Thứ gì vậy? Mới mẻ đấy.

    Đáng tiếc không phải lúc ăn lót dạ”.
    Mộ Từ Tư chống cằm, dường như đang cười trộm rồi bĩu môi nói: “Có sao đâu, ăn rồi sẽ biết thôi”.
    Hoàng đế nếm một miếng, cười hỏi: “Bên trong gói gì mà ngọt thơm thế?”.
    “Đương nhiên là ngọt rồi!” Mộ Từ Tư đáp: “Là khoai lang ạ”.
    “Khoai lang?”
    “Tiểu thái giám trong cung thần thiếp nói, trước kia nhà anh ta không được ăn cơm, chỉ đào khoai lang trong đất lên ăn.

    Nhưng không ngờ trong cung, ngay cả khoai cũng có thể làm độc đáo như thế”.
    Cát Tường không nhịn được rùng mình, mà hoàng đế lại không hề tức giận chút nào, cười nói: “Nàng đang khuyên trẫm thương xót cho trăm họ à?”.
    “Không ạ”.

    Mộ Từ Tư lắc đầu: “Nô tì chỉ nghĩ bình thường hoàng thượng đều ăn sơn hào hải vị, đổi khẩu vị cũng tốt”.
    Hoàng đế hỏi: “Rượu này cũng như ngày thường thì đổi khẩu vị thế nào?”.
    “Hay là thần thiếp chơi đố số[2] với hoàng thượng!” Mộ Từ Tư cười vén tay áo lên, nắm tay lại đưa tới trước mặt hoàng đế, dưới tay áo đỏ lộ ra nửa cánh tay ngọc trắng như tuyết, bị hoàng đế đưa tay tóm được.
    “Hoàng thượng!” Mộ Từ Tư xấu hổ đến đỏ cả mặt.
    Hoàng đế nhẹ nhàng uốn ngón tay nàng ra, hôn lên lòng bàn tay mềm mại ấm áp của nàng.
    Mộ Từ Tư nhìn gò má hoàng đế đưa tình, nói: “Thần thiếp… rất thích ở cùng hoàng thượng”.
    Hoàng đế nghe vậy, sự vui sướng vô hạn lại làm trái tim hơi đau đớn: “Trẫm cũng thích tới chỗ nàng”.
    Cát Tường thức thời, âm thầm phất tay với cung nữ.

    Tiếng vạt áo lướt đất của nọi người như lá rụng trong đình viện mỗi khi có cơn gió nhẹ thổi qua, cửa đóng “két” một tiếng trong trẻo, Mộ Từ Tư đỏ mặt, cả hai nhìn nhau cười.

    Hoàng đế kéo nàng ngồi lên đầu gối, vùi trong cổ nàng híp mùi thơm ngọt ngào của cơ thể nàng.
    “Phù”.
    Mộ Từ Tư cong đôi môi đỏ mọng lên, thổi tắt nến đỏ trên bàn.
    Nửa đêm vốn nên vắng người, ngoài cửa lại truyền đến tiếng bước chân sàn sạt.

    Hoàng đế rất dễ tỉnh giấc, chợt mở mắt ra.
    “Vạn tuế gia”.

    Cát Tường thấp giọng, khẽ gõ cửa.
    Hoàng đế thở phào nhẹ nhõm, thấy Mộ Từ Tư bên cạnh vẫn đang mỉm cười trong mộng, chỉ nhẹ nhàng dịch cánh tay nàng ra, khoác quần áo đứng dậy.
    “Chuyện gì?” Mở rộng cửa nhìn thấy Cát Tường quỳ trên mặt đất, hoàng đế vẫn tức giận: “Nửa đêm canh ba”.
    “Nô tỳ tội đáng muôn chết”.

    Cát Tường dập đầu nói: “Tịch Tà xin gặp ạ”.
    Hoàng đế giận quá hóa cười: “Trẫm quên mất, cho đòi hắn mấy canh giờ rồi mà giờ lại đến”.
    Cát Tường nâng áo choàng tới, nói: “Hoàng thượng, bên ngoài lạnh lắm”.
    “Làm gì thế không biết?” Hoàng đế xua tay bước ra cửa, Tịch Tà đã quỳ chờ ở hành lang, tuy đã quấn kỹ không lọt gió mã vẫn đang khẽ rùng mình.

    Hoàng đế vốn muốn trách móc một câu, thấy thế thì không nỡ mở miệng.
    “Nô tỳ quấy rầy vạn tuế gia yên gối, tội đáng chết vạn lần, mong hoàng thượng thứ tội”.

    Tịch Tà nói: “Đêm khuya gió lạnh, xin vạn tuế gia mặc thêm áo”.
    Cát Tường hầu hạ hoàng đế mặc vào áo bào kép vào, hoàng đế ngờ vực hỏi: “Đi đâu đấy?”.
    “Sự việc quan trọng, nô tỳ cả gan xin vạn tuế gia đi theo”.

    Tịch Tà đứng lên nghiêng người dẫn đường.
    Đêm lạnh như nước, sương trắng đầy đất, dọc đường Đông đại thiên sáng đèn cũng có vẻ khá ảm đạm, chỉ có tiếng bước chân của hoàng đế vọng lại, Tịch Tà theo sát phía sau hắn ta mà như không tồn tại.

    Hoàng đế hít một hơi thật sâu: “Thì ra trong cung vẫn có thể yên tĩnh như vậy”.
    Tịch Tà mỉm cười đến mức thậm chí hơi kỳ ảo, hoàng đế bỗng cho rằng đây chẳng qua chỉ là hồn phách của hắn.
    “Nếu vạn tuế gia muốn yên tĩnh thì ai dám thở mạnh chứ?” Lúc hắn nói chuyện, bên môi im ắng, trong không khí lạnh lẽo như vậy mà chẳng phun ra chút hơi trắng nào.
    Hoàng đế kéo hắn lên trước một bước, chạm vào cánh tay hắn mới thấy hơi an lòng.

    “Nói như vậy mệt lắm, khanh đi bên cạnh trẫm đi”.
    “Vâng”.

    Tịch Tà đồng ý rất nhanh nhưng vẫn đi sau hoàng đế nửa bước, không dám sánh vai.
    Trước mắt chính là điện Phụng Tiên, đèn trong phòng trực vẫn sáng, hoàng đế nghỉ chân và hành lễ với chính điện, Tịch Tà cũng hết sức cung kính, lặng lẽ cầu khấn.
    “Nghĩ gì thế?”
    “Tổ tiên phù hộ triều ta hưng thịnh ạ”.

    Tịch Tà cười nói.
    Hoàng đế cũng cười.

    Có vẻ người trong phòng trực nghe được tiếng động, ho hai tiếng rồi đứng dậy.

    Tịch Tà dựng thẳng ngón tay ở bên môi, nắm ống tay hoàng đế lặng lẽ xuyên qua cửa của tường xây làm bình phong ở cổng khuất trong bóng tối.

    Bỏ lại đèn dầu trong thâm cung lại đằng sau, ánh sáng nhẹ nhàng chợt chiếu vào mặt.

    Trên biển tùng nơi này, sao dày như dệt cửi, phía chân trời như nước sông lững lờ, phản chiếu chúng sinh cõi phàm.
    Mà bấy giờ Tịch Tà lại dùng sức kéo tay áo hoàng đế vào trong bóng cây.

    “Vạn tuế gia, xin di giá và chờ một lát ở đây”.
    “Chỗ này không phải vườn Minh Tri à?” Hoàng đế đưa tay đẩy cành cây trước mắt ra, buồn cười: “Tại sao trẫm phải thậm thà thậm thụt?”
    Tịch Tà thở dài một tiếng.

    “Canh ba”.

    Hắn đột ngột nói.
    “Hả?”
    Chuông tuần trên tường thành phía xa nhẹ nhàng đi tới, tiếng canh trong thâm cung cũng phụ xướng theo.

    Hoàng đế thấy Tịch Tà cố chấp lắc đầu ý bảo chớ lên tiếng, mặc dù trong lòng rất nhiều nghi hoặc hiếu kỳ cũng chỉ đành đứng im.

    Chẳng bao lâu sau, quần áo sàn sạt lướt đất vườn Minh Tri, trong lúc ngẩn ra, hoàng đế đã thấy một cô cung nữ hai mươi lăm hai mươi sáu đi vào, nhìn quanh bên trong vườn rồi lại liên tục vỗ tay, cuối cùng thở dài nói: “Ngay thời điểm quan trọng mà hắn lại muộn”.
    “Chờ cũng không sao”.

    Lại có một thiếu nữ mặc đồ cung nữ đi đến, dựa ở trên cành cây, nhìn lên vì sao xa xa.

    Hoàng đế nghe giọng nàng rất quen nhưng không nhớ có quen một cung nữ như vậy, xoay mặt trông Tịch Tà mà hỏi dò.

    Tịch Tà lại chỉ khẽ cười nhạt, cắn chặt răng không nói nửa lời.
    “Lẽ nào tối nay thị vệ trong cung đều có việc gì gấp?” Cô gái kia im lặng một lát, cuối cùng thở dài.
    Hoàng đế nghe vậy thì nổi trận lôi đình.

    Lấy chức thị vệ mà dám tự tiện vào hoàng cung vụng trộm gặp cung nữ, khi quân phạm thượng, không biết liêm sỉ, thật đáng chém.

    Hoàng đế tức đến run lên, chỉ còn chờ thị vệ kia đến thì sẽ bảo Tịch Tà bắt lấy.

    Ai ngờ cô gái kia dần mất kiên nhẫn, chậm rãi đi lại trong đình, lúc quay người lại, khuôn mặt bị anh sao phản chiếu rõ ràng, chính là công chúa Cảnh Ưu.
    Hoàng đế nào đoán được là công chúa tư thông với kẻ khác, giận đến nỗi máu dồn lên trán, người thoáng giãy giụa lại bị Tịch Tà nắm chặt tay, lắc đầu với hoàng đế.

    Ngón tay hắn lạnh đến tận xương, hoàng đế chùn lại, rút tay về phía sau, Tịch Tà lại vẫn không thôi, kéo hắn lặng lẽ rút khỏi vườn Minh Tri.
    “Láo xược!” Hoàng đế hất tay hắn ra, cả giận nói: “Sao lại ngăn trẫm?”.
    “Vạn tuế gia bớt giận”.

    Tịch Tà khuyên nhủ: “Chung quy công chúa phải lấy chồng xa, trời tối người yên, giờ mà hoàng thượng làm loạn ra ngoài thì không còn cách nào ăn nói với bên Đại Lý”.
    Hoàng đế gật đầu cười nhạt: “Được được được! Cứ giữ thể diện cho nó.

    Khanh nói cho trẫm biết, thị vệ nó lén gặp là ai? Ngày mai trẫm sẽ lấy đầu hắn”.
    “Nô tỳ không biết”.
    “Không biết?” Hoàng đế tức đến lạnh cả tay chân, chỉ vào Tịch Tà nói: “Sư huynh đệ các khanh hỏi gì cũng không biết à? Khanh không nói, được, giờ trẫm sẽ về vườn Minh Tri, chờ tên súc sinh kia lộ diện”.
    Tịch Tà đuổi theo cười nói: “Hoàng thượng, hoàng thượng dừng chân, đêm nay người đó sẽ không tới đâu.

    Hiện nay tất cả thị vệ đang trực đều ở dưới mí mắt của thống lĩnh thị vệ, không ai có thể tự ý đi lại, chắc chắn hắn sẽ không thoát thân mà đến chỗ hẹn được”.
    “Khanh đang bảo trẫm nhân nhượng kẻ gian à?”
    “Tên thị vệ to gan lớn mật này quả thật đáng băm thành trăm mảnh, hắn mà chết thì sẽ đầu xuôi đuôi lọt.

    Nhưng xin hoàng thượng nghĩ lại, với tính cách của công chúa Cảnh Ưu, nếu ép buộc thì liệu công chúa còn có thể yên bình, vui vẻ lấy chồng đến Đại Lý ư?”
    Hoàng đế bị hắn nói cho sững sờ chốc lát, mới nói: “Có bao nhiêu người biết chuyện này?”
    Tịch Tà nói: “Ngoại trừ người trong cung công chúa thì chỉ có nô tỳ thôi”.
    “Trẫm biết rồi”.

    Hoàng đế nhếch môi.
    “Vâng”.

    Tịch Tà khom người như thể đã hiểu ra điều gì.

    Cứ như vậy im lặng không nói trở lại cung Tiêu Cát, Cát Tường ra đón, đỡ hoàng đế bước lên bậc thang.
    “Người khanh đã khá hơn chút nào chưa?” Hoàng đế vào nhà trước hỏi.
    “Vẫn vậy ạ”.

    Tịch Tà nói.
    “Trẫm thấy không ho nữa, ngày mai đến cung Càn Thanh trực”.
    Tịch Tà cười, chỉ thở dài.

    Khi trở về Tiểu Thuận Tử đã ngủ, chỉ có Minh Châu vẫn chờ.

    Nàng nghe Tịch Tà nói xong thì sẵng giọng: “Khó khăn lắm lục gia mới có thời gian dưỡng bệnh lại phải khổ cực vì tên Úc Tri Thu này gây họa.

    Gia thật là nhẫn nại mới để cho gã càn quấy”.
    Tịch Tà ho một hồi, cười nhạt nói: “Sao tôi lại không muốn giết gã? Là vì Khương Phóng khuyên tôi, không nói đến chuyện Úc Tri Thu chết thì sự vất vả tổ chức ở cửa Tử Nam mấy tháng qua sẽ thành công dã tràng, chỉ nói tới việc gã là thám hoa mà tôi chọn ra, vô duyên vô cớ bỏ mạng thì tôi thoát khỏi liên can thế nào được? Ôi!” Tịch Tà than thở: “Lúc ở Thượng Giang đã thấy họ không an phận, chỉ nói sau khi về kinh có cung tường ngăn cách, sẽ chẳng có gì.

    Ai ngờ gã háo sắc đến liều, tự tiện vào màn cấm, còn không khống chế được như thế?”.
    Minh Châu sợ hắn tức giận, vội vàng khuyên hắn đi ngủ.

    Tịch Tà cố khép mắt một lát, sáng sớm đã tìm đến cung Càn Thanh mà đợi.

    Chẳng bao lâu, hoàng đế đã về từ cung Tiêu Cát, vào cửa nhân tiện nói: “Tịch Tà ở lại, những người khác tránh đi”.

    Hắn ta ngồi bên bàn cờ, đánh cờ rồi cân nhắc trong yên tĩnh.
    “Công chúa Cảnh Ưu đến rồi ạ”.

    Như Ý ở ngoài đẩy cửa ra, công chúa Cảnh Ưu đi vào với sắc mặt tái nhợt, cung nữ theo phía sau bị Như Ý ngăn lại hết từ xa.
    “Hoàng thượng vạn phúc kim an”.
    “Sắc mặt em không tốt, vành mắt cũng đỏ, ngủ không ngon à?” Hoàng đế mềm giọng ân cần hỏi, chỉ vào ghế bảo nàng ngồi.
    Công chúa Cảnh Ưu cười gượng nói: “Vẫn ổn ạ”.
    “Em đã nghĩ xong việc hôn nhân hôm qua nói chưa?”
    “Cảnh Ưu không muốn lấy chồng đến Đại Lý”.
    “Đừng nói lời trẻ con nữa, con gái đều phải lập gia đình.

    Em đến Đại Lý rồi thì sẽ là vương hậu, dù là Cảnh Giai cũng kém em đấy”.
    “Vương hậu thì đã sao chứ?” Công chúa Cảnh Ưu nói: “Các đời hoàng hậu triều ta tổng cộng cũng có mười lăm mười sáu vị, nào ai được trước sau vẹn toàn? Hoàng huynh dựa vào lương tâm mà nói xem, gả em đến Đại Lý liệu có một phần là vì nghĩ cho em không?”.
    Hoàng đế cười nói: “Không sai, em đến Đại Lý là để dẹp yên tây nam.

    Bây giờ xã tắc rung chuyển, bốn bề là địch, em không thể vì trẫm, vì giang sơn tổ tông truyền tới hôm nay mà ngẫm lại hay sao?”.
    “Đó là chuyện của hoàng huynh”.

    Công chúa Cảnh Ưu nổi giận nói.
    “Sai rồi!” Hoàng đế vẫn mỉm cười: “Mấy trăm triệu nhân dân trung nguyên nuôi em cơm ngon áo đẹp hơn chục năm, nay họ trong cơn nước sôi lửa bỏng, đừng nói bắt em đến Đại Lý làm hoàng hậu để đảm bảo cho họ mấy năm thái bình mà lấy tính mạng của em ngay lúc này cũng chẳng có gì quá đáng”.
    Sau khi cả kinh, công chúa Cảnh Ưu giận dữ nói: “Dựa vào đâu chứ?”
    “Dựa vào đâu?” Hoàng đế bảo: “Con cái hoàng thất chúng ta sống vì giang sơn, chết vì xã tắc.

    Công chúa các đời lấy chồng ở man di xa xôi nhiều vô số kể, hoàng tử chết trận sa trường cũng không biết bao nhiêu, đang được thờ cúng trong điện Phụng Tiên đấy.

    Không nói đâu xa, chẳng phải thái tử Tĩnh Đức cũng quên mình vì nước đó sao?”.
    Công chúa Cảnh Ưu cười khẩy nói: “Hoàng thượng không nhắc tới thái tử Tĩnh Đức thì thôi, trong cung này từ trên xuống dưới có ai mà không biết thái tử của tiên đế chết như thế nào?”.
    Một câu của nàng đã đâm trúng chỗ đau của hoàng đế, hắn ta nắm chặt quân cờ trong tay, nhịn một lát mới bảo: “Thái phi đã đồng ý với việc hôn nhân này rồi, em tiếp tục khăng khăng thì mặt mũi thái phi cũng không còn đâu”.
    “Mặc dù thái phi là mẹ đẻ em nhưng chưa bao giờ cho em một ngụm sữa, em cũng chưa bao giờ ở bên thái phi một ngày.

    Hoàng thượng lấy thái phi ra ép em, không có tác dụng đâu”.
    Hoàng đế cười to nói: “Chưa từng thấy kẻ bất trung bất hiếu như vậy.

    Rốt cuộc là thứ gì đã mê hoặc tâm trí em?”.
    Công chúa Cảnh Ưu sửng sốt, hỏi: “Gì cơ?”
    “Trẫm đang hỏi em là cái gì mê hoặc tâm trí em!” Hoàng đế ném bốp quân cờ xuống bàn: “Lúc nào trẫm cũng giữ thể diện cho em, lúc nào cũng nhắm một mắt mở một mắt với em, em lại điên cuồng ngang ngược à? Chẳng lẽ muốn trẫm lật tung cả cung Thanh Hòa lên, tìm ra tên khốn nạt gan to tày trời à?”.
    Công chúa Cảnh Ưu đỏ mặt, đột ngột đứng dậy định đi ra phía ngoài.

    Tịch Tà tiến lên một bước, khẽ ngăn cản: “Công chúa điện hạ, vạn tuế gia còn chưa nói hết đâu”.
    Công chúa Cảnh Ưu lau giọt lệ nóng, quát: “Rốt cuộc các người muốn thế nào?”.
    “Chỉ cần em vui vẻ hòa thân với Đại Lý, trẫm cam đoan không truy xét chuyện của em, tất cả mọi người đều giữ thể mặt, có được không?”
    “Không được!” Công chúa Cảnh Ưu dậm chân khóc lớn tiếng, đưa tay giáng một bạt tai vào Tịch Tà: “Cút ngay!” Nàng đẩy Tịch Tà, muốn tông cửa xông ra.
    Hoàng đế giận tím mặt, vỗ bàn, tiến lên mấy bước nói: “Hỗn xược!”
    Công chúa Cảnh Ưu chưa từng thấy hoàng đế giận đến thế, sợ đến ngừng khóc, nhìn chằm chằm khuôn mặt xanh mét của hắn ta.
    Hoàng đế chậm rãi buông nắm tay đang siết chặt ra, than rằng: “Trẫm xin lỗi em.

    Trẫm cũng có con gái, sau này cũng sẽ đưa từng đứa vào trong trong miệng hùm, không biết còn phải nói hai chữ ‘xin lỗi’ này bao nhiêu lần.

    Em cứ coi như thông cảm cho anh cả, được không? Em đừng ở cung Thanh Tri nữa, hãy đến cung Thọ Ninh của thái phi ấy”.
    Hắn ta nhìn công chúa Cảnh Ưu che mặt khóc lóc đi xa rồi gọi Như Ý vào, bảo: “Tất cả người trong cung công chúa không được di chuyển, không được nói chuyện với người cung khác.

    Hai cung nữ theo đến cung Thọ Ninh cũng phải gọi về cung Thanh Tri, khanh tự mình giám sát, không được để một ai chạy thoát”.
    “Tuân chỉ”.

    Như Ý đáp.
    Hoàng đế nhìn mấy dấu tay màu máu trên mặt Tịch Tà, hỏi: “Đau không?”
    “Hơi hơi ạ”.

    Tịch Tà đưa tay xoa xoa lại làm cả khuôn mặt đỏ bừng lên.
    Hoàng đế cười nói: “Được rồi được rồi, như thể bị nấu chín vậy”.

    Đoạn chuyển đề tài, hỏi: “Khanh thấy liệu Cảnh Ưu có chịu không?”.
    “Chắc là có ạ”.

    Tịch Tà nói: “Nô tỳ không rõ lắm”.
    “Trẫm cũng không rõ”.

    Hoàng đế không khỏi nhíu mày: “Chỉ mong lúc người Đại Lý đến đưa sính lễ không có chuyện gì xảy ra”.
    Đối với Tịch Tà mà nói, chuyện cần lo lúc ấy lại chẳng phải công chúa Cảnh Ưu nữa.

    Bấy giờ sứ giả đưa sính lễ của Đại Lý đã khởi hành ngược sông Hàn.

    Trong đoàn người không chỉ có quan viễn bộ lễ của Đại Lý mà còn có Tống Biệt – mưu sĩ tâm phúc của Đoàn Bỉnh, do anh ta sợ những người này làm hỏng việc nên mới sai riêng tới để giám sát.
    Tuy trước mắt Tống Biệt nghe mình sai bảo nhưng đã là cha của Minh Châu lại là bạn cũ tri giao của Nhan vương, năm đó ở Đại Lý còn là hậu duệ quý tộc Túc Hải Công cha truyền con nối, bất kể bàn từ đâu thì cũng đều là bề trên của Tịch Tà.

    Ông ta đã cố chấp để con gái ở bên mình, nếu lúc này coi thường mặt mũi và ý tốt của ông ta, xin ông ta rút lời, đưa Minh Châu về Đại Lý thì Tịch Tà cũng không biết mở miệng ngay thế nào được.
    Đảo mắt đã là hai mươi mốt tháng Mười, sứ giả Đại Lý dâng quốc thư đến kinh, ngoại trừ chùa Hồng Lư sai người chăm sóc ra thì hoàng đế còn phái Tịch Tà trong phòng sách đến chào hỏi.

    Tịch Tà thừa dịp Minh Châu không ở đó, muốn lén lút dẫn Tiểu Thuận Tử chuồn ra khỏi cung.

    Đến trước cửa cung, bày thủ dụ của hoàng đế ra, bọn thị vệ chỉ cười hì hì gật đầu, không ai kiểm tra.

    Đợi lúc ra khỏi cửa, Tịch Tà đã không nén được tiếng thở dài, nói: “Trong ngoài cửa cung chỉ vài chục bước đường, trong chốc lát lại thêm một cái đuôi.

    Tiểu Thuận Tử, con nói xem đã có chuyện gì?”.
    Tiểu Thuận Tử rụt cổ, nói: “Thầy…”
    Bên cạnh cậu, Minh Châu mặc quần áo của quan hoạn tiến lên cười nói: “Đừng trách cậu ấy, tôi nhớ cha, lục gia dẫn tôi đi với”.
    Tiểu Thuận Tử bỗng phấn chấn tinh thần, thưa: “Thầy đi gặp thầy Tống lại giấu chị không nói, khiến cho ruột rà bọn họ không được gặp nhau, thầy đúng nhẫn tâm”.
    Tịch Tà lờ đi, lắc đầu không nói, cảm thán mình nhẫn tẫm ở đâu, hôm nay gặp Tống Biệt, giả sử Minh Châu ở đó thì mình mở miệng nói mấy lời trong lòng thế nào được?
    Tống Biệt không phải chính sứ, Tịch Tà chỉ đành hàn huyên với hai sứ sỉa một lúc trước rồi đi ra nói tên giả của Tống Biệt với dịch quán để hỏi rõ chỗ, mới dẫn hai người tìm đến chái nhà sau dịch quán.

    Minh Châu nhanh chóng đi vài bước, đẩy cửa cười nói: “Cha”.

    Tịch Tà và Tiểu Thuận Tử cũng đi vào theo, chỉ thấy ngón tay gầy đét của Tống Biệt lấy mũ mão của Minh Châu xuống, xoa búi tóc nàng, hỏi: “Đang yên đang lành, mặc nam trang làm gì?”.
    “Thầy Trần?” Bên cạnh có một lão già khác đang vuốt râu mỉm cười, Tịch Tà liếc thấy thì hết sức bất ngờ.
    Trần Tương cười bảo: “Anh sáu không biết lão hủ và thầy Tống đã thân nhau từ hai mươi năm trước rồi, lần này bạn cũ gặp lại đã sắp hết đời”.
    Tống Biệt ôm quyền: “Từ khi chia tay, công công vẫn khỏe chứ?”.
    “Thầy Tống”.

    Tịch Tà vội vàng khom người thi lễ.
    Trần Tương cười rằng: “Tống hiền đệ nói thế sai rồi, vừa nãy còn đang bàn về nội thương của anh Sáu, bệnh ho quấn lấy anh ta, sao có thể nói vẫn khỏe chứ?” Rồi nói với Tịch Tà: “‘Tay thêu điệu nghệ’ Tống Biệt không phải là hư danh.

    Phép châm ngải của ông ấy đã đến trình độ thần tiên.

    Năm đó ông ấy dừng chân ở Ly đô đã đàm luận về việc chữa bệnh với lão hủ, đều thấy vô cùng hợp ý, hận gặp nhau quá muộn.

    Tiếc nỗi xa cách hai mươi năm ròng, chỉ có thư từ qua lại, hôm nay gặp lại mới biết giai công tử nhanh nhẹn trong buổi hỗn loạn năm đó, nay đã thành lão già rồi”.
    Tống Biệt nhìn Minh Châu: “Con gái cũng lớn như vậy rồi, hai ta còn xưng thiếu niên anh hùng gì nữa? Lần này anh Trần tới không phải để gặp tôi”.

    Ông ta cười nói: “Mới nói hai câu tán gẫu đã hỏi đến chứng bệnh của công công, nói suốt một canh giờ.

    Nếu công công đã tới, có thể để lão hủ bắt mạch không?”.
    Tịch Tà vốn có mấy chuyện lớn bàn với Tống Biệt, thấy Trần Tương ở đây chỉ đành thôi, đành vươn cổ tay ra.

    Tống Biệt đặt ngón tay xuống, chăm chú suy tư.

    Minh Châu nhìn chằm chằm vẻ mặt ông ta, Tống Biệt lại khẽ liếc nhìn khí sắc của Tịch Tà, hỏi hắn chuyện ăn uống sinh hoạt, cuối cùng bảo: “Hiện giờ vẫn không sao không sao”.
    Minh Châu cả mừng, hỏi: “Cha định chữa bệnh thế nào?”.
    Tống Biệt trả lời: “Dựa vào nội lực của ta, mượn châm ngải đuổi thẳng ổ bệnh, châm cứu phổi Phế Du, Thái Uyên, Thái Khê, Chiếu Hải.

    Anh Trần nghĩ như thế nào?”.
    “Cùng chung suy nghĩ”.

    Trần Tương gật đầu.
    Tống Biệt cũng là một người không hề câu nệ, đứng lên nói: “Vậy thì mời công công vào bên trong”.
    Tịch Tà được cơ hội nói riêng với Tống Biệt, đúng với ý nguyện bèn định đi theo vào, Minh Châu lại xông lên thì thầm vài câu với Tống Biệt trước.

    Tống Biệt khẽ nhíu mày, gật đầu rồi mới lấy một chiếc hộp gỗ lim từ trong cái tủ bên cạnh, đặt lên trên bàn, lấy mười hai kim châm cứu từ đó, nói ‘mời’ xong thì đi vào gian trong cùng Tịch Tà.
    Tiểu Thuận Tử đang rỗi rãi vô cùng buồn chán, chuyển tới bên cạnh bàn, rụt rè đưa tay nắm lấy một cây kim từ hộp gỗ, hí hoáy trong tay.
    Trần Tương nói: “Tiểu Thuận Tử, ‘tay thêu điệu nghệ’ có một người kế thừa sẵn ngay trước mắt đấy, cậu cũng rỗi rãi, chi bằng theo Minh Châu học một ít”.
    Tiểu Thuận Tử vui vẻ đáp: “Chỉ sợ chị Minh Châu chê tôi đần thôi”.
    “Trình độ của tôi còn kém xa lắm”.

    Minh Châu nói: “Nhưng dạy cậu thì e là cao quá”.
    “Chị bằng lòng ư?”
    “Khẽ thôi, chớ nói cho thầy của cậu”.

    Minh Châu nói thật khẽ nhưng lại đứng ngồi không yên.

    Qua chừng thời gian ăn một bữa cơm, chợt nghe Tịch Tà ho mạnh một tiếng, lại im ắng một lát, Tống Biệt và Tịch Tà lần lượt đi ra.
    “Thế nào rồi ạ?” Minh Châu tiến lên hỏi.
    Tống Biệt cười trả lời: “Rất tốt.

    Anh Trần, phiền anh kê đơn thuốc bổ ích”.
    Trần Tương là người cẩn thận, kéo Tịch Tà sang một bên, lại bát mạch chẩn đoán lần nữa, sau một lúc lâu mới gật đầu khen: “Suy cho cũng vẫn là Tống hiền đệ”.
    “Vậy là khỏi rồi?”
    Tống Biệt, Trần Tương đều nói: “Gần như thế, điều dưỡng một thời gian là khỏe hẳn”.
    “Không nói đến chuyện này nữa”.

    Tống Biệt lại nắm tay Minh Châu, ngồi xuống bên cạnh hỏi nàng: “Hai năm qua ở trong cung thế nào, có người bắt nạt Minh châu trên tay Tống Biệt này không?”.
    Tiểu Thuận Tử thấy Minh Châu lia mắt về phía Tịch Tà và mình, lại càng hoảng sợ, vội đáp: “Không có không có”.
    “Không có thì tốt, tôi mới yên tâm để Minh Châu ở lại kinh thành”.
    “Thầy Tống”.

    Tịch Tà nói: “Vãn bối xin thầy Tống nghĩ lại”.
    “Không cần, con gái của tôi chắc chắn có thể chăm sóc tốt cho mình”.

    Tống Biệt mỉm cười nhìn Minh Châu, hai cha con lại nói chuyện phiếm một lúc.

    Tịch Tà thấy thời gian không còn sớm bèn đứng dậy cáo từ.
    Minh Châu kéo tay Tống Biệt, lưu luyến chào tạm biệt.

    Trần Tương cũng đứng ở dưới hiên, tiễn họ ra khỏi cửa, hỏi: “Anh Sáu vẫn muốn hiền đệ đưa Minh Châu về Đại Lý à?”.
    “Đúng vậy”.

    Tống Biệt gật đầu nói: “Song mặc dù Ly đô nguy hiểm nhưng vẫn còn hơn, tôi ở trong đầm rồng hang hổ của Đại Lý, ốc còn không mang nổi mình ốc, nào còn có sức trông nom con gái”.
    Trần Tương cười bảo: “Không phải, không phải.

    Hiền đệ là người không sợ trời đất, chẳng kính quỷ thần, là hào kiệt đương thời một nói là một, sao lại sợ mấy tên hề nhảy nhót ở Đại Lý chứ? Nhất định là có ẩn tình khác”.
    “Ẩn tình thì cũng có.

    Đầu óc của thằng nhãi Đoàn Bỉnh này quả thực chưa bị hỏng, cưới công chúa trung nguyên đã đành, nghe nói tôi có cô con gái, lại tới cửa cầu thân.

    Lần này hắn lôi kéo như thế, Minh Châu theo tôi trở về thì chẳng phải là dê vào miệng cọp ư?” Tống Biệt cười nhạt: “Hắn lại không biết Tống Biệt tôi có thù hận sâu nặng với Đại Lý, hận không thể học Ngũ Tử Tư[3], đào mộ lên rồi lấy roi đánh thi thể hoàng đế Đại Lý…” Đột nhiên ông ta với Trần Tương đều ngẩn người, mới thở dài nói: “Chỉ tiếc lão già kia vẫn chưa chết thôi”.
    Trần Tương cất tiếng cười to, cuối cùng thở dài một tiếng: “Ông đã canh cánh trong lòng mà chỗ đó lại gần trong gang tấc, cớ sao không đi gặp?”.
    Tống Biệt đưa hai tay ra, nói: “Chỉ dựa vào cái ‘tay thêu điệu nghệ’ trước kia của tôi nay đã gầy như cành trúc ư? Chỉ dựa vào chỗ máu nóng trước kia của tôi đã loãng, đã nguội lạnh ư? Gang tấc này chính là chân trời, gặp lại thì tức là vĩnh biệt, lại thêm phiền não vô hạn, quay đầu lại là bờ thôi”.
    Hai người nhìn mặt trời lặn bên ngoài thành, đều thấy hứng thú nhiều năm qua đã vắng lặng, lòng dạ còn mênh mông quạnh quẽ hơn cả bầu trời.
    Lúc này sông Ly đỏ tươi cả vạn dặm, Tịch Tà nghỉ chân ở cầu Phụng Thiên, quay đầu lại trỏ vào cầu bờ nam Song Thu, nói với Minh Châu: “Nhìn thấy lá đỏ của cầu Song Thu chưa? Xuân năm ngoái còn nói phải trở lại, giờ chỉ được nhìn liếc qua một lát.

    Cô ở trong cung săn sóc tôi hai năm, còn tôi lại chẳng thể giúp cô thỏa mãn một cái nguyện vọng như vậy”.
    Trong nắng chiều, áo xanh tắm máu, môi thơm nhuộm thắm, Minh Châu đẹp đến mức chẳng lành.

    “Tôi đã quên rồi”.

    Nàng trông con sông màu thu nồng như máu xa xa, cười rằng: “Lục gia đúng là một người rườm rà”.
    “Thật à?” Tiếng Tịch Tà hiu quạnh, cụp mắt xuống.
    “Phía trước là lục gia ạ?” Một thằng nhóc cài hoa đã chờ cạnh cửa Bạch Hổ từ lâu, tay cầm thiếp mời đỏ thẫm, thấy Tịch Tà đã sắp đến cửa cung, thị vệ cửa Tử Nam đi lên định ngăn cản nên không dám đi lên phía trước nữa.
    Tịch Tà nhận ra cậu ta là người của viện Tê Hà bèn đi mấy bước, nhận lấy thiếp mời và nói: “Ma ma anh có khỏe không?”.
    “Rất khỏe ạ, nói là lâu rồi lục gia chưa tới, mời lục gia chừng nào rảnh rỗi hãy tới uống rượu”.

    Thằng nhóc kia là một người khéo ăn khéo nói, lời nói lanh lảnh vang dội, thị vệ chung quanh đều nở nụ cười.
    “Tôi biết rồi”.

    Tịch Tà gật đầu, móc ra một ít bạc thưởng cho cậu ta rồi lại nhìn Minh Châu đã qua cửa cung: “Tối nay tôi sẽ đến”.

    Hắn vội vã vào cung, báo cáo công việc với hoàng đế rồi cáo lui, ra khỏi cung Thanh Hòa trước khi cửa cung khóa lại.
    Tê Hà chờ đã lâu, vẫn mời hắn tới lầu Hồi Mâu, rót trà nói: “Vốn không muốn quấy rầy lục gia, chỉ là điệp báo phía tây đột nhiên đứt đoạn, Khương Phóng cũng đã hỏi hai lần nhưng không có hồi âm.

    Anh ta nói lục gia nhiễm bệnh, không dám quấy rầy.

    Tôi chỉ cảm thấy trong đó có điểm kỳ quặc, vẫn nên báo cáo cho lục gia mới được”.
    “Quả thực đã nửa tháng rồi”.

    Tịch Tà gật đầu nói: “Đúng là cần thiết, chị phái người đáng tin đi một chuyến, xem rốt cuộc thầy hai đang làm gì”.

    Hắn cười bảo Tê Hà: “Không phải là không thể tin Khương Phóng, chỉ là anh ta ra sống vào chết với thầy hai nhiều năm như vậy, đánh hơn mười trận như thế, khó tránh khỏi có tình nghĩa cá nhân ở bên trong, dù không cố ý nhưng trong lòng vẫn sẽ gỡ tội thay thầy hai, chẳng bằng người ngoài cuộc tỉnh táo như chị”.
    “Vâng”.

    Tê Hà mỉm cười nói: “Đã như vậy thì ngày mai tôi sẽ lén phái người lên đường”.

    Nàng nói câu cáo lui rồi xuống lầu, chẳng bao lâu Hải Lâm đã dẫn hầu gái bưng rượu và thức ăn tiến đến.
    “Không cần rượu nữa”.

    Tịch Tà nói: “Hôm nay thầy thuốc bắt mạch, khuyên tôi bớt uống lại”.

    Hắn ăn đại chút đồ ăn rồi ngả lên trên giường.
    Hải Lâm ngồi ở bên hắn chải đầu, cười nói: “Hôm nay vị thần y nào xem cho lục gia thế? Từ lúc tới chưa từng ho tiếng nào”.
    Tịch Tà vuốt tóc nàng, mỉm cười thờ ơ, nói: “Thần y? Không phải đâu, chẳng qua là biết nói thật thôi…”
    Hải Lâm để lược xuống, tựa vào trong lòng Tịch Tà, bảo: “Tôi cũng muốn nghe lời thật lòng của lục gia”.
    “Cái gì?”
    Hải Lâm nắm ngón tay sáng long lanh của Tịch Tà nhìn kỹ dưới ngọn đèn: “Vì sao lục gia thích tới chỗ này?”.
    Tịch Tà cười to đáp: “Bởi vì trong cung lạnh, cóng đến nỗi tôi không ngủ nổi”.
    “Quả nhiên”.

    Hải Lâm thở dài: “Lục gia chính là khối băng, bất kể là ai cũng không hắt được cái bóng trong lòng lục gia”.

    Nàng đột nhiên xoay người lại ôm lấy eo Tịch Tà: “Như vậy đã ấm chưa?”.
    “Ấm rồi”.

    Tịch Tà ở dưới người nàng thở hổn hển và cười, lúc nụ cười vẫn còn đọng trên mặt thì đã ngủ mất.
    Hải Lâm che ấm hai chân cho hắn, thời gian vẫn còn sớm, nàng mở mắt ra nằm im hơn một canh giờ mới mơ màng ngủ.

    Trong mơ còn nghe thấy tiếng canh ở mấy chỗ, chợt có tiếng kim loại “xoạt” một tiếng hết sức lạnh lẽo chen vào trong gió thu.

    Hải Lâm mở mắt ra, trước mặt chính là một đoạn mũi nhọn sáng như tuyết, đang bị kẹp giữa hai ngón tay trắng ngần của Tịch Tà.

    Nàng chưa kịp kêu thành tiếng, tay trái của Tịch Tà đã che môi nàng lại.
    Ngoài màn đỏ có người buồn bực hét lên, dốc sức rút thanh trường kiếm kia ra.

    Tịch Tà khẽ cười, hai ngón tay hơi rung, mũi kiếm đã bị bẻ gãy đánh keng.

    Người ngoài màn bỗng mất lực, ngã về phía sau, đập vào bàn ghế kêu loảng xoảng.

    Cổ tay Tịch Tà vừa định phát lực, bỗng nhiên suy nghĩ xoay chuyển, tay vuốt màn tơ cười rộ lên.

    Chỉ nghe chấn song vang “kẹt” một tiếng, trong phòng đã im bặt.
    “Chuyện gì thế?” Tê Hà ở sát vách nghe thấy tiếng động, sai người đá cửa đi vào.
    Hải Lâm run rẩy vén màn lên, nói: “Không có gì, không có gì.

    Tôi đứng lên rót trà làm lật bàn thôi”.
    “Sao không biết cẩn thận thế hả?” Tê Hà sẵng giọng, nàng thấy cả phòng lộn xộn, Tịch Tà vẫn kẹp mũi nhọn ấy, đã hiểu ra bảy tám phần: “Toàn là người tinh nghịch”.

    Nàng che miệng cười, lại đưa mắt ra hiệu với thanh niên bên cạnh, thanh niên đó gật đầu, đẩy ra cửa sổ nhảy ra.[1] Câu thành ngữ này có xuất xứ từ “Tả truyện”.

    Thời Xuân Thu, nhằm tăng cường mối quan hệ láng giềng tốt đẹp với nước Tần, Tấn Hiến Công đã đem con gái của mình gả cho Tần Mục Công.

    Về sau, Tấn Hiến Công khi tuổi về già rất ân sủng Hoàng phi Ly Cơ, bức chết Thái tử Thân Sinh.

    Ly Cơ lại còn muốn bức hại hai vị công tử là Di Ngô và Trùng Nhĩ, khiến hai người đành phải trốn khỏi nước Tấn.

    Sau khi Tấn Hiến Công qua đời, con trai của Ly Cơ lên làm vua, nhưng ít lâu sau bị hai vị đại phu trung thành với công tử Di Ngô g**t ch*t.

    Họ còn cử người đi đón công tử Di Ngô đang sống lưu vong ở nước Lương về làm vua.

    Công tử Di Ngô được Tần Mục Công cử quân hộ tống trở về nước Tấn.

    Mấy năm sau, nước Tấn xảy ra nạn đói phải cầu cứu với nước Tần, được Tần Mục Công giúp cho khá nhiều lương thực.

    Nhưng mặc dù nước Tấn nhiều lần nuốt lời hứa và nói nước Tần những lời dị nghị, Tần Mục Công vẫn rất khoan dung độ lượng, giữ mối bang giao với nước Tấn.

    Bấy giờ, công tử Trùng Nhĩ đang sống lưu vong tại các nước chư hầu, cuối cùng lưu lạc đến nước Tần.

    Tần Mục Công rất mến mộ và gả Công chúa Hoài Doanh cho chàng.

    Công chúa Hoài Doanh thấy Trùng Nhĩ rất coi thường mình liền nói: “Hai nước Tần Tấn địa vị ngang nhau, tại sao chàng lại khinh rẻ tôi?”.

    Trùng Nhĩ biết mình đã sai, bèn lập tức xin lỗi nàng.

    Về sau, Tần Mục Công cử người hộ tống Trùng Nhĩ về nước.

    Cuối cùng Trùng Nhĩ trở thành vua nước Tấn, rồi cũng cho con trai mình lấy con gái vua nước Tần làm vợ.

    Hai cha con đều thông gia với nước Tần.

    Câu thành ngữ này vốn nói về hai nước thông gia hữu hảo.

    Nhưng ngày nay người ta vẫn thường dùng nó để chỉ về hôn nhân nam nữ.
    [2] Khi uống rượu, hai người cùng giơ ngón tay ra một lúc rồi đoán số, ai nói đúng là được, nói sai bị phạt uống rượu, cả hai người đều nói sai thi hoà.
    [3] Là một đại phu nước Sở, sau trở thành tướng quốc nước Ngô thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.

    Sở Bình vương nghe lời gièm pha giết cha ông là Ngũ Xa – thái phó của thái tử.

    Sau đánh Sở báo thù, lúc về quê nhớ đến thù cha bèn đào mộ Bình vương, tự mình đem thi thể ra đánh 300 roi..
     
    Khánh Hi Kỷ Sự
    Chương 19: 19: Chiêu Phúc


    Sáng sớm hôm sau, lúc Tịch Tà tỉnh dậy, Tê Hà đã đợi ở bên ngoài, mời hắn đến chỗ vắng, ghé vào lỗ tai hắn nói nhỏ: “Úc Tri Thu”.
    “Đúng vậy”.

    Tịch Tà gật đầu cười nói.
    Chức trách của Tê Hà ở ngoài cung, vẫn chưa biết ngọn nguồn, bèn hỏi: “Gã là người gia cất nhắc lên, nghĩ thế nào mà lại ám sát gia chứ?”
    Tịch Tà nói: “Công chúa Cảnh Ưu không muốn lấy chồng đến Đại Lý, chẳng phải là vì có tư tình với gã đó sao? Gã cho rằng tôi ở phá vỡ cuộc hẹn riêng của gã và công chúa ở hành cung Thượng Giang, bây giờ công chúa không chịu lấy chồng, gã lo sự việc đã bại lộ, vội vã tìm tôi diệt khẩu cho hả giận đấy”.
    Tê Hà nói: “Là tôi l* m*ng, lại đưa thiếp mời đến ngay dưới mắt thị vệ cửa Tử Nam, chẳng phải là bô bô nói cho gã biết ban đêm lục gia ở ngoài cung ư? Gã có lòng dạ khó lường, gia phải cẩn thận đấy”.
    “Chả sao”.

    Tịch Tà nói: “Tối hôm qua thằng nhóc lần theo dấu vết là ai thế? Khinh công rất giỏi”.
    “Đó là của con nuôi của tôi, tên mụ là Ưu Quan Nhi”.

    Tê Hà bảo: “Nó xuất thân từ trong gánh hát, sau này cha mẹ không nuôi nổi nữa mới bán vào trong viện, tôi thấy nó thông tuệ, vẫn luôn dẫn theo bên mình”.
    “Trẻ thật”.
    “Còn không phải sao? Chỉ có mười sáu tuổi thôi ạ.

    Lúc đầu muốn dẫn nó qua đây chào hỏi gia nhưng sáng sớm hôm nay đã sai nó đến phía tây rồi”.

    Tê Hà thấy Tịch Tà gật đầu định đi, vội hỏi: “Gia, tên Úc Tri Thu này thật là to gan, lại thù hằn lục gia, thả đi thì đúng là rầy rà, có cần…”
    “Cứ chờ việc lớn tạm bình ổn, tất sẽ lấy đầu gã”.

    Tịch Tà thở dài bảo: “Người này kích động khó kiềm chế, lòng dạ đã hẹp hòi lại thích làm chuyện ngu xuẩn, tiếc nỗi thân thủ gã tốt như thế, nếu như vẩy ít máu nóng ấy ở trên chiến trường thì hay rồi”.
    Tê Hà cười hỏi: “Lục gia đã nói như vậy còn khó nhọc à?” Tinh mơ tiết trời lạnh, Tê Hà dặn dò người giũ một bộ áo lông mèo rừng cho Tịch Tà mặc.

    Vú già đó cười nói: “Ma ma chớ mắng tôi lười, bộ áo da lông này không giũ cũng được, trong cung đã có người cầm bọc quần áo tới đón lục gia rồi”.
    “Mau mời vào”.
    Quả nhiên là Tiểu Thuận Tử cắp bọc quần áo, mặt mày rạng rỡ đi vào, hết nhìn đông lại nhìn tây.

    Tịch Tà hỏi: “Sao lại tìm tới đây?”.
    Tiểu Thuận Tử lén đưa mắt ra hiệu tránh Tê Hà, nói: “Chị Minh Châu nghĩ thầy mặc quần áo mỏng manh nên bảo con cửa cung mà mở thì cầm áo choàng nhung dê tới”.
    Tịch Tà hiểu ý, vội vàng cáo từ, đi ra rồi lên xe.

    Tiểu Thuận Tử chen vào bên cạnh hắn, nói: “Tình hình nghiêm trọng rồi, trong cung loạn ráo hết cả”.
    Tịch Tà trách cậu phóng đại, hỏi: “Có thể có chuyện nghiêm trọng gì chứ?”.
    “Tối hôm qua vạn tuế gia đến cung Tiêu Cát, đi được một lát thì tấu sớ của Tây vương liền đến, người trực trong cung Càn Thanh là nhị gia, không dám quấy rầy thánh giá.

    Nào ngờ vào nửa đêm sư thúc Khang Kiện đã lén đến viện Cư Dưỡng, nói là Tây vương có một phong mật thư khác chuyển đến cung Từ Ninh, sau khi xem thái hậu rất không vui.

    Quả nhiên sáng ra đã sai người mời hoàng thượng, lại đúng lúc cung Tiêu Cát gấp gáp cho đòi thái y, lúc này chẳng biết có phải thánh thể không khỏe hay không.

    Trong cung loạn như cháo, nhị gia sai Tiểu Hợp Tử tới truyền tin, bảo thầy mau về”.
    Tịch Tà hơi giật mình, nói: “Ta biết rồi”.

    Tiểu Thuận Tử đã thò đầu ra, thúc giục phu xe đi vội.
    Lúc họ chạy về cung Càn Thanh, chỉ có thái giám ngự tiền Lý Cập đứng ở ngoài cửa, bị Tịch Tà tóm cánh tay lại hỏi: “Long thể vạn tuế gia có an khang không?”.
    “Vẫn khỏe, thánh giá đang ở cung Từ Ninh”.

    Lý Cập là một người lanh mồm lanh miệng, không nhịn được thấp giọng nói: “Chắc anh sáu vẫn chưa biết, người gọi thái y là Hoà thục nghi, nghe nói là sáng dậy ngất đi trước mắt vạn tuế gia, làm vạn tuế gia rất sợ hãi”.
    Tịch Tà thở phào nhẹ nhõm, không kịp nghĩ kĩ đã nói: “Vạn tuế gia không việc gì là tốt.

    Giờ tôi đến cung Từ Ninh chờ chỉ”.
    Lý Cập líu lưỡi nói: “Thế phải cẩn thận đấy.

    Hôm nay hai vị chủ nhân đều không thoải mái đâu”.
    Tất nhiên Tịch Tà không muốn đến cung Từ Ninh, chỉ vì lo lắng bức mật thư đó của Tây vương Bạch Đông Lâu nên không thể không lặng lẽ đi tới cửa Từ Ninh, trong viện đã đầy người đứng, đông nghịt nhưng hoàn toàn yên tĩnh.

    Như Ý khẽ vẫy tay với hắn, mới thấp giọng nói một câu “Hình như bên trong cãi nhau rồi” đã nghe trong cung “đùng” một tiếng, hoàng đế tái xanh mặt, tự mình đẩy cửa đi ra, lúc xuống bậc thềm thì lảo đảo, để Cát Tường nhanh tay đỡ lấy.
    “Đi!” Hoàng đế cắn răng nói.
    Cát Tường thấy tình thế không ổn, nào dám tỏ ra kiêu ngạo như ngày thường, chỉ quát khẽ: “Vạn tuế gia khởi giá!”.
    Tịch Tà kinh ngạc nhìn Như Ý, thấy y chỉ cười khổ, cũng không dám nhiều lời.

    Ai nấy ở đây đều câm như hến, mở to mắt nhìn hoàng đế vén quần áo bước lên liễn.
    “Hoàng thượng đợi đã, xin hoàng thượng dừng chân”.

    Hồng Tư Ngôn chạy ra từ trong chính điện, vội giữ cán kiệu của loan giá lại, thấp giọng cầu xin: “Hoàng thượng hãy vào trong nhận lỗi đi, hoàng thượng cứ vậy mà đi thì sau này còn có thể vào cung Từ Ninh này ư?”.
    “Cô muốn trẫm nhận lỗi gì?” Hoàng đế lạnh lùng trông bà ta.
    Hồng Tư Ngôn gấp đến độ quỳ xuống đất, đau khổ nói: “Hoàng thượng hiểu lầm rồi, nô tỳ đã hầu hạ bên thái hậu ba mươi năm, làm sao không rõ suy nghĩ của thái hậu? Trong thiên hạ này có người mẹ nào không che chở cho con trai mình? Có người mẹ nào lại đi giúp đỡ kẻ khác đối phó với con trai mình chứ?”.
    Hoàng đế ngẩn ra, nhuệ khí giảm xuống, nói: “Cô Hồng nói quá lời rồi”.
    Hồng Tư Ngôn đang định nói đến chỗ quan trọng, lại thấy mọi người trợn ngẩn tò te mà nhìn, bèn quát lên: “Các người còn không lui xuống”.
    Hoàng đế đã nói khởi giá, còn có ai dám dừng bước, nghe Hồng Tư Ngôn nói như thế thì đều đưa mắt nhìn nhau.

    Hoàng đế là người vô cùng sĩ diện, không chịu mở miệng nói ở lại.

    Cát Tường ở bên cười làm lành: “Vâng, cô Hồng có lời muốn nói riêng, nô tỳ xin vạn tuế gia dừng chân”.

    Nói rồi ngầm xua tay với mọi người, đám người theo hầu lập tức lui ra ngoài cửa như gió cuốn mây tan.
    Hoàng đế cực chẳng đã, than thở: “Cô Hồng đứng lên mà nói”.
    Hồng Tư Ngôn đứng lên trách mắng bên tai hoàng đế: “Hoàng thượng quá l* m*ng.

    Sao mới nói đã nổi giận thế?”.
    “Bạch Đông Lâu gửi một bức thư qua đây tố cáo, mẫu hậu đã vội vã truyền chiếu nhiều lần, vừa trông thấy là trách cứ một trận.

    Trẫm chỉ thấy mẫu hậu dốc hết sức bảo vệ ông ta nhưng hoàn toàn không thông cảm cho trẫm đang lúc loạn trong giặc ngoài, lo lắng hết lòng…”
    “Hoàng thượng im ngay!” Hồng Tư Ngôn cả giận nói.
    “Cô nói gì đấy?” Hoàng đế giận dữ, đứng phắt lên.
    Hồng Tư Ngôn nói: “Hoàng thượng đã lớn như vậy rồi, chớ nói lời trẻ con nữa.

    Quả thật hoàng thượng ở bên ngoài lo lắng hết lòng nhưng thái hậu ở cung Từ Ninh này có ngày nào mà chẳng ăn ngủ không yên? Hoàng thượng chỉ nói thái hậu bảo vệ người nhà mẹ đẻ mà không biết năm đó bốn thân vương vào kinh cần vương, lập bao nhiêu công đức đối với triều đình? Tạm chưa nói đến những người khác, nô tỳ biết năm đó Hồng thân vương thật sự không có ý xấu nào, nếu không giang sơn này đã là của họ Hồng từ mười năm trước rồi, nào có vạn tuế gia của hôm nay?”.
    Hoàng đế vốn đang muốn quát bảo bà ta ngừng lại, nghe thấy câu cuối cùng thì chợt nghẹn họng.

    Hồng Tư Ngôn mềm mỏng nói: “Hoàng thượng hãy suy nghĩ lại xem, nào có ai không làm thái hậu đoan trang, êm đẹp lại đi chắp tay tặng giang sơn của con trai cho người nhà mẹ đẻ? Nếu thái hậu muốn thiên vị bốn thân vương thì cớ gì khi chọn hậu thay hoàng thượng lại không chọn trong nhiều quận chúa hợp tuổi ở nhà mẹ đẻ như thế mà đi chọn con gái của vương gia trọng thần? Mặc dù ý muốn trừ bỏ phiên vương của hoàng thượng kiên quyết nhưng sao so được với dự kiến nhiều năm trước của thái hậu? Nếu không thì những hoàng tử khác đều được thả đến đất phiên làm vương mà độc một Thành Thân vương ở lại trong kinh không được phong ư? Chẳng phải vì sợ sau này hoàng thượng vào cảnh anh em đấu đá ư?”.
    “Anh em đấu đã?” Hoàng đế rùng mình: “Không đâu”.
    “Hoàng thượng nặng tình anh em mà chưa từng nghĩ thái hậu cũng có anh em?” Hồng Tư Ngôn than thở: “Năm đó Hồng vương vì thái hậu…” Bà ta lại cười khổ: “Không nhắc cũng được.

    Nô tỳ lén nói với hoàng thượng, người khác vẫn không biết: Hai năm trước phượng thể của thái hậu không khỏe, Trần Tương của viện thái y tới thăm, sợ rằng tuổi thọ chỉ còn bốn năm năm nữa thôi…”.
    “Cái gì?” Hoàng đế kinh hãi, run môi, nắm lấy vai Hồng Tư Ngôn: “Cô Hồng nói cái gì?”.
    “Hoàng thượng!” Hồng Tư Ngôn ngăn hắn ta lại, nhìn thoáng vào trong cung nói: “Thái hậu vẫn không cho hoàng thượng biết vì sợ người đau lòng, chủ nhân chỉ mong mấy năm này thái bình, con trai là ruột thịt của mình, anh cả lại có bao nhiêu năm ân nghĩa, đều không cắt bỏ ràng buộc được.

    Hai mặt tính toán cả ngày, chủ nhân còn có thể yên lòng mà đi ư?”.
    Hoàng đế ôm mặt ngồi ở trên bộ liễn, trầm mặc một lát mới nói: “Cô Hồng, không phải trẫm không muốn thái bình mà là họ ép trẫm quá”.
    “Nô tỳ biết”.

    Hồng Tư Ngôn vẫn vỗ về bả vai hoàng đế như nhiều năm trước, nói: “Hai nhà Đỗ Hoàn và Bạch Đông Lâu lòng muông dạ thú, làm sao thái hậu không nhìn thấy?” Bà ta thấy hoàng đế bỗng ngẩng đầu lên, vẻ mặt thay đổi, biết hắn ta lại nhớ tới sự việc Đỗ Mẫn, vội vàng nói tiếp: “Sao chủ nhân lại không giận Bạch Đông Lâu lời lẽ ngông cuồng, không kiêng nể gì cả? Nhưng những người này dễ động vào sao? Thái hậu ở vậy từ năm ba mươi hai tuổi, thay vạn tuế gia nắm chặt triều đình đến nay, chẳng phải là dựa vào chữ ‘nhẫn’? Nếu làm bắt lấy thóp rồi ra chỉ dụ trách mắng một trận như vạn tuế gia bây giờ thì hai nhà phiên vương đó đã phản từ lâu rồi.

    Vả lại, sao người làm vua có thể dễ dàng nói lời uy h**p ra khỏi miệng, thái hậu trách hoàng thượng cũng là để khuyên hoàng thượng nhẫn nại hơn, làm việc nhất định phải chắc chắn, nếu không chỉ sảy chân một chút là sẽ dẫn lửa thiêu thân”.
    Hoàng đế cúi đầu không nói.

    Hồng Tư Ngôn chỉ đành đỡ hắn đứng lên, bảo: “Mau vào đi, dập đầu nhận sai với mẫu hậu là được rồi”.
    Hoàng đế rất bướng bỉnh, vẫn nói: “Trẫm không đi”.
    Hồng Tư Ngôn cười nhạt nói: “Trước giờ hoàng thượng không như thế, nhất định là có tên nô tài nào xúi giục, dạy hoàng thượng những hành vi không hiếu thuận này”.
    “Không có!” Hoàng đế hít một hơi lạnh.
    “Một đại chỉ dụ của hoàng thượng đã khiến triều đình và dân gian ồn ào, thân vương ở đất phiên dậm chân muốn treo cổ, nhất định là có nhiều người tài ba bên cạnh, đưa ra ý kiến hay”.
    “Không liên quan tới đám nô tài”.

    Hoàng đế kéo Hồng Tư Ngôn lại nói: “Là trẫm viết bừa đấy.

    Lời cô Hồng nói đều đúng, giờ trẫm sẽ đi dập đầu với mẫu hậu”.
    Dù họ hạ giọng nói chuyện nhưng ba sư huynh đệ Tịch Tà đều tai thính mắt tinh, cách cửa Từ Ninh mà vẫn nghe được đại khái.

    Như Ý nghe đến cuối, khuôn mặt cũng tái đi, không ngừng đưa mắt ra hiệu cho Tịch Tà.

    Tịch Tà biết lúc này phải tránh mũi dùi, lặng lẽ rút khỏi đoàn người và trở lại phòng sách trong cung Càn Thanh, quả nhiên thấy tấu chương của Bạch Đông Lâu đặt ở trên hương án.

    Hắn là người cầm bút trong phòng sách chuyên việc tóm lược công hàm, xem cũng không quá giới hạn nên mau chóng xem một lần.

    Thấy lời văn của Tây vương khóc lóc bức ép vì có chỗ dựa nên không lo ngại gì, hắn không khỏi nhếch khóe miệng nở nụ cười.

    Trả sổ gấp về chỗ cũ mới cảm thấy chung quanh im phăng phắc, hắn đi tới dưới hiên nhìn lá rụng bay lả tả xuống trước chân, bỗng nhiên phát hiện sự điều tàn của sinh mạng lại mau lẹ như thế, một khi linh hồn rắn rết kia sụp đổ thì mình sẽ đi về đâu? Tịch Tà bị mồ hôi lạnh của nỗi sợ hãi và mờ mịt đột nhiên ào tới che mắt, lực bất tòng tâm tựa ở trên cột khẽ th* d*c.
    Lý Cập đi tới gặp hắn, nói: “Anh Sáu, nương nương đến rồi, tiếp giá, tiếp giá”.
    Tịch Tà cười nói: “Lý công công nói đùa, lúc này vị nương nương nào sẽ đến chứ”.
    “Hoà thục nghi”.
    Bấy giờ Tịch Tà mới nhớ tới chuyện cung Tiêu Cát gấp gáp truyền thái y, hỏi: “Không phải bị bệnh à?”.
    “Đúng vậy…” Lý Cập dùng sức gãi tóc mai, cũng không rõ.
    Nhưng Mộ Từ Tư lại đột nhiên đi vào từ trong cửa Nhật Tinh, quần áo hoa lệ bồng bềnh, uyển chuyển khôn tả, xinh đẹp như áng mây đập vào mắt.

    Mọi người trong cung Càn Thanh quỳ xuống dập đầu.
    “Thánh giá ở trong cung à?”

    Tịch Tà rất ít khi nghe thấy nàng nói nhưng vẫn có thể phân biệt ra giọng nói của nàng có vẻ dịu dàng không tầm thường.

    Lý Cập cười nói: “Vạn tuế gia đang ở cung Từ Ninh thăm hỏi, giờ sắp trở về rồi ạ”.
    Mộ Từ Tư lúng túng đến nỗi đỏ cả mặt, không biết nên ở lại hay nên về, nắm khăn tay nói: “Thế…”
    Cung nữ bên cạnh nàng nói: “Nếu nương nương đã tới thì chờ một lát cũng không sao”.
    Lý Cập lo thị vệ cửa Càn Thanh đi lại sẽ đụng phải phượng giá, vội thưa: “Chi bằng nương nương ra điện chếch chờ, nói không chừng sau thời gian uống một chén trà, vạn tuế gia sẽ về”.
    “Không”.

    Mộ Từ Tư mỉm cười e lệ, “Ta về đây”.
    “Nương nương dừng chân, nương nương dừng chân”.

    Lý Cập luống cuống tay chân, đang muốn giữ lại thì cửa Nguyệt Hoa đối diện đã có tiếng bước chân ầm ầm.

    Hoàng đế xuống từ bộ liễn, vẫn chưa chú ý tới Mộ Từ Tư ở đó, mở miệng liền nói: “Tịch Tà tới đây”.
    “Vâng”.

    Tịch Tà vô cùng kinh ngạc theo hoàng đế vào phòng sách.
    Hoàng đế ngồi ở sau hương án, hỏi: “Khanh đã xem tấu của Bạch Đông Lâu chưa?”.
    “Mới vừa xem qua ạ”.
    “Vài ngày trước trẫm có chỉ dụ cho ông ta, nếu ông ta vẫn không nộp lương bổng thì mượn binh mã của Đại Lý vào trong biên giới để dẹp Miêu, ông ta chỉ cần chuyên tâm vào chuyện quân lương là được”.
    “Nô tỳ không thấy đạo chỉ dụ này.

    Thảo nào Tây vương không ngừng kêu khóc trong tấu”.
    “Đáng hận nhất là ông ta dám chuyển mật thư đến trước mặt thái hậu để tố cáo trẫm!” Hoàng đế giận đến run lên: “Hôm nay thái hậu đứng ra nói, trưng thu quân lương từ đất phiên không sai, chỉ là phải cho một định mức, trưng đủ thì thôi.

    Khanh xem có được không?”.
    Tịch Tà suy nghĩ một lát rồi thưa: “Thái hậu nói có lý”.
    “Nói có lý?”
    Tịch Tà cười nói: “Thái hậu giao thiệp với phiên vương bao nhiêu năm, chắc chắn sẽ chu đáo hơn bất cứ ai.

    Cứ tiếp tục trưng thu không có chừng mực như thế, thoạt nhìn thì càng nhiều càng tốt, thật ra lại cho phiên vương cái cớ đùn đẩy.

    Chẳng thà hoàng thượng cho họ một giới hạn, để các phiên vương xem có thỏa đáng hay không, không ổn thì tự mình dâng tấu lên, bớt đi nhiều cuộc tranh cãi”.
    “Thì ra là thế”.

    Chân mày hoàng đế hơi giãn ra, nói với bên ngoài: “Gọi người của bộ hộ, bộ binh đến đây”.
    Cát Tường tiến lên trước bẩm: “Vạn tuế gia, Hoà thục nghi đang ở ngoài điện”.
    “Không phải nàng ấy bị bệnh à? Sao lại tới chỗ này? Mau gọi vào”.

    Hoàng đế cau mày đứng dậy, vội vã đi tới cửa đón và kéo tay Mộ Từ Tư, hỏi: “Chuyện gấp gì thế?”.
    “Không phải chuyện gấp…” Mộ Từ Tư đỏ mặt nói: “Thần thiếp vốn không nên tới chỗ này, chỉ là…”.
    Hoàng đế hơi nôn nóng: “Nói mau nói mau, người nàng có sao không?”.
    Mộ Từ Tư kiễng chân lên, nhỏ giọng nói một lát vào tai hoàng đế.

    Cả người hoàng đế rung động mạnh một cái, nắm hai vai Mộ Từ Tư, trợn to hai mắt hỏi: “Thật không?”.
    “Thật ạ”.

    Mộ Từ Tư dịu dàng cười.
    Tịch Tà nhìn hai người họ vui vẻ không kiềm được nhìn nhau cười thì dần cảm thấy vô cùng khó chịu, lẳng lặng lui vào trong xó cụp mắt xuống.
    “Hoà thục nghi có chuyện vui?” Minh Châu buông kim chỉ ra, cảm khái: “Chính nàng ta còn là trẻ con đấy”.
    “Không coi là nhỏ nữa…” Tịch Tà ngẩng đầu suy nghĩ một lát: “Mười sáu? Mười bảy? Còn cô…”.
    Minh Châu vội vàng chặn lời Tịch Tà: “Đừng, đừng nhắc đến chuyện này”.
    “Được, không nhắc đến”.

    Tịch Tà cười, lại cúi đầu viết nhanh.
    Minh Châu nói: “Một mình nàng ta ở trong cung, không biết có ai chăm sóc không.

    Nói ra thì người trong cung nghe thấy tin tức này mất hứng nhất chính là…”.
    “Hoàng hậu”.

    Tịch Tà nói mà không ngẩng đầu lên.
    Minh Châu nhìn vẻ mặt Tịch Tà, khẽ thở dài bảo: “Tôi lại không thấy thế”.
    “Ồ?” Tịch Tà giương mắt lên cười hỏi: “Vậy cô nói xem là ai?”.
    Mắt Minh Châu lấp lánh ở trên mặt Tịch Tà một lát, thản nhiên nói: “Tôi”.
    Tịch Tà phì cười ra tiếng: “Tôi quên mất, cô vẫn còn ở cục Thượng Công, đợi qua hai ba tháng các cô lại phải làm.

    Có điều nếu là hoàng tử thì lấy đồ mà lần trước Nghị phi không dùng đến là được, cho nên có lẽ cô đang ngóng trông sinh hoàng tử nhỉ”.
    “Thầy ơi!” Tiểu Thuận Tử lắp bắp đi dọc theo tường tới nói: “Con bàn bạc với thầy một việc”.
    Tịch Tà nhìn sắc mặt cậu đã biết cậu lại thua hết tiền, cười bảo: “Gần đây tình hình kinh tế của thầy eo hẹp, ngoại trừ chuyện tiền nong ra thì những thứ khác đều dễ xử lý.

    Chuyện gì thế?”.
    “Đừng để ý ngài ấy”.

    Minh Châu liếc xéo Tịch Tà, vẫy tay với Tiểu Thuận Tử: “Qua đây, muốn bao nhiêu cứ nói với tôi.

    Thầy của cậu khó chịu trong lòng cả ngày rồi, cậu còn chọc giận ngài ấy”.
    Tiểu Thuận Tử mặt mày rạng rỡ, chen vào bên Minh Châu hỏi: “Thầy khó chịu trong lòng ạ? Vì sao thế?”.
    Tịch Tà run rẩy trong lòng: “Không có chuyện đó”.

    Đoạn đi sang bên uống chén trà: “Con ở lăn lộn với mấy tay bài bạc ở hành lang phía tây cả một ngày, có nghe được tin tức gì không?”.
    “Không thể gọi là tin tức”.

    Tiểu Thuận Tử đáp: “Nhưng nghe nói trong hậu cung có người đi lại gần gũi với thị vệ cửa Tử Nam, lá thư này của Tây vương là do thị vệ lén truyền vào, không phải con đường đứng đắn”.
    “Thị vệ nào? Có hỏi rõ là ai không?”
    Tiểu Thuận Tử nói: “Không ạ”.
    “Cũng được, dựa vào con thì cũng chỉ được chút ấy thôi”.

    Tịch Tà cười bảo: “Con thua hắn tiền, đương nhiên hắn sẽ không biết ơn”.
    Minh Châu cũng nói: “Hắn không nợ cậu gì, sao có thể moi ruột gan ra mà nói với cậu?”.
    Tiểu Thuận Tử suy nghĩ một lát rồi nói: “Ý của chị là…”.
    “Việc này cũng cần thầy dạy à? Tự mình nghĩ đi”.

    Minh Châu cười nói: “Trong ngăn kéo có năm trăm lượng ngân phiếu, cậu đổi lấy bạc, nhớ tiêu ở chỗ cần thiết thôi đấy”.
    “Vâng”.

    Tiểu Thuận Tử cầm ngân phiếu, vội vã đi ra ngoài gỡ vốn.
    Tịch Tà bảo: “Ban đầu đã biết rõ trong số thị vệ ai là người thái hậu, ai là của phiên vương.

    Lá thư này không bị chúng ta chặn được, chắc chắn là đã xảy ra sai lầm ở đâu đó.

    Chẳng lẽ còn có người chúng ta không nhìn rõ sao?”.
    “Cửa Tử Nam có bao nhiêu người của lục gia ở đó, chi bằng hỏi họ xem”.
    “Đúng vậy, chẳng bao lâu sẽ phải động can qua, tôi không muốn dây dưa, nếu đã hành động thì phải nhổ tận gốc”.
    Tiếng Tịch Tà an tĩnh mà trong veo, làm Minh Châu khẽ mỉm cười.

    Nàng luôn cảm thấy có một mạch nước ngầm đang từ viện Cư Dưỡng tràn ngập toàn bộ cung đình, đôi khi đi ở trong con hẻm hẹp dài cũng có thể cảm nhận rõ ràng mạch nước ngầm này đang triền miên dính quanh người mình, chậm rãi chảy bất cứ lúc nào.
    Hai tháng sau, trước mắt tạm thời chưa có uy h**p từ Hung Nô, phiên vương dâng nộp lương bổng theo định mức, ngày lành để công chúa Cảnh Ưu hòa thân với Đại Lý sắp tới, Hoà thục nghi có việc vui, mọi chuyện êm thấm tốt lành, mọi thứ trong cung tựa như đều dừng lại, ngay cả trận tuyết đầu tiên cũng kéo dài, thong thả.
    “Bệnh ho của khanh đã khỏi rồi à?” Hoàng đế nhìn hoa tuyết lưa thưa, tiếng nói xa xôi.
    Tịch Tà ở bên khom người, đáp: “Vâng.

    Vạn tuế gia rủ lòng hỏi thăm làm nô tỳ rất sợ hãi”.
    Hoàng đế mỉm cười, dường như ý nghĩ đã bay đến chỗ khác.

    Tịch Tà yên lặng cất sổ gấp và công hàm tóm lược trên bàn, cuối cùng nói: “Hoàng thượng, ngân lượng tiếp tế đều đã chuẩn bị đầy đủ ở cửa khẩu Tiểu Hợp, bộ binh lại đang hỏi điều động thế nào, có phải giữ lại trước rồi đợi sau tháng Giêng mới phát không”.
    “Được, trẫm biết rồi”.

    Hoàng đế ở trước cửa sổ, xoay người nói với Cát Tường: “Trẫm đến cung Tiêu Cát”.
    Cát Tường cười nói: “Bẩm vạn tuế gia, giờ Hoà thục nghi đang ở ngự hoa viên ạ”.
    “Có tuyết rơi mà đi khắp nơi làm gì?” Hoàng đế hơi không vui.
    “Năm nay cũng lạ, chưa đến năm mới mà trong ngự hoa viên đã có hai cây hoa mai nở rực rỡ, hoàng hậu nương nương nói đây là điềm lành, bảo nương nương các cung đều đến ngắm”.
    Hoàng đế cau mày hỏi: “Hoà thục nghi cũng đi? Chẳng suy nghĩ xem cơ thể mình thế nào?”.
    “Chắc là thục nghi muốn hưởng hỉ khí của hoa thần, mà đi lại cũng tốt”.
    “Khanh bảo kẻ nào qua xem xem, có tình hình gì thì báo cho trẫm biết”.
    Cát Tường lĩnh mệnh đi ra ngoài dặn dò Tiểu Hợp Tử, hoàng đế chỉ đành bỏ vẻ dịu dàng tình cảm vừa rồi đi, tiếp tục bàn việc với Tịch Tà.

    Việc tiếp theo là tấu xin trở về thăm Hồng châu vào tháng Giêng của Hồng Định Quốc, hoàng đế nghe xong cười nói: “Để hắn về đi.

    Không thể ngăn cha con họ gặp nhau được.

    Dù sao hắn được Hồng vương dạy cho cách xử lý mọt việc nên còn vui vẻ trở về đấy”.
    Tịch Tà nói “Vâng”, bày sổ gấp ra trước mặt hoàng đế, dâng bút son lên.

    Hoàng đế viết một chữ “chuẩn”, ngẩng đầu nhìn lên thì Tịch Tà đã đứng nhắm mắt, hỏi: “Khanh sao thế?”.
    “Vạn tuế gia thứ tội, nô tỳ thiếu ngủ ạ”.

    Tịch Tà bị hoàng đế nhìn ra vẻ mệt nhọc, giật mình tỉnh táo lại, vội vàng quỳ gối dập đầu bên chân hoàng đế.
    “Thiếu ngủ?” Hoàng đế ngạc nhiên hỏi.
    Tịch Tà nói quanh co: “Trước năm mới có nhiều tấu thỉnh an, mật báo các nơi nhiều vào dịp cuối năm, lại thêm việc ở cửa khẩu Tiểp Hợp, ban ngày luôn ở bộ binh, bộ hộ, tối thì…”.

    Hoàng đế giật mình, nói: “Ở đây không cần khanh nữa.

    Về phòng trực đi, khi nào ngủ đủ rồi lại đến ngự tiền hầu hạ.

    Cát Tường, khanh tới làm việc còn lại đi”.
    Tịch Tà không tình nguyện lắm, chậm chạp lui đến trước cửa.
    “Tịch Tà, khanh chờ một lát”.

    Hoàng đế chắp tay sau lưng thong thả bước đến trước mặt hắn, mỉm cười nhẹ giọng nói: “Bây giờ khanh là phụ tá đắc lực của trẫm, vì mấy việc vặt vãnh này mà làm khanh mệt nhọc thì thật chẳng đáng.

    Sau này lúc nên nghỉ thì cứ nghỉ, chỉ cần khanh xin nghỉ, trẫm đều sẽ cho phép”.
    “Vâng.

    Được long ân của vạn tuế gia, nô tỳ cảm động đến rơi nước mắt”.

    Tịch Tà gật đầu, những lời này làm hắn thực sự mệt mỏi rã rời, cho nên không thấy chói tai vì tiếng bước chân dồn dập trên hành lang.
    “Vạn tuế gia”.

    Tiểu Hợp Tử vội vã đến gần, phủ phục ở trước vua, “Hoà thục nghi…”
    “Làm sao? Đã xảy ra chuyện rồi à?”
    “Hoà thục nghi xuống từ đình Mai, bậc thang trơn nên trượt chân…” Tiểu Hợp Tử không ngờ một câu nói đã làm hoàng đế sốt ruột đến đỏ cả mắt, bị hoàng đế nhấc chân đá một cái bổ nhào, vội vàng lăn người giữ chặt chân cản hoàng đế lại, nói: “Vạn tuế gia, nô tỳ vẫn chưa bẩm hết.

    Hoà thục nghi vốn đứng ở chỗ không cao, còn được Chiêu Phúc trong cung hoàng hậu nương nương đỡ nên không ngã.

    Hoàng hậu nương nương sợ có sơ xuất nên giờ đang bảo thái y xem ạ”.
    “À”.

    Hoàng đế thở phào nhẹ nhõm: “Giờ đang ở đâu?”.
    “Thục nghi nương nương đã trở về cung Tiêu Cát rồi ạ.

    Hai vị thái y đều ở đó cả”.
    “Khanh mau đến cung Tiêu Cát, đợi thái y xem xong thì gọi vào cung Càn Thanh thưa lại”.
    “Vâng”.

    Tiểu Hợp Tử đi truyền chỉ nhanh như chớp.

    Chờ giây lát, hai vị thái y Bao, Hà đã tới trả lời, mạch tượng của Mộ Từ Tư bình ổn, thông suốt, khí sắc cũng tốt, không có nỗi lo ngã làm tổn thương thai nhi, hoàng đế mới yên lòng.

    Lúc này mới là giờ thân buổi chiều, sau bữa tối hoàng đế lại đến cung Tiêu Cát một chuyến.

    Vẻ mặt Mộ Từ Tư vẫn như thường, tuy bị hoàng đế quở trách vài câu vẫn cười xinh đẹp động lòng người.

    Cung nữ dâng hoa quả, hoàng đế chia nửa trái táo cho nàng, nói cười một hồi mới trở về.
    Đến sáng sớm hôm sau, lúc trời còn đen kịt, hoàng đế vẫn đang ngủ say, nghe thấy Cát Tường ở bên ngoài mành gọi vài tiếng: “Vạn tuế gia, vạn tuế gia, xin cho bẩm việc gấp ạ”.
    Đột nhiên hoàng đế thầm giật nảy mình, ngồi dậy bảo: “Vào đây nói”.
    Cát Tường vén mành lên bước nhanh vào, dù sao ngoài phòng cũng lạnh hơn bên trong, gió phun vào khiến người ta rùng mình.

    “Người của cung Tiêu Cát đến nói nửa canh giờ trước Hoà thục nghi không ngừng băng huyết, bụng dưới đau đớn…”.
    Trong đầu hoàng đế vang ầm ầm, hồi lâu mới hỏi: “Thái y đâu?”.
    “Trần Tương đã được gọi vào từ lâu.

    Đang xem ạ”.
    “Thai nhi thì sao?”
    “Vẫn chưa biết ạ”.

    Lúc này Cát Tường hết sức cẩn thận, chỉ sợ nói sai một chữ: “Người của cung Tiêu Cát nói, Hoà thục nghi đã ngất mấy lần, xin hỏi vạn tuế gia có muốn di giá đến không”.
    “Đã tới mức này rồi ư?” Hoàng đế sợ tái mặt, nói: “Thay quần áo, lập tức đến cung Tiêu Cát”.
    Cát Tường vội vàng đi ra ngoài gọi bộ liễn, cũng may hôm qua tuyết không lớn, trên mặt đất chỉ hơi ẩm ướt, vẫn chưa kết băng, bọn thái giám khiêng bộ liễn chạy mà hoàng đế vẫn cứ thúc giục.

    Đến trước cửa cung Tiêu Cát, cung nữ thái giám ra đón, hầu giá ở chính điện, hoàng đế gấp đến độ giậm chân: “Thế nào? Thế nào?”.
    Mọi người không kịp trả lời đã nghe Mộ Từ Tư hét thảm một tiếng trong buồng lò sưởi sau mành.

    Lòng bàn tay hoàng đế toàn là mồ hôi lạnh, lúc muốn dợm bước đi vào thì bị hai ma ma ngăn lại.

    Cát Tường cũng vội vàng khuyên: “Vạn tuế gia không vào được đâu, hãy chờ thêm một lát nữa ạ”.
    “Trần Tương đâu? Ông ta chết rồi à?” Hoàng đế không nhịn được mà gào thét.
    Đương lúc rối ren, thái giám bên ngoài cao giọng hoan hô: “Tới rồi, tới rồi”.
    Cửa chánh điện vừa mở ra, Tịch Tà đi vào trước tiên, thấy hoàng đế ở đó thì có vẻ khá bất ngờ, dập đầu nói: “Hoàng thượng vạn phúc kim an”.
    Hoàng đế ngạc nhiên hỏi: “Khanh tới làm cái gì?”.
    “Trần thái y bảo nô tỳ tới, nô tỳ cũng không biết chuyện gì”.
    Cung nữ trong buồng lò sưởi thò đầu ra mời Tịch Tà, hoàng đế phất tay cho hắn vào.

    Cách gần nửa canh giờ, thái y chạy tới sau đứng đầy một phòng, thấy hoàng đế tức giận đều câm như hến.

    Hai người Bao, Hà thì càng run cầm ập, nằm rạp trên mặt đất, giống như hồn bay phách lạc.

    Chẳng bao lâu Trần Tương và Tịch Tà đã đi ra từ trong, hoàng đế vội hỏi: “Thế nào? Có giữ được thai nhi không?”.
    Trần Tương dập đầu nói: “Thần không có năng lực, không thể giữ được hoàng tử, tội đáng muôn chết”.
    “Ôi!” Hoàng đế che mặt thở dài một tiếng, trầm ngâm một lát, chỉ nắm chặt vạt áo, gân xanh trên mu bàn tay nổi hết lên, cuối cùng chậm rãi hỏi: “Duyên cớ gì?”
    Trần Tương tỏ vẻ khó xử, trả lời: “Do ngã làm tổn thương thai nhi”.
    Hoàng đế bỗng chỉ vào hai thái y Bao, Hà: “Không phải chiều hôm qua các người nói còn rất tốt sao? Sao giờ lại nói thế, hả?”.
    Hai người dập đầu như giã tỏi, thưa: “Chiều hôm qua quả thực mạch tượng bình ổn, bọn thần sợ có sơ xuất, còn kê một liều thánh dũ thang[1], trước khi nương nương ăn cơm tối, bọn thần lại xem mạch lần nữa, vẫn không việc gì…”.
    Hoàng đế nghiến răng cười khẩy nói: “Được, được.

    Ba người các ngươi bên nào cũng cho là mình phải, trẫm thấy hoàng tử chính là do đám gian thần các ngươi làm hại, không cần nói nhiều nữa, giờ sẽ lấy tính mạng của các người, thế là không còn tai hoạ về sau.

    Người đâu!”.
    Dù Trần Tương có lời vô cùng khó nói nhưng lúc này liên quan đến tính mệnh, không khỏi bò lên trên một bước tâu: “Hoàng thượng! Xin cho thần mật tấu! Xin cho thần mật tấu!”.
    “Đi ra ngoài hết đi!” Trần Tương kéo quần áp Tịch Tà, nói: “Hoàng thượng, Tịch Tà vẫn phải ở lại…”
    Vẻ mặt Tịch Tà thay đổi, bất mãn đứng hầu một bên.

    Trần Tương thấy mọi người đã lui, mới nói: “Đêm qua thần đang trực, tới giữa giờ Dần, người của cung Tiêu Cát đến nói nương nương đau bụng khó nhịn, hô hoán không dứt, thần chạy vội đến đây, ma ma lại nói nương nương đã có vẻ băng huyết.

    Thần ở ngoài mành chẩn mạch, mạch Huyền trơn ráp, mạch Xích chuyển gấp…”.
    “Đó cũng cần phải nói à?” Hoàng đế không nhịn được bảo: “Chỉ cần nói điều quan trọng nhất thôi”.
    “Vâng”.

    Trần Tương tâu: “Ở huyệt Hợp Cố hổ khẩu của nương nương, thần phát hiện dưới da ẩn màu xanh tím, lại mời ma ma kiểm tra vết thương cho nương nương, quả nhiên chỗ giao của hai huyệt Kiên Tỉnh, Tam Âm đều có chấm tím, chạm vào lạnh như băng.

    Châm vào ba huyệt vị này có tác dụng trợ sản, nương nương mới có thai bốn tháng, giờ dùng nội lực thúc ép ba huyệt, rõ ràng là muốn nương nương…”.
    “Chờ đã!” Hoàng đế quát ông ta: “Khanh nói có người cố ý thúc ép ba chỗ huyệt vị này chính là muốn Hoà thục nghi sinh non?”.
    Trần Tương dập đầu liên tục, không dám trả lời.
    “Vậy là kẻ nào?”
    Trần Tương do dự một lát, mới nói: “Thần là bạn cũ của thái giám Thất Bảo, theo thần thấy, võ công của người kia là một lộ với thái giám Thất Bảo”.
    Hoàng đế kinh hãi, quay lại nhìn về phía Tịch Tà.

    Tịch Tà vội vàng quỳ xuống tâu: “Thứ người xuống tay sử dụng chính là võ công mà thầy nô tỳ tu tập lúc tuổi già.

    Trong hàng học trò chỉ có một mình nô tỳ kế thừa, nhưng gần đây nô tỳ không rời hoàng thượng một tấc, hoàng thượng minh giám khai ân”.
    Hoàng đế ngây ra, Trần Tương nói tiếp: “Theo thần thấy, tuy là nội lực lúc đó chưa phát tác, che giấu tai mắt người ta nhưng khí hàn âm tụ ở dưới da không tiêu tan, có thể thấy công lực người nọ chỉ được một, hai phần, lại dùng không thỏa đáng, chắc là học trộm không đúng cách.

    Có điều người này hận nương nương thấu xương, dùng hết sức lực, nếu không có Tịch Tà ra lức ép khí chí hàn ra khỏi cơ thể nương nương thì e là nương nương cũng không chịu đựng nổi”.
    “Đủ rồi!” Hoàng đế trỏ vào hai người họ, run giọng cả giận nói: “Chớ vòng vo với trẫm, rốt cuộc là kẻ nào?”.
    Trần Tương lập tức bảo: “Thần không biết”.

    Tịch Tà cũng ngậm chặt miệng, không lên tiếng.
    Hoàng đế nhìn chằm chằm Tịch Tà suy nghĩ một lát, chợt bừng tỉnh, gật đầu dữ tợn nói: “Chiêu Phúc! Đúng không? Chiêu Phúc trong cung hoàng hậu!”.
    Tịch Tà dập đầu, không dám hé răng.

    Hoàng đế bỗng đứng dậy, nói: “Người đâu!”.
    Cát Tường, Như Ý vội vàng phụng lệnh đi vào, hoàng đế vẫn gọi: “Lý Cập”.

    Lý Cập thấy Cát Tường, Như Ý quỳ ở một bên, không dám lên trước, chỉ quỳ gối phía sau hai người.

    Hoàng đế nói: “Khanh lập tức dẫn người đến cung Khôn Ninh bắt Chiêu Phúc”.
    “Vâng”.

    Lý Cập tuân lệnh đi, để lại Cát Tường và Như Ý thấp thỏm lo âu.

    Cát Tường lấy can đảm hỏi: “Vạn tuế gia…”
    “Hừ hừ”.

    Hoàng đế cười nhạt nói: “Học trò của thái giám Thất Bảo, ai nấy đều có năng lực hơn người, bây giờ còn mưu tính với cả chủ, cắt đứt con nối dõi của trẫm, hủy giang sơn của trẫm, gọi là yêm hoạn loạn quốc cũng chính vì thế!” Hoàng đế không khỏi vỗ bàn gầm lên: “Trẫm không muốn thấy các ngươi nữa.

    Cút ra ngoài! Từ nay về sau, sư huynh đệ các ngươi không được phép bước vào cung Càn Thanh nữa”.

    Thấy Cát Tường, Như Ý và Tịch Tà đều dập đầu im lặng lui ra, hoàng đế cảm thấy lửa giận ngút trời rồi lại chán nản vô cùng, chỉ muốn bóp nát tất cả sự vật quanh người.
    Ma ma của cung Tiêu Cát nơm nớp lo sợ đi ra từ trong buồng lò sưởi, nói: “Hoàng thượng, hiện nương nương đã tỉnh rồi”.
    “Trẫm vào xem thế nào”.

    Hoàng đế nén giận, bước vào, thấy mành đỏ trên giường đã được vén lên, Mộ Từ Tư nằm ngửa đang thất thần, nụ cười hây hây luôn đọng trên hai gò má đã biến thành nhợt nhạt nên hai mắt càng thêm vẻ sâu thẳm tối tăm.
    “Hoàng thượng”.
    Hoàng đế cầm tay nàng cười hỏi: “Đã khá hơn chưa?”.
    Mộ Từ Tư khẽ gật đầu, đáp: “Thần thiếp không cẩn thận làm hoàng thượng thất vọng lo lắng…”.
    Như thể bị kim đâm vào trái tim, hoàng đế đau đến mức giật mình: “Không trách nàng”.

    Hắn ta nắm thật chặt tay Mộ Từ Tư, bảo: “Hơn nữa, nàng còn rất trẻ, sớm muộn cũng sẽ có con nối dõi của trẫm, giờ điều dưỡng thân thể quan trọng hơn”.
    “Vâng, thần thiếp đã hiểu”.

    Mộ Từ Tư miễn cưỡng lộ ra nụ cười mỉm, vẫn diễm lệ như trước, khóe mắt trào ra giọt nước mắt trong suốt không để lại dấu vết, chảy vào mái tóc như mây.
    Bên ngoài cửa Long Tông đối diện với vườn hoa Thọ Ninh, có một dãy nhà lớn quyển bằng đỉnh[2], chính là chỗ quản lý giám Ty lễ.

    Lại đi về hướng tây, qua cửa Từ Ninh, ở đối diện cung Nhân Thọ còn có một căn viện xoay lưng về nam mặt hướng bắc, trước cửa có hai cây hương xuân lớn, trong cung đều gọi nơi này là “phòng Lý Mã”, là nơi các giám quan, điển bộ phụng chỉ dùng hình tra khảo tội phạm trong cung.

    Trong viện đá xanh làm nền, nhà ngói chia ngang hai gian, chia dọc có ba gian, phía trước là tường quét trắng như tuyết, phía sau được chia thành bốn phòng giam có song sắt.

    Từ khi cung Thanh Hòa hoàn thành tới nay, liên tục có kẻ chết ở đây, người trong cung đều thấy nơi này âm hồn chẳng tan, lệ khí quấn xà nhà, do đó thờ cúng chính pho tượng phật bằng ngọc ở nhà chính, thái giám chưởng quản không ngừng thêm hương, ngày ngày tụng kinh, mong vong linh sớm ngày siêu độ, không đến giám Ti lễ đòi mạng quấy phá nữa.
    Chiều ngày hôm đó, tuyết bắt đầu lớn, trên các đường đều trắng muốt, im ắng không người đi lại.

    Tiểu thái giám trông coi phạm nhân trong cung ở chỗ này đốt lửa một lúc đã không chịu ngồi yên, đi tới hành lang, tay giấu vào trong áo mà ngắm tuyết, trong chốc lát không còn cảm thấy quạnh quẽ, định hé miệng cười, chợt thấy hông tê rần nhưng không hô ra được, đầu ngã xuống tuyết.
    Thái giám chưởng quản trong phòng nghe thấy bên ngoài “Phịch” một tiếng, còn có người kêu đau: “Ôi!” thì ngẩng đầu lên cười bảo: “Cái thằng khỉ gió không chịu ngồi yên, chắc là trượt ngã rồi”.

    Ông ta quay đầu thấy Chiêu Phúc bọc áo lông mèo rừng, vây quanh lò sưởi ngỏ đờ ra chán ngắt ở trong phòng giam thì yên tâm lớn mật gọi tiểu thái giám bên cạnh cùng ra ngoài xem.

    Hai người bước ra khỏi cửa, thấy người trên đất đã tắt thở, tức thì luống cuống tay chân, chạy xuống bậc thêm định đỡ lên nhưng trước mắt đã tối sầm, ngã xuống đất bất tỉnh.
    Trên nóc nhà có người cười khẽ, bàn tay thon dài đập lên mái nhà, thiếu niên áo xanh bay xuống, tháo chìa khóa phòng giam từ hông thái giám chưởng quản xuống rồi phủi hạt tuyết trên người, lẳng lặng chờ giây lát mới xách hộp đựng thức ăn lặng lẽ đi vào.
    Chiêu Phúc nghe tiếng khóa thì sợ hãi cả kinh, toàn thân run rẩy, ngẩng đầu thấy rõ rồi mới cười hỏi: “Sao em lại tới đây?”.
    Thiếu niên áo xanh nói: “Nương nương sai em tới thăm anh”.
    Chiêu Phúc thấy quần áo trên người hắn ta mỏng manh thì vội vàng kéo hai tay hắn ta ấp ở trong lòng, hỏi: “Em đúng là to gan.

    Họ không cản em à?”.
    “Trăm lượng bạc đã đuổi họ ra trước cửa viện canh chừng thay em rồi”.

    Thiếu niên chậm rãi rút tay về, cụp mắt nói: “Anh ăn cơm trước đi, khó khăn lắm mới mang tới được, nguổi rồi thì sẽ tổn thương dạ dày đấy”.

    Hắn ta cúi đầu bày rượu và thức ăn lên trên bàn, ánh lửa trong lò sưởi chiếu lên khuôn mặt thanh nhã lúc xanh lúc đỏ của hắn ta.
    Chiêu Phúc rót chén rượu, trao cho hắn ta và hỏi: “Em tư, không biết nương nương có ý chỉ gì?”.
    Tiến Bảo ngửa đầu uống cạn, cười nói: “Nương nương còn có ý chỉ gì chứ? Chỉ nói anh cứ yên tâm là được”.
    “Anh yên tâm thế nào được?” Đôi môi đỏ của Chiêu Phúc nhếch lên, cười gượng nói: “Chủ ý toàn là do em đưa ra, bây giờ việc thành, chẳng lẽ muốn một mình anh gánh trách nhiệm?”.
    Tiến Bảo phì cười, nói: “Anh yên tâm đi, em biết thủ đoạn của anh, người trong cung toàn lũ đui mù, nào nhìn ra được sơ hở gì? Em vừa mới nghe nói đến bây giờ các thái y vẫn chưa biết ngọn ngành, chỉ là chủ nhân trong cung xảy ra chuyện, dù thế nào cũng phải giả bộ tra hỏi.

    Hai ta đều là người gần gũi hoàng hậu nương nương nhất, ai dám bắt bí anh? Còn nữa, cho dù muốn tra hỏi cũng phải là đại sư ca, nhị sư ca phụng chỉ tới hỏi”.

    Mắt hắn ta liếc về dãy tủ sơn đỏ ở ngoài nhà chính: “Không chừng ngay cả tủ cũng không mở đâu”.
    Chiêu Phúc nhìn theo ánh mắt hắn ta, rùng mình: “Không mở tủ là được…”.
    “Yên tâm, yên tâm”.

    Tiến Bảo ngồi xuống bên cạnh rót đầy rượu cho gã: “Nương nương đợi tới lúc rảnh sẽ đến cung Càn Thanh tranh luận đòi người.

    Anh xem đi, hoàng thượng muốn hỏi nhưng không phải đến bây giờ vẫn không có động tĩnh à?”.
    Chiêu Phúc gật đầu cười rồi ăn cơm uống rượu.

    Tiến Bảo mỉm cười tiếp, nói chuyện phiếm một chốc.
    “Chỗ này lạnh thật”.

    Tiến Bảo đứng lên đi dạo, quay lưng về phía Chiêu Phúc và chậm rãi tháo đai lưng của mình ra.
    Chiêu Phúc gật đầu nói: “Còn không phải à? Ở đây một đêm, há chẳng phải là muốn lấy mạng anh…” Đột nhiên hầu bị siết, hơi thở chợt tắc nghẽn, rượu trong miệng phun ra.

    Hai tay gã nắm lấy đai lưng màu xanh ở cổ, nghi ngờ trợn to hai mắt, ngửa đầu ra, một giọt nước mắt nóng rơi “tách” xuống trán mình.

    Tiến Bảo cắn răng, sát ý phun ra từ hai mắt đẫm lệ, chiếc trán thanh tú nổi đầy gân xanh.

    Chiêu Phúc hoảng sợ vô cùng, khàn giọng nói: “Dừng tay! Anh là…”.
    Tiến Bảo xoay người lên, đè Chiêu Phúc ngã xuống giường, đầu gối húc vào thân thể đang giãy giụa như cá rời khỏi nước của gã, tay càng siết chặt hơn, khàn giọng không ngừng khuyên: “Nhịn một lát… Anh nhịn một lát là xong rồi…”.
    Chiêu Phúc đạp loạn hai chân, dốc hết sức lực hô to nhưng lại nhỏ như tơ nhện: “Vì… cớ gì?”.
    “Chắc chắn anh không sống qua được đêm nay, chỉ sợ anh khai ra hoàng hậu và em, lại muốn mọi người chết cùng…” Tiến Bảo cắn răng nói: “Anh cứ chọn nhà tốt mà đầu thai, kẻ nào hại anh, em sẽ đòi mạng thay anh!”.
    Hầu Chiêu Phúc kêu ken két, móng tay toàn cào được da và máu của Tiến Bảo.

    Tiến Bảo nhắm mắt, không nhìn gương mặt xanh tím của Chiêu Phúc nữa.

    Chiêu Phúc không nói được gì nữa, dần dần không còn sức mà giãy dụa.

    Một lúc lâu sau, trong tai Tiến Bảo chỉ có tiếng khóc nức nở của mình, không còn nghe được động tĩnh của Chiêu Phúc nữa.

    Hắn ta mở mắt, thấy hai mắt Chiêu Phúc phẫn nộ mở to, vằn vện tia máu, không biết là nước mắt của ai làm khuôn mặt tròn trịa của gã ướt đẫm đến mức phản chiếu cả hào quang lúc sáng lúc tối của lò sưởi.

    Tiến Bảo đưa tay vuốt mắt cho Chiêu Phúc, khóc không thành tiếng xoa hai gò má của gã, lau đi vệt nước mắt giao thoa.
    Sáng sớm Cát Tường và Như Ý đã bị giáng chức ra khỏi cung Càn Thanh, trở về phòng trực thu dọn đồ đạc rồi quay lại viện Cư Dưỡng.

    Cát Tường hầu hạ hoàng đế nhiều năm, đã mua đất xây nhà ngoài cung, cưới hai cô vợ lẽ, gia sản đã chuyển hết ra ngoài cung, chỉ cùng Tiểu Hợp Tử thu dọn hai bọc quần áo.

    Như Ý là một người vô cùng lười biếng, không thích gom góp của cải, cho dù trong tay chưa bao giờ thiếu tiền cũng vẫn muốn tiêu sạch, vì vậy hành lý cũng chỉ có vài bộ quần áo đơn giản, thừa dịp hoàng đế chưa về cung bèn lén lút đi ra cùng Cát Tường.

    Tịch Tà đợi đã lâu, sai Tiểu Thuận Tử sửa sang cẩn thận hai gian phòng ở chái đông và đốt lửa làm ấm gian nhà.
    Cát Tường, Như Ý đến nhà giữa của thái giám Thất Bảo dập đầu rồi mới đến phòng Tịch Tà trò chuyện.

    Do ban đêm Tịch Tà giúp Mộ Từ Tư khai thông nội tức âm hàn trong cơ thể nên hơi thấy hao tổn tinh thần.

    Cát Tường làm việc cẩn thận, bảo hắn nằm yên rồi chẩn mạch cho hắn.

    Như Ý thấy không xen vào được, bèn ra hành lang ngồi cạnh bếp trà, lẳng lặng chờ tuyết lớn rơi xuống.

    Không khí ẩm ướt, âm u lạnh lẽo trước mắt đột một sáng rực, Minh Châu ôm lò sưởi tay, bên trong mặc áo đỏ hoa văn tròn thêu chỉ vàng, khoác áo choàng xanh ngọc lưu ly, bước qua cửa vào trong.

    Nàng trông thấy Như Ý, đôi mày thanh tú, mềm mại không khỏi giãn ra, hỏi: “Sao nhị gia lại ở đây?”.
    “Há chỉ mình tôi! Đại gia cũng tới đấy”.
    “Hôm nay đều rỗi rãi ư?” Minh Châu ngồi xuống ghế bên cạnh Như Ý, Tiểu Thuận Tử vội vàng cầm đệm da từ trong nhà ra đắp lên đầu gối nàng rồi rót trà trong ấm.

    Nàng nhận lấy khẽ thổi, ngoái đầu nhìn lại cười hỏi: “Lục gia cũng về rồi à?”.
    “Đều về hết rồi”.

    Như Ý nói: “Mấy ngày nay hoàng thượng cho sư huynh đệ chúng tôi nghỉ, có thể ở đây ăn Tết với nhau đấy”.
    Minh Châu mỉm cười bảo: “Hoàng thượng cho phép nghỉ ư? Nhị gia sẽ ở viện Cư Dưỡng nhưng đại gia là nhà giàu có nhà có vợ, có của có cải, được nghỉ mà không đi tiêu dao ngoài cung lại muốn ở chỗ này phải tội à? Nhị gia khinh tôi ngu dốt, chỉ nói những lời như vậy để lấy làm lệ thôi”.
    Như Ý ngửa đầu cười to: “Cô nương thông tuệ hơn người, tôi không đùa nổi.

    Không sai, sáng nay hoàng thượng đã trục xuất ba người bọn tôi ra khỏi cung Càn Thanh, lúc này trên cổ kề thanh kiếm sáng như tuyết, bị giam cầm ở chỗ này, nào có chuyện cho bọn tôi rời cung tiêu dao”.
    Minh Châu cả kinh hỏi: “Chuyện lớn gì thế? Sao nên nỗi ấy?”.
    Như Ý kể lại chuyện Mộ Từ Tư với nàng.

    Minh Châu cau mày nói: “Thì ra là tam gia Chiêu Phúc đã xuống tay ư? Tiếc là liên lụy tới sư huynh đệ của mình”.
    Như Ý cười bảo: “Cô nương thông minh, đoán không sai”.
    Minh Châu nói: “Tôi có một chuyện không rõ, xin nhị gia chỉ cho”.
    “Không dám”.
    “Mặc dù tôi chưa từng nhìn thấy tu vi của Thất Bảo công công nhưng nhìn từ công lực của lục gia, nhất định ngài là vị cao thủ tuyệt thế”.
    “Ồ? Cô nương cũng hiểu võ công?”
    “Gần mực thì đen.

    Không cần nhắc đến lục gia nữa, chỉ nội nhị gia thường xuyên qua lại cũng là cao thủ hàng đầu nên tôi cũng hiểu sơ sơ”.

    Như Ý liếc nhìn Minh Châu, hai người ngầm hiểu nhau, đều cười.

    Minh Châu nói tiếp: “Lúc trước ở Hàn châu từng thấy thất gia ra tay, nội lực tu vi cũng được bảy tám năm.

    Như vậy tính ra, công lực của tam gia Chiêu Phúc cũng phải hươn mười lăm năm, cớ gì sau khi ra tay lại để lại đốm tím, làm người ta nhìn thấu?”.
    Như Ý ngẩn ra, thở dài: “Cô nương hỏi rất hay, chuyện này nói ra dài dòng”.
    Mành được vén lên, Cát Tường đi tới nói với Như Ý: “Khó khăn lắm em sáu mới ngủ được, em khẽ thôi, bớt lải nhải chuyện cũ năm xưa lại”.
    Như Ý mỉa mai: “Bản thân anh là một người đứng đắn đã đành, nhưng lại không cho phép người ta tự do tự tại”.
    Cát Tường lắc đầu cười nói: “Tùy em, tùy em”.

    Đoạn tự dẫn Tiểu Hợp Tử đến chái đông.
    Như Ý bảo Minh Châu: “Đừng để ý tới anh ấy, chúng ta nói chuyện của chúng ta”.
    “Vâng”.

    Minh Châu tự mình rót trà cho Như Ý: “Tôi vẫn còn có chuyện không rõ, lục gia và các anh em như đại gia, nhị gia, ngũ gia, thất gia luôn như thể chân tay, sao chỉ có tam gia, tứ gia là xa cách mọi người?”.
    Như Ý đáp: “Cô nương chỉ biết bảy người chúng tôi là sư huynh đệ nhưng không biết Chiêu Phúc và Tiến Bảo vốn là anh em ruột”.
    “Anh em ruột?”
    “Ừ, anh em ruột thịt cùng một mẹ, nguyên quán Đài châu.

    Xưa nay nơi đó sản xuất ngọc, vốn dĩ gia tộc họ Ngô bọn họ cũng là nhà mài ngọc dòng dõi, giàu có lắm.

    Sau này các xưởng trên thị trường đấu đá nhau, nhà họ Ngô bị người ta lừa cho khuynh gia bại sản, ông chủ bị bệnh không dậy nổi, mẹ họ lại là người nhẫn tâm, chẳng màng hai đứa nhỏ, treo cổ cho xong chuyện.

    Hai anh em bị chủ nợ bán trả nợ, lưu lạc đến kinh thành, qua tay nhiều người rồi vào cung”.
    “Vậy là vào cung sớm hơn lục gia ạ?”
    “Sớm hơn nhiều”.

    Như Ý suy nghĩ một lát rồi nói: “Đó còn là năm Thượng Nguyên thứ chín, Chiêu Phúc và Tiến Bảo sớm hơn Tịch Tà năm năm đấy…”.
    “Khi đó tam gia và tứ gia cũng xa cách đại gia, nhị gia ạ?”
    “Không”.

    Dường như Như Ý nhớ lại điều gì, không khỏi mỉm cười nói: “Khi đó các anh em thân thiết lắm.

    Chiêu Phúc, Tiến Bảo cùng mẹ sinh ra nhưng tính cách lại không giống nhau, Tiến Bảo cực kỳ nghịch ngợm, nhưng còn kém hơn lục gia của cô một tẹo”.
    Minh Châu đỏ mặt phỉ nhổ: “Lục gia của ai cơ? Nhị gia toàn không đứng đắn thế thôi”.
    Như Ý cười nói: “Mặc dù Chiêu Phúc nghe lời nhưng lại là người không có chính kiến, mọi chuyện đều để Tiến Bảo quyết định, gây ra không ít tai họa, nó lại là anh lớn nên nó gánh chịu hết sự quở trách của thầy, bị đánh nhiều lắm.

    Sau này Khu Ác, Tịch Tà cũng vào Cung, Chiêu Phúc và Tiến Bảo đã lớn, đã chín chắn hơn, các anh em đều chăm sóc lẫn nhau.

    Sau đó…”.

    Y nhìn lan can sơn đỏ đầu tiên ở hành lang bị hạt tuyết làm ướt trong viện, lẩm bẩm nói: “đến năm hoàng thượng đại hôn…”.
    Tiểu Thuận Tử cúi đầu ở bên cạnh, không nhảy nhót như bình thường, vẻ mặt úp mở rúc ở trong góc.

    Minh Châu đảo mắt nhìn trong yên tĩnh, bỗng nhiên phát hiện khi Như Ý không cười, thì ra khóe miệng nhếch lên vẻ cay nghiệt, lặng lẽ như vậy.
    “Nhị gia…”
    “À”.

    Như Ý tỉnh lại, ngẩng đầu nhìn sắc trời: “Sau đó chính là năm Khánh Hi thứ tư, hoàng thượng đại hôn, bố trí lại cung Khôn Ninh, kho cung ứng của nội phủ phải chọn mua ngọc thạch, nghĩ đến Chiêu Phúc xuất thân từ nhà thợ làm ngọc, lại rất biết đánh giá bèn sai nó đến Đài châu.

    Năm ấy Chiêu Phúc chỉ có mười tám tuổi, nhận được việc này thì mất hồn mất vía, đóng kín cửa bàn bạc cả đêm với Tiến Bảo.

    Thầy cảm thấy không ổn, bảo Tịch Tà âm thầm đi theo, báo cho thầy biết hành động của Chiêu Phúc”.
    Minh Châu hít một hơi lạnh: “Lẽ nào tam gia về báo thù ạ?”.
    Như Ý gật đầu nói: “Đúng vậy.

    Nó tới Đài châu, vu oan nhà kẻ thù rồi nhốt vào ngục, đánh chết trên công đường.

    Như vậy vẫn chưa xong, lại tìm bắt hơn mười đứa bé trai của mấy kẻ thù, tự mở công đường xử phạt, lén cung[3] con nhà lành.

    Tịch Tà thấy nó làm cho kẻ thù cửa nát nhà tan, còn nghĩ oan oan tương báo, là đối phương đáng đời, nhưng thấy nó muốn…” Như Ý thở dài một tiếng: “Người trong cung như bọn tôi biết đây là thủ đoạn thất đức, nham hiểm, bản thân mười phần chết chín, từng chịu bao nhiêu khổ cực lại nơm nớp lo sợ, vùng vẫy giành sự sống ở nơi mà người ta không nhìn thấy, sao còn muốn ép mấy đứa bé giống mình? Mặc dù có thù hận cỡ nào với đời trước cũng không đến nỗi hại oan mười mấy thiếu niên.

    Cho dù chúng tôi có tình cảm anh em nhiều năm nhưng về chuyện này, tôi vẫn rất ngứa mắt Chiêu Phúc và Tiến Bảo”.
    Minh Châu che mặt run giọng nói: “Lục gia có ngăn cản không?”.
    “Ha ha”.

    Như Ý lắc đầu cười gượng: “Tịch Tà không hiểu chuyện, tức đỏ cả mắt, nhảy vào, vài ba lời không hợp đã vung tay đánh nhau với Chiêu Phúc.

    Suy cho cùng thì khi đó nó chỉ có mười lăm tuổi, không biết nặng nhẹ, cuối cùng đánh nặng tay làm đứt mấy kinh mạch của Chiêu Phúc”.
    “Thì ra là thế! Võ công của tam gia cứ như vậy bị phế ạ?” Minh Châu than thở: “Từ đó về sau anh em kết thù với nhau?”.
    Như Ý đáp: “Không chỉ như vậy.

    Cô nghĩ Chiêu Phúc vào cung sớm hơn Tịch Tà năm năm, sao chỉ sau hơn mười chiêu đã bị nó làm trọng thương? Từ hôm đó trở đi, Chiêu Phúc và Tiến Bảo mới biết những gì Tịch Tà học được khác với mọi người, thì ra thầy lại bất công như thế.

    Có cái suy nghĩ này, chúng nó còn có thể gần gũi với thầy nữa ư? Hôm chúng nó trở về từ Đài châu, Chiêu Phúc đã là người tàn phế, còn có thể đối với nó thế nào nữa? Thầy giận Tịch Tà, trách phạt rất nặng”.
    Minh Châu kinh ngạc hỏi: “Vì sao?”
    “Cứ nhìn kết cục của anh em chúng tôi hôm nay là biết.

    Cùng học một thầy, luôn một người vinh tất cả cùng vinh, một kẻ bị tổn hại thì tất cả đều bị tổn hại.

    Dù Chiêu Phúc làm ra chuyện tội ác tày trời gì ở bên ngoài thì sư huynh đệ cùng thầy chỉ có thể che giấu thay nó, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, làm sao có thể làm long trời lở đất? Thầy giận Tịch Tà là vì nó bị cơn tức giận kích động đả thương người khác, thầy xót mấy năm tâm huyết của mình bị uổng phí, nói với tôi, không ngờ nó cũng là một kẻ tầm thường không ra hồn”.
    Minh Châu rùng mình, bảo: “Không biết hình phạt nặng mà nhị gia nói là thế nào”.
    “Việc đó còn cần phải nói à?” Như Ý nói: “Dù năm đó cơ sở nội công của Tịch Tà không kém, lại thêm tinh lực tràn đầy nhưng cũng chỉ chịu được một nửa hình phạt.

    Khu Ác và nó vốn là hai con châu chấu buộc chung với nhau, một nửa kia là Khu Ác chịu đòn thay nó.

    Chính giữa hè, thầy không cho Tịch Tà vào nhà, không cho Tịch Tà ăn, đều là Khu Ác ở cùng.

    Ngày đó tôi đứng dưới hành lang này, thấy Khu Ác bị thầy đánh cho không nhúc nhích, chỉ tóm lấy quần áo Tịch Tà, muốn kéo nó tới dưới gốc cây, một đoạn đường như vậy mà khiến nó bận gần nửa canh giờ”.

    Như Ý mỉm cười, khẽ thở dài: “Ôi, Khu Ác…”.
    Minh Châu hơi nghẹn ngào, cúi đầu gảy lá trà trên mặt nước, nói: “Bất kể thế nào, lục gia có thể cứu được mười mấy đứa bé cũng là công đức lớn lao”.
    Như Ý bảo: “Cũng không cứu được hết, vẫn có bốn đứa bé đã tịnh thân.

    Một đứa chết ở trên đường vào kinh.

    Khi đó đại sư ca đã hầu ở cung Càn Thanh, đứa lớn nhất trong số mấy đứa còn sống làm học trò của anh ấy, đó chính là Tiểu Hợp Tử…”.
    “Sao cơ?” Minh Châu giật mình.
    Như Ý nói tiếp: “Đứa thứ hai tên Tiểu Vượng Tử, lúc đầu đưa cho tôi nhưng tôi là người lười biếng, chăm sóc tốt cho mình đã không tệ rồi, nào còn có rảnh rỗi đi dạy học trò? Cho nên liền cho Chiêu Phúc”.
    Minh Châu hỏi: “Vậy chẳng phải là dê vào miệng cọp?”.
    “Nếu như lòng dạ Chiêu Phúc rộng rãi hơn thì đứa bé kia còn có thể sống tới hôm nay, đáng tiếc năm đầu tiên vào cung đã nói nó trộm đồ ở cung Khôn Ninh, bị Chiêu Phúc đánh chết tươi.

    Đứa cuối cùng chỉ tám chín tuổi, không biết tại sao lại sống chết kéo lấy quần áo Tịch Tà không thả, chẳng nói chẳng rằng, cũng chẳng khóc, nghe dáng vẻ lôi thôi này đã biết chắc chắn là cái thằng nhóc kia rồi”.
    Minh Châu nhìn theo hướng tay y chỉ, quả nhiên thấy Tiểu Thuận Tử trốn ở góc phòng lén dùng tay áo lau nước mắt.

    Như Ý nói: “Khóc cái gì? Đúng là không có tiền đồ.

    Người nào vào đây mà không có thân thế khổ hơn cậu? Cậu từng thấy người khác khóc lóc nỉ non cả ngày chưa? Cẩn thận thầy cậu trông thấy đấy”.
    “Vâng”.

    Tiểu Thuận Tử đỏ mắt đổi trà mới cho Như Ý và Minh Châu.

    Như Ý thấy cuối cùng cũng có tuyết lớn, thong thả nói: “Xin đừng trách tôi kể chuyện cũ khó nghe cho cô nương.

    Cô nương chỉ cần nhớ kỹ, lúc này Chiêu Phúc xui xẻo, nếu nói người thấy khó chịu nhất trong các anh em thì chính là Tịch Tà đấy”.
    “Có lẽ là vậy”.

    Minh Châu buồn bã thở dài, cùng nhìn bầu trời mà ngơ ngẩn giống Như Ý.
    Đến giờ lên đèn, Minh Châu ở bày rượu và thức ăn lên bàn trên giường chái nhà tây.

    Tịch Tà đã tỉnh, lười biếng cầm đũa hí hoáy, lát sau Cát Tường và Như Ý cũng tới.

    Không biết sao lại có hứng, uống mấy chén rượu xong, hai người bèn lôi kéo Tịch Tà chơi đố số.

    Tịch Tà không giỏi món ấy, thua liền mấy ván, không trốn rượu được, bị Như Ý đè lên giường trút rượu.

    Cát Tường hiếm khi góp vui, trong phòng cười đùa ồn ào.

    Tiểu Hợp Tử đi ra ngoài cả một buổi chiều, lúc này vén mành đi vào, giũ tuyết trên áo choàng, tiến lên nói: “Thầy ơi”.
    Ba anh em vốn đang ầm ĩ đột nhiên im bặt, Cát Tường quay đầu lại bảo: “Nói đi”.
    “Chiều này tam sư thúc đã tự treo cổ ở phòng Mã Lý rồi”.

    Người trong phòng như đã sớm lường trước vận mệnh của Chiêu Phúc nên chỉ “à” một tiếng.

    Cát Tường uống cạn rượu trong tay, vội vàng đi giày: “Anh đi tìm Tiến Bảo, liệm cho Chiêu Phúc rồi sắp xếp người đưa tang về Đài châu chôn cất”.
    Tiểu Hợp Tử nói: “Thầy ơi, không cần đâu.

    Vạn tuế gia đã hay tin, vô cùng tức giận, lệnh người của phòng Lý Mã dùng chiếu cuốn thi thể của tam sư thúc, đưa đến dưới chân tường ngoài cửa Tiểu Tây hỏa táng thành tro bụi…”.
    “Đi từ khi nào”.
    “Đã được một lúc rồi ạ”.
    Như Ý đỡ lấy vai Tịch Tà hỏi: “Còn có thể gặp được một lần cuối.

    Có đi hay không?”.
    Tịch Tà chống mép giường như đang choáng váng, nói: “Tiểu Thuận Tử, lấy quần áo của nhị gia và ta tới đây”.

    Nói xong cũng xuống giường.

    Tiểu Hợp Tử lại xoay người đi ra ngoài truyền tin cho Khang Kiện.
    Bên ngoài tuyết lớn, bầu trời đen kịt đến mức đưa tay không thấy được năm ngón.

    Ba anh em mỗi người đều xách đèn lồng, bôn ba về phía tây ở trong tuyết, im lặng không ai nói năng gì.

    Cát Tường đi trước, chào hỏi thị vệ trước cửa một tiếng.

    Ba người xuyên qua cửa Tiểu Tây đến đường hẻm lớn phía tây của hoàng thành và cung thành.

    Mặc dù bên này gọi là đường hẻm nhưng mặt đất thênh thang lại không có nhà cửa.

    Lúc này giơ cao đèn lồng cũng không chiếu được con đường phía trước, chỉ là một mảnh trời đất hỗn độn sâu thẳm, không biết đương ở chốn nào.

    Lần theo chân tường, ba người lại đi về hướng bắc, lờ mờ thấy phía trước có ánh lửa rọi sáng, lông trắng bay tán loạn trước mắt thì đều giật mình, vội vàng triển khai thân pháp lao vội đến.
    Tịch Tà bị gió làm sặc nên th* d*c, dừng chân trước đống lửa, thấy thi thể trong lửa đã co lại thành một vòng tròn, không còn hình người.

    Khang Kiện lặng lẽ lau nước mắt ở trước ngọn lửa, lặng lẽ lẩm nhẩm gì đó.
    Tiến Bảo ở xa xa quay mặt lại, lạnh lùng nhìn Tịch Tà một hồi, xoay người đi vào trong bóng tối trắng lòa tuyết, không nói lời nào.
    “Lạy đức từ bi đại Giáo chủ! “Ðịa” là dày chắc, “Tạng” chứa đủ.

    Cõi nước phương Nam nổi mây thơm, rưới hương, rưới hoa, hoa vần vũ, mây xinh, mưa báu số không lường.

    Lành tốt, trang nghiêm cảnh dị thường, người, trời bạch Phật: Nhơn gì thế? Phật rằng: Ðịa Tạng đến Thiên đường! Chư Phật ba đời đồng khen chuộng Mười phương Bồ tát chung tin tưởng.

    Nay con sẵn có thiện nhơn duyên, ngợi khen Ðịa Tạng đức vô lượng…”
    Ngón tay lạnh cóng của Khang Kiện gảy phật châu mã não, tiếng ngâm tụng nhỏ nhẹ đứt quãng bay tới trong gió mạnh.

    Tịch Tà ngẩng đầu nhìn theo ánh lửa ngút trời, cảm thấy như có âm hồn bị trời tuyết hút vào trong không trung.
    “Lòng từ do chứa hạnh lành, trải bao số kiếp độ sanh khỏi nàn.

    Trong tay đã sẵn gậy vàng, dộng tan cửa ngục cứu toàn chúng sinh.

    Tay cầm châu sáng tròn vìn, hào quang soi khắp ba nghìn Ðại Thiên…”
    Cửa địa ngục à? Tịch Tà mỉm cười, hắn không biết linh hồn Chiêu Phúc sẽ đến nơi nào, nhưng linh hồn của mình đã được quyết định hướng đi từ lâu rồi.

    Hắn chậm rãi mở miệng, nói bằng âm thanh đến chính mình cũng không nghe thấy: “Diêm Vương trước điện chẳng hiền, đài cao nghiệp cảnh soi liền tội căn.

    Ðịa Tạng Bồ tát thượng nhơn, chứng minh công đức của dân Diêm Phù! Ðại Bi, Ðại Nguyện, Ðại Thánh, Ðại Từ, Bổn Tôn Ðịa Tạng Bồ tát Ma ha tát[4]…”[1] Bài thuốc bổ khí, dưỡng huyết.

    Trị kinh hành trước kỳ, các chứng xuất huyết nhiều hoặc máu thiếu, khát, ngủ không yên, nóng nẩy.
    [2] Một loại nóc nhà có sống tròn trong kiến trúc cổ Trung Quốc.
    [3] Thiến.
    [4] Kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện..
     
    Back
    Top Bottom