Ngôn Tình Khánh Hi Kỷ Sự

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Khánh Hi Kỷ Sự
Chương 20: 20: Lê Xán


Mùng một tháng Giêng năm thứ mười ba, hoàng hậu Vương thị vẫn ngồi trên cung Khôn Ninh được hoàng phi, ngoại mệnh phụ chầu mừng như năm ngoái.

Vẻ mặt Vương hoàng hậu điềm tĩnh bình thản, mỉm cười hết sức nghiêm trang, dù là ai cũng không nhìn ra chỉ mấy ngày trước, trong cung còn có một chuyện vô cùng lớn.
Hôm Chiêu Phúc thắt cổ tự vẫn, hoàng đế nghe tin thì tất nhiên đã nổi trận lôi đình, lập tức thảo chiếu thư phế hậu, giao cho thái phó Lưu Viễn và nói: “Ngông cuồng đến thế, không còn gì để nói nữa, thái phó xem mà làm đi”.
Lưu Viễn đáp: “Việc này… không có bằng chứng, hoàng thượng lại nói không rõ ràng, làm sao ăn nói với người trong thiên hạ được? Hay là hỏi ý thái hậu thế nào trước đã”.
“Tùy tiện!” Hoàng đế tức đến mức người ra đầy mồ hôi, phẩy tay áo bỏ đi.
Lưu Viễn cầm chiếu thư, chưa trở về nội các mà đến thẳng cung Từ Ninh xin gặp.
Thái hậu nghe xong, cười hỏi: “Lưu khanh, khanh cũng hết sức tán thành việc chọn Vương thị làm hậu là vì cớ gì?”.
Hiện giờ cha hoàng hậu vẫn là đại tướng quân Chấn Bắc thống lĩnh mười vạn kỵ sư, anh trưởng theo hầu ở trong quân Chấn Bắc, công lao đã cao đến chức tướng quân Hộ Quốc, anh thứ phòng thủ ở phía tây, là thượng tướng chính tam phẩm.

Cả nhà họ Vương đều có công lao cái thế, năm đó chọn hậu là để lôi kéo trọng thần trong triều, kìm hãm ý định của phiên vương.

Sao Lưu Viễn lại không biết lợi hại bên trong nhưng lúc này lại chẳng thể thốt nên lời.

Trong lúc do dự, lão nghe thái hậu nói: “Bây giờ đại chiến sắp tới, đừng nói hoàng hậu không làm gì sai, cho dù ngàn sai vạn sai, há có thể nói phế là phế? Suy nghĩ của hoàng đế và thái phó giống nhau, nếu không chẳng thèm hỏi một tiếng mà đã tha cho tên nô tài đó dễ dàng kết liễu rồi ư? Lưu khanh không rõ tính trẻ con của hoàng đế, hoàng đế dọa nạt người khác cho vui thôi”.
“Tính trẻ con?” Bức chiếu thư ấy chẳng qua chỉ vì hoàng đế dỗi ư? Lưu Viễn cười gượng với thái hậu.
Thái hậu nhận lấy chiếu thư phế hậu trong tay lão rồi sai Hồng Tư Ngôn ném vào trong lò sưởi, đốt sạch.
Hoàng hậu không việc gì, hoàng đế lại tức đến đổ bệnh, đi tới đi lui trong cung vào thời tiết giá rét nên bị cảm lạnh, mùng một Tết cũng chẳng có tinh thần.

Hoàng hậu tới thăm thì bị từ chối khéo ở bên ngoài.

Nàng chẳng hề tức giận, chỉ cười nhạt dẫn người tự về cung Khôn Ninh.

Hoàng đế mang bệnh vẫn bận rộn với công việc quan trọng, võ quan trẻ ở các nơi nhận được công văn của bộ binh từ năm trước đã lục tục lên kinh, bộ binh tấu xin sắp xếp cho mọi người.

Hoàng đế gọi Ông Trực vào, ra một đạo chỉ dụ.
Ông Trực mở ra, không khỏi kinh hãi hỏi: “Thiết lập lại kinh doanh?”
“Đúng vậy.

Hãy điều thẳng khoản lương bổng, quân nhu mà đợt trước Tịch Tà đã bàn bạc với bộ binh, bộ hộ đã chuẩn bị đầy đủ từ năm ngoái vào binh doanh của cửa khẩu Tiểu Hợp”.
Ông Trực lặng lẽ quan sát bốn phía một vòng, không thấy bóng dáng Tịch Tà đâu, Cát Tường và Như Ý cũng không ở trước vua, không biết có biến cố gì mà cũng chẳng dám hỏi.

Mối nghi ngờ kinh ngạc trong lòng không có ai để hỏi, chỉ đành mặt dày cười xòa nói: “Thánh thượng thiết lập lại kinh doanh, thần ngu muội không rõ ý thánh, phiền thánh thượng tự làm mọi chuyện, nay mọi việc đều đã chu đáo, khiến lão thần nhặt được của hời có sẵn”.
Hoàng đế mỉm cười, khóe miệng mấp máy nhưng lại kiềm chế không nói.

Ông Trực thưa: “Thần chỉ có một chuyện không rõ, xin thánh thượng chỉ cho”.
Hoàng đế ho một tiếng, bảo: “Nói đi”.
“Thiết lập lại kinh doanh, hiện nay lương bổng, binh khí và ngựa đều không thiếu, sau tháng giêng quan võ cũng đều tới kinh.

Nhưng binh sĩ từ đâu ra? Bộ binh điều động quân phòng thủ địa phương hay là chiêu mộ người khác? Xin hoàng thượng nói rõ”.
Hoàng đế cười, bảo: “Lý Cập”.
“Vạn tuế gia”.

Lý Cập khom người định hỏi.
Hoàng đế đang muốn ho khan nên trong chốc lát không nói nên lời, chỉ khoát tay áo.

Lý Cập khó hiểu, vẫn chờ ở đấy.

Hoàng đế lấy hơi, bực mình nói: “Gọi Khương Phóng”.
“Vâng”.

Lúc bấy Lý Cập mới chợt hiểu, nhanh chóng đi ra.
Chẳng bao lâu Khương Phóng đã vào thỉnh an, hoàng đế cười nói: “Ông khanh đã nhận được chỉ dụ thiết lập lại kinh doanh, đang đòi binh với trẫm đấy”.
Khương Phóng cười đáp: “Giờ thần sẽ giao bốn vạn tinh binh cho Ông thượng thư ngay”.
Ông Trực lấy làm kinh hãi: “Lẽ nào Khương thống lĩnh đã chiêu mộ quân sĩ? Vì sao bộ binh không biết?”.
Khương Phóng nói: “Sao thượng thư lại không biết bốn vạn người này? Đó vốn là cấm quân ở hành cung Thượng Giang.

Đất Thượng Giang lớn, quân coi giữ tổng cộng có sáu vạn người, thời gian phát huy được tác dụng trong một năm chỉ được một tháng, để ở đó ăn không lương bổng, quân kỷ thối nát, chơi bời lêu lổng.

Năm ngoái hoàng thượng giá lâm hành cung, đã lệnh thần tập kết bốn vạn binh mã của bãi săn Thượng Giang lại một chỗ, luôn thao diễn, nửa năm qua liên tục sai thị vệ trong cung lui tới giám sát.

Bốn vạn người này chưa từng được điều động, do đó bộ binh chưa từng lưu ý đến, chỉ thống lĩnh cấm quân và thống lĩnh thị vệ biết thôi”.
Ông Trực cười gượng nói: “Điều cấm quân Thượng Giang vào kinh doanh, vậy việc phòng thủ Thượng Giang thì thế nào?”.
Hoàng đế bảo: “Thượng Giang chỉ là một hành cung tránh nóng, vốn không phải là vùng tranh chấp nhà binh gì, để nhiều quân phòng thủ trong đó như vậy làm gì? Trẫm tin rằng hai khanh cũng không nói rõ được rốt cuộc hành cung lớn đến nhường nào, một năm trẫm đến không được một hai tháng, mấy năm nay, nơi từng đi qua cũng chưa được ba phần, chẳng thà giao ranh gới xung quanh hành cung cho phủ nội vụ, cho phép làm mặt ngoài của kinh doanh, trẫm chỉ cần phần giữa để cưỡi ngựa là được.

Như vậy sẽ bớt được nhiều chi tiêu ở hành cung, số quân coi giữ cũng có thể cắt giảm.

Không tốt sao?”.
Nước mắt già nua của Ông Trực doanh tròng, nói: “Thánh thượng thương xót cho nỗi khốn của bề tôi, thà để mình ấm ức, hoàng thượng thánh minh! Xưa nay có mấy vị hiền quân như vậy chứ?”.
Hoàng đế bật cười bảo: “Được rồi! Hai vị ái khanh tự đi điều động tuyến nhân mã này vào cửa khẩu Tiểu Hợp, có việc gì thì mau chóng báo cho trẫm biết”.

Hắn ta ngẫm nghĩ rồi lại nói: “Khương Phóng, khanh ở lại”.
“Vâng”.
Hoàng đế xoa huyệt Thái Dương, trông tấu chương và văn thư chồng chất như núi ở bên cạnh thì thở dài: “Tình cảm giữa khanh và các sư huynh đệ Tịch Tà cũng không tệ lắm nhỉ?”.
Khương Phóng biến sắc, vội vàng khom người tâu: “Thần không dám.

Tịch Tà là nội thần, vả lại lúc này…”.
Hoàng đế không vui nói: “Trẫm hỏi thử thôi, đi xuống đi”.
Khương Phóng dập đầu, tâu: “Thần đã hiểu.

Thần xin cáo lui”.
Hoàng đế nghe vậy thì không nén được vui mừng: “Đã hiểu rồi?”.
“Vâng, đã hiểu rồi ạ”.

Khương Phóng cố nén để không bật cười.
Khương Phóng bàn xong mọi hạng mục công việc như cho cấm quân Thượng Giang lên đường, hành quân, vào doanh với Ông Trực thì tranh thù ra khỏi phòng trực.

Ngoại thần không thể đi quan mấy con đường hẻm trong cung nên Khương Phóng đi đường vòng vào con đường giáp bên hành lang phía đông, đến trước cửa viện Cư Dưỡng.

Hôm nay là mười lăm tháng Giêng, Tiểu Thuận Tử và Tiểu Hợp Tử đang leo lên cạnh cửa treo đèn lên trên, thấy anh ta tới, bèn xuống thang thỉnh an.

Khương Phóng cười nói: “Miễn miễn, cẩn thận ngã đấy.

Ba vị gia của các cậu đều ở đây à?”.
“Đều ở trong buồng phía đông chơi cờ ạ.

Tối Khương gia hãy ở đây xem đèn uống rượu”.
“Tôi không có số hưởng phúc này”.

Khương Phóng lắc đầu cười than.
Minh Châu nghe thấy tiếng động liền đi tới hành lang đón chào: “Đại thống lĩnh tới rồi, vào chái đông ngồi đi, lát nữa tôi sẽ mang bánh trái lên ngay”.
Lúc này hành lang viện Cư Dưỡng đã treo đầy đèn màu, tua đỏ dưới đèn khẽ tung bay, nhìn mà vui mừng dào dạt nhưng tuyết dày cả thước trong viện không có ai quét, lụa đỏ của pháo rơi lác đác, không người không tiếng động, vắng lặng đến mức kỳ dị.
Khương Phóng vén rèm vào chái đông, Cát Tường và Tịch Tà sắp xếp bàn cờ và chơi cờ ở trên giường, Như Ý nghiêng ngả trên giường bên cạnh như đang ngủ, đợi Khương Phóng vào, anh ta lại là người đầu tiên đứng lên cười nói: “Đó là khách không mời mà đến, các anh em có trông thấy không? Thời gian nhàn rỗi chấm dứt rồi”.
Cát Tường và Tịch Tà ném quân cờ rồi xuống giường, mọi người ngồi quanh bàn.

Khương Phóng nói: “Anh em các ngài đúng là tiêu dao sung sướng, chẳng hề nghĩ đến sự quan tâm thường ngày của vạn tuế gia.

Hôm nay tôi tới hỏi, các ngài từng có ý ăn năn chưa?”.
Cát Tường nghiêm mặt nói: “Đã ăn năn lâu rồi.

Tất cả trông cậy vào đại thống lĩnh nói tốt mấy câu thay anh em bọn tôi ở trước mặt vạn tuế gia”.
Khương Phóng lắc đầu bảo: “Sao tôi dám nhắc tới trước mặt hoàng thượng? Hay là các ngài viết một tấu chương xin xá tội, tôi thay các ngài đưa lên cũng được”.
Cát Tường cười: “Vậy thì cùng viết một bức”.

Y nhìn Như Ý, bảo: “Như Ý, em viết đi”.
Như Ý vội khoát tay: “Em không biết chữ, để Tịch Tà viết”.
Tịch Tà thản nhiên nói: “Em mới khỏi bệnh, không cầm được bút”.
Rèm cửa vừa vang lên, Minh Châu nâng mấy bát sứ tinh xảo đi vào, bảo: “Mấy gia ăn lót dạ đi”.
Ba anh em nhìn nhau, đều nở nụ cười.

Minh Châu cười nhạt nói: “Tôi ở bên ngoài đã nghe thấy rồi, nhưng đừng trông mong vào tôi.

Chi bằng thế này, trong nhân bánh nguyên tiêu này bọc một đồng tiền vàng, ai ăn phải thì người nấy viết”.
“Rất tốt”.

Ai nấy đều cười, nhao nhao đưa tay tranh giành.
Bánh nguyên tiêu này bọc nhân hạch đào và nhân hoa hồng, vừa thơm vừa ngọt.

Như Ý ăn hai cái, vừa định vỗ tay khen thì trong răng cấn thứ gì, biết là tiền vàng thì bỗng không dám lên tiếng.
Cát Tường ăn rất nhanh, buông bát cười nói: “Đã vậy thì anh về nhà ăn Tết, tốt xấu gì cũng hơn nửa tháng chưa về rồi”.
Khương Phóng hỏi: “Lục gia thế nào? Sắc trời còn sớm, chi bằng ra ngoài đi dạo”.
Tịch Tà cười nói: “Đúng hợp ý tôi.

Đại thống lĩnh chờ một lát”.
Hắn vào thay quần áo, Minh Châu thu dọn bát, cười hì hì nói với Như Ý: “Nhị gia, đại cát đại lợi”.

Như Ý dậm chân trở về phòng, kêu vọng ra ngoài: “Hai cái thằng nhóc con qua đây mài mực cho nhị gia”.
Mọi người cười một lát, Tịch Tà đã mặc xong một chiếc áo da gấm lam mộc mạc, che lên quần áo trong cung rồi cùng Khương Phóng ra khỏi cung từ cửa Chấn Bắc.

Kinh đô phồn hoa như muốn cùng nở rộ trong mấy ngày này, dọc đường đi đèn lồng đong đưa, xe chạy băng băng, đều là cảnh tượng tươi mới.

Hai người quẹo vào ngõ Lan Đình, vì đang tết nhất nên lán trúc màu đỏ trước kia đã được người ta dùng nan tre mới đổi thành nóc phỉ thúy, đèn nguyên tiêu các nhà chằng chịt phía dưới, không cần châm lửa đã cảm thấy xán lạn đến hoa cả mắt.
Cũng may từ mùng một Tết tới tết Nguyên Tiêu, ngõ Lan Đình luôn tiêu điều, người qua lại không nhiều lắm, Tịch Tà và Khương Phóng đi tới trước cửa viện Tê Hà, hai thằng nhóc đang cóng đến giậm chân, trông thấy bèn bước lên trước thỉnh an.
Khương Phóng hỏi: “Trời rét thế mà không ở trong phòng, lại chẳng có khách, đứng ở bên ngoài hứng gió à?”.
Thằng nhóc cười nói: “Gia không biết thôi, ma ma bảo hai đứa tôi trông ngọn đèn kia đấy”.
Khương Phóng và Tịch Tà quay đầu, quả thấy ở giữa lán trúc treo ngọn đèn dầu kéo quân lớn trong suốt như thủy tinh cao bằng một người, đèn lồng từ gấm màu vây quanh bốn mặt, hết sức huy hoàng.
Tịch Tà cười rằng: “Tất nhiên có đèn là tốt nhưng cũng không đến nỗi để cóng người”.
Thằng nhỏ thưa: “Lục gia xót tiểu nhân, bọn tiểu nhân càng nên ở trước cửa chờ gia tới, tiện việc hầu hạ.

Mời gia vào bên trong”.

Một đứa khác đã vào mời Tê Hà nhanh như làn khói.
Tê Hà vận áo lông chồn tía mới tinh, sáu chiếc trâm vàng cài búi tóc, đầu trâm là ngọc hình bướm, uyển chuyển ra đón, dịu dàng cúi chào.

Ba người chúc năm mới với nhau xong, nàng bèn mời vào lầu Hồi Mâu.

Nha hoàn xếp tám đĩa nhỏ, dâng rượu ấm lên rồi rũ tay lui ra.
Tê Hà nói với Khương Phóng: “Đầu bếp làm nhiều kiểu mới, ngài không đi học món mới à?”.
Khương Phóng vui vẻ nói: “Hắn vẫn chưa về quê sao?”.
“Tôi đón cả nhà hắn tới rồi, đang vui mừng hớn hở đấy! Còn về đâu nữa?” Tê Hà đẩy anh ra ra khỏi cửa rồi quay lại nói với Tịch Tà: “Ưu Quan Nhi có tin rồi, lúc trước quả thực thầy hai thoát thân đến Hồng Châu, chưa được mấy ngày lại về”.

Tịch Tà không ngờ thằng nhỏ Tê Hà sai đến vùng Hồng Châu lại có năng lực như vậy, nhanh thế đã điều tra được tin tức nên hơi bất ngờ, cười rằng: “Mặc dù đứa bé kia còn trẻ nhưng là nhân tài có thể đào tạo, đợi khi về tôi muốn gặp mặt.

Cậu ta có biết thời gian này thầy hai đã làm những gì không?”.
Tê Hà lắc đầu đáp: “Không biết ạ, vào vùng Hồng Châu thì đã mất tin tức.

Ưu Quan Nhi vẫn đang điều tra”.
Tịch Tà gật đầu nói: “Làm khó đứa trẻ ấy rồi”.
Tê Hà nhếch miệng cười: “Bản thân Lục gia cũng là trẻ con đấy, còn nói nó?”.
Hai người nghe thấy Khương Phóng lên lầu, bèn nói mấy câu chuyện phiếm khác.

Khương Phóng vào nhà nói: “Tước quỷ! Gia có muốn ăn một ít không?”.
Tê Hà sẵng giọng: “Lại nói lời nhảm nhí gì mà tôi không hiểu thế?”.
Tịch Tà cười bảo: “‘Tước quỷ’ mà anh ta nói chẳng qua là thịt đầu lừa thôi, trong cung hiếm có người ướp ngon, tôi không ăn đâu”.
Tê Hà đứng dậy oán hận nói: “Sao lão Thân kia lại đưa vật này vào phòng bếp?”.
Khương Phóng thấy nàng lật đật xuống lầu thì không khỏi cười nàng.

Tịch Tà hỏi: “Tiệc rượu chẳng lành, đại thống lĩnh muồn dặn dò điều gì?”.
“Chủ nhân chớ chê cười tôi”.

Khương Phóng ngồi gần hơn, cười nói: “Tôi tới nhận lỗi thay hoàng đế, Lục gia nể mặt uống chén rượu đi”.
Tịch Tà ngửa đầu cười to: “Không dám, có cần ta dập đầu tạ ơn không?”.
“Ha ha! Là tôi nói sai, phạt một chén trước!” Khương Phóng uống chén rượu rồi lấy điệp báo ra từ trong ngực: “Gần đầy chỗ gia tạp người, điệp báo cứ nán lại mãi, xin gia thứ tội”.
“Nói gì thế?” Tịch Tà cười nói, nhận lấy xem xong thì than thở: “Băng tuyết phủ khắp Hạ Lý Luân, chim diều không bay nổi, cứ dăm ba ngày người phía bắc lại phải truyền điệp báo đến kinh, vất vả rồi”.

Lại nói: “Vết thương của Quân Thành đã dân bình phục, khổ nỗi dưới gió tuyết, binh mã chỉ đành trú ở Hạ Lý Luân.

Đã đến đầu xuân, chính là lúc nhuệ khí của chúng tràn đầy, triều đình trung nguyên không thể kéo dài việc dùng binh được nữa”.
“Vâng”.

Khương Phóng hỏi: “Có cần gọi đại tướng quân Chấn Bắc về kinh bàn không ạ?”.
Tịch Tà cười nói: “Người này thanh cao tự phụ, gọi trở về rồi, chúng ta có thể bắt ông ta thế nào được?”.

Hắn cầm chén trong tay, uống một hớp rồi đột nhiên nói: “Anh nghe đi”.
Cách hai gian phòng, không biết ai ngồi mà đột nhiên kêu ầm một tiếng, cất tiếng cười to.

Cô nương của viện Tê Hà la to trong đó: “Ngượng nghịu như vậy cũng coi là chàng thám hoa à?”.
Còn có người bảo: “Đã tóm được người họ Du kia, hắn là bảng nhãn đấy, sao có thể buông tha cho gã”.
Tịch Tà và Khương Phóng không khỏi nhìn nhau bật cười, thì ra bảy mồm tám mỏ ấy chính là đám thị vệ tâm phúc trong cung.

Hai người vốn thảnh thơi, Khương Phóng bèn mời Tịch Tà cùng nhau dời bước đi qua góp vui.

Đã thấy Du Vân Dao, Úc Tri Thu và Hồ Động Nguyệt dẫn theo bốn, năm thị vệ mà Tịch Tà chọn rồi gọi tám chín cô nương tới uống rượu.

Họ thấy có người vào, ban đầu khá kinh ngạc, đợi lúc thấy là thống lĩnh thị vệ và tổng quản áo xanh thì không khỏi giật nảy mình, sau thấy sắc mặt cả hai hòa nhã, vui vẻ, không cần lo bị hai người răn dạy thì bỗng phấn chấn tinh thần nhao nhao đứng dậy, thỉnh an, vấn an, ba chân bốn cẳng nhường hai cái ghế trên.

Tê Hà đã đưa bàn tiệc của Tịch Tà và Khương Phóng đến đây và lên món ăn mới.

Tịch Tà nói với nàng: “Chúng tôi ngồi một lát rồi đi ngay, chẳng lẽ ở đây làm người khác ghét à?”.
“Công công nói gì thế?” Du Vân Dao cười bảo, “Hiếm khi trùng hợp như vậy, trời còn sớm, uống thêm mấy chén hẵng đi”.
Tịch Tà quan sát bốn phía một vòng, thấy trong đó có một người trẻ tuổi khá lạ mặt liền hỏi: “Vị này là…”.
“Đây là bạn mới”.

Úc Tri Thu đáp: “Tướng quân du kích do tổng binh Ngô châu tiến cử, phụng chỉ đến kinh mấy ngày gần đây”.
“Tại hạ Lê Xán”.

Thanh niên nọ đứng dậy cười ôm quyền, hắn ta chập hai mươi bốn tuổi, vóc dáng cao to, cử chỉ phóng khoáng ngông ngênh, ắt là một con em nhà quan.
Tịch Tà cười nói: “Tại hạ Tịch Tà, là người làm việc ở trong cung”.
Lúc này Lê Xán mới ngạc nhiên biến sắc, bảo: “Thì ra là đại tổng quản trong cung”.
“Đó là lời nói đùa của người khác, tướng quân chớ cho là thật”.

Tịch Tà cười rằng: “Tại hạ chỉ là nô tài sai bảo trong cung mà thôi”.
“Tại hạ ở Ngô châu đã nghe nói chuyện công công thay hoàng thượng bổ nhiệm võ tiến sĩ, thì ra tu vi, võ công của công công cũng rất cao cường.

Từ nhỏ tại hạ đã si mê đao ngựa, rất muốn xin công công chỉ bảo”.
“Tôi không hiểu chuyện võ công, chỉ là quả thực các vị võ tiến sĩ có thân thủ bất phàm, người thường vừa nhìn đã biết mà thôi”.
Úc Tri Thu nói: “Công công có biết công phu của anh Lê này cực kỳ lợi hại không? Sáu người bọn tôi đều không thắng được anh ta đấy”.
Hồ Động Nguyệt bảo: “Anh Du chưa ra tay, nếu không cũng khó nói chắc chắn kết quả sẽ thế nào”.
Du Vân Dao cười rằng: “Đừng nhắc tới tôi, đại thống lĩnh và công công đều biết những người này có ai là đèn cạn dầu đâu.

Chẳng qua cứ tranh cãi nhau là lại sẽ ùa lên đánh nhau, cũng may anh Lê cũng là mệnh quan triều đình, nếu không truyền ra ngoài, há chẳng phải mất hết thể thống, mất mặt triều đình?”.
Tịch Tà cao giọng cười, trong lòng âm thầm kinh ngạc, hứng thú trông Lê Xán, nói: “Thì ra Lê tướng quân lại thần dũng đến thế.

Không biết tướng quân dùng binh khí gì?”.
Lê Xán đảo mắt nhìn, lông mày và mắt đen đến rét lạnh loá mắt, nói một cách kiêu ngạo ngang ngược: “Bình thường tại hạ không mang binh khí”.
“Ồ?” Ánh mắt Tịch Tà đảo trên mặt mọi người một lần, cười rằng: “Thì ra Lê tướng quân tay không độc đấu với sáu thị vệ hoàng cung, mạnh thay”.
Úc Tri Thu nói: “Chúng tôi đều đã biết võ công của công công, không biết anh Lê và công công có so tài không”.
Mọi người biết hắn xúi giục Lê Xán, đều cười hì hì chờ xem kịch hay.

Quả nhiên Lê Xán nói: “Khi nào công công rảnh rỗi, xin hãy dạy bảo”.
Tịch Tà thấy ánh mắt Lê Xán dừng lại trên mặt mình một cách thách thức và hàm ý thì bỗng thấy kinh ngạc, bèn vội vàng thoái thác: “Tại hạ không rành đạo này…”.
Khương Phóng thấy tình hình không ổn, vội giảng hòa: “Đều là người mình cống hiến vì hoàng thượng cả, có gì mà tranh hơn thua? Nào, tôi mời các vị anh hùng một chén, mong năm nay các vị bớt gây họa, ăn nhiều cơm, bớt đánh nhau, ngủ cho nhiều, để tôi được thái bình tự tại, đỡ bị hoàng thượng mắng”.
Mọi người cười phá lên, uống hết rượu trước mặt, các cô nương lại rót đầy như con thoi.

Tịch Tà, Khương Phóng chơi với mọi người một lát rồi lấy cớ, tạm biệt đi trước.
Hôm nay đã là mười lăm, đèn nhang của hai thiền viện lớn của Ly đô là chùa Đông và Tây Hoằng Nguyện đều thịnh vượng, Khương Phóng đi giải sầu với Tịch Tà, dần bị đám người cuốn vào trong dòng lũ đi hội của chùa Tây Hoằng Nguyện, đi ra mấy dặm hướng bắc, đoạn cuối của sự huyên náo lại là một dãy tường vàng ngói lưu ly.

Điện chùa Tây Hoằng Nguyện có bảy sân, có hai tòa tháp, lầu gỗ đấu củng[1], nước sơn đỏ sáng rõ, được băng tuyết trắng ngần phủ lên, tự có một vẻ linh thiêng thanh tú, tự tại.

Tịch Tà dạo tới chính điện, Khương Phóng đột nhiên hỏi: “Thẻ ở nơi này rất chuẩn, sao gia không hỏi xem lành dữ của đại quân bắc chinh năm nay?”.
Tịch Tà lắc đầu, mỉm cười nói: “Con người là loài ngu xuẩn trên thế gian, chẳng phân biệt được sự vật là hung hay cát, phàm cảm thấy có thể có lợi thì đều sẽ bắt buộc phải làm.

Cứ nói lần này bắc chinh có hung đi chăng nữa thì hơn hai mươi vạn đại quân vẫn phải đưa vào trong miệng hùm của Hung Nô, mà nếu cát thì cũng chẳng có chuyện đánh mà thắng là khải hoàn.

Mưu tính do con người, có thành hay không là ở trời, nếu hỏi thì tự nhiên lại thêm phiền não”.
Một sa di[2] hơn ba mươi tuổi quay đầu cười nói: “Nghe vị tiểu thí chủ này nói đã biết là người vừa cao quý vừa độ lượng.

Nếu hai vị không chê, mời tới thiền phòng dùng chén trà, thầy của bần tăng thích kết bạn, kết thiện duyên, không ngại gặp một lần chứ ạ?”.

Đoạn lại nhìn về phía sau Tịch Tà: “Vị thí chủ này cũng đi cùng đúng không? Xin mời vào”.
Tịch Tà ngẩn ra, xoay người thấy ánh mắt mãnh liệt của chàng thanh niên, thấy hắn ta đang nhìn mình tươi cười.

Khương Phóng bèn nói: “Thì ra là Lê Xán”.
“Đại nhân”.

Lê Xán chắp tay: “Khéo quá”.
Tịch Tà biết hắn ta có ý đấu với mình nên đi theo suốt cả đường nhưng mình và Khương Phóng lại không hay biết gì, không khỏi thầm xốc tinh thần lên, cũng muốn thăm dò thực hư của hắn ta, hỏi: “Lê tướng quân đi xa, cùng uống chén trà được chăng?”.
“Được, đa tạ”.
Ba người theo sa di kia đi ra thiền phòng phía sau, bên trong không dính một hạt bụi, mùi trà bay thoang thoảng.

Ba người tùy tiện ngồi ở ghế khách, chẳng bao lâu sa di kia đã bưng trà vào, phía sau là một nhà sư trên dưới năm mươi tuổi.

Sa di kia nói: “Các vị thí chủ, vị này chính là thấy của bần tăng, pháp hiệu Văn Thiện”.
“A Di Đà Phật”.

Văn Thiện đi lên chào mọi người.

Sau khi dâng trà cho mọi người, sa di đó khép cửa đi mất.

Văn Thiện hàn huyên vài câu với Khương Phóng xong, lúc này đi tới trước mặt Tịch Tà, mới định chắp tay trước ngực nói thì đột nhiên mở to hai mắt nhìn, sắc mặt tái xanh, lùi về sau mấy bước: “Thì ra, thì ra là đương kim thánh thượng…”.
Tịch Tà và Khương Phóng như nghe thấy sấm sét, chợt kinh hãi.

Khương Phóng quát lên: “Không được nói bậy! Chúng tôi là người hầu ở trong triều đình”.

Văn Thiện hoảng loạn nói: “Không sai đâu, vị thí chủ này xuất thân từ hoàng thân quốc thích, trán ngưng tụ khí của thiên hạ, cử chỉ chấn động cả xã tắc, không phải là đương kim thánh thượng thì là ai?”.
Khương Phóng vươn tay, tóm lấy vạt áo Văn Thiện, run giọng cả giận nói: “Câm miệng!”.
Tịch Tà biến sắc bảo: “Vị đại sư này nhìn lầm rồi, tại hạ là kẻ nghèo hèn, sao dám sánh ngang với hoàng thượng?”.
Lê Xán đang xem trò hay ở đối diện, nào ngờ Khương Phóng lại đẩy Văn Thiện tới trước mặt mình.

Văn Thiện lại kinh ngạc nhìn hắn ta một lát, cuối cùng thở dài nói: “Thì ra vị này cũng là ngôi cửu ngũ, rồng trong loài người”.
Lê Xán cất tiếng cười to: “Đại sư, một núi không thể chứa hai cọp! Nếu như lời ông nói, làm sao tôi có thể cùng ở một phòng với người anh em này?”.
Văn Thiện nói: “Long khí của thí chủ thẳng đến cực bắc, mười năm phúc nghiệp sẽ thành”.
Lê Xán thờ ơ, cười nói: “Giờ tôi mới biết vị đại sư này lẩn thẩn, thấy ai cũng cho là hoàng đế, chẳng phải muốn chết hay sao?”.
Vẻ mặt Tịch Tà và Khương Phóng hơi hòa hoãn lại, bảo: “Uống trà nghỉ ngơi thôi mà lại gặp phải phiền phức này.

Cáo từ”.
Văn Thiện kéo áo Tịch Tà và Lê Xán lại nói: “Hai vị, vữa nãy bần tăng nói lỡ, xin chớ trách móc.

Chỉ có một việc, hai vị phải ghi nhớ kỹ, đại hung ở phương bắc chính là tử kiếp của hai vị.

Nếu bắt buộc phải làm, bần tăng nhiều lời cũng vô ích.

Hai vị hãy cẩn thận một chữ “Nước””.
Lê Xán ngẩn ra, cau mày nói: “Tôi vâng lệnh điều lên kinh, sắp làm quan kinh thành rồi, ai đi phương Bắc chứ?” Rồi hất tay Văn Thiện, tiêu sái đi mất.
Tịch Tà và Khương Phóng ra bên ngoài thì Lê Xán đã đi xa.

Tịch Tà hỏi Khương Phóng: “Anh có biết Lê Xán ở đâu không?”.
Khương Phóng đáp: “Thuộc hạ sẽ đi điều tra ngay”.
“Sau khi điều tra không cần báo lại cho ta đâu.

Văn Thiện này cũng thế”.
Khương Phóng biết ý hắn, không kiềm được hỏi một câu: “Có cần hỏi rõ lai lịch của hòa thượng Văn Thiện không ạ?”.
“Không cần”.

Tịch Tà nói: “Ta nhận ra ông ta”.
Gần trưa hôm sau, Minh Châu che phòng mình lại rồi đến viện Cư Dưỡng.

Lúc qua cửa nguyệt lại thấy một mình Tịch Tà đối diện đi tới từ trong tuyết, nàng bèn tiến lên hỏi: “Sao Lục gia lại ra ngoài? Hôm nay có việc à?”.
Tịch Tà cười nói: “Hôm nay tôi không ăn ở viện Cư Dưỡng, Tiểu Thuận Tử cũng đến nhà hành lang uống rượu bài bạc lâu rồi, không cần chuẩn bị cơm tối nữa”.
“Vâng”.

Minh Châu hơi mất mát, dù sao Cát Tường và Như Ý cũng đều không ở viện Cư Dưỡng, bản thân bỗng không có nơi nào để đi, do dự khoảnh khắc rồi định đi về.
“Minh Châu!” Tịch Tà gọi nàng lại: “Không đến viện Cư Dưỡng nữa à?”.
Minh Châu hỏi lại: “Một mình thì có ý nghĩa gì chứ?”
Tịch Tà cười hỏi: “Ai nói một mình, không phải tôi cũng ở đó sao?”.
“Lục gia chớ học nhị gia nói năng không đứng đắn.

Nếu lục gia ở đó thì giờ đang đi đâu đấy?”.
Tịch Tà bảo: “Chúng ta ngắm đèn đi”.
“Ngắm đèn á?” Minh Châu mừng rỡ: “Từ khi nào mà gia trở nên hào phóng thế?”.
Tịch Tà cười nói: “Tiểu Thuận Tử không ở đây, tôi chỉ cần coi chừng một mình cô, sao không đi chứ?”.
Ngày mười sáu tháng Giêng, hội đèn lồng tết Nguyên Tiêu lại càng sáng hơn, bất kể phố lớn ngõ nhỏ đều có đèn uốn lượn không dứt thành hình rồng.

Chỗ sáng nhất chợ đèn hoa vẫn là vùng cầu Nhiên Xuân, rừng mai hai bờ sông treo đầy đèn màu, nhìn xuống từ giữa cầu, nơi ấy huy hoàng như san hô long cung vậy.

Minh Châu cười nói: “Thế mới là ý nghĩa của Nhiên Xuân (đốt xuân)”.
Tịch Tà bảo: “Cô nói như vậy làm tôi cũng phải nghi ngờ có phải lúc làm “Phú Nhiên Xuân”, Giang Cư Phóng đã hiểu sai ý nghĩa của cây cầu này rồi không”.
Bấy giờ hơn mười dặm đèn đuối ngút trời, trống nhạc xuyên mây vắt ngang qua thành trì nam bắc, bầu trời bốn phía sáng ngời một đường lửa, chiếu lên mặt mày con người rõ ràng như tranh.

Nụ cười của Minh Châu được áo lông mèo rừng sáng bóng vây quanh, nom hoa lệ xuất trần.

Nàng bỗng vỗ tay nói: “Gia nhìn mặt sông kìa”.
Vùng ven sông Ly đầy ánh lửa chiếu sáng bờ, trong nước thì có cả vạn ngọn đèn của thuyền bè như sông ngân cuồn cuộn.

Lúc này một con thuyền lớn thong dong trôi tới, trên thuyền một quả pháo bông không ngừng cháy, lóng lánh như lầu gác chốn Bồng Lai.

Đầu thuyền, một đám tùy tòng mặc áo gấm áo lông vây quanh quý công tử ở giữa, chỉ trỏ về hai bờ sông.
“Đó không phải là thuyền của Thành Thân vương sao?”
Tịch Tà cười đáp: “Đúng vậy.

Y làm vương gia đúng là thư thái”.
Thành Thân vương ôm lò sưởi tay, lúc này ngẩng đầu lên nhìn về phía cầu Nhiên Xuân.

Tịch Tà biết y chưa chắc thấy được mình nhưng vẫn lui về phía sau mấy bước, kéo Minh Châu đi ra, nói: “Trước cửa chùa Đông Hoằng Nguyện có một núi đèn xếp hình con ngao[3], chúng ta đến đó đi”.
Hai người đi về phía trước dọc theo đường Ẩn Hoàn.

Trên đường dòng người chen chúc, mặc quần áo mới, phụ nữ có chồng cài trâm náo nga[4] đi ra ngoài cũng rất nhiều.

Trên lầu hai bên đường còn có nội quyến nhà đại thần trong kinh, cả năm chỉ có đêm nay là vịn lan can ngắm nhìn, không lo ngại người khác.

Dưới lầu đủ trò tạp kỹ đua nhau phô diễn, sau một trận khen ngợi thì tiền đồng rơi xuống như mưa.
Minh Châu mặc nam trang nên người đi đường không tránh nàng.

Tịch Tà phải cản người xô vào cho nàng nên bị đâm vào mấy bận.

Minh Châu nói: “Lục gia không cần để ý, họ không đâm vào tôi được đâu”.
“Vậy không được”.

Tịch Tà quay đầu cười nói: “Tôi không ngờ nhiều người đến thế, nếu đã tách ra thì cô tự về đi”.
“Sẽ không tách ra đâu”.

Minh Châu đỏ mặt, cánh tay mềm ấm lặng lẽ kéo Tịch Tà.
Tịch Tà cũng nóng bừng trong lòng, giữ chặt ngón tay nhỏ bé của nàng, đi tới đi lui hai bên đường lớn, bỗng nới lỏng tay chạy ra xa.

Minh Châu đợi nguyên chỗ một lát, thấy hắn xách đèn hoa bằng vỏ băng, bốn mặt là hoa tứ quý làm theo mẫu, ánh nến chiếu càng thêm trong suốt.

“Chỉ được một lát thôi, đốt hết là tan”.

Hắn nói.
Minh Châu gật đầu nhận lấy, cười hỏi: “Gia vui không?”
“Vui”.

Tịch Tà gật đầu: “Trước kia ra khỏi vương phủ ngắm đèn, người hầu trong nhà sợ các anh em lạc đường, vây như cái thùng nước vậy, trong mấy trượng xung quanh không cho người ta đến gần, đâu được tự tại như hôm nay”.
Hai người ngắm nghía đèn dưới lầu ở chung quanh, cười cười nói nói.

Minh Châu ăn vận cực kỳ hoa lệ, Tịch Tà thì phong thái bất phàm, vô cùng nổi bật trên đường.

Đương lúc vui mừng, Tịch Tà đột nhiên xoay người lại, ra tay như chớp, bắt lấy cổ tay vươn tới túi tiền bên hông mình.

Minh Châu nhìn lại, không ngờ tên trộm bắt được lại là người quen, mặc áo lông đuôi chồn, búi tóc bóng loáng run rẩy cài một quả hồ lô thảo lý kim[5], mũi cóng đến hơi đỏ, lúc nhếch miệng nhịn đau thì càng tươi đẹp.
“Anh Thẩm?” Tịch Tà cười nói.
Thẩm Phi Phi kinh ngạc hỏi: “Sao lại là hai người?”.

Ánh mắt gã lập tức rơi vào đôi tay đang nắm lấy nhau của Tịch Tà và Minh Châu, vẻ mặt chợt ảm đạm đi.
Tịch Tà hơi ngượng ngùng, chậm rãi buông lỏng tay ra, ôm quyền nói: “Anh Thẩm, đã lâu không gặp, chúc mừng năm mới”.
Sắc mặt Thẩm Phi Phi hơi hòa hoãn lại, không nghe thấy Tịch Tà nói, chỉ cười hì hì tiến lên bảo Minh Châu: “Tiểu sinh chúc cô nương năm mới đại cát đại lợi”.
Minh Châu cười nhạt, cúi đầu nhìn quần áo trên người mình, quở mắng: “Cô nương cái gì?”.
Thẩm Phi Phi bừng tỉnh, nói: “Anh Minh Châu, chúc mừng năm mới”.
Minh Châu chắp tay: “Anh Thẩm, chúc mừng năm mới.

Tối nay là thời cơ cực tốt để Thẩm đại công tử phát tài, thế đã có thu hoạch gì chưa?”.

Thẩm Phi Phi tỏ ra xấu hổ nhưng vẫn kiên nhẫn, xum xoe vây quanh Minh Châu.

Lý Sư ở xa xa, hai tay mỗi bên cầm một xâu mứt quả, toét miệng vừa cười vừa gọi: “Tịch Tà cũng ở đây!” Y chạy vội tới trước mặt mọi người, nhìn kỹ Minh Châu một lát rồi đột nhiên bỏ xâu mứt quả vào trong tay nàng: “Cô nương ăn đi”.
“Cảm ơn”.

Minh Châu tươi cười nói.
Thẩm Phi Phi hung dữ trợn mắt nguýt Lý Sư rồi nhảy vào trong đám người, vơ vét trên các sạp hàng nhỏ, mua vô số đồ ăn vặt, đồ chơi bằng tiền vụn trong tay rồi dâng hết hai tay ở trước mắt Minh Châu.
Minh Châu mỉm cười nói: “Anh Thẩm tốn kém rồi, tôi không thích mấy thứ này”.
Tịch Tà thấy Thẩm Phi Phi hết sức nản lòng thì vội vàng nhận thay nàng, nói: “Đa tạ, đa tạ.

Minh Châu nhận đi”.
Minh Châu hừ một tiếng, không muốn nhận bèn hỏi Lý Sư: “Anh có thích ăn không?”.
“Có!” Lý Sư ở bên cạnh Minh Châu, vui mừng hớn hở nhai hết công sức của Thẩm Phi Phi.

Tịch Tà không dám lắm miệng nữa, tụt lại phía sau họ mấy bước, tự tiếp tục đi về chùa Đông Hoằng Nguyện, ánh mắt lơ đãng quét góc bên cạnh đã thấy thằng nhóc tùy tòng trong phủ Khương Phóng đang lén ra hiệu với mình.

Tịch Tà nhíu mày, bước chậm lại mấy bước rồi mới vẫy vẫy tay với cậu ta.
“Lục gia!” Thằng nhóc kia hạ giọng đi theo sau Tịch Tà, nói: “Lão gia nhà tôi mời ngài đến phủ”.
“Gấp lắm à?”
“Rất gấp ạ”.
Tịch Tà gật đầu, lui ra bên cạnh, quay đầu nhìn về giữa đường, Minh Châu đang ở giữa lầu ngọc gác châu, đảo đôi mắt đẹp lo lắng nhìn quanh.

Tịch Tà thở dài, theo thằng nhóc núp vào trong con hẻm nhỏ tối tăm.
Bọn họ đi vào từ cửa nách của phủ Khương Phóng, đi tới phòng sách ở chái đông, nơi này là chỗ giải quyết việc công của Khương Phóng lúc bình thường, ngay cả phu nhân của Khương Phóng cũng không thể vào nếu không được mời.

Thằng nhóc đẩy cửa ra, vén mành phòng bên lên cho Tịch Tà.

Tịch Tà khẽ khom lưng vào, bỗng cả kinh.
“Sao lại thế nào?”
Khương Phóng vừa ngồi dậy từ trên giường, nói: “Thất bại rồi” vừa mở rộng áo bông, dưới sườn phải có một vết thương sâu đến mức thấy được cả xương, mặc dù đã cầm máu lâu rồi nhưng vẫn ghê người.
“Là kẻ nào?” Tịch Tà đau lòng, tiếng nói cũng khẽ thay đổi.
Thằng nhóc lấy băng vải quấn vết thương.

Khương Phóng dùng áo bông che lại, khó nhọc nói: “Là Lê Xán.

Đêm qua bọn thuộc hạ đi tìm hòa thượng Văn Thiện, không ngờ Lê Xán đang chờ ở trước cửa phòng thiền, đả thương nhiều người, bọn tôi không làm xong việc.

Tối nay tôi đi gặp hắn, khinh địch nên bại”.
Tịch Tà nói: “Không cần nói nữa.

Chưa diệt được hai người này thì cuối cùng sẽ thành nuôi ong tay áo, chi bằng ta tự mình đi một chuyến.

Cơ thể anh đã như vậy, ngày mai tuyệt đối đừng đi trực nữa, nghỉ ngơi đi”.
“Gia cẩn thận đấy”.

Khương Phóng gọi hắn lại: “Giáo của hắn mạnh lắm…”.
Tịch Tà thấy anh ta nói chuyện miễn cưỡng, vội vàng gật đầu nói: “Biết rồi”.

Hắn tiện tay tháo xuống một thanh kiếm dài từ trên tường phòng sách của anh ta, nói “Tôi mượn một lát” rồi nhẹ nhàng nhảy vào trong trời lửa đầy ánh trăng.
Tuy lúc này đã qua canh ba nhưng người đi đường vẫn chưa giảm bớt.

Tịch Tà cầm kiếm đạp lên băng trôi trên sông, chạy như bay trong bóng tối dưới con đê, chỉ chốc lát đã đến dưới cầu Phiêu Hạ.

Hắn lên bờ từ chỗ ấy, vòng vào hẻm nhỏ, cách đó không xa đã thấy núi đèn hình con ngao trước cửa chùa Tây Hoằng Nguyện.

Tịch Tà vượt tường vào từ phía sau miếu, tìm được viện phòng thiền cạnh chính điện hôm qua.

Mới nhảy đến đầu tường đã thấy một luồng sát khí ngông cuồng đập vào mặt, Tịch Tà không kịp thấy rõ đối thủ, vội vàng lùi lại, đạp nhẹ lên tuyết đọng trên cành tùng, ra xa hơn một trượng rồi dừng chân trên mái cong đầy băng tuyết của phòng thiền.

Hắn đoái mắt mỉm cười nói: “Sao tướng quân lại ở chỗ này?”.
Lê Xán vung giáo sắt trong tay ra sau người, thân thể cao to bất động như núi, ngửa đầu cười nói: “Mài giũa với cao thủ là cái thú của chúng ta, xin công công cho đánh một trận”.
“Anh Lê, hòa thượng Văn Thiện trong căn nhà đó thốt ra những lời đại nghịch bất đạo như vậy, tôi vâng lệnh vua đến đây, chi bằng để tôi giết ông ta trước rồi hai ta đánh sau cũng không muộn”.
“Hãy để ông ta là tiền cược”.

Lê Xán nói: “Nếu công công thắng tôi, không chỉ ông ta mà cả tôi cũng mặc công công xử trí”.
Tịch Tà sớm đã có sát khí, chỉ cười nói: “Được!” Ánh kiếm đã đâm thủng ánh sáng phồn hoa dập dềnh trên trời, lập tức giết đên trước khi tiếng nói vang lên.
Lê Xán ghì chặt chân, mũi giáo thẳng tắp một thước một tấc như gấp rút hội tụ sự giết chóc của chủ, hai đường vòng cung ở mũi nhọn chợt thu thành một mũi nhọn đen kịt.

Lúc hắn ta khom lưng tích thế, Tịch Tà lập tức phát hiện dường như hô hấp trong phổi mình bị rút khỏi thân thể, quấn vào trong thế giáo của hắn ta theo tất cả âm thanh trong thiền viện.
Thế giết ngút trời của Tịch Tà liền bị áp chế như vậy.

Ngay lúc ấy, Lê Xán lại dang cánh tay đâm giáo, thế giáo to lớn lẫm liệt, một đi không trở lại, thiền viện yên lặng cao giọng gầm rú như trong hang cọp!
Mũi nhọn ấy không đâm tới mà đột nhiên nổ ở trước mặt, làm gió đêm thốc vào mặt thôi cũng mang đến cơn đau đớn nóng rực.

Dưới thế giáo hung ác như thế, Tịch Tà cũng phải cả kinh, tháo bỏ nội lực khắp người đang cuồn cuộn về phía trước.

Thế vọt lên vừa ngừng lại, sát khí của mũi thương xẹt qua eo hắn như sấm rền cuốn qua.

Hiếm khi Tịch Tà sinh ra nỗi sợ hãi phá gan nứt mật, mũi kiếm lay động, thân hình đột nhiên rụt lại.

Mũi giáo của Lê Xán vẫy như đuôi rồng, đột nhiên quét ngang về phía eo Tịch Tà.

Trong nháy mắt ấy, Tịch Tà bắn về mái nhà, cúi đầu nhìn áo da bị mũi giáo cứa rách, cười khẽ một tiếng.
“Hay cho một chiêu giáo bất động như núi, di chuyển như sấm”.

Tịch Tà khen.
Lê Xán dừng giáo lại, ánh trăng chiếu lên vẻ tự nhiên ngạo nghễ trên mặt hắn ta nom càng bắt mắt, khí thế ngang ngược tự nhiên mà thành, không mảy may che giấu, nhanh chóng nhảy tót lên một góc của thiền viện.

“Người có thể rút lui lành lặn dưới một giáo của tôi chỉ đếm được trên đầu ngón tay thôi.

Công công trẻ tuổi nhưng võ công rất cao”.
Tịch Tà khiêm tốn nói với vẻ mặt ôn hòa: “Quá khen”.

Nhưng trong bụng hắn đã có sự tức giận.

Người trẻ tuổi trước mặt này chắc chắn không phải tướng quấn Du Kích ở Ngô châu tìm tới mài giũa võ nghệ, hai lần chặn giết mãnh liệt hung ác đã tỏ ý đồ của hắn ta quá đỗi rõ ràng rồi.

Tịch Tà nhìn kỹ cây giáo sắt của Lê Xán: lưỡi bên sắc bén kiên cố quả là vũ khí sắc bén chém đầu người, đây chính là lý do khi giáo dài quét ngang, mình lại cảm thấy rất giống kiếm.

“Mũi giáo của anh Lê vừa dài vừa rộng, có phong cách giống kiếm, sau một cú đâm như sấm sét thì lại biến hóa theo kiếm pháp, chắc là một phái riêng trong thuật dùng giáo hiện nay.

Lẽ nào anh Lê vốn dĩ học kiếm thuật à?”.
Ánh mắt Lê Xán rất vui mừng, cười nói: “Công công nhìn rõ mọi việc, tại hạ bội phục.

Trong võ học, công công có thể xứng là tri âm của tại hạ”.
“Không biết anh Lê học kiếm pháp từ vị tiền bối nào?”
Nét mặt Lê Xán lạnh đi: “Không đáng nói với người ngoài.

Với sự thấy nhiều biết rộng của công công, đánh tiếp một lát nữa là biết ngay thôi”.
Tịch Tà cười lắc đầu: “Tôi giao chiến với anh chỉ vì Văn Thiện.

Ông ta đã hiện thân rồi, vì sao tôi còn phải dây dưa với anh? Ra đây!” Hắn nói xong lời cuối cùng thì quát một tiếng về phía sau đầu hồi.
“A Di Đà Phật”.

Văn Thiện nơm nớp lo sợ bước ra, ngẩng mặt la to: “Tiểu vương…”.
Tịch Tà cười khanh khách ngắt lời ông ta, ngón tay trắng như tuyết đặt dọc bên môi, thở dài một tiếng: “Đạo trưởng, cái miệng này của ông chẳng thay đổi chút nào.

Cẩn thận tiết lộ nhiều thiên cơ quá sẽ tổn thọ đấy”.
Văn Thiện cúi đầu nói: “Thí chủ nói phải…”.
Tịch Tà bảo: “Biết là tốt!” Ánh kiếm lóe lên, thẳng đến ấn đường của Văn Thiện.

Lê Xán trở tay không kịp, giáo sắt phát lực chặn hắn lại, thân pháp của Tịch Tà phấp phới như bị gió lạnh thổi vào, đột nhiên rút về hơn năm thước.

Hai cánh tay của Lê Xán đã cạn sức nhưng vẫn chưa đâm tới người Tịch Tà.

Ánh kiếm kia rời khỏi tay, dứt khoát xuyên thẳng qua đầu Văn Thiện, ngã ầm xuống đất theo thi thể mà hãy còn lấp lóe ở dưới ánh trăng.
Lê Xán không khỏi giận dữ, cây giáo dài tám thước ngang dọc thiền viện bằng chi chít những chiêu kiếm.

Tịch Tà không có kiếm trong tay, ỷ vào thân pháp tuyệt luân mà di động ở dưới mũi giáo, bỗng nhiên lượn quanh phía sau cây trong viện.

“Chớ có trốn!” Lê Xán rống to hơn, cây giáo lập tức chém đứt thân cây, trong nháy mắt tuyết đọng trên cành che khuất bầu trời.

Lê Xán chỉ cảm thấy mũi giáo hơi nặng, cán giáo gỗ cong thành hình trăng nón trong tuyết bay.

Không ngờ Tịch Tà lại đứng trên mũi giáo trong lúc cây giáo của hắn ta đâm tới, khuôn mặt lóng lánh cúi xuống cười.

Lê Xán kinh hãi, vội khua giáo thì đã thấy Tịch Tà ra tay chỉ về phía mình.

Hắn ta chợt cảm thấy giữa lông mày nhói lên vì khí lạnh sắc bén, không khỏi quát to một tiếng, ra sức quăng giáo, ngửa người tránh.

Tịch Tà không đánh trúng, đưa tay moi trường kiếm trên thi thể, xoay người nhìn lại thì Lê Xán đã tung người lên, nhặt lại giáo, cán giáo chống đất, vút qua mấy trượng, bỏ trốn ra biển đèn bên ngoài chùa.
“Trốn?” Tịch Tà cười khẩy một tiếng, tra kiếm vào vỏ rồi đuổi theo.
Lê Xán chọn hướng nam, lấy cán giáo mượn lực mà đi như thuyền nhẹ trôi dòng, chạy ra hơn năm dặm thì trái tim kinh hãi hơi ổn định lại, mới tranh thủ thở phào, quay đầu nhìn lại.

Không ngờ chỉ trong chốc lát bóng người cưỡi ánh trăng, gió lốc lại gần hơn mấy trượng, Lê Xán không khỏi biến sắc, sau khi tung người rơi vào ngõ Lan Đình thì xé góc áo, bọc lấy mũi giáo.

Rẽ vào một khúc cua, trước mắt xa hoa truỵ lạc, phồn hoa hội tụ, Lê Xán cúi đầu ẩn vào trong đám người.

Tịch Tà treo kiếm ở hông, thấy bóng Lê Xán cao gầy lấy quần áo bọc cán giáo vội vàng đi về phía trước ở trong đám người thì không khỏi cười thầm, tách dòng người ra lẳng lặng tới gần.
“Tịch Tà!” Một bàn tay chìa ra từ bên cạnh tóm lấy cánh tay Tịch Tà.

Tịch Tà quay đầu nhìn lại, thì ra đã ở trước cửa viện Tê Hà, Lý Sư đang thoải mái cười to ở trước mắt, nói: “Quả nhiên anh ở chỗ này, tôi chờ anh đã lâu rồi đấy”.
Tịch Tà hất tay y ra bảo: “Tôi có việc gấp”.
Thẩm Phi Phi thò đầu ra từ bên cạnh, cười nhạt nói: “Việc gấp? Vứt bỏ cô nương Minh Châu không màng, chính mình thì tìm vui, uổng nàng đối với anh như vậy”.
Tịch Tà thấy Lê Xán mang cán giáo càng chạy càng xa, lạnh lùng nói: “Tôi không lải nhải với các người”.

Lại nghe được một tiếng kim loại sắc nhọn, đỉnh đầu “két” một tiếng, Lý Sư kêu lên: “Cẩn thận”.

Thân thể to lớn của y xô hai người sang bên, đèn dầu thủy tinh trên lán trúc trước cửa viện Tê Hà đập xuống đất ầm ầm, dầu bắn tung tóe vào áo da của Lý Sư, chợt cháy bừng lên.

Tịch Tà và Thẩm Phi Phi vội vàng che lên làm ngọn lửa tắt giúp y, nhưng gấm màu ở lán trúc và đèn hoa ven đường chỗ ấy cũng bị lan đến, thế lửa bùng lên khắp cả đường, gom người đi đường lại, hết sức dữ dội.

Các việc hai bên sợ bị người khác dẫn lửa vào nên đều cuống quýt đóng cổng, còn lấy làn trúc chặn nóc, ngoại trừ đầu hẻm thì đoàn người hoàn toàn không còn chỗ để chạy trốn.

Đám người giữa đường bị lửa chặn lối đi, giẫm đạp lên nhau, không ngừng kêu la.

Mặc dù võ công của ba người Tịch Tà cao cường nhưng cũng bị bầy người ngăn ở trong lửa, không có cách nào chạy thoát.
Lúc này, Tê Hà đi ra từ trong cửa, kêu lên: “Lục gia và hai cậu hãy sang bên này”.
Tịch Tà mò một đầu mũi tên sắc bén từ dưới chân người đi đường rồi chen vào.

Tê Hà vội sai người khép cửa, người đi đường không có chỗ trốn đành đập điên cuồng ở ngoài cửa.
Lý Sư hỏi: “Người đi đường thương vong nhiều thế, sao không để cho họ vào?”.
“Thưa cậu, tuy viện này của tôi nhỏ nhưng tinh xảo, chỉ sợ người không liên can vào sẽ nhân cháy nhà đến hôi của, cướp đồ châu báu của tôi.

Họa là do các người gây ra, còn quan tâm đến kẻ khác ư? Đi nhanh đi”.

Tê Hà nói rồi dẫn ba người xuyên qua nhà chính, đi tới rừng trúc sau lầu Hồi Mâu và lấy ra một xâu chìa khoá từ trong vạt áo, mở ám khóa trên cửa, nói: “Ba vị ra khỏi viện sau là đến đường bắc, bảo trọng”.
Tịch Tà hỏi: “Chị không tránh lửa à? Viện Tê Hà ở ngay giữa ngõ Lan Đình, chỉ sợ lúc viện gặp tai ương thì sẽ không còn chỗ nào để đi đâu”.
Tê Hà đáp: “Cũng may trên nóc nhà đều là tuyết đọng, muốn cháy cũng khó”.
“Đèn là của viện Tê Hà, người trong nha môn chắc chắn sẽ tới hỏi.

Nếu có làm khó thì cứ nói với tôi”.
“Tôi biết rồi, đa tạ lục gia tha gánh vác cho”.

Tê Hà tươi cười đẩy họ ra khỏi cửa.
Trong căn viện này có hai tòa lầu nhỏ, một cái hồ, tuyết trắng bao trùm rất dày, như thể đã rất lâu không có ai đặt chân vào.

Để thoát khỏi đám cháy nên ba người chưa kịp nhìn kỹ đã nhảy từ sau tường ra con hẻm nhỏ.
Tịch Tà hỏi: “Minh Châu đâu?”.
“Về rồi”.

Lý Sư đáp: “Tôi và Thẩm Phi Phi đều nghĩ anh ở đây nên đến hỏi tội”.
Tịch Tà cười nói: “Tôi có tội gì chứ? Thẩm Phi Phi không dỗ dành cho Minh Châu vui vẻ được, giận lây sang tôi, anh lại đến xem trò vui gì nữa?”.
Lý Sư bảo: “Gần đây võ công của tôi đã tiến bộ rất nhiều, muốn thử đánh với anh một lần”.
“Vậy cũng tốt”.

Tịch Tà không khỏi cười nói: “Tôi có một anh bạn, võ công ngang ngửa tôi, cũng là một tay mê võ nghệ.

Chừng nào định được ngày sẽ mời hai anh gặp nhau”.

Dứt lời hắn từ biệt hai người rồi về cung.
Minh Châu vẫn đang đợi, thấy áo da bên hông hắn bị người ta chém rách, góc áo cũng bị cháy sém thì lại oán trách hắn một mình đi mạo hiểm.

Tịch Tà chỉ cười, nói: “Tôi và Văn Thiện kia có món nợ nhiều năm, hôm nay trả sạch quả là vui sướng”.
Minh Châu bảo: “Lại là một người chưa nghe thấy bao giờ”.
“Văn Thiện vốn là đạo nhân Ngưỡng Thiên, nhiều năm trước đã ra vào phủ công hầu, khiến một đám người tin ông ta.

Mẫu phi tôi xin ông ta vào phủ làm lễ cúng, không khéo gặp phải phụ vương, nói tà thuyết mê hoặc người khác, dần dần truyền ra ngoài.

Phụ vương sai người diệt trừ ông ta nhưng ông ta lại thoát được, không ngờ đã biến hóa nhanh chóng làm hòa thượng rồi.

Bộ tộc họ Nhan bị hoàng thất kiêng dè có can hệ một phần do người đó, hôm nay g**t ch*t ông ta, sau này sẽ bớt đi rất nhiều tai nạn”.
Minh Châu đột nhiên hỏi: “Chưa từng nghe lục gia nói đến ông ta, chẳng lẽ hai hôm này mới gặp phải ư? Ông ta lại nói những gì mà phiền lục gia tự mình ra tay thế?”.
“Vẫn không thể giấu được cô”.

Tịch Tà than thở: “Mấy lời mê sảng, không nhắc cũng được”.
“Vâng”.

Minh Châu mỉm cười, đứng dậy chào tạm biệt: “Gia nghỉ đi thôi, chưa biết chừng ngày mai sẽ có việc trong cung Càn Thanh đấy”.
Hôm sau, Cát Tường và Như Ý đã về cung từ sáng sớm, đang uống trà thì thấy Lý Cập vui vẻ đi vào viện Cư Dưỡng, phụng chỉ truyền ba sư huynh đệ yết kiến ở cung Càn Thanh.

Ba người Tịch Tà dập đầu vâng lệnh rồi ai nấy đều đi thay quần áo.

Lý Cập không nhịn được nói: “Mấy anh em vừa đi, bên cạnh vạn tuế gia không có người tri kỷ biết ý, không được vui, luôn răn chúng nô tỳ không hiểu chuyện, thông minh kém xa các anh.

Các anh thì hay rồi, lúc thánh thể không an chẳng thấy dập đầu vấn an, thật là nhẫn tâm”.
Cát Tường cười bảo: “Không dám, mỗi ngày chúng tôi đều ở đây tụng kinh thắp hương, cầu Phật tổ phù hộ cho long thể của vạn tuế gia được an khang, người ngoài không biết đấy thôi.

Hoàng thượng đã bình phục chưa ạ?”.
“Đã an lành rồi”.

Lý Cập gật đầu nói: “Song hai ngày này lại đang bận chuyện gì đó của cửa khẩu Tiểu Hợp, ngủ rất muộn, mà cũng không yên giấc được”.
Cát Tường lại than thở vài tiếng với gã rồi cùng nhau đi tới cung Càn Thanh.

Lý Cập vào thông báo, ba người phủ phục trước bậc, nghe được tiếng bước chân vang lên, không ngờ hoàng đế tự mình bước ra ngoài cửa, liếc thấy họ, kiềm nén niềm vui sướng vô tận rồi thản nhiên nói: “Đứng lên, vào trong hầu đi”.
“Vâng”.

Tịch Tà theo Cát Tường, Như Ý dập đầu tạ ơn, cảm giác ánh mắt hoàng đế đang ở trên lưng mình: “Hoàng thượng…”.
“Sao?”
Tịch Tà hỏi: “Long thể của hoàng thượng có bình an chăng?”.
Hoàng đế mỉm cười trả lời: “Không bị các khanh tức phát ốm là tốt rồi”.
Cát Tường cười làm lành, hoàng đế ngồi ở sau hương án, nói: “Như Ý, trẫm giao cho khanh một việc đây”.
“Vâng”.

Như Ý quỳ gối dưới chân hoàng đế.
Hoàng đế bảo: “Đã quyết định thời gian công chúa Cảnh Ưu lên đường rồi, chính là ngày mùng một tháng Hai.

Trẫm lệnh khanh làm thái giám đề đốc của giám Ty lễ, ngự sử nội đình hòa thân, hộ tống công chúa dọc đường đến Đại Lý hòa thân.

Sau lễ hợp cẩn của công chúa thì ở lại Đại Lý chăm sóc sinh hoạt thường ngày của công chúa, chỉ dẫn lễ nghi cho công chúa, đến khi phụng chiếu về nước”.
Như Ý cả kinh, bò lên hai bước, kéo góc bào của hoàng đế, thất sắc hỏi: “Vạn tuế gia, có phải nô tỳ đã làm chuyện tội ác tày trời, vạn tuế gia ghét nô tỳ hầu hạ, muốn đuổi nô tỳ rời cung không ạ? Nếu là như vậy, xin hãy ban cho nô tỳ tự sát trong cung, để cuối cùng nô tỳ được gần ơn vua mênh mông cuồn cuộn của vạn tuế gia hơn…”.
“Như Ý! Trong tháng Giêng mà nói bậy gì đó!” Hoàng đế quát anh ta lại: “Đừng nghĩ ngợi lung tung, khanh là người thân tín nhất của trẫm.

Lần này khanh đến Đại Lý, trẫm có việc cơ mật phải giao cho khanh, nếu là người khác thì trẫm không yên tâm”.
Như Ý ăn vạ: “Rõ ràng người thân tín nhất của hoàng thượng là Cát Tường và Tịch Tà, hoàng thượng sai họ đi đi, nô tỳ chỉ muốn hầu hạ bên hoàng thượng thôi”.
Hoàng đế thấp giọng cười nói: “Khanh chớ dùng bài này với trẫm.

Khanh cùng trẫm lớn lên, sao bọn họ có thể so được với khanh? Nếu không biết rõ khanh thông minh hơn người, mạnh vì gạo, bạo vì tiền, rất biết giao thiệp thì làm sao trẫm cam lòng để khanh rời cung? Trẫm muốn khanh ở phía nam giám thị Tây vương Bạch Đông Lâu, thuyết phục Đại Lý Vương xuất binh tiêu diệt người Miêu, kiềm chế Tây vương.

Khanh có thể làm được không?”.
Như Ý suy nghĩ rồi nói: “Đây vốn là việc rất khó, vả nô tỳ lại là nội thần.

Chỉ xin có ý chỉ của hoàng thượng bên cạnh, cho nô tỳ thêm can đảm”.
“Việc này không khó”.

Hoàng đế bảo: “Khanh ở phía nam, không rõ chi tiết hoặc có chuyện gì khó xử thì cứ viết mật báo dâng thẳng lên cho trẫm.

Cầm thủ dụ của trẫm mà làm việc”.
“Vâng”.

Như Ý ngấn lệ nói: “Nô tỳ xin tuân thánh chỉ.

Nhưng…”.
“Nhưng gì?” Hoàng đế hỏi.
“Vạn tuế gia đừng quên mất nô tỳ.

Nô tỳ không muốn ở Đại Lý cả đời đâu”.
Hoàng đế cất tiếng cười to: “Yên tâm đi! Trẫm không thể thiếu khanh bên cạnh được.

Trẫm đã giao thủ dụ cho phủ nội vụ và giám Ty lễ rồi, khanh mau đến chỗ của thái phi và công chúa tạ ơn rồi chuẩn bị sớm đi”.
Như Ý dập đầu đi ra, đi khắp các nơi một ngày, đến đêm trở lại viện Cư Dưỡng thì Tịch Tà đã ngồi ở hành lang chờ anh ta.
“Em biết ý chỉ của hoàng thượng, mà đó cũng là do em nghĩ ra à?” Như Ý ngồi trên ghế hỏi.
“Em từng nhắc tới một câu”.

Tịch Tà cười nói.
Như Ý nhìn chung quanh: “Những người khác đâu?”
“Em bảo họ đi xa rồi”.

Tịch Tà rót trà rồi đưa đến tay Như Ý: “Nhị sư ca có lời ư? Chuyện của Đại Lý ạ?”.
Như Ý lắc đầu nói: “Chuyện đó ấy à, thuyền tới cầu tự nhiên có chỗ đậu! Anh chẳng qua chỉ là một kẻ tàn tật, cùng lắm thì bỏ một cái mạng, cần gì suy nghĩ nhiều?”.
“Vậy thì là vì cớ gì?”
Như Ý thở dài, môi lẳng lẽ mấp máy, giọng nói như tuyết bay nước chảy: “Đối với người mình thích, hoàng thượng luôn tốt hơn vạn lần.

Nhưng đối với người mình căm ghét thì sẽ không nể tình chút nào đâu.

Em xem Chiêu Phúc ấy, đã chết rồi, không truy cứu đến hoàng hậu được, không cho toàn thây thì cũng đành, còn muốn làm cho tan thành tro bụi.

Ấy đã biết rõ chọc tới vị vạn tuế gia này thì người nhất định sẽ tuyệt tình tuyệt nghĩa, thủ đoạn tàn nhẫn.

Em giày vò thái quá, chỉ sợ có ngày chọc giận người, khi đó chớ nói đến trong triều đình, ngay cả anh em bọn anh cũng phải trung nghĩa, không thể chịu nổi đâu.

Lần này anh đi Đại Lý, không biết khi nào anh em ta mới có thể gặp lại, những lời này là anh bẻ đầu xuống mà nói cho em, hãy hết sức cẩn thận đấy”.
Trong đêm rét giá, Tịch Tà nhẹ nhàng thổi hơi nóng trên trà: “Vâng, cảm ơn anh”.[1] một loại kết cấu đặc biệt của kiến trúc Trung Hoa, gồm những thanh ngang từ trụ cột chìa ra gọi là củng và những trụ kê hình vuông chèn giữa các củng gọi là đấu.
[2] Hòa thượng mới xuất gia.
[3] Ý chỉ rùa lớn hoặc ba ba lớn trong biển.

Trong “Hoài Nam Tử – Lãm lý” có chép lúc Nữ Oa vá trời từng “Chặt chân ngao để lập bốn cực”, trong Đông Hải có ngao lớn vác ba ngọn núi tiên là Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu.

Có 2 loại hình tượng, một là long ngư (ngao ngư) đầu rồng đuôi cá, tức si vẫn (mỏ diều hâu – hay được trang trí hai đầu nóc nhà); hai là con cả trong chín con của rồng, tương truyền “rồng sinh chín con, ngao là đứa đầu”, có đầu rồng, thân rùa, đuôi kỳ lân, nay gọi là long quy (ngao quy).

Tương truyền sau khi Nữ Oa chặt chân ngao vá trời, sau khi mất tứ chi, ngao quy biến thành ngao ngư, lại bay lên cao canh gác vòm trời cho Nữ Oa, trở thành si vẫn.
[4] Một loại đồ trang sức dùng tơ lụa hoặc giấy vàng đen làm thành hình hoa hoặc côn trùng.
[5] Một loại hồ lô nhỏ cỡ 8cm trở xuống, thuộc hàng cực phẩm, giá cả cao..
 
Khánh Hi Kỷ Sự
Chương 21: 21: Hoàng Hậu Vương Thị


Trận hỏa hoạn ở ngõ Lan Đình hôm mười sáu tháng Giêng đã ầm ĩ đến mức khiến kinh sư không yên, triều đình chấn động.

Tạm chưa nói đến không dưới trăm người bị bỏng, bị giẫm đạp, trong hơn ba mươi người chết còn có một vị chủ sự chính lục phẩm của bộ hộ bị thương nặng không chữa khỏi, hôm sau đã tắt thở.
Sau nỗi kinh hãi, hoàng đế hết sức nghi hoặc: “Mệnh quan triều đình lưu luyến câu lan[1] đến nỗi bỏ mạng là cớ làm sao? Thanh sắc[2] thế nào mà làm ông ta không màng kỷ cương triều đình, không màng mặt mũi của mình, không màng tiền đồ, tính mạng của mình? Người như vậy chết lại hay, trẫm đỡ phải tự mình khai đao với ông ta”.
La Tấn chỉ sợ bị liên lụy vào trong nên thấp thỏm lo âu, ống tay áo không ngừng run rẩy.

Khương Phóng thì ngậm chặt miệng, sắc mặt cũng rất khó coi.

Thành Thân vương vừa định mở miệng, hoàng đế đã nhìn y nói: “Không cần nói nữa.

Có biết kẻ gây chuyện là ai không? Ty binh mã ngũ thành vẫn chưa tìm bắt được à?”.
“Vâng”.

Đề đốc binh mã ngũ thành Viên Tấn cúi đầu lĩnh mệnh: “Mặc dù chưa bắt được kẻ gây chuyện, nhưng đám cháy xảy ra trước cửa viện Tê Hà, ngõ Lan Đình, chắc chắn là có dính dáng đến kẻ gây ra họa nên thần đã tìm bắt thẩm vấn…”.
“Được rồi!” Hoàng đế cảm thấy nói tiếp thì thực sự làm nhục sự văn nhã của triều đình, không nhịn được quát ngừng lại: “Khanh mau mau đi làm là được”.

Hôm nay vốn muốn sắp xếp các chuyện lớn ở kinh doanh nên từ sáng sớm hoàng đế đã vui sướng hưng phấn, ngờ đâu lại bị một vụ án ở ngõ Lan Đình quấy rối tình hình, lúc này trông Viên Tấn lui ra ngoài thì vô cùng mất hứng.
Lưu Viễn nói: “Hoàng thượng bớt giận.

Hôm nay nội các đều tại đây, ắt hẳn vạn tuế gia có dụ thị quan trọng hơn…”.
“Đúng thế”.

Hoàng đế bảo: “Thiết lập lại kinh doanh ở cửa khẩu Tiểu Hợp, đến nay vẫn chưa có thống soái, trẫm muốn lệnh cho thống lĩnh thị vệ Hạ Dã Niên làm tổng đốc nhung chính của kinh doanh.

Các vị ái khanh có ý kiến khác không?”.
Mọi người đều biết Hạ Dã Niên không được hoàng đế tin tưởng, chẳng biết tại sao hôm nay lại muốn giao bốn vạn tinh binh cho gã.

Mọi người hết sức bất ngờ, bỗng chốc nhìn nhau, không biết ý của hoàng đế nên không chịu nói trước.

Chỉ có Lưu Viễn đáp: “Hạ Dã Niên đã trải qua cả trăm trận chiến, trung thành, tận tâm, nhiều năm qua bảo vệ thánh giá, không có sơ hở.

Thần thấy rất thỏa đáng”.
Hoàng đế vui vẻ bảo: “Vậy là tốt rồi.

Có điều năm ngoái Hạ khanh thường xuyên mang bệnh, trẫm rất lo lắng.

Hạ khanh là bề tôi đắc lực, trẫm không đành lòng ép chịu đựng gánh nặng việc quân.

Khương Phóng, khanh và Hạ khanh cùng dẫn dắt thị vệ và cấm quân hai cung nhiều năm, hòa thuận với nhau.

Trẫm muốn lệnh cho khanh cùng nhau giải quyết việc phòng thủ kinh doanh, ý khanh thế nào?”.
Khương Phóng trầy trật đứng lên đáp: “Thần xuất thân thấp hèn, không có tài lớn có thể gánh được trọng trách, tất nhiên sẽ đền đáp đến thịt nát xương tan”.
“Tốt”.

Hoàng đế mỉm cười gật đầu.
Khương Phóng nói tiếp: “Chỉ là chức vụ thủ vệ hai cung nặng nề, sau khi hai người chúng thần dời đi thì ai sẽ kế nhiệm ạ?”.
Lưu Viễn đã lắc đầu tâu: “Hoàng thượng, chức vụ thị vệ liên quan đến an nguy của thánh thượng, không được có sơ xuất.

Hạ Dã Niên và Khương Phóng dời đi đồng thời hết sức không ổn”.
Hoàng đế nhíu mày: “Khương khanh, đành để khanh vất vả, tạm thời giữ chức thống lĩnh thị vệ và cấm quân hai cung, kiêm việc của kinh doanh.

Thế nào?”.
La Tấn nhìn thấu đầu mối, vội nói: “Đúng vậy, hoàng thượng thánh minh, như vậy vô cùng thỏa đáng”.
Hoàng đế bèn bảo: “Tốt, vậy thì nội các soạn chỉ đi”.
Khương Phóng vẫn không thức thời tranh nói một câu: “Hoàng thượng, trong kinh doanh có rất nhiều quan quân tỉnh ngoài, thần và Hạ thống lĩnh đều xa lạ, có thể điều động một nhóm thị vệ thâm niên trong cung, dùng để truyền đạt quân lệnh, kiểm tra quân kỷ không ạ?”
Hoàng đế nói: “Cho phép thỉnh cầu của khanh”.
Lúc bấy Ông Trực cũng đã nhận ra, bèn hỏi: “Trước nay việc thống lĩnh kinh doanh do tổng đốc, việc giám sát thì do nội thần.

Lần này thiết lập lại kinh doanh, có làm theo chế độ cũ, để nội thần giám quân không ạ?”.
La Tấn cũng nói: “Kinh doanh hộ tống thánh giá, bên trong thì phòng giữ kinh sư, ở bên ngoài thì theo giá đi chinh phạt.

Nếu kinh doanh chuyển quân ra ngoài, an nguy của hoàng thượng tất gắn liền với quân đội, chức giám quân không thể coi thường, nên để nội thần thân tín nhất bên cạnh thánh thượng đảm đương”.
Hoàng đế vui mừng, hiếm khi mỉm cười với La Tấn: “Lời ấy của khanh có lý.

Tịch Tà…”.

Hắn quay đầu hỏi thiếu niên trong góc: “Khanh có bằng lòng giám quân kinh doanh vì trẫm không?”.
Tịch Tà cười đáp: “Bẩm hoàng thượng, nô tỳ trẻ người non dạ, không biết giám quân là việc thế nào”.
Hoàng đế nói: “Khanh có thể làm được việc gì chứ? Chỉ bảo khanh làm chân chạy truyền tin tức thôi, đỡ khỏi lúc nào cũng ở trước mặt trẫm đến ngán ngẩm”.
“Đã như thế, nô tỳ xin tuân thánh chỉ”.
Mọi người đều thở một hơi nặng nề.

Việc canh phòng hai cung được giao vào tay Khương Phóng một cách danh chính ngôn thuận.

Hạ Dã Niên thì bị hoàng đế đuổi ra khỏi cung thành một cách quang vinh, rõ ràng là tổng đốc kinh doanh, thực tế lại bị Khương Phóng và Tịch Tà tước mất quyền lực thành chức danh giả.

Đến khi giao cho nội các danh sách thị vệ được điều phái tới kinh doanh thì ý của hoàng đế càng là tỏ tường.

Những thị vệ phụng chỉ dời đi đều là thuộc hạ cũ và tâm phúc nhiều năm của Hạ Dã Niên, bây giờ cuối cùng cung Thanh Hòa này cũng đã trở thành cung đình của mình hoàng đế.

Thế lực của hai phái thái hậu phiên vương xuyên từ ngoài cung vào thẳng cung Càn Thanh như lưỡi dao sắc bén bị một lần hành động quét sạch.

So với mấy trăm quan tướng mà hoàng đế đặc cách cất nhắc trong kinh doanh mà nói thì ba mươi lăm thị vệ này chẳng qua chỉ là một tốp nho nhỏ, không đáng trọng dụng, sẽ lặng lẽ im ắng trong quân doanh ấy.
Vì thế tâm trạng của hoàng đế đã tốt hơn, giữ Thành Thân vương lại vườn Tử Nam cưỡi ngựa bắn cung.

Thành Thân vương thấy Tịch Tà không ở gần nên chẳng có hứng thú gì, qua quýt nửa ngày mới xin cáo lui về phủ.

Lúc cưỡi ngựa đi trên đường lớn Chu Tước, y thấy nghi trượng của đề đốc binh mã ngũ thàng nép cờ xuống định tránh ra thì vội sai người cưỡi ngựa mời Viên Tấn đến.
“Miễn lễ, miễn lễ”.

Thành Thân vương thấy hắn ta muốn nhảy xuống ngựa hành lễ thì mau chóng thúc ngựa lên kéo lại.

Hai người đi song song, Thành Thân vương dần nhắc đến viện Tê Hà.
Viên Tấn cười nói: “Vương gia nói muộn quá.

Chiều nay đã phóng thích rồi ạ”.
“Đã thả ra rồi ư?” Thành Thân vương ngẩn ra: “Vì sao?”
Vẻ mặt Viên Tấn có chút xấu hổ: “Vương gia cũng nói đám cháy ở ngõ Lan Đình vốn không liên can đến viện Tê Hà, đã như vậy thì cần gì tạm giữ những người phụ nữ này ở trong nha môn chịu tội chứ?”.
Thành Thân vương lập tức cười bảo: “Đúng vậy.

Thế đã tóm được nghi phạm chưa?”.
“Sau buổi trưa, Tịch Tà trong phòng sách có đến một chuyến, đã chỉ cho thần một câu: Nếu vô ý gây cháy thì tất nhiên không có nghi phạm, làm ầm ĩ khiến kinh sư không yên, hoàng thượng cũng chẳng vui vẻ gì đâu”.
“Đúng vậy”.

Thành Thân vương gật đầu cảm thán: “Hắn là người hiểu lòng dạ hoàng thượng.

Vì chuyện này mà hắn cố ý chạy ra khỏi cung à?”.
“Chắc là thế ạ”.

Viên Tấn cười, lên tiếng chào cáo từ.
Thành Thân vương rung động trong lòng, trở về phủ bèn gọi Triệu sư gia tâm phúc nhất tới, sai gã tự mình đến viện Tê Hà một chuyến, dò la xem Tịch Tà thường lui tới với ai, đối tốt với cô nương nào nhất trong viện Tê Hà các loại.
Tê Hà không dám coi thường việc này, vẫn bảo Khương Phóng báo cho Tịch Tà biết.

Tịch Tà cau mày hỏi: “Có ý gì?”.
Khương Phóng cười đáp: “Thành Thân vương cho rằng chắc chắn gia cố ý chạy đến ty binh mã ngũ thành nói giúp là vì cô nương nào đó.

Y không phải là một kẻ an phận, đã muốn lôi kéo gia từ lâu nên mới hỏi thăm rõ ràng để sau này dễ bề tính toán gì đó đây mà”.
“Khiến y nhọc lòng rồi”.

Tịch Tà không khỏi cười nói: “Một cô Hải Lâm mà thôi, y thích làm gì thì làm”.
“Vâng, tôi sẽ nói với Tê Hà”.

Khương Phóng đáp, lại dâng quân sách tới kinh doanh: “Hiện nay võ quan phụng lệnh điều vào kinh đã gần như đến đông đủ cả rồi, thẩm tra đối chiếu với thủ lệnh của bộ binh đều không sai”.
“Hạ Dã Niên thì sao?” Tịch Tà hỏi: “Không gây phiền phức à?”.
“Gã rất khôn khéo, nhận việc xong vẫn ở nhà dưỡng bệnh”.
Tịch Tà lật từng tờ quân sách ra xem, đột nhiên ngửa mặt cất tiếng cười to.
Khương Phóng ngạc nhiên hỏi: “Gia cười gì thế?”.
Tịch Tà đáp: “Cười tôi tự cao thông minh, chỉ nói hắn bịa ra một cái tên, không ngờ xem kỹ trên quân sách lại có người như vậy thật.

Thảo nào nhiều tai mắt trong kinh như vậy mà tìm suốt hai ba ngày vẫn không thấy hắn, thì ra đúng là trốn trong kinh doanh”.
Khương Phóng nhìn lên hướng tay hắn chỉ, thấy dưới hai chữ “Lê Xán” ngay ngắn, có người ký lên rồng bay phượng múa, không khỏi cười to: “Chẳng lẽ là cùng một người?”.
“Xem chữ này ngang ngược đến thế đã biết là không tệ rồi”.
Hôm sau, Tịch Tà vâng lệnh vua đến kinh doanh tuần sát, gặp Khương Phóng lúc sáng sớm rồi ra khỏi thành từ cửa Phủ Dân, chạy băng băng tiếp bốn mươi dặm thì tới cửa khẩu Tiểu Hợp.

Doanh trại quân đội dựa vào núi non, khe suối chảy quanh, xây công sự[3] từ đá, đông tây đều có cửa thành xây bằng gạch, nam bắc thông dòng, bốn góc đều có lầu quan sát và lỗ châu mai.

Khương Phóng sai người cầm cờ lệnh đi đầu, hô mở cửa thành.

Quan tọa doanh đi ra cúi người dẫn vào, tất cả đều ghìm ngựa chậm lại, tới trước nha môn trung quân thì xuống ngựa, Khương Phóng và Tịch Tà nghỉ ngơi ở hậu đường.

Tịch Tà ngồi đối diện quan tọa doanh, nói: “Phiền tướng quân mời du kích Ngô châu là Lê Xán tới hậu đường nói chuyện”.
Khương Phóng lắc đầu cười gượng: “Công công lại định xử trí hắn ta thế nào?”.
“Xử trí?” Tịch Tà cười nói: “Đại tướng như thế, cầu còn chẳng được, sao lại nhắc đến hai chữ “xử trí”?”.
Ngoài cửa vang lên tiếng bước chân nhỏ nhẹ, có người báo danh: “Mạt tướng Lê Xán cầu kiến giám quân đại nhân”.
Tịch Tà bảo Khương Phóng tránh đi rồi nói: “Mời”.
“Thuộc hạ Lê Xán xin vấn an giám quân đại nhân”.

Thanh niên cao to tiêu sái tiến đến ôm quyền thi lễ, giữa chân mày đen nhánh lại là vẻ đoan chính trang nghiêm vô tội.

Khóe miệng Tịch Tà đã cong lên, không khỏi khen ngợi sự trấn định can đảm và vô liêm sỉ của hắn ta.
“Nô tỳ là một kẻ hèn mọn trong cung, tướng quân không cần khách sáo”.

Tịch Tà khom người: “Mời ngồi”.
“Dạ”.

Lê Xán cung kính ngồi ở bên cạnh Tịch Tà, hỏi: “Giám quân đại nhân gọi mạt tướng đến, có gì dạy bảo ạ?”.
“Nào có điều gì dạy bảo chứ? Người tập võ chỉ coi so tài mài giũa là chuyện vui”.

Tịch Tà cười nói: “Ngày đó hai ta còn chưa phân thắng bại, hôm nay phân cao thấp được chứ?”.
Lê Xán thấy hắn nói thẳng một cách sảng khoái thì lại hơi kinh ngạc, ngẫm nghĩ một lát mới thở dài nói: “Tôi hiểu ý công công.

Nhưng tôi đã thay hồn đổi xác rồi, sau này cam nguyện nghe công công sai khiến, xin công công nương tay”.
Tịch Tà lấy làm lạ, hỏi: “Anh thân là mệnh quan triều đình lại ám sát nội thần tâm phúc của hoàng thượng.

Sự tình đã bại lộ, ắt bị tội chết, dựa vào đâu mà cò kè bớt một thêm hai?”.
“Không đúng”.

Lê Xán sát lại gần: “Chuyện ấy là vì công công lạm sát hòa thượng Văn Thiện mà ra, nói gì mà phụng mệnh vua trừ gian, công công coi tôi là trẻ con à?”.
Tịch Tà cười: “Nói đến đây, hai ta lại là kẻ cùng hội cùng thuyền đấy.

Dù tôi không giết ông ta diệt khẩu thì sau đó anh cũng sẽ không bỏ qua cho ông ta.

Dù sao thì anh cũng là người ngồi ngôi cửu ngũ trong pháp nhãn của Văn Thiện.

Nếu không ngu ngốc thì sẽ biết lấy việc này ra uy h**p không có tác dụng gì”.
“Vâng vâng vâng”.

Lê Xán gật đầu lia lịa nói: “Ngài nói đúng.

Vả lại bây giờ tôi nằm trong lòng bàn tay của ngài, chỉ cần ở trong kinh doanh này thì ngài sẽ có cả nghìn cách lấy mạng của tôi”.
Đầu lông mày Tịch Tà cau lại, bảo: “Anh viết trong lý lịch là phụ mẫu đều mất, tứ cố vô thân, cũng chẳng có nỗi lo về sau, với bản lĩnh của anh, chạy khỏi kinh thành dễ như trở bàn tay, cần gì ở lại trong kinh doanh không rời?”.
Lê Xán cất cao giọng nói: “Tại hạ là mệnh quan triều đình, chịu ơn vua, sao dám không dốc hết sức đền đáp hoàng thượng? Sao có thể vì thù oán riêng với công công mà…”.
“Ha ha”.

Tịch Tà đang yên lặng uống trà, đột nhiên bật cười, lập tức cắt ngang lời phân trần sục sôi của hắn ta.
Lê Xán hỏi: “Công công?”.
Tịch Tà nhìn chằm chằm vào trong sắc trà màu xanh biếc, phản chiếu ánh sáng dập dềnh lên mặt hắn, ớn lạnh bức người, ánh mắt mỉm cười tức thì chuyển thành lạnh lẽo.

Lần đầu tiên Lê Xán không tự chủ được phải né tránh ánh mắt.
“Có chuyện nhất định phải làm ở trong kinh à?”
“Không có!” Lê Xán biến sắc, thấp giọng nói.
“Không có thì tốt”.

Hình như Tịch Tà cũng thở phào nhẹ nhõm, đoạn cười nói: “Tôi chỉ thấy lạ, sao người như anh lại cúi đầu xin tôi khoan dung.

Vừa mới nói cái gì ấy nhỉ? Anh nguyện để tôi sai khiến ư?”.
“Hay là thôi vậy”.

Lê Xán cười gượng nói: “Tôi không lừa bịp người như ngài được.

Nếu ngài muốn giết tôi thì cứ ra tay, tôi chờ là được.

Tội gì để ngài thao túng trong tay, sau này chết không minh bạch”.
“Được! Cũng coi như anh có chút can đảm”.

Tịch Tà vỗ tay cười, giọng điệu đoan chính, lại nói: “Tướng quân lo lắng chuyện không đâu rồi.

Hôm nay mời tướng quân tới, nguyên là vì nô tỳ đã bẩm với Khương thống lĩnh phép dùng giáo của Lê tướng quân xuất chúng, trong nước chưa gặp được địch thủ.

Sau khi bàn với Khương thống lĩnh, cảm thấy nếu tướng sĩ kinh doanh được tướng quân chỉ dạy huấn luyện phép dùng giáo thì quả là thượng sách.

Ý tướng quân thế nào?”.
Dường như thanh niên sát khí ngút trời trong hội đèn Nguyên tiêu hoàn toàn không có can hệ với hắn vậy.

Vẻ mặt Lê Xán vẫn như thường, giọng nói kiêu ngạo, mỉm cười lĩnh mệnh: “Vâng mệnh trước quân, nào dám không theo?”.
Tịch Tà gật đầu không nói.

Lê Xán đã lui về trong doanh trại, quả nhiên nhận được thủ lệnh sai hắn ta dạy dùng giáo gậy trong kinh doanh.

Thao luyện trong kinh doanh hết sức sít sao.

Khương Phóng phải bôn ba giữa Ly đô và cửa khẩu Tiểu Hợp, tuy là khổ cực nhưng không dám thả lỏng một ngày.

Tịch Tà hầu giá trong thư phòng, chỉ thỉnh thoảng tuần sát một lần, không để ý tới Lê Xán nữa.
Ngày mùng một tháng hai năm Khánh Hi thứ mười ba, công chúa Cảnh Ưu khởi hành hòa thân đến Đại Lý.

Tinh mơ, công chúa đã vận lễ phục từ biệt điện Phụng Tiên rồi lại tới cung Càn Thanh thăm thái hậu, thái phi, đế, hậu.

Mặt mày công chúa lạnh lùng, mặc cho Dương thái phi khóc nức nở ôm nàng vào trong lòng cũng không rơi lấy một giọt nước mắt.

Hoàng đế biết nàng khổ sở, trong chốc lát không biết nên nói gì.
Thái hậu chỉ bảo: “Con đến Đại Lý, phải hòa thuận tôn kính, sớm đêm cần cù”.
Công chúa Cảnh Ưu cúi đầu nghe dạy, đáp: “Dạ” rồi lại lạy bốn lạy, đứng dậy lui tới cửa, đột nhiên hất tay của nội mệnh phụ ra: “Hoàng thượng! Xin đừng nuốt lời đã hứa với thần”.

Nàng ngẩng đầu, mắt ngấn lệ kêu lên.
Sao có thể không giết kẻ tự tiện xông vào cung tấm, lén gặp công chúa được? Hoàng đế nghĩ tới đây vẫn cực kỳ giận dữ.

Công chúa Cảnh Ưu thấy hoàng đế không lên tiếng thì nhào xuống dưới chân hắn ta, khóc không ra tiếng: “Nếu như hoàng thượng đổi ý, thần không xuất giá nữa”.

“Nói bậy”.

Hoàng đế nâng nàng đứng lên, mỉm cười hỏi: “Ai bảo trẫm đổi ý? Yên tâm đi đi”.
Hoàng hậu bỗng nhiên đứng lên nói: “Để thần thiếp đưa tiễn”.

Đoạn hành lễ với thái hậu và hoàng đế rồi đỡ tay Cảnh Ưu, chậm rãi bước ra.
Hoàng đế đứng ở trước cửa điện, trông thấy công chúa Cảnh Ưu ôm hoàng hậu khóc một lát mới lên liễn đi mất, trong lòng càng sầu não lại hơi nghi hoặc, thấy hoàng hậu quay lại bèn hỏi: “Nàng nói gì với nó thế?”.
Hoàng hậu cười đáp: “Vừa nãy công chúa bảo thần thiếp, nếu hoàng thượng nuốt lời thì thần thiếp nhất định phải báo cho người biết ngay.

Thần thiếp đã nhận lời rồi”.
“Nàng lại thêm loạn cho trẫm đấy!” Hoàng đế hết sức oán hận phẫn nộ với nàng, chỉ nói một câu đã giận đến mức hét to.
Hoàng hậu kinh ngạc bảo: “Mặc dù thần thiếp không biết hoàng thượng và công chúa đã hứa hẹn gì, nhưng nếu là hoàng thượng chính miệng hứa thì dù thần thiếp có nhận lời cả ngàn vạn điều, cũng không sao đúng không ạ? Chỉ là để công chúa yên tâm mà thôi”.
Ngay trước mặt nhiều nô tài như vậy, hoàng đế không tiện tranh cãi với hoàng hậu, mới nén giận nói: “Cũng phải.

Công chúa xuất giá cách xa ngàn dặm thì có thể làm gì?”.
Hoàng hậu không nhịn được, tỏ vẻ giận dỗi lên mặt, thản nhiên nói: “Cũng phải.

Ngài ấy quý vì là hoàng hậu nước khác, muốn thế nào thì thế đó, hoàng thượng cũng chẳng quản được ngài ấy”.

Nàng nhìn sắc mặt hoàng đế từ đỏ bừng biến thành tái nhợt, không khỏi mỉm cười khoái trá.

Nhưng cánh tay nàng bị siết đến phát đau, thân thể bỗng nhẹ bẫng, bị hoàng đế kéo thẳng qua mấy ngưỡng cửa, quăng xuống nền đất của buồng lò sưởi.
“Trẫm nên phế nàng, phế nàng từ lâu rồi!” Tiếng gầm khẽ đè nén của hoàng đế không ngừng run rẩy tựa như một sợi dây đàn căng sắp đứt: “Trẫm còn muốn giữ lại mặt mũi cho mọi người mà nàng cứ ép trẫm? Nàng tàn nhẫn hạ độc thủ với cốt nhục của trẫm, còn muốn chia rẽ khiến công chúa đối nghịch với trẫm.

Nói gì mà quý vì là hoàng hậu, muốn thế nào thì thế đó, cái ý xấu này nàng tự mình giữ đi, còn muốn Cảnh Ưu tạo phản theo nàng à?”.
“Nếu hoàng thượng đã cho là vậy, chi bằng dứt khoát phế thần thiếp đi”.

Khi cơn choáng váng qua đi, hoàng hậu nhanh chóng đứng dậy, khẽ thở hổn hển, nhìn chằm chằm vào ánh mắt của hoàng đế: “Chi bằng đuổi thần thiếp ra khỏi cung Khôn Ninh, cùng trị tội cả nhà thần thiếp”.

Nàng cười nói: “Hoàng thượng đang sợ cái gì, đang chờ cái gì chứ?”.
Hoàng đế chưa từng xung đột với ai như thế, ngây ra chốc lát mới trỏ vào mặt nàng, gằn giọng nói: “Nàng về cung Khôn Ninh của nàng đi! Nếu không nể mặt cha nàng thì lúc này trẫm đã b*p ch*t nàng rồi”.
“Hoàng thượng cho rằng lúc này thần thiếp vẫn còn màng đến sống chết nữa sao?” Hoàng hậu nói: “Vì sao thần thiếp phải gánh lấy thứ hư danh này, mỗi ngày hầu hạ trước mặt thái hậu, thái phi? Chẳng thà ở trong lãnh cung, đỡ phải chịu bao nhiêu tội? Chẳng thà để hoàng thượng b*p ch*t trong tay, đỡ phải chịu bao nhiêu cô quạng?”
“Nàng đang nói trẫm đúng không? Trẫm bạc đãi nàng chỗ nào? Ngang ngạnh quá thể!R ra ngoài!” Hoàng đế không thể nhịn được nữa, đưa tay tóm lấy cánh tay hoàng hậu, lại bị hoàng hậu cản lại.
“Thần thiếp tự đi ra ngoài”.

Hoàng hậu hết sức quật cường, lạnh lùng thốt lên.
Hoàng đế khiếp sợ hơn là phẫn nộ, trợn to hai mắt.
“Thế này đã làm hoàng thượng nhìn thẳng thần thiếp rồi ư?” Biểu cảm của hoàng hậu như thể không biết nên khóc hay cười: “Kể từ khi hoàng trưởng tử chết yểu, đây là lần đầu tiên hoàng thượng liếc mắt nhìn thiếp một cách chính thức đấy”.

Nàng khom người chào: “Thần thiếp cáo lui”.
“Chờ đã”.

Hoàng đế hỏi: “Có phải nàng cảm thấy hoàng trưởng tử chết yểu là lỗi của trẫm không?”.
“Chẳng lẽ là lỗi của thần thiếp?” Mắt hoàng hậu sáng quắc, hỏi ngược lại.
Chính là ánh mắt ấy! Hoàng đế bỗng nhiên cả kinh.

Đã né tránh nhiều năm như vậy, ánh mắt kia vẫn đâm đến khiến mồ hôi lạnh chảy ròng ròng, hổ thẹn và bực bội đan xen vào nhau.

Hắn ta miễn cưỡng nói: “Đó là số trời, chẳng trách ai được”.
Hoàng hậu ngửa đầu cười khẩy một tiếng: “Hoàng thượng coi như Hoà thục nghi cũng thuận theo số trời đi, chẳng thể trách bất cứ ai được”.
“Đừng nhắc tới nàng ấy!” Tiếng nói thẹn quá hóa giận của hoàng đế nặng nề, phẫn nộ như sấm đánh nơi xa, chộp lấy vạt áo hoàng hậu, đẩy mạnh xuống giường: “Nàng còn mặt mũi nào nhắc tới nàng ấy ở trước mặt trẫm?”.

Tay nắm lấy cái eo thon của hoàng hậu, ký ức xa lạ khiến hoàng đế nhớ ra hắn ta đã từng ái mộ và lưu luyến người phụ nữ trước mắt đến nhường nào.

Khác với sự hầu hạ làm dáng của đám phi tần, hoàng hậu điềm tĩnh và thông tuệ.

Khi nàng mặc triều phục xuất hiện trên chỗ ngồi chính giữa cung Khôn Ninh, hắn ta luôn mê mệt trong vầng sáng thánh khiết của nàng.

“Tại sao lại biến thành như vậy chứ?” Hắn ta khẽ lắc đầu, cắn răng nghiến lợi nói: “Trước đây nàng không như thế”.

Quái gở xảo trá, ngay cả khóe miệng cười chúm chím đẹp đẽ cũng biến thành nụ cười nhạt xảo trá hung bạo.

Chẳng lẽ đó thật sự là cùng một người ư? Hoàng đế vừa đau lòng vừa căm hận: “Trẫm chưa từng hận một ai tới vậy”.

Hắn ta cực chẳng đã nói.
“Thần thiếp cũng thế”.

Mặt hoàng hậu hiện lên màu đỏ bệnh tật, con mắt hung ác quắp lấy sự hổ thẹn tận đáy lòng hoàng đế không buông.

Thù hận như sắp xé rách cổ họng của nàng, nàng nói với chất giọng khản đặc: “Con trai còn chưa kịp uống một ngụm sữa của ta, còn chưa kịp ôm một cái đã để thái hậu và hoàng thượng ôm đi, rồi lại chết không minh bạch như vậy, ngay cả một lần cuối cùng cũng không được gặp…”.
“Câm miệng!” Sự khó chịu cuồn cuộn trong lòng hoàng đế, hắn ta không nhịn được quát lên.
Hoàng hậu im lặng một lát, mới nhỏ giọng nói: “Rốt cuộc hoàng trưởng tử chết như thế nào, cầu xin hoàng thượng nói cho thần thiếp biết”.
“Trẫm cũng không biết, trẫm không chăm sóc tốt cho nó”.

Mặt hoàng đế đỏ lên, nói câu này xong thì đột nhiên cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều.
Hoàng hậu hít một hơi sâu, thất vọng không lên tiếng.

Trong ánh mắt u oán, đau thương của nàng, dường như hoàng đế tìm được chút bóng dáng xưa kia.

Hắn ta đưa tay gạt đi nước mắt trên mặt nàng, cảm nhận được cơ thể ấm áp mềm mại, hơi thở của hắn ta chợt bắt đầu gấp gáp.
Sắc mặt hoàng hậu tái đi, chợt cong người giãy dụa.

Hoàng đế xoay tay hất cái bàn trên giường xuống đất, tóm lấy người nàng: “Trẫm nói như vậy, nàng đã vừa lòng chưa? Đã hả giận chưa? Chúng ta đã huề nhau rồi, từ nay về sau, trẫm không tội gì phải tránh nàng nữa.

Tránh nhiều năm như vậy vẫn không tránh thoát”.
“Tại sao phải tránh chứ?” Hoàng hậu cười khẩy: “Cho dù thần thiếp chết trong tay hoàng thượng thì cũng bằng lòng đấy…”.
Vậy thì chết đi! Hoàng đế không nhịn được nghĩ như vậy trong lòng.

Cho dù là sau bảy năm qua đi mới lại có được người phụ nữ này, cho dù lại phát hiện ra vẻ mỹ lệ lạ thường và tình cảm sâu nặng của nàng thì nỗi thù hận của hắn ta vẫn không hề vơi bớt mảy may.

Tựa như muốn nuốt chửng đối phương, đế hậu giương cung bạt kiếm khiêu khích lẫn nhau, ánh mắt hung ác lưu luyến chuyển động trên mặt đối phương, từ đầu đến cuối đều không hề r*n r* trong lúc th* d*c nặng nề.
Cuối cùng hoàng đế mới bình tĩnh và tỉnh táo lại, phát hiện hoàng hậu đã cắn rách môi, đỏ thẫm như son.

Hắn ta cúi đầu xuống, m*t lấy giọt máu diễm lệ.
“Hừ!” Hắn ta bị đau, phải nâng người lên, ôm cánh môi bị hoàng hậu cắn trúng, khoái trá cười gằn: “Lá gan không nhỏ”.
Hoàng hậu nhanh chóng che lại đôi chân dài tr*n tr**, khoác quần áo rồi lảo đảo đi tới bên cửa, run rẩy dùng trâm vàng búi lại mái tóc dài tán loạn lên rồi mới bình tĩnh nói: “Thần thiếp xin cáo lui”.

Nàng vẫn lẳng lặng cúi chào, sau đó xoay người bước ra khỏi cửa.
Hoàng đế phục hồi tinh thần lại từ cơn mệt nhọc trong chớp mắt, chỉ cảm thấy cơn buồn nôn co quắp ở dạ dày, đưa tay phất châu ngọc trên giường xuống đất rồi gọi: “Cát Tường, Như Ý”.
Cát Tường vui tươi hớn hở tiến vào, nói: “Vạn tuế gia, Như Ý vừa mới theo công chúa xuôi nam rồi”.
“Trẫm quên mất”.

Hoàng đế nói, mặc Cát Tường sửa sang xiêm áo cho mình: “Khương Phóng đã đến cửa khẩu Tiểu Hợp chưa?”.
“Vẫn chưa ạ”.

Cát Tường nói: “Đang dẫn các thị vệ phụng chỉ điều động chờ dập đầu tạ ơn ngoài cửa, sau đó mới cùng đi đấy ạ”.
Trong buồng lò sưởi còn thoang thoảng mùi hương nhạt chỉ có trên người hoàng hậu, hoàng đế không muốn nán lại thêm một khắc nào nữa, dùng khăn tay lau mặt và nói: “Trẫm vào thượng thư phòng.

Gọi đến đó đi”.
Ba mươi lăm thị vệ phụng lệnh điều đến kinh doanh quỳ chờ ở thượng thư phòng.

Hoàng đế ngồi xuống rồi khuyến khích, khuyên răn vài câu.

Cuối cùng hắn ta hỏi Hạ Thiên Khánh: “Vì sao anh trưởng của khanh chưa vào cung tạ ơn?”.
Hạ Thiên Khánh dập đầu tâu: “Mấy ngày gần đây anh cả thần ôm bệnh.

Anh nói với thần, trách nhiệm ở kinh doanh nặng nề, chỉ sợ khó có thể một mình gánh vác, vả lại bệnh cứ quấn thân, cho dù có lòng biết ơn báo đáp nhiều hơn nữa cũng không có cơ hội máu chảy đầu rơi vì hoàng thượng nữa”.
Hoàng đế cảm thán một tiếng: “Bảo thái y đến phủ của Hạ khanh khám đi, đợi thời tiết ấm áp trở lại thì bệnh gì cũng sẽ khỏe lại thôi”.
“Tạ chủ long ân”.

Tiếng Hạ Thiên Khánh nghẹn ngào khiến cho những người bị điều đi đều buồn bã, xót xa.
“Đi hết cả đi”.

Hoàng đế thấy trong đó còn có mấy cận thị trước kia, không nỡ nói gì nữa, phất tay cho họ lui ra rồi theo Khương Phóng đến kinh doanh nhậm chức.
Khương Phóng sai quan tướng tọa doanh ở cửa khẩu Tiểu Hợp ghi tên ba mươi lăm người này lên danh sách quân nhân, cuối cùng đến hôm nay, tất cả quan quân đều đã tới nhậm chức.

Lại làm một bản sao danh sách quân nhân rồi hạ lệnh cho Lê Xán chuyển tới bộ binh.

Lê Xán không phải người rảnh rang, nhận được công việc như thế thì khá bất ngờ.

Lúc hắn ta vào thành thì đã là buổi chiều, đưa danh sách quân nhân lên rồi chờ trả lời.

Tiểu lại[4] bên trong đi ra chào hỏi: “Thượng thư đại nhân nói, e là không thẩm tra đối chiếu xong ngay trong hôm nay được, mà ngày mai còn có nhiều công văn phải đưa tới cửa khẩu Tiểu Hợp.

Hay là tướng quân ngủ lại dịch quán rồi ngày mai cùng nhau mang về cửa khẩu Tiểu Hợp hộ”.
Việc ấy vừa hay đúng ý Lê Xán.

Hắn ta cưỡi ngựa chạy thẳng đến dịch quán trên đường lớn Thanh Long.

Đoạn đường này vô số tiệm rượu quán ăn xanh xanh đỏ đỏ, hắn ta ở trên ngựa, phất tay tách cờ rượu quất vào mặt ra, đến trước cửa dịch quán thì nhanh nhẹn nhảy xuống ngựa.
Trên lầu rượu đối diện dịch quán, Tiểu Thuận Tử đảo mắt láo liên, quan sát vị công tử khí phách ném dây cương cho kẻ phục dịch trong quán, hâm mộ chép miệng nửa ngày mới nhận ra miệng đã khô rồi.

Cậu bèn ngậm ít rượu, lại nhòm xuống dưới cửa sổ, thiếu điều phun rượu xuống tay áo.

“Tiểu nhị, tính tiền”.

Cậu ném đồng tiền rồi dùng mũ trùm đầu che đi nửa gương mặt, lặng lẽ chuồn xuống lầu chạy vào trong cung.

Tìm được Tịch Tà bên trong phòng trực của ngự thư phòng, cậu nói: “Thầy đúng là liệu sự như thần, kẻ tìm Lê Xán quả nhiên là Úc Tri Thu”.
“Úc Tri Thu đi một mình à?” Tịch Tà lại hỏi tiếp.
“Chắc chắn là một mình ạ”.

Tiểu Thuận Tử ra hiệu nói: “Thậm thà thậm thụt, thời tiết như này còn đội nón chắn tuyết để che mặt”.
Tịch Tà cười hỏi: “Thế mà con cũng thấy rõ à?”.
“Thầy đã bảo phải chú ý coi chừng gã nên con nhớ rất rõ vóc người và tiếng nói của gã.

Có hóa thành tro con cũng nhận ra, tuyệt đối không sai đâu ạ”.
“Quả nhiên là chú ý, thế mới là đứa trẻ ngoan chứ”.

Có lẽ qua một thời gian đã không thể gọi cậu là đứa trẻ nữa.

Tịch Tà trông vẻ mặt đắc ý của Tiểu Thuận Tử, mỉm cười nói: “Dọn đồ của ta đi, chúng ta về thôi”.
“Vâng”.

Tiểu Thuận Tử nhanh nhảu bọc lại vài thứ như bút, mực, sách vở và dụng cụ pha trà mà Tịch Tà thường dùng lại, vô cùng vui vẻ theo đuôi Tịch Tà trở về viện Cư Dưỡng, lại còn mời Minh Châu tới.

Lúc bấy viện Cư Dưỡng mới có hơi người hiếm thấy.
Náo nhiệt đến nửa đêm, Tịch Tà để bút xuống, gọi Tiểu Thuận Tử mang áo choàng tới.

Minh Châu hỏi: “Không phải chỉ là theo dõi thôi sao? Tôi đi là được”.
Tịch Tà vội vàng lắc đầu nói: “Võ công của hắn ta cao hơn cô nhiều lắm, cô mà bị thương thì lợi bất cập hại”.
“Tôi là hạng chuyên gây họa”.

Dưới ngọn đèn, Minh Châu cười nhạt: “Gia sợ tôi làm hỏng việc thì có”.
“Cũng đúng đấy.

Hai người đều nghỉ sớm đi”.
Tiểu Thuận Tử mở cửa, mặt có vẻ buồn rầu, nói: “Sư phụ phải thật cẩn thận đấy, lần trước…”.
“Lần trước cái gì?” Tịch Tà sẵng giọng, người đã bay ra khỏi cửa.

Đi về phía đông được một lát, hắn hạ xuống tường cung góc đông bắc của vườn Minh Tri, tùng cao chọc trời, cành tùng quấn quýt, che kín người hắn.

Bởi vậy Tịch Tà không đi xa, chỉ ở ngay cửa đông bắc của thành cung, bọc kín áo choàng và núp mình ở chỗ cao, ỷ vào thị lực hơn người, nhìn bao quát hết động tĩnh trước cửa.
Đêm mồng một không trăng, màn đêm phủ xuống thành trì, đảo mắt đã qua canh ba, chỉ thấy cửa nách khẽ mở ra, bóng người cao to lóe cái vọt vào.

Thân pháp cởi mở tuyệt luân, tay áo cũng mang theo vẻ ngạo nghễ, bay về hướng tây, chính là Lê Xán không thể nghi ngờ.

Tịch Tà quan sát tỉ mỉ, thấy trong tay hắn ta không mang binh khí, biết hắn không đến vì ám sát thì thoáng yên tâm, khẽ mở áo choàng ra, lơ lửng bay theo sát.
Tuy võ công Lê Xán cao cường nhưng không dám công khai đi lại trên đường trong cung.

Hắn ta tung người l*n đ*nh quyển bồng của phòng trực ở cục Châm Công vọng ra phía tây, xác định phương hướng.

Tịch Tà thấy bóng lưng hắn ta khẽ run, không biết lúc này hắn ta có tâm trạng thế nào làm hắn do dự một lát, băn khoăn không tiến lên.

Phía tây phòng trực chỉ có hai tòa cung viện là cung Vĩnh Tú và cung Tiêu Cát, lúc này cung Vĩnh Tú lại không có ai ở.
Quả nhiên lần này hắn ta đến cung Tiêu Cát.

Tịch Tà lộ hàm răng ra, lặng lẽ nở nụ cười.
Cuối cùng Lê Xán chậm rãi buông hai nắm tay đang siết chặt ra, bay vọt về phía trước, thẳng đến chính điện của cung Tiêu Cát.

Tịch Tà không dám theo quá sát, chờ hắn hạ xuống vững vàng ở sân trong của cung Tiêu Cát thì đã không thấy bóng dáng Lê Xán đâu.
“Nhanh thật”.

Tịch Tà cười thầm.
Cả sân vắng vẻ, hầu như có thể nghe tiếng sương trắng phủ xuống đất.

Sau một lát mới có tiếng người như côn trùng mùa thu thì thầm loáng thoáng lọt ra từ điện bên cạnh.

Tịch Tà núp phía sau cây, tập trung lắng nghe nhưng không thu hoạch được gì.

Đột nhiên chấn song kêu “kẹt” một tiếng, thiếu nữ dịu dàng ấy khẽ gọi: “Đừng đi!”.
Lê Xán đã nhảy ra ngoài, vẻ mặt không còn sự tươi cười kiêu ngạo bình thường mà là cơn giận dữ đáng sợ, sát khí khắp mặt khiến phần trán xoắn lại, nhìn vào còn lạnh lẽo âm u hơn cả bóng đêm.
Tịch Tà căng thẳng trong lòng, gấp gáp đuổi theo.

Chỉ sợ hắn ta chạy tới cung Khôn Ninh trước nên búng ngón tay lên không trung, xuyên vào giữa lưng Lê Xán.

Dù đang giận dữ, Lê Xán vẫn nhanh nhạy, nghe thấy tiếng nội lực xé gió thì lập tức vượt lên nửa trượng, xoay người nhào tới.
“Là tôi”.

Tịch Tà trầm giọng hô.
Lê Xán không nói một lời, mắt lộ hung quang, đã quyết tâm giết người.

Hắn ta đưa tay mò mẫm ở eo, binh khí đâm thẳng đến yết hầu Tịch Tà như mặt trời nhô ra khỏi mặt biển.

Tịch Tà tưởng hắn ta đến tay không nên không hề đề phòng, không kịp thấy rõ khí giới, bất đắc dĩ lấy hai ngón tay cưỡng ép kẹp lấy.

Mũi nhọn đó chợt co lại, rút về đánh “xoẹt” một tiếng, suýt nữa tước mất ngón tay Tịch Tà.
“Kiếm Kim Xà?” Tịch Tà giận dữ, quát khẽ: “Không biết phân biệt!” Đoạn lui lại hơn năm thước, bị ép lui tới xon đường lát gạch thắp đèn của đông đại thiên đạo.

Kiếm của Lê Xán cứ mãi dây dưa, không chiêu nào không nhằm vào chỗ hiểm của Tịch Tà.

Ánh bạc vẩy ra quanh người Tịch Tà, hắn đã lùi liền ba trượng, sắc mặt bất giác trầm xuống, trở tay gạt áo choàng ra, quấn lấy mũi kiếm như keo như sơn.
Kiếm của Lê Xán lập tức như rồng sa lưới vàng, bị Tịch Tà quấn lấy thân kiếm.

Lê Xán thấy ngón tay trắng như tuyết của hắn khẽ vươn ra khiến thân kiếm thẳng tắp thì không khỏi kinh hãi, nội lực cuồn cuộn bắn vào thân kiếm, dùng sức ngược lại, ý đồ xé tan áo choàng.

Không ngờ Tịch Tà cười khẩy nói: “Kém xa lắm!”.

Cánh tay khẽ rung lên, cổ tay xuyên nhanh tới.

Ngực Lê Xán chợt như bị núi băng sừng sững đụng trúng, đau đến mức mắt tối sầm lại.

Hắn ta cố nén ngụm máu tươi ở yết hầu xuống, song kiếm không cầm được nữa, rồng trắng vọt lên trời, tuột ra khỏi tay, bị gãy “Keng” một tiếng thành ba đoạn trên không trung.

Tịch Tà nhẹ nhàng nhảy lên, chộp lấy kiếm gãy, phủi phủi áo choàng rồi lại khoác trên vai, lạnh lùng nhìn hắn ta và nói: “Anh vào cung làm gì? Chỉ cần không cản trở chuyện của tôi thì tôi sẽ mặc anh.

Nhưng không được giết người, càng đừng nói đến chuyện người anh muốn giết lại là hoàng hậu”.
Lê Xán cười gằn bảo: “Hôm nay bị ngài nhìn trộm, chỉ có một con đường một mất một còn.

Không cần nói nhảm nữa, chiến tiếp đi!”.
“Anh không phải là đối thủ của tôi”.

Tịch Tà phì cười: “Tôi không định làm anh bị thương, cũng không định bắt anh.

Vậy thì tội gì phải khổ thế chứ? Mau đi theo tôi”.
Lê Xán tức đến mức toàn thân run rẩy, chỉ đành ngậm miệng lảo đảo đi theo hắn.

Cung thành ngay trước mắt, trong hoảng hốt, hắn ta thấy Tịch Tà quay đầu lại, gương mặt trắng như tuyết nom như tia chớp trắng bệch trong đêm tối, chiếu cho hắn ta choáng váng một hồi.

May được Tịch Tà đặt ngón tay lên huyệt Thiên Trung kịp thời nên khí lạnh ứ đọng trong ngực bỗng được hút ra nhẹ nhàng, cuối cùng mới thở ra thuận lợi.
Tịch Tà nói: “Nơi này không phải chỗ cho anh ở lâu, anh lại ra khỏi cung từ cửa nách đi.

Ngày mai tôi tất sẽ đến tìm anh”.
Lê Xán hung ác trợn trừng với hắn, nói: “Được, tôi sẽ chờ”.
“Úc Tri Thu kia…” Tịch Tà bỗng nhiên đuổi theo, nói: “Tôi giữ gã lại để còn dùng.

Anh đừng giết gã diệt khẩu”.
Lê Xán bị hắn nói trúng tim đen thì khẽ giật mình, nhưng chỉ gật đầu, mặt mày như thường.

Gắng gượng trở lại dịch quán, hắn ta điều hòa nội tức, dần dần phát tán nội thương trên ngực, ho ra một ngụm máu tươi rồi mới đi nằm.
Hôm sau nhận công văn rồi ra khỏi bộ binh, Lê Xán đã thấy Tịch Tà mặc áo xanh với con ngựa trắng ở ngoài cửa, hệt như Bồ Tát ngồi ngay ngắn trên áng mây trong ánh nắng đầu xuân.

Mắt hắn nhìn xuống, mỉm cười nói: “Lê tướng quân, lần này hai ta cùng đến cửa khẩu Tiểu Hợp, được chứ?”.
“Được theo hầu bên cạnh giám quân đại nhân quả là vô cùng vinh hạnh.

Xin mời”.

Lê Xán phóng người lên ngựa, sánh vai Tịch Tà đi về phía trước, thấp giọng cười khẩy nói: “Ngài muốn thế nào? Muốn chơi trò gì, tôi đều chơi tới cùng”.
Tịch Tà cười nói: “Kẻ thù của tôi ít nhất cũng có nghìn vạn, muốn tôi đối phó anh thì xin hãy đứng xếp hàng lấy số trước đã”.
Lê Xán giận quá hóa cười, nói: “Hạng người thế nào mới có đủ tư cách xưng là kẻ thù của ngài đây?”.
“Tôi làm việc thay hoàng thượng, kẻ thù của hoàng thượng mới là kẻ thù của tôi”.

Tịch Tà bảo: “Không giấu gì anh, tôi vốn tưởng rằng anh là thích khách do phiên vương sai tới.

Không ngờ anh thua thì đi thẳng, kẻ bắn cung tiếp ứng cho anh để ngăn cản tôi tới gần ở ngõ Lan Đình lại là Úc Tri Thu, đã nằm ngoài dự liệu của tôi đấy”.
Lê Xán thở dài rồi mới chậm rãi nói: “Úc Tri Thu bắn lén, vẫn chưa lộ mặt, làm sao ngài biết là gã?”.
Tịch Tà đáp: “Quả thực tôi chưa trông thấy gã nhưng đã lượm được đầu mũi tên của gã.

Cung tên mà gã dùng khác với người thường, người ta gọi là “cung Nhân Nghĩa”, vốn do thống lĩnh thị vệ Khương Phóng sử dụng, phụng chỉ ban thưởng một cái dư lại cho gã.

Cung này rất mạnh, đầu mũi tên cũng được đặc chế từ thép ròng theo lệnh tiên đế, có thể xuyên qua ba tầng áo giáp, năm đó chỉ được ngàn mũi, chia thưởng cho cận thị và hoàng tử theo hộ tống ở Thượng Giang.

Sau này vì uy lực của nó cực lớn, sợ dùng để ám sát làm phản nên dần dần đều thu về tay thống lĩnh thị vệ, chỉ còn lại chừng trăm mũi.

Năm ngoái ở Thượng Giang, hoàng thượng đều thưởng cả cho Úc Tri Thu.

Đáng tiếc gã lại là kẻ cẩu thả, không tử tế nhìn ra sự lợi hại của mũi tên này, tùy tiện mang đi vứt bỏ ở bên ngoài, người sáng suốt vừa thấy đầu mũi tên này liền biết ngay là gã”.
Lê Xán hừ một tiếng, nói: “Theo như ngài nói, ắt hẳn ngài cũng đã đoán được tôi là người thế nào?”.
“Không chỉ đoán được.

Lần trước gặp lại ở cửa khẩu Tiểu Hợp, khi về tôi đã điều tra ra lai lịch của anh rõ như ban ngày.

Anh muốn vào cung làm gì, tôi cũng tường đến tám chín phần.

Chỉ cần anh không đến cung Khôn Ninh thì còn lâu tôi mới thò một đầu ngón tay vào cản trở anh”.
Bị lời sắc bén nói trúng tim đen, lúc này Lê Xán nghĩ lại mà sợ, lặng lẽ rùng mình, hỏi: “Việc tôi đến bộ binh là do ngài phái xuống phỏng?”.
“Tôi vẫn luôn muốn xác định xem anh và Úc Tri Thu đang giở trò gì.

Hôm qua anh vào dịch quán, Úc Tri Thu lập tức đến gặp, bị thuộc hạ tôi trông thấy, tôi đành chờ anh vào cung lúc nửa đêm.

Anh mới vào kinh không lâu mà lại thân thiết với gã như thế.

Bản lĩnh làm việc của Úc Tri Thu không nhỏ đâu”.
Lê Xán khẽ nhíu mày như thể đau khổ, thấp giọng nói: “Quả thật tôi không phải là đối thủ của ngài, nhưng sự việc quan trọng, nếu ngài có ý tiết lộ thì tôi chỉ đành liều mạng dán miệng ngài lại thôi”.

Tịch Tà khẽ cười, bảo: “Tôi chỉ vâng mệnh vua bảo vệ cung Khôn Ninh.

Trước đó anh đến nơi nào, tôi không phát hiện, cũng không muốn thấy”.
Lê Xán thở phào nhẹ nhõm, nói: “Ngài gánh không ít mệnh vua nhỉ”.
Tịch Tà đáp: “Nói sao nhỉ? Tôi cũng coi là một người bận rộn đấy.

Có điều anh cứ bận việc anh, tôi bận việc tôi, anh không biết tôi, tôi không biết anh, hai ta không can hệ gì với nhau là được”.
Lê Xán nghe thấy rõ ràng, nhưng vẫn hơi nghi hoặc: “Ngài dễ nói chuyện thế á?”.
“Trong số những người tôi từng gặp thì kẻ có võ công cao như anh chỉ đếm được trên đầu ngón tay thôi.

Quốc gia đương lúc dùng người, hai ta vì chút chuyện nhỏ như vậy mà chém chém giết giết cũng chẳng thú vị gì”.
Lê Xán trầm ngâm nói: “Úc Tri Thu bằng lòng cho tôi lẻn vào trong cung, tôi bằng lòng giết người thay gã, đều là việc làm ăn rơi đầu.

Tôi đã không làm được, chỉ sợ gã sẽ không từ bỏ ý đồ, sớm muộn cũng tiết lộ phong thanh.

Trừ phi…”.
“Việc đó không thể theo anh được”.

Tịch Tà nói: “Cứ ghi hai mạng người mà anh muốn ở chỗ tôi, chờ tôi sai khiến hết công dụng xong, anh cứ việc lấy”.
“Úc Tri Thu này có thể có đất dụng võ nào chứ?” Lê Xán cười khẩy nói: “Thuê người giết người, quan trọng nhất là việc diệt khẩu.

Nếu Úc Tri Thu thông minh thì mũi tên b*n r* đêm đó phải nhằm vào du kích Lê Xán, chứ không phải tổng quản áo xanh”.
“Anh thông minh xảo trá, làm việc không từ thủ đoạn hơn gã, võ công lại cực cao”.

Tịch Tà bật cười nói: “Thế nhưng anh không ôm chí lớn, chìm nổi theo sóng thì có thể thế nào được?”.
Lê Xán chán nản nói: “Không sai, những năm gần đây ý nghĩ duy nhất của tôi chỉ là được nhìn thấy nó một lần.

Bây giờ gặp được rồi, ngày sau lại ra sao đây? Có điều…”.
Hắn ta lại liếc nhìn Tịch Tà: “Ngài thì có hùng tâm tráng chí gì à?”.
Tịch Tà phì cười: “Coi là có đi”.
“Chờ chí lớn của ngài được thực hiện thì ngài có thể làm gì chứ?”
Tịch Tà bị hắn ta hỏi đến ngẩn ra.

Lê Xán trông sắc mặt hắn dần trở nên trắng bệch trong suốt thì không khỏi cất tiếng cười to.

Từ đó Tịch Tà không lên tiếng nữa, giục ngựa chạy mau, ra khỏi thành trước.

Lê Xán theo sát phía sau, chạy băng băng hơn hai mươi dặm, thấy Tịch Tà ghìm chặt ngựa vẫy tay với hắn ta, mới cùng nhau lui ra ven đường.

Lê Xán ở trên ngựa nhìn về nơi xa, chỉ thấy trên đường cái bụi bay cuồn cuộn là một đường cờ nền đen chữ đỏ thì hỏi: “Sao thế? Đại tướng quân Chấn Bắc Vương Cử về kinh rồi ư?”.
“Đúng vậy”.

Tịch Tà gật đầu, nhảy xuống ngựa: “Hoàng thượng cho đòi ông ta về kinh”.
“Lẽ nào triều đình sắp đánh Hung Nô rồi ư?”
“Hung Nô vốn luôn xâm nhập phía nam vào lúc cuối thu ngựa béo, lần này triều đình muốn dùng binh liền hai mùa xuân hạ, không cho cơ hội tạm nghỉ”.
Chớp mắt ngàn thớt ngựa tốt chỉnh tề chạy tới trước mặt, dưới cờ xí là một ông lão ngoài năm mươi, mặt mày nghiêm nghị, không giận tự uy, hai mắt không chịu cụp xuống thỏa hiệp như thể mãi lom lom ra phía chân trời xa xăm.
“Người ta nói tính tình Vương Cử cương trực, xem ra không sai”.

Tiếng Tịch Tà lại như khẽ thở dài.
“Từ trước đến giờ ông ta giống như một thanh kiếm, lòng ngay dạ thằng.

Những năm trước đây dẫn quân Chấn Bắc đi nghìn dặm đánh đuổi Hung Nô, coi như là một nhân vật dám liều mạng”.

Lê Xán thở dài bảo: “Khốn nỗi Quân Thành không phải quân ô hợp, sau này nếu Vương Cử giở tính ương ngạnh, đại quân đi vào sâu thì vô cùng hung hiểm”.
Trong đội kỵ mã có một người đàn ông vạm vỡ không biết có phải đã nghe được lời nói của Lê Xán hay không mà hung tợn trợn mắt nguýt họ từ xa, lại còn thét họ tránh ra từ bên cạnh.

Cát bụi do móng ngựa hất lên đập vào mặt Tịch Tà làm hắn cảm thấy đau rát.
Sau đầu xuân, hai trăm ngàn đại quân sẽ được giao vào tay đại tướng quân Chấn Bắc Vương Cử.

Mà Thiền Vu Quân Thành xa ngoài ngàn dặm hình như rất thờ ơ đối với sự bố trí của trung nguyên phía nam Nỗ Tây A Hà, chỉ lẳng lặng chậm rãi đợi kết cục dự tính.

Tịch Tà phảng phất nhớ lại ánh mắt Quân Thành: lúc yên lặng, con mắt màu xanh lam của Thiền Vu sẽ chuyển thành sự sâu xa vô cùng vô tận, đó là một tương lai tăm tối không nhìn thấu được.

Hắn nghĩ ngợi, khẽ rùng mình một cái.
“Hung ác nham hiểm thật”.

Lê Xán nhìn bụi mù do ngàn kỵ sư bốc lên, lại nói.
“Đúng vậy”.

Thật lâu, Tịch Tà mới thở dài theo hắn ta.[1] Nơi múa và diễn kịch.
[2] Múa hát và sắc đẹp của phụ nữ.
[3] Công sự là công nghệ xây dựng pháo đài dùng để bảo đảm an toàn cho người và phương tiện vật chất, kho tàng, bảo đảm chỉ huy ổn định, nâng cao hiệu quả sử dụng vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự, chống các phương tiện sát thương của địch.
[4] Chức vụ không có phẩm cấp, dưới quyền quan..
 
Khánh Hi Kỷ Sự
Chương 22: 22: Hạ Dã Niên


Mùng năm tháng hai năm Khánh Hi thứ mười ba, trên phố Tịnh Thủy Bát, đường Hoàng Thổ đ**m, đại lộ Chu Tước, hơn mười dặm màn vàng và hơn vạn cấm quân phân cách Ly đô ra thành từng vùng nhỏ.

Giờ Thìn, đại giá đi ra từ cửa Chu Tước, hoàng đế ngồi trên ngựa trắng, mặc thường phục có tay áo bó, mũ da đỏ như lửa buộc tóc lại, thần thái phấn chấn, rất có khí phách oai hùng.

Đại tướng cưỡi ngựa theo hầu bên cạnh hoàng đế có khuôn mặt cháy vàng, khó giấu vẻ thanh cao, ngưng tụ tài hoa, chính là đương kim quốc trượng, đại tướng quân Chấn Bắc, Vệ Ninh hầu – Vương Cử.

Tất nhiên không thể thiếu chúng tướng bộ binh, giám quân kinh doanh và hai nghìn thị vệ cấm quân khác vây quanh.

Dưới cái lạnh căm căm của đầu mùa xuân, họ chạy chầm chậm đến kinh doanh ở cửa khẩu Tiểu Hợp Kinh duyệt binh xem lễ.
Sau khi thiết lập lại kinh doanh, đây là lần đầu tiên hoàng đế giá lâm.

Dù ngày mai tắt thở, thì hôm nay Hạ Dã Niên cũng không phải lộ diện ở cửa khẩu Tiểu Hợp.

Hôm mùng bốn gã đã đội gió lạnh tham gia răn bảo việc thao trường với Khương Phóng, giám sát giám Ty thiết về việc bố trí màn ngự trên tướng đài.

Tới hôm mùng năm, lúc mặt trời mọc thì dựng cờ lớn kim long vàng chói ở thao trường, để tế thần cờ.
Hạ Dã Niên che kín áo choàng, chỉ lo nhìn chăm chú góc cờ phấp phới trong nắng mai, khẽ run rẩy trong gió lạnh như băng.
“Tổng đốc đại nhân”.

Mặc dù Hạ Thiên Khánh là anh em ruột của gã nhưng trong quân đội vẫn lấy chức quan để xưng hô, ôm quyền nói: “Trời lạnh lắm, chỉ e hai ba canh giờ sau thánh thượng mới giá lâm, sao không trở về trong màn nghỉ ngơi?”.
Hạ Dã Niên vẫn ngơ ngác, một lát mới nói: “Cũng được”.

Quay người lại, gã thấy Khương Phóng nhìn mình từ xa, càng là miễn cưỡng thẳng lưng, vịn chặt bội đao.
Từng tốp từng tốp ngựa giỏi tới báo cáo, đến giữa giờ Tị hoàng đế đã cách đó năm dặm.

Hạ Dã Niên dẫn Khương Phóng và chúng tướng kinh doanh quỳ nghênh đón ở bên ngoài viên môn thao trường.

Thấy cờ lớn trong đội nghi trượng của hoàng đế che khuất bầu trời, đến trước mắt, họ hô to vạn tuế rồi phục tại chỗ lạy bốn lạy.
Hoàng đế ở trên ngựa gật đầu: “Bình thân, hai vị ái khanh vất vả rồi”.

Đoạn quay đầu nhìn Vương Cử, lại nói: “Đại tướng quân Chấn Bắc cùng đi theo trẫm.

Đại tướng quân lĩnh binh mấy chục năm, chúng tướng kinh doanh phải thao diễn cho tốt, được đại tướng quân chỉ điểm một hai là phúc của kinh doanh, cũng là phúc của trẫm”.
“Vâng”.

Hạ Dã Niên và Khương Phóng hành lễ với Vương Cử.
Vương Cử chỉ cúi người trên ngựa chứ không đáp lời.

Hạ Dã Niên và Khương Phóng dẫn đường phía trước.

Giá vào viên môn, liền có quân bắn pháo hiệu bên trong, ba tiếng như sấm vang lên trên đất bằng, xa xa nghe thấy tiếng chiêng trống chấn động bên trong thao trường.

Tức thì ai nấy đều im bặt, trong doanh chỉ có móng ngựa của nhóm hoàng đế là đập không ngừng như mưa xối xả.

Hoàng đế ghìm chặt dây cương dưới tướng đài, đạp lên lưng nội giám để xuống ngựa, dắt tay Vương Cử cùng lên đài.
Lại là ba tiếng pháo hiệu, hoàng đế ngồi lên ghế.

Dưới đài là hai vạn tinh binh đông nghịt, cầm giáo dài có tua đỏ, quỳ một chân trên đất hét lớn: “Ngô hoàng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!”.
Trong chớp mắt ấy, ánh mặt trời bỗng như tối sầm lại, Hạ Dã Niên yếu ớt hư nhược, không khỏi tâm thần chấn động, người ngợm run rẩy.

Nghe thấy hoàng đế bình tĩnh nói tiếng “miễn” xong, gã vội vàng ổn định tiếng nói, khom người trước vua mời duyệt trận.
Hoàng đế gật đầu, Hạ Dã Niên truyền lệnh xuống, trên đài thổi ống sáo sừng, phất cờ vàng chỉ huy, tiếng trống cùng vang lên, trong thao trường ầm ầm tiếng giáp trụ lưỡi mác ma sát, hai vạn tướng sĩ mặc trọng giáp như thủy triều lên xuống trên mặt biển chìm trong bóng đêm đen kịt, sừng sững ưỡn thẳng người.

Tiếng trống lại vang lên, cờ đen phất nhanh, dưới đài tiếng giết ầm trời, mũi giáo lẫm liệt chói mắt dưới ánh dương, tựa như giao long lân giáp cuồn cuộn bốc lên, trận Phương đã biến thành trận Khúc trong nháy mắt.
Quân uy hùng tráng khiến hoàng đế cả mừng, nhiệt huyết sục sôi trong tim, siết tay xoay mặt định nói với Vương Cử, đã thấy nụ cười ngạo mạn dưới chòm râu hoa râm của ông ta thì kiềm nén không nói nữa, nháy mắt với Tịch Tà.
Tịch Tà tiến lên ghé đến bên miệng hoàng đế, nghe hắn ta dặn dò vài câu rồi mỉm cười, gật đầu thưa: “Hoàng thượng thánh minh, nô tỳ sẽ đi làm ngay”.

Hắn lặng lẽ đi tới bên Hạ Dã Niên và Khương Phóng, truyền khẩu dụ của hoàng đế.
Chẳng bao lâu trong thao trường đã liên tục thay đổi các trận Nhuệ, Trực, Phương, Viên.

Khương Phóng thét ra lệnh đánh chuông ngăn trống, lại thổi ống sáo sừng, phất cờ lệnh màu vàn.

Tiếng chiêng vừa vang lên, mấy vạn người bỗng lặng ngắt như tờ.
Hoàng đế đứng dậy cao giọng khen: “Hay!”
Các quan bộ binh như Ông Trực cũng đều khen hay.
Hoàng đế quay đầu hỏi: “Đại tướng quân thấy thế nào?”.
Vương Cử ngạo nghễ nói: “Thân binh của hoàng thượng quả nhiên đi đứng điều độ, tĩnh như hổ ngồi, động như rồng chạy.

Quân đội như hổ như sói này mà đóng giữ kinh sư thì dư sức”.
Hoàng đế hiểu ý ông ta, nói theo: “Kỷ luật của quân Chấn Bắc nghiêm minh, xông pha đại mạc, chiếm cứ nghìn dặm đất địch.

Những trận pháp lúc này của kinh doanh bày trước mặt đại tướng thực thụ chẳng qua chỉ là múa rìu qua mắt thợ.

Nhưng…” Hắn ta quay đầu nói với Hạ Dã Niên: “Kinh doanh mới thiết lập lại được một hai tháng đã có thanh thế quân uy như vậy, suy cho cùng là nhờ Hạ khanh thao diễn điều độ, chỉ huy thỏa đáng”.
Chúng thần lập tức phụ hoạ theo đuôi, khiến hoàng đế hết sức vui mừng.
Hạ Dã Niên tái xanh mặt mày, trong gió lạnh mà cằm vẫn lấm tầm mồ hôi hột, cười gượng nói: “Hoàng thượng quá khen.

Thần vẫn luôn ôm bệnh trong nhà, mọi việc ở kinh doanh đều do hiệp đốc Khương Phóng và giám quân Tịch Tà nắm giữ.

Thần không công mà hưởng lộc, đúng là ăn ngủ khó yên”.
Hoàng đế nói: “Không.

Hạ khanh cúc cung tận tụy, sao trẫm không biết”.

Hắn ta gật đầu ra hiệu cho Cát Tường, Cát Tường bèn bưng một chỉ dụ ra.

Ngay hôm ấy, Tổng, Hiệp nhung chính của kinh doanh là Hạ Dã Niên và Khương Phóng thăng chính nhất phẩm, mỗi người được thưởng một đôi ngọc như ý, trăm đồng tiền vàng, ban thưởng một thanh bảo kiếm.

Các tướng khác trong kinh doanh đều được ban thường.
Hạ Dã Niên dập đầu tạ ơn, phục xuống mãi không có ngẩng đầu lên.
Hoàng đế hỏi: “Hạ khanh?”.
“Dạ.

Thần tạ ơn ân điển của hoàng thượng”.

Hạ Dã Niên đứng dậy, lui sang một bên rũ tay không nói.
Lát sau Cát Tường đi ra, truyền ban thưởng rượu và thức ăn cho tướng sĩ.

Hoàng đế lên ngựa hồi loan trong tiếng pháo hiệu.
“Khanh thấy Vương Cử có đáng tin không?” Hoàng đế ngồi trên giường ở tẩm điện, lo lắng hỏi.
Tịch Tà thưa: “Vạn tuế gia cảm thấy có chỗ nào không ổn ạ?”.
Hoàng đế cau mày nói: “Vương Cử theo Nhan vương, Hồng vương chinh chiến Hung Nô nhiều năm, quả thật năm đó cũng là đại tướng một mình gánh vác một phương quân vụ.

Từ năm Thượng Nguyên thứ chín trở đi, Hung Nô vẫn luôn không ngừng thôn tính nội bộ, xuôi nam xâm phạm, lúc ghê gớm nhất cũng chỉ có vạn người.

Thêm vào đó, quân vụ đóng giữ phía bắc đều giao vào tay Lương vương, quân Chấn Bắc vẫn phòng giữ ở Lạc châu và Bạch Dương, tính ra cũng đã nhiều năm chưa đánh trận nào ác liệt rồi”.
“Vạn tuế gia nói có lý”.

Tịch Tà tâu: “Nhưng Vương Cử lĩnh binh cực kỳ nghiêm khắc, mười hai vạn kỵ binh quân Chấn Bắc nghiêm túc chấp hành quân kỷ, sĩ khí tăng vọt, công lao của ông ta không nhỏ đâu ạ”.
“Chính vì vậy, ông ta mới quá đỗi kiêu căng”.

Hoàng đế thở dài nói: “Nếu hai ngày nếu trẫm phong ông ta làm tướng, e là với tính tình đó sẽ không ở chung với Lương vương được.

Lỡ lòng quân chia năm xẻ bảy, há chẳng làm người ta lo lắng?”.
“Ý của vạn tuế gia là…”
“Trẫm không có ý gì khác, dùng người thì không nghi ngờ người…” Hoàng đế bảo: “Vả, hiện nay trong triều còn ai có thể ganh đua với Lương vương, cầm giữ tám vạn tinh kỵ ở Lương châu chứ?”.
“Hoàng thượng nói phải, hiện nay người có thể đảm đương trách nhiệm nặng nề này chỉ có một mình Vương Cử”.
Nói thì nói vậy, hoàng đế vẫn rất sầu lo, suy tư một lát, đành chuyển chủ đề: “Trên thao trường, trẫm bảo khanh truyền chỉ hủy bỏ diễn trận kỵ binh, Khương Phóng có nói gì không?”.
“Ngài ấy vốn không biết là vì Vương Cử, sau đó mới thoáng hiểu ra”.
Hoàng đế nói: “Vương Cử dẫn dắt mười hai vạn kỵ binh, sẽ không coi diễn trận kỵ binh của kinh doanh ra gì.

Với sự cao ngạo của ông ta, chẳng biết sẽ nói ra điều gì khó nghe, không đâu khiến ông ta mài mòn nhuệ khí của tướng sĩ trong kinh doanh.

Khanh đi nói rõ dụng ý của trẫm với Khương Phóng đi”.
“Vâng”.

Tịch Tà vâng mệnh, hôm sau lại đến cửa khẩu Tiểu Hợp tuần sát kinh doanh, gặp Khương Phóng thì nói rõ lời của hoàng đế.
“Tôi hiểu mà”.

Khương Phóng nói: “Tay Vương Cử này thanh liêm thì đúng là cực thanh liêm, có điều quá mức kiêu căng.

Nay binh lực và chiến pháp của Hung Nô đã cách biệt trời vực với nhiều năm về trước, nếu ông ta vẫn lật mấy chiêu trò cũ thì e sẽ chịu thiệt”.
“Hoàng đế cũng đang lo lắng việc này đấy”.
“Vốn có một cách”.

Khương Phóng mỉm cười bảo: “Chỉ cần phái một người bên cạnh hoàng đế đi giám quân, phối hợp với Vương Cử và Tất Long thì chẳng phải đã xong rồi ư?”.
Tịch Tà lắc đầu nói: “Hoàng đế luôn luôn hết sức cảnh giác với nội thần.

Ta có thể giám quân ở kinh doanh đã không dễ dàng gì.

Nội thần nắm binh quyền ở bên ngoài, bất kể chuyện này do kẻ nào đề xuất ra cũng đều là tại họa về sau đối với tương lai của hắn.

Chúng ta nhất định không thể nóng lòng trong chốc lát được”.
Lúc bấy có người vào bẩm báo, xe ngựa của Hạ Dã Niên đã chuẩn bị xong, sắp về kinh rồi.
“Sao đã chuẩn bị xe rồi?” Tịch Tà hỏi.
“Hai ngày nay, ngài ấy hứng gió lạnh nên bị bệnh, không cưỡi được ngựa”.
Khương Phóng và Tịch Tà đứng dậy đi ra ngoài.

Hạ Dã Niên đã được Hạ Thiên Khánh đỡ đi ra từ hậu đường, sắc mặt vàng khè, môi cũng trắng bệch.

Hai người tiến lên cáo biệt, Hạ Dã Niên lặng im trong chốc lát mới mỉm cười nói: “Nơi đây giao cho hai người”.
“Vâng”.

Khương Phóng cảm thấy xót xa, khom người thi lễ: “Tổng đốc đại nhân bảo trọng”.
Hạ Dã Niên gật đầu, thở hổn hển mấy cái rồi sai người hầu để mình nằm trong xe.

Hạ Thiên Khánh cũng cáo biệt, thi lễ với Khương Phóng, Tịch Tà rồi hộ tống xe ngựa chậm rãi ra khỏi thành.
Tịch Tà không thích lải nhải bên tai người không có hứng, vì vậy bỏ Khương Phóng lại, tự mình tìm Lục Quá nói chuyện.

Đi tới ngoài quan sảnh của phó tướng doanh kỵ binh thì thấy Lê Xán ngồi ở trên bậc thang lười biếng phơi nắng, cẩn thận lau chùi mũi giáo.
“Sao lại ở chỗ này?” Tịch Tà cúi đầu nhìn dải lụa dài trắng như tuyết mà hắn ta buộc lên trên cán thương, không kiềm được hỏi: “Anh là thân binh của thiên tử, sao lại dùng màu trắng? Không lành đâu”.
Cuối cùng Lê Xán cũng ngẩng đầu: “Vậy dùng màu gì? Đen à?”.
“Đỏ son”.

Tịch Tà trả lời.
Lê Xán cười to: “Sau khi nhuốm máu thì tự nhiên sẽ thành màu đỏ”.

Hắn ta lắc cổ tay, mũi giáo kêu vù vù.
“Vậy thì phải đợi một trận rồi”.

Tịch Tà nói: “Kinh doanh phòng thủ Ly đô, nếu muốn kẻ nào đánh tới nơi này rồi đấu với anh thì khó lắm”.
Tịch Tà nói thế, hiếm khi Lê Xán cũng nghĩ như vậy.

Lục Quá đi ra đón từ bên trong, vừa hay nghe được, cũng cảm thấy lời này không sai.

Ánh sáng mặt trời lơ thơ đầu xuân chiếu lên trên mặt mọi người, ngẩng đầu nhìn qua tường thành, bên ngoài có vẻ trong xanh vạn dặm nhưng bầu trời lại đang có mờ đục, cơn gió lạnh thấu xương cuốn mây mỏng bay thấp nên mơ hồ, không thấy rõ thứ gì.
Thời tiết phiền lòng trong mà lại không trong như vậy đến hôm mùng bảy thì lại trở thành nắng ấm chiếu rọi khắp nơi, mây xanh gột rửa không trung.

Vừa sáng, hoàng đế đã mặc quần áo võ biền, truyền Vương Cử yết kiến ở cung Càn Thanh, dặn đi dặn lại: “Lúc này tái ngoại giá rét, băng tuyết chưa tan, đại quân nhất định không được vội vàng tìm địch, chỉ cần thận trọng chiếm giữ chỗ đồng cỏ và nguồn nước dồi dào, không cho Hung Nô cơ hội nghỉ ngơi lấy lại sức sau mùa xuân, đợi lương thảo sung túc, sau khi xuất quân lên bắc, khanh lại dẫn đại quân đi thảo phạt cũng không muộn.

Phải nhớ cho kỹ đấy”.
Vương Cử vâng mệnh, hoàng đế thấy đã đến lúc bèn lấy phù tiết và búa rìu[1] trao cho đại tướng quân Chinh Bắc Vương Cử, lệnh cho chỉ huy tổng cộng hai mươi vạn quân Chấn Bắc và kỵ binh Lương châu ra khỏi Nhạn môn, Xuất Vân, chinh phạt Hung Nô.
Hoàng đế đi ra ngoài điện, thoải mái dễ chịu nhìn sắc trời, hỏi nội thần bên cạnh rằng: “Các ngươi xem cái này có tính là điềm lành không?”.
Nơi đây còn có thể nghe thấy tiếng trông nhạc ngoài cửa Tử Nam, Vệ Ninh hầu Vương Cử giơ cao phù tiết và búa rìu, tấu nhạc dẫn đường, cờ xí vòng quanh, được trăm quan lần lượt tiễn xuất, tới miếu Võ Thần hiến sinh cầu phúc.
Nhưng điện Thanh Hòa lại im ắng tĩnh mịch, dường như phồn hoa của triều đình lập tức bị hút hết vậy.

Bao nhiêu tiền của người ngựa đều cấp cho đại quân chinh bắc, giả mà hai mươi vạn kỵ binh này thua trận tan tác thì nhất định xã tắc sẽ súp đổ.
Vì vậy Lý Cập thẳng thắn nói: “Cực kỳ đại cát ạ”.
Hoàng đế không nói gì, cất tiếng cười to đi mất.
Lý Cập nhìn Cát Tường, nghi ngờ hỏi: “Tôi nói sai gì rồi à?”.
Cát Tường lắc đầu cười bảo: “Hoàng thượng vâng mệnh trời, đại quân bắc phạt tất thắng, cần gì điềm lành tỏ rõ?”.
“Đại gia của tôi ơi!” Lý Cập hối hận không kịp, vả vào mồm mình một cái, giậm chân hỏi: “Nếu ngài nói trước thì chẳng phải tôi đã không bị chôn sống rồi ư?”.
“Vạn tuế gia là minh quân bậc nào chứ, sao lại so đo với ông?”
“Cát Tường!” Hoàng đế đã gọi ở phía trước, đợi Cát Tường đi nhanh lên trước mới thấp giọng hỏi: “Đã bao lâu trẫm chưa đến cung Tiêu Cát rồi?”.
“Bẩm hoàng thượng, ít nhất cũng đã hai tháng rồi ạ”.
“Không biết thân thể nàng ấy đã khá hơn chút nào chưa.

Hôm nay trẫm sẽ đi thăm nàng”.
“Vâng”.

Cát Tường cười thưa: “Giờ nô tỳ sẽ đi báo hỉ cho Hoà thục nghi”.
“Không cần.

Giờ trẫm lặng lẽ đến.

Nếu thân thể nàng ấy đã khỏe thì đi theo trẫm ngắm hoa giải sầu”.
“Vạn tuế gia nghĩ cho Hoà thục nghi như vậy, nương nương nhất định sẽ rất vui vẻ”.

Cát Tường nói nhưng thầm thấy làm lạ.

Hoàng đế không phải cái loại người biết quan tâm như thế, phàm là phi tần trong cung lộ ra chút sầu bi oán hận đã khiến hoàng đế mất kiên nhẫn, dần dà sẽ lảng tránh lạnh nhạt.

Chẳng biết điều gì làm hoàng đế đổi tính, chuyện xảy ra hai tháng rồi mới nghĩ đến chuyện an ủi Hoà thục nghi, đi ngắm hoa giải sầu với nàng.
Hoàng đế thay quần áo, người dẫn theo cũng không nhiều.

Cát Tường cười tủm tỉm gọi tiểu thái giám trước cửa cung Tiêu Cát lại, hỏi: “Nương nương đang làm gì đấy?”.
“Nương nương mới vừa ngủ trưa, đã dậy rồi, có điều…”
“Có điều làm sao?” Hoàng đế đã cười bước vào sân, đi nhanh đến bên ngoài tẩm cung.

Cát Tường vội vàng đẩy cửa ra cho hắn ta, hoàng đế vén bức rèm che lên, làm người bên trong giật mình.
Sắc mặt Mộ Từ Tư đã khôi phục vẻ hồng hào được bảy phần, gầy hơn trước kia một ít, vì thế mà hai mắt càng thêm đẹp đẽ sâu xa: “Hoàng thượng”.

Nàng nở nụ cười, sắc đẹp vẫn khiến hoàng đế khó thở trong nháy mắt, cơ thể mềm mại đã nhào vào lòng hắn ta, hoàng đế khóa chặt hai cánh tay, tim đập thình thịch.
“Hoàng thượng thứ tội”.

Mộ Từ Tư ngọ ngoạy, muốn hành lễ.
Hoàng đế vẫn không thả lỏng, cứ vùi mặt vào trong mái tóc dài rậm xõa tung của nàng.

Đợi người chung quanh đều quỳ xuống dập đầu, hô to vạn tuế, hoàng đế mới hồi phục tinh thần lại.
“Mới vừa dậy à?”
Mộ Từ Tư đỏ mặt nói: “Thần thiếp đang chải đầu.

Đây là hài thục nghi của cung QUế Hợp”.
Thiếu nữ đứng lên bên cạnh chỉ mặc quần áo dài màu xanh thẳm, bàn tay trắng như tuyết vẫn nắm chiếc lược gỗ đỏ tươi mạ vàng, mái tóc xoăn dài vây quanh khuôn mặt, có vẻ thanh tú không chân thật như đang tan chảy dưới ánh mặt trời.
“Thần thiếp Vệ thị, thỉnh an hoàng thượng”.
Hoàng đế hơi choáng váng, d*c v*ng không tên bỗng nhiên dâng lên: “Đây là…”.
“Bẩm hoàng thượng, đây là hài thục nghi của cung Quế Hợp, vào cung cùng một ngày với thần thiếp nhưng hoàng thượng chưa từng gặp”.

Mộ Từ Tư kiên nhẫn mìm cười nói ở phía sau hoàng đế: “Mấy ngày này thần thiếp ngủ không yên, nàng ấy bèn ở lại bên thần thiếp một lát.

Hoàng thượng?”.
“Hả? Cái gì?”
“Hoàng thượng ngồi bên ngoài một lát, đợi thần thiếp trang điểm xong nhé?”
Ánh mắt hoàng đế vẫn vấn vương trên người Vệ thị, hỏi thăm một cách rối bời: “Nàng tên gì?”.
“Thần thiếp Vệ thị”.

Hài thục nghi nói.
“Được, được”.

Hoàng đế lùi hai bước: “Các nàng tiếp tục rửa mặt chải đầu đi, trẫm ngồi bên ngoài”.
“Vạn tuế gia vẫn ổn chứ?” Cát Tường bưng trà thấp giọng hỏi.
“Sao lại không ổn?” Hoàng đế cười mất hồn mất vía.
Cát Tường xa xa đánh giá hài thục nghi hai lần rồi cười nói: “Hài thục nghi thật đẹp”.
“Hình như đã từng gặp ở đâu đó rồi.

Khanh cảm thấy thế nào?”
“Bẩm vạn tuế gia, nô tỳ không cảm thấy vậy”.

Cát Tường nói bừa.
Hài thục nghi đi theo Mộ Từ Tư đã bôi phấn lại lộ diện, son màu hoa hồng và châu ngọc gài trong tóc che đi sự lạnh lùng thuần khiết.

Tay áo đỏ lại phất chào một lần nữa, hoàng đế đưa tay kéo lấy cả hai vị phi tử.
“Nàng vào cung cũng gần một năm mà lại lạnh nhạt với nàng”.

Hoàng đế nói với hài thục nghi: “Hôm nay hiếm có, hai nàng hãy trò chuyện với trẫm đi”.
Nét mặt hài thục nghi rất hiếm vẻ nũng nịu xinh đẹp, bình tĩnh đáp lời.
Cát Tường thấy ánh mắt hoàng đế vấn vương mãi trên người hài thục nghi, sợ lạnh nhạt Mộ Từ Tư, bèn vội vàng góp vui, chọc cho hoàng đế và các phi tử cười không ngừng.

Dùng bữa tối xong, đến lúc nghỉ ngơi, hoàng đế vốn muốn ở lại cung Tiêu Cát nhưng Mộ Từ Tư lại đỏ mặt khó xử, tiếng nói nhỏ như tơ nhện: “Thân thể thần thiếp vẫn chưa khỏe hắn, thái y cũng nói… Chi bằng…” Nàng cười với hài thục nghi: “Hoàng thượng đến cung Quế Hợp đi”.
“Cũng được”.

Hoàng đế suýt nữa buột miệng khen Mộ Từ Tư giỏi đoán ý người.
Hài thục nghi trời sinh đã thùy mị phó thách cho trời, không thấy vui mừng quá đỗi, chỉ đứng dậy dẫn đường mời hoàng đế di giá.

Mộ Từ Tư cung tiễn hoàng đế đến ngoài cửa cung, trở về sai người mở ngăn kéo ra, gói hai mươi lượng bạc ròng giao cho thái giám thủ lĩnh cung Tiêu Cát: “Thưởng cho Lý Cập của cung Càn Thanh”.

Nàng mỉm cười: “Nhớ nói tiếng “đa tạ””.
Lúc này đêm đã khuya, ngọn nến trong trong thư phòng cung Càn Thanh đã đốt hết một lần.

Tịch Tà dụi mắt, nhân lúc Tiểu Thuận Tử thêm nến mới thì để bút xuống đi ra ngoài cửa cung hít thở.

Trong yên tĩnh, hắn có thể nghe thấy rõ ràng tiếng Lý Cập nhỏ giọng nói đùa với thái giám cung Tiêu Cát ở trong góc tối phía xa.
“… Kể từ đó, hoàng thượng không đến cung của Nghị phi nữa rồi”.
“Xem ra Vệ nương nương đó là một tiên nữ lặng lẽ vô dục, ắt hẳn dễ thao túng”.

Lý Cập cười nói: “Mộ nương nương nhanh chóng hồi phục, lúc được sủng hạnh lần nữa sẽ là ngày lành của đám nô tỳ chúng ta rồi”.
“Lý gia nói thật có lý”.

Tiểu thái giám đó không tiện ở lâu, tiếng bước chân lộp cộp đi xa.
“Thầy ơi, thay nến xong rồi ạ”.

Tiểu Thuận Tử đi ra mời Tịch Tà: “Thầy đang nhìn gì đấy?”.

Cậu ngẩng đầu nhìn bầu trời chật hẹp: “Sao đổi ngôi ạ?”.
Tịch Tà phì cười, trầm mặc một hồi mới nói: “Tiểu Thuận Tử, con cần phải nhớ, phàm là thứ mỹ lệ thuần khiết thì đều giống như sao đổi ngôi, sẽ không dài lâu.

Lúc con mê hoặc quyến luyến nó thì nó đã trầm luân tan biến rồi”.
“Dạ?” Tiểu Thuận Tử gãi đầu: “Cái gì được coi là thứ mỹ lệ thuần khiết ạ?”.
“Hoa mùa xuân, trăng đêm thu…”
Tiểu Thuận Tử cười ha hả: “Thầy ơi, thầy nói lời này, ngay cả con cũng phải nổi da gà khắp người rồi đây”.
“Lòng người”.

Tịch Tà đảo mắt nói: “Lòng người lương thiện là thứ dễ sa đọa nhất trần đời, cho nên…”
“Cho nên, không được cả tin”.

Tiểu Thuận Tử nói.
“Trẻ nhỏ dễ dạy.


“Lục gia đấy à?” Thái giám đề lĩnh quan phòng cung Càn Thanh của giám Ti lễ nghe thấy tiếng Tịch Tà bèn tiến lên phía trước nói: “Khương Thống lĩnh bảo tôi truyền thư tới, phủ của tổng đốc nhung chính của kinh doanh Hạ Dã Niên truyền tin đến nói Hạ đại nhân đương nguy kịch”.
Bệnh của Hạ Dã Niên tái đi tái lại giằng co gần nửa tháng.

Vì cùng làm việc ở kinh doanh, Tịch Tà không những tự mình đi thăm một lần, còn phụng mệnh vua tới thăm hỏi mấy lần.

Bởi vì thái y nói thật nên Hạ phủ đã lặng lẽ chuẩn bị quan tài từ lâu, người trong nhà đều vây quanh phòng bệnh, chờ gã dặn dò hậu sự.

Đến ngày mười chín tháng Hai, Hạ Dã Niên lại đột nhiên có tinh thần, mở mắt nói chuyện, gọi người lau mặt cho gã rồi gắng gượng ngồi dậy, còn uống ít canh sâm.
Câu đầu tiên gã hỏi Hạ Thiên Khánh hầu hạ bên giường: “Có ai… trong triều đình ở đây không?”.
“Có Khương Phóng ạ.

Mấy ngày nay hôm nào cũng tới”.
“Hiếm thật”.

Hạ Dã Niên cố hết sức bảo: “Mời vào đi, anh có chuyện muốn nói”.
Hạ Thiên Khánh hơi chần chừ rồi mới đi ra ngoài mời.

Khương Phóng sải bước vào phòng, vừa nhìn xuống đã nói: “Xem ra tổng đốc đại nhân đã bình phục rồi”.
Hạ Dã Niên lắc đầu cười nói: “Hồi quang phản chiếu[2] mà thôi”.
Khương Phóng ngồi ở bên cạnh gã bảo: “Anh Hạ có gì dặn dò, cứ việc nói thẳng”.
“Anh Khương…” Hạ Dã Niên thấy mọi người đều đã lui ra, mới cất tiếng: “Hai ta tòng quân cùng năm, cùng đánh Hung Nô, có tính là bạn bè đồng bào không?”.
“Đương nhiên”.
“Hai ta cùng được chọn làm thị vệ đại nội, nâng đỡ lẫn nhau, cũng có lúc liên thủ ngăn địch, có tính là tình cảm đồng liêu không?”
“Có”.
“Đã như vậy, anh hãy nói cho tôi biết, tôi dẫn binh làm hết chức trách hơn hai mươi năm, đánh đâu thắng đó, hôm nay, không được chết trận trên sa trường như ý nguyện, ngược lại trong tay chẳng binh chẳng tướng, không kiếm không giáo.

Trên thì chúa công nghi kỵ; dưới thì thuộc hạ cũ ly tán là vì cớ gì?”
Gã nói liên tục, không thấy oán hận chất vấn chút nào làm Khương Phóng ngập ngừng mãi.

Hạ Dã Niên mỉm cười: “Anh Khương, mười mấy năm trước, anh, tôi, và cả Lưu Tư Hợi cũng có thể xưng là “Tam Tuấn Quân Bắc”, đã từng cùng chí hướng nên thành tri kỷ, từ bao giờ lại xa lạ như thế?”.
Khương Phóng đáp: “Chỉ vì người anh Hạ huynh hầu hạ thực sự không chỉ có một mình đương kim thánh thượng.

Người hai ta bảo vệ khác nhau, vì vậy dần dần xa lạ”.
“Không sai, hai ta không có thù riêng, nhưng dòng nước trong triều chảy xiết, chọn chủ như chọn gỗ, tôi đã ôm lầm một cây gỗ mục nên mới chìm, không trách ai được”.

Gã thở hổn hển, lại phấn chấn tinh thần: “Trong năm mươi năm, cả họ Hạ của tôi có bảy viên thượng tướng.

Đến thế hệ tôi, chỉ còn lại có hai anh em tôi tòng quân.

Tôi sắp không xong rồi, mà em Thiên Khánh của tôi cũng không phải kẻ hiểu chuyện lắm, ỷ vào chức quan của tôi nên từ trước đến giờ không biết nặng nhẹ.

Anh Khương đồng liêu với tôi hai mươi năm, giống như anh trưởng của nó vậy, xin anh Khương thay tôi săn sóc, dạy dỗ nó”.
Khương Phóng bảo: “Nếu anh Hạ đã nói như vậy, tôi vốn không nên chối từ, chỉ là Thiên Khánh đã trưởng thành rồi, chưa chắc đã muốn nghe lời tôi”.
“Anh là chủ tướng của nó, lấy quân lệnh ra trói buộc nó thì sẽ phải theo thôi.

Tôi không muốn nó giống tôi, cuốn vào phân tranh của triều đình.

Chỉ mong sao nó có thể một lòng một dạ làm quan quân, giết địch đền nợ nước.

Cho dù một ngày hi sinh vì nước, cũng chết có ý nghĩa, hơn tôi vạn lần”.
“Thì ra là thế”.

Khương Phóng gật đầu nói: “Tôi đã hiểu ý của anh Hạ rồi”.
“Được”.

Hạ Dã Niên không ngừng mỉm cười, tinh thần lại bắt đầu tan rã.
Khương Phóng thấy thế thì vội vàng gọi đại phu và thân thích của Hạ Dã Niên đến, Hạ phủ bỗng chốc rối ren.

Khương Phóng ngồi trong phòng khách nhỏ cách đó không xa, nghe được tiếng bước chân đi vào không ngừng, sau gần nửa canh giờ, hình như Hạ Dã Niên hét to một tiếng: “Người đã quên ta rồi…”.

Phòng bệnh chợt im bặt, sau đó là tiếng kêu đau thương đứt ruột đứt gan.
Khương Phóng lặng lẽ đi ra Hạ phủ, tiếng khóc đã xuyên qua mấy lớp sân mà truyền ra.

Thằng nhóc trước cửa dường như mang theo vẻ ngỡ ngàng thầy bại thì tớ cụp đuôi, sửng sốt hồi lâu mới vội vàng dắt ngựa đến cho anh ta.
Thời tiết quả là ấm áp.

Khương Phóng thả dây cương mặc cho ngựa chạy chậm, trái tim bị ánh mặt trời nướng thành một cục nóng hổi lờ đờ.

Biết rõ là khổ sở như lửa đốt nhưng lại không có sức lực phát ra.

Khương Phóng bị nỗi bất đắc dĩ dây dưa hồi lâu, ngẩng đầu lên thì phát hiện ngựa đã dẫn mình đến cầu Song Thu.

Trước ngõ Lan Đình tan hoang đang đợi tu sửa, cổng chào bị đốt nhưng đã đổi thành lầu hoa ba tầng, thợ thủ công đang tỉ mỉ tô màu lên trên đòn dông.

Lán trúc xanh biếc dọc đường cũng đã khôi phục như cũ, biến ánh mặt trời thành màu xanh lá mạ, chiếu xuống người đi đường khiến mặt mày ai nấy đều đáng sợ như ma.
Người của viện Tê Hà đã tới đón chào từ xa.

Tê Hà nghe tin bèn vội vàng điểm son lần nữa, chải đầu lần nữa rồi mới chạy tới.
“Sao gần đây không thấy ngài thế? Cửa khẩu Tiểu Hợp bận rộn lắm à?” Nàng ôm lấy tám lưng rắn chắc của Khương Phóng từ phía sau, nhỏ giọng hỏi.
Khương Phóng nhìn trúc mới ngoài cửa sổ, vẫn không nói gì.
“Hạ Dã Niên chết bệnh rồi à?”
Cả người Khương Phóng run lên, gật đầu: “Trước kia gã cũng có thể xưng là đại tướng trong cả vạn người không có lấy một, kết quả lại phải chịu sự nghi kị lạnh nhạt của hoàng đế, hậm hực thành bệnh, ôm tiếc nuối mà chết.

Tôi cũng giống như gã thôi, thân bất do kỷ cuốn trong vòng xoáy phân tranh của triều đình.

Thói đời hiện nay, muốn làm một võ phu thuần túy cũng khó khăn đến thế sao?”.
Gương mặt Tê Hà v**t v* lưng anh ta, thở dài bảo: “Tuyệt đối không thể nói như vậy.

Thời loạn mới xuất hào kiệt, mọi người tự có mệnh trời của riêng mình”.
“Tê Hà…” Khương Phóng xoay người ôm lấy nàng nói: “Từ nhỏ tôi đã là võ phu, cũng chả có tư chất ngang dọc đất trời gì.

Cô nói cho tôi biết, đến bao giờ, người như tôi mới có thể một lòng một dạ chiến đấu, trong lòng không còn hổ thẹn tiếc nuối đây?”.
Tê Hà sẵng giọng: “Sao ngài lại hổ thẹn tiếc nuối?”.
“Ái tướng lúc vương gia chinh bắc trước kia cũng chỉ có Lưu Tư Hợi và tôi còn ở trong quân đội.

Nói ra thì lại ai vì chủ nấy, ai biết sau này có thể gặp lại trên chiến trường hay không? Thứ mà cô, tôi và chủ nhân nghĩ đến mỗi giờ mỗi khắc đều là người Trung Nguyên tự giết lẫn nhau.

Dù tôi nhấc tay diệt vạn địch, lập được chiến công không ai bằng thì có gì vinh quang tự hào?”
“Ngài ấy à!” Tê Hà che miệng anh ta lại, mỉm cười nói: “Ngài cũng đã bốn mươi tuổi rồi, sao vẫn nghĩ không thông như thế? Tính mệnh con người sẽ tiêu vong, danh dự con người sẽ bị phỉ báng tổn hại, trinh tiết con người sẽ bị vấy bẩn, chỉ có tranh đấu của con người là sẽ mãi không dừng lại.

Chinh chiến sinh ra vì tội lỗi tham dục của con người, trước này không hề bàn đến vinh quang tự hào, càng không có hổ thẹn tiếc nuối.

Uổng cho ngài tòng quân nhiều năm, vong hồn dưới đao ngài mà nghe ngài nói như vậy, há lại không oán hận vì bị chết oan khuất ư?”.
“Là tôi tự làm phiền mình”.

Khương Phóng cười nói.
“Biết vậy thì tốt”.

Tê Hà nhếch miệng cười: “Đêm nay…”.

Nàng nói: “Ngài ở lại chỗ này à?”.
Tiếng nói của nàng chính như tiếng gió phất nhẹ qua rừng trúc ngày xuân lúc này, hơi khàn và đầy vẻ biếng nhác, làm Khương Phóng bất giác gật đầu.
“Tôi sai người đến phủ nói một tiếng với bà chủ”.

Tê Hà sửa sang vạt áo, lưu luyến buông tay Khương Phóng ra rồi căn dặn thằng nhỏ trước cửa nhanh chóng đi báo tin, xong xuôi lại gọi a hoàn nhỏ bưng chậu nước rửa tay hầu hạ Khương Phóng thay quần áo.

Chưa được bao lâu đã có người vội vã bẩm báo với Tê Hà, vẻ vui mừng trên mặt Tê Hà bỗng nhiên biến mất, quay lại nói: “Người trong phủ đang tìm ngài khắp nơi đấy! Trong cung cho đòi gấp kìa”.
“Vậy ư?” Khương Phóng nhảy lên đeo yêu đao, tóm lấy Tê Hà: “Cô mất hứng rồi à?”.
“Vẫn ổn”.
Cho dù lưu luyến nhưng vẫn chưa tới thời cơ được ở bên nhau, Tê Hà quay mặt đi bất đắc dĩ giận dỗi.

Khương Phóng nắm chặt lấy tay nàng rồi chạy đi như bay.
“Oan gia”.

Tê Hà trách móc.
“Sao Khương lão gia lại đi thế ạ?” Đám a hoàn vây lại lo sợ hỏi.
Hạ Dã Niên vừa chết, hoàng đế đã triệu Khương Phóng vào cung gấp, ắt hẳn chức vị tổng đốc kinh doanh chắc chắn thuộc về anh ta rồi.

Thế thì anh ta không thể kiêm chức thống lĩnh thị vệ nữa, từ nay về sau sẽ thường trú ở cửa khẩu Tiểu Hợp, khó mà gặp lại được.
Vì vậy, Tê Hà than thở: “Khương lão gia vội thăng quan rồi, đợi thăng quan xong thì sẽ không tới đây thường xuyên nữa”.

Trong lòng nàng khó tránh khỏi ấm ức, mình vẫn còn nhắc mãi nhưng chỉ nỗi lo này chẳng bao giờ thoáng qua trong lòng Khương Phóng.
Lúc bấy Khương Phóng và Tịch Tà đều đang vắt hết óc vì người được chọn lĩnh chức thống lĩnh thị vệ, bàn bạc ở ngự tiền thì chỉ có phó thủ của Khương Phóng là Trịnh Bích Đức thăng chức theo thứ tự.

Hoàng đế nói: “Mặc dù tài cán của người này không sánh bằng hai khanh Hạ, Khương nhưng cũng tuân theo quy cũ, những năm gần đây không phạm sai lầm.

Thôi thì cứ để hắn ta làm đi”.
Hầu hết người tâm phúc đều quá trẻ, dù cất nhắc lên nhưng khó có thể khiến mọi người tin phục, ngay cả Tịch Tà cũng lén than thở: “Đúng là thời buổi rối loạn.

Vốn định để Hạ Dã Niên cản một trận gió cho chúng ta để dễ dàng nắm được cả kinh doanh lẫn cung đình.

Giờ xem ra không thể chỉ trông cậy vào người khác được”.
Khương Phóng hỏi: “Người khác? Mặc dù tài cán của Trịnh Bích Đức bình thường nhưng cũng là thuộc hạ cũ của lão vương gia.

Người mình mà chủ nhân chỉ là ai chứ?”.
“Đó cũng là vết thương trí mạng của hắn ta.

Trừ anh ra, ta thực sự không muốn nhường chuyện phòng thủ trong ngoài đại nội này đến tay kẻ khác.

Kinh doanh mới được chấn hưng, lại phải có người như anh áp chế.

Du Vân Dao thông minh hiếm có, vốn có thể âm thầm giúp đỡ Trịnh Bích Đức, nhưng nay đành phải đặt ngoài cửa Tử Nam.

Mọi việc khó lưỡng toàn, ta buộc phải đi lại ở phòng trực của thị vệ nhiều hơn”.
“Làm gì có chuyện nội thần công khai nhúng tay vào việc của thị vệ? Hơn nữa còn có thái giám đề đốc của giám Ti lễ kia mà”.
“Ta sẽ không vô duyên vô cớ chọc vào họ.

Thường ngày thị vệ phòng thủ tự có lệ cũ để điều hành, ắt sẽ không có sai lầm.

Chỉ sợ có tình hình đặc biệt thì Trịnh Bích Đức sẽ luống cuống tay chân thôi”.
Khương Phóng gật đầu.

Nếu bản thân Tịch Tà đã muốn lo chuyện này thì không thể tốt hơn.

Anh ta bèn yên tâm nhận ý chỉ của hoàng đế, tới cửa khẩu Tiểu Hợp nhậm chắc, còn Tịch Tà sẽ lui tới hai nơi, đích thân mang đến tin tức từ đại nội.
Lúc này dưới sự thống lĩnh của Lương vương Tất Long, đại quân đã ra ngoài Nhạn môn năm trăm dặm, đóng quân ở cửa ải Xuất Vân.

Ngày hai mươi sáu thàng Hai, Vương Cử hội họp đại quân, tiếp tục tiến lên một trăm dặm.

Hai vạn kỵ binh chia làm bốn đường, chia nhau xây hào doanh ở phía nam Nỗ Tây A Hà để canh giữ, ngăn chặn bộ tộc Hung Nô xuôi nam vào đầu xuân.
Cùng ngày, Như Ý cũng thuận sông Hàn đặt chân vào đất Đại Lý.

Thái tử Đại Lý Đoàn Bỉnh đích thân bến tàu nghênh tiếp, công chúa đáp lễ cách lớp mành, không hề thất lễ.
Tịch Tà đọc mật báo của Như Ý thì thở dài một hơi, cầm sổ con đi ra từ phòng trực định bẩm tấu cho hoàng đế biết thì Lý Cập đã đến cười nói: “Anh Sáu đừng phí sức nữa”.
“Sao thế?”
“Vạn tuế gia đương ở cung Quế Hợp đấy”.
“Không phải tối qua đã ở đó sao? Giờ là ban ngày mà lại đi à?”
“Vẫn chưa về”.

Lý Cập cười hì hì: “Từ mùa hè năm ngoái, vạn tuế gia chưa có lúc nào được thanh nhàn cả, nay rảnh rỗi nghỉ xả hơi thật là tốt”.
Tịch Tà gật đầu, bảo: “Đúng vậy, ông nói đúng”.

Dứt lời quay lại phòng trực, ném sổ con lên trên bàn: “Tiểu Thuận Tử, thu dọn đồ của chúng ta rồi về viện Cư Dưỡng”.
“Vâng ạ”.

Tiểu Thuận Tử cả mừng: “Ở chỗ này ăn không ngon, không ngủ yên, con đã muốn về từ lâu rồi”.
Tịch Tà dặn Lý Cập tìm người truyền công văn sổ sách qua lại, mang theo nhiều mật báo chưa xem xong về viện Cư Dưỡng.

Lý Cập không biết ý của hắn, vội vàng nói cho Cát Tường.

Cát Tường lắc đầu cười bảo: “Một ngày nó không gặp được hoàng thượng thì có trăm chuyện đại sự không ai định đoạt.

Thời gian càng dài thì đương nhiên càng nôn nóng, chi bằng để nó về viện Cư Dưỡng vừa làm việc, vừa điều dưỡng, nó cũng mệt lắm rồi”.
“Vâng”.
“Nói cho nó biết có việc gấp thì cứ tới cung Quế Hợp, gần đây vạn tuế gia phê tấu chương ở đây đấy”.
Lý Cập vui vẻ tìm đến Tịch Tà, nghe hắn trả lời dứt khoát: “Tôi không thích đi lại trong cung tần phi”.
“À, được”.

Lý Cập bị hắn tạt một gáo nước lạnh thì chả hiểu mô tê gì, đấm ngực giậm chân với Minh Châu: “Cô nương thử phân xử cho tôi đi, tôi chạy tới chạy lui giữa hai nơi là vì cái gì?”.
“Ôi!” Minh Châu nói năng sắc bén, phì cười: “Chẳng lẽ là vì lục gia sao? Ngài tự làm việc của mình là không sai đâu”.
“Nói thì nói vậy…”
“Biết rồi, biết rồi”.

Minh Châu cười đuổi gã ra ngoài: “Tôi đã nói hết điều nên nói rồi, ngài yên tâm làm việc của ngài đi, không ai dám bắt ép ngài đâu”.

Nàng quay lại mở cửa sổ trong phòng cho Tịch Tà.

Dưới ánh mặt trời sáng sủa, Tịch Tà lại có vẻ yếu ớt không chịu nổi gánh nặng.
“Minh Châu”.

Tịch Tà đặt bút xuống, quay đầu bảo: “Gần nhất tôi rất mệt mỏi”.
“Tôi biết”.
“Tính tình cũng không tốt… Nếu như mạo phạm đến cô thì cô đừng giận”.
Minh Châu cười nói: “Lục gia đúng là giảo hoạt! Nói như vậy thì về sau có thể tùy tiện nói năng động chạm à?”.
Tịch Tà bị nàng nói thì bật cười, lại định cầm bút, bị Minh Châu đè lại, nói: “Tôi thì không sao, nhưng lục gia đã mạo phạm Lý Cập đó rồi”.
“Đừng lấy mình ra so với gã”.

Tịch Tà mất hứng lên tiếng: “Gã đáng đời”.

Mắt thấy Minh Châu tức giận không còn gì để nói, hắn mới mềm mỏng đi: “Đầu tôi mê muội rồi”.
Hắn nhìn cả bàn đầy sổ sách công văn, che con mắt đau đớn lại và nói: “Mười vạn thớt ngựa và lương bổng quân nhu trưng thu từ đồn doanh các nơi lục tục xuất phát ở Lạc châu, Bạch Dương, Tây Vực đã được ùn ùn đưa đến tiền tuyến, những thứ ấy chính là việc tôi làm.

Đôi khi, tôi cảm thấy mình không gì làm không được, nhưng đôi khi, trông đống sổ con này, tôi cũng thấy sợ hãi.

Một câu trả lời được đưa ra sẽ có bao nhiêu người gánh chịu can hệ, một thủ lệnh điều binh được đưa ra sẽ có bao nhiêu người trước ngã xuống, người sau kế tục tự tìm đường chết? Nếu như hoàng đế ở bên, giả tưởng những thứ này đều vì phò tá hắn ta, chẳng qua là vì xã tắc triều ta nên buộc phải thế thì tôi còn bình tĩnh được.

Chứ lúc ở một mình, tôi sẽ không ngừng nghi hoặc, có phải những thứ này đều vì tư lợi của tôi, có phải đều làm vì cả nhà chết thảm của tôi hay không? Mấy trăm sinh mạng ấy có đáng để thiên hạ phân tranh hay không?”.
“Lục gia…” Minh Châu nói.
Tịch Tà lắc đầu không cho nàng nói hết, trông nàng mà rằng: “Tôi chỉ muốn cô ngồi bên là được”.
“Được, tôi sẽ ngồi ở đây”.

Minh Châu thuận theo ngồi xuống đối diện của bàn trên giường, nhỏ giọng nói: “Lục gia cần gì miễn cưỡng như thế? Nói cho cùng, lục gia cũng chỉ trạc tuổi tôi…”.
“Thật ư?” Chớp mắt, Tịch Tà lại bình tĩnh trước sau như một: “Hai ta sinh cùng năm à? Tôi không biết đấy”.
Minh Châu nói qua loa: “Lục gia nào màng đến những việc này? Mau mau xem tấu sớ đi, đừng để tôi uổng công ngồi ở đây”.

Nàng pha trà đặc rồi sai Tiểu Thuận Tử lấy kim chỉ giá thêu của mình tới, lẳng lặng ở bên Tịch Tà cả ngày, tới đêm mới về.

Sáng sớm hôm sau tới, nàng thấy ánh nến vẫn chưa tắt, Tiểu Thuận Tử thì nằm nguyên quần áo ngủ say trên giường bên ngoài, biết rõ Tịch Tà lại thâu đêm suốt sáng.

Vừa định tiến lên khuyên, đã thấy Tịch Tà để bút xuống, cười nói: “Được rồi.

Tiểu Thuận Tử đưa đến cung Càn Thanh đi”.

Không liếc Minh Châu lấy một lần, vừa ngả đầu đã ngủ mất.

Minh Châu không khỏi bật cười, nhẹ nhàng đánh thức Tiểu Thuận Tử cầm công hàm tóm lược tấu chương đến cung Càn Thanh.

Sau đó nàng đuổi chim sớm không ngừng líu lo trong viện đi rồi mới đóng cửa viện trở về.
Tịch Tà đang ngủ ngon, trong lúc quanh mình hoàn toàn yên tĩnh, chợt nghe tiếng cửa viện vang “kẽo kẹt”, tiếp theo là tiếng bước chân “huỳnh huỵch”.

Hắn tưởng là Tiểu Thuận Tử gọi bạn về chơi thì rất bực mình, mơ mơ màng màng tiện tay phất bút trên bàn giường xuống đất, nói: “Ra ngoài!”.
Bút rơi ngay xuống trước chân người nọ khiến hắn ta giật mình, vẫy tay với người bên cạnh, sai người nhặt lên rồi lặng lẽ xoay đi mất.

Tịch Tà vẫn chưa nhận ra, mãi đến khi bị Tiểu Thuận Tử đánh thức mới biết mình đã ngủ liền bốn canh giờ.
Tiểu Thuận Tử nói: “Lúc đầu không muốn gọi thầy dậy, nhưng sợ muộn nữa thì cung đóng cửa, thầy sẽ không rời cung được nữa”.
“Tại sao ta phải rời cung?” Tịch Tà ngạc nhiên hỏi.
“Thầy không biết sao? Buổi sáng hoàng thượng đã đến nơi này, vốn định gọi thầy cùng đến hành cung Thượng Giang nhưng lại bị thầy chọc giận”.
“Nói như vậy người đó là ngài ấy?” Tịch Tà ngẩn ra, không khỏi nở nụ cười: “Sao hoàng thượng lại muốn đến Thượng Giang?”.
“Sáng sớm hôm nay có tin chiến thắng, quân Chấn Bắc diệt hơn hai ngàn địch, hoàng thượng phấn khởi, đột nhiên nghĩ quân báo đến Thượng Giang sẽ sớm hơn nửa ngày so với đến Ly đô bèn quyết định hôm nay khởi hành đi đến Thượng Giang.

Đại giá đã xuất phát từ hai ba canh giờ trước rồi, bảo thầy tỉnh thì đuổi theo”.
Tịch Tà lắc đầu nói: “Lộ trình chưa đầy nửa ngày không đáng để đặc biệt chuyển tới đó ở.

Hoàng thượng không có ý khác à?”.
“Con nghe thấy người bên trong cung của mấy vị nương nương nói, gần đây hoàng thượng luôn yêu chiều hài thục nghi ở cung Quế Hợp nên Nghị phi vô cùng không vui, có nói thêm mấy câu trước mặt thái hậu”.
Tịch Tà cười nhạt bảo: “Năm trước sau khi hoà thục nghi bị bệnh, chẳng phải hoàng thượng chỉ tới mỗi cung của nàng ta sao? So với hoàng hậu thì nàng ta đã tốt lắm rồi đấy”.
“Các chủ tử không nghĩ như vậy đâu.

Dù sao thì hình như thái hậu đã mời hoàng thượng đến cung Từ Ninh nói vài câu, còn bảo gần đầy cơ thể hoàng hậu không khỏe, sao không thấy hoàng thượng hỏi câu nào.

Hoàng thượng phiền muộn không thôi, vì vậy cũng có thể đến Thượng Giang để được yên tĩnh đấy ạ”.
“Nói có lý”.

Tịch Tà thay xiêm áo.

Tiểu Thuận Tử và Minh Châu đã chuẩn bị hành lý thỏa đáng, hai người cầm thủ lệnh lấy ngựa rồi phấn khởi duổi theo.
Lúc này cảnh xuân đập vào mặt, liễu nhỏ bay bay, cơn gió mềm mại mang đi vô số phiền não, thanh thản không nói nên lời.

Mắt thấy tà dương dần rơi xuống thì càng chạy nhanh như tên, cứ xông về phía trước.

Mãi đến khi trời đã đen kịt, trăng khuyết đội mây như ẩn như hiện mới chạy tới đất Thượng Giang.

Hồ Động Nguyệt tiến lên đón rồi kéo ngựa của Tịch Tà, chỉ về phía các Ỷ Hải.

Tịch Tà phủi xiêm áo, thấy Cát Tường thì xin y vào thông báo.
“Lăn vào đây đi!” Hoàng đế ở bên trong nói.
Tịch Tà vén góc áo lên, dập đầu xin tội.
Hoàng đế nói: “Không ngờ khanh còn biết dỗi giống Như Ý.

Gì mà không thích đi lại trong cung tần phi, có phải thấy trẫm thoải mái vài ngày thì khanh không được dễ chịu phỏng?”.
“Không dám, nô tỳ không hề có ý đó.

Nhưng…” Tịch Tà cười tâu: “Hoàng thượng không phải thoải mái vài ngày mà là thoải mái hơn nửa tháng”.
Hoàng đế đi tới trước mặt Tịch Tà: “Khanh thế này là sao? Muốn học trung thần liều mạng can gián à?”.
Nhân vì sáng sớm Tịch Tà đã đụng đến hắn ta nên lúc này chọn bừa một lời lọt tai mà nói: “Nô tỳ không hề nghĩ như vậy.

Nô tỳ giận bản thân mình, vì sao không gặp hoàng thượng thì cứ như không có chủ kiến, không giống người có thể làm việc lớn vì hoàng thượng gì cả”.
Quả nhiên hoàng đế rất mừng, cười nói: “Mặc dù biết khanh đang nói hươu nói vượn song thỉnh thoảng nghe khanh nói thế vẫn rất vui vẻ.

Đứng lên đi”.
“Vâng”.
“Quân Chấn Bắc thắng trận nhỏ, đã biết chưa?”.

========== Truyện vừa hoàn thành ==========
1.

Mùa Hè Năm Ấy Thật Đẹp
2.

Hàng Xóm Của Tôi Là Cô Giáo
3.

Hồn Của Ba Tôi Bám Theo Anh Chàng Học Thần Cao Lãnh
4.

Trở Về Năm Tháng Bố Tôi Là Hotboy
=====================================
“Đã biết rồi ạ.

Chúc mừng vạn tuế gia quân Chấn Bắc đã giành được thắng lợi ngay trận đầu”.
Hoàng đế có vẻ vô cùng vui sướng, Tịch Tà nuốt lời định nói vào, đổi lời tâu: “Lúc nô tỳ đi ra từ trong cung còn mang theo một mật tấu của Thái Tư Tề – bố chính sứ Hàn châu.

Khoản chi năm mươi vạn lượng bạc trắng không minh bạch hằng năm của Đông vương Đỗ Hoàn tra được lúc trước, nay đã bị Thái Tư Tề tra được hướng đi rồi ạ”.
Hoàng đế vội vàng nhận lấy xem, không khỏi cười nhạt: “Thì ra năm mươi vạn lượng bạc trắng đó là để làm trò này! Điều tra giỏi đấy!” Hắn ta nói với Tịch Tà: “Trong bản phúc đáp, khanh phải khen ngợi Thái Tư Tề đấy.

Đông vương Đỗ Hoàn có cái thóp cấu kết giặc Oa này rơi vào trong tay trẫm, chẳng phải là ý trời đó sao?”.
“Hoàng thượng, giờ xem ra trước nay giặc Oa chưa từng an phận.

Người Oa mà lên đất liền thì nơi đứng mũi chịu sào chính là Hắc châu, hễ bất lợi cho Đông vương thì chính là thế lực triều đình có thể dùng được.

Hoàng thượng xem có cần cho Lục Tuần một thủ dụ đặc biệt để đối phó với việc của giặc Oa không ạ?”
Hoàng đế suy nghĩ một lát rồi nói: “Lẽ nào khanh muốn…”.
Tịch Tà mỉm cười nhưng ánh mắt lại lạnh đi: “Vâng ạ”.
Hoàng đế ngồi ở trước án, trầm ngâm một lát mới quyết định: “Nói cho Lục Tuần, giặc Oa khác với người Khuất Xạ, mặc dù đều ngấp nghé đất đai trung nguyên nhưng phần lớn đều xuất thân từ cướp biển, làm việc ti tiện, vô tín vô nghĩa, một khi dùng thì tất phải có thứ át chế”.
“Vâng”.
“Chỉ mong tổ tông khoan thứ…” Hoàng đế lẩm bẩm nói: “Nếu lúc này không cá chết lưới rách thì sao con cháu lại ra hạ sách này”.
Tịch Tà khuyên nhủ: “Nói không chừng kết quả là chúng lưỡng bại câu thương, chẳng phải tốt sao ạ?”.
“Nói thì nói vậy, nhưng không phải hành vi của kẻ vương giả”.

Hoàng đế phất tay một cái: “Khanh cũng mệt rồi, ngày mai nói tiếp”.
Tịch Tà dập đầu xin cáo lui, đi ra ngoài phòng, thấy tuy bốn phía không thiếu thị vệ nhưng đuốc của cấm quân phía xa lại ảm đạm hơn nhiều so với Thượng Giang trước kia.

Hắn vội vàng tìm Trịnh Bách Đức hỏi, mới biết hoàng đế ra ngoài đột ngột, chỉ gọi một đội thị vệ thân tín theo giá, vẫn đang điều động cấm quân.
Tịch Tà cười bảo: “E là hoàng thượng sẽ ở chỗ này thường xuyến, phần lớn cấm quân ở lại Thượng Giang không được việc lắm, lại bổ nhiều tinh binh đến kinh doanh như vậy.

Chi bằng xin bộ binh điều ít người tới, cứ coi như thao luyện”.
Trịnh Bích Đức đang sầu lo vì việc này, nghe vậy thì cả mừng, lập tức đi viết đơn từ.cho bộ binh.

Tịch Tà lại viết thư cho Khương Phóng, nói rõ chỉ cần điều trường thương thủ và cung tiễn thủ mỗi bên năm ngàn người tới Thượng Giang là được.

Làm xong cũng đã đến nửa đêm, sau khi được từ Tiểu Thuận Tử hầu đi ngủ chốc lát, một trận sấm rền đánh xuống, đã nghe ngoài cửa sổ tí tách tiếng mưa xuân.

Tịch Tà xoay người ngồi xuống, đẩy cửa sổ ra, quan sát phía đông, quả nhiên thấy một bóng người đi loạn như con ruồi không đầu, nghĩ vừa rồi mình không nghe lầm.
“Thầy ơi, sao vậy?” Tiểu Thuận Tử mơ mơ màng màng hỏi.
Tịch Tà khoác quần áo nói: “Ta đi một lát sẽ trở lại, con tuyệt đối không được động đậy”.

Hắn nhảy cửa sổ ra, đi theo sau người nọ, càng nhìn càng thấy quen.

Đuổi theo mấy bước, người nọ đã quay người lại, bị Tịch Tà bịt miệng, kéo vào trong phòng.
Tiểu Thuận Tử vội vàng khoác áo đứng lên, thấy rõ người trước mặt thì sợ đến mức hồn xiêu phách lạc: “Người, người, người, sao người lại tới đây?”.
Chàng thanh niên nhếch miệng cười: “Tôi tới tìm Tịch Tà”.
Tịch Tà tức giận mà không làm sao được, sai Tiểu Thuận Tử đóng kín cửa sổ, thấp giọng nghiêm túc quát: “Lý Sư, anh điên rồi à?”.
“Tôi không điên! Cả ngày bứt rứt ở kinh thành, chân tay đều không thi triển được.

Anh xem quân Chấn Bắc đã ở biên cương xa xôi, vì sao tôi không thể đi theo? Anh sắp xếp cho tôi đi, tôi muốn đến phương Bắc! Tôi muốn…” Tiếng Lý Sư vừa cất cao liền bị Tịch Tà đập một chưởng ngã xuống đất.
“Anh giết tôi trước đi!” Tịch Tà bị y chọc tức đến mức muốn ho, Tiểu Thuận Tử hô một tiếng “đánh hay lắm” rồi bưng nước tới để Tịch Tà nguôi giận.
Lý Sư trợn to hai mắt, siết nắm tay tiến tới gần, cả giận nói: “Anh nghĩ vì sao tôi lại lên kinh tìm anh”.
“Tôi biết rồi…” Tịch Tà thở dài: “Anh là chúa gây họa không chịu ngồi yên.

Trách tôi ném anh ở kinh thành chẳng màng”.
Lý Sư nghe hắn nói như vậy thì cơn giận mất tăm, quấn lấy Tịch Tà nói: “Tháng trước đại tướng quân Chấn Bắc đã phát binh đến biên cương, tôi sốt ruột đến mấy cũng không dám vào cung tìm anh.

Hôm nay thấy hoàng đế bãi giá rời kinh ở trên đường, nghe nói là đến Thượng Giang, tôi nghĩ ít nhiều gì cũng đã tới nơi này nên tìm đến.

Anh hãy nghĩ cách giúp tôi, để tôi theo quân Chấn Bắc đi”.
“Biết rồi, biết rồi”.

Tịch Tà nói: “Anh hãy nói thật, chỉ một mình anh tới thôi à? Thẩm Phi Phi đâu?”.
“Gã không chịu tới.

Lần trước gã bị cô nương Minh Châu dạy dỗ một trận, nói là sẽ không gây họa nữa”.
“Tại sao không có ai khiến anh sợ chứ?” Tịch Tà cười nói: “Thị vệ nơi này đều là bại tướng dưới tay anh, hơn nửa đều nhận ra anh.

Anh đừng đi lại vội, đêm nay trốn trong phòng tôi rồi ngày mai tôi sắp xếp cho anh đến nơi náo nhiệt”.
Điều Tịch Tà lo lắng nhất chính là để Cát Tường phát hiện ra động tĩnh, cũng may Cát Tường hầu hoàng đế ở các Ỷ Hải, ở giữa cách rừng rậm, cũng phải mất một chặng đường, mà thị vệ thì tai mắt chẳng nhanh nhạy bằng một phần của Lý Sư nên tạm thời yên lòng.

Sáng sớm hôm sau hắn bảo Tiểu Thuận Tử tìm cung y thay ra rồi ép Lý Sư mặc vào.
Lý Sư nói: “Tôi không mặc quần áo thái giám”.
“Xí!” Tiểu Thuận Tử cả giận nói: “Thầy không phải hoạn quan ư? Thầy của thầy không phải ư? Người thì đẹp rồi! Không mặc cũng được, đỡ làm bẩn xiêm áo của tôi”.
Lý Sư bĩu môi miễn cưỡng mặc.

Tiểu Thuận Tử đã cao bằng y nhưng không vạm vỡ như y, xiêm áo siết chặt Lý Sư, nom hết sức khôi hài, khiến Tiểu Thuận Tử phải vỗ tay cười.
Tịch Tà dặn dò: “Lý Sư không có lệnh bài, không thể ra cửa.

Tiểu Thuận Tử, hôm nay con không được đi đâu hết, ở lại trông chừng y cho ta”.
“Vâng”.

Tiểu Thuận Tử thấy Lý Sư còn theo sát Tịch Tà thì vội vàng kéo lại: “Sư thúc của tôi ơi, ông nội của tôi ơi, người cho rằng đây là chốn nào? Tha cho cái mạng nhỏ của tôi đi”.
Tịch Tà giơ ô đi liền, nháy mắt đã biến mất ở con đường nhỏ trong rừng.

Lý Sư đứng ngồi không yên đợi một ngày, lúc có người đến đưa cơm còn bị Tiểu Thuận Tử đuổi vào trong nhà.

Mãi đến khi trời tối, Tịch Tà vừa mới trở về, sai Tiểu Thuận Tử cởi lệnh bài xuống cho Lý Sư rồi lại bọc áo dầu thật kín, đội nón và quan sát hai bên một hồi, cười nói: “Vừa hay có thể bổ sung cho đủ, đi theo tôi”.
Lý Sư đi theo hắn luôn miệng hỏi: “Đi đâu? Đi đâu đấy?”.
“Ngậm miệng của anh lại”.

Tịch Tà bị tiếng nói sang sảng của y dọa cho rùng mình: “Vật họp theo loài, người phân theo nhóm! Người như anh nên tụ họp với tổ tông gây họa đó”.

Hắn chọn con đường nhỏ ít người, quanh co nửa ngày mới tới một dải liên doanh bên bờ sông.

Bày lệnh bài ra, quân sĩ viên môn canh trước trại đều nhận ra hắn, hành lễ xong thì cho vào.
Tịch Tà dẫn Lý Sư đến thẳng lều trung quân.

Vén mành lều lên, bên trong chỉ có một thanh niên đang đứng, mặt mày mệt mỏi phong trần, ánh mắt hếch lên kiêu ngạo, lười nhác ôm quyền với Tịch Tà.
“Đây là Lê Xán – người dạy giáo gậy trong kinh doanh”.

Tịch Tà nói với Lý Sư.
Lý Sư tháo nón ra, nhìn Lê Xán từ trên xuống dưới, hỏi: “Sao lại là một tên công tử bột?”.
Lê Xán trỏ vào y hỏi: “Tên không có não này là ai thế?”.
“Bụng dạ anh cũng hẹp hòi ghê.

Ngày ấy bị tôi phá hỏng chuyện đã khiến anh muốn giết người diệt khẩu rồi.

Nay hai ta đều là người trong kinh doanh, thường xuyên giáp mặt, tôi thấy anh ở bên thì luôn ăn không ngon ngủ không yên.

Chi bằng như vậy…” Tịch Tà ung dung thoải mái ngồi lên ghế: “Đây là Lý Sư, anh em của tôi, vô cùng phiền phức, không thể lộ diện trước mặt thị vệ, xin anh chăm sóc cho.

Anh nắm cái thóp này trong tay thì hai ta đều có thứ hãm chân, sau này có thể yên tâm rồi chứ?”
Lê Xán nói: “Cái này không gọi là hãm chân, chỉ là ngài áp chế tôi mà thôi.

Chức quan của y là gì?”.
“Không có chức quan, muốn làm tùy tòng theo bên cạnh anh, còn phải làm một lệnh bài cho y nữa”.
Lê Xán lạnh lùng bảo: “Chuyện này có gì khó? Ngoài cửa có một vạn tấm lệnh bài đấy thôi, giết bừa một tên là có ngay”.
“Ngươi dám?” Lý Sư lập tức giận dữ.
“Giao cho anh nghĩ cách đấy”.

Tịch Tà thoát khỏi Lý Sư, ném chuyện khó giải quyết cho Lê Xán, quả là cả người nhẹ nhõm, tâm thần đều sảng khóai.

Hắn tháo lệnh bài gỗ mun của Tiểu Thuận Tử xuống khỏi đai lưng Lý Sư, nói: “Anh em tôi rất thân với Lục Quá, tìm anh ta giúp cũng được.

Tôi đi đây”.
“Gượm đã!” Lê Xán và Lý Sư cùng gọi to.
“Thế là xong rồi ư?” Lý Sư giận dữ hơn: “Anh lại đẩy tôi ra ngoài cho xong việc đấy à?”.
Tịch Tà kéo y qua một bên, thấp giọng an ủi: “Sao lại thế? Đây là nơi mà anh có thể cách tôi gần nhất rồi.

Cứ hai ba ngày tôi sẽ tới nơi này.

Hơn nữa…” Hắn híp mắt liếc Lê Xán: “Võ công của người này còn cao hơn cả Khương Phóng, chắc chắn là cao thủ trong hàng cao thủ, cứ việc bắt hắn ta so chiêu”.
“Thật ư?”
“Tôi đã đấu với hắn ta, anh thử một lần là biết”.
Lý Sư không ngừng đánh giá Lê Xán, Lê Xán bị y nhìn đến mức đổ mồ hôi lạnh khắp người, hỏi: “Làm gì đấy?”.
“Khà khà”.

Lý Sư không kìm được cười.
Tịch Tà lại bảo: “Tôi và Khương Phóng có rất nhiều thư vô cùng cơ mật, việc nào cũng đều liên quan đến vận mệnh của trung nguyên, an nguy của bách tính nên muốn tìm một người võ công cực cao lại còn thân cận tới truyền và bảo vệ thư.

Trừ anh ra, gần như không ai có thể đảm nhận trách nhiệm nặng nề ấy.

Anh có bằng lòng giúp chuyện này không?” Tịch Tà tới gấp, trong chốc lát không tiện truyền tin tức từ Thượng Giang tới chỗ Khương Phóng ở kinh doanh.

Hắn đang đau đầu, vừa lúc có Lý Sư xông đến, đúng là có thêm người giúp đỡ nên lúc này cố hết sức dụ dỗ y, Lý Sư không khỏi mở cờ trong bụng.
“Được! Để tôi”.
“Chỗ thư tín này đều kẹp ở trong công văn lui tới giữa kinh doanh và tôi.

Việc này cực kỳ cơ mật, bất kể Lục Quá, Lê Xán, hay là Thẩm Phi Phi, anh cũng không nên tiết lộ nửa phần”.
Lý Sư chỉnh đốn tinh thần, nghiêm túc nói: “Vâng”.
Tịch Tà cười thầm, dặn Lê Xán dạy cho Lý Sư lễ tiết trong quân.

Cứ hai ngày Lý Sư lại đi tới đi lui giữa cửa khẩu Tiểu Hợp và Thượng Giang một lần, mang đến điệp báo các nơi.

Ngoại trừ bảo Tiểu Thuận Tử lấy thư, có lúc Tịch Tà cũng bớt thời giờ tới, luôn thấy Lê Xán cười hì hì với vẻ hài lòng, còn Lý Sư thì buồn thiu với những vết thương trên mặt, trên người.

Hắn biết Lê Xán lại trút hết lửa giận lên đầu Lý Sư nhưng Lý Sư vẫn như ăn mật, đuổi theo hỏi cách phá giải phép dùng giáo của Lê Xán.
Tịch Tà nói: “Đến đời thầy, phái chúng ta đã truyền thừa gần trăm năm, các đời đều hầu hạ hoàng thất.

Chúng ta ở trong hoàng cung, sao có thể tập võ công khai được? Vì vậy so với chiêu thức thì chú trọng nội công tâm pháp hơn.

Anh muốn tôi chỉ dạy cho ở chiêu thuật thì thà tìm Khương Phóng, Minh Châu hay là Thẩm Phi Phi còn hơn”.
Lý Sư nghi ngờ nói: “Nhưng Lê Xán lại nói chiêu thức của anh rất tinh diệu đấy”.
“Không, đó là do tu vi nội công của tôi cao.

Giả dụ tôi ở trên lầu nhìn xuống anh thì sẽ thấy hết nhất cử nhất động của anh; anh ở dưới lầu nhìn tôi lại chỉ có thể trông thấy tôi lộ mặt thôi.

Tu vi nội lực cũng giống như vậy, đến tầng nhất định thì cái gọi là chiêu thức chẳng qua cũng chỉ là ứng biến nhanh nhẹn linh hoạt trong chốc lát, vừa xem đã hiểu ngay.

Tuy là thuật dùng giáo của Lê Xán mạnh mẽ nhưng không có chỗ nào kì dị, chỉ là một luồng khí cương cường thuần túy, tất do nội lực phóng ra.

Nếu như nội công của anh có thể cao hơn hắn ta thì sẽ có thể nghĩ ra cách khắc chế.

Nếu bàn đến chiêu thức, thuật dùng giáo của Lê Xán khá giống kiếm pháp, hơn nữa thanh kiếm mềm của hắn ta cũng có kỹ thuật độc đáo.

Tôi muốn anh năng đấu với hắn ta chính là để bù đắp khiếm khuyết trên phương diện chiêu thức của anh.

Cơ hội hiếm có, phải nắm cho thật chặt đấy”.
“Tôi hiểu rồi”.

Lý Sư gật đầu nói: “Nhưng chừng nào tôi mới có thể đến biên cương phía bắc đây?”.
“Sắp rồi, bây giờ anh đăng ký trong quân, tương lai tìm một nguyên nhân điều vào trong quân Chấn Bắc cũng rất tiện”.

Tịch Tà qua quýt với y: “Vết thương của anh không đáng ngại chứ?”.
“Không đáng ngại, không đáng ngại!” Lý Sư cười to.
“Xem ra anh rất vui vẻ”.

Tịch Tà nói: “Lúc này đã ngồi yên được chưa?”.
Lý Sư gãi đầu: “Coi là vậy đi.

Đừng nói là tôi, chẳng phải anh cũng rất vui vẻ đó sao? Xem ra đã bớt rất nhiều việc bận lòng”.
“Vậy sao?” Tịch Tà ngẫm nghĩ một lát: “Anh nói chẳng có lý gì sất.

Gần đầy trăm thứ việc đã làm cho tôi sứt đầu mẻ trán, sao lại không có việc bận lòng được?”.
Hắn lại tìm Lê Xán tán gẫu vài câu rồi cáo từ chậm rãi quay lại hành cung dọc theo bờ sông.

Cả đường nước non tựa tranh vẽ, mưa bụi như dệt cửi, Tiểu Thuận Tử cầm ô trúc xanh cho hắn, song vẫn có mưa phùn theo gió sông thốc vào mặt.

Đi không bao xa mà nước mưa loang loáng trên đường món đá vụn rêu xanh đã dần thấm ướt mặt giày, hắn bỗng ngừng chân, hỏi: “Tiểu Thuận Tử, con thích Thượng Giang không?”.
“Thích ạ”.

Tiểu Thuận Tử thành thật nói: “Bớt bao nhiêu phiền não.

Nếu như chị Minh Châu ở đây nữa thì càng tốt hơn.

Thầy thì sao?”.
“Ta cũng thích ở Thượng Giang”.

Tịch Tà gật đầu.
Rừng cây sông nước như thể tách khỏi thái hậu, tách khỏi thù nhà, tách khỏi sự vướng víu của tần phi, tách khỏi cái ồn ã của triều thần, khiến hắn đang một lòng một dạ bận bịu trong chính vụ lôi thôi trở nên bình tĩnh vui vẻ.
“Đại thắng!” Trên đường lớn, tiếng chân ngựa tốt chạy như bay vang lên, quân sĩ báo tin thắng trận không ngừng hoan hô: “Quân Chấn Bắc đại thắng!”
Tịch Tà và Tiểu Thuận Tử quay đầu lại, thấy ngựa tốt vượt qua, tiếng hoan hô càng lúc càng xa dưới làn mưa phùn.[1] Phù tiết: vật làm tin khi vua sao đi sứ hoặc điều binh.

Trao phù tiết và búa rìu cho quan viên hoặc tướng soái để thể hiện tăng thêm quyền lực.
[2] Vốn để chỉ hiện tượng ánh sáng phản xạ lúc mặt trời sắp lặn khiến bầu trời trở nên sáng hơn trong thời gian ngắn rồi nhanh chóng tối đi, từ hiện tượng này người ta sử dụng cụm từ để ẩn dụ cho việc một người đột nhiên trở nên minh mẫn, khoẻ mạnh trong một khoảng thời gian ngắn trước lúc qua đời..
 
Khánh Hi Kỷ Sự
Chương 23: 23: Vương Cử


Mùng một tháng Ba, Vương Cử chủ động đón đánh bảy vạn người bộ tộc Hung Nô ở phía bắc cách Nỗ Tây A Hà trăm dặm.

Hai lộ quân Chấn Bắc đông tây mỗi bên năm vạn kị binh, thừa dịp Hung Nô chưa vững chân, hai cánh giáp công, giết cho địch không kịp trở tay, vội vàng chạy trốn.

Quân Chấn Bắc đánh lén dọc đường, chém hơn năm nghìn đầu quân địch.

Lương vương Tất Long sợ đại quân vào sâu dễ bị phục kích nên đuổi hai trăm dặm thì thu binh trở về doanh trại bờ phía nam Nỗ Tây A Hà.
Tất nhiên hoàng đế hết sức vui mừng, trừ việc khao thưởng quân Chấn Bắc ra thì người nhà Vương Cử, thậm chí hoàng hậu cũng được ban thưởng.

Còn về Lương vương Tất Long, vì vương phi của anh ta – công chúa Cảnh Giai đã sinh ra đích trưởng tử nên hoàng đế lấy ý “chiến thắng”, tự mình ban tên “Đa Hưng”.
Song mật báo Tịch Tà nhận được không để hoàng đế được vui.

Trong chuyện lui quân, Tất Long và Vương Cử có sự bất đồng rất lớn, thậm chí tranh cãi ngay trước quân, cuối cùng Lương vương mang ý chỉ của hoàng đế ra, mới cản Vương Cử lại.
Hoàng đế nghe hắn bẩm tấu xong thì than thở: “Tất Long hiểu ý triều đình hơn Vương Cử, nhưng muốn trẫm ủng hộ anh ta tức là tước quyền của Vương Cử, như thế thì tất nhiên không cần nhắc đến mục đích chúng ta mượn cơ hội ngăn chặn thế lực Lương châu nữa”.
“Quân Chấn Bắc tiến hay lùi phải mời chư tướng bộ binh bàn lại quyết sách, nhưng hiện nay thảo nguyên phía nam Nỗ Tây A Hà quyết không được đánh mất.

Nếu hoàng thượng lo về Tất Long, chi bằng đưa mật dụ cho Vương Cử bắt ông ta cố thủ”.
Hoàng đế gật đầu: “Lúc này không thể mài mòn nhuệ khí của quân Chấn Bắc, đây là cách ổn thỏa nhất”.

Hắn ta tự tay viết dụ thư rồi tháo một ấn vàng nho nhỏ từ trên hông xuống để ấn lên hai chữ “Tĩnh Nhân” đỏ tươi vào đoạn cuối của mật dụ.

Tịch Tà cần thận bọc lại rồi sai người đưa đi gấp.
Hôm sau Ông Trực dẫn trọng thần bộ binh chạy tới Thượng Giang, không ngừng tranh luận về chuyện tiến thoái của quân Chấn Bắc.

Hoàng đế nghe cả buổi chiều cũng chưa có điểm cốt yếu.

Hắn ta ra lệnh cho mọi người tản đi, ai nấy đều chọn chỗ nghỉ ngơi, sau đó hỏi Tịch Tà: “Khanh xem Ông Trực nói rất ít là vì cớ gì?”.
“Ông Trực đã học được cách phỏng đoán ý thánh, nô tỳ nghe lời nói của ông ta thì có vẻ đã đoán sai ý hoàng thượng, cho rằng hoàng thượng bực Tất Long lui binh, nhưng trong lòng lại thấy tùy tiện tiến quân quá hấp tấp, trong chốc lát nghĩ không ra”.
“Thì ra là thế”.

Hoàng đế buồn bực bảo: “Sự việc quan trọng mà ông ta còn cất giấu ý nghĩ riêng.

Mời ông ta đến dùng bữa tối với trẫm, trẫm có lời”.
Chẳng bao lâu Ông Trực nơm nớp lo sợ đi đến, ngồi ở dưới tay hoàng đế, cả người không được tự nhiên.

Nội thần qua lại không dứt dâng thức ăn lên rồi mở nắp ra, Cát Tường nếm mỗi thứ một ít sau đó kính mời dùng bữa.
“Dùng đi”.

Hoàng đế mỉm cười nói với Ông Trực.
“Vâng”.

Ông Trực run rẩy cầm đũa lên, đợi hoàng đế động trước mới cẩn thận ăn hai miếng.
Im lặng ăn cơm xong, hoàng đế lại ngồi xuống trước giường, ban ghế cho Ông Trực ngồi thưởng trà.

Hoàng đế nghỉ một lát mới nói: “Ông khanh, từ thời tiên đế khanh đã nhậm chức ở bộ binh, năm đó chủ trì quản lý binh mã lương bổng của quân Chấn Bắc.

Những năm Thượng Nguyên nhiều lần dùng binh với Hung Nô, đại thắng khải hoàn, không thể bỏ qua công lao của khanh.

Trước khi tiên đế băng hà đã chỉ ra mấy vị đại thần tài năng kiệt xuất sau này trọng dụng để phò tá trẫm, Ông khanh cũng nằm trong số đó”.
“Vâng, tiên đế ban hoàng ân mênh mông cho thần, thần suốt đời khó quên”.
“Trẫm còn trẻ…” Hoàng đế than thở: “không có kiến thức sâu rộng như tiên đế, nhiều năm qua ngoại trừ khách sáo với các vị lão thần ra thì chưa từng cho các khanh cơ hội thi triển hoài bão tài năng như cá gặp nước.

Nói ra, hiền tài mà không được lộ tài, tướng giỏi mà chẳng được cầm quân cũng là một loại bạc đãi, là lỗi của trẫm”.
“Hoàng thượng!” Ông Trực kinh hãi: “Chúng thần có tài đức gì, xin hoàng thượng chớ nói lời ấy”.
Hoàng đế lắc đầu, khẩn thiết nói: “Không.

Trong triều không ai tài trí bình thường, làm quân vương mà không dùng hết cái tài của bề tôi cũng là tội lớn đối với triều đình, đối với tổ tông.

Vừa rồi trẫm còn nhớ hơn mười năm trước Ông khanh ở trước tiên đế giỏi quyết đoán can gián thế nào, nay lại sầu lo, ít nói thẳng.

Nếu như trẫm có chỗ nào khiến các khanh lo lắng thì hôm nay cứ việc nói hết ra, trẫm sẽ sửa đổi”.
“Hoàng thượng”.

Ông Trực quỳ rạp xuống đất, mồ hôi và nước mắt cùng chảy ra, không ngừng dập đầu: “Thần không một lòng một dạ hầu hạ hoàng thượng, thần tội đáng muôn chết”.
“Mau đứng lên, mau đứng lên.

Trẫm không có ý trách khanh”.

Hoàng đế vội vàng đứng lên đỡ ông ta dậy, giọng nói không khỏi run rẩy: “Ông khanh, giang sơn này không phải của một mình trẫm, tiền thuế của trăm họ trong thiên hạ nuôi trẫm, cũng nuôi đại thần trong triều.

Lẽ nào trẫm với Ông khanh, và mấy ngàn thần công triều đình không nên dốc lòng dốc sức, chẳng vì họ thì cũng coi như vì lương tâm của mình được thanh thản ư?” Hắn ta trầm mặc một lát, ép mình khôi phục tâm trạng trong tiếng nghẹn ngào của Ông Trực: “Trẫm có bao nhiêu người có thể trông cậy chứ? Nếu như Ông khanh cũng không chịu nói thật thì trẫm còn có hi vọng gì nữa? Hôm nay quân thần chúng ta nói cho rõ ràng, được không?”.
“Vâng.

Nếu hoàng thượng đã nói như vậy, thần liều chết nói thẳng”.

Ông Trực chỉ cảm thấy ấm ức bao nhiêu năm đều xông hết lên đầu,đoán rằng mấy năm nay hoàng đếcũng như vậy.

Ông ta lấy khăn tay ra, lau nước mắt trên mặt rồi bật thốt lên: “Từ khi hoàng thượng đăng cơ, thái hậu hạ chiếu tru diệt phản nghịch Nhan vương trước tiên.

Lúc đó tuy mười mấy đại thần liên đới chết chưa hết tội nhưng trong đó cũng có không ít bề tôi thường ngày chính trực.

Nghịch vương thế lớn, lại kiêm thống lĩnh quân Chấn Bắc nhiều năm, bao nhiêu quan viên trong triều đều có can hệ dây mơ rễ má với nghịch vương.

Nhất là đại tướng bộ binh, hầu như đều do nghịch vương đề bạt, ai mà chẳng cảm thấy bất an? Vả lại…” Ông Trực nói được một nửa, ngay cả mình cũng lấy làm kinh hãi, do dự một lát.
“Vả lại, năm đó bốn phiên vương cần vương đã thành triều đình nuôi ong tay áo, bất kể các đại thần dựa vào nơi nào thì ngày sau cũng đều là hậu hoạn vô cùng.

Nói một câu vì phiên vương, chỉ sợ chọc giận hoàng đế; đứng ở bên hoàng đế, chỉ sợ bị phiên vương lục ra íat chuyện cũ năm xưa, khó có thể tự bảo vệ mình”.

Hoàng đế thở dài: “Đúng không?”.
“Hoàng thượng… thánh minh”.

Ông Trực cúi đầu.
“Trẫm cam đoan với khanh”.

Hoàng đế bảo: “Đã bao nhiêu năm rồi không thấy người cũ của Nhan vương làm loạn, chẳng lẽ còn chưa đủ để chứng minh sự trong sạch của các khanh? Về sau nếu ai dám lấy chuyện này ra khích bác ly gián thì trẫm tuyệt không dễ dàng tha thứ”.
“Tạ chủ long ân”.

Ông Trực quỳ phịch xuống: “Ngô hoàng nhân từ thánh minh”.
Hoàng đế trấn an xong, dần nói đến chuyện chính: “Ông khanh có chủ trương gì trong cuộc bàn bạc hôm nay?”.
Ông Trực thưa: “Theo thần thấy, đại quân vẫn nên cố thủ Nỗ Tây A Hà mới thỏa”.
“Vì sao?” Hoàng đế hỏi.
Ông Trực đáp: “Quân Chấn Bắc hiện giờ không thể sánh với quân Chấn Bắc thời tiên đế.

Trong hai lần ra khỏi Nhạn môn vào năm Thượng Nguyên thứ sáu, thứ chín, ba mươi vạn đại quân đều là tinh kỵ khinh giáp, lương thảo sung túc, có thể tập kích cả đoạn đường dài.

Từ sau khi nghịch vương nhận tội, quân Chấn Bắc chia năm xẻ bảy, đa số tinh binh mã thất bị phiên vương chia nhau, kỵ binh chừa lại chỉ được mười hai vạn.

Mặc dù thuế khóa triều đình trưng thu cũng đủ cho quân bị cho ba mươi vạn đại quân trong một năm, nhưng ngựa còn thiếu, dù đưa tất cả chinh dũng[1] điều tới Lạc châu đến tiền tuyến nhưng đa số đều là bộ binh.

So sánh với kị binh của Hung Nô thì e là không đuổi kịp, một khi quân tiên phong bị phục kích thì hệt như nước xa khó cứu lửa gần.

Hoàng thượng để đại tướng quân Chấn Bắc Vương Cử cố thủ, chặn tiệt con đường phải đi qua khi Hung Nô xuôi nam, phong tỏa thảo nguyên màu mỡ, không để có cơ hội hồi sức là thượng sách, từ đầu thần đã hết sức tán thành, không có ý kiến khác.

Trung nguyên dây dưa trăm năm với Hung Nô, hoàng thượng không thể ôm tâm lý ăn may vừa đánh một trận đã phá được, phải có quyết tâm khổ chiến trường kì”.
“Khanh nói đúng”.

Hoàng đế cả mừng, gật đầu không ngừng khen: “Nay Vương Cử và Tất Long quá bất đồng, khanh xem có thượng sách gì không?”.
“Tất Long có thân phận thân vương, Vương Cử lại là đại tướng vâng mệnh mang phù tiết và rìu búa, tất nhiên sẽ giằng co không ngừng.

Theo thần thấy, cần phải sai một hậu duệ hoàng thất đức cao vọng trọng lĩnh chỉ của hoàng thượng tới giám quân mới xong”.
“Hậu duệ hoàng thất đức cao vọng trọng?” Hoàng đế suy ngẫm: “Thân vương Cảnh Hựu – hoàng huynh của trẫm – thì thế nào?”.
Ông Trực đáp: “Hoàng thượng tin tưởng thân vương Cảnh Hựu thì tất nhiên là tốt.

Nhưng người thần nghĩ đến là Sào vương Lương Dũng”.
“Ồ?” Hoàng đế mỉm cười: “Ông khanh cứ việc nói thẳng”.
“Vâng.

Thân vương Cảnh Hựu rất mực tài ba, năm đó cũng là một ứng cử viên cho vị trí trữ quân, phái ngài ấy tới trước quân sẽ có tranh cãi.

Thân vương có thêm nỗi lo thì còn lĩnh binh thế nào được nữa? Sào vương là hàng chú của hoàng thượng, luận thân phận càng cao hơn; luận tài cán…” Ông Trực cười: “Chức giám quân chỉ cần một lòng tuân theo ý chỉ của hoàng thượng, tài cán ấy à…”.
Hoàng đế gật đầu, quân thần hai người đều ngầm hiểu lẫn nhau, ngậm miệng không nhắc đến Thành Thân vương Cảnh Nghi, lập tức quyết định là Lương Dũng.

Lúc bấy đêm đã khuya, Ông Trực xin cáo lui, hoàng đế bèn vẫy tay về phía sau tấm bình phong: “Khanh thấy thế nào?”.
Tịch Tà thong thả đi ra, cười nói: “Vạn tuế gia thánh minh, nô tỳ không biết nói gì hơn”.
Người hắn vẫn đang khẽ run, hoàng đế hỏi: “Khanh mệt rồi à?”.
“Hơi mệt ạ”.
Lui khỏi các Ỷ Hải, biển rừng dưới chân cuồn cuộn rít gào, có tiếng thét chói tai của ai đó truyền tới từ trong vực sâu nơi đáy biển, mơ hồ như âm thanh đã không còn nhớ rõ.

Quả thật đã rất lâu không có ai nhắc tới, hai chữ “Nhan vương” giống như thể châm ngòi nổ, vẫn có thể làm trái tim Tịch Tà nổ nát bấy bất cứ lúc nào chỗ nào, làm kiếm sắc chảy trong máu tuốt khỏi vỏ.

Hắn thấy hai tay mình run rẩy, đằng đằng sát khí, sương máu lềnh bềnh trong màn đêm trống trải, một mình một bóng không chốn để về.

“Sao còn ở đây?” Hoàng đế đứng ở hành lang hỏi.
“Hôm nay nghỉ sớm, nô tỳ đang nghĩ xem đi đâu”.
“Không có chỗ để đi thì ở với trẫm một lát”.
Tịch Tà cười hỏi: “Còn nói chuyện chính vụ ạ?”.
“Không muôn nói nữa à? Chơi cờ cũng được”.
“À… Vâng”.

Tịch Tà giật mình: “Tuân chỉ”.
Cuối cùng cơn mưa ngắt quãng rơi gần nửa tháng cũng tạnh hẳn, tin vui truyền đến.

Công chúa Cảnh Ưu và vương tử Đoàn Bỉnh của Đại Lý đã thành hôn viên mãn, còn Lương Dũng cũng vui vẻ phụng chỉ, chọn ngày lên kinh gặp vua.

Mặc dù phương bắc chưa đại thắng nhưng tin chiến thắng vẫn liên tiếp báo về.
Theo mật báo của Như Ý, Đoàn Bỉnh chẳng những ngoài mặt hết sức hòa hợp với Như Ý, còn sai tâm phúc thường xuyên lui tới.

Sau khi xem xong, Tịch Tà luôn cảm thấy chắn chắn tâm phúc đó là Tống Biệt, nhưng bản thân lại không thích Tống Biệt qua lại với Như Ý, sẽ sinh thêm rắc rối.

Hôm sau điệp báo của Tống Biệt cũng đến, thì ra là do Đoàn Bỉnh bày mưu tính kế, lường trước vị thái tử cũng rục rịch rồi.

Việc đã đến nước này, Tịch Tà chỉ đành trả lời, xin Tống Biệt quan tâm đến Như Ý nhiều hơn, cẩn thận anh ta rơi vào tầm ngắm của Đoàn Bỉnh.
Hắn phái Tiểu Thuận Tử đưa công văn và mật thư của kinh doanh cho Lý Sư, thấy đã đến lúc hoàng đế dậy thì sửa sang cung phục tới trước các Ỷ Hải, chỉ thấy một mình Tiểu Hợp Tử ở bên ngoài.
“Tôi tới muộn rồi à?”
“Không muộn, không muộn ạ”.

Tiểu Hợp Tử tiến lên hành lễ với Tịch Tà, thưa rằng: “Vạn tuế gia ra bờ sông câu cá, gọi sư thúc cũng qua đấy”.
Tịch Tà cười nói: “Hoàng thượng vẫn còn câu cá à? Hễ chiến là bại mà không thấy chán”.
“Đúng thế”.

Tiểu Hợp Tử cũng cười.
Quả nhiên thấy hoàng đế mặc quần áo bình thường ngồi trên ghế ở bờ sông, bốn phía trang nghiêm, không ai dám thở mạnh một cái.

Tịch Tà đành lặng lẽ đến gần, nhẹ nhàng nói: “Hoàng thượng vạn phúc kim an”.
“Ừ”.

Hoàng đế quay đầu: “Ngồi bên kia đi, tấu sớ đều mang hết đến nơi này rồi.

Cả ngày ở trong phòng, đúng là lãng phí ngày xuân đẹp như vậy”.
Trên mặt sông khúc chuêts phía đông là màu đỏ tươi sáng ngời, chim xanh trong rừng cảm nhận được cái ấm áp điềm tĩnh của cảnh xuân, cất tiếng véo von.

Ánh mặt trời càng lên càng cao hắt xuống quanh người Tịch Tà, làm cái lạnh vào sáng sớm của hắn bốc hơi mất.

Ánh nắng chiếu tỏ trên tấu chương dần làm bỏng mắt hắn, lúc ngẩng đầu nhìn lến, hoàng đế vẫn bình tĩnh, mắt nhìn chằm chằm vào mặt sông.
“Vẫn chưa mắc câu ạ?” Tịch Tà lén hỏi Cát Tường.
“Chưa”.

Cát Tường cười nói: “Đợi ăn trưa xong hẵng nói”.
“Ăn trưa xong?” Tịch Tà bừng tỉnh, cười trộm với Cát Tường.
Bữa trưa bày ở bờ sông, hoàng đế không tập trung, tranh thủ hỏi Tịch Tà mấy chuyện, cuối cùng cau mày nói: “Trẫm không tin không mắc câu”.

Đoạn phất tay áo lại ngồi về chỗ cũ.
Hồ Động Nguyệt cầm cấp báo tiến đến nhưng không dám quấy nhiễu, chỉ đành đưa cho Tịch Tà.
Đây là cấp tấu của Vương Cử, Tịch Tà vội vàng mở ra xem rồi đi tới bên hoàng đế, nhỏ giọng nói: “Hoàng thượng, Vương Cử cấp báo, quân Chấn Bắc lại đại thắng, diệt mười một ngàn địch…”.
“Có rồi!” Hoàng đế quát to một tiếng.
Lúc này dây câu khẽ động, quả nhiên có một con cá chép màu đen mắc câu.

Hoàng đế đuổi nội thần tiến lên giúp một tay đi, vội vàng bắt nhấc cần, cá chép quẫy hai cái trên mặt đất, hoàng đế tháo nó ra khỏi lưỡi câu rồi lại ném vào trong nước, đứng lên quát: “Nhìn con cá này thoi thóp đã biết là các ngươi phá rối, ra hết đây cho trẫm”.
Dưới nước nổi lên một chuỗi bọt khí, nguyên là tiểu thái giám móc cá dưới đáy nước cho hoàng đế nghe vậy thì kinh hãi, uống phải mấy ngụm nước, chui ra khỏi mặt nước không ngừng ho khan, mặt đầy nước mắt nước mũi song vẫn cố nói: “Vạn tuế gia thứ tội”.
Hoàng đế cười bảo: “Các ngươi cho rằng trẫm là kẻ không tự biết mình sao? Trẫm đã bao giờ câu được cá ở Thượng Giang chưa? Sao các ngươi không nghĩ ra bản lĩnh nịnh bợ này sớm hơn? Rặt một đám ngu xuẩn”.
“Không thể giấu được vạn tuế gia…” Tiểu thái giám đó bị gió thổi, cóng đến run rẩy mà mồm miệng vẫn rất lanh lợi: “Nô tỳ vốn bảo không có tác dụng, vạn tuế gia đâu phải muốn câu mấy con cá, vạn tuế gia là Khương thái công câu cá[2], ý tại Bái công[3]”.
Hoàng đế tức giận đến bật cười, dường như phía sau cũng truyền đến tiếng cười vui của Tịch Tà.

Lúc này sông xanh giữa ngày xuân và tuyết đọng trên núi xa đều tươi sáng, trong veo động lòng người.

Trong lòng hoàng đế đầy ắp vui sướng bừng bừng, ném cần câu đi, nói với Tịch Tà: “Chúng ta cưỡi ngựa đi dạo nào”.
“Vâng”.

Tịch Tà cất tấu chương rồi đuổi theo.
Ngựa của hoàng đế rất nhanh, chạy hết tốc lực dọc theo bờ sông một hồi, mới giơ roi cười to: “Hay!”
“Hoàng thượng”.

Tịch Tà đuổi theo gọi: “Hoàng thượng, nô tỳ còn chưa nói hết.

Hoàng thượng nghe xong đừng mất hứng”.
Hoàng đế quay đầu cười nói: “Gì thế?”.
“Mặt sau tấu chương của Vương Cử là cực lực xin tiến quân…”
“Để trẫm xem”.

Hoàng đế chộp lấy sổ con, nhìn xong thì thất kinh, lại nhìn kỹ một lần mới vứt sổ xuống đất: “Lão thất phu! Đánh vài trận thắng đã quên hết tất cả.

Gì mà tướng ở bên ngoài có thể không nhận mệnh vua! Tạo phản rồi!”.
Tịch Tà nhảy xuống ngựa, nhặt tấu chương lên lau bụi bặm bên trên, thấy hoàng đế muốn xuống ngựa nhưng vạt áo vẫn còn mắc ở bàn đạp, bèn vội vàng đi lên cởi ra cho hoàng đế.

“Hoàng thượng bớt giận”.
Hoàng đế chưa nguôi giận, ném mạnh roi ngựa xuống sông: “Cho Vương Cử thêm một thủ dụ nữa, chỉ được cố thủ, không được liều lĩnh”.

Hắn ta than thở: “Anh chị em cũng được, vợ chồng cũng đành, thần tử cũng thế, không có một ai thuận theo ý trẫm.

Nghĩ ra dường như chỉ có ba sư huynh đệ các khanh vẫn chưa bao giờ khiến trẫm thất vọng.

Mấy đời tiên đế tổ tông trước kia cũng có người tin một bề hoạn quan, trước đây trẫm nghe xong còn cười các ngài, nay mới biết, các thần tử, phi tử, hoàng thân quốc thích này, chỉ cần không ở trước mắt thì sẽ tìm đủ mọi cách đối nghịch trẫm, khó có thể nắm bắt”.
Tịch Tà lại sợ hắn ta trút lửa giận lên đầu mình, vội nói: “Trong trăm quan có rất nhiều người chỉ làm theo thánh ý của hoàng thượng, không phải chỉ toàn kẻ như hoàng thượng nói đâu ạ”.
“Quên đi, trẫm nói lẫy nhất thời thôi”.

Hoàng đế nói: “Bất kể thế nào, Vương Cử đại thắng thì vẫn phải khen thường”.

Hắn ta quay đầu hỏi: “Khanh nghe thấy không, phía xa là tiếng vó ngựa à?”.
“Hình như vậy ạ”.

Tịch Tà vọng ra phía đông con đường: “Hình như là người trong cung cưỡi ngựa tới”.
“Lại có chuyện gì à?” Hoàng đế ngạc nhiên nói, đi tới giữa đường.
Nội thần dẫn đầu đoàn ngựa ghìm chặt dây cương, nhảy xuống ngựa, bất chấp đang th* d*c đã tiến lên thỉnh an: “Hoàng thượng vạn phúc kim an”.
“Ngươi là người trong cung nào?” Hoàng đế hỏi.
Nội thần đó vẫn chưa kịp trả lời, một con ngựa giỏi màu đỏ trong đoàn ngựa đã tiến lên trước mắt.

“Hoàng thượng”.

Thiếu nữ ngồi trên yên, đầu đội nón có mành, vận áo tay bó đỏ thẫm dệt hoa đào nhảy xuống ngựa, kêu lên.
“Sao nàng lại tới đây?” Hoàng đế trông Mộ Từ Tư tháo nón xuống, uyển chuyển dập đầu thì hết sức không vui: “Thái hậu cho phép rồi à?”.
“Bẩm hoàng thượng, thần thiếp giấu thái hậu, đến Thượng Giang hầu giá”.
“Nàng cho rằng trẫm ở chỗ này chơi đùa à? Không biết các người đều nghĩ cái gì nữa”.

Hoàng đế phẩy tay áo bỏ đi.
Mộ Từ Tư cắn môi, sắc mặt đỏ bừng lên.

Tịch Tà thấy thế cũng không biết làm sao.

Hoàng đế đã nói ở phía trước: “Tịch Tà, khanh còn ngây ra làm gì?”.
“Dạ”.

Tịch Tà hoàn hồn đuổi theo hoàng đế.
“Hoàng thượng!” Mộ Từ Tư đứng lên bước vội mấy bước, gọi ở phía sau hoàng đế: “Không được gặp hoàng thượng, tim thần thiếp đau thắt lại.

Thần thiếp chỉ ở Thượng Giang, nhìn hoàng thượng từ xa, biết hoàng thượng ăn thế nào, ngủ thế nào cũng không được sao? Thần thiếp không biết phải nói thế nào hoàng thượng mới hiểu được nỗi nhớ nhung của thần thiếp?”.
Hoàng đế ngừng chân, quay đầu lại bảo: “Nàng cưỡi ngựa tới à?”.
“Vâng”.
“Khá nhanh đấy”.

Hoàng đế cười nói: “Đến đây đi”.
“Dạ”.

Mộ Từ Tư khoác lấy cánh tay hoàng đế: “Hoàng thượng dọa thần thiếp rồi”.
“Nàng mới dọa trẫm”.

Hoàng đế bảo: “Có tần phi nào tự mình cưỡi ngựa đi xa như vậy không? Xảy ra chuyện thì biết làm sao?”.
Mộ Từ Tư cười kiêu ngạo, thấm đẫm vẻ chói lóa của sông xuân lăn tăn, tiếng nói không giấu được vẻ đắc ý: “Một đám người vây quanh như thế mà, không việc gì đâu ạ”.
Hoàng đế phất tay, bọn nội thần đều hoảng hốt lui thật xa.

Tịch Tà thở dài không ngừng, cứ như vậy một lát, thời gian thanh tĩnh trước mắt tức thì rối tung rối mù.
Hôm gửi dụ thư cho Vương Cử, vẫn chưa có hồi tấu ngay.

Nhưng sau sáu bảy ngày, Tịch Tà lại nhận được mật báo của gián điệp mai phục trong triều Hung Nô, nói vết thương của Quân Thành vừa hồi phục, vẫn đang chỉnh đốn người ngựa, từ tháng hai đã lục tục xuôi nam nhưng không phải lực lượng chính, chỉ là kế dụ địch thôi.

Trong mật báo đặc biệt nhắc nhở, đại quân trung nguyên chớ tùy tiện vào sâu, để tránh trúng mai phục.

Tịch Tà biết người này ở bên cạnh được Quân Thành rất coi trọng, đoán là tin tức không sai, lại nghĩ đến tính kiêu ngạo của Vương Cử thì càng nóng lòng như lửa đốt, đi thẳng đến các Ỷ Hải bẩm tấu với hoàng đế.
“Theo như nô tỳ thấy, lúc này không chờ được Sào vương vào kinh nữa, phải phái một khâm sai khuyên Vương Cử cố thủ trước”.
Hoàng đế bảo: “Lúc này không kịp nghĩ nữa, cử Ông Trực đi.

Sai người mau mau cầm ý chỉ của trẫm, bảo ông ta ngày mai khởi hành”.
“Vâng”.
Tịch Tà vừa tiếp lời, Cát Tường đã vội vã cầm quân báo vào, chuyển đến tay hoàng đế: “Vạn tuế gia, tám trăm dặm cấp báo”.
Hoàng đế liếc nhìn sắc mặt tái nhợt của Cát Tường, cúi đầu mở sổ con ra, nhìn hai lượt không nói tiếng nào rồi chậm rãi đưa tới tay Tịch Tà.

“Không cần dùng Ông Trực nữa rồi”.

Tiếng hoàng đế không có gợn sóng: “Triệu Vương Cử vào kinh ngay hôm nay, trẫm làm tiệc mừng công cho ông ta.

Tất Long không thể lo việc, quân Chấn Bắc do con trai trưởng của Vương Cử là tướng quân Hộ quốc Vương Kiêu Thập tạm dẫn dắt”.
Tịch Tà vội vàng mở ra xem, đã thấy ngay câu “Tử thương bốn vạn, lui lại cố thủ phía bắc Nhạn môn ba trăm dặm” đã đủ thấy mà đau lòng, chứ đừng nói đến mấy việc nhỏ như “Lương vương Tất Long bị thương nặng”.
“Mặc dù quyết tâm chỉ huy tiến bắc của trẫm không hề dao động, nhưng tin tức như thế truyền khắp thiên hạ thì sẽ làm hỏng sĩ khí trung nguyên”.

Hoàng đế đứng lên hỏi: “Khanh hiểu chưa?”.
“Nô tỳ đã hiểu rồi”.

Tịch Tà thưa: “Mặc dù Vương Cử bại vẫn phải làm như khải hoàn về triều, vẫn phải gia phong tước hiệu, phải thật náo nhiệt”.
“Chính là ý này”.

Hoàng đế bảo: “Ngày mai trẫm về kinh, các khanh chuẩn bị sớm đi”.
Ngày hai mươi lăm tháng Ba, hoàng đế hồi loan về Ly đô.

Khương Phóng phụng mệnh tới cung Càn Thanh bàn việc, chạm mặt Tịch Tà trước bèn hỏi: “Rốt cuộc quân Chấn Bắc xảy ra chuyện gì thế ạ? Tin tức đều bị nội các giữ lại”.
“Vương Cử truy kích đám binh nhử của Hung Nô, làm tám vạn người ngựa rơi vào mai phục, Hung Nô vây kín, khổ chiến không thoát được.

Lương vương Tất Long dẫn quân tới cứu, Vương Cử không bị thương mảy may, Tất Long lại trúng một đao trên lưng, vội về Nhạn môn cứu chữa.

Trận chiến này tử thương bốn vạn người, quân Chấn Bắc tổn thương nguyên khí nặng nề.

Hung Nô đã ở phía bắc Nỗ Tây A Hà, gấp gáp qua sông.

Tất Long rất được kỵ binh Lương châu kính yêu, lần này bị thương, Lương châu quân oán trách Vương Cử bội phần.

Lòng quân dao động thì còn chiến đấu thế nào? Chỉ đành lui đến hào doanh cũ ở phía bắc Nhạn môn ba trăm dặm trước rồi lại tính toán sau”.
Sắc mặt Khương Phóng rất khó coi, than thở: “Gia nghĩ thế nào?”.
“Trong cục diện này chỉ có thể nói thắng, không thể nói bại.

Không thay Vương Cử được, chỉ có thể triệu ông ta về trước, sau đó chọn một đại tướng tới làm trợ thủ cho ông ta, lại để Sào vương Lương Dũng giám quân, hòa giải binh mã Lương châu”.
“Đại tướng trong triều chưa chinh chiến nhiều năm, còn chẳng bằng Vương Cử nữa”.

Khương Phóng mặt ủ mày chau.
Lúc này hoàng đế đã ở cung Càn Thanh gọi người, bộ binh cộng với chúng thần, ai nấy mặt vàng như đất, nối đuôi nhau mà vào, đại thể đều nói như thế.

Chủ yếu chỉ tranh chấp trong chuyện khiển tướng, có người nói Vương Cử lĩnh quân Chấn Bắc nhiều năm, không lẽ bại một lần mà bỏ cũ thay mới; có kẻ lại bảo Vương Kiêu Thập con kế chức cha cũng tốt, đủ mọi ý kiến khác nhau.
Hoàng đế lẳng lặng nghe xong, mọi người lui ra, chỉ còn lại Khương Phóng.

Hoàng đế trầm mặc uống mấy ngụm trà, không nói chuyện.

Khương Phóng im lặng đợi một lát, cả người không được tự nhiên.

Không ngờ cuối cùng hoàng đế lại cười: “Đi đi, không có chuyện gì đâu”.
Khương Phóng không hiểu ra làm sao, ra ngoài nhìn Tịch Tà, hỏi rất nhỏ: “Lẽ nào hoàng đế muốn tôi…”.
Tịch Tà gật đầu: “Hình như vẫn chưa quyết”.
Đối với Tịch Tà mà nói, Khương Phóng lĩnh quân Chấn Bắc chắc chắn là kết quả tốt nhất, chẳng qua hoàng đế còn đang do dự.

Nhưng điệp báo truyền tới từ phương Bắc như đổ thêm dầu vào lửa, không cho Tịch Tà tạm nghỉ.

Dường như Quân Thành và con trai trưởng A Nạp không đợi đến mùa thu mới xâm nhập trung nguyên phía nam, mười vạn thiết kỵ Hung Nô đã xuất phát trước, cướp bến đò Nỗ Tây A Hà để đại giá của Quân Thành xuôi nam.

Tất Long cũng được mật thám bẩm báo, mang giáo đốc chiến với Vương Kiêu Thập, hai phe chỉ cách trăm dặm, đứng song song nhìn nhau chòng chọc.

Bộ binh phụng chỉ dụ của hoàng đế, điều hai vạn kỵ binh từ Hồng châu cùng mười vạn tân binh Lạc châu, bày thế trận đón quân địch, chỉ cần một tiếng ra lệnh thì sẽ lập tức xuất phát đến Nhạn môn.
Ngày mùng tám tháng Tư, Vương Cử đến Kinh, trăm quan đều đến cửa Chính Bắc Nhương đón quân khải hoàn, trống nhạc diễn tấu thêm phần lễ nghi phiền phức, vô cùng náo nhiệt.

Tịch Tà lường trước Vương Cử mà gặp hoàng đế thì ngày tháng chẳng mấy dễ chịu nữa.

Hắn không muốn xem vua tôi họ tranh cãi ầm ĩ nên xin ý chỉ, được Tiểu Thuận Tử mặc áo trắng theo hầu rời cung.
Hôm nay là ngày cúng thất tuần của Hạ Dã Niên, là ngày khiêng linh cữu đưa tang.

Vì là ngày vui mừng của cả thành khi Vương Cử vào kinh nên không mấy phô trương, xe ngựa của mấy nhà thân cận đi đưa linh cữu cũng giảm bớt rất nhiều.

Hạ Thiên Khánh và ba con trai của Hạ Dã Niên nâng cữu, trong tiếng nhạc đám ma lạnh lẽo ầm ĩ đầu đường, một mảnh trắng lóa dần đi về hướng nam.

Tịch Tà và Tiểu Thuận Tử mặc áo màu trắng bạc, đi đường vòng vượt gấp lên trước, ghìm chặt con ngựa ô, nhảy xuống làm lễ với linh cữu.

Hạ Thiên Khánh tiến lên chào hỏi, Tịch Tà nói: “Trước đó vài ngày hầu giá ở Thượng Giang nên chưa đến phủ tế bái, thiếu lễ nghĩa.

Hôm nay hoàng thượng đặc biệt lệnh tôi tới bái, tiễn Hạ tướng quân một đoạn đường”.
Hạ Thiên Khánh quỳ về hướng bắc, dập đầu nói: “Hoàng ân mênh mông, không gì báo đáp”.
“Anh Hạ hãy đứng lên”.

Tịch Tà tự mình tiến lên đỡ: “Xin nén bi thương”.
“Vâng”.
Tịch Tà nắm tay hắn ta, gật đầu rồi lại lên ngựa, lặng lẽ đi theo linh cữu.

Dọc đường đi đều là tế lễ dọc đường của nhà các đại thần, người qua lại tránh đi thật xa, mấy thanh niên thì đứng ở ven đường xem náo nhiệt, nhìn chằm chằm Tịch Tà một lát rồi cũng vội vã đi mất.

Một thằng nhóc xuyên qua đám người lặng lẽ đến sát bên ngựa Tịch Tà, đưa thiếp mời cho hắn và nói: “Ma ma nói, chắc chắn gia sẽ ở đây.

Tuy nói không đúng lúc nhưng lại thuận tiện không phải quầy rầy trong cung”.
“Về nói với ma ma của cậu, nhọc lòng rồi”.

Tịch Tà nhận thiếp mời của Tê Hà xong thì vừa lúc Hạ Thiên Khánh ba phen mấy bận mời về, bèn vái chào rồi thúc ngựa quay lại.
Tê Hà chỉ nói ba chuyện: Hải Lâm đã bị người trong phủ Thành Thân vương chuộc ra; con nuôi Ưu Quan Nhi của Tê Hà trà trộn vào làm một gã tạp dịch trong phủ Hồng vương; mà tin tức đầu tiên Ưu Quan Nhi truyền tới là binh mã Hồng Châu đang được điều động về hướng đông, không rõ hướng đi.

Tịch Tà sai Tiểu Thuận Tử tìm một chỗ rồi đốt thiếp mời đi, sau đó mới về cung, tâu với hoàng đế: “Binh mã Hồng Châu đang được điều động âm thầm, chỉ sợ cũng là vì Hung Nô”.
“Số binh mã đó của Hồng vương là vốn liếng để dòm ngó trung nguyên, sao lại giao chiến với Hung Nô?”
“Cho dù Hung Nô đắc thắng ở quan ngoại, cũng sẽ bị tổn thương nguyên khí, đánh vào thì vừa hay đụng phải binh mã phía bắc Lạc châu của Hồng vương, Hồng vương thừa cơ đánh bại Hung Nô thì sẽ lượm được món hời”.
“Ngoại trừ quân Chấn Bắc, trong tay trẫm vẫn có binh để dùng”.

Hoàng đế khó hiểu: “Ông ta làm chuyện lưỡng bại câu thương như thế, không sợ trẫm được lợi từ đó ư?”.
“Nô tỳ cũng không hiểu ạ”.

Tịch Tà nói.

Nhưng bất kể thế nào, giả sử quân Chấn Bắc của hoàng đế bại, lính Hồng Châu của Hồng vương lại thắng thì vẫn là chuyện cực tốt đối với danh tiếng của Hồng vương Hồng Thất Trú.

“Trừ phi Hồng vương không phòng hoàng thượng, cũng không phòng Hung Nô”.
“Chẳng lẽ là Đông vương? Thế thì xa quá”.

Hoàng đế nhíu mày: “Cách nhau vài ngàn dặm đường, làm sao ngăn chặn hành động khác thường của Đông vương cho được?”.
Tịch Tà cười nói: “Nô tỳ cũng hoang mang lắm ạ”.

Hắn cẩn thận suy nghĩ hồi lâu, đợi trông thấy điệp báo mà Khương Phóng truyền vào mới chứng thực việc Hồng vương điều binh quả nhiên là thực.
Khương Phóng cũng nói: “Xem giọng điệu của thầy Hai thì chính thầy ấy cũng trăm mối tơ vò.

Thầy ấy quả thực không biết đã điều động bao nhiêu binh mã, chỉ biết hướng đi đích thực là đến biên giới Lạc châu và Hồng châu.

Nếu binh mã đi xa hơn về hướng đông thì sẽ đến sông Ly và vùng kinh kỳ, không biết triều đình dự định ra sao”.
“Ta biết rồi”.

Tịch Tà gật đầu: “Chỗ Đông vương Đỗ Hoàn có động thái gì không?”.
“Mấy tháng nay không ngừng mở tiệc chiêu đãi Thái Tư Tề, Vu Bộ Chi và Dương Lực Hòa, lui tới nhiều lần”.
Tịch Tà cười: “Ba người này còn sạch sẽ không?”.
“Thuộc hạ sẽ sai Ngô Thập Lục đi thăm dò”.
“Lôi Kỳ Phong thì sao?” Tịch Tà đột nhiên hỏi.
“Việc này…” Khương Phóng do dự nói: “Thật ra từ sau mùa hè năm trước đã không còn tin tức của y nữa”.
Tịch Tà hết sức sầu lo: “Mau mau điều tra cho rõ.

Hồng vương đột ngột điều binh, trong triều đình không có nhiều biến cố, không cần ông ta vội vàng đối phó như thế.

Trừ phi là Đông vương giở trò gì ở sau lưng làm ông ta không thể không phòng.

Chỉ sợ việc này sẽ có sự việc bất thình lình mà chúng ta không đoán được thì sẽ trở tay không kịp”.
“Vâng”.
Khương Phóng vội vàng lĩnh mệnh lập tức thi hành, theo Tịch Tà đi ra khỏi phòng trực thì gặp Thành Thân vương cũng đi xuống từ thượng thư phòng.

Y giữ Khương Phóng lại, nói: “Hoàng thượng muốn ta mở tiệc mừng công và tiễn biệt cho Vương Cử và Sào châu vương ở nhà, anh nói xem chơi trò gì thì mới náo nhiệt đây?”
Khương Phóng cười đáp: “Hai vị ấy đều là bề trên của vương gia, không thể ẩu tả đại khái được”.
“Nói cũng phải, nói cũng phải”.

Thành Thân vương tiếp tục đắn đo suy nghĩ.
Khương Phóng hỏi: “Chẳng biết vương gia định vào ngày nào?”.
Thành Thân vương nói: “Tất nhiên là mười lăm tháng Tư, lúc trăng sáng rồi”.
“Liệu có muộn quá không? Chắc mẫu đơn trong phủ vương gia cũng đã tàn rồi?”
Thành Thân vương vỗ tay cười đáp: “Chưa tàn, chưa tàn.

Bọn họ dựng lều che cho ấm, hoa đẹp mới vừa mở, đến mười lăm thì đúng lúc rộ đấy.

Tiệc đêm có mẫu đơn, đúng là phong nhã”.
Khương Phóng vội nói: “Vương gia đừng vui mừng quá sớm, lần này mời cả đại tướng bộ binh, lắm kẻ thô lỗ như tôi, có lẽ còn chẳng cảm kích”.
“Thế thì mặc kệ họ”.

Thành Thân vương nói: “Ta tội gì phải nhọc lòng vì họ, có người cảm kích là tốt rồi”.
Y là người thích náo nhiệt phong lưu, trở về bèn lệnh cho các trưởng sử của vương phủ cố hết sức xử lý.

Tới chạng vạng ngày mười lăm tháng Tư, triều thần phụng mệnh tới phủ Thành Thân vương trợ hứng, trưởng sử, nội thần của vương phủ bận bịu đón vào rồi dâng trà ở phòng ngoài.

Có người thông báo Lương Dũng và Vương Cử dắt tay nhau đến, Thành Thân vương mới ra đón, cười khanh khách hỏi han.
Vương Cử vẫn mang phong thái hiên ngang, chỉ là nét mặt mất đi vài phần nhuệ khí, nói rất ít.

Mọi người cũng không dám vạch trần thiếu sót của ông ta, qua loa vài câu rồi lui sang bên cạnh.

Lương Dũng và Thành Thân vương ngồi vào chỗ, trăm quan đồng loạt dập đầu vấn an trước rồi mới tìm vị trí ngồi theo phẩm cấp.
Nơi này là viện Mẫu Đan của Thành Thân vương, nam bắc là hai tòa đình ngọc “Đoạt Hà” và “Tiễn Vân”, yến tiệc phô trương, dưới bàn tiệc vô số ca kỹ, khung cảnh phú quý.

Thành Thân vương gật đầu ra hiệu, đội nhạc bèn tấu bài hát đắc thắng, trăm quan nâng chén ra xa chúc hoàng đế vạn tuế, uống cạn rồi mới truyền mở tiệc.

Vừa mới rót một lần rượu, Thành Thân vương còn chưa kịp mở miệng đã có nội thần lại gần nói mấy câu.
Thành Thân vương vui không kiềm được, nói: “Quả nhiên hắn đã tới!”.
Vừa dứt lời, Tịch Tà liền dẫn Tiểu Thuận Tử thong thả đi vào, dập đầu với hai vị thân vương rồi được Thành Thân vương đỡ lên.
“Hoàng thượng bằng lòng thả anh rời cung à?”
Tịch Tà cười thưa: “Nô tỳ thay hoàng thượng tới góp vui ạ.

Vạn tuế gia vốn chuẩn bị ban thưởng cho lão vương gia Sào châu và đại tướng quân, song nghĩ đến yến tiệc đang hoan hỉ lại dập đầu lại tạ ơn, sợ làm mất hứng của mọi người bèn thôi.

Ngày mai mời lão vương gia và đại tướng quân vào trong cung, vạn tuế gia còn muốn gần gũi với hai vị hơn”.
“Vâng”.

Lương Dũng và Vương Cử rũ tay nghe.
Tịch Tà bước lên phía trước muốn hành lễ với mọi người song lại bị trăm quan tránh sang chỗ khác, để hắn ngồi cùng chỗ với Thành Thân vương.

Bởi vì hắn là người mà hoàng đế hết sức tin tưởng, bình thường đối xử với mọi người cũng ôn hòa, lại thêm được không ít lợi lộc từ hắn nên ai nấy đều tiền lên mời rượu, một đống người ồn ào vây quanh.
Tiểu Thuận Tử thấy thế mới nói: “Thưa các vị đại nhân, thầy nô tỳ mới khỏi bệnh, thái y nói phải kiêng rượu, xin các vị đại nhân bỏ quá cho”.
Tịch Tà cau mày mắng: “Lắm miệng”.
Thành Thân vương tươi cười trao chén rượu trước mặt cho Tịch Tà, bảo: “Nếu đã như thế, tiểu vương thay mặt mọi người đang ngồi ở đây kính một chén”.
“Cung kính không bằng tuân mệnh.

Chén này cũng chúc quân Chấn Bắc đuổi sạch Thát Lỗ, khải hoàn về triều, xã tắc an ninh, âu vàng[4] vững đặt”.

Tịch Tà nhận lấy uống, mặt trời chiều tựa lửa, chiếu lên khiến đôi môi nhạt màu của hắn đỏ tươi như máu, màu hoa hồng lấp lánh trong con ngươi, đẹp đẽ lạ thường, như có yêu tà bên mình.

Thành Thân vương ở bên cạnh lẳng lặng mà nhìn, thình lình rùng mình một cái, cuối cùng mọi người cùng chúc vang dội mới phản ứng lại, liên tục vỗ tay.

Tiếng nhạc lại nổi lên, người hầu nội thần qua lại như nước chảy, ăn uống linh đình.
Thành Thân vương và Lương Dũng đều là người quen mua vui, lúc này nghe văn thần trong tiệc lấy mẫu đơn đối thơ thì tất vào góp vui, thành thử lạnh nhạt với Vương Cử.

Tịch Tà nhân thế mới cười hỏi: “Đại tướng quân đã định ngày tốt để khởi hành rồi chứ ạ?”.
Vương Cử tự trọng thân phận, là người thanh liêm, đâu thèm kết giao với nội thần, vì vậy nghiêm mặt nói: “Chỉ cần hoàng thượng ra lệnh một tiếng thì vi thần lập tức đến tiền tuyến.

Tiểu công công luôn hầu hạ bên hoàng thượng, hẳn là biết rõ hơn ta”.
“Cũng phải”.

Tịch Tà không đổi sắc mặt: “Lần này đại tướng quân lại lĩnh mười vạn lính mới của Lạc châu, việc quân mệt nhọc, hoàng thượng nhắc đến việc ấy cũng hết sức bận lòng, nói: Dốc hết cả triều đình ra giúp tướng quân công thành.

Xem ra tất cả đại tướng trong triều, chỉ cần là người đại tướng quân để mắt tới thì hoàng thượng đều sẽ cho phép đại tướng quân mang theo lên bắc.

Không biết đại tướng quân thấy vị nào trong triều mới có thể san sẻ một hai cho đại tướng quân?”.
Hoàng đế vẫn chưa quyết định được việc điều phó tướng.

Lúc trước Vương Cử gặp vua, ngoại trừ trấn an một phen thì hoàng đế thực sự không thèm nhiều lời với ông ta, bây giờ nhớ lại mới sai Tịch Tà hỏi ý Vương Cử.
Không ngờ Vương Cử lại trả lời: “Lão thần đã già, xin giãi bày tâm can.

Lão thần quen độc đoán trong quân rồi, chỉ sợ các quan trong kinh bên cạnh hoàng thượng không chịu nổi tính cách của lão thần.

Tiểu công công về bẩm với hoàng thượng, lão thần chỉ muốn rải bầu máu nóng xuống quan ngoại, không cho Hung Nô cướp được tấc đất nào để báo ơn vua”.
Tịch Tà cười nói: “Bảo vệ lãnh thổ là một việc, bảo tồn ba mươi vạn tướng sĩ cũng là một việc…” Đang nói đến đây, một đóa mẫu đơn màu trắng bạc rơi vào trong lòng hắn.
Mọi người cười to nói: “Thì ra tửu lệnh này tới chỗ công công Tịch Tà”.
Vị văn thần cách một bàn cài mẫu đơn đỏ trên đầu lập tức ngâm: “Hoa ngại ngùng nở nom như ngọc, sắc nước hương trời chẳng nhiễm trần.

Đêm qua trăng sáng nom như nước, ngờ rằng đảo ngọc tụ thần tiên[5]”.

Lại than thở: “Công công Tịch Tà thanh tao như băng tuyết, hệt như tinh thần của bông mẫu đơn trắng này”.
Lang trung Đỗ Dự của bộ Lễ ngồi đó cười nói: “So sánh này lầm to.

Anh nói tiểu công công như bông mẫu đơn trắng này, thực ra không phải vậy”.
Mọi người ngạc nhiên nói: “Anh nói xem?”
Đỗ Dự nói: “Bông mẫu đơn này giống tai của công công cơ”.
Tịch Tà ngẩn người, bỗng nhiên cất tiếng cười to: “Đa tạ đã khen”.
Thành Thân vương bảo: “Tửu lệnh này phải cài hoa trên mũ, sau đó hoặc thơ, hoặc phú, hoặc ca, hoặc múa, hoa mẫu đơn đó ném phải người nào thì so người ấy với hoa này mới coi như xong”.

Nói đoạn cầm lấy hoa muốn cài trên mũ Tịch Tà.
Tịch Tà vội nhận lấy hoa, cười nói: “Tửu lệnh này quả thực phong nhã.

Nhưng nô tỳ không thể sánh với các vị đại nhân, chưa đọc sách được mấy năm, thơ phú ca múa cũng chẳng biết, chi bằng đổi thành trò xiếc, các vị đại nhân xem xong cười xong thì hãy tha cho tôi nhé”.

Hắn nhặt lấy cọng hoa, thầm truyền nội lực, mới thổi nhẹ một hơi trên bông hoa, đã thấy hơn trăm cánh hoa mẫu đơn trắng trùng điệp rơi xuống, bay lả tả vào trong bàn tiệc, dính lên vạt áo, thoang thoảng ngát hương.
Mọi người ngơ ngẩn một hồi, mới nhớ vỗ tay khen ngợi.

Thành Thân vương thấy cảnh hoa rụng trắng ngần đẹp đẽ dưới ánh nến huy hoàng, cũng phải cảm khái.

Lại nghe Vương Cử thấp giọng nói với Lương Dũng: “Đây là yêu tà, hoàng thượng tin một bề kẻ như vậy không phải điềm lành”.
Thành Thân vương không khỏi giận dữ, song lại cười nói: “Cái này không tính, cái này không tính”.
Tịch Tà bối rối bảo: “Nô tỳ sẽ không biết thứ gì nữa”.
“Thầy anh là thái giám Thất Bảo thạo cả ca lẫn múa, ta còn nhớ nhiều năm trước lúc thái giám Thất Bảo cầm kiếm múa, hào hiệp tuyệt thế.

Chắc chắn anh cũng tài giỏi”.
Tịch Tà cười nói: “Vương gia nói vậy, nô tỳ mới nhớ ra.

Nô tỳ không biết múa song từ khúc thì còn nhớ.

Xin vương gia ban cho một chiếc tỳ bà”.
Mọi người thấy hắn cầm tỳ bà ngồi ngay ngắn trong vườn thì đều dừng chén đũa trong tay, nín thở tập trung xem.
Tịch Tà điều chỉnh dây đàn rồi thưa: “Nói ra thì đây là võ khúc, thật hợp thời.

Nô tỳ trình bày cái kém cỏi vụng về, tăng thêm quân uy vì lão vương gia và đại tướng quân.

Có điều ngón đàn của nô tỳ không thạo, chỉ xin vị nào đánh trống hòa cùng”.
Hoắc Viêm phong lưu không chịu gò bó, lúc này đi ra khỏi chỗ ngồi, nói: “Để tôi”.
Tịch Tà thấy là y thì nói “được” rồi gõ nhẹ đầu đàn, trường luân[6] dây đàn như mưa rơi, tiếng trống khe khẽ đệm theo như kỵ sĩ trào lên trong tiếng chiêng trống[7] nơi núi xa, thoáng làm người ta sầu lo.

Lúc này tỳ bà chuyển điệu mãnh liệt càn rỡ, trăm vạn thiết kỵ đập vào mặt, tiếng trống bị phá, muôn người bôn tẩu kêu khóc, nỗi đau thương vợ con ly tán, cơn phẫn hận nước mất nhà tan làm mạch máu người ta căng lên, siết chặt hai tay, chỉ muốn dấn thân sát phạt.

Im ắng một chốc, dần dần như có tiếng khóc thảm du dương của phi tử ly biệt, dòng Tương nức nở như mưa bay, lượn quanh ngón tay mềm mại.
Mọi người đều có vẻ đau buồn, chỉ cảm thấy ruột gan đứt từng khúc, lưu luyến bịn rịn.

Hoắc Viêm cố nén bi thương, lại nghe Tịch Tà gảy mạnh ba tiếng quyết đoán phấn chấn như thể cắt áo ra đi.

Giật mình, Hoắc Viêm cắn rách môi dưới, đau đớn như bị khoét tim gan, tinh thần tức khắc nghiêm nghị, tiếng trống lại nổi lên.

Tiếng tỳ bà và tiếng trống hào hùng bay xuống, tiếng rền vang động đất trời, chiêng trống dấy lên, đao kiếm đụng nhau, người ngựa tung hoành, như sấm như sét.

Vẻ mặt Tịch Tà bình tĩnh, chỉ lộ ra nụ cười nhạt sắc bén bên môi, nhưng Hoắc Viêm đã thấy sát khí quanh người tăng vọt, khí thế lạnh lùng thì không khỏi kinh hãi, thành thử đánh trống run rẩy, dần dần rơi xuống thế hạ phong, chỉ có tiếng tỳ bà càn rỡ khắp nơi, trường luân xuyên mây mà ra, cao tới tột cùng, mô phỏng tiếng sáo thê lương rồi chợt bị kỵ binh giày xéo đến im bặt.
Ấy gọi là “Thiền Vu bị xéo chết, Hồ kỵ phải vỡ tan”.

Lần đó Thiền Vu bỏ chạy bị giết, cha con Hung Nô ôm nhau mà chết trên sa trường, máu thịt tung bay dưới móng ngựa trung nguyên, cảnh tái ngoại bụi mù trời mười bảy năm trước hãy còn trước mắt.

Vương Cử trợn mắt muốn nứt, bỗng đứng phắt dậy, áo bào bị rách mà chẳng hay.
Lúc này đột nhiên dây đàn chót vót đứt đoạn, như trường kiếm vung lên trên không trung, chẳng biết có phải đã chém địch thủ không mà bỗng im bặt.

Ai nấy ngồi đó đều thất sắc, sợ vỡ mật, nhìn nhau nước mắt giàn giụa.

Mưa hoa rả rích cả vườn, phá tan màu phồn hoa.

Hoắc Viêm bỏ dùi trống xuống, che mặt về chỗ.
Tịch Tà đứng dậy cười nói: “Xin lỗi vương gia vì đã làm đứt dây đàn.

Nhưng chỗ hoa điêu tàn này không liên can đến nô tỳ”.
Mãi sau Thành Thân vương mới nói: “Không liên can đến anh.

Huyết chiến vẫn như trước, tiếng quân động đến nay.

Quả là khúc nhạc hay!”.
Trăm quan đều vỗ tay bảo hay, khen là danh tác.

Tịch Tà ném bừa bông mẫu đơn mà người hầu dâng tới, lấy lệ vài câu mới coi như xong.
Vương Cử bảo: “Nếu chưa từng trải qua chiến tranh, sao biết cái dõng dạc hùng hồn của khúc này? Tiểu công công đàn hay lắm”.
Tịch Tà cười nói: “Nô tỳ học được từ thầy, chỉ cảm thấy hay mà thôi, nào biết ngụ ý trong đó”.
“Cũng phải”.

Vương Cử gật đầu: “Mười mấy năm trước lúc đại chiến, còn chẳng biết cậu đang ở chốn nào”.
“Vâng, đại tướng quân nói phải”.

Tịch Tà cung kính đáp.
Đêm đã khuya, cây nến to cỡ cánh tay đã cháy được một nửa, trăm quan lại kính hai vị thân vương và Vương Cử một chén rồi dần dần tán đi.

Tịch Tà cáo từ đi ra, Tiểu Thuận Tử nói: “Hôm nay thầy làm con sợ muốn chết.

Lúc thầy đàn tỳ bà, con còn tưởng rằng thầy muốn giết người nữa đấy”.
Tịch Tà cười gằn nói: “Quả thực đêm nay ta muốn giết người.

Con chớ chọc giận ta”.
Tiểu Thuận Tử ngậm chặt miệng, gật đầu như gà mổ thóc.
“Xin công công Tịch Tà dừng chân”.

Một nội thần chạy ra từ trong vương phủ, nói: “Vương gia mời công công nán lại chốc lát”.
Tịch Tà hỏi: “Vâng.

Không biết có chuyện quan trọng gì?”.
“Vương gia hỏi, cửa cung đã đóng rồi, công công đã có nơi ở ngoài cung chưa?”
“Hôm nay đại sư ca của nô tỳ không trực nên ở nhà, nô tỳ đang định đến làm phiền anh ấy”.
“Giờ không cần nữa”.

Xe nhẹ dừng lại phía sau hai người, người hầu vén rèm lên, Thành Thân vương ngồi ngay ngắn ở bên trong, cười nói: “Lên đây, ta dẫn anh đi tới một nơi”.
Tịch Tà thưa: “Vương gia vất vả cả ngày, xin chớ để ý đến nô tỳ, đi nghỉ ngơi sớm mới tốt ạ”.
“Lên đây đi”.

Thành Thân vương nói: “Ta không mật, đêm nay muốn đi ngay”.
Tịch Tà chẳng biết làm sao, đành ngồi bên cạnh y, Tiểu Thuận Tử thì theo hầu sau xe.

Bên ngoài buông rèm, bên trong xe chỉ có Thành Thân vương và hai người họ, Tịch Tà cụp hai mắt, vẻ mặt đoan chính, ngồi nghiêm nghị.

Thành Thân vương ngó y một cái, muốn nói lại thôi, bên trong xe dường như dần nóng lên, Thành Thân vương vén rèm xe bên cạnh lên, quan sát bóng đêm bên ngoài.

“Hôm nay vui không?” – Thành Thân vương ngân nga hỏi.
“Phủ Vương gia thức ăn thịnh soạn, ca múa đẹp đẽ, tất nhiên là vui ạ”.
“Vậy thì tốt.

Anh nói ta lo liệu như thế là để khiến ai thỏa thích?”
Tịch Tà đáp: “Lão vương gia và đại tướng quân thỏa thích mà về, vương gia không uổng công khổ cực”.
“Ta thấy Vương Cử cứ xụ mặt khiến người ta ghét, nếu không nhờ khúc tỳ bà của anh thì ngay cả mí mắt, ông ta cũng không chớp lấy một cái đâu”.
“Bẩm vương gia, đến rồi ạ”.

Người hầu dừng xe rồi tới bẩm.
Nét mặt Thành Thân vương hơi thất vọng: “Sao nhanh thế?”.
Thì ra xe ngựa đã qua cầu Mộ Đông, trước mắt là một dãy nhà tao nhã trong đường Bỉnh Hoàn.

Thành Thân vương vịn tay Tịch Tà xuống xe, thuận thế siết trong tay không buông, sai người tiến lên gõ cửa.

Một hầu già bên trong run rẩy đón mọi người vào.

Tịch Tà muốn giãy khỏi tay Thành Thân vương, không ngờ lại làm y càng nắm chặt, người đã đổ hết cả mồ hôi lạnh.
Thành Thân vương cố làm ra vẻ không biết, nói với người hầu già: “Gọi cô nương nhà ông ra đây.

Nói là lão gia trong nhà tới rồi”.

Đoạn kéo Tịch Tà qua cổng trong.
Chỉ thấy sân nhà trước mắt thanh tĩnh, dưới ánh trăng, trúc biếc dựa tường và cỏ xanh đầy đất hiện lên ánh bạc rực rỡ.

Thiếu phụ ăn vận hoa lệ đi ra từ chái nhà cũng xinh đẹp, mềm mại như ánh trăng.
“Thỉnh an Lục gia”.

Hải Lâm cúi chào.
“Sao lại chuyển tới đây?” Tịch Tà biết rõ còn hỏi.
Thành Thân vương cười nói: “Ta chuộc nàng ra, cả tòa nhà này đều tặng cho anh đấy.

Chỗ này cách vương phủ không xa, chừng nào anh không trực thì hãy ở đây, ta tìm anh chơi cờ”.
“Vương gia, việc này tuyệt đối không được”.

Tịch Tà vội vàng chối từ.
“Lẽ nào anh không thích Hải Lâm?” Thành Thân vương hỏi.
Tịch Tà cười đáp: “Không giấu vương gia, đúng là nô tỳ thích ạ”.
“Vậy anh không thích ta… căn nhà ta tự mình chọn cho anh?”
“Cũng rất thích ạ”.
“Thế thì nhận đi”.

Thành Thân vương quay đầu nói với Hải Lâm: “Cô nương ngốc nghếch, bây giờ vẫn còn gọi Lục gia à? Mau hầu hạ lão gia của cô vào nhà ngồi”.
“Vương gia!” Tịch Tà hơi lên giọng: “Không phải nô tỳ không nể mặt, chỉ là người hầu hạ trong hoàng cung luôn phải hết sức cẩn thận…”.
Thành Thân vương không vui nói: “Ta chẳng cầu anh báo đáp, chỉ cần anh vui là ta cũng vui rồi.

Chỉ cần có thể thường xuyên…”.

Chợt cảm thấy bàn tay gầy guộc của Tịch Tà nắm chặt lấy tay mình, y bỗng vui như lên trời, kinh ngạc nhìn Tịch Tà nói không nên lời.

Không ngờ mắt hoa lên, giữa ngón tay Tịch Tà đã có thêm một cái phi tiêu lông đen, lưỡi phi tiêu sắc bén xanh thẳm vẫn đang tỏa ra sát khí.
Thành Thân vương hít một hơi lạnh, quên phải kêu cứu.

Tịch Tà kéo y và Hải Lâm sang bên cạnh mình, nhìn mái tường chung quanh rồi cười nói: “Một kích không trúng thì nên lui ra vẹn toàn mới tốt.

Trăng sáng chiếu rọi, đêm đẹp ngắn ngủi, nếu như mấy vị muốn đấu tiếp thì chi bằng làm ngay thôi”.
Có người cười khanh khách mãi, ngồi ở mái tường, cầm kiếm nhìn xuống, nói: “Một thái giám như mi còn nói gì mà đêm đẹp ngắn ngủi, cười rơi cả răng hàm của ta rồi”.
Tịch Tà vẫy tay với gã: “Chi bằng tới đây mà cười này”.
Người nọ bất thình lình rơi xuống khỏi mái tường, người kiếm chợt bắn đến trước mặt ba người như một con cá chép đen nổi lên mặt nước.

Thành Thân vương thấy mũi kiếm sáng như tuyết đâm tới thì càng kinh hãi hơn, chưa kịp kêu cứu đã thấy ngón tay Tịch Tà phất qua, phi tiêu trong tay đập gãy răng cửa người kia, đâm xuyên qua sau đầu, xuyên vào hai tấc mới thôi.

Người nọ đập xuống đất đánh phịch một tiếng như bị đao chặt đứt.

Tịch Tà cầm lấy trường kiếm trong tay gã, lạnh lùng nói: “Còn thích cười nữa không?”.
Lời còn chưa dứt, phục binh bốn phía đột ngột hiện ra, sáu bảy cái bóng dũng mãnh nhảy vọt ra.

Tịch Tà vỗ Thành Thân vương rồi nói: “Vương gia, núp thấp xuống”.
Thành Thân vương lập tức ngồi xổm xuống, nhắm mắt ôm Hải Lâm đang run lẩy bẩy vào trong lòng, tiếng người trên đỉnh đầu lặng lẽ, kiếm kêu khe khẽ, cái lãnh thẩm thấu quanh người.

Chốc lát sau đã nghe Tịch Tà nói: “Mời vương gia đứng lên”.
Thành Thân vương đỡ Hải Lâm dậy, thấy Tịch Tà đứng trong thi hài đầy đất, hất máu tươi trên thân kiếm, sát khí vừa mới bột phát khiến nụ cười của hắn phủ kín một tầng ánh sáng sắc bén: “Vương gia bị sợ hãi rồi.

Vương gia vừa mới nói gì ấy nhỉ?” – Hắn quay đầu lại hỏi.
“Không có gì”.

Thành Thân vương mím môi.
Tiểu Thuận Tử co quắp ở dưới chân tường đầy trúc xanh, lúc này liền lăn một vòng ra, mặt dày hỏi Tịch Tà: “Có phải thầy xuống tay ác quá không? Sao không chừa lấy một mống?”.
“Đồng bọn chết trước nhưng không một ai lùi bước, rõ ràng là tử sĩ, mang về cũng sẽ không mở miệng đâu.

Vả lại…” Tịch Tà lấy mũi chân xoay mặt người chết lại, nhìn rõ ràng nhờ ánh trăng: “Hôm trên đường đưa linh cữu, mấy kẻ này đã nhìn chằm chằm ta, chắc đã biết lai lịch của ta”.

Hắn đột nhiên hỏi Thành Thân vương: “Hiện đại tướng quân và Sào châu vương nghỉ ngơi ở đâu ạ?”.
“Sào châu vương không có phủ đệ ở kinh, hiện ở trong phủ Vương Cử”.
“Thì ra là thế”.

Tịch Tà nghiến răng giận dữ.
Ánh mắt sáng như tuyết trên gương mặt lạnh băng không giống người làm Thành Thân vương không khỏi lùi lại mấy bước, nhìn hắn vút qua, biến mất không dấu vết thì hiu quạnh tịch mịch vô cùng như thể khoét mất tim mình đi vậy.
Dinh thự trong kinh của Vương Cử cách đó không xa, với thân pháp của Tịch Tà, chỉ chốc lát là đến.

Từ xa hắn đã thấy trong phủ ồn ào náo động, đèn đuốc sáng trưng, liền biết mình tới quá muộn, bèn nhẹ nhàng đáp xuống chỗ đình đá trong vườn hoa mà người chen lấn chật như nêm cối.
Tịch Tà hô to: “Tôi là người trong cung, người không liên quan mau tránh ra”.

Người nhà trong phủ đại tướng quân nhao nhao lui ra, Tịch Tà đi vào trong đình cúi đầu nhìn, Lương Dũng đã tắt thở từ lâu, chỗ ấn đường có vết thương nhỏ, gần như không có máu chảy ra, chính là thủ đoạn của Lôi Kỳ Phong.

Vết thương do kiếm của Vương Cử nối thẳng từ trước ngực ra sau lưng, vẫn chưa chết, người nhà thấy vết thương hiểm ác thì không dám di chuyển, đang vội vã gọi thầy thuốc.

Chỗ khác trong đình còn có ba thị vệ đeo đao của đại tướng quân phủ phục, đều chết do dao găm cắt đứt yết hầu, không giống như do Lôi Kỳ Phong gây nên.

Tịch Tà thầm kinh ngạc, đang cúi đầu khẽ suy tư thì bị tóm lấy mắt cá chân.
Hai khóe mắt của VươngCử như sắp nứt, ánh trăng chiếu lên vẻ mặt dữ tợn của ông ta, lộ ra vẻ hung ác.

Ông ta bóp chặt lấy cổ chân Tịch Tà, quyết tâm muốn dẫn hắn cùng cuống địa phủ: “Khúc, khúc “Định Lương châu” đó… Khà khà…”.

Ông ta không để ý bọt máu trong cổ vẩy ra, cố chấp khàn giọng cười gằn: “Yêu nghiệt! Ta nhận ra mi… Ta nhận ra mi…”.
Tịch Tà trông sát khí trong mắt ông ta dần tản ra theo con ngươi, không khỏi muốn cất tiếng cười to: “Muộn rồi”.

Hắn chậm rãi lui một bước, đá văng bàn tay Vương Cử ra, cuối cùng vẫn thở dài.[1] Binh lĩnh không biên chế được chiêu mộ tạm thời trong thời chiến.
[2] Khương Tử Nha ngồi câu cá chờ gặp minh quân, không dùng mồi, lưỡi câu bẻ thẳng, bảo: “Cá nào không muốn sống nữa thì cứ tự nguyện mắc câu đi vậy!” Ý chỉ người mà bằng lòng thì sẽ tự tới.
[3] Nguyên là Hạng Trang múa kiếm, ý tại Bái công.

Kể về Hồng môn yến, Hạng Trang vờ múa kiếm trong bữa tiệc, hòng muốn giết Bái công Lưu Bang.
Tóm lại cả hai câu đều ý là hoàng đế không có chủ đích câu cá mà nghĩ đến việc khác.
[4] Âu vàng ý chỉ đất nước vững bền.
[5] Thơ của nhà thơ Phan Thiều thời Minh.
[6] Dùng ngón trỏ, giữa, áp út và út tay phải lần lượt gảy dây, ngón cái thì móc dây, liên tục được năm tiếng, Lặp lại trình tự này hai lần liên tục thì gọi là trường luân.
[7] Tức bốn chiêng sáu trống, bốn chiêng chỉ thuần, trạc, nao, đạc, sáu trống chỉ trống lôi, trống linh, trống lộ, trống phần, trống cao, trống tấn.

Khi hành quân thời cổ đại, lệnh quân đội hành động, tiến công thì đánh trống, lệnh quân đội dừng hoặc lui thì đánh chiêng.

Nói chung chỉ tín hiệu chiến đấu và hành quân..
 
Khánh Hi Kỷ Sự
Chương 24: 24: Hồng Định Quốc


Tịch Tà quát người nhà trong phủ Vương Cử, không cho phép bất cứ ai tùy tiện ra ngoài.

Thành Thân vương cũng cưỡi ngựa chạy tới, lấy ấn tín thân vương ra sai người điều binh từ chỗ đề đốc Viên Tấn của Binh mã ngũ thành, phong tỏa phủ tướng quân, còn y tự mình trấn thủ, cắt đứt tin tức trong ngoài.

Tịch Tà về cung ngay trong đêm, gặp Du Vân Dao đang trực ở cửa Tử Nam thì hối hả nói có việc khẩn cấp với anh ta, Trịnh Bích Đức nghe tin cũng chạy ra, mở cửa cung cho hắn vào thẳng cung Càn Thanh.
Nhưng Lý Cập đang trực lại vốn là một kẻ không biết điều, nghe tiếng động thì đi ra từ phòng trực, kéo Tịch Tà lại, cười nói: “Vạn tuế gia? Tất nhiên là ở cung Tiêu Cát của Mộ nương nương rồi”.
Tiểu Thuận Tử tiến lên đẩy gã ra: “Xin lỗi Lý gia, lát nữa sẽ nói chuyện phiếm với ngài ạ”.
Lòng Tịch Tà bình tĩnh trở lại, dặn Lý Cập trước: “Ngài tuyệt đối không được nhiều lời về chuyện tôi về cung giữa đêm với người khác đâu đấy”.
Lý Cập ngơ ngẩn nói: “Anh Sáu thấy bình thường tôi là loại người này ư?”.
Tịch Tà cười bảo: “Tiểu Thuận Tử, con hầu hạ Lý gia giúp ta, chờ trời sáng vạn tuế gia sẽ về cung Càn Thanh”.
“Ôi! Chờ đã”.

Lý Cập chẳng hiểu ra làm sao, tiến lên níu thì bị Tiểu Thuận Tử ngăn lại.
Tịch Tà sửa sang quần áo ở trước cửa cung Tiêu Cát rồi xin Cát Tường thông báo, chỉ chốc lát hoàng đế đã ở bên trong gọi.

Tẩm điện mới thắp nến nên còn thấy tối tăm, người đẹp sau rèm không ngừng lay động quần áo, ắt là Mộ Từ Tư cũng sợ hãi dậy rồi.

Hoàng đế khoác xiêm áo cúi người nói: “Mau đứng lên nói đi”.
“Vương Cử và Lương Dũng bị ám sát trong phủ Vương Cử.

Hai người đều đã bỏ mình”.
“Chết cả rồi?” Sau nháy mắt trầm mặc, hoàng đế ngỡ ngàng hỏi.
“Vâng”.
Hoàng đế quấn kín xiêm áo, dựa vào lưng ghế nhắm mắt không nói gì.
“Hoàng thượng!” Tịch Tà nói: “Hiện nay chuyện hai người bị ám sát bỏ mình vẫn chưa lộ, đến bình minh thì giấy không gói được lửa nữa, kinh thành chấn động mới xoay chuyển thì khó lắm”.
“Biết rồi!” Hoàng đế nói: “Trẫm phải suy nghĩ một lát.

Đi ra ngoài hết đi”.
Tịch Tà và Cát Tường lui đến ngoài cửa, nhìn nhau không nói.

Trăng sáng chiếu rọi, vốn là đêm xuân ôn hòa đẹp đẽ, không ngờ trong nháy mắt vật đổi sao dời, vận mệnh của vô số người lại thay đổi hoàn toàn chỉ trong một suy nghĩ của hoàng đế vào đêm nay.

Bên trong cánh cửa, tiếng bước chân sốt ruột của hoàng đế truyền đến, sau một hồi lâu thì trở nên nặng nề, cuối cùng chợt dừnh trước cửa, không còn động tĩnh nữa, giống như tim đột ngột ngừng đập, khiến người ta kinh hãi đến mức khó thở.
Tiếng trống canh dấy lên trong tĩnh mịch, dần xuyên qua thâm cung, thì ra đã là canh ba rồi.
“Rầm” một tiếng, hoàng đế kéo cửa ra, đôi môi tím tái lộ ra tiếng nói bình tĩnh: “Tịch Tà, khanh vào đây”.
Đêm mười lăm tháng Tư, trong sự vắng vẻ, cửa Hoa Đông mở rộng trong cơn vắng lặng, hoàng cung bằng ngọc trắng bí ẩn ở đầu khác của lối giữa vừa vặn được ánh trăng như nước bao phủ.

Trước mắt chức vị của thị vệ đeo đao Du Vân Dao còn thấp nhưng đã nghiễm nhiên đứng đầu thị vệ cửa Tử Nam, đêm nay khóe miệng thường ngày mỉm cười lại để bóng tối mà ngọn đèn dầu hắt xuống khắc lên vẻ uy nghiêm, sát phạt quyết đoán.

Anh ta vịn kiếm mà trông, hai con ngựa giỏi đang chạy như bay từ chỗ giám Ngự mã ồn ào, vượt qua cửa Hoa Đông.

Du Vân Dao nhìn họ ra khỏi cửa Thanh Long mới phóng người lên ngựa, cất tiếng quát to: “Đóng cửa! Hoàng thượng hạ chỉ, ngoại trừ cửa Tử Nam, cửa Chu Tước ra thì các cửa của cung Thanh Hòa nghiêm cấm ra vào”.

Vài người cầm đuốc tụ tập quanh anh ta, xoay đầu ngựa, ra roi vun vút, phi nước đại truyền ý chỉ của hoàng đế ra khắp nơi.
Lúc này, hai con ngựa đó đã qua cầu Phụng Thiên, khi tới thành Nam, quân coi giữ cửa Phủ Dân nghe được chuông loan rung mạnh, dưới cây đuốc chập chờn trông thấy cờ vua vàng chói phấp phới thì vội vã mở then thả cầu.

Sau khi tra xét lệnh bài hỏa tốc, người trên ngựa không hề chậm trễ, một trước một sau nhảy ra từ khe cửa, nhảy đến đầu cầu, chẳng để ý cầu chưa thả xuống ổn định đã quất mạnh một roi dẫn ngựa nhảy vọt đến bờ bên kia sông hộ thành, lập tức mỗi người một ngả.

Cát Tường cầm cờ vua trong tay đến thẳng đại doanh cửa khẩu Tiểu Hợp, Tịch Tà thì mặc trang phục sĩ tốt, đeo Tĩnh Nhân chạy như bay trên đường cái hướng tây nam.
Cho đến khi ánh mai lấp ló, đường cái tụ đến cảng Kim Hồi.

Người đi đường đã rất nhiều, thấy hắn chạy như điên thì nhao nhao né vào rừng cây bên bờ.

Tịch Tà trông về hướng nam, quả nhiên có hai con ngựa chiến đang vượt qua chỗ nước cạn ấy.

Trang phục và yên ngựa, hàm thiếc, dây cương của hai người đều đã bỏ ký hiệu của kinh doanh.

Lý Sư đeo kiếm đi trước, Lê Xán treo giáo dài ở bụng ngựa, theo sát phía sau, gấm đỏ bọc mũi giáo bị nước bắn tóe lên, rỉ máu đỏ thẫm.

Hai người xông lên trên bờ trong tiếng kêu kinh hãi của người đi đường, thấy Tịch Tà chỉ còn cách một mũi tên bắn mà lại không chịu giảm tốc độ ngựa thì đều không ngừng mắng to.

Đi tiếp hai mươi dặm chính là trạm dịch, trong lúc thay ngựa, Tịch Tà bị hai người vượt qua.

Hắn uống mấy ngụm nước xong thì dùng khăn dài bọc miệng mũi che gió, thúc ngựa đi ngay.

Lê Xán và Lý Sư trợn mắt nhìn, không màng chuyện nghỉ lấy hơi đã thay ngựa đuổi theo.
Thay ngựa như thế bốn lần, phi nhanh sáu trăm dặm, lúc hoàng hôn thì đã đến biên giới phía tây Đồng châu, đi tiếp về hướng tây thì sẽ vào Khoa châu.

Tịch Tà nghỉ tạm ở trạm dịch, gọi đồ ăn chưa bao lâu thì Lê Xán và Lý Sư đều cầm khí giới đi đến.

Lý Sư đập kiếm Tà Nguyệt lên bàn, đưa tay cầm bánh màn thầu lên ăn như thần trùng mở mả, Lê Xán đi lại vài vòng giãn gân cốt rồi mới ngồi xuống.

Dịch tốt vô cùng chu đáo nịnh bợ, vây quanh ba người không ngừng tươi cười hầu hạ, nhìn chằm chằm vào giáo dài kiếm sắc của Lê Xán và Lý Sư.

Tịch Tà và Lê Xán đều ăn mà không nói một lời, Lý Sư cũng chẳng thèm lắm miệng.

Lúc này ngựa cũng đã chuẩn bị xong ở ngoài cửa, Tịch Tà đứng dậy cười nói: “Hai vị chờ bên ngoài, lát nữa tôi sẽ tới”.
Lê Xán đáp “được” rồi đi ra ngoài cửa.

Lý Sư đã lên ngựa từ lâu, sốt ruột nhìn chung quanh, chợt nghe trong trạm dịch có người kêu thảm thiết một tiếng thì không khỏi kinh ngạc đảo mắt nhìn Lê Xán.

Dường như Lê Xán không nghe thấy, đang treo giáo dài lên cạnh yên, sửa sang hành trang.
Lý Sư vội hỏi: “Bên trong đã xảy ra chuyện rồi à?”.
Hai gã dịch tốt hầu ngựa ở ngoài đã biến sắc mặt, xoay người muốn chạy thì bị cây giáo dài của Lê Xán lóe ra, đâm chết tại chỗ.
Lý Sư không kịp cản, giận tím mặt, rút kiếm khỏi vỏ,, chỉ vào Lê Xán quát lên: “Dừng tay!”.
Tịch Tà thủ tay trong áo đi ra, nhìn lên trên mặt đất, xác định hai gã dịch tốt đã tắt thở thì tung người lên yên.
Lý Sư thấy hai người họ làm như không có việc gì thì không khỏi kinh sợ đến mức khắp mình run rẩy, chưa mở miệng thì Tịch Tà đã nói: “Chớ lải nhải, nếu không thì về Ly đô đi”.
“Vì sao lại giết người bừa bãi?” Lý Sư rống lên giận dữ, đi theo ngựa Tịch Tà không ngừng truy hỏi.
Chốc lát đã tới biên giới hai châu Khoa, Đồng, Tịch Tà ghìm chặt ngựa trước cột mốc biên giới: “Lần này đi Khoa châu, từ trạm dịch vừa nãy trở đi thì khắp nơi đều là tai mắt của phiên vương, nếu tôi không giết dịch tốt này thì chưa đầy nửa canh giờ nữa, động thái của chúng ta sẽ truyền khắp ba châu Khoa, Thanh, Hồng, chúng ta muốn giữ được cơ mật và tính mạng thì đều không thể vào trạm dịch công để thay ngựa nữa, phải bỏ đường cái mà chuyển vào đường nhỏ”.

Hắn nhìn Lý Sư rồi lạnh lùng nói: “Tôi cũng không thích giết người”.
Lý Sư đang muốn há miệng tranh cãi thì Lê Xán đã cười, bước lên phía trước hỏi: “Người truyền chỉ đến kinh doanh hôm nay chính là Cát Tường?”.
Lý Sư nghe vậy thì ngạc nhiên hỏi: “Đó chính là Cát Tường ư?”.
Tịch Tà đáp: “Chính là đại sư ca.

Nếu không có việc khẩn cấp xảy ra thì sao anh gặp được anh ấy?”.
“Thái giám tổng quản thân tín nhất của hoàng đế tự đến kinh doanh truyền bọn ta theo ngài đến phía tây, tất có sự việc to lớn.

Nhịn cả ngày rồi, không biết bây giờ có thể hỏi chưa?”
“Hiện chúng ta đã đến trước quỷ môn quan, tất nhiên không cần giấu nữa”.

Tịch Tà ngước mắt lên cười nói: “Chỉ hỏi các anh, trong năm nghìn thiết kỵ, lấy kiếm của ba người chúng ta để tóm lấy tính mệnh kiêu hùng hiện nay, các anh có can đảm thực hiện không?”.
Sáng hôm ấy, vừa qua giờ mão, trăm quan đã tới chính đường bộ nội các trong cửa Chu Tước làm việc, có người ra ngoài vì công việc lại bị thủ lĩnh Úc Tri Thu đang trực cửa Chu Tước ngăn lại.
Anh ta nhướng mày cười nhạt, càng anh tuấn kiêu ngạo hơn bình thường, cất cao giọng nói: “Các vị đại nhân, hôm nay lĩnh ý chỉ của hoàng thượng, cửa Chu Tước chỉ vào không ra, nghiêm cấm truyền vật riêng, xin thứ lỗi”.
“Chẳng lẽ đã xảy ra việc lớn?” Trong tiểu lại cũng có kẻ thạo tin, liên hệ với việc đêm qua ty Binh mã ngũ thành vây quanh phủ đại tướng quân, không lâu sau liền có lời đồn Vương Cử vi phạm lệnh cấm, bị hoàng đế kê biên phủ đệ truyền khắp các bộ, viện, tự trong nội phủ cửa Chu Tước.

Sau thấy cửa Tử Nam cũng đề phòng nghiêm ngặt, không cho ra vào, còn có kẻ đoán hoàng hậu đã bị phế.

Mấy trăm mệnh quan triều đình không đi lại được nên khó tránh việc lén lút bàn bạc, thành thử, chuyện Tịch Tà lặng lẽ rời cung chìm trong sự rối ren bất an của triều thần.
Thái giám Trương Cố quản lý cục Châm Công biết được việc này thì đã qua giờ tỵ.

Lúc nghe tin tức này từ miệng Lý Cập, lão chỉ cảm thấy mặt trời chói chang chiếu xuống khiến trước mắt mình trắng xóa.
Lão uống một hớp nước rồi hỏi: “Đi về phía nào? Chẳng phải gần đây cậu ta kiêm chức giám quân ở cửa khẩu Tiểu Hợp ư?”.
“Nhất định không phải cửa khẩu Tiểu Hợp”.

Lý Cập đáp: “Cát Tường mới truyền Khương Phóng trở về từ cửa khẩu Tiểu Hợp.

Chắc chắn không cần hai người thân tín nhất đến cùng một chỗ”.
“Biết rồi”.

Trương Cố gật đầu, kéo tay Lý Cập rồi đưa ngân phiếu trong tay áo, miệng nói: “Anh chạy một chuyến vất vả rồi”.
Lý Cập cười hì hì trở về cung Càn Thanh.

Trương Cố thấy gã đi xa thì vội vàng kéo ghế ra ngồi xuống, viết rõ ràng mười mấy chữ Khải nhỏ tí ti, cuộn lại rồi nhét vào trong ống trúc nhỏ, lấy lồng chim đã mở trên hành lang xuống, buộc ống trúc lên trên chân chim, buông tay cho nó cất cánh.

Trương Cố dùng tay áo che mặt trời, nhìn theo con chim kia vỗ cánh vọt lên trời quang.

Không ngờ nó còn chưa lướt qua nóc nhà, đột nhiên một cơn gió táp vọt đến, “phập” một tiếng, lông vũ bay dính đầy máu tươi, không có lấy một tiếng kêu thảm thiết đã rơi thẳng xuống sân.
“Ai?” Trương Cố kinh hãi.
“Trương gia gia, ngài khỏe không?” Tiểu Thuận Tử thò đầu ra khỏi cửa nguyệt trong sân, cợt nhả lấy lòng.
“Đốn mạt! Sao bắn chết chim của ta?” Trương Cố vừa vội vừa giận, bắt đầu chửi ầm lên.

Tiểu Thuận Tử vội nói: “Trương gia gia đừng giận, biết trước hôm nay ngài phóng sinh, tôi bèn tới đây báo tin đấy.

Hoàng thượng, hoàng hậu đều không khỏe, đang nghỉ ngơi lại sợ chim xuân làm phiền lòng mới bảo đám nhóc chúng tôi cầm cung duổi cùng giết tận”.
Lúc này Tiểu Hợp Tử lại hào hứng xách cung đến gọi Tiểu Thuận Tử, Trương Cố nghe bốn chữ “đuổi cùng giết tận” thì hồn bay phách lạc, phất tay bực dọc nói: “Cút hết, cút hết đi”.
“Vâng”.

Tiểu Thuận Tử nói với vẻ mặt đưa đám: “Hay là tiểu nhân chôn con chim này cho ngài, tạ tội với ngài?”.
“Đừng động vào nó! Cút đi!” Trương Cố cướp xác chim lại, kéo ống trúc ra.
Tiểu Thuận Tử kéo Tiểu Hợp Tử ù chạy mất, đến chỗ xa mới cười nói: “Quả nhiên lão già sắp vào hòm này không an phận”.
Tiểu Hợp Tử bảo: “Nay đã quét sạch mấy nơi và nhân vật quan trọng do Lục sư thúc dặn rồi, anh muốn mau mai trở về cung Càn Thanh bẩm báo cho thầy.

Em phải lặng lẽ theo dõi đấy”.

Đoạn cậu quay lại cung Càn Thanh, bẩm rõ với Cát Tường như sự thực.
Cát Tường gật đầu nói: “Hiện chúng thần đều phải vào, chờ qua hôm nay sẽ cùng xử lý với những bọn gian tế trong cung, các con cứ trông kỹ, đợi ý chỉ của vạn tuế gia”.
Lúc này ước chừng ba người Lưu Viễn, Ông Trực và Khương Phóng đều đã biết tin, nối đuôi nhau mà vào với vẻ mặt nghiêm túc.

Cát Tường nghênh đón mời họ dừng lại tại chỗ, sau khi thông báo mới dẫn vào.
Hoàng đế đang ở sâu trong thiên điện, hơi nghiêng người ngồi trên giường trong bóng tối, lẳng lặng nhìn họ hành lễ.
“Các khanh đều biết rồi?”
“Tin tức các nơi đều bị phong tỏa”.

Lưu Viễn thưa: “Thần chỉ nghe loáng thoáng”.
“Hai thống soái quân Chấn Bắc đều bị ám sát bỏ mình trong đêm.

Các khanh thấy sau này giao quân Chấn Bắc cho ai?”
Đám Lưu Viễn đưa mắt nhìn nhau.

Ông Trực lấy can đảm tâu: “Bẩm hoàng thượng, sau khi biết được tin dữ này, thần không ngừng suy xét nhưng tới lúc này vẫn chưa có thượng sách”.
Hoàng đế thấy Lưu Viễn và Khương Phóng không nói thì ngồi thẳng người, chậm rãi bảo: “Trẫm đã quyết ý thân chinh”.
“Hoàng thượng!” Lưu Viễn cả kinh biến sắc, lại bị hoàng đế giơ tay lên chặn lời.
“Các khanh đều là người trẫm tin tưởng nhất, ắt cũng biết suy nghĩ của trẫm”.

Hoàng đế nói: “Ban đầu Hung Nô ồ ạt xuôi nam, trẫm chỉ cần ngồi ở trung nguyên, sai thân vương công cao quyền lớn xuất chinh là được.

Hồng vương, Lương vương đều là anh kiệt cái thế, không ai không tốt.

Mấy đời trước đều là như thế, song lại ra một Nhan vương, lũng đoạn quân Chấn Bắc và kinh doanh trước kia nhiều năm, cuối cùng còn muốn giết vua soán vị.

Nói ra thì phiên vương hiện nay trong thiên hạ tự cầm binh, cắt cứ lập chính quyền, đều có can hệ với Nhan vương.

Gương tày liếp còn đó, sao vẫn giẫm lên vết xe đổ?”.
Lưu Viễn vội tâu: “Lão thần hiểu ý hoàng thường, nhưng hoàng thượng tuyệt đối không thể dễ dàng mạo hiểm.

Nếu hoàng thượng có sơ xuất mảy may thì xã tắc tất dao động.

Tình hình xấu nhất là bại một trận, hoàng thượng còn trẻ, sau này còn đâu uy danh?”.
Hoàng đế cười khẩy: “Trẫm vốn không phải là con trai đầu của tiên đế, cũng chẳng phải con vợ cả, lên ngôi từ thuở ấu thơ, đến nay chẳng làm nên trò trống gì, nói gì mà mọi người cùng hướng về? Ha ha, tuyệt chẳng phải vậy.

Nếu không có dũng khí quyết tâm tất thắng, chỉ ấm ức dưới gối phiên vương thì sau này còn có uy nghiêm thể diện gì để nói nữa?”.
“Hoàng thượng!” Ông Trực bình tĩnh khuyên nhủ ngoài dự đoán của mọi người: “Nay không phải lúc hành động theo cảm tính.

Hoàng thượng thân chinh phải có nguyên do bắt buộc, với lời mà hoàng thượng mới nói thì không thuyết phục được thái phó đâu”.
Hoàng đế thở gấp bảo: “Nay tiền tuyến phương bắc chỉ cần một người trấn áp đầu trận tuyến, khống chế Tất Long là được.

Vốn dĩ Vương Cử cộng thêm Lương Dũng có thể gánh nhiệm vụ này, không ngờ lại chết đột ngột như thế, nhìn quanh trong triều, kẻ thiện chiến đa mưu rất đông song ngôi cao quyền lớn, có thể kiềm chế Tất Long, Hồng Thất Trú thì dường như ngoại trừ trẫm, không còn người nào nữa”.
“Thành Thân vương thì sao ạ?” Lưu Viễn vội nói: “Anh em ruột của hoàng thượng…”.
Hoàng đế lắc đầu: “Cảnh Nghi còn quá nhỏ, lại trầm mê múa hát và sắc đẹp, buông tuồng đã quen.

Người như nó ở kinh thành còn có ích chứ trước quân tuyệt không thể trọng dụng”.
Lúc này Khương Phóng chen lời tâu: “Nếu hoàng thượng quyết định thân chinh thì rành rành là vào miệng hùm, mặc dù đáng ra có thể thắng cũng ắt bị Lương vương và Hồng vương lập kế, dụ quân Chấn Bắc và Hung Nô sống mái với nhau.

Đại quân mà bại, Tất Long và Hồng Thất Trú mỗi bên dẫn phiên binh nam bắc giáp công, tiêu diệt hết Hung Nô thì đến lúc đó hoàng thượng sẽ gặp bất trắc, Hồng vương dắt quân thắng lợi xuôi nam, trung nguyên trống rỗng há không phải là vật trong túi chúng? Chứ đừng nói đến Đông vương, Tây vương dòm ngó trung nguyên đã lâu, trong lúc hoàng thượng thân chinh, khó đảm bảo chúng không dậy lòng riêng”.
“Vậy trẫm không thân chinh thì sao?” Hoàng đế hỏi: “Đã cho Tất Long hai mươi vạn binh mã trung nguyên, cho hắn thì dễ nhưng muốn đòi lại thì khó lắm.

Chỉ sợ đến lúc đó nuốt đến mức xương cũng chẳng còn”.
Ông Trực tâu: “Thần nghĩ thế này, nếu rút Tất Long về Lương châu, triều đình lại điều đại tướng…”.

Ông ta nhìn Khương Phóng cười nói: “Ví dụ như Khương Phóng, cũng là một cách ổn thỏa”.
“Thiếu tám vạn kỵ binh Lương châu thiện chiến, chỉ có tám chín vạn tàn quân của quân Chấn Bắc và mười vạn lính mới chiêu mộ, trận chiến này có nắm chắc tất thắng không?”
Ông Trực ngậm chặt miệng, Lưu Viễn cũng hết đường xoay xở.

Khương Phóng bèn bẩm: “Hoàng thượng thân chinh có hai việc thiết yếu, một là sự yên ổn của trung nguyên, hai là nắm chắc tất thắng”.
Lưu Viễn vội ngăn lại: “Khương Phóng, anh đang nói gì đấy? Lúc này tuyệt đối không được khuyến khích hoàng thượng hành động thiếu suy nghĩ đâu”.
“Khanh nói đi”.

Hoàng đế trừng mắt nhìn Lưu Viễn.
Khương Phóng nói tiếp: “Trung nguyên còn có mấy vạn quân đóng lẻ tẻ, đại tướng Trịnh Quân Hải ở Cứ châu dẫn dắt hơn bảy vạn lính, luôn phòng giữ bên cạnh kinh kỳ, lấy những binh lực này để bảo đảm an ninh hai hướng đông nam không phải là việc không thể, chỉ cần cân nhắc kỹ càng.

Hung Nô có hung tàn thiện chiến hơn nữa thì dù sao trung nguyên cũng đã vật lộn với chúng cả trăm năm, vả lại nay nội bộ chúng bất ổn, vội vàng xuôi nam nên hoàn toàn có thể phá được.

Hoàng thượng thân chinh, kinh doanh có thể theo giá lên bắc, mặc dù thần bất tài song nguyện cược cả tính mệnh để đảm bảo thánh thượng bình an về kinh.

Việc quan trọng nhất bây giờ chính là việc Hồng vương”.
“Nói có lý”.

Ông Trực cũng bảo.
“Không sai”.

Hoàng đế nói: “Bất kể trẫm thân chinh hay không thì xử trí Hồng vương đều là việc cấp bách”.
Lưu Viễn biết hoàng đế trẻ tuổi nóng tính, không thể khuyên giải suy nghĩ lúc này trong một chốc một lát được nên đành than thở: “Dù Ông Trực và Khương Phóng đều nói không sai, nhưng ngoài tầm tay với thì sao không chế Hồng vương được?”.
Hoàng đế cười nói: “Hồng vương cả đời cẩn thận đa mưu, không chê vào đâu được, chỉ có một việc không tính là vừa lòng như ý”.
Lưu Viễn cả kinh nói: “Lẽ nào hoàng thượng muốn…”
“Con người lòng tham vô đáy”.

Hoàng đế cười gằn nói: “Ai bảo cho ông ta chút lợi lộc mà ông ta đã vươn bàn tay quá dài làm gì?”.
Tinh mơ mười tám tháng Tư, Hồng Định Quốc dẫn năm trăm thân binh, kị binh lặng lẽ rời khỏi đại doanh Núi Đa.

Đường cái về tây xanh trắng lạnh lẽo, sương sớm ẩm ướt khiến cả người Hồng Định Quốc không được thoải mái, hắn ta vịn dây cương nhíu mày, mặt mày tối tăm.
Dịch trạm ở biên giới Khoa, Đồng là đường phải đi qua giữa hai đất Ly đô, Hồng châu, càng là đầu mối then chốt hướng về kinh thành của Hồng vương, nhiều năm qua chưa từng truyền đến mật báo sai lầm, không ngờ hôm qua mật thám lại dùng chim bồ câu báo tai mắt sắp đặt nhiều năm bị giết sạch không còn một mống, mà tin tức Vương Cử quả thực đã bỏ mình cũng chậm hơn nửa ngày, tới đêm khuya mới truyền vào trong doanh núi Đa.

Nội giám Lý Trình bên cạnh được Hồng vương sai tới, thúc giục nhiều lần, khổ nỗi ban đêm không tiện hành quân nên bàn bạc với Phạm Thụ An, chỉ đành kéo dài tới bình minh hôm sau.
Hồng Định Quốc xếp chung mấy chuyện này lại thì tự dưng nôn nóng, thoáng thấy bất an.

Hắn ta thấy chung quanh đều là thân binh bảo hộ, ngựa Lý Trình cưỡi không ngừng cọ vào bắp đùi mình thì càng phiền muộn, bèn thúc ngựa lên trước đội ngũ, ngửa mặt hít một hơi thật sâu.
Cửa ải hẹp phía trước mệnh danh “cửa khẩu Nhiếp Hồn”, gió đông táp vội, mây núi vấn vít quanh người rồi cuộn đi, khác nào từng sợi hồn màu trắng chạy xộc vào trong cái miệng máu của ma núi như thiêu thân lao đầu vào lửa.
“Trong cửa ải trước mặt có người à?” Hồng Định Quốc quay đầu lại hỏi.
Lý Trình theo sát hắn ta, đáp: “Thế tử gia nhìn không sai”.
Nhưng đi tiếp về phía trước mấy trượng nữa, sương mù đã bị gió thổi vào cánh đồng bát ngát, trước mắt sáng trong.

Phía bắc núi ảm đạm, lẻ loi ba thớt ngựa đứng im, lẳng lặng nhìn đám Hồng Định Quốc.

Hồng Định Quốc ghì ngựa, Lý Trình cao giọng hỏi: “Tướng quân Chiêu Dũng, thế tử Hồng vương đang ở trước quân, người trước mặt là ai?”.
“Tịch Tà, thái giám giữ bút hầu vua trong thư phòng”.

Hoạn quan thiếu niên mặc áo xanh ở giữa thúc ngựa chậm rãi tiến lên trước mặt, mỗi khi gần thêm một bước thì hai mắt lấp lánh có thần lại lạnh đi một phần.
Đây là nhân vật tiếng tăm lừng lẫy nhất gần đây, tuy còn trẻ nhưng lại có một khí thế tĩnh lặng, tách biệt, kiên quyết.

Hồng Định Quốc co đồng tử, cẩn thận nhìn lại.
Tịch Tà nhảy xuống ngựa, cởi giấy màu vàng bọc chỉ dụ của hoàng đế ra, giữ phía bắc, cười nói: “Nếu đã là thế tử gia của Hồng châu thì vừa hay.

Nô tì phụng thủ dụ của thánh thượng, đang muốn vào doanh trại núi Đa tuyên, thế tử gia nghe ý chỉ thôi”.
Hồng Định Quốc nhìn thấy hắn liền biết Ly đô đã sinh biến, bèn mỉm cười, nhảy xuống ngựa.

Năm trăm thân binh cũng xuống ngựa quỳ theo, tiếng giáp vang lạch cạch liên miên trong sơn cốc.
“Đô úy Thượng Khinh Xa Hồng Định Quốc, thế tử thân vương Hồng châu phụng chỉ dẹp Khương[1]”.

Tịch Tà tuyên chỉ: “Thế tử Hồng Định Quốc của thân vương Hồng châu xuất thân từ nhà dòng dõi công huân, quen thuộc việc quân, những năm gần đây trấn thủ núi Đa tiêu diệt thổ phỉ, chiến tích hiển hách, cử đi giữ chức vụ quan trọng trong quân đội, nghiên cứu quân cơ cho vua.

Lập tức khởi hành vào kinh đảm nhiệm, tuyệt đối không được câu việc nhà ở đất phiên mà trì hoãn, dẫn đến đại cục bắc phạt có thay đổi vì bị lỡ, khâm thử”.
Vội vã cho đòi tới Ly đô như thế tức là bắt giữ vào kinh rồi.

Hồng Định Quốc mím môi cười nhạt, dập đầu tạ ân.

Dự định lấy cỡ Hồng vương bệnh nặng, xin về Hồng châu thăm nom lúc đầu cũng bị ý chỉ này tính cả ở bên trong rồi.

Hồng Định Quốc tiếp chỉ, vừa nhìn Tịch Tà hành lễ, vừa cười nói: “Đã như thế thì tiểu công công hãy theo ta trở về đại doanh Núi Đa, sắp xếp xong thì khởi hành”.
Tịch Tà thưa: “Mời thế tử gia lên ngựa.

Đi ra hướng tây cửa ải là đã rời khỏi núi Đa rồi, nô tì đã phụng chỉ chuẩn bị thuyền bên dòng Ly, xuôi dòng xuống chỉ hai ba ngày là đến kinh.

Hoàng thượng tự có thánh mệnh sắp xếp đại doanh núi Đa, cần gì làm khổ thế tử gia phải cố ý quay lại làm trễ hành trình? Nếu để hoàng thượng biết, không trách thế tử gia cẩn thận làm hết chức trách mà lại trách cứ nô tì hầu hạ không chu đáo, làm điều thừa khiến thế tử gia mệt nhọc đấy”.
Mong đợi kéo dài thời gian cũng không được rồi.

Hồng Định Quốc hơi tức giận, sai Lý Trình nâng thánh chỉ tới rồi lên ngựa nói với ông ta: “Ông là người bên cạnh phụ vương, ông thấy thế nào?”.
Hồng vương chỉ có một anh con trai là Hồng Định Quốc, từ nhỏ đã gửi gắm kỳ vọng, cực kỳ yêu quý.

Nếu bị hoàng đế kiềm kẹp ở kinh kỳ thì chắc chắn sẽ tác động tới tim gan Hồng vương, cản trở bố trí tương lai.

Trước khi Ly đô sinh biến, Hồng vương gấp gáp sai Lý Trình triệu Hồng Định Quốc về Hồng châu cũng là vì lo lắng hành động này của triều đình.

Không ngờ hoàng đế ứng biến nhanh chóng như thế, cuối cùng còn sai Tịch Tà vội vã chặn đường ở chỗ này trong đêm hôm.
Nhưng xưa nay núi Đa chính là sào huyệt của bọn cướp, khâm sai chỉ có ba người, cho dù chết ngay tại chỗ cũng chỉ bị tội không diệt được cướp, dù sao cũng hơn vào kinh bị người ta khống chế.
Lý Trình đã thông suốt bèn đi tới, cầm tay Tịch Tà, chậm rãi vỗ vai hắn và nói: “Ở Hồng châu đã ngưỡng mộ đại danh của tiểu công công, là nhân vật vượt trội trong đám chúng ta, tất là thông minh tuyệt đỉnh, sao lại không rõ nỗi khổ tâm cẩn thận xử lý của thế tử gia?” Ông ta dùng tất cả công lực, hòng đánh gãy tâm mạch của Tịch Tà.

Ánh vàng hừng hực trong mắt Tịch Tà, tay hắn cũng siết thật chặt, nội tức chạy gấp, xuyên thẳng vào đan điền Lý Trình.

Lý Trình chợt cảm thấy máu cuồn cuộn, ban đầu âm thanh vẫn rất cao, sau đó dần dần nản lòng trầm xuống.
Tịch Tà mỉm cười đáp: “Sớm nghe nói người hầu bên Hồng vương gia toàn là nhân kiệt, rồng núp hổ nằm, hoàng thượng cũng cực kỳ hâm mộ, nay gặp Lý công công mới biết lời ấy không sai”.
Lý Trình nghe hắn báo ra tên họ của mình thì lấy làm kinh hãi, cố nén cơn đau đớn trong ngực, từ từ buông tay ra, lui về trước ngựa Hồng Định Quốc, thừa dịp Tịch Tà lên ngựa thì lắc đầu ra hiệu với Hồng Định Quốc.

Hồng Định Quốc thấy sắc mặt ông ta trắng bệch, thoáng cái đã trở nên khó coi, lúc này mới biến sắc.

Nếu ngay cả cao thủ tuyệt đỉnh trong vương phủ như Lý Trình cũng không làm gì được hắn thì chỉ đành ra hạ sách lấy năm trăm kỵ binh tiêu diệt ba người trước mặt thôi.

Hồng Định Quốc giơ tay kiên định phất một cái, năm trăm kỵ binh tinh nhuệ lập tức chỉnh tề áp sát tiến lên.
Tịch Tà phì cười: “Thế tử gia, ý chỉ của hoàng thượng chỉ cho đòi một mình thế tử gia chứ không nói muốn thế tử gia mang binh vào kinh mà”.
Lúc này Lê Xán và Lý Sư đứng xa hồi lâu vẫn chưa lên tiếng dắt ngựa lên trước, đứng nghiêm phía sau Tịch Tà.

Lê Xán cởi gấm đỏ ra, thờ ơ dùng mũi giáo sáng như tuyết chiếu lên sắc mặt mệt mỏi của mình, than vắn thở dài.

Lý Sư thì như thể trông thấy món ngón ưa thích nào đó, chép miệng, không ngừng quan sát Hồng Định Quốc từ trên xuống dưới, mặt mày rạng rỡ.
Tịch Tà quay đầu mắng: “Trước mặt thế tử gia không được vô lễ”.
“Ờ”.

Lý Sư ngậm chặt miệng lại.
Ba người ung dung chờ Hồng Định Quốc mở miệng nói chuyện.

Hồng Định Quốc mở đôi môi mỏng, cười lạnh nói: “Thế thì…”.

Lời vừa cất lên đã bị một tên lệnh the thé cắt ngang, trên sơn cốc bỗng vang tiếng gót sắt giội như mưa, một người ở cửa ải phía đông hô lên vang dội, tích tắc lại quy về yên lặng.
“Thế tử gia”.

Tham tướng Ngải Sinh ở áp chót lặng lẽ tiến lên nói với Hồng Định Quốc: “Trên hai mặt đỉnh núi ít cũng có hai, ba nghìn người.

Chỉ e là Bạch Đại đích thân đến rồi”.
Trong mây mù màu trắng sữa ở cửa ải phía đông lại có một con ngựa trắng sáng chói mắt.

Người đàn ông cao lớn mặc khôi giáp màu bạc, ngồi nghiêng trên yên bạc của con ngựa trắng, lúc ánh mặt trời còn mỏng manh mà đã thấy cả người gã phát sáng.

Xem trang phục và cái vẻ kiêu căng phách lối, cà lơ cà phất này thì chắc chắn là trùm thổ phỉ “Rồng Bạc Rời Bể” Bạch Đại của núi Đa.

Hồng Định Quốc đóng quân ở đây gần hai năm, vẫn chưa từng đối diện với nhân vật thần long thấy đầu không thấy đuôi này.

Bấy giờ mặc dù không nhìn rõ mặt gã, cũng có thể cảm nhận được nụ cười khẩy khinh miệt của gã.
Mặt Tịch Tà không hề kinh ngạc sửng sốt làm Hồng Định Quốc bỗng ngộ ra can hệ trong đó.

“Thì ra là thế”.

Hắn ta nói: “Triều đình nhọc lòng, công công thật lắm trò”.
Tịch Tà ngạc nhiên nói: “Nô tì thấp cổ bé họng, có trò gì được ạ? Nói ngay như bây giờ, thế tử gia do dự không tiến lên, thổ phỉ nhìn chằm chằm, nô tì đã lòng rối như tơ vò, không có cách gì, đang muốn xin thế tử gia dạy cho nên làm thế nào”.
Khắp núi đều là kị binh tên nhọn, đã không thể xoay chuyển nữa, Hồng Định Quốc thoải mái nói: “Chỉ đành để năm trăm kị binh dưới trướng ngăn cản chốc lát, ta tuân mệnh lập tức vào kinh thành mới là việc quan trọng”.
Cuối cùng Tịch Tà cũng hài lòng gật đầu: “Tinh binh của thế tử gia lấy một địch trăm, nhất định có thể toàn thắng về doanh.

Thế tử gia cứ yên tâm”.
Hồng Định Quốc thấp giọng nói với Ngải Sinh: “Anh dẫn binh về, thổ phỉ sẽ không ngăn cản đâu.

Gặp thầy Phạm, xin thầy ấy nghĩ cách xử trí”.

Còn mình thì dẫn Lý Trình và hai gã thân binh, gật đầu với Tịch Tà: “Tiểu công công, xin mời”.
Tịch Tà khom người, thúc ngựa nhường đường.

Ngải Sinh mở to mắt nhìn ba người Tịch Tà kèm hai bên Hồng Định Quốc từ trong năm trăm kị binh chậm rãi ra cửa Nhiếp Hồn, không ngừng dậm chân thở dài.
“Mời Ngải tướng quân trở về đi…” Đám người trên đỉnh núi vui cười, vang vọng không dứt trong cốc.

Đợi quay đầu lại, cửa ải phía đông vẫn trắng sương, nhưng đã chẳng thấy Bạch Đại đâu nữa.
Ngải Sinh chỉnh đốn đội ngũ vội vã về doanh, bẩm báo sự cố cho Phạm Thụ An.

Phạm Thụ An kinh hãi, phái người cấp báo Hồng vương, đích thân dẫn nghìn người, bố trí rải rác ở vùng sông Ly, truy tìm hành tung của thế tử.

Nhưng bảy người này chỉ đi gần nửa ngày, lên thuyền quan ven sông Ly, không ngờ hôm ấy đã bặt vô âm tín, binh mã Hồng châu tìm kiếm khắp mấy trăm dặm sông Ly vẫn chẳng có tin tức nào.
Đám Tịch Tà ngồi thuyền quan được ba mươi dặm thì đổi thuyền nhẹ xuôi dòng.

Nhị đương gia Lý Song Thực của cục Thừa Vận sông Hàn đang đi lại ở vùng sông Ly, tự mình điều động người tới tiếp ứng.
Lý Trình thấy khoang thuyền nhỏ hẹp thì giả vờ không vui, trách rằng: “Thế tử gia thân phận thế nào, sao có thể chen trong chiếc thuyền nhỏ như thế?”.
Tịch Tà nói: “Mong ngài thông cảm.

Lúc nô tì phụng chỉ đi, trong kinh đã xảy ra chuyện lớn: đại tướng quân Vương và thân vương Sào châu bị ám sát.

Chiếc thuyền nhanh này không gióng trống khua chiêng là vì nô tì muốn cẩn thận.

Chẳng qua là kế sách vẹn toàn, mong thế tử gia thông cảm”.

Hắn quay đầu lại gọi người chèo thuyền trên thuyền quan, sai họ tìm bến rồi giấu thuyền quan đi.

Lại sắp xếp Lê Xán và Lý Sư luân phiên “bảo vệ an toàn của thế tử gia”, trực ở cửa buồng rồi mới mời Lý Song Thực qua thuyền nói chuyện.
Lý Trình thấy xung quanh không người, cuối cùng mới có cơ hội hỏi: “Thế tử gia, chúng ta đã đổi sang thuyền nhẹ, theo lý nên cho thuyền quan đi như bình thường, che giấu tai mắt người khác, sao lại sai người giấu đi?”.
Hồng Định Quốc nói: “Thuyền quan cứ đi như bình thường thì với bản lĩnh của thầy Phạm, một ngày đã đuổi kịp rồi.

Thấy trong đó không người thì tất biết chúng ta đã đổi thuyền hoặc là đi đường bộ.

Hiện binh mã nhà ta đều đang tìm kiếm tung tích thuyền quan đó, nhân cơ hội này đi thuyền nhẹ xuống dưới là sẽ đi trước vài trăm dặm”.
“Thì ra là thế”.

Lý Trình nói: “Thằng nhãi kia thật âm hiểm thâm độc”.
“Không chỉ như vậy”.

Hồng Định Quốc không khỏi cười khẩy: “Hoàng đế để ta ở núi Đa, cô lập khỏi Hồng châu, thì ra đã có mưu đồ khống chế phụ vương từ lâu.

Còn ta tưởng là đã lấy được nội địa trung nguyên, thân ở trong nhà tù của binh giặc nơi núi Núi Đa mà còn đắc chí, ngờ đâu đã bị mưu hại.

Tâm cơ sâu xa nhường ấy, không phải chỉ từ thâm độc đã có thể hình dung”.
“Thế tử gia nói vậy, lẽ nào cũng biết đó là độc kế của Tịch Tà?”
Hồng Định Quốc trầm ngâm nói: “Sao bọn giặc núi Đa lại dính líu đến triều đình? Hoàng đế là dòng dõi quý tộc trong thâm cung, không biết chuyện thế tục, chắc chắn có kẻ mưu tính với hắn.

Bọn Lưu Viễn, Miêu Hạ Linh toàn là mọt sách, sao lấy lễ hạ mình kết giao giặc cướp? Khương Phóng xuất thân nhà binh, kết giao dân gian thì về tình có thể tha thứ”.

Lý Trình nói: “Thế tử gia đang lo là Tịch Tà ạ? Nếu trẻ con nghèo lớn lên trong cung có thể tùy ý nắm giữ nhiều thổ phỉ như thế, chẳng phải quá đáng sợ ư?”.
“Chỉ sợ là thế”.

Hồng Định Quốc đột nhiên đổ mồ hôi lạnh, nói: “Liệu có phải là đứa bé kia không?”.
“Thế tử gia đang nhắc đến con trai Nhan vương?” Lý Trình ép giọng xuống cực nhỏ, nói: “Hai năm trước đã chết rồi.

Thế tử gia không nhớ ư? Thái hậu nương nương tự mình báo tin cho vương gia biết mà.

Hơn nữa Tịch Tà không có chút khí phách oai hùng, hoàn toàn không giống Nhan vương gia”.
Thuyền đi hướng đông hai ngày, Tịch Tà lại xin Hồng Định Quốc di giá, đổi thành một con thuyền nhanh rộng rãi.

Mắt thấy chỉ còn cách Ly đô một ngày đường, đã tiến vào đất Thượng Giang, Hồng Định Quốc lại hết sức bình tĩnh, lẳng lặng ở trong khoang thuyền nhìn nước sông, có vẻ tự đắc.
Lý Trình đứng ngoài thuyền chốc lát, vào thấp giọng mỉnh cười nói bên cạnh Hồng Định Quốc: “Thế tử gia, thuyền trước mặt là của Lôi Kỳ Phong”.
“Nhìn thấy cờ hiệu của y rồi à?” Hồng Định Quốc cả mừng, đứng dậy đi ra ngoài khoang thuyền thì bị Lê Xán cản lại như trước.
Lý Trình lên trước cả giận nói: “Thế tử gia chỉ muốn hóng mát thôi”.
“Hóng mát thì được”.

Lê Xán cười nói: “Chỉ sợ thế tử muốn xem lá cờ của thuyền đối diện rồi chói mắt đấy”.
“Chói mắt cái gì?” Hồng Định Quốc cười, nhìn qua cửa buồng, cách bảy tám trượng có một con thuyền căng gió đông tới gần, trên đỉnh buồm trắng có lá cờ tam giác nhỏ khảm đầy châu ngọc, tỏa ra vầng sáng chói lóa dưới ánh nắng chói chang, chính là cờ hiệu mà Hồng vương ban tặng Lôi Kỳ Phong.
Tịch Tà đi ra từ trong khoang thuyền phía sau, nháy mắt với Lê Xán rồi rút kiếm Tĩnh Nhân đứng ở mũi thuyền.

Lý Sư ịn mép thuyền, không ngừng xem xét dưới nước.

Nếu đã tìm tới thì tất nhiên không cần phải tránh né – bên này giương cung bạt kiếm, chỉ chờ thuyền nhỏ đâm vào là chống lại ngay.
“Chỉ sợ sẽ đâm nhau, thế tử cẩn thận đấy!” Lê Xán xoay người nhào về phía Hồng Định Quốc, ép hắn ta vào trong khoang thuyền.
Thân thuyền chợt chấn động, nghiêng mạnh đi, lập tức có năm sáu cái móc sắt tung ra từ chiếc thuyền nhanh đối diện, móc vào mép thuyền mà Hồng Định Quốc ngồi.

Sáu tên to con vừa nhảy lên đã xông thẳng vào hai người Tịch Tà và Lý Sư.
Tịch Tà liếc nhìn, thấy trong đó không có cao thủ thì xoay người lướt vào bên trong khoang thuyền, kêu lên: “Lê Xán, bên trong!”.
Lê Xán buông Hồng Định Quốc ra, chưa kịp cởi kiếm mềm bên hông ra, mới vừa tiện tay nắm giáo dài bên cạnh đã thấy kiếm khí từ sâu trong lòng sông thấm thẳng lên hai đầu gối.

Hắn ta gấp gáp lui một bước, dang cánh tay đâm nhanh xuống đáy khoang.

Mũi thương rít gào chặn yết hầu, sát khí như mây đen che trời, khiến mắt người tối sầm lại.
“Phập!”
Con thuyền gần như bị đập vỡ vì hai luồng sát khí trên dưới, nước sông tuôn vào từ lỗ lớn dưới đáy thuyền, mảnh gỗ vụn gỗ như băng văng ra, đánh vào mặt đến phát đau.

Trong hơi nước một thanh trường kiếm phun lưỡi rắn ra, cắn về phía yết hầu Lê Xán.
Khoang thuyền nhỏ hẹp, sao dùng giáo dài được? Sau một kích, Lê Xán đã mất tiên cơ, lấy cán giáo cản chỗ yếu hại trên cổ họng, ngửa ra sau tránh.

Mũi kiếm đâm thủng cán giáo bằng gỗ chu, đánh thẳng vào.
Tiếng kiếm leng keng như muốn đâm rách màng nhĩ Lê Xán.

Tuốt kiếm Tĩnh Nhân bên cạnh ra, đẩy thế kiếm của đối thủ.
“Nơi đây giao cho tôi”.

Tịch Tà lách mình lên trước.

Vạt áo trước ngực thanh niên áo đen che mặt ở đối diện bị mũi giáo của Lê Xán chém rách, một vết máu dài cả thước trên khuôn ngực trắng xanh, ắt hẳn ở dưới nước cũng phải nhọc nhằn tránh né.
“Ha ha”.

Lôi Kỳ Phong cười sung sướng, mặt mày u ám hiếm khi giãn ra, lúc y nhếch mày đã xuất ra mười một đường kiếm liền.
Tịch Tà từng đấu hai lần với Lôi Kỳ Phong, biết kiếm pháp của y một kích tất trúng, theo lối vô cùng mãnh liệt.

Không ngờ hôm nay ở trong khoang thuyền chật hẹp, lại lấy cứu người làm đầu, dùng chiêu nhanh cực kỳ khéo léo, Tịch Tà chưa chuẩn bị, bị bức lui lại nhiều bước, tung người ở trước cửa khoang để thở lấy hơi.

Khoảng cách chiến đấu vừa xa ra thì kiếm pháp nhẹ nhàng của Lôi Kỳ Phong không làm gì được hắn, muốn một kích lấy mạng hắn nhưng bị khoang thuyền cản trở, y e sợ kiếm khí ảnh hưởng đến Hồng Định Quốc, ném chuột sợ vỡ bình, ngược lại khiến kiếm Tĩnh Nhân dùng khỏe ứng mệt.
Nước trong khoang thuyền đã đến đầu gối, thế kiếm của hai người dần cô đọng, sát khí quanh người châm vào da, Hồng Định Quốc thấy thế thì lạnh lùng nói với Lý Trình: “Có kẻ ám sát, Tịch Tà chặn ở phía trước, ông còn ở đây làm gì?”
Lý Trình đáp một tiếng, bảo vệ Hồng Định Quốc ở phía sau, từ từ dịch về hướng cửa khoang, thừa dịp Tịch Tà hơi rơi vào hạ phong, đột nhiên vỗ một chưởng vào sườn phải hắn.

Tịch Tà đã sớm đề phòng ông ta, chưởng phong chưa tới, người đã bay ra vài thước, mũi kiếm đong đưa giữa ấn đường vọt đến trước mặt Lôi Kỳ Phong.

Mũi kiếm kia sượt qua mặt y, chỉ trầy vành tai nhưng Lôi Kỳ Phong lại khẽ giật mình, bắp thịt ở ngực bụng đột nhiên co lại, Tịch Tà đập một chưởng đến đã bị y tháo mất bảy tám phần lực.

Dẫu thế, Lôi Kỳ Phong vẫn thấy cơn băng giá ào vào người, khó chịu nói không nên lời.

Nhưng chỉ chớp mắt ấy, Lý Trình đã đến cửa khoang, đẩy Hồng Định Quốc ra, còn mình thì quay lại lấy chưởng pháp giáp công Tịch Tà, miệng còn cười nói: “Tiểu công công, tôi tới giúp cậu một tay”.
Trong khoang nhỏ ba người ngâm dưới nước sông sâu đến ngang eo, xoay người thôi cũng rất khó.

Bên trái Tịch Tà là mũi kiếm loang loáng của Lôi Kỳ Phong, lúc này trường kiếm trong tay phải lại thành rườm rà, còn không có ích bằng chưởng pháp của Lý Trình, chiêu pháp lại vốn không phải là sở trường của hắn, nhất thời rơi xuống hạ phong, chỉ một hai chiêu đã nguy hiểm đến tính mạng.

Đầu óc Tịch Tà nhanh như chớp, lộ ra một sơ hở dưới kiếm Tĩnh Nhân khiến Lý Trình lấn người đến chỗ mà cánh tay hắn có thể với tới, tay trái chộp lấy mũi kiếm của Lôi Kỳ Phong nhanh như cắt.

Lôi Kỳ Phong cười nhạt, xoay thân kiếm muốn cứa đứt ngón tay của Tịch Tà, không ngờ không nhúc nhích được, ngay cả Lý Trình cũng ngẩn ra.

Tịch Tà thừa dịp chớp mắt này, tay phải bỏ trường kiếm, chọc thẳng vào ấn đường của Lý Trình.
Lý Trình không đề phòng, bị Tịch Tà đánh lén, chợt cảm thấy hàn khí vào tuỷ não, kêu to một tiếng rồi ngã xuống nước.
“Keng!”
Lôi Kỳ Phong vô cùng nhanh nhạy, dứt khoát đánh gãy trường kiếm.

Tịch Tà miễn cưỡng xoay người, cánh tay Lôi Kỳ Phong như đột nhiên dài thêm hai tấc, lưỡi kiếm gãy đâm tới trong tích tắc mang theo một cơn đau chậm, đâm vào từ khe hở của xương sườn, tham lam cướp lấy trái tim.
“Khụ!”
Tịch Tà kêu lên một tiếng đau đớn, hai tay giữ rịt thân kiếm.

Nước sông trong vắt lạnh lẽo nhanh chóng che đi vết thương, thoáng giảm bớt cơn đau như lửa đốt, hắn giãy giụa định đẩy mũi kiếm ra khỏi cơ thể mình, quanh người không biết là sóng lớn của nước sông hay là sóng gợn run rẩy xao động.
Lôi Kỳ Phong tò mò quan sát sự cố gắng của hắn, lại lặng lẽ đẩy thân kiếm vào một phân, nhìn màu máu trên môi Tịch Tà từ từ rút đi.
Tịch Tà thở hổn hển, ánh mắt bắt đầu tan ra, ngã xuống chìm vào trong nước.
“Hừ”.

Lôi Kỳ Phong chợt bị đau hừ một tiếng.

Dưới nước, kiếm Tĩnh Nhân đột nhiên xuyên thủng đùi phải của y, ra sức thu kiếm rồi không còn động tĩnh gì nữa.
Lôi Kỳ Phong mang theo nụ cười nhạt, từ từ rút kiếm gãy về, lảo đảo lùi mấy bước rồi làm vỡ mui thuyền, cầm kiếm nhảy ra, thoáng nhìn trong một mảng nước gợn lấp lánh dưới thân lại có một mũi nhọn đen đen kịt đánh tới, vội vàng lách ra hơn nửa trượng, phấp phới trên đỉnh buồm cao.
Lê Xán thu giáo dài lại, nhìn chòng chọc Lôi Kỳ Phong, chỉ thấy một đường máu rơi xuống từ trên người Lôi Kỳ Phong khiến buồm trắng loang lổ vết máu, biết trận chiến bên trong khoang thuyền rất thê thảm liền sốt ruột gọi: “Tịch Tà! Ra đây!”
Lúc này thuyền của Lý Song Thực kịp thời ghé vào, bốn bề kèn lệnh kêu loạn, chiến thuyền của thủy quân Thượng Giang tới tiếp ứng căng cung nỏ, cũng xông lên.

Sáu gã sát thủ mà Lôi Kỳ Phong mang tới đã bị Lý Sư và Lê Xán g**t ch*t, hai gã thân binh nhà họ Hồng cũng bị Lê Xán khống chế.

Hồng Định Quốc bị vây đưa lên thuyền của Lý Song Thực, trong mắt đầy vẻ tức giận lạnh lẽo, Lôi Kỳ Phong nhíu mày trong ánh mắt hắn ta.
“Bắn cung!” Trên chiến thuyền, Khương Phóng hét lớn một tiếng.
Một trận tên vàng như mưa bắn qua, che khuất bầu trời, Lôi Kỳ Phong trên đỉnh buồm và cờ hiệu quý báu ấy đột nhiên mất tăm.
Ngày hai mươi hai tháng Tư, tin thế tử Hồng Vương vào kinh đã truyền khắp triều đình và dân gian nhưng chẳng gây nên chấn động là mấy.

Tất nhiên điều các đại thần nghị luận nhiều nhất bây giờ là ý nghĩ thân chinh trong đầu hoàng đế.

Hoàng đế và chúng thần, bộ binh tranh chấp hừng hực khí thế, thêm tin tức Quân Thành xuất phát xuôi nam từ Hạ Lý Luân đổ thêm dầu vào lửa, cung Thanh Hòa càng không ngừng sôi trào, sóng lớn bên ngoài triều cũng nhanh chóng xuyên vào nội cung.
Hoàng hậu đau đớn vì mất cha, cộng thêm cả tháng chưa được yên thân thế là nằm giường không dậy nổi.

Phi tần tất nhiên càng hoang mang lo sợ, hoảng loạn bất an.
“Nàng thấy thế nào?” Thời gian hoàng đế đến cung Tiêu Cát lại nhiều lên, lơ đãng hỏi cách nhìn của Mộ Từ Tư.
“Thần thiếp không hiểu, không dám nói bừa”.
“Nói đi”.

Hoàng đế cười bảo, “Trẫm không trách nàng”.
Mộ Từ Tư nói dỗi: “Đương nhiên thần thiếp không hi vọng hoàng thượng thân chinh rồi”.

Nàng lại cười, “Nhưng thần thiếp cưỡi ngựa mau, bắn tên cũng chuẩn, sẽ không ảnh hưởng đến hoàng thượng.

Nếu hoàng thượng cảm thấy phải thân chinh thì sao không dẫn thần thiếp cùng đi?”.
Hoàng đế cất tiếng cười to: “Dẫn nàng cùng đi?”.
“Vâng ạ”.

Mộ Từ Tư nghiêm mặt nói: “Thần thiếp chỉ cần ở bên hoàng thượng thì không sợ gì cả”.
“Thế nàng sợ gì ở trong cung?” Hoàng đế hỏi một cách sắc bén.
Mộ Từ Tư mím môi không nói lời nào.

Đôi môi đỏ mọng ướt át cực kỳ xinh đẹp, làm hoàng đế quên mất câu hỏi vừa rồi.
“Hoàng thượng”.

Cát Tường chẳng biết ý tứ vào bẩm, “Thái hậu triệu kiến ở cung Từ Ninh ạ”.
Hoàng đế vội vàng đứng dậy: “Chuyện gì thế?”.
“Thái phó Lưu Viễn mới vừa vào tâu ở cung Từ Ninh”.
Hoàng đế không khỏi cười nhạt: “Không khuyên nổi trẫm là kinh động đến thái hậu”.
“Vạn tuế gia, kiệu đã được chuẩn bị ở bên ngoài rồi ạ”.
“Không cần kiệu”.
Hoàng đế hết sức tức bực, đi rất nhanh.

Thái hậu không ngờ hắn ta tới nhanh như vậy, đang mở rương tìm gì đó với Hồng Tư Ngôn, thấy hoàng đế vào hành lễ liền kéo tay hắn ta ngồi trên giường, hỏi: “Hoàng đế muốn thân chinh?”
“Vâng, con trai dự định như vậy ạ”.
“Trong các đại thần có bao nhiêu người tán thành, bao nhiêu người phản đối?”
Hoàng đế đáp: “Người tán thành không nhiều, kẻ phản đối do thái phó dẫn đầu chiếm đến bảy phần”.
Thái hậu mỉm cười nói: “Sao hoàng đế lại muốn thân chinh thế?”.
Hoàng đế vội vã giải thích: “Tất nhiên là vì Vương Cử và Lương Dũng bị ám sát, trước mắt không ai đốc quân…”
Thái hậu đảo đôi mắt sâu sắc, khẽ cười: “Đừng nói dối mẫu thân.

Dẫu chiến sự ở tiền tuyến căng thẳng nhưng có cả vạn cách giải quyết.

Trong lòng hoàng đế tất có quyết định của mình, chỉ cần không có ai xúi bẩy thì đều dễ bàn”.
“Mẫu hậu!” Hoàng đế đột nhiên đỏ mặt.
“Cô xem”.

Thái hậu nói với Hồng Tư Ngôn: “Hoàng đế vẫn giống như trẻ con vậy, mới nói hai câu đã vội rồi”.

Hồng Tư Ngôn cũng đang mỉm cười: “Lòng người trẻ đều là giống nhau cả.

Hoàng thượng có lời gì thì cứ việc nói với thái hậu”.
Thái hậu bảo: “Nếu không phải quần hùng trung nguyên có thế cát cứ thì hoàng đế cần gì nóng lòng lập uy trước quân đội? Một trận đại chiến, tiếng tăm lẫy lừng, hoàng đế còn trẻ chưa lấy được lòng tin và lập uy với thiên hạ, cơ hội tốt như vậy, sao lại chắp tay nhường cho người khác?”
“Vâng…” Hoàng đế bị bà nói trúng, không khỏi cúi đầu, “Người thân tín của con trai không đấu được với hai vị thân vương, con trai cũng bất đắc dĩ mới ra hạ sách này”.
“Chưa chắc đã là bất đắc dĩ”.

Thái hậu cười nhạt, “Thà rằng ta nhắm mắt cho xong, đỡ phải thấy người một nhà đấu đá”.
Hồng Tư Ngôn vội vàng nói: “Chủ tử đừng nói như vậy sẽ dọa hoàng thượng đấy”.
Hoàng đế xấu hổ vô cùng, hai tay không biết để đâu, nói: “Con trai có lỗi, mẫu hậu đừng nóng giận”.
“Ta không giận mà là có vài kẻ quá ồn ào”.

Thái hậu nhìn hoàng đế dịu dàng bảo, “Hoàng đế muốn làm thì đi làm đi.

Lưu Viễn đã già rồi, không đủ dũng khí, không rõ ý của hoàng đế”.
Việc này nằm ngoài dự liệu của hoàng đế, hắn ta bỗng không biết nói gì, nhìn thái hậu đến ngẩn người.
“Nhưng trong lòng hoàng đế cũng có do dự sao?” Thái hậu hỏi: “Nếu đã hạ quyết tâm thì cần gì phải bàn với các đại thần lâu như vậy?”.
“Con trai có nỗi lo về sau.

Con trai thân chinh thì thứ nhất phải chắc chắn tất thắng”.
“Hồng Định Quốc đã bị con đưa vào kinh thành rồi, Hồng vương còn có thể tiếp tục giữ rịt binh mã của mình ư? Con mang theo Định Quốc lên bắc, bại thì tất vạ lây đến nó, Hồng vương sẽ không thờ ơ ngồi nhìn.

Trận này con tất thắng”.
Hoàng đế cả mừng, run giọng nói: “Mẫu hậu cũng nghĩ như vậy ạ?”
“Điều thứ hai thì sao?”
“Sự yên ổn của trung nguyên.

Có người giám quốc ổn thỏa quản lý triều chính, lo liệu lương bổng”.

Hoàng đế do dự trong chốc lát mới nói: “Vả lại không được có nội loạn”.
“Cảnh Nghi giám quốc rất ổn thỏa”.

Thái hậu gật đầu đáp: “Mặc dù ta không muốn lo chuyện phàm tục nhưng lần này trông nhà thay con cũng không hề gì”.
Từ trước đến giờ Trịnh Quân Hải của Cứ châu luôn quyết một lòng với thái hậu, nếu thái hậu đã bằng lòng thì tất nhiên bảy mươi nghìn binh mã của ông ta sẽ át chế hai vương Đông, Tây vì triều đình.

Trong chốc lát tất cả do dự tan thành mây khói, hoàng đế vui không kiềm được, quỳ gối trước mặt thái hậu cảm ơn: “Người tốt nhất với con trai trong thiên hạ chỉ có mẫu hậu thôi”.
Thái hậu đỡ hắn ta lên: “Bây giờ mới biết à? Còn có thứ tốt cho con đấy.

Vừa này đã tìm được món đồ kia chưa?”
“Rồi ạ, ở chỗ này ạ”.

Hồng Tư Ngôn nâng một cái bọc nặng rồi mở ra trước mặt hoàng đế.
Bên trong là bản chép tay ố vàng, tổng cộng hai mươi lăm quyển, chữ viết trên bìa hào hiệp không chịu gò bó, khí phách khôn kể, chỉ viết rõ ngày tháng, quyển sớm nhất là năm Toàn Thánh thứ mười sáu, trước khi Thượng Nguyên đế đăng cơ, là chuyện thời hoàng đế Hiếu Tông.
“Đây là…”
Thái hậu nhấp một ngụm trà rồi mới ngân nga nói: “Đây là thứ tịch thu được từ trong nhà nghịch vương Nhan Trạm, đều là nhật kí hành quân năm đó của hắn, đọc nhiều tất có ích”.
“Vâng”.

Hoàng đế như nhặt được chí bảo, nghĩ lại lại không khỏi nghi hoặc, sao tịch thu thứ này mà thái hậu còn giữ đến nay.
“Không cần hỏi nhiều nữa”.

Thái hậu thấy hắn ta muốn nói bèn mở miệng trước ngăn cản.
Hoàng đế đi ra khỏi cung Từ Ninh, Cát Tường bẩm báo thuyền của Hồng Định Quốc đã lại cập bến đò ngự của Thượng Giang, giờ đang muốn yết kiến.
Hoàng đế nói: “Tạm thời không vội gặp hắn.

Tịch Tà đâu? Sao không thấy hắn đến bẩm báo?”
“Việc này…” Cát Tường lấy làm khó xử nói: “Nếu nó đã đi cùng thuyền với Hồng Định Quốc thì chắc chắn vẫn chưa tới ạ”.
Mãi đến khi gặp Hồng Định Quốc, ban phủ ở kinh thành, làm rất nhiều việc cho thỏa đáng mà vẫn chưa thấy Tịch Tà.

Hoàng đế trở nên sốt ruột, không màng đến lời qua loa lần nữa của Cát Tường, nghiêm mặt bảo: “Ngươi còn không nói thật thì đánh chết trước rồi đi hỏi người khác”.
Cát Tường sợ đến mức quỳ xuống, dập đầu tâu: “Không phải nô tì không nói thật, chỉ là người khác bẩm lại Tịch Tà bị thương nhẹ, tạm thời không thể kiến giá.

Nô tì không biết thương thế nó thế nào nên không dám bẩm báo bừa”.
“Nói bậy!” Sắc mặt hoàng đế đã thay đôi, đứng phắt dậy, “Người đâu? Hiện ở đâu?”.
“Thượng Giang ạ”.
Vết thương đã nặng đến mức không thể chuyển về kinh rồi ư? Lưng hoàng đế đẫm mồ hôi lạnh: “Chuẩn bị ngựa.

Trẫm đến Thượng Giang”.
Cát Tường ôm lấy chân hắn ta hết lời khuyên nhủ: “Vạn tuế gia mà đi thì việc lớn trong triều phải xử trí thế nào? Tịch Tà thấy vạn tuế gia thì phải dậy, mệt một chút cũng chẳng sao, những lỡ làm rách miệng vết thương thì chẳng phải sẽ nguy hiểm đến tính mạng sao ạ?”
Hoàng đế suy nghĩ rồi ngồi lại ghế, thở dài nói: “Ngươi nói có lý.

Gọi người đi xem, Trần Tương cũng đi rồi phải bẩm báo tình hình đúng như sự thực”.
Hoàng đế thấy sắc trời đã tối, đoán hôm nay không thể nhận được tin về Tịch Tà, chỉ là đứng ngồi không yên, cũng không muốn gặp đại thần.

Hôm sau hắn ta cho đòi Thành Thân vương bàn việc thân vương giám quốc trước.

Thành Thân vương cực kỳ khó xử, cứ từ chối mãi.

Tâm trạng hoàng đế bực bội, đương nhiên sẽ không tỏ sắc mặt tốt với y, chẳng nói chẳng rằng mà chỉ lẳng lặng chờ y bày tỏ một hồi.

Trong phòng chợt trầm mặc, Thành Thân vương mất tự nhiên nhìn chằm chằm vạt áo mình.
“Hoàng thượng”, Cát Tường tươi cười đi vào tâu: “Tịch Tà đã trở về rồi ạ”.
“Mau gọi vào”.

Hoàng đế đáp ngay.
Bóng dáng kia vẫn nhanh nhẹn trước sau như một, hoàng đế cẩn thận nhìn từ trên xuống dưới, hỏi: “Bị thương ở đâu?”.
“Chỉ là vết thương nhỏ, bây giờ đã có thể hành động như thường, hoàng thượng không cần lo lắng ạ”.
Thành Thân vương cũng vô cùng ân cần, hỏi: “Hoàng thượng hỏi anh bị thương ở đâu, bẩm tấu đúng như sự thực là được”.
Tịch Tà chìa hai tay ra, cười xòa nói: “Chỗ này ạ”.

Trên hai tay quấn băng vải trắng như tuyết, trong lòng bàn tay vẫn có máu đỏ mờ mờ.
“Nói thật!” Hoàng đế ném bát trà lên trên bàn.
Tịch Tà giật nảy mình, khó xử từ từ chỉ vào vị trí tim.
Hoàng đế sợ hãi, cả người run lên, nghĩ lại không khỏi giận tím mặt.
“Khốn kiếp! Nếu như khanh cho rằng mình chỉ là một nội thần mà thôi, có thể tùy tiện liều mạng thì thật uổng công trẫm coi trọng khanh!”
“Hoàng thượng bớt giận”.

Thành Thân vương chưa bao giờ thấy hoàng đế gào lên như vậy nên luống cuống tay chân.
“Không phải khanh đã dẫn theo hai tay cừ khôi đi ư? Nếu đã là tay cừ khôi thì vì sao lại tự mình đứng ra? Trước khi khanh đi trẫm đã dặn dò thế nào, là thứ gì làm khanh bị quỷ ám, vừa ra khỏi cửa đã quên sạch thế hả?”
“Khương Phóng cũng đau xót trách nô tì như vậy”.

Tịch Tà cúi đầu.

Chỉ cần gặp phải Lôi Kỳ Phong sẽ không quản được ý muốn giết chóc của mình, sẽ không nhịn được tiến lên đón lưỡi kiếm bén nhọn của y, chớp mắt ấy phần mộ thoáng đãng, chức trách thù nhà bị ném ra ngoài ngàn dặm, tự có một cơn vui sướng như thác nước dội xuống da.

Nghĩ đến đấy, Tịch Tà không khỏi xấu hổ, cuối cùng hạ quyết tâm, “Nô tì sai rồi, sau này sẽ không như vậy nữa”.
“Chỉ sợ một chút lầm lỗi thì sẽ không còn sau này nữa! Nếu như khanh chết rồi…” Hoàng đế rùng mình một cái, chợt ngậm miệng lại.
“Sao có thể thế được ạ?” Thành Thân vương đi ra giảng hòa, “Nếu đã hoàn thành việc được giao rồi thì hoàng thượng đừng giận nữa”.
“Bỏ đi”.

Hoàng đế từ từ nguôi giận, “Đã đỡ hơn chút nào chưa?”.
“Không có gì đáng ngại đâu ạ”.
“Lấy băng ghế cho hắn ngồi.

Chúng ta nói tiếp chuyện của chúng ta”.
Tịch Tà ghé vào bên bàn, liếc mắt thoáng thấy bản chép tay cũ kỹ trên bàn.
“Đây là gì thế ạ?” Hắn run giọng hỏi.
“Bản chép tay việc hành quân của Nhan vương năm xưa”.

Hoàng đế lấy một quyển từ phía trên, “Trẫm mới xem đến ghi chép năm Toàn Thánh thứ mười tám, Nhan vương nói lúc bấy ông ta chỉ mới hai mươi mốt mà đã lĩnh binh hai năm rồi”.
“Đây chính là vật báu hiếm có”.

Tịch Tà cong khóe miệng cười nói.
“Đúng thế”.

Hoàng đế tùy tiện lật về phía sau, chợt thấy trên một tờ có đề mấy câu:
Trăng về tây liễu đông rung, cửa lầu đóng kín gió sương thập thò.
Đều vì chuyện loạn Hung Nô, ngọc đai trường kiếm ra phò Lương châu.
Máu dân mình dính yên sau, ngựa bay điên đảo đâm sầu hậu phi.
Nhan vương cười chuyện tử sanh, Thiền Vu còn dám ngó đầu thân vương?
Thấy nét bút hoàn toàn khác với Nhan vương nhưng cũng rất quen, lòng hắn ta hơi động, tìm một cuốn tấu sớ của Hồng vương, so ra quả nhiên là thể chữ của Hồng vương, có điều khi đó nét bút oai phong mạnh mẽ, ít có cái tròn trịa sâu xa của bây giờ.

“Nhìn từ bài thơ này, năm đó tình cảm giữa Hồng vương và Nhan vương rất tốt đấy, không ngờ cuối cùng lại là Hồng vương mang binh vào kinh bắt Nhan vương.

Nhan vương là một mạch hoàng thất, công cao cái thế, vô cùng giàu có, còn là nhân vật đã nói là làm trên triều đình, vì sao vẫn chưa thấy đủ mà phản loạn?”
Thành Thân vương trầm ngâm không nói, Tịch Tà thì thản nhiên đáp: “Thân làm bề tôi, một khi có hoài bão cao xa, chức vị càng cao thì càng nhìn rõ triều đình, càng thấy cản trở ở khắp mọi nơi, chí lớn không được vẫy vùng, cuối cùng chỉ có thể đi con đường đại nghịch bất đạo này.

Năm đó Nhan vương cũng có ý nghĩ diệt trừ phiên chính, triều đình giàu có, thống nhất binh quyền, lên bắc xua đuổi Thát Lỗ, xuôi nam thôn tính Đại Lý thì triều ta sẽ có ba bốn trăm năm hưng thịnh”.
“Khanh hiểu rõ Nhan vương vậy sao?”
“Thầy nô tì từng nhắc đến vài câu”.
“Lạ thật”.

Hoàng đế nói: “Vì sao sau khi trẫm lên ngôi thì rất ít người nhắc tới Nhan vương với trẫm chứ?”.
Tịch Tà cười đáp: “Trong này tất có duyên cớ, vừa rồi nô tì nhiều lời rồi”.
Hoàng đế cười, đột nhiên hỏi: “Nói đến đây, khanh không cầu thăng chức, không cầu phát tài, cũng không thể có đời sau, vậy khanh khát vọng điều gì?”.
Tịch Tà suy nghĩ rồi đáp: “Bẩm vạn tuế gia, người hỏi vậy thật làm khó nô tì, bản thân nô tì cũng không biết”.
Hoàng đế cười to bảo: “Nếu như Như Ý ở đây, nhất định sẽ nói chỉ cần có thể ở bên cạnh trẫm hầu hạ thêm mấy năm đã cảm thấy mỹ mãn đấy”.

Ngoảnh lại liền thấy Tịch Tà đang trầm ngâm, hắn ta không khỏi kinh ngạc nói: “Chẳng lẽ khanh cũng nghĩ như vậy?”.
Tịch Tà hoàn hồn lại, cười tâu: “Dù nô tì nghĩ như vậy cũng không có da mặt dày hư nhị sư ca của nô tì để mà đường hoàng nói ra khỏi miệng, chỉ sợ hoàng thượng nghe xong sẽ thấy rùng mình”.
Hoàng đế cười hỏi Thành Thân vương: “Em xem trong cung còn có người nói chuyện như hắn không?”.
Dường như Thành Thân vương cũng vừa tỉnh lại từ trong mộng: “Gì ạ? Hoàng thượng nói gì ạ?”.[1] Dân tộc thiểu số thời cổ ở tỉnh Thanh Hải và các tỉnh lân cận, Trung Quốc.
 
Back
Top Bottom