Cập nhật mới

Khác Harry Potter Phần 6 và 7

Harry Potter Phần 6 Và 7
Q6 - 20: Thỉnh cầu của chúa tể Voldermort


Thỉnh cầu của chúa tể Voldermort

Việc đầu tiên xảy ra vào sáng hôm sau là Harry và Ron rời khỏi bệnh thất, sức khỏe hoàn toàn bình phục nhờ sự chăm sóc của bà Pomfrey và giờ đây chúng có thể thưởng thức những ích lợi của việc bị đấm ngã chổng kềnh và bị đầu độc suýt chết, trong đó có cái lợi lớn nhất là giờ đây Hermione đã trở lại bạn bè với Ron như xưa.

Hermione thậm chí còn cặp kè tụi nó xuống phòng ăn điểm tâm, đem theo cái tin Gin đã cãi nhau một trận với Dean.

Cái gã đang lờ đờ ngủ trong ngực Harry bỗng nhiên ngóc đầu dậy, hít hửi không khí tràn trề hy vọng.

“Tụi nó cãi nhau về chuyện gì?”

Nó hỏi, cố gắng nói giọng bình thường; lúc đó tụi nó đang quẹo vào một hành lang ở tầng thứ bảy vắng vẻ, ngoại trừ một cô gái nhỏ xíu đang săm soi một tấm thảm thêu hình những chú lùn ranh mặc váy xòe.

Khi nhìn thấy các anh chị năm thứ sáu đến gần, cô bé hốt hoảng đến nỗi làm rớt cái cân bằng đồng mà cô bé đang cầm.

“Không sao!”

Hermione ân cần nói, vội vàng đi tới để giúp đỡ.

“Đây…”

Cô nàng gõ đầu cây đũa phép lên cái cân bể và nói, “Chữa lành”.

Cô bé kia không nói cảm ơn, chỉ đứng như bị trời trồng tại chỗ khi các anh chị năm thứ sáu đi ngang qua và nhìn theo tụi nó đi khuất tầm mắt.

Ron liếc nhìn lại cô bé.

Nó nói.

“Mình thề là cái cân sẽ teo nhỏ đi.”

“Đừng bận tâm đến con bé,” Harry nói, hơi sốt ruột.

“Gin và Dean cãi nhau về chuyện gì vậy, Hermione?”

“Ôi, Dean cười chuyện McLaggen tông trái Bludger vô bồ,” Hermione nói.

“Cảnh đó chắc là tức cười lắm,” Ron nói ra vẻ công bằng.

“Chẳng tức cười chút nào hết!”

Hermione nổi sung nói.

“Trông dễ sợ hết sức và nếu Coote và Peakes không chụp Harry kịp thời thì Harry có thể đã bị thương trầm trọng!”

“Ừ, thôi, Gin và Dean cũng không cần phải chia tay về chuyện đó, Harry nói, vẫn cố gắng làm ra vẻ bình thường.

“Hay là tụi nó vẫn còn bồ nhau?”

“Còn, tụi nó vẫn còn bồ nhau…

Nhưng tại sao bồ quan tâm dữ vậy?”

Hermione hỏi, nhìn soi mói Harry.

“Mình chỉ không muốn đội Quidditch rối ren lộn xộn một lần nữa!”

Harry hấp tấp nói, nhưng Hermione vẫn tỏ vẻ nghi ngờ.

Cho nên nó thở phào khi nghe có tiếng gọi.

“Harry!” từ đằng sau giúp nó có cớ quay lưng lại Hermione.

“Ủa, chào Luna.”

“Em đi vô bệnh thất tìm các anh,” Luna nói, vừa lục lọi trong túi xách.

“Nhưng họ nói các anh đã về rồi…”

Cô bé nhét vào tay Ron một cái có vẻ là cọng hành lá, một tai nấm lốm đốm và một bụm gì đó giống như cứt mèo, cuối cùng kéo ra được một cuộn giấy da bèo nhèo để đưa cho Harry.

“…Em được biểu đưa cho anh cái này.”

Đó là một cuộn giấy da nhỏ mà Harry nhận ra ngay tức thì là thư cụ Dumbledore gọi nó đi học.

“Tối nay,” nó nói với Ron và Hermione, sau khi đã mở thư ra xem.

“Bình luận trấn đấu vừa rồi hay ghê!”

Ron nói với Luna khi cô bé lấy lại cọng hành xanh, cái nấm đốm và bụm cứt mèo.

Luna mỉm cười ngờ ngợ.

“Anh đang chọc quên em phải không?”

Cô bé nói.

“Ai cũng nói dở ẹt.”

“Không, anh nói nghiêm túc mà!”

Ron nói một cách chân thành.

“Anh nhớ chưa bào giờ khoái nghe bình luận hơn lần vừa rồi!

Nhân tiện hỏi cái này là cái gì vậy?”

Nó nói thêm, giơ cái vật giống cọng hành xanh lên ngang tầm mắt.

“À, đó là Rễ canh,” cô bé nói, vừa nhét cứt mèo và cái nấm đốm trở lại túi xách.

“Anh cứ giữ lại nếu anh thích, em còn mấy cái nữa.

Mấy cái đó canh phòng bọn Bộng Nuốt hay lắm.”

Và cô bé bước đi, bỏ lại Ron cời phát sặc, tay vẫn còn nắm cọng Rễ canh.

“Mấy bồ biết không, mình càng ngày càng thấy thích Luna hơn.”

Ron nói khi tụi nó tiếp tục đi tới Đại sảnh đường.

“Mình biết con nhỏ đó khùng, nhưng mà hay ở chỗ…”

Nó đột nhiên ngừng nói.

Lavender Brown đang đứng ngay chân cầu thang đá, vẻ mặt giận đùng đùng.

“Chào,” Ron lo lắng nói.

“Đi thôi,” Harry thì thầm với Hermione và hai đứa nó nhanh chân đi qua mặt Lavender, mặc dù vẫn kịp nghe cô nàng nói, “Tại sao anh không nói cho em biết là bữa nay anh xuất viện hả?

Và tại sao anh lại cặp kè với con nhỏ đó hả?”

Khi Ron xuất hiện ở bàn ăn điểm tâm nửa giờ sau, trông mặt nó vừa lầm lì vừa bực bội và mặc dù nó ngồi cùng bàn với Lavwnder, Harry không thấy tụi nó không nói một lời nào với nhau trong suốt thời gian ngồi cạnh nhau.

Hermione hành xử như thể hoàn toàn không biết gì về chuyện đó, nhưng một đôi lần Harry nhìn thấy một nụ cười vu vơ khó hiểu thoáng qua gương mặt cô nàng.

Suốt ngày hôm ấy Hermione dường như ở trong một trạng thái đặc biệt vui và buổi tối đó trong phòng sinh hoạt chung cô nàng thậm chí còn bằng lòng ngó qua (nói cách khac là viết nốt) bài luận văn môn Dược thảo học cho Harry, một việc mà cho tới lúc đó cô nàng vẫn kiên quyết từ chối, vì biết là Harry thể nào rồi cũng cho Ron sao y bản chính.

“Cám ơn nhiều lắm, Hermione,” Harry vừa nói vừa vỗ nhè nhẹ lên lưng Hermione trong khi coi đồng hồ và thấy là đã gần tám giờ tối.

“Nghe nè, mình phải gấp lên kẻo trễ buổi học với thầy Dumbledore...”

Hermione không trả lời mà chỉ gạch bỏ đi vài câu văn lủng củng của Harry với vẻ hơi ngao ngán.

Toét miệng ra cười, Harry lật đật chui qua lỗ chân dung để đi tới văn phòng thầy hiệu trưởng.

Con thú đá nhảy qua một bên ngay khi nghe mật khẩu bánh kem bơ và Harry nhảy hai bậc một lên cầu thang xoắn, gõ lên cánh cửa vừa đúng lúc chuông đồng hồ bên trong văn phòng điểm tám tiếng.

“Mời vào,” cụ Dumbledore gọi, nhưng khi Harry đưa tay để đẩy cánh cửa thì cửa đã được mở ra từ bên trong.

Giáo sư Trelawney đứng ngay bên trong cửa.

“Thì ra!”

Bà kêu lên, đột ngột chỉ vào mặt Harry, mắt bà chớp chớp sau cặp kính vĩ đại trong lúc nhìn nó.

“Thì ra đây là lý do tôi bị tống ra khỏi văn phòng của ông không chút khách sáo, phải không ông Dumbledore!”

“Cô Sybill thân mến ạ,” cụ Dumbledore nói bằng giọng hơi bực, “Làm gì có chuyện tống cô ra khỏi bất cứ nơi nào không chút khách sáo, nhưng mà Harry quả là có hẹn trước và tôi thực sự không nghĩ rằng còn điều gì để nói nữa...”

“Được lắm,” giáo sư Trelawney nói bằng giọng bị tổn thương sâu sắc.

“Nếu ông không chịu trục xuất con ngựa tiếm quyền ấy, thì đành vậy... có lẽ tôi sẽ tìm một ngôi trường khác, nơi mà tài năng của tôi được đánh giá cao hơn...”

Bà đẩy Harry qua một bên để đi ra và biến mất phía dưới cầu tahng xoắn; hai thầy trò nó nghe như bà ta té nhào ở khoảng giữa cầu thang, Harry đoán là bà đã giẫm phải một trong những vạt khăn quàng lòng thòng của bà.

“Harry, con hãy đóng cửa lại và ngồi xuống,” cụ Dumbledore nói, nghe hơi mệt mỏi.

Harry vâng lời khi ngồi xuống cái ghế nó vẫn thường ngồi trước bàn làm việc của cụ Dumbledore, nó để ý thấy cái Tưởng Ký lại nằm giữa hai thầy trò một lần nữa và thêm hai cái chai nhỏ xíu đựng đầy ký ức xoáy tít.

“Thưa thầy, có phải giáo sư Trelawney không vui vì thầy Firenze vẫn còn dạy không?”

Harry hỏi.

“Ừ,” cụ Dumbledore nói, “Bộ môn Tiên tri hóa ra nhiều rắc rối hơn là thầy tiên liệu, bản thân thầy chưa từng học môn đó.

Thầy không thể bảo thầy Firenze quay trở về rừng, ở đó bây giờ thầy ấy chỉ là một kẻ bị ruồng bỏ, mà thầy cũng không thể bảo cô Sybill Trelawney ra đi.

Điều này thầy trò mình biết với nhau thôi: cô ấy không hề biết nỗi nguy hiểm mà cô ấy sẽ gặp phải một khi cô ấy ra khỏi tòa lâu đài.

Cô ấy không biết – và thầy nghĩ là sẽ chẳng không ngoan gì nếu làm sáng tỏ cho cô ấy – rằng chính cô ấy là người đã lập ra lời tiên tri về con và Voldermort, con hiểu chứ?”

Cụ Dumbledore thở dài một cái thượt, rồi nói, “Nhưng đừng để ý chuyện của giáo ban.

Chúng ta còn nhiều chuyện hơn cần bàn bạc.

Trước tiên – con đã làm xong bài tập mà thầy giao cho con vào cuối buổi học trước chưa?”

“Ôi,” Harry nói, ngẩn người ra.

Nào là bài học Độn thổ và Quidditchm nào là Ron bị đầu độc và nó bị nứt sọ, lại thêm chuyện quyết tâm khám phá âm mưu của Draco Malfoy, khiến Harry hầu như quên béng đi cái ký ức của Thầy Slughorn mà thầy Dumbledore đã bảo nó phải làm sao moi cho được.

“Dạ, thưa thầy, con đã hỏi Thầy Slughorn về chuyện đó vào cuối buổi học môn Độc dược, nhưng, ơ, thầy ấy không chịu cho con.”

Hai thầy trò cùng im lặng một lúc.

Cuối cùng cụ Dumbledore nói, “Thầy hiểu.”

Cụ chăm chú nhìn Harry qua đầu gọng kính hình nửa vầng trăng và khiến cho Harry có cái cảm giác như mọi khi là nó đang bị chiếu tia X qua người.

“Và con cảm thấy rằng con đã hết sức cố gắng trong vấn đề này rồi, đúng không?

Rằng con đã vận dụng tất cả tài khôn khéo không nhỏ của con?

Rằng con đã chẳng chừa lại chút tinh ranh nào mà không thử qua nhằm lấy cho bằng được cái ký ức đó?”

“Dạ,” Harry lặng người đi, quên tuốt luốt định nói tiếp cái gì.

Nỗ lực duy nhất mà nó đã làm để lấy cái ký ức đó bồng nhiên có vẻ ấm ớ phát ngượng.

“Dạ... cái bữa mà Ron nuốt nhầm thuốc độc con đem bạn ấy đến gặp Thầy Slughorn.

Con nghĩ có lẽ nếu con làm cho thầy ấy cao hứng lên...”

“Và cố gắng đó thành công chứ?”

Cụ Dumbledore hỏi.

“Dạ, thưa thầy, không, bởi vì Ron trúng độc...”

“...đương nhiên, điều đó đã khiến con quên sạch bách việc cố gắng lấy cái ký ức; Thầy không mong chờ điều gì khác được, khi người bạn thân nhất của con lâm nguy.

Tuy nhiên, khi đã rõ là cậu Weasley sẽ bình phục hoàn toàn, thầy đã hy vọng con quay lại công việc mà thầy giao.

Thầy tưởng thầy đã nói rõ với con là cái ký ức đó quan trọng như thế nào.

Thật vậy, thầy đã làm hết sức để cho con có ấn tượng rằng đó là cái ký ức chủ chốt nhất trong tất cả và nếu không có nó thì chúng ta chỉ lãng phí thời gian mà thôi.”

Một cảm giác xấu hổ nóng ran và nhức nhối lan từ đỉnh đầu Harry xuống khắp cơ thể nó.

Cụ Dumbledore không hề cất cao giọng, cụ không hề tỏ vẻ giận dữ, nhưng Harry muốn thà thầy quát tháo nó còn hơn; sự thất vọng lạnh lùng này còn tệ hơn bất cứ điều gì khác.

“Thưa thầy,” nó nói, với một chút liều mạng, “không phải là con không bận tâm hay gì gì khác, chẳng qua con có... có những việc khác...”

“Những việc khác trong đầu con,” cụ Dumbledore nói nốt câu giùm nó.

“Thầy hiểu.”

Hai thầy trò lại im lặng một lần nữa, sự im lặng khó chịu nhất mà Harry từng trải qua với cụ Dumbledore; Sự im lặng dường như cứ kéo dài, kéo dài mãi, thỉnh thoảng chỉ bị ngắt đoạn bằng tiếng ngáy rò rò của bức chân dung cụ Armando Dippet phía trên đầu cụ Dumbledore.

Harry cảm thấy nhỏ bé đi một cách kỳ lạ, như hteer nó bị co rút lại một chút kể từ khi bước vào căn phòng này.

Khi không thể chịu đựng lâu hơn nữa, nó nói, “Thưa giáo sư Dumbledore, con thực sự xin thầy tha lỗi.

Lẽ ra con nên làm nhiều hơn... lẽ ra con nên nhận thức được là thầy sữ chẳng yêu cầu con làm điều đó nếu điều đó không thực sự quan trọng.”

“Cám ơn con đã nói như vậy, Harry à,” cụ Dumbledore khẽ nói.

“Vậy thầy có nên hy vọng từ giờ trở đi con sẽ đặt vấn đề này lên hàng ưu tiên cao hơn không?

Sau buổi tối này chúng ta sẽ chẳng có mấy lý do để gặp lại nếu không có cái ký ức đó.”

“Thưa thầy, con sẽ làm việc đó, con sẽ lấy cái ký ức của Thầy Slughorn,” nó tha thiết nói.

“vậy thì bây giờ chúng ta không nói thêm về việc đó nữa,” cụ Dumbledore nói thân mật hơn, “nhưng hãy tiếp tục câu chuyện của chúng ta từ chỗ chúng ta đã ngừng lại.

Con có còn nhớ ở chỗ nào không?”

“Dạ, thưa thầy, có ạ” Harry nhanh nhẩu nói.

“Voldermort giết cha hắn và ông bà nội hắn xong, dàn dựng như thể cậu Morfin của hắn là thủ phạm.

Sau đó hắn quay trở về trường Hogwarts và hỏi... hắn hỏi giáo sư Slughorn về Trường sinh linh giá,” nó ngượng ngùng nói lí nhí.

“Tốt lắm,” cụ Dumbledore nói.

“Bây giờ, thầy hy vọng, con còn nhớ rằng thầy đã nói với con từ hồi mới bắt đầu những buổi học này của thầy trò mình là chúng ta sẽ đi vào lĩnh vực của ước đoán và suy nghiệm?”

“Dạ, thưa thầy.”

“Cho tới bây giờ, như thầy hy vọng được con đồng ý, thầy đã cho con xem những nguồn dữ liệu tương đối vững chắc cho sự suy luận của thầy về những gì Voldermort đã làm cho đến khi hắn đến tuổi mưởi bảy?”

Harry gật đầu.

“Nhưng giờ đây, Harry à,” cụ Dumbledore nói, “giờ đây sự việc trở nên mịt mù hơn và lạ lùng hơn.

Nếu việc tìm chứng cớ về cậu bé Riddle đac là khó khăn thì việc tìm ai đó sẵn sàng hồi tưởng về người đàn ông Voldermort là chuyện không thể làm được.

Thực ra, thầy nghi ngờ liệu có ai đó còn sống, ngoại trừ chính hắn ra, có thể kể cho chúng ta toàn bộ về cuộc sống của hắn sau khi rời khỏi trường Hogwarts không.

Tuy nhiên, thầy còn hai cái ký ức cuối cùng mà thầy muốn cùng xem với con,” nói đến đó, cụ Dumbledore chỉ hai chai pha lê nhỏ xíu lấp lánh bên cạnh cái Tưởng Ký.

“Sau đó thầy sẽ vui mừng muốn biết ý kiến của con là liệu những kết luận mà thầy rút ra có vẻ đúng hay không.”

Ý nghĩ rằng cụ Dumbledore đánh giá ý kiến của nó cao như thế khiến Harry càng cảm thấy xấu hổ vô cùng về việc nó đã không hoàn thành nhiệm vụ lấy cho được cái ký ức về Trường sinh linh giá và nó nhấp nhổm áy náy trên ghế khi cụ Dumbledore giơ một trong hai cái chai đó lên ánh sáng và xem xét.

“Thầy hy vọng con chưa chán việc lặn vào ký ức của người ta bởi vì hai cái này chỉ là hồi ức tò mò,” cụ nói.

“Cái thứ nhất này xuất xứ từ một gia tinh rất già có tên là Hokey.

Trước khi con xem những gì Hokey chứng kiến, thầy phải thuật lại thật nhanh chuyện Chúa tể Voldermort rời khỏi trường Hogwarts như thế nào.

Như con có thể đoán được, khi học lên đến năm thứ bảy, hắn đứng đầu bảng trong tất cả các môn mà hắn thi.

Khắp xung quanh, bạn bè hắn đều đang quyết định chọn lựa nghề nghiệp mà họ sẽ theo đuổi sau khi ra trường.

Gần như mọi người trông chờ những điều kỳ vĩ nơi Tom Riddle, huynh trưởng, Thủ lĩnh nam sinh, người nhậ được phần thưởng Dành cho cống hiến đặc biệt đối với nhà trường.

Thầy biết là nhiều thầy cô giáo, trong số đó có giáo sư Slughorn, đề nghị hắn vào làm ở Bộ Pháp thuật, đề nghị dàn xếp những cuộc hẹn, giới thiệu hắn với những người quen biết lớn.

Hắn từ chối tất cả những đề nghị.

Chuyện tiếp theo mà các thầy cô biết là Voldermort là việc ở tiệm Borgin và Burkes.”

“Ở tiệm Borgin và Burkes?”

Harry sửng sốt lặp lại.

“Ở tiệm Borgin và Burkes,” cụ Dumbledore bình thản lặp lại.

“Thầy nghĩ con sẽ biết ở đó có những điều hấp dẫn gì mà giữ được chân hắn khi chúng ta đi vào ký ức của Hokey.

Nhưng đây không phải là nghề nghiệp đầu tiên mà hắn chọn.

Ít có ai biết được điều này vào thời đó.

Thầy là một trong số rất ít người mà thầy hiệu trưởng thời đó nói riêng cho biết.

Thoạt đầu Voldermort đã đến gặp giáo sư Dippet và hỏi liệu hắn có thể ở lại trường Hogwarts để dạy học không.”

“hắn muốn ở lại đây à?

Tại sao?”

Harry hỏi, càng thêm ngạc nhiên.

“Thầy tin là hắn có nhiều lý do, mặc dù hắn không trình bày những lý do đó với giáo sư Dippet,” cụ Dumbledore nói.

“Trước nhất và rất quan trọng, thầy tin Voldermort gắn bó với ngôi trường này hơn với bất cứ người nào khác.

Trường Hogwarts là nơi hắn đã vui sướng nhất; nơi đầu tiên và nơi duy nhất mà hắn cảm thấy là nhà.”

Harry cảm thấy hơi nhột nhạt đối với những lời này, bởi vì nó cũng cảm thấy y như vậy về ngôi trường Hogwarts.

“Lý do thứ hai, tòa lâu đài là một thành trì của Pháp thuật cổ xưa.

Chắc chắn Voldermort đã thâm nhập vào rất nhiều bí mật của lâu đài, nhiều hơn hầu hết những học sinh khác từng học qua ở ngôi trường này, nhưng có thể hắn cảm thấy nơi đây vẫn còn nhiều bí mật để hắn lần ra manh mối, còn nhiều kho chứa Pháp thuật để hắn bòn rút.

Và thứ ba, với tư cách một thầy giáo, hắn sẽ có nhiều quyền lực và ảnh hưởng đối với các pháp sư và phù thủy trẻ.

Có lẽ hắn có được ý tưởng này từ giáo sư Slughorn, người thầy mà hắn có sự giao hảo tốt nhất, người đã thể hiện việc một thầy giáo có thể đóng một vai trò ảnh hưởng như thế nào.

Thầy không tưởng tượng được dù trong một tích tắc rằng Voldermort dự tính sống cả đời hắn ở trường Hogwarts, nhưng thầy nghĩ rằng hắn coi đây như một chỗ để chiêu binh và là một nơi hắn có thể bắt đầu tự thành lập cho mình một quân đội.”

“Nhưng thưa thầy, hắn không được nhận về dạy ở trường à?”

“Không, hắn không được nhậ.

Giáo sư Dippet nói với hắn là hắn còn quá trẻ ở tuổi mười tám, nhưng giáo sư mời hắn nộp đơn trở lại trong vài năm tới, nếu đến lúc đó hắn còn muốn dạy học.”

“Thưa thầy, hắn cảm thấy sao về việc đó?”

Harry ấp úng hỏi.

“Hết sức bực bội,” cụ Dumbledore nói.

“Thầy đã khuyên giáo sư Armando chống lại sự bổ nhiệm đó – thầy không nêu ra những lý do mà thầy vừa nói với con, bởi vì giáo sư Dippet rất yêu mến Voldermort và bị thuyết phục vì vẻ chân thực của hắn.

Nhưng thầy không muốn Chúa tể Voldermort trở lại ngôi trường này và đặc biệt là trong một vị trí có quyền lực.”

“Thưa thầy, hắn muốn công việc nào ở trường?

Hắn muốn dạy môn gì?”

Không biết bằng cách nào, nhưng Harry biết câu trả lời trước khi cụ Dumbledore đáp.

“Phòng chống nghệ thuật hắc ám.

Môn đó lúc ấy do một vị giáo sư cao tuổi tên là Galatea Merythought giảng dạy, vị này dạy ở trường Hogwarts gần năm mươi năm.

Vậy là Voldermort đến làm việc ở tiệm Borgin và Burkes và tất cả thầy cô giáo đã từng ngưỡng mộ hắn đều nói chuyện đó thiệt là phí phạm, một pháp sư trẻ xuất sắc như thế mà làm việc trong một cửa hàng.

Tuy nhiên, Voldermort không chỉ là một nhân viên giúp việc.

Lịch sự, đẹp trai và khôn khéo, chẳng bao lâu sau hắn được giao cho những công việc đặc biệt thuộc loại chỉ tồn tại ở một nơi như tiệm Borgin và Burkes , công việc mà, như con biết đó, Harry, chuyên về những đồ vật mang đặc tính có quyền lực hùng mạnh và khác thường.

Voldermort được mấy người hùn hạp cửa hàng phái đi thuyết phục người ta chịu từ bỏ những đồ vật quí giá của mình để đem bán và hắn, theo những thông tin thầy thu thập được, đã làm việc này giỏi một cách khác thường.”

“Con dám cá là hắn giỏi,” Harry nói, không kềm được.

“Ừ, khá giỏi,” cụ Dumbledore nói, với một nụ cười thoảng qua.

“Và bây giờ là lúc chúng ta nghe gia tinh Hokey, gia tinh này làm việc cho một phù thủy rất già và rất giàu có tên là Hepzibah Smith.”

Cụ Dumbledore dùng cây đũa phép gõ lên cái chai, nút chai bật ra và thầy rót mớ ký ức xoắn tít vô trong cái Tưởng Ký, vừa làm vừa nói, “Mời con đi trước, Harry.”

Harry đứng dậy và một lần nữa nghiêng mình bên trên cái chất gợn sóng óng ánh bạc trong cái chậu đá.

Nó rơi xuyên vô khoảng hư vô tăm tối và đáp xuống một phòng khách trước mặt một bà già cực kỳ mập mạp, đội một bộ tóc giả vàng hoe được trao chuốt tỉ mỉ và mặc một bộ áo váy màu hồng rực rỡ bay dập dờn quanh thân, tạo cho bà dáng vẻ của một cái bánh kem đang chảy.

Bà đang nhìn vào một cái gương nhỏ cẩn châu báu và đánh phấn hồng lên đôi má đã đỏ thắm bằng một bông thoa phấn khổng lồ, trong khi mụ gia tinh già nhất và nhỏ thó nhất mà Harry từng thấy, cố nhét đôi chân ú na ú núc của bà vào đôi dép bằng vải sa tanh chật căng.

“Nhanh lên, Hokey!”

Bà Hepzibah nói giọng hống hách.

“Chàng nói chàng sẽ đến lúc bốn giờ, chỉ còn vài phút nữa thôi và chàng thì chưa bao giờ trễ!”

Bà cất kỹ cái bông thoa phấn trong khi mụ gia tinh sắp xếp đồ đạc cho ngăn nắp.

Đầu mụ gia tinh cao không tới chỗ ngồi của cái ghế bà Hepzibah và lớp da nhăn nheo mắng trên thân hình của mụ giống y như tấm vải trải giường nhàu nát mà mụ khoắc kiểu xếp nếp như tấm áo choàng thời La Mã cổ.

“Trông ta thế nào?”

Bà Hepzibah hỏi, vừa quay đầu lại ngắm những góc cạnh khác nhau của gương mặt bà trong tấm gương.

“Thưa cô, dễ thương lắm,” mụ Hokey nói the thé.

Harry chỉ có thể cho rằng trong giao kèo của Hokey hẳn có ghi rằng mụ phải nói dối qua kẽ răng khi được hỏi câu này, bởi vì theo ý kiến nó thì Hepzibah Smith còn khuya mới gọi là dễ thương.

Tiếng chuôn cửa reo leng keng và cả nữ chủ nhân lẫn mụ gia tinh đều nhảy dựng lên.

“Nhanh lên, nhanh lên, chàng đến rồi, Hokey!”

Bà Hepzibah kêu lên và mụ gia tinh hối hả ra khỏi phòng, căn phòng bày biện đầy nhóc đồ đạc đến nỗi thiệt khó mà biết được làm thế nào một ai đó có thể len lỏi đi giữa chúng mà không xô đổ ít nhất một tá món: nào là những cái tủ chất đầy những hộp sơn mài nho nhỏ, những cái kệ xếp đầy những cuốn sách khắc nổi chữ vàng, những cái giá đỡ những quả địa cầu với quả cầu thiên văn và nhiều cây kiểng mọc xum xuê trong mấy cái chậu bằng đồng.

Thực ra, căn phòng trông như một sự pha tạp giữa một tiệm đồ cổ Pháp thuật và một nhà kiếng trồng cây.

Mụ gia tinh quay trở lại nội trong vài phút, theo sau là một chàng trai trẻ cao ráo mà Harry chẳng có chút khó khăn nào để nhận ra là Voldermort.

Hắn mặc đơn giản một bồ đồ đen; tóc có hơi dài hơn thuở còn trong trường một tí và hai má hõm sâu, nhưng tất cả đều thích hợp với hắn; trông hắn đẹp trai hơn bao giờ hết.

Hắn cẩn thận đi qua căn phòng chật ních với một phong thái cho thấy hắn đã từng đến đây nhiều lần trước và hắn cúi mình thấp xuống để quệt môi lên bàn tay bé bỏng mập ù của bà Hepzibah.

“Tôi có mang hoa đến cho cô,” hắn nói nhỏ nhẹ, đưa ra một bó hoa hồng không biết lấy ở đâu.

“Chàng trai quá quắt này, cậu không nên làm như thế!”

Bà già Hepzibah eo éo nói, mặc dù Harry để ý thấy bà đã để sẵn một cái bình không trên cái bàn con gần nhất.

“Cậu quả là làm hư gái già này, Tom à... ngồi xuống, ngồi xuống đây nào...

Hokey đâu?

À...”

Mụ gia tinh xẹt trở vào phòng, bưng theo một cái mâm đựng mấy cái bánh be bé mà mụ đặt cạnh cùi chỏ của nữ chủ nhân.

“Tự nhiên nhé, Tom,” bà Hepzibah nói, “tôi biết cậu thích bánh của tôi lắm.

Thế nào, cậu khỏe không?

Trông cậu xanh xao quá.

Họ bắt cậu làm việc quá độ ở cái tiệm đó, tôi đã nói thế cả trăm lần rồi...”

Voldermort mỉm cười một cách máy móc và bà Hepzibah thì mỉm cười điệu đàng.

“Sao, cậu vin cái cớ nào để đến thăm tôi lần này hở?”

Bà hỏi, chớp chớp hàng mi.

“Ông Burke muốn đưa ra một giá cao hơn cho bộ áo giáp do yêu tinh chế tạo,” Voldermort nói.

“Năm trăm Galleon, ông ấy thấy giá đó cao hơn giá phải chăng...”

“Ấy, ấy, đừng gấp gáp như vậy, kẻo tôi sẽ ngỡ là cậu chỉ đến đây vì mấy thứ đồ đạc rẻ tiền của tôi thôi!” bà Hepzibah phụng phịu trề môi.

“Tôi được lệnh đến đây vì mấy thứ đó,” Voldermort khẽ nói.

“Thưa cô, tôi chỉ là một trợ lý nghèo, phải làm những gì mình được sai bảo.

Ông Burke muốn tôi hỏi thăm...”

“Ôi, ông Burke, xù đi!” bà Hepzibah nói, phẩy bàn tay bé bỏng.

“Tôi muốn cho cậu xem một món đồ mà tôi chưa bao giờ cho ông Burke xem!

Cậu giữ bí mật được không, Tom?

Cậu hứa với tôi là cậu sẽ không kể lại cho ông Burke biết là tôi có cái đó chứ?

Ông ta sẽ chẳng bao giờ để cho tôi được yên nếu biết là tôi đã cho cậu xem và tôi sẽ không bán cho ông Burke hay bất cứ ai!

Nhưng mà cậu, Tom à, cậu sẽ đánh giá cao món đồ này do lịch sử của nó, chứ không phải căn cứ vào số lượng Galleon mà cậu có thể kiếm được nhờ bán nó.”

“Tôi sẽ vui sướng được xem bất cứ thứ gì cô Hepzibah cho tôi xem,” Voldermort nhẹ nhàng nói và bà Hepzibah lại khúc khích cười kiểu con gái mới lớn.

“Tôi sẽ bảo Hokey đem nó ra giùm...

Hokey, mi ở đâu?

Ta muốn cho cậu Riddle đây xem báu vật đẹp nhất của ta..

Thực ra, cứ đem hết cả hai ra, nhân tiện mi lấy cái đó...”

“Thưa cô đây ạ,” mụ gia tinh éo éo nói và Harry thấy hai cái hộp da, cái này đè lên cái kia, di chuyển ngang qua căn phòng như thể chúng tự di động, mặc dù nó biết mụ gia tinh tí hon đang đội hai cái hộp trên đầu đi giữa những cái bàn, những nệm gác chân, những ghế đẩu.

“Xem này,” bà Hepzibah vui vẻ nói, vừa nhấc hai cái hộp ra khỏi đầu mụ gia tinh, đặt chúng lên đùi bà và chuẩn bị mở cái trên cùng ra, “tôi tin là cậu sẽ thích cái này, Tom à...

Ôi, nếu gia đình tôi mà biết tôi cho cậu xem... họ thèm thuồng mong muốn được lấy những thứ này biết bao!”

Bà mở nắp hộp ra.

Harry nhích tới trước một tí để nhìn cho rõ hơn và thấy một cái gì giống như chiếc cúp bằng vàng có hai cái quai chạm khắc tỉ mỉ.

“Tôi không biết cậu có biết cái này là gì không, Tom?

Cầm nó lên đi, nhìn cho kỹ vào nhé!” bà Hepzibah thì thầm và Voldermort đưa bàn tay với những ngón tay dài nhấc cái cúp ra khỏi đám bao bì bằng lụa êm ấm.

Harry nghĩ nó nhìn thấy một tia sáng đỏ lóe lên trong đôi mắt đen cảu Voldermort.

Vẻ thèm muốn của hắn được phản chiếu một cách tò mò trên gương mặt bà Hepzibah , chỉ khác là đôi mắt nhỏ hí của bà thì đắm đuối nhìn nét đẹp trai của Voldermort.

“Một gia huy,” Voldermort lẩm bẩm, vừa xem xét những chữ khắc trên cái cúp.

“Vậy ra đây là...?”

”...di vật của Helga Hufflepuff, như cậu biết quá rõ, anh chàng thông minh ạ!“ bà Hepzibah nói, vừa chồm tới trước làm nổi lên một tiếng phựt của dây nịt áo trong bị đứt, mà thực ra bà chồm tới là để bẹo cái má hóp của Voldermort.

“Chứ tôi chưa nói cho cậu biết là tôi thuộc hàng con cháu họ xa sao?

Cái này đã được lưu truyền trong gia đình qua bao nhiêu năm.

Dễ thương ghê há?

Và nó được coi là có đủ thứ quyền phép nữa, nhưng tôi chưa bao giờ thử qua hết các quyền phpes đó, tôi chỉ giữ nó cho được an toàn và xinh xắn ở đây...”

Bà gỡ cái cúp ra khỏi những ngón tay dài của Voldermort và đặt lại nó vào trong hộp trở lại; bà quá chăm chú vào việc đặt cẩn thận cái cúp vào đúng vị trid cũ của nó nên không để ý thấy một thoáng mờ ám lướt qua gương mặt Voldermort khi cái cúp được cất đi.

“Và bây giờ,” bà Hepzibah vui vẻ nói, “Hokey đâu?

À phải, mi ở đây...

đem cái này cất đi nào, Hokey.”

Mụ gia tinh ngoan ngoãn đội cái cúp trong cái hộp đi và bà Hepzibah hướng sự chú ý vào cái hộp dẹp hơn trên đùi bà.

“Tôi tin cậu sẽ thích cái này thậm chí hơn cái kia đấy, Tom ạ,” bà thì thầm.

“Chồm tới thêm một tí nào, chàng trai yêu quí, để cậu có thể thấy...

Dĩ nhiên, ông Burke biết tôi có món này, tôi đã mua nó của ông ta mà và tôi dám nói là ông ta muốn lấy lại nó một khi tôi khuất núi...”

Bà đẩy nhẹ cái móc khóa bạc chạm trổ tinh vi và cái nắp hộp nhẹ nhàng bật mở.

Trên nền nhung đỏ thắm êm mượt là một mặt dây chuyền hình trái tim bằng vàng y.

Voldermort đưa tay ra, lần này không đợi mời và cầm lấy cái đó giơ lên ánh sáng, chăm chú nhìn.

“Huy hiệu Sly,” hắn lặng lẽ nói, khi ánh sáng chờn vờn trên một chữ S uốn éo như rắn và được chạm trổ tinh xảo.

“Đúng vậy!” bà Hepzibah nói, tỏ ra hớn hở trước ánh mắt sững sờ của Voldermort đăm đăm nhìn cái mặt dây chuyền.

“Tôi đã phải trả cho cái này cả núi vàng, nhưng tôi không thể bỏ qua, một vật thực sự quí giá như món đồ này tất phải có trong bộ sưu tập của tôi.

Ông Burke đã mua cái này, hiển nhiên từ một mụ đàn bà rách rưới dường như đã đánh cắp nó những chẳng biết gì đến giá trị thực sự của nó...”

“Cậu có sao không đấy, Tom à?”

“Ờ không,” Voldermort nói nhỏ.

“Không, tôi vẫn khỏe...”

“Tôi nghĩ... nhưng tôi cho là có lẽ do ánh sáng tạo ra vẻ như vậy thôi...” bà Hepzibah nói, có vẻ khó chịu và Harry đoán bà ta cũng đã nhìn thấy tia sáng đỏ đã nhất thời hiện ra trong mắt Voldermort.

“Đây, Hokey, đem cất đi và khóa lại cẩn thận... dùng bùa chú thông thường...”

“Đến lúc đi rồi, Harry,” Cụ Dumbledore khẽ nói và khi mụ gia tinh đeo nơ nhỏng nhảnh đội mấy cái hộp đi, cụ Dumbledore nắm lấy cánh tay Harry một lần nữa và cả hai cũng bay lên xuyên qua cõi lãng quên và trở lại văn phòng cụ.

“Bà Hepzibah Smith chết hai ngày sau cái cảnh nho nhỏ ấy,” cụ Dumbledore nói, ngồi trở lại chỗ của cụ và ra dấu bảo Harry cũng nên làm tương tự.

“Gia tinh Hokey bị Bộ kết án về tội ngộ sát nữ chủ nhân do bỏ nhầm thuốc độc vào ly ca cao để bà ta uống vào buổi tối.”

“Không lẽ nào!”

Harry giận dữ nói.

“Thầy thấy chúng ta có cùng suy nghĩ,” cụ Dumbledore nói.

“Chắc chắn, có nhiều điểm tương đồng giữa cái chết này và cái chết của những người trong gia đình Riddle.

Trong cả hai trường hợp, đều có người nào đó bị đổ tội, người nào đó có trí nhớ rõ ràng về việc gây án...”

“Rồi Hokey thú tội?”

“Mụ nhớ là đã bỏ cái gì đó vô trong ly ca cao của nữ chủ nhân, cái gì đó hóa ra không phải là đường, mà là một chất độc chết người ít được biết đến,” cụ Dumbledore nói.

“Người ta kết luận là mụ gia tinh không cố ý làm điều đó, nhưng vì đã quá già và lẩn thẩn...”

“Voldermort đã điều chỉnh trí nhớ của mụ ấy, cũng giống như hắn đã làm như vậy đối với Morfin!”

“Đúng, đó cũng là kết luận của thầy,” cụ Dumbledore nói.

“Và cũng giống như trường hợp Morfin, Bộ đã bị lái về hướng nghi ngờ Hokey...”

“...bởi vì mụ là một gia tinh,” Harry nói.

Hiếm khi nào nó thấy cảm thông bằng lúc này đối với cái H.V.Đ.C.Q.L.G.T mà Hermione đã thành lập.

“Chính xác,” cụ Dumbledore nói.

“Mụ đã già, mụ thú nhận đã pha ly ca cao đó và không ai ở Bộ mất công điều tra xa hơn.

Giống như trường hợp của Morfin, khi thầy lần ra được dấu vết mụ gai tinh và tìm cách thu hồi cái ký ức này thì mụ cũng gần như tàn đời rồi.

Nhưng ký ức của mụ, dĩ nhiên, không chứng tỏ điều gì ngoại trừ chuyện Voldermort có biết đến sự tồn tại của cái cúp và cái mặt dây chuyền.

Khi Hokey bị kết án rồi, gia đình của bà Hepzibah mới nhận ra rằng hai trong số những món của cải quí giá nhất của bà ta đã biến mất.

Mất một thời gian khá lâu họ mới khẳng định được điều này, bởi vì bà ta có rất nhiều chỗ giấu của, luôn luôn bo bo canh giữ bộ sưu tập của mình.

Nhưng trước khi họ chắc chắn rằng cái cúp và cái mặt dây chuyền đều đã biến mất, thì người giúp việc ở tiệm Borgin và Burkes, chàng trai trẻ vẫn thường xuyên thăm viếng bà Hepzibah và quyến rũ bà rất tài tình, đã xin nghỉ việc và biến mất.

Chủ của hắn không biết hắn đã đi đâu; họ cũng chỉ ngạc nhiên như những người khác về sự biến mất của hắn.

Và đó là lần cuối cùng người ta nghe hay thấy Rom Riddle, trong một thời gian rất dài.

Bây giờ,” cụ Dumbledore nói, “nếu không phiền con, Harry, thầy muốn tạm dừng một lần nữa để lưu ý con đến một số điểm trong câu chuyện của chúng ta.

Voldermort đã phạm tội sát nhân một lần nữa; thầy không biết liệu đó có phải là tội ác đầu tiên kể từ khi hắn giết cả gia định Riddle hay không, nhưng thầy nghĩ vậy.

Lần này, như con đã thấy, hắn không giết người để trả thù nữa mà để chiếm đoạt.

Hắn muốn có hai món cổ ngoạn huyền thoại mà bà già mrr muội khốn khổ ấy đã cho hắn xem.

Giống như hắn đã từng cướp đoạt của những đứa trẻ khác trong viện mồ côi, cũng giống như hắn đã cướp chiếc nhẫn của cậu Morfin của hắn, vậy là giờ đây hắn đã đào tẩu với cái mặt dây chuyền và cái cúp của Hepzibah.”

“Nhưng,” Harry cau mày nói, “có vẻ điên rồ...

Liều mọi thứ, bỏ cả việc làm, chỉ vì những cái đó...”

“Có lẽ điên rồ đối với con chứ không điên chút nào đối với Voldermort,” cụ Dumbledore nói.

“Thầy hy vọng khi nào tới lúc thì con sẽ hiểu những đồ vật cụ thể đó có ý nghĩa như thế nào đối với hắn, Harry à, nhưng con phải thừa nhận là cũng không khó tưởng tượng lắm, rằng hắn coi cái mặt dây chuyền, ít nhất là cái đó, phải là của hắn.”

“Cái mặt dây chuyền thì có thể,” Harry nói, “nhưng tại sao hắn lại lấy cả cái cúp?”

“Đó là di vật của một sáng lập viên khác của trường Hogwarts,” cụ Dumbledore nói.

“Thầy nghĩ hắn vẫn còn nặng lòng với ngôi trường và hắn không thể nào cưỡng được lòng ham muốn một di vật siêu phàm đến khó tin nổi trong lịch sử trường Hogwarts.

Thầy nghĩ còn có những lý do khác nữa... thầy hy vọng có thể trình bày với con khi tới đúng thời điểm.

Và bây giờ đến cái ký ức cuối cùng trong bộ sưu tập mà thầy phải cho con xem, ít nhất là cho đến khi con xoay xở lấy được ký ức của giáo sư Slughorn cho chúng ta.

Ký ức này cách chuyện xảy ra trong ký của Hokey mười năm, trong suốt mười năm đó chúng ta chỉ có thể giả đoán những gì Chúa tể Voldermort đã làm...”

Harry đứng dậy một lần nữa khi cụ Dumbledore đổ hết cái ký ức cuối cùng vô trong chậu Tưởng Ký.

“Thưa thầy đó là ký ức của ai vậy?”

Nó hỏi.

“Của thầy,” cụ Dumbledore nói.

Và Harry lặn theo cụ Dumbledore sâu vô khối bạc sóng sánh, đáp xuống đúng cái văn phòng mà hai thầy trò vừa mới rời khỏi.

Kìa con phượng hoàng Fawkes đang sung sướng ngủ vùi trên nhánh cây và kia đằng sau cái bàn làm việc là cụ Dumbledore, trông rất giống cụ Dumbledore đang đứng bên cạnh Harry lúc này, nhưng cả hai bàn tay cụ còn lành lặn, không bị thương tổn và gương mặt của cụ có lẽ ít nếp nhăn hơn.

Điểm khác biệt giữa văn phòng này với văn phòng thời hiện tại là trong quá khứ thì có tuyết rơi; những đốm tuyết li ti màu lam nhạt bay lơ lửng trong bóng đêm bên ngoài cửa sổ và đọng lại thành lớp dày trên gờ cửa sổ bên ngoài.

Cụ Dumbledore trẻ hơn này dường như đang chờ đợi điều gì đó và quả đúng như vậy, chỉ một lát sau khi hai thầy trò đến, có một tiếng gõ lên cánh cửa và cụ Dumbledore nói, “Mời vào.”

Harry thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc bị nén lại vội vàng.

Voldermort đã bước vào phòng.

Nét mặt hắn không phải là nét mặt mà Harry đã nhìn thấy hiện ra từ cái vạc khổng lồ cách đây gần hai năm: nó chưa hẳn đã giống rắn, đôi mắt chưa đỏ tía, bộ mặt chưa trơ trơ như mặt nạ, nhưng hắn đã không còn là chàng Tom Riddle đẹp trai.

Dường như mặt hắn đã bị phỏng hay bị làm nhòa đi; Nét mặt hắn căng như bôi sáp và méo mó quái đản, tròng trắng của đôi mắt giờ đây mang cái nhìn khát máu thường xuyên, mặc dù đôi con ngươi chưa bị chẻ đôi như sau này theo Harry biết.

Hắn đang mặc một tấm áo chùng đen dài và mặt hắn nhợt nhạt như tuyết đọng long lanh trên vai.

Cụ Dumbledore ngồi sau bàn làm việc không tỏ vẻ ngạc nhiên gì cả.

Hiển nhiên cuộc viếng thăm này đã có hẹn trước.

“Chào em, Tom,” cụ Dumbledore nói, vẻ dễ dãi.

“Em không ngồi sao?”

“Cám ơn,” Voldermort nói và hắn ngồi xuống cái ghế mà cụ Dumbledore phác tay chỉ - đúng cái ghế mà chỉ thoáng nhìn Harry cũng nhận ra là cái ghế nó vừa để trống trong thời hiện tại.

“Tôi nghe ông đã trở thành hiệu trưởng,” hắn nói và giọng hắn hơi cao hơn và lạnh hơn trước đây.

“Một sự lựa chọn xứng đáng.”

“Thầy mừng là em tán thành,” cụ Dumbledore mỉm cười nói.

“Thầy mời em uống nước nhé?”

“Thế thì tốt lắm,” Voldermort nói.

“Tôi vừa làm một hành trình dài.”

Cụ Dumbledore đứng dậy và lướt tới bên cái tủ mà thầy để cái Tưởng ký, nhưng thời đó lại để đầy những chai rượu.

Sau khi đưa cho Voldermort một ly rượu và tự rót cho mình một ly, thầy trở lại chỗ ngồi sau bàn làm việc.

“Vậy là, Tom... nhân lý do gì mà thầy có cái hân hạnh này?”

Voldermort không trả lời ngay, mà chỉ hớp từng ngụm rượu.

“Người ta không còn gọi tôi là “Tom nữa,” hắn nói.

“Bây giờ tôi được biết đến như...”

“Thầy có biết danh hiệu mà người ta gọi em,” cụ Dumbledore nói, vẫn mỉm cười thoải mái.

“Nhưng thầy e là đối với thầy, em vẫn luôn là Tom Riddle.

Đó là một trong những điều dễ sùng nhất với các ông giáo già.

Thầy e rằng họ không bao giờ quên hẳn thuở ban đầu trẻ trung của công việc mà họ đã gánh vác cả đời.”

Cụ nâng ly lên như thể chúc tụng Voldermort, gương mặt hắn vẫn trơ trơ không biểu cảm.

Tuy nhiên, Harry cảm thấy không khí trong phòng thay đổi một cách tinh tế: việc cụ Dumbledore từ chối xưng hô bằng cái tên Voldermort tự chọn là sự từ chối việc Voldermort ra điều kiện cho buổi gặp mặt và Harry có thể nói Voldermort cũng hiểu như vậy.

“Tôi ngạc nhiên là ông còn ở lại đây lâu như vậy,” Voldermort nói sau một lúc im lặng.

“Tôi luôn luôn không hiểu tại sao một pháp sư như ông lại không bao giờ ước ao rời khỏi trường.”

“À,” cụ Dumbledore nói, vẫn mỉm cười, “đối với một pháp sư như bản thân thầy, thì không có điều gì quan trọng hơn truyền lưu những kỹ năng cổ điển, giúp sức mài giũa những khối óc non nớt.

Nếu thầy nhó đúng, có lần em cũng đã nhìn thấy sức hấp dẫn của nghề giáo.”

“Tôi vẫn còn thấy,” Voldermort nói.

“Tôi chỉ không hiểu tại sao ông – người rất thường được Bộ hỏi xin ý kiến và người đã hai lần, tôi nghĩ vậy, được mời ra giữ chức Bộ trưởng...”

“Thực ra thì ba lần, nếu tính đến lần mới đây,” cụ Dumbledore nói.

“Nhưng công việc ở Bộ chưa bao giờ cuốn hút thầy như một sự nghiệp.

Một điểm nữa mà thầy nghĩ là thầy trò ta giống nhau.”

Voldermort khẽ nghiêng đầu, không mỉm cười và hớp thêm một ngụm rượu.

Cụ Dumbledore không phá vỡ sự im lặng lan tỏa giữa hai người trong lúc này, mà, với một vẻ chờ đợi thoải mái, cụ chờ cho Voldermort nói trước.

Một lúc sau hắn nói, “Tôi đã trở về, có lẽ trễ hơn thời gian giáo sư Dippet mong đợi... nhưng đằng nào thì tôi cũng đã trở về để một lần nữa thỉnh cầu cái điều mà có lần ông nói tôi còn quá trẻ không thể làm được.

Tôi đến gặp để thình cầu ông cho phép tôi trở về tòa lâu đài, để dạy.

Tôi nghĩ ông ắt biết là tôi đã trải nhiều và cũng đã làm được nhiều kể từ khi rời khỏi nơi này.

Tôi có thể chỉ ra và dạy bảo học sinh của ông những điều mà chúng không thể tiếp thu được từ bất cứ một pháp sư nào khác.”

Cụ Dumbledore cân nhắc nhìn Voldermort qua cái ly rượu của cụ một lúc rồi nói.

“Phải, thầy chắc chắn biết là em đã trải nhiều và làm nhiều kể từ khi em rời trường,” cụ nói nhỏ nhẹ.

“Tiếng đồn về việc làm của em đã lan tới trường, Tom à.

Thầy phải xin lỗi là thầy chỉ tin chừng một nửa.”

Vẻ mặt Voldermort vẫn dửng dưng khi hắn nói, “Sự vĩ đại gây ra đố kỵ, đố kỵ sinh ra hận thù, hận thù đẻ ra dối trá.

Ông ắt biết điều này chứ, ông Dumbledore.”

“Em gọi những gì em đã làm là “vĩ đại” à?”

Cụ Dumbledore tế nhị nói.

“Đương nhiên, ” Voldermort nói và mắt hắn dường như cháy đỏ lên.

“Tôi đã thí nghiệm, tôi đã đẩy những giới hạn của Pháp thuật ra xa hơn, có lẽ, xa hơn mức mà chúng từng đạt tới trước đây... ”

“...chỉ một số loại pháp thuật thôi,” cụ Dumbledore nhẹ nhàng sửa sai hắn.

“Một số thôi.

Còn một số khác, em vẫn còn... xin lỗi em nhé... dốt nát một cách đáng thương.”

Lần đầu tiên, Voldermort mỉm cười.

Một nụ cười hiểm độc, mắt long lên, mặt căng ra, trông đáng sợ hơn cả giận dữ.

“Lại lý lẽ cũ mèm,” hắn nói nhỏ.

“Nhưng ông Dumbledore à, tôi chưa hề tìm thấy điều gì treent hế giới này chứng minh tuyên ngôn nổi tiếng của ông rằng tình thương yêu mạnh hơn bất cứ loại Pháp thuật nào.”

“Hay tại em tìm kiếm nó không đúng chỗ,” cụ Dumbledore giả thuyết.

“Hừ, vậy thì, còn chỗ nào tốt hơn chỗ này, trường Hogwarts, để tôi bắt đầu lại cuộc tùm kiếm mới?”

Voldermort nói.

“Ông có cho tôi trở về không?

Ông có cho tôi chia sẻ kiến thức của tôi với học sinh của ông không?

Tôi giao bản thân tôi và tài năng của tôi cho ông để tùy nghi sử dụng.

Tôi là người dưới quyền điều khiển của ông.”

Cụ Dumbledore nhướn đôi mày lên.

“Và những người dưới quyền điều khiển của em sẽ ra sao?

Điều gì sẽ xảy ra cho những kẻ tự gọi mình là – hoặc được đồn đại là – Tử thần thực tử?”

Harry có thể nói Voldermort đã không ngờ cụ Dumbledore biết đến cái tên gọi đó; Nó nhìn thấy mắt của Voldermort một lần nữa nhá lên tia sáng đỏ và cái lỗ mũi tựa như cái khe nở hểnh ra.

Sau một lúc lặng thinh, hắn nói, “Tôi chắc chắn là các bạn tôi sẽ hoạt động được mà không cần tôi.”

“Thầy mừng khi nghe em coi họ là bạn bè,” cụ Dumbledore nói.

“Thầy đã có cảm tưởng họ thuộc hàng tôi tớ của em thì đúng hơn.”

“Ông nhầm rồi.”

Voldermort nói.

“Vậy nếu tối nay thầy đi tới quán Đầu Heo, thầy sẽ không gặp một nhóm trong đám bạn bè của em – nào là Nott, Rosier, Muldber, Dolohov – đang ngồi đợi em quay trở lại với chúng chứ?

Quả là những người bạn tận tụy, cùng em đi xa đến thế trong một đêm tuyết rơi, chỉ để chúc em may mắn trong cố gắng đạt được một chỗ dạy học.”

Chắc chắn là sự hiểu biết tỉ mỉ của cụ Dumbledore về những kẻ cùng đi với Voldermort đã không được hắn vui vẻ đón nhận; Tuy nhiên, hắn trả đũa gần như ngay tức thì.

“Ông quả là luôn luôn thông suốt mọi sự, ông Dumbledore à.”

“Ồ không, chỉ cần thân thiết với những người pha rượu ở các quán địa phương thôi,” cụ Dumbledore nhẹ nhàng nói.

“Bây giờ, Tom à...”

Cụ Dumbledore đặt cái ly đã cạn rượu của cụ lên bàn và ngồi thẳng lưng trên ghế, mấy đầu ngón tay chụm vào nhau trong một điệu bộ rất đặc biệt.

“Chúng ta hãy thẳng thắn nói với nhau.

Tại sao đêm nay em đến đây, với bọn tay sai quanh quẩn, để thỉnh cầu một công việc mà cả thầy và em đều biết là em không muốn làm?”

Voldermort tỏ ra ngạc nhiên một cách lạnh nhạt.

“Một công việc mà tôi không muốn làm à?

Ngược lại ông Dumbledore à, tôi muốn làm công việc đó lắm.”

“À, em muốn trở lại trường Hogwarts, nhưng em đâu có tha thiết dạy học hơn thuở em mười tám tuổi.

Em muốn gì hở, Tom?

Tại sao không thử một lafn đưa ra lời yêu cầu thẳng thắn?”

Voldermort nhếch mép cười nhạo.

“Nếu ông không muốn cho tôi một chỗ dạy...”

“Dĩ nhiên là thầy không cho,” cụ Dumbledore nói.

“Và thầy không hề nghĩ em trông mong thầy sẽ cho.

Dù sao đi nữa, em đã đến đây, em đã yêu cầu, em ắt hẳn có một mục đích.”

Voldermort đứng dậy.

Trông hắn ít giống Tom Riddle hơn bao giờ hết, mặt hắn dày lên cơn thịnh nộ.

“Đây là lời cuối cùng của ông à?”

“Đúng vậy,” cụ Dumbledore nói, cụ cũng đứng dậy.

“Vậy thì ông và tôi không còn gì để nói với nhau nữa.”

“Đúng, không còn gì,” cụ Dumbledore nói và một nỗi buồn mênh mông lan tỏa trên gương mặt cụ.

“Đã qua lâu rồi cái thời thầy có thể làm em sợ bằng cách đốt tủ áo của em và buộc em phải bồi thường lại những hành động vô đạo đức của em.

Nhưng thầy ước gì thầy có thể, Tom à...

Thầy ước gì thầy có thể...”

Trong một giây, Harry suýt hét lên lời cảnh giác không cần thiết: nó chắc chắn là Voldermort thọc tay vào túi áo nắm lấy cây đũa phép; nhưng khoảnh khắc đó qua liền, Voldermort đã quay ra, cánh cửa đang đóng lại và hắn đã đi mất.

Harry cảm thấy bàn tay của cụ Dumbledore lại nắm chặt cánh tay nó và chỉ một giây sau hai thầy trò đã lại đứng hầu như cũng một chỗ trước đó, nhưng không có tuyết đọng trên gờ cửa sổ và bàn tay cụ Dumbledore một lần nữa trông như chết rồi, khô quắt thâm đen.

“Thưa thầy, tại sao?”

Harry nói ngay, vừa ngước lên nhìn vào gương mặt cụ Dumbledore.

“Tại sao hắn trở về?

Thầy có bao giờ tìm ra lý do không?”

“Thầy có những ý nghĩ,” cụ Dumbledore nói, “nhưng chỉ là ý nghĩ thôi.”

“Thưa thầy, ý nghĩ gì ạ?”

“Thầy sẽ nói cho con biết, Harry à, khi con đã lấy được ký ức của giáo sư Slughorn,” cụ Dumbledore nói.

“Khi con có được mảnh cuối cùng của trò chơi lắp hình, thầy hy vọng, mọi thứ sẽ rõ ràng...

đối với cả con lẫn thầy.”

Harry vẫn còn sôi sục sự tò mò và mặc dù cụ Dumbledore đã đi ra cửa và mở sẵn cho nó, nó vẫn không chịu đi ngay.

“Thưa thầy, có phải hắn lại muốn dạy môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám không?

Hắn không hề nói...”

“À, hắn chắc chắn là muốn dạy môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám,” cụ Dumbledore nói.

“Hậu quả của cuộc gặp gỡ vừa rồi đã chứng minh điều đó.

Con thấy đó, kể từ khi thầy từ chối thỉnh cầu của Voldermort, chúng ta không bao giờ có thể giữa được một giáo sư dạy môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám lâu hơn một năm.”
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q6 - 21: Phòng bất khả tri


Phòng bất khả tri

Harry suy nghĩ nát óc nguyên một tuần lễ sau đó để tìm ra cách thuyết phục được Thầy Slughorn giao bản ký ức thật, nhưng đầu óc nó vẫn chẳng nảy ra cái gì đáng được coi là sáng kiến cả, nên nó đành phải làm cái mà dạo này nó làm hơi thường xuyên mỗi khi không biết phải làm sao, ấy là: nghiền ngẫm cuốn sách Độc dược, hy vọng Hoàng tử nguệch ngoạc điều gì đó có ích bên lề sách, như chàng đã làm bao phen trước đó.

“Bồ không kiếm được gì trong đó đâu,” Hermione kiên quyết nói vào một buổi tối chủ nhật.

“Đừng gây sự, Hermione”.

Harry nói, “Nếu không nhờ Hoàng tử, giờ đây Ron chẳng còn được ngồi đây đâu.”

“Nó sẽ vẫn còn ngồi đây nếu bồ chịu nghe lời Thầy Snape từ hồi năm thứ nhất,” Hermione sẵng giọng nói.

Harry phớt lờ Hermione.

Nó vừa tìm được một câu thần chú, (Cắt sâu mãi mãi!), được viết tháu bên dưới một dòng chữ rất đáng ngẫm nghĩ, “Dành cho kẻ thù”.

Nó ngứa ngáy muốn thử ngay, nhưng nghĩ tốt nhất là đừng làm trước mặt Hermione.

Nó bèn lén xếp góc trang sách để làm dấu.

Tụi nó đang ngồi bên lò sưởi trong phòng sinh hoạt chung; những đứa khác còn thức ddwwdu là đám bạn học năm thứ sáu.

Trước đó, khi tụi nó trở về sau bữa ăn tối và trông thấy một thông báo mới trên bảng tin về ngày kiểm tra Độn thổ, đứa nào cũng xôn xao hồi hộp.

Những ai đủ mười bảy tuổi trước hay đúng vào ngày kiểm tra đầu tiên, ngày hăm mốt tháng tư, sẽ có thể chọn ghi danh theo học những buổi luyện tập thêm được tổ chức ở làng Hogsmeade (có sự giám sát nghiêm ngặt).

Ron phát hoảng khi đọc thông báo này; nó vẫn chưa biết cách độn thổ và lo sốt vó là nó chưa sẵn sàng để dự kỳ kiểm tra.

Hermione đã độn thổ được hai lần nên hơi tự tin hơn một chút, còn Harry thì bốn tháng nữa mới đủ mười bảy tuổi, nên dù có sẵn sàng hay chưa thì cũng không thể dự thi.

“Nhưng ít ra thì bồ cũng có thể độn thổ!”

Ron nói giọng căng thẳng.

“Bồ sẽ chẳng gặp khó khăn gì vào tháng bảy tới!”

“Mình chỉ mới làm được một lần,” Harry nhắc Ron; trong buổi học trước nó rốt cuộc cũng tìm được cách biến mất rồi hiện hình trở lại bên trong cái vòng cảu nó.

Vì đã lãng phí quá nhiều thì giờ giãi bày ra miệng nỗi lo lắng về chuyện Độn thổ, nên Ron giờ đây vẫn còn phải khốn khổ làm cho xong bài luận văn khó độc địa của Thầy Snape, trong khi Harry và Hermione đã xong từ đời tám hoánh.

Harry hoàn toàn yên chí sẽ bị điểm thấp bài này bởi vì nó không đồng ý với Thầy Snape về cách thức tốt nhất để khắc phục bọn giám ngục, nhưng nó cóc cần: bây giờ đối với nó ký ức cuat Thầy Slughorn mới là điều quan trọng nhất.

“mình nói cho bồ biết nhé, cái gã Hoàng tử ngu xuẩn đó sẽ không thể giúp được gì bồ trong chuyện này đâu, Harry!”

Hermione nói, giọng to hơn.

“Chỉ có một cách ép buộc người ta làm điều bồ muốn, ấy là ếm bùa Độc đoán, mà chuyện đó thì bất hợp pháp...”

“Ừ, biết rồi, khổ lắm, cám ơn.”

Harry nói, không rời mắt khỏi cuốn sách.

“Chính vì vậy mà mình đang kiếm cách khác, một độc dược hay thần chú nào đó...”

“Bồ đang đi trật hướng rồi,” Hermione nói.

“Thầy Dum nói là chỉ có bồ mới lấy được ký ức đó.

Điều đó tức có nghĩa là bồ có thể thuyết phục Thầy Slughorn bằng một cách mà những người khác không thể làm được.

Cách đó nhất định không phải là lén bỏ thuốc mê cho thầy, vì ai cũng có thể làm việc đó...”

“Từ “tham chiến” đánh vần như thế nào nhỉ?”

Ron vừa nói vừa lắc mạnh cây viết lông ngỗng vừa trợn mắt nhìn tờ giấy da của nó.

“Đâu phải T-H-U-M...”

“Không, trật rồi,” Hermione nói, kéo bài luận văn của Ron về phía mình.

“Và từ “điểm” cũng không phải bắt đầu bằng L-I-M...

Bồ đang dùng loại viết gì vậy?”

“Một trong những cây viết Tự-kiểm-tra-chính-tả của anh Fred và George, nhưng mình nghĩ có lẽ bùa hết linh rồi.”

“Ừ, chắc vậy,” Hermione nói, chỉ vào cái đề bài luận văn của Ron, “bởi vì đề bài thầy ra cho tụi mình là cách ứng phó với bọn giám ngục, chứ không phải bọn Dám-đục và mình cũng không nhớ là bồ có khi nào đổi tên thành ra “Roonil Wazlib” không.”

“Đâu có!”

Ron nói, kinh hoàng trợn mắt ngó tờ giấy da.

“Đừng có nói là mình phải viết lại hết cả bài quỉ sứ này nghen!”

“Không sao, tụi mình có thể sửa lại,” Hermione nói, kéo bài luận văn về phía cô bé và rút cây đũa phép ra.

“Mình thương bồ quá, Hermione,” Ron nói, ngồi thừ xuống ghế, mệt mỏi dụi mắt.

Hermione hơi ửng hồng nhưng chỉ nói, “Đừng có để cho Lavender nghe bồ nói vậy.”

“Không,” Ron nói với hai bàn tay của nó.

“Hay là mình cứ để cho cô ta nghe, may ra cô ta cho mình de.”

“Tại sao bồ không cho cô ta de nếu bồ muốn gnhir chơi?”

Harry hỏi.

“Bồ chưa từng bỏ rơi ai, đúng không?”

Ron nói.

“Bồ với Cho chỉ...”

“Ừ, đại khái là chia tay thôi,” Harry nói.

“Ước gì mình với Lavender cũng chia tay,” Ron rầu rĩ nói và ngắm Hermione lặng lẽ gõ đầu cây đũa phép của cô bé lên từng chữ trật chính tả để những chữ này tự sửa cho đúng trên trang giấy.

“Nhưng mình càng gợi ý chia tay thì cô ta lại càng bám chặt hơn.

Chẳng khác gì mình bị bồ bịch với một con bạch tuộc khổng lồ.”

Hai mươi phút sau, Hermione đưa trả lại bài luận văn của Ron và nói, “Xong.”

“cám ơn vô cùng,” Ron nói.

“Mình có thể mượn cây viết cảu bồ để làm nốt phần kết luận không?”

Cho tới lúc ấy Harry vẫn chưa tìm thấy cái gì xài được trong những ghi chép của Hoàng tưt Lai, nó bèn ngước nhìn quanh và nhận thấy chỉ còn ba đứa nó trong phòng sinh hoạt chung; Seamus vừa mới đi về phòng ngủ, sau khi nguyền rủa Thầy Snape và bài luận văn thầy cho.

Những aam thanh duy nhất còn vang lên là tiếng lửa reo tí tách trong lò sưởi và tiếng Ron hí hoáy viết ddaonj văn cuối cùng về bọn giám ngục bằng cây viết lông ngỗng của Hermione.

Harry vừa gấp lại cuốn sách của Hoàng tử Lai, còn đang ngáp thì...

Cạch!

Hermione vuột miệng một tiếng rú nho nhỏ; Ron làm văng mực khắp bài luận văn mới ráo mực của nó và Harry kêu lên,

“KreacHermione!”

Con gia tinh cúi gập mình lại và hầu chuyện với mấy ngón chân xương xẩu của nó.

“Chủ nhân nói người muốn nghe báo cáo thường xuyên về những gì cậu malfoy đang làm, cho nên KreacHermione đến để...”

Cạch!

Dobby xuất hiện bên cạnh KreacHermione, đội lệch cái nón bình tích.

“Thưa cậu Harry Potter, Dobby cũng có giúp đỡ!”

Con gia tinh thứ hai léo nhéo nói, vừa liếc cho KreacHermione một ánh mắt bực bội.

“Và KreacHermione nên nói cho Dobby biết khi nào hắn đến gặp Harry Potter để hai bên cùng làm bản tường trình!”

“Cái gì đây?”

Hermione hỏi, vẫn còn kinh ngạc về sự xuất hiện thình lình của hai con gia tinh.

“Chuyện gì vậy, Harry?”

Harry ngần ngừ trước khi trả lời, bởi vì nó chưa nói với Hermione về việc sai KreacHermione và Dobby theo đuôi Malfoy; gia tinh luôn luôn là một đề tại nhạy cảm đối với Hermione.

“À... chúng theo dõi Malfoy giùm mình,” nó nói.

“Cả ngày và đêm,” KreacHermione làu bàu.

“thưa cậu Harry Potter, Dobby đã không ngủ cả một tuần lễ!”

Dobby tự hào nói, vừa lắc lư tại chỗ.

Hermione có vẻ phẫn nộ.

“Bạn không hề ngủ sao, Dobby?

Nhưng mà, Harry, chắc chắn bồ đâu có biểu bạn ấy đừng...”

“Không, dĩ nhiên mình không hề,” Harry nói nhanh.

“Dobby, bạn cứ ngủ, nhé?

Nhưng có ai phát hiện được điều gì không?”

Nó hấp tấp hỏi thêm trước khi Hermione có thể can thiệp một lần nữa.

“Cậu Malfoy di chuyển với dáng vẻ quí phái xứng đáng dòng dõi thuần huyết,” KreacHermione khào khào nói ngay.

“nét mặt của cậu ấy gợi nhớ đến vẻ tao nhã của nữ chủ nhân và phong thái của cậu ấy là...”

“Draco Malfoy là một thằng bé hư hỏng!”

Dobby ré lên giận dữ.

“Một thằng bé hư hỏng đã...

đã...”

Toàn thân Dobby run lên, từ cái quai bình tích đội trên đầu cho tới đầu ngón chân mang vớ và nó chạy ào tới bên lò sưởi, như thể sắp nhào đầu vô đó.

Chuyện này không đến nỗi bất ngờ đối với Harry, nó vội ôm ngang hông con gia tinh và giữ thật chặt.

Dobby vùng vẫy vài giây rồi rũ ra.

“Cám ơn cậu Harry Potter,” con gia tinh thở hổn hển.

“Dobby vẫn còn cảm thấy khổ sở khi nói xấu chủ nhân cũ.”

Harry thả nó ra; Dobby sửa cái bình tích cho ngay lại và dõng dạc nói với KreacHermione, “Nhưng KreacHermione nên biết là Draco Malfoy không phải là một chủ nhân tốt của một gia tinh!”

“Ừ, tụi này không cần nghe chuyện mi phải lòng Malfoy,” Harry bảo KreacHermione .

“Chúng ta cứ đốt giai đoạn đi nhanh tới chỗ hắn đang thực sự làm gì.”

KreacHermione lại cúi gập xuống, rồi nói.

“Cậu Malfoy ăn trong Đại sảnh đường, cậu ngủ trong phòng ngủ ở tầng hầm, cậu học trong những lớp khác nhau...”

Harry ngắt lời KreacHermione, “Dobby, bạn nói tôi nghe đi.

Hắn có đi tới chỗ nào mà lẽ ra hắn không nên đến không?”

“Thưa cậu Harry Potter,” Dobby nói eo éo, hai con mắt tròn to tổ bố của nó lấp lánh ánh lửa, “Dobby không thể phát hiện thằng nhãi Malfoy vi phạm nội qui, nhưng hắn rất giỏi che giấu hành tung.

Hắn đã đi lên lầu bảy rất thường xuyên với những học sinh khác nhau, mấy đứa đó canh gác cho nó khi nó đi vô...”

“Phòng theo yêu cầu!”

Harry nói, vừa tự đập mạnh cuốn Bào chế thuốc cao cấp lên trán.

Hermione và Ron trố mắt nhìn Harry.

“Đó là nơi nó đã trốn vô!

Đó là nơi nó đang làm… làm cái gì đó mà nó đang làm!

Và mình cá chắc đó là lý do nó biến mất trên tấm bản đồ...

Thử suy nghĩ xem.

Mình chưa hề thấy Phòng theo yêu cầu hiện trên bản đồ!”

“Có lẽ những tay Đạo tặc không hề biết có căn phòng đó,” Ron nói.

“Mình nghĩ đó là một khía cạnh huyền ảo của căn phòng.”

Hermione nói.

“Nếu bồ cần nó đừng hiển thị trên bản đồ thì nó sẽ không hiển thị.”

“Dobby, bạn có tìm cách vô được trong đó để coi Malfoy làm gì không?”

Harry sốt ruột hỏi.

“Không, thưa cậu Harry Potter, không thể được,” Dobby nói.

“Được, làm được chứ,” Harry nói ngay.

“Malfoy đã đột nhập được Tổng hành dinh của tụi mình ở đó vào năm ngoái, thì mình cũng sẽ có thể lẻn vô đó để do thám nó, không hề gì cả.”

“Nhưng mình không nghĩ bồ sẽ làm được, Harry à,” Hermione nói chậm rãi.

“Kỳ đó Malfoy biết chính xác cách sử dụng căn phòng, chắc vậy, bởi vì con nhỏ Marietta đã ba hoa tiết lộ.

Hắn yêu cầu căn phòng trở thành Tổng hành dinh ĐQD, thế là căn phòng hiện ra.

Nhưng bây giờ bồ không biết căn phòng trở thành cái gì khi Malfoy đi vào đó, thì bồ không thể biết phải yêu cầu nó biến thành cái gì.”

“Sẽ có cách giải quyết được điều đó,” Harry nói đại.

“Dobby, mi đã làm xuất sắc.”

“KreacHermione cũng giỏi nữa,” Hermione tử tế nói; nhưng KreacHermione đã chẳng tỏ vẻ biết ơn tí tẹo nào thì chớ, lại trượn tròn hai con mắt đỏ ké tổ tường lên và gầm gừ với cái trần nhà, “Con Máu Bùn nói chuyện với KreacHermione, KreacHermione sẽ làm bộ không nghe gì hết…”

“Cút đi!”

Harry nạt nó và KreacHermione cúi gập người chào lần cuối rồi độn thổ mất tiêu.

“Bạn cũng nên về và ráng ngủ một chút, Dobby à.”

“Thưa cậu Harry Potter, cám ơn cậu!”

Dobby vui vẻ ré lên và nó cũng biến mất.

“Hay biết chừng nào!”

Harry phấn khởi nói, khi quay qua Ron và Hermione ngay lúc căn phòng không còn bóng gia tinh nữa.

“Chúng ta đã biết được Malfoy đi đâu!

Bây giờ chúng ta đã bắt giò được nó rồi!”

“Ừ, hay lắm,” Ron ủ rũ nói, nó đang cố gắng chùi đám mực chèm nhẹp trên cái mà mới đây là một bài luận văn gần xong.

Hermione lại kéo bài luận về phía cô bé và bắt đầu dùng cây đũa phép rút mực ra khỏi tờ giấy da.

“Nhưng còn cái chuyện nó đi lên trên đó với những học sinh khác nhau nghĩa là sao?”

Hermione nói.

“Có bao nhiêu đứa trong cái đám ấy?

Bồ không nghĩ là nó để cho quá nhiều đứa biết chuyện nó đang làm chứ?”

“Ừ, chuyện đó lạ thất,” Harry nói, cau mày lại.

“Mình nghe nó bảo thằng Crabbe là chuyện nó đang làm không mắc mớ gì đến thằng Crabbe cả... vậy thì nó nói gì với cả những... những...” giọng Harry nhỏ dần đi; nó nhìn trừng trừng vào ngọn lửa.

“Quỉ thần ơi, sao mà mình ngu quá mạng,” nó nói nhỏ.

“Quá rõ ràng, chứ còn gì nữa?

Dưới tầng hầm có cả một thùng khổng lồ thuốc đó...

Trong suốt buổi học đó bất cứ lúc nào nó cũng có thể thuổng một mớ...”

“Thuổng cái gì?”

Ron hỏi.

“Đa quả dịch.

Nó đã ăn cắp một mớ Đa quả dịch mà Thầy Slughorn cho tụi mình xem trong bữa học Độc dược đầu tiên...

Không thể có nhiều học sinh khác nhau đứng canh cho Malfoy...

Chỉ có Crabbe và Goyle như mọi khi...

Ừ, tất cả đều khớp!”

Harry nói, rồi đứng bật dậy và bắt đầu đi qua đi lại phía trước lò sưởi.

“Hai đứa đó ngu vừa đủ để làm những gì Malfoy sai bảo dù cho nó không thèm nói cho chúng biết nó đang làm gì, nhưng nó không muốn hai đứa kia bị bắt gặp thập thò bên ngoài Phòng theo yêu cầu, vậy là nó bắt chúng uống Đa quả dịch để cho giống người khác...

Hai đứa con gái mà mình thấy đi cùng với nó cái bữa nó bỏ xem trận Quid... hì hì!

Chính là Crabbe và Goyle!”

“Có phải bồ cũng định nói,” Hermione nói bằng giọng cố im đi, “là cô bé mà mình sửa giùm cái cân...?”

“Đúng, dĩ nhiên!”

Harry nói to, vừa nhìn Hermione chòng chọc.

“Dĩ nhiên rồi!

Malfoy ắt hẳn đang ở bên trong căn phòng lúc đó, cho nên cô bé đó – mà mình đang nói về cái gì vậy? – thằng ấy làm rớt cái cân để báo cho Malfoy đừng đi ra, bởi vì có người đang ở đó!

Và con bé làm rớt chai nòng nọc nữa!

Tụi mình đã đi ngang qua nó bao nhiêu phen mà không nhận ra!”

“Nó bắt Crabbe và Goyle biến hình thành con gái à?”

Ron cười hô hố.

“Quỷ thần ơi... hèn gì trông hai đứa nó dạo này chẳng được vui vẻ cho lắm.

Mình ngạc nhiên là hai đứa nó không biểu Malfoy cút xéo cho rồi.”

“Chà, tụi nó không dám đâu.

Dám không nào, nếu nó chìa cho tụi kia coi Dấu hiệu hắc ám của nó?”

Harry nói.

“Hừm... cái Dấu hiệu hắc ám đó ai biết có tồn tại hay không,” Hermione ngờ vự nói, vừa cuộn tròn bài luận văn đã ráo mực của Ron lại trước khi có thêm chuyện gì làm bài văn khốn đốn thêm, rồi đưa cho Ron.

“Rồi sẽ thấy,” Harry nói một cách tin tưởng.

“Ừ, rồi sẽ thấy,” Hermione nói, vừa đứng lên và vươn vai.

“Nhưng mà, Harry à, nghe đây trước khi bồ mất hết bình tĩnh.

Mình vẫn nghĩ là bồ sẽ không thể vô được Phòng theo yêu cầu nếu trước tiên không biết cái gì ở trong đó.

Và mình cũng nghĩ là bồ không nên quên...” cô nàng khoác cái túi xách lên vai và nhìn nó một cách nghiêm trang, “rằng điều mà bồ nên tập trung vào là lấy cho được cái ký ức của Thầy Slughorn.

Ngủ ngon nhé.”

Harry nhìn cô nàng bỏ đi, hơi quạu.

Khi cánh cửa lên phòng ngủ nữ sinh đã được đóng lại sau lưng Hermione, Harry quay lại nói với Ron.

“bồ nghĩ sao?”

“Ước gì mình có thể độn thổ giống một con gia tinh,” Ron nói, vẫn đăm đăm nhìn vào chỗ mà Dobby vừa biến mất.

“Mình sẽ cầm chắc trong tay kỳ thi độn thổ.”

Đêm đó Harry ngủ không yên giắc.

Nó nằm thao thức trong một khoảng thời gian mà nó cảm giác là mấy tiếng đồng hồ, lòng cứ thắc mắc hoài là Malfoy đang sử dụng Phòng theo yêu cầu như thế nào và nó, Harry, nó sẽ thấy gì khi đi vào đó ngày hôm sau, bởi vì Hermione có nói gì đi nữa, Harry vẫn tin chắc là nếu Malfoy đã có thể thấy Tổng hành dinh của ĐQD, thì nó cũng sẽ có thể thấy được cái gì đó của Malfoy.

Đó có thể là cái gì nhỉ?

Một địa điểm hội họp?

Một chỗ để lẩn trốn?

Một kho chứa đồ?

Một xưởng chế tạo?

Đầu óc Harry làm việc căng thẳng và cuối cùng khi nó lăn ra ngủ, những giấc chiêm bao của nó cứ bị gián đoạn và xáo trộn bởi hình ảnh của Malfoy, thằng này biến ra Thầy Slughorn, rồi Thầy Slughorn lại biến thành Thầy Snape...

Vào bữa điểm tâm sáng hôm sau, Harry ở trong trạng thái chờ đợi bồn chồn; nó có một tiết trống trước buổi học Phòng chống nghệ thuật hắc ám và nó quyết định dành tiết trống này để tìm cách vào Phòng theo yêu cầu.

Hermione cahnwgr tỏ ra chút hứng thú gì cái kế hoạch đột nhập mà nó thì thầm với cô bé, điều này khiến nó quạu hết sức, bởi vì nó nghĩ Hermione đã có thể giúp ddwwocj nhiều nếu cô bé muốn giúp.

”này,“ nó nói khẽ trong lúc chồm tới trước và đặt một bàn tay lên tờ Nhật báo Tiên Tri mà Hermione vừa gỡ ra khỏi chân một bưu cú, để không cho cô bé mở tờ báo ra che kín mặt.

“Mình không hề quên vụ Thầy Slughorn, nhưng mình chẳng có một chút gợi ý nào về cách lấy được cái ký ức của thầy, vậy tại sao trong khi chờ bộ não của mình nảy ra sáng kiến gì đó, mình không thử tìm hiểu xem Malfoy đang làm gì?”

“Mình đã nói với bồ rồi, bồ cần phải thuyết phục Thầy Slughorn,” Hermione nói.

“Chuyện đó không thể đánh lừa hay trù ếm thầy mà đạt được, chứ nếu không thì thầy Dum đã có thể làm như vậy trong một giây là xong.

Thay vì làm chuyện tào lao bên ngoài căn Phòng theo yêu cầu...” cô nàng giật tờ Nhật báo Tiên Tri ra khỏi bàn tay Harry và mở ra nhìn vào trang nhất, “...bồ nên đi tìm Thầy Slughorn và thử làm động lòng nhân hậu của thầy.

”Có ai mà tụi mình biết...?”

Ron hỏi, trong khi Hermione liếc qua các dòng tít.

“Có!”

Hermione nói, khiến cả Harry và Ron mắc nghẹn lúc đang ăn món điểm tâm.

“Nhưng không sao, lão không chết...

Đó là lão Mundungus, lão bị bắt và tống vô nhà ngục Azkaban!

Chuyện gì đó liên quan đến hiện thân thành một m binh trong lúc trộm cắp có âm mưu và một người nào đó tên là Octavius Pepper đã biến mất.

Ôi, thiệt là kinh khủng, một thằng bé chín tuổi đã bị bắt vì đã tìm cách giết cha mẹ nó, họ cho là thằng bé bị ếm bùa Độc đoán.”

Tụi nó ăn cho xong bữa điểm tâm trong im lặng.

Hermione đi ngay đến lớp Cổ tự Runes; Ron đi về phòng sinh hoạt chung, ở đó nó tiếp tục làm nốt phần kết luận cho bài luận văn về bọn giám ngục nộp Thầy Snape và Harry thì đi tới hành lang trong tầng bảy và đoạn nối dài của bức tường đối diện tấm thảm thêu của Barnabas xứ Barmy dạy bọn quỉ khổng lồ múa ba lê.

Khi đã tìm được một hành lang trống vắng rồi, Harry trùm tấm Áo khoác tàng hình lên, nhưng nó cũng chẳng cần bận tâm mà chi.

Lúc tới nơi, nó thấy nơi đó vắng ngắt.

Harry không chắc khả năng nó vô được căn phòng đó sẽ dễ dàng hơn lúc Malfoy đang ở trong hay đang ở ngoài, nhưng ít nhất thì cố gắng lần đầu của nó cũng không bị sự có mặt cảu Grabbe hay Goyle dưới lớp một con bé mười một tuổi làm cho phức tạp thêm.

Nó nhắm mắt lại khi đi đến gần chỗ giấu cánh cửa vào Phòng theo yêu cầu.

Nó biết nó phải làm gì; Năm ngoái nó đã rất thành công về chuyện này.

Tập trung tất cả sức lực, nó nghĩ, “Tôi cần việc mà Malfoy đang làm trong này...

Tôi cần thấy cái việc mà Malfoy đang làm trong này..

Tôi cần thấy cái việc mà Malfoy đang làm trong này...”

Nó đã đi ngang qua cánh cửa ba lần; rồi, tim đánh thình thình vì hồi hộp, nó mở mắt ra và nhìn thẳng trước mặt, nhưng nó vẫn chỉ thấy phần nối dài của bức tường trơ trụi.

Nó bước tới trước và đẩy thử.

Bức tường đá vẫn kiên cố và không nhượng bộ.

“Được thôi,” Harry nói to.

“Được thôi...

Mình đã nghĩ trật...”

Nó ngẫm nghĩ một lúc rồi lại bắt đầu bước, mắt nhắm, hết sức tập trung tư tưởng.

“Tôi cần thấy được chỗ mà Malfoy cứ bí mật lui tới...

Tôi cần thấy được chỗ mà Malfoy cứ bí mật lui tới...

Tôi cần thấy được chỗ mà Malfoy cứ bí mật lui tới...”

Sau ba lần đi qua, nó mở mắt ra háo hức hy vọng.

Chẳng có cửa nẻo gì cả.

“Ôi, hiện ra đi mà,” nó quạu quọ nói với bức tường.

“Chỉ thị quá rõ ràng rồi còn gì.

Được rồi.”

Nó suy nghĩ muốn bể óc thêm nhiều phút nữa trước khi tiếp tục sải bước một lần nữa.

“Tôi cần căn phòng trở thành cái chỗ đã trở thành chỗ cho Draco Malfoy...”

Khi đi xong ba vòng, nó không mở mắt ra ngay tức thì; nó ráng hết sức lắng nghe thiệt kỹ, như thể nó có thể nghe tiếng cánh cửa vụt hiện ra.

Nhưng mà, nó chẳng nghe được gì cả, ngoại trừ tiếng chim hót xa ca ở ngoài sân.

Nó mwor mắt ra.

Chẳng có cửa nẻo gì cả.

Harry chửi thề.

Ai đó rú lên.

Nó ngoảnh lại thfi thấy một đám học sinh năm thứ nhất đang chạy vòng trở lại góc tường, có vẻ như tụi nhóc tưởng đâu vừa gặp phải một con ma chửi bậy đặc biệt.

Harry cố thử mọi biến thể của câu “Tôi cần thấy việc mà Draco Malfoy đang làm bên trong căn phòng,” mà nó có thể nghĩ ra trong suốt một tiếng đồng hồ, cuối giờ nó đành phải thừa nhận là Hermione có lẽ có lý: căn phòng đơn giản là khoog chịu mở ra cho nó.

Nản chí và bực bội, nó bỏ đi đến lớp học Phòng chống nghệ thuật hắc ám, vừa đi vừa kéo tấm Áo khoác tàng hình ra khỏi người và nhét vô túi xách.

“Potter, trò lại trễ nữa,” Thầy Snape lạnh lùng nói, khi Harry vội vã đi vào căn phòng học được chiếu sáng bằng ánh nến.

“Trừ nhà Gryffindor mwoif điểm.”

Harry cau có nhìn Thầy Snape khi quăng mình ngồi xuống bên cạnh Ron.

Một nửa lớp học vẫn còn đang đứng, vừa lấy sách vở ra vừa bày biện đồ đạc của chúng; nó đâu có trễ nải gì hơn mấy đứa khác hè.

“Trước khi chúng ta bắt đầu, ta muốn các trò nộp bài luận văn về Giám ngục,” thầy Snape nói, vừa vẫy đại cây đũa phép, khiến cho hai mươi lăm cuộn giấy da bay vèo lên không trung rồi đáp xuống thành một xấp ngay ngắn trên bàn thầy.

“Và ta hy vọng giùm các trò là những bài này sẽ khá hơn cái mớ vớ vẩn về phản kháng lại lời Nguyền Độc đoán mà ta đã phải chịu đựng.

Bây giờ, phiền tất cả các trò mở sách tới trang...

Cái gì đấy, cậu Finnigan?”

“Thưa thầy,” Seamus nói, “Con đang thắc mắc, làm sao người ta phân biệt được một m binh và một con ma?

Bởi vì trên báo Tiên tri có đăng cái gì đó về một m binh...”

“Không, không phân biệt được,” Thầy Snape nói với giọng chán ngán.

“Nhưng thưa thầy, con nghe người ta nói...”

“Nếu cậu thực sự đọc bài bóa vừa nói đến, cậu Finnigan à, cậu sẽ biết rằng kẻ bị gọi là m binh đó chẳng qua là một tên trộm hôi hám bẻm mép có tên là Mundungus Fletcher.”

“Mình tin là thầy Snape và lão Mundungus cùng một phe,” Harry thì thầm với Ron và Hermione.

“Chứ không thì ông ấy đâu có bực mình chuyện lão Mundungus để bị tóm...”

“Nhưng Potter dường như có khối chuyện để nói về đề tài này,” Thầy Snape nói, thình lình chỉ về phía cuối lớp, đôi mắt đen của thầy nhìn chằm chằm vào Harry.

“Chúng ta hãy hỏi Potter làm thế nào chúng ta phân biệt được một m binh với một con ma.”

Cả lớp ngoảnh lại nhìn Harry, nó vội vàng cố nhwos lại những gì thầy Dum đã nói với nó trong cái đêm hai thầy trò đi thăm Thầy Slughorn.

“Ơ...

Dạ... ma thì trong suốt...” nó nói.

“À, giỏi lắm,” Thầy Snape ngắt lời nó, môi thầy cong lên.

“Đúng vậy, thật dễ thấy là gần sau năm trời học tập Pháp thuật kể như uổng công đối với trò, Potter à.

“Ma thì trong suốt.””

Pansy Parkinson bật ra tiếng cười hí hí chói tai.

Nhiều đứa khác cũng cười khì.

Harry hít sâu vào và tiếp tục bình tĩnh nói cho dù ruột gan nó đang sôi lên.

“Dạ, ma thì trong suốt, nhưng m binh là những xác chết, thưa thầy đúng không ạ?

Do vậy chúng rắn chắc...”

“Một dứa con nít năm tuổi cũng có thể nói được như vậy,” Thầy Snape châm chọc.

“m binh là một cái xác chết đã bị thần chú của một pháp sư Hắc ám kích thích cho hoạt động trở lại.

Nó không sống lại, nó chỉ được dùng như một con rối hành động theo mệnh lệnh của pháp sư đó.

Một con ma, ta tin rằng tất cả các trò lúc này đã biết, đó là dấu vết còn lại của một linh hồn đã rời khỏi thế gian và dĩ nhiên, như Potter đã khôn ngoan nói cho chúng ta biết, ma thì trong suốt.”

“Dạ, điều Harry nói hết sức giúp ích cho tụi con phân biệt được hai thứ đó!”

Ron nói.

“Khi tụi con giáp mặt một m binh trong một hẻm tối, tụi con sẽ nhìn kỹ coi nó có rắn chắ không, chưa tụi con đâu có thể hỏi, “Xin lỗi, mi có phải là dấu vết của một linh hồn vừa rời khỏi thế gian không?”

Một trận cười rộ lên, nhưng bị ánh mắt của thầy Snape dập tắt ngay.

“Trừ nhà Gryffindor mười điểm nữa,” Thầy Snape nói.

“Ta không trông mong nơi trò điều gì rắc rối hơn, Ronald Weasley ạ, một chàng trai rắn chắc đến nỗi không thể nào độn thổ ddwwocj hai phân trong phòng.”

“Đừng,” Hermione thì thầm, túm lấy cánh tay Harry khi nó tức giận mở miệng toan nói.

“Chẳng ích lợi gì đâu, bồ sẽ bị cấm túc một phen nữa cho coi, bỏ qua đi!”

“Bây giờ các trò mở sách đến trang hai trăm mười ba,” Thầy Snape nói, hơi khủng khỉnh, “và đọc hai đoạn đầu về Lời nguyền hành hạ.”

Rọn rất ơ thờ trong suốt buổi học.

Khi chuông reo hết giờ, Lavender bắt kịp Ron và Harry (Hermione bí mật tan biến khỏi tầm nhìn khi thấy Lavender tới gần) và chửi rủa Thầy Snape không tiếc lời về chuyện thầy châm chọc chuyện độn thổ của Ron, nhưng điều đó dường như chỉ khiến Ron thêm quạu và nó rẫy cô nàng ra bằng cách rẽ vô nhà vệ sinh nam với Harry.

“Nhưng mà Thầy Snape nói đúng, chứ gì nữa?”

Ron nói sau khi đăm đăm nhìn vào cái gương bể chừng một hai phút.

“Mình không biết có đáng cho mình đi thi không.

Mình không thể nào hiểu nổi cách độn thổ.”

“Bồ có lẽ chỉ cần học thêm những buổi phụ đạo thực hành ở Hogsmeade để coi bồ làm được tới đâu,” Harry nói một cách phải chăng.

“Dù sao thì thực hành ở Hogsmeade cũng thú vị hơn là trong một cái vòng ngu xuẩn.

Nếu đến lúc đó mà bồ vẫn không... bồ biết đấy... giỏi như bồ mong muốn, thì bồ có thể xin hoãn kỳ thi, đợi đến mùa hè cũng thi với mình luôn thể...

Ê Myrtle, đây là nhà vệ sinh nam mà!”

Bóng ma của một cô gái vừa hiện lên từ một cái bồn cầu trong một buồng cầu tiêu phía sau lưng tụi nó và bây giờ đang lơ lửng trôi giữa không trung, ngó chòng chọc xuống tụi nó qua đôi mắt kiếng dày cui.

“Ôi,” con ma rầu rĩ nói.

“Thì ra là hai anh.”

“Chứ chị tưởng là ai ?”

Ron nói, vừa nhìn con ma trong gương.

“Không ai hết,” Myrtle nói, đăm chiêu nặn một cái mụn dưới cằm.

“Anh ấy nói sẽ trở lại đây gặp em, nhưng rồi anh nói anh ghé vô và cũng thăm em…” con ma nhìn kỹ Harry, “…mà em thì không được gặp anh bao nhiêu tháng trời rồi.

Em đã hiểu rằng đừng nên trông mong gì ở tụi con trai.”

“Tôi tưởng chị ở trong nhà vệ sinh nữ chứ ?”

Harry nói, nó đã cẩn thận tránh xa chỗ đó mấy năm trời nay.

“Thì em ở đó,” con ma nói, kèm theo một cái nhún vai hờn dỗi nhè nhẹ, “Nhưng như vậy đâu có nghĩa là em không thể đến thăm những chỗ khác.

Có lần em đã ghé thăm anh ở buồng vệ sinh của anh, còn nhớ không?”

“Rất rõ,” Harry nói.

“Nhưng em nghĩ anh ấy thích em,” con ma than thở.

“Có lẽ nếu hai anh đi ra thì anh ấy sẽ quay trở lại.

Tụi này có nhiều điểm chung lắm.

Em chắc anh ấy cũng cảm thấy như vậy.”

Và con ma nhìn ra phía cửa tràn trề hy vọng.

“Khi chị nói tụi chị có nhiều điểm chung,” Ron nói, lúc này giọng nó nghe có vẻ vui, “có phải ý chị nói là anh ta cũng ở trong cái ống con hình chữ S dưới bồn cầu ?”

“Không,” Myrtle bướng bĩnh cãi lại, giọng của nó vang to trong buồng vệ sinh lát gạch cũ.

“Ý em nói là anh ấy nhạy cảm, cũng bị người ta ức hiếp và anh ấy cũng cảm thấy cô đơn, cũng không có ai để tâm tình, anh ấy cũng không sợ bộc lộ tình cảm và anh ấy cũng khóc nữa!”

“Có một nam sinh khóc ở đây hả ?”

Harry tò mò hỏi.

“Một thằng bé à ?”

“Bỏ qua đi!”

Myrtle nói, hai con mắt nhỏ xíu tèm lem của nó ngó chằm chằm Ron, anh chàng rõ ràng đang nhe răng cười.

“Em đã hứa với anh ấy là em sẽ không nói với ai hết, em sẽ đem theo bí mật của anh ấy xuống…”

“…xuống mồ hả, chắc là không há ?”

Ron nói kèm tiếng khịt mũi.

“Xuống cống thì có thể.”

Myrtle hú lên một tiếng giận điên lên được rồi lặn trở vô cái bồn cầu, khiến nước tràn ra miệng bồn chảy xuống sàn.

Myrtle khốn khổ dường như khiến Ron vui lại.

“Bồ nói đúng,” nó nói, vừa lẳng cái túi xách lên vai, “Mình sẽ học thêm những buổi thực hành phụ đạo ở làng Hogsmeade trước khi quyết định thi hay không.”

Vậy là cuối tuần sau đó Ron đi học cùng Hermione và những học sinh năm thứ sáu khác, những đứa đủ mười bảy tuổi để dự kỳ thi sắp diễn ra trong nửa tháng tới.

Harry cảm thấy hơi ganh tị khi nhìn tụi nó chuẩn bị đi vô làng; nó bỏ lỡ dịp đi xuống làng, mà hôm đó lại là một ngày xuân đặc biệt đẹp trời, một trong những ngày bầu trời quang đãng mà lâu lắm rồi tụi nó mới được nhìn thấy.

Tuy nhiên, nó đã quyết định dùng thời gian này để cố gắng một lần nữa tấn công Phòng theo yêu cầu.

Khi nó thổ lộ kế hoạch này với Ron và Hermione ở tiền sảnh, Hermione nói, “Bồ sẽ làm tốt hơn nếu bồ đi thẳng tới văn phòng của Thầy Slughorn và tìm cách lấy cái ký ức.”

“Mình đã và đang cố gắng !”

Harry nói gay gắt, mà điều đó hoàn toàn đúng.

Nó đã cố tình nấn ná lại sau mọi buổi học Độc dược của tuần qua để ddwwocj một mình trò chuyện với thầy, nhưng bậc thầy Độc dược luôn luôn rời khỏi căn hầm nhanh đến nỗi Harry không thể nào bắt được thầy.

Đã hai lần Harry đi tới văn phòng thầy và gõ cửa, nhưng không nhận được hồi âm nào, mặc dù trong lần thứ hai nó chắc chắn có nghe được âm thanh của một cái máy hát cũ bị đột ngột hãm lại.

“Thầy không muốn nói chuyện với mình mà Hermione!

Thầy có thể đoán ra mình đang cố gắng gặp riêng thầy một lẫn nữa và thầy sẽ không để chuyện đó xảy ra !”

“Thì bồ vẫn phải đeo đuổi công việc đó, đúng không ?”

Thầy Filch đang dùng cái Phép dò bí mật chọc chọc thúc thúc như mọi khi, hàng người ngắn ngủn đang sắp hàng chờ lọt qua sự kiểm tra của thầy Filch nhíc tới trước vài bwocs và Harry không trả lời, đề phòng trường hợp bị thầy giám thị nghe lóm.

Nó cầu chúc cho cả Ron lẫn Hermione được may mắn, rồi quay lại, trèo lên lại mấy bậc cầu thang đá và bất kể Hermione nói gì đi nữa, nó vẫn quyết tâm dành trọn một hay hai tiếng đồng hồ cho Phòng theo yêu cầu.

Khi đã đi khuất tiền sảnh, Harry rút tấm Bản đồ đạo tặc và tấm Áo khoác tàng hình ra khỏi túi xách.

Sau khi che giấu bản thân mình rồi, nó gõ lên tấm bản đồ, miệng lầm rầm, “tôi trang trọng thề là tôi đang mưu toan chuyện không ra gì,” và cẩn thận rà tấm bản đồ.

Vì lúc đó là sáng chủ nhật, hầu hết học sinh đều ở trong những phòng sinh hoạt chung của các nhà khác nhau, học sinh nhà Gryffindor thì ở trên một cái tháp, học sinh nhà Ravenclaw ở trên một cái tháp khác, học sinh nhà SlytHermionein thì ở trong một hầm ngục và học sinh nhà Hufflepuff thì ở trong tầng hầm gần nhà bếp.

Đó đây có một đứa lạc lõng đi vẩn vơ quanh thư viện hay lên một hành lang.

Có vài ba người ở ngoài sân và kìa Greogory Goyle đang ở trên hành lang tầng thứ bảy.

Chẳng có dấu hiệu gì của Phòng theo yêu cầu, nhưng Harry không lo lắng về chuyện đó ; nếu Goyle đang đứng canh gác ở bên ngoài thì căn phòng ắt mở cửa, dù cho tấm bản đồ có biết hay không.

Vì vậy nó phóng như bay lên cầu thang, chỉ giảm tốc độ khi đến được góc hành lang, bấy giờ nó bắt đầu bò, rất chậm, về phía cô bé hôm nọ đang nắm chặt cái cân bằng đồng nặng nề mà Hermione đã tử tế giúp gắn lại cách đây hai tuần lễ.

Nó đợi cho đến khi bò đến ngay phía sau cô bé mới thì thào, “Chào… em đẹp quá hén em ?”

Goyle hét lên một tiếng kinh hoàng, liệng cái cân lên không trung và phóng chạy đi, mất biến trước khi tiếng cân rớt xuống sàn thôi ngân vọng khắp hành lang.

Harry cười hể hả, quay lại thưởng ngoạn bức tường trống trơn, nó biết chắc Draco malfoy đang đứng đông cứng đằng sau bức tường đó, biết là có ai đó ở ngoài này, nhưng không dám xuất hiện.

Cảm giác dễ chịu nhất của Harry về công lực là lúc nó cố nhớ lại dạng khẩu lệnh nào mà nó chưa thử.

Nhưng tâm trạng tràn trề hy vọng này không kéo dài được lâu.

Nửa giờ sau, sau khi đã thử nhiều khẩu lệnh khác nhau để xem Malfoy đang làm gì, bức tường vẫn chỉ là bức tường không cửa như thường.

Harry cảm thấy nản lòng không thể tin nổi.

Malfoy có thể chỉ cách nó vài bước chân, vậy mà vẫn không có tới một thẻo bằng chứng nhỏ nhất nào về cái gì đó mà thằng này đang làm bên trong phòng.

Mất kiên nhẫn hoàn toàn, Harry chạy a vô bức tường đá cho nó một cái.

“Ối!”

Nó tưởng như nó gãy ngón chân rồi và khi nó nắm lấy mấy ngón chân đau mà nhảy lò cò, tấm Áo khoác tàng hình tuột khỏi người nó.

“Harry ?”

Nó quay phắt lại, trên một giò, nên té lăn cù.

Nó ngạc nhiên đến vuột kêu lên khi nhìn thấy cô Tonks đang đi về phía nó như thể cô thường xuyên đi rảo trên hành lang này.

“Chị làm gì ở đây ?”

Nó hỏi, lại té sụm xuống ; tại sao cô luôn bắt gặp nó lúc nó đang nằm lăn quay trên sàn ?

“Tôi đến gặp cụ Dum,” cô Tonks nói.

Harry nghĩ cô Tonks trông thiệt là khủng khiếp : gầy hơn mọi khi, mái tóc màu lông chuột của cô xõa rũ rượi.

“Văn phòng của thầy không phải ở đây,” Harry nói, “nó ở tuốt bên kia của tòa lâu đài, phía sau một cái máng xối có hình con thú đã…”

“Tôi biết,” cô Tonks nói.

“Cụ không có mặt ở đó.

Có vẻ như cụ lại đi vắng.”

“Thầy đi vắng à?”

Harry nói, vừa thận trọng thả ngón chân vị giập xuống sàn.

“Này… em đoán là chị không biết thầy đi đâu hả ?”

“Không,” cô Tonks nói.

“Chị muốn gặp thầy về chuyện gì ?”

“Không có gì đặc biệt,” cô Tonks nói, vừa vô thức dứt dứt cái tay áo của tấm áo chùng cô đang mặc.

“Tôi chỉ nghĩ là cụ có thể biết việc gì đang diễn ra.

Tôi nghe được khá nhiều chuyện đồn đại… người ta đang bị hại.”

“Dạ, em biết, chuyện đó đăng đầy trên báo,” Harry nói.

“Thằng nhóc đó tìm cách giết…”

“Tờ Tiên tri thường đưa tin chậm,” cô Tonks nói, cô không có vẻ gì lắng nghe nó.

“Dạo gần đây em không nhận được thư của ai trong Hội sao ?”

“Không ai trong Hội viết thư cho em nữa,” Harry nói, “từ khi chú Sirius…”

Nó thấy mắt cô Tonks đã đầy ngấn lệ.

“Em xin lỗi,” nó vụng về nói lí nhí.

“Ý em nói là… em cũng nhớ chú lắm.”

“Cái gì?”

Cô Tonks thẫn thờ, như thể cô không hề nghe nó nói.

“Thôi.

Tôi sẽ gặp lại em sau nhé, Harry.”

Và cô đột ngột quay lưng lại, đi trở xuống hành lang, để lại Harry chăm chú nhìn theo cô.

Khoảng chừng một phút sau hay cỡ đó, nó lại choàng tấm Áo khoác tàng hình lên và tiếp tục cố gắng đột nhập Phòng theo yêu cầu nhưng nó không còn đặt hết nhiệt tình vào việc đó nữa.

Cuối cùng, một cảm giác đói meo trong bao tử cộng với việc biết rằng Ron cùng Hermione sắp trở lại trường để ăn trưa, nó đành bỏ cuộc và bỏ cái hành lang lại cho Malfoy hy vọng Malfoy sẽ không ra khỏi nơi đó trong vài tiếng đồng hồ nữa vì quá sợ hãi.

Nó gặp Ron và Hermione trong Đại sảnh đường đang ăn được nửa bữa ăn trưa sớm.

“Mình làm được rồi...

ờ, đại khái vậy!”

Ron hăm hở nói với Harry khi vừa thấy bóng nó.

“Mình được giao cho độn thổ tới bên ngoài tiệm trà của bà Puddifoot và mình hơi vọt quá một tí, hiện ra ở gần Scrivenshafts, nhưng ít ra thì mình cũng đã di chuyển được!”

“Xịn lắm, Ron!”

Harry nói.

“Còn bồ thì sao, Hermione?”

“Ôi, hiển nhiên là cô nàng tuyệt hảo,” Ron nói, trước khi Hermione có thể trả lời.

“Điềm đạm, đoán điềm, đối đếm hay cái quỉ đờ đờ gì đó, đều tuyệt hảo… sau đó tất cả tụi này đi uống nước ở quán Ba cây chổi và bồ phải nghe gã Twycross huyên thuyên về cô nàng…

Mình sẽ ngạc nhiên nếu hắn không cầu hôn sớm…”

“Còn bồ thì sao?”

Hermione hỏi Harry, phớt lờ Ron.

“Lần này bồ có lên Phòng theo yêu cầu không?”

“Có,” Harry nói.

“Và thử đoán xem mình đã đụng ai trên đó?

Cô Tonks!”

“Cô Tonks hả?”

Ron và Hermione cùng lặp lại, coi bộ ngạc nhiên vô cùng.

“Ừ, cô ấy nói cô ấy đi thăm thầy Dum.”

“Nếu bồ muốn biết ý kiến mình thì đây,” Ron nói ngay sau khi Harry kể lại hết cuộc đối thoại với cô Tonks, “cô ấy hơi bị kiệt sức.

Mất tinh thần sau chuyện xảy ra ở Bộ.”

“Hơi lạ.”

Hermione nói, vì lý do nào đó, Hermione tỏ vẻ rất quan tâm.

“Lẽ ra cô ấy phải canh gác ngôi trường, tại sao cô bồng nhiên rời bỏ vị trí công tác để đến gặp thầy Dum khi thầy ấy thậm chí không có mặt ở đây?”

“Mình có một ý nghĩ,” Harry ngập ngừng nói.

Nó cảm thấy kỳ về việc nói ra điều đó; chuyện này thuộc lãnh địa của Hermione hơn là của nó.

“Mấy bồ có nghĩ là có thể cô ấy đã… mấy bồ biết đó… yêu chú Sirius không?”

Hermione trợn mắt ngó nó.

“Cái gì khiến cho bồ nói vậy?”

“Mình không biết,” Harry nhún vai, “nhưng cô ấy suýt khóc khi mình nhắc đến tên chú ấy và Thần hộ mệnh của cô ấy bây giờ là một con gì đó bốn chân bự chảng.

Mình không biết liệu đó có thể là… mấy bồ biết… chú ấy không.”

“Đó là một ý tưởng,” Hermione chậm rãi nói.

“Nhưng mình vẫn không biết tại sao cô ấy lại xông vào tòa lâu đài để tìm thầy Dum, nếu đó thực sự là lý do để cô ấy có mặt ở chỗ đấy.”

“Vậy là quay trở lại điều mình đã nói, đúng không?”

Ron nói, lúc này nó đang xúc khoai tây nghiền trút vô miệng.

“Cô ấy đã trở nên kỳ cục.

Mất tinh thần.”

Rồi nó nói với Harry với vẻ từng trải, “Phụ nữa mà, họ dễ nổi cơn lắm.”

“Vậy mà,” Hermione chấm dứt cơn trầm tư, “Mình ngờ là bồ sẽ không tìm ra một phụ nữ nào lại đi giận dỗi nửa tiếng đồng hồ chỉ vì bà Rosmerta không cười nổi mấy chuyện tiếu lâm về mụ phù thủy già, Người chữa thương và cơn cuồng thổi bay Mimbulus.”

Ron quắc mắt đổ quạu.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q6 - 22: Sau tang lễ


Sau tang lễ

Những khoảnh trời màu xanh rực rỡ đã bắt đầu hiện ra bên trên những tháp canh của tòa lâu đài, nhưng những dấu hiệu của mùa hè sắp đến này không làm tâm trạng Harry khá hơn.

Nó cứ gặp trục trặc hoài, cả trong cố gắng tìm hiểu xem Malfoy đang làm gì, cả trong nỗ lực gợi chuyện với thầy Slughorn để may ra bằng cách nào đó dụ dỗ được thầy trao cho cái ký ức mà hình như thầy đã chôn sâu mấy chục năm trời.

“Lần cuối cùng, hãy quên Malfoy đi,” Hermione kiên quyết nói với Harry.

Hai đứa nó đang ngồi với Ron trong góc sân trường đầy nắng sau bữa ăn trưa.

Cả Hermione lẫn Ron đều đang nắm chặt tờ rơi của Bộ Pháp thuật – Những Lỗi Độn Thổ Thông Thường và Cách Tránh – bởi vì tụi nó sẽ phải thi vào ngay buổi trưa hôm đó, nhưng cách gì thì gì, mấy tờ rơi đó chẳng chứng tỏ có tác dụng xoa dịu thần kinh của tụi nó chút nào.

Ron bỗng giật mình và tìm cách núp sau lưng Hermione khi một cô gái vừa đi vòng qua cái góc tụi nó đang ngồi.

“Không phải Lavender mà,” Hermione chán ngán nói.

“Ừ, tốt,” Ron nhẹ nhõm nói.

“Bạn là Harry Potter?”

Cô ấy nói, “Tôi được sai đưa cho bạn cái này.”

“Cám ơn.”

Trái tim Harry chùng xuống lúc nó cầm cuộn giấy da nhỏ.

Khi cô gái đã đi xa ngoài tầm tai, nó nói, “Thầy Dumbledore đã nói là mình sẽ khỏi học thêm buổi nào nữa cho tới khi mình lấy được ký ức thầy Slughorn.”

“Có lẽ thầy muốn kiểm tra xem bồ đang làm gì?”

Hermione suy đoán trong lúc Harry mở cuộn giấy da; nhưng thay vì nhận ra nét chữ dài, thon mảnh, xiên xiên của cụ Dumbledore, nó lại thấy dòng chữ chè bè lộn xộn, rất khó đọc vì những vết mực lem to thù lù nằm đầy trên tờ giấy da.

Harry, Ron và Hermione yêu quý!

Aragog đã chết tối qua.

Harry và Ron, hai đứa con đã gặp cậu ấy và biết cậu ấy đặc biệt như thế nào.

Hermione, bác biết con sẽ thích cậu ấy.

Nếu các con chịu khó xuống đây dự tang lễ vào tối hôm nay thì điều đó an ủi bác nhiều lắm.

Bác định làm tang lễ vào lúc hoàng hôn vì đó là thời điểm cậu ấy thích nhất trong ngày.

Bác biết các con không được phép ra ngoài vào ban đêm, nhưng các con có thể xài tấm Áo Khoác Tàng Hình.

Lẽ ra bác không nên rủ rê các con, nhưng bác không chịu nổi sự cô đơn này.

Hagrid.

“Đọc đi.”

Harry nói, trao bức thư cho Hermione.

“Ôi, Trời ơi!”

Cô bé kêu lên, đọc lướt qua bức thư rồi chuyển cho Ron, anh chàng này đọc bức thư với vẻ ngờ vực càng lúc càng tăng.

“Bác ấy khùng hả!”

Nó giận dữ nói.

“Cái đồ đó đã từng bảo đồng bọn ăn thịt Harry và mình!

Từng bảo chúng cứ tự tiện chén!

Vậy mà bây giờ bác Hagrid lại mong tụi mình đi xuống đó mà khóc thương cái thây lông lá đó!”

“Không những thế,” Hermione nói, “bác ấy còn biểu tụi mình rời khỏi lâu đài vào ban đêm mà bác ấy biết an ninh ban đêm chặt chẽ một triệu lần hơn và nếu tụi mình bị bắt thì sẽ rắc rối biết chừng nào.”

“Trước đây tụi mình đã từng xuống đó gặp bác ấy vào ban đêm mà,” Harry nói.

“Ừ, nhưng liều vì một chuyện như vầy à?”

Hermione nói.

“Chúng ta đã mạo hiểm nhiều phen để giúp bác Hagrid, nhưng nói cho cùng – Aragog đã chết.

Phải chi là vấn đề cứu mạng bác ấy…”

“Mình càng không muốn đi,” Ron kiên quyết.

“Bồ chưa gặp con quái vật đó, Hermione à.

Cứ tin mình đi, chết sẽ làm cho nó tốt mã hơn.”

Harry lấy lại lá thư và đăm đăm nhìn xuống những vết mực loang lổ khắp lá thư.

Rõ ràng là nước mắt đã rớt xuống tờ giấy da liên tiếp từng hột bự…

“Harry, bồ đừng có nghĩ đến việc đi.”

Hermione nói.

“Không đáng bị cấm túc vì một chuyện như thế.”

Harry thở dài.

“Ừ, mình biết,” nó nói.

“Mình chắc là bác ấy sẽ phải chôn Aragog mà không có tụi mình.”

“Ừ, chắc vậy.”

Hermione nói, trông có vẻ yên tâm.

“Coi nè, lớp Độc Dược chiều nay hầu như trống trơn, vì tất cả tụi này đều đi thi Độn Thổ…

Vậy bồ thử tìm cách dụ dỗ thầy Slughorn đi.”

“Bồ nghĩ lần thứ năm mười bảy thì hên hả?”

Harry cay đắng.

“Hên?”

Ron đột ngột la lên.

“Đúng đó, Harry, cứ cầu may!”

“Ý bồ là sao?”

“Xài thuốc hên!”

“Phải đó, Ron, đúng rồi!”

Hermione nói, nghe thảng thốt.

“Dĩ nhiên rồi!

Tại sao mình lại không nghĩ ra há?”

“Phúc Lạc Dược hả?”

Harry trợn mắt ngó hai đứa bạ.

“Mình không biết…

Mình định để dành nó…”

“Để làm gì?”

Ron ngờ vực hỏi.

“Harry ơi, còn cái gì trên đời này quan trọng hơn ký ức của thầy Slughorn hả?”

Hermione hỏi.

Harry không trả lời.

Ý nghĩ xài đến chai nhỏ xíu vàng óng ấy đã lởn vởn đôi lần trong trí tưởng tượng của nó; những kế hoạch không định hình, không rõ ràng về việc Ginny chia tay với Dean, về việc Ron sẽ vui vẻ chấp nhận gã bồ mới của cô em gái đã nhen nhúm lâu nay tận đáy não nó, nhưng nó không chịu thừa nhận trừ khi chiêm bao hay lúc chập chờn nửa tỉnh nửa mơ…

“Harry?

Bồ vẫn còn đang ngồi với tụi mình chứ?”

Hermione hỏi

“Cái… gì…

À, dĩ nhiên,” nó nói, tự chủ lại.

“Thôi thì..

Ôkê.

Nếu chiều nay mình không gợi chuyện được thầy Slughorn thì mình sẽ xài tới Phúc Lạc Dược để thử một phen nữa vào tối nay.”

“Vậy quyết định rồi nhé.”

Hermione nói dứt khoát và đứng dậy múa một điệu duyên dáng xoay tròn vòng quanh gót chân.

“Địa điểm…

Định ý…

Điềm đạm…”

Cô nàng lẩm bẩm.

“Thôi, ngừng đi mà!”

Ron năn nỉ, “Mình đã đủ phát bệnh vì…

Mau lên, che mình lại!”

“Không phải Lavender mà!”

Hermione hết kiên nhẫn nổi, khi hai cô gái khác xuất hiện trong sân và Ron chuồn nhanh ra sau Hermione.

“Bảnh!”

Ron ngó qua vai Hermione nói.

“Mèn ơi, coi bộ tụi nó không vui vẻ hén?”

“Tụi nó là chị em Montgomery và dĩ nhiên là tụi nó không thể vui vẻ rồi, chứ bộ bồ chưa nghe chuyện đã xảy ra cho thằng em trai của tụi nó hả?”

Hermione nói.

“Thành thật mà nói, mình hết biết chuyện gì đang xảy ra cho bà con của thiên hạ rồi,” Ron nói.

“Ừ, em trai của tụi nó đã bị người sói tấn công.

Người ta đồn rằng tại má tụi nó từ chối giúp đỡ bọn Từ Thần Thực Tử.

Dù sao thì thằng bé cũng chỉ mới năm tuổi và đã chết trong bệnh viện thánh Mungo, họ không thể nào cứu chữa nổi thằng bé.”

“Nó chết à?”

Harry lặp lại, sững sờ.

“Nhưng chắc chắn là người sói không giết người, họ chỉ biến người ta thành người sói như họ thôi mà?”

“Thỉnh thoảng họ cũng làm chết người,” Ron nói, lúc này trông nó nghiêm chỉnh khác thường.

“Mình nghe nói chuyện đó xảy ra khi người soi tha nạn nhân đi.”

“Người sói đó tên gì?”

Harry hỏi nhanh.

“À, theo tin đồn thì đó là Fenrir Greyback,” Hermione nói.

“Mình biết hắn – gã khùng ưa tấn công trẻ con ấy, cái gã mà thầy Lupin đã kể cho mình nghe!”

Harry giận dữ nói.

Hermione nhìn nó ngao ngán.

“Harry, bồ phải lấy cho được ký ức đó,” cô nàng nói.

“Mục tiêu cuối cùng của việc đó là để chặn Voldermort lại, đúng không?

Tất cả những chuyện ghê rợn đang xảy ra nói cho cùng đều do hắn mà ra…”

Tiếng chuông vang vọng từ tòa lâu đài khiến cả Hermione lẫn Ron đứng bật dậy, vẻ mặt hãi hùng.

“Hai bồ sẽ thi tốt thôi,” Harry nói với tụi nó, khi tụi nó đi về phía tiền sảnh nhập vào đám học sinh sẽ thi Độn Thổ hôm đó.

“Chúc may mắn nghe.”

“Bồ cũng may mắn nhé!”

Hermione nói với một cái nhìn đầy ý nghĩa, khi Harry đi về phía tầng hầm.

Chỉ có ba học sinh trong lớp học độc dược chiều nay: Harry, Ernie và Draco Malfoy.

“Các trò đều chưa đủ tuổi thi hả?”

Thầy Slughorn xởi lởi nói.

“Chưa tới mười bảy tuổi à?”

Cả ba đứa đều lắc đầu.

“Thôi thế này,” thầy Slughorn phấn khởi nói, “Vì lớp học của chúng ta hơi ít, chúng ta sẽ làm chuyện gì đó cho vui.

Thầy muốn tất cả hãy bày cho thầy một trò thú vị!”

“Thưa thầy, ý đó thiệt là hay,” Ernie xoa xoa hai tay vào nhau nịnh nọt.

Malfoy không thèm nhếch mép.

“Thầy muốn nói ‘một trò gì thú vị’ là trò gì?”

Nó quạu quọ.

“Ồ, cứ làm cho thầy ngạc nhiên,” thầy Slughorn nói thản nhiên.

Malfoy mở cuốn Bào chế Thuốc Cao Cấp ra với nét mặt đưa đám.

Quá rõ ràng là nó cho rằng buổi học này chỉ tổ mất thì giờ.

Ló mặt qua cuốn sách, quan sát Malfoy, Harry nghĩ, chắc chắn Malfoy đang thèm được dùng thì giờ này để chui vô Phòng Theo Yêu Cầu.

Chẳng biết là do nó tưởng tượng hay quả thực Malfoy có vẻ gầy đi, như cô Tonks vậy.

Chắc chắn là trông Malfoy xanh xao hơn; da nó bệch bạc màu tro có lẽ bởi vì dạo này nó hiếm khi thấy ánh mặt trời; không còn đâu vẻ mặt tự mãn, tự cao và háo hức nữa.

Không còn chút gì dáng điệu nghênh ngang mà nó đã tỏ ra trên chuyến tàu tốc hành Hogwarts, khi nó công khai khoe khoang cái sứ mạng mà Voldemort giao cho nó…

Chỉ có thể có một kết luận duy nhứt, theo ý Harry: cái sứ mạng đó, dù là sứ mạng gì đi nữa, cũng đang ngắc ngứ tồi tệ.

Ý nghĩ này khiến Harry hồ hởi phấn khởi hẳn lên, nó thèm đọc lướt qua cuốn Bào Chế Thuốc Cao Cấp và tìm thấy một bản đã sửa đổi nát bấy của Hoàng tử Lai ở bài Thuốc Tạo Khoái.

Cái này có vẻ chẳng những đáp ứng yêu cầu của thầy Slughorn, mà biết đâu còn có thể (tim Harry nhảy thót lên khi đầu nó nảy ra ý tưởng đó) làm cho thầy Slughorn tâm trạng sảng khoái để thầy sẵn sàng trao cho Harry ký ức của thầy, nếu mà Harry có thể thuyết phục thầy nếm thử một tí…

Một giờ rưỡi sau thầy Slughorn nói, “Nào, tốt lắm, cái này coi bộ tuyệt vời,” thầy vỗ hai tay vào nhau khi bắt đầu ngó xuống cái chất vàng óng như nắng trong vạc của Harry.

“Thuốc Tạo Khoái hả, thầy thử được không?

Thầy ngửi được cái mùi gì đó?

Chà…

Trò cho thêm một nhánh bạc hà, phải không?

Không đúng bài bản lắm, nhưng là một biến tấu hay, đương nhiên, Harry à, cái đó sẽ có xu hướng làm cân đối lại những tác dụng phụ đôi khi xảy ra như hát ca quá đà hoặc véo mũi… thầy thực sự không biết trò kiếm đâu ra bộ não tuyệt vời này, chàng trai ạ! … trừ phi…”

Harry dùng chân đẩy cuốn sách của Hoàng tử Lai vô sâu trong cặp.

“…

đó là gien di truyền của mẹ trỗi dậy trong người trò!”

“Dạ…

Thưa thầy, có lẽ vậy,” Harry nói, thở phào ra.

Ernie có vẻ hơi quạu: nó tính qua mặt Harry một phen, nên đã hấp tấp phát minh ra độc dược của riêng nó, một thứ thuốc keo vón lại và tạo thành một cục tím bầm nằm ngay ở đáy vạc.

Malfoy thì đã dọn dẹp đồ đạc, mặt mày chua chat.

Thầy Slughorn đã tuyên bố dung dịch Nấc Cụt của nó chỉ “tàm tạm”.

Chuông reo, cả Ernic và Malfoy lập tức rời khỏi phòng học.

“Thưa thầy…

Thưa thầy!

Thầy không muốn nếm thử Thuốc Tạo…”

Harry tha thiết gọi theo.

Nhưng thầy Slughorn đã đi khuất.

Thất vọng, Harry đổ hết thuốc trong vạc ra, dọn dẹp đồ đạc, rời khỏi tầng hầm, và chậm rãi đi ngược lên cầu thang về phòng sinh hoạt chung.

Ron và Hermione trở lại đó vào lúc xế chiều.

“Harry!”

Hermione gào lên khi cô nàng chui qua cái lỗ chân dung.

“Harry ơi, mình đậu rồi!”

“Giỏi lắm!”

Nó nói.

“Còn Ron?”

“Nó hả… nó rớt rồi,” Hermione thì thầm trong khi Ron rũ người đi lừ đừ vô phòng trông rầu rĩ hết sức.

“Thiệt là xui xẻo, một chi tiết vặt thôi, giám khảo phát hiện nó đã bỏ sót lại đằng sau nửa cái lông mày…

Còn chuyện thầy Slughorn ra sao?”

“Chẳng có gì vui,” Harry nói khi Ron nhập bọn với hai đứa nó.

“Xui xẻo thôi mà, bồ tèo, lần sau bồ sẽ đậu… tụi mình có thể thi chung.”

“Ừ, mình hy vọng vậy,” Ron cáu gắt.

“Nhưng mà một nửa cái lông mày… làm như là vấn đề lớn lắm không bằng!”

“Mình biết,” Hermione dỗ dành, “Quả là có vẻ khe khắt quá…”

Tụi nó dành cả buổi tối để nói xấu giám thị cuộc thi Độn Thổ, và Ron trông có vẻ phấn chấn lên phần nào khi tụi nó đi trở lại phòng sinh hoạt chung, lúc này đang bàn bạc cái vấn đề nhì nhằng là thầy Slughorn và ký ức của thầy.

“Vậy, Harry à… bồ sẽ xài tới Phúc Lạc Dược hay tính cách khác?”

Ron hỏi.

“Ừ, mình cho là có lẽ vậy tốt hơn,” Harry nói.

“Mình nghĩ là không cần uống hết cả chai cho hên tới ‘hai-mươi-bốn-giờ’ đâu, việc đó cần gì tốn tới cả đêm…

Mình chỉ uống một ngụm thôi.

Hai ba tiếng đồng hồ hiệu nghiệm là đủ để làm.”

“Bồ sẽ có cảm giác rất tuyệt vời khi uống vô,” Ron mơ màng nhớ lại.

“Giống như là bồ không thể nào làm gì sai.”

“Bồ đang nói gì vậy?”

Hermione cười.

“Bồ có xài qua thuốc đó bao giờ đâu!”

“Ừ, nhưng lúc đó mình cứ nghĩ mình đã xài rồi, chứ gì nữa?”

Ron nói như thể đang giảng giải một điều quá hiển nhiên.

“Nói chung sự khác biệt nào thì cũng như nhau cả thôi…”

Bởi vì tụi nó vừa thấy thầy Slughorn đi vào Đại Sảnh Đường và biết thầy ưa nhẩn nha kéo dài bữa ăn tối, cho nên tụi nó lần quần nán lại trong phòng sinh hoạt chung, kế hoạch là Harry sẽ đi tới phòng của thầy Slughorn một lần nữa khi thầy trở về đó.

Khi nắng xế chùng xuống trên những ngọn cây trong khu rừng Cấm, tụi nó quyết định thời điểm đã đến, và sau khi kiểm tra cẩn thận để biết chắc là Neville, Dean và Seamus đều ở cả trong phòng sinh hoạt chung, tụi nó lẻn lên phòng ngủ nam sinh.

Harry moi mấy chiếc vớ được cuộn tròn từ dưới đáy cái rương lên và rút ra một chai tí hon lóng lánh.

“Nó đây,” Harry nói, giơ cái chai nhỏ xíu lên và ực một ngụm được ước lượng cẩn thận.

“Bồ cảm thấy sao?”

Hermione thì thẩm hỏi.

Harry không trả lời mất một lúc.

Sau đó, từ từ nhưng rõ rệt, cái cảm giác phấn khởi trước vận may vô cùng tận lan tỏa khắp người nó; nó cảm thấy như thể nó có khả năng làm được mọi việc, bất cứ việc gì… và việc lấy ký ức của thầy Slughorn bỗng nhiên có vẻ chẳng những có thể thực hiện được mà còn rất khả quan…

Nó đứng lên, mỉm cười và tràn đầy tin tưởng.

“Xuất sắc,” nó nói.

“Thiệt là xuất sắc.

Đúng… mình sẽ đi xuống chòi của bác Hagrid.”

“Cái gì?”

Ron và Hermione cùng kêu lên kinh ngạc.

“Không phải đâu, Harry – bồ phải đi gặp thầy Slughorn chứ, nhớ không?”

Hermione nói.

“Không,” Harry nói một cách tự tin.

“Mình sẽ đến nhà bác Hagrid, mình có một cảm giác tuyệt vời là phải đi gặp bác ấy.”

“Bồ cảm thấy tuyệt vời về việc một con nhện khổng lồ hả?”

Ron sửng sốt hỏi.

“Ừ,” Harry nói, rút tấm áo khoác tàng hình ra khỏi túi xách của nó.

“Mình cảm thấy đó mới chính là địa điểm mình cần có mặt tối nay, mấy bồ có hiểu mình nói gì không?”

“Không,” Ron và Hermione đồng thanh, cả hai bây giờ trông hoảng hốt thực sự.

“Mình đoán chắc là tại Phúc Lạc dược chăng?”

Hermione lo lắng nói, vừa giơ cái bình ra ngoài ánh sáng.

“Bồ còn chai nào khác chứa đầy…

Mình không biết nữa…”

“Cuồng Dược hả?”

Ron đặt giả thuyết, trong khi Harry tung cái áo choàng qua vai.

Harry cười to, Ron và Hermione trông càng hoảng sợ hơn.

“Tin mình đi!

Mình biết mình đang làm gì…. hay ít ra thì…”

Nó tự tin bước ra cửa, “…Phúc Lạc Dược biết mình đang làm gì.”

Nó kéo tấm Áo Khoác Tàng Hình trùm lên đầu và bắt đầu đi xuống cầu thang, Ron và Hermione nhanh chóng đi theo sau nó.

Đến chân cầu thang, Harry nhẹ nhàng lướt qua một cánh cửa mở.

“Anh làm cái trò gì với con đó ở trên ấy, hả!”

Lavender Brown ré lên, trừng mắt nhìn xuyên qua Harry để thấy Ron và Hermione cùng nhau đi từ phòng ngủ nam sinh.

Harry nghe Ron lắp bắp đằng sau, trong lúc nó băng nhanh qua phòng bỏ xa tụi kia.

Chui qua cái lỗ chân dung là chuyện đơn giản, khi nó đến gần cái lỗ, Ginny và Dean vừa chui qua, Harry có thể len vô giữa hai đứa đó.

Lúc nó làm vậy, nó ngẫu nhiên đụng phải Ginny.

“Làm ơn, đừng có xô em mà, Dean,” cô bé nói, giọng bực bội.

“Anh cứ làm vậy hoài, em có thể tự chui qua một mình một cách hoàn hảo…”

Bức chân dung đóng lại sau lưng Harry, nhưng nó cũng kịp nghe Dean tức tối cự nự lại…

Cảm giác hồ hởi phấn khởi của nó càng tăng lên, Harry sải bước ra khỏi tòa lâu đài.

Nó không cần phải thập thò rón rén, bởi vì nó chẳng gặp ai trên đường đi, nhưng điều đó chẳng làm nó ngạc nhiên chút nào: tối nay, nó là người may mắn nhất trường Hogwarts.

Nó không biết tại sao đi đến chỗ bác Hagrid lại là một hành động đúng đắn.

Có vẻ như cứ mỗi vài ba bước thì thuốc hên lại chiếu sáng lối nó đi: tuy nó không thể thấy được đích đến cuối cùng, nó không thể thấy thầy Slughorn từ đâu ra, nhưng nó biết nó đang đi đúng hướng để lấy được ký ức của thầy.

Khi đi đến tiền sảnh, nó nhận thấy là thầy Flich đã quên khóa cửa trước.

Harry tươi cười, mở của và hít thở hương thơm của cỏ và không khí trong lành một lúc trước khi bước xuống bậc thềm đi vào bóng hoàng hôn.

Khi bước xuống bậc thềm cuối cùng, tự nhiên nó cảm thấy sẽ dễ chịu biết bao nếu đi ngang qua mảnh vườn rau trên đường đi tới căn chòi của bác Hargid.

Mảnh vườn rau không hẳn nằm ngay trên đường đi, nhưng dường như đối với Harry đây rõ là một ngẫu hứng khôn ngoan mà nó nên làm.

Thế là nó lập tức đổi hướng đôi chân về phía vười rau, chính ở đó, nó hài lòng, nhưng không đến nỗi ngạc nhiên lắm, khi gặp thầy Slughorn đang chuyện trò với cô Sprout.

Harry núp sau bức tường đá thấp, cảm thấy an hòa với cả thế gian và lắng nghe cuộc chuyện trò của hai thầy cô.

“Tôi hết sức cảm ơn cô đã dành cho nhiều thời giờ, cô Pomona à,” thầy Slughorn nhã nhặn nói.

“Hầu hết những ai có thẩm quyền đều đồng ý là chúng sẽ có hiệu quả nhất nếu được hái vào lúc chạng vạng tối,”

“Ồ, tôi hoàn toàn đồng ý,” giáo sư Sprout nhiệt tình nói.

“Nhiêu đó đủ chưa?”

“Nhiều lắm, nhiều lắm rồi,” thầy Slughorn nói, Harry thấy thầy mang một ôm đầy lá cây.

“Nhiêu đây là đủ để chia cho mỗi học sinh năm thứ ba vài lá và còn dư một ít dự phòng trường hợp đứa nào đó hầm chúng quá như…

Thôi, chào cô, một lần nữa cảm ơn cô nhiều lắm.”

Giáo sư Sprout đi về khoảng tối phía những nhà lồng kiếng, và thầy Slughorn hướng bước chân về đúng nơi mà Harry đang đứng, vô hình.

Một mong muốn lộ diện ngay tức thì thôi thúc Harry, nó bèn vung tay một cái, cởi bỏ tấm Áo Khoác.

“Con chào thầy.”

“Úi cha cha, Harry, trò làm thầy hết hồn,” thầy Slughorn đứng khựng giữa đường, điệu bộ cảnh giá.

“Làm sao trò ra khỏi toà lâu đài được?”

“Con nghĩ là thầy Flich quên khóa cửa chính,” Harry phấn khởi nói, và cảm thấy vui hết sức khi thầy Slughorn nổi quạu.

“Thầy sẽ phải báo cáo về tay giám thị này.

Nếu trò hỏi thầy, thì thầy cho rằng hắn lo lắng chuyện rác rưởi nhiều hơn vấn đề an ninh đúng mực….

Nhưng tại sao trò lại ra ngoài này, Harry?”

“Dạ thưa thầy, đó là vì bác Hagrid,” Harry nói, nó biết rằng bây giờ cứ nói sự thật là đúng.

“Bác ấy đang buồn khổ…

Nhưng thầy đừng nói cho ai biết, thầy nhé?

Con không muốn gây rắc rối cho bác ấy…”

Óc tò mò của thầy Slughorn rõ ràng đã bị dựng dậy, “Chà, thầy không thể hứa như vậy,” thầy nói hơi cộc cằn.

“Nhưng thầy biết cụ Dumbldore hoàn toàn tin tưởng bác ấy, cho nên thầy chắc rằng bác ấy không thể làm điều gì rùng rợn lắm đâu…”

“Dạ, chẳng là có một con nhện khổng lồ, bác ấy đã làm bạn với nó nhiều năm…

Nó sống trong khu rừng…

Nó có thể nói và đủ thứ hết…”

“Thầy cũng nghe đồn bác ấy có mấy con Khổng Nhện trong rừng,” thầy Slughorn nói nhỏ, hướng mắt về phía đám rừng cây đen hù.

“Vậy đúng thiệt sao?”

“Dạ,” Harry nói.

“Nhưng mà con này, con Aragog, là con đầu tiên mà bác Hagrid có được, nó đã chết tối hôm qua.

Bác ấy suy sụp tinh thần.

Bác ấy cần có bầu bạn khi chon cất con đó và con nói là con sẽ đến.”

“Cảm động thay, cảm động thay,” thầy Slughorn nói một cách đãng trí, hai con mắt sùm sụp của thầy chăm chú nhìn về phái có ánh đèn xa xa của cặp chòi bác Hagrid.

“Nhưng nọc độc Khổng Nhện rất quí hiếm…

Nên con quái vật đó chỉ mới chết thì nọc của nó chắc là chưa khô cạn…

Dĩ nhiên rồi, thầy sẽ không làm điều gì vô ý nếu bác Hagrid đang buồn khổ…

Nhưng giá như có cách gì đó để lấy được một ít…

Thầy muốn nói là, hầu như vô phương lấy nọc của một con Khổng Nhện khi nó còn sống…”

Lúc này thầy Slughorn dường như đang nói chuyện với chính mình hơn là nói với Harry.

“… xem ra thì thiệt là phí phạm khủng khiếp nếu không lấy được nọc… một xị có thể đáng giá cả trăm Galleon… thành thật mà nói, tiền lương của thầy đâu có nhiều…”

Và bây giờ Harry thấy rõ ràng nó phải làm gì, “Dạ thưa thầy,” nó nói, với điệu bộ ngập ngừng hùng hồn nhất, “nếu thầy muốn đến đó, chắc là bác Hagrid sẽ mừng lắm…

Chắc thầy cũng biết, để cho Aragog được tiễn đưa tử tế hơn…”

“Ừ, dĩ nhiên rồi,” thầy Slughorn nói, mắt thầy giờ đây lóe lên lòng hăng hái.

“Harry à, thầy nói với trò điều này, thầy sẽ gặp trò dưới đó, đem theo một hai chai…

Chúng ta sẽ uống vì sức…

Ờ… không được khỏe của con quái vật tội nghiệp đó… nhưng đằng nào chúng ta cũng sẽ đưa tiễn nó đúng lễ nghi, khi mà nó được chôn cất.

Và thầy sẽ thay cà vạt khác, cái cà vạt nhỏ này coi hơi hoa mỹ trong tình huống này…”

Thầy hối hả quay trở lại lâu đài, và Harry đi nhanh tới chỗ bác Hagrid, hí ha hí hửng trong lòng.

“Con tới đó hả,” bác Hagric làu bàu, khi mở cửa và thấy Harry từ trong tấm Áo Khoác Tàng Hình hiện ra trước mặt.

“Dạ… nhưng mà Ron và Hermione không tới được,” Harry nói, “tụi nó thực tình xin lỗi bác.”

“Hông… hông sao… dù gì thì cậu ấy cũng cảm động… là… là con đã tới.”

Bác Hagrid khóc nấc lên thiệt to, bác đã tự làm một cái băng đeo màu đen trên cánh tay, trông như một miếng giẻ lau được nhúng vào xi đánh giày, và đôi mắt bác sưng hụp, đỏ ngầu.

Harry vỗ nhè nhẹ vào cùi chỏ bác để an ủi, cùi chỏ là điểm cao nhất của bác mà nó có thể với tới.

“Chúng ta sẽ chôn nó ở đâu ạ?”

Nó hỏi.

“Trong rừng hả bác?”

“Không đâu, quỉ thần ơi,” bác Hagrid nói, vừa quẹt nước mắt đang chảy ròng ròng xuống vạt áo.

“Bây giờ Aragog lìa đời rồi, những con nhện khác không cho bác đến gần mạng bọn chúng.

Hóa ra chúng chưa ăn thịt bác là do lệnh của Aragog!

Tin nổi điều đó không, Harry?”

Câu trả lời rất thành thật là: “Có”; Harry nhớ lại với một sự dễ chịu ,à đau đớn cái cảnh nó và Ron đã phải đương đầu với lũ Khổng nhện.

Tụi nó hiểu quá rõ rằng Aragog là trở ngại duy nhất khiến bọn kia không ăn thịt được bác Hagrid.

“Trước đây có chỗ nào trong rừng mà bác không đến được chứ!”

Bác Hagrid lúc lắc đầu nói.

“Bác có thể nói với con…

đem được cái xác Aragog ra khỏi đó không dễ chút nào… bọn Khổng nhện hay ăn thịt xác chết đồng loại, con hiểu không….

Nhưng bác muốn cậu ấy được chôn cất tử tế…

được tiễn đưa đàng hoàng…”

Bác lại nức nở khóc rống lên một lần nữa và Harry lại vỗ vỗ lên cùi chỏ bác, vừa làm vậy vừa nói (bởi vì dường như thuốc hên xúi rằng làm như vậy là đúng), “Bác Hagrid à, gs Slughorn bắt gặp con lúc đi xuống đây.”

“Con đâu có bị rắc rối gì hả?”

Bác Hagrid nói, ngước nhìn lên có vẻ cảnh giác.

“Con không nên ra khỏi lâu đài vào ban đêm, bác biết, đó là lỗi của bác…”

“Không sao, không sao hết, khi thầy ấy biết chuyện con đang làm thì thầy ấy nói là thầy ấy cũng muốn đến phân ưu và nói lời vĩnh biệt đối với Aragog…”

“Ổng làm vậy thiệt sao?”

Bác Hagrid nói, tỏ vẻ vừa ngạc nhiên vừa xúc động.

“Thiệt… thiệt là một người tử tế lắm lắm, mà đúng là…

ổng đâu có bắt con về nộp.

Trước đây bác chưa từng giao du nhiều với Horace Slughorn… vậy mà ổng đến tiễn đưa Aragog?

Chắc cậu ấy sẽ khoái lắm, Aragog sẽ…”

Harry nghĩ riêng trong lòng rằng Aragog hẳn sẽ khoái Thầy Slughorn lắm vì cái khối lượng dồi dào thịt ăn được trên người thầy, nhưng nó chỉ đi tới cửa sổ sau của căn chòi bác Hagrid, ở đó nó thấy cảnh tượng ghê rợn là con nhện khổng lồ đã nằm chết nửa, giơ lên những cái chân co quắp và mắc míu vào nhau.

“Bác Hagrid, chúng ta sẽ chôn nó ở đây, trong vườn của bác hả?”

“Bác nghĩ là ngay ở bên kia đám bí rợ,” bác Hagrid nói trong tiếng nấc.

“Bác đã đào… con biết đấy… cái huyệt.

Chỉ nghĩ là chúng ta sẽ nói đôi điều tử tế về cậu ấy… những kỷ niệm vui vui, con biết đấy…”

Giọng bác run run và đứt đoạn.

Có tiếng gõ cửa, bác bèn quya ra tiếp khách, vừa mở cửa vừa hỉ mũi vô cái khăn mù xoa dơ hầy.

Thầy Slughorn lật đật bước qua ngưỡng cửa, kẹp nách mấy chai rượu và đeo một cái cà vạt màu đen ảm đạm.

“Bác Hagrid,” thấy nói bằng giọng trang nghiêm sâu sắc.

“Thành kính paahn ưu trước mất mát của bác.”

“Thầy thiệt là có lòng tốt,” bác Hagrid nói.

“Cám ơn thầy nhiều lắm.

Cũng cám ơn thầy không phạt Harry cấm túc…”

“Không hề nghĩ đến chuyện đó,” Thầy Slughorn nói.

“Đêm buồn, đêm tang tóc…

Sinh vật tội nghiệp đó ở đâu?”

“Ngoài kia,” bác Hagrid nói giọng run run.

“Vậy, chúng ta có nên…

Nên bắt đầu chăng?”

Ba người bước ra vườn sau.

Lúc này trăng đang tỏa ánh sáng nhợt nhạt xuống rừng cây và ánh trăng pha lẫn ánh đèn hắt ra từ cửa sổ căn chòi của bác Hagrid soi tỏ cái xác con Aragog nằm bên mép một cái hố khổng lồ bên cạnh một đống đất mới đào lên cao chừng ba thước.

“Tuyệt vời,” Thầy Slughorn nói, đi đến gần đầu con nhện, nơi có tám con mắt trắng đục ngó thẳng lên bầu trời và hai cái nanh càng vĩ đại cong vòng bất động sáng bóng dưới ánh trăng.

Harry tưởng như nó nghe được tiếng lanh canh của mấy cái chai va vào nhau khi Thầy Slughorn cúi khom người xuống đôi nanh vàng, làm như xem xét cái đầu đầy lông bự chảng.

“Không phải ai cũng đánh giá đúng vẻ đẹp của chúng,” bác Hagrid nói với cái lưng Thầy Slughorn, nước mắt bác ứa ra từ khóe mắt nhăn nheo.

“Tôi không dè thầy lại quan tâm đến những sinh vật như Aragog, thầy Horace à.”

“Quan tâm hả?

Bác Hagrid thân mến ơi, tôi sùng bái chúng ấy chứ,” Thầy Slughorn nói, lùi ra xa cái xác.

Harry nhìn thấy ánh lấp lánh của một cái chai khuất bên dưới tấm áo khoác, nhưng bác Hagrid, lại chùi nước mắt một lần nữa, nên chẳng để ý thấy gì cả.

“Bây giờ… mình tiến hành tang lễ chứ hả?”

Thầy Slughorn nói.

Bác Hagrid gật đầu và tiến tới trước.

Bác cố nâng con nhện khổng lồ trong đôi tay và lăn nó xuống cái huyệt tối hù kèm theo một tiếng rên thiệt to.

Cái xác chạm đáy huyệt mạnh ghê gớm, vang lên một tiếng huỵch thiệt lớn, bác Hagrid lại khóc nữa.

“Dĩ nhiên, thật khó khăn cho bác, người hiểu nó nhất,” Thầy Slughorn nói, cũng giống như Harry, thầy không thể vói cao hơn cùi chỏ của bác Hagrid, nhưng thầy vẫn vỗ về cùi chỏ của bác Hagrid.

“Bác cho phép tôi nói đôi lời tiễn biệt nhé?”

Harry nghĩ ắt hẳn Thầy Slughorn đã lấy được khá nhiều nọc độc của con Aragog, bởi vì thầy nở một nụ cười mãn nguyện khi bước tới bên miệng huyệt và nói bằng giọng chậm rãi gây xúc động sâu sắc, “Vĩnh biệt Aragog, vua của loài nhện, những người từng biết mi sẽ không bao giờ quên được tình bạn lâu dài và chung thủy của mi!

Cho dù thi thể mi sẽ hủy hoại, vong linh mi sẽ vẫn phảng phất những nơi vắng vẻ đầy mạng nhện trong rừng nhà của mi.

Nhiều hậu duệ đa-nhãn của mi sẽ phát triển thịnh vượng và những bạn bè thuộc loài người của mi sẽ nguôi ngoai nỗi mất mát mà họ phải chịu đựng.”

“Đó đó… thiệt là… hay!”

Bác Hagrid rú lên và ngã nhào lên đống phân ủ, càng khóc to hơn bao giờ hết.

“Thôi thôi,” Thầy Slughorn nói, vừa vẫy cây đũa phép của thầy để cho đống đất khổng lồ dâng lên rồi rớt xuống, kèm tiếng bình bịch khi chạm vào xác con nhện chết, lấp lại thành một cái gò phẳng phiu.

“Chúng ta hãy vô nhà uống tí rượu.

Harry, con hãy đứng qua bên kia của bác Hagrid…

Đúng rồi…

Đi thôi, bác Hagrid…

Xong xuôi tốt đẹp rồi…”

Hai thầy trò kè bác Hagrid vô nhà, đặt bác ngồi xuống ghế bên cạnh cái bàn.

Fang, con chó đã trốn kỹ trong cái ổ của nó suốt tang lễ, bây giờ mới chui ra lỏn lẻn đi ngang qua mọi người để đến đặt cái đầu bự chảng của nó lên đùi Harry như thường lệ.

Thầy Slughorn mở rút một trong những chai rượu thầy mang tới.

“Thầy đã cho kiểm tra chất độc tất cả rồi,” thầy cam đoan với Harry, trong khi rót gần hết chai vô cái ca bự bằng cái xô của bác Hagrid rồi đưa cho bác.

“Sau chuyện xảy ra cho thằng bạn khốn khổ Rupert của trò, thầy luôn cho một gia tinh nếm thử rượu trong từng chai.”

Harry thấy, hiện lên trong đầu nó, vẻ mặt Her như thế nào nếu cô nàng biết đến sự hành hạ gia tinh này và nó quyết định không đời nào nói cho cô nàng biết.

“Một ly cho Harry…”

Thầy Slughorn nói, chia chai thứ hai vô hai cái ca.

“…và một ly cho ta.

Tốt.”

Thầy giơ cao cái ca của thầy.

“Để tưởng nhớ Aragog.”

“Aragog,” Harry và bác Hagrid cùng nói.

Cả Thầy Slughorn lẫn bác Hagrid uống một hơi dài.

Tuy nhiên, Harry nhờ Phúc lạ dược soi đường dẫn lối nên hiểu là nó không nên uống, thế là nó chỉ làm bộ hớp một ngụm rồi đặt cái ca trên bàn trước mặt nó.

“Thầy biết không, tôi đã nuôi nấng nó từ lúc còn là cái trứng,” bác Hagrid rầu rầu nói.

“Khi nó mới nở ra, nó nhỏ xíu xìu xiu, chỉ bằng một con chó lùn mà thôi.”

“Dễ thương,” Thầy Slughorn nói.

“Trước đây vẫn để nó trong chạn bát của trường cho đến khi, chà…”

Vẻ mặt bác Hagrid tối sầm lại và Harry biết tại sao : Tom Riddle đã âm mưu tính toán để bác Hagrid bị đuổi ra khỏi trường, vì bị đổ cho tội đã mở cửa Phòng chứa Bí mật.

Tuy nhiên, Thầy Slughorn không tỏ vẻ lắng nghe ; thầy đang nhìn lên trần nhà, trên đó có treo một số nồi đồng cùng với một cuộn lông bạc trắng mượt mà.

“Có phải lông bạch kỳ mã đó không, bác Hagrid ?”

“Ờ phải,” bác Hagrid thản nhiên nói.

“Bứt từ đuôi chúng, thầy biết đó, chúng hay làm vướng trên cành cây và các thứ khác trong rừng…”

“Nhưng ông bạn thân mến à, ông có biết cái đó đáng giá bao nhiêu không ?”

“Tôi dùng lông đó để may vá băng bó vân vân khi có sinh vật bị thương,” bác Hagrid nhún vai nói.

“Cực kỳ hữu ích… rất hiệu nghiệm.”

Thầy Slughorn ực thêm một hơi nữa từ cái ca của thầy, mắt thầy lúc này đang cẩn thận đảo quanh căn chòi, Harry biết, để tìm kiếm thêm những kho báu mà thầy có thể sẽ biến thành nguồn trao đổi phong phú với rượu mật rừng sồi, kẹo khóm dẻo và áo khoác nhung.

Thầy lại rót đầy ca rượu của bác Hagrid và ca rượu của chính mình, rồi hỏi thăm bác về những sinh vật sống trong rừng dạo này và bác Hagrid làm thế nào có thể chăm sóc tất cả bọn chúng.

Dưới ảnh hưởng của rượu và sự quan tâm phỉnh phờ cảu Thầy Slughorn, bác Hagrid trở nên cởi mở hết lòng, bác bèn thôi lau nước mắt và vui vẻ bắt đầu một cuộc giảng giải dông dài về nghề chăn nuôi cần cù vất vả.

Đúng thời điểm này, Phúc lạc dược thúc Harry một cái và nó nhận thấy số lượng rượu mà Thầy Slughorn mang đến đang cạn nhanh.

Harry chưa bao giờ thực hiện thành công bùa Đầy lại mà không cần hô thần chú ra miệng, nhưng cái ý nghĩ nó có thể không làm nổi điều đó đêm nay thiệt đáng cười nhạo.

Quả có vậy, Harry đã tự cười roe toét với mình : không bị cả bác Hagrid lẫn Thầy Slughorn chú ý (lúc này thầy đang thù tạc câu chuyện mua bán trứng rồng bất hợp pháp) Harry cầm cây đũa phép của nó dưới gầm bàn chĩa vào mấy vỏ chai rỗng và mấy cái chai này lập tức đầy lại.

Khoảng một giờ sau hay cỡ đó, bác Hagrid và Thầy Slughorn bắt đầu nâng ly chúc mừng tá lả : mừng trường Hogwarts, mừng cụ Dumbledore, mừng rượu gia tinh pha chế và mừng…

“Harry Potter !” bác Hagrid rống lên, làm sóng sánh một ít rượu trong cái xô rượu thứ mười bốn của bác, tràn cả xuống cằm khi bác nốc cạn.

“Ừ, đúng vậy,” Thầy Slughorn kêu lên, giọng hơi lè nhè, “Pary Otter, Thằng Bé được chọn… chà,,, hay cái gì đó na ná như vậy,” thầy nói trệu trạo, rồi cũng nốc cạn cái ca rwouj của thầy.

Chẳng bao lâu sau đó, bác Hagrid đã ràn rụa nước mắt ép toàn bộ cái đuôi bạch kỳ mã cho Thầy Slughorn, thầy nhét nó vô túi kèm theo tiếng hô, “Mừng cho tình bạn !

Mừng tấm lòng hào hiệp !

Mừng một sợi lông đáng giá mười Galleon!”

Và sau đó một hồi lâu bác Hagrid và Thầy Slughorn cứ ngồi bên cạnh nhau, ôm nhau hát một bài hát buồn bã lê thê về cái chết của một pháp sư tên là Odo.

“Ôi, người tốt chết yểu,” bác Hagrid lẩm bẩm, gục thấp xuống mặt bàn, mắt đã gần híp lại, trong khi Thầy Slughorn tiếp tục ngâm nga điệp khúc.

“Má thầy chẳng sống được lâu… mà má trò với ba trò cũng thế, Harry ơi à…”

Những giọt nước mắt to tổ chảng lại ứa ra khóe mắt nhăn nheo của bác Hagrid ; bác nắm bàn tay Harry mà lắc.

“Pháp sư và phù thủy gioit nhất thời họ sống… ta chưa từng biết… chuyện kinh khủng… chuyện kinh khủng…”

Thầy Slughorn hát vang một cách thảm thương.

Và vị anh hùng Odo được đưa về nhà

Nơi chàng quen thuộc từ thời trai trẻ,

Họ đặt chàng yên nghỉ với cái nón lật ngược.

Và cây đũa phép bị bẻ gãy đôi, ấy mới buồn.

“…Kinh khủng,” bác Hagrid rên rỉ và cái đầu bòm xờm bự quá khổ của bác ngoẹo sang một bên tựa trên cánh tay và bắt đầu ngủ vùi, ngáy thiệt sâu.

“Xin lỗi,” Thầy Slughorn nói trong tiếng nấc cụt.

“Hát dở đến chết mất thôi.”

“Bác Hagrid đâu có nói về chuyện thầy hát đâu,” Harry lặng lẽ nói.

“Bác ấy nói về cái chết của ba má con.”

“Ôi,” Thầy Slughorn nói, cố gắng nhịn một cái ợ to.

“Ôi, con yêu quí.

Ừ, chuyện đó… quả thiệt là kinh khủng.

Kinh khủng… kinh khủng…”

Trông thầy khá bối rối về những điều thầy nói và phải cầu viện vào việc rót đầy ca rượu.

“Thầy không… không nghĩ là con còn nhớ chuyện đó, hả Harry ?”

Thầy vụng về hỏi.

“Dạ không…

Dạ, con chỉ mới một tuổi khi ba má con qua đời,” Harry nói, mắt nó nhìn đăm đăm vào ngọn nến đang lập lòe trong tiếng ngáy nặng nề của bác Hagrid.

“Nhưng từ đó đến nay con cũng đã tìm hiểu được khá nhiều về chuyện đã xảy ra.

Ba con chết trước.

Thầy có biết chuyện đó không ?”

“Thầy… thầy không biết,” Thầy Slughorn nói bằng một giọng rất khẽ.

“Dạ…

Voldermort đã giết ba con, rồi bước qua xác của ba để tiến về phía má con,” Harry nói.

Thầy Slughorn rùng mình thiệt mạnh, nhưng thầy dường như không thể di chuyển ánh mắt hãi hùng của thầy ra khỏi gương mặt Harry.

“Hắn bảo má con tránh ra,” Harry nói, giọng không hề chùng xuống.

“Hắn đã kể cho con nghe là má con không cần phải chết. hắn chỉ muốn con mà thôi.

Má có thể bỏ chạy.”

“Ối con ơi,” Thầy Slughorn thở hổn hển.

“Cô ấy có thể… cô ấy không cần phải… thiệt là khủng khiếp…”

“Đúng là khủng khiếp, phải không ?”

Harry nói, giọng thì thầm.

“Nhưng má con không chịu nhúc nhích.

Ba đã chết, nhưng má không muốn con cũng ra đi.

Má cố van xin Voldermort… nhưng hắn chỉ cười…”

“Thôi đừng kể nữa !”

Thầy Slughorn bỗng nhiên nói, giơ một bàn tay run rẩy lên.

“Thoeetj tình, con trai yêu quí à, nhiêu đó đủ rồi… thầy là một lão già… thayf không cần phải nghe… thầy không muốn nghe…”

“Dạ, con quên mất,” Harry nói dối, Phúc lạc dược xuysi nó nói tiếp.

“Thầy mến má con lắm, phải không thầy?”

“Mến cô ấy à?”

Thầy Slughorn nói, mắt thầy một lần nữa lại mờ lệ.

“Thầy không thể tworng tượng nổi có ai gặp gỡ cô ấy mà lại không yêu mến cô ấy… rất dũng cảm… rất vui nhộn…

Đó là chuyện khủng khiếp nhất…”

“Vậy mà thầy không chịu giúp con trai cô ấy,” Harry nói.

“Má đã cho con mạng sống của mình, nhưng thầy chẳng thèm cho con một chút ký ức.”

Chỉ còn tiếng ngáy như sấm của bác Hagrid vang khắp căn chòi.

Harry kiên quyết nhìn thẳng vào đôi mắt đẫm lệ của Thầy Slughorn.

Ông thầy độc dược không thể nào nhìn tránh đi nơi khác.

“Đừng nói vậy,” Thầy thì thầm.

“Đó không phải là vấn đề… nếu là để giúp con, dĩ nhiên… nhưng nếu chẳng để làm gì…”

“Thưa thầy, ký ức của thầy có thể giúp con,” Harry nói rõ ràng.

“Thầy Dumbledore cần thông tin.

Con cần thông tin.”

Harry biết là nó an toàn rồi.

Phúc lạc dược đang bảo nó rằng sáng mai Thầy Slughorn sẽ cahwnrg nhớ gì hết về chuyện này.

Nó bèn chồm tới trước một chút, nhìn thẳng vào mắt Thầy Slughorn.

“Con là Kẻ được chọn.

Con phải tiêu diệt hắn.

Con cần ký ức của thầy.”

Thầy Slughorn tái nhợt chưa từng thấy ; vầng trán bóng lưỡng của thầy lấm tấm mồ hôi.

“Con là Kẻ được chọn à?”

“Thưa thầy, dĩ nhiên là con,” Harry bình tĩnh nói.

“Nhưng như vậy thì… con trai yêu quí của ta… con đang đòi hỏi hơi nhiều… thực ra, con đang yêu cầu ta hỗ trợ con trong nỗ lực tiêu diệt…”

“Thầy không muốn trừ bỏ tên pháp sư đã giết Lily Evans sao ?”

“Harry ơi, Harry à, dĩ nhiên thầy muốn, nhưng…”

“Thầy sợ là hắn sẽ phát hiện ra chuyện thầy giúp con sao?”

Thầy Slughorn không nói gì, vẻ mặt thầy hết sức khiếp đảm.

“Thưa thầy, xin hãy dũng cảm như má của con…”

Thầy Slughorn giơ một bàn tay múp míp lên và tự nhét mấy ngón tay rum rẩy vô miệng ; trong một thoáng thầy giống như một em bé bự quá khổ.

“Thầy không lấy làm tự hào…” thầy thì thầm qua kẽ mấy ngón tay.

“Thầy lấy làm xấu hổ về những điều… những điều mà ký ức ấy phơi bày ra… thầy nghĩ thầy đã gây ra một tổn hại lớn hồi đó…”

“Thầy sẽ xóa được hết những gì thầy đã làm bằng cách trao cho con ký ức đó,” Harry nói.

“Đó sẽ là một hành động cao cả và dũng cảm.”

Bác Hagrid giật thột trong giấc ngủ rồi lại náy tiếp.

Thầy Slughorn và Harry đăm đăm nhìn nhau qua cây nến đang nhễu sáp.

Im lặng lâu thật là lâu nhưng Phúc lạc dược đã khuyên Harry đừng nói gì cả, cứ chờ đợi.

Thế rồi, hết sức chậm rãi, Thầy Slughorn đút tay vào túi áo và rút ra cây đũa phép.

Thầy đút tay kia vô bên trong áo khóa lấy ra một cái chai nhỏ trống không.

Vẫn nhìn vào mắt Harry, Thầy Slughorn điểm đầu cây đũa phép lên thái dương thầy và kéo cây đũa ra, vậy là kéo theo một sợi chỉ bạc dài thòng của ký ức dính vào đầu cây đũa phép.

Cái ký ức được kéo ra càng lúc càng dài cho đến khi nó bị đứt đoạn và đung đưa ở đầu cây đũa, sáng óng ánh.

Thầy Slughorn thả nó vô lại trong chai, nó bèn cuộn tròn lại, rồi duỗi ra, xoắn tít như một luồng khí.

Thầy đậy nút chai bằng bàn tay run lẩy bẩy rồi đẩy cái chai qua bàn đưa cho Harry.

“Thưa thầy, cám ơn thầy nhiều lắm.”

“Con là một chàng trai tốt,” Thầy Slughorn nói, nước mắt lăn qua đôi gò má phúng phính thấm vào bộ ria hải mã của thầy.

“Và con có đôi mắt của má con…

Chỉ đừng nghĩ quá xấu về thầy một khi con xem xong cái ký ức đó…”

Và rồi thầy cũng gục đầu xuống hai cánh tay, thở ra một cái thiệt dài, rồi ngủ say.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q6 - 23: Những trường sinh linh giá


Những trường sinh linh giá

Harry cảm giác được Phúc lạc dược mất dần hiệu lực khi nó rón rén trở về tòa lâu đài.

Cửa trước vẫn không khóa, nhưng ở tầng ba nó gặp con ma Peeves và suýt bị phát hiện nếu không kịp biến vô một ngõ tát kế bên.

Khi nó lên đến chỗ bức chân dung Bà béo và cởi Áo khoác tàng hình ra, nó không ngạc nhiên lắm khi thấy Bà béo ở trong trạng thái hết sức bất hợp tác.

“Giờ này trò biết mấy giờ rồi không ?”

“Cháu thiệt tình xin lỗi bà…

Cháu phải ra ngoài vì việc quan trọng…”

“Hừ, mật khẩu đã thay đổi lúc nửa đêm, nên trò sẽ phải ngủ ngoài hành lang thôi.”

“Bà giỡn hoài!”

Harry nói.

“Tại sao mật khẩu lại thay đổi vào lúc nửa đêm chứ?”

“Lệnh phải vậy thôi,” bà Béo nói.

“Nếu trò nổi sùng thì cứ đi mà khiếu nại với ông hiệu trưởng, ông ấy là người đã thắt chặt an ninh.”

“Quái đản,” Harry cay đắng nói, vừa nhìn quanh quẩn cái sàn cứng chắc.

“Thiệt alf xuất sắc.

Được, tôi sẽ đi khiếu nại thầy Dumbledore nếu thầy đang ở đây, bởi vì chính thầy là người biểu tôi...”

“Cụ ở đây,” một giọng nói vang lên sau lưng Harry.

“Giáo sư Dumbledore đã trở về trường cách đây một tiếng đồng hồ.”

Nick Suýt mất đầu lướt về phía Harry, cái đầu lắc lư như mọi khi trên cổ áo xếp nếp của lão.

“Ta biết tin này nhờ Nam tước Đẫm máu.

Lão ta thấy cụ trở về và theo lão Nam tước thì cụ có vẻ phấn khởi những hơi mệt mỏi, chuyện đương nhiên.”

“Đang ở đâu ạ?”

Harry hỏi, tim nó đập rộn lên.

“Ôi, đang rên la và khua rổn rảng trên Tháp Thiên văn, thú tiêu khiển đệ nhất khoái của lão ấy mà...”

“Không phải Nam tước Đẫm máu... thầy Dumbledore cơ mà!”

“Ủa... trong văn phòng cụ ấy.”

Nick nói.

“Tôi nghĩ vậy, suy từ điều lão Nam tước nói rằng cụ có chút công chuyện phải làm trước khi phạt...”

“Đúng vây, thầy ấy có công chuyện đấy,” Harry nói, niềm phấn khích bừng lên trong ngực nó trước viễn cảnh trình báo cho cụ Dumbledore là nó đã lấy được ký ức của Thầy Slughorn.

Nó xoay một vòng và lại vọt đi, không buồn để ý đến Bà béo đang gọi vói theo sau lưng nó.

“Quay lại đi!

Được rồi, ta nói dóc mà!

Chẳng qua là ta bực bội vì bị trò đánh thức!

Mật khẩu vẫn là “Trùn dán” ấy!”

Nhưng Harry đã hối hả chạy ngược lại hành lang và chỉ trong vòng vài phút sau, nó đã nói “kẹo chanh” với cái máng xối đã hình đầu thú của cụ Dumbledore.

Con thú đá nhảy sang một bên, để cho Harry bước vào cầu thang xoắn.

“Mời vào,” cụ Dumbledore nói khi Harry gõ cửa.

Giọng cụ nghe như kiệt sức.

Harry đẩy cửa mở ra.

Đây, văn phòng của cụ Dumbledore, trông vẫn y như mọi khi, chỉ khác là bầu trời đen bên ngoài cửa sổ điểm rải rác những vì sao.

“Úi chao, Harry,” cụ Dumbledore ngạc nhiên nói.

“Có chuyện gì mà con đến tìm thầy vào lúc khuya khaotws như vầy?”

“Thưa thầy...

Con lấy được rồi.

Con đã lấy được ký ức của Thầy Slughorn rồi!”

Harry lôi cái chai thủy tinh nhỏ ra và đưa cho cụ Dumbledore.

Trông thầy hiệu trưởng sửng sờ một thoáng.

Rồi gương mặt cụ bừng lên một nụ cười rạng rỡ.

“Harry, đây là tin hấp dẫn!

Con làm giỏi lắm!

Thầy vốn biết là con có thể làm được việc đó!”

Dường như quên phắt đêm đã khuya lắm rồi, cụ vội bước vòng qua cái bàn làm việc, cầm cái chai đựng ký ức của Thầy Slughorn trong bàn tay không bị thương và rảo bước tới bên cái tủ mà cụ đã cất cái Tưởng Ký.

“Và bây giờ,” cụ Dumbledore đặt cái chậu đá lên abfn, dốc hết chất bên trong chai vô chậu.

“Rốt cuộc cũng xong.

Chúng ta sẽ sem.

Harry, nhanh lên...”

Harry ngoan ngoãn cúi xuống cái Tưởng Ký và cảm thấy chân nó rời khỏi sàn...

Một lần nữa nó lại rơi xuyên qua bóng tối và đáp xuống văn phòng của thầy Horace Slughorn hồi năm nẳm năm nào.

Thầy Slughorn thuở đó trông trẻ hơn nhiều, mái tóc dày màu rơm bóng mượt và bộ ria mép hoe hoe vàng.

Thầy lại đang ngồi trên cái ghế bành êm ái, gác chân lên cái ghế đẩu bọc nhung một tay cầm ly rượu nhỏ, tay kia thọc tìm trong cái hộp kẹo khóm dẻo.

Và có khoảng nửa tá nam sinh đang ngồi quanh Thầy Slughorn, giữa đám đó là Tom Riddle, trên ngón tay hắn sáng lấp lánh chiếc nhẫn vàng cẩn đá đen của MarVoldermorto.

Cụ Dumbledore đáp xuống bên cạnh Harry vừa đúng lúc Riddle hỏi, “Thưa thầy, có đúng là giáo sư Merrythought sắp về hưu?”

“Tom ơi, Tom à, nếu thầy biết, thầy cũng không thể nói với con được,” Thầy Slughorn nói, vừa ngúc ngoắc một ngón tay quở trách Riddle, nhưng đồng thời lại nháy mắt với hắn.

“Thầy phải nói, thầy muốn biết con lấy thông tin đó từ đâu ra vậy, hả chàng trai, chàng hiểu biết nhiều hơn một nửa giáo ban đấy.”

Riddle mỉm cười; những nam sinh khác cười to và nhìn hắn đầy thán phục.

“Chắc là nhờ khả năng phi thường của con biết được những điều không nên biết và cả tài tâng bốc khéo léo những kẻ có máu mặt – nhân tiện, cám ơn con về món mứt khóm dẻo nhé, con tài lắm, đó là món thầy khoái nhất...”

Bọn nam sinh lại khúc khích cười.

“...thầy tin là con sẽ thăng quan tiến chức nhanh chóng ở Bộ Pháp thuật trong vòng hai mươi năm.

Mười lăm năm thôi, nếu con tiếp tục gởi kẹo khóm cho thầy, thầy quen biết lớn ở Bộ mà.”

Tom Riddle xhir mỉm cười trong khi mấy đứa khác rộ lên cười to.

Harry để ý thấy hắn không hẳn là đứa già đầu nhất đám nam sinh, nhưng tất cả mấy đứa khác dường như đều coi hắn như thủ lĩnh.

Khi tiếng cười lắng xuống, hắn mới nói.

“Thưa thầy, con không biết chính trị có thích hợp với con không, vì một lẽ là con không có lý lịch tốt.”

Hai đứa trong đám con trai cười với nhau tự phụ.

Harry chắc rằng tụi nó đang khoái trá một chuyện tiếu lâm giữa tụi nó với nhau, chắc chắn là về những gì tụi nó biết, hoặc tụi nó nghi ngờ, liên quan đến ông tổ nổi tiếng của thủ lĩnh băng tụi nó.

“Nhảm nhí,” Thầy Slughorn nói ngay, “tài ba như con thì còn gì rõ ràng hơn chuyện con xuất thân từ dòng dõi Pháp thuật đứng đắn!

Không, con sẽ tiến xa, Tom à.

Thầy chưa hề nhầm về một học sinh nào cả.”

Cái đồng hồ nhỏ bằng vàng đứng trên bàn làm việc của Thầy Slughorn điểm mười một tiếng sau lưng thầy và thầy ngoái đầu nhìn lại.

“Mèn đét ơi, khuya dữ vậy rồi sao?

Các con nên đi thôi, những chàng trai ạ, nếu không chúng ta sẽ bị rắc rối cho coi.

Lestrange, thầy muốn con nộp bài luận văn ngày mai, nếu không thì cấm túc.

Con cũng vậy, Avery à.”

Bọn nam sinh lần lwotj từng đứa một đi ra khỏi phòng.

Thầy Slughorn nhấc mình lên khỏi cái ghế bành và đem cái ly đã cạn rượu của thầy đến bàn làm việc.

Một cử động sau lưng khiến thầy quay lại nhìn; Riddle vẫn còn ở đó.

“Nhanh lên, Tom.

Con đâu có muốn bị phạt vì không ở trên giường trong giờ ngủ hả và con lại là một huynh trưởng...”

“Thưa thầy, con muốn hỏi thầy một điều.”

“Vậy thì hỏi ngay đi, con trai ta, hỏi ngay...”

“Thưa thầy, con thắc mắc thầy có thể biết gì về... về Trường sinh linh giá?”

Thầy Slughorn nhìn Riddle chằm chằm, mấy ngón tay múp míp của thầy lơ đãng siết chặt lấy đế ly rượu.

“Đề tài nghiên cứu cho bộ môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám hả?”

Nhưng Harry có thể nói Thầy Slughorn biết quá rõ đó chẳng phải là bài học ở trường.

“Thưa thầy, không hẳn vậy,” Riddle nói.

“Con bắt gặp từ này khi đọc sách và con không hiểu lắm.”

“Không...

Chà... con đừng hòng tìm được một cuốn sách nào ở Hogwarts cho con biết chi tiết về Trường sinh linh giá, Tom à.

Đó là đồ Hắc ám, thực ra là cực kỳ Hắc ám.”

“Nhưng thưa thầy, rõ ràng là thầy biết tất cả mọi điều về chúng mà?

Ý con là, một pháp sư có cỡ như thầy... con xin lỗi, con muốn nói là nếu thầy không thể nói cho con biết, thì hiển nhiên...

Con chỉ biết là nếu ai đó có thể nói cho con biết thì thầy cũng có thể... thành ra con nghĩ con nên...”

Giỏi lắm, Harry nghĩ, điệu bộ ngập ngừng này, gọng nói bình thường này và một chút tâng bốc khéo léo nữa, không có gì quá lố.

Nó, Harry, đã có quá nhiều kinh nghiệm về việc rút tỉa thông tin từ những người không sẵn lòng nói ra, nên nó phải nhìn nhận Riddle đúng là bậc thầy.

Nó có thể nói Riddle rất, rất muốn biết về Trường sinh linh giá ; có thể hắn đã chuẩn bị cho thwoif cơ này suốt mấy tuần nay.

“Ái chà,” Thầy Slughorn không nhìn Riddle, mà dùng tay vọc cái nơ trên nắp hộp kẹo khóm dẻo.

“Thôi thì cũng không hại gì nếu cho một hiểu biết tổng quát, dĩ nhiên.

Chỉ để con hiểu về thuật ngữ này.

“Trường sinh linh giá” là từ được dùng để chỉ một vật mà một người đã giấu giếm một phần linh hồn của mình trong đó.”

“Nhưng, thưa thầy, con vẫn không thực sự hiểu nó hoạt động như thế nào,” Riddle nói.

Giọng hắn được kiềm chế cẩn thận, nhưng Harry có thể cảm nhận được sự hồi hộp của hắn.

“Thế này, con có thể xẻ linh hồn của mình ra, con hiểu không và cất giấu một phần linh hồn vào một vật nào đó ở bên ngoài cơ thể.

Như vậy, ngay cả khi thân thể của con bị tấn công hay bị thiêu hủy, con cũng không chết hẳn, bởi vì một phần linh hồn con vẫn còn ở trần gian và không bị tổn hại.

Nhưng dĩ nhiên, tồn tại dưới một hình thức như vậy...”

Gương mặt Thầy Slughorn co rúm lại và Harry chợt nhớ lại những lời nó đã nghe gần hai năm về trước.

“Ta đã bị tước khỏi thân thể ta, ta không bằng cả vong linh, tệ hơn cả con ma hèn hạ nhất...

Nhưng ta còn sống.”

“...ít ai muốn vậy lắm, Tom à, ít lắm.

Thà chết còn hơn.”

Nhưng sự ham muốn của Riddle đã quá rõ ràng; vẻ mặt đầy tham lam, hắn không thể che đậy lòng khao khát lâu hơn nữa.

“Làm sao người ta xẻ được linh hồn?”

“Chà,” Thầy Slughorn nói một cách khó chịu, “con phải hiểu rằng linh hồn phải được giữ nguyên vẹn và bất khả xâm phạm.

Xẻ linh hồn là một hành động bạo ngược, trái với tự nhiên.”

“Nhưng làm sao người ta làm được?”

“Bằng cách phạm một tội ác.

Một tội ác tày trời.

Bằng cách giết người.

Hành động giết người xé toạc linh hồn người ta.

Pháp sư nào có ý định tạo ra một Trường sinh linh giá sẽ lợi dụng nỗi bất hạnh đó.

Hắn sẽ ký thác phần linh hồn bị xé.”

“Ký thác à?

Nhưng bằng cách nào...?”

“Có một câu thần chú.

Nhưng ddnwgf hỏi thầy, thầy không biết đâu nhé.”

Thầy Slughorn lắc đầu tựa như một con voi già bị bầy muỗi quấy rầy.

“Bộ trông thầy có vẻ từng thử làm chuyện đó sao...

Bộ ngó thầy giống một tên sát nhân sao?”

“Dạ không, thưa thầy, dĩ nhiên là không.”

Riddle nói nhanh.

“Con xin lỗi... con không hề có ý xúc phạm...”

“Không hề gì, không hề gì, không hề xúc phạm,” Thầy Slughorn nói giọng hơi cộc.

“Tò mò về những chuyện đó là điều tự nhiên thôi.

Những pháp sư có bản lĩnh luôn luôn bị khía cạnh Pháp thuật đó hấp dẫn...”

“Dạ, thưa thầy.”

Riddle nói, “Nhưng điều mà con vẫn không hiểu – dĩ nhiên chỉ vì tò mò thôi – con muốn nói là một Trường sinh linh giá thì đâu có dùng được bao nhiêu?

Người ta chỉ có thể xẻ linh hồn ra một lần thôi sao?

Nếu xẻ linh hông mình ra nhiều phần thì chẳng phải tốt hơn sao, chẳng làm cho mình mạnh hơn sao?

Ý con nói, thí dụ, bảy là con số Pháp thuật đầy quyền lực nhất, liệu bảy…?”

“Mèn đét ơi, Ton ơi!”

Thầy Slughorn kêu lên oai oái.

“Bảy hả !

Nghĩ đến chuyện giết một người chưa đủ khủng khiếp sao ?

Với lại, đằng nào đi nữa… nội chuyện xẻ linh hồn thôi cũng đủ ghê rồi…

đừng nói chi xẻ thành những bảy mảnh…”

Bây giờ Thầy Slughorn tỏ ra vô cùng lo lắng : thầy nhìn hắn đăm đăm như thể trước đây thầy chưa hề nhìn rõ hắn và Harry có thể nói là thầy đang hối tiếc đã sa đà vô cuộc chuyện trò này.

“Dĩ nhiên,” thầy lẩm bẩm, “tất cả những gì chúng ta nói nãy giờ chỉ có tính lý thuyết mà thôi, đúng không ?

Tất cả chỉ mang tính học thuật…”

“Dạ, dĩ nhiên rồi, thưa thầy,” Riddle nói nhanh.

“Nhưng dù thế nào đi nữa, Tom à… hãy giữ kín những điều thầy vừa nói… tức là những gì thầy trò mình vừa thảo luận.

Người ta không cho thầy trò mình nói chuyện dông dài về Trường sinh linh giá đâu.

Con biết mà, đó là đề tài bị cấm ở trường Hogwarts… thầy Dumbledore đặc biệt ghê tởm chuyện đó…”

“Thưa thầy, con sẽ không nói tiếng nào cả,” Riddle nói, rồi ra về, nhưng Harry cũng kịp thoáng thấy gương mặt hắn tràn trề niềm vui man dại y như niềm vui khi hắn phát hiện ra lần đầu tiên hắn là một pháp sư, một loại vui sướng không làm tăng thêm nét đẹp trai của hắn, mà vì lý do nào đó, lại khiến cho gương mặt hắn trở nên ít vẻ người hơn…

“Cám ơn con, Harry,” cụ Dumbledore khẽ nói.

“Chúng ta đi thôi…”

Khi Harry đáp trở xuống văn phòng, cụ Dumbledore đã ngồi đằng sau bàn làm việc của cụ rồi.

Harry cũng ngồi xuống và chờ cụ Dumbledore nói.

“Thầy đã đợi bằng chứng này từ lâu lắm rồi,” cuối cùng cụ Dumbledore lên tiếng.

“Nó xác nhận giả thuyết mà lâu nay thầy theo đuổi, nó cho thấy thầy đúng và cũng cho thấy còn rất nhiều việc phải làm…”

Harry chợt nhận thấy tất cả các ông bà hiệu trưởng cũ trong những bức chân dung treo quanh tường đều thức giấc và lắng nghe cuộc chuyện trò của thầy trò nó.

Một ông pháp sư mũi đỏ phốp pháp thậm chí còn lấy ra một cái loa tai giúp nghe cho rõ.

“Harry à, thầy chắc con hiểu ý nghĩa quan trọng của những điều chúng ta vừa nghe.

Vào lứa tuổi con bây giờ, xê xích nhau có vài tháng, Tom Riddle đã làm tất cả những gì mà hắn có thể làm được để tìm cách trở nên bất tử.”

“Thưa thầy, thầy có nghĩ là hắn đã thành công không?”

Harry hỏi.

“Có phải hắn đã tạo được một Trường sinh linh giá?

Và có phải đó là lý do hắn đã không chết khi tấn công con ?

Hắn có một Trường sinh linh giá giấu giếm ở đâu đó à ?

Vậy là một phần linh hồn của hắn vẫn còn đó không suy suyển à ?”

“Một phần… hay có thể nhiều hơn,” cụ Dumbledore nói.

“Con đã nghe Voldermort mói rồi đó, điều mà hắn đặc biệt muốn ở thầy Horace là ý kiến của thầy ấy về điều gì sẽ xảy ra cho một pháp sư khi tạo ra nhiều Trường sinh linh giá, điều gì sẽ xảy ra cho một pháp sư quyết tâm lẩn tránh cái chết đến nỗi sẵn sàng giết chóc nhiều lần, xé rơi linh hồn mình ra, để ký thác trong nhiều Trường sinh linh giá khác nhau.

Không có quyển sách nào cung cấp cho hắn thông tin đó.

Theo như thầy biết… và thầy chắc Voldermort cũng biết… không có pháp sư nào từng xẻ linh hồn mình ra thành nhiều hơn hai phần.”

Cụ Dumbledore ngừng lại một lát, sắp xếp suy nghĩ của cụ, rồi nói, “Cách nay bốn năm, thầy nhận được điều mà thầy coi như bằng chứng chắc chắn rằng Voldermort đã xẻ linh hồn hắn.”

“Thưa thầy, ở đâu ạ ?”

Harry hỏi.

“Như thế nào ạ ?”

“Chính con đưa nó cho thầy, Harry à,” cụ Dumbledore nói.

“Đó là quyển nhật ký, nhật ký của Riddle, quyển nhật ký hướng dẫn cách mở lại Phòng chứa Bí mật.”

“Thưa thầy, con không hiểu.”

Harry nói.

“À, mặc dù thầy không tận mắt nhìn thấy Riddle hiện ra từ cuốn nhật ký, nhưng những gì con miêu tả cho thầy là một hiện tượng thầy chưa từng chứng kiến.

Một ký ức thaaufn túy mà có thể bắt đầu tự suy nghĩ và hành động ư ?

Chỉ là một ký ức mà có thể rút kiệt sức sống ra khỏi cô gái lỡ có nó trong tay ư ?

Không, có điều gì đó còn hiểm độc hơn nữa đã sống ở bên trong cuốn sách… một linh hồn, thầy hầu như tin chắc điều đó.

Cuốn nhật ký là một Trường sinh linh giá.

Nhưng lời giải đáp này lại khơi lên không ít câu hỏi.

Điều khiến thầy lo nghĩ và cảnh giác là cuốn nhật ký đó đã được trù tính như một vũ khí đồng thời như vật chứa an toàn.”

“Con vẫn không hiểu,” Harry nói.

“Như vầy, nó có chức năng của một Trường sinh linh giá – nói cách khác, một phần linh hồn được cất giấu trong đó để bảo quản an toàn và chắc chắn là đóng vai trò ngăn ngừa cái chết cảu vị chủ nhân.

Nhưng cũng chắc chắn là Riddle thực sự muốn nhật ký của hắn được đọc. muốn một phần linh hồn của hắn cư trú hay chiếm hữu thân xác ai đó để con quái vật của Slytherin lại được sổng ra một lần nữa.”

“Vậy là, hắn không muốn tác phẩm của hắn bị lãng phí,” Harry nói.

“Hắn muốn người sau biết hắn là kẻ thừa kế Slytherin, bởi vì vào thời ấy hắn không thể tự nhậ điều đó.”

“Hoàn toàn đúng,” cụ Dumbledore gật đầu nói.

“Nhưng con có thấy không, Harry, nếu hắn có ý định để cho cuốn nhật ký được chuyển giao hay cấy vào một học sinh tương lai nào đó của trường Hogwarts, thì hắn đã tỏ ra khá bất cẩn về phần hồn quí báu được giấu giếm trong đó.

Mục đích của một Trường sinh linh giá là, theo như giáo sư Slughorn giải thích, nhằm giữ một phần hồn của mình được kín đáo và an toàn, chứ không phải để ném vung vít nó trên đường đi của ai đó và rơi vào nguy cơ bị người ta hủy diệt – trên thực tế điều đó đã xảy ra: phần hồn đó không còn nữa ; chính con đã giải quyết việc đó.”

“Việc Voldermort hành xử bất cẩn đối với cái Trường sinh linh giá này có vẻ là điềm đáng lo ngại nhất đối với thầy.

Nó đưa ra giả thuyết là hắn ắt đã tạo ra – hay ít nhất đã dự định tạo ra – nhiều Trường sinh linh giá, để rủi mà cái thứ nhất có mất đi thì cũng không tổn hại nhiều cho hắn.

Thầy không muốn tin như vậy. nhưng chẳng còn cách giải thích nào khác hay hơn.”

“Rồi hai năm sau, con nói với thầy rằng vào cái đêm mà Voldermort nhập lại thân xác hắn, hắn đã đưa ra một tuyên bố với đám Tử thần thực tử, một tuyên bố đáng sợ nhất và làm sáng tỏ vấn đề.

“Ta, kẻ đã tiến xa hơn bất cứ ai trên con đường dẫn đến sự bất tử.”

Đó là điều con nói với thầy là hắn đã nói.

“Xa hơn bất kỳ ai !”

Và thầy nghĩ thầy hiểu điều đó nghĩa là gì, mặc dù bọn Tử thần thực tử không hiểu.

Hắn nói đến những Trường sinh linh giá của hắn, NHỮNG Trường sinh linh giá, Harry à, thầy tin là chưa từng có pháp sư nào khác làm điều đó.

Nhưng nó lại hợp lý : cùng với năm tháng trôi qua, Chúa tể Voldermort càng ngày càng ít nhân tính và đối với thầy, sự thay đổi mà hắn trải qua dường như chỉ có thể hiểu được nếu giải thích rằng linh hồn hắn đã bị cắt xẻ vượt quá cái lĩnh vực mà chúng có thể gọi là “tội ác thông thường”…”

“Vậy là hắn làm cho mình không thể bị giết chết bằng cách đi giết những người khác ?”

Harry nói.

“Tại sao hắn không thể tạo ra một Hòn đá Phù thủy, hay đánh cắp một cái, nếu hắn mê sự bất tử đến như vậy ?”

“À, chúng ta biết là hắn đã thử làm điều đó, cách đây năm năm,” cụ Dumbledore nói.

“Nhưng thầy nghĩ có nhiều lý do khiến một Hòn đá Phù thủy không hấp dẫn Chúa tể Voldermort bằng một Trường sinh linh giá.

Mặc dù thuốc Trường sinh quả thực có thể kéo dài sự sống, người ta phải uống thuốc thường xuyên, uống hoài hoài nếu người uống thuốc muốn được trường sinh.

Vì vậy, Voldermort sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào Trường sinh dược và nếu hết thuốc hay thuốc bị hư hay trong trường hợp Hòn đá bị đánh cắp, hắn sẽ chết như bất cư sngwowif nào khác.

Con nhớ chứ, Voldermort thích hành động một mình.

Thầy tin là hắn không thể chịu được cái ý tưởng bị lệ thuộc, dù là lệ thuộc vào Trường sinh dược.

Dĩ nhiên hắn sẵn sàng uống nếu Trường sinh dược có thể giúp hắn thoát ra được cảnh dở sống dở chết khủng khiếp mà hắn lâm vào sau khi tấn cng con, miễn sao có được một cơ thể.

Sau đó, thầy tin là hắn có ý định tiếp tục dựa vào Trường sinh linh giá của hắn.

Giá mà hắn có thể phục hồi được hình dạng con người thì hắn không cần gì thêm nữa.

Con thấy đó, hắn đã thực sự bất tử… hay gần như bất tử vì chưa có ai làm được như thế.

Nhưng giờ đây, Harry à, được vũ trang bằng thông tin này, cái ký ức chủ chốt mà con đã lấy được thành công, chúng ta đến gần điều bí ẩn của việc kết liễu Chúa tể Voldermort hơn bất cứ ai từng alfm được trước đây.

Con đã nghe hắn nói đấy, Harry: “Nếu xẻ linh hồn mình ra nhiều phần thì chẳng phải tốt hơn sao, chẳng làm cho mình mạnh hơn sao ?...

Chẳng phải bảy là con số Pháp thuật đầy quyền lực nhất sao…

Đúng, thầy nghĩ cái ý tưởng một linh hồn chia bảy phần hẳn là vô cùng hấp dẫn Chúa tể Voldermort.”

“Hắn tạo ra bảy Trường sinh linh giá à ?”

Harry hoảng hốt kêu lên, đồng thời nhiều bức chân dung trên tường cũng thốt ra những âm thanh kinh ngạc giữa cơn thịnh nộ.

“Nhưng chúng có thể ở bất cứ đâu… che đậy… chôn giấu hay tàng hình…”

“Thầy mừng khi thấy con đánh giá đúng tính chất quan trọng của vấn đề,” cụ Dumbledore bình tĩnh nói.

“Nhưng không, Harry à, trước nhất, chỉ có sáu chứ không phải bảy Trường sinh linh giá.

Phần thứ bảy của linh hồn hắn, cho dù bị xẻ tanh banh đi nữa, vẫn phải trú ngụ ngay trong cơ thể được tái tạo của hắn.

Đó là một phần của hắn đã sống kiếp vật vờ như ma trong những năm lưu đày ; Không có phần hồn đó, hắn chẳng còn bản tính nữa.

Bất cứ ai muốn tiêu diệt Voldermort phải tấn công chính phần hồn thứ bảy của hắn – phần hồn sống ngay trong cơ thể hắn.”

“Nhưng như vậy vẫn còn sáu Trường sinh linh giá,” Harry nói, hơi tuyệt vọng.

“Làm sao chúng ta có thể tìm được chúng ?”

“Con quên rồi… con đã tiêu diệt được một cái.

Và thầy đã diệt được một cái khác.”

“Thầy ?”

Harry hăm hở hỏi lại.

“Đúng vậy,” cụ Dumbledore nói và cụ giơ lên bàn tay trông như bị cháy đen thui.

“Chiếc nhẫn, Harry à.

Chiếc nhẫn của MarVoldermorto.

Và cả một lời nguyền khủng khiếp được ếm trên chiếc nhẫn.

Nếu không nhờ vào khả năng kỳ lạ của thầy... xin lỗi con về cái sự có vẻ thiếu khiêm tốn này... và hành động kịp thời của giáo sư Snape khi thầy trở về trường Hogwarts trong tình trạng thương tích trầm trọng, thì có lẽ thầy đã chẳng sống được tới giờ để mà kể câu chuyện này.

Nhưng mà, một bàn tay khô quắt không đến nỗi là một cái giá đắt để đánh đổi một phần bảy linh hồn của Voldermort.

Chiếc nhẫn không còn là một Trường sinh linh giá nữa.”

“Nhưng làm sao thầy tìm được nó?”

“À, như con biết đó, suốt nhiều năm trời thầy coi việc tìm hiểu càng nhiều càng tốt về quá khứ của Voldermort là công việc của thầy.

Thầy đã đi nhiều nơi, đến những chỗ mà hắn đã từng đến.

Thầy ngẫu nhiên bắt gặp chiếc nhẫn được giấu trong đống đổ nát của ngôi nhà dòng họ Gaunt.

Có vẻ như một khi Voldermort đã thành công trong việc ký thác một phần linh hồn của hắn vào trong chiếc nhẫn thì hắn không đeo nó nữa.

Hắn giấu nó đi, bảo vệ nó bằng nhiều bùa phép rất mạnh, trong căn nhà tồi tàn nơi mà tổ tiên hắn từng sống (dĩ nhiên Morfin đã bị tống vô ngục Azkaban), hắn không hề đoán được rằng một ngày nào đó thầy sẽ tốn công đến thăm đống đổ nát đó, hay thầy có thể không ngừng để mắt tìm kiếm dấu vết của nơi cất giấu đầy ma thuật.

Tuy nhiên, chúng ta không nên tự chúc tụng mình nhiệt liệt quá.

Con đã tiêu diệt ddwwocj cuốn nhật ký, thầy đã diệt được chiếc nhẫn, nhưng nếu lý thuyết về linh hồn bảy phần của chúng ta đúng, thì vẫn còn lại bốn Trường sinh linh giá.”

“Và chúng có thể là bất cứ thứ gì sao?”

Harry nói.

“Chúng có thể là một hộp thiếc cũ, hay... chai thuốc rỗng, ai biết được...”

“Harry à, thầy biết con đang nghĩ đến Khóa cảng, vốn là những vật tầm thường, dễ bị bỏ qua.

Nhưng liệu Chúa tể Voldermort có dùng hộp thiếc hay chai thuốc để bảo vệ linh hồn quí báu của hắn không?

Con đã quên điều thầy đã chỉ ra cho con.

Chúa tể Voldermort thích sưu tầm chiến lợi phẩm và hắn thích những món đồ cổ có lịch sử Pháp thuật phong phú.

Niềm kiêu hãnh của hắn, niềm tin vào tính ưu việt của chính hắn, quyết tâm khắc tạc mình vào lịch sử Pháp thuật; tất cả những điều này khiến thầy giả thuyết rằng Voldermort chọn Trường sinh linh giá một cách cẩn thận, chuộng những vật thể có giá trị danh dự.”

“Nhưng cuốn nhật ký đâu có gì đặc biệt.”

“Cuốn nhật ký, như chính con vừa nói, là bằng chứng hắn là hậu duệ của Slytherin.

Thầy tin chắc là Voldermort dành cho cuống nhật ký đó một tầm quan trọng khác thường.”

“Vậy những Trường sinh linh giá khác...?”

Harry nói.

“Thầy có nghĩ thầy biết chúng là gì không, thưa thầy?”

“Thầy chỉ có thể đoán thôi,” cụ Dumbledore nói.

“Vì những lý do mà thầy vừa nêu ra, thầy tin là Chúa tể Voldermort thích chọn những vật mà bản thân chúng vốn có sự cao sang nào đó.

Vì vậy thầy đã rà soát lại quá khứ của Voldermort để xem liệu thầy có thể tìm được bằng chứng là những vật như thế đã biến mất quanh hắn không.”

“Sợi dây chuyền!”

Harry nói to.

“Cái cúp nhà Hufflepuff!”

“Đúng,” cụ Dumbledore mỉm cười nói, “thầy sẵn sàng cá – có lẽ không cá nguyên cả bàn tay còn lại, mà hai ngón tay thôi – rằng hai vật đó đã trở thành Trường sinh linh giá ba và bốn.

Một lần nữa giả sử rằng hắn tạo ra tổng cộng sáu cái, thì hai cái còn lại khó đoán hơn, nhưng thầy sẽ đánh bạo mà đoán rằng, sau khi đã thủ được mấy ngón cổ ngoạn của Hufflepuff và Slytherin, hắn bắt đầu dò tìm những cổ ngoạn vốn thuộc về Gryffindor và Ravenclaw.

Thầy tin chắc là bốn món cổ ngoạn của bốn vị sáng lập trường Hogwarts sẽ tạo một sức hút mạnh mẽ đối với trí tưởng tượng của Voldermort.

Thầy không thể trả lời là liệu hắn có xoay sở tìm ra được món cổ ngoạn nào của Ravenclaw không.

Tuy nhiên thầy tin là di vật duy nhất được biết đến của Gryffindor vẫn còn nguyên vẹn đây.”

Cụ Dumbledore chỉ ngón tay bị nám đen của cụ lên bức tường sau lưng, nơi một thanh gươm cẩn hồng ngọc ung dung nằm trong một cái hộp thủy tinh.

“Thưa thầy, thầy có nghĩ đó là lý do hắn thực sự muốn trở lại trường Hogwarts không?”

Harry nói.

“Để thử tìm cái gì đó được một trong những vị sáng lập lưu truyền lại?”

“ĐÚng, thầy nghĩ như vậy,” cụ Dumbledore nói.

“Nhưng rủi thay, điều đó chẳng giúp chúng ta tiến xa hơn bao nhiêu, bởi vì hắn đã bị đuổi ra mà không có cơ hội lục lọi ngôi trường, hoặc là thầy cứ tưởng như vậy.

Thầy buộc phải kết luận rằng hắn chưa hoàn tất tham vọng sưu tầm bốn món cổ ngoạn của bốn nhà sáng lập.

Hắn chắc chắn đã có hai... hắn có thể đã tìm được ba...

Hiện giờ chúng ta chỉ có thể suy đoán tới đó thôi...”

“Ngay cả nếu hắn có được cái gì đó của Ravenclaw hoặc của Gryffindor, thì vẫn còn một Trường sinh linh giá thứ sau nữa.

Harry vừa nói vừa đếm trên mấy ngón tay.

“Trừ khi hắn có được cả hai. ”

“Thầy không nghĩ vậy.” cụ Dumbledore nói.

“Thầy nghĩ thầy biết Trường sinh linh giá thứ sáu là cái gì.

Thầy không biết con sẽ nói gì nếu thầy thú thực là thầy đã tò mò trong một thời gian dài hành vi của con rắn Nagini?”

“Con rắn à?”

Harry giật mình nói.

“Có thể dùng thú vật làm Trường sinh linh giá sao?”

“Ừ, làm vậy thì không khôn ngoan, vì ký thác một phần linh hồn của mình cho một thứ có thể tự suy nghĩ và di chuyển thì rõ ràng là một việc rất liều lĩnh.

Tuy nhiên, nếu suy tính của thầy đúng, thì khi Voldermort vào nhà cha mẹ con với ý đồ giết con, hắn vẫn còn thiếu ít nhất một Trường sinh linh giá trong mục tiêu sáu cái của hắn.

Hắn dường như để dành qui trình tạo Trường sinh linh giá cho những cái chết đặc biệt có ý nghĩa.

Con chắc đã nằm trong trường hợp này.

Hắn tin là bằng cách giết con, hắn sẽ tiêu diệt được mối nguy mà lời tiên tri đã vạch ra.

Hắn tin alf hắn đang làm cho mình trở nên vô địch.

Thầy chắc chắn hắn có ý định tạo cái Trường sinh linh giá cuối cùng bằng cái chết cảu con.

Và như chúng ta biết, hắn đã thất bại.

Tuy nhiên, sau vài năm tạm nghỉ, hắn đã dùng con rắn Nagini để giết một ông già Muggle và lúc đó hắn nảy ra ý tưởng biến Nagini thành cái Trường sinh linh giá cuối cùng của hắn.

Con rắn nhấn mạnh mối liên hệ giữa hắn và Slytherin, điều này càng làm tăng tính huyền bí của Chúa tể Voldermort.

Thầy tin hắn có lẽ cũng khoái con rắn không thua bất cứ thứ nào.

Chắc chắn hắn thích giữ nó bên cạnh và chỉ là mộ kẻ Xà khẩu thôi, mà hắn có vẻ khống chế được con rắn ở một mức độ khác thường.”

“Vậy là,” Harry nói, “quyển nhật lý đã bị hủy, chiếc nhẫn cũng đã bị hủy.

Chiếc cúp, dây chuyền và con rắn vẫn còn nguyên đó và thầy nghĩ có thể có một Trường sinh linh giá vốn là di vật của Ravenclaw hoặc Gryffindor?”

“Đúng, một tóm tắt cô đọng và chính xác một cách đáng phục,” cụ Dumbledore nói và cúi đầu.

“Vậy...

Thưa thầy, thầy vẫn đang tìm kiếm chúng?

Có phải những lần thầy vắng mặt ở trường là lúc thầy đi tìm chúng không?”

“Đúng,” cụ Dumbledore nói.

“Thầy đã tìm kiếm từ lâu nay rồi.

Thầy nghĩ, có thể...

Thầy sắp tìm ra một Trường sinh linh giá nữa.

Có những dấu hiệu đầy hy vọng.”

“Vậy nếu thầy tìm được,” Harry nói nhanh, “con có thể đi cùng thầy để giúp thầy hủy nó không?”

Cụ Dumbledore nhìn Harry rất chăm chú một lát trước khi nói, “Được, thầy cho là được.”

“Con được phép?”

Harry hỏi lại, hoàn toàn xửng sốt.

“Ồ, thật chứ,” cụ Dumbledore nói, nhẹ mỉm cười.

“Thầy nghĩ con có được cái quyền ấy.”

Harry cảm thấy lòng mình rộn lên.

Thiệt là khoái khi được một phen không phải nghe toàn những lời khuyên răn cảnh giác và che chở.

Các ông và các bà hiệu trưởng trên những bức tường chung quanh có vẻ ít xúc động bởi quyết định của cụ Dumbledore hơn.

Harry thấy một ít người lắc đầu và cụ Phineas Nigellus thậm chí còn khịt mũi.

“Thưa thầy, mỗi khi một Trường sinh linh giá bị tiêu hủy, Voldermort có biết không?

Hắn có cảm nhận được điều đó không?”

Harry hỏi, phớt lờ những bức chân dung.

“Một câu hỏi hay lắm, Harry.

Thầy tin là không.

Thầy tin là giờ đây Voldermort đã quá chìm đắm trong tội ác và những phần người cốt yếu đã bị tách rời khỏi hắn quá lâu, hắn không còn cảm nhận như chúng ta nữa.

Có thể vào lúc tàn đời, hắn sẽ ý thức sự mất mát của hắn… thí dụ, hắn đã không ý thức được việc cuốn nhật ký đã bị tiêu hủy, mãi cho tới khi hắn buộc Lucius Malfoy nói ra sự thật.

Thầy nghe nói khi Voldermort khám phá ra cuốn sách đã bị xé nát và bị tước hết quyền lực, cơn thịnh nộ của hắn khủng khiếp không tưởng tượng nổi.”

“Nhưng con tưởng hắn muốn Lucius Malfoy lén đưa cuốn nhật ký vô trường Hogwarts chứ ?”

“Phải, Voldermort muốn vậy, nhiều năm về trước, khi hắn còn yên chí là hắn có thể tạo thêm nhiều Trường sinh linh giá nữa.

Nhưng dù vậy, Lucius lẽ ra nên đợi lệnh Voldermort và lão ta chẳng bao giờ nhận được lệnh đó, bởi vì Voldermort biến mất ngay sau khi đưa cho lão cuốn nhật ký.

Chắc chắn Voldermort nghĩ rằng Lucius sẽ không dám làm gì với cái Trường sinh linh giá đó ngoài việc giữ gìn nó cẩn thận.

Nhưng hắn đã bị hố khi trông cậy quá nhiều vào nỗi sợ Chúa tể của Lucius : Voldermort đã biến mất một thwoif gian dài và Lucius tưởng chúa tể của lão đã chết.

Dĩ nhiên, Lucius không biết cuốn nhật ký đó thực ra là cái gì.

Thầy nghĩ Voldermort có nói với Lucius rằng cuốn nhật ký có thể khiến cho cánh cửa Phòng chứa Bí mật được mở ra lại bởi vì nó đã được khéo léo ếm bùa.

Nếu Lucius biết được lão đang nắm giữ một phần hồn của chúa tể lão, chắc chắn lão sẽ phải trọng thị cuốn sách hơn.

Nhưng thay vì vậy, lão cứ làm tới, thực hiện kế hoạch cũ vì mục đích riêng.

Bằng cách gài cuốn nhật ký vào tay con gái của Arthur Weasley, , lão hy vọng làm một công mà được hai chuyện : vừa khiến ông Arthur mất uy tín, vừa quẳng đi được một đồ vật ma thuật mang tính cáo buộc rất cao.

Ôi... tội nghiệp Lucius...

Xét cơn thịnh nộ của Voldermort về chuyện Lucius đã quẳng cái Trường sinh linh giá để mưu lợi riêng, cộng thêm cuộc thảm bại ở Bộ Pháp thuật hồi năm ngoái, thì thầy chẳng ngạc nhiên chút nào nếu lúc này Lucius mừng thầm là lão ddwwocj an toàn trong nhà ngục Azkaban.”

Harry ngồi yên suy nghĩ một lát rồi hỏi : “Vậy nếu tất cả Trường sinh linh giá của hắn đều bị hủy, thì Voldermort có thể bị tiêu diệt không ?”

“Có, thầy nghĩ vậy.”

Cụ Dumbledore nói.

“Không có những Trường sinh linh giá đó, Voldermort sẽ chỉ là một con người bình thường với một linh hồn khiếm khuyết và tật nguyền.

Nhưng đừng quên là trong khi linh hồn hắn có thể bị thương tật đến mức không thể phục hồi được, thì trí tuệ và quyền lực pháp thuật của hắn vẫn còn nguyên.

Cần phải có một quyền lực và tài năng phi thường mới có thể tiêu diệt được một pháp sư như Voldermort, ngay cả khi không có những Trường sinh linh giá.”

“Nhưng ,à con chẳng có quyền lực và tài năng phi thường.”

Harry nói mà không kịp nín.

“Có, con có chứ,” cụ Dumbledore quả quyết nói.

“Con có một sức mạnh mà Voldermort không bao giờ có.

Con có thể...”

“Con biết rồi !”

Harry nói ngay.

“Con có thể yêu thương.”

Khó khăn lắm nó mới nhịn được không nói thêm, “Rồi sao nào!”

“Phải, Harry à, con biết yêu,” cụ Dumbledore dường như hoàn toàn hiểu được điều Harry vừa cố nhịn không nói ra.

“Xét tất cả những gì đã xảy ra cho con, điều đó đúng là vĩ đại và đáng kể.

Con vẫn còn trẻ quá nên chưa hiểu con khác thường như thế nào, Harry à.”

“Vậy, khi lời tiên tri cho rằng con sẽ có “một sức mạnh mà Chúa tể Hắc ám không biết đến”, sức mạnh đó chỉ là... tình yêu thôi sao?”

Harry hỏi, cảm thấy hơi thất vọng.

“Phải...

Chỉ là tình yêu,” cụ Dumbledore nói.

“Nhưng Harry à, đừng bao giờ quên rằng những điều lời tiên tri phán chỉ đáng kể bởi vì Voldermort đã quan trọng hóa nó.

Thầy đã nói với con điều này vào cuối năm học trước.

Voldermort chọn lọc một mình con ra như là kẻ nguy hiểm nhất đối với hắn – và khi làm như vậy, hắn đã khiến con trở thành người nguy hiểm nhất đối với hắn!”

“Nhưng đằng nào thì cũng thế thôi...”

“Không, khác chứ!”

Cụ Dumbledore nói, lúc này nghe giọng cụ không còn kiên nhẫn nữa.

Giơ bàn tay quắt queo đen đúa về phía Harry, cụ nói, “Con đã coi trọng quá đáng lời tiên tri!”

“Nhưng,” Harry lắp bắp, “nhưng thầy vừa nói rằng lời tiên tri có nghĩa...”

“Nếu Voldermort không hề nghe được lời tiên tri, thì liệu nó có linh nghiệm không?

Liệu nó có ý nghĩa gì không?

Dĩ nhiên là không!

Chẳng lẽ con nghĩ mọi lời tiên tri ở Phòng Tiên tri đều linh nghiệm hết à?”

“Nhưng,” Harry hoang nang nói, “nhưng năm ngoái thầy đã nói là hoặc Voldermort sẽ giết con hoặc con sẽ giết hắn...”

“Harry ơi, Harry à, đó chẳng qua vì Voldermort đã phạm một sai lầm trầm trọng và đã hành động theo lời sấm của giáo sư Trellawney!

Nếu Voldermort không giết cha con, liệu hắn có gieo vào lòng con khát vọng trả thù dữ dội như vậy không?

Dĩ nhiên là không!

Nếu hắn không buộc mẹ con hy sinh cho con, liệu hắn có tạo được cho con sự bảo vệ kỳ diệu mà hắn không thể nào xâm nhập được không?

Dĩ nhiên là không, Harry à.

Con hiểu chưa?

Voldermort đã tự tạo ra cho hắn kẻ thù đáng sợ nhất, như bạo chúa ở khắp nơi.

Con có biết rằng những bạo chúa sợ nhất những kẻ bị họ áp bức không?

Tất cả các bạo chúa đều hiểu rằng, một ngày nào đó, trong số những nạn nhân của họ chắc chắn sẽ có một người đứng lên chống lại họ.

Voldermort cũng vậy.

Hắn không ngừng cảnh giác đề phòng kẻ nào đó có thể thách thức quyền lực của hắn.

Hắn nghe nói về lwofi tiên tri và hành động hấp tấp, đưa tới hật quả là hắn không những đã tự chọn ra người rất có thể sẽ kế liễu đời hắn, mà còn trao cho người đó những vũ khí nguy hiểm khác thường!”

“Nhưng...”

“Con cần phải hiểu được điều này!”

Cụ Dumbledore nói, vừa đứng lên và sải bước quanh căn phòng, tấm áo chùng rực rỡ của cụ kêu sột soạt theo mỗi bước chân.

Harry chưa bao giờ thấy cụ bồn chồn như vậy.

“Bằng nỗ lực giết cho được con, Voldermort đã chọn lọc ra một con người xuất sắc đang ngồi trước mặt thầy và trao cho người đó phương tiện thích hợp.

Chính do sai lầm của Voldermort mà con có thể nhìn thấu những suy nghĩ của hắn, những tham vọng của hắn và con có thể hiểu ngôn ngữ loài rắn hắn dùng để ra lệnh, vậy mà, Harry ạ, bất chấp khả năng ưu việt nhìn thấu được thế giới của Voldermort – khả năng này là một món quà mà bất cứ Tử thần thực tử nào cũng dám giết người để có được – con không bao giờ mê đắm Nghệ thuật hắc ám, không bao giờ, cho dù chỉ trong một giây, con thể hiện một chút xíu mong muốn nào được trở thành một trong những đồ đệ của Voldermort!”

“Dĩ nhiên là không đời nào!”

Harry phẫn nộ đáp.

“Hắn đã giết cha con và mẹ con!”

“Tóm lại, khả năng yêu thương đã bảo vệ con!”

Cụ Dumbledore nói to.

“Đó là sự bảo vệ duy nhất có thể chống lại sức hấp dẫn của một quyền lực như quyền lực cảu Voldermort!

Bất chấp những cám dỗ con đã vượt qua, tất cả những chịu đựng đau khổ, con vẫn giữ được một tấm lòng trong sáng, như thuở con mới mười một tuổi, khi con đăm đăm nhìn vào tấm gương phản ảnh ước vọng của trái tim con và tấm gương chỉ trưng ra cho con cách ngăn chặn Chúa tể Voldermort, mà không trưng ra sự bất tử hay giàu có.

Harry à, con có biết là thật hiếm pháp sư phù thủy có thể nhìn thấy những gì con đã thấy trong tấm gương đó không?

Lẽ ra trước đây Voldermort nên biết hắn đang đối phó với cái gì, nhưng hắn đã không biết!

Còn giờ đây hắn đã biết.

Con đã thâm nhập vào đầu óc của Voldermort mà không hề tự làm tổn thương mình, nhưng hắn lại không thể chiếm hữu con mà không phải trải qua những cơn đau chí tử, như hắn đã khám phá ra ở Bộ Pháp thuật.

Thầy không nghĩ hắn hiểu được tại sao lại thế, Harry à, nhưng bởi vì hắn đã hấp tấp cắt xén linh hồn hắn, nên hắn không bào giờ ngừng lại để hiểu được sức mạnh vô song của một linh hồn tỏng trắng nguyên vẹn.”

“Nhưng thưa thầy,” Harry nói, trong một cố gắng dũng cảm để không có vẻ tranh cãi, “nhưng rốt cuộc thì cũng vậy thôi, phải không thầy?

Con sẽ phải giết hắn, hoặc là...”

“Sao lại PHẢI?

Dĩ nhiên là con phải làm thôi.

Nhưng không phải vì lời tiên tri.

Mà bởi vì con, chính con, sẽ không thể nào thảnh thơi chó tới khi con hành động!

Cả hai thầy trò mình đều biết vậy!

Con hãy tưởng tượng, chỉ trong chốc lát thôi, rằng con chưa bao giờ nghe nói đến lời tiên tri!

Thì con cảm thấy thế nào về Voldermort hở?

Suy nghĩ đi!”

Harry nhìn cụ Dumbledore đi qua đi lại trước mặt nó và suy nghĩ.

Nó nghĩ đến mẹ nó, cha nó và chú Sirius.

Nó nghĩ đến Cedric Diggory.

Nó nghĩ đến những tội ác khủng khiếp mà Voldermort đã làm.

Một ngọn lửa dường như bùng cháy bừng bừng trong lồng ngực nó, làm khô cả họng nó.

“Con muốn hắn bị tiêu diệt!”

Harry lặng lẽ nói.

“Và con muốn tiêu diệt hắn.”

“Dĩ nhiên là con sẽ làm vậy,” cụ Dumbledore kêu lên.

“Con hiểu đó, lời tiên tri không nói là con phải làm bất cứ điều gì!

Nhưng nó đã khiến Chúa tể Voldermort đánh dấu con là địch thủ ngang hàng...

Nói cách khá, con tự do lựa chọn con đường của mình, hoàn toàn tự do quay lưng lại với lời tiên tri!

Nhưng Voldermort sẽ vẫn coi trọng lời tiên tri đó.

Hắn sẽ tiếp tục săn đuổi con...

điều đó thực sự ắt sẽ dẫn đến...”

“Việc một trong hai kẻ sẽ phải kết liễu cuộc đời kẻ kia,” Harry đáp.

“Đúng vậy.”

Nhưng nó cuối cùng cũng hiểu được những gì cụ Dumbledore đang cố gắng nói với nó.

Đó chính là, Harry nghĩ, sự khác nhau giữa việc bước thẳng ra đấu trường, đầu ngẩng cao với việc để mình bị lôi vào tình thế phải chiến đấu để sống còn.

Có thể, một số người sẽ nói rằng chẳng có mấy lựa chọn giữa hai con đường cụ Dumbledore biết và Harry nghĩ với một niềm kiêu hãnh trào dâng, “Và mình cũng biết và cha mẹ mình cũng đã biết, rằng đó là sự khác biệt duy nhất trên thế gian này.”
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q6 - 24: Cắt sâu mãi mãi


Cắt sâu mãi mãi

Kiệt sức nhưng vui mừng về bài học buổi tối của nó, Harry kể cho Hermione và Ron nghe trong lớp học Bùa Chú vào sáng hôm sau về tất cả những gì đã xảy ra (lần đầu tiên nó ếm bùa Bịt Tai lên những đứa ngồi gần tụi nó).

Cả Hermione và Ron đều có ấn tượng thoả thuê về cái cách mà Harry đã dụ khị để lấy được ký ức của giáo sư Slughorn và cực kỳ khiếp sợ khi Harry kể cho tụi nó nghe về Trường Sinh Linh Giá của Voldemort và lời hứa của cụ Dumbledore là sẽ đem Harry đi cùng nếu cụ tìm ra được một Trường Sinh Linh Giá nữa.

“Quá đã,” Ron nói sau khi Harry kể cho tụi nó nghe hết mọi chuyện; Ron đang vung vẩy cây đũa phép lên trần nhà một cách vô ý tứ mà không hề để ý chút xíu nào đến chuyện nó đang làm.

“Quá đã, bồ sắp được đi cùng thầy Dumbledore thiệt rồi… và tìm cách tiêu huỷ…

Quá xá đã!”

“Ron, bồ đang làm tuyết rơi kìa,” Hermione nói giọng chịu đựng, vừa nắm cổ tay Ron và chuyển hướng cây đũa phép của nó khỏi hướng trần nhà, một khối lượng lớn bông tuyết quả là đang bắt đầu rơi từ trên trần xuống.

Harry để ý thấy Lavender Brown đang trừng mắt liếc Hermione từ cái bàn bên cạnh với đôi mắt đỏ hoe, và Hermione lập tức buông tay Ron ra.

“Ừ há…”

Ron nói khi nhìn xuống vai mình hơi hơi ngạc nhiên.

“Xin lỗi… trông cứ như tất cả tụi mình đều bị gàu khủng khiếp.”

Nó phủi những bông tuyết giả trên vai Hermione.

Lavender oà khóc.

Ron coi bộ áy náy vô cùng bèn quay lưng lại cô bé.

“Tụi này đã chia tay,” Ron thì thào kể cho Harry nghe.

“Tối hôm qua, lúc bắt gặp mình đi ra khỏi phòng ngủ với Hermione.

Hiển nhiên là cô ấy không thể trông thấy bồ nên cô ấy cho rằng chỉ có hai đứa tụi này với nhau…”

“À,” Harry nói, “vậy… là bồ không buồn phiền là chuyện đó kết thúc hả?”

“Không,” Ron thừa nhận.

“Lúc cô ấy la hét thì thiệt là kinh khủng, nhưng ít nhất thì mình cũng không phải làm chuyện cắt đứt với cô ta trước.”

“Đồ hèn!”

Hermione nói, mặc dù trông cô nàng có vẻ khoái.

“À, đêm qua thiệt là một đêm xui xẻo cho ái tình lãng mạn quanh đây.

Này Harry, Ginny và Dean cũng chia tay rồi.”

Harry tưởng như trong mắt Hermione có một cái nhìn khá am hiểu khi cô nàng nói với nó điều đó, nhưng có lẽ cô nàng không thể biết được ruột gan nó bỗng nhiên nhảy múa tưng bừng.

Ráng hết sức giữ cho mặt tỉnh bơ và giọng nói hờ hững, nó hỏi: “Chuyện ra sao?”

“Ôi, một chuyện thiệt là ngu…

Con nhỏ nói thằng này cứ tìm cách giúp nó chui qua lỗ chân dung, làm như nó không thể tự mình trèo qua được vậy… nhưng mà lâu này tụi nó đã lộm cộm với nhau rồi.”

Harry liếc nhìn Dean ở phía bên kia lớp học.

Anh chàng đương nhiên là buồn.

“Dĩ nhiên, chuyện này đặt bồ vô tình thế khó xử một tí há?”

Hermione nói.

“Ý bồ là sao?”

Harry nói ngay.

“Đội Quidditch,” Hermione nói.

“Nếu Ginny và Dean không thèm nói chuyện…”

“Ờ…ờ phải,” Harry nói.

“Thầy Flitwick,” Ron nói bằng giọng báo động.

Ông thầy Bùa Chú tí hon đang nhấp nhô đi về phía tụi nó và Hermione là người duy nhất xoay xở biến được giấm ra rượu; hũ rượu bằng thuỷ tinh của cô nàng đầy ắp một thứ chất lỏng đỏ thắm, trong khi những chất trong hũ của Harry và của Ron thì vẫn còn màu nâu xỉn.

“Này, này, các cậu,” giáo sư Flitwick ré lên mắng mỏ, “nói ít đi một chút, làm nhiều hơn một chút…

Để ta xem các trò thử…”

Hai đứa nó cùng giơ cao cây đũa phép, tập trung hết sức, và chĩa vào hũ rượu của tụi nó.

Giấm của Harry biến thành băng; hũ rượu của Ron thì nổ bùm.

“Được… bài tập về nhà đây,” giáo sư Flitwick nói, vừa xuất hiện lại từ dưới gầm bàn và đang gỡ mấy miếng thủy tinh ra khỏi chóp nón của thầy…

“thực hành vào.”

Tụi nó có một tiết trống hiếm hoi trùng với nhau sau buổi học Bùa Chú cho nên ba đứa cùng đi về phòng sinh hoạt chung.

Ron dường như vô cùng thơ thới về chuyện tan vỡ mối tình với Lavender và Hermione cũng có vẻ hân hoan, mặc dù khi bị hỏi đang cười chuyện gì vậy thì cô nàng chỉ nói, “Ngày đẹp trời mà.”

Cả hai đứa nó đều không để ý rằng một trận chiến dữ dội đang diễn ra bên trong đầu Harry:

Con bé là em của Ron.

Nhưng cô bé vừa đá đít thằng Dean!

Nó vẫn là em của Ron.

Mình là bồ ruột của Ron mà!

Điều đó chỉ tổ rách việc.

Nếu mình nói với Ron trước thì…

Nó sẽ đấm mày.

Nếu mình cóc ngán thì sao?

Nó là bồ ruột của mày mà!

Harry hầu như không để ý tụi nó đang trèo qua lỗ chân dung để vào căn phòng sinh hoạt chung đầy nắng, và chỉ lờ mờ nhận thấy một nhóm nhỏ học sinh năm thứ bảy đang xúm xít ở đó, cho đến khi Hermione kêu lên, “Chị Katie!

Chị đã trở về!

Chị có khoẻ không?”

Harry trố mắt nhìn: đúng thiệt là Katie Bell, trông hoàn toàn khoẻ mạnh và được một đám bạn hớn hở vây quanh.

“Chị khoẻ lắm!”

Cô nàng vui vẻ nói.

“Họ cho chị xuất viện Thánh Mungo hôm thứ hai, chị ở nhà hai ngày với ba má rồi trở về đây hồi sáng này.

Leanne vừa mới kể cho chị nghe về McLaggen và trận đấu vừa rồi, Harry à…”

“Ừ,” Harry nói, “Mà thôi, bây giờ chị đã về và Ron đã ổn, tụi mình sẽ có được một cơ hội đàng hoàng để dập te tua đội Ravenclaw, nghĩa là tụi mình vẫn còn đang chạy đua giành cúp, Katie à…”

Nó phải đặt câu hỏi cho Katie ngay; óc tò mò của nó tạm thời xua Ginny ra khỏi đầu.

Nó hạ thấp giọng khi đám bạn của Katie bắt đầu thu dọn đồ đạc của chúng; dường như tụi nó đang trễ buổi học Biến Hình.

“…xâu chuỗi đó… bây giờ chị có nhớ ra ai đã đưa nó cho chị không?”

“Không,” Katie nói, vừa lắc đầu buồn bã.

“Ai cũng hỏi chị câu đó, nhưng chị chẳng nhớ được một manh mối nào hết.

Điều cuối cùng mà chị còn nhớ là đi tới nhà vệ sinh nữ trong quán Ba Cây Chổi.”

“Vậy chị có chắc là đã đi vô nhà vệ sinh không?”

Hermione nói.

“Chị biết chị có đẩy cánh cửa ra,” Katie nói, “cho nên chị đoán là có kẻ nào đó núp đằng sau cánh cửa đã ếm bùa Độc Đoán lên chị.

Sau đó, trí nhớ của chị trống không cho đến khoảng hai tuần trước ở bệnh viện Thánh Mungo.

Như vầy nè, chị phải đi thôi, chị không muốn đẩy cô McGonagall tới chỗ bắt chị chép phạt cho dù hôm nay là ngày đầu tiên chị trở lại trường…”

Katie quơ lấy cái túi xách của mình và vội vã chạy theo các bạn, bỏ lại Harry, Ron và Hermione ngồi xuống bên cái bàn cạnh cửa sổ và nghiền ngẫm những điều cô gái vừa nói.

“Kẻ nào đó đã đưa xâu chuỗi cho Katie ắt hẳn phải là một đứa con gái hay một người đàn bà thì mới ở trong nhà vệ sinh nữ,” Hermione nói.

“Hay ai đó trông giống một đứa con gái hay một người đàn bà,” Harry nói.

“Đừng quên là có cả một vạc Đa Quả Dịch ở trường Hogwarts này.

Tụi mình cũng biết một số thuốc này đã bị đánh cắp mà…”

Nó nhìn thấy trong đầu nó cuộc diễu hành của những Crabbe, những Goyle vênh váo đi ngang, tất cả đều đã biến hình thành con gái.

“Mình nghĩ mìh sắp uống thêm một liều Phúc Lạc Dược,” Harry nói, “và tìm cách vô Phòng Theo Yêu Cầu một lần nữa.”

“Làm như vậy thì uổng thuốc hết sức,” Hermione nói thẳng thừng đồng thời đặt quyển m Tiết Của Spellman mà cô bé vừa mới lấy trong túi xách ra.

“May mắn chỉ đưa bồ tới mức đó thôi, Harry à.

Tình thế với thầy Slughorn thì khác; bồ luôn luôn có khả năng thuyết phục thầy, bồ chỉ cần tranh thủ thời cơ một tí.

Nhưng chỉ may mắn thôi thì không đủ để bồ có thể có được khi thầy Dumbledore dắt bồ đi cùng…” cô bé hạ giọng xuống thành tiếng thì thầm.

“Tụi mình có thể chế ra một ít không?”

Ron hỏi Harry, phớt lờ Hermione.

“Nếu có được một mớ thuốc dự trữ thì thiệt là hay…

Dòm vô sách của bồ coi…”

Harry rút cuốn Bào Chế Thuốc Cao Cấp của nó ra khỏi túi xách và tra tìm phần Phúc Lạc Dược.

“Úi trời ơi, nó cực kỳ phức tạp,” Harry nói, mắt rà xuống danh mục nguyên dược liệu.

“Và phải mất tới sáu tháng… phải sắc thuốc…”

“Rất điển hình…,” Ron nói.

Harry sắp sửa dẹp cuốn sách của nó đi thì nó để ý thấy góc của một trang được gấp xuống; nó bèn lật tới trang đó và thấy thần chú Cắt sâu mãi mãi, có phụ chú “Dành cho Kẻ thù,” mà nó đã đánh dấu vài tuần lễ trước.

Nó vẫn chưa tìm hiểu đó là cái gì, chủ yếu vì không muốn thí nghiệm thần chú đó khi có Hermione bên cạnh, nhưng nó đã tính thử ếm thần chú đó lên McLaggen trong dịp tới khi nó đi sau lưng anh chàng này mà anh ta không hay biết.

Người duy nhất không đặc biệt hài lòng khi thấy Katie Bell trở về trường là Dean Thomas, bởi vì người ta không cần nó thay thế Katie ở vị trí Truy Thủ nữa.

Nó chịu đòn một cách đầy cam chịu khi Harry báo tin, chỉ nhún vai và làu bàu gì đó, nhưng khi bước đi Harry có linh cảm là Dean và Seamus đang rù rì một cách chống đối sau lưng nó.

Trong hai tuần sau đó diễn ra những buổi tập Quidditch hay nhất mà Harry được biết trong vai trò đội trưởng.

Đội của nó rất hài lòng là đã dẹp được McLaggen, mừng nữa là cuối cùng Katie đã trở lại, và tụi nó bay cực kỳ giỏi.

Ginny không có vẻ gì buồn giận về chuyện tình với Dean bị tan vỡ; ngược lại, cô bé là linh hồn và sức sống của cả đội.

Cô bé nhái Ron lo lắng nhấp nha nhấp nhổm trước những cột gôn khi trái Quaffle lao tới, hay điệu bộ của Harry quát tháo ra lệnh cho McLaggen trước khi bị quật cho bất tỉnh, những trò này giúp cho cả đội vô cùng vui nhộn.

Harry cũng cười với những đứa khác, sung sướng có được lý do vô tư để nhìn Ginny; trong suốt buổi tập nó đã nhận được nhiều thương tích do trái banh Bludger gây ra bởi vì nó đã không luôn luôn để mắt tìm kiếm trái banh Snitch.

Trận chiến vẫn còn diễn ra trong đầu nó: Ginny hay Ron?

Đôi khi nó nghĩ rằng anh chàng Ron hậu-Lavender không phiền lắm nếu nó hẹn hò với Ginny, nhưng rồi nó nhớ lại vẻ mặt Ron khi nhìn thấy Ginny hôn Dean, và nó biết chắc chỉ cần nó cầm lấy tay Ginny thôi thì Ron cũng coi đó như một sự phản bội đê hèn…

Nhưng Harry không thể nào tự ngăn mình nói chuyện với Ginny, cười với cô bé, đi về với cô bé sau buổi tập; Cho dù lương tâm có nhức nhối cỡ nào, nó vẫn tự nhận thấy mình luôn tìm ra cách hay nhất để gặp gỡ cô bé khi cô bé chỉ có một mình.

Nếu thầy Slughorn tổ chức một bữa tiệc nữa trong những bữa tiệc nho nhỏ của thầy thì thiệt là lý tưởng, bởi vì Ron sẽ không lẩn quẩn chung quanh – nhưng thiệt là xui, thầy Slughorn dường như đã thôi tổ chức tiệc tùng rồi.

Một hai lần Harry đã tính đến chuyện nhờ Hermione giúp, nhưng nó lại nghĩ là nó sẽ không thể chịu đựng cái vẻ ta đây trên gương mặt cô nàng; Nó tưởng như nó đã thấy cái vẻ mặt đó đôi lần khi Hermione bắt gặp nó đắm đuối nhìn Ginny hay cười ngất vì những chuyện khôi hài của cô bé.

Và để làm cho vấn đề phức tạp thêm, nó cứ ngay ngáy lo rằng nếu nó mà không làm liền thì chắc chắn sẽ có người khác hẹn hò với Ginny ngay lập tức: nó và Ron ít nhất cũng đồng ý với nhau về cái sự thực tế là được quá nhiều người yêu mến cũng không tốt gì cho cô bé.

Tóm lại, sự cám dỗ muốn uống thêm một ngụm Phúc Lạc Dược nữa càng lúc càng mạnh mẽ hơn theo từng ngày, quả đúng đây là trường hợp phải “canh đúng thời cơ mà chớp lấy” như Hermione đã nhận định.

Những ngày hạnh phúc êm ái trôi qua đến suốt tháng năm, mỗi khi Harry gặp Ginny thì Ron dường như lúc nào cũng sát bên vai nó.

Harry thấy mình khao khát một cú may mắn là có cách nào đó tự dưng khiến Ron nhận ra rằng chẳng có gì khiến nó hạnh phúc hơn bằng chuyện người bạn thân nhất của nó và cô em gái nó yêu nhau và tốt nhất nó nên để cho hai đứa nó được ở bên nhau lâu hơn vài giây đồng hồ.

Dường như chẳng có cơ hội nào cả trong khi trận Quidditch cuối cùng của mùa bóng đang lù lù đến gần; Ron lúc nào cũng muốn nói chuyện chiến thuật với Harry và chẳng hề nghĩ đến cái gì khác.

Ron không phải là cá biệt trên phương diện này; cả trường đều quan tâm đến trận Gryffindor – Ravenclaw ở mức cực kỳ cao, bởi vì trận đấu này sẽ quyết định chức vô địch, và cho đến giờ đường đến chức vô địch vẫn còn rộng mở.

Nếu Gryffindor đánh bại đội Ravenclaw với tỉ số chênh hơn ba trăm điểm (một yêu cầu quá mức, tuy nhiên Harry chưa bao giờ thấy đội của nó bay hay hơn bây giờ) thì đội Gryffindor sẽ giành được chức vô địch.

Nếu thắng Ravenclaw nhưng kém hơn ba trăm điểm, tụi nó sẽ đứng thứ nhì, sau đội Ravenclaw; nếu thua trong vòng một trăm điểm thì sẽ đứng thứ ba, sau đội Hufflepuff, và thua hơn trăm điểm, thì sẽ đội sổ và Harry nghĩ mọi người sẽ không bao giờ, không bao giờ cho phép nó quên rằng nó là đội trưởng đầu tiên đã để cho đội Gryffindor lần-đầu-tiên-tụt-tới-đáy-bảng trong vòng hai thế kỷ.

Sự chuẩn bị cho trận đấu sống mái này có tất cả những đặc tính thông thường: thành viên của các Nhà kình địch tìm cách hù doạ những đội đối phương trong các hành lang; những bài vè khó chịu về những cầu thủ riêng lẻ được tổng dợt om xòm khi họ đi ngang qua; bản thân thành viên trong các đội hoặc tự tin vênh váo đi khắp nơi, thưởng ngoạn mọi sự chú ý, hoặc xẹt vô nhà vệ sinh giữa hai buổi học để nôn oẹ.

Chẳng biết tại làm sao mà trong suy nghĩ của Harry trận đấu đã trở nên gắn chặt chẽ với sự thành bại của kế hoạch nó dành cho Ginny.

Nó không thể nào không cảm thấy rằng nếu tụi nó thắng hơn ba trăm điểm, thì cái cảnh hồ hởi phấn khởi và một bữa tiệc sau trận đấu có thể sẽ có công hiệu không kém gì một ngụm Phúc Lạc Dược.

Giữa tất cả những mối bận tâm, Harry vẫn không quên một tham vọng khác: tìm ra việc mà Malfoy đang làm trong Phòng Theo Yêu Cầu.

Nó vẫn tiếp tục kiểm tra tấm Bản đồ Đạo tặc, và vì không thể phát hiện ra Malfoy trên bản đồ, nó suy ra rằng Malfoy vẫn còn dành rất nhiều thì giờ ở trong căn phòng đó.

Mặc dù Harry đang mất đi hy vọng vào được bên trong căn phòng, nó vẫn cố gắng thử bất cứ khi nào di quanh quẩn trong khu vực, nhưng mặc dù nó đã soạn lại yêu cầu như thế nào, bức tường vẫn trơ trơ không có cửa.

Vài ngày trước khi diễn ra trận đấu với đội Ravenclaw, Harry bỗng nhận thấy mình lẻ loi một mình trên đường từ phòng sinh hoạt chung xuống Đại Sảnh Đường để ăn tối, vì Ron đã thêm phen nữa chạy vội vào nhà vệ sinh gần đó mà ói, còn Hermione thì đã xẹt đi tìm giáo sư Vector về một cái lỗi mà cô nàng nghĩ rằng có thể cô nàng đã phạm phải trong bài luận về Số Học mới đây.

Vì thói quen hơn vì bất cứ lý do nào khác, Harry làm một đường vòng dọc theo hành lang tầng thứ bảy, vừa đi vừa kiểm tra tấm Bản đồ Đạo tặc.

Có một lúc nó không thể tìm thấy Malfoy ở đâu cả và nó cho là Malfoy nhất định ở bên trong Phòng Theo Yêu Cầu và rồi nó nhìn thấy cái chấm tí ti đeo nhãn Malfoy đứng trong một nhà vệ sinh nam ở tầng dưới, được kèm theo không phải Crabbe hay Goyle, mà là con ma Khóc nhè Myrtle.

Harry chỉ ngừng nhìn chòng chọc vô cái cặp không thể tin được này khi đâm sầm vô một bộ áo giáp.

Tiếng va chạm rổn rảng khiến nó dứt được cơn mơ màng.

Vội vã rời khỏi hiện trường để không bị thầy Filch tóm được, nó ba chân bốn cẳng chạy xuống cầu thang đá hoa cương và chạy dọc hành lang tầng lầu dưới.

Đứng bên ngoài nhà vệ sinh, nó ép tai vô cánh cửa.

Không nghe được gì cả.

Nó bèn đẩy cánh cửa mở ra thật khẽ.

Draco Malfoy đang đứng quay lưng lại cánh cửa, hai tay nó nắm chặt hai bên thành chậu rửa mặt, cái đầu tóc vàng trắng của nó cúi gục xuống.

“Đừng,” tiếng của con ma Khóc nhè Myrtle tỉ tê vang lên từ một trong những buồng cầu tiêu.

“Đừng… cứ nói với em chuyện gì không ổn… em có thể giúp anh…”

“Không ai có thể giúp được tôi,” Malfoy nói.

Toàn thân nó run lên.

“Tôi không thể làm chuyện đó… tôi không thể… chuyện đó sẽ không thành… và nếu tôi không làm ngay… hắn nói hắn sẽ giết tôi…”

Và Harry ngạc nhiên nhận ra Malfoy đang khóc, sự ngạc nhiên lớn đến nỗi nó đứng như bị trời trồng tại chỗ, quả thật là Malfoy đang khóc - nước mắt lăn dài xuống gương mặt xanh xao rơi xuống cái chậu đầy cáu ghét.

Malfoy há miệng ra thở và hớp lấy không khí và đột nhiên, nó giật mình thật mạnh, ngước lên nhìn tấm gương mờ bị rạn, và nhìn thấy Harry đang ngó nó chòng chọc từ phía sau.

Malfoy vòng lại, rút cây đũa phép ra.

Theo phản ứng bản năng, Harry cũng rút cây đũa phép của nó ra.

Phép nguyền của Malfoy trượt Harry vài phân, trúng cái đèn trên bức tường sau lưng nó, làm bóng đèn vỡ tan tành; Harry nhào qua một bên, nghĩ “Khinh thân!” và vẫy cây đũa phép, nhưng Malfoy chặn được và giơ cây đũa phép lên để phóng ra lời nguyền khác…

“Đừng!

Đừng!

Dừng tay lại!”

Con ma Khóc nhè Myrtle ré lên, giọng nó vang vọng inh tai trong nhà vệ sinh lát gạch.

“Ngừng lại!

NGỪNG LẠI!”

Một tiếng nổ đùng thiệt to vang lên và cái thùng rác đằng sau Harry nổ bùm; Harry cố gắng xài lời nguyền Tréo Giò nhưng lời nguyền của nó đánh trúng bức tường sau mang tai Malfoy và dội lại, làm tan tành cái bể chứa nước bên dưới con ma Khóc nhè Myrtle, con ma bèn gào lên khủng khiếp; nước ào chảy ra khắp nơi và Harry trượt chân ngã trong khi Malfoy méo mặt hô lên “Hành…”

Từ dưới sàn, Harry quơ cây đũa phép loạn xạ và rống lên, “CẮT SU MÃI MÃI!”

Máu phun vọt ra từ mặt và ngực Malfoy như thể nó vừa bị đâm chém bằng một lưỡi gươm vô hình.

Nó lảo đảo lùi lại rồi ngã gục xuống cái sàn ngập nước khiến nước bắn lên tung toé, cây đũa phép của nó rớt khỏi bàn tay phải buông thõng.

“Không….”

Harry há hốc miệng.

Vấp té, loạng choạng, Harry gượng đứng lên và nhào về phía Malfoy, gương mặt Malfoy lúc này đã đỏ lòm, hai bàn tay trắng bệch của nó cào cấu bộ ngực đẫm máu.

“Không…

Tôi không…”

Harry không biết là nó định nói cái gì; nó quỳ xuống bên cạnh Malfoy đang run bần bật trong vũng máu của chính mình.

Con ma Khóc nhè Myrtle gào lên điếc tai: “GIẾT NGƯỜI!

GIẾT NGƯỜI TRONG NHÀ VỆ SINH!

GIẾT NGƯỜI!”

Cánh cửa mở tung ra sau lưng Harry và nó nhìn lên, kinh hoàng: thầy Snape vừa xông vào nhà vệ sinh, mặt thầy tím bầm.

Đẩy mạnh Harry qua một bên, và lần theo những vết thương mà lời nguyền của Harry đã gây ra, thầy lẩm nhẩm một câu thần chú nghe gần giống như một bài ca.

Máu đang phun vọt ra dường như dịu lại; thầy Snape lau nốt vết máu trên mặt Malfoy và lặp lại câu thần chú.

Bây giờ vết thương dường như được đan khít lại.

Harry vẫn trố mắt nhìn, quá hãi hùng vì chuyện nó đã làm, hầu như không nhận ra rằng nó cũng bị ướt sũng máu và nước.

Con ma Khóc nhè Myrtle vẫn còn thổn thức và rên rỉ trên cao.

Khi thầy Snape đã thực hiện xong thần chú phản nguyền lần thứ ba, thầy dựng Malfoy đứng dậy.

“Trò cần đến bệnh thất ngay.

Có thể có một số thẹo, nhưng nếu trò uống ngay thuốc chiết từ bạch tiễn thì có thể tránh được cả những vết thẹo…

Đi thôi…”

Thầy đỡ Malfoy đi băng qua nhà vệ sinh, đến cửa, thầy quay lại nói bằng giọng giận dữ lạnh băng, “Còn trò, Potter…

Trò đợi ta ở đây.”

Harry không hề nghĩ đến việc dám không vâng lời, dù trong tích tắc.

Nó từ từ đứng lên, run rẩy, và nhìn xuống cái sàn ướt.

Vết máu loang giống như những đoá hoa đỏ thắm trên mặt sàn.

Nó thậm chí không thể tự nghĩ đến chuyện bảo con ma Khóc nhè Myrtle nín đi, bởi vì con ma vẫn tiếp tục rên rỉ thổn thức với vẻ khoái trá càng lúc càng rõ.

Mười phút sau thầy Snape quay trở lại.

Thầy bước vào nhà vệ sinh và đóng cánh cửa lại sau lưng.

“Đi,” thầy bảo Myrtle, và con ma vút trở lại cái bồn cầu của nó ngay lập tức, bỏ lại phía sau một sự im lặng tuyệt đối.

“Con không dè chuyện xảy ra,” Harry nói ngay.

Giọng của nó vang vọng trong khoảng không gian ướt át lạnh lẽo.

“Con không biết hiệu lực của thần chú là gì.”

Nhưng thầy Snape không cần biết điều này.

“Hình như ta đánh giá trò chưa đúng, Potter à,” thầy lặng lẽ nói.

“Ai có thể nghĩ trò biết đến một ma thuật Hắc ám như thế?

Ai đã dạy trò câu thần chú đó?”

“Con…

đọc nó ở đâu đó.”

“Ở đâu?”

“Trong một cuốn… sách của thư viện,” Harry xạo đại ra.

“Con không thể nhớ tựa của cuốn sách…”

“Nói láo,” thầy Snape nói.

Cổ họng Harry chợt khô đắng.

Nó biết thầy Snape sắp làm gì, và nó chưa bao giờ có thể ngăn chặn được chuyện đó…

Nhà vệ sinh dường như lung linh mờ ảo trước mắt nó; Nó chiến đấu quyết liệt để đóng lại hết các ý nghĩ, nhưng dù nó đã cố gắng hết sức, cuốn Bào Chế Thuốc Cao Cấp của Hoàng tử Lai cứ bơi lờ lững lên vùng trán của não bộ nó.

Và rồi nó lại đăm đăm nhìn thầy Snape, giữa nhà vệ sinh đổ nát và ngập nước.

Nó nhìn chòng chọc vào đôi mắt đen của thầy, hy vọng một cách vô vọng rằng thầy Snape chưa nhìn thấy cái mà nó sợ, nhưng…

“Đem cặp sách của trò tới cho ta,” thầy Snape nói nhỏ, “và tất cả sách giáo khoa của trò.

Tất cả.

Đem đến cho ta tại đây.

Làm ngay.”

Không có lý do gì để tranh cãi cả.

Harry quay đi ngay và lao ra khỏi nhà vệ sinh.

Khi đã ra đến hành lang, nó ù chạy về phía Tháp Gryffindor.

Hầu hết đám học trò đều đang đi ngược với nó; chúng há hốc kinh hoàng nhìn nó, ướt sũng máu và nước, nhưng nó không trả lời bất cứ câu hỏi nào nhắm vào nó trong lúc đi ngang.

Nó có cảm giác chết điếng; như thể một con vật cưng dễ thương bỗng trở nên hung dữ bất ngờ; Hoàng tử nghĩ gì mà chép một câu thần chú như vậy trong sách của yy chứ?

Và chuyện gì sẽ xảy ra nếu thầy Snape nhìn thấy cuốn sách đó?

Liệu thầy có kể cho thầy Slughorn biết…

Bao tử Harry quặn lên…

Làm thế nào mà Harry đạt được kết quả tốt như vậy về môn Độc Dược suốt cả năm trời?

Liệu thầy có tịch thu hay tiêu hủy cuốn sách đã dạy cho Harry biết bao nhiêu điều… cuốn sách đó đã trở thành một kiểu dẫn đường hay một người bạn.

Harry không thể chuyện đó xảy ra…

Nó không thể…

“Nãy giờ bồ ở đâu?

Tại sao bồ ướt nhem?

Có phải máu không?”

Ron đang đứng trên đầu cầu thang, ngơ ngác nhìn cái cảnh tượng của Harry.

“Mình cần cuốn sách của bồ,” Harry thở hổn hển.

“Cuốn Độc Dược của bồ.

Nhanh lên…

đưa cho mình…”

“Nhưng còn cuốn sách của Hoàng tử…”

“Mình sẽ giải thích sau!”

Ron rút cuốn Bào Chế Thuốc Cao Cấp của nó ra khỏi túi xách và đưa nó cho Harry; Harry vọt qua khỏi Ron và quay trở lại phòng sinh hoạt chung.

Ở đây nó chụp lấy cặp đi họ của nó, không buồn để ý đến những vẻ mặt kinh ngạc của nhiều người vừa mới ăn xong bữa cơm chiều, nó lao mình ra khỏi lỗ chân dung, và chạy đùng đùng xuống hành lang tầng bảy.

Nó đứng khựng lại bên cạnh tấm thảm thêu những con quỉ khổng lồ múa ba lê, nhắm mắt lại và bắt đầu đi.

Tôi cần một chỗ để giấu cuốn sách của tôi…

Tôi cần một chỗ để giấu cuốn sách của tôi…

Tôi cần một chỗ để giấu cuốn sách của tôi…

Ba lần nó đi lên đi xuống phía trước bức tường nói dài trống trơn.

Khi nó mở mắt ra, thì rốt cuộc cũng đã tìm thấy được: cánh cửa mở vào Phòng Theo Yêu Cầu.

Harry vặn mở cánh cửa ra, lách vào bên trong, và đóng sầm cánh cửa lại.

Nó há hốc miệng.

Bất chấp chuyện đang gấp rút, bất chấp cơn hoảng loạn, bất chấp nỗi sợ hãi về cái đang chờ nó trong nhà vệ sinh nam, Harry không thể không thán phục cái mà nó dang ngắm nhìn.

Nó đang đứng trong một căn phòng có kích thước của một thánh đường mênh mông, có những cửa sổ cao đang rọi những vệt ánh sáng xuống một thứ giống như một thành phố với những bức tường cao vút, được xây dựng bằng những thứ mà Harry biết ắt hẳn là những đồ vật được cất giấu bởi hàng bao nhiêu thế hệ cư dân trường Hogwarts.

Có những hành lang và những con đường mà vỉa hè cao ngất nghểu những đống bàn ghế hư gãy, bị đùn vô đây có lẽ là để phi tang bằng chứng của pháp thuật tồi, hoặc là do bọn gia tinh vẫn tự hào về toà lâu đài giấm dúi giấu đi.

Có hàng ngàn, hàng ngàn cuốn sách, chắc là sách cấm hay sách có hình vẽ bậy bạ, hay sách ăn cắp.

Có những cái ná thun có cánh và Dĩa Bay Có Nanh.

Một số món vẫn còn chứa đủ sự sống để miễn cưỡng ngoi lên trên những núi đồ cấm khác; có những cái chai sứt mẻ đựng độc dược đã đông lại, rồi mũ nón, đồ trang sức, áo choàng; có những thứ trông giống vỏ trứng rồng, và cả những cái chai còn đóng nút mà chất đựng bên trong vẫn toả sáng lung linh một cách quỷ quyệt; khá nhiều thanh gươmg rỉ sét, và một cái búa nặng nề đẫm máu.

Harry lao vội tới trước, đi vào một trong rất nhiều hành lang giữa kho tàng được giấu giếm này.

Nó quẹo phải, đi ngang qua một con quỉ khổng lồ nhồi bông thiệt bự, chạy tiếp một quãng ngắn nữa, quẹo trái ở cạnh một cái Tủ Biến Mất mà Motague đã lạc vô hồi năm trước, cuối cùng nó dừng bên cạnh một cái tủ chén to đùng.

Dường như cái mặt tủ phồng rộp đã từng bị tạt a-xit.

Nó mở một trong những cánh cửa cọt kẹt của cái tủ: cái tủ đã được dùng làm chỗ cất giấu con gì đó đã chết lâu rồi trong một cái lồng; bộ xương của con đó có năm cái chân.

Harry nhét cuốn sách của Hoàng tử Lai vào phía sau của cái lồng rồi đóng sập cửa lại.

Nó ngừng lại một lát, tim nó đập mạnh kinh khủng, nó ngó quanh tất cả đống lộn xộn ngổn ngang ấy…

Liệu sau này nó có thể tìm lại được đúng chỗ này giữa vô vàn đồ lạc son ấy?

Chụp lấy bức tượng bán thân sứt mẻ của một chiến tướng già xấu kinh hồn bên trên một cái sọt thưa gần đó, nó đặt cái tượng lên trên đầu cái tủ mà nó đã giấu cuốn sách, đội lên đầu bức tượng một bộ tóc giả cũ xì dơ hầy và gắn thêm một cái nón hình lưỡi liềm nhớp nháp để làm cho cái tượng thêm độc đáo dễ phân biệt, sau đó nó chạy như bay ngược trở lại những hành lang, giữa đống đồ tạp pín lù, chạy nhanh hết sức mình trở ra cửa, quay ra hành lang, đóng sầm cánh cửa sau lưng và cánh cửa biến thành tường đá ngay tức thì.

Harry chạy hết tốc lực về phía nhà vệ sinh tầng dưới, vừa chạy vừa nhét cuốn sách Bào chế thuốc cao cấp của Ron vô trong cặp táp.

Một phút sau, nó đã trở lại đứng trước mặt thầy Snape, thầy lẳng lặng giơ tay ra để lấy cái cặp của Harry.

Hary nộp cái cặp của nó, thở hổn hển, ngự đau nhói và chờ đợi.

Thầy Snape rút từng cuốn một trong mớ sách của Harry ra xem xét.

Cuối cùng, cuốn sách cuối cùng còn lại là cuốn sách Độc dược mà thầy xem xét rất cẩn thận trước khi nói.

“Đây là cuốn Bào chế thuốc cao cấp của trò, phải không, Potter?”

“Dạ,” Harry nói, vẫn còn thở nặng nhọc.

“Trò có chắc chắn không, Potter?”

“Dạ,” Harry nói, giọng đượm vẻ bất chấp.

“Đây là cuốn Bào chế thuốc cao cấp

Mà trò mua ở tiệm Flourish và Blotts à?”

“Dạ,” Harry nói dứt khoát.

“Vậy thì tại sao,” Thầy Snape hỏi, “”nó lại có tên “Roonil Wazlib” viết bên trong bìa sách?”

Trái tim Harry lỡ mất một nhịp.

“Thưa thầy đó là hỗ danh cảu con,” nó nói.

“Hỗn danh của trò à,” Thầy Snape lặp lại.

“Dạ…

đó là cái tên bạn bè gọi con,” Harry nói.

“Ta hiểu hỗn danh là cái gì,” Thầy Snape nói.

Đôi mắt đen lạnh lùng lại một lần nữa khoan xoáy vào mắt Harry; nó cố gắng không nhìn vào mắt thầy.

Đóng suy nghĩ lại... khép đầu óc lại...

Nhưng nó đã không chịu học cách alfm điều đó một cách đúng đắn...

“Trò có biết là ta nghĩ gì không, Potter ?”

Thầy Snape nói rất khẽ.

“Ta nghĩ trò là một kẻ dối trá và lừa đảo và trò xứng đáng bị phạt cấm túc với ta mỗi thứ bảy cho đến cuối học kỳ.

Trò nghĩ sao, Potter?”

“Con... thưa thầy, con không đồng ý,” Harry nói, vẫn không chịu nhìn vào mắt Thầy Snape.

“Tốt, chúng ta sẽ xem trò cảm thấy thế nào sau những buổi cấm túc,” Thầy Snape nói.

“Mười giờ sáng thứ bảy nhé, Potter.

Trong văn phong của ta.”

“Nhưng thưa thầy...”

Harry nói, ngước nhìn lên khẩn khoản.

“Quidditch... trận đấu cuối cùng của...”

“Mười giờ sáng,” Thầy Snape thì thầm kèm theo một nụ cười để lộ mấy cái răng vàng khè.

“Tội nghiệp đội Gryffindor... ta e rằng sẽ đứng hạng tư năm nay...”

Và thầy rời khỏi nhà vệ sinh không nói thêm lời nào, bỏ lại Harry nhìn chòng chọc vào cái gương mờ rạn nứt, cảm thấy buồn nôn hơn mọi cơn buồn nôn mà Ron từng cảm thấy trong đời, nó tin chắc như vậy.

Một tiếng đồng hồ sau trong phòng sinh hoạt chung, Hermione nói, “Mình sẽ không nói “mình đã nói với bồ rồi mà”.”

“Thôi đi, Hermione,” Ron giận dữ nói.

Harry bỏ bữa ăn tối; nó không còn lòng dạ đâu mà ăn uống.

Nó vừa kể xong cho Ron, Hermione và Ginny nghe chuyện gì đã xảy ra, mà dường như cũng không cần phải nói nhiều nữa.

Tin tức đã loan đi rất nhanh: có vẻ con ma khóc nhè Myrtle đã tự đảm nhiệm cái việc hiện ra trong mọi nhà vệ sinh của tòa lâu đài để kể lể câu chuyện; Malfoy đã được Pansy Parkinson đến thăm trong bệnh thất, cô nàng này không để uổng phí chút thì giờ nào trong chuyện phỉ bắng Harry cùng khắp và Thầy Snape đã báo cho giáo ban chính xác chuyện gì đã xảy ra.

Harry đã bị gọi ra khỏi phòng sinh hoạt chung để chịu đựng mười lăm phút cực kỳ khốn khổ khi hầu chuyện với giáo sư McGonagall, bà đã nói với nó là nó may mắn lắm mới không bị đuổi học và bà hoàn toàn ủng hộ hết mình sự trừng phạt của Thầy Snape là cấm túc mỗi sáng thứ bảy cho đến hết học kỳ.

“Mình đã nói với bồ là có cái gì đó không ổn với con người gã Hoàng tử mà,” Hermione nói, hiển nhiên là không tự ngăn mình được.

“Và mình nói đúng, đúng không?\.”

“Không, mình không nghĩ bồ đúng,” Harry bướng bĩnh nói.

Không cần Hermione quở trách nó cũng đã đủ khốn đốn rồi’ Vẻ mặt của các cầu thủ trong đội Gryffindor khi nó nói với họ là nó không thể thi đấu vào thứ bảy đã là sự trừng phạt tồi tệ nhất rồi.

Nó có thể cảm thấy Ginny đang nhìn nó lúc này nhưng nó không dám nhìn lại; nó không muốn nhìn thấy nỗi thất vọng hay cơn giận dữ trong ánh mắt cô bé.

Nó vừa mới nói với Ginny là cô bé sẽ chơi ở vị trí Tầm thủ vào thứ bảy và Dean sẽ trở vô đội và thế vào vị trí Truy thủ của cô bé.

Có thể, nếu họ thắng, Ginny và Dean sẽ làm lành lại với nhau trong niềm hân hoan sau trận đấu...

Ý nghĩ đó đâm xuyên qua Harry như một lưỡi dao lạnh như bằng...

“Harry à,” Hermione nói, “Làm sao mà bồ vẫn cứ bênh chằm chặp cuốn sách khi mà thần chú đó...”

“Xin bồ làm ơn đừng lải nhải về cuốn sách nữa!”

Harry gắt.

“Hoàng tử chỉ chép nó ra chứ anh ta đâu có khuyên ai sử dụng nó!

Theo tất cả những gì chúng ta biết, anh ta chỉ ghi chú về cái gì đó đã được sử dụng để chống lại anh ta!”

“Mình không tin điều này,” Hermione nói.

“Bồ đang thực sự biện hộ cho...”

“Không phải mình biện hộ cho việc mình đã làm!”

Harry nói nhanh.

“Mình ước gì mình đã không làm chuyện đó, mà không phải chỉ vì mình bị cả tá buổi cấm túc.

Bồ biết mình không đời nào dùng một thần chú như vậy, cho dù để ếm một đứa như Malfoy, nhưng bồ không thể trách Hoàng tử, anh ta không hề viết “hãy thử cái này, thiệt là hay”... anh ta chỉ ghi chú cho bản thân mình, chứ không phải để cho bất cứ ai khác...”

“Có phải bồ đang nói với mình,” Hermione nói, “là bồ sẽ trở lại...?”

“...và lấy quyển sách?

Đúng, mình sẽ làm vậy,” Harry nói mạnh mẽ.

“Nghe này, nếu không nhờ Hoàng tử thì mình sẽ không được thưởng Phúc Lạc dược.

Mình sẽ không bao giờ biết cách cứu Ron khỏi bị ngộ độc, mình sẽ không bao giờ...”

“...có một tiếng tăm như một thiên tài Độc dược mà bồ không xứng đáng được hưởng, chứ gì,” Hermione nói giọng kinh tởm.

“Dẹp chuyện đó đi, Hermione!”

Ginny nói và Harry ngước nhìn lên, quá sức ngạc nhiên, quá sức biết ơn.

“Căn cứ vào âm thanh của lời nguyền thì, Malfoy đã cố gắng sử dụng một Lời nguyền Bất Hối, chị nên mừng là Harry đã có sẵn cách hay để đối phó ngay!”

“À, dĩ nhiên chị vui mừng là Harry đã không bị trúng lời nguyền!”

Hermione nói, rõ ràng là cô nàng đã bị chọc tức.

“Nhưng em không thể coi thần chú Cắt sâu mãi mãi là hay, Ginny à, thử nhìn coi nó đã đưa Harry vô tình huống thế nào!

Và chị nghĩ, xét hậu quả của nó đối với cơ hội của mọi người trong trận đấu…”

“Ôi, chị đừng bắt đầu làm như thể chị am hiểu Quidditch lắm ấy,” Ginny ngắt lời Hermione, “Chị sẽ tự chuốc khổ vào thân thôi.”

Harry và Ron trố mắt nhìn: Hermione và Ginny, hai cô nàng này xưa nay vốn thân thiết thuận hòa, bây giờ lại ngồi khoanh tay trừng mắt nhìn về hai hướng ngược nhau.

Ron nhìn Harry lo lắng, rồi chụp đại một cuốn sách nào đó mở ra che mặt mình để tránh đối mặt cái cảnh đó.

Tuy nhiên, Harry, mặc dù biết là nó chẳng xứng đáng được bện vự, bỗng nhiên cảm thấy vui lên một cách không thể tin ddwwocj, cho dù suốt buổi tối đó không ai nói năng gì nữa.

Tâm trạng lâng lâng của nó không kéo dài lâu.

Ngày hôm sau nó phải chịu đựng những lời xỉ vả của bọn Slytherin, ấy là chưa kể đến cơn giận vô cùng của đám Gryffindor, tụi nó buồn bực nhất là đội trưởng của tụi nó lại tự khiến cho mình bị loại ra khỏi trận chung kết của mùa bóng.

Vào sáng thứ bảy, cho dù có nói thế nào với Hermione rồi, Harry cũng sẽ vui sướng đánh đổi tất cả Phúc lạc dược trên thế gian này để được đi ra sân đấu Quidditch với Ron, Ginny và những người khác.

Nó gần như không thể chịu đựng nổi khi phải quay lưng lại đám đông học sinh đang trẩy ra sân trong ánh nắng, tất cả đều đeo phù hiệu và đội nón, phe phẩy biểu ngữ với khăn quàng cổ để bước xuống những bậc thang đá dẫn đến tầng hầm và cứ đi cho đến khi tiếng hò reo của đám đông xa dần và tắt lịm, trong lòng biết rằng sẽ không thể nghe được một lời bình luận nào hay một tiếng hò reo, hay một lời la chộ.

“À, Potter,” Thầy Snape nói khi Harry gõ lên cánh cửa và bwocs vào văn phòng quen thuộc một cách khó ưa mà thầy đã không chịu dọn đi, dù bây giờ thầy đã chuyển lên dạy ở tầng trên; Căn phòng vẫn tối tù mù như hồi nào giờ, còn nguyên những thứ đã chết và nhơn nhớt lờ lững trong những hũ độc dược có màu chất kín khắp các bức tường.

Như báo điềm xấu, ngay tại cái bàn rõ ràng là được sắp đặt cho nó ngồi có mấy cái hộp bám đầy mạng nhện chất đống trên đó; chúng toát ra một sự vô nghĩa, nhàm chán và nhọc nhằn của công việc mà chúng mang.

“Thầy Filch vẫn cứ tìm kiếm ai đó để thanh lọc những hồ sơ cũ này,” Thầy Snape nói nhỏ nhẹ.

“Chúng là hồ sơ lưu về những kẻ quyaaj phá khác ở trường Hogwarts và những hình phạt dành cho chúng.

Chỗ nào mực đã phai, hay phiếu đã bị chuột gặm nhấm hư hại, chúng ta muốn trò chép mới lại những tội lỗi ấy và sự trừng phạt, nhớ bảo đảm đúng thứ tự ABC, thay chúng vô trong hộp.

Trò không được dùng Pháp thuật.”

“Thưa giáo sư, được,” Harry nói, nhấn vào ba từ đầu với tất cả sự khinh miệt mà nó có thể bày tỏ.

“Ta nghĩ trò có thể bắt đầu,” Thầy Snape nói, một nụ cười nham hiểm nở trên môi, “từ hộp một ngàn mười hai đến một ngàn năm mwoi sáu.

Trò sẽ tìm thấy một số tên tuổi quen thuộc trong đó khiến cho công việc thêm phần thú vị.

Đây, trò coi…”

Thầy rút ra một cái phiếu từ một trong những cái hộp đặt trên cùng có viền trang trí và đọc, “James Potter và Sirius Black.

Bị bắt quả tang sử dụng ma thuật bất hợp pháp ếm lên Bertram Aubrey.

Đầu cảu Aubrey phình to gấp đôi kích thước bình thường.

Cấm túc gấp đôi,” Thầy Snape châm chọc.

“Ắt hẳn là công việc này sẽ an ủi trò, bởi vì tuy hai người đó không còn, nhưng hồ sơ lưu những thành tích vĩ đại của họ vẫn được lưu lại.”

Harry cảm thấy cơn sôi sục quen thuộc đang cồn lên trong gan ruột.

Cắn chặt lưỡi để tự ngăn mình trả đũa, nó ngồi xuống trước mấy cái hộp và kéo chúng lại gần.

Như Harry có thể thấy trước, đó là một công việc vô ích chán phèo, được điểm xuyết cho đậm đà (như thầy Snape đã rõ ràng sắp đặt) bằng những cơn quặn bao tử báo hiệu rằng nó vừa đọc được tên ba nó và chú Sirius, thường thường đi thành đôi với nhau trong những trò quá quắt đa dạng, thỉnh thoảng kèm theo cái tên Remus Lupin và Peter Pettigrew.

Và trong khi nó chép lại tất cả những trò quậy phá cùng hình phạt của họ, nó tự hỏi chuyện gì đang diễn ra bên ngoài, ở ngoài đó trận đấu ắt hẳn đã bắt đầu…

Ginny ở vị trí Tầm thủ giao đấu với Cho…

Harry cứ liếc chừng cái đồng hồ khổng lồ kêu tích tắc trên tường.

Dường như cái này chạy chậm bằng một nửa đồng hồ thông thường; rất có thể Thầy Snape đã phù phép cho chạy cực kỳ chậm như thế?

Có lẽ nào nó mới chỉ ngồi đây có nửa tiếng đồng hồ… một tiếng đồng hồ… một tiếng rưỡi…

Bao tử Harry bắt đầu sôi ùng ục khi cái đồng hồ chỉ mười hai giờ rưỡi.

Thầy Snape, nãy giờ chẳng nói thêm tiếng nào kể từ khi giao cocong việc cho Harry, cuối cùng ngước nhìn lên lúc kim đồng hồ chỉ một giờ mười.

“Ta nghĩ nhiêu đó là đủ,” thầy lạnh lùng nói.

“Đánh dấu chỗ trò đã làm tới.

Trò sẽ làm tiếp vào lúc mười giờ sáng thứ bảy tuần sau.”

“Thưa thầy, vâng.”

Harry nhét đại những cái phiếu vô hộp và vội vã ra khỏi phòng trước khi Thầy Snape có thể thay đổi ý kiến, rồi chạy ngược lên những bậc thang đá, dỏng tai lên để nghe âm thanh vọng lại từ sân đấu, nhưng tất cả đều im ắng… vậy là trận đấu kết thúc rồi…

Nó ngập ngừng một chút bên ngoài Đại sảnh đường đông đúc, rồi chạy ù lên cầu thang đá hoa cương; cho dù đội Gry thắng hay thua, thì đội cũng thường tổ chức ăn mừng hay ăn tủi trong chính phòng sinh hoạt chung của nhà.

“Quid agis?”

Nó ngập ngừng nói với Bà Béo, băn khaown không biết nó có thể tìm thấy gì ở bên trong căn phòng.

Vẻ mặt của bà Béo thật khó đoán được khi bà trả lời, “Trò sẽ thấy.”

Và bà nhào tới trước.

Một tiếng gầm chúc tụng nổ ra từ cái lỗ sau lưng Bà Béo.

Harry há hốc miệng trong khi mọi người bắt đầu thét lên khi thấy nó xuất hiện; nhiều bàn tay lôi nó vô phòng.

“Chúng ta thắng rồi!”

Ron gào lên, nhảy bổ ra và quơ quơ cái cúp bạc trước mắt Harry.

“Chúng ta thắng!

Bốn trăm năm mươi điểm trên một trăm bốn mươi!

CHúng ta thắng!”

Harry nhìn quanh; kìa Ginny đang chạy về phía nó; vẻ mặt cô bé bừng say đắm không chối cãi được khi ôm chầm lấy Harry.

Và không hề nghĩ ngợi, không hề dự tính trước, cũng không cần lo lắng về chuyện năm mươi người đang nhìn hai đứa nó, Harry hôn cô bé.

Sau một hồi lâu thiệt là lâu – không chừng có đến nửa tiếng đồng hồ, hay có lẽ nhiều ngày đầy nắng – hai đứa buông nhau ra.

Cả phòng đã nín khe.

Rồi nhiều người huýt sáo và một trận cười khúc khích mạnh mẽ vỡ ra.

Harry nhìn qua đầu Ginny để thấy Dean Thomas đang cầm trong tay một cái ly bể nát và Romilda Vane có vẻ như sắp đập tan cái gì.

Hermione cười tươi rói, nhưng mắt Harry tìm Ron.

Cuối cùng nó nhìn thấy anh chàng vẫn còn nắm chặt cái cúp bạc và đeo một vẻ mặt thích hợp với kẻ vừa bị dùi cui nện vô đầu.

Trong tích tắc một phần giây hai đứa nhìn nhau, rồi Ron khẽ lắc đầu và Harry hiểu là, “Thôi được, nếu phải như vậy…”

Con quái thú trong ngực nó gầm lên chiến thắng, nó cúi xuống nhìn Ginny tươi cười và ra dấu về phía cái lỗ chân dung mà không cần nói.

Một cuộc dạo chơi lâu trong sân dường như được ngầm hiểu, trong cuộc dạo chơi này, nếu còn thì giờ, hai đứa nó sẽ nói chuyện về trận đấu.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q6 - 25: Nhà Tiên tri bị nghe trộm


Nhà Tiên tri bị nghe trộm

Chuyện Harry Potter đang hẹn hò với Ginny Weasley dường như khiến nhiều người quan tâm, phần đông là các cô gái, vậy mà Harry thấy mình tỉnh bơ một cách mới mẻ và vui vẻ đối với những chuyện ngồi lê đôi mách trong mấy tuần tiếp theo sau đó.

Nói cho cùng, thế là đã khá hơn rồi: được thiên hạ bàn tán về cái điều đang làm cho nó hạnh phúc hơn bao giờ hết, còn hơn là bị thiên hạ bàn tán về việc nó can dự vào những cảnh rùng rợn của Pháp thuật Hắc ám.

“Anh sẽ thấy là bà con chớp được chuyện hay ho hơn để tán gẫu rồi đấy,” Ginny nói, cô bé đang ngồi trên sàn phòng sinh hoạt chung, tựa lưng vào chân Harry và đọc tờ Nhật báo Tiên Tri.

“Ba Giám ngục tấn công trong vòng một tuần lễ, và Romilda Vane chỉ làm được có mỗi việc là hỏi em xem có đúng là anh xăm hình con bằng mã ngang ngực không.”

Ron và Hermione cùng phá ra cười.

Harry phớt lờ tụi nó.

“Em nói với cô ta thế nào?”

“Em nói với nó là Con Đuôi sừng Hung-ga-ri,” Ginny nói, vừa lơ đãng lật tờ báo.

“Nhiều nam tính hơn.”

“Cám ơn em,” Harry nói, toét miệng cười.

“Và em nói với cô ta Ron xăm cái gì?”

“Một con Bông Thoa Lùn, nhưng em không nói ở đâu.”

Ron quắc mắt đổ quạu trong khi Hermione bò lăn ra cười.

“Coi chừng,” nó nói, vừa chỉ vào Harry và Ginny vẻ cảnh cáo.

“Chỉ vì tao cho phép không có nghĩa là tao không thể rút phép...”

“Anh cho phép à,” Ginny giễu cợt, “Anh bắt đầu cho phép em làm điều gì đó từ hồi nào vậy?

Dù sao thì chính anh đã nói là chẳng thà em thích Harry còn hơn Michael hay Dean mà.”

“Ừ, thà thế,” Ron miễn cưỡng nói.

“Và cho tới khi nào hai đứa không làm chuyện hôn hít nhau nơi công cộng…”

“Đồ đạo đức giả thúi hoắc!

Vậy chứ anh với Lavender thì sao, ở nơi nào cũng quấn lấy nhau như một cặp lươn thì sao?”

Ginny văn lại.

Nhưng sự kiên nhẫn của Ron không bị thử thách nhiều khi tụi nó bước sang tháng sáu, bởi vì thời gian cho Harry và Ginny ở bên nhau càng lúc càng thu lại.

Kỳ thi Pháp thuật Thường đẳng của Ginny đang đến gần và cô bé vì vậy buộc lòng phải thức rất khuya để ôn bài.

Vào một trong những buổi thức khuya đó, Ginny rút vô thư viện và Harry ngồi bên cạnh cửa sổ trong phòng sinh hoạt chung, lẽ ra phải đang làm cho xong bài tập Dược thảo học, nhưng thực tế thì nó đang sống lại một tiếng đồng hồ hạnh phúc mà nó đã trải qua cùng Ginny bên hồ nước vào giờ ăn trưa, Hermione thả mình xuống cái ghế giữa nó và Ron với một vẻ mặt quả quyết khó chịu.

“Mình muốn nói chuyện với bồ, Harry à.”

“Về chuyện gì?”

Harry nghi ngờ hỏi.

Mới ngày hôm trước, Hermione đã bảo nó đừng có chi phối tâm trí Ginny trong khi cô bé lẽ ra phải dồn hết tâm trí chuẩn bị cho kỳ thi.

“Cái gọi là Hoàng Tử lai ấy.”

“Ôi, đừng khơi lại nữa,” nó rền rĩ.

“Bồ làm ơn bỏ chuyện đó đi có được không?”

Nó vẫn chưa dám quay trở lại Phòng theo yêu cầu để lấy lại cuốn sách, và vì vậy mà việc học môn Độc dược cảu nó bị sa sút (mặc dù Thầy Slughorn, người tán thành Ginny, đã bông đùa đổ thừa chuyện này là tại Harry đang mắc bệnh yêu).

Nhưng Harry chắc chắn là Thầy Snape chưa từ bỏ ý định chiếm lấy cuốn sách của Hoàng tử và nó quyết tâm để yên cuốn sách ở chỗ cất giấu trong khi Thầy Snape vẫn còn đang cảnh giác.

“Mình không bỏ,” Hermione kiên quyết nói, “cho đến khi bồ chịu nghe mình.

Đây, mình đã cố gắng tìm ra được một chút về kẻ có thể coi chuyện phát minh ra ma thuật Hắc ám như một thú tiêu khiển...”

“Anh ta đâu có làm chuyện đó để tiêu khiển...”

“Anh ta, anh ta à – ai nói đó là một “anh” chứ?”

“Tụi mình đã nói chuyện này rồi,” Harry cáu kỉnh nói.

“Hoàng tử, Hermione à, Hoàng tử kia mà!”

“Đúng!”

Hermione nói, hai má cô bé ửng đỏ lên khi rút từ trong túi ra một mảnh giấy in rất cũ và dằn nó xuống bàn, trước mặt Harry.

“Nhìn cái này coi!

Nhìn tấm hình coi!”

Harry cầm miếng giấy nhăn nhúm lên và chăm chsu nhìn vào bức ảnh nhúc nhích đã ố vàng theo thời gian; Ron cũng chồm tới để nhìn ké.

Bức ảnh cho thấy một cô gái ốm nHogsmeade chừng mười lăm tuổi.

Cô bé không được xinh cho lắm, trông vừa cau có vừa rẫu rĩ với đôi mày dày và một bộ mặt dài sọc xanh xao.

Bên dưới tấm hình có ghi chú: Eileen Prince, đội trưởng đội Gobstones trường Hogwarts.

“Thì sao?”

Harry nói, liếc mắt qua mẩu tin ngắn liên quan đến tấm hình; đó chỉ là một câu chuyện hơi tẻ nhạt về những cuộc thi đấu nội bộ trong trường.

“Tên của cô bé là Eileen Prince.

Prince mà bồ tưởng là Hoàng tử đó Harry à.”

Hai đứa nhìn nhau và Harry nhận ra điều mà Hermione đang cố gắng giải thích.

Nó phá ra cười.

“Đời nào!”

“Cái gì?”

“Bồ cho là cô bé này là Hoàng Tử lai à...?

Thôi, đừng giỡn nữa.”

“Ủa, chứ tại sao lại không thể ?

Harry à, không hề có Hoàng tử thực sự nào trong thế giới Pháp thuật !

Đó là một hỗn danh, một danh hiệu bịa đặt mà ai đó tự đặt cho mình, hoặc có thể đó chính là tên thật của người nào đó, có thể lắm chứ?

Không, nghe đây !

Nếu, thí dụ, cô bé này là một pháp sư có họ “Prince” và má của cô ta là một Muggle, thì điều đó sẽ khiến cho cô ta thành một “Prince Lai”!”

“Ừ, khéo lắm, Hermione à…”

“Nhưng có thể như vậy chứ!

Có thể cô ta sẽ tự hào là một Prince lai chứ!”

“Nghe đây, Hermione, mình có thể nói đó không phải là một cô bé.

Mình có thể nói chắc điều đó.”

“Sự thực là bồ không tin một đứa con gái lại có thể thông minh đến như thế,” Hermione giận dữ nói.

“Làm sao mình không tin con gái thông minh sau năm năm làm bạn với bồ ?”

Harry nói, tức tối vì điều này.

“Ở đây là cái cách anh ta viết.

Mình chỉ biết Hoàng tử là một thằng, mình có thể phân biệt được.

Cô bé này không dính dáng gì tới cuốn sách hết.

Nhưng nhân tiện, bồ kiếm cái này ở đâu ra vậy?”

“Thư viện,” Hermione nói, như có thể đoán trước được.

“Có toàn bộ báo Tiên tri cũ trên đó.

Được, mình sẽ tìm hiểu thêm về Eileen Prince nếu có thể.”

“Cứ tự nhiên,” Harry gắt gỏng nói.

“Nhất định !”

Hermione nói trong lúc đi tới cái lỗ chân dung.

“Và chỗ đầu tiên mà mình sẽ tìm kiếm là hồ sơ lưu của những giải thưởng Độc dược !”

Harry quạu quọ một lúc sau khi cô bé đi mất, rồi tiếp tục ngắm bầu trời đang tối dần.

“Chẳng qua cô nàng không thể chấp nhận bồ giỏi hơn cô nàng môn Độc dược,” Ron nói, vừa quay trở lại cuốn Một ngàn thảo mộc và nấm mốc huyền bí.

“Bồ có cho là mình điên không nếu muốn lấy lại cuốn sách đó ?”

“Dĩ nhiên là không,” Ron nói một cách mạnh mẽ.

“Anh ta là một thiên tài, anh chàng Hoàng tử ấy.

Dù sao… nếu không có viên sỏi dê thì…”

Ron giơ ngón tay quẹt ngang cổ đầy ngụ ý, “mình sẽ không thể ngồi đây mà bàn luận về chuyện đó, đúng không ?

Ý mình là, mình không hề nói cái câu thần chú mà bồ ếm Malfoy là tuyệt vời…”

“…mình cũng đâu có nói vậy !”

Harry nói nhanh.

“…nhưng mà nó đã lành lặn lại như thường, đúng không ?

Bình phục ngay lập tức.”

“Ừ,” Harry nói; điều này hoàn toàn đúng, mặc dù lương tâm nó vẫn áy náy như thường.

“Đó là nhờ Thầy Snape…”

“Bồ vẫn còn bị cấm túc với Thầy Snape thứ bảy này hả?”

Ron tiếp tục.

“Ừ, và thứ bảy sau và thứ bảy sau đó nữa,” Harry thở dài.

“Và lúc này thầy còn ám chỉ là nếu mình không làm cho hết mấy cái hộp đó trong học kỳ này thì mình sẽ phải làm tiếp vào niên học tới.”

Nó đang nhận ra những buổi cấm túc này hết sức khó chịu bởi vì chúng cướp đi thời gian vốn đã ít ỏi mà nó có thể gần gũi với Ginny.

Thực vậy, gần đây nó thường xuyên tự hỏi Thầy Snape có biết chuyện này hay không, bởi vì thầy cứ giữ nó lại mỗi lần một trễ hơn, trong khi lại đưa ra những nhận xét riêng đầy châm chọc về việc Harry để lỡ thời tiết đẹp và những cơ hội khác nhau mà thời tiết này mang lại.

Harry rùng mình thoát ra khỏi hồi ức cay đắng này vì sự xuất hiện của Jimmy Peakes bên cạnh nó, cô nàng đang cầm một cuộn giấy da.

“Cám ơn nhé, Jimmy…

Ê, thư của thầy Dumbledore!”

Harry hồi hộp nói, vừa mở cuộn giấy da và liếc qua.

“Thầy muốn mình nếu được thì lên văn phòng của thầy ngay!”

Cả hai trố mắt nhìn nhau.

“Mèn ơi,” Ron thì thầm.

“Bồ không cho là… thầy tìm thấy rồi chứ…?”

“Tốt nhất là mình cứ đi coi sao, đúng không?”

Harry nói và đứng bật dậy.

Nó vội vã đi ra khỏi phòng sinh hoạt chung và đi dọc theo hành lang tầng thứ bảy hết sức nhanh, đi ngang qua chính Peeves, con ma đang bay ngược chiều với nó, liệng những mẫu phấn vụn vào Harry theo một kiểu như mọi khi và khục khặc cười to khi lách được bùa tự vệ của Harry.

Khi Peeves đã biến mất, hành lang im phăng phắc, chỉ còn mười lăm phút nữa là giới nghiêm, hầu hết mọi học sinh đều đã về phòng ngủ cả rồi.

Bỗng nhiên Harry nghe một tiếng rú và một tiếng rớt mạnh.

Nó đứng lại giữa chừng, lắng nghe.

“Sao – mi – dám –A a a a !”

Tiếng động xuất phát từ một hành lang gần đó; Harry phóng ngay về phía ấy, cây đũa phép của nó lăm lăm trong tay, nó hấp tấp vòng qua góc tường và thấy giáo sư Trelawney đang nằm sóng xoài trên sàn, đầu bị trùm bởi một trong vô số tấm khăn quàng của bà và nhiều chai rượu nâu lăn bên cạnh, có một chai bị bể.

“Giáo sư…”

Harry vội vã chạy tới trowcs và giúp giáo sư Trelawney đứng dậy.

Một số hạt châu lóng lánh mắc vào cặp kính của bà.

Bà nấc cụt om sòm, vừa vuốt tóc vừa tự nhắc mình ra khỏi cánh tay đỡ đần của Harry.

“Thưa giáo sư, có chuyện gì vậy?”

“Trò còn khéo hỏi!”

Bà nói giọng rít lên nghe nhức óc.

“Ta đang đi tản bộ, chiêm nghiệm những điềm gở Hắc ám mà ta tình cờ thoáng thấy…”

Nhưng Harry chẳng quan tâm mấy.

Nó vừa để ý nơi mà hai người đang đứng : ngay phía bên phải là tấm thảm thêu bọn quỉ khổng lồ múa ba lê và bên trái là khoảng tường đá kéo dài không thể nào thâm nhập, khoảng tường giấu giếm…

“Thưa giáo sư, có phải cô vừa tìm cách vào Phòng theo yêu cầu không ?”

“Ta…

ái chà… ta không dè học sinh cũng biết về…”

“Không phải học sinh nào cũng biết,” Harry nói.

“Nhưng chuyện gì đã xảy ra ?

Cô đã hét lên… nghe như thể cô bị đau…”

“Ta… hừ,” giáo sư Trelawney vừa nói vừa kéo những tấm khăn quàng quấn quanh mình với vẻ thủ thế và nhìn chòng chọc vào Harry bằng đôi mắt được phóng to cực kỳ.

“Ta đã muốn…

ơ… ký thác một số…

ơ… vật dụng cá nhân trong Phòng…” và bà lẩm bẩm gì đó về “những lời tố cáo bẩn thỉu.”

“Tốt thôi,” Harry nói, vừa liếc xuống mấy chai rượu nâu.

“Nhưng cô không thể vô trong đó để giấu chúng à ?”

Nó nhận thấy chuyện này rất kỳ lạ; rốt cuộc căn phòng cũng đã mở ra cho nó khi nó muốn giấu cuốn sách của Hoàng Tử lai cơ mà.

“Ồ, ta vào được chứ,” giáo sư Trelawney nói, vừa trừng mắt ngó bức tường.

“Nhưng đã có ai ở sẳn trong đó rồi.”

“Ai đó ở… ?

Ai ?”

Harry gặng hỏi.

“Ai ở trong đó ?”

“ta không biết,” giáo sư Trelawney nói, có vẻ hơi giật mình trước sự khẩn khoản trong giọng nói Harry.

“Ta đi vào phòng và ta nghe tiếng nói, chuyện chưa từng xảy ra trong bao nhiêu năm trời ta giấu…

ý ta là sử dụng căn phòng.”

“Một giọng nói à ?

Nói cái gì ?”

“Ta không biết là nó có nói cái gì không,” giáo sư Trelawney nói.

“Nó là… tiếng reo mừng.”

“Tiếng reo mừng ?”

“Một cách sung sướng,” bà gật đầu nói.

Harry nhìn bà chằm chằm.

“Đó là giọng nam hay giọng nữ ?”

“Ta liều đoán là giọng nam,” giáo sư Trelawney nói.

“Và nghe vui sướng ?”

“Rất vui sướng,” giáo sư Trelawney nói giọng khinh khỉnh.

“Như thể reo mừng thành công ?”

“Chắc chắn.”

“Và rồi… ?”

“Và rồi ta hỏi to, “Ai đó ?””

“Bộ cô không thể nào phát hiện ra đó là ai mà không cần hỏi sao ?”

Harry hơi ngán ngẩm hỏi lại bà.

“Nội Nhãn,” giáo sư Trelawney nói một cách đứng đắn, vừa sửa khăn quàng của bà và mấy xâu chuỗi hột lóng lánh cho ngay ngắn lại, “Nội nhãn nhìn thấu những vấn đề vượt xa ngoài địa hạt tầm thường của những tiếng reo mừng.”

“Đúng vậy,” Harry hấp tấp nói; trước đây nó đã được nghe về nội nhãn của giáo sư Trelawney quá thường xuyên rồi.

“Và cái giọng ấy có nói là ai đang ở đó không?”

“Không, nó không nói,” bà đáp.

“Mọi thứ bỗng dưng đen kịt và chuyện sau đó mà ta biết được là ta bị quăng rra khỏi căn phòng!”

“Và cô đã không thấy trước ddwwocj điều đó à?”

Harry không thể tự kiềm chế mình thốt ra câu đó.

“Không, ta không thấy, như ta nói rồi, đen kịt mà…”

Bà ngừng nói, nhìn nó đăm đăm nghi ngờ.

“Con nghĩ cô nên nói cho giáo sư Dumbledore biết,” Harry nói.

“Thầy nên biết chuyện Malfoy reo mừng…

ý con nói là chuyện ai đó đã quăng cô ra khỏi căn phòng.”

Nó ngạc nhiên thấy giáo sư Trelawney vươn thẳng người lên trước lời đề nghị này, vẻ mặt cao ngạo.

“Thầy hiệu trưởng đã gợi ý cho biết thầy thích ta viếng thăm thầy ít thường xuyên hơn,” bà lạnh lùng nói.

“Ta không phải là kẻ áp đặt sự bầu bạn cảu ta lên những kẻ không biết trân trọng điều đó.

Nếu cụ Dumbledore chọn cách coi thường những lời cảnh cáo mà những lá bài đã cho thấy…”

Bàn tay xương xẩu của bà thình lình nắm chặt cổ tay Harry.

“Hết lần này đến lần khác, bất chấp ta trải bài ra như thế nào…”

Và bà rút ra tức khắc một lá bài từ bên dưới tấm khăn quàng.

“…Ngọn tháp bị sét đánh,” bà thì thầm.

“Tai ương.

Thảm họa.

Lúc nào cũng cận kề…”

“Đúng,” Harry lại nói.

“Dạ… con vẫn nghĩ cô nên nói cho thầy Dumbledore biết về giọng nói này và chuyện mọi thứ bỗng trở nên tối đen và cô bị quăng ra khỏi căn phòng…”

“Trò nghĩ nên vậy hả?”

Giáo sư Trelawney dường như cân nhắc vấn đề trong chốc lát, nhưng Harry có thể thấy rõ là bà thích thú trước ý tưởng được kể lại cuộc phiêu lưu nho nhỏ của bà.

“Con sẽ đến gặp thầy ngay bây giờ,” Harry nói.

“Con có một cuộc hẹn với thầy.

Chúng ta có thể đi cùng nhau.”

“À, thôi được, trong trường hợp đó,” giáo sư Trelawney nói kèm theo một nụ cười.

Bà cúi xuống, lượm lên mấy chai rượu nâu và không chút ngại ngần, bà liệng chúng vô trong một cái bình khổng lồ màu trắng và xanh đứng trong một hốc tường gần đó.

“Ta tiếc không có con trong các lớp của ta nữa, Harry à,” bà nói một caccsh chua chát khi hai người cùng đi với nhau.

“Trò không có nhiều thiên bẩm làm một nàh tiên tri… nhưng trò là một đối tượng tuyệt vời…”

Harry không trả lời; nó đã kinh tởm chuyện là đối tượng cho những tiên đoán triền miên về sự bất hạnh của giáo sư Trelawney.

“Ta e rằng,” bà nói tiếp, “rằng con ngựa... xin lỗi, con nhân mã... không biết gì hết về phép bói bài.

Ta đã hỏi hắn... như một nhà tiên tri hỏi một nhà tiên tri... là chẳng lẽ hắn cũng không nghe thấy gì cả về những rung động xa xăm của thảm họa sắp xảy ra sao?

Nhưng có vẻ như hắn thấy ta gần như khôi hài.

Ừ, khôi hài!”

Bà cất cáo giọng nói như bị kích động thần kinh và Harry ngửi được một mùi rượu nâu rất mạnh cho dù mấy chai rượu đã được bỏ lại phía sau.

“Có lẽ con ngựa đã nghe người ta nói rằng ta không thừa hưởng được năng khiếu của bà cố ta.

Những lời đồn đại đó đã được bàn tán trong nhiều năm bởi những kẻ ganh tị.

Trò có biết ta nói gì với nhiều người không, Harry?

Liệu cụ Dumbledore có để cho ta dạy ở ngôi trường vĩ đại này không và đặt biết bao tin cậy nơi ta trong ngần ấy năm trời, nếu ta không tự chứng tỏ khả năng của ta cho thầy biết?”

Harry lẩm bẩm gì đó nghe không được rõ lắm.

“Ta nhớ kỹ lần đầu tiên cụ Dumbledore phỏng vấn ta,” giáo sư Trelawney tiếp tục, bằng giọng khàn khàn.

“Cụ đã có ấn tượng sâu sắc, dĩ nhiên, ấn tượng sâu sắc...

Ta đang tạm trú tại quán Đầu heo, nhân tiện đây, ta khuyên con đừng đến quán đó – mèn ơi, rệp dữ lắm – nhưng giá bèo.

Cụ Dumbledore đã nhã nhặn đến thăm ta trong phòng ta ở cái quán trọ ấy.

Cụ phỏng vấn ta...

Ta phải thú thực rằng, ban đầu ta nghĩ cụ dường như không có thiện cảm đối với môn Tiên tri... và ta nhớ ta đã bắt đầu cảm thấy hơi kỳ lạ, ta đã không ăn uống gì nhiều trong ngày hôm đó... nhưng rồi...”

Và bây giờ, lần đầu tiên Harry hết sức chú ý lắng nghe, bởi vì nó biết điều gì đã xảy ra lúc đó: giáo sư Trelawney đã thốt ra lời tiên tri làm đảo lộn toàn bộ cuộc đời của nó, lời tiên tri về nó và Voldermort.

“...nhưng rồi thầy Severus Snape bất lịch sự chen vào!”

“Cái gì?”

“Ừ, có tiếng động ở bên ngoài cửa và nó bật mở và đứng đó là gã bán rượu hơi mọi rợ với Thầy Snape, ông ta đang lải nhải vòng vo về chuyện đi nhầm cầu thang, mặc dù ta e rằng ta có phần tin là ông ta đã bị bắt quả tang nghe lén cuộc phỏng vấn giữa ta và cụ Dumbledore – trò biết chức, lúc đó chính ông ta cũng đang kiếm việc, nên chắc là đã hy vọng nghe mót được vài mánh!

Ái chà, sau đó, trò biết đó, cụ Dumbledore dường như sẵn sàng bổ nhiệm ta và ta không thể không nghĩ rằng, Harry à, rằng chính là nhờ cụ biết đánh giá sự mâu thuẫn tuyệt đối giữa phong cách xử sự khiêm tốn của ta và tài năng tiềm ẩn của ta, so với gã thanh niên bon chen cao ngạo sẵn sàng nghe lén ở lỗ khóa kia...

Harry, có sao không cưng?”

Bà ngoái lại nhìn, vì vừa nhận ra Harry không còn bên cạnh bà nữa; nó đã ngừng bước và bây giờ cách bà khoảng ba thước.

“Harry à?”

Bà ngờ ngợ lặp lại.

Có lẽ gương mặt trắng bệch của nó khiến giáo sư Trelawney lo lắng và sợ hãi.

Harry đang đứng như trời trồng trong lúc những đợt sóng của cơn chấn động phủ chụp xuống nó, hết đợt sóng này đến đoẹt sóng khác, làm tắc nghẽn mọi thứ ngoại trừ cái thông tin người ta đã giấu nó bao nhiêu năm trời...

Chính Thầy Snape đã nghe lén lời tiên tri.

Chính Thầy Snape là kẻ đem tin tức về lời tiên tri báo cho Voldermort.

Thầy Snape và Peter Pettigrew đã cùng nhau khiến Voldermort săn lùng mẹ Lily và ba James và đứa con trai của hai người...

Giờ đây không còn gì quan tọng đối với Harry nữa.

“Harry à?”

Giáo sư Trelawney lại gọi.

“Harry... ta tưởng chúng ta đang cùng nhau đi gặp thầy hiệu trưởng?”

“Cô ở lại đây,” Harry nói qua bờ môi tê cứng.

“Nhưng, cưng à... ta sẽ kể với cụ chuyện ta bị tấn công như thế nào trong Phòng...”

“Cô ở lại đây!”

Harry giận dữ lặp lại.

Giáo sư Trelawney tỏ ra hoảng hốt khi nó chạy ngang qua bà, vòng qua góc tường để vào hành lang có văn phòng của cụ Dumbledore, nơi con thú đá cô độc đứng gác.

Harry hét mật khẩu vào con thú đá rồi chạy lên cầu thang xoắn từng ba bậc một.

Nó không gõ lên cánh cửa phòng cụ Dumbledore, nó dộng rầm rầm; và giọng nói trầm tĩnh “Mời vào” chưa kịp vang lên thì Harry đã tự xông vô phòng.

Chim phượng hoàng Fawkes nhìn quanh, đôi mắt đen của nó sáng lấp lánh ánh phản chiếu vàng óng từ mặt trời đang lặn ngoài cửa sổ.

Cụ Dumbledore đang đứng cạnh cửa sổ nhìn ra sân trường, một tấm áo khoác đi đường dài màu đen được cụ khoác sẵn trên cánh tay.

“À, Harry, thầy đã hứa con có thể đi cùng với thầy.”

Trong khoảng một tích tắc Harry không hiểu thầy nói gì.

Cuộc chuyện trò với cô Trelawney đã xua hết mọi thứ ra khỏi đầu nó và bộ não của nó dường như đang hoạt động chậm chạp.

“Đi... với thầy...?”

“Dĩ nhiên, chỉ trong trường hợp con muốn.”

“Trong trường hợp con...”

Và rồi Harry nhớ ra tại sao lúc đầu nó hăm hở chạy đến văn phòng cụ Dumbledore.

“Thầy đã kiếm được một cái rồi à?

Thầy đã kiếm được một Trường sinh linh giá rồi à?”

“Thầy tin là như vậy.”

Cơn giận và nỗi oán trách đánh lộn với sự xúc động và niềm háo hức: suốt mấy giây, Harry không thể nói gì cả.

“Lo sợ là chuyện tự nhiên thôi,” cụ Dumbledore nói.

“Con không sợ!”

Harry nói ngay và điều đó hoàn toàn đúng; sợ là một cảm xúc mà nó không hề cảm thấy chút nào lúc này.

“Thưa thầy, cái Trường sinh linh giá nào vây?

Nó ở đâu?”

“Thầy không chắc là cái nào – mặc dù thầy nghĩ chúng ta có thể loại trừ con rắn - nhưng thầy tin là nó được giấu trong một cái hang ở ven biển cách đây nhiều dặm, một cái hang mà thầy đã mất nhiều thời gian để cố gắng xác định địa điểm: cái hang mà Tom Riddle có một lần đã khủng bố hai đứa bé ở viện mồ côi trong một chuyến đi dã ngoại hàng năm, con còn nhó không?”

“Dạ, còn” Harry nói.

“Nó được bảo vệ như thế nào ạ?”

“Thầy không biết.

Những nghi ngờ của thầy có thể hoàn toàn sai,” cụ Dumbledore ngập ngừng rồi nói, “Harry à, thầy đã hứa là con có thể đi cùng với thầy và thầy vẫn giữ lời hứa đó, nhưng thầy sẽ rất sai lầm nếu không báo cho con biết trước là chuyện này sẽ cực kỳ nguy hiểm.”

“Thưa thầy, con sẽ đi,” Harry nói, hầu như trước khi cụ Dumbledore nói dứt câu.

Đang giận sôi lên về chuyện Thầy Snape, lòng khao khát của nó được làm một cái gì đó liều lĩnh và mạo hiểm đã tăng lên gấp mười lần trong mấy phút vừa qua.

Điều này dường như thể hiện rõ trên gương mặt Harry, bởi vì cụ Dumbledore vừa rời khỏi chỗ đứng bên cửa sổ, vừa ngắm Harry kỹ hơn, một nếp nhăn thoáng hiện giữa đôi mày bạc phơ của cụ.

“Chuyện gì vừa mới xảy ra cho con vậy?”

“Thưa thầy, không có gì cả,” Harry nói dối ngay.

“Chuyện gì mà khiến con buồn bực thế?”

“Con đâu có buồn bực.”

“Harry à, con chẳng bao giờ là một kẻ Bế quan giỏi...”

Lời nói đó chẳng khác nào tia lửa làm bùng lên cơn thịnh nộ của Harry.

“Thầy Snape!”

Nó nói, rất to và con phượng hoàng Fawkes khẽ kêu quác quác sau lưng hai thầy trò.

“Thầy Snape chính là cớ sự!

Thầy ấy đã nói cho Voldermort biết về lời tiên tri, chính thầy ấy, thầy ấy đã rình nghe ngoài cửa, cô Trelawney đã kể cho con nghe!”

Vẻ mặt cụ Dumbledore không thay đổi, nhưng Harry nghĩ gương mặt của thầy trắng bệch dưới sự phản chiếu hồng hào của ánh hoàng hôn.

Cụ không nói gì cả mất một lúc lâu.

“Con biết được điều này bao lâu rồi?”

Cuối cung thầy hỏi.

“Thưa thầy, mới đây!”

Harry nói, nó đang hết sức khó khăn mới cố ghìm được giọng cho khỏi hét lên.

Và rồi thình lình nó không thể nhịn được nữa.

“VẬY MÀ THẦY ĐỂ CHO ÔNG TA DẠY Ở ĐY TRONG KHI ÔNG TA XÚI VOLDERMORT LÙNG GIẾT CHA MẸ CON!”

Thở hào hển như thể đang đánh vật, Harry quay lưng lại cụ Dumbledore, cụ vẫn không nhúc nhích một cơ bắp nào.

Harry đi qua đi lại trong văn phòng, dùng tay xoa nắn mấy khớp ngón và cố gắng vận dụng từng tí một của sự tự chủ còn lại trong người để ngăn mình đập phá mọi thứ.

Nó muốn nổi cơn thịnh nộ và la hét cụ Dumbledore, nhưng nó cũng muốn đi cùng với cụ để tiêu hủy cái Trường sinh linh giá; nó muốn nói với cụ rằng cụ là một lão già ngu xuẩn vì tin tưởng lão Snape, nhưng nó sợ là cụ Dumbledore sẽ không dẫn nó đi cùng nếu nó không kiềm chế được cơn giận...

“Harry à,” cụ Dumbledore khẽ nói.

“Làm ơn nghe thầy nói.”

Thật khó ngừng được những bước chân đay nghiến cũng như khó mà kềm lại để không thét lên.

Harry ngừng bước, cắn chặt môi và nhìn vào gương mặt hằn nếp nhăn của cụ Dumbledore.

“Giáo sư Snape đã phạm một lỗi lầm khủng...”

“Thưa thầy, xin thầy đừng nói với con đó là một lỗi lầm, ông ấy đã rình nghe bên ngoài cánh cửa!”

“Hãy để cho thầy nói hết.”

Cụ Dumbledore đợi đến khi Harry gật đầu cộc lốc rồi mwois nói tiếp.

“Giáo sư Snape đã phạm một lỗi lầm khủng khiếp.

Vào cái đêm mà thầy ấy nghe lóm được nửa phần đầu lời tiên tri của giáo sư Trelawney, thầy ấy vẫn còn ở dưới trướng của Voldermort.

Đương nhiên thầy ấy đã vội vã báo tin cho ông chủ điều mà thầy ấy nghe được, bởi vì điều đó khiến ông chủ của thầy ấy quan tâm sâu sắc nhất.

Nhưng thầy ấy không biết – thầy ấy không có cách nào biết được – đứa bé nào mà Voldermort sẽ săn lùng từ đó về sau, thầy ấy cũng không biết được người cha và người mẹ mà hắn sẽ tiêu diệt trong cuộc lùng tìm thảm sát của hắn lại chính là những người mà thầy ấy quen biết, là cha và mẹ của con...”

Harry bật ra tiếng cười đau đớn.

“Thưa thầy, ông ấy ghét cha con như ông ấy ghét chú Sirius vậy!

Không lẽ thầy không để ý đến cái cách mà những người Thầy Snape ghét bị giết sao?”

“Con không biết Thầy Snape đã cảm thấy hối hận như thế nào khi thầy nhận ra cách Voldermort diễn đạt lời tiên tri đâu, Harry à.

Thầy tin đó là nỗi ăn năn hối hận lớn nhất đời htaayf ấy và đó là lý do thầy ấy hồi chánh...”

“Nhưng thưa thầy, ông ta rất giỏi thuật Bế quan, đúng không thầy?”

Harry nói, giọng của nó bây giờ run run vì cố gắng giữ cho được bình tĩnh.

“Và chẳng phải Voldermort đã thuyết phục được ông Snape về phe hắn, ngay cả lúc này sao?

Thưa thầy... làm sao thầy có thể tin chắc là ông Snape đứng về phe chúng ta?”

Cụ Dumbledore không nói gì trong chốc lát; trông cụ như thể đang cố gắng quyết định điều gì đó.

Cuối cùng cụ nói, “Thầy tin chắc chắn.

Thầy tin tưởng thầy Severus Snape hoàn toàn.”

Harry thở thiệt sâu mất một lúc để cố gắng trấn tĩnh mình.

Nhưng chẳng hiệu quả mấy.

“À, con thì không!”

Nó nói, vẫn to tiếng như trước.

“Ngay lúc này ông ta đang làm gì đó với Draco Malfoy, ngay trước mũi thầy, mà thầy vẫn...”

“Chúng ta đã thảo luận xong chuyện này rồi, Harry à,” cụ Dumbledore nói và bây giờ giọng cụ lại nghiêm nghị.

“Thầy đã nói với con quan điểm của thầy.”

“Thầy sắp rời khỏi trường đêm nay và con dám cá là thầy thậm chí không hề cân nhắc rằng ông Snape và Malfoy có thể quyết định làm...”

“Làm gì?”

Cụ Dumbledore hỏi, đôi mày của cụ nhướn lên.

“Chính xác là con nghi ngờ họ đang làm gì?”

“Con... họ đang làm cái gì đó!”

Harry nói và tay nó nắm lại thành nắm đấm khi nó nói câu đó.

“Giáo sư Trelawney vừa mới ở trong Phòng theo yêu cầu, tìm cách giấu mấy chai rwouj của cô ấy và cô ấy nghe Malfoy hò reo, mừng thành công!

Nó đang cố gắng sửa cái gì đó rất nguy hiểm bên trong căn phòng ấy và nếu thầy hỏi thì con nói là cuối cùng hắn đã sửa ddwwocj cái đó, vậy mà thầy sắp rời khỏi trường mà không...”

“Đủ rồi,” cụ Dumbledore nói.

Thầy nói rất điềm đạm, nhưng Harry nín thinh ngay tức thì; nó biết cuối cùng nó đã vượt qua giới hạn vô hình.

“Con nghĩ coi có lần nào trong năm học này thầy bỏ mặc ngôi trường không được bảo vệ khi thầy vắng mặt không?

Thầy chưa từng làm vậy.

Đêm nay, khi thầy đi, sẽ lại có thêm canh phòng cẩn mật ở đây.

Xin đừng nghĩ rằng thầy không coi trọng sự an nguy của học sinh của thầy, Harry à.”

“Con không hề nghĩ vậy...”

Harry nói lí nhí, hơi ngượng ngùng, nhưng cụ Dumbledore ngắt lời nó.

“Thầy không muốn thảo luận việc này thêm nữa.”

Harry nuốt lại sự phản kháng của nó, sợ là nó đã đi quá xa, sợ làm hỏng cơ hội đi cùng cụ Dumbledore, nhưng cụ Dumbledore vẫn tiếp tục, “Con có muốn đi cùng thầy đêm nay không?”

“Dạ có,” Harry nói ngay.

“Rất tốt, vậy con nghe đây.”

Cụ Dumbledore vươn thẳng lên hết chiều cao của cụ.

“Thầy dẫn con đi theo với một điều kiện: rằng con vâng theo tất cả những mệnh lệnh của thầy ngay tức thì, không thắc mắc gì cả.”

“Dạ, đương nhiên.”

“Con phải chắc chắn hiểu đúng lời thầy, Harry à.

Thầy muốn nói là con phải tuân theo cả những mệnh lệnh như “chạy”, “trốn” hay “trở lại”.

Con có hứa hay không?”

“Con... dạ có, dĩ nhiên.”

“Nếu thầy bảo con trốn, con sẽ làm vậy chứ?”

“Dạ.”

“Nếu thầy bảo con chạy, con cũng sẽ vâng lời chứ?”

“Dạ.”

“Nếu thầy bảo con bỏ mặc thầy và hãy tự cứu lấy con, con sẽ làm đúng như lời thầy chứ?”

“Con...”

“Harry?”

Hai thầy trò nhìn nhau trong một lát.

“Thưa thầy, con hứa.”

“Tốt lắm.

Vậy thầy muốn con đi lấy ngay tấm Áo khoác tàng hình và gặp lại thầy ở tiền sảnh trong năm phút nữa.”

Cụ Dumbledore quay lưng lại để nhìn ra ngoài khung cửa số đang hừng hực ánh hoàng hôn; mặt trời lúc này hắt lên quầng sáng màu đỏ hồng ngọc ở phía chân trời.

Từ văn phòng Harry đi nhanh xuống cái cầu thang xoắn.

Đầu óc nó bỗng nhiên sáng suốt một cách kỳ lạ.

Nó biết nó phải làm gì.

Ron và Hermione đang ngồi với nhau trong phòng sinh hoạt chung khi nó trở về.

“Thầy Dumbledore muốn gì?”

Hermione hỏi ngay.

“Harry, bồ có sao không?”

Cô bé lo lắng nói thêm.

“Mình không sao,” Harry nói ngắn gọn trong lúc chạy ngang qua tụi nó.

Nó phóng lên cầu thang và nhào vô phòng ngủ, ở đó nó mở tung cái rương và lôi ra tấm bản đồ Đạo tặc và cặp vớ cuộn tròn.

Rồi nó lao xuống cầu thang vào phòng sinh hoạt chung, thắng một cái rẹt ngay chỗ Ron và Hermione đang ngồi với vẻ sửng sờ.

“Mình không có nhiều thời giờ,” Harry thở hổn hển, “cụ Dumbledore tưởng là mình đang đi lấy tấm Áo khoác tàng hình.

Nghe đây...”

Nó nói thật nhanh cho hai đứa kia biết nó đang đi đâu và để làm gì.

Nó không ngừng trước cái miệng há hốc kinh hoàng của Hermione lẫn những câu hỏi hấp tấp cảu Ron; lát nữa tụi nó có thể tự suy ra chi tiết rõ hơn.

“...vậy mấy bồ hiểu điều này có nghĩa là gì chứ?”

Harry kết thúc thiệt nhanh.

“Thầy Dumbledore sẽ không có mặt ở đây tối hôm nay, vậy là Malfoy sắp có được một cơ hội bằng vàng để thực hiện bất cứ điều gì đó mà nó đang làm, không, hãy nghe mình!”

Nó rít lên giận dữ khi cả Ron lẫn Hermione đều tỏ dấu hiệu muốn nói chen vào, “Mình biết chính Malfoy reo mừng thành công trong Phòng theo yêu cầu.

Đây...”

Nó nhét tấm bản đồ Đạo tặc vô tay Hermione.

“Bồ cần phải theo dõi nó và bồ cần phải theo dõi Thầy Snape nữa.

Dùng bất cứ ai đó mà bồ có thể bốc ra được từ ĐQD.

Hermione, mấy đồng Galleon dùng để liên lạc còn xài được phải không?

Cụ Dumbledore nói thầy đã tăng cường thêm an ninh trong trường, nhưng nếu Thầy Snape có can dự, ông ấy tất sẽ biết sự phòng thủ của thầy Dumbledore là gì và làm cách nào để tránh né được – nhưng ông ấy sẽ không ngờ chuyện mấy bồ tham gia canh phòng, đúng không?”

“Harry à...”

Hermione mở miệng nói, hai mắt mở to của cô bé đã đầy nước mắt.

“Mình không có thì giờ để tranh cãi,” Harry nói cụt ngủn.

“Giữ luôn cái này nữa...” nó nhét cuộn vớ vào tay Ron.

“Cám ơn,” Ron nói.

“Ơ... nhưng tại sao mình lại cần đến vớ?”

“Bồ cần cái được gói bên trong đó, Phúc lạc dược.

Bồ chia sẻ với Ginny nữa.

Nói lời tạm biệt với Ginny giùm mình.

Mình phải đi đây, cụ Dumbledore đang đợi...”

“Không!”

Hermione nói, trong khi Ron mở cuộn vớ lấy ra cái chai nhỏ xíu chứa chất thuốc màu vàng óng với vẻ mặt kinh hoàng.

“Tụi này không cần nó, bồ đem theo đi, ai biết được bồ sẽ phải đương đầu với cái gì?”

“Mình sẽ ổn thôi, mình sẽ đi cùng với thầy Dumbledore mà,” Harry nói.

“Mình muốn biết các bạn đều được an toàn...

đừng nhìn như vậy, Hermione, mình sẽ gặp lại mấy bồ sau.”

Và nó vọt đi, hối hả chui qua lỗ chân dung chạy về phía tiền sảnh.

Cụ Dumbledore đang đợi bên cạnh cánh cửa chính làm bằng gỗ sồi.

Cụ quay lại khi Harry chạy ào tới và đứng lại trên bậc thềm đã trên cùng, thở hào hển, một cơn đau thốn nhói bên hông nó.

“Thầy muốn con mặc Áo khoác tàng hình vào,” cụ Dumbledore nói và cụ đợi đến khi Harry đã quăng tấm áo trùm lên người nó rồi mới nói tiếp, “Tốt lắm.

Chúng ta đi nhé?”

Cụ Dumbledore bước xuống những bậc thềm đá ngay tức thì, tấm áo choàng đi đường của cụ hầu như không xao động trong không khí chớm hè lặng gió.

Harry vội vã đi theo cụ bên dưới tấm Áo khoác tàng hình, vẫn còn thở hổn hển và toát thiệt nhiều mồ hôi.

“Nhưng thưa thầy, người ta sẽ nghĩ sao khi thấy thầy rời khỏ trường?”

Harry hỏi, trong đầu nó nghĩ đến Malfoy và Thầy Snape.

“Nghĩ rằng thầy đi ra làng Hogsmeade uống chút rượu,” cụ Dumbledore nói khẽ.

“Đôi khi thầy làm khách hàng của bà Rosmerta, hoặc là ghé vô quán Đầu Heo... hay làm ra vẻ vậy.

Cách đó cũng tốt như bất cứ cách nào khác nhằm che giấu địa điểm lui tới thực sự.”

Hai thầy trò đi xuống con đường dành cho xe ngựa trong ánh hoàng hôn còn rơi rớt.

Không khí đượm nồng mùi cỏ ấm, nước hồ và khói củi tỏa ra từ căn chòi của bác Hagrid.

Thật khó mà tin là hai thầy trò đang hướng đến một điều gì nguy hiểm hay đáng sợ.

“Thưa thầy,” Harry nói rất khẽ khi cánh cổng ở cuối con đường hiện ra, “chúng ta sẽ độn thổ, phải không thầy?”

“Phải,” cụ Dumbledore nói.

“Thầy tin là bây giờ con đã biết độn thổ rồi, đúng không?”

“Dạ,” Harry nói, “nhưng con chưa có bằng.”

Nó cảm thấy nên trung thực là tốt nhất; Sẽ ra sao nếu rủi nó hiện ra ở một nơi cách hàng trăm dặm cái nơi nó lẽ ra phải đến?

“Không sao,” cụ Dumbledore nói, “thầy có thể giúp con một lần nữa.”

Hai thầy trò ra khỏi cổng đi vào con đường vắng vẻ tối lờ mờ dẫn đến làng Hogsmeade.

Bóng tối trùm xuống rất nhanh khi hai thầy trò bước đi và đến lúc ra đến Đường Chính thì trời đã tối hoàn toàn.

Anhs sáng lấp lánh rọi ra từ những khung cửa sổ của các cửa hàng và khi hai thầy trò đến gần quán ba cây chổi thì nghe tiếng quát khàn khàn.

“...và tránh ra!” bà Rosmerta quát, ra sức tống cổ một pháp sư có vẻ lôi thôi lếch thếch.

“Ôi, xin chào cụ Albus... cụ đi chơi hơi khuya...”

“Chào Rosmerta, chào... tha lỗi cho tôi, tôi đi ra quán Đầu Heo... không có ý xúc phạm, chẳng qua đêm nay tôi cần không khí yên tĩnh hơn...”

Một phút sau hai thầy trò quẹo qua một góc đường để vào một con đường hẻm nơi có tấm bảng Đầu Heo kêu cót két khe khẽ cho dù chẳng có chút gió nào.

Ngược lại với quán Ba Cây chổi, quán rượu này dường như vắng ngắt.

“Chúng ta không cần phải vòa quán,” cụ Dumbledore lẩm bẩm, vừa liếc nhìn xung quanh “nếu không ai nhìn thấy chúng ta đi... bây giờ con đặt bàn tay lên cánh tay thầy, Harry.

Không cần phải nắm quá chặt, thầy chỉ hướng dẫn con thôi.

Đợi tới tiếng đếm thứ ba nhé... một... hai...

Ba!”

Harry xoay người.

Lập tức nó có một cảm giác khủng khiếp là nó bị hút vô một cái ống cao su dày; nó không tài nào thở được, mọi bộ phận trong cơ thể nó đều bị nén đến nỗi tưởng như quá sức chịu đựng và rồi, đúng lúc nó tưởng nó chắc chết ngạt mất, thì cái ống hút vô hình dường như mở bung ra và nó đang đứng trong bóng đêm mát mẻ, hít vào đầy buồng phổi không khí tươi rói mặn mà.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q6 - 26: Hang động


Hang động

Harry có thể ngửi thấy mùi muối và nghe được tiếng sóng vỗ ầm ập; một làn gió nhẹ, buốt giá thôi bung tóc nó khi nó nhìn chong chong ra biển ngập ánh trăng và bầu trời phủ đầy sao.

Nó đang đứng trên một gờ đá đen lộ thiên, cao vọi, sóng biển nổi bọt và xoáy cuồn cuộn bên dưới.

Nó liếc ra sau.

Có một vách đá sừng sửng phía sau, đen ngòm, trơ lì, dốc tuột luốt.

Mấy tảng đá lớn, cớ như tảng đá mà Harry và cụ Dumbledore đang đứng, trông như đã bong ra khỏi bề mặt vách đá ở một thời điểm nào đó trong quá khứ.

Quang cảnh trơ trụi đến khắc nghiệt – biển và vách đá không hề có chút cây cối hay vạt cỏ, hay mảng cát gì xen vào cho dịu mắt.

“Con nghĩ gì vật?”

Cụ Dumbledore hỏi.

Nghe cứ như cụ hỏi ý kiến Harry coi nơi này có phải là một nơi cắm trại tốt không.

“Người ta đã đưa bọn trẻ trong cô nhi viện đến đây, phải không ạ?”

Harry hỏi, nó không thể tưởng tượng ra một nơi nào ít ấm cúng hơn nơi này để mà dã ngoại.

“Không phải ngay chỗ này,” cụ Dumbledore nói.

“Có một ngôi làng tồi tàn ở khoảng giữa mấy vách đá sau lưng thầy trò mình.

Thầy tin là bọn trẻ mồ côi được đưa đến đó để hít thở không khí biển và ngắm sóng.

Hừ, thầy tin chắc là chỉ có Tom Riddle với những nạn nhân thời trẻ của y mới từng léo hánh xuống đây.

Không có dân Muggle nào có thể đặt chân được tới vách đá này, trừ phi họ là những tay leo núi cực kỳ kiệt xuất, mà thuyền bè cũng không thể cập sát được vô những vách đá – sóng đánh quanh đó quá nguy hiểm.

Thầy hình dung Riddle đã leo xuống, pháp thuật chắc phải đắc lực hơn dây thừng nhiều.

Và y đã lôi theo hai đứa nhỏ đi cùng với y, đương nhiên là để hù chúng sợ chết khiếp cho vui.

Thầy nghĩ chỉ nội chuyến leo núi thôi cũng đủ cho bọn trẻ khiếp vía rồi, đúng không?”

Harry ngước nhìn lên vách đá một lần nữa, bất giác cảm thấy nổi da gà.

“Nhưng đích đến của y – cũng là của chúng ta – còn nằm ở xa kia nữa.

Đi thôi.”

Cụ Dumbledore ngoắc tay ra hiệu cho Harry tới một rìa đá chênh vênh, nơi có một loạt những hốc lõm lởm chởm tạo thành những mấu bám chân để leo xuống chỗ những tảng đá to, chìm mấp mé một nửa dưới mặt nước và gần sát vách đá hơn.

Leo xuống đó thì thiệt là nguy hiểm và cụ Dumbledore phải di chuyển từ từ, hơi bị cánh tay thương tật alfm vướng víu.

Những tảng đá bên dưới trơn trợt vì ngâm trong nước biển.

Harry cảm nhận được những tia nước mặn lạnh buốt đang xịt vô mặt nó.

“Tỏa sáng,” cụ Dumbledore nói, tiến tới tảng đá gần với mặt vách đá nhất.

Hàng ngàn tia sáng vàng chiếu lấp lánh xuống mặt nước tối hù bên dưới, cách nơi cụ đang núp mình chừng một thước – vách tường đá đen bên cạnh cụ cũng sáng rực lên.

“Con có thấy không?”

Cụ Dumbledore nói nhỏ, giơ cây đũa phép lên cao hơn một chút.

Harry trông thấy một khe nứt ăn sâu vào vách đá, nước đen thui đang cuốn bốc qua đó.

“Con không ngại sẽ bị ướt chút đỉnh chứ hả?”

“Không ạ,” Harry đáp.

“Thế thì cởi Áo khoác tàng hình ra –bây giờ cũng không cần tới nó nữa – và hãy dấn thân nào.”

Với một động tác lanh lẹn bất ngờ của một người trẻ tuổi hơn nhiều, cụ Dumbledore trượt khỏi tảng đá, đáp xuống nước và bắt đầu bơi, bằng một kiểu bơi bướm hoàn hảo, về phía kẽ nứt tối om nằm trong mặt vách đá.

Cây đũa sáng rực của cụ cắn giữa hai hàm răng.

Harry liền cởi Áo khoác tàng hình của nó ra, nhét vô túi áo và lao theo.

Nước lạnh như cắt – bộ đồ ngấm no nước của Harry bay phần phật quanh người nó và kéo rị nó xuống.

Hít thật sâu, hai lỗ mũi đầy ắp mùi muối và rong biển, nó hối hả bám theo cái luồng sáng run rẩy giờ đang có rút lại, di chuyển sâu hơn vào trong vách đá.

Khe nứt mau chóng mở ra một đường hầm tối mịt mà Harry chắc chắn trong đó ngập đầy nước thủy triều dâng.

Những vách đá lầy nhầy rộng không tới một thước, ánh lên như dầu hắc ướt trong ánh sáng lướt qua từ cây đũa của cụ Dumbledore.

Vào thêm một chút, lối đi lượn về phía trái và Harry thấy đường hầm ăn xa mút vào tận trong vách đá.

Nó tiếp tục bơi theo đường rẽ nước của cụ Dumbledore, mấy đầu ngón tay tê cóng của nó quệt phải đá nhám, ướt.

Thế rồi nó thấy cụ Dumbledore ngoi lên khỏi mặt nước ở phía trước, mái tóc bạc và chiếc áo chùng đen của cụ sáng lóng lánh.

Khi Harry bơi tới chỗ đó, nó nhận thấy có những bậc cấp dẫn vào một cái hang lớn.

Nó khó nhọc leo lên mấy cái bậc, nước từ áo quần nó sũng ướt nhểu xuống ròng ròng và vẫn run lập cập không sao kiểm soát nổi, nó nhô đầu vào cái khonagr không cóng lạnh và im ắng kia.

Cụ Dumbledore đang đứng ngay chính giữa hang động, cây đũa phép giơ lên cao trong khi cụ chậm rãi quay vòng tại chỗ, xem xét những bức tường và trần hang.

“Phải, đúng là chỗ này,” cụ Dumbledore nói.

“Làm sao thầy biết ?”

Harry hỏi bằng giọng thì thào.

“Nó hiểu pháp thuật,” cụ Dumbledore nói đơn giản.

Harry không chắc được những cái run lập cập mà nó đang phải chịu đây là do cơn lạnh sống lưng hay tại nó cảm nhận có bùa ngải ma thuật.

Nó dòm lom lom khi cụ Dumbledore tiếp tục quay vòng tại chỗ, rõ ràng cụ đang tập trung vào những thứ mà Harry không thể nhìn thấy.

“Đây chỉ là hang ngoài, là tiền sảnh thôi,” cụ Dumbledore nói sau một hay hai giây.

“Chúng ta cần phải thâm nhập vào hang trong… bây giờ thì chính những chướng ngại vật của Chúa tể Voldermort mới cản đường chúng ta, hơn là mấy thứ do thiên nhiên tạo ra...”

Cụ Dumbledore tiến đến vách hang và vừa sờ soạng mấy đầu ngón tay đen xạm cảu mình lên đó, vừa lẩm nhẩm bằng một ngôn ngữ lạ lùng mà Harry không hiểu được.

Cụ đi vòng quanh hang đúng hai lần, sờ vô mặt đá xù xì một cách hết sức tỉ mẩn, thỉnh thoảng cụ dừng bước, lần tới lần lui mấy ngón tay tại một điểm nào đó, cho đến cuối cùng cụ dừng hẳn lại, ấn mạnh cả bàn tay vào vách đá.

“Đây rồi,” cụ nói.

“Chúng ta sẽ đi qua chỗ này.

Lối vào bị giấu kín.”

Harry không hỏi làm thế nào mà cụ Dumbledore biết được.

Nó chưa hề thấy một pháp sư nào lại làm phép kiểu như thế này, chỉ có nhìn và sờ thôi; nhưng Harry từ lâu đã được học rằng những tiếng nổ bùm và khói mù mịt thường chỉ là dấu hiệu cảu pháp thuật tầm thường hơn là pháp thuật cao siêu.

Cụ Dumbledore lùi lại khỏi vách hang và chĩa cây đũa phép vào đó.

Trong tích tắc, một đường nứt hình vòng cung hiện ra từ chỗ ấy, sáng trắng lên như thể đằng sau khe nứt có một bóng đèn công suất mạnh.

“Thầy làm… làm được rồi,” Harry nói qua hàm răng va cầm cập, nhưng những lời ấy chưa kịp rời khỏi miệng nó thì đường nứt đã biến mất, để lại mặt đá trơ lì như cũ.

Cụ Dumbledore ngó quanh.

“Ồ Harry, xin lỗi con, thầy quên mất,” cụ nói, đoạn chĩa cây đũa phép vào Harry và nagy lập tức quần áo của Harry ấm nóng và khô ran như đang được phơi ngay trước một ngọn lửa cháy rực.

“Cám ơn thầy,” Harry nói, đầy vẻ biết ơn, nhưng cụ Dumbledore đã quay lại tập trung vào vách hang rắn chắc.

Cụ chẳng làm thêm phép gì nữa, chỉ đứng đó nhìn đăm đăm vào vách đã, tựa hồ như trên đó có viết thứ gì đó cực kỳ thú vị.

Harry đứng im – nó không muốn phá vỡ sự tập trung của cụ Dumbledore.

Rồi, sau đúng hai phút, cụ Dumbledore lẳng lặng nói, “Ồ, chắc chắn không phải rồi.

Thật tàn nhẫn.”

“Cái gì vậy, thưa thầy?”

“Thầy nghĩ,” cụ Dumbledore vừa nói vừa thò bàn tay không bị thương vào áo chùng và lôi ra một con dao ngắn bằng bạc, cùng loại với con dao Harry vẫn hay dùng để thái nguyên liệu pha chế độc dược, “nó yêu cầu chúng ta phải trả lộ phí để đi qua.”

“Lộ phí?”

Harry nói.

“Thầy phải cho cánh cửa một thứ gì đó?”

“Ừ,” cụ Dumbledore nói.

“Máu, nếu thầy không nhầm lẫn nhiều.”

“Máu?”

“Thì thầy đã bảo thật alf tàn nhẫn mà,” cụ Dumbledore nói, nghe có vẻ khinh thường, thậm chí thất vọng, như thể Voldermort không đạt tới những tiêu chuẩn như cụ mong chờ.

“Ý đồ của hắn, thầy chắc rằng con sẽ suy luận mà hiểu ra, là hắn muốn kẻ thù của hắn phải tự làm suy yếu mình mới vào được.

Một lần nữa, Chúa tể Voldermort không hiểu được rằng còn có những thứ nhiều lần kinh khủng hơn là chấn thương về thể xác.”

“Dạ, nhưng mà, nếu thầy có thể tránh được thì…”

Harry nói, nó đã trải qua đau đớn đủ nhiều để không ham gì mà nhận thêm nữa.

“Tuy nhiên, có những lúc không thể tránh được,” cụ Dumbledore vừa nói vừa lắc ngược tay áo chùng lên và để lộ cẳng tay của bàn tay bị thương.

“Thầy!”

Harry phản đối, vội nhoài ra trước khi cụ Dumbledore giơ con dao lên.

“Để con làm cho.

Con…”

Nó không biết phải nói gì tiếp – rằng con trẻ hơn và thích hợp hơn thầy à?

Nhưng cụ Dumbledore chỉ mỉm cười.

Một ánh bạc nhoáng qua và một màu đỏ tươi phọt ra; mặt đá được những giọt đậm, lấp lánh phun vô tới tấp.

“Con thiệt là tốt bụng, Harry,” cụ Dumbledore nói, giờ cụ đang chuyển đầu cây đũa lên vết cắt sâu mà cụ vừa rạch lên chính cánh tay mình, để cho nó liền lặn ngay tức khắc, hệt như kiểu Thầy Snape chữa lành vết thương cho Malfoy vậy.

“Nhưng máu của con quý giá hơn máu thầy nhiều.

A kìa, có vẻ như mình vừa làm đúng mẹo, hả?”

Đường nứt sáng rực hình vòng cung đã lại xuất hiện trên bức tường một lần nữa và lần này nó không phai nhạt đi.

Mảng đá vấy máu trong đó cũng biến mất tăm, để lại một cái lỗ mở vào bóng tối đen đặc hoàn toàn.

“Thầy nghĩ, con đi theo thầy,” cụ Dumbledore nói và bước qua lỗ vòm, với Harry bám theo sát gót; nó cũng hấp tấp thắp sáng cây đũa phép của mình lên trong khi đi.

Một khung cảnh rợn người đập vô mắt hai thầy trò nó: họ đang đứng sát mí một cái hồ khổng lồ, đen ngòm – rộng đến nỗi Harry không thể nhìn thấy bờ bên kia – trong một hang động cao đến độ mái trần cảu nó cũng khuất khỏi tầm nhìn.

Một khoảng sáng xanh lá cây lợt, lờ mờ thấp thoáng đằng xa, tại một nơi có vẻ như là chính giữa hồ và được phản chiếu từ mặt nước bên dưới phẳng lặng như tờ.

Mảng sáng xanh lá cây và ánh sáng từ hai cây đũa phép là những thứ duy nhất phá vớ bức màn đen mượt như nhung, dẫu những tia sáng của chúng chẳng thâm nhập được xa như Harry đã mong đợi.

Chẳng hiểu làm thế nào mà ở đây bóng tối lại còn mịt mùng hơn cả bóng tối thông thường.

“Cứ bước đi,” cụ Dumbledore nói khẽ.

“Cẩn thận đừng bước xuống nước.

Đi sát vô thầy.”

Cụ cất bước vòng qunh bờ hồ và Harry theo sát đằng sau.

Những bước chân của họ tọa thành những tiếng dội vang, nện rổn rảng vào vành đá hẹp bao quanh hồ.

Hai thầy trò cứ bước hoài, bước hoài, nhưng cảnh trí vẫn không thay đổi.

Một bên họ là vách hang lởm chởm; và phía bên kia là màn đen vô tận, phẳng lì như gương, mà chính giữa nó là mảng sáng xanh kỳ bí.

Harry cảm thấy nơi này và bầu không khí thinh lặng này ngột ngạt đến rợn óc.

“Thưa thầy?”

Cuối cùng Harry lên tiếng.

“Thầy nghĩ cái Trường sinh linh giá ấy ở đây ạ?”

“Ừ,” cụ Dumbledore nói.

“Ừ, thầy chắc chắn là vậy.

Vấn đề là, làm sao chúng ta tiếp cận được nó đây?”

“Mình không thể… mình không thể thử bùa Triệu hồi sao?”

Harry nói, thấy rõ đó là một đề nghị ngớ ngẩn, nhưng thế còn dũng khí hơn là nó sắp phải thú nhận rằng nó muốn chuồn ngay khỏi nơi này càng lẹ càng tốt.

“Được chớ,” cụ Dumbledore nói, dừng lại đột ngột đến nỗi Harry suýt nữa thì đâm sầm vô thầy.

“Sao con không thử nó đi?”

“Con?

Dạ được…

Được…”

Harry không hy vọng gì vào điều này, những cũng hắng cho thông cổ họng và hét to, cây đũa phép giơ cao, “Lại đây Trường sinh linh giá!”

Với một âm thanh như một tiếng nổ, một vật rất lớn và tái mét phọt khỏi mặt nước đen, bắn vọt lên cao cỡ sáu thước.

Trước khi Harry kịp nhìn coi đó là cái gì thì cái vật đó đã biến mất với một tiếng ùm xé nước, tạo thành những gợn sóng sâu, loang rộng trên màn nước phản chiếu.

Harry hoảng hồn ngã người ra sau và đập mạnh vô vách đá.

Tim nó vẫn còn đập thình thịch khi nó quay qua cụ Dumbledore.

“Đó là cái gì vậy ạ?”

“Một cái gì đó, thầy nghĩ, nó sẵn sàng phản ứng lại nếu ta cố chiếm cái Trường sinh linh giá.”

Harry nhìn lại màn nước.

Mặt hồ một lần nữa lại đang sáng như thủy tinh đen: những gợn sóng đã biến mất mau lẹ một cách trái tự nhiên; tuy vậy tim Harry vẫn còn đánh lộn lạo.

“Thầy đã biết trước là điều đó sẽ xảy ra phải không, thưa thầy?”

“Thầy đã nghĩ là một điều gì đó sẽ xảy ra nếu chúng ta nỗ lực một cách lộ liễu chạm tay lên cái Trường sinh linh giá.

Đó là một ý hay đấy, Harry – đó là cách đơn giản nhất để khám phá ra chúng ta đnag đối mặt với cái gì.”

“Nhưng chúng ta không biết cái vật đó là cái gì,” Harry vừa nói vừa nhìn mặt nước phẳng lặng hung hãn.

“Những cái vật đó, con à,” cụ Dumbledore chỉnh lại.

“Thầy rất nghi đó mới chỉ là một trong số chúng thôi.

CHúng ta đi tiếp chứ?”

“Thưa thầy?”

“Gì vậy, Harry?”

“Thầy có nghĩ là chúng ta sẽ cần phải đi xuống hồ không?”

“Xuống hồ à?

Chỉ khi nào chúng ta xui tận mạng thôi.”

“Thầy không nghĩ cái Trường sinh linh giá nằm ở dưới đáy hồ à?”

“Ồ không… thầy nghĩ cái Trường sinh linh giá ở giữa hồ.”

Đoạn cụ Dumbledore chỉ về hướng mảng sáng xanh lá cây hắt hiu ở chính giữa hồ.

“Vậy chúng ta sẽ phải băng qua hồ để lấy nó, phải không ạ?”

“Ừ, thầy nghĩ vậy.”

Harry chẳng nói chẳng rằng.

Đầu óc nó chợt nghĩ đến tất cả những loài thủy quái, đến những con quỷ khổng lồ, đến đám quỷ xa-tăng, lũ hà bá và bọn yêu ma…

“A ha,” cụ Dumbledore thốt lên và dừng lại lần nữa; lần này thì Harry đúng là giẫm phải cụ; lập tứ nó té nhào xuống rìa nước đen thui và cánh tay lành lặn của cụ Dumbledore túm chặt lấy bắp tay nó, lôi nó đứng lên trở lại.

“Xin lỗi con, Harry, đnagiáo sư ra thầy phải báo trước.

Đứng dựa vô vách đi; thầy nghĩ thầy đã tìm ra chỗ rồi.”

Harry không hiểu ý cụ Dumbledore muốn nói gì – nó dám chắc là khúc bờ hood tối đen này cũng giống in hệt như mấy chỗ khác.

Nhưng xem ra cụ Dumbledore đã dò tìm được cái gì đó đặc biệt ở đây.

Lần này cụ rà rà bàn tay, không phải lên mặt đá thô nhám, mà là vào không khí mù sương, như thể mong kiếm ra và chộp bắt được cái gì đó vô hình.

“Ô hô,” sau vài giây, cụ Dumbledore thốt lên vui mừng.

Bàn tay cụ đã chạm vào cái gì đó giữa không trung mà Harry không thể nhìn thấy.

Cụ Dumbledore xê dịch lại gần mặt nước hơn; Harry sợ hãi ngó đầu mũi giầy có khóa của cụ đụng sát mép đá.

Vẫn giữ cho bàn tay nắm chặt trong không khí, cụ Dumbledore giơ cây đũa phép lên bằng tay kia và khỏ đầu đũa vô nắm tay này.

Ngay tức khắc, một sợi dây xích dày cui, màu nâu đỏ hiện ra giữa không trung – nó nhô lên từ đươi nước, luồn vô bàn tay nắm chặt của cụ Dumbledore.

Cụ gõ sợi xích, nó liền trườn xuống khỏi nắm tay siết chặt của cụ; Giống như một con rắn, nó tự bò trên mặt đất, với âm thanh lẻng xẻng dội vang khỏi những bức tường đá và lôi cái gì đó từ đáy nước đen.

Harry há hốc miệng khi một mũi tàu bé xíu, ma quái đục tung mặt nước, tỏa ánh sáng xanh như sợi xích và trôi lừ đừ, không một dợn sóng về phía bờ mà nó và cụ Dumbledore đang đứng.

“Làm sao thầy biết nó ở đó?”

Harry hỏi, đầy kinh ngạc.

“Pháp thuật luôn để lại dấu vết,” cụ Dumbledore nói khi chiếc thuyền đụng vô thành bờ một tiếng bùm nhẹ, “đôi khi những dấu vết đó rất dễ phân biệt.

Thầy đã dạy Tom Riddle.

Thầy biết cung cách của y.”

“Cái… cái thuyền này có an toàn không ạ?”

“Ô, có chứ, thầy nghĩ vậy.

Voldermort cần chế ra một phương tiện để băng qua hồ mà không làm kinh động những sinh vật mà hắn đã thả xuống đó, phòng trowngf hợp hắn muốn thăm chừng hoặc di chuyển cái Trường sinh linh giá của hắn.”

“Vậy là những thứ ở dưới nước sẽ không làm gì chúng ta nếu chúng ta đi bằng thuyền của Voldermort?”

“Thầy nghĩ chúng ta sẽ phải phó mặc cho một thực tế là bọn chúng ắt sẽ làm gì đó nếu nhận ra chúng ta không phải là Chúa tể Voldermort.

Tuy nhiên tới giờ thầy trò mình đã khá trót lọt.

Chúng đã cho phép chúng ta kéo chiếc thuyền lên.”

“Nhưng tại sao chúng lại để chúng ta làm vậy?”

Harry hỏi, nó vẫn không sao rũ bỏ được hình ảnh những chiếc xúc tu từ mặt nước đen ngòm ngoi lên vào lúc họ đi khuất khỏi bờ.

“Voldermort chắc hẳn đã rất tự tin một cách hợp lý rằng không ai, trừ phi là một phù thủy rất vĩ đại, có thể tìm ra chiếc thuyền,” cụ Dumbledore nói.

“Thầy nghĩ có lẽ hắn sẵn sàng chơi ẩu ở cái khâu mà, theo hắn nghĩ, ít khả năng xảy ra nhất, là sẽ có một ai khác tìm ra chieescs thuyền, vì hắn biết rnawgf hắn đã đặt ra những vật cản khác nữa ở phía trước rồi, những vật cản mà chỉ có hắn mới xuyên qua được.

Chúng ta sẽ coi thử hắn tính vậy có đúng không.”

Harry nhìn xuống chiếc thuyền.

Quả là nó bé xíu.

“Có vẻ như nó được đóng ra không phải để dành cho hai người.

Nó chở nổi cả hai người mình không ạ ?

Cả hai cùng đi thì có nặng quá không ?”

Cụ Dumbledore tặc tặc lưỡi.

“Voldermort chẳng bận tâm đến trọng lượng đâu, hắn chỉ tính đến công lực phép thuật nào sẽ băng qua hồ.

Thầy nghĩ chắc phải có một cái bùa yểm lên chiếc thuyền để mỗi lần chỉ có một pháp sư đi được mà thôi.”

“Vậy thì… ?”

“Thầy nghĩ là con kể như không tính tới, Harry à – con còn thiếu tuổi và non nớt.

Chắc Voldermort không bao giờ ngờ là có một kẻ mới-mười-sáu-tuổi-ranh mà lại đến được nơi này.

Thầy nghĩ chắc công lực của con cũng không thể so với công lực của thầy.”

Những lời nói đó chẳng làm lên tinh thần Harry chút nào – có lẽ cụ Dumbledore biết vậy, vì thế cụ nói thêm, “Sai lầm của Voldermort, Harry à, sai lầm của Voldermort… tuổi già thật điên rồ và dễ quên khi tuổi giá đánh giá thấp tuổi trẻ…

Nào, bây giờ thì con đi trước và cẩn thận đừng chạm vô nước.”

Cụ Dumbledore đứng qua một bên và Harry thận trọng leo vô thuyền.

Cụ Dumbledore cũng bước vô, cuộn sợi dây xích dưới nền đất lại.

Hai thầy trò bị đồn cứng vô nhau – Harry không thể ngooig thoải mái mà phải khom người lại, hai đầu gối ló ra khỏi mạn thuyền ; cái thuyền ngay lập tức chuyển động.

Không một tiếng động nào ngoài tiếng oàm oạp nhè nhẹ của mũi thuyền rẽ nước.

Nó di chuyển mà không cần phải chèo, như thể có một sợi thừng vô hình đang kéo nó đi về phía vùng sáng giữa hồ.

Thóang chốc hai thầy trò nó không còn trông thấy những vách hang nữa ; cứ như họ đang ở giữa biển, ngoại trừ một điều là biển không có sóng.

Trong khi đi, Harry ngó xuống và thấy ánh sáng phản chiếu vàng rực từ cây đũa phép của nó lấp lánh và chói lòa trên mặt nước đen kịt.

Chiếc thuyền đang khảm những dợn sóng sâu lên mặt nước loang loáng, xẻ những đường rãnh vô mặt gương đen…

Thế rồi Harry trông thấy cái đó, màu trắng cẩm thạch, trôi lờ đờ cách mặt nước chừng một tấc.

“Thưa giáo sư !”

Nó la lên, tiếng la thảng thốt của nó vang dội khắp mặt nước thinh lặng.

“Gì đó Harry ?”

“Con nghĩ con thấy một bàn tay dưới nước… một bàn tay người !”

“Ừ, thầy chắc chắn là vậy,” cụ Dumbledore nói một cách bình thản.

Harry ngó trừng trừng xuống nước,ngóng tìm bàn tay vừa biến mất, một cảm giác mắc ói trào lên cổ họng nó.

“Như vậy cái vật phóng lên khỏi mặt nước hồi nãy là…”

Nhưng Harry đã có lời đáp trước khi cụ Dumbledore kịp trả lời - ánh sáng từ đũa phép lướt qua mộ vùng nước khác và lần này chiếu cho nó thấy xác một người đàn ông nằm ngửa cách mặt nước có vài phân.

Đôi mắt mở trừng của người này như có mạng nhện bao phủ, tóc và áo chùng quấn cuồn cuộn quanh thân như làn khói.

“Có nhiều xác chết ở đây !”

Harry nói, giọng nó the thé, cao hơn bình thường và hoàn toàn không giống giọng nói của nó nữa.

“Phải,” cụ Dumbledore nói điềm tĩnh, “nhưng lúc này chúng ta không việc gì phải lo lắng đến chúng.”

“Lúc này ?”

Harry lặp lại, ngẩng phắt khỏi mặt nước để nìn cụ Dumbledore.

“Không phải lo khi mà chúng đang trôi yên ả bên dưới chúng ta,” cụ Dumbledore nói.

“Harry, chẳng có gì từ một cái xác cũng như chẳng có gì từ bóng tối là đáng sợ cả.

Chúa tể Voldermort, kẻ dĩ nhiên là thầm sợ cả hai thứ ấy – lại không đồng ý như vậy.

Nhưng một lần nữa hắn lại bộc lộ sự thiếu khôn ngoan của chính mình.

Chính cái không biết mới làm chúng ta sợ khi chúng ta nhìn xuống xác chết và bóng tối, chỉ thế thôi, không hơn.”

Harry im re.

Nó không muốn tranh luận, nhưng nó thấy thật là ghê rợn khi nghĩ rằng đang có những xác chết trôi lều bều xung quanh và bên dưới họ và hơn nữa, nó không tin là những xác chết ấy không nguy hiểm.

“Nhưng một trong số chúng lúc nãy đã vọt lên,” Harry nói, cố alfm cho giọng nói được bình tĩnh như giọng vụ Dumbledore.

“Lúc con thử triệu hồi cái Trường sinh linh giá, một xác chết đã phóng khỏi hồ đấy thôi.”

“Ừ,” cụ Dumbledore nói.

“Thầy tin chắc là một khi lấy được cái Trường sinh linh giá , thì chúng ta sẽ thấy bọn chúng bớt hiền hòa đi.

Tuy nhiên giống như nhiều sinh vật cư ngụ trong cái lạnh và bóng tối, bọn chúng cũng sợ ánh sáng và hơi ấm, cho nên đó sẽ là những thứ chúng ta phải cầu viện đến khi cần.

Phấn khởi lên đi chứ, Harry.”

Cụ Dumbledore mỉm cười nói thêm khi thấy vẻ hoang mang của Harry.

“Dạ, vâng…”

Harry nói lẹ.

Nó quay đầu dòm vầng sáng xanh lá cây nhạt mà chiếc thuyền vẫn đang lừ đừ tiến tới.

Giờ thì nó không thể giả bộ là nó không sợ được nữa.

Cái hồ mênh mông, đen như mực, tràn ngập xác chết...

Dường như việc nó gặp giáo sư Trelawney và việc nó đưa cho Ron và Her lọ Phúc lạc dược đã cách đây nhiều, nhiều giờ lắm rồi...

Bất giác nó ước gì nó đã chào tạm biệt thắm thiết hơn với tụi bạn... mà nó lại chưa gặp Ginny gì hết...

“Sắp tới rồi,” cụ Dumbledore nói, vẻ vui mừng.

Đúng vậy, cuối cùng thì quầng sáng xanh lá cây nhạt dường như đang nở rộng ra hơn và trong vòng vài phút, chiếc thuyền dừng lại, va nhự vào cái gì đó mà thoạt đầu Harry không trông thấy, nhưng khi nó giơ cây đũa phép thắp sáng lên thì thấy họ đã cập vào một hòn đảo bằng đá, nhỏ, nhẵn thín ở giữa hồ.

“Cẩn thận đừng đụng vào nước,” cụ Dumbledore lại nhắc khi Harry leo ra khỏi thuyền.

Hòn đảo này không lớn hơn văn phòng của cụ Dumbledore: một dải đá phẳng đen trụi, trên đó chẳng đặt cái gì, ngoại trừ một nguồn phát ra quaanfd sáng xanh lá cây nhạt, trông sáng hơn nhiều khi lại gần.

Harry nheo mắt nhìn, thoạt tiên nó tưởng đó là một loại đèn gì đó, nhưng rồi nó thấy ánh sáng là phát ra từ một cái chậu đá hơi giống cái Tưởng ký, được đặt trên một cái bệ.

Cụ Dumbledore tiến lại gần cái chậu và Harry theo sau.

Vai kề vai, hai thầy trò nhìn vô trong cái chậu.

Cái chậu chứa đầy một chất lỏng màu xanh ngọc, từ đó phát ra ánh sáng dạ quang.

“Nó là gì thế?”

Harry khẽ hỏi.

“Thầy không chắc,” cụ Dumbledore nói.

“Tuy nhiên, đó là thứ gì đó đáng sợ hơn cả máu và xác chết.”

Cụ Dumbledore vuốt ngược ống tay áo chùng lên khỏi bàn tay cháy đen, vươn mấy đầu ngón tay bị đốt xém về phía mặt chất lỏng.

“Không, thầy, đừng chạm...!”

“Thầy có chạm được đâu,” cụ Dumbledore nói, mỉm cười yếu ớt.

“Thấy chưa?

Thầy không thể tiến sát hơn được nữa.

Con thử coi.”

Mắt nhìn chăm chăm, Harry đặt nguyên bàn tay vô cái chậu và cố chạm tới chất lỏng.

Nó đụng phải một vật cản vô hình, ngăn không cho nó nhúc nhích thêm một phân nào nữa.

Dù nó có ráng ấn tới đâu thì mấy ngón tay nó vẫn không đụng được thứ gì, ngoại trừ một cái gì đó như không khí đặc cứng.

“Tránh ra nào, Harry,” cụ Dumbledore nói.

Cụ giơ cây đũa phép của mình lên và làm vài cử động phức tạp trên bề mặt chất lỏng, miệng lầm rầm không lời.

Chẳng có gì xảy ra, ngoại trừ hình như chất lỏng có sáng lên hơn một chút.

Harry vẫn im lặng trong lúc cụ Dumbledore làm phép, nhưng sau một hồi cụ Dumbledore rút đũa phép lại và Harry cảm thấy an toàn để nói chuyện trở lại.

“Thầy nghĩ cái Trường sinh linh giá ở trong đó sao, thưa thầy ?”

“Ờ,” cụ Dumbledore ghé sát mắt vô cái chậu đá hơn.

Harry trông thấy mặt cụ phản chiếu, lộn ngược, trong mặt nước xanh lá cây.

“Nhưng làm cách nào chạm được nó đây?

Thứ dịch này không thể xuyên qua bằng tay, bằng bùa tiêu biến, không xẻ được, không xúc, không hút được, không dùng Biến hình hay Bùa chú để làm nó thay đổi bản chất được.”

Gần như lơ đãng, cụ Dumbledore lại giơ cây đũa phép lên, xoay tít trên không và rồi chụp lấy một chiếc ly chân cao bằng pha lê mà cụ vừa làm cho hiện ra từ hư không.

“Thầy chỉ có thể kết luận là thứ nước này dùng để uống.”

“Gì ạ?”

Harry nói.

“Không!”

“Được chứ, thầy nghĩ vậy – chỉ có uống nó thầy mới vớt sạch được cái chậu và coi cái gì nằm dưới đáy.”

“Nhưng lỡ nó... lỡ nó giết thầy thì sao?”

“Ồ, thầy không nghĩ là nó lại vận hành theo cách đó,” cụ Dumbledore nói tỉnh bơ.

“Chúa tể Voldermort không muốn giết kẻ nào đã mò tới được hòn đảo này.”

Harry không thể tin nổi.

Liệu đây có phải lại thêm một quyết định điên khùng của cụ Dumbledore là thấy được mặt tốt nhất của tất cả mọi người?

“Thưa thầy,” Harry nói, cố giữ cho giọng nói có vẻ thuyết phục, “Thưa thầy, đây là Voldermort mà chúng ta...”

“Xin lỗi, Harry, đúng ra thầy phải nói cho rõ, rằng hắn không muốn giết ngay lập tức kẻ đã mò đến hòn đảo này,” cụ Dumbledore tự chỉnh lại cho đúng.

“Hắn muốn giữ cho kẻ ấy sống đủ lâu để coi kẻ ấy xoay xở như thế nào mà thâm nhập tới tận đây, qua được những lớp bảo vệ cảu hắn; và quan tọng hơn hết thảy, hắn muốn biết tại sao kẻ ấy lại muốn dốc sức tát cạn cái chậu đến vậy.

Đừng quên rằng Chúa tể Voldermort tin là chỉ một mình hắn biết về những Trường sinh linh giá.”

Harry tính nói tiếp, nhưng lần này cụ Dumbledore đã giơ tay lên ra hiệu cho nó im lặng, hơi nhíu mày nhìn chất lỏng xanh lục, rõ ràng là đang vắt óc suy nghĩ.

“Không nghi ngờ gì nữa,” cuối cùng cụ nói, “cái thứ nước này chawcsw phải có tác dụng theo cái cách ngăn carnt hầy lấy Trường sinh linh giá.

Có thể nó sẽ làm thầy tê liệt, khiến thầy quên mất mình tới đây vì cái gì, hành hạ thầy đau đớn đến nỗi mất tỉnh táo, hoặc làm cho thầy mất khả năng theo cách nào đó khác nữa.

Nếu vậy, Harry à, việc của con sẽ là phải bảo đảm cho thầy uống liên tục, thậm chí con có phải đổ thứ nước ấy vô cái miệng phản đối quyết liệt của thầy.

Con hiểu chứ?”

Mắt họ giao nhau qua cái chậu – gương mặt nhợt nhạt của mỗi người được chiếu sáng lên trong quầng sáng xanh lá cây nhạt kỳ dị.

Harry không nói năng gì.

Chẳng lẽ đây chính là lý do mà nó được mời đi theo sao...

để nó có thể bắt ép cụ Dumbledore uống thứ dịch có thể khiến cụ đau đớn không thể chịu đựng nổi sao?

“Con có nhớ điều kiện để thầy cho con đi cùng không?”

Cụ Dumbledore nói.

Harry lưỡng lự, nhìn vô đôi mắt xanh thẳm đã chuyển thành xanh lá cây do phản chiếu ánh sáng từ cái chậu.

“Nhưng nếu lỡ...?”

“Con đã thề, là sẽ làm theo bất cứ yêu cầu nào mà thầy đưa ra cho con, đúng không?”

“Dạ, nhưng...”

“Thầy đã cảnh báo con, rằng có thể sẽ nguy hiểm, đúng không?”

“Dạ,” Harry nói, “nhưng mà...”

“Thế thì,” cụ Dumbledore nghiêm giọng, lắc ngược ống tay áo chùng lên một lần nữa và nâng cái ly rỗng lên.

“Con nghe lệnh thầy đây.”

“Tại sao không là con uống nước đó thay thầy?”

Harry hỏi một cách tuyệt vọng.

“Bởi vì thầy già hơn con nhiều, tinh khôn hơn con nhiều và ít giá trị hơn con nhiều,” cụ Dumbledore nói.

“Một lần cuối cùng, Harry, con có thể hứa với thầy là sẽ làm hết sức để giữ cho thầy uống liên tục không?”

“Con không...?”

“Có hay không?”

“Nhưng...”

“Hứa đi, Harry.”

“Dạ, con... hứa, nhưng...”

Harry chưa kịp phản đối thêm nữa, cụ Dumbledore đã nhúng cái ly pha lê vào trong chất dịch.

Trong một thoáng tích tắc, Harry đã hy vọng alf biết đâu cụ sẽ không chạm tới được chất dịch ấy bằng cái ly, nhưng cái ly pha lê đã chìm vào mặt dịch mà không có thứ gì khác trước đó có thể chìm được.

Khi cái ly đầy tới miệng, cụ Dumbledore đưa nó lên miệng mình.

“Chúc sức khỏe, Harry.”

Và cụ uống cạn ly.

Harry dòm trân trân, kinh hãi, hai tay nó bám vô mép chậu chặt đến nỗi mấy ngón tay tê cứng.

“Thưa thầy?”

Nó lo lắng nói khi cụ Dumbledore hạ cái ly rỗng xuống.

“Thầy thấy sao rồi ạ?”

Cụ Dumbledore lắc đầu, mắt nhắm nghiền.

Harry thắc mắc có phải cụ đnag đau đớn không.

Cụ Dumbledore mò mẫm nhúng cái ly trở lại bồn, múc đây ly và uống lần nữa.

Trong im lặng, cụ Dumbledore uống liền ba ly đầy.

Rồi, nửa chừng ly thứ tư, cụ lảo đảo và đổ gục ra trước, dựa vào cái chậu.

Mắt cụ vẫn nhắm, hơi thở nặng nề.

“Thầy Dumbledore?”

Harry gọi, giọng nó canwgt hẳng.

“Thầy có nghe con nói không?”

Cụ Dumbledore không trả lời.

Mặt cụ co giật như đang ngủ say nhưng mơ phải một cơn acs mộng.

Bàn tay cụ nắm quanh ly đang buông lỏng ra.

Chất dịch sắp trào khỏi ly.

Harry nhoài người rra trước và chụp lấy cái ly, giữ cho nó đnứg yên.

“Thầy ơi, thầy có nghe con nói không?”

Nó lặp lại thật lớn, giọng nó vang vọng khắp hang động.

Cụ Dumbledore thở gấp gáp và rồi nói bằng giọng mà Harry không nhận ra được, bởi vì nó chưa bao giờ nghe cụ Dumbledore sợ hãi như thế này.

“Ta không muốn...

đừng bắt ta...”

Harry nhìn trân trối vô gương mặt quá đỗi thân thuộc với nó, nhìn cái mũi cong, cặp kính nửa vầng trăng và không biết phải làm gì.

“...không thích... muốn ngừng...”

Cụ Dumbledore rên rỉ.

“Thầy... thầy không thể dừng lại, thầy ơi,” Harry nói.

“Thầy phải uống tiếp, thầy nhớ không?

Thầy đã dặn con phải bắt thầy uống.

Đây nè...”

Tự căm ghét bản thân, ghê sợ trước việc mình đang làm, Harry tống cái ly trở vô miệng cụ Dumbledore và rót xuống, để cụ Dumbledore uống cho hết chất dịch còn lại trong ly.

“không...” cụ rên la khi Harry lại nhúng cái ly xuống chậu và múc đầy tiếp cho cụ.

“Ta không muốn... ta không muốn...

để ta đi...”

“Xong rồi, thưa thầy,” Harry nói, tay nó run run.

“Xong rồi, con ở đây...”

“Bắt nó ngừng ngay, ngừng ngay,” cụ Dumbledore rên rỉ.

“Dạ... dạ, cái này sẽ làm nó ngừng,” Harry nói dối.

Nó đổ hết chất dịch trong ly vô cái miệng đang há ra của cụ Dumbledore.

Cụ Dumbledore thét lên; tiếng thét vang khắp cái hang rộng thên thang, băng qua làn nước chết chóc đen ngòm.

“Không, không, không... không... ta không thể... ta không thể, đừng ép ta, ta không muốn...”

“Xong rồi ạ, thưa thầy, xong ngay đây!”

Harry hét lớn, tay nó run đến mức nó gần như không thể múc nổi ly dịch thứ sau.

Cái chậu giờ đã vơi đi một nửa.

“Không sao đâu, thầy an toàn mà, nó không có thực, con thề là nó không thực... uống cái này, đây, uống cái này...”

Và một cách ngoan ngoãn, cụ Dumbledore uống, như thể Harry dưa cho cụ thuốc giải độc vậy, nhưng đang nuốt ly dịch ấy thì cụ khuỵu gối xuống, run lập cập.

“Đó là lỗi tại ta, lỗi tại ta,” cụ khóc nức nở, “làm ơn bảo nó ngừng đi.

Ta biết ta sai rồi, ôi, làm ơn kêu nó ngừng mau lên, ta sẽ không bao giờ, không bao giờ... lần nữa đâu...”

“Cái này sẽ làm cho nó ngưng đây, thưa thầy,” Harry nói, giọng lạc đi khi nó đổ ly dịch thứ bảy vô miệng cụ Dumbledore.

Cụ Dumbledore bắt đầu co rúm lại như thể có những kẻ tra tấn vô hình đang bao vây cụ; bàn tay giãy giụa sém nữa thì gạt đổ cái ly đầy dịch trong đôi tay run lẩy bẩy của Harry, cụ gào la, “Đừng làm họ đau, đừng làm họ đau, làm ơn, làm ơn đi, đó là lỗi tại tôi mà, hãy làm tôi đau thay cho họ...”

“Đây, uống cái này, uống cái này, thầy sẽ hết đau,” Harry nói bừa và một lần nữa cụ Dumbledore lại nghe lời nó, há miệng ra, cho dù mắt cụ đang nhắm tịt lại và cụ đang run từ đầu tới chân.

Và bây giờ thì cụ đổ ập ra trước, thét lên lần nữa, đập hai nắm tay xuống đất, trong khi Harry múc đầy ly thứ chín.

“Làm ơn, làm ơn, làm ơn, không... không phải thế, không phải, cứ để tôi làm bất cứ điều gì...”

“Chỉ cần uống thôi, thưa thầy, chỉ có uống thôi...”

Cụ Dumbledore uống như một dứa trẻ sắp chết khát, nhưng khi vừa uống xong cụ lại ré lên lần nữa như trong ruột có lửa đốt.

“Không thêm nữa, thôi, thôi, làm ơn đi, thôi mà...”

Harry múc đầy ly dịch thứ mười và cảm thấy pha lê cà rột roạt vô đáy chậu.

“Chúng ta sắp xong rồi, thầy ơi, uống ly này đi, uống đi...”

Nó đỡ vai cụ Dumbledore và một lần nữa, cụ Dumbledore uống cạn ly.

Harry lại đứng lên và múc tiếp, trong khi cụ Dumbledore bắt đầu thét gào đau đớn hơn bao giờ hết, “Ta muốn chết!

Ta muốn chết!

Bắt nó ngừng ngay, ngừng ngay.

Ta muốn chết!”

“Uống ly này đi, thưa thầy, uống ly này này...”

Cụ Dumbledore uống và ngay khi vừa uống xong cụ thét lên, “GIẾT TA ĐI!”

“Ly này... ly này sẽ!”

Harry thở hổn hển.

“Chỉ cần uống ly này... là sẽ xong... xong luôn!”

Cụ Dumbledore hớp vào cái ly, ráng nuốt ực từng giọt cuối cùng và rồi, hộc lên một tiếng thiệt lớn, vụ té vập mặt xuống đất.

“Không!”

Harry thét lên, nó đã đứng lên để múc tiếp ly khác, nhưng thay vì làm thế, nó quẳng đại cái ly vô chậu, thụp xuống bên cạnh cụ Dumbledore và ráng lật cụ nằm ngửa lên.

Cặp kiếng của cụ lệch xéo sẹo, miệng cụ há hốc ra, mắt cụ nhắm nghiền.

“Không,” Harry vừa gọi vừa lay cụ Dumbledore, “Không, thầy không được chết, thầy nói nó không phải là thuốc độc cơ mà, tỉnh dậy đi thầy, tỉnh dậy...

Hồi phục!”

Harry thét lên, cây đũa của nó chĩa vô ngực cụ Dumbledore; một vệt sáng đỏ lóe lên, nhưng chẳng có gì xảy ra.

“Hồi phục... thầy ơi... làm ơn đi....”

Mí mắt cụ Dumbledore giật giật.

Tim Harry nhảy vọt lên.

“Thầy ơi, thầy có...?”

“Nước,” giọng cụ Dumbledore khản đặc.

“Nước,” Harry thở gấp, “...dạ dạ...”

Nó vùng đứng dậy và chộp lấy cái ly pha lê nó đã ném vào chậu, nó hầu như không để ý đến một cái hộp nhỏ bằng vàng nằm cuộn ngay bên dưới cái ly.

“Rót nước!”

Nó hét lên, thọc mạnh cây đũa phép của nó vào trong ly.

Cái ly dâng đầy nước trong vắt, Harry quỳ thụp gối xuống bên cạnh cụ Dumbledore, nâng đầu cụ lên và kê cái ly sát môi cụ... nhưng cái ly bỗng trống rỗng.

Cụ Dumbledore rên rỉ và bắt đầu thở phập phồng.

“Nhưng con đã có nước mà... chờ chút...

Rót nước!”

Harry lặp lại, chĩa cây đũa phép vô cái ly.

Một lần nữa, thoắt cái nước sạch lại lóng lánh bên trong ly, nhưng ngay khi nó đưa lại gần miệng cụ Dumbledore, nước lại biến mất.

“Thầy ơ, con sẽ cố, con sẽ cố!”

Harry cuống quít nói, nhưng nó không nghĩ là cụ Dumbledore còn có thể nghe được nó.

CỤ đã lăn nghiêng qua một bên và đang kéo những hơi thở ầm ĩ, nghe ồng ộc thiệt đau đớn.

“Rót nước!...

Rót nước!...

RÓT NƯỚC!”

Một lần nữa cái ly cứ hết đầy rồi alij rỗng.

Và bây giờ hơi thở của cụ Dumbledore đang yếu dần.

Đầu óc Harry quay mòng mòng trong kinh hoàng và nó biết, theo bản năng, cách duy nhất còn lại để lấy nước, bởi vì Voldermort đã lập định ra như thế, cho nên...

Harry bèn lao ra mép tảng đá và vục cái ly xuống hồ, múc lên một ly đầy tràn tới miệng thứ nước lạnh giá, không biến mất.

“Thầy ơi...

đây!”

Harry thét lên và nó nhào tới trước, lính quýnh hắt ly nước vào mặt cụ Dumbledore.

Nó chỉ làm được có nhiêu đó, bởi vì cảm giác lạnh ngắt trên cánh tay không cầm ly nước của nó lúc này không phải là cái lạnh dai dẳng của nước nữa.

Một bàn tay trắng bợt, oặt ẹo vừa túm lấy cổ tay nó và cái sinh vật có bàn tay ấy đang lôi nó, rất từ từ, té bật ngửa xuống nền đá.

Mặt hồ không còn phẳng lặng như gương nữa; nó đang dậy sóng cuồn cuộn và khắp mọi nơi Harry nhìn, những cái đầu và những bàn tay trắng trợt đang nhô lên khỏi mặt nước tối om, những người đàn ông, những phụ nữ và trẻ con với hốc mắt hõm sâu, không nhìn thấy được đang chuyển động về phía hòn đảo: một đội quân xác chết ngoi lên từ làn nước đen.

“Bất động toàn thân!”

Harry thét lớn, ráng giãy giụa để bám chắc được bề mặt ướt sũng, trơn tuột của hòn đảo khi nó chĩa đũa phép vào tên m binh đang quắp chặt cánh tay nó.

Tên này buông Harry ra, rớt xuống nước trở lại, nghe một cái tòm.

Harry trườn bò dậy, nhưng có thêm nhiều m binh nữa đang leo lên hòn đảo, những bàn tay gầy guộc của chúng quơ quào trên bề mặt trơn, những đôi mắt mở trừng trừng, đóng màng của chúng dán lấy Harry, những tấm vải rách sũng nước, những bộ mặt hóp tọp nhìn trâng tráo.

“Bất động toàn thân!”

Harry rống vang lần nữa, vừa quay lưng chạy đi vừa chém bừa cây đũa phép vào không khí; sáu hay bảy m binh trong số đó gục đổ, nhưng thêm nhiều tên nữa đang lao về phía nó.

“Ngăn lại!

Tống giam!”

Một vài tên oặt té, một hay hai tên trong số đó giãy đành đạch, nhưng bọn đang leo lên tảng đá đằng sau chúng cứ thế xéo lên hoặc đứng hẳn lên những cái xác nằm đó.

Vẫn cứ chém phầm phập cây đũa phép vào không khí, Harry thét, “Cắt đứt mục tiêu!

CẮT ĐỨT MỤC TIÊU!”

Mặc dù có những vết cắt sâu xuất hiện trên quần áo ướt rượt và trên lớp da lạnh băng của lũ m binh, nhưng chúng không có máu để mà chảy ra: chúng cứ bước tiếp, vô cảm, những bàn tay dúm dó duỗi thẳng về phía Harry và khi nó lùi lại xa hơn nữa, nó cảm thấy có những cánh tay ôm choàng lấy nó từ phía sau, những cánh tay gầy đét, không cso thịt, lạnh như xác chết và chân nó rời khỏi mặt đất khi những cánh tay ấy nhắc bổng nó lên và bắt đầu vác nó, chậm chạp và chắc chắn, trở lại hồ nước và Harry biết sẽ không đời nào có việc thả ra, rằng nó sẽ chết đuối và sẽ trở thành một xác chết canh gác nữa cho cái mẩu hồn tan tác của Voldermort...

Nhưng rồi, qua màn đen, lửa bỗng rực lên: lửa đỏ bầm và vàng chói, một viền lửa quây quanh đảo đá khiến cho bọn m ninh đang ôm Harry lảo đảo và ngừng lại; chúng không dám vượt qua lửa để xuống nước.

Chúng quẳng Harry xuống; Harry đập oạch xuống đất, trượt đi trên nền đá và té dúi dụi, trầy xước cánh tay, nhưng nó cố nhổm đứng lên trở lại, khua đũa phép lên và dáo dác dòm quanh.

Cụ Dumbledore đã lại đứng dậy được, tái nhợt như bất cứ tên m binh nào quanh đó, nhưng đồng thời cũng cao lớn hơn bất cứ tên nào.

Lửa nhảy nhót trong mắt cụ.

Cây đũa phép của cụ giơ cao như một cây đuốc và từ chóp đũa phụt ra những lưỡi lữa, giống như một vòng thòng lọng khổng lồ, đang thít chặt lấy tất cả bọn chúng bằng sức nóng.

Lũ m binh đâm sầm vào nhau, cố sức, quáng quàng trốn khỏi lửa đang quây kín chúng...

Cụ Dumbledore vớt chiếc hộp nhỏ từ đáy cái chậu đá lên và bỏ nó cào trong chiếc áo chùng.

Không một lời, cụ ra hiệu cho Harry đến bên cạnh.

Bị lửa chia trí, bọn m binh hình như không còn nhận ra con mồi của mình đang đi mất khi cụ Dumbledore dẫn Harry trở lại chiếc thuyền, với vòng lửa chuyển động cùng với họ, bao quanh họ; lũ m binh khật khừ bám theo họ tới mép nước, tại đó chúng tuột xuống làn nước đen với đầy vẻ biết ơn.

Harry, giờ đang run rẩy khắp toàn thân, trong một thoáng chợt nghĩ rằng cụ Dumbledore sẽ không đủ sức leo lên thuyền; cụ lảo đảo một chút lúc cố leo lên; tất cả nổ lực của cụ dường như đổ cả vào việc duy trì vòng lửa bảo vệ quanh họ.

Harry đỡ lấy cụ và giúp cụ ngồi lại vào chỗ.

Khi cả hai đã được nhồi nhét lần nữa một cách an toàn trong lòng thuyền, con thuyền bắt đầu di chuyển, băng qua làn nước đen trở về bờ, rời xa hòn đảo đá vẫn bị vòng lửa viền quanh và hình như lũ m binh đang bơi bên dưới họ không dám ngoi lên mặt nước.

“Thưa thầy,” Harry thở hổn hển, “thưa thầy, con quên... quên mất lửa... chúng ấp đến và con kinh khiếp quá...”

“Cũng dễ hiểu thôi,” cụ Dumbledore lẩm bẩm.

Harry giật mình khi nghe giọng cụ sao mà yếu đến vậy.

Hai thầy trò áp sát bờ hồ với một cú va nhẹ và Harry nhảy ra, xong lật đật quay lại giúp cụ Dumbledore.

Đúng khoảnh khắc cụ Dumbledore chạm vào bờ, cụ mặc cho bàn tay cầm đũa phép buông xuôi xuống; úvòng lửa biến mất, nhưng lũ m binh không ngoi lên khỏi mặt nước nữa.

Chiếc thuyền nhỏ một lần nữa lại chìm xuống nước; loảng xoảng và lanh canh, dây xích của nó cũng mất hút trong lòng hồ.

Cụ Dumbledore thở hắt lên một tiếng thiệt lớn và dựa gục vô vách hang động.

“Thầy yếu lắm...”

Cụ thều thào.

“Thầy đừng lo, thầy ơi,” Harry nói ngay lập tức, lo lắng trước sự tái mét cùng cực và vẻ kiệt quệ của cụ Dumbledore.

“Đừng lo, thầy ạ, con sẽ đưa chúng ta trở lại... dựa vô con, thưa thầy...”

Và quàng cánh tay không bị thương của cụ Dumbledore quanh vai mình, Harry dìu thầy hiệu trưởng đi trở lại quanh hồ, gồng chịu gần hết sức nặng cảu thầy.

“Việc bảo vệ... rốt cuộc...

được thiết kế hoàn hảo,” cụ Dumbledore nói yếu ớt.

“Một người đi một mình không thể làm được... con làm tốt lắm, giỏi lắm, Harry...”

“Lúc này xin thầy đừng nói,” Harry nói, sợ hãi vì giọng cụ Dumbledore trở nên yếu đi, chân cụ nhão ra, “hãy để dành sức ạ, thưa thầy... chúng ta sẽ mau ra khỏi đây...”

“Lối vòm đi vô đã bít rồi... con dao của thầy...”

“Không cần, con cắt bằng đá,” Harry nói chắc, “chỉ cần nói cho con biết lỗ cửa ở đâu...”

“Đây...”

Harry quệt cánh tay trầy trụa của nó lên đá: nhận được thêm máu, cái cổng vòm lại mở ra ngay tức thì.

Họ đi băng qua hang ngoài và Harry giúp cụ Dumbledore bơi vào lại dòng nước biển lạnh, tràn đầy khe nứt trong vách đá.

“Rồi sẽ ổn thảo thôi, thưa thầy,” Harry nói đi nói lại, càng lúc càng lo lắng vì vẻ im lặng của cụ Dumbledore hơn là vì giọng nói yếu ớt của cụ.

“Chúng ta sắp về đó rồi...

Con có thể Độn thổ cho hai thầy trò mình về... thầy đừng lo...”

Dù cho làn nước lạnh băng, giọng cụ Dumbledore đã mạnh hơn một chút.

Cụ nói:

“Thầy không lo, Harry ạ.

Vì thầy đi cùng với con.”
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q6 - 27: Tháp sét đánh


Tháp sét đánh

Khi đã trở lại bầu trời đầy sao, Harry ráng kéo cụ Dumbledore lên chóp tảng đá mòn gần nhất và đỡ cho cụ đứng lên.

Ướt lướt thướt và run rẩy, như vẫn mang nguyên khối lượng cụ Dumbledore trên mình, Harry tập trung cao độ hơn bao giờ hết vào đích đến của nó: làng Hogsmeade.

Nhắm mắt lại, ráng hết sức nắm chắc cánh tay của cụ Dumbledore, nó dấn tới, bước vào cái cảm giác đè nén kinh khủng ấy.

Trước khi mở mắt ra nó đã biết là việc độn thổ diễn ra suôn sẻ: mùi muối và gió biển biến mất.

Nó và cụ Dumbledore đang run bần bật và nhỏ nước ròng ròng giữa Ddwwongf Chính tối om trong làng Hogsmeade.

Trong một giây kinh hoàng, trí tưởng tượng của Harry chỉ cho nó thấy có thêm m binh đang bò về phía nó từ bên hông những cửa tiệm, nhưng nó chớp mắt và thấy chẳng có gì khuấy động cả; tất cả im phăng phắc, bóng tối hoàn toàn, ngoại trừ một vài bóng đèn đường và những cửa sổ sáng đèn bên trên.

“Xong rồi, thưa thầy!”

Harry thì thào khó nhọc; nó đột nhiên cảm thấy đau xé ở ngực.

“Chúng ta thành công rồi!

Chúng ta đã lấy được cái Trường sinh linh giá!”

Cụ Dumbledore loạng choạng dựa vô nó.

Thoạt đầu, Harry tworng là cú độn thổ tay ngang của nó đã quăng cụ Dumbledore khỏi thế thăng bằng; nhưng rồi nó nhìn mặt cụ, tái hơn và ướt át hơn dưới ánh sáng của một ngọn đèn đường ở đằng xa.

“Thầy, thầy có sao không?”

“Thầy đỡ rồi,” cụ Dumbledore nói yếu ớt, mặc dầu khóe miệng của cụ co giật.

“cái thứ nước đó… không phải là thức uống bổ dưỡng…”

Rồi trước sự kinh hãi của Harry, cụ Dumbledore chìm xuội xuống đất.

“Thầy ơi… không sao đâu thưa thầy, thầy sẽ khỏe thôi mà, thầy đừng lo…”

Nó hốt hoảng nhìn quanh tìm sự trợ giúp nhưng chẳng thấy một ai, và tất cả những gì nó có thể nghĩ ra được là phải mau mau tìm cách nào đó đưa cụ Dumbledore tới bệnh thất.

“Chúng ta cần đưa thầy về trường, thầy ơi…

Bà Pomfrey…”

“Không,” cụ Dumbledore nói.

“Phải là… giáo sư Snape là người thầy cần… nhưng thầy không nghĩ… thầy có thể bước xa chừng ấy…”

“Dạ… thế này, thưa thầy… con sẽ gõ một cửa tiệm, tìm một nơi thầy có thể ở lại… sau đó con chạy đi kiếm bà…”

“Severus,” cụ Dumbledore nói rành rõ.

“Thầy cần Severus…”

“Thì, Thầy Snape cũng được… nhưng con sẽ phải để thầy ở đây một lát để con…”

Tuy nhiên, Harry chưa kịp làm gì thì đã nghe thấy có tiếng những bước chân chạy tới.

Tim nó nảy bật lên: ai đó đã trông thấy họ, có người biết họ đang cần giúp đỡ…

Nhìn quanh, nó thấy bà Rosmerta đang chạy dọc con phố tối về phía họ trên đôi giày gót cao có lông, bận một chiếc áo choàng lụa thêu đầy rồng.

“Cô trông thấy con độn thổ lúc đang kéo màn cửa phòng ngủ!

Lạy quỷ thần, lạy quỷ thần, cô không thể nghĩ ra phải làm gì… nhưng cụ Albus bị sao vậy?”

Bà chạy đến nơi thì ngừng lại, thở phì phò và nhìn xuống cụ Dumbledore, mắt trượn tròn.

“Thầy bị thương,” Harry nói.

“Cô Rosmerta, thầy có thể vô quán Ba Cây chổi trong lúc cháu chạy về trường gọi người ra giúp thầy được không?”

“Cháu không thể về đó một mình được!

Cháu không nhận ra...

Bộ cháu không thấy...?”

“Nếu cô giúp cháu chăm sóc thầy,” Harry nói, không lắng nghe bà nói gì, “cháu nghĩ chúng ta có thể đưa thầy vô trong...”

“Có chuyện gì xảy ra vậy?”

Cụ Dumbledore hỏi.

“Rosmerta, có chuyện gì thấ?”

“Dấu...

Dấu hiệu Hắc ám, thưa cụ Albus.”

Đoạn bà chỉ lên bầu trời, về hướng trường Hogwarts.

Nỗi khiếp đảm bồng dội ào khắp người Harry khi nghe âm thanh của những lời ấy... nó quay đầu lại và nhìn.

Đó kìa, lơ lửng trên bầu trời ngay bên trên ngôi trường: cái đầu lâu rực sáng màu xanh lá cây nhạt với một cái lưỡi rắn.

Dấu hiệu mà bọn Tử thần thực tử hay để lại bất cứ khi nào mà chúng bước vô một tòa nhà... bất cứ ở đâu mà chúng vừa giết chóc...

“Nó xuất hiện từ lúc nào?”

Cụ Dumbledore hỏi, bàn tay cụ bấu chặt vô vai Harry đau nhói khi cụ cố sức đứng lên.

“Cách dây chừng vài phút, lúc tôi đẩy con mèo ra ngoài thì nó chưa có ở đó, nhưng khi tôi lên lầu...”

“Chúng ta cần trở về lâu đài ngay lập tức,” cụ Dumbledore nói.

Và mặc dù hơi lảo đảo, dường như cụ đã lại chỉ huy toàn bột ình hình, “Rosmerta, chúng tôi cần phương tiện... chổi...”

“Tôi có một cặp đằng sau quẩy rượu,” bà nói, trông thất kinh.

“Để tôi chạy đi lấy...?”

“Không, Harry có thể làm được.”

Harry lập tức giơ cây đũa phép của nó lên.

“Lại đây chổi của Rosmerta.”

Một giây sau, họ nghe một tiếng nổ đùng khi cánh cửa trước của quán rượu bật mở tung ra; hai cán chổi phóng vút ra đường và chạy đua tới bên cạnh Harry; tới đó chúng dừng phắt lại, hơi rung rung, ngang hông Harry.

“Rosmerta, làm ơn báo tin cho Bộ Pháp thuật,” cụ Dumbledore nói khi leo lên cán chổi gần cụ nhất.

“Rất có thể chưa ai bên trong trường Hogwarts nhận thấy có điều bất trắc...

Harry, mặc Áo khoác tàng hình của con vô.”

Harry lôi chiếc Áo khoác tàng hình ra khỏi túi và quàng vô người trước khi leo lên cán chổi còn lại; bà Rosmerta đã bước thấp bước cao quay về lại quán rượu của mình khi Harry và cụ Dumbledore bật khỏi mặt đất và lao vút lên không trung.

Trong lúc bay vù vù về phía lâu đài, Harry liếc ngang qua cụ Dumbledore, sẵn sàng chụp lấy cụ nếu cụ ngã, nhưng cái Dấu hiệu Hắc ám dường như tác động lên cụ Dumbledore như một liều thuốc kích thích: cụ cúi rạp trên cán chổi, mắt không rời cái Dấu hiệu, mái tóc bạc dài và bộ râu bay ngược ra sau trong bầu không khí đêm.

Và Harry cũng thế, mắt nhìn cái đầu lâu ở phía trước, nỗi sợ hãi phình lên trong người như một cái bong bóng đầy nọc độc, đè ép buồng phổi nó, quét sạch tất cả những nỗi lo âu khác ra khỏi tâm trí nó...

Hai thầy trò nó đã rời trường bao lâu rồi?

Đến giờ này sự may mắn của Ron, Hermione và Ginny đã tan hết chưa?

Có phải một đứa nào đó trong tụi nó là nguyên nhân khiến Dấu hiệu xuất hiện bên trên ngôi trường không?

Hay Neville, hay Luna, hay một thành viên nào đó trong ĐQD?

Và nếu thế...

Chính nó là đứa đã bảo bọn bạn đi tuần tra các hành lang, nó đã yêu cầu chúng phải rời khỏi giường ngủ an toàn của mình...

Chẳng lẽ nó lại phải chịu trách nhiệm, một lẫn nữa, cho cái chết cảu một người bạn sao?

Khi bay trên ngõ hẻm quanh co, tối hù mà họ đã đi bộ lúc trước, Harry nghe thấy cụ Dumbledore lại lẩm bẩm bằng thứ ngôn ngữ lạ lùng nào đó, hào lẫn với tiếng không khí ban đêm rít bên tai nó.

Nó nghĩ nó đã hiểu ra lý do khi cán chổi chòng chành mất một thoáng lúc họ bay vượt qua bức tường ranh giới để vô sân trường: cụ Dumbledore đang giải hóa những thứ bùa chú do chính cụ đã yểm xung quanh lâu đài, để họ có thể vô trường một cách nhanh chóng.

Dấu hiệu Hắc ám đang nhấp nháy ngay bên trên Tháp thiên văn, nơi cao nhất của tòa lâu đài.

Điều đó có nghĩa là vụ giết chóc đã xảy ra ở đó?

Cụ Dumbledore đã bay ngang qua bức thành lũy đầy lỗ châu mai và đang leo xuống khỏi chổi; Harry đáp xuống sát bên cụ vài giây sau và nhìn quanh.

Đỉnh Tháp vắng tanh.

Cánh cửa dẫn tới cầu thang xoắn dẫn vô lâu đài đóng chặt.

Không hề có Dấu hiệu của mộ cuốc vật lộn, một trận chiến sinh tử hay một xác chết nào.

“Vậy nghĩa là sao?”

Harry hỏi cụ Dumbledore, nó ngước nhìn cái đầu lâu xanh lá cây, có lưỡi rắn sáng lóe lên thiệt ác hiểm phía trên họ.

“Có phải là Dấu hiệu thật không?

Có chắc là có ai đố đã... thưa giáo sư?”

Trong ánh sáng xanh đục phát ra từ Dấu hiệu, Harry thấy cụ Dumbledore đang túm chặt lấy ngực mình bằng bàn tay nám đen.

“Đi đánh thức Severus,” cụ Dumbledore nói nhỏ những rành rọt.

“Báo cho thầy ấy biết sự việc xảy ra và đưa thầy ấy đến gặp thầy.

Không được làm gì khác, không được nói với ai khác và không được bỏ Áo khoác tàng hình ra.

Thầy sẽ đợi ở đây.”

“Nhưng...”

“Con đã thề là tuân lệnh thầy, Harry...

Đi!”

Harry hấp tấp chạy ra cánh cửa daxn tới cầu thang xoắn, nhưng bàn tay nó vừa mới gần chạm vô cái khoen sắt trên cửa thì nó nghe thấy tiếng chân chạy rầm rập ở phía bên kia cửa.

Nó quay lại nhìn cụ Dumbledore, cụ ra hiệu cho nó lùi lại.

Harry vừa quay lưng đi vừa rút đũa phép của nó ra.

Cánh cửa bật mở bung và ai đó băng vút qua cửa thét lên: “Tước khí giới!”

Toàn thân Harry đột nhiên trở nên cứng đờ và bất động và nó cảm thấy nó té ngã vô bức tường Tháp, tựa vô đó như một bức tượng lung lay, không thể nhúc nhích hay nói được.

Nó cũng không hiểu tại sao sự việc này lại xảy ra - Tước khí giới chứ đâu phải là bùa Đông cứng...

Thế rồi nhờ ánh sáng từ Dấu hiệu Hắc ám, nó thấy cây đũa phép của cụ Dumbledore bay thành hình vòng cung qua bờ thành và nó hiểu ra...

Cụ Dumbledore đã ếm bùa không lời cho Harry bất động và cái giây cụ thực hiện bùa chú ấy đã phải trả giá bằng cơ hội tự vệ cho chính cụ.

Đứng dựa vô tường thành, với gương mặt trắng bệch, cụ Dumbledore vẫn không tỏ ra dấu hiệu kinh hãi hay lo lắng gì.

Cụ thản nhiên nhìn qua kẻ vừa tước khí giới mình và nói, “Chào Draco.”

Malfoy tiến lên trước, láo liên dòm quanh thiệt lẹ để kiểm tra coi có phải chỉ có một mình nó và cụ Dumbledore không.

Mắt nó rớt xuống cái cán chổi thứ hai.

“Còn ai nữa ở đây?”

“Một câu hỏi lẽ ra ta phải hỏi trò.

Hay có phải trò đang hành động một mình không?”

Harry thấy đôi mắt trắng dã của Malfoy dịch trở lại cụ Dumbledore trong ánh sáng xanh nhức nhối của Dấu hiệu Hắc ám.

“Không,” nó đáp.

“Tôi có yểm trợ.

Đêm nay có các Tử thần thực tử trong trường của ông đấy.”

“Chà chà,” cụ Dumbledore nói, cứ như Malfoy vừa trình bày cho cụ một chương trình bài tập về nhà đầy tham vọng.

“Hay lắm.

Trò kiếm ra cách để đưa bọn chúng vô, phải không?”

“Phải,” Malfoy nói, thở hổn hà hổn hển.

“Ngay trước mũi ông và ông không bao giờ nhận thấy.”

“Thiên tài,” cụ Dumbledore nói.

“Nhưng mà... tha lỗi cho ta... bây giờ chúng đang ở đâu?

Xem ra trò không được trợ sức.”

“Họ đụng độ với một tên lính canh của ông.

Họ đang đánh nhau bên dưới.

Họ sẽ đánh không lâu đâu...

Tôi phóng lên trước.

Tôi... tôi có một việc phải làm.

“À, vậy thì trò phải tiếp tục làm rồi, trò yêu quý,” cụ Dumbledore nói nhẹ ru.

Im lặng.

Harry đứng như cầm tù trong cơ thể vô hình, tê liệt của chính nó, trố mắt nhìn hai người, tai nó căng ra để nghe tiếng đánh nhau đằng xa cảu bọn Tử thần thực tử và trước mặt nó, Draco Malfoy chẳng làm gì cả, chỉ thao láo dòm cụ Dumbledore, lúc này rõ ràng là cụ đang mỉm cười.

“Draco, Draco, trò không phải là kẻ giết người.”

“làm sao ông biết?”

Malfoy độp lại ngay lập tức.

Hình như Malfoy cũng nhận ra những lời ấy nghe thiệt ngớ ngẩn làm sao, Harry thấy hắn đỏ mặt lên trong ánh sáng xanh của Dấu hiệu Hắc ám.

“Ông không biết tôi có thể làm gì đâu,” Malfoy nói cứng cỏi hơn.

“Ông không biết tôi đã làm gì đâu.”

“À, ta biết chứ,” cụ Dumbledore nói nhã nhặn.

“Trò sém nữa là giết chết Katie Bell và Ronald Weasley.

Trò đang cố gắng, với quyết tâm ngày càng cao, giết ta suốt năm qua.

Tha lỗi cho ta, Draco, nhưng mà đó là những cố gắng tội nghiệp... quá tội nghiệp, thành thực mà nói, ta tự hỏi trò có thiệt tình để tim óc vô đó hay không...”

“Có chứ sao không!”

Malfoy nói quyết liệt.

“Tôi đã thực hiện nó suốt cả năm và đêm nay...”

Đâu đó bên trong lâu đài, phái dưới lầu, Harry nghe thấy một tiếng rú bị nghẹt lại.

Malfoy ngây đờ người ra ngoái lại nhìn.

“Ai đó đang đánh nhau hay ghê,” cụ Dumbledore nói kiểu vui chuyện.

“Nhưng trò nói...

ờ, trò đã tìm ra được cách rước Tử thần thực tử vô trường của ta, điều mà ta thừa nhận rằng ta đã nghĩ là không thể xảy ra được... trò đã làm việc đó như thế nào?”

Nhưng Malfoy chẳng nói gì: hắng vẫn đang lắng nghe xem cái gì đang diễn ra ở bên dưới và xem ra hắn cũng đang tê cứng không kém gì Harry.

“Có lẽ trò phải tiếp tục công việc đó một mình thôi vậy,” cụ Dumbledore đề nghị.

“Rủi kẻ yểm trợ của trò bị lính gác của ta hạ gục rồi thì sao?

Có lẽ trò đã nhận ra đêm nay cũng có những thành viên khác của Hội Phượng hoàng ở đây.

Mà rốt cuộc thì, thật ra trò đâu cần trợ giúp...

Lúc này ta không có đũa phép...

Ta không thể tự vệ.”

Malfoy vẫn chỉ dòm cụ chằm chằm.

“Thì ra là vậy,” cụ Dumbledore nói vẻ tử tế khi Malfoy chẳng cục cựa cũng chẳng lên tiếng.

“Chúng chưa tới nhập bọn thì trò còn sợ chưa dám ra tay.”

“Tôi không sợ!”

Malfoy quát, cho dù nó vẫn không động tịnh gì để làm cho cụ Dumbledore bị thương.

“Chính ông mới là kẻ phải sợ!”

“Nhưng sao thế?

Ta không nghĩ là trò sẽ giết ta, Draco à.

Giết chóc không dễ như những kẻ ngây thơ thường tin đâu...

Vậy hãy nói cho ta biết, trong khi chúng ta đợi đồng bọn của trò tới... làm cách nào mà trò lén đưa bọn chúng vô đây được?

Coi bộ trò phải mất bộn thời gian để tìm ra cách thực hiện việc đó.”

Trông dáng bộ Malfoy như thể đang cố chống lại ý muốn thét toáng lên hoặc ói ra.

Nó nuốt nước miếng khan và thở sâu vài hơi, nhìn cụ Dumbledore trừng trừng, cây đũa phép của nó chĩa thẳng vào tim cụ.

Rồi, như thể không kềm nổi mình nữa, nó nói, “Tôi phải sửa lại cái Tủ Biến mất bị hư nhiều năm rồi không ai dùng.

Cái tủ mà lão Montague bị kẹt vô hồi năm ngoái.”

“À à à à à.”

Tiếng thở dài của cụ Dumbledore hơi giống như tiếng rên rỉ.

Cụ nhắm mắt lại một thoáng.

“Thật thông minh... ta nghĩ nó có một cặp mà.”

“cái kia ở trong tiệm Borgin và Burkes,” Malfoy nói, “và chúng tạo nên một dạng như đường đi giữa hai cái với nhau.

Lão Montague bảo với tôi là trong cái lần mà lão bị kẹt ở trường Hogwarts, lão bị giam hãm những thỉnh thoảng vẫn nghe thấy những gì đang diễn ra trong trường và có khi lại nghe được những việc xảy ra ở trong tiệm, cứ như tủ Biến mất đi lại giữa hai nơi, nhưng lại không ai nghe được lão...

Cuối cùng lão xoay xở độn thổ ra được, mặc dù lão chưa bao giờ thi đậu môn này.

Lão mém chết khi làm vậy.

Ai cũng nghĩ đó là một câu chuyện thú vị, nhưng tôi là người duy nhất nhận ra nó có ý nghĩa gì... thậm chí lão Borgin cũng không biết... tôi là người nhận ra có thể có một con đường đi vô trường Hogwarts qua những tủ Biến mất nếu tôi sửa được cái tủ hư.”

“Rất hay,” cụ Dumbledore lầm bầm.

“Vậy là bọn Tử thần thực tử có thể đi từ tiệm Borgin và Burkes vô trường để giúp trò... một kế hoạch thông minh, một kế hoạch rất thông minh... và như trò nói, ở ngay trước mũi ta...”

“Đúng thế,” Malfoy nói, thiệt quái dị, hình như nó cảm thấy được an ủi và động viên từ lời khen của cụ Dumbledore.

“Đúng vậy đấy!”

“Những cũng có vài lần thì không được như thế,” cụ Dumbledore tiếp, “khi trò không chắc mình có sửa được cái tủ Biến mấthay không?

Và trò liền dùng đến chiêu độc địa và xấu ca là gởi cho ta một sợi xâu chuỗi bị ếm, nhưng nó lại ếm sai địa chỉ... còn rượu mật ong tẩm độc là thứ mà ta ít có khả năng sẽ uống nhất...”

“Ồ ồ, ông vẫn không nhận ra ai đnứg đằng sau tất cả những vj này, đúng không?”

Malfoy cười khẩy khi cụ Dumbledore hơi trượt xuống bức tường, sức mạnh trong hai chân cụ rõ ràng đang mất đi và Harry cố ráng một cách vô hiệu và câm nín chống lại cái bùa đang quấn chặt nó.

“Thật ra thì ta biết,” cụ Dumbledore nói.

“Ta chắc chắn đó là trò.”

“Thế thì tại sao ông không ngăn tôi lại ?”

Malfoy chất vân.

“Có chứ, Draco.

Giáo sư Snape luôn canh chừng trò theo lệnh của ta…”

“Gã ấy không làm theo lệnh ông, gã đã hứa với mẹ tôi…”

“Dĩ nhiên đó là những gì thầy ấy nói với trò, Draco, nhưng…”

“Gã là gián điệp hai mang, lão già khờ khạo à, gã không làm việc cho ông đâu, đó là ông nghĩ thế thôi !”

“Trò với ta chắc phải bất đồng với nhau về điều đó thôi, Draco à.

Một điều chắc chắn là ta tin tưởng giáo sư Snape…”

“Rồi, thế thì ông chẳng nắm được gì rồi !”

Malfoy mỉa mai.

“Gã đã liên tục đòi giúp đỡ tôi… thèm muốn tất cả vinh quang cho riêng gã… muốn được nhúng tay vô hành động đôi chút…

“Trò đang làm cái gì đó ? trò đã làm vụ sợi xâu chuỗi à, thiệt ngu ngốc, vụ đó có thể đã làm hỏng tất cả mọi việc…”

Nhưng mà tôi không hé môi cho gã biết tôi đang làm gì trong Phòng theo yêu cầu.

Ngày mai gã sẽ tỉnh giấc và tất cả sẽ chấm hết và gã sẽ chẳng còn là cục cưng của Chúa tể Hắc ám nữa, gã sẽ chẳng là gì nếu so với tôi cả, chẳng là cái quái gì !”

“Thiệt đáng hài lòng,” cụ Dumbledore nói hòa nhã.

“Tất cả chúng ta đều thích được ghi nhận đúng mức về công việc khó nhọc của mình… nhưng dẫu sao thì chắc chắn trò cũng phải có đồng lõa… ai đó ở làng Hogsmeade, ai đó có thể lén dúi vô giỏ của Katie cái… cái… aaaaa…”

Cụ Dumbledore lại nhắm mắt và gục đầu, như thể cụ sắp ngủ đến nơi.

“…dĩ nhiên…

Rosmerta.

Bà ấy đã bị yểm lời nguyền Độc đoán bao lâu rồi?”

“Cuối cùng cũng biết được điều đó, hả ?” malfoy châm chọc.

Lại một tiếng rú nữa từ dưới lầu, còn lớn hơn tiếng rú vừa nãy.

Malfoy sợ sệt ngó ra sau một lần nữa, rồi lại nhìn cụ Dumbledore – cụ vẫn đang nói tiếp, “Vậy là Rosmerta tội nghiệp bị ép buộc phải rình rập trong chính phòng tắm của mình và chuyển xâu chuỗi cho bất kỳ học sinh nào của trường Hogwarts vô đó một mình mà không có ai theo cùng ?

Rồi rượu mật ong tẩm độc…

Hừ, rất tự nhiên, Rosmerta có thể chuốc độc giùm cho trò trước khi bà ấy gửi chai rượu cho Thầy Slughorn, tin rằng đó là món quà Giáng sinh cho ta…

Phải, thật gọn gàng… rất tươm tất… thầy Filch hiền từ dĩ nhiên sẽ không kiểm tra chai rượu của quý bà Rosmerta…

Cho ta biết, trò liên lạc với bà Rosmerta như thế nào ? ta cứ nghĩ chúng ta kiểm soát hết được tất cả những hình thức thông tin liên lạc vô và ra khỏi trường rồi chứ.”

“Đồng xu được yểm bùa,” malfoy nói, cứ như nó được giục giã phải nói tiếp, mặc dù bàn tay cầm đũa phép của nó đang run lên thảm hại.

“Tôi có một đồng xu và bà ấy có một đồng xu khác và tôi gởi cho bà ấy những thông điệp…”

“Có phải đó là phương thức thông tin bí mật àm cái nhóm tự gọi là Đoàn quân Dumbledore sử dụng hồi năm ngoái không ?”

Cụ Dumbledore hỏi.

Giọng cụ nhẹ và bình thường, nhưng Harry thấy khi nói điều đó cụ tuột thấp vài phân xuống dọc bức tường.

“Phải, tôi lấy ý tưởng từ bọn chúng,” Malfoy nói, với một nụ cười xoắn vẹo.

“Tôi cũng nảy ra ý tưởng tẩm rượu mật ong từ con Granger Máu bùn, tôi nghe con đó nói chuyện trong thư viện là lão Filch không nhận ra chất độc…”

“Làm ơn đừng dùng cái từ đầy xúc phạm đó trước mặt ta,” cụ Dumbledore nói.

Malfoy phá ra cười ồm ồm.

“Ông còn lưu ý đến việc tôi nói “Máu bùn” khi tôi sắp giết ông à ?”

“Ừ,” cụ Dumbledore nói và Harry thấy hai bàn chân cụ trượt xuống sàn khi cụ vẫn cố giữ cho đứng thẳng.

“Nhưng về việc trò định giết ta, Draco, nãy giờ trò có mấy phút dài rồi.

Chúng ta hoàn toàn có một mình.

Ta đang vô phương tự vệ còn hơn cả mơ ước của trò và trò vẫn chưa ra tay…”

Miệng Malfoy xoắn vặn lại một cách vô tình, như thể nó vừa nhai phải một cái gì đó đắng nghét.

“Giờ, về việc đêm nay,” cụ Dumbledore nói tiếp, “ta hơi thắc mắc nó xảy ra như thế nào… trò biết là ta rời khỏi trường hả ?

À mà dĩ nhiên,” cụ Dumbledore tự trả lời câu hỏi của mình, “ Rosmerta thấy ta rời khỏi, bà ấy báo cho trò biết bằng cách dùng đồng tiền tinh khôn của trò, ta chắc chắn…”

“Đúng thế,” Malfoy nói.

“Nhưng bà ta chỉ nói ông đi uống chút gì đó, ông sẽ quay lại…”

“Ờ, đúng là ta có uống đang hoàng… và ta đã trở về… tàm tạm,” cụ Dumbledore lẩm bẩm.

“Vì vậy trò quyết định giăng bẫy ta?”

“Chúng tôi quyết định phóng Dấu hiệu Hắc ám lên Tháp và nhử cho ông cuống quít chạy lên đây, để coi ai bị giết,” Malfoy nói.

“Và nó hiệu nghiệm !”

“Ờ…

đúng mà không đúng…” cụ Dumbledore nói.

“Nhưng ta có thể nghĩ rằng không ai bị giết chứ hả ?”

“Có người chết rồi,” Malfoy nói và giọng nó hình như cao vút lên tới quãng tám khi nói thế.

“Một trong những lính canh cảu ông… tôi không biết là đứa nào, trời tối quá… tôi dẫm phải xác nó…

Tôi được yêu cầu hãy chờ ở trên đây khi ông quay về, chỉ tại bọn Phương Hoàng của ông cản đường.”

“Đúng, họ làm đấy,” cụ Dumbledore nói.

Một tiếng nổ và những tiếng la hét từ bên dưới, lớn hơn bao giờ hết ; nghe như người ta đang chiến đấu ngay trên cầu thang xoắn dẫn đến chỗ cụ Dumbledore, Malfoy và Harry đứng; trái tim Harry dộng bịch bịch câm lặng trong bộ ngực tàng hình của nó… ai đó đã chết…

Malfoy đã bước qua xác người ấy… nhưng đó là ai?

“Còn một ít thời gian, xét trên nhiều khía cạnh,” cụ Dumbledore nói.

“Vậy, chúng ta hãy thảo luận lựa chọn của trò nào, Draco.”

“Lựa chọn của tôi !”

Malfoy nói lớn.

“Tôi đang đứng đây, đũa phép trong tay… tôi sắp giết ông…”

“Cậu bé thân mến của ta, chúng ta thôi giả đò thêm về chuyện này đi.

Nếu trò định giết ta thì đáng lẽ trò phải làm ngay khi Tước khí giới của ta chứ, đáng lẽ trò không được dừng lại để có cuộc tán gẫu dễ chịu về phương thức với phương tiện này chứ.”

“Tôi không có lựa chọn nào khác !”

Malfoy nói và nó đột nhiên trắng bệch ra hệt như cụ Dumbledore.

“Tôi phải làm việc đó !

Ngài sẽ giết tôi !

Ngài sẽ giết cả gia đình tôi !”

“Ta rất hiểu sự khó khăn ở vị trí của trò,” cụ Dumbledore nói.

“Trò nghĩ coi, tại sao ta không đối phó với trò từ trước khi sự việc này xảy ra ?

Bởi vì ta biết rằng trò chắc chắn sẽ bị giết nếu Chúa tể Voldermort nhận ra là ta nghi ngờ trò.”

Malfoy nhăn mặt trước âm thanh của cái tên đó.

“Ta không dám nói với trò về nhiệm vụ mà ta biết trò đã phải thực hiện, phòng trường hợp hắn dùng phép Đọc tư tưởng để chống lại trò,” cụ Dumbledore tiếp.

“Nhưng bây giờ, cuối cùng chúng ta có thể nói huỵch tẹt với nhau… rằng chưa có thiệt hại gì xảy ra cả, trò chưa làm ai bị thương, mặc dù trò rất may mắn là những nạn nhân bất đắc dĩ của trò vẫn còn sống… ta có thể giúp trò, Draco.”

“Không, ông thì làm được gì,” Malfoy nói, bàn tay cầm đũa phép của nó run bắn lên.

“Không ai có thể giúp được.

Ngài bắt tôi phải làm điều đó, không thì ngài sẽ giết tôi.

Tôi không có lựa chọn.”

“Về với phe chính nghĩa đi, Draco và chúng ta có thể che giấu trò hoàn hảo hơn trò có thể tưởng tượng ra.

Còn gì nữa nhỉ, ta cũng có thể phái những thành viên của Hội Phượng hoàng tới để đưa mẹ trò đi trốn ngay trong đêm nay.

Lúc này cha của trò đang an toàn trong ngục Azkaban… khi việc xảy đến chúng ta cũng có thể bảo vệ ông ấy…

Hãy về phe chính nghĩa, Draco…

Trò không phải là kẻ sát nhân…”

Draco trố mắt dòm cụ Dumbledore.

“Nhưng tôi đã đi xa được đến thế này, đúng không ?”

Nó nói chậm rãi.

“Người ta nghĩ rằng tôi sẽ chết khi cố làm điều này, nhưng tôi ở đây… và ông đang nằm dưới tay tôi…

Tôi là người có đũa phép… mạng ông là do tôi định đoạt.”

“Không phải, Draco,” cụ Dumbledore nói khẽ.

“Quyền sinh sát là của ta, không phải của trò, chuyện đó giờ mới rắc rối.”

Malfoy không nói gì.

Miệng nó há hốc, bàn tay cầm đũa phép vẫn run bần bật.

Harry nghĩ bàn tay ấy có hơi hạ xuống một chút…

Nhưng bất thình lình, có tiếng những bước chân nệ rầm rập lên những bậc thang và một giât sau, Malfoy bị gạt bắn ra khỏi lối đi khi bốn người mặc áo chùng đen lao vù qua cửa vô đỉnh tháp.

Vẫn cứng đờ, dòm không chớp mắt, Harry kinh hãi dán tịt mắt vô bốn người lạ: dường như bọn Tử thần thực tử đã thắng trận chiến bên dưới.

Một gã đàn ông u bướu sần sùi, mắt hiếng một cách quái dị phọt ra một tiếng cười khọt khẹt.

“Dumbledore trong góc tường !”

Gã nói và quay qua một mụ đàn bà nhỏ, mập lùn trông có vẻ như là em gái của hắn, mụ này đang cười khoái trá.

“Dumbledore không đũa phép, Dumbledore có một mình ! giỏi lắm, Draco, giỏi lắm !”

“Chào Amycus,” cụ Dumbledore điềm tĩnh nói, như thể chào một người tới dự tiệc trà.

“Anh còn mang theo cả Alecto nữa… duyên dáng…”

Mụ đàn bà nhếch một nụ cười gằn, giận dữ.

“Bộ lão nghĩ mấy lời giỡn nhảm nhí đó của lão sẽ giúp lão trên giường hấp hối sao ?”

Mụ nhạo báng.

“Giỡn ?

Không, không phải, đó là phong cách rồi,” cụ Dumbledore đáp.

“Làm đi,” tên lạ mặt đứng gần Harry nhất nói ; đó là một tên cao lớn, to bè có tóc và ria xám rối bết, bộ áo chùng đen Tử thần thực tử của hắn coi bộ chật ních, khó chịu.

Hắn có một giọng nói không giống bất cứ giọng nói nào mà Harry từng nghe ; như tiếng chó sủa ông ổng.

Harry ngửi thấy một mùi hổ lốn pha trộn giữa bụi đất, mồ hôi và không thể nhầm lẫn được, là mùi máu tỏa ra nồng nặc từ hắn. bàn tay nhớp nháp cảu hắn có những móng tay dài sọc, vàng khè.

“Phải mi đó không, Fenrir ?”

Cụ Dumbledore hỏi.

“Tao đây,” gã kia rít chói tai.

“Hài lòng được gặp tao hả, Dumbledore?”

“Ồ không, ta không thể nói rằng ta hài lòng được...”

Fenrir Greyback bành miệng ra cười, nhe hàm răng nhọn hoắt.

Máu chảy rỉ rả xuống cằm hắn và hắn thủng thỉnh liếm mép một cách gớm ghiếc.

“Nhưng lão thừa biết tao mê con nít đến thế nào mà, lão Dumbledore.”

“Ta suy ra rằng bây giờ mi tấn công người ngay cả khi không có trăng tròn, phải không?

Đây là điều bất thường nhất... mi đã phát triển đến độ thèm thịt người sống đến nỗi không thể thỏa mãn một tháng một lần sao?”

“Đúng thế,” Greyback nói.

“Việc ấy khiến lão sốc hả, Dumbledore?

Khiến lão sợ hả?”

“Hừm, ta không thể giả bộ rằng việc đó không làm ta có hơi gớm ghiếc một chút,” cụ Dumbledore nói.

“Hừ, ta có hơi sốc là sốc do anh Draco đây đã mời mi, tất cả bọn mi, vô trường nơi bạn bè của anh ta sống...”

“Không phải,” Draco thở hổn hển.

Nó không nhìn Greyback; có vẻ như nó không muốn liếc mắt nhìn hắn chút nào.

“Tôi không biết ông ta sẽ tới...”

“Tao không muốn bỏ lỡ chuyến tàu tới Hogwarts, lão Dumbledore.”

Greyback gầm eo éo.

“Không đời nào khi mà có những cái cổ họng sẵn sàng cho tao rứt... mê ly... mê ly...”

Rồi hắn giơ một móng tay vàng khè lên và xỉa mấy cái răng cửa của mình, nhìn cụ Dumbledore một cách quỷ quyệt.

“Tao có thể thịt lão sau cùng, Dumbledore à...”

“Dẹp đi,” tên Tử thần thực tử thứ tư gằn giọng.

Gã có một gương mặt độc ác, nặng trịch.

“Chúng ta đã nhận được lệnh rồi, Draco sẽ làm việc đó.

Nào, Draco, lẹ lên.”

Draco đang tỏ ra thiếu kiên quyết hơn bao giờ hết.

Nó lộ vẻ khiếp đảm khi nhìn chòng chòng vô mặt cụ Dumbledore, mặt cụ giờ thậm chí còn tái hơn và hình như thấp hơn bình thường, bởi vì cụ đã trượt xuống bức tường thành khá xa.

“Dù sao thì lão cũng không trụ lâu được trên đời này, nếu tụi bay hỏi tao!”

Gã đàn ông bị lé nói, có tiếng cười giễu cợt của em gái gã phụ họa.

“Coi lão kìa... có gì xảy ra với lão vậy, Dumby?”

“Ồ, sức kháng cự yếu hơn, phản xạ tự nhiên chậm hơn, Amycus à,” cụ Dumbledore trả lời.

“Tóm lại là tuổi già... một ngày nào đó, có lẽ nó cũng sẽ xảy ra với anh... nếu anh may mắn...”

“Thế là ngụ ý gì?”

Tên Tử thần thực tử rú lên, điên dại một cách đột ngột.

“Lúc nào cũng thế, phải không, Dumby, chả nói gì, cảh làm gì, tao thậm chí không biết tại sao Chúa tể Hắc ám lại mất công giết mày !

Lẹ lên Draco, làm đi!”

Nhưng đúng lúc đó, tiếng giao chiến kịch liệt lại nổi lên từ bên dưới và một giọng quát lớn, “Chúng chặn cầu thang rồi…

Rút nhỏ lại !

RÚT NHỎ LẠI !”

Trái tim Harry nhảy vọt lên: vậy là bốn tên này chưa loại được hết tất cả những người chống cự, mà chỉ đột phá qua vòng chiến để lên đỉnh Tháp và căn cứ vô những tiếng ồn đó, thì đã có một hàng rào chắn đằng sau chúng…

“Nào, Draco, lẹ lên !”

Tên có vẻ mặt tàn bạo điên tiết nói.

Nhưng bàn tay của Draco đang run rẩy tệ hại đến nỗi nó gần như không thể nhắm được.

“Để tao làm,” Greyback gầm gừ, lao về phía cụ Dumbledore với hai bàn tay vươn tới, hàm răng nhe ra đầy tức giận.

“Tao bảo không !”

Gã mặt hung ác quát lớn; một ánh chớp lóe lên và tên người hóa thú bị bắn văng ra khỏi lối đi ; hắn bám vô bức tường bao quanh tháp và giãy giãy, trông tức tối vô cùng.

Tim Harry đang đập mạnh đến nỗi dường như không thể không ai thấy nó đang đứng đó, bị cầm tù vì bùa ếm của cụ Dumbledore… nếu có thể nhúc nhích thì nó đã có thể tung ra một lời nguyền từ dưới lớp Áo khoác…

“Draco, làm đi, không thì tránh sang bên cho một đứa bọn tao…”

Mụ đàn bà ré lên, nhưng đúng vào khoảnh khắc ấy cửa dẫn lên đỉnh tháp bật tung một lần nữa và đứng sựng đó là Thầy Snape, đũa phép nắm chặt trong tay khi đôi mắt đen cảu ông ta quét qua toàn cảnh, từ cụ Dumbledore gục quỵ xuống tường, đến bốn tên Tử thần thực tử, kể cả tên người sói nổi điên và Malfoy.

“Chúng tôi có một rắc rối, Snape à,” Amycus u bướu nói, mắt gã và cây đũa phép của gã gắn chặt vô cụ Dumbledore.

“Thằng nhóc không thể…”

Nhưng một người nào đó nữa vừa mới gọi tên Thầy Snape, hơi nhẹ.

“Severus…”

m thanh đó khiến Harry sợ điếng hồn hơn bất cứ thứ gì nó đã trải qua suốt cả đêm nay.

Lần đầu tiên, cụ Dumbledore đang van nài.

Thầy Snape không nói gì, chỉ bước tới trước và thô bạo đẩy Malfoy tránh đường.

Ba tên Tử thần thực tử lùi lại, im thin thít.

Ngay cả tên người sói cũng phcuj tùng hoàn toàn.

Thầy Snape nhìn trừng trừng cụ Dumbledore một lúc và có nét khiếp sợ pha lẫn căm ghét khắc sâu trong những đường hằn nhăn nhúm trên gương mặt.

“Severus… làm ơn…”

Thầy Snape giơ cây đũa phép của mình lên và chỉ thẳng vào cụ Dumbledore.

Avada Kedavra!

Một luồng ánh sáng xanh lá cây bắn vút ra từ đầu đũa phép của Snape và trúng trọn lồng ngực cụ Dumbledore.

Tiếng thét kinh hoàng của Harry không thể dứt khỏi thân nó; im lặng và bất động, Harry bị ép phải chứng kiến khi cụ Dumbledore bay bổng lên không: trong chớp mắt cụ dường như treo lơ lửng bên dưới cái hình đầu lâu sáng rực và rồi cụ từ từ rớt ngược trở xuống, như một con búp bê vải lớn, qua khỏi bức tường có lỗ châu mai và khuất khỏi tầm mắt.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q6 - 28: Cuộc đào tẩu của Hoàng tử


Cuộc đào tẩu của Hoàng tử

Harry cảm thấy như thể nó cũng đang bị quăng lên trời; việc đó đã không xảy ra… nó không thể nào xảy ra được…

“Ra khỏi đây, lẹ,” Snape ra lệnh.

Hắn tóm cổ Malfoy nhấc lên và thúc nó đi qua cửa, vượt lên trước bọn còn lại; Greyback và anh em nhà tên mập lùn theo sau, cả hai tên này đang hồng hộc thở đầy phấn khích.

Khi chúng biến mất qua cánh cửa, Harry nhận ra nó đã có thể cử động trở lại; cái đang giữ nó tê liệt đứng dựa vào tường lúc này không phải là pháp thuật mà là nỗi kinh hoàng và sững sờ.

Nó liệng cái Áo khoác Tàng hình qua một bên khi tên Tử thần Thực tử mặt mày bặm trợn, tên cuối cùng rời khỏi đỉnh Tháp, đang biến mất qua cánh cửa.

“Bất Động Toàn Thân!”

Tên Tử thần Thực tử oằn cong người như thể bị một vật rắn đập trúng vô lưng, và hắn đổ nhào xuống sàn, ngay đơ như một bức tượng sáp, nhưng khi hắn chưa kịp chạm đất thì Harry đã lật đật leo qua người hắn và chạy xuống cầu thang xoắn tối om.

Cảm giác hãi hung xé toạc trái tim Harry… nó vừa cần phải tới chỗ cụ Dumbledore, vừa cần phải đuổi bắt cho được Snape… bằng cách này hay cách khác, hai việc này có mối liên kết với nhau… nó có thể lật ngược lại những gì vừa xảy ra nếu nó thực hiện được cả hai việc đó… cụ Dumbledore không thể chết được…

Nó phóng vù xuống mười bậc thang xoắn ốc cuối cùng và dừng tại nơi chân cầu thang, cây đũa phép giơ cao: quãng hành lang sáng lờ mờ này bụi mù; hình như một nửa mái trần đã sụp xuống và một cuộc huyết chiến đang diễn ra trước mắt nó, nhưng ngay khi đang cố căng mắt coi xem ai đánh với ai thì nó nghe thấy cái giọng nói đáng căm giận đó quát tháo, “Xong rồi, đi thôi!” và nó thấy Snape vụt biến ngay khúc quẹo cuối hành lang; hắn và Malfoy hình như đã băng qua trận hỗn chiến mà không hề hấn gì.

Khi Harry phóng theo bọn chúng, một trong những tên đang đánh nhau liền tách khỏi cuộc đấu và bay về phía nó: đó là tên người hoá thú, Greyback.

Hắn đè úp lên mình Harry trước khi nó kịp giơ đũa phép lên: Harry té ngửa ra sau, cùng với đám tóc rối bết, bẩn thỉu quết vô mặt, mùi tanh của máu và mồ hôi xộc đầy lỗ mũi và miệng nó, hơi thở nóng ran, thèm thuồng kề ngay cổ họng nó…

“Bất Động Toàn Thân!”

Harry cảm thấy Greyback đổ ụp lên người nó; với một cố gắng phi thường, nó đẩy tên người sói ra cho rớt xuống sàn, trong lúc đó một luồng ánh sáng xanh lá cây bay chíu về phía nó; nó hụp xuống né và chạy, chúi đầu ra trước, xông vô trận chiến.

Bàn chân nó đạp phải cái gì mềm mềm và trượt trên sàn, nó chúi nhủi: có hai thây người đang nằm đó, úp mặt vô một vũng máu, nhưng không có thời gian để mà xem xét; lúc này Harry đã thấy một mái tóc đỏ tung bay như ngọn lửa trước mặt: Ginny đang kẹt trong trận chiến với tên Tử thần Thực tử u bướu Amycus, hắn tới tấp phóng hết bùa này đến bùa khác vào Ginny trong khi cô bé né trối chết: Amycus cười khành khạch, khoái chí thưởng thức trò thể thao: “Hành hạ… hành hạ… mày không bao giờ có thể nhảy múa nữa đâu, con nhãi xinh…”

“Ngăn lại!”

Harry hét lên.

Cú điểm huyệt của Harry trúng ngay ngực Amycus: hắn éc lên một tiếng đau đớn, hai chân nhấc hổng lên và văng vô bức tường đối diện, tuột xuống rớt khỏi tầm mắt.

Sau lưng Ron, giáo sư McGonagall và thầy Lupin, mỗi người đang đấu tay đôi với từng tên Tử thần Thực tử một; cách họ một chút, Harry thấy cô Tonks đang chiến đấu với một tay pháp sư tóc vàng lực lưỡng, tên này đang phóng lời nguyền ra tung toé, những lời nguyền dội bưng bưng từ những bức tường xung quanh, làm nứt đá, bể tan những cửa sổ gần đó nhất…

“Harry, anh từ đâu ra vậy?”

Ginny hét vang, nhưng không có thời gian để trả lời cô bé.

Harry cúi đầu xuống và chạy lẹ về phía trước, tránh được một cú nổ ngay trên đầu nó trong gang tấc, nhưng mẩu tường vỡ trút như mưa xuống cả đám: Snape không được chạy thoát, nó phải đuổi kịp Snape…

“Bắt nó,” giáo sư McGonagall thét to và Harry liếc thấy mụ Tử thần Thực tử Alecto tháo chạy xuống hành lang, với hai cánh tay giơ cao quá đầu, anh trai mụ chạy ngay sau mụ.

Harry liền vọt theo chúng, nhưng bàn chân nó vướng phải thứ gì đó và giây sau nó đã nằm vắt ngang qua cẳng chân của ai đó: nhìn quanh, nó thấy gương mặt tròn xoe, tái mét của Neville úp chụp xuống sàn.

“Neville, là bồ…?”

“Mình ổn mà,” Neville lắp bắp, nó đang ôm chặt lấy bụng “Harry… thầy Snape với Malfoy… chạy qua…”

“Mình biết, mình đang rượt theo!”

Từ mặt sàn, Harry vừa nói vừa nhắm một lời nguyền vô tên Tử thần Thực tử tóc vàng bự con, kẻ đang gây náo loạn nhất: tên này rú lên một tiếng đau đớn khi lời nguyền tống ngay giữa mặt; hắn quay mòng mòng, loạng choạng và rồi chạy thục mạng theo sau hai an hem nhà kia.

Harry lồm cồm bò dậy khỏi sàn nhà và bắt đầu lao dọc theo hành lang, mặc kệ những tiếng nổ phía sau lưng, tiếng của những người khác thét gọi nó quay trở lại, và tiếng kêu nín lặng của những hình hài nằm dưới sàn, nó chưa biết số phận họ thế nào…

Nó lượn qua khúc cua, đôi giày thể thao của nó dính máu trơn trợt; Snape đã có được sự khởi hành vô cùng thuận lợi – có thể hắn đã chui vô Tủ Biến Mất trong Phòng Theo Yêu Cầu, hoặc các thành viên Hội Phượng Hoàng đã tới đó trước để bảo vệ tủ, ngăn không cho bọn Tử thần Thực tử tháo lui theo đường ấy?

Harry chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng bàn chân của chính nó chạy huỳnh huỵch, tim nó đập thình thịch khi chạy dọc theo hành lang vắng tanh kế tiếp, nhưng rồi nó phát hiện ra dấu chân đầy máu, cho thấy rằng có ít nhất rằng có ít nhất một tên Tử thần Thực tử đào tẩu đang hướng về cổng trước – có lẽ Phòng Theo Yêu Cầu đã bị chặn thật rồi.

Nó lượn them một khúc cua nữa và một lời nguyền bay sượt qua người nó; nó vọt ra sau một bộ áo giáp đã nổ banh; nhìn thấy hai anh em tên Tử thần Thực tử đang chạy xuống dãy cầu thang đá hoa cương ở phía trước, nó liền nhắm những cú điểm huyệt vô chúng, nhưng chỉ trúng mấy bà phù thuỷ đội tóc giả trong một bức chân dung ở chiếu nghỉ - họ vừa rú lên inh ỏi vừa chạy dạt sang những bức tranh hang xóm; khi Harry nhảy qua những mảnh vụn của áo giáp, nó nghe thấy có thêm những tiếng thét những tiếng la - những người khác trong lâu đài hình như vừa bừng tỉnh giấc…

Harry hối hả chạy về phía một ngõ tắt, hy vọng sẽ vượt qua hai an hem nhà kia và xáp được gần Snape và Malfoy, bọn chúng giờ này chắc đã xuống tới sân.

Không quên nhảy cóc qua những bậc thang bị giấu kín, Harry phóng qua một tấm thảm thêu ở chân cầu thang và vọt vô một hành lang, nơi một đám học trò nhà Hufflepuffs mặc đồ ngủ đang đứng lố nhố, hốt hoảng.

“Harry!

Tụi này nghe thấy tiếng ồn và ai nói gì đó về bọn Tử thần Thực tử…”

Ernie Macmillan vừa bắt đầu…

“Tránh ra!”

Harry thét lên, đấm bay hai thằng con trai qua một bên khi phóng về phía đầu cầu thang và bay xuống nốt quãng cầu thang đá còn lại.

Cánh cửa trước bằng gỗ sồi đã mở tung; có những vệt máu trên các phiến đá lát sàn và vài đứa học trò kinh hãi đứng cúp rúp nép vô tường, một hay hai đứa vẫn còn đưa cánh tay lên che mặt; chiếc đồng hồ cát khổng lồ của nhà Gryffindor bị một lời nguyền đánh trúng, những viên bi hồng ngọc bên trong còn đang rơi, với một tiếng “cách” thiệt to, đổ xuống sàn đá phiến ngay bên dưới.

Harry băng vút qua Tiền Sảnh và lao ra khoảng sân tối; nó nhận ra có ba hình thù đang chạy băng qua bãi cỏ, hướng về cánh cổng, mà vượt qua khỏi đó là chúng có thể độn thổ.

Căn cứ theo hình dáng thì đó là tên Tử thần Thực tử khổng lồ tóc vàng, trước hắn một chút, là Snape và Malfoy…

Bầu không khí ban đêm lạnh giá chém vô buồng phổi Harry khi nó vút đuổi theo bọn kia; nó thấy một chớp sáng xẹt lên ở đằng xa, trong giây lát chiếu rõ mục tiêu cho nó; nó không biết luồng sáng ấy là gì nhưng vẫn mải miết chạy, nó chưa tới đủ gần để nhắm một lời nguyền cho trúng đích…

Lại một luồng chớp, những tiếng thét, những tia sáng xẹt trả miếng, và Harry đã hiểu: bác vừa chui từ trong chòi ra và đang cố chặn không cho bọn Tử thần Thực tử chạy thoát; và mặc dù mỗi hơi thở như mỗi mũi dao rạch vô buồng phổi cùng vết thốn nơi ngực tựa nhự lửa đốt, nhưng Harry vẫn phóng hết tốc lực trong lúc một giọng nói tự dưng vang lên trong đầu nó: Không phải bác Hagrid… không phải bác Hagrid…

Bỗng, một cái gì đó thúc mạnh vô eo Harry và nó té nhủi về phía trước, mặt cà xuống đất, máu ộc ra cả hai lỗi mũi: nó biết, ngay cả khi đang lộn nhào, đũa phép sẵn sàng, rằng hai anh em mà nó vừa qua mặt nhờ đi ngõ tắt đang ở ngay sát sau lưng…

“Ngăn lại!”

Harry thét lớn khi lộn một vòng nữa, nằm cuộn sát mặt đất tối thui, và như một phép màu, cú điểm huyệt của nó trúng một trong hai tên, tên này loạng choạng rồi té lăn cù, vướng đè lên trên còn lại, Harry nhổm dậy và phóng tiếp, rượt theo Snape…

Và bây giờ thì nó thấy cái bóng lừng lững của bác Hagrid, được ánh sáng từ vầng trăng lưỡi liềm thình lình ló ra từ sau những đám mây soi tỏ; gã Tử thần Thực tử tóc vàng đang nhắm hết lời nguyền này tới lời nguyền khác vô người giữ khoá, nhưng sức mạnh vô song của bác Hagrid, cùng với lớp da cứng cáp mà bác thừa hưởng được từ người mẹ khổng lồ, dường như đang bảo vệ bác; tuy nhiên, Snape và Malfoy vẫn đang cắm cổ chạy; bọn chúng chẳng mấy chốc sẽ qua tới bên kia cánh cổng, và có thể làm phép Độn Thổ…

Harry lao băng qua bác Harry và đối thủ của bác, nhắm cái lưng của Snape và thét vang, “Bất động!”

Nó nhắm hụt; tia sáng đỏ bay vút qua đầu Snape; hắn gầm lên, “Chạy đi, Draco!” rồi quay lại; hắn và Harry cách nhau chừng hai mươi thước, gườm gườm nhìn nhau trước khi cả hai cùng lúc giơ đũa phép lên.

“Hành…”

Nhưng Snape đỡ được lời nguyền ấy, hất Harry té ngửa ra sau trước khi nó hoàn tất lời nguyền; Harry lộn vòng và bò lên lại cùng lúc tê Tử thần Thực tử khổng lồ đằng sau nó rống vang, “Đốt cháy!”; Harry nghe một tiếng nổ đinh tai và một mảng sáng màu cam loằng ngoằng tràn lên tất cả: nhà của bác Hagrid bốc cháy.

“Con Fang ở trong đó, đồ quỷ…!”

Bác Hagrid gầm vang.

“Hành…”

Harry thét lên lần thứ hai, nhắm vô cái thân hình ở phía trước được ánh lửa nhảy múa chiếu sáng, nhưng Snape đã khoá chặt cú đòn này một lần nữa; Harry thấy hắn cười khẩy.

“Không lời nguyền Không Thể Tha Thứ nào phọt ra được khỏi mày đâu, Potter!”

Hắn quát lên qua ngọn lửa đang lan nhanh, trong tiếng gào của bác Hagrid và tiếng rú điên dại của con Fang bị kẹt.

“Mày không đủ thần kinh cũng không đủ khả năng…”

“Tống…”

Harry thét lớn, nhưng Snape đã làm trệch cú ếm bùa chỉ bằng một cái phất tay lười nhác.

“Đấu lại coi!”

Harry quát hắn.

“Đấu lại coi, đồ hèn…”

“Hèn, mày gọi tao thế hả, Potter?”

Snape quát lại.

“Cha mày cũng không bao giờ dám tấn công bao giờ dám tấn công tao trừ phi có bổn chọi một, tao tự hỏi mày gọi cha mày là gì?”

“Bất…”

“Còn bị chặn nữa, chặn nữa, chặn nữa tới chừng nào mày học được cách câm miệng và đóng óc mày lại, Potter à!”

Snape vừa cười hịch hịch vừa táng lời nguyền chệch đi một lần nữa.

“Bây giờ thì, biến!”

Hắn quát tên Tử thần Thực tử khổng lồ đằng sau Harry.

“Tới lúc biến rồi, trước khi Bộ Pháp thuật đến…”

“Ngăn…”

Nhưng Harry chưa kịp kết thúc cú điểm huyệt này, thì một cơn đau khủng khiếp chộp lấy nó; nó quỵ sấp xuống cỏ, có ai đó đang thét vang, nó sẽ chết chắc vì cơn đau này, Snape sẽ tra tấn hành hạ nó tới chết, hoặc tới khi phát điên…

“Không!”

Giọng Snape rống lên và cơn đau chấm dứt một cách đột ngột cũng y như lúc bắt đầu; Harry nằm úp cuộn dưới cỏ tối mịt mùng, nắm chặt cây đũa phép cảu nó và thở hồng hộc; đâu đó phía trên đầu nó, Snape đang quát, “Trò quên mệnh lệnh của chúng ta rồi à?

Potter thuộc về Chúa tể Hắc Ám…

Chúng ta phải để nó lại!

Đi!

Đi!”

Và Harry cảm thấy mặt đất rung chuyển dưới mặt nó khi hai an hem nhà kia cùng tên Tử thần Thực tử khổng lồ tuân lệnh chạy về phía cổng.

Harry buột thốt lên một tiếng rú căm phẫn: trong khoảnh khắc đó nó bất cần biết nó sống hay chết; cố đứng lên trở lại, nó chập choạng lao bừa về phía Snape, con người mà bây giờ nó căm ghét không thua gì chính Voldemort…

“Cắt đứt…”

Snape phẩy đũa phép và lời nguyền của Harry lại bị đẩy lui; nhưng bây giờ Harry chỉ còn cách hắn chừng nửa thước, và cuối cùng thì nó đã có thể thấy rõ gương mặt của Snape: hắn không còn cười khẩy hay nhạo bang nữa; ánh lửa sáng rực soi rõ một gương mặt tức giận điên cuồng.

Dồn hết sức tập trung Harry nghĩ, “Khinh…”

“Đừng, Potter!”

Snape rú lên.

Một tiếng ẦM long trời và Harry bay ngược ra sau, và lại rớt xuống đất thiệt mạnh, lần này cây đũa phép của nó bay vuột khỏi tay.

Nó nghe tiếng bác Hagrid gầm lên và tiếng con Fang tru khi Snape tiến sát lại và nhìn xuống nó, song sượt, không đũa phép và vô phương tự vệ giống như cụ Dumbledore bị trúng bùa.

“Mày dám dùng chính thần chú của tao chống lại tao hả, Potter?

Chính tao là người đã sáng tạo ra chúng…

Tao, Hoàng tử Lai!

Mày dùng những phát minh của tao để tấn công tao, giống như thằng cha đê tiện của mày, đúng không?

Tao không nghĩ thế…

Không!”

Harry nhảy bổ tới cây đũa phép của nó; Snape tung một cú bùa ngay cây đũa khiến cây đũa bay xa mấy tấc vào trong đêm tối, khuất khỏi tầm mắt.

“Thế thì giết ta đi,” Harry thở gấp gáp, nó không còn cảm thấy sợ chút xíu nào nữa, chỉ cảm thấy căm phẫn và khinh bỉ.

“Giết ta như ngươi đã giết thầy ấy, đồ hèn…”

“CẤM…”

Snape hét lên, và gương mặt hắn đột nhiên cuồng nộ, bất nhân như thể hắn cũng đang chịu đau đớn như con chó đang gào rú tru tréo trong ngôi nhà cháy phía sau lưng, “…

CẤM GỌI TAO LÀ ĐỒ HÈN!”

Và hắn chém vào không khí: Harry cảm thấy một cái gì đó nóng rực, giống như roi quất ngang mặt nó và nó lại té ngửa xuống đất.

Những đốm lửa nổ tung trước mặt nó, và trong một thoáng tất cả hơi thở dường như ùa ra khỏi cơ thể nó, thế rồi nó nghe thấy tiếng vỗ cánh phía trên đầu và cái gì đó lớn che khuất những vì sao: con Bằng Mã Buckbeak vừa nhào xuống Snape, hắn lảo đảo ưỡn ra sau khi những móng vuốt sắc như dao cạo chém xuống.

Khi Harry nhỏm ngồi lên được, đầu nó vẫn còn choáng váng vì cú tiếng đất vừa rồi, nó thấy Snape đang phóng hết tốc lực, con thú khổng lồ quạt cánh theo sau và rít lên như Harry chưa từng nghe tiếng rít thế bao giờ…

Harry chật vật đứng lên, lảo đảo nhìn quanh để kiếm cây đũa phép, Hy vọng sẽ rượt được tiếp, nhưng ngay khi những ngón tay nó lọng cọng lần trong cỏ, gạt những đám cành cây, nó biết nó đã quá trễ, và đúng như thế, ngay lúc định vị được cây đũa phép, nó quay qua thì chỉ còn thấy con bằng mã đang liệng quanh cánh cổng: Snape đã kịp độn thổ ngay phía bên kia ranh giới của ngôi trường.

“Bác Hagrid,” Harry lẩm bẩm, vẫn còn xây xẩm mặt mày, nhìn quanh.

“BÁC HAGRID?”

Nó thất thểu đi về phía ngôi nhà đang cháy đúng lúc một thân hình cao lớn phóng ra khỏi ngọn lửa, vác theo con Fang trên lưng.

Thét lên một tiếng đầy biết ơn, Harry khuỵ gối xuống; tay chân nó run lẩy bẩy, thân thể nó đau nhừ và hơi thở nó trở thành những cú đâm nhức buốt.

“Con không sao chứ, Harry?

Con ổn chứ?

Nói bác nghe coi, Harry…”

Gương mặt long lá, to bành của bác Hagrid đang bơi bơi phía trên đầu Harry, che hết nhưng ngôi sao.

Harry ngửi được mùi gỗ và lông chó cháy.

Nó thò một bàn tay ra và cảm thấy cái cơ thể còn sống và nóng hổi rất đáng yêu của con Fang đang run rẩy ngay cạnh nó.

“Con không sao,” Harry thều thào.

“Bác…?”

“Nhằm gì…

Nhiều hơn thế mới kết liễu được bác.”

Bác Hagrid luồn tay xuống dưới hai cánh tay Harry, nâng nó lên với một sức mạnh mà ngay lập tức hai bàn chân nó hổng khỏi mặt đất, trước khi nó được đặt cho đứng thẳng lên lại.

Nó thấy máu từ một vết cắt sâu bên dưới mắt bác chảy ri rỉ xuống má, Con mắt đó sưng lên nhanh chóng.

“Chúng ta phải dập lửa nhà bác,” Harry nói, “Dùng bùa Rót Nước…”

“Vẫn biết là có cái gì như vậy, mà…” bác Hagrid lầm bầm và giơ một cây dù hoa màu hồng, cháy xém lên và nói: “Rót Nước…”

Một dòng nước xịt ra từ mũi dù.

Harry nâng cánh tay cầm đũa phép của nó lên, cảm thấy nặng như chì, và nó cũng lẩm bẩm, “Rót Nước…”: cùng sát cánh, Harry vá bác Hagrid tưới nước lên căn chòi cho đến khi ngọn lửa cuối cùng tắt ngúm.

“Hông quá tệ,” bác Hagrid vừa nói một cách đầy hy vọng, sau vài phút, vừa dòm lom lom đống tàn khói.

“Hông có gì mà cụ Dumbledore không thu xếp được…”

Harry cảm thấy một cơn nhói buốt trong bao tử trước âm thanh của cái tên.

Nỗi kinh hoàng dâng lên trong lòng nó, giữa im lặng và tịch mịch.

“Bác Hagrid ơi…”

“Bác đang trói giò một cặp Tuân Phục thì nghe tụi nó chạy tới,” bác Hagrid buồn bã nói, vẫn nhìn trân trối vô căn chòi tan hoang của mình.

“Chắc cháy thành tro hết rồi, mấy thứ bé nhỏ tội nghiệp…”

“Bác Hagrid ơi…”

“Nhưng có chuyện gì vậy, Harry?

Bác chỉ thấy lũ Tử thần Thực tử chạy xuống khỏi lâu đài, nhưng thầy Snape đó làm cái quỷ gì với tụi nó vậy?

Thầy ấy chạy đi đâu vậy… phải thầy ấy đang rượt bắt tụi nó không?”

“Hắn…”

Harry hắng cho thông cổ họng - nó khô ran vì khiếp sợ và vì khói.

“Bác Hagrid à, hắn giết…”

“Giết ai?”

Bác Hagrid nói oang oang, nhìn Harry chằm chằm.

“Thầy Snape giết người?

Con nói gì vậy, Harry?”

“Thầy Dumbledore,” Harry nói.

“Lão Snape giết… thầy Dumbledore.”

Bác Hagrid chỉ biết nhìn nó trừng trừng, phần nhỏ xíu còn thấy được trên gương mặt lão hoàn toàn đờ đẫn, mất nhận thức.

“Cụ Dumbledore cái gì, Harry?”

“Thầy chết rồi.

Lão Snape đã giết chết thầy…”

“Đừng nói vậy,” bác Hagrid nói khàn khàn.

“Thầy Snape giết thầy Dumbledore…

đừng nói xàm, Harry.

Cái gì làm con nói vậy hả?”

“Con thấy việc đó mà.”

“Con không thể thấy được.”

“Con thấy mà, bác Hagrid.”

Bác Hagrid lắc đầu; vẻ mặt bác không tin nhưng đầy thông cảm, và Harry biết rằng bác Hagrid nghĩ nó vẫn còn bị ảnh hưởng bởi cú táng vô đầu, rằng nó lẫn lộn lung tung, có lẽ do hậu quả của một cú điểm huyệt…

“Việc có thể xảy ra là, cụ Dumbledore chắc đã biểu thầy Snape đi theo bọn Tử thần Thực tử,” bác Hagrid nói chắc như đinh đóng cột.

“Bác nghĩ thầy phải giữ vỏ bọc.

Nào, để bác đưa con về trường.

Lẹ đi, Harry…”

Harry không cố tranh luận hay giải thích nữa.

Nó vẫn đang run không sao kiềm chế được.

Bác Hagrid sẽ sớm nhận ra thôi, rất sớm…

Khi họ cất bước về lại lâu đài, Harry thấy nhiều cửa sổ của lâu đài bây giờ đã sáng trưng; nó có thể hình dung rõ ràng cảnh tượng bên trong ấy, khi mọi người chạy nháo nhác từ phòng này qua phòng kia, thông báo cho nhau về việc bọn Tử thần Thực tử vừa đột nhập vô, về Dấu hiệu Hắc ám đang sáng bên trên trường Hogwarts, về việc chắc chắn có ai đó đã bị giết…

Cánh cổng gỗ sồi mở toang trước mắt họ, ánh sáng tràn đầy lối xe đi và bãi cỏ.

Chậm rãi, hoang mang, những người bận áo choàng ngủ đang dò dẫm đi xuống những bậc cấp, lo lắng nhìn quanh quất để tìm kiếm dấu hiệu nào đó của bọn Tử thần Thực tử vừa mới tẩu thoát vô màn đêm.

Tuy nhiên, mắt Harry dán chặt lên mảnh sân dưới chân tháp cao nhất.

Nó tưởng tượng nó có thể trông thấy một khối cuộn tròn đen ngòm đang nằm trên cỏ ở đấy - mặc dù nó còn đang cách đó rất xa, không thể trông thấy bất cứ cái gì đại loại vậy.

Nhưng ngay khi nhìn trừng trừng không thốt nên lời vào cái nơi mà nó nghĩ là xác của cụ Dumbledore đang nằm, Harry thấy mọi người cũng đang di chuyển về hướng đó.

“Mọi người đang nhìn cái gì vậy?”

Bác Hagrid nói khi cùng Harry tiến tới mặt trước của lâu đài, con Fang lẽo đẽo đi theo sát gót.

“Cái đang nằm trên cỏ là gì vậy?”

Bác Hagrid gằn giọng hỏi thêm, rồi lật đật phóng ngay về phía chân Tháp Thiên Văn, nơi một đám đông nhỏ đang tụ tập lại.

“Thấy nó không Harry?

Ngay chân Tháp ấy?

Bên dưới Dấu hiệu…

Trời đất quỷ thần… con có nghĩ là ai đó quăng xuống…?”

Bác Hagrid bỗng im bặt, ý nghĩ rõ ràng là quá khủng khiếp đến nỗi không thể nói thành lời.

Harry bước đi bên cạnh bác, cảm thấy – theo một cách kỳ dị, tách rời khỏi thân nó - những đau đớn, nhức buốt trong mặt nó, trên chân nó - những nơi bùa chú nửa giờ trước đã quật vào; nhưng lại như chính ai đó bên cạnh nó đang phải chịu đựng những đau buốt ấy.

Cái còn lại rất thực và không thể trốn tránh được là cảm giác đè nén kinh khủng trong lồng ngực nó…

Nó và bác Hagrid chuyển động, như trong mơ, xuyên qua đám đông đang rì rầm, tiến lên thẳng hang đầu, nơi đám học trò và giáo viên sững sờ vừa rẽ ra một khoảng trống.

Harry nghe thấy tiếng rên đau đớn và sững sờ của bác Hagrid, nhưng nó vẫn không dừng lại; nó chầm chậm bước về phía trước cho đến khi tới được nơi cụ Dumbledore đang nằm, và thụp xuống bên cạnh cụ.

Ngay giây phút lúc lời nguyền Bó Thân mà cụ Dumbledore ếm lên nó được cất đi, Harry đã biết rằng không còn chút hy vọng nào nữa; nó vẫn biết việc cất lời nguyền chỉ có thể xảy ra khi người tung ra lời nguyền đó đã chết; nhưng nó vẫn chưa chuẩn bị kịp cho việc nhìn thấy cụ Dumbledore ở đây, nắm giang ra như đại bàng, gục ngã: vị pháp sư vĩ đại nhất mà trước giờ, và mãi mãi, Harry từng gặp.

Mắt cụ Dumbledore khép; nhưng bởi và có những chỗ gấp lạ lùng ở cánh tay và bàn chân, nên trông như cụ đang ngủ.

Harry vươn tay ra sửa lại cặp mắt kính nửa vầng trăng cho thẳng trên cái mũi cong, và lau đi vệt máu chảy rỉ ra từ miệng cụ bằng chính ống tay áo nó.

Rồi nó nhìn đau đáu vô gương mặt già cả uyên bác, cố nuốt trôi cái sự thật tàn ác, không thể hiểu nổi: rằng cụ Dumbledore sẽ không bao giờ nói chuyện được với nó nữa, sẽ không bao giờ giúp đỡ được nữa…

Đám đông rì rầm phía sau Harry.

Sau một hồi hình như là rất lâu, Harry bỗng nhận ra là nó đang tì lên môt cái gì đó cưng cứng và nó nhìn xuống.

Cái hộp nhỏ mà nhiều giờ trước thầy trò họ đã cố gắng lấy cắp rớt ra khỏi túi áo cụ Dumbledore.

Cái hộp đã mở, có lẽ do sức mạnh khi nó đập xuống đất.

Lúc lượm cái hộp lên, tuy không thể cảm nhận thêm một sự sửng sốt, hay kinh hoàng hay buồn thảm hơn những gì nó đã cảm nhận, Harry vẫn biết ngay, rằng có một cái gì đó không ổn…

Nó lật ngửa cái hộp lên trong lòng bàn tay.

Cái hộp này không lớn bằng cái hộp mà nó nhớ đã thấy trong chậu Tưởng Ký, cũng không có bất cứ dấu khắc nào trên hộp, không có cả chữ S chạm trổ tinh xảo, tượng trưng cho nhà Slytherin.

Hơn thế nữa, không có gì bên trong hộp cả, ngoại trừ một mảnh giấy da gấp lại, chèn cứng vào nơi mà trước kia hẳn là một bức chân dung.

Tự động, không hề nghĩ gì về việc mình đang làm, Harry lôi mẩu giấy da ra, mở ra và đọc dưới ánh sáng của nhiều cây đũa phép giờ đang thắp sáng sau lưng nó:

Gởi Chúa tể Hắc Ám

Ta biết đến khi ngươi đọc mảnh giấy này thì ta đã chết từ lâu nhưng ta muốn ngươi biết rằng chính ta là kẻ đã khám phá ra bí mật của ngươi.

Ta đã lấy cắp cái Trường Sinh Linh Giá thật và dự định sẽ phá huỷ nó ngay khi có thể.

Ta đối mặt với cái chết với hy vọng rằng khi gặp phải đối thủ tương xứng, ngươi sẽ chết một lần nữa.

R.A.B.

Harry không biết cũng không quan tâm thông điệp này có nghĩa gì.

Chỉ còn một điều quan trọng: đây không phải là cái Trường Sinh Linh Giá thật.

Cụ Dumbledore đã phải làm cho mình kiệt sức đi bằng cách uống cái thứ dịch kinh khủng kia mà chẳng để làm gì.

Harry vò nát mảnh giấy da trong tay và nước mắt trào lên.

Sau lưng nó, con Fang bắt đầu cất tiếng tru.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q6 - 29: Phượng Hoàng than khóc


Phượng Hoàng than khóc

“Lại đây, Harry...”

“Không.”

“Con không ở đây được, Harry...

đi, đi nào.”

“Không.”

Nó không muốn rời cụ Dumbledore, nó không muốn di chuyển đi đâu hết.

Bàn tay bác Hagrid đặt lên vai nó đang run rẩy.

Rồi một giọng khác nói, “Harry, đi thôi.”

Một bàn tay ấm áp hơn và nhỏ bé hơn nhiều đan vô bàn tay Harry và kéo nó lên.

Harry vâng theo sức kéo ấy mà không nghĩ ngợi gì cả.

Chỉ đến khi mờ mịt cất bước xuyên trở lại qua đám đông, nó mới nhận ra, từ một mùi hương hoa phảng qua trong không khí, rằng chính Ginny là người đang dẫn nó trở lại lâu đài.

Những giọng nói không thể hiểu nổi đập vào nó, những tiếng nấc, tiếng khóc, tiếng la chém vào màn đêm, nhưng Harry và Ginny tiếp tục bước, ngược trở lên những bậc cấp dẫn vào tiền sảnh: những gương mặt bơi bơi trong khóe mắt Harry, người ta đang săm soi nó, thì thào, thắc mắc, những viên bi hồng ngọc nhà Grf sáng lấp lánh dưới sàn tựa như những giọt máu khi chúng đi về phía cầu thang đá.

“Tụi mình tới bệnh thất luôn,” Ginny nói.

“Anh đâu có bị thương,” Harry nói.

“Đó là lệnh cô McGonagall.

Mọi người tụ về đó hết, anh Ron, chị Hermione và thầy Lupin, cả đám...”

Nỗi sợ hãi lại dội lên trong ngực Harry: nó đã quên béng những thân hình bất động mà nó bỏ lại phía sau.

“Ginny, còn ai khác chết không?”

“Đừng lo, không có ai trong đám tụi mình.”

“Nhưng Dấu hiệu Hắc ám...

Malfoy nói nó đã bước qua một xác...”

“Hắn bước qua anh Bill, nhưng không sao, anh ấy còn sống.”

Tuy nhiên trong giọng nói cô bé có cái gì đó mà Harry biết là điềm gở.

“Em chắc chứ?”

“Chắc mà... anh ấy... hơi lộn xộn, thế thôi.

Greyback tấn công anh ấy.

Bà Pỏmey nói anh ấy sẽ không... sẽ không như cũ nữa...” giọng Ginny run run một chút.

“Cũng không chắc được hậu quả sẽ ra sao...

ý em là, Greyback người sói, nhưng lúc cắn hắn lại không hóa sói.”

“Nhưng những người khác... có những xác khác trên sân mà...”

“Neville đang nằm trong bệnh thất, nhưng bà Pỏmey nghĩ là anh ấy sẽ hồi phục hoàn toàn, giáo sư Flitwick bị nốc ao, nhưg thầy ổn, chỉ hơi yếu.

Thầy cứ khăng khăng đòi ra viện để coi sóc nhà Ravenclaw.

Và một tên Tử thần thực tử chết, hắn bị trúng lời Nguyền giết chóc do tên khổng lồ tóc vàng bắn vung vãi khắp nơi...

Harry, nếu tụi em không có lọ Phúc Lạc dược của anh, thì em nghĩ tụi em chắc bị giết hết rồi, nhưng mọi thứ hình như cứ chừa tụi em ra...”

Chúng đã tới bệnh thất: đẩy cánh cửa đôi mở ra, Harry thấy Neville nằm, rõ rnagf là đang ngủ, ngay trên giường gần cửa ra vào.

Ron, Hermione, Luna, cô Tonks và thầy Lupin đang vây quanh một chiếc giường khác ở gần cuối phòng bệnh.

Nghe tiếng cửa mở, tất cả ngước lên nhìn.

Hermione chạy tới và ôm chầm lấy nó; thầy Lupin cũng tiến lên trước, coi bộ lo lắng.

“Con không sao chứ, Harry?”

“Con khỏe...

Anh Bill thế nào ạ?”

Không ai trả lời.

Harry nhìn qua vai Hermione và thấy một gương mặt không thể nhận ra được nằm trên gối Bill; bị cào xé ghê đến nỗi trông anh chàng thật quái dị.

Bà Pomfrey đang bôi lên vết thương của Bill thứ thuốc mỡ gì đó màu xanh lá cây, khó ngửi.

Harry chợt nhớ Snape đã chữa lành vết thương Cắt sâu mãi mài cho Malfoy bằng cây đũa phép của lão dễ dàng như thế nào.

“Bà không thể chữa bằng một cái bùa hay cái gì đó sao?”

Nó hỏi bà y tá trưởng.

“Không bùa phép nào có tác dụng với những vết này,” bà Pomfrey nói.

“Tôi đã thử tất cả mọi thứ mà tôi biết, nhưng không có cách chữa lành vết thương người sói cắn.”

“Nhưng anh ấy không bị căn vào lúc trăng tròn,” Ron nói, nó nhìn đăm đăm xuống mặt anh nó như thể nó đang quyết chữa bệnh bằng phương pháp nhìn chằm chằm.

“Greyback chưa háo thành ói, nên chắc chắn anh Bill cũng sẽ không trở thành một… một con… thực…?”

Nó ngờ vực nhìn thầy Lupin.

“Không, thầy nghĩ Bill sẽ không thành một người sói thực sự,” thầy Lupin nói, “nhưng điều đó không có nghĩa là sẽ không bị nhiễm đôi chút.

Những vết thương đó bị ếm lời nguyền.

Chúng coi bộ sẽ không bao giờ lành hẳn, và… và Bill có lẽ sẽ mang những đặc điểm gì đó của sói từ giờ trở đi.”

“Nhưng chắc chắn cụ Dumbledore phải biết cách gì chữa được chớ,” Ron nói.

“Cụ đâu rồi?

Anh Bill chiến đấu với lũ điên đó theo lệnh cụ Dumbledore mà, cụ Dumbledore mắc nợ anh ấy, cụ không thể để anh ấy tỏng tình trạng này…”

“Ron… cụ Dumbledore chết rồi,” Ginny nói

“không!”

Thầy Lupin nhìn man dại từ Harry sang Ginny, như thể hy vọng thằng bé sẽ phủ nhận lời con bé, nhưng khi Harry không phủ nhận, thầy Lupin đổ gục vào chiếc ghế bên cạnh giường Bill, đôi tay thầy ôm vùi lấy mặt.

Trước đây Harry chưa từng thấy thầy Lupin suy sụp bao giờ; nó cảm thấy nó đang xâm phạm đến cái gì đó riêng tư, thiếu đứng đắn; nó quay đi và thay vào đó lại bắt gặp ánh mắt Ron, lặng lẽ trao đổi một cái nhìn xác nhận lời Ginny nói.

“Cụ chết như thế nào?” cô Tonks thì thầm.

“Chuyện xảy ra như thế nào?”

“Snape giết thầy,” Harry nói.

“Em có mặt ở đó, em thấy hết.

Em và cụ trở về đáp xuống Tháp Thiên văn vì đó là nơi có Dấu hiệu Hắc ám…

Cụ Dumbledore bệnh, cụ yếu lắm, nhưng em nghĩ cụ đã nhận ra đó là một cái bẫy khi tụi này nghe tiếng bước chân chạy lên cầu thang xoắn.

Cụ ếm bùa đông cứng em, em không làm gì được, em ở dưới chiếc Áo khoác tàng hình... và rồi Malfoy ùa qua cửa và tước khí giới cụ...”

Hermione bụm hai tay lên miệng và Ron rên rỉ.

Miệng Luna giật giật.

“...thêm bọn Tử thần thực tử tới... và sau đó Snape... chính Snape làm việc đó.

Bùa Avada Kedavra,” Harry không thể kể tiếp.

Bà Pomfrey bật khóc.

Không ai mảy may chú ý đến bà ngoại trừ Ginny, cô bé nhắc bà, “Suỵt!

Lắng nghe!”

Nuốt nước miếng khan, bà Pomfrey chặn những ngón tay lên miệng, mắt mở to.

Ở đâu đó ngoài màn đêm, một con phượng hoàng đang hót theo một cách mà trước giờ Harry chưa từng nghe: một tiếng than khóc thê lương, hay khủng khiếp.

Và Harry có cảm giác, như trước kia nó đã từng cảm giác như thế về bài hát của phượng hoàng, rằng giai điệu ấy ở ngay trong lòng nó, chứ không phải ở ngoài kia: chính nỗi đau khổ của nó đã biến một cách thần kỳ thành bài hát đang vang vọng khắp khu vườn và lọt qua các ô cửa sổ của tòa lâu đài.

Nó không biết mọi người đã đứng đó bao lâu rồi, ngẩn người lắng nghe.

Nó cũng không biết vì sao nỗi đau đớn của mọi người dường như dịu bớt khi nghe tiếng khóc than đó, nhưng hình như một lúc lâu sau cửa bệnh thất lại bật mở và giáo sư McGonagall bước vào phòng.

Cũng như tất cả những người còn lại, bà mang những dấu tích cảu trận chiến vừa qua: có những vết cắt trên mặt và áo chùng bà bị rách.

“Molly và Arthur sắp tới,” bà nói và bùa mê của điệu nhạc bị phá vỡ: mọi người bừng tỉnh như thể thoát ra khỏi trạng thái thôi miên – người thì quay trở lại nhìn Bill, người thì dịu mắt hoặc lắc đầu.

“Harry, chuyện gì xảy ra vậy?

Theo thầy Hagrid thì trò đi cùng với giáo sư Dumbledore khi thầy... khi việc đó xảy ra.

Thầy Hagrid nói thầy Snape có liên quan gì đó tới...”

“Snape đã giết cụ Dumbledore,” Harry nói.

Bà nhìn sững Harry một lúc, rồi loạng choạng thất thần; Bà Pomfrey, dường như đã lấy lại bình tĩnh, vội chạy tới trước, lấy ra một chiếc ghế.

“Tất cả chúng tôi vẫn tự hỏi... nhưng cụ ấy tin tưởng... luôn luôn...

Snape... tôi không thể tin được điều đó...”

“Snape là bậc cao cường về Bế quan bí thuật,” thầy Lupin nói, giọng thầy khản đặc một cách không bình thường.

“Chúng ta vẫn biết điều đó.”

“Nhưng cụ Dumbledore thề là ông ấy về phe ta!”

Cô Tonks thì thầm.

“Tôi vẫn nghĩ cụ Dumbledore phải biết gì đó về Snape mà chúng ta không biết...”

“Cụ luôn nói xa nói gần rằng cụ có lý do bất di bất dịch để mà tin cậy Snape,” giáo sư McGonagall lẩm bẩm, giờ đang chấm chấm lên hai khóe mắt những giọt nước mắt lã chã của bà bằng chiếc khăn tay viền sọc vuông.

“Ý tôi là... với quá khứ của Snape... dĩ nhiên người ta buộc phải tự hỏi... nhưng cụ Dumbledore bảo tôi một cách rạch ròi rằng sự ăn năn hối lỗi của Snape là hoàn toàn thành thực... không hề nghe một lời nào chống lại hắn!”

“Ước gì tôi biết được Snape đã nói gì để thuyết phục cụ,” cô Tonks nói.

“Em biết,” Harry nói và mọi người cùng quay cả lại nhìn nó chằm chằm.

“Snape báo cho Voldermort mẩu thông tin đã khiến Voldermort săn lùng ba mẹ em.

Sau đó Snape nói với cụ Dumbledore rằng lúc đó hắn đã không nhận ra mình đang làm gì, hắn rất hối hận là đã làm như vậy, hối hận alf họ đã chết.”

“Và cụ Dumbledore tin thế à?”

Thầy Lupin nói một cách hoài nghi.

“Cụ Dumbledore tin Snape hối hận là James đã chết?

Snape ghét cay ghét đắng James mà...”

“Và hắn coi mẹ con là không có tí giá trị nào,” Harry nói, “bởi vì mẹ con gốc Muggle...

“Máu bùn”, hắn gọi mẹ con như vậy...”

Không ai hỏi Harry làm sao nó biết được điều này.

Tất cả mọi người dường như đều đang đắm chìm trong cơn sốc khủng khiếp, cố tiêu hóa cái sự thật vô lý và tàn nhẫn về những gì vừa xảy ra.

“Việc này do lỗi tôi cả,” giáo sư McGonagall đột nhiên nói.

Trông bà như mất phương hướng, xoắn vặn chiếc khăn mù xoa ướt đẫm bằng cả hai tay.

“Lỗi tại tôi.

Đêm nay tôi đã phái Filius đi gọi Snape tới, đúng ra tôi đã cho người gọi hắn tới để trợ giúp chúng ta!

Nếu tôi không báo động cho Snape biết việc gì đang diễn ra, thì chắc chắn hắn đã không thể nào hợp sức với bọn Tử thần thực tử.

Tôi đoán là hắn không hề biết bọn chúng đang ở đó cho tới khi Filius báo cho hắn biết.

Tôi không nghĩ là hắn biết bọn chúng sẽ tới.”

“Đó không phải là lỗi chị, chị Minerva,” thầy Lupin khẳng định.

“Tất cả chúng ta đều muốn có thêm yểm trợ, lúc đó chúng ta đều mừng khi nghĩ Snape sắp tới...”

“Vậy là khi tới chỗ giao tranh, hắn lại nhập phe với bọn Tử thần thực tử?”

Harry hỏi, nó muốn biết tất cả mọi chi tiết về sự phản trắc và hành động ác tâm của Snape, nôn nóng thu thập thêm nhiều lý do để căm ghét lão, để thề sẽ trả thù.

“Tôi không biết chính xác việc xảy ra như thế nào,” giáo sư McGonagall nói lơ mơ.

“Tất cả quá hỗn loạn... cụ Dumbledore bảo chúng tôi rằng cụ sedx rời trường trong vài giờ và rằng chúng tôi phải tuần tra các hành lang phòng trường hợp...

Rồi Remus, Bill và Nymphadora đến tiếp sức với chúng tôi... và thế là chúng tôi đi tuần tra.

Tất cả có vẻ im ắng.

Mọi ngỏ bí mật ra khỏi trường đều được bảo vệ.

Chúng tôi biết không ai có thể bay vào được.

Có bùa rất mạnh yểm khắp mọi lối vào lâu đài.

Tôi vẫn không biết bọn Tử thần thực tử có thể lọt vào bằng cách nào...”

“Con biết,” Harry nói và nó giải thích một cách ngắn gọn về cặp Tủ Biến mất và con đường ma thuật do hai cái tủ làm nên.

“Thế đấy, bọn chúng vào trường qua ngả Phòng theo yêu cầu.”

Gần như ngoài ý muốn, nó liếc nhìn từ Ron qua Hermione, cả hai đứa trông chết trân.

“Mình thiệt hậu đậu, Harry,” Ron nói một cách buồn thảm.

“Tụi mình thực hiện đúng như bồ yêu cầu: tụi mình kiểm tra Bản đồ của Đạo tặc và tụi mình không thấy được Malfoy trên đó, cho nên tụi mình nghĩ chắc nó phải ở trong Phòng theo yêu cầu; nên mình, Ginny với Neville tới đó để canh chừng... nhưng Malfoy đã qua mặt tụi mình.”

“Tụi em bắt đầu canh gác được chừng một tiếng thì nó ra khỏi phòng đó,” Ginny nói.

“Nó chỉ có một mình, cầm chặt cái cánh tay teo rút kinh khủng đó...”

“Bàn tay Vẻ vang của hắn,” Ron nói.

“Chỉ soi sáng cho người nào cầm thôi, bồ nhớ không?”

“Rồi,” Ginny tiếp, “chắc lúc đó nó đang kiểm tra coi có thông thoáng không để đưa bọn Tử thần thực tử ra, bởi vì vừa thấy tụi em là nó tung ra ngay một cái gì đó và tất cả tối đen như mực...”

“...Bột Tối hù ăn liền của xứ Peru,” Ron cay đắng nói.

“Của hai anh Fred và George.

Mình sẽ phải nói chuyện với hai anh về việc họ đã để ai mua sản phẩm của họ.”

“Tụi em có thử tất cả...

Bùa Tỏa sáng, Bốc cháy,” Ginny nói.

“Chẳng cái gì xuyên thủng được bóng tối ấy; tụi em chỉ làm được mỗi một việc là mò mẫm tìm đường ra khỏi hành lang đó, cùng lúc tụi em nghe thấy tiếng người vội vã chạy vụt qua.

Rõ ràng Malfoy có thể thấy đường nhờ cái Bàn tay đó và đang dẫn đường cho bọn chúng, nhưng tụi em không dám dùng bất cứ lời nguyền nào hay cái gì vì sợ phóng trúng nhau và đến khi tụi em lần ra được một hành lang có đèn sáng thì bọn chúng đã đi mất.”

“Thiệt may,” thầy Lupin nói khàn khàn.

“Ron, Ginny và Neville tình cờ gặp chúng tôi gần như ngay lúc đó và báo cho chúng tôi biết việc vừa xảy ra.

Vài phút sau chúng tôi phát hiện ra bọn Tử thần thực tử, đang tiến về hướng Tháp Thiên văn.

Rõ ràng Malfoy không ngờ có thêm người đang túc trực canh gác; nó hình như đã xài hết sạch bột Tối hù, bằng mọi giá mà.

Một trận đấu nổ ra, bọn chúng tản ra và chúng tôi rượt theo.

Một đứa trong bọn chúng, tên Gibbon, tách ra và phóng lên cầu thang Tháp...”

“Để thắp sáng Dấu hiệu Hắc ám?”

Harry hỏi.

“Ừ, chắc hắn thắp, bọn chúng chắc đã phải dàn xếp như vậy trước khi rời khỏi Phòng theo yêu cầu,” thầy Lupin nói.

“Nhưng thầy đoán Gibbon không khoái ở đó một mình mà chờ cụ Dumbledore, bởi vì sau đó hắn chạy trở xuống cầu thang để đánh nhau tiếp và bị trúng một lời nguyền Giết chóc mà vừa mới bắn trượt thầy.”

“Vậy là lúc đó Ron đang canh chừng Phòng theo yêu cầu với Ginny và Neville,” Harry nói, quay sang Hermione, “còn bồ...?”

“Ở bên ngoài văn phòng của lão Snape, phải,” Hermione thì thào, mắt cô nàng lóng lánh nước, “với Luna.

Tụi mình loanh quanh bên ngoài phòng cả thế kỷ và chẳng có gì xảy ra... tụi mình không biết chuyện đang xảy ra ở trên lầu, Ron cầm tấm Bản đồ của Đạo tặc mà... tới gần nửa đêm thì giáo sư Flitwick lao xuống tầng hầm.

Vừa chạy thầy vừa la có bọn Tử thần thực tử trong lâu đài, mình nghĩ là thầy hoàn toàn không nhận ra có mình và Luna đang ở đó, thầy chỉ ào vô văn phòng của Snape và tụi mình nghe thầy nói rằng Snape cần phải quay trở lên cùng với thầy và trợ giúp, xong rồi tụi mình nghe một tiếng bịch lớn và Snape phóng rầm rầm ra khỏi văn phòng của hắn và hắn thấy tụi mình và... và...”

“Và gì?”

Harry giục cô bé.

“Mình thiệt là ngu, Harry!”

Hermione thì thầm bằng giọng cao vút.

“Hắn nói giáo sư Flitwick bị té và bảo tụi mình vô chăm sóc thầy trong khi hắn… trong khi hắn đi giúp đánh bọn Tử thần thực tử…”

Cô bé xấu hổ che mặt và tiếp tục nói vào mấy ngón tay của mình, cho nên giọng nói bị nghẹn lại.

“Tụi mình vô văn phòng hắn để coi xem có thể giúp giáo sư Flitwick không và thấy thầy bất tỉnh dưới sàn nhà... và ôi, giờ mình mới rõ, chắc chắn Snape đã ếm bùa Bất động lên thầy Flitwick, nhưng lúc đó tụi mình không nhận ra, Harry, tụi mình không nhận ra, tụi mình cứ để cho Snape đi !”

“Đó không phải lỗi của các con,” thầy Lupin nói rành rọt.

“Hermione, nếu con không vâng lời Snape mà chạy đi thì chắc hắn đã giết con và Luna rồi.”

“Sau đó hắn lên cầu thang,” Harry nói, nội nhãn của nó đang nhìn thấy Snape phóng lên cầu thang đá, áo chùng đen cuồn cuộn tung bay đằng sau như thường lệ, vừa chạy lên vừa rút đũa phép từ trong áo choàng ra, “và hắn tìm thấy chỗ cả đám đang đánh nhau...”

“Lúc đó chúng tôi đang rối loạn, chúng tôi sắp thua,” cô Tonks nói bằng giọng trầm thấp, “Gibbon chết nhưng bọn Tử thần thực tử còn lại xem ra đều sẵn sàng đánh đến chết.

Neville bị thương, Bill bị Greyback cào xé dã man… tối thui tối hù… những lời nguyền bay khắp nơi… thằng Malfoy biến mất, chắc lúc đó nó đã lẻn đi, leo lên Tháp Thiên văn… sau đó có thêm cài đứa trong bọn chúng chạy theo Malfoy, nhưng một đứa trong bọn đã chặn bít cầu thang bằng một lời nguyền nào đó…

Neville chạy tông vô màn cahwsn đó và bị bắn lên không…”

“Không ai trong tụi này có thể xô9ng qua được,” Ron nói, “và tên Tử thần thực tử lực lưỡng đó cứ bắn bùa yểm ra tứ tán, dội vô tường và chút xíu là trúng tụi này…”

“Và sau đó Snape có mặt ở đó,” cô Tonks nói, “xong liền đó hắn lại không có ở đó…”

“Em thấy hắn lao về phía chúng ta, nhưng một bùa yểm của tên bự con mém trúng em ngay sau đó và em né, thế là mất dấu hết,” Ginny nói.

“Thầy thấy hắn chạy thẳng qua màn chắn bị ếm mà như thể nó không có ở đó,” thầy Lupin nói.

“Thầy thử theo hắn nhưng bị quăng dội trở lại như Neville…”

“Hắn chắc phải biết một câu thần chú mà chúng ta không biết,” giáo sư McGonagall thì thầm.

“Dù sao thì… hắn cũng là giáo viên dạy Phòng chống nghệ thuật hắc ám…

Lúc đó tôi chỉ đoán là hắn đang vội rượt theo bọn Tử thần thực tử tẩu thoát lên Tháp Thiên văn…”

“Hắn vội thật,” Harry nói một cách hung dữ, “nhưng là để trợ giúp chúng, chứ không phải để chặn chúng… và con bảo đảm là người ta cần phải xâm Dấu hiệu Hắc ám mới qua được màn chắn đó… vậy chuyện gì xảy ra khi hắn chạy trở xuống ?”

“Ừm, lúc đó tên Tử thần thực tử bự con mới bắn ra một cái bùa làm nguyên nửa mái trần rớt xuống, phá vỡ luôn lời nguyền chặn lối cầu thang,” thầy Lupin nói.

“Tụi thầy chạy hết tới trước – dĩ nhiên, chỉ những người nào vẫn còn đnwgiáo sư đó thôi… thế rồi Snape và thằng bé nhô ra từ đám bụi… rõ ràng không ai trong chúng ta tấn công chúng…”

“Tụi này cứ vậy mà để chúng đi qua,” cô Tonks nói bằng giọng trống rỗng, “tụi này cứ nghĩ chúng đang bị bọn Tử thần thực tử khác với Greyback kéo xuống, thế là tụi này lại xông vô giáp lá cà…

Chị nghĩ lúc đó có nghe tiếng Snape quát cái gì đó, nhưng chị không biết nó là…”

“Hắn quát, “Xong rồi”,” Harry nói.

“Hắn đã làm xong cái điều hắn làm.”

Tất cả chợt im lặng.

Tiếng khóc than của con phượng hoàng Fawkes vẫn dội vang khắp khu vườn tối bên ngoài.

Khi nghe tiếng hát vang lên trong không trung, những ý nghĩ khó chịu không ngăn được chợt nảy ra trong óc Harry…

Người ta đã mang thi hài cụ Dumbledore từ chân Tháp vô chưa ?

Chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo với thi hài cụ ?

Cụ sẽ an nghỉ ở đâu ?

Harry nắm chặt hai bàn tay lại trong túi quần.

Nó cảm thấy cái khối nhỏ lạnh toát của Trường sinh linh giá giả đang tì vào những khớp ngón bàn tay phải của nó.

Cánh cửa bệnh thất bật mở, khiến tất cả giật nảy mình : ông và bà Weasley đang bước phăm phăm vô phòng, Fleur đi sau họ, gương mặt xinh đẹp của Fleur lộ vẻ khinh hãi.

“Molly...

Arthur...”

Giáo sư McGonagall kêu lên, đứng bật dậy và vội vã ra đón họ.

“Tôi rất tiếc...”

“Bill,” bà Weasley thảng thốt, vội băng qua giáo sư McGonagall ngay khi thấy gương mặt biến dạng của Bill.

“Ôi, Bill !”

Thầy Lupin và cô Tonks hấp tấp đứng lên và lùi lại để ông bà Weasley có thể tiến lại gần cái giường hơn.

Bà Weasley cúi xuống con trai và đặt môi bà lên vầng trán bết máu cảu Bill.

“Cô nói là Greyback đã tấn công nó ?”

Ông Weasley hỏi giáo sư McGonagall một cách lơ đễnh.

“Nhưng nó chưa bị hóa thú phải không ?

Như vậy nghĩa là sao ?

Chuyện gì sẽ xảy tới với thằng Bill ?”

“Chúng tôi chưa biết,” giáo sư McGonagall vừa đáp vừa bất lực ngó thầy Lupin.

“Chắc chắn sẽ bị nhiễm đôi chút, anh Arthur à,” thầy Lupin nói.

“Đây là trường hợp lạ lùng, độc nhất vô nhị... chúng tôi không biết hành vi của cậu ấy sẽ như thế nào khi tỉnh dậy...”

Bà Weasley lấy lọ thuốc mở bốc mùi khó chịu từ tay bà Pomfrey và bắt đầu bôi lên những vết thương của Bill.

“Và cụ Dumbledore...”

Ông Weasley nói.

“Bà Minerva, có đúng là... cụ thực sự... ?”

Khi giáo sư McGonagall gật đầu, Harry cảm thấy Ginny di chuyển tới bên cạnh nó và nó nhìn cô bé.

Đôi mắt hơi nheo lại của Ginny đang dán chặt vô Fleur, cô nàng đang trân trối nhìn xuống Bill với vẻ mặt đóng băng.

“Cụ Dumbledore bị giết,” ông Weasley thì thầm, nhưng bà Weasley vẫn chỉ dán mắt vào cậu con trai lớn nhất của mình ; bà bật khóc, nước mắt rơi lã chã xuống gương mặt bị hủy hoại của Bill.

“Tất nhiên diện mạo nó như thế nào không quan trọng… không quan trọng thiệt mà… nhưng nó đã là một thằng… thằng thằng bé rất đẹp…

đẹp trai… luôn rất đẹp trai… mà nó lại sắp cưới/// cưới… cưới vợ !”

“Ý bác nói vợi là sao ?”

Fleur bất thình lình nói lớn.

“Ý bác là sao ?

Anh ấy sẽ cứi con ?”

Bà Weasley ngẩng gương mặt đầm đìa nước mắt lên, trông hoảng hốt.

“Ờ… chỉ là…”

“Bác nghĩ anh Bill xẽ không mướn cứi con nữa chứ gì ?”

Fleur chất vấn.

“Bác nghĩ, vì mấy vết cắn này, anh ấy xẽ không yêu con nữa chứ gì ?”

“Không, bác không nói…”

“Bỡi vì anh ấy sẽ cứi con !”

Fleur nói, vùng đứng thẳng lên và hất mái tóc bạch kim dài ra sau.

“Phãi hóa thú hơn mới làm anh Bill ngừng yêu con được !”

“Ờ, bác chắc chắn,” Bà Weasley nói, “nhưng bác nghĩ có lẽ…

để coi… coi nó ra sao…”

“Bác nghĩ con xẽ không mướn cứi anh ấy chứ gì ?

Hay có lẽ, bác hy vọng thế ?”

Fleur nói, hai cánh mũi thở phập phồng.

“Con đẽ ý anh ấy trông như thế nào à ?

Con nghĩ, con xinh đẹp đũ cho cã hai chúng con !

Tất cả những vết sẹo đó, chứng tõ rằn chồng con thiệt dũng cảm !

Và con xẽ cứi anh ấy !”

Fleur hăng hái nói thêm, đẩy bà Weasley qua một bên và giằng lấy lọ thuốc mỡ từ tay bà.

Bà Weasley bật ngửa dựa vô chồng và nhìn Fleur lau sạch những vết thương của Bill, một vẻ tò mò nhất hiện trên gương mặt bà.

Không ai nói gì cả.

Harry không dám cựa quậy.

Như tất cả mọi người khác, nó đang chờ đợi cơn bùng nổ.

“Bà cô Muriel của nhà này,” bà Weasley nói sau một lúc lâu, “có một chiếc khăn đội đầu rất đẹp… do yêu tinh làm… mà bác chắc chắn bác có thể thuyết phục bà ấy cho mượn nó trong ngày cưới.

Bà ấy rất yêu quý Bill.

Con biết không và nó sẽ rất xinh với mái tóc cảu con.”

“Cãm ơn bác,” Fleur khó nhọc nói.

“Con chắc chắn là nó rớy xinh.”

Và rồi – Harry không rõ việc đã xảy ra như thế nào – cả hai người phụ nữ cùng khóc và ôm choàng lấy nhau.

Hoàn toàn bấn loạn, tự hỏi phải chăng thế giới này phát điên hết rồi, nó quay mặt đi : trông Ron cũng ngây ra hệt như Harry và Ginny cùng Hermione đang trao đổi cái nhìn sửng sốt.

“Anh thấy đây,” một giọng rầu rầu cất lên.

Cô Tonks đang nhìn trân trân thầy Lupin.

“Cô ấy vẫn muốn cưới cậu ấy, dẫu cho anh ấy bị cắn !

Cô ấy không sợ !”

“Cái đó khác !”

Thầy Lupin nói, hầu như không động đậy môi và tự dưng trông căng thẳng.

“Bill sẽ không là một người sói đầy đủ.

Những trường hợp hoàn toàn…”

“Nhưng em cũng không sợ, em không sợ !”

CÔ Tonks nói, thộp lấy ngực áo chùng của thầy Lupin và lắc, “Em đã nói với anh hàng triệu lần…”

Và ý nghĩa Thần Hộ mệnh của cô Tonks, mái tóc màu lông chuột của cô, việc cô nại cớ chạy đến tìm cụ Dumbledore vì nghe đồn có ai đó bị Greyback tấn công, tất cả đột nhiên trở nên sáng tỏ với Harry ; rốt cuộc thì chú Sirius không phải là người mà cô Tonks yêu…

“Và tôi đã nói với em hàng triệu lần,” thầy Lupin nói, tránh nhìn vào ánh mắt cô, mà nhìn chằm chằm xuống sàn, “rằng tôi quá già đối với em, quá nghèo… quá nguy hiểm…”

“Tôi nói với chú hoài rằng chú xử lý việc này thiệt lố bịch, Remus,” bà Weasley nói với qua vai Fleur trong khi vẫn vỗ vỗ lưng cô.

“Tôi không lố bịch,” chú Lupin nói đều đều.

“Tonks xứng đáng có một người đàn ông trẻ và tài sắc vẹn toàn.”

“Nhưng cô ấy muốn chú,” ông Weasley nói, hơi mỉm cười.

“Và xét cho cùng, Remus, đàn ông trẻ và tài sắc vẹn toàn không nhất thiết là sẽ trẻ và tài sắc vẹn toàn được mãi,” ông buồn bã làm dấu về phía con trai mình, đang nằm đó.

“Đây…

đây không phải là lúc bàn luận việc này,” thầy Lupin nói, tránh ánh mắt của tất cả mọi người bằng cách nhìn quanh một cách lơ đãng.

“Cụ Dumbledore chết…”

“Thầy Dumbledore hẳn sẽ vui sướng hơn bất kỳ ai khi nghĩ rằng đã có thểm một tình yêu trên thế giới này,” giáo sư McGonagall nói cộc lốc, vừa lúc cửa bệnh thất lại mở ra và bác Hagrid bước vô.

Phần gương mặt không bị râu hay tóc che khuất của bác ướt đẫm và sưng phồng ; bác đang run lên vì khóc, một chiếc khăn mù xoa lớn dơ hầy nắm trong tay.

“Tôi… tôi làm rồi, thưa giáo sư,” bác nghẹn ngào.

“Chuyển… chuyển cụ vô rồi.

Giáo sư Sprout đã đưa bọn trẻ về giường.

Giáo sư Flitwick đang nằm nhưng thầy nói sẽ khỏe thôi và giáo sư Slughorn nói đã thông báo Bộ Pháp thuật.”

“Cảm ơn thầy Hagrid,” giáo sư McGonagall nói, đứng lên lập tức và quay qua nhìn nhóm người xung quanh giường Bill.

“Tôi cần phải gặp Bộ Pháp thuật khi họ tới đây.

Thầy Hagrid, làm ơn báo cho chủ nhiệm các Nhà, giáo sư Slughorn có thể đại diện cho nhà SlytHermionein, rằng tôi muốn gặp họ trong văn phòng của tôi ngay tức khắc.

Tôi muốn trò cũng đi cùng với chúng tôi.”

Khi bác Hagrid gật đầu, quay ra và lê bước khỏi phòng một lần nữa, bà ngó xuống Harry.

“Trước khi gặp họ tôi muốn nói chuyện riêng với trò chốc lát, Harry.

Trò đi cùng tôi được hay không…”

Harry đứng lên, lẩm bẩm, “Gặp lại sau nhe,” với Ron, Hermione và Ginny rồi theo sau giáo sư McGonagall trở ra khỏi phòng bệnh.

Những hành lang bên ngoài vắng tanh và âm thanh duy nhất là tiếng hát của phương hoàng xa xa.

Phải mất mấy phút Harry mới nhận ra là họ sẽ không đi đến văn phòng của giáo sư McGonagall, mà đến văn phòng của cụ Dumbledore và mất thêm khoảng mấy phút nữa nó mới nhận ra rằng, đương nhiên, bà đã là quyền hiệu trưởng… rõ ràng bây giờ bà là hiệu trưởng… vì vậy căn phòng đằng sau cái máng xối giờ đây là văn phòng của bà…

Trong im lặng, họ đi lên chiếc cầu thang xoắn lay động và bước vô văn phòng hình tròn.

Nó cũng không biết nó trông chờ điều gì : rằng căn phòng sẽ bao phủ trong màu đen à, có lẽ thế, hoặc thậm chí thi hài cụ Dumbledore đang nằm đó…

Nhưng thực tế, căn phòng hầu như vẫn y hệt khi nó và cụ Dumbledore rời đó chỉ vài giờ trước : những món đồ bằng bạc kêu vo vo và phụt phà phà trên những chiếc bàn có chân khẳng khiu.

Thanh gươm của nhà Gryffindor trong hộp thủy tinh sáng lấp lánh trong ánh trăng, chiếc Nón Phân loại ở trên kệ đằng sau bàn làm việc.

Nhưng chỗ đậu của con phượng hoàng Fawkes trống trơn ; nó vẫn đang khóc bài hát than thở của mình vang khắp khuôn viên lâu đài.

Và một bức chân dung mới vừa treo thêm vào hàng chân dung những ông bà hiệu trưởng đã qua đời của trường Hogwarts…

Cụ Dumbledore đang ngủ ngon lành trong một khung tranh bằng vàng phía trên bàn làm việc, cặp kính nửa vầng trăng của cụ đậu ngay ngắn trên sống mũi cong, trông bình thản và an lành.

Sau khi liếc nhìn bức chân dung này một lần, giáo sư McGonagall ẹo người một cái thiệt lạ kỳ như thể tự lên dây cót tinh thần cho mình, rồi quành vô bàn làm việc để nhìn Harry, gương mặt bà lộ vẻ đả kích và hằn những vết nhăn.

“Harry,” bà nói, “tôi muốn biết trò và thầy Dumbledore đã làm gì tối nay khi hai người rời khỏi trường.”

“Con không thể nói cho cô biết điều đó, thưa giáo sư,” Harry nói.

Nó đã chờ câu hỏi này và đã có sẵn câu trả lời.

Chính ở nơi đây, trong chính căn phòng này, mà cụ Dumbledore đã bảo nó rằng nó không được tiết lộ nội dung những bài học của họ cho ai khác ngoài Ron và Hermione.

“Harry, điều đó chắc là quan trọng,” giáo sư McGonagall nói.

“Dạ phải,” Harry nói, “rất quan trọng, nhưng thầy không muốn con nói với bất cứ ai.”

Giáo sư McGonagall trừng mắt nhìn nó.

“Potter,” (Harry nhận ra lối xưng hô mới gọi nó bằng họ) “xét đến việc thầy Dumbledore mất, tôi nghĩ trò phải thấy rằng tình hình đã thay đổi về phương diện nào đó…”

“Con không nghĩ vậy,” Harry nói, nhún vai.

“Giáo sư Dumbledore không bao giờ bảo con phải ngưng tuân lệnh thầy nếu thầy chết đi.”

“Nhưng…”

“Tuy nhiên, có một điều cô nên biết trước khi Bộ Pháp thuật tới đây.

Bà Rosmerta đang chịu Lời nguyền Độc đoán, bà ta đã giúp Malfoy và bọn Tử thần thực tử, chính thế mà cái xâu chuỗi và rượu mật ong…”

“Bà Rosmerta ?”

Giáo sư McGonagall nói một cách hoài nghi, nhưng bà chưa kịp nói tiếp, một tiếng gõ cửa đằng sau họ vang lên và giáo sư Sprout, Flitwick cùng Slughorn lê bước vô văn phòng, theo sau là bác Hagrid, bác vẫn đang khóc sướt mướt, thân hình khổng lồ của bác đau khổ rung bần bật.

“Snape” Giáo sư Slughorn thốt lên, trông thầy tái nhợt, mồ hôi nhễ nhại và run rẩy nhất.

“Snape !

Tôi đã dạy hắn !

Tôi tưởng tôi phải biết rõ hắn chứ.”

Nhưng trước khi bất cứ ai trong số họ đáp lại câu này, một giọng lanh lảnh đã phát ra từ trên cao bức tường : một pháp sư mặt vàng ủng có một món tóc đen ngắn rủ trước trán vừa bước trở vô bức tranh sơn dầu trống rỗng của ông ta.

“Bà Minerva, ngài Bộ trưởng sẽ ở đây sau vài giây, ngài vừa mới Độn thổ từ Bộ Pháp thuật.”

“Cảm ơn, Everard,” giáo sư McGonagall nói và bà quay ngoắt qua các giáo viên của mình.

“Tôi muốn nói về tương lai của trường Hogwarts trước khi ông ấy vô đây,” bà nói lẹ.

“Về phần cá nhân tôi, tôi thấy việc trường mở cửa lại vào năm tới không được thuyết phục lắm.

Cái chết cảu vị Hiệu trưởng dưới bàn tay của một trong những đồng nghiệp của chúng ta là một vết nhơ khủng khiếp trong lịch sử trường Hogwarts.

Thật kinh khủng.”

“Tôi chắc thầy Dumbledore sẽ muốn trường vẫn tiếp tục mở,” giáo sư Sprout nói.

“Tôi cảm thấy rằng nếu chỉ có một học sinh muốn đến trường, thì trường vẫn phải mở cửa dạy học sinh đó.”

“Nhưng liệu chúng ta còn một học sinh nào sau sự việc này không ?”

Giáo sư Slughorn nói, chậm chậm vầng trán đẫm mồ hôi của mình bằng một cái mù xoa lụa.

“Các bậc phụ huynh sẽ muốn giữ con em ở nhà và tôi không thể nói là tôi sẽ trách họ.

Cá nhân mà nói thì tôi nghĩ ở Hogwarts chúng ta ít bị nguy hiểm hơn ở bất cứ đâu, nhưng quý vị không thể mong chờ các bà mẹ cũng nghĩ như vậy.

Họ sẽ muốn giữ gia đình họ ở kề bên nhau.

Đó là lẽ tự nhiên.”

“Tôi đồng ý,” giáo sư McGonagall nói.

“Và dù sao chăng nữa, sẽ không đúng nếu nói rằng cụ Dumbledore chưa bao giờ tượng tượng ra một tình huống trong đó trường Hogwarts có thể đóng cửa.

Hồi Căn phòng Bí mật mở ra lại cụ đã nghĩ đến việc đóng cửa trường… và tôi phải nói rằng cái chết cảu cụ Dumbledore còn làm tôi bấn loạn hơn là ý nghĩ về con quái vật cảu SlytHermionein đang sống ngay trong bụng tòa lâu đài mà không bị ai khám phá ra…”

“Chúng ta phải tham vấn ý kiến của hội đồng quản trị,” giáo sư Flitwick nói bằng giọng chút chít của mình ; thầy bị một vết bầm to tướng ở trán nhưng dường như ngoài ra không bị thương tích gì do cú ngã trong văn phòng của Snape.

“Chúng ta phải tuân thủ những thủ tục pháp lý đã được đặt ra.

Một quyết định không nên được dưa ra một cách vội vàng.”

“Hagrid, thầy chưa nói gì cả,” giáo sư McGonagall nói.

“Quan điểm cảu thầy là gì, liệu trường Hogwarts có phải tiếp tục mở cửa không ?”

Bác Hagrid, vẫn đang lặng lẽ khóc thút thít trong chiếc khăn tay to dơ hầy của mình suốt cuộc bàn bạc, giờ ngước đôi mắt đỏ hoe, sưng phều lên và nói khàn khàn, “Tôi không biết, thưa giáo sư… việc đó dành cho Chủ nhiệm các Nhà và bà hiệu trưởng quyết định…”

“Giáo sư Dumbledore luôn coi trọng quan điểm của thầy,” giáo sư McGonagall nói một cách tử tế, “và tôi cũng vậy.”

“Ừm, tôi sẽ ở lại,” bác Hagrid nói, những giọt nước mắt to vẫn tuôn trào khỏi khóe mắt và nhỏ xuống bộ râu quai nón rối bù.

“Chỗ này là nhà tôi, nhà tôi từ hồi tôi mười ba tuổi.

Và nếu có đứa con nít nào muốn tôi dạy thì tôi sẽ dạy.

Nhưng… tôi không biết…

Hogwarts mà không có thầy Dumbledore…”

Bác nấc lên và biến mất sau chiếc mù xoa một lần nữa và tất cả đều im lặng.

“Rất tốt,” giáo sư McGonagall nói, liếc qua cửa sổ ra ngaoif sân, kiểm tra coi ngài Bộ trưởng đã đến chưa, “vậy thì tôi phải đồng ý với thầy Filius rằng việc nên làm là tham vấn ý kiến cảu hội đồng quản trị, họ sẽ ra quyết định cuối cùng.”

“Bây giờ về việc đưa học sinh về nhà… có một ý kiến gay gắt cho rằng phải làm ngay không chậm trễ.

Chúng ta có thể thu xếp cho tàu tốc hành Hogwarts đến vào ngày mai nếu cần thiết…”

“Thế còn đám tang của thầy Dumbledore thì sao ?”

Harry cuối cùng lên tiếng.

“Ưm…” giáo sư McGonagall nói, mất đi chút nhịp điệu nhanh nhanh của bà khi giọng nói trở nên run rẩy, “Tôi… tôi biết rằng ước nguyện của thầy Dumbledore là đwocj nằm lại ở đây, ở trường Hogwarts…”

“Thế thì đó là việc sẽ xảy ra, phải không ?”

Harry nói gay gắt.

“Nếu Bộ Pháp thuật nghĩ điều đó thích hợp,” giáo sư McGonagall nói.

“Chưa từng có ông hay bà Hiệu trưởng nào…”

“Chưa từng có ông hay bà Hiệu trưởng nào cống hiến nhiều cho trường này hơn thầy,” bác Hagrid gầm vang.

“Trường Hogwarts phải là nơi yên nghỉ cuối cùng của thầy Dumbledore,” giáo sư Flitwick nói.

“Đúng thế,” giáo sư Sprout nói.

“Và trong trường hợp đó,” Harry nói, “cô không nên gởi học trò trở về nhà cho tới khi đám tang kết thúc.

Họ sẽ muốn ở lại để nói…”

Lời cuối cùng bị nghẹn lại trong cổ họng nó, nhưng giáo sư Sprout hoàn tất câu nói giùm cho nó.

“Vĩnh biệt.”

“Nói đúng lắm,” giáo sư Flitwick chút chít.

“Nói hay lắm!

Các học sinh của chúng ta nên biểu lộ lòng ngưỡng mộ, thiệt hợp lý.

Chúng ta có thể sắp xếp phương tiện về nhà sau đó.”

“Tán thành,” giáo sư Sprout nói lớn.

“Tôi cho là… phải…” giáo sư Slughorn nói bằng giọng hơi luống cuống, trong khi bác Hagrid phát ra một tiếng nấc nghẹn ngào đồng ý.

“Ông ấy tới rồi,” giáo sư McGonagall đột ngột nói, nhìn chăm chú xuống sân.

“Bộ trưởng… và theo tôi thấy thì ông ta có mang theo một đoàn tùy tùng…”

“Con ra được chứ ạ, thưa giáo sư?”

Harry nói ngay lập tức.

Đêm nay nó không mong muốn gặp, hoặc muốn bị chất vấn bởi ông Rufus Scrimgeour chút nào.

“Được,” giáo sư McGonagall nói, “và lẹ lên.”

Bà bước dài về phía cửa và giữ cửa mở cho nó.

Nó phóng vụt xuống cầu thang xoắn, chạy dọc khỏi hành lang vắng ngắt; nó đã bỏ tấm Áo khoác tàng hình của nó ở trên đỉnh Tháp Thiên văn, nhưng không hề gì; không có ai ở trong các hành lang để trông thấy nó chạy qua, kể cả thầy Filch, con mèo Norris và con ma Peeves cũng không.

Nó không gặp một ma nào cho đến khi nó quẹo vô hành lang dẫn đến phòng sinh hoạt chung của nhà Gryffindor.

“Có thật không?” bà Béo thì thầm, khi nó tới gần.

“Điều đó đúng thật chứ?

Cụ Dumbledore… chết?”

“Đúng,” Harry nói.

Bà buột khóc rền lên và không chờ nghe mật khẩu, bà quăng người ra trước để cho nó vô.

Đúng như Harry dự đoán, phòng sinh hoạt chung đầy ắp người.

Căn phòng chợt rơi vào im lặng khi nó leo qua lỗ bức chân dung.

Nó thấy Dean và Seamus ngồi trong một đám gần đấy: như vậy có nghĩa là phòng ngủ trống trơn, hoặc gần như vậy.

Không nói với ai lời nào, không trao đổi cái nhìn với ai, Harry bước thẳng qua căn phòng và đi qua cửa dẫn tới khu phòng ngủ nam.

Đúng như nó đã hy vọng, Ron đang chờ nó, vẫn còn mặc nguyên đồ, đang ngồi trên giường.

Harry ngồi xuống chiếc giường có bốn cọc mùng của nó và trong một thoáng, bọn chúng chỉ nhìn nhau trân trân.

“Họ đang bàn về việc đóng cửa trường,” Harry nói.

“Thầy Lupin nói họ sẽ đóng cửa,” Ron nói.

Chúng im lặng một lát.

“Sao?”

Ron nói bằng giọng thiệt trầm, như thể nó nghĩ đồ đạc cũng có thể nghe lỏm.

“Bồ có tìm thấy không?

Bồ có lấy được nó?

Cái Trường sinh linh giá ?”

Harry lắc đầu.

Tất cả những gì đã xảy ra xung quanh cái hồ đen ngòm đó giờ đây trông giống như một cơn ác mộng cũ; có thật là mọi việc đã xảy ra không, chỉ cách đây có vài tiếng?

“Bồ không lấy được nó à?”

Ron nói, vẻ thất vọng.

“Nó không có ở đó hả?”

“Không,” Harry nói.

“Ai đó đã lấy mất rồi và để lại một cái giả vô chỗ đó.”

“Lấy mất rồi…?”

Không nói gì, Harry lôi ra chiếc hộp giả từ trong túi, mở ra và đưa cho Ron.

Toàn bộ câu chuyện có thể chờ để kể sau… còn đêm nay nó không quan trọng… không gì quan trọng ngoại trừ đoạn cuối, đoạn cuối cuộc phiêu lưu vô nghĩa của thầy trò họ, đoạn cuối của cuộc đời cụ Dumbledore…

“R.A.B.,” Ron thì thào, “nhưng đó là ai?”

“Không biết,” Harry nói, nằm ngả xuống giường, vẫn để nguyên quần áo và nhìn trao tráo lên trần.

Nó chẳng cảm thấy tò mò một chút nào về R.A.B.: nó e là nó sẽ không bao giờ còn cảm thấy tò mò được nữa.

Khi nằm đó, nó bồng nhận ra ngoài vườn đã im ắng.

Fawkes đã ngừng hát.

Và nó biết, mà không biết làm thế nào mà nó biết điều đó, rằng con phượng hoàng đã đi rồi, đã rời khỏi trường Hogwarts mãi mãi, hệt như cụ Dumbledore đã rời khỏi ngôi trường này, rời khỏi thế giới này… rời khỏi Harry.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q6 - 30: Ngôi mộ trắng


Ngôi mộ trắng

Tất cả lớp học bị đình lại, tất cả những kỳ thi đều hoãn lại.

Một số học sinh được cha mẹ vội vã đưa đi khỏi trường Hogwarts nội trong vài ngày sau – chị em sinh đôi nhà Patil được đưa đi trước bữa điểm tâm ngay buổi sáng hôm sau cái chết của cụ Dumbledore và Zacharias Smith được ông bố trông ngạo mạn của nó hộ tống từ lâu đài.

Seamus Finnigan, ngươic lại, thẳng thừng từ chối đi theo mẹ nó về nhà – họ cãi vã một trận ở Tiền sảnh và cuộc to tiếng được giải quyết khi bà mẹ đồng ý là nó có thể ở lại cho tới xong đám tang.

Seamus kể với Harry và Ron là mẹ nó gặp khó khăn trong việc tìm một chỗ ngủ trọ trong làng Hogsmeade, bởi vì các pháp sư và phù thủy đang đổ về ngôi làng đó, chuẩn bị vào viếng cụ Dumbledore lần cuối để tỏ lòng tôn kính.

Vào buổi tối trước đám tang, có chút kích động nổi lên trong đám học trò nhỏ, (là bọn trước giờ chưa từng được chứng kiến), khi một cỗ xe ngựa màu xanh dương lợt to cỡ một ngôi nhà, do một tá ngựa vàng có cánh khổng lồ kéo, từ bầu trời bay vút ra và đáp xuống bìa khu Rừng Cấm.

Harry nhìn từ một cửa sổ thấy một phụ nữ đẹp tóc đen, khổng lồ, nước da màu ô-liu bước xuống khỏi những bậc xe ngựa và lao vào vòng tay đang chờ đón của bác Hagrid.

Cùng lúc đó, một phái đoàn quan chức Bộ Pháp thuật, bao gồm chính ông Bộ trưởng Bộ Pháp thuật, đang tá túc trong lâu đài.

Harry mải miết tránh tiếp xúc với bất cứ ai trong số họ; nó chắc chắn rằng, không chóng thì chầy, người ta cũng sẽ yêu cầu nó giải thích về chuyến đi cuối cùng ra khỏi trường Hogwarts của cụ Dumbledore.

Harry, Ron, Hermione và Ginny dành tất cả thời gian của chúng để ở bên nhau.

Thời tiết đẹp như trêu người chúng.

Harry có thể tưởng tượng ra được nếu cụ Dumbledore không chết thì sẽ như thế nào và bọn chúng sẽ có thời gian ở bên nhau như thế này vào đúng cái ngày cuối năm, khi các môn thi của Ginny đã hoàn tất, áp lực bài tập về nhà đã được cất khỏi... và hết giờ này đến giờ khác, Harry cứ trì hoãn nói cái điều mà nó biết nó phải nói, làm cái điều mà nó biết nó phải làm, bởi vì thật quá khó để mà từ bỏ đi nguồn an ủi lớn nhất của nó.

Mỗi ngày bọn chúng ghé vô bệnh thất hai lần: Neville đã xuất viện, nhưng Bill vẫn còn chịu sự chăm sóc của bà Pomfrey.

Những vết thẹo của anh chàng vẫn kinh khủng như cũ; thiệt tình, bây giờ Bill đã mang những nét giông y Moody “Mắt điên” (may phước là vẫn còn đủ cả mắt lẫn chân cẳng), nhưng về bản tính thì dường như vẫn thế.

Nếu có gì đó có vẻ thay đổi thì chính là Bill bây giờ đâm ra khoái món bíp-tết còn sống.

“...vậy cứi em là anh hên rồi,” Fleur sung sướng nói, vỗ cho tròn chiếc gối cảu Bill, “bỡi vì người Anh hay nấu thịt kỹ quá, em vỡn nói thế mà.”

“Em nghĩ em đành phải chấp nhận chuyện anh Bill cưới bà ấy thật thôi,” Ginny thở dài sau đó, vào buổi tối, khi cô bé cùng Harry, Ron và Hermione ngồi bên khung cửa sổ mở của phòng sinh hoạt chung nhà Gryffindor, nhìn ra ngoài khu vườn sáng đèn.

“Chị ấy đâu đến nỗi tệ,” Harry nói.

“Dù có hơi xấu,” nó vội vã thêm vào khi Ginny nhướn mày lên và cô bé buột ra một tiếng cười miễn cưỡng.

“Hừ, em nghĩ nếu má chịu được thì em chịu được.”

“Có ai nữa mà tụi mình biết bị chết không?”

Ron hỏi Hermione, cô nàng đang đọc kỹ tờ Tiên Tri buổi chiều.

Hermione nhăn mặt trước vẻ cố làm bộ cứng rắn trong giọng nói của Ron.

“Không,” cô nàng nói vẻ trách móc, gấp tờ báo lại.

“Họ vẫn đang lùng sục Snape, nhưng không có tung tích...”

“Không có là đương nhiên,” Harry nói, nó luôn nổi cáu mỗi lần đề tài này nảy ra.

“Họ sẽ không tìm ra Snape chừng nào chưa tìm ra Voldermort, và chắc chắn họ không tài nào xoay sở mà làm được việc đó vào lúc này...”

“Em đi ngủ đây,” Ginny ngáp.

“Em ngủ chẳng ra gì kể từ khi... thôi... em phải đi ngủ một chút.”

Cô bé hôn Harry (Ron nhìn ngoắt đi chỗ khác), vẫy chào hai đứa còn lại và đi về phòng ngủ nữ.

Ngay khi canhs cửa đóng lại sau lưng Ginny, Hermione nhoài ra phía trước về phía Harry với cái nhìn đúng kiểu Hermione nhất.

“Harry, sáng nay mình tìm thấy chút thông tin, ở trong thư viện...”

“R.A.B. hả?”

Harry nói, ngồi thẳng lên.

Nó không còn cảm giác như cái cách trước kia nó vẫn có: háo hức, tò mò, phát sốt lên muốn tìm ra nguyên nhân thực sự của điều bí ẩn.

Nó chỉ đơn giản biết rằng nhiệm vụ khám phá sự thật về cái Trường sinh linh giá thật phải được hoàn thành trước khi nó có thể đi xa hơn trên con đường tối tăm, quanh co trải dài phía trước, con đường mà nó và cụ Dumbledore đã cùng nhau đặt ra và bây giờ nó biết nó sẽ phải đi một mình.

Vẫn còn chừng bốn cái Trường sinh linh giá ở đâu đó và mỗi cái đều phải tìm ra cho được và tiêu hủy thì may ra mới có khả năng giết được Voldermort.

Nó liên tục nhắc lại chính xác những cái tên của chúng, cứ như việc lập danh sách chúng sẽ giúp nó với tay được tới chúng vậy: “Cái hộp... cái cúp... con rắn... một cái gì đó của nhà Gryffindor hoặc của nhà Ravenclaw... cái hộp... cái cúp... con rắn... một cái gì đó của nhà Gryffindor hoặc của nhà Ravenclaw...”

Câu thần chsu này dường như chạy rần rần trong óc Harry khi nó ngủ thiếp đi vào ban đêm và những giấc mơ của nó đầy những hộp với cúp và những đồ vật bí hiểm mà nó không thể nào với tới, mặc dù cụ Dumbledore đã hết lòng trợ giúp đưa cho Harry một sợi thang dây, cái thang biến thành con rắn ngay khoảnh khắc nó bắt đầu leo lên.

Nó đã đưa cho Hermione cái mẩu thư bên trong chiếc hộp nhỏ vào buổi sáng sau cái chết của cụ Dumbledore; và mặc dù chưa nhận ra được ngay tức thì những chữ viết tắt ấy là tên một pháp sư bí ẩn nào mà mình từng đọc qua, từ giờ phút đó, Hermione đã vội lê thư viện và có phần thường xuyên hơn mức cần thiết đối với một kẻ không có bài tập về nhà để làm.

“Không,” cô bé buồn bã nói, “Mình đã cố, Harry, nhưng mình chưa tìm được gì hết... có hai pháp sư rất nổi tiếng có tên viết tắt như vầy – Rosalind Antigone Bungiáo sư...

Rupert Axebanger Brookstanton... nhưng xem ra họ không thích hợp chút nào.

Xét theo mẩu thư đó thì người đánh cắp cái Trường sinh linh giá phải biết Voldermort và mình không thể tìm ra một mẩu chứng cớ nào chứng tỏ Bungiáo sư hay Axebanger từng có gì dính líu đến hắn...

Không, thật sự thì, cái thư đó là về...

à, về Snape.”

Trông Hermione lucnsg túng ngay cả khi nhắc lại cái tên đó.

“Có gì về hắn, hả?”

Harry nặng nề hỏi, ngả mình ra trên chiếc ghế của nó.

“Ờ, chỉ là mình có phần đúng về vụ Hoàng tử lai,” cô bé nói vẻ lần chần.

“Bồ cần phải nhai đi nhai lại chuyện đó mãi sao, Hermione?

Chứ bồ nghĩ bây giờ mình cảm giác ra sao về chuyện đó chớ?”

“Không... không...

Harry à, mình không có ý đó!”

Hermione hấp tấp nói, nhìn quanh để kiểm tra là chúng không bị nghe lén.

“Chỉ là mình đã đúng về Eileen Prince trong cái lần mình mượn cuốn sách đó.

Bồ biết không... bà ta là mẹ của Snape!”

“Mình nghĩ bà ta không thuộc loại phụ nữ hấp dẫn cho lắm,” Ron nói.

Hermione coi như không nghe thấy.

“Mình đang xem qua những tờ Nhật báo Tiên Tri cũ và thấy có một mẩu thông báo nhỏ xíu về việc Eileen Prince cưới một ông tên là Tobias Snape và sau đó có một mẩu thông báo về việc bà ta đã sinh ra một...”

“...tên sát nhân,” Harry cấm cẳn.

“Ừ...

ờ,” Hermione nói.

“Cho nên... mình đã có phần đúng.

Snape chắc hẳn đã rất tự hào là “một nửa Hoàng tử”, bồ hiểu không?

Theo như những gì đăng trên Nhật báo Tiên Tri thì Tobias Snape là một Muggle.”

“Chà, hợp lý thiệt,” Harry nói.

“Hắn phô trương phần máu thuần chủng để có thể giao du với Lucius Malfoy và đám còn lại... hắn giống hệt như Voldermort.

Mẹ thuần chủng, cha Muggle... nhục nhã vì dòng máu của cha hắn, cố làm cho người ta kinh sợ mình bằng cách sử dụng Nghệ thuật hắc ám, tự đặt cho mình một cái tên mới gây ấn tượng - Chúa tể Voldermort – Hoàng tử lai – làm sao mà thầy Dumbledore lại có thể bỏ qua vậy…?”

Nó im bặt, nhìn ra ngoài cửa sổ.

Nó không thể không nghĩ mãi về sự tin tưởng không thể tha thứ được cảu cụ Dumbledore vào Snape... nhưng trước kia, khi Hermione nhắc nhở nó, thì chính nó, cái thằng Harry này, cũng đã nhìn nhận sự việc theo cách như thế... bất chấp ngày càng kinh tởm những bùa chú được viết nguệch ngoạc đó, nó vẫn không chịu tin cái kẻ quá thông minh kia, kẻ đã từng giúp nó quá nhiều kia, là xấu...

Đã từng giúp... giưof đây một ý nghĩ gần như không thể chịu đựng nổi.

“Mình vẫn không hiểu tại sao hắn không đem giao nộp nồ vì sử dụng cuốn sách đó,” Ron nói.

“Chắc chắn hắn biết bồ lấy tất cả những thứ ấy từ đâu.”

“Hắn biết,” Harry cay đắng nói.

“Hắn biết khi mình sử dụng đòn Cắt sâu mãi mãi.

Hắn không cần đến phép Đọc tư tưởng... hắn thậm chí còn biết trước cả lúc đó, khi giáo sư Slughorn khoe mình xuất sắc môn Độc dược như thế nào... lẽ ra hắn không được để cuốn sách cũ của hắn ở đáy tủ đó chứ hả?”

“Nhưng tái ao hắn không giao nộp bồ?”

“Mình nghĩ hắn không muốn liên đới bản thân đến cuốn sách đó,” Hermione nói.

“Mình nghĩ nếu thầy Dumbledore biết cuốn sách đó thầy sẽ không thích lắm đâu.

Và ngay cả khi Snape giả bộ như nó không phải là của hắn, thì giáo sư Slughorn cũng phải nhận ra nét chữ của hắn ngay lập tức chứ!

Với lại, cuốn sách bị bỏ lại trong lớp học cũ của Snape và mình cá là thầy Dumbledore biết mẹ hắn tên là “Prince”.”

“Lẽ ra mình phải đưa cuốn sách đó cho thầy Dumbledore,” Harry nói.

“Lúc nào thầy cũng chỉ cho mình thấy Voldermort quỷ quyệt như thế nào ngay cả khi hắn còn học ở trường, mà mình lại có bằng chứng là Snape cũng...”

“Quỷ quyệt” là một từ mạnh,” Hermione lẳng lặng nói.

“Bồ là người liên tục nói với mình rằng cuốn sách đó rất nguy hiểm mà!”

“Ý mình là Harry à, bồ cứ hay tự đổ quá nhiều lỗi lên bồ.

Mình nghĩ tên Hoàng tử ấy có vẻ có óc khôi hài kỳ quái, chứ mình không bao giờ đoán ra hắn là một kẻ giết người tiềm năng...”

“Không ai trong chúng ta đoán nổi lão Snape sẽ... bồ biết đấy,” Ron nói.

Sự im lặng rơi xuống bọn chúng, mỗi đứa chìm trong những suy nghĩ của riêng mình, nhưng Harry chắc chắn rằng đám bạn cũng giống như nó, đang nghĩ đến buổi sáng hôm sau, khi thi hài của cụ Dumbledore được đưa về nơi an nghỉ cuối cùng.

Harry trước giờ chưa bao giờ tham dự một đám tang – khi chú Sirius chết đã không có xác để mà chôn cất.

Nó không biết cái gì chưof đợi nó vào ngày mai và hơi lo lắng về việc mình sẽ phải thấy cái gì và mình sẽ cảm giác ra sao.

Nó tự hỏi có khi nào sau khi đám tang kết thúc rồi, cái chết của cụ Dumbledore lúc đó mới là thật hơn với nó không.

Mặc dù nó đã trải qua những khoảnh khắc bị cái sự thật kinh khủng đe dọa chôn vùi nó, vẫn có những lúc nó đờ cả người, trống rỗng; Những lúc đó, mặc dù cho trong toàn lâu đài không ai bàn luận chuyện gì khác ngoài chuyện đó, nó vẫn khó tin là cụ Dumbledore đã thực sự ra đi.

Phải thừa nhận rằng, không như lúc chú Sirius mất, nó đã không còn điên cuồng tìm kiếm cách nào đó né tránh, cách nào đó có thể khiến cụ Dumbledore trở lại...

Nó lần trong túi kiếm sợi xích lạnh toát của cái Trường sinh linh giá giả, thứ mà bây giờ nó mang theo bên mình khắp mọi nơi, không phải như một thứ bùa hên mà như một lời nhắc nhở rằng cái vật này đã phải đổi bằng giá nào và nó vẫn còn phải làm gì tiếp.

Harry thức dậy sớm thu xếp hành lý vào sáng hôm sau; Tàu tốc hành Hogwarts sẽ khởi hành sau đám tang một tiếng.

Đi xuống lầu nó thấy bầu không khí trong Đại sảnh đường thật uể oải.

Tất cả mọi người đều ămcj áo chùng sự lễ và không ai có vẻ đói bụng lắm.

Giáo sư Mcg đã để trống chiếc ghế như cái ngai ở giữa bàn ăn của giáo ban, Ghế của bác Hagrid cũng bỏ không – Harry nghĩ có lẽ bác ấy chưa thể đối mặt với bữa sáng; nhưng chỗ của Snape được ông Scrimgeour trám vô một cách không hề khác sáo.

Harry tránh đôi mắt vàng của ông ta khi chúng quét khắp Đại sảnh đường; Nó có cảm giác khó chịu là ông Scrimgeour đang tìm kiếm nó.

Trong số những người tháp tùng ông Scrimgeour, Harry nhận ra mái tóc đỏ và cặp kính gọng sừng của Percy Weasley.

Ron không tỏ dấu hiệu gì là đã nhận ra Percy, ngoại trừ việc nó xỉa mấy miếng cá trích khô bằng một vẻ độc ác hiếm có.

Bên bàn nhà Slytherin, Crabbe và Goyle đang rù rì với nhau.

Tuy chúng là những thằng to vật vã, nhưng trông chúng cô đơn đến thảm hại khi không có cái thân hình cao, tái nhợt của Malfoy ngồi kẹp giữa chúng, điều khiển chúng.

Mấy hôm rồi Harry không nghĩ đến Malfoy nhiều lắm.

Sự căm ghét của nó dồn tất cả vào Snape, nhưng nó chưa quên sự sợ hãi trong giọng nói của Malfoy ở trên đỉnh Tháp, cũng chưa quên việc hắn đã hơi hạ cây đũa phép của hắn xuống trước khi bọn Tử thần thực tử đến.

Harry không tin là Malfoy sẽ giết cụ Dumbledore.

Nó vẫn khinh miệt Malfoy vì sự mê muội Nghệ thuật hắc ám của thằng đó, nhưng bây giờ mọi thương hại nhỏ tí đó cũng đã hòa tan vào bể căm ghét của Harry.

Harry tự hỏi, Malfoy giờ đang ở đâu và Voldermort đe dọa giết hắn và ba mẹ hắn để bắt hắn làm những gì?

Ý nghĩ của Harry bị đứt đoạn bởi một cú thúc vô mạn sườn của Ginny.

Giáo sư Mcg vừa đứng lên và tiếng râm ran ảm đạm trong Đại sảnh đường chấm dứt ngay lập tức.

“Sắp đến giờ rồi,” bà nói.

“Làm ơn đi theo Chủ nhiệm các Nhà của các trò ra sân.

Nhà Gryffindor, theo tôi.”

Chúng đi thành hàng một từ sau dãy ghế băng trong im lặng.

Harry liếc nhìn giáo sư Slughorn đứng ở đầu Nhà Slytherin, mặc áo chùng dài lộng lẫy màu xanh ngọc thêu hoa văn bạc.

Nó chưa bao giờ thấy giáo sư Sprout, Chủ nhiệm nhà Hufflepuff, trông sạch sẽ như thế; không một vệt bẩn nào trên nón của bà và khi ra đến Tiền sảnh, chúng thấy bà Pince đứng bên cạnh thầy Filch, bà đeo mạng che mặt màu đen dày phủ xuống tới đầu gối, còn thầy Filch mặc com lê đen dài kiểu xưa và thắt cà vạt bốc ra mùi long não nồng nặc.

Khi bước ra ngoài trên những bậc thang đá trước cửa, Harry thấy đám học sinh đang tiến về phía hồ nước.

Hơi ấm mặt trời mơn man trên mặt nó khi bọn nó theo giáo sư Mcg trong im lặng bước tới nơi có hàng trăm chiếc ghế được xếp sẵn thành hàng.

Một lối đi ở ngay trung tâm những dãy ghế: có một chiếc bàn đá đặt ở phía trước, đối diện với toàn thể các hàng ghế.

Đó là một ngày đẹp trời nhất cảu mùa hè.

Đủ mọi hạng người kỳ lạ đã ngồi kín một nửa số ghế: lôi thôi và thanh lịch, già và trẻ.

Harry không nhận ra hầu hết đám người này, ngoại trừ một số người, trong đó có những thành viên của Hội Phượng Hoàng: Kingiáo sưley Shacklebolt, thầy Moody “Mắt điên”, cô Tonks (tóc cô đã trở lại màu hồng rực rỡ một cách thần kỳ), thầy Remus Lupin, (hình như cô đang nắm tay thầy), ông và bà Weasley, Bill được Fleur dìu và theo sau là Fred và George, hai anh chàng mặc áo khoác da rồng màu đen.

Lại có bà Maxime, một mình ngồi chaonsg ehét hai cái ghế rưỡi, Tom, chủ quán Cái vạc lủng, Arabella Figg, bà hàng xóm á phù thủy của Harry, tay chơi ghita nhiều tóc cảu ban nhạc phù thủy Quái Tỉ muội, Ernie Prang, tài xế Xe đò Hiệp sĩ, nà Malkin, chủ tiệm áo chùng ở Hẻm Xéo và một số người mà Harry chỉ biết mặt, như người đứng quầy của quán Đầu Heo và bà phù thủy đẩy xe bán đồ ăn trên tàu Tốc hành Hogwarts.

Những con ma của lâu đài cũng ở đó, hầu như vô hình dưới ánh nắng rực rỡ, chỉ có thể thấy được khi chúng di chuyển – thấp thoáng, không có thực giữa bầu trời chói sáng.

Harry, Ron, Hermione và Ginny lần lượt vô chỗ ngồi ở cuối một hàng ghế bên cạnh hồ nước.

Mọi người đang thì thầm với nhau; âm thanh nghe như tiếng gió nhẹ thổi qua bãi cỏ, những tiếng chim hót còn lớn hơn, át cả tiếng nói chuyện.

Đám đông vẫn tiếp tục nở phồng ra; và lòng thương cảm mãnh liệt dành cho cả hai đứa chợt trào lên trong lòng Harry, khi nó thấy Neville được Luna dìu vô một chiếc ghế.

Chỉ có hai đứa nó trong toàn ĐQD hưởng ứng lời hiệu triệu của Hermione vào cái đêm cụ Dumbledore chết và Harry biết tại sao: chúng là những đứa tiếc thương cụ Dumbledore nhất...

Chắc chắn chúng cũng là những đứa trước kia vẫn thường xuyên kiểm tra đồng xu của mình với hy vọng sẽ có một cuộc họp nữa...

Ông Cornelius Fudge bước ngang qua bọn chúng, tiến về những hàng ghế đầu, vẻ mặt ông ta thiệt đau khổ, xoay xoay chiếc nón quả dưa màu xanh lá cây như thường lệ; kế tiếp Harry nhận ra Rita Skeeter, (dòm thấy mặt là nó phẫn nộ), nắm chặt một cuốn sổ trong bàn tay sơn móng đỏ chót; và rồi, một cơn giận sôi máu hơn, mụ Dolores Umbridge, mang vẻ sầu não chẳng ai tin được trên bộ mặt giống con cóc, một chiếc nơ bằng nhung đen cài dựng đứng trên mái tóc quắn màu sắt.

Chợt trông thấy chàng nhân mã Firenze, đang đứng như một lính gác gần mép nước, mụ ta giật thót mình và hấp tấp ba chân bốn cẳng chạy tới một chỗ ngồi ở tít đằng xa.

Cuối cùng đến đội ngủ giáo viên của trường ngồi vào chỗ.

Harry nhìn thấy ông Scrimgeour trông oai nghiêm và đường bệ ở hàng ghế đầu với giáo sư Mcg.

Nó tự hỏi liệu ông Scrimgeour hay bất cứ ai trong những nhân vật quan trọng kia có thực sự đau đớn vì cụ Dumbledore chết hay không.

Nhưng rồi nó nghe thấy tiếng nhạc, huyền bí, giai điệu siêu phàm và nó quên mất mối các cảm cảu nó với Bộ Pháp thuật để nhìn quanh tìm xuất xứ của tiếng nhạc.

Nó không phải người duy nhất: nhiều cái đầu đang quay qua, tìm kiếm, hơi có chút cảnh giác.

“Dưới hồ kìa,” Ginny thì thầm vào tai Harry.

Và nó thấy họ trong làn nước trong veo màu xanh lá cây, lấp lãnh ánh nắng, ở bên dưới mặt nước có vài phân, nhắc nó nhớ một cách hãi hùng đến bọn m binh; một dàn hợp xướng ngư nhân đang hát bằng một thứ ngôn ngữ lạ mà nó không hiểu, nhưng gương mặt xanh tía của họ nhấp nhô, mái tóc màu tím phớt trôi lềnh bềnh khắp xung quanh họ.

Giai điệu tuy không phải là không hay nhưng kiến cho Harry dựng cả tóc gáy.

Rõ ràng là nó nói về sự mất mắt và nỗi tuyệt vọng.

Khi Harry nhìn xuống những gương mặt hoang dại của những ca sĩ âsy, nó có cảm giác ít nhất là họ cũng thương tiếc thực sự cho sự ra đi của cụ Dumbledore.

Rồi Ginny huých nó một lần nữa và nó ngó quanh.

Bác Hagrid đang bước chậm chạp trên lối đi giữa các hàng ghế.

Bác khóc lặng lẽ, gương mặt đầm đìa nước mắt và trong cánh tay bác, được bọc trong vải nhung đỏ tía điểm xuyết những ngôi sao vàng lấp lánh, là vật mà Harry biết là thi hài của cụ Dumbledore.

Một cơn buốt đau nhói tràn lên trong cổ họng Harry trước cảnh tượng ấy: trong cùng một lúc, tiếng nhạc lạ lùng và việc biết rằng thi hài của cụ Dumbledore đang tiến đến rất gần dường như lấy sạch đi tất cả hơi ấm ban ngày.

Ron trông trắng bệch và ngây dại đi.

Nước mắt Ginny và Hermione tuôn như mưa xuống vạt áo hai đứa.

Chúng không thấy được rõ điều gì đang diễn ra ở phía trước.

Bác Hagrid hình như vừa mới kính cẩn đặt thi hài lên chiếc bàn.

Giờ bác quay trở lại lối đi, vừa đi vừa hỉ mũi to như tiếng kèn trum-pet, kéo theo những cái nhìn công phẫn của một số người, mà theo như Harry thấy, có cả mụ Dolores Umbridge...

Nhưng Harry biết rằng cụ Dumbledore chắc chắn không lấy đó làm điều.

Nó cố làm một cử chỉ thân thiện với bác Hagrid khi bác đi qua, nhưng mắt bác xưng to tới mức việc bác còn thấy được đường đi quả là một điều kỳ diệu.

Harry liếc lại hàng ghế sau, chỗ mà bác Hagrid đang bước tới và nhận ra cái gì đang dẫn đường cho bác, bởi vì ở đó, chỉnh tề trong quần dài và áo khoác, mỗi thứ to cỡ một chiếc lều bạt nhỏ, là Grawp khổng lồ, cái đầu bự xấu xí, trông như tảng đá của nó cúi xuống, ngoan ngoãn, khá giống người.

Bác Hagrid ngồi xuống kế bên người em cùng mẹ khác cha và Grawp vỗ mạnh lên đầu bác, khiến cho những chân ghế bác đang ngồi oằn võng xuống đất.

Harry có một tích tắc tuyệt vời chỉ muốn phá ra cười.

Nhưng chợt tiếng hát chấm dứt và nó lại quay mặt lên phía trước.

Một người đàn ông nhỏ con tóc cộtt hành chùm mặc áo chùng đen đứng dậy va bước tới trước thi hài cụ Dumbledore.

Harry không nghe được ông ta nói gì.

Những lời lạ kỳ trôi ngược ra sau họ, lững lờ bên trên hàng trăm cái đầu.

“Sự cao thượng của tâm linh”...

“sự cống hiến trí tuệ”...

“sự vĩ đại của trái tim”... chẳng mang ý nghĩa gì nhiều.

Chúng chỉ là phần nhỏ về cụ Dumbledore so với những gì Harry biết về cụ.

Harry đột nhiên nhớ lại những gì về cụ Dumbledore trong một vài lời: “Óc bã đậu,” “Đầu voi đuôi chuột”, “Phục phịch cá voi”, “Trò hề”... và một lần nữa, nó phải cố kìm để không toét ra cười...

Nó bị sao thế này?

Có tiếng lõm bõm nhẹ ở phía bên trái và nó thấy những ngư nhân cũng đã nổi hẳn lên mặt nước để lắng nghe.

Nó nhớ cách đây hai năm, cụ Dumbledore ngồi bên mép nước, rất gần với chỗ Harry đang ngồi bây giờ và nói chuyện bằng ngôn ngữ Mer với Nữ tù trưởng ngư nhân.

Harry tự hỏi không biết cụ Dumbledore đã học tiếng Mer của ngư nhân ở đâu.

Có quá nhiều thứ nó chưa bao giờ hỏi cụ, nhiều thứ đáng lẽ ra nó nên nói...

Và rồi, không hề cảnh báo trước, cái sự thật khủng khiếp ấy quét ào khắp Harry, trọn vẹn hơn và không thể chối cãi hơn bao giờ hết.

Cụ Dumbledore chết, chết rồi...

Nó bóp chiếc hộp nhỏ trong tay cahựt đến nỗi cái hộp làm tay nó đau, nhưng nó không thể ngăn được dòng nước mắt nóng hổi tuôn trào khỏi mắt: nó nhìn khỏi Ginny và những người khác và ngó cahừm chằm qua hồ nước, về phía khu Rừng cấm, trong khi người đàn ông nhỏ mặc áo chùng đen nói ê a...

Có cái gì đang chuyển động giữa những hàng cây.

Bầy nhân mã đến để tỏ lòng kính tọng.

Họ không di chuyển ra trảng trống mà Harry thấy họ đứng bất động, ẩn hiện trong bóng râm, cung tên đeo bên hông, đứng nhìn những pháp sư, phù thủy.

Và Harry nhớ lại chuyến đi đầu tiên kinh hoàng vào Rừng cấm của nó, lần đầu tiên nó chạm trán với thứ mà sau đó là Voldermort và nó đã đương đầu với ahứn như thế nào, và nó với cụ Dumbledore đã thảo luận ra sao về trận đấu chỉ để chuốc lấy thất bại sau đó không lâu.

Quan trong là, cụ Dumbledore đã nói, phải chiến đấu, chiến đấu nữa và chiến đấu hoài, vì chỉ có như thế mới đẩy lùi được cái ác, dẫu không bao giờ tiêu diệt sạch được...

Và Harry thấy rất rõ, như nó ngồi dưới mặt trời chói chang đây, những người thương yêu nó đã đứng trước mặt nó từng người một như thế nào; mẹ nó, cha nó, cha đỡ đầu của nó và cuối cùng là cụ Dumbledore, tất cả đều cương quyết bảo vệ nó; nhưng bây giưof điều đó đã chấm dứt.

Nó không thể để bất cứ ai kahcs nữa đứng giữa nó và Voldermort; nó phải từ bỏ vĩnh viễn cái ảo tưởng mà lẽ ra nó đã phải từ bỏ khi mới lên một: rằng sự che chở của vòng tay của cha mẹ có nghĩa là không gì có thể làm tổn thương được nó.

Không có chuyện bừng tỉnh khỏi ác mộng nữa, không có lời thì thầm vỗ về trong đêm rằng nó thật sự an toàn, rằng tất cả chỉ là do nó tưởng tượng; người cuối cùng và vĩ đại nhất trong những người bảo vệ nó đã chết và nó cô đơn hơn cả nỗi cô đơn trước kia nó từng chịu.

Người đàn ông nhỏ thó mặc áo chùng đen cuối cùng đã ngừng nói và trở về chỗ ngồi của ông ta.

Harry chờ ai đó nữa đứng lên; nó chờ bài diễn văn, chắc chắn là từ ông Bộ trưởng, nhưng không một ai di chuyển.

Thế rồi có vài người khcó nức lên.

Những ngọn lửa rực sáng, màu trắng bùng lên xung quanh thi hài của cụ Dumbledore cùng chiếc bàn đá: lửa phực lên càng lúc càng cao hơn, che khuất thi hài.

Khói trắng bay xoáy cuộn lên không và tạo nên những hình thù kỳ lạ: Harry nghĩ, trong một thoáng tim ngừng đập, là nó thấy một con phượng hoàng vui sướng bay lên bầu trời xanh trong, nhưng giây sau ngọn lửa đã biến mất.

Ở nơi lửa cháy là một ngôi mộ trắng bằng đá hoa cương, ôm trọn thi hài của cụ Dumbledore và chiếc bàn mà trên đó cụ nằm.

Thêm nhiều tiếng hốt hoảng rú lên khi một trận mưa cung tên bay vút trên không trung, nhưng chúng đáp xuống cách xa đám đông.

Harry nghĩ, đó là nghi thức bày tỏ lòng tôn kính của bầy nhân mã; nó thấy họ quay đuôi và biến mất vô những hàng cây mát rượi.

Đồng thời, những ngư nhân từ từ chìm trở xuống làn nước xanh lá cây và biến mất khỏi tầm nhìn.

Harry nhìn Ginny, Ron và Hermione: mặt Ron nhăn nhúm lại như thể ánh nắng mặt trời đang làm lóa mắt nó.

Mặt Hermione nhòa nước mắt, nhưng Ginny không còn khóc nữa.

Cô bé nhìn xoáy vào tia nhìn của Harry bằng ánh mắt dữ dội và gay gắt hệt như nó thấy khi cô bé ôm nó sau khi đoạt Cúp Quidditch vắng mặt nó và nó biết rằng khoảnh khắc đó chúng đã hiểu nhau hoàn toàn và rằng giờ đây nếu nó có nói với cô bé nó sắp làm gì thì cô bé sẽ không nói “Cẩn thận”, hoặc “Đừng làm vậy” nữa, mà sẽ chấp nhận quyết định của nó, bởi vì cô bé hẳn sẽ không thất vọng bất cứ điều gì nơi nó.

Và vì vậy nó chuẩn bị tinh thần để nói điều mà nó biết nó phải nói kể từ khi cụ Dumbledore mất.

“Ginny, nghe này...” nó nói rất khẽ, khi tiếng nói chuyện vo vo lớn dần lên quanh chúng và mọi người bắt đầu đứng dậy.

“Anh không thể gắn bó với em đwocj nữa.

Tụi mình phải thôi gặp nhau.

Tụi mình không thể ở bên nhau được nữa.”

Cô bé nói, với nụ cười méo xệch thật lạ lùng, “Là vì cái lý do cao quý ngu ngốc đó phải không?”

“Giống như... như sống một cuộc đời của ai khác, mấy tuần rồi ở cạnh em,” Harry nói.

“Nhưng anh không thể... tụi mình không thể... bây giờ anh có việc phải làm một mình.”

Cô bé không khóc, chỉ nhìn nó.

“Voldermort thường sử dụng những người mà kẻ thù của hắn gắn bó.

Hắn đã từng một lần dùng em làm con mồi và đó chỉ vì em là em gái của thằng bạn thân nhất cảu anh.

Hãy nghĩ coi em sẽ gặp nguy hiểm như thế nào nếu tụi mình tiếp tục thế này.

Hắn sẽ biết, hắn sẽ tìm ra.

Hắn sẽ cố và sẽ tiếp cận anh thông qua em.”

“Nếu em không sợ thì sao?”

Ginny nói gay gắt.

“Anh sợ,” Harry nói.

“Em nghĩ anh sẽ cảm thấy như thế nào nếu đây là đám tang của em... và là do lỗi của anh...”

Cô bé cất mắt khỏi nó, nhìn xa xăm ra hồ nước.

“Em thực lòng không bao giờ hết hy vọng vào anh,” cô bé nói.

“Thật đấy.

Em luôn hy vọng...

Hồi đó chị Hermione bảo em cứ vui vẻ lên, có thể cặp bồ với vài người khác, thoải mái một chút khi ở quanh anh, bởi vì em vẫn thường không nói chuyện được nếu có mặt anh ở trong phòng, anh nhớ không?

Và chị ấy nghĩ có lẽ anh sẽ để ý em nếu em... một chút là chính mình.”

“Hermione!

Thông minh thật,” Harry nói, cố mỉm cười.

“Anh chỉ ước gì anh đã ngỏ lời với em sớm hơn.

Lẽ ra tụi mình đã có nhiều thời gian hơn... nhiều tháng... nhiều ănm...

Có lẽ...”

“Nhưng anh luôn quá bận rộn với việc đi cứu thế giới phù thủy,” Ginny nói, hơi phì cười.

“Ồ... em không nói là em ngạc nhiên.

Em biết điều này cuối cùng cũng sẽ xảy ra.

Em biết anh sẽ không hạnh phúc trừ phi anh được săn đuổi Voldermort.

Có lẽ chính vì thế àm em rất thích anh.”

Harry không thể chịu nổi khi nghe những lời này, nó cũng nghĩ giải pháp của nó sẽ không thực hiện đwocj nếu cứ ngồi lại bên cạnh cô bé.

Nó thấy Ron giờ đang ôm Hermione và vuốt vuốt tóc cô nàng trong khi cô nàng khóc nức nở trên vai, nước mắt ứa ra chót mũi dài của Ron.

Với một cử chỉ đau khổ, Harry đứng lên, quay lưng khỏi Ginny và ngôi mộ của cụ Dumbledore, cất bước dạo quanh hồ.

Đi thế này cảm thấy còn dễ chịu đựng hơn là ngồi im: cũng như bắt đầu càng sớm càng tốt lần theo dấu vết của những cái Trường sinh linh giá và giết Voldermort sẽ cảm thấy khá hơn là cứ chờ làm điều đó...

“Harry!”

Nó quay lại.

Ông Rufus Scrimgeour đang quầy quả đi cà nhắc quanh hồ về phía nó, tựa người vô cây ba-toong.

“Tôi vẫn hy vọng nói vài lời... cậu không phiền nếu tôi đi dạo chung với câu một chút chứ?”

“Không,” Harry hờ hững nói và lại dợm bước tiếp.

“Harry, đây là một bi kịch khủng khiếp,” ông Scrimgeour nói lặng lẽ, “Tôi không thể nói với cậu tôi đã chết điếng như thế nào khi hay tin.

Cụ Dumbledore là một pháp sư vô cùng vĩ đại.

Chúng tôi có những bất đồng cảu chúng tôi, như cậu biết đây, những không ai biết rõ hơn tôi...”

“Ông muốn gì ạ?”

Harry hỏi thờ ơ.

Ông Scrimgeour có vẻ cáu, nhưng, y như trước đây, thay vì biểu lộ ra, ông vội vã biến thành một vẻ thấu hiểu u sầu.

“Cậu, dĩ nhiên, là suy sụp,” ông ta nói.

“Tôi biết cậu rất gần gũi với cụ Dumbledore.

Tôi nghĩ có lẽ cậu là học trò được yêu thương nhất của cụ từ trước tới giờ.

Giao ước giữa hai thầy trò...”

“Ông muốn gì?”

Harry lặp lại, dừng chân.

Ông Scrimgeour cũng dừng bước, tì người vô cây gậy và nhìn Harry trừng trừng, vẻ mặt ông ta giờ nhăn lại.

“Có tin đồn là cậu đi cùng với cụ khi cụ rời trường vào cái đêm cụ chết.”

“Tin đồn của ai?”

Harry hỏi.

“Ai đó đã tung bùa Bất động cào một tên Tử thần thực tử trên đỉnh Tháp Thiên văn sau khi cụ Dumbledore chết.

Ở trên đó còn có hai cán chổi.

Bộ Pháp thuật có thể lắp ráp các sự việc lại với nhau, Harry à.”

“Nghe thiệt đáng mừng,” Harry nói.

“Hừm, tôi đi đâu với thầy Dumbledore và chúng tôi đã làm gì là việc của tôi.

Thầy không muốn người ta biết.”

“Lòng trung thành như vậy thiệt đáng khâm phục, dĩ nhiên,” ông Scrimgeour nói, ông ta xem ra đang khó nhọc kiềm nén cơn giận dữ của mình, “nhưng cụ Dumbledore chết rồi, Harry.

Cụ ấy đi rồi.”

“Thầy sẽ chỉ đi khỏi trường khi không còn ai ở đây trung thành với thầy,” Harry nói, mỉm cười bất chấp.

“Cậu bé yêu quý... thậm chí cả cụ Dumbledore cũng không thể quay trở lại từ...”

“Tôi không nói là thầy có thể quay lại.

Có lẽ ông không hiểu.

Nhưng tôi không có gì để nói với ông cả.”

Ông Scrimgeour, lưỡng lự, bằng giọng nói rõ ràng là làm ra vẻ nhẹ nhàng, ông nói, “Bộ Pháp thuật có thể cung cấp cho cậu mọi biện pháp bảo vệ, cậu biết đấy, Harry.

Tôi sẽ rất vui mừng phái hai Thần sáng của tôi phục vụ cậu...”

Harry bật cười lớn.

“Voldermort muốn tự tay giết tôi và những Thần sáng sẽ không ngăn được hắn đâu.

Rất cảm ơn về lời đề nghị của ông, nhưng không, tôi không nhận.”

“Thế còn,” ông Scrimgeour nói, giọng của ông ta giờ lạnh lùng, “lời đề nghị của tôi đưa ra cho cậu vào Giáng sinh...”

“Lời đề nghị nào?

À... lời đề nghị tôi nói với thế giới rằng các ông đang làm việc thật tuyệt vời để đổi lại...”

“...sự cổ vũ tinh thần cho mọi người!”

Ông Scrimgeour gằn giọng.

Harry chăm chú nhìn ông ta một lúc.

“Các ông đã thả Stan Shunpike chưa?”

Ông Scrimgeour bỗng đỏ mặt tía tai làm gợi nhớ rõ ràng đến dượng Vernon.

“Tôi thấy cậu đúng là...”

“Người của cụ Dumbledore từ đầu tới cuối,” Harry nói.

“Đúng vậy.”

Ông Scrimgeour trố mắt nhìn Harry thêm một chút nữa, sau đó quay mặt và khập khiễng bước đi không nói thêm lời nào.

Harry có thể thấy Percy và những người còn lại trong phái đoàn Bộ Pháp thuật đang chờ ông ta, sợ sstj liếc nhìn bác Hagrid và Grawp đang sụt sùi – hai anh em vẫn còn ngồi trên ghế của họ.

Ron và Hermione đang vội vã đi về phía Harry, vượt qua ông Scrimgeour từ hướng ngược lại; Harry quay lưng và bước đi chậm rãi, chờ cho bọn bạn đuổi kịp, cuối cùng chúng đuổi kịp nó ở dưới bóng cây dẻ gai mà chúng vẫn hay ngồi trong những thời gian hạnh phúc hơn lúc này.

“Ông Scrimgeour muốn gì vậy?”

Hermione thì thào.

“Cũng điều ông ta muốn hồi Giáng sinh,” Harry nhún vai.

“Muốn mình tiết lộ vài thông tin thầm kín về cụ Dumbledore và là cậu bé đưa thư mới của Bộ Pháp thuật.”

Ron hình như đang tự đấu tranh một hồi, đoạn nó nói to với Hermione, “Coi này, để mình quay lại và tống cho Percy một cái!”

“Đừng,” cô bé vừa nói kiên quyết vừa chộp lấy cánh tay Ron.

“Vậy sẽ làm mình dễ chịu hơn!”

Harry bật cười.

Ngay cả Hermione cũng hơi nhoẻn miệng, mặc dù nụ cười của cô bé tắt ngay khi ngước nhìn lên tòa lâu đài.

“Mình không thể chịu được ý nghĩ là tụi mình có lẽ sẽ không bao giờ trở lại nơi này,” Hermione nói nhỏ.

“Làm sao mà trường Hogwarts có thể đóng cửa được?”

“Có lẽ không đóng cửa đâu,” Ron nói.

“Ở đây tụi mình không gặp nguy hiểm hơn ở nhà chút nào, phải không?

Bây giờ khắp nơi đều như nhau.

Thậm chí mình dám quả quyết là trường Hogwarts an toàn hơn, có thêm nhiều pháp sư hơn ở bên trong để bảo vệ trường.

Bồ nghĩ sao hả, Harry?”

“Mình sẽ không trở lại ngay cả khi nó có mở cửa lại,” Harry nói.

Ron nhìn nó trân trân, nhưng Hermione buồn rầu nói, “Mình biết bồ sẽ nói như thế.

Nhưng bồ sẽ làm gì?”

“Mình sẽ trở lại nhà Dursley một lần nữa, bởi vì cụ Dumbledore muốn mình làm vậy,” Harry nói.

“Những chỉ ghé qua một chút thôi và sau đó mình sẽ ra đi mãi mãi.”

“Nhưng bồ sẽ đi đâu nếu bồ không trở lại trường?”

“Mình nghĩ mình sẽ trở lại làng Thung lũng Godric,” Harry mấp máy môi.

Nó nảy ra ý đó trong đầu kể từ cái đêm xảy ra cái chết của cụ Dumbledore.

“Với mình, bắt đầu là từ đó, tất cả mọi chuyện.

Mình chỉ cảm thấy mình cần tới đó.

Và mình có thể thăm mộ của ba mẹ mình, mình muốn thế.”

“Và rồi sau đó thì sao?”

Ron nói.

“Sau đó mình phải đi tìm những Trường sinh linh giá còn lại, đúng không ?”

Harry nói, mắt nó dán vô ngôi mộ trắng của cụ Dumbledore, in bóng xuống mặt nước ở phía bên kia hồ.

“Đó là điều thầy Dumbledore muốn mình làm, chính vì thế mà thầy kể cho mình nghe tất cả về chúng.

Nếu thầy Dumbledore đúng... và mình chắc chắn là thầy đúng... vẫn còn bốn cái nữa ở đâu đó.

Mình cần phải tìm thấy chsung và tiêu hủy chúng và sau đó mình sẽ đuổi theo mảnh hồn thứ bảy của Voldermort, mảnh hồn vẫn còn trong cơ thể hắn và mình sẽ là người giết hắn.

Và nếu mình gặp Severus Snape trên đường,” nó thêm, “càng tốt cho mình thì càng tệ cho hắn.”

Cả bọn im lặng thiệt lâu.

Đám đông giờ đã giải tán gần hết, mấy người còn tụt lại chừa cho thân hình vĩ đại của Grawp một khoảng rộng rãi để ôm lấy bác Hagrid, tiếng khóc đau khổ của bác giờ vang vọng qua hồ nước.

“Tụi mình sẽ có mặt ở đó,” Ron nói.

“Cái gì?”

“Tại nhà dì dượng cảu bồ,” Ron nói.

“Và sau đó tụi mình sẽ đi với bồ, đến bất cứ nơi nào bồ đến.”

“Không...”

Harry nói ngay; nó không tin tưởng vào điều này, nó giải thích cho bọn bạn hiểu rằng nó sẽ thực hiện cuộc hành trình nguy hiểm nất này một mình.

“Trước kia bồ có lần nói với tụi mình,” Hermione nói lặng lẽ, “là một khi đã muốn thì vẫn có đủ thời gian để quay lại.

Tụi mình vẫn còn thời gian mà, đúng không?”

“Tụi mình sẽ đi với bồ dù có bất cứ chuyện gì,” Ron nói.

“Nhưng, bồ tèo à, bồ sẽ phải ghé thăm nhà ba má mình trước khi tụi mình đi bất cứ đâu, kể cả thung lũng Godric.”

“Chi vậy?”

“Đám cưới anh Bill với chị Fleur, nhớ không?”

Harry nhìn Ron, sửng sốt; tuy rằng tuyệt diệu nhưng dường như không thể tin nổi là giờ này mà còn tồn tại đwocj ý tưởng về một việc bình thường như đám cưới.

“Ờ, tụi mình không nên bỏ lỡ,” cuối cùng nó nói.

Bàn tay nó tự động nắm chặt quanh cái Trường sinh linh giá giả, nhưng bất chấp mọi thứ, bất chấp con đường đen tối và quanh co nó đã thấy trải dài phía trước, bất chấp cuộc chạm trán cuối cùng với Voldermort mà nó biết là sẽ phải tới cho dù chỉ trong một tháng nữa, một năm nữa, hay mười năm nữa, nó vẫn cảm thấy trái tim nó nhẹ bẫng đi với ý nghĩ rằng vẫn còn một ngày huy hoàng yên bình cuối cùng để mà thưởng thức cùng Ron và Hermione.

_Hết quyển 6_
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 1: Chúa tể hắc ám đang lên


Chúa tể hắc ám đang lên

Hai người đàn ông hiện ra từ cõi không, cách nhau vài thước, trên một con đường nhỏ hẹp dưới ánh trăng.

Cả hai cùng đứng im phắc trong một giây, đũa phép người này chĩa vào ngực người kia; nhưng khi nhận ra nhau họ thu đũa cất vào áo choàng, bắt đầu đi về cùng một hướng.

“Tin tức sao?”

Người cao hơn trong hai người hỏi.

“Tuyệt,” Severus Snape trả lời.

Con đường nằm giữa một bụi dâu gai còi cọc mọc hoang bên trái và một hàng giậu cao được cắt tỉa chu đáo ở bên phải.

Vạt áo choàng dài của hai người đàn ông bay lất phất quanh cổ chân khi họ bước đi.

“Tưởng đâu tôi trễ rồi chứ,” Yaxley nói, bộ mặt thô đần của hắn lúc ẩn lúc hiện khi những cành cây cao bên trên che khuất ánh trăng.

“Hơi rắc rối hơn dự kiến.

Nhưng tôi hy vọng ngài sẽ hài lòng.

Anh coi bộ chắc mẻm tin tức anh thu được là xịn?”

Snape gật đầu, nhưng không nói gì thêm.

Họ quẹo phải, tiến vào một con đường rộng dành cho xe chạy dẫn ra khỏi con đường mòn.

Hàng giậu cao uốn cong theo họ, và kéo dài đến tận hai cánh cổng kiểu cọ bằng sắt đồ sộ chắn đường hai người đàn ông.

Không người nào dừng bước: cả hai im lặng giơ tay trái lên kiểu như chào và đi xuyên qua cổng, như thể mớ kim loại đen đó là khói.

Những hàng giậu thủy tùng hãm bớt tiếng bước chân của hai người đàn ông.

Đâu đó bên trái họ có tiếng xào xạc: Yaxley lại rút cây đũa phép ra chĩa lên phía trên đầu người đồng hành, nhưng âm thanh ấy hóa ra xuất phát từ một con công trắng tinh đang oai phong đường bệ bước đi trên hàng giậu.

“Lúc nào cũng bày đặt, cái lão Lucius ấy!

Lại còn công nữa...”

Yaxley nhét cây đũa phép vào trong áo choàng kèm theo một cái khịt mũi.

Một dinh thự sang trọng hiện ra trong bóng tối cuối con đường thẳng tắp dành cho xe chạy, ánh sáng lóe ra từ những ô vuông lấp lánh như kim cương của những khuôn cửa sổ tầng trệt.

Một cái hồ đang phun nước ở đâu đó trong khu vườn âm u phía bên kia hàng giậu.

Sỏi nghiến rào rạo dưới chân họ khi Snape và Yaxley bước về phía cửa chính, cửa mở ra khi họ đi tới gần, mặc dù không thấy ai mở cửa.

Hành lang rộng, được chiếu sáng mờ mờ, và được trang trí lộng lẫy, với một tấm thảm diễm lệ trải gần kín mặt sàn đá.

Những đôi mắt của đám chân dung mặt tai tái treo trên tường dõi theo Snape và Yaxley khi hai người đi ngang qua.

Hai người đàn ông dừng bước bên một cánh cửa bằng gỗ nặng ịch dẫn vào căn phòng kế tiếp, ngần ngừ trong tích tắc, rồi Snape vặn nắm đấm cửa.

Phòng khách đầy những người ngồi im bên một cái bàn dài chạm trổ kiểu cọ.

Những bàn ghế vốn thường bày biện trong phòng đã bị dồn bừa vào sát tường.

Ánh sáng tỏa ra từ ngọn lửa đang cháy phừng phừng trong một lò sưởi bằng cẩm thạch to đẹp đội một tấm gương viền vàng.

Snape và Yaxley chần chừ một chút ở ngưỡng cửa.

Khi mắt đã quen với bóng tối, họ đi về phía một hình ảnh kỳ quái nhất trong toàn cảnh: một nhân dạng rõ ràng là bất tỉnh đang chổng ngược lơ lửng bên trên cái bàn, chầm chậm xoay vòng như thể bị treo bằng một sợi dây thừng vô hình, và được phản chiếu trong tấm gương lẫn trên mặt bàn láng bóng bên dưới.

Không ai trong số người ngồi phía dưới cái cảnh quái đản ấy nhìn lên ngoại trừ một thanh niên trắng nhợt ngồi gần như ngay bên dưới hình nhân treo ngược.

Cậu ta dường như không thể cưỡng được cứ một hai phút lại liếc nhìn lên phía trên đầu mình.

“Yaxley.

Snape,” một giọng nói cao, rõ, phát ra từ đầu bàn.

“Chúng bây suýt trễ.”

Người vừa nói ngồi ngay phía trước lò sưởi, cho nên thoạt đầu những người mới đến khó mà nhìn thấy gì khác hơn bóng dáng kẻ đó.

Tuy nhiên, khi họ đến gần hơn thì gương mặt kẻ đó lộ rõ dần vẻ u ám, trọc lóc, như đầu rắn, với một cái khe tét ra làm lỗ mũi và hai con mắt đỏ chóe có đồng tử vạch thẳng đứng.

Kẻ đó xanh xao đến nỗi dường như phát ra một quầng sáng ngà ngà.

“Severus, lại đây,” Voldemort nói, chỉ vào một cái ghế ngay sát bên phải hắn “Yaxley... ngồi cạnh Dolohov.”

Hai người đàn ông ngồi vào chỗ được chỉ định.

Hầu như mọi con mắt quanh cái bàn đều hướng về Snape, và Voldemort nói với Snape trước nhất.

“Sao?”

“Thưa Chúa tể, Hội Phượng Hoàng có ý định chuyển Harry Potter từ chỗ đang ở đến một nơi an toàn vào thứ bảy tới, lúc trời tối.”

Sự hào hứng nổi lên thấy rõ quanh cái bàn: một số căng người lên cứng đơ, một số bồn chồn cựa quậy, tất cả đều chăm chú nhìn Snape và Voldemort.

“Thứ bảy... lúc trời tối,” Voldemort lặp lại.

Hai con mắt đỏ của hắn nhìn chằm chặp vào đôi mắt đen của Snape với sự chiếu tướng mà một vài kẻ quan sát bên ngoài phải ngoảnh đi, dường như sợ chính mình sẽ bị cháy lây bởi cái nhìn rực lửa dữ dội đó.

Tuy nhiên, Snape bình tĩnh nhìn thẳng vào mặt Voldemort; một lúc sau, cái miệng không môi của Voldemort cong lên từa tựa như một nụ cười.

“Tốt.

Tốt lắm.

Và thông tin này xuất phát...”

“... từ nguồn mà chúng ta đã bàn,” Snape nói.

“Thưa Chúa tể.”

Yaxley đã chồm tới trước để nhìn lên Voldemort và Snape ở đầu cái bàn dài.

Mọi gương mặt đều hướng về hắn.

“Thưa Chúa tể, tôi lại nghe khác.”

Yaxley chờ đợi, nhưng Voldemort không nói gì, nên hắn tiếp tục, “Thần Sáng Dawlish để lộ là Potter sẽ không được chuyển đi đâu cho tới ngày ba mươi mốt, vào cái đêm trước khi thằng đó đủ mười bảy tuổi.”

Snape mỉm cười.

“Nguồn của tôi cho tôi biết là có những kế hoạch nghi binh; đây ắt là thế rồi.

Chắc chắn là Dawlish đã bị ếm bùa Lú lẫn.

Đây không phải là lần đầu tiên; ai cũng biết hắn dễ mắc lừa.”

“Tôi cam đoan với ngài, thưa Chúa tể, Dawlish tỏ ra khá chắc chắn,” Yaxley nói.

“Nếu hắn bị ếm bùa Lú lẫn thì đương nhiên hắn phải chắc mẻm rồi.”

Snape nói.

“Tôi cam đoan với anh, Yaxley, Sở Thần Sáng sẽ không đóng vai trò gì nữa trong việc bảo vệ Harry Potter.

Hội Phượng Hoàng cho rằng chúng ta đã thâm nhập vào Bộ Pháp thuật rồi.”

“Vậy là Hội Phượng Hoàng cũng đúng được một cái, há?”

Một gã mập chè bè ngồi gần Yaxley nói; hắn phát ra tiếng cười khụt khịt được vài ba người ngồi dài theo cái bàn hưởng ứng.

Voldemort không cười.

Cái nhìn chằm chằm của hắn đảo lên hướng về cái thân xác đang xoay chầm chậm phía trên đầu mọi người, dường như hắn đang chìm đắm trong suy nghĩ.

“Thưa Chúa tể,” Yaxley tiếp tục, “Dawlish tin là toàn bộ lực lượng Thần Sáng sẽ được huy động để hộ tống thằng nhỏ...”

Voldemort giơ lên một bàn tay trắng nhợt to tướng, và Yaxley nín ngay tức thì, ấm ức nhìn Voldemort quay lại nói với Snape.

“Sau đó chúng sẽ giấu thằng đó ở đâu?”

“Ở nhà của một trong những Hội viên,” Snape nói.

“Theo nguồn tin, nơi đó được Hội Phượng Hoàng và Bộ Pháp thuật bố trí mọi sự bảo vệ mà họ có thể làm được.

Tôi nghĩ một khi nó đã ở đó rồi thì chúng ta rất ít có cơ hội tóm được nó, trừ khi, dĩ nhiên thôi, thưa Chúa tể, là Bộ Pháp thuật sập trước thứ bảy tới, điều đó giúp cho chúng ta cơ hội phát hiện và giải trừ một số bùa ểm đủ để phá hủy những bùa phép còn lại.”

“Sao, Yaxley?”

Voldemort hỏi vọng xuống cuối bàn, ánh lửa lóe lên một cách quái gở trong đôi mắt đỏ của hắn.

“Bộ Pháp thuật sẽ sập trước thứ bảy tới chứ?”

Một lần nữa, tất cả những cái đầu đều xoay.

Yaxley gồng vai.

“Thưa Chúa tể, về việc đó tôi có tin lành.

Tôi đã... vô cùng vất vả, và sau nỗ lực lớn lao...

đã thành công trong việc ếm lời nguyền Độc đoán lên Pius Thicknesse.”

Nhiều người ngồi quanh Yaxley có vẻ sửng sốt; người ngồi cạnh hắn, Dolohov, một gã có gương mặt dài ngoằng méo mó, vỗ tay lên lưng hắn.

“Đó là một khởi đầu,” Voldemort nói.

“Nhưng Thicknesse chỉ là một người.

Scrimgeour phải được người phe ta vây bọc trước khi ta hành động.

Một nỗ lực tấn công mạng sống Bộ trưởng mà thất bại sẽ đẩy ta lùi lại rất xa.”

“Vâng...

Thưa Chúa tể, đúng như vậy... nhưng ngài biết, với chức Giám đốc sở Thi hành Luật Pháp thuật, Thicknesse có tiếp xúc thường xuyên không chỉ với bản thân ông Bộ trưởng, mà còn với Giám đốc các Sở khác trong Bộ.

Tôi cho là, việc giờ đây chúng ta có trong tay một viên chức cao cấp như thế sẽ khiến cho chúng ta dễ dàng khuất phục những viên chức khác, và rồi tất cả bọn họ có thể cùng nhau hạ bệ Scrimgeour.”

“Với điều kiện ông bạn Thicknesse của chúng ta không bị vạch mặt trước khi hắn cải tạo đám còn lại” Voldemort nói.

“Dù sao thì vẫn không có vẻ gì là Bộ Pháp thuật sẽ về tay ta trước thứ bảy tới.

Nếu chúng ta không rớ được thằng bé ở nơi nó đến, thì ta ắt phải hành động khi nó đang di chuyển.”

“Thưa Chúa tể, ở điểm đó chúng ta có lợi thế,” Yaxley nói, hắn dường như quyết chí phải được chấp thuận phần nào.

“Chúng ta giờ đây đã cài đặt nhiều người trong Sở Giao thông Pháp thuật.

Nếu Potter độn thổ hay dùng Mạng Floo, chúng ta sẽ biết ngay tức thì.”

“Nó sẽ không sử dụng hai cách đó,” Snape nói.

“Hội đang loại ra bất cứ hình thức di chuyển nào do Bộ Pháp thuật kiểm soát hay điều hành, họ không tin mọi thứ có dính dáng tới Bộ.”

“Càng tốt,” Voldemort nói.

“Nó sẽ phải di chuyển nơi trống trải.

Càng dễ tóm hơn.”

Một lần nữa, Voldemort nhìn lên cái thân người treo đang xoay chầm chậm trong lúc nói tiếp, “Ta sẽ đích thân chăm sóc thằng nhỏ.

Đã có quá nhiều sai lầm mỗi khi có chuyện liên quan đến Harry Potter.

Một số do chính ta gây ra.

Thằng Potter đó sống là nhờ sai sót của ta nhiều hơn là nhờ chiến thắng của nó.”

Đám người ngồi quanh bàn lo lắng ngó Voldemort, mỗi người, qua vẻ mặt, lo sợ mình có thể bị trách mắng về việc Harry Potter vẫn tiếp tục sống.

Tuy nhiên, Voldemort có vẻ tự nói với chính hắn hơn là với bất cứ ai trong đám người có mặt, và hắn vẫn tiếp tục hướng về cái xác bất tỉnh phía trên mà nói tiếp.

“Ta đã bất cẩn, và vì vậy mà bị thời cơ với may rủi ngáng trở, chúng làm hỏng mọi thứ trừ những kế hoạch được lập hoàn hảo nhất.

Nhưng giờ đây ta đã biết khá hơn.

Ta đã hiểu những điều mà trước đây ta không hiểu.

Ta phải là kẻ giết Harry Potter, ta sẽ đích thân làm.”

Dường như để đáp lại những lời này, một tiếng khóc thét thình lình rống lên, một tiếng khóc sầu khổ và đau đớn khủng khiếp kéo dài.

Nhiều người trong đám ngồi quanh bàn ngó xuống sàn, kinh ngạc, bởi vì âm thanh đó dường như phát ra từ phía dưới chân họ.

“Đuôi Trùn,” Voldemort nói, không hề thay đổi giọng nói trầm tư lặng lẽ của hắn, và không hề rời ánh mắt khỏi cái thân người đang xoay phía trên, “ta chưa bảo cho mi biết cách khiến cho tên tù của chúng ta im lặng sao?”

“Dạ, thưa... thưa Chúa tể,” một người đàn ông nhỏ thó ngồi khoảng giữa bàn hổn hển nói.

Hắn ngồi lọt thỏm trong ghế, thấp đến nỗi thoáng nhìn qua cái ghế có vẻ như không có người ngồi.

Giờ đây hắn lập cập rời khỏi chỗ, lật đật chạy ra khỏi phòng, chẳng để lại gì phía sau ngoại trừ một vệt sáng bạc kỳ lạ.

“Như ta đã nói,” Voldemort tiếp tục, nhìn lại gương mặt căng thẳng của đám tay chân, “Giờ đây ta hiểu biết hơn.

Thí dụ, ta sẽ cần phải mượn cây đũa phép của một trong đám chúng bây trước khi đi giết Potter.”

Những gương mặt quanh hắn chỉ bộc lộ nỗi sững sờ; như thể hắn vừa tuyên bố hắn muốn mượn một cánh tay của họ.

“Không ai tình nguyện à?”

Voldemort nói.

“Để xem...

Lucius, ta thấy mi không còn lý do gì để giữ một cây đũa phép nữa.”

Lucius Malfoy ngước lên.

Trong ánh lửa, da hắn trông vàng ệch, bóng như sáp, và mắt hắn sâu hóm quầng thâm.

Khi hắn nói, giọng hắn khàn khàn.

“Thưa Chúa tể?”

“Cây đũa phép của mi, Lucius.

Ta cần cây đũa phép của mi.”

“Tôi...”

Malfoy liếc ngang sang vợ hắn.

Bà ta đang trợn mắt nhìn thẳng phía trước, mặt tái nhợt không khác ông chồng, mái tóc vàng óng của bà ta xõa dài xuống lưng, nhưng dưới gầm bàn, những ngón tay thon của bà nắm nhanh lấy cổ tay chồng.

Khi bà chạm vào chồng, Malfoy đút tay vào trong áo chùng, rút ra một cây đũa phép, và chuyền nó cho Voldemort, hắn bèn giơ nó lên trước hai con mắt đỏ ngầu, xem xét kỹ càng.

“Làm bằng gì?”

“Cây đu, thưa Chúa tể,” Malfoy thì thào.

“Và lõi?”

“Rồng... sợi tim rồng.”

“Tốt,” Voldemort nói.

Hắn rút cây đũa phép của hắn ra và so đo chiều dài.

Lucius Malfoy làm một cử chỉ vô ý; trong một thoáng không đầy giây, dường như lão trông chờ nhận được cây đũa phép của Voldemort để đổi lại cây đũa phép của lão.

Với đôi mắt gian ác mở to, Voldemort không để sót cử chỉ đó.

“Cho mi cây đũa phép của ta hả, Lucius?

Cây đũa phép của ta à?”

Vài kẻ trong đám ngồi quanh cười khẩy.

“Ta đã cho mi tự do, Lucius, chẳng lẽ chưa đủ cho mi sao?

Nhưng ta nhận thấy mi và gia đình mi có vẻ kém vui hơn sau...

Sự hiện diện của ta trong nhà mi có điều chi khiến mi không hài lòng hả, Lucius?”

“Không... không có gì cả, thưa Chúa tể!”

“Những lời dối trá như thế Lucius...”

Giọng nói nhẹ nhàng dường như rít lên ngay cả sau khi cái miệng đã thôi cử động.

Một hay hai kẻ trong đám phù thủy khó kìm được một cơn rùng mình khi tiếng rít trở nên to hơn; rồi tiếng một cái gì đó nặng nề đang trườn ngang qua sàn phòng bên dưới cái bàn.

Con rắn khổng lồ từ từ trườn lên ghế của Voldemort.

Nó ngóc lên, có vẻ như ngóc lên hoài, cho đến khi nó nằm vắt ngang qua vai Voldemort: cổ của nó bự bằng bắp vế của một người đàn ông; mắt của nó, với đồng tử là một vạch thẳng đứng, không hề chớp.

Voldemort lơ đãng vỗ về con vật đó bằng những ngón tay dài trong khi vẫn ngó Lucius Malfoy.

“Tại sao gia đình Malfoy trông không được vui với số phận của họ nhỉ?

Chẳng phải sự trở về của ta, sự hồi phục quyền lực của ta là chính cái điều họ đã tỏ ra khao khát trong bao nhiêu năm qua sao?”

“Dĩ nhiên chứ, thưa Chúa tể,” Lucius Malfoy nói.

Bàn tay lão run rẩy khi lau mồ hôi rịn ra trên mép.

“Chúng tôi hằng khao khát... chúng tôi vẫn khao khát.”

Ngồi bên trái Malfoy, vợ lão ngắc ngứ gật đầu sượng trân, đôi mắt của bà ta lảng tránh cả Voldemort lẫn con rắn.

Bên phải Malfoy là con trai lão, Draco, từ nãy giờ vẫn ngó chằm chằm cái thân xác ù lì lơ lửng trên đầu nó, bây giờ mới liếc qua Voldemort thật nhanh, và hãi hùng khi ánh mắt gặp nhau, nó bèn ngó ngay qua chỗ khác.

“Thưa Chúa tể,” một người đàn bà u ám ngồi khoảng giữa cái bàn với giọng nói dồn nén cảm xúc, “chúng em rất vinh dự được đón ngài tại đây, trong gia đình chúng em.

Không thể có niềm vui sướng nào lớn hơn được.”

Mụ ta ngồi bên cạnh chị mình, với mái tóc đen và đôi mắt tùm hụp, trông chẳng giống bà chị chút nào, kể cả dung nhan lẫn phong thái và cách cư xử; trong khi Narcissa ngồi thẳng và dửng dưng, thì Bellatrix chồm về phía Voldemort, vì chỉ lời nói thì không thể đủ diễn tả lòng khao khát được thân tình.

“Không có niềm vui sướng nào lớn hơn,” Voldemort lặp lại, đầu hơi ngoẹo sang bên một chút khi hắn chú ý nhìn Bellatrix.

“Điều này do mi thốt ra, Bellatrix à, có nhiều nghĩa đấy.”

Gương mặt Bellatrix tràn trề niềm hân hoan; mắt mụ sưng mọng lên vì những giọt lệ vui mừng.

“Chúa Tể của em biết là em chỉ nói sự thật thôi mà!”

“Không có niềm vui sướng nào lớn hơn... ngay cả khi so sánh với cái sự kiện hạnh phúc, ta nghe nói, vừa xảy ra trong gia đình mi tuần này sao?”

Bellatrix trố mắt nhìn Voldemort, môi mụ hé ra, rõ ràng là bối rối.

“Thưa Chúa tể, em không biết ngài muốn nói việc gì ạ?”

“Ta đang nói về cháu gái của mi, Bellatrix à.

Và của cả tụi mi nữa, Lucius và Narcissa.

Nó vừa cưới gã người sói Remus Lupin.

Bọn mi ắt tự hào lắm.”

Một trận cười giễu cợt bùng lên khắp chung quanh cái bàn.

Nhiều kẻ chồm tới trước để chườn ra bộ mặt hể hả; một số kẻ đánh trống lên mặt bàn bằng những nắm tay.

Con rắn khổng lồ, không ưa sự khuấy động, ngoác rộng miệng ra huýt lên giận dữ, nhưng bọn Tử Thần Thực Tử không nghe tiếng rắn huýt, vì chúng quá hí hửng trước sự ê càng bẽ mặt của Bellatrix và gia đình Malfoy.

Gương mặt Bellatrix mới đó còn ửng hồng vì niềm hạnh phúc, giờ đã chuyển màu đỏ bầm giập xấu xí.

“Thưa Chúa tể, nó không còn là cháu gái của chúng em nữa,” Bellatrix gào lên để dập tắt tiếng cười đùa.

“Chúng em – Narcissa và em – chưa bao giờ để mắt tới con chị từ khi con đó cưới chồng Máu bùn.

Còn con ranh kia, lẫn con quái vật nào đó nó cưới, chẳng dính dáng gì tới hai chị em chúng em cả.”

“Mi nói sao, Draco?”

Voldemort hỏi, và mặc dù giọng hắn nhỏ nhẹ, vẫn truyền rành rọt qua những tiếng cười cợt chê bai.

“Mi sẽ chăm chút mấy con sói con chứ?”

Trò vui nhộn càng được bơm lên cao; Draco Malfoy nhìn cha khiếp đảm, cha nó cúi gằm nhìn xuống đùi mình, rồi nó bắt được ánh mắt của má nó.

Bà ta lắc đầu, khẽ khàng đến mức gần như không nhận thấy được, rồi tiếp tục ngây nhìn bức tường đối diện.

“Đủ,” Voldemort nói, vỗ về con rắn quạu đeo.

“Đủ.”

Và tiếng cười nhạo tắt ngay tức thì.

“Nhiều gia tộc lâu đời nhất của chúng ta về sau trở nên suy đồi,” Voldemort nói trong khi Bellatrix chăm chú nhìn hắn, nín cả thở và đầy vẻ cầu xin.

“Bọn mi cần phải thanh lọc gia tộc của mình để giữ nó được lành mạnh, hay không cần hả?

Hãy cắt bỏ những phần đe dọa đến sự lành mạnh của phần gia tộc còn lại.”

“Vâng, thưa Chúa tể,” Bellatrix thì thào, và mắt mụ lại đẫm lệ tri ân.

“Ngay khi có cơ hội đầu tiên!”

“Mi sẽ có cơ hội đó,” Voldemort nói.

“Và trong gia đình mi, cũng như trên toàn thế giới... chúng ta sẽ cắt bỏ những ung nhọt làm nhiễm độc chúng ta cho đến khi chỉ còn lại những người mang huyết thống thuần túy mà thôi...”

Voldemort giơ cây đũa phép của Lucius Malfoy lên, chĩa thẳng vào cái hình nhân đang xoay lờ đờ lơ lửng bên trên cái bàn, khẽ nhấp một cái.

Hình nhân tỉnh lại thốt lên một tiếng rên và bắt đầu vùng vẫy cố thoát những dây trói vô hình.

“Mi có nhận ra khách mời của chúng ta không, Severus?”

Voldemort hỏi.

Snape nhướn mắt nhìn gương mặt bị quay ngược xuống.

Tất cả bọn Tử Thần Thực Tử lúc này đều đang nhìn kẻ bị trói ngược như thể chúng nhận được lệnh cho phép lộ ra sự tò mò.

Khi người đàn bà xoay mặt về phía ánh lửa, bà kêu lên bằng giọng ngắc ngứ kinh hoàng, “Severus!

Cứu tôi!”

“À, có,” Snape nói khi kẻ bị trói lại chầm chậm xoay đi.

“Và mi, Draco?”

Voldemort hỏi, vừa vuốt ve cái mõm rắn bằng bàn tay không cầm đũa phép.

Draco ngắc ngứ lắc đầu.

Giờ đây, khi người đàn bà đã tỉnh, Draco dường như không thể nào ngó bà ta nữa.

“Nhưng ắt là mi không theo học những lớp của mụ ta,” Voldemort nói.

“Ta nói cho những ai trong chúng bây chưa biết, chúng ta họp ở đây đêm nay vì Charity Burbage, kẻ mới đây còn dạy ở trường Đào tạo Phù thủy và Pháp sư Hogwarts.”

Có tiếng xì xào nhận ra lan trong đám người ngồi quanh bàn.

Một mụ ngang bè bè gù lưng răng nhọn hoắt cất tiếng nói như gà mái cục tác.

“Đúng...

Giáo sư Burbage đã dạy con em các pháp sư và phù thủy đủ thứ về bọn Muggle... rằng chúng nó chẳng khác chúng ta cho lắm...”

Một tên trong bọn Tử Thần Thực Tử đạp phành phạch lên sàn.

Charity Burbage lại xoay vòng đối diện với Snape.

“Severus... làm ơn... làm ơn...”

“Im,” Voldemort nói, hắn nhấp cây đũa phép của Malfoy một cái nữa, và Charity nín khe như bị bịt miệng.

“Chưa vừa ý với việc làm băng hoại và ô nhiễm đầu óc trẻ con phù thủy, giáo sư Burbage tuần rồi đã viết một bài rất xúc động bênh vực bọn Máu bùn trên tờ Nhật báo Tiên Tri.

Mụ nói, các phù thủy cần phải chấp nhận bọn ăn cắp tri thức và pháp thuật của họ.

Sự thoái hóa của phù thủy thuần chủng, theo lời giáo sư Burbage, là điều đáng mong nhất...

Hẳn mụ sẽ cho tất cả chúng ta lấy Muggle... hoặc, chắc ăn hơn, lấy người sói...”

Lần này không ai cười cả.

Chẳng thể lầm được cơn thịnh nộ và sự khinh miệt trong giọng nói của Voldemort.

Lần thứ ba, Charity Burbage lại xoay vòng đối mặt với Snape.

Nước mắt đang trào từ mắt xuống tóc bà.

Snape nhìn lại bà, hoàn toàn dửng dưng, trong khi bà lại chầm chậm xoay mặt đi.

“Avada Kedavra”

Ánh sáng xanh biếc lóe lên chiếu rọi khắp mọi góc phòng.

Bà Charity rớt xuống mặt bàn bên dưới, gây nên một tiếng va chạm vang rền, khiến cái bàn rung lên kêu ken két.

Nhiều Tử Thần Thực Tử nhảy bật ra khỏi ghế đang ngồi.

Draco té từ trên ghế xuống sàn.

“Ăn tối, Nagini,” Voldemort nói dịu dàng, và con rắn khổng lồ đu đưa rồi tuột từ vai hắn xuống mặt bàn gỗ bóng láng.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 2: Hồi niệm


Hồi niệm

Harry đang chảy máu.

Nắm chặt bàn tay phải trong bàn tay trái và lầm bầm rủa thầm, nó dùng vai đẩy cánh cửa phòng ngủ.

Có tiếng miểng sứ bể kêu rào rạo.

Nó đã giẫm lên một cái tách trà nguội đặt trên sàn ngay bên ngoài cửa phòng ngủ của nó.

“Cái đồ...?”

Nó nhìn quanh, đầu cầu thang căn nhà số bốn, đường Privet Drive, trống trải.

Có thể tách trà là sáng kiến của Dudley cho một cái bẫy ngố láu lỉnh.

Giữ bàn tay chảy máu giơ cao, Harry dùng tay kia gom những mảnh vụn của cái tách lại và quăng chúng vào một cái sọt rác đã đầy nhóc khuất sau cánh cửa phòng ngủ.

Rồi nó nặng nề bước qua buồng tắm, xả nước rửa ngón tay.

Thiệt là ngu ngốc, nhảm nhí, dễ khùng quá sức tưởng tượng khi mà chỉ còn bốn ngày nữa là nó có thể làm phép thuật... nhưng nó phải tự thừa nhận là vết cắt sâu nham nhở này không khéo sẽ đánh quỵ nó.

Nó chưa bao giờ học cách chữa những vết thương, và bây giờ nó phải nghĩ tới chuyện đó – đặc biệt cho những kế hoạch trước mắt – điều này dường như là một thiếu sót nghiêm trọng của nền giáo dục pháp thuật.

Ghi nhẩm trong đầu là sẽ hỏi Hermione cách làm, nó dùng một nùi bự giấy vệ sinh để chùi nước trà được bao nhiêu hay bấy nhiêu trước khi trở lại phòng ngủ và đóng sầm cánh cửa lại sau lưng.

Harry đã bỏ cả buổi sáng để lần đầu tiên soạn ra toàn bộ cái rương đi học của nó kể từ khi nó bắt đầu bỏ đồ đạc vô đó sáu năm về trước.

Cứ mỗi lần bắt đầu một niên học mới từ đó tới nay, nó chỉ soạn sơ sơ ba phần tư bên trên của những thứ trong rương để thay thế hoặc cập nhật chúng, chừa lại một lớp những đồ lụn vụn nói chung ở dưới đáy rương – nào là viết lông ngỗng cũ, mắt bọ khô, vớ lẻ nó không mang vừa chân nữa.

Mấy phút trước đó, Harry đã thọc tay vô mớ bùng nhùng này, lãnh một vết cắt đau điếng ở ngón thứ tư bàn tay phải, và khi rút tay ra thì thấy máu me tùm lum.

Bây giờ nó tiếp tục một cách cẩn thận hơn một tí.

Lại quỳ xuống bên cạnh cái rương, nó mò quanh đáy, và sau khi lôi ra được một phù hiệu cũ vẫn còn lập lòe yếu ớt giữa Ủng hộ CEDRIC DIGGORY với POTTER THÚI HOẮC, một Ống kính mách lẻo te tua rạn nứt, và một cái mặt dây chuyền vàng bên trong có giấu một mẩu thư ngắn ký tên là R.A.B., nó rốt cuộc khám phá ra cái cạnh bén ngót đã gây họa cho nó.

Nó nhận ra vật đó tức thì.

Đó là một mảnh vỡ dài cỡ ba phân của cái gương đã được ểm bùa mà Sirius, người cha đỡ đầu quá cố, đã cho nó.

Harry đặt mảnh gương vỡ qua một bên và cẩn thận dò khắp rương để kiếm phần còn lại, nhưng chẳng còn lại chút mảnh vụn nào của món quà cuối cùng của người cha đỡ đầu, ngoại trừ thủy tinh nát như bột bám dính vào lớp cuối cùng những đồ linh tinh lụn vụn tựa như kim tuyến lấp lánh.

Harry ngồi dậy và xem xét cái mảnh gương có cạnh bén ngót đã làm nó đứt tay.

Nó chẳng thấy gì khác ngoài con mắt xanh biếc sáng quắc của chính nó nhìn ngược lại nó.

Thế là nó đặt mảnh gương vỡ lên trên tờ Nhật báo Tiên Tri sáng hôm đó; tờ báo vẫn còn nằm trên giường, chưa được đọc, và bằng cách sục vào mớ rác còn lại trong rương, nó cố gắng dằn xuống cơn trào dâng đột ngột của những ký ức đắng cay, những vết chém của tiếc thương và mong mỏi mà việc tìm ra mảnh gương vỡ đã khơi gợi lên.

Mất thêm một giờ nữa nó mới hoàn toàn soạn ra được hết đồ đạc trong rương, quăng đi những đồ vô dụng, và sắp xếp những thứ được giữ lại thành những đống tùy theo những vật đó từ nay nó còn cần tới hay không cần tới nữa.

Đồng phục đi học và đồng phục thi đấu Quidditch, vạc, giấy da, viết lông ngỗng, và hầu hết sách giáo khoa được chất đống ở một góc để được bỏ lại.

Nó tự hỏi dì dượng nó sẽ làm gì với đống đó; có lẽ sẽ đem thiêu rụi giữa đêm khuya, như thể đó là tang chứng của một tội ác rùng rợn.

Quần áo Muggle của nó, tấm Áo khoác Tàng hình, bộ đồ chế tạo độc dược, một số sách, tập ảnh bác Hagrid đã có lần đưa cho nó, một xấp thư, và cây đũa phép được dời chỗ sang một cái ba lô cũ.

Trong túi trước là tấm Bản đồ Đạo tặc và cái mặt dây chuyền bên trong có bức thư ký tên R.A.B.

Cái mặt dây chuyền được dành cho vị trí vinh dự đó không phải vì giá trị của nó – nó hoàn toàn vô tích sự hiểu theo mọi nghĩa thông thường – mà vì cái giá đã phải trả để có được nó.

Việc dọn dẹp để lại một đống báo khá to ngồi ì trên bàn bên cạnh con cú Hedwig trắng như tuyết: mỗi tờ cho một ngày mà Harry đã trải qua ở Privet Drive trong mùa hè này.

Nó đứng lên, duỗi tay chân, và đi tới cái bàn viết.

Hedwig chẳng buồn nhúc nhích khi Harry bắt đầu giở đống báo ra, liệng từng tờ một vô đống rác.

Con cú vẫn ngủ hay giả bộ ngủ; nó giận Harry về việc giới hạn thời gian nó được phép ngao du ở ngoài lồng trong lúc này.

Khi giở gần tới đáy đống báo, Harry chậm tay lại, tìm một số đặc biệt mà nó biết là được gởi đến ngay sau khi nó trở về Privet Drive để nghỉ hè; nó nhớ là trên trang đầu số báo đó có một tin nhỏ về việc từ chức của bà Charity Burbage, giáo viên môn Muggle Học ở trường Hogwarts.

Cuối cùng nó tìm được tờ báo đó.

Lật ra trang mười, nó ngồi lún xuống cái ghế bên bàn viết và đọc lại bài báo mà nó tìm nãy giờ.

NHỚ MÃI ALBUS DUMBLEDORE

Elphias Doge

Tôi gặp Albus Dumbledore năm mười một tuổi, vào ngày đầu tiên của chúng tôi ở trường Hogwarts.

Chúng tôi thu hút lẫn nhau chắc chắn là vì cả hai cùng cảm thấy mình lạc lõng.

Tôi mới mắc bệnh mụn rồng ít lâu trước khi đến trường Hogwarts, và tuy bệnh không còn lây nữa, nhưng bộ mặt còn dấu thẹo các nốt đậu cùng sắc mặt xanh xao của tôi làm nhiều người ngại đến gần tôi.

Về phần Albus, anh đến trường Hogwarts dưới cái ách của tai tiếng ngoài ý muốn.

Mới một năm trước đó, cha anh, Percival, đã bị kết tội vì một cuộc tấn công dã man ba thanh niên Muggle, vụ này khá nổi tiếng.

Albus không bao giờ tìm cách chối bỏ việc cha mình (về sau chết trong nhà tù Azkaban) đã phạm tội ác này; ngược lại, khi tôi thu hết can đảm hỏi anh, anh khẳng định với tôi là anh biết cha mình có tội.

Trừ lần ấy ra, còn thì Dumbledore từ chối nói về chuyện buồn đó, mặc dù nhiều kẻ cố gắng kích cho anh nói.

Thực vậy, một số kẻ sẵn sàng ca ngợi hành động của cha anh và cho là Albus cũng là kẻ ghét-Muggle.

Những kẻ ấy quá sức sai lầm: vì bất cứ ai từng biết Albus sẽ chứng thực rằng anh không hề để lộ chút xíu khuynh hướng chống-Muggle nào.

Quả thực, sự cương quyết ủng hộ Muggle quyền của anh đã khiến cho anh có nhiều kẻ thù trong những năm sau đó.

Tuy nhiên, chỉ trong vòng vài tháng, tên tuổi của chính Albus đã bắt đầu che khuất tai tiếng của người cha.

Đến cuối năm thứ nhất thì không còn ai nhìn anh như là con trai của một kẻ ghét-Muggle nữa, mà chỉ coi anh gần như là học sinh xuất sắc nhất từ xưa tới nay của trường.

Những ai trong chúng tôi được vinh dự là bạn của anh đều thu được nhiều điều bổ ích từ tấm gương của anh, ấy là chưa kể còn được anh giúp đỡ và khuyến khích – những nghĩa cử đó anh luôn sẵn sàng làm.

Về sau này, anh thú nhận với tôi là ngay từ hồi còn đi học anh đã tìm thấy niềm khoái lạc lớn nhất của mình trong việc dạy dỗ.

Anh không chỉ đoạt được mọi giải thưởng đáng kể ở trường, mà chẳng mấy chốc anh đã có trao đổi thư từ thường xuyên với những tên tuổi nổi nhất trong giới pháp thuật đương thời, kể cả Nicolas Flamel, nhà giả kim lừng lẫy nhất; Bathilda Bagshot, sử gia lừng danh; và Adalbert Waffling, nhà lập thuyết pháp thuật.

Nhiều bài viết của anh đã tìm được cách xuất hiện trên những ấn phẩm uyên bác như Thuật Biến Hình Ngày Nay, Những Thách Thức trong Ếm Bùa và Độc Dược Gia Thực Hành.

Sự nghiệp tương lai của Dumbledore tỏ ra rất có triển vọng rực rỡ, và vấn đề duy nhất còn lại là khi nào anh sẽ trở thành Bộ trưởng Bộ Pháp thuật.

Mặc dù trong những năm về sau người ta thường dự đoán là anh sắp đảm nhiệm công việc đó, thế nhưng anh không hề nuôi tham vọng nắm quyền Bộ trưởng.

Ba năm sau khi chúng tôi nhập học ở Hogwarts, em trai của Albus là Aberforth cũng đến trường.

Họ không giống nhau cho lắm: Aberforth chẳng hề đam mê sách vở, và chẳng giống anh Albus, chú em khoái giải quyết những vụ cãi cọ bằng đấu tay đôi hơn là tranh luận cho ra lẽ.

Dù vậy, hoàn toàn sai lầm nếu (như một số người) cho rằng, hai anh em này không làm bạn với nhau được.

Hai người hòa thuận, cũng thoải mái như bất kỳ hai đứa con trai nào sống cùng nhau.

Để công bằng với Aberforth, phải thừa nhận rằng sống trong cái bóng của Albus thì nói chung không thể là một trải nghiệm dễ chịu cho lắm.

Làm bạn với anh mà cứ bị án bóng hoài đã là một hiểm họa thường trực, thì làm đứa em bị án bóng lại càng không sung sướng gì.

Khi Albus và tôi tốt nghiệp trường Hogwarts, chúng tôi có ý định cùng nhau làm một chuyến du hành thế giới có tính truyền thống vào thời đó, thăm thú và xem xét các phù thủy nước ngoài, trước khi theo đuổi sự nghiệp riêng của mỗi người.

Thế nhưng, bi kịch đã chen vào.

Đúng cái đêm trước ngày khởi hành chuyến viễn du của chúng tôi, bà Kendra mẹ của Albus qua đời, để lại cho Albus gánh nặng gia đình mà anh là trụ cột duy nhất.

Tôi hoãn ngày khởi hành một thời gian để đến bày tỏ lòng tôn kính phân ưu tại tang lễ bà Kendra, rồi ra đi thực hiện cuộc lữ hành giờ đây chỉ còn lại một mình.

Còn lại một người em trai và một người em gái để chăm sóc, trong khi gia sản chẳng còn sót lại mấy đồng vàng, vì vậy cũng chẳng còn chuyện Albus đi cùng tôi nữa.

Đó là giai đoạn trong đời mà chúng tôi ít liên lạc với nhau nhất.

Tôi viết thư cho Albus, miêu tả một cách vô ý tứ những điều kỳ thú của chuyến đi, từ chuyện chạy thoát trong gang tấc con sư-dương-xà ở Hy Lạp, cho đến những thí nghiệm của các nhà giả kim Ai Cập.

Thư của anh cho tôi biết rất ít về cuộc sống qua ngày của anh, cuộc sống mà tôi đoán là nhạt nhẽo đến phát cuồng đối với một phù thủy xuất sắc như anh.

Say sưa với những trải nghiệm của chính mình, tôi thật kinh hoàng khi nghe tin, vào cuối cuộc du hành gần cả năm của tôi, một bi kịch nữa lại giáng xuống gia đình Dumbledore: em gái của anh, Ariana, đã chết.

Mặc dù Ariana đã ốm yếu suốt một thời gian dài, tai họa này, xảy ra quá nhanh sau khi người mẹ vừa mới mất, đã ảnh hưởng sâu sắc đến cả hai người anh của cô.

Tất cả những ai thân cận nhất với Albus – và tôi tự cho mình là nằm trong số người may mắn đó – đều đồng ý rằng cái chết của Ariana và mặc cảm của Albus về trách nhiệm cá nhân trong cái chết đó (mặc dù, dĩ nhiên, anh vô tội), đã để lại vết chàm trong suốt cuộc đời còn lại của anh.

Tôi trở về quê nhà và nhận ra một chàng trai trẻ đã phải trải nỗi đau khổ của một người già dặn hơn rất nhiều.

Albus trở nên nghiêm nghị hơn xưa, và rất ít khi vui vẻ.

Bồi thêm vào nỗi tang thương của anh, cái chết của Ariana còn dẫn tới, không phải sự gần gũi được nối lại giữa Albus và Aberforth, mà là sự bất hòa. (Theo thời gian điều này cũng mất đi – những năm về sau, hai anh em đã thiết lập lại, nếu không phải là một quan hệ gần gũi, thì chắc chắn cũng là một tình thân ái.) Tuy nhiên, từ dạo ấy về sau, anh hiếm khi nào nói về cha mẹ mình hay về Ariana, và bạn bè anh cũng biết là không nên nói tới họ.

Những cây bút lông ngỗng khác sẽ miêu tả nhiều chiến thắng của những năm sau đó.

Những đóng góp không kể xiết của Dumbledore vào kho tàng kiến thức pháp thuật (trong đó có khám phá của anh về mười hai công dụng của máu rồng) đem lại lợi ích cho nhiều thế hệ sau này, cũng như sự khôn ngoan mà anh đã thể hiện trong nhiều phán quyết khi làm Tổng Tướng quân của Liên minh pháp thuật.

Dù vậy, người ta nói rằng chưa từng có trận đấu pháp thuật tay đôi nào so được với trận đấu giữa Dumbledore và Grindelwald năm 1945.

Những ai từng chứng kiến trận đó đã mô tả nỗi khủng khiếp và kinh hoàng mà họ cảm thấy khi xem hai pháp sư xuất chúng ấy lâm trận.

Chiến thắng của Dumbledore, và hệ quả của chiến thắng đó đối với thế giới pháp thuật, được coi là bước ngoặt trong lịch sử pháp thuật, quan trọng ngang với sự đề xuất Quy chế Quốc tế về Bí mật hay sự sụp đổ của Kẻ-chớ-gọi-tên-ra.

Albus Dumbledore không hề tự hào hay huênh hoang; anh có thể tìm ra điều gì đó đáng quý ở bất cứ ai, cho dù kẻ đó tầm thường hay tồi tệ thấy rõ, và tôi tin là những mất mát thời trẻ đã đem lại cho anh khả năng cảm thông cùng lòng nhân đạo lớn lao.

Tôi sẽ không thể tả hết nỗi nhớ tình bằng hữu với anh, nhưng mất mát của tôi chẳng đáng kể gì so với mất mát của thế giới pháp thuật.

Chắc chắn anh là hiệu trưởng được yêu kính nhất và là tấm gương sáng nhất trong tất cả hiệu trưởng xưa nay ở trường Hogwarts.

Anh đã chết như anh đã sống: luôn cống hiến cho cái thiện cao cả hơn, và cho đến tận giờ phút cuối cùng của mình, anh vẫn sẵn lòng đưa tay giúp một thằng bé con mắc bệnh mụn rồng như thuở tôi mới gặp anh.

Harry đã đọc xong nhưng vẫn tiếp tục nhìn đăm đăm bức ảnh đăng kèm theo bài cáo phó.

Cụ Dumbledore vẫn nở nụ cười ân cần quen thuộc, nhưng khi nhướn mắt qua gọng kiếng hình nửa mặt trăng, cụ vẫn khiến cho Harry có cảm giác, dù là trên tờ giấy báo, là cụ đang nhìn thấu suốt Harry, kẻ mang trong mình nỗi buồn trộn lẫn với cảm giác hổ thẹn.

Nó cứ tưởng nó biết cụ Dumbledore rõ lắm, nhưng từ lúc đọc xong bài cáo phó này, nó đã phải bất đắc dĩ nhìn nhận rằng nó hầu như chẳng biết gì về cụ cả.

Trước giờ Harry chưa từng tưởng tượng ra tuổi thơ hay tuổi trẻ của cụ Dumbledore; cứ như thể cụ vào đời đã là người như nó vẫn biết: già nua, tóc bạc, tôn nghiêm.

Cái ý nghĩ về một Dumbledore tuổi mới lớn sao thấy kỳ kỳ, giống như tưởng tượng một Hermione ngốc nghếch hay một Quái tôm Đuôi nổ dễ thương vậy.

Nó chưa bao giờ nghĩ tới việc hỏi cụ Dumbledore về quá khứ của cụ.

Chắc chắn hỏi như vậy thì kỳ và thậm chí vô lễ, nhưng nói cho cùng thì ai cũng biết cụ Dumbledore từng tham dự trận đấu tay đôi huyền thoại với Grindelwald, và Harry đã không nghĩ đến việc hỏi cụ Dumbledore trận đó như thế nào, cũng không hề hỏi về bất cứ thành tích nào trong những thành tích nổi tiếng khác của cụ.

Không, hai thầy trò lúc nào cũng chỉ trò chuyện về Harry, về quá khứ của Harry, tương lai của Harry, kế hoạch của Harry... và giờ đây, bất chấp cái thực tế là tương lai của nó quá hiểm nghèo và bất định, dường như nó đã bỏ lỡ mất rồi những cơ hội không bao giờ có được nữa để hỏi cụ Dumbledore nhiều hơn về chính cụ, mặc dù câu hỏi thân tình duy nhất nó từng hỏi thầy hiệu trưởng của mình lại chính là câu hỏi mà nó ngờ rằng cụ Dumbledore đã không thành thật trả lời.

“Thầy nhìn thấy cái gì khi nhìn vào tấm gương?”

“Thầy ư?

Thầy thấy chính mình đang cầm một đôi vớ len dày.”

Sau nhiều phút suy nghĩ, Harry xé bài cáo phó ra khỏi tờ báo Tiên Tri, gấp lại cẩn thận, và nhét vào bên trong quyển đầu tiên của bộ Pháp Thuật Phòng Thủ Thực Tiễn và Ứng Dụng Chống Lại Nghệ Thuật Hắc Ám.

Rồi nó quăng mớ báo còn lại lên đống rác và quay lại nhìn căn phòng.

Đã ngăn nắp sạch sẽ hơn nhiều.

Cái duy nhất còn ở trật chỗ là tờ Nhật báo Tiên Tri số ra hôm nay, vẫn còn nằm trên giường, và bên trên nó là mảnh gương vỡ.

Harry băng ngang căn phòng, đẩy mảnh gương vỡ ra khỏi tờ báo Tiên Tri số hôm nay, và mở tờ báo ra.

Hồi sáng sớm này khi nhận cuộn báo từ con cú phát báo, Harry chỉ liếc qua cái tít trang nhứt rồi liệng tờ báo qua một bên sau khi nhận thấy báo chẳng đá động gì đến Voldemort.

Harry tin chắc là Bộ Pháp thuật đang dựa vào tờ Tiên Tri để bưng bít tin tức về Voldemort.

Thành ra, chỉ bây giờ nó mới thấy cái mà nó đã bỏ sót.

Chạy ngang nửa dưới của trang nhứt là một cái tít nhỏ hơn đặt bên trên một bức ảnh của cụ Dumbledore đang sải bước, có vẻ bực bội.

DUMBLEDORE – RỐT CUỘC SỰ THẬT Ư?

Câu chuyện chấn động về một thiên tài hoàn hảo được nhiều người coi là pháp sư vĩ đại nhất thuộc thế hệ của ông sẽ phát hành vào tuần tới.

Bóc trần chân dung nổi tiếng của trí tuệ râu bạc thanh thoát, Rita Skeeter để lộ ra tuổi thơ xáo trộn, tuổi trẻ hoang đàn, những hận thù suốt kiếp, và những bí mật tội lỗi mà Dumbledore đã mang theo xuống mồ, TẠI SAO người được trao cho chức Bộ trưởng Bộ Pháp thuật lại bằng lòng giữ chức hiệu trưởng quèn?

CÁI GÌ mới là mục đích thực sự của tổ chức bí mật được gọi là Hội Phượng Hoàng?

Cuộc đời của Dumbledore đã kết thúc NHƯ THẾ NÀO?

Câu trả lời cho những câu hỏi này và nhiều câu hỏi khác nữa được nghiên cứu trong một quyển tiểu sử mới hứa hẹn xì-căn-đan, Chuyện Đời và Chuyện Xạo của Albus Dumbledore, tác giả Rita Skeeter, bài phỏng vấn dành riêng cho bổn báo của Berry Braithwaite, trang 13, bên trong.

Harry xé banh tờ báo và tìm thấy trang 13.

Đầu bài báo là bức ảnh của một gương mặt quen thuộc khác: một người đàn bà đeo kính làm điệu, mái tóc vàng uốn cong chải chuốt, răng nhe ra trong cái thứ rõ ràng được coi là nụ cười thắng cuộc, đang ngọ nguậy ngón tay chỉ vào nó.

Ráng hết sức lờ đi cái chân dung phát ói này, Harry đọc tiếp.

Về bản thân, Rita Skeeter nồng nàn và dịu dàng hơn nhiều những gì ta hình dung khi đọc những chân dung hung hăng nổi tiếng chị viết.

Đón tôi trong hành lang ngôi nhà ấm cúng của chị, Rita dẫn tôi đi thẳng vào nhà bếp để mời trà, bánh ngọt, và khỏi cần nói, một nồi sôi sùng sục chuyện đồn đại mới nhất.

“Ừ, đương nhiên, Dumbledore là giấc mơ của một tiểu sử gia,” Skeeter nói.

“Một cuộc đời dài trọn vẹn.

Tôi chắc chắn là cuốn sách của tôi sẽ là cuốn đầu tiên của rất, rất nhiều cuốn nữa.”

Skeeter hẳn nhiên đã vọt nhanh khỏi vạch xuất phát.

Quyển sách chín-trăm-trang được hoàn tất chỉ trong bốn tuần lễ sau cái chết bí ẩn của Dumbledore hồi tháng sáu.

Tôi hỏi chị xoay trở cách nào để lập được kỳ tích siêu nhanh này.

“À, khi nào bạn hành nghề báo chí lâu như tôi, thì viết cho kịp hạn chót nộp bài là bản năng thứ hai.

Tôi biết là thế giới pháp thuật đang kêu gào đòi hỏi một câu chuyện đầy đủ và tôi muốn là người đầu tiên đáp ứng nhu cầu này.”

Tôi nhắc đến những nhận xét được công bố rộng rãi gần đây của Elphias Doge, Cố vấn đặc biệt của Liên minh Pháp thuật và là người bạn lâu đời của Dumbledore, rằng “quyển sách của Skeeter chứa ít sự thật hơn cả một tấm thẻ nhái sô-cô-la.”

Skeeter ngửa đầu ra sau cười ha hả.

“Dodgy đáng yêu thật!

Tôi nhớ từng phỏng vấn ổng cách đây vài năm về ngư nhân quyền, trời đất ơi.

Hoàn toàn lẩm cẩm, hình như nghĩ chúng ta đang ngồi dưới đáy hồ Windermere hay sao ấy, cứ bảo tôi phải coi chừng lũ cá hồi.”

Thế nhưng lời cáo buộc của Elphias Doge về sự thiếu chính xác đã được nhiều nơi hưởng ứng.

Liệu Skeeter có thực sự cảm thấy bốn tuần lễ ngắn ngủi là đủ để có được một bức tranh toàn diện về cuộc đời dài và phi thường của Dumbledore không?

“Ôi, cưng ơi,” Skeeter cười toe, âu yếm cốc đầu tôi bằng mấy đốt ngón tay, “cưng cũng biết như tôi đấy, là có thể moi được bao nhiêu thông tin bằng một bao to sụ toàn đồng Galleon, bằng từ chối nhận tiếng ‘không’, và bằng một cây viết Trích-Dẫn-Nhanh!

Với lại người ta đang sắp hàng để buôn chuyện về Dumbledore kìa.

Cưng biết mà, đâu phải ai cũng nghĩ ổng tuyệt vời đâu – ổng đã làm mếch lòng khối người quan trọng đấy.

Nhưng lão già Doge láu cá có thể tụt khỏi con bằng mã cao vót của lão đi thôi, bởi vì tôi vừa tiếp cận được một nguồn tin mà hầu hết ký giả sẵn sàng đổi cây đũa phép của mình để có được; nguồn tin là một người trước đây chưa từng phát biểu với công chúng, đồng thời là người thân cận với Dumbledore trong suốt thời kỳ hỗn loạn rối rắm của tuổi trẻ ông ta.”

Việc quảng cáo trước cuốn tiểu sử của Skeeter chắc chắn khiến ta nghĩ sắp tới sẽ có những cơn chấn động nơi những người vẫn tin rằng Dumbledore đã sống một cuộc đời không có chỗ chê.

Những ngạc nhiên lớn nhất mà Skeeter vạch ra là gì, tôi hỏi.

“Ấy, thôi đi nhé, Betty, tôi sẽ chẳng phát không tất cả những gì sáng giá nhất trước khi có người mua cuốn sách của tôi đâu nhá!”

Skeeter cười lớn.

“Nhưng tôi có thể hứa là bất cứ ai vẫn còn nghĩ Dumbledore trắng bóc như râu ổng rồi sẽ lâm vào cuộc tỉnh ngộ dã man!

Chỉ cần đơn cử, không một ai từng nghe về cơn thịnh nộ của ổng đối với Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó lại có thể nằm mơ rằng chính ổng từng học đòi Nghệ thuật Hắc ám hồi còn trai trẻ!

Và mặc dù là một pháp sư đã dành những năm cuối đời để kêu gọi lòng khoan dung, nhưng hồi còn trẻ trung ổng lại không có đầu óc khoáng đạt như thế!

Vâng, Albus Dumbledore đã có một quá khứ đục ngầu, chưa kể đến một gia đình rất mập mờ, mà ổng đã bỏ công khó nhọc ra bưng bít.”

Tôi hỏi có phải Skeeter nói đến người em trai của Dumbledore, Aberforth, người đã bị Liên minh Pháp thuật buộc tội lạm dụng pháp thuật và việc đó đã gây ra một xì-căn-đan nho nhỏ cách đây mười lăm năm.

“Ối, Aberforth chỉ là cái chóp của đống cứt ấy mà thôi.”

Skeeter cười.

“Không, không, tôi đang nói về cái điều còn tồi bại hơn cả một ông em có cái thú làm trò vớ vẩn với mấy con dê, tồi bại hơn cả một người cha chuyên xẻ-thịt-Muggle – Đằng nào thì Dumbledore cũng không thể giữ kín được hai chuyện đó, cả hai người đó đều đã bị Liên minh Pháp thuật kết án.

Không, chính người mẹ và người em gái mới khiến tôi tò mò, và chỉ cần đào bới chút xíu là phát hiện ra cả một ổ kinh tởm hết sức – nhưng, như tôi đã nói, cưng phải chờ đọc từ chương chín đến chương mười hai để biết chi tiết đầy đủ.

Tất cả những gì tôi có thể nói lúc này là chẳng có gì để thắc mắc tại sao Dumbledore không bao giờ kể ổng đã gãy mũi như thế nào.”

Cho dù có những việc xấu xa của gia đình, nhưng liệu Skeeter có phủ nhận tài ba lỗi lạc đã làm nên nhiều khám phá pháp thuật của Dumbledore?

“Ổng có đầu óc.”

Skeeter thừa nhận.

“Mặc dù giờ đây nhiều người nghi vấn là liệu ông ta có nên hưởng trọn công lao về tất cả những khám phá được coi là của ông ta không.

Như tôi tiết lộ trong chương mười sáu, Ivor Dillonsby tuyên bố, khi Dumbledore ‘mượn’ bài luận văn của ông, ông đã khám phá ra tám công dụng của máu rồng rồi.”

Nhưng, tôi mạo muội có ý kiến, rằng không thể phủ nhận tầm quan trọng của một số thành tích của Dumbledore.

Một vụ rất nổi tiếng là ông đánh bại Grindelwald thì sao?

“A, đây rồi, tôi mừng là cưng nhắc đến Grindelwald,” Skeeter nói với một nụ cười thiệt là trêu ngươi.

“Tôi e rằng những người nào vẫn còn mờ mắt về chiến thắng ngoạn mục của Dumbledore sẽ phải gồng mình mà đối phó với một quả bom dư luận – mà có lẽ là một quả bom phân.

Một vụ bầy hầy thật sự.

Tôi chỉ có thể nói là, đừng có chắc mẻm là đã có thực một trận đấu tay đôi ngoạn mục như trong truyền thuyết.

Sau khi đọc cuốn sách, người ta có thể buộc lòng phải kết luận rằng Grindelwald chỉ đơn giản được chiêu hồn bằng một chiếc khăn tay trắng từ đầu cây đũa phép của ổng và hành động một cách lặng lẽ.”

Skeeter từ chối đưa ra thêm điều gì về vật chiêu hồn này, vì vậy chúng tôi xoay qua mối quan hệ chắc chắn sẽ hấp dẫn độc giả của chị hơn bất cứ điều gì khác.

“À, phải.”

Skeeter nói, nhanh nhẩu gật đầu, “Tôi dành trọn một chương cho toàn bộ quan hệ Potter-Dumbledore.

Lâu nay quan hệ đó được coi là không lành mạnh, thậm chí xúi quẩy.

Một lần nữa, độc giả báo của cưng sẽ phải mua cuốn sách của tôi để biết toàn bộ câu chuyện, nhưng rõ ràng là Dumbledore có mối quan tâm không bình thường đối với Potter ngay từ ban sơ.

Liệu đó có thật sự vì quyền lợi cao nhất của thằng bé không – Chà, chúng ta sẽ biết.

Chuyện Potter trải qua một thời mới lớn lộn xộn bậc nhất chắc chắn là một bí mật mà ai cũng biết.”

Tôi hỏi Skeeter có còn liên lạc với Harry Potter, người mà chị đã từng có một cuộc phỏng vấn nổi tiếng hồi năm ngoái: một bài báo đột phá trong đó Potter nói riêng về việc cậu tin chắc chắn Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó đã trở lại.

“À, có chứ, chúng tôi ngày càng gắn bó thân thiết hơn,” Skeeter nói.

“Potter đáng thương có rất ít bạn bè thực sự, và chúng tôi đã gặp nhau vào một trong những thời điểm thử thách nhất trong đời cậu bé – Cuộc thi đấu Tam pháp thuật.

Tôi có lẽ là người đang sống duy nhất có thể nói mình biết Harry Potter chánh hiệu.”

Điều này đưa ngay chúng tôi đến những chuyện đồn đãi vẫn còn lan truyền về giờ phút cuối cùng của Dumbledore.

Liệu Skeeter có tin là Potter có mặt ở đó khi Dumbledore chết không?

“Chà, tôi không muốn nói quá nhiều – tất cả đều có trong cuốn sách – nhưng những nhân chứng bên trong lâu đài Hogwarts đã nhìn thấy Potter chạy ra khỏi hiện trường chỉ mấy phút sau khi Dumbledore gục ngã, (cũng có thể ông ta nhảy xuống, hay bị đẩy xuống).

Về sau Potter làm chứng chống lại Severus Snape, một người mà cậu bé nổi tiếng là có ác cảm.

Liệu mọi việc có đúng như ai cũng tưởng không?

Điều đó để cho cộng đồng pháp thuật quyết định, một khi họ đọc cuốn sách của tôi.”

Tôi ra về mang theo sự lưu ý hấp dẫn đó.

Không nghi ngờ gì, Rita Skeeter đã viết ra một cuốn sách bán chạy ăn liền.

Trong lúc ấy, đám đông ngưỡng mộ Dumbledore có thể sẽ phải run rẩy trước những điều chẳng bao lâu nữa sẽ lộ ra về người anh hùng của họ.

Harry đã đọc hết dòng cuối của bài báo, nhưng mắt vẫn ngây ra ngó chằm chằm trang báo không dứt được.

Sự ghê tởm và phẫn nộ trào lên trong người nó như muốn ói, nó vo tròn tờ báo và quăng mạnh vô tường bằng tất cả sức lực, cục báo nhập vô đám rác chất đống quanh cái thùng rác đã đầy tràn.

Nó bắt đầu sải bước quanh căn phòng một cách mù quáng, mở tung những ngăn kéo đã trống rỗng và cầm lên những cuốn sách để rồi lại đặt trở vào chỗ cũ, hầu như không ý thức mình đang làm gì, khi cứ lộn xộn từng câu chữ trong bài phỏng vấn Rita vang vọng trong đầu nó: “... trọn một chương cho toàn bộ quan hệ Potter-Dumbledore... lâu nay quan hệ đó được coi là không lành mạnh, thậm chí xúi quẩy... chính ổng từng học đòi Nghệ thuật Hắc ám thời trai trẻ... tôi đã tiếp cận được một nguồn mà hầu hết các ký giả sẽ đánh đổi cây đũa phép để có được...”

“Láo!”

Harry gào lên, và qua khung cửa sổ nó thấy ông hàng xóm nhà kế bên, vừa ngừng lại để khởi động cái máy cắt cỏ của ông ta, ngó lên lo lắng.

Harry ngồi phịch xuống giường.

Mảnh gương vỡ nhảy múa ra xa nó; nó lượm lên và xoay mảnh gương vỡ trong mấy ngón tay, nghĩ mãi, nghĩ mãi về cụ Dumbledore cùng những điều dối trá mà Rita đang dùng để phỉ báng cụ...

Một ánh sáng xanh lơ nhá lên.

Harry sững sờ, ngón tay bị đứt của nó lại cứa vào cạnh bén của mảnh gương vỡ một lần nữa.

Nó đã tưởng tượng, ắt là nó đã tưởng tượng ra thôi.

Nó liếc ra sau, nhưng bức tường chỉ toàn một màu đào chín bệnh hoạn mà dì Petunia ưng chọn.

Chẳng có gì ở đó màu xanh lơ để cho mảnh gương phản chiếu.

Nó săm soi nhìn vào mảnh gương một lần nữa, và chẳng thấy gì ngoài con mắt sáng xanh biếc của chính nó ngó lại nó.

Nó đã tưởng tượng, chứ không có cách giải thích nào khác; đã tưởng tượng ra điều đó, bởi vì nó đang nghĩ đến thầy hiệu trưởng đã mất.

Nếu có điều gì đó chắc chắn, thì điều đó là đôi mắt sáng xanh lơ của cụ Albus Dumbledore sẽ không bao giờ nhìn thấu lòng nó nữa.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 3: Cuộc ra đi của nhà Dursley


Cuộc ra đi của nhà Dursley

Tiếng cánh cửa trước đóng sầm vọng lên lầu và một giọng nói gầm lên, “Ê, mày!”

Mười sáu năm trời bị gọi như vậy khiến cho Harry chẳng còn thắc mắc gì khi dượng nó gọi, mà dù gì đi nữa, nó cũng không thèm đáp ngay.

Nó vẫn còn để tâm vào mảnh gương hẹp mà thoáng trong một giây nó đã tưởng nhìn thấy mắt cụ Dumbledore trong đó.

Chỉ đến khi dượng nó rống “THẰNG RANH!”

Harry mới thủng thẳng ra khỏi giường, đi về phía cửa phòng ngủ, ngừng một tí để bỏ mảnh gương vỡ vào cái ba lô đã đầy nhóc những thứ mà nó sẽ vác theo bên mình.

“Mày từ tốn quá hén!”

Dượng Vernon Dursley gầm lên khi Harry xuất hiện trên đầu cầu thang, “Xuống đây ngay!

Tao muốn nói đôi lời!”

Harry thong thả bước xuống cầu thang, hai tay thọc sâu trong túi quần.

Khi nó vô tới phòng khách thì thấy cả ba người trong gia đình Dursley đều đã có mặt.

Họ đều ăn mặc thích hợp để đi đường; dượng Vernon mặc một cái áo khoác cũ cài bằng dây kéo suốt, dì Petunia mặc áo khoác màu cá hồi gọn ghẽ, còn Dursley, thằng anh bà con của Harry, vạm vỡ to xác tóc vàng hoe, thì khoác áo da.

“Dạ?”

Harry hỏi.

“Ngồi xuống!”

Dượng Vernon bảo.

Harry nhướn mày lên.

“Mời!”

Dượng Vernon bổ sung, mặt hơi cau lại như thể cái từ đó cứa vào cổ họng ông.

Harry ngồi xuống.

Nó nghĩ là nó biết chuyện gì sắp xảy ra.

Dượng nó bắt đầu đi qua đi lại.

Dì Petunia và Dudley dõi theo cử động của ông với vẻ mặt căng thẳng.

Cuối cùng, bộ mặt to bè tím đỏ của dượng rúm lại vì tập trung tư tưởng cao độ.

Dượng Vernon đứng lại trước mặt Harry và phát biểu.

“Tao đã thay đổi ý kiến,” dượng nói.

“Thiệt là ngạc nhiên,” Harry đáp.

“Mày đừng giở cái giọng...”

Dì Petunia lên tiếng, giọng the thé, nhưng dượng Vernon phất tay dẹp dì xuống.

“Việc này nhiều mắc mứu lắm,” dượng Vernon nói, quắc đôi mắt heo ti hí nhìn Harry.

“Tao đã quyết định là tao không thèm tin một lời nào hết.

Chúng tao cứ ở tại chỗ.

Chúng tao sẽ không đi đâu hết.”

Harry ngước nhìn dượng nó và cảm thấy vừa muốn phát khùng vừa muốn bật cười.

Dượng Vernon Dursley cứ mỗi hai mươi bốn giờ lại đổi ý một lần trong suốt bốn tuần lễ qua, hết chất đồ lên xe rồi lại dỡ đồ xuống theo nhịp thay đổi cảm xúc.

Harry khoái nhất là lúc dượng Vernon, vì không dè Dudley đã bỏ vô va-li của nó mấy quả tạ sau lần mở gói đóng gói trước đó, nên đã cố nhấc cái va-li bỏ trở vô cốp để hành lý của chiếc xe hơi, và té chúi nhủi, phát ra những tiếng rống đau đớn kèm theo vô số lời chửi bới.

“Theo mày,” dượng Vernon nói, bây giờ dượng lại tiếp tục đi qua đi lại trong phòng khách, “thì chúng tao – Petunia, Dudley và ta – đang bị đe dọa tính mạng.

Bởi... bởi...”

“Một số kẻ trong ‘bọn tôi’, đúng.”

Harry nói.

“Này, tao không tin chuyện đó,” dượng Vernon lặp lại, và lại dừng bước trước mặt Harry.

“Tao đã thao thức nửa đêm suy nghĩ lại toàn bộ chuyện này, và tao tin đó là một âm mưu chiếm đoạt căn nhà.”

“Nhà?”

Harry lặp lại.

“Nhà nào?”

“Nhà này!

Giá nhà đang tăng vọt lên trong vùng này!

Mày muốn lừa chúng tao ra khỏi nhà rồi mày sẽ trổ vài mánh khóe lừa gạt xong giấy tờ sẽ đứng tên mày và trước khi chúng tao kịp biết thì...”

“Dượng mất trí rồi hả?”

Harry hỏi.

“m mưu chiếm căn nhà này?

Không lẽ dượng ngu thiệt chứ không phải trông có vẻ ngu?”

“Mày dám hỗn...!”

Dì Petunia thét lên, nhưng một lần nữa dượng Vernon lại phất tay trấn dì xuống.

Xúc phạm nho nhỏ về ngoại diện cá nhân dượng có vẻ chẳng ăn thua gì so với hiểm họa mà dượng vừa phát hiện.

“Nếu dượng quên rồi thì con nhắc,” Harry nói, “con đã có nhà rồi, cha đỡ đầu đã để lại cho con một căn.

Vậy thì con chiếm căn nhà này để làm gì?

Để giữ tất cả những kỷ niệm hạnh phúc à?”

Im lặng.

Harry nghĩ bằng những lời lẽ này nó đã hơi thuyết phục được dượng nó.

“Mày cho rằng,” dượng Vernon nói, lại tiếp tục đi qua đi lại, “cái tay Chúa tể Gì đó...”

“...

Voldemort,” Harry sốt ruột tiếp lời.

“Và chúng ta đã nói đi nói lại về chuyện này hàng trăm lần rồi.

Đây không phải là chuyện cho rằng, đó là sự thật.

Thầy Dumbledore đã nói với dượng hồi năm ngoái, chú Kingsley và ông Weasley cũng...”

Dượng Vernon Dursley gồng vai lên giận dữ, và Harry đoán là dượng đang cố gắng gạt đi những hồi tưởng về cuộc viếng thăm không báo trước của hai pháp sư người lớn hẳn hòi chỉ vài ngày sau khi Harry về đây nghỉ hè.

Việc Kingsley Shacklebolt và Arthur Weasley xuất hiện ở ngưỡng cửa nhà Dursley đã trở thành một cơn chấn động khó chịu nhất đối với gia đình Dursley.

Nhưng Harry phải thừa nhận rằng, do ông Weasley từng làm tanh bành hết một nửa phòng khách nhà Dursley, nên không thể trông mong sự tái xuất hiện của ông sẽ khiến dượng Vernon hân hoan chào mừng.

“Chú Kingsley và ông Weasley đều đã giải thích tất cả rồi,” Harry tiếp tục nói rấn tới không chút áy náy.

“Một khi con tròn mười bảy tuổi, bùa bảo hộ cho con được bình yên sẽ hết hiệu lực, và khi đó cả con lẫn gia đình dì dượng đều bị nguy hiểm.

Hội chắc chắn rằng Voldemort sẽ nhắm vào gia đình dượng, hoặc là tra tấn dì dượng để truy ra chỗ con ở, hoặc là hắn cho rằng bắt giữ gia đình dượng làm con tin sẽ khiến con phải đến mà cứu dì dượng.”

Ánh mắt dượng Vernon và ánh mắt Harry gặp nhau.

Harry chắc rằng trong tích tắc đó cả hai đều thắc mắc cùng một việc.

Sau đó dượng Vernon tiếp tục bước và Harry tiếp tục nói.

“Gia đình dượng phải dọn đến nơi ẩn náu an toàn và Hội muốn giúp đỡ.

Người ta đang dành cho gia đình dượng sự bảo vệ tốt nhất, nghiêm nhặt nhất đó.”

Dượng Vernon không nói gì nhưng vẫn tiếp tục bước tới bước lui.

Bên ngoài mặt trời đã xuống thấp tới mấy hàng giậu thủy lạp.

Cái máy cắt cỏ của nhà bên cạnh lại chết máy.

“Tao tưởng có một Bộ Pháp thuật chứ?”

Dượng Vernon đột ngột hỏi.

“Có chứ.”

Harry nói, ngạc nhiên.

“Vậy thì, tại sao họ không bảo vệ chúng ta?

Theo tao thấy thì, những nạn nhân vô tội chúng tao, chẳng có lỗi gì ngoài việc nuôi dưỡng chứa chấp một kẻ bị truy nã thì đáng được chính quyền bảo vệ lắm chứ.”

Harry bật cười; nó không thể nhịn được.

Trông mong hy vọng vào chính quyền, thậm chí chính quyền trong một thế giới mà dượng miệt thị và không tin tưởng, thì thiệt đúng là tính đặc thù của dượng Vernon.

“Dượng đã nghe những gì chú Kingsley và ông Weasley nói.”

Harry đáp.

“Họ cho là Bộ Pháp thuật đã bị địch thâm nhập rồi.”

Dượng sải dài bước chân về phía lò sưởi rồi quay trở lại, thở mạnh đến nỗi bộ ria đen vĩ đại đùn bộ mặt vẫn còn tím đỏ vì sự tập trung tư tưởng nổi lên những nếp u nần.

“Thôi được,” dượng nói.

Lại dừng bước trước mặt Harry một phen nữa.

“Được rồi, cứ coi như vì lí lẽ của mày mà tao chấp nhận sự bảo vệ này đi.

Nhưng tao vẫn không hiểu tại sao chúng ta lại không được tay Kingsley đó bảo vệ.”

Harry cố gắng không đảo tròn con mắt, nhưng thật là khó.

Vấn đề này cũng đã được giải thích cả nửa tá lần rồi.

“Như con đã nói với dượng rồi,” Harry nói qua kẽ răng nghiến lại, “ông Kingsley đang bảo vệ thủ tướng Mug...

Ý con nói ông thủ tướng của dượng ấy.”

“Đúng vậy...

Tay đó khá nhất!”

Dượng Vernon nói, chỉ vào màn hình tivi vừa tắt.

Gia đình Dursley đã nhìn ra Kingsley trong chương trình thời sự, đi bên cạnh ông thủ tướng Muggle khi ông này đến thăm một bệnh viện.

Sự kiện này, cùng với việc Kingsley sành điệu về ăn mặc như một Muggle, chưa kể đến nét gì đó rất dễ làm vững dạ trong giọng nói trầm trầm từ tốn của ông đã khiến cho gia đình Dursley khoái Kingsley một cách mà họ chưa bao giờ có đối với bất kỳ phù thủy nào khác, mặc dù đúng là họ chưa bao giờ thấy Kingsley khi ông đeo bông tai.

“Đành thôi, chú ấy có công tác rồi.”

Harry nói.

“Nhưng Hestia Jones và Dedalus Diggle làm công việc bảo vệ còn hơn cả giỏi nữa...”

“Giá mà ta được coi lý lịch họ...”

Dượng Vernon bắt đầu, nhưng Harry đã mất hết kiên nhẫn.

Nó đứng lên, đi qua mặt dượng nó, bây giờ chính nó chỉ vào cái máy truyền hình.

“Những tai nạn đó không phải là tai nạn – những vụ đụng độ, nổ tung hay trật đường rầy, và những vụ khác nữa xảy ra từ lần chúng ta xem tin tức trước.

Người ta đang mất tích, đang chết và Voldemort – hắn ở đằng sau những vụ đó.

Con đã nói đi nói lại với dượng rồi, hắn giết Muggle để giải trí.

Ngay cả sương mù... cũng là do bọn Giám ngục gây ra, và nếu dượng không thể nhớ bọn chúng như thế nào, thì hãy hỏi con trai của dượng!”

Hai tay Dudley giật nảy lên bụm lấy miệng.

Thấy cha mẹ và Harry đang nhìn mình, Dudley từ từ hạ tay xuống và hỏi: “Chúng... còn nhiều nữa hả?”

“Còn nhiều nữa?”

Harry bật cười.

“Ý mày nói nhiều hơn hai tên đã tấn công tụi mình à?

Dĩ nhiên là còn nhiều nữa, hàng trăm, có thể bây giờ lên tới hàng ngàn, căn cứ vào nỗi sợ hãi và tuyệt vọng mà chúng mớm cho người ta.”

“Được rồi, được rồi,” dượng Vernon quát tháo.

“Mày đã nói rõ...”

“Con hy vọng vậy.”

Harry nói, “Bởi vì một khi con tròn mười bảy tuổi, tất cả bọn chúng – bọn Tử Thần Thực Tử, bọn Giám ngục, có thể cả bọn âm binh – tức là những xác chết bị bọn pháp sư Hắc ám phù phép sai khiển – sẽ có thể tìm dượng và chắc chắn sẽ tấn công dượng.

Và nếu dượng nhớ lại lần trước dượng đã thử chạy trốn phù thủy như thế nào, con tin dượng sẽ đồng ý là dượng cần sự giúp đỡ.”

Trong một thoáng im lặng, vọng âm xa xa của tiếng bác Hagrid đạp sập cánh cửa gỗ dường như dội về từ nhiều năm trước.

Dì Petunia đang nhìn dượng Vernon; Dudley thì chăm chú ngó Harry.

Cuối cùng dượng Vernon thốt ra: “Nhưng còn công việc của tao?

Việc học của Dudley sẽ thế nào?

Tao không tin một lũ phù thủy rỗi hơi lại thèm bận tâm những điều đó...”

“Dượng vẫn không hiểu sao?”

Harry hét lên.

“Chúng sẽ tra tấn và giết dượng như chúng đã giết cha mẹ con!”

“Ba.”

Dudley la lớn.

“Ba... con sẽ đi với mấy người Hội đó.”

“Dudley,” Harry nói, “Lần đầu tiên trong đời mày, mày nói nghe được.”

Harry biết nó thắng trận tranh cãi này rồi.

Nếu Dudley đủ khiếp sợ để chấp nhận sự giúp đỡ của Hội, ba má nó sẽ theo nó thôi.

Không đời nào có chuyện họ chịu xa cách Duddy-cưng của họ.

Harry liếc nhìn cái đồng hồ quả lắc trên bệ lò sưởi.

“Họ sẽ đến đây trong vòng năm phút nữa,” nó nói, và khi không ai trong gia đình Dursley nói gì đáp lại, nó bỏ ra khỏi phòng.

Cái cảnh tượng chia tay – có lẽ vĩnh viễn – với dì dượng và thằng anh họ là điều mà nó có thể nhâm nhi một cách khoái tỉ, nhưng sao vẫn có chút bối rối nào đó trong không khí.

Nói gì với nhau đây sau mười sáu năm trời ghét nhau chết bỏ?

Trở về phòng mình, Harry thơ thẩn vờn cái ba lô rồi búng mấy hạt đậu cú qua chấn song cái chuồng của con Hedwig.

Chúng rớt xuống sàn chuồng phát ra tiếng kêu lịch kịch chán ngắt đến con cú cũng không thèm ngó tới.

“Tụi mình sắp đi rồi, lát nữa thôi.”

Harry nói với con cú.

“Lúc đó mày sẽ lại tha hồ bay.”

Chuông cửa reo.

Harry chần chừ, rồi ra khỏi phòng nó, xuống cầu thang.

Để mặc cho Dedalus và Hestia đối phó với gia đình Dursley thì hơi quá.

“Harry Potter!”

Một giọng phấn khích ré lên ngay khi Harry mở cửa phòng khách; một phù thủy nhỏ thó đội nón chóp màu hoa cà đang cúi rạp mình chào nó.

“Thật vinh hạnh, như xưa nay!”

“Cám ơn anh, Dedalus.”

Harry nói, nở một nụ cười nửa miệng ngượng ngập chào Hestia tóc đen.

“Anh chị làm việc này thì hay quá...

Họ đều có mặt ở đây, dì, dượng, và anh họ tôi...”

“Chào bà con của Harry Potter!”

Dedalus vui vẻ nói khi sải dài bước chân đi vào phòng khách.

Ông bà Dursley và cậu ấm lại tỏ ra không vui vẻ lắm khi được chào hỏi như vậy; Harry có phần tưởng đâu lại một phen đổi ý nữa.

Dudley co lại gần má nó khi nhìn thấy hai vị phù thủy.

“Tôi thấy quý vị đã chuẩn bị hành lý và sẵn sàng rồi.

Xuất sắc!

Như Harry Potter đã nói với quý vị, kế hoạch là một phương án đơn giản.”

Dedalus vừa nói vừa lấy từ áo vét ra một cái đồng hồ bỏ túi to tổ bố và nghiên cứu nó.

“Chúng ta sẽ lên đường trước khi Harry ra đi.

Do việc xài bùa phép trong nhà quý vị rất nguy hiểm – Harry vẫn chưa đủ tuổi trưởng thành, Bộ Pháp thuật có thể lấy cớ đó mà bắt cậu ấy – nên chúng ta sẽ đi bằng xe hơi, để coi, chừng mười dặm hay cỡ đó trước khi độn thổ tới địa điểm an toàn mà chúng tôi đã chọn cho quý vị.

Tôi chắc ông biết cách lái xe chứ?”

Anh ta lịch sự hỏi dượng Vernon.

“Biết...?

Dĩ nhiên là tôi quá ư biết lái xe!”

Dượng Vernon nói như phun phèo phèo.

“Ông giỏi quá, thưa ông, quá ư giỏi.

Bản thân tôi thì dứt khoát sẽ bị nghệt ra vì mấy cái nút với mấy cái cục đó,” Dedalus nói.

Anh ta rõ ràng là đinh ninh mình đang tán dương dượng Vernon Dursley, trong khi dượng đang mất dần lòng tin vào kế hoạch theo từng lời Dedalus thốt ra.

“Đến lái xe cũng không biết,” dượng lầm bầm trong miệng, bộ ria của dượng dợn sóng phẫn nộ, nhưng may là cả Dedalus và Hestia đều không có vẻ gì nghe ra lời dượng.

“Cậu, Harry,” Dedalus tiếp tục nói, “sẽ ở đây đợi vệ sĩ của cậu.

Có chút đỉnh thay đổi trong sắp xếp...”

“Anh nói sao?”

Harry hỏi ngay.

“Tôi tưởng thầy Mắt Điên sẽ tới và đưa tôi đi bằng cách Độn thổ kèm theo chứ?”

“Không thể làm cách đó.”

Hestia nói gọn lỏn.

“Mắt Điên sẽ giải thích.”

Cả gia đình Dursley, nãy giờ lắng nghe tất cả những lời đó với vẻ mặt nghệt ra chẳng hiểu gì cả, bỗng nhảy dựng lên vì một tiếng ré to chói tai, “Nhanh lên!”

Harry ngó quanh phòng trước khi nhận ra giọng nói đó phát ra từ cái đồng hồ bỏ túi của Dedalus.

“Đúng vậy, chúng ta đang hành động theo một thời gian biểu rất khít khao.”

Dedalus nói, gật đầu với cái đồng hồ rồi nhét nó trở vô trong áo vét.

“Harry à, chúng ta đang cố gắng canh giờ sao cho lúc cậu rời căn nhà cũng là lúc gia đình cậu độn thổ; như vậy bùa phép chỉ mất linh khi tất cả đều tới được nơi an toàn.”

Anh ta quay qua gia đình Dursley, “Sao, chúng ta đã khăn gói sẵn sàng ra đi chứ?”

Không ai trả lời anh tiếng nào.

Dượng Vernon vẫn đang kinh hoàng trố mắt ngó cái cục cộm lên ở túi áo vét của Dedalus.

“Có lẽ chúng ta nên chờ trong hành lang, anh Dedalus à.”

Hestia thì thầm.

Hiển nhiên cô cảm thấy không được tế nhị cho lắm nếu hai vệ sĩ có mặt trong phòng vào lúc Harry và gia đình Dursley chia tay trong trìu mến, và không chừng cả nước mắt nữa.

“Không cần đâu.”

Harry lúng búng nói, nhưng dượng Vernon đã khiến cho mọi bày tỏ dài dòng trở nên không cần thiết bằng cách nói to.

“Thôi, vậy là chia tay hén, mậy!”

Dượng đung đưa cánh tay lên toan bắt tay Harry, nhưng sau rốt dường như không thể chịu đựng nổi việc đó, dượng chỉ nắm bàn tay lại và bắt đầu đung đưa tới lui cánh tay giống như một cái máy nhịp.

“Sẵn sàng chưa, Duddy?”

Dì Petunia hỏi, lui cui kiểm tra móc khóa cái túi xách của dì để tránh nhìn Harry.

Dudley không trả lời mẹ mà cứ đứng ỳ ra, miệng hé mở, khiến Harry liên tưởng một chút đến người khổng lồ Grawp.

“Vậy đi thôi,” dượng Vernon nói.

Dượng hầu như đã đi tới cửa phòng khách thì Dudley bỗng bệu bạo nói: “Con chả hiểu.”

“Con không hiểu cái gì hở cưng?”

Dì Petunia ngước lên nhìn cậu quý tử.

Dudley giơ bàn tay tựa như khúc dồi tổ chảng chỉ vào Harry.

“Sao nó không đi với mình?”

Dượng Vernon và dì Petunia sững sờ đứng ngó chằm chằm Dudley như thể nó vừa bày tỏ nguyện vọng trở thành diễn viên múa ba lê.

“Cái gì?”

Dượng Vernon la lớn.

“Tại sao nó không đi cùng?”

Dudley hỏi.

“À thì nó... không muốn,” dượng Vernon nói, quay lại trừng mắt ngó Harry và nói thêm, “Mày đâu có muốn, phải không mậy?”

“Không một chút nào hết.”

“Thấy chưa!”

Dượng Vernon nói với Dudley, “Bây giờ chúng ta đi thôi.”

Dượng dõng dạc đi ra khỏi phòng.

Mọi người nghe tiếng cánh cửa trước mở ra, nhưng Dudley không nhúc nhích và dì Petunia cũng dừng lại sau mấy bước lừng khừng.

“Gì nữa hả?”

Dượng Vernon tái xuất hiện ở ngưỡng cửa, quát lên.

Dường như Dudley đang đấu tranh dữ dội với những khái niệm quá khó phát biểu thành lời.

Sau nhiều đợt đấu tranh nội tâm có vẻ đau đớn, nó nói, “Nhưng nó sẽ đi đâu?”

Dì Petunia và dượng Vernon nhìn nhau.

Rõ ràng là Dudley đang làm họ hoảng sợ.

Hestia Jones bèn phá vỡ sự im lặng.

“Nhưng... chắc chắn ông biết cháu trai của mình sẽ đi đâu chứ?”

Cô hỏi mà có vẻ lúng túng.

“Đương nhiên là chúng tôi biết,” dượng Vernon nói.

“Nó sẽ đi theo ai đó trong lũ tụi bay, đúng không?

Đúng đó, Dudley à, chúng ta hãy lên xe, con nghe ông kia nói rồi đó, chúng ta phải nhanh lên.”

Một lần nữa, dượng Vernon lại dõng dạc đi gần tới cửa trước, nhưng Dudley vẫn không đi theo.

“Theo ai đó trong lũ tụi ta á?”

Hestia trông như nổi khùng.

Harry đã từng gặp thái độ này trước đây.

Nhiều phù thủy và pháp sư dường như kinh ngạc khi những họ hàng gần gũi nhất của nó chả tỏ ra quan tâm chút nào đến Harry Potter lừng danh.

“Tốt thôi.”

Harry trấn an Hestia.

“Thiệt tình, không hề gì.”

“Không hề gì à?”

Hestia lặp lại, giọng của cô cao lên một cách đáng lo ngại.

“Chẳng lẽ những người này không nhận thức được những gì cậu đã trải qua sao?

Hiểm họa mà cậu đang đối đầu?

Vị trí có một không hai mà cậu đang nắm giữ ở trung tâm phong trào chống Voldemort?”

“Ơ... không, họ không biết.”

Harry nói.

“Thật ra, họ coi tôi là đồ hao cơm tốn chỗ mà thôi, nhưng tôi quen...”

“Tao đâu có coi mày là đồ hao cơm tốn chỗ.”

Nếu Harry không tận mắt thấy môi của Dudley cử động thì nó đã không thể nào tin nổi.

Vì vậy nó trố mắt nhìn Dudley một hồi lâu mới chấp nhận cái điều ắt là thằng anh họ của nó là người vừa phát ngôn; nhờ một chứng cớ, Dudley đỏ cả mặt.

Chính Harry cũng lúng túng và ngạc nhiên.

“Ờ... vậy... cám ơn nghe, Dudley”

Một lần nữa, Dudley dường như vật lộn với những ý tưởng khó khăn quá sức diễn tả trước khi lúng búng nói:

“Mày cứu mạng tao.”

“Không hẳn vậy.”

Harry nói, “Hồn mày mới là cái mà bọn Giám ngục muốn hớp...”

Nó tò mò nhìn thằng anh họ.

Hai đứa nó thực tế đã không hề có tiếp xúc nào trong suốt mùa hè này hay mùa hè trước, vì thời gian Harry trở về ngôi nhà ở đường Privet Drive quá ngắn và nó cứ ở lỳ trong phòng riêng.

Nhưng bây giờ Harry chợt hiểu ra có lẽ cái tách trà mà nó giẫm phải hồi sáng này không phải là cái bẫy ngố bẫy nghếch gì cả.

Mặc dù hơi bị xúc động, nó vẫn cảm thấy nhẹ người khi Dudley tỏ ra đã cạn kiệt khả năng bày tỏ tình cảm của mình.

Sau khi há miệng ra thêm một hay hai lần nữa, Dudley rút vào nỗi câm lặng đỏ tía mặt mày.

Dì Petunia bỗng òa khóc.

Hestia Jones nhìn dì hài lòng nhưng cái nhìn đó chuyển ngay thành ánh mắt giận dữ khi dì Petunia lao tới ôm chầm Dudley chứ không phải Harry.

“Dễ... dễ thương quá, Dudders...”

Dì khóc thổn thức trên tấm ngực mập ú của con trai.

“Một chàng trai dễ thương hết sức... biết nói cám ơn...”

“Nhưng nó đã nói cám ơn gì đâu!”

Hestia tức giận nói.

“Nó chỉ mới nói nó không coi Harry như đồ hao cơm tốn chỗ!”

“Đành vậy nhưng với Dudley thì điều đó tương đương với ‘tao thương mày’.”

Harry nói, bị xâu xé giữa nỗi bực mình và cơn tức cười khi dì Petunia tiếp tục ấp iu Dudley như thể nó vừa mới cứu được Harry ra khỏi một tòa nhà đang cháy.

“Chúng ta có đi hay không hả?”

Dượng Vernon gầm lên, tái xuất hiện một lần nữa ở cửa phòng khách.

“Tôi cứ tưởng thời gian biểu của chúng ta khít khao lắm chớ!”

“Đúng...

đúng, khít khao lắm.”

Dedalus Diggle nói.

Nãy giờ anh ta coi cái cảnh chia tay này với vẻ mặt ngơ ngác, và bây giờ anh có vẻ tỉnh táo ra.

“Chúng tôi thật tình phải đi ngay, Harry à...”

Anh bước nhẹ nhàng về phía Harry, vặn vẹo bàn tay Harry bằng cả hai tay của anh ta.

“...

Chúc may mắn.

Tôi hy vọng chúng ta còn gặp lại nhau.

Niềm hy vọng của thế giới pháp thuật đang đặt trên đôi vai của cậu.”

“Ôi,” Harry nói, “Được.

Cám ơn anh.”

“Tạm biệt, Harry.”

Hestia nói, cũng siết chặt bàn tay Harry.

“Chúng tôi luôn nghĩ đến cậu.”

“Tôi hy vọng mọi việc sẽ tốt đẹp.”

Harry nói, mắt liếc về phía dì Petunia và Dudley.

“Ôi, tôi chắc chắn rồi sẽ thân thiết cả thôi mà,” Diggle nói nhỏ, vẫy vẫy cái nón khi anh ta ra khỏi phòng.

Hestia bước theo anh.

Dudley nhẹ nhàng tự giải thoát mình ra khỏi vòng tay của mẹ và đi về phía Harry.

Harry phải dằn xuống một cơn khoái hù dọa Dudley bằng pháp thuật.

Dudley đưa ra bàn tay to tướng hồng hồng của nó.

“Khỉ thiệt, Dudley à,” Harry nói át tiếng nức nở vừa tái trỗi dậy của dì Petunia.

“Bọn Giám ngục thổi một nhân cách khác vô người mày rồi hả?”

“Hổng biết.”

Dudley ú ớ.

“Hẹn gặp lại, Harry.”

“Ừ...”

Harry nói, cầm bàn tay của Dudley và lắc.

“Có thể.

Bảo trọng nghe, D. bự.”

Dudley gần như mỉm cười, rồi ì ạch đi ra khỏi phòng.

Harry nghe tiếng bước chân nặng nề của Dudley trên đường trải sỏi dành cho xe hơi, và rồi cánh cửa xe đóng lại.

Dì Petunia, nãy giờ úp mặt trong chiếc khăn tay, nghe tiếng cửa xe đóng bèn ngước nhìn quanh.

Dì không có vẻ trông mong còn lại một mình với Harry.

Vội vàng nhét chiếc khăn tay ướt đẫm vào trong túi áo, dì nói, “Thôi... tạm biệt,” và bước về phía cánh cửa mà không hề nhìn tới Harry.

“Tạm biệt,” Harry nói.

Dì dừng bước và ngoái nhìn lại.

Trong một thoáng Harry có cái cảm giác hết sức kỳ cục là dì muốn nói với nó điều gì đó: ánh mắt của dì rưng rưng, thảng thốt, kỳ cục và dì dường như chênh vênh bên bờ sắp thốt ra lời; nhưng rồi, chỉ khẽ gật đầu, dì vội vã rời khỏi căn phòng đi theo chồng con.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 4: Bảy Potter


Bảy Potter

Harry chạy ngược lên cầu thang trở về phòng ngủ, đến bên cửa sổ vừa đúng lúc nhìn thấy chiếc xe hơi của gia đình Dursley lượn ra khỏi ngõ tiến ra đường.

Thấy nhô lên cái nón chóp của Dedalus giữa hai bên là dì Petunia và Dudley ở băng ghế sau.

Chiếc xe hơi quẹo phải ở cuối con đường Privet Drive, cửa sổ xe rực lên màu đỏ tía trong chốc lát vì lúc này mặt trời đang lặn, rồi chạy đi mất hút.

Harry nhặt nhạnh cái lồng con cú Hedwig, cây chổi Tia Chớp, và cái ba lô, đưa mắt nhìn lướt qua căn phòng ngăn nắp sạch sẽ một cách khác thường của mình, rồi lóng ngóng đi xuống cầu thang vô hành lang, ở đó nó để tạm cái lồng cú, cây chổi, và ba lô cạnh chân cầu thang.

Ánh sáng đang tắt nhanh, hành lang nhập nhòa trong bóng chiều.

Nó có cảm giác kỳ quái nhất khi đứng đây, trong im vắng, và biết rằng sắp rời khỏi ngôi nhà này vĩnh viễn.

Hồi lâu rồi, mỗi khi gia đình Dursley đi đâu đó vui chơi bỏ nó ở lại nhà một mình, nó coi những giờ phút cô độc ấy là một niềm vui hiếm hoi.

Nó sẽ chạy ào lên lầu để vọc cái máy tính của Dudley, hay mở máy truyền hình và bấm qua các kênh tùy thích, chỉ dừng lại để mở tủ lạnh chôm cái gì đó ngon lành.

Nhớ lại những lúc đó, nó có một cảm giác trống rỗng kỳ cục; giống như nhớ về một thằng em mà mình đã mất.

“Mày có muốn ngó qua chỗ này lần cuối không?”

Nó hỏi Hedwig, con cú vẫn còn hờn dỗi vùi đầu dưới cánh.

“Chúng mình sẽ không bao giờ ở đây nữa.

Mày không muốn nhớ lại hết những lúc vui vẻ sao?

Ý tao là, thử nhìn tấm thảm chùi chân ở ngạch cửa coi.

Kỷ niệm gì...

Dudley đã mửa ra đó sau khi tao cứu nó khỏi tay bọn Giám ngục...

Hóa ra nó cũng biết ơn, mày có tin nổi không?...

Và mùa hè năm ngoái, thầy Dumbledore đã bước qua cánh cửa trước...”

Dòng suy tư của Harry bị rối lung tung mất một lúc và Hedwig không làm gì để giúp nó tập trung lại được, con cú cứ tiếp tục ngồi lì với cái đầu vùi dưới cánh.

Harry quay lưng lại cánh cửa trước.

“Và, Hedwig à, dưới này...”

Harry mở một cánh cửa dưới gầm cầu thang, “là chỗ tao ngủ hồi xưa!

Hồi đó mày chưa biết tao – Quỷ ơi, nó nhỏ xíu, tao đã quên béng...”

Harry nhìn khắp mớ giày và dù chất đống, nhớ lại hồi xưa nó thường thức dậy mỗi buổi sáng, ngước nhìn lên từ dưới gầm cầu thang, nơi ít khi nào mà không được trang trí bằng một hay hai con nhện.

Đó là những ngày nó còn chưa biết gì về lai lịch thực sự của nó, những ngày trước khi nó biết cha mẹ nó đã chết như thế nào hay tại sao những chuyện lạ lùng lại thường xảy ra quanh nó.

Nhưng Harry cũng nhớ cả những giấc mơ đã khiến nó run sợ, thậm chí tới tận bây giờ: những giấc mơ lộn xộn kéo theo những tia chớp nhá xanh lè, và có lần – dượng Vernon suýt tông xe khi Harry kể lại – là một chiếc xe gắn máy biết bay...

Một tiếng gầm điếc tai đột ngột vang lên từ đâu đó rất gần.

Harry giật nảy người đứng thẳng lên và đỉnh đầu nó đụng phải khung cửa thấp một cái bốp.

Chỉ khựng lại để xài đỡ mấy tiếng chửi thề chọn lọc nhất của dượng Vernon, nó khập khễnh đi vào nhà bếp, tay ôm đầu và mắt nhìn chăm chú qua cửa sổ ra vườn sau nhà.

Bóng tối dường như xao động, chính không khí cũng rung rinh.

Thế rồi, những bóng người hiện ra, từng người một, sau khi giải bùa Ảo ảnh.

Nổi bật trên toàn cảnh là bác Hagrid, đội nón cối đeo kiếng lồi và đang cỡi trên một chiếc xe gắn máy khổng lồ có gắn một thùng xe khách đen thùi.

Quanh bác những người khác đang nhảy khỏi chổi, trừ hai người trèo xuống từ hai bộ xương con ngựa có cánh đen hù.

Vặn cánh cửa để mở ra, Harry nhào vào giữa đám người đó.

Tiếng chào đồng thanh vang lên khi Hermione quăng hai tay ra ôm chầm lấy nó, Ron vỗ lên lưng nó và bác Hagrid nói, “Ổn hén, Harry?

Xẵn xàng dông chưa?”

“Chắc cú!”

Harry nói, tươi cười với mọi người.

“Nhưng cháu đâu có dè nhiều người đến như vầy!”

“Kế hoạch có thay đổi,” Mắt Điên làu bàu, thầy đang cầm hai bao gì phình căng bự chảng, và con mắt pháp thuật của thầy đảo vòng từ bầu trời đang tối dần đến ngôi nhà đến khu vườn với độ nhanh chóng mặt.

“Bảo mật trước đã rồi giải thích mọi việc cho con sau.”

Harry dẫn mọi người trở vào nhà bếp, ở đó họ líu lo trò chuyện và cười đùa, an tọa trên mấy cái ghế, ngồi lên cả mặt bàn nơi dì Petunia bày đồ ăn khi nấu nướng, hoặc dựa vào những dụng cụ nhà bếp không một tỳ vết của dì; Ron, dài sọc và cao nghệu; Hermione, mái tóc dày được thắt lại thành một bím dài; Fred và George, cười nhe răng giống nhau như đúc; Bill, tóc dài thẹo đầy mình; ông Weasley, gương mặt hiền lành, đầu hói, cặp mắt kiếng hơi bị vẹo; Mắt Điên, một giò, te tua vì chiến trận, con mắt pháp thuật màu xanh sáng rực kêu véo véo trong hốc mắt; Tonks, tóc ngắn chơi màu ưa thích nhất là hồng tươi; Lupin, đầu bạc hơn, mặt nhiều nếp nhăn hơn; Fleur, thon thả và xinh đẹp, với mái tóc dài vàng óng ánh; Kingsley, đầu hói, vai rộng; bác Hagrid, tóc râu bù xù hoang dã, đứng khòm khòm lưng để tránh đụng đầu vô trần nhà; và Mundungus Fletcher, nhỏ, dơ, lóm thóm, mắt chó săn ti hí cụp xuống và tóc dơ như nùi giẻ chùi chân.

Trái tim Harry dường như nở lớn và chảy tràn cảm xúc trước cảnh này: nó cảm thấy yêu mến cực kỳ tất cả những người này, kể cả Mundungus, kẻ mà lần gặp trước nó đã toan bóp cổ.

“Chú Kingsley, cháu tưởng chú đang bảo vệ ông thủ tướng Muggle chứ?”

Nó nói vọng qua căn phòng.

“Ổng có thể sống mà không cần đến chú trong một đêm”, chú Kingsley nói.

“Cháu quan trọng hơn.”

“Harry, đoán coi gì đây?”

Cô Tonks nói từ chỗ ngồi ngất nghểu trên đầu cái máy giặt, và cô phe phẩy bàn tay trái về phía Harry; trên đó một chiếc nhẫn lấp lánh.

“Cô cưới rồi?”

Harry hét lên, nhìn từ cô Tonks sang thầy Lupin.

“Cô chú xin lỗi đã không mời cháu dự đám cưới, Harry à, tiệc nhỏ thôi.”

“Tuyệt vời quá, chúc...”

“Được rồi!

Được rồi!

Chúng ta sẽ có thì giờ cho một bữa tiệc thân mật bù lại sau này,” thầy Moody gầm lên át tiếng nhao nhao, và nhà bếp trở nên im phắc.

Thầy thả mấy cái bao xuống chân và quay lại Harry.

“Như Dedalus có lẽ đã nói với con, chúng ta đã phải bỏ kế hoạch A.

Pius Thicknesse đã bị ếm, làm chúng ta rắc rối to.

Hắn làm sao khiến căn nhà này nếu nối với hệ thống Floo, đặt một Khóa cảng ở đây, hoặc Độn thổ vô hay ra đều là vi phạm bắt bỏ tù.

Tất cả đều được làm dưới danh nghĩa để bảo vệ con, để ngăn Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy tấn công con.

Hoàn toàn nhảm nhí, bởi vì bùa bảo vệ của mẹ con đã làm được việc đó rồi.

Việc mà hắn đã làm thực ra là ngăn không cho con ra khỏi nơi đây một cách an toàn.”

“Vấn đề thứ hai: con còn chưa tới tuổi trưởng thành, nghĩa là con vẫn còn mang Dấu Hiện.”

“Con đâu có...”

“Dấu Hiện!

Dấu Hiện ấy!”

Mắt Điên sốt ruột nói, “là bùa dò la hoạt động quanh trẻ em dưới mười bảy tuổi, đó là cách mà Bộ Pháp thuật phát hiện những vụ vi phạm pháp thuật vị thành niên!

Nếu con, hay bất cứ ai quanh con, làm bùa phép đem con ra khỏi nơi đây, Thicknesse sẽ biết chuyện đó, và bọn Tử Thần Thực Tử cũng sẽ biết.”

“Chúng ta không thể chờ đến khi Dấu Hiện hết linh, bởi vì đúng thời điểm con đủ mười bảy tuổi con sẽ mất hết sự bảo vệ mà mẹ con đã phù hộ con.

Ngắn gọn lại, Pius Thicknesse nghĩ là hắn đã cho con vô rọ gọn gàng ngon ơ.”

Harry không thể không đồng ý với tay Thicknesse nào đó.

“Vậy chúng ta sẽ làm gì đây?”

“Chúng ta sẽ dùng phương tiện di chuyển duy nhất còn chừa lại cho chúng ta, phương tiện duy nhất mà bùa Dấu Hiện không dò ra được, bởi vì chúng ta không cần ếm bùa lên mấy thứ đó: chổi, vong mã, và xe gắn máy của bác Hagrid.”

Harry có thể thấy những sơ hở trong kế hoạch này; tuy nhiên, nó kềm lưỡi lại để thầy Mắt Điên có cơ hội diễn thuyết.

“Bây giờ, bùa của mẹ con sẽ chỉ hết linh với hai điều kiện: khi con đến tuổi trưởng thành, hoặc...” thầy Moody khoát tay chỉ quanh cái nhà bếp sạch bong như mới gỡ nhãn, “... khi con không còn coi nơi đây là nhà mình nữa.

Đêm nay con và dì dượng con sẽ đi những ngả đường khác nhau, hiểu cho rốt ráo thì con và họ sẽ không bao giờ chung sống với nhau nữa, đúng không?”

Harry gật đầu.

“Vậy là lần này, khi con ra đi, sẽ không có trở lại, và bùa bảo vệ con sẽ hết linh ngay khi con ra khỏi vùng bùa ếm.

Chúng ta đang chọn cách giải bùa sớm hơn, bởi vì ngược lại có nghĩa là ngồi chờ Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy đến tóm con ngay thời điểm con tròn mười bảy tuổi.

“Có một lợi thế về phía chúng ta là Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy không biết chúng ta di chuyển đêm nay.

Chúng ta đã để lọt kế hoạch giả cho Bộ Pháp thuật: họ tưởng con đến ngày ba mươi mốt mới ra đi.

Nhưng mà, chúng ta đang đương đầu với Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy, vì vậy chúng ta không thể ỷ y hắn nhầm ngày; nhất định là hắn có vài ba Tử Thần Thực Tử tuần tra vùng trời của toàn khu vực này, để phòng xa.

Do vậy chúng ta đã bố trí bảo vệ hết cỡ cho một tá căn nhà khác nhau.

Những nơi đó con đều có thể đến ẩn náu được, tất cả đều có liên hệ với Hội: nhà thầy, chỗ của anh Kingsley, nhà dì Muriel của chị Molly... con nắm được vấn đề chứ.”

“Dạ,” Harry nói, không hoàn toàn chân thực, bởi vì nó vẫn thấy có một lỗ hở trong kế hoạch.

“Con sẽ đến nhà cha mẹ cô Tonks.

Một khi đã ở trong vòng linh nghiệm của bùa phép bảo vệ mà chúng ta ếm lên căn nhà, con sẽ có thể dùng Khóa Cảng để đến Hang Sóc.

Có thắc mắc gì không?”

“Ơ... có.”

Harry nói.

“Có thể ban đầu chúng sẽ không biết con đang tới căn nào trong mười hai căn nhà an toàn đó, nhưng có bị quá lộ liễu không khi mà...” nó đếm đầu người thiệt nhanh, “mười bốn người chúng ta cùng bay về phía nhà ba má cô Tonks?”

“À,” thầy Moody nói.

“Thầy quên nói tới một điểm quan trọng.

Mười bốn người chúng ta sẽ không cùng bay đến nhà cha mẹ cô Tonks.

Đêm nay sẽ có bảy Potter di chuyển trên bầu trời, mỗi Potter có một người đi kèm, mỗi cặp hướng tới một ngôi nhà an toàn khác nhau.”

Lúc này thầy Moody rút từ trong áo choàng ra một cái hũ đựng thứ gì đó giống như sình.

Thầy không cần phải nói thêm một lời nào nữa; Harry hiểu ngay tức thì phần còn lại của kế hoạch.

“Không!”

Nó la lớn, giọng nó vang rền khắp nhà bếp.

“Không đời nào!”

“Mình đã nói thể nào bồ cũng sẽ phản ứng như vầy mà,” Hermione nói với thoáng đắc ý.

“Nếu thầy nghĩ là con sẽ chấp nhận cho sáu người liều mạng vì con...!”

“... vì đây là cơ hội đầu tiên cho tất cả tụi này,” Ron nói.

“Việc này khác, giả làm mình...”

“Thôi, Harry à, đâu có ai trong bọn mình thực sự khoái làm vậy đâu.”

Fred nói một cách nghiêm chỉnh.

“Thử tưởng tượng nếu có gì đó trục trặc và tụi này kẹt luôn trong bộ vó một thằng cà khêu lốm đốm.”

Harry không cười.

“Nếu con không hợp tác thì mọi người cũng đâu có làm được.

Mọi người cần con cho mấy sợi tóc mà.”

“Ờ, đó là chỗ kế hoạch bị bể,” George nói.

“Hiển nhiên là tụi này đừng hòng xin tí tóc của em nếu em không chịu.”

“Ừ há, mười ba người chọi lại một thằng không được phép xài bùa phép; pó tay!”

Fred nói.

“Khôi hài.”

Harry nói.

“Hài hước thiệt.”

“Nếu đến nước phải dùng sức thì đành phải dùng thôi,” thầy Moody gầm ghè, con mắt pháp thuật của thầy lúc này đang khẽ run run trong hốc mắt khi thầy ngó Harry chằm chằm.

“Mọi người ở đây đều trưởng thành, Potter à, và tất cả đều đã chuẩn bị để đối phó với hiểm nguy.”

Lão Mundungus rùng mình nhăn mặt, con mắt pháp thuật chạy tọt qua một bên đầu của thầy Moody để liếc chừng lão ta.

“Chúng ta đừng tranh cãi nữa.

Thời giờ sắp hết rồi.

Thầy cần một chút tóc của con, nghe không, đưa ngay!”

“Nhưng chuyện này điên quá, khỏi cần...”

“Khỏi cần hả!”

Thầy Moody quát.

“Khi Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy đang hoành hành và một nửa Bộ Pháp thuật thuộc về phe hắn?

Potter, nếu chúng ta may mắn thì hắn sẽ táp cái mồi giả và sau đó sẽ âm mưu phục kích con vào ngày băm mốt, nhưng hắn có điên mới không cho một hai Tử Thần Thực Tử canh chừng từ bây giờ, nếu thầy là hắn thì thầy sẽ làm vậy.

Chúng có lẽ không thể tấn công con hay căn nhà này khi bùa ểm của mẹ con còn linh nghiệm; nhưng bùa sắp sửa hết linh và họ biết vị trí hớ hênh của chỗ này.

Chúng ta chỉ còn có cách là dùng mồi nhử.

Ngay cả Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy cũng không thể tự phân thân thành bảy.”

Harry bắt gặp ánh mắt của Hermione nhưng nó ngó đi chỗ khác ngay.

“Vậy đó, Potter... một nhúm tóc của con, cho thầy xin.”

Harry liếc Ron, Ron nhăn mặt ra cái vẻ thì-cứ-làm-đi.

“Đưa ngay!”

Thầy Moody quát.

Trước tất cả những con mắt đổ dồn vào nó, Harry đưa tay lên đầu, nắm một nhúm tóc, và giật ra.

“Tốt.” thầy Moody nói, đi cà nhắc tới trước trong khi giật cái nút của hũ đựng thuốc ra.

“Bỏ vô đây, làm ơn.”

Harry thả dúm tóc vô trong chất lỏng giống như sình đó.

Ngay khi nhúm tóc vừa chạm vào bề mặt chất lỏng, thuốc bắt đầu sủi bọt và bốc khói, rồi ngay tức thì, nó chuyển sang một màu vàng rực trong veo.

“Ái chà, coi bộ bồ nhấm ngon hơn Crabbe và Goyle, Harry à.”

Hermione nói, trước khi nhìn thấy đôi chân mày của Ron nhướn lên.

Cô nàng hơi đỏ mặt, nói, “Ôi, bồ hiểu ý mình mà – thuốc biến thành Goyle có vị như quỷ ấy.”

“Được rồi, các Potter giả làm ơn sắp hàng ở đây.”

Ron, Hermione, Fred, George và Fleur đứng sắp hàng trước cái chậu sáng choang của dì Petunia.

“Chúng ta cần thêm một người nữa,” thầy Lupin nói.

“Đây,” bác Hagrid hô lên cộc lốc, và tay bác túm gáy của lão Mundungus nhấc bổng lên rồi thả lão xuống bên cạnh Fleur, cô nàng chun mũi nhọn hoắt và nhích ra để đứng giữa Fred và George

“Tôi là một chiến sĩ, tôi muốn được làm người bảo vệ hơn.”

Mundungus nói.

“Câm miệng,” thầy Moody gầm gừ.

“Như tôi đã nói với ông rồi, đồ trùn không xương sống ạ, bọn Tử Thần Thực Tử mà chúng ta đụng phải sẽ nhắm bắt Potter, chứ không giết nó.

Cụ Dumbledore luôn nói là Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy muốn đích thân kết liễu mạng Potter.

Chính những người bảo vệ mới đáng lo nhất, bọn Tử Thần Thực Tử sẽ muốn giết họ.”

Lão Mundungus có vẻ không yên tâm cho lắm, nhưng thầy Moody đã lấy từ trong áo khoác ra sáu cái chén con to cỡ nửa cái trứng gà, phát ra trước khi rót vô mỗi chén một tí thuốc Đa Quả dịch.

“Nào, tất cả...”

Ron, Hermione, Fred, George Fleur, và Mundungus uống.

Tất cả há miệng ra nhăn mặt lại khi thuốc chạy tới cổ họng họ.

Ngay lập tức, nét mặt họ bắt đầu phồng lên, méo mó như sáp nóng.

Hermione và Mundungus cao vọt lên; Ron, Fred và George thì rút thấp lại, tóc tụi nó sậm đen dần, tóc của Hermione và Fleur thì như đang mọc ngược vô hộp sọ.

Thầy Moody, khá lãnh đạm, đang nới lỏng nút thắt của mấy cái túi bự chảng lúc nãy thầy mang đến.

Khi đứng thẳng trở lại, thầy thấy trước mặt mình sáu Harry Potter đang há hốc miệng thở hổn hển.

Fred và George quay sang nhìn nhau và cùng nói: “Chu choa – tụi mình giống y chang há!”

“Tao không biết, nhưng tao tin tao vẫn đẹp trai hơn,” Fred nói, vừa ngắm nghía diện mạo mình phản chiếu trên cái ấm đun nước.

“Ố là la,” Fleur nói, vừa tự ngắm bóng mình trong cửa lò vi ba, “Anh Bill, đừng nhìn em... em xí lắm.”

“Ai thấy áo quần hơi bị chật, tôi có đồ lớn hơn đây,” thầy Moody nói, chỉ vào cái bao thứ nhất, “và ngược lại.

Đừng quên đeo kiếng.

Có sáu cặp kiếng trong túi bên.

Và khi nào mọi người thay đồ xong thì nhận hành lý trong cái bao kia.”

Harry thật nghĩ đây có lẽ là chuyện quái đản nhất mà nó từng thấy, ấy là nó đã từng thấy một số chuyện cực kỳ quái đản rồi.

Nó ngó sáu cái bóng vía của mình đang xúm lại lục lọi cái bao, lôi ra những bộ đồ, đeo kiếng lên, nhét giấu đồ đạc riêng của họ đi.

Nó cảm thấy muốn yêu cầu họ tôn trọng sự riêng tư kín đáo của nó hơn một chút, khi tất cả sáu Harry giả bắt đầu cởi quần áo ra tỉnh bơ, hiển nhiên nếu là thân thể của chính họ thì họ đâu có thoải mái phô bày ra như đối với thân thể nó.

“Mình đã biết là Ginny xạo về cái vết xăm đó mà,” Ron nói khi ngó xuống bộ ngực trần của nó.

“Harry, mắt bồ cận khủng khiếp quá,” Hermione nói khi cô bé đeo kiếng lên.

Khi thay đồ xong, mấy Harry giả lấy trong bao thứ hai những chiếc ba lô và lồng cú, trong mỗi lồng có một con cú nhồi bông trắng như tuyết.

“Tốt,” thầy Moody nói, khi cuối cùng bảy Harry đã ăn mặc xong, mang kính, đeo ba lô đứng trước mặt thầy.

“Từng cặp được chia như sau: Mundungus sẽ đi với tôi, bằng chổi...”

“Sao tôi lại đi với ông?”

Tên Harry đứng gần cửa làu bàu.

“Bởi vì ông là người cần canh chừng,” thầy Moody gầm gừ, và không sai chút nào, con mắt pháp thuật của thầy không hề rời khỏi lão Mundungus khi nói tiếp, “Arthur và Fred...”

“Cháu là George,” anh chàng sinh đôi mà thầy Moody chỉ vào nói.

“Cả khi tụi cháu biến thành Harry rồi mà chú cũng chẳng thể phân biệt được sao?”

“Xin lỗi, George...”

“Cháu chỉ bắt giò chú chơi thôi, thực ra cháu là Fred...”

“Tào lao đủ rồi!”

Thầy Moody quát.

“Đứa kia, dù cháu là George hay Fred hay ai đi nữa, cháu đi với chú Remus.

Cô Delacour...”

“Cháu sẽ đưa Fleur đi bằng vong mã,” anh Bill nói, “cô ấy không thích cỡi chổi.”

Fleur bước ra đứng cạnh anh Bill, lườm anh bằng ánh mắt tình tứ quỵ lụy đến nỗi Harry hy vọng với tất cả tấm lòng là cái nhìn đó sẽ không bao giờ tái xuất hiện trên mặt nó.

“Cô Granger sẽ đi với chú Kingsley, cũng bằng vong mã...”

Hermione tỏ vẻ yên tâm khi đáp lại nụ cười của chú Kingsley; Harry biết Hermione cũng thiếu tự tin khi cỡi chổi.

“Vậy là còn lại cháu đi với cô, Ron nhé!”

Cô Tonks rạng rỡ nói, hất ngã một cây kiểng con khi đưa tay vẫy nó.

Ron không tỏ ra hài lòng được như Hermione.

“Còn con đi với bác, Harry à.

Được hông?”

Bác Hagrid nói, lộ vẻ hơi căng thẳng.

“Chúng ta sẽ cỡi xe gắn máy, chổi với Vong mã không chở nổi bác, hiểu hén.

Nhưng bác mà ngồi lên yên rồi thì không còn đủ chỗ cho con nữa, cho nên con sẽ ngồi trong thùng xe bên hông.”

“Tuyệt vời!”

Harry nói, không thành thực cho lắm.

“Chúng ta nghĩ bọn Tử Thần Thực Tử sẽ tưởng con cỡi chổi,” thầy Moody nói, dường như cố đoán cảm xúc của Harry.

“Snape có khối thì giờ để kể cho bọn chúng biết mọi điều về con mà trước đây hắn chưa nói tới, vì vậy nếu chúng ta đụng phải bọn Tử Thần Thực Tử thì ta cầm chắc là chúng sẽ đuổi theo Harry Potter nào tỏ ra cỡi chổi thành thạo.

Vậy là ổn,” thầy nói tiếp, cột cái bao đựng quần áo của mấy Potter giả và dẫn đầu mọi người đi về phía cửa.

“Tôi cho ba phút chuẩn bị trước khi chúng ta lên đường.

Không cần phải khóa cửa sau, khi bọn Tử Thần Thực Tử đến tìm, cửa nẻo sẽ không thể chặn được chúng.

Đi thôi...”

Harry vội vã chạy vô hành lang quơ cái ba lô của nó, cây chổi Tia Chớp, và cái lồng Hedwig rồi đi theo cả đám ra khu vườn sau nhà tối thui.

Ở mọi phía chổi vọt vào tay người; Hermione đã được chú Kingsley giúp trèo lên một con vong mã đen hù cao lớn, anh Bill giúp chị Fleur trèo lên con kia.

Bác Hagrid đã đứng bên cạnh chiếc xe gắn máy, kính lồi đã đeo sẵn.

“Phải chiếc này không?

Chiếc xe của chú Sirius?”

“Cũng một chiếc,” bác Hagrid nói, ngó xuống Harry cười toe toét.

“Và lần con cỡi nó trước đây, Harry à, con nằm gọn ơ trong một bàn tay hè!”

Harry không thể không cảm thấy hơi ngường ngượng khi trèo vô cái thùng xe bên.

Vị trí đó khiến cho nó thấp hơn tất cả những người khác cả thước: Ron nhe răng cười ngố khi thấy nó ngồi đó y như một đứa con nít ngồi trong xe điện đụng.

Harry nhét ba lô và chổi xuống dưới chân và kẹp cái lồng Hedwig giữa hai đầu gối.

Nó thấy khó chịu cực kỳ.

“Ông Arthur có hàn xì chút đỉnh,” bác Hagrid nói, hơi vô tâm trước nỗi khốn khổ của Harry.

Bác ngồi chàng hảng trên chiếc xe khiến nó rít lên khe khẽ và lún xuống đất vài phân.

“Cần lái giờ có thêm mấy chiêu mới.

Cái đó sáng kiến của bác.”

Bác chỉ một ngón tay to thù lù vào một cái nút tím gần đồng hồ tốc độ.

“Làm ơn cẩn thận, nhé bác Hagrid,” ông Weasley nói, ông đang đứng bên cạnh hai bác con, cầm cây chổi của ông.

“Tôi vẫn chưa chắc cái đó có đáng tin cậy không và chắc chắn là chỉ nên dùng khi nào khẩn cấp.”

“Được rồi, nào,” thầy Moody nói.

“Xin mọi người hãy chuẩn bị.

Tôi muốn tất cả chúng ta xuất phát thật chính xác cùng một lúc nếu không thì toàn bộ chiến thuật nghi binh này sẽ mất toi ý nghĩa.”

Mọi người gật đầu.

“Bây giờ ôm chặt nghe Ron,” cô Tonks nói, và Harry thấy Ron ngấm ngầm ném một cái nhìn tội lỗi về phía thầy Lupin trước khi đặt tay lên hai bên eo của cô Tonks.

Bác Hagrid nổ máy xe: chiếc xe rú lên như một con rồng, và cái thùng xe bên hông rung lên.

“Chúc mọi người may mắn,” thầy Moody la lớn.

“Hẹn gặp lại tất cả trong vòng một giờ ở Hang Sóc.

Xuất phát khi đếm đến tiếng thứ ba.

Một... hai...

BA.”

Một tiếng rống khủng khiếp phát ra từ chiếc xe gắn máy, và Harry cảm thấy cái thùng xe lắc lư muốn ói.

Nó được nhấc bổng lên cao rất nhanh, mắt hơi chảy nước, tóc bị thổi giạt ra khỏi mặt.

Quanh nó những cây chổi cũng vọt thẳng lên; cái đuôi đen dài thòng của con vong mã ngoắc lướt qua.

Hai chân Harry, bị nêm bên trong cái thùng xe của bác Hagrid, vốn đã đau rồi, bây giờ bắt đầu tê.

Quá khốn khổ nên nó gần như quên béng ngó lại ngôi nhà số 4 đường Privet Drive lần cuối cùng.

Đến khi nhìn được qua thành cái thùng xe thì không sao phân biệt được nhà nào với nhà nào nữa rồi.

Và bỗng nhiên, hoàn toàn không ngờ được, cả đám bị bao vây.

Ít nhất ba chục cái bóng đội mũ trùm đầu lơ lửng giữa không gian, hình thành một vòng vây lớn mà trung tâm là đám hội viên Phượng Hoàng vừa bay lên, chưa hiểu gì hết...

Tiếng gào thét, những ngọn lửa xanh lè nhá lên từ mọi phía: bác Hagrid gào lên một tiếng và chiếc xe gắn máy lộn ngược lại.

Harry không còn biết là bác cháu nó đang ở đâu nữa.

Trên đầu nó là đèn đường, quanh nó là tiếng gào rú, nó đang bám vào thùng xe bên để mong sống sót.

Cái lồng Hedwig, cây chổi Tia Chớp, và cái ba lô của nó tuột xuống khỏi đầu gối...

“Không...

HEDWIG!”

Cây chổi quay mòng mòng xuống đất, nhưng nó chỉ xoay sở túm được cái đai của ba lô và cái nóc lồng khi chiếc xe gắn máy xoay trở lại vị trí ban đầu.

Mới hú vía được một giây thì một đợt lửa xanh lè khác lại bùng lên.

Con cú rít lên và ngã lăn quay xuống đáy lồng.

“Không...

KHÔNG!”

Chiếc xe gắn máy lao tới trước; Harry thoáng thấy bọn Tử Thần Thực Tử trùm kín đầu tản ra khi bác Hagrid phá tung vòng vây của chúng.

“Hedwig...

Hedwig...”

Nhưng con cú nằm bất động, thảm hại như một món đồ chơi vứt ở đáy lồng.

Harry không tin nổi, và nỗi lo sợ cho những người khác mới là điều quan trọng nhất.

Nó liếc ra sau lưng và thấy một đám đông chuyển động.

Những luồng ánh sáng lóe lên xanh lè, hai cặp cỡi chổi phóng vọt đi khá xa, nhưng nó không nhận ra được họ là ai...

“Bác Hagrid, chúng ta phải trở lại, chúng ta phải trở lại!”

Nó gào lên át tiếng gầm rú như sấm của cái máy xe, rút đũa phép ra, đẩy cái lồng Hedwig xuống sàn, không chịu tin là con cú đã chết.

“Bác Hagrid, QUAY VÒNG LẠI!”

“Việc của bác là đưa con tới nơi an toàn, Harry à.”

Bác Hagrid rống lên, và bác mở hết ga.

“Ngừng...

NGỪNG LẠI!”

Harry hét lên, nhưng khi nó ngoái nhìn lại lần nữa thì hai tia sáng xanh bỗng bay trượt qua vành tai trái của nó: Bốn Tử Thần Thực Tử đã tách khỏi vòng vây và đuổi theo hai bác cháu, nhắm vào tấm lưng to bè của bác Hagrid.

Bác Hagrid lạng lách, nhưng bọn Tử Thần Thực Tử đã đuổi kịp chiếc xe gắn máy, thêm nhiều bùa chú phóng sát sạt vào hai bác cháu, và Harry phải hụp xuống sâu trong thùng xe để tránh.

Xoay người ra sau nó hét: “Điểm huyệt” và một tia chớp đỏ phóng ra từ cây đũa phép của chính nó, chẻ ra một khoảng hở giữa bốn Tử Thần Thực Tử khi chúng giạt ra để tránh đòn.

“Bám chặt nghe Harry, để cái này trị tụi nó!”

Bác Hagrid gầm lớn, và Harry ngước nhìn lên đúng lúc để thấy bác Hagrid dập một ngón tay to thù lù lên cái nút xanh gần đồng hồ xăng.

Một bức tường, một bức tường gạch chắc chắn, phụt ra từ ống bô xe.

Nhóng cổ lên, Harry thấy bức tường phình ra định hình giữa không trung.

Ba Tử Thần Thực Tử lạng lách được, nhưng tên thứ tư kém may mắn hơn; hắn biến khỏi tầm nhìn và rồi rớt xuống như một tảng đá đằng sau bức tường, cây chổi của hắn gãy vụn.

Một tên trong bọn bay chậm lại để cứu hắn, nhưng cả hai tên cùng bức tường trong không trung bị bóng tối nuốt chửng khi bác Hagrid chồm rạp người trên tay lái và tăng tốc vọt đi.

Nhiều Lời nguyền Giết chóc bay ngang qua đầu Harry từ cây đũa phép của hai tên Tử Thần Thực Tử còn lại; chúng nhắm vào bác Hagrid.

Harry đáp trả bằng cách tung thêm càng nhiều bùa Choáng: đỏ và xanh đụng nhau giữa trời trong một màn mưa tia sáng đủ màu, và Harry nghĩ lộn xộn đến những chùm pháo bông và đám dân Muggle dưới mặt đất hẳn chẳng biết được đang xảy ra chuyện gì...

“Chơi một cú nữa nè, Harry, bám chặt nghe!”

Bác Hagrid gào to, và bác dập vào nút thứ hai.

Lần này một tấm lưới vĩ đại bung ra từ ống bô xe, nhưng bọn Tử Thần Thực Tử đã cảnh giác.

Chẳng những chúng lạng lách tránh được tấm lưới mà cái tên lúc nãy bay chậm lại để cứu đồng bọn cũng đã đuổi kịp.

Hắn hiện ra từ bóng tối, và bây giờ cả ba cùng đuổi theo chiếc xe gắn máy, tất cả cùng bắn theo những lời nguyền.

“Cái này được đây, Harry, bám chặt vào!”

Bác Hagrid gào to, và Harry thấy bác đấm nguyên bàn tay lên cái nút tím bên cạnh đồng hồ tốc độ.

Cùng với một tiếng rống kinh thiên động địa không thể nhầm lẫn được, lửa rồng phun ra từ ống bô, nóng đến trắng xanh, và chiếc xe gắn máy vọt tới trước như một viên đạn trong tiếng kim loại kêu răng rắc.

Harry thấy một tên Tử Thần Thực Tử lạng ra khỏi tầm nhìn để tránh luồng lửa kinh hoàng, và cùng lúc đó nó cảm thấy cái thùng xe lắc lư một cách đáng ái ngại: mối hàn kim loại giữa cái thùng và cái xe đã bị vỡ banh vì sức mạnh của tăng tốc.

“Không sao đâu, Harry!”

Bác Hagrid rống lên, tốc độ vọt nhanh quăng bác bẹp ngửa trên yên, bây giờ chẳng còn ai lèo lái xe nữa, và cái thùng xe bắt đầu vặn xoắn dữ dội ở mối hàn hở.

“Để bác lo, Harry, con khỏi lo!”

Bác Hagrid hét to và rút từ bên trong túi áo khoác ra cây dù hoa màu hồng.

“Bác Hagrid!

Đừng!

Để con!”

“SỬA!”

Một tiếng nổ điếc tai và cái thùng xe sút hoàn toàn ra khỏi cái xe gắn máy.

Lực đẩy của chiếc xe gắn máy đang bay khiến cho Harry lao nhanh tới trước, rồi cái thùng xe bắt đầu mất độ cao...

Trong cơn tuyệt vọng, Harry chĩa cây đũa phép vào cái thùng xe, hét lớn: “Gắn cánh Bay lên!”

Cái thùng xe nổi lên như cái nút phao, tuy không còn lèo lái được nhưng ít nhất thì vẫn còn lơ lửng giữa trời.

Tuy nhiên, Harry chỉ thở phào được có một giây, vì nhiều lời nguyền đang xẹt qua nó veo véo: ba tên Tử Thần Thực Tử đang sáp lại.

“Bác tới đây, Harry!”

Tiếng bác Hagrid quát trong bóng tối, nhưng Harry cảm thấy cái thùng xe lại bắt đầu rớt xuống: nó cố gắng ngồi thu lại thật thấp, rồi chĩa vào tên chính giữa trong ba cái bóng đang tiến tới gần và hét: “Chặn lại!”

Thần chú trúng ngay ngực tên Tử Thần Thực Tử chính giữa.

Gã bỗng bị căng tay chân giữa trời một cách lố lăng như thể tông phải một thanh chắn vô hình: một tên đồng bọn suýt tông phải gã.

Thế rồi cái thùng xe bắt đầu rớt xuống một cách nghiêm trọng, và bọn Tử Thần Thực Tử phóng ra một lời nguyền sát Harry đến nỗi nó phải thụp xuống thấp hơn vành thùng xe, đập miệng vào cạnh của cái ghế làm văng ra một cái răng...

“Bác tới ngay, Harry, bác tới ngay!”

Một bàn tay khổng lồ túm lấy lưng áo Harry, nhấc nó ra khỏi cái thùng xe đang lao thẳng xuống.

Harry kéo được cái ba lô theo trong lúc tự mình trèo lên yên xe gắn máy, để rồi nhận ra đang ngồi đâu lưng lại bác Hagrid.

Khi hai bác cháu vọt lên trên, bỏ lại hai tên Tử Thần Thực Tử, Harry nhổ máu ra khỏi miệng, chĩa cây đũa phép về phía cái thùng xe đang rơi, và hét: “Phá hủy!”

Lúc cái thùng xe nổ tung, Harry thấy đau cho Hedwig đến thắt ruột khủng khiếp; tên Tử Thần Thực Tử gần nhất bị nổ văng khỏi chổi té mất tăm; tên cùng đi với hắn rớt lại và biến mất.

“Harry, bác xin lỗi, bác xin lỗi nghe,” bác Hagrid rên rỉ.

“Lẽ ra bác không nên tự sửa... con mất chổi rồi...”

“Không quan trọng, bác cứ bay tiếp!”

Harry hét ngược lại, vì hai Tử Thần Thực Tử nữa hiện ra từ bóng tối, đang kéo tới gần.

Những bùa chú lời nguyền lại một lần nữa phóng qua lại trong khoảng không giữa hai phe, bác Hagrid lạng lách và bay theo hình chữ z: Harry biết bác Hagrid không dám dùng đến nút lửa rồng một phen nữa khi mà Harry ngồi trong thế chông chênh như vậy.

Harry phóng ra hết bùa Choáng này đến bùa Choáng khác vào bọn đang đuổi theo, chỉ đủ cầm chân chúng.

Nó lại phóng thêm một thần chú Chặn đường nữa: tên Tử Thần Thực Tử đuổi theo sát nhất lạng người tránh được, cái mũ trùm đầu của hắn tuột ra, và nhờ ánh sáng đỏ của bùa Choáng nó tung ra tiếp theo đó mà Harry nhìn thấy gương mặt trơ kỳ quái của Stanley Shunpike...

Stan...

“Giải giới!”

Harry hét.

“Nó đó, nó đó, nó là đứa thật đó!”

Harry nghe tiếng la của tên Tử Thần Thực Tử còn lớn hơn cả tiếng máy xe nổ như sấm rền: ngay sau đó, cả hai tên đuổi theo đều rớt lại sau và biến mất.

“Harry, chuyện gì xảy ra vậy?”

Bác Hagrid hét.

“Chúng bỏ đi đâu rồi?”

“Con không biết!”

Nhưng Harry sợ: tên Tử Thần Thực Tử đội mũ trùm đã hét “nó là đứa thật đó!”

Làm sao hắn biết?

Nó nhìn đăm đăm vào bóng tối dường như trống trơn và cảm nhận được mối đe dọa.

Chúng ở đâu?

Nó lồm cồm xoay quanh chỗ ngồi để quay ra phía trước và níu lấy lưng áo khoác của bác Hagrid.

“Bác Hagrid, bác xịt lửa rồng một lần nữa đi, chúng ta hãy đi khỏi đây ngay.”

“Vậy thì, bám chặt nghe Harry”

Một lần nữa tiếng gầm rú đinh tai nhức óc vang lên và lửa trắng xanh phụt ra từ ống bô: Harry cảm thấy bản thân mình bị trật ra sau trượt khỏi cái yên chỉ còn có chút xíu chỗ cho nó ngồi.

Bác Hagrid bật ngửa ra sau đè lên nó, suýt vuột cả tay lái...

“Bác nghĩ mình đã bỏ rơi chúng rồi Harry à, bác nghĩ mình đã thoát rồi.”

Nhưng Harry không tin tưởng lắm; nỗi sợ bao trùm khi nó nhìn trái ngó phải canh chừng những kẻ truy đuổi mà nó chắc chắn là sẽ đến...

Tại sao chúng rớt lại?

Một tên trong bọn chúng vẫn còn cây đũa phép cơ mà...

Nó đó... nó là đứa thật đó...

Chúng nói điều đó ngay sau khi nó cố Giải giới Stan...

“Chúng ta gần đến nơi rồi, Harry à, chúng ta gần thành công rồi!”

Bác Hagrid hét toáng lên.

Harry cảm thấy chiếc xe gắn máy hạ thấp xuống một tí mặc dù ánh đèn dưới mặt đất trông vẫn còn xa xăm như những vì sao.

Bỗng cái thẹo trên trán nó nóng bỏng như lửa: mỗi bên chiếc xe gắn máy xuất hiện một tên Tử Thần Thực Tử, hai Lời nguyền Giết chóc bắn từ phía sau sướt qua nó trong đường tơ kẽ tóc...

Và rồi Harry thấy hắn.

Voldemort đang bay như khói nương theo gió, không cỡi chổi cũng không cỡi vong mã, gương mặt như rắn của hắn sáng lập lòe trong bóng tối, những ngón tay trắng hếu của hắn lại giơ cao cây đũa phép...

Bác Hagrid thốt ra một tiếng rú kinh hãi và bẻ lái xe lao xuống theo chiều thẳng đứng.

Bám lấy hy vọng sống sót, Harry phóng lung tung những bùa Choáng vào bóng đêm đang quay mòng mòng.

Nó thấy một thân thể bay ngang qua và biết là nó đã phóng trúng một tên trong bọn chúng, nhưng rồi nó nghe một tiếng nổ kinh thiên và nhìn thấy những tia lửa nháng lên từ động cơ của chiếc xe.

Chiếc xe quay xoắn tít trong không trung, hoàn toàn không điều khiển được nữa...

Những tia sáng xanh lè lại phóng trớt qua hai bác cháu.

Harry không còn biết đâu là trên đâu là dưới nữa: cái thẹo của nó vẫn đang cháy bỏng, nó chờ chết trong chớp mắt.

Một cái bóng đội mũ trùm kín mặt cỡi chổi bay chỉ cách nó vài bước, nó thấy hắn giơ cánh tay lên...

“KHÔNG!”

Bác Hagrid gào lên giận dữ và tự mình phóng ra khỏi chiếc xe lao vào tên Tử Thần Thực Tử, Harry kinh hoàng ngó cả bác Hagrid lẫn tên Tử Thần Thực Tử cùng rớt xuống mất tiêu, trọng lượng gộp lại của cả hai quá sức chịu đựng của cây chổi...

Ráng dùng hai đầu gối kẹp chặt chiếc xe gắn máy đang lao thẳng xuống, Harry nghe Voldemort gào lên: “Của ta!”

Thế là hết: Nó không thể nghe hay thấy Voldemort ở đâu nữa; nó thoáng thấy một tên Tử Thần Thực Tử khác sà xuống tránh chỗ và nó nghe “Avada...”

Cơn nhói đau từ cái thẹo khiến Harry nhắm mắt lại, cây đũa phép của nó tự phản ứng.

Nó có cảm giác cây đũa phép kéo bàn tay nó quay vòng như một thỏi nam châm vĩ đại, qua đôi mắt hé mở nó thấy một ngọn lửa vàng chóe bắn ra, một tiếng rắc rồi một tiếng thét giận dữ.

Tên Tử Thần Thực Tử còn lại rống lên, Voldemort gào, “Không!”

Và không biết bằng cách nào đó, Harry phát hiện ra mũi mình chỉ cách nút bấm lửa rồng có vài phân.

Nó dùng bàn tay không cầm đũa phép thụi vô cái nút và chiếc xe gắn máy xịt thêm lửa vào không khí trong khi nhào thẳng xuống mặt đất.

“Bác Hagrid!”

Harry gọi, bám vào chiếc xe gắn máy để tự cứu mình, “Bác Hagrid!

Triệu lại đây bác Hagrid!”

Chiếc xe gắn máy lao nhanh hơn, bị hút về phía mặt đất.

Mặt Harry nằm ngang tay lái, nên nó chẳng thể thấy gì ngoại trừ những ánh đèn xa xăm đang càng lúc càng gần: nó sắp rớt xuống đất và nó không thể làm gì để đừng rớt.

Đằng sau nó lại vang lên một tiếng gào nữa:

“Cây đũa phép của mi, Selwyn, đưa ta đũa phép của mi!”

Harry cảm nhận được Voldemort trước khi nhìn thấy hắn.

Quay ngang, nó ngó chòng chọc vào hai con mắt đỏ và chắc mẻm đó là thứ cái cuối cùng nó nhìn thấy trên đời: Voldemort đang chuẩn bị ếm nó một lần nữa...

Và bỗng nhiên Voldemort biến mất.

Harry ngó xuống, thấy bác Hagrid nằm dạng tay chân trên mặt đất bên dưới.

Nó ghị chặt tay lái để tránh đụng phải bác, mò mẫm tìm cái thắng, nhưng với một cú đâm sầm rung đất điếc tai, nó nhào mạnh xuống một cái ao sình.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 5: Chiến binh rơi rụng


Chiến binh rơi rụng

“Bác Hagrid?”

Harry vùng vẫy để tự ngoi lên khỏi đống da rách và kim loại bể bao quanh nó; hai bàn tay nó lún sâu mấy phân trong vũng nước đục ngầu khi cố chống tay đứng dậy.

Nó không thể hiểu Voldemort đã biến đi đâu và nó chờ đợi hắn sà xuống từ bầu trời tối đen bất cứ lúc nào.

Có cái gì đó nóng và ướt đang từ trên trán nhễu xuống cằm nó.

Nó bò ra khỏi vũng nước và loạng choạng đi về phía cái đống đen to thù lù nằm trên mặt đất là bác Hagrid.

“Bác Hagrid?

Bác Hagrid ơi, nói với con đi...”

Nhưng cái đống đen đó không nhúc nhích.

“Ai ở ngoài đó?

Có phải Potter không?

Cháu là Harry Potter hả?”

Harry không nhận ra giọng nói của người đàn ông.

Bỗng nhiên một người đàn bà hét lên, “Họ bị tai nạn rồi.

Anh Ted ơi!

Tai nạn trong vườn nè!”

Đầu óc Harry mù tịt.

“Bác Hagrid ơi,” nó ngốc nghếch lặp lại, và đầu gối nó sụm xuống.

Điều tiếp theo mà nó biết được là nó đang nằm ngửa trên cái gì đó mềm như những cái gối nệm, tay phải và chỗ be sườn của nó rát bỏng.

Cái răng bị văng mất của nó đã mọc trở lại.

Cái thẹo trên trán nó vẫn còn phập phồng.

“Bác Hagrid?”

Nó mở mắt ra và thấy mình đang nằm trên một cái ghế nệm dài trong một phòng khách xa lạ sáng đèn.

Cái ba lô của nó được đặt trên sàn gần đó, ướt sũng và dính đầy sình.

Một người đàn ông tóc vàng hoe, bụng bự, đang lo lắng nhìn Harry.

“Bác Hagrid không sao đâu con,” người đàn ông nói.

“Bà xã ông đang chăm sóc bác ấy.

Con thấy sao?

Còn gì khác bị gãy không?

Ông đã gắn lại xương sườn, tay và răng cho con.

Nhân tiện ông giới thiệu luôn, ông là Ted, Ted Tonks – cha của Dora.”

Harry vội vàng ngồi dậy.

Ánh sáng nổ đom đóm trước mắt nó và nó cảm thấy buồn nôn, choáng váng.

“Voldemort...”

“Thong thả thôi,” ông Ted Tonks vừa nói vừa đặt một bàn tay lên vai Harry và đẩy nó nằm trở xuống nệm.

“Tai nạn con vừa trải qua thiệt là tệ.

Mà có chuyện gì vậy?

Cái xe gắn máy hư à?

Ông Arthur Weasley lại quá lậm khả năng của ổng và mớ máy móc Muggle kỳ cục của ổng chứ gì?”

“Không,” Harry nói, trong khi cái thẹo của nó xốn xang như một vết thương hở miệng, “Bọn Tử Thần Thực Tử, đông lắm... tụi con bị rượt đuổi...”

“Tử Thần Thực Tử?”

Ông Ted nói nhanh.

“Con muốn nói gì, Tử Thần Thực Tử à?

Ông tưởng chúng không biết con dọn chỗ ở đêm nay chớ, ông tưởng...”

“Chúng biết,” Harry nói.

Ted Tonks ngó lên trần nhà như thể ông có thể nhìn xuyên qua trần thấy được bầu trời.

“Lạ, chúng ta biết bùa bảo vệ vẫn còn linh nghiệm mà, đúng không?

Bọn chúng không thể nào xâm nhập phạm vi một trăm thước quanh địa điểm này từ bất cứ hướng nào.”

Bây giờ Harry hiểu tại sao Voldemort biến mất.

Ắt hẳn lúc đó chiếc xe gắn máy đã vượt qua rào cản làm bằng những lá bùa của Hội.

Nó chỉ mong bùa tiếp tục linh: Nó tưởng tượng Voldemort đang ở trên cao, cách chỗ ông cháu nó đang nói chuyện chỉ có một trăm thước và đang tìm cách xâm nhập vào cái mà Harry hình dung ra giống như một cái bong bóng trong veo khổng lồ.

Nó quăng cặp giò ra khỏi ghế xô-pha; nó cần phải thấy tận mắt mới tin là bác Hagrid còn sống.

Nhưng nó chỉ mới gượng đứng dậy được thì cửa mở ra và bác Hagrid lách qua cửa, mặt mũi be bét sình và máu, chân đi cà nhắc một chút, nhưng vẫn sống nhăn một cách nhiệm mầu.

“Harry!”

Đá văng hai cái bàn xinh xắn và một cây tỏi kiểng, bác vượt qua khoảng cách giữa hai bác cháu bằng hai bước sải dài và ôm chầm Harry vào lòng thắm thiết đến nỗi suýt làm gãy mấy be sườn vừa được ráp lại của nó.

“Mèn ơi, Harry, làm sao con thoát được trận đó hà?

Bác tưởng cả hai bác cháu mình tiêu rồi chớ.”

“Dạ, con cũng tưởng vậy.

Con không tin nổi...”

Harry nín bặt.

Nó vừa nhận ra người đàn bà mới đi vào phòng phía sau bác Hagrid.

“Mụ!”

Nó hét, và thọc tay vô túi áo, nhưng túi trống trơn.

“Cây đũa phép của con đây, con trai ơi,” ông Ted vừa nói vừa gõ cây đũa phép lên cánh tay Harry.

“Nó rớt ngay bên cạnh con, ông đã lượm nó lên... và người con đang quát là vợ của ông.”

“Ôi, con... con xin lỗi!”

Khi đã tiến vào trong phòng rồi, các nét của bà Tonks với mụ em Bellatrix mới đỡ giống nhau hơn: tóc bà hơi ánh nâu và mắt bà to hơn, nhân hậu hơn.

Cho dù vậy, bà trông có vẻ hơi kiêu kỳ sau tiếng kêu thảng thốt của Harry.

“Chuyện gì đã xảy ra cho con gái tôi?”

Bà hỏi.

“Ông Hagrid nói các người bị phục kích; Nymphadora giờ ở đâu?”

“Con không biết,” Harry nói.

“Bác cháu con không biết chuyện gì đã xảy ra cho mấy người kia.”

Ông bà Ted nhìn nhau.

Một nỗi sợ hãi pha lẫn cảm giác tội lỗi kẹp chặt lấy Harry khi nó thấy vẻ mặt của hai ông bà Tonks.

Nếu bất cứ ai trong số những người kia chết thì đó chính là lỗi của nó, lỗi của nó hoàn toàn.

Nó đã thuận lòng theo kế hoạch, đưa họ dúm tóc của nó...

“Khóa Cảng.”

Bỗng nhiên nó nhớ ra.

“Bác cháu mình phải về Hang Sóc để biết... lúc đó cháu sẽ có thể báo tin cho ông bà, hoặc là... hoặc cô Tonks sẽ báo, khi cô ấy đã...”

“Dora sẽ không sao cả, Dromeda à,” ông Ted nói.

“Nó biết công việc của mình, nó từng làm nhiều công tác khó khăn với các Thần Sáng.

Khóa Cảng có đặt ở đây,” ông nói thêm với Harry.

“Nó khởi hành trong vòng ba phút nữa, nếu cháu muốn đi.”

“Dạ, con đi,” Harry nói.

Nó tóm lấy cái ba lô, lẳng lên vai.

“Con...”

Nó nhìn bà Tonks, muốn xin lỗi về nỗi lo sợ mà nó gây ra cho bà, nó cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm kinh khủng về chuyện này, nhưng nó chẳng tìm được từ nào để nói ra mà không nghe rỗng tuếch và giả dối.

“Con sẽ thưa với cô Tonks...

à, cô Dora... nhắn tin, khi cô ấy...

Cám ơn ông bà đã cứu giúp con và bác Hagrid, cám ơn về mọi thứ, con...”

Nó mừng vì được ra khỏi căn phòng và theo ông Ted Tonks đi dọc một hành lang ngắn để vào phòng ngủ.

Bác Hagrid đi theo phía sau, cúi thấp xuống để khỏi đụng đầu vào rầm cửa.

“Đây, con trai.

Khóa Cảng đó.”

Ông Tonks chỉ vào một cái lược cán bạc nằm trên bàn trang điểm.

“Cám ơn ông,” Harry vừa nói vừa vói tới chạm một ngón tay lên cái lược, sẵn sàng ra đi.

“Khoan đã,” bác Hagrid vừa nói vừa nhìn quanh quất, “Harry à, con Hedwig đâu?”

“Nó... nó bị trúng bùa,” Harry nói.

Nó như sụp đổ khi nhận ra điều đó: nó cảm thấy xấu hổ về chính mình trong lúc nước mắt chảy làm mắt cay xè.

Con cú đã làm bạn với nó lâu nay, là mối liên hệ chính của nó với thế giới pháp thuật mỗi khi nó bị buộc phải trở về với gia đình Dursley.

Bác Hagrid đưa một bàn tay to tướng vỗ lên vai nó khiến nó phát đau.

“Không sao,” bác nói cụt ngủn.

“Không sao.

Nó đã sống một đời rất thọ rồi...”

“Ông Hagrid!”

Ông Ted Tonks nhắc nhở, vì cái lược đang ửng lên màu xanh sáng rực, và bác Hagrid chỉ kịp chạm ngón tay vào đúng lúc.

Thót bụng một cái như thể có một cái móc câu vô hình và một sợi dây lôi tới trước, Harry bị kéo vào cõi thinh không, xoay tít không tự chủ được, ngón tay nó dính cứng vào cái Khóa Cảng khi nó và bác Hagrid bị tống ra khỏi gia đình ông Tonks.

Tích tắc sau, chân Harry chạm mạnh vào mặt đất cứng và nó té bò càng xuống sân Hang Sóc.

Nó nghe tiếng la hét.

Liệng cái lược không còn tỏa sáng qua một bên, Harry đứng dậy, hơi lảo đảo, và ngó thấy bà Weasley cùng Ginny đang chạy xuống bậc thang dẫn lên cửa sau, trong khi bác Hagrid chật vật chống chỏi đứng lên vì bác cũng bị té lăn cù khi chạm đất.

“Harry?

Con là Harry thiệt phải không?

Chuyện gì đã xảy ra?

Những người kia đâu?”

Bà Weasley khóc.

“Bác nói vậy là sao?

Chưa ai về à?”

Harry thở hổn hển.

Câu trả lời rõ ràng đã khiến cho gương mặt tái mét của bà Weasley càng tái thêm.

“Bọn Tử Thần Thực Tử rình sẵn tụi con,” Harry nói với bà.

“Tụi con vừa mới khởi hành là đã bị phục kích rồi... chúng biết thời điểm là đêm nay...

Con không biết chuyện gì xảy ra cho những người khác, bốn tên trong bọn chúng đuổi theo bác Hagrid và con, tụi con cố hết sức để thoát được chúng, rồi đến Voldemort đuổi kịp tụi con...”

Nó nghe thấy sự phân trần trong giọng nói của mình, khẩn khoản xin bà thông cảm vì sao nó không biết chuyện gì xảy ra cho các con trai của bà, nhưng...

“May phước con được bình an,” bà nói, kéo nó vào vòng tay ôm ấp thương yêu đến nỗi nó cảm thấy không xứng đáng.

“Bà Molly, bà hông có chút rượu mạnh nào he?”

Bác Hagrid hỏi, giọng run run.

“Để làm thuốc ấy mà.”

Bà có thể hô phép đem rượu ra, nhưng rồi lại quày quả đi trở vào ngôi nhà ngoằn ngoèo, Harry biết bà muốn giấu vẻ mặt của bà đi.

Nó quay qua Ginny và cô bé ngay lập tức trả lời cho sự cầu khẩn thông tin chưa thốt ra lời của nó.

“Lẽ ra anh Ron và cô Tonks về đây sớm nhất, nhưng họ bị lỡ chuyến Khóa Cảng, cái khóa trở về đây mà không có họ,” cô bé nói, chỉ vào một cái hộp đựng dầu rỉ sét nằm trên mặt đất gần đó.

“Còn cái kia,” cô bé chỉ vào một chiếc giày cũ, “lẽ ra phải đưa ba và anh Fred về, theo dự định thì họ là cặp thứ hai về đến nhà.

Anh và bác Hagrid là cặp thứ ba và,” cô bé coi đồng hồ đeo tay, “nếu anh George và thầy Lupin thoát được thì họ sẽ về đây trong vòng một phút nữa.”

Bà Weasley lại đi ra, mang theo một chai rượu mạnh đưa cho bác Hagrid.

Bác bật nút chai uống thẳng một hơi.

“Má!”

Ginny la to, chỉ vào một chỗ cách đó mấy thước.

Một vệt sáng xanh lơ hiện ra trong bóng tối: nó lớn dần và sáng dần, và thầy Lupin cùng George hiện ra, quay mòng mòng rồi té xuống.

Harry biết ngay tức thì là có điều gì đó không ổn: thầy Lupin đang đỡ George, anh này bất tỉnh, mặt đầy máu.

Harry chạy tới trước, nắm chân George.

Nó cùng với thầy Lupin khiêng George vào trong nhà, đi xuyên qua nhà bếp để vào phòng khách, đặt anh ta nằm xuống cái ghế nệm dài.

Khi ánh đèn rọi đến cái đầu của George, Ginny há hốc miệng và bao tử Harry thót lại: một vành tai của George đã mất.

Một bên đầu và cổ anh ta ướt đẫm máu đỏ au thiệt dễ sợ.

Bà Weasley vừa cúi xuống con trai mình thì thầy Lupin túm lấy cánh tay của Harry lôi nó đi, chẳng được nhẹ nhàng cho lắm, trở vô nhà bếp, nơi bác Hagrid vẫn còn đang ì ạch nhét khối lượng thân thể của mình qua khung cửa sau.

“Ấy,” bác Hagrid tức giận nói.

“Bỏ nó ra, bỏ Harry ra!”

Thầy Lupin bất kể đến bác.

“Sinh vật nào ngồi ở trong góc khi Harry Potter đến văn phòng ta ở trường Hogwarts lần đầu tiên?”

Thầy vừa nói vừa lắc nhẹ người Harry.

“Trả lời ta!”

“Một... một con Grindylow trong bồn nước thì phải?”

Thầy Lupin thả Harry ra và ngã lưng dựa vào tủ chén.

“Vậy là sao hả?”

Bác Hagrid gầm lên.

“Thầy xin lỗi, Harry, nhưng thầy phải kiểm tra,” thầy Lupin nói ngắn gọn.

“Chúng ta đã bị phản bội.

Voldemort biết con được dời đi đêm nay và chỉ kẻ nào tham gia trực tiếp trong kế hoạch này mới có thể báo cho hắn biết.

Con có thể là một kẻ đội lốt giả.”

“Vậy sao chú hông kiểm tra tôi?”

Bác Hagrid thở hổn hển, vẫn còn đang chật vật lách qua khung cửa.

“Bác là người lai khổng lồ,” thầy Lupin nói, ngước lên nhìn bác Hagrid “Thuốc đa dịch chỉ dùng cho con người mà thôi.”

“Không ai trong Hội Phượng Hoàng lại đi báo cho Voldemort việc chúng ta di chuyển đêm nay cả,” Harry nói.

Ý tưởng đó quá khủng khiếp đối với nó, nó không thể nào tin việc đó lại do bất cứ ai trong số họ làm.

“Voldemort chỉ đuổi kịp theo con vào phút chót, lúc đầu hắn không biết ai là con.

Nếu hắn nắm được kế hoạch thì ngay từ đầu hắn đã phải biết con là người đi với bác Hagrid chớ.”

“Voldemort đuổi kịp con à?”

Thầy Lupin nói gay gắt.

“Chuyện gì đã xảy ra?

Làm sao con thoát được?”

Harry giải thích bọn Tử Thần Thực Tử đuổi theo hai bác cháu như thế nào và nhận ra nó là Harry ra sao, rồi chúng bỏ dở cuộc truy đuổi, và có lẽ chúng đã thỉnh đến Voldemort, hắn đã xuất hiện chỉ ngay trước khi nó và bác Hagrid đến được nơi ẩn náu trong nhà cha mẹ cô Tonks.

“Chúng nhận ra con à?

Nhưng bằng cách nào?

Con đã làm gì?”

“Con...”

Harry cố gắng nhớ lại; cả cuộc hành trình có vẻ như một khối mờ mịt của hoảng sợ và hỗn loạn.

“Con thấy Stan Shunpike...

Thầy biết anh lơ xe trên chiếc xe buýt Hiệp sĩ chớ?

Và con tính Giải giới ảnh thay vì...

ảnh đâu có biết ảnh đang làm gì, đúng không ạ?

Chắc ảnh bị ếm bùa Độc đoán!”

Thầy Lupin có vẻ kinh hoàng.

“Harry, thời của bùa Giải giới đã qua rồi!

Những kẻ ấy đang tìm cách bắt và giết con!

Nếu chưa sẵn sàng để giết chúng thì ít nhất thì con cũng phải đánh bùa Choáng chứ.”

“Tụi con đang ở trên cao cả trăm thước!

Anh Stan đang không tự chủ, và nếu con mà đánh choáng ảnh và ảnh té, thì ảnh cũng sẽ chết y như con dùng Lời nguyền Giết chóc vậy!

Hai năm trước thần chú Giải giới đã cứu con khỏi tay Voldemort,” Harry nói thêm một cách bướng bỉnh.

Thầy Lupin nhắc nó nhớ đến anh chàng ưa giễu cợt Zacharias Smith của nhà Hufflepuff, anh ta đã chế nhạo Harry về chuyện nó muốn dạy Đoàn quân Dumbledore cách Giải giới.

“Đúng vậy, Harry à,” thầy Lupin nói mà phải vất vả kiềm chế, “và rất đông bọn Tử Thần Thực Tử đã chứng kiến việc đó xảy ra!

Tha lỗi cho thầy, nhưng hồi ấy, đó là một phản ứng rất lạ thường trước sự đe dọa của thần chết cận kề.

Còn lặp lại ứng xử đó tối nay trước bọn Tử Thần Thực Tử đã từng nghe nói hay chứng kiến sự kiện đó lúc xảy ra lần đầu tiên thì gần như là tự sát.”

“Vậy là thầy cho rằng con phải giết anh Stan Shunpike à?”

Harry tức tối nói.

“Dĩ nhiên là không,” thầy Lupin nói, “Nhưng bọn Tử Thần Thực Tử, và thành thật mà nói – hầu hết mọi người! – đều nghĩ là con phải đánh trả!

Giải giới là một thần chú rất có ích, Harry à, nhưng bọn Tử Thần Thực Tử dường như coi đó là độc chiêu đặc trưng của con, và thầy khuyên con đừng để thành như thế.”

Thầy Lupin đang khiến cho Harry cảm thấy nó ngu hết sức, vậy mà vẫn còn cộm một hột bướng bên trong nó.

“Con sẽ không bao giờ cho nổ tung người khác chỉ vì họ láng cháng trước mặt con,” Harry nói.

“Đó là việc của Voldemort.”

Nhưng thầy Lupin không kịp bắt bẻ lại nó: rốt cuộc bác Hagrid cũng thành công trong nỗ lực nhét thân mình qua được khung cửa, rồi lê tới một cái ghế và ngồi xuống; cái ghế sụm bà chè.

Không để ý đến những tiếng nguyền rủa lẫn lộn với lời xin lỗi của bác, Harry tiếp tục nói với thầy Lupin:

“Anh George sẽ không sao chứ ạ?”

Tất cả cơn giận của thầy Lupin với Harry dường như được rút cạn vì câu hỏi đó.

“Thầy tin vậy, mặc dù sẽ không cách gì gắn lại được tai cho nó, khi đã bị mất tai vì lời nguyền thì không thể...”

Bên ngoài có tiếng ạch đụi.

Thầy Lupin lướt ngay tới cửa sau, Harry nhảy qua đám giò cẳng của bác Hagrid và phóng ra sân.

Hai bóng người vừa xuất hiện trong sân, và khi Harry chạy về phía họ thì nó nhận ra đó là Hermione, bây giờ đã trở lại nguyên dạng, và chú Kingsley, cả hai còn nắm chặt một cái móc treo áo cong queo.

Hermione lao mình vào vòng tay của Harry, nhưng chú Kingsley chẳng tỏ ra chút xíu vui mừng được gặp lại ai trong đám cả.

Qua vai Hermione, Harry thấy chú Kingsley giơ cây đũa phép của chú chĩa vào ngực thầy Lupin.

“Lời cuối cùng cụ Albus Dumbledore nói với chúng ta!”

“Harry là niềm hy vọng lớn nhất của chúng ta.

Hãy tin nó,” thầy Lupin bình tĩnh đáp.

Chú Kingsley quay đũa chĩa vào Harry, nhưng thầy Lupin nói, “Nó mà.

Tôi kiểm tra rồi.”

“Tốt lắm!

Tốt lắm!”

Chú Kingsley nói, nhét cây đũa phép vào bên trong áo khoác.

“Nhưng ai đó đã phản bội chúng ta!

Chúng biết, chúng biết là tối nay!”

“Có vẻ như vậy,” thầy Lupin đáp.

“Nhưng hình như chúng không biết là sẽ có bảy Potter.”

“Chút an ủi cỏn con!”

Chú Kingsley gầm gừ.

“Còn ai trở về nữa?”

“Chỉ mới có Harry, bác Hagrid.

George và tôi.”

Hermione nén một tiếng rên sau bàn tay.

“Còn anh gặp chuyện gì vậy?”

Thầy Lupin hỏi chú Kingsley.

“Bị năm tên đuổi theo, hai tên bị thương, có thể một tên bị giết,” chú Kingsley quay đi, “và chúng tôi cũng nhìn thấy Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy, hắn nhập bọn đuổi theo chúng tôi được nửa chừng thì biến mất rất nhanh.

Anh Remus, hắn có thể...”

“Bay,” Harry thêm vào.

“Cháu cũng thấy hắn, hắn rượt theo bác Hagrid và cháu.”

“Vậy ra đó là lý do hắn bỏ đi, để đuổi theo cháu!”

Chú Kingsley nói.

“Lúc ấy chú không hiểu tại sao hắn biến mất.

Nhưng cái gì khiến hắn đổi mục tiêu?”

“Harry cư xử hơi quá tử tế với Stan Shunpike,” thầy Lupin nói.

“Stan nào?”

Hermione lặp lại.

“Nhưng cháu tưởng anh ta đang ở trong ngục Azkaban mà?”

Chú Kingsley bật ra tiếng cười buồn bã.

“Hermione à, rõ ràng là có một vụ vượt ngục tập thể rất đông đã bị Bộ Pháp thuật ém nhẹm.

Mũ trùm đầu của Travers rớt ra khi chú nguyền hắn, lẽ ra hắn cũng đang ngồi tù.

Nhưng chuyện gì đã xảy ra cho anh thế, anh Remus?

George đâu?”

“Nó bị mất một vành tai,” thầy Lupin nói.

“Mất một...?”

Hermione lặp lại giọng thảng thốt.

“Chiến công của Snape,” thầy Lupin nói.

“Snape à?”

Harry hét.

“Chú đừng nói là...”

“Hắn bị mất mũ trùm trong cuộc săn đuổi.

Cắt sâu Mãi mãi luôn luôn là chiêu đặc biệt của Snape.

Phải chi tôi có thể đáp lễ hắn, nhưng sau khi George bị thương tôi chỉ còn làm được mỗi một việc là giữ nó trên cây chổi, nó bị mất nhiều máu quá...”

Cả bốn người im lặng khi cùng ngước nhìn lên trời.

Chẳng có dấu hiệu chuyển động nào; những ngôi sao đăm chiêu nhìn lại họ, không nhấp nháy, dửng dưng, chẳng hay biết gì về những người bạn đang bay.

Ron ở đâu?

Anh Fred và ông Weasley ở đâu?

Anh Bill, chị Fleur, cô Tonks, thầy Mắt Điên, và lão Mundungus ở đâu?

“Harry, giúp một tay với!”

Bác Hagrid ồm ồm gọi vọng ra từ cánh cửa mà bác lại một phen nữa bị mắc kẹt.

Mừng là có chuyện gì đó để làm, Harry kéo bác thoát ra, rồi nó đi ngang qua nhà bếp trống vắng trở lại phòng khách nơi bà Weasley và Ginny vẫn còn đang chăm sóc anh George.

Bà Weasley lúc này đã cầm được máu cho anh, và nhờ ánh đèn Harry nhìn thấy một cái lỗ toác hoác sạch sẽ vốn là cái vành tai của George.

“Anh ấy sao rồi ạ?”

Bà Weasley quay lại nhìn và nói, “Bác không thể làm cho nó mọc lại được, không thể được một khi nó bị cắt bằng pháp thuật Hắc ám.

Nhưng đáng ra còn tệ hơn vầy nhiều...

Nó còn sống.”

“Dạ,” Harry nói.

“Cám ơn Trời.”

“Em nghe có ai đó ở trong sân phải không?”

Ginny hỏi.

“Hermione và chú Kingsley,” Harry nói.

“May phước,” Ginny thì thầm.

Hai đứa nhìn nhau, Harry muốn ôm lấy Ginny, giữ cô bé trong vòng tay, nó thậm chí không ngại rằng bà Weasley đang có mặt, nhưng trước khi nó kịp thực hiện được điều thôi thúc, một tiếng đổ ầm vang lên trong nhà bếp.

“Tôi sẽ chứng minh tôi là ai, anh Kingsley à, sau khi tôi nhìn thấy con trai tôi, muốn tốt lành thì tránh ra ngay.”

Trước đây Harry chưa bao giờ nghe ông Weasley hét lớn như vậy.

Ông xông vào phòng khách, mảng đầu hói của ông sáng bóng mồ hôi, cặp kính xéo xẹo, anh Fred ở ngay bên cạnh ông, cả hai đều xanh mét, nhưng không bị thương.

“Anh Arthur!”

Bà Weasley thổn thức.

“Ôi, phước đức biết bao!”

“Nó sao rồi?”

Ông Weasley quỳ ngay xuống bên cạnh George.

Lần đầu tiên kể từ khi Harry quen biết anh, Fred dường như đớ lưỡi.

Đứng đằng sau cái ghế nệm dài anh há hốc miệng nhìn vết thương của thằng em song sinh như thể không tin nổi cái mà anh đang thấy.

Có lẽ bị tiếng ồn khuấy động khi cha và anh đến bên mình, George cục cựa.

“Con thấy thế nào, George?”

Bà Weasley thì thào.

Ngón tay George rờ rẫm một bên đầu.

“Thấy như sư,” nó lẩm bẩm.

“Nó mắc chứng gì vậy?”

Fred rền rĩ, tỏ ra kinh hoảng.

“Đầu óc nó có bị ảnh hưởng không đấy?”

“Như sư,” George lặp lại, mắt mở to ra nhìn ông anh.

“Anh coi...

Em như sư rồi.

Mất tóc mất tai rồi, Fred ơi, hiểu chưa?”

Bà Weasley khóc nức nở hơn bao giờ hết.

Gương mặt nhợt nhạt của Fred hồng lên.

“Lâm ly,” nó nói với George, “Ôi, lâm ly!

Trước mặt là cả một thế giới rộng lớn toàn chuyện tiếu lâm dính tới lỗ nhĩ mà mày lại mất tai à?”

“Ờ, phải rồi,” George nói, nhe răng cười với bà mẹ đang nước mắt đầm đìa.

“Bây giờ má có thể phân biệt được hai đứa con rồi hén, má.”

Rồi nó nhìn quanh.

“Chào, Harry...

Em là Harry, đúng không?”

“Dạ, em đây,” Harry nói, đi tới gần cái ghế nệm dài.

“Chà, ít nhất thì em cũng về được đây an toàn,” George nói.

“Sao Ron và anh Bill không xúm xít quanh giường bệnh của mình nhể?”

“Họ chưa về tới nơi, George à,” bà Weasley nói.

Nụ cười của George héo đi.

Harry đưa mắt ra hiệu cho Ginny đi cùng nó trở ra bên ngoài.

Khi hai đứa đi ngang nhà bếp, Ginny nói nhỏ:

“Giờ này lẽ ra anh Ron và cô Tonks phải về tới rồi.

Họ đâu phải đi xa; nhà dì Muriel gần đây mà.”

Harry không nói gì.

Nó đã cố gắng gạt đi mối lo sợ từ khi đến Hang Sóc, nhưng bây giờ nỗi sợ hãi bao bọc lấy nó, dường như trườn bò khắp da nó, phập phồng trong ngực nó, chẹn họng nó.

Khi hai đứa bước xuống bậc tam cấp ra sân sau tối thui, Ginny nắm bàn tay nó.

Chú Kingsley đang sải bước đi tới đi lui, liếc nhìn lên trời mỗi khi vòng lại.

Cảnh đó nhắc Harry nhớ đến dượng Vernon đi qua đi lại trong phòng khách đâu như một triệu năm về trước.

Bác Hagrid, Hermione, và thầy Lupin đứng sát vai nhau, chăm chú nhìn lên trời trong im lặng.

Không ai trong ba người đó quay lại nhìn khi Harry và Ginny nhập bọn trong đêm thâu im ắng.

Từng phút dài ra như cả năm trường.

Làn gió thoảng nhẹ nhất cũng khiến tất cả giật mình hướng về phía lùm bụi hay cây cỏ lao xao, hy vọng một trong những Hội viên có thể từ trong đám lá nhảy ra bình yên vô sự...

Và rồi một cây chổi hiện ra ngay phía trên đầu họ và lao thật nhanh xuống đất...

“Họ kìa!”

Hermione gào lên.

Cô Tonks đáp xuống với một đà trượt dài làm bắn bụi đất và sỏi khắp nơi.

“Anh Remus!”

Cô Tonks òa khóc khi loạng choạng rời cây chổi để ngã vào vòng tay thầy Lupin.

Gương mặt thầy se lại và trắng bệch: dường như thầy không thể thốt ra lời nữa.

Ron đi vấp váp một cách kỳ quái về phía Harry và Hermione.

“Bồ vô sự,” nó lầm bầm được mấy tiếng trước khi Hermione bay tới ôm nó chặt cứng.

“Mình tưởng...

Mình tưởng đâu...”

“Đây không sao,” Ron nói, vỗ nhè nhẹ lên lưng cô bé.

“Đây ổn mà.”

“Ron tuyệt lắm,” cô Tonks nồng nhiệt nói, thả vòng tay ôm thầy Lupin ra.

“Tuyệt vời luôn.

Đánh Choáng một tên trong bọn Tử Thần Thực Tử, đánh thẳng vô đầu, mà lại nhắm vào một mục tiêu di động khi đang bay trên cây chổi...”

“Bồ đánh?”

Hermione nói, trố mắt nhìn Ron, hai tay vẫn còn câu cổ nó.

“Lúc nào cũng giọng ngạc nhiên,” Ron nói hơi cộc một tí, thoát ra khỏi vòng tay của Hermione.

“Có phải tụi này là những người về cuối cùng không?”

“Không,” Ginny nói.

“Chúng ta vẫn còn đang đợi anh Bill, chị Fleur, chú Mắt Điên và bác Mundungus.

Em vô nói cho ba má biết là anh vô sự nghe, anh Ron.



Cô bé chạy trở vô trong nhà.

“Chuyện gì làm em về trễ vậy?

Chuyện gì đã xảy ra cho em?”

Giọng thầy Lupin nghe như nổi giận với cô Tonks.

“Mụ Bellatrix,” cô Tonks nói.

“Mụ muốn tóm em ngang với tóm Harry, anh Remus à, mụ ráng hết sức giết em.

Em chỉ ước sao tóm được mụ ta, em còn nợ Bellatrix.

Nhưng chắc chắn là tụi em đã làm cho Rodolphus bị thương...

Sau đó tụi em đến nhà dì Muriel và trễ chuyến Khóa Cảng và dì ấy cứ nhặng xị cả lên với tụi này...”

Một gân mặt giật giật bên hàm thầy Lupin.

Thầy gật đầu, nhưng dường như không thể nói được gì cả.

“Vậy chuyện gì đã xảy ra với quý vị?”

Cô Tonks hỏi, quay sang Harry, Hermione và chú Kingsley.

Họ kể lại những câu chuyện về hành trình của chính mình, nhưng đồng thời sự vắng mặt của anh Bill, chị Fleur, thầy Mắt Điên và lão Mundungus dường như phủ chụp lên họ một lớp sương giá, sự gặm nhấm băng giá của nó càng lúc càng khó làm lơ.

“Tôi sắp phải trở lại đường Downing, lẽ ra tôi đã phải có mặt ở đó một tiếng đồng hồ trước,” cuối cùng chú Kingsley nói, sau khi quét mắt chăm chú nhìn bầu trời một lần chót.

“Báo cho tôi biết khi họ trở về.”

Thầy Lupin gật đầu.

Vẫy tay chào những người kia, chú Kingsley bước vào bóng tối phía cổng.

Harry nghe một tiếp bụp yếu ớt khi chú Kingsley độn thổ ngay bên ngoài ranh giới Hang Sóc.

Ông bà Weasley chạy xuống mấy bậc thềm, Ginny theo sau họ.

Hai bậc cha mẹ ôm chầm lấy Ron trước khi quay qua thầy Lupin và cô Tonks.

“Cám ơn cô và chú,” bà Weasley nói, “đã vì các con trai tôi.”

“Đừng có ngớ ngẩn thế, chị Molly,” cô Tonks nói ngay.

“George ra sao?”

Thầy Lupin hỏi.

“Ảnh bị gì?”

Ron hỏi rõ to.

“Nó mất...”

Nhưng đoạn cuối câu nói của bà Weasley bị nhấn chìm trong tiếng thét đồng loạt: một con vong mã vừa lao tới trước mắt mọi người và đáp xuống cách họ vài bước.

Anh Bill và Fleur cùng tuột khỏi lưng nó, te tua vì gió nhưng không bị thương.

“Bill!

Ơn trời, ơn trời...”

Bà Weasley chạy tới trước, nhưng cái ôm anh dành cho bà chỉ phớt qua chiếu lệ; nhìn thẳng vào cha mình, anh nói: “Chú Mắt Điên đã chết.”

Không ai nói một lời.

Không ai cử động.

Harry cảm thấy như thể có cái gì đó bên trong nó đang rơi xuống, rơi xuyên lòng đất, bỏ lại nó vĩnh viễn.

“Tụi con thấy tận mắt,” anh Bill nói, Fleur gật đầu, những vệt nước mắt long lanh trên má chị được soi bằng ánh sáng hắt ra từ cửa sổ nhà bếp.

“Chuyện xảy ra ngay sau khi chúng ta phá vỡ vòng vây: chú Mắt Điên và lão Dung gần sát tụi con, họ cũng nhắm hướng bắc.

Voldemort... hắn bay được...

đánh thẳng vào họ.

Lão Dung hoảng loạn, con nghe lão khóc la, chú Mắt Điên cố ngăn lão, nhưng lão vẫn độn thổ.

Voldemort phóng lời nguyền trúng ngay mặt chú Mắt Điên, chú ngã bật ngửa ra khỏi cây chổi và... tụi con chẳng thể làm gì được, tụi con bị nửa tá đứa trong bọn chúng bám đuôi...”

Giọng Bill đứt đoạn.

“Đương nhiên cháu không thể làm gì được rồi,” thầy Lupin nói.

Tất cả đều đứng lặng nhìn nhau.

Harry không thể hiểu được hết.

Thầy Mắt Điên đã chết; không thể nào lại là... thầy Mắt Điên, ngoan cường như vậy, dũng cảm như vậy, người sống sót tài ba...

Cuối cùng dường như mọi người nhận ra trời đã rạng, mặc dù không ai nói ra, ai cũng biết chẳng còn lý do gì để mà chờ đợi trong sân nữa, và họ lặng lẽ bước theo ông bà Weasley trở vào trong Hang Sóc, và vào tới phòng khách, nơi Fred và George đang cười ha hả với nhau.

“Có chuyện gì không hay?”

Fred dò mặt mọi người khi họ bước vào phòng.

“Chuyện gì xảy ra vậy?

Ai...?”

“Chú Mắt Điên,” ông Weasley nói, “đã chết.”

Nụ cười của hai anh em sinh đôi biến thành cái méo miệng sững sờ.

Dường như không ai biết phải làm gì.

Cô Tonks âm thầm khóc trong chiếc khăn tay.

Cô vốn gần gũi với thầy Mắt Điên, Harry biết, thầy là người nó quý mến nhất, người che chở cho nó ở Bộ Pháp thuật.

Bác Hagrid, ngồi trên sàn trong một góc nhà, nơi bác có được chỗ rộng rãi nhất, đang chậm nước mắt bằng cái khăn tay của bác có kích thước bằng tấm khăn trải bàn.

Anh Bill đi tới tủ lấy ra một chai rượu đế lửa và vài cái ly.

“Đây,” anh nói, và với một cái vẫy cây đũa phép, anh phát mười hai ly rượu đầy bay vụt ngang phòng đến từng người, anh giơ cao ly rượu thứ mười ba, “Mắt Điên.”

“Mắt Điên,” tất cả cùng hô, và uống.

“Mắt Điên,” tiếng bác Hagrid vọng lại, chậm hơn một chút, kèm tiếng nấc cụt.

Rượu đế lửa đốt cổ họng Harry.

Dường như rượu hâm cảm xúc ấm lại trong người nó, làm tan đi nỗi tê dại điếng người và cảm giác phi thực, thiêu đốt nó với điều gì đó giống như lòng can đảm.

“Vậy là Mundungus đã biến mất?”

Thầy Lupin nói.

Thầy đã uống một hơi cạn ly.

Không khí thay đổi ngay lập tức.

Mọi người tỏ ra căng thẳng, nhìn thầy Lupin, Harry cảm thấy như mọi người vừa mong thầy nói tiếp vừa hơi sợ điều họ có thể phải nghe.

“Cháu biết chú đang nghĩ gì,” Bill nói, “và cháu cũng tự hỏi điều đó suốt trên đường về đây, bởi vì dường như chúng chực sẵn để đón đầu chúng ta, phải không ạ?

Nhưng lão Mundungus không thể phản bội chúng ta.

Chúng đã không biết là có bảy Harry, điều này khiến chúng lúng túng ngay khi chúng ta xuất hiện, mà chúng ta đừng quên rằng chính lão Mundungus là kẻ đã đưa ra cái mẹo bịp con con ấy.

Tại sao lão không nói luôn cho chúng điều mấu chốt đó?

Cháu nghĩ lão Dung bị hoảng loạn, đơn giản vậy thôi.

Lão đã không muốn đi ngay từ đầu, nhưng chú Mắt Điên ép lão, và Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy tấn công thẳng vào họ.

Nhiêu đó cũng đủ để ai cũng phải hoảng loạn rồi.”

“Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy đã hành động đúng như anh Mắt Điên dự đoán,” cô Tonks thút thít khóc.

“Anh Mắt Điên có nói hắn sẽ cho rằng Harry thật sẽ đi cùng Thần Sáng giỏi nhất, cứng cựa nhất.

Hắn đuổi theo anh Mắt Điên trước nhất, và khi lão Mundungus để lộ bí mật, hắn liền quay qua anh Kingsley...”

“Đúng, lý lẽ đó đều rớt hay,” Fleur ngắt lời cô Tonks, “nhưng vỡn không giãi thích được làm sao họ biết chúng ta đưa Arry đi vào tối nay, đúng hông?

Ắt là ai đó đã hông cẫn thận, ai đó đã lỡ lời đễ lộ cho người ngoài biết.

Chĩ có cách đó mới giãi thích đượt tại sao hắn biết ngày nhưng hông biết toàn bộ kế hoạch.”

Chị tức tối nhìn khắp tất cả mọi người, nước mắt vẫn còn lem nhem trên gương mặt xinh đẹp, ngầm thách thức bất cứ ai dám nói ngược lại.

Không ai dám. m thanh duy nhất phá vỡ sự im lặng là tiếng nấc cụt của bác Hagrid phát ra từ phía sau tấm khăn tay.

Harry liếc nhìn bác Hagrid, người vừa mới liều mạng sống của chính mình để cứu lấy mạng sống nó – bác Hagrid, người mà nó tin tưởng, người đã từng một lần bị lừa trao thông tin cực kỳ quan trọng cho Voldemort để đổi lấy một cái trứng rồng...

“Không,” Harry nói lớn, và cả đám đều nhìn nó ngạc nhiên: rượu đế lửa dường như vừa tăng âm giọng nói của nó.

“Ý tôi là... nếu có ai đó sơ xuất,” Harry nói tiếp, “và để lọt ra điều gì đó, tôi biết là người đó không có chủ tâm làm vậy.

Không phải lỗi của người đó.”

Nó lặp lại, một lần nữa giọng hơi to hơn bình thường.

“Chúng ta phải tin tưởng lẫn nhau.

Tôi tin tưởng tất cả mọi người ở đây, tôi không nghĩ bất cứ ai trong phòng này lại bán tôi cho Voldemort.”

Lại sự im lặng nữa tiếp theo lời nói của nó.

Tất cả mọi người đều đang nhìn nó: Harry lại cảm thấy nóng, và uống thêm mấy hớp rượu lửa để cho có việc mà làm.

Khi nó uống, nó nghĩ đến thầy Mắt Điên.

Thầy Mắt Điên lúc nào cũng phủ nhận thiện chí tin tưởng con người của cụ Dumbledore.

“Nói khéo lắm, Harry,” Fred đột ngột nói.

“Ừ nhỉ, nhĩ, nhĩ,” George nói, liếc Fred nửa cái, miệng anh chàng này bị cà giựt.

Nét mặt thầy Lupin rất kỳ quặc khi thầy nhìn Harry.

Nét mặt ấy gần như thương hại.

“Thầy nghĩ con là đồ ngu à?”

Harry hỏi.

“Không, thầy nghĩ con giống James,” thầy Lupin nói, “anh ấy ắt hẳn đã coi việc không tin tưởng bạn bè là điều ô nhục nhất.”

Harry biết điều thầy Lupin muốn ám chỉ: ấy là cha nó đã bị bạn mình là Peter Pettigrew phản bội.

Nó cảm thấy tức giận phát điên lên được.

Nó muốn cãi lại, nhưng thầy Lupin đã quay lưng lại nó, đặt cái ly của thầy lên một cái bàn nhỏ, và nói với anh Bill, “Còn việc phải làm.

Tôi có thể hỏi anh Kingsley liệu...”

“Không.”

Anh Bill nói ngay, “cháu sẽ làm việc đó.

Cháu sẽ đi.”

“Anh đi đâu?”

Cả cô Tonks và chị Fleur cùng nói.

“Thi thể của Mắt Điên,” thầy Lupin nói, “chúng ta cần tìm lại.”

“Chẳng lẽ không thể...?”

Bà Weasley mở lời với ánh mắt cầu khẩn nhìn anh Bill.

“Đợi à?”

Anh Bill nói, “Không, trừ khi má muốn cho bọn Tử Thần Thực Tử chiếm lấy?”

Không ai nói gì nữa.

Thầy Lupin và anh Bill chào từ giã và ra đi.

Những người còn ở lại giờ đây đều ngồi phịch xuống ghế, tất cả ngoại trừ Harry, nó vẫn đứng.

Với mọi người, sự bất ngờ và gọn ghẽ của cái chết như thể sờ thấy được.

“Con cũng phải đi,” Harry nói.

Mười cặp mắt sửng sốt ngó nó.

“Con đừng dại, Harry à,” bà Weasley nói.

“Con đang nói về chuyện gì vậy?”

“Con không thể ở lại đây.”

Nó xoa trán, cái thẹo lại nhói đau, hơn một năm nay nó đã không còn bị đau như vầy.

“Tất cả mọi người sẽ bị nguy hiểm khi con ở đây.

Con không muốn...”

“Nhưng đừng có ngu ngốc như vậy!”

Bà Weasley nói.

“Toàn bộ vấn đề đêm nay là đưa được con về đây an toàn, và nhờ phước đức mà đã làm được.

Và Fleur đã đồng ý làm đám cưới ở đây thay vì ở Pháp, chúng ta đã dàn xếp mọi việc để có thể ở cùng một nơi mà chăm sóc cho con...”

Bà Weasley không hiểu; bà đang khiến nó cảm thấy tồi tệ thêm, chứ chẳng nhẹ nhõm gì hơn.

“Nếu Voldemort biết con ở đây...”

“Nhưng mà làm sao hắn biết được chứ?”

Bà Weasley hỏi.

“Harry à, hiện giờ có đến một tá chỗ có thể coi là có con đang ở,” ông Weasley nói.

“Hắn không có cách gì biết được con ở trong ngôi nhà an toàn nào.”

“Không phải con lo cho chính con!”

Harry nói.

“Chúng ta biết điều đó,” ông Weasley khẽ nói, “nhưng nếu con bỏ đi thì tất cả những cố gắng của chúng ta đêm nay trở nên vô nghĩa.”

“Con không được đi đâu hết!”

Bác Hagrid lầu bầu.

“Mèn ơi, Harry à, bỏ đi sau mọi chiện mà bọn ta chải qua để đem con về đây hả?”

“Ừ, còn cái tai đổ máu của anh thì sao?”

George nói, hơi nhổm mình dậy trên đống gối nệm.

“Con biết rằng...”

“Chú Mắt Điên sẽ không...”

“TÔI BIẾT RỒI!”

Harry rống lên.

Nó cảm thấy bị bao vây và dọa dẫm: họ tưởng là nó không biết họ đã làm gì cho nó sao, bộ họ không hiểu rằng chính vì cái lý do đó mà nó muốn ra đi lúc này, trước khi họ phải chịu đựng thêm đau khổ vì nó sao?

Sự im lặng khó xử kéo dài, và trong khoảng thời gian đó cái thẹo của nó tiếp tục nhói đau và phập phồng.

Cuối cùng bà Weasley phá vỡ sự im lặng.

“Hedwig đâu, Harry?”

Bà nói ngọt ngào.

“Chúng ta có thể nhốt nó chung với con Pidwidgeon và cho nó ăn cái gì đó.”

Ruột gan Harry quặn cục lại như một nắm đấm.

Nó không thể nói với bà sự thật.

Nó uống nốt ly rượu đế lửa để khỏi trả lời.

“Harry à, chờ đi rồi thể nào chuyện cũng lộ ra là con lại thành công một phen nữa,” bác Hagrid nói.

“Thoát khỏi tay hắn, đánh hắn chạy dài khi hắn ở ngay trên đầu con.”

“Không phải con,” Harry nói thẳng thừng.

“Mà là cây đũa phép của con.

Cây đũa phép của con tự phản ứng theo ý nó.”

Một lát sau Hermione nói nhẹ nhàng, “Nhưng không thể vậy được, Harry à.

Ý bồ là bồ đã làm pháp thuật không chủ tâm; bồ đã phản ứng theo bản năng chứ gì.”

“Không,” Harry nói.

“Chiếc xe gắn máy rớt xuống.

Lúc đó mình thật sự không biết được là Voldemort đang ở đâu, nhưng cây đũa phép của mình cứ quay tít trong tay mình, tìm ra hắn và phóng một câu thần chú vào hắn.

Mình thậm chí còn không nhận ra đó là thần chú gì mà.

Trước nay mình có bao giờ tạo được ngọn lửa vàng chóe nào đâu.”

“Thường thường,” ông Weasley nói, “khi ở trong tình huống bị o ép, con có thể tạo ra phép thuật nhiệm màu mà con cũng chưa bao giờ mơ tới.

Trẻ con thường gặp tình huống đó, trước khi chúng được huấn luyện...”

“Không phải thế,” Harry nói qua kẽ răng nghiến chặt.

Cái thẹo của nó đang cháy bỏng.

Nó cảm thấy tức giận và tuyệt vọng; nó ghét cái ý nghĩ là mọi người đang tưởng tượng nó có sức mạnh tương đương với sức mạnh của Voldemort.

Không ai nói gì.

Nó biết là họ không tin nó.

Bây giờ nó bắt đầu nghĩ lại, trước đây nó chưa hề nghe nói đến một cây đũa phép tự ý làm phép một mình.

Cái thẹo của nó nhói đau, nó cố gắng hết sức mới không rên la.

Lẩm bẩm gì đó về khí trời trong lành, nó đặt cái ly xuống và bỏ ra khỏi phòng.

Khi nó đi ngang qua sân, con vong mã trơ xương ngước nhìn lên – vỗ vỗ đôi cánh giống như cánh dơi khổng lồ của mình, rồi lại tiếp tục gặm cỏ.

Harry dừng bước bên cánh cổng vào khu vườn, đăm đăm nhìn đám cây cối mọc um tùm, xoa cái trán đang dộng bưng bưng và nghĩ đến cụ Dumbledore.

Cụ Dumbledore đã tin tưởng nó, nó biết điều đó.

Cụ Dumbledore ắt biết tại sao và cách nào cây đũa phép của nó lại hành động độc lập như thế, bởi vì cụ Dumbledore luôn luôn có câu trả lời.

Cụ biết nhiều về những cây đũa phép, cụ đã từng giải thích cho nó mối liên quan kỳ lạ giữa cây đũa phép của nó với cây đũa phép của Voldemort...

Nhưng cụ Dumbledore, cũng như thầy Mắt Điên, cũng như chú Sirius, cũng như ba má nó, cũng như con cú đáng thương, tất cả đều đã ra đi đến cõi mà Harry không bao giờ có thể chuyện trò với họ một lần nữa.

Nó cảm thấy một cơn nóng cháy cổ họng không dính dáng gì tới rượu đế lửa...

Và rồi bỗng nhiên cơn đau trong cái thẹo của nó bùng phát lên tột đỉnh.

Khi nó bưng chặt trán và nhắm nghiền mắt lại, một giọng nói gào lên bên trong đầu nó.

“Mi nói với ta rằng vấn đề sẽ được giải quyết bằng cách dùng cây đũa phép của một người khác!”

Và bùng lên trong đầu nó hình ảnh một ông già gầy rộc nằm trên thảm trải trên một nền đá đang gào thét, một tiếng thét kinh hoàng kéo dài, một tiếng thét của nỗi đau đớn quá sức chịu đựng.

“Đừng!

Đừng!

Tôi van ngài, tôi xin ngài...”

“Mi đã lừa dối Chúa tể Voldemort, Ollivander!”

“Tôi không hề... tôi thề là tôi không hề...”

“Mi tìm cách giúp Potter, giúp nó thoát khỏi tay ta!”

“Tôi thề là tôi không hề...

Tôi đã tưởng là một cây đũa phép khác sẽ có hiệu quả...”

“Vậy thì, hãy giải thích điều đã xảy ra.

Cây đũa phép của Lucius đã bị hủy diệt!”

“Tôi không hiểu nổi... mối liên kết... chỉ tồn tại... giữa hai cây đũa phép của ngài và của nó...”

“Láo toét!”

“Làm ơn... tôi xin ngài...”

Và Harry nhìn thấy bàn tay trắng bệch giơ cao cây đũa phép và cảm thấy được cơn giận hiểm độc của Voldemort trào lên, nó nhìn thấy ông già bạc nhược quằn quại trong đớn đau cùng cực.

“Harry?”

Mọi chuyện biến đi nhanh cũng ngang như lúc hiện ra: Harry đứng run rẩy trong bóng tối, níu chặt cánh cổng vào khu vườn, tim nó đập dồn dập, cái thẹo của nó vẫn còn nhoi nhói.

Một lát sau nó mới nhận ra Hermione và Ron đang ở bên cạnh.

“Harry, trở vô nhà đi,” Hermione thì thầm.

“Bồ đâu còn nghĩ đến chuyện bỏ đi nữa hả?”

“Ừ, bồ phải ở lại đây, bồ tèo à!”

Ron nói, đấm thùm thụp lên lưng Harry.

“Bồ không sao hả?”

Hermione hỏi, cô bé lúc này đã đến sát bên Harry đủ để nhìn vào gương mặt nó.

“Trông bồ khủng khiếp quá!”

“À,” Harry nói giọng run run, “Mình có lẽ trông còn khá hơn ông Ollivander...”

Khi nó kể xong cho hai đứa bạn những gì nó thấy, Ron tỏ ra khiếp đảm, nhưng Hermione thì kinh hoàng thực sự.

“Nhưng lẽ ra chuyện đó không thể diễn ra nữa!

Cái thẹo của bồ... lẽ ra nó không thể làm vậy được nữa!

Bồ không được để cho mối liên kết đó nối lại lần nữa...

Thầy Dumbledore muốn bồ đóng đầu óc lại mà!”

Trong lúc Harry không trả lời được, Hermione nắm chặt cánh tay nó.

“Harry, hắn đang chiếm Bộ Pháp thuật, chiếm báo chí và một nửa thế giới pháp thuật!

Đừng để hắn cũng lọt luôn vào đầu óc của bồ!”
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 6: Con ma xó mặc đồ ngủ


Con ma xó mặc đồ ngủ

Nỗi điếng người vì mất thầy Mắt Điên lơ lửng trong ngôi nhà suốt những ngày sau đó.

Harry cứ trông mong được thấy thầy lộc cộc đi qua cánh cửa sau để vào nhà như những Hội viên khác vẫn xẹt ra xẹt vô để tiếp vận tin tức.

Nó cảm thấy chỉ có hành động mới làm nguôi ngoai được cảm giác tội lỗi và đau buồn, và nó phải khởi hành thực hiện nhiệm vụ tìm và diệt những Trường Sinh Linh Giá càng sớm càng tốt.

“Ái chà, bồ đâu có thể làm được gì mấy cái...”

Ron nhăn mặt đọc rõ từng chữ Trường Sinh Linh Giá, “trước khi tròn mười bảy tuổi đâu.

Bồ vẫn còn bị ếm Dấu Hiện mà.

Vả lại tụi mình vẫn có thể bàn tính kế hoạch tại đây hay tại đâu cũng được mà, đúng không?

Hay là...” nó hạ thấp giọng thì thào, “bồ cho rằng bồ đã biết Cái-mà-ai-cũng-biết-là-cái-gì-đó ở đâu rồi?”

“Không,” Harry thừa nhận.

“Mình nghĩ lâu nay Hermione có nghiên cứu chút đỉnh,” Ron nói.

“Nó nói nó để dành đợi bồ đến đây.”

Tụi nó đang ngồi ở bàn ăn điểm tâm.

Ông Weasley và anh Bill vừa mới đi làm.

Bà Weasley đã lên lầu đánh thức Hermione và Ginny, trong khi chị Fleur đã phất phơ đi tắm.

“Dấu Hiện sẽ hết linh vào ngày băm mốt,” Harry nói.

“Nghĩa là mình chỉ cần ở đây bốn ngày, sau đó mình có thể...”

“Năm ngày,” Ron chỉnh nó một cách nghiêm nghị.

“Tụi mình phải ở đây để dự đám cưới.

Tụi mình mà bỏ lỡ cái đám cưới này thì họ sẽ giết tụi mình.”

Harry hiểu “họ” tức là chị Fleur và bà Weasley.

“Chỉ thêm có một ngày mà thôi,” Ron nói, khi trông thấy cái mặt Harry muốn nổi loạn.

“Chẳng lẽ họ không nhận thức được tầm quan trọng...”

“Dĩ nhiên là không,” Ron nói.

“Họ có biết quái gì đâu.

Và bây giờ nhân bồ nhắc tới, mình cũng muốn bàn với bồ về chuyện đó.”

Ron liếc về phía cửa mở vào hành lang để chắc là bà Weasley chưa quay trở lại, rồi nó chồm tới gần Harry hơn.

“Hổm rày má cứ tìm cách moi móc Hermione và mình.

Để biết chuyện mà tụi mình toan tính đó.

Bồ sẽ là đứa tiếp theo má tra gạn, liệu mà giữ mình.

Cả ba với thầy Lupin cũng đã hỏi rồi, nhưng khi tụi này nói cụ Dumbledore dặn bồ không được nói với ai hết, ngoại trừ tụi này, thì họ không hỏi tới nữa.

Nhưng má vẫn không chịu thôi.

Má kiên quyết lắm.”

Điều Ron tiên đoán đã trở thành hiện thực chỉ trong vài giờ.

Trước giờ ăn trưa một chút, bà Weasley tách Harry ra khỏi những người khác bằng cách nhờ nó xác nhận giúp một chiếc vớ nam lẻ đôi mà bà nghĩ có lẽ đã rớt ra từ cái ba lô của Harry.

Khi đã cô lập được nó trong phòng tắm giặt ở ngoài nhà bếp, bà bắt đầu.

“Hình như thằng Ron với con Hermione tính là ba đứa con sẽ bỏ học ở trường Hogwarts,” bà bắt đầu bằng giọng tự nhiên, nhẹ nhàng.

“Ơ,” Harry nói.

“À, dạ.

Tụi con sẽ nghỉ học.”

Cái chậu giặt tự động xoay ở góc phòng, vắt ra một thứ giống như cái áo vét của ông Weasley.

“Cho phép bác hỏi tại sao con bỏ ngang việc học của mình?”

Bà Weasley nói.

“Dạ, thầy Dumbledore để lại cho con... việc phải làm,” Harry ấp úng.

“Ron và Hermione biết việc đó, và tụi nó cũng muốn đi cùng.”

“Việc gì?”

“Con xin lỗi, con không thể...”

“Chà, thành thật mà nói, bác Arthur và bác có quyền được biết, và bác chắc chắn là ông bà Granger cũng đồng ý với bác!”

Bà Weasley nói.

Trước đó Harry đã lo sợ về một cuộc công kích của “phụ huynh có liên quan”.

Nay nó buộc mình phải nhìn thẳng vào mắt bà Weasley, và khi làm vậy nó nhận ra ánh mắt bà giống y chang ánh mắt nâu sẫm của Ginny.

Nhưng chi tiết này cũng chẳng tích sự gì.

“Thầy Dumbledore không muốn cho bất cứ ai khác biết, bác Weasley à.

Con rất tiếc.

Ron và Hermione không cần phải đi, đó là tự các bạn ấy...”

“Bác thấy con cũng không cần phải đi!”

Bà ngắt lời nó, giờ thì bà không cần làm bộ nữa.

“Các con vẫn chưa đủ tuổi trưởng thành, cả ba đứa con!

Thiệt vô lý hết sức, nếu cụ Dumbledore thấy có việc gì cần phải làm thì cụ đã có sẵn cả một Hội mà sai khiến!

Harry à, chắc là con đã hiểu lầm cụ.

Có lẽ cụ dặn con điều gì đó cụ muốn được làm, và con đã tưởng là cụ muốn con làm...”

“Con không hiểu lầm,” Harry nói thẳng thừng.

“Phải là chính con làm.”

Nó đưa trả chiếc vớ lẻ mà nó được giao nhiệm vụ nhận dạng, chiếc vớ có hoa văn hình cỏ chỉ màu vàng.

“Và cái này không phải của con, con đâu có ủng hộ đội Puddlemere United.”

“Ủa, đương nhiên không phải rồi,” bà Weasley nói giọng chưng hửng và hơi dịu xuống trở lại giọng nói tự nhiên của bà.

“Đáng lẽ bác phải nhận ra chứ nhỉ.

À, Harry, trong thời gian con còn ở đây, con không ngại giúp một tay chuẩn bị cho đám cưới của Bill và Fleur chớ, hả con?

Vẫn còn cả đống việc phải làm.”

“Vâng...

Con... dĩ nhiên con không ngại,” Harry nói, lúng túng vì sự đổi đề tài đột ngột này.

“Con ngoan lắm,” bà Weasley nói, và bà mỉm cười khi rời phòng rửa chén.

Từ lúc đó trở đi, bà Weasley khiến Ron, Hermione và Harry tất bật với việc chuẩn bị cho đám cưới đến nỗi tụi nó không còn thì giờ nghĩ ngợi nữa.

Lời giải thích tử tế nhất cho thái độ này có lẽ là bà Weasley muốn phân tán tâm trí chúng khỏi những suy tư về thầy Mắt Điên và những nỗi kinh hoàng trong chuyến đi vừa rồi của tụi nó.

Nhưng sau hai ngày không nghỉ tay giặt ủi, sắp xếp cho hài hòa màu sắc những phù hiệu, ruy-băng, và hoa lá; bắt quỷ lùn trong vườn và giúp bà Weasley nấu những mẻ bánh khổng lồ, Harry bắt đầu nghi ngờ bà có động cơ khác.

Tất cả những công việc bà sai bảo đều dường như khiến nó, Ron và Hermione phải tách xa nhau; nó không có tới một cơ hội nào để nói chuyện riêng với hai đứa kia kể từ đêm đầu tiên, lúc nó nói với hai đứa về việc Voldemort tra tấn ông Ollivander.

“Em nghĩ má cho là ngăn được các anh và chị Hermione xúm lại bàn tính thì má sẽ có thể làm chậm lại việc anh bỏ đi,” Ginny nói nhỏ với Harry khi hai đứa bày bàn ăn tối vào đêm thứ ba nó ở Hang Sóc.

“Và làm như vậy thì bác ấy cho là chuyện gì sẽ xảy ra?”

Harry lầm bầm.

“Chắc ai đó sẽ giết phứt Voldemort trong khi bác ấy giữ chân tụi này ở đây làm chuyện vớ-vẩn-khỉ-gió chắc?”

Nó đã nói mà không suy nghĩ, và nó thấy gương mặt Ginny trắng bệch ra.

“Vậy là thật sao?”

Cô bé nói.

“Có thật đó là chuyện anh đang tính làm không?”

“Anh... không... anh nói giỡn mà,” Harry nói lảng đi.

Hai đứa đăm đăm nhìn nhau, và trong vẻ mặt của Ginny không chỉ có sự sửng sốt mà thôi.

Bỗng nhiên Harry nhận ra rằng đây là lần đầu tiên hai đứa nó được ở bên nhau một mình kể từ những giờ lén lút gặp nhau trong những góc vắng vẻ của sân trường Hogwarts.

Nó biết chắc Ginny cũng đang nhớ lại kỷ niệm đó.

Cả hai giật nảy người khi cánh cửa mở ra, và ông Weasley, chú Kingsley cùng anh Bill bước vào.

Dạo này các Hội viên khác thường đến ăn tối chung với gia đình tụi nó, bởi vì Hang Sóc đã trở thành Tổng hành dinh thay thế số mười hai Quảng trường Grimmauld.

Ông Weasley đã giải thích rằng sau cái chết của cụ Dumbledore, Người-giữ-bí-mật của họ, thì mỗi người trong số những người đã được cụ Dumbledore giao phó địa điểm Quảng trường Grimmauld sẽ luân phiên trở thành Người-giữ-bí-mật.

“Và bởi vì có tới hai chục người trong bọn ta, nên sức mạnh của bùa Trung Thành cũng bị chia loãng ra.

Bọn Tử Thần Thực Tử sẽ có nhiều cơ hội hơn gấp hai chục lần để moi bí mật ra từ bất kỳ người nào.

Chúng ta không mong giữ được bí mật lâu hơn nữa.”

“Nhưng chắc bây giờ Snape đã nói cho bọn Tử Thần Thực Tử địa chỉ rồi chứ?”

Harry hỏi.

“À, anh Mắt Điên đã ếm vài lời nguyền chống lại Snape trong trường hợp hắn lại quay trở về đó.

Chúng ta hy vọng những bùa ếm đó đủ mạnh để vừa cấm cửa hắn vừa trói lưỡi hắn nếu hắn toan tiết lộ địa điểm, nhưng chúng ta không thể chắc chắn.

Tiếp tục sử dụng nơi đó làm tổng hành dinh khi mà giờ đây sự bảo vệ đã lung lay thì đúng là điên.”

Buổi tối đó nhà bếp đông đến nỗi xài dao nĩa đúng cách cũng khó khăn.

Harry bị ép chật ních bên cạnh Ginny; những điều không nói ra mà hai đứa vừa trao đổi cho nhau khiến nó chỉ ước gì có vài ba người ngồi tách hai đứa ra.

Nó hết sức vất vả tránh quẹt vào cánh tay cô bé đến nỗi gần như không thể cắt được miếng thịt gà của mình.

“Không có tin về thầy Mắt Điên sao?”

Harry hỏi anh Bill.

“Không,” anh Bill trả lời.

Họ đã không thể tổ chức một tang lễ cho thầy Mắt Điên, bởi vì anh Bill và thầy Lupin chưa tìm được thi thể của thầy.

Khó mà biết được thầy đã rớt xuống đâu trong hoàn cảnh tối trời và trận chiến hỗn loạn như thế.

“Tờ Nhật báo Tiên Tri vẫn chưa đăng một chữ nào về cái chết của thầy hay về việc tìm thấy thi thể,” anh Bill nói tiếp.

“Nhưng điều đó cũng chẳng đáng kể lắm.

Những ngày này báo chí cứ im ỉm.”

“Và họ cũng chưa mở phiên tòa xử việc dùng phép thuật ở tuổi vị thành niên mà con đã vi phạm khi chạy trốn bọn Tử Thần Thực Tử à?”

Harry vói qua bàn ăn hỏi ông Weasley, ông lắc đầu.

“Tại họ biết con không còn cách nào khác, hay tại họ không muốn nói cho thế giới biết là Voldemort đã tấn công con?”

Nó tiếp.

“Bác nghĩ là lý do sau.

Scrimgeour không muốn công nhận Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy hùng mạnh như thực lực hắn hiện nay, ông ta cũng không thừa nhận đã có một cuộc vượt ngục tập thể đông đúc ở Azkaban.”

“Ừ há, tại sao phải nói cho công chúng biết sự thật chứ?”

Harry nói, tay siết chặt cán dao của nó đến nỗi vết thẹo mờ trên mu bàn tay phải của nó nổi rõ lên, trắng nhách trên làn da: Tôi không được nói dối.

“Không ai ở Bộ sẵn sàng đứng lên chống lại ông ta sao?”

Ron tức giận hỏi.

“Dĩ nhiên là có, Ron à.

Nhưng người ta sợ lắm,” ông Weasley trả lời.

“Sợ rằng họ sẽ là kẻ mất tích tiếp theo, con cái họ sẽ là kẻ bị tấn công tiếp theo!

Nhiều lời đồn đại khủng khiếp đang lan truyền.

Ba chẳng hạn, ba không tin là giáo sư bộ môn Muggle học của trường Hogwarts lại từ nhiệm.

Cho đến giờ bà đã biến mất nhiều tuần lễ.

Trong khi đó Scrimgeour cứ im ỉm trong văn phòng của ổng cả ngày.”

Cuộc trò chuyện tạm ngừng một tí khi bà Weasley úm ba la cho đám dĩa đã hết đồ ăn được dọn qua bàn làm bếp và dọn ra món bánh táo tráng miệng.

“Chúng ta phãi quyết định xem em sẽ cãi trang ra sao, Arry à,” Fleur nói, khi mọi người đều đã có phần bánh ngọt.

“Đễ dự đám cứi,” chị nói thêm, khi Harry ngớ ra.

“Dĩ nhiên không có khách mời nào của chúng ta là Tữ Thần Thực Tữ rồi, nhưng chúng ta không thễ bão đãm là khách khứa không đễ lọt tin tứt ra một khi họ đã uống rựu sâm banh.”

Nghe điều này, Harry suy ra chị Fleur vẫn còn nghi ngờ bác Hagrid.

“Ừ, ý kiến hay đó,” từ đầu bàn bà Weasley nói vọng xuống, với cặp kính ngự ngay trên chóp mũi, bà dò qua một danh mục nhiều dễ sợ những công việc mà bà đã liệt kê trên một tờ giấy da dài ngoằng.

“Để coi, Ron, con dọn dẹp phòng con chưa?”

“Tại sao?”

Ron kêu lên, dộng cái muỗng xuống và ngó má nó chằm chằm.

“Tại sao lại phải dọn phòng của con chứ?

Harry với con thấy như vầy là thoải mái rồi mà.”

“Chúng ta sắp làm đám cưới cho anh của cậu tại đây trong vài ngày tới, cậu trẻ ạ...”

“Họ sẽ lấy phòng con làm phòng hoa chúc sao?”

Ron giận dữ hỏi lại.

“Không!

Vậy tại sao quỷ thần ôn dịch...”

“Không được nói với má con như vậy,” ông Weasley nói chắc nịch.

“Và làm đúng như lời má biểu.”

Ron quắc mắt nhìn cả ba lẫn má nó, rồi cầm muỗng lên và tọng đầy họng những miếng bánh táo cuối cùng.

“Mình có thể giúp một tay, một phần bừa bãi trong phòng đó là của mình,” Harry nói với Ron, nhưng bà Weasley ngắt lời nó:

“Khỏi, Harry, cưng à.

Bác muốn con giúp bác Arthur dọn chuồng gà, và Hermione, bác cám ơn con nhiều lắm nếu con thay vải trải giường cho ông bà Delacour; con cũng biết là họ sẽ đến vào mười một giờ sáng mai.”

Nhưng hóa ra, chẳng có việc gì để làm với lũ gà cả.

“Khỏi cần, ờ, nói lại với bác Molly đâu,” ông Weasley bảo Harry, ngáng đường không cho nó đi tới cái chuồng gà, “nhưng, ơ, ông Ted Tonks đã gởi cho bác gần hết những mảnh vụn còn lại của chiếc xe gắn máy của chú Sirius và, ờ, bác đang giấu...

ấy là bác nói bác đang giữ... nó ở trong này.

Đồ kỳ diệu thật: có một ống quần bô xì khói, bác nghĩ người ta gọi nó là vậy thì phải, bình điện ác liệt nhất, và đây là dịp tuyệt nhất để tìm hiểu xem bộ thắng hoạt động như thế nào.

Bác đang cố gắng ráp nó lại khi nào bác Molly không...

ý bác là, khi nào bác có thì giờ.”

Khi hai bác cháu quay trở vô nhà thì không thấy bà Weasley ở đâu cả, vì vậy Harry vọt lên cầu thang đến cái buồng ngủ sát nóc của Ron.

“Con đang dọn đây, con đang...

Ủa, bồ hả?”

Ron nói trong cái thở phào khi Harry đi vào phòng.

Ron lại nằm ườn ra cái giường mà rõ ràng là nó vừa nhổm khỏi đó.

Cái phòng tùm lum tà la như vẫn thế suốt tuần; chỉ có đổi khác duy nhất là giờ đây Hermione đang ngồi ở tuốt một góc với con mèo lông xù vàng hoe quần bên chân, cô bé đang phân loại sách thành hai đống kếch xù, một số sách đó Harry nhận ra là sách của nó.

“Chào Harry,” Hermione nói khi Harry ngồi xuống cái giường xếp dã chiến của nó.

“Và bồ xoay cách nào mà thoát ra được vậy?”

“Ôi, má Ron quên là đã nhờ mình và Ginny thay vải trải giường ngày hôm qua rồi,” Hermione nói.

Cô bé quăng cuốn Lượng Số Học và Ngữ Pháp vào một đống và cuốn Thăng Trầm của Nghệ Thuật Hắc Ám vô đống kia.

“Tụi này vừa nói chuyện về thầy Mắt Điên,” Ron nói với Harry, “mình đoán là thầy vẫn còn sống.”

“Nhưng anh Bill nhìn thấy thầy ấy bị trúng Lời nguyền Giết chóc mà,” Harry nói.

“Ừ, nhưng lúc ấy anh Bill cũng đang bị tấn công,” Ron nói, “làm sao ảnh chắc chắn được điều ảnh thấy?”

“Cho dù lời nguyền không đánh trúng thầy Mắt Điên thì rớt xuống từ độ cao mấy trăm thước...”

Hermione nói, cô bé đang cân nhắc cuốn Những Đội Quidditch của Anh và Ái Nhĩ Lan trên tay.

“Thầy đúng ra có thể xài bùa Chắn...”

“Nhưng chị Fleur nói cây đũa phép của thầy bị văng khỏi tay rồi...”

Harry nói.

“Ừ, thì thôi, nếu bồ cứ muốn thầy chết,” Ron lầu bầu; nhồi cái gối của nó thành một hình thù thoải mái hơn.

“Dĩ nhiên tụi mình đâu có muốn thầy ấy chết!”

Hermione nói, tỏ vẻ sửng sốt.

“Thầy ấy chết thì thật là khủng khiếp!

Nhưng tụi mình phải thực tế chớ!”

Lần đầu tiên, Harry hình dung ra thi thể của thầy Mắt Điên, tan tành như xác cụ Dumbledore từng bị, nhưng vẫn còn con mắt pháp thuật xoay tít mù trong hốc mắt.

Nó cảm thấy một nỗi đau thấu ruột trộn lẫn với một cơn tức cười quái dị.

“Bọn Tử Thần Thực Tử có lẽ đã dọn dẹp chiến trường sau đó, vì vậy mà không ai tìm được thi thể của thầy,” Ron nói một cách khôn ngoan.

“Ừ,” Harry nói.

“Giống như ông Barty Crouch, bị biến thành một khúc xương và chôn trong mảnh vườn trước chòi của bác Hagrid.

Có lẽ họ đã biến hình thầy Moody và nhồi bông thầy...”

“Đừng!”

Hermione ré lên.

Kinh ngạc, Harry quay lại nhìn vừa đúng lúc thấy cô bé òa khóc trên cuốn Bảng Ký Hiệu m Tiết cho Người Niệm Chú.

“Ôi, đừng,” Harry nói, loay hoay bò dậy khỏi cái giường xếp cũ kỹ của nó.

“Hermione à, mình không có ý chọc giận bồ...”

Nhưng với một tiếng két ầm ĩ của cái khung giường rỉ sét, Ron bật ra khỏi giường, lao đến bên Hermione trước tiên.

Choàng một cánh tay quanh Hermione, nó mò trong túi quần bò và móc ra một cái khăn tay ngó thấy ghê mà nó đã dùng để chùi bếp lò trước đó.

Hấp ta hấp tấp, nó rút ra cây đũa phép, chĩa vào miếng giẻ lau ấy và nói, “Tẩy.”

Cây đũa phép rút gần hết vết dầu mỡ bầy hầy.

Ra vẻ hơi tự mãn, Ron đưa cái khăn tay còn bốc khói thoang thoảng cho Hermione.

“Ôi... cám ơn, Ron... mình xin lỗi...”

Cô bé hỉ mũi và nấc cụt.

“Chẳng qua... khủng khiếp quá, phải không?

Ngay... ngay sau cái chết của thầy Dumbledore...

Chẳng hiểu sao, mình không... không bao giờ tưởng tượng nổi thầy Mắt Điên lại chết, thầy trông kiên cường lắm.”

“Ừ, mình biết,” Ron nói, siết Hermione một cái.

“Nhưng bồ có biết thầy sẽ nói với tụi mình điều gì không, nếu thầy có mặt ở đây?”

“Cảnh... cảnh giác không ngừng,” Hermione nói, chùi nước mắt.

“Đúng vậy,” Ron gật đầu nói.

“Thầy sẽ bảo tụi mình hãy học tập từ chuyện đã xảy ra cho thầy.

Và điều mình học được là chớ có tin tưởng vào thằng cha cà chớn hèn nhát Mundungus.”

Hermione bật cười rung cả người và chồm tới trước để nhặt lên hai cuốn sách nữa.

Một giây sau, Ron đã phải giật phắt lại cánh tay đang choàng ôm vai Hermione: cô nàng đã làm rớt cuốn Quái Thư về Quái Vật lên chân Ron.

Cuốn sách thoát ra được cái đai ràng bèn đớp một miếng chí tử lên mắt cá chân Ron.

“Mình xin lỗi!

Mình xin lỗi!”

Hermione kêu lên trong khi Harry giật mạnh cuốn sách ra khỏi chân Ron và cột chặt nó lại.

“Mà bồ định làm gì với mớ sách đó chứ?”

Ron vừa hỏi vừa đi cà nhắc trở về giường.

“Chỉ cố chọn ra cuốn nào nên đem theo,” Hermione nói.

“Đọc trong lúc tụi mình đi tìm Trường Sinh Linh Giá.”

“Ờ, tất nhiên,” Ron nói, vỗ tay lên trán, “quên béng là tụi mình sẽ săn lùng Voldemort trong một cái thư viện lưu động.”

“Hì hì,” Hermione cười, ngó xuống cuốn Bảng Ký Hiệu m Tiết cho Người Niệm Chú...

“Mình tự hỏi... liệu có khi nào cần dịch chữ Runes không?

Biết đâu... mình nghĩ tụi mình nên đem nó theo, để yên tâm.”

Cô bé thảy cuốn sách lên đống bự hơn trong hai đống sách và lượm lên cuốn Hogwarts, Một Lịch Sử.

“Nghe mình nói nè,” Harry nói.

Nó đã ngồi thẳng dậy.

Ron và Hermione cùng nhìn nó với một thái độ kiểu vừa nhân nhượng vừa bất chấp.

“Mình biết hai bạn đã nói sau đám tang cụ Dumbledore là hai bạn muốn đi với mình,” Harry bắt đầu.

“Nó bắt đầu đó,” Ron vừa nói với Hermione vừa đảo tròn hai con mắt.

“Thì tụi mình đã biết là nó sẽ nói mà,” cô bé thở dài, quay về với những cuốn sách.

“Bồ biết không, mình nghĩ mình sẽ đem theo cuốn Hogwarts, Một Lịch Sử.

Cho dù tụi mình không trở về nơi đó nữa, mình nghĩ mình sẽ cảm thấy không phải nếu không mang nó theo cùng...”

“Nghe đây!”

Harry lại nói.

“Không, Harry, bồ nghe đây,” Hermione nói.

“Tụi này sẽ cùng đi với bồ.

Chuyện đó đã được quyết định từ cả mấy tháng trước – thực sự là cả nhiều năm trước.”

“Nhưng...”

“Thôi im đi,” Ron khuyên Harry.

“... hai bồ có chắc là đã suy nghĩ kỹ việc này chưa?”

Harry vẫn cù nhây.

“Để coi,” Hermione nói, quăng phịch cuốn Du Hành Cùng Người Khổng Lồ lên đống sách vứt đi với vẻ mặt hầm hầm.

“Mình đã chuẩn bị hành lý mấy ngày trời, cho nên tụi mình sẵn sàng ra đi trong tích tắc ngay khi được thông báo.

Mà nói cho bồ biết, để được thế là đã phải thực hiện một số phép thuật khá vất vả, ấy là chưa nói đến việc chôm toàn bộ Đa Quả dịch dự trữ của thầy Mắt Điên ngay trước mũi má anh Ron.

“Mình cũng đã điều chỉnh trí nhớ của ba má mình để họ tin rằng họ thực sự tên là Wendell và Monica Wilkins, và tham vọng cả đời họ là di cư đến Úc, mà họ đã làm việc đó rồi.

Ấy là để Voldemort khó dò ra tung tích họ và tra vấn họ về mình – hay về bồ, bởi vì thiệt không may, mình đã kể cho ba má mình nghe hơi nhiều về bồ.

“Cứ cho là mình sống sót sau cuộc săn lùng Trường Sinh Linh Giá của tụi mình đi, lúc đó mình sẽ đi tìm ba má và giải bùa ếm đi.

Nếu mình không... thì thôi, mình tin mình đã ếm đủ bùa để giữ cho ba má bình yên và vui vẻ.

Ông Wendell và bà Monica Wilkins sẽ không biết là họ từng có một đứa con gái, vậy đó.”

Đôi mắt của Hermione lại ràn rụa nước mắt.

Ron lại phải vọt ra khỏi giường, choàng tay ôm vai cô bé một lần nữa, và cau mày nghiêm mặt nhìn Harry như thể trách mắng nó vì thiếu tế nhị.

Harry không thể nghĩ ra điều gì để nói, đặc biệt vì cái sự Ron dạy dỗ người khác tế nhị là rất rất ư bất thường.

“Mình...

Hermione à, mình xin lỗi... mình đâu có...”

“...

đâu có biết là Ron và mình đã ý thức hoàn toàn điều gì có thể xảy ra nếu tụi này cùng đi với bồ chứ gì?

Có chứ, tụi này hiểu rõ chứ.

Ron, bồ cho Harry xem cái tụi mình vừa làm xong đi.”

“Không được, nó vừa mới ăn xong,” Ron nói.

“Không sao đâu, Harry cần biết mà!”

“Ờ, cũng được.

Harry, lại đây.”

Lần thứ hai Ron thu hồi cánh tay đang ôm Hermione và lốc cốc đi tới cửa.

“Đi nào!”

“Chi vậy?”

Harry vừa hỏi vừa đi theo Ron ra khỏi phòng đến đầu cầu thang nhỏ xíu.

“Hạ xuống!”

Ron lẩm nhẩm, chĩa cây đũa phép lên trần nhà thâm thấp.

Một cái cửa sập mở ra ngay bên trên đầu tụi nó và một cái thang thòng xuống tới chân tụi nó.

Một âm thanh ghê rợn, nửa như rên, nửa như hớp, phát ra từ cái lỗ vuông, cùng với một mùi khó chịu như mùi cống lộ thiên.

“Có phải là con ma xó của bồ không?”

Harry hỏi, nó vẫn chưa thực sự giáp mặt cái kẻ đôi khi làm gián đoạn sự tĩnh mịch hàng đêm.

“Ừ.

Nó đó,” Ron nói, trèo lên thang.

“Lên đây ngó nó một cái.”

Harry theo Ron trèo mấy bậc thang ngắn để chui lên cái buồng sát mái bé tẹo.

Đầu và vai nhô lên hẳn trong buồng rồi nó mới nhìn thấy con ma xó nằm cuộn tròn cách nó mấy bước, đang ngủ say trong ánh sáng lờ mờ, miệng há hốc.

“Nhưng nó... nó giống... bộ ma xó thường mặc đồ ngủ hả?”

“Không,” Ron nói.

“Thường tụi nó cũng không có tóc đỏ hay cả đống mụn.”

Harry ngắm nghía con ma xó, hơi gớm gớm.

Nó có hình dạng và kích thước của con người, và mặc cái mà, nhờ mắt Harry giờ đã quen với bóng tối nên đã nhận ra, rõ ràng là một bộ đồ ngủ đã cũ của Ron.

Nó cũng biết chắc là ma xó thường thường hói và đầy nhớt, chứ không lắm tóc và mặt mũi chi chít những mụn nước viêm tấy.

“Nó là mình đó, hiểu không?”

“Không,” Harry nói.

“Mình không hiểu.”

“Trở về phòng mình sẽ giải thích, cái mùi này sắp giết mình rồi,” Ron nói.

Tụi nó trèo xuống thang, Ron trả cái thang lên trần nhà, rồi đến ngồi bên Hermione.

Cô bé vẫn còn đang lựa sách.

“Khi tụi mình ra đi, con ma xó sẽ xuống đây sống trong căn phòng này của mình.”

Ron nói.

“Mình tin nó thực sự trông mong đến lúc đó...

Ừ, cũng khó nói thế được, vì nó chẳng biết gì khác hơn là rên rỉ và sụt sịt mũi dãi lòng thòng... nhưng nó gật đầu lia lịa khi mình nói tới chuyện đó.

Đại khái, nó sẽ là mình đang mắc bệnh trái rạ.

Hay hén?”

Harry chỉ bày tỏ được sự bối rối của nó.

“Hay chứ!”

Ron nói, thất vọng thấy rõ khi Harry không quán triệt được sự lỗi lạc của cái kế hoạch đó.

“Như vầy nè, khi ba đứa tụi mình không đến trường Hogwarts nhập học lại, mọi người sẽ nghĩ là Hermione và mình ắt là đi cùng với bồ, đúng không?

Điều đó có nghĩa là bọn Tử Thần Thực Tử sẽ đi thẳng tới gia đình tụi này để coi chúng có thể moi ra tin tức về chỗ ở của bồ không.”

“Nhưng lúc đó hy vọng nhìn có vẻ như mình đã đi xa với ba má mình; dạo này nhiều phù thủy gốc Muggle bàn tính chuyện đi trốn lắm,” Hermione nói.

“Tụi mình không thể đem cả nhà mình đi trốn, coi bộ đáng nghi lắm, với lại mọi người không thể bỏ hết công ăn việc làm được,” Ron nói.

“Vì vậy tụi mình bịa ra chuyện mình bị bệnh trái rạ nặng, đó là lý do mình không thể trở lại trường.

Nếu có ai đó đến kiểm tra, ba hay má đều có thể chỉ cho họ thấy con ma xó trên giường của mình, mặt đầy mụn mủ.

Bệnh trái rạ lây dữ lắm, cho nên họ sẽ không muốn tới gần nó đâu.

Nó không thể nói năng gì cũng không sao, bởi vì hiển nhiên người ta không thể nói nữa một khi nấm đã lan tới lưỡi gà.”

“Ba má bồ cũng tham gia kế hoạch này hả?”

Harry hỏi.

“Ba thì có.

Ba giúp anh Fred và anh George biến hình con ma xó.

Má thì... chèn ơi, bồ đã thấy má ra sao rồi.

Má sẽ không chấp nhận chuyện tụi mình ra đi cho đến khi tụi mình đi hẳn.”

Trong phòng im lặng, chỉ vang lên tiếng ạch đụi nho nhỏ vì Hermione tiếp tục liệng sách vào đống này hoặc đống kia.

Ron ngồi nhìn Hermione, và Harry nhìn hết đứa này đến đứa kia, không thể nói được gì cả.

Những biện pháp hai đứa dùng để bảo vệ gia đình tụi nó khiến Harry hiểu ra, hơn bất kỳ điều gì khác có thể khiến nó hiểu ra, rằng hai đứa thực sự sẽ đi cùng với nó và tụi nó biết chính xác việc đó sẽ nguy hiểm như thế nào.

Harry muốn nói với hai đứa rằmg điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với nó, nhưng lại không tìm được lời lẽ đủ tầm cỡ để diễn tả.

Xuyên qua màn im lặng, từ dưới bốn tầng lầu vọng lên âm thanh đã bị hãm bớt của bà Weasley đang quát mắng.

“Chắc Ginny để sót một chấm bụi trên vành khăn ăn thổ tả,” Ron nói.

“Mình không thể hiểu được tại sao gia đình Delacour phải đến đây trước ngày cưới những hai ngày.”

“Em gái chị Fleur sẽ là phù dâu, cô bé phải tới đây sớm để tổng dợt, và cô ta còn bé quá không thể tự đến đây một mình.”

Hermione nói, trong khi còn nghiền ngẫm mãi không quyết định được về cuốn Đoạn Tuyệt Nữ Thần Báo Tử.

“Điệu này khách khứa sẽ chẳng giúp má bớt căng thẳng đâu,” Ron nói.

“Điều mà tụi mình thực sự cần quyết định,” Hermione nói, quăng cuốn Lý Thuyết Pháp Thuật Phòng Vệ vô thùng rác mà không cần liếc qua lần thứ hai và cầm lên cuốn Đánh Giá Nền Giáo Dục Pháp Thuật ở Châu u, “là đi đâu sau khi tụi mình rời khỏi nơi đây.

Mình biết bồ nói bồ muốn đi đến Thung lũng Godric trước tiên, Harry à, và mình hiểu tại sao, nhưng...

ừ... tụi mình có nên coi Trường Sinh Linh Giá là ưu tiên hàng đầu không?”

“Nếu tụi mình biết được bất kỳ Trường Sinh Linh Giá nào ở đâu thì mình đồng ý với bồ,” Harry nói, nó không tin là Hermione thực sự hiểu được nỗi khao khát quay về Thung lũng Godric của nó.

Mồ mả ba má nó chỉ là một phần: nó có một cảm giác rõ rệt, dù không giải thích được, rằng nơi chốn ấy đang nắm giữ những giải đáp cho nó.

Có thể đơn giản vì đó là nơi nó đã sống sót bất chấp Lời nguyền Giết chóc của Voldemort; và giờ đây, khi đang phải đối đầu với thách thức lặp lại kỳ tích đó, Harry bị lôi kéo về nơi kỳ tích đó đã xảy ra, muốn hiểu thấu.

“Bồ không nghĩ là có khả năng Voldemort đang canh chừng Thung lũng Godric à?”

Hermione hỏi.

“Hắn có thể chờ bồ trở lại đó thăm viếng mồ mả ba má bồ một khi bồ đã được tự do muốn đi đâu thì đi?”

Điều này Harry chưa từng nghĩ tới.

Trong khi nó đang cố gắng tìm cách biện bác thì Ron cất lời, rõ ràng là đang theo đuổi một hướng suy nghĩ của riêng mình.

“Cái tay R.A.B. này,” nó nói.

“Mấy bồ biết chứ, cái tay đã ăn cắp cái mặt dây chuyền thật đó?”

Hermione gật đầu.

“Ổng nói trong cái thư ngắn là ổng sẽ hủy nó, phải không?”

Harry kéo cái ba lô về phía nó và lấy cái Trường Sinh Linh Giá giả ra, bên trong bức thư ngắn của R.A.B. vẫn còn xếp kỹ.

“Ta đã lấy cắp Trường Sinh Linh Giá thật và dự định sẽ phá hủy nó ngay khi có thể,” Harry đọc lớn.

“Vậy, nếu ông ấy đã hủy nó đi rồi thì sao?”

Ron hỏi.

“... hoặc bà ấy,” Hermione chen vô.

“Dẫu ai đi nữa,” Ron nói, “thì tụi mình cũng bớt được một việc phải làm!”

“Ừ, nhưng tụi mình vẫn cứ phải thử và dò la ra cái mặt dây chuyền thật, đúng không?”

Hermione nói, “để coi nó có bị hủy thiệt không.”

“Và một khi tụi mình tìm được nó rồi, làm cách nào bồ hủy được một Trường Sinh Linh Giá?”

Ron hỏi.

“Ừ,” Hermione nói.

“Mình đang nghiên cứu chuyện đó.”

“Làm cách nào?”

Harry hỏi.

“Mình không nghĩ là có bất kỳ cuốn sách nào về Trường Sinh Linh Giá ở thư viện.”

“Không có thiệt,” Hermione nói, cô bé ửng hồng.

“Thầy Dumbledore đã cho dẹp hết chúng, nhưng thầy... thầy không hủy chúng đi.”

Ron ngồi thẳng dậy, mắt mở thao láo.

“Bồ xoay sở cách quỷ gì mà rớ được tay vô mấy cuốn sách về Trường Sinh Linh Giá vậy?”

“Đâu...

đâu có ăn cắp gì đâu!”

Hermione nói, khẩn khoản nhìn từ Ron đến Harry.

“Chúng vẫn là sách của thư viện, cho dù thầy Dumbledore đã cho dẹp chúng khỏi kệ sách.

Với lại, nếu thầy thực sự không muốn cho bất cứ ai đọc chúng, mình tin chắc thầy đã gây nhiều khó khăn hơn cho việc...”

“Nói thẳng ra đi!”

Ron ngắt.

“À... dễ thôi,” Hermione nói nhỏ.

“Mình chỉ cần niệm chú Triệu tập.

Mấy bồ biết đấy...

Lại đây.

Và... sách bay vèo từ cửa sổ phòng làm việc của thầy Dumbledore vào thẳng ký túc xá nữ.”

“Nhưng bồ làm chuyện này hồi nào?”

Harry hỏi, nhìn Hermione đầy vẻ ngưỡng mộ pha lẫn ngờ vực.

“Ngay sau đám tang cụ... thầy Dumbledore,” Hermione nói, giọng nhỏ hơn nữa.

“Ngay sau khi tụi mình đồng ý là sẽ bỏ trường đi tìm các Trường Sinh Linh Giá.

Khi mình đi trở lên lầu để lấy đồ đạc...

đột nhiên mình nghĩ là tụi mình càng biết nhiều về những Trường Sinh Linh Giá đó thì càng thuận lợi hơn... và chỉ có một mình mình ở đó... cho nên mình thử... và làm được luôn.

Những cuốn sách bay thẳng vào cửa sổ mở và mình... mình gói ghém chúng lại.”

Cô bé nuốt nước miếng và bỗng nhiên nói giọng năn nỉ, “Mình tin là thầy Dumbledore sẽ không giận, đâu có phải tụi mình sẽ dùng thông tin trong sách để chế tạo Trường Sinh Linh Giá đâu?”

“Bồ có thể nghe ý kiến của tụi này không?”

Ron nói.

“Mà thôi, mấy cuốn sách đó đâu rồi?”

Hermione lục lọi một lát và rút từ đống sách ra một bộ kếch xù, được cột chặt bằng dây da đen đã ngả màu.

Cô nàng tỏ ra buồn nôn một tí và cầm nó bằng mấy ngón tay như thể đó là cái gì vừa mới chết.

“Đây là bộ sách có hướng dẫn rõ ràng về cách tạo ra một Trường Sinh Linh Giá.

Những Bí Mật Của Nghệ Thuật Hắc Ám – một cuốn sách khủng khiếp, thực sự ghê tởm, đầy những pháp thuật ác độc.

Mình thắc mắc thầy Dumbledore đã dẹp nó khỏi kệ sách từ lúc nào... nếu mãi đến khi thành hiệu trưởng thầy mới dẹp nó đi thì mình dám cá là Voldemort đã học được tất cả mọi hướng dẫn mà hắn cần có trong cuốn sách này.”

“Vậy tại sao hắn phải hỏi thầy Slughorn cách chế tạo Trường Sinh Linh Giá nếu hắn đã đọc cuốn sách?”

“Hắn chỉ lân la bên thầy Slughorn để tìm hiểu xem việc gì sẽ xảy ra khi người ta xẻ hồn mình thành bảy mảnh,” Harry nói.

“Thầy Dumbledore tin chắc là khi Riddle đến hỏi thầy Slughorn về Trường Sinh Linh Giá thì hắn đã biết cách chế tạo rồi.

Mình nghĩ bồ đúng, Hermione à, rất có thể hắn đã lấy thông tin từ cuốn sách.”

“Và mình càng đọc về những Trường Sinh Linh Giá,” Hermione nói, “thì có vẻ chúng càng khủng khiếp, và mình càng khó tin là hắn đã thực sự tạo ra được những sáu cái.

Trong cuốn sách này có cảnh cáo là việc xé linh hồn mình ra sẽ khiến cho phần hồn còn lại bất ổn như thế nào, và ấy là chỉ mới tạo một Trường Sinh Linh Giá thôi đấy.”

Harry nhớ điều mà thầy Dumbledore nói về việc Voldemort đã vượt xa sự “tàn ác thông thường.”

“Không có cách nào để nhập hồn lại sao?”

Ron hỏi.

“Có chứ,” Hermione nói kèm một nụ cười gượng gạo, “nhưng sẽ đau đớn quằn quại.”

“Tại sao?

Mà làm cách nào?”

Harry hỏi.

“Sám hối,” Hermione nói.

“Người ta phải thực sự cảm nhận được điều mình đã làm.

Có một chú thích.

Rất có thể nỗi đau đớn đó sẽ hủy diệt người sám hối.

Mình thấy Voldemort không đời nào thử làm chuyện đó, mấy bồ có nghĩ vậy không?”

“Không,” Ron nói, trước khi Harry có thể trả lời.

“Vậy trong sách đó có nói cách phá hủy Trường Sinh Linh Giá không?”

“Có,” Hermione nói, lúc này cô nàng đang lật những trang giấy mong manh như thể xem xét một bộ lòng thúi nát.

“Bởi vì nó cảnh cáo các pháp sư Hắc ám phải mạnh như thế nào mới ếm được bùa lên chúng.

Qua tất cả những gì mình đọc, điều mà Harry đã làm đối với quyển nhật ký của Riddle là một trong những cách cực kỳ đơn giản để phá hủy một Trường Sinh Linh Giá.”

“Cái gì, đâm nó bằng một cái nanh mãng xà à?”

Harry hỏi.

“Ái chà, vậy thì may quá, tụi mình có cả đống nanh mãng xà dự trữ,” Ron nói.

“Mình đang thắc mắc không biết tụi mình sẽ phải làm gì với chúng đây.”

“Không nhất thiết phải là nanh mãng xà,” Hermione kiên nhẫn nói.

“Chỉ cần là cái gì đó có tính chất hủy diệt ghê gớm đến nỗi Trường Sinh Linh Giá không thể tự cứu chữa được.

Nọc độc mãng xà chỉ có một chất giải độc, mà lại cực kỳ hiếm...”

“... nước mắt phượng hoàng,” Harry gật đầu nói.

“Đúng vậy,” Hermione nói.

“Vấn đề của tụi mình là có quá ít những vật liệu có tính hủy diệt như nọc độc mãng xà, và chúng đều quá nguy hiểm không thể mang theo bên mình được.

Nhưng đó là vấn đề mà tụi mình phải giải quyết, vì xé nát, đập bể, hay nghiến vụn một Trường Sinh Linh Giá không được tích sự gì.

Mình phải đặt nó ra ngoài khả năng cứu chữa bằng pháp thuật.”

“Nhưng ngay cả nếu như mình phá tan nát cái vật chứa linh hồn đó,” Ron nói, “thì tại sao mảnh linh hồn trong vật đó lại không bỏ đi mà sống trong một vật khác?”

“Bởi vì Trường Sinh Linh Giá là một thứ trái ngược hoàn toàn với con người.”

Nhận thấy cả Harry và Ron đều có vẻ bối rối hết sức, Hermione vội nói tiếp, “Như vầy nhé, nếu bây giờ mình cầm lên một thanh gươm, đây Ron, và đâm xuyên gươm qua người bồ, thì cũng chẳng làm tổn hại gì hết đến linh hồn của bồ.”

“Thực là một niềm an ủi cho mình đấy, chắc chắn,” Ron nói làm Harry bật cười.

“Thiệt như vậy ấy chớ!

Nhưng điều mình muốn nói là cho dù thân thể của bồ có bị gì đi nữa thì linh hồn của bồ vẫn còn đó, nguyên si,” Hermione nói.

“Nhưng đối với Trường Sinh Linh Giá thì ngược lại hoàn toàn.

Mảnh linh hồn bên trong lệ thuộc vào vật chứa nó, vào cái thân xác được ếm bùa của nó để sống sót, không thì nó không thể tồn tại.”

“Cuốn nhật ký đó coi như là chết khi mình đâm nó,” Harry nói, nhớ lại mực đã tuôn ra như máu từ những trang sách bị đâm lủng, và tiếng gào thét của mảnh linh hồn Voldemort khi tan biến.

“Và một khi cuốn nhật ký được phá hủy đúng cách, mảnh linh hồn kẹt trong đó không thể tồn tại nữa.

Ginny đã cố gắng vứt bỏ cuốn nhật ký trước khi bồ hủy nó, cô bé đã liệng nó vô bồn cầu xả nước cho nó trôi đi, nhưng rõ ràng là nó vẫn trở lại, xịn như mới.”

“Khoan đã,” Ron nói, cau mày lại.

“Một mảnh linh hồn trong cuốn nhật ký đó đã ám ảnh Ginny, đúng không?

Nó làm thế bằng cách nào?”

“Khi vật chứa pháp thuật vẫn còn nguyên vẹn, mảnh linh hồn bên trong có thể nhập vào hay xuất ra khỏi người nào đó nếu người đó quá gần gũi vật đó.

Mình không có ý nói là cầm nó quá lâu, đây không ăn nhằm gì đến chuyện đụng chạm nó,” Hermione nói thêm trước khi Ron có thể mở miệng.

“Ý mình nói đến sự gần gũi về tình cảm.

Ginny đã trút hết nỗi lòng mình vào cuốn nhật ký đó, tự làm cho chính mình trở nên cực kỳ yếu đuối.

Người nào quá thích hay quá lệ thuộc vào Trường Sinh Linh Giá thì người đó sẽ gặp rắc rối.”

“Mình thắc mắc thầy Dumbledore đã hủy chiếc nhẫn như thế nào?”

Harry nói.

“Tại sao mình lại không hỏi thầy nhỉ?

Mình chưa bao giờ thực sự...”

Giọng nói của nó lạc đi: nó đang nghĩ về tất cả những điều lẽ ra nó nên hỏi thầy Dumbledore, và vì thầy hiệu trưởng đã mất rồi, nên nó đang nghĩ vì sao nó lại lãng phí quá nhiều cơ hội khi thầy còn sống, để tìm ra nhiều hơn... tìm ra mọi thứ...

Sự im lặng bỗng tan tành khi cửa phòng ngủ bật mở tung bằng một cú tông phá đến rung tường.

Hermione thét lên và làm rớt cuốn Bí Mật Của Nghệ Thuật Hắc Ám; con mèo Crookshanks xẹt ngay xuống gầm giường, kêu xì xì đầy phẫn nộ; Ron nhảy phóc khỏi giường, trượt trên một miếng giấy gói kẹo Nhái sô-cô-la, đập luôn đầu vào bức tường đối diện; và Harry theo bản năng mò kiếm ngay cây đũa phép của mình trước khi nhận ra nó đang ngước nhìn bà Weasley, tóc bà rối lù xù và mặt bà méo đi vì tức giận.

“Tôi rất tiếc phải giải tán cuộc họp mặt thân ái nho nhỏ này,” bà nói, giọng run run, “Tôi biết là tất cả các anh chị cần nghỉ ngơi... nhưng quà cưới còn chất đống trong phòng tôi giờ cần phải sắp xếp, mà tôi lại cứ có cảm tưởng rằng các anh chị đã đồng ý giúp đỡ rồi chớ.”

“Dạ, đúng,” Hermione nói, có vẻ khiếp đảm khi đứng bật lên khiến đống sách văng tứ tung.

“Tụi con sẽ... tụi con xin lỗi...”

Quăng cho Ron và Harry một ánh mắt đau khổ, Hermione vội vã đi theo bà Weasley ra khỏi phòng.

“Y như thân phận gia tinh,” Ron lầm bầm than thở, vẫn còn xoa xoa cái trán khi nó và Harry đi theo sau.

“Chỉ thiếu niềm đam mê nghề nghiệp.

Cái đám cưới này càng xong sớm thì càng vui hơn.”

“Ừ,” Harry nói, “lúc đó tụi mình không còn chuyện gì ngoài chuyện đi tìm những Trường Sinh Linh Giá...

Sẽ giống như đi nghỉ lễ hén?”

Ron phá ra cười, nhưng nhìn thấy đống quà cưới vĩ đại đang chờ tụi nó trong phòng bà Weasley, nó lập tức nín luôn.

Gia đình Delacour đến vào lúc mười một giờ sáng hôm sau.

Harry, Ron, Hermione, và Ginny đều cảm thấy khó chịu với gia đình Delacour lúc này; và với một thái độ khiếm nhã, Ron đi thình thịch lên cầu thang để thay vớ cho đúng đôi, còn Harry cố gắng vuốt cho tóc nằm ẹp xuống.

Và khi tất cả mọi người đều được coi là đủ thanh nhã, họ kéo cả đám ra sân sau đầy nắng để chờ khách đến.

Harry chưa bao giờ thấy sân sau chỉn chu sạch sẽ như vậy.

Mấy cái vạc rỉ sét và mấy chiếc giày ống Wellington thường lăn lóc bên những bậc thềm dẫn lên cửa sau đã biến mất, thay vào đó là hai bụi Bông Phe Phẩy mới toe trong hai cái chậu bự đứng hai bên cánh cửa; mặc dù không có gió thoảng, lá vẫn uể oải ve vẩy tạo nên hiệu quả gợn sóng lăn tăn hấp dẫn.

Gà qué đã được nhốt lại, sân được quét dọn, và khu vườn bên cạnh đã được tỉa cành, nhổ cỏ, nhìn chung rất bảnh bao, mặc dù Harry, kẻ vốn thích tình trạng cây cối mọc um tùm, thì nghĩ là cảnh vườn có hơi hoang vu khi không còn bè lũ những con quỷ lùn tí tởn như thường lệ.

Nó không nắm được có bao nhiêu bùa phép an ninh đã được cả Hội Phượng Hoàng lẫn Bộ Pháp thuật ếm lên Hang Sóc, nó chỉ biết là không ai còn có thể dùng phép thuật đi thẳng đến nơi này nữa.

Vì vậy ông Weasley phải đi đón gia đình Delacour ở tuốt trên đỉnh của một ngọn đồi gần đó, nơi gia đình Delacour đến bằng Khóa Cảng. m thanh đầu tiên báo hiệu họ đến là tiếng cười khanh khách cao vút một cách khác thường, hóa ra xuất phát từ ông Weasley, khi ông xuất hiện ở cổng ngay sau đó, khuân vác hành lý đùm đề, đi sau là một người đàn bà tóc vàng xinh đẹp mặc áo đầm dài nhiều lớp màu xanh biếc; bà này chỉ có thể là má của Fleur.

“Ma-măn!”

Fleur bật khóc, ào tới trước ôm chầm lấy bà khách.

“Pa-pa!”

Me xừ Delacour còn lâu mới bằng được vẻ quyến rũ của vợ; ổng lùn hơn vợ một cái đầu, và cực kỳ béo tròn, với một chòm râu đen nho nhỏ và nhọn hoắt.

Tuy nhiên trông ông ta hiền hậu tử tế.

Nhón lên về phía bà Weasley đứng trên đôi giầy cao gót, ông khách hôn lên mỗi bên má bà Weasley hai lần, để lại cho bà chút xôn xao bối rối.

“Quý zị đã chịu quá nhiều phiền toái,” ông nói giọng thâm trầm.

“Cháu Fleur nói với chúng tôi là quý zị đã chuẩn bị rất chu đáo”

“Ôi, chẳng có chi, có chi đâu!”

Bà Weasley uốn lưỡi, “Không có phiền toái chi cả!”

Ron xả cảm xúc của mình bằng cách nhắm vào một con quỷ lùn và đá cho nó một cái đích đáng, con quỷ lùn ấy đã thò đầu ra từ phía sau một trong hai bụi Bông Phe Phẩy.

“Thưa bà!”

Me xừ Delacour nói, vẫn còn cầm bàn tay bà Weasley trong hai bàn tay béo múp của ông ta mà tươi cười.

“Chúng tôi vô cùng vinh hạnh trước việc hợp nhất sắp tới của hai gia đình chúng ta!

Cho phép tôi được giới thiệu vợ tôi, Apolline.”

Bà Delacour lướt tới trước và cúi khòm xuống cũng để hôn bà Weasley.

“Hân hạnh”, bà ta nói.

“Chồng của bà đã kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện thật là thú vị.”

Ông Weasley phát cười lên như điên; bà Weasley ném cho ông chồng một cái nhìn có tác dụng làm cho ông nín ngay lập tức và lấy lại được vẻ mặt đúng đắn như bên giường bệnh của một người bạn thân.

“Và dĩ nhiên, quý zị đã thấy cô con gái bé bỏng của chúng tôi, Gabrielle!”

Me xừ Delacour nói.

Gabrielle là Fleur nho nhỏ; mười một tuổi, tóc dài tới eo màu vàng óng ánh, cô bé nở nụ cười tươi tắn chào bà Weasley và ôm bà một cái, rồi ném cho Harry một ánh mắt nồng nàn, đôi mi chơm chớp.

Ginny đằng hắng om xòm.

“Thôi, mời vào, mời,” bà Weasley hớn hở nói, dẫn gia đình Delacour vô trong nhà, luôn miệng nói những “Ấy đừng!” và “Xin mời đi trước” và “Không có chi”.

Gia đình Delacour chẳng mấy chốc đã lộ ra là những người khách dễ thương ưa giúp đỡ.

Họ hài lòng với mọi thứ và sẵn lòng giúp chuẩn bị cho hôn lễ.

Me xừ Delacour phát biểu rằng mọi thứ, từ kế hoạch xếp chỗ ngồi cho khách đến giày của cô dâu là “Mê hồn!”

Ma đàm Delacour đạt thành tích nhiều nhất trong lãnh vực bùa phép nội trợ và bà đã lau sạch cái bếp lò thật đúng cách trong nháy mắt; Gabrielle lẽo đẽo theo chị, tìm cách giúp đỡ bằng mọi cách mà cô bé có thể làm được và nói chuyện líu lo bằng tiếng Pháp.

Tuy nhiên, Hang Sóc vốn không được xây cất để cho quá nhiều người ở.

Ông bà Weasley giờ đây ngủ trong phòng khách, sau khi đã gạt đi sự phản đối của ma đàm và me xừ Delacour, và khăng khăng bắt khách nhận phòng ngủ của mình.

Gabrielle ngủ với chị Fleur trong căn phòng cũ của Percy, và khi anh Charlie từ Romania về để làm phù rể, anh sẽ ở chung phòng với anh Bill.

Hầu như không còn cơ hội mà tụ tập bàn bạc kế hoạch nữa, và trong nỗi tuyệt vọng đó, Harry, Ron và Hermione bèn xung phong đi cho gà ăn chỉ để thoát ra khỏi căn nhà quá ư đông đúc.

“Rồi má vẫn không để tụi mình yên đâu!”

Ron càu nhàu, và cố gắng lần thứ hai của tụi nó để gặp nhau trong sân lại bị thất bại vì sự xuất hiện của bà Weasley, đang bưng một cái giỏ tổ bố những quần áo vừa giặt xong.

“A, hay quá, các con đã cho gà ăn xong,” bà vừa gọi vừa đi tới gần tụi nó.

“Chúng ta nên nhốt chúng lại trước khi thợ đến dựng rạp cưới vào ngày mai...”

Bà giải thích, dừng bước để dựa vào cái chuồng gà.

Bà có vẻ kiệt sức.

“Lều Rạp Pháp thuật Millamant... hãng này làm ăn được lắm.

Bill sẽ canh chừng họ...

Khi họ ở đây con nên ở trong nhà, Harry à.

Bác phải thừa nhận là có tất cả đám bùa chú này vây quanh thì tổ chức một đám cưới đâm rất phức tạp.”

“Con xin lỗi,” Harry khiêm tốn nói.

“Ôi, đừng có ngớ ngẩn, con à,” bà Weasley nói ngay.

“Bác không hề có ý...

Ờ mà, sự an toàn của con quan trọng hơn rất nhiều.

Thật ra, mấy hôm nay bác vẫn tính hỏi con muốn tổ chức sinh nhật như thế nào, Harry à.

Nói cho cùng, mười bảy tuổi, đó là một ngày quan trọng...”

“Con không muốn ồn ào phiền phức,” Harry nói nhanh, nhìn thấy trước vụ này sẽ tăng thêm căng thẳng cho tụi nó.

“Bác Weasley à, thiệt tình, một bữa cơm bình thường là được... nhằm ngày trước ngày đám cưới...”

“Ôi, được, nếu con muốn vậy, cưng à.

Bác có nên mời chú Remus và cô Tonks không?

Và bác Hagrid nữa nhé?”

“Vậy là tuyệt vời,” Harry nói.

“Nhưng xin bác đừng mất công phiền phức quá.”

“Không có chi, không có chi... không phiền phức gì hết á...”

Bà nhìn nó, một cái nhìn lâu, dò xét, rồi mỉm cười buồn bã, xong đứng thẳng lên và bước đi.

Harry nhìn theo khi bà vẩy cây đũa phép gần chỗ phơi đồ, quần áo ướt bay lên không trung và tự giăng lên dây, và bỗng dưng nó cảm thấy một đợt sóng ăn năn hối tiếc về những phiền phức và đau buồn mà nó đem đến cho bà.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 7: Di chúc của Cụ Albus Dumbledore


Di chúc của Cụ Albus Dumbledore

Nó đang đi dọc theo một con đường núi trong ánh bình minh màu xanh dịu mát.

Xa xa bên dưới, phủ trong sương mù, lờ mờ hình ảnh một thị trấn nhỏ.

Người đàn ông nó đang tìm có ở dưới đó không, người đàn ông nó cần ghê gớm đến nỗi nó không thể nghĩ đến chút gì khác, người đàn ông nắm lời giải – lời giải cho vấn đề của nó...

“Ê, tỉnh dậy.”

Harry mở mắt ra.

Nó lại đang nằm trên cái giường xếp trong căn phòng sát mái dơ hầy của Ron.

Mặt trời vẫn chưa mọc và căn phòng vẫn còn tối nhờ nhờ.

Con cú Pigwidgeon còn ngủ, đầu vùi dưới cánh.

Cái thẹo trên trán Harry đang nhói đau.

“Bồ mớ trong lúc ngủ.”

“Mình mớ à?”

“Ừ. ‘Gregorovitch’.

Bồ cứ nói hoài ‘Gregorovitch’.”

Harry không đeo kính, gương mặt Ron hiện ra hơi nhòe.

“Gregorovitch là ai?”

“Làm sao mình biết?

Bồ là người nói ra cái tên đó mà.”

Harry chà xát cái thẹo trên trán, suy nghĩ.

Nó có một ý nghĩ mơ hồ là nó đã từng nghe cái tên đó trước đây, nhưng nó không thể nghĩ ra là ở đâu.

“Mình nghĩ Voldemort đang tìm kiếm hắn.”

“Khốn khổ cho hắn,” Ron sốt sắng nói.

Harry ngồi dậy, vẫn chà xát cái thẹo, giờ nó đã hoàn toàn tỉnh ngủ.

Nó cố gắng nhớ chính xác đường nét của ngôi làng nhỏ được ấp ủ trong một thung lũng sâu.

“Mình nghĩ hắn đã ra nước ngoài.”

“Ai, Gregorovitch hả?”

“Voldemort.

Mình nghĩ hắn đang ở đâu đó ở nước ngoài, tìm kiếm Gregorovitch.

Chỗ đó trông không giống bất cứ nơi nào trên nước Anh.”

“Bồ cho là bồ lại nhìn thấu óc hắn một lần nữa à?”

Giọng Ron có vẻ lo lắng.

“Bồ làm ơn đừng nói lại với Hermione,” Harry nói.

“Dù nó vẫn mong biết bao mình đừng thấy những thứ đó trong giấc ngủ nữa, nhưng...”

Nó đăm đăm nhìn cái lồng con Pigwidgeon, nghĩ ngợi...

“Tại sao cái tên Gregorovitch nghe quen quen?”

“Mình nghĩ,” nó nói chậm rãi, “ắt có dính dáng tới Quidditch.

Có mối liên quan, nhưng mình không thể... mình không thể nghĩ ra nó là cái gì.”

“Quidditch hả?”

Ron nói.

“Hay là bồ đang nghĩ đến Gorgovitch?”

“Ai?”

“Dragomir Gorgovitch, truy thủ, được chuyển qua đội Chudley Cannons với một khoản tiền kỷ lục cách đây hai năm.

Người nắm kỷ lục về bật bóng Quaffle trong một mùa.”

“Không,” Harry nói.

“Mình chắc chắn không nghĩ tới Gorgovitch.”

“Mình cũng cố gắng không nghĩ tới nữa,” Ron nói.

“Thôi, đằng nào thì cũng chúc mừng sinh nhật bồ.”

“A!

Đúng rồi!

Mình quên béng đi!

Mình đã tròn mười bảy tuổi!”

Harry chộp cây đũa phép nằm bên cạnh cái giường xếp, chĩa vào cái bàn bừa bộn mà nó đã đặt cặp kiếng của nó lên, và hô: “Lại đây Mắt kiếng!”

Mặc dù cặp kiếng chỉ cách nó một bước chân, vẫn có điều gì đó khiến Harry cực kỳ thỏa mãn khi được thấy cặp kiếng bay vèo về phía nó, cho đến khi chúng chọc thẳng vô mắt nó.

“Tuyệt!”

Ron cười hô hố.

Khoái vì được gỡ bỏ bùa Dấu Hiện, Harry làm phép thảy đồ đạc của Ron bay khắp phòng, khiến con Pigwidgeon thức giấc và vỗ cánh bồn chồn bay loạn trong lồng.

Harry cũng thử cột dây đôi giày bố của nó bằng phép thuật (sinh ra cái nút thắt khiến nó mất một lúc lâu mới cởi ra được bằng tay), và chỉ để vui mà thôi, nó đổi những chiếc áo choàng màu cam trên tấm bích chương đội Chudley Cannons của Ron ra màu xanh lam sáng.

“Nhưng mình sẽ kéo khóa quần của bồ bằng tay thôi,” Ron khuyên Harry rồi khúc khích cười khi thấy Harry phải kiểm tra ngay tức thì.

“Quà cho bồ đây.

Mở tại đây, cái này không nên để cho má thấy.”

“Một cuốn sách à?”

Harry nói khi cầm cái gói hình chữ nhật.

“Hơi khác với truyền thống một chút hả?”

“Cuốn này không phải loại sách lèng èng bồ có đâu,” Ron nói.

“Vàng ròng đó: Mười Hai Cách Khỏi-Lo-Thất-Bại Để Bỏ Bùa Các Nàng Phù Thủy.

Giải thích mọi thứ người ta cần biết về con gái.

Giá mà mình có cuốn sách này hồi năm ngoái thì mình đã biết tỏng cách bỏ rơi Lavender và mình sẽ biết cách làm lành với...

Ừm, anh Fred và George có cho mình một cuốn, và mình đã học được khá nhiều.

Bồ sẽ ngạc nhiên cho mà coi, cũng không phải chỉ toàn xài đũa phép đâu.”

Khi hai đứa vô nhà bếp, tụi nó thấy một đống quà đang nằm chờ trên bàn.

Anh Bill và me xừ Delacour đang ăn nốt bữa điểm tâm, trong khi bà Weasley đứng chuyện vãn với họ bên cái chảo.

“Bác Arthur bảo bác chúc mừng sinh nhật thứ mười bảy của con, Harry à,” bà Weasley nói, tươi cười với nó.

“Bác trai phải đi làm sớm, nhưng bác ấy sẽ trở về vào bữa ăn tối.

Quà của hai bác cho con nằm trên cùng đó.”

Harry ngồi xuống, cầm cái gói vuông vức mà bà Weasley chỉ, và mở ra.

Bên trong là một cái đồng hồ rất giống cái mà ông bà Weasley đã tặng cho Ron nhân sinh nhật thứ mười bảy của nó; một cái đồng hồ vàng có những ngôi sao xoay vòng trên mặt thay vì mấy cây kim.

“Theo truyền thống người ta tặng cho pháp sư đến tuổi trưởng thành một cái đồng hồ đeo tay,” đứng bên cạnh cái nồi, bà Weasley nhìn nó áy náy.

“Bác e là cái đó không được mới như cái của Ron, nó thực ra là cái đồng hồ của em bác là Fabian, mà cậu này thì không được cẩn thận cho lắm với đồ đạc của mình, nó hơi bị mẻ một chút xíu ở mặt sau, nhưng...”

Những lời nói còn lại của bà bị rớt mất; Harry đã đứng dậy và ôm ghì lấy bà.

Nó cố gởi trong cái ôm thân thiết này những điều không nói ra lời và có lẽ bà đã hiểu được, bởi vì bà vụng về vỗ nhè nhẹ lên má nó khi nó buông bà ra, rồi bà vẫy nhẹ cây đũa phép của bà một cách hơi ngẫu hứng, khiến cho nửa tá miếng thịt muối văng ra khỏi chảo rớt xuống sàn.

“Chúc mừng sinh nhật, Harry!”

Hermione nói, vội vã đi vào nhà bếp và đặt món quà của cô bé lên chóp đống quà.

“Không có gì nhiều, nhưng mình hy vọng bồ sẽ thích.

Bồ tặng Harry cái gì?”

Cô bé hỏi Ron, anh chàng này làm như không nghe.

“Vậy, mau lên, mở quà của Hermione!”

Ron nói.

Hermione mua cho Harry một Cái kính Mách lẻo mới toanh.

Những gói quà khác chứa một con dao cạo có phép, quà tặng của anh Bill và chị Fleur (“À phải, cái này sẽ zúp cháu cạo râu êm ái nhứt trừn đừi.”

Me xừ Delacour cam đoan với Harry, “nhưng cháu phải nói rõ zới nó cháu muốn gì... nếu không cháu sẽ thấy mình hưi bị ít râu tóc hưn mong muốn...”), sô-cô-la là quà của ông bà Delacour, và một cái hộp bự chảng những món hàng mới nhất của tiệm Phù Thỉ Wỉ Wái do Fred và George tặng.

Harry, Ron và Hermione không nấn ná lâu lắc ở bàn ăn, bởi vì ma đàm Delacour, Fleur và Gabrielle vừa đến khiến cho nhà bếp đông đúc không thoải mái.

“Mình sẽ xếp vô hành lý những thứ này cho bồ,” Hermione vui vẻ nói, lấy những món quà của Harry ra khỏi tay nó khi ba đứa cùng đi lên cầu thang.

“Mình gần xong rồi, chỉ còn chờ quần đùi của bồ giặt xong thôi, Ron à...”

Ron lúng búng nói gì đó nhưng bị ngắt ngang vì một cánh cửa ở đầu cầu thang lầu một mở ra.

“Anh Harry, mời anh vô đây một lát.”

Đó là Ginny.

Ron khựng lại ngay, nhưng Hermione nắm lấy cùi chỏ nó và lôi lên cầu thang.

Harry đi theo Ginny vào phòng, cảm thấy bồn chồn lo lắng.

Trước đây nó chưa từng vô trong phòng Ginny.

Phòng nhỏ nhưng sáng sủa.

Có một tấm bích chương to đùng của ban nhạc pháp thuật Quái Tỷ Muội treo trên tường, và tấm hình của Gwenog Jones, đội trưởng đội Quidditch toàn-nữ-phù-thủy Holyhead Harpies dán trên tường đối diện.

Một bàn viết đặt đối diện khung cửa sổ mở ra vườn cây ăn trái mà có lần nó và Ginny đã chơi Quidditch với Ron và Hermione, mỗi đội hai người, và bây giờ chỗ đó đã mọc lên một cái rạp khổng lồ màu trắng ngà.

Ginny ngước lên nhìn mặt Harry, hít sâu một hơi, rồi nói, “Chúc mừng sinh nhật mười bảy...”

“Ừ... cám ơn.”

Cô bé cứ nhìn nó mãi; nhưng nó thấy nhìn lại cô bé thiệt là khó, giống như nhìn vào một ngọn đèn sáng rực.

“Cảnh đẹp,” nó nói giọng yếu ớt, chỉ ra ngoài cửa sổ.

Cô bé không bận tâm điều đó.

Nó không trách được.

“Em không nghĩ ra cái gì để tặng anh,” cô bé nói.

“Em không cần tặng anh cái gì cả.”

Cô bé lơ cả điều này.

“Em không biết cái gì sẽ có ích.

Không có gì được quá lớn, bởi vì anh sẽ không thể đem theo bên mình.”

Nó có dịp liếc nhìn Ginny.

Cô bé không khóc.

Đó là một trong những điểm tuyệt vời của Ginny, cô bé ít khi nào khóc lóc.

Đôi khi nó nghĩ ắt là cô bé đã trở nên cứng cỏi nhờ có sáu ông anh.

Cô bé bước tới gần Harry hơn.

“Vì vậy em nghĩ, em muốn anh có cái gì đó để nhớ tới em, biết đâu, nếu anh gặp gỡ một cô tiên khi anh đang rong ruổi làm chuyện gì đó mà anh làm.”

“Nói thật, anh nghĩ thực tế mấy vụ hẹn hò sẽ cực kỳ thưa thớt.”

“Vậy là em vẫn còn hên,” Ginny thì thầm, và rồi cô bé hôn nó như chưa từng hôn nó trước đây; Harry hôn lại, và đó là cơn say sưa vui sướng hơn cả rượu đế lửa; lúc này cô bé là điều duy nhất có thật trên đời, Ginny, và cái cảm giác về cô, với một tay đỡ lưng và một tay luồn vào trong mái tóc dài thơm ngọt ngào của cô bé.

Cánh cửa bật mở ra sau lưng hai đứa khiến tụi nó giật mình buông nhau ra.

“Ối,” Ron nói giọng xoi mói.

“Xin lỗi”

“Ron!”

Hermione ở ngay sau lưng Ron, hơi bị khó thở.

Im lặng ngột ngạt, rồi Ginny nói bằng một giọng nhỏ buồn buồn.

“Thôi, dù sao cũng chúc mừng sinh nhật vui vẻ, anh Harry.”

Tai Ron đỏ tía; Hermione tỏ vẻ lo âu.

Harry muốn đóng sập cửa vào mặt hai đứa nó, nhưng lại cảm thấy như thể một luồng gió lạnh đã lùa vô phòng khi cánh cửa mở ra, và khoảnh khắc tươi sáng của đời nó đã nổ tan như bong bóng xà phòng.

Tất cả lý do để nó chấm dứt bồ bịch với Ginny, để không đèo bòng với cô bé nữa, dường như lẻn theo Ron mà nhảy vô phòng, và tất cả sự lãng quên đầy vui sướng bèn bỏ đi mất.

Nó nhìn theo Ginny, muốn nói đôi điều, mặc dù nó khó mà biết nói điều gì, nhưng cô bé đã quay lưng về phía nó.

Nó nghĩ có lẽ cô bé lần này đã không cầm được nước mắt nữa.

Nó không thể làm gì để an ủi cô bé trước mắt Ron.

“Lát nữa sẽ gặp lại em,” nó nói, và đi theo hai đứa kia ra khỏi phòng.

Ron dẫm thình thịch xuống cầu thang, đi xuyên qua nhà bếp vẫn còn đông đúc để ra sân, và Harry bước đồng nhịp với nó suốt chặng đường, còn Hermione thì te te đi theo đằng sau có vẻ khiếp đảm.

Khi đến chỗ khuất của bãi cỏ mới cắt, Ron quay lại chặn đầu Harry.

“Mày đã bỏ nó.

Bây giờ mày giở trò gì nữa, vờn nó chơi hả?”

“Mình không vờn,” Harry nói, lúc ấy Hermione vừa theo kịp tụi nó.

“Ron...”

Nhưng Ron giơ tay bảo Hermione im lặng.

“Con nhỏ đã đau khổ thực sự khi mày chấm dứt quan hệ...”

“Mình cũng vậy.

Bồ biết tại sao mình phải chấm dứt mà, và điều đó chẳng phải do mình muốn.”

“Ừ, nhưng bây giờ mày lại đi ôm ấp hun hít nó và nó sẽ vừa mới nhen nhóm hy vọng trở lại thì...”

“Ginny không phải đồ ngu, Ginny biết chuyện đó không thể xảy ra, Ginny không trông mong gì hai đứa tôi...

đi tới hôn nhân, hay...”

Khi nói điều này, trong trí Harry hiện rõ hình ảnh của Ginny trong bộ áo đầm trắng, đang kết hôn với một thằng cha xa lạ cao kều khó ưa và không có mặt mũi gì ráo.

Trong một khoảnh khắc tăng đến cao trào, nó dường như nhìn ra: tương lai của Ginny tự do và không vướng víu gì hết, trong khi tương lai của nó... nó không thấy gì khác ngoài Voldemort ở phía trước.

“Nếu mày còn tiếp tục dụ dỗ nó mỗi khi có mày có cơ hội...”

“Điều đó sẽ không bao giờ có nữa,” Harry gay gắt nói.

Ngày hôm đó không có mây nhưng nó cảm thấy như mặt trời vừa đi trốn.

“Được chưa?”

Ron có vẻ nửa tức tối nửa ngượng ngùng; nó đứng lắc lư một lát, rồi nói, “Vậy được, thôi, vậy là...

ừ.”

Suốt ngày hôm đó Ginny không kiếm cách gặp gỡ Harry một mình nữa, cũng không bày tỏ qua ánh mắt hay cử chỉ nào cho thấy hai đứa nó có chung nhau những điều sâu đậm hơn một cuộc chuyện trò lịch sự trong căn phòng cô bé.

Cho dù vậy, Harry cũng cảm thấy nhẹ nhõm khi anh Charlie về đến nhà.

Nó tìm được chút xao lãng khi nhìn bà Weasley ép anh Charlie ngồi xuống một cái ghế, giơ cây đũa phép của bà lên một cách dọa nạt và tuyên bố rằng anh sẽ phải đi cắt tóc cắt tai lại cho đàng hoàng.

Bởi vì bữa tiệc sinh nhật của Harry có thể sẽ nong cái nhà bếp của Hang Sóc tới mức nứt banh ra ngay cả trước khi anh Charlie, chú Lupin, cô Tonks, và bác Hagrid đến, nên nhiều cái bàn đã được đặt nối tiếp nhau trong vườn.

Fred và George phù phép ra một số lồng đèn tím, tất cả đều được trang trí nổi bật con số 17 to tổ tướng, treo lơ lửng trên đầu khách.

Nhờ sự chăm sóc của bà Weasley, vết thương của George coi gọn gàng sạch sẽ, nhưng Harry vẫn chưa quen nhìn cái lỗ tôi tối ở một bên đầu của anh ta, cho dù hai anh em sinh đôi đã nói giỡn rất nhiều về cái lỗ đó.

Hermione khiến những dải băng giấy màu tím với vàng kim phun ra từ đầu cây đũa phép và tự treo chúng lên khắp cây cối lùm bụi một cách tinh xảo.

“Hay,” Ron nói, khi Hermione vung cây đũa phép một cách bay bướm lần chót, biến lá trên cây táo dại thành vàng, “Bồ đúng là có con mắt tinh đời về những việc như vậy.”

“Cám ơn bồ, Ron,” Hermione nói, trông vẻ mặt vừa khoái chí vừa hơi mắc cỡ.

Harry quay mặt đi, mỉm cười với chính mình.

Nó có một ý nghĩ tức cười là sẽ tìm đọc chương về những lời khen ngợi khi có thì giờ nghiên cứu cuốn Mười Hai Cách Khỏi-Lo-Thất-Bại Để Bỏ Bùa Các Nàng Phù Thủy; nó bắt gặp ánh mắt của Ginny bèn nhe răng cười với cô bé trước khi kịp nhớ ra lời hứa với Ron và vội vã bắt chuyện với me xừ Delacour.

“Tránh ra!

Tránh ra!”

Bà Weasley ca vang, xuất hiện ở cửa với một thứ có vẻ như một trái banh Snitch bự-bằng-banh-phao-ở-bãi-biển đang bay trước mặt bà.

Chỉ vài giây sau Harry nhận ra cái đó là ổ bánh sinh nhật của nó, bà Weasley dùng cây đũa phép giữ cho cái bánh trôi lơ lửng trên không, chứ bà không dám liều lĩnh bưng nó đi trên mặt đất gồ ghề.

Khi cái bánh rốt cuộc đáp được xuống mặt bàn, Harry nói:

“Con quá bất ngờ, bác Weasley à.”

“Ôi, có gì đâu, cưng.”

Bà khoái chí nói.

Phía sau vai bà, Ron ra hiệu với Harry, ngón tay cái giơ lên, mặt nhăn lại, Giỏi lắm.

Khoảng bảy giờ tất cả khách khứa đều đã đến, được Fred và George đón ở cuối con đường nhỏ dẫn vào nhà.

Bác Hagrid nhân cơ hội này diện bộ cánh đẹp nhất, và khủng khiếp nhất của bác, là bộ đồ nâu lông lá xù xì.

Mặc dù thầy Lupin mỉm cười khi bắt tay Harry, Harry nghĩ thầy có vẻ không vui lắm.

Mà vậy thì kỳ cục hết sức; bên cạnh thầy, cô Tonks tỏa ra nét rạng rỡ cực kỳ tươi tắn.

“Chúc mừng sinh nhật, Harry!”

Cô nói, ôm nó rất chặt.

“Ê, mười bảy tuổi rồi hén!”

Bác Hagrid nói khi nhận ly rượu bự-bằng-cái-xô mà Fred đưa bác.

“Sáu năm chẵn kể từ ngày bác cháu mình gặp nhau, Harry, con còn nhớ ngày đó hông?”

“Mang máng,” Harry nói, nhe răng cười với bác.

“Có phải bác đã đạp sập cánh cửa trước, gắn cho thằng Dudley một cái đuôi heo, và nói cho con biết con là một phù thủy?”

“Bác quên béng chi tiết rồi,” bác Hagrid cười phát nấc lên.

“Hông sao.

Ron, Hermione khỏe hả?”

“Tụi con khỏe” Hermione nói.

“Bác khỏe không?”

“Ờ, không tệ lắm.

Bận hổm rày, có thêm mấy con kỳ lân mới sanh.

Khi nào con trở về trường bác sẽ cho con coi...”

Harry tránh cái nhìn chòng chọc của Ron và Hermione khi bác Hagrid lục lọi túi áo của bác.

“Đây, Harry... không thể nghĩ ra được món gì tặng con, nhưng rồi bác nhớ ra cái này.”

Bác rút ra một cái túi bùa nhỏ bằng da lông thú, miệng túi có dây thắt, rõ ràng là để đeo quanh cổ.

“Da lừa.

Cất bất cứ cái gì trong đó thì không ai ngoại trừ chính chủ nhân có thể lấy ra được.

Hiếm lắm à, mấy thứ này.”

“Cám ơn, bác Hagrid!”

“Hổng có chi,” bác Hagrid nói rồi vẫy bàn tay bự-bằng-nắp-cái-thùng-rác.

“A kia là Charlie!

Lúc nào cũng khoái cậu này...

Ê, Charlie!”

Anh Charlie đến gần, lùa bàn tay một cách hơi phiền muộn qua mớ tóc mới bị cắt ngắn một cách tàn nhẫn.

Anh hơi lùn hơn Ron, thân hình chắc nịch, một số vết phỏng và thẹo lan lên hai cánh tay nổi vồng cơ bắp.

“Chào bác Hagrid, tình hình ra sao?”

“Tính biên thư lâu lắm rồi.

Thằng Norbert sao rồi?”

“Thằng Norbert hả?”

Anh Charlie bật cười.

“Con rồng Lưng gai Na Uy hả?

Bây giờ tụi cháu kêu nó là nàng Norberta.”

“Cái g...

Norbert là rồng cái à?”

“Dạ phải.”

“Làm sao anh biết được?”

Hermione hỏi.

“Rồng cái hung hăng hơn rất nhiều,” anh Charlie nói.

Anh ngoảnh nhìn ra sau lưng rồi hạ thấp giọng.

“Ước gì ba mau mau về đây.

Má đang phát quạu.”

Cả bọn cùng nhìn về phía bà Weasley.

Bà đang nói chuyện với ma đàm Delacour trong khi mắt cứ liếc chừng về phía cổng.

“Tôi nghĩ chúng ta đành bắt đầu mà không có anh Arthur thôi,” bà nói chung chung với mọi người trong vườn sau một hai lúc ngần ngừ.

“Anh ấy có lẽ bị kẹt công việc ở...

Ối!”

Tất cả mọi người nhìn thấy cùng một lúc: một vệt ánh sáng bay ngang qua khu vườn và đáp xuống giữa bàn, tại đó nó biến thành một con chồn bạc óng ánh, đứng trên hai chân sau và nói bằng giọng của ông Weasley:

“Bộ trưởng Pháp thuật đến cùng với tôi.”

Thần Hộ mệnh của ông Weasley tan biến vào không trung, để lại cho gia đình Delacour nỗi sửng sốt khi họ trố mắt ngó vào chỗ nó vừa biến đi.

“Chúng ta không nên ở đây,” thầy Lupin nói ngay.

“Harry... thầy xin lỗi... thầy sẽ giải thích vào dịp khác...”

Thầy nắm cổ tay cô Tonks và kéo cô đi khỏi.

Cả hai đến hàng rào, trèo qua, và biến mất.

Bà Weasley tỏ ra bối rối.

“Bộ trưởng... nhưng mắc mớ gì?

Tôi không hiểu...”

Nhưng chẳng có thời giờ đâu mà bàn thảo vấn đề; một giây sau, ông Weasley từ cõi không hiện ra ngay bên cánh cổng, đi cùng có ông Rufus Scrimgeour, có thể nhận ra được ngay tức thì nhờ bờm tóc hoa râm của ông.

Hai người vừa đến băng ngang qua sân về phía khu vườn và cái bàn được thắp lồng đèn, nơi mọi người ngồi im phăng phắc, chăm chú nhìn họ đi tới gần.

Khi ông Scrimgeour bước vào vùng tỏa sáng của lồng đèn, Harry thấy ông có vẻ già hơn lần gặp gỡ trước đây, ông giờ gầy trơ xương, nét mặt khắc khổ.

“Xin lỗi đã đường đột,” ông Scrimgeour nói khi mệt mỏi đứng lại trước cái bàn.

“Đặc biệt là, như tôi có thể nhận ra, mình đến một bữa tiệc mà mình không được mời.”

Mắt ông dừng lại một chút ở cái bánh Snitch khổng lồ.

“Chúc vui vẻ khỏe mạnh.”

“Cám ơn ông,” Harry nói.

“Tôi yêu cầu được nói chuyện riêng với cậu,” ông Scrimgeour nói tiếp.

“Với cả cậu Ronald Weasley và cô Hermione Granger.”

“Chúng cháu à?”

Ron nói, giọng ngạc nhiên.

“Sao lại chúng cháu?”

“Tôi sẽ nói cho cậu biết khi chúng ta ở nơi nào đó kín đáo hơn,” ông Scrimgeour nói.

“Có nơi nào như vậy không?”

Ông hỏi ông Weasley.

“Vâng, dĩ nhiên,” ông Weasley nói, trông ông rất căng thẳng.

“Phòng, ơ, phòng khách, dùng phòng khách được không ạ?”

“Cậu có thể dẫn đường,” ông Scrimgeour nói với Ron.

“Ông không cần đi cùng chúng tôi, ông Arthur à.”

Harry thấy ông Weasley trao đổi ánh mắt lo âu với bà Weasley khi nó, Ron và Hermione đứng dậy.

Tụi nó dẫn đường trở vô nhà trong im lặng, Harry biết hai đứa kia đang suy nghĩ như nó; ông Scrimgeour ắt là, bằng cách nào đó, đã biết ba đứa tụi nó toan tính bỏ học trường Hogwarts.

Ông Scrimgeour không nói gì khi cùng ba đứa nó đi ngang qua nhà bếp bừa bộn để vào phòng khách của Hang Sóc.

Mặc dù khu vườn tràn đầy ánh hoàng hôn vàng óng êm dịu, trong phòng đã tối rồi; Harry phẩy cây đũa phép để thắp lên những ngọn đèn dầu khi bước vào phòng và ánh đèn dầu soi sáng căn phòng nhếch nhác nhưng ấm cúng.

Ông Scrimgeour tự mình ngồi xuống một cái ghế đã bị lún mà ông Weasley thường ngồi, để cho Ron, Harry và Hermione chen chúc ngồi sát bên nhau trên cái ghế nệm dài.

Khi tụi nó đã ngồi đâu vô đó, ông Scrimgeour nói.

“Tôi có vài câu muốn hỏi ba cô cậu, và tôi nghĩ tốt nhất chúng ta nên hỏi riêng từng người.

Nếu hai cô cậu – ông chỉ vào Harry và Hermione – có thể đợi ở trên lầu, tôi sẽ bắt đầu với cậu Ronald trước.”

“Chúng cháu không đi đâu cả,” Harry nói, trong khi Hermione gật đầu tán đồng mạnh mẽ.

“Ông có thể nói chung với tất cả chúng cháu, hoặc khỏi nói luôn.”

Ông Scrimgeour nhìn Harry lạnh lùng, suy tính.

Harry có cảm tưởng ông Bộ trưởng đang tự hỏi liệu có đáng gây chiến sớm như vầy không.

“Vậy thì rất tốt, chung tất cả,” ông nhún vai, nói.

Ông tằng hắng, “Tôi đến đây, chắc cô cậu cũng đã biết, là vì di chúc của cụ Albus Dumbledore.”

Harry, Ron và Hermione nhìn nhau.

“Coi bộ ngạc nhiên hả!

Vậy là các cô cậu không biết cụ Dumbledore có để lại cho các cô cậu cái gì à?”

“Tất... tất cả... chúng cháu?”

Ron hỏi.

“Cho cả cháu và Hermione nữa?”

“Phải, tất cả...”

Nhưng Harry ngắt lời ông ta.

“Thầy Dumbledore mất đã hơn một tháng nay.

Tại sao phải mất thời gian lâu như vậy để trao lại những gì thầy để lại cho chúng cháu?”

“Còn chưa rõ sao?”

Hermione nói, trước khi ông Scrimgeour có thể trả lời.

“Họ muốn kiểm tra cái gì đó mà thầy để lại cho chúng ta.

Các ông không có quyền làm như vậy!”

Cô bé nói, giọng hơi run run.

“Tôi có mọi quyền,” ông Scrimgeour nói một cách thô bạo.

“Đạo luật về sự Trưng thu Chính đáng cho phép Bộ có quyền tịch thu những nội dung trong một bản di chúc...”

“Luật đó ban ra là để ngăn chặn các pháp sư truyền lại những khí cụ Hắc ám,” Hermione nói, “và Bộ cần có chứng cớ vững chắc rằng tài sản của người quá cố là bất hợp pháp trước khi thu giữ chúng!

Bộ ông muốn nói là ông nghĩ thầy Dumbledore tính trao lại cho chúng tôi cái gì đó bị ếm hả?”

“Cô có dự định theo đuổi nghề Luật Pháp thuật không, cô Granger?”

Ông Scrimgeour hỏi.

“Không,” Hermione đốp chát lại.

“Tôi hy vọng mình sẽ làm điều gì đó tử tế trên đời.”

Ron cười.

Đôi mắt của ông Scrimgeour nhấp nháy về phía nó rồi lại quay đi khi Harry nói.

“Vậy tại sao bây giờ ông lại quyết định để chúng cháu được sở hữu những thứ của chúng cháu?

Không thể nghĩ ra cớ để giữ chúng lại sao?”

“Không, chẳng qua vì thời hạn ba mươi mốt ngày đã hết,” Hermione nói ngay.

“Họ không thể giữ các món đồ lâu hơn thời hạn đó trừ khi họ có thể chứng minh là chúng nguy hiểm.

Đúng không?”

“Cậu có thể nói là cậu thân cận với cụ Dumbledore không, Ronald?”

Ông Scrimgeour hỏi, phớt lờ Hermione, Ron có vẻ giật mình.

“Cháu hả?

Không... thực ra thì không...

Lúc nào Harry cũng chính là người...”

Ron nhìn qua Harry và Hermione để thấy Hermione đang nhìn nó cái kiểu đừng-nói-nữa, nhưng điều bất lợi đã được thốt ra; ông Scrimgeour tỏ vẻ như ông vừa nghe đúng chóc điều mà ông mong nghe, và muốn nghe.

Ông vồ lấy câu trả lời của Ron như một con chim vồ mồi.

“Nếu cậu không thân cận với cụ Dumbledore lắm, thì cậu nghĩ sao về sự kiện là cụ nhớ đến cậu trong di chúc của cụ?

Cụ để lại ít một cách khác thường những ước nguyện cá nhân.

Đại bộ phận tài sản của cụ – thư viện cá nhân của cụ, dụng cụ pháp thuật của cụ, và những vật dụng cá nhân khác – đều được để lại cho trường Hogwarts.

Cậu nghĩ xem tại sao cậu lại được đặc biệt ưu ái?”

“Cháu không biết...”

Ron nói.

“Cháu... khi cháu nói chúng cháu không thân cận...

ý cháu nói, cháu nghĩ cụ thích cháu...”

“Bồ khiêm tốn đó, Ron à,” Hermione nói.

“Cụ Dumbledore rất thích bồ.”

Điều này thì rõ là nói ngoa đến mức quá đáng rồi; theo như Harry biết, Ron và cụ Dumbledore chưa bao giờ tiếp xúc riêng với nhau, và sự tiếp xúc trực tiếp giữa hai người hầu như không đáng kể.

Tuy nhiên, ông Scrimgeour dường như không thèm nghe.

Ông đút tay vào bên trong áo khoác và rút ra một cái túi có thắt dây lớn hơn cái túi bác Hagrid tặng Harry rất nhiều.

Từ trong túi, ông lấy ra một cuộn giấy da, ông mở nó ra và đọc to.

“Di chúc và Nguyện vọng cuối cùng của Albus Percival Wulfric Brian Dumbledore...

À, đây...

Tôi để lại cho Ronald Bilius Weasley cái Tắt sáng của tôi, hy vọng trò ấy sẽ nhớ đến tôi khi dùng nó.”

Ông Scrimgeour lấy trong túi ra một vật mà Harry đã nhìn thấy trước đây: nó giống như một cái hộp quẹt để đốt thuốc lá bằng bạc, nhưng Harry biết, nó có phép hút hết ánh sáng ở một nơi, rồi phục hồi lại chỉ bằng một cái bật đơn giản.

Ông Scrimgeour chồm tới trước và đưa cái Tắt sáng cho Ron; Ron cầm lấy và xoay cái vật đó trong mấy ngón tay, tỏ vẻ sửng sốt.

“Đó là một vật có giá trị,” ông Scrimgeour vừa nói vừa quan sát Ron.

“Thậm chí còn độc đáo.

Chắc chắn là đồ vật do chính cụ Dumbledore thiết kế.

Tại sao cụ để lại cho cậu một món hiếm như vậy?”

Ron lắc đầu, tỏ ra bối rối.

“Cụ Dumbledore ắt hẳn đã dạy hàng ngàn học sinh,” ông Scrimgeour vẫn kiên trì.

“Nhưng những người duy nhất mà cụ nhớ đến trong di chúc là ba cô cậu.

Tại sao thế?

Cậu Weasley, cụ Dumbledore nghĩ cậu có thể dùng cái Tắt sáng này vào việc gì?”

“Tắt ánh sáng, cháu đoán vậy,” Ron lúng búng.

“Cháu còn có thể làm gì khác với nó?”

Hiển nhiên ông Scrimgeour không đưa ra được ý kiến gì cả.

Sau khi ngó Ron đến lé mắt, ông quay lại bản di chúc của cụ Dumbledore.

“Tôi để lại cho Hermione Jean Granger quyển sách Những Chuyện Kể của Beedle Người Hát Rong bản của tôi, hy vọng trò ấy sẽ thấy sách hay và có ích cho tri thức.”

Ông Scrimgeour lấy từ trong cái túi ra một cuốn sách nhỏ coi có vẻ xưa như cuốn Bí Mật của Nghệ Thuật Hắc Ám đang ở trên lầu.

Gáy sách đã hoen ố và long ra vài chỗ.

Hermione nhận cuốn sách từ tay ông Scrimgeour không nói một lời.

Cô bé giữ cuốn sách trên đùi và đăm đăm nhìn nó.

Harry nhận thấy tên sách viết bằng cổ ngữ Runes; nó chưa bao giờ học đọc chữ Runes.

Khi nó nhìn cuốn sách, một giọt nước mắt rơi bắn tóe ra trên những ký hiệu chạm nổi.

“Cô Granger, cô nghĩ tại sao cụ Dumbledore để lại quyển sách đó cho cô?”

“Thầy... thầy biết tôi thích sách,” Hermione đáp giọng khàn khàn, chùi nước mắt bằng ống tay áo.

“Nhưng tại sao lại là cuốn sách đặc biệt đó?”

“Cháu không biết.

Chắc là thầy nghĩ cháu sẽ thích nó.”

“Cô có từng thảo luận bằng mật mã, hay bất cứ cách truyền thông điệp bí mật nào với cụ Dumbledore hay không?”

“Không, cháu không hề,” Hermione nói, vẫn chùi nước mắt bằng ống tay áo.

“Và nếu Bộ đã không tìm ra được bất kỳ mật mã được ẩn giấu nào trong ba mươi mốt ngày, cháu không tin là cháu sẽ tìm được.”

Cô bé nén một tiếng nấc.

Tụi nó ngồi sát nhau chật đến nỗi Ron vất vả lắm mới rút được cánh tay của nó ra để quàng quanh vai Hermione.

Ông Scrimgeour quay lại bản di chúc.

“Tôi để lại cho Harry James Potter,” ông đọc, và ruột gan Harry quặn thắt với cơn hồi hộp bất ngờ, “trái banh Snitch trò ấy bắt được trong trận đấu Quidditch đầu tiên của trò ấy ở trường Hogwarts, như một nhắc nhở đến những phần thưởng cho sự kiên nhẫn và khéo léo.”

Khi ông Scrimgeour lấy ra trái banh vàng nhỏ xíu cỡ-bằng-hột-óc-chó, hai cánh bạc của nó vỗ vỗ hơi yếu ớt, và Harry không thể không cảm thấy rõ là cụt hứng.

“Tại sao cụ Dumbledore để lại cho cậu trái banh Snitch này?”

“Cháu không biết,” Harry nói.

“Cháu đoán vì những lý do mà ông vừa đọc lên...

để nhắc nhở cháu điều người ta có thể đạt được bằng sự... kiên nhẫn và gì gì đó.”

“Vậy cậu nghĩ đây chỉ là vật lưu niệm tượng trưng?”

“Cháu đoán vậy,” Harry nói “Chứ nó còn có thể là gì nữa?”

“Tôi đang hỏi đấy nhé,” ông Scrimgeour nói, kéo cái ghế của ông đến gần hơn cái ghế nệm dài tụi nó đang ngồi.

Hoàng hôn đã thực sự buông xuống ở ngoài kia, cái rạp bên ngoài cửa sổ nhô lên cao bên trên hàng giậu màu trắng ma quái.

“Tôi nhận thấy cái bánh sinh nhật của cậu hình trái banh Snitch,” ông Scrimgeour nói với Harry.

“Tại sao thế?”

Hermione bật cười đầy nhạo báng.

“Ôi, nó không thể là một cách ám chỉ đến việc Harry là một tầm thủ cừ khôi, cách đó quá lộ liễu,” cô bé nói.

“Ắt hẳn là có một thông điệp bí mật của thầy Dumbledore giấu trong lớp kem bánh!”

“Tôi không nghĩ có gì đó giấu trong kem bánh,” ông Scrimgeour nói.

“Nhưng một trái banh Snitch là một nơi rất tốt để giấu một vật thể nhỏ.

Tôi chắc các cô cậu biết tại sao chứ?”

Harry nhún vai, tuy nhiên Hermione trả lời.

Harry nghĩ cái phản ứng trả lời câu hỏi đúng chóc là một thói quen đã thấm quá sâu đến nỗi cô nàng không thể nén được ham muốn trả lời.

“Bởi vì những trái banh Snitch có trí nhớ về da thịt,” Hermione nói.

“Cái gì?”

Cả Harry và Ron cùng nói, lâu nay cả hai vẫn coi kiến thức về Quidditch của Hermione là không đáng kể.

“Đúng,” ông Scrimgeour nói.

“Một trái banh Snitch không được chạm vào bằng da trần cho đến khi nó được thả ra, thậm chí người chế tạo ra nó cũng phải mang găng tay.

Nó mang một bùa ếm giúp nó phân biệt được người đầu tiên đặt bàn tay lên nó, trong trường hợp có tranh cãi về việc bắt được banh.

Trái banh Snitch này,” ông giơ trái banh vàng bé tí lên – “sẽ nhớ sự tiếp xúc với cậu, Potter à.

Theo tôi thì cụ Dumbledore, người có tài năng pháp thuật phi thường, bất chấp khuyết điểm khác của cụ, có thể đã phù phép trái banh Snitch này để cho nó chỉ có thể mở ra cho cậu mà thôi.”

Trái tim Harry đập hơi nhanh.

Nó chắc chắn ông Scrimgeour nói đúng.

Làm sao nó tránh để khỏi chạm vào trái banh Snitch bằng bàn tay trần trước mặt ông Bộ trưởng bây giờ?

“Cậu không nói gì cả,” ông Scrimgeour nói, “có lẽ cậu đã biết trái Snitch này chứa cái gì?”

“Không,” Harry nói, vẫn tự hỏi làm cách nào để nó có vẻ chạm vào trái banh mà thực ra không chạm phải.

Giá mà nó biết phép Đọc Tư Tưởng, phải thật sự biết kìa, và có thể đọc ý kiến của Hermione.

Nó gần như có thể nghe được bộ óc của cô bé đang rít lên xèo xèo ngay bên cạnh nó.

“Cầm lấy,” ông Scrimgeour khẽ nói.

Harry bắt gặp ánh mắt vàng khè của ông Bộ trưởng và biết là nó không có lựa chọn nào khác hơn là vâng lời.

Nó đưa tay ra, và ông Scrimgeour chồm tới trước một lần nữa rồi đặt trái banh Snitch, chậm chạp và thận trọng, vào lòng bàn tay Harry.

Không có gì xảy ra cả.

Khi những ngón tay Harry khép lại quanh trái banh Snitch, đôi cánh mệt mỏi của trái banh vỗ vỗ rồi nằm yên.

Ông Scrimgeour, Ron, và Hermione vẫn tiếp tục ngấu nghiến nhìn chăm chăm vào trái banh lúc này đã phần nào được bàn tay che kín, như thể họ vẫn còn hy vọng nó có thể biến hình bằng cách nào đó.

“Thiệt là đầy kịch tính,” Harry nói mát mẻ.

Cả Ron và Hermione phá ra cười.

“Vậy là hết, hả?”

Hermione hỏi, làm ra bộ đứng dậy khỏi cái ghế dài.

“Không hẳn,” ông Scrimgeour nói, bây giờ ông có vẻ nóng nảy.

“Cụ Dumbledore còn để lại cho cậu di vật thứ hai, Potter à.”

“Cái gì vậy?”

Harry hỏi, nỗi hồi hộp lại bùng lên.

Lần này ông Scrimgeour không thèm mất công đọc di chúc nữa.

“Thanh gươm của Godric Gryffindor,” ông nói.

Cả Hermione và Ron ngây người ra.

Harry ngó quanh coi có cán gươm cẩn hồng ngọc nào không, nhưng ông Scrimgeour không rút thanh gươm nào ra khỏi cái túi da, đằng nào thì cái túi đó cũng có vẻ quá nhỏ để chứa được thanh gươm.

“Vậy nó đâu?”

Harry ngờ vực hỏi.

“Không may,” ông Scrimgeour nói, “thanh gươm đó cụ Dumbledore không được quyền đem cho.

Thanh gươm của Godric Gryffindor là một hiện vật lịch sử quan trọng, và do vậy, thuộc về...”

“Nó thuộc về Harry!”

Hermione nóng nảy nói.

“Thanh gươm chọn bạn ấy, bạn ấy là người đã tìm ra nó, nó đã vọt ra khỏi cái nón phân loại để nhảy vào tay bạn ấy...”

“Theo nguồn tư liệu lịch sử đáng tin cậy thì thanh gươm tự trình diện với bất cứ một học sinh nhà Gryffindor nào xứng đáng,” ông Scrimgeour nói.

“Điều đó không khiến nó trở thành tài sản riêng của cậu Potter, bất kể cụ Dumbledore quyết định gì đi nữa,” ông Scrimgeour gãi cái cằm được cạo nham nhở của ông, xoi mói nhìn Harry.

“Cậu nghĩ tại sao...?”

“... thầy Dumbledore muốn cháu có thanh gươm đó chứ gì?”

Harry nói, cố gắng không nổi nóng.

“Có lẽ thầy nghĩ treo nó trên tường của cháu thì ngó nó ngộ ngộ.”

“Đây không phải chuyện đùa, cậu Potter!”

Ông Scrimgeour gầm gừ.

“Có phải vì cụ Dumbledore tin là chỉ có thanh gươm của Godric Gryffindor mới có thể đánh bại được kẻ thừa kế của Slytherin không?

Có phải cụ muốn trao thanh gươm đó cho cậu, Potter, bởi vì cụ tin, như nhiều người tin, rằng cậu là người được tiên tri sẽ là kẻ tiêu diệt Kẻ-chớ-có-gọi-tên-ra không?”

“Giả thiết hay thiệt,” Harry nói.

“Có ai đã thử thọc một thanh gươm vào Voldemort chưa?

Có lẽ Bộ nên giao một số người công tác đó, thay vì lãng phí thời giờ của họ vào việc tháo rời một cái Tắt sáng, hay bưng bít những vụ vượt ngục Azkaban.

Vậy ra đây là chuyện ông làm lâu nay hả, ông Bộ trưởng, đóng cửa ở trong văn phòng, tìm cách mở một trái banh Snitch?

Dân chúng đang chết – tôi suýt là một trong số đó – Voldemort truy đuổi tôi qua ba nước, hắn giết thầy Mắt Điên Moody, nhưng chẳng có một tiếng nói nào của Bộ về bất kỳ vụ nào trong những vụ đó, có không?

Và ông còn trông mong chúng tôi hợp tác với ông à?”

“Cậu đi quá xa!”

Ông Scrimgeour quát, đứng dậy.

Harry cũng đứng bật dậy.

Ông Scrimgeour đi khập khiễng về phía Harry và chọc mạnh đầu cây đũa phép của ông vào ngực nó.

Cú chọc này làm cháy xém một cái lỗ trên chiếc áo thun của Harry giống như một đóm thuốc lá.

“Ối!”

Ron nói, đứng bật dậy và giơ cao cây đũa phép của chính nó, nhưng Harry nói:

“Đừng, bồ đâu có muốn tạo cho ông ta cái cớ để bắt tụi mình hả?”

“Đã nhớ ra mi không còn ở trong trường nữa, phải không?”

Ông Scrimgeour nói, thở mạnh vào mặt Harry.

“Đã nhớ ra ta không phải là cụ Dumbledore, kẻ đã tha thứ cho sự láo xược và ngang bướng của mi hả?

Mi có thể cứ mang cái thẹo đó như một vương miện, Potter à, nhưng một thằng nhóc mười bảy tuổi không có nhiệm vụ dạy bảo ta làm công việc của ta!

Đã tới lúc mi phải học lấy sự tôn trọng!”

“Đã quá thời ông được tôn trọng,” Harry đáp lại.

Sàn nhà rung chuyển; có tiếng chân chạy rầm rập, rồi cánh cửa vào phòng khách bật mở và ông bà Weasley chạy vào.

“Chúng tôi... chúng tôi nghĩ chúng tôi nghe...”

Ông Weasley mở miệng nói, tỏ ra hết sức hốt hoảng trước cái cảnh Harry và ông Bộ trưởng hầu như đâu mũi kênh nhau.

“... tiếng hơi to,” bà Weasley hổn hển nói.

Ông Scrimgeour lùi lại cách Harry hai bước, liếc vào cái lỗ mà ông đã tạo ra trên áo thun của Harry.

Ông có vẻ hối tiếc đã mất bình tĩnh.

“Chuyện... không có gì,” ông gầm gừ.

“Tôi... tiếc cho thái độ của cậu,” ông nói, nhìn thẳng vào mặt Harry một lần nữa.

“Cậu có vẻ cho rằng Bộ không mong muốn cái điều cậu... cái điều cụ Dumbledore...

đã mong muốn.

Chúng ta nên hợp tác với nhau.”

“Tôi không ưa phương pháp của ông, ông Bộ trưởng à,” Harry nói.

“Còn nhớ không?”

Lần thứ hai, nó giơ nắm tay phải lên để lộ cho ông Scrimgeour vết thẹo vẫn còn nổi trắng trên mu bàn tay, đọc được là Tôi không được nói dối.

Vẻ mặt của ông Scrimgeour rắn đanh lại.

Ông quay đi không nói thêm một lời nào nữa và khập khiễng đi ra khỏi phòng.

Bà Weasley lật đật đi theo sau ông ta; Harry nghe bà dừng chân ở ngưỡng cửa sau.

Chừng một phút sau bà hô lên: “Ổng đi rồi!”

“Ông ta muốn gì?”

Ông Weasley hỏi, nhìn khắp Harry, Ron và Hermione trong khi bà Weasley lật đật chạy trở vô với tụi nó.

“Trao cho tụi con những di vật thầy Dumbledore di chúc để lại cho tụi con,” Harry nói, “Họ chỉ vừa mới nhả ra nội dung di chúc của thầy.”

Ở ngoài vườn, bên bàn ăn, ba đồ vật mà ông Scrimgeour vừa đưa tụi nó được chuyền tay từng người.

Ai cũng xuýt xoa về cái Tắt sáng và cuốn Những Chuyện Kể của Beedle Người Hát Rong và than vãn cái điều rằng ông Scrimgeour đã từ chối trao lại thanh gươm, nhưng không ai đưa ra được ý kiến nào về việc vì sao cụ Dumbledore để lại cho Harry một trái banh Snitch cũ.

Trong khi ông Weasley xem xét cái Tắt sáng đến lần thứ ba hay thứ tư, bà Weasley ngập ngừng nói, “Harry, cưng, mọi người đều đang đói bụng khủng khiếp.

Chúng ta không muốn bắt đầu bữa ăn mà không có con...

Bây giờ bác dọn đồ ăn ra được chưa con?”

Mọi người đều ăn uống hơi hấp tấp, và sau khi vội vã đồng thanh hô “Chúc sinh nhật vui vẻ!” rồi ngốn gọn miếng bánh, bữa tiệc tan.

Bác Hagrid, người được mời dự đám cưới ngày hôm sau, nhưng vì quá ư to xác không thể ngủ trong Hang Sóc vốn đã phình ra hết mức, nên phải ra ngoài tự dựng một cái lều trên cánh đồng hàng xóm.

“Gặp tụi này trên lầu,” Harry thì thầm với Hermione trong khi tụi nó giúp bà Weasley phục hồi nguyên trạng của khu vườn.

“Sau khi mọi người đã đi ngủ.”

Trên căn phòng ngủ sát mái, Ron xem xét cái Tắt sáng, và Harry nhét đầy cái túi bùa da lừa của bác Hagrid tặng, không phải vàng, mà là những đồ vật nó quý trọng nhất, có vẻ vô giá trị mặc dù một số thứ trong đó là: tấm Bản đồ Đạo tặc, mảnh gương vỡ có phép của chú Sirius, và cái mặt dây chuyền của R.A.B.

Nó thắt sợi dây thật chặt và đeo gọn quanh cổ, rồi ngồi xuống cầm trái banh Snitch cũ ngắm nghía đôi cánh vỗ vỗ yếu ớt.

Cuối cùng, Hermione gõ nhẹ lên cửa rồi nhón gót đi vào.

“Lùng bùng lỗ tai,” cô nàng thì thầm, vẫy cây đũa phép về hướng cầu thang.

“Tưởng bồ không chấp thuận câu thần chú đó chớ?”

“Thời thế thay đổi,” Hermione nói, “Đâu, bồ cho tụi này coi cái Tắt sáng đi.”

Ron gia ơn ngay tức thì.

Giơ cái Tắt sáng lên trước mặt, nó bấm một cái.

Ngọn đèn duy nhất tụi nó thắp trong phòng tắt phụt ngay.

“Vấn đề là,” Hermione thì thầm trong bóng tối, “tụi mình có thể làm được việc đó bằng Bột Tối hù Tức thì xứ Pê-ru.”

Một tiếng tách nho nhỏ vang lên, và cái bong bóng ánh sáng từ cây đèn bay ngược lên trần và chiếu sáng cả đám cùng một lúc.

“Dù vậy, nó là hàng độc,” Ron nói, giọng tự vệ một tí.

“Và theo lời họ nói thì chính thầy Dumbledore tự phát minh ra!”

“Mình biết, nhưng chắc chắn thầy không ưu ái riêng bồ trong di chúc chỉ để giúp tụi mình tắt đèn!”

“Bồ có nghĩ là thầy biết Bộ sẽ tịch thu di chúc của thầy và kiểm tra mọi thứ thầy để lại cho tụi mình không?”

Harry hỏi.

“Chắc chắn,” Hermione nói.

“Thầy không thể nói trong chúc thư cho tụi mình biết tại sao thầy để lại cho tụi mình những thứ này, nhưng thế vẫn không giải thích được...”

“... tại sao thầy không cho tụi mình một gợi ý nào hết khi thầy còn sống?”

Ron hỏi.

“Ừ, đúng chóc,” Hermione nói, lúc này đang lật khắp quyển Những Chuyện Kể của Beedle Người Hát Rong.

“Nếu những thứ này đủ quan trọng để truyền lại ngay trước mũi Bộ, người ta sẽ nghĩ hẳn là thầy đã cho tụi mình biết lý do... trừ khi thầy nghĩ lý do quá rõ ràng.”

“Vậy là thầy nghĩ sai rồi, đúng không?”

Ron nói.

“Mình luôn nói là thầy hơi bị tâm thần mà.

Rất tài giỏi, hay đủ thứ, nhưng khùng.

Để lại cho Harry một trái banh Snitch cũ – cái đó có ý nghĩa khỉ khô gì chớ?”

“Mình không biết,” Hermione nói.

“Khi lão Scrimgeour bắt bồ cầm nó, Harry à, mình đã chắc là chuyện gì đó sẽ xảy ra!”

“Ừ, thực ra,” Harry nói, mạch máu nó đập nhanh hơn khi giơ trái banh Snitch lên trong những ngón tay.

“Mình chưa cố gắng hết sức trước mặt lão Scrimgeour mà.”

“Bồ muốn nói gì?”

“Trái banh Snitch mà mình bắt được trong trận Quidditch đầu tiên của mình?”

Harry nói, “Mấy bồ không nhớ hả?”

Hermione có vẻ hết sức khoái chí.

Nhưng Ron thì há hốc miệng, chỉ tay như điên hết từ Harry đến trái banh Snitch rồi chỉ ngược lại cho đến khi nó nói lại được.

“Đó là cái bồ suýt nuốt phải!”

“Đúng chóc!”

Harry nói, và với trái tim đập gấp gáp, Harry dí miệng vô trái banh.

Trái banh không mở ra.

Nỗi chán nản và thất vọng cay đắng phình lên trong người nó.

Nó hạ trái cầu vàng xuống, nhưng lúc đó Hermione la lên:

“Chữ viết!

Có chữ viết trên đó, mau, coi nè!”

Nó suýt làm rớt trái banh Snitch vì ngạc nhiên và hồi hộp.

Hermione hoàn toàn đúng.

Được khắc trên bề mặt vàng óng mịn màng, nơi trước đó vài giây chẳng có gì cả, là năm từ được viết bằng nét chữ viết tay gầy nghiêng nghiêng mà Harry nhận ra ngay là chữ của thầy Dumbledore

Ta mở vào lúc kết.

Nó suýt không đọc được khi dòng chữ lại biến mất.

“Ta mở vào lúc kết...

Câu này có nghĩa gì?”

Hermione và Ron lắc đầu, có vẻ lúng túng.

“Ta mở vào lúc kết... vào lúc kết... ta mở vào lúc kết...”

Nhưng cho dù có lặp lại mấy chữ đó bao nhiêu lần, với nhiều giọng điệu cách thức khác nhau, tụi nó vẫn không thể vắt ra thêm ý nghĩa nào từ năm từ đó.

“Và thanh gươm,” cuối cùng Ron nói, khi tụi nó rốt cuộc đành phải bỏ cuộc đoán mò ý nghĩa trong dòng chữ khắc trên trái banh Snitch.

“Tại sao thầy muốn Harry giữ thanh gươm?”

“Và tại sao thầy không thể mách nước cho mình biết?”

Harry lặng lẽ nói.

“Mình đã ở đó, nó ở ngay đó trên bức tường của văn phòng thầy trong suốt những buổi nói chuyện hồi năm ngoái!

Nếu thầy muốn mình có nó, tại sao thầy không đơn giản cứ trao luôn cho mình lúc đó?”

Nó cảm thấy như thể đang ngồi trong một kỳ thi với một câu hỏi ở ngay trước mắt mà nó lẽ ra đã có thể trả lời, nhưng bộ não của nó chậm chạp và không nhạy bén gì cả.

Có điều gì nó đã bỏ sót trong những buổi nói chuyện dài với thầy Dumbledore hồi năm ngoái?

Nó có cần biết ý nghĩa của tất cả không?

Có khi nào thầy Dumbledore cho rằng nó đã hiểu không?

“Và với cuốn sách này,” Hermione nói, Những Chuyện Kể của Beedle Người Hát Rong...

Mình thậm chí còn chưa nghe nói đến bao giờ!”

“Bồ chưa từng nghe nói đến Những Chuyện Kể của Beedle Người Hát Rong hả?”

Ron hỏi với vẻ không tin được “Bồ nói đùa phải không?”

“Không,” Hermione nói vẻ ngạc nhiên.

“Vậy bồ có biết không?”

“Ôi, dĩ nhiên là biết chớ!”

Harry ngước nhìn lên, thú vị.

Trước giờ chưa từng xảy ra cái tình huống Ron đã đọc một cuốn sách mà Hermione lại chưa đọc.

Tuy nhiên, Ron có vẻ khoái chí trước vẻ ngạc nhiên của hai đứa nó.

“Thôi mà!

Tất cả những chuyện trẻ con hồi xưa đều là chuyện Beedle, đúng không?

Nào là Suối nước của thần may mắn công bằng...

Gã phù thủy và cái nồi nhảy...

Babbbity Rabbitty và cái chân răng ba hoa của cô bé...

“Nói lại giùm?”

Hermione nói vừa cười khúc khích.

“Cái cuối cùng là gì?”

“Đừng làm bộ nữa!”

Ron nói, nhìn từ Harry đến Hermione không tin nổi.

“Mấy bồ ắt phải từng nghe qua chuyện Babbitty Rabbitty...”

“Ron à, bồ quá biết là Harry và mình được lớn lên trong thế giới Muggle mà!”

Hermione nói.

“Tụi này đâu có nghe được những chuyện như chuyện đó khi còn nhỏ đâu, tụi này nghe những chuyện như Bạch Tuyết và bảy Chú Lùn và Cô bé Lọ Lem...”

“Cái đó là cái gì?

Một chứng bệnh hả?”

Ron hỏi.

“Vậy ra đây là những câu chuyện trẻ con?”

Hermione hỏi, lại nghiêng mình xuống những chữ Runes.

“Ừ,” Ron nói không chắc chắn lắm.

“Mình muốn nói, như bồ vừa nghe đó, là tất cả những câu chuyện cổ tích đều xuất xứ từ Beedle.

Mình không biết chuyện như thế nào trong bản gốc.”

“Nhưng mình thắc mắc tại sao thầy Dumbledore nghĩ là mình nên đọc những chuyện đó?”

Cái gì đó kêu răng rắc dưới lầu.

“Chắc là anh Charlie thôi, bây giờ má đã ngủ rồi, ảnh lẻn ra ngoài để mọc lại tóc,” Ron nói một cách lo lắng.

“Dù sao thì mình cũng nên đi ngủ,” Hermione thì thầm.

“Mai mà ngủ dậy trễ là không xong.”

“Không xong đâu,” Ron đồng ý.

“Một cuộc ám sát bộ ba do chính tay má chú rể gây ra có thể khiến đám cưới mất vui một tý.

Mình sẽ thu ánh sáng lại.”

Và nó bật cái Tắt sáng một lần nữa khi Hermione rời khỏi căn phòng.
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 8: Đám cưới


Đám cưới

Ba giờ chiều ngày hôm sau, Harry, Ron, Fred và George đang đứng bên ngoài cái rạp cưới to đùng màu trắng trong vườn cây ăn trái, chờ khách dự đám cưới đến.

Harry đã uống một liều lớn thuốc Đa Quả dịch và giờ đây trở thành một bản sao của một anh chàng Muggle tóc đỏ sống ở làng này, Ottery St.

Catchpole; Fred đã dùng phép Triệu Hồi để chôm tóc của anh ta.

Kế hoạch là giới thiệu Harry như “em họ Barny” và hy vọng số lượng bà con đông đúc của dòng họ Weasley sẽ giúp nó giấu được gốc tích.

Cả bốn đứa tụi nó đều đang nắm chặt những bản đồ chỗ ngồi để có thể đưa khách đến đúng chỗ.

Một đám người phục vụ mặc áo chùng trắng đã đến trước đó một giờ, cùng với một ban nhạc mặc áo vét màu vàng kim, và tất cả những phù thủy này hiện thời đang ngồi dưới một tán cây cách đó không xa.

Harry có thể nhìn thấy một làn khói lam của ống điếu tỏa lên từ chỗ đó.

Đằng sau Harry, cổng vào rạp cưới cho thấy từng hàng, từng hàng những chiếc ghế mảnh khảnh vàng chóe được sắp dọc hai bên một tấm thảm dài màu tím.

Hoa vàng hoa trắng quấn quanh những cây cột chống rạp.

Fred và George đã cột một chùm to tướng những bong bóng ngay chóc bên trên vị trí mà lát nữa anh Bill và chị Fleur sẽ thành chồng thành vợ.

Bên ngoài, ong bướm đang lượn lờ trên đám cỏ và hàng giậu.

Harry không được thoải mái cho lắm.

Anh chàng Muggle mà nó đang giả dạng hơi mập hơn nó một tí và bộ áo chùng lễ của nó vừa nóng vừa chật trong sự chói chang hết mức của một ngày hè.

“Bao giờ anh cưới vợ,” Fred vừa nói vừa kéo mạnh cái cổ áo chùng của mình, “anh sẽ chẳng hơi đâu gây phiền phức bằng mấy trò nhảm nhí này.

Tụi bây cứ ăn mặc cách gì tụi bây thích, và anh sẽ ếm bùa Trói Toàn Thân lên má cho đến khi cưới hỏi xong xuôi.”

“Nói cho cùng thì sáng nay má cũng đâu đến nỗi nào,” George nói.

“Chỉ khóc chút xíu về chuyện anh Percy vắng mặt, nhưng mà ai cần tới ảnh chớ?

Ối mèn ơi, cố lên đồng bào, họ đến đó, coi kìa!”

Những hình dáng màu sắc rực rỡ đang hiện ra, từng bóng một, đột ngột, ở ranh giới xa xa của khu vườn.

Trong một loáng, họ hình thành một đám rước bắt đầu rồng rắn kéo qua khu vườn về phía rạp cưới.

Kỳ hoa và dị điểu được ếm bùa chấp chới bay trên nón các nữ phù thủy, trong khi ngọc quý lấp lánh chiếu ra từ cà vạt các pháp sư; tiếng trò chuyện râm ran hào hứng càng lúc càng to, át hết tiếng bầy ong, khi đám rước đến gần rạp.

“Quá đã, tui nghĩ tui thấy mấy cô em họ tiên nữ rồi,” George nói, nhóng cổ cò lên để nhìn rõ hơn.

“Các em cần được giúp đỡ để hiểu phong tục Ăng-lê của nhà mình, tui sẽ săn sóc các ẻm...”

“Đừng hấp tấp, Ông Mất Tai ạ,” Fred nói, và phóng xẹt qua khỏi đám các bà phù thủy sồn sồn nói năng quàng quạc dẫn đầu đám rước, anh chàng nói với hai cô gái Pháp xinh xinh: “Đây... cho phép tôi để giúp quý cô.”[1] Các cô cười khích khích và cho phép anh chàng hộ tống vào bên trong.

George bị bỏ lại để đối phó với các bà sồn sồn và Ron thì lãnh nhiệm vụ đón tiếp bạn đồng sự cũ ở Bộ Pháp thuật của ông Weasley là Perkins, trong khi một cặp vợ chồng già điếc lác rơi vào phần tiếp đón của Harry.

“Wotcher,” một giọng quen thuộc vang lên khi nó lại chui ra khỏi rạp cưới và gặp cô Tonks cùng thầy Lupin đứng ở đầu hàng người nối đuôi vào rạp.

Nhân dịp này cô đã đổi tóc sang màu vàng óng ả.

“Anh Arthur nói với cô chú rằng cháu là đứa tóc quăn.

Xin lỗi về chuyện tối hôm qua nghen,” cô nói thêm bằng giọng thì thào khi Harry dẫn họ đi giữa hai hàng ghế.

“Bộ Pháp thuật hiện nay đang rất chống-người-sói và cô chú nghĩ sự hiện diện của cô chú có thể không có lợi cho cháu lắm.”

“Không sao, cháu hiểu mà,” Harry nói, cho thầy Lupin nghe nhiều hơn là cho cô Tonks.

Thầy Lupin mỉm cười thoáng qua với Harry, nhưng khi hai người quay đi Harry thấy gương mặt thầy sa sầm trở lại trong nỗi khổ tâm.

Harry không hiểu được sao lại thế, nhưng chẳng có thì giờ tìm hiểu sâu vấn đề.

Bác Hagrid đang gây ra một sự cố đổ vỡ gì đó.

Do nhầm lẫn phương hướng Fred chỉ, bác ngồi xuống, không phải cái ghế đã được củng cố và nới rộng bằng pháp thuật dành riêng cho bác ở hàng chót, mà là năm cái ghế mảnh khảnh, khiến chúng giờ đây chỉ còn là một đống to những que củi vụn vàng chóe.

Trong khi ông Weasley sửa chữa hư hại và bác Hagrid hò hét lời tạ lỗi với bất cứ ai muốn nghe, Harry vội vã trở lại cổng chào và thấy Ron đang đối diện với một pháp sư tướng tá kỳ dị nhất.

Mắt hơi lé, tóc bạc dài tới vai bồng bồng như kẹo bông gòn, ông ta đội một cái nón có chóp tua rua thả đòng đưa ngay trước mũi và mặc một bộ áo chùng màu vàng lòng đỏ trứng chói lọi đến cay mắt.

Một ký hiệu kỳ lạ, hơi giống một con mắt hình tam giác, sáng lấp lánh từ một sợi dây chuyền vàng ông ta đeo quanh cổ.

“Xenophilius Lovegood,” ông ta nói, đưa tay ra cho Harry, “con gái tôi và tôi sống trên đồi, gia đình Weasley tốt bụng thật là tử tế khi mời chúng tôi.

Nhưng tôi nghĩ cậu quen biết cháu Luna nhà tôi chứ?”

Ông nói thêm với Ron.

“Dạ, biết,” Ron nói.

“Bạn ấy không đi cùng bác sao?”

“Nó còn la cà trong khu vườn nhỏ đầy quyến rũ để chào hỏi mấy con quỷ lùn, phá phách mới tuyệt làm sao!

Rất ít pháp sư nhận thức được rằng chúng ta có thể học tập rất nhiều từ bọn quỷ lùn bé nhỏ khôn ranh... hay gọi cho đúng tên là Thầy Quậy Vườn.”

“Bọn quỷ lùn nhà cháu biết nhiều tiếng chửi thề ác liệt lắm,” Ron nói, “nhưng cháu nghĩ anh Fred và George dạy chúng mấy tiếng đó.”

Khi Harry dẫn một đoàn các chiến tướng vào trong rạp cưới thì Luna lật đật chạy tới.

“Chào anh Harry!”

Cô bé nói.

“Ơ... tên tôi là Barry,” Harry lúng túng đáp.

“Ủa, anh cũng đổi tên nữa hả?”

Cô bé nhanh nhảu hỏi.

“Làm sao em biết...?”

“Ôi, chỉ cần nhìn vẻ mặt của anh,” cô bé nói.

Giống cha mình, Luna mặc một bộ áo chùng vàng chói, lại còn được cô bé thêm vào một bông hướng dương tổ tướng cài trên mái tóc.

Một khi vượt qua được sự chói lọi của tất cả những thứ đó, thì hiệu quả chung là khá dễ chịu.

Ít nhất thì cũng không có củ cải đeo lòng thòng ở vành tai.

Ông Xenophilius, mải say sưa trò chuyện với một người quen, đã bỏ sót cuộc chuyện trò giữa Harry và Luna.

Chào tạm biệt ông pháp sư quen xong, ông ta quay lại đứa con gái đang giơ ngón tay lên méc, “Ba, coi nè... một con quỷ lùn cắn con thiệt.”

“Hay biết chừng nào!

Nước miếng quỷ lùn cực kỳ bổ,” ông Lovegood vừa nói vừa nắm lấy ngón tay Luna chìa ra và xem xét những dấu cắn rướm máu.

“Luna, cưng của ba à, nếu hôm nay con cảm thấy tài năng bộc phát – có thể một cơn hứng bất ngờ muốn hát opêra hay ngâm thơ tiếng người cá – thì con đừng kiềm chế nhé!

Con ắt hẳn đã được Thầy Quậy tặng cho tài năng đó!”

Ron đang đi ngang qua cha con Luna từ hướng ngược lại phát ra tiếng cười hô hố rõ to.

“Anh Ron cứ cười,” Luna bình thản nói khi Harry đưa cô bé và ông Xenophilius về chỗ ngồi của hai người, “nhưng ba em đã làm rất nhiều nghiên cứu về pháp thuật Thầy Quậy.”

“Thật hả?”

Harry nói, từ nãy giờ đã quyết định là không nên khiêu khích quan điểm lập dị của Luna hay cha cô bé.

“Nhưng mà em có chắc là em không muốn đắp cái gì lên vết cắn đó không?”

“Ôi, nó lành mà,” Luna nói, mút ngón tay trong điệu bộ mơ màng và ngắm Harry từ đầu đến chân.

“Coi anh bảnh bao há?

Em nói với ba có lẽ hầu hết khách sẽ mặc áo chùng, nhưng ba cho là đi đám cưới nên mặc màu mặt trời để lấy hên.”

Khi cô bé lướt đi theo cha mình, Ron xuất hiện với một phù thủy cao tuổi đang bám chặt cánh tay nó.

Cái mũi khoằm của bà ta, cùng với hai con mắt viền đỏ và cái nón hồng mượt như lông tơ khiến bà trông giống một con hồng hạc cáu kỉnh.

“... và tóc con dài quá rồi đó, Ronald, hồi nãy bà cứ tưởng con là Ginevra.

Mèn đét ơi, ông Xenophilius Lovegood ăn mặc kiểu gì vậy?

Ngó ổng giống y cái trứng gà chiên ốp lết.

Còn cậu là ai?”

Bà quát Harry.

“À, thưa bà dì Muriel, đây là Barny em họ con.”

“Một đứa Weasley nữa hả?

Dòng họ bây đẻ như quỷ lùn.

Harry Potter có ở đây không?

Bà đang mong gặp nó.

Bà tưởng nó là bạn của con, đúng không Ronald, hay là con chỉ bốc phét?”

“Dạ không... nó không đến được...”

“Hừm.

Nó kiếm cớ tránh mặt hả?

Vậy thì không đến nỗi đần như hình nó in trên báo.

Bà vừa hướng dẫn cô dâu cách hay nhất đội cái miện ngọc của bà,” bà nói to với Harry.

“Cậu biết chớ, do yêu tinh chế tạo và lưu truyền trong gia đình bà cả mấy trăm năm.

Nó là một đứa xinh đẹp, nhưng vẫn là... một con đầm.

À, ừ, kiếm cho bà một chỗ ngồi, Ronald, bà một trăm lẻ bảy tuổi và không nên đứng lâu quá.”

Ron nhìn Harry một cái đầy ý nghĩa khi nó đi ngang qua và lặn tăm mất một lúc.

Khi tụi nó gặp lại nhau ở cổng chào, Harry đã đưa xong cả chục người khách đến chỗ ngồi.

Rạp cưới bây giờ đã gần đầy người và lần đầu tiên không còn người đứng nối đuôi bên ngoài.

“Ác mộng, bà dì Muriel ấy,” Ron vừa nói vừa lau mồ hôi trán bằng ống tay áo.

“Hồi xưa bà thường đến vào lễ Giáng sinh hàng năm, sau này, may phước, bà giận vì anh Fred và anh George đặt bom phân dưới ghế của bà vào bữa tối.

Ba cứ nói hoài là bà sẽ xóa tên hai anh khỏi di chúc của bà – làm như hai ảnh ham lắm vậy, cứ cái đà này rồi đây hai ảnh sẽ giàu hơn bất cứ ai trong gia đình...

Chà,” nó nói thêm, mắt chớp chớp khi Hermione vội vã đi về phía tụi nó.

“Trông bồ đẹp tuyệt trần!”

“Lúc nào cũng cái giọng ngạc nhiên,” Hermione nói, mặc dù cô nàng mỉm cười.

Hermione mặc một chiếc áo đầm phồng màu hoa tử đinh hương rất hài hòa với đôi giày cao gót.

Tóc cô nàng mượt mà óng ả.

“Bà dì Muriel của bồ không đồng ý đâu, mình vừa mới gặp bà trên lầu lúc bà trao cho chị Fleur cái miện ngọc.

Bả nói, ‘Ôi trời, đây là cái đứa con-nhà-Muggle hả?’ Và rồi, ‘Điệu bộ xấu xí, giò cẳng khẳng khiu.’”

“Đừng để bụng chuyện đó, bà thô lỗ với tất cả mọi người,” Ron nói.

“Đang nói về dì Muriel hả?”

George hỏi khi cùng Fred từ trong rạp đi trở ra.

“Ờ, bả vừa nói với anh là tai anh bị xệ.

Mụ dơi già.

Anh ước chi có cậu Bilius ở đây với tụi mình; ổng là một cây chọc cười ở mấy đám cưới.”

“Có phải ông ấy là người đã nhìn thấy Hung tinh rồi hăm bốn giờ sau thì chết không?”

Hermione hỏi.

“À, phải, vào cuối đời ổng đâm ra dở dở ương ương,” George thừa nhận.

“Nhưng trước khi phát bệnh khùng thì ổng là linh hồn của bữa tiệc,” Fred nói.

“Ổng thường uống cạn một chai rượu đế lửa, rồi chạy lên sàn nhảy, tốc vạt áo chùng lên, rồi bắt đầu kéo ra từng chùm bông từ...”

“Phải rồi, nghe là biết có duyên ghê,” Hermione nói trong khi Harry rống lên cười.

“Chưa hề cưới vợ, chẳng hiểu vì sao,” Ron nói.

“Bồ khiến mình sửng sốt đó,” Hermione nói.

Tụi nó cười nhiều đến nỗi không đứa nào để ý đến người đến trễ, một thanh niên tóc đen có cái mũi to cong vòng và chân mày rậm rì, mãi cho tới khi anh ta chìa thiệp mời cho Ron và đưa mắt nhìn Hermione, nói: “Em đẹp tuyệt zời.”

“Anh Viktor!”

Hermione ré lên, và làm rớt cái bóp đầm nhỏ kết bằng hột cườm, gây ra một tiếng bịch thật to không chút tương xứng với kích thước của nó.

Cô nàng đỏ mặt, vừa lụp chụp lượm lại cái bóp vừa nói: “Em không dè anh có mặt ở đây...

Trời ơi... thật vui được gặp lại... anh khỏe không?”

Hai tai của Ron lại chuyển sang màu đỏ tía một phen nữa.

Sau khi liếc qua thiệp mời của Krum như thể không tin một chữ nào trong thiệp, nó nói hơi to tiếng, “Làm sao mà anh lại đến đây?”

“Fleur mời tôi,” Krum nói, chân mày nhướn lên.

Harry không có ân oán gì với Krum nên bắt tay anh ta, rồi cảm thấy nên thận trọng tách Krum ra khỏi vùng lân cận Ron, Harry tình nguyện đưa anh ta đến chỗ ngồi.

“Bạn của anh không được vui khi gặp tôi,” Krum nói khi hai người đi vào cái rạp cưới đã đông chật.

“Hay anh ta là bà con của anh?”

Krum nói thêm khi liếc thấy mái tóc quăn màu đỏ của Harry.

“Anh em họ,” Harry lúng búng, nhưng Krum chẳng thực sự để tai nghe.

Sự xuất hiện của anh chàng đang gây xôn xao, đặc biệt trong đám các cô em họ tiên nữ: nói cho cùng, anh ta là một cầu thủ Quidditch nổi tiếng.

Trong khi người ta đang nhóng cổ cò để nhìn anh ta cho rõ, Ron, Hermione, Fred và George vội vã đi xuống lối đi giữa hai dãy ghế.

“Tới lúc ngồi xuống rồi,” Fred bảo Harry, “nếu không tụi mình sẽ bị cô dâu đạp phải.”

Harry, Ron và Hermione ngồi xuống ghế của tụi nó ở hàng thứ hai phía sau Fred và George.

Trông Hermione hơi hồng hồng và tai Ron thì vẫn còn đỏ tía.

Ngồi được một lúc nó thì thầm với Harry, “Bồ có thấy hắn để một chòm râu con ngu dễ sợ không?”

Harry lẩm bẩm một câu vô thưởng vô phạt.

Cả rạp cưới ấm áp lúc này đầy không khí đợi chờ náo nức, trong tiếng rì rầm chung chung thỉnh thoảng vỡ ra tiếng cười to sôi nổi.

Ông bà Weasley đi lên lối đi giữa hai dãy ghế, mỉm cười và vẫy tay chào bà con.

Bà Weasley mặc một bộ áo đầm mới toanh màu thạch anh tím và đội một cái nón cùng màu.

Một lát sau anh Bill và anh Charlie ra đứng ở phía đầu rạp cưới, cả hai đều mặc áo chùng trang trọng cài những bông hồng trắng rất to ở khuy áo.

Fred huýt sáo và tiếng cười khúc khích vang lên trong đám các cô em họ tiên nữ.

Bỗng nhiên đám đông nín lặng khi âm nhạc trỗi lên từ những cái trông như là bong bóng vàng chóe.

“Ôôôôô!”

Hermione kêu lên, xoay hẳn người lại trên ghế để nhìn ra cửa rạp.

Toàn thể phù thủy pháp sư trong rạp đều đồng loạt hướng mắt nhìn về phía me xừ Delacour và chị Fleur đang bước trên lối đi giữa hai dãy ghế, chị Fleur đi như lướt còn me xừ Delacour thì vừa tươi cười vừa nhún nhảy.

Chị Fleur mặc một chiếc áo đầm trắng rất đơn giản và dường như phát tiết ra một vầng hào quang rạng rỡ óng ánh bạc.

Trong khi vẻ rực rỡ của chị thường ngày vẫn làm mờ đi mọi người khác khi đem ra so sánh, thì hôm nay hào quang của chị lại làm đẹp lên bất cứ ai được nó tỏa chiếu vào.

Ginny và Gabrielle, cả hai đều mặc áo đầm vàng rực, trông xinh đẹp hơn hẳn ngày thường, và khi chị Fleur đi đến bên chú rể, thì anh Bill trông không có vẻ gì là đã từng gặp Fenrit Greyback.

“Thưa quý vị,” một giọng ngân nga nhẹ nhàng vang lên, và Harry hơi giật mình khi thấy lão phù thủy nhỏ thó tóc rậm rì đã từng chủ trì đám tang cụ Dumbledore giờ đây lại đứng trước anh Bill và chị Fleur.

“Chúng ta họp mặt tại đây hôm nay để đánh dấu sự hợp nhất của hai tâm hồn thủy chung...”

“Đó, cái miện ngọc của ta đã khởi đầu mọi thứ tốt đẹp,” bà dì Muriel nói giọng thì thầm nhưng hơi ngân vang.

“Nhưng ta phải nói, cái áo đầm của Ginevra cắt quá ngắn.”

Ginny liếc ra sau, nhe răng cười, nháy mắt với Harry, rồi nhanh chóng quay mặt ra phía trước.

Đầu óc Harry lang thang ra khỏi rạp vượt qua một quãng đường dài, trở về những buổi chiều ngồi một mình với Ginny ở những góc sân trường vắng vẻ.

Sao những buổi chiều đó xa xăm quá; luôn luôn có vẻ như quá đẹp đến nỗi không thể là hiện thực, như thể nó đã lấy cắp những giờ phút tươi sáng trong đời của một người bình thường, một người không mang cái thẹo hình tia chớp ngay trên trán...

“William Arthur, anh có đồng ý nhận cô Fleur Isabelle làm...?”

Ở hàng ghế đầu, bà Weasley và ma đàm Delacour đều sụt sịt khóc khe khẽ trong mớ dải ren rua. m thanh như tiếng kèn đồng vọng lên từ cuối rạp báo cho mọi người biết rằng bác Hagrid đã rút chiếc khăn tay bự-bằng-khăn-trải-bàn của bác ra.

Hermione quay qua tươi cười với Harry; cô bé cũng đầy nước mắt.

“... vậy ta tuyên bố hai người ràng buộc nhau suốt đời.”

Lão pháp sư tóc rậm vẩy cây đũa phép trên đầu anh Bill chị Fleur và một đám mưa những ngôi sao bạc rơi xuống trên đầu hai người, rồi cuốn xoáy ốc quanh hai thân mình giờ đã bện lấy nhau của họ.

Khi Fred và George khởi xướng một trận vỗ tay, mấy cái bong bóng vàng kim trên đầu họ bùng nổ.

Bầy chim thiên đàng và những cái chuông vàng tí hon bay lượn ra khỏi những bong bóng đó, góp thêm tiếng hót và tiếng chuông rung vào tiếng ầm ĩ điếc tai.

“Thưa quý vị,” lão pháp sư tóc rậm lên tiếng.

“Mời quý vị đứng dậy.”

Mọi người đều đứng lên, bà dì Muriel lẩm bẩm rõ to; lão pháp sư bèn vẩy cây đũa phép một lần nữa.

Những chiếc ghế mà mọi người đang ngồi bỗng duyên dáng bay cao lên, trong khi tấm bạt căng vách rạp biến mất, khiến cho họ đứng dưới một cái tán được chống đỡ bằng những cái trụ bằng vàng, chung quanh là cảnh trí rực rỡ của đồng quê và vườn cây ăn trái đầy nắng.

Tiếp theo một cái hồ vàng lỏng từ trung tâm rạp tráng ra thành một sàn nhảy lấp lánh; đám ghế bay bỗng tự xếp quanh những cái bàn nhỏ trải khăn trắng, rồi những cái bàn này lại bay trở lại mặt đất một cách trang nhã quanh sàn nhảy, và ban nhạc mặc áo vét vàng kéo nguyên băng đi về phía một cái bục.

“Nhuyễn,” Ron nói một cách thán phục khi đám người phục vụ hiện ra từ mọi phía, một số bưng những khay nước bí, bia bơ, và rượu đế lửa, những người khác thì khệ nệ bưng những đống bánh tạc và bánh mì kẹp thịt.

“Tụi mình nên đến chúc mừng họ,” Hermione nói, đứng nhón gót để ngó cái chỗ mà anh Bill và chị Fleur vừa biến vào một đám đông xúm xít chúc tụng.

“Lát nữa tụi mình sẽ có thì giờ,” Ron nhún vai, chớp lấy ba ly bia bơ trên một cái khay vừa lướt ngang qua và đưa một ly cho Harry.

“Hermione, chớp lẹ, tụi mình mau xí một cái bàn...

Đừng ngồi chỗ đó!

Đừng ngồi chỗ nào gần bà dì Muriel...”

Ron dẫn đầu băng ngang sàn nhảy trống trơn, vừa đi vừa liếc trái liếc phải; Harry chắc chắn là nó đang canh chừng Krum.

Khi tụi nó đến được phía bên kia của cái rạp, hầu hết các bàn đều đã có người ngồi đầy: cái bàn duy nhất còn chỗ trống là cái bàn chỉ có một mình Luna ngồi.

“Tụi này ngồi chung được không?”

“Ồ, được chứ,” cô bé vui vẻ nói.

“Ba em vừa mới đi tặng quà cho anh Bill và chị Fleur.”

“Quà gì vậy?

Một mớ Rễ Quéo đủ xài cả đời hả?”

Ron hỏi.

Hermione nhắm đá giò Ron dưới gầm bàn, nhưng lại đá nhằm chân Harry.

Đau ứa nước mắt, Harry mất một lúc không để ý theo dõi được cuộc chuyện trò.

Ban nhạc đã bắt đầu chơi, anh Bill và chị Fleur là cặp đầu tiên ra sàn nhảy trong tiếng vỗ tay vang rền; một lát sau ông Weasley đưa ma đàm Delacour lên sàn, theo sau là bà Weasley cùng cha của chị Fleur.

“Em thích bài hát này,” Luna nói, lắc lư đúng lúc điệu nhạc nghe như vanxơ vang lên, và chỉ vài giây sau cô bé đã đứng dậy và lướt ra sàn nhảy, ở đó cô bé xoay tròn tại chỗ, một mình, mắt nhắm nghiền, hai cánh tay vung vẩy.

“Con nhỏ ác liệt há?”

Ron nói một cách ngưỡng mộ.

“Luôn luôn đúng nhịp.”

Nhưng nụ cười biến khỏi gương mặt nó ngay tức thì: Viktor Krum vừa ngồi xuống cái ghế trống của Luna.

Hermione tỏ ra bối rối một cách thích thú nhưng lần này Krum không đến để tán tình cô nàng.

Mặt mày cau có, anh ta nói: “Người đàn ông mặc áo vàng là ai?”

“Đó là ông Xenophilius Lovegood, cha một người bạn của tụi này,” Ron nói.

Cái giọng gây sự của Ron cảnh báo là chớ có mà cười cợt Xenophilius, bất chấp vẻ khiêu khích lộ liễu.

“Đi ra nhảy,” nó đột ngột nói thêm với Hermione.

Cô nàng có vẻ bất ngờ nhưng cũng vui lòng, và đứng dậy.

Hai đứa nó cùng biến mất với nhau trong đám người càng lúc càng đông trên sàn nhảy.

“A, bây giờ hai người đó cặp nhau vồi à?”

Krum hỏi, ngớ ra trong chốc lát.

“Ờ...

đại khái vậy,” Harry nói.

“Anh là ai?”

Krum hỏi.

“Barny Weasley.”

Hai người bắt tay nhau.

“Anh, Barny... anh có bít nhìu về cái tay Lovegood đó không?”

“Không.

Tôi chỉ mới gặp ông ta hôm nay.

Mà sao vậy?”

Krum trừng mắt qua miệng ly ngó ông Lovegood đang tán gẫu với nhiều tay chiến tướng bên kia sàn nhảy.

“Bởi vì,” Krum nói, “níu hắn không phởi là khách mời của Fleur thì tôi sẽ đục hắn, tợi đây và ngay bây giờ, vì mang cới ký hịu bẩn thỉu đó trên ngực.”

“Ký hiệu?”

Harry nói, cũng nhìn về phía ông Lovegood.

Con mắt hình tam giác kỳ lạ đang lấp lánh trên ngực ông ta.

“Tại sao?

Cái đó thì có gì bậy bạ?”

“Grindelvald.

Đó là ký hịu của Grindelvald.”

“Grindelvald... có phải là tay phù thủy Hắc ám đã bị thầy Dumbledore đánh bại?”

“Chính xác!”

Cơ bắp quanh cằm Krum căng lên như thể anh ta đang nhai, anh chợt nói tiếp, “Grindelvald zít rất nhìu người, ông tôi chẳng hạn.

Dĩ nhin hắn chưa bao giờ hùng mạnh ở xứ này, người ta nói hắn sợ cụ Dumbledore – mà chắc đúng, căn cứ vào cách đời hắn kết thúc.

Nhưng đây” – anh ta chỉ một ngón tay vào ông Lovegood – “đây là ký hịu của hắn, tôi nhận va nó ngay lập tức: Grindelvald đã khắc nó lên một bức tường ở Durmstrang hồi hắn còn là học sinh ở đó.

Mấy thằng ngốc cóp pi vô sách và quần áo của chúng, tính gây sốc, làm cho có vẻ chịu chơi mà – cho đến khi những người có thân nhân bị Grindelvald zít như chúng tôi dạy cho chúng hỉu bít hơn.”

Krum bẻ khớp ngón tay vẻ hăm he và trừng mắt nhìn ông Xenophilius.

Harry cảm thấy khó hiểu.

Chẳng có vẻ gì tin được là cha của Luna lại có thể là một kẻ ủng hộ Nghệ thuật Hắc ám, và không ai trong cả rạp cưới tỏ vẻ nhận ra cái hình tam giác cỡ bàn tay đó.

“Anh có...

ơ... chắc chắn đó là ký hiệu của Grindelvald...?”

“Tôi không nhầm được,” Krum lạnh lùng nói.

“Tôi đã đi ngang qua ký hịu đó nhìu năm trời, tôi bít nó vất võ.”

“Có thể là,” Harry nói, “ông Xenophilius không thực sự biết ký hiệu đó nghĩa là gì, cha con nhà Lovegood rất... khác thường.

Có thể ông ta vớ được nó ở đâu đó và tưởng là hình cắt ngang cái đầu một con Khụt-khịt Sừng-nát hay cái gì đó.”

“Hình cắt ngang của cái gì?”

“À, tôi không biết là cái gì, nhưng có vẻ như ông ta và cô con gái đi nghỉ mát để tìm chúng...”

Harry cảm thấy nó giải thích không nên thân về Luna và cha cô bé.

“Cô ta đó,” nó nói, chỉ Luna, cô bé vẫn đang nhảy một mình, vung vẩy hai cánh tay quanh đầu như thể một người đang cố gắng đuổi ruồi.

“Tợi sao cô ta làm như thế?”

Krum hỏi.

“Có lẽ đang tìm cách xua đuổi một con Tảo vọt,” Harry nói, nó vừa nhận ra điệu bộ của Luna.

Krum có vẻ như không biết là Harry đang đùa hay thật.

Anh đưa tay vào túi áo chùng rút ra cây đũa phép và gõ lên đùi với vẻ đe dọa; đầu đũa nhá ra tia lửa.

“Gregorovitch!”

Harry la lớn, và Krum giật mình, nhưng Harry quá xúc động nên không bận tâm; ký ức đã ùa về với nó khi nó nhìn thấy cây đũa phép của Krum: ông Ollivander đã cầm cây đũa phép đó và xem xét kỹ lưỡng trước cuộc thi đấu Tam Pháp Thuật.

“Ông ấy thì sao?”

Krum tò mò hỏi.

“Ông ta là người chế tạo đũa phép.”

“Tôi biết thế,” Krum nói.

“Ông ấy làm ra cây đũa phép của anh.

Vì vậy mà tôi đã nghĩ đến...

Quidditch...”

Krum càng tỏ vẻ tò mò hơn.

“Làm sao anh bít Gregorovitch làm ra cây đũa phép của tôi?”

“Tôi... tôi nghĩ tôi đã đọc ở đâu đó,” Harry nói, “trong một... một tạp chí người hâm mộ,” nó ứng khẩu nói đại và Krum tỏ ra dịu xuống.

“Tôi không bít võ mình có bao giờ lợi nói chuyện về cây đũa phép với người hâm mộ,” anh ta nói.

“Vậy...

ơ... dạo này ông Gregorovitch ở đâu?”

Krum tỏ ra lúng túng.

“Ông ấy về hưu nhìu năm rồi.

Tôi là một trong những người cuối cùng mua đũa phép của Gregorovitch.

Đó là những cây đũa phép tốt nhất – mặc dù, dĩ nhin, tôi bít, dân Ăng-lê các anh chuộng hàng của Ollivander.”

Harry không trả lời.

Nó giả đò ngắm những người khiêu vũ, như Krum, nhưng bụng thì suy nghĩ lung lắm.

Vậy là Voldemort đang tìm kiếm một người làm đũa phép nổi danh và Harry không cần phải tìm lý do ở đâu xa xôi.

Chắc chắn nguyên nhân là chính cái điều mà cây đũa phép của Harry đã gây ra vào cái đêm Voldemort truy lùng nó trên vòm trời.

Cây đũa phép bằng lông phượng hoàng và gỗ nhựa ruồi đã chế ngự được cây đũa phép vay mượn, điều mà Ollivander không lường trước và không hiểu được.

Liệu Gregorovitch thì có hiểu hơn không?

Liệu ông ta có thực sự giỏi hơn ông Ollivander không, liệu ông ta có biết bí mật của những cây đũa phép mà ông Ollivander không biết không?

“Cô bé này trông xinh thật,” Krum nói, đem Harry về lại với thực tế chung quanh.

Krum đang chỉ vào Ginny, cô bé vừa lên sàn nhảy chung với Luna.

“Cô bé cũng có bà con với anh chứ?”

“Ừ,” Harry nói, bỗng dưng nổi quạu, “và cô ta đang cặp với tay nào đó.

Ghen lắm.

Bự con.

Anh sẽ không muốn chạm trán với hắn đâu.”

Krum lầu bầu.

“Nổi danh,” anh ta vừa nói vừa uống cạn cái ly và đứng lên, “là một cầu thủ Quidditch thế giới để làm quới gì nếu tất cả những cô gái xinh đẹp đều đã có kẻ phỗng tay trên?”

Và anh chàng bỏ Harry ở lại, sải dài bước chân đi lấy một cái bánh mì kẹp thịt trên mâm của một người phục vụ vừa đi ngang qua, rồi đi vòng quanh sàn nhảy đông đúc.

Harry muốn tìm Ron để nói với nó về Gregorovitch, nhưng Ron đang nhảy với Hermione ngay giữa sàn.

Harry đứng tựa lưng vào một trong mấy cái trụ vàng và ngắm Ginny, lúc này cô bé đang nhảy với Lee Jordan, bạn của Fred và George, cố gắng không hối hận về lời nó đã trót hứa với Ron.

Trước đây Harry chưa bao giờ dự một đám cưới, vì vậy nó không thể nói đám cưới phù thủy khác với đám cưới của dân Muggle như thế nào, mặc dù nó khá chắc chắn là đám cưới Muggle không có cái bánh cưới mà trên cùng có hai mô hình phượng hoàng cất cánh bay lên mỗi khi bánh được cắt ra, hay là những chai rượu sâm banh tự bay lơ lửng giữa đám đông.

Khi đêm xuống, bọn thiêu thân lao vào phía dưới tán rạp được chiếu sáng bằng những chiếc lồng đèn vàng, cuộc vui trở nên càng lúc càng phá rào.

Fred và George đã biến vào bóng tối từ lâu cùng với hai cô em họ của Fleur; anh Charlie, bác Hagrid và một lão phù thủy mập lùn đội nón chóp bẻ vành màu tím đang hát bài Odo đấng anh hùng trong một góc.

Đi thơ thẩn qua đám đông để tránh mặt một ông chú say xỉn của Ron, ông ta không chắc Harry có phải là con ổng hay không, Harry chợt thấy một cụ pháp sư già ngồi một mình.

Mái tóc trắng như mây của cụ khiến cụ trông giống một chùm bông bồ công anh già đội cái rế bị mối gặm.

Trông cụ quen quen: xóc óc một hồi, Harry chợt nhận ra đó là cụ Elphias Doge, thành viên Hội Phượng Hoàng và là người viết cáo phó thầy Dumbledore.

Nó bèn đến gần cụ.

“Ông cho phép con ngồi ạ?”

“Đương nhiên, đương nhiên,” cụ Doge nói, giọng cụ hơi cao và khò khè.

Harry cúi mình.

“Thưa ông Doge, con là Harry Potter.”

Cụ Doge há hốc mồm.

“Con trai ta!

Arthur có nói với ta là con có mặt ở đây, cải trang...

Ta mừng lắm, rất hân hạnh!”

Cụ Doge rót cho Harry một ly sâm banh trong cơn run rẩy vì niềm vui xúc động.

“Ta đã nghĩ đến việc viết thư cho con,” cụ thì thầm, “sau khi cụ Dumbledore... chấn động và đối với con, ta chắc...”

Đôi mắt nhỏ xíu của cụ Doge đột ngột tràn đầy nước mắt.

“Con có thấy bài cáo phó cụ viết trên tờ Nhật báo Tiên Tri,” Harry nói, “Con không ngờ cụ biết giáo sư Dumbledore nhiều như vậy.”

“Như mọi người biết thôi,” cụ Doge nói, chậm nước mắt bằng chiếc khăn ăn.

“Chắc chắn ta biết cụ lâu nhất, nếu con không tính đến Aberforth – và chẳng biết thế nào, người ta dường như không tính đến Aberforth.”

“Nhân nói đến tờ Nhật báo Tiên Tri... thưa cụ Doge, không biết cụ có...?”

“Ôi, cứ gọi ta là Elphias, con à.”

“Thưa cụ Elphias, con không biết cụ có thấy bài phỏng vấn Rita Skeeter nói về cụ Dumbledore không?”

Gương mặt cụ Doge đỏ lên vì tức giận.

“A, có, Harry, ta có thấy bài đó.

Người đàn bà đó, gọi là một con kền kền thì có lẽ chính xác hơn, đã nhằng nhì quấy rối ta để ép ta nói chuyện với thị, ta xấu hổ mà nói rằng ta đã trở nên khá thô lỗ, gọi thị là miếng cá hồi dai nhách, mà hậu quả, như con có lẽ đã thấy, là trò bôi bác sự minh mẫn của ta.”

“Dạ, trong bài phỏng vấn đó,” Harry nói tiếp, “Rita Skeeter ám chỉ là giáo sư Dumbledore có dây dưa với Nghệ thuật Hắc ám khi còn trẻ...”

“Đừng tin một lời nào cả!”

Cụ Doge nói ngay.

“Đừng tin một lời nào, Harry à.

Đừng để cho bất cứ điều gì làm hoen ố ký ức của con về cụ Dumbledore.”

Harry nhìn vào gương mặt đau đớn và tha thiết của cụ Doge, và cảm thấy nản lòng, chứ không phải được yên lòng.

Chẳng lẽ cụ Doge tin rằng mọi việc dễ như vậy sao, rằng Harry lại có thể cứ đơn giản chọn cách đừng tin là xong sao?

Chẳng lẽ cụ Doge không hiểu được nhu cầu của Harry là muốn biết đến đầu đến đũa mọi việc sao?

Có lẽ cụ Doge nghi ngờ những cảm nghĩ của Harry nên cụ có vẻ lo lắng và nói vội vàng:

“Harry à, Rita Skeeter là một kẻ đáng sợ...”

Nhưng cụ bị cắt ngang vì tiếng cười hinh hích chói tai.

“Rita Skeeter hả?

Ôi, ta khoái cô ả, luôn luôn đọc ả.”

Harry và cụ Doge ngước lên để thấy bà dì Muriel đang đứng đó, đám lông chim nhảy múa trên tóc, bà cầm trong tay một ly rượu sâm banh.

“Ả vừa mới viết một cuốn sách về Dumbledore, mọi người biết chứ.”

“Chào bà Muriel,” cụ Doge nói, “chúng tôi đang nói...”

“Thằng kia!

Đưa cái ghế của mi cho ta, ta đã một trăm lẻ bảy tuổi.”

Một đứa anh em họ Weasley tóc đỏ khác nhảy bật ra khỏi chỗ ngồi, coi bộ hơi hoảng, và bà dì Muriel lẳng cái ghế một vòng với một sức mạnh đáng ngạc nhiên rồi thả mình ngồi gọn xuống giữa cụ Doge và Harry.

“Chào cháu lần nữa, Barny hay tên gì đó của cháu,” bà nói với Harry.

“Sao, ông nói gì về Rita Skeeter, ông Elphias?

Ông biết ả có viết một cuốn tiểu sử về cụ Dumbledore chứ hả?

Tôi sốt ruột chờ đọc cuốn đó.

Tôi phải nhớ mà đặt mua trước ở tiệm Flourish & Blotts!”

Cụ Doge tỏ vẻ cứng nhắc và nghiêm trang về chuyện đó, nhưng bà dì Muriel uống cạn ly và búng ngón tay xương xẩu của bà gọi một người phục vụ đang đi ngang qua để đổi ly rượu mới.

Bà hớp một ngụm to sâm banh, ợ hơi rồi nói, “Chẳng việc gì phải trông như một đôi ếch nhồi thế!

Trước khi ông Albus trở nên đáng kính như thế và được trọng nể như thế và tất cả đồ bá láp như thế, thì đã có những đồn đãi rất khôi hài về ổng rồi!”

“Ngậm máu phun người,” cụ Doge nói, mặt mày lại đỏ tía.

“Thể nào ông cũng nói vậy mà, ông Elphias,” bà dì Muriel cười khành khạch.

“Tôi có nhận thấy ông đã khéo léo lách qua mấy chuyện khó nói trong bài cáo phó đó của ông!”

“Tôi rất tiếc là bà nghĩ vậy,” cụ Doge nói, càng lặng lẽ một cách lạnh lùng.

“Tôi cam đoan với bà tôi viết từ đáy lòng.”

“Ối, tất cả chúng ta đều biết ông sùng bái Dumbledore; tôi dám nói ông sẽ vẫn cứ nghĩ ông ấy là một vị thánh ngay cả nếu như chuyện đổ bể ra rằng ổng đã giết con em á phù thủy của ổng!”

“Bà Muriel!”

Cụ Doge kêu lên.

Một cơn lạnh buốt không phải do rượu sâm banh ướp đá đang len lỏi khắp buồng ngực Harry.

“Ý bà là sao?”

Nó hỏi bà dì Muriel.

“Ai nói em gái của cụ là một á phù thủy?

Con tưởng cô ấy bị bệnh chớ.”

“Tưởng nhầm rồi, Barry ơi!”

Bà dì Muriel nói, tỏ ra vui sướng hớn hở trước hiệu quả mà bà tạo ra.

“Dù sao đi nữa, làm sao cháu lại nghĩ là có thể biết được gì về chuyện đó hả?

CHUYỆN ĐÓ xảy ra từ năm nẳm năm nào rồi, từ hồi người ta còn chưa nghĩ ra cháu nữa kìa, và sự thật là tất cả những người cùng lứa với bà mà còn sống khi đó đã không hề biết thực sự có chuyện gì xảy ra.

Bởi vậy bà hết sức nôn nóng coi Skeeter tiết lộ điều gì!

Dumbledore đã giữ kín chuyện cô em gái đó của ổng hơi lâu à!”

“Không đúng!”

Cụ Doge phều phào.

“Hoàn toàn không đúng!”

“Thầy không hề nói với con em gái thầy là á phù thủy,” Harry nói, không kịp nghĩ, trong lòng vẫn còn lạnh buốt.

“Mà mắc mớ gì ổng phải nói cho cháu biết hả?”

Bà dì Muriel rít lên, lắc lư một tí trên ghế khi bà cố gắng tập trung chú ý vào Harry.

“Tôi cho rằng,” cụ Doge mở lời, giọng nghẹn lại vì xúc động, “lý do anh Albus không bao giờ nói về em Ariana rất rõ ràng.

Anh suy sụp tan nát vì cái chết của cô ấy.”

“Thế tại sao chưa từng có ai thấy cô ta hả ông Elphias?”

Bà dì Muriel vặc lại.

“Tại sao một nửa số người trong chúng ta không hề biết cô ta từng tồn tại, cho đến khi họ khiêng cỗ quan tài ra khỏi nhà và làm tang lễ cho cô ta?

Anh Albus thánh thiện ở đâu khi Ariana bị nhốt trong hầm rượu hả?

Ở tít trong trường Hogwarts làm một thiên tài sáng chói, và chẳng bao giờ bận tâm chuyện gì xảy ra trong chính ngôi nhà của mình!”

“Bà muốn nói gì, bị nhốt trong hầm rượu à?”

Harry hỏi, “Nghĩa là sao?”

Cụ Doge có vẻ suy sụp.

Bà dì Muriel lại cười khành khạch và trả lời câu hỏi của Harry.

“Bà mẹ ông Dumbledore là một mụ đàn bà đáng sợ, hoàn toàn đáng sợ.

Gốc Muggle.

Mặc dù ta nghe mụ giả bộ không phải...”

“Bà ấy không hề giả bộ gì hết!

Bà Kendra là một phụ nữ tử tế,” cụ Doge thì thào một cách khốn khổ, nhưng bà dì Muriel phớt lờ cụ.

“... kiêu căng và rất độc đoán, một thứ phù thủy đáng bị cụp mặt vì đẻ ra một con á phù thủy...”

“Ariana không phải là á phù thủy!”

Cụ Doge phều phào.

“Anh nói vậy, anh Elphias, thì anh hãy giải thích coi tại sao cô ta chẳng bao giờ đi học ở trường Hogwarts!”

Bà dì Muriel nói.

Bà đã quay lưng lại Harry.

“Vào thời của chúng ta, á phù thủy thường bị giấu nhẹm, dù vậy vẫn cực kỳ tàn nhẫn khi thực sự giam cầm một cô gái nhỏ trong nhà và giả bộ như cô ta không hề tồn tại...”

“Ta nói với con, chuyện không phải như vậy,” cụ Doge nói, nhưng bà dì Muriel hùng hục nói át đi, vẫn hướng về Harry.

“Thường người ta hay đưa á phù thủy đến trường học Muggle và khuyến khích chúng hội nhập với cộng đồng Muggle... như thế tốt hơn là cố tìm cho ra một vị trí trong thế giới pháp thuật, nơi chúng luôn luôn phải nằm trong giai cấp hạng nhì, nhưng tất nhiên là mụ Kendra Dumbledore không đời nào mơ tới chuyện cho con gái của mụ đi học ở trường Muggle...”

“Ariana rất mảnh dẻ,” cụ Doge cố nói.

“Sức khỏe của cô ấy tệ đến nỗi không thể để cô...”

“...

để cho cô ta ra khỏi nhà à?”

Bà dì Muriel lại cười khành khạch.

“Vậy mà cô ta chưa hề được đưa tới bệnh viện Thánh Mungo và cũng không có lương y nào được mời đến khám chữa cho cô ta cả!”

“Thực ra, bà Muriel à, làm sao bà có thể biết liệu...”

“Nói cho anh biết, anh Elphias à, anh họ Lancelot của tôi là một lương y ở bệnh viện Thánh Mungo vào thời đó, và ảnh kể cho gia đình tôi nghe với sự tin cẩn tuyệt đối là chưa bao giờ có ai thấy Ariana ở đó cả.

Tất cả đều hết sức đáng ngờ, Lancelot nghĩ thế.”

Cụ Doge có vẻ sắp phát khóc.

Bà dì Muriel, dường như hết sức tự mãn, búng ngón tay gọi thêm rượu sâm banh.

Harry lặng người nghĩ đến cách gia đình Dursley đã có lần nhốt nó, khóa nó trong phòng, giữ cho không ai nhìn thấy nó, tất cả chỉ vì cái tội là phù thủy.

Phải chăng em gái cụ Dumbledore đã chịu đựng số phận tương tự vì lý do ngược lại: bị giam cầm vì không có khả năng pháp thuật?

Và chẳng lẽ cụ Dumbledore thực sự đã để mặc em gái mình với kiếp sống đó trong khi cụ thì đến trường Hogwarts để tự chứng minh mình lỗi lạc, tài hoa?

“Này nhé, nếu mụ Kendra không chết trước,” bà dì Muriel lại nói tiếp, “thì tôi dám nói chính mụ giết Ariana...”

“Bà Muriel, sao bà có thể!”

Cụ Doge rên rỉ.

“Một người mẹ mà giết con gái của chính mình sao?

Hãy suy nghĩ điều bà nói ra.”

“Nếu bà mẹ ta đang bàn tới đã có thể giam cầm đứa con gái trong nhiều năm liên tục, thì sao lại không thể giết nó đi?”

Bà dì Muriel nhún vai.

“Nhưng mà như tôi nói rồi, điều đó không hợp lý, vì mụ Kendra chết trước Ariana – chết vì cái gì, có vẻ như không ai biết chắc...”

“Ôi, chắc là Ariana ám sát bà ấy,” cụ Doge nói với một nỗ lực dũng cảm biểu lộ sự khinh miệt.

“Sao lại không nhỉ?”

“Ừ, Ariana rất có thể vùng vẫy trong tuyệt vọng để tìm tự do và đã giết Kendra trong cuộc đấu tranh đó,” bà dì Muriel nói với vẻ đầy suy tư.

“Cứ lắc đầu tùy thích, anh Elphias à.

Anh có mặt trong đám tang Ariana, đúng không?”

“Đúng,” cụ Doge nói qua đôi môi run run.

“Và tôi không thể nhớ có sự kiện nào lại thảm thiết hơn thế.

Trái tim anh Albus tan nát.”

“Không phải trái tim ổng là thứ duy nhất tan nát.

Chẳng phải Aberforth đã đấm gãy mũi Albus giữa chừng tang lễ sao?”

Nếu trước đó cụ Doge đã tỏ ra hãi hùng, thì so với lúc này nỗi hãi hùng đó chẳng là gì cả.

Bà dì Muriel có lẽ đã đâm trúng cụ.

Bà cười khành khạch lớn hơn và nốc thêm một ngụm rượu nữa, rượu nhễu cả xuống cằm bà.

“Sao bà...” cụ Doge nghẹn ngào.

“Má tôi rất thân với bà lão Bathilda Bagshot,” bà dì Muriel vui vẻ nói.

“Bà Bathilda đã miêu tả toàn bộ câu chuyện cho má tôi trong khi tôi lén nghe ở cửa.

Một trận cãi lộn tưng bừng bên cỗ quan tài.

Cứ như bà Bathilda kể, thì Aberforth hét lên rằng Ariana chết hoàn toàn là do lỗi của Albus, rồi dộng vào mặt ông anh.

Theo lời Bathilda, Albus thậm chí không tự vệ, và riêng chi tiết đó cũng đã kỳ lạ.

Albus có thể tiêu diệt Aberfoth trong một trận đấu tay đôi cho dù hai tay bị trói sau lưng mà.”

Bà dì Muriel nốc thêm nhiều sâm banh nữa.

Dường như việc nhắc lại chuyện tai tiếng xưa lắc này khiến bà phấn chấn bao nhiêu thì gây kinh hoàng cho cụ Doge bấy nhiêu.

Harry không biết nghĩ ra sao, tin cái gì.

Nó muốn biết sự thật, nhưng cụ Doge chỉ ngồi đó mà thều thào yếu ớt là Ariana bị bệnh.

Harry khó mà tin nổi rằng cụ Dumbledore lại không can thiệp gì nếu một hành động tàn ác như vậy xảy ra trong chính ngôi nhà của cụ, nhưng chắc chắn phải có điều gì đó kỳ quái trong câu chuyện.

“Và ta nói cho cháu biết thêm chuyện nữa,” bà dì Muriel nói, nấc cụt nho nhỏ khi hạ cái ly của bà xuống.

“Ta nghĩ bà Bathilda đã xì ra cái thâm cung bí sử đó cho Rita Skeeter.

Tất cả những ám chỉ trong bài phỏng vấn của Skeeter về một nguồn tin quan trọng thân cận với gia đình Dumbledore... có trời biết bả đã ở đó suốt từ đầu tới cuối vụ Ariana, và vậy là khớp.”

“Bà Bathilda không bao giờ nói với Rita Skeeter!”

Cụ Doge thì thào.

“Bathilda Bagshot à?”

Harry hỏi, “Tác giả cuốn Một Lịch Sử Pháp Thuật?”

Cái tên đó được in trên bìa một trong những cuốn sách giáo khoa của Harry, mặc dù phải thừa nhận đó không phải là cuốn sách nó đọc say mê cho lắm.

“Phải,” cụ Doge nói, níu lấy câu hỏi của Harry như một người chết đuối níu lấy phao cứu mạng.

“Một sử gia pháp thuật tài giỏi nhất và là một người bạn lâu đời của cụ Dumbledore.”

“Tôi nghe nói dạo này lẩm cẩm rồi,” bà dì Muriel phấn khởi nói.

“Nếu vậy thì Skeeter lại càng thiếu trung thực khi lợi dụng bà ấy,” cụ Doge nói, “và như thế Bathilda có nói ra điều gì cũng không thể tin cậy được.”

“Ôi, có những cách gợi cho nhớ lại được chứ, mà tôi chắc chắn Rita biết mọi cách,” bà dì Muriel nói.

“Nhưng ngay cả như Bathilda có hoàn toàn ngớ ngẩn, tôi chắc bà ta vẫn còn những hình ảnh cũ, có thể cả thư từ.

Bả quen biết gia đình Dumbledore bao nhiêu năm trời mà...

Đáng công bỏ ra làm một chuyến đi tới Thung lũng Godric, tôi cho là vậy.”

Harry, đang hớp từng ngụm bia bơ, bỗng phát sặc.

Cụ Doge đấm đấm lên lưng nó trong khi nó ho, nhìn bà dì Muriel qua đôi mắt đang ứa lệ.

Khi đã kiểm soát lại được giọng nói của mình, nó hỏi, “Bà Bathilda sống ở Thung lũng Godric à?”

“Ừ, đúng.

Bả ở đó mãn đời!

Gia đình Dumbledore dọn đến đó sau khi ông Percival bị đi tù, và bà ta trở thành hàng xóm của họ.”

“Gia đình cụ Dumbledore đã sống ở Thung lũng Godric sao?”

“Đúng đó, Barry, ta vừa mới nói vậy,” bà dì Muriel nói giọng bực mình.

Harry cảm thấy cạn kiệt, trống rỗng.

Trong suốt sáu năm trời, cụ Dumbledore chưa một lần nào nói với Harry là cả hai đều từng sống và mất mát người thân ở Thung lũng Godric.

Tại sao?

Mẹ Lily và ba James của nó có được chôn gần mẹ và em gái cụ Dumbledore không?

Cụ Dumbledore có đi thăm viếng mộ mẹ và em gái, thậm chí bước ngang qua mộ phần của mẹ Lily và ba James khi viếng mộ người thân không?

Và cụ chưa bao giờ nói với Harry tới một lần... chưa bao giờ buồn nói tới...

Và tại sao điều đó lại quan trọng như vậy, Harry không thể giải thích cho chính mình, nhưng nó cảm thấy việc không nói cho nó biết là hai người có chung chốn ấy, chung những trải nghiệm giống nhau thì cũng gần như một lời dối trá.

Nó đăm đăm nhìn ra phía trước, gần như không để ý những việc đang diễn ra chung quanh, và không nhận ra Hermione đã rời khỏi đám đông mãi tới khi cô nàng kéo cái ghế ngồi xuống bên cạnh nó.

“Mình thiệt tình không thể nhảy nữa,” cô nàng thở hổn hển, cởi một chiếc giày ra và xoa bóp lòng bàn chân.

“Ron đi kiếm thêm bia bơ rồi.

Hơi kỳ quái.

Mình vừa mới thấy anh Viktor đùng đùng bỏ đi khỏi chỗ cha của Luna, có vẻ như hai người vừa cãi lộn...”

Hermione hạ giọng, chăm chú nhìn nó, “Harry, bồ có sao không?”

Harry chưa biết bắt đầu từ đâu, nhưng không hề gì.

Ngay lúc đó, một cái gì vừa to vừa bạc trắng rơi xuyên qua tán rạp rớt xuống sàn nhảy.

Thanh nhã và trắng bóc, con linh miêu nhẹ nhàng đáp xuống giữa đám người khiêu vũ kinh ngạc.

Những cái đầu ngoảnh lại, trong khi những người ở gần con linh miêu nhất cứng đờ ra ngơ ngẩn giữa chừng điệu nhảy.

Đột ngột miệng Thần Hộ mệnh há rộng và nói bằng giọng chậm rãi, sâu và to của chú Kingsley Shacklebolt.

“Bộ đã sụp đổ.

Scrimgeour đã chết.

Chúng đang đến.”
 
Harry Potter Phần 6 Và 7
Q7 - 9: Một nơi để trốn


Một nơi để trốn

Harry và Hermione lao mình vào đám đông hoảng loạn.

Khách khứa phóng chạy về mọi hướng; nhiều người Độn thổ; bùa phép bảo vệ ếm quanh Hang Sóc đã bị phá giải.

“Ron!”

Hermione kêu.

“Ron, bồ ở đâu?”

Khi hai đứa nó chen lách băng qua được sàn nhảy, Harry nhìn thấy những hình bóng khoác áo choàng và đeo mặt nạ xuất hiện trong đám đông; rồi nó thấy thầy Lupin và cô Tonks, đũa phép giơ cao, và nó nghe cả hai người đó thét, “Che chắn!”, một tiếng kêu dội vang khắp mọi phía.

“Ron!

Ron ơi!”

Hermione gọi, nửa như khóc khi cô bé và Harry bị những người khách kinh hoảng xô đẩy: Harry nắm chặt tay cô bé để chắc chắn tụi nó không bị tách ra khi một luồng sáng phóng xẹt qua trên đầu tụi nó, có thể là bùa bảo vệ hay cái gì đó hung ác hơn, nó không biết được...

Và Ron kìa.

Nó chụp cánh tay kia của Hermione, và Harry cảm thấy cô bé xoay tại chỗ; ánh sáng và âm thanh biến mất khi bóng tối phủ chụp xuống nó; nó chỉ còn cảm nhận được bàn tay Hermione khi nó chen qua không gian và thời gian, xa khỏi Hang Sóc, xa khỏi bọn Tử Thần Thực Tử đang đổ bộ, có lẽ, xa khỏi chính Voldemort...

“Tụi mình đang ở đâu?”

Giọng của Ron vang lên.

Harry mở mắt ra.

Trong một thoáng, nó ngỡ tụi nó vẫn chưa rời khỏi đám cưới; tụi nó dường như vẫn còn ở giữa đám đông.

“Đường Tottenham Court,” Hermione thở hổn hển.

“Đi, cứ đi tới, tụi mình cần tìm chỗ cho hai bồ thay đồ.”

Harry làm y như cô bé bảo.

Tụi nó nửa đi nửa chạy ngược lên con đường rộng tối thui đông đúc những kẻ chơi bời ban đêm và hai bên đường san sát cửa tiệm đã đóng cửa, trên đầu tụi nó sao đêm lấp lánh.

Một chiếc xe buýt hai tầng ầm ầm chạy ào qua và một nhóm dân nhậu vui nhộn trố mắt ngó bỡn cợt khi tụi nó đi ngang; Harry và Ron vẫn còn mặc áo chùng lễ.

“Hermione, tụi mình đâu có đồ gì để thay ra?”

Ron nói với cô bé, khi một phụ nữ trẻ nhìn nó và bật ra tiếng cười khụt khịt khàn khàn.

“Tại sao mình không nhớ mà đem theo tấm Áo khoác Tàng hình chứ?”

Harry nói, trong lòng thầm nguyền rủa sự ngu ngốc của chính mình.

“Suốt năm ngoái mình luôn mang theo nó bên mình, vậy mà...”

“Không sao, mình có tấm Áo khoác Tàng hình, và mình có quần áo cho cả hai người đây,” Hermione nói.

“Chỉ cần cố gắng và hành động tự nhiên cho đến khi... chỗ này chắc được.”

Cô bé dẫn tụi nó đi xuống một con đường ngang, rồi đi vào một mái che tạm trong một cái hẻm âm u.

“Khi bồ nói bồ có tấm Áo khoác, và quần áo...”

Harry nói, không hài lòng nhìn Hermione, cô bé không mang theo gì khác ngoài cái túi xách kết bằng hột cườm nhỏ xíu, giờ đây cô bé đang lục lọi cái túi đó.

“Thì có ngay, đây nè,” Hermione nói, và trước sự ngạc nhiên cùng cực của Ron và Harry, cô bé lấy ra một cái quần bò, một cái áo thun, mấy chiếc vớ nâu, và cuối cùng là tấm Áo khoác Tàng hình.

“Làm cách quỷ nào...”

“Bùa Mở Rộng Không Thể Dò Ra,” Hermione nói.

“Phức tạp, nhưng mình tin là mình đã làm đúng; đại khái là mình đã xoay sở nhét hết mọi thứ tụi mình cần vô đây,” cô bé lắc nhẹ cái túi xách trông-có-vẻ-mong-manh và nó kêu như thể một thùng xe vận tải chở một mớ đồ vật nặng nề lăn lông lốc bên trong.

“Ôi, khỉ, ắt là mấy cuốn sách,” cô bé nói, ngó vô túi, “và mình đã xếp chúng ngăn nắp theo từng loại rồi ấy chớ...

Mà thôi...

Harry, bồ nên mặc Áo khoác Tàng hình vào.

Ron, bồ thay đồ nhanh lên...”

“Bồ chuẩn bị tất cả những thứ này từ hồi nào?”

Harry hỏi trong khi Ron cởi áo chùng của nó ra.

“Mình đã nói với bồ hồi ở Hang Sóc, mình đã sắp xếp xong hành lý cần thiết mấy ngày rồi, bồ biết mà, trong trường hợp tụi mình cần ra đi đột xuất.

Harry à, mình sắp xếp cái ba lô của bồ hồi sáng, sau khi bồ thay đồ, và bỏ nó vô trong này rồi... chẳng là mình có một cảm giác...”

“Bồ khiến mình ngạc nhiên quá, thiệt đó,” Ron vừa nói vừa đưa cô bé cái áo chùng đã được cuộn lại.

“Cám ơn bồ,” Hermione nói, cố nở một nụ cười khi cô bé nhét cuộn áo vào trong cái túi.

“Harry, làm ơn mặc Áo khoác vào!”

Harry quăng tấm Áo khoác Tàng hình lên vai rồi kéo nón trùm qua đầu, biến mất ngay.

Giờ nó mới bắt đầu nhận thức được chuyện gì đã xảy ra.

“Những người khác... mọi người ở đám cưới...”

“Tụi mình không thể lo chuyện đó lúc này,” Hermione thì thầm.

“Harry à, bồ mới là kẻ bị bọn chúng truy lùng, và nếu tụi mình quay trở lại thì chỉ khiến cho mọi người bị nguy hiểm thêm mà thôi.”

“Hermione nói đúng,” Ron nói, nó dường như biết Harry sắp cãi lại, cho dù nó không thể nhìn thấy mặt Harry.

“Hầu hết thành viên Hội Phượng Hoàng đều có mặt ở đó, họ sẽ bảo vệ mọi người.”

Harry gật đầu, rồi nhớ ra hai đứa kia không thể thấy nó, bèn nói: “Ừ.”

Nhưng nó nghĩ đến Ginny, và nỗi lo sợ lại sôi sục như a-xít trong bao tử nó.

“Đi thôi, mình nghĩ tụi mình cứ tiếp tục đi,” Hermione nói.

Tụi nó đi ngược lại con đường ngang rồi trở lên con đường chính, một nhóm đàn ông ở lề đường bên kia đang nghêu ngao hát, chân nam đá chân xiêu.

“Chỉ là tò mò thôi, tại sao lại là đường Tottenham Court?”

Ron hỏi Hermione.

“Mình không biết, chẳng qua nó chợt nảy ra trong đầu mình, nhưng chắc chắn là trong thế giới Muggle tụi mình sẽ an toàn hơn, bọn chúng sẽ không ngờ tụi mình tới đây.”

“Đúng,” Ron nói, nhìn quanh quất, “nhưng bồ không cảm thấy hơi... tục à?”

“Chứ còn đâu khác nữa?”

Hermione hỏi, khép nép co người lại khi bọn đàn ông bên kia đường huýt gió chọc ghẹo cô bé.

“Tụi mình đừng hòng đặt phòng ở quán Cái Vạc Lủng, đúng không?

Và Quảng trường Grimmauld cũng bị loại nếu lão Snape có thể vào được nơi đó...

Mình cho là tụi mình có thể thử đến nhà ba má mình, mặc dù mình nghĩ cũng có nguy cơ bọn chúng lục soát nơi đó...

Ôi, ước gì mấy thằng kia khớp mỏ lại!”

“Chịu không, cưng?”

Gã xỉn nhất trong đám đàn ông bên kia đường đang gào lên.

“Khoái nhậu hông?

Bỏ thằng tóc đỏ qua đây làm một xị!”

“Tụi mình kiếm chỗ nào ngồi đi,” Hermione vội vàng nói khi Ron há miệng toan hét trả lại bọn bên kia đường.

“Kìa, chỗ này chắc được, vô đây!”

Đó là một quán ăn nhỏ, nhếch nhác, mở cửa thâu đêm.

Tất cả mặt bàn ốp mi-ca đều phủ một lớp mỏng dầu mỡ, nhưng được một cái là quán vắng hoe.

Harry lẻn vào ngồi trước trong một ô ngăn, Ron ngồi xuống bên cạnh nó, đối diện với Hermione.

Cô bé ngồi quay lưng lại cửa ra vào và không ưa vị trí này chút nào.

Cô bé ngoái nhìn ra sau thường xuyên đến nỗi trông có vẻ như bị vẹo.

Harry không thích bị ngồi yên một chỗ; di chuyển tạo cho nó ảo tưởng là tụi nó có một mục tiêu.

Dưới tấm Áo khoác Tàng hình nó có thể cảm thấy những tác dụng cuối cùng của thuốc Đa Quả dịch đang tiêu tan trong người nó, hai tay nó đã trở lại hình dạng và chiều dài bình thường.

Nó lấy cặp mắt kiếng ra khỏi túi áo và đeo trở lại.

Một hay hai phút sau, Ron nói, “Mấy bồ biết không, tụi mình ở đây thì không xa quán Cái Vạc Lủng cho lắm, nó ở trên đường Charing Cross...”

“Ron, tụi mình không thể!”

Hermione nói ngay.

“Không phải đến đó ở, mà để biết coi chuyện gì đang diễn ra!”

“Tụi mình biết chuyện gì đang diễn ra mà!

Voldemort đã chiếm được Bộ Pháp thuật, còn chuyện gì tụi mình cần biết nữa?”

“Thôi được, thôi được, chỉ là có ý kiến vậy thôi.”

Tụi nó rơi vào một sự im lặng bứt rứt.

Cô hầu bàn nhai kẹo cao su lệt xệt đi tới và Hermione kêu hai ly cà phê sữa.

Bởi vì Harry vô hình, nếu gọi cho nó một ly thì kỳ quá.

Hai công nhân lực lưỡng bước vào quán và nhét thân chúng vào ô ngăn kế bên.

Hermione hạ thấp giọng thì thào.

“Mình đề nghị tụi mình kiếm một chỗ Độn thổ ra vùng quê.

Khi ra tới đó rồi, tụi mình có thể gởi thư cho Hội.”

“Bộ bồ tạo được cái món Thần Hộ mệnh nói đó hả?”

“Mình vẫn thực tập lâu nay và mình tin là làm được.”

“Được, miễn sao không khiến họ bị rắc rối, mặc dù rất có thể họ đã bị bắt rồi.

Trời ơi, nếu vậy thì thiệt là kinh hoàng,” Ron nói thêm sau một ngụm cà phê xam xám nổi bọt lều bều.

Cô hầu bàn đã nghe lóm; cô ta ném cho Ron một ánh mắt ghê tởm khi lệt xệt quay ra tiếp những người khách mới đến.

Gã bự con hơn trong hai gã công nhân có mái tóc vàng và đúng là khổng lồ, Harry nhìn gã, gã xua tay cho cô hầu bàn đi.

Cô ta trố mắt, thộn ra.

“Vậy tụi mình đi đi, mình không muốn uống thứ nước cống này,” Ron nói.

“Hermione, bồ có tiền Muggle để trả không?”

“Có, mình đã rút hết tiền tiết kiệm Kiến thiết Xã hội trước khi đến Hang Sóc.

Mình cá là tất cả tiền lẻ nằm ở dưới đáy,” Hermione thở dài, vói lấy cái túi xách hột cườm.

Hai gã công nhân đồng loạt cử động y như nhau, và Harry phản ứng y như chúng mà không kịp ý thức.

Cả ba đều rút cây đũa của mỗi người ra.

Ron, nhận ra chuyện gì đang diễn ra trễ mất một giây, nó nhào qua mặt bàn, đẩy Hermione ngã xuống băng ghế.

Sức mạnh bùa phép của bọn Tử Thần Thực Tử làm tan nát tung tóe mảng gạch lát tường chỗ mà trước đó một giây là cái đầu Ron, trong khi ấy Harry, vẫn vô hình, gào lên, “Đánh Choáng!”

Tên Tử Thần Thực Tử tóc vàng lớn xác bị một tia sáng đỏ đánh trúng ngay giữa mặt: hắn đổ ụp qua một bên, bất tỉnh.

Gã đồng bọn của hắn, không thể nhìn thấy ai vừa phóng bùa, bèn nhắm vào Ron một lần nữa: những sợi dây thừng đen bóng vọt ra từ đầu cây đũa phép của hắn trói gô Ron từ đầu đến chân - cô hầu bàn thét lên và chạy ra cửa - Harry phóng thêm một thần chú Đánh Choáng nhắm vào tên Tử Thần Thực Tử có bộ mặt nhăn nhúm đã trói gô Ron, nhưng thần chú không trúng hắn, mà trúng cửa sổ và dội lại trúng cô hầu bàn, cô này lăn đùng ra xỉu trước cánh cửa.

“Nổ Tung!”

Tên Tử Thần Thực Tử rống lên, và cái bàn phía sau cái bàn Harry đang đứng nổ tung: sức mạnh của vụ nổ tống mạnh nó vô tường và nó cảm thấy cây đũa phép vuột khỏi tay nó và tấm Áo khoác Tàng hình tuột khỏi người nó.

“Tê Liệt Toàn Thân!”

Từ đâu không thấy, Hermione hét lên, và tên Tử Thần Thực Tử đổ nhào tới trước như một bức tượng, rớt xuống sàn một cái rầm trên đống xà bần những bàn ghế, cà phê, đồ sứ bể kêu răng rắc.

Hermione bò ra khỏi gầm ghế, rũ bỏ những mảnh vỡ của cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh bám trên tóc cô bé và rùng mình.

“Cắt... cắt rời!”

Cô bé vừa hô vừa chĩa cây đũa phép vào Ron, nó rống lên đau đớn khi Hermione rạch tét đầu gối cái quần bò của nó để lộ một vết cắt sâu.

“Ôi, mình xin lỗi, Ron, tay mình run quá!

Cắt Rời!”

Những mẩu dây thừng đứt rớt ra.

Ron đứng lên, lắc hai cánh tay để chúng có lại cảm giác.

Harry lượm cây đũa phép của nó lên và ngoi lên khỏi đống đổ nát, đến chỗ gã Tử Thần Thực Tử tóc vàng to xác đang nằm vắt ngang cái băng ghế.

“Lẽ ra mình phải nhận ra hắn, hắn có mặt ở đó vào đêm thầy Dumbledore chết,” Harry nói.

Nó nắm chân tên Tử Thần Thực Tử da sậm hơn và lật ngửa hắn ra; mắt hắn đảo thật nhanh từ Harry qua Ron và Hermione.

“Hắn là Dolohov,” Ron nói.

“Mình nhận ra hắn nhờ những tờ bố cáo truy nã cũ.

Mình nghĩ tên bự con kia là Thorfinn Rowle.”

“Đừng bận tâm đến tên họ chúng!”

Hermione nói, hơi bấn loạn.

“Làm cách nào chúng tìm ra được tụi mình?

Tụi mình sẽ phải làm sao đây?”

Chẳng hiểu sao nhưng cơn bấn loạn của Hermione lại khiến đầu óc Harry sáng suốt hẳn.

“Khóa cửa lại,” nó bảo Hermione.

“Và Ron, tắt đèn đi.”

Nó ngó xuống tên Dolohov nằm cứng đơ, suy nghĩ thật nhanh khi cửa được khóa và Ron dùng cái Tắt sáng để nhấn cả quán ăn vào bóng tối.

Harry có thể nghe lũ đàn ông chọc ghẹo Hermione lúc nãy đang kêu réo một cô gái khác ở xa xa.

“Tụi mình phải làm gì với bọn chúng đây?”

Ron thì thầm với Harry trong bóng tối; rồi, nói nhỏ hơn nữa, “Giết chúng không?

Chúng muốn giết tụi mình.

Chúng vừa cố làm chuyện đó.”

Hermione rùng mình lùi lại một bước.

Harry lắc đầu.

“Tụi mình chỉ cần xóa bỏ trí nhớ của chúng,” Harry nói.

“Như vậy tốt hơn, chúng sẽ bị loại ra ngoài vòng chiến.

Nếu tụi mình giết chúng thì việc tụi mình có mặt ở đây sẽ bị lộ.”

“Bồ là chỉ huy,” Ron nói, nghe như thể nó thở phào một cái thiệt mạnh.

“Nhưng mình chưa từng xài bùa Ký Ức lần nào.”

“Mình cũng chưa,” Hermione nói, “nhưng mình biết lý thuyết.”

Cô bé hít một hơi thở sâu trầm tĩnh, rồi chĩa cây đũa phép vào trán của Dolohov và nói, “Lú lẫn!”

Lập tức mắt Dolohov trở nên mơ màng, thần sắc không tập trung.

“Giỏi quá!”

Harry nói, vỗ nhẹ tay lên lưng cô bé.

“Bồ cứ săn sóc tiếp tên kia và cô hầu bàn trong khi mình và Ron dọn dẹp.”

“Dọn dẹp?”

Ron nói, nhìn quanh cái quán ăn đã bị tan hoang một phần.

“Để chi?”

“Bồ không tính đến việc bọn chúng sẽ thắc mắc chuyện gì xảy ra khi tỉnh dậy nhìn quanh thấy mình ở một nơi tan hoang như vừa bị dội bom à?”

“Ờ phải đó...”

Ron chật vật một lúc mới rút được cây đũa phép của nó ra khỏi túi quần.

“Khỏi thắc mắc tại sao mình không thể lấy nó ra được, Hermione à, bồ lấy nhầm cái quần cũ của mình, nó chật căng.”

“Ôi, mình xin lỗi,” Hermione ré lên, và trong khi cô bé lôi cô hầu bàn ra khỏi chỗ cho ngoài cửa sổ khỏi nhìn thấy được, Harry nghe cô bé rù rì đề nghị Ron một chỗ khác để nhét cây đũa phép.

Khi quán ăn được phục hồi lại nguyên trạng trước đây, tụi nó khiêng hai tên Tử Thần Thực Tử trở vô ô ngăn của chúng và đặt chúng ngồi đối diện nhau.

“Nhưng làm sao chúng lại tìm ra được tụi mình?”

Hermione hỏi, nhìn hết gã lờ đờ này đến gã lờ đờ kia.

“Làm sao chúng biết được chúng ta ở đâu?”

Cô bé quay qua Harry.

“Bồ... bồ có nghĩ là bồ vẫn còn mang Dấu Hiện trong người không, Harry?”

“Nó không còn đâu,” Ron nói.

“Dấu Hiện hết linh khi đúng mười bảy tuổi, đó là luật pháp thuật, bùa đó không thể ếm lên người trưởng thành.”

“Đó là bồ biết có thế,” Hermione nói.

“Còn nếu bọn Tử Thần Thực Tử tìm cách ếm nó lên một người mười bảy tuổi thì sao?”

“Nhưng Harry đâu có đến gần bất cứ tên Tử Thần Thực Tử nào trong vòng hăm bốn giờ qua.

Ai có thể ếm trở lại Dấu Hiện lên nó chứ?”

Hermione không trả lời.

Harry cảm thấy như nó bị ô nhiễm, nhơ bẩn: có thực đó là cách mà bọn Tử Thần Thực Tử đã tìm ra được tụi nó không?

“Nếu mình không thể dùng pháp thuật, và các bạn cũng không thể dùng pháp thuật gần mình mà không để lộ vị trí của tụi mình...” nó bắt đầu nói.

“Tụi mình không thể tách ra!”

Hermione quả quyết nói.

“Tụi mình cần một chỗ an toàn để trốn,” Ron nói, “để có thì giờ suy nghĩ thấu đáo chuyện này.”

“Quảng trường Grimmauld,” Harry nói.

Hai đứa kia há hốc miệng ra.

“Đừng ngu, Harry, lão Snape có thể vô đó.”

“Ba của Ron nói là họ đã ếm bùa độc chống lại hắn - mà nếu như bùa không công hiệu,” nó nói rấn tới vì Hermione mở miệng cãi lại.

“Thì sao?

Tôi thề, tôi không mong gì hơn là gặp lão Snape!”

“Nhưng...”

“Hermione à, còn chỗ nào khác nữa đâu?

Đó là nơi tốt nhất mà tụi mình có thể có được.

Lão Snape chỉ là một Tử Thần Thực Tử.

Nếu mình vẫn còn mang Dấu Hiện trong người, thì dù cho mình có đi đâu nữa thì cũng sẽ có cả đám bọn chúng bám theo tụi mình.”

Hermione không thể tranh cãi, mặc dù tỏ vẻ như thể sẽ cãi.

Trong khi cô bé mở chốt cánh cửa quán ăn, Ron bấm cái Tắt sáng để trả lại ánh sáng lại cho quán ăn.

Xong, khi Harry đếm đến ba, tụi nó giải bùa đã ếm lên ba nạn nhân của tụi nó, và trước khi cô hầu bàn hay tên nào trong hai tên Tử Thần Thực Tử chẳng thể làm gì khác hơn là vặn mình ngái ngủ, Ron, Harry và Hermione đã xoay người tại chỗ và biến mất vào bóng tối dày đặc một lần nữa.

Vài giây sau buồng phổi của Harry nở ra một cách đầy cảm kích và nó mở mắt ra: giờ đây tụi nó đang đứng giữa một quảng trường nhếch nhác và nhỏ bé quen thuộc.

Những tòa nhà cao xiêu vẹo ngó xuống tụi nó từ khắp mọi phía.

Tụi nó nhìn thấy ngôi nhà số mười hai bởi vì đã được cụ Dumbledore, Người Giữ Bí Mật của ngôi nhà, nói cho biết về sự hiện hữu của ngôi nhà đó, và tụi nó vội vã đi về phía ngôi nhà, cứ vài thước lại kiểm tra coi có bị theo dõi hay quan sát không.

Tụi nó chạy đua lên bậc thềm đá, và Harry gõ lên cánh cửa trước một cái bằng cây đũa phép của mình.

Tụi nó nghe một chuỗi tiếng lách cách của kim loại, tiếng loảng xoảng của dây xích, rồi cánh cửa cọt kẹt mở bung và cả đám vội vã bước qua ngưỡng cửa.

Khi Harry đóng cánh cửa lại sau lưng, những bóng đèn kiểu xưa thắp bằng khí bừng sáng lên, phát ra ánh sáng bập bùng dọc theo chiều dài của hành lang.

Cảnh trông y như trong trí nhớ của Harry: kỳ bí, đầy mạng nhện, hình thù những cái đầu gia tinh treo trên tường đổ những cái bóng kỳ cục xuống cầu thang.

Những bức màn dài sẫm màu che kín bức chân dung của bà mẹ chú Sirius.

Vật duy nhất không nằm đúng vị trí là cái đế cắm dù hình chân con quỷ khổng lồ, nằm lăn lóc như thể cô Tonks vừa đá ngã nó một lần nữa.

“Mình nghĩ có ai đó vừa đến đây,” Hermione thì thầm, chỉ về phía cái đế cắm dù...

“Cái đó có thể đã xảy ra từ lúc Hội rút đi,” Ron rù rì đáp lại.

“Vậy mấy lá bùa độc Hội ếm để chống lão Snape ở đâu?”

Harry hỏi.

“Có lẽ chúng chỉ được kích hoạt khi lão xuất hiện?”

Ron đưa ra giả thuyết.

Dù vậy tụi nó vẫn đứng chúm chụm nhau trên tấm thảm chùi chân, lưng tựa vào cánh cửa, không dám đi vô sâu trong nhà.

“Đi, tụi mình không thể đứng đây hoài,” Harry nói, và nó tiến tới một bước.

“Severus Snape?”

Giọng thầy Moody Mắt Điên thì thầm phát ra từ bóng tối, khiến cả ba đứa nhảy lùi lại vì khiếp đảm.

“Tụi con không phải lão Snape,” Harry cau có, và ngay sau đó một cái gì bỗng vút qua trên đầu nó như luồng khí lạnh rồi lưỡi của nó tự uốn ngược vô trong khiến nó không thể nói được.

Tuy nhiên nó chưa kịp dò dẫm bên trong miệng mình thì cái lưỡi đã tự duỗi trở ra.

Hai đứa kia dường như cũng vừa trải qua cái cảm giác khó chịu tương tự.

Ron đang phát ra tiếng nôn ọe; Hermione lắp bắp, “Cái... cái đó ắt là... là phép nguyền Cột Lưỡi mà thầy Mắt Điên ếm để chống lão Snape!”

Rón rén, Harry làm một bước tới trước.

Có cái gì đó dịch chuyển trong bóng tối cuối hành lang, và trong khi chưa đứa nào nói thêm được một lời thì một cái bóng trồi lên khỏi tấm thảm, cao, màu xám xịt, và khủng khiếp; Hermione thét lên và bà Black cũng thét lên, bức màn che chân dung bà bay lật ra; cái bóng xám đang lướt về phía tụi nó, càng lúc càng nhanh, bộ râu và mái tóc dài tới eo lướt theo phía sau, bộ mặt rúm ró không da thịt với hai hốc mắt trống rỗng: quen thuộc một cách hãi hùng, biến đổi một cách dễ sợ, nó giơ một cánh tay ruỗng lên chỉ vào Harry.

“Không!”

Harry hét, và mặc dù đã giơ cây đũa phép lên nhưng nó chẳng nghĩ ra được câu thần chú nào, “Không!

Không phải tụi con!

Tụi con không giết thầy...”

Từ giết vừa thốt ra, cái bóng nổ tan thành một đám mây bụi thật to: ho, chảy nước mắt, Harry nhìn quanh thấy Hermione ngồi thụp xuống sàn gần cánh cửa, hai cánh tay vòng qua đầu, và Ron, run rẩy từ đầu đến chân, đang vụng về vỗ vai cô bé mà nói: “H... hổng sao...

N... nó biến rồi...”

Bụi xoáy quanh Harry như sương mù, bám lấy ánh đèn khí màu xanh lơ, trong khi bà Black tiếp tục thét.

“Đồ Máu bùn, bẩn thỉu, nhơ nhuốc, dấu bất lương, vết ô nhục trên ngôi nhà của ông cha ta...”

“CM NGAY!”

Harry gào lên, chĩa cây đũa phép vào bà ta, và kèm theo một tiếng nổ cùng những tia sáng đỏ lóe ra, bức màn khép lại, khiến bà ta nín luôn.

“Đó...

đó là...,” Hermione thút thít khóc khi Ron đỡ cô bé đứng lên.

“Ừ,” Harry nói, “nhưng không thực sự là thầy ấy, phải không?

Chỉ là cái gì đó để hù dọa lão Snape.”

Harry tự hỏi không biết cái đó có linh nghiệm không, hay lão Snape đã đánh bạt cái bóng-kinh hoàng qua một bên cũng dễ dàng như lão đã giết cụ Dumbledore thật?

Thần kinh vẫn còn căng thẳng, nó dẫn hai đứa kia đi dọc hành lang, nửa chờ đợi một nỗi kinh hoàng khác tự phô ra, nhưng chẳng còn gì chuyển động nữa ngoại trừ một con chuột đang gậm nhấm miếng gỗ ốp chân tường.

“Trước khi đi xa hơn, mình nghĩ tụi mình nên kiểm tra,” Hermione thì thào, và cô bé giơ đũa phép lên nói, “Lộ người.”

Không có gì xảy ra.

“Ôi, bồ vừa mới bị một vố kinh hồn,” Ron nói giọng tử tế.

“Cái đó để làm gì chứ?”

“Làm cái mà mình biểu nó làm!”

Hermione nói hơi gắt gỏng.

“Đó là thần chú để làm lộ ra sự có mặt của người ta, và như vậy hiện giờ ở đây không có ai khác, trừ tụi mình!”

“Và lão Bụi cũ nữa,” Ron nói, liếc đám bụi của tấm thảm nơi cái xác bụi đã trồi lên.

“Tụi mình lên lầu đi,” Hermione nói, ánh mắt kinh sợ vẫn còn nhìn về chỗ đó, và cô bé dẫn đầu đi lên cái cầu thang cọt kẹt để tới phòng khách trên lầu một.

Hermione vẫy cây đũa phép để thắp sáng những bóng đèn khí cũ kỹ, sau đó, rùng mình trong căn phòng trống vắng, cô bé ngồi thu lu trên cái ghế nệm dài, vòng tay ôm chặt lấy mình.

Ron băng ngang căn phòng tới bên cửa sổ và vén tấm màn nhung dày qua một bên vài phân.

“Không thấy ai ở ngoài kia,” nó tường thuật.

“Và bồ nghĩ coi, nếu Harry vẫn còn mang Dấu Hiện thì chúng ắt đã theo tụi mình tới đây rồi.

Mình biết là chúng không thể vô được trong nhà, nhưng...

Có chuyện gì vậy, Harry?”

Harry thốt ra một tiếng kêu đau đớn: cái thẹo của nó lại thiêu đốt khi điều gì đó nhá xuyên qua óc nó như một tia sáng rực trên mặt nước.

Nó thấy một cái bóng khổng lồ và cảm thấy một cơn cuồng nộ vốn không phải của nó lại đang nện khắp thân thể nó, dữ dội và nhanh như một cơn điện giật.

“Bồ thấy cái gì?”

Ron hỏi, thúc giục Harry.

“Bồ thấy hắn ở nhà mình hả?”

“Không, mình chỉ cảm thấy giận dữ... hắn giận ghê lắm...”

“Nhưng điều đó chắc là xảy ra ở Hang Sóc,” Ron nói to.

“Còn gì nữa?

Bồ có thấy gì không?

Hắn đang nguyền rủa ai hả?”

“Không, mình chỉ cảm thấy giận dữ...

Mình không thể nói được là...”

Harry cảm thấy bị dồn ép quá, đâm bối rối, và Hermione cũng chẳng giúp được gì khi cô bé nói bằng giọng kinh sợ, “Lại cái thẹo của bồ nữa hả?

Nhưng đang xảy ra chuyện gì vậy?

Mình tưởng mối liên kết đã được đóng lại rồi mà!”

“Nó đã đóng lại, được một thời gian,” Harry lầu bầu; cái thẹo của nó vẫn còn đau thốn, khiến nó khó tập trung.

“Mình...

Mình nghĩ nó bắt đầu nối lại mỗi khi hắn không tự chủ, đó là kiểu trước đây vẫn thường xảy ra...”

“Nhưng bồ phải đóng đầu óc của bồ lại!”

Hermione nói giọng the thé.

“Harry, thầy Dumbledore không muốn bồ dùng đến mối liên kết đó, thầy muốn bồ đóng nó lại, đó là lý do bồ nên dùng phép Bế Quan Bí Thuật!

Nếu không Voldemort có thể nhồi vô đầu bồ những hình ảnh sai lạc, nhớ...”

“Ừ, tôi nhớ, cám ơn,” Harry nói qua hàm răng nghiến chặt; nó không cần Hermione bảo cho nó biết là Voldemort đã có lần dùng mối liên kết đồng-ngã giữa nó với hắn để đưa nó vào tròng, cũng không cần nói là việc đó đã đưa tới cái chết của chú Sirius.

Nó ước gì đã không nói cho hai đứa kia biết điều nó đã nhìn thấy và cảm thấy; chuyện đó khiến cho Voldemort đáng sợ hơn, như thể hắn đang áp mình vô cửa sổ căn phòng, vậy mà cơn đau của cái thẹo lại nổi lên và nó phải chống chỏi: giống như chống lại cơn buồn nôn.

Nó quay lưng lại Ron và Hermione, giả đò như xem xét tấm thảm cũ thêu gia phả dòng họ Black treo trên tường.

Chợt Hermione rú lên: Harry rút cây đũa phép ra một lần nữa và quay phắt lại để thấy một Thần Hộ mệnh màu trắng bạc đang lao qua cửa sổ căn phòng khách và đáp xuống sàn trước mặt tụi nó, ở đó Thần Hộ mệnh hiện hình thành một con chồn phát ra giọng nói của cha Ron.

“Gia đình bình an, đừng hồi âm, chúng ta đang bị canh chừng.”

Thần Hộ mệnh tan biến vào không trung, Ron để bật ra một âm thanh nửa như nức nở nửa như càu nhàu và thả người ngồi phịch xuống cái ghế nệm: Hermione đến ngồi bên nó, ôm chặt lấy cánh tay nó.

“Họ bình an, họ bình an mà!”

Cô bé thì thầm, và Ron ôm ghì cô bé vừa khóc vừa cười.

“Harry,” Ron nói qua vai của Hermione, “Mình...”

“Không hề gì,” Harry nói, kiệt quệ vì cơn đau trong đầu.

“Gia đình của bồ, dĩ nhiên bồ phải lo lắng.

Mình cũng cảm thấy như vậy.”

Nó nghĩ đến Ginny.

“Mình cũng cảm thấy y như vậy.”

Cơn đau trong cái thẹo của nó lên tới đỉnh, thiêu đốt như lúc phát ra ở trong vườn của Hang Sóc.

Nó mơ hồ nghe Hermione nói, “Mình không muốn ngủ một mình.

Hay là tụi mình dùng mấy cái túi ngủ mình đem theo để ngủ tạm ở đây đêm nay nghe?”

Nó nghe Ron tán thành.

Nó không thể chống chỏi với cơn đau lâu hơn nữa.

Nó phải chịu thua.

“Buồng tắm,” nó thều thào, và bỏ đi ra khỏi phòng thật nhanh, gần như chạy.

Nó suýt không tới được: cài xong chốt cửa sau lưng bằng bàn tay run rẩy, nó ôm ghì lấy cái đầu nhức bưng bưng như búa bổ và té lăn xuống sàn phòng tắm, và rồi trong cơn thống khổ bùng nổ, nó cảm nhận cơn giận vốn không phải của nó đang độc chiếm tâm hồn nó, nó thấy một căn phòng chỉ được chiếu sáng bằng ánh lửa, và tên Tử Thần Thực Tử tóc vàng to tướng nằm trên sàn, quằn quại gào thét, và một cái bóng mong manh hơn đứng trùm bên trên gã, đũa phép chĩa thẳng ra, trong khi Harry nói bằng một giọng lạnh lùng tàn nhẫn cao the thé.

“Nữa, Rowle, hay ta kết thúc và để cho Nagini xơi mi?

Chúa tể Voldemort không chắc là ngài sẽ tha thứ phen này...

Mi vời ta trở lại vì điều này ư, nói cho ta biết là Harry Potter lại trốn thoát một phen nữa à?

Draco, cho Rowle nếm thêm một lần nữa món khó xơi của chúng ta...

Làm đi, nếu không thì chính mi sẽ nếm cơn thịnh nộ của ta!”

Một khúc củi rớt xuống đống lửa: ngọn lửa bùng lên, ánh lửa hắt qua một khuôn mặt nhọn trắng bệch khiếp đảm - với một cảm giác như trồi lên từ dưới đáy nước sâu, Harry cố hớp lấy không khí và mở mắt ra.

Nó đang nằm soãi tay dạng chân trên sàn lát cẩm thạch đen lạnh giá, mũi nó còn vài phân là chạm vào cái đuôi con bạch xà bệ đỡ cái bồn tắm to.

Nó ngồi dậy.

Gương mặt hốc hác mất hồn của Malfoy dường như cháy lên trong mắt nó.

Harry phát ói vì điều mà nó vừa thấy, vì cái cách mà Voldemort đang sử dụng.

Có tiếng gõ đột ngột lên cửa, và Harry giật bắn người khi giọng nói của Hermione vang lên:

“Harry, bồ cần bàn chải răng của bồ không?

Mình có nó đây.”

“Ừ, tuyệt, cám ơn nhé,” nó nói, cố gắng giữ giọng nói bình thường khi đứng lên mở cửa cho cô bé vào.
 
Back
Top Bottom