Cập nhật mới

Khác Harry Potter Phần 6 và 7

Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 10: Câu chuyện của Kreacher


Câu chuyện của Kreacher

Harry thức giấc vào sớm hôm sau, nằm trong một cái túi ngủ trên sàn phòng khách.

Một thẻo trời hé ra giữa hai tấm màn cửa sổ u ám.

Thẻo trời ấy màu mực xanh loãng mát dịu, đâu đó giữa đêm và bình minh, và mọi thứ đều yên lặng, ngoại trừ tiếng thở sâu, chậm của Ron và Hermione.

Harry liếc qua những cái bóng lờ mờ tối tối của hai đứa bạn trên sàn bên cạnh nó.

Ron đã nổi hứng ga lăng và nhất mực ép Hermione ngủ trên mấy cái gối lấy từ cái ghế nệm dài, vì vậy bóng của cô bé trùm lên bóng của Ron.

Cánh tay của cô bé thõng xuống sàn, ngón tay cô bé chỉ cách ngón tay của Ron có vài phân.

Harry tự hỏi phải chăng hai đứa nó đã ngủ thiếp đi trong lúc tay còn cầm tay nhau.

Ý nghĩ này khiến nó cảm thấy cô đơn lạ lùng.

Nó ngước nhìn trần nhà âm u, chùm đèn treo bám đầy mạng nhện.

Cách đây chưa đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ, nó còn đứng trong ánh sáng mặt trời ở cổng vào rạp cưới, chờ đón tiếp những người khách dự đám cưới.

Hình ảnh đó dường như đã xa xưa bằng cả đời người rồi.

Bây giờ chuyện gì sắp xảy ra?

Nó nằm trên sàn và nghĩ đến những Trường Sinh Linh Giá, đến sứ mệnh khó khăn phức tạp đến nản lòng mà cụ Dumbledore đã giao lại cho nó... cụ Dumbledore...

Nỗi buồn vẫn xâm chiếm tâm hồn nó từ khi cụ Dumbledore qua đời giờ đây đã khác.

Những lời cáo buộc mà nó nghe bà dì Muriel nói ra ở đám cưới dường như làm ổ trong óc nó như những thứ bệnh hoạn ảnh hưởng đến ký ức của nó về vị pháp sư từng được nó thần tượng hóa.

Có lẽ nào cụ Dumbledore đã để cho những việc như vậy xảy ra?

Chẳng lẽ nào cụ lại giống như Dudley, hả hê nhìn sự bỏ bê và ngược đãi, miễn là điều đó không ảnh hưởng đến bản thân mình?

Chẳng lẽ nào cụ lại quay lưng với đứa em gái bị giam cầm và giấu giếm?

Harry nghĩ đến Thung lũng Godric, đến những nấm mộ ở đó mà cụ Dumbledore không bao giờ nhắc tới; nó nghĩ đến những món đồ bí mật được để lại không kèm lời giải thích trong di chúc của cụ Dumbledore, và sự giận dỗi phồng căng lên trong bóng tối.

Tại sao cụ Dumbledore đã không nói cho nó biết?

Tại sao cụ không chịu giải thích?

Cụ Dumbledore có thực sự thương yêu lo lắng cho nó hay không?

Hay là Harry chẳng qua chỉ là một dụng cụ cần được đánh bóng và mài giũa, nhưng không đáng tin cậy, không bao giờ được thổ lộ?

Harry không thể chịu đựng nổi việc nằm không ở đó quẩn quanh với những ý nghĩ đắng cay.

Tha thiết muốn làm một cái gì đó để xao lãng, nó trườn ra khỏi cái túi ngủ, cầm lấy cây đũa phép, và bò ra khỏi phòng.

Đến đầu cầu thang nó thì thầm “Thắp sáng,” và bắt đầu trèo lên cầu thang nhờ ánh sáng từ cây đũa phép.

Ở tầng thứ hai có căn phòng ngủ mà nó và Ron đã ngủ hồi tụi nó ở đây lần trước; nó liếc nhìn vào.

Cửa tủ quần áo để mở và vải trải giường bị lật ra.

Harry nhớ đến cái đế cắm dù lăn lóc ở tầng trệt.

Ai đó đã lục soát căn nhà sau khi Hội dọn đi.

Lão Snape chăng?

Hay có lẽ lão Mundungus, kẻ đã chôm chĩa khá nhiều đồ đạc trong nhà từ trước lẫn sau khi chú Sirius qua đời?

Harry chăm chú đưa mắt nhìn lên bức tranh mà đôi khi có chân dung cụ Phineas Nigellus Black - ông cố của chú Sirius - nhưng bức tranh trống trơn, chẳng cho thấy gì ngoài không gian trải ra trên tấm vải nền xám xịt.

Hẳn là cụ Phineas Nigellus ngủ đêm trong phòng làm việc của hiệu trưởng trường Hogwarts.

Harry tiếp tục đi lên cầu thang cho đến khi lên tới tầng trên cùng, nơi chỉ có hai cánh cửa.

Cánh cửa ngay trước mặt nó có gắn một biển tên ghi là Sirius.

Trước đây Harry chưa bao giờ vào phòng ngủ của người cha đỡ đầu của nó.

Nó đẩy cánh cửa ra, giơ cao cây đũa phép để ánh sáng tỏa ra rộng chừng nào tốt chừng nấy.

Căn phòng rộng rãi và ắt là đã từng trang nhã.

Có một cái giường rộng với đầu giường bằng gỗ chạm khắc, một cửa sổ cao được che bằng những tấm màn dài bằng nhung và một chùm đèn treo được bọc bằng một lớp bụi dày, những mẩu đèn cầy cháy sót vẫn còn trong những lỗ chân đèn, sáp nhễu đông đặc tựa những giọt sương giá.

Một lớp bụi mỏng phủ lên những bức tranh trên tường và cái đầu giường; một mạng nhện giăng giữa chùm đèn treo và đầu tủ quần áo bằng gỗ rất to, và khi Harry tiến sâu hơn vào trong phòng, nó nghe tiếng tháo chạy nhốn nháo của bầy chuột bị quấy rầy.

Cậu thiếu niên Sirius đã dán đầy tường quá nhiều áp phích và tranh ảnh đến nỗi hiếm có mảng lụa xám bạc bọc tường nào còn lộ ra.

Harry có thể đoán là ba má chú Sirius đã không thể nào gỡ được bùa Dính Vĩnh Viễn gắn những áp phích và tranh ảnh đó vô tường, bởi vì nó chắc chắn họ không thể nào tán thưởng nổi thẩm mỹ trang trí của cậu con trai.

Chú Sirius hình như đã đi quá trớn trong việc chọc tức ba má.

Rất nhiều cờ phướn biểu ngữ bự chần vần của nhà Gryffindor, màu đỏ tía và vàng kim phai mờ, như để nhấn mạnh sự khác biệt của chú với tất cả những người còn lại trong gia đình Slytherin.

Rất nhiều hình xe gắn máy Muggle, và cũng có (Harry phải thán phục thần kinh của chú Sirius) rất nhiều hình quảng cáo các cô gái Muggle mặc đồ tắm hai mảnh.

Harry có thể phân biệt họ là dân Muggle bởi vì họ ở đâu yên đấy trong tấm hình của mình, nụ cười đã héo và ánh mắt đờ đẫn đông cứng trên giấy.

Điều này tương phản với một bức ảnh phù thủy duy nhất trên tường, tấm hình của bốn học sinh trường Hogwarts đứng quàng tay nhau, cười cợt với ống kính.

Một niềm vui bừng lên khi Harry nhận ra ba nó, mái tóc đen rối bời của ba chải lật ngược ra sau y như tóc Harry, và ba cũng đeo kiếng.

Bên cạnh ba là chú Sirius, đẹp trai một cách phóng túng, gương mặt hơi kiêu, trẻ hơn nhiều và vui vẻ hơn nhiều so với gương mặt Harry từng thấy khi chú còn sống.

Đứng bên phải chú Sirius là Pettigrew, thấp hơn hẳn một cái đầu, tròn trịa và mắt ươn ướt, tràn trề niềm vui sướng được gộp vô nhóm bạn chịu chơi nhất này, với những kẻ nổi loạn được ngưỡng mộ vô cùng là ba James và chú Sirius.

Bên trái ba James là thầy Lupin, ngay cả hồi đó trông cũng đã có vẻ nhếch nhác, nhưng thầy cũng có cùng một vẻ mặt ngạc nhiên vui sướng khi thấy chính mình được yêu mến và được gộp vô nhóm, hay chẳng qua chỉ vì Harry đã biết sự tình như thế, nên nó đã nhìn ra những điều đó trong tấm hình?

Nó tính gỡ tấm hình ra khỏi tường; suy cho cùng thì tấm hình bây giờ thuộc về nó rồi, - chú Sirius đã để lại mọi thứ cho nó - thế nhưng tấm hình không thèm nhúc nhích.

Chú Sirius đã rất kỹ trong việc ngăn ba má chú trang hoàng lại căn phòng của mình.

Harry nhìn quanh sàn phòng.

Bầu trời bên ngoài càng lúc càng sáng hơn.

Một tia sáng để lộ ra giấy tờ, sách vở, và những đồ vật nho nhỏ vung vãi khắp tấm thảm.

Rõ ràng là căn phòng của chú Sirius cũng đã bị lục lọi, mặc dù những thứ ở trong phòng có vẻ đã được thẩm định là hầu như, (nếu không nói là hoàn toàn), không có giá trị.

Vài quyển sách đã bị xốc tung thô bạo đến nỗi sút cả bìa và nhiều trang linh tinh rơi rớt khắp sàn.

Harry cúi xuống, lượm lên vài tờ giấy, và xem xét chúng.

Nó nhận ra có một tờ của bản in cũ, cuốn Một Lịch Sử Pháp Thuật của Bathilda Bagshot, và một tờ khác thuộc về cuốn sách hướng dẫn bảo trì xe gắn máy.

Tờ giấy thứ ba được viết tay và bị vò nát.

Nó vuốt phẳng tờ giấy:

Anh Chân Nhồi Bông mến,

Cám ơn anh, cám ơn anh về món quà sinh nhật cho Harry!

Cho tới giờ đó là món nó khoái nhất.

Một tuổi mà đã biết bay vèo vèo trên cán chổi, nó có vẻ tự mãn lắm.

Em gởi kèm theo đây một tấm hình để anh có thể thấy.

Anh biết là chổi chỉ bay lên khỏi mặt đất cỡ sáu tấc nhưng thằng nhóc suýt làm chết con mèo và đã làm bể nát cái bình bông xấu hãi hùng mà Petunia gởi làm quà Giáng sinh (không phải lời phàn nàn đâu nhé).

Dĩ nhiên anh James thấy chuyện này buồn cười lắm, ảnh nói nó sẽ trở thành một cầu thủ Quidditch vĩ đại, nhưng tụi này phải cất đi hết những đồ trang trí trong nhà và chắc chắn phải để mắt tới nó mỗi khi nó bay.

Tụi này làm một bữa tiệc trà đơn giản mừng sinh nhật, chỉ có tụi này và bà cụ Bathilda, người luôn ân cần với tụi này và mê Harry như điếu đổ.

Tụi này tiếc là anh không thể đến được, nhưng công việc của Hội là ưu tiên số một, với lại Harry cũng chưa đủ lớn để biết đó là sinh nhật của nó!

Anh James hơi chán nản vì bị cầm chân ở đây, ảnh cố gắng không để lộ ra, nhưng em biết - và cũng vì thầy Dumbledore vẫn còn giữ tấm Áo khoác Tàng hình của ảnh, nên ảnh chẳng có dịp dạo chơi.

Nếu anh có thể đến chơi, thì sẽ khiến ảnh vui lên nhiều lắm.

Cuối tuần trước anh Đuôi Trùn có đến đây.

Em thấy ảnh có vẻ xuống tinh thần, nhưng có lẽ điều đó là tất nhiên sau vụ gia đình McKinnons.

Em đã khóc suốt đêm khi nghe chuyện.

Bà cụ Bathilda ghé chơi hầu như mọi ngày, bà là một kho đồ cũ hấp dẫn với nhiều câu chuyện lạ lùng về thầy Dumbledore.

Nếu thầy mà biết, em không chắc thầy hài lòng đâu!

Em không biết chuyện đáng tin được mấy phần, bởi vì thực ra dường như không thể tin được là thầy Dumbledore...

Tay chân Harry dường như đã tê liệt.

Nó đứng ngay đơ, cầm tờ giấy mầu nhiệm giữa những ngón tay xuội đi trong khi trong lòng trào dâng lặng lẽ điều gì đó tựa như niềm vui lẫn nỗi buồn, và chúng cùng tuôn chảy cuồn cuộn trong mạch máu với mức độ ngang nhau.

Lảo đảo lê đến bên giường, nó ngồi xuống.

Nó đọc lại lá thư một lần nữa, nhưng cũng chẳng hiểu thêm ý nghĩa nào khác hơn lần đọc đầu tiên, và nó chỉ còn đăm đăm nhìn nét chữ viết tay.

Má viết chữ 'g' giống y như chữ 'g' nó viết.

Nó dò khắp lá thư để tìm ra mọi chữ 'g', và cảm thấy mỗi chữ như một cái khẽ vẫy tay thân thiện thoáng hiện sau tấm mạng che.

Lá thư ấy là một kho báu phi thường, bằng chứng là má Lily đã từng sống, thực sự sống, và bàn tay ấm áp của má đã từng chuyển động ngang qua miếng giấy da này, lưu lại dấu mực trong những chữ này, những lời này, những lời về nó, Harry, con trai của má.

Nôn nóng gạt nước mắt, nó đọc lại lá thư, lần này tập trung vào ý nghĩa.

Giống như lắng nghe lại một giọng nói còn nhớ mang máng.

Gia đình mình từng có một con mèo... có lẽ nó đã tiêu tùng, như ba má ở Thung lũng Godric... hay là nó đã bỏ đi hoang khi không còn ai sống sót để cho nó ăn nữa...

Chú Sirius đã tặng cho nó cây chổi bay đầu tiên...

Ba má nó biết bà cụ Bathilda Bagshot; có phải thầy Dumbledore đã giới thiệu cho họ quen nhau?

Thầy Dumbledore vẫn giữ tấm Áo khoác Tàng hình của ba nó... có điều gì kỳ kỳ ở điểm này...

Harry ngừng lại, cân nhắc lời lẽ của má nó.

Tại sao thầy Dumbledore lại lấy tấm Áo khoác Tàng hình của ba James?

Harry còn nhớ rõ rành rành thầy hiệu trưởng nói với nó nhiều năm trước, “Ta không cần một tấm Áo khoác để trở nên vô hình.”

Có thể một Hội viên không được tài ba nào đó cần tấm Áo khoác hỗ trợ, và thầy Dumbledore đã hành động như người chuyển giao?

Harry cho qua...

Đuôi Trùn đây rồi...

Pettigrew, kẻ phản bội, dường như 'xuống tinh thần' thật sao?

Phải chăng hắn ý thức là hắn đang gặp gỡ ba James và má Lily lần cuối cùng?

Và cuối cùng lại bà cụ Bathilda, người kể những câu chuyện không thể tin được về cụ Dumbledore...

Chuyện gì không tin được về cụ Dumbledore?

Nhưng có cả tỷ chuyện ắt có vẻ không tin được về cụ Dumbledore; thí dụ như chuyện cụ đã từng bị điểm bẹt cùng trong kỳ kiểm tra môn Biến Hình, hay chuyện cụ cũng rù quến dê như cụ Aberforth...

Harry đứng dậy và chăm chú tìm khắp sàn: có thể phần còn lại của lá thư nằm đâu đó.

Nó chụp lấy mọi tờ giấy, háo hức xem xét, và cũng bất kính như kẻ lục soát trước đó, nó kéo ngăn tủ ra, xốc tung những cuốn sách, leo lên ghế đứng để vói tay tới đầu tủ quần áo, bò xuống dưới gầm giường và gầm ghế.

Cuối cùng, nằm sấp mặt trên sàn, nó ngó thấy một cái gì đó giống như một miếng giấy rách phía dưới cái tủ có ngăn kéo.

Khi nó kéo cái đó ra thì chính là tấm hình mà má Lily đã miêu tả trong thư.

Một đứa bé tóc đen đang bay gần rồi bay xa trong hình trên một cây chổi tí hon, cười khanh khách, và một cặp giò ắt hẳn là chân của ba James đang rượt theo nó.

Harry nhét tấm hình cùng với lá thư của má Lily vô túi áo và tiếp tục tìm tờ thứ hai của lá thư.

Nhưng sau một khắc đồng hồ, nó đành phải kết luận là phần còn lại của lá thư má nó đã bị mất rồi.

Liệu nửa lá thư đó chỉ đơn giản bị lạc mất trong khoảng mười sáu năm từ lúc thư được viết, hay đã bị kẻ nào đó lục soát căn phòng trước đây lấy đi?

Harry đọc lại phần đầu lá thư một lần nữa, lần này nhằm tìm xem những manh mối liên quan đến những điều có thể khiến cho phần còn lại của lá thư trở nên có giá trị.

Cây chổi đồ chơi của nó khó lòng được coi là thú vị đối với bọn Tử Thần Thực Tử...

Điều duy nhất coi bộ có giá trị mà nó thấy được ở đây có lẽ là thông tin về cụ Dumbledore.

Dường như không thể tin được là thầy Dumbledore...

Mà cái gì?

“Harry?

Harry!

Harry!”

“Mình ở đây!”

Nó gọi, “Chuyện gì vậy?”

Có tiếng chân dồn dập bên ngoài cánh cửa, và Hermione xông vào phòng.

“Tụi này thức dậy và không biết bồ ở đâu!”

Cô bé nói gần đứt hơi, rồi ngoái đầu ra sau la lớn, “Ron!

Mình tìm được nó rồi.”

Giọng bực bội của Ron văng vẳng vọng lại từ mấy tầng lầu bên dưới.

“Tốt!

Nói giùm mình nó là thằng cà chớn!”

“Harry ơi, làm ơn đừng biến đi đâu hết, tụi này lo lắm.

Mà nhân tiện hỏi, bồ lên đây để làm gì?”

Cô bé chăm chú ngó quanh căn phòng bị lục tùm lum.

“Bồ làm gì ở đây từ nãy giờ?”

“Coi thử cái mình vừa tìm thấy nè.”

Nó đưa lá thư của má nó ra.

Hermione cầm lấy và đọc trong khi Harry quan sát cô bé.

Khi đọc tới cuối tờ giấy cô bé ngước lên nhìn nó.

“Ôi Harry...”

“Và cái này nữa”

Nó đưa cô bé tấm hình rách, và Hermione mỉm cười với đứa bé bay gần rồi bay xa trên cây chổi đồ chơi.

“Mình đang tìm phần còn lại của lá thư,” Harry nói, “nhưng nó không có ở đây.”

Hermione liếc nhìn quanh.

“Bồ gây ra sự bừa bộn này, hay lúc bồ vô đây thì nó đã bừa bộn phần nào rồi?”

“Kẻ nào đó đã lục soát căn phòng trước mình,” Harry nói.

“Mình cũng vậy.

Phòng nào mình ngó vô trong lúc đi lên đây cũng bị xáo trộn hết.

Bồ nghĩ thử, chúng kiếm cái gì?”

“Thông tin về Hội, nếu đó là lão Snape.”

“Nhưng bồ có thấy là lão đã có mọi thông tin lão cần rồi không.

Mình muốn nói là lão đã từng ở trong Hội, đúng chưa?”

“Vậy thì,” Harry nói, hăm hở thảo luận giả thuyết của nó, “thông tin về cụ Dumbledore thì sao?

Trang thứ hai của lá thư chẳng hạn.

Bồ biết bà Bathilda mà má mình nhắc tới đó, bồ biết bả là ai không?”

“Ai?”

“Bathilda Bagshot, tác giả cuốn...”

“Một Lịch Sử Pháp Thuật,” Hermione nói, có vẻ hứng thú.

“Vậy là ba má bồ quen biết bà ấy?

Bà là một sử gia pháp thuật phi thường.”

“Và bà ta vẫn còn sống,” Harry nói, “và sống ở Thung lũng Godric.

Lúc ở đám cưới, bà dì Muriel của Ron có nói về bà ta.

Bà ta cũng biết về gia đình thầy Dumbledore.

Chắc nói chuyện với bà ta cũng khá hay đấy, đúng không?”

Nụ cười của Hermione dành cho nỗi ham thích của Harry có hơi quá bao dung.

Harry lấy lại lá thư và tấm hình, nhét chúng vào trong cái túi bùa đeo quanh cổ để khỏi phải nhìn cô bé và để lộ chân tướng mình.

“Mình hiểu tại sao bồ muốn nói chuyện với bà ấy về ba má bồ và cả thầy Dumbledore,” Hermione nói.

“Nhưng điều đó đâu có giúp tụi mình tìm ra những Trường Sinh Linh Giá, đúng không?”

Harry không trả lời, cô bé vội nói tiếp, “Harry à, mình biết bồ thực sự muốn đi đến Thung lũng Godric, nhưng mình sợ lắm.

Mình thấy sợ việc bọn Tử Thần Thực Tử đã tìm ra chúng ta quá dễ dàng vào ngày hôm qua.

Việc đó khiến mình linh cảm rõ hơn lúc nào hết là tụi mình nên tránh đến nơi mà ba má bồ được chôn cất.

Mình tin chắc là bọn chúng đang chờ bồ đến thăm nơi đó.”

“Không hẳn chỉ đi thăm,” Harry nói, vẫn tránh nhìn cô bé.

“Bà dì Muriel nói này nói nọ về thầy Dumbledore ở đám cưới.

Mình muốn biết sự thật...”

Nó kể cho Hermione nghe mọi chuyện bà dì Muriel nói với nó.

Khi nó kể xong, Hermione nói, “Đương nhiên, mình có thể hiểu tại sao những chuyện đó khiến bồ buồn bực như vậy, Harry à...”

“Mình đâu có buồn bực,” nó chối, “Mình chỉ muốn biết liệu đó là sự thật hay...”

“Harry, bồ có thực sự nghĩ rằng bồ sẽ tìm ra sự thật từ một bà già ác độc như bà dì Muriel, hay từ mụ Rita Skeeter không?

Sao bồ có thể tin họ được?

Bồ biết thầy Dumbledore mà!”

“Mình vẫn tưởng là mình biết,” nó lẩm bẩm.

“Nhưng bồ biết có bao nhiêu sự thật trong mọi thứ mụ Rita viết về bồ chứ!

Cụ Doge nói đúng, sao bồ có thể để cho những kẻ đó làm hoen ố ký ức của bồ về thầy Dumbledore hả?”

Harry ngoảnh mặt đi, cố gắng không để lộ nỗi ấm ức mà nó cảm thấy trong lòng.

Lại một lần nữa vấn đề đặt ra là chọn niềm tin.

Nó muốn biết sự thật.

Tại sao mọi người cứ một mực cho rằng nó không nên biết?

“Tụi mình xuống nhà bếp nhé?”

Hermione đề nghị sau khi ngừng một chút.

“Kiếm cái gì đó điểm tâm nha?”

Nó đồng ý, nhưng một cách bất đắc dĩ, đi theo cô bé ra đầu cầu thang và đi ngang qua cánh cửa thứ hai nơi cầu thang bắt đầu.

Có những dấu cào sâu vào lớp sơn phía dưới một tấm bảng nhỏ mà nó đã không chú ý lúc trời còn tối.

Nó đứng ngay đầu cầu thang để đọc.

Đó là một tấm bảng nhỏ kiểu cọ, nét chữ viết tay ngay ngắn, cái kiểu mà anh Percy Weasley rất có thể dán lên cửa phòng ngủ của ảnh.

Cấm Vào

Nếu Không Được Sự Cho Phép Của

Regulus Arcturus Black

Cơn hồi hộp chảy loang khắp người Harry, nhưng nó không biết chắc ngay tại sao.

Nó đọc lại tấm bảng một lần nữa.

Hermione đã xuống hết một tầng.

“Hermione,” Harry gọi, và nó ngạc nhiên sao giọng nó bình tĩnh như vậy, “Trở lên đây.”

“Có chuyện gì?”

“R.A.B.

Mình nghĩ mình đã tìm ra người đó.”

Một cái hả kinh ngạc, và rồi Hermione chạy ngược trở lên cầu thang.

“Trong lá thư của má bồ hả?

Nhưng mình đâu có thấy...”

Harry lắc đầu, chỉ vào tấm bảng của Regulus.

Cô bé đọc, rồi túm lấy cánh tay của Harry chặt đến nỗi nó nhăn mặt.

“Em của chú Sirius?”

Cô bé thì thầm.

“Hắn là một Tử Thần Thực Tử,” Harry nói.

“Chú Sirius đã kể cho mình nghe về hắn, hắn đã nhập bọn chúng khi còn rất trẻ, rồi tháu cáy và tìm cách ly khai - vì vậy bọn chúng giết hắn.”

“Hợp lý!”

Hermione nói trong hơi thở hổn hển.

“Nếu chú ấy là một Tử Thần Thực Tử thì chú đã tiếp cận với Voldemort, và nếu chú ấy vỡ mộng thì chú ấy ắt hẳn muốn lật đổ Voldemort!”

Cô bé buông tay Harry ra, chồm qua lan can cầu thang, và gào: “Ron ơi!

RON!

Lên đây, mau!”

Một phút sau Ron xuất hiện, thở hổn hển, đũa phép đã lăm le trong tay.

“Chuyện gì?

Nếu lại là bọn Nhền Nhện khổng lồ thì mình cần ăn sáng trước khi mình...”

Nó nhăn mặt ngó tấm bảng trên cửa phòng Regulus mà Hermione đang lặng lẽ chỉ.

“Cái gì?

Đó là em của chú Sirius, đúng không?

Regulus Arcturus...

Regulus...

R.A.B.!

Cái mặt dây chuyền... mấy bồ cho là...?”

“Tụi mình thử tìm hiểu coi,” Harry nói.

Nó đẩy cánh cửa: cửa bị khóa.

Hermione chĩa cây đũa phép của cô bé vào nắm đấm cửa mà hô: “Úm ba la mở ra.”

Một tiếng cách vang lên và cánh cửa mở tung.

Tụi nó cùng bước qua ngưỡng cửa một lúc, chăm chú ngó chung quanh.

Phòng ngủ của Regulus hơi nhỏ hơn phòng của chú Sirius một tí, mặc dù nó cũng tạo cảm giác là trước đây rất sang trọng.

Trong khi chú Sirius theo đuổi việc quảng bá cho sự khác biệt của chú với những người khác trong gia đình, thì Regulus cố gắng nhấn mạnh điều ngược lại.

Màu bạc và xanh ngọc bích của nhà Slytherin có khắp mọi nơi, từ vải trải giường, tường, đến cửa sổ.

Gia huy của giòng họ Black được sơn tỉ mỉ phía trên cái giường, cùng với câu phương châm: LUÔN THUẦN HUYẾT THỐNG[2].

Bên dưới là một bộ sưu tập những bài được cắt ra từ báo đã ố vàng, tất cả dán dính vào nhau làm thành một bộ tranh cắt dán te tua.

Hermione đi ngang qua phòng để đến xem xét cái đó.

“Tất cả những thứ này đều nói về Voldemort,” cô bé nói.

“Chú Regulus dường như là người hâm mộ suốt mấy năm trước khi gia nhập bọn Tử Thần Thực Tử...”

Một đám bụi nhỏ bốc lên từ những tấm phủ giường khi cô bé ngồi xuống đọc mấy mẩu cắt dán.

Trong khi đó Harry chú ý đến một tấm hình khác: một đám cầu thủ Quidditch Hogwarts đang mỉm cười và từ trong khung hình vẫy vẫy tay.

Nó đi tới gần hơn và thấy huy hiệu hình con rắn trên ngực áo các cầu thủ: học sinh nhà Slytherin.

Có thể nhận ra ngay tức thì Regulus là cầu thủ đứng chính giữa hàng đầu: cũng mái tóc đen và vẻ mặt hơi kiêu giống như người anh, mặc dù nhỏ hơn, mảnh khảnh hơn, và không đẹp trai như chú Sirius hồi xưa.

“Hắn chơi vai Tầm thủ,” Harry nói.

“Cái gì?”

Hermione nói giọng mơ hồ; cô bé vẫn còn chìm đắm trong mớ báo cắt dán về Voldemort.

“Hắn ngồi ở chính giữa hàng đầu, đó là vị trí của Tầm thủ... mà đừng bận tâm chi,” Harry nói, khi nhận ra chẳng ai lắng nghe nó cả.

Ron đang bò lổm ngổm, lục tìm dưới gầm tủ quần áo.

Harry nhìn quanh phòng tìm những nơi có vẻ là nơi giấu đồ và nó đi tới gần cái bàn giấy.

Nhưng ở đây cũng vậy, đã bị ai đó lục soát trước tụi nó rồi.

Những thứ bên trong ngăn kéo đã bị lật tung mới đây thôi, lớp bụi bị khuấy lên, nhưng chẳng có gì đáng giá trong đó: viết lông ngỗng cũ, sách giáo khoa quá xưa còn mang bằng chứng chúng bị đối xử thô bạo, một bình mực mới bị bể, phần mực còn lại dinh dính làm lem hết những thứ bên trong ngăn kéo.

“Có một cách dễ hơn,” Hermione nói, trong khi Harry chùi mấy ngón tay dính mực lên quần bò của nó.

Cô bé giơ cây đũa phép lên và hô: “Mặt dây chuyền lại đây!”

Chẳng có gì xảy ra.

Ron, đang xem xét những nếp gấp của tấm màn đã ngả màu, tỏ vẻ thất vọng.

“Vậy đành chịu hả?

Không có ở đây sao?”

“À, nó có thể vẫn còn ở đây, nhưng bị ếm phép-phản-bùa.”

Hermione nói.

“Bồ biết đó, là mấy phép ngăn không cho nó bị triệu tập bằng pháp thuật ấy mà.”

“Giống như Voldemort đặt cái chậu đá trong hang,” Harry nói, nhớ ra nó đã không thể nào triệu tập được cái mặt dây chuyền giả.

“Vậy tụi mình làm sao kiếm ra nó?”

Ron hỏi.

“Tụi mình xài tay xài mắt của mình thôi,” Hermione nói.

“Ý kiến hay dữ à,” Ron nói, đảo tròn con mắt, rồi tiếp tục xem xét tấm màn.

Tụi nó lục lọi từng phân một của căn phòng trong hơn một giờ đồng hồ, nhưng cuối cùng đành phải kết luận là cái mặt dây chuyền không có ở đó.

Mặt trời bây giờ đã lên cao, ánh nắng làm tụi nó lóa mắt cho dù nắng chiếu qua ô cửa sổ cầu thang đầy bụi.

“Nhưng nó có thể ở đâu đó trong căn nhà,” Hermione nói giọng cố lấy lại niềm hy vọng.

Trong khi Ron và Harry đã hơi thối chí, cô bé dường như lại quyết tâm hơn.

“Cho dù chú ấy đã tiêu hủy nó hay chưa, thì chú ấy cũng muốn giấu nó khỏi Voldemort, đúng không?

Có nhớ tất cả những thứ kinh khủng mà tụi mình phải dọn dẹp khi tụi mình ở đây lần trước không?

Cái đồng hồ phóng tia sét vào mọi người và mấy bộ áo chùng cứ tính bóp cổ Ron; chắc là chú Regulus bày chúng ở đó để bảo vệ chỗ giấu cái mặt dây chuyền, mặc dù tụi mình chẳng hề nhận ra nó vào... vào...”

Harry và Ron nhìn cô bé.

Hermione đứng với một chân giơ lên không trung, vẻ mặt sững sờ của một kẻ vừa bị trúng bùa Lú Lẫn: thậm chí mắt cô bé cũng mất cả tập trung.

“... vào lúc đó,” cô bé thì thào nói nốt.

“Có cái gì hả?”

Ron hỏi.

“Có một cái mặt dây chuyền.”

“Cái gì?”

Harry và Ron cùng nói.

“Trong ngăn tủ ở phòng khách.

Không ai có thể mở được nó.

Và tụi mình... tụi mình...”

Harry có cảm giác như một cục gạch đã tuột khỏi ngực để rớt vào bao tử nó.

Nó nhớ lại.

Nó thậm chí đã cầm cả cái vật đó trong tay khi tụi nó chuyền tay nhau, mỗi đứa thay phiên nhau cố cạy cái nắp hộp ra.

Cái vật đó đã bị liệng thùng rác, cùng với hộp đựng bột thuốc lá Wartcap và hộp nhạc ru mọi người ngủ gục...

“Kreacher mót lại cả đống đồ tụi mình liệng đi,” Harry nói.

Đó là cơ may duy nhất, niềm hy vọng mong manh còn sót lại cho tụi nó, và nó quyết bám lấy cho đến khi nào bị buộc phải buông ra.

“Nó có cả một kho giấu đồ trong tủ chén của nó trong nhà bếp.

Đi thôi.”

Harry chạy xuống cầu thang, nhảy hai bậc một, hai đứa kia đùng đùng chạy theo sát gót.

Tụi nó gây ra nhiều tiếng ồn đến nỗi bức chân dung của bà mẹ chú Sirius bị đánh thức khi tụi nó chạy xuyên qua hành lang.

“Bẩn thỉu!

Đồ Máu Bùn!

Cặn bã!”

Bà gào theo trong lúc tụi nó phóng xuống nhà bếp dưới tầng hầm và đóng sập cánh cửa lại sau lưng.

Harry chạy hết chiều dọc căn phòng, đứng khựng lại trước cánh cửa cái tủ chén của Kreacher, và vặn mở ra.

Một mớ mền cũ dơ hầy mà trước đây Kreacher từng nằm ngủ, nhưng cái ổ mền này giờ không còn lấp lánh những món trang trí rẻ tiền mà Kreacher mót lượm được nữa.

Vật duy nhất có trong đó là một bản sách cũ: Giới Quý Tộc Của Thiên Nhiên: Một Bảng Phả Hệ Phù Thủy.

Không chịu tin vào mắt mình, Harry chụp lấy mấy cái mền và rũ tung chúng.

Một con chuột chết rớt ra và lăn lóc một cách thảm sầu xuống sàn nhà.

Ron vừa rên lên vừa quăng mình xuống một cái ghế nhà bếp; Hermione nhắm mắt lại.

“Chưa hết hy vọng!”

Harry nói, và nó cất cao giọng gọi, “Kreacher!”

Một tiếng rắc thật to vang lên và con gia tinh mà Harry đã thừa kế một cách vô cùng bất đắc dĩ từ chú Sirius đột ngột từ cõi không hiện ra trước cái lò sưởi trống trơn lạnh lẽo: nhỏ xíu, chỉ bằng một nửa kích thước con người, da tái mét nhăn nheo bọc xương, tóc trắng phau mọc lỉa chỉa từ sau vành tai giống cánh dơi.

Y vẫn còn mặc miếng giẻ rách dơ hầy mà y đã mặc khi gặp tụi nó lần đầu tiên, và cái vẻ khinh khỉnh khi y cúi chào Harry cho thấy thái độ của y đối với sự thay thầy đổi chủ chẳng thay đổi gì hơn bộ dạng bên ngoài của y.

“Chủ nhân,” Kreacher khào khào nói bằng giọng ếch đực, và cúi rạp xuống lẩm bẩm với đầu gối của y, “đã trở về ngôi nhà xưa của Nữ Chủ nhân tôi với thằng phản bội huyết thống Weasley và con Máu Bùn...”

“Ta cấm mi gọi bất cứ ai là 'phản bội huyết thống' hay 'Máu Bùn',” Harry làu bàu.

Nó coi Kreacher, mũi dài như vòi và mắt toét đỏ ngầu, là một đối tượng đặc biệt khó ưa, ngay cả trong trường hợp con gia tinh này không bán đứng chú Sirius cho Voldemort đi nữa.

“Ta có một câu muốn hỏi mi,” Harry nói, tim nó đập hơi nhanh khi ngó xuống con gia tinh, “và ta ra lệnh cho mi thành thật trả lời.

Hiểu không?”

“Dạ, thưa chủ nhân,” Kreacher nói, lại cúi rạp xuống.

Harry thấy môi y nhép nhép không thành tiếng, chắc hẳn là đang ghìm lại những lời sỉ nhục mà bây giờ y đã bị cấm thốt ra.

“Cách đây hai năm,” Harry nói, trái tim nó đang dộng ình ình vào be sườn, “có một cái mặt dây chuyền vàng rất to trong phòng khách trên lầu.

Tụi này đã quăng nó đi.

Mi có lấy cắp nó lại không?”

Im lặng một lúc, suốt lúc đó Kreacher đứng thẳng lên để nhìn tận mặt Harry.

Rồi y nói, “Có.”

“Bây giờ nó ở đâu?”

Harry hớn hở hỏi, Ron và Hermione tỏ ra mừng rỡ.

Kreacher nhắm mắt lại như thể y không thể nào chịu đựng nổi việc nhìn thấy những phản ứng đối với lời nói tiếp theo của y:

“Mất.”

“Mất?”

Harry lặp lại, sự hân hoan bay thoát khỏi người nó, “Mi muốn nói gì?

Mất à?”

Con gia tinh rùng mình.

Y lắc lư.

“Kreacher,” Harry nói giọng dữ tợn, “Ta ra lệnh cho mi...”

“Mundungus Fletcher,” con gia tinh rầu rĩ thốt lên, mắt y vẫn còn nhắm nghiền.

“Mundungus Fletcher đã ăn cắp hết.

Tranh của tiểu thư Bella và tiểu thư Cissy, găng tay của Phu nhân, huy chương Merlin đệ nhất đẳng, những cái cốc có gia huy, và... và...”

Kreacher há miệng hớp không khí: bộ ngực lép của y nhô lên xẹp xuống gấp gáp, rồi mắt y mở bừng ra và thét lên một tiếng rú kinh hoàng.

“... và cái mặt dây chuyền, cái mặt dây chuyền của cậu chủ Regulus.

Kreacher đã làm sai, Kreacher không thực hiện được lệnh của cậu chủ!”

Harry phản ứng theo bản năng: khi Kreacher nhào tới chụp cây sắt cời lửa dựng gần vỉ lò sưởi, Harry cũng lao mình nhào vô con gia tinh đè y nằm bẹp dưới sàn.

Tiếng hét của Hermione hòa lẫn tiếng rú của Kreacher, nhưng Harry rống to hơn cả hai, “Kreacher, ta ra lệnh cho mi nằm yên!”

Harry cảm thấy con gia tinh cứng đờ, bèn buông y ra.

Con gia tinh nằm bẹp dí trên sàn đá lạnh, nước mắt trào ra từ hai con mắt lõm sâu.

“Harry, cho ổng đứng dậy!”

Hermione thì thầm.

“Để nó có thể tự đánh nó bằng cây sắt cời lửa hả?”

Harry thở phì phèo, vẫn quỳ bên cạnh con gia tinh.

“Mình không đồng ý.

Này, Kreacher, ta muốn biết sự thật.

Làm sao mi biết lão Mundungus Fletcher đã đánh cắp cái mặt dây chuyền?”

“Kreacher thấy hắn!”

Con gia tinh nói trong tiếng thở hổn hển trong khi nước mắt tuôn qua cái mũi dài ngoằng chảy vào cái miệng đầy răng xám xịt.

“Kreacher thấy hắn đi ra khỏi cái tủ của Kreacher hai tay ôm đầy kho báu của Kreacher.

Kreacher bảo tên đạo chích đứng lại, nhưng Mundungus Fletcher phá lên cười rồi ch... chạy...”

“Mi nói cái mặt dây chuyền của cậu chủ Regulus,” Harry nói.

“Tại sao?

Cái đó có nguồn gốc ở đâu?

Chú Regulus làm gì với nó?

Kreacher, ngồi dậy và nói cho ta biết mọi thứ mi biết về cái mặt dây chuyền, và mọi việc chú Regulus đã làm liên quan tới cái mặt dây chuyền đó!”

Con gia tinh ngồi dậy, co ro như một trái banh, úp bộ mặt ướt nhẹp của y vào hai đầu gối, và bắt đầu lắc lư từ sau ra trước và từ trước ra sau.

Khi y nói, giọng của y nghèn nghẹn nhưng vẫn nghe rõ ràng trong căn nhà bếp im ắng vang vang.

“Cậu chủ Sirius bỏ đi, một sự giải thoát, bởi vì cậu ấy là một kẻ hư hỏng và cách sống bừa bãi của cậu ấy làm tan nát trái tim Bà chủ.

Nhưng cậu chủ Regulus có niềm kiêu hãnh đúng đắn; cậu biết điều gì xứng đáng với cái tên Black và phẩm giá huyết thống thuần chủng của cậu.

Suốt nhiều năm trời cậu chủ nói về Chúa tể Hắc ám, người sẽ đưa các pháp sư ra khỏi sự trốn tránh để cai trị bọn Muggle và bọn có gốc Muggle... và khi tròn mười sáu tuổi, cậu chủ Regulus đi theo Chúa tể Hắc ám.

Tự hào lắm, tự hào vô cùng, hạnh phúc vô cùng được phục vụ...

Và một hôm, một năm sau ngày gia nhập, cậu chủ Regulus xuống nhà bếp để gặp Kreacher.

Cậu chủ Regulus luôn luôn thích Kreacher.

Và cậu chủ Regulus nói...

Cậu chủ nói...”

Con gia tình già lắc lư nhanh hơn bao giờ hết:

“... cậu chủ nói là Chúa tể Hắc ám đòi có một gia tinh.”

“Voldemort cần một gia tinh à?”

Harry lặp lại, nhìn qua Ron và Hermione, hai đứa đó cũng hoang mang như nó.

“Dạ phải,” Kreacher rên rỉ.

“Và cậu chủ Regulus đã tình nguyện hiến Kreacher.

Đó là một vinh dự, cậu chủ Regulus nói, một vinh dự cho cậu và cho Kreacher, kẻ chắc chắn sẽ làm bất cứ điều gì mà Chúa tể Hắc ám ra lệnh cho y làm... và sau đó tr... trở về nhà.”

Kreacher lắc lư nhanh hơn, y thở trong tiếng nức nở.

“Thế là Kreacher đi gặp Chúa tể Hắc ám.

Chúa tể Hắc ám không nói cho Kreacher biết việc họ sắp làm, chỉ đem Kreacher đi cùng ngài đến một cái hang bên bờ biển.

Và xa hơn cái hang đó là một cái hang lớn nữa, và trong cái hang lớn có một cái hồ đen...”

Tóc gáy của Harry dựng đứng lên.

Giọng rền rĩ của Kreacher nghe dường như vọng đến nó từ bên kia mặt nước đen.

Nó nhìn thấy những gì đã xảy ra, rõ ràng như thể nó đã có mặt ở đó.

“...

Có một chiếc thuyền...”

Dĩ nhiên là đã có một chiếc thuyền; Harry biết chiếc thuyền đó, nhỏ xíu và xanh rờn rợn, bị phù phép để chỉ có thể đưa một người kèm theo một nạn nhân hướng ra hòn đảo ở giữa hồ.

Vậy ra đây là cách Voldemort kiểm tra việc phòng vệ chung quanh cái Trường Sinh Linh Giá, bằng cách mượn một sinh linh có thể vứt đi, một gia tinh...

“Có một cái ch... chậu đầy thuốc độc ở trên đảo.

Ch...

Chúa tể Hắc ám bắt Kreacher uống thuốc đó...”

Con gia tinh run rẩy từ đầu đến chân.

“Kreacher đã uống, và khi uống Kreacher đã thấy chuyện kinh khủng... ruột gan Kreacher cháy bỏng...

Kreacher thét gọi cậu chủ Regulus cứu giúp mình, Kreacher thét gọi Nữ Chủ nhân Black, nhưng Chúa tể Hắc ám chỉ cười...

Ngài bắt Kreacher uống tất cả thuốc độc đó...

Ngài thả một cái mặt dây chuyền vô trong cái chậu rỗng... ngài đổ thêm thuốc độc vô đầy chậu.

“Và sau đó Chúa tể Hắc ám giong buồm ra đi, bỏ lại Kreacher trên đảo...”

Harry có thể thấy cả việc đó như đang xảy ra.

Nó thấy gương mặt trắng bệch giống như mặt rắn của Voldemort biến mất vào bóng tối, hai con mắt đỏ nhìn không chút xót thương con gia tinh đang giẫy giụa mà cái chết sẽ đến chỉ trong phút chốc, khi y không thể chịu đựng hơn nữa cơn khát cùng cực mà chất độc cháy bỏng đó gây ra cho nạn nhân...

Nhưng tới đây, trí tưởng tượng của Harry không thể đi xa hơn nữa, bởi vì nó không thể hiểu Kreacher đã thoát ra được bằng cách nào.

“Kreacher cần nước, Kreacher bò tới mép đảo và uống nước hồ đen... và những bàn tay, những bàn tay chết, thò lên khỏi mặt nước và lôi Kreacher xuống dưới mặt nước...”

“Làm sao mi thoát ra?”

Harry hỏi, và nó không ngạc nhiên khi thấy chính mình thì thầm.

Kreacher ngẩng cái đầu xấu xí lên nhìn Harry bằng đôi mắt to đỏ quạch.

“Cậu chủ Regulus bảo Kreacher trở về,” Kreacher nói.

“Tôi biết... nhưng làm cách nào mi thoát được bọn m binh?”

Kreacher dường như không hiểu.

“Cậu chủ Regulus bảo Kreacher trở về,” y lặp lại.

“Ta biết, nhưng...”

“Ôi, quá rõ ràng, không thấy sao, Harry?”

Ron nói.

“Nó Độn thổ!”

“Nhưng... người ta không thể Độn thổ vô hay ra cái hang đó,” Harry nói, “nếu không thầy Dumbledore...”

“Pháp thuật của giới gia tinh không giống pháp thuật của giới phù thủy, đúng không?”

Ron nói, “Ý mình nói là, họ có thể Hiện hình hay Độn thổ ra vô trường Hogwarts trong khi tụi mình đâu có làm được.”

Mọi người im lặng trong lúc Harry tiêu hóa điều này.

Làm sao mà Voldemort có thể phạm một sai lầm như vậy?

Nhưng trong khi nó còn đang suy nghĩ về việc này thì Hermione đã nói ra, giọng cô bé hơi lạnh.

“Dĩ nhiên, Voldemort hẳn coi trình độ của giới gia tinh còn lâu mới đáng cho hắn để ý tới...

Hắn ắt chưa bao giờ nghĩ tới chuyện gia tinh có những pháp thuật mà hắn không có.”

“Luật lệ tối cao của gia tinh là mệnh lệnh của chủ nhân” Kreacher nói giọng xướng ngâm.

“Kreacher được lệnh về nhà, vì vậy Kreacher trở về nhà...”

“Vậy là, ông đã làm cái điều người ta bảo ông làm, phải không?”

Hermione ân cần nói.

“Ông không hề bất tuân lệnh chủ!”

Kreacher lắc đầu, lắc lư nhanh chưa từng thấy.

“Vậy chuyện gì xảy ra khi mi trở về?”

Harry hỏi.

“Regulus nói gì khi mi kể cho ông ấy nghe chuyện đã xảy ra?”

“Cậu chủ Regulus rất lo lắng, rất lo lắng,” Kreacher rền rĩ.

“Cậu chủ Regulus bảo Kreacher ẩn mặt và không được ra khỏi nhà.

Và rồi...

ít lâu sau đó... một buổi tối cậu chủ Regulus đến tìm Kreacher trong cái tủ chén, và cậu chủ Regulus rất lạ, không giống với cậu chủ thường ngày, Kreacher có thể nói, đầu óc của cậu chủ bị hoang mang rối rắm... và cậu chủ bảo Kreacher đưa cậu chủ đến cái hang đó, cái hang mà Kreacher đã đến với Chúa tể Hắc ám...”

Và thế là cả hai ra đi.

Harry có thể hình dung ra họ khá rõ ràng, con gia tinh già khiếp sợ và tay Tầm thủ gầy ngăm đen rất giống chú Sirius...

Kreacher biết cách mở cái cửa đã bị ếm bùa để vào hang động ngầm dưới đất, biết cách nâng cái thuyền nhỏ xíu lên: lần này chính cậu chủ kính yêu của y giong thuyền cùng y ra hòn đảo có cái chậu thuốc độc...

“Và chú ấy đã bắt mi uống thuốc độc hả?”

Harry nói, ghê tởm.

Nhưng Kreacher lắc đầu và khóc.

Hai bàn tay của Hermione đột ngột đưa lên bưng lấy miệng: dường như cô bé vừa hiểu ra điều gì đó.

“Cậu ch... chủ Regulus lấy từ trong túi của cậu ra một cái mặt dây chuyền giống như cái của Chúa tể Hắc ám,” Kreacher nói, nước mắt chảy dài xuống hai bên cái mũi dài ngoằng.

“Và cậu chủ bảo Kreacher cầm lấy cái đó và tráo với cái mặt dây chuyền trong chậu sau khi cái chậu cạn...”

Tiếng khóc nức nở của Kreacher giờ đây trở nên lu loa the thé khiến Harry phải tập trung hết sức mới hiểu được y.

“Và cậu chủ ra lệnh...

Kreacher phải đi... không có cậu chủ.

Và cậu chủ bảo Kreacher...

đi về nhà... và không bao giờ nói cho Nữ chủ nhân biết... chuyện cậu chủ đã làm... mà phải tiêu hủy... cái mặt dây chuyền thứ nhất.

Và cậu chủ uống... tất cả thuốc độc... và Kreacher đánh tráo hai cái mặt dây chuyền... và nhìn... khi cậu chủ Regulus... bị lôi xuống dưới mặt nước... và...”

“Ôi, Kreacher!”

Hermione đang khóc bỗng thét lên đau đớn.

Cô bé đã khuỵu đầu gối quỳ xuống bên cạnh con gia tinh và toan ôm lấy y.

Ngay lập tức con gia tinh đứng bật dậy, né xa cô bé, thái độ cự tuyệt rõ ràng.

“Con Máu Bùn chạm vào Kreacher, Kreacher không cho phép làm vậy, Nữ chủ nhân của Kreacher sẽ nói gì?”

“Ta đã bảo mi không được gọi cô ấy là 'Máu Bùn'!”

Harry quát, nhưng con gia tinh đã bắt đầu tự trừng phạt mình.

Y ngã lăn xuống đất và dộng trán xuống sàn nhà.

“Ngăn ổng lại!

Ngăn ổng lại!”

Hermione kêu la.

“Ôi, bây giờ mấy bồ thấy cách thức các gia tinh phải tuân lệnh tởm lợm như thế nào chưa?”

“Kreacher... ngừng lại, ngừng ngay!”

Harry hét.

Con gia tinh nằm trên sàn, thở hổn hển và run rẩy, mũi dãi xanh rờn bóng nhẫy quanh cái mũi dài ngoằng của y, một vết bầm đã nổi lên trên cái trán vàng ệch, chỗ y tự dộng xuống sàn, hai con mắt y sưng mọng, đỏ ngầu, và lai láng nước mắt.

Harry chưa từng thấy cái gì đáng thương như vậy.

“Vậy là mi đem cái mặt dây chuyền về nhà,” nó nói giọng không thương xót, bởi vì nó cương quyết tìm hiểu toàn bộ câu chuyện.

“Và mi đã tiêu hủy nó?”

“Kreacher làm gì cũng không để lại được chút xây xát nào lên cái đó,” con gia tinh than vãn.

“Kreacher đã thử mọi cách, mọi cách mà Kreacher biết, nhưng không cách nào, không cách nào có kết quả...

Cái hộp bị ếm quá nhiều bùa phép đầy uy lực, Kreacher biết chắc chắn cách tiêu hủy nó là phải vô tuốt bên trong nó, nhưng nó không chịu mở ra...

Kreacher đã tự phạt mình, đã cố gắng lần nữa, rồi lại tự phạt mình, rồi lại cố gắng lần nữa.

Kreacher không thực hiện được mệnh lệnh, Kreacher không thể tiêu hủy cái mặt dây chuyền!

Và Nữ chủ nhân của Kreacher phát điên vì buồn khổ, bởi vì cậu chủ Regulus biến mất và Kreacher không thể nói cho bà biết chuyện gì đã xảy ra, không, bởi vì cậu chủ Regulus đã cấm... cấm... cấm Kreacher nói cho bất cứ ai trong gia đình biết chuyện xảy ra trong cái... cái... cái hang động...”

Kreacher bắt đầu bù lu bù loa đến nỗi chẳng còn nghe ra được lời nào mạch lạc nữa.

Nước mắt lăn dài xuống hai má của Hermione khi cô bé nhìn Kreacher, nhưng cô bé không dám đụng tới y một lần nữa.

Ngay cả Ron, kẻ không hề có cảm tình với gia tinh, cũng bối rối.

Harry ngồi lại trên gót chân và lắc lắc đầu, cố gắng làm cho đầu óc nó sáng ra.

“Ta không hiểu nổi mi, Kreacher à,” cuối cùng nó nói.

“Voldemort toan giết mi, Regulus chết để hạ bệ Voldemort, nhưng mi vẫn vui vẻ bán đứng chú Sirius cho Voldemort là sao?

Mi đã hớn hở đi gặp Narcissa và Bellatrix, và thông qua họ chuyển thông tin cho Voldemort...”

“Harry à, Kreacher không suy nghĩ như vậy đâu,” Hermione nói, vừa lau nước mắt bằng mu bàn tay mình.

“Ông ta là một nô lệ; gia tinh đã quen với sự đối xử tồi tệ, thậm chí tàn bạo; điều mà Voldemort làm đối với Kreacher cũng chẳng tàn ác hơn lề thói thông thường là mấy.

Chiến tranh phù thủy thì có ý nghĩa gì đối với một gia tinh như Kreacher chứ?

Ông ta chỉ trung thành với người nào tử tế với ông ta, và bà Black ắt đã đối xử như vậy, và chú Regulus chắc chắn cũng đã làm vậy, cho nên ông ta sẵn lòng phụng sự họ và là cái loa phát ra niềm tin của họ mà thôi.

Mình biết điều bồ sắp nói,” cô bé nói tới khi Harry mở miệng phản đối, “rằng chú Regulus đã thay đổi ý định... nhưng chú ấy dường như chưa giải thích cho Kreacher điều đó, đúng không?

Và mình biết tại sao.

Kreacher và gia đình chú Regulus được an toàn nhất nếu họ cứ đứng trong hàng ngũ thuần huyết thống.

Chú Regulus đã cố gắng bảo vệ tất cả gia đình.”

“Chú Sirius...”

“Chú Sirius rất tệ đối với Kreacher, Harry à, và đừng làm ra cái vẻ đó, chẳng ích gì, bồ biết là đúng như vậy mà.

Kreacher đã cô độc trong suốt một thời gian dài trước khi chú Sirius trở về sống ở đây, và có lẽ ông ta đã thèm khát chút ân cần thông cảm, và mình chắc chắn 'Tiểu thư Cissy' và 'Tiểu thư Bella' cực kỳ dễ thương đối với Kreacher khi ông ta tìm đến họ, vì vậy ông ta đền đáp bằng cách nói với họ tất cả những gì họ muốn biết.

Mình đã nói suốt từ đầu là phù thủy sẽ phải trả giá cho cách thức họ đối xử với những gia tinh.

Ừ, Voldemort đã lãnh đủ... và chú Sirius cũng vậy.”

Harry không cãi lại.

Khi nó nhìn Kreacher thổn thức trên sàn, nó nhớ cụ Dumbledore đã từng nói với nó, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau cái chết của chú Sirius: Thầy không nghĩ là chú Sirius từng coi Kreacher như một sinh linh có tình cảm tế nhị như tình cảm của con người...

“Kreacher à,” một lúc sau Harry nói, “khi nào mi cảm thấy được thì...

ơ... làm ơn ngồi dậy.”

Kreacher nấc nghẹn hết mấy phút rồi mới nín khóc được.

Sau đó y lại tự lôi mình dậy trong tư thế ngồi, dụi mắt bằng mấy khớp ngón tay y như một đứa con nít.

“Kreacher à, tôi muốn nhờ ông làm một việc,” Harry nói.

Nó liếc qua Hermione để mong được giúp đỡ.

Nó muốn ra lệnh một cách tử tế, nhưng đồng thời nó lại không thể giả bộ như đó không phải là một mệnh lệnh.

Tuy nhiên sự đổi giọng của nó dường như được Hermione tán thành: cô bé mỉm cười khuyến khích.

“Kreacher à, tôi muốn ông, làm ơn đi tìm lão Mundungus Fletcher.

Chúng ta cần tìm ra cái mặt dây chuyền... cái mặt dây chuyền của cậu chủ Regulus ở đâu.

Chuyện này rất quan trọng.

Chúng ta muốn hoàn tất công việc mà cậu chủ Regulus đã khởi đầu, chúng ta muốn...

ờ... bảo đảm là chú ấy đã không chết một cách vô ích.”

Kreacher buông thõng nắm tay xuống và ngước lên nhìn Harry.

“Đi tìm Mundungus Fletcher ư?”

Y rên rỉ.

“Và đưa lão về đây, về Quảng trường Grimmauld,” Harry nói.

“Ông thấy ông có thể làm được việc đó cho chúng ta không?”

Khi Kreacher gật đầu và đứng lên, Harry bỗng nổi hứng.

Nó rút ra cái túi bùa của bác Hagrid cho và lấy ra cái Trường Sinh Linh Giá giả, cái mặt dây chuyền đánh tráo mà Regulus đã để lại trong đó lời nhắn cho Voldemort.

“Kreacher à, tôi...

ơ... muốn ông giữ cái này,” Harry nói, ấn cái mặt dây chuyền vào tay con gia tinh.

“Cái này vốn là của chú Regulus và tôi chắc là chú ấy muốn ông giữ nó như một kỷ vật của lòng biết ơn về những gì ông đã...”

“Tuyệt chiêu!”

Ron nói khi con gia tinh vừa ngó thấy cái mặt dây chuyền đã rú lên một tiếng đầy sửng sốt và đau thương, rồi tự lăn đùng ra mặt đất.

Gần nửa tiếng đồng hồ sau tụi nó mới dỗ yên được Kreacher, con gia tinh có vẻ xúc động quá mức vì được tặng một vật gia bảo của gia đình Black để làm của riêng nên đầu gối y nhũn cả ra không thể đứng đàng hoàng được.

Cuối cùng khi y có thể chập chững đi vài bước, cả đám cùng theo y đi tới cái tủ chén giang sơn của y, nhìn y nhét kỹ cái mặt dây chuyền vô đống mền dơ hầy, và cam đoan với y là tụi nó sẽ coi việc bảo vệ cái mặt dây chuyền đó là ưu tiên số một của tụi nó khi y đi vắng.

Lúc đó y bèn cúi rạp mình hai cái trước Harry và Ron, thậm chí còn làm một động tác cà giựt mắc cười về phía Hermione, động tác đó rất có thể là một nỗ lực giơ tay chào trân trọng, trước khi y Độn thổ trong một tiếng nổ tạch thiệt to.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 11: Quà hối lộ


Quà hối lộ

Nếu Kreacher có thể thoát được một cái hồ đầy âm binh, thì Harry tin chắc việc bắt lão Mundungus chỉ tốn vài tiếng đồng hồ là cùng, nên nó lê la khắp nhà suốt cả buổi sáng trong một trạng thái mong ngóng căng thẳng.

Nhưng Kreacher không trở về trong buổi sáng hôm đó, thậm chí đến chiều cũng không về.

Khi trời tối, Harry cảm thấy nản lòng và lo lắng, và bữa ăn tối gồm chủ yếu là món bánh mì mốc đã bị Hermione thử nhiều kiểu biến hóa vẫn không xong cũng chẳng giúp được gì.

Kreacher không trở về vào ngày hôm sau, mà hôm sau nữa cũng không về.

Tuy nhiên, ở quảng trường bên ngoài tòa nhà số mười hai lại xuất hiện hai kẻ mặc áo choàng, và chúng ở lì chỗ đó đến tối, chăm chăm nhìn về phía ngôi nhà mà chúng không thể nhìn thấy.

“Chắc chắc là bọn Tử Thần Thực Tử,” Ron nói, khi nó, Harry và Hermione dòm ra từ cửa sổ phòng khách.

“Liệu chúng có biết tụi mình ở đây không?”

“Mình nghĩ là không,” Hermione nói, mặc dù trông cô bé có vẻ sợ hãi.

“Chứ nếu biết thì chúng đã phái lão Snape đến bắt tụi mình rồi, đúng không?”

“Bồ có cho là lão đã từng đến đây và bị lời nguyền của thầy Moody trói lưỡi không?”

“Có,” Hermione nói.

“Chứ không thì lão đã có thể nói cho bọn kia biết cách vô trong này rồi, đúng không?

Nhưng có lẽ bọn chúng đang canh chừng coi tụi mình có xuất hiện không.

Xét cho cùng, chúng biết Harry là chủ nhà này mà.”

“Làm sao chúng...”

Harry mới mở miệng nói.

“Không nhớ hả, di chúc pháp thuật bị Bộ kiểm tra mà?

Họ tất phải biết thầy Sirius để lại căn nhà này cho bồ.”

Sự hiện diện của bọn Tử Thần Thực Tử ở bên ngoài làm tăng thêm tình trạng bất ổn bên trong ngôi nhà số mười hai.

Kể từ lúc có tin nhắn do Thần Hộ mệnh của ông Weasley đem tới, tụi nó không nghe thêm được tin nào từ bất cứ ai ở ngoài quảng trường Grimmauld, và sự căng thẳng bắt đầu lộ ra.

Bồn chồn và cáu kỉnh, Ron đã phát sinh ra một thói quen phiền nhiễu là vọc cái Tắt sáng trong túi nó.

Chuyện này đặc biệt chọc Hermione tức điên lên, cô bé giết thì giờ trong khi chờ đợi Kreacher bằng cách nghiên cứu Những Chuyện Kể của Beedle Người Hát Rong và không tán thưởng được cái cách đèn cứ chớp tắt chớp sáng.

“Bồ có thôi đi không!”

Cô bé gào lên vào đêm thứ ba kể từ lúc Kreacher vắng mặt, khi tất cả ánh sáng lại bị hút khỏi căn phòng khách một phen nữa.

“Xin lỗi, xin lỗi!”

Ron nói, bấm cái Tắt sáng để trả lại ánh sáng cho những ngọn đèn.

“Mình không biết mình đang làm vậy.”

“Sao, bồ không thể kiếm ra việc gì có ích mà làm à?”

“Như việc gì, đọc truyện trẻ con hả?”

“Ron, thầy Dumbledore để lại cho mình cuốn sách này...”

“... và thầy để lại cho mình cái Tắt sáng này, có lẽ mình có nhiệm vụ xài nó!”

Không chịu nổi chuyện gây gổ vặt vãnh, Harry lẻn ra khỏi phòng mà không bị hai đứa kia để ý.

Nó đi xuống cầu thang vô nhà bếp, nơi nó ghé qua hoài vì nó chắc chắn đó là nơi Kreacher có triển vọng tái xuất hiện nhất.

Ở giữa chừng cầu thang dẫn xuống hành lang, nó nghe có tiếng gõ lên cánh cửa trước, rồi đến tiếng lách cách kim loại và tiếng loảng xoảng của dây xích.

Mọi dây thần kinh trong cơ thể nó dường như đều căng lên: nó rút cây đũa phép ra, di chuyển vô bóng tối bên cạnh những cái đầu lâu gia tinh, và chờ đợi.

Cánh cửa mở ra: nó thoáng thấy quảng trường được đèn chiếu sáng ở bên ngoài, và một bóng người khoác áo choàng lách vô trong hành lang rồi khép lại cánh cửa sau lưng.

Kẻ đột nhập tiến tới một bước, và giọng thầy Moody hỏi: “Severus Snape?”

Tiếp theo là cái hình thù bằng bụi trồi lên từ cuối hành lang xông vào kẻ đột nhập, giơ cao bàn tay chết.

“Tôi không phải là kẻ giết cụ, cụ Albus à,” một giọng trầm đáp.

Bùa ếm được giải: hình thù bằng bụi lại nổ banh, để lại một đám mây xám xịt khiến cho không thể nhận ra kẻ mới đến.

Harry chĩa cây đũa phép vào giữa đám bụi đó.

“Đứng im!”

Nó quên béng đi bức chân dung của bà Black: tiếng hét của nó vừa vang lên, bức màn che khuất bà bay giạt ra và bà bắt đầu gào thét, “Đồ Máu bùn và đồ bẩn thỉu làm ô nhục ngôi nhà của ta...”

Ron và Hermione cùng chạy ào xuống cầu thang đến sau lưng Harry, cũng như nó, chúng chĩa đũa phép vào kẻ chưa biết là ai đang đứng trong hành lang bên dưới, tay giơ cao.

“Khoan tấn công, thầy là Remus đây!”

“Ôi, may phước quá!”

Hermione nói giọng ỉu xìu, chĩa cây đũa phép của cô bé vô bà Black thay vì vô kẻ mới đến; và cùng với một tiếng đùng vang lên, tấm màn được khép kín trở lại, và căn phòng lại lặng im.

Ron cũng hạ cây đũa phép của nó xuống, nhưng Harry thì không.

“Hãy tự chứng minh!”

Nó quát lại.

Thầy Lupin tiến vào vùng sáng ánh đèn, hai tay vẫn giơ cao trong tư thế đầu hàng.

“Tôi là Remus John Lupin, người sói, đôi khi còn gọi là Moony, một trong bốn người chế ra tấm Bản đồ Đạo tặc, kết hôn với Nymphadora, thường được gọi là Tonks, và tôi đã dạy con, Harry à, cách tạo ra một Thần Hộ mệnh, nó có hình dạng của một con hươu.”

“Ôi, đúng rồi!”

Harry nói, hạ cây đũa phép của nó xuống, “nhưng con phải kiểm tra, đúng không thầy?”

“Nói với tư cách cựu giáo sư bộ môn Phòng chống Nghệ thuật Hắc ám của con, thầy hoàn toàn đồng ý là con phải kiểm tra.

Ron, Hermione, hai con không nên hạ thấp sự phòng vệ của mình.”

Tụi nó chạy xuống cầu thang về phía thầy.

Quấn mình trong lớp áo choàng đi đường màu đen dày cui, thầy có vẻ kiệt sức, nhưng mừng được gặp tụi nó.

“Vậy là không có dấu hiệu gì của Snape à?”

Thầy hỏi.

“Dạ, không.”

Harry nói.

“Chuyện gì đang xảy ra?

Mọi người bình an hả thầy?”

“Ừ” thầy Lupin nói.

“Nhưng chúng ta đang bị theo dõi.

Có hai tên Tử Thần Thực Tử trên quảng trường ngoài kia...”

“Tụi con biết...”

“Thầy phải Độn thổ vào đúng chóc cái bậc thềm trên cùng bên ngoài cửa trước để chắc chắn bọn chúng không thấy được thầy.

Bọn chúng không biết các con ở trong này, chứ nếu biết thì thầy tin chắc chúng sẽ cho nhiều lâu la hơn đến bao vây ngoài kia; chúng đang bố ráp tất cả những nơi có bất cứ liên hệ gì tới con, Harry à.

Chúng ta hãy đi xuống lầu, có nhiều chuyện cần nói với các con, và thầy muốn biết chuyện gì xảy ra sau khi các con rời Hang Sóc.”

Thầy trò cùng đi xuống nhà bếp, ở đó Hermione chĩa cây đũa phép vào cái vỉ lò.

Một ngọn lửa bùng cháy lên tức thì: nó tạo ảo giác ấm áp cho những bức tường đá ảm đạm và tỏa ánh sáng lung linh trên cái bàn gỗ dài.

Thầy Lupin lôi từ bên trong tấm áo choàng đi đường ra mấy chai bia bơ và thầy trò ngồi xuống.

“Thầy đã tới đây từ ba ngày trước nhưng thầy phải tống khứ tên Tử Thần Thực Tử theo đuôi thầy,” thầy Lupin nói.

“Sao, các con đến thẳng đây sau đám cưới hả?”

“Dạ không,” Harry nói, “bị đụng đầu hai tên Tử Thần Thực Tử ở một quán cà phê trên đường Tottenham Court rồi tụi con mới tới đây.”

Thầy Lupin làm đổ gần hết bia bơ của thầy xuống ngực áo.

“Cái gì?”

Tụi nó giải thích chuyện đã xảy ra; khi tụi nó nói xong, thầy Lupin tỏ vẻ kinh hoàng.

“Nhưng làm sao chúng tìm ra được các con nhanh như vậy?

Không thể nào lần theo dấu vết bất cứ người nào Độn thổ, trừ khi nắm giữ được họ ngay lúc họ biến mất.”

“Và cũng không có vẻ gì bọn chúng chỉ dạo chơi trên đường Tottenham Court vào lúc đó, đúng không?”

Harry nói.

“Tụi con thắc mắc,” Hermione ngập ngừng nói, “liệu Harry có thể vẫn còn Dấu Hiện trên người bạn ấy không ạ?”

“Không thể được,” thầy Lupin nói.

Ron có vẻ tí tởn đắc ý, và Harry cảm thấy cực kỳ nhẹ nhõm.

“Ngoài ra, nếu Harry vẫn còn Dấu Hiện trên người thì bọn chúng đã biết chắc nó ở đây, phải không nào?

Nhưng thầy không thể hiểu làm sao mà chúng có thể dò ra con ở đường Tottenham Court, điều đó đáng lo lắm, thực sự đáng lo.”

Trông thầy có vẻ hoang mang, nhưng đối với Harry thì vấn đề đó có thể để thủng thẳng tính sau.

“Thầy nói cho tụi con biết với, chuyện gì xảy ra sau khi tụi con đi rồi, tụi con chẳng nghe được tin tức gì từ khi ba của Ron báo cho tụi con biết gia đình bình an.”

“À, chú Kingsley đã cứu chúng ta,” thầy Lupin nói.

“Nhờ cảnh báo của chú ấy mà hầu hết khách dự đám cưới đã Độn thổ trước khi bọn chúng tới.”

“Chúng là Tử Thần Thực Tử hay nhân viên Bộ Pháp thuật?”

Hermione chen ngang.

“Hổ lốn; nhưng thực tế là bọn chúng giờ đây đều cùng một giuộc,” thầy Lupin nói.

“Có khoảng một tá đứa, nhưng chúng không biết con ở đó, Harry à.

Bác Arthur nghe một tin đồn là chúng đã tra tấn ông Scrimgeour để truy ra chỗ ở của con trước khi chúng giết ông, nếu chuyện đó đúng thì ông ấy đã không phản bội con.”

Harry nhìn Ron và Hermione; vẻ mặt của tụi nó phản ánh nỗi sững sờ pha lẫn sự tri ơn mà nó cũng cảm thấy trong lòng.

Nó chưa bao giờ ưa ông Scrimgeour, nhưng nếu điều thầy Lupin nói là đúng, thì hành động cuối cùng của ông là cố gắng bảo vệ Harry.

“Bọn Tử Thần Thực Tử lục soát Hang Sóc từ đầu đến đáy,” thầy Lupin nói tiếp.

“Chúng tìm thấy con ma xó, nhưng không muốn tới gần - và rồi chúng thẩm vấn tất cả những người còn ở lại suốt mấy tiếng đồng hồ.

Chúng cố moi tin tức về con, Harry à, nhưng dĩ nhiên không ai ngoại trừ Hội biết là con đã ở đó.

“Trong lúc chúng làm tan hoang đám cưới, nhiều tên Tử Thần Thực Tử khác cũng xông vào sục sạo mọi căn nhà có liên hệ với Hội ở vùng quê.

Không ai chết,” thầy nói thêm rất nhanh, đoán trước được câu hỏi.

“Nhưng chúng rất hung hăng.

Chúng đốt rụi nhà của Dedalus Diggle, nhưng như các con biết, thầy ấy không có ở đó, và chúng dùng bùa Cực hình đối với gia đình của Tonks.

Cũng lại là cố tìm ra chỗ mà con đi sau khi đến nhà họ.

Họ đều bình an - họ sợ, dĩ nhiên rồi, nhưng về mặt khác thì vô sự.”

“Bọn Tử Thần Thực Tử vượt qua được tất cả bùa phép bảo vệ đó sao?”

Harry hỏi, vẫn còn nhớ những bùa phép đó đã linh nghiệm biết bao trong cái đêm nó rớt xuống khu vườn nhà ba má cô Tonks.

“Một điều con cần nhận thức rõ, Harry à, là bọn Tử Thần Thực Tử giờ đây đã giành được toàn quyền ở Bộ Pháp thuật về phe chúng,” thầy Lupin nói.

“Chúng đã có quyền thực hiện những bùa phép dã man mà không sợ bị vạch mặt hay bắt bớ.

Chúng tìm cách xuyên thủng mọi bùa phòng vệ mà chúng ta đã ếm chống lại chúng, và một khi đã vào được bên trong, chúng để lộ ra hết ý đồ vì sao chúng đến.”

“Và bọn chúng có thèm đưa ra một cái cớ nào cho việc tra khảo người ta về chỗ ở của Harry không?”

Hermione hỏi, giọng cô bé sắc đanh lại.

“À,” thầy Lupin nói.

Thầy ngập ngừng, rồi rút ra một tờ Nhật báo Tiên Tri đã được gấp lại.

“Đây,” thầy vừa nói vừa đẩy tờ báo ngang qua mặt bàn về phía Harry, “sớm muộn gì thì đằng nào con cũng biết.

Đó là cái cớ của bọn chúng để săn lùng con.”

Harry trải bằng tờ báo ra.

Một cái hình chụp gương mặt nó thiệt to chiếm hết trang nhất.

Nó đọc cái tựa phía trên hình:

BỊ TRUY NÃ ĐỂ ĐIỀU TRA VỀ

CÁI CHẾT CỦA ALBUS DUMBLEDORE

Ron và Hermione cùng rống lên phẫn nộ, nhưng Harry không nói gì cả.

Nó đẩy tờ báo ra; nó không muốn đọc thêm nữa: nó đã biết bài báo sẽ nói gì.

Ngoại trừ những người có mặt ở trên đỉnh tháp lúc cụ Dumbledore chết thì không ai khác biết được ai đã thực sự giết cụ, và như Rita Skeeter đã nói với thế giới pháp thuật, người ta nhìn thấy Harry chạy ra khỏi hiện trường ngay sau khi cụ Dumbledore ngã xuống.

“Thầy rất tiếc, Harry à,” thầy Lupin nói.

“Vậy là bọn Tử Thần Thực Tử cũng đã thao túng luôn cả tờ Nhật báo Tiên Tri?”

Hermione giận dữ hỏi.

Thầy Lupin gật đầu.

“Nhưng chắc chắn người ta hiểu chuyện gì đang xảy ra chớ?”

“Cuộc đảo chánh đã diễn ra êm thấm và hầu như yên lặng,” thầy Lupin nói.

“Giải thích chính thức về vụ ám sát ông Scrimgeour là ông từ chức; thay vào chỗ của ông là Pius Thicknesse, kẻ đã bị ếm Lời nguyền Độc đoán.”

“Vậy sao Voldemort không tuyên bố hắn là Bộ trưởng Bộ Pháp thuật luôn cho rồi?”

Ron hỏi.

Thầy Lupin bật cười.

“Hắn không cần làm vậy, Ron à.

Hắn là Bộ trưởng thực quyền, nhưng mắc gì hắn phải ngồi sau cái bàn giấy ở Bộ chứ?

Bù nhìn của hắn, Thicknesse, sẽ lo công việc mỗi ngày, để Voldemort rảnh tay bành trướng quyền lực của hắn rộng ra ngoài Bộ.

“Đương nhiên nhiều người suy ra được việc gì đã xảy ra: trong mấy ngày qua đã có những thay đổi đột ngột trong chính sách của Bộ, và nhiều người đang xì xầm rằng Voldemort ắt đứng đằng sau chuyện đó.

Nhưng, vấn đề ở chỗ đó: họ xì xầm.

Họ không dám tin cậy nhau, không biết ai để mà tin; họ không dám nói ra, sợ rằng nghi ngờ của họ mà đúng thì gia đình của họ sẽ trở thành mục tiêu bị tấn công.

Đúng, Voldemort đang thi hành một âm mưu khôn khéo.

Tự phong chức cho hắn có thể khơi dậy sự chống đối công khai: giữ nguyên tình trạng ngụy trang tạo ra sự mập mờ, bất ổn và sợ hãi.”

“Và sự thay đổi đột ngột này trong chính sách của Bộ,” Harry nói, “bao gồm cả việc cảnh giác giới pháp thuật chống lại con thay vì Voldemort sao?”

“Chắc chắn đó là một phần trong mưu đồ của hắn,” thầy Lupin nói, “và đó là một nước cờ cao tay.

Giờ đây cụ Dumbledore đã chết, con - Đứa trẻ Sống sót - chắc chắn là biểu tượng và ngọn cờ chiêu tập mọi sự đối kháng với Voldemort.

Nhưng bằng cách ám chỉ con có nhúng tay vào cái chết của cụ, Voldemort không chỉ treo giá cái đầu của con, mà còn gieo hoang mang và sợ hãi vào những người có thể sẽ bảo vệ con.

“Đồng thời, Bộ đã khởi động bài trừ phù thủy gốc Muggle.”

Thầy Lupin chỉ vào tờ Nhật báo Tiên Tri.

“Xem trang hai.”

Hermione lật trang báo với vẻ tởm lợm như lúc cô bé cầm quyển Bí Mật Nghệ Thuật Hắc Ám.

“Đăng ký phù thủy gốc Muggle!”

Cô bé đọc to.

“Bộ Pháp thuật đang thực hiện một cuộc khảo sát về những kẻ-gọi-là 'Phù thủy gốc Muggle' để hiểu biết hơn cách thức họ nắm giữ những bí mật pháp thuật.

“Nghiên cứu gần đây do Sở Bí mật thực hiện cho thấy pháp thuật chỉ có thể truyền từ cá nhân sang cá nhân khi phù thủy sinh sản.

Vì vậy, một khi không chứng minh được dòng dõi phù thủy, kẻ-gọi-là phù thủy gốc Muggle rất có thể đã có được quyền năng pháp thuật bằng cách trộm cắp hay cưỡng đoạt.

“Bộ Pháp thuật cương quyết loại bỏ tận gốc bọn cướp quyền năng pháp thuật đó, và đến nay đã gởi thư mời cho mọi kẻ-gọi-là phù thủy gốc Muggle đến trình diện để được Ủy ban Đăng ký phù thủy gốc Muggle mới được bổ nhiệm phỏng vấn.”

“Người ta sẽ không để cho việc này xảy ra,” Ron nói.

“Việc đó đang xảy ra, Ron à,” thầy Lupin nói.

“Trong lúc chúng ta đang nói đây, các phù thủy gốc Muggle đang bị bố ráp.”

“Nhưng làm sao mà người ta có thể bị coi là 'trộm cắp' pháp thuật được chứ?”

Ron nói, “Đó là vấn đề trí tuệ, nếu người ta có thể ăn cắp được pháp thuật thì đâu có ai là á phù thủy chớ?”

“Thầy biết,” thầy Lupin nói.

“Đằng nào đi nữa, ai không thể chứng minh mình có ít nhất một người bà con ruột thịt là phù thủy, thì người đó bị coi như đã sở hữu quyền năng pháp thuật bất hợp pháp và phải chịu sự trừng phạt.”

Ron liếc qua Hermione, rồi nói, “Nếu những phù thủy thuần chủng và phù thủy lai chính thức xác nhận một phù thủy gốc Muggle là thành viên trong gia đình mình thì sao?

Con sẽ nói với mọi người Hermione là em họ của con...”

Hermione nắm tay Ron siết nhẹ.

“Cám ơn bồ, Ron à, nhưng mình sẽ không để bồ...”

“Bồ sẽ không còn cách nào khác đâu,” Ron vừa hùng hổ nói vừa giữ chặt lại bàn tay cô bé.

“Mình sẽ dạy bồ gia phả của mình để bồ có thể trả lời những chất vấn về dòng dõi.”

Hermione bật cười xao xuyến.

“Ron ơi, tụi mình đang đào tẩu với Harry, kẻ bị truy nã gắt gao nhất nước, nên mình không nghĩ chuyện đó có gì là quan trọng.

Nếu mình mà quay trở lại trường học thì có thể khác.

Mà Voldemort định làm gì với trường Hogwarts?”

Cô bé hỏi thầy Lupin.

“Việc theo học giờ đây là cưỡng bách đối với mọi nam nữ phù thủy trẻ,” thầy Lupin đáp.

“Việc đó được thông báo ngày hôm qua.

Đó là một thay đổi, bởi vì trước đây việc theo học trường Hogwarts không bị bắt buộc.

Dĩ nhiên, hầu như mọi phù thủy pháp sư ở nước Anh đều được giáo dục ở trường Hogwarts, nhưng phụ huynh học sinh có quyền dạy con em mình ở nhà hay gởi chúng du học ở nước ngoài nếu họ muốn.

Bằng việc cưỡng bách này, Voldemort sẽ giám sát được toàn bộ dân chúng pháp thuật ngay từ khi họ còn thơ ấu.

Và đó cũng là một cách khác để loại ra những phù thủy gốc Muggle, bởi vì học sinh phải được cấp Huyết tịch - nghĩa là phải chứng minh với Bộ Pháp thuật là chúng thuộc dòng dõi phù thủy - trước khi chúng được phép nhập học.”

Harry cảm thấy lợm giọng và tức điên: ngay lúc này, những đứa trẻ mười một tuổi đang mải mê với đống sách bùa chú mới mua không hay biết rằng tụi nó sẽ không bao giờ được thấy trường Hogwarts, có thể cũng sẽ không bao giờ còn gặp lại cha mẹ mình.

“Thiệt là... thiệt là...” nó lắp bắp, cố hết sức tìm từ ngữ diễn tả được nỗi kinh khủng trong ý nghĩ của nó, nhưng thầy Lupin đã nhẹ nhàng nói.

“Thầy biết.”

Thầy Lupin ngập ngừng.

“Thầy sẽ thông cảm nếu con không thể thừa nhận việc này, Harry à, nhưng Hội đang có ấn tượng là cụ Dumbledore đã trao cho con một sứ mệnh.”

“Dạ, phải,” Harry đáp.

“Ron cùng Hermione cũng có dự phần và hai bạn sẽ cùng đi với con.”

“Con có thể nói riêng cho thầy biết sứ mạng đó là gì không?”

Harry nhìn vào gương mặt sớm hằn nếp nhăn lồng trong mái tóc dày những chớm bạc, và ước gì nó có thể trả lời khác đi.

“Thưa thầy Remus, con không nói được, con rất tiếc.

Nếu cụ Dumbledore đã không nói với thầy thì con nghĩ là con cũng không nói được.”

“Thầy cũng nghĩ là con sẽ nói vậy,” thầy Lupin nói, tỏ vẻ thất vọng.

“Nhưng thầy vẫn có thể giúp con cách nào đó.

Con biết nghề nghiệp và khả năng của thầy.

Thầy có thể đi cùng các con để bảo vệ.

Các con không cần nói cho thầy biết chính xác việc các con làm.”

Harry lúng túng.

Đây là một đề nghị rất hấp dẫn, mặc dù nó không thể hình dung ra làm cách nào tụi nó có thể giữ được bí mật sứ mệnh của tụi nó nếu thầy Lupin lúc nào cũng kè kè bên cạnh.

Tuy nhiên, Hermione lại tỏ ra ngơ ngác.

“Nhưng còn cô Tonks?”

Cô bé hỏi.

“Cô ấy thì sao?”

Thầy Lupin nói.

“Thì ơ...,” Hermione nói, mặt mày nhăn lại.

“Thầy với cô ấy cưới nhau rồi mà!

Cô ấy sẽ cảm thấy thế nào nếu thầy bỏ đi với tụi con?”

“Tonks sẽ tuyệt đối bình an,” thầy Lupin nói.

“Cô ấy sẽ ở nhà ba má.”

Có gì đó là lạ trong giọng nói của thầy Lupin, nghe như lạnh lùng.

Mà cái ý tưởng cô Tonks tiếp tục trốn tránh ở nhà ba má cô ấy cũng kỳ cục nốt; xét cho cùng, cô Tonks là một thành viên của Hội, và theo như Harry biết, cô chắc hẳn muốn xông pha trận mạc lắm.

“Thầy Remus à,” Hermione nói, dè dặt thăm dò, “mọi việc có tốt đẹp không... thầy hiểu... giữa thầy và...”

“Mọi việc đều tốt, cám ơn con,” thầy Lupin nói giọng châm chọc.

Hermione đỏ mặt.

Mọi người lại im lặng một lát, một sự im lặng ngượng ngùng và bối rối.

Rồi thầy Lupin nói, với cái vẻ buộc lòng phải thừa nhận một điều không được dễ chịu lắm.

“Cô Tonks sắp có em bé.”

“Ôi, tuyệt quá!”

Hermione ré lên.

“Xuất sắc!”

Ron phấn khởi nói.

“Chúc mừng cô thầy,” Harry nói.

Thầy Lupin gượng cười trông như một cái mếu, rồi nói, “Vậy... các con nhận lời đề nghị của thầy há?

Bộ ba sẽ thành bộ bốn há?

Thầy không tin là cụ Dumbledore không tán đồng, xét cho cùng, cụ đã chỉ định thầy làm thầy dạy các con Phòng chống Nghệ thuật Hắc ám.

Và thầy phải nói với các con thầy tin là chúng ta sẽ đương đầu với những ma thuật mà nhiều người trong chúng ta chưa bao giờ gặp phải hay tưởng tượng nổi.”

Cả Ron và Hermione đều nhìn Harry.

“Chỉ... con chỉ hỏi cho rõ thôi,” Harry nói.

“Thầy muốn bỏ cô Tonks ở nhà ba má cô ấy và bỏ đi với tụi con à?”

“Cô ấy sẽ tuyệt đối an toàn ở đó, ba má cô sẽ chăm sóc cô,” thầy Lupin nói.

Thầy nói với giọng dứt khoát gần như dửng dưng.

“Harry à, thầy chắc chắn ba James muốn thầy ở bên con.”

“Dạ,” Harry chậm rãi nói, “con không chắc.

Thực ra, con hơi chắc là ba con sẽ muốn biết tại sao thầy lại không ở bên con của chính thầy.”

Nét mặt của thầy Lupin tái đi.

Nhiệt độ trong nhà bếp có lẽ đã tụt xuống khoảng mười độ.

Ron trợn mắt nhìn quanh phòng như thể nó được ra lệnh phải ghi nhớ chuyện này, trong khi mắt của Hermione thì đảo từ Harry sang thầy Lupin rồi đảo lại.

“Con không hiểu rồi,” cuối cùng thầy Lupin nói.

“Vậy thầy giải thích đi,” Harry nói.

Thầy Lupin nuốt nước miếng.

“Thầy... thầy đã sai lầm trầm trọng khi cưới cô Tonks.

Thầy cứ cưới dù biết là không nên và từ lúc cưới đến giờ thầy hối tiếc vô cùng.”

“Con hiểu rồi,” Harry nói, “vậy là thầy cứ thế mà bỏ rơi cô ấy và đứa con rồi dông theo tụi con chứ gì?”

Thầy Lupin đứng bật dậy: chiếc ghế của thầy ngã lật ra sau, và thầy trừng mắt nhìn tụi nó dữ dằn đến nỗi Harry thấy, lần đầu tiên, dấu vết của sói hiện trên gương mặt người của thầy.

“Các người có hiểu tôi đã đem lại tai họa gì cho vợ và đứa con chưa sinh của tôi không?

Lẽ ra tôi đừng bao giờ cưới cô ấy, tôi đã biến cô ấy thành kẻ ngoài lề xã hội!”

Thầy Lupin đá cái ghế mà thầy đã làm ngã chổng kềnh.

“Các người chỉ nhìn thấy tôi ở trong Hội, hay dưới sự che chở của cụ Dumbledore ở trường Hogwarts!

Các người không biết phần lớn thế giới pháp thuật nhìn những sinh vật như chúng tôi như thế nào!

Khi họ biết cái họa mà tôi phải mang, họ không thể nào vô tư nói chuyện với tôi!

Các người không thấy tôi đã làm gì sao?

“Ngay cả gia đình cô ấy cũng bị ghê tởm lây vì cuộc hôn nhân của chúng tôi, cha mẹ nào muốn đứa con gái duy nhất của mình cưới một người sói hả?

Và đứa bé...

đứa bé...”

Thầy Lupin đang nắm cả túm tóc của thầy mà giật; trông thầy như đã loạn trí.

“Những người như tôi thường không sinh con đẻ cái!

Con cái sẽ giống như mình, tôi chắc chắn điều đó - làm sao tôi có thể tha thứ cho mình, khi đã biết mà cứ liều di truyền kiếp phận của mình cho đứa con vô tội chứ?

Và nếu nhờ phép lạ nào đó, đứa con không giống tôi, thì tốt hơn, trăm lần tốt hơn cho đứa nhỏ thà không có cha, một người cha khiến nó phải xấu hổ!”

“Thầy Remus!”

Hermione thì thầm, nước mắt ứa ra.

“Thầy đừng nói vậy - làm sao có đứa nhỏ nào lại xấu hổ về thầy được chớ?”

“A, chưa chắc đâu, Hermione,” Harry nói.

“Tôi hơi xấu hổ về ông ấy đó.”

Harry không biết cơn giận của nó trào lên từ đâu, nhưng thúc cho nó phải đứng bật dậy.

Trông thầy Lupin như thể vừa bị Harry đấm một quả.

“Nếu chế độ mới coi những phù thủy gốc Muggle là xấu xa,” Harry nói, “thì họ sẽ đối xử như thế nào với một người sói lai mà cha nó có chân trong Hội?

Cha tôi đã chết vì cố gắng bảo vệ mẹ tôi và tôi, vậy mà ông cho là cha tôi muốn ông bỏ rơi con ông để đi phiêu lưu với tụi tôi à?”

“Sao... sao cậu dám...” thầy Lupin nói.

“Đây không phải là chuyện ham hố... mạo hiểm hay vinh quang cá nhân... sao cậu dám nghĩ ra một điều như...”

“Tôi nghĩ ông đang nổi máu liều,” Harry nói.

“Ông mơ tưởng kiểu sống của chú Sirius...”

“Harry, đừng mà!”

Hermione năn nỉ nó, nhưng nó cứ tiếp tục nhìn chòng chọc vào gương mặt tái tím của thầy Lupin.

“Tôi không tin được điều này,” Harry nói.

“Người đã dạy tôi chiến đấu với bọn Giám ngục lại là...

đồ hèn nhát.”

Thầy Lupin rút cây đũa phép của thầy ra nhanh đến nỗi Harry không kịp đụng tới cây đũa phép của nó; một tiếng nổ đùng thiệt to và nó cảm thấy bản thân mình bay ngược ra sau như thể bị đấm văng; khi dộng vào tường nhà bếp và trượt xuống sàn, nó vừa kịp thoáng thấy vạt sau tấm áo choàng của thầy Lupin khuất sau cánh cửa.

“Thầy Remus, thầy Remus, quay lại đi thầy!”

Hermione khóc gọi, nhưng thầy Lupin không đáp lại.

Một lát sau tụi nó nghe tiếng cánh cửa trước đóng sầm.

“Harry!”

Hermione tru tréo.

“Sao bồ có thể ăn nói như vậy?”

“Dễ mà,” Harry nói.

Nó đứng lên, cảm thấy một cục u đang phồng lên ở chỗ đầu nó đã đụng vô tường.

Nó vẫn còn căm giận đến nỗi run bần bật.

“Đừng nhìn tôi như vậy!”

Nó nạt Hermione.

“Đừng kiếm chuyện với bạn ấy!”

Ron gầm gừ.

“Đừng...

đừng... tụi mình không được chống lại nhau!”

Hermione nói, xông vào giữa hai đứa con trai.

“Bồ lẽ ra không nên nói những lời đó với thầy Lupin,” Ron nói với Harry.

“Ổng đáng nghe những lời đó.”

Harry nói.

Những hình ảnh không nguyên vẹn nối nhau lướt qua đầu nó: chú Sirius rơi xuyên qua bức màn, cụ Dumbledore lơ lửng giữa không trung, không toàn thây; một ánh chớp xanh rờn nháng lên và giọng nói của má nó, van xin lòng từ bi...

“Cha mẹ...”

Harry nói, “không nên bỏ rơi con cái trừ khi... trừ khi họ đành phải...”

“Harry à...”

Hermione nói, đưa tay ra để vỗ về, nhưng Harry gạt ra và bỏ đi, mắt nó ngó đăm đăm ngọn lửa mà Hermione đã hô biến thành.

Nó có lần đã nói chuyện với thầy Lupin ở lò sưởi đó, tìm kiếm lòng tin vào ba James, và thầy Lupin đã vỗ về nó.

Giờ đây gương mặt trắng bệch đau khổ của thầy Lupin dường như trôi lềnh bềnh trong không gian trước mặt nó.

Harry cảm thấy một cơn hối hận trào dâng khiến nó muốn ói.

Cả Ron lẫn Hermione đều không nói gì, nhưng Harry đoán chắc hai đứa nó đang nhìn nhau ở sau lưng nó, lặng lẽ trao đổi cảm nghĩ với nhau.

Nó quay lại và bắt gặp hai đứa kia vội vã ngoảnh mặt đi, không nhìn nhau.

“Mình biết lẽ ra mình không nên gọi thầy ấy là đồ hèn nhát.”

“Ừ, không nên,” Ron nói ngay.

“Nhưng thầy ấy hành xử như một kẻ hèn.”

“Thì cũng không nên...”

Hermione nói.

“Mình biết,” Harry nói.

“Nhưng nếu chuyện này khiến cho thầy ấy quay trở lại với cô Tonks thì cũng đáng, phải không?”

Nó không thể giữ cho giọng nó không có vẻ biện bạch.

Hermione tỏ vẻ cảm thông, Ron thì không chắc.

Harry ngó xuống chân, nghĩ đến cha nó.

Liệu ba James có tán thành những lời nó nói với thầy Lupin không, hay ba sẽ nổi giận vì cách đối xử của con trai ba với người bạn cũ của ba?

Cái nhà bếp im ắng dường như còn ong ong nỗi sững sờ với cảnh vừa rồi và với sự trách móc không nói ra lời của Ron và Hermione.

Tờ Nhật báo Tiên Tri mà thầy Lupin đem tới vẫn còn nằm trên bàn, gương mặt Harry trên trang nhất đang ngó đăm đăm cái trần nhà.

Nó đi tới cái bàn và ngồi xuống, mở đại tờ báo ra, giả bộ đọc.

Nó không thể đọc vô chữ nào; đầu nó vẫn còn đầy ứ dư âm cuộc đối đầu với thầy Lupin.

Nó chắc là Ron và Hermione lại tiếp tục trao đổi cảm nghĩ trong im lặng phía bên kia tờ báo Tiên Tri.

Nó lật tờ báo xột xoẹt, và cái tên của cụ Dumbledore nổi bật lên bắt mắt nó.

Nó mất một lát mới hiểu được ý nghĩa của tấm hình chụp cảnh một gia đình.

Bên dưới tấm hình là hàng chữ: “Gia đình Dumbledore, từ trái qua phải: Albus, Percival, bồng đứa con mới sinh Ariana, Kendra, và Aberforth.”

Tấm hình thu hút ngay sự chú ý của Harry, nó xem xét tấm hình kỹ lưỡng hơn.

Cha của cụ Dumbledore, ông Percival, là một người đàn ông đẹp có đôi mắt có vẻ long lanh ngay cả trong tấm hình cũ đã mờ phai này.

Đứa bé sơ sinh, Ariana, chỉ hơi dài hơn ổ bánh mì một chút xíu và không còn thấy rõ được nữa.

Người mẹ, bà Kendra, có mái tóc đen nhánh bới lên thành một búi cao.

Gương mặt của bà rất có nét, như được chạm trổ.

Harry nghĩ đến hình của những thổ dân châu Mỹ mà nó từng xem trong lúc nó nghiên cứu đôi mắt đen, đôi gò má cao, và cái mũi thẳng trang nghiêm đĩnh đạc ngự trên bộ áo đầm lụa cao cổ.

Albus và Aberforth mặc áo khoác có cổ cồn viền ren hài hòa và có cùng kiểu tóc dài đến vai y như nhau.

Albus trông lớn hơn Aberforth nhiều tuổi, nhưng mặt khác hai chàng trai rất giống nhau, bởi vì hình này chụp trước khi Albus bị bể mũi và trước khi cậu bắt đầu đeo kiếng.

Cả gia đình có vẻ rất hạnh phúc và bình thường, cùng mỉm cười thanh thản trên mặt báo.

Cánh tay của bé Ariana thò ra khỏi khăn tã vẫy vẫy một cách lơ đãng.

Harry nhìn lên phía trên tấm hình và thấy cái tựa:

TRÍCH ĐOẠN ĐẶC BIỆT

TỪ TIỂU SỬ SẮP XUẤT BẢN CỦA ALBUS DUMBLEDORE

Tác giả: Rita Skeeter

Nghĩ rằng dẫu có đọc bài báo thì cũng không thể khiến nó cảm thấy khốn khổ hơn tâm trạng đang có, Harry bắt đầu đọc.

Từ hào và kiêu hãnh, Kendra Dumbledore không thể chịu đựng được cuộc sống ở Mould-on-the-Wold sau khi ông Percival chồng bà bị bắt rùm beng và bị tống vào ngục Azkaban.

Vì vậy bà quyết định bứng gốc gia đình đi và tái định cư ở Thung lũng Godric, ngôi làng sau này nổi tiếng là hiện trường của vụ thoát chết kỳ lạ của Harry Potter khỏi bàn tay Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó.

Cũng như Moul-on-the-wold, Thung lũng Godric là quê nhà của một số gia đình phù thủy, nhưng vì Kendra không quen biết ai trong số đó, bà sẽ tránh được sự tọc mạch về tội ác của chồng bà mà bà phải đối mặt trong ngôi làng trước đây của bà.

Bằng việc từ chối tới từ chối lui sự chủ động kết thân trước của những láng giềng phù thủy mới, chẳng bao lâu sau bà đã bảo đảm cho gia đình mình được để yên.

“Đóng sập cửa vào mặt tôi khi tôi mang một mẻ bánh vạc nhà làm ghé qua chào mừng bà ấy,” Bathilda Bagshot nói.

“Năm đầu tiên họ sống ở đó tôi chỉ thấy có mỗi hai cậu con trai.

Không hề biết có cô con gái nếu tôi không thơ thẩn bắt Rận Sầu dưới ánh trăng vào mùa đông sau khi họ dọn tới, và nhìn thấy Kendra dẫn Ariana ra khu vườn sau nhà.

Dắt con bé đi vòng quanh bãi cỏ một lần, nắm chặt con bé, rồi dắt nó trở vô trong nhà.

Không biết nghĩ sao về chuyện đó.”

Có vẻ như Kendra tưởng việc dọn đến Thung lũng Godric là cơ hội hoàn hảo để giấu biệt Ariana vĩnh viễn, một việc có lẽ bà đã toan tính nhiều năm.

Sự tính toán thời gian rất có ý nghĩa.

Ariana chỉ mới bảy tuổi thì biến mất, và bảy tuổi là tuổi mà hầu hết các chuyên viên đồng ý là pháp thuật sẽ tự bộc lộ, nếu có.

Không người nào còn sống ngày nay nhớ được Ariana từng biểu lộ thậm chí dấu hiệu nhỏ nhất về khả năng pháp thuật.

Vì vậy, dường như rõ ràng rằng Kendra đã quyết định thà giấu biệt sự tồn tại của cô con gái còn hơn là chịu đựng nỗi nhục nhã phải thừa nhận bà ta đã sản sinh ra một á phù thủy.

Dọn xa khỏi hàng xóm và bạn bè đã từng biết Ariana dĩ nhiên sẽ làm cho việc giam cầm cô bé hoàn toàn dễ dàng hơn.

Từ đó trở về sau, có thể trông mong vào con số ít ỏi người biết đến sự tồn tại của Ariana để giữ bí mật, bao gồm hai người anh của cô bé, những người đã lảng tránh những câu hỏi mắc mứu bằng câu trả lời mà mẹ chúng dạy chúng: “Em gái tôi yếu quá không đi học được.”

Tuần sau: Albus Dumbledore ở Hogwarts - những phần thưởng và sự phô trương

Harry đã nhầm: những gì nó đọc thực ra khiến nó cảm thấy đau khổ hơn.

Nó nhìn lại tấm hình chụp của cái gia đình có vẻ hạnh phúc đó.

Thật không?

Làm sao nó biết được?

Nó muốn đi tới Thung lũng Godric, cho dù bà Bathilda không còn đủ minh mẫn để trò chuyện với nó: nó muốn đến thăm nơi mà nó và cụ Dumbledore đều đã mất mát những người thân yêu.

Nó đang hạ tờ báo xuống để hỏi ý kiến Ron và Hermione, thì một tiếng nổ đùng điếc tai vang dội khắp nhà bếp.

Lần đầu tiên trong ba ngày qua Harry quên béng mất Kreacher.

Ý nghĩ ngay lúc đó của nó là thầy Lupin xông vô nhà bếp trở lại, và trong nửa giây, nó không nhận dạng được cái khối tay chân giẫy giụa vừa xuất hiện trong không trung ngay bên cạnh ghế của nó.

Nó lật đật đứng lên khi Kreacher tự gỡ y ra và cúi rạp chào Harry, khào khào nói, “Thưa chủ nhân, Kreacher đã trở về với tên trộm Mundungus Fletcher.”

Mundungus lồm cồm đứng dậy và rút cây đũa phép của lão ra; tuy nhiên, Hermione đã nhanh hơn lão.

“Giải giới!”

Cây đũa phép của lão Mundungus bay vèo lên không trung, và Hermione bắt lấy nó.

Kinh hoàng, lão Mundungus lao tới cầu thang.

Ron chặn lão bằng thế đốn chân khóa tay và lão té nhào xuống sàn đá kèm tiếng nghiến răng trong họng.

“Chuyện gì?”

Lão rống lên, vùng giẫy cố gắng thoát ra khỏi sự kìm kẹp của Ron.

“Tôi đã làm gì chớ?

Cho một con gia tinh khốn kiếp đi bắt tôi, mấy người đang giở trò gì hả, tôi đã làm gì, thả tôi ra, thả tôi ra, nếu không...”

“Ông không ở trong cái thế lớn tiếng đe dọa được đâu,” Harry nói.

Nó liệng tờ báo qua một bên, băng ngang nhà bếp bằng vài cái sải chân, và quì xuống bên cạnh Mundungus, lão đã thôi vùng vẫy và tỏ vẻ khiếp đảm.

Ron đứng dậy, thở hổn hển, và quan sát khi Harry cẩn thận chĩa cây đũa phép vào cái mũi của Mundungus.

Lão Mundungus bốc mùi mồ hôi chua loét và mùi khói thuốc lá.

Tóc lão rối bù và áo chùng của lão bê bết vết dơ.

“Thưa chủ nhân, Kreacher xin lỗi đã đem tên trộm về trễ,” con gia tinh khào khào nói.

“Fletcher biết cách tránh bị bắt, có nhiều chỗ chui trốn và bọn đồng lõa.

Nhưng mà cuối cùng Kreacher đã dồn được hắn tới đường cùng.”

“Ngươi làm giỏi lắm, Kreacher à,” Harry nói và con tinh cúi rạp xuống.

“Đây, tôi có vài câu muốn hỏi ông,” Harry nói với lão Mundungus, lão hét lên tức thì.

“Tôi hoảng sợ, được chớ?

Tôi không hề muốn đi cùng, đừng mích lòng nhe, bồ tèo, nhưng tôi không hề tình nguyện chết cho cậu, và cái Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai khốn nạn đó bay rượt theo tôi, bất cứ ai cũng phải chuồn thôi.

Tôi đã nói là tôi không muốn làm chuyện đó mà...”

“Nói cho ông biết, không ai trong số những người còn lại Độn thổ cả,” Hermione nói.

“Chà, thì chẳng phải các người đều là một lũ anh hùng khốn nạn đó sao, nhưng tôi không hề làm bộ phấn đấu tự giết mình...”

“Tụi này không quan tâm đến lý do ông bỏ mặc thầy Mắt Điên,” Harry nói, nhích cây đũa phép của nó đến gần con mắt có nọng đỏ ngầu của lão Mundungus.

“Tụi này vẫn biết ông là đồ cặn bã chẳng đáng tin.”

“Vậy thì mắc cái quỷ gì mà tôi bị bọn gia tinh săn lùng chớ?

Hay lại chuyện về mấy cái cốc?

Tôi không còn giữ cái nào nữa, nếu còn các người cứ lấy...”

“Cũng không phải về mấy cái cốc, mặc dù ông gần đúng rồi,” Harry nói, “Im và nghe đây.”

Kể cũng hay khi có việc gì đó để làm, có ai đó để nó có thể đòi hỏi chút xíu sự thật.

Cây đũa phép của Harry giờ đây sát sống mũi của lão Mundungus đến nỗi Mundungus phải lé con mắt để canh chừng.

“Khi ông vơ vét của nả trong căn nhà này,” Harry bắt đầu nói, nhưng lão Mundungus ngắt lời nó một phen nữa.

“Anh Sirius đâu có để ý tới món nào trong mớ xà bần...”

Có tiếng chân chạy lộp cộp, một ánh nhá lên của đồng sáng loáng, một tiếng “canh” lanh lảnh ngân vọng, và một tiếng thét đau điếng, Kreacher vừa chạy tới lão Mundungus và nện lên đầu lão bằng một cái chảo.

“Kêu nó ngừng, kêu nó thôi đi, nó phải được nhốt lại!”

Lão Mundungus gào thét, co rúm người lại khi Kreacher giơ cao cái chảo dày đáy một lần nữa.

“Kreacher, đừng!”

Harry hét.

Cánh tay gầy gò của Kreacher run run vì sức nặng của cái chảo, nhưng vẫn còn giơ cao.

“Có lẽ thêm một cái nữa nha, cậu chủ Harry, để lấy hên?”

Ron bật cười.

“Chúng ta cần lão ấy tỉnh táo, Kreacher à, nhưng nếu lão cần thuyết phục, thì ngươi cứ tùy nghi định đoạt,” Harry nói.

“Cám ơn chủ nhân nhiều lắm,” Kreacher nói kèm cái cúi mình, rồi y lùi ra một khoảng ngắn, đôi mắt to xam xám vẫn ngó lão Mundungus chằm chằm đầy kinh tởm.

“Khi ông gỡ sạch tất cả của cải mà ông kiếm được trong căn nhà này,” Harry lại bắt đầu cuộc thẩm vấn, “ông đã lấy một mớ đồ trong cái tủ chén nhà bếp.

Trong đó có một cái mặt dây chuyền.”

Miệng Harry bỗng nhiên khô đi: nó cảm nhận được sự căng thẳng lẫn hồi hộp của Ron và Hermione.

“Ông đã làm gì với cái đó?”

“Tại sao?”

Lão Mundungus hỏi.

“Cái đó có giá trị hả?”

“Ông còn giữ nó!”

Hermione la lên.

“Không, ổng không còn giữ nữa!”

Ron nói ra vẻ khôn ngoan.

“Ổng đang thắc mắc biết vậy hồi đó đòi thêm tiền thì sao.”

“Thêm hả?”

Lão Mundungus nói, “để cho mà khó chuồn hả...

đứt ruột cho không đó chứ, đâu còn cách nào khác?”

“Ý ông là sao?”

“Tôi đang bán nó ở Hẻm Xéo thì mụ ta xuất hiện hỏi tôi có giấy phép mua bán khí cụ pháp thuật không.

Đồ đâm thọc khốn nạn.

Mụ sắp phạt tôi, nhưng rồi mụ khoái cái mặt dây chuyền và bảo là mụ sẽ lấy cái mặt và tha cho tôi lần đó, coi như tôi còn hên.”

“Bà đó là ai?”

“Ai biết, một mụ phù thủy nào đó của Bộ.”

Lão Mundungus suy nghĩ một chút, chân mày châu lại.

“Một con mẹ lùn.

Có cái nơ con bướm trên đầu.”

Lão cau mày rồi nói thêm, “Trông như một con cóc.”

Harry làm rớt cây đũa phép của nó: cây đũa phép trúng mũi lão Mundungus và xẹt ra những tia sáng đỏ vô chân mày lão khiến chúng cháy lên.

“Xịt nước!”

Hermione gào lên, và một tia nước tuôn ra từ cây đũa phép của cô bé, xối lên một lão Mundungus ngộp thở ú ớ.

Harry ngước nhìn lên và thấy sự bất ngờ của nó được phản ánh trên gương mặt của Ron và Hermione.

Những vết thẹo trên mu bàn tay phải của nó dường như lại nhoi nhói đau.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 12: Pháp thuật là quyền lực


Pháp thuật là quyền lực

Đến cuối tháng tám, vuông sân cỏ mọc tùm lum ở giữa quảng trường Grimmauld đã héo queo trong nắng đến mức dòn rụm và nâu xỉn.

Cư dân trong ngôi nhà số mười hai hoàn toàn vô hình dưới mắt những người sống trong những ngôi nhà chung quanh; bản thân nhà số mười hai cũng vô hình.

Từ lâu dân Muggle sống ở quảng trường Grimmauld đã chấp nhận sự nhầm lẫn thú vị trong việc đánh số nhà khiến cho nhà số mười một nằm ngay cạnh nhà số mười ba.

Ấy vậy mà cái quảng trường đó giờ đây cũng thu hút được một nhúm khách tham quan, những người có vẻ phát hiện ra cái sự không bình thường đó rất ư hấp dẫn.

Hiếm có một ngày nào mà không có một hay hai người đến quảng trường Grimmauld chỉ với mục đích (hay có vẻ như với mục đích) đứng dựa vào hàng rào song sắt đối diện nhà số mười một và nhà số mười ba, quan sát chỗ giáp vách giữa hai căn nhà.

Mấy tay rình rập đó khác nhau mỗi ngày, mặc dù tất cả dường như có chung cái tính không ưa ăn mặc bình thường.

Hầu hết dân Luân Đôn đã quen thấy những người ăn mặc lập dị nên khi đi ngang qua mấy tay đó cũng chẳng thèm để ý đến nữa, nhưng thỉnh thoảng cũng có người liếc nhìn lại, thắc mắc sao lại có người trùm áo choàng trong thời tiết nóng bức thế này.

Mấy tay dòm ngó đó dường như không mót được điều gì như ý trong những phiên gác của chúng.

Thỉnh thoảng một tên hồi hộp nhóng tới trước, như thể cuối cùng hắn đã thấy điều gì đó hay ho, để rồi lại trở lui với vẻ thất vọng.

Vào ngày mùng một tháng chín có nhiều kẻ rình mò trong quảng trường hơn bao giờ hết.

Nửa tá đàn ông choàng áo khoác dài đứng im lặng và cảnh giác, chăm chú ngó hoài hai nhà số mười một và mười ba, nhưng điều mà họ chờ đợi vẫn có vẻ còn lảng khuất ở đâu đâu.

Khi chiều về, kèm theo một trận mưa rào lạnh lẽo không báo trước, trận mưa đầu tiên trong nhiều tuần nay, đã xảy ra một trong những khoảnh khắc không thể hiểu nổi khi đám người đó tỏ vẻ như đã nhìn thấy điều gì đó hay ho.

Gã đàn ông có gương mặt nhọn hoắt nhăn như bị xoắn và tên đồng bọn đứng gần nhất, một gã mập lùn tai tái, nhóng ngay tới trước, nhưng chỉ tích tắc sau chúng đã chùng người xuống trong trạng thái đứng ì như trước đó, trông có vẻ ngao ngán và thất vọng.

Cùng lúc đó, bên trong ngôi nhà số mười hai, Harry vừa bước vào hành lang.

Nó suýt mất thăng bằng khi Độn thổ lên bậc thềm trên cùng bên ngoài cửa trước, và tưởng đâu bọn Tử Thần Thực Tử có lẽ đã thoáng thấy cái cùi chỏ nó bị lộ ra trong lúc đó.

Đóng cánh cửa trước cẩn thận lại sau lưng, Harry cởi Áo khoác Tàng hình ra, vắt qua cánh tay, rồi vội vã đi dọc hành lang âm u về hướng cánh cửa dẫn xuống tầng hầm, tay nắm chặt một tờ Nhật báo Tiên Tri vừa chôm được.

Tiếng thì thầm nho nhỏ thường lệ “Severus Snape” chào nó, luồng gió lạnh quét qua nó, và lưỡi nó cuộn lại trong tích tắc.

“Tôi không hề giết cụ,” nó nói, sau khi lưỡi đã duỗi ra, rồi nó nín thở khi hình nhân bùa ếm bằng bụi nổ ra.

Nó đợi đến khi xuống được nửa cầu thang dẫn vào nhà bếp, ở ngoài tầm tai của bà Black và không còn đám mây bụi nữa, mới gọi: “Mình có tin đây, và mấy bồ sẽ không khoái đâu.”

Nhà bếp hầu như không còn có thể nhận ra được nữa.

Mọi bề mặt giờ đây đều sáng loáng; chảo đồng nồi đồng đều được đánh bóng tới mức ánh lên màu hồng; mặt bàn gỗ óng ả; cốc dĩa bày biện sẵn cho bữa ăn tối đang lấp lánh trong ánh sáng của ngọn lửa vui vẻ cháy bập bùng bên dưới một cái vạc sôi liu riu.

Tuy vậy, không có gì trong căn phòng này đổi khác một cái rụp như con gia tinh, lúc này đang lật đật đi về phía Harry; y mặc một cái khăn tắm trắng tinh, tóc tai sạch và xốp như bông gòn, cái mặt dây chuyền của Regulus nảy tưng tưng trên bộ ngực lép.

“Thưa cậu chủ Harry, cậu làm ơn cởi giày ra, và rửa tay trước khi ăn tối,” Kreacher nói giọng ồm ồm, cầm tấm Áo khoác Tàng hình và luộm thuộm treo nó lên một cái móc trên tường bên cạnh một mớ áo chùng kiểu xưa vừa mới được giặt sạch.

“Có chuyện gì vậy?”

Ron lo lắng hỏi.

Nó và Hermione đang nghiền ngẫm một xấp những tờ ghi chép nguệch ngoạc và bản đồ vẽ bằng tay vung vãi ở đầu cái bàn bếp dài, nhưng bây giờ cả hai đứa đều ngước nhìn Harry sải chân đi về phía tụi nó và liệng tờ báo lên trên đám giấy da lộn xộn.

Một tấm hình khổ lớn của một người đàn ông tóc đen mũi khoằm quen thuộc trừng mắt nhìn cả đám tụi nó bên dưới một cái tựa ghi:

SEVERUS SNAPE ĐƯỢC PHÊ CHUẨN CHỨC VỤ

HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG HOGWARTS

“Không!”

Ron và Hermione cùng la lên.

Hermione mau mắn nhất; cô bé quơ ngay tờ báo và bắt đầu đọc to bản tin liên quan đến tấm hình.

“Ông Severus Snape, bậc thầy Độc dược kỳ cựu ở trường đào tạo pháp sư và phù thủy Hogwarts, hôm nay đã được bổ nhiệm chức hiệu trưởng, đây là cải cách quan trọng nhất trong nhiều cải cách nhân sự ở ngôi trường cổ xưa này.

Sau khi giáo viên bộ môn Muggle học trước đây từ chức, bà Alecto Carrow sẽ đảm nhận công việc này trong khi anh của bà là ông Amycus được bổ nhiệm làm giáo sư bộ môn Phòng chống Nghệ thuật Hắc ám.”

“'Tôi vui mừng có cơ hội giương cao những giá trị và truyền thống phù thủy tốt đẹp nhất...' Như ám sát và cắt tai người ta, chắc thế!

Lãp Snape làm Hiệu trưởng!

Lão Snape trong phòng làm việc của thầy Dumbledore...

Đội quần!”

Hermione ré lên khiến cả Harry và Ron giật mình.

Cô nàng đứng bật dậy rời khỏi bàn, gạt đổ đồ vật chạy ra khỏi phòng, vừa chạy vừa la “Mình sẽ trở lại ngay!”

“'Đội quần' hả?”

Ron lặp lại, có vẻ khoái trá.

“Chắc là nàng lộn ruột ứa gan.”

Nó kéo tờ báo về phía mình và đọc kỹ lại bài báo về Snape.

“Mấy thầy cô khác sẽ không chịu đựng nổi chuyện này đâu, cô McGonagall, thầy Flitwick và cô Sprout đều biết sự thật, các thầy cô đó đều biết thầy Dumbledore chết như thế nào.

Họ sẽ không chấp nhận lão Snape làm hiệu trưởng đâu.

Mà hai anh em Carrows này là ai vậy?”

“Tử Thần Thực Tử,” Harry nói.

“Có hình của chúng ở trang trong.

Khi lão Snape giết thầy Dumbledore, chúng có mặt trên đỉnh tháp, tóm lại là một giuộc với nhau.

Và,” Harry ngồi xuống một cái ghế cay đắng nói tiếp, “mình có thể thấy các thầy cô khác không còn cách nào khác hơn là ở lại trường.

Nếu Bộ và Voldemort đứng đằng sau lão Snape thì các thầy cô chỉ có thể lựa chọn hoặc ở lại trường và dạy, hoặc đi nghỉ mát ở ngục Azkaban vài năm - và ấy là nếu họ may mắn.

Mình đoán các thầy cô sẽ ở lại trường và bảo vệ học sinh.”

Kreacher lăng xăng đi tới bàn, hai tay bưng một cái liễn bự chảng, và múc canh vô mấy cái chén sạch như mới tinh, vừa làm vừa huýt gió qua kẽ răng.

“Cám ơn Kreacher,” Harry nói, liệng sấp tờ báo Tiên Tri để khỏi phải nhìn thấy gương mặt Snape.

“Thôi thì, ít nhất tụi mình cũng biết chính xác hiện giờ lão Snape ở đâu.”

Nó bắt đầu múc canh cho vô miệng.

Chất lượng nấu ăn của Kreacher đã tiến bộ đột xuất kể từ khi y được tặng cái mặt dây chuyền của Regulus: món canh hành tây bữa nay ngon chưa từng thấy.

“Vẫn còn một bầy Tử Thần Thực Tử canh chừng ngôi nhà này,” nó nói với Ron trong lúc ăn, “đông hơn thường ngày.

Có vẻ như chúng đang hy vọng tụi mình bước ra với rương cặp để đi đón tàu tốc hành Hogwarts.”

Ron liếc nhìn đồng hồ đeo tay.

“Cả ngày nay mình cứ nghĩ đến chuyện đó.

Tàu đã khởi hành gần sáu tiếng đồng hồ rồi.

Không có mặt trên tàu, cảm giác kỳ cục hén?”

Harry hình như còn thấy trong tâm trí nó cái đầu máy hơi nước màu đỏ tía như nó và Ron đã có lần bay rượt theo, tàu chạy xình xịch qua đồng ruộng núi đồi, như một con sâu róm đỏ chét uốn éo.

Nó chắc là Ginny, Neville và Luna đang ngồi với nhau trong lúc này, có lẽ đang tự hỏi Harry, Ron và Hermione đang ở đâu, hoặc đang bàn bạc cách tốt nhất để phá hoại chế độ quản trị mới của lão Snape.

“Hồi nãy bọn chúng suýt thấy mình trở về đây,” Harry nói, “mình trồi lên bậc thềm trên cùng vụng quá, và tấm Áo khoác tuột ra.”

“Mình bị vậy hoài.

A, cô nàng đây rồi,” Ron nói thêm, ngồi nhóng trên ghế nhìn theo Hermione đi trở vô nhà bếp.

“Cái được hân hạnh đội quần là cái gì vậy?”

“Mình quên vụ này,” Hermione thở hổn hển.

Cô bé đem tới một bức tranh lớn đóng khung hẳn hoi, đặt nó xuống sàn trước khi vói lấy cái túi xách hột cườm nhỏ xíu của mình đặt trên tủ chén.

Mở túi xách ra, Hermione bắt đầu nhét bức tranh vô bên trong bất chấp thực tế là bức tranh rõ ràng quá lớn không thể nào nằm gọn trong cái túi xách được, nhưng chỉ trong vài giây, bức tranh biến mất, như rất nhiều thứ khác, vào đáy túi sâu rộng rinh.

“Cụ Phineas Nigellus,” Hermione giải thích khi quăng cái túi xách lên bàn nhà bếp gây ra tiếng va chạm rổn rảng không bình thường.

“Cái gì?”

Ron hỏi, nhưng Harry đã hiểu.

Cái chân dung của cụ Phineas Nigellus Black có thể di chuyển qua lại giữa bức tranh của cụ ở quảng trường Grimmauld với bức tranh treo trong văn phòng hiệu trưởng ở trường Hogwarts: căn phòng tròn trên đỉnh tháp mà giờ này chắc chắn lão Snape đang chễm chệ, chiếm hữu một cách đắc thắng bộ sưu tập của cụ Dumbledore: những dụng cụ pháp thuật bằng bạc tinh tế, cái Tưởng ký bằng đá, cái Nón phân loại và, thanh gươm của Gryffindor, trừ khi nó đã bị dời đi chỗ khác.

“Lão Snape có thể nhờ cụ Phineas Nigellus dòm ngó qua căn nhà này dùm lão,” Hermione giảng giải cho Ron khi ngồi trở xuống cái ghế của mình.

“Nhưng giờ cứ để lão thử coi.

Tất cả những gì mà cụ Phineas Nigellus có thể nhìn thấy là bên trong cái túi xách tay này.”

“Tính giỏi thiệt!”

Ron nói, có vẻ cảm phục.

“Cám ơn bồ,” Hermione mỉm cười, kéo chén canh của mình lại gần, “Sao, Harry, bữa nay còn xảy ra chuyện gì nữa?”

“Chẳng có gì!”

Harry nói.

“Rình ngoài cổng Bộ Pháp thuật bảy tiếng đồng hồ.

Không có dấu hiệu nào của mụ ta.

Nhưng có thấy ba của bồ, Ron à.

Trông bác vẫn khỏe.”

Ron gật đầu cảm kích về cái tin đó.

Tụi nó đã đồng ý là việc liên lạc với ông Weasley khi ông đang đi ra hay đi vô Bộ Pháp thuật thì quá sức nguy hiểm, bởi vì lúc nào chung quanh ông cũng có những nhân viên khác của Bộ.

Tuy nhiên, tụi nó thấy yên tâm khi thỉnh thoảng được thoáng thấy ông, cho dù ông quả thật có vẻ căng thẳng và lo lắng.

“Ba luôn nói với tụi này là hầu hết người của Bộ dùng hệ thống Floo để đến sở làm,” Ron nói.

“Vì vậy mà tụi mình đã không thấy mụ Umbridge, mụ chẳng đời nào đi bộ, mụ tự coi mình là nhân vật quan trọng mà.”

“Còn mụ phù thủy già ngồ ngộ cùng gã pháp sư nhỏ con mặc áo chùng màu xanh nước biển thì sao?”

“Ờ phải, gã đó làm ở Sở Bảo trì Pháp thuật,” Ron nói.

“Làm sao bồ biết gã làm việc ở Sở Bảo trì Pháp thuật?”

Hermione hỏi, cái muỗng canh của cô bé khựng lại giữa không trung.

“Ba nói mọi nhân viên Sở Bảo trì Pháp thuật đều mặc áo chùng màu xanh nước biển.”

“Vậy mà bồ không nói cho tụi này biết!”

Hermione buông cái muỗng và kéo về phía mình xấp giấy ghi chú cùng những tấm bản đồ mà cô bé và Ron xem xét khi Harry đi vào nhà bếp.

“Trong này không có tí gì về áo chùng xanh nước biển, tuyệt đối không!”

Cô bé nói, gấp gáp lật lật xấp giấy.

“Ôi, chuyện đó có gì quan trọng?”

“Ron, tất cả đều quan trọng!

Nếu tụi mình muốn xâm nhập Bộ Pháp thuật mà không bị lộ trong lúc Bộ chắc chắn đang cảnh giác cao kẻ đột nhập, thì mọi chi tiết nhỏ nhặt đều quan trọng!

Tụi mình đã bàn tới bàn lui chuyện này, mình muốn nói là, tất cả những chuyến đi trinh sát này để làm gì nếu bồ thậm chí không thèm nói cho tụi này biết...”

“Mèn đẹt ơi, Hermione ơi, mình chỉ quên có một chuyện tí xíu...”

“Bồ có thực sự hiểu hay không, rằng có lẽ trên toàn thế giới này không có nơi nào nguy hiểm hơn Bộ Pháp thuật để cho tụi mình mò tới ngay lúc này...”

“Mình nghĩ tụi mình nên làm chuyện đó vào ngày mai,” Harry nói.

Hermione nín bặt, miệng vẫn há ra; Ron thì bị sặc canh.

“Ngày mai hả?”

Hermione lặp lại.

“Bồ không nói chơi chứ, Harry?”

“Mình nói nghiêm túc,” Harry đáp.

“Mình không tin là tụi mình sẽ được chuẩn bị tốt hơn hiện nay cho dù tụi mình có lẩn quẩn quanh cổng Bộ Pháp thuật thêm một tháng nữa.

Tụi mình càng trì hoãn lâu thêm việc này thì cái mặt dây chuyền đó càng có khả năng lưu lạc xa hơn.

Mụ Umbridge rất có thể đã liệng nó đi rồi, nó đâu có chịu mở ra.”

“Trừ khi,” Ron nói, “mụ đã kiếm được cách mở nó ra và giờ đây mụ đã bị ám.”

“Thì mụ cũng chẳng đổi khác được, mụ vốn đã quá độc ác rồi mà,” Harry rùng mình.

Hermione đang cắn môi, suy nghĩ ghê gớm.

“Tụi mình đã biết hết những điều quan trọng,” Harry nói tiếp với Hermione.

“Tụi mình biết họ đã cấm Độn thổ ra vô Bộ, tụi mình biết giờ đây chỉ những cán bộ cao cấp nhất của Bộ mới được phép nối nhà họ với hệ thống Floo, bởi vì Ron đã nghe hai người Không-thể-nói-ra phàn nàn về chuyện đó.

Và tụi mình cũng biết đại khái văn phòng của mụ Umbridge ở đâu, nhờ bồ đã nghe được gã có râu nói với đồng sự...”

“Tôi lên lầu một đây, bà Dolores muốn gặp tôi,” Hermione đọc thuộc lòng ngay.

“Chính xác,” Harry nói.

“Và tụi mình biết là muốn vô đó thì dùng mấy đồng xu ngộ nghĩnh, hay đồng thẻ tròn, hay đồng quỷ gì đó, bởi vì mình đã thấy một phù thủy mượn của bạn bà ta...”

“Nhưng tụi mình không có cái nào hết!”

“Nếu kế hoạch diễn tiến tốt đẹp, tụi mình sẽ có,” Harry bình thản nói tiếp.

“Mình không biết, Harry à, mình không biết...

Vẫn còn nhiều khủng khiếp những điều có thể trục trặc, vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào may rủi...”

“Điều đó vẫn đúng cho dù tụi mình có bỏ ra thêm ba tháng nữa để chuẩn bị,” Harry nói.

“Tới lúc hành động rồi.”

Nó có thể thấy qua nét mặt của Hermione và Ron là tụi nó sợ; bản thân nó cũng không hoàn toàn tự tin, nhưng nó vẫn chắc chắn là đã tới lúc thực hiện kế hoạch.

Trong suốt tuần lễ vừa qua tụi nó đã thay phiên nhau mặc tấm Áo khoác Tàng hình đi dò la cổng ra vào chính của Bộ, mà nhờ ông Weasley, Ron đã biết từ hồi còn nhỏ.

Tụi nó đã bám đuôi nhân viên của Bộ trên đường vào, nghe lén những cuộc chuyện trò của họ, và nhờ quan sát cẩn thận tụi nó đã biết được ai trong số họ có thể tin được là xuất hiện đúng giờ mỗi ngày.

Thỉnh thoảng tụi nó cũng có cơ hội chôm một tờ Nhật báo Tiên Tri từ cặp táp của người nào đó.

Dần dà tụi nó đã lập ra được những bản đồ phác họa và những ghi chép đang để cả xấp trước mặt Hermione.

“Thôi được,” Ron chậm rãi nói, “Cứ coi như tụi mình sẽ làm chuyện đó vào ngày mai...

Mình nghĩ chỉ cần mình với Harry đi là được.”

“Ôi, đừng có khơi lại chuyện đó nữa!”

Hermione thở dài.

“Tưởng tụi mình đã giải quyết xong rồi mà.”

“Khoác Áo Tàng hình lẩn quẩn quanh cổng là một chuyện, nhưng đây là chuyện khác Hermione à,” Ron gõ gõ một ngón tay xuống tờ Nhật báo Tiên Tri số ra mười ngày trước đó.

“Bồ nằm trong danh sách những phù thủy gốc Muggle đã không tự trình diện để phỏng vấn!”

“Còn bồ thì bị coi như đang hấp hối ở Hang Sóc vì bệnh đậu rồng!

Nếu có ai đó không nên đi, thì đó là Harry, cái đầu bạn ấy được treo giá tới mười ngàn Galleon...”

“Được, mình sẽ ở lại đây,” Harry nói.

“Chừng nào hai bồ đánh bại Voldemort xong thì cho mình biết với, nhé?”

Trong khi cả Hermione và Ron cùng bật cười thì cơn đau bỗng nhói lên ở cái thẹo trên trán nó.

Tay Harry bật đưa lên trán.

Nó thấy đôi mắt nheo lại của Hermione, và nó cố gắng đánh lảng động tác đó bằng việc lùa mớ tóc lòa xòa trước mắt.

“Nhưng, nếu ba đứa mình cùng đi thì tụi mình phải Độn thổ riêng lẻ,” Ron đang nói.

“Tấm Áo khoác Tàng hình không thể trùm kín hết cả ba đứa mình nữa.”

Cái thẹo của Harry càng lúc càng thêm đau đớn.

Nó đứng dậy.

Ngay lập tức Kreacher lật đật chạy tới.

“Cậu chủ chưa ăn hết canh, cậu chủ thích ăn tiếp món hầm hay món bánh mật khoái khẩu của cậu chủ?”

“Cám ơn, Kreacher, nhưng chút nữa tôi quay lại...

ơ... tôi vô nhà vệ sinh.”

Biết là Hermione đang ngó mình ngờ vực, Harry vội đi lên cầu thang vào hành lang rồi sau đó tới đầu cầu thang ở tầng một, ở đó nó nhào vô phòng tắm và cài chặt cửa lại.

Nghiến răng vì đau đớn, gục mặt xuống bên trên cái chậu đen có những cái vòi nước hình miệng rắn há ra, nó nhắm mắt lại...

Nó đang lướt dọc theo một con đường sáng lờ nhờ.

Nhà cửa hai bên đường có những cột chống cao bằng gỗ; trông chúng có vẻ là những ngôi nhà hào nhoáng.

Nó đi tới gần một căn, rồi nhìn thấy màu trắng bệch của những ngón tay dài của chính mình trên cánh cửa.

Nó gõ.

Nó cảm thấy nỗi bồn chồn tăng lên...

Cánh cửa mở ra.

Một người đàn bà đang cười vui đứng đó.

Gương mặt bà sa xuống khi bà nhìn vào mặt Harry: nét hóm hỉnh biến mất, thay vào đó là vẻ kinh hoàng...

“Gregorovitch?”

Một giọng lạnh lùng lanh lảnh cất lên.

Người đàn bà lắc đầu: bà đang cố gắng đóng cánh cửa lại.

Một bàn tay trắng bệch giữ chắc cánh cửa, không cho bà ta đóng sập vào mặt nó...

“Ta cần Gregorovitch.”

“Er wohnt hier nicht mehr!”

Bà ta vừa thét lên vừa lắc đầu.

“Ông ấy không có ở đây!

Ông ấy không ở đây!”

Thôi gắng sức đóng cánh cửa, bà ta liền chạy ngược vào hành lang tối om, và Harry theo sau, lướt về phía bà, bàn tay có những ngón dài của nó đã rút ra cây đũa phép.

“Hắn ở đâu?”

“Das weiff ich nicht!

Ông ấy dọn đi rồi!

Tôi không biết!

Tôi không biết!”

Nó giơ tay lên.

Bà ta gào thét.

Hai đứa trẻ chạy tới trong hành lang.

Bà ta cố gắng che chắn cho chúng bằng đôi cánh tay.

Một tia sáng xanh rờn lóe lên...

“Harry!

HARRY!”

Nó mở mắt ra, nó đã té rũ xuống sàn.

Hermione lại đang dộng ình ình lên cánh cửa.

“Harry, mở cửa ra!”

Nó biết nó đã thét thành tiếng.

Nó đứng dậy và mở chốt cửa; Hermione lập tức bị ngã ập vô trong buồng tắm; cô bé gượng lấy lại thăng bằng, rồi nhìn quanh ngờ vực.

Ron có mặt ngay sau lưng Hermione, coi bộ quạu quọ khi chĩa cây đũa phép của nó vô mấy góc buồng tắm lạnh lẽo.

“Bồ làm gì ở đây?”

Hermione nghiêm nghị hỏi.

“Bồ nghĩ coi mình làm gì ở đây?”

Harry hỏi lại, làm bộ hiên ngang một cách yếu ớt.

“Tụi này nghe bồ hét bể óc!”

Ron nói.

“Ờ há... chắc là mình ngủ thiếp đi hay...”

“Harry, bồ làm ơn đừng xúc phạm trí thông minh của tụi này,” Hermione nói, hít thở thật sâu.

“Tụi này biết cái thẹo của bồ đau lúc ở dưới nhà bếp, và bồ thì trắng xác như ma.”

Harry ngồi xuống thành bồn tắm.

“Không sao.

Mình vừa thấy Voldemort ám sát một người đàn bà.

Vào lúc này thì có lẽ hắn đã giết hết cả gia đình bà ấy rồi.

Mà hắn đâu cần phải làm vậy.

Lại diễn ra y như trường hợp anh Cedric, những kẻ ngẫu nhiên có mặt ở đó...

“Harry à, bồ không được để cho việc này xảy ra nữa!”

Hermione la lên, giọng cô bé vang vọng khắp buồng tắm.

“Thầy Dumbledore đã yêu cầu bồ học Bế quan Bí thuật!

Thầy cho là mối liên hệ đó nguy hiểm - Voldemort có thể sử dụng nó, Harry à!

Xem hắn giết chóc và tra tấn thì hay ho gì, điều đó ích lợi ra sao?”

“Bởi vì điều đó có nghĩa là mình biết hắn đang làm gì.”

“Vậy là bồ thậm chí sẽ không cố tống hắn ra ngoài hả?”

“Hermione à, mình không thể.

Bồ biết mình dở ẹt môn Bế quan Bí thuật.

Mình chưa bao giờ nắm vững mà.”

“Bồ chưa bao giờ thực sự cố gắng!”

Hermione nóng nảy nói.

“Mình không hiểu nổi, Harry... có phải bồ thích có mối liên kết đặc biệt này hay mối quan hệ, hay mối gì gì đó...”

Hermione ấp úng khi Harry đứng dậy nhìn cô bé.

“Thích à?”

Nó khẽ nói.

“Bồ có thích bị vậy không?”

“Mình... không...

Mình xin lỗi, Harry à.

Mình không có ý...”

“Mình ghét chuyện đó.

Mình ghét cái chuyện hắn xâm nhập vào trong người mình, ghét phải nhìn hắn khi hắn nguy hiểm nhất.

Nhưng mình sẽ quen với chuyện đó.”

“Thầy Dumbledore...”

“Dẹp thầy Dumbledore đi.

Đây là lựa chọn của mình, chứ không phải của ai hết.

Mình muốn biết tại sao hắn săn lùng Gregorovitch.”

“Ai?”

“Ông ta là nhà chế tạo đũa phép người nước ngoài,” Harry nói.

“Ông chế tạo cây đũa phép của anh Krum và anh Krum cho là ông ta xuất sắc.”

“Nhưng theo bồ,” Ron nói, “Voldemort đã bắt được Ollivander đem nhốt đâu đó.

Nếu hắn đã có một người làm đũa phép thì hắn cần thêm một người nữa để làm gì?”

“Có lẽ hắn nghĩ như Krum, có lẽ hắn tin Gregorovitch sẽ có thể giải thích cho hắn điều mà cây đũa phép của mình đã làm khi hắn đuổi theo mình, bởi vì Ollivander không biết.”

Harry liếc vào tấm gương rạn nứt bụi bặm và thấy sau lưng nó Ron và Hermione trao đổi với nhau ánh mắt nghi hoặc.

“Harry à, bồ cứ nói hoài về cái điều cây đũa phép của bồ đã làm,” Hermione nói, “nhưng chính bồ đã khiến cho điều đó xảy ra!

Tại sao bồ cứ khăng khăng không nhận lấy trách nhiệm về chính quyền lực của bồ?”

“Bởi vì mình biết không phải chính mình làm được chuyện đó!

Và Voldemort cũng biết vậy, Hermione à!

Cả hắn và mình đều biết chuyện gì đã thực sự xảy ra!”

Tụi nó trừng mắt nhìn nhau; Harry biết nó chưa thuyết phục được Hermione và cô nàng đang dàn thành lớp lang những tranh luận phản bác, chống lại lý thuyết của nó về cây đũa phép lẫn cái việc nó tự cho phép bản thân nhìn vào đầu óc của Voldemort.

Nó thở phào khi Ron xen vào.

“Bỏ đi,” Ron khuyên Hermione.

“Kệ nó.

Và nếu tụi mình định đi tới Bộ vào ngày mai, bồ có cho là tụi mình nên xem lại kế hoạch không?”

Ron và Harry có thể thấy Hermione đã phải bất đắc dĩ để vấn đề đó lắng xuống, mặc dù Harry hoàn toàn chắc chắn là cô nàng sẽ lại tấn công ngay khi có cơ hội đầu tiên.

Trong lúc này thì tụi nó cùng trở lại nhà bếp ở tầng hầm, ở đó Kreacher dọn cho tụi nó món hầm và món bánh mật.

Tụi nó thức rất khuya vào đêm đó, bỏ ra hàng tiếng đồng hồ xem đi xét lại kế hoạch cho đến khi có thể đọc thuộc lòng cho nhau nghe cái kế hoạch đó, đúng từng chữ một.

Harry, lúc này ngủ trong phòng của chú Sirius, cứ nằm trằn trọc trên giường, hướng ánh sáng phát từ cây đũa phép của nó vào tấm hình ba nó, chú Sirius, thầy Lupin và Pettigrew, lẩm nhẩm kế hoạch với chính mình thêm mười phút nữa.

Tuy nhiên, khi đã tắt ánh sáng cây đũa phép, nó không còn nghĩ gì đến thuốc Đa Quả dịch, kẹo Ói, hay áo chùng màu xanh nước biển của nhân viên sở Bảo trì Pháp thuật nữa; mà nó lại nghĩ đến người chế tạo đũa phép Gregorovitch, và liệu ông ấy có thể trốn tránh được bao lâu khi mà Voldemort săn lùng ông quyết liệt như vậy.

Bình minh dường như hấp tấp thay thế đêm khuya một cách sỗ sàng.

“Trông bồ ghê quá,” là lời chào của Ron khi nó bước vào phòng để đánh thức Harry.

“Không lâu đâu,” Harry nói, ngáp dài.

Tụi nó xuống lầu gặp Hermione trong nhà bếp.

Cô bé đã được Kreacher dọn cho món cà phê, bánh mì tròn nóng hổi và mang một vẻ mặt hơi bấn loạn khiến Harry liên tưởng đến việc ôn thi.

“Áo chùng,” Hermione nói thầm, ghi nhận sự có mặt của Ron và Harry bằng một cái gật đầu căng thẳng và tiếp tục lục lọi trong cái túi xách hột cườm.

“Thuốc Đa Quả dịch...

Áo khoác Tàng hình...

Mìn bẫy...

Hai bồ mỗi người nên đem theo hai cái để phòng hờ... kẹo Ói, kẹo Chảy Máu mũi, Bành trướng nhĩ...”

Tụi nó nuốt lẹ lẹ bữa điểm tâm rồi đi lên nhà trên để khởi hành, Kreacher cúi chào tiễn đưa tụi nó, hứa hẹn sẽ có món bánh nướng thập cẩm chờ sẵn khi tụi nó trở về.

“Phước đức cho lão!”

Ron khoái chí nói.

“Vậy mà bồ nghĩ coi mình đã từng tưởng tượng đến chuyện cắt đầu lão và ghim lên tường.”

Ba đứa xoay sở một cách cực kỳ thận trọng ra được bậc thềm cửa trước.

Tụi nó thấy hai tên Tử Thần Thực Tử mắt hum húp canh chừng ngôi nhà từ phía bên kia quảng trường mù sương.

Hermione Độn thổ với Ron trước, rồi trở lại đón Harry.

Sau trạng thái tối tăm ngắn ngủi và suýt ngẹt thở như thường lệ, Harry thấy mình đang ở trong một cái hẻm nhỏ xíu mà theo lịch trong kế hoạch của tụi nó là nơi thực hiện bước đầu tiên.

Lúc đó hãy còn trống vắng, ngoại trừ hai cái thùng rác to tướng.

Những nhân viên Bộ Pháp thuật đến sở đầu tiên thường thường chưa xuất hiện trước tám giờ.

“Rồi,” Hermione nói, kiểm tra đồng hồ đeo tay.

“Năm phút nữa thì bà ta sẽ xuất hiện.

Khi mình Đánh choáng bà ấy...”

“Hermione ơi, tụi này biết rồi,” Ron nghiêm nghị nói.

“Và mình tưởng tụi mình phải mở cửa trước khi bà ta đến chứ?”

Hermione ré lên.

“Mình suýt quên béng mất!

Lùi lại...”

Cô bé chĩa cây đũa phép vào cánh cửa thoát hiểm bị vẽ nhăng nhít tùm lum bên cạnh tụi nó, cánh cửa cọt kẹt mở ra, tụi nó đã biết qua những chuyến trinh sát kỹ lưỡng, hành lang tối thui sau cánh cửa dẫn tới một giảng đường trống rỗng.

Hermione kéo cánh cửa về lại phía mình để làm cho nó có vẻ vẫn còn đóng.

“Và bây giờ,” Hermione nói, sau khi quay lại đối diện với hai đứa kia trong con hẻm, “tụi mình trùm lại Áo khoác Tàng hình...”

“... và tụi mình đợi,” Ron nói nốt, vừa tung tấm Áo khoác trùm lên đầu Hermione như trùm một cái mền lên lồng chim vừa đảo tròn mắt với Harry.

Chưa tới một phút sau, một tiếng bốp nho nhỏ vang lên và một bà phù thủy nhỏ thó làm việc trong Bộ có mái tóc xám phất phơ Độn thổ lên nơi cách tụi nó vài bước, chớp chớp mắt một tí trong ánh sáng rạng lên bất ngờ: mặt trời vừa ló ra khỏi một đám mây.

Tuy nhiên, bà ta chưa kịp thưởng thức thời tiết ấm áp không ngờ ấy thì câu thần chú Choáng của Hermione đọc thì thầm đã tung vô ngay ngực bà ta, khiến bà ngã lăn quay.

“Làm giỏi lắm, Hermione.”

Ron nói, hiện ra từ phía sau cái thùng rác khi Harry cởi tấm Áo khoác Tàng hình ra.

Tụi nó hè nhau khiêng bà phù thủy nhỏ nhắn vào lối đi dẫn vào hậu trường.

Hermione nhổ vài sợi tóc trên đầu bà phù thủy bỏ vô một bình đựng chất thuốc Đa Quả dịch đục như nước sình mà cô bé lấy ra từ cái túi hột cườm.

Ron đang lục lọi khắp cái túi xách tay của bà phù thủy.

“Bà này là Mafalda Hopkirk,” nó nói, vừa đọc một cái thẻ nhỏ xác nhận căn cước nạn nhân của tụi nó là trợ lý trong Sở Dùng sai Pháp thuật.

“Bồ nên lấy cái này, Hermione à, và đây là mấy thẻ đồng xu.”

Nó đưa cho Hermione mấy đồng xu nhỏ bằng vàng mà nó lấy được trong bóp của bà phù thủy, tất cả những đồng xu vàng đó đều chạm nổi mấy chữ B.P.T.

Hermione uống thứ thuốc Đa Quả dịch lúc này đã trở thành một màu đỏ ánh xanh dễ chịu, và sau vài giây một bản sao của bà Mafalda Hopkirk đã đứng trước mặt Ron và Harry.

Trong lúc Hermione gỡ mắt kiếng của bà Mafalda để đeo, Harry xem đồng hồ.

“Tụi mình hơi trễ rồi, ông Bảo trì Pháp thuật sắp tới trong vài giây nữa.”

Tụi nó vội vã đóng cánh cửa nhốt bà Mafalda thật; Harry và Ron trùm lại Áo khoác Tàng hình lên mình, nhưng Hermione vẫn còn đứng nguyên, chờ đợi.

Vài giây sau một tiếng bốp khác vang lên, và một pháp sư nhỏ choắt trông giống như con chồn hiện ra trước mặt tụi nó.

“A, chào bà Mafalda.”

“Chào ông,” Hermione nói giọng run run.

“Bữa nay ông khỏe không?”

“Thiệt tình thì không được khỏe lắm,” ông pháp sư nhỏ choắt trả lời, ông ta tỏ vẻ vô cùng ngao ngán.

Khi Hermione và ông pháp sư đi về phía đường chính, Harry và Ron rón rén đi theo đằng sau họ.

“Ôi, tôi thiệt áy náy khi nghe anh không được khỏe lắm,” Hermione nói giọng vững vàng với ông pháp sư trong lúc ông này cố gắng diễn giải rắc rối của mình; cần phải chặn không để ông ta ra tới đường.

“Đây, mời ông ăn kẹo.”

“Hả?

Ờ không, cám ơn...”

“Tôi năn nỉ mà!”

Hermione nói một cách hùng hổ, vừa lắc lắc cái túi đựng kẹo Ói vào mặt ông pháp sư.

Hơi hoảng hồn, ông pháp sư nhỏ con đành lấy một cái kẹo.

Hiệu quả tức thì.

Ngay khi viên kẹo Ói chạm vào lưỡi, ông pháp sư nhỏ choắt bắt đầu ói dữ dội đến nỗi ông ta không để ý Hermione đã giựt đứt một nắm tóc trên đỉnh đầu ông.

“Ôi thôi!”

Cô nàng nói khi ông pháp sư ói văng tứ tung con hẻm.

“Có lẽ ông nên nghỉ một ngày!”

“Không... không được,” ông mắc nghẹn và lại ói, cố gắng đi tiếp cho dù đi đứng không còn được ngay ngắn nữa.

“Tôi... phải... bữa nay... phải đi...”

“Nhưng mà như vậy thì dại quá,” Hermione hoảng hốt nói.

“Ông không thể làm việc trong tình trạng này đâu... tôi nghĩ ông phải vô bệnh viện Thánh Mungo để họ khám chữa cho ông.”

Ông pháp sư ngã lăn kềnh, cố nhổm dậy trên tứ chi, gắng bò lê về phía đường chính.

“Ông thiệt tình là không thể nào đi làm trong tình trạng như vầy đâu,” Hermione la lên.

Cuối cùng ông ta dường như phải chấp nhận thực tế mà Hermione nói.

Níu lấy một cô nàng Hermione nản lòng để trở lại tư thế đứng, ông ta xoay người tại chỗ và biến mất, chẳng để lại gì ngoài cái túi đã bị Ron giật khỏi tay ngay khi ông đi, cùng mấy đống ói bay tứ tung.

“Ghê!”

Hermione nói, vừa kéo vạt áo chùng lên để tránh mấy vũng đồ ói.

“Đánh Choáng ổng thì đã đỡ tầy huầy rồi.”

“Ừ,” Ron nói, hiện ra từ dưới tấm Áo khoác Tàng hình, tay cầm cái bị của ông pháp sư.

“Nhưng mình vẫn cho là cả một đống thây người nằm bất tỉnh sẽ khiến nhiều người chú ý.

Nhưng ông này cũng nhiệt tình công tác hén?

Thôi, quăng cho tụi này tóc với thuốc đi.”

Trong vòng hai phút, Ron đã đứng trước mặt tụi nó, nhỏ thó và từa tựa con chồn như ông pháp sư ói mửa, và mặc tấm áo chùng màu xanh nước biển vốn đã được xếp sẵn trong cái bị của ông ta.

“Coi cách ổng ham đi làm như vậy mà bữa nay không mặc cái này thì cũng kỳ kỳ.

Mà thôi, mình là Reg Cattermole, theo như cái nhãn ở đằng sau lưng.”

“Bây giờ đợi ở đây,” Hermione bảo Harry, nó vẫn dưới lớp Áo khoác Tàng hình.

“Và tụi này sẽ trở lại đem tóc cho bồ.”

Harry phải đợi tới mười phút, nhưng nó cảm thấy dường như lâu hơn khi lẩn lút một mình trong con hẻm bầy hầy đồ ói mửa bên cánh cửa đang giấu bà Mafalda bị đánh Choáng.

Cuối cùng Ron và Hermione xuất hiện.

“Tụi này không biết ổng là ai,” Hermione nói khi đưa cho Harry mấy sợi tóc quăn màu đen, “nhưng ổng đã về nhà rồi với cái mũi chảy máu cam dễ sợ!

Đây, ổng hơi cao, bồ cần áo chùng bự hơn...”

Cô bé lôi ra một bộ áo chùng cũ mà Kreacher đã giặt sạch cho tụi nó, và Harry rút lui để uống thuốc và thay đồ.

Khi trò biến hình đau đớn đã hoàn tất, nó cao hơn một thước tám và đô con mạnh khỏe, căn cứ vào hai cánh tay lực lưỡng cuồn cuộn cơ bắp.

Nó còn có một bộ râu nữa.

Giấu cái Áo khoác Tàng hình và cặp mắt kiếng của nó vô trong bộ áo chùng mới, Harry lại nhập bọn với hai đứa kia.

“Mèn ơi, dễ ngán thiệt,” Ron nói, ngước nhìn Harry lúc này đã cao vượt khỏi đầu Ron.

“Cầm một thẻ đồng xu của bà Mafalda,” Hermione nói với Harry, “và tụi mình đi thôi, gần chín giờ rồi.”

Tụi nó cùng nhau đi ra khỏi con hẻm.

Dọc theo năm mươi thước của lề đường đông đúc là một hàng rào chắn bằng sắt đen có đầu nhọn chắn giữa hai dãy cầu thang, một đeo bảng QUÝ ÔNG, một đeo bảng QUÝ BÀ.

“Thôi, hẹn lát nữa gặp lại,” Hermione lo lắng nói, rồi cô bé lảo đảo tách ra đi xuống những bậc thang dành cho QUÝ BÀ.

Harry và Ron nhập bọn với một số ông ăn mặc kỳ lạ cùng đi xuống một nơi có vẻ là nhà vệ sinh công cộng trạm xe điện ngầm thông thường, lát gạch trắng và đen nhờ nhờ.

“Chào ông Reg,” một pháp sư mặc áo chùng xanh khác gọi khi nó len vô một cái buồng nhỏ bằng cách nhét đồng xu vàng vô một cái rãnh trên cửa.

“Cái này đau mông quá mạng hả?

Ép tất cả tụi mình đi tới sở bằng cách này!

Họ canh ai xuất hiện chớ, Harry Potter à?”

Ông pháp sư rống lên cười vì sự hóm hỉnh của chính mình.

Ron cố rặn vài tiếng cười khì.

“Ừ,” nó nói, “ngu thiệt hén?”

Rồi nó và Harry vô cái buồng bên cạnh.

Bên trái và phải của Harry nổi lên tiếng nước xả ào ào.

Nó ngồi xổm xuống và dòm qua cái lỗ hổng dưới đáy cái buồng nhỏ, vừa đúng lúc thấy một cặp giò mang giầy ống trèo vô cái nhà vệ sinh kế bên.

Nó ngó qua bên trái thì thấy Ron đang nháy mắt với nó.

“Tụi mình phải giựt cầu cho trôi vô hả?”

Ron thì thầm.

“Có vẻ như vậy,” Harry thì thầm trả lời; giọng của nó phát ra trầm và ngắc ngứ.

Hai đứa cùng đứng dậy.

Harry trèo vô cái bồn cầu, cảm thấy cực kỳ ngu ngốc.

Nó biết ngay lập tức nó đã làm đúng; mặc dù có vẻ như nó đang đứng trong nước, nhưng giày, áo và chân cẳng vẫn khô ráo.

Nó vói lên, kéo sợi dây xích, và tích tắc sau nó đã tuột vèo xuống một cầu trượt ngắn, chui ra khỏi một lò sưởi dẫn vào Bộ Pháp thuật.

Nó lụp chụp đứng dậy, thân thể nó hiện giờ quá thừa thãi so với thân hình mà nó vốn quen thuộc.

Vòm cổng vĩ đại dường như âm u hơn như nó nhớ.

Trước đây một bồn phun nước choán hết phần trung tâm sảnh đường, phát ra những vệt sáng lung linh trên tường và sàn gỗ bóng loáng.

Giờ đây một bức tượng khổng lồ bằng đá đen áp đảo toàn khung cảnh.

Bức tượng lớn quá cỡ này thiệt dễ sợ: một bà phù thủy và một ông pháp sư ngự trên một cái ngai chạm trổ lộng lẫy ngó xuống đám nhân viên của Bộ đang lóp ngóp chui ra khỏi mấy cái lò sưởi phía dưới bức tượng.

Trên bệ tượng có khắc hàng chữ cao cỡ ba tấc: PHÁP THUẬT LÀ QUYỀN LỰC.

Harry lãnh một cú tông mạnh vào phía sau bắp chân.

Một ông pháp sư khác vừa bị thổi ra khỏi cái lò sưởi sau lưng ông.

“Tránh ra, mày không...

ủa, xin lỗi, anh Runcorn.”

Sợ ra mặt, ông pháp sư đầu hói lật đật bỏ đi.

Rõ ràng cái người mà Harry đang mượn lốt giả danh, Runcorn, là một tay đáng sợ.

“Suỵt!”

Một giọng khẽ nói, nó ngoái lại nhìn thì thấy một bà phù thủy nhỏ xíu đang thì thào và một pháp sư tướng như chồn của Sở Bảo trì Pháp thuật đang ra dấu gọi nó từ bên kia bức tượng.

Harry vội vã nhập bọn tụi kia.

“Vậy là bồ vô trót lọt hả?”

Hermione thì thầm hỏi Harry.

“Không, nó còn kẹt trong cái xác heo,” Ron nói.

“Ôi, mắc cười quá... thiệt là khủng khiếp há?”

Cô bé nói với Harry, lúc này nó đang ngước nhìn bức tượng.

“Bồ có thấy họ ngồi trên cái gì không?”

Harry nhìn kỹ hơn và nhận ra cái mà nó tưởng là một cái ngai chạm trổ lộng lẫy thực ra là những đống thây người bị đục khoét: hàng trăm và hàng trăm thân thể trần truồng, đàn ông, đàn bà, và trẻ con, tất cả đều mang những bộ mặt xấu xí đần độn, méo mó và đè ép vào nhau để đỡ sức nặng của mấy phù thủy ăn mặc sang trọng.

“Dân Muggle,” Hermione thì thầm, “ở vị trí chính đáng của họ.

Thôi, tụi mình đi thôi.”

Ba đứa nhập vào dòng phù thủy và pháp sư đi về phía những cánh cửa bằng vàng ở cuối hành lang, hết sức kín đáo nhìn quanh, nhưng tịnh không hề thấy hình dáng đặc biệt của mụ Dolores Umbridge.

Tụi nó đi qua những cánh cửa để vào một hành lang nhỏ hơn, nơi đó người ta đang xếp hàng trước mười hai khung lưới bằng vàng chứa ngần ấy thang máy.

Tụi nó vừa mới nhập vô cái hàng gần nhất thì một giọng nói vang lên: “Cattermole!”

Ba đứa ngoái lại: ruột gan Harry đảo lộn.

Một tên trong bọn Tử Thần Thực Tử đã từng chứng kiến cái chết của cụ Dumbledore đang sải dài bước chân về phía tụi nó.

Những nhân viên Bộ đứng bên cạnh tụi nó bỗng im phắc; mắt họ đều cụp xuống; Harry có thể cảm nhận được cơn sợ hãi đang làm rộn xương sống họ.

Bộ mặt hơi đần độn cau có của tên đó vì lý do nào đó chọi lỏi với bộ áo chùng lộng lẫy dài thướt tha được thêu bằng nhiều sợi chỉ vàng.

Ai đó trong đám đông đứng quanh các thang máy kêu bằng giọng xu nịnh, “Chào ông Yaxley!”

Yaxley phớt lờ họ.

“Cattermole, ta đã yêu cầu Sở Bảo trì Pháp thuật cử ngươi đến sửa chữa văn phòng của ta.

Trong đó vẫn còn mưa.”

Ron nhìn quanh như thể hy vọng người nào khác sẽ xen vô, nhưng không ai nói năng gì cả.

“Mưa... trong văn phòng của ông à?

Vậy là... vậy là đâu có tốt hả?”

Ron khì ra một tiếng cười căng thẳng.

Con mắt của Yaxley trợn to.

“Mày cho là vui lắm hả, Cattermole?”

Hai phù thủy bỏ hàng chờ thang máy lật đật tránh ra xa.

“Đâu có!”

Ron nói.

“Dĩ nhiên, đâu có...”

“Mày có biết tao đang đi xuống lầu để thẩm vấn vợ mày không, Cattermole?

Thật ra, tao hơi ngạc nhiên là mày lại không ở đó cầm tay vợ mày trong khi chờ đợi.

Hay mày đã bỏ nó như bỏ một công việc tồi?

Thế có lẽ lại khôn.

Nhớ lần sau cưới một con thuần chủng nghe mậy?”

Hermione không nén được một tiếng ré kinh hoàng.

Yaxley ngó lại.

Cô bé vội vàng ho khục khặc và quay mặt đi.

“Tôi... tôi...”

Ron lắp bắp.

“Nhưng nếu vợ tao mà có bị kết tội là dân Muggle,” Yaxley nói, “... mặc dù không bao giờ có con đàn bà nào tao cưới lại bị nhầm ra cái đồ bẩn thỉu đó - và Giám đốc Sở Cưỡng chế Thi hành Pháp thuật có việc cần làm cho xong, thì tao sẽ ưu tiên làm công việc đó, Cattermole à.

Mày hiểu tao chứ?”

“Dạ,” Ron nói nhỏ.

“Vậy thì lo mà làm đi, Cattermole, và nếu văn phòng tao mà không hoàn toàn khô ráo trong vòng một tiếng đồng hồ nữa, Tình trạng Huyết thống của vợ mày sẽ bị nghi vấn còn hơn cả lúc này.”

Cái cửa lưới vàng trước hàng của tụi nó loảng xoảng mở ra.

Yaxley gật đầu và mỉm cười khó chịu với Harry, hắn rõ ràng là mong chờ Harry tán thưởng cách đối xử của hắn với Cattermole, rồi hắn vội vã bỏ đi về phía một thang máy khác.

Harry, Ron và Hermione đi vào thang máy của tụi nó, nhưng không ai đi theo tụi nó: làm như thể tụi nó bị bệnh truyền nhiễm.

Cái cửa lưới lách cách đóng lại và thang máy bắt đầu kéo lên.

“Mình phải làm gì đây?”

Ron hỏi cả hai đứa kia cùng một lúc, nó có vẻ hoảng hốt.

“Nếu mình không tới văn phòng hắn, thì vợ mình...

ý mình nói là vợ của ông Cattermole...”

“Tụi này sẽ đi với bồ, tụi mình phải bám lấy nhau...”

Harry mở miệng nói, nhưng Ron nóng nảy lắc đầu

“Điên sao, tụi mình đâu có nhiều thì giờ.

Hai bồ cứ đi tìm mụ Umbridge, mình sẽ đi sửa sang cái văn phòng của Yaxley - nhưng mình làm sao ngừng được mưa?”

“Thử Thần chú Chấm dứt,” Hermione nói ngay.

“Thần chú đó ngưng được mưa nếu cơn mưa đó là do bị ếm hay nguyền; nếu nó không có hiệu quả thì chắc có gì đó trục trặc với Bùa ếm Không khí, hơi khó sửa chữa hơn, trong trường hợp đó dùng biện pháp tạm thời là xài Bùa Không thấm để bảo vệ tài sản của hắn...”

“Làm ơn nói lại, chầm chậm...”

Ron nói, lục lọi túi áo một cách khẩn thiết để tìm cây viết lông ngỗng, nhưng ngay lúc đó cái thang máy lúc lắc để dừng lại.

Một giọng nữ quái dị vang lên: “Tầng bốn, Sở Điều phối và Kiểm soát Sinh vật Kỳ bí, tổ hợp Phân ban Dã thú, Sinh vật, và Linh hồn, Văn phòng liên lạc Yêu tinh, và Văn phòng Tư vấn Vật gây hại,” sau đó cái cửa lưới lại mở ra, nhận thêm hai ông pháp sư nữa và nhiều máy bay giấy màu tím nhạt bay xà quần cái bóng đèn trên trần thang máy.

“Chào anh Albert,” một ông râu mép rậm rì nói, mỉm cười với Harry.

Ông ta liếc qua Ron và Hermione khi cái thang máy lại một lần nữa cót két di chuyển lên; lúc này Hermione đang thì thầm cho Ron nghe những chỉ dẫn điên rồ.

Ông pháp sư chồm về phía Harry, liếc đểu và thì thầm, “Dirk Cresswell, hả?

Ở phòng Liên lạc Yêu tinh hả?

Chiêu đẹp đó, Albert.

Mình tin chắc sẽ lãnh chức của hắn, ngay thôi.”

Ông ta nháy mắt.

Harry mỉm cười đáp lại, hy vọng như vậy là đủ.

Cái thang máy ngừng lại; cái cửa lưới lại mở ra.

“Tầng hai, Sở Cưỡng chế Thi hành Luật pháp thuật, bao gồm các phòng ban Dùng sai Pháp thuật, Trụ sở Thần sáng, và Dịch vụ Hành chính Liên đoàn Pháp thuật,” giọng nữ phù thủy lại vang lên.

Harry thấy Hermione đẩy nhẹ Ron và Ron vội vã ra khỏi thang máy, theo sau là mấy pháp sư khác, để lại một mình Harry với Hermione.

Ngay khi cánh cửa lưới đóng lại Hermione nói rất nhanh, “Thiệt tình, Harry à, mình nghĩ mình nên đi theo Ron, mình không tin là nó biết nó sẽ phải làm gì, mà nếu Ron bị bắt thì toàn bộ...”

“Tầng một, Bộ trưởng Pháp thuật và nhân viên trợ lý.”

Cánh cửa lưới lại mở ra và Hermione há hốc miệng.

Bốn người đang đứng trước mặt tụi nó, hai người đang say sưa trò chuyện: một pháp sư tóc dài mặc một tấm áo chùng lộng lẫy màu vàng và đen, và một mụ phù thủy mập lùn trông như con cóc đeo một cái nơ nhung trên mái tóc ngắn đang ghì chặt tấm bìa kẹp hồ sơ vào ngực.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 13: Ủy ban đăng ký phù thủy gốc Muggle


Ủy ban đăng ký phù thủy gốc Muggle

“A, Mafalda!”

Mụ Umbridge nhìn Hermione nói.

“Travers phái cô đến phải không?”

“D... dạ,” Hermione rít lên.

“Tốt, cô thì hoàn toàn thích hợp đấy,” mụ Umbridge nói với vị pháp sư mặc đồ đen và vàng.

“Vấn đề đó thế là được giải quyết xong.

Thưa ngài Bộ trưởng, nếu cô Mafalda được dành cho công việc quản lý hồ sơ thì chúng ta sẽ có thể bắt đầu ngay lập tức.”

Mụ tham khảo tấm bìa kẹp giấy tờ của mình, “Mười người hôm nay và trong số đó có một người là vợ một viên chức của Bộ!

Chà, chà... ngay ở đây, ngay trung tâm Bộ!”

Mụ bước vào thang máy, đứng bên cạnh Hermione, hai pháp sư nãy giờ chỉ nghe mụ Umbridge nói chuyện với ông Bộ trưởng cũng theo mụ bước vào.

“Chúng ta sẽ đi thẳng xuống, Mafalda à, cô sẽ tìm thấy mọi thứ cô cần trong phòng xử.

Chào anh Albert, anh không đi ra à?”

“Có chứ, dĩ nhiên,” Harry nói bằng giọng trầm của Runcorn.

Nó bước ra khỏi thang máy.

Cánh cửa lưới bằng vàng đóng lại kêu lanh canh sau lưng.

Liếc ra sau, Harry thấy gương mặt lo lắng của Hermione bị chìm khuất giữa hai pháp sư cao lớn kẹp hai bên, cái nơ cài tóc bằng nhung của mụ Umbridge ngang bằng vai cô nàng.

“Anh lên đây có việc gì, anh Runcorn?”

Ông Bộ trưởng Pháp thuật mới nhậm chức hỏi.

Tóc và râu đen dài của ông ta mang những đường sọc bạc, và một mớ tóc dày xõa xuống trán che đôi mắt sáng long lanh khiến Harry liên tưởng tới một con cua nằm bên dưới một tảng đá ngó ra.

“Cần nói vài lời với...”

Harry ngập ngừng trong một tích tắc, “ông Arthur Weasley.

Có người nói ông ấy đã lên lầu một.”

“À,” ông Plum Thicknesse nói.

“Đã bắt được quả tang ông ta tiếp xúc với một Kẻ Phá Rối à?”

“Không,” Harry nói, cổ họng nó khô khốc.

“Không, không có chuyện như vậy.”

“Ừ, phải.

Trước sau gì cũng sẽ thế thôi,” ông Thicknesse nói.

“Theo ý tôi, bọn phản bội huyết thống cũng xấu xa như bọn Máu bùn.

Chào anh Runcorn.”

“Chào ông Bộ trưởng.”

Harry nhìn theo ông Thicknesse đĩnh đạc bước đi dọc theo hành lang trải thảm dày.

Ngay khi ông Bộ trưởng khuất khỏi tầm mắt, Harry rút mạnh tấm Áo khoác Tàng hình từ dưới lớp áo chùng đen nặng nề ra, tung tấm áo trùm lên người, và bắt đầu đi dọc hành lang theo hướng ngược lại.

Runcorn quá cao nên Harry buộc phải khòm lưng xuống để yên chí là chân cẳng nó được che kín.

Nỗi hoang mang làm bụng nó thót lại từng cơn.

Khi nó đi ngang qua hết cánh cửa gỗ bóng loáng này đến cánh cửa gỗ bóng loáng khác, mỗi cánh cửa đều có đính một tấm biển nhỏ ghi tên và nghề nghiệp của chủ nhân, uy quyền của Bộ, sự phức tạp và vững bền của Bộ hình như buộc nó phải nhìn nhận rằng cái kế hoạch mà nó cùng Hermione và Ron đã dàn dựng công phu suốt bốn tuần lễ qua có vẻ trẻ con đến tức cười.

Tụi nó đã tập trung tất cả nỗ lực để đột nhập mà không bị phát hiện: tụi nó đã không hề có một suy nghĩ thoáng qua về việc tụi nó sẽ làm gì trong trường hợp bị buộc phải tách ra.

Bây giờ Hermione bị kẹt vô chuyện thủ tục tòa án, chắc chắn sẽ kéo dài nhiều tiếng đồng hồ; Ron thì đang gắng hết sức để làm những pháp thuật mà Harry biết là vượt quá sức của nó, tự do của một người đàn bà đang tùy thuộc vào kết quả cố gắng của Ron, còn nó, Harry, thì đang đi lêu bêu trên tầng lầu cao nhất khi nó đã biết rõ một cách tuyệt đối là người nó tìm vừa đi xuống trong thang máy rồi.

Nó đứng lại, dựa lưng vào một bức tường, và cố gắng quyết định coi phải làm gì.

Sự im lặng đè nặng lên nó.

Ở đây không có tiếng lao xao hay trò chuyện hay tiếng chân bước nhanh, những hành lang trải thảm đỏ nín khe như thể bùa Ù tai vừa được ếm lên khắp chốn này.

Văn phòng mụ ta ắt là ở đây, Harry nghĩ.

Chẳng có vẻ gì là mụ Umbridge cất giữ tư trang trong văn phòng của mụ, nhưng mặt khác nếu không lục soát cho chắc ăn thì có vẻ hơi ngu.

Vì vậy nó bắt đầu đi dọc hành lang một lần nữa, không đi ngang qua người nào hết trừ một pháp sư quạu quọ đang rì rầm sai khiến một cây viết lông ngỗng lơ lửng trước mặt ông ta ghi chép trên một tấm giấy da dài thòng.

Giờ đây chú ý đến những cái tên trên cửa, Harry quẹo qua một hành lang khác.

Đi được nửa chừng hành lang này nó tới một chỗ trống trải rộng rãi có chừng một tá phù thủy và pháp sư ngồi thành hàng ở những cái bàn nhỏ hao hao bàn học sinh mặc dù được đánh bóng láng o và không bị vẽ bậy.

Harry dừng lại để quan sát họ, bởi vì tác động của cảnh này đầy mê hoặc.

Tất cả những phù thủy đó đang đồng loạt vẫy vẫy xoay xoay những cây đũa phép của họ, và những vuông giấy màu đang bay khắp mọi hướng như những cánh diều hồng nho nhỏ.

Sau vài giây Harry nhận ra nhịp điệu của quy trình, tất cả những vuông giấy đó đều hình thành nên một mẫu y chang nhau và sau vài giây nữa Harry hiểu ra là nó đang xem việc tạo ra những quyển sách tuyên truyền - những mẩu giấy vuông là những trang sách, khi đã được tập hợp, gấp lại, đóng xén đâu vô đó bằng pháp thuật, thì rớt xuống thành những chồng sách gọn gàng bên cạnh mỗi phù thủy hay pháp sư.

Nó rón rén đi tới gần hơn, mặc dù những công nhân đó mải chăm chú vào công việc họ đang làm đến nỗi nó không tin là họ để ý đến những dấu chân lún trên thảm, và nó thuổng một cuốn đã hoàn chỉnh từ chồng sách bên cạnh một phù thủy trẻ.

Nó xem xét cuốn sách dưới tấm Áo khoác Tàng hình.

Tên sách màu vàng chóe nổi bật trên cái bìa màu hồng:

MÁU BÙN

Và những hiểm họa chúng gây ra cho

một xã hội thuần chủng thanh bình

Bên dưới tựa sách là hình vẽ một đóa hồng đỏ có một cái mặt cười điệu đàng ngay chính giữa những cánh hoa, bị một cọng cỏ xanh có răng nanh và mắt quắc hung tợn quấn siết.

Không thấy tên tác giả trên cuốn sách, nhưng một lần nữa, những vết thẹo trên mu bàn tay phải của nó dường như ngứa râm ran khi nó xem xét cuốn sách.

Thế rồi cô phù thủy trẻ bên cạnh nó đã xác nhận mối nghi ngờ của nó khi cô nói trong lúc vẫn vẫy vẫy xoay xoay cây đũa phép, “Có ai biết cái mụ già quỷ cái có thẩm vấn bọn Muggle hết ngày không ta?”

“Coi chừng đó,” ông pháp sư ngồi bên cạnh cô ta nói, liếc chung quanh lo lắng; một tờ trong mớ giấy của ông ta tuột ra rớt xuống sàn.

“Sao, bộ bây giờ mụ ta có cả tai pháp thuật như mắt pháp thuật hả?”

Cô phù thủy đưa mắt về phía cánh cửa gỗ gụ bóng lưỡng đối diện cái không gian đầy những phù thủy chế tạo sách; Harry cũng nhìn theo, và cơn giận lồng lên như một con rắn trong người nó.

Ở chỗ mà cửa nhà của dân Muggle thường có một cái lỗ nhỏ để dòm ra, thì ở đây lại là một con mắt tròn to có tròng mắt màu xanh lơ sáng được cẩn vô trong gỗ - một con mắt quen đến giật mình đối với những ai đã từng biết thầy Alastor Moody.

Trong một tích tắc Harry quên béng nó đang ở đâu và việc nó đang làm: nó thậm chí quên rằng nó đang tàng hình.

Nó sải bước dài đi thẳng tới cánh cửa để xem xét con mắt.

Con mắt không động đậy: chỉ liệt cứng, đăm đăm nhìn lên, mù tịt.

Tấm biển bên dưới con mắt ghi:

Dolores Umbridge

Phụ tá cao cấp của Bộ trưởng

Bên dưới nữa là một tấm biển mới hơi bóng hơn ghi:

Trưởng ban Đăng ký phù thủy gốc Muggle

Harry ngoái nhìn lại mười hai phù thủy chế tạo sách: mặc dù họ chăm chú vào công việc, nó khó lòng nghĩ rằng họ sẽ không để ý một khi cánh cửa văn phòng không có người lại mở ra trước mắt.

Vì vậy nó lấy từ túi áo trong ra một vật kỳ cục với phần thân là một cái còi có bụng tròn bằng cao su và hai chân nhỏ đạp lia lịa.

Ngồi thụp xuống trong lớp Áo khoác Tàng hình, nó đặt cái Mìn bẫy trên sàn.

Cái vật đó lập tức lon ton chạy xuyên qua đám chân cẳng của các phù thủy pháp sư trước mặt Harry.

Một lát sau, vừa đủ thời gian để Harry đặt sẵn tay lên nắm đấm cửa chờ đợi, một tiếng nổ đùng và một cuộn khói cay xè phồng lên ở một góc.

Cô phù thủy trẻ ngồi hàng đầu thét lên: những tờ giấy hồng bay tá lả trong lúc cô ta và những đồng nghiệp nhảy dựng lên, nhìn quanh quất tìm kiếm nguyên nhân của vụ chấn động.

Harry xoay nắm đấm cửa, bước vào văn phòng mụ Umbridge, khép cánh cửa lại sau lưng.

Nó có cảm giác như bước vào quá khứ.

Căn phòng này y chang văn phòng mụ Umbridge ở trường Hogwarts: màn che trướng rủ ren rua lòng thòng, chỗ nào cũng thấy phủ khăn lót bàn với hoa khô.

Tường cũng gắn mấy cái dĩa kiểu như trước, mỗi cái vẽ một con mèo thắt nơ màu sắc chói chang, nhí nhảnh giỡn hớt với vẻ ranh ma phát ói.

Bàn giấy mà trải khăn ren hoa hòe.

Đằng sau con mắt của thầy Mắt Điên có gắn kèm một cái kính viễn vọng để mụ Umbridge có thể theo dõi các công nhân bên ngoài cánh cửa.

Harry dòm qua cái kính thấy các công nhân đang túm tụm quanh cái ngòi nổ.

Nó vặn tháo cái kính viễn vọng ra khỏi cửa, chừa lại một cái lỗ, rút con mắt pháp thuật ra khỏi đó, và đặt con mắt vào túi áo nó.

Rồi nó quay lại nhìn căn phòng một lần nữa, giơ cây đũa phép lên, lẩm nhẩm: “Mặt dây chuyền lại đây.”

Chẳng có gì xảy ra, nhưng nó cũng chẳng trông mong xảy ra việc đó; chắc chắn mụ Umbridge biết rành tất cả các bùa chú bảo vệ.

Vì vậy nó vội vã đi vòng ra sau bàn giấy của mụ và bắt đầu kéo tất cả ngăn kéo ra.

Nó thấy nào viết lông ngỗng, sổ ghi chép và bùa dán; kẹp giấy được ếm bùa từ ngăn kéo cuộn lên như rắn và phải đập chúng xuống; một hộp ren nho nhỏ kiểu cọ đầy những nơ và kẹp tóc thừa; nhưng chẳng có dấu hiệu nào của cái mặt dây chuyền.

Có một tủ hồ sơ đằng sau bàn giấy: Harry bắt đầu lục lọi.

Giống như tủ hồ sơ của thầy Filch ở trường Hogwarts, cái tủ này cũng đầy những tập hồ sơ, mỗi tập đều có nhãn ghi một cái tên.

Chỉ đến khi Harry lục tới gần đáy tủ nó mới thấy một thứ kéo sự chú ý của nó ra khỏi cuộc tìm kiếm, hồ sơ ông Weasley.

Nó rút tập hồ sơ và mở ra.

Arthur Weasley

Tình trạng

huyết thống:

Thuần chủng, nhưng có khuynh hướng ủng hộ Muggle không chấp nhận được.

Hội viên công khai của Hội Phượng Hoàng.

Gia đình:

Có vợ (thuần chủng), bảy con, hai đứa nhỏ nhất học ở trường Hogwarts.

Lưu ý: đứa con trai nhỏ nhất hiện đang ở nhà, bệnh nặng, thanh tra của Bộ đã xác nhận.

Tình trạng

an ninh:

BỊ THEO DÕI.

Tất cả hoạt động đều đang được giám sát.

Rất có khả năng Kẻ Phá Rối số 1 sẽ tiếp xúc (từng sống trong gia đình Weasley trước đây.)

.

“Kẻ Phá Rối Số Một”, Harry lẩm bẩm trong miệng khi nó đặt trả lại hồ sơ ông Weasley và đóng ngăn kéo.

Nó thoáng nghĩ nó biết kẻ đó là ai, và đúng như nó nghĩ, khi đứng thẳng lên và liếc nhìn quanh căn phòng để tìm những chỗ cất giấu khác, nó thấy một áp phích có hình của chính nó dán trên tường với hàng chữ KẺ PHÁ RỐI SỐ MỘT in nổi bật ngang ngực nó.

Một mẩu ghi chú nhỏ màu hồng với hình con mèo con ở góc được ghim vô tấm áp phích.

Harry băng ngang căn phòng để đọc và thấy mụ Umbridge đã viết tay mấy chữ “Sẽ bị trừng phạt.”

Giận chưa từng thấy, Harry tiếp tục tìm kiếm dưới đáy những chậu những rổ đựng hoa khô, nhưng chẳng ngạc nhiên chút nào khi không tìm thấy cái mặt dây chuyền ở đó.

Nó nhìn lướt khắp phòng một lần chót, và trái tim nó thót một cái.

Cụ Dumbledore đang trố mắt nhìn nó từ một tấm kiếng nhỏ hình chữ nhật dựng dựa vào kệ sách bên cạnh bàn giấy.

Harry chạy ngang qua phòng và chụp lấy tấm kiếng, nhưng ngay lúc chạm tay vô, nó kịp nhận ra rằng vật đó không phải là một tấm kiếng.

Cụ Dumbledore đang mỉm cười buồn bã trên bìa một cuốn sách láng bóng.

Harry không nhận ra ngay tức thì hàng chữ xanh uốn éo vắt ngang qua cái nón của cụ - Chuyện Đời và Chuyện Xạo của Albus Dumbledore - kể cả dòng chữ hơi nhỏ hơn vắt ngang qua ngực cụ: “Rita Skeeter, tác giả ăn khách nhất của quyển Armando Dippet: Bậc Thầy hay Thằng Dở Hơi?”

Harry mở đại cuốn sách ra và thấy chiếm hết trang sách là một tấm hình của hai cậu bé mười mấy tuổi, cả hai cùng quàng vai nhau cười toe toét.

Cậu Dumbledore, lúc chụp hình tóc để dài tới cùi chỏ, và đã để râu mọc lưa thưa khiến Harry nhớ tới cái cằm của Krum từng khiến Ron bực mình hết chỗ nói.

Cậu thiếu niên đang hét vui không thành tiếng bên cạnh cậu Dumbledore có một vẻ mặt hân hoan phóng túng.

Mái tóc vàng óng của cậu rủ xuống vai thành từng lọn loăn xoăn.

Harry tự hỏi đó có phải là cụ Doge thời trẻ không, nhưng nó chưa kịp coi ghi chú về tấm hình thì cánh cửa văn phòng mở ra.

Nếu ông Thicknesse không ngoái nhìn lại sau lưng khi bước vào phòng, Harry sẽ không có đủ thời giờ để kéo tấm Áo khoác Tàng hình trùm qua người nó.

Dù vậy, nó nghĩ ông Thicknesse có lẽ đã thoáng thấy cử động đó, bởi vì ông đứng yên mất một lát, tò mò ngó chằm chằm vào chỗ mà Harry vừa tàng hình.

Có lẽ ông cho là điều ông vừa thấy chẳng qua là ảnh cụ Dumbledore gãi mũi trên bìa cuốn sách, vì Harry vừa vội vàng đặt trả cuốn sách lên kệ.

Cuối cùng ông Thicknesse đi tới bàn giấy và chĩa cây đũa phép vào cây viết lông ngỗng đã cắm sẵn trong bình mực.

Cây viết nhảy vọt ra và bắt đầu hí hoáy một bức thư ngắn cho mụ Umbridge.

Chậm thật chậm, gần như nín thở, Harry lùi ra khỏi văn phòng để tới chỗ trống bên ngoài.

Những người làm sách đang túm tụm quanh tàn tích của cái Mìn bẫy vẫn còn la huýt yếu ớt khi bốc khói.

Harry vội vã đi ngược lên hành lang đúng lúc cô phù thủy trẻ nói, “Tôi dám cá là nó trốn ra đây từ phòng Bùa chú Thể nghiệm, họ ẩu lắm, còn nhớ vụ con vịt độc không?”

Đi thật nhanh về phía thang máy, Harry cân nhắc những khả năng để quyết định.

Không có nhiều khả năng lắm là cái mặt dây chuyền đang ở trong Bộ, và không có hy vọng phù phép cách nào có thể moi ra tung tích của nó từ mụ Umbridge khi mụ ta ngồi giữa một phiên xử đông người.

Ưu tiên của tụi nó lúc này là rời khỏi Bộ trước khi tụi nó bị lộ, và ngày khác sẽ thử thời vận lại.

Việc đầu tiên cần làm là đi tìm Ron, hai đứa nó có thể kiếm cách nào đó rút Hermione ra khỏi phòng xử án.

Thang máy trống vắng khi lên tới nơi.

Harry nhảy ngay vô và cởi tấm Áo khoác Tàng hình ra khi thang máy bắt đầu xuống.

Khi thang máy lắc lư ngừng lại ở tầng hai, Harry hú vía thở phào khi thấy Ron bước vào, ướt nhem và bơ phờ.

“Ch... chào,” Ron nói cà lăm với Harry khi thang máy tiếp tục chạy.

“Ron, mình là Harry nè.



“Harry!

Mèn ơi, mình quên béng tướng tá bồ ra sao... sao Hermione không đi chung với bồ?”

“Nó phải đi xuống phòng xử án với mụ Umbridge, nó không thể nào tránh việc được và...”

Nhưng Harry chưa kịp nói dứt câu thì thang máy lại ngừng.

Cửa mở ra và ông Weasley vừa bước vào, vừa nói chuyện với một bà phù thủy đứng tuổi có mái tóc vàng hoe được bới cao đến nỗi trông tựa như ổ kiến.

“... tôi hoàn toàn hiểu điều bà nói, bà Wakanda à, nhưng tôi e là tôi không thể đứng về phe...”

Ông Weasley nín bặt, ông đã nhận ra sự hiện diện của Harry.

Thiệt kỳ lạ khi bị ông Weasley trừng mắt nhìn với vẻ căm ghét nhiều như vậy.

Cửa thang máy đóng và cả bốn người lại lắc lư tuột xuống.

“A, chào ông Reg,” ông Weasley nói khi ngoái nhìn lại vì tiếng nước nhễu long tong từ tấm áo chùng của Ron.

“Không phải vợ ông đang bị thẩm vấn bữa nay sao?

Ủa...

Ông bị sao vậy?

Sao ông ướt nhem vậy?”

“Văn phòng Yaxley bị mưa,” Ron nói.

Nó nói với bờ vai ông Weasley, và Harry biết chắc chắn là Ron sợ ba nó rất có thể nhận ra nó nếu hai người nhìn thẳng vào mắt nhau.

“Tôi không thể nào làm ngừng mưa được, cho nên họ biểu tôi đi kiếm Bernie - Pillsworth, tôi nghĩ họ nói...”

“Ừ, gần đây nhiều văn phòng bị mưa lắm,” ông Weasley nói.

“Mà ông đã thử phép Đánh lùi bùa Khí tượng chưa?

Ông Bletchley xài phép đó thành công lắm.



“Đánh lùi Bùa Khí tượng,” Ron nói khẽ.

“Chưa, con chưa thử.

Cám ơn b...

ý tôi muốn nói, cám ơn ông, ông Arthur à.”

Cửa thang máy mở ra; bà phù thủy đứng tuổi tóc bới hình ổ kiến bước ra, và Ron vọt qua bà biến mất hút.

Harry tính đi theo Ron, nhưng nó bị Percy Weasley cản đường khi anh chàng này vừa chúi mũi đọc giấy tờ vừa bước gấp vào thang máy.

Mãi đến khi cửa thang máy đóng lại lanh canh Percy mới nhận ra anh ta đang đi chung thang máy với ba mình.

Anh ta liếc nhìn lên, thấy ông Weasley, mặt mày đỏ bừng, và bỏ ra khỏi thang máy ngay khi cửa lại mở ra.

Trong một thoáng, Harry toan bước ra, nhưng lần này nó bị ngáng lại bởi cánh tay của ông Weasley.

“Khoan đã, ông Runcorn.”

Cửa thang máy đóng lại và trong khi thang máy lanh canh tụt xuống, ông Weasley nói, “Tôi nghe ông đã có thông tin về Dirk Cresswell?”

Harry có ấn tượng là cơn giận của ông Weasley không hề nguôi đi vì cái sự Percy làm lơ ông.

Nó quyết định cứ ngu là tốt nhất.

“Xin lỗi?”

“Đừng vờ vịt, ông Runcorn,” ông Weasley nói giọng giận dữ.

“Ông đã dò ra vị pháp sư giả mạo gia phả, đúng không?”

“Tôi... nếu tôi đã làm vậy thì sao?”

Harry nói.

“Thì ông Dirk Cresswell là phù thủy giỏi hơn ông mười lần,” ông Weasley nói khẽ, khi thang máy tuột xuống thấp hơn.

“Và nếu ông ấy sống sót qua hạn tù ở Azkaban, ông sẽ phải trả lời ông ấy, chưa kể tới vợ, các con trai, và bạn bè ông ấy...”

“Ông Arthur à,” Harry ngắt lời, “ông có biết ông đang bị theo dõi không?”

“Ông dọa tôi hả, Runcorn?”

Ông Weasley la lớn.

“Không.”

Harry nói.

“Sự thật là vậy!

Họ đang giám sát mọi hành vi cử...”

Cửa thang máy mở ra.

Hai người đã xuống tới Cổng vòm.

Ông Weasley khinh miệt nhìn Harry rồi bỏ ra khỏi thang máy.

Harry vẫn còn đứng đó, run rẩy.

Nó ước gì nó đã giả mạo người nào khác chứ không phải tay Runcorn này...

Cửa thang máy đóng lại lanh canh.

Harry rút tấm Áo khoác Tàng hình ra và lại mặc vào.

Nó sẽ cố gắng một mình giải thoát Hermione trong khi Ron giải quyết vụ mưa văn phòng.

Khi cửa mở, nó bước ra một hành lang lát đá được rọi bằng ánh đuốc hoàn toàn khác những hành lang trải thảm ốp gỗ ở những tầng trên.

Lúc cái thang máy lắc lư kéo lên, Harry hơi rùng mình, nhìn về phía cánh cửa màu đen ở đằng xa chặn lối vào Sở Bí mật.

Nó bước đi, mục tiêu của nó không phải là cánh cửa đen, mà là khung cửa ở bên tay trái theo như nó nhớ, khung cửa mở ra cầu thang đi xuống những phòng xử án.

Khi đi rón rén xuống những bậc thang, đầu óc Harry bám lấy mấy khả năng: nó vẫn còn hai trái Mìn bẫy, nhưng có lẽ chỉ cần gõ cửa phòng xử mà vào với tư cách Runcorn thì tốt hơn, rồi yêu cầu được nói vài lời với bà Mafalda.

Dĩ nhiên, nó không biết danh phận tay Runcorn này có đủ quan trọng để qua thoát vụ này hay không, và ngay cả nếu như nó xoay sở trót lọt, thì liệu việc Hermione biến mất luôn có gây ra một vụ lục soát trước khi tụi nó ra khỏi Bộ không...

Mải suy nghĩ nó không cảm nhận được ngay một cơn ớn lạnh bất thường khiến nó rùng mình, như thể nó vừa sa vào một đám sương mù.

Theo mỗi bước đi tới, nó càng lúc càng thấy lạnh hơn, một cái lạnh xộc thẳng vào cổ họng và xé banh buồng phổi nó.

Và rồi nó nhận ra cái cảm giác thất vọng, vô vọng lén lút đó đang tràn vào nó, đang trương nở bên trong nó...

“Giám ngục,” nó nghĩ.

Và khi xuống tới bậc cuối cùng của cầu thang rồi rẽ phải, nó thấy một cảnh hãi hùng.

Lối đi tối thui bên ngoài phòng xử án đầy ắp những hình thù cao nghều đội mũ trùm đen che kín hoàn toàn gương mặt, tiếng thở phì phèo của chúng là âm thanh duy nhất vang lên nơi đây.

Những phù thủy gốc Muggle bị đưa vào để thẩm vấn ngồi dồn cục trên những băng ghế gỗ cứng sợ điếng người và run lập cập.

Hầu hết họ đều úp mặt vào hai bàn tay, có lẽ là một cố gắng theo bản năng che chắn mình khỏi những cái miệng tham tàn của bọn Giám ngục.

Một số người cùng đi với gia đình, một số khác ngồi một mình.

Bọn Giám ngục vờn qua vờn lại trước mặt họ, và cái lạnh giá, nỗi vô vọng, nỗi tuyệt vọng ở chốn này ập xuống Harry như một lời nguyền...

Chống lại, nó tự nhủ, nhưng nó biết là nó không thể triệu Thần Hộ mệnh đến đây mà không để lộ hành tung ngay tức thì.

Cho nên nó đi nhanh tới trước, hết sức lặng lẽ, và theo mỗi bước nó đi, sự tê điếng dường như chiếm dần óc nó, nhưng nó buộc mình phải nghĩ đến Hermione và Ron, những người đang cần đến nó.

Đi xuyên qua những hình thù đen thui cao nghệu thật dễ sợ: những gương mặt không mắt khuất dưới mũ trùm quay theo nó khi nó đi ngang qua, và nó cảm thấy chắc chắn chúng đánh hơi được nó, có lẽ đánh hơi được sự hiện diện của con người vẫn còn chút hy vọng nào đó, vẫn còn chút phản kháng nào đó.

Và rồi, một trong những cánh cửa căn hầm bên trái hành lang bật mở và tiếng gào thét từ đó vang dội ra, đột ngột và kinh hoàng giữa sự im lặng đông cứng.

“Không, không, tôi lai mà, tôi hai dòng máu, tôi thề!

Cha tôi là phù thủy, ông tôi là phù thủy, tra cứu lại dùm tên Arkie Alderton, ông là người thiết kế chổi bay nổi tiếng, tra lại tên ông ấy đi, tôi thề... buông tôi ra, buông tôi ra...”

“Đây là lời cảnh cáo cuối cùng cho ông,” giọng êm dịu của mụ Umbridge vang lên, được khuếch âm bằng pháp thuật để vang to át hẳn tiếng gào thét tuyệt vọng của người đàn ông.

“Nếu ông còn chống cự, ông sẽ phải lãnh Nụ hôn của Giám ngục.”

Tiếng kêu gào của người đàn ông lắng xuống, nhưng tiếng khóc uất nghẹn vẫn còn vang vọng suốt hành lang.

“Đem hắn đi,” mụ Umbridge nói.

Hai tên Giám ngục xuất hiện ở ngưỡng cửa của phòng xử án, mấy bàn tay sứt sẹo mục rữa của chúng túm chặt lấy cánh tay của ông pháp sư, ông ta dường như đang chết ngất.

Chúng lôi ông lướt xuống hành lang, và bóng tối chúng để lại đằng sau nuốt chửng ông khiến không còn ai thấy ông đâu nữa.

“Tiếp theo...

Mary Cattermole,” mụ Umbridge gọi.

Một người đàn bà nhỏ xíu đứng dậy; bà run rẩy từ đầu đến chân.

Mái tóc đen của bà được chải mướt ra sau và bới lại thành một búi và bà mặc một bộ áo chùng trơn dài.

Gương mặt của bà cắt không còn giọt máu.

Khi bà đi ngang qua bọn Giám ngục, Harry thấy bà rùng mình.

Khi cánh cửa căn hầm bắt đầu chuyển động để đóng lại, Harry lách vào phòng xử án sau lưng bà Cattermole.

Nó đã hành động theo bản năng, chứ không tính toán gì ráo, chẳng qua nó ghét cái cảnh bà ta bước một mình vào căn hầm.

Đây không phải căn hầm mà nó từng bị thẩm vấn vì dùng pháp thuật không đúng luật.

Căn hầm này nhỏ hơn nhiều, mặc dù trần hầm vẫn rất cao, gây ra nỗi hoảng sợ tưởng đâu bị kẹt dưới một đáy giếng sâu.

Trong này còn có nhiều Giám ngục hơn nữa, chúng tỏa hơi lạnh buốt khắp nơi; chúng đứng như những lính canh không mặt mũi ở những góc xa nhất trên những cái bục cao.

Trên bục, sau hàng chấn song, mụ Umbridge ngồi giữa Yaxley và Hermione, mặt cô nàng này tái mét như mặt bà Cattermole.

Dưới chân bục, một con mèo lông dài màu bạc óng ánh lẩn quẩn bò lên bò xuống, rồi bò xuống bò lên, và Harry nhận thấy con mèo ở đó để bảo vệ những công tố viên khỏi nỗi tuyệt vọng phát ra từ bọn Giám ngục: nỗi tuyệt vọng là để dành cho kẻ bị buộc tội, chứ không phải cho kẻ kết án.

“Ngồi xuống,” mụ Umbridge nói bằng giọng êm dịu mượt mà.

Bà Cattermole lụp chụp vấp váp đi tới cái ghế đơn đặt giữa sàn bên dưới cái bục.

Khi bà đã ngồi xuống, dây xích loảng xoảng thò ra từ chỗ gác tay của cái ghế trói bà vô đó.

“Bà là Mary Elizabeth Cattermole hả?”

Mụ Umbridge hỏi.

Bà Cattermole chỉ run run gật đầu một cái.

“Kết hôn với ông Reginald Cattermole của Sở Bảo trì Pháp thuật hả?”

Bà Cattermole bật khóc.

“Tôi không biết anh ấy đang ở đâu, lẽ ra anh ấy phải gặp tôi ở đây!”

Mụ Umbridge phớt lờ bà Cattermole.

“Mẹ của Maisie, Ellie, và Alfred Cattermole hả?”

Bà Cattermole càng khóc thảm thiết hơn.

“Mấy đứa nhỏ sợ lắm, tụi nó sợ tôi sẽ không thể trở về nhà...”

“Miễn giùm đi,” Yaxley nạt.

“Đám con nít ranh của bọn Máu bùn không gợi được thương cảm của bọn ta đâu.”

Tiếng nức nở của bà Cattermole đã che át được tiếng chân bước của Harry khi nó thận trọng đi về phía những bậc thềm dẫn lên cái bục cao.

Khi nó ngang qua chỗ con mèo Thần Hộ mệnh đang đi tuần, nó cảm thấy sự thay đổi nhiệt độ ngay: ở đó ấm áp và dễ chịu.

Nó chắc chắn Thần Hộ mệnh là của mụ Umbridge, và con mèo sáng lên rực rỡ như vậy bởi vì mụ Umbridge quá vui ở đây, trong môi trường của mụ, bảo vệ những luật quái dị mà mụ đã góp phần thảo ra.

Từ từ và hết sức cẩn thận, Harry lách dài theo cái bục đằng sau lưng mụ Umbridge, Yaxley và Hermione, ngồi xuống cái ghế đằng sau Hermione.

Nó ngại làm cho Hermione giật mình.

Nó nghĩ đến chuyện ếm bùa Ù tai lên mụ Umbridge và gã Yaxley, nhưng chỉ riêng việc rì rầm câu thần chú cũng đủ khiến cho Hermione giật mình.

Bỗng mụ Umbridge cất cao giọng nói với bà Cattermole, và Harry chụp lấy cơ hội đó ngay.

“Mình ở sau lưng bồ,” nó thì thầm vào tai Hermione.

Đúng như nó dự kiến, cô nàng giật bắn người mạnh đến nỗi suýt hất đổ bình mực mà cô nàng lẽ ra dùng để ghi biên bản cuộc thẩm vấn, nhưng cả mụ Umbridge và gã Yaxley đều đang tập trung vào bà Cattermole, nên chuyện này xảy ra mà không bị chú ý.

“Bà Cattermole, khi bà đến Bộ hôm nay, bà đã bị tước một cây đũa phép,” mụ Umbridge nói, “Tám-và-ba-phần-tư phân, gỗ anh đào, lõi lông kỳ lân.

Bà có nhận ra đúng như miêu tả không?”

Bà Cattermole gật đầu, chùi nước mắt bằng tay áo.

“Bà có thể cho chúng tôi biết bà đã lấy cây đũa phép đó từ vị phù thủy hay pháp sư nào không?”

“Lấy... lấy?”

Bà Cattermole khóc nức nở.

“Tôi đâu có... lấy của ai.

Tôi m... mua nó khi tôi mười một tuổi.

Nó... nó... nó... chọn tôi mà.”

Bà khóc thảm thiết hơn nữa.

Mụ Umbridge phá ra cười giọng ẻo lả kiểu con gái khiến Harry chỉ muốn đập.

Mụ chồm tới trên hàng chấn song để ngắm nạn nhân kỹ hơn, và một cái gì đó bằng vàng cũng đung đưa tới trước và lòng thòng giữa khoảng không: cái mặt dây chuyền.

Hermione cũng đã thấy cái đó; cô bé thốt ra một tiếng ré nho nhỏ, nhưng mụ Umbridge và gã Yaxley vẫn đang mải mê vờn mồi, không nghe thấy gì hết.

“Không,” mụ Umbridge nói.

“Không, tôi không tin đâu, bà Cattermole à.

Những cây đũa phép chỉ chọn phù thủy và pháp sư.

Bà không phải là phù thủy.

Tôi có ở đây bản trả lời của bà cho cuộc điều tra mà chúng tôi đã gởi cho bà...

Mafalda, cô đưa hồ sơ cho tôi.”

Mụ Umbridge chìa ra một bàn tay nhỏ: lúc đó mụ trông giống một con cóc đến nỗi Harry hơi ngạc nhiên thấy giữa những ngón tay múp míp của mụ không có màng da.

Hai bàn tay của Hermione đang run run vì sửng sốt.

Cô bé xốc tung đống tài liệu đặt cân xứng trên cái ghế bên cạnh, cuối cùng rút ra một xấp giấy da có tên của bà Cattermole trên đó.

“Cái đó... cái đó xinh ghê, bà Dolores à,” Hermione nói, chỉ vào cái mặt dây chuyền lấp lánh trên những nếp gấp dợn sóng của cái áo mụ Umbridge.

“Cái gì?”

Mụ Umbridge nói như táp lại, mắt liếc xuống, “À, phải... một món gia bảo cổ xưa,” mụ nói, vỗ vỗ nhẹ lên cái mặt dây chuyền đang nằm trên bộ ngực đồ sộ của mụ.

“Chữ S viết tắt của chữ Selwyn...

Tôi có bà con với Selwyn... thật ra thì hiếm có gia đình thuần chủng nào mà tôi không có họ hàng...

Đáng tiếc,” mụ nói tiếp giọng lớn hơn, tay gõ gõ trên bản trả lời câu hỏi điều tra của bà Cattermole, “là không thể nói như thế về bà.

'Nghề nghiệp cha mẹ: buôn bán rau cải'.”

Yaxley cười giễu.

Phía dưới, con mèo bạc lông xù rảo lên rảo xuống, và bọn Giám ngục đứng đợi ở góc phòng.

Chính lời nói láo của mụ Umbridge đã làm máu trào lên tới đầu Harry và bịt tắc ý thức thận trọng của nó - cái mặt dây chuyền mà mụ ta ăn hối lộ từ một tên trộm vặt lại đang được mụ ta dùng để nổ về danh giá thuần chủng của chính mình.

Harry giơ cao cây đũa phép, thậm chí không buồn giấu giếm cây đũa dưới tấm Áo khoác Tàng hình, và hô: “Điểm huyệt!”

Một tia sáng đỏ nhá lên; mụ Umbridge ngã gục xuống, trán dập vào cạnh của hàng chấn song: hồ sơ của bà Cattermole tuột khỏi đùi mụ rớt xuống sàn, và bên dưới, con mèo bạc đang lởn vởn bỗng biến mất.

Khí lạnh như băng ập vào mọi người như một luồng gió đang xộc tới.

Bối rối, Yaxley ngoái lại tìm nguyên nhân sự cố và thấy bàn tay Harry chơ vơ không đầu mình đang cầm đũa phép chĩa ngay vào hắn.

Hắn toan rút cây đũa phép của hắn ra, nhưng trễ quá rồi: “Điểm huyệt!”

Yaxley trượt té xuống đất nằm còng queo trên sàn.

“Harry!”

“Hermione à, nếu bồ cho là mình cứ ngồi yên đây để cho mụ giả đò...”

“Harry, bà Cattermole!”

Harry xoay vòng lại, cởi phắt tấm Áo khoác Tàng hình ra; phía dưới, bọn Giám ngục đã rời khỏi những góc phòng; chúng đang lướt về phía người đàn bà bị xiềng xích vào cái ghế: có thể vì Thần Hộ mệnh đã biến mất hoặc vì cảm thấy không bị chủ kiểm soát nữa, chúng dường như bứt bỏ sự ràng buộc.

Bà Cattermole thét lên một tiếng gào khủng khiếp đầy hoảng sợ khi bàn tay sứt sẹo nhầy nhụa chụp lấy cằm của bà ấn mặt bà ra sau.

“HÚ HỒN THẦN HỘ MỆNH!”

Con hươu bạc phóng ra từ đầu cây đũa phép của Harry và nhảy về phía bọn Giám ngục khiến bọn chúng rút lui và lại tan vào bóng tối.

Ánh sáng của con hươu mạnh và ấm hơn sức bảo vệ của con mèo, tràn khắp căn hầm khi nó phi quanh phòng.

“Lấy cái Trường Sinh Linh Giá,” Harry bảo Hermione.

Nó chạy ngược xuống những bậc thang, nhét tấm Áo khoác Tàng hình trở vào ba lô, và đến bên bà Cattermole.

“Ông sao?”

Bà ngó mặt nó trân trân, thì thào.

“Nhưng... nhưng anh Reg nói ông là kẻ đã nộp tên tôi để điều tra mà!”

“Tôi hả?”

Harry lẩm bẩm, giật mạnh sợi dây xích đang trói cánh tay bà, “À, tôi vừa đổi ý.

Cắt đứt!”

Không có gì xảy ra.

“Hermione, làm sao cởi bỏ những xiềng xích này?”

“Chờ tí, mình đang bận tay trên này...”

“Hermione!

Tụi mình đang ở giữa vòng vây của bọn Giám ngục!”

“Mình biết, Harry à, nhưng nếu mụ ta tỉnh lại và thấy mất cái mặt dây chuyền thì... mình phải chế ra một cái giống hệt...

Sinh đôi!

Được rồi...

Vậy là mụ sẽ bị lừa...”

Hermione chạy xuống những bậc thang.

“Để coi...

Giải thoát!”

Xiềng xích kêu loảng xoảng và rút lại vào tay ghế.

Bà Cattermole có vẻ còn hoảng sợ hơn cả trước đó.

“Tôi không hiểu,” bà thì thào.

“Bà phải rời khỏi nơi đây với tụi này,” Harry vừa nói vừa kéo bà đứng lên.

“Về nhà, dắt con cái chạy xa, chạy ra khỏi xứ này nếu cần.

Tự cải trang và chạy trốn đi.

Bà đã thấy chuyện này như thế nào rồi đó, bà sẽ chẳng có được phiên tòa công minh nào ở đây đâu.”

“Harry,” Hermione nói, “Làm sao tụi mình ra khỏi chỗ này khi bọn Giám ngục đầy nhóc ngoài cửa?”

“Thần Hộ mệnh,” Harry nói, chĩa cây đũa phép vào chính Thần Hộ mệnh của nó.

Con hươu chạy chậm lại rồi thong thả bước đi về phía cửa, vẫn tỏa sáng rạng rỡ.

“Gọi lên được càng nhiều càng tốt; bồ gọi Thần Hộ mệnh của bồ đi, Hermione”

“Hú...

Hú hồn Thần Hộ mệnh,” Hermione hô lên, nhưng chẳng có gì xảy ra.

“Đây là thần chú duy nhất mà cô ấy bị trục trặc,” Harry nói với bà Cattermole đang kinh ngạc hết sức.

“Hơi xui xẻo, thiệt là... ráng lên, Hermione...”

“Hú hồn Thần Hộ mệnh!”

Một con rái cá bạc vọt ra từ đầu cây đũa phép của Hermione và duyên dáng bơi trong không khí để đến hỗ trợ con hươu.

“Đi thôi,” Harry nói, và nó dẫn Hermione cùng bà Cattermole chạy ra cửa.

Khi các Thần Hộ mệnh lướt ra khỏi căn hầm, đám người ngồi đợi bên ngoài đều sửng sốt.

Harry nhìn quanh; bọn Giám ngục đã giạt sang hai bên, tan biến vào bóng tối, tan tác trước những Thần Hộ mệnh.

“Đã có quyết định là tất cả mọi người nên về nhà và cùng gia đình đi tìm chỗ trốn,” Harry nói với những phù thủy gốc Muggle đang ngồi đợi, họ đều bị chói mắt vì ánh sáng của những Thần Hộ mệnh và vẫn còn co ro cúm rúm.

“Trốn ra nước ngoài nếu có thể.

Miễn là tránh thiệt xa Bộ.

Đó là...

ơ... quan điểm chính thức mới ra.

Bây giờ mọi người chỉ cần đi theo các Thần Hộ mệnh là có thể ra tới Cổng vòm.

Tụi nó xoay sở đến được những bậc thềm đá mà không bị trở ngại lắm, nhưng khi đi tới gần thang máy, Harry bắt đầu hoang mang lo ngại.

Nếu tụi nó kéo vào Cổng vòm với sự hộ tống của một con hươu bạc và một con rái cá bạc, cùng với khoảng hai chục người bị cáo là phù thủy gốc Muggle, thì Harry không thể không lo việc tụi nó sẽ thu hút sự quan tâm ngoài ý muốn.

Nó vừa đạt được cái kết luận không đáng phấn khởi này thì thang máy kêu lanh canh ngừng lại trước mặt tụi nó.

“Anh Reg!”

Bà Cattermole hét lên, và lao mình vào cánh tay Ron.

“Anh Runcorn thả em ra, anh ấy đánh mụ Umbridge và gã Yaxley, và anh ấy biểu tất cả tụi mình bỏ xứ mà đi.

Em thấy mình nên làm vậy, anh Reg à.

Thiệt mà, tụi mình mau mau về nhà dắt díu con cái và...

Sao anh ướt nhem vậy?”

“Nước,” Ron làu bàu, tự gỡ mình ra khỏi tay bà Cattermole.

“Harry, chúng biết có kẻ đột nhập ở trong Bộ, chuyện gì đó dính tới cái lỗ trên cánh cửa văn phòng mụ Umbridge.

Mình đoán là tụi mình có chừng năm phút nếu...”

Thần Hộ mệnh của Hermione biến mất bằng một tiếng nổ bụp khi cô bé quay gương mặt kinh hoàng về phía Harry.

“Harry, nếu tụi mình bị kẹt ở đây...”

“Nếu chúng ta đi nhanh lên thì sẽ không bị kẹt lại,” Harry nói.

Nó nói với đám người im lặng đằng sau tụi nó, tất cả đều đang trố mắt nhìn nó trân trân.

“Ai có đũa phép?”

Khoảng một nửa số người giơ tay lên.

“Được, tất cả những ai không có đũa phép phải bám vào người nào có đũa phép.

Chúng ta phải thật nhanh trước khi họ chặn chúng ta lại.

Đi thôi.”

Cả đám cố nhồi nhét hết vào hai cái thang máy.

Thần Hộ mệnh của Harry đứng gác trước cánh cửa lưới bằng vàng khi cửa đóng lại và thang máy bắt đầu kéo lên.

“Tầng tám,” giọng bình thản của một bà phù thủy vang lên.

“Cổng vòm.”

Harry biết ngay là tụi nó gặp rắc rối to.

Cổng vòm đầy người đang đi từ lò sưởi này đến lò sưởi khác để niêm phong lại.

“Harry!”

Hermione ré lên.

“Tụi mình làm gì nữa đây...?”

“NGỪNG LẠI!”

Harry gầm lên, và giọng oai phong của Runcorn vang vọng khắp Cổng vòm: những phù thủy đang niêm phong lò sưởi đứng sững ra.

“Đi theo tôi.”

Nó thì thầm với đám phù thủy gốc Muggle khiếp đảm, họ chúm chụm nhau di chuyển tới trước, bị Hermione và Ron lùa đằng sau.

“Chuyện gì vậy, anh Albert?”

Ông pháp sư hói đầu hỏi, chính là cái ông đã cùng chui ra từ một lò sưởi với Harry trước đó.

Ông ta có vẻ lo lắng.

“Đám người này cần phải ra khỏi Bộ trước khi các ông niêm phong cửa ra,” Harry nói với tất cả uy quyền mà nó có thể gồng lên được.

Đám pháp sư đứng trước mặt nó nhìn nhau.

“Chúng tôi được lệnh đóng tất cả cửa ra và không để cho bất kỳ ai...”

“Ông cãi lệnh tôi hả?”

Harry quát tháo dọa dẫm.

“Ông có muốn tôi đem gia phả của ông ra kiểm tra không, như tôi đã làm cho Dirk Cresswell ấy?”

“Dạ, xin lỗi!”

Ông pháp sư hói đầu há hốc miệng khiếp sợ đứng thụt lùi lại.

“Tôi đâu có ý gì đâu, anh Albert, chẳng qua tôi tưởng... tôi tưởng họ vô đây để thẩm vấn và...”

“Máu của họ thuần,” Harry nói, và giọng trầm đục của nó vang vọng rất ấn tượng khắp sảnh đường.

“Thuần hơn rất nhiều người trong bọn các ông, tôi dám nói vậy.

Quý vị ra đi,” nó nói oang oang với đám phù thủy gốc Muggle, những người này bèn nhốn nháo chạy tới lò sưởi và bắt đầu biến mất từng cặp một.

Các pháp sư của Bộ đứng lưỡng lự, một số tỏ ra bối rối, một số hoảng sợ lo lắng.

Bỗng:

“Mary!”

Bà Cattermole ngoái đầu lại.

Ông Reg Cattermole thực vừa mới chạy ra khỏi thang máy, sau khi hết ói mửa, nhưng vẫn còn xanh xao mệt mỏi.

“Anh R...

Reg?”

Bà Cattermole hết dòm ông chồng đến ngó Ron, nó chửi um lên.

Ông pháp sư hói đầu há hốc miệng, đầu ông quay ngược quay xuôi từ ông Reg Cattermole này đến ông Reg Cattermole kia.

“Ê... chuyện gì đang xảy ra vậy?

Vụ này là sao?”

“Bít lối ra!

Niêm phong cửa!”

Yaxley đã xộc ra từ một thang máy khác và chạy về phía đám người bên cạnh các lò sưởi, nơi tất cả phù thủy gốc Muggle đã chui qua đó biến mất, ngoại trừ bà Cattermole.

Khi ông pháp sư hói đầu giơ cao cây đũa phép, Harry cũng giơ nắm đấm bự tổ của nó thụi cho ông một cái, khiến ông ta bay vèo lên không.

“Nãy giờ hắn giúp bọn phù thủy gốc Muggle chạy trốn đó, Yaxley!”

Harry thét.

Đồng nghiệp của ông hói đầu rộn lên phân bua cãi lại om xòm, thừa cơ hội này Ron túm chặt bà Cattermole, kéo bà tới một lò sưởi vẫn còn mở, và biến mất.

Lúng ta lúng túng, Yaxley hết nhìn Harry đến ông pháp sư bị ăn đấm, trong khi ông Reg Cattermole thực gào lên: “Vợ tôi!

Thằng nào đi với vợ tôi vậy?

Chuyện gì đang xảy ra đây?”

Harry thấy đầu Yaxley quay lại, nó thấy một tia sự thật lộ dần trên gương mặt đần độn.

“Đi mau!”

Harry hét với Hermione; nó nắm tay cô bé và cùng nhảy vào lò sưởi trong lúc lời nguyền của Yaxley bay véo qua đầu của Harry.

Tụi nó ngất ngư một lát trước khi vọt ra khỏi cái bồn cầu tiêu trong một cái buồng vệ sinh.

Harry mở tung cánh cửa: Ron đang đứng đó bên cạnh mấy chậu rửa mặt, vẫn còn vật lộn với bà Cattermole.

“Anh Reg, em không hiểu...”

“Buông ra, tôi không phải là chồng bà, bà phải đi về nhà ngay.”

Một tiếng động vang lên trong cái buồng vệ sinh đằng sau tụi nó; Harry ngoái nhìn ra sau; Yaxley vừa xuất hiện.

“CHUỒN!”

Harry gào lên.

Nó nắm tay Hermione và cánh tay Ron rồi xoay mình tại chỗ.

Bóng tối nhận chìm tụi nó, cùng với cảm giác bàn tay ép chặt, nhưng có gì đó không ổn... tay Hermione dường như tuột khỏi nắm tay của nó...

Nó tự hỏi hay là nó sắp chết ngộp; nó không thể thở hay thấy nữa và điều chắc chắn duy nhất trên thế giới này là cánh tay Ron và mấy ngón tay của Hermione đang từ từ tuột ra...

Và nó nhìn thấy cánh cửa ngôi nhà số mười hai, quảng trường Grimmauld, với cái gõ cửa tạc hình con rắn, nhưng chưa kịp lấy hơi lại thì một tiếng thét vang lên cùng một tia sáng tím nhá lên: bàn tay Hermione đột ngột chụp trở lại tay nó và mọi thứ lại đen thui.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 14: Tên trộm


Tên trộm

Harry mở mắt ra và bị chói lóa vì màu xanh lá và vàng kim; nó không biết chuyện gì đã xảy ra, nó chỉ biết nó đang nằm trên cái gì đó có vẻ là cành và lá cây.

Cố gắng hít hơi vào hai buồng phổi cảm giác như đã bị dẹp lép, nó chớp mắt và nhận ra ánh sáng chói lòa là ánh nắng xuyên qua tán lá cao tít phía trên.

Bỗng một vật gì đó co giật sát mặt nó.

Nó cố nhấc mình lên bằng hai tay và hai đầu gối, sẵn sàng đối đầu với sinh vật hung tợn nho nhỏ nào đó, nhưng nó thấy cái vật đó hóa ra là bàn chân của Ron.

Nhìn quanh quất, Harry thấy hai đứa nó và Hermione đang nằm trên mặt đất một cánh rừng, dường như chỉ có ba đứa nó mà thôi.

Harry nghĩ ngay đến Rừng Cấm, và trong tích tắc, mặc dù nó biết là tụi nó mà xuất hiện trên đất đai của trường Hogwarts thì thiệt là ngu ngốc và nguy hiểm, tim nó vẫn rộn lên khi nghĩ tới chuyện lẻn đi qua rừng cây đến cái chòi của bác Hagrid.

Nhưng, chỉ trong khoảng thời gian ngắn đủ để Ron rên lên một tiếng nho nhỏ và Harry bò về phía Ron, Harry nhận ra đây không phải là Rừng Cấm; cây cối có vẻ nhỏ hơn, mọc thưa hơn, và mặt đất trống trải hơn.

Nó gặp Hermione ở phía đầu của Ron, cô bé cũng đang bò trên hai tay và hai chân.

Ngay khi Harry nhìn xuống Ron, tất cả mọi băn khoăn khác biến ngay ra khỏi đầu Harry, bởi vì máu chảy ướt sũng toàn bộ sườn trái của Ron và mặt nó nổi bật lên, xám ngoét trên mặt đất trải lá.

Món thuốc Đa Quả dịch lúc này đang nhả dần tác dụng: hình dạng Ron đã trở lại một nửa là nó, còn một nửa vẫn là ông Cattermole, tóc nó đang càng lúc càng đỏ hơn trong khi mặt nó chẳng còn được chừa lại cho chút sắc màu nào.

“Nó bị sao vậy?”

“Sót thân,” Hermione nói, ngón tay cô bé đã lần vô trong ống tay áo của Ron, nơi máu ướt nhất và sậm màu nhất.

Harry nhìn mà hãi hùng khi Hermione xé toạc áo sơ mi của Ron.

Lâu nay nó cứ tưởng sót thân là chuyện tiếu lâm, nhưng đây... ruột gan nó cồn cào khó chịu khi Hermione tuột trần cánh tay trên của Ron, để lộ ra một mảng thịt bị thiếu, như thể được thẻo gọn gàng bằng một con dao.

“Harry, mau lên, trong cái túi xách của mình đó, có một cái chai nhãn đề Tinh chất Bạch tiễn...”

“Túi xách... có ngay...”

Harry chạy thật nhanh tới chỗ Hermione đã Độn thổ lên, túm chặt cái túi xách tay bằng hột cườm nhỏ xíu và thọc tay vô trong đó.

Ngay lập tức, hết vật này đến vật khác tự giới thiệu bằng cách tiếp xúc với ngón tay của nó.

Nó sờ được gáy da của những cuốn sách, những tay áo len, gót giầy...

“Mau lên!”

Harry bèn chụp cây đũa phép trên mặt đất và chĩa vào đáy cái túi xách kỳ diệu.

“Bạch tiễn tới đây!”

Một cái chai nhỏ màu nâu vọt ra khỏi túi xách; nó chụp lấy và vội vã quay lại với Hermione và Ron, mắt Ron vẫn còn hé mở, nhưng chỉ thấy mỗi vạch lòng trắng lộ ra giữa hai mí mắt.

“Ron xỉu rồi,” Hermione nói, cô bé cũng tái xanh; mặc dù tóc vẫn còn xám ở vài chỗ, nhưng cô bé trông không còn giống bà Mafalda nữa.

“Harry, mở nút chai giùm mình, tay mình đang run quá.”

Harry vặn cái nút ra khỏi cái chai nhỏ, Hermione cầm lấy và nhễu ba giọt thuốc vào vết thương đang chảy máu.

Khói xanh lè tỏa thành cuộn bốc thẳng lên và khi khói tan, Harry thấy máu đã ngừng chảy.

Vết thương bây giờ trông có vẻ đã lành nhiều ngày, da non đã kéo kín miệng chỗ vừa mới là vết thương toang hoác.

“Tuyệt chiêu!”

Harry nói.

“Mình chỉ dám làm nhiêu đó thôi,” Hermione run rẩy nói.

“Có mấy thần chú có thể giúp Ron bình phục hoàn toàn, nhưng mình không dám thử, rủi mà làm trật thì sẽ gây thương tích trầm trọng hơn...

Ron mất quá nhiều máu rồi...”

“Làm sao mà nó bị thương?

Ý mình là...”

Harry lắc đầu, cố gắng làm cho đầu óc mình sáng sủa ra, để hiểu được chuyện gì vừa xảy ra.

“Tại sao tụi mình lại ở đây?

Mình tưởng tụi mình trở về quảng trường Grimmauld chứ?”

Hermione hít vào một hơi thiệt sâu, cô bé trông như sắp khóc.

“Harry à, mình không nghĩ là tụi mình còn có thể trở về nơi đó nữa.”

“Bồ nói sao...?”

“Khi tụi mình độn thổ, Yaxley đã tóm được mình và mình không thể rảy hắn ra, hắn quá mạnh, và hắn vẫn còn bám chặt khi tụi mình về tới quảng trường Grimmauld, và rồi... vậy đó, mình nghĩ hắn chắc hẳn đã nhìn thấy cánh cửa, và tưởng là tụi mình dừng ở đó, nên hắn thả lỏng nắm tay và mình tìm cách gạt được hắn ra rồi đưa cả ba đứa mình tới đây, thay vì vào nhà ở quảng trường Grimmauld.”

“Nhưng vậy thì, hắn ở đâu?

Khoan... bồ đâu có nói là hắn đang ở Quảng trường Grimmauld hả?

Hắn đâu có thể vô nhà được?”

Mắt Hermione rươm rướm nước mắt khi cô bé gật đầu.

“Harry à, mình nghĩ hắn có thể.

Mình... mình đã buộc hắn thả mình ra bằng cách ếm bùa Rút ra, nhưng mình đã đem hắn vô trong vòng bảo vệ bùa Trung tín.

Từ khi thầy Dumbledore chết, tụi mình đều trở thành Người giữ Bí mật, vậy là coi như mình đã đưa cho hắn bí mật, đúng không?”

Không cần phải giả vờ; Harry biết chắc Hermione nói đúng.

Đây là một cú đấm trầm trọng.

Nếu Yaxley có thể vô được trong nhà thì tụi nó đừng hòng trở lại đó.

Ngay lúc này đây, hắn có lẽ đang đưa những Tử Thần Thực Tử khác đến đó bằng phép Độn thổ.

Mặc dù ngôi nhà âm u và ngột ngạt nỗi buồn, nhưng đó đã là nơi tị nạn an toàn của tụi nó; thậm chí là một kiểu gia đình, khi mà giờ đây Kreacher vui vẻ và thân thiện hơn nhiều.

Harry tưởng tượng con gia tinh giờ này đang bận rộn làm món bánh nướng thập cẩm mà Harry, Ron và Hermione sẽ chẳng bao giờ được ăn, nó nhói lên một nỗi đau tiếc rẻ, một nỗi đau không dính dáng gì đến đồ ăn cả.

“Harry à, mình xin lỗi, mình rất tiếc.”

“Đừng ngu, đâu phải lỗi của bồ.

Nếu cần trách thì đó là lỗi mình...”

Harry đút tay vào túi và lấy ra con mắt của thầy Mắt Điên.

Hermione co rúm lại, vẻ mặt hãi hùng.

“Mụ Umbridge đã gắn nó trên cánh cửa văn phòng của mụ để rình rập người ta.

Mình không thể bỏ mặc nó ở đó... nhưng chính vì vậy mà chúng biết có kẻ đột nhập.”

Hermione chưa kịp trả lời thì Ron rên lên và mở mắt ra.

Nó vẫn còn xám ngoét và mặt rịn mồ hôi lấp lánh.

“Bồ thấy sao?”

Hermione thì thầm.

“Ẹ quá,” Ron rên rỉ, cau mặt khi sờ cánh tay bị thương.

“Tụi mình đang ở đâu đây?”

“Trong khu rừng mà người ta tổ chức Cúp Quidditch Thế giới.”

Hermione nói.

“Mình muốn đến một nơi kín đáo, bí mật, và chỗ này...”

“... là nơi đầu tiên bồ nghĩ tới,” Harry nói nốt giùm Hermione, vừa liếc nhìn quanh cái trảng có vẻ hoang vu.

Nó không thể không nhớ lại điều đã xảy ra khi lần trước tụi nó Độn thổ tới nơi mà Hermione nghĩ tới đầu tiên - làm cách nào bọn Tử Thần Thực Tử lại tìm ra được tụi nó chỉ trong vòng vài phút.

Liệu có phải nhờ phép Đọc tâm trí?

Liệu ngay lúc này Voldemort hay tay sai hắn có biết được Hermione đã đưa tụi nó đi đâu không?

“Bồ có cho là tụi mình nên đi tiếp không?”

Ron hỏi Harry, và Harry có thể thấy qua vẻ mặt Ron là Ron cũng đang suy nghĩ giống nó.

“Mình không biết.”

Trông Ron vẫn còn xanh xao và yếu ớt.

Nó không buồn cố gắng ngồi dậy và có vẻ yếu đến nỗi không thể ngồi dậy được.

Viễn cảnh chuyển nó đi thiệt là nản lòng.

“Bây giờ tụi mình cứ ở lại đây,” Harry nói.

Có vẻ nhẹ nhõm, yên tâm, Hermione đứng dậy.

“Bồ đi đâu vậy?”

Ron hỏi.

“Nếu ở lại đây, tụi mình cần phải ếm một số bùa bảo vệ quanh chỗ này,” Hermione đáp, và giơ cao cây đũa phép, cô bé bắt đầu đi một vòng rộng quanh Harry và Ron, vừa bước đi vừa lầm rầm những câu thần chú.

Harry thấy vài xao động nhỏ trong bầu không khí chung quanh: có vẻ như Hermione vừa tung một làn khói nóng mù mịt phủ lên khoảng đất trống.

“Kỵ giải bùa...

Tổng bảo vệ...

Đuổi Muggle...

Bịt tai...

Harry, bồ có thể lấy lều ra rồi.”

“Lều nào?”

“Trong túi xách!”

“Trong cái... tất nhiên rồi,” Harry nói.

Lần này nó không thèm mất công mò mẫm bên trong túi nữa, mà dùng một bùa triệu tập khác.

Cái lều hiện ra thành một đống tùm lum vải bạt, dây thừng, và cột chống.

Một phần cái nhờ mùi của mấy con mèo, Harry nhận ra đó chính là cái lều mà tụi nó đã ngủ vào cái đêm xảy ra trận tranh Cúp Quidditch Thế giới.

“Mình tưởng cái này của tay Perkins ở Bộ?”

Nó hỏi khi bắt đầu gỡ những cọc buộc lều ra.

“Hình như ổng không muốn lấy lại, bệnh đau lưng của ổng nặng lắm,” Hermione nói, lúc này cô bé đang làm một động tác ếm bùa hình số tám phức tạp bằng cây đũa phép.

“Cho nên ba của Ron nói mình có thể mượn đỡ.

Dựng lên!”

Hermione nói thêm, chĩa cây đũa phép vào đống vải bạt lùng nhùng, và với một chuyển động mềm mại, đống lùng nhùng ấy nổi lên trong không khí rồi ổn định đâu ra đấy, hoàn toàn được dựng xong trên mặt đất trước mặt Harry, và một cái cọc lều vọt ra khỏi hai bàn tay chưng hửng của nó để cắm xuống đất, làm vang lên một tiếng cụp cuối cùng ở đầu một sợi dây lòi tói.

“Ổ Độc,” Hermione hoàn tất bằng một cái vung tay hướng lên trời.

“Mình chỉ có thể làm được nhiêu đây thôi.

Ít nhất thì mình cũng biết được khi bọn chúng đến.

Mình không thể bảo đảm là nó ngăn cản được Vol...”

“Đừng nói tên hắn ra!”

Ron ngắt lời Hermione, giọng nó gay gắt.

Harry và Hermione nhìn nhau.

“Mình xin lỗi,” Ron nói, rên lên khe khẽ khi anh chàng tự nhổm người lên để nhìn hai đứa bạn.

“Nhưng cái tên đó nghe như một lời nguyền hay gì đó.

Tụi mình cứ gọi hắn là Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó, làm ơn mà!”

“Thầy Dumbledore nói sợ sệt một cái tên...”

Harry bắt đầu cãi.

“Chẳng lẽ bồ không nhận thấy sao, bồ tèo, cái sự gọi đúng tên cúng cơm của Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó rốt cuộc đâu có đem lại cái gì hay ho cho thầy Dumbledore đâu?”

Ron ngắt lời Harry.

“Chỉ... chỉ... bày tỏ chút tôn trọng Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó, có được không?”

“Tôn trọng hả?”

Harry lặp lại, nhưng Hermione đưa mắt khuyên can Harry; rõ ràng là nó chớ nên cãi vã với Ron trong khi Ron đang ở trong tình trạng suy yếu như vầy.

Harry và Hermione vừa khiêng vừa kéo Ron chui qua cửa lều.

Bên trong vẫn y chang như trong trí nhớ của Harry; một gian phòng nhỏ, hoàn chỉnh với buồng tắm và nhà bếp tí tẹo.

Harry đẩy qua một bên cái ghế bành cũ và cẩn thận hạ Ron xuống đặt nằm trên tầng dưới của cái giường hai tầng.

Ngay cả cuộc dịch chuyển ngắn ngủi này cũng khiến Ron tái thêm, và khi tụi nó đã đặt Ron nằm đàng hoàng trên nệm, Ron nhắm mắt lại một lần nữa, không nói năng gì mất một lúc lâu.

“Mình sẽ pha chút trà,” Hermione nói không kịp thở, lôi ấm đồng và tách từ đáy túi xách ra, đi về phía nhà bếp.

Harry nhận thấy trà nóng cũng sảng khoái như rượu đế lửa vào cái đêm thầy Mắt Điên chết; dường như đốt cháy được một chút của nỗi sợ hãi đang chấp chới trong lồng ngực nó.

Một hai phút sau Ron phá vỡ sự im lặng.

“Theo mấy bồ nghĩ thì ông bà Cattermole ra sao rồi?”

“May mắn thì họ sẽ thoát,” Hermione nói, ấp hai tay vào cái tách của mình cho thoải mái.

“Chỉ cần ông Cattermole tỉnh táo, ông ấy sẽ đưa bà Cattermole đi bằng cách Độn-thổ-kèm-theo và ngay lúc này họ đang cùng con cái trốn ra khỏi nước.

Đó là điều Harry đã bảo bà ấy làm.”

“Mèn ơi, mình hy vọng họ trốn thoát,” Ron nói, tựa lưng lên cái gối.

Dường như trà làm cho nó tươi tỉnh ra; da nó đã nhuốm lại chút màu sắc.

“Nhưng mình có cảm tưởng ông Reg Cattermole không phải là người tinh ranh cho lắm, theo cái cách mà mọi người nói chuyện với mình khi mình là ổng.

Trời, mình hy vọng họ thoát được... nếu cả hai người đó mà phải vô ngục Azkaban vì tụi mình thì...”

Harry ngó qua Hermione và câu hỏi mà nó đã định hỏi - liệu bà Cattermole có thể Độn thổ cùng với chồng không khi mà bà thiếu mất một cây đũa phép - nghẹn trong cổ họng nó.

Hermione đang ngắm Ron ca cẩm về số phận của gia đình Cattermole, và nét mặt cô nàng dịu dàng đến nỗi Harry cảm thấy gần như thể nó đã chộp được cảnh cô nàng đang hôn Ron.

“Vậy, bồ lấy được nó rồi chớ?”

Harry hỏi Hermione, phần nào để nhắc chừng cô nàng là nó đang có mặt ở đó.

“Lấy... lấy cái gì?”

Hermione nói, hơi giật mình.

“Chứ tụi mình đã vì cái gì mà trải qua tất cả những chuyện vừa rồi?

Cái mặt dây chuyền!

Cái mặt dây chuyền đâu?”

“Bồ lấy được nó rồi?”

Ron thét lên, nhổm người cao hơn cái gối một tí.

“Không ai nói cho mình biết gì hết!

Mèn ơi, đáng ra bồ phải nhắc tới nó chứ!”

“Ôi, chẳng phải tụi mình đã chạy trối mạng mới thoát được bọn Tử Thần Thực Tử sao?”

Hermione nói.

“Đây.”

Và cô bé lấy cái mặt dây chuyền ra khỏi túi áo chùng, đưa nó cho Ron.

Nó bự bằng cái trứng gà.

Một chữ S cầu kỳ khắc chìm cùng với nhiều viên đá nhỏ màu xanh biếc, lấp lánh yếu ớt trong ánh sáng khuếch tán chiếu xuyên qua nóc vải bạt của cái lều.

“Bộ không ai tiêu hủy nó kể từ hồi Kreacher có nó à?”

Ron hỏi đầy hy vọng.

“Ý mình là, có chắc nó vẫn còn là một Trường Sinh Linh Giá không?”

“Mình nghĩ là còn,” Hermione nói, nhận lại cái mặt dây chuyền từ Ron và ngắm nghía nó kỹ càng.

“Nếu nó đã bị tiêu hủy bằng pháp thuật thì sẽ có vài dấu hiệu hư hao.”

Cô bé đưa cái mặt dây chuyền cho Harry.

Harry xoay xoay nó giữa những ngón tay.

Cái mặt dây chuyền coi có vẻ hoàn hảo, y nguyên.

Nó nhớ phần còn lại của cuốn nhật ký rách xơ xác, và viên đá cẩn chiếc nhẫn Trường Sinh Linh Giá đã rạn nứt như thế nào khi đã bị cụ Dumbledore tiêu hủy.

“Mình nghĩ Kreacher nói đúng,” Harry nói.

“Tụi mình sẽ phải tìm ra cách mở cái món này trước rồi mới tiêu hủy được nó.”

Đang nói, đột nhiên Harry ý thức ra mình đang cầm cái gì, rằng cái gì đang sống bên trong cái nắp hộp bằng vàng này.

Sau tất cả những nỗ lực tìm kiếm của tụi nó, Harry thậm chí vẫn cảm thấy một ham muốn mãnh liệt là quăng cái mặt dây chuyền ra xa khỏi mình.

Lấy lại tự chủ, nó thử cạy nắp hộp ra bằng mấy ngón tay, rồi thử câu thần chú mà Hermione đã dùng để mở cửa phòng ngủ của Regulus.

Chẳng có cách nào được việc.

Nó đưa lại cái mặt dây chuyền cho Ron và Hermione, mỗi đứa đều cố gắng hết sức, nhưng cũng chẳng thành công hơn Harry trong việc mở cái nắp hộp.

“Nhưng mà bồ có cảm thấy nó không?”

Ron hỏi bằng giọng nén nhỏ lại, khi nắm chặt cái mặt dây chuyền trong bàn tay siết mạnh.

“Bồ muốn nói gì?”

Ron đưa cái Trường Sinh Linh Giá cho Harry.

Một lát sau Harry nghĩ là nó biết Ron muốn nói gì.

Đó là nhịp máu chảy trong mạch máu của nó, hay là cái gì đó đang đập bên trong cái mặt dây chuyền, như một trái tim kim loại bé xíu?

“Tụi mình làm gì nó đây?”

Hermione hỏi.

“Giữ nó an toàn cho đến khi mình tìm được cách tiêu hủy,” Harry đáp, và mặc dù không muốn lắm, nó vẫn đeo sợi dây chuyền quanh cổ, thả cái mặt dây chuyền vô bên trong lớp áo chùng, ở trong đó cái mặt dây chuyền nằm yên trên ngực nó bên cạnh cái túi bùa mà bác Hagrid đã tặng.

“Mình nghĩ tụi mình cần thay phiên canh gác bên ngoài lều,” nó nói thêm với Hermione khi đứng dậy và vươn vai.

“Và tụi mình cũng cần nghĩ về đồ ăn nữa.

Bồ nằm yên đó,” Nó nói giọng sắc gọn khi Ron toan ngồi dậy và tái xanh tái mét.

Với cái Kiếng mách lẻo Hermione đã tặng Harry vào dịp sinh nhật đặt cẩn thận trên chiếc bàn trong lều, Harry và Hermione dành hết thời gian còn lại trong ngày chia nhau vai trò canh gác.

Tuy nhiên, cái Kiếng mách lẻo vẫn im re nằm nguyên cả ngày, và hoặc là nhờ bùa chú bảo vệ và bùa đuổi Muggle mà Hermione đã ếm chung quanh tụi nó, hoặc là vì người ta ít khi nào lai vãng lối này, mà khu rừng của tụi nó vẫn hoang vắng, không kể chim và sóc thỉnh thoảng xuất hiện.

Ban đêm cũng không khác mấy; Harry thắp cây đũa phép của nó lên khi đổi gác với Hermione vào lúc mười giờ, và nhìn ra khung cảnh hoang vắng, để ý lũ dơi vỗ cánh bay trên cao ngang qua một thẻo trời đầy sao nhìn thấy được từ khoảng trống được bảo vệ của tụi nó.

Bây giờ nó cảm thấy đói, và hơi xây xẩm.

Hermione đã chẳng gói ghém theo chút thực phẩm nào trong cái túi xách mầu nhiệm của mình, bởi vì cô bé cho rằng tụi nó sẽ trở về quảng trường Grimmauld vào đêm nay, cho nên tụi nó chẳng có gì để ăn ngoài mấy cái nấm dại mà Hermione đã hái từ đám cây gần nhất rồi hầm trong một cái cà-mèn.

Mới ngốn được hai miếng Ron đã đẩy phần ăn của nó ra, có vẻ muốn ói; Harry ráng kiên trì ăn nốt chỉ để không làm Hermione buồn.

Sự yên ắng bao quanh bị xao động vì tiếng xào xạc kỳ lạ và âm thanh gì đó nghe như tiếng cành cây nhỏ bị gãy.

Harry nghĩ những tiếng động đó do thú vật gây ra chứ không phải do con người, dù vậy nó vẫn nắm chặt cây đũa phép sẵn sàng ứng phó.

Bụng dạ nó, vốn đã khó chịu vì lỏng bỏng món nấm dai nhách, giờ lại cồn cào không yên.

Nó đã tưởng đâu nó sẽ phấn chấn lên khi tụi nó lấy cắp lại được cái Trường Sinh Linh Giá, nhưng chẳng biết sao nó không vui lên được; khi ngồi nhìn ra bóng tối mà đầu cây đũa phép của nó chỉ rọi sáng được một khoảnh, nó chỉ cảm thấy lo lắng về những điều sẽ xảy ra tiếp theo.

Có vẻ như suốt mấy tuần, mấy tháng, thậm chí mấy năm, nó đã cuống cuồng lao tới mục tiêu này, nhưng giờ đây nó chợt khựng lại, cùng đường.

Vẫn còn những Trường Sinh Linh Giá khác ở đâu đó, nhưng nó không hề biết chúng có thể ở đâu.

Nó thậm chí không biết tất cả những cái đó là gì.

Đồng thời nó còn lúng túng không biết làm thế nào để tiêu hủy cái duy nhất mà tụi nó đã tìm ra, cái Trường Sinh Linh Giá mà hiện giờ đang nằm trên da thịt trần trụi của ngực nó.

Kỳ lạ là cái vật đó không hấp thu nhiệt của cơ thể nó, mà cứ nằm lạnh lẽo trên da thịt nó, lạnh như mới vớt ra từ nước đá.

Thỉnh thoảng Harry nghĩ, hay có lẽ là tưởng tượng, nó có thể cảm nhận được nhịp tim nhỏ xíu đập khẽ khàng một cách thất thường cùng với trái tim của chính nó.

Những linh cảm chẳng lành không biết là gì xâm chiếm nó, nó cố kháng cự lại chúng, nhưng chúng cứ xông vào nó không nao núng.

Kẻ này không thể sống khi kẻ kia còn tồn tại.

Ron và Hermione, lúc này đang chuyện trò khe khẽ trong lều sau lưng nó, hai đứa đó có thể bỏ cuộc nếu tụi nó muốn: nó thì không thể.

Và khi ngồi đó cố gắng chế ngự chính nỗi sợ và sự kiệt quệ của mình, Harry dường như cảm thấy cái Trường Sinh Linh Giá trên ngực nó đang nhịp tích tắc đếm thời gian mà nó còn lại...

Nghĩ nhảm, nó tự nhủ, đừng nghĩ chuyện đó...

Cái thẹo của nó lại bắt đầu nhức nhối.

Nó đã sợ là những ý nghĩ này sẽ khiến chuyện đó xảy ra, và đã cố gắng hướng chúng qua một suy nghĩ khác.

Nó nghĩ tới Kreacher khốn khổ, y hẳn là chờ đợi tụi nó trở về nhà, nhưng lại bị tiếp đón Yaxley.

Liệu con gia tinh sẽ giữ im lặng hay y sẽ nói cho bọn Tử Thần Thực Tử mọi điều mà y biết?

Harry muốn tin là Kreacher đã thay đổi thuận theo nó trong một tháng vừa qua, tin là giờ đây y trung thành với nó, nhưng ai biết điều gì có thể xảy ra?

Nếu bọn Tử Thần Thực Tử tra tấn con gia tinh thì sao?

Những hình ảnh tởm lợm tràn ngập đầu óc Harry và nó cố gắng xua đuổi chúng ra, bởi vì nó chẳng thể làm được gì cho Kreacher cả: nó và Hermione đã quyết định không gọi Kreacher đến; rủi mà ai đó của Bộ cũng đến cùng con gia tinh thì sao?

Tụi nó không hy vọng phép Độn thổ của gia tinh thoát được cái sơ xuất đã để cho Yaxley đến được quảng trường Grimmauld bằng cách níu tay áo của Hermione.

Cái thẹo của Harry bây giờ lại rát bỏng.

Nó nghĩ còn quá nhiều điều tụi nó vẫn chưa biết: thầy Lupin nói đúng về những pháp thuật mà tụi nó chưa từng gặp phải hay tưởng tượng ra.

Tại sao thầy Dumbledore không giải thích nhiều hơn?

Phải chăng thầy đã tưởng là sẽ còn đủ thời giờ; rằng thầy còn sống nhiều năm nữa, có thể nhiều thế kỷ, như cụ Nicolas Flamel bạn của thầy?

Nếu vậy, thầy đã sai lầm...

Lão Snape đã giải quyết chuyện đó...

Lão Snape, con rắn độc thâm hiểm, kẻ đã ra tay trên đỉnh tháp...

Và thầy Dumbledore đã ngã xuống... ngã xuống...

“Đưa nó cho ta, Gregorovitch.”

Giọng Harry cao, rõ, và lạnh lùng, cây đũa phép của nó được giơ ra trước ngực nó bằng một bàn tay trắng xác có những ngón tay dài.

Người đàn ông mà nó đang chĩa cây đũa phép vào đang lơ lửng giữa không trung trong thế chổng ngược, mặc dù chẳng có sợi dây thừng nào treo ông ta lên cả; ông đung đưa trên không, bị trói gô một cách kỳ quái và vô hình, chân tay ông ép sát thân, gương mặt khiếp sợ của ông ở ngang tầm với gương mặt đỏ ửng của Harry nhờ máu vừa dồn lên đầu nó.

Ông có bộ tóc trắng như cước và một bộ râu rậm dày: kiểu râu tóc ông già Noel.

“Tôi không có nó, tôi không còn nó nữa!

Nó bị đánh cắp, lâu, lâu lắm rồi!”

“Đừng lừa dối Chúa tể Voldemort, Gregorovitch.

Ngài biết...

Ngài luôn luôn biết...”

Hai con ngươi của người đàn ông bị treo ngược trợn trắng, nở lớn vì sợ, và dường như chúng tiếp tục trương lớn, càng lúc càng lớn đến khi nỗi u tối trong con mắt đó nuốt chửng toàn bộ con người Harry...

Và giờ đây Harry đang vội vã đi dọc một hành lang tăm tối theo chân một ông Gregorovitch nhỏ thó béo tròn đang giơ cao cái lồng đèn: ông Gregorovitch xông vào một căn phòng ở cuối lối đi và ngọn đèn lồng của ông soi sáng một chỗ có vẻ như xưởng chế tạo; dăm bào và vàng lấp lánh trong vũng sáng đung đưa của ánh đèn, và kia, ngồi chồm hổm trên gờ cửa sổ, trông như một con chim khổng lồ, là một chàng trai trẻ tóc vàng kim.

Trong tích tắc nhờ ánh sáng ngọn đèn lồng soi đến, Harry nhìn thấy vẻ hớn hở trên gương mặt đẹp trai của anh ta.

Thế rồi kẻ đột nhập phóng ra một bùa Choáng từ cây đũa phép của mình và nhảy bật ra khỏi cửa sổ một cách gọn gàng kèm theo một tràng cười ha hả.

Và Harry hấp tấp quay trở ra khỏi đôi tròng mắt nở rộng giống như đường hầm và gương mặt Gregorovitch đầy kinh hãi.

“Tên trộm là ai hả, Gregorovitch?”

Giọng nói lạnh lùng cao ngạo vang lên.

“Tôi không biết, tôi không hề biết, một thanh niên...

đừng... làm ơn...

Xin làm ơn!”

Một tiếng rú cứ vang mãi vang mãi và rồi ánh sáng xanh lè nổ ra...

“Harry!”

Nó mở mắt ra, thở hổn hển, vầng trán phập phồng.

Nó đã bất tỉnh dựa vào vách lều rồi trượt xuống tấm vải bạt, ngã sóng xoài trên mặt đất.

Nó ngước lên nhìn Hermione, mái tóc dày của cô bé che mờ thẻo trời tí xíu nhìn thấy được qua những cành cây đen thui cao cao phía trên đầu tụi nó.

“Chiêm bao,” Harry nói, ngồi dậy lẹ làng và cố gắng đáp lại cái nhìn trừng trừng của Hermione bằng một ánh mắt ngây thơ.

“Chắc là mình ngủ gục, xin lỗi.”

“Mình biết đó là cái thẹo của bồ!

Mình có thể nói chắc qua vẻ mặt của bồ!

Bồ lại ngó vô đầu óc Vol...”

“Đừng nói tới cái tên đó nữa!”

Giọng giận dữ của Ron vang lên từ tuốt trong lều.

“Được,” Hermione vặc lại, “vậy thì, đầu óc Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó!”

“Mình không hề cố ý để cho nó xảy ra!”

Harry nói.

“Đó là một giấc mơ!

Bồ có thể kiểm soát được chuyện bồ chiêm bao không, Hermione?”

“Giá bồ chịu học cách áp dụng Bế quan Bí thuật...”

Nhưng Harry không thích bị rầy la, nó muốn thảo luận chuyện mà nó vừa thấy.

“Hắn đã tìm được Gregorovitch, Hermione à, và mình nghĩ hắn vừa giết ông ta, nhưng trước khi giết ông ta hắn đã đọc tâm trí Gregorovitch và thấy...”

“Mình nghĩ mình sẽ lãnh gác thay cho bồ nếu bồ mệt đến nỗi ngủ gục,” Hermione lạnh lùng nói.

“Mình có thể gác hết phiên.”

“Không, bồ có vẻ kiệt quệ rồi.

Đi vô nằm nghỉ đi.”

Cô nàng ngồi phịch xuống ngay cửa lều, tỏ ra kiên quyết.

Tức tối, nhưng muốn tránh một cuộc cãi cọ, Harry lùi vô trong lều.

Gương mặt vẫn còn tái mét của Ron thò ra từ tầng dưới cái giường ngủ; Harry trèo lên cái giường tầng trên, nằm xuống và nhìn lên nóc lều tối thui.

Một lát sau, Ron nói bằng giọng thật nhỏ để Hermione đang ngồi bó gối ở cửa lều không thể nghe được.

“Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đang làm gì vậy?”

Harry chong mắt lên cố gắng nhớ mọi chi tiết, rồi thì thào trong bóng tối.

“Hắn đã tìm được Gregorovitch.

Hắn trói gô ông ta và tra tấn ông ta.”

“Làm sao Gregorovitch chế ra được cây đũa phép cho hắn nếu bị trói gô?”

“Mình không biết... lạ thiệt, há?”

Harry nhắm mắt lại, nghĩ lại tất cả những gì nó vừa nghe và thấy.

Càng cố nhớ lại sự việc càng vô lý...

Voldemort không hề nói gì về cây đũa phép của Harry, không nói gì về hai cái lõi đũa sinh đôi, cũng không nói về chuyện Gregorovitch chế ra một cây đũa phép mới đầy sức mạnh để đánh bại cây đũa phép của Harry...

“Hắn muốn cái gì đó của Gregorovitch,” Harry nói, mắt vẫn còn nhắm chặt.

“Hắn bảo ông ta đưa cho hắn, nhưng ông Gregorovitch nói ổng đã bị ăn cắp mất cái đó rồi... và rồi... rồi...”

Nó nhớ lại cách mà nó, tức là Voldemort, đã xộc vào mắt, vào ký ức của Gregorovitch...

“Hắn đã đọc đầu óc của Gregorovitch, và mình thấy một gã trẻ tuổi ngồi chồm hỗm trên bệ cửa sổ, gã phóng lời nguyền vào Gregorovitch rồi vọt đi mất.

Gã đã ăn cắp cái đó, gã đã ăn cắp cái mà Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đang tìm.

Và mình... mình nghĩ mình đã từng thấy tên trộm đó ở đâu rồi...”

Harry ước gì nó có thể nhìn thoáng qua gương mặt tên trộm một lần nữa.

Vụ trộm đã xảy ra lâu lắm rồi, theo ông Gregorovitch.

Tại sao tên trộm trẻ tuổi đó lại có vẻ quen quen?”

Những tiếng động trong khu rừng chung quanh bị giảm âm bên trong căn lều; Harry chỉ còn nghe tiếng thở của Ron.

Một lát sau, Ron thì thầm “Bồ có thấy tên trộm cầm cái gì không?”

“Không... chắc là một cái gì nhỏ thôi.”

“Harry à?”

Những giát giường bằng gỗ của cái giường Ron đang nằm nghiến kẽo kẹt khi nó xoay mình.

“Harry à, bồ có cho là Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đang săn lùng cái gì đó để tạo ra một Trường Sinh Linh Giá nữa không?”

“Mình không biết,” Harry nói chậm rãi.

“Có thể.

Nhưng chẳng phải hắn sẽ gặp nguy hiểm nếu cố làm ra một cái khác nữa à?

Chẳng phải Hermione nói là hắn đã đẩy linh hồn hắn tới giới hạn rồi à?”

“Ừ, nhưng có thể hắn không biết điều đó.”

“Ừ... có thể,” Harry nói.

Nó đã biết chắc chắn là Voldemort đang tìm cách giải quyết vấn đề của hai cái lõi đũa phép sinh đôi, nó biết chắc Voldemort đã tìm kiếm giải pháp ở người chế tạo đũa phép già... và đã giết ông ta, mà dường như không hề hỏi ông ta lấy một câu về kiến thức đũa phép.

Voldemort đang cố tìm cái gì?

Tại sao với cả Bộ Pháp thuật và thế giới pháp thuật quy phục dưới chân mà hắn lại vẫn dong ruổi đường xa, cố tình đeo đuổi một món đồ mà Gregorovitch từng sở hữu và đã bị một tên trộm vô danh đánh cắp?

Harry vẫn còn có thể thấy gương mặt của chàng trai trẻ tóc vàng kim; gương mặt hí hửng, phóng túng; có một vẻ khoái trá bịp-được-người-ta hơi có phong cách Fred và George trên gương mặt đó.

Anh ta đã từ bệ cửa sổ phóng vút đi như một con chim, và Harry đã từng thấy anh ta trước đây, nhưng nó không thể nào nghĩ ra ở nơi nào...

Với cái chết của Gregorovitch, giờ đây đến phiên tên trộm có gương mặt hí hửng bị lâm nguy, và suy nghĩ của Harry tập trung vào anh ta, khi tiếng ngáy của Ron bắt đầu vang lên khò khò ở tầng dưới của cái giường và khi chính Harry cũng thiếp dần vào giấc ngủ một lần nữa.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 15: Yêu tinh rửa hận


Yêu tinh rửa hận

Sáng sớm hôm sau, trước khi hai đứa kia thức dậy, Harry đã rời khỏi lều, đi vô khu rừng bao quanh tụi nó để tìm một cây cổ thụ già nhất, lắm mấu cành nhất, và trông có vẻ kiên cường nhất.

Nơi đó, dưới bóng mát cây cổ thụ, nó chôn con mắt của thầy Moody Mắt Điên và đánh dấu nơi chôn bằng cách dùng đũa phép gọt đẽo một thập tự giá nho nhỏ bằng cành cây.

Chẳng nhiều nhặn gì, nhưng Harry nghĩ thầy Mắt Điên thích con mắt được đối xử như vầy hơn là bị gắn trên cánh cửa của mụ Dolores Umbridge.

Sau đó nó trở về lều để đợi hai đứa kia thức dậy, và bàn bạc coi việc sắp tới phải làm là gì.

Harry và Hermione đều cảm thấy tốt nhất là đừng ở đâu quá lâu, và Ron đồng ý, với điều kiện duy nhất là chỗ kế tiếp mà tụi nó dọn tới phải gần chỗ có bánh mì kẹp thịt.

Vì vậy Hermione giải những bùa chú mà cô nàng đã ếm quanh khoảng đất trống, trong khi Harry và Ron xóa hết tất cả những dấu vết và lỗ đóng cọc trên mặt đất, những thứ có thể cho thấy tụi nó đã cắm trại tại đó.

Sau đó tụi nó Độn thổ đến một vùng ngoại ô của một thị trấn nhỏ.

Khi mấy đứa đã dựng xong lều trong một chỗ tạm trú giữa một khu rừng trồng cây tạp, rồi bao bọc căn lều bằng những bùa chú bảo vệ mới ếm, Harry bèn phiêu lưu ra ngoài dưới tấm Áo khoác Tàng hình để kiếm chất bồi dưỡng.

Tuy nhiên, chuyện này không suôn sẻ như dự định.

Nó chưa kịp vô tới phố thì một cơn giá buốt bất thường, rồi một màn sương mù ập xuống, và bầu trời đột ngột tối sầm khiến nó đông cứng ngay tại chỗ.

“Nhưng bồ có thể gọi lên một Thần Hộ mệnh rực sáng kia mà!”

Ron cự nự khi thấy Harry trở về lều với hai bàn tay không, thở hết nổi và miệng thều thào hai tiếng duy nhất: Giám ngục.

“Mình không... gọi lên được,” nó thở hổn hển, tay ấn chặt be sườn để làm dịu cơn đau xóc hông.

“Không... hiện ra.”

Nét mặt kinh hoàng và thất vọng của hai đứa bạn khiến Harry cảm thấy xấu hổ.

Thật là một việc tựa như ác mộng: nhìn thấy bọn Giám ngục lướt ra từ màn sương mù xa xa, và nhận ra, trong cơn lạnh đến tê liệt làm nghẹt buồng phổi cùng một tiếng thét từ xa ứ hết hai tai, rằng nó đã chẳng làm gì được để tự bảo vệ mình.

Harry đã phải dùng tất cả sức mạnh của ý chí để tự nhổ bật mình ra khỏi chỗ đó và bỏ chạy, để mặc cho bọn Giám ngục không có mắt lướt giữa đám dân Muggle có lẽ không nhìn thấy chúng, nhưng chắc chắn cảm được nỗi tuyệt vọng mà chúng gieo rắc nơi nào chúng đi qua.

“Vậy là tụi mình vẫn không có gì ăn!”

“Im đi, Ron!”

Hermione gắt.

“Harry, có chuyện gì vậy?

Theo bồ thì tại sao bồ không thể gọi được Thần Hộ mệnh của bồ?

Ngày hôm qua bồ làm xuất sắc mà!”

“Mình không biết!”

Nó ngồi thụp xuống một trong mấy cái ghế bành cũ của ông Perkins, giờ đây lại càng cảm thấy nhục nhã hơn.

Nó sợ là có cái gì đó bị trục trặc trong người nó.

Ngày hôm qua dường như cách đây đã lâu lắm rồi: hôm nay có lẽ nó đã trở lại tuổi mười ba một lần nữa, trở thành đứa trẻ duy nhất gục ngã trên chuyến xe lửa tốc hành Hogwarts.

Ron đá một cái chân ghế.

“Sao?”

Nó hầm hè với Hermione.

“Tôi đang đói chết được!

Từ khi tôi chảy máu gần chết tôi chỉ được ăn có mỗi hai cái nấm cứt cóc!”

“Vậy thì mày tự đi mà đánh nhau với bọn Giám ngục đi!”

Harry sừng sộ nói.

“Tao đi ngay, nhưng mày không thấy tay tao còn đeo băng sao?”

“Càng tiện chứ sao!”

“Mày nói vậy nghĩa là...?”

“Dĩ nhiên rồi!”

Hermione la lên, vỗ một bàn tay lên trán khiến cho cả hai đứa kia nín thinh.

“Harry, đưa mình cái mặt dây chuyền!

Đưa đây!”

Cô bé sốt ruột, búng tay tanh tách về phía Harry khi nó không phản ứng.

“Cái Trường Sinh Linh Giá, Harry, bồ đang đeo nó!”

Cô bé đưa cả hai tay ra, và Harry cởi sợi dây chuyền vòng qua đầu.

Ngay khi cái mặt dây chuyền không còn tiếp xúc với da nó, Harry cảm thấy thảnh thơi và nhẹ nhõm một cách kỳ lạ.

Nãy giờ nó thậm chí không nhận ra mình bị ướt hoặc có một khối nặng đang đè lên bao tử, chỉ đến khi cả hai cảm giác đó được cất đi.

“Khá hơn không?”

Hermione hỏi.

“Ờ, khỏe hẳn ra!”

“Harry à,” Hermione nói, khom xuống trước mặt Harry và dùng cái giọng mà Harry tưởng như nói với người đang mắc bệnh trầm kha, “bồ có nghĩ là bồ bị ám không?”

“Cái gì?

Không đâu!”

Harry nói, vẻ chống chế.

“Mình nhớ được mọi việc mình làm trong lúc vẫn đeo nó mà.

Nếu bị ám thì mình đã không biết được mình làm chuyện gì, đúng không nào?

Ginny nói với mình là có những lúc nó không nhớ được gì hết.”

“Chà,” Hermione nói, ngó xuống cái mặt dây chuyền nằng nặng.

“Thôi được, có lẽ tụi mình không nên đeo nó.

Tụi mình cứ để nó trong lều.”

“Tụi mình sẽ không để cái Trường Sinh Linh Giá đó nằm lung tung,” Harry kiên quyết nói.

“Nếu tụi mình làm mất nó, nếu nó bị đánh cắp...”

“Ờ, thì thôi, được thôi,” Hermione nói, và cô bé đeo sợi dây chuyền lên cổ mình rồi nhét nó vô trong ngực áo sơ mi mất dạng.

“Nhưng tụi mình sẽ thay phiên nhau đeo nó, để không ai giữ nó quá lâu.”

“Hay,” Ron nói, giọng cáu kỉnh.

“Bây giờ vụ đó giải quyết xong rồi, làm ơn giải quyết tới vụ ăn uống.”

“Được, nhưng tụi mình sẽ đi chỗ khác kiếm đồ ăn,” Hermione vừa nói vừa liếc nửa cái qua Harry.

“Chẳng có lý gì ở hoài cái chỗ mà mình biết là bọn Giám ngục đang vờn quanh.”

Cuối cùng tụi nó hạ trại nghỉ đêm ở một cánh đồng mênh mông thuộc về một trang trại hẻo lánh, và xoay sở kiếm được trứng với bánh mì từ trang trại đó.

“Đâu phải ăn cắp há?”

Hermione băn khoăn hỏi khi tụi nó ăn ngấu nghiến món trứng chiên và bánh mì nướng.

“Mình có để lại tiền trong chuồng gà thì đâu phải ăn cắp hả?”

Hai má phồng đồ ăn, Ron đảo tròn con mắt nói, “Ẹc mi ôn, bồ o ắng nhiều quá.

Ư giãn nào!”

Và, thiệt tình thì dễ thư giãn hơn khi đã được ăn no thoải mái.

Vụ cãi vã về bọn Giám ngục bị quên tuốt trong tiếng cười giòn đêm đó, và Harry cảm thấy phấn khởi, thậm chí tràn trề hy vọng, khi nó lãnh phiên đầu tiên trong ba phiên gác đêm.

Đây là lần đầu tiên tụi nó đụng đầu cái thực tế là có thực mới vực được đạo: bụng no thì tinh thần tốt, bụng trống không thì sanh cãi cọ và rầu rĩ.

Harry là đứa ít ngạc nhiên nhất về chuyện này, bởi vì nó đã từng trải qua những thời kỳ gần chết đói ở nhà của dì dượng Dursley.

Hermione cầm cự tương đối tốt qua mấy đêm mà tụi nó chẳng vơ vét được gì ngoài dâu dại và bánh mốc, tánh khí của cô nàng có lẽ hơi nóng nảy hơn bình thường một tí và sự chịu đựng có phần khắc khổ.

Nhưng Ron, từ trước giờ đã quen ăn ba bữa ngon lành mỗi ngày, hoặc do má nấu hoặc do các gia tinh trường Hogwarts phục vụ, nên khi bị cơn đói hành thì đâm ra cáu kỉnh, không còn biết điều nữa.

Nhằm lúc tới phiên phải đeo cái Trường Sinh Linh Giá mà lại thiếu ăn thì nó khó chịu không còn chỗ nói.

“Đi đâu tiếp?”

Là điệp khúc triền miên của nó.

Dường như nó chẳng tự có sáng kiến gì cả, chỉ trông cậy vào Harry và Hermione đề ra những kế hoạch, trong khi nó thì ngồi nghiền ngẫm về nỗi thiếu đói.

Vì vậy Harry và Hermione cứ phải bỏ ra hàng tiếng đồng hồ vô ích tìm cách quyết định đi đâu để có thể tìm ra những Trường Sinh Linh Giá khác; những cuộc chuyện trò của tụi nó càng lúc càng trở nên lải nhải vì chẳng có thêm được thông tin gì mới.

Vì cụ Dumbledore từng nói với Harry là cụ tin Voldemort đã giấu những Trường Sinh Linh Giá ở những nơi quan trọng đối với hắn, nên tụi nó cứ nhẩm tới nhẩm lui, kiểu như đọc kinh cầu nguyện, những địa điểm mà tụi nó biết Voldemort đã từng sống hay từng thăm viếng.

Cô nhi viện nơi hắn đã chào đời và được nuôi lớn, trường Hogwarts, nơi hắn được học hành; tiệm Borgin và Burks, nơi hắn làm việc sau khi ra trường, kế đến là Albania, nơi hắn lưu vong nhiều năm: những nơi này tạo thành cơ sở cho sự suy đoán của tụi nó.

“Ừ, tụi mình đi Albania đi.

Chỉ cần một buổi trưa là đủ để sục sạo hết cả cái nước này,” Ron nói giọng chua chát.

“Không thể có cái gì ở đó.

Hắn đã tạo xong năm cái Trường Sinh Linh Giá trước khi hắn lánh ra nước ngoài, và thầy Dumbledore thì chắc chắn con rắn là cái thứ sáu,” Hermione nói.

“Tụi mình biết con rắn đâu có ở Albania, nó thường ở bên Vol...”

“Mình đã biểu bồ đừng nói cái tên đó mà!”

“Được!

Con rắn thường ở bên Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy, vừa lòng chưa?”

“Chưa hoàn toàn.”

“Mình không thấy được hắn có giấu cái gì ở tiệm Borgin và Burkes,” Harry nói, nó đã đưa ra ý kiến này nhiều lần trước đó, nhưng nay lặp lại chỉ để phá vỡ sự im lặng khó chịu.

“Mấy ông Borgin và Burke là chuyên viên về khí cụ Hắc ám, họ sẽ nhận ra một Trường Sinh Linh Giá ngay lập tức.”

Ron ngáp dài kiểu châm chọc.

Ráng nhịn cơn sùng bố muốn chọi cái gì đó vào Ron, Harry cứ bàn tới, “Mình còn đoán là hắn có thể giấu cái gì đó ở trường Hogwarts.”

Hermione thở dài.

“Nhưng Harry ơi, nếu có thì thầy Dumbledore đã tìm ra nó rồi.”

Harry lặp lại cái lý lẽ mà nó cứ đưa ra hoài để bênh vực giả thuyết này.

“Thầy Dumbledore nói trước mặt mình là thầy không bao giờ cho là thầy biết hết mọi bí mật của trường Hogwarts.

Mình cam đoan với mấy bồ, nếu có một chỗ nào mà Vol...”

“Ối!”

“Ừ thì KẺ-MÀ-AI-CŨNG-BIẾT-LÀ-AI-ĐÓ!”

Harry quát lên, tức quá sức chịu đựng.

“Nếu có một nơi thực sự quan trọng đối với Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó, thì nơi ấy chính là trường Hogwarts.”

“Ối, thôi đi,” Ron giễu cợt.

“Trường của hắn ấy hả?”

“Ừ, trường của hắn!

Đó là mái nhà thực sự đầu tiên của hắn, nơi hắn là kẻ đặc biệt, điều đó là tất cả đối với hắn, và ngay cả sau khi hắn rời...”

“Có phải tụi mình đang nói về Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó không?

Hay là về bồ?”

Ron hỏi gặng.

Nó đang giật giật cái sợi dây có cái mặt dây chuyền đeo quanh cổ; Harry thoáng nổi cơn điên muốn chụp lấy sợi dây và bóp cổ Ron cho rồi.

“Bồ từng nói với tụi này Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đã xin thầy Dumbledore một công việc sau khi ra trường,” Hermione nói.

“Đúng vậy,” Harry nói.

“Và thầy Dumbledore cho là hắn chỉ muốn trở lại để thử tìm cái gì đó, có thể là vật dụng của một người sáng lập khác của trường, để biến nó thành một cái Trường Sinh Linh Giá nữa?”

“Ừ,” Harry nói.

“Nhưng hắn đâu có được nhận về trường, đúng không?”

Hermione nói.

“Vậy là hắn đâu có cơ hội nào để tìm ra một vật dụng của người sáng lập ở đó rồi giấu nó trong trường!”

“Vậy thì, thôi,” Harry nói, đuối lý.

“Bỏ qua trường Hogwarts.”

Không còn chỉ dẫn nào khác, tụi nó đi vào Luân Đôn, và trốn dưới tấm áo tàng hình, tụi nó đi tìm cô nhi viện, nơi mà Voldemort đã được nuôi dưỡng.

Hermione lẻn vô một thư viện và phát hiện qua hồ sơ lưu của họ là cô nhi viện đã bị phá hủy từ nhiều năm trước.

Tụi nó tới thăm địa điểm thì thấy một tòa cao ốc văn phòng.

“Tụi mình có thể thử đào xuống nền không?”

Hermione đề nghị không được sốt sắng cho lắm.

“Hắn không thể giấu một cái Trường Sinh Linh Giá ở đây,” Harry nói.

Nó biết ngay từ đầu.

Cô nhi viện là nơi Voldemort đã rắp tâm trốn đi; hắn sẽ chẳng đời nào giấu một phần linh hồn hắn ở đó.

Thầy Dumbledore đã chỉ cho Harry thấy Voldemort ưng tìm sự cao sang hay huyền bí cho nơi cất giấu linh hồn hắn; cái xó âm u này của Luân Đôn khác biệt quá sức tưởng tượng khi so với trường Hogwarts, Bộ Pháp thuật hay một tòa nhà cỡ nhà băng phù thủy Gringotts với cửa thếp vàng và sàn cẩm thạch.

Ngay cả khi không có ý tưởng mới nào, tụi nó vẫn tiếp tục đi khắp đất nước, mỗi đêm cắm lều ở một chỗ khác nhau vì lý do an ninh.

Mỗi sáng tụi nó đều kiểm tra cho chắc là đã xóa hết mọi dấu vết về sự hiện diện của tụi nó, rồi lên đường tìm một nơi vắng vẻ hẻo lánh khác, Độn thổ qua những cánh rừng, những khe vực tăm tối giữa các vách đá, những đồng hoang tím ngắt, những sườn núi mọc đầy cây kim tước, và có lần Độn thổ cả vào một cái vịnh đầy sỏi được che chắn tốt.

Cứ cỡ mười hai tiếng đồng hồ tụi nó lại chuyền tay nhau cái Trường Sinh Linh Giá như thể đang chơi trò chuyền-chuyền-trúng-chịu chậm thật chậm, lòng lo sợ bản nhạc sẽ dừng lại, vì phần thưởng sẽ là mười hai tiếng đồng hồ càng lúc càng lo âu và sợ hãi.

Cái thẹo của Harry vẫn nhức nhối.

Nó để ý thấy cơn đau xảy ra thường nhất khi nó đeo cái Trường Sinh Linh Giá.

Đôi khi không sao kìm mình được, nó phản ứng lại với cơn đau.

“Cái gì vậy?

Bồ thấy cái gì vậy?”

Ron gặng hỏi mỗi khi nhận thấy Harry nhăn nhó.

“Một gương mặt,” Harry thì thầm, lần nào cũng vậy, “Cùng một gương mặt.

Tên trộm đã chôm đồ của Gregorovitch.”

Và Ron quay mặt đi, chẳng cần mất công giấu giếm nỗi thất vọng.

Harry biết Ron đang hy vọng biết được tin tức về gia đình mình hay về những hội viên khác trong Hội Phượng Hoàng, nhưng xét cho cùng, nó, Harry đây, đâu phải là một cái ăng ten truyền hình; nó chỉ có thể thấy cái mà Voldemort đang nghĩ vào lúc đó, chứ không thể vặn qua đài khác theo ý thích.

Có vẻ như Voldemort đang liên tục chăm chú vào gã thanh niên không rõ là ai, kẻ có gương mặt hí hửng mà tên họ và nơi ở Harry chắc chắn Voldemort cũng chẳng biết rành hơn nó.

Mỗi khi cái thẹo của Harry tiếp tục rát bỏng và gã trai tóc vàng vui nhộn cứ lượn lờ trêu ngươi trong ký ức nó, Harry đã biết cách đè nén mọi dấu hiệu đau đớn hay khó chịu, bởi vì hai đứa kia chẳng bày tỏ chút cảm thông nào ngoài sự mất kiên nhẫn khi nghe nhắc đến tên trộm.

Harry hoàn toàn không thể trách tụi nó khi mà tụi nó không còn hy vọng vào một hướng dẫn nào về những Trường Sinh Linh Giá.

Khi ngày kéo dài lê thê như thể cả tuần, Harry bắt đầu nghi Ron và Hermione có những cuộc chuyện trò sau lưng nó, và về nó.

Nhiều lần hai đứa cùng đột ngột ngừng nói khi Harry bước vô lều, và đã hai lần nó tình cờ bắt gặp hai đứa rù rì bí mật ở xa xa, đầu kề nhau, nói rất nhanh; hai lần thì cả hai lần tụi nó đều nín khe khi nhận ra Harry đi tới gần, và vội vàng làm bộ lượm củi hay lấy nước.

Harry không thể không tự hỏi, phải chăng hai đứa kia đồng ý tham gia cuộc hành trình mà giờ đây có vẻ là một chuyến đi lang thang vô nghĩa chẳng qua vì tụi nó tưởng Harry có một kế hoạch bí mật gì đó mà đến đúng lúc thì tụi nó cũng sẽ được biết.

Ron không cần cố gắng giấu giếm tâm trạng quạu quọ, và Harry lo rằng Hermione cũng thất vọng vì sự lãnh đạo kém cỏi của nó.

Trong nỗi tuyệt vọng, nó cố gắng nghĩ đến những địa điểm cất giấu Trường Sinh Linh Giá xa hơn, nhưng duy nhất có một nơi cứ nảy ra trong đầu nó là trường Hogwarts, và vì cả hai đứa còn lại đều không nghĩ nơi đó có hứa hẹn gì cả, nó đành thôi không nói tới chốn đó nữa.

Tụi nó di chuyển cùng với mùa thu cuốn qua những miền quê.

Lúc này cả bọn đang cắm lều trên thảm lá rụng.

Sương mù tự nhiên hòa với sương mù do bọn Giám ngục tỏa ra; gió và mưa cộng thêm vô những khó khăn của tụi nó.

Việc Hermione ngày càng giỏi nhận dạng nấm ăn được cũng không bù lấp nổi sự cô lập triền miên của tụi nó, sự thiếu vắng người chung quanh, sự mù tịt của tụi nó về những diễn biến của cuộc chiến chống lại Voldemort.

Một buổi tối, khi cả đám đang ngồi trong lều bên bờ một con sông ở xứ Wales, Ron nói: “Má mình có thể làm phép ra đồ ăn từ không khí.”

Nó rầu rĩ chọc chọc miếng cá xám đã cháy thành than trong dĩa đồ ăn của nó.

Harry tự động liếc nhìn cổ Ron, và đúng như mong đợi, nó thấy lấp lánh sợi dây chuyền vàng của cái Trường Sinh Linh Giá.

Harry tìm cách dập xuống cơn sôi gan muốn chửi vào mặt Ron, nó biết thái độ của Ron sẽ tiến bộ hơn một tí khi nào được cởi cái mặt dây chuyền kia ra.

“Má bồ không thể tạo ra đồ ăn từ không khí được,” Hermione nói.

“Không ai có thể làm được.

Đồ ăn đứng đầu danh sách năm Ngoại lệ Chủ yếu theo Luật Biến hóa Căn bản của Gamp...”

“Ôi, nói tiếng Anh giùm, được không?”

Ron vừa nói vừa cạy một cái xương cá kẹt trong kẽ răng.

“Không thể nào từ không khí mà tạo ra đồ ăn ngon được!

Mình có thể gọi đồ ăn đến nếu mình biết nó ở đâu, mình có thể biến đổi nó, gia tăng khối lượng nếu mình đã có sẵn...”

“Khỏi, đừng mất công gia tăng thêm món này, dở phát ói,” Ron nói.

“Harry bắt con cá và tôi đã cố gắng hết sức mình để chế biến nó!

Tôi nhận thấy tôi rốt cuộc luôn là người nấu nướng, vì tôi là con gái, chắc vậy!”

“Không, đúng ra là vì cô được coi là người giỏi pháp thuật nhất!”

Ron phản pháo.

Hermione nhảy dựng lên và mấy miếng vây cá cháy văng khỏi dĩa của cô nàng rớt xuống sàn.

“Bồ có thể nấu ăn ngày mai, Ron à, bồ có thể tìm nguyên liệu rồi phù phép chúng thành ra cái gì đó xứng đáng để ăn, và tôi sẽ ngồi đây và vênh mặt và than vãn và bồ sẽ thấy là bồ...”

“Im lặng!”

Harry nói, đứng bật dậy giơ cả hai tay lên.

“Im lặng ngay!”

Hermione tỏ vẻ bị tổn thương ghê gớm.

“Làm sao bồ lại có thể bênh nó, có mấy khi nó nấu nướng gì...”

“Hermione, im coi, mình nghe có tiếng ai đó!”

Nó đang chăm chú lắng nghe, hai tay vẫn còn giơ lên, ra dấu khuyên tụi nó đừng nói chuyện.

Thế rồi, vọng từ bên kia dòng sông tăm tối đang cuồn cuộn chảy bên cạnh tụi nó, nó lại nghe có những tiếng nói.

Nó ngoái lại nhìn cái Kiếng Mách lẻo.

Cái kiếng chẳng hề nhúc nhích.

“Bồ đã ếm bùa Ù tai quanh tụi mình rồi chứ?”

Nó thì thầm với Hermione.

“Mình đã làm mọi thứ,” cô nàng thì thầm trả lời.

“Bùa Ù tai, Đuổi Muggle, và các bùa Tan Ảo Tưởng, tất cả.

Họ không thể nghe hay thấy tụi mình, cho dù họ là ai.”

Tiếng lê lết nặng nề và tiếng cào sột soạt, cộng thêm tiếng sỏi đá và cành cây bị dời chỗ cho tụi nó biết là có nhiều người đang trèo xuống cái sườn dốc thẳng đứng mọc đầy cây to đổ xuống bờ sông hẹp chỗ tụi nó đang cắm lều.

Tụi nó rút đũa phép ra, chờ đợi.

Trong bóng tối gần như tuyệt đối, bùa phép tụi nó ếm chung quanh ắt là đủ hiệu lực để bảo vệ tụi nó khỏi sự chú ý của dân Muggle và những phù thủy cùng pháp sư thông thường.

Nhưng nếu đó là bọn Tử Thần Thực Tử thì có lẽ sự phòng thủ của tụi nó sắp được pháp thuật Hắc ám thử thách lần đầu tiên.

Tiếng nói nghe lớn hơn nhưng không thể hiểu được khi nhóm người đầu tiên đến được bờ sông.

Harry ước chừng chủ nhân những tiếng nói đó còn cách tụi nó khoảng sáu thước, nhưng dòng sông chảy như thác đổ ầm ầm khiến nó không thể nói chắc được.

Hermione vớ cái túi hột cườm và bắt đầu lục lọi; một lát sau cô bé kéo ra ba cái Bành trướng nhĩ và liệng cho Ron cùng Harry mỗi đứa một cái, hai đứa này vội vàng nhét mấy sợi dây màu thịt tươi vô lỗ tai và thòng đầu dây kia ra khỏi cửa lều.

Chỉ vài giây sau Harry nghe một giọng đàn ông mệt mỏi.

“Chắc phải có vài con cá hồi ở đây, hay ông cho là chưa tới mùa cá?

Cá hồi lại đây!”

Nhiều tiếng nước bắn tung tóe vang lên rồi tiếng cá quẫy đập trong tay người.

Ai đó làu bàu thán phục.

Harry ép cái Bành trướng nhĩ sâu hơn vô lỗ tai: nó có thể phân biệt được thêm nhiều tiếng nói khác ngoài tiếng rào rạt của dòng sông, nhưng bọn đó không nói tiếng Anh hay bất cứ tiếng người nào mà nó từng nghe.

Giọng thô cục không êm tai, chỉ là một chuỗi rổn rảng phát ra từ yết hầu, và dường như có tới hai kẻ nói, một kẻ nói giọng hơi thấp, chậm hơn kẻ kia.

Một đốm lửa bừng sáng lên bên kia vách lều, những cái bóng to thù lù qua lại giữa ngọn lửa và căn lều.

Mùi cá hồi nướng thơm phưng phức bay về phía tụi nó đầy khiêu khích.

Kế đến là tiếng lanh canh của dao nĩa chạm vào chén dĩa, và người đầu tiên lại nói.

“Đây, Griphook, Gornuk.”

Yêu tinh!

Hermione thì thầm với Harry, nó gật đầu.

“Cám ơn,” hai con yêu tinh giờ cùng nói bằng tiếng Anh.

“Vậy ba vị đã chạy trốn được bao lâu rồi?”

Một giọng nói mới, nghe êm ái dễ chịu cất lên, Harry nghe quen quen một cách mơ hồ, nó hình dung người nói là một ông bụng tròn có gương mặt vui tươi.

“Sáu tuần... hay bảy... tôi quên rồi,” giọng của người đàn ông mệt mỏi.

“Gặp Griphook trong hai ba ngày đầu và không lâu sau thì hợp sức với Gormuk.

Có chút bầu bạn cũng hay.”

Họ ngừng nói một lát, trong lúc dao quèn quẹt vét dĩa và những cái ca thiếc được bưng lên rồi đặt xuống trở lại trên nền đất.

“Tại sao ông phải bỏ đi vậy, ông Ted?”

Người đàn ông nói tiếp.

“Biết họ tới bắt tôi,” giọng êm ái của ông Ted trả lời, và Harry bỗng nhận ra ông ấy là ai: cha của cô Tonks.

“Nghe nói bọn Tử Thần Thực Tử ở trong vùng này hồi tuần rồi và tôi quyết định là nên tránh mặt thì hơn.

Vì những nguyên tắc đạo đức, tôi đã từ chối đăng ký phù thủy gốc Muggle, vậy thôi, cho nên tôi biết chỉ là vấn đề thời gian, trước sau gì rồi cuối cùng tôi cũng phải bỏ đi.

Vợ tôi sẽ không sao, bà ấy thuần chủng.

Và rồi tôi gặp cháu Dean ở đây, để coi, cách nay vài ngày hả cháu?”

“Dạ,” một giọng khác đáp, và Harry, Ron cùng Hermione trợn mắt nhìn nhau, im lặng nhưng quýnh cả lên vì hồi hộp, tụi nó chắc chắn đã nhận ra giọng của Dean Thomas, thằng bạn học của nhà Gryffindor.

“Phù thủy gốc Muggle hả?”

Người đầu tiên hỏi.

“Không rõ,” Dean nói.

“Ba cháu bỏ mẹ cháu hồi cháu còn nhỏ xíu.

Dù sao thì cháu cũng chẳng có bằng chứng ông ấy là phù thủy.”

Lặng yên một lúc, chỉ còn vang lên tiếng nhai nhóp nhép; sau đó ông Ted lại nói.

“Tôi phải nói, ông Dirk à, tôi ngạc nhiên khi gặp ông đấy.

Vui mừng, nhưng ngạc nhiên.

Nghe đồn ông bị bắt rồi.”

“Đúng là tôi đã bị bắt,” ông Dirk nói.

“Tôi bị giải đi được nửa đường đến nhà ngục Azkaban thì đánh trả tháo thân.

Đánh choáng Dawlish và chôm cây chổi của hắn.

Dễ hơn mình tưởng; tôi cho là bây giờ hắn cũng chưa tỉnh ra.

Hình như bị ếm bùa Lú lẫn.

Nếu vậy thì tôi muốn bắt tay ông bà phù thủy nào đã làm việc đó, có lẽ đã cứu mạng tôi.”

Lại một khoảng lặng trong lúc ngọn lửa reo tí tách và dòng sông rào rạt chảy.

Rồi ông Ted nói.

“Còn hai anh vì cớ gì mà bôn tẩu?

Tôi...

ơ... có cảm tưởng yêu tinh nói chung là ủng hộ Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó.”

“Ông có ấn tượng sai lầm rồi,” con yêu tinh có giọng cao nói.

“Chúng tôi không theo phe nào cả.

Đây là chiến tranh phù thủy.”

“Vậy thì sao anh lại chạy trốn?'

“Tôi cho rằng thế là khôn ngoan,” con yêu tinh có giọng trầm hơn nói.

“Vì đã từ chối điều mà tôi coi là một đòi hỏi láo xược, tôi có thể thấy sự an toàn của cá nhân mình bị lâm nguy.”

“Họ đã yêu cầu anh làm gì?”

Ông Ted hỏi.

“Những nhiệm vụ không-thích-hợp với đạo đức chủng tộc tôi,” con yêu tinh trả lời, khi nói vậy giọng y khô khốc hơn và ít tính người hơn.

“Tôi không phải là một gia tinh.”

“Còn anh thì sao, ông Griphook?”

“Lý do tương tự,” con yêu tinh có giọng cao nói.

“Gringotts không còn dưới quyền kiểm soát hoàn toàn của chủng tộc chúng tôi.

Tôi không công nhận ông chủ phù thủy nào cả.”

Y lẩm bẩm nói thêm gì đó bằng kiểu nói trịnh trọng màu mè, và Gormuk phá ra cười.

“Chuyện tếu gì vậy?”

Dean hỏi.

“Anh ta nói,” ông Dirk trả lời, “có những điều cả phù thủy cũng không nhận ra.”

Im lặng một lát.

“Cháu chẳng hiểu gì cả,” Dean nói.

“Trước khi bỏ đi tôi đã làm một cuộc phục thù nho nhỏ,” Griphook nói bằng tiếng Anh.

“Hảo hán...

à, tôi phải gọi là hảo tinh mới phải,” ông Ted vội vàng nói chữa lại, “bộ anh tìm cách nhốt được tên Tử Thần Thực Tử nào vô một trong những cái hầm cổ lỗ sĩ cực kỳ an toàn rồi hả?”

“Nếu tôi có nhốt thì thanh gươm cũng không thể giúp hắn thoát ra,” Griphook trả lời.

Gormuk lại cười phá lên và ngay cả ông Dirk cũng khụt khịt cười khan một tiếng.

“Ở đây vẫn có gì cái đó cháu Dean và tôi không hiểu lắm,” ông Ted nói.

“Severus Snape cũng vậy.

Mặc dù hắn không biết vậy,” Griphook nói, và hai con yêu tinh lại rống lên cười đầy ác ý.

Bên trong lều Harry thở gấp vì hồi hộp: nó và Hermione trợn mắt nhìn nhau, rồi ráng hết sức lắng nghe.

“Ông chưa nghe về vụ đó hả ông Ted?”

Ông Dirk hỏi.

“Vụ mấy đứa nhỏ tính đánh cắp thanh gươm ra khỏi văn phòng lão Snape ở trường Hogwarts ấy.”

Dường như có một dòng điện chạy khắp người Harry, giật tưng tưng mọi dây thần kinh của nó trong lúc nó đứng sững như trời trồng.

“Chưa nghe gì hết,” ông Ted nói.

“Đâu có đăng trên tờ Tiên Tri hả?”

“Đời nào,” ông Dirk cười như nắc nẻ.

“Griphook đây kể cho tôi nghe, anh ta nghe cậu Bill Weasley kể lại.

Bill làm việc cho nhà băng Gringotts và có cô em gái út là một trong mấy đứa nhỏ đã tính ăn cắp thanh gươm đó.”

Harry liếc qua Hermione và Ron, cả hai đang nắm chặt cái Bành trướng nhĩ như bám vào dây đai an toàn.

“Cô bé và hai người bạn vô trong văn phòng lão Snape và đập bể một chân đế thủy tinh có vẻ là nơi lão ta cất giữ thanh gươm.

Lão Snape bắt được tụi nó khi tụi nó đang lén đem thanh gươm xuống cầu thang.”

“Ôi, phước đức cho mấy đứa nhỏ,” ông Ted nói.

“Tụi nó nghĩ sao chứ, bộ tụi nó có thể dùng thanh gươm mà diệt trừ Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó à?

Hay diệt trừ chính lão Snape?”

“Ôi, bất kể tụi nó nghĩ tụi nó sẽ làm gì với thanh gươm đó, thì lão Snape vẫn cho là để thanh gươm ở chỗ cũ thì không an toàn,” ông Dirk nói.

“Hai ngày sau, khi hắn đã được Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó bảo vậy, tôi đoán thế, hắn bèn đem nó đi Luân Đôn để gởi trong nhà băng Gringotts.”

Hai con yêu tinh lại phá ra cười nữa.

“Tôi vẫn chưa hiểu được chuyện này khôi hài ở chỗ nào?”

Ông Ted nói.

“Đồ giả!”

Griphook nói the thé.

“Thanh gươm của Gryffindor hả?”

“Ừ, đúng vậy.

Chỉ là đồ nhái - đúng là một đồ nhái cừ khôi - nhưng cái đồ đó là hàng-chế-tạo-bởi-phù-thủy.

Thanh gươm nguyên thủy được yêu tinh làm ra cách đây hàng trăm năm và mang những đặc tính mà chỉ khí cụ do yêu tinh chế tạo mới có.

Thanh gươm thật của Gryffindor nằm ở đâu chứ chắc chắn không nằm trong hầm an toàn của nhà băng Gringotts.”

“Thì ra vậy,” ông Ted nói.

“Và tôi đoán là anh chẳng hơi đâu mà nói cho tên Tử Thần Thực Tử ấy biết sự thật?”

“Tôi thấy chẳng có lý do gì phải khiến họ bận tâm vì thông tin đó,” Griphook ngạo nghễ nói, và giờ đây ông Ted và Dean cùng cười rộ lên với Gormuk và ông Dirk.

Bên trong lều, Harry nhắm mắt lại, cầu mong ai đó hỏi cái câu mà nó cần được trả lời, và sau một phút dường như dài bằng mười phút, Dean góp chuyện (Harry thót ruột nhớ ra anh chàng này cũng là bồ cũ của Ginny).

“Chuyện gì xảy ra cho Ginny và mấy đứa kia?

Mấy đứa tính đánh cắp thanh gươm ấy?”

“À, tụi nó bị trừng phạt, một cách tàn bạo,” Griphook dửng dưng nói.

“Nhưng tụi nó không sao chứ?”

Ông Ted hỏi ngay.

“Ý tôi là, gia đình Weasley đâu cần có thêm đứa con nào nữa bị thương tật, phải không?”

“Tụi nó bị thương không trầm trọng lắm, theo như tôi biết,” Griphook nói.

“May cho tụi nó,” ông Ted nói.

“Với thành tích trong quá khứ của Snape, tôi cho là tụi nó còn sống là đáng mừng rồi.”

“Vậy là ông tin câu chuyện đó, hả ông Ted?”

Ông Dirk hỏi.

“Ông tin Snape giết cụ Dumbledore à?”

“Dĩ nhiên là tôi tin,” ông Ted nói.

“Ông sẽ không ngồi đó mà nói với tôi là ông nghĩ Potter có dính dáng vô chuyện đó đấy chứ?”

“Những ngày này khó mà biết là nên tin cái gì,” ông Dirk lẩm bẩm.

“Cháu biết Harry Potter,” Dean nói.

“Và cháu đoán nó là kẻ đó thật - Kẻ Được Chọn, hay kẻ gì đó tùy các bác gọi.”

“Ừ, có rất nhiều người muốn tin nó là kẻ đó, cháu à.”

Ông Dirk nói.

“Kể cả tôi.

Nhưng bây giờ nó ở đâu?

Đào tẩu rồi, bề ngoài có vẻ vậy.

Mấy người nghĩ coi, nếu nó biết điều gì đó mà chúng ta không biết, hay có tài năng gì đặc biệt đánh được tên kia, thì nó nên công khai chiến đấu, tập hợp lực lượng kháng chiến đi chứ, thay vì trốn chui trốn nhủi.

Và quý vị có biết, tờ Tiên Tri đã đưa ra khá nhiều chứng cớ chống lại nó...”

“Tờ Tiên Tri hả?”

Ông Ted giễu cợt.

“Ông đáng bị xỏ mũi nếu ông vẫn còn đọc đồ rác rưởi đó, ông Dirk à.

Ông muốn sự thật thì cứ thử đọc tờ Kẻ Lý Sự.”

Đột nhiên nổ ra một tràng những tiếng nghẹn họng, tiếng khạc nhổ, rồi thêm vào rất nhiều tiếng thụi bịch bịch; căn cứ vào âm thanh thì ông Dirk đã nuốt phải một cái xương cá.

Cuối cùng ông phun ra phèo phèo, “Kẻ Lý Sự hả?

Cái đồ giẻ rách khùng điên của tay Xeno Lovegood hả?”

“Dạo này tờ báo không đến nỗi khùng lắm đâu,” ông Ted nói.

“Ông nên đọc qua một cái.

Ông Xeno in tất cả những thứ mà tờ Tiên Tri bỏ qua, trong số báo mới nhất không còn đá động gì tới mấy con Khụt khịt Sừng nát nữa.

Để coi, tôi không biết chúng sẽ để cho ổng đứng được bao lâu nữa.

Nhưng ông Xeno vẫn nói, trên trang đầu mỗi số, rằng bất cứ phù thủy nào chống lại Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy nên coi việc giúp đỡ Harry Potter là ưu tiên số một.”

“Coi bộ khó mà giúp một thằng nhóc đã biến khỏi mặt đất,” ông Dirk nói.

“Nghe đây, nội cái chuyện cậu ta không để cho chúng bắt được cũng đáng kể là thành tích vĩ đại rồi,” ông Ted nói.

“Tôi vui vẻ làm theo mách bảo của cậu ấy đấy.

Đó là điều mà chúng ta đang làm đây, giữ cho được tự do, đúng chưa nào?”

“Ừ há, anh có lý chỗ đó.”

Ông Dirk nặng nhọc nói “Với toàn thể nhân viên Bộ và cả bầy chỉ điểm của chúng đang lùng kiếm nó, tôi e lúc này nó đã bị bắt.

Nghĩ coi, biết đâu họ đã chẳng bắt được nó và giết nó rồi mà không cần công bố?”

“Ôi, đừng nói vậy chớ, ông Dirk,” ông Ted cằn nhằn.

Tiếng trò chuyện tạm ngừng một lúc lâu, chỉ còn vang lên tiếng dao nĩa khua lách cách.

Khi lại tiếp tục câu chuyện thì họ chỉ bàn về việc nên ngủ cạnh bờ sông hay lùi lên triền dốc có rừng cây.

Sau khi quyết định là cây sẽ che chắn tốt hơn, họ dập tắt lửa, rồi trèo lên dốc, tiếng nói của họ xa dần.

Harry, Ron và Hermione cuộn lại mấy cái Bành trướng nhĩ.

Harry, lúc nãy thấy nghe lóm càng lâu thì càng khó giữ im lặng, bây giờ lại tự thấy không thể nói gì thêm nữa.

“Ginny... thanh gươm...”

“Mình biết!”

Hermione nói.

Cô bé nhào tới cái túi xách bằng hột cườm, lần này thọc cánh tay vào túi xách sâu đến tận nách.

“Đây... rồi...” cô bé nói rít qua kẽ răng, và lôi ra cái gì đó rõ ràng là ở tận dưới đáy túi.

Dần dần cạnh của một cái khung tranh được trang trí công phu lộ ra.

Harry vội tới giúp một tay.

Khi hai đứa nó đem được bức chân dung trống trơn của cụ Phineas Nigellus ra khỏi cái túi của Hermione, cô bé chĩa cây đũa phép vào bức tranh, sẵn sàng ếm bùa bất cứ lúc nào.

“Nếu có ai đó đánh tráo thanh gươm thật bằng thanh gươm giả khi thanh gươm để trong văn phòng thầy Dumbledore,” cô nàng thở hổn hển khi hai đứa hè nhau dựng bức tranh vào vách lều, “thì cụ Phineas Nigellus ắt hẳn phải thấy lúc chuyện xảy ra, cụ được treo ngay kế bên hộp đựng gươm mà!”

“Trừ khi cụ ngủ,” Harry nói, nhưng nó vẫn nín thở khi Hermione quỳ xuống trước bức tranh sơn dầu trống trơn, cây đũa phép của cô bé chĩa vào ngay chính giữa bức tranh, đằng hắng rồi nói:

“Ơ... cụ Phineas?

Cụ Phineas Nigellus ơi.”

Không thấy gì xảy ra.

“Cụ Phineas Nigellus à?”

Hermione gọi một lần nữa.

“Thưa giáo sư Black?

Xin thầy vui lòng, chúng con có thể thưa chuyện với thầy không?

Xin thầy làm ơn?”

“Hai tiếng 'làm ơn' luôn được việc,” một giọng lạnh lùng, cạnh khóe vang lên, và cụ Phineas Nigellus nhẹ nhàng nhập vào bức chân dung cụ.

Ngay lập tức, Hermione la lên:

“Bịt mắt!”

Một dải bịt mắt màu đen hiện ra che đôi mắt đen sắc sảo của cụ Phineas Nigellus khiến cụ đụng đầu phải khung tranh và thét lên vì đau đớn.

“Cái gì... sao dám... các người...?”

“Dạ, con rất tiếc, thưa giáo sư Black,” Hermione nói, “nhưng đây là sự thận trọng cần thiết!”

“Gỡ cái đồ thêm thắt hôi hám này ra ngay!

Ta bảo, gỡ ra!

Tụi bây đang làm hư một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại!

Ta đang ở đâu?

Chuyện gì đang xảy ra hả?”

“Thầy khỏi bận tâm chúng ta đang ở đâu,” Harry nói, và cụ Phineas Nigellus ngây ra, từ bỏ nỗ lực tháo gỡ cái bịt mắt vẽ trên mặt cụ.

“Có thể nào đó là giọng nói của cậu Potter ưa lẩn tránh?”

“Có thể lắm,” Harry nói, biết là điều đó sẽ khiến cụ Phineas Nigellus hứng thú.

“Tụi con có hai câu muốn hỏi thầy... về thanh gươm của Gryffindor.”

“À,” cụ Phineas Nigellus nói, lúc này cụ đang xoay đầu qua xoay đầu lại cố gắng thấy cho được Harry.

“Phải.

Con bé ngu ngốc hành động hết sức thiếu khôn ngoan ở đó...”

“Đừng nói động tới em gái tôi!”

Ron nói giọng cộc cằn.

Cụ Phineas Nigellus nhướn đôi chân mày khinh khỉnh.

“Ai nữa đó?”

Cụ hỏi, quay đầu từ bên này qua bên kia.

“Giọng của trò khiến ta không hài lòng!

Con bé và bạn nó đã cực kỳ liều lĩnh.

Trộm cắp của hiệu trưởng.”

“Tụi nó đâu có trộm cắp,” Harry nói.

“Thanh gươm đâu phải của lão Snape.”

“Thanh gươm thuộc về ngôi trường của giáo sư Snape,” cụ Phineas Nigellus nói.

“Chính đáng ra thì con bé Weasley đó có quyền gì đối với thanh gươm?

Nó đáng bị trừng phạt, cũng như thằng ngốc Longbottom và con khùng Lovegood!”

“Neville không phải thằng ngốc và Luna không phải con khùng!”

Hermione nói.

“Ta đang ở đâu đây?”

Cụ Phineas Nigellus lại hỏi, lại bắt đầu vật lộn với cái dải bịt mắt.

“Các trò đã đem ta đến đâu đây?

Tại sao các trò lại dọn ta ra khỏi nhà của tổ tiên ta?”

“Thầy đừng để ý chuyện đó!

Lão Snape trừng phạt Ginny, Neville, và Luna như thế nào?”

Harry khẩn khoản hỏi.

“Giáo sư Snape phái chúng vô Rừng Cấm, làm việc gì đó cho lão hậu đậu Hagrid.”

“Bác Hagrid không phải là kẻ hậu đậu,” Hermione rít lên.

“Và lão Snape chắc tưởng thế là trừng phạt,” Harry nói, “nhưng Ginny, Neville và Luna có lẽ được một bữa cười no với bác Hagrid.

Khu Rừng Cấm...

Tụi nó từng đương đầu nhiều thứ còn tệ hơn Rừng Cấm nữa kìa, nhằm nhò gì!”

Nó cảm thấy nhẹ nhõm hẳn; nó đã tưởng tượng ra những điều khủng khiếp, nhẹ nhất cũng là bị Lời nguyền Tra tấn.

“Thưa giáo sư Black, điều mà tụi con thiệt tình muốn biết là liệu có ai đó, ơ, từng lấy thanh gươm ra không?

Có thể người ta lấy nó ra để lau chùi... hay làm gì đó!”

Cụ Phineas Nigellus lại tạm ngừng giữa chừng cuộc vật lộn để giải phóng đôi mắt và cười khẩy.

“Cái đồ gốc Muggle,” cụ nói.

“Khí giới do yêu tinh chế tạo không cần lau chùi, con ngây ngô à.

Bạc của yêu tinh kháng lại bụi bặm tầm thường, chỉ hấp thu điều gì làm nó sắc bén thêm.”

“Đừng gọi Hermione là con ngây ngô,” Harry nói.

“Ta phát mệt vì bị cãi hoài,” cụ Phineas Nigellus nói.

“Có lẽ đã tới lúc ta trở về văn phòng hiệu trưởng được rồi chứ?”

Vẫn bị bịt mắt, cụ lại đụng đầu vô khung tranh khi cố tìm đường ra khỏi bức tranh của cụ để trở về bức tranh ở trường Hogwarts.

Harry bỗng nảy ra một ý bất ngờ.

“Thầy Dumbledore!

Thầy có thể đưa thầy Dumbledore đến gặp tụi con không?”

“Làm ơn nói lại coi!”

Cụ Phineas Nigellus hỏi.

“Chân dung của giáo sư Dumbledore... thầy có thể đưa thầy Dumbledore cùng về đây, trong bức tranh này của thầy không?”

Cụ Phineas Nigellus xoay mặt về hướng phát ra giọng nói của Harry.

“Potter à, rõ ràng là không phải chỉ bọn phù thủy gốc Muggle mới dốt nát.

Những bức chân dung ở trường Hogwarts có thể thông tin với nhau, nhưng họ không thể đi lung tung ra ngoài lâu đài trừ khi đi thăm chính bức tranh vẽ mình ở đâu đó.

Cụ Dumbledore không thể đến đây cùng với ta, và sau sự đối đãi mà ta nhận được từ tay các trò, ta có thể cam đoan với các trò là ta sẽ không bao giờ trở lại nữa đâu!”

Harry hơi tiu nghỉu nhìn cụ Phineas Nigellus đang nỗ lực gấp đôi để rời khỏi khung tranh.

“Thưa giáo sư Black,” Hermione nói, “Thầy làm ơn nói cho tụi con biết lần cuối cùng thanh gươm được lấy ra khỏi chân đế là khi nào?

Ý con là trước khi Ginny lấy nó ấy?”

Cụ Phineas khịt mũi sốt ruột.

“Ta tin rằng lần cuối cùng ta thấy thanh gươm của Gryffindor rời khỏi chân đế là khi giáo sư Dumbledore dùng nó để nạy một cái nhẫn.”

Hermione quay phắt lại nhìn Harry.

Cả hai đều không dám nói thêm gì trước mặt cụ Phineas Nigellus, rốt cuộc cụ đã xác định được lối ra.

“Thôi, chúc các trò ngủ ngon,” cụ nói, hơi châm chọc, và lại bắt đầu biến mất dần.

Khi chỉ còn thấy vành nón của cụ, Harry bỗng hét lớn.

“Khoan!

Cụ có nói với lão Snape là cụ đã thấy chuyện đó chưa?”

Cụ Phineas Nigellus thò cái đầu bị bịt mắt trở vô bức tranh.

“Giáo sư Snape có nhiều chuyện quan trọng để lo nghĩ hơn là những trò lập dị hơi bị nhiều của cụ Dumbledore.

Chào nghe, Potter!”

Và dứt lời, cụ biến mất hoàn toàn, chẳng để lại dấu vết gì ngoài cái nền vải tối thui.

“Harry!”

Hermione kêu lên.

“Mình biết!”

Harry hét.

Không tự dằn lòng được, nó vung tay đấm vào không khí; thông tin này đáng giá hơn cả những gì nó dám hy vọng.

Nó sải bước đi qua đi lại trong lều, cảm thấy nó có thể chạy cả một dặm; thậm chí không còn cảm thấy đói nữa.

Hermione đang nhét bức tranh của cụ Phineas Nigellus trở vào cái túi xách hột cườm.

Khi đã cài khóa xong, cô bé liệng cái túi qua một bên và ngước gương mặt sáng rỡ lên nhìn Harry.

“Thanh gươm có thể tiêu diệt Trường Sinh Linh Giá!

Lưỡi gươm do yêu tinh chế tạo chỉ hấp thu cái gì làm cho nó mạnh thêm lên - Harry à, thanh gươm đó đã nhiễm nọc độc rắn thần!”

“Và thầy Dumbledore đã không đưa nó cho mình vì thầy còn cần đến nó, thầy muốn dùng nó để diệt cái mặt dây chuyền...”

“...

Và ắt là thầy biết họ sẽ không để cho bồ nhận thanh gươm nếu thầy ghi nó trong di chúc...”

“... vì vậy thầy đã làm một mẫu nhái y chang...”

“... và đặt thanh gươm giả trên cái chân đế thủy tinh...”

“... và thầy cất thanh gươm thật...

ở đâu?”

Tụi nó đăm đăm nhìn vào mắt nhau và Harry cảm thấy câu trả lời lơ lửng vô hình trong không gian trên đầu tụi nó, gần đến mức ứa gan.

Tại sao cụ Dumbledore không nói cho nó biết?

Hay thật ra cụ đã nói với Harry, nhưng vào lúc đó Harry đã chẳng hiểu ra.

“Suy nghĩ coi!”

Hermione thì thầm.

“Suy nghĩ đi!

Thầy có thể để nó ở đâu?”

“Không ở trong trường Hogwarts,” Harry nói, lại bước tiếp.

“Đâu đó ở làng Hogsmead?”

Hermione đưa ra giả thuyết.

“Trong Lều Thét chăng?”

Harry nói.

“Không ai vô trong đó hết.”

“Nhưng thầy Snape biết cách vô trong đó, như vậy chẳng phải là hơi liều lĩnh sao?”

“Cụ Dumbledore tin lão Snape mà!”

Harry nhắc cô bé.

“Nhưng không đủ tin để nói với thầy là cụ đã đánh tráo thanh gươm,” Hermione nói.

“Ừ, bồ nói đúng!”

Harry nói, và nó còn cảm thấy phấn khởi hơn khi nghĩ rằng cụ Dumbledore vẫn có những hạn chế, tuy mong manh, trong sự tin cậy lão Snape.

“Vậy thì, liệu thầy có giấu thanh gươm ở nơi nào đó rất xa làng Hogsmead không?

Bồ thấy sao, Ron?

Ron à?”

Harry nhìn quanh.

Trong một thoáng ngơ ngác Harry tưởng Ron đã bỏ ra khỏi lều, rồi chợt nhận ra Ron đang nằm dài trong bóng tối của cái giường hai tầng, coi bộ lạnh lùng chai đá.

“Ủa, mấy người nhớ ra tôi rồi à?”

Ron nói.

“Cái gì?”

Ron khụt khịt mũi trong khi vẫn ngó trừng trừng cái gầm của tầng giường trên.

“Hai người cứ tiếp tục.

Đừng để tôi làm cụt hứng.”

Không biết nói sao, Harry nhìn Hermione cầu cứu, nhưng cô bé lắc đầu, dường như cũng giống Harry, chẳng biết xử lý tình huống này ra sao nữa.

“Có chuyện gì chứ?”

Harry hỏi.

“Chuyện gì?

Chẳng có chuyện gì hết,” Ron nói, vẫn không chịu nhìn Harry.

“Nếu xét theo bồ thì dù thế nào đi nữa làm gì có chuyện gì.”

Nhiều tiếng tưng tưng dội trên tấm vải căng lều ngay trên đầu tụi nó.

Trời bắt đầu mưa.

“Chà, bồ rõ ràng là có chuyện gì đó,” Harry nói.

“Bồ có chịu khạc ra không?”

Ron quăng cặp giò ra khỏi giường và ngồi dậy.

Ngó mặt nó khổ não, chẳng giống chính nó chút nào.

“Được thôi, tôi khạc ra đây.

Đừng có mong tôi nhổ lều lên nhổ lều xuống chỉ vì còn mấy món khỉ gió gì gì nữa chúng ta phải tìm kiếm.

Chỉ cần thêm nó vô cái danh sách những thứ bồ không biết.”

“Mình không biết á?”

Harry lặp lại.

“Mình không biết sao?”

Tưng, tưng, tưng.

Mưa rơi lớn hơn và nặng hột hơn, mưa lộp độp quanh tụi nó, trên bờ sông trải đầy lá rụng, mưa rơi xuống dòng sông róc rách chảy xuyên bóng đêm.

Nỗi sợ đã dập tắt niềm hân hoan của Harry.

Ron đang nói đúng chóc cái điều nó vẫn nghi ngờ, cái điều đã khiến nó sợ không dám nghĩ tới.

“Không hẳn là tôi không có những lúc vui vẻ ở đây,” Ron nói, “mấy bồ biết đó, với cánh tay đeo băng và không có gì để ăn rồi đêm đêm lạnh cứng cả lưng.

Tôi chỉ hy vọng, mấy bồ hiểu cho, là sau khi đã chạy lòng vòng mấy tuần lễ thì tụi mình phải đạt được cái gì đó chứ.”

“Ron”, Hermione nói, nhưng bằng một giọng nhỏ đến nỗi Ron giả đò như không nghe thấy vì tiếng mưa rầm rầm như tiếng trống nện trên nóc lều.

“Mình tưởng bồ hiểu bồ tham gia để làm gì.”

“Ừ, tôi cũng tưởng đâu tôi hiểu chớ.”

“Vậy thì có điều gì trong chuyện này không đúng như kỳ vọng của bồ?”

Harry hỏi.

Cơn giận đang ngấm vô lời cãi của nó.

“Bồ tưởng là tụi mình sẽ ở khách sạn năm sao chắc?

Cách ngày lại kiếm ra một cái Trường Sinh Linh Giá chắc?

Bồ tưởng tới lễ Giáng Sinh thì sẽ về với má hả?”

“Tụi này tưởng bồ biết việc bồ đang làm!”

Ron đứng dậy hét vang, và lời của nó không khác gì những lưỡi dao nung đâm vào Harry.

“Tụi này tưởng thầy Dumbledore đã nói cho bồ biết phải làm gì, tụi này tưởng đâu bồ có một kế hoạch thật sự!”

“Ron!”

Hermione nói, lần này đã nghe được rõ ràng trong tiếng mưa ầm ầm trên mái lều, nhưng một lần nữa, Ron phớt lờ cô bé.

“À, xin lỗi đã khiến bồ thất vọng,” Harry nói, giọng nó khá bình tĩnh cho dù nó cảm thấy rỗng tuếch, không thỏa đáng.

“Mình đã nói thẳng với bồ ngay từ lúc đầu.

Mình đã nói với mấy bồ tất cả những gì thầy Dumbledore nói với mình.

Và trong trường hợp bồ chưa ghi nhận, thì mình nhắc là tụi mình đã tìm được một cái Trường Sinh Linh Giá...”

“Đúng, và tụi mình tìm cách diệt nó cũng khốn khổ không kém gì tìm kiếm những cái còn lại - nói cách khác, không có kẽ thoát!”

“Cởi cái mặt dây chuyền ra đi, Ron,” Hermione nói, giọng cô bé cao lên một cách bất thường.

“Làm ơn cởi nó ra.

Bồ sẽ không nói năng như vậy nếu bồ không đeo cái đó suốt cả ngày.”

“Chà, nó cũng sẽ nói vậy thôi,” Harry nói, nó không muốn Ron vin vào cái cớ nào cả.

“Bồ tưởng là mình không để ý hai bồ thì thầm sau lưng mình hả?

Bồ tưởng mình không đoán được mấy bồ nghĩ sao về chuyện này hả?”

“Harry à, tụi này đâu có...”

“Đừng nói láo!”

Ron sấn tới cô nàng.

“Cô cũng nói thế, cô đã nói cô thất vọng, cô đã nói cô tưởng nó còn có thêm gì đó nữa để tiếp tục...”

“Mình không nói cái kiểu đó...

Harry, mình không hề!”

Hermione bật khóc.

Mưa dội ầm ầm xuống căn lều, nước mắt tuôn xuống gương mặt Hermione, và cơn kích động trước đó vài phút biến mất như thể chưa từng xảy ra, như một cái pháo hoa đã bùng tỏa ra rồi tắt ngấm, để lại mọi thứ tối tăm, ẩm ướt, và lạnh lẽo.

Thanh gươm của Gryffindor cất ở đâu tụi nó không biết, và tụi nó là ba thiếu niên mười mấy tuổi ngồi trong một cái lều, với thành tích duy nhất là không chết, hay chưa chết.

“Vậy tại sao bồ còn ở đây?”

Harry hỏi Ron.

“Biết chết liền.”

“Vậy thì về nhà đi.”

“Được, chắc tao sẽ về thôi!”

Ron hét, và nó sấn mấy bước về phía Harry, Harry không lùi lại.

“Mày không nghe họ nói gì về em gái tao hả?

Vậy mà mày có thèm lý tới mảy may nào đâu, có không, chỉ là Rừng Cấm thôi mà, Harry Potter tôi-từng-đương-đầu-còn-tệ-hơn cóc cần quan tâm chuyện gì xảy ra cho con bé ở trong đó, phải, nhưng tao thì quan tâm, phải, mấy con nhện khổng lồ và cái đồ khùng...”

“Mình chỉ nói là...

Ginny và mấy đứa kia, tụi nó có bác Hagrid bên cạnh...”

“Được, tao hiểu, mày đâu thèm quan tâm!

Nhưng những người còn lại trong gia đình tao thì sao, 'gia đình Weasley đâu cần có thêm một đứa con thương tật nữa', mày không nghe hả?”

“Có, mình...”

“Nhưng không mất công tìm hiểu ý nghĩa chứ gì?”

“Ron!”

Hermione nói, chen vô giữa hai đứa nó.

“Mình không nghĩ như thế có nghĩa là lại mới có chuyện gì xảy ra thêm, chuyện gì đó mà tụi mình không biết; nghĩ đi Ron, anh Bill đã có thẹo rồi, bây giờ nhiều người ắt cũng đã thấy anh George sứt tai, và bồ thì bị coi là nằm trên giường hấp hối vì bệnh đậu rồng, mình chắc là ông ấy chỉ muốn nói...”

“A, mấy người chắc thế hả?

Vậy thôi, được rồi, tôi sẽ chẳng việc gì phải rộn lên vì đám kia nữa.

Mấy người thì có bị ảnh hưởng gì đâu, há, ba má mấy người thì đã an toàn cao bay xa chạy...”

“Ba má tôi chết rồi!”

Harry rống lên.

“Còn ba má tao thì sắp có cùng số phận đó!”

Ron gào lên.

“Vậy thì ĐI!”

Harry gầm lên.

“Đi về với ba má, giả đò như mày vừa hết bệnh đậu rồng và má sẽ cho mày ăn ứ họng và...”

Ron làm một động tác đột ngột: Harry phản ứng ngay, nhưng đũa phép của hai đứa nó chưa kịp rút ra khỏi túi áo thì Hermione đã giơ cây đũa phép của cô bé lên.

“Che chắn!”

Cô bé hô lên, và một tấm chắn vô hình mở rộng giữa một bên là Harry và Hermione với bên kia là Ron, tất cả ba đứa nó đều bị quyền lực của thần chú đẩy lùi vài bước, và Harry với Ron trừng mắt ngó nhau từ hai bên bức rào cản trong suốt như thể tụi nó đang nhìn rõ mặt nhau lần đầu tiên trong đời.

Harry cảm thấy một nỗi căm ghét như tàn phá dành cho Ron: có cái gì đó đã vỡ tan giữa hai đứa nó.

“Để lại cái Trường Sinh Linh Giá,” Harry nói.

Ron kéo sợi dây chuyền vòng qua khỏi đầu và liệng cái mặt dây chuyền xuống một cái ghế gần đó.

Nó quay lại Hermione.

“Cô sẽ làm gì?”

“Bồ muốn nói gì?”

“Cô ở lại, hay sao?”

“Mình...”

Hermione tỏ vẻ khổ sở.

“Ừ...

ừ, mình ở lại.

Ron, tụi mình đã nói là tụi mình sẽ đi với Harry, tụi mình nói tụi mình sẽ giúp...”

“Tôi hiểu rồi.

Cô chọn nó.”

“Ron, đừng... xin bồ... trở lại, trở lại đi!”

Cô bé bị chính bùa Che chắn của mình chặn lại; khi giải được bùa xong thì Ron đã đùng đùng bỏ đi vào bóng đêm.

Harry đứng ngay đơ và nín thinh, lắng nghe tiếng Hermione khóc nức nở và gọi tên Ron giữa rừng cây.

Vài phút sau Hermione trở lại, mái tóc ướt mem của cô bé dính bết đầy mặt.

“Ron đ...

đ...

đi rồi!

Độn thổ!”

Cô bé tự quăng mình xuống một cái ghế, co chân thu mình lại, và bắt đầu khóc.

Harry bàng hoàng.

Nó cúi xuống, lượm cái Trường Sinh Linh Giá lên, và tròng vô cổ.

Nó kéo mấy tấm mền trên giường của Ron và quăng đống mền lên Hermione.

Rồi nó trèo lên giường của nó và nằm đó mà trừng mắt ngó nóc lều, lắng nghe tiếng mưa tuôn ào ào.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 16: Thung lũng Godric


Thung lũng Godric

Khi Harry thức dậy vào ngày hôm sau, nó mất vài giây định thần rồi mới nhớ lại được chuyện gì đã xảy ra.

Rồi nó hy vọng một cách trẻ con, rằng đó chẳng qua chỉ là một giấc mơ, rằng Ron vẫn còn đó chứ không hề bỏ đi.

Nhưng khi xoay đầu trên cái gối, nó thấy cái giường trống không của Ron.

Cái giường có vẻ như hút lấy ánh mắt nó bằng sức hút của một xác chết.

Harry nhảy ra khỏi giường của mình, cố tránh nhìn vào giường của Ron.

Hermione, nãy giờ bận bịu trong bếp, đã không chúc Harry một buổi sáng tốt lành, mà còn quay mặt đi nhanh khi nó đi ngang.

Nó đi rồi, Harry tự nhủ.

Nó đi rồi.

Harry cứ nghĩ hoài điều đó khi rửa mặt và thay quần áo như thể sự lặp đi lặp lại sẽ làm nguôi ngoai nỗi đau về chuyện đó.

Nó đi rồi và sẽ không trở lại.

Và đây là một chân lý giản đơn, Harry biết thế, bởi vì bùa phép bảo vệ sẽ khiến cho Ron không thể nào tìm lại được tụi nó một khi tụi nó dời khỏi chỗ này.

Harry và Hermione ăn điểm tâm trong im lặng.

Mắt của Hermione vẫn còn sưng húp và đỏ hoe; trông cô bé có vẻ như đã thức trắng đêm qua.

Tụi nó gói ghém đồ đạc; Hermione lần khân.

Harry biết tại sao cô bé muốn câu giờ trên bờ sông này; nhiều lần nó thấy Hermione ngước nhìn lên tha thiết, và nó biết chắc cô bé đang tự đánh lừa mình khi tưởng rằng nghe thấy tiếng bước chân trong mưa tầm tã, nhưng rồi không có cái đầu tóc đỏ nào xuất hiện giữa rừng cây.

Mỗi lần Harry bắt chước Hermione nhìn quanh quất (vì chính nó cũng không thể không nuôi chút hy vọng) và chẳng thấy gì ngoài cánh rừng bị mưa quật, thì một bọc giận khác lại nổ ra trong người nó.

Nó như nghe thấy Ron nói, “Tụi này tưởng bồ biết bồ đang làm gì chớ!”, và nó tiếp tục thu vén đồ đạc với một cục rối cứng ngắc trong cuống bao tử.

Dòng sông đục ngầu bên cạnh đang dâng nước lên rất nhanh và chẳng mấy chốc sẽ tràn bờ.

Lẽ ra hai đứa đã rời khỏi chỗ cắm trại như thường lệ cả tiếng đồng hồ trước đó, nhưng tụi nó cứ nấn ná chần chừ.

Cuối cùng, sau khi đã xếp đi sắp lại cái túi xách hột cườm tới ba lần, Hermione dường như không thể tìm ra thêm được lý do trì hoãn nào nữa: cô bé và Harry nắm tay nhau Độn thổ, rồi hiện ra lại trên một sườn đồi lộng gió phủ đầy cây thạch nam.

Ngay khi vừa đến nơi, Hermione liền buông tay Harry ra và bỏ đi, cuối cùng cô bé ngồi xuống một tảng đá lớn, úp mặt vào đầu gối, run rẩy vì cái mà Harry hiểu là cơn thổn thức.

Nó nhìn Hermione, nghĩ là cũng nên đến và an ủi cô bé, nhưng có cái gì đó cứ giữ rịt lấy chân nó.

Mọi thứ trong lòng nó đều lạnh ngắt và căng ra: một lần nữa nó lại thấy vẻ khinh khỉnh trên gương mặt của Ron.

Harry sải dài băng qua đám cây thạch nam, bước thành một vòng tròn rộng có cô nàng Hermione đang quẫn trí làm tâm, và ếm các thứ bùa phép mà Hermione vẫn hay làm để bảo đảm an toàn.

Trong suốt mấy ngày sau đó tụi nó không bàn cãi gì đến Ron nữa.

Harry đã quyết tâm không bao giờ nhắc lại cái tên Ron và Hermione dường như biết o ép vấn đề đó cũng chẳng ích gì, mặc dù ban đêm khi Hermione tưởng Harry ngủ rồi, Harry vẫn hay nghe tiếng cô nàng khóc.

Lúc đó Harry đang bắt đầu đem tấm Bản đồ Đạo tặc ra xem xét dưới ánh sáng đầu cây đũa phép.

Nó đang chờ thời điểm cái chấm mang tên Ron sẽ xuất hiện ở hành lang trường Hogwarts, chứng tỏ Ron đã trở về tòa lâu đài ấm cúng, được gia thế thuần chủng của mình che chở.

Nhưng Ron không xuất hiện trên bản đồ, và một lúc sau Harry nhận thấy mình đã lại lấy cái bản đồ ra để nhìn đăm đăm vào cái tên Ginny trong ký túc xá nữ, tự hỏi tình cảm mãnh liệt trong cái nhìn của nó liệu có thể thâm nhập vào giấc ngủ của cô bé không, liệu cô bé có thể bằng cách nào đó biết là nó đang nghĩ đến cô bé, hy vọng cô bé vẫn bình an không.

Ban ngày, tụi nó dành hết thì giờ cố gắng xác định những địa điểm có thể có thanh gươm Gryffindor, nhưng càng bàn bạc về nơi mà cụ Dumbledore có thể cất giữ thanh gươm, thì suy đoán của tụi nó càng thêm xa thực tế và ít hy vọng.

Dù có nện gậy lên đầu, Harry cũng không thể nhớ ra cụ Dumbledore có bao giờ nhắc đến một nơi nào đó mà cụ có thể cất giấu một thứ gì.

Có những lúc nó không biết là nó giận Ron hơn hay giận cụ Dumbledore hơn.

Tụi này tưởng bồ biết bồ đang làm gì chớ...

Tụi này tưởng thầy Dumbledore đã nói với bồ việc phải làm chớ...

Tụi này tưởng đâu bồ có một kế hoạch thực sự!

Nó không thể giấu chính nó: Ron đã nói đúng.

Cụ Dumbledore hầu như chẳng để lại cho nó chỉ dẫn gì.

Tụi nó đã tìm được một Trường Sinh Linh Giá, nhưng lại chẳng có cách gì để tiêu hủy nó đi.

Còn những cái khác thì vô phương tiếp cận như hồi nào vẫn vậy.

Nỗi tuyệt vọng lăm le nhấn chìm nó.

Giờ đây, nó hoang mang nghĩ tới sự liều lĩnh của chính mình khi chấp nhận đề nghị của bạn bè cùng đi với nó trong hành trình vô định và vô nghĩa này.

Nó chẳng biết gì hết, nó chẳng có ý kiến gì hết, và nó cứ ở trong tình trạng phập phồng một cách thường trực và đau đớn đợi bất cứ dấu hiệu nào cho thấy Hermione cũng sắp nói với nó rằng cô nàng chịu hết thấu rồi, rằng cô nàng sẽ bỏ đi.

Tụi nó trải qua nhiều buổi tối hầu như yên lặng và Hermione kiếm cớ lôi bức tranh của cụ Phineas Nigellus ra và dựng nó trên một cái ghế, như thể cụ có thể lấp được phần nào khoảng trống mà Ron đã để lại khi bỏ đi.

Bất chấp sự khẳng định trước đó là sẽ không bao giờ thèm đến thăm chúng lần nữa, cụ Phineas Nigellus có vẻ không cưỡng lại được cơ hội tìm hiểu thêm Harry đang làm gì và cụ chấp nhận tái xuất hiện cứ vài ba ngày một lần, với mắt bị bịt kín.

Harry thậm chí còn vui mừng mỗi khi được gặp cụ, bởi vì có cụ làm bầu bạn, cho dù một kiểu bầu bạn châm chọc cạnh khóe.

Tụi nó thưởng thức bất cứ tin tức nào về những việc đang diễn ra ở trường Hogwarts, mặc dù cụ Phineas Nigellus không phải là một người thông tin lý tưởng cho lắm.

Cụ sùng kính Snape, vị hiệu trưởng thuộc nhà Slytherin đầu tiên kể từ thời chính cụ điều hành ngôi trường, và tụi nó phải cẩn thận để không phê phán hay hỏi những câu hỗn hào về thầy Snape, nếu không cụ Phineas Nigellus sẽ bỏ đi khỏi bức tranh ngay tức thì.

Tuy vậy, cụ cũng để lọt một số tin tức vụn vặt.

Thầy Snape dường như đang đối phó một cuộc nổi loạn liên miên ở cấp thấp mà thành phần nòng cốt là học sinh.

Ginny đã bị cấm không được đi tới làng Hogsmead.

Thầy Snape đã phục hồi đạo luật cũ của bà Umbridge cấm tụ tập từ ba học sinh trở lên hay lập hội đoàn học sinh không chính thức.

Từ tất cả những việc này, Harry suy ra là Ginny, và có lẽ cùng với cả Neville và Luna, đang làm hết sức mình để tiếp tục duy trì Đoàn quân Dumbledore.

Tin tức ít ỏi này khiến Harry muốn gặp Ginny khủng khiếp đến nỗi nó có cảm giác như đau bao tử; nhưng điều này cũng khiến nó lại nghĩ đến Ron, và đến cụ Dumbledore, đến chính trường Hogwarts, đến những điều mà nó nhớ cũng gần như nhớ cô bồ cũ.

Thật ra, khi cụ Phineas Nigellus nói về sự đàn áp không nương tay của thầy Snape, Harry đã trải qua một thoáng điên khùng, tưởng tượng mình đơn giản cứ trở về trường để tham gia chống phá cách thức cai trị của thầy Snape: được nuôi ăn và có một cái giường êm ái, được những người khác chăm lo dường như là viễn cảnh tuyệt vời nhất trên đời trong lúc này.

Nhưng rồi nó nhớ ra nó là Kẻ Phá Rối Số Một, cái đầu nó được treo giá mười ngàn Galleon, và bước vào trường Hogwarts lúc này cũng nguy hiểm như đi vào Bộ Pháp thuật.

Quả vậy, cụ Phineas Nigellus vô tình nhấn mạnh sự thực này khi sơ xuất hỏi mấy câu hỏi mẹo về chỗ mà Harry và Hermione đang ở.

Mỗi khi cụ hỏi vậy, Hermione nhét cụ vô ngay trong cái túi xách, và cụ Phineas Nigellus lần nào cũng từ chối tái xuất hiện trong nhiều ngày, sau những cuộc chia tay không được thân mật đó.

Thời tiết càng lúc càng lạnh hơn.

Tụi nó không dám ở lại bất cứ chỗ nào quá lâu, cho nên lẽ ra cứ ở lại miền nam nước Anh, nơi đáng lo nhất là gặp phải một trận sương giá khắc nghiệt, thì tụi nó lại tiếp tục đi lang thang ngang dọc đất nước, bất chấp một sườn núi, nơi mưa đá rớt lộp bộp xuống lều của tụi nó; bất chấp một đầm lầy rộng và bằng phẳng, nơi lều của tụi nó bị ngập lụt trong nước lạnh buốt; và bất chấp một hòn đảo tí hon ở giữa một cái hồ Tô Cách Lan, nơi nửa đêm tuyết vùi lấp hết nửa căn lều.

Tụi nó đã nhận thấy những cây Nô-en nhấp nháy trong nhiều cửa sổ phòng khách trước cái buổi tối Harry quyết định đề nghị một lần nữa điều mà dường như đối với nó là con đường duy nhất còn lại mà hai đứa chưa thăm dò.

Tụi nó vừa mới ăn xong một bữa ngon khác mọi ngày: Hermione đã đi siêu thị dưới tấm Áo khoác Tàng hình (khi rời siêu thị đã hết sức cẩn thận thả tiền vào một ngăn kéo tiền để mở), và Harry cho là cô bé có thể dễ bị thuyết phục hơn bình thường một khi bao tử đã đầy món mì ống Bolognese và lê đóng hộp.

Nó cũng đã lo xa mà đề nghị hai đứa tạm ngừng đeo cái Trường Sinh Linh Giá vài tiếng đồng hồ, treo cái vật đó lên đầu giường bên cạnh nó.

“Hermione à?”

“Ừm?”

Hermione đang cuộn tròn trong một cái ghế bành mềm lún đọc cuốn Những Chuyện Kể của Beedle Người Hát Rong.

Harry không thể tưởng tượng cô nàng có thể bòn rút thêm được bao nhiêu tri thức nữa từ cuốn sách mà, nói cho cùng, đâu có dài lắm, nhưng rõ ràng cô nàng vẫn đang tìm cách giải đoán điều gì đó trong sách, bởi cuốn Bảng Ký Hiệu m Tiết cho Người Niệm Chú đang để mở trên tay ghế.

Harry đằng hắng.

Nó có cảm giác y chang như cái cảm giác mà nó đã trải qua trong một dịp nhiều năm về trước, khi hỏi xin giáo sư McGonagall xem nó có thể đi tới làng Hogsmeade không, bất chấp thực tế là nó đã không thuyết phục được dì dượng Dursley ký vào tờ giấy cho phép.

“Hermione à, mình đã suy nghĩ, và...”

“Harry, bồ có thể giúp mình một chút không?”

Dường như Hermione chẳng hề nghe nó nói.

Cô bé chồm tới trước và chìa ra cuốn Những Chuyện Kể của Beedle Người Hát Rong.

“Nhìn thử cái ký hiệu đó coi,” Hermione nói, chỉ vào đầu một trang sách.

Phía trên cái mà Harry đoán là tít của truyện (vì không đọc được chữ Runes nên nó không thể nói chắc được) có một hình vẽ của một cái gì đó giống như một con mắt hình tam giác, với một sọc thẳng đứng cắt qua con ngươi.

“Mình chưa bao giờ học cổ ngữ Runes, Hermione à.”

“Mình biết chứ; nhưng nó không phải chữ Runes, mà cũng không có trong bảng ký hiệu âm tiết nốt.

Ngay từ đầu mình cứ tưởng đó là hình vẽ một con mắt, nhưng bây giờ mình nghĩ không phải vậy.

Nhìn đi, nó được vẽ bằng mực, ai đó đã vẽ nó lên đó, chứ nó không hẳn là một phần có sẵn của cuốn sách.

Nghĩ coi, trước đây bồ đã từng thấy nó bao giờ chưa?”

“Chưa...

Khoan, chờ một chút,” Harry nhìn cái hình kỹ hơn.

“Chứ không phải nó giống cái biểu tượng mà ba của Luna đeo quanh cổ sao?”

“Ừ, mình cũng có nghĩ như vậy!”

“Vậy thì nó là dấu hiệu của Grindelwald.”

Hermione há hốc miệng ngó sững Harry.

“Cái gì?”

“Anh Krum nói với mình...”

Harry kể lại câu chuyện mà Viktor Krum đã kể nó nghe ở đám cưới.

Hermione tỏ vẻ kinh ngạc.

“Dấu hiệu của Grindelwald?”

Cô bé hết nhìn Harry đến nhìn cái ký hiệu kỳ lạ rồi lại nhìn Harry.

“Mình chưa từng nghe chuyện Grindelwald có một dấu hiệu.

Trong tất cả những gì mình từng đọc về Grindelwald, không thấy nói gì đến chuyện đó.”

“Ừ, như mình nói đó, anh Krum cho là ký hiệu đó được khắc trên một bức tường ở Durmstrang, và Grindelwald là kẻ đã khắc nó lên đó.”

Hermione ngồi ngả lưng lại trong cái ghế bành cũ, đăm chiêu tư lự.

“Điều này rất kỳ hoặc.

Nếu đó là biểu tượng của Nghệ thuật Hắc ám thì tại sao nó lại nằm trong một cuốn truyện cho trẻ con chứ?”

“Ừ, kỳ cục thiệt,” Harry nói.

“Và bồ có nghĩ là ông Scimgeour nhận ra biểu tượng đó không?

Ông ấy là Bộ trưởng, chắc ông ấy phải am hiểu thành thạo về những đồ Hắc ám chớ.”

“Mình biết... có lẽ ông ấy cũng như mình, tưởng đó là một con mắt.

Tất cả những truyện khác đều có những hình vẽ nho nhỏ bên trên tít truyện.”

Cô bé không nói nữa, mà tiếp tục nghiền ngẫm cái dấu hiệu lạ lùng.

Harry thử một lần nữa.

“Hermione à?”

“Ừm?”

“Mình đã nghĩ kỹ rồi.

Mình... mình muốn đi tới Thung lũng Godric.”

Hermione ngước lên nhìn nó, nhưng ánh mắt không tập trung, và nó có thể nói chắc cô bé vẫn còn đang suy nghĩ về dấu hiệu bí mật trên cuốn sách.

“Phải,” cô bé nói.

“Phải lắm, mình cũng đang tự hỏi điều đó.

Thiệt tình mình nghĩ là tụi mình nên đi.”

“Bồ có nghe đúng điều mình nói không đó?”

“Dĩ nhiên là có.

Bồ muốn đi tới Thung lũng Godric.

Mình đồng ý.

Mình nghĩ tụi mình nên đi.

Ý mình là, mình cũng không thể nghĩ ra được chỗ nào khác.

Sẽ rất nguy hiểm, nhưng mình càng nghĩ đến nơi đó thì càng có vẻ là có nó ở đó.”

“Ơ... cái gì ở đó?”

Nghe câu đó Hermione tỏ vẻ ngơ ngác như chính Harry vậy.

“Ủa, thanh gươm chứ cái gì hả, Harry?

Thầy Dumbledore ắt hẳn biết bồ muốn đi tới đó, và mình muốn nói Thung lũng Godric là quê quán của cụ Godric Gryffindor...”

“Thiệt hả?

Gryffindor xuất thân từ Thung lũng Godric à?”

“Harry ơi, bồ chưa bao giờ mở cuốn Một Lịch Sử Pháp Thuật ra sao?”

“Ờ...”

Harry nói, mỉm một nụ cười mà nó có cảm giác như nụ cười đầu tiên trong suốt mấy tháng qua: các cơ trên mặt nó cứng ngơ cứng ngắc một cách kỳ cục.

“Có lẽ mình có mở ra, bồ biết, khi mình mua cuốn sách... chỉ một lần...”

“Thôi được, vì ngôi làng được đặt theo tên cụ nên mình cứ tưởng bồ đã phải thấy được mối liên hệ,” Hermione nói.

Cô nàng nói năng giờ đã nghe đúng giọng Hermione, không như mấy lúc gần đây; Harry phần nào chờ đợi Hermione thông báo sẽ đi thư viện.

“Có khá nhiều thông tin về ngôi làng đó trong cuốn Một Lịch Sử Pháp Thuật, để coi...”

Hermione mở cái túi xách hột cườm và lục lọi một lát, cuối cùng lôi ra cuốn sách giáo khoa cũ của mình, cuốn Một Lịch Sử Pháp Thuật của Bathilda Bagshot, và lật nhanh cuốn sách cho đến khi tìm được trang cô bé cần.

“Theo ký kết của Đạo luật Quốc tế về Bí mật năm 1680, giới pháp thuật lui vào bí mật vĩnh viễn.

Có lẽ cũng là điều tự nhiên khi họ hình thành những cộng đồng của chính mình bên trong một cộng đồng.

Nhiều làng xóm nhỏ thu hút được những gia đình pháp thuật, họ tụ tập thành nhóm để bảo vệ và giúp đỡ lẫn nhau.

Những làng Tinworsh ở Cornwall, Upper Flagley ở Yorkshire, và Ottery St.

Catchpole ở bờ biển nam nước Anh là nơi cư ngụ đáng chú ý của các nhóm gia đình phù thủy sống bên cạnh những dân Muggle rộng lượng và đôi khi đã được ếm bùa Lú lẫn.

Nổi tiếng nhất trong những nơi cư trú bán-pháp-thuật này có lẽ là Thung lũng Godric, một ngôi làng ở miền Tây nơi pháp sư vĩ đại Godric Gryffindor đã chào đời, và nơi người thợ rèn pháp thuật Bowman Wright đã chế ra trái banh Snitch đầu tiên.

Nghĩa trang nơi này đầy tên tuổi của những dòng họ pháp thuật cổ xưa, và điều này chắc chắn giải thích được những câu chuyện ma quái ám ảnh ngôi nhà thờ nhỏ bên cạnh nghĩa trang suốt mấy thế kỷ.”

“Không thấy nói đến bồ và ba má bồ,” Hermione nói khi xếp sách lại, “bởi vì giáo sư Bagshot không ghi lại những gì xảy ra sau cuối thế kỷ mười chín.

Nhưng bồ thấy không?

Thung lũng Godric, cụ Godric Gryffindor, thanh gươm của Gryffindor; bồ không nghĩ là thầy Dumbledore vẫn mong bồ sẽ lần ra được mối liên hệ sao?”

“Ờ há...”

Harry không muốn thừa nhận là nó đã không hề nghĩ gì đến thanh gươm khi đề nghị tụi nó nên đi về Thung lũng Godric.

Đối với nó, sự cám dỗ của ngôi làng nằm trong phần mộ của ba má nó, trong ngôi nhà mà nó đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, và trong cá nhân bà Bathilda Bagshot.

Cuối cùng nó hỏi:

“Còn nhớ bà dì Muriel nói gì không?”

“Ai cơ?”

“Bồ biết mà,” Harry ngập ngừng, nó không muốn nhắc đến tên Ron.

“Bà dì của Ginny.

Ở đám cưới.

Cái bà đã nói bồ có mắt cá chân lòi xương đó.”

“A,” Hermione nói.

Khoảnh khắc đó hơi khó chịu: Harry biết là Hermione đã cảm nhận được cái tên Ron chực vuột ra.

Nó vội nói tới luôn:

“Bà ấy nói bà Bathilda Bagshot vẫn còn sống ở Thung lũng Godric.”

“Bathilda Bagshot,” Hermione lẩm nhẩm, ngón tay trỏ của cô bé vuốt lên cái tên rập nổi của bà Bathilda trên bìa cuốn Một Lịch Sử Pháp Thuật.

“Ừ, mình cho là...”

Cô bé bỗng há miệng hớp hơi đột ngột đến nỗi ruột gan Harry lộn tùng phèo, nó rút cây đũa phép ra, ngoái nhìn cửa ra vào, có phần chờ đợi một bàn tay thọc qua tấm cửa lều, nhưng chẳng thấy cái gì cả.

“Cái gì hả?”

Nó nói, nửa nổi giận nửa thở phào.

“Bồ làm như vậy để chi?

Mình tưởng bồ vừa thấy một tên Tử Thần Thực Tử rạch lều ra, ít nhất thì...”

“Harry nè, biết đâu bà Bathilda giữ thanh gươm?

Biết đâu thầy Dumbledore tin tưởng giao nó cho bà ấy?”

Harry cân nhắc khả năng này.

Bà Bathilda chắc hẳn đã là một bà già khú đế vào thời điểm này, và theo bà dì Muriel thì bà ta “khùng khùng”.

Liệu có khả năng cụ Dumbledore gởi thanh gươm của Gryffindor nhờ bà giấu dùm không?

Nếu có thì Harry cảm thấy cụ Dumbledore đã phó mặc cho may rủi hơi nhiều: cụ Dumbledore chưa bao giờ tiết lộ cụ đã đánh tráo thanh gươm thật bằng thanh gươm giả, cụ cũng không nhắc gì nhiều đến tình bạn với bà Bathilda.

Nhưng lúc này không phải là lúc tung ngờ vực vào giả thuyết của Hermione, đặc biệt là không nên khi mà, một cách đáng ngạc nhiên, cô nàng đang sẵn sàng ủng hộ nguyện vọng tha thiết nhất của Harry.

“Ừ, thầy có thể làm vậy lắm!

Vậy tụi mình đi tới Thung lũng Godric chứ?”

“Đi, nhưng tụi mình phải suy tính chuyện này hết sức cặn kẽ, Harry à.”

Giờ đây Hermione đã ngồi thẳng lưng lên, và Harry thấy đúng là cái viễn cảnh sẽ lại có một kế hoạch hẳn hoi đã khiến cô nàng lên tinh thần cũng hệt như nó vậy.

“Để bắt đầu tụi mình cần thực tập cùng Độn thổ dưới tấm Áo khoác Tàng hình, và có lẽ bùa Xóa Ảo ảnh cũng nên lắm, trừ khi bồ cho là tụi mình phải làm tới cùng và dùng thuốc Đa Quả dịch?

Trong trường hợp đó tụi mình sẽ cần thu thập tóc của ai đó.

Mình thực sự cho là nên làm như vậy, Harry à, tụi mình càng hóa trang kỹ chừng nào càng tốt chừng nấy...”

Harry để cho Hermione nói, gật đầu và tán thành mỗi khi cô bé tạm ngừng, nhưng đầu óc nó đã bay bổng khỏi cuộc chuyện trò.

Lần đầu tiên nó lại cảm thấy hào hứng, tính từ khi nó khám phá ra thanh gươm ở Gringotts là đồ giả.

Nó sắp được về nhà, sắp trở lại nơi mà nó từng có một gia đình.

Nếu không có Voldemort, Thung lũng Godric chính là nơi lẽ ra nó được nuôi dưỡng đến lớn khôn và trở về vào mỗi kỳ nghỉ hè.

Nó lẽ ra đã có thể mời bạn bè đến nhà chơi... nó thậm chí có thể có anh chị em nữa... và chính má nó lẽ ra là người làm cho nó cái bánh mừng sinh nhật thứ mười bảy.

Cuộc đời bị cướp mất của nó chưa bao giờ lại hiện ra thực như bằng lúc này, khi nó biết mình sắp được nhìn tận mắt cái nơi mà cuộc đời đó bị tước đoạt.

Sau khi Hermione đã đi ngủ vào tối hôm đó, Harry lặng lẽ moi cái ba lô của nó ra khỏi túi xách của Hermione, và lấy từ trong ba lô ra bộ an-bum hình ảnh mà bác Hagrid đã tặng nó từ thời xa xưa.

Lần đầu tiên sau nhiều tháng nó lại ngắm nghía kỹ càng mấy tấm hình cũ kỹ của ba má nó, họ đang mỉm cười và vẫy tay chào nó từ trong những tấm hình, đó là tất cả những gì còn lại về họ mà nó có được lúc này.

Harry lẽ ra đã vui vẻ lên đường đến Thung lũng Godric vào sáng hôm sau, nhưng Hermione lại có ý kiến khác.

Cô bé một mực tin rằng Voldemort hẳn cho rằng Harry ắt sẽ phải trở về hiện trường nơi cha mẹ nó bị giết, nên quyết định là tụi nó chỉ khởi hành một khi bảo đảm có được cách cải trang tốt nhất.

Thành ra phải chờ trọn một tuần lễ sau Hermione mới đồng ý lên đường - trong suốt tuần đó tụi nó đã bí mật chôm tóc của mấy người Muggle lương thiện đang mua sắm cho lễ Giáng sinh rồi thực hành Hiện hình và Độn thổ dưới tấm Áo khoác Tàng hình.

Tụi nó sẽ phải Hiện hình ở làng dưới sự bao phủ của bóng đêm, cho nên vào buổi chiều hôm đó, khi đã uống xong thuốc Đa Quả dịch, Harry biến hình thành một gã Muggle trung niên hói đầu, còn Hermione thì thành bà vợ nhỏ bé và hơi lúi xùi của gã.

Cái túi xách hột cườm chứa tất cả của nả của tụi nó (ngoại trừ cái Trường Sinh Linh Giá được Harry đeo quanh cổ) được nhét vào túi áo bên trong cái áo khoác gài nút tới cổ của Hermione.

Harry phủ tấm Áo khoác Tàng hình lên cả hai đứa, rồi nó xoay mình để chìm vào bóng tối ngộp thở một phen nữa.

Harry mở mắt ra, tim nó đập dội lên tận cổ họng.

Tụi nó đang nắm tay nhau đứng trên một lối đi đầy tuyết dưới bầu trời xanh thẫm, và trên trời vài ngôi sao đêm mới mọc đang nhấp nháy lung linh.

Những ngôi nhà nhỏ đứng hai bên con đường hẹp, cửa sổ lấp lánh những đồ trang trí cho lễ Giáng sinh.

Trước mặt tụi nó, cách một quãng ngắn, ánh sáng rực rỡ của đèn đường màu vàng cho biết đó là trung tâm của ngôi làng.

“Toàn là tuyết!”

Hermione thì thầm bên dưới tấm Áo khoác Tàng hình.

“Sao mà tụi mình lại không nghĩ đến tuyết há?

Chuẩn bị trước chu đáo cho lắm, để rồi vẫn để lại dấu chân!

Tụi mình phải xóa hết mới được...

Bồ đi trước đi, mình sẽ xóa...”

Harry không muốn đi vào làng như một con ngựa câm, vừa cố gắng che giấu tung tích phù thủy vừa dùng pháp thuật để xóa dấu vết của mình.

“Tụi mình cứ cởi Áo khoác Tàng hình ra,” Harry nói, và khi Hermione tỏ vẻ hoảng sợ, nó nói thêm.

“Ôi, không sao mà, tụi mình trông có giống tụi mình đâu, và cũng chẳng có ai ở chung quanh mà.”

Nó nhét cái Áo khoác Tàng hình vào trong áo vét và hai đứa bước tới không gặp trắc trở gì hết, không khí giá buốt châm châm vào mặt khi tụi nó đi ngang qua vài ngôi nhà nữa.

Bất cứ ngôi nào trong số đó cũng có thể là ngôi nhà mà ba James và má Lily đã từng sống, hay nơi bà Bathilda hiện đang sống.

Harry nhìn đăm đăm vào từng cánh cửa trước, từng mái nhà đội đầy tuyết, từng hàng hiên, tự hỏi liệu nó còn nhớ chút gì về những thứ đó chăng, nhưng sâu tận đáy lòng nó vẫn biết rằng chuyện đó là không thể, vì khi phải rời khỏi nơi này vĩnh viễn, nó mới chỉ hơn một tuổi.

Nó thậm chí cũng không dám chắc liệu nó có thấy được ngôi nhà hay không; nó không biết chuyện gì đã xảy ra khi những con người được bảo vệ bằng bùa Trung thành đã chết.

Thế rồi con đường nhỏ tụi nó đang đi bỗng lượn cong về bên trái và trung tâm của ngôi làng, một quảng trường nhỏ, hiện ra trước mắt.

Có cái gì đó trông giống như một tượng đài kỷ niệm chiến tranh đứng ngay chính giữa, chung quanh treo lủng lẳng đầy đèn màu, bị che khuất phần nào vì một cây Giáng sinh bị gió thổi bạt.

Bên kia quảng trường có nhiều cửa tiệm, một bưu điện, một quán rượu, và một ngôi nhà thờ nhỏ có cửa sổ bằng kiếng màu sáng rực rỡ lóng lánh.

Tuyết ở đây đã bị giẫm đạp nhiều: cứng và trơn trợt ở những chỗ người ta bước qua suốt cả ngày.

Dân làng đang hối hả đi lại trước mắt tụi nó, ánh đèn đường chiếu thoáng qua những gương mặt họ.

Tụi nó nghe thấy tiếng cười rộ và tiếng nhạc bình dân mỗi khi cánh cửa quán rượu mở ra rồi đóng lại; và rồi tụi nó nghe khúc nhạc Giáng sinh bắt đầu vang lên bên trong ngôi nhà thờ nhỏ.

“Harry à, mình nghĩ đêm nay là đêm Giáng sinh!”

Hermione nói.

“Vậy hả?”

Nó đã không còn biết đến ngày tháng nữa; tụi nó đã chẳng hề thấy một tờ báo nào suốt mấy tuần liền.

“Mình tin chắc là thế,” Hermione nói, mắt cô bé ngước nhìn lên nhà thờ.

“Họ... họ ở trong đó, phải không?

Ba má của bồ ấy?

Mình thấy nghĩa trang phía sau nhà thờ.”

Harry cảm thấy một cơn rùng mình vì một cái gì đó còn hơn cả nỗi hồi hộp, giống nỗi sợ hãi thì đúng hơn.

Giờ đây khi đã ở gần đến vậy, nó băn khoăn là rốt cuộc nó có muốn thấy không?

Có lẽ Hermione biết nó đang cảm thấy thế nào, bởi vì cô bé đưa tay ra nắm lấy tay nó và lần đầu tiên đóng vai trò dẫn đường, kéo nó đi tới trước.

Tuy nhiên, vừa băng qua được nửa quảng trường, cô bé đứng khựng lại chết trân.

“Harry, nhìn kìa!”

Hermione chỉ vào tượng đài kỷ niệm chiến tranh.

Khi tụi nó vừa đi qua khỏi, tượng đài liền biến dạng.

Thay vì một cột hình tháp khắc đầy những cái tên, thì lại hiện ra một bức tượng ba người: một người đàn ông tóc rối bù đeo mắt kiếng, một người đàn bà tóc dài có gương mặt xinh đẹp hiền hậu, và một đứa bé ngồi trong vòng tay người mẹ.

Tuyết đã phủ một lớp trên đầu họ trông như những cái nón xốp màu trắng.

Harry bị hút tới gần bức tượng hơn, đăm đăm nhìn vào gương mặt ba má nó.

Nó chưa bao giờ hình dung nổi là có hẳn một tượng đài...

Thiệt là kỳ lạ khi nhìn chính mình được tạc thành tượng đá, một đứa bé hớn hở với cái thẹo trên trán...

“Đi thôi!”

Harry nói, sau khi đã nhìn đến mãn nhãn, và tụi nó quay lại về phía nhà thờ.

Trong lúc băng qua đường, nó ngoái lại nhìn, bức tượng đã trở lại là đài kỷ niệm chiến tranh.

Tiếng ca nghe lớn hơn khi tụi nó đi đến gần nhà thờ.

Nó khiến cổ họng Harry thắt lại, nó nhắc Harry nhớ ghê gớm đến trường Hogwarts, đến con ma Peeves từ bên trong những bộ áo giáp rống lên những lời tục tĩu nhại các khúc ca Giáng sinh, đến mười hai cây thông Nô-en trong Đại Sảnh Đường, đến thầy Dumbledore đội cái nón vải mà thầy xí được trong một gói kẹo nổ, đến Ron trong chiếc áo len đan tay...

Ở lối vào nghĩa trang có một cánh cổng khép hờ.

Hermione hết sức nhẹ nhàng đẩy cổng mở ra và hai đứa lách vào bên trong.

Dọc hai bên lối đi hơi trơn dẫn đến cửa nhà thờ tuyết phủ thành lớp dày và chưa bị ai giẫm lên.

Tụi nó lội vô trong tuyết, rạch thành những đường mương sâu ở phía sau khi đi vòng qua tòa nhà, cố lẩn khuất trong bóng tối bên dưới những cửa sổ sáng choang.

Đằng sau nhà thờ, từng hàng nối tiếp từng hàng bia mộ phủ đầy tuyết nhô lên khỏi một tấm chăn màu lam nhạt lốm đốm nào đỏ chói, vàng chóe, hay xanh biếc tùy theo ánh sáng xuyên qua chỗ nào trên lớp kính màu của cửa sổ rồi đậu xuống trên tuyết.

Tay nắm chặt cây đũa phép trong túi áo, Harry đi tới nấm mộ gần nó nhất.

“Nhìn cái này coi, mộ của một người họ Abbott, có thể là bà con chết từ đời tám hoánh của Hannah.”

“Nói nhỏ nhỏ thôi,” Hermione năn nỉ nó.

Tụi nó lội càng lúc càng sâu hơn vô nghĩa trang, vẹt thành những rãnh tối trong tuyết phía sau lưng, lom khom để săm soi những hàng chữ trên dãy bia mộ cũ kỹ, thỉnh thoảng liếc mắt vào bóng tối chung quanh để biết chắc chắn không có ai khác ngoài tụi nó.

“Harry, đây nè!”

Hermione đang cách nó hai hàng bia mộ, nó phải lội ngược về phía cô bé, tim đập thình thình trong lồng ngực.

“Có phải...?”

“Không, nhưng nhìn thử coi!”

Hermione chỉ vào tấm bia đen.

Harry cúi xuống và thấy, trên tấm đá hoa cương lốm đốm địa y đông cứng là những chữ Kendra Dumbledore, và không xa bên dưới ngày tháng sinh tử của bà là dòng chữ, và con gái Ariana của bà.

Có cả một trích ngôn:

Của ngươi ở đâu, lòng ngươi ở đó

Vậy là thông tin của Rita Skeeter và bà Muriel cũng có cái đúng.

Gia đình cụ Dumbledore quả thật đã sống nơi đây, và một số người trong gia đình họ đã chết nơi đây.

Nhìn thấy nấm mồ còn khổ sở hơn nghe nói về nó.

Harry không thể không nghĩ rằng cả nó và cụ Dumbledore đều có cội rễ sâu xa trong nghĩa trang này, và cụ Dumbledore lẽ ra nên nói với nó, vậy mà cụ không hề nghĩ đến việc chia sẻ mối liên hệ đó.

Hai thầy trò biết đâu có thể cùng đi thăm nơi này với nhau; trong một thoáng Harry tưởng tượng nó mà đến nơi này với cụ Dumbledore thì tình thầy trò sẽ thắm thiết biết bao, và điều đó sẽ có ý nghĩa biết bao đối với nó.

Nhưng dường như đối với cụ Dumbledore, cái sự kiện gia đình cụ và gia đình nó nằm bên cạnh nhau trong cùng một nghĩa trang chẳng qua là một ngẫu nhiên không có ý nghĩa gì quan trọng, và có lẽ cũng không liên quan gì đến công việc mà cụ muốn Harry làm.

Hermione đang nhìn Harry, và Harry mừng là gương mặt mình khuất trong bóng tối.

Nó đọc hàng chữ trên bia mộ một lần nữa.

Của ngươi ở đâu, lòng ngươi ở đó.

Nó không hiểu những chữ này mang ý nghĩa gì.

Chắc chắn chính cụ Dumbledore đã chọn khắc câu đó, bởi vì cụ là người lớn nhất trong gia đình sau khi mẹ cụ qua đời.

“Bồ có chắc là thầy không hề nhắc tới...”

Hermione mới mở miệng nói.

“Không,” Harry sẵng giọng đáp ngay, rồi nói thêm, “Tụi mình kiếm tiếp đi,” và nó quay đi, ước phải chi đừng nhìn thấy tấm bia: nó không muốn nỗi xao xuyến bồi hồi của nó bị lu mờ vì cơn oán giận.

Một lát sau Hermione lại kêu lên từ trong bóng tối:

“Đây nè!

Ủa không phải, xin lỗi!

Mình tưởng bia ghi Potter.”

Cô bé lau chùi một tấm bia bể phủ đầy rêu, chăm chú nhìn xuống bia, gương mặt hơi sững sờ.

“Harry, trở lại đây ngay.”

Harry không muốn bị hố nữa, nên bất đắc dĩ lần đường trong tuyết đi về phía Hermione.

“Cái gì?”

“Nhìn cái này đi!”

Ngôi mộ cực kỳ xưa cũ, bị thời tiết bào mòn đến nỗi Harry khó có thể đọc được cái tên.

Hermione chỉ cho nó cái ký hiệu bên dưới.

“Harry, đó là ký hiệu vẽ trong cuốn sách!”

Nó săm soi cái chỗ Hermione chỉ: tấm bia đá bị mòn đến nỗi khó mà phân biệt được cái gì đã khắc trên đó, mặc dù có vẻ như có một ký hiệu hình tam giác bên dưới cái tên không thể đọc được.

“Ừ... có thể...”

Hermione thắp cây đũa phép của mình lên và chĩa vào cái tên trên tấm bia.

“Bia ghi Ig...

Mình nghĩ là Ignotus...”

“Mình tiếp tục tìm kiếm mộ của ba má mình, được không?”

Harry nói với Hermione, giọng hơi quạu, và nó bước đi, bỏ lại Hermione cúi lom khom bên ngôi mộ cũ.

Thỉnh thoảng nó nhận ra một cái họ nó từng gặp ở trường Hogwarts, như Abbott chẳng hạn.

Đôi khi nhiều thế hệ của cùng một dòng họ phù thủy đều có mặt trong nghĩa trang: dựa vào ngày tháng, Harry biết dòng họ đó không còn ai nối dõi hoặc con cháu họ hiện nay đã đi khỏi Thung lũng Godric.

Càng đi vào sâu hơn giữa những nấm mộ, và mỗi lần gặp một tấm bia mới, nó lại càng cảm thấy một chút chòng chành giữa e sợ và đề phòng.

Bỗng nhiên bóng tối và sự im lặng dường như trở nên sâu hơn.

Harry nhìn quanh, lo lắng, nghĩ đến bọn Giám ngục, rồi nhận ra những khúc ca Giáng sinh đã hết rồi, và tiếng chuyện trò cùng lao xao của những người đi lễ đang mờ dần khi họ quay về phía quảng trường.

Ai đó trong nhà thờ vừa mới tắt các ngọn đèn.

Chợt giọng của Hermione vang lên trong bóng tối lần thứ ba, sắc và rõ, cách nó vài thước.

“Harry, họ ở đây... ngay đây nè.”

Và nghe giọng của Hermione nó biết ngay lần này thì đúng là ba má nó: nó đi về phía Hermione, cảm giác như có cái gì đó nặng lắm đang đè lên lồng ngực, giống như cái cảm giác mà nó trải qua ngay sau khi cụ Dumbledore chết, một nỗi buồn thực sự đè nặng lên tim phổi nó.

Tấm bia đó chỉ nằm sau bia mộ của bà Kendra và Ariana có hai hàng.

Nó được làm bằng cẩm thạch trắng, giống y như mộ của cụ Dumbledore, và nhờ vậy mà dễ đọc, vì nó dường như sáng lên trong bóng tối.

Harry không cần quỳ xuống, thậm chí không cần đi tới thật gần cũng nhìn thấy những chữ được khắc trên bia:

JAMES POTTER

LILY POTTER

SINH NGÀY 27 THÁNG 3 NĂM 1960

SINH NGÀY 30 THÁNG 1 NĂM 1960

CHẾT NGÀY 31 THÁNG 10 NĂM 1981

CHẾT NGÀY 31 THÁNG 10 NĂM 1981

Kẻ thù cuối cùng bị tiêu diệt là cái chết

Harry chậm rãi đọc hàng chữ, như thể nó chỉ có một cơ hội để tiếp thu ý nghĩa của những chữ đó, và nó đọc lớn dòng cuối cùng.

“Kẻ thù cuối cùng bị tiêu diệt là cái chết...”

Nó chợt nảy ra một ý nghĩ hãi hùng và hơi kinh hoảng.

“Chẳng phải đây là ý tưởng của bọn Tử Thần Thực Tử sao?

Tại sao lại ghi ở đây?”

“Câu này không có nghĩa là đánh bại cái chết như ý bọn Tử Thần Thực Tử đâu, Harry à.”

Hermione nói, giọng thật dịu dàng.

“Đây có nghĩa là... bồ hiểu chứ... sự sống vượt qua cái chết.

Sự sống sau cái chết.”

Nhưng họ đâu còn sống nữa, Harry nghĩ.

Họ mất rồi.

Những con chữ trống rỗng không che giấu được sự thật là di thể vụn nát của ba má nó nằm bên dưới tuyết và đá, dửng dưng, vô thức.

Và trước khi nó kịp cầm lại, nước mắt đã ứa ra, nóng hổi nhưng rồi đông lạnh ngay tức thì trên mặt nó; chùi nước mắt đi, hay giả đò tỉnh rụi, thì có nghĩa lý gì?

Nó cứ để cho nước mắt rơi, môi mím chặt hơn, nhìn xuống lớp tuyết dày che khuất cái nơi mà phần cuối cùng của má Lily và ba James nằm, giờ chỉ còn xương, chắc vậy, hay chỉ là bụi; họ không biết, không bận tâm đến đứa con trai còn sống đang đứng sát bên, trái tim vẫn đập, vẫn sống nhờ sự hy sinh của họ, và nó gần như ao ước, ngay lúc này đây, được nằm ngủ dưới tuyết cùng ba má.

Hermione lại cầm lấy tay nó và siết chặt.

Nó không thể nhìn Hermione, nhưng siết tay cô bé để đáp lại, rồi hớp vào sâu và mạnh làn khí đêm, cố gắng tự trấn tĩnh, cố gắng tự chủ.

Lẽ ra nó nên đem đến cho ba má nó cái gì đó, vậy mà nó đã không nghĩ ra, và mọi cây cỏ trong nghĩa trang đều trụi lủi và đông cứng.

Nhưng Hermione đã giơ cây đũa phép lên, vẽ một vòng tròn trong không trung và một vòng hoa Giáng sinh kết bằng hoa hồng nở ra trước mặt tụi nó.

Harry bắt lấy vòng hoa và đặt lên mộ ba má nó.

Ngay khi đứng dậy nó muốn đi ngay: nó nghĩ nó không thể chịu đựng thêm phút giây nào ở đó nữa.

Nó choàng cánh tay qua vai Hermione, và cô bé vòng tay ra ôm eo nó, cả hai lặng lẽ quay lưng bước đi trong tuyết, ngang qua mộ của mẹ và em gái cụ Dumbledore, trở về hướng ngôi nhà thờ tối thui và cánh cổng hờ khuất tầm mắt.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 17: Bí mật Bathilda


Bí mật Bathilda

“Harry, ngừng lại.”

“Có chuyện gì?”

Tụi nó vừa mới tới được nấm mộ của một người nào đó mang họ Abbott.

“Có ai ở đằng kia kìa.

Ai đó đang rình tụi mình, mình dám nói chắc luôn.

Ở đằng kia, núp sau mấy bụi cây.”

Tụi nó đứng im re, níu lấy nhau, đăm đăm nhìn về vùng ranh đen đặc của nghĩa trang.

Harry không thấy được gì cả.

“Bồ chắc không?”

“Mình thấy cái gì đó nhúc nhích.

Mình dám thề là mình thấy...”

Cô bé buông Harry ra để cánh tay cầm đũa phép được tự do.

“Tụi mình trông giống dân Muggle mà,” Harry nêu lên một thực tế.

“Dân Muggle mà đặt hoa lên mộ của ba má bồ sao?

Harry à, mình chắc chắn là có ai đó ở đằng kia!”

Harry nghĩ đến cuốn Một Lịch Sử Pháp Thuật; nghĩa trang này bị coi là có ma ám; nếu mà...?

Nhưng rồi nó nghe một tiếng lào xào và thấy một đám tuyết nhỏ bị tung lên từ bụi cây mà Hermione vừa chỉ.

Ma đâu có thể làm tung tuyết được.

Một hai giây sau, Harry nói: “Một con mèo, hay một con chim.

Nếu là một tên Tử Thần Thực Tử thì bây giờ tụi mình đã chết rồi.

Nhưng mà tụi mình ra khỏi chỗ này đã, xong rồi có thể trùm lại Áo khoác Tàng hình.”

Tụi nó vừa liếc nhìn lại sau lưng vừa lần đường ra khỏi nghĩa trang.

Không thực sự cảm thấy vững tâm lắm như nó giả bộ khi cam đoan với Hermione, Harry mừng húm khi hai đứa tới được cánh cổng và con đường trơn trợt.

Tụi nó kéo Áo khoác Tàng hình trùm lên người.

Quán rượu đông khách hơn cả trước đó.

Nhiều người bên trong đang hát những ca khúc Giáng sinh mà tụi nó đã nghe lúc đi ngang qua nhà thờ.

Trong một thoáng, Harry tính đề nghị chui vô quán để trú ẩn, nhưng nó chưa kịp nói gì thì Hermione đã thì thầm, “Tụi mình đi ngõ này,” và kéo nó xuống một con đường tối thui dẫn ra khỏi làng theo hướng ngược lại con đường đã dẫn tụi nó vô làng.

Harry có thể nhận ra mỏm đất nơi không còn nhà cửa nữa, và con đường lại chạy ra vùng nông thôn trống trải.

Tụi nó liều đi cho nhanh, ngang qua thêm nhiều cửa sổ lấp lánh ánh đèn đủ màu, với hình dáng những cây thông Giáng sinh mờ mờ sau những tấm màn cửa.

“Làm sao kiếm được nhà bà Bathilda đây?”

Hermione hỏi, cô bé hơi run và cứ liếc chừng ra sau.

“Harry?

Bồ đang nghĩ gì vậy?

Harry?”

Hermione kéo mạnh cánh tay Harry, nhưng Harry không bận tâm.

Nó đang nhìn về phía cái khối đen hù đứng ở cuối dãy nhà này.

Ngay sau đó nó đi thật nhanh, kéo Hermione theo khiến cô bé suýt trượt chân trên băng.

“Harry...”

“Nhìn kìa... nhìn đi, Hermione...”

“Mình không...

Ôi!”

Nó có thể thấy điều đó; bùa Trung thành ắt là đã chết cùng với ba James và má Lily.

Hàng giậu đã mọc hoang trong suốt mười sáu năm qua kể từ khi bác Hagrid đem Harry ra khỏi cái đống đổ nát giờ nằm rải rác giữa đám cỏ cao tới thắt lưng.

Phần lớn ngôi nhà vẫn còn đứng vững mặc dù bị dây trường xuân và tuyết trùm lấp hoàn toàn, nhưng phần bên phải của tầng trên cùng đã bị nổ banh; Harry tin chắc đó là nơi lời nguyền đã phản phé.

Nó và Hermione đứng bên cổng, ngó chằm chằm đống hoang tàn của cái ắt đã một thời từng là một ngôi nhà giống như những ngôi nhà bên cạnh.

“Mình thắc mắc tại sao không ai xây lại ngôi nhà?”

Hermione thì thầm.

“Có thể người ta không xây nó lại được?”

Harry đáp.

“Hay có thể nó giống như thương tích do Nghệ thuật Hắc ám, không thể sửa lại được thiệt hại?”

Harry thò một bàn tay ra khỏi Áo khoác Tàng hình, nắm lấy cánh cổng rỉ sét và đầy tuyết, không hề muốn mở nó ra, mà chỉ để cầm nắm một cái gì đó của ngôi nhà.

“Bồ không đi vô bên trong đấy chứ?

Coi không được an toàn lắm đâu, có thể...

ôi, Harry, nhìn kìa!”

Cái chạm tay của nó vào cánh cổng dường như đã khiến điều đó xảy ra: một tấm bảng nhô lên khỏi mặt đất ngay trước mặt tụi nó, xuyên qua đám chằng chịt những cây tầm ma và cỏ dại, giống như một đóa hoa kỳ quái lớn rất nhanh, những chữ vàng trên mặt gỗ ghi rằng:

Tại đây, vào đêm 31 tháng 10 năm 1981,

Lily và James Potter đã thiệt mạng.

Con trai họ, Harry, hiện là phù thủy duy nhất

sống sót dưới Lời nguyền Giết chóc.

Căn nhà này, vô hình đối với dân Muggle, được giữ

y nguyên tình trạng đổ nát để tưởng nhớ gia đình Potter

và để nhắc nhở sự bạo tàn

đã làm tan nát gia đình họ.

Chung quanh những dòng chữ sắc gọn này là những chữ nguệch ngoạc của các phù thủy và pháp sư đến tham quan địa điểm Kẻ Sống Sót đã thoát chết.

Một số chỉ đơn giản ký tên mình bằng mực vĩnh cửu, những kẻ khác khắc chữ viết tắt của tên mình lên gỗ, lại có những người để lại cả thông điệp.

Những thông điệp mới nhất trong số đó, tỏa sáng rực rỡ trên những bức grafito pháp thuật trải dài qua mười sáu năm, đều có nội dung tương tự.

“Harry, chúc may mắn, dù bạn đang ở đâu.”

“Harry, nếu anh đọc được dòng chữ này, tất cả chúng tôi ở bên anh.”

“Harry Potter muôn năm!”

“Lẽ ra họ không nên viết bậy lên tấm bảng!”

Hermione phẫn nộ nói.

Nhưng Harry cười toe với cô bé.

“Vui chớ!

Mình khoái họ viết như vậy.

Mình...”

Nó nín ngang.

Một bóng người mặc đồ ấm dày kín mít đang khập khiễng lê bước trên con đường nhỏ tiến về phía tụi nó, nổi bật lên nhờ ánh đèn sáng ở quảng trường xa xa.

Mặc dù rất khó phán đoán, nhưng Harry nghĩ hình bóng đó là một người đàn bà.

Bà ta đi đứng chậm chạp, có lẽ sợ trượt té trên mặt đất phủ tuyết.

Cái lưng khòm của bà, vẻ ục ịch của bà, và dáng đi lếch thếch của bà đều cho ấn tượng bà cực kỳ già nua.

Tụi nó im lặng nhìn trong lúc bà tiến lại gần hơn.

Harry đang chờ coi bà có quẹo vô một trong những ngôi nhà mà bà đi ngang qua không, nhưng linh tính cho nó biết là bà sẽ không quẹo.

Cuối cùng bà ngừng bước cách tụi nó vài thước và chỉ đơn giản đứng đó giữa con đường đóng băng, hướng mặt về phía tụi nó.

Nó không cần Hermione véo vào cánh tay.

Chạy trời cũng không sai người đàn bà này không phải dân Muggle: bà đang đứng đó nhìn đăm đăm ngôi nhà đúng ra sẽ hoàn toàn vô hình đối với bà nếu bà không phải là một phù thủy.

Tuy nhiên, cho dù có là một phù thủy đi chăng nữa, thì hành vi đi ra ngoài đường trong một đêm lạnh như vầy chỉ để ngắm một phế tích cũ kỹ cũng hết sức kỳ quái.

Đồng thời, theo đúng quy luật của pháp thuật thông thường thì lẽ ra bà không thể nào thấy được Hermione và Harry.

Vậy mà, Harry có cảm giác hết sức lạ là bà biết tụi nó có mặt ở đó, và thậm chí còn biết tụi nó là ai.

Ngay khi nó vừa khẳng định suy luận này, bà liền giơ một bàn tay đeo găng lên và ngoắc ngoắc.

Hermione đứng sát vào Harry hơn dưới tấm Áo khoác Tàng hình, cánh tay cô bé áp mạnh vào cánh tay nó.

“Làm sao bà ấy biết được?”

Harry lắc đầu.

Người đàn bà lại ngoắc tay lần nữa, mạnh hơn.

Harry có thể nghĩ ra nhiều lý do để đừng tuân theo sự vẫy gọi đó, chưa kể đứng nhìn nhau trên con đường vắng vẻ thế này, nỗi nghi ngờ về nhân thân của bà lại càng lúc càng mạnh hơn.

Có thể nào bà đã chờ đợi tụi nó suốt mấy tháng trời?

Có thể nào cụ Dumbledore đã dặn bà đợi, và Harry cuối cùng sẽ đến?

Không phải chính bà là cái kẻ đã lẩn khuất trong bóng tối nghĩa trang và đi theo tụi nó tới chỗ này chứ?

Ngay cả khả năng nhận ra tụi nó của bà cũng gợi tới thứ quyền lực gì đó mang hơi hướng cụ Dumbledore mà trước đây Harry chưa từng gặp.

Cuối cùng Harry nói, khiến Hermione giật bắn người và há hốc miệng thở.

“Bà là bà Bathilda?”

Cái bóng người lếch thếch đó gật đầu và lại ngoắc tay nữa.

Dưới tấm Áo khoác Tàng hình, Hermione và Harry nhìn nhau.

Harry nhướn chân mày, Hermione sợ sệt gật nhẹ đầu.

Tụi nó bước về phía người đàn bà, và ngay lập tức, bà quay lưng lại và khập khiễng lê bước ngược trở lại con đường mà tụi nó vừa đi.

Dẫn hai đứa đi qua nhiều ngôi nhà, bà quẹo vào một cái cổng.

Tụi nó đi theo bà đến một lối đi dẫn vào cửa trước, xuyên qua một khu vườn rậm rạp gần bằng ngôi nhà hoang mà tụi nó vừa rời khỏi.

Bà lóng ngóng với cái chìa khóa cửa trước một lúc, rồi mở cửa ra và đứng qua một bên cho tụi nó bước vào.

Bà hôi kinh khủng, hay có lẽ ngôi nhà của bà hôi; Harry nhăn mũi khi tụi nó khép nép đi ngang bà và cởi tấm Áo khoác Tàng hình ra.

Giờ đây khi đã đứng cạnh bà, nó nhận ra bà mới nhỏ nhắn làm sao; tuổi tác khiến bà còng rạp xuống, cao chưa tới ngang ngực Harry.

Bà đóng cửa lại sau lưng tụi nó, những mấu tay bà xanh lè và mốc meo lốm đốm nổi trên lớp sơn tróc, rồi bà quay lại và săm soi gương mặt Harry.

Mắt bà dày vì bị cườm và lõm sâu giữa những nếp da nhăn lộ rõ và toàn bộ gương mặt của bà lấm chấm những vết rạn tĩnh mạch với mụn gan.

Nó tự hỏi liệu bà có thể nhìn thấy nó không; mà cho dù bà có thấy, thì cái kẻ bà thấy chỉ là một gã Muggle trung niên đầu hói mà nó đang đội lốt giả danh.

Mùi của tuổi già, của bụi bặm, của quần áo không giặt giũ và đồ ăn thiu càng nồng hăng thêm khi bà tháo chiếc khăn quàng màu đen cũ nát, để trần một cái đầu tóc trắng lưa thưa lộ cả da đầu.

“Bà Bathilda?”

Harry lại hỏi.

Bà gật đầu lần nữa.

Harry bắt đầu nhận thấy cái mặt dây chuyền đang áp trên da nó, có cái gì bên trong đó thỉnh thoảng vẫn kêu tích tắc hay đập nhè nhẹ giờ đây đã thức dậy, Harry có thể cảm được nhịp đập của cái đó qua lớp vàng lạnh ngắt.

Phải chăng cái đó biết, phải chăng cái đó cảm nhận được, rằng vũ khí tiêu diệt nó đang ở gần?

Bà Bathilda lê bước ngang qua tụi nó, đẩy Hermione qua một bên như thể bà không nhìn thấy cô bé, rồi bà biến vào một chỗ có vẻ là phòng khách.

“Harry à, mình không cảm thấy yên tâm về chuyện này,” Hermione thì thào.

“Nhìn thử tướng tá của bà ấy coi, mình nghĩ tụi mình dư sức khống chế nếu cần,” Harry nói.

“Nghe nè, lẽ ra mình nên nói với bồ, mình biết bà ấy không hoàn toàn tỉnh táo.

Bà Muriel nói bả 'khùng khùng'.”

“Lại đây!”

Bà Bathilda gọi từ phòng bên cạnh.

Hermione giật mình níu lấy cánh tay Harry.

“Không sao đâu,” Harry nói giọng vỗ về, rồi nó dẫn đường đi vô phòng khách.

Bà Bathilda đang lắc lư đi quanh phòng thắp nến, nhưng căn phòng vẫn còn rất tối, ấy là chưa nói nó cực kỳ dơ.

Lớp bụi dày lạo xạo dưới chân hai đứa, và mũi Harry đánh hơi được, dưới cái mùi ẩm ướt mốc meo còn có mùi gì khác hôi hám hơn nữa, giống như mùi thịt thối.

Nó tự hỏi lần cuối cùng có ai đó vào trong nhà bà Bathilda để coi bà sống chết ra sao là vào lúc nào.

Bà dường như cũng quên rằng bà có thể làm pháp thuật, bởi vì bà thắp đèn vụng về bằng tay, cổ tay áo ren rua lòng thòng của bà cứ lăm le bắt lửa.

“Để cháu làm cho,” Harry đề nghị, và nó cầm lấy diêm quẹt từ tay bà.

Bà đứng nhìn trong khi nó làm nốt việc thắp mấy mẩu nến cùn cắm trong mấy cái dĩa con có khắp phòng, đậu chông chênh trên những đống sách và trên mấy cái bàn con bừa bộn toàn tách mốc meo rạn nứt.

Chỗ đặt nến cuối cùng mà Harry đến thắp là trên một cái tủ ngăn kéo có mặt trước hình cánh cung, trên đó đặt rất nhiều bức hình.

Khi ánh lửa bừng lên, ánh phản chiếu chờn vờn trên mặt kiếng và khung bạc đầy bụi của những tấm hình đó.

Harry thấy vài cử động nhỏ trong những tấm hình.

Trong lúc bà Bathilda lóng ngóng chụm củi trong lò sưởi, Harry hô “Lau sạch”.

Bụi trên những bức hình biến mất, và nó thấy ngay lập tức đến nửa tá hình đã biến khỏi những cái khung lớn nhất và đẹp nhất.

Nó tự hỏi bà Bathilda hay ai đã xóa những cái hình đó đi.

Bỗng mắt nó bắt gặp một tấm hình gần phía cuối bộ sưu tập này, và nó chụp lấy ngay.

Đó là tên trộm tóc vàng có bộ mặt hí hửng, chàng trai trẻ đã ngồi chồm hỗm trên bệ cửa sổ nhà ông Gregorovitch, chàng ta đang uể oải mỉm cười với Harry trong cái khung hình bằng bạc.

Và ngay lập tức Harry nhớ ra trước đây nó đã nhìn thấy chàng trai đó ở đâu: trong cuốn Chuyện Đời và Chuyện Xạo của Albus Dumbledore, tay quàng tay với cậu thiếu niên Dumbledore, và Harry nhận ra tất cả những tấm hình bị mất ở đây ắt phải ở đâu: trong cuốn sách của Rita.

“Thưa bà... cô...

Bagshot?”

Harry nói, giọng nó hơi run.

“Người này là ai ạ?”

Bà Bathilda đang đứng giữa phòng nhìn Hermione đốt lò sưởi giùm bà.

“Thưa cô Bagshot?”

Harry lặp lại, và nó cầm tấm hình bước tới, trong lúc ngọn lửa bùng lên trong lò sưởi.

Bà Bathilda ngước lên khi nghe tiếng Harry, và cái Trường Sinh Linh Giá đập nhanh trên ngực nó.

“Người này là ai?”

Harry đẩy tấm hình tới trước hỏi bà Bathilda.

Bà nghiêm trang ngắm tấm hình, rồi ngước nhìn Harry.

“Bà có biết người này là ai không?”

Nó hỏi lại, giọng lớn hơn và chậm hơn bình thường.

“Người đàn ông này?

Bà có biết ông ta không?

Ông ấy tên gì?”

Bà Bathilda chỉ đứng đó, tỏ vẻ đãng trí.

Harry cảm thấy nản lòng kinh khủng.

Rita Skeeter đã làm cách nào để giải phóng được ký ức bà?

“Người này là ai?”

Nó lớn tiếng hỏi lại.

“Harry, bồ đang làm gì vậy?”

Hermione hỏi.

“Tấm hình này, Hermione à, là tên trộm đã đánh cắp của ông Gregorovitch!

Bà làm ơn trả lời giùm!”

Nó nói với bà Bathilda.

“Ai đây?”

Nhưng bà chỉ im lặng nhìn Harry đăm đăm.

“Tại sao bà kêu tụi cháu đi theo bà, bà... cô...

Bagshot?”

Hermione hỏi, cũng lớn tiếng.

“Bà cần nói điều gì với tụi cháu?”

Chẳng tỏ dấu hiệu gì là có nghe tiếng Hermione, bà Bathilda lại lê mấy bước khập khiễng đến gần Harry hơn.

Kèm theo cái hất đầu bà ngó ra hành lang.

“Bà muốn tụi cháu đi ra à?”

Harry hỏi.

Bà lặp lại động tác vừa rồi, lần này chỉ vào nó trước tiên rồi chỉ vào chính bà, rồi chỉ lên trần nhà.

“À, được...

Hermione à, mình nghĩ bà muốn mình đi lên lầu với bà”

“Được thôi,” Hermione nói.

“Tụi mình cứ đi.”

Nhưng khi Hermione động đậy, bà Bathilda lắc đầu dữ dội khiến tụi nó ngạc nhiên, rồi một lần nữa bà lại chỉ vào Harry rồi chỉ vào chính bà.

“Bà muốn mình đi với bà, một mình mình.”

“Tại sao?”

Hermione hỏi, giọng cô bé vang lên sắc đanh và rành rọt trong căn phòng lập lòe ánh nến, bà già hơi lắc đầu khi nghe tiếng la lớn đó.

“Có lẽ thầy Dumbledore bảo bà đưa thanh gươm cho mình, chỉ đưa cho mình thôi?”

“Bồ có thực lòng nghĩ bà biết bồ là ai không?”

“Có,” Harry vừa nói vừa nhìn xuống đôi mắt đục lờ ngó chằm chằm vào mắt nó.

“Mình nghĩ bà biết.”

“Vậy thì, được, nhưng mau mau lên nghe Harry.”

Harry nói với bà Bathilda, “Bà đi trước.”

Bà dường như hiểu, bởi vì bà khập khiễng đi vòng qua nó về phía cửa.

Harry ngoái lại nhìn Hermione mỉm cười trấn an, nhưng nó không chắc Hermione nhìn thấy, cô bé đang đứng co ro khoanh hai tay ôm lấy mình giữa đám bụi được chiếu sáng bằng ánh nến, ngước nhìn lên kệ sách.

Khi ra khỏi phòng, nhân lúc Hermione và bà Bathilda không nhìn thấy, Harry tuồn tấm hình có cái khung bạc của tên trộm bí ẩn vô bên trong áo vét của nó.

Cầu thang dốc và hẹp, Harry suýt đưa tay nó ra đặt lên cái lưng bè bè của bà Bathilda để yên chí bà không té bật ngửa ra sau đè lên nó, mà chuyện đó coi bộ dễ xảy ra lắm.

Chậm chạp, thở khò khè, bà trèo lên tới đầu cầu thang, quẹo ngay qua bên phải, và dẫn nó vào một phòng ngủ trần thấp.

Căn phòng tối thui và hôi khủng khiếp: Harry chỉ kịp nhận ra một cái bô nước tiểu thò ra dưới gầm giường trước khi bà Bathilda đóng cửa lại và ngay sau đó nó bị bóng tối nuốt trọn.

“Thắp sáng,” Harry nói, và cây đũa phép của nó sáng lên.

Nó giật mình: trong có mấy giây mà bà Bathilda đã đến sát bên nhưng nó lại không hề nghe tiếng bà đến gần.

“Mi là Potter?”

Bà thì thầm.

“Dạ.

Cháu đây.”

Bà gật đầu, chậm rãi và trang trọng.

Harry cảm thấy cái Trường Sinh Linh Giá đang đập rất nhanh, nhanh hơn chính nhịp tim của nó; một cảm giác thật khích động, khó chịu.

“Bà có đưa gì cho cháu không?”

Harry hỏi, nhưng bà cụ dường như bị cây đũa phép đang chiếu sáng của nó làm cho hoảng hốt.

“Bà có đưa gì cho cháu không?”

Nó lặp lại.

Thế rồi bà Bathilda nhắm mắt lại và nhiều việc xảy ra cùng một lúc: cái thẹo của Harry nhói lên đau đớn; cái Trường Sinh Linh Giá co giật mạnh đến nỗi ngực áo len của Harry động đậy thực sự; căn phòng hôi hám tối đen biến đi trong chốc lát.

Nó thấy một niềm vui sướng dâng lên và cất giọng the thé lạnh lùng, bảo: Giữ lấy nó!

Harry lắc lư tại chỗ: căn phòng hôi hám tối tăm dường như thít chặt quanh nó một lần nữa; nó không biết điều gì vừa xảy ra.

“Bà có đưa gì cho cháu không?”

Nó hỏi lần thứ ba, giọng to hơn hẳn.

“Lại đây,” bà Bathilda thì thầm, chỉ vào một góc phòng.

Harry giơ cây đũa phép lên cao và thấy đường nét lờ mờ của một cái bàn trang điểm bừa bộn bên dưới tấm màn cửa sổ.

Lần này bà không dẫn đường Harry nữa.

Nó lách đi giữa bà và cái giường xộc xệch, cây đũa phép giơ cao.

Nó không muốn rời mắt khỏi bà.

“Cái gì hở bà?”

Nó hỏi khi tới bên cái bàn trang điểm chất cao nghệu một đống những thứ bốc mùi và trông giống như áo quần chưa giặt.

“Ở đó,” bà Bathilda nói, chỉ vào cái đống không hình thù.

Và ngay khi nó vừa rời mắt khỏi bà, đảo mắt rà tìm trong đống hỗn độn một chuôi gươm, một viên hồng ngọc, thì bà Bathilda chuyển động một cách kỳ lạ: nó nhìn thấy điều đó qua khóe mắt; nỗi kinh hoảng khiến nó quay phắt lại và nỗi sợ hãi khiến nó tê liệt khi thấy cơ thể già nua của bà sụm xuống và một con mãng xà vọt ra từ cái chỗ trước đó là cần cổ của bà.

Con rắn lao tới tấn công ngay khi Harry giơ cây đũa phép lên: cú mổ mạnh vào cánh tay nó khiến cây đũa phép văng lên trần nhà; ánh sáng phát từ cây đũa chờn vờn đến chóng mặt khắp phòng rồi tắt ngúm; sau đó cái đuôi rắn đập một cú cực mạnh vào giữa be sườn khiến Harry đứt hơi: nó ngã ngửa lên cái bàn trang điểm, té vô đống quần áo dơ hầy...

Nó lăn tròn qua một bên, né được trong đường tơ kẽ tóc cái đuôi con rắn đang quật xuống cái bàn chỗ nó vừa nằm một giây trước đó.

Tấm kiếng lót mặt bàn bể vụn rớt như mưa rào xuống Harry khi nó chạm tới sàn.

Nó nghe tiếng Hermione gọi từ nhà dưới, “Harry?”

Nó không sao lấy được đủ hơi vào phổi để gọi lại: thình lình một khối trơn nhẵn đè nó xuống sàn và nó cảm thấy cái khối đó trườn qua người nó, mạnh bạo, lực lưỡng...

“Không!”

Nó bị kẹp chặt xuống sàn, há hốc, thở hổn hển.

“Có,” một giọng thì thào, “Cóoo... giữ lấy mi... giữ lấy mi...”

“Đũa phép lại đây...”

Nhưng chẳng có gì xảy ra và nó phải dùng cả hai tay để gắng sức đẩy con rắn ra trong khi con rắn quấn quanh thân hình nó, vắt kiệt không khí khỏi người nó, ép mạnh cái Trường Sinh Linh Giá vào ngực nó, một vòng tròn băng giá phập phồng đầy sức sống, chỉ cách trái tim hoảng loạn của nó có mấy phân, và đầu óc nó chìm ngập trong ánh sáng trắng toát lạnh buốt, tất cả suy nghĩ đều mù mịt, hơi thở của chính nó bị dìm tắt, tiếng bước chân xa xa, mọi việc vẫn tiếp diễn...

Một trái tim kim loại đang dộng ình ình bên ngoài buồng ngực nó, và giờ đây nó đang bay, bay với trái tim đắc thắng, không cần chổi hay vong mã...

Harry đột ngột bừng tỉnh trong bóng tối bốc mùi chua loét; con rắn Nagini đã thả nó ra.

Nó lồm cồm bò dậy và thấy hình thù con rắn nổi trên nền ánh sáng đầu cầu thang: con rắn lao tới và Hermione nhào qua một bên kèm theo một tiếng ré; lời nguyền không trúng mục tiêu của cô bé mà lại trúng vào khuôn cửa sổ có màn che khiến nó tan nát.

Không khí lạnh buốt tràn vào phòng khi Harry hụp xuống để tránh một trận mưa rào miểng kiếng nữa, và chân nó trượt trên cái gì giống như cây viết chì... cây đũa phép của nó...

Harry cúi xuống và chụp lấy cây đũa phép, nhưng giờ đây con rắn đã chiếm ngự căn phòng, đuôi nó quật đập, chẳng còn thấy Hermione đâu nữa và trong một thoáng Harry nghĩ đến điều tệ hại nhất, nhưng chợt vang lên một tiếng nổ đùng thật to, một ánh sáng đỏ nháng lên, và con rắn bay véo lên không trung, đập mạnh vào mặt Harry trong lúc văng lên, cuộn mình ngoằn ngoèo vươn tới tận trần nhà.

Harry giơ cao cây đũa phép, nhưng khi nó làm vậy, cái thẹo của nó nhói lên nhức buốt, đau đớn hơn thảy mọi cơn đau trong suốt những năm qua.

“Hắn đang đến!

Hermione, hắn đang đến!”

Trong lúc nó hét lên, con rắn rớt xuống, rít lên điên cuồng.

Mọi thứ hỗn loạn: con rắn đè sập những kệ tủ gắn trên tường, đồ sứ bể vụn bay tán loạn và Harry nhảy lên giường chụp cái khối đen đen mà nó biết là Hermione...

Hermione ré lên đau đớn khi nó kéo cô bé băng ngang cái giường: con rắn lại chồm lên, nhưng Harry biết cái đáng sợ hơn cả con rắn đang đến, và có lẽ đã tới cổng rồi, đầu nó đang sắp tét ra vì cơn đau của cái thẹo...

Con rắn nhào theo khi Harry bật chạy, kéo theo Hermione; con vật lao đến tấn công, Hermione gào to “Nổ!” và thần chú của cô bé vang khắp phòng, làm nổ tan tành tấm kiếng của tủ quần áo và nẩy bật lại về phía tụi nó, dội từ sàn lên tới trần nhà; Harry cảm nhận được sức nóng của vụ nổ đốt quéo mu bàn tay nó.

Miểng kiếng cắt vào má nó khi nó xốc Hermione nhảy từ cái giường gãy qua cái bàn trang điểm cũng đã gãy để rồi nhảy qua cái cửa sổ bể tanh banh và rơi vào cõi không, tiếng gào của Hermione vang dội trong đêm khi tụi nó quay tít giữa không trung...

Thế rồi cái thẹo của nó vụt mở ra và nó là Voldemort, đang chạy ngang qua căn phòng ngủ hôi hám, hai bàn tay dài trắng bệch bấu chặt bệ cửa sổ khi thoáng thấy bóng gã đàn ông trung niên hói đầu cùng người đàn bà nhỏ nhắn xoay tít và biến mất.

Hắn rú lên tức giận, tiếng rú hòa lẫn với tiếng gào của cô gái, vang vọng qua những khu vườn tối đen, to hơn cả tiếng chuông nhà thờ đang đổ mừng ngày Giáng sinh...

Và tiếng rú của hắn cũng là tiếng rú của Harry, cơn đau của hắn cũng là cơn đau của Harry...

điều đó có thể xảy ra ở đây, nơi điều đó trước kia từng xảy ra...

ở đây, có thể nhìn thấy ngôi nhà đó, nơi hắn từng cận kề cái chết để biết chết là gì... chết... cơn đau thật khủng khiếp... xé toạc thân thể hắn... nhưng nếu hắn không có thân thể, sao cái đầu hắn lại đau khủng khiếp thế này, nếu hắn đã chết, sao hắn lại thấy lạnh quá sức chịu đựng thế này, chẳng phải chết rồi thì cũng hết đau sao, chẳng phải...

Cái đêm ẩm ướt và gió lộng này, hai đứa trẻ mặc đồ như trái bí rợ đang lạch bạch đi ngang qua quảng trường và cửa tiệm giăng đầy nhền nhện giấy, tất cả những trò Muggle hào nhoáng của cái thế giới mà họ không hề tin...

Và khi hắn lướt dọc con đường, cái cảm giác về mục tiêu, quyền lực và công bằng nổi lên trong hắn, cái cảm giác mà hắn luôn luôn có vào những dịp này... không phải cơn tức giận... cái đó chỉ dành cho những linh hồn yếu đuối hơn hắn... mà là sự đắc thắng, phải...

Hắn đã chờ đợi dịp này, hắn đã hy vọng có dịp này...

“Hóa trang hay lắm, thưa ông!”

Hắn thấy nụ cười của thằng nhóc sượng đi khi nó chạy lại đủ gần để nhìn vào dưới lớp áo choàng và nón trùm đầu, hắn thấy nỗi khiếp sợ bao phủ gương mặt hóa trang của thằng bé: rồi thằng bé quay đi, bỏ chạy...

Bên dưới tấm áo chùng hắn đã chạm ngón tay vào chuôi cây đũa phép...

Một động tác đơn giản và thằng bé sẽ không bao giờ chạy được tới má nó... nhưng không cần thiết, hoàn toàn không cần thiết...

Rồi hắn đi dọc theo một con đường mới và tối hơn, giờ đây mục tiêu của hắn cuối cùng đã hiện ra trong tầm mắt, bùa Trung thành đã mất hiệu lực, mặc dù người trong cuộc vẫn chưa biết...

Và hắn khẽ khàng còn hơn cả những chiếc lá chết vất vưởng dọc lề đường khi co mình xuống ngang bằng hàng giậu tôi tối, và chăm chú nhìn qua bờ giậu...

Người trong nhà đã kéo màn cửa lên; hắn thấy họ rất rõ trong phòng khách nhà họ, người đàn ông cao tóc đen đeo kiếng đang tạo ra những cuộn bông khói màu sắc phụt ra từ cây đũa phép của mình để mua vui cho đứa con trai nhỏ tóc đen mặc bộ đồ ngủ màu xanh lam.

Đứa nhỏ đang cười và cố bắt cụm khói, nắm chặt khói trong nắm tay nhỏ xíu...

Một cánh cửa mở ra và người mẹ bước vào, nói gì đó hắn không thể nghe được, mái tóc dài màu đỏ sậm của cô xõa trên khuôn mặt.

Bấy giờ người cha bèn bế bổng đứa con lên và đưa nó cho người mẹ.

Ông liệng cây đũa phép lên ghế nệm dài và duỗi người ra, ngáp...

Cánh cổng rít lên khe khẽ khi hắn đẩy nó mở ra, nhưng ông James Potter không nghe thấy.

Bàn tay trắng của hắn rút cây đũa phép ra từ bên dưới tấm áo khoác và chĩa vào cánh cửa trước, khiến nó mở tung.

Hắn đã đứng ngay ngưỡng cửa khi James phóng ra tới hành lang.

Thật dễ dàng, quá dễ dàng, ông ta thậm chí không cầm theo cây đũa phép...

“Lily, đưa Harry đi!

Hắn đến!

Đi đi!

Chạy đi!

Anh sẽ cầm chân hắn!”

Cầm chân hắn à, trong khi tay không đũa phép!...

Hắn cười dòn trước khi phát ra lời nguyền...

“Avada Kedavra!”

Ánh sáng xanh lè chói đầy hành lang chật chội, rọi sáng cái xe trẻ con được đẩy sát tường, ánh sáng xanh lè đó khiến cho lan can cầu thang sáng chói lên như những tia chớp, và James Potter gục xuống như một con rối bị cắt đứt dây...

Hắn nghe tiếng người mẹ gào rú trên tầng lầu, như sập bẫy, nhưng miễn là cô ta biết điều thì phần cô ta, ít nhất, cũng không việc gì phải sợ...

Hắn leo lên cầu thang, lắng nghe với chút khoái trá cái cố gắng của người mẹ tự dựng chướng ngại vật để che chắn cho mình... mà cô ta cũng không có cả đũa phép... họ ngu gì đâu, cả tin gì đâu, tưởng đâu sự an toàn của mình là nhờ vào bạn bè, tưởng đâu vũ khí nhiều khi cũng có thể bỏ qua một bên...

Chỉ bằng một cái vẫy cây đũa phép uể oải, hắn tông cửa mở ra, gạt qua một bên cái ghế cùng mấy cái hộp chồng chất lên để tấn cánh cửa... và kia, người mẹ đứng đó, bồng trong tay đứa con.

Khi thấy hắn, cô đặt đứa con trai vào trong cái nôi sau lưng và giang rộng cánh tay ra, như thể làm vậy thì cứu được, như thể khi che chắn cho đứa con để hắn không nhìn thấy, cô hy vọng hắn sẽ chọn tấn công cô thay vì...

“Đừng giết Harry, đừng giết Harry, xin làm ơn đừng giết Harry!”

“Tránh ra, con ngốc...

Tránh ra, mau!”

“Đừng giết Harry, làm ơn đừng, cứ giết tôi, hãy giết tôi thay cho...”

“Đây là cảnh cáo cuối cùng của ta...”

“Đừng giết Harry!

Làm ơn... tội nghiệp... tội nghiệp...

Đừng giết Harry!

Đừng giết Harry!

Làm ơn... tôi sẽ làm bất cứ điều gì...”

“Tránh ra.

Tránh ra con ngốc!”

Hắn có thể đẩy người mẹ ra khỏi cái nôi, nhưng giết hết cả lũ có lẽ khôn ngoan hơn...

Ánh sáng xanh lè nháng lên khắp phòng và người mẹ gục xuống hệt như chồng cô.

Lúc này đứa bé chưa khóc.

Nó đứng lên được, bám vào những chấn song của cái nôi, và ngước nhìn gương mặt của kẻ đột nhập với vẻ thích thú tươi sáng, có lẽ tưởng là cha nó đang núp dưới lớp áo choàng tạo ra thêm nhiều ánh sáng đẹp đẽ và mẹ nó sẽ chồm dậy tức thì, cười vang...

Hắn cẩn thận chĩa cây đũa phép vào giữa mặt đứa nhỏ: hắn muốn thấy điều đó xảy ra, sự tiêu diệt kẻ này, mối nguy hiểm không thể giải thích được.

Đứa nhỏ bắt đầu khóc: nó đã nhận ra hắn không phải là ba James.

Hắn không thích đứa nhỏ khóc lóc, hắn chưa bao giờ chịu đựng nổi những đứa nhỏ khóc èo ẹo ở cô nhi viện...

“Avada Kedavra!”

Và rồi hắn tan nát.

Hắn không còn là gì cả, không gì cả ngoài nỗi đau đớn và hãi hùng, và hắn phải tự trốn đi, không phải trong đống nát vụn của ngôi nhà tan tành, nơi đứa nhỏ bị kẹt trong đó đang khóc lóc, mà trốn đi xa... xa thật xa...

“Không.”

Nó rên rỉ.

Con rắn bò sột soạt trên nền nhà ngổn ngang nhớp nhúa, và hắn đã giết đứa nhỏ, vậy mà hắn lại là đứa nhỏ...

“Không...”

Và giờ đây hắn đứng bên khung cửa sổ tan hoang của nhà bà Bathilda, chìm đắm trong ký ức về thất bại lớn nhất của mình, và dưới chân hắn con mãng xà đang trườn qua những miểng kiếng và miểng sành sứ... hắn nhìn xuống và thấy cái gì đó... cái gì đó không thể nào tin được...

“Không...”

“Harry, yên rồi, bồ không sao hết!”

Hắn cúi xuống và lượm lên tấm hình nhỏ.

Chính gã đây, tên trộm bí mật, tên trộm mà hắn đang tìm...

“Không...

Mình làm rớt nó... mình làm rớt nó...”

“Harry, yên rồi, tỉnh dậy đi, tỉnh dậy!”

Nó là Harry...

Harry, không phải Voldemort... và cái đang lào xào không phải là một con rắn...

Nó mở mắt ra.

“Harry,” Hermione thì thầm.

“Bồ cảm thấy... khỏe không?”

“Khỏe,” nó nói dối.

Nó đang nằm trong lều, trên cái giường tầng dưới, bên trên một đống mền.

Nó có thể thấy trời gần rạng sáng nhờ sự yên tĩnh và ánh sáng nhàn nhạt lạnh giá bên ngoài nóc lều.

Nó đã toát mồ hôi; nó cảm thấy mồ hôi nó thấm ướt cả mền và vải trải giường.

“Tụi mình thoát rồi.”

“Ừ,” Hermione nói.

“Mình phải dùng thần chú Nhấc bổng mới đem bồ lên giường được.

Mình không khiêng nổi bồ.

Bồ đã...

Ừ, bồ không hoàn toàn...”

Có vết thâm tím dưới đôi mắt nâu của Hermione và Harry nhận thấy trong tay cô bé có một miếng bọt biển: Hermione lau mặt cho nó nãy giờ.

“Bồ bệnh nặng lắm,” Hermione nói nốt.

“Bệnh nặng lắm.”

“Tụi mình ra khỏi chỗ đó bao lâu rồi?”

“Mấy tiếng đồng hồ.

Trời gần sáng rồi.”

“Và mình đã... sao, bất tỉnh hả?”

“Không hẳn,” Hermione nói vẻ không thoải mái lắm.

“Bồ gào thét, rên rỉ, và...

đại khái vậy,” cô bé nói thêm bằng cái giọng khiến Harry cảm thấy khó chịu.

Nó đã làm gì?

Quát thét nguyền rủa như Voldemort, hay kêu khóc như đứa nhỏ trong nôi?

“Mình không sao lấy được cái Trường Sinh Linh Giá ra khỏi bồ,” Hermione nói, và nó biết cô bé muốn thay đổi đề tài.

“Nó bám chặt, dính vô ngực bồ.

Bồ bị hằn một cái dấu, mình rất tiếc, mình phải dùng tới bùa Tùng Xẻo để lấy nó ra.

Con rắn cũng cắn trúng bồ, nhưng mình đã rửa sạch vết thương và đã bôi dầu bạch tiễn lên vết thương...”

Harry cởi cái áo thun nó đang mặc ra và ngó xuống.

Có một hình bầu dục màu đỏ tươi bên trên trái tim, ngay chỗ cái mặt dây chuyền đã thiêu đốt nó.

Nó cũng thấy những dấu răng đã lành một nửa trên cánh tay nó.

“Bồ để cái Trường Sinh Linh Giá ở đâu?”

“Trong túi xách của mình.

Mình nghĩ tụi mình nên tránh đeo nó một thời gian.”

Harry ngả lưng xuống gối và nhìn gương mặt xám ngoét quầng thâm của Hermione.

“Lẽ ra tụi mình đừng đi tới Thung lũng Godric.

Lỗi tại mình, lỗi tại mình hết, Hermione à, mình xin lỗi.”

“Đâu phải lỗi ở bồ.

Mình cũng muốn đi mà.

Mình thiệt tình nghĩ là thầy Dumbledore có thể đã để thanh gươm ở đó cho bồ.”

“Ừ, thôi...

Tụi mình đã tính sai, há?”

“Chuyện gì đã xảy ra vậy, Harry?

Chuyện gì đã xảy ra khi bà ấy đưa bồ lên lầu vậy?

Có phải con rắn đã núp ở đâu đó không?

Có phải nó đã phóng ngay ra giết bà ấy và tấn công bồ không?”

“Không,” Harry nói.

“Bà ấy là con rắn... hay con rắn là bà ấy... ngay từ đầu.”

“Cái... cái gì?”

Nó nhắm mắt lại.

Nó như vẫn còn ngửi được mùi hôi thối trong căn nhà của bà Bathilda.

Cái mùi đó khiến cho toàn bộ câu chuyện trở nên sống động một cách ghê rợn.

“Bà Bathilda ắt là đã chết ít lâu rồi.

Con rắn đã...

đã nhập vô bà ấy.

Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đã đặt con rắn ở Thung lũng Godric để đợi.

Bồ đã đoán đúng.

Hắn biết mình sẽ trở về đây.”

“Con rắn nhập vô bà ấy sao?”

Harry lại mở mắt ra.

Hermione tỏ vẻ tởm lợm, muốn ói.

“Thầy Lupin nói có những pháp thuật mà tụi mình không bao giờ hình dung được,” Harry nói.

“Bà ấy đã không muốn nói chuyện trước mặt bồ, bởi vì đó là Xà ngữ, bà ấy toàn nói Xà ngữ, và mình đã không nhận ra, nhưng dĩ nhiên mình hiểu được.

Khi mình và bà ấy đã lên lầu rồi, con mãng xà thông báo cho Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó, mình nghe chuyện đó trong đầu mình, mình cảm thấy hào hứng, mình bảo nó giữ lấy mình ở đó... và sau đó...”

Nó nhớ con mãng xà vọt ra từ cổ bà Bathilda: Hermione không cần thiết phải biết chi tiết.

“... bà ấy biến đổi, biến đổi từ từ thành con rắn, và tấn công.”

Nó nhìn xuống vết rắn cắn.

“Nó không có nhiệm vụ giết mình, chỉ giữ mình ở đó cho đến khi Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó tới.”

Giá mà nó tìm cách giết được con rắn, đáng ra phải như vậy, tất cả chuyện đó... nặng chịch trong lòng, nó ngồi dậy, hất chăn mền ra.

“Không được, Harry.

Mình chắc chắn là bồ cần nghỉ ngơi.”

“Bồ mới là người cần ngủ.

Đừng giận, nhưng ngó bồ thê thảm lắm.

Mình khỏe.

Mình sẽ giữ phiên gác một lát.

Cây đũa phép của mình đâu rồi?”

Hermione không trả lời, cô bé chỉ nhìn Harry.

“Cây đũa phép của mình đâu, Hermione?”

Cô bé cắn môi, nước mắt ứa đầy mi.

“Harry à...”

“Cây đũa phép của mình đâu?”

Hermione vói xuống bên cạnh giường và cầm lên đưa cho Harry.

Cây đũa phép làm bằng lông phượng hoàng và gỗ cây nhựa ruồi gần như gãy ra làm đôi.

Một sợi lông phượng hoàng mong manh giữ cho hai đoạn dính toòng teng với nhau.

Phần gỗ thì đã tét hoàn toàn.

Harry cầm cây đũa trong tay như thể cầm một sinh vật đang bị thương trầm trọng.

Nó không thể nào nghĩ cho ra lẽ: mọi thứ nhòa đi trong hoảng hốt và sợ hãi.

Rồi nó đưa cây đũa phép cho Hermione.

“Bồ làm ơn chữa cho nó lành lặn giùm.”

“Harry à, mình không nghĩ là... một khi nó đã gãy như vầy...”

“Làm ơn mà, Hermione, cứ thử đi!”

“Ch... chữa lành.”

Nửa toòng teng của cây đũa phép tự liền lại.

Harry cầm đũa lên.

“Thắp sáng!”

Cây đũa phép xẹt lửa yếu ớt, rồi tắt ngóm.

Harry chĩa vào Hermione.

“Giải giới!”

Cây đũa phép của Hermione khẽ giật một cái, nhưng vẫn không rời khỏi tay cô bé.

Nỗ lực pháp thuật yếu ớt đó vượt quá sức cây đũa phép của Harry, nên nó lại gãy lặc lìa làm đôi.

Harry đăm đăm nhìn cây đũa phép, kinh hoàng, không thể nào tin được điều nó thấy... cây đũa phép đã tồn tại qua bao phen...

“Harry à,” Hermione thì thầm khẽ đến nỗi Harry khó mà nghe được.

“Mình rất, rất tiếc.

Mình nghĩ đó là lỗi của mình.

Bồ biết, khi tụi mình thoát ra, con mãng xà lao tới tụi mình, cho nên mình phát lời nguyền Nổ tung, và nó dội lại tứ phía, chắc là... chắc là nó đã trúng...”

“Chuyện đó là tai nạn mà,” Harry nói một cách máy móc.

Nó cảm thấy trống rỗng, thẫn thờ.

“Tụi mình sẽ... tụi mình sẽ... tìm cách chữa lại nó.”

“Harry à, mình không nghĩ tụi mình có thể làm được vậy đâu,” Hermione nói, nước mắt nhỏ giọt xuống má.

“Nhớ...

Nhớ Ron không?

Hồi nó bị gãy cây đũa phép, hồi chiếc xe hơi rớt đó?

Cây đũa chẳng bao giờ được như trước nữa, nó phải sắm cây đũa phép mới.”

Harry nghĩ đến ông Ollivander đã bị Voldemort bắt cóc và giam cầm; nó nghĩ đến ông Gregorovitch, đã chết.

Làm sao nó có thể tìm được cho mình một cây đũa phép mới đây?

“Thôi,” nó nói, bằng cái giọng đành-chấp-nhận-thực-tế không được thật thà cho lắm.

“Thôi, mình sẽ mượn đỡ cây đũa phép của bồ lúc này vậy.

Trong lúc mình trực gác.”

Gương mặt Hermione nhòe nhoẹt nước mắt, cô bé đưa cây đũa phép của mình ra, và Harry bỏ mặc Hermione ngồi lại bên giường nó, chẳng mong muốn gì hơn là tránh xa khỏi cô nàng.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 18: Chuyện đời và chuyện xạo của Albus Dumbledore


Chuyện đời và chuyện xạo của Albus Dumbledore

Mặt trời sắp mọc: bầu trời bao la trong lành vô sắc trải rộng trên đầu nó, thờ ơ với nó lẫn nỗi đau của nó.

Harry ngồi xuống giữa cửa lều và hít một hơi sâu không khí trong lành.

Chỉ cần được sống để nhìn mặt trời mọc lên trên sườn đồi phủ tuyết lấp lánh lẽ ra đã là kho báu lớn nhất trên đời, nhưng nó lại không thưởng thức được điều đó: cảm giác của nó đã bị chai tịt vì thảm họa mất cây đũa phép.

Nó nhìn ra thung lũng đang đắp tấm mền tuyết, chuông nhà thờ xa xa ngân nga trong yên ắng diễm lệ.

Nó không nhận ra đang bấu chặt những ngón tay vào bắp tay mình như thể đang cố chống cự lại một cơn đau thể xác.

Nó đã từng đổ máu nhiều lần đến mức không đếm nổi; có lần nó đã mất toàn bộ xương cánh tay phải; chuyến đi này cũng đã để thẹo trên ngực nó và cánh tay nó để nhập bọn với cái thẹo trên trán và mu bàn tay, nhưng chưa bao giờ, cho đến lúc này, nó lại thấy mình yếu đuối chết người như thế, mong manh và trần trụi, như thể phần ưu việt nhất của sức mạnh pháp thuật mà nó có đã bị tước đi.

Nó biết nếu nó bày tỏ điều này, chính xác Hermione sẽ nói gì: cây đũa phép chỉ giỏi bằng phù thủy.

Nhưng cô nàng sai, trường hợp của nó khác hẳn.

Hermione chưa từng cảm nhận được hiện tượng cây đũa phép xoay như cây kim la bàn rồi phóng ra những tia lửa vàng rực vào kẻ thù.

Nó đã mất sự bảo vệ của những lõi đũa phép sinh đôi, và chỉ bây giờ, khi cây đũa phép mất đi rồi, nó mới nhận ra nó đã từng cậy dựa biết bao vào cây đũa.

Nó rút hai khúc của cây đũa phép gãy ra khỏi túi áo và nhét chúng vào cái túi bùa của bác Hagrid cho mà nó đang đeo quanh cổ.

Cái túi bùa bây giờ đã đầy nhóc những thứ hư bể và vô tích sự đến nỗi không thể chứa thêm gì nữa.

Bàn tay Harry chạm phải trái banh Snitch qua làn da chuột chũi, và trong một thoáng nó đã kháng cự lại ý muốn móc trái banh ra liệng đi.

Không hiểu thấu được, không giúp gì được, không dùng gì được như mọi thứ khác cụ Dumbledore đã để lại cõi đời...

Và cơn giận cụ Dumbledore lúc này nổ tràn trong lòng nó như dung nham núi lửa, đốt cháy ruột gan nó, làm tiêu hết mọi cảm xúc khác.

Chẳng qua vì tuyệt vọng mà tụi nó tự thuyết phục mình tin rằng lời giải đáp nằm ở Thung lũng Godric, tự thuyết phục mình là nên trở về đó, rằng đó là tất cả của một con đường bí mật nào đó mà cụ Dumbledore đã vạch ra cho tụi nó; mà chẳng có bản đồ, chẳng có kế hoạch gì ráo.

Cụ Dumbledore đã để mặc tụi nó dò dẫm trong bóng tối, một mình và không được trợ giúp, vật lộn với những nỗi kinh hoàng chưa từng biết đến và không mơ thấy nổi: chẳng có điều gì được giải thích, chẳng có điều gì được cho không, chúng nó đã chẳng có gươm, và giờ đây, Harry còn không có cả đũa.

Nó lại còn làm rớt mất tấm hình của tên trộm, và giờ đây chắc chắn Voldemort sẽ dễ dàng tìm ra kẻ đó là ai...

Giờ đây Voldemort đã có tất cả thông tin...

“Harry?”

Hermione ngó bộ như sợ Harry có thể nguyền cô nàng bằng chính cây đũa phép của cô nàng.

Gương mặt còn lem nhem nước mắt, cô nàng cúi lom khom bên cạnh Harry, hai tay run rẩy bưng hai tách trà và kẹp dưới nách cái gì đó bự bự.

“Cám ơn,” Harry nói khi cầm một tách trà.

“Bồ có phiền không nếu tụi mình trò chuyện?”

“Không,” nó nói vậy vì không muốn Hermione tự ái.

“Harry à, bồ muốn biết người trong tấm hình đó là ai.

Thì đây... mình có cuốn sách.”

Hermione rụt rè đẩy cuốn sách lên đùi Harry, một cuốn Chuyện Đời và Chuyện Xạo của Albus Dumbledore mới toanh.

“Ở đâu...

Làm sao...?”

“Cuốn sách có trong phòng khách của bà Bathilda, nằm ngay đó...

Miếng giấy này thò ra trên đầu cuốn sách.”

Hermione đọc lớn lên mấy dòng chữ viết tay kiểu cách màu xanh gắt:

“ ‘Bà Batty thân ái, Cám ơn sự giúp đỡ của bà.

Đây là một bản của cuốn sách, hy vọng bà thích nó.

Bà đã nói mọi điều, cho dù bà không nhớ.

Rita.’ Mình nghĩ cuốn sách hẳn là được gởi đến khi bà Bathilda thật còn sống, nhưng có lẽ bà không còn đủ minh mẫn để đọc nó.”

“Không, có lẽ bà ấy đã không đọc.”

Harry nhìn xuống gương mặt cụ Dumbledore và nếm trải cảm giác khoái trá mọi rợ trào dâng trong lòng: giờ đây nó sẽ biết được tất cả những điều mà cụ Dumbledore không đời nào cho là đáng nói với nó, bất kể cụ muốn hay không muốn nó biết.

“Bồ vẫn còn giận mình lắm phải không?”

Hermione nói; Harry ngước nhìn lên để thấy những giọt nước mắt mới tràn ra khỏi mắt cô bé, và biết là cơn giận của nó hẳn đã bộc lộ qua nét mặt.

“Không,” nó nói khẽ.

“Không đâu, Hermione à, mình biết đó chỉ là tai nạn thôi mà.

Bồ đã cố gắng cứu tụi mình sống sót ra khỏi chỗ đó, và bồ đã làm được điều kỳ diệu.

Nếu không có bồ ở đó để giúp mình thì mình đã chết rồi.”

Nó cố gắng đáp lại nụ cười đầy nước mắt của cô bé, sau đó chuyển mối quan tâm sang cuốn sách.

Gáy sách vẫn còn cứng, rõ ràng là sách chưa từng được mở ra trước đây.

Nó lật nhanh qua các trang sách, tìm tấm hình.

Gần như ngay tức thì, nó gặp đúng tấm hình cần tìm, chàng Dumbledore trẻ tuổi và người bạn đẹp trai đang cùng nhau cười vang vì một chuyện tếu lâm đã bị lãng quên từ đời nào.

Harry hướng mắt ngay vào dòng chú thích ảnh:

Albus Dumbledore, không lâu sau cái chết của mẹ,

cùng với bạn ông là Gellert Grindelwald

Harry há hốc nhìn chữ cuối cùng một hồi lâu.

Grindelwald.

Bạn của ông, Grindelwald.

Nó quay sang bên cạnh nhìn Hermione, cô bé cũng đang ngó cái tên như thể không sao tin được chính con mắt mình.

Hermione từ từ ngước mắt lên nhìn Harry.

“Grindelwald sao?”

Không bận tâm đến những tấm hình còn lại, Harry dò tìm trong những trang xung quanh tấm hình sự tái xuất hiện của cái tên đáng sợ đó.

Nó tìm được ngay và ham hố đọc, nhưng rồi đọc không hiểu: cần phải trở lại nhiều trang trước mới hiểu hết được ý nghĩa, và cuối cùng nó đành phải về phần mở đầu của một chương có tiêu đề “Lợi Ích Lớn Lao Hơn”.

Nó và Hermione cùng đọc:

Giờ đây gần đến sinh nhật thứ mười tám, Dumbledore rời trường Hogwarts trong vinh quang lẫy lừng - Thủ khoa nam, Huynh trưởng, Người đoạt giải thưởng Barnabus Finkley dành cho Phép hô Thần chú Xuất chúng, Đại biểu Thanh niên Anh quốc trong Hội nghị Thuật giả kim Thế giới tại Cairo.

Kế đến, Dumbledore dự định làm một chuyến Du hành Lớn với Elphias 'Dogbreath' Doge, một người bạn nối khố tận tụy nhưng đần độn mà cậu ta vớ được ở trường.

Hai chàng trai trẻ đang trọ tại quán Cái Vạc Lủng ở Luân Đôn, chuẩn bị khởi hành đến Hy Lạp vào sáng hôm sau thì cú đến đưa tin về cái chết của bà mẹ Dumbledore.

'Dogbreath' Doge, người từ chối phỏng vấn cho cuốn sách này, đã hiến cho công chúng một phiên bản rất mủi lòng về những việc xảy ra sau đó.

Ông đã miêu tả cái chết của bà Kendra như một đòn bi thảm, và quyết định bỏ dở cuộc phiêu lưu của Dumbledore như một hành động tự hy sinh cao cả.

Đương nhiên Dumbledore trở lại Thung lũng Godric ngay lập tức, để gọi là “chăm sóc” em trai và em gái.

Nhưng cậu đã thực sự dành cho họ bao nhiêu sự chăm sóc?

“Thằng Aberforth ấy, nó là một thằng khùng,” theo lời Enid Smeek, người có gia đình sống ở vùng ven Thung lũng Godric vào thời đó.

“Lêu lổng.

Đành rằng nó chết cha chết mẹ rồi thì mình cũng nên thương hại nó, nhưng nó cứ chọi cứt dê vô đầu tôi.

Tôi không tin Albus lại thèm bận tâm về thằng đó.

Mà đằng nào tôi cũng chẳng bao giờ thấy hai người đó ở bên nhau”.

Vậy Albus làm gì, nếu không khuyên giải người em trai lêu lổng?

Câu trả lời, có vẻ là, để bảo đảm tiếp tục giam cầm cô em gái.

Bởi vì mặc dù cai ngục thứ nhất của cô đã chết, vẫn không có gì thay đổi cho tình trạng đáng thương của Ariana Dumbledore.

Sự tồn tại của cô vẫn tiếp tục được rất ít người ngoài biết đến, những người ngoài được coi là tin vào câu chuyện 'sức khỏe yếu kém' của cô, như 'Dogbreath' Doge chẳng hạn.

Một người bạn dễ tính như vậy của gia đình Dumbledore là bà Bathilda Bagshot, sử gia pháp thuật nổi tiếng, người đã sống ở Thung lũng Godric nhiều năm.

Dĩ nhiên bà Kendra đã dứt khoát từ chối bà Bathilda khi bà này lần đầu thử đến chào mừng gia đình họ về làng.

Tuy nhiên, nhiều năm sau, nhà biên sử đã gởi một cú đến Albus ở trường Hogwarts, vì có ấn tượng tốt đẹp trước bài viết về Biến Hình giữa Các Loài trong tạp chí Biến Hình Ngày Nay.

Mối giao tiếp đầu tiên này đã đưa tới sự quen biết với cả gia đình Dumbledore.

Vào thời điểm bà Kendra qua đời, bà Bathilda là người duy nhất ở Thung lũng Godric còn qua lại chuyện trò với bà mẹ của Dumbledore.

Không may, sự thông tuệ mà bà Bathilda phô bày sớm sủa trong đời bà giờ đây đã cùn lụt.

“Lửa còn cháy, nhưng vạc đã rỗng rồi,” như Ivor Dillonsby nói với tôi, hay, bằng lời lẽ có phần phàm tục hơn của Enid Smeek: “Bả quái dị như sóc ị”.

Dù vậy, kết hợp những kỹ thuật làm báo thử-và-nghiệm khiến tôi có thể chiết xuất đủ vàng ròng từ những sự thật rành rành để xâu lại với nhau thành cả câu chuyện đầy tai tiếng.

Giống như bao người khác trong thế giới pháp thuật, bà Bathilda coi cái chết yểu của bà Kendra là do “bùa phản phé”, một câu chuyện được Albus và Aberforth lặp lại nhiều năm về sau.

Bà Bathilda cũng nói theo thông tin của gia đình Dumbledore về Ariana, gọi cô bé là “mong manh” và “nhạy cảm”.

Tuy nhiên, có một đề tài mà bà Bathilda đáng cho tôi bõ công kiếm cho được bùa Dẫn dụ Nói thật, bởi vì bà, và chỉ một mình bà, biết toàn bộ câu chuyện về bí mật được giữ kín nhất của cuộc đời Albus Dumbledore.

Giờ đây, lần đầu tiên được tiết lộ, câu chuyện này đặt lại nghi vấn về tất cả những gì của Dumbledore mà những người hâm mộ ông đã tin tưởng: cái gọi là lòng căm ghét Nghệ thuật Hắc ám của ông ta, sự chống đối của ông ta đối với việc áp bức dân Muggle, kể cả sự tận tụy của ông ta đối với chính gia đình mình.

Vào đúng mùa hè mà Dumbledore - giờ đã mồ côi và là chủ gia đình - trở về nhà ở Thung lũng Godric, bà Bathilda đã đồng ý nhận vào gia đình bà người cháu họ, Gellert Grindelwald.

Cái tên Grindelwald nổi tiếng một cách chính đáng: trong một danh sách Những Phù thủy Hắc ám Nguy hiểm nhất của Mọi Thời đại, hắn chỉ văng ra khỏi vị trí đầu bảng khi Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy, một thế hệ sau đó, xuất hiện để tiếm ngôi.

Tuy nhiên, vì Grindelwald chưa bành trướng chiến dịch khủng bố của hắn đến nước Anh, những chi tiết về sự trồi lên chiếm quyền lực của hắn không được biết đến rộng rãi ở xứ này.

Học hành ở Durmstrang, một trường mà ngay lúc đó đã nổi tiếng vì sự dung túng Nghệ thuật Hắc ám, Grindelwald đã chứng tỏ tài năng thần đồng như Dumbledore.

Thế nhưng, thay vì hướng năng khiếu của mình vào mục tiêu giành những cuộc thi, giải thưởng, Gellert Grindelwald lại dốc sức mình theo đuổi những mục tiêu khác.

Khi hắn mười sáu tuổi, ngay cả trường Durmstrang cũng không thể tiếp tục làm ngơ trước những thí nghiệm lắt léo của Gellert Grindelwald, và hắn bị đuổi học.

Đến tận ngày nay, tất cả những gì người ta biết được về hoạt động sau đó của Grindelwald chỉ là “đi du lịch vài tháng”.

Giờ đây mới lộ ra là Grindelwald đã quyết định đi thăm bà dì ở Thung lũng Godric, và chính ở đó, mặc dầu chuyện này sẽ gây chấn động dữ dội đối với nhiều người nghe được, hắn đã kết tình bằng hữu với chính Dumbledore chứ không phải ai khác.

“Tôi thấy nó có vẻ là một đứa dễ thương,” bà Bathilda lảm nhảm, “bất kể sau này nó trở thành gì đi nữa.

Đương nhiên là tôi giới thiệu cho nó quen với Albus đáng thương, y đang thiếu bạn bè cùng trang lứa.

Tụi nó kết nhau ngay tức thì.”

Họ đúng là kết nhau.

Bà Bathilda cho tôi xem một lá thư mà bà cất giữ do Albus Dumbledore gởi Gellert Grindelwald vào giữa đêm hôm khuya khoắt.

“Ừ, mặc dù tụi nó đã bỏ cả ngày để tranh luận - cả hai đều là những chàng trai tài hoa lỗi lạc, ăn ý như vạc với lửa ấy - đôi khi tôi vẫn nghe có tiếng cú gõ lên cửa sổ phòng ngủ của Gellert để đưa thư của Albus!

Chắc là y nảy ra một ý tưởng và phải cho Gellert biết ngay tức thì!”

Mà những ý tưởng đó là gì?

Những người ngưỡng mộ Dumbledore dù sao cũng sẽ thấy hết sức kinh hoàng, đây là tư tưởng của người anh hùng mười bảy tuổi, được chuyển tiếp cho người bạn ruột mới thân. (Một bản sao nguyên văn bức thư này có thể đọc ở trang 463.)

Gellert,

Quan điểm của anh về địa vị thống trị của phù thủy là VÌ LỢI ÍCH CỦA CHÍNH DN MUGGLE - điều này, tôi nghĩ, là quan điểm cốt yếu.

Đúng, chúng ta đã được phú cho quyền lực và, đúng, quyền lực đó cho chúng ta quyền thống trị, nhưng nó cũng giao cho chúng ta trách nhiệm đối với những người bị trị.

Chúng ta phải nhấn mạnh điểm này, nó sẽ là viên đá tảng để dựa lên đó chúng ta xây dựng.

Ở đâu chúng ta bị phản đối, và chắc chắn chúng ta sẽ bị phản đối, thì ở đó quan điểm này phải là căn bản cho những phản biện của chúng ta.

Chúng ta nắm quyền cai trị VÌ LỢI ÍCH LỚN LAO HƠN.

Và theo sau quan điểm này là ở đâu chúng ta gặp sự kháng cự, thì ở đó chúng ta sẽ phải dùng duy nhất thứ vũ lực cần thiết và không hơn nữa. (Đây là sai lầm của anh ở trường Durmstrang!

Nhưng tôi không phàn nàn đâu, bởi vì nếu anh không bị đuổi học thì chúng ta đã chẳng bao giờ được gặp nhau.)

Albus.

Cho dù nhiều người ngưỡng mộ ông sẽ ngạc nhiên và hoảng sợ, chính lá thư này đã là bằng chứng cho thấy một Albus Dumbledore từng mơ tới việc lật đổ Đạo luật về Bí mật và thiết lập sự thống trị của giới pháp thuật đối với dân Muggle.

Đúng là một vố nặng cho những ai đã luôn miêu tả Dumbledore như người bênh vực vĩ đại nhất cho những phù thủy gốc Muggle!

Những diễn văn đề cao Muggle quyền nghe ra rỗng tuếch biết bao khi được soi bằng ánh sáng của chứng cớ tội trạng mới toanh này!

Albus Dumbledore tỏ ra đáng khinh biết bao, khi mà lẽ ra thương khóc mẹ và chăm sóc em gái, ông ta lại bận bịu âm mưu vươn tới quyền lực!

Chắc chắn những kẻ quyết tâm duy trì Dumbledore trên cái bệ đổ nát sẽ kêu be be rằng ông ta, rốt cuộc, đâu có thực hiện những kế hoạch đó, rằng ông ta ắt hẳn đã trải qua một cuộc thay đổi trong lòng, rằng ông ta đã tỉnh ngộ.

Tuy nhiên, sự thật dường như nhìn chung còn đáng kinh hãi hơn nhiều.

Chỉ non hai tháng kết tình bằng hữu vĩ đại mới mẻ này, Dumbledore và Grindelwald đã chia tay, không bao giờ gặp lại cho đến khi họ đối đầu nhau trong trận chiến tay đôi huyền thoại (để biết thêm, xem chương 22).

Cái gì đã gây ra sự đổ vỡ này?

Có phải Dumbledore đã tỉnh ngộ?

Có phải ông ta bảo Grindelwald là ông ta không muốn góp phần vào kế hoạch nữa?

Ái chà, không đâu.

“Chỉ vì bé Ariana tội nghiệp đang hấp hối, tôi nghĩ, đó là lý do,” bà Bathilda nói.

“Chuyện đó đến như một cú sốc dễ sợ.

Gellert có mặt trong nhà đó khi việc xảy ra, và nó trở lại nhà tôi run rẩy toàn thân, nói với tôi là nó muốn về nhà ngày hôm sau.

Buồn khủng khiếp, cô hiểu chứ.

Vậy là tôi sắp đặt một Khóa cảng và đó là lần cuối cùng tôi thấy nó.”

“Albus không tự kiềm chế được mình trước cái chết của Ariana.

Chuyện đó quá khủng khiếp đối với hai người anh.

Họ đã mất hết mọi người thân, chỉ còn lại hai anh em mà thôi.

Cũng không lạ nếu tâm trạng mọi người có hơi mất bình tĩnh.

Aberforth trách cứ Albus, cô biết đấy, như người ta vẫn cư xử như vậy trong những tình huống tồi tệ.

Nhưng Aberforth luôn luôn nói năng điên khùng, tội nghiệp thằng nhỏ.

Nhưng đằng nào cũng vậy, đấm gãy mũi Albus trong đám ma thì không được nhã nhặn rồi.

Bà Kendra ắt là tan nát cõi lòng khi nhìn các con trai mình đánh nhau như vậy, đánh nhau trên xác đứa con gái của bà.

Thằng Gellert xấu hổ quá không thể nào ở lại dự đám tang... nếu nó dự thì ít nhất cũng đã an ủi cho Albus...”

Trận cãi lộn khủng khiếp này bên cỗ quan tài, chỉ một số ít ỏi những người dự đám tang Ariana mới biết, đã đặt ra nhiều câu hỏi.

Lý do chính xác Aberforth Dumbledore trách cứ Albus về cái chết của cô em gái là gì?

Phải chăng, như “Batty” giả bộ, chỉ là cơn bùng phát đau thương?

Hay có thể còn những lý do cụ thể hơn để y nổi giận?

Grindelwald, bị đuổi khỏi trường Durmstrang vì những đòn tấn công chí tử vào bạn học của hắn, đã chuồn ra khỏi nước vài tiếng đồng hồ sau cái chết của cô gái, và Albus (vì hổ thẹn hay sợ hãi?) chẳng bao giờ gặp lại hắn, cho đến khi buộc phải đối đầu hắn theo sự khẩn cầu của thế giới pháp thuật.

Cả Dumbledore lẫn Grindelwald dường như không bao giờ nhắc tới tình bạn ngắn ngủi của thời trai trẻ này trong quãng đời về sau của họ.

Tuy nhiên, chắc chắn Dumbledore đã trì hoãn, trong suốt năm năm loạn lạc, chết chóc, mất tích, rồi mới tấn công Gellert Grindelwald.

Có phải đó là do tình cảm dằng dai đối với hắn hay nỗi sợ bị phơi trần sự thật từng là bạn chí cốt với hắn đã khiến cho Dumbledore dùng dằng?

Có phải Dumbledore đã bất đắc dĩ lên đường tìm bắt kẻ mà ông ta đã từng sung sướng được gặp gỡ?

Và cô Ariana bí ẩn ấy đã chết như thế nào?

Có phải cô ta chỉ là nạn nhân xui xẻo của một trò Hắc ám nào đó?

Có phải cô ta đã táy máy cái gì đó mà lẽ ra cô ta chớ nên làm, khi hai gã trai trẻ ngồi thực hành nỗ lực của họ để đạt tới vinh quang và thống trị?

Liệu có khi nào Ariana Dumbledore lại là kẻ đầu tiên chết “vì lợi ích lớn lao hơn”?

Chương sách kết thúc ở đây và Harry ngước nhìn lên.

Hermione đã đọc hết trang sách trước nó.

Cô bé giật cuốn sách ra khỏi tay Harry, có vẻ hơi cảnh giác trước vẻ mặt của Harry, và gấp sách lại mà không thèm nhìn, như thể giấu đi cái gì đồi bại lắm.

“Harry à...”

Nhưng Harry lắc đầu.

Một niềm tin vững chắc nào đó đã bị đập nát trong lòng nó; cảm giác y hệt như khi Ron bỏ đi.

Nó đã tin tưởng cụ Dumbledore, tin tưởng cụ là hiện thân của điều thiện và sự khôn ngoan.

Tất cả thành tro tàn rồi: nó còn có thể mất mát thêm bao nhiêu nữa?

Ron, cụ Dumbledore, cây đũa phép...

“Harry à...”

Hermione dường như nghe được suy nghĩ của nó.

“Nghe mình nói nè...

Đọc...

đọc nó chẳng hay ho gì đâu...”

“Ừ, bồ có thể nói vậy...”

“... nhưng đừng quên, Harry à...

đây là tác phẩm của Rita Skeeter.”

“Bồ có đọc bức thư gởi cho Grindelwald mà, đúng không?”

“Ừ, mình... mình có đọc,” Hermione ngập ngừng, tỏ vẻ buồn bực, ủ hai bàn tay lạnh cóng quanh tách trà.

“Mình nghĩ đó là cái bỉ ổi nhất.

Mình biết bà Bathilda nghĩ đó chẳng qua chỉ là nói miệng vậy thôi, nhưng 'Vì Lợi Ích Lớn Lao Hơn' đã trở thành khẩu hiệu của Grindelwald, thành cái để biện hộ cho tất cả sự bạo tàn mà hắn đã phạm phải sau này.

Và... vì vậy... có vẻ như thầy Dumbledore đã gợi ý cho hắn.

Người ta nói 'Vì Lợi Ích Lớn Lao Hơn' thậm chí còn được khắc ở cổng ra vào Nurmengard.”

“Nurmengard là cái gì?”

“Nhà tù mà Grindelwald đã xây lên để nhốt đối thủ của hắn.

Cuối cùng chính hắn bị tống vô đó, khi thầy Dumbledore bắt được hắn.

Nhưng dù sao chăng nữa, thiệt là khủng khiếp khi nghĩ rằng chính ý kiến của thầy Dumbledore đã giúp cho Grindelwald nổi lên giành quyền lực.

Nhưng mặt khác, ngay cả Rita cũng không thể không thấy rằng hai người ấy chỉ quen biết nhau không quá vài tháng vào một mùa hè khi cả hai đều còn rất trẻ, và...”

“Mình đã đoán là bồ sẽ nói vậy,” Harry nói.

Nó không muốn để cho cơn giận của nó trút vào Hermione, nhưng thực khó mà giữ cho giọng nói được đều đều.

“Mình đã nghĩ là bồ thể nào cũng nói 'họ còn trẻ'.

Họ bằng tuổi hai đứa mình lúc này.

Và tụi mình hiện giờ đang liều mạng chiến đấu chống lại Nghệ thuật Hắc ám, và ông ta, trong cơn bồng bột với người bạn mới, lại âm mưu nổi lên thống trị dân Muggle.”

Cơn giận của nó không thể kiềm giữ lâu hơn nữa: nó đứng dậy, bước đi loanh quanh, cố gắng tống bớt cục giận ra ngoài.

“Mình không cố gắng bênh vực những gì thầy Dumbledore viết,” Hermione nói.

“Tất cả đồ rác rưởi 'quyền thống trị' ấy, chỉ là lặp lại khẩu hiệu 'Pháp Thuật là Quyền Lực' mà thôi.

Nhưng Harry à, lúc đó mẹ của thầy vừa mới mất, thầy bị kẹt ở nhà một mình...”

“Một mình hả?

Ổng đâu có một mình!

Ổng có em trai, em gái để bầu bạn, cô em gái á phù thủy mà ổng tiếp tục nhốt...”

“Mình không tin chuyện đó,” Hermione nói.

Cô bé cũng đứng dậy.

“Cho dù cô gái đó có bị gì đi nữa, mình cũng không tin cô ta là một á phù thủy.

Thầy Dumbledore mà tụi mình biết không bao giờ, không bao giờ cho phép...”

“Thầy Dumbledore mà tụi mình tưởng là tụi mình biết không muốn chế ngự dân Muggle bằng vũ lực!”

Harry hét lên, giọng của nó vang vọng qua những đỉnh đồi trống trải, và nhiều con quạ bỗng vọt lên không, kêu quàng quạc và bay theo hình xoắn ốc trên nền trời ngà ngà sáng.

“Thầy đã thay đổi, Harry à, thầy đã thay đổi mà!

Chuyện đơn giản vậy thôi!

Có thể thầy đã từng tin những điều đó khi thầy mười bảy tuổi, nhưng toàn bộ quãng đời còn lại của thầy đã được cống hiến cho cuộc chiến chống lại Nghệ thuật Hắc ám!

Thầy Dumbledore là người đã ngăn chặn Grindelwald, là người luôn luôn ủng hộ sự bảo vệ dân Muggle và quyền lợi của phù thủy gốc Muggle, là người đã chiến đấu chống Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó ngay từ đầu, và là người đã chết trong lúc tìm cách tiêu diệt hắn!”

Cuốn sách của Rita nằm trên mặt đất giữa tụi nó, do vậy gương mặt của cụ Albus Dumbledore mỉm cười buồn bã với cả hai đứa tụi nó.

“Harry à, mình xin lỗi, nhưng mình nghĩ lý do thực sự khiến bồ tức giận chẳng qua là vì thầy Dumbledore đã không tự thầy nói cho bồ nghe những điều này.”

“Có lẽ!”

Harry rống lên, và nó quăng hai tay lên ôm lấy đầu, khó mà biết là nó đang cố gắng kiềm giữ cơn phẫn nộ của nó hay để bảo vệ chính nó dưới sức nặng của sự vỡ mộng.

“Hermione, thử nghĩ coi những điều mà ông ta đòi hỏi nơi mình!

Liều mạng mày đi, Harry!

Và liều nữa!

Và liều nữa!

Và đừng mong tao giải thích gì hết, chỉ cần bịt mắt mà tin tao, tin rằng tao biết tao đang làm gì, tin tao cho dù tao không tin mày!

Không bao giờ nói hết sự thật!

Không bao giờ!”

Giọng nó vỡ ra vì uất nghẹn, hai đứa nó đứng đó nhìn nhau trong cảnh trắng xóa và trống vắng, và Harry cảm thấy tụi nó cũng tầm thường như côn trùng dưới bầu trời bao la kia.

“Thầy thương bồ mà,” Hermione thì thầm.

“Mình biết thầy thương bồ.”

Harry buông thõng hai tay.

“Mình không biết ai là người được ổng thương, Hermione à, nhưng chưa bao giờ người đó là mình.

Cái đống hỗn độn mà ổng giao lại cho mình không phải là tình thương.

Ổng chia sẻ suy nghĩ của ổng với Grindelwald nhiều quá cha những gì ổng chia sẻ với mình.”

Harry lượm lên cây đũa phép của Hermione mà nó đã làm rớt xuống tuyết, rồi ngồi xuống ngay lối vào lều.

“Cám ơn về chén trà nhé.

Mình sẽ gác hết phiên.

Bồ trở vô trong lều cho ấm đi.”

Hermione ngập ngừng, nhưng rồi nhận ra Harry đuổi mình.

Cô bé lượm cuốn sách lên và rồi quay lại, đi ngang Harry để vào trong lều, nhưng khi đi qua như thế, cô bé đưa tay xoa nhẹ đầu Harry.

Harry nhắm mắt lại khi Hermione chạm vào nó, và nó căm ghét chính mình vì đã ước ao điều mà Hermione nói là đúng: rằng nó thực sự được thầy Dumbledore thương yêu.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 19: Con hươu bạc


Con hươu bạc

Khi Hermione ra đổi phiên gác vào lúc nửa đêm thì tuyết đang rơi.

Những giấc mơ của Harry rối rắm, lộn xộn: con mãng xà Nagini cứ len lỏi vào chiêm bao khi ẩn khi hiện, lúc đầu xuyên qua một cái nhẫn to tướng nứt nẻ, rồi quanh một vòng hoa Giáng sinh.

Nó thức giấc hoài, hốt hoảng, đinh ninh ai đó đã gọi tên nó từ xa xa, tưởng tượng tiếng gió cuốn quanh lều là tiếng chân người hay tiếng nói chuyện.

Cuối cùng nó thức dậy trong bóng tối và đến ngồi bên cạnh Hermione, cô bé ngồi co ro ở cửa lều đọc Một Lịch Sử Pháp Thuật nhờ ánh sáng của cây đũa phép.

Tuyết rơi dày đặc, và Hermione nhẹ nhõm hoan nghênh đề nghị thu dọn đồ đạc để lên đường của Harry.

“Tụi mình sẽ đi tới chỗ nào kín đáo hơn,” Hermione tán đồng, rùng mình khi mặc thêm cái áo thun ấm bên ngoài bộ đồ ngủ.

“Mình cứ nghĩ là mình nghe được tiếng ai đó đi lại bên ngoài.

Mình thậm chí còn nghĩ là có thấy ai đó một hai lần.”

Harry khựng lại giữa chừng động tác chui đầu vào áo ấm và liếc nhìn cái Kiếng Mách lẻo nằm im re bất động trên bàn.

“Mình chắc là mình chỉ tưởng tượng ra thôi,” Hermione nói, tỏ vẻ lo lắng.

“Tuyết trong bóng tối, cái đó đánh lừa con mắt người ta...

Nhưng có lẽ tụi mình nên Độn thổ dưới tấm Áo khoác Tàng hình, để phòng xa hén?”

Nửa giờ sau, lều đã xếp gọn, Harry đeo cái Trường Sinh Linh Giá, và Hermione nắm chặt cái túi xách hột cườm, cả hai Độn thổ.

Cái chật chội như thường lệ lại nhấn chìm tụi nó; chân của Harry thôi tiếp xúc với mặt đất đầy tuyết, rồi chạm mạnh vào thứ gì đó có cảm giác như mặt đất đông cứng phủ đầy lá.

“Tụi mình đang ở đâu đây?”

Nó hỏi, săm soi nhìn quanh đám cây mơn mởn trong khi Hermione mở cái túi xách hột cườm và bắt đầu lôi ra mấy cái cọc lều.

“Rừng Dean,” cô bé nói, “có lần mình đi cắm trại ở đây với ba má mình.”

Ở đây tuyết cũng phủ trên những rặng cây chung quanh và lạnh buốt, nhưng ít nhất tụi nó còn được che chắn khỏi những ngọn gió lùa.

Tụi nó ngồi trong lều gần như hết ngày, co ro sưởi ấm bên ngọn lửa xanh sáng tiện lợi mà Hermione rất thạo chế tạo ra, và ngọn lửa có thể được hốt gọn rồi mang theo trong một cái hũ.

Harry có cảm giác như đang hồi phục sau một cơn bệnh nặng nhưng chớp nhoáng, cái cảm giác ấy lại càng được tăng thêm vì sự chăm sóc của Hermione...

Buổi trưa hôm đó những bông tuyết mới bay la đà xuống chỗ tụi nó, khiến cho ngay cả khoảng đất được che chắn của tụi nó cũng được phết một lớp tuyết mỏng như rắc bột.

Sau hai đêm thiếu ngủ, giác quan của Harry dường như tỉnh táo hơn bình thường.

Tụi nó thoát được Thung lũng Godric trong kẽ tóc đường tơ, quá ư mong manh đến nỗi không biết làm sao mà Voldemort lại có vẻ như gần kề hơn, đáng sợ hơn.

Khi bóng đêm lại trùm xuống, Harry gạt đi đề nghị thức gác của Hermione và bảo cô bé đi ngủ.

Harry dọn một cái nệm cũ tới cửa lều và ngồi xuống, mặc trên người tất cả đồ ấm mà nó có, nhưng cho dù vậy, nó vẫn run.

Bóng tối càng thêm dày đặc theo từng tiếng đồng hồ trôi qua cho đến khi hầu như không thể xuyên qua được.

Nó sắp lấy tấm Bản đồ Đạo tặc ra để ngắm cái chấm của Ginny một lát, thì chợt nhớ ra bây giờ đang là mùa nghỉ lễ Giáng sinh và cô bé hẳn là đã trở về Hang Sóc.

Mọi động đậy cỏn con dường như đều được phóng đại lên trong cái mênh mông của khu rừng.

Harry vẫn biết rừng ắt phải đầy sinh vật, nhưng nó cầu mong tất cả bọn chúng cứ nằm im và nín lặng để nó có thể tách biệt được những trò nhảy nhót nhộn nhạo và lảng vảng vô tư của chúng với những tiếng động có thể để lộ ra những hoạt động đầy tai họa khác.

Nó nhớ lại âm thanh của một tấm áo choàng lướt trên đám lá mục cách đây nhiều năm, và ngay lập tức nó nghĩ nó lại nghe thấy âm thanh đó trước khi tự giũ bỏ âm thanh đó trong đầu.

Bùa chú bảo vệ của tụi nó đã có hiệu lực suốt mấy tuần lễ; có lý do gì để bị giải trừ lúc này chứ?

Vậy mà nó vẫn không thể gạt đi cái cảm giác có gì đó khác lạ trong đêm nay.

Nhiều lần nó bật thẳng người dậy, cổ nhức mỏi vì đã ngủ gục, ngoẹo mình dựa vào vách lều trong tư thế kỳ cục.

Đêm đã tối tới độ đen mượt như nhung khiến cho nó có thể lơ lửng trong cõi mập mờ giữa Độn thổ và Hiện hình.

Nó vừa đưa một bàn tay ra trước mặt để coi còn có thể phân biệt được mấy ngón tay không thì sự việc xảy ra.

Một ánh sáng bạc rực rỡ hiện ra ngay trước mặt nó, di chuyển qua rừng cây.

Bất chấp nguồn sáng là gì, ánh sáng di chuyển không tiếng động.

Ánh sáng dường như lướt về phía nó.

Nó đứng bật dậy, giọng nói đông cứng trong cổ họng, tay nó giơ cao cây đũa phép của Hermione.

Nó nheo mắt lại khi ánh sáng trở nên chói lòa, cây cối quanh nó trở nên đen ngòm vì sự tương phản, và cái vật đó vẫn đang tiến đến gần hơn...

Và rồi nguồn sáng bước ra từ đằng sau một cây sồi.

Đó là một con hươu cái màu trắng bạc, sáng như trăng và chói lòa, đang khẽ khàng bước đi trên mặt đất, êm như ru, và không để lại dấu chân trên lớp tuyết mỏng tang.

Con hươu đi về phía Harry, ngẩng cao cái đầu xinh đẹp với đôi mắt to lông mi dài.

Harry ngó chằm chằm vào sinh vật đó, hết sức kinh ngạc, không phải vì sự lạ lùng của con hươu, mà vì sự quen thuộc không sao giải thích được.

Nó có cảm giác như nó đã có lúc mong chờ con vật đến, nhưng rồi quên béng đi, cho đến lúc này đây, hai bên mới được dàn xếp để gặp gỡ.

Ý muốn thét gọi Hermione, mới đó còn thôi thúc mãnh liệt, giờ tan biến đâu mất.

Nó biết, nó dám đánh cược bằng cả mạng sống, rằng con vật đó đến đây là vì nó, và chỉ mình nó mà thôi.

Hai bên đăm đăm nhìn nhau một lúc lâu thật lâu và rồi con hươu quay mình bỏ đi.

“Đừng,” Harry kêu lên, giọng khàn vỡ vì ít được dùng tới.

“Trở lại đi!”

Con hươu tiếp tục thận trọng bước vô rừng cây, và chẳng mấy chốc ánh sáng rực rỡ của con vật bị những thân cây đen dày án bóng thành những vệt tối sáng.

Harry ngập ngừng trong một giây run rẩy.

Tính cẩn trọng thì thầm rằng đó có thể là một trò bịp, một mồi nhử, một cái bẫy.

Nhưng linh tính, cái linh tính đang áp đảo, bảo nó đây không phải là Pháp thuật Hắc ám.

Nó bèn chạy đuổi theo.

Tuyết nghiến dưới chân nó, nhưng con hươu không gây nên một tiếng động nào khi băng qua rừng cây, bởi vì con vật chẳng qua chỉ là ánh sáng.

Con hươu dẫn Harry đi càng lúc càng vào sâu trong rừng, và Harry đi thật nhanh, tin là khi dừng bước, con hươu sẽ cho nó đến gần một cách đàng hoàng.

Và rồi con vật sẽ nói, và tiếng nói sẽ bảo cho nó biết điều mà nó cần biết.

Cuối cùng, con hươu ngừng lại.

Con vật ngoảnh cái đầu xinh đẹp về phía Harry một lần nữa, và Harry phóng chạy tới, trong đầu bừng cháy một câu hỏi, nhưng ngay lúc nó hé môi để hỏi, con hươu biến mất.

Mặc dù bóng tối đã nuốt chửng con hươu, hình ảnh chói rực của con vật vẫn còn in dấu trên võng mạc Harry làm nó nhòa mắt, cứ bừng sáng mỗi khi nó hạ mí mắt, khiến nó lạc mất phương hướng.

Giờ thì nỗi sợ ùa tới: nãy giờ sự hiện hữu của con hươu làm nó thấy an toàn.

“Thắp sáng!”

Harry thì thầm, và đầu cây đũa phép sáng lên.

Hình bóng con hươu biến mất dần theo những cái chớp mắt khi nó đứng đó, lắng nghe tiếng động của rừng, tiếng cành cây nhỏ gãy răng rắc, tiếng gió cuốn tuyết lao xao.

Nó có sắp bị tấn công không?

Có phải con hươu đã dụ dỗ nó vào một cuộc phục kích không?

Có phải nó tưởng tượng ra không, rằng có ai đó đang đứng ở ngoài tầm soi sáng của cây đũa phép quan sát nó?

Nó giơ cây đũa phép cao hơn.

Không ai xông vào nó, không có ánh chớp sáng xanh lè nào phóng ra từ sau một thân cây.

Vậy thì con hươu dẫn nó tới đây để làm gì?

Có cái gì đó lóe lên trong ánh sáng của cây đũa phép, và Harry quay phắt lại, nhưng chẳng có gì ngoài một cái hồ nhỏ đóng băng, mặt băng nứt nẻ lấp lánh khi nó giơ cây đũa phép cao hơn để xem xét.

Nó thận trọng tiến tới gần hơn và nhìn xuống.

Mặt băng phản chiếu cái bóng méo mó của nó và ánh sáng cây đũa phép, nhưng sâu dưới lớp băng xám đục dày cui có cái gì đó cũng lấp lánh sáng.

Một cái thập giá lớn...

Tim nó nhảy thót lên tận họng: nó sụm quỳ xuống bên bờ hồ và chúc cây đũa phép thành một góc để cho ánh sáng soi được tối đa đến tận đáy hồ.

Một tia sáng lấp lánh phát ra từ viên hồng...

Đó chính là thanh gươm trên chuôi có đính hồng ngọc - Thanh gươm của Gryffindor đang nằm dưới đáy hồ trong rừng.

Suýt nín thở, Harry ngó trân trân xuống thanh gươm.

Sao lại có thể như vầy?

Sao thanh gươm lại có thể nằm dưới đáy hồ trong rừng, gần sát chỗ tụi nó cắm trại như vầy?

Phải chăng một pháp thuật bí ẩn đã hút Hermione đến địa điểm này, hay con hươu, mà Harry coi như một Thần Hộ mệnh, là một loại thần bảo vệ cái hồ?

Hay thanh gươm đã được đặt xuống hồ sau khi tụi nó tới đây, đúng ra là bởi vì tụi nó đã tới đây?

Trong trường hợp này thì kẻ muốn trao thanh gươm lại cho Harry đang ở đâu?

Một lần nữa Harry hướng cây đũa phép về phía đám cây cối và bụi rậm chung quanh, tìm kiếm một bóng người, một ánh mắt lóe lên, nhưng nó chẳng thấy ai ở đó hết.

Đằng nào cũng vậy, một tí sợ hãi thêm vào chỉ khiến niềm vui của nó lên men khi nó quay sự chú ý lại thanh gươm nằm nghỉ dưới đáy hồ đóng băng.

Nó chĩa cây đũa phép vào cái hình thù óng ánh bạc và lẩm nhẩm, “Gươm, lại đây!”

Thanh gươm không nhúc nhích.

Nó cũng không trông mong điều đó lắm.

Nếu dễ ợt như vậy thì thanh gươm cứ việc nằm trên mặt đất cho nó lượm lên, chứ nằm chi dưới đáy hồ đóng băng.

Nó bắt đầu đi vòng quanh hồ băng, nghiền ngẫm về cái lần trước đây thanh gươm tự nguyện đặt vào tay nó.

Lúc đó nó lâm vào tình huống nguy kịch, và nó đã cầu cứu.

“Cứu,” nó lẩm nhẩm, nhưng thanh gươm vẫn nằm dưới đáy hồ, dửng dưng, bất động.

Harry tự hỏi (và lại đi tiếp), cụ Dumbledore đã nói gì với nó khi nó thu được thanh gươm lần trước?

Chỉ một học sinh nhà Gryffindor chân chính mới có thể rút được thanh gươm đó ra khỏi cái nón.

Và những phẩm chất nào xác định một học sinh nhà Gryffindor?

Một giọng nói nhỏ bên trong đầu Harry trả lời nó: Tinh thần dũng cảm và nghĩa hiệp làm nổi bật học sinh nhà Gryffindor.

Harry ngừng bước và thở một hơi dài thượt, hơi thở bốc khói của nó biến mất nhanh chóng trong làn khí lạnh cóng.

Nó biết nó phải làm gì.

Nếu nó thành thật với chính mình, thì ngay khi nhận ra thanh gươm qua lớp băng, nó đã phải nghĩ rằng chỉ còn nước dùng đến cách này.

Nó liếc nhìn khắp rừng cây chung quanh một lần nữa, nhưng giờ đã yên tâm là sẽ không có ai tấn công nó.

Ai đó muốn tấn công thì đã có thừa cơ hội khi nó đi một mình qua khu rừng, và có khối cơ hội khi nó xem xét cái hồ.

Lý do duy nhất để trì hoãn ở thời điểm này là bởi vì cái viễn cảnh thấy ngay trước mắt quá ư ngao ngán.

Harry bắt đầu lóng ngóng cởi ra nhiều lớp áo quần nó đang mặc.

Nó rầu rĩ nghĩ, tinh thần “nghĩa hiệp” can dự chỗ nào trong chuyện này, nó không hoàn toàn biết chắc, trừ khi cái việc nó đã không kêu Hermione làm chuyện này thay cho nó cũng được tính là hào hiệp.

Một con cú rúc lên ở đâu đó khi nó cởi đồ ra, và nó nghĩ đến con Hedwig với một nỗi đau day dứt.

Giờ đây nó đang run lập cập, răng đánh bồ cạp dễ sợ, vậy mà nó vẫn cởi tiếp cho đến cuối cùng chỉ còn mặc cái quần lót đứng chân trần trên tuyết.

Nó đặt cái túi bùa đựng cây đũa phép của nó, lá thư của má nó, mảnh gương vỡ của chú Sirius, và trái banh Snitch cũ lên trên đống quần áo, rồi chĩa cây đũa phép của Hermione vào mặt băng.

“Tách ra!”

Mặt băng nứt ra tạo một tiếng vang như một phát đạn bắn trong im ắng.

Mặt hồ bể rạn và những tảng băng nhấp nhô trên khối nước gợn sóng.

Theo đánh giá của Harry thì hồ không sâu, nhưng để thu hồi thanh gươm thì nó sẽ phải lặn hẳn xuống đáy.

Toan tính công việc trước cũng chẳng làm cho công việc dễ hơn hay nước ấm hơn.

Nó bước tới mép hồ và đặt cây đũa phép vẫn còn thắp sáng trên mặt đất.

Sau đó, cố gắng không hình dung xem mình sắp bị lạnh hơn bao nhiêu hay sẽ rùng mình dữ dội đến cỡ nào, nó nhảy ùm xuống.

Mọi lỗ chân lông của nó đều kêu gào phản đối.

Không khí trong phổi nó dường như đông cứng khi nó lặn xuống nước đóng băng tới ngang vai.

Nó hầu như không thở được: nó run dữ dội tới nỗi nước vỗ sóng sánh trào cả mép hồ, nó dò tìm lưỡi gươm bằng bàn chân tê cóng.

Nó chỉ muốn lặn xuống một lần thôi.

Harry ngần ngừ hết giây này tới giây kia trước khi thụp hẳn xuống nước, cứ há miệng hớp hơi rồi run lập cập, cho tới khi tự nhủ là phải làm thôi, nó thu hết can đảm và lặn xuống.

Cái lạnh cực kỳ tàn khốc: cơn lạnh hành nó không khác gì lửa.

Chính cái đầu dường như đã đóng băng ngay khi nó thụp đầu xuống làn nước tối thui, nhắm hướng đáy hồ và vói tay ra, dò tìm thanh gươm.

Ngón tay nó siết quanh chuôi gươm; nó rút thanh gươm lên.

Bỗng nhiên có cái gì đó siết chặt quanh cổ nó.

Nó tưởng là cỏ nước, mặc dù khi lặn xuống nó chẳng bị cái gì va quẹt hết, và nó đưa tay lên gạt cỏ ra để thoát thân.

Nhưng không phải cỏ.

Sợi dây chuyền đeo cái Trường Sinh Linh Giá đã thắt chặt lại và đang từ từ làm nghẹt khí quản nó.

Harry vùng vẫy điên cuồng, cố gắng trồi lên trên mặt nước, nhưng nó lại tông mình vô thành hồ bằng đá.

Đau điếng, ngộp thở, nó quờ quạng mò tìm sợi dây chuyền đang siết cổ nó, ngón tay đông cứng của nó không thể nào nới lỏng sợi dây ra, và giờ đây những đốm sáng li ti bắt đầu nổ ra bên trong đầu nó, và nó sắp chết đuối, chẳng còn lại gì nữa, nó chẳng thể làm được gì nữa, và cánh tay ôm quanh ngực nó đây hẳn là của Tử Thần...

Nghẹt thở và ói ộc, ướt nhem và lạnh chưa từng thấy, nó tỉnh lại, mặt úp xuống tuyết.

Đâu đó, sát một bên, một người khác đang thở hổn hển, ho sặc sụa và loạng choạng vòng quanh.

Hermione đã lại đến, như đã đến khi con mãng xà tấn công... nhưng nghe không có vẻ gì giống Hermione cả, không phải Hermione với những tiếng ho khùng khục đó, càng không phải nếu xét theo tiếng bước chân nặng nề...

Harry không còn sức đâu để ngóc đầu lên và nhận dạng kẻ cứu mạng mình.

Nó chỉ có thể giơ một bàn tay run rẩy lên cổ họng và sờ vào chỗ cái mặt dây chuyền đã cắt sâu vào da thịt nó.

Cái vật đó không còn nữa.

Ai đó đã cắt sợi dây chuyền giải thoát nó.

Bỗng vang lên một giọng nói hổn hển ngay phía trên đầu nó.

“Bồ... bị... tâm... thần hả?”

Không gì có thể khiến Harry đủ sức bật dậy như cơn chấn động khi nghe giọng nói đó.

Nó lảo đảo đứng lên, run như cầy sấy.

Ngay trước mặt nó, anh chàng Ron đứng đó, quần áo còn mặc đầy đủ trên người nhưng ướt tới tận da, tóc bết đầy mặt, một tay cầm thanh gươm Gryffindor và một tay cầm cái Trường Sinh Linh Giá lủng lẳng ở đầu sợi dây chuyền bị cắt đứt.

“Mắc cái quỷ gì mà bồ không tháo cái đồ đó ra trước khi lặn xuống chứ?”

Ron thở hào hển, giơ lên cái Trường Sinh Linh Giá đang đưa tới đưa lui ở đầu sợi dây bị cắt cụt như nhái trò thôi miên.

Harry không thể trả lời.

Con hươu bạc chẳng là gì, chẳng là cái gì cả nếu so với sự xuất hiện của Ron, nó không sao tin nổi.

Rùng mình vì lạnh, nó chụp vội lấy đống quần áo vẫn còn nằm trên mép nước và bắt đầu mặc vào.

Trong khi tròng hết cái áo ấm này đến cái áo ấm khác qua đầu, Harry ngó Ron lom lom, nửa lo Ron sẽ biến mất bất kỳ lúc nào nó rời mắt khỏi thằng bạn, nhưng đây chắc phải là Ron thật rồi: anh chàng vừa mới lặn xuống hồ để cứu mạng Harry mà.

“Có phải là... bồ không?”

Cuối cùng Harry nói, răng đánh bò cạp, giọng yếu hơn bình thường vì vừa mới bị thắt họng.

“Ờ, phải,” Ron nói, tỏ vẻ hơi ngượng nghịu.

“Bồ... tạo ra con hươu cái bạc đó?”

“Cái gì?

Không, đương nhiên là không!

Mình tưởng bồ làm chuyện đó chứ!”

“Thần Hộ mệnh của mình là một con hươu đực.”

“Ờ há.

Mình cũng nghĩ là trông nó khang khác.

Không có sừng.”

Harry đeo cái túi bùa của bác Hagrid vào cổ, tròng nốt cái áo ấm cuối cùng vào người, cúi xuống lượm cây đũa phép của Hermione lên, và lại đối diện với Ron.

“Làm sao bồ đến được đây?”

Dường như Ron đã hy vọng cái lúc này nếu có xảy ra thì để khoan khoan đã.

“Ờ, mình... bồ hiểu đó... mình trở lại.

Nếu...” nó đằng hắng.

“Bồ biết.

Bồ còn cần đến mình mà.”

Im lặng một lúc, đề tài Ron bỏ đi dường như nổi lên như một bức tường giữa hai đứa trong thời gian im lặng đó.

Nhưng Ron đã ở đây rồi.

Nó đã quay lại.

Nó còn vừa cứu mạng Harry.

Ron ngó xuống hai bàn tay.

Nó có vẻ ngạc nhiên một thoáng khi thấy những thứ nó đang cầm.

“Ờ phải, mình lấy nó lên,” nó nói, hơi bị thừa, giơ thanh gươm lên cho Harry kiểm tra.

“Lý do bồ nhảy xuống đó, đúng không?”

“Ừ,” Harry nói, “nhưng mình không hiểu.

Làm sao bồ tới được đây?

Làm cách nào bồ kiếm ra tụi này?”

“Chuyện dài lắm,” Ron nói.

“Mình đã kiếm mấy bồ suốt mấy tiếng đồng hồ, khu rừng này rộng thiệt hén?

Và mình vừa mới nghĩ mình nên ngủ nhờ dưới một cái cây nào đó và chờ trời sáng thì thấy con hươu đó đi đến và bồ đi theo sau.”

“Bồ không thấy ai khác nữa sao?”

“Không.”

Ron nói.

“Mình...”

Nhưng nó ngập ngừng, liếc về phía hai cái cây mọc kề nhau cách đó vài thước.

“Mình nghĩ là mình có thấy cái gì đó di chuyển ở đằng kia, nhưng lúc đó mình đang chạy tới cái hồ, bởi vì bồ đã nhảy xuống đó mà không thấy bồ trồi lên, thành ra mình không quay trở lại để...

Ê!”

Harry vội vã chạy được tới nơi Ron chỉ.

Hai cây sồi mọc rất gần nhau; có một khoảng trống chỉ vài phân giữa hai thân cây ở chỗ ngang tầm mắt, một nơi lý tưởng để đứng rình mà không bị thấy.

Tuy nhiên, mặt đất quanh gốc cây lại không có tuyết, và Harry có thể thấy là chẳng có dấu vết gì của dấu chân.

Nó đi trở lại nơi Ron đứng chờ, vẫn còn cầm thanh gươm và cái Trường Sinh Linh Giá.

“Có gì ở đó không?”

Ron hỏi.

“Không,” Harry nói.

“Vậy làm sao thanh gươm chui vô được cái hồ đó?”

Cả hai cùng nhìn thanh gươm bạc chạm trổ công phu, chuôi gươm nạm hồng ngọc hơi lấp lánh trong ánh sáng cây đũa phép của Hermione.

“Bồ có cho rằng cái này là đồ thiệt không?”

Ron hỏi.

“Có một cách để biết, đúng không?”

Harry nói.

Cái Trường Sinh Linh Giá vẫn còn đung đưa trong tay Ron.

Cái mặt dây chuyền hơi giật giật.

Harry biết cái ở bên trong mặt dây chuyền lại bị kích động.

Cái đó đã cảm nhận được sự hiện diện của thanh gươm và đã cố gắng giết Harry chứ không để cho thanh gươm thuộc về Harry.

Bây giờ không phải là lúc để thảo luận dài hơi; bây giờ là lúc tiêu hủy cái mặt dây chuyền vĩnh viễn.

Harry nhìn quanh, giơ cây đũa phép của Hermione lên cao, và thấy chỗ thích hợp: một tảng đá khá bằng phẳng nằm dưới bóng cây ngô đồng.

“Lại đây,” Harry nói và mở đường đi tới đó, nó phủi tuyết ra khỏi mặt đá, rồi đưa tay lấy cái Trường Sinh Linh Giá.

Nhưng khi Ron đưa thanh gươm, Harry lắc đầu.

“Không.

Bồ làm chuyện này thì tốt hơn.”

“Mình hả?”

Ron nói, coi bộ kinh ngạc.

“Tại sao?”

“Bởi vì bồ đã lấy thanh gươm ra khỏi hồ.

Mình nghĩ bồ mới là người có nhiệm vụ đó.”

Chẳng phải Harry tỏ ra tử tế hay hào hiệp gì.

Cũng chắc chắn như biết con hươu là điềm lành, Harry biết chính Ron phải là người sử dụng thanh gươm.

Cụ Dumbledore ít nhất cũng đã dạy Harry đôi điều về một số loại pháp thuật, về sức mạnh không thể lường trước của một số hành vi.

“Mình sẽ mở nó ra,” Harry nói, “và bồ sẽ đâm nó.

Ngay tức thì, được chứ?

Bởi vì cái gì đó ở bên trong sẽ xông ra chiến đấu.

Một tẹo của Riddle trong cuốn nhật ký hồi đó cũng đã toan giết mình.”

“Bồ sẽ mở nó ra bằng cách nào?”

Ron hỏi.

Nó có vẻ hãi hùng.

“Mình sẽ bảo nó mở ra, dùng Xà ngữ,” Harry nói.

Câu trả lời đã chực sẵn ở môi nó đến nỗi nó nghĩ là nó vốn luôn biết cách đó, sâu trong tiềm thức: có lẽ vụ đụng độ mới đây với Nagini đã khiến nó nhận ra điều đó.

Nó nhìn cái chữ S ngoằn ngoèo, nạm những viên đá xanh biếc lấp lánh: thật dễ nhận ra đó là một con rắn nhỏ xíu cuộn tròn trên mặt đá lạnh.

“Đừng!”

Ron nói.

“Đừng, đừng mở nó ra!

Mình nói thiệt tình!”

“Sao lại không?”

Harry hỏi.

“Tụi mình hãy diệt cho xong cái đồ quỷ này, mấy tháng trời rồi...”

“Mình không thể, Harry à, nghiêm túc đó... bồ làm đi...”

“Nhưng tại sao?”

“Bởi vì cái đó ảnh hưởng xấu đến mình!”

Ron nói, vừa lùi xa khỏi cái mặt dây chuyền đặt trên mặt đá.

“Mình không xử được nó!

Mình không kiếm cớ đâu, Harry à, để phân bua cách cư xử vừa rồi của mình, nhưng nó ảnh hưởng đến mình tồi tệ hơn nó ảnh hưởng đến bồ và Hermione, nó đã khiến mình nghĩ đến những thứ... nói chung, là những thứ mình đã nghĩ, nó làm cho mọi thứ tồi tệ thêm.

Mình không giải thích được, nhưng khi mình cởi nó ra thì đầu óc mình sáng suốt trở lại, và nếu phải đeo lại cái đồ ôn dịch đó...

Mình không thể làm chuyện này đâu, Harry.”

Ron đã lùi lại, lắc đầu, thanh gươm kéo lê bên cạnh.

“Bồ làm được mà,” Harry nói.

“Bồ làm được!

Bồ vừa mới lấy thanh gươm, mình biết bồ là kẻ được giao nhiệm vụ sử dụng nó.

Bồ làm ơn diệt nó đi, Ron!”

Cái tên Ron vang lên dường như có tác dụng của một chất kích thích.

Ron nuốt nước miếng, sau đó tiến về phía tảng đá, vẫn thở phì phì bằng mũi.

Giọng nó khàn khàn:

“Cho mình biết lúc nào nghe.”

“Đếm đến ba,” Harry nói, ngó xuống cái mặt dây chuyền và nheo mắt lại, tập trung vào chữ S, hình dung ra một con rắn, trong khi cái vật bên trong mặt dây chuyền kêu lạch cạch như một con gián bị mắc bẫy.

Nếu vết cứa quanh cổ Harry mà không còn rát bỏng thì thiệt dễ mủi lòng.

“Một... hai... ba... mở ra.”

Tiếng cuối cùng phát ra như một tiếng huýt gió và gầm ghè, và cái nắp bằng vàng của mặt dây chuyền mở bung ra kèm theo một tiếng cách nho nhỏ.

Đằng sau cả hai khoang kiếng là một con mắt sống đang chớp chớp, đen và đẹp như mắt của Tom Riddle vốn có trước khi hắn biến chúng ra màu đỏ với con ngươi có vạch đứng.

“Đâm!”

Harry nói, tay giữ chặt cái mặt dây chuyền trên tảng đá.

Ron giơ thanh gươm lên trong hai bàn tay run lẩy bẩy: mũi kiếm đung đưa bên trên con mắt đảo điên hoảng loạn, và Harry dốc hết sức mình ghì chặt cái mặt dây chuyền, tưởng tượng máu phun ra từ những cái khoang trống rỗng.

Một giọng nói rít lên từ cái Trường Sinh Linh Giá:

“Tao đã nhìn thấy trái tim mày, và nó là trái tim tao.”

“Đừng nghe lời nó!”

Harry gằn giọng nói.

“Đâm nó!”

“Tao đã thấy những giấc mơ của mày, Ronald Weasley à, và tao đã thấy nỗi sợ của mày.

Tất cả khát vọng của mày đều có thể thực hiện, nhưng tất cả những điều mày sợ cũng có thể...”

“Đâm!”

Harry hét, giọng nó vang vọng ra khỏi rặng cây chung quanh, mũi gươm run lên, và Ron ngó chằm chặp xuống con mắt của Riddle.

“Luôn luôn là kẻ ít được má cưng nhất, vì bà ước mong một đứa con gái... bây giờ lại ít được cô bạn gái yêu nhất, vì cô ta chọn thằng bạn của mày...

Luôn luôn là đồ hạng hai, mãi mãi bị án bóng...”

“Ron, đâm nó ngay!”

Harry gào lên: nó có thể cảm thấy cái mặt dây chuyền rung lên trong tay nó và nó sợ chuyện sắp xảy ra.

Ron giơ thanh gươm cao hơn, và khi nó làm vậy, con mắt của Riddle lóe lên đỏ rực.

Bên ngoài hai khoang của cái mặt dây chuyền, bên ngoài hai con mắt, bỗng nở ra hai cái bong bóng dị hợm, hai cái đầu của Harry và Hermione, méo mó quái đản.

Ron rú lên trong nỗi kinh hoàng và thụt lùi khi những hình thù đó nở ra từ cái mặt dây chuyền, trước là ngực, rồi đến eo, sau đó là chân cẳng, cho đến khi những hình nhân đó đứng bên cạnh nhau trong cái mặt dây chuyền như hai cây có chung một gốc, đu đưa trước mặt Ron và Harry thật.

Harry đã phải rút ngón tay ra khỏi cái mặt dây chuyền khi cái vật đó bỗng phát nóng rực lên, bỏng rãy.

“Ron!”

Harry hét, nhưng cái hình nhân Riddle-Harry giờ đây nói bằng giọng của Voldemort và Ron thì ngó trân trân vào mặt hắn, bị mê hoặc.

“Tại sao quay lại hả?

Không có mày tụi tao khỏe hơn, không có mày tụi tao vui hơn, tụi tao mừng là vắng mặt mày...

Tụi tao cười giễu sự ngu ngốc của mày, sự hèn nhát của mày, sự bé cái lầm của mày...”

“Bé cái lầm!”

Hình nhân Riddle-Hermione nhái theo, cô ả này đẹp hơn nhưng cũng gớm ghiếc hơn Hermione thật: ả lắc lư, cười hinh hích trước mặt Ron, anh chàng này trông khiếp đảm nhưng đứng trân mình, thanh gươm buông thõng bên cạnh.

“Ai có thể nhìn mày, ai mà thèm nhìn mày nào, bên cạnh Harry Potter hả?

Mày đã làm nên tích sự gì so với Kẻ Được Chọn hả?

Mày là cái thá gì so với Kẻ Sống Sót hả?”

“Ron, đâm nó!

ĐM NÓ!”

Harry gào lên, nhưng Ron không nhúc nhích.

Mắt nó mở lớn, phản chiếu cái bóng của Riddle-Harry và Riddle-Hermione, tóc của hai hình nhân đó xoắn bốc lên như lửa, mắt chúng đỏ rực, giọng chúng đồng cất cao trong một bản song ca ác độc.

“Má mày thú nhận,” Riddle-Harry trêu ghẹo và Riddle-Hermione chế nhạo, “rằng bả muốn có đứa con như tao hơn, bả sung sướng đánh đổi...”

“Ai mà chẳng thích anh ấy hơn, người phụ nữ nào lại muốn có mày, mày chỉ là cái cóc khô, cóc khô, cóc khô so với anh ấy,” Riddle-Hermione ngâm nga, và cô ả vươn dài ra như một con rắn rồi tự quấn mình quanh Riddle-Harry, cuộn nó trong vòng ôm thật sát: môi chúng gặp nhau.

Trên mặt đất trước mặt chúng, gương mặt Ron hằm hầm giận dữ.

Nó giơ cao thanh gươm, hai cánh tay run lật bật.

“Làm đi, Ron!”

Harry gào.

Ron nhìn về phía Harry, và Harry tưởng đâu nó thấy thoáng vết đỏ khè trong mắt Ron.

“Ron...?”

Thanh gươm nháng lên, cắm phập xuống: Harry nhoài người ra xa, một tiếng choảng của kim loại va chạm mạnh vang lên, một tiếng rú kéo dài.

Harry xoay người lại, trượt chân trên tuyết, cây đũa phép chĩa ra sẵn sàng tự vệ, nhưng chẳng có gì phải chiến đấu cả.

Bản sao quái dị của nó và Hermione đã biến mất: chỉ còn lại Ron đứng đó với thanh gươm cầm lỏng lẻo trong tay, mắt ngó xuống tàn tích tanh banh của cái mặt dây chuyền trên tảng đá phẳng.

Harry chậm rãi bước về phía Ron, không biết nói gì hay làm gì.

Ron đang thở nặng nhọc: mắt nó không còn đỏ nữa, mà xanh lại màu xanh vốn có: hai mắt nó cũng ướt nhòe.

Harry cúi xuống, giả đò như không thấy, và lượm lên cái Trường Sinh Linh Giá đã bể.

Ron đã đâm nát lớp kiếng trong cả hai khoang: con mắt của Riddle đã biến mất, lớp lụa lót trong khoang bị hoen ố và bốc khói nhè nhẹ.

Cái vật sống trong Trường Sinh Linh Giá đã tan đi; hành động cuối cùng của vật đó là hành hạ Ron.

Thanh gươm kêu choang một tiếng khi Ron buông rơi.

Ron khụy chân quỳ xuống, hai tay bưng đầu.

Nó đang run lập cập, nhưng Harry nhận thấy, đó không phải vì lạnh.

Harry nhét cái Trường Sinh Linh Giá bể vô túi áo, quỳ xuống bên cạnh Ron và thận trọng đặt một bàn tay lên vai Ron.

Nó coi việc Ron không hất tay nó ra là một dấu hiệu tốt.

“Sau khi bồ đi rồi,” nó nhỏ giọng nói, mừng là gương mặt Ron được che khuất, “Hermione khóc cả một tuần lễ.

Có lẽ lâu hơn, chỉ có điều bạn ấy không để cho mình thấy.

Có rất nhiều đêm tụi này thậm chí không hề nói gì với nhau.

Bồ đi rồi...”

Nó không thể nói hết câu.

Bây giờ có Ron ở đây rồi Harry mới nhận ra sự thiếu vắng Ron đã khiến tụi nó mất mát biết bao nhiêu.

“Hermione giống như chị mình,” nó nói tiếp.

“Mình thương bạn ấy như một người chị và mình nghĩ là Hermione cũng đối xử với mình bằng tình chị em.

Xưa nay vẫn luôn vậy.

Mình tưởng bồ biết mà.”

Ron không trả lời, nhưng quay mặt khỏi Harry và hỉ mũi sột xoẹt trên tay áo.

Harry lại đứng lên và đi tới chỗ cái ba lô to đùng của Ron đang nằm cách đó vài thước, bị quẳng đi khi Ron chạy về phía cái hồ để cứu Harry khỏi chết đuối.

Nó nhấc cái ba lô lên và đeo vào lưng rồi đi trở lại chỗ Ron, anh chàng này cũng đang lồm cồm đứng dậy khi Harry đi tới gần, hai mắt vẫn còn đỏ nhưng nói chung là đã bình tĩnh.

“Mình xin lỗi,” nó nói giọng nặng chịch.

“Mình xin lỗi đã bỏ đi.

Mình biết mình là một... một...”

Ron ngó quanh quất trong bóng đêm như thể chờ đợi một từ nào đó đủ tồi để mắng nó sẽ quất xuống đầu.

“Kể như bồ đã đoái công chuộc tội tối nay,” Harry nói.

“Thu hồi thanh gươm.

Tiêu hủy cái Trường Sinh Linh Giá.

Cứu mạng mình.”

“Nói thế làm như mình ngon lắm á,” Ron làu bàu.

“Chưa làm thì mấy chuyện đó lúc nào nghe chả ngon,” Harry nói.

“Mình đã cố nói cho bồ hiểu suốt bao nhiêu năm rồi.”

Hai đứa cùng bước tới và ôm chặt lấy nhau, Harry túm chặt cái lưng áo vét vẫn còn đang thổn thức của Ron.

“Và bây giờ,” Harry nói khi hai đứa buông nhau ra, “tụi mình chỉ còn một việc phải làm là tìm lại được cái lều.”

Nhưng không đến nỗi khó khăn cho lắm.

Mặc dù chuyến đi xuyên qua khu rừng tối thui với con hươu có vẻ lâu lắc, nhưng với Ron bên cạnh, chuyến trở về dường như ngắn ngủi một cách lạ lùng.

Harry háo hức muốn đánh thức Hermione, và nỗi hồi hộp tăng nhanh khi nó bước vô lều, Ron tụt lại phía sau một tí.

Sau hồ nước và khu rừng, căn lều đúng là ấm áp tươi vui, ánh sáng duy nhất là ngọn lửa hình bông chuông xanh vẫn còn bập bùng trong cái chén để trên sàn.

Hermione còn ngủ say, cuộn tròn trong mấy tấm mền, và không nhúc nhích cho tới khi Harry gọi tên cô nàng nhiều lần.

“Hermione!”

Hermione trở mình, rồi ngồi dậy ngay, hất tóc ra khỏi gương mặt.

“Có chuyện gì vậy, Harry, bồ có sao không?”

“Không sao, mọi việc tốt lành.

Còn hơn cả tốt lành, tuyệt vời luôn.

Có ai ở đây nè.”

“Bồ muốn nói gì?

Ai...?”

Hermione nhìn thấy Ron đứng đó, tay còn nắm thanh gươm, nước nhểu xuống tấm thảm đã sờn chỉ.

Harry lùi vào một góc tối, cởi cái ba lô của Ron ra, và cố gắng trộn mình lẫn với tấm vải lều.

Hermione tuột xuống khỏi cái giường và đi về phía Ron như người mộng du, hai mắt nhìn đăm đăm vào gương mặt tái nhợt của Ron.

Cô nàng ngừng ngay trước mặt Ron, môi hơi hé ra, mắt mở lớn.

Ron nở một nụ cười hy vọng mong manh và hơi đưa cánh tay ra.

Hermione lao người tới trước và bắt đầu ngắt véo mọi chỗ trên người Ron mà cô nàng có thể véo được.

“Ui... ui da... buông ra!

Mắc gì mà...?

Hermione...

UI!”

“Đồ... mắc toi... mắc...

Ronald...

Weasley!”

Cô nàng đệm mỗi từ bằng một cái đấm: Ron vừa lùi lại, vừa đỡ đòn cho cái đầu trong khi Hermione xông tới.

“Sau - mấy - tuần - lễ - mới - chịu - bò - về - đây - mấy - tuần - lễ - trời - ôi, cây đũa phép của tôi đâu?”

Trông cô nàng có vẻ như sẵn sàng giành giật cây đũa phép trong tay Harry và Harry liền phản ứng theo bản năng.

“Che chắn!”

Tấm chắn vô hình vọt lên chắn giữa Ron và Hermione.

Sức bật của tấm chắn đẩy Hermione bật ra sau té xuống sàn.

Phun tóc ra khỏi miệng, cô nàng lại đứng lên.

“Hermione!”

Harry nói, “Bình tĩnh...”

“Tôi không thèm bình tĩnh!”

Cô nàng hét toáng lên.

Trước đây chưa bao giờ nó thấy Hermione mất bình tĩnh đến như vậy, có vẻ như đã phát điên.

“Đưa trả cây đũa phép cho tôi!

Trả lại nó cho tôi!”

“Hermione, bồ làm ơn...”

“Khỏi cần dạy tôi hành xử, Harry Potter!”

Cô nàng rít lên.

“Đừng tài lanh!

Trả lại cây đũa phép mau!

Còn BỒ!”

Hermione xỉa xói Ron bằng giọng cáo buộc rùng rợn: như thể cô nàng hô thần chú nguyền rủa, và Harry thông cảm với cái sự Ron phải nhảy lùi lại mấy bước liền.

“Tôi đã phải chạy theo anh!

Tôi đã phải gọi anh!

Tôi đã phải cầu xin anh trở lại!”

“Mình biết!”

Ron nói, “Hermione, mình xin lỗi, mình thiệt tình...”

“Ôi, xin lỗi!”

Cô nàng cười ré lên giọng lanh lảnh, không còn tự kiềm chế nữa; Ron nhìn Harry cầu cứu, nhưng Harry chỉ có thể nhăn mặt bó tay.

“Mấy tuần lễ... mấy tuần lễ trời...

đi biền biệt... rồi về đây nói xin lỗi là coi như mọi chuyện êm hết hả?”

“Chứ mình còn biết nói gì nữa?”

Ron hét lên, và Harry mừng là Ron đã chống trả.

“Ôi, làm sao tôi biết được!”

Hermione tru tréo bằng giọng mỉa mai dễ sợ.

“Xóc óc lên coi, Ron, chỉ tốn chừng vài giây chứ mấy...”

“Hermione,” Harry chen vào, nó nhắm đây là lúc hạ hỏa, “nó vừa mới cứu mạng...”

“Tôi cóc cần quan tâm!”

Cô nàng gào tướng.

“Tôi cóc cần quan tâm nó đã làm gì!

Đợi nó mà biết thì tụi mình đã chết ngỏm rồi...”

“Mình biết mấy bồ chưa chết!”

Ron rống lên, lần đầu tiên giọng nó nhấn chìm giọng Hermione, và nó sấn tới gần hết mức tấm chắn giữa hai đứa nó.

“Tin tức về Harry khắp trên báo Tiên Tri, trên đài phát thanh; họ lùng tìm Harry khắp mọi nơi, bao nhiêu là chuyện đồn đại và chuyện khùng điên, mình biết mấy bồ mà chết thì mình sẽ được tin ngay tức thì, mấy bồ không biết cảm giác đó như thế nào đâu...”

“Vậy chứ cảm giác của anh thì thế nào hả?”

Giọng rít của cô nàng không còn cao ở cái độ chỉ có bọn dơi là có thể nghe được, mà đã đạt tới cái mức giận dữ điên cuồng đến nỗi nín bặt luôn; và Ron tranh thủ ngay cơ hội.

“Mình đã muốn quay trở lại ngay cái lúc mình Độn thổ, nhưng mình lại đi trúng ngay một băng Mẹ Mìn, Hermione à, và mình không thể nào đi đâu nữa!”

“Một băng gì?”

Harry hỏi, trong khi Hermione ngồi phịch xuống một cái ghế, tay chân khoanh lại cứng ngắc đến nỗi cô nàng rất có thể phải tốn nhiều năm mới hòng gỡ ra được.

“Mẹ mìn,” Ron nói.

“Chúng ở khắp mọi nơi - những băng côn đồ tìm cách kiếm vàng bằng cách lùng bắt phù thủy gốc Muggle và những người phản bội huyết thống, Bộ Pháp thuật đang thưởng cho mỗi đầu người bị bắt.

Mình lúc đó có một mình và có vẻ còn ở tuổi đi học; bọn chúng khoái lắm, tưởng mình là phù thủy gốc Muggle đang chạy trốn.

Mình phải nói dóc để không bị bọn chúng lôi cổ nộp cho Bộ.”

“Bồ nói gì với chúng?”

“Thì nói với chúng mình là Stan Shunpike.

Người đầu tiên mà mình có thể nghĩ ra.”

“Và bọn chúng tin à?”

“Bọn chúng không phải là hạng thông minh xuất sắc.

Một tay trong bọn chúng chắc chắn là dân khổng lồ lai, cái mùi của hắn...”

Ron liếc qua Hermione, rõ ràng là hy vọng cô nàng dịu xuống nhờ chút dí dỏm này, nhưng vẻ mặt cô nàng vẫn trơ như đá trên phần tứ chi thắt xà nẹo.

“Đại khái, bọn chúng cãi nhau chuyện mình có phải là Stan hay không.

Nói thật thì nghe hơi thống thiết, nhưng bọn chúng có tới năm tên, mà mình thì chỉ có một, và chúng lại tước mất cây đũa phép của mình.

Hai tên trong bọn chúng bắt đầu đánh nhau và thừa cơ mấy đứa khác bị bấn loạn mình đã thoi vào bụng tên đang bắt giữ mình, chụp cây đũa phép của hắn, Giải giới tên đang cầm đũa phép của mình, rồi Độn thổ.

Mình Độn thổ không được giỏi lắm, lại bị tét thân một lần nữa.”

Ron giơ bàn tay phải lên để khoe hai cái móng tay bị mất: Hermione lạnh lùng nhướn mày lên.

“... và mình hiện lên cách chỗ mấy bồ xa tít tè.

Khi mình về tới được bờ sông chỗ tụi mình... mấy bồ đã đi mất rồi.”

“Ái chà, chuyện hấp dẫn dữ hé?”

Hermione nói bằng giọng cao ngất mà cô nàng nhái khi muốn đâm thọc.

“Bồ bất quá chỉ hoảng sợ thôi.

Trong khi tụi này đi tới Thung lũng Godric và, để coi, chuyện gì xảy ra ở đó hả, Harry?

Ờ phải, con Mãng xà của Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó xuất hiện, nó suýt giết chết cả hai đứa này, và rồi chính bản thân Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đến và chỉ vồ hụt tụi này trong chừng có một giây.”

“Sao?”

Ron nói, há hốc miệng hết nhìn Hermione lại đến nhìn Harry, nhưng Hermione phớt lờ nó.

“Tưởng tượng mất cái móng tay coi, Harry!

Cái đó thiệt tình khiến cho cái sự đau đớn của tụi mình mang tính hoành tráng, đúng không?”

“Hermione à,” Harry nói khẽ.

“Ron vừa cứu mạng mình.”

Cô nàng làm như không nghe nó.

“Nhưng có một việc tôi muốn biết,” cô nàng nói, ngó cái điểm nào đó cách chừng ba tấc phía trên đầu Ron.

“Tối nay bồ đã tìm ra tụi này cụ thể như thế nào?

Điều đó quan trọng.

Một khi tụi này biết được thì tụi này sẽ có thể yên chí là không bị viếng thăm bởi bất cứ ai mà tụi này không muốn thấy mặt.”

Ron trừng mắt nhìn Hermione, rồi rút từ túi quần bò ra một vật nho nhỏ bằng bạc.

“Cái này.”

Cô nàng đành phải nhìn Ron để thấy cái mà nó đưa ra cho tụi nó coi.

“Cái Tắt sáng à?”

Hermione hỏi, ngạc nhiên đến nỗi cô nàng quên làm ra vẻ lạnh lùng và hung dữ.

“Nó không chỉ tắt mở đèn,” Ron nói.

“Mình không biết nó hoạt động như thế nào hay tại sao nó lại xảy ra lúc đó mà không vào bất cứ lúc nào khác, bởi vì từ hồi bỏ đi mình lúc nào cũng muốn trở lại.

Nhưng mình đang nghe đài vào buổi sáng Giáng sinh thì mình nghe... mình nghe tiếng bồ.”

Ron nhìn Hermione.

“Bồ nghe tôi nói trên đài hả?”

Cô nàng nói giọng làm-gì-có-chuyện-đó.

“Không, mình nghe tiếng bồ vang ra từ trong túi mình.

Tiếng bồ,” Ron lại giơ cái Tắt sáng lên, “vang ra từ cái này.”

“Và cụ thể là tôi nói cái gì?”

Hermione hỏi, giọng điệu cô nàng nửa ngờ vực nửa tò mò.

“Tên mình...

'Ron'.

Và bồ nói... gì đó về cây đũa phép...”

Hermione đỏ tía mặt mày.

Harry nhớ ra: đó là lần đầu tiên tên Ron được hai đứa nó nói to ra kể từ ngày Ron bỏ đi; Hermione đã nhắc tới tên Ron khi nói về chuyện sửa chữa cây đũa phép của Harry.

“Vậy là mình lấy nó ra,” Ron nói tiếp, nhìn cái Tắt sáng, “và nó chẳng có vẻ khác lạ hay gì gì hết, nhưng mình chắc chắn là đã nghe tiếng bồ.

Vậy là mình bấm nó.

Và ánh sáng trong phòng mình tắt đi, nhưng một ánh sáng khác lại hiện ra ngay bên ngoài cửa sổ.”

Ron giơ bàn tay không cầm gì hết lên và chỉ vào khoảng không trước mặt nó; mắt nó tập trung vào cái gì đó mà cả Harry và Hermione đều không thể thấy.

“Một trái cầu ánh sáng, hơi phập phồng, và xanh xanh, giống ánh sáng mà mấy bồ thấy khi dùng Khóa cảng, hiểu chứ?”

“Ừ,” Harry và Hermione cùng tự động nói.

“Mình biết chính là nó,” Ron nói.

“Mình bèn quơ đồ đạc gói ghém lại bỏ vô ba lô rồi đi ra vườn.”

“Trái cầu ánh sáng nhỏ xíu vẫn còn lượn lờ ở đó chờ mình, mình đi ra thì nó nhấp nhô bay trước một tí, và mình đi theo nó ra đằng sau cái nhà để đồ cũ, thế rồi nó...

ừ, nó chui vô trong người mình.”

“Cái gì?”

Harry nói, chắc mẻm là nó đã nghe nhầm.

“Nó kiểu như trôi về phía mình,” Ron nói, minh họa chuyển động đó bằng ngón tay trỏ không bận cầm cái Tắt sáng, “chui ngay vô ngực mình, và rồi... nó chỉ việc nhập thẳng vô.

Nó ở đây.”

Ron sờ vào một điểm gần trái tim nó.

“Mình có thể cảm nhận được nó, nó nóng.

Và một khi nó đã ở trong mình rồi thì mình biết phải làm gì.

Mình biết nó sẽ đưa mình tới nơi mà mình cần tới.

Mình bèn Độn thổ và hiện ra trên sườn một ngọn đồi.

Tuyết phủ khắp nơi...”

“Tụi này đã ở đó,” Harry nói.

“Tụi này đã ở đó hai đêm, và đêm thứ hai mình cứ nghĩ là mình nghe được ai đó đang đi quanh quất trong bóng tối và kêu lớn!”

“Ừ, dám là mình không chừng!”

Ron nói.

“Đại khái là bùa chú bảo vệ của mấy bồ hiệu nghiệm, bởi vì mình không sao thấy hay nghe được mấy bồ.

Nhưng mình chắc chắn là mấy bồ ở quanh đó, cho nên cuối cùng mình chui vô cái túi ngủ làm một giấc chờ mấy bồ hiện ra.

Mình nghĩ mấy bồ sẽ phải hiện ra khi thu dọn lều.”

“Không, thực ra,” Hermione nói, “tụi này đã Độn thổ dưới tấm Áo khoác Tàng hình để phòng xa.

Và tụi này ra đi rất sớm, bởi vì như Harry nói, tụi này nghe có ai đó mò mẫm chung quanh.”

“Hèn gì, mình đã ở lại trên ngọn đồi đó cả một ngày,” Ron nói.

“Mình cứ nuôi hy vọng mấy bồ sẽ hiện ra.

Nhưng khi trời bắt đầu tối mình biết ắt là mình đã bắt hụt mấy bồ, vậy là mình bấm cái Tắt sáng một lần nữa, ánh sáng xanh lại xuất hiện và chui vào mình, và mình Độn thổ tới đây, trong khu rừng này.

Mình vẫn không thể thấy mấy bồ, nên mình chỉ còn hy vọng là một trong hai bồ cuối cùng sẽ tự hiện ra - và Harry đã xuất hiện.

À, mình thấy con hươu trước, rõ ràng như vậy.”

“Bồ thấy cái gì?”

Hermione hỏi ngay.

Ron và Harry bèn giải thích chuyện gì đã xảy ra, và khi câu chuyện về con hươu với thanh gươm được kể ra, Hermione đăm chiêu nhìn hết đứa này tới đứa kia, chăm chú đến nỗi quên béng mất vụ cô nàng quyết khoanh chặt tay chân.

“Nhưng đó ắt hẳn là một Thần Hộ mệnh!”

Hermione nói.

“Bồ không thấy ai gọi nó lên sao?

Bồ không thấy ai hết à?

Và nó lại còn dẫn bồ đến chỗ thanh gươm!

Mình không thể nào tin được chuyện này!

Rồi chuyện gì xảy ra sau đó?”

Ron giải thích nó đã thấy Harry nhảy xuống hồ, và nó đã đợi Harry trồi lên, rồi nó nhận ra có cái gì đó trục trặc, nó bèn lặn xuống, và cứu Harry, rồi quay trở xuống hồ lấy thanh gươm.

Nó kể tới đoạn mở cái mặt dây chuyền ra thì ngập ngừng, và Harry chen vô.

“... và Ron đâm cái vật đó bằng thanh gươm.”

“Và... nó tiêu?

Chỉ vậy thôi sao?”

Hermione thì thầm.

“Ừ, nó... nó gào thét,” Harry nói kèm một cái liếc nửa mắt sang Ron.

“Đây.”

Harry thảy cái mặt dây chuyền lên đùi Hermione; cô bé nhón tay thận trọng cầm cái đó lên và xem xét cái khoang bị đâm lủng.

Cuối cùng Harry cho rằng đã tới thời điểm có thể an toàn dọn đi tấm chắn vô hình, nó vẫy cây đũa phép của Hermione để thu hồi Bùa che chắn rồi quay qua Ron.

“Bồ vừa nói là bồ thoát khỏi bọn Mẹ mìn và có dư được một cây đũa phép?”

“Hả?”

Ron nói, nó vẫn còn đang ngắm Hermione nghiên cứu cái mặt dây chuyền.

“À, ờ, phải.”

Nó kéo mạnh để mở một cái khóa đai của cái ba lô và rút từ trong đó ra một cây đũa phép đen cụt ngủn.

“Đây, mình suy ra là có thêm một cây dự trữ thì lúc nào cũng tiện hơn.”

“Bồ đúng,” Harry nói, giơ tay ra.

“Cây đũa phép của mình gãy mất rồi.”

“Bồ nói chơi hả?”

Ron nói, nhưng ngay lúc đó Hermione đứng dậy, và Ron bèn trở lại trạng thái phập phồng ngán sợ.

Hermione cất cái Trường Sinh Linh Giá đã bị diệt vô cái túi xách hột cườm, rồi leo trở lên cái giường của mình và nằm xuống không nói thêm tiếng nào.

Ron đưa cho Harry cây đũa phép mới.

“Vậy là khá nhất cho bồ rồi đấy,” Harry thì thào.

“Ừ,” Ron nói.

“Đáng ra còn tệ hơn kìa.

Nhớ vụ mấy con chim cô nàng sai đi oánh mình không?”

“Tôi còn chưa loại trừ khả năng đó,” giọng nói hơi bị hãm thanh của Hermione vang lên từ dưới đống mền, nhưng Harry thấy Ron hơi mỉm cười khi anh chàng moi ba lô lấy ra bộ đồ ngủ màu hột dẻ.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 20: Ông Xenophilus Lovegood


Ông Xenophilus Lovegood

Harry không trông mong gì cơn giận của Hermione nguôi ngoai sau một đêm, cho nên nó không ngạc nhiên lắm về cái sự cô nàng chỉ trao đổi chủ yếu bằng ánh mắt khinh bỉ và cái kiểu im lặng chua cay vào sáng hôm sau.

Ron đáp lại bằng cách duy trì thái độ ưu sầu trước mặt cô nàng như một biểu hiện bên ngoài của sự ăn năn hối tiếc triền miên.

Thực ra, khi cả ba đứa ở bên nhau, Harry cảm thấy nó như kẻ duy nhất không khóc than ở một đám ma quá ít người đưa đám.

Trong những dịp ít ỏi chỉ có Ron và Harry với nhau (đi lấy nước và tìm nấm dưới những bụi cây thấp), Ron trở nên hớn hở tỉnh bơ.

“Ai đó đã giúp tụi mình,” nó cứ nói hoài.

“Ai đó đã phái con hươu tới.

Ai đó về phe mình.

Diệt xong một cái Trường Sinh Linh Giá rồi, bồ tèo ơi!”

Việc tiêu hủy cái mặt dây chuyền đã cổ vũ tụi nó bắt tay vào việc suy tính xem những Trường Sinh Linh Giá khác có thể ở đâu, và mặc dù trước đây tụi nó đã bàn cãi vấn đề này quá nhiều lần rồi, Harry vẫn cảm thấy lạc quan, tin chắc sẽ có thêm thành công nối tiếp thắng lợi đầu tiên.

Chuyện giận hờn của Hermione không thể làm nhụt tinh thần phấn chấn của nó; vận may của tụi nó đang lên bất ngờ, sự xuất hiện của con hươu bí mật, cùng với việc thu hồi thanh gươm Gryffindor, và hơn hết thảy là sự trở về của Ron đã khiến cho Harry vui đến nỗi khó mà giữ được bộ mặt nghiêm túc.

Vào lúc chiều tà nó và Ron lại lẩn tránh sự có mặt hãm tài của Hermione và giả bộ lấy cớ đi mót những trái mâm xôi không hề tồn tại ở những hàng giậu trơ trụi, hai đứa nó tiếp tục trao đổi tin tức liên miên.

Harry rốt cuộc cũng kể xong toàn bộ những chuyến lang thang khác nhau của nó và Hermione, tiếp theo đầy đủ câu chuyện về những gì đã xảy ra ở Thung lũng Godric.

Còn Ron giờ lại trút sang Harry mọi thứ mà nó đã khám phá về cái thế giới pháp thuật rộng lớn hơn trong suốt những tuần lễ nó bỏ đi.

“... mà làm sao mấy bồ biết về vụ Cấm kỵ thế?”

Ron hỏi Harry sau khi giảng giải về nhiều cố gắng tuyệt vọng của phù thủy gốc Muggle để lẩn trốn sự truy lùng của Bộ.

“Vụ gì?”

“Bồ và Hermione đã thôi nói ra tên của Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó!”

“À, phải.

Ừ, chẳng qua một thói quen xấu mà tụi này mới mắc phải,” Harry nói.

“Nhưng mình chẳng kiêng kỵ gì chuyện gọi hắn là V...”

“ĐỪNG!”

Ron gầm lên, khiến Harry nhảy phắt vô hàng giậu và Hermione (đang chúi mũi vô một cuốn sách ở cửa lều) quắc mắt nhìn hai đứa nó.

“Xin lỗi,” Ron vừa nói vừa lôi Harry ra khỏi bụi cây đầy gai, “nhưng cái tên đó đã bị ếm bùa độc, Harry à, đó là cách bọn chúng lần ra dấu vết người ta!

Dùng tên của hắn để phá bùa chú bảo vệ, tạo ra một kiểu nhiễu loạn pháp thuật gì đó - đó là cách bọn chúng đã tìm ra tụi mình ở đường Tottenham Court!”

“Bởi vì tụi mình đã xài đúng tên hắn à?”

“Đúng vậy!

Bồ phải tin thôi, có lý lắm.

Chỉ những người thực sự coi trọng việc đứng lên chống lại hắn, như thầy Dumbledore chẳng hạn, mới dám xài tên hắn.

Bây giờ chúng đã ếm bùa Cấm kỵ lên cái tên đó, bất cứ ai nói ra cái tên đó đều bị theo dõi - đó là cách nhanh-chóng-và-dễ-dàng để truy tìm các thành viên Hội Phượng Hoàng!

Chúng suýt tóm được chú Kingsley...”

“Bồ nói chơi hả?”

“Thiệt mà, một đám Tử Thần Thực Tử bao vây chú, anh Bill nói chú ấy phải mở đường máu thoát thân.

Bây giờ chú ấy cũng đang đào tẩu như tụi mình.”

Ron trầm ngâm gãi cằm bằng đầu cây đũa phép.

“Bồ nghĩ có khi nào chú Kingsley phái con hươu tới không?”

“Thần Hộ mệnh của chú là một con linh miêu, tụi mình đã nhìn thấy nó ở đám cưới, nhớ không?”

“Ờ há...”

Tụi nó đi dọc theo hàng giậu, xa cái lều và Hermione hơn.

“Harry à...

Bồ không nghĩ có thể đó là thầy Dumbledore sao?”

“Thầy Dumbledore chuyện gì?”

Ron tỏ ra lúng túng một chút, nhưng rồi nó nói nhỏ, “Thầy Dumbledore... chuyện con hươu đó?

Mình muốn nói,” rồi Ron lén nhìn Harry, “thầy là người cuối cùng giữ thanh gươm thật, đúng không?”

Harry không cười giễu Ron, bởi vì nó hiểu quá rõ nỗi niềm mong đợi ẩn sau câu hỏi đó.

Cái ý tưởng cụ Dumbledore trở lại với tụi nó, trông chừng tụi nó, quả là có tác dụng vỗ về không thể tả.

Nó lắc đầu.

“Thầy Dumbledore chết rồi,” nó nói.

“Mình đã thấy chuyện đó xảy ra, mình đã thấy xác thầy.

Thầy chắc chắn đã ra đi rồi.

Mà dù sao đi nữa thì Thần Hộ mệnh của thầy là phượng hoàng chứ không phải hươu cái.”

“Nhưng Thần Hộ mệnh có thể thay đổi, đúng không?”

Ron nói.

“Thần Hộ mệnh của cô Tonks đã thay đổi, đúng không nào?”

“Ừ, nhưng nếu thầy Dumbledore còn sống thì tại sao thầy không tự hiện ra?

Tại sao thầy không đưa phứt cho tụi mình thanh gươm?”

“Sao biết được,” Ron nói.

“Chắc cùng lý do khiến thầy đã không đưa nó cho bồ khi thầy còn sống?

Hay cũng giống cái lý do mà thầy để lại cho bồ trái banh Snitch cũ và để lại cho Hermione cuốn sách truyện trẻ con?”

“Là lý do gì?”

“Ai biết,” Ron nói.

“Thỉnh thoảng, khi mình hơi nổi khùng ấy, mình nghĩ thầy đang ghẹo tụi mình hoặc là... hoặc là thầy chỉ bày trò cho khó khăn thêm.

Nhưng bây giờ mình không nghĩ vậy nữa.

Thầy ý thức việc thầy làm khi thầy cho mình cái Tắt sáng, đúng không?

Thầy... vậy đó.”

Hai tai của Ron đỏ bừng và nó đâm ra tha thiết với đám cỏ dưới chân, cứ dí ngón chân mà chọc chúng.

“Thầy ắt hẳn đã biết mình sẽ bỏ bồ mà đi.”

“Không,” Harry sửa lưng Ron.

“Thầy ắt hẳn đã biết bồ luôn luôn muốn trở lại.”

Ron có vẻ cảm động, nhưng vẫn còn ngượng ngùng.

Harry nói, một phần để thay đổi đề tài.

“Nhân nói về thầy Dumbledore, bồ có nghe những điều mụ Skeeter viết về thầy không?”

“Ờ có,” Ron nói ngay.

“Người ta nói về chuyện đó hơi nhiều.

Dĩ nhiên, nếu thời thế khác thì vụ thầy Dumbledore từng là bồ bịch với Grindelwald sẽ là tin giật gân, nhưng bây giờ đó chỉ là chuyện để cười ngạo của mấy người không ưa thầy Dumbledore, và đối với những người vẫn coi thầy là người tốt thì chuyện đó như một cái tát vào mặt.

Nhưng mình không biết chuyện đó có gì là ghê gớm.

Thầy thực sự còn trẻ dại khi...”

“Bằng tuổi tụi mình,” Harry nói, y như khi nó cự lại Hermione, và có gì đó trên mặt nó dường như đã khiến Ron quyết định không nói tiếp đề tài đó nữa.

Một con nhện khổng lồ ngồi giữa cái mạng nhện đọng sương giá trong bụi cây đầy gai.

Harry chĩa cây đũa phép vào con nhện, cây đũa phép mà Ron đưa cho nó hồi hôm rồi sau đó đã được Hermione hạ cố kiểm tra, và được xác định là làm bằng gỗ cây tầm gai.

“Phình ra!”

Con nhện hơi rùng mình, khẽ đung đưa trên mạng.

Harry thử lại.

Lần này con nhện lớn thêm một tí.

“Thôi đi!' Ron đột ngột nói.

“Tôi xin lỗi tôi đã nói thầy Dumbledore còn trẻ dại, được chưa?”

Harry đã quên béng là Ron căm ghét lũ nhện.

“Xin lỗi...

Teo lại!”

Con nhện không thèm teo lại.

Harry ngó xuống cây đũa phép tầm gai.

Mọi bùa chú nhỏ nhặt mà nó thực hiện với cây đũa phép, tính tới lúc này, dường như đều kém hiệu lực hẳn so với bùa phép nó ếm bằng cây đũa phép phượng hoàng.

Nó cảm thấy cây đũa phép mới xa lạ đến ngang ngược, như thể bàn tay ai đó đem ráp vô cánh tay nó.

“Bồ chỉ cần thực tập thôi,” Hermione nói, cô bé đã lặng lẽ đến gần tụi nó từ đằng sau và đứng đó lo lắng nhìn Harry thử phóng to thu nhỏ con nhền nhện.

“Đó là vấn đề lòng tin, Harry à.”

Nó biết tại sao Hermione muốn cây đũa phép đó tử tế; cô bé vẫn còn cảm thấy có lỗi vì đã làm gãy cây đũa phép của nó.

Nó ráng nín câu cãi lại đã vọt tới đầu môi, rằng Hermione cứ việc xài cây đũa phép tầm gai nếu cho là chẳng có gì khác biệt, và nó sẽ xài cây đũa phép của cô nàng.

Tuy nhiên, vì mong muốn bạn bè hòa thuận lại, nó đồng ý; nhưng khi Ron nở nụ cười thăm dò với Hermione, cô nàng liền quay ngoắt đi và lại vùi đầu vào cuốn sách.

Cả ba đứa trở về lều khi trời tối, và Harry trực phiên gác đầu tiên.

Ngồi ở cửa lều nó cố gắng dùng cây đũa phép tầm gai khiến mấy hòn sỏi dưới chân nó bay lên, nhưng pháp thuật của nó dường như vụng về và kém hiệu lực hơn trước đây.

Hermione đang nằm trên giường đọc sách, trong khi Ron, sau nhiều lần căng thẳng liếc nhìn lên cô nàng, đã lấy ra khỏi ba lô một cái đài nhỏ bằng gỗ và bắt đầu dò đài.

“Có một chương trình này,” nó nói nhỏ với Harry, “tường thuật tin tức nghe như thật ấy.

Tất cả các đài khác đều về phe Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó và đều theo đường lối của Bộ, nhưng đài này... bồ chờ tới khi nghe được nha, hay lắm.

Chỉ có điều họ không thể phát sóng mỗi đêm, họ cứ phải thay đổi địa điểm để phòng bị bố ráp và bồ cần phải có mật khẩu để mở đài...

Rắc rối là mình bỏ lỡ mất kỳ trước...”

Ron gõ nhè nhẹ lên cái đài bằng cây đũa phép, lầm rầm trong miệng mấy tiếng hú họa nào đó.

Nó lén nhìn lên Hermione nhiều lần, rõ ràng là ngán một cơn giận bùng nổ, nhưng tất cả mối quan tâm Hermione dành cho nó chỉ là coi như không có nó ngồi đó.

Phải mất đến mười phút Ron cứ gõ gõ cái đài và rì rầm tụng, Hermione thì lật lật mấy trang sách, còn Harry tiếp tục thực tập cây đũa phép tầm gai.

Cuối cùng Hermione trèo ra khỏi giường.

Ron ngừng gõ ngay lập tức.

“Nếu nó khiến bồ bực mình thì mình sẽ thôi,” nó lo lắng nói với Hermione.

Hermione không buồn hạ cố đáp lại, chỉ đi tới gần Harry.

“Tụi mình cần bàn bạc,” Hermione nói.

Harry ngó cuốn sách vẫn còn bị Hermione nắm chắc trong tay.

Đó là cuốn Chuyện Đời và Chuyện Xạo của Albus Dumbledore.

“Chuyện gì?”

Nó lo lắng hỏi.

Trong đầu nó thoáng qua ý nghĩ rằng cuốn sách đó có một chương về nó; nó thấy nó chẳng còn đủ sức đâu mà nghe thêm một bản phân tích nữa của Rita về mối quan hệ giữa nó và cụ Dumbledore.

Tuy nhiên, câu trả lời của Hermione hoàn toàn bất ngờ.

“Mình muốn đi gặp ông Xenophilius Lovegood.”

Nó trợn mắt ngó cô bé.

“Ai?”

“Ông Xenophilius Lovegood, cha của Luna.

Mình muốn đi nói chuyện với ông ta!”

“Ơ... lý do?”

Hermione hít sâu một hơi, như thể tự khích lệ mình, rồi nói.

“Là cái dấu hiệu đó.

Cái dấu hiệu trong cuốn Beedle Người Hát Rong.

Nhìn cái này coi.”

Cô bé liệng cuốn Chuyện Đời và Chuyện Xạo Của Albus Dumbledore xuống ngay trước đôi mắt miễn cưỡng của Harry và nó thấy hình chụp bản gốc bức thư cụ Dumbledore viết cho Grindelwald, bằng nét chữ viết tay xiên xiên mảnh khảnh quen thuộc của cụ.

Nó không muốn nhìn cái bằng chứng chắc chắn rằng cụ Dumbledore đã thực sự viết những dòng chữ đó, thứ đó không phải là phát minh của Rita.

“Chữ ký,” Hermione nói.

“Nhìn chữ ký đi, Harry!”

Nó nghe lời.

Mất một lúc nó chẳng hiểu cô bé đang nói về điều gì, nhưng khi nhìn kỹ hơn nhờ ánh sáng của cây đũa phép, nó thấy cụ Dumbledore đã thay thế chữ A trong cái tên Albus bằng một phiên bản nhỏ xíu của cái dấu hình tam giác vẽ trên Những Chuyện Kể của Beedle Người Hát Rong.

“Ơ... mấy bồ đang...?”

Ron nói giọng hơi căng, nhưng Hermione trấn áp anh chàng chỉ bằng một ánh mắt rồi quay lại nói với Harry.

“Nó cứ hiện lên hoài, há?”

Cô bé nói.

“Mình biết anh Viktor nói đó là dấu hiệu của Grindelwald, nhưng chắc chắn dấu hiệu đó có trên ngôi mộ cũ ở Thung lũng Godric, và ngày ghi trên bia mộ thì xưa lắc trước khi Grindelwald ra đời!

Và bây giờ là cái này!

Chà, mình không thể hỏi thầy Dumbledore hay Grindelwald ý nghĩa của dấu hiệu đó - mình thậm chí không biết Grindelwald còn sống hay không nữa - nhưng tụi mình có thể hỏi ông Xenophilius Lovegood.

Ông ta đeo cái dấu hiệu đó trong đám cưới.

Mình tin chắc điều này quan trọng, Harry à.”

Harry không trả lời ngay.

Nó nhìn vào gương mặt háo hức, quyết liệt của Hermione rồi nhìn ra bóng tối xung quanh, suy nghĩ.

Sau một hồi im lặng, nó nói, “Hermione à, tụi mình không cần thêm một vụ Thung lũng Godric nữa đâu.

Tụi mình đã tự dụ dỗ nhau đến đó, và...”

“Nhưng nó cứ xuất hiện hoài, Harry ơi!

Thầy Dumbledore để lại cho mình cuốn Những Chuyện Kể của Beedle Người Hát Rong, làm sao bồ biết là tụi mình không có nhiệm vụ tìm hiểu về cái dấu hiệu đó?”

“Tụi mình lại bắt đầu cái vòng luẩn quẩn nữa rồi,” Harry nói, hơi quạu.

“Tụi mình cứ tự thuyết phục nhau là thầy Dumbledore để lại cho tụi mình những chỉ dẫn và dấu hiệu bí mật...”

“Cái Tắt sáng té ra là vật hết sức hữu ích,” Ron chợt nói lớn.

“Mình nghĩ Hermione nói đúng, tụi mình nên đi gặp ông Xenophilius Lovegood.”

Harry nhìn Ron ngao ngán.

Nó chắc chắn sự ủng hộ của Ron dành cho Hermione chẳng dính dáng gì mấy tới mong muốn tìm hiểu ý nghĩa của cái cổ tự hình tam giác.

“Sẽ không giống vụ Thung lũng Godric đâu,” Ron nói thêm.

“Ông Xenophilius Lovegood đứng về phe bồ mà, Harry, báo Kẻ Lý Sự bênh vực bồ ngay từ đầu, báo liên tục kêu gọi mọi người giúp đỡ bồ!”

“Mình chắc chắn điều này quan trọng!”

Hermione nói giọng tha thiết.

“Nhưng bồ có nghĩ là nếu điều đó quan trọng thật thì thầy Dumbledore đã nói cho mình biết trước khi thầy chết không?”

“Có lẽ... có lẽ đó là điều bồ cần tự mình tìm hiểu lấy,” Hermione nói với vẻ vớt vát yếu ớt.

“Ừ,” Ron giở giọng nịnh nọt, “hợp lý.”

“Không, chẳng hợp lý chút nào!”

Hermione nạt ngang.

“Nhưng mình vẫn nghĩ tụi mình nên nói chuyện với ông Xenophilius Lovegood.

Một dấu hiệu mà kết nối cả thầy Dumbledore, Grindelwald và Thung lũng Godric đúng không nào?

Harry à, chắc chắn tụi mình nên biết về chuyện này!”

“Mình thấy tụi mình nên biểu quyết đi,” Ron nói.

“Ai ủng hộ việc đi gặp ông Lovegood...”

Tay nó vọt lên không trước cả tay Hermione.

Môi cô nàng hơi run run lên một cách ngờ vực khi giơ tay mình lên.

“Đa số thắng, Harry à, xin lỗi nha,” Ron nói, vỗ vỗ lên lưng Harry.

“Được” Harry nói, nửa mắc cười nửa bực bội.

“Nhưng khi gặp ông Lovegood rồi, tụi mình phải cố gắng kiếm thêm mấy cái Trường Sinh Linh Giá nữa, chịu không?

Với lại, gia đình Lovegood sống ở đâu?

Mấy bồ có ai biết không?”

“À, chỗ họ ở không xa nhà mình,” Ron nói.

“Mình không biết chính xác chỗ nào, nhưng ba má mình hay chỉ về phía mấy ngọn đồi mỗi khi nói tới họ.

Chắc không khó kiếm đâu.”

Khi Hermione đã trèo lên giường trở lại, Harry hạ thấp giọng.

“Bồ chỉ đồng ý để cố lấy lòng nàng thôi.”

“Trong tình yêu lẫn trong chiến tranh đều phải mánh cả,” Ron nói một cách rạng rỡ, “và chuyện này có một tí của cả hai thứ.

Vui lên đi, đang kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, Luna sẽ có nhà!”

Tụi nó được ngắm cảnh đẹp tuyệt trần của làng Ottery St.

Catchopole từ sườn đồi hiu hiu gió nơi tụi nó Độn thổ tới vào sáng hôm sau.

Từ góc nhìn lợi thế trên cao, ngôi làng trông giống như một bộ sưu tập nhà đồ chơi, nằm giữa những vạt nắng lớn chiếu xiên xiên, len qua những kẽ hở của mây trời, rọi xuống mặt đất.

Tụi nó đứng đó một hai phút nhìn về phía Hang Sóc, đưa tay lên mắt che nắng, nhưng không sao phân biệt được đâu là hàng giậu cao và vườn cây ăn trái, là những thứ đã giúp cho ngôi nhà nhỏ hình xoắn ốc khuất được tầm mắt dân Muggle.

“Quái thiệt, gần xịt như vầy mà không thể về thăm,” Ron nói.

“Ôi, chứ không phải bồ vừa gặp gia đình sao.

Bồ ăn mừng Giáng sinh ở nhà mà,” Hermione lạnh lùng nói.

“Mình đâu có ở Hang Sóc!”

Ron nói kèm tiếng cười hoài nghi.

“Mấy bồ tưởng mình về đó và nói với tất cả mọi người là mình đã bỏ mấy bồ mà đi à?

Chà, anh Fred và George sẽ khoái vụ này lắm lắm.

Còn Ginny, nó sẽ vô cùng thông cảm cho mà coi.”

“Nhưng, nếu vậy thì bồ đã ở đâu?”

Hermione hỏi, ngạc nhiên.

“Ở nhà mới của anh Bill và chị Fleur.

Chòi Đất.

Anh Bill luôn luôn tử tế với mình.

Ảnh...

ảnh không cảm kích lắm khi nghe chuyện mình đã làm, nhưng không phán xét về chuyện đó.

Ảnh biết mình thiệt tình hối hận.

Không ai khác trong gia đình biết mình ở nhà ảnh.

Anh Bill nói với má là anh và chị Fleur sẽ không về nhà ăn lễ Giáng sinh vì họ muốn đón lễ riêng với nhau.

Mấy bồ biết, kỳ lễ đầu tiên sau khi họ cưới nhau mà.

Mình không nghĩ là chị Fleur lấy đó làm phiền.

Mấy bồ biết chị ghét Celestina Warbeck cỡ nào rồi.”

Ron quay lưng lại Hang Sóc.

“Thử lên trên này coi,” nó nói, dẫn đường đi lên đỉnh đồi.

Tụi nó đi bộ mấy tiếng đồng hồ, Harry mặc tấm Áo khoác Tàng hình theo sự nài nỉ của Hermione.

Cụm nhà trên những ngôi đồi thấp có vẻ không có người ở, tách biệt hẳn một ngôi nhà nhỏ dường như bỏ hoang.

“Bồ có nghĩ đó là nhà họ, và họ đã đi nghỉ lễ Giáng sinh không?”

Hermione vừa nói vừa dòm qua cửa sổ một căn bếp nhỏ nhắn gọn gàng có chậu hoa phong lữ trên bệ cửa.

Ron khụt khịt mũi.

“Nghe nè, mình có cảm giác là chỉ cần ngó qua cửa sổ nhà Lovegood thôi là đã biết ai ở trong đó rồi.

Thử mấy cụm đồi kế đi.”

Tụi nó bèn Độn thổ xa thêm về phía bắc vài dặm.

“Đây rồi!”

Ron hét, trong khi gió thổi bạt tóc và quần áo của tụi nó.

Ron đang chỉ lên đỉnh ngọn đồi mà tụi nó vừa hiện ra, ở đó có một ngôi nhà ngó-kỳ-cục-nhất vươn thẳng lên trời, một trụ tròn đen thui với một vầng trăng ma treo đằng sau trên bầu trời ban trưa.

“Cái đó chắc là nhà của Luna, chứ ai mà sống trong một chỗ như vậy chớ?

Ngó giống một con xe khổng lồ.”

“Trông chẳng có gì giống xe cả,” Hermione nói, cau mày nhìn cái tháp.

“Mình đang nói về quân cờ,” Ron nói.

“Với bồ thì là lâu đài.”

Chân Ron dài nhất nên nó lên tới đỉnh đồi trước tiên.

Khi Harry và Hermione bắt kịp Ron, vừa thở hổn hển vừa bấu chặt hông vì xóc, chúng đã thấy Ron đang toét miệng cười.

“Đúng là nhà họ rồi,” Ron nói.

“Ngó coi.”

Ba cái bảng vẽ bằng tay được gắn hờ trên một cánh cổng sập.

Cái đầu tiên ghi “KẺ LÝ SỰ.

CHỦ BÚT.

X.

LOVEGOOD.”

Cái thứ hai, “HÃY TỰ HÁI TẦM GỬI.”

Cái thứ ba, “TRÁNH XA MẬN XUI KHIẾN.”

Cánh cổng kêu cọt kẹt khi tụi nó mở ra.

Con đường ngoằn ngoèo dẫn tới cửa trước mọc um tùm nhiều loại cây kỳ cục, kể cả một bụi cây đầy những trái màu cam có hình giống củ cải mà Luna đôi khi đeo như bông tai.

Harry nghĩ nó nhận ra một cây Bẫy chóc nên vội tránh xa cái cái gốc cây nhăn nheo.

Hai cây táo dại già khú, bị gió uốn cong, đã rụng hết lá nhưng vẫn còn rất nhiều trái đỏ nhỏ bằng trái dâu và hai vòng hoa kết bằng nhánh cây tầm gởi có đính hột châu trắng đứng gác hai bên cửa chính.

Một con cú nhỏ có cái đầu dữ như diều hâu hơi bị dẹp đậu trên một nhánh cây lom lom dòm chừng tụi nó.

“Bồ nên cởi Áo khoác Tàng hình ra đi Harry,” Hermione nói.

“Bồ mới là người mà ông Lovegood muốn giúp, chứ không phải tụi này.”

Nó làm theo lời Hermione đề nghị, đưa cho cô bé tấm Áo khoác Tàng hình để cất vô trong cái túi xách hột cườm.

Sau đó Hermione gõ ba lần lên cánh cửa đen dày cui được đóng bằng đinh sắt có một cái đồ gõ cửa hình con ó.

Chưa đầy mười giây sau, cửa mở bung và ông Xenophilius Lovegood đứng đó, chân trần và mặc một cái có vẻ như áo ngủ lấm lem.

Mớ tóc dài giống kẹo bông gòn trắng của ông vừa dơ vừa rối bù.

So ra thì ông Xenophilius Lovegood ở đám cưới của anh Bill và chị Fleur quả là cực kỳ bảnh bao.

“Chuyện gì?

Có chuyện gì?

Các người là ai?

Các người muốn gì?”

Ông la lối bằng giọng gắt gỏng the thé, nhìn Hermione rồi đến Ron, và cuối cùng há miệng tròn vo như chữ O hết sức tức cười khi nhìn tới Harry.

“Chào bác Lovegood,” Harry nói, đưa tay ra.

“Cháu là Harry, Harry Potter.”

Ông Xenophilius không bắt tay Harry, mặc dù con mắt không lé ngược vô sống mũi của ông trượt thẳng lên trán Harry.

“Tụi cháu vô nhà được chứ?”

Harry hỏi.

“Có chuyện tụi cháu muốn hỏi ý bác.”

“Tôi... tôi không chắc là có nên không,” ông Xenophilius thì thào.

Ông nuốt nước miếng và đảo nhanh mắt nhìn quanh vườn.

“Đột ngột quá...

Tôi nói... tôi... tôi e là tôi thực sự nghĩ là tôi không nên...”

“Không mất nhiều thì giờ của bác đâu,” Harry nói, hơi thất vọng về sự tiếp đón hơi-kém-nồng-nhiệt này.

“Tôi...

À, thôi được.

Mời vào, mau.

Mau lên!”

Mấy đứa chỉ vừa bước qua khỏi ngưỡng cửa là ông Xenophilius đóng sập ngay cánh cửa sau lưng.

Tụi nó đứng trong một căn nhà bếp độc đáo nhất Harry chưa từng thấy.

Căn bếp tròn quay, cho nên nó có cảm giác như ở trong một hũ tiêu khổng lồ.

Mọi thứ đều uốn cong để khớp với những bức tường - bếp, chậu, tủ chén - và tất cả đều được tô vẽ hoa lá, côn trùng, chim chóc bằng màu sắc rực rỡ.

Harry nghĩ nó nhận ra phong cách Luna: trong một không gian khép kín như vầy, ấn tượng có hơi bị mạnh quá.

Giữa sàn nhà có một cầu thang xoắn bằng sắt dẫn lên lầu.

Từ bên trên vọng xuống nhiều tiếng loảng xoảng đùng đùng: Harry thắc mắc Luna đang làm gì.

“Các cháu nên lên lầu,” ông Xenophilius nói, vẫn còn có vẻ cực kỳ khó chịu, rồi ông dẫn đường.

Căn phòng trên lầu dường như là sự kết hợp giữa phòng khách và nơi làm việc, và do vậy còn lộn xộn hơn cả nhà bếp.

Mặc dù nhỏ hơn và tròn vành vạnh, căn phòng này có phần nào giống căn Phòng Cần Thiết vào cái lần không thể nào quên khi căn phòng đó tự biến thành một mê cung khổng lồ chứa hàng mấy thế kỷ đồ vật được giấu giếm.

Chỗ nào trong cái phòng này cũng chất chồng hàng đống và hàng đống sách báo.

Từ trên trần thòng xuống những mô hình chế tạo tinh vi mà Harry không nhận ra được, tất cả đều đang vỗ vỗ cánh hay bập bập hàm.

Luna không có mặt ở đó: cái đang gây ra tiếng ồn là một vật bằng gỗ được che kín trong những bánh xe và răng cưa đang quay bằng pháp thuật.

Trông cái đó giống như sản phẩm lai căng kỳ quái giữa một cái bàn thợ mộc với dàn kệ cũ, nhưng chỉ lát sau Harry rút ra được kết luận rằng đó là một cái máy in kiểu cổ lỗ sĩ, nhờ vào dữ kiện là cái vật đó đang tuôn ra những tờ Kẻ Lý Sự.

“Xin lỗi,” ông Xenophilius vừa nói vừa sải dài bước chân tới bên cỗ máy, vớ đại một tấm khăn trải bàn nhớp nháp bên dưới một đống sách báo to đùng, khiến chúng đổ nhào xuống sàn, và quăng tấm khăn trùm lên cái máy in, phần nào hãm bớt tiếng đùng đùng và loảng xoảng.

Bấy giờ ông mới quay lại nhìn Harry.

“Tại sao cháu lại đến đây?”

Nhưng Harry chưa kịp nói điều gì thì Hermione đã khẽ kêu lên sửng sốt.

“Bác Lovegood, cái... cái gì kìa?”

Cô bé chỉ vào một cái sừng xoắn ốc màu xám, bự chảng, không khác sừng kỳ lân cho lắm, đang treo trên bức tường, thò ra phòng cả thước.

“Đó là sừng của con Khụt khịt Sừng nát,” ông Xenophilius nói.

“Không, không phải,” Hermione nói.

“Hermione,” Harry ngượng ngùng, làu bàu.

“Giờ không phải là lúc...”

“Nhưng Harry à, đó là một cái Sừng Nổ!

Nó nằm trong bảng B Vật liệu Có thể Mua bán và là thứ cực kỳ nguy hiểm khi chứa trong nhà!”

“Làm sao bồ biết nó là một cái Sừng Nổ?”

Ron hỏi, nhích ra xa cái sừng nhanh tối đa, trong bối cảnh căn phòng tùm lum đồ đạc như vậy.

“Có mô tả trong cuốn Những Con Thú Hoang Đường Và Nơi Tìm Ra Chúng!

Bác Lovegood, bác cần phải tống khứ cái đó đi ngay, bác không biết là nó có thể nổ khi bị chạm nhẹ vào sao?”

“Khụt khịt Sừng nát,” ông Xenophilius nói từng tiếng rõ ràng, trên mặt lộ ra vẻ ngang bướng, “là một sinh vật nhút nhát có pháp thuật cao cường, và sừng của nó...”

“Bác Lovegood à, cháu nhận ra những dấu ngấn quanh chân sừng, đó là một cái Sừng Nổ và nó cực kỳ nguy hiểm - cháu không biết bác lấy nó ở đâu...”

“Tôi mua nó,” ông Xenophilius nói giọng bướng bỉnh, “cách đây hai tuần, của một anh phù thủy trẻ vui tính biết tôi khoái giống Khụt khịt Tinh tế.

Một món quà Giáng sinh thú vị cho Luna.

Sao,” ông quay lại Harry, “lý do cụ thể nào khiến cậu đến đây, cậu Potter?”

“Tụi cháu cần được giúp đỡ,” Harry nói, trước khi Hermione kịp mở miệng kêu lần nữa.

“A,” ông Xenophilius nói.

“Giúp đỡ hả?”

Con mắt còn tử tế của ông lại hướng vào cái thẹo của Harry.

Ông có vẻ vừa khiếp sợ vừa bị mê hoặc.

“Được.

Vấn đề là... giúp đỡ Harry Potter... hơi nguy hiểm...”

“Chứ không phải bác là người luôn bảo mọi người rằng giúp đỡ Harry là bổn phận đầu tiên của họ sao?”

Ron nói.

“Trong tờ tạp chí của bác đó?”

Ông Xenophilius liếc cái máy in bị trùm kín nằm sau lưng, vẫn còn kêu đùng đùng loảng xoảng dưới tấm khăn trải bàn.

“Ờ... phải, tôi đã bày tỏ quan điểm đó.

Tuy nhiên...”

“Điều đó chỉ để mọi người làm thôi, chứ bản thân bác thì không?”

Ron nói.

Ông Xenophilius không trả lời.

Ông vẫn tiếp tục nuốt nước miếng, con mắt của ông cứ xẹt qua xẹt lại giữa ba đứa tụi nó.

Harry có cảm giác rất rõ là ông đang trải qua một cuộc đấu tranh nội tâm đau đớn.

“Luna đâu?”

Hermione hỏi.

“Để coi bạn ấy nghĩ sao?”

Ông Xenophilius há hốc miệng.

Ông có vẻ như đang tự gồng mình lên.

Cuối cùng ông nói bằng một giọng run run khó mà nghe ra trong tiếng ồn ào của cái máy in.

“Luna đang ở dưới mé suối, câu mấy con Phồng nọc Nước ngọt.

Con bé... con bé sẽ thích gặp các cháu lắm.

Để tôi đi kêu con bé về và rồi...

Ừ, được.

Tôi sẽ cố gắng giúp các cháu.”

Ông biến mất dưới cái cầu thang xoắn và tụi nó nghe tiếng cửa trước mở ra rồi đóng lại.

“Đồ ghẻ già chết nhát,” Ron nói.

“Luna lớn gan gấp mười lần ổng.”

“Có lẽ bác ấy lo lắng tai họa sẽ xảy ra cho họ nếu bọn Tử Thần Thực Tử biết được mình ở đây,” Harry nói.

“Xì, mình đồng ý với Ron,” Hermione nói.

“Lão già đạo đức giả phát tởm, bảo mọi người khác giúp đỡ bồ còn bản thân lão thì chui nhủi như con trùn đất.

Và tốt nhất là nên tránh xa cái sừng đó.”

Harry đi tới cửa sổ ở phía bên kia căn phòng.

Nó có thể nhìn thấy một dòng suối, một dải lụa hẹp lấp lánh nằm xa xa bên dưới ở phía chân ngọn đồi.

Tụi nó đang ở chỗ rất cao; một con chim chấp chới bay ngang qua cửa sổ khi nó đăm đăm nhìn về hướng Hang Sóc, giờ đây đã biến mất bên kia một dãy đồi khác.

Ginny đang ở đâu đó bên kia.

Hai đứa nó bây giờ ở gần nhau hơn cả hồi đám cưới của anh Bill và chị Fleur, nhưng cô bé không thể nào ngờ là lúc này nó đang đăm đắm nhìn về phía cô bé, nghĩ đến cô bé.

Nó nghĩ nó nên vui mừng về điều này; bất cứ ai tiếp xúc với nó đều bị nguy hiểm, thái độ của ông Xenophilius đã chứng tỏ điều đó.

Nó quay lưng lại cửa sổ và ánh mắt đăm chiêu của nó gặp ngay một vật khác thường đặt trên cái tủ chén cong vòng bừa bộn; một bức tượng bán thân bằng đá của một phù thủy xinh đẹp nhưng có-vẻ-chơn-chất đội một cái cái khăn trùm đầu trông-hết-sức-quái-dị.

Hai vật gì giống như ống nghe bằng vàng uốn cong vòng ở hai bên.

Một đôi cánh tí hon óng ánh màu xanh đính vào cái đai da vòng qua đầu bức tượng, đồng thời lại có một củ cải màu cam đính vào cái đai thứ hai vòng quanh trán.

“Coi nè,” Harry nói.

“Ác liệt,” Ron nói.

“Thiệt lạ là ổng không đeo cái đó đi đám cưới.”

Tụi nó nghe tiếng cửa trước đóng lại, và lát sau thì ông Xenophilius trèo lên cái cầu thang xoắn trở vô phòng, chân cẳng ốm nhom của ông lúc này mang giầy ống bằng cao su, tay ông cầm một cái khay đựng mấy cái tách chỏi lỏi đủ kiểu và một bình trà bốc hơi.

“A, cháu đã phát hiện ra cái phát minh đắc ý của tôi hả,” ông nói, đùn cái khay vào cánh tay Hermione và bước tới cạnh Harry bên bức tượng.

“Mẫu mực, vừa vặn, trên đầu của bà Rowens Ravenclaw xinh đẹp, Tri thức vô biên là kho báu vĩ đại nhất của con người!”

Ông chỉ vào món đồ giống như cái ống nghe.

“Mấy cái này là vòi Nổ dẹp - để xua tan mọi nguồn chi phối tâm trí nằm trong khu vực bao quanh người tư duy.

Đây,” ông chỉ vào đôi cánh nhỏ xíu, “cánh quạt Tóc dẻo, nhằm làm trí tuệ thăng hoa.

Cuối cùng,” ông chỉ vào củ cải cam, “trái mận xui khiến, để tăng cường khả năng tiếp nhận điều phi thường.”

Ông Xenophilius sải bước trở lại lấy khay trà mà Hermione đã loay hoay giữ thăng bằng tạm thời trên một trong mấy cái bàn con bừa bộn.

“Cho phép tôi mời các cháu món nước sâm Rễ ọt nhé?”

Ông Xenophilius nói.

“Gia đình tôi tự pha chế đó.”

Khi bắt đầu rót ra chất nước màu tím đậm như nước củ dền, ông nói thêm, “Luna đang ở tuốt bên kia Cầu Đáy, con bé phấn chấn vô cùng khi nghe các cháu ở đây.

Nó sắp về rồi, nó đã bắt gần đủ Phồng nọc để nấu canh cho tất cả chúng ta.

Mời ngồi và tùy ý lấy thêm đường nhé.”

“Sao,” ông dọn một đống sách báo cao ngất nghểu ra khỏi một cái ghế bành và ngồi xuống, vắt tréo đôi chân mang giày ống cao su.

“Tôi có thể giúp được gì cho cháu, Potter?”

“Dạ,” Harry nói, liếc mắt qua Hermione, cô bé gật đầu khích lệ, “về cái biểu tượng mà bác đeo quanh cổ ở đám cưới anh Bill và chị Fleur đó, bác Lovegood.

Tụi cháu thắc mắc về ý nghĩa của nó.”

Ông Xenophilius nhướn mày.

“Có phải cháu đang nói về ký hiệu của những Bảo bối Tử thần không?”
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 21: Chuyện Kể về Ba Anh Em


Chuyện Kể về Ba Anh Em

Harry quay lại nhìn Ron và Hermione.

Có vẻ chẳng đứa nào hiểu điều ông Xenophilius vừa nói.

“Bảo bối Tử thần?”

“Đúng,” ông Xenophilius nói.

“Các cháu chưa từng nghe nói đến chúng sao?

Tôi không ngạc nhiên.

Rất, rất ít phù thủy tin.

Chứng kiến vụ gã thanh niên óc bã đậu ở đám cưới của anh cháu thì biết,” ông gật đầu với Ron, “hắn tấn công tôi vì tôi chưng diện bằng biểu tượng của một phù thủy hắc ám nổi tiếng!

Dốt nát vậy đó.

Các bảo bối chẳng liên quan gì đến hắc ám - ít nhất thì cũng không theo nghĩa thô thiển đó.

Người ta đơn giản dùng biểu tượng này để bộc lộ mình với những người khác có cùng niềm tin, hy vọng họ có thể giúp mình trong cuộc Tìm kiếm.”

Ông khuấy mấy cục đường vô nước sâm Rễ ọt và uống một ngụm.

“Cháu xin lỗi,” Harry nói, “Cháu vẫn không hiểu lắm.”

Để cho phải phép, nó cũng hớp một ngụm sâm trong cái tách của mình và suýt sặc: cái đồ đó thiệt là lợm giọng, như thể người ta pha lỏng viên kẹo mùi ông ba bị của món Kẹo Hạt đậu Đủ vị.

“Thế này, cháu hiểu chứ, những người tin vào Bảo bối Tử thần thì sẽ đi tìm chúng,” ông Xenophilius nói, chép môi để tán dương lộ liễu món sâm Rễ ọt.

“Nhưng Bảo bối Tử thần là cái gì?”

Hermione hỏi.

Ông Xenophilius đặt tách trà của mình sang một bên.

“Tôi nghĩ rằng các cháu đều quen thuộc với Chuyện Kể về Ba Anh Em?”

Harry đáp “Dạ không.”

Nhưng cả Hermione và Ron đều nói “Dạ có”.

Ông XenoPhilius trang trọng gật đầu.

“À, như vậy, cậu Potter à, toàn bộ sự việc bắt đầu với Chuyện Kể về Ba Anh Em...

Tôi có một cuốn đâu đây...”

Ông hờ hững liếc quanh phòng vào mấy đống giấy da và sách, nhưng Hermione nói, “Cháu có một cuốn, thưa bác Lovegood, cháu có nó ngay đây.”

Và cô bé rút từ trong cái túi xách hột cườm nhỏ xíu ra cuốn Những Chuyện Kể của Beedle Người Hát Rong.

“Bản gốc à?”

Ông Xenophilixius cao giọng hỏi, và khi Hermione gật đầu, ông nói.

“Vậy thì sao cháu không đọc lớn lên nhỉ.

Cách tốt nhất để chắc chắn tất cả chúng ta đều hiểu.”

“Ơ... dạ được,” Hermione nói, vẻ lo lắng.

Cô bé mở sách ra và Harry thấy liền cái ký hiệu tụi nó đang tìm hiểu ở ngay đầu trang sách khi Hermione ho khe khẽ rồi bắt đầu đọc.

“Ngày xửa ngày xưa có ba anh em đang đi trên một con đường ngoằn ngoèo vắng vẻ vào lúc chiều hôm...”

“Nửa đêm chứ, má vẫn kể cho tụi này nghe thế,” Ron nói, nó đã duỗi người ra, chéo hai tay ra sau đầu để lắng nghe.

Hermione quắc mắt nhìn nó vẻ khó chịu.

“Xin lỗi, mình chỉ nghĩ chuyện sẽ kinh dị hơn một tí nếu xảy ra vào nửa đêm!”

Ron nói.

“Ừ, bởi vì tụi mình đúng là cần thêm một tí kinh dị trong đời,” Harry nói, trước khi kịp bưng miệng lại.

Ông Xenophilius dường như không quan tâm lắm, nhưng ông bắt đầu nhìn ra bầu trời bên ngoài khung cửa sổ.

“Đọc tiếp đi Hermione.”

“Vừa đúng ba anh em đi tới một dòng sông, sông quá sâu nên không lội được và quá nguy hiểm nên không bơi được.

Tuy nhiên mấy anh em này đều tinh thông pháp thuật, vì vậy họ chỉ cần vẫy cây đũa phép và tạo ra một cây cầu bắc ngang qua dòng nước dữ.

Họ băng qua được nửa cây cầu thì bỗng một cái bóng trùm đầu kín mít chặn đường.

“Và Thần Chết nói với họ...”

“Xin lỗi,” Harry xen ngang, “ nhưng Thần Chết mà nói với họ à?”

“Chuyện cổ tích mà, Harry!”

“À, phải, xin lỗi, đọc tiếp đi.”

“Và Thần Chết nói với họ.

Thần rất tức giận là đã bị phỗng tay trên ba nạn nhân mới, bởi vì khách lữ hành thường sẽ chết đuối dưới dòng sông.

Nhưng Thần Chết gian xảo lắm.

Thần giả bộ chúc mừng ba anh em về pháp thuật của họ, và nói là mỗi người đáng được hưởng một phần thưởng cho sự khôn khéo lách được thần.

“Thế là người anh cả, một kẻ hiếu chiến, hỏi xin một cây đũa phép nhiều quyền phép hơn mọi cây đũa phép trên đời: một cây đũa phép luôn luôn giúp chủ nhân chiến thắng trong những trận đấu tay đôi, một cây đũa phép xứng đáng với một phù thủy đã từng chế ngự Thần Chết!

Thần Chết bèn băng ngang tới một cành cây cơm nguội mọc bên bờ sông, bẻ một cành cây rủ xuống, làm ra một cây đũa phép, và đưa nó cho người anh cả.

“Kế đến là người anh hai, một kẻ ngạo mạn, quyết định phải làm cho Thần Chết bẽ mặt hơn nữa, nên hỏi xin quyền lực gọi những người khác trở về từ cõi chết.

Thần Chết bèn lượm một viên đá bên bờ sông và đưa cho người anh Hai, rồi nói với anh là viên đá đó có quyền năng gọi về những người chết.

“Và rồi Thần Chết hỏi người anh ba và cũng là người em út xem anh ta muốn gì.

Người em út là kẻ khiêm tốn nhất, cũng là người khôn ngoan nhất trong ba anh em, và anh không tin tưởng Thần Chết.

Vì thế anh hỏi xin cái gì mà giúp anh từ đó đi tiếp mà không bị Thần Chết bám theo.

Vô cùng bất đắc dĩ, Thần Chết bèn giao cho anh chính tấm Áo khoác Tàng hình của mình.”

“Thần Chết có một tấm Áo khoác Tàng hình à?”

Harry lại ngắt lời.

“Vậy hắn mới có thể lẻn chộp người ta chứ.”

Ron nói.

“ Thì thỉnh thoảng hắn cũng chán cái trò, rượt theo người ta, vỗ tay đen đét và kêu thét...

ủa, xin lỗi Hermione.”

“Thế rồi Thần Chết đứng qua một bên và cho phép ba anh em tiếp tục cuộc hành trình, và ba anh em vừa đi tiếp vừa chuyện trò trong kinh ngạc về sự táo bạo mà họ đã trải qua, vừa cùng tán thưởng những món quà của Thần Chết.

“Rồi cũng đến lúc mấy anh em chia tay, mỗi người một đích đến riêng.

“Người anh cả tiếp tục cuộc hành trình thêm một tuần lễ nữa, và đến được một ngôi làng xa xôi, tìm ra một tay phù thủy và gây gổ với hắn ta một trận.

Đương nhiên với vũ khí là Cây Đũa phép Cơm nguội, anh cả không thể nào thua trong trận đấu tay đôi sau đó.

Bỏ mặc kẻ thù mình nắm chết trên sàn, người anh cả tiếp tục đi tới một cái quán, ở đó anh ta lớn tiếng khoe khoang về cây đũa phép đầy quyền lực mà anh đã chớp được của chính Thần Chết và cây đũa phép đã khiến anh trở nên vô địch như thế nào.

“Chính ngay trong đêm đó, một phù thủy khác bò tới chỗ người anh cả khi anh nằm say bét nhè trên giường.

Tên trộm ăn cắp cây đũa phép và để đảm bảo an toàn, hắn cắt luôn cổ họng người anh cả.

“Và thế là Thần Chết đã lấy xong mạng người anh cả.

“Trong lúc đó người anh hai lên đường trở về nhà mình, nơi anh sống một mình.

Tại đây anh lấy ra viên đá có quyền phép gọi về người chết và xoay nó ba lần trong tay.

Anh ngạc nhiên và vui sướng biết bao khi hiện ra ngay tức thì trước mặt anh hình bóng người con gái anh đã từng hy vọng kết hôn trước khi nàng chết yểu.

“Nhưng nàng buồn và lạnh, cách biệt anh như thế bị ngăn chia bằng một tấm mạng che.

Mặc dù nàng trở về chốn dương gian, nhưng nàng không thực sự thuộc về thế giới này và nàng buồn khổ.

Cuối cùng người anh hai, phát khùng vì những khao khát vô vọng, đã tự giết mình để được sum vầy với nàng nơi chín suối.

“Và thế là Thần Chết đã lấy mạng người anh hai.

“Nhưng dù đã tìm kiếm người em út suốt nhiều năm trời, Thần Chết vẫn không sao kiếm được anh.

Cuối cùng, chỉ khi đã rất thọ rồi, người em út mới cởi Áo khoác Tàng hình ra và trao nó lại cho con trai mình.

Và lúc đó người em út chào đón Thần Chết như một người bạn cũ, vui vẻ cùng thần ra đi, và cả hai rời khỏi thế gian như hai kẻ đồng đẳng ngang tài.”

Hermione đóng sách lại.

Một lát sau dường như ông Xenophilius mới nhận ra cô bé đã ngừng đọc; lúc đó ông mới thôi nhìn đăm đăm ra cửa sổ và nói, “Ờ, vậy đó.”

“Dạ, sao hở bác?”

Hermione nói, nghe có vẻ lung túng.

“Đó là những bảo bối Tử Thần,” ông Xenophilius nói.

Ông cầm một cây viết lông ngỗng trên cái bàn tùm lum thứ đặt kế bên cùi chỏ ông, và rút ra một tờ giấy da rách giữa mấy cuốn sách.

“Cây Đũa phép Cơm nguội,” ông nói, và vẽ một đường thẳng đứng lên tờ giấy da.

“Viên đá Phục sinh,” ông nói, và vẽ thêm một đường tròn trên đỉnh đường thẳng, “Tấm Áo khoác Tàng Hình,” ông nói nốt, vẽ một hình tam giác bao quanh cả đường thẳng lẫn vòng tròn, để tạo thành cái biểu tượng đã khiến Hermione hết sức tò mò đó.

“Kết hợp lại,” ông nói, “là những Bảo bối Tử thần.”

“Nhưng trong chuyện cổ tích đâu có chỗ nào nói tới mấy chữ ‘Bảo bối Tử thần’ đâu?”

“À, dĩ nhiên là không,” ông Xenophilius ra vẻ cao đạo một cách dễ sùng.

“Đó là chuyện cổ tích cho trẻ con , được kể để giải trí hơn là giáo dục.

Tuy nhiên, những người trong chúng tôi am hiểu về vấn đề này đã nhận ra rằng câu chuyện cổ nói đến ba vật, hay ba Bảo bối, mà nếu hợp lại được chúng sẽ giúp người đó trở thành chủ nhân của Tử Thần.”

Ông Xenophilius liếc nhìn ra cửa sổ trong một thoáng im lặng.

Mặt trời đã xế trên bầu trời.

“Chắc là Luna sắp câu đủ Phồng nọc rồi,” ông khẽ nói.

“Khi bác nói 'chủ nhân của Tử Thần'...”

Ron nói.

“Chủ nhân,” ông Xenophilius nói, phẩy bàn tay trong không khí.

“Người chinh phục.

Kẻ chiến thắng.

Bất cứ thuật ngữ nào cháu thích dùng.”

“Nhưng vậy thì... có phải ý bác nói...”

Hermione thong thả, và Harry biết cô bé đang cố gắng làm cho giọng nói của mình không có chút xíu nghi ngờ nào, “rằng bác tin mấy cái đó... mấy Bảo bối đó... là có thật à?”

Ông Xenophilius lại nhướng mày lên.

“Có chứ, dĩ nhiên.”

“Nhưng,” Hermione nói, và Harry có thể nghe sự kiềm chế của cô bé bắt đầu rạn nứt, “bác Lovegood à, làm sao bác có thể tin...”

“Cô nương à, Luna đã kể với tôi về cô,” ông Xenophilius nói.

“Tôi suy ra cô không đến nỗi không thông minh, nhưng tầm nhìn hạn chế phát ớn luôn.

Hẹp hòi.

Bảo thủ.”

“Có lẽ bồ nên thử đội cái đó coi sao, Hermione” Ron nói, hất đầu về phía cái khăn trùm đầu lố lăng.

Giọng nói run run vì rang nhịn cười.

“Thưa ông Lovegood,” Hermione lại bắt đầu nói, “Chúng ta đều biết có những thứ như Áo khoác Tàng Hình.

Chúng rất hiếm, nhưng chúng có thật.

Còn...”

“À, Bảo bối thứ ba là một tấm Áo khoác Tàng hình thực sự, cô Granger ạ!

Tôi muốn nói là, đó không phải là một tấm áo khoác lữ hành bị ếm bùa Tan Ảo ảnh, hay bị phù phép Thất kinh Hồn vía, hay dệt từ lông Kín Nửa vời, những thứ có thể che giấu người ta lúc đầu nhưng mòn dần theo năm tháng cho đến khi trong veo.

Chúng ta đang nói về một tấm áo khoác thực ra và thực sự khiến cho người mặc mặc hoàn toàn vô hình, bền chắc vĩnh viễn, tạo được sự che giấu không bao giờ đổi và không xuyên thấu nổi, bất chấp có ếm gì lên nó.

Cô đã thấy được bao nhiêu tấm Áo khoác Tàng hình như vậy hả, cô Granger?”

Hermione há miệng toan trả lời, nhưng rồi ngậm miệng trở lại, trông có vẻ bối rối chưa từng thấy.

Cô bé, Harry và Ron cùng đưa mắt nhìn nhau, và Harry biết là tất cả tụi nó đang có cùng chung một suy nghĩ.

Hóa ra tấm áo khoắc y chang cái mà ông Xenophilius vừa miêu tả đang ở trong phòng với tụi nó ngay lúc này.

“Y như lời,” ông Xenophilius nói, như thể ông vừa đánh bại tất cả tụi nó trong cuộc đấu lý.

“Chưa đứa nào trong đám các cháu từng được thấy một tấm áo như vậy.

Người sở hữu tấm áo hẳn là một người cực kỳ giàu đúng không nào?”

Ông lại liếc mắt ra cửa sổ.

Bầu trời bây giờ đã phơn phớt ráng hồng.

“Thôi được,” Hermione bối rối nói.

“Cứ cho là Áo khoác Tàng hình có thật đi... còn viên đá thì sao, thưa bác Lovegood?

Cái mà bác gọi là Viên đá Phục sinh ấy?...”

“Sao là sao?”

“Dạ, làm sao mà chuyện đó có thể có thật chứ?”

“Vậy cứ chứng minh là nó không thật đi.”

Hermione có vẻ nổi sùng.

“Nhưng chuyện đó...

Cháu xin lỗi, nhưng chuyện đó hết sức khôi hài!

Làm sao cháu có thể chứng minh nó không có thật chứ?

Chẳng lẽ bác muốn cháu đi lượm hết... hết tất cả những viên sỏi trên thế gian mà đem ra thử nghiệm?

Ý cháu là, bác có thể tuyên bố bất kỳ cái gì là có thật nếu cơ sở duy nhất để tin vào điều đó chỉ là không ai chứng minh đựơc điều đó không hề có thật sao!”

“Được chứ, có thể lắm chứ,” ông Xenophilius nói.

“Tôi vui mừng thấy cô đã cởi mở đầu óc ra được một tí đấy.”

“Vậy còn cây Đũa phép Cơm nguội,” Harry nói gấp, trước khi Hermione kịp cự cãi.

“Bác cũng cho là nó có thật à?”

“A, đúng trường hợp này thì có vô số bằng chứng,” ông Xenophilius nói.

“Cây Đũa phép Cơm nguội là Bảo bối dễ truy nguyên nhất, do cách thức nó được truyền từ tay người này sang tay người khác.”

“Cách thức như thế nào ạ?”

“Như thế này, người sở hữu cây đũa phép đó phải chiếm đoạt nó từ chủ nhân trước, nếu muốn trở thành chủ nhân đích thực của nó,” ông Xenophilius nói.

“Chắc là cháu từng nghe về cách mà cây đũa phép đến với Egbert Lỗi Lạc, sau khi ông ta tàn sát Emeric Hung Ác?

Hay Godelot đã chết như thế nào trong căn hầm của ông sau khi người con trai là Hereward cướp cây đũa phép của ông?

Hay về Loxias khủng khiếp, kẻ đã giết Baraabas Deverill để lấy cây đũa phép?

Dấu vết máu me của cây Đũa phép Cơm nguội văng tung tóe các trang sử Pháp thuật.”

Harry liếc mắt nhìn Hermione.

Cô bé cau mặt nhìn ông Xenophilius nhưng không tranh cãi với ông nữa.

“Vậy theo bác thì cây đũa phép Cơm nguội bây giờ ở đâu?”

Ron hỏi.

“Trời đất ơi, ai mà biết,” ông Xenophilius nói trong khi nhìn đăm đăm ra cửa sổ.

“Ai mà biết được cây Đũa phép Cơm nguội đang ẩn giấu chỗ nào?

Con đường truyền lưu tắc tị khi tới tay Arcus và Livius.

Ai mà biết được ai trong hai người đó thực sự đánh bại Loxias, và ai đã lấy cây đũa phép?

Và ai có thể nói được kẻ nào có thể đánh bại hai người đó chứ.

Hỡi ơi, lịch sử không nói cho chúng ta biết.”

Im lặng một lúc, cuối cùng Hermione hỏi giọng hơi cứng.

“Bác Lovegood, gia đình Peverel; có liên quan gì đến những Bảo bối Tử thần không?”

Ông Xenophilius có vẻ giật mình trong khi có điều gì đó lướt qua trí nhớ Harry, nhưng nó không nắm bắt kịp.

Peverell... nó từng nghe cái tên này trước đây...

“Vậy mà nãy giờ cô nương xí gạt tôi!”

Ông Xenophilius nói, lúc này đã ngồi khá thẳng lưng trên cái ghế bành và trợn tròn mắt ngó Hermione.

“Tôi cứ tưởng cô là lính mới trong cuộc Tìm kiếm Bảo bối chớ!

Nhiều người tìm kiếm trong chúng ta tin rằng dòng họ Peverell có liên quan hoàn toàn - hoàn toàn - đến những Bảo bối!”

“Dòng họ Peverell là ai?”

Ron hỏi.

“Đó là cái tên trên bia mộ có khắc biểu tượng đó, ở Thung lũng Godric,” Hermione nói, vẫn chăm chú nhìn ông Xenophilius.

“Ignotus Peverell.”

“Đúng chóc!”

ông Xenophilius nói, ngón tay trỏ của ông giơ lên ra cái điều thông thái lắm.

“Dấu hiệu về những Bảo bối Tử thần trên mộ Ignotus là bằng chứng hung hồn!”

“Về chuyện gì?”

Ron hỏi.

“Ủa, thì chuyện ba anh em trong cổ tích đúng là ba anh em nhà Peverell: Antioch, Cadmus và Ignotus.

Họ chính là chủ nhân nguyên thủy của những Bảo bối Tử thần!”

Liếc thêm một cái nữa ra ngoài cửa sổ, ông Xenophilius đứng dậy, và đi về phía cầu thang xoắn.

“Các cháu ở lại ăn tối nha?”

Ông nói vọng lên khi lại một lần nữa biến mất dưới cầu thang.

“Ai ai cũng hỏi xin công thức chế biến món ăn Phồng nọc Nước ngọt của gia đình chúng tôi.”

“Có lẽ để trình cho Phòng Ngộ độc ở bệnh viện Thánh Mungo!”

Ron nói thầm.

Harry chờ đến khi tụi nó có thể nghe tiếng ông Xenophilius đi lại trong nhà bếp dưới lầu rồi mới nói.

“Bồ nghĩ sao?”

Nó hỏi Hermione.

“Ôi, Harry ơi,” cô bé nói vẻ ngao ngán.

“Một đống rác nhảm nhí.

Đây không thể là ý nghĩa thực sự của ký hiệu được.

Đây chỉ là suy diễn kỳ quái của ông ấy mà thôi.

Thiệt là mất thì giờ.”

“Mình nghĩ đây là người đã mang cho tụi mình mấy con Khụt khịt Sừng nát,” Ron nói.

“Bồ cũng không tin hả?”

Harry hỏi Ron.

“Hông, chuyện đó cũng giống mấy cái chuyện cổ tích người ta kể cho trẻ con để dạy tụi nó bài học gì đó, đúng không? ‘Đừng đi gây sự, đừng có đánh nhau, đừng có vọc phá những thứ tốt nhất là cứ để yên!

Chỉ nên cụp mặt xuống, an phận thủ thường, thế là ổn cả.’ Nhưng nghĩ kỹ thì,” Ron nói thêm, “có lẽ chuyện này là lý do khiến cây Đũa phép Cơm nguội bị coi là xúi quẩy.”

“Bồ đang nói chuyện gì vậy?”

“Chẳng phải đó là một trong những điều mê tín dị đoan sao? ‘Sanh tháng năm lấy thằng Muggle,’ ‘Ếm bùa lúc chạng vạng, giải hạn lúc nửa đêm,’ ‘Đũa phép Cơm nguội, chỉ tổ bại xuội’.

Chắc bồ đã từng nghe rồi, má mình có cả kho mấy thứ đó.”

“Harry và mình sinh trưởng trong gia đình Muggle,” Hermione nhắc Ron.

“Tụi này đựơc dạy những dị đoan khác.”

Cô bé thở dài thườn thượt khi một mùi hăng hắc bốc lên từ nhà bếp.

Việc Hermione nổi sùng với ông Xenophilius cũng có cái hay, cô bé dường như quên béng là mình đang giận Ron.

“Mình nghĩ bồ đúng,” Hermione nói với Ron.

“Đó rõ ràng chỉ là một câu chuyện luân lý, dạy ta quà tặng nào là tốt nhất, thứ mà ta nên chọn là...”

Cả ba đứa thốt ra cùng một lúc: nhưng Hermione nói, “tấm Áo khoác Tàng hình”, Ron nói, “cây Đũa phép Cơm nguội,” và Harry nói “Viên đá.”

Tụi nó nhìn nhau, nửa ngạc nhiên, nửa thú vị.

“Đành rằng bồ thể nào cũng nói là tấm Áo khoác Tàng hình,” Ron nói với Hermione, “nhưng bồ đâu cần phải tàng hình nếu đã có cây Đũa phép Cơm nguội.

Một cây đũa phép vô địch Hermione à.”

“Tụi mình đã có tấm Áo khoác Tàng hình rồi,” Harry nói.

“Và hẳn mấy bồ phải nhận ra, nó đã giúp tụi mình thiệt là nhiều!”

Hermione nói.

“Trong khi cây đũa phép chỉ tổ chuốc thêm rắc rối.”

“Chỉ rắc rối khi nào bồ hét toáng lên cho thiên hạ biết về nó,” Ron cãi lại.

“Chỉ khi nào bồ khờ tới mức nhảy nhót lung tung phe phẩy đũa phép trên đầu và hát hò ‘tôi có cây đũa phép vô địch nè, ai tưởng mình ngon thì lại đây thử tài coi’.

Miễn là bồ giữ mồm giữ miệng...”

“...Ừ, vậy bồ có giữ mồm giữ miệng được không?”

Hermione nói, vẻ nghi ngờ.

“Bồ biết đó, ổng nói đúng có một điều duy nhất là từ mấy trăm năm nay đã có những câu chuyện kể về những cây đũa phép quyền năng thượng thừa.”

“Có hả?”

Harry hỏi.

Hermione có vẻ tức điên lên được: cái vẻ giận hờn thân thiết dễ thương đến nỗi Ron và Harry nhe răng cười với nhau.

“Cây Gậy Tử thần, Cây Đũa phép Định mệnh, trải suốt bao thế kỷ chúng nổi lên dưới cái tên này hay tên khác, thường là trong tay một số phù thủy Hắc ám khoác lác về chúng.

Giáo sư Binns có nhắc tới một số cây đũa phép đó, nhưng...

ôi, toàn đồ nhảm nhí.

Đũa phép chỉ tài giỏi cỡ phù thủy sử dụng chúng là cùng.

Một số phù thủy chỉ khoái khoe khoang là cây đũa phép của họ to hơn tốt hơn đũa phép phù thủy khác.”

“Nhưng làm sao bồ biết,” Harry nói, “những cây đũa phép đó - cây Gậy Tử thần, cây Đũa phép Định mệnh - lại không phải là cùng một cây, nổi lên trong suốt bao thế kỷ với những cái tên khác nhau?”

“Nếu tất cả những cây đũa phép đó thực ra chỉ là cây Đũa phép Cơm nguội do Tử thần làm ra thì sao?”

Ron nói.

Harry bật cười: cái ý tưởng lạ lùng mà nó vừa nghĩ đến, xét cho cùng, thiệt khôi hài.

Cây đũa phép của nó, nó tự nhắc mình, cho dù có làm được gì vào cái đêm Voldemort rượt đuổi nó trên trời, thì cũng do ông Ollivander làm ra bằng gỗ nhựa ruồi, chứ không phải bằng gỗ cơm nguội.

Và nếu cây đũa phép đó đã từng bất khả chiến bại, thì là sao lại bị gãy đôi?

“Vậy tại sao bồ lại chọn viên đá?”

Ron hỏi Harry.

“À, nếu mình có thể đem người chết trở về dương gian, mình có thể gặp lại chú Sirius... thầy Mắt Điên... thầy Dumbledore... ba má mình...”

Cả Ron lẫn Hermione đều không mỉm cười.

“Nhưng theo Beedle Người Hát Rong thì họ đâu có muốn trở về, đúng không?”

Harry nói, ngẫm nghĩ về câu chuyện mà tụi nó vừa nghe.

“Mình không nghĩ còn cả đống những câu chuỵên khác về một viên đá có thể dựng người chết dậy, có không há?” nó hỏi Hermione.

“Không” Hermione buồn bã trả lời.

“Mình không tin là có ai khác ngoại trừ ông Lovegood lại tự lừa bản thân là có chuyện đó.

Beedle có lẽ mượn ý tưởng từ Hòn đá Phù thủy; bồ cũng biết đấy, thay vì một hòn đá giúp bồ bất tử, thì là một viên đá đảo ngược cái chết.”

Mùi bốc lên từ nhà bếp càng lúc càng gắt hơn.

Mùi gì giống như mùi quần đùi cháy.

Harry tự hỏi liệu có thể chỉ ăn vừa đủ những thứ ông Xenophilius đang nấu để đừng làm phật ý ông không.

“Nhưng còn tấm Áo khoác Tàng hình thì sao?”

Ron thong thả hỏi.

“Mấy bồ có nhận thấy là ông ấy nói đúng không?

Mình đã quá quen với tấm Áo khoác của Harry và nó tốt đến nỗi mình không hề nghĩ ngợi thắc mắc gì hết.

Mình chưa bao giờ nghe nói đến một cái nào giống như tấm Áo khoác của Harry.

Không thể sai được.

Tụi mình chưa bao giờ bị phát hiện khi mặc nó...”

“Dĩ nhiên là không... tụi mình vô hình khi mặc nó mà Ron!”

“Những tất cả những điều ông ấy nói về những tấm áo khoác là đúng, và đâu chỉ chúng chỉ đáng giá mười cái một Knut!

Trước giờ mình chưa hề gặp nhưng mình cũng nghe những chuyên về những cái áo khoác mất linh dần khi cũ đi, hay áo khoác bị bùa chú xé toạc thành lủng lỗ.

Tấm Áo khoác vốn là của ba Harry, vậy thì nó cũng không hẳn là mới, đúng không, vậy mà nó thiệt là... hoàn hảo!''

“Ừ, cũng đúng, nhưng Ron à, viên đá...”

Trong lúc Ron và Hermione rù rì bàn cãi, Harry đi quanh phòng chỉ lắng nghe có một tai.

Khi đến cầu thang xoắn nó lơ đãng ngước mắt nhìn lên tầng trên nữa và hết hồn ngay.

Gương mặt của chính nó đang nhìn lại nó từ trên trần của căn phòng bên trên.

Sau một lúc hoang mang nó nhận ra cái đó không phải là một tấm gương, mà là một bức tranh.

Tò mò, nó bắt đầu leo lên cầu thang.

“Harry, bồ đang làm gì vậy?

Mình nghĩ bồ không nên dòm ngó quanh quất khi ông ấy không có mặt ở đây!”

Nhưng Harry đã lên tới tầng kế.

Luna đã trang hoàng trần phòng ngủ của cô bé bằng những gương mặt đựơc vẽ một cách xinh xắn: Harry, Ron, Hermione, Ginny va Neville.

Những gương mặt này không di chuyển kiểu những bức chân dung ở trường Hogwarts, nhưng chúng cũng có pháp thuật nào đó kiểu như vậy: Harry nghĩ những gương mặt đó đang thở.

Có một thứ có vẻ như những mắt xích bằng vàng nhuyễn kết quanh mấy bức tranh nối kết chúng lại với nhau, nhưng khi xem xét kỹ chừng một phút, Harry nhận ra, những mắt xích đó thực ra là một từ đựơc viết đi viết lại hàng ngàn lần bằng mực nhũ vàng: bạn... bạn... bạn...

Harry cảm thấy tình thương mến đối với Luna dâng trào.

Nó nhìn quanh căn phòng.

Bên cạnh giường có một tấm hình lớn của cô bé Luna còn nhỏ xíu và một người đàn bà rất giống cô bé.

Hai người trong hình đang ôm ấp nhau.

Luna trong hình ăn mặc coi bộ chải chuốt hơn Luna ngoài đời , mà Harry vẫn thấy.

Tấm hình bám đầy bụi, điều này khiến Harry lấy làm lạ.

Nó chăm chú nhìn quanh.

Có gì đó không ổn.

Tấm thảm xanh nhạt cũng phủ đầy bụi.

Trong tủ quần áo hé mở chẳng thấy có quần áo gì cả.

Giường thì có vẻ lạnh lẽo không hơi người, như thể nhiều tuần rồi chẳng có ai nằm cả.

Một mạng nhện giăng ngang khung cửa sổ gàn nhất trên nền trời màu đỏ như máu.

“Có chuyện gì sao?”

Hermione hỏi khi Harry leo xuống cầu thang xoắn, nhưng nó chưa kịp trả lời thì ông Xenophilius đã từ nhà bếp lên tới đầu cầu thang, tay bưng một cái khay đựng mấy chén canh.

“Bác Lovegood,” Harry nói, “Luna đâu?”

“Cháu nói gì?”

“Luna đâu?”

Ông Xenophilius khựng lại ngay bậc trên cùng của cầu thang.

“Tôi... tôi đã nói với các cháu rồi.

Con bé đang ở dưới Cầu Đáy, câu Phồng nọc.”

“Vậy sao bác chỉ dọn có bốn phần trên cái khay đó?”

Ông Xenophilius cố gắng nói, nhưng chẳng có âm thanh nào được thoát ra.

Tiếng động duy nhất là tiếng xành xạch liên tục của cái máy in, và tiếng lách cách khe khẽ phát ra từ cái khay vì tay ông Xenophilius run lẩy bẩy.

“Cháu cho là Luna đã không ở nhà suốt mấy tuần rồi.”

Harry nói.

“Tủ quần áo của bạn ấy trống trơn, giường của bạn ấy không ai nằm.

Bạn ấy đâu, và tại sao bác cứ ngó chừng ra cửa sổ?”

Ông Xenophilius buông cái khay.

Mấy cái chén rớt xuống và bể tan tành.

Harry, Ron và Hermione rút đũa phép của tụi nó ra.

Ông Xenophilius cứng người, bàn tay của ông sắp thò vào túi áo.

Đúng lúc đó cái máy in nổ một tiếng lớn khủng khiếp và vô số tờ tạp chí Lẻ Lý Sự từ dưới tấm khăn trải bàn tuôn ào ào xuống sàn, cuối cùng cái máy in nín khe.

Hermione cúi xuống và lượm lên một tờ tạp chí, cây đũa phép của cô bé vẫn chĩa vào ông Xenophilius.

“Harry, coi nè.”

Harry sải bước tới bên Hermione hết sức nhanh xuyên qua đám hỗn độn.

Trang nhất Kẻ Lý Sự in hình chính nó kèm theo mấy chữ “Kẻ Gây Rối Số Một” và kèm ghi chú về số tiền thưởng.

“Vậy là Kẻ Lý Sự đang chuyển một bước ngoặt mới hả?”

Harry lạnh lùng hỏi, đầu nó suy tính thiệt nhanh.

“Đó là điều ông đã làm khi ra vườn, phải không, ông Lovegood?

Gởi cú cho Bộ phải không?”

Ông Xenophilius liếm môi.

“Chúng bắt Luna của tôi,” ông thì thào, “vì những điều tôi đã viết.

Chúng bắt Luna của tôi và tôi không biết con bé ở đâu, chúng đã làm gì con bé.

Nhưng chúng có thể trả Luna về cho tôi nếu tôi... nếu tôi...”

“Nộp mạng Harry,” Hermione nói nốt giùm ông ta.

“Đừng hòng,” Ron thẳng thừng nói, “Tránh đường ra, tụi này đi đây.”

Ông Xenophilius trông có vẻ hãi hung, già đi một trăm tuổi, môi ông cong lên thành một cái nhếch mép đểu kinh khủng.

“Chúng tới đây ngay bây giờ, tôi phải cứu Luna.

Tôi không thể mất Luna,” ông ta thì thào.

“Cậu không được đi.”

Ông dang tay ra đứng trước cầu thang, và Harry chợt nhìn thấy hình ảnh của má nó hành động tương tự trước cái nôi của nó.

“Đừng buộc chúng tôi phải xúc phạm ông,” Harry nói, “Tránh ra, ông Lovegood.”

“HARRY!”

Hermione gào to.

Những bóng người cỡi chổi bay xuyên qua khung cửa sổ.

Ngay khi ba đứa tụi nó rời mắt khỏi ông Xenophilius, ông ta rút ngay ra cây đũa phép.

Harry kịp thời nhận ra sai lầm của tụ nó.

Nó lao mình sang một bên, đẩy Ron và Hermione ra khỏi tầm nguy hiểm khi bùa Choáng của ông Xenophilius phóng ngang qua căn phòng đánh trúng cái Sừng Nổ.

Một vụ nổ kinh thiên động địa. m thanh của nó dường như làm tanh bành căn phòng.

Những mảnh vụn của gỗ, giấy và gạch vỡ bay tứ tung, cùng với một đám mây dày đặc bụi trắng.

Harry bay vọt lên không trung rồi rớt đạch xuống sàn, không còn nhìn thấy gì nữa vì xà bần rớt như mưa xuống người, nó phải đưa hai tay lên che đầu.

Nó nghe tiếng Hermione gào, tiếng Ron thét, và một loạt những tiếng ạch đụi trên nền kim loại canh cách chát chúa báo cho nó biết là ông Xenophilius vừa bị văng bật ra và té ngửa xuống cầu thang xoắn.

Nửa người vùi trong đống xà bần, Harry cố gắng tự nhấc người lên.

Nó hầu như không thể thở hay thấy gì vì bụi bặm.

Một nửa trần phòng đã sập xuống và chân giường của Luna thòng xuống qua cái lỗ.

Bức tượng bán thân của bà Rowena Ravenclaw nằm bên cạnh nó bị mẻ hết nửa mặt và mảnh vụ của miếng giấy da bị xé bay lơ lửng trong không gian, và phần lớn cái máy in đã ngã chỏng gọng qua một bên, chắn ngang lối cầu thang từ nhà bếp đi lên.

Lúc đó một cái dáng trăng trắng đi tới gần, và Hermione, bụi trắng phủ kín trông như một bức tượng thứ hai, ép ngón tay lên môi.

Cửa ở tầng dưới bị tông mở ra.

“Tao đã chẳng bảo mày là không cần phải gấp gáp sao, Travers?

Một giọng nói ồ ề vang lên.

“Tao đã chẳng bảo mày là lão cà chớn này chỉ la sảng như mọi khi sao?”

Một tiếng đùng vang lên và một tiếng rú đau đớn phát ra từ ông Xenophilius.

“Không... không... trên lầu...

Potter!”

“Ông đã nói với mày hồi tuần rồi cơ mà, Lovegood, chúng ông không trở lại đây vì bất cứ thông tin vớ vẩn nào nữa!

Mày nhớ tuần trước không?

Khi mày muốn chuộc con gái mày bằng cái khăn trùm đầu máu me ngu xuẩn đó?

Và tuần trước nữa...” một tiếng đùng khác và một tiếng rú khác.

“... khi mày tưởng chúng ông sẽ trả lại con gái cho mày nếu mày đưa ra bằng chứng cho thấy là có con “Khụt Khịt...”

đùng “...Sừng...”

đùng “...Nát?”

“Không... không... tôi van xin các ông!”

ông Xenophilius khóc nức nở.

“Potter thiệt mà!”

“Và bây giờ mày chỉ gọi chúng ông tới đây để thách thức và nổ banh chúng ông hả?”

Tên Tử Thần Thực Tử gầm lên, và rồi một tràng những tiếng đùng đùng xen lẫn tiếng thét đau đớn của ông Xenophilius.

“Chỗ này có vẻ như sắp sập rồi, Selwyn,” giọng nói thứ hai trầm tĩnh vang vọng lên cầu thang xiêu vẹo.

“Cầu thang đã bị chắn hoàn toàn.

Thử dọn quang đi được không nhỉ.

Dám khiến cho chỗ này sập luôn.”

“Đồ nói láo rác rưởi!”

Gã phù thủy tên Selwyn hét.

“Cả đời mày chưa bao giờ nhìn thấy Harry Potter, phải không?

Tưởng dụ dỗ chúng ông đến đây để giết chúng ông hả?

Và mày tưởng làm vậy là có thể đem con gái mày về hả?”

“Tôi thề... tôi thề...

Potter ở trên lầu!”

“Hiện người ra!”

Giọng nói ở chân cầu thang hô thần chú.

Harry nghe tiếng hớp hơi hoảng hốt của Hermione, và nó có cảm giác kỳ cục là có cái gì đó sà xuống đầu nó, bóng của cái đó chùm kín thân thể nó.

“Đúng là có ai đó ở trên lầu, Selwyn à.”

Gã thứ hai đột ngột nói.

“Potter đó, tôi cam đoan với ông đó là Potter.”

Ông Xenophilius thổn thức.

“Làm ơn... làm ơn... trả Luna về với tôi, chỉ cần trả Luna cho tôi...”

“Mày có thể đòi lại đứa con gái của mày, Lovegood,” Selwyn nói, “nếu mày leo lên cái cầu thang đó và đem Harry Potter xuống đây cho ông.

Nhưng nếu đây là một âm mưu, một trò bịp, nếu mày có đồng bọn rình rập trên đó để phục kích chúng ông, chúng ông sẽ để dành một thẻo của con gái mày cho mày chôn.”

Ông Xenophilius rên lên một tiếng sợ sệt và tuyệt vọng.

Rồi vang lên tiếng chân chạy lật đật cùng tiếng ạch đụi, ông Xenophilius đang cố gắng trèo qua đống xà bần trên cầu thang.

“Đi thôi,” Harry thì thầm.

“Tụi mình phải ra khỏi chỗ này.”

'

Nó bắt đầu tự bới mình ra thừa lúc những tiếng động mà ông Xenophilius gây ra trên cầu thang át đi tiếng động nó gây ra.

Ron bị vùi sâu hơn Harry.

Harry và Hermione trèo, hết sức khẽ khàng, lên đống tan hoang chỗ Ron nằm, cố gắng nạy một ngăn tủ ra khỏi chân Ron.

Trong lúc ông Xenophilius đùng đoàng ì ạch trèo lên càng lúc càng gần, Hermione bèn tìm cách giải thoát Ron bằng bùa Nhấc bổng.

“Được rồi,” Hermione thở ra, khi cái máy in bể chắn ngang đầu cầu thang bắt đầu rung rinh.

Ông Xenophilius chỉ còn cách tụi nó có vài bước.

Hermione vẫn còn trắng bệch vì bụi.

“Bồ có tin mình không, Harry?”

Harry gật đầu.

“Vậy thì được,” Hermione thì thầm.

“Đưa mình tấm Áo khoác Tàng hình.

Ron, bồ mặc vô đi.”

“Mình hả?

Nhưng Harry...”

“Làm ơn, Ron!

Harry, nắm chặt tay mình, Ron, nắm chặt vai mình.”

Harry đưa tay trái của nó ra.

Ron biến mất dưới tấm Áo khoác Tàng hình.

Cái máy in đang chặn lối cầu thang rung mạnh.

Ông Xenophilius đang cố dùng bùa Nhấc bổng chuyển cái máy ra chỗ khác.

Harry không biết Hermione còn chờ đợi điều gì.

“Nắm chặt nghe,” cô bé thì thầm.

“Nắm chặt... tích tắc nữa thôi...”

Gương mặt trắng bệch của ông Xenophilius vừa thò ra trên đầu tủ chén.

“Nhớ lung tung!”

Hermione hô lên khi chĩa cây đũa phép của mình vào mặt ông Xenophilius trước, rồi chĩa xuống cái sàn dưới chân tụi nó.

“Lún sâu!”

Cô bé đã làm nổ một lỗ lớn giữa sàn căn phòng khách.

Tụi nó rớt xuống như mấy cục đá.

Harry vẫn nắm chặt tay Hermione để được toàn mạng, bên dưới vang lên tiếng gào thét, và nó thoáng thấy hai gã đàn ông đang cố tránh chỗ khi những khối lượng kếch xù những xà bần và bàn ghế gãy từ tấm trần bể nát rớt xuống ào ào quanh chúng.

Hermione xoay mình giữa không trung và tiếng ngôi nhà sụp đổ vang lên như sấm rền bên tai Harry khi Hermione một lần nữa lôi nó vào cõi tối thui.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 22: Bảo bối Tử thần


Bảo bối Tử thần

Harry té nhào xuống bãi cỏ, thở hổn hển và lồm cồm đứng dậy ngay.

Tụi nó dường như đã trồi lên mặt đất nới góc một cánh đồng lúc hoàng hôn; Hermione đang chạy quanh tụi nó theo một vòng tròn, tay vẫy cây đũa phép.

“Tổng bảo vệ...

Kỵ giải bùa...”

“Lão già gian ác phản bội,” Ron vừa hổn hển nói vừa hiện ra dưới tấm Áo khoác Tàng hình và thảy tấm áo trả cho Harry.

“Hermione, bồ đúng là thiên tài, thiên tài tuyệt đỉnh.

Mình không tin nổi là tụi mình lại thoát được vụ đó.”

“Chắn địch...

Mình đã nói với ông ấy cái đó là Sừng nổ, đã nói rồi.

Và bây giờ thì nhà ông ấy nổ tanh banh!”

“Đáng đời,” Ron vừa nói vừa xem xét ống quần bò rách te tua và mấy vết cắt trên ống chân nó.

“Mấy bồ đoán coi, chúng sẽ làm gì lão ấy?”

“Ôi, mình hy vọng chúng không giết ổng!”

Hermione lầm bầm.

“Vì vật mà mình muốn để cho bọn Tử Thần Thực Tử thoáng thấy Harry trước khi tụi mình bỏ đi, để chúng biết là ông Xenophilius không dối gạt chúng!”

“Nhưng tại sao lại giấu mình đi?”

“Bồ được coi là đang nắm liệt giường vì bệnh đậu rồng mà Ron.

Bọn chúng đã bắt cóc Luna vì ba của bạn ấy ủng hộ Harry!

Nếu chúng biết bồ đang đi cùng Harry thì chuyện gì sẽ xảy ra cho gia đình bồ nào?”

“Nhưng còn ba má bồ thì sao?”

“Họ đang ở Úc,” Hermione nói.

“Họ sẽ không sao đâu.

Họ không biết gì hết.”

“Bồ đúng là thiên tài,” Ron lặp lại, vẻ mặt vừa than phục, vừa ngán sợ.

“Ừ, bồ giỏi thiệt, Hermione,” Harry nhiệt liệt tán thành.

“Mình không biết là tụi này sẽ làm gì nếu không có bồ.”

Cô bé cười toe toét nhưng rồi nghiêm mặt ngay.

“Còn Luna thì sao?”

“Ừ, nếu bọn chúng nói thật và Luna còn sống...”

Ron vừa bắt đầu nói...

“Đừng nói thế, đừng nói điều đó!”

Hermione ré lên.

“Luna bắt buộc còn sống, nó phải còn sống!”

“Vậy thì mình đoán nó sẽ bị tống vô ngục Azkaban,” Ron nói.

“Nhưng liệu nó có sống sót được qua ngục tù đó không... cả đống người không...”

“Sẽ được,” Harry nói.

Nó không thể chịu được việc phải nghĩ đến điều ngược lại.

“Cô bé ấy gan lì lắm, Luna ấy, gan lì hơn bồ tưởng nhiều.

Cô bé có lẽ đang dạy cho tất cả đám bạn tù về Tảo vọt và Ngạ quái.”

“Mình mong là bồ đúng,” Hermione nói, đưa một bàn tay lên che mắt.

“Mình sẽ áy náy cho ông Xenophilius lắm nếu...”

“...nếu ổng không vừa bán đứng tụi mình cho bọn Tử Thần Thực Tử há?”

Ron nói.

Tụi nó dựng lều xong rồi rút lui vô trong, tại đó Ron pha trà cho cả đám.

Sau một phen thoát chết, tụi nó cảm thấy cái lều cũ kỹ mốc meo lạnh lẽo này như một mái nhà: an toàn, quen thuộc, thân thiết.

“Ôi, mắc gì tụi mình lại tới đó chứ?”

Hermione rên rỉ sau vài phút im lặng.

Harry bồ đúng đó, lại một vụ Thung lũng Godric nữa, hoàn toàn uổng phí thì giờ!

Bảo bối Tử thần...

đồ rác rưởi đó... mặc dù thực ra,” một ý tưởng dường như đột ngột nảy ra trong đầu cô bé, “có khi ổng bịa ra tất cả chuỵên đó, biết đâu?

Có lẽ ổng cũng chẳng tin tưởng gì ráo những Bảo bối Tử thần đó, ổng chỉ tán chuyện để cầm chân tụi mình chờ bọn Tử Thần Thực Tử đến mà thôi.”

“Mình không nghĩ như vậy,” Ron nói.

“Bịa chuyện tào lao trong lúc căng thẳng coi vậy mà khó cực kỳ, không như bồ tưởng đâu.

Mình biết điều đó khi bị bọn Mẹ mìn bắt cóc.

Mà giả danh Stan đã là dễ hơn nhiều so với chuyện xạo ra một người hoàn toàn mới toanh, bởi vì mình cũng biết chút đỉnh về hắn.

Lão Xenophilius bị những áp lực nặng nề trong lúc cố gắng cầm chân tụi mình.

Mình cho là lão đã nói với tụi mình sự thật, hay điều mà lão tưởng là sự thật, chỉ để cho tụi mình tiếp tục trò chuyện.”

“Thôi, mình không cho là điều đó quan trọng,” Hermione thở dài.

“Ngay cả nếu như ổng có thành thật, cả đời mình cũng chưa bao giờ từng nghe nhiều chuyện nhảm nhí đến như vậy.”

“Nhưng mà, nghĩ thử coi,” Ron nói, “Phòng chứa Bí mật cũng từng bị coi là huyền thoại, đúng không?”

“Nhưng mấy Bảo bối Tử thần không thể có trên đời, Ron à.”

“Bồ cứ nói như vậy, nhưng một trong ba Bảo bối là có thật đấy chứ,” Ron nói.

“Tấm Áo khoác Tàng hình của Harry...”

“Chuyện Kể về Ba Anh Em chỉ là một câu chuyện,” Hermione nói giọng quả quyết.

“Một câu chuyện về việc con người sợ chết như thế nào.

Nếu việc sống sót chỉ đơn giản là trốn dưới Tấm Áo khoác Tàng Hình thì tụi mình đã có mọi thứ tụi mình cần rồi!”

“Mình không biết, tụi mình có thể có mọi thứ với một cây đũa phép vô địch,” Harry nói, xoay xoay cây đũa phép tầm gai mà nó ghét cay ghét đắng giữa mấy ngón tay.

“Không có cây đũa phép nào như vậy đâu, Harry!”

“Bồ từng nói là có cả đống đũa phép - nào là cây Gậy Tử thần và những tên gọi khác...”

“Thôi được, cho dù bồ muốn tự đánh lừa mình rằng cây Đũa phép Cơm nguội là có thực, nhưng còn Viên đá Phục sinh thì sao?”

Hermione dùng mấy ngón tay làm dấu ngoặc kép khi nói tới tên món Bảo bối, và giọng cô nàng nhão ra giễu cợt.

“Không pháp thuật nào có thể dựng người chết dậy được, thế thôi.”

“Khi cây đũa phép của mình kết nối với cây đũa phép của Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó, nó khiến cho ba má mình hiện ra... và anh Cedric...”

“Nhưng họ đâu có thực sự trở về từ cõi chết, đúng không?”

Hermione nói.

“Những thứ... thứ giông giống và mờ mờ đâu có thực sự làm người nào đó sống lại đâu.”

“Nhưng cô ta, cô gái trong chuyện kể đó, đâu có thực sự sống lại, đúng không?

Câu chuyện nói là một khi chết rồi, người ta thuộc về thế giới người chết.

Nhưng người anh Hai vẫn còn được gặp cô và nói chuyện với cô, đúng không nào?

Người anh hai thậm chí còn sống chung với cô gái một thời gian...”

Harry nhìn thấy vẻ lo lắng và điều gì đó khó xác định trên nét mặt Hermione.

Sau đó, khi cô bé liếc qua Ron, Harry nhận ra đó là nỗi sợ: nó đã làm cho cô bé sợ hãi khi nói đến chuyện sống chung với người chết.

“Vậy là lão Peverell được chôn ở Thung lũng Godric ấy,” nó vội vàng nói, cố gắng tỏ ra tỉnh táo lành mạnh, bồ không biết gì về ông ta sao?”

“Không,” Hermione đáp, tỏ vẻ nhẹ nhõm vì đề tài được thay đổi.

“Mình đã tra cứu về ông ấy sau khi mình thấy dấu hiệu đó trên mộ của ổng; nếu ông ấy là một kẻ nổi tiếng hay có thành tích quan trọng, mình chắc chắn tên ông ấy sẽ có trong những cuốn sách của tụi mình.

Nơi duy nhất mà mình tìm được cái tên ‘Peverell’ là trong cuốn Giới Quý tộc của Thiên nhiên: Một bảng Phả hệ Phù thủy.

Mình đã mượn cuốn đó của Kreacher,” Hermione giải thích khi Ron nhướng mày lên.

“Bảng phả hệ đó liệt kê những gia đình thuần chủng hiện nay đã tuyệt tự bên dòng nam.

Hiển nhiên dòng họ Peverell là một trong những gia đình đầu tiên biến mất.”

“Tuyệt tự bên dòng nam là sao?”

“Tức là cái họ đó đã không còn,” Hermione nói.

“Trong trường hợp dòng họ Peverell thì đã cách đây nhều thế kỷ.

Nhưng họ có thể vẫn còn hậu duệ, chỉ có điều những cháu chắt này mang những cái họ khác.”

Và bỗng nhiên Harry nhìn thấy phần sáng tỏ của sự việc, ký ức của nó đã được khuấy lên nhờ âm thanh cái tên Peverell: một lão già gớm ghiếc huơ huơ chiếc nhẫn trước mặt một viên chức Bộ Pháp Thuật, và nó hét to, “Marvolo Gaunt!”

“Cái gì?” cả Ron và Hermione cùng nói.

“Marvolo Gaunt!

Ông ngoại của Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó!

Trong cái tưởng ký!

Cùng với thầy Dumbledore!

Marvolo Gaunt nói lão là hậu duệ của dòng họ Peverell.”

Ron và Hermione ngơ ngác.

“Chiếc nhẫn, chiến nhẫn mà sau này trở thành một Trường Sinh Linh Giá đó, Marvolo Gaunt nói là trên chiếc nhẫn có gia huy của lão!

Mình thấy lão huơ huơ chiếc nhẫn trước mặt viên chức của Bộ, lão suýt dí chiếc nhẫn vào mũi của viên chức đó!”

“Gia huy dòng họ Peverell hả?”

Hermione hỏi ngay.

“Bồ có thể nhớ nó giống cái gì không?”

“Không chắc lắm,” Harry nói, cố gắng nhớ lại.

“Theo như mình thấy thì nó không có gì đặc biệt trên chiếc nhẫn; có thể chỉ vài vết trầy xước.

Nó bị đập vỡ rồi mình mới thực sự tận mắt nhìn thấy nó.”

Harry nhận thấy Hermione đã hiểu ra khi cô bé mở to hai con mắt.

Ron đang nhìn hết đứa này đến đứa kia, kinh ngạc.

“Mèn ơi... bồ lại nghĩ cũng là ký hiệu này à?

Ký hiệu của những Bảo Bối à?”

“Sao lại không?”

Harry hồi hộp nói.

“Marvolo là một lão già dốt nát, sống như một con heo, chỉ quan tâm tới một thứ trên đời đó là tổ tiên lão.

Nếu chiếc nhẫn đã được gia truyền qua hàng thế kỷ, có khi lão cũng chẳng biết thật sự nó là cái gì.

Trong căn nhà của lão chẳng có một cuốn sách nào hết, và tin mình đi lão ấy không thuộc loại đọc truỵên cổ tích cho con cái nghe đâu.

Lão ấy hẳn là coi những vết trầy xước trên viên đá như một kiểu gia huy, bởi vì lão ấy thì coi việc mang dòng máu thuần chủng là đủ khiến cho lão thuộc dòng máu vương giả.”

“Ừ... tất cả mấy thứ đó đều rất hay,” Hermione dè dặt nói.

“Nhưng Harry nếu bồ nghĩ đúng cái điều mình nghĩ là bồ đang nghĩ...”

“Ừ, sao lại không?

Sao lại không chứ?”

Harry nói, không thèm dè dặt nữa.

“Nó là một viên đá đúng không nào?”

Nó nhìn Ron tìm sự ủng hộ.

“Nếu nó là Viên đá Phục sinh thì sao?”

Miệng Ron há hốc.

“Mèn ơi... nhưng biết nó có còn linh nghiệm không nếu thầy Dumbledore đã đập bể...?”

“Linh nghiệm?

Linh nghiệm hả?

Ron ơi, viên đá đó không hề linh nghiệm!

Chẳng có thứ gì trên đời gọi là Viên đá Phục sinh hết!”

Hermione đứng phắt dậy, tỏ vẻ bực tức và giận dỗi.

“Harry, bồ đang cố khớp mọi thứ vừa với câu chuyện Bảo bối...”

“Khớp mọi thứ cho vừa à?”

Harry lặp lại.

“Hermione à, mọi chuyện tự ăn khớp với nhau đấy chứ!

Mình biết cái ký hiệu Bảo bối Tử thần ở trên viên đá đó!

Gaunt nói lão là hậu duệ của dòng dõi Peverell mà!”

“Mới cách đây một phút bồ còn nói với tụi mình là bồ chưa bao giờ nhìn kỹ dấu hiệu trên viên đá.”

“Bồ cho là viên đá đó bây giờ ở đâu?”

Ron hỏi Harry.

“Thầy Dumbledore làm gì nó sau khi thầy đập bể nó?”

Nhưng trí tửơng tượng của Harry đang phóng tới trước quá nhanh, bỏ xa suy nghĩ của Ron và Hermione...

Ba món đồ hay ba Bảo bối, nếu hợp lại sẽ giúp cho người sở hữu chúng trở thành chủ nhân Tử thần...

Chủ nhân, Người chinh phục...

Kẻ chiến thắng...

Kẻ cuối cùng sẽ bị tiêu diệt là cái chết...

Và nó thấy chính nó, người có những Bảo bối, đang đối đầu với Voldemort, những Trường Sinh Linh Giá của hắn không thể bì được...

Kẻ này không thể sống khi kẻ kia còn tồn tại...

Có phải đây là câu trả lời?

Bảo bối đối lại với Trường Sinh Linh Giá?

Sau rốt, đã có chăng một cách thức để đảm bảo cho nó là kẻ chiến thắng?

Nếu nó là chủ nhân của những Bảo bối Tử thần, liệu nó có an toàn không?

“Harry?”

Nhưng Harry hầu như không nghe tiếng Hermione gọi: Nó đã rút ra tấm Áo khoác Tàng hình và lần mần những ngón tay trên áo, lớp vải mềm mại như nước, nhẹ như không khí.

Suốt gần bảy năm sống trong thế giới pháp thuật, nó chưa từng thấy cái gì so được với tấm áo này.

Tấm Áo khoác Tàng hình giống y chang như ông Xenophilius miêu tả: Một tấm áo khoác thực ra và thực sự khiến cho người mặc hoàn toàn vô hình, bền chắc vĩnh viễn, tạo được sự che giấu không bao giờ đổi và không xuyên thấu nổi, bất chấp có ếm bùa gì lên nó...

Và rồi, há hốc vì kinh ngạc nó nhớ ra...

“Thầy Dumbledore giữ tấm Áo khoác Tàng hình của mình vào cái đêm ba má mình chết!”

Giọng nó run run và nó cảm thấy mặt nó đỏ lên, nhưng nó bất chấp.

“Má mình viết cho chú Sirius là thầy Dumbledore mượn tấm Áo khoác Tàng hình!

Thầy muốn kiểm tra cái áo, bởi vì thầy nghĩ đó là Bảo bối Tử thần thứ ba!

Cụ Ignotus Peverell được chôn ở Thung lũng Godric...”

Harry bước quẩn mò mẫm trong lều, cảm thấy như thể một viễn cảnh vĩ đại mới mẻ của chân lý đang nở rộng chung quanh nó.

“Cụ là tổ tiên của mình.

Mình chính là hậu duệ của người em út!

Chí lý!”

Nó cảm thấy như đựơc trang bị trong sự chắc chắn, trong niềm tin vào những Bảo bối Tử thần, như thể chỉ riêng ý tưởng có được chúng thôi cũng đã bảo vệ được nó, và nó cảm thấy vui sướng khi quay lại hai đứa bạn.

“Harry,” Hermione lại nói, nhưng Harry còn đang bận cởi cái túi bùa đeo quanh cổ nó ra, mấy ngón tay của nó run bần bật.

“Đọc đi,” nó nói với Hermione khi nhét lá thư của má nó vào tay cô bé.

“Đọc đi!

Thầy Dumbledore đã giữ tấm Áo khoác Tàng hình, Hermione à!

Thầy muốn giữ tấm áo vì mục đích nào khác nữa?

Thầy đâu cần một tấm Áo khoác Tàng hình, thầy có thể thực hiện bùa Tan Ảo ảnh hiệu nghiệm đến mức có thể hoàn toàn vô hình mà không cần đến tấm áo mà!”

Một cái gì đó lấp lánh rớt xuống sàn và lăn tròn xuống dưới ghế: Nó đã làm rớt trái banh Snitch khi rút lá thư ra.

Nó cúi xuống để lượm trái banh lên, và thế là dòng suối mới khai ngòi của những phát hiện kỳ diệu lại quăng cho nó một món quà khác, và kích động lẫn kinh ngạc cùng bùng nổ trong con người nó, đến nỗi nó hét lớn.

“NÓ Ở ĐY!”

Thầy để lại cho mình chiếc nhẫn - nó ở trong trái banh Snitch!”

“Bồ... bồ tin vậy hả?”

Nó không hiểu tại sao Ron lại có vẻ giật mình hoảng sợ.

Điều đó quá hiển nhiên, quá rõ ràng đối với Harry: Mọi thứ thật khớp, mọi thứ...

Tấm Áo khoác Tàng hình của nó chính là Bảo bối Tử thần thứ ba, và khi nào khám phá ra được cách mở trái banh Snitch nó sẽ có Bảo bối thứ hai, và lúc đó tất cả điều nó cần làm là tìm ra Bảo bối thứ nhất, cây Đũa phép Cơm nguội, và rồi...

Nhưng rồi như thể một tấm màn buông trùm xuống sân khấu đang sáng đèn: tất cả sự phấn khích của nó, tất cả hy vọng và niềm vui của nó tắt ngấm đột ngột, và nó đứng một mình trong bóng tối, với bùa phép huy hoàng đã tan vỡ.

“Đó là cái mà hắn đang truy lùng.”

Sự thay đổi trong giọng nói của nó khiến Ron và Hermione càng thêm sợ.

“Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đang truy lùng cây Đũa phép Cơm nguội.”

Nó quay lưng lại những bộ mặt căng thẳng hoài nghi của những đứa bạn.

Nó biết đó là sự thật.

Tất cả đều hợp lý.

Không phải Voldemort đang tìm kiếm một cây đũa phép mới.

Hắn đang lùng kiếm một cây đũa phép cũ, đúng ra là một cây đũa phép rất xưa.

Harry đi tới cửa lều, quên cả Ron lẫn Hermione khi nó đứng nhìn ra đếm tối, suy nghĩ...

Voldemort được nuôi dưỡng trong viện mồ côi Muggle.

Khi hắn còn là một đứa bé, không ai có thể kể cho hắn nghe Những chuyện kể của Beedle Người Hát Rong, hắn nghe những chuyện đó cũng chẳng nhiều hơn Harry.

Phù thủy thì lại hiếm có người nào tin vào Bảo bối Tử thần.

Vậy có chắc là Voldemort biết về những Bảo bối này không?

Nó đăm đăm nhìn vào bóng tối...

Nếu Voldemort đã biết về những Bảo bối Tử thần, chắc chắn hắn sẽ lùng kiếm chúng, làm bất cứ điều gì để có chúng: ba Bảo bối sẽ khiến cho người sở hữu trở thành chủ nhân của Tử thần?

Nếu biết về những Bảo bối Tử thần, có lẽ ngay từ đầu hắn đã chẳng cần tạo ra những Trường Sinh Linh Giá.

Chẳng phải cái giữ kiện đơn giản là hắn đã lấy được một Bảo bối Tử thần rồi biến nó thành một Trường Sinh Linh Giá đã cho thấy hắn không biết gì hết về bí mật pháp thuật vĩ đại cuối cùng này hay sao.

Điều này có nghĩa Voldemort đang lùng kiếm cây Đũa phép Cơm nguội mà không nhận thức hết quyền lực trọn vẹn của Bảo bối đó, không hiểu biết rằng đó chỉ là một trong ba...

Dấu vết máu me của cây Đũa phép Cơm nguội văng tung tóe khắp các trang sử pháp thuật...

Harry ngước nhìn bầu trời đầy mây, vài gợn mây màu khói xám và bạc lướt qua mặt trăng màu trắng.

Nó cảm thấy đầu óc lâng lâng vì ngạc nhiên trước những điều nó vừa khám phá.

Harry quay trở vô lều.

Nó giật mình thấy Ron và Hermione vẫn còn đứng đúng y chỗ cũ, Hermione vẫn cầm lá thư của má Lily, Ron đứng bên cạnh cô bé mặt mày hơi lo lắng.

Chẳng lẽ hai đứa nó không nhận ra Harry đã tiến xa được ngần nào trong mấy phút vừa qua sao?

“Đây,” Harry nói, cố gắng hướng hai đứa bạn vào cơn ngất ngây về sự chắc mẻm đáng kinh ngạc của nó.

“Điều này giải thích mọi thứ.

Những Bảo bối Tử thần là có thật và mình đã có một cái... có thể là hai...”

Nó giơ trái banh Snitch lên.

“... và Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đang truy lùng cái thứ ba, nhưng hắn không biết... hắn tưởng đó chỉ là một cây đũa phép hùng mạnh...”

“Harry,” Hermione nói, cô bé đi tới gần nó và đưa trả lại nó lá thư của má Lily.

“Mình rất tiếc, nhưng mình nghĩ bồ đã hiểu sai chuyện này, sai hoàn toàn.”

“Nhưng bồ không hiểu sao?

Hoàn toàn khớp...”

“Không, không khớp,” cô bé nói, chẳng khớp gì cả, Harry à, bồ vừa để cho mình lạc hướng.

Làm ơn,” Hermione nói khi nó toan mở miệng, “làm ơn chỉ trả lời cho mình điều này: Nếu những Bảo bối Tử thần thực sự hiện hữu, và thầy Dumbledore biết về chúng, biết là người có được cả ba cái sẽ là chủ nhân của Tử thần - Harry à, tại sao thầy không nói cho bồ biết?

Tại sao?”

Nó đã có câu trả lời sẵn sàng:

“Nhưng chính bồ đã trả lời mà Hermione!

Bồ phải tự tìm hiểu về chúng!

Đó là cuộc Tìm kiếm!”

“Nhưng mình chỉ nói như vậy để cố thuyết phục bồ đi tới nhà ông Lovegood!”

Hermione kêu lên tức tối.

“Mình đâu có thực lòng tin điều đó.”

Harry phớt lờ.

“Thầy Dumbledore thường để tụi mình tự tìm hiểu sự việc.

Thầy để cho mình thử sức, mạo hiểm.

Chuyện này cảm giác y hệt kiểu thầy vẫn làm.”

“Harry à, đây không phải là một trò chơi, đây không phải là chuyện thực tập!

Đây là việc thật, và thầy Dumbledore để lại những hướng dẫn rõ ràng cho bồ: tìm và diệt những Trường Sinh Linh Giá!

Biểu tượng đó không mang ý nghĩa gì hết, dẹp chuyện Bảo bối Tử thần đi, tụi mình không thể kham nổi cái giá phải trả cho sự lạc hướng đâu...”

Harry hầu như không lắng nghe Hermione.

Nó đang xoay xoay trái banh Snitch trong tay, hơi mong chờ trái banh mở bung ra, để lộ Viên đá Phục sinh, để chứng minh cho Hermione rằng nó đúng, rằng Bảo bối Tử thần là có thật.

Hermione bèn cầu viện Ron.

“Bồ đâu có tin chuỵên này đúng không?”

Harry ngước nhìn lên, Ron ngập ngừng.

“Mình hổng biết...

ý mình là... một số chi tiết đại khái cũng có khớp với nhau,” Ron ấp úng, “nhưng khi nhìn tổng thể...” nó hít sâu một hơi, “mình nghĩ tụi mình có nhiệm vụ tiêu hủy mấy cái Trường Sinh Linh Giá, Harry à.

Đó là điều thầy Dumbledore dặn bảo tụi mình làm.

Có lẽ... có lẽ tụi mình nên dẹp cái vụ Bảo bối Tử thần đi.”

“Cám ơn bồ Ron à,” Hermione nói.

“Mình sẽ trực phiên gác đầu tiên.”

Và cô nàng sải bước ra ngoài ngang qua mặt Harry, ngồi xuống trước cửa lều, chấm dứt một cách quạu đeo.

Nhưng đêm đó Harry hết sức khó ngủ.

Ý tưởng về những Bảo bối Tử thần ám ảnh nó, và nó không thể nào nghi ngờ khi những suy nghĩ phấn khích ấy cứ cuốn xoáy qua đầu óc nó: Cây đũa phép, viên đá, tấm Áo khoác Tàng hình, nếu mà nó có thể có tất cả ba Bảo bối đó...

Ta mở ra lúc kết thúc...

Nhưng kết thúc là gì?

Tại sao nó lại không thể có được viên đá lúc này?

Giá mà có được viên đá nó có thể hỏi chính cụ Dumbledore những câu hỏi này... và Harry thần chú với trái banh Snitch trong bóng tối, thử mọi thứ, kể cả Xà ngữ, nhưng trái banh vẫn không thèm mở ra...

Và cây đũa phép, cây Đũa phép Cơm nguội được giấu ở đâu?

Giờ này Voldemort đang lùng kiếm chỗ nào?

Harry ước gì cái thẹo của nó lại rát bỏng và cho nó biết suy nghĩ của Voldemort, bởi vì có một thứ rất giống nhau...

Hermione không ưa cái ý tưởng đó, dĩ nhiên...

Nhưng mà, cô nàng đâu có tin...

Ông Xenophilius đã nói đúng, về phương diện nào đó...

Tầm nhìn giới hạn, hẹp hòi, bảo thủ.

Sự thật là cô nàng sợ cái ý tưởng về Bảo bối Tử thần, đặc biệt là Viên đá Phục sinh... và Harry lại ấn môi vào trái banh Snitch, hôn nó, suýt nuốt chửng nó, nhưng khối kim loại lạnh lùng vẫn không chịu nhượng bộ...

Lúc trời gần sáng, nó bỗng nhớ tới Luna, một mình trong xà lim ngục Azkaban, bị Giám ngục vây quanh, và nó bỗng nhiên cảm thấy xấu hổ về chính mình.

Nó hoàn toàn quên bẵng mất cô bé trong lúc lên cơn háo hức chiêm nghiệm những Bảo bối Tử thần.

Giá mà bọn nó có thể giải cứu được cô bé, nhưng bọn Giám ngục đông đúc quá gần như không thể tấn công.

Bây giờ nó sực nghĩ tới điều này, nó chưa từng thử gọi Thần hộ mệnh bằng cây đũa phép tầm gai...

Nó phải thử gọi vào buổi sáng...

Giá mà có cách nào đó kiếm được một cây đũa phép tốt hơn...

Và lòng khao khát cây Đũa phép Cơm nguội, cây gậy Tử thần vô địch, bất khả chiến bại, một lần nữa lại nuốt chửng nó...

Tụi nó thu dọn lều vào sáng hôm sau và đi tiếp trong cơn mưa rào thảm não.

Cơn mưa đuổi theo tụi nó đến tận bờ biển, nơi tụi nó dựng lều nghỉ qua đêm đó, và mưa dầm dề suốt cả tuần lễ, dầm dề tưới khắp phong cảnh ướt sũng khiến Harry thấy buồn thảm ngao ngán.

Nó chỉ có thể nghĩ đến những Bảo bối Tử thần.

Dường như ngọn lửa đã được thắp lên bên trong nó và không điều gì có thể dập tắt, dù đó là sự dứt khoát không tin của Hermione hay sự nghi hoặc nhì nhằng của Ron.

Ấy vậy mà lòng ham muốn có những Bảo bối Tử thần càng cháy mãnh liệt trong người nó càng khiến nó kém vui.

Nó đổ thừa Ron và Hermione; thái độ quyết tâm dửng dưng của hai đứa nó cũng tồi tệ không kém cơn mưa tàn nhẫn trong việc làm nhụt chí nó, nhưng cả hai điều đó không thể làm xói mòn niềm tin vững chắc của nó, vốn vẫn tuyệt đối nguyên vẹn.

Niềm tin và lòng khao khát của Harry đối với những Bảo bối Tử thần tiêu hao tâm trí Harry nhiều đến nỗi nó cảm thấy cách biệt với hai đứa kia, cách biệt với cả nỗi ám ảnh Trường Sinh Linh Giá của tụi nó.

“Ám ảnh à?”

Hermione nói nhỏ giọng hung hăng khi Harry xài chữ đó vào một buổi chiều, sau khi Hermione nói thẳng vào mặt nó về cái tội không còn quan tâm đến việc tìm kiếm những Trường Sinh Linh Giá nữa.

“Tụi này không phải là người ôm ám ảnh, Harry à!

Tụi này là người tìm cách làm điều mà thầy Dumbledore muốn tụi này làm!”

Nhưng nó không thấm được lời chỉ trích úp mở đó.

Thầy Dumbledore đã để lại ký hiệu của những Bảo bối Tử thần cho Hermione giải mã, và cụ cũng đã để lại Viên đá Phục Sinh trong trái banh Snitch bằng vàng, nó vẫn tin chắc điều này.

Kẻ này không thể sống nếu kẻ kia tồn tại...

Chủ nhân Tử thần...

Tại sao cả Ron và Hermione đều không hiểu nhỉ?

“Kẻ thù cuối cùng bị tiêu diệt là cái chết,” Harry bình tĩnh trích dẫn.

“Mình tưởng đâu Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó mới là kẻ thù mà tụi mình cần phải chiến đấu chứ?”

Ngay cả bí mật về con hươu cái bạc, đề tài mà hai đứa kia cứ đòi bàn cãi riết, dường như giờ đây cũng kém quan trọng đối với Harry, chỉ là một màn phụ nhạt phèo.

Còn lại duy nhất một điều khác mà nó quan tâm là cái thẹo của nó bắt đầu lâm râm nhức lại, mặc dù nó đã làm mọi cách để giấu hai đứa kia sự kiện này.

Khi cơn đau nhức xảy ra, nó lảng đi một mình, nhưng những gì nó thấy chỉ khiến nó thất vọng.

Những hình ảnh cả nó và Voldemort cùng thấy đã thay đổi chất lượng; chúng trở nên mờ mịt, lúc nét lúc nhòe.

Harry chỉ có thể suy ra những đường nét lờ mờ của một vật giống như cái đầu lâu, và cái gì đó giống như một ngọn núi mà bóng nhiều hơn thực.

Đã quen với những hình ảnh sắc nét như thật, Harry bị rồi loạn vì sự thay đổi này.

Nó lo lắng mối liên kết giữa nó và Voldemort bị hư hỏng, một mối liên kết mà nó vừa sợ vừa quý giá, cho dù nó có nói gì với Hermione đi nữa.

Không biết vì sao Harry lại liên hệ những hình ảnh lu mờ không vừa ý nó với việc cây đũa phép của nó bị gãy, làm như thể nó không còn nhìn thấu đầu óc Voldemort rõ ràng như trước đây là do lỗi của cây đũa phép tầm gai.

Những tuần lễ chậm chạp trôi qua, ngay cả đang chìm đắm trong suy tư, Harry cũng không thể không nhận thấy, Ron dường như đang gánh vai trò lãnh đạo.

Có thể bởi vì nó quyết tâm đoái công chuộc tội đã bỏ nhóm mà đi, cũng có thể vì sự sa xuống tình trạng bơ thờ của Harry đã khơi dậy năng lực lãnh đạo tiềm tàng trong Ron, giờ đây Ron đâm ra là kẻ động viên cổ vũ hai người kia hành động.

“Còn ba cái Trường Sinh Linh Giá nữa,” nó cứ nói hoài.

“Tụi mình cần một kế hoạch hành động, ráng lên!

Còn chỗ nào tụi mình chưa tìm nào?

Thử rà lại một lượt nữa xem.

Viện mồ côi...”

Hẻm Xéo, trường Hogwarts, nhà của dòng họ Riddle, tiệm Borgin và Burkes, nước Albani, mọi nơi mà tụi nó biết Tom Riddle từng sống hay làm việc, đến thăm hay ám sát, Ron và Hermione đều đã rà đi soát lại, Harry chỉ tham gia với tụi nó để Hermione thôi quấy rầy nó.

Đáng ra nó đã được sung sướng ngồi một mình trong im lặng, cố gắng đọc suy nghĩ của Voldemort để tìm hiểu thêm về cây Đũa phép Cơm nguội, nhưng Ron lại cứ khăng khăng đòi lên đường tới những nơi chẳng có triển vọng gì, chẳng qua chỉ để tiếp tục di chuyển, theo như Harry nhận thấy.

“Bồ chẳng bao giờ biết được,” là điệp khúc không đổi của Ron .

“Upper Flagley là một làng phù thủy, hắn có thể muốn sống ở đó.

Tụi mình cứ đi và dò la quanh quất thử coi.”

Những vụ đột nhập thường xuyên vào lãnh địa phù thủy khiến chúng thỉnh thoảng trông thấy bọn Mẹ mìn.

“Một số đứa trong bọn chúng ác không thua bọn Tử Thần Thực Tử,” Ron nói.

“Bọn bắt cóc mình hơi bị sến, nhưng anh Bill cho là một số đứa thực sự nguy hiểm.

Họ nói trên đài Potter cảnh giác...”

“Trên đài gì?”

Harry hỏi.

“Potter cảnh giác, mình chưa nói với mấy bồ đấy là tên gọi của cái đài đó hả?

Chương trình mà mình cứ tìm cách bắt trên đài ấy, chương trình duy nhất đưa tin đúng với sự thật đang diễn ra!

Gần như tất cả các chương trình khác đều đang theo đường lối của Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó, tất cả ngoại trừ Potter cảnh giác, mình thiệt tình muốn bồ nghe chương trình này, nhưng dò tìm ra đài hơi phức tạp...”

Ron dành hết tối này đến tối khác dùng cây đũa phép của nó khỏ lên đầu cái đài làm bật ra nhiều giai điệu khác nhau trong khi cái núm vặn đài xoay tít.

Thỉnh thoảng tụi nó bắt được một đoạn lời khuyên về cách chữa bệnh đậu rồng, và có lần bắt vài nhịp của bài Một Vạc Đầy Tình Nồng.

Trong khi gõ, Ron tiếp tục lẩm bẩm trong miệng những từ hú họa may ra trúng mật khẩu.

“Thường thì mật khẩu là từ gì đó liên quan đến Hội,” Ron nói với tụi nó.

“Anh Bill có biệt tài đoán ra mật khẩu.

Mình chắc chắn cuối cùng cũng sẽ đúng một cái...”

Nhưng đến tận tháng ba vận may mới mỉm cười với Ron.

Harry đang ngồi trực gác ở cửa lều, ngó vu vơ một cụm chồi dạ lan hương vừa nhú lên khỏi mặt đất lạnh cóng, thì từ trong lều Ron hồ hởi hét vang.

“Mình dò ra rồi!

Mình bắt được rồi!

Mật khẩu là ‘Albus’!

Vô đây, Harry!”

Lần đầu tiên trong suốt mấy ngày trầm ngâm về những Bảo bối Tử thần, Harry cảm thấy hào hứng, nó vội đi trở vô trong lều thì thầy Ron và Hermione đều đang quỳ gối trên sàn bên cạnh cái đài nhỏ xíu.

Hermione nãy giờ đánh bóng thanh gươm Gryffindor để có việc mà làm, đang ngồi há hốc miệng, trố mắt nhìn cái loa tí hon, nơi phát ra một giọng nói vô cùng quen thuộc.

“...xin lỗi về việc tạm ngưng phát sóng của chúng tôi, sự cố đó là do các Tử Thần Thực Tử duyên dáng đã tiến hành một số vụ xét nhà trong khu vực của chúng tôi.”

“Nhưng đó là giọng Lee Jordan!”

Hermione nói.

“Mình biết chứ!”

Ron toe toét cười.

“Chịu chơi hén?”

“...bây giờ chúng tôi đã tìm được một nơi an toàn khác,” Lee tiếp, “và tôi sung sướng báo cho quý thính giả biết là có hai cộng tác viên thường xuyên của chúng ta cùng tham dự chương trình tối nay với tôi.

Chào các vị!”

“Chào.”

“Chào anh River.”

“ ‘River’ là Lee,” Ron giải thích.

“Bọn họ đều có bí danh cả, nhưng thường thì bồ có thể phân biệt...”

“Suỵt!”

Hermione nói.

“Nhưng trước khi nghe tin tức từ anh Royal và ông Romulus,” Lee tiếp tục nói, “chúng ta hãy dành thời gian để tường thuật về những cái chết mà hãng tin Mạng Vô Tuyến Phù Thủy và tờ Nhật Báo Tiên Tri cho là không đạt tầm quan trọng để nói tới.

Chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin buồn tới quý thính giả là ông Ted Tonks và ông Dirk Cresswell đã bị sát hại.”

Harry cảm thấy ruột gan chùng xuống, buồn nôn.

Nó, Ron và Hermione trợn mắt nhìn nhau hãi hùng.

“Một yêu tinh tên là Gormuk cũng bị giết.

Một yêu tinh thứ hai và phù thủy gốc Muggle Dean Thomas có thể được coi là đã trốn thoát, cả hai được biết là đã đồng hành cùng với ông Tonks, ông Cresswell và ông Gomuk.

Nếu anh Dean đang nghe tin này, hay bất cứ ai biết anh đang ở đâu, xin báo tin cho ba má và các em gái của Dean, họ đang tuyệt vọng ngóng tin.

“Cùng lúc, ở Gaddley, một gia đình năm người Muggle được phát hiện là đã chết trong căn nhà của họ.

Nhà chức trách Muggle quy cho việc rò rỉ khí đốt là nguyên nhân những cái chết này, nhưng các thành viên Hội Phượng Hoàng thông báo cho chúng tôi rằng những người Muggle đó đã chết vì Lời nguyền Giết chóc - lại thêm bằng chứng nữa, như thể còn chưa đủ ấy, cho việc tàn sát dân Muggle đang trở thành một trò thể thao giải trí đơn thuần dưới chế độ mới.

“Cuối cùng chúng tôi thương tiếc báo tin buồn với quý thính giả là di thể của bà cụ Bathilda Bagshot đã được phát hiện ở Thung lũng Godric.

Chứng cứ cho thấy bà cụ đã chết cách đây nhiều tháng.

Hội Phượng Hoàng cho chúng tôi biết xác của bà cụ có những biểu hiện không nhầm lẫn được của thương tích do Nghệ thuật Hắc ám gây ra.

“Thưa quý thính giả, bây giờ tôi muốn mời quý vị cùng chúng tôi dành một phút mặc niệm cho ông Ted Tonks, ông Dirk Cresswell, bà cụ Bathilda Bagshot, ông Gormuk, và những Muggle tuy vô danh nhưng cũng đáng thương tiếc vô cùng, đã bị bọn Tử Thần Thực Tử sát hại.”

Im lặng chùng xuống, và Harry, Ron cùng Hermione không nói lời nào.

Harry nửa khao khát nghe thêm, nửa sợ hãi điều có thể phải nghe tiếp.

Lần đầu tiên trong suốt một thời gian dài nó cảm thấy được liên hệ trọn vẹn với thể giới bên ngoài.

“Cám ơn quý thính giả,” Lee nói.

“Và bây giờ chúng ta có thể trở lại với cộng tác viên thường xuyên Royal để cập nhật thông tin về cách thức trật tự của thế giới phù thủy ảnh hưởng đến thế giới Muggle.”

“Cám ơn anh River,” một giọng trầm, thận trọng, đáng tin cậy mà tụi nó không thể nhầm lẫn.

“Chú Kingsley!”

Ron hét.

“Biết rôi!”

Hermione nói, suỵt cho Ron im.

“Dân Muggle vẫn không biết nguyên nhân đau khổ của họ khi họ tiếp tục phải chịu đựng thương vong nặng nề,” chú Kingsley nói.

“Tuy nhiên, chúng ta tiếp tục nghe những câu chuyện cảm kích thực sự về những pháp sư và phù thủy đã dám bất chấp sự an nguy của riêng mình để bảo vệ bạn bè và láng giềng Muggle, mà những Muggle thường không hay biết gì cả.

Tôi muốn kêu gọi quý thính giả hãy noi gương họ, có thể bằng cách ếm bùa bảo vệ lên bất cứ cửa nhà Muggle nào trên đường phố của quý vị.

Nếu những biện pháp đó được áp dụng thì có thể cứu được nhiều mạng sống.”

“Và, thưa Royal, anh sẽ nói gì với những khán giả phản ứng rằng trong thời buổi hiểm nghèo này, nên ‘ưu tiên phù thủy’ trước?”

Lee hỏi.

“Tôi cũng phải nói rằng từ ‘ưu tiên phù thủy’ đến ‘ưu tiên thuần chủng’ chỉ có một bước ngắn,” chú Kingsley đáp.

“Chẳng phải tất cả chúng ta đều là con người sao?

Mỗi mạng sống của mỗi con người đều quý giá ngang nhau, và đáng cứu giúp.”

“Câu nói xuất sắc, thưa anh Royal, và tôi xin bầu anh làm Bộ trưởng Bộ Pháp Thuật nếu chúng ta có cơ may qua được cơn loạn lạc này,” Lee nói.

“Và bây giờ đến lượt ông Romulus trong tiết mục quý thính giả yêu thích: Bạn của Potter.”

“Cám ơn River,” một giọng nói khác rất quen thuộc, Ron toan mở miệng nói nhưng Hermione đã hớt lời nó bằng giọng thì thầm.

“Biết là thầy Lupin rồi!”

“Thưa ông Romulus, ông có tiếp tục khẳng định, như mỗi lần ông xuất hiện trong chương trình của chúng tôi, là Harry Potter vẫn còn sống không?”

“Tôi khẳng định,” thầy Lupin nói giọng quả quyết.

“Tôi chắc chắn là nếu Harry Potter chết thì cái chết của cậu ấy sẽ được bọn Tử thần Thực tử quảng bá rùm beng, bởi vì tin đó sẽ giáng một đòn chí mạng vào tinh thần những người đang kháng chiến chống lại chế độ mới. ‘Kẻ Sống Sót’ vẫn còn là biểu tượng cho mọi thứ mà chúng ta đang chiến đấu để đạt được: chiến thắng của điều thiện, sức mạnh của sự lương thiện, và nhu cầu tiếp tục phản kháng.”

Một cảm giác vừa biết ơn vừa xấu hổ trào dâng trong lòng Harry.

Vậy là thầy Lupin đã tha thứ cho nó, về những lời gớm ghiếc mà nó đã nói khi hai người gặp nhau lần cuối cùng?

“Và ông sẽ nói gì với Harry nếu ông biết Harry đang lắng nghe, thưa ông Romulus?”

“Tôi sẽ nói với Harry rằng tất cả chúng ta đều đang nghĩ đến Harry,” thầy Lupin nói, rồi thầy ngập ngừng một tí.

“Và tôi muốn nói Harry hãy cứ làm làm theo bản năng của mình, vốn là thiện căn và gần như luôn đúng.”

Harry nhìn Hermione, đôi mắt cô bé đã ràn rụa nước mắt.

“Gần như luôn đúng,” Hermione lặp lại.

“Ờ, mình chưa nói với mấy bồ hả?”

Ron nói với vẻ ngạc nhiên.

“Anh Bill nói với mình là thầy Lupin đã trở lại sống với cô Tonks!

Và có vẻ bụng cô ấy ngày càng bự thêm một tí...”

“...còn việc cập nhật tin tức thường lệ về những người bạn của Harry Potter, những người đang khốn đốn vì lòng trung thành của mình thì sao thưa ông?”

“À, hình như quý thính giả thường xuyên ắt biết, nhiều người ủng hộ Harry Potter quá bộc trực hiện đang bị bỏ tù, trong số đó có ông Xenophilius Lovegood, nguyên chủ bút của tạp chí Kẻ Lý Sự,” thầy Lupin nói.

“Ít nhất thì ông ta vẫn còn sống!”

Ron thì thầm.

“Chúng ta cũng mới nghe trong vòng vài tiếng đồng hồ vừa qua là ông Rubeus Hagrid...” cả ba đứa tụi nó há hốc miệng, và vì vậy suýt bỏ sót phần còn lại của câu nói, “...người gác cổng nổi tiếng ở trường Hogwarts, đã thoát trong đường tơ kẽ tóc khi bị bắt ngay trong khuôn viên trường Hogwarts, nơi mà nghe đồn rằng ông đã tổ chức một bữa tiệc ‘Ủng hộ Harry Potter’ ngay trong nhà ông.

Tuy nhiên, ông Hagrid không bị giam cầm, và như vậy tức là, theo như chúng tôi tin tưởng, ông đang bôn tẩu.”

“Tôi cho là nếu người ta có một người em cùng mẹ khác cha cao năm thước thì ắt hẳn là thuận lợi trong việc đào tẩu bọn Tử thần Thực tử chứ?”

Lee hỏi.

“Điều đó thường mang lợi thế,” thầy Lupin trang nghiêm đồng ý.

“Cho phép tôi nói thêm là trong khi chúng ta ở đây, trong chương trình Potter cảnh giác, hoan hô tinh thần ông Hagrid, thì chúng tôi khuyên ngay cả những người ủng hộ Harry nhiệt thành nhất cũng chớ nên đi theo vết xe đổ của ông Hagrid.

Những bữa tiệc ‘Ủng hộ Harry Potter’ không phải là điều khôn ngoan trong tình hình hiện nay.”

“Đúng là không khôn ngoan, thưa ông Romulus,” Lee nói.

Vì vậy chúng tôi đề nghị quý thính giả tiếp tục bày tỏ lòng nhiệt thành ủng hộ chàng trai có cái thẹo hình tia chớp bằng cách đón nghe đài Potter cảnh giác!

Và bây giờ chúng ta hãy chuyển qua phần tin tức liên quan đến vị phù thủy đang chứng tỏ anh ta cũng khó chộp như Harry Potter vậy.

Chúng tôi gọi anh là Sếp Tử Thần Thực Tử, và đây là quan điểm của anh về một số tin đồn nhảm nhí lan truyền xung quanh anh, tôi xin giới thiệu một thông tín viên mới: Gặm Nhấm!”

“Gặm Nhấm?”

Thêm một giọng nói quen thuộc nữa, và Harry, Ron, lẫn Hermione cùng kêu lên đồng loạt.

“Anh Fred!”

“Không... là anh George chứ?”

“Mình nghĩ là anh Fred,” Ron nói, chồm tới gần hơn, trong lúc không biết đứa nào trong hai thằng sinh đôi phát biểu.

“Tôi không chịu là ‘Gặm Nhấm’, không đời nào, tôi đã nói với anh tôi muốn là ‘Trường Kiếm’ mà!”

“À, vậy cũng được thôi, thưa anh ‘Trường Kiếm’, xin anh vui lòng cho biết quan điểm của anh về những câu chuyện phong phú đa dạng mà chúng tôi được nghe lâu nay về Sếp Tử Thần Thực Tử?”

“Vâng, thưa anh River, được thôi,” Fred nói.

“Như quý vị thính giả của chúng ta hẳn đã biết, trừ khi họ tị nạn dưới đáy cái ao vườn hay chỗ nào đó giống vậy, còn thì chiến lược ẩn mình trong bóng tối của Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đang tạo ra một không khí hoảng sợ.

Coi chừng nhé, nếu tất cả những hô hoán nhìn thấy hắn đều chân thực, thì chúng ta ắt phải có tới mười chín Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đang chạy nhảy lung tung khắp nơi.”

“Dĩ nhiên điều đó có lợi cho hắn,” chú Kingsley nói.

“Cái vẻ bí ẩn sẽ gây ra nhiều nỗi kinh hoàng hơn là thực sự để lộ chính hắn.”

“Đồng ý!”

Fred nói.

“Vì vậy, bà con à, hãy cố gắng và bình tĩnh lại một ít.

Sự đã đủ sầu rồi không cần phát minh thêm sự nữa.

Thí dụ, cái ý tưởng mới mẻ rằng Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó có thể giết người chỉ bằng một cái liếc mắt.

Thưa quý thình giả, đó là Mãng Xà.

Một thứ đơn giản: kiểm tra xem cái đồ đang trừng mắt ngó mình có chân không.

Nếu nó có chân thì cứ an tâm mà nhìn tiếp vô mắt nó, mặc dù nếu nó đúng là Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó thì rất có triển vọng đây là hành động cuối đời của quý vị.”

Lần đầu tiên trong nhiều tuần lễ triền miên, Harry bật cười ha hả, nó cảm thấy gánh nặng của tình trạng căng thẳng được nhấc khỏi.

“Còn chuyện đồn đại hắn đang ở nước ngoài thì sao?”

Lee hỏi.

“À, ai chả mà chẳng muốn nghỉ ngơi tí xíu sau tất cả những công việc vất vả vừa phải gánh vác hử?”

Fred hỏi.

“Thưa bà con, điểm mấu chốt là đừng để bị ru ngủ trong cảm giác an toàn khi tưởng là hắn đang ở nước ngoài.

Có thể hắn đi vắng, có thể không, nhưng sự thật còn đó và nếu muốn, hắn có thể di chuyển nhanh hơn Severus Snape đối mặt với dầu gội đầu, vì vậy đừng ỷ y là hắn ở cách xa tít tè nếu quý thính giả đang tính chuyện liều mạng.

Xưa nay tôi chẳng đời nào nghĩ mình lại nói cái điều này, nhưng, an toàn là trước nhất!”

“Cám ơn anh nhiều lắm về những lời khôn ngoan này, thưa anh Trường Kiếm,” Lee nói.

“Thưa quý thính giả, đó là những lời mà chúng tôi muốn kết thúc một buổi phát thanh nữa của đài Potter cảnh giác.

Chúng tôi không biết khi nào có thể phát sóng trở lại, nhưng quý thính giả cứ yên tâm là chúng tôi sẽ trở lại.

Cứ xoay hoài cái núm dò đài: mật khẩu kỳ tới là ‘Mắt Điên’.

Hãy giúp nhau bình an: Hãy giữ niềm tin.

Tạm biệt.”

Núm dò đài của cái đài xoay tít và ánh sáng sau thanh tần số tắt lịm.

Harry, Ron và Hermione vẫn còn hớn hở.

Được nghe những giọng nói quen thuộc thân thiết là một liều thuốc bổ siêu phàm; Harry đã quen với sự cô lập của tụi nó đến nỗi gần như quên mất là những người khác cũng đang kháng chiến chống lại Voldemort.

Điều này tựa như đánh thức nó khỏi giấc ngủ dài.

“Hay hén?”

Ron đột ngột nói.

“Ác liệt!”

“Họ thật là can đảm,” Hermione thở dài đầy ngưỡng mộ.

“Nếu mà họ bị phát hiện...”

“Ôi, họ cũng luôn di chuyển mà, đúng không?”

Ron nói.

“Như tụi mình.”

“Nhưng bồ có nghe anh Fred nói gì không?”

Harry háo hức hỏi; bây giờ hết nghe đài rồi, suy nghĩ của nó lại quay về với nỗi ám ảnh làm tiêu hao hết năng lực của nó.

“Hắn đang ở nước ngoài!

Hắn vẫn còn đang truy lung cây đũa phép, mình biết mà!”

“Harry...”

“Thôi đi, Hermione, tại sao bồ khăng khăng không chịu thừa nhận nó?

Vol...”

“HARRY, ĐỪNG!"

“...demort đang truy lung cây Đũa phép Cơm nguội!”

“Cái tên đó bị ếm bùa Cấm kỵ!”

Ron rống lên, đứng bật dậy khi một tiếng nổ cạch vang lên bên ngoài lều.

“Mình đã nói với bồ rồi, tụi mình không thể nói cái tên đó nữa... tụi mình phải ếm lại bùa xung quanh tụi mình... mau lên...

đó là cách bọn chúng tìm ra...”

Nhưng Ron ngừng nói, và Harry biết tại sao.

Cái Kiếng mách lẻo trên bàn đã bật sáng và bắt đầu quay; tụi nó có thể nghe tiếng động càng lúc càng gần: tiếng cộc cằn, cáu tiết.

Ron rút cái Tắt sáng ra khỏi túi và bấm: đèn tắt tối thui.

“Giơ tay lên bước ra khỏi chỗ đó!”

Một giọng gay gắt quát lên trong bóng tối.

“Chúng tao biết bọn bay ở trong đó!

Bọn bay bị nửa tá đũa phép chĩa vào và chúng tao sẽ không bận tâm đứa nào bị chúng tao nguyền!”
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 23: Phủ Malfoy


Phủ Malfoy

Harry ngoái lại nhìn hai đứa kia, lúc này chỉ còn thấp thoáng trong bóng tối.

Nó thấy Hermione chĩa cây đũa phép, không phải hướng ra bên ngoài, mà vào mặt nó; một tiếng nổ đùng, một tia sáng trắng bùng lên, và nó quặp người lại trong đau đớn, không thấy được gì nữa.

Nó cảm nhận được gương mặt nó sưng phù lên nhanh chóng dưới hai bàn tay trong lúc tiếng những bước chân ình ịch vây quanh.

“Đứng dậy, đồ sâu mọi.”

Những bàn tay không biết của ai lôi nó lên khỏi mặt đất, và trước khi nó kịp chặn lại, một đứa trong bọn đã lục túi nó và tước mất cây đũa phép tầm gai.

Harry bưng bộ mặt đau đớn khốc liệt của nó, bộ mặt mà nó nghĩ không thể nào còn nhận ra dưới mấy ngón tay của nó, căng phồng, sưng vù, múp míp như thể vừa trải qua một cơn dị ứng dữ tợn.

Mắt nó đã híp lại thành hai cái khe mà nhìn qua đó nó chẳng thấy gì hết; cặp mắt kiếng đã văng mất khi nó bị lôi tuột ra khỏi lều; nó chỉ còn có thể nhận ra những hình bóng lờ mờ của bốn năm người cũng đang vật lộn lôi Ron và Hermione ra ngoài.

“Buông... cô...

ấy... ra!”

Ron hét.

Rồi có âm thanh không nhầm lẫn được của nắm đấm thụi vô da thịt: Ron nghiến răng đau đớn và Hermione gào: “Không!

Không được đụng đến anh ấy!

Để anh ấy yên!”

“Thằng bồ của mày sẽ còn te tua hơn nữa nếu nó có tên trong danh sách của tao,” giọng nói chát chúa nghe quen một cách hãi hùng, “Gái mỹ miều... sướng phải biết... tao khoái làn da mềm mại...”

Bao tử Harry lộn tùng phèo.

Nó biết tên này là ai, Fenrit Greyback, tên người sói đã được gia ân cho bộ áo chùng Tử Thần Thực Tử để đánh đổi sự tàn ác đâm thuê chém mướn của hắn.

“Lục soát cái lều!”

Một giọng nói khác.

Harry bị quăng sấp xuống đất.

Một tiếng uỵch vang lên báo cho nó biết Ron vừa bị quăng xuống bên cạnh nó.

Tụi nó nghe được tiếng chân và tiếng đập đổ; bọn chúng đang xô đẩy mấy cái ghế trong lều trong lúc lục soát.

“Bây giờ hãy coi chúng ta tóm được ai,” giọng hả hê của Greyback vang trên đầu Harry, và nó bị lật ngửa ra.

Một luồng sáng từ cây đũa phép soi lên mặt nó và Greyback cười phá lên.

“Tao sẽ cần tới bia bơ mới nuốt trôi cái mặt mày.

Mày bị gì hả, thằng gớm kia?”

Harry không trả lời ngay.

“Tao bảo,” Greyback lặp lại, và Harry lãnh một cú thoi vào bụng trên khiến nó đau gấp đôi.

“Mày bị gì hả?”

“Chích,” Harry làu bàu.

“Bị chích.”

“Ờ, có vẻ vậy,” giọng thứ hai nói.

“Họ tên mày là gì?”

Greyback gầm gừ.

“Dudley,” Harry nói.

“Còn tên riêng của mày?”

“Tôi...

Vernon.

Vernon Dudley.”

“Dò danh sách coi, Scabior,” Greyback nói, và Harry nghe hắn bước qua bên hông nó để ngó xuống Ron.

“Còn mày thì sao, thằng tóc hoe?”

“Stan Shunpike,” Ron nói.

“Giỡn mặt hả đồ chết toi,” gã đàn ông tên Scabior nói.

“Chúng tao biết Stan Shunpike, nó là thằng vẽ việc cho chúng tao.”

Một tiếng uỵch nữa.

“Tôi là Bardy,” Ron nói, và Harry có thể đoán miệng Ron hộc đầy máu, “Bardy Weasley.”

“Một thằng Weasley hả?”

Greyback nói giọng the thé.

“Vậy mày có bà con với bọn phản bội huyết thống cho dù mày không phải là một thằng Máu bùn.

Và sau cùng, con bồ nhí xinh đẹp của mày...”

Sự khoái trá trong giọng hắn khiến Harry sởn gai ốc.

“Thong thả, Greyback,” Scabior nói át tiếng cười cợt của những đứa khác.

“Ôi, tao chưa đớp liền mà.

Để coi cô em có nhớ ra tên mình nhanh nhảu hơn thằng Barny không.

Cưng tên gì, ghệ?”

“Penelope Clearwater,” Hermione nói.

Giọng cô bé khiếp sợ, nhưng thuyết phục.

“Tình trạng Huyết thống?”

“Lai,” Hermione nói.

“Kiểm tra dễ thôi,” Scabior nói.

“Nhưng cả bầy chúng nó có vẻ còn trong độ tuổi trường Hogwarts...”

“Tụi tui trốn học,” Ron nói.

“Trốn học hả, tóc hoe?”

Scabior nói.

“Và chúng mày quyết định đi cắm trại hả?

Và chúng mày tưởng để cười giỡn thì cứ kêu tên Chúa tể Hắc ám ra hả?”

“Hông phải cừ dỡn,” Ron nói.

“Kình cờ.”

“Tình cờ hả?”

Thêm nhiều tiếng cười nhạo.

“Mày biết ai trước đây ưa xài tên của Chúa tể Hắc ám không, Weasley?”

Greyback gầm gừ.

“Hội Phượng Hoàng.

Biết là gì không?”

“Hông.”

“Nghe đây, bọn đó không bày tỏ sự tôn kính đúng đắn đối với Chúa tể Hắc ám, cho nên cái tên đã được ếm bùa Cấm kị.

Vài đứa Hội viên đã bị dò ra tông tích nhờ cách đó.

Để coi.

Trói chúng lại với hai thằng tù kia!”

Một tên nào đó nắm tóc Harry lôi mạnh nó dậy, kéo lê nó đi một quãng ngắn, ấn nó xuống tư thế ngồi, rồi bắt đầu trói nó đấu lưng với những người khác.

Harry vẫn gần như mù, hầu như không thế thấy bất cứ cái gì bằng hai con mắt sưng húp.

Khi gã đàn ông trói tụi nó cuối cùng cũng đã bỏ đi, Harry thì thầm với mấy người tù kia.

“Có ai còn giữ được đũa phép không?”

“Không,” Ron và Hermione đáp từ hai bên hông nó.

“Chuyện này hoàn toàn là lỗi của mình.

Mình nói ra cái tên đó.

Mình xin lỗi...”

“Harry?”

Một giọng mới, quen thuộc. và giọng đó phát ra từ ngay sau lưng Harry, từ kẻ bị trói bên trái Hermione.

“Dean hả?”

“Thì ra là bồ!

Nếu bọn chúng biết chúng bắt được ai...!

Chúng là bọn Mẹ mìn, chúng chỉ lùng kiếm những đứa trốn học để bán lấy vàng...”

“Không đến nỗi tệ cho một đêm săn hàng,” Greyback đang nói, khi một cặp đinh đế giày ống dẫm sát bên Harry và tụi nó nghe thêm nhiều tiếng đập đổ từ trong căn lều.

“Một tên Máu bùn, một con yêu tinh đào tẩu, ba đứa trốn học.

Mày kiểm tra tên chúng trong danh sách chưa Scabior?”

Hắn rống lên.

“Rồi.

Trong này không có Vernon Dudley, Greyback à.”

“Hay nhể?”

Greyback nói.

“Đúng là hay.”

Hắn cúi xuống bên cạnh Harry, qua cái khe ti hí giữa hai mí mắt sưng vù, Harry thấy một cái mặt bị râu tóc xám xịt rối bù phủ gần kín, răng nâu xỉn nhọn hoắt, khoé miệng lở loét.

Greyback bốc mùi như hắn đã bốc mùi trên đỉnh tháp nơi cụ Dumbledore đã chết; mùi của bụi bặm, mồ hôi và máu.

“Vậy là mày không bị truy nã hả, Vernon?

Hay là mày nằm trong danh sách dưới một cái tên khác?

Mày ở nhà nào ở trường Hogwarts hả?”

“Slytherin,” Harry đáp như máy.

“Buồn cười thật, bọn nó cứ tưởng chúng ta khoái nghe thế,” Scabior cười nhạo trong bóng tối.

“Nhưng chẳng đứa nào nói được phòng sinh hoạt chung ở đâu.”

“Ở tầng hầm” Harry nói rành mạch.

“Ông đi xuyên qua tường mà vào.

Nó chất đầy đầu lâu và đồ đạc, và nó ở dưới hồ, cho nên ánh sáng màu xanh biếc.”

Bọn chúng nín thinh một lúc.

“Chà chà, có vẻ tụi mình quả thật đã tóm được một thằng nhóc Slytherin,” Scabior nói.

“Phước cho mày đó Vernon, bởi vì đâu có bao nhiêu đứa Slytherin Máu bùn.

Cha mày là ai?”

“Cha tôi làm việc ở Bộ, Sở Tai ương và Tai nạn Pháp thuật” Harry nói láo.

Nó biết là chỉ cần một cuộc điều tra sơ sịa nhất cũng đủ khiến toàn bộ câu chuyện nó xạo ra sụp đổ, nhưng mặt khác nó chỉ xạo được đến khi gương mặt nó phục hồi vẻ bình thường trước khi trò này kết thúc hoặc cách này hoặc cách kia.

“Mày biết gì không Greyback?”

Scabior nói.

“Tao nghĩ là có một tay Dudley trong đó thiệt.”

Harry hầu như nín thở: Liệu may mắn, may mắn đơn thuần, có thể giúp tụi nó an toàn thoát khỏi vụ này không?

“Chà chà,” Greyback nói, và Harry có thể nghe ra tí xíu dấu hiệu bối rối trong giọng nói chai lì đó, nó biết là Greyback đang tự hỏi, liệu có phải hắn quả thực đã tấn công và trói gô con trai của một viên chức Bộ Pháp Thuật không.

Trái tim Harry đang dội bưng bưng vào sợi dây thừng quanh ngực nó; nó sẽ không lấy làm lạ khi biết Greyback có thể nhìn thấu tim nó.

“Nếu mày nói thật, thằng gớm à, thì mày chẳng việc gì sợ một chuyến đi về Bộ Pháp Thuật.

Tao hy vọng cha mày sẽ thưởng cho chúng tao về công lượm mày về.:”

“Nhưng,” Harry nói, miệng nó khô khốc, “nếu ông chịu để tụi tôi...”

“Ê!”

Một tiếng hét vọng ra từ bên trong lều: “Coi nè Greyback!”

Một cái bóng đen thui nhào về phía tụi nó, và trong ánh sáng từ những cây đũa phép của bọn kia, Harry thấy một ánh sáng lấp lánh.

Bọn chúng vừa tìm ra thanh gươm Gryffindor.

“Rấấất đẹp,” Greyback nói giọng ngợi khen khi cầm thanh gươm từ tay gã đồng bọn.

“Ôi quả thật là rất đẹp.

Trông như hàng-yêu-tinh-chế-tạo ấy.

Mày kiếm đâu ra một thứ như vầy?”

“Của ba tôi,” Harry nói láo, hy vọng hão huyền là trời tối quá khiến cho Greyback không thế nhìn thấy cái tên được khắc ngay dưới chuôi gươm.

“Tụi tôi mượn nó để chặt củi...”

“Khoan đã, Greyback!

Nhìn cái này coi, trong tờ Tiên Tri!”

Khi Scabior nói câu đó, cái thẹo của Harry, bị căng hết mức ngang qua vầng trán sưng phù của nó, bỗng nóng rát dã man.

Rõ hơn bất kỳ thứ gì mà nó nhìn được ở chung quanh, nó thấy một toà nhà cao ngất nghểu, một pháo đài âm u, đen hù và xấu tàn khốc; ý nghĩ của Voldemort bỗng nhiên trở nên sắc nét lại; nó đang lướt về phía toà nhà đồ sộ với một cảm giác thành công phơi phới, ung dung...

Gần rồi...

Gần lắm rồi…

Với một nỗ lực hết sức lớn của ý chí, Harry phong bế não mình đối với ý nghĩ của Voldemort, lôi chính nó trở lại nơi nó đang ngồi, bị trói chặt với Ron, Hermione, Dean và Griphook trong bóng tối, lắng nghe Greyback bàn bạc với Scabior.

“Hermione Granger,” Scabior đang nói, “Con Máu bùn được biết đang du hành cùng với Harry Potter.”

Cái thẹo của Harry cháy bỏng trong im lặng, nhưng nó cố gắng hết sức mình để giữ chính mình ở tại chỗ, không trôi tuột vào đầu óc Voldemort.

Nó nghe tiếng giày ống của Greyback nghiến cọt kẹt khi hắn khom mình xuống trước mặt Hermione.

“Cưng biết gì không, ghệ nhỏ?

Cái hình này ngó giống cưng khủng hoảng luôn.”

“Không phải tôi!

Không phải tôi.”

Tiếng rú khiếp đảm của Hermione có giá trị như một lời tự thú.

“...

được biết đang du hành cùng với Harry Potter,” Greyback khẽ lặp lại.

Tình huống trở nên im phăng phắc.

Cái thẹo của Harry đau đớn thấu óc, nhưng nó dốc hết sức mình đấu tranh chống lại sức hút của ý nghĩ Voldemort.

Chưa bao giờ việc trụ lại trong đầu óc của chính mình lại quan trọng như lúc này.

“Chà, vụ này thay đổi mọi thứ, chứ không à?”

Greyback nói khẽ.

Tất cả im lặng: Harry có thể cảm nhận được bọn Mẹ mìn đang sững sờ nhìn nó, và cảm thấy cánh tay Hermione run bần bật bên cạnh nó.

Greyback đứng dậy để đi hai bước tới chỗ Harry ngồi, lại cúi xuống để chăm chú nhìn kỹ nét mặt méo mó của nó.

“Cái gì trên trán mày vậy, Vernon?”

Hắn hỏi nhỏ, hơi thở của hắn xộc vào mũi Harry thúi hoắc khi hắn ấn một ngón tay bẩn thỉu lên cái sẹo bị căng ra.

“Đừng có đụng nó!”

Harry hét, nó không thể nín được; nó nghĩ dám nó phát ói mửa vì cơn đau của cái thẹo.

“Tao tưởng mày đeo kiếng mà Potter?

Greyback thở phì phì.

“Tao đã thấy kiếng!”

Một đứa Mẹ mìn khác thập thò ở phía sau la lên.

“Greyback, trong lều có cặp kiếng, chờ tí...”

Vài giây sau cặp kiếng của Harry được tọng lên mặt nó.

Bọn Mẹ mìn bây giờ xấp tới gần quanh nó và chăm chú nhìn.

“Đúng rồi!”

Greyback kêu lên the thé.

“Chúng ta đã bắt được Potter.”

Tất cả bọn chúng đều thụt lùi nhiều bước, kinh hoàng vì chuyện chúng vừa làm.

Harry, vẫn còn đấu tranh để trụ lại trong cái đầu nhức như búa bổ của chính nó, không thể nghĩ ra điều gì để nói.

Những hình ảnh lụn vụn đang chớp qua đầu nó...

...

Nó đang lướt đi quanh những bức tường cao của pháo đài đen...

Không, nó là Harry, bị trói gô và không có đũa phép, đang cơn hiểm nguy trầm trọng...

... ngước nhìn lên, lên tận cửa sổ trên cùng, tháp cao nhất...

Nó là Harry, và bọn chúng đang lầm rầm bàn cãi về số phận của nó...

...

Đã đến lúc bay...

“...

Tới Bộ Pháp Thuật hả?”

“Bộ cái khỉ khô!”

Greyback gầm gừ.

“Họ sẽ giành hết công lao, và chúng ta sẽ bị dòm ngó.

Tao cho là chúng ta cứ đem nó thẳng đến cho Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó.”

“Mày có thể thỉnh vời ngài hả?

Tại đây à?”

Scabior nói, giọng kinh hoàng, khiếp đảm.

“Không” Greyback gầm gừ.

“Tao chưa có...

Tao nghe nói ngài dùng phủ Malfoy làm căn cứ địa.

Chúng ta sẽ đem thằng nhóc đến đó.”

Harry nghĩ nó biết tại sao Greyback không dám gọi Voldemort.

Gã người sói có thể được phép khoác áo choàng Tử Thần Thực Tử khi chúng muốn xài hắn, nhưng chỉ trong vòng thân cận của Voldemort mới được mang Dấu hiệu Hắc ám; Greyback chưa được ban cho vinh dự tối cao đó.

Cái thẹo của Harry lại nhói lên một cơn đau nữa.

... và nó vươn vào bóng đêm, bay thẳng tới cửa sổ trên đỉnh tháp...

“...

Có hoàn toàn chắc chắn đúng là nó khồng?

Vì nếu mà không đúng thì, Greyback à, chúng ta sẽ chết ngắc.”

“Ai cầm đầu ở đây hả?”

Greyback gầm lên, lấp liếm phút hở sườn của hắn.

“Tao nói đó là Potter, và nó cùng cây đũa phép của nó, đúng hai trăm ngàn Galleon ở đây!

Nhưng nếu bọn mày, tất cả bọn mày, nhát quá không dám chơi tới cùng, thì tao hưởng hết, và nếu may nữa, tao sẽ được liệng cho con ghệ đó!”

...

Cửa sổ chỉ là một cái khe nứt trong đá đen, không đủ rộng cho một người lách vào...

Qua cái khe đó thấy được một hình người khẳng khiu trơ xương, co ro cuộn mình dưới một tấm mền...

Đã chết?

Hay đang ngủ?

“Thôi được!”

Scabior nói.

“Được, bọn tao chơi luôn!

Còn mấy đứa khác thì sao, Greyback, chúng ta làm gì với bọn chúng?”

“Đem hết cả đám đi.

Chúng ta có hai đứa Máu bùn, được thêm mười Galleon nữa.

Đưa cho tao thanh gươm luôn.

Nếu mấy hột này mà là hồng ngọc thì đó là cả một gia tài nho nhỏ đấy.”

Đám tù nhân bị lôi đứng dậy.

Harry nghe được tiếng Hermione thở gấp và sợ sệt.

“Nắm chặt và cột cho chắc.

Tao sẽ lãnh thằng Potter!”

Greyback nói, nắm một chùm tóc của Harry, Harry cảm giác được những móng tay dài vàng khè của kẻ đồng hành quào vô da đầu nó.

“Đếm tới ba!

Một... hai... ba...”

Bọn chúng Độn thổ, kéo theo các tù nhân.

Harry vùng vẫy, cố gắng thoát khỏi bàn tay của Greyback, nhưng chỉ vô vọng; Ron và Hermione bị ép chặt cứng hai bên sườn nó; nó không thể tách ra khỏi nhóm, và khi hơi thở bị vắt ra khỏi người nó, cái thẹo lại nhói lên đau đớn hơn.

... nó ép mình luồn qua khe cửa sổ như một con rắn và đứng xuống sàn nhẹ nhàng như hơi nước bên trong căn phòng giống xà-lim...

Những tù nhân chúi nhủi vào nhau khi cả đám hiện ra trên con đường quê.

Mắt Harry, vẫn còn sưng hum húp, phải mất vài giây để thích nghi, và sau đó nó thấy hai cánh cổng làm bằng sắt đứng ở một nơi có vẻ như cuối một con đường nội bộ.

Nó được hưởng một tí ti thư giãn.

Điều khủng khiếp nhất chưa xảy ra đâu: Voldemort hiện không có mặt nơi đấy.

Hắn đang ở một chỗ xa lạ giống như pháo đài, trên đỉnh một ngọn tháp, Harry biết, vì nó đang đấu tranh chống lại hình ảnh đó.

Việc Voldemort sẽ mất bao lâu thời gian để trở về chỗ này, một khi hắn biết Harry ở đây lại là một chuyện khác.

Một đứa trong bọn Mẹ mìn sải bước tới hai cánh cổng và rung lắc chúng.

“Làm sao chúng ta vô được?

Cổng có khoá, Greyback à, tao không thể...

Úi da!”

Hắn vung mạnh hai tay ra xa.

Cánh cổng tự vặn vẹo uốn éo, từ những đường cong chỗ cuốn trừu tượng biến ra một bộ mặt dễ sợ, cái mặt đó nói bằng một giọng leng keng ngân nga: “Nói rõ mục đích!”

“Tụi này bắt được Potter!”

Greyback gào đắc thắng.

“Tụi này bắt được Potter rồi!”

Cánh cổng mở bung ra.

“Đi thôi!”

Greyback nói với bè lũ của hắn, và đám tù nhân bị lôi qua cánh cổng, đi ngược lên theo con đường nội bộ, giữa hai hàng giậu cao hãm bớt tiếng những bước chân.

Harry thấy một cái bóng trắng ma quái trên đầu nó, và nhận ra đó là một con công bạch tạng.

Nó té nhào xuống và bị Greyback lôi đứng lên, giờ nó lê lết cà nhắc đi ngang kiểu cua còng, bị trói đấu lưng lại với bốn tù nhân khác.

Nhắm con mắt sưng húp lại, nó để cho cơn đau của cái thẹo áp đảo trong chốc lát, vì nó muốn biết Voldemort đang làm gì, liệu hắn có biết là Harry đã bị bắt...

...

Hình thù khẳng khiu cựa mình dưới tấm mền và lăn về phía hắn, mắt mở to trên một cái mặt y như cái đầu lâu...Người đàn ông yếu ớt đó ngồi dậy, con mắt to hũng sâu nhìn chằm chặp vào Voldemort và rồi y mỉm cười.

Răng của y đã mất gần hết...

“Vậy là mi đã đến.

Ta đã nghĩ là có ngày... mi sẽ đến.

Nhưng hành trình của mi vô nghĩa.

Ta không hề có cái đó.”

“Mi nói láo.”

Khi cơn thịnh nộ của Voldemort bừng bừng trong người Harry, cái thẹo của nó nhói lên đau đớn, và nó kéo tâm trí nó về với thân xác nó; đấu tranh để hiện hữu trong thân phận một tên tù bị lôi xềnh xệch trên sỏi đá.

Ánh sáng tràn ra chiếu sáng cả đám.

“Chuyện gì thế?”

Giọng lạnh lùng của một người đàn bà cất lên.

“Chúng tôi đến đây để gặp Đấng-chớ-gọi-tên-ra!”

Greyback the thé đáp lại.

“Mi là ai?”

“Bà biết tôi mà!”

Trong giọng của tên người sói có chút oán hận.

“Fenrit Greyback!

Chúng tôi đã bắt được Harry Potter!”

Greyback túm lấy Harry và lôi nó đến chỗ có ánh sáng chiếu vào mặt, khiến những tù nhân khác cũng bị lê lết theo.

“Thưa bà, tôi biết hắn sưng phù, nhưng mà đúng là hắn.”

Scabior lanh chanh nói vào.

“ Nếu bà ngó kỹ hơn một chút, bà sẽ thấy cái thẹo.

Và đây nữa, thấy đứa con gái không?

Con Máu bùn du hành với hắn đó, thưa bà.

Chắc chắn là hắn rồi.

Và chúng tôi có cả cây đũa phép của hắn nữa!

Thưa bà, đây...”

Qua hai mí mắt sưng bụp Harry thấy Narcissa Malfoy chăm chú dò xét gương mặt sưng vù của nó.

Scabior chìa cây đũa phép tầm gai về phía bà ta.

Bà ta nhướn chân mày lên.

“Đem chúng vào,” bà nói.

Harry và những tù nhân khác bị xô, bị đá lên mấy bậc tam cấp rộng bằng đá để vào hành lang treo đầy những bức chân dung.

“Đi theo ta,” Narcissa nói, dẫn đường băng qua tiền sảnh.

“Draco, con trai ta, đang nghỉ lễ Phục sinh ở nhà.

Nếu đúng là Harry thì cậu sẽ nhận ra.”

Vừa ở ngoài trời tối đi vào nên tụi nó thấy phòng khách sáng choang; ngay cả Harry với đôi mắt gần như nhắm tịt vẫn có thể nhận ra một phần rộng rãi của căn phòng.

Một chùm đèn pha lê treo trên trần, thêm nhiều bức chân dung nữa treo trên những bức tường tím sậm.

Khi bọn Mẹ mìn đẩy các tù nhân vào phòng, hai bóng người đứng lên khỏi mấy cái ghế đặt trước một lò sưởi bằng cẩm thạch được trang trí lộng lẫy.

“Chuyện gì thế?”

Giọng lè nhè nghe quen dễ sợ của Lucius Malfoy lọt vào tai Harry.

Giờ đây nó hoảng hốt.

Nó không thấy có cách nào thoát thân, và khi nỗi sợ hãi dâng cao thì nó dễ ngăn chặn ý nghĩ của Voldemort xâm nhập đầu óc nó hơn, mặc dù cái thẹo vẫn cháy bỏng.

“Chúng nói chúng bắt được Potter,” giọng lạnh lùng của bà Narcissa vang lên.

“Draco lại đây con.”

Harry không dám nhìn thẳng vào Draco, nhưng thấy Draco qua ánh mắt liếc xéo.

Một bóng người hơi cao hơn nó đứng dậy từ ghế bành, gương mặt tai tái và nhòn nhọn bên dưới mái tóc vàng óng ánh bạc.

Greyback lại khiến đám tù nhân xoay vần một phen nữa cho gương mặt Harry trơ ra ngay bên dưới ánh sáng chùm đèn treo.

“Sao, cậu?”

Gã người sói kêu the thé.

Harry đang đối diện với một tấm gương lớn đặt trên bệ lò sưởi, một vật mạ vàng vĩ đại trong một cái khung cuốn phức tạp.

Qua khe hở của con mắt, Harry thấy chính bóng phản chiếu của nó lần đầu tiên kể từ khi rời khỏi Quảng trường Grimmauld.

Mặt nó phù bự, bóng lưỡng, màu hồng, mọi nét riêng đều bị bùa ếm của Hermione biến đổi méo mó.

Mái tóc đen của nó dài tới vai và có một vệt thêm vòng quanh hàm nó.

Nếu nó không biết rằng chính nó là người đứng đó, nó sẽ thắc mắc ai đang đeo cặp mắt kiếng của nó.

Nó quyết định không nói gì hết, bởi vì chắc chắn giọng nói của nó sẽ tố cáo nó, nhưng nó vẫn cố tránh nhìn thẳng vào mắt Draco khi Draco tới gần.

“Sao, Draco?”

Lucius Malfoy nói.

Giọng lão coi bộ ham hố “Đúng không?

Có đúng là Harry Potter không?”

“Con không... con không nói chắc được.”

Draco nói.

Nó tránh xa Greyback và dường như sợ nhìn Harry như chính Harry sợ nhìn nó.

“Nhưng hãy nhìn nó cho kĩ, nhìn đi!

Đến gần hơn!”

Harry chưa bao giờ nghe lão Lucius Malfoy phấn khích đến vậy.

“Draco, nếu chúng ta là người giao nộp Harry Potter cho Chúa tể Hắc ám, mọi chuyện sẽ được tha...”

“À, thưa ông Malfoy, tôi hy vọng chúng ta sẽ không quên ai là người thực sự bắt được nó chứ?”

Greyback nói giọng hăm he.

“Dĩ nhiên không!

Dĩ nhiên không!”

Lão Lucius sốt ruột nói.

Lão đích thân đến gần Harry, gần đến nỗi thậm chí qua đôi mắt sưng húp của nó, Harry vẫn thấy được từng chi tiết rõ rệt trên gương mặt tai tái lừ đừ thường lệ.

Với cái mặt đeo mặt nạ phù, Harry có cảm giác đang chăm chú ngó qua chấn song của một cái chuồng.

“Mi đã làm gì nó?”

Lão Lucius Malfoy hỏi Greyback.

“Làm sao nó ra bộ dạng như vầy?”

“Không phải chúng tôi làm.”

“Ta thấy có vẻ như bị bùa Chích,” lão Lucius nói.

Đôi mắt xám của lão ta săm soi vầng trán Harry.

“Có dấu gì đó trên trán nó,” lão nói khẽ.

“Có thể là cái thẹo bị căng ra…

Draco, con lại đây, nhìn cho kỹ!

Con nghĩ sao?”

Bấy giờ Harry thấy gương mặt của Draco rất gần, ngay bên cạnh gương mặt ba nó.

Hai gương mặt đó cực kỳ giống nhau, ngoại trừ cái điều là mặt người cha thì lộ vẻ phấn khởi không kìm chế nỗi, trong khi mặt người con thì đầy vẻ bất đắc dĩ, thậm chí sợ sệt.

“Con không biết,” Draco nói, và quay bước về về phía lò sưởi nơi má nó đang đứng quan sát.

“Chúng ta nên chắc chắn anh Lucius à,” bà Narcissa nói vọng ra với chồng bằng giọng trong trẻo lạnh băng.

“Phải hoàn toàn chắc chắn đó là Harry Potter trước khi chúng ta thỉnh Chúa tể hắc ám đến…

Chúng nói cái này là của nó…” bà ta đang xem xét cẩn thận cây đũa phép tầm gai, “… nhưng cái này không giống như miêu tả của Ollivander…

Nếu chúng ta nhầm lẫn, nếu chúng ta gọi Chúa tể Hắc ám đến đây chẳng để làm gì…

Còn nhớ ngài đã làm gì Rowle và Dolohov không?”

“Vậy còn tên Máu bùn thì sao?”

Greyback gầm gừ.

Harry suýt ói xuống chân khi bọn Mẹ mìn đẩy đám tù nhân xoay lại một vòng nữa để cho ánh sáng chiếu vào Hermione.

“Khoan,” bà Narcissa đột ngột nói.

“Phải… phải, con bé này là đứa đã vô tiệm Madam Malkin với Potter!

Tôi đã nhìn thấy hình nó trên tờ Nhật báo tiên tri!

Draco, con nhìn xem, chẳng phải là con bé Granger đó sao?”

“Con …có lẽ…ừ.”

“Nhưng này, kia là thằng Weasley!”

Lão Lucius hét, sải bước vòng qua đám tù bị trói gô để nhìn mặt Ron.

“Chính là chúng, mấy đứa bạn của Potter…

Draco, con nhìn thằng này coi, chẳng phải là con trai của Arthur Weasley đây sao, tên nó là gì nhỉ…?”

“Ừ.”

Draco nói, lưng nó quay về phía đám tù nhân.

“Có thể.”

Cửa phòng khác mở ra phía sau Harry.

Một người đàn bà cất lời, và âm thanh giọng nói đó càng xoắn nỗi sợ của Harry lên một nấc cao hơn nữa.

“Chuyện gì thế?

Chuyện gì xảy ra vậy, chị Cissy?”

Bellatrix bước chầm chậm vòng quanh đám tù, và ngừng bước ngay bên phải của Hary, chằm chằm nhìn Hermione bằng đôi mắt tùm hụp của mụ.

“Nhưng chắc chắn,” mụ khẽ nói, “đây là con bé Máu bùn?

Đây là con Granger?”

“Đúng đúng, đó là Granger!”

Lão Lucius kêu lên, “Và chúng tôi cho là bên cạnh nó chính là Potter!

Cuối cùng Potter và bạn bè nó đã bị bắt!”

“Potter hả?”

Bellatrix rít lên, và mụ lùi lại để nhìn Harry cho rõ hơn.”

Anh có chắc không?

Vậy thì, Chúa tể Hắc ám phải được thông báo ngay lập tức!”

Mụ vén cánh tay áo bên trái lên.

Harry nhìn thấy Dấu hiệu Hắc ám ấn sâu vào da thịt mụ, và biết là mụ sắp sờ vào đó, để thỉnh chủ nhân yêu quý của mụ…

“Tôi đã định gọi ngài!”

Lão Lucius nói, và bàn tay lão thực ra đã nắm cổ tay Bellatrix, ngăn mụ chạm vào Dấu hiệu.

“Tôi sẽ thỉnh ngài, Bella à.

Potter được mang đến ngôi nhà của tôi, và do vậy đó là uy tín của tôi…”

“Uy tín của anh hả?”

Mụ khinh khỉnh cười, cố gắng vặn bàn tay ra khỏi cái nắm chặt của lão Lucius.

“Anh đã mất hết uy tín khi anh mất cây đũa phép của anh.

Lucius à!

Anh liều thật!

Buông tay tôi ra!”

“Chuyện này không liên quan gì đến cô, cô đâu có bắt được thằng đó…”

“Xin ông tha lỗi, ông Malfoy,” Greyback xen vào.

“Nhưng chính chúng tôi đã bắt được Potter, và chính chúng tôi sẽ được hưởng số vàng…”

“Vàng!”

Bellatrix cười ngất, vẫn cố gắng hất tay ông anh rể ra.

Bàn tay còn tự do của mụ thọc vô túi áo tìm cây đũa phép.

“Cứ lấy vàng của chúng mày đi đồ móc rác bẩn thỉu, ta muốn vàng để làm gì?

Ta chỉ cần được vinh dự là… là…”

Mụ chợt ngừng vùng vằng, con mắt u ám của mụ chăm chú ngó vào cái gì đó mà Harry không thể thấy.

Mừng thấy Bellatrix nhượng bộ, lão Lucius buông tay mụ ra và vén ống tay áo của chính mình…

“NGỪNG LẠI!”

Bellatrix rít lên, “Không được đụng đến nó, tất cả chúng ta sẽ tiêu tùng nếu Chúa tể Hắc ám đến đây lúc này!”

Lão Lucius sững sờ, ngón tay trỏ của lão ngừng bên trên cái dấu hiệu của lão, Bellatrixx sải bước ra khỏi tầm nhìn của Harry.

“Cái gì đấy?”

Nó nghe mụ nói.

“Thanh gươm,” một đứa Mẹ mìn ở ngoài tầm nhìn của Harry làu bàu.

“Đưa nó cho ta.”

“Nó đâu phải của cô, thưa cô, nó là của tôi, tôi cho là tôi đã tìm được nó.”

Một tiếng nổ đùng và một ánh sáng đỏ nhá lên, Harry biết là đứa Mẹ mìn đó vừa bị đánh choáng, Đồng bọn của đứa Mẹ mìn gầm lên giận dữ.

Scabior rút cây đũa phép của hắn ra.

“Mụ kia, mụ nghĩ mụ đang chơi trò gì hả?”

“Điểm huyệt!”

Bellatrix gào lên.

“Điểm huyệt!”

Bọn Mẹ mìn không đáng mặt đối thủ của mụ, cho dù bọn chúng có bốn đứa chọi một mình mụ.

Bellatrix là một phù thủy, theo như Harry biết, có tài năng siêu phàm và không có lương tri.

Bọn Mẹ mìn té lăn đùng ra taị chỗ trừ Greyback, kẻ đã bị buộc khuỵu xuống tư thế quỳ, hai tay dang ra.

Qua khóe mắt Harry thấy Bellatrix sà xuống gã người sói, tay mụ nắm chặt thanh gươm Gryffindor, gương mặt nhợt nhạt như sáp.

“Mày lấy thanh gươm này ở đâu?”

Mụ thì thào hỏi gã người sói khi tước cây đũa phép ra khỏi bàn tay không còn kháng cự được của hắn.

“Mụ cả gan hả?”

Hắn gầm gừ, miệng hắn là bộ phận duy nhất còn cử động khi hắn bị buộc phải nhìn chòng chọc vào Bellatrix.

Hắn nhe hàm răng nhọn hoắc ra.

“Buông tôi ra, mụ kia!”

“Mày đã tìm thấy thanh gươm này ở đâu?”

Bellatrix lặp lại, dí thanh gươm vào tận mặt Greyback.

“Snape đã gửi nó vào cho hầm an toàn của tao trong nhà băng Gringotts cơ mà!”

“Cái đó ở trong lều của tụi nó,” Greyback kêu the thé.

“Tôi bảo, thả tôi ra!”

Bellatrix vẫy cây đũa phép, và gã người sói đứng bật dậy, nhưng có vẻ quá yếu không thể đến gần mụ.

Hắn núp sau một cái ghế bành, những móng tay cáu bẩn của hắn bấu chặt tấm lưng.

“Draco, dọn đống cặn bã này ra ngoài,” Bellatrix nói, chỉ vào đám Mẹ mìn bất tỉnh “Nếu mày không đủ gan để kết thúc chúng thì cứ bỏ chúng ngoài sân cho tao.”

“Sao em dám nói với Draco như…”

Bà Narcissa giận dữ nói.

Nhưng Bellatrix đã gào lên.

“Im hết!

Tình thế bây giờ trầm trọng hơn chị có thể tưởng tượng chị Cissy à!

Chúng ta đang gặp một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng!”

Mụ đứng, hơi hổn hển, ngó xuống thanh gươm, xem xét chuôi gươm.

Rồi mụ quay qua nhìn đám tù nhân im lặng.

“Nếu đúng là Potter thì không được hại nó,” mụ lầm bầm, tự nói với chính mình hơn là nói với người khác.

“Chúa tể Hắc ám muốn tự ngài thanh toán nó…

Nhưng nếu ngài phát hiện…

Ta phải…

Ta phải biết…”

Mụ lại quay về phía bà chị.

“Lũ tù nhân phải được nhốt xuống hầm rượu trong khi tôi suy nghĩ xem phải làm gì.”

“Đây là nhà của tôi, Bellatrix à, cô đừng có ra lệnh trong nhà của tôi…”

“Làm đi!

Chị không biết gì hết về mối nguy mà chúng ta đang lâm vào đâu!”

Bellatrix rít lên.

Trông mụ thật dễ sợ, điên khùng, một tia lửa phát ra từ cây đũa phép của mụ và đốt cháy thành cái lỗ trên tấm thảm.

Bà Narcissa ngập ngừng một thoáng rồi nói với lão người sói.

“Đem bọn tù xuống hầm rượu, Greyback.”

“Khoan.”

Bellatrix đột ngột nói.

“Cả bọn ngoại trừ…ngoại trừ con Máu bùn.”

Greyback phát ra tiếng làu bàu khoái trá.

“Không!”

Ron hét.

“Mụ có thể bắt tôi, giữ tôi nè!”

Bellatrix đánh tạt vô mặt nó: một tiếng nổ vang khắp phòng.

“Nếu nó chết khi hỏi cung, tao sẽ tra tới mày,” mụ nói.

“Tao tính sổ đồ phản bội huyết thống sau bọn Máu bùn.

Đem chúng xuống hầm, Greyback, và phải chắc chắn là chúng được giam kỹ, nhưng đừng làm gì chúng.

Khoan làm.”

Mụ liệng trả cây đũa phép cho Greyback, rồi rút ra một con dao bạc dưới áo chùng của mụ.

Mụ cắt dây tách Hermione ra khỏi đám tù nhân, rồi nắm tóc kéo cô bé ra giữa phòng, trong khi Greyback kéo đám tù nhân còn lại lê lết qua một cánh cửa khác, vào một hành lang tối thui…

“Chắc mụ sẽ cho tao hưởng sái con ghệ đó khi mụ xong chuyện với nó há?”

Greyback ngâm nga trong khi tống tụi nó đi dọc hành lang.

“Tao dám cá tao sẽ được một hai miếng, mày muốn không, thằng tóc hoe?”

Harry cảm thấy được là Ron đang giận run.

Tụi nó bị tống xuống một cầu thang dốc…

Ở chân cầu thang là một cánh cửa nặng nề.

Greyback mở khóa cửa bằng một cái khỏ cây đũa phép của hắn, rồi tống tụi nó vô một căn phòng ẩm ướt mốc meo, xong bỏ tụi nó lại trong bóng tối hoàn toàn.

Tiếng ầm của cánh cửa hầm bị đóng mạnh vang vọng chưa dứt thì một tiếng rú khủng khiếp kéo dài vang lên ngay phái trên đầu tụi nó…

“HERMIONE!”

Ron rống lên, và nó bắt đầu quằn mình vật lộn với sợi dây thừng trói tụi nó lại với nhau khiến Harry loạng choạng.

“HERMIONE!”

“Im lặng!”

Harry nói, “Nín đi.

Ron.

Tụi mình cần tìm ra một giải pháp...”

“HERMIONE!

HERMIONE!”

“Tụi mình cần một kế hoạch, đừng gào thét nữa... tụi mình phải cởi mấy sợi dây thừng này ra...”

“Harry?”

Một giọng thì thầm vang lên trong bóng tối.

“Ron?

Có phải anh đó không?”

Ron ngừng hét.

Có tiếng động của sự di chuyển gần bên tụi nó, rồi Harry thấy một cái bóng đến gần hơn.

“Harry?

Ron?”

“Luna hả?”

“Ừ, em đây!

Ôi không, em không muốn anh bị bắt!”

“Luna, em giúp tụi này cởi mấy sợi dây thừng này ra được không?”

Harry nói.

“Ôi được, em hy vọng được...Có một cây đinh cũ mà tụi này xài khi cần cắt đục bất cứ thứ gì... chờ một chút nghe...”

Hermione lại rú lên một lần nữa trên đầu tụi nó, và tụi nó cũng nghe được cả tiếng gào của Bellatrix, nhưng lời mụ ta nói thì không thể nghe được, bởi vì Ron lại rống lên lần nữa.

“HERMIONE!

HERMIONE!”

“Ông Ollivander ơi?”

Harry nghe Luna nói.

“Ông Ollivander ơi, ông có giữ cây đinh không?

Ông làm ơn nhích qua một tí... con nghĩ là nó ở bên cạnh cái bình nước...”

Ngay sau đó cô bé trở lại.

“Các anh sẽ phải ngồi yên,” cô bé nói.

Harry có thể cảm thấy cô bé đang đục vào những thớ sợi dai chắc của sợi dây thừng để tháo nút ra.

Tụi nó nghe tiếng Bellatrix quát ở tầng trên.

“Tao hỏi mày một lần nữa!

Mày lấy thanh gươm này ở đâu?

Ở đâu?”

“Chúng tôi lượm được nó... chúng tôi lượm được nó...

LÀM ƠN!”

Hermione lại rú lên; Ron vật vã dữ tợn hơn, và cây đinh sét đâm trượt cổ tay Harry.

“Anh Ron, làm ơn yên nào” Luna thì thầm “Em không thể thấy cái em đang làm...”

“Trong cái túi của anh!”

Ron nói.

“Trong túi của anh có một cái Tắt sáng, và nó đang chứa đầy ánh sáng.”

Vài giây sau, một tiếng bấm nhỏ vang lên, và những trái cầu phát sáng mà cái Tắt sáng đã hút từ những bóng đèn trong lều bay lên nóc hầm: không thể nhập trở lại với những bóng đèn gốc, chúng đành lơ lửng ở đó, giống như những mặt trời tí hon, tuôn ánh sáng tràn ngập căn phòng dưới lòng đất.

Harry nhìn thấy Luna, tất cả mọi con mắt đều tập trung vào gương mặt trắng bệch của cô bé, và hình dạng bất động của ông Ollivander người chế tạo đũa phép đang nằm co ro trên sàn trong một góc.

Ngoái cổ lại.

Harry thấy mấy người bạn tù: Dean và yêu tinh Griphook, con yêu tinh có vẻ như bất tỉnh, còn đứng được nhờ sợi dây thừng trói nó với mấy người khác.

“Ôi, như vầy dễ hơn nhiều, cám ơn nha anh Ron,” Luna nói, và bắt đầu đục sợi dây trói tụi Harry một lần nữa.

“Chào anh Dean!”

Từ bên trên vọng xuống tiếng Bellatrix:

“Mày nói láo, đồ Máu bùn bẩn thỉu, và tao biết mày!

Mày đã vô hầm an toàn của tao trong nhà băng Gringotts!

Thú thật đi, thú thật!”

Một tiếng rú kinh hồn nữa...

“HERMIONE!”

“Mày đã lấy gì khác nữa?

Mày còn lấy gì khác nữa hả?

Nói thật cho tao biết, nếu không, tao thề sẽ lóc thịt mày bằng con dao này.”

“Được rồi!”

Harry cảm thấy sợi dây thừng rớt xuống, nó xoa cổ tay và quay lại thì thấy Ron đang chạy quanh căn hầm, ngước nhìn trần hầm thấp, rồi lùng tìm cửa hầm.

Dean, mặt mày bầm giập, bê bết máu, nói “Cám ơn” với Luna và đứng đó run lập cập, nhưng Griphook ngã lăn quay xuống sàn hầm, có vẻ ngất ngư, ngơ ngáo, gương mặt đen đúa của y đầy vết sưng giập.

Ron đang cố gắng Độn thổ mà không cần đũa phép.

“Anh Ron à, anh không có cách nào thoát ra đâu,” Luna nói khi nhìn những cố gắng không hiệu quả của Ron.

“Cái hầm này hoàn toàn chống-thoát.

Lúc đầu em đã thử.

Ông Ollivander ở đây cũng hơi lâu rồi, và ông đã thử mọi cách.”

Hermione lại rú lên: tiếng rú xuyên vào Harry như một cơn đau thể xác.

Hầu như không còn cảm giác về sự nhức nhối của cái thẹo nữa, Harry cũng bắt đầu chạy quanh căn hầm, rờ rẫm mấy bức tường mà không biết để làm gì, bởi vì tận đáy lòng nó biết là sẽ chẳng làm được tích sự gì.

“Mày còn lấy gì nữa, gì nữa hả?

TRẢ LỜI TAO!

CỰC HÌNH!”

Những tiếng rú của Hermione vang ra ngoài những bức tường ở tầng trên, Ron vừa khóc vừa dộng nắm tay vào bức tường, và Harry trong cơn tuyệt vọng đã nắm cái túi bùa của bác Hagrid tặng mà nó đeo quanh cổ và lục lọi trong đó: nó lôi ra trái banh Snitch của cụ Dumbledore và lắc lắc cái đó, hy vọng cái điều mà nó không biết là điều gì – chẳng có gì xảy ra – nó vẫy cây đũa phép phượng hoàng gãy đôi của nó, nhưng hai mẩu gãy không còn sự sống - mảnh gương vỡ rớt xuống sàn lấp lánh, và nó thấy một ánh xanh sáng nhất...

Con mắt của cụ Dumbledore trong mảnh gương đăm đăm nhìn nó.

“Cứu tụi con!”

Nó hét vào mảnh gương vỡ trong nỗi tuyệt vọng điên cuồng.

“Tụi con đang ở trong hầm rượu phủ Malfoy, giúp tụi con với!”

Con mắt chớp chớp rồi biến mất.

Harry thậm chí cũng không dám chắc là con mắt lúc nãy có thực sự hiện ra trong gương hay không.

Nó xoay mảnh gương vỡ theo chiều này rồi nghiêng qua chiều kia, và không thấy gì phản chiếu trong gương ngoài những bức tường và tấm trần của cái hầm tù đang giam tụi nó, và ở tầng trên Hermione đang rú lên thảm thiết hơn trước nữa, và bên cạnh nó Ron cũng đang rống lên.

“HERMIONE!

HERMIONE!”

“Làm sao mày vô được hầm an toàn của tao hả?”

Tụi nó nghe Bellatrix gào.

“Có phải con yêu tinh nhớp nhúa dưới hầm rượu giúp mày không?”

“Chúng tôi chỉ mới gặp ông ấy hồi tối!”

Hermione thổn thức nói.

“Chúng tôi chưa từng vô hầm an toàn của bà...

Đó không phải là thanh gươm thật!

Đó chỉ là bản sao, chỉ là đồ nhái mà thôi!”

“Đồ nhái hả?”

Bellatrix rít lên.

“Ôi, chuyện có vẻ thật nhỉ!”

“Nhưng chúng ta có thể dễ dàng tìm ra!”

Giọng lão Lucius vang lên.

“Draco, đem con yêu tinh lên đây, hắn có thể nói cho chúng ta thanh gươm này là thật hay giả!”

Harry xẹt ngang qua căn hầm đến chỗ Griphook đang nằm rũ trên sàn.

“Griphook,” nó thì thầm vào cái tai nhọn hoắt của tên yêu tinh, “ông phải nói với họ thanh gươm là đồ giả, không được cho họ biết đấy là thanh gươm thật, ông làm ơn nghe ông Griphook...”

Nó nghe thấy tiếng ai đó đang vội vã đi xuống cầu thang hầm rượu; ngay sau đó, giọng run run của Draco vang lên sau cánh cửa.

“Đứng lùi lại.

Sắp thành hàng sát tường trong cùng.

Đừng cố làm gì cả, nếu không tôi sẽ giết các người!”

Tụi nó làm theo lệnh, khi ổ khoá vặn mở, Ron bấm cái Tắt sáng và ánh sáng chui tọt trở vô cái túi nó, trả bóng tối lại cho căn hầm.

Cánh cửa mở tung, Malfoy bước vào, đũa phép giơ ra trước mặt, nhợt nhạt và cương quyết.

Nó nắm cánh tay con yêu tinh rồi lùa trở ra, kéo Griphook theo.

Cánh cửa đóng sầm lại và cùng lúc đó một tiếng nổ đùng rất lớn vang vọng bên trong căn hầm.

Ron bấm cái Tắt sáng.

Ba trái cầu ánh sáng lại từ túi nó bay ra không trung, soi tỏ con gia tinh Dobby vừa Độn thổ hiện ra giữa căn hầm.

“DOB…!”

Harry đập cánh tay Ron để ngăn nó hét toáng lên, và Ron có vẻ kinh hoàng về lỗi lầm của nó.

Tiếng chân bước băng ngang phía trên trần hầm: Draco đang giải Griphook đến cho Bellatrix.

Hai con mắt lộ to tổ bố như hai trái banh lông của Dobby mở trừng trừng; nó đang tin từ chân lên tận chóp nhọn của đôi tai.

Nó đang trở về ngôi nhà của chính những chủ nhân cũ, và rõ ràng là nó đang sợ chết điếng.

“Harry Potter,” Dobby nói bằng giọng the thé run run cực nhỏ, “Dobby đến cứu cậu.”

“Nhưng làm sao bạn...”

Một tiếng rú khủng khiếp nhấn chìm tiếng Harry.

Hermione lại bị tra tấn nữa.

Nó bèn đi ngay vào điều quan trọng trước mắt.

“Bạn có thể Độn thổ qua khỏi hầm rượu này chứ?”

Nó hỏi Dobby, con tinh gật đầu, hai vành tai phe phẩy.

“Và bạn đem người theo bạn được chứ?”

Dobby lại gật đầu.

“Tốt.

Dobby, tôi muốn bạn nắm lấy Luna, Dean và ông Ollivander, và đem họ...

đem họ đến...”

“Nhà anh Bill và chị Fleur,” Ron nói.

“Chòi đất ở ngoại ô Tinworth!”

Con tinh gật đầu lần thứ ba.

“Và rồi trở lại,” Harry nói, “Bạn có thể làm như vậy không, Dobby?”

“Dĩ nhiên là được chứ, Harry Potter,” con tinh nhỏ thì thầm.

Nó lật đật đi tới chỗ ông Ollivander, ông ta không có vẻ gì là còn tỉnh táo.

Con tinh dùng một tay nắm cánh tay của người chế tạo đũa phép, rồi đưa tay kia của nó cho Luna và Dean, nhưng cả hai đứa nó đều không nhúc nhích.

“Anh Harry, tụi em muốn giúp anh!”

Luna thì thầm.

“Hai người đi ngay!

Tụi mình sẽ gặp lại nhau ở nhà chị Fleur.”

Trong lúc Harry nói, cái thẹo của nó bỏng rát dữ dội hơn bao giờ hết, và trong vài giây nó ngó xuống, không phải là người chế tạo đũa phép mà là một người đàn ông khác, cũng già, cũng ốm nhưng đang cười vang đầy khinh miệt.

“Vậy thì, cứ giết ta.

Voldemort, ta sẵn sàng đón cái chết!

Nhưng cái chết của ta không đem lại cho mi cái mà mi tìm kiếm…

Có rất nhiều điều mi không hiểu được…”

Harry cảm nhận được cơn thịnh nộ của Voldemort, nhưng khi Hermione rú lên một lần nữa, nó đóng ngay liên tưởng đó, trở lại với căn hầm và nỗi kinh hoàng mà hiện tại nó đang đối mặt.

“Đi!”

Harry năn nỉ Luna và Dean.

“Đi đi, tụi này sẽ đi theo, đi ngay!”

Hai đứa kia bèn nắm mấy ngón tay con tinh chìa ra.

Một tiếng nổ đùng thật lớn, và Dobby, Luna, Dean, cùng ông Ollivander biến mất.

“Chuyện gì đó?”

Lão Lucius Malfoy hét phía trên đầu Harry và Ron.

“Các người có nghe không?

Tiếng động dưới hầm rượu là gì vậy?”

Harry và Ron trố mắt nhìn nhau.

“Draco... không, gọi Đuôi Trùn.

Bảo hắn đi kiểm tra xem!”

Tiếng bước chân băng ngang căn phòng trên đầu tụi nó, rồi yên lặng.

Harry biết rằng những người trong phòng khách đang lắng nghe động tĩnh từ dưới hầm.

“Tụi mình sẽ cố gắng khống chế hắn,” Harry thì thầm với Ron.

Tụi nó không còn lựa chọn nào khác: chỉ cần bất cứ ai bước vào phòng và thấy vắng mặt ba tù nhân là tụi nó thua.

“Cứ để ánh sáng chiếu rọi,” Harry nói thêm.

Và khi nghe thấy có kẻ nào đó bước xuống cầu thang bên ngoài cửa hầm, tụi nó lùi ra đứng dựa sát tường dọc hai bên cánh cửa.

“Đứng lùi lại,” giọng của Đuôi Trùn vang lên.

“Đứng xa cánh cửa ra.

Ta đang vào.”

Cánh cửa mở tung ra.

Trong tích tắc Đuôi Trùn nhìn trân trối vào hầm giam dường như trống rỗng, chói mắt vì ánh sáng phát ra từ ba mặt trời tí hon lơ lửng giữa không trung.

Ngay lúc đó, Harry và Ron lao mình vào hắn.

Ron chụp cánh tay cầm đũa phép của Đuôi Trùn và bẻ cánh tay giơ lên.

Harry vả bàn tay vào miệng hắn, bịt tiếng hắn lại.

Cả ba vật lộn trong im lặng: cây đũa phép của Đuôi Trùn xịt ra những tia sáng, bàn tay bằng bạc của hắn xiết quanh cổ Harry.

“Chuyện gì vậy, Đuôi Trùn?” tiếng lão Lucius Malfoy hỏi vọng từ bên trên.

“Không có gì ạ!”

Ron trả lời bằng giọng nhái tàm tạm cái giọng khò khè của Đuôi Trùn.

Harry hầu như không thể thở được nữa.

“Ông giết tôi à?”

Harry ngáp ngáp lấy hơi, cố gắng cạy những ngón tay bằng kim loại ra.

“Sau khi tôi đã cứu mạng ông?

Đuôi Trùn, ông nợ tôi.”

Mấy ngón tay bạc nới ra.

Harry không ngờ: Nó vặn mình thoát ra, hết sức kinh ngạc, tay nó vẫn bịt chặt miệng Đuôi Trùn.

Nó thấy đôi mắt tèm nhèm nhỏ tí của gã đàn ông giống như chuột mở lớn đầy sợ hãi và ngạc nhiên: Hắn dường như sửng sốt không kém Harry về việc bàn tay hắn vừa làm, về cái tích tắc độ lượng tí ti mà bàn tay đã phản bội, và hắn tiếp tục vật lộn dữ dội hơn, như thể để gỡ gạc lại cái phút yếu lòng đó.

“Và tụi tôi sẽ giữ cái này,” Ron thì thầm, giật mạnh cây đũa phép của Đuôi Trùn bằng bàn tay kia của nó.

Không còn đũa phép, không thể làm gì được, hai tròng mắt của Pettigrew nở lớn hãi hùng.

Hai con mắt hắn trượt từ Harry đến cái gì đó.

Những ngón tay bạc của chính hắn di chuyển về phía cổ họng hắn không cách gì cản được.

“Đừng...”

Không kịp suy nghĩ, Harry cố gắng kéo bàn tay lại, nhưng chẳng có gì ngăn được bàn tay đó.

Dụng cụ bằng bạc mà Voldemort đã ban cho tên đầy tớ hèn nhát nhất đã phản lại chính người chủ bị tước vũ khí và trở nên vô dụng, Pettigrew đang lãnh phần thưởng cho sự ngập ngừng của hắn, khoảnh khắc của lòng trắc ẩn; hắn đang bị bóp cổ ngay trước mắt tụi nó.

“Đừng!”

Ron cũng đã buông Đuôi Trùn ra, và nó cùng Harry hè nhau kéo những ngón tay tàn nhẫn bằng kim loại đang bóp họng Đuôi Trùn, nhưng chẳng ích gì.

Pettigrew dần trở nên xanh tím.

“Giải phóng!”

Ron nói, chĩa cây đũa phép vào bàn tay bạc, nhưng chẳng có gì xảy ra cả; Pettigrew khuỵu xuống, và cùng lúc đó, Hermione rú lên một tiếng hãi hùng phía trên đầu tụi nó.

Mắt của Pettigrew trợn ngược lên trên gương mặt tím ngắt của hắn; hắn giẫy lên một lần chót rồi yên luôn.

Harry và Ron nhìn nhau, rồi bỏ lại xác Pettigrew trên sàn sau lưng tụi nó, chạy lên cầu thang, trở lại hành lang âm u dẫn đến phòng khách.

Tụi nó cẩn thận bò dọc theo hành lang cho đến khi đến cửa phòng khách để mở he hé.

Bây giờ tụi nó nhìn rõ cảnh Bellatrix đang ngó xuống Griphook, con yêu tinh này đang cầm thanh gươm Gryffindor trong hai bàn tay có những ngón dài ngoằng.

Hermione đang nằm dưới chân Bellatrix.

Cô bé hầu như không nhúc nhích.

“Sao?”

Bellatrix nói với Griphook, “Có đúng là thanh gươm thật không?”

Harry chờ đợi, nín thở, kháng cự lại cơn đau nhức của cái thẹo.

“Không.”

Griphook nói.

“Nó là đồ giả.”

“Mày có chắc không?”

Bellatrix hổn hển nói, “Chắc chứ?”

“Chắc,” con yêu tinh nói.

Nét mặt mụ giãn ra, bao căng thẳng tiêu tan hết.

“Tốt,” mụ nói, và bằng cách hờ hững gõ nhẹ cây đũa phép, mụ rạch thêm một vết cắt sâu nữa trên mặt con yêu tinh, khiến y gục xuống chân mụ, thét vang.

Mụ đá y qua một bên.

“Còn bây giờ.,” mụ reo lên đắc thắng, “Chúng ta thỉnh Chúa tể Hắc ám!”

Và mụ vén ống tay áo lên, và chạm ngón trỏ vào Dấu hiệu Hắc ám.

Ngay lập tức, Harry lại có cảm giác cái thẹo của nó tét ra.

Hiện thực quanh nó biến mất: nó là Voldemort, và lão phù thuỷ trơ xương trước mặt nó đang nhe cái miệng không răng cười nhạo nó, nó tức điên khi cảm nhận được sự thỉnh mời – nó đã cảnh cáo bọn chúng, nó đã bảo bọn chúng không được thỉnh nó vì bất cứ cái gì khác hơn Potter.

Nếu mà chúng nhầm lẫn...

“Cứ giết ta đi!”

Lão già yêu cầu.

“Mi sẽ thua.

Mi không thể thắng!

Cây đũa phép đó sẽ không bao giờ, không bao giờ thuộc về mi.”

Và cơn thịnh nộ của Voldemort bùng nổ: Ánh sáng xanh bùng lên tỏa khắp xà lim tù, và cái thân già nua yếu ớt bị nhấc bổng lên khỏi cái giường cứng rồi rớt xuống, chết ngắc, và Voldemort trở lại bên cửa sổ, cơn giận của hắn khó mà kiềm chế được...

Chúng sẽ phải chịu đựng hình phạt của hắn nếu chúng thỉnh hắn về không có lý do chính đáng...

“Và tôi cho rằng,” giọng Bellatrix vang lên, “Chúng ta có thể vứt con Máu bùn được rồi.

Greyback, đem nó đi nếu mày muốn nó.”

“KHÔÔÔÔÔÔNG!”

Ron đã xông vô phòng khách, Bellatrix ngoảnh lại, giật mình, mụ quay cây đũa phép lại đối đầu với Ron thay vì...

“Giải giới!”

Ron gầm lên, chĩa cây đũa phép của Đuôi Trùn vào Bellatrix, và cây đũa phép của mụ bay vèo vèo lên không trung, và được Harry, chạm sát sau lưng Ron, bắt lấy.

Lão Lucius, bà Narcissa, Draco và Greyback đều quay phắt lại; Harry hét “Điểm huyệt!” và lão Lucius Malfoy ngã nhão xuống nền lò sưởi.

Tia sáng phóng ra từ cây đũa phép của Draco, bà Narcissa, Greyback, Harry nhào xuống sàn lăn vòng ra sau một cái ghế nệm dài để tránh.

“DỪNG NGAY NẾU KHÔNG CON MÁU BÙN SẼ CHẾT!”

Harry thở hổn hển, dòm hé qua thành cái ghế nệm.

Bellatrix đang dựng đứng Hermione, cô nàng dường như đã bất tỉnh, và mụ kề con dao ngắn bằng bạc của mụ sát cổ Hermione.

“Buông đũa phép của chúng mày xuống,” mụ thì thầm, “Buông chúng xuống nếu không chúng tao sẽ được thấy cụ thể máu nó bẩn thỉu như thế nào!”

Ron đứng ngay đơ, nắm chặt cây đũa phép của Đuôi Trùn.

Harry đứng thẳng dậy, vẫn còn cầm cây đũa phép của Bellatrix.

“Tao bảo buông đũa xuống!”

Mụ rít lên ấn lưỡi dao vào cổ họng Hermione: Harry thấy máu ứa thành giọt nơi lưỡi dao ấn vào.

“Thôi được!”

Nó hét, và buông cây đũa phép của Bellatrix.

Cả hai giơ tay lên ngang vai.

“Tốt!”

Mụ cười đểu.

“Draco, lượm đũa phép lên.

Chúa tể Hắc ám sắp đến rồi Harry Potter ơi!

Cái chết của mày gần kề rồi!”

Harry biết điều đó, cơn đau của cái thẹo của nó đang nổ ra, và nó có thể cảm thấy Voldemort đang bay qua bầu trời từ xa xa, bên trên một biển tối om và đầy bão tố, chẳng mấy chốc hắn sẽ đến đủ gần để Độn thổ tới đây, và Harry có thể thấy vô phương thoát chết.

“Bây giờ,” Bellatrix nói nhẹ nhàng, trong lúc Draco vội vã đem đũa phép đến cho mụ.

“Chị Cissy, em cho là chúng ta nên trói các vị anh hùng nhí này lại, trong khi Greyback chăm sóc con Máu bùn.

Greyback, tao tin là Chúa tể Hắc ám sẽ không bực mình mày về con đó sau nhưng gì mày làm tối nay.”

Khi tiếng cuối cùng vừa dứt, thì một tiếng rít ken két kì lạ vọng từ trên xuống.

Tất cả đều ngước nhìn lên vừa đúng lúc chùm đèn pha lê rung rinh, và rồi, khi một tiếng két vang to kèm một tiếng keng thật lớn, chùm đèn bắt đầu rớt xuống.

Bellatrix đang đứng ngay bên dưới trùm đèn treo, mụ bèn buông Hermione ra, vừa nhào qua một bên vừa gào lên khủng khiếp.

Chùm đèn treo rớt xuống sàn gây ra một trận nổ văng pha lê và dây xích treo đèn, rơi lên mình Hermione và con yêu tinh vẫn còn nắm chặt thanh gươm Gryffindor.

Miếng pha lê lấp lánh bay tứ tung, Draco gập người lại, hai bàn tay bưng lấy gương mặt đầy máu.

Trong khi Ron kéo Hermione ra khỏi đống đổ nát, Harry lợi dụng ngay thời cơ: Nó nhảy qua cái ghế bành và giật ba cây đũa phép ra khỏi tay Draco, chĩa cả ba cây vào Greyback, và gào “Điểm huyệt!”

Gã người sói bị ba hiệp bùa chú nhấc bổng chân, bay luôn tới trần nhà rồi rớt bẹp xuống sàn.

Trong khi bà Narcissa kéo Draco tránh xa tai hoạ thêm nữa, Bellatrix đứng bật dậy, tóc mụ bay lên khi mụ vung con dao bạc, nhưng bà Narcissa đã chĩa cây đũa phép của bà ra cửa.

“Dobby!”

Bà rú lên và ngay cả Bellatrix cũng sững sờ.

“Mày!

Mày làm rớt chùm đèn...?”

Con tinh bé nhỏ lon ton chạy vào phòng, những ngón tay run lẩy bẩy của nó chỉ vào bà chủ cũ.

“Bà không được hại Harry Potter,” nó kêu lên the thé.

“Giết nó, Cissy!”

Bellatrix rít lên, nhưng một tiếng nổ đùng khác vang lên, và cây đũa phép của Narcissa cũng bay vèo vèo lên không trung rồi rớt xuống, phía bên kia phòng khách.

“Đồ con khỉ bẩn thỉu!”

Bellatrix hét toáng.

“Mày dám cầm đũa phép cuả một phù thuỷ hả?

Mày dám thách thức chủ mày hả?”

“Dobby không có chủ!”

Con tinh kêu the thé.

“Dobby là một con tinh tự do, và Dobby đến cứu Harry Potter và bạn bè của cậu.”

Cơn đau trong cái thẹo của Harry làm nó không còn thấy gì nữa.

Nó mơ hồ biết là tụi nó chỉ còn vài tích tắc, vài giây trước khi Voldemort đến nơi.

“Ron, bắt lấy… và ĐI!”

Nó vừa hét vừa liệng một cây đũa phép cho Ron, rồi nó cúi xuống kéo Griphook ra từ dưới chùm đèn.

Vác lên vai con yêu tinh đang rên rỉ nhưng vẫn nắm chặt thanh gươm, Harry nắm tay Dobby và xoay tại chỗ để Độn thổ.

Khi xoay mình vào bóng tối, nó nhìn lần cuối cảnh phòng khách với hình ảnh nhợt nhạt đông cứng của bà Narcissa và Draco, thoáng thấy vệt tóc đỏ của Ron, và thoáng ánh bạc bay vút khi con dao của Bellatrix phóng ngang qua căn phòng trúng vào chỗ nó vừa biến mất...

Nhà anh Bill và chị Fleur...Chòi Đất... nhà anh Bill và chị Fleur...

Nó đã biến vào cõi không biết; nó chỉ có thể lặp đi lặp lại tên địa điểm và hy vọng nhiêu đó là đủ để đưa nó đến đó.

Cơn đau trên trán đâm thấu óc nó, và sức nặng của con yêu tinh đè xuống nó, nó có thể cảm thấy lưỡi thanh gươm Gryffindor nảy vào lưng nó, bàn tay Dobby giật giật trong tay nó, nó tự hỏi phải chăng con tinh đang cố giành quyền chỉ đạo để kéo cả đám về đúng hướng, và bằng cái siết chặt mấy ngón tay, Harry cố ra dấu là tụi nó ngon lành...

Và rồi tụi nó chạm vào mặt đất cứng chắc và thở không khí mằn mặn.

Harry quỳ gối, buông tay Dobby ra, và cố gắng đặt Griphook xuống đất một cách nhẹ nhàng.

“Ông có sao không?”

Nó hỏi khi con yêu tinh cục cựa, nhưng Griphook chỉ rên rỉ.

Harry nhìn quanh quất trong bóng tối.

Cách đó không xa dường như có một ngôi nhà nhỏ dưới bầu trời rộng đầy sao, và nó nghĩ nó thấy có sự dịch chuyển bên ngoài căn nhà.

“Dobby, đây có phải là Chòi Đất không?”

Nó thì thầm, nắm chặt hai cây đũa phép mà nó đem theo từ phủ Malfoy, sẵn sàng chiến đấu nếu cần thiết.

“Tụi mình đến đúng chỗ không, Dobby?”

Nó ngoái nhìn lại.

Con tinh đứng cách nó vài bước chân.

“DOBBY!”

Con tinh đu đưa nhè nhẹ, ánh sao phản chiếu trong hai con mắt sáng mở to.

Con tinh và Harry cùng nhau nhìn xuống chuôi của con dao bạc thò ra khỏi lồng ngực đang phập phồng của con tinh.

“Dobby...không...CỨU!”

Harry gào về phía ngôi nhà, về phía những người đang di chuyển về chỗ nó.

“CỨU!”

Nó không biết và không bận tâm liệu những người đó là phù thuỷ hay dân Muggle, bạn hay thù; tất cả nỗi lo lắng của nó là vết loang sậm đang lan ra trước ngực Dobby và con tinh giơ hai tay về phía Harry với ánh mắt khẩn cầu.

Harry đỡ con tinh và đặt nó nằm nghiêng trên cỏ lạnh.

“Dobby, không, đừng chết, đừng chết...”

Đôi mắt con tinh nhìn Harry, và môi nó run run vì cố nói:

“Harry...

Potter...”

Và rồi sau một cái rùng mình khe khẽ con tinh nằm yên, và đôi mắt nó chỉ còn là hai trái cầu thuỷ tinh to tướng, vô hồn lấp lánh ánh sáng từ những ngôi sao mà đôi mắt nó không còn thấy nữa.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 24: Người chế tạo đũa phép


Người chế tạo đũa phép

Chẳng khác gì chìm vào lại cơn ác mộng cũ: trong một thoáng Harry lại quỳ bên cạnh thi thể cụ Dumbledore dưới chân ngọn tháp cao nhất ở trường Hogwarts, nhưng hiện thực là nó đang nhìn trừng trừng một thân xác nhỏ xíu co quắp trên cỏ, bị lưỡi dao bạc của mụ Bellatrix đâm xuyên.

Tiếng của Harry vẫn còn gọi: “Dobby…

Dobby…” cho dù nó biết con tinh đã đi đến nơi nó không thể gọi trở lại.

Chừng một phút sau nó nhận ra, rốt cuộc, tụi nó đã đến đúng nơi, vì đây anh Bill, chị Fleur, Dean và Luna đang tụ tập chung quanh trong lúc nó quỳ bên cạnh con tinh.

“Hermione,” nó chợt hỏi.

“Hermione đâu?”

“Ron đưa cô bé vô nhà rồi,” anh Bill nói.

“ Cô bé sẽ không sao đâu.”

Harry lại nhìn xuống Dobby.

Nó đưa tay rút lưỡi dao bén ngót ra khỏi xác con tinh, rồi cởi áo vét của nó dùng làm tấm mền đắp lên Dobby.

Biển đang vỗ sóng vào đá đâu đó gần đây: Hary lắng nghe tiếng sóng trong lúc những người khác trò chuyện, bàn bạc những vấn đề mà nó không còn quan tâm nữa, rồi nó quyết định.

Dean mang Griphook bị thương vô nhà, chị Fleur vội vã đi theo; lúc này anh Bill đang đưa ra đề nghị về việc chôn cất Dobby.

Harry đồng ý mà không biết anh đang nói gì.

Khi làm thế, nó ngó xuống cái xác nhỏ xíu, và cái thẹo của nó nhức nhối rát bỏng, và nó thấy trong một góc não của nó, như thể nhìn ngược từ đầu kia của một kính viễn vọng, Voldemort đang trừng phạt những kẻ mà tụi nó đã bỏ lại ở phủ Malfoy.

Cơn giận của hắn khủng khiếp đến thế nhưng cũng dường như mờ nhạt trước nỗi tiếc thương Dobby của Harry, vì vậy cuộc trừng phạt đó chỉ tựa như cơn bão xa vọng đến Harry qua một đại dương mênh mông im ắng.

“Em muốn làm đám tang đàng hoàng,” là những lời đầu tiên mà Harry nói trong trạng thái hoàn toàn có ý thức.

“Không phải bằng pháp thuật, anh có một cái xuổng không?”

Và ngay sau đó nó bắt đầu,một mình đào một cái huyệt ở chỗ anh Bill vừa chỉ, phía cuối vườn, giữa những bụi cây.

Nó đào cái kiểu uất ức, cắm cúi làm công việc lao động chân tay, vinh danh trong hành động phi pháp thuật đó, bởi vì nó thấy mỗi giọt mồ hôi nó đổ ra, mỗi nốt phồng rộp trên tay nó đều như một món quà tặng cho con tinh đã cứu mạng tụi nó.

Cái thẹo của Harry rát bỏng nhưng bây giờ nó đã làm chủ được cơn đau: nó cảm nhận được cơn đau thật đấy, nhưng lại tách biệt ra được hẳn.

Rốt cuộc nó đã học được cách kiểm soát, biết cách phong bế não đối với Voldemort, điều mà cụ Dumblerdore đã muốn nó học nơi thầy Snape.

Cũng như khi Voldemort không thể ám ảnh Harry trong lúc Harry chìm đắm trong nỗi tiếc thương chú Sirius, ý nghĩ của hắn lúc này không thể xâm nhập được Harry khi nó đang thương tiếc Dobby.

Duờng như nỗi đau buồn xua đuổi Voldemort...

Mặc dù cụ Dumblerdore, dĩ nhiên sẽ nói đó là tình yêu.

Harry cứ đào tiếp, càng lúc càng sâu hơn vào lòng đất cứng lạnh, trộn lẫn nỗi đau buồn với mồ hôi, gạt bỏ cơn đau của cái thẹo.

Trong bóng tối, chẳng có âm thanh gì khác ngoài chính tiếng thở của nó và tiếng sóng biển rì rào làm bạn, mọi việc đã diễn ra ở phủ Malfoy lại hiện về trong trí nó, những điều mà nó đã nghe giờ được tái hiện, và nó vỡ lẽ ra trong bóng tối...

m điệu đều đặn của cánh tay nó nhịp theo suy nghĩ của nó.

Những Bảo bối Tử thần… những Trường Sinh Linh Giá…

Bảo bối Tử thần…

Trường Sinh Linh Giá… không còn cháy lên trong nó nỗi ham muốn kỳ lạ và ám ảnh đó nữa.

Mất mát và sợ hãi đã làm tan biến nỗi ham muốn đó.

Nó cảm thấy như một lần nữa vừa được tát vào mặt cho tỉnh táo lại.

Càng lúc càng sâu hơn Harry lún xuống huyệt mộ, và nó biết đêm nay Voldemort đã ở đâu, đã giết ai trong xà lim cao nhất của nhà tù Nurmengard, và tại sao…

Và nó nghĩ đến Đuôi Trùn, chết vì một cơn bốc đồng vô thức của lòng trắc ẩn…Cụ Dumbledorer đã nhìn thấy trước điều đó…

Cụ còn biết hơn thế bao nhiêu nữa?

Harry không để ý đến thời gian.

Nó chỉ biết khi bóng tối đã được xua tan phần nào thì Ron và Dean ra nhập bọn với nó.

“Hermione ra sao?”

“Khá hơn rồi,” Ron nói.

“Chị Fleur đang chăm sóc cho cô nàng.”

Harry đã có sẵn câu cãi lại nếu hai đứa kia hỏi tại sao nó không chỉ việc phù phép ra một ngôi mộ hoàn hảo bằng cây đũa phép, nhưng nó đã không cần phải dùng tới câu đó.

Hai đứa kia vác theo xuổng và nhảy xuống cái hố mà Harry đã đào rồi cùng nhau làm việc trong im lặng cho đến khi cái hố có vẻ đủ sâu.

Harry bó xác con tinh chặt chẽ hơn trong tấm áo vét của nó.

Ron ngồi bên mép huyệt cởi giầy và vớ của mình ra, rồi mang chúng vào đôi chân trần của con tinh.

Dean tạo ra một cái nón len đưa cho Harry đội cẩn thận lên đầu Dobby, ủ kín đôi tai dơi.

“Tụi mình nên vuốt mắt nó.”

Harry không nghe những người khác đang đến trong bóng tối.

Anh Bill mặc một tấm áo khoác đi đường, chị Fleur đeo một tấm tạp dề màu trắng, từ trong túi tạp dề ló ra một chai mà Harry nhận ra là rượu Bổ Xương.

Hermione được quấn trong tấm áo ngủ mượn tạm, xanh xao và đi đứng chưa vững; Ron đưa tay ôm Hermione khi cô bé đến bên nó.

Luna luộm thuộm trong cái áo khoác của chị Fleur, cúi xuống và nhẹ nhàng đặt mấy ngón tay lên mí mắt của con tinh, vuốt chúng khép lại cái nhìn đăm đăm vô hồn.

“Vậy đó,” cô bé nói khẽ, “Bây giờ bạn có thể yên nghỉ.”

Harry đặt con tinh vào lòng huyệt, sắp xếp tay chân nhỏ xíu của con tinh sao cho con tinh có thể thoải mái nghỉ ngơi, rồi nó trèo lên bờ đăm đăm nhìn lần cuối thi thể nhỏ bé đó.

Nó tự nhắc không được xuống tinh thần khi nhớ lại đám tang của cụ Dumbledore, với hàng dãy hàng ghế vàng, với ông Bộ trưởng Bộ Pháp thuật ngồi ở hàng ghế trên cùng, bài tán tụng thành tích của cụ Dumbledore, và nét nghiêm trang của nấm mồ cẩm thạch trắng.

Nó cảm thấy Dobby xứng đáng được an táng trọng thể tương đương, vậy mà ở đây con tinh chỉ được đặt nằm giữa những bụi cây trong một cái hố đào lùi xùi.

“Em nghĩ chúng ta nên nói đôi lời vĩnh biệt,” Luna nói to, “Em nói trước nha?”

Và khi mọi người nhìn cô bé, cô bé nói với con tinh đã chết dưới đáy huyệt.

“Em rất cảm ơn Dobby đã cứu em ra khỏi hầm rượu.

Bạn tốt và gan như vậy mà chết thì không công bằng chút nào.

Em sẽ luôn nhớ điều mà bạn đã làm cho tụi này.

Em hy vọng giờ đây bạn được yên vui.”

Cố bé quay lại nhìn Ron chờ đợi, Ron bèn đằng hắng và nói bằng giọng nằng nặng, “Ừ… cám ơn Dobby.”

“Cám ơn,” Dean lẩm bẩm.

Harry nuốt nước miếng.

“Vĩnh biệt, Dobby,” nó nói.

Đó là tất cả những lời mà nó có thể thốt ra, Luna đã nói giùm nó hết rồi.

Anh Bill giơ cây đũa phép lên, và đống đất bên cạnh huyệt bay lên không trung gọn gàng rơi xuống huyệt, vun thành một mô đất nhỏ đo đỏ.

“Xin mọi người để tôi ở lại đây một lát,” nó nói với những người kia.

Họ lẩm bẩm gì đó mà nó không nghe ra; nó cảm nhận vài cái vỗ nhẹ lên lưng, và rồi mọi người lững thững đi về phía ngôi nhà, để nó lại một mình với con tinh.

Harry nhìn quanh; có một số phiến đá to màu trắng, láng nhẵn nhờ nước biển, được dùng để làm mép vườn hoa.

Nó lượm một phiến lớn nhất và đặt trên chỗ mà đầu con tinh đang yên nghỉ, kiểu như đặt một cái gối.

Rồi nó mò túi áo kiếm cây đũa phép.

Có hai cây trong túi.

Nó đã quên mất, không để ý; bây giờ nó không thể nhớ hai cây này là đũa của ai; nó nhớ dường như nó đã giật chúng ra khỏi tay ai đó.

Nó lựa cây đũa ngắn hơn trong hai cây, nó cảm thấy cây đó thân thiện hơn với tay nó; và nó chĩa vào phiến đá.

Theo chỉ thị mà Harry lẩm bẩm trong miệng, cây đũa phép từ từ khắc những nét sâu lên phiến đá.

Nó biết Hermione có thể làm chuyện này khéo léo hơn, và có lẽ nhanh hơn, nhưng nó muốn đánh dấu nơi này cũng tha thiết như nó muốn đích thân đào huyệt.

Khi Harry đứng dậy một lần nữa, phiến đá đã có hàng chữ:

NƠI ĐY YÊN NGHỈ DOBBY, MỘT CON TINH TỰ DO

Nó nhìn tác phẩm tự tạo của nó thêm vài giây nữa, rồi bước đi, cái thẹo vẫn còn nhức nhối, và đầu óc nó đầy ắp những điều nó chợt nghĩ tới lúc ở dưới huyệt, những ý tưởng đã hình thành trong bóng tối, những ý tưởng vừa hoang đường vừa khủng khiếp.

Mọi người đều đang ngồi trong phòng khách khi Harry bước vào gian sảnh nho nhỏ, sự chú ý của họ tập trung vào anh Bill, người đang nói.

Căn phòng xinh xinh, ánh sáng dìu dịu, một ngọn lửa nho nhỏ đốt bằng những khúc củi trôi dạt vớt ngoài bờ biển đang toả ánh sáng rực rỡ trong lò sưởi.

Harry không muốn làm vấy bùn lên tấm thảm, nên nó đứng ngoài ngưỡng cửa, lắng nghe.

“…

May là Ginny đang nghỉ lễ.

Nếu con bé còn ở trường Hơgwarts thì chúng đã bắt con bé trước khi chúng ta đến kịp.

Bây giờ chúng ta biết con bé cũng đã được an toàn,” anh Bill ngoái nhìn ra và thấy Harry đứng đó.

“Anh đã đưa tất cả mọi người ra khỏi Hanng Sóc,” anh giải thích.

“Họ đã dọn qua nhà bà dì Muriel.

Bọn Tử Thần Thưc Tử giờ đã biết Ron đi với em, chắc chắn họ sẽ nhắm tấn công gia đình…

Khỏi xin lỗi,” anh nói thêm khi thấy vẻ mặt của Harry.

“Chẳng qua là chuyện sớm hay muộn mà thôi, ba đã nói vậy mấy tháng nay rồi.

Chúng ta là gia đình phản bội huyết thống lớn nhất hiện nay.”

“Họ được bảo vệ như thế nào?”

Harry hỏi.

“Bùa Trung thành.

Ba là Người giữ Bí mật.

Và chúng ta cũng ếm bùa đó lên ngôi nhà này; anh là Người giữ Bí mật.

Hai đứa anh không ai đi làm được nhưng điều đó giờ đây không hẳn là điều quan trọng nhất.

Khi nào ông Ollivander và Griphook mạnh khoẻ trở lại, chúng ta cũng đưa họ đến nhà bà dì Muriel.

Ở đây không đủ phòng, mà nhà bà dì thì nhiều phòng lắm.

Chân cẳng Griphook đang lành lặn lại.

Fleur đã cho ông ấy uống rượu Bổ Xương – có lẽ chúng ta sẽ đưa họ đi trong vòng một giờ hay…”

“Không,” Harry nói và anh Bill có vẻ ngạc nhiên.

“Em cần cả hai người đó ở lại đây.

Em cần nói chuyện với họ.

Chuyện quan trọng.”

Giọng nó nói nghe có uy lắm, giọng chắc nịch, giọng có chủ đích mà nó đã nghĩ ra khi đào huyệt cho Dobby.

Tất cả những người khác đều quay lại nhìn nó phân vân.

“Em đi rửa mặt cái đã,” Harry vừa nói với anh Bill vừa ngó xuống hai tay nó còn bê bết sình và máu Dobby.

“Rồi em cần gặp họ, ngay lập tức.”

Nó đi vào căn bếp nhỏ, đến bên cái chậu đặt dưới khung cửa sổ trông ra biển.

Bình minh đang ló dạng phía đường chân trời, hồng hồng như vỏ cua và phơn phớt vàng, và trong lúc rửa tay nó lại theo đuổi chuỗi suy tư đã hiện ra trong đầu nó trong bóng tối khu vườn…

Dobby không bao giờ có thể nói với tụi nó ai đã phái con tinh đến hầm rượu, nhưng Harry biết điều mà nó đã thấy.

Một ánh mắt sắc sảo xanh lơ đã nhìn ra từ mảnh gương vỡ, và sự giúp đỡ đến ngay.

Ở trường Hogwarts ai cầu xin sự giúp đỡ tất sẽ nhận được.

Harry lau khô tay, vô cảm đối với vẻ đẹp của cảnh trí bên ngoài cửa sổ và cũng không để lọt tai tiếng rù rì của người khác trong phòng khách.

Nó nhìn xa ra phía đại dương và trong buổi bình minh này, nó cảm thấy gần hơn bao giờ hết, gần sát cốt lõi của vấn đề.

Và cái thẹo của nó vẫn còn đau nhức, và nó biết là Voldemort cũng đang tiến đến đó.

Harry hiểu mà vẫn chưa thật hiểu.

Bản năng nó bảo nó thế này, đầu óc nó lại nói thế kia.

Cụ Dumbledorer trong tâm trí Harry mỉm cười, ngó Harry dò xét qua đầu những ngón tay ép vào nhau như thể nguyện cầu.

Thầy cho Ron cái Tắt sáng…Thầy hiểu nó…Thầy cho nó một phương thức trở lại…

Và thầy cũng hiểu Đuôi Trùn…

Thầy biết là có một chút ăn năn đâu đó…

Và nếu thầy hiểu họ…Thì thưa thầy Dumbledorer, thầy hiểu gì về con?

Có phải con chỉ cần biết mà không cần tìm?

Thầy có biết con cảm thấy khổ sở thế nào về chuyện đó không?

Có phải vì vậy mà thầy khiến cho sự việc khó khăn như thế này không?

Để con có đủ thời giờ mà nghiệm ra?

Harry đứng ngây đơ, đôi mắt đờ đẫn, nhìn cái nơi mà ánh sáng vàng chói của mặt trời rực rỡ đang nhô lên khỏi đường chân trời, rồi nó nhìn xuống hai bàn tay sạch sẽ và thoáng ngạc nhiên khi thấy tấm vải lau tay mà nó đang cầm.

Nó đặt miếng vải xuống và trở lại gian sảnh nhỏ, và trong lúc nó làm những điều đó, nó cảm thấy cái thẹo co giật giận dữ, và rồi hình bóng toà nhà nó biết cực kỳ rõ nháng qua óc nó, phớt nhanh như bóng phản chiếu của con chuồn chuồn trên mặt nước.

Anh Bill và chị Fleur đang đứng ở chân cầu thang.

“Em cần nói chuyện với Griphook và ông Ollivander,” Harry nói.

“Không đượt,” chị Fleur nói.

“Em phải đợi Harry à.

Cả hai người đó đều rớt mệt mõi…”

“Em xin lỗi chị,” nó nói mà không nóng nảy lắm.

“Nhưng không thể chờ được.

Em cần nói chuyện với họ ngay bây giờ.

Riêng tư…và riêng lẻ.

Khẩn cấp lắm.”

“Harry à, chuyện khỉ gió gì đang xảy ra vậy?”

Anh Bill hỏi.

“Em tới đây với một con gia tinh chết ngắc và một con yêu tinh ngáp ngáp, Hermione thì trông có vẻ như đã bị tra tấn, mà Ron thì không chịu nói gì với anh hết…”

“Tụi em không thể nói với anh chuyện tụi em đang làm,” Harry nói thẳng thừng.

“Anh Bill, anh là người của Hội, anh biết thầy Dumbledore để lại cho tụi em một nhiệm vụ.

Tụi em không được nói cho ai khác biết.”

Chị Fleur phát ra một tiếng kêu sốt ruột, nhưng anh Bill không nhìn chị, anh vẫn nhìn chăm chú Harry.

Khó mà đọc được gương mặt đầy thẹo sâu hoắm của anh.

Cuối cùng, anh Bill nói.

“Thôi đựoc.

Em muốn nói với ai trước?”

Harry ngập ngừng.

Nó biết điều gì sẽ tùy thuộc vào quyết định này.

Chẳng còn bao nhiêu thời gian nữa: bây giờ là lúc quyết định Trường Sinh Linh Giá hay Bảo bối Tử thần?

“Griphook,” Harry nói.

“Em sẽ nói với Griphook trước.”

Tim nó đập nhanh như thể nó vừa chạy đua nước rút và vừa mới vượt qua một chướng ngại vật khổng lồ.

“Vậy thì lên đây,” anh Bill nói, đi trước dẫn đường.

Harry đi lên được khá nhiều bậc thang rồi mới ngừng bước ngoái nhìn lại.

“Mình cần cả hai bồ nữa!”

Nó nói vọng xuống với Hermione và Ron, hai đứa đó nãy giờ thập thò, hơi lén lút, bên ngưỡng cửa phòng khách.

Cả hai bèn đi ra chỗ ánh sáng, tỏ vẻ nhẹ nhõm kỳ lạ.

“Bồ khỏe không?”

Harry hỏi Hermione.

“Bồ thiệt là kỳ diệu…bịa ra được chuyện đó khi mà mụ ta hành hạ bồ như vậy…”

Hermione mỉm cười yếu ớt trong khi Ron quàng một tay siết nhẹ cô bé.

“Bây giờ tụi mình làm gì hả, Harry?”

“Bồ sẽ biết.

Đi.”

Harry, Ron và Hermione đi theo Bill lên những bậc thang dốc đến một đầu cầu thang hẹp.

Ở đó có ba cánh cửa.

“Trong này,” anh Bill nói, mở cánh cửa vô phòng của anh và chị Fleur, căn phòng này cũng trông ra biển – lúc này đang lấm tấm ánh vàng trong lúc mặt trời mọc.

Harry đi tới cửa sổ, quay lưng lại cảnh đẹp ngoạn mục, và chờ đợi, hai tay khoanh trước ngực, cái thẹo nhức nhối.

Hermione ngồi xuống cái ghế bên cạnh bàn trang điểm, Ron ngồi xuống tay ghế.

Anh Bill xuất hiện, tay bồng con yêu tinh, anh cẩn thận đặt y xuống giường.

Griphook làu bàu cám ơn, và anh Bill ra khỏi phòng, đóng cánh cửa lại.

“Tôi xin lỗi đã khiến ông phải ra khỏi giường,” Harry nói.

“Chân của ông ra sao?”

“Đau lắm,” con yêu tinh đáp.

“Nhưng đang lành.”

Y vẫn còn nắm chặt đuôi thanh gươm của Grynffidor, và có một cái nhìn rất lạ: nửa hung hăng, nửa tò mò.

Harry chú ý nước da tái xám của con tinh, những ngón tay dài ngoằng, con mắt đen.

Chị Fleur đã cởi giày y: chân y dài và dơ.

Y lớn hơn một con gia tinh, nhưng cũng không lớn hơn nhiều lắm.

Cái đầu tròn như cái vòm thì lại lớn hơn đầu con người rất nhiều.

“Có lẽ ông không nhớ…”

Harry bắt đầu nói.

“… rằng tôi là con yêu tinh đã đưa cậu vô hầm an toàn của cậu, lần đầu tiên khi cậu đến nhà băng Gringotts?”

Griphook nói, “Tôi nhớ, Harry Potter à.

Ngay cả trong giới yêu tinh, cậu cũng rất nổi tiếng.”

Harry và con yêu tinh nhìn nhau, đo lường lẫn nhau.

Cái thẹo của Harry vẫn nhức nhối.

Nó muốn làm xong cuộc phỏng vấn này thiệt nhanh, mà đồng thời nó lại sợ đi một bước sai lầm.

Trong lúc nó cố gắng quyết định chọn cách tốt nhất để nêu ra yêu cầu của mình, con yêu tinh lên tiếng.

“Cậu đã chôn con tinh,” y nói, giọng nham hiểm không ngờ.

“Tôi đã ngó cậu qua cửa sổ phòng ngủ kế bên.”

“Phải,” Harry nói.

Griphook liếc nó qua khóe mắt đen xênh xếch của y.

“Cậu là một phù thủy không bình thường, Harry Potter à.”

“Theo nghĩa nào?”

Harry hỏi, lơ đãng dụi cái thẹo của nó.

“Cậu đào huyệt.”

“Thì sao?”

Griphook không trả lời.

Harry thoáng nghĩ có lẽ nó bị cười nhạo vì hành động như một Muggle, nhưng việc Griphook có công nhận ngôi mộ của Dobby hay không đối với Harry không thành vấn đề.

Nó tập trung trí lực để tấn công.

“Ông Griphook à, tôi cần hỏi…”

“Cậu cũng cứu một yêu tinh.”

“Cái gì?”

“Cậu đưa tôi đến đây.

Cứu tôi.”

“À, tôi mong ông không lấy đó làm tiếc?”

Harry nói hơi thiếu kiên nhẫn.

“Không, cậu Harry Potter à,” Griphook nói, và y đua một ngón tay lên ngoáy chòm râu thưa màu đen dưới cằm.

“Nhưng cậu là một phù thủy rất kỳ lạ.”

“Phải,” Harry nói.

“À, tôi cần được giúp đỡ, ông Griphook à, và ông có thể giúp tôi.”

Con yêu tinh không tỏ một dấu hiệu khuyến khích nào, mà tiếp tục trầm ngâm ngắm Harry như thể y chưa bao giờ thấy cái gì giống như nó vậy.

“Tôi cần xâm nhập vào một hầm an toàn ở Gringotts.”

Harry không định nói điều đó vụng về như vậy: lời lẽ bị văng ra khỏi miệng nó khi cơn đau nhói lên trên cái thẹo hình tia chớp và nó thấy, một phen nữa, hình bóng trường Hogwarts.

Nó đóng chặt não nó lại.

Nó cần làm việc với Griphook trước tiên.

Ron và Hermione đang trố mắt nhìn Harry như thể nó đang phát khùng.

“Harry…”

Hermione nói, nhưng cô bé bị con yêu tinh hớt lời.

“Xâm nhập một hầm an toàn Gringotts à?”

Con yêu tinh lặp lại, nhăn mặt một tí khi y đổi thế nằm trên giường.

“Không thể được.”

“Không, được chứ.”

Ron cãi lại con yêu tinh.

“Chuyện đó đã từng xảy ra.”

“Đúng” Harry nói.

“Vào cái ngày tôi gặp ông lần đầu tiên đó, ông Griphook.

Sinh nhật của tôi, cách đây bảy năm.”

“Hầm an toàn đang được nói đến đã trống rỗng vào thời điểm đó,” con yêu tinh gắt lại, và Harry hiểu là mặc dù Griphook đã rời khỏi Gringotts, y vẫn thấy bị xúc phạm khi sự bảo vệ của nhà băng này bị sơ hở.

“Sự bảo vệ dành cho nó là tối thiểu.”

“À, cái hầm an toàn mà chúng tôi cần xâm nhập không trống rỗng, và tôi đoán lực lượng bảo vệ nó sẽ rất hùng hậu.”

Harry nói.

“Nó thuộc về mụ Lestrange.”

Nó thấy Hermione và Ron nhìn nhau, kinh ngạc, nhưng nó sẽ có thì giờ giải thích sau khi Griphook cho câu trả lời.

“Cậu không có cách nào cả,” Griphook nói thẳng thừng, “Không có cách nào cả.

Nếu ngươi tìm kiếm dưới sàn nhà của chúng ta, kho tàng không bao giờ là của ngươi…”

“Quân trộm cắp, cảnh báo nhà ngươi rồi đó, hãy coi chừng… có, tôi biết, tôi nhớ.”

Harry nói.

“Nhưng tôi không tìm cách lấy cho tôi bất cứ kho tàng nào.

Tôi không tìm cách lấy bất cứ thứ gì cho lợi lộc cá nhân.

Ông có thể tin điều đó không?”

Con yêu tinh ngó xéo Harry, và cái thẹo hình tia chớp trên trán của Harry lại nhức nhối, nhưng nó phớt lờ, không chịu thừa nhận cơn đau, hay sự mời gọi của cái thẹo.

“Nếu một phù thủy mà tôi tin là không tìm kiếm lợi lộc cá nhân,” cuối cùng Griphook nói, “thì kẻ đó là cậu, Harry Potter à.

Yêu tinh và tinh thường không quen với sự bảo vệ và tôn trọng mà cậu đã thể hiện đêm nay.

Sự bảo vệ và tôn trọng từ những kẻ-mang-đũa-phép.”

“Những-kẻ-mang-đũa-phép,” Harry lặp lại: Cụm từ này lọt vào tai nó nghe kỳ cục khi cái thẹo nó nhức nhối, khi Voldemort chuyển ý nghĩ của hắn về hướng bắc, và khi Harry sốt ruột muốn thẩm vấn ông Ollivander ở phòng kế bên.

“Quyền mang một cây đũa phép,” con yêu tinh khẽ nói, “từ lâu đã bị tranh chấp giữa phù thủy và yêu tinh.”

“À, yêu tinh có thể làm pháp thuật mà không cần đũa phép,” Ron nói.

“Điều đó chỉ là cớ vặt!

Phù thủy không chịu chia sẻ bí mật về tri-thức-đũa-phép với những sinh vật pháp thuật khác, họ từ chối chúng tôi cái khả năng mở rộng quyền lực của chúng tôi!”

“Ôi, yêu tinh cũng đâu chia sẻ bất cứ pháp thuật gì của họ đâu,” Ron nói, “yêu tinh đâu có nói cho chúng tôi biết cách làm gương hay vũ khí theo kểu các ông làm đâu.

Yêu tinh biết cách luyện kim loại theo cách thức mà phù thủy không bao giờ…”

“Điều đó không quan trọng,” Harry nói, để ý sắc diện của Griphook dang ửng đỏ lên.

“Đây không phải là chyện giữa phù thủy và yêu tinh hay bất cứ loài sinh vật pháp thuật nào khác…”

Griphook bật cười thô lỗ.

“Nhưng chính là chuyện đó, chính xác là chuyện đó!

Khi Chúa tể Hắc ám trở nên đầy quyền lực hơn bao giờ hết, chủng loại phù thủy các người sẽ càng thêm vững vàng, đè đầu cỡi cổ chủng loại chúng tôi!

Gringotts rơi vào sự quản trị của phù thủy, gia tinh bị tàn sát, ai trong những kẻ-mang-đũa-phép phản đối nào?”

“Chúng tôi!”

Hermione nói.

Cô bé đã đứng dậy, hai mắt rực sáng.

“Chúng tôi phản đối!

Và tôi bị săn lùng không kém bất cứ yêu tinh hay tinh nào hết, ông Griphook à!

Tôi là một phù thủy gốc Muggle!”

“Không nên tự gọi mình là…”

Ron làu bàu.

“Tại sao tôi không nên?”

Hermione nói.

“Máu bùn, và tự hào về điều đó!

Dưới trật tự tôn ti mới này, tôi chẳng được cái vị trí nào cao hơn các ông hết, ông Griphook à!

Chúng chọn chính tôi để hành hạ, lúc ở nhà Malfoy.”

Khi nói thế, Hermione kéo cái cổ của bộ áo ngủ ra, để lộ vết cắt mảnh màu đỏ thắm trên cổ họng cô bé mà Bellatrix đã gây ra.

“Ông có biết là chính Harry Potter đã giải phóng Dobby không?” cô bé hỏi.

“Ông có biết là chúng tôi đã muốn giải phóng tất cả gia tinh từ nhiều năm rồi không?” (Ron cựa quậy không thoải mái trên tay ghế mà Hermione đang ngồi.) “Ông không thể trông mong cho Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó bị đánh bại hơn chúng tôi đâu, ông Griphook!”

Con yêu tinh chăm chú nhìn Hermione một cách tò mò tương tự như y đã nhìn Harry.

“Cậu muốn kiếm cái gì ở trong hầm an toàn của Lestrange?”

Y đột ngột hỏi.

“Thanh gươm nằm trong đó là đồ giả.

Đây mới là thanh gươm thật,” y ngó tụi nó hết đứa này đến đứa kia.

“Tôi nghĩ cậu đã biết điều này.

Cậu đã bảo tôi nói dối cho cậu khi còn ở đó.”

“Nhưng thanh gươm giả không phải là cái duy nhất năm trong hầm an toàn, đúng không?”

Harry hỏi.

“Có thể ông đã nhìn thấy những vật khác ở trong đó chứ?”

Tim nó đang đập mạnh hơn bao giờ hết.

Nó gồng lên gấp đôi nỗ lực bỏ qua cơn co giật của cái thẹo.

Con yêu tinh lại xoắn chòm râu bằng ngón tay.

“Tiết lộ bí mật là ngược lại đạo lý của chúng tôi.

Chúng tôi là những kẻ canh giữ những kho báu thần thoại.

Chúng tôi có bổn phận đối với những vật thể được giao cho chúng tôi canh giữ, những vật mà, thường là, do chính tay chúng tôi làm ra.”

Con yêu tinh gõ lên thanh gươm, và con mắt đen của y nhìn từ Harry sang Hermione đến Ron rồi nhìn tụi nó thêm một lượt nữa.

“Quá trẻ,” cuối cùng y nói, “để chống lại quá nhiều.”

“Ông có giúp chúng tôi hay không?”

Harry hỏi.

“Chúng tôi chẳng có chút hy vọng nào xâm nhập được nếu không có một yêu tinh giúp sức.

Ông là cơ hội duy nhất cho chúng tôi.”

“Tôi sẽ… suy nghĩ về chuyện này,” Griphook nói bằng cái giọng nghe dễ điên hết sức.

“Nhưng…”

Ron vừa tức giận mở miệng, Hermione đã thức vô be sườn nó.

“Cám ơn,” Harry nói.

Con yêu tinh cúi cái đầu bự tròn như cái vòm để cảm tạ, rồi gập hai chân ngắn ngủn của y lại.

“Tôi nghĩ,” y nói, nằm tênh hênh trên giường của anh Bill và chị Fleur, “rượu Bổ Xương đã phát huy xong tác dụng.

Cuối cùng tôi có thể ngủ được.

Xin thứ lỗi cho tôi…”

“Không sao, dĩ nhiên,” Harry nói, trước khi ra khỏi phòng nó chồm tới và lấy thanh gươm Gryffinor đang đặt bên cạnh con yêu tinh.

Griphook không phản đối nhưng Harry nghĩ nó thấy ánh mắt oán giận của con yêu tinh khi nó đóng cánh cửa phòng lại.

“Đồ cà chớn!”

Ron thì thào.

“Hắn khoái bắt tụi mình treo toòng teng.”

“Harry,” Hermione thì thầm, vừa kéo cả hai đứa kia đi ra xa cánh cửa, vào giữa đầu cầu thang vẫn còn tối thui.

“Bồ có sắp nói cái điều mà mình nghĩ bồ sắp nói không?

Bồ sắp nói là có một cái Trường Sinh Linh Giá trong hầm an toàn của mụ Lestrange đúng không?”

“Đúng,” Harry nói.

“Bellatrix đã hoảng sợ khi mụ tưởng là tụi mình đã từng vô trong đó, mụ mất cả tự chủ.

Tại sao?

Mụ tưởng tụi mình đã thấy cái gì, mụ tưởng tụi mình còn lấy cái gì khác nữa?

Cái gì đó mà mụ điếng người lo Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó biết đến.”

“Nhưng mình tưởng tụi mình tìm kiếm những nơi Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đã từng đến, nơi mà hắn từng làm điều gì đó quan trọng chứ,” Ron nói, có vẻ hơi bị quê độ.

“Hắn có từng ở trong hầm an toàn của mụ Lestrange không?”

“Mình không biết liệu hắn đã từng vô tới bên trong Gringotts chưa,” Harry nói.

“Hắn chưa bao giờ có vàng trong đó khi hắn còn nhỏ, bởi vì không ai để lại cho hắn gì cả.

Tuy nhiên hắn có thể đã nhìn thấy nhà băng đó từ bên ngoài, hồi hắn đến Hẻm Xéo lần đầu tiên.”

Cái thẹo của Harry lại giật giật, nhưng Harry không để ý, nó muốn Ron và Hermione hiểu về Gringotts trước khi tụi nó nói chuyện với ông Ollivander.

“Mình nghĩ hắn sẽ ganh tỵ với bất cứ ai có một chìa khoá hầm an toàn Gringotts.

Mình nghĩ hắn coi đó thực sự là tượng trưng cho sự thuộc về thế giới phù thuỷ.

Và đừng quên, hắn tin tưởng Bellatrix và chồng mụ.

Họ là những tôi tớ tận tuỵ nhất với hắn trước khi hắn sụp đổ, và họ đã tìm kiếm hắn sau khi hắn biến mất.

Hắn đã nói điều đó vào cái đêm hắn trở lại, mình đã nghe hắn nói.”

Harry xoa cái thẹo.

“Nhưng mình không nghĩ hắn nói cho mụ Bellatrix biết đó là một Trường Sinh Linh Giá.

Hắn không bao giờ nói cho lão Lucius Malfoy biết sự thật về cuốn nhật ký.

Hắn có lẽ chỉ nói với mụ đó là một vật sở hữu quý giá và nhờ mụ cất giữ trong hầm an toàn của mụ.

Nơi duy nhất trên thế giới, ngoại trừ trường Hogwarts, để cất bất cứ thứ gì người ta muốn cất giấu, bác Hagrid nói với mình như vậy…”

Khi Harry nói xong, Ron lắc đầu.

“Bồ đúng là hiểu hắn.”

“Một phần của hắn thôi.”

Harry nói.

“Một phần… mình chỉ ước mình cũng hiểu thầy Dumbledore được như vậy.

Nhưng để rồi coi.

Đi – bây giờ đến ông Ollivander.”

Ron và Hermione nhìn nhau ngơ ngác, nhưng đầy ấn tượng khi hai đứa nó đi theo Harry băng qua đầu cầu thang hẹp và gõ lên cánh cửa phòng đối diện phòng anh Bill và chị Fleur.

Một giọng yếu ớt vang lên “Mời vào,” đáp lại tụi nó.

Người chế tạo đũa phép đang nằm trên cái giường đôi cách xa cửa sổ nhất.

Ông đã bị giam cầm trong hầm rượu hơn một năm, và bị tra tấn, Harry biết, ít nhất là một lần.

Ông đã bị teo tóp đi, xương mặt nhô ra sắc cạnh trên nền da vàng ệch.

Hai con mắt bạc rất to của ông dường như khổng lồ trong hốc mắt hõm sâu.

Hai bàn tay như của một bộ xương đặt trên tấm mền.

Harry ngồi xuống cái giường trống bên cạnh Ron và Hermione.

Ở đây không thấy được cảnh mặt trời đang mọc.

Căn phòng hướng ra một mảnh vườn trên mỏm đá và nấm mộ mới đào.

“Thưa ông Ollivander, cháu xin lỗi quấy rầy ông.”

“Cháu yêu quý,” giọng ông Ollivander run run, “Cháu đã cứu chúng tôi, tôi tưởng đâu chúng tôi sẽ chết rục ở đó rồi chứ, tôi không bao giờ có thể đền đáp…không bao giờ đền đáp đầy đủ…ơn cháu cứu mạng.”

“Tụi cháu hân hạnh được làm việc đó.”

Cái thẹo của Harry co giật dữ dội.

Nó biết, nó chắc chắn, chẳng còn chút thì giờ nào nữa để đánh bại Voldemort khỏi mục tiêu của hắn, hoặc cố gắng ngăn chặn hắn.

Nó cảm thấy chới với hoảng hốt… nhưng nó đã quyết định khi chọn nói chuyện với Griphook trước.

Cố tạo vẻ bình tĩnh mà nó không hề cảm thấy, nó mò trong cái túi bùa đeo ở cổ lấy ra hai khúc của cây đũa phép bị gãy của nó.

“Ông Ollivander, cháu cần được giúp đỡ.”

“Bất cứ điều gì.

Bất cứ chuyện gì,” người chế tạo đũa phép nói yếu ớt.

“Ông có thể chữa cây đũa phép này không?

Có khả năng chữa được không?”

Ông Ollivander đưa ra một bàn tay run rẩy, và Harry đặt hai nửa lặt lìa của cây đũa phép vào bàn tay ông.

“Gỗ cây nhựa ruồi và lông phượng hoàng,” giọng ông Ollivander run lên vì hốt hoảng.

“mười một inch, nhã và nhu.”

“Dạ đúng,” Harry nói.

“Ông có thể…?”

“Không,” ông Ollivander thì thào.

“Tôi rất tiếc, rất tiếc, nhưng một cây đũa phép mà bị hư hại đến mức này thì không thể sửa chữa bằng bất cứ cách nào mà tôi biết được.”

Dù Harry đã gồng mình để nghe điều này, nó vẫn choáng như bị một cú đấm.

Nó lấy lại hai nửa cây đũa phép, cất vào trong cái túi bùa đeo quanh cổ.

Ông Ollivander nhìn trân trối chỗ mà cây đũa phép gãy vừa biến mất và không nhìn đi chỗ khác được cho đến khi Harry lấy từ trong túi ra hai cây đũa phép mà nó đem về từ phủ Malfoy.

“Ông có thể xác định căn cước mấy cây này không?”

Harry hỏi.

Người chế tạo đũa phép cầm cây đũa phép thứ nhất đưa đến gần đôi mắt đã mờ, xoay nó giữa những ngón tay lỏng khỏng khớp, uốn nó cong cong.

“Gỗ cây óc chó và gân tim rồng,” ông nói “Mười hai ba phần tư inch.

Cứng cựa.

Cây đũa phép vốn thuộc về Bellatrix Lestrange.”

“Còn cây này?”

Ông Ollivander cũng xem xét như trước.

“Gỗ cây táo gai và lông kỳ lân.

Mười inch đúng.

Đàn hồi hợp lý.

Cây này từng là của Draco Malfoy.”

“Từng là?”

Harry lặp lại.

“Chứ không còn là của nó sao?”

“Có lẽ không.

Nếu cháu đã lấy nó…”

“… cháu đã…”

“… vậy thì nó có thể là của cháu.

Dĩ nhiên, cách lấy quan trọng.

Phần lớn tùy thuộc vào bản thân cây đũa phép.

Nhưng nói chung, khi một cây đũa phép bị chiếm đoạt thì sự trung thành của nó sẽ thay đổi.”

Trong phòng trở nên im lặng, chỉ còn vẳng lại tiếng sóng biển xa xa.

“Ông nói về những cây đũa phép như thể chúng có cảm xúc vậy,” Harry nói, “như thể chúng có thể tự suy nghĩ.”

“Cây đũa phép chọn chủ nhân,” ông Ollivander nói.

“Điều đó rất rõ đối với những người nghiên cứu đũa phép học như chúng tôi.”

“Nhưng một người có thể cứ xài cây đũa phép không chịu phục tùng không?”

Harry hỏi.

“À có, nếu cháu là phù thủy thực thụ cháu có thể chuyển pháp thuật của mình qua hầu như bất cứ vật dụng nào.

Tuy nhiên, hiệu quả cao nhất phải luôn luôn tùy thuộc vào mối quan hệ vững chắc nhất giữa phù thủy và đũa phép.

Những mối quan hệ này rất phức tạp.

Sự hấp dẫn ban đầu, và sau đó lá sự điều tra lẫn nhau về kinh nghiệm, cây đũa phép am hiểu phù thủy và phù thủy am hiểu cây đũa phép.”

Biển ầm ào nhào tới rồi vật vã lùi ra; âm thanh thiệt là thê lương.

“Cháu dùng sức đoạt cây đũa phép này của Draco Malfoy,” Harry nói.

“Cháu sử dụng nó có an toàn không?”

“Tôi nghĩ là được.

Luật lệ tinh vi khống chế quyền sở hữu đũa phép; nhưng cây đũa phép bị chiếm đoạt thường bị khuất phục bởi chủ nhân mới.”

“Vậy cháu có nên xài cây đũa phép này không?”

Ron nói, rút cây đũa phép của Đuôi Trùn ra khỏi túi nó và đưa cho ông Ollivander.

“Gỗ cây dẻ và gân rồng.

Chín một phần tư inch.

Giòn.

Tôi đã bị ép chế tạo ra cây đũa phép này sau khi tôi bị bắt cóc không lâu, cho Peter Pettigrew.

Được, nếu cháu chiếm được nó, thì nó rất có thể tuân thủ lệnh của cháu và thực hiện tốt hơn một cây đũa phép khác.”

“Và điều này đúng với tất cả những cây đũa phép khác, phải không ạ?”

“Tôi cho là vậy,” ông Ollivanderd đáp, đôi mắt lồi lên của ông ngước nhìn gương mặt Harry.

“Cháu hỏi những câu hỏi sâu sắc, Potter à.

Đũa phép học là một ngành pháp thuật phức tạp và bí ẩn.”

“Vậy, có cần thiết phải giết người chủ trước đó để chiếm hữu một cây đũa phép không?”

Harry hỏi.

Ông Ollivander nuốt nước miếng.

“Cần thiết ư?

Không, tôi không nên nói là cần thiết giết chóc.”

“Nhưng có những truyền thuyết,” Harry nói, và trong khi nhịp đập của trái tim nó gấp gáp lên, cơn đau trong cái thẹo của nó trở nên dữ dội hơn; nó chắc chắn Voldemort đã quyết định thực hiện ý đồ của hắn.

“Những truyền thuyết về một cây đũa phép… hay những cây đũa phép…

được chuyền tay theo lối ám sát.”

Ông Ollivander tái mặt.

Kê đầu trên cái gối trắng như tuyết, vẻ mặt của ông trông hơi xám, đôi mắt ông to lồ lộ, đỏ ngầu, và phồng lên điều gì đó tựa như nỗi sợ hãi.

“Tôi cho là chỉ có một cây đũa phép như vậy mà thôi,” ông thì thầm.

“Và Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó quan tâm đến cây đũa phép đó, đúng không?”

Harry hỏi.

“Tôi… làm sao?”

Ông Ollivander rên rỉ, và ông đưa mắt khẩn khoản nhìn Ron và Hermione để cầu cứu.

“Làm sao cháu biết điều này?”

“Hắn muốn ông nói cho hắn biết làm cách nào đánh bại mối quan hệ giữa cây đũa phép của hắn và cây đũa phép của cháu,” Harry nói.

Ông Ollivander tỏ vẻ kinh hoàng.

“Hắn tra tấn tôi, cháu phải hiểu điều đó!

Lời nguyền Cực hình, tôi… tôi không có lựa chọn nào khác hơn là nói với hắn những gì tôi biết, những gì tôi đoán.”

“Cháu hiểu,” Harry nói.

“Ông đã nói với hắn về cốt lõi sinh đôi phải không?

Có phải ông đã bảo hắn chỉ cần mượn một cây đũa phép của một phù thủy khác?”

Ông Ollivander tỏ vẻ khủng hoảng, chết trân vì những điều Harry biết.

Ông từ từ gật đầu.

“Nhưng không có hiệu quả,” Harry nói tiếp.

“Cậy đũa phép của cháu vẫn đánh bại cây đũa phép hắn mượn.

Ông có biết tại sao lại như vậy không?”

Ông Ollivander lắc đầu chậm rãi như khi ông gật đầu.

“Tôi chưa… chưa từng nghe một điều gì như vậy.

Cây đũa phép của cháu đã hành xử độc đáo vào đêm đó.

Mối quan hệ của cốt lõi sinh đôi là cực kỳ hiếm, nhưng tại sao cây đũa phép của cháu lại quặp luôn cây đũa phép mượn thì tôi không biết….”

“Chúng ta đang nói về một cây đũa phép khác, cây đũa phép được chuyền tay bằng giết chóc.

Khi Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó nhận ra cây đũa phép của cháu hành xử kỳ lạ, hắn trở lại hỏi ông về cây đũa phép kia, đúng không?”

“Làm sao cháu biết chuyện này?”

Harry không trả lời.

“Có, hắn có hỏi,” Ông Ollivander thì thào.

“Hắn muốn biết về mọi thứ tôi có thể nói cho hắn về cây đũa phép được biết dưới nhiều tên khác nhau như Cây Gậy Tử Thần, cây Đũa phép Định mệnh, hay cây Đũa phép Cơm nguội.”

Harry liếc qua Hermione.

Cô bé tỏ vẻ sửng sốt đến lặng đi.

“Chúa Tể Hắc ám,” ông Ollivander nói bằng giọng hoảng sợ và cố bưng bít, “luôn hài lòng với cây đũa phép mà tôi đã chế tạo cho hắn – gỗ thủy tùng và lông phượng hoàng, mười ba inch rưỡi… cho đến khi hắn phát hiện ra mối quan hệ của cốt lõi sinh đôi.

Bây giờ hắn tìm kiếm cây đũa phép khác nhiều quyền năng hơn, coi đó như cách duy nhất để đánh bại cháu.”

“Nhưng chẳng bao lâu hắn sẽ biết, nếu giờ còn chưa biết, là cây đũa phép của cháu đã gãy vô phương cứu chữa,” Harry lặng lẽ nói.

“Không!”

Hermione nói, giọng sợ hãi.

“Hắn không thể biết chuyện đó đâu, Harry, làm sao hắn…”

“Thần chú Tiền tích,” Harry nói.

“Tụi mình đã bỏ lại cây đũa phép của bồ và cây đũa phép tầm gai ở nhà Malfoy, Hermione à.

Nếu chúng kiểm tra một cách thích đáng, khiến những cây đũa phép tái tạo những bùa chú đã thực hiện gần đây, chúng sẽ biết cây đũa phép của bồ đã đánh gãy cây đũa phép của mình và bồ đã cố gắng sữa chữa nó nhưng thất bại, và chúng sẽ hiểu ra là kể từ đó mình đã xài cây đũa phép tầm gai.”

Gương mặt mới hơi hồng hào trở lại của cô bé kể từ khi tụi nó đến đây bây giờ lại tái ngắt.

Ron quắc mắt nhìn Harry quở trách, và nói: “Tụi mình khoan lo chuyện đó lúc này…”

Nhưnh ông Ollivander xen vào.

“Chúa tể Hắc ám không còn tìm kiếm cây Đũa phép Cơm nguội chỉ để tiêu diệt cháu mà thôi, Potter à.

Hắn quyết tâm sở hữu cây Đũa phép Cơm nguội bởi vì hắn tin là nó sẽ khiến hắn thực sự vô địch.”

“Và điều đó đúng không?”

“Chủ nhân cây Đũa phép Cơm nguội ắt luôn luôn lo sợ bị tấn công,” ông Ollivander nói.

“Nhưng ý tưởng Chúa tể Hắc ám sở hữu cây gậy Tử thần thì, tôi phải thừa nhận… thật khủng khiếp.”

Harry bỗng nhiên nhớ lại hồi gặp ông Ollivander lần đầu tiên nó đã không chắc được nó có thích ông không.

Ngay đến bây giờ, sau khi Voldemort hành hạ và giam cầm như vậy, cái ý tưởng Chúa tể Hắc ám sở hữu cây gậy Tử thần vẫn mê hoặc ông ngang mức ông cự tuyệt nó.

“Vậy ông…

ông có thực sự tin là cây đũa phép đó hiện hữu không, ông Ollivander?”

Hermione hỏi.

“Ồ có chứ,” ông Ollivander nói.

“Có, hoàn toàn có thể dò ra dấu vết quá trình cây đũa phép đó trong lịch sử pháp thuật.

Có những khoảng hở, dĩ nhiên, và là những khoảng hở lớn, khi cây đũa phép đó biến mất, tạm thời bị mất hay bị giấu; nhưng nó luôn luôn trồi lên trở lại.

Nó có những đặc điểm nhận dạng mà những ai am hiểu trong ngành đũa phép học đều có thể nhận ra.

Có những ghi chép, một số khá mơ hồ, mà tôi và các nhà đũa phép học khác phải nghiên cứu như công việc phải làm.

Những ghi chép đó có vẻ chân xác.”

“Vậy là ông…

ông không cho đó có thể là truyện thần tiên hay truỵên thần thoại sao?”

Hermione hỏi với vẻ hy vọng.

“Không,” ông Ollivander nói.

“Liệu nó có cần phải chuyền tay bằng giết chóc không thì tôi không biết.

Lịch sử của nó đẫm máu, nhưng có thể chỉ vì nó là vật đáng thèm muốn đến thế, và khơi dậy dục vọng của các phù thủy đến thế.

Trong tay kẻ ác thì nó cực kỳ hung bạo và nguy hiểm, nhưng đối với tất cả những người nghiên cứu quyền năng của đũa phép như chúng tôi thì đó là một vật thể hấp dẫn đến lạ thường.”

“Ông Ollivander à,” Harry nói, “ông đã nói với Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó rằng ông Gregorovitch đã giữ cây Đũa phép Cơm nguội, đúng không?”

Ông Ollivander đã tái giờ lại càng tái hơn.

Khi tắc nghẹn trông ông như con ma.

“Nhưng làm sao… làm sao cháu biết…?”

“Đừng bận tâm chuyện cháu biết được bằng cách nào,” Harry nói, nhắm mắt lại trông chốc lát vì cái thẹo của nó rát bỏng và nó thấy, chỉ trong vài giây, hình ảnh phố chính của làng Hogsmaede, vẫn còn tối, vì chỗ đó ở tuốt phía bắc.

“Ông nói với Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó rằng ông Gregorovitch có cây đũa phép đó?”

“Đó là lời đồn đại,” ông Ollivander thì thầm.

“Một lời đồn đại, cách đây hằng bao nhiêu năm rồi, từ trước thời cháu ra đời lâu lắm.

Tôi tin là chính ông Gregorovitch tung ra lời đồn đại đó trước tiên.

Cháu có thể thấy là chuyện đó, chuyện đồn đại là ông ta đã nghiên cứu để mô phỏng phẩm chất của cây Đũa phép Cơm nguội, sẽ giúp việc kinh doanh của ông ấy trở nên khấm khá lên!”

“Dạ, cháu có thể hiểu chuyện đó,” Harry nói.

Nó đứng dậy.

“Ông Ollivander à, một câu chót, và tụi cháu sẽ để ông nghỉ ngơi.

Ông có biết gì về những Bảo bối Tử thần?”

“Những… cái gì?”

Người chế tạo đũa phép hỏi, tỏ vẻ ngơ ngác hoàn toàn.

“Những Bảo bối Tử thần.”

“Tôi e là tôi không biết cháu đang nói về cái gì.

Cái đó có liên quan gì đến đũa phép không?”

Harry nhìn vào gương mặt hốc hác và tin là ông Ollivander không đóng kịch.

Ông không biết gì về những Bảo bối Tử thần cả.

“Cám ơn ông,” Harry nói.

“Cám ơn ông nhiều lắm.

Bây giờ tụi cháu sẽ để ông được nghỉ ngơi.”

Ông Ollivander có vẻ khổ tâm.

“Hắn tra tấn tôi!”

Ông há hốc miệng hớp hơi.

“Lời nguyền Cực hình… cháu không hiểu…”

“Cháu hiểu,” Harry nói, “cháu hiểu thiệt mà.

Ông làm ơn nghỉ ngơi đi.

Cám ơn ông đã nói với tụi cháu tất cả những điều này.”

Harry dẫn Ron và Hermione đi xuống cầu thang.

Nó thoáng thấy anh Bill, chị Fleur, Luna và Dean đang ngồi quanh cái bàn trong nhà bếp, trước mặt mỗi người đều có tách trà.

Tất cả bọn họ đều ngước nhìn Harry khi nó xuất hiện ở ngưỡng cửa, nhưng nó chỉ gật đầu với họ và tiếp tục đi luôn ra vườn, Ron và Hermione đi theo sau.

Mô đất đỏ đắp trên xác Dobby nằm phía trước, và Harry bước trở lại với nấm mộ, trong khi cơn đau trong đầu nó càng lúc càng tăng lên dữ dội khủng khiếp.

Giờ đây nó phải cố gắng ghê gớm mới ngăn chặn được những hình ảnh đang xông vào đầu, nhưng nó biết nó sẽ chỉ kháng cự thêm chút xíu nữa thôi.

Chút xíu nữa là nó sẽ chịu thua, bởi vì nó cần biết giả thuyết của nó đúng hay không.

Nó phải cố thêm một chút xíu nữa thôi, để có thể giải thích cho Ron và Hermione.

“Ông Gregorovitch đã có cây Đũa phép Cơm nguội từ thời xa xưa,” nó nói.

“Mình đã thấy Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó ra sức tìm ông.

Khi hắn thấy Gregorovitch, hắn phát hiện ra ông khônhg còn giữ cây đũa phép đó nữa.

Nó đã bị Grindelwald đánh cắp rồi.

Mình không biết làm sao Grindelwald biết ông Gregorovitch có cây đũa phép đó – nhưng nếu ông Gregorovitch ngu đến mức tung ra lời đồn đại, thì chuyện Grindelwald biết được cũng không khó lắm.”

Voldemort đang ở cổng trường Hogwarts, Harry có thể nhìn thấy hắn đứng đó, và nó cũng thấy, bóng đèn đung đưa trong buổi sắp rạng đông, hắn đang tiến đến mỗi lúc một gần hơn.

“Và Grindelwald đã dùng cây Đũa phép Cơm nguội để trở nên hùng mạnh.

Và ở đỉnh cao quyền lực của hắn, khi thầy Dumbledore biết thầy là người duy nhất có thể chặn đứng hắn, thầy đã đấu tay đôi với Grindelwald và đánh bại hắn, và thầy đã lấy cây Đũa phép Cơm nguội.”

“Thầy Dumbledore có cây Đũa phép Cơm nguội hả?”

Ron nói.

“Nhưng vậy thì… nó ở đâu bây giờ?”

“Ở trường Hogwarts,” Harry nói, gồng mình chiến đấu để vẫn trụ lại được trong hiện thực ở khu vườn trên mỏm đá.

“Nhưng như vậy thì, tụi mình đi đi!”

Ron nói một cách khẩn cấp.

“Harry, tụi mình đi mau, đi lấy nó trước khi hắn lấy!”

“Quá trễ rồi,” Harry nói.

Nó không thể kiềm giữ được nữa, nhưng nó bấu chặt đầu, cố gắng giúp cái đầu mình kháng cự.

“Hắn đã biết nó ở đâu.

Bây giờ hắn đã ở đó.”

“Harry!”

Ron tức giận nói.

“Bồ biết điều này bao lâu rồi – tại sao tụi mình lại phí phạm thời giờ chứ?

Tại sao bồ nói chuyện với Griphook hả?

Lẽ ra tụi mình có thể đi – tụi mình vẫn còn có thể đi…”

“Không” Harry nói, và khuỵu đầu gối quỳ xuống cỏ.

“Hermione nói đúng.

Thầy Dumbledore không muốn mình có cây đũa phép đó.

Thầy không muốn mình lấy nó.

Thầy muốn mình tìm những Trường Sinh Linh Giá.”

“Harry ơi, đó là cây đũa phép vô địch!”

Ron than thở.

“Mình không có nhiệm vụ lấy nó… mình có nhiệm vụ tìm những Trường Sinh Linh Giá…”

Rồi mọi thứ bỗng mát lạnh và tối om: Mặt trời vẫn chưa thấy đâu nơi đường chân trời khi nó lướt bên cạnh thầy Snape, qua những khoảng sân tiến về phía hồ.

“Lát nữa ta sẽ gặp mi trong lâu đài,” nó nói bằng giọng cao lạnh lùng, the thé.

“Bây giờ cứ để mặc ta.”

Snape cúi chào và quay lại đi ngược lên con đường mòn, tấm áo choàng đen phùng lên phía sau ông.

Harry bước chân chầm chậm chờ cho bóng tối thầy Snape biến mất.

Sẽ không hay nếu để cho thầy Snape hoặc bất cứ ai nhìn thấy nó đang đi đâu.

Nhưng không có ánh sáng nào phát ra từ các cửa sổ lâu đài, và nó có thể ẩn thân…

Chỉ trong một giây nó đã tự ếm bùa tan Ảo ảnh lên mình, giấu thân đi trước chính dôi mắt nó.

Và nó tiếp tục, vòng qua bờ hồ, thu lấy hình bóng của tòa lâu đài yêu dấu, vương quốc đầu tiên của nó, quyền thừa kế của nó.

Và đây, nằm bên cạnh hồ, rọi bóng suống mặt nước đen, ngôi mộ cẩm thạch trắng, một vết lợn cợn không cần thiết trên phong cảnh quen thuộc.

Nó lại cảm thấy cơn hứng khởi của niềm hân hoan lâu nay bị kiềm chế, cái cảm xúc ngất ngây của mục đích hủy hoại.

Nó giơ cây đũa phép gỗ thủy tùng cũ lên: thật vừa vặn đây sẽ là phép thuật cuối cùng cây đũa phép này thực hiện.

Ngôi mộ bị xẻ từ đầu đến chân và tách làm đôi.

Cái hình hài được liệm kia dài và gầy như hồi còn sống.

Nó lại giơ cây đũa phép lên một lần nữa.

Lớp vải lịêm mở ra.

Gương mặt mờ mờ, tái, hóp nhưng vẫn được bảo quản gần như hoàn hảo.

Cặp kiếng vẫn được đặt trên sống mũi khoằm: nó cảm thấy một sự nhạo báng thú vị.

Hai tay cụ Dumbledore khoanh trên ngực, và duới hai bàn tay nắm chặt là cây đũa phép, nó nằm đó, được chôn theo cụ.

Chẳng lẽ lão ngốc tưởng tượng cẩm thạch hay cái chết sẽ bảo vệ được cây đũa phép sao?

Chẳng lẽ lão tưởng Chúa tể Hắc ám sẽ không dám quật mồ lão ư?

Bàn tay như mạng nhện thọc xuống và giật cây đũa phép ra khỏi nắm tay của cụ Dumbledore, và khi nó lấy được rồi, một chùm tia sáng tóe ra từ đầu cây đũa phép, chiếu lấp lánh trên xác chết của vị chủ nhân cuối cùng, sẵn sàng phục vụ chủ nhân mới.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 25: Chòi đất


Chòi đất

Ngôi nhà nhỏ của anh Bill và chị Fleur đứng một mình trên một mỏm đá trông ra biển, vách cẩn vỏ sò và quét vôi trắng.

Một nơi đẹp đẽ và quạnh hiu.

Cho dù Harry đi bất cứ chỗ nào bên trong ngôi nhà hay ngoài vườn, nó cũng có thể nghe tiếng biển lên xuống đều đặn, giống như tiếng thở của một con gì đó lớn lắm đang ngủ.

Mấy ngày tiếp theo nó luôn kiếm cớ để ra khỏi ngôi nhà nhỏ đông đúc, vì khao khát cảnh bầu trời cao rộng và biển trống mênh mông nhìn từ trên mỏm đá, cùng cái cảm giác gió mặn và lạnh thổi qua mặt nó.

Tầm quan trọng của quyết định không ganh đua giành cây đũa phép với Voldemort vẫn còn khiến Harry sợ.

Nó không thể nào nhớ trước đây nó đã từng lựa chọn không hành động lần nào chưa.

Lòng nó đầy hoang mang, nỗi hoang mang mà Ron không thể không thốt lên bất cứ khi nào tụi nó ngồi cùng nhau.

“Nếu thầy Dumbledore muốn tụi mình tìm hiểu các biểu tượng thật sớm đặng lấy được cây đũa phép thì sao?”

“Nếu việc giải quyết cái biểu tượng đó nhằm làm cho bồ ‘xứng đáng’ giữ những Bảo bối Tử thần thì sao?”

“Harry à, nếu đó đúng là cây Đũa phép Cơm nguội thì tụi mình sẽ phải làm cách quỷ gì để dứt điểm Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó?”

Harry không thể trả lời: Có những lúc nó tự hỏi phải chăng nó hoàn toàn điên khùng khi không ngăn chặn Voldemort quật mồ.

Nó thậm chí không thể giải thích một cách thoả đáng tại sao nó đã quyết định không làm điều đó.

Mỗi lần nó cố tái lập những lý lẽ trong thâm tâm đã khiến nó có quyết định đó, thì những lý lẽ đó trở nên mù mờ thêm.

Điều kỳ quái là sự ủng hộ của Hermione khiến nó cảm thấy bối rối không kém sự hoang mang của Ron.

Giờ đây buộc phải chấp nhận cây Đũa phép Cơm nguội là có thật, cô bé vẫn nhất định cho rằng đó là một đồ vật tai ác, và cái cách mà Voldemort đoạt lấy cây đũa phép đó quá ghê tởm, không đáng nghĩ tới.

“Bồ không thể nào làm chuyện đó, Harry à,” Hermione cứ nói đi nói lại hoài, “Bồ không thể nào quật mồ thầy Dumbledore được.”

Nhưng ý nghĩ về cái xác của cụ Dumbledore không khiến nó sợ bằng cái khả năng có thể nó đã hiểu nhầm ý định của cụ Dumbledore khi còn sống.

Nó cảm thấy nó vẫn còn mò mẫm trong bóng tối, nó đã lựa chọn con đường cho mình nhưng cứ ngoảnh nhìn lại, tự hỏi liệu nó có đọc nhầm dấu hiệu, liệu nó có nên theo một con đường khác.

Thỉnh thoảng, nỗi giận hờn cụ Dumbledore lại đổ ập xuống nó, mạnh như những con sóng tự đập tan mình vào gành đá phía dưới ngôi nhà - nỗi hờn giận cụ Dumbledore đã không giải thích gì trước khi cụ chết.

“Nhưng mà thầy có chết không?”

Ron hỏi, ba ngày sau khi tụi nó đến Chòi Đất.

Harry đang nhìn qua bức tường ngăn cách khu vườn và mỏm đá thì Ron và Hermione tìm ra nó; nó ước gì hai đứa đừng tìm tới, vì nó không muốn dự phần vào cuộc tranh cãi của hai đứa chút nào.

“Có, thầy chết rồi, Ron à, làm ơn đừng khơi lại chuyện đó nữa!”

“Thử nhìn lại những sự việc xem, Hermione,” Ron nói vọng qua mặt Harry, lúc này vẫn tiếp tục đăm chiêu nhìn về phía chân trời.

“Con hươu bạc nè.

Thanh gươm nè.

Con mắt Harry nhìn thấy qua mảnh gương nè...”

“Harry thừa nhận có thể là do bạn ấy đã tưởng tượng ra con mắt đó!

Có phải không, Harry?”

“Có thể,” Harry nói mà không nhìn Hermione.

“Nhưng mà bồ không nghĩ là bồ đã tưởng tượng, đúng không nào?”

Ron hỏi.

“Không,” Harry nói.

“Thấy chưa!”

Ron nói ngay, trước khi Hermione nói tiếp.

“Nếu không phải là thầy Dumbledore thì Hermione à, thử giải thích coi làm sao Dobby biết tụi mình bị nhốt trong hầm rượu chứ?”

“Mình không thể... nhưng bồ có thể giải thích thầy Dumbledore làm cách nào phái Dobby tới cứu tụi mình nếu thầy nằm dưới một nấm mồ ở Hogwarts không?”

“Mình không biết, có thể là bóng ma của thầy!”

“Thầy Dumbledore không bao giờ hiện về như một bóng ma,” Harry nói.

Cho tới giờ chẳng có mấy điều về cụ Dumbledore mà nó chắc chắn, nhưng điều đó thì nó biết rất rõ.

“Thầy đi tiếp.”

“Bồ nói ‘đi tiếp’ với nghĩa gì?”

Ron hỏi, nhưng Harry chưa kịp nói thêm tiếng nào thì một giọng nói sau lưng tụi nó vang lên “Arry!”

Chị Fleur vừa ra khỏi ngôi nhà, mái tóc dài óng ánh của chị bay trong gió thoảng.

“Arry à, ông Griphook muốn nói chuyện với em.

Ông ấy ở trong căn phòng ngủ nhõ nhất ấy, ông nói ông không muốn ai nghe lén.”

Rõ ràng chị không thích con yêu tinh sai chị đi nhắn nhe kiểu đó, chị có vẻ giận dỗi khi quay bước trở vô nhà.

Như chị Fleur nói, Griphook đang chờ tụi nó ở căn phòng nhỏ nhất trong ba phòng ngủ của ngôi nhà, nơi Hermione và Luna ngủ vào ban đêm.

Ông ta đã kéo tấm màn đỏ che bầu trời đầy mây sáng sủa, khiến căn phòng có một vẻ hừng hực một cách chỏi lỏi với phần còn lại thông thoáng, thanh thoát của ngôi nhà.

“Tôi đã đi tới quyết định, Harry Potter à,” con yêu tinh nói, y đang ngồi vắt tréo chân trên một cái ghế thấp, gõ gõ lên cánh tay bằng mấy ngón tay khẳng khiu.

“Mặc dù yêu tinh ở Gringotts sẽ coi đây là sự phản bội hèn hạ, tôi quyết định giúp cậu...”

“Tuyệt lắm!”

Harry nói, sự nhẹ nhõm lan toả khắp người nó.

“Ông Griphook, cám ơn ông, chúng tôi thiệt tình...”

“...

để đổi lại,” con yêu tinh quả quyết nói, “phải trả công.”

Hơi bị dội ngược, Harry ngập ngừng.

“Ông muốn bao nhiêu?

Tôi có vàng.”

“Không cần vàng,” Griphook nói, “Tôi có vàng.”

Đôi mắt đen của y loé lên, trong mắt y không có tròng trắng.

“Tôi muốn thanh gươm.

Thanh gươm của Godric Gryffindor.”

Tinh thần Harry tụt xuống một cái èo.

“Ông không thể lấy cái đó,” nó nói, “Tôi rất tiếc.”

“Vậy thì,” con yêu tinh nói nhẹ nhàng, “Chúng ta gặp vấn đề rồi.”

“Chúng tôi có thể cho ông cái khác.”

Ron sốt sắng nói.

“Tôi cá là mụ Lestrange có cả đống đồ, ông có thể lấy hay chọn khi chúng ta vô được hầm an toàn.”

Nó đã nói tầm bậy.

Griphook nổi giận.

“Tôi không phải là một tên trộm, cậu à!

Tôi không tìm cách chôm chỉa của cải mà tôi không có quyền sở hữu.”

“Thanh gươm là sở hữu của tụi tôi...”

“Không đúng,” con yêu tinh nói.

“Tụi tôi là người nhà Gryffindor, và đó là thanh gươm của Godric Gryffindor...”

“Và trước khi nó là của Gryffindor, thì nó là của ai hả?”

Con yêu tinh ngồi thẳng người lên thách hỏi.

“Không của ai hết,” Ron nói.

“Thanh gươm được làm cho thầy, chứ gì nữa?”

“Không đúng!”

Con yêu tinh kêu lên, râu tóc dựng đứng vì tức giận, khi y chỉ ngón tay dài thoòng vào Ron, “Lại thói kiêu căng phù thuỷ!

Thanh gươm đó là của Ragnuk Đệ Nhất, bị Godric Gryffindor chiếm đoạt!

Thanh gươm là một tuyệt tác của nghệ thuật yêu tinh!

Nó liên quan với yêu tinh.

Thanh gươm là cái giá để mướn tôi, chịu thì làm không chịu thì thôi!”

Griphook trừng mắt nhìn tụi nó.

Harry liếc mắt qua hai đứa kia rồi nói, “Ông Griphook à, chúng tôi cần bàn lại việc này.

Nếu được, ông có thể đợi chúng tôi vài phút không?”

Con yêu tinh gật đầu, vẻ mặt chua chát.

Ở tầng dưới, trong căn phòng khách trống vắng, Harry đi tới bên lò sưởi, chân mày nhíu sâu, cố gắng suy nghĩ xem phải làm gì.

Đằng sau nó Ron nói, “Hắn đang được một mẻ cười đấy.

Tụi mình không thể để hắn lấy thanh gươm đó.”

“Điều đó đúng không?”

Harry hỏi Hermione.

“Có đúng là thầy Gryffindor ăn cắp thanh gươm đó không?”

“Mình không biết,” Hermione nói một cách vô vọng.

“Lịch sử phù thuỷ thường không đề cập thẳng thắn những gì các phù thuỷ đã làm đối với các chủng tộc pháp thuật khác, nhưng trong những tài liệu mình biết thì không có cái nào nói là thầy Gryffindor đã ăn cắp thanh gươm đó.”

“Chắc là một trong những câu chuyện của yêu tinh,” Ron nói, “về cách mà phù thuỷ luôn luôn chơi tay trên họ.

Mình cho rằng tụi mình nên tự coi là may mắn rằng hắn đã không đòi một trong những cây đũa phép của tụi mình.”

“Yêu tinh có lý do chính đáng để ghét phù thuỷ, Ron à,” Hermione nói.

“Trong quá khứ, họ từng bị đối xử thô bạo.”

“Nhưng yêu tinh đâu phải là những con thỏ con lông mượt hả?”

Ron nói.

“Họ từng giết rất nhiều phù thuỷ.

Họ cũng đánh đểu lắm.”

“Nhưng mà cãi nhau với Griphook về chủng tộc của người nào láu cá hơn và hung bạo hơn sẽ chẳng thể khiến ông ta muốn giúp tụi mình, đúng không?”

Im lặng một lúc trong thời gian tụi nó cố gắng nghĩ ra một cách giải quyết vấn đề, Harry nhìn ra ngôi mộ của Dobby qua khung cửa sổ.

Luna đang cắm mấy nhành oải hương biển trong một cái hũ đựng mứt bên cạnh bia đá.

“Có rồi,” Ron nói và Harry quay lưng lại cửa sổ để nhìn mặt Ron.

“Như vầy được không?

Tụi mình sẽ nói với Griphook là tụi mình cần thanh gươm cho đến khi tụi mình vô tới trong hầm an toàn thì hắn sẽ được giữ thanh gươm.

Trong đó có một thanh gươm giả, phải không?

Tụi mình sẽ tráo hai thanh gươm và đưa hắn thanh gươm giả.”

“Ron ơi, ông ta phân biệt thật giả còn giỏi hơn tụi mình,” Hermione nói.

“Ông ta là kẻ duy nhất đã nhận ra có sự đánh tráo.”

“Ừ, nhưng tụi mình có thể chuồn trước khi hắn nhận ra…”

Ron xụi lơ trước ánh mắt mà Hermione nhìn nó.

“Chuyện đó,” cô bé lặng lẽ nói, “thật đáng khinh.

Nhờ ông ta giúp, rồi lừa gạt ổng hả?

Và bồ cứ thắc mắc tại sao yêu tinh không ưa phù thuỷ hả, Ron?”

Tai Ron đỏ ửng lên.

“Thôi được!

Thôi được!

Đó là cách duy nhất mà mình có thể nghĩ ra.

Còn giải pháp của mấy bồ thì sao?”

“Tụi mình cần phải cho ông ta một cái gì khác, một cái gì quý giá tương đương.”

“Xuất sắc!

Mình sẽ đi lấy một trong những thanh gươm yêu tinh chế tạo khác, của tổ tiên chúng ta và bồ có thể gói thành quà tặng.”

Tụi nó lại im lặng một lần nữa.

Harry chắc chắn rằng con yêu tinh sẽ không chấp nhận cái gì khác ngoài thanh gươm, cho dù tụi nó có cái quý giá tương đương để cho y đi nữa.

Nhưng mà thanh gươm là cái duy nhất của tụi nó, vũ khí cần thiết để diệt những Trường Sinh Linh Giá.

Nó nhắm mắt lại một lát và lắng nghe tiếng sóng biển rì rào.

Ý nghĩ thầy Gryffindor có lẽ đã đánh cắp thanh gươm khiến nó khó chịu: Nó vẫn luôn tự hào là một Gryffndor, thầy Gryffindor đã từng là người đấu tranh cho phù thuỷ gốc Muggle, là phù thuỷ đã xung đột với thầy Slytherin yêu chuộng thuần chủng.

“Có lẽ ông ta nói dối,” Harry mở mắt ra lại và nói.

“Ông Griphook ấy.

Có lẽ thầy Gryffindor không đánh cắp thanh gươm.

Làm sao mình biết phiên bản lịch sử của yêu tinh là đúng chứ?”

“Điều đó có thay đổi được gì không?”

Hermione nói.

Nó hít một hơi sâu.

“Tụi mình sẽ nói với ông ta là ông có thể giữ thanh gươm sau khi giúp tụi mình vào hầm an toàn đó – nhưng tụi mình phải cẩn thận đừng nói chính xác khi nào ông ta có thể nhận được thanh gươm.”

Một nụ cười từ từ toét lên trên khuôn mặt Ron.

Tuy nhiên, Hermione có vẻ hoảng hốt.

“Harry, tụi mình không thể…”

“Ông ta có thể giữ thanh gươm,” Harry nói tiếp.

“Sau khi tụi mình dùng nó tiêu diệt hết tất cả Trường Sinh Linh Giá.

Khi đó mình sẽ bảo đảm là ông ta có được thanh gươm.

Mình sẽ giữ lời.”

“Nhưng có thể phải nhiều năm trời!”

Hermione nói.

“Mình biết, nhưng ông ta đâu có cần dùng thanh gươm.

Mình sẽ không nói dối… thiệt mà.”

Harry nhìn vào mắt Hermione vừa thách thức vừa hổ thẹn.

Nó nhớ đến những chữ được khắc trên cánh cổng vào nhà tù Nurmengard: VÌ LỢI ÍCH LỚN LAO HƠN.

Nó gạt ý nghĩ đó đi.

Tụi nó có lựa chọn nào khác đâu?

“Mình không ưa trò này,” Hermione nói.

“Mình cũng không ưa lắm,” Harry thừa nhận.

“Chà, mình thấy sáng kiến đó thiên tài lắm,” Ron nói, nó đứng lên lại.

“Tụi mình đi nói với hắn đi.”

Trở lại phòng ngủ nhỏ nhất, Harry đưa ra đề nghị, cẩn thận dùng từ sao cho không có một thời hạn chính xác nào được đưa ra về việc bàn giao thanh gươm.

Hermione cau mày ngó xuống sàn trong lúc Harry nói, nó bực mình cô nàng lắm, sợ cô nàng làm lộ tẩy.

Tuy nhiên, Griphook không ngó tới ai ngoài Harry Potter.

“Cậu có hứa, Harry Potter, là cậu sẽ đưa tôi thanh gươm Gryffindor nếu tôi giúp cậu?”

“Có,” Harry nói.

“Vậy bắt tay.”

Con yêu tinh đưa tay ra nói.

Harry nắm bàn tay đó và lắc.

Nó tự hỏi liệu đôi mắt đen kia có nhìn thấu nỗi nghi ngờ nào trong mắt chính nó không.

Sau đó, Griphook buông tay Harry ra, vỗ hai bàn tay của y vào nhau và nói “Thoả thuận xong.

Chúng ta bắt đầu.”

Như thể lại một phen nữa lên kế hoạch đột nhập Bộ Pháp Thuật.

Tụi nó lấy căn phòng nhỏ nhất đó để làm nơi bàn bạc, và theo ý thích của Griphook, căn phòng được giữ trong cảnh tranh tối, tranh sáng.

“Tôi chỉ đến hầm an toàn của bà Lestrange có một lần,” Griphook nói với tụi nó, “vào dịp tôi được sai cất vào đó thanh gươm giả.

Đó là một trong những phòng cổ xưa nhất.

Những gia đình phù thuỷ lâu đời nhất tàng trữ kho báu của họ ở tầng sâu nhất, nơi những hầm an toàn lớn nhất và được bảo vệ tốt nhất...”

Mỗi lần bàn bạc tụi nó đóng cửa ở lì trong căn phòng nhỏ như cái tủ suốt nhiều tiếng đồng hồ.

Dần dà ngày kéo thành tuần.

Luôn luôn có vấn đề này kế tiếp vấn đề khác phải khắc phục, mà việc nguồn dự trữ Đa Quả dịch cạn kiệt không phải là vấn đề nhỏ nhất.

“Thực ra là chỉ còn đủ cho một đứa tụi mình mà thôi,” Hermione vừa nói vừa nghiêng chai thuốc đặc sệt như sình trước ánh đèn.

“Vậy cũng đủ,” Harry nói, nó đang nghiên cứu cái bản đồ vẽ tay những hành lang sâu nhất của Griphook.

Những cư dân khác trong Chòi Đất khó lòng không nhận thấy có điều gì đó đang được mưu tính khi mà Harry, Ron và Hermione lúc này chỉ xuất hiện vào giờ ăn mà thôi.

Không ai vặn hỏi gì cả, mặc dù Harry thường cảm thấy ánh mắt của anh Bill nhìn tụi nó ở bàn ăn đầy ưu tư lo lắng.

Càng ở với nhau lâu, Harry càng nhận ra nó không ưa con yêu tinh cho lắm.

Griphook khát máu không ngờ được, cười cợt ý tưởng về nỗi đau của những sinh vật kém cỏi hơn, và dường như khoái trá cái khả năng có thể phải làm tổn hại đến những phù thuỷ khác để đột nhập được hầm an toàn của Lestrange.

Harry nhận thấy hai đứa kia cũng có cùng nỗi chán ghét này với nó, nhưng tụi nó không nói về chuyện đó.

Tụi nó cần Griphook.

Con yêu tinh chỉ bất đắc dĩ ngồi ăn cùng mọi người.

Ngay cả sau khi chân cẳng y đã lành lặn, y vẫn đòi dọn mâm thức ăn lên phòng y, như ông Ollivander vẫn-còn-yếu-ớt, cho đến khi anh Bill (sau cơn giận bùng ra của chị Fleur ) đi lên lầu để nói với con yêu tinh là việc hầu hạ không thể tiếp tục được nữa.

Từ đó Griphook cùng ngồi ăn với mọi người ở cái bàn đã quá ư chật chội, mặc dù y không chịu ăn đồ ăn như mọi người, mà khăng khăng đòi ăn những tảng thịt tươi, củ rễ và nhiều loại nấm khác nhau.

Harry cảm thấy nó phải chịu trách nhiệm: Chính nó nhất định đòi con yêu tinh ở lại Chòi Đất để nó có thể thẩm vấn y, lỗi của nó đã làm cả gia đình Weasley phải dắt nhau đi trốn, anh Bill, Fred, Geogre và ông Weasley không thể đi làm nữa.

“Em xin lỗi,” nó nói với chị Fleur vào một buổi tối gió quần quật dữ dội trong lúc nó giúp chị nấu bữa tối.

“Em không lường được chị phải lo liệu tất cả việc này.”

Chị vừa khiến một mớ dao làm việc, xắt thịt bò cho Griphook và anh Bill, anh ấy cũng thích ăn thịt còn máu kể từ khi bị Greyback tấn công.

Trong khi con dao sau lưng chị xắt lia lịa, vẻ mặt quạu quọ của chị phần nào dịu xuống.

“Arry à, em cứu mạng em gái chị, chị không quên điều đó.”

Nói cho ngay thì điều đó không đúng, nhưng Harry quyết định không nhắc chị Fleur nhớ là Gabrielle chưa hề bị nguy hiểm thật sự.

“Dù sao đi nữa,” chị Fleur vừa nói vừa chĩa cây đũa phép vào nồi nước chấm trên bếp, cái nồi lập tức sôi lên bụp bụp.

“Ông Ollivander sắp dọn qua chỗ bà dì Muriel vào tối nay.

Như vợi sẽ làm cho công việc đỡ hơn.

Con yêu tinh,” chị cau mặt một tí khi nhắc tới y, “có thể dọn xuống tầng dưới, và em, Ron và Dean có thể dọn vô căn phòng đó.”

“Tụi em không ngại gì chuyện ngủ trong phòng khách,” Harry nói, nó biết Griphook sẽ coi việc phải ngủ trên cái ghế dài ở phòng khách là điều khốn khổ; mà giữ cho Griphook vui vẻ thì rất cần thiết cho kế hoạch của tụi nó.

“Chị khỏi lo lắng cho tụi em.”

Và khi chị toan phản đối thì nó nói tiếp, “Tụi em cũng sắp đi để chị được rảnh tay, Ron, Hermione và em.

Tụi em không cần ở đây lâu nữa đâu.”

“Nhưng em nói vợi nghĩa là sao?”

Chị nói, nhìn nó nhăn mặt, cây đũa phép của chị chĩa vào đĩa đồ hầm khựng lại giữa không trung.

“Đương nhiên em không phải đi đâu hết.

Em được an toàn ở đây!”

Trông chị hơi giống bà Weasley khi chị nói như vậy, và Harry mừng là đúng lúc đó cánh cửa sau mở ra.

Luna và Dean đi vào, tóc cả hai đều ướt nhẹp vì mưa bên ngoài và tay tụi nó ôm đầy củi vớt ngoài bãi biển.

“... và những cái tai tí nị,” Luna đang nói, “hơi hơi giống tai con hà mã, ba em nói thế, chỉ có điều chúng màu tím và có lông.

Và nếu anh muốn gọi chúng, anh phải ngâm nga, chúng thích nhạc điệu du dương chứ không thích mấy thứ nhanh quá...”

Dean có vẻ không được thoải mái cho lắm, nhún vai với Harry khi đi ngang qua nó, rồi theo Luna đi về căn phòng vừa là phòng khách vừa là phòng ăn nơi Ron và Hermione đang bày bàn ăn tối.

Chớp lấy cơ hội né tránh câu hỏi của chị Fleur, Harry cầm hai vại nước bí đi theo Luna và Dean.

“... và nếu anh có dịp tới nhà em chơi em sẽ có thể cho anh coi cái sừng, ba viết cho em về cái sừng đó nhưng em chưa thấy, bởi vì bọn Tử Thần Thực Tử bắt em trên chuyến tàu tốc hành Hogwarts và em không được về nhà vào lễ Giáng Sinh,” Luna nói trong lúc cô bé và Dean nhóm lửa lò sưởi.

“Luna ơi, tụi này đã nói với bồ rồi,” Hermione nói vọng qua cô bé, “Cái sừng đó đã nổ.

Nó là Sừng Nổ, không phải sừng con Khụt khịt Sừng nát.”

“Không, nó chắc chắn là sừng con Khụt khịt Sừng nát mà,” Luna bình thản nói.

“Ba nói với em mà.

Có lẽ bây giờ nó đã tái tạo lại rồi, chị biết đó, chúng tự chữa lành được mà.”

Hermione lắc đầu và tiếp tục bày nĩa ra bàn khi anh Bill xuất hiện, đang đưa ông Ollivander xuống cầu thang.

Người chế tạo đũa phép vẫn còn có vẻ yếu ớt khác thường, và ông bấm vào cánh tay anh Bill trong lúc anh vừa đỡ ông vừa xách một cái va-li to.

“Cháu sẽ nhớ ông lắm, ông Ollivander ơi,” Luna vừa nói vừa đi đến gần ông già.

“Và ông cũng sẽ nhớ cháu, cháu yêu à,” ông Ollivander nói, vỗ nhẹ lên vai cô bé.

“Cháu là niềm an ủi không thể nào nói được hết đối với ông ở chốn khủng khiếp đó.”

“Vậy, tạm biệt nhé, ông Ollivander,” chị Fleur nói, hôn lên cả hai má ông.

“Và tôi tự hỏi không biết ông có cho phép tôi gởi cho bà dì Muriel của anh Bill một gói đồ không?

Tôi chưa gởi trả bà ấy cái miện ngọc.”

“Rất hân hạnh,” ông Ollivander nói kèm theo một cái khẽ nghiêng mình.

“Chuyện nhỏ nhặt nhất mà tôi có thể làm để đền đáp lòng hiếu khách hào phóng của cô cậu.”

Chị Fleur lấy ra một cái hộp nhung cũ kỹ, chị mở ra để cho người chế tạo đũa phép xem.

Cái miện ngọc trong hộp lấp lánh nhấp nháy trong ánh sáng của bóng đèn treo thấp.

“Nguyệt thạch và kim cương,” Griphook nói, y đã rón rén đi vào phòng mà Harry không để ý.

“Tôi đoán, do yêu tinh chế tạo.”

“Và được phù thuỷ trả công,” anh Bill bình thản nói và con yêu tinh quắc mắt nhìn anh vừa ngấm ngầm vừa thách thức.

Một cơn gió mạnh giật tung cửa sổ khi anh Bill và ông Ollivander khởi hành vào bóng đêm.

Những người còn lại xúm xít ngồi quanh cái bàn ăn, cùi chỏ sát nhau, khó có chỗ để mà nhúc nhích, và mọi người bắt đầu ăn.

Ngọn lửa nổ lép bép và bùng lên trên vỉ lò sưởi bên cạnh họ.

Harry nhận thấy chị Fleur chỉ ăn qua loa, cứ cách vài phút chị lại liếc chừng ra cửa sổ, tuy nhiên trước khi mọi người ăn xong món thứ nhât, anh Bill đã quay trở về, mái tóc dài của anh rối bời vì gió.

“Mọi việc tốt đẹp,” anh nói với chị Fleur.

“Ông Ollivander đã yên ổn, má và ba gởi lời chào.

Ginny gởi tình yêu của cô bé đến mọi người, Fred và Geogre đang khiến bà dì Muriel lộn ruột, hai đứa nó vẫn tiếp tục buôn bán bằng đặt-hàng-qua-bưu-cú bí mật trong nhà bà dì.

Nhưng bà vui lên khi nhận được cái miện ngọc.

Bà nói bà tưởng tụi mình ăn cắp nó luôn rồi chớ.”

“A, bà thật là dễ thương, bà dì của anh á,” chị Fleur vừa nói giọng đanh đá, vừa vẫy cây đũa phép khiến cho mấy cái đĩa ăn bay lên và xếp thành một đống giữa không trung.

Chị đón lấy chúng và bước ra khỏi phòng.

“Ba có làm một cái miện,” Luna nói lớn để gây chú ý.

“À, thực ra một vòng nguyệt quế thì đúng hơn.”

Ron đá mắt với Harry và nhe răng cười, Harry biết nó đang nhớ lại cái khăn trùm đầu quái đản mà tụi nó đã thấy khi đến thăm ông Xenophilius.

“Thiệt mà, ba đang cố gắng tái tạo lại cái vòng nguyệt quế đã mất của bà Ravenclaw.

Ba nghĩ ba đã xác định được các thành phần chính rồi.

Thêm đôi cánh bằng tóc dẻo đúng là thay đổi hẳn...”

Một tiếng nổ đùng vang lên ở cửa trước.

Mọi người đều quay đầu về phía đó.

Chị Fleur từ nhà bếp chạy ra, có vẻ sợ hãi, anh Bill đứng bật dậy, chĩa cây đũa phép ra cửa, Ron, Harry và Hermione cũng phản ứng tương tự.

Griphook lặng lẽ chuồi xuống dưới cái bàn, biến mất.

“Ai đó?” anh Bill hỏi.

“Tôi đây, Remus John Lupin!” một tiếng nói át tiếng rú vọng vào nhà.

Harry trải qua một cơn rùng mình khiếp sợ, chuyện gì đã xảy ra?

“Tôi là một người sói, cưới Nymphadora Tonks, và anh, Người-giữ-bí-mật của Chòi Đất, đã cho tôi biết địa chỉ này và cho tôi đến trong trường hợp khẩn cấp.”

“Chú Lupin,” anh Bill lẩm nhẩm, và anh chạy ra mở cửa.

Thầy Lupin ngã nhào trên ngưỡng cửa.

Mặt thầy trắng bệch, quấn mình trong tấm áo khoác đi đường, mái tóc xám bị gió thổi lật ra sau.

Thầy đứng thẳng dậy, nhìn quanh phòng để biết chắc ai đang có mặt, rồi thầy la lớn.

“Con trai!

Chúng ta đặt tên cháu là Ted, theo tên cha của Dora!”

Hermione ré lên.

“Cái gì... cô Tonks...Cô Tonks sanh em bé rồi hả?”

“Phải, phải, cô ấy sanh em bé rồi!”

Thầy Lupin hét lớn.

Tất cả những người ngồi quanh bàn cũng reo lên mừng rỡ, thở phào nhẹ nhõm, Hermione và chị Fleur cùng thét “Chúc mừng!” và Ron nói “Mèn ơi một em bé!” như thể trước đây nó chưa từng nghe thấy một chuyện gì như vậy.

“Đúng...

đúng... một bé trai,” Thầy Lupin lại nói, thầy dường như mụ mẫm đi vì hạnh phúc của chính mình.

Thầy sải bước vòng qua bàn ăn và ôm chầm lấy Harry, cái cảnh trong tầng hầm ngồi nhà ở Quảng trường Grimmauld dường như chưa hề xảy ra.

“Con sẽ là cha đỡ đầu nghe?”

Thầy nói khi buông Harry ra.

“C... con hả?”

Harry phát cà lăm.

“Con, ừ, đường nhiên.

Dora hoàn toàn đồng ý, không ai tốt hơn.”

“Con...

Dạ...

Mèn ơi!”

Harry cảm thấy choáng ngợp, kinh ngạc, vui mừng; lúc này anh Bill đang lật đật đi lấy rượu và chị Fleur đang thuyết phục thầy Lupin cùng uống với mọi người.

“Tôi không thể ở lại lâu, tôi phải trở về ngay,” thầy Lupin nói, tươi cười với mọi người, trông thầy trẻ ra rất nhiều so với thầy Lupin mà Harry từng gặp.

“Cám ơn, cám ơn cậu, Bill à.”

Anh Bill vừa rót đầy tất cả các cốc rượu, mọi người đứng dậy và giơ cao ly để chúc tụng.

“Uống mừng Teddy Remus Lupin,” thầy Lupin nói, “một phù thuỷ vĩ đại tương lai.”

“Em bé giống ai?”

Chị Fleur thắc mắc.

“Tôi nghĩ cháu nó giống Dora, nhưng cô ấy cho là cháu giống tôi.

Không có nhiều tóc lắm.

Khi mới sanh ra tóc có vẻ đen, nhưng tôi thề, nó chuyển sang màu vàng hoe trong vòng một tiếng đồng hồ từ khi sanh ra.

Có lẽ khi tôi trở về nó đã chuyển sang màu vàng choé.

Andromeda nói tóc Tonks đổi màu ngay từ ngày cô ấy mới được sanh ra,” thầy uống cạn ly rượu.

“Ôi cứ rót đi, chỉ một ly nữa thôi,” thầy nói thêm, cười toe toét khi anh Bill rót đầy ly của thầy.

Gió quật vào ngôi nhà nhỏ làm ngọn lửa bùng lên kêu lốp bốp, và anh Bill vừa khui một chai rượu khác.

Tin tức thầy Lupin đưa đến dường như khiến mọi người hồ hởi cởi mở, trong chốc lát giải toả họ khỏi tình trạng tù hãm: Những dòng thuỷ triều của sự sống mới đang bùng lên phấn khởi.

Chỉ mỗi con yêu tinh dường như trơ trơ trong không khí tiệc tùng đột ngột, và một lúc sau y lẻn trở về căn phòng ngủ mà giờ đây y độc chiếm một mình.

Harry tưởng đâu nó là người duy nhất để ý đến con yêu tinh, nhưng rồi nó thấy ánh mắt của anh Bill theo dõi con yêu tinh đi lên cầu thang.

“Không... không... tôi quả thực là phải trở về,” cuối cùng thầy Lupin nói, từ chối một ly rượu nữa.

Thầy đứng lên và kéo áo choàng chùm kín lại mình.

“Tạm biệt... tạm biệt...

Tôi sẽ cố gắng và đem tới đây vài tấm hình trong vài ngày nữa... mọi người sẽ mừng lắm khi biết thầy đã gặp con...”

Thầy thắt chặt tấm áo choàng và chào từ giã, ôm hôn thắm thiết các cô và nắm chặt tay các cậu, sau đó, vẫn toe toét cười thầy bước trở ra màn đêm bão táp.

“Cha đỡ đầu, Harry!”

Anh Bill nói khi hai người cùng bước trở vào nhà bếp, giúp dọn dẹp bàn ăn.

“Một vinh dự thực sự!

Chúc mừng!”

Khi Harry đặt xuống chậu mấy cái ly rượu đã cạn mà nó đang cầm, anh Bill kéo cánh cửa đóng lại sau lưng, ngăn lại những tiếng nói vẫn còn tía lia của những người kia, những người tiếp tục ăn mừng ngay cả khi thầy Lupin không có mặt.

“Harry à, thực ra, anh muốn nói riêng với em vài lời.

Không dễ gì có được một dịp mà ngôi nhà nhỏ này đông vui như vầy.”

Anh Bill ngập ngừng.

“Harry, có phải em đang mưu tính gì đó với Griphook?”

Đó là một câu xác định chứ không phải câu hỏi, và Harry không mất công chối cãi.

Nó chỉ nhìn anh Bill chờ đợi.

“Anh biết giới yêu tinh,” anh Bill nói.

“Anh đã làm việc cho Gringotts từ sau khi anh rời trường Hogwarts.

Đến chừng nào còn có thể có tình bạn giữa phù thuỷ với yêu tinh, thì anh còn làm bạn với yêu tinh - hoặc là, ít nhất, với những yêu tinh mà anh biết rõ và thích.”

Một lần nữa anh Bill ngập ngừng.

“Harry, em muốn gì ở Griphook, và em hứa gì với y để đền đáp?”

“Em không thể nói với anh điều đó,” Harry nói.

“Em rất xin lỗi, anh Bill à.”

Cánh cửa nhà bếp mở ra sau lưng hai người, chị Fleur đang cố gắng đem vô thêm mấy cái ly rượu đã cạn.

“Khoan,” anh Bill nói.

“Em chờ tí.”

Chị lùi ra và anh đóng cửa lại.

“Vậy thì anh phải nói điều này,” anh Bill nói tiếp.

“Nếu em đã đạt được bất cứ thương lượng nào với Griphook, và đặc biệt nhất là thương lượng liên quan đến của cải, em phải cực kì cẩn thận.

Khái niệm của yêu tinh về quyền sở hữu, sự chi trả, và sự đền đáp không giống như những khái niệm của con người.”

Harry cảm thấy chút cồn cào khó chịu, như thể một con rắn vừa cựa quậy bên trong con người nó.

“Ý anh muốn nói gì?”

Nó hỏi.

“Chúng ta đang nói về một nòi giống khác,” anh Bill nói.

“Đã có rất nhiều cuộc giao dịch giữa phù thuỷ và yêu tinh diễn ra qua hàng thế kỉ - nhưng em biết chuyện đó qua Lịch sử của Pháp thuật.

Từng có sai lầm ở cả hai phía, anh chẳng bao giờ cho là phù thuỷ là ngây thơ vô tội.

Tuy nhiên, trong giới yêu tinh có một tín điều, và những yêu tinh ở Gringotts có lẽ thiên về tín điều này nhất, rằng phù thuỷ không đáng tin trong vấn đề vàng và châu báu, rằng phù thuỷ không tôn trọng quyền sở hữu của yêu tinh.”

“Em tôn trọng...”

Harry vừa mới mở miệng, nhưng anh Bill đã lắc đầu.

“Em không hiểu đâu, Harry, không ai có thể hiểu trừ khi họ sống với bọn yêu tinh.

Đối với một yêu tinh, người chủ thực sự và chính đáng của bất cứ đồ vật gì chính là người làm ra món đồ đó, chứ không phải người mua.

Tất cả những đồ vật do yêu tinh làm, trong mắt của yêu tinh, là tài sản chính đáng của họ.”

“Nhưng nếu món đồ đó được mua...”

“... thì họ coi như món đồ đó đã được người có tiền bỏ tiền ra để mướn xài.

Nhưng họ rất khó tiếp thu cái ý tưởng là những đồ vật do yêu tinh chế tạo lại được truyền lưu từ phù thuỷ này sang phù thuỷ khác.

Em đã thấy nét mặt Griphook khi cái miện ngọc được đưa ra dưới mắt y rồi đó.

Y phản đối.

Anh tin là y nghĩ, như những kẻ hung dữ nhất trong giống nòi của y, rằng cái miện ngọc đó lẽ ra phải được trả lại cho yêu tinh một khi người mua đầu tiên chết đi.

Họ quen gìn giữ những đồ vật do yêu tinh chế tạo, truyền lưu từ phù thuỷ này sang phù thuỷ khác mà không trả thêm tiền thì cũng không hơn gì ăn cắp.”

Bây giờ Harry có cảm giác nghi ngại, nó tự hỏi liệu anh Bill có đoán biết được nhiều hơn những gì anh để lộ ra không.

“Tất cả điều anh muốn nói là,” anh Bill nói, đặt bàn tay lên cánh cửa mở vô phòng khách.

“Hết sức cẩn thận về điều gì em hứa với yêu tinh, Harry à.

Đột nhập vào Gringotts còn ít nguy hiểm hơn bội ước với một yêu tinh.”

“Dạ,” Harry nói khi anh Bill mở cửa ra.

“Được.

Cảm ơn anh.

Em sẽ ghi nhớ điều đó.”

Khi nó đi theo anh Bill trở ra với những người khác, một ý nghĩ mỉa mai khôi hài nảy ra trong đầu óc nó, chắc là phát sinh từ rượu nó đã uống.

Nó dường như đã trở thành một người cha đỡ đầu bạt mạng của Teddy Lupin kiểu như cha đỡ đầu Sirius Black của nó.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 26: Gringotts


Gringotts

Kế hoạch của tụi nó đã vạch ra xong, việc chuẩn bị đã hoàn tất; trong căn phòng ngủ nhỏ nhất, một sợi tóc thô dài đen (gỡ ra từ cái áo len Hermione mặc lúc ở Phủ Malfoy) nằm trong một ống thủy tinh nhỏ đặt trên bệ lò sưởi.

“Và bồ sẽ xài cây đũa phép thực sự của mụ,” Harry nói, hất đầu về phía cây đũa phép óc chó, “nên mình nghĩ bồ sẽ khá giống mụ ấy thiệt.”

Hermione có vẻ sợ cây đũa phép sẽ cắn hay chích khi cô bé lượm nó lên.

“Mình ghét cái đồ này,” cô bé nói nhỏ.

“Mình thiệt tình ghét nó.

Mình cảm thấy trục trặc đủ thứ, nó không ăn rơ với mình...

Nó giống như một bộ phận của mụ ta.”

Harry không thể nào không nhớ lại việc Hermione đã gạt phắt đi việc nó không hợp với cây đũa phép tầm gai như thế nào, cứ khăng khăng là nó chỉ tưởng tượng này nọ khi cây đũa phép tầm gai không hoạt động tốt như cây đũa phép của nó, cứ bảo nó chỉ cần luyện tập.

Tuy nhiên, nó quyết định không lặp lại cho Hermione nghe lời khuyên của chính cô nàng, cái đêm trước ngày bọn nó mưu toan tấn công Gringotts không phải là thời điểm thích hợp để mà gây thù chuốc oán.

“Nhưng có lẽ nó sẽ giúp bồ nhập vai tốt,” Ron nói.

“Thử nghĩ coi những việc mà cây đũa phép đó đã làm!”

“Thì đó mới chính là vấn đề!”

Hermione nói.

“Đây chính là cây đũa phép đã hành hạ ba má Neville, và bao nhiêu người khác nữa ai mà biết.

Đây cũng là cây đũa phép đã giết chú sirius.”

Harry đã không nghĩ đến điều đó; nó ngó xuống cây đũa phép và chợt nổi lên một ham muốn bẻ quặt cây đũa phép đó, chặt ra làm hai bằng thanh gươm Gryffindor đang dựng vô tường ngay bên cạnh nó.

“Mình nhớ cây đũa phép của mình.”

Hermione nói giọng thảm thiết.

“Mình ước gì ông Olivander có thể chế tạo cho mình một cây đũa phép nữa.”

Ông Olivander đã gửi cho Luna một cây đũa phép mới toanh hồi sáng nay.

Lúc đó cô bé đang ở bãi cỏ sau nhà, kiểm tra thử những khả năng của cây đũa phép trong ánh nắng chiều.

Dean, cũng bị bọn Mẹ mìn tước mất đũa phép, đang ngắm cô bé với vẻ rầu rĩ.

Harry ngó xuống cây đũ phép táo gai đã từng thuộc về Draco Malfoy.

Nó đã ngạc nhiên, nhưng vui mừng, nhận thấy cây đũa phép chịu sự điều khiển của nó, ít nhất cũng tốt như cây đũa phép của Hermione.

Harry nghĩ nó biết vấn đề của Hermione: Cô nàng chưa giành được sự thuần phục của cây đũa phép óc chó vì không phải đích thân cô nàng chiếm nó từ tay Bellatrix.

Cánh cửa phòng ngủ mở ra và Griphook đi vào.

Harry phản ứng theo bản năng là vói lấy chuôi gươm và kéo nó lại sát bên mình hơn, nhưng nó hối tiếc hành động đó ngay.

Nó có thể thấy con yêu tinh đã để ý.

Tìm cách lấp liếm khoảnh khắc khó chịu đó, nó nói, “Tụi tôi vừa mới kiểm tra mọi thứ vào phút chót, ông Griphook à.

Tụi tôi đã nói với anh Bill và chị Fleur chúng ta sẽ ra đi vào ngày mai, và tôi cũng bảo họ khỏi thức đậy đưa tiễn.”

Tụi nó đã kiên quyết về điểm này, bởi vì Hermione sẽ phải biến hình thành Bellatrix trước khi tụi nó ra đi, và anh Bill và chị Fleur càng ít biết hay càng ít nghi ngờ về chuyện tụi nó sắp làm càng tốt.

Tụi nó cũng đã giải thích là tụi nó sẽ không trở lại đây.

Và do tụi nó đã làm mất cái lều của ông Perkin vào cái đêm bị bọn Mẹ mìn bắt cóc, nên anh Bill cho tụi nó mượn một cái khác.

Bây giờ cái lều mới đã được xếp gọn cất trong cái túi xách hạt cườm.

Harry hết sức ấn tượng khi biết là Hermione đã bảo vệ được cái túi xách khỏi tay bọn Mẹ mìn nhờ mưu chước đơn giản là nhét nó dưới vớ của cô nàng.

Mặc dù Harry sẽ nhớ anh Bill, chị Fleur, Luna và Dean, ấy là chưa kể sự yên ấm gia đình mà tụi nó được hưởng trong mấy tuần lễ qua, nó vẫn trông mong thoát khỏi sự tù túng của Chòi Đất.

Nó đã chán ngấy chuyện kiểm tra xem tụi nó có bị nghe lén không, chán ngán cảnh đóng kín cửa ở trong phòng ngủ nhỏ xíu tối tăm.

Trên hết, nó mong được tống khứ Griphook đi cho rồi.

Tuy nhiên, chính xác là bằng cánh nào và khi nào tụi nó chia tay với con yêu tinh mà không phải giao nộp cho y thanh gươm Gryffindor vẫn còn là câu hỏi mà Harry chưa thể trả lời.

Tụi nó không thể nào quyết định được cánh thức để giải quyết vấn đề đó, bởi vì con yêu tinh hiếm khi nào chịu rời Harry, Ron và Hermione quá năm phút mỗi lần.

“Hắn có thể làm thầy của má mình.”

Ron làu bàu khi những ngón tay dài của con yêu tinh cứ xuất hiện hoài ở lề cửa.

Ghi nhớ lời khuyên của anh Bill, Harry không thể nào không nghi ngờ Griphook đang rình cơ hội phỗng tay trên.

Hermione phản đối quá mạnh mẽ vụ gạt gẫm nước đôi như kế hoạch nên Harry từ bỏ nỗ lực dùng mưu trí của cô nàng để tìm ra cánh thực hiện tốt nhất.

Còn Ron, trong những dịp hiếm hoi mà tụi nó có thể chớp lấy vài phút không có mặt Griphook, đã chẳng ra được sáng kiến nào khá hơn là, “Tùy cơ ứng biến thôi, bồ tèo ạ.”

Đêm đó Harry ngủ không ngon giấc.

Đầu hôm nó cứ nằm trằn trọc, ngẫm nghĩ lại cảm giác nó đã trải qua vào cái đêm trước ngày tụi nó đột nhập Bộ Pháp Thuật và nhớ lại một quyết tâm, gần như một nỗi háo hức.

Giờ thì nó đang trải qua những cơn giật thót lo lắng, những ngờ vực đay đi nghiến lại: Nó không thể rũ bỏ nỗi sợ hãi là tất cả sẽ diễn ra trật lất.

Nó cứ tự nhủ là kế hoạch sẽ tốt, là Griphook biết những gì tụi nó sẽ phải đối đầu, là tụi nó đã chuẩn bị tốt cho mọi khó khăn mà rất có thể tụi nó sẽ gặp phải, ngay dù vậy nó vẫn cảm thấy không yên.

Một hai lần nó nghe Ron trở mình và nó biết chắc Ron còn thức, nhưng vì tụi nó ngủ chung phòng với Dean nên Harry không nói gì cả.

Thiệt là nhẹ nhõm khi đồng hồ điểm sáu giờ và tụi nó có thể chui ra khỏi mấy cái túi ngủ, thay đồ trong ánh sáng lờ mờ, rồi rón rén đi ra vườn nơi tụi nó sẽ gặp Hermione và Griphook.

Bình minh lành lạnh, nhưng không còn gió nữa vì bây giờ đang sang tháng năm.

Harry ngước nhìn những vì sao đang còn nhấp nháy lung linh trên bầu trời tăm tối và lắng nghe biển lùi ra rồi ào tới vỗ vào vách đá: Rồi nó sẽ nhớ âm thanh này.

Giờ đây những mầm cỏ xanh tí ti đang trồi lên từ lớp đất đỏ trên ngôi mộ của Dobby, chừng một năm nữa nấm đất sẽ mọc đầy hoa.

Tấm đá trắng khắc tên con tinh đã có được vẻ phong sương.

Lúc này Harry nhận ra là Dobby đã được đặt yên nghỉ ở một nơi mà không có nơi nào có thể đẹp hơn, nhưng nó quặn đau vì buồn khi nghĩ đến chuyện bỏ lại Dobby nơi đây.

Nhìn xuống nấm mộ, nó tự hỏi một lần nữa, làm sao con tinh biết được tụi nó ở đâu mà đến cứu.

Ngón tay nó bất giác đưa lên sờ cái túi bùa đeo ở cổ, nắn qua lớp túi mảnh gương vỡ lởm chởm bén ngót mà nó từng nhìn thấy con mắt cụ Dumbledore.

Lúc đó tiếng mở cửa vang lên khiến nó quay đầu lại.

Bellatrix Lestrange đang sải bước ngang qua bãi cỏ tiến về phía Ron và nó, cùng đi bên cạnh là Griphook.

Mụ vừa đi vừa nhét cái túi xách hột cườm vô túi áo bên hông của một bộ áo chùng cũ mà tụi nó đã đem theo từ quảng trường Grimmauld.

Mặc dù Harry biết quá chắc chắn rằng đó là Hemione, nó vẫn không thể trấn áp một cơn rùng mình kinh tởm.

Mụ cao hơn nó, mái tóc đen dài dợn sóng của mụ xõa xuống lưng, mí mắt bùm bụp của mụ đầy vẻ khinh miệt khi nhìn nó; nhưng khi mụ nói thì nó nghe Hemione qua giọng trầm trầm của Bellatrix.

“Mùi vị mụ này tởm quá, lợm hơn cả Rễ Ọt!

Thôi được Ron lại đây để mình làm cho bồ...”

“Được nhưng nhớ là mình không muốn râu quá dài.”

“Ôi, nhằm nhò gì, đây đâu phải là chuyện diện cho bảnh trai.”

“Không phải nhưng cũng phải đâu ra đó!

Mà mình thích cái mũi của mình ngắn hơn một tí, bồ thử sửa nó như bồ đã làm lần trước ấy.”

Hermione thở dài và bắt đầu ra tay, vừa lẩm bẩm trong miệng khi cô nàng biến đổi những đường nét khác nhau cho diện mạo của Ron.

Ron được gán cho một căn cước hoàn toàn giả, và cả đám dựa hơi vào ảnh hưởng hung ác thoát ra từ Bellatrix để bảo vệ nó.

Trong khi đó, Harry và Griphook giấu mình dưới tấm áo khoác tàng hình.

“Xong!”

Hermione nói.

“Harry ngó coi xem thế nào?”

Chẳng thể nào nhận ra Ron dưới dạng cải trang, nhưng Harry nghĩ, chẳng qua vì nó biết Ron quá rõ.

Tóc Ron bây giờ dài và dợn sóng; nó lại có thêm bộ ria và bộ râu dài màu nâu, chẳng còn tàng nhang, mũi thì ngắn và bè, chân mày rậm.

“Chà, nó không thuộc týp người mình khoái, nhưng cũng được.”

Harry nói.

“Vậy, tụi mình đi chứ?”

Cả ba đứa nó cùng liếc nhìn lại Chòi Đất đang nằm im lìm mờ khuất dưới những vì sao đang nhạt dần, rồi tụi nó quay lưng lại, đi về phía một địa điểm ngay bên ngoài ranh giới, nơi bùa Trung thành không còn hiệu lực và tụi nó có thể Độn thổ.

Khi ra khỏi cổng, Griphook nói:

“Harry Potter, tôi nghĩ bây giờ tôi nên trèo lên nhé?”

Harry cúi xuống và con yêu tinh trèo lên lưng nó, hai tay y đan nhau trước cổ họng Harry.

Y không nặng, nhưng Harry không ưa cái cảm giác tiếp xúc với con yêu tinh và cái sức mạnh đáng ngạc nhiên mà con yêu tinh bám vào nó.

Hermione rút tấm Áo khoác Tàng hình ra khỏi cái túi hột cườm và quăng cái áo trùm lên cả Harry lẫn Griphook.

“Hoàn hảo!”

Cô bé vừa nói vừa nhìn xuống kiểm tra chân cẳng Harry.

“Mình không thấy gì hết.

Đi thôi.”

Harry xoay mình tại chỗ, mang theo Griphook trên vai, cố gắng hết sức tập trung vào quán Cái Vạc Lủng, vốn là cổng vào Hẻm xéo.

Con yêu tinh bám chặt hơn khi cả hai di chuyển vào bóng tối nén chặt, giây lát sau chân Harry đã chạm vào vỉa hè và nó mở mắt ra thấy mình đứng trên đường Charing Cross.

Dân Muggle hối hả qua lại mang vẻ mặt sượng sùng của buổi sớm tinh mơ, hoàn toàn không biết đến sự tồn tại của cái quán nhỏ.

Quán Cái Vạc Lủng gần như trống vắng.

Ông Tom, ông chủ quán lưng còng và không còn răng, đang đánh bóng mấy cái ly sau quầy rượu; hai chiến tướng đang thì thầm trò chuyện ở tuốt trong góc quán liếc thấy Hermione bèn lùi ngay vào bóng tối.

“Thưa bà Lestrange,” ông Tom thì thầm, và khi Hermione dừng bước ông khúm núm cúi đầu xuống.

“Chào ông,” Hermione nói, và Harry lẻn đi qua, vẫn cõng Griphook lù lù dưới tấm Áo khoác Tàng hình, nó thấy ông Tom tỏ vẻ kinh ngạc.

“Lịch sự quá,” Harry thì thầm vào tai Hermione khi đi qua khỏi quán vào mảnh sân sau nhỏ xíu.

“Bồ phải đối xử với người ta như thể họ là đồ cặn bã!”

“Được rồi, được rồi.”

Hermione rút ra cây đũa phép của Bellatrix và gõ lên viên gạch trên bức tường không có gì đặc biệt trước mặt tụi nó.

Ngay lập tức những viên gạch bắt đầu xoay và quay tít: Một cái lỗ xuất hiện giữa bức tường, càng lúc càng rộng hơn, cuối cùng hình thành một cổng vòm mở ra một con đường hẹp trải sỏi, đó là Hẻm Xéo.

Đường xá vắng vẻ, chưa tới giờ các tiệm xá mở hàng, và hiếm có người mua sắm nào đi trên phố.

Con đường cong cong trải sỏi giờ đây khác xa chốn tưng bừng mà Harry từng đến vào nhiều năm về trước.

Số tiệm bị niêm phong nhiều nhất từ trước tới nay, mặc dù nhiều cơ sở dành cho Nghệ thuật Hắc ám đã được lập ra kể từ lần cuối cùng Harry đến đây.

Gương mặt của chính Harry đang trừng mắt ngó xuống nó từ nhữnh tấm áp phích dán trên nhiều cửa sổ, cái nào cũng kèm hàng chữ: KẺ GY RỐI SỐ MỘT.

Một số kẻ rách rưới đang ngồi chúm chụm trên các bậc cửa.

Nó nghe thấy tiếng họ van vỉ với vài người qua đường, hỏi xin vàng và cam đoan mình là phù thủy thực sự.

Một gã đeo một miếng băng thấm máu trên một con mắt.

Khi tụi nó bắt đầu đi xuôi xuống phố, đám ăn mày liếc theo Hermione.

Trước cô nàng, họ dường như tan chảy, kéo mũ trùm đầu che kín khuôn mặt và lảng tránh hết sức nhanh.

Hermione tò mò ngó theo họ, cho đến khi một người đàn ông mang cái băng mắt thám máu lê lết tới ngáng đường.

“Con cái tao,” người đàn ông rống lên, chỉ vào Hermione.

Giọng của ông ta khàn vỡ, ré cao, nghe như phát khùng rồi.”

Con cái tao đâu?

Hắn đã làm gì với chúng hả?

Mày biết, mày biết chứ!”

“Tôi... tôi thực ra...”

Hermione lắp bắp.

Người đàn ông lao vào Hermione, túm lấy cổ họng cô bé.

Và rồi, một tiếng nổ đùng và ánh sáng đỏ lóe lên, ông ta bị hất ngã ngửa ra mặt đất, bất tỉnh.

Ron đứng đó, cây đũa phép của nó vẫn còn chĩa ra và vẻ sửng sốt hiện ra dưới lớp râu ria.

Những gương mặt xuất hiện bên các khung cửa sổ ở cả hai bên phố, trong khi một tốp người qua đường có vẻ giàu có vội tém vạt áo chùng rồi nhẹ nhàng rảo bước, rõ ràng để tránh xa hiện trường.

Khó có gì lộ liễu và gây chú ý hơn việc tụi nó đi vào Hẻm Xéo; trong một thoáng Harry tự hỏi liệu bây giờ tụi nó có nên bỏ đi và cố nghĩ ra một kế hoạch khác không.

Tụi nó chưa kịp đi tiếp hay tham khảo ý kiến lẫn nhau, thì bỗng nghe một tiếng kêu về phía sau.

“Ủa?

Bà Lestrange!”

Harry xoay phắt người lại và Griphook bấu chặt lấy cổ Harry.

Một phù thủy cao gầy có mái tóc xám bù xù và một cái mũi nhọn dài đang sải bước về phía tụi nó.

“Đó là Travers,” con yêu tinh rít khẽ vào tai Harry, nhưng ngay lúc đó Harry không thể nào nghĩ ra Travers là ai.

Hermione đã vươn thẳng người lên và nói bằng giọng khinh khỉnh nhất mà cô nàng có thể nhại được.

“Và mày muốn gì?”

Travers đứng khựng giữa chừng, rõ ràng là bị sỉ nhục.

“Hắn là một Tử Thần Thực Tử!”

Griphook thì thào, và Harry lẻn đến sát bên Hermione để lặp lại thông tin đó vào tai cô nàng.

“Tôi chỉ muốn chào bà,” Travers nói lẫy.

“Nhưng nếu sự có mặt của tôi không được hoan nghênh thì...”

Bây giờ thì Harry đã nhận ra giọng nói: Travers là tên Tử Thần Thực Tử được triệu tới nhà ông Xenophilius.

“Không, không, không có chi, anh Travers à!”

Hermione nói nhanh, cố gắng lấp liếm sơ hở của mình.

“Anh khỏe không?”

“Chà, tôi phải thú nhận là tôi ngạc nhiên khi thấy bà ra ngoài và đi lung tung đấy, bà Bellatrix à.”

“Thật hả?

Tại sao?”

“Thì,” Trevers ho, “tôi nghe nói người trong Phủ Malfoy đã bị nhốt trong đó sau vụ...

ờ...

đào thoát.”

Harry cầu mong Hermione giữ được sáng suốt.

Nếu điều này là thật, và nếu Bellatrix đúng ra không được xuất hiện nơi công cộng...

“Chúa tể Hắc ám tha thứ cho những ai đã phục vụ ngài trung thành nhất trong quá khứ,” Hermione nói, nhại theo điệu bộ khủng khỉnh nhất của Bellatrix một cách tuyệt vời.

“Có lẽ công cán của anh với ngài không bì được với tôi, anh Travers à.”

Mặc dù tên Tử Thần Thực Tử có vẻ chạm tự ái, hắn cũng có vẻ bớt nghi ngờ.

Hắn liếc xuống người đàn ông mà Ron vừa đánh choáng.

“Nó xúc phạm bà thế nào?”

“Không đáng kể, nó sẽ không làm thế nữa.”

“Một số bọn không đũa phép này có thể gây phiền toái,” Travers nói.

“Khi chúng chỉ xin ăn chứ không làm gì khác thì tôi để mặc chúng, nhưng có một mụ trong bọn chúng dám nhờ tôi bênh vực trường hợp của mụ ở Bộ vào tuần trước. ‘Thưa ngài, tôi là một phù thủy, xin ngài cho tôi được chứng minh với ngài,’ Hắn nói bằng giọng nhái chế giễu nghe chin chít như chuột rít.

“Làm như tôi sắp đưa cho mụ ấy cây đũa phép của tôi không bằng...

Nhưng cây đũa phép kia của ai,” Travers tò mò hỏi.

“Cây đũa phép mà bà đang dùng đó, bà Bellatrix?

Tôi nghe nói cây đũa phép của bà đã bị...”

“Tôi vẫn còn cây đũa phép của tôi đây,” Hermione lạnh lùng nói, giơ cao cây đũa phép của Bellatrix.

“Tôi không biết anh đã nghe những lời đồn đại gì, anh Travers à, nhưng anh dường như đã nghe nhầm một cách đáng buồn.”

Travers dường như hơi bị sửng sốt về điều đó, và hắn quay qua Ron.

“Bạn bà là ai đây?

Tôi không nhận ra anh ta.”

“Đây là Dragomir Despard,” Hermione nói; tụi nó đã quyết định là để ngụy trang an toàn hơn cả thì Ron cứ giả danh một người nước ngoài.

“Ông ta nói tiếng Anh kém lắm, nhưng ông ta rất có cảm tình với những mục tiêu của Chúa tể Hác ám.”

Ông ta đã đi từ Transylvania đến đây dể tham quan chế độ mới của chúng ta.”

“Vậy à?

Hân hạnh được quen biết ông, ông Dragomir.”

“Ào ông,” Ron nói, giơ tay ra.

Travers chìa hai ngón tay ra bắt tay Ron như thể sợ bị lây bẩn.

“Vậy có việc gì mà bà và ông bạn...

à...

ông bạn cảm tình của bà lại đến Hẻm Xéo sớm sủa như vầy?”

Travers hỏi.

“Tôi cần đến Gringotts.”

Hermione nói.

“Ái chà, tôi cũng vậy.”

Travers nói.

“Vàng, đồng vàng bẩn thỉu!

Nhưng chúng ta không thể sống không có nó.

Tôi thú nhận là tôi lấy làm tiếc về sự liên minh với những người bạn ngón tay dài của chúng ta.”

Harry cảm thấy vòng tay của con yêu tinh bấu quanh cổ họng nó lúc đó siết chặt lại.

“Chúng ta đi chung nhé?”

Travers nói, làm động tác nhường Hermione đi trước.

Hermione không còn cách nào khác hơn là bước bên cạnh hắn và đi lên con đường quanh co trải sỏi về nơi tọa lạc của tòa nhà ngân hàng Gringotts trắng như tuyết, cao ngất nghểu so với những tiệm quán nhỏ bé khác.

Ron hấp tấp đi bên cạnh và Harry cùng Griphook bám theo sau.

Một tên Tử Thần Thực Tử rình rập là điều tệ hại nhất mà tụi nó không cần tới lúc này, nhưng tệ hại hơn cả điều đó nữa là: Do Travers dõng dạc bước bên cạnh kẻ mà hắn tưởng là Bellatrix, Harry không có cách nào để liên lạc thông tin với Hermione hay Ron.

Chẳng mấy chốc cả bọn đã đến chân của những bậc thang cẩm thạch dẫn lên những cánh cửa vĩ đại bằng đồng.

Như Griphook đã báo trước cho tụi nó biết, những con yêu tinh mặc chế phục thường đứng canh hai bên lối vào đã được thay thế bằng hai phù thủy, cả hai cùng nắm chặt những cây roi bằng vàng dài và mỏng.

“A, Roi dò Liêm khiết,” Travers làm điệu bộ màu mè.

“Quá thô bạo... nhưng rất hiệu quả!”

Và hắn bước lên những bậc thang, gật đầu bên trái rồi gật đầu bên phải để chào hai phù thủy đứng gác, hai người này giơ mấy cây roi vàng rà thân thể hắn từ trên xuống dưới.

Harry biết cây Roi dò phát hiện bùa chú che đậy và những đồ vật pháp thuật được giấu diếm.

Biết là nó chỉ có vài giây để hành động, nó chĩa cây đũa phép của Draco vào từng người trong hai phù thủy gác và thì thầm, “Lú lẫn!” hai lần.

Travers không để ý, hắn còn đang mải nhìn qua cánh cửa bằng đồng vào bên trong tiền sảnh, mỗi phù thủy gác cửa giật thột một cái khi bị trúng bùa.

Mái tóc đen dài của Hermione dợn sóng sau lưng khi cô bé bước lên những bậc thang.

“Xin bà chờ một chút, thưa bà,” một phù thủy gác cửa nói, giơ cây Roi dò lên.

“Nhưng ông vừa làm xong!”

Hermione nói bằng giọng kiêu căng oai vệ.

Travers ngoảnh lại, cau mày.

Tay phù thủy bối rối.

Hắn ngó xuống cây Roi dò bằng vàng rồi nhìn sang đồng sự, tay này nói bằng giọng hơi ngà ngà.

“Phải, anh vừa kiểm tra họ xong, anh Marius à.”

Hermione đi nhanh tới trước.

Ron đi sát bên, Harry và Griphook đi nhanh theo sau không bị ai thấy.

Harry ngoảnh nhìn lại khi tụi nó đi qua cánh cửa.

Hai tay phù thủy gác cửa đều đang gãi đầu.

Có hai yêu tinh đứng trước cánh cửa nội bộ, những cánh cửa này làm bằng bạc và trên cửa có khắc bài thơ cảnh báo hình phạt khủng khiếp dành cho những kẻ mưu toan trộm cắp.

Harry ngước nhìn lên bài thơ đó, và bỗng nhiên ký ức bén như dao ùa về trong nó: Nó đã đứng đúng nơi đây vào cái ngày nó tròn mười một tuổi, sinh nhật tuyệt vời nhất trong đời nó, và bác Hagrid đứng bên cạnh nó nói, “Như bác đã nói đó, ai có điên mới tính chiện cướp nhà băng này.”

Gringotts vào ngày đó dường như là một nơi thần kỳ, chứa một đống vàng mà nó chưa hề biết là nó sở hữu, và chưa bao giờ trong một tích tắc nào nó lại mơ tới chuyện nó sẽ trở lại chốn này để ăn trộm...

Nhưng chỉ trong vài giây tụi nó đã đứng trong sảnh đường bằng cẩm thạch rộng mênh mông của nhà băng.

Một lũ yêu tinh ngồi trên những cái ghế cao sau cái quầy dài đang phục vụ những khách hàng đầu tiên trong ngày.

Hermione, Ron và Travers đi tới một con yêu tinh già đang xem xét một đồng vàng dày qua một mắt kiếng cầm tay.

Hermione lấy cớ giải thích những nét độc đáo của gian sảnh cho Ron để nhường Travers bước lên trước.

Con yêu tinh buông đồng tiền vàng y đang cầm qua một bên, nói khơi khơi “Quỷ” rồi chào Travers, tên này đưa ra một cái chìa khóa vàng bé tí, cái chìa khóa vàng được xem xét cẩn thận rồi trả lại hắn.

Hermione bước tới.

“Thưa bà Lestrange!”

Con yêu tinh nói, rõ ràng là y ngạc nhiên.

“Mèng ơi!

Hôm... hôm nay tôi có thể giúp gì cho bà?”

“Tôi muốn vô hầm an toàn của tôi.”

Hermione nói.

Con yêu tinh già dường như co rúm lại một tí.

Harry ngước nhìn quanh.

Không chỉ một mình Travers khựng lại quan sát, mà nhiều con yêu tinh khác cũng ngừng việc ngước lên chăm chú nhìn Hermione.

“Bà có... có gì chứng minh không?”

Con yêu tinh hỏi.

“Chứng minh?”

Trước đây tôi... tôi chưa từng bị hỏi giấy chứng minh!”

Hermione nói.

“Chúng biết!”

Griphook thì thầm bên tai Harry.

“Ắt là chúng được cảnh báo là có thể có kẻ mạo danh.”

“Thưa bà, cây đũa phép của bà có thể chứng minh.”

Y đưa ra một bàn tay run run, và trong một cơn đột ngột ngộ ra đáng sợ, Harry biết là bọn yêu tinh ở Gringotts đã biết rằng cây đũa phép của Bellatrix đã bị đánh cắp.

“Hành động ngay, hành động ngay!”

Griphook thì thầm vào tai Harry.

“Lời nguyền Độc đoán!”

Harry giơ lên cây đũa phép táo gai dưới tấm Áo khoác Tàng hình, chĩa vào con yêu tinh già, và thì thầm, lần đầu tiên trong đời nó, “Khống chế!”

Một cảm giác kỳ lạ chạy dọc xuống cánh tay Harry, cảm giác ngứa ran, sức nóng dường như chảy ra từ óc nó, xuống xương sống và những mạnh máu nối nó với cây đũa phép và lời nguyền nó vừa phóng ra.

Con yêu tinh cầm cây đũa phép của Bellatrix, xem xét cẩn thận, rồi nói, “À, bà có một cây đũa phép mới chế tạo, thưa bà Lestrange.”

“Cái gì?

Hermione nói.

“Không, đó là cây đũa phép của tôi...”

“Một cây đũa phép mới à?”

Travers nói, đi trở lại gần cái quầy; những con yêu tinh chung quanh vẫn quan sát.

“Nhưng làm sao bà có được?

Bà mướn thợ chế tạo đũa phép nào?”

Harry hành động không cần suy nghĩ.

Chĩa cây đũa phép vào Traver, nó lẩm bẩm một lần nữa, “Khống chế!”

“Ờ phải, tôi hiểu rồi,” Travers nói, ngó xuống cây đũa phép của Bellatrix, “rất, rất đẹp, và nó xài tốt chứ?

Tôi luôn cho là đũa phép cần một chút luyện tập, bà có nghĩ vậy không?”

Hermione có vẻ ngơ ngác hoàn toàn, nhưng Harry thở phào khi cô nàng chấp nhận tình huống chuyển biến kỳ quái mà không có ý kiến gì hết.

Con yêu tinh già đằng sau cái quầy vỗ tay và một con yêu tinh trẻ đi tới.

“Tôi cần cái Leng keng,” y nói với con yêu tinh trẻ, tên này xẹt đi và lát sau trở lại với một cái túi da dường như đầy kim loại kêu chát chúa, y đưa cho sếp của y.

“Tốt, tốt!

Vậy xin mời bà đi theo tôi, thưa bà Lestrange,” con yêu tinh già vừa nói vừa nhảy xuống cái ghế cao và chẳng còn thấy đâu nữa.

“Tôi sẽ đưa bà đến hầm an toàn của bà.”

Y xuất hiện ở cuối quầy, vui vẻ chạy lon ton về phía tụi nó, những thứ bên trong túi vẫn kêu leng keng.

Travers lúc này vẫn còn đứng ngây đơ, miệng mồm há hốc.

Ron lại khiến cho hiện tượng kì quái này bị chú ý hơn vì cứ ngó Travers đầy bối rối.

“Khoan...

ông Bogrod!”

Một con yêu tinh khác lật đật chạy vòng qua cái quầy.

“Chúng tôi có chỉ thị,” y nói kèm theo một cái cúi chào Hermione, “Xin bà tha thứ, nhưng có những chỉ thị dặc biệt liên quan đến hầm an toàn của bà Lestrange.”

Y thì thầm khẩn cấp vào tai Bogrod, nhưng con yêu tinh đã bị khống chế xua y ra.

“Tôi biết về các chỉ thị, bà Lestrange muốn thăm hầm an toàn của bà...

Dòng họ lâu đời... khách hàng kì cựu...

Xin mời bà đi lối này.”

Và vẫn kêu leng keng, y vội vã đi về phía một trong nhiều cánh cửa dẫn ra khỏi gian sảnh.

Harry ngoái nhìn lại Travers, hắn vẫn còn đứng cắm rễ tại chỗ, trông ngây dại một cánh dị thường, và nó quyết định, bằng một cái vẫy đũa phép, khiến Travers đi theo, ngoan ngoãn bước theo chân tụi nó khi cả đám bước tới cánh cửa rồi bước qua cửa để vào một hành lang đá xù xì được chiếu sáng bằng những ngọn đuốc đang cháy.

“Tụi mình gặp khó khăn, chúng nghi ngờ,” Harry nói khi cánh cửa đóng sập lại sau lưng tụi nó và nó kéo tấm Áo khoác Tàng hình ra.

Griphook nhảy xuống khỏi vai nó: Cả Travers lẫn Bogrod đều không tỏ một chút dấu hiệu gì là ngạc nhiên về sự xuất hiện đột ngột của Harry Potter giữa bọn chúng.

“Chúng đã bị Khống chế,” nó nói thêm để đáp lại vẻ thắc mắc hoang mang của Hermione và Ron về Travers và Bogrod, hai gã này giờ đây đang đứng giữa tụi nó ngơ ngơ ngáo ngáo.

“Mình không nghĩ mình đã ếm đủ lực, mình không biết...”

Một kí ức lại xẹt qua óc nó, về một mụ Bellatrix thật thét vào mặt nó khi nó thử dùng lần đầu tiên Lời nguyền Không thể Tha thứ, “Mày cần phải muốn điều đó kìa, Potter à!”

“Tụi mình làm gì đây?”

Ron hỏi.

“Tụi mình có nên thoát ra bây giờ khi còn có thể không?”

“Nếu tụi mình có thể,” Hermione nói, ngoảnh nhìn lại cánh cửa ngăn với gian sảnh chính, bên kia cánh cửa đó, ai mà biết được đang xảy ra chuyện gì.

“Tụi mình đã tới đây thì mình đề nghị cứ tiếp tục.”

“Tốt!”

Griphook nói.

“Vậy thì chúng ta cần Bogrod để điều khiển cái xe cút kít; tôi không còn thẩm quyền làm việc đó nữa.

Nhưng sẽ chẳng có đủ chỗ cho cả gã phù thủy đó.”

Harry chĩa cây đũa phép vào Travers.

“Khống chế!”

Gã phù thủy quay mình và bắt đầu nhanh nhảu đi dọc lối đi tối thui.

“Bồ khiến hắn làm gì thế?”

“Trốn,” Harry nói khi nó chĩa cây đũa phép vào Bogrod, con yêu tinh này đang huýt gió gọi một cái xe cút kít từ trong bóng tối lăn lóc cóc dọc theo lối đi về phía tụi nó.

Khi tụi nó trèo vô thùng xe, Harry chắc chắn nó nghe tiếng quát thét trong gian sảnh chính sau lưng, Bogrod ở phía trước, Harry, Griphook, Hermione và Ron chen chúc ở phía sau.

Cái xe cút kít giật một cái rồi bắt đầu di chuyển, tăng tốc: Tụi nó vượt nhanh qua Travers, hắn còn đang lách vô một cái kẽ nứt trên tường.

Sau đó cái xe cút kít chạy ngoằn ngoèo quanh quẹo trong những hành lang mê cung, lúc nào cũng trượt chúc xuống.

Harry không thể nghe được gì trong tiếng va đập rầm rầm của cái xe cút kít trong đường hầm.

Tóc nó bay lật ra sau khi tụi nó thình lình quẹo giữa đám thạnh nhũ, bay xuống sâu hơn vào lòng đất, nhưng nó vẫn cứ liếc chừng phía sau.

Tụi nó có lẽ đã đẻ lại hàng đống giấu vết đằng sau lưng; càng nghĩ về chuyện đó, nó càng thấy ngu hết chỗ nói khi để Hermione cải trang thành Bellatrix, đem theo cây đũa phép của Bellatrix, trong lúc bọn Tử Thần Thực Tử đã biết ai là kẻ đã đánh cắp cây đũa phép đó...

Tụi nó đã xuống sâu hơn độ sâu mà Harry từng trải qua bên trong Gringotts; vượt một khúc quanh dích dắc ở một tốc độ cực nhanh và ngó thấy ngay trước mặt, chẳng kịp có một giây chuẩn bị, một thác nước đang đổ rầm rầm xuống con đường hầm.

Harry nghe Griphook thét: “Không!” nhưng chẳng còn cánh nào thắng lại được.

Tụi nó phóng qua thác nước.

Nước tràn vô mắt và miệng nó: Nó không thở được, không thấy gì được; sau đó, cái xe tròng trành dễ sợ, rồi nẩy mạnh lên và tất cả tụi nó bị quăng ra ngoài.

Harry nghe tiếng cái xe đâm vào tường hầm bể thành từng mảnh vụn, nghe tiếng Hermione ré lên điều gì đó, và cảm thấy nó trôi ngược lên mặt đất như thể không có trọng lượng, cuối cùng đáp xuống sàn đường hầm lởm chởm đá không đau đớn gì cả.

“Bùa... bùa Đệm,” Hermione lắp bắp trong khi Ron kéo cô bé đứng dậy, nhưng Harry hãi hùng khi thấy cô bé chẳng còn là Bellatrix nữa; thay thế mụ ta chính là Hermione đang đứng đó trong bộ áo chùng rộng quá khổ ướt sũng.

Ron cũng lại tóc đỏ và sạch bách râu ria.

Hai đứa nó cũng nhận ra điều này khi nhìn nhau, rờ rẫm chính gương mặt mình.

“Mưa Sập Trộm!”

Griphook nói, lồm cồm đứng lên và nhìn lại trận nước sập trong đường hầm, mà bây giờ Harry mới biết không chỉ có nước mà thôi.

“Nó rửa sạch mọi bùa chú, mọi ẩn giấu pháp thuật!

Họ biết có kẻ mạo danh trong Gringotts, họ đã khởi động phòng chống chúng ta!”

Harry thấy Hermione kiểm tra xem cô bé có còn cái túi xách hột cườm không, nó cũng vội thọc tay vào túi áo vét để yên trí là nó chưa đánh mất tấm Áo khoác Tàng hình.

Sau đó nó quay lại thấy Bogrod lắc đầu ngơ ngác: Cơn mưa sập trộm dường như đã giải lời Nguyền Độc đoán.

“Chúng ta cần ông ấy,” Griphook nói.

“Chúng ta không thể vào hầm an toàn mà không có một yêu tinh.

Và chúng ta cần cái Leng keng!”

“Khống chế!”

Harry hô thần chú một lần nữa, giọng nó vang vọng suốt hành lang đá khi nó cảm thấy một lần nữa cảm giác chỉ huy đầy nóng nảy chảy từ đầu đến cây đũa phép.

Bogrod lại một lần nữa quy phục ý chí của nó, vẻ mặt ngơ ngáo của y biến đổi thành thờ ơ lịnh sự, trong lúc Ron lật đật lượm lên cái túi da chứa các dụng cụ kim loại.

“Harry, mình nghĩ mình nghe có tiếng người đang đến!”

Hermione nói, và cô bé chĩa cây đũa phép của Bellatrix về phía thác nước rồi hô, “Che chắn!”

Tụi nó biết bùa Che chắn phá được phép thuật của dòng nước bị ếm khi dòng nước chảy ngược lên hành lang.

“Diệu kế,” Harry nói.

“Dẫn đường đi, ông Griphook!”

“Làm sao tụi mình trở ra được?”

Ron hỏi khi tụi nó vội vã đi theo con yêu tinh vô trong bóng tối mờ mịt, Bogrod thở hổn hển bám theo chân tụi nó như một con chó già.

“Để khi nào cần trở ra hãy lo tới chuyện đó.”

Harry nói.

Nó đang cố gắng lắng nghe, nó nghĩ nó nghe được tiếng cái gì đó kêu leng keng và di chuyển đâu đó gần đây.

“Ông Griphook, còn bao xa nữa?”

“Không xa nữa, Harry Potter à, không xa...”

Rồi tụi nó quẹo quanh một góc và thấy điều mà Harry đã chuẩn bị, dù vậy vẫn khiến tụi nó đứng khựng lại.

Một con rồng khổng lồ bị xích vào mặt đất trước mặt tụi nó, chắn ngang lối vào của bốn hay năm hầm an toàn sâu nhất ở đó.

Vẩy của con quái vật ngả màu tái nhợt và bị bong ra vì bị giam cầm quá lâu dưới lòng đất, mắt rồng màu hồng đục mờ; cả hai chân sau đều mang cùm nặng nề có những sợi xích nối với những cái móc bự chảng đóng sâu vào sàn đá.

Đôi cánh vĩ đại lởm chởm gai của con rồng xếp vào thân mà nếu xòe ra có thể che kín cả gian phòng, và khi xoay cái đầu xấu xí về phía tụi nó, con rồng rống lên một âm thanh có thể làm cho đá rung rinh, há cái miệng và phun ra một luồng lửa tống tụi nó văng trở lại hành lang.

“Nó gần đui rồi,” Griphook thở hổn hển.

“Nhưng vì vậy nó càng hung dữ hơn.

Tuy nhiên, chúng ta có cách diều khiển nó.

Nó đã học được là nghe tiếng cái Leng keng là biết điều gì sắp tới.

Đưa đây cho tôi.”

Ron đưa cái túi da cho Griphook, và con yêu tinh lấy ra một số những dụng cụ kim loại nhỏ mà khi lắc lên thì tạo ra một âm thanh ngân dài như những cái búa nhỏ gõ trên những cái đe.

Griphook đưa chúng ra: Bogrod ngoan ngoãn nhận lấy.

“Các cô cậu biết phải làm gì mà,” Griphook nói với Harry, Ron và Hermione.

“Nó sẽ bị đau khi nghe âm thanh đó.

Nó sẽ rút lui, và ông Bogrod sẽ phải đặt bàn tay ông ta lên cửa hầm an toàn.”

Tụi nó lại tiến đến quẹo cua một lần nữa, vừa đi vừa lắc cái Leng keng, và âm thanh vang vọng khắp vách đá, được phóng đại hết sức chát chúa, đến nỗi bên trong hộp sọ của Harry dường như rung theo cái hầm nhốt rồng.

Con rồng phát ra một tiếng rống lỗ mãng khác, rồi rút lui.

Harry có thể thấy con rồng run rẩy, và khi tiến đến gần hơn, nó thấy những vết thẹo do đòn roi tàn bạo quất vào mặt con rồng, và đoán là con rồng đã được dạy cho biết sợ gươm nóng khi nghe âm thanh của mấy cái Leng keng.

“Khiến ông ta áp bàn tay lên cửa đi!”

Griphook khuyên Harry, nó bèn xoay cây đũa phép về phía Bogrod.

Con yêu tinh vâng lệnh, áp bàn tay lên gỗ, và cánh cửa hầm an toàn tan biến đi dể lộ một không gian giống hang động chất ngập từ sàn lên nóc những chiếc cốc và những đồng tiền vàng, áo giáp bạc, da của những sinh vật lạ - một số có xương sống dài, một số có cánh cụp - thuốc độc trong những hũ thủy tinh nạm ngọc, và một cái sọ người vẫn còn đội vương miện.

“Tìm, mau lên!”

Harry nói khi tụi nó vội vã vào trong hầm an toàn.

Nó đã miêu tả cái cúp của Hufflepuff cho Hermione và Ron, nhưng nếu không phải cái đó mà là cái khác, một Trường Sinh Linh Giá chưa được biết tới ở trong hầm an toàn này, thì nó không biết cái đó giống cái gì.

Tuy nhiên, nó vừa mới kịp ngó quanh một cái thì thì một tiếng keng nín tịt phía sau lưng: Cánh cửa hầm tái xuất hiện, nhốt kín tụi nó bên trong hầm an toàn, và tụi nó chìm trong bóng tối hoàn toàn.

“Không sao, Bogrod sẽ thả chúng ta ra được!”

Griphook nói khi Ron hét lên một tiếng kinh ngạc.

“Các cô cậu có thể thắp đũa phép lên mà, phải không?

Và nhanh lên, chúng ta có ít thì giờ lắm.”

“Thắp sáng!”

Harry giơ cây đũa phép của nó lên rọi quanh hầm an toàn: ánh sáng chiếu lên những đồ châu báu lấp lánh; nó thấy thanh gươm Gryffindor giả nằm trên một cái kệ cao giữa một mớ bòng bong dây xích.

Ron và Hermione cũng thắp sáng cây đũa phép của tụi nó, và lúc này đang xem xét những đống đồ vật xung quanh.

“Harry, có thể cái này...?

Á!”

Hermione rú lên đau đớn, và Harry quay đũa phép về phía cô bé đúng lúc nhìn thấy một cái cốc nạm ngọc rớt văng ra khỏi nắm tay của cô bé.

Nhưng khi cái cốc rớt xuống, nó tự nhân lên thành nhiều cái cốc cùng rơi xuống như phun ra từ vòi gương sen, làm sàn hầm đầy ắp những cái cốc y chang nhau lăn lóc khắp nơi, không thể nào nhận ra cái cốc nguyên thủy trong đám đó.

“Nó đốt mình!”

Hermione rên rỉ, vừa mút mấy ngón tay bị phồng rộp.

“Họ đã ếm lời nguyền Nảy nở và Bắt quả tang!”

Griphook nói.

“Mọi thứ các cô cậu đụng vào sẽ nóng bỏng và nhân bản lên gấp bội, nhưng các bản sao không có giá trị gì cả - và nếu các cô cậu tiếp tục sờ mó kho báu, các cô cậu cuối cùng cũng sẽ bị đè chết dí dưới sức nặng của đống vàng bành trướng.”

“Được, đừng đụng vào cái gì hết.”

Harry khẩn khoản nói, nhưng ngay khi nó đang nói câu đó thì Ron vô ý đá trúng một cái trong đám cốc đó, và hai chục cái cốc nữa bùng hiện ra trong khi Ron nhảy tưng tưng tại chỗ, giày nó chạm vào kim loại nóng đã cháy tiêu mất một phần.

“Đứng yên!

Đừng nhúc nhích!”

Hermione nói, nắm chặt lấy Ron.

“Chỉ nhìn quanh thôi!”

Harry nói.

“Nhớ, cái cúp nhỏ và bằng vàng, có huy hiệu khắc trên cúp, có hai quai... mặt khác, nếu mấy bồ tìm thấy biểu tượng của Ravenclaw ở đây, con ó...”

Tụi nó chĩa đũa phép vào mọi xó xỉnh và khe hở, thận trọng xoay tại chỗ.

Không thể nào không va quệt vào bất cứ thứ gì; Harry đã làm văng ra một núi tiền vàng Galleon giả xuống sàn nằm chung với đám cốc vàng, và bây giờ thì thiệt khó mà kiếm được chỗ để mà đặt chân, đống vàng cứ thế sáng hực lên nóng hổi, khiến cho căn hầm an toàn nóng như một cái lò luyện kim.

Ánh sáng cây đũa phép của Harry soi sáng tới những tấm chắn và mũ sắt do yêu tinh chế tạo đặt trên kệ cao tới tận nóc hầm; nó soi ánh sáng càng lúc càng cao hơn, cho đến khi ánh sáng bỗng nhiên soi vào một vật khiến cho tim nó thót lên và tay nó run khẽ.

“Nó kìa!

Nó ở trên kia!”

Ron và Hermione cùng chĩa đũa phép về phía đó, khiến cho cái cúp nhỏ bằng vàng lấp lánh dưới ba nguồn ánh sáng rọi tới: cái cúp từng thuộc về Helga Hufflepuff, về sau trở thành vật sở hữu của Hepzibah Smith, rồi bị Tom Riddle đánh cắp.

“Tụi mình dùng cách quỉ gì để lên được trên đó mà không đụng trúng bất cứ cái gì hết bây giờ?”

Ron hỏi.

“Cúp lại đây!”

Hermione kêu, ắt là trong cơn tuyệt vọng cô bé đã quên béng những gì Griphook đã nói với tụi nó trong suốt giai đoạn chuẩn bị kế hoạch.

“Vô ích, vô ích!”

Con yêu tinh càu nhàu.

“Vậy, chúng ta làm gì đây?”

Harry hỏi, trừng mắt nhìn con yêu tinh.

“Nếu ông muốn lấy thanh gươm, ông Griphook à, thì ông phải giúp chúng tôi nhiều hơn là...

Khoan!

Tôi có thể khều đồ vật bằng thanh gươm chứ?

Hermione, đưa thanh gươm đây!”

Hermione lục lọi trong túi lấy ra cái túi xách hột cườm, mò mẫm vài giây rồi rút ra thanh gươm sáng loáng.

Harry nắm chuôi gươm cẩn hồng ngọc và chạm mũi gươm vào một cái hũ đựng rượu bằng bạc gần đó, cái hũ không nhân ra bản sao.

“Nếu mình có thể thọc mũi gươm qua một cái quai...

Nhưng làm sao mình có thể lên được trên đó?”

Cái kệ đặt cái cúp cao hơn tầm với của bất cứ đứa nào, kể cả Ron, đứa cao nhất.

Sức nóng từ đống của cải bùa phép bốc lên thành luồng, mồ hôi chảy ròng ròng xuống mặt và lưng Harry khi nó cố gắng nghĩ ra cánh để với lên tới cái cúp; và đúng lúc đó nó nghe tiếng con rồng rống lên bên kia cánh cửa hầm an toàn, cùng tiếng leng keng vang lên càng lúc càng to.

Giờ đây tụi nó đúng là bị kẹt ở đây rồi: Chẳng có cánh nào thoát ra ngoài trừ qua cửa hầm, và dường như cả một bầy yêu tinh đang tiến đến bên kia cánh cửa.

Harry nhìn Ron và Hermione và thấy nỗi kinh hoàng trên gương mặt hai đứa nó.

“Hermione,” Harry nói khi tiếng leng keng vang lên to hơn, “Mình phải lên trên đó, mình phải tiêu hủy nó...”

Cô bé giơ cao đũa phép, chĩa vào Harry và thì thầm.

“Nhấc bổng thân.”

Bị nắm mắt cá chân kéo lên không trung, Harry đụng phải một bộ áo giáp và những bản sao áo giáp bùng ra như những thân thể nóng trắng lóa, làm đầy kín cái không gian đã chật nứt.

Cả hai con yêu tinh, Ron va Hermione kêu lên đau đớn khi bị những đồ vật khác tống văng ra, những đồ vật này cũng bị nhân lên thành nhiều bản nữa.

Bị vùi lấp nửa người trong đống của cải nóng rẫy, tụi nó vùng vẫy và kêu gào trong lúc Harry thọc mũi gươm vào quai của cái cúp Hufflepuff, móc nó vô lưỡi gươm.

“Che chắn!”

Hermione ré lên trong cố gắng tự bảo vệ cô bé, Ron và hai con yêu tinh khỏi đống kim loại nóng rực.

Đúng lúc đó, một tiếng rú ghê rợn nhất vang lên khiến Harry ngó xuống: Ron và Hermione đã bị ngập tới eo trong đống báu vật, đang cố gắng giữ Bogrod khỏi bị tuột xuống dưới làn sóng của cải, đang dâng lên, nhưng Griphook thì đã chìm mất tăm, chẳng còn thấy gì ngoại trừ mấy đầu ngón tay dài ngoằng.

Harry chụp mấy ngó tay của Griphook và kéo lên.

Con yêu tinh bị phồng rộp lú ra từ từ, y hú lên.

“Giải tỏa thân!”

Harry gào, và nó cùng Griphook té cái ạch xuống bề mặt đống của cải đang tiếp tục phình ra, thanh gươm văng ra khỏi tay Harry.

“Chụp nó!”

Harry gào, ráng nhịn cơn đau của kim loại nóng nung da nó, trong khi con yêu tinh lại trèo lên vai nó, quyết tâm né tránh đống đồ vật nóng đỏ đang phình ra.

“Thanh gươm đâu?

Cái cúp móc trên thanh gươm!”

Tiếng leng keng bên kia cánh cửa vang điếc tai... quá trễ rồi...

“Kìa!”

Chính Griphook là người nhìn thấy thanh gươm, và y nhào tới, và trong tíc tắc đó Harry biết là con yêu tinh đã không hề trông mong tụi nó giữ lời hứa.

Một tay nắm chặt một túm tóc của Harry, để yên chí y không rơi xuống cái biển vàng nóng đang dâng lên, Griphook chụp lấy chuôi thanh gươm và giơ nó lên cao hơn tầm tay với của Harry.

Cái cúp vàng nhỏ xíu một quai xỏ qua lưỡi gươm bị hất văng lên không trung.

Con yêu tinh cưỡi chàng hảng trên vai Harry, Harry hụp xuống và bắp được cái cúp, và mặc dù cảm nhận được sự bỏng cháy trên da thịt, nó vẫn không chụi buông cái cúp ra, ngay cả khi vô số những cái cúp Hufflepuff bung ra từ nắm tay nó, đổ như mưa xuống nó khi cánh cửa hầm an toàn mở ra lần nữa và nó thấy mình trượt xuống không cánh nào cưỡng lại được trên đống vàng bạc nóng bỏng sạt lở đang bành trướng và tống nó, Ron cùng Hermione ra gian ngoài căn hầm an toàn.

Không màng tới cơn đau của những vết phỏng khắp thân thể, và vẫn còn nằm trên chỗ phình lên của đống của cải đang gia tăng, Harry đứng lên nhét cái cúp vô túi áo nó và đứng lên thu lại thanh gươm, nhưng Griphook đã biến mất.

Ngay khi thuận lợi, Griphook liền tuột xuống khỏi vai Harry, y đã phóng nhanh lẩn vào đám yêu tinh chung quanh, vung thanh gươm lên hét, “Ăn trộm!

Ăn trộm!

Cứu!

Ăn trộm!”

Y biến vào giữa đám đông đang tiến tới, tất cả bọn chúng đều cầm dao găm và chúng chấp nhận y không hề thắc mắc.

Trượt trên đống kim loại nóng, Harry cố gắng đứng lên và biết là lối thoát duy nhất đã tiêu.

“Điểm huyệt!”

Nó rống lên, và Ron cùng hermione hiệp sức nó: Những tia sáng đỏ bay vèo vào đám yêu tinh, một số tên té chổng kềnh, nhưng những tên khác vẫn tiến tới, và Harry thấy nhiều phù thủy bảo vệ đang chạy tới khúc quanh.

Con rồng bị xích rống lên một tiếng và một luồng lửa khạc vào đám yêu tinh.

Bọn phù thủy giạt ra, dồn cục, lùi lại trên lối đi chúng vừa chạy tới, và một ý tưởng bất ngờ, hay một cơn điên, bật lên trong đầu Harry.

Chĩa cây đũa phép vào nhưng cái cùm dày cui xích con rồng xuống sàn, nó hét: “Giải phóng!”

Mấy cái cùm mở ra trong những tiếng nổ đùng đùng thật lớn.

“Lối này!”

Harry hét, và vẫn tiếp tục đánh choáng vào đám yêu tinh đang tiến tới, nó phóng tới chỗ con rồng mù.

“Harry...

Harry... bồ đang làm gì vậy?”

Hermione kêu.

“Đứng dậy, trèo lên, mau lên...”

Con rồng chưa nhận ra là nó đã được tự do: Chân Harry chạm phải cái mấu chân sau của con rồng và nó đu mình lên lưng con vật.

Vảy rồng cứng như thép; con rồng thậm chí còn không cảm thấy Harry đang cưỡi trên lưng.

Harry chìa tay ra; Hermione tự nhấc mình lên; Ron trèo lên đằng sau tụi nó, và một giây sau con rồng nhận ra là nó không còn bị xiềng xích nữa.

Rống lên một tiếng, con rồng lồng lên: Harry kẹp chặt đầu gối, bám hết sức chặt vào đám vảy rồng lởm chởm khi cánh rồng xòe ra, hất những con yêu tinh đang rít lên văng ra như những con ky, rồi con rồng bay lên.

Harry, Ron và Hermione nằm rạp trên lưng con rồng, bị trần hầm cào xước khi con rồng lao về phía hàng lang mở, trong khi đám yêu tinh đuổi theo phóng những con dao găm chỉ sượt qua sườn con rồng.

“Tụi mình không thể thoát được, con rồng quá bự!”

Hermione gào, nhưng con rồng hà miệng và lại khạc ra lửa, gây nên một trận nổ trong đường hầm, khiến sàn và trần hầm rạn nứt sập xuống.

Chỉ bằng sức mạnh thuần túy, con rồng quào quắt mở đường thoát ra.

Mắt Harry nhắm tịt vì sức nóng và bụi bặm: Tiếng đá đổ ầm ầm và tiếng rống của con rồng khiến nó điếc cả tai, nó chỉ có thể bám chặt vào lưng rồng, lo bị hất văng ra bất cứ lúc nào; bỗng nó nghe tiếng Hermione thét: “Đục thủng!”

Cô bé đang giúp con rồng nong rộng hành lang, đẽo vô trần hầm khi con rồng đang cố gắng bay lên hướng về nơi có không khí thoáng đãng hơn, cách xa đám yêu tinh đang hò hét và rung leng keng: Harry và Ron bắt chước Hermione, làm nổ tung trần hầm bằng bùa Đục thủng.

Tụi nó băng qua một hồ nước ngầm, và con quái thú vĩ đại trườn mình và gầm rống như cảm nhận được tự do và không gian đang mở ra trên đầu nó, và sau lưng tụi nó lối đi bị lấp kín bởi cái đuôi lởm chởm gai nhọn quãy đập, bởi hàng đống hàng đống những đá bể, những thạch nhũ khổng lồ gãy, và tiếng leng keng của những con yêu tinh dường như càng lúc càng bị hãm tịt; trong khi ở phía trước, ngọn lửa của con rồng dọn quang đãng đường tiến của tụi nó.

Và cuối cùng, nhờ kết hợp sức mạnh giữa bùa chú của tụi nó và sức mạnh thô sơ của con rồng, tụi nó đã phá tung được hành lang dẫn ra sảnh cẩm thạch.

Yêu tinh, phù thủy gào thét tìm chỗ nấp, và cuối cùng con rồng đã có đủ chỗ để duỗi cánh ra: Quay cái đầu về phía không khí mát lạnh bên ngoài cửa, nơi có thể đánh hơi được, con rồng khởi hành, và với Harry, Ron cùng Hermione bám chặt trên lưng, con rồng tông qua mấy cánh cửa kim loại để xông ra.

Bỏ cánh cửa bị cong oằn và lắt lay trên bản lề, con rồng đi chệnh choạng ra Hẻm Xéo rồi lao vút lên trời.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 27: Chỗ giấu cuối cùng


Chỗ giấu cuối cùng

Không có cách gì để lèo lái.

Con rồng không thể thấy nó đang bay đi đâu, và Harry biết nếu con rồng mà quẹo ngoặt hay nhào lộn giữa không trung thì tụi nó sẽ không thể nào bám được vào cái lưng rộng của con rồng.

Dù vậy khi tụi nó càng lúc càng lên cao, Luân Đôn trải ra bên dưới như một tấm bản đồ xám-và-xanh-biếc, cảm xúc tràn ngập trong Harry là mừng đã đào thoát được trong tình huống tưởng như vô phương.

Cúi rạp trên cổ con rồng, nó bám chặt mấy cái vảy cứng như kim loại, và gió mát đang xoa dịu da bị phỏng và phồng giộp của nó, cánh con rồng vỗ trong không khí tựa như cánh quạt của cối xay gió.

Sau lưng nó, Ron tiếp tục dốc hết hơi ra chửi thề, và Hermione dường như thút thít khóc, chẳng biết vì mừng quá hay sợ quá.

Khoảng năm phút sau hay cỡ đó, Harry quên đi nỗi sợ hãi trước mắt là con rồng sẽ quăng tụi nó ra, bởi vì con rồng dường như không có ý đồ gì khác hơn là gắng hết sức bay thật xa nhà tù dưới lòng đất; nhưng vấn đề làm cách nào và khi nào thì tụi nó sẽ leo xuống lưng rồng thì vẫn còn khá là dễ sợ.

Nó hoàn toàn không biết rồng có thể bay trong bao lâu mà không cần nghỉ, cũng không biết con rồng đặc biệt này, hầu như không thấy đường, có thể nào tìm được một chỗ tử tế mà đáp xuống không.

Nó cứ liếc chừng xung quanh thường xuyên, cảm giác như cái sẹo đang nhoi nhói...

Bao lâu nữa thì Voldemort biết là tụi nó đã đột nhập vào hầm an toàn của Lestrange?

Bọn yêu tinh ở Ginggotts sẽ báo tin cho Bellatrix sớm tới cỡ nào?

Bao nhanh chúng sẽ phát hiện ra cái gì đã bị lấy đi?

Và rồi, một khi chúng khám phá ra rằng cái cúp vàng bị mất?

Cuối cùng Voldemort sẽ biết là tụi nó đang săn lùng những Trường Sinh Linh Giá.

Con rồng dường như thèm khát không khí trong lành hơn, mát lạnh hơn.

Nó cứ đều đều bay lên cao cho đến khi tụi nó bay xuyên qua những cuộn mây lạnh buốt, và Harry không thể nào phân biệt được những chấm màu nho nhỏ nguyên là những chiếc xe hơi chạy vào và chạy ra thủ đô.

Tụi nó cứ bay hoài, bay hoài qua vùng nông thôn được chia thành từng khoảng xanh và nâu, qua những đường xá, sông ngòi uốn lượn trong cảnh trí giống như những giải ruy băng mờ xỉn và óng ả.

“Bồ nghĩ coi nó đang kiếm gì?”

Ron hét lên khi tụi nó bay càng lúc càng xa về phương bắc.

“Không biết,” Harry hét trở lại.

Hai tay nó đã tê cóng vì lạnh nhưng nó không dám liều lơi bàn tay bám chặt.

Nãy giờ nó cứ thắc mắc là tụi nó sẽ làm gì nếu thấy ven biển ngay bên dưới, nếu con rồng cứ nhắm ra biển rộng mà bay: Nó đã lạnh buốt và tê cóng rồi, ấy là không kể đến đói và khát thê thảm.

Nó tự hỏi lần chót mà con rồng được ăn là khi nào?

Chắc là không bao lâu nữa con rồng cần được bồi dưỡng chứ?

Và lúc đó chuyện gì sẽ xảy ra khi con rồng phát hiện ra có ba con người có thể nhâm nhi ngon lành đang ngồi trên lưng nó.

Mặt trời trượt xuống thấp hơn trên bầu trời lúc này đã nhuốm màu lam, và con rồng vẫn còn bay, thành phố thị trấn lướt qua tầm mắt bên dưới tụi nó, cái bóng khổng lồ của con rồng lướt trên mặt đất như một đám mây đen khổng lồ.

Mọi bộ phận cơ thể Harry đều ê nhức vì phải gắng sức bám vào lưng con rồng.

“Có phải mình tưởng tượng không ta?”

Ron hét lên sau một lúc im lặng kéo dài đáng kể, “hay là tụi mình đang tụt xuống thấp?”

Harry nhìn xuống và thấy những trái núi xanh thẫm và những cái hồ ánh lên màu đồng đỏ trong hoàng hôn, phong cảnh dường như nở lớn ra và thấy rõ chi tiết hơn khi nó liếc nhìn xuống qua hông con rồng, và nó tự hỏi có phải con rồng đã đoán ra sự hiện diện của nước ngọt nhờ tia nắng được phản chiếu và loé sáng.

Con rồng bay thấp dần, thấp dần theo một vòng xoáy trôn ốc, có vẻ xoáy vào một trong những cái hồ nhỏ hơn.

“Mình cho là tụi mình nên nhảy xuống khi nó xuống thấp vừa đủ!”

Harry nói vọng ra sau với hai đứa kia, “Nhảy thẳng xuống nước trước khi nó nhận ra tụi mình ở trên nó!”

Tụi nó đồng ý, Hermione hơi ớn, và bây giờ Harry có thể thấy cái bụng bự của con rồng dập dềnh trên mặt nước.

“NHẢY!”

Nó tuột qua hông con rồng và lao thẳng xuống mặt hồ, chân chạm dưới nước, cú nhảy này ác liệt hơn nó tưởng và nó rớt mạnh xuống nước, chìm nghỉm như cục đá trong cõi lau sậy xanh rì và lạnh cóng.

Nó đạp mạnh để trồi lên mặt nước và nhô đầu lên thở hào hển, thấy những vòng sóng lớn đang toả ra từ những vị trí mà Ron và Hermione rớt xuống.

Con rồng dường như không nhận thấy gì hết.

Nó đã bay tới trước khoảng mười lăm thước, sà xuống thấp trên mặt hồ để hớp nước bằng cái vòi sứt sẹo mình.

Khi Ron và Hermione từ dưới đáy hồ trồi lên, phun phì phèo, thở hổn hển thì con rồng bay tiếp, cánh nó đập mạnh, cuối cùng đáp xuống ở tuốt một bờ sông xa tít.

Harry, Ron và Hermione bơi sải qua bờ bên kia.

Cái hồ không có vẻ sâu lắm.

Chẳng mấy chốc khó khăn của tụi nó là tìm cách vượt qua lau sậy và bùn sình chứ không còn là vấn đề bơi nữa, nhưng rốt cuộc tụi nó cũng ngã phịch được xuống đám cỏ trơn nhớt, ướt sũng, thở hổn hển và kiệt sức.

Hermione đổ gục, ho và rùng mình.

Tuy Harry giờ đã có thể vui mừng mà nằm lăn ra và ngủ, nó vẫn ráng lảo đảo đứng lên, rút đũa phép ra và bắt đầu ếm bùa bảo vệ thông thường xung quanh tụi nó.

Khi làm xong rồi, nó nhập bọn với hai đứa kia.

Đó là lần đầu tiên kể từ lúc trốn chạy khỏi cái hầm an toàn, nó nhìn kỹ hai đứa bạn.

Cả hai đều bị những vết phỏng đỏ viêm tấy khắp mặt và cánh tay, quần áo tụi nó cũng bị cháy xém nhiều chỗ.

Tụi nó nhăn nhó khi phải bôi tinh dầu bạch tiễn lên những vết thương hơi bị nhiều.

Hermione đưa Harry chai thuốc, rồi lấy ra ba chai nước bí mà cô bé đem theo từ Chòi Đất cùng những bộ quần áo khô ráo sạch sẽ cho ba đứa.

Tụi nó thay đồ rồi nuốt ực món nước bí.

“Chà, cái may là,” cuối cùng Ron nói, nó đang ngồi nhìn da trên hai bàn tay nó mọc lại, “tụi mình lấy được cái Trường Sinh Linh Giá, còn cái xui là...”

“... mất gươm,” Harry nói qua kẽ răng nghiến chặt trong lúc nó nhỏ tinh dầu bạch tiễn qua cái lỗ cháy xém trên quần bò vào vết phỏng viêm tấy bên dưới.

Harry lấy cái Trường Sinh Linh Giá từ trong túi áo ướt nhẹp mà nó vừa cởi ra và đặt xuống bãi cỏ trước mặt.

Lấp lánh trong ánh nắng, cái cúp thu hút sự chú ý của tụi nó trong lúc tụi nó nuốt ừng ực chai nước bí.

“Ít nhất thì lần này tụi mình không thể đeo nó được, cái đó mà đeo tòng teng ở cổ thì coi bộ hơi kì cục,” Ron vừa nói vừa quẹt miệng bằng mu bàn tay.

Hermione nhìn qua mặt hồ đến bờ bên kia, chỗ con rồng vẫn còn đang uống nước.

“Bồ nghĩ coi chuyện gì sẽ xảy ra cho nó?”

Cô bé hỏi.

“Nó có bị sao không?”

“Bồ nói nghe như bác Hagrid vậy,” Ron nói.

“Nó là một con rồng, Hermione à.

Nó có thể tự lo lấy thân nó.

Lo là lo cho chính tụi mình nè.”

“Bồ muốn nói gì?”

“Ôi, mình không biết làm sao cắt nghĩa cho bồ hiểu,” Ron nói, “nhưng mình tin là bọn chúng rất có thể đã nhận ra rằng tụi mình vừa đột nhập Gringotts.”

Cả ba đứa phá ra cười, và một khi đã cười thì khó mà ngừng lại.

Be sườn của Harry phát đau luôn, nó cảm thấy hơi xây xẩm vì đói, nhưng nó nằm ngửa trên cỏ dưới bầu trời đang đỏ dần và cười cho đến khi cổ họng đau khan.

“Nhưng mà rồi tụi mình sẽ làm gì?”

Cuối cùng Hermione hỏi, nín cười đến phát nấc cục để lấy lại vẻ nghiêm trang.

“Hắn sẽ biết đúng không nào?

Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó sẽ biết là tụi mình biết về những cái Trường Sinh Linh Giá.”

“Biết đâu bọn chúng sợ quá không dám báo cáo với hắn,” Ron nói vẻ hy vọng, “biết đâu chúng bưng bít...”

Bầu trời, mùi nước hồ, âm thanh tiếng nói của Ron đột ngột biến mất.

Cơn đau bửa cái đầu Harry như một nhát gươm chém.

Nó đang đứng trong căn phòng sáng mờ mờ và một đám phù thuỷ ngồi thành một vòng bán nguyệt đối diện với nó, và trên sàn là một hình dạng nhỏ thó run rẩy đang quỳ dưới chân nó.

“Mi nói với ta cái gì?”

Giọng nó cao và lạnh, nhưng cơn thịnh nộ và nỗi kinh sợ cháy trong ruột nó.

Điều duy nhất mà nó sợ - nhưng có thể điều đó không đúng, nó chẳng thể nào hiểu được làm thế nào...

Con yêu tinh run lẩy bẩy không sao ngước nhìn hai con mắt đỏ cao bên trên y.

“Nói lại,” Voldemort lẩm bẩm.

“Nói lại điều đó!”

“Th...

Thưa Chúa tể,” con yêu tinh lắp bắp.

Hai con mắt đen của y trợn trắng kinh hoàng, “th... thưa Chúa tể... ch... chúng tôi đã cố… cố gắng ngăn ch… chặn chúng... bọn giả... giả mạo, thưa Chúa tể....

đột...

đột nhập vào trong.... trong hầm an toàn của bà Lestrange...”

“Bọn giả mạo?

Bọn giả mạo nào?

Ta tưởng Gringotts có cách phát hiện bọn giả mạo chứ?

Chúng là ai?”

“Chúng là... là... th... thằng P...

Potter và hai đứa đi cùng...”

“Và chúng đã lấy đi?”

Hắn nói, giọng vút cao, một nỗi sợ khủng khiếp vây chặt lấy hắn.

“Nói đi!

Chúng đã lấy cái gì?”

“Th... thưa Chúa tể... m.... một... một cái cúp nhỏ bằng vàng...”

Một tiếng gào rú của phẫn nộ, của phủ nhận thoát ra khỏi hắn như thể đó là tiếng rú của một kẻ xa lạ: Hắn phát điên phát khùng, điều đó không thể đúng được, điều đó là bất khả, trước giờ không một ai biết được, làm sao thằng nhãi ranh có thể khám phá ra bí mật của hắn?

Cây Đũa phép Cơm nguội vung lên không trung và ánh sáng xanh bắn ra khắp phòng, con yêu tinh đang quỳ gối lắn quay ra chết ngắc, đám phù thuỷ đang quan sát văng tan tác trước mặt hắn, khiếp đảm.

Bellatrix và Lucius Malfoy gạt những kẻ khác lại sau trong cuộc chạy đua ra cửa, cây đũa phép của hắn vung lên hạ xuống, vung lên hạ xuống, và những kẻ còn ở lại đều bị giết sạch, giết tất, chỉ vì đã đem tin cho hắn, vì đã nghe chuyện về cái cúp vàng...

Còn lại một mình giữa những kẻ đã chết, hắn giận dữ đi lên đi xuống, và hình ảnh lướt qua trước mặt hắn: kho báu của hắn, vệ sĩ của hắn, cái neo bất tử của hắn... cuốn nhật kí đã bị huỷ hoại và cái cúp đã bị đánh cắp.

Nếu thằng nhãi ranh biết về những cái khác thì sao?

Thì sao?

Liệu nó có biết không, nó có hành động chưa, nó có truy được thêm dấu vết gì của chúng không?

Có phải Dumbledore là kẻ bày ra chuyện này không?

Dumbledore, đã chết theo lệnh của hắn, Dumbledore, cây đũa phép của lão giờ đã là cây đũa phép của hắn, nhưng lão lại thông qua thằng nhãi vươn ra khỏi nỗi ô nhục của cái chết, thằng nhãi ranh...

Nhưng chắc chắn là nếu thằng nhãi tiêu huỷ bất cứ cái Trường Sinh Linh Giá nào của hắn, thì hắn, Chúa tể Voldemort, ắt phải biết chứ, ắt phải cảm thấy chứ?

Hắn, phù thuỷ vĩ đại nhất trong toàn thế giới phù thuỷ; hắn, kẻ hùng mạnh và quyền lực nhất; hắn, kẻ đã giết Dumbledore và vô số những kẻ vô danh và vô tích sự khác.

Làm thế nào mà Chúa tể Voldemort lại không hay biết nếu hắn, chính linh hồn hắn, phần quan trọng nhất và quý giá nhất, bị tấn công, bị cắt?

Đúng, hắn đã không cảm nhận được điều đó khi cuốn nhật kí bị tiêu huỷ, nhưng hắn đã nghĩ chẳng qua vì lúc ấy hắn không còn thân xác để cảm nhận, lúc ấy hắn chẳng khác gì một bóng ma...

Không, chắc chắn những cái còn lại vẫn an toàn...

Những Trường Sinh Linh Giá hẳn là còn nguyên vẹn...

Nhưng hắn phải biết, hắn phải chắc chắn.

Hắn đi tới đi lui trong phòng, đá qua một bên cái xác của con yêu tinh khi hắn đi ngang qua, và những hình ảnh nhoà đi rồi cháy lên trong bộ óc đang sôi sục của hắn: cái hồ, cái chòi và trường Hogwarts...

Giờ đây cơn thịnh nộ của hắn đã dịu đi chút xíu.

Làm sao mà thằng nhãi có thể biết hắn đã giấu chiếc nhẫn trong căn chòi nát của Gaunt được chứ?

Không một ai được biết hắn có bà con với dòng họ Gaunts, hắn đã giấu diếm mối quan hệ, sau những vụ giết chóc ở nhà đó cũng chẳng ai lần dò dấu vết tới hắn.

Chiếc nhẫn, chắc chắn, an toàn...

Và làm sao mà thằng nhãi, hay bất cứ ai, biết về cái hang hay xâm nhập được sự bảo vệ trong hang chứ?

Ý nghĩ về cái mặt dây chuyền bị đánh cắp thật ngu hết sức...

Còn ngôi trường: Chỉ một mình hắn biết cái nơi trong Hogwarts mà hắn đã cất kĩ cái Trường Sinh Linh Giá, bởi vì chỉ một mình hắn từng thăm dò những bí mật sâu kín nhất ở chốn đó...

Và vẫn còn đây, Nagini, giờ đây hắn phải giữ nó luôn bên cạnh, không sai nó đi làm việc vặt nữa, đặt nó dưới sự bảo vệ của hắn...

Nhưng để yên tâm, để hoàn toàn yên tâm, hắn phải trở lại từng nơi cất giấu của hắn, hắn phải tăng gấp đôi sự bảo vệ quanh mỗi cái Trường Sinh Linh Giá của hắn...

Một công việc, như công việc tìm kiếm Cây Đũa phép Cơm nguội, hắn phải thực hiện một mình...

Hắn nên đi thăm cái nào trước tiên, cái nào có nguy cơ lớn nhất?

Một chút khó chịu chợt nảy lên trong hắn...

Dumbledore rất có thể liên tưởng đến dòng họ Gaunts...

Ngôi nhà đã bỏ hoang của họ có lẽ là nơi cất giấu kém an toàn nhất của hắn, hắn phải đi tới đó trước tiên.

Cái hồ, dĩ nhiên là không đời nào... mặc dù cũng có chút xíu khả năng là Dumbledore có thể thông qua viện mồ côi mà biết chút đỉnh về những việc làm bậy của hắn trong quá khứ.

Và trường Hogwarts... nhưng hắn biết Trường Sinh Linh Giá của hắn ở đó vẫn an toàn, không thể nào có chuyện Potter vào được làng Hogmeade mà không bị phát hiện, đừng nói tới chuyện vào trường.

Dù vậy, cứ thận trọng cảnh báo cho Snape biết việc thằng nhãi có thể tìm cách chui vô lại toà lâu đài...

Dĩ nhiên, nói với Snape tại sao thằng nhãi có thể chui vô lại lâu đài thì ngu quá, hắn đã phạm sai lầm trầm trọng khi tin tưởng Bellatrix và Malfoy.

Chẳng phải là sự ngu xuẩn và cẩu thả của chúng đã chứng minh là đừng bao giờ tin tưởng sao.

Vậy hắn sẽ đi thăm căn chòi nát của Gaunt trước tiên và đem cả Nagini theo hắn.

Từ nay hắn sẽ không rời con rắn nữa... hắn trải bước ra khỏi phòng đi suốt hành lang, ra ngoài vườn tối thui nơi bồn nước đang phun nước, hắn gọi con rắn bằng Xà ngữ và nó trườn ra nhập cùng hắn như một cái bóng dài.

Mắt Harry mở bừng ra khi nó tự lôi mình về với hiện tại.

Nó đang nằm trên bờ hồ, trong ánh hoàng hôn, và Ron cùng Hermione đang ngó xuống nó.

Cứ trông vẻ mặt lo lắng của hai đứa và cơn co giật liên tục của cái thẹo trên trán nó, thì cuộc viếng thăm ngắn ngủi đột ngột của nó vào tâm trí Voldemort đã bị tụi nó chú ý.

Nó gắng gượng ngồi dậy, rùng mình và hơi ngạc nhiên là nó vẫn còn ướt tới da và thấy cái cúp nằm vô tư trên cỏ trước mặt nó, và cái hồ - xanh thẫm ánh vàng của mặt trời đang lặn.

“Hắn biết,” giọng của nó nghe lạ và trầm sau khi gào thét bằng giọng cao của Voldemort.

“Hắn biết và hắn sắp kiểm tra những chỗ cất giấu Trường Sinh Linh Giá khác, và cái cuối cùng là,” nó đã đứng lên, “ở trường Hogwarts.

Mình đã biết.

Mình đã biết rồi.”

“Cái gì?”

Ron há hốc miệng ngó nó, Hermione nhổm dậy quỳ lên, có vẻ lo lắng.

“Nhưng mà bồ đã thấy cái gì?

Làm sao bồ biết?”

“Mình thấy hắn biết về chuyện cái cúp, mình... mình ở trong đầu hắn, hắn...”

Harry nhớ tới những vụ giết chóc...

“hắn giận dữ ghê gớm, và cũng sợ nữa, hắn không thể hiểu làm sao tụi mình biết được, và bây giờ hắn sắp kiểm tra xem những cái khác có được an toàn không, chiếc nhẫn trước tiên.

Hắn nghĩ cái ở trong trường Hogwarts là an toàn nhất, bởi vì Snape ở đó, bởi vì khó mà vô được trong đó mà không bị nhìn thấy.

Mình nghĩ hắn sẽ kiểm tra cái đó cuối cùng, nhưng hắn vẫn có thể đến đó trong vòng vài tiếng đồng hồ...”

“Bồ có thấy cái đó ở chỗ nào trong trường Hogwarts không?”

“Không, hắn đang tập trung vào việc cảnh báo Snape, hắn không nghĩ cụ thể đến chỗ cất cái đó...”

“Khoan, khoan,” Hermione kêu lên khi Ron chụp cái Trường Sinh Linh Giá và Harry lại rút tấm Áo khoác Tang hình ra.

“Tụi mình chưa thể cứ thế mà đi, tụi mình chưa có kế hoạch, tụi mình cần phải...”

“Tụi mình cần phải đi ngay,” Harry quả quyết nói.

Nó đã hy vọng được ngủ một giấc.

Nó đã trông mong được chui vào cái lều mới, nhưng bây giờ không thể làm vậy được...

“Bồ có thể tưởng tượng là hắn sẽ làm gì khi hắn biết là cái nhẫn và cái mặt dây chuyền đã mất không?

Nếu hắn quyết định cái Trường Sinh Linh Giá giấu ở trường Hogwarts không còn đủ an toàn nữa, và chuyển nó đi chỗ khác thì sao?”

“Nhưng làm sao tụi mình vô trường được chứ?”

“Tụi mình sẽ đi tới Hogsmeade,” Harry nói, “rồi tìm ra cách giải quyết nào đó khi tụi mình xem xét sự bảo vệ quanh trường như thế nào.

Chui vô tấm Áo khoác Tàng hình, Hermione, lần này mình muốn tụi mình sát cánh nhau.”

“Nhưng tụi mình không thật vừa...”

“Trời sẽ tối, không ai để ý chân cẳng tụi mình đâu.”

Tiếng vỗ của đôi cánh rồng khổng lồ vọng lại từ bên kia mặt hồ đen thui.

Con rồng đã uống no nê và đã bay lên không trung.

Tụi nó ngừng việc chuẩn bị chốc lát để ngắm con rồng bay càng lúc càng cao, cái bóng đen của nó nổi bật trên nền trời đang nhanh chóng tối đi, cho đến khi nó biến mất trên một ngọn núi lân cận.

Sau đó Hermione bước tới trước và đứng vào chỗ của cô bé ở giữa Harry và Ron.

Harry kéo tấm Áo khoác Tàng hình xuống hết mức, và tụi nó cùng nhau xoay người tại chỗ để chìm vào bóng tối nén chặt.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 28: Mảnh Gương Thất Lạc


Mảnh Gương Thất Lạc

Chân Harry chạm mặt đường.

Nó nhìn thấy con Phố Cao của làng Hogsmeade quen thuộc đến mức nhức nhối: những mặt tiền các tiệm quán tối om, đường nét mịt mờ của ngọn núi đen xa xa bên kia làng, khúc quanh của con đường phía trước dẫn đến trường Hogwarts, và ánh sáng rọi từ những cửa sổ của tiệm Ba Cây Chổi, với trái tim quặn thắt, nó nhớ lại rõ ràng sắc nét như in, một năm trước đây nó đã Độn thổ lên đúng chỗ này, dìu một cụ Dumbledore yếu ớt đến tuyệt vọng, nó nhớ lại tất cả chỉ trong một giây, ngay khi mới chạm chân mặt đất – và lúc đó, ngay lúc nó thở phào buông cánh tay Ron và Hermione, thì biến cố xảy ra.

Một tiếng thét xé tan không khí, nghe giống như tiếng thét của Voldemort khi hắn nhận ra cái cúp đã bị đánh cắp: Tiếng thét bứt dứt mọi dây thần kinh trong cơ thể Harry, và nó biết sự xuất hiện của tụi nó chính là nguyên nhân.

Ngay trong lúc nó còn đang nhìn hai đứa kia dưới tấm Áo khoác Tàng hình, cánh cửa của tiệm Ba Cây Chổi bật mở tung và một tá Tử Thần Thực Tử đội mũ chùm và áo choàng xông ra đường phố, đũa phép giơ cao.

Harry chụp cổ tay Ron giơ cây đũa phép của mình lên; bọn chúng quá đông không thể đối đầu được.

Cho dù cố gắng thì cũng chỉ là lạy ông tôi ở bụi này.

Một tên trong bọn Tử Thần Thực Tử giơ cao cây đũa phép của hắn, và tiếng gào thét tuy đã ngưng nhưng vẫn còn vọng âm quanh ngọn núi xa xa.

“Áo khoác lại đây!”

Một tên tử thần thực tử rống lên.

Harry nắm chặt nếp áo, nhưng cái áo chẳng hề có ý định thoát đi.

Bùa Triệu tập không có tác động gì tới tấm áo.

“Không trốn dưới tấm áo choàng của mày hả, Potter?”

Tên Tử Thần Thực Tử vừa phát bùa Triệu tập gào lên rồi nói với đồng bọn.

“Bao vây.

Nó đây.”

Sáu tên Tử Thần Thực Tử chạy về phía tụi nó: Harry, Ron và Hermione lùi hết sức nhanh vào con hẻm gần nhất, và bọn Tử Thần Thực Tử chỉ bắt hụt tụi nó trong gang tấc.

Tụi nó đứng chờ trong bóng tối, lắng nghe tiếng bước chân chạy lên chạy xuống những luồng ánh sáng phóng ra từ những cây đũa phép lùng sục của bọn Tử Thần Thực Tử xẹt dọc con phố.

“Tụi mình cứ đi thôi” Hermione thì thầm.

“Độn thổ ngay.”

“Ý hay,” Ron nói nhưng Harry chưa kịp đáp thì một tên Tử Thần Thực Tử đã hét lên.

“Chúng tao biết mày ở đây, Potter, và đừng hòng trốn thoát!

Chúng tao sẽ tìm ra mày.”

“Bọn chúng đã trực sẵn tụi mình,” Harry thì thầm, “Bọn chúng đã ếm sẵn bùa mách cho chúng biết khi bọn mình đến.

Mình nghĩ chúng đã ếm gì đó để cầm chân tụi mình ở đây để bắt tụi mình…”

“Kêu Giám ngục không” Một tên Tử Thần Thực Tử khác hỏi, “Cứ thả chúng tha hồ ruồng bố chúng sẽ tìm ra nó nhanh thôi”

“Chúa tể Hắc ám không muốn Potter chết dưới tay bất kì ai khác ngoài tay của chính ngài…”

“…

Giám ngục sẽ không giết nó!

Chúa tể Hắc ám muốn mạng sống của Harry Potter, chứ không phải hồn nó.

Nó sẽ dễ bị giết nếu nó được hôn trước!”

Có tiếng lao nhao tán đồng.

Harry sợ điếng người: Muốn đánh đuổi bọn Giám ngục tụi nó phải gọi Thần Hộ mệnh, mà làm vậy thì tụi nó bị lộ ngay tức thì.

“Tụi mình phải cố gắng Độn thổ thôi, Harry à!”

Hermione thì thầm.

Ngay trong lúc cô bé nói, Harry đã cảm thấy cái lạnh phi tự nhiên đang lang tỏa trên đường phố.

Ánh sáng bị hút sạch khỏi môi trường cho đến những vì sao trên cao khiến chúng biến mất.

Trong bóng tối như hũ nút, Harry cảm thấy Hermione nắm lấy cánh tay nó và tụi nó cùng nhau xoay mình tại chỗ.

Không khí mà tụi mà tụi nó cần đến để di chuyển dường như trở nên cứng ngắc; tụi nó không thể Độn thổ; bọn Tử Thần Thực Tử đã ếm bùa rất giỏi.

Cái lạnh lùng càng lúc càng gặm sâu vào da thịt Harry.

Nó, Ron và Hermione lùi xuống con hẻm, dò dẫm dọc theo bức tường, cố gắng không gây ra tiếng động.

Bỗng dưng ngay góc đường, bọn giám gục lướt tới êm re, cả chục tên, hay nhiều hơn, khoác áo trùm đen với những bàn tay thối rửa sứt sẹo, vô hình vì bọn chúng còn đen tối hơn cả không gian bao quanh chúng.

Chúng có cảm nhận được nỗi sợ hãi đang gần kề chúng không?

Harry tin chắc là có; lúc này chúng dường như tiến tới nhanh hơn, căn cứ vào hơi thở khò khè nặng nề mà nó nhận ra, cảm nhận được nỗi tuyệt vọng trong không khí, đang siết chặt…

Nó giơ đũa phép lên; nó không thể và không đời nào phải hứng chịu cái hôn của bọn Giám ngục, bất chấp điều gì xảy ra sau đó.

Chính Ron và Hermione là những người nó nghĩ đến khi nó thì thầm, “Bớ Thần Hộ mệnh!”

Con hươu bạc phóng ra từ đầu cây đũa phép của nó và làm nhiệm vụ; bon Giám ngục bị đẩy ra tan tác và một tiếng gào đắc thắng vang lên đâu đó ngoài tầm mắt tụi nó.

“Chính nó, ở dưới đó, dưới đó, tao thấy Thần Hộ mệnh của nó, một con hươu!”

Bọn Giám ngục rút lui, những vì sao lại hiện ra và tiếng chân của bọn Tử Thần Thực Tử càng lúc càng vang to hơn; nhưng trước khi Harry có thể quyết định làm gì trong cơn hoảng loạn, thì gần đó vang lên tiếng thét kèn kẹt của then cửa mở ra ở bên trái con đường hẹp, và một giọng khàn khàn nói: “Potter, vô đây, mau!”

Nó vâng lời không chút do dự, cả ba đứa vội vã đi qua khung cửa.

“Lên lầu, mặc nguyên Áo Khoác, im lặng!”

Một dáng người cao cao đi ngang qua tụi nó để đi ra đường và đóng sập cánh cửa lại.

Harry trước đó chẳng biết tụi nó đang ở đâu, nhưng bây giờ nhờ ánh sáng chập chờn của một cây đèn cầy, nó thấy cái quầy rượu vươn vãi mùn cưa của Quán Đầu Heo.

Tụi nó chạy ra sau quầy và qua khung cửa thứ hai dẫn tới một cầu thang gỗ lắt lẻo, tụi nó ráng hết sức leo lên thiệt nhanh.

Cầu thang dẫn lên một phòng khách trải một tấm thảm lâu đời và một lò sưởi nhỏ, trên lò sưởi treo mỗi một bức tranh sơn dầu rất lớn vẽ hình một cô gái tóc vàng đang nhìn đăm đăm ra căn phòng với vẻ dịu dàng ngây ngô.

Tiếng quát thét vang lên từ dưới phố.

Vẫn trùm Áo khoác Tàng hình, tụi nó vội vã đi về phía cánh cửa sổ đầy bụi và nhìn xuống.

Cứu tinh của tụi nó, giờ đây Harry nhận ra chính là cụ chủ Quán Đầu Heo, cụ là người duy nhất không đội mũ trùm.

“Thì sao?”

Cụ đang hét vào mặt một tên trong bọn đội mũ trùm, “Thì sao hả?

Chúng mày xua Giám ngục xuống phố của tao, tao gọi Thần Hộ mệnh chống lại chúng!

Tao sẽ không cho phép bọn chúng tới gần tao, tao nói cho chúng mày biết.

Tao không cho phép!”

“Đó không phải là Thần Hộ mệnh của ông,” một tên Tử thần thực tử nói.

“ Đó là một con hươu.

Nó là Thân Hộ mệnh của Potter!”

“Con hươu!”

Cụ chủ quán gầm lên, và cụ rút ra cây đũa phép ra.

“Hươu!

Đồ ngu…

Bớ Thần Hộ mệnh!”

Một con gì đó rất to và có sừng phóng ra từ cây đũa phép.

Đầu chúc xuống, con vật đó chạy lên Phố Cao, rồi mất hút.

“Con đó không phải là con tôi thấy,” một tên Tử Thần Thực Tử nói, mặc dù giọng hắn không còn chắc chắn lắm.

“Lệnh giới nghiêm đã bị vi phạm, ông đã nghe tiếng động rồi đó,” Một đồng bọn của tên Tử Thần Thực Tử nói với cụ chủ quán.

“Ai ra đường chống lại quy định…”

“Nếu tao muốn thả con mèo của tao ra, tao sẽ thả, kệ bà cái lệnh giới nghiêm của chúng mày!”

“Ông phát bùa Mèo ngao hả?”

“Tao làm thì sao?

Muốn tống tao vô ngục Azkaban hả?

Giết tao vì tao thò mũi ra khỏi cửa trước nhà tao hả?

Vậy thì, làm đi, nếu muốn!

Nhưng tao hy vọng, để giữ cái bổn mạng chúng mày thì chúng mày chưa ấn vô cai Dấu hiệu Hắc ám nho nhỏ để triệu vời ngài đến.

Giờ này ngài sẽ không thích bị triệu tới đây vì tao và con mèo của tao đâu hả?”

“Không phải lo cho tụi này,” một tên trong bọn Tử Thần Thực Tử nói.

“Lo cho chính ông kìa, vi phạm lệnh giới nghiêm!”

“Vậy thì lũ chúng mày chuyển lậu thuốc độc và chất độc ở đâu khi quán của tao dẹp tiệm hả?

Cái phi vụ kèm theo đó của chúng mày sẽ ra sao hả?”

“Ông dọa hả…?”

“Tao ngậm miệng đây, thế mục đích chúng mày đến đây là vậy chứ gì?”

“Tôi vẫn khẳng định tôi đã nhìn thấy một con hươu Thần Hộ mệnh!”

Tên Tử Thần Thực Tử đầu tiên la lớn.

“Hươu hả?” cụ chủ quán gầm lên.

“Nó là con dê, đồ ngu!”

“Thôi được, tụi này nhầm lẫn,” tên Tử Thần Thực Tử thứ hai nói.

“Vi phạm lệnh giới nghiêm một lần nữa thì tụi này không dung thứ nữa đâu!”

Bọn Tử Thần Thực Tử sải bước về phía Phố Cao.

Hermione rên lên một tiếng xả căng, chui ra từ dưới tấm Áo khoác Tàng hình và ngồi xuống một cái ghế chân cẳng lung lay.

Harry kéo màn lại rồi kéo Áo khoác Tàng hình ra khỏi nó và Ron.

Tụi nó có thể nghe tiếng cụ chủ quán ở dưới lầu đang cài then cửa quán rồi leo lên cầu thang.

Harry chú ý ngay tới cái gì đó đặt trên bệ lò sưởi: một mảnh gương hình chữ nhật, nhỏ, được dựng trên bệ, ngay bên dưới bức chân dung cô gái.

Cụ chủ quán bước vào phòng.

“Đồ ngu đần!”

Cụ mắng, nhìn tụi nó hết đứa này qua đứa kia, “Tụi bây nghĩ gì mà đến đây hả?”

“Tụi con cám ơn cụ.”

Harry nói.

“Tụi con cám ơn cụ bao nhiêu cũng không đủ.

Cụ đã cứu mạng tụi con!”

Cụ chủ quán lầu bầu.

Harry bước đến gần để ngước nhìn lên gương mặt cụ, cố gắng nhìn thấu qua lớp tóc râu dài bạc như cước.

Cụ đeo mắt kiếng.

Sau tròng mắt kiếng dày bẩn, con mắt cụ có màu xanh lơ sáng quắc sắc sảo.

“Con mắt con nhìn thấy trong mảnh gương vỡ chính là con mắt của cụ.”

Cả căn phòng im lặng.

Harry và cụ chủ quán nhìn nhau.

“Cụ phái Dobby đến cứu tụi con.”

Cụ chủ quán gật đầu và nhìn quanh quẩn tìm con tinh.

“Tưởng nó đi cùng tụi bây.

Tụi bây bỏ nó đâu rồi?”

“Nó chết rồi,” Harry nói.

“Bellatrix đã giết nó.”

Gương mặt cụ chủ quán không bộc lộ xúc động.

Một lát sau, cụ nói, “Tao rất tiếc khi nghe tin này.

Tao thích con tinh đó.”

Cụ quay mặt đi, thắp dèn lên bằng những cú gõ mồi lửa từ cây đũa phép của cụ, không nhìn ai hết.

“Cụ là Aberforth,” Harry nói với cái lưng của cụ.

Cụ không nhận mà cũng không chối điều đó, nhưng cụ cúi xuống đốt lửa lò sưởi.

“Làm sao cụ có cái này?”

Harry hỏi, băng qua phòng tới bên mảnh gương của chú Sirius, một cái giống hệt mảnh gương mà nó đã làm bể hai năm về trước.

“Mua của lão Dung cách đây khoảng một năm,” cụ Aberforth nói.

“Anh Albus nói cho tao biết nó là cái gì.

Lâu nay cứ để mắt trông chừng bây.”

Ron há hốc mồm kinh ngạc.

“Con hươu cái bạc!”

Nó hào hứng nói.

“Có phải cũng chính là cụ?”

“Bây đang nói về cái gì?”

Cụ Aberforrth nói.

“Có người đã phái Thần Hộ mệnh là một con hươu cái đến dẫn đường tụi con!”

“Thứ óc bã đậu đó thì đi làm Tử Thần Thực Tử đi, con à.

Chứ bộ tao chưa chứng minh cho bây thấy Thần Hộ mệnh của tao là một con dê sao?

“Ủa,” Ron nói.

“Dạ…

Ôi, con đói quá!”

Nó nói thêm, giọng chống chế, khi cái bao tử của nó sôi lên ùng ục.

“Tao có đồ ăn,” cụ Aberforth nói, và cụ lật đật đi ra khỏi phòng, chỉ một lát sau đã xuất hiện trở lại với một ổ bánh mì bự, một ít phô mai và một thùng thiếc rượu mật ong, cụ để tất cả lên một cái bàn nhỏ trước lò sưởi.

Quá đói, tụi nó ngấu nghiến ăn và uống, và mất một lúc chẳng ai nói năng gì, chỉ vang lên tiếng lửa cháy lép bép, tiếng ly chạm lanh canh và tiếng nhai rào rạo.

“Vậy là yên,” cụ Aberforth nói khi tụi nó đã ăn no cành hông, và Harry với Ron ngồi lún xuống ghế vẻ lờ đờ buồn ngủ.

“Chúng ta cần phải nghĩ đến cách tốt nhất đem tụi bây ra khỏi chỗ này.

Không thể làm như vậy vào ban đêm, tụi bây đã nghe chuyện gì sẽ xảy ra nếu bất cứ ai ra khỏi cửa khi trời tối rồi đó: Bùa Mèo ngao mà nổi lên là chúng sẽ nhào tới tụi bây như mèo thấy mỡ.

Tao không cho rằng tao có thể lập lờ đánh lận con hươu thành con dê lần thứ hai đâu.

Chờ đến khi trời sáng, khi hết giờ giới nghiêm, lúc đó tụi bây trùm Áo khoác Tàng hình rồi đi bộ ra.

Đi khỏi làng Hogsmead, lên trên núi, ở đó tụi bây có thể Độn thộ.

Có thể gặp bác Hagrid.

Bác ấy trốn trong một cái hang ở trên ấy cùng với Grawp từ khi chúng tính bắt bác ta.”

“Tụi con sẽ không bỏ đi,” Harry nói.

“Tụi con cần vô trong trường Hogwarts.”

“Đừng có ngu, nhóc con à,” cụ Aberforth nói.

“Tụi con phải vô,” Harry nói.

“Việc tụi bây phải làm,” cụ Aberforth nói, vừa chồm tới trước, “là đi khỏi nơi này càng xa càng tốt.”

“Cụ không hiểu.

Chẳng còn nhiều thời gian.

Tụi con phải vô trong tòa lâu đài.

Thầy Dumbledore... tức là anh của cụ ấy, muốn tụi con....”

Ánh lửa khiến cho tròng kiếng bẩn của cụ Aberforth nhất thời mờ đục, một màu trắng sáng đều, và Harry nhớ tới con mắt mù của con khổng nhện Aragog.

“Ông anh Albus của tao muốn nhiều thứ lắm,”cụ Aberforth nói.

“Và người ta đã quen bị thương tổn mỗi khi ổng thực hiện những kế hoạch vĩ đại của ổng rồi.

Bây nên đi khỏi cái trường này, Potter à, và đi khỏi xứ này nếu có thể.

Ông đã đi về cái cõi mà chẳng điều gì có thể ở cõi này có thể làm gì được ổng nữa, và tụi bây không nợ nần gì ổng hết.”

“Cụ không hiểu,” Harry lặp lại.

“Ối, tao không hiểu hả?”

Cụ Aberforth nói nhẹ nhàng.

“Bây không cho là tao hiểu ông anh tao sao?

Tụi bây tưởng tụi bây biết Albus hơn tao hả?”

“Con không có ý nói vậy,” Harry nói, đầu óc nó hơi ù lì vì kiệt sức và ngốn quá nhiều rượu và đồ ăn.

“Chẳng là... thầy giao lại con một công việc.”

“Vậy sao?”

Cụ Aberforth nói.

“Tao mong là việc tốt hả?

Thú vị không?

Dễ dàng không?

Có phải chưa đủ là loại công việc mà người ta trông mong một đứa trẻ phù thủy chưa đủ năng lực có thể làm mà không tự gồng mình quá sức không?”

Ron bật cười hơi độc địa.

Hermione trông không được thoải mái cho lắm.

“Dạ... không dễ dàng, không,” Harry nói.

“Nhưng con phải...”

“Phải?

Tại sao phải?

Ổng chết rồi, đúng không nào?”

Cụ Aberforth nói cộc cằn.

“Bỏ đi, nhỏ, trước khi bây nối gót ổng!

Hãy tự cứu lấy mình!”

“Con không bỏ đi được.”

“Tại sao không?”

“Con...”

Harry cảm thấy hết chịu nổi; nó không giải thích được, cho nên đành chuyển qua thế phản công.

“Nhưng mà cụ cũng chiến đấu, cụ cũng tham gia Hội Phượng Hoàng…”

“Tao đã từng tham gia,” cụ Aberforth nói.

“Hội Phượng Hoàng đã dẹp rồi.

Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đã thắng, việc đã ngã ngũ, và bất cứ kẻ nào đang làm bộ như không phải vậy đều đang tự dối mình.

Đây không bao giờ là nơi an toàn cho bây đâu, Potter à, hắn muốn giết bây quá mà.

Cho nên bây ra nước ngoài đi, kiếm chỗ trốn đi, tự cứu lấy mình.

Tốt nhất là đem cả hai đứa này theo.”

Cụ bật ngón tay về phía Hermione và Ron.

“Tụi nó cũng bị nguy hiểm cả đời vì bây giờ ai cũng biết tụi nó làm việc chung với bây lâu nay.”

“Con không bỏ đi được,” Harry nói.

“con có một công việc...”

“Giao việc đó cho người khác!”

“Con không giao được!

Phải do chính con làm.

Thầy Dumbledore đã giải thích tất cả...”

“Ối, ổng có giải thích thiệt không?

Và ổng có nói với bây mọi thứ, có chân thật với bây không?”

Harry thật lòng muốn nói “Có,” nhưng chẳng hiểu sao cái chữ đơn giản đó không chịu bật ra môi nó, cụ Aberforth dường như hiểu nó đang nghĩ gì.

“Tao biết ông anh tao, Potter à, ổng được bà má chúng tao dạy cho cách giữ bí mật từ hồi còn nằm ngửa.

Bí mật và dối trá, đó là cách anh em tao lớn lên, và anh Albus...

ổng có bản chất đó.”

Đôi mắt của cụ già nhìn lên bức tranh của cô gái trên bệ lò sưởi.

Bây giờ Harry nhìn kỹ xung quanh mới nhận thấy đó là bức tranh duy nhất trong căn phòng.

Không có hình ảnh nào của cụ Dumbledore, hay của bất cứ ai khác.

“Thưa ông Dumbledore,” Hermione nói giọng hơi rụt rè, “có phải đó là em gái của ông không?

Cô Ariana?”

“Phải,” cụ Aberforth nói cụt ngủn.

“Đọc Rita Skeeter rồi hả, cô nhỏ?”

Mặc dù trong ánh sáng hồng hồng của lửa lò sưởi cũng có thể thấy rõ Hermione đỏ cả mặt.

“Cụ Elphias Doge nói đến cô Ariana với tụi con,” Harry nói, cố gắng vớt vát cho Hermione.

“Lão lù đù đó,” cụ Aberforth lầm bầm, uống một ngụm rượu mật ong nữa.

“Tưởng trên người ông anh tao cái lỗ nào cũng rọi ánh mặt trời không bằng.

Ôi, cả đống người cũng tưởng vậy, mà có vẻ ba đứa bây cũng vậy.”

Harry nín thinh.

Nó không muốn bày tỏ nỗi nghi ngờ và sự bất an về việc cụ Dumbledore đã đánh đố nó suốt nhiều tháng nay.

Khi đào mộ cho Dobby, nó đã quyết định sẽ đi tiếp con đường khúc khuỷu hiểm nghèo mà cụ Dumbledore đã chỉ cho nó, quyết định chấp nhận là nó đã không được cho biết mọi thứ mà nó muốn biết, mà chỉ có tin thôi.

Nó không muốn phải nghi ngờ một lần nữa.

Nó bắt gặp ánh mắt đăm đăm của cụ Aberforth, ánh mắt xanh đó giống mắt của người anh một cách kì lạ: Đôi mắt xanh lơ sáng quắc gây ấn tượng là chúng soi thấu vật thể mà chúng dò xét, và Harry nghĩ rằng cụ Aberforth biết nó đang nghĩ gì và cụ khinh rẻ nó vì chuyện đó.

“Giáo sư Dumbledore quan tâm đến Harry rất nhiều,” Hermione thấp giọng nói nhỏ.

“Bây giờ ổng còn quan tâm không?”

Cụ Aberforth nói.

“Chuyện khôi hài là bao nhiêu người mà ông anh tao quan tâm rất nhiều đã kết thúc trong tình trạng khốn khổ còn hơn là nếu ổng cứ để kệ thây họ .”

“Ý ông là sao ạ?”

Hermione nín thở hỏi.

“Thôi bỏ qua,” cụ Aberforth nói.

“Nhưng điều đó thực sự quan trọng mà ông!”

Hermione nói.

“Có phải ông...

ông đang nói về em gái của ông không?”

Cụ Aberforth trừng mắt nhìn cô bé: Hai môi cụ mấp máy như thể đang nhai những lời cụ đang giữ lại.

Rồi đột nhiên cụ nói như tuôn lời.

“Khi em gái tao sáu tuổi, nó bị ba thằng Muggle tấn công.

Chúng rình rập ở hàng giậu vườn sau nhà, thấy con nhỏ làm pháp thuật: Con nhỏ chỉ là một đứa con nít, nó không thể kiềm chế, không phù thủy hay pháp sư nào kiềm chế được khả năng pháp thuật ở cái tuổi đó.

Cái chúng nhìn thấy khiến chúng sợ, tao đoán thế.

Chúng xông qua hàng giậu, và khi con nhỏ không thể bày cho chúng chơi trò pháp thuật, thì chúng có hơi quá tay khi cố ngăn không cho con nhỏ làm những chuyện kỳ dị.”

Đôi mắt Hermione bự chần vần trong ánh lửa; Ron có vẻ hơi muốn ói.

Cụ Aberforh đứng dậy cao như thầy Allbus, và đột nhiên trở nên đáng sợ kinh khủng trong nỗi căm giận và đau đớn dữ dội của cụ.

“Việc đó đã hủy hoại con nhỏ: Nó không bao giờ hoàn toàn bình phục lại được.

Nó không dùng được pháp thuật nữa nhưng lại không thoát khỏi được pháp thuật; năng lực pháp thuật chuyển vào bên trong khiến nó phát khùng, khi nó không kiềm chế được thì năng lực pháp thuật bùng phát ra ngoài, những lúc đó nó thành kỳ quái và nguy hiểm.

Còn thường thì nhỏ dễ thương và nhút nhát vô hại.

“Và cha tao đi tìm mấy thằng chó đã làm hại con nhỏ,” cụ Aberforth nói.

“Đánh cho chúng một trận.

Và ổng bị vô tù Azkaban vì vụ đó.

Ổng không bao giờ nói tại sao ổng lại làm như vậy, bởi vì Bộ sẽ biết Ariana đã ra nông nỗi đó và họ sẽ nhốt con nhỏ vô nhà thương thánh Mungo vĩnh viễn.

Họ sẽ coi con nhỏ là mối đe dọa nghiêm trọng vào Hiệp ước Quốc tế về Bí mật, con nhỏ không ổn định như vậy, năng lực pháp thuật sẽ bùng phát bất cứ lúc nào nó không kiềm giữ nổi.

“Gia đình tao phải giữ con nhỏ an toàn và kín đáo.

Bọn tao dọn nhà, xạo chuyện con nhỏ bị bệnh, và má tao chăm sóc nó, giữ cho nó thanh thản yên vui.

“Tao là người mà con nhỏ thương nhất,” cụ nói, và khi cụ nói câu đó, dường như dưới đám râu rối nùi cùng những nếp nhăn hằn sâu là gương mặt của một cậu học trò nhếch nhác, “chứ không phải anh Albus, khi nào ảnh ở nhà thì ảnh luôn ở phòng ngủ trên lầu, đọc sách và đếm những giải thưởng mà ảnh giật được, thư từ với những tên tuổi pháp thuật trứ danh thời đó.”

Cụ Aberforth nhếch mép cười nhạo.

“Ảnh không muốn phiền hà với con nhỏ.

Con nhỏ thương tao nhất.

Tao có thể dỗ nó ăn khi nó không chịu ăn vì má tao, tao có thể dỗ nó yên khi nó nỗi cơn tam bành, và khi bình tâm lại nó thường phụ tao cho dê ăn.

“Sau đó, khi con nhỏ mười bốn tuổi…

để coi, tao không có ở đó,” cụ Aberforth nói, “nếu tao mà ở đó, biết đâu tao có thể dỗ cho con nhỏ yên.

Nó nỗi cơn tam bành, mà má tao thì không còn trẻ như xưa, và... chẳng qua là một tai nạn.

Ariana không kiểm soát được năng lực pháp thuật của nó.

Nhưng má tao chết.”

Harry có một cảm giác khủng khiếp trộn lẫn giữa xót thương và kinh tởm; nó không muốn nghe thêm nữa, nhưng cụ Aberforth cứ tiếp tục nói, và Harry tự hỏi đã bao lâu rồi cụ mới được nói như vầy; hay thực ra, cụ có bao giờ nói ra chuyện đó không.

“Thành ra vụ đó làm tiêu tốn chuyến đi vòng quanh thế giới của cụ Albus với chú tiểu đồng Doge.

Hai người đó về nhà để dự đám tang má tao và sau đó Doge ra đi một mình, còn anh Albus ở nhà làm gia trưởng.

Hừ!”

Cụ Aberforth nhổ vô lò sưởi.

“Tao muốn chăm sóc con nhỏ, tao nói với ảnh như vậy, tao cóc cần đi học, tao muốn ở nhà chăm sóc con nhỏ.

Ảnh nói với tao là tao phải học hành cho xong và ảnh sẽ làm công việc của má tao.

Kể cũng là một sự hạ cố đối với Ông Tài hoa Lỗi lạc, ảnh đâu có được cái giải rút gì trong việc chăm sóc con em dở điên dở tỉnh, cứ hai ngày lại phải ngăn không cho nó làm nổ tung căn nhà.

Nhưng ảnh cũng làm tử tế được vài tuần lễ... thì hắn đến.”

Giờ đây trên gương mặt cụ Aberforth hiện dần ra vẻ nguy hiểm cực kỳ.

“Grindelwald.

Và cuối cùng, ông anh tao có được kẻ ngang cơ để chuyện trò, một kẻ cũng thông minh và tài giỏi như ảnh.

Và việc chăm sóc Ariana bị gạt ra sau, khi hai người lỗi lạc đó ôm ấp những kế hoạch về một trật tự phù thủy mới và tìm kiếm những Bảo bối Tử Thần, cả cái gì khác nữa không biết mà họ say mê.

Những kế hoạch vĩ đại vì lợi ích của loài phù thủy, và nếu một đứa con gái nhỏ bị bỏ bê thì có làm sao đâu, khi mà Albus đang dốc sức cho lợi ích lớn lao hơn?

“Nhưng sau vài tuần lễ như vậy thì tao chịu hết nỗi, tao hết chịu nỗi rồi.

Khi đó đã gần tới lúc tao phải trở về Hơgwarts, cho nên tao với họ, cả hai người tài ba đó, nói thẳng vô mặt họ, như tao đang nói với tụi bây đây,”và cụ Aberforth ngó xuống Harry, và cần có một chút tưởng tượng để hình dung cụ hồi còn là một thiếu niên khỏe mạnh và giận dữ, đang đối đầu với ông anh ruột của mình.

“Tao nói với ảnh, anh nên dẹp chuyện đó ngay.

Anh không thể đưa con nhỏ đi đâu, nó không ở trong tình trạng ổn định, anh không thể đem nó theo anh, cho dù anh định đi đâu, khi anh đăng đàn diễn thuyết nói những lời thông minh, cố lôi kéo công chúng ủng hộ.

Hắn không thích như thế,” cụ Aberforth nói, và ánh mắt cụ thoáng bị ánh lửa trên tròng kíếng bịt mất: Chúng lại trở về trắng đục và mù, “Grindelwald không thích như thế chút nào.

Hắn nổi giận.

Hắn mắng tao là một thằng nhóc ngu đần, toàn cản trở đường đi của hắn và ông anh tao…

Chẳng lẽ tao không hiểu sao, con em gái đáng thương của tao sẽ không cần phải giấu diếm nữa một khi họ thay đổi được thế giới, và đưa giới phù thủy ra công khai, và dạy cho bọn Muggle biết thân phận của chúng.

“Và xảy ra một trận gây gổ... và tao rút đũa phép của tao ra, và hắn rút đũa phép của hắn ra, và tao bị thằng bạn thân nhất của anh tao dánh trúng lời nguyền Cực hình – và Albus cố chặn tay hắn, và cả ba tụi tao đấu xà quần, và ánh sáng chớp nhá và tiếng nổ đùng đoàng khích động con nhỏ, nó không thể nào chịu nổi...”

Gương mặt cụ Aberforth tái mét như thể cụ vừa trúng một vết thương chí tử.

“...và tao nghĩ là con nhỏ muốn giúp, nhưng nó không thực sự ý thức được việc nó làm, và tao không biết ai trong ba người đã gây ra, có thể là bất cứ ai trong bọn tao...

Và thế là con nhỏ chết.”

Giọng cụ vỡ òa khi thốt ra từ cuối cùng và cụ ngồi phịch xuống cái ghế bành gần nhất.

Gương mặt Hermione đã đầm đìa nước mắt, và mặt Ron thì cũng nhợt gần như mặt cụ Aberforth.

Harry không cảm thấy gì khác hơn nỗi ghê sợ: Nó ước gì nó chưa hề nghe câu chuyện đó, ước gì nó có thể tẩy rửa câu chuyện đó khỏi đầu óc.

“Con rất... rất tiếc,” Hermione thì thầm.

“Ra đi,” cụ Aberforth khào khào nói.

“Ra đi vĩnh viễn.”

Cụ quẹt mũi bằng cổ tay áo rồi đằng hắng.

“Dĩ nhiên, Grindewald cao bay xa chạy.

Hắn đã có chút tiền án rồi, hồi ở trong nước hắn, và hắn không muốn vụ án Ariana thêm vô hồ sơ hắn.

Và Albus thoát, đúng không?

Thóa khỏi gánh nặng con em gái, thoát ra để phấn đấu thành phù thủy vĩ đại nhất mọi...”

“Thầy chưa bao giờ được giải phóng,” Harry nói.

“Bây nói gì?”

Cụ Aberforth nói.

“Chưa bao giờ,” Harry nói.

“Vào đêm người anh của cụ qua đời, thầy đã uống một độc dược khiến thầy mất trí.

Thầy cứ gào thét, khẩn cầu với ai đó không có mặt ở đó.

“Đừng làm họ đau... làm ơn...

Cứ làm tôi đau thay cho họ...”

Ron và Hermione trố mắt nhìn Harry trân trối.

Nó chưa bao giờ đi sâu vào chi tiết về chuyện đã diễn ra ở hòn đảo trong cái hồ.

Chuyện đã xảy ra sau khi nó và cụ Dumbledore trở về đến trường Hơgwarts đã hoàn toàn che khuất chuyện đó.

“Thầy tưởng thầy trở lại đó với cụ và Grindelwald giết hại cụ và cô Ariana...

Điều đó hành hạ thầy, nếu cụ thấy thầy lúc đó, cụ sẽ không nói là thầy đã thoát đâu.”

Cụ Aberforth dường như chìm đắm trong nỗi trầm tư lặng ngắm hai bàn tay u nấc và cộm gân.

Im lặng một hồi lâu cụ mới nói.

“Làm sao bây tin chắc hả, Potter, rằng ông anh tao quan tâm đến bây hơn là đến lợi ích lớn lao hơn?

Làm sao bây tin chắc bây không phải một thứ có thể gạt bỏ đi, như con nhỏ em gái tao hả?”

Một lưỡi gươm băng giá dường như chém vào tim Harry.

“Con không tin điều đó.

Thầy Dumbledore thương Harry.”

Hermione nói.

“Vậy tại sao ổng không biểu nó trốn đi hả?”

Cụ Aberforth hỏi lại.

“Tại sao ổng không nói với nó ‘con ráng tự lo thân, đây là cách sống còn’ hả?”

“Bởi vì,” Harry nói trước khi Hermione kịp trả lời, “đôi khi người ta phải nghĩ xa hơn sự an toàn của chính bản thân mình!

Đôi khi người ta phải nghĩ đến những lợi ích lớn lao hơn!

Đây là chiến tranh.”

“Bây mới mười bảy tuổi, nhóc con à!”

“Con đã tới tuổi trưởng thành, và con sẽ tiếp tục chiến đấu cho dù cụ có bỏ cuộc!”

“Ai nói tao bỏ cuộc hả?”

“Hội Phượng Hoàng đã dẹp rồi,” Harry lặp lại, “Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đã thắng, việc đã ngã ngũ, và bất cứ kẻ nào đang làm bộ như không phải vậy đều đang tự dối mình.”

“Tao không nói là tao thích thế, nhưng sự thật là đúng như vậy!”

“Không, không đúng,” Harry nói.

“Anh của cụ biết cách kết liễu Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó và thầy truyền giao điều đó cho con.

Con sẽ tiếp tục làm cho đến khi con thành công - hoặc con chết.

Đừng tưởng là con không biết việc này có thể kết thúc như thế nào.

Con đã biết lâu rồi.”

Nó chờ cụ Aberforth cười nhạo hay tranh cãi lại, nhưng cụ không làm vậy.

Cụ chỉ quắc mắt nhìn.

“Tụi con cần phải vô trường Hơgwarts,” Harry lại nói.

“Nếu cụ không thể giúp tụi con sẽ chờ đến khi trời sáng sẽ ra đi để cụ được yên thân, và tụi con sẽ cố tự tìm lấy cách.

Còn nếu cụ có thể giúp tụi con...

Thì, bây giờ là đúng lúc bàn tới chuyện đó.”

Cụ Aberforth vẫn ngồi yên trong ghế, đăm đăm nhìn Harry bằng con mắt giống con mắt ông anh cụ một cách kỳ lạ.

Cuối cùng cụ đằng hắng, đứng lên, đi vòng qua cái bàn nhỏ, đến bên bức chân dung của Ariana.

“Em biết nên làm gì mà,” cụ nói.

Cô gái mỉm cười, quay lưng, bước đi, không phải theo kiểu những bức chân dung thường làm là ra khỏi khung tranh, mà là đi dọc theo cái gì đó giống như một đường hầm dài được vẽ đằng sau lưng cô.

Tụi nó nhìn cái bóng mảnh khảnh của cô lùi lại nhỏ lại cho đến khi rốt cuộc cô bị nuốt chửng vào bóng tối.

“Ơ...cái gì...?”

“Bây giờ chỉ còn lại mỗi một cách vô mà thôi,” cụ Aberforth nói.

“Tụi bây phải biết là chúng đã cho bịt hết hai đầu của mọi hành lang bí mật, bọn Giám ngục thì bao vây bên ngoài những bức tường ranh giới của trường, trong thì ruồng bố tuần tra thường xuyên, theo như nguồn tin của tao cho biết.

Chưa bao giờ chỗ đó bị canh gác dày đặt như vậy.

Làm sao tụi bây còn hòng làm được cái gì khi vô tới trong đó, khi mà Snape cai trị và anh em nhà Carrows phụ tá hắn...

Thôi thì, tụi bây có cảnh giác rồi mà phải không?

Bây nói đã chuẩn bị chết.”

“Nhưng… cái gì kia...?”

Hermione nói, nhìn sững sờ vào bức tranh của Ariana.

Một chấm trắng tí tí xuất hiện lại ở cuối con đường hầm được vẽ trong tranh, và bây giờ Ariana đang đi về phía tụi nó, càng đến gần càng lớn dần ra.

Nhưng giờ đây lại có thêm ai đó đi cùng cô, ai đó cao hơn cô, ai đó đi khập khễnh, có vẻ hồi hộp lắm.

Kẻ đó có tóc dài hơn Harry từng nhìn thấy trước đây: kẻ đó có vẻ đã chịu đựng nhiều vết cắt sâu và dài trên gương mặt và quần áo kẻ đó có vẻ bị giật xé rách.

Hai hình người đó lúc càng lúc càng lớn hơn, cho đến khi chỉ còn cái đầu và vai họ vừa vặn trong khung tranh.

Toàn bộ bức tranh bung ra phía trước trên bức tường giống như một cánh cửa nhỏ, và lối vào một đường hầm thật lộ ra.

Và từ trong đường hầm trèo ra một Neville Longbottom thật, tóc mọc quá dài, mặt mày bị băm nát, áo chùng rách te tua, nó rống lên một tiếng mừng rỡ, nhảy xuống khỏi bệ lò sưởi và thét.

“Mình biết mấy bồ sẽ đến mà!

Mình đã biết mà, Harry!”
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 29: Vòng nguyệt quế đã mất


Vòng nguyệt quế đã mất

“Neville... cái quỷ gì... làm sao mà?”

Nhưng Neville đã nhìn thấy Ron và Hermione, và nó hét lên sung sướng ôm chầm lấy tụi kia.

Harry càng nhìn lâu Neville càng thấy nó thê thảm: Một con mắt Neville đã sưng phù thâm tím và vàng ệch, có những dấu dùi đục trên gương mặt nó, và cái tổng thể nhếch nhác điêu tàn của Neville cho thấy lâu nay nó sống khá gay go.

Tuy nhiên, bộ mặt te tua của Neville sáng bừng niềm vui khi nó buông Hermione ra và lặp lại “Mình biết mấy bồ sẽ đến mà, cứ nói hoài với Seamus là sớm hay muộn mà thôi!”

“Neville, chuyện gì đã xảy ra cho bồ vậy?”

“Chuyện gì?

Cái này hả?”

Neville lắc đầu coi thường những thương tích của nó.

“Cái này nhằm nhò gì.

Seamus còn tệ hơn.

Rồi bồ sẽ thấy.

Vậy tụi mình đi nghe.

À,” nó quay sang nói với cụ Aberforth, “cụ Ab, có thể hai người nữa đang trên đường tới.”

“Hai người nữa hả?” cụ Aberforth lặp lại với vẻ ngao ngán.

“Bây nói hai người nữa là sao hả, Longbottom?

Có lịnh giới nghiêm và bùa Mèo ngao khắp làng mà!”

“Con biết, vì vậy mà họ sẽ Độn thổ vô thẳng quán rượu,” Neville nói, “Cụ cứ việc cho họ xuống hành lang khi họ tới, nha cụ?

Cám ơn cụ nhiều lắm.”

Neville đưa tay ra cho Hermione và giúp cô bé trèo lên bệ lò sưởi để chui vào đường hầm, Ron theo sau, kế đến là Neville.

Harry nói với cụ Aberforth.

“Con không biết cám ơn cụ thế nào cho phải.

Cụ đã cứu mạng tụi con tới hai lần.”

“Vậy trông chừng tụi nó,” cụ Aberforth nói cộc lốc.

“Tao có thể không cứu được tụi nó lần thứ ba đâu.”

Harry trèo lên bệ lò sưởi và chui qua cái lỗ đằng sau chân dung Ariana.

Bên kia cái lỗ còn có thêm nhiều bậc thang bằng đá phẳng phiu: có vẻ như hành lang từng tồn tại ở đó lâu lắm rồi.

Trên tường treo những ngọn đèn bằng đồng và nền đất mòn và nhẵn.

Khi tụi nó bước đi, bóng tụi nó chập chờn toả lên tường như nan quạt xoè ra.

“Cái này ở đây bao lâu rồi?”

Ron hỏi ngay khi tụi nó bắt đầu đi.

“Hành lang này đâu có trong Bản đồ Đạo tặc hả, Harry?

Mình tưởng chỉ có bảy hành lang ra vào trường thôi chứ?”

“Chúng đã niêm phong tất cả hành lang đó trước khi niên học bắt đầu,” Neville nói.

“Bây giờ thì đừng hòng đi qua bất cứ hành lang nào trong những đường đó, đừng hòng với cả đống bùa chú lời nguyền ếm ở các lối vào, rồi bọn Tử Thần Thực Tử với bọn Giám ngục chầu chực ở các lối ra.”

Nó chuyển sang đi thụt lùi, cười toe toét, mắt nhìn tụi kia ngây ngất.

“Đừng bận tâm mấy chuyện đó...

Có đúng không?

Có đúng là bồ đột nhập vô Gringotts không?

Có đúng là bồ cưỡi rồng thoát ra không?

Chuyện đó lan khắp mọi nơi, mọi người đang nói về chuyện đó, Terry Boot bị lão Carrow đánh te tua vì hét toáng lên chuyện đó trong Đại Sảnh Đường vào bữa ăn tối!”

“Ừ, đúng,” Harry nói.

Neville sung sướng cười vang.

“Rồi bồ làm gì với con rồng?”

“Thả nó về nơi hoang dã,” Ron nói.

“Hermione thì chỉ mong giữ nó để nuôi chơi.”

“Đừng xạo chứ, Ron.”

“Nhưng mà mấy bồ đã làm gì?

Người ta cứ nói là mấy bồ đang chạy trốn, Harry à, nhưng mình không nghĩ vậy.

Mình nghĩ bồ đang làm chuyện gì đó.”

“Bồ nói đúng.”

Harry nói.

“Nhưng nói cho tụi này biết về trường Hogwarts đi, Neville, tụi này chưa nghe chuyện gì hết.”

“Trường dạo này...

Ừ thực sự chẳng giống trường Hogwarts nữa.”

Neville nói, nụ cười héo đi trên gương mặt.

“Mấy bồ có biết gì về anh em lão Carrow không?”

“Hai tên Tử Thần Thực Tử dạy ở trường đó hả?”

“Họ không chỉ dạy mà thôi,” Neville nói, “Họ còn trông coi kỷ luật, họ khoái trừng phạt lắm, anh em lão Carrow này.”

“Như mụ Umbridge?”

“Hông, so với họ thì mụ Umbridge coi bộ còn ngoan hiền.

Tất cả các giáo sư khác đều phải chuyển tụi này đến tay anh em Carrow nếu tụi này làm gì sai trái.

Nhưng mà, nếu tránh được là mấy thầy cô tránh luôn không làm vậy.

Bồ biết đó, mấy thầy cô cũng ghét tụi họ ngang như tụi này ghét.

“Amycus, lão cà chớn ấy, lão dạy cái trước đây gọi là môn Phòng chống Nghệ Thuật Hắc Ám, chỉ có điều môn đó giờ chỉ toàn là Nghệ thuật Hắc ám thôi.

Tụi này phải thực tập ếm lời nguyền Cực hình lên những đứa bị phạt cấm túc...”

“Cái gì?”

Tiếng kêu của Harry, Ron, Hermione vang vọng khắp hành lang.

“Ừ.”

Neville nói.

“Tại vậy mà mình bị vầy.”

Nó chỉ vào một vết cắt đặc biệt sâu trên má.

“Mình không chịu làm việc đó.

Nhưng có một số đứa khoái làm như vậy, Crabbe và Goyle khoái lắm.

Mình chắc hai đứa nó đứng đầu lớp môn này, lần đầu tiên trong môn học.”

“Mụ Amecto, em gái lão Amycus, dạy môn Muggle học, đây là môn bắt buộc đối với mọi học sinh.

Tất cả tụi nó đều phải lắng nghe mụ giải thích Muggle giống thú vật như thế nào, ngu ngốc và bẩn thỉu ra sao, và Muggle đã vì ghét bỏ mà dồn giới phù thuỷ vào cảnh phải mai danh ẩn tích, và trật tự thiên nhiên đang được tái lập như thế nào.

Mình bị cái này,” nó chỉ vào một vết cắt khác trên mặt, “vì đã hỏi mụ vậy chứ mụ và anh mụ có bao nhiêu phần máu Muggle.”

“Mèn ơi, Neville” Ron nói, “mồm miệng nhanh nhảu có lúc có nơi chứ.”

“Bồ không nghe mụ ta nói,” Neville nói.

“chứ nghe thì bồ cũng sẽ không thể nào chịu đựng nổi đâu.

Vấn đề là, khi có người chống lại bọn chúng thì cũng có ích, bởi vì việc đó giúp mọi người hy vọng.

Trước đây mình thường để ý thấy vậy khi bồ phản kháng, Harry à.”

“Nhưng chúng đã dùng bồ như một cục đá mài dao kìa.”

Ron nói, hơi nhăn mặt khi tụi nó đi qua một ngọn đèn và những vết thương của Neville càng được nổi lên những vết cắt chạm.

Neville nhún vai.

“Nhằm nhò gì.

Chúng không muốn làm đổ nhiều máu thuần chủng cho nên chúng hành hạ tụi này một chút nếu tụi này mồm mép, nhưng chúng sẽ không giết tụi này thật.”

Harry không biết điều nào tệ hơn, những điều Neville đang nói hay cái giọng sự-thật-là-vậy-đó mà Neville dùng khi nói những điều đó.

“Những đứa duy nhất bị nguy hiểm thực sự là những đứa có bạn bè bà con ở bên ngoài đang gây rối.

Tụi nó bị giữ làm con tin.

Bác Xenophilius Lovegood hơi bị thẳng thắn khi phát ngôn trên tờ Kẻ Lý Sự, vậy là chúng lôi Luna ra khỏi xe lửa trên đường về nhà lễ Giáng Sinh.”

“Neville à, cô bé an toàn rồi, tụi này vừa gặp cô bé...”

“Ừ mình biết, cô bé đã tìm cách gửi thư cho mình.”

Nó lấy trong túi ra một đồng xu vàng, và Harry nhận ra đó là một trong những đồng xu Galleon giả mà Đoàn quân Dumbledore vẫn dùng để thông tin cho nhau.

“Những cái này tuyệt vời,” Neville nói, tươi cười với Hermione.

“Anh em lão Carrows không bao giờ khám phá ra cách tụi này liên lạc với nhau, nên tụi họ tức điên lên.

Tụi này trước đây hay lẻn ra vào ban đêm và vẽ lên tường: Đoàn quân Dumbledore, Vẫn Chiêu Quân, đại khái vậy.

Lão Snape ghét lắm.”

“Trước đây à?”

Harry nói, nó chú ý đến thì quá khứ.

“Ừ, càng về sau này càng khó khăn hơn.”

Neville nói.

“Tụi này mất Luna hồi lễ Giáng Sinh, và Ginny không trở lại trường sau lễ Phục Sinh, mà ba đứa tụi này thuộc loại cầm đầu.

Anh em lão Carrow có vẻ biết mình giật dây nhiều trong vụ đó, nên họ bắt đầu đì mình sói trán, đên khi Michael Corner lẻn ra và bị bắt quả tang đang giải thoát một đứa năm thứ nhất thì tụi họ liền xiểng nó lại, rồi họ tra tấn nó khủng khiếp.

Vụ đó làm mọi người đâm sợ.”

“Đâu giỡn được,” Ron lầm bầm trong lúc hành lang bắt đầu lên dốc.

“Ừ, thì mình đâu thể kêu gọi người ta đi theo vết xe của Michael, vì vậy tụi này thôi làm những loại chuyện nguy hiểm đó.

Nhưng tụi này vẫn tiếp tục chiến đấu, làm những chuyện bí mật, cho tới cách đây hai tuần lễ.

Đó là lúc tụi họ quyết định chỉ còn một cách để ngăn chặn mình, mình đoán vậy, là tấn công Nội.”

“Họ cái gì?”

Harry, Ron và Hermione cùng kêu lên một lượt.

“Ừ,” Neville nói, lúc này nó thở gấp một tí vì hành lang đang lên dốc khá cao, “thì mấy bồ có thể hiểu cách suy nghĩ của tụi họ mà.

Bắt cóc trẻ con để ép thân nhân phải cư xử theo chúng.

Mình đã nghĩ là sớm muộn gì bọn chúng cũng làm chuyện đó theo kiểu ngược lại.

Vấn đề là,” Neville nhìn vào mặt tụi nó và Harry ngạc nhiên thấy Neville nhe răng cười, “chúng còn ê càng hơn nữa mới hòng nhai được bà nội.

Bà phù thuỷ già nhỏ xíu sống một mình, có lẽ chúng nghĩ chúng không cần sai người nào giỏi giang.

Mà dù gì đi nữa,” Neville cười, “thì Dawlish vẫn đang phải nằm ở bệnh viện thánh Mungo còn bà Nội thì đang bôn tẩu.

Bà có gởi cho mình một lá thư,” nó vỗ một bàn tay lên túi áo trên ngực, “viết là bà tự hào về mình, rằng mình là con trai của ba má mình, và bảo mình cứ tiếp tục.”

“Sướng,” Ron nói.

“Ừ,” Neville vui vẻ nói.

“Chỉ có điều, một khi họ nhận ra là họ chẳng thể nào nắm đầu mình được, họ sẽ quyết định là trường Hogwarts mà không có mình cũng chẳng sao.

Mình không biết là họ định giết quách mình hay tống mình vô ngục Azkaban, nhưng đằng nào thì mình cũng biết là đã tới lúc biến đi.”

“Nhưng,” Ron nói, nó có vẻ hoang mang hết sức, “chẳng phải... chẳng phải tụi mình đang đi thẳng về trường Hogwarts sao?”

“Dĩ nhiên.”

Neville nói, “Bồ sẽ thấy.

Tụi mình tới rồi.”

Tụi nó quẹo ở một khúc quanh và ngay phía trước tụi nó là đoạn cuối hành lang.

Một cầu thang ngắn khác dẫn tới một cánh cửa giống như cánh cửa giấu đằng sau chân dung Ariana.

Neville đẩy cửa mở ra và trèo qua cửa.

Khi Harry làm theo nó nghe tiếng Neville nói to với những người không thấy mặt mũi đâu hết.

“Coi ai đây nè!

Chẳng phải mình đã nói với mấy bồ rồi sao?”

Harry vừa chui ra căn phòng phía sau hành lang, nhiều tiếng gào và thét vang lên.

“HARRY!”

“Đúng là Potter!

Chính là POTTER!”

“Ron!”

“Hermione!”

Nó có ấn tượng rối rắm về những thứ lòng thòng đầy màu sắc, đèn đóm và nhiều gương mặt.

Ngay sau đó, nó, Ron và Hermione bị tràn ngập, ôm siết, đấm vào lưng, vò tóc, bắt tay bởi đâu khoảng hơn hai mươi người.

Đám người này có thể vừa mới thắng một trận Quidditch.

“Được rồi, được rồi, bình tĩnh nào!”

Neville kêu gọi, và khi đám đông giãn ra, Harry mới có thể nhận định tình hình chung quanh tụi nó.

Nó không nhận ra căn phòng.

Đó là một căn phòng rộng lớn mênh mông, và hơi giống bên trong của một cái chòi cực kì hoành tráng, hay có lẽ một khoang tàu khổng lồ.

Võng đủ màu thòng xuống từ trần nhà và lan can chạy cong theo bức tường ốp gỗ không cửa sổ, trên tường treo kín những màn trướng bằng thảm thêu rực rỡ.

Harry thấy con sư tử vàng của nhà Gryffindor nổi bật trên nền đỏ thắm, con lửng đen của nhà Hufflepuff đặt trên nền màu vàng, và con đại bàng màu đồng của nhà Ravenclaw trên nền màu xanh lơ.

Chỉ có một màu bạc và xanh lục của nhà Slytherin là vắng mặt.

“Tụi mình ở đâu vậy?”

“Phòng Cần Thiết chứ đâu!”

Neville nói.

“Nó vượt quá mức cần thiết luôn, hén?

Anh em Carrow lúc đó đang đuổi theo mình, và mình biết là mình chỉ có một cơ hội để trốn, mình tìm cách qua được cánh cửa và mình tìm thấy cái này!

Thực ra nó không giống y như vầy khi mình mới chạy vô, nó nhỏ hơn nhiều lắm, chỉ có mỗi một cái võng và một tấm trướng của nhà Gryffindor.

Nhưng khi có càng đông thành viên ĐQD đến thì nó cứ nong rộng ra.”

“Vậy bọn Carrow không thể vô được sao?”

Harry ngoái nhìn về phía cửa hỏi.

“Không,” Seamus Finigan nói, mãi đến khi Seamus nói Harry mới nhận ra nó, gương mặt Seamus bầm giập và sưng phù.

“Đây là chỗ trốn đúng nghĩa, miễn là có một người trong đám tụi mình ở trong này thì họ không thể tóm được tụi mình, cửa sẽ không mở ra.

Nhờ Neville đó.

Nó đúng là hiểu được căn phòng này.

Bồ phải yêu cầu thật chính xác cái bồ cần – như ‘tôi không muốn bất cứ đứa nào theo phe Carrow có thể vô được đây’ – và căn phòng sẽ làm đúng như ý mình!

Chỉ cần nhớ chắc là đóng kín các lỗ ra vào.

Neville là người làm chuyện đó!”

“Thực ra cũng dễ làm thôi,” Neville khiêm tốn nói.

“Khi mình ở trong này chừng một ngày rưỡi và đói meo đói mốc, chỉ ước ao kiếm ra cái gì đó để ăn, thì lúc đó cái hành lang dẫn ra quán Đầu Heo mở ra.

Mình đi hết hành lang thì gặp cụ Aberforth.

Lâu nay cụ vẫn cung cấp thực phẩm cho tụi mình, bởi vì không biết làm sao mà đồ ăn thức uống là thứ căn phòng này không cung cấp được.”

“Ừ, đúng, thực phẩm là một trong năm ngoại lệ trong Luật Gamp về thuật Biến Hoá Căn Bản,” Ron nói khiến mọi người kinh ngạc.

“Vậy là tụi này đã trốn ở đây gần hai tuần lễ,” Seamus nói, “và căn phòng này cứ tăng thêm số võng mỗi khi tụi này cần thêm chỗ, nó thậm chí còn mọc lên một buồng tắm khá tốt khi mấy bạn gái đến tá túc...”

“... và cho rằng con gái thì khoái tắm rửa, đúng vậy.”

Lavender Brown bổ sung, cho tới lúc này Harry mới để ý thấy cô nàng.

Bây giờ có dịp nhìn kĩ chung quanh, Harry nhận ra nhiều gương mặt quen thuộc.

Cả hai chị em sinh đôi nhà Patil cùng có mặt, cũng như Terry Boot, Ernie MacMillan, Anthony Goldstein, và Michael Corner.

“Nhưng mà, hãy kể cho tụi này về chuyện mấy bồ làm đi.”

Ernie nói.

“Gần đây có quá nhiều chuyện đồn đại, tụi này cố theo dõi tin tức về bồ trên đài Potter cảnh giác.”

Nó chỉ vào cái đài, “Bồ đâu có đột nhập vào Gringotts thiệt hả?”

“Thiệt chứ,” Neville nói.

“Và con rồng cũng có thiệt luôn.”

Tiếng vỗ tay lẻ tẻ vang lên kèm theo vài tiếng reo hò, Ron làm điệu bộ cúi mình cảm tạ.

“Mấy bồ đang làm gì thế?”

Seamus háo hức hỏi.

Bộ ba chưa kịp kiếm ra được cách lảng tránh câu hỏi đó thì Harry bỗng cảm nhận một cơn đau kinh hoàng như thiêu đổt trong cái thẹo hình tia chớp.

Nó vội vàng quay lưng lại những gương mặt hớn hở và tò mò, cũng là lúc căn Phòng Cần Thiết biến mất, và nó đang đứng bên trong một căn chòi đá điêu tàn, với cái sàn gỗ mục nát đã bị dỡ ra phía dưới chân nó, một cái hộp bằng vàng được đào lên nằm bên cạnh cái lỗ, cái hộp mở nắp và bên trong trống rỗng, tiếng thét giận dữ của Voldemort chấn động bên trong đầu nó.

Bằng một sự cố gắng ghê gớm, nó lại tự dứt mình ra khỏi đầu óc Voldemort, trở lại nơi nó đang đứng, lảo đảo, trong căn Phòng Cần Thiết, mồ hôi tuôn ướt mặt và Ron đang đỡ lấy nó.

“Bồ có sao không Harry?”

Neville nói.

“Ngồi xuống nha?

Mình chắc là bồ mệt quá, có phải...?”

“Không,” Harry nói.

Nó nhìn Ron và Hermione, cố gắng cho hai đứa nó biết mà không dùng đến lời rằng Voldemort đã khám phá ra việc mất một Trường Sinh Linh Giá.

Thời gian đang rút ngắn rất nhanh, nếu Voldemort quyết định thăm trường Hogwarts tiếp theo, tụi nó sẽ lỡ mất cơ hội.

“Tụi mình phải tiếp tục thôi,” nó nói, và vẻ mặt hai đứa kia cho nó biết là tụi nó hiểu.

“Vậy tụi mình sẽ làm gì, Harry?”

Seamus hỏi.

“Kế hoạch ra sao?”

“Kế hoạch à?”

Harry lặp lại.

Nó đang vận dụng tất cả sức mạnh ý chí để tự ngăn nó không bị sa vào cơn thịnh nộ của Voldemort, cái thẹo của nó vẫn cháy bỏng.

“Ừ có vài việc tụi này – Ron, Hermione và mình - cần phải làm, và rồi tụi này sẽ ra khỏi nơi đây.”

Lần này không ai cười hay hò reo nữa.

Neville có vẻ bối rối nói.

“Ý bồ nói sao? ‘Ra khỏi nơi đây’ à?”

“Tụi này không trở về trường để trốn.”

Harry vừa nói vừa chà cái thẹo của nó, nó cố gắng làm dịu cơn đau.

“Có việc quan trọng tụi này cần làm...”

“Việc gì vậy?”

“Mình... mình không thể nói với bồ.”

Tiếng nói vang lên nhao nhao.

Neville nhíu mày lại.

“Tại sao không thể nói cho tụi này biết?

Việc đó có liên quan đến chuyện đánh lại Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó, đúng không?”

“Ừ.

Thì...”

“Thì tụi này sẽ giúp bồ.”

Những thành viên khác của Đoàn quân Dumbledore đều gật đầu, một số hăm hở, những đứa khác nghiêm trang.

Vài đứa đứng lên để bày tỏ thiện chí sẵn sàng hành động ngay lập tức.

“Mấy bồ không hiểu,” Harry dường như đã nói câu này rất nhiều lần trong mấy tiếng đồng hồ vừa qua.

“Tụi này... tụi này không thể nói với mấy bồ.

Tụi này phải làm chuyện đó... một mình.”

“Tại sao?”

Neville hỏi.

“Bởi vì...” trong cơn khẩn thiết muốn bắt tay ngay vào tìm cái Trường Sinh Linh Giá còn chưa rõ tung tích, hay ít ra là cần được bàn bạc riêng với Ron và Hermione xem tụi nó phải bắt đầu tìm kiếm ở đâu, Harry không làm sao tập trung được suy nghĩ.

Cái thẹo của nó vẫn nhức nhối.

“Thầy Dumbledore giao lại cho tụi này một nhiệm vụ,” nó dè dặt nói, “... và tụi này không được nói ra...

ý mình là, thầy muốn tụi này làm việc đó, chỉ ba đứa tụi này thôi.”

“Tụi mình là đoàn quân của thầy,” Neville nói, “Đoàn quân Dumbledore.

Tụi mình đều sát cánh trong đoàn quân mà, tụi này đã duy trì hoạt động của đoàn quân trong khi ba đứa bồ tách ra đi...”

“Không hẳn là đi chơi dã ngoại đâu bồ ơi,” Ron nói.

“Mình đâu có nói vậy, nhưng mình không hiểu tại sao mấy bồ không tin tưởng tụi này.

Mọi người trong căn phòng này đều đã từng chiến đấu và bị dồn vào đây vì bọn Carrow săn đuổi.

Mọi người ở đây đều đã chứng tỏ lòng trung thành với thầy Dumbledore, lòng trung thành với... bồ!”

“Chuyện như vầy,” Harry bắt đầu giải thích mà không biết nó sắp nói gì, nhưng không hề gì, cửa đường hầm vừa mở ra sau lưng nó.

“Neville, tụi này đã nhận được tin nhắn của bồ!

Chào ba bạn!

Mình đã đoán mấy bồ ắt phải ở đây!”

Đó là Luna và Dean.

Seamus hét lên mừng rỡ và chạy nhào tới ôm chầm thằng bạn thân nhất của nó.

“Chào mọi người!”

Luna vui vẻ nói.

“Ôi được trở về thiệt là sướng!”

“Luna,” Harry hỏi với vẻ hoảng loạn, “em làm gì ở đây?

Làm sao em...”

“Mình nhắn gọi bạn ấy,” Neville vừa nói vừa giơ đồng xu Galleon giả lên.

“Mình đã hứa với bạn ấy và Ginny là khi nào bạn đến thì mình sẽ cho họ biết.

Tụi này đều tin là nếu bồ trở về trường thì có nghĩa là cách mạng.

Nghĩa là tụi mình sắp lật đổ lão Snape và anh em lão Carrow.”

“Dĩ nhiên điều đó có nghĩa là như thế,” Luna rạng rỡ nói.

“Đúng không, Harry?

Tụi mình sắp sửa đánh đuổi chúng ra khỏi trường Hogwarts hả?”

“Nghe đây,” Harry nói bằng giọng càng khủng hoảng hơn, “Mình xin lỗi, nhưng đó không phải là mục đích tụi mình trở về đây.

Có việc tụi này phải làm, và rồi...”

“Bồ sẽ bỏ lại tụi này trong cảnh te tua vậy sao?”

Michael Corner gặng hỏi.

“Không,” Ron nói, “Việc mà tụi này đang làm cuối cùng có lợi cho tất cả mọi người, chẳng qua cũng là chuyện diệt trừ Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó.”

“Vậy hãy để tụi này hỗ trợ!”

Neville tức tối nói.

“Tụi này muốn tham gia!”

Có một tiếng động khác vang lên sau lưng tụi nó, và Harry quay lại.

Trái tim nó muốn rụng luôn.

Ginny đang trèo qua cái lỗ ở trên tường, theo sát cô bé là Fred, George, và Lee Jordan.

Ginny mỉm cười rạng rỡ với Harry: Có thể nó đã quên hay nó chưa bao giờ nhận thức đầy đủ, rằng cô bé đẹp như thế nào, nhưng nó chưa bao giờ kém phần sung sướng khi gặp cô bé.

“Cụ Aberforth đang bực mình một tí,” Fred vừa nói vừa giơ một bàn tay lên để đáp lại những tiếng reo chào hỏi.

“Cụ muốn mở nhà trọ, mà cái quán cụ lại biến thành nhà ga.”

Miệng Harry hố hốc.

Ngay đằng sau Lee Jordan là cô bồ cũ của Harry, Cho Chang, cô nàng mỉm cười với nó.

“Mình nhận được tin nhắn,” cô nàng nói, giơ lên đồng Galleon giả và đi tới ngồi cạnh Michael Corner.

“Vậy kế hoạch ra sao Harry?”

George hỏi.

“Không có kế hoạch nào hết” Harry nói, vẫn còn hoang mang vì sự xuất hiện của tất cả những người này, nó không thể tiếp thu hết mọi thứ trong khi cái thẹo của nó vẫn còn cháy bỏng dữ dội.

“Tụi mình cứ làm tới đâu hay tới đó hả?

Đúng là kiểu anh khoái nhất,” Fred nói.

“Bồ phải dẹp vụ này đi!”

Harry bảo Neville.

“Bồ kêu tất cả họ tới đây để làm gì?

Chuyện này điên quá...”

“Tụi mình sắp chiến đấu đúng không?”

Dean nói, giơ đồng Galleon của nó lên.

“Tin nhắn là Harry đã trở lại và tụi mình sắp chiến đấu.

Nhưng mình sẽ phải kiếm một cây đũa phép...”

“Bồ không có đũa phép hả?...”

Seamus vừa bắt đầu nói.

Đột nhiên Ron quay qua Harry.

“Tại sao mấy người đó lại không giúp được?”

“Cái gì?”

“Mấy người đó có thể giúp mà,” Ron hạ giọng và nói nhỏ để mấy đứa khác không nghe được, ngoại trừ Hermione đứng sát bên.

“Tụi mình không biết cái đó ở đâu.

Tụi mình phải kiếm ra cái đó thiệt nhanh.

Tụi mình đâu cần phải nói với họ đó là Trường Sinh Linh Giá.”

Harry nhìn Ron rồi đến Hermione, cô bé thì thầm.

“Mình nghĩ Ron nói đúng.

Tụi mình thậm chí không biết cái tụi mình đang tìm kiếm là gì mà, tụi mình cần các bạn ấy.”

Và khi thấy Harry có vẻ chưa được thuyết phục cho lắm.

“Bồ không cần phải làm mọi việc một mình, Harry à.”

Harry suy nghĩ thiệt nhanh, cái thẹo của nó đang nhức nhối, cái đầu của nó có nguy cơ lại bị bửa ra.

Cụ Dumbledore đã khuyên nó đừng nói với ai hết về những Trường Sinh Linh Giá ngoại trừ Ron và Hermione.

Bí mật và dối trá, đó là cách mà anh em tao lớn lên, và anh Albus...

ổng có bản chất đó...

Chẳng lẽ nó đang biến thành cụ Dumbledore, nắm chặt bí mật giấu trong ngực, không dám tin cậy?

Nhưng cụ Dumbledore đã tin Snape, và điều đó đã dẫn tới hậu quả gì?

Bị ám sát trên đỉnh ngọn tháp cao nhất....

“Thôi được,” nó khẽ nói với hai đứa kia.

“Được,” nó nói lớn với mọi người trong phòng, và tất cả tiếng ồn ngưng ngay: Fred và George nãy giờ tào lao chuyện tiếu lâm mua vui cho mấy đứa đứng gần nhất cũng nín thinh, và tất cả đều có vẻ cảnh giác, hồi hộp.

“Tụi mình cần tìm một cái,” Harry nói, “một... một cái giúp tụi mình lật đổ Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó.

Cái đó ở trong trường Hogwarts, nhưng tụi này không biết nó ở đâu.

Cái đó có thể là đồ vật của sư mẫu Ravenclaw.

Có ai từng nghe nói tới một đồ vật gì giống vậy không?

Có ai tình cờ gặp cái gì đó có biểu tượng con đại bàng của Ravenclaw chẳng hạn?”

Nó hy vọng nhìn về phía nhóm nhỏ những học sinh nhà Ravenclaw, nhìn Padma, Michael, Terry, và Cho nhưng chính Luna là người trả lời, cô bé đang ngồi trên tay ghế của Ginny.

“A, có một cái vòng nguyệt quế đã mất của bà.

Em nói với anh rồi mà, nhớ không, Harry?

Cái vòng nguyệt quế đã mất của Ravenclaw ấy?

Ba em đã cố gắng làm một cái giống y cái đó.”

“Ừ, nhưng cái vòng nguyệt quế đã mất đó,” Michael Corner đảo tròn con mắt, “đã bị mất rồi, Luna à.

Đó mới là điều quan trọng.”

“Nó bị mất hồi nào?”

Harry hỏi.

“Nghe nói cả thế kỉ ấy,” Cho nói và trái tim Harry thót lại.

“Giáo sư Flitwick nói cái vòng nguyệt quế đã biến mất cùng với chính Sư mẫu Ravenclaw,” cô nàng hỏi các bạn cùng nhà Ravenclaw, “chưa ai tìm ra dấu vết của cái đó, đúng không nhỉ?”

Tất cả đều lắc đầu.

“Xin lỗi, nhưng vòng nguyệt quế là cái gì?”

Ron hỏi.

“Nó đại khái như cái mũ vua đội,” Terry Boot nói.

“Cái vòng nguyệt quế của Sư mẫu Ravenclaw được coi là có đặc tính pháp thuật, tăng cường trí tuệ của người đội.”

“Đúng, mấy cái vòi Nổ đẹp của ba...”

Nhưng Harry ngắt lời Luna.

“Và không ai trong các bạn từng thấy cái gì giống cái đó sao?”

Tất cả lại lắc đầu một lần nữa.

Harry nhìn Ron và Hermione và thấy trên mặt hai đứa này phản chiếu nỗi thất vọng của chính nó.

Một đồ vật đã bị mất từ rất lâu và dường như chẳng có dấu vết gì, không có vẻ đáng được coi là cái Trường Sinh Linh Giá cất giấu trong lâu đài...

Tuy nhiên nó chưa kịp đặt ra một câu hỏi mới thì Cho lại nói.

“Harry à, nếu bồ muốn xem cái vòng nguyệt quế đó trông như thế nào, mình có thể đưa bồ lên phòng sinh hoạt chung của tụi này để chỉ cho bồ coi.

Bức tượng Sư tổ Ravenclaw có đội vòng nguyệt quế...”

Cái thẹo của Harry lại nhói đau: Trong chốc lát căn Phòng Cần Thiết dập dềnh trước mặt nó, và nó thấy trái đất tối đen đang lao đi bên dưới và cảm thấy con rắn cuộn quanh vai.

Voldemort lại đang bay, tới cái hồ dưới lòng đất hay về đây, toà lâu đài, Harry không biết, nhưng bay về hướng nào thì thời gian cũng chẳng còn bao nhiêu.

“Hắn đang di chuyển,” nó nói khẽ với Ron và Hermione.

Nó liếc qua Cho rồi nhìn lại hai đứa bạn.

“Nghe nè, mình biết là không có nhiều triển vọng, nhưng mình sẽ đi nhìn bức tượng một cái, ít nhất để biết cái vòng nguyệt quế trông như thế nào.

Chờ mình ở đây và giữ an toàn.... cái kia... hai bồ biết rồi đó...”

Cho đã đứng lên nhưng Ginny nói giọng hơi gay gắt.

“Không, Luna sẽ đưa Harry đi, được không Luna?”

“Ôi, được chứ, mình sẵn sàng,” Luna vui vẻ nói, trong lúc Cho lại ngồi xuống, vẻ mặt thất vọng.

“Làm sao tụi này đi ra được đây?”

Harry hỏi Neville.

“Lại đây.”

Nó dẫn Harry và Luna đi tới một cái góc, ở đó có một cái tủ chén nhỏ mở ra một cầu thang dốc, “Mỗi ngày cầu thang dẫn tới một chỗ khác nhau, để tụi họ không thể nào tìm thấy” Neville nói.

“Rắc rối duy nhất là tụi mình sẽ chẳng biết tụi mình sẽ đi tới đâu mỗi khi tụi mình ra khỏi phòng.

Cẩn thận nghe, Harry, luôn luôn có tuần tra trong hành lang vào ban đêm.”

“Không sao,” Harry nói, “Lát nữa gặp lại.”

Harry và Luna vội vã đi lên cầu thang, cái cầu thang này dài, được chiếu sáng bằng ánh đuốc và quanh quẹo ở những cua bất ngờ.

Cuối cùng tụi nó tới một cái có vẻ là một bức tường rắn chắc.

“Chui xuống đây,” Harry vừa nói với Luna vừa rút tấm Áo khoác Tàng hình ra và quăng tấm áo trùm lên cả hai đứa.

Nó đẩy nhẹ vào bức tường.

Bức tường tan đi khi bị nó chạm vào và hai đứa lách ra ngoài.

Harry liếc nhìn lại và thấy bức tường tự liền lại ngay tức thì.

Hai đứa nó đang đứng trong hành lang tối thui.

Harry kéo Luna lùi vào bóng tối, lục tìm trong cái túi bùa đeo quanh cổ của nó lấy ra tấm Bản đồ Đạo tặc.

Đưa tấm bản đồ lên sát mũi, nó dò tìm và cuối cùng cũng xác định được vị trí hai cái chấm của Luna và nó.

“Tụi mình đang ở trên tầng năm,” nó vừa thì thầm vừa theo dõi thầy Filch đang đi khỏi chỗ tụi nó, cách một hành lang ở đằng trước.

“Đi lối này.”

Tụi nó lẻn đi.

Trước đây Harry đã từng đi lêu bêu trong lâu đài vào ban đêm nhiều lần, nhưng chưa lần nào tim nó nện nhanh như vầy, chưa bao giờ nó trông mong an toàn đi qua chỗ này đến như vầy.

Lướt qua những ô ánh trăng soi vuông vức trên sàn, ngang qua mấy bộ áo giáp mà tiếng bước chân khẽ khàng của tụi nó khiến cho những cái nón sắt rít lên, quẹo qua những góc hành lang mà đố ai biết cái gì rình rập ở bên kia, Harry và Luna vừa bước đi vừa xem tấm Bản đồ Đạo tặc mỗi khi có đủ ánh sáng, hai lần dừng lại cho một con ma đi qua để không khiến con ma chú ý đến tụi nó.

Nó chuẩn bị tinh thần gặp phải trở ngại bất cứ lúc nào, nỗi ngán sợ nhất của nó là gặp phải Peeves, nó đã dỏng tai theo từng bước chân để lắng nghe dấu hiệu đầu tiên mách bảo con ma quậy đó đến gần.

“Lối này nè, Harry,” Luna thì thào, giật tay áo nó và kéo nó đi về phía một cầu thang xoắn.

Tụi nó trèo lên theo một vòng xoắn ngoặt đến chóng mặt.

Trước đây Harry chưa từng đến chỗ này.

Cuối cùng tụi nó đến một cánh cửa.

Chẳng có nắm cửa mà cũng chẳng có lỗ khoá: chẳng có gì cả ngoài bề mặt bèn bẹt của gỗ cũ xì và một cái đồ để gõ cửa có hình một con đại bàng.

Luna với lên một bàn tay xanh xao đang trôi lơ lửng giữa không trung hết sức kinh dị, không liền với cánh tay hay thân thể nào hết.

Cô bé gõ một lần, và trong im ắng tiếng gõ vang lên nghe như tiếng nổ của đại bác.

Ngay lập tức con đại bàng mở miệng, nhưng thay vì tiếng kêu của chim, lại vang lên một giọng du dương êm dịu, “Cái nào có trước, phượng hoàng hay lửa?”

“Ơ...

Anh nghĩ sao Harry?”

Luna nói, có vẻ đăm chiêu nghĩ ngợi.

“Cái gì?

Không có mật khẩu sao?”

“À không, tụi mình phải trả lời một câu hỏi,” Luna nói.

“Nếu trả lời sai thì sao?”

“Thì anh phải đợi người nào đó trả lời đúng,” Luna nói.

“Bằng cách đó mình mở mang kiến thức, anh hiểu không?”

“Ừ... rắc rồi là, tụi mình không có thì giờ để chờ ai đó, Luna à.”

“Không, em hiểu ý anh mà,” Luna nghiêm trang nói.

“À được, em nghĩ ra câu trả lời là một vòng luân hổi không có sự bắt đầu.”

“Lý luận tốt,” giọng nói cất lên và cánh cửa mở bung ra.

Phòng sinh hoạt chung của nhà Ravenclaw là một căn phòng tròn rộng rãi thoáng đãng hơn bất cứ phòng nào Harry từng thấy ở trường Hogwarts.

Cửa sổ có khung tò vò điểm xuyết các bức tường được treo những dải lụa màu đồng và xanh lơ.

Ban ngày học sinh của nhà Ravenclaw sẽ được ngắm cảnh trí ngoạn mục của dãy núi bao quanh.

Trần phòng hình vòm và được vẽ những vì sao phản chiếu xuống tấm thảm màu lam sẫm của bầu trời lúc nửa đêm.

Trong phòng có bàn ghế, kệ sách và trong một hốc tường đối diện cánh cửa là một bức tượng cao bằng cẩm thạch trắng.

Harry nhận ra Sư mẫu Rowena Ravenclaw nhờ bức tượng bán thân mà nó đã được xem ở nhà Luna.

Bức tượng đứng bên cạnh một cánh cửa mà Harry nghĩ là dẫn lên phòng ngủ ở tầng trên.

Nó sải bước đi thẳng tới người đàn bà bằng cẩm thạch và bà ta có vẻ nhìn lại nó với nụ cười nửa miệng trêu cợt trên gương mặt xinh đẹp nhưng hơi dễ sợ.

Trên đầu bức tượng có một cái vòng xinh đẹp được sao chép lên trên cẩm thạch.

Cái đó không khác gì cái miện ngọc mà chị Fleur đã đội vào ngày cưới.

Trên vành miện có khắc những chữ nhỏ xíu.

Harry bước ra khỏi tấm áo khoác tàng hình và trèo lên bệ bức tượng Ravenclaw để đọc những chữ đó.

“Tri thức bao la là kho báu lớn nhất của con người.”

“Cái đó chỉ tổ khiến cho mày thành kiết xác đần độn,” một giọng cười khành khạch vang lên.

Harry ngay ngoắt người lại, tuột khỏi cái bệ tượng, đứng xuống đất.

Cái dáng lệch vai của mụ Alecto Carrow đang đứng trước mặt nó, và ngay khi Harry giơ cây đũa phép của nó lên, mụ đã đặt ngón tay trở múp míp lên cái dấu có hình đầu lâu và con rắn trên cánh tay của mụ.
 
Back
Top Bottom