Cập nhật mới

Khác Gia đình lầu trên

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
153,753
Điểm cảm xúc
0
Điểm thành tích
0
VNĐ
44,735
403238246-256-k265546.jpg

Gia Đình Lầu Trên
Tác giả: TcKhng039
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

"Sau sinh nhật lần thứ 25 của mình, Libby Jones nhận được một lá thư mà cô đã chờ đợi từ rất lâu.

Đó là lá thư từ người ủy thác cho Libby biết về thân phận của cô.

Libby không chỉ biết nhiều hơn về cha mẹ ruột của mình mà bức thư còn mang về một thông tin chấn động: Cô chính là người thừa kế duy nhất của căn biệt thự bỏ hoang trị giá hàng triệu đô la bên bờ sông Thames cạnh khu phố Chelsea đắt tiền ở London và mẹ cô từng là một Socialite (người có vai vế và nổi tiếng trong xã hội).

Có thể coi đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời Libby.

Nhưng còn một điều mà Libby không biết, cùng lúc, có nhiều người khác cũng chờ đợi ngày này giống như cô: ngày Libby bước qua sinh nhật tuổi 25 và lá thư kia được mở ra.

25 năm trước, cảnh sát được gọi đến số 16 phố Cheyne Walk với báo cáo về tiếng khóc của một đứa trẻ.

Khi tới nơi, họ thấy một đứa trẻ 10 tháng tuổi mạnh khoẻ đang vui đùa trong phòng ngủ.

Ở tầng dưới, có ba thi thể trong nhà bếp, tất cả đều mặc đồ đen theo kiểu của một giáo phái bí mật và bên cạnh là một tờ giấy viết vội vàng.

Còn 4 đứa trẻ khác được cho là sống ở Cheyne Walk đã biến mất một cách kỳ lạ.

Chuyện gì đã xảy ra từ 25 năm trước?

Và chuyện gì sẽ xảy ra sau 25 năm, từ khi bức thư được Libby mở ra?

Libby là người thừa kế duy nhất của căn biệt thự nọ nhưng cùng lúc lại có nhiều người khác cũng ngóng đợi cái ngày bức thư kia được mở ra.

Nội dung của bức thư kia có bao nhiêu phần trăm là sự thật?

Có bí mật nào đã được chôn giấu tại căn biệt thự đó?

Tất cả bọn họ là



truyentrinhtham​
 
Gia Đình Lầu Trên
1


Sẽ không thực sự chính xác nếu tôi nói tôi có một tuổi thơ bình thường trước khi họ đến.

Tuổi thơ của tôi không hề bình thường, nhưng tôi cảm thấy bình thường vì đó là tất cả những gì tôi biết.

Phải tới tận bây giờ, sau hàng chục năm nhìn lại, tôi mới hiểu được mình đã có một tuổi thơ kỳ lạ đến thế nào.

Khi họ đến, tôi gần mười một tuổi, còn em gái tôi mới lên chín.

Họ sống với chúng tôi hơn năm năm, và họ khiến mọi thứ trở nên đen tối, rất đen tối.

Tôi và em gái tôi đã phải học cách tồn tại.

Và khi tôi mười sáu, em gái tôi mười bốn, đứa bé ấy đến.

Libby nhặt lá thư lên khỏi tấm thảm chùi chân.

Cô lật nó lại trong lòng bàn tay.

Lá thư nhìn có vẻ rất trang trọng; phong bì màu kem, làm bằng giấy cao cấp, và dường như còn được lót khăn giấy bên trong.

Dấu đóng bên ngoài bì thư ghi "Văn phòng luật sư Smithkin Rudd & Royle, Phố Chelsea Manor SW3".

Cô mang lá thư vào trong bếp và để nó xuống bàn ăn, rồi cô đi đun một ấm nước và bỏ túi trà vào trong cốc.

Libby khá chắc là cô biết trong phong bì có gì.

Tháng trước cô bước sang tuổi hai mươi lăm.

Trong tiềm thức, cô đã đợi bức thư này đến.

Nhưng khi nó ở đây rồi, cô không biết mình có thể đối mặt với nó hay không.

Cô nhấc máy gọi cho mẹ.

"Mẹ ơi," cô nói.

"Nó tới rồi.

Lá thư từ người ủy thác ấy."

Cô cảm thấy một khoảng lặng từ đầu dây bên kia.

Cô mường tượng ra hình ảnh của mẹ mình đứng trong căn bếp của bà ở Dénia, cách nơi cô sống cả vạn dặm, với những món đồ trắng tinh, và những vật dụng làm bếp màu vàng chanh phối hợp ăn ý, cửa kính kéo dẫn đến một sân thượng nhỏ nhìn ra biển Địa Trung Hải, bên tai

bà là chiếc điện thoại có ốp đính đá mà bà vẫn gọi là bling—châu báu lóng lánh.

"Ồ," bà nói.

"Đúng rồi.

Trời ạ.

Con đã mở nó ra chưa."

"Chưa.

Chưa ạ.

Con muốn uống một tách trà trước đã."

"À, ra thế," bà lại nói.

Rồi bà tiếp lời, "Thế con có muốn mẹ tiếp tục giữ máy không?

Để chờ con mở thư ấy?"

"Có ạ," Libby nói.

"Nếu mẹ sẵn lòng."

Cô cảm thấy hơi khó thở, thỉnh thoảng cô vẫn hay bị như vậy khi cô chuẩn bị phải đứng lên và thuyết trình một bài giới thiệu sản phẩm ở chỗ làm, hay khi cô vừa uống một cốc cà phê đặc.

Cô lấy túi trà ra khỏi cốc và ngồi xuống.

Ngón tay cô vuốt ve góc phong bì và cô hít một hơi thật sâu.

"Vâng," cô nói với mẹ mình, "con mở đây.

Con mở ngay bây giờ đây."

Mẹ cô biết trong thư có gì.

Hay ít ra thì bà cũng biết đôi chút, cho dù chưa có ai chính thức nói cho bà biết trong quỹ ủy thác có gì.

Nó có thể, như bà vẫn nói, chỉ là một ấm trà và một tờ mười bảng Anh.

Libby hắng giọng và luồn ngón tay xuống dưới nắp phong bì.

Cô lấy ra một tờ giấy dày màu kem, rồi lướt mắt nhanh qua bức thư:

Gửi cô Libby Louise Jones,

Là người ủy thác của quỹ Henry và Martina Lamb, được lập ra vào ngày 12 tháng Bảy năm 1977, tôi đề xuất chia phần thừa kế cho cô theo như danh mục đính kèm...

Cô đặt bức thư xuống và lấy phần giấy tờ đi kèm ra.

"Thế nào rồi?"

Mẹ cô nín thở hỏi.

"Con vẫn đang đọc," cô đáp lại.

Lướt mắt đọc qua, cô lập tức bị thu hút bởi tên của căn biệt thự.

Số mười sáu phố Cheyne, SW3.

Cô cho rằng đây là nơi mà cha mẹ ruột của cô sống trước lúc họ qua đời.

Cô biết nó ở Chelsea.

Cô cũng biết đây là một căn biệt thự rất lớn.

Cô cứ tưởng căn nhà này đã không còn nữa.

Bị niêm phong lại.

Hay bị bán mất rồi.

Cô cảm thấy khó thở nơi cuối cuống họng khi cô nhận ra những gì mình vừa đọc.

"Ừm," cô nói.

"Chuyện gì đó?"

"Có vẻ như...

Không, chắc là không phải rồi."

"Gì!"

"Căn nhà.

Họ để lại căn nhà cho con."

"Nhà ở Chelsea á?"

"Vâng ạ," cô nói.

"Cả căn nhà á?"

"Con nghĩ vậy."

Trong lá thư có đề cập đến việc không ai có tên trong quỹ ủy thác trình diện trước hạn.

Cô không thể tiêu hóa hết tất cả thông tin ngay trong lúc này.

"Chúa ơi.

Ý con là, căn nhà ấy có khi phải đáng giá..."

Libby hít một hơi thật sâu rồi đưa mắt nhìn lên trần nhà.

"Chắc chắn là không phải rồi," cô nói.

"Hẳn là có gì đó nhầm lẫn ở đây."

"Đi gặp luật sư đi con," mẹ cô nói.

"Gọi cho họ.

Đặt ngay lịch hẹn.

Để xem cho chắc có nhầm lẫn gì không."

"Nhưng nhỡ không có nhầm lẫn gì thì sao?

Nhỡ đây là thật thì sao?"

"Nếu thế thì, thiên thần của mẹ," mẹ cô nói, và Libby có thể thấy bà đang mỉm cười từ cách xa cả vạn dặm, "con thực sự sẽ là một người phụ nữ rất giàu có đấy."

Libby cúp máy và đưa mắt nhìn quanh bếp.

Chỉ năm phút trước, căn bếp này là căn bếp duy nhất mà cô có đủ khả năng chi trả được, căn hộ này là căn hộ duy nhất cô có thể mua được, ở đây, trên con phố yên tĩnh này, giữa những dãy nhà liền kề bên vùng nước đọng ở St Albans.

Cô nhớ những căn hộ và những ngôi nhà cô đã xem khi tìm nhà ở trên mạng, những lần khẽ hít sâu khi cô thấy một nơi hoàn hảo: một ban công hướng về phía mặt trời, một nhà bếp với bàn ăn, cách ga tàu năm phút đi bộ, ô cửa sổ khung chì cổ điển phình ra, tiếng chuông nhà thờ văng vẳng từ bên kia thảm cỏ xanh, và rồi cô nhìn xuống giá nhà và cô cảm thấy như một con ngốc vì đã nghĩ rằng mình có thể sống ở đó.

Cuối cùng cô đành bỏ lại tất cả để tìm một căn hộ gần chỗ làm và cách ga tàu không quá xa.

Khi cô bước qua cánh cửa, cô chẳng có linh cảm gì; trái tim cô chẳng muốn nói gì khi chuyên viên bất động sản dẫn cô đi xem nhà.

Nhưng cô đã biến nơi này trở thành một tổ ấm đáng tự hào.

Cô chịu khó lựa chọn những món đồ tốt nhất ở cửa hàng giá rẻ TK Maxx, và giờ căn hộ một phòng ngủ của cô, tuy chưa được sửa sang lại hẳn hoi, và bài trí còn có phần vụng về, nhưng nó khiến cô hạnh phúc.

Cô mua nó; cô chăm chút cho nó.

Nó thuộc về cô.

Nhưng giờ có vẻ như cô đang là chủ sở hữu của một căn biệt thự

trên con phố sang trọng nhất ở Chelsea và bỗng nhiên căn hộ của cô trông không khác gì một trò đùa tức cười, kể cả mọi thứ quan trọng với cô năm phút trước cũng vậy—khoản tăng lương 1500 bảng một năm cô vừa được nhận ở chỗ làm, chuyến đi nghỉ cuối tuần với hội chị em ở Barcelona vào tháng tới mà cô đã phải để dành tiền suốt sáu tháng trời, hay bảng màu mắt của MAC mà cô "cho phép" tự thưởng cho bản thân cuối tuần trước vì được tăng lương—cảm giác rùng mình êm dịu khi cô từ bỏ khoản ngân sách eo hẹp hằng đặt bảng màu mắt màu đen nhỏ xinh ấy vào trong túi đựng đồ trang điểm, và biết rằng giờ cô đã sở hữu nó, rất có thể cô sẽ diện nó ở Barcelona, và ở đó có thể cô sẽ mặc chiếc đầm mà mẹ cô tặng cô nhân dịp Giáng sinh, chiếc đầm hiệu French Connection đắp ren mà cô đã muốn có từ rất lâu rồi.

Chỉ năm phút trước thôi, niềm vui sống của cô chỉ gói gọn trong những điều nhỏ nhặt, những món đồ xa xỉ mà cô phải dự tính, ước ao, chắt bóp, tiết kiệm một thời gian dài để mua được, những thứ vụn vặt khi nhìn tổng thể thì không có nghĩa lý gì cho lắm, nhưng lại làm cho cuộc sống của cô thêm phần lung linh, tiếp thêm động lực cho cô ra khỏi giường mỗi sáng, để làm một công việc cô thích nhưng không yêu.

Giờ thì cô sở hữu một căn nhà ở Chelsea và mọi giá trị cân xứng trong cuộc đời cô đã hoàn toàn đảo lộn.

Cô nhétlá thư lại vào trong chiếc phong bì đắt tiền và uống nốt tách trà.
 
Gia Đình Lầu Trên
2


Có cơn bão đang ập đến khiến chân trời tối sầm lại một màu mận tía, đè nặng lên đầu Lucy.

Cô lấy một tay ôm đỉnh đầu, tay còn lại với lấy đĩa thức ăn đã hết của con gái mình và để xuống sàn cho con chó liếm nốt chỗ nước xốt và vụn thịt gà còn sót lại.

"Marco," cô nói với con trai, "ăn hết thức ăn đi."

"Con không đói," thằng bé đáp lại.

Lucy cảm thấy một cơn thịnh nộ dồn lên trong mạch máu của cô và giần giật nơi thái dương.

Cơn bão đang tiến lại gần; cô có thể cảm nhận được làn hơi ẩm đang làm dịu đi bầu không khí nóng nực.

"Chỉ có thế này thôi," cô nói, giọng cô vỡ vụn, cố để không hét lên.

"Hết cái để ăn rồi đấy.

Tiền hết sạch cả rồi.

Không còn gì nữa đâu.

Đến lúc đi ngủ đừng bảo với mẹ là con đói.

Đến lúc ấy thì muộn quá rồi.

Ăn nốt đi.

Mẹ xin con đấy."

Marco lắc đầu, vẻ mặt cam chịu, cắt miếng gà tẩm vụn bánh mì chiên giòn trên đĩa của cậu.

Lucy đăm chiêu nhìn đỉnh đầu của Marco, mái tóc màu hạt dẻ của cậu cuộn thành hai xoáy.

Cô cố nhớ lần cuối cô và các con cô gội đầu là ngày nào nhưng thực tình cô

không nhớ nổi.

Stella nói, "Mẹ ơi, con gọi thêm món tráng miệng được không?"

Lucy liếc xuống nhìn con bé.

Stella mới lên năm tuổi thôi và con bé là kết quả của một sai lầm đẹp đẽ nhất mà Lucy từng mắc phải.

Đáng lẽ ra cô phải nói không; cô rất nghiêm khắc với Marco, nhưng lại chiều em gái cậu.

Stella rất ngoan, rất dễ tính, mà cũng dễ bảo.

Làm sao cô nỡ từ chối khi con muốn chút gì đó ngọt ngọt để ăn tráng miệng cơ chứ?

"Nếu Marco ăn hết chỗ gà chiên giòn," cuối cùng cô bảo, "mẹ sẽ mua kem để cả nhà cùng ăn."

Điều này rõ ràng không công bằng với Stella, vì con bé đã ăn hết phần gà của mình từ mười phút trước, và đáng lẽ nó không cần phải chờ anh nó ăn xong.

Nhưng dường như cảm giác bất công vẫn chưa được hình thành trong Stella, nên con bé chỉ biết gật đầu và nói, "Anh ăn đi, nhanh lên, Marco!"

Lucy lấy đĩa của Marco sau khi cậu ăn xong và để xuống vỉa hè cho con chó.

Kem đến.

Có ba vị kem trong cái bát thủy tinh, bên trên được rưới thêm xốt chocolate nóng, rắc vụn kẹo hạnh ngào đường, và cắm thêm cả một que cocktail với cây cọ bằng giấy bạc màu hồng.

Đầu Lucy lại nhói đau và cô hướng mắt về phía đường chân trời.

Điều cô cần làm lúc này là tìm chỗ ngủ đêm nay cho các con mình và cô cần phải khẩn trương lên.

Cô gọi phục vụ mang hóa đơn ra, rồi đặt thẻ của mình lên trên khay, bấm số của mình lên máy đọc thẻ, nín thở khi nghĩ đến việc tài khoản ngân hàng của cô đã hết tiền, và cô cũng chẳng còn tiền ở đâu cả.

Cô đợi Stella liếm hết bát kem, sau đó tháo dây xích chó ra khỏi chân bàn, và cúi xuống nhặt chỗ túi của mình, rồi đưa cho Marco xách hai cái, Stella xách một cái.

"Mình đi đâu vậy mẹ?"

Marco hỏi.

Đôi mắt màu nâu của cậu bé trông rất nghiêm trọng, ánh nhìn chứa đầy vẻ lo lắng, ưu phiền.

Cô thở dài.

Cô nhìn lên con phố hướng đến thị trấn cổ Nice, rồi lại nhìn xuống con phố hướng về phía biển.

Cô còn nhìn cả con chó nữa, như thể nó có thể gợi ý cho cô điều gì vậy.

Còn nó thì hào hứng nhìn cô như thể cô có thêm cái đĩa nữa để cho nó liếm.

Chỉ có một nơi duy nhất để đi mà thôi, mặc dù cô chẳng muốn đến nơi ấy chút nào.

Nhưng cô cố gượng cười.

"Mẹ biết rồi," cô nói, "ta đến thăm bà nội đi!"

Marco rên rỉ.

Stella trông có vẻ lưỡng lự.

Cả hai đứa vẫn còn nhớ lần cuối chúng đến ở nhờ nhà bà của Stella.

Samia từng có thời là ngôi sao điện ảnh nổi tiếng ở Algeria.

Giờ bà bảy mươi tuổi, mù một mắt, và sống trong căn hộ nhếch nhác trên tầng bảy của một toà chung cư ở l'Ariane với người con gái lớn tuổi bị tàn tật.

Chồng bà mất khi bà mới năm mươi lăm, và đứa con trai duy nhất của bà, bố Stella, biến mất ba năm trước và từ đó đến nay cũng không liên lạc gì.

Có lẽ vì thế mà Samia hay cáu giận và tính tình có phần thô bạo, cũng khó mà trách bà được.

Nhưng bà có một mái nhà và một chỗ trú chân; bà có chăn gối và nhà bà có nước máy chảy.

Bà có tất cả mọi thứ mà Lucy không thể lo nổi cho các con cô lúc này.

"Chỉ một đêm thôi," cô nói.

"Chỉ đêm nay thôi rồi mai mẹ sẽ tính cách khác.

Mẹ hứa."

Họ đến nhà Samia đúng lúc trời đổ mưa to, bong bóng mưa vỡ tung tóe trên mặt vỉa hè nóng bỏng.

Trong cái thang máy bị trát đầy tranh graffiti dẫn lên tầng bảy, Lucy ngửi thấy mùi ẩm mốc của quần áo chưa giặt, quện với mùi của tóc bết dầu, và mùi của đôi giày thể thao mòn vẹt.

Con chó của cô, với bộ lông xoăn rậm rạp, bốc mùi hôi kinh khủng.

"Tôi chịu," Samia nói ở ngưỡng cửa, đứng chắn chỗ ra vào.

"Tôi chịu thôi.

Mazie đang ốm.

Cô hộ tá phải ngủ ở đây đêm nay.

Nhà tôi không có chỗ.

Thực sự là không còn chỗ nào cả."

Sấm bắt đầu nổ ầm ầm trên đầu họ.

Bầu trời đằng sau họ chuyển sang màu trắng xóa.

Mưa từ trên trời đổ xuống xối xả.

Lucy nhìn Samia trân trối.

"Nhưng thực sự nhà con cũng không còn chỗ nào khác để đi."

"Tôi hiểu," Samia nói.

"Tôi hiểu chứ.

Tôi có thể cho Stella trú tạm đêm nay.

Còn phần cô, thằng bé với con chó, thì tôi xin lỗi.

Cô phải đi tìm chỗ khác thôi."

Lucy nhận thấy Stella đang đẩy chân cô, người con bé run lên, bứt rứt không yên.

"Con muốn ở với mẹ cơ," con bé thì thầm.

"Con không muốn ở đây nếu không có mẹ."

Lucy cúi xuống và nắm lấy tay Stella.

Mắt Stella màu xanh lục, y như cha nó, còn tóc con bé màu sẫm, xen lẫn những lọn tóc vàng hạt dẻ, và khuôn mặt nó thì rám nắng sau một mùa hè nóng bức kéo dài.

Con bé rất xinh; nhiều khi ở trên đường người ta còn dừng Lucy lại để xuýt xoa khen con gái cô.

"Con yêu," cô nói.

"Ở đây con sẽ được khô ráo.

Con sẽ được đi tắm; bà nội sẽ đọc truyện cho con nghe..."

Samia gật đầu.

"Bà sẽ đọc truyện cháu thích cho cháu nghe," bà nói, "câu chuyện về mặt trăng ấy."

Stella nép chặt vào người Lucy.

Lucy bắt đầu cảm thấy mất kiên nhẫn.

Cô sẵn sàng đánh đổi bất kỳ thứ gì để được ngủ trên giường của bà nội, được nghe kể chuyện về mặt trăng, được tắm rửa và được thay bộ đồ ngủ sạch sẽ.

"Chỉ một đêm thôi, con yêu.

Sáng mai mẹ sẽ đến đón con ngay.

Chịu không?"

Cô cảm thấy đầu Stella gật nhẹ trên vai mình, và cả tiếng con bé thở dài, cố để không chảy nước mắt.

"Vâng ạ," Stella nói, và Lucy ấn con bé vào nhà Samia ngay lập tức, trước khi một trong hai người họ kịp đổi ý.

Và thế là chỉ còn cô, Marco và con chó, với tấm thảm yoga cuộn đằng sau lưng, hướng về phía bầu trời tối đen, trong cơn mưa tầm tã, chẳng nơi nào để đi.

Họ trú dưới gầm cầu vượt một lúc lâu.

Tiếng lốp xe ôtô rít liên tục đến chói tai trên mặt nhựa đường ẩm ướt.

Mưa vẫn rơi.

Marco ôm con chó trong lòng, vùi mặt xuống sống lưng của nó.

Cậu ngước lên nhìn Lucy.

"Sao mình phải sống như cứt vậy mẹ?" cậu hỏi.

"Con thừa biết tại sao mình sống như cứt," cô gắt lên.

"Nhưng sao mẹ không làm gì đi?"

"Mẹ đang cố đây," cô nói.

"Không, mẹ chẳng làm gì cả.

Mẹ đang để chúng ta chết chìm."

"Mẹ đang cố đây," cô rít lên, hằm hằm nhìn Marco.

"Từng giây từng phút một."

Cậu nhìn cô với ánh mắt đầy hoài nghi.

Marco quá thông minh và thằng bé hiểu cô quá, quá rõ.

Cô thở dài.

"Mẹ sẽ lấy lại cây đàn violin vào ngày mai.

Mẹ sẽ bắt đầu kiếm tiền trở lại."

"Mẹ định trả tiền sửa đàn như thế nào?"

Cậu hướng mắt về phía cô.

"Mẹ sẽ tìm cách."

"Cách gì?"

"Mẹ không biết, được chưa?

Mẹ không biết.

Rồi sẽ có cách gì đó thôi.

Lúc nào chả thế."

Cô quay mặt đi tránh ánh mắt của con trai mình, và nhìn vô định về phía những dòng đèn pha song song đang rọi về phía cô.

Tiếng sấm như tiếng đại bác nổ trên đầu, bầu trời bừng sáng trở lại, và mưa bắt đầu rơi, thậm chí còn dày hạt hơn cả lúc trước.

Cô lấy chiếc điện thoại đã nát của mình ra từ túi ngoài ba lô, bật nó lên.

Điện thoại của cô chỉ còn có tám phần trăm pin, và khi cô chuẩn bị tắt nó đi, thì cô để ý thấy lịch trong điện thoại gửi cho cô một thông báo.

Đã được vài tuần rồi, nhưng cô vẫn không nỡ xóa nó đi.

Thông báoấy đơn giản chỉ là: Em bé hômnay tròn 25 tuổi.
 
Gia Đình Lầu Trên
3


Giống như cha tôi, tôi cũng tên là Henry.

Dù sự trùng lặp này thường gây ra hiểu lầm, nhưng vì mẹ tôi gọi cha tôi là anh yêu, em gái tôi gọi cha tôi là Ba, còn những người khác đều gọi ông là Ngài hoặc ông Lamb, nên chúng tôi cũng đã quen rồi.

Cha tôi là người duy nhất thừa kế khối tài sản mà cha ông để lại, tất cả đều từ máy đánh bạc mà ra.

Tôi không biết nhiều về ông nội tôi, ông có cha tôi khi tuổi đã cao, ngoài ra tôi còn biết ông quê ở Blackpool và tên ông là Harry.

Cả đời cha tôi không phải động tay động chân vào việc gì, chỉ ngồi chờ đến lúc Harry chết để ông có thể trở nên giàu có một cách chính thức.

Ông mua căn nhà mà chúng tôi đang ở trên phố Cheyne ở Chelsea ngay ngày đầu tiên ông được chạm tay vào số tiền thừa kế.

Ông đã đi "săn" nhà từ những ngày Harry còn hấp hối, và ông đã để mắt đến chỗ này được vài tuần rồi, chỉ sợ có người khác mua mất nó trước khi ông có thể đòi được quyền thừa kế.

Căn nhà này chẳng có gì khi cha tôi mua nó, ông đã phải mất đến vài năm và tiêu tốn hàng ngàn bảng để lấp đầy chỗ trống với những

thứ mà ông vẫn thường gọi là đồ đạc: những chiếc đầu nai sừng tấm lơ lửng trên tường, bộ kiếm săn treo chéo trước cửa, cái ngai bằng gỗ gụ với lưng tựa xoắn nhìn như bông lúa mạch, cái bàn tiệc kiểu Trung cổ đủ cho mười sáu người ngồi, lỗ chỗ sẹo và vết mối mọt, những chiếc tủ đựng đầy súng lục và roi da, tấm thảm dài sáu mét, những bức chân dung kỳ quái vẽ tổ tiên của người khác bằng sơn dầu, hàng đống sách bìa da mạ vàng mà chẳng ai đọc, và cả một khẩu đại bác cỡ lớn đặt ở khu vườn trước nhà.

Trong nhà không có một cái ghế nào thoải mái, cũng chẳng có góc nào ấm cúng cả.

Tất cả mọi thứ đều làm bằng gỗ, bằng da, bằng kim loại hoặc bằng thủy tinh.

Tất cả mọi thứ đều cứng nhắc.

Đặc biệt là cha tôi.

Ông tập tạ dưới tầng hầm và uống bia Guinness lấy ra từ két riêng của ông trong quầy bar cũng của riêng ông.

Ông mặc những bộ vest trị giá 800 bảng được may thủ công ở Mayfair nhưng lại chẳng vừa với cơ bắp và vòng bụng của ông.

Tóc của ông có màu như đồng xu cũ, tay của ông thô ráp, còn đốt ngón tay thì luôn đỏ ửng.

Ông lái một chiếc Jaguar.

Ông chơi golf mặc dù ông ghét bộ môn này, vì cơ thể của ông không phù hợp với việc vung gậy đánh golf; người ông quá cứng, quá thiếu linh động.

Cuối tuần ông thường đi săn: ông biến mất vào mỗi sáng thứ Bảy, với chiếc áo khoác vải tuýt bó sát, cùng một cái cốp xe tải chở đầy súng săn, và trở về vào tối Chủ nhật với đôi chim bồ câu rừng để trong thùng đá.

Một lần, khi tôi khoảng năm tuổi, cha tôi mang về nhà một con chó bull Anh mà ông mua lại của người đàn ông trên phố với tờ năm mươi bảng mới coóng ông cuộn trong túi áo.

Ông nói nó làm cho ông nhớ về chính bản thân mình.

Nhưng rồi nó ị lên tấm thảm cổ

của ông và ông tống khứ nó đi.

Mẹ tôi đẹp lạ thường.

Đó không phải là lời của tôi.

Mà là của cha tôi.

Mẹ con đẹp lạ thường.

Mẹ tôi lai hai dòng máu, một nửa Đức, một nửa Thổ Nhĩ Kỳ.

Bà tên là Martina.

Bà kém cha tôi mười hai tuổi, và hồi đấy, trước khi bọn họ dọn đến, bà là một biểu tượng thời trang.

Bà thường đeo cặp kính râm đen và đi đến để tiêu tiền của cha tôi vào những chiếc khăn lụa sáng bóng, những thỏi son có nắp bọc vàng, hay những lọ nước hoa Pháp thơm nồng nàn.

Nhiều khi bà còn được

người ta chụp ảnh lại, quanh cổ tay bà là những dây quai túi xách, và đăng lên những tạp chí thời trang.

Người ta gọi bà là .

Nhưng bà không hẳn là vậy.

Bà lui tới những bữa tiệc sang trọng và mặc những bộ trang phục lộng lẫy, nhưng khi ở nhà, bà chỉ là mẹ chúng tôi mà thôi.

Bà không phải là người mẹ tuyệt vời nhất, nhưng cũng không phải là người mẹ tồi tệ nhất, và dĩ nhiên, bà mang đến một điểm nhấn mềm mại, giữa căn biệt thự Chelsea to lớn, nam tính, đầy dao rựa của chúng tôi.

Có thời bà từng có một công việc, khoảng một năm gì đấy.

Bà giới thiệu những người quan trọng trong ngành thời trang với nhau.

Hay chí ít đó là ấn tượng của tôi.

Bà có tấm danh thiếp màu bạc nhỏ bà hay để trong ví, với dòng chữ "Nhóm cộng sự Martina Lamb" in màu hồng rực.

Bà có văn phòng trên phố Kings Road, trong căn gác xép sáng sủa phía trên một cửa hàng, với một chiếc bàn kính và một bộ ghế da, một cái máy đánh chữ, vài cái giá treo quần áo bằng nhựa trong suốt, cùng một bình hoa loa kèn trắng đặt trên cái bệ

đỡ.

Những hôm trường cho nghỉ, bà hay đưa tôi và em gái tôi đi làm cùng, rồi để cho chúng tôi chơi với một chồng giấy trắng đến kinh ngạc lấy ra từ trong hộp, và một tá bút màu Magic Markers.

Nhiều khi chuông điện thoại reo, mẹ tôi bắt máy và nói, "Xin chào, nhóm cộng sự Martina Lamb đang nghe."

Khi khác lại có khách gọi vào máy nội bộ, tôi và em gái tôi được một phen giành nhau xem đến lượt ai nhấn nút.

Các vị khách là những người phụ nữ giọng the thé, dáng người mảnh mai, lúc nào cũng chỉ muốn nói về quần áo và những người nổi tiếng.

Chẳng có "nhóm cộng sự" nào ở đây cả, chỉ có mình mẹ tôi, và thi thoảng có một hai cô gái ở độ tuổi thiếu niên, với đôi mắt mở to, đến để xin thêm kinh nghiệm làm việc.

Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra.

Tôi chỉ biết rằng văn phòng trên gác mái đã biến mất, những tấm danh thiếp màu bạc biến mất, và mẹ chúng tôi lại trở về với công việc nội trợ hằng ngày.

Tôi và em gái tôi học ở Knightsbridge, một ngôi trường có thể liệt vào hàng đắt nhất ở London.

Cha tôi hồi đó không hề biết tiếc tiền.

Ông thích tiêu tiền là đằng khác.

Càng nhiều càng tốt.

Đồng phục của chúng tôi vừa nâu nâu giống màu cứt, lại ngả màu vàng vàng như túi mật, con trai còn có thêm quần đũng rộng kiểu Cũng may, đến lúc tôi đủ tuổi để biết xấu hổ, thì cha tôi còn chẳng đủ tiền để trả học phí cho tôi nữa, chứ đừng nói đến việc mua cái quần nhung kiểu knickerbocker đó ở gian hàng đồng phục hiệu .

Mọi thứ diễn ra thật chậm, mà cũng thật nhanh, nhanh một cách khác thường, từ những thay đổi xảy đến với cha mẹ tôi, rồi đến căn nhà của chúng tôi, thậm chí cả cuộc sống của chúng tôi nữa, sau khi

họ đến.

Nhưng đêm đầu tiên đó, cái đêm mà Birdie đứng trước cửa nhà tôi với hai cái va-li lớn và một con mèo trong chiếc giỏ mây, chúng tôi không bao giờ đoán nổi những gì mà cô ta sắp sửa gây ra, những kẻ khác mà cô ta lôi kéo đến, và rằng mọi chuyện lại kết thúc như thế này.

Chúng tôi cứ nghĩ cô ta chỉ ở lại chơi cuối tuần mà thôi.
 
Gia Đình Lầu Trên
4


Libby có thể nghe thấy tiếng thì thầm của từng khoảnh khắc mà căn phòng này đã từng chứng kiến, cảm thấy từng hơi thở của những người đã ngồi trên cái ghế mà cô đang ngồi.

"Một nghìn bảy trăm chín mươi chín," ông Royle trả lời câu hỏi trước đó của cô.

"Đây là một trong những văn phòng luật lâu đời nhất ở thủ đô."

Giờ thì ông Royle nhìn cô từ phía bên kia cái mặt bàn phủ đầy sáp của ông.

Một nụ cười thoáng qua trên môi ông, và ông nói, "Ái chà chà chà.

Món quà sinh nhật này cũng ra tấm ra món đấy chứ, hả?"

Libby gượng cười lo lắng.

"Tôi vẫn chưa cảm thấy hoàn toàn bị thuyết phục rằng mọi thứ là thật," cô nói.

"Tôi vẫn mong ai đó nói với tôi rằng đây chỉ là trò đùa mà thôi."

Cách cô chọn từ trò đùa có vẻ không được thích hợp với bối cảnh cổ kính và trang nghiêm này.

Cô ước cô đã chọn cách diễn đạt khác.

Nhưng chắc ông Royle không để bụng cho lắm.

Ông vẫn nhoẻn miệng cười khi ông rướn người về phía trước và đẩy một chồng giấy tờ dày cộp sang cho Libby.

"Không có trò đùa nào đâu, cô Jones, tôi

có thể đảm bảo với cô điều đó."

"Đây," ông vừa nói vừa kéo thứ gì đó ra từ chồng giấy.

"Tôi không chắc liệu có nên đưa cho cô cái này bây giờ hay không.

Hay có lẽ tôi nên gửi nó cho cô.

Cùng với lá thư lần trước.

Tôi không biết nữa, làm thế nào thì cũng khó xử cả.

Nó nằm trong tập tài liệu, nhưng tôi giữ nó lại, vì nhỡ đâu lại có điều gì đấy không đúng.

Nhưng đây là điều tôi nên làm.

Nên đây.

Tôi không biết cha mẹ nuôi của cô đã kể cho cô những gì về cha mẹ đẻ của cô.

Nhưng có lẽ cô nên dành vài phút để đọc cái này."

Cô mở tờ báo ra và đặt nó lên bàn, ngay trước mặt mình.

Socialite và chồng chết trong một vụ tự tử tập thể

Thiếu niên trong nhà mất tích; bé sơ sinh vẫn còn sống

Hôm qua cảnh sát được triệu tập đến căn biệt thự ở Chelsea của cựu socialite Martina Lamb và chồng, ông Henry sau khi nhận được tin có một vụ tự tử tập thể ba người xảy ra ở đây.

Cảnh sát có mặt vào khoảng giữa trưa và tìm thấy thi thể của ông bà Lamb nằm cạnh nhau trên sàn bếp.

Một người đàn ông khác, hiện chưa xác định được danh tính, cũng được phát hiện đã chết.

Một bé sơ sinh, được cho là bé gái, khoảng mười tháng tuổi, được tìm thấy trong căn phòng trên tầng hai.

Hiện em bé đã được đưa vào cô nhi viện và có sức khỏe tốt.

Hàng xóm quan sát thấy trong mấy năm gần đây có

một vài đứa trẻ từng sống trong căn nhà này; ngoài ra cũng có nhiều báo cáo cho biết còn có những người lớn khác cũng từng sống ở đây, nhưng không có dấu vết nào khác được tìm thấy ở hiện trường.

Nguyên nhân của cái chết vẫn chưa được xác định, nhưng các mẫu xét nghiệm máu ban đầu cho thấy rất có thể ba người đã tự đầu độc.

Henry Lamb, 48 tuổi, là người thừa kế tài sản duy nhất của cha mình, ông Harry Lamb, người gốc Blackpool, Lancashire.

Những năm gần đây sức khỏe của ông Lamb giảm sút, có nguồn tin cho biết ông phải ngồi xe lăn.

Hiện cảnh sát đang rà soát khắp cả nước để tìm hai cháu bé được cho là con của cặp đôi này, một trai một gái, khoảng độ mười bốn đến mười sáu tuổi.

Bất kỳ ai có thông tin gì về tung tích của hai đứa trẻ xin liên hệ với lực lượng cảnh sát thủ đô trong thời gian sớm nhất có thể.

Bất kỳ ai đã sống ở căn biệt thự này trong những năm gần đây cũng được cảnh sát hết sức quan tâm.

Cô nhìn ông Royle chằm chằm.

"Vậy có phải...?

Đứa bé bị bỏ lại ấy, chính là tôi không?"

Ông ta gật đầu.

Cô thấy trong mắt ông hiện lên một nỗi buồn chân thật.

"Đúng rồi," ông nói.

"Một câu chuyện thật bi thảm, phải không?

Mà cũng còn quá nhiều uẩn khúc.

Ý tôi là, mấy đứa trẻ ấy.

Họ cũng có phần thừa kế trong ngôi nhà này, chỉ có điều không ai ra

nhận cả.

Có vẻ như họ đã...

à mà thôi."

Ông rướn người về phía trước, tay giữ lấy cà vạt, miệng cố gượng cười.

"Để tôi lấy cho cô cái bút nhé?"

Ông đưa cho cô một cái ống đựng đầy những chiếc bút bi trông có vẻ đắt tiền và cô nhón lấy một cái.

Trên thân bút in tên của văn phòng luật bằng chữ màu vàng.

Libby ngây người nhìn cây bút một hồi lâu.

Một anh trai.

Một chị gái.

Một vụ tự tử tập thể.

Cô khẽ lắc đầu; rồi sau đó cô hắng giọng và nói, "Cảm ơn ông."

Ngón tay cô siết chặt lấy cây bút.

Cô chẳng nhớ nổi chữ ký của mình trông như thế nào.

Trên mép của mỗi trang cô cần ký đều gắn những mẩu giấy ghi chú hình mũi tên, chỉ cho cô ký đúng chỗ.

Tiếng bút di trên giấy như thể cố giày vò thêm những nỗi đau.

Ông Royle hiền hậu nhìn, tay đẩy qua đẩy lại tách trà.

Khi đặt bút xuống ký, cô cảm nhận rõ ý nghĩa của giây phút này, giây phút mà cuộc đời cô bước ngoặt sang một trang mới.

Phía bên này chồng giấy là chuyến xe buýt đến siêu thị giá rẻ Lidl được lên kế hoạch kỹ lưỡng, một tuần đi du lịch mỗi năm, và chiếc ôtô Vauxhall Corsa mười một tuổi.

Phía bên kia là chìa khóa của căn biệt thự tám phòng ngủ ở Chelsea.

"Tốt," ông nói, thở phào nhẹ nhõm, cùng lúc Libby đưa lại cho ông tập giấy tờ.

"Tốt, tốt, tốt."

Tay ông lướt qua tập giấy, mắt tập trung vào những chỗ được đánh dấu bằng mẩu giấy ghi chú hình

mũi tên, rồi sau đó ngước lên Libby, miệng mỉm cười và nói, "Ổn thỏa cả rồi.

Tôi nghĩ đã đến lúc trao cho cô quyền sở hữu chiếc chìa khóa."

Ông lấy từ trong ngăn kéo ra một chiếc nhỏ màu trắng.

Trên túi có nhãn ghi "16 đường Cheyne".

Libby liếc mắt nhìn bên trong.

Ba chùm chìa khóa.

Một chùm có chiếc móc chìa khóa bằng kim loại có logo Jaguar bên trên.

Một chùm có chiếc móc chìa khóa bằng đồng, bên cạnh gắn thêm chiếc bật lửa.

Một chùm không có móc chìa khóa.

Ông Royle đứng dậy.

"Giờ chúng ta đi chứ?"

Ông nói.

"Chúng ta có thể đi bộ.

Nó ở ngay đây thôi."

Hôm ấy là một ngày mùa hè nóng dữ dội.

Libby cảm nhận được hơi nóng của những viên đá lát đường xuyên qua đế giày vải của cô, và cái nắng giữa trưa chói chang thiêu cháy những áng mây mỏng manh.

Họ bước xuống con phố đầy những nhà hàng tấp nập, tràn ra cả vỉa hè, với những chiếc bàn được bố trí trên từng chiếc bệ đặc biệt, dưới những chiếc dù che lớn hình chữ nhật để chắn ánh nắng mặt trời.

Vài tốp hai ba người phụ nữ đeo kính râm ngoại cỡ ngồi uống rượu.

Có vài người trạc tuổi Libby, và cô thấy lạ là làm sao họ có thể giàu đến nỗi không phải làm gì cả, và chỉ việc ngồi uống rượu trong một nhà hàng sang trọng vào một buổi chiều thứ Hai.

"Và," ông Royle nói, "tôi nghĩ đây rất có thể là những người hàng xóm mới của cô.

Nếu cô định sống trong căn nhà này."

Cô lắc đầu, miệng bật cười lo lắng.

Cô không có nổi một câu đáp lại.

Thật quá ngớ ngẩn.

Họ đi qua các cửa tiệm nhỏ, các quầy hàng đồ cổ chất đầy những bức tượng đồng hình con cáo con gấu, và những chiếc đèn chùm lấp lánh to như cái bồn tắm của cô.

Rồi họ tiến bước dần đến bên sông và Libby có thể ngửi thấy mùi của con sông trước khi cô nhìn thấy nó, thứ mùi ngai ngái giống như mùi lông chó ướt.

Những con thuyền lớn nối đuôi nhau; một con thuyền nhỏ hơn chở những người giàu có để lại những vệt bong bóng nước kéo dài phía sau, trên mạn thuyền có một chai rượu sâm-panh trong xô đá màu bạc, và một con chó golden retriever lông tung bay trong gió, mắt híp lại nhìn mặt trời.

"Nó ở ngay đây thôi," ông Royle nói.

"Khoảng một hai phút nữa là tới."

Hai má đùi của Libby đang chà xát vào nhau và cô ước gì hôm nay cô mặc quần soóc chứ không phải mặc váy.

Cô cảm thấy mồ hôi đang thấm vào trong lớp vải ở giữa áo ngực của cô, và cô thấy, ông Royle, trong bộ vest và chiếc áo sơ-mi bó sát, cũng đang khó chịu bởi cái nóng.

"Đến nơi rồi," ông Royle nói, đoạn hướng mặt về phía dãy năm hay sáu ngôi nhà gạch đỏ, kích thước khác nhau.

Libby đoán được ngay đâu là nhà của cô, trước cả khi cô kịp nhìn thấy số mười sáu cong cong sơn trên ô cửa sổ hình bán nguyệt.

Ngôi nhà cao ba tầng, rộng bốn cửa sổ.

Đẹp thật.

Nhưng, cũng giống như cô tưởng tượng, ngôi nhà có phần kín cổng cao tường.

Xung quanh ống khói và rãnh thoát nước cỏ dại mọc um tùm.

Thật chướng mắt.

Nhưng là một sự chướng mắt thật xinh đẹp.

Libby hít một hơi thật sâu.

"Ngôi nhà này rộng thật," cô nói.

"Đúng vậy," ông Royle nói.

"Mười hai phòng tất cả.

Không kể tầng hầm."

Ngôi nhà nằm cách khá xa vỉa hè, phía sau hàng rào chắn bằng kim loại được trang trí công phu và một khu vườn trồng hoa cỏ mọc um tùm.

Trước cửa chính có mái che bằng sắt được chạm trổ tinh xảo, và bên trái là một khẩu súng đại bác cỡ lớn đặt trên bệ bê tông.

"Cô cho tôi vinh dự này chứ?"

ông Royle chỉ tay vào chiếc ổ khóa trên tấm ván đóng trước cửa nhà.

Libby gật đầu và ông mở khóa, tay ông vòng qua tấm ván và nhấc nó lên.

Cái ván chắn cửa phát ra tiếng cót két rợn người, và đằng sau nó là một cánh cửa màu đen khổng lồ.

Ông xoa hai đầu ngón tay vào nhau, và đưa từng chiếc chìa khóa vào ổ theo trình tự, cho đến khi mở được cửa ra.

"Lần cuối có người ở trong ngôi nhà này là khi nào?"

Libby hỏi.

"Lạy Chúa, tôi nghĩ có khi phải vài năm rồi, khi nhà bị lụt.

Lúc ấy chúng tôi đã phải tìm thợ sửa ống nước khẩn cấp.

Sửa chữa một số thứ đồ bị hư hỏng.

Đại loại thế.

Chà, chúng ta ở đây rồi."

Họ bước vào hành lang.

Cái nóng ngoài trời, tiếng ồn ào của xe cộ, tiếng vọng của dòng sông, tất cả đều tan biến.

Trong nhà rất mát.

Sàn nhà lát gỗ màu tối nhạt, trên sàn đầy những vết nứt nẻ và bụi bặm.

Chiếc cầu thang phía trước có tay vịn xoắn thành hình bông lúa mạch, với một tô trái cây đầy tràn được chạm trổ trên đỉnh chiếc trụ cuối tay vịn lan can.

Trên cửa ra vào được chạm khắc hình vải lanh gấp, và có tay nắm cửa bằng đồng được trang trí công phu.

Các bức tường được ốp một nửa với gỗ sẫm màu, và dán giấy dán

tường màu đỏ rượu vang, trên có những mảng trụi lớn do bị bướm đêm cắn phá.

Không khí trong nhà đặc sệt, bụi bẩn bám dày.

Nguồn ánh sáng duy nhất đến từ những ô cửa sổ hình bán nguyệt phía trên cửa ra vào.

Libby rùng mình.

Trong nhà nhiều gỗ quá.

Mà lại không có đủ ánh sáng.

Không có đủ cả không khí nữa.

Cô cảm thấy như cô đang ở trong cái quan tài.

"Ông không phiền chứ?"

Cô đặt tay lên một trong những cánh cửa.

"Cô có thể làm bất cứ điều gì cô muốn.

Đây là nhà cô mà."

Cánh cửa mở ra một căn phòng hình chữ nhật dài ở đằng sau nhà với bốn cửa sổ nhìn ra bụi cây rậm rạp.

Lại thêm những ván gỗ ốp tường.

Cửa chớp cũng bằng gỗ.

Và sàn cũng lót gỗ nốt.

"Cái này dẫn đi đâu?"

Cô hỏi ông Royle, tay chỉ vào cánh cửa hẹp nép trên tường.

"Đấy là cửa cầu thang dành riêng cho người làm trong nhà.

Nó dẫn đến các phòng nhỏ hơn trên tầng áp mái, ở đầu cầu thang tầng hai còn có một cánh cửa cũng bị che khuất như thế này nữa.

Rất phổ biến ở những ngôi nhà cổ kiểu này.

Phòng được xây như những cái lồng chuột cảnh."

Họ đi quanh ngôi nhà, lên tất cả các tầng, khám phá từng phòng một.

"Vậy đồ đạc của họ đâu hết cả rồi?

Cả những vật dụng trong nhà nữa?"

Libby hỏi.

"Chẳng còn lại gì.

Gia đình này đã bán hết tất cả mọi thứ để sống qua ngày.

Cả nhà phải ngủ trên đệm.

Tự may cả quần áo nữa."

"Vậy nghĩa là họ không có tiền."

"Đúng vậy, tôi cho rằng thực ra thì họ không có tiền."

Libby gật đầu.

Cô chưa tưởng tượng ra được rằng cha mẹ đẻ của mình lại là những người không có tiền.

Tất nhiên cô cho phép mình tự tạo ra cha mẹ trong trí tưởng tượng.

Ngay cả những đứa trẻ là con ruột cũng tự tạo cha mẹ của riêng chúng trong trí tưởng tượng.

Trong trí tưởng tượng của cô, cha mẹ cô vừa trẻ trung lại vừa giao thiệp rộng.

Nhà của họ ở bên sông có cửa kính bao hai mặt tiền, xung quanh có sân hiên.

Cha mẹ cô còn nuôi cả chó nữa, hai con liền, cả hai đều là chó nhỏ, giống cái, cổ đeo kim cương.

Mẹ trong trí tưởng tượng của cô làm nghề quan hệ công chúng trong lĩnh vực thời trang, còn cha cô làm thiết kế đồ họa.

Khi cô còn bé, cha mẹ cô thường đưa cô đi ăn sáng, và đặt cô lên chiếc ghế ăn của trẻ con, chia nhỏ bánh cho cô, và chơi đá chân nhau dưới gầm bàn, nơi hai con chó nhỏ đang nằm cuộn tròn bên nhau.

Họ qua đời vì tai nạn giao thông, trên đường lái xe về nhà sau bữa tiệc cocktail.

Khả năng cao là vụ tai nạn ấy có liên quan đến một chiếc xe thể thao.

"Họ còn để lại gì nữa không?" cô hỏi.

"Ngoài lá thư tuyệt mệnh ra."

Ông Royle lắc đầu.

"Không, không có gì chính thức cả.

Nhưng có một thứ.

Khi cô được tìm thấy.

Có một thứ ở trong cũi của cô.

Tôi tin nó vẫn ở đây.

Trong phòng của cô khi cô mới sinh.

Chúng ta tới đó chứ...?"

Libby đi theo ông Royle đến căn phòng lớn ở ngay tầng hai.

Ở đây có hai khung cửa sổ lớn nhìn ra sông; không khí nặng nề và ứ đọng, ở những góc cao trên trần nhà có những tấm rèm phủ đầy bụi

và mạng nhện.

Có khoảng trống ở đầu bên kia căn phòng, và họ biến cái góc thành một căn phòng nhỏ, trông có vẻ như là phòng thay đồ, với ba chiếc tủ quần áo cao sát trần, các ngăn kéo được sơn màu trắng và trang trí đá cườm.

Ở giữa căn phòng là một chiếc cũi.

"Đó có phải...?"

"Đúng.

Đây chính là nơi họ tìm thấy cô.

Ai cũng bảo là cô lúc ấy cười ríu ra ríu rít, vui như tết."

Chiếc cũi có chức năng đung đưa, được thiết kế với đòn bẩy bằng kim loại để tiện đẩy qua đẩy lại, trên phủ lớp sơn màu kem sữa dày, điểm xuyết thêm những cánh hoa hồng màu xanh nhạt trang trí xung quanh.

Trước cũi gắn một huy hiệu nhỏ, trên có logo của Harrods.

Ông Royle với tay sang cái kệ trên tường và lấy ra một chiếc hộp nhỏ.

"Đây," ông nói.

"Người ta tìm thấy cái này trong chăn của cô.

Chúng tôi cho rằng, tất cả chúng tôi, cả luật sư lẫn cảnh sát, cho rằng cái hộp này dành riêng cho cô.

Cảnh sát giữ nó làm bằng chứng hàng năm trời, rồi họ gửi lại cho chúng tôi khi công cuộc điều tra rơi vào bế tắc."

"Có gì trong đó vậy?"

"Cô mở ra mà xem."

Libby lấy chiếc hộp các-tông nhỏ từ ông Royle, và mở nắp ra.

Trong hộp chứa đầy mảnh báo vụn.

Ngón tay cô cảm thấy thứ gì vừa rắn rắn, lại vừa mượt mượt.

Cô kéo nó lên và để nó treo lủng lẳng trên ngón tay mình.

Đó là bàn chân của một con thỏ gắn trên chiếc dây chuyền vàng.

Libby rùng mình và chiếc dây chuyền rơi

khỏi tay cô xuống sàn gỗ.

Cô cúi xuống nhặt nó lên.

Ngón tay cô mân mê bàn chân thỏ, cảm nhận cái lạnh của chết chóc trên bộ lông óng mượt, và cả đầu nhọn của móng chân.

Cô luồn tay qua chiếc dây chuyền.

Trong đầu cô một tuần trước chỉ có đôi xăng đan mới, buổi tối hẹn hò cùng hội chị em, những lọn tóc chẻ ngọn của cô, những cái cây trồng trong nhà mà cô cần tưới nước, giờ tâm trí cô đã bị lấp đầy bởi những người ngủ trên nệm, xác thỏ, và một ngôi nhà vừa to vừa đáng sợ, bên trong không có gì ngoài cái cũi bập bênh hiệu Harrods, được trang trí với những cánh hồng màu xanh nhạt kỳ quái.

Cô đặt cái chân thỏ lại vào trong hộp và ôm lấy nó một cách vụng về.

Sau đó cô chậm rãi đặt tay xuống chiếc nệm ở đáy cũi, cảm nhận tiếng vọng từ cơ thể bé nhỏ của cô đang say giấc nồng nhiều năm về trước, và bóng ma của người cuối cùng đã đặt cô xuống đây, đắp chăn cho cô, rồi nhét dưới chăn một chiếc chân thỏ.

Nhưng tất nhiên cô chẳng cảm thấy gì cả.

Chỉ là một chiếc giường trống trơn, đầy mùi ẩm mốc.

"Vậy hồi đó tôi tên gì," Libby hỏi.

"Có ai biết không?"

"Có chứ," ông Royle nói.

"Tên của cô được viết trong tờ giấy mà cha mẹ cô để lại.

Họ đặt tên cô là "

"Serenity?"

"Đúng vậy," ông nói.

"Cái tên đẹp đấy chứ.

Tôi nghĩ thế.

Có chút gì đó hơi... ."

Bỗng nhiên Libby cảm thấy ngột ngạt.

Cô chỉ muốn chạy ngay ra khỏi phòng, nhưng cư xử đồng bóng như vậy vốn không phải là tính cách của cô.

Thay vào đó cô nói, "Chúng ta có thể ra vườn bây giờ được

không?Tôi cần chút không khí."
 
Gia Đình Lầu Trên
5


Lucy tắt điện thoại.

Cô cần giữ pin điện thoại phòng trường hợp Samia gọi.

Cô quay sang phía Marco, thằng bé đang nhìn cô với ánh mắt dò hỏi.

"Gì thế?" cô hỏi.

"Cái tin nhắn kia là thế nào đấy ạ?

Trên điện thoại của mẹ ấy."

"Tin nhắn nào cơ?"

"Con thấy rồi.

Vừa mới đây thôi.

Cái tin nhắn viết Em bé hôm nay hai lăm tuổi ấy.

Nó có nghĩa là gì vậy mẹ?"

"Chẳng có nghĩa là gì cả."

"Tất nhiên là nó phải có nghĩa gì chứ."

"Không có gì đâu.

Con của bạn mẹ ấy mà.

Mẹ đặt lịch ở trên điện thoại nhắc là hôm nay cô bé ấy hai lăm tuổi.

Mẹ phải gửi tấm thiệp chúc mừng sinh nhật cho họ mới được."

"Bạn nào cơ?"

"Bạn mẹ ở Anh."

"Nhưng mẹ làm gì có bạn ở Anh."

"Tất nhiên là mẹ có bạn ở Anh rồi.

Mẹ lớn lên ở Anh mà."

"Nếu vậy thì tên cô ấy là gì?"

"Tên của ai cơ?"

Marco phát cáu.

Cậu rống lên, "Tên của bạn mẹ chứ còn ai nữa."

"Liên quan gì đến con?"

Cô gắt lại.

"Tất nhiên là liên quan rồi.

Mẹ là mẹ con và con muốn biết nhiều thứ về mẹ.

Con chẳng biết gì về mẹ cả."

"Nực cười.

Con biết nhiều về mẹ chứ."

Cậu mở to mắt nhìn cô, ngỡ ngàng.

"Con biết gì cơ?

Ý con là, con biết ông bà mất khi mẹ còn bé.

Con biết mẹ lớn lên ở London với bà dì, bà đưa mẹ sang Pháp, dạy mẹ chơi đàn violin và mất khi mẹ mười tám tuổi.

Con chỉ biết vắn tắt thôi.

Còn chi tiết thì con chẳng biết gì cả.

Như mẹ đi học ở đâu, rồi bạn mẹ là ai, mẹ thường làm gì vào cuối tuần, có kỷ niệm gì vui, hay cả những chuyện nhỏ nhặt nữa."

"Chuyện phức tạp lắm con," cô nói.

"Con biết là phức tạp chứ," cậu nói.

"Nhưng giờ con đã mười hai tuổi rồi mà mẹ cứ làm như con mới lên ba vậy.

Mẹ phải nói cho con biết với chứ."

Lucy nhìn con trai mình.

Nó nói đúng.

Giờ nó đã mười hai tuổi và nó không thích nghe chuyện cổ tích nữa.

Nó biết rằng cuộc đời không chỉ có năm cột mốc quan trọng, mà còn là những khoảnh khắc ở giữa những cột mốc ấy nữa.

Cô thở dài.

"Mẹ không thể," cô nói.

"Không phải lúc này."

"Vậy thì bao giờ?"

"Sớm thôi," cô nói.

"Khi nào mẹ con mình về London, mẹ sẽ kể hết cho con nghe."

"Vậy nhà mình sắp đi London ạ?"

Cô thở dài, tay vén tóc.

"Mẹ không biết.

Mẹ không có tiền.

Con với Stella lại không có hộ chiếu.

Lại còn con chó nữa.

Mọi thứ đều..."

"Bố," Marco nói, cắt ngang lời cô.

"Mẹ gọi bố đi."

"Không đời nào."

"Chúng ta có thể gặp ở chỗ công cộng mà.

Ông ấy sẽ không dám làm gì đâu."

"Marco.

Chúng ta còn không biết bố con ở đâu nữa kìa."

Giữa họ bỗng có một sự im lặng kỳ lạ.

Cô cảm thấy có điều gì đó khiến con trai cô đứng ngồi không yên.

Cậu quay đi, vùi mặt vào lông chó.

"Con biết."

Cô quay ngoắt lại, trừng mắt nhìn cậu.

Cậu chớp mắt.

"Ông ấy đón con đi học về."

"Khi nào vậy?"

Marco nhún vai.

"Một vài lần gì đấy.

Gần cuối học kỳ."

"Và con không nói cho mẹ biết?"

"Ông ấy bảo con không nên kể cho mẹ nghe."

"Mẹ kiếp, Marco, mẹ kiếp."

Cô nắm tay đấm xuống đất.

"Vậy chuyện gì đã xảy ra?

Hắn đưa con đi đâu?"

"Chẳng đi đâu cả.

Chỉ đi dạo với con thôi."

"Và?"

"Và gì nữa ạ?"

"Hắn nói những gì?

Hắn đang làm gì?"

"Chẳng làm gì cả.

Ông ấy đang nghỉ mát.

Với vợ mới."

"Và hắn đang ở đâu?"

"Thì ở đây thôi.

Ông ấy đã ở đây suốt cả mùa hè.

Vẫn cái nhà ấy."

"Cái nhà đấy?"

"Vâng."

"Chúa ơi, Marco!

Sao con không nói trước cho mẹ biết?"

"Vì con biết mẹ sẽ nổi đóa lên."

"Mẹ đâu có nổi đóa.

Nhìn mẹ đây này.

Có nổi đóa tí nào đâu.

Chỉ ngồi đây, trên cái nền đất cứng ướt nhẹp này, dưới chân cầu vượt, không có chỗ trú thân, trong khi cách đây một dặm bố con đang sống trong xa hoa sung sướng.

Tại sao mẹ lại phải nổi đóa lên cơ chứ."

"Con xin lỗi," cậu tặc lưỡi.

"Mẹ nói là mẹ không bao giờ muốn nhìn mặt ông ta nữa."

"Đó là khi mẹ không ngủ dưới chân đường cao tốc."

"Vậy có nghĩa là mẹ muốn gặp bố ạ?"

"Mẹ không muốn gặp hắn ta.

Nhưng mẹ cần thoát ra khỏi cái mớ bòng bong này.

Và hắn ta là sự lựa chọn duy nhất.

Chí ít thì hắn cũng có thể mua lại cây đàn violin giúp mẹ."

"À vâng, vì đến lúc ấy chúng ta sẽ trở nên giàu có, phải không mẹ?"

Lucy siết tay thành nắm đấm.

Con trai cô luôn kết luận những lời cô không muốn nghe, như thể tát vào mặt cô vậy, cho dù cô biết

điều ấy là đúng.

"Bây giờ đang là giữa tháng Bảy.

Tất cả các trường ở Anh và Đức đều được nghỉ.

Lượng khách du lịch đến đây sẽ gấp đôi.

Chẳng mấy chốc mà mẹ sẽ kiếm đủ tiền để đưa nhà ta sang Anh."

"Sao mẹ không bảo bố đưa tiền cho mẹ.

Như thế chúng ta sẽ đi được luôn.

Con rất muốn sang Anh.

Con muốn đi khỏi đây.

Mẹ chỉ cần bảo bố đưa tiền.

Có thế thôi mà tại sao mẹ không làm được?"

"Tại vì mẹ không muốn hắn ta biết là mẹ con mình sẽ đi đâu.

Không ai được biết cả.

Kể cả bà nội.

Được không?"

Cậu gật đầu.

"Được."

Cậu chống cằm xuống ngực và cô nhìn thấy một nhúm tóc mới mọc ở sau gáy cậu kể từ cái tuần mà họ không có nơi nào để đi.

Trái tim cô đau nhói.

Cô vòng tay ôm lấy cái cổ gầy gò của cậu, bóp nhẹ.

"Mẹ xin lỗi, con yêu," cô nói, "Mẹ rất xin lỗi, về tất cả mọi thứ.

Ngày mai mẹ sẽ đi gặp bố con và mọi thứ sẽ tốt hơn thôi, mẹ hứa."

"Đúng vậy," cậu ngắt lời, "nhưng sẽ chẳng có gì là bình thường cả, phải không?"

Không.

Cô nghĩ thầm.

Không.

Chắc là không rồi.
 
Gia Đình Lầu Trên
6


Birdie đã đến trước.

Birdie Dunlop-Evers.

Mẹ tôi từng gặp cô ta ở chỗ này chỗ kia.

Ở một bữa tiệc nào đó.

Birdie chơi đàn violin trong một nhóm nhạc tên là The Original Version, nhưng tôi không nghĩ họ nổi tiếng cho lắm.

Họ có một đĩa đơn nghe chói tai suýt đứng đầu bảng xếp hạng, và hai lần có tên trong danh sách bảng xếp hạng âm nhạc Top of the Pops.

Chẳng phải là tôi quan tâm gì lắm đến mấy thứ đó đâu.

Tôi chưa từng thích nhạc pop, và trào lưu thần tượng người nổi tiếng khiến tôi ghê tởm.

Cô ta đang ngồi trong bếp nhà tôi, uống trà trong chiếc tách màu nâu cũng của chúng tôi nốt.

Tôi hơi giật mình khi thấy cô ta ở đấy.

Một người phụ nữ với mái tóc mỏng, dài tới ngang hông, mặc quần của đàn ông, đeo thắt lưng, với áo kẻ sọc cùng dây nịt, ngoài khoác một chiếc áo choàng dài màu xám, tay đeo găng hở ngón màu xanh lục.

Cô ta trông thật lố bịch trong nhà tôi, tôi nghĩ.

Khách đến thăm nhà tôi đều mặc những bộ vest khâu bằng tay cùng áo satin cắt lệch; người họ thơm mùi kem cạo râu hiệu Christian Dior và nước hoa l'Air du Temps.

Birdie liếc mắt nhìn tôi khi tôi bước vào phòng.

Mắt cô ta nhỏ, màu xanh lam, trên lông mày kẻ một đường chì mỏng, miệng cô ta cứng, cảm tưởng như không khép lại được, để lộ ra hàm răng nhỏ, trên cái cằm yếu ớt, oằn lại dưới một khuôn mặt thiếu niềm vui.

Tôi nghĩ cô ta cười, nhưng không phải thế.

"Henry," mẹ tôi nói.

"Đây là Birdie!

Cái cô mà mẹ vẫn kể cho con nghe, chơi cho nhóm nhạc pop ấy."

"Xin chào," tôi nói.

"Xin chào," cô ta đáp lại.

Tôi không bắt nghĩa nổi cô ta.

Giọng cô ta nghe giống một bà hiệu trưởng, nhưng trông cô ta lại chẳng khác gì một kẻ ăn mày.

"Nhóm nhạc của Birdie muốn mượn nhà mình để quay video ca nhạc!"

Tôi phải thú nhận, lúc này tôi phải giả bộ là tôi không quan tâm cho lắm.

Tôi không nói gì, cố giữ mặt lạnh và đi thẳng đến hộp bánh quy trên bàn bếp để lấy phần ăn nhẹ sau giờ học hằng ngày.

Tôi chọn ra hai gói bánh quy Malted Milk và rót cho mình một cốc sữa.

Đến lúc đó và phải đến tận lúc đó tôi mới cất lời hỏi, "Khi nào vậy ạ?"

"Tuần sau," Birdie nói.

"Nhóm cô đã chọn được địa điểm trước rồi, nhưng chỗ đó bị lụt hay sao đó.

Phù.

Hủy ngay lập tức."

"Thế là mẹ bảo cô đây thăm nhà mình, để xem cô nghĩ thế nào," mẹ tôi tiếp lời.

"Và thế là cô ở đây."

"Và thế là cô ấy ở đây."

Tôi gật đầu lãnh đạm.

Tôi muốn hỏi khi nào thì nhóm nhạc của cô ta tới, và tôi có thể nghỉ học một ngày để giúp họ được không, nhưng tôi hồi đó, và cả tôi bây giờ chưa bao giờ là kiểu người nhiệt tình ra mặt vì bất cứ điều gì.

Thế là tôi chấm cái bánh quy của tôi vào sữa, y như cái cách mà tôi vẫn thường làm, đúng đến chữ T trên từ "Malted", giữa con bò sữa đứng và con bò sữa nằm, và tôi ăn trong im lặng.

"Tôi nghĩ nhà chị thật tuyệt vời," Birdie nói, tay chỉ xung quanh.

"Tốt hơn hẳn chỗ kia là đằng khác.

Hoàn hảo.

Tôi nghĩ sẽ có một số giấy tờ mà chúng ta phải ký," cô ta đảo mắt.

"Chị biết đấy, như mấy loại giấy miễn trừ trách nhiệm, v.v...

Trong trường hợp chúng tôi có nhỡ đốt nhà chị.

Hoặc cái đầu nai sừng tấm trên tường nhà chị rơi xuống đầu một thành viên trong ban nhạc của chúng tôi và anh ấy lại lăn ra chết chẳng hạn.

Đại loại thế."

"Tất nhiên rồi, tất nhiên rồi," mẹ tôi nói như thể bà hay phải ký giấy miễn trừ trách nhiệm cho những vụ tai nạn chết người liên quan đến đầu nai sừng tấm lắm không bằng.

"Cô nói có lý.

Và tất nhiên là tôi sẽ phải bàn bạc với chồng tôi trước.

Nhưng tôi biết là anh ấy sẽ vui vẻ chấp thuận thôi.

Anh ấy thích nhạc của cô lắm."

Riêng điều này thì tôi không chắc.

Cha tôi thích những bài hát cổ vũ bóng bầu dục rugby và những vở nhạc kịch tục tĩu.

Nhưng ông cũng thích gây ồn ào để thu hút sự chú ý, và ông thích ngôi nhà của mình, rồi cả những người thích nhà của ông, chắc ông cũng thích nốt.

Ít phút sau Birdie cáo lui.

Tôi để ý thấy trên bàn có một đống da khô ngay bên cạnh cốc của cô ta và tôi cảm thấy phát ớn.

Quá trình quay video kéo dài hai ngày liền và nó nhàm chán hơn tôi tưởng tượng rất nhiều.

Họ mất cả đống thời gian để chỉnh ánh sáng, và bắt những thành viên lôi thôi lếch thếch của nhóm lặp đi lặp lại một hành động.

Cả nhóm mặc bộ quần áo màu nâu giống nhau, trông có vẻ như chúng sắp bốc mùi, nhưng thực ra lại không có mùi gì cả, vì người phụ nữ với cái giá treo quần áo mang đồ diễn đến trong những chiếc túi treo trong suốt bằng nhựa.

Đến cuối ngày bài hát trong video đã dính chặt vào trong đầu tôi như một con ruồi bị mắc bẫy.

Bài hát ấy dở tệ, nhưng nó leo lên được vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng, và ở nguyên đó suốt chín tuần liền.

Video của bài hát được chiếu trên mọi màn hình ti-vi mà bạn bắt gặp, và nhà chúng tôi cũng ở đó, cho hàng triệu người cùng xem.

Riêng video thì hay.

Tôi phải công nhận điều đó.

Và tôi cảm thấy có chút hôi hộp khi khoe với mọi người rằng nhà chúng tôi ở trong video ấy.

Nhưng vài tuần trôi qua, cảm giác hồi hộp đó dần tan biến, vì rất lâu sau khi đoàn làm phim chuyển đi, rất lâu sau khi bài hát ấy không còn trên các bảng xếp hạng nữa, và rất lâu sau khi bài hát tiếp theo của nhóm cũng rời khỏi các bảng xếp hạng, Birdie Dunlop-Evers, với đôi mắt hạt cườm, và hàm răng bé xíu, vẫn ở trong nhà của chúng tôi.
 
Gia Đình Lầu Trên
7


Libby làm cho một công ty thiết kế nhà bếp đắt tiền.

Cô là trưởng bộ phận bán hàng, có trụ sở tại một phòng trưng bày ở trung tâm St Albans, gần nhà thờ lớn.

Cô có hai người quản lý bán hàng, và hai người trợ lý bán hàng làm việc dưới cô, và một phó giám đốc kinh doanh, một giám đốc kinh doanh cấp cao, một giám đốc điều hành làm việc trên cô.

Vậy là về mặt thăng tiến cô đã đi được nửa chặng đường, chặng đường mà cô đã dành toàn tâm toàn ý để cống hiến trong suốt năm năm vừa qua.

Trong đầu, Libby đã tự xây một cây cầu hướng đến cuộc sống mà cô hằng mong muốn khi cô bước sang tuổi ba mươi.

Khi cô ba mươi tuổi, cô sẽ trở thành giám đốc kinh doanh, và nếu cô không đạt được mục tiêu đó, cô sẽ chuyển đi nơi khác để được thăng chức.

Sau đó cô sẽ cưới một người đàn ông mà cô vẫn đang cố tìm, cả ở trên mạng lẫn trong đời thực, người đàn ông có đường râu rồng và một con chó và/hoặc một con mèo với một tên họ thú vị để cô có thể đặt bên cạnh họ của cô, Jones, một người đàn ông với lương tháng giống cô hoặc hơn, một người đàn ông thích ôm hơn là quan hệ tình dục, một người đàn ông có những

đôi giày đẹp, không xăm trổ trên người, có một bà mẹ đáng yêu, và có đôi bàn chân quyến rũ.

Người đàn ông ấy phải cao ít nhất một mét bảy mươi tám, nhưng tốt hơn hết là một mét tám mươi hoặc hơn.

Người đàn ông ấy không có gánh nặng gì về mặt tinh thần, có một chiếc xe tốt, bụng có múi, nếu không thì chỉ cần bụng phẳng thôi là cũng đủ rồi.

Người đàn ông ấy đến giờ vẫn chưa xuất hiện, và Libby nhận thức được rằng có thể cô đang đặt ra quá nhiều quy tắc.

Nhưng cô có đến tận năm năm để tìm anh ta và sau đó cưới anh ta, và thêm năm năm nữa để có một đứa con, thậm chí là hai, nếu cô thích đứa thứ nhất.

Cô không có gì phải vội cả.

Chưa đến lúc.

Cô sẽ tiếp tục , sẽ tiếp tục chăm chút cho bản thân thật đẹp khi đi ra ngoài, tiếp tục chấp nhận những lời mời tham gia các sự kiện xã hội, tiếp tục sống tích cực, tiếp tục duy trì vóc dáng, tiếp tục giữ vững phong thái, tiếp tục đi.

Trời vẫn nóng khi Libby dậy đi làm, mới chỉ tám giờ sáng mà những tia nắng ngũ sắc đã xuất hiện.

Cô để cửa sổ mở cả đêm khi ngủ, dù cô biết là phụ nữ không nên làm như thế.

Cô đặt một hàng cốc thủy tinh bên bệ cửa sổ, để nhỡ có người đàn ông nào xông vào, thì ít nhất cô còn biết.

Nhưng cô vẫn trằn trọc cả đêm, đến nỗi tấm ga trải giường xoắn lại thành một đống dưới người cô.

Mặt trời đánh thức cô dậy sau một giấc ngủ ngắn, chói tia laze qua khe hở bé xíu trên tấm rèm cửa, phút chốc đã hun nóng cả căn phòng.

Trong giây lát, cô cảm thấy mọi thứ đều bình thường.

Và rồi cô lại không cảm thấy thế nữa.

Suy nghĩ của cô quay ngoắt về những gì xảy ra ngày hôm qua.

Về lại căn nhà tối om với những ván

cửa chạm khắc hình vải lanh gấp, về lại lối cầu thang bí mật, cái chân thỏ, và những bông hồng màu xanh nhạt khắc trên cũi.

Điều gì đã xảy ra?

Liệu ngôi nhà ấy vẫn ở đó, hay nó đã biến thành cát bụi khi cô tỉnh giấc?

Sáng hôm đó cô là người thứ hai đến công ty.

Dido, trưởng phòng thiết kế, đã ngồi ở bàn làm việc, và kịp bật điều hòa lên.

Bầu không khí mát rượi làm dịu làn da đang nhễ nhại mồ hôi của Libby, nhưng cô biết chỉ nửa tiếng nữa thôi là cô sẽ thấy lạnh và ước gì cô mang theo một chiếc áo len mỏng.

"Chào buổi sáng," Dido nói, mắt vẫn dính vào bàn phím.

"Thế nào rồi?"

Hôm qua Libby đã tâm sự với Dido là cô cần một ngày nghỉ để đi gặp luật sư và bàn về chuyện thừa kế.

Cô chưa kể gì về chuyện cô được nhận nuôi, hay chuyện cô được thừa kế một ngôi nhà.

Cô chỉ nói là cô có một người họ hàng lớn tuổi, và bà ấy gợi ý rằng bà sẽ cân nhắc để cô được thừa kế vài trăm bảng.

Dido rất phấn khích khi nghe về chuyện Libby có khả năng được thừa kế vài trăm bảng, và Libby không chắc cô có thể đối diện được với phản ứng của Dido nếu cô kể cho Dido nghe sự thật.

Nhưng bây giờ, khi cô đã ở đây, và chỉ có hai người bọn họ, giữa buổi sáng thứ Ba, và phải đến tận cuối tuần cô mới gặp được người bạn thân nhất của cô, April, và cô chẳng có ai khác để tâm sự cả, cô lại nghĩ có khi cô nên kể cho Dido nghe, vì Dido hơn cô tận mười hai tuổi, biết đâu chị ấy lại có ý kiến gì đấy sáng suốt hay hữu dụng để giúp cô lý giải được cái tình huống dở khóc dở cười này.

"Em được thừa kế một ngôi nhà," Libby nói, đoạn đổ thêm nước

vào máy pha cà phê Nespresso.

"Ha ha," Dido nói, rõ là cô không tin những gì Libby nói.

"Không.

Thật đấy.

Nó ở Chelsea, cạnh sông."

"Chelsea, London á?"

Dido nói, miệng há hốc.

"Đúng rồi."

"Như trong á?"

"Đúng rồi," Libby nhắc lại.

"Ngay cạnh sông.

Nhà to lắm."

"Em đang đùa chị phải không?"

Libby lắc đầu.

"Không ạ," cô nói.

"Ôi Chúa ơi," Dido nói.

"Vậy có nghĩa là giờ em đã trở thành triệu phú?"

"Em đoán vậy."

"Và em vẫn ở đây, trong cửa hàng Northbone Kitchens, vào một buổi sáng thứ Ba, tỏ ra mọi chuyện vẫn bình thường?"

"Em vẫn đang cố thấm đây."

"Chúa ơi, Libby, nếu chị mà là em, chị sẽ đợi nó thấm bằng cách ngồi nhâm nhi rượu vang trong vườn biệt thự St Michael."

"Mới có chín giờ kém hai mươi thôi mà chị."

"Vậy thì uống trà.

Và gọi trứng Benedict ăn sáng.

Em còn ở đây làm cái quái gì thế?"

Libby cảm thấy những sợi chỉ đang bó chặt cô lại bỗng nới lỏng ra, đứt đoạn trước ý nghĩ cô không cần phải ở đây nữa, và những nấc thang vững chắc mà cô bấy lâu vẫn bằng sống bằng chết bám trụ nay đột nhiên tan biến trước đống tiền vàng, và mọi thứ không còn như trước nữa.

"Em mới biết ngày hôm qua thôi!

Em đã kịp bán đâu," cô nói.

"Có khi em còn không bán được nữa."

"Ừ, phải, vì chẳng ai lại muốn có một căn nhà ở Chelsea nhìn ra sông Thames cả."

Khoảng sáu đến bảy triệu bảng.

Đó là ước tính mà luật sư trả lời cô ngày hôm qua khi cô lấy đủ dũng khí để hỏi.

Trừ đi, ông nói, những khoản phí mà cô sẽ phải trả cho văn phòng luật của ông.

Và sau đó cô sẽ phải nộp thuế tài sản thừa kế.

Cô sẽ còn cho mình khoảng ba triệu rưỡi bảng, ông nói.

Tầm đó.

Ông đập tay cô.

Chắc ông nghĩ cô cũng xì tin như những người trẻ mà ông vẫn đọc trên báo.

Lúc đấy cô không cảm thấy thoải mái cho lắm.

"Hiện trạng nhà bây giờ không được tốt cho lắm," Libby nói, "đã thế còn có tiền sử xấu nữa."

"Tiền sử gì?"

"Vâng.

Có vài người chết ở đấy.

Có chút gì đấy mờ ám.

Vài người họ hàng xa."

Suýt nữa thì cô buột miệng kể về đứa bé bị bỏ lại trong cũi nhưng may là cô kịp ngưng mình lại.

"Không đời nào!"

"Vâng.

Em vẫn hơi sốc.

Vậy nên giờ em sẽ vẫn cố tỏ ra bình thường."

"Em sẽ vẫn tiếp tục bán tủ bếp ở đây?

Trên đất St Albans?"

"Vâng,"Libby nói, cảm thấy trạng thái cân bằng của cô bắt đầu trở lại, trước cái ýnghĩ sẽ chẳng có gì thay đổi.

"Em vẫn sẽ tiếp tục bán tủ bếp ở St Albans."
 
Gia Đình Lầu Trên
8


Hôm ấy Marco và Lucy ngủ trên bãi biển.

Khoảng hai giờ sáng trời tạnh mưa, họ thu gom đồ đạc, rồi đi bộ hai mươi phút qua thị trấn để đến Hai mẹ con trải thảm yoga trên nền đá ướt, lấy khăn xà rông quấn quanh mình, rồi ngồi ngắm những đám mây xám xịt đuổi nhau qua ánh trăng hồng, cho đến khi mặt trời ló dạng trên đường ranh giới mong manh giữa biển và trời.

Đến tám giờ sáng, Lucy gom hết chỗ xu còn lại ở đáy ví và trong ba lô để mua bánh sừng bò và một cốc cà phê.

Họ ngồi ăn trên ghế băng, đầu óc cả hai đều mụ mẫm vì thiếu ngủ và kiệt sức từ đêm qua.

Sau đó họ đi bộ qua thị trấn để đón Stella từ nhà Samia, và Samia cũng không buồn mời họ ở lại ăn trưa, cho dù lúc ấy cũng đã là giữa trưa rồi, và nhìn là biết đêm qua hai mẹ con không có giường để ngủ.

Bù lại Stella được tắm rửa và thay quần áo sạch sẽ, những lọn tóc mềm mại của con bé đã được chải và buộc lại gọn gàng bằng những chiếc kẹp bông màu hồng.

Khi ba mẹ con phải đi bộ lại phía thị trấn thêm một lần nữa, Lucy tự hỏi không biết mọi người có nghĩ là cô và Marco đã bắt cóc Stella hay không.

"Tôi có thể trông con bé thêm một đêm nữa," Samia nói, tay đặt lên vai Stella.

Lucy bắt gặp được khoảnh khắc vai Stella nhún nhẹ, đến nỗi khó mà nhìn thấy được, khi Samia đặt tay lên vai con bé, đầu nó khẽ lắc.

"Cảm ơn mẹ, nhưng con tìm được chỗ để ngủ lại đêm nay rồi."

Marco nhìn Lucy như thể cậu muốn thiêu đốt cô, vì cậu biết là cô đang nói dối.

"Nhưng con biết ơn mẹ rất, rất nhiều ạ.

Con nói thật đấy."

Samia nghiêng đầu.

Mắt bà nheo lại, im lặng phán xét Lucy.

Lucy nín thở, chờ bà buông lời đay nghiến diện mạo của cô, cách cô dạy con, hay đổ tại cô mà người con trai yêu quý của bà bỏ đi.

Nhưng thay vào đó Samia chậm rãi tiến tới cái bàn ở giữa hành lang và lấy từ trong túi xách ra một chiếc ví nhỏ.

Bà nhìn vào trong ví, kéo ra một tờ hai mươi euro, rồi đưa cho Lucy.

"Tôi chỉ có bằng đây thôi," bà nói.

"Không còn xu nào nữa."

Lucy nhận tiền rồi vươn người về phía Samia và ôm chầm lấy bà.

"Cảm ơn mẹ," cô nói.

"Cầu Chúa phù hộ cho mẹ."

Giờ thì ba mẹ con cô và con chó đang đi bộ dọc theo bờ Promenade des Anglais, dưới trời nắng như đổ lửa, với một bọc quần áo sạch mà họ mới mang về từ tiệm giặt đồ, và những cái bụng no kềnh vì bánh mì, pho mát và Coca-Cola.

Họ đi tới một trong vô số những khu nghỉ dưỡng sắp hàng dài trên các bãi biển ở Nice: câu lạc bộ Bleu et Blanc.

Lucy đã từng ăn ở đây, trong quá khứ.

Cô từng ngồi ở những chiếc bàn này với bố của Marco, nhâm nhi những khay hải sản tươi sống, tay cầm một ly sâm-panh hay rượu vang trắng pha với sô-đa,

tận hưởng những tia nước lạnh phun ra từ vòi nước tí hon.

Giờ thì họ sẽ chẳng nhận ra cô, những người bồi bàn già mệt mỏi trong những chiếc áo thun polo màu trắng và xanh, hợp mốt đến phi lý ấy.

Mười hai năm trước, cô đã từng là một vị khách mà ai ai cũng niềm nở đón chào.

Một người phụ nữ ngồi trên hiên trước cửa ra vào của nhà hàng.

Cô ta có mái tóc vàng hoe và nước da rám nắng, một kiểu tóc vàng rất riêng mà chỉ phụ nữ ở miền Nam nước Pháp mới có được.

Cô ta thờ ơ liếc nhìn Lucy, rồi quay sang nhìn Marco và con chó, trước khi quay mắt lại vào màn hình máy tính.

Lucy cố tỏ ra vẻ là cô đang đợi ai đó có hẹn với mình ở bãi biển, tay khum trên trán, mắt hướng về phía chân trời xa xa, cho đến khi người phụ nữ kia bị xao lãng bởi một nhóm năm người tới ăn trưa.

"Nào, nào," cô xuỵt xuỵt.

Cô ôm con chó vào trong vòng tay và đẩy Stella lên trước.

Tim cô lúc này đang đập loạn nhịp, trong khi chân cô thì vẫn cố di chuyển một cách bình tĩnh nhất có thể, sải bước trên nền sàn gỗ dẫn từ nhà hàng ra khu nhà tắm.

Mắt cô hướng thẳng về phía trước.

"Đi tiếp thôi," cô xuỵt xuỵt với Stella khi cô dừng lại một cách khó hiểu ở giữa đường.

Và cuối cùng thì họ cũng tới, khu nhà tắm u ám, ẩm thấp.

"Dành riêng cho khách của câu lạc bộ Bleu et Blanc," những tấm bảng đóng đinh trên bờ tường gỗ viết.

Nền bê tông dưới chân ướt nhoẹt, dính đầy cát, còn không khí bên trong thì hôi mùi ẩm mốc.

Lucy chỉ cho Stella đứng sang phía bên phải.

Nếu họ có thể đi từ cửa ra vào đến phòng tắm mà không bị phát hiện, thì ở đây họ sẽ

ổn thôi.

Và rồi họ bước vào.

Trong phòng tắm chẳng có ai cả.

Suốt tám ngày giờ cô với Marco mới được cởi quần áo ra.

Cô ném quần lót của mình vào sọt rác.

Cô chẳng bao giờ muốn mặc lại nó thêm một lần nào nữa.

Cô lôi từ trong ba lô ra một chai dầu gội và dầu xả, thêm một cục xà bông, và một cái khăn tắm.

Cô kéo con chó vào, lấy dầu gội chà lên bộ lông của nó, dưới đuôi, sau dây xích cổ, sau tai.

Con chó đứng yên không nhúc nhích, như thể nó biết là nó cần phải làm như thế.

Sau đó cô chuyển nó cho Stella đang đợi ở ngoài cửa.

Con chó rũ lông, bắn nước tung tóe lên người Stella, còn Stella thì đứng cười khúc khích.

Và rồi cuối cùng thì Lucy cũng được đứng dưới dòng nước ấm, để nó chảy qua đầu, xuống mắt và tai cô, rồi xuống dưới cánh tay, xuống chân và giữa những kẽ ngón chân, từ từ cảm nhận một tuần địa ngục vừa rồi tan chảy cùng với bụi, bùn và muối.

Cô gội đầu, ngón tay luồn qua luồn lại từng kẽ tóc cho đến khi tất cả sạch bong kin kít.

Sau đó cô đưa chai dầu gội sang buồng bên kia cho Marco.

Cô nhìn đống bọt xà bông của cả hai chảy qua cái kẽ ở giữa họ, xám xịt, buồn bã.

"Marco, con phải kì sau gáy kỹ vào," cô nói.

"Ghét đóng thành mảng ở đấy.

Và ở dưới nách nữa.

Kì nách kỹ vào."

Xong xuôi, họ ngồi xuống cạnh nhau trên một băng ghế gỗ, người quấn khăn tắm.

Qua kẽ hở giữa những mảnh gỗ, họ có thể nhìn thấy dòng người đi qua đi lại ở phía bên kia, cùng những mảnh trời xanh lấp lánh, và ngửi thấy mùi hương ấm áp của gỗ phơi dưới nắng, và mùi tỏi chiên.

Lucy thở dài.

Cô cảm thấy nhẹ nhõm, gần như là vậy, nhưng cô vẫn chưa sẵn sàng để làm điều tiếp theo.

Họ mặc quần áo sạch, dùng lăn khử mùi, Lucy bôi kem dưỡng ẩm lên mặt, rồi thoa kem chống nắng cho hai đứa con.

Cô lôi lọ nước hoa nhỏ trong túi đồ trang điểm ra, xịt vào khe ngực và phía sau tai.

Cô xoắn những lọn tóc còn ướt thành một cuộn ở phía sau đầu và kẹp lại bằng cái kẹp tóc bằng nhựa.

Cô nhìn mình trong gương.

Gần bốn mươi tuổi.

Vô gia cư.

Độc thân.

Không một xu dính túi.

Đến cô cũng không phải là chính cô.

Tên cô cũng là tên giả.

Cô chỉ là một bóng ma.

Một bóng ma còn sống, một bóng ma biết thở.

Cô chuốt mi, thoa lên môi chút son bóng, chỉnh cái mặt dây chuyền vàng của mình vào chính giữa phần khe ngực cháy nắng.

Cô nhìn các con cô.

Chúng mới xinh xắn làm sao.

Con chó nhìn cũng xinh.

Cả nhà đều sạch sẽ, thơm tho.

Ai cũng được ăn no.

So với mấy ngày qua, được thế này là tốt lắm rồi.

"Rồi," cônói với Marco, tay nhét đống quần áo bẩn vào ba lô và kéo khóa lại.

"Giờ thìmình đi gặp bố con thôi."
 
Gia Đình Lầu Trên
9


Tôi đã quan sát từ trên cầu thang được một thời gian, nên tôi biết.

Một người đàn ông với những lọn tóc xoăn màu đen, đội mũ rộng vành, mặc áo gió của công nhân, quần vải tuýt, ống nhét vào trong đôi bốt buộc dây cao cổ.

Những chiếc va-li cũ nhìn giống như đạo cụ từ những bộ phim ngày xưa, buộc cùng với chiếc giỏ mây cho con mèo bằng cái dây da đã mòn.

Và Birdie đứng ngay cạnh ông ta, mặc một chiếc váy trông không khác gì váy ngủ.

"Anh ơi!"

Tôi nghe mẹ tôi gọi cha tôi.

"Ra đây gặp Justin này."

Tôi nhìn cha tôi đi ra từ phòng khách.

Ông mặc một chiếc áo len xù màu xanh, miệng ngậm điếu xì gà.

"Vậy," ông nói, siết chặt tay người đàn ông kia, "anh là bạn trai của Birdie à?"

"Đối tác," Birdie chen vào.

"Justin là đối tác của tôi."

Cha tôi nhìn cô ta bằng cái cách mà ông vẫn nhìn khi ông nghĩ có ai đó đang cố tình làm ông trông giống một thằng ngốc, như thể ông đang cân nhắc có nên động tay động chân hay không.

Nhưng ánh mắt ấy lướt qua nhanh chóng, và tôi thấy ông cố gượng cười xí

xóa.

"Phải," ông nói.

"Tất nhiên rồi.

Hiện đại bây giờ người ta nói như thế, đúng không?"

Birdie nói với mẹ tôi rằng cô ta và đối tác của cô ta cần một chỗ để ở trong mấy ngày tới.

Chủ nhà cũ của họ đuổi họ ra ngoài vì họ nuôi mèo—có ai lại ngu đến nỗi mang một con mèo về mà không thèm kiểm tra xem hợp đồng thuê nhà có cho phép không cơ chứ?

Tôi chưa đến mười một tuổi và chưa bao giờ đi thuê nhà mà tôi còn biết điều đó—và Birdie trong tình huống này không có ai khác để trông cậy cả.

Giờ khi tôi đã trưởng thành, ngót nghét bốn mươi tuổi, tôi thường lặp lại điệp khúc này khi tôi cần nhờ vả ai đó làm điều gì cho tôi.

Tôi không còn ai khác để trông cậy cả.

Nó khiến người mà bạn đang cố thao túng không có sự lựa chọn nào khác.

Họ chỉ còn biết đầu hàng mà thôi.

Và đó chính là điều mẹ tôi đã làm.

"Nhưng nhà ta có quá trời phòng," bà nói khi tôi than thở về chuyện bà sắp xếp chỗ ở cho Birdie trong những ngày sắp tới.

"Với lại họ cũng chỉ nán lại đây có vài ngày thôi."

Thực ra, tôi nghĩ mẹ tôi chỉ muốn có một ngôi sao nhạc pop sống trong nhà.

Em gái tôi đi ngang qua tôi trên cầu thang, và dừng lại hít nhẹ một hơi khi nó thấy cái giỏ mèo ở hành lang.

"Nó tên là gì vậy ạ?" con bé hỏi, quỳ gối xuống để ngó qua tấm lưới sắt.

"Nó là mèo cái.

Tên nó là Suki," Birdie nói.

"Suki à," con bé nói, đoạn luồn đốt ngón tay qua thanh sắt.

Con mèo áp mình vào tay con bé, kêu grừ grừ.

Người đàn ông tên Justin xách chiếc va-li trông như đạo cụ sân khấu của ông ta lên và nói, "Chúng tôi nên để đồ ở đâu, Martina?"

"Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn một căn phòng đáng yêu cho hai bạn ở tầng trên cùng.

Các con, mau chỉ cho khách của nhà ta lối lên căn phòng màu vàng đi chứ?"

Em gái tôi chỉ đường cho họ.

Trước giờ con bé vẫn hòa đồng hơn tôi nhiều.

Tôi thấy người lớn có phần đáng sợ, trong khi em gái tôi lại rất thích họ.

Con bé đang mặc bộ đồ ngủ màu xanh.

Còn tôi mặc một chiếc áo choàng kẻ sọc và đi đôi dép nỉ xanh.

Lúc ấy đã gần chín giờ rồi, cũng là lúc mà chúng tôi sắp phải đi ngủ.

"Ơ," Birdie nói khi em gái tôi đẩy cánh cửa bí mật trên tấm ván gỗ mở ra lối cầu thang dẫn lên tầng trên cùng.

"Cháu đang dẫn bọn cô đi đâu thế?"

"Đây là lối cầu thang phía sau," em gái tôi đáp.

"Để lên căn phòng màu vàng."

"Ý cháu là lối cho người ở á?"

Birdie đáp lại khinh khỉnh.

"Vâng ạ," em gái tôi trả lời, nét mặt vẫn rạng rỡ, vì dù con bé chỉ nhỏ hơn tôi có một tuổi rưỡi, nó còn quá bé để hiểu rằng không phải ai cũng nghĩ việc được ngủ trong căn phòng bí mật ở trên đỉnh của lối cầu thang bí mật là một chuyến phiêu lưu thú vị; rằng có một số người cảm thấy bị xúc phạm vì họ nghĩ họ xứng đáng có được một căn phòng ngủ rộng rãi đúng nghĩa.

Ở trên đỉnh của lối cầu thang bí mật có một cánh cửa gỗ dẫn đến một hành lang dài và hẹp, bao quanh bởi những bức tường sần sùi, ọp ẹp, ở dưới là những miếng ván lát sàn nhà cong vênh, lắc lư, đi qua đó cảm giác như đi trên một đoàn tàu đang di chuyển.

Căn phòng màu vàng là căn phòng đẹp nhất trong bốn căn phòng ở trên đó.

Nó có ba cửa sổ ở trên trần, và một cái giường lớn, với vỏ chăn

màu vàng, tiệp với màu vàng của giấy dán tường hiệu Laura Ashley, cùng những chiếc đèn bàn hiện đại, và chụp đèn bằng kính màu xanh lam.

Mẹ chúng tôi đã chuẩn bị sẵn một bình hoa tulip đỏ và vàng.

Tôi quan sát nét mặt của Birdie khi cô ta nhìn ngắm khắp căn phòng, cằm miễn cưỡng vếch lên như thể muốn tỏ ra rằng: thôi cũng tạm được.

Chúng tôi để bọn họ ở lại đó, và tôi theo chân em gái tôi khi con bé chọn không đi qua lối cầu thang bí mật, mà băng qua phòng khách để đi xuống bếp.

Cha tôi đang mở nút chai rượu vang.

Mẹ tôi mặc chiếc tạp dề có diềm xếp xung quanh và trộn salad.

"Mấy người đó định ở đây bao lâu vậy ạ?"

Tôi buột miệng hỏi.

Tôi thấy mặt cha tôi thoáng sa sầm khi tôi không giấu nổi cái tính láo xược của mình.

"Ồ.

Không lâu đâu."

Mẹ tôi đóng nút chai giấm vang đỏ lại và đặt nó sang một bên, mỉm cười hiền hậu.

"Bọn con thức muộn một chút được không?" em gái tôi hỏi, lúc này nó chỉ tập trung vào điều nó muốn mà không buồn để ý bối cảnh bấy giờ.

"Đêm nay thì không được," mẹ tôi trả lời.

"Mai thì có thể, vì mai là cuối tuần."

"Và sau đó, họ sẽ đi phải không ạ?"

Tôi hỏi, khẽ đẩy cái ranh giới giữa tôi và sự kiên nhẫn của cha tôi.

"Sau cuối tuần ấy ạ?"

Tôi quay người lại khi cảm nhận được ánh mắt của mẹ đang lướt qua vai tôi.

Birdie đang đứng ở ngưỡng cửa, tay ôm con mèo.

Lông nó màu nâu pha trắng, mặt giống như mặt nữ hoàng Ai Cập.

Birdie nhìn tôi và nói, "Yên tâm đi nhóc, bọn cô sẽ không ở lại lâu đâu.

Chỉ

đến khi cô và Justin tìm được chỗ ở mới thôi."

"Tên cháu là Henry," tôi nói, ngỡ ngàng khi một người lạ đứng trong nhà tôi lại dám gọi tôi là "nhóc".

"Henry," Birdie lặp lại, nhìn tôi bằng cặp mắt sắc lẹm.

"Phải, tất nhiên rồi."

Em gái tôi hau háu nhìn con mèo và Birdie nói, "Cháu có muốn bế nó không?"

Con bé gật đầu và Birdie đặt con mèo vào tay nó.

Ngay lập tức con mèo xoay một trăm tám mươi độ như một mảnh dây chun co giãn và nhảy ra khỏi em gái tôi, để lại trên tay nó một vết cào đỏ lòm.

Tôi thấy mắt nó rơm rớm nước, nhưng miệng nó vẫn méo mó nặn ra một nụ cười dũng cảm.

"Con không sao đâu," nó nói, khi mẹ tôi lao ngay đến bên nó, đoạn lấy khăn ướt chấm chấm vào cánh tay.

"Henry, con đi lấy cho mẹ một ít thuốc sát trùng Germolene được không, ở trên tủ trong phòng tắm của mẹ ấy."

Tôi liếc mắt nhìn Birdie khi tôi đi qua, để cảnh báo cho cô ta biết rằng tôi đã thấy sự bất cẩn của cô ta khi cô ta đưa con mèo cho em gái tôi.

Cô ta đưa mắt nhìn lại tôi, mắt cô ta bé ti hí, đến nỗi tôi khó mà nhìn ra được xem chúng màu gì.

Tôi là một cậu bé kỳ lạ.

Giờ thì tôi thấy được điều ấy.

Tôi đã gặp những cậu bé giống tôi: ít cười, lúc nào cũng căng thẳng, thận trọng, hay đề phòng.

Tôi đoán Birdie cũng từng là một cô bé không giống ai.

Có lẽ cô ta nhận ra chính bản thân mình khi cô ta nhìn thấy tôi.

Nhưng tôi biết là cô ta ghét tôi, ngay từ buổi hôm ấy.

Điều đó rất rõ ràng.

Và nó đến từ cả hai bên.

Tôi lướt qua Justin khi tôi đi qua hành lang.

Tay ông ta cầm một hộp chocolate Black Magic móp méo, mặt có vẻ như đang không tìm thấy đường.

"Cha mẹ cháu đang ở hướng ấy à?"

ông ta hỏi, chỉ tay về phía bếp.

"Vâng," tôi đáp.

"Ở trong bếp.

Đi qua cái cửa tò vò đó."

Sau đó không lâu thì chúng tôi phải đi ngủ, em gái tôi lên giường với cánh tay bị băng bó, còn bụng tôi thì cứ bồn chồn.

Tôi nằm trong số những đứa trẻ cảm nhận được cảm xúc đang xâu xé trong ruột gan của mình.

Tôi nghe thấy tiếng chân họ sột soạt ở trên lầu.

Tôi kéo một chiếc gối lên đầu và quay đi ngủ.

Sáng sớm hôm sau khi tôi chạy xuống nhà, hộp Black Magic vẫn ở trên bàn bếp mà chưa có ai mở.

Tôi cảm thấy như có ai đó đang xúi giục tôi bóc lớp giấy bóng kính kia và mở nó ra.

Một hành động nổi loạn nho nhỏ hẳn có thể làm tôi cảm thấy khoái chí ngay lúc này, nhưng sẽ để lại hậu quả về lâu về dài.

Tôi nghe thấy có tiếng động sau lưng tôi và rồi thấy con mèo đang cố chui qua cánh cửa.

Tôi nghĩ về vết cào trên tay em gái tôi và điệu bộ tặc lưỡi sốt ruột của Birdie: "Chỉ là tai nạn thôi, con bé không bế con mèo đúng cách, chứ Suki không bao giờ cố ý cào ai cả."

Cơn giận bừng bừng bỗng trào lên trong tôi, tôi rít thật to và đuổi con mèo ra khỏi phòng.

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi đi học ngày hôm ấy, vì đó là một vài tiếng mà tôi được sống một cách bình thường.

Tôi vừa mới bắt đầu học kỳ cuối ở trường tiểu học.

Tháng tới là tôi tròn mười một tuổi, tôi là một trong những nam sinh bé nhất khối, và sau đó tôi sẽ chuyển đến ngôi trường lớn hơn, gần nhà hơn, và không phải mặc quần đũng rộng nữa.

Lúc ấy tôi rất chú trọng việc này.

Tôi đã trưởng thành hơn rất nhiều so với ngôi trường tôi đang học, trưởng thành hơn cả những đứa trẻ lớn lên cùng tôi nữa.

Tôi biết là tôi khác biệt.

Hoàn toàn khác biệt.

Không có ai ở đây giống tôi cả, tôi vẫn mơ được đi học ở trường lớn và tìm được những người giống mình.

Mọi thứ sẽ tốt hơn khi tôi chuyển sang trường lớn.

Tôi chỉ còn mười tuần nữa thôi, và một mùa hè buồn tẻ, nhưng sau đó mọi thứ sẽ bắt đầu.

Tôi khônghề biết, cũng không có một chút ý niệm nào, về chuyện cuộc đời tôi sẽ bước sangmột trang hoàn toàn mới vào cuối mùa hè năm ấy, và tất cả những thứ mà tôi hằngchờ đợi trong chốc lát bỗng biến thành những giấc mơ xa vời
 
Gia Đình Lầu Trên
10


Libby ngồi ở bàn bếp.

Cửa sau nhà cô mở ra sân, mặt trời lúc ngày tàn không còn chói chang nữa, nhưng ngồi bên ngoài vẫn quá nồm.

Cô quẳng đôi dép sang một bên ngay khi cô vừa bước vào nhà, đi chân trần, tay cầm một lon Diet Coke đổ vào một cốc đá.

Cô mở chiếc máy tính xách tay màu vàng đồng của mình ra, và mở trình duyệt Chrome.

Cô ngạc nhiên khi thấy thứ cuối cùng mà mình tìm kiếm bốn ngày trước, trước khi cô nhận được lá thư, trước khi mọi thứ bị đảo lộn.

Trên màn hình của cô là thông tin về những lớp học nhảy salsa gần chỗ cô ở.

Giờ cô khó có thể hình dung nổi lúc ấy cô đang nghĩ gì.

Cố tìm cái gì đấy để gặp gỡ đàn ông, chắc thế.

Cô mở một cửa sổ mới, và chậm chạp, run run gõ vào khung tìm kiếm từ khóa Martina và Henry Lamb.

Ngay lập tức cô tìm thấy đường liên kết dẫn đến một bài báo đăng trên tờ Guardian từ năm 2015.

Cô nhấp chuột.

Bài báo có tên: "Uẩn khúc đằng sau vụ án Serenity Lamb và chiếc Chân Thỏ."

Serenity Lamb, cô nghĩ, đó là tôi, chính là tôi.

Tôi là Serenity Lamb.

Nhưng tôi cũng là Libby Jones nữa.

Libby Jones bán tủ bếp ở

St Albans và muốn đi học nhảy salsa.

Serenity Lamb nằm trong cái cũi sơn bên trong căn phòng ốp gỗ ở Chelsea, với bàn chân thỏ nhét trong chăn.

Cô cảm thấy khó xác định nổi đâu là chỗ mà những lớp lang danh tính của cô chồng chéo lên nhau, cái này bỗng biến thành cái kia.

Có lẽ đó là lần đầu tiên mẹ nuôi cô ôm cô vào lòng, cô tưởng tượng ra thế.

Nhưng lúc đó cô đâu có cảm thấy gì.

Cô không nhận thức được sự biến đổi giữa Serenity và Libby, và từ đầu danh tính của cô bắt đầu xoay chuyển.

Cô nhấp một ngụm Coca, và bắt đầu đọc.
 
Gia Đình Lầu Trên
11


Ngôi nhà ở sơn màu của những cánh hoa hồng đã tàn: một màu đỏ tối, xám xịt, xen lẫn những cánh cửa chớp sơn màu xanh sáng.

Lucy đã từng sống trong căn nhà này, rất lâu về trước, khi cô kết hôn với bố của Marco.

Mười năm sau khi họ ly dị, cô vẫn không ép nổi mình gọi tên hắn.

Cảm giác nó đọng lại trên lưỡi cô, quấn vào môi cô, khiến cô buồn nôn.

Nhưng giờ cô đang đứng trước cửa nhà hắn, và tên hắn là Michael.

Michael Rimmer.

Có một chiếc Maserati màu đỏ đậm đỗ trước cửa nhà, chắc chắn là xe thuê, vì Michael không hề giàu như những gì hắn nghĩ.

Cô thấy mắt Marco dán chặt vào chiếc xe.

Cô có thể thấy sự khao khát không hề che giấu hiện ra trên nét mặt cậu, trong cách cậu nín thở, kinh ngạc.

"Không phải của bố con đâu," cô lầm bầm, "hắn thuê đấy."

"Sao mẹ biết?"

"Mẹ nhìn là mẹ biết, hiểu chưa?"

Cô siết chặt tay Stella, cố trấn an con bé.

Stella chưa bao giờ gặp bố của Marco, nhưng con bé đủ biết cô cảm thấy thế nào về hắn.

Họ

"Ông Rimmer có nhà không ạ?"

Lucy hỏi, cố nói giọng Anh chuẩn và rõ ràng nhất.

"Lucy," cô nói.

"Và Marco."

"Thưa ông Rimmer, có một quý cô ở đây tên là Lucy.

Và một cậu bé tên Marco."

Bà gật đầu.

"Được.

Vâng ạ.

Được.

Được."

Bà cúp máy và nhét điện thoại vào túi.

"Ông Rimmer bảo tôi đưa cô ra gặp ông ấy.

Đi thôi cô."

Lucy đi theo người phụ nữ bé nhỏ qua hành lang.

Vừa bước cô vừa cố quay mặt đi, để không phải nhìn thấy cái chân cầu thang đá, nơi Michael đẩy cô ngã khi cô mang bầu Marco bốn tháng, khiến cô gãy tay và nứt xương sườn.

Cô quay mặt đi để không phải nhìn thấy cái vết trên bức tường giữa hành lang, nơi Michael dập đầu cô liên tục vì hôm ấy hắn có một ngày tồi tệ ở cơ quan—hay đó là những gì hắn giải thích khi hắn cố ngăn cô đừng bỏ đi, vì hắn yêu cô rất nhiều, vì hắn không thể sống thiếu cô được.

Ôi, thật mỉa mai thay.

Vì giờ này hắn đã cưới người khác, và vẫn đang sống nhăn răng đó thôi.

Tay Lucy run lên khi họ tiến gần đến cánh cửa sau, cái cửa mà cô biết quá rõ, cái cửa hai cánh bằng gỗ to khổng lồ, mở ra khung cảnh

lộng lẫy của khu vườn nhiệt đới, nơi có những chú bướm đêm hút mật từ những bông hoa loa kèn và những khóm chuối mọc trong bóng râm, nơi có một thác nước chảy qua một hòn non bộ đầy hoa, xuống bể nước lấp lánh màu xanh thẳm nằm ở điểm cực nam, đắm mình trong nắng chiều.

Và hắn đây rồi.

Michael Rimmer đây rồi.

Hắn ngồi bên bàn cạnh bể bơi, một tai đeo tai nghe không dây, trước mặt hắn đặt một chiếc máy tính xách tay và hai chiếc điện thoại, cùng một chai bia nhỏ, tất cả tạo nên bức chân dung một doanh nhân bận rộn mà hắn đang cố vào vai.

"Lucy!" hắn gọi, nét mặt rạng rỡ, đứng phắt dậy, đoạn cố hóp cái bụng rám nắng của hắn lại, để che đi sự thật là giờ hắn đã bốn mươi tám tuổi, và hắn không còn cái thân hình săn chắc như tạc tượng của người đàn ông ba mươi tám tuổi khi cô bỏ đi mười năm trước nữa.

Hắn kéo tai nghe ra khỏi tai và tiến lại về phía cô.

"Lucy!" hắn gọi thêm lần nữa, lần này ấm áp hơn, cánh tay mở rộng.

Lucy giật bắn người.

"Michael," cô đáp lại dè dặt, di chuyển ra xa để giữ khoảng cách với Michael.

Hắn quay về phía Marco và dang tay ra ôm chầm lấy cậu.

"Thế là con kể cho mẹ có phải không?"

Marco gật đầu.

Michael giả vờ ném cho cậu một cái nhìn khinh bỉ.

"Và ai đây?"

Michael nói, hướng sự chú ý sang Stella, lúc này đang bám chặt lấy chân Lucy.

"Đây là Stella," Lucy nói.

"Con gái tôi."

"Chà," Michael nói.

"Xinh quá nhỉ.

Rất vui được gặp cháu, Stella."

Hắn chìa tay về phía Stella, và phải cố lắm Lucy mới không gạt Stella sang một bên.

"Và đây là?"

Hắn nhìn xuống con chó.

"Đây là Fitzgerald.

Hay còn gọi là Fitz cho ngắn."

"Đặt theo tên à?"

"Đúng vậy, theo tên F.

Scott."

Cô cảm thấy một luồng adrenaline chạy dọc sống lưng mình: ký ức về những phiên hỏi đáp mà hắn vẫn thường ép cô phải đối mặt, để cho cô thấy là cô ngu dốt và thiếu học, để cô thấy là cô không xứng đáng lấy được người như hắn, để cô thấy là cô đã may mắn như thế nào.

Nhưng tận sâu trong cô lúc nào cũng le lói một niềm tin bé nhỏ nhưng không bao giờ dập tắt, luôn nhắc để cô biết rằng hắn đã sai, rằng một ngày cô sẽ tìm thấy lối thoát và một khi cô ra khỏi đây rồi, cô sẽ không bao giờ phải nhìn lại.

Và giờ cô lại ở đây, lo lắng trả lời từng câu hỏi của hắn, đã thế còn chuẩn bị phải xin hắn tiền, gần như trở về đúng vạch đích mà cô đã từng xuất phát.

"Chà, chào Fitz nhé," hắn nói, tay vuốt cằm con chó.

"Dễ thương quá đi mất."

Rồi hắn lùi lại một bước và bắt đầu đánh giá gia đình nhỏ của Lucy, như cách mà hắn vẫn đánh giá cô khi hắn do dự không biết có nên trừng phạt cô hay không.

Khoảnh khắc mong manh đó có thể kết thúc bằng một tràng cười và một cái ôm, nhưng cũng có thể kết thúc bằng một ngón tay gãy, hay một vết tím bầm.

"Chà, chà, chà," hắn nói.

"Nhìn gia đình em mà xem.

Đáng yêu quá!

Để anh lấy cái gì cho em uống nhé?

Nước ép trái cây?"

Hắn nhìn Lucy.

"Cho bọn nhỏ nước ép trái cây có được không?"

Cô gật đầu và Michael ngước mắt nhìn lên bà giúp việc đang nép mình trong bóng râm ở sân sau nhà.

"Cô Joy!

Mang nước trái cây ra cho bọn nhỏ!

Cảm ơn cô!

Thế còn em thì sao Lucy?

Rượu hay bia?"

Lucy đã không động đến cồn mấy tuần nay rồi.

Lúc này cô chỉ muốn được uống ngay một cốc bia.

Nhưng cô không thể.

Cô phải giữ cho đầu óc tỉnh táo, ít nhất là trong nửa tiếng đồng hồ tới.

Cô lắc đầu.

"Thôi, cảm ơn anh.

Em uống nước trái cây là được rồi."

"Ba nước trái cây nhé, Joy.

Cảm ơn cô.

Và lấy thêm cho tôi một chai bia nữa.

À, mang thêm cả một ít khoai tây chiên giòn nữa.

Cái loại mà, ừm, nó gọi là gì ấy nhỉ, cô biết không, cái loại có gợn sóng ấy?

Tuyệt."

Hắn quay lại nhìn Lucy, mắt mở to, tỏ vẻ ngây thơ.

"Ngồi xuống đây, ngồi xuống đây."

Hắn xếp lại ghế, và họ ngồi xuống.

"Thế, Lucy Lou, dạo này em thế nào rồi?"

Cô nhún vai, mỉm cười.

"Anh biết đấy. vẫn vậy thôi.

Già đi.

Và khôn ra một chút."

"Và từ đó đến giờ em vẫn ở đây?"

"Đúng vậy."

"Em vẫn chưa quay trở lại Anh à?"

"Chưa."

"Và con gái em... bố nó?

Hai người đã kết hôn chưa?"

"Chưa," cô nhắc lại.

"Bọn em ở với nhau vài năm.

Rồi khoảng ba năm trước anh ta về Algeria để 'thăm họ hàng' và bặt tin từ đấy."

Michael nhăn mặt như thể chuyện bố Stella bỏ đi có thể so sánh được với những trận hành hung thể xác mà Lucy đã phải gánh chịu.

Một sự mỉa mai khó có thể chấp nhận.

"Khó thật," hắn nói, "Thế thì khó thật.

Vậy giờ em là mẹ đơn thân hả?"

"Vâng ạ.

Giờ em là mẹ đơn thân.

Đúng là như vậy."

Joy quay lại với cái một khay đầy, trên có một bình nước cam ướp lạnh, ba cái ly, dưới có ba cái đế lót ly, một cái bát nhỏ màu bạc đựng khoai tây chiên giòn, những miếng khăn giấy bé xíu, và vài cái ống hút.

Michael rót nước cam ra ly cho từng người, và mời bọn họ ăn khoai tây.

Hai đứa trẻ con vồ lấy cái bát khoai tây, ăn ngấu ăn nghiến.

"Từ từ thôi chứ," cô rít lên.

"Không sao đâu," Michael nói.

"Nhà anh có cả tá mấy cái thứ này.

Thế, giờ em sống ở đâu?"

"Đây đó, chỗ này, chỗ kia."

"Và em có còn chơi...?"

Hắn giơ tay lên giả bộ chơi đàn violin.

Cô cười nhạt.

"Ai dà, mấy tuần trước thì em có chơi đấy.

Cho đến một đêm khốn nạn có một thằng say rượu người Anh giật cây violin của em, để em phải mất đến nửa tiếng đồng hồ chạy đuổi theo hắn và mấy thằng bạn của hắn, xong hắn ném cây đàn của em qua một bức tường.

Em phải mang cây đàn đi sửa.

Chắc giờ người ta cũng sửa xong rồi.

Nhưng..."

Nói đến đây miệng cô khô khốc.

"Nhưng em không có tiền để lấy đàn về."

Hắn ném cho cô ánh nhìn ôi, khổ thân em, cái điệu bộ mà hắn vẫn nhìn cô sau mỗi lần hắn làm cô tổn thương.

"Bao nhiêu?" hắn hỏi, đoạn xoay người, và lấy tay kéo chiếc ví từ túi quần.

"Một trăm mười euro," cô ngập ngừng.

Cô nhìn hắn rút tiền ra.

Hắn gấp tiền lại và đưa cho cô.

"Đây," hắn nói.

"Cho em thêm một ít.

Với cả nhớ đưa con trai anh đi cắt tóc."

Hắn lại xoa đầu Marco.

"Và cả em nữa."

Và rồi ánh mắt ấy xuất hiện, cái ánh mắt đáng sợ, tối tăm, đầy thất vọng, khi hắn liếc nhìn mái tóc cô.

Em đã buông thả bản thân mình.

Em đã không cố gắng.

Làm sao hồi ấy tôi có thể yêu em được.

Em.

Không.

Làm.

Được.

Cái.

Chết.

Mẹ.

Gì.

Cả.

Cô nhận lấy tiền từ tay hắn, và khi đưa tay ra cô có thể cảm thấy hắn đang giật tờ tiền lại bằng một động tác rất nhẹ, chỉ đủ để ám chỉ một trò chơi thao túng và quyền lực bệnh hoạn.

Hắn mỉm cười và nới lỏng tay.

Cô bỏ tiền vào trong túi xách và nói, "Cảm ơn anh.

Em rất cảm kích.

Mấy tuần nữa có tiền em sẽ trả lại anh.

Em hứa."

"Không," hắn nói, đoạn ngả người ra đằng sau, hai chân dang rộng ra một chút, nở nụ cười nham hiểm.

"Anh không cần em trả lại anh tiền.

Nhưng..."

Sống lưng Lucy bỗng nhiên lạnh buốt.

"Hứa với anh một điều."

Nụ cười trên môi cô đông cứng lại.

"Anh muốn được thấy em nhiều hơn.

Ý anh là, anh muốn được gặp mẹ con em.

Em và Marco nữa.

Và tất nhiên là cả cháu nữa."

Hắn chuyển ánh nhìn đầy sát khí sang Stella, nháy mắt với cô bé.

"Anh sẽ ở đây cả mùa hè.

Cho tới giữa tháng Chín.

Việc này việc kia.

Em biết đấy."

"Còn vợ anh thì...?"

"Rachel phải quay về.

Cô ấy có công việc quan trọng ở Anh."

Hắn nói, giọng khinh bỉ.

Rachel có thể là một bác sĩ phẫu thuật thần kinh, hay là một chính trị gia, và tất cả những gì Lucy biết là cô ấy nắm giữ sinh mạng cả trăm, thậm chí cả ngàn người ở trong tay.

Nhưng đối với Michael, bất cứ thứ gì phân tán sự chú ý của người phụ nữ ra khỏi hắn, dù chỉ là trong giây lát, đều là những thứ thảm hại.

Kể cả đó có là con hắn đi chăng nữa.

"Ồ," cô nói.

"Tiếc thật."

"Cũng không hẳn," hắn nói.

"Anh cần không gian cho riêng mình.

Đoán xem giờ anh đang làm gì...?"

Lucy lắc đầu, mỉm cười.

"Anh đang viết sách.

Thực ra là một cuốn hồi ký.

Hoặc có thể là cả hai.

Một kiểu bán tự truyện.

Anh cũng chưa biết."

Lạy Chúa, trông hắn mới tự mãn làm sao, Lucy nghĩ, như thể hắn muốn cô phải thốt lên, ôi wow, thật tuyệt Michael, anh giỏi quá đi.

Thay vào đó cô chỉ muốn cười vào mặt hắn và nói, hả, anh mà cũng viết sách ấy hả?

Anh có đang nói chuyện nghiêm túc không vậy?

"Tuyệt đấy," cô nói.

"Chắc anh phải thấy hứng thú lắm."

"Nên thế, đúng vậy.

Nhưng cũng có nhiều thời gian chết lắm, nên nhiều khi anh cũng tự hỏi mình.

Vậy nên anh mới nói anh muốn được thấy mẹ con em nhiều hơn.

Qua chơi một chút.

Tận dụng cái hồ bơi ở đây nữa."

Lucy đưa mắt nhìn theo hắn, hướng về phía bể bơi.

Cô cảm thấy khó thở, phổi của cô cứ nở ra rồi lại co lại, còn tim cô thì đập mạnh, khi cô nhớ lại những lần cô úp mặt dưới làn nước màu xanh lam kia, lực nhấn của tay hắn trên đỉnh đầu cô.

Hắn ấn cô xuống.

Hắn ấn

cho đến khi phổi cô sắp nổ tung ra.

Rồi đột nhiên hắn thả tay ra, để kệ cho cô nổi lềnh bềnh, ngạt thở, sặc nước, trong khi hắn nhảy ra khỏi bể bơi, túm lấy chiếc khăn trên ghế tắm nắng rồi quấn quanh mình, và thản nhiên bước vào nhà mà không buồn ngoái lại.

"Anh đã có thể giết chết em," sau đó hắn nói.

"Nếu anh muốn.

Em biết điều đó chứ, phải không?

Lúc đó anh đã có thể giết em rồi."

"Vậy tại sao anh không làm?" cô hỏi.

"Bởi vì anh không muốn phải bận tâm."

"Chà," giờ cô nói, "cũng có thể.

Nhưng mùa hè này mẹ con em bận nhiều việc lắm."

"Hẳn rồi," hắn nói với vẻ kẻ cả.

"Anh chắc là em rất bận."

"Anh biết không," cô nói, quay lại nhìn ngôi nhà, "em vẫn nghĩ là anh đã bán căn nhà này rồi cơ.

Mấy năm qua em thấy có người khác sống ở đây."

"Anh cho thuê nhà mỗi dịp có kỳ nghỉ," hắn nói.

Cô nghe thấy có chút gì đó xấu hổ trong giọng hắn, trong ý nghĩ rằng một người sáng láng, xuất sắc, thành công, giàu có như Michael Rimmer lại có ngày phải hạ thấp mình để mang căn biệt thự nghỉ dưỡng ở Antibes cho người lạ thuê.

"Có vẻ phí," hắn thanh minh, "nếu cứ để không như thế mãi.

Trong khi những người khác có thể tận hưởng căn nhà này."

Cô gật đầu.

Hãy cứ để hắn giữ lấy lời nói dối nhỏ bé đáng thương của mình.

Hắn ghét "người lạ".

Hắn sẽ phải thuê người sát khuẩn từ trên xuống dưới trước khi hắn có thể đối mặt với việc quay lại ngôi nhà.

"Chà," cô nói, quay sang cười với bọn trẻ, "Em nghĩ đã đến lúc mẹ con em phải lên đường thôi."

"Không," Michael nói.

"Ở lại đây thêm chút nữa.

Tại sao không chứ?

Anh có thể mở một chai rượu hay mời em cái gì đó.

Bọn trẻ con có thể xuống hồ bơi chơi té nước.

Sẽ vui lắm đấy."

"Cửa hàng nhạc cụ sắp đóng cửa mất rồi," cô nói, cố để không tỏ ra lo lắng.

"Em cần phải đến lấy đàn bây giờ, để tối nay em còn đi làm.

Nhưng cảm ơn anh.

Cảm ơn anh rất nhiều.

Các con, các con phải nói gì nào?"

Hai đứa trẻ con nói cảm ơn và Michael tươi cười nhìn theo chúng.

"Các con của em xinh," hắn nói, "rất xinh đấy."

Hắn tiễn họ ra cửa trước.

Trông hắn như muốn ôm Lucy đến nơi, và Lucy nhanh chân quỳ gối xuống để chỉnh xích cổ cho con chó.

Michael đứng ở ngưỡng cửa nhìn theo họ, đằng sau cái mui của chiếc xe lố bịch đậu trước nhà, nụ cười vẫn nở trên môi.

Trong một khoảnh khắc, Lucy thấy phát ốm.

Cô dừng lại, thở dốc.

Và ngay lúc đó, trước khi họ chuẩn bị rẽ qua một góc phố, con chó đột nhiên ngồi xổm xuống, và thả một bãi phân sát cạnh tường nhà Michael, ngay trên con đường ngập nắng chiều.

Lucy lục ba lô tìm túi nylon để chuẩn bị dọn.

Nhưng rồi cô dừng lại.

Khoảng một tiếng nữa bãi phân này sẽ được nướng nóng hôi hổi và sôi sùng sục như miếng phô mai mềm.

Đây sẽ là thứ đầu tiên hắn nhìn thấy khi hắn ra khỏi nhà.

Không chừng hắn còn giẫm lên nó cũng nên.

Và thế là cô để nó ở đó.
 
Gia Đình Lầu Trên
12


Thứ Bảy này Libby được mời đến nhà một người bạn để ăn tiệc nướng.

Cô đã mong chờ đến dịp này từ rất lâu rồi.

Bạn cô, April, nói với cô rằng cô ấy sẽ mời một "anh chàng hợp gu ở chỗ làm.

Tớ nghĩ là cậu sẽ thích anh ấy lắm đấy.

Tên anh ấy là Danny."

Nhưng rồi thứ Bảy đến.

Đó lại là một ngày nắng nóng, trời xanh vắt, và những tấm kính trên cửa sổ đã nóng rực lên khi cô chạm tay vào để mở chúng ra.

Libby không có hơi sức đâu để mà nghĩ về anh chàng Danny nóng bỏng, hay món cay nổi tiếng của April, hay việc ngâm chân trong một cái bể bơi cao su, nhâm nhi ly cocktail Aperol Spritz màu da cam lóng lánh trên tay.

Cô không có hơi sức mà suy nghĩ về bất kỳ điều gì khác ngoài vụ án bí ẩn của Serenity Lamb và cái chân thỏ.

Cô nhắn tin cho April.

Tớ rất rất rất xin lỗi.

Chúc cậu có một ngày thật vui nhé.

Nhắn tớ nếu cậu vẫn "quẩy" tối nay, đến hoàng hôn tớ sẽ qua nhậu cùng.

Sau đó cô đi tắm và mặc bộ áo liền quần in họa tiết nhiệt đới, đeo đôi xăng đan hở ngón bằng da màu vàng, bôi kem chống nắng

lên tay và vai, gài kính râm lên đầu, kiểm tra chìa khóa nhà trong túi xách, và lên tàu đi London.

Libby cắm chìa vào ổ khóa trên tấm pano gỗ và vặn nó ra.

Móc khóa trượt mở, và cô cắm một cái chìa khóa khác vào cửa chính.

Cô nửa tin nửa ngờ là sẽ có một bàn tay nào đó đặt lên vai cô, một ai đó hỏi cô đang làm gì, và liệu cô đã được cho phép tự ý mở cửa với những chiếc chìa khóa kia hay chưa.

Rồi cô bước vào căn nhà.

Đây là nhà của cô.

Và cô chỉ có một mình.

Cô đóng cánh cửa đằng sau cô lại, tiếng xe cộ ngoài đường biến mất ngay lập tức; cảm giác nóng ran sau gáy cô cũng dịu dần.

Trong giây lát, cô đứng yên bất động.

Cô tưởng tượng ra hình ảnh cảnh sát đứng ở đây, ngay chỗ cô đang đứng lúc này.

Họ đội những chiếc mũ bảo hiểm kiểu cũ.

Cô biết họ trông như thế nào vì cô đã nhìn thấy họ trong bài báo đăng trên tờ Guardian.

Sĩ quan Ali Shah và John Robbin.

Lúc đó họ đang lần theo cuộc gọi ẩn danh đến từ "một người hàng xóm lo lắng".

Người hàng xóm ấy chưa bao giờ được tìm ra.

Cô đi theo những bước chân một thời của Shah và Robbin vào trong bếp.

Cô cảm giác như lúc này mùi hôi thối ấy đang bốc lên càng lúc càng nồng nặc hơn.

Sĩ quan Shah hồi tưởng lại tiếng ruồi nhặng bay.

Anh nói anh đã tưởng có ai đó để tông đơ đang chạy, hoặc là một chiếc bàn chải điện.

Ba thi thể, họ nói, đang ở trong những giai đoạn phân hủy đầu tiên, nên họ vẫn có thể nhận diện được một người phụ nữ xinh đẹp, tóc tối màu, trạc tuổi ba mươi, và một người đàn ông lớn tuổi hơn,

tóc hoa râm.

Tay họ nắm lấy nhau.

Nằm bên cạnh là xác của một người đàn ông khác.

Khoảng bốn mươi tuổi.

Cao.

Tóc sẫm màu.

Cả ba đều mặc đồ đen: người phụ nữ mặc áo dài và quần bó, hai người đàn ông mặc cái gì đó trông như áo chùng.

Tất cả những vật dụng được phát hiện đều là đồ tự chế.

Sau đó họ tìm thấy một chiếc máy khâu ở căn phòng phía sau, và vài tấm vải dư màu đen ở trong một cái thùng.

Ngoài tiếng ruồi vo ve ra, cả căn nhà im ắng như chết lặng.

Cảnh sát cho biết họ đã không hề nghĩ đến việc đi tìm một đứa trẻ nếu như tờ giấy trên bàn ăn không đề cập đến cô bé.

Suýt chút nữa là họ bỏ qua phòng thay đồ trong phòng ngủ chính, nhưng rồi họ nghe thấy một tiếng "u ơ", sĩ quan Shah kể lại.

Một tiếng "u ơ".

Libby chậm rãi bước lên cầu thang và đi vào phòng ngủ.

Cô liếc vào góc cửa nối sang phòng thay đồ.

Và cô đã ở đó!

Xinh quá đi mất!

Sĩ quan Robbin đã nói như thế.

Xinh quá đi mất thôi!

Cô nổi da gà khi thấy chiếc cũi.

Nhưng cô cố vượt qua nỗi khó chịu, ép mình phải nhìn chằm chằm vào nó cho đến khi cô không còn thấy mẫn cảm nữa.

Sau một lúc thì cô cảm thấy bình thường, đủ can đảm để tự đặt tay được lên cái cũi.

Cô tưởng tượng hai người cảnh sát trẻ đang nhìn xuống cũi.

Cô tưởng tượng ra chính mình, mặc bộ áo liền quần màu trắng tinh, và dù chỉ mới mười tháng tuổi tóc cô đã mọc kín đầu, lọn nào lọn nấy xoăn tít như chân đạp thích thú khi thấy những khuôn mặt thân thiện đang ngắm nhìn cô.

"Cô bé muốn đứng dậy," Robbin nói.

"Cô bé cứ lấy tay với lên thành cũi.

Như thể muốn được ai đó bế ra vậy.

Chúng tôi không biết phải làm gì.

Cô bé là bằng chứng của vụ án.

Liệu chúng tôi có nên động vào cô bé không?

Chúng tôi có nên gọi thêm người đến hỗ trợ không?

Chúng tôi thực sự rất bối rối."

Cuối cùng dường như họ quyết định không bế cô lên.

Sĩ quan Shah hát ru cô trong khi họ chờ lệnh xem họ nên làm gì tiếp theo.

Libby ước gì cô nhớ được ngày hôm ấy; nhớ những bài hát mà anh đã hát cho cô nghe, người sĩ quan trẻ tốt bụng ấy.

Liệu anh có thích cảm giác hát cho cô nghe không?

Anh có thấy xấu hổ không?

Theo bài báo, sau này anh cũng có năm đứa con của riêng mình, nhưng khi tìm thấy Serenity Lamb trong cũi, anh không có kinh nghiệm gì với trẻ sơ sinh cả.

Sau đó một đội đặc vụ đã nhanh chóng có mặt ở hiện trường, trong đó có cả một sĩ quan đặc biệt đến để đón đứa bé.

Bà tên là Felicity Measures.

Lúc ấy, bà bốn mươi mốt tuổi.

Bây giờ bà đã sáu mươi lăm tuổi và mới nghỉ hưu, hiện đang sống ở Algarve với người chồng thứ ba.

"Cô bé rất dễ thương," bài báo trích lời bà.

"Tóc vàng xoăn, được ăn uống đầy đủ và chăm sóc cẩn thận.

Rất hay cười và rất thích nựng.

Có vẻ không hợp lý cho lắm khi căn cứ vào hiện trường cô bé bị bỏ lại.

Căn nhà này rất u ám.

Vâng, thực sự là nó rất, rất u ám."

Libby đẩy chiếc cũi và nó kêu cọt kẹt đến thảm hại, chứng tỏ là nó cũng đã rất cũ rồi.

Nó được mua cho ai?

Cô tự hỏi.

Có phải cho cô không?

Hay cả thế hệ trước cô nữa?

Vì giờ cô biết trong câu chuyện của cô còn có những nhân vật khác.

Không chỉ có mỗi

Martina và Henry Lamb, và người đàn ông bí ẩn.

Không chỉ có những đứa trẻ bị mất tích.

Hàng xóm đã nói không chỉ có hai, mà có "rất nhiều" đứa trẻ, và cả những người khác nữa "đi ra đi vào" trong ngôi nhà này.

Ngôi nhà chứa đầy vết máu và DNA không thể lần ra được, với những sợi tóc và những mẩu ghi chú kỳ lạ, cùng những nét vẽ nguệch ngoạc trên tường, những ván cửa bí mật và một khu vườn trồng đầy thảo dược, một vài loại trong số đó đã được dùng trong vụ tự tử của cha mẹ cô.

"Chúng tôi đang tự giải thoát khỏi những cơ thể vụn vỡ, khỏi cái thế giới đớn hèn này, khỏi khổ đau và thất vọng.

Con gái chúng tôi tên là Serenity Lamb.

Con bé mười tháng tuổi.

Xin làm ơn thay chúng tôi đảm bảo con bé được gửi gắm vào tay người tốt.

Và như thường lệ, xin gửi lời chúc bình an, HL, ML, DT", bức thư trăng trối của ba cơ thể đang phân hủy viết.

Libby rời căn phòng và chậm rãi đi dạo quanh nhà, cố tìm kiếm những thứ kỳ lạ được tìm thấy sau cái chết.

Kẻ nào đó đã ở trong nhà đêm vụ tự tử tập thể xảy ra, bài báo viết, mở toang tủ quần áo, để thức ăn ở trong tủ lạnh, và những quyển sách đang đọc dở trên sàn, cùng những mảnh giấy xé từ trên tường xuống, để lại những mẩu băng dính Sellotape ở góc nhà.

Cô tìm thấy một dải băng dính trên tường bếp, giờ đã ố vàng và khô cứng lại.

Cô giật mảnh giấy sót lại trên dải băng dính ra, đặt nó lên lòng bàn tay và ngắm nghía một hồi lâu.

Trên mảnh giấy ấy đã ghi những gì mà những kẻ tháo thân khỏi con tàu đang chìm này không muốn người khác nhìn thấy?

Trong căn bếp phong cách đồng quê có một cái tủ lạnh lớn kiểu

Mỹ đã gỉ sét, màu be sữa, có lẽ ít thấy ở Anh vào những năm tám mươi, cô tự hình dung.

Cô mở nó ra và nhìn vào bên trong.

Lốm đốm mốc, một cặp khay đá bằng nhựa đã bị nứt vỡ, ngoài ra không có gì cả.

Trong tủ bếp cô tìm thấy vài chiếc hộp tráng men trống rỗng, một gói bột mì cũ đến mức đóng cục lại.

Một bộ tách uống trà màu trắng, một ấm trà mạ crôm, những chiếc bình cổ đựng thảo mộc và gia vị, một chiếc giá đựng bánh mì nướng, một cái khay lớn, sơn màu đen.

Cô cạo cạo lớp sơn màu đen và thấy ở dưới là bạc.

Cô tự hỏi không biết lại có ai đi sơn một cái khay bạc màu đen.

Và rồi cô ngừng tay lại.

Cô nghe thấy có tiếng gì đó.

Có cái gì đó đang di chuyển trên tầng.

Cô đặt cái khay lại vào trong tủ và đứng lên chân cầu thang.

Cô nghe thấy âm thanh ấy một lần nữa, một tiếng đập nhè nhẹ.

Tim cô đập nhanh.

Cô rón rén bước lên đầu cầu thang.

Và âm thanh ấy lại vang lên lần nữa.

Và một lần nữa.

Và rồi tim cô đã đập nhanh gấp đôi khi nghe tiếng ai đó hắng giọng.

Ông Royle, cô nghĩ, hẳn là ông Royle, ông luật sư đó.

Làm gì còn ai khác được nữa.

Lúc bước vào nhà cô đã đóng cửa lại.

Chắc chắn vậy.

"Xin chào?" cô lên tiếng.

"Xin chào.

Ông Royle!"

Không thấy gì khác ngoài sự im lặng.

Một sự im lặng tức thì, có chủ đích.

"Xin chào!" cô gọi lớn thêm lần nữa.

Sự im lặng ấy cứ đeo bám cô, như một con gấu ngồi chình ình trên nóc nhà.

Cô cảm thấy như thể mình đang nghe thấy tiếng mạch đập của ai đó.

Cô nghĩ về tất cả các bí ẩn mà bài báo tiết lộ: những đứa trẻ chạy

trốn khỏi ngôi nhà này, người nào đó đã ở lại và chăm sóc cho cô; cô nghĩ về những nét vẽ nguệch ngoạc trên tường, và những dây vải treo trên lò sưởi, những vết cào khoét trên thành tường, lời trăng trối vụng về mà cha mẹ cô để lại, những bông hoa hồng màu xanh nước biển trên chiếc cũi ọp ẹp, những mảnh giấy dán trên tường bị xé vụn, những vết máu, và cả những chiếc khóa ở ngoài phòng ngủ của những đứa trẻ.

Và rồi cô lại nghĩ về thảm cỏ được cắt tỉa gọn gàng trước sân nhà của cô bạn April, món couscous cay, ly Aperol Spritz màu cam neon, và cảm giác nhớp nháp khi cô đặt chân xuống chiếc bể phao mát lạnh.

Cô nghĩ về anh chàng Danny nóng bỏng và những đứa con mà biết đâu họ sẽ có cùng nhau khi cô ba mươi tuổi.

Có khi còn sớm hơn.

Đúng vậy, tại sao lại không phải sớm hơn cơ chứ?

Cô chờ đợi điều gì?

Cô có thể bán ngôi nhà này, cùng với những tài sản u ám, đáng sợ mà nó để lại, cái tủ lạnh ẩm mốc, khu vườn khô héo, và cả tiếng chân người bước đi thình thịch, tiếng đằng hắng trên gác mái.

Cô có thể bán nó ngay bây giờ, trở nên giàu có, cưới Danny và sinh con cho anh ấy.

Cô không còn phải quan tâm điều gì đã xảy ra ở đây nữa.

Cô không muốn biết.

Cô loay hoay tìm chìa khóa trong túi xách và khóa cánh cửa lớn bằng gỗ ở trước nhà lại, cùng cái khóa trên tấm pano.

Cô bước lên vỉa hè nóng rẫy, cảm thấy nhẹ nhõm, và bắt đầu rút điện thoại từ trong túi xách ra.

Phần chotớ ít couscous.

Một tiếng nữa tớ qua.
 
Gia Đình Lầu Trên
13


Lucy lật qua lật lại chiếc đàn violin dưới ánh đèn leo lắt trong tiệm sửa chữa nhạc cụ.

Cô đặt nó xuống dưới cằm và chơi thử một đoạn gam La trưởng ba quãng tám kèm gam rải, kiểm tra độ đều của tiếng đàn, cũng như kiểm tra các nốt bị .

Cô nhìn ông Vincent, nét mặt rạng rỡ.

"Tuyệt vời," cô nói bằng tiếng Pháp.

"Còn tốt hơn cả lúc trước nữa."

Tim cô dịu lại.

Từ đó tới giờ, có lẽ do quá kinh hãi trước việc phải ngủ trên bãi biển và dưới gầm cầu vượt, mà cô không nhận ra việc bị tách biệt với nhạc cụ của mình khó khăn đến nhường nào, và bao nhiêu nỗi tức giận chất chứa mà cô đã phải chịu đựng khi tên say rượu khốn nạn kia làm vỡ đàn của cô.

Nhưng trên tất cả, cô không ngờ là cô đã nhung nhớ biết bao cái cảm giác được chơi nhạc.

Cô đếm những tờ hai mươi euro, đặt chúng lên mặt quầy, và ông Vincent viết một tờ biên lai trên tập giấy, xé ra, rồi đưa cho cô.

Sau đó, ông lấy hai cây kẹo mút Chupa Chups ở trong một cái hộp bày

trên quầy, và đưa cho hai đứa con của cô.

"Nhớ chăm sóc mẹ cháu đấy nhé," ông nói với Marco.

"Và cả em gái cháu nữa."

Trong khí trời đêm mát mẻ ngoài cửa tiệm, Lucy bóc lớp giấy bọc bằng bóng kính và đưa cây kẹo mút cho Stella.

Rồi họ đi bộ về phía trung tâm du lịch, các con cô mải mê mút kẹo, còn con chó thì hít lấy hít để mặt vỉa hè bỏng rát, cố tìm xem có miếng xương gà nào vương vãi, hay có cốc kem của ai làm đổ không.

Còn Lucy thì chẳng muốn ăn.

Cuộc gặp gỡ với Michael trước đó đã giết chết vị giác của cô hoàn toàn.

Những thực khách muốn ăn tối sớm đã đến: những người lớn tuổi tới đây để nghỉ dưỡng, hay những gia đình có con nhỏ.

Những thính giả này sẽ khó tính hơn những người đến sau.

Những người đến sau sẽ có chút men trong người; họ sẽ không ngại tiếp cận một quý cô mặc váy voan bồng bềnh cùng áo hai dây, đôi cánh tay gân guốc rám nắng, ngực to, mũi đính khuyên, chân đeo vòng, với hai đứa trẻ xinh xắn, trông có vẻ mệt mỏi, ngồi trên tấm thảm yoga đằng sau cô trong bóng râm, và con bẩn thỉu, đầu vùi xuống chân.

Họ không bị phân tâm bởi những đứa trẻ cáu kỉnh vì đã quá giờ đi ngủ.

Hoặc mải cay độc hoài nghi liệu cô có tiêu tiền vào rượu chè hay ma túy, liệu hai đứa trẻ và con chó có phải chỉ cốt để loè người, liệu cô có đánh đập chúng khi cô về nhà mà hôm ấy lại không kiếm đủ tiền.

Bao nhiêu năm qua cô đã nghe thấy hết.

Người ta đã cáo buộc cô đủ thứ tội.

Mặt cô giờ đã rất dày.

Cô lấy từ trong ba lô ra một chiếc mũ, chiếc mũ mà Marco vẫn gọi là "mũ đựng tiền"; giờ thì cậu gọi nó là "mũ ăn xin".

Cậu ghét chiếc mũ ấy.

Cô đặt chiếc mũ xuống nền đất ở ngay trước mặt và mở bao đàn violin.

Cô nhìn ra đằng sau xem lũ trẻ đã ổn định chỗ ngồi hết chưa.

Marco lấy một quyển sách ra đọc.

Stella thì đang tô màu.

Marco nhìn cô với ánh mắt mệt mỏi.

"Mình phải ở đây bao lâu vậy mẹ?"

Cậu bé giờ đã thể hiện quá nhiều thái độ của trẻ vị thành niên, trong khi còn mấy tháng nữa cậu mới bước sang tuổi mười ba.

"Cho đến khi mẹ kiếm đủ tiền để trả cho một tuần thuê phòng ở Căn nhà màu Xanh."

"Vậy mình cần bao nhiêu ạ?"

"Mười lăm euro một đêm."

"Con chẳng hiểu sao mẹ lại không xin bố con thêm tiền.

Kiểu gì ông ấy cũng cho.

Ông ấy đã có thể cho mẹ thêm một trăm euro nữa kìa.

Dễ ợt."

"Marco.

Con biết tại sao mẹ không làm thế mà.

Bây giờ thì làm ơn để yên cho mẹ chuẩn bị."

Marco tặc lưỡi và nhướng mày, sau đó cúi mặt xuống đọc sách.

Lucy nhấc chiếc đàn đặt lên cằm, chân phải bước lên phía trước, khép mi lại, hít một hơi thật sâu, và bắt đầu chơi.

Buổi tối hôm đó kết thúc tốt đẹp; cơn bão đi qua từ đêm hôm trước đã làm bầu không khí dịu đi, ngoài trời không còn nóng nữa, và tâm

trạng của mọi người cũng thư thái hơn.

Rất nhiều người đã dừng lại để đứng xem Lucy chơi đàn.

Cô chơi một vài bài của và ném vào trong mũ.

Mọi người tươi cười nhảy múa; một cặp đôi ba mươi tuổi cho cô hẳn một tờ mười euro vì họ mới đính hôn.

Một người phụ nữ lớn tuổi hơn cho cô năm euro vì cha bà ngày xưa hay chơi violin, và tiếng đàn của cô làm cho bà nhớ quãng thời thơ ấu tươi đẹp của bà.

Đến chín rưỡi tối, Lucy đã chơi ở ba địa điểm khác nhau, và thu về gần bảy mươi euro.

Cô tập hợp lũ trẻ con, con chó, và chỗ đồ đạc của họ lại.

Lúc này mắt Stella đã ríu chặt, và Lucy lại thấy nhớ những ngày con bé còn ngồi xe đẩy; khi ấy mỗi tối cô chỉ việc bế con bé đặt lên xe, đẩy về nhà, rồi đặt con bé thẳng vào giường.

Nhưng giờ cô phải gọi con bé dậy, giục con bé đi, cố để không phải hét lên mỗi khi con bé than mệt.

Căn nhà màu Xanh cách đấy có mười phút đi bộ, nửa đường lên đồi đến công viên Castle.

Đó là một ngôi nhà dài, hẹp, trước đây sơn màu xanh nhạt, và cũng từng là một ngôi nhà mặt phố thanh lịch nhìn ra Địa Trung Hải, nhưng giờ thì nó bong tróc và xám xịt, hư hỏng do thời tiết, với khung cửa sổ nứt vỡ, và những ống nước bị cây thường xuân bám đầy.

Một người đàn ông tên là Giuseppe mua lại nó vào những năm 1960, để nó mục nát, rồi bán lại nó cho một chủ nhà nghỉ, người đã lấp đầy cả căn nhà với những người lữ hành đến thuê trọ, mỗi gia đình ở một phòng, nhà tắm dùng chung, nhung nhúc gián, không có bất cứ tiện nghi gì, và chỉ nhận tiền mặt.

Người chủ nhà để Giuseppe ở trong một căn hộ studio dưới tầng trệt, đổi lại ông giúp quản lý và bảo trì tòa nhà, và chỉ phải trả một khoản tiền thuê nhà nhỏ.

Giuseppe rất quý Lucy.

"Nếu chú có con gái," ông vẫn hay nói, "nó hẳn sẽ giống y chang cháu.

Chú thề đấy."

Sau khi đàn của cô bị hỏng, Lucy đã không trả tiền nhà trong vài tuần liền, và cô cứ chờ, chờ mãi đến lúc chủ nhà tống cổ cô ra ngoài.

Sau đó, một người thuê nhà khác nói với cô rằng Giuseppe đã trả tiền nhà giúp cô.

Ngay hôm đấy cô dọn đồ của mình ra và bỏ đi mà không một lời từ biệt.

Lucy cảm thấy lo lắng khi họ rẽ đến ngôi nhà Xanh; cô bắt đầu rơi vào trạng thái hoảng loạn.

Nhỡ đâu Giuseppe không có phòng cho cô thì sao?

Nhỡ đâu ông ấy vẫn giận cô vì bỏ đi mà không nói tạm biệt, rồi đóng sập cửa trước mặt cô thì sao?

Nhỡ đâu ông ấy chuyển đi mất rồi?

Hay chết rồi?

Nhỡ đâu ngôi nhà này đã bị cháy rụi hết?

Nhưng rồi ông bước ra cửa, hé mắt nhìn qua kẽ hở của chuỗi khóa sắt và mỉm cười, để lộ ra hàm răng màu nâu thoáng trên bộ râu màu muối tiêu.

Ông liếc thấy cây đàn của cô ở trong bao, nụ cười vẫn nở rộng trên môi.

"Con gái tôi," ông nói, tay gỡ khóa, mở cửa.

"Các cháu của tôi.

Cả con chó của tôi nữa.

Vào đây!"

Con chó mừng ríu rít, nhảy cẫng vào lòng Giuseppe, suýt chút nữa thì đẩy ông ngã ra đằng sau.

Stella ôm chầm lấy chân của ông, còn Marco thì đổ người về phía Giuseppe và để ông hôn lên đỉnh đầu.

"Cháu có bảy mươi euro," cô nói.

"Đủ cho vài tối."

"Cháu có cây đàn violin rồi.

Giờ thì cháu muốn ở lại đây bao lâu

cũng được.

Nhìn cháu gầy quá.

Cả nhà cháu nhìn ai cũng gầy.

Mà chú thì chỉ có bánh mì thôi.

Và một ít thịt hun khói.

Thịt hun khói thì không ngon lắm, nhưng chú có bơ rất ngon, cho nên..."

Họ đi theo ông đến căn hộ của ông ở trên tầng trệt.

Vừa tới con chó đã nhảy lên ghế xô-pha ngay lập tức và cuộn tròn mình lại, mắt nhìn Lucy như thể muốn nói, Cuối cùng thì giây phút này cũng đến.

Giuseppe đi vào trong gian bếp bé tí xíu của ông và mang ra bánh mì, thịt hun khói, cùng ba chai nước trái cây Orangina nhỏ.

Lucy ngồi xuống cạnh con chó, vuốt ve cổ nó và thở ra, cảm thấy trong cô như được tháo gỡ, và tâm trạng cô cũng lắng xuống dần.

Cô thọc tay vào trong ba lô để tìm điện thoại.

Điện thoại cô đã hết pin từ lúc nào.

Cô lấy sạc điện thoại ra và nói với Giuseppe, "Cháu sạc điện thoại nhờ được không ạ?"

"Tất nhiên rồi, cháu yêu.

Ở đây có ổ cắm trống này."

Cô cắm sạc vào và giữ nút bật điện thoại, đợi cho máy khởi động lại.

Cái thông báo ấy vẫn còn ở đó.

Em bé hôm nay tròn 25 tuổi.

Cô ngồi với con mình ở bàn uống nước và nhìn chúng ăn bánh mì với thịt xông khói.

Nỗi nhục nhã tuần trước cũng dần trôi đi, như những dấu chân trên cát.

Giờ thì các con của cô đã được an toàn.

Chúng có thức ăn.

Cô có cây đàn violin.

Cô có chỗ để ngủ.

Cô có tiền trong túi.

Giuseppe cũng nhìn con cô ăn.

Ông liếc sang cô và mỉm cười.

"Chú lo cho các cháu quá.

Cháu đã đi đâu vậy?"

"Ồ," cô nói khẽ, "cháu sang ở cùng một người bạn."

"K..."

Marco bắt đầu.

Cô lấy cùi chỏ thúc vào cậu và quay sang Giuseppe.

"Có một chú chim nhỏ đã kể cho cháu nghe việc chú làm, chú thật là...

Làm sao cháu có thể để chú làm như thế được.

Cháu không thể.

Và cháu biết nếu cháu nói với chú rằng cháu sắp dọn đi, chú sẽ cố thuyết phục cháu ở lại.

Thế nên cháu mới trốn đi.

Thật lòng mà nói, mẹ con cháu vẫn ổn đấy thôi.

Bọn cháu rất ổn.

Ý cháu là, chú nhìn nhà cháu xem!

Ai cũng ổn cả."

Cô kéo con chó vào lòng và ôm chặt lấy nó.

"Và cháu đã lấy lại được cây đàn?"

"Vâng, cháu đã lấy lại được cây đàn.

Thế... chú còn phòng không ạ?

Không nhất thiết phải phòng cũ đâu.

Cháu lấy phòng nào cũng được.

Cứ có phòng là được ạ."

"Còn một phòng.

Nhưng mà nó ở cuối dãy, nên không nhìn đi đâu được cả.

Cũng hơi tối.

Với lại vòi hoa sen ở đấy bị hỏng, nên chỉ có vòi nước thôi.

Chú để cho cháu 12 euro một đêm nhé."

"Vâng," Lucy nói, "vâng, cháu xin ạ!"

Cô đặt con chó xuống để đứng dậy và ôm Giuseppe.

Người ông có mùi của già nua và bụi bẩn, nhưng cô không quan tâm.

"Cảm ơn chú," cô nói, "con cảm ơn chú nhiều lắm."

Tối đó cả ba mẹ con ngủ trên chiếc giường đôi bé xíu trong căn phòng tối om, ở cuối dãy nhà nơi mà tiếng lốp xe rít trên mặt đường nhựa bỏng rát, thi nhau với tiếng kêu cót két của chiếc quạt nhựa đung đưa quanh phòng, cùng tiếng ti-vi của nhà bên, và cả tiếng vo ve của con ruồi bị mắc kẹt ở giữa rèm và cửa sổ.

Stella đặt cả nắm

tay lên mặt Lucy, Marco rên nhè nhẹ khi ngủ, và con chó thì đang ngáy.Nhưng đây là lần đầu tiên trong suốt một tuần liền, Lucy được say giấc nồng.
 
Gia Đình Lầu Trên
14


Ngày hôm ấy, ngày 8 tháng Chín năm 1988, đáng lẽ ra là ngày thứ hai của tôi ở trường lớn, nhưng giờ thì chắc bạn cũng đoán được là năm đó tôi đã không được đi học ở ngôi trường lớn mà tôi vẫn hằng mong ước, ngôi trường mà ở đó tôi đã có thể gặp được tri kỷ, những người bạn đi theo tôi đến suốt đời, những người giống tôi.

Mùa hè năm đó thi thoảng tôi lại hỏi mẹ, "Khi nào thì mình đi Harrods để mua đồng phục vậy mẹ?"

Và mẹ tôi trả lời, "Cố chờ cho đến hết hè, vì nhỡ đâu con lại lớn bổng lên thì sao."

Rồi kỳ nghỉ hè cũng sắp hết và chúng tôi vẫn chưa đi Harrods.

Năm ấy chúng tôi cũng không đi Đức.

Chúng tôi vẫn thường sang thăm bà tôi và ở lại một hoặc hai tuần, trong căn nhà rộng rãi, thoáng mát của bà ở Rừng Đen, với cái hồ bơi nhớp nháp nổi trên mặt đất, và đám lá thông mịn như lụa ở dưới chân.

Nhưng mùa hè này rõ ràng là chúng tôi không có đủ tiền để đi, và nếu chúng tôi không có đủ tiền để mua vé máy bay sang Đức, thì tôi tự hỏi thế quái nào mà nhà tôi có đủ tiền đóng học phí cơ chứ?

Đến đầu tháng Chín, cha mẹ tôi bắt đầu nộp đơn xin học ở các

trường công trong vùng, và ghi tên anh em chúng tôi vào danh sách đợi.

Họ không bao giờ nói thẳng ra là họ đang gặp vấn đề tài chính, nhưng điều đó rõ rành rành.

Tôi bị đau bụng mấy ngày liền vì lo sợ, rằng đến học ở trường công có nhiều thành phần cá biệt thì tôi sẽ bị bắt nạt.

Ôi, những lo lắng ấy mới nhỏ bé, vụn vặt làm sao.

Tôi nhìn lại tôi lúc mười một tuổi: một cậu bé hơi lập dị, chiều cao trung bình, thân hình khẳng khiu, mắt xanh giống mẹ, tóc màu hạt dẻ giống bố, đầu gối như củ khoai tây dính vào hai cây gậy, đôi môi mỏng lúc nào cũng mím chặt, ra vẻ không tán thành, phong thái kiêu kỳ; một cậu bé ương ngạnh, tin rằng những trang tiếp theo của cuộc đời mình đã được viết rành mạch hết ra, nên cứ thế mà theo thôi; tôi nhìn lại tôi lúc mười một tuổi và tôi chỉ muốn cho thằng bé với cái mặt đần độn, khinh khỉnh, và đôi mắt đầy sao kia một cái tát.

Justin thu mình lại trong vườn, tay vuốt ve những lá cây mà ông đã chăm sóc bấy lâu.

"Bào chế thảo dược; trồng, chăm sóc, và sử dụng," ông ta giải thích cho tôi, giọng như mê sảng.

"Các công ty dược phẩm lớn đang làm ô uế hành tinh này.

Trong hai mươi năm tới, chúng ta sẽ trở thành một cường quốc của những người lạm dụng thuốc kê đơn và Dịch vụ Y tế Quốc gia sẽ phải lê lết để mà trả tiền mua thuốc phiện cho cái đất nước đau ốm này.

Chú muốn quay ngược thời gian và sử dụng những gì đất mẹ trao tặng để chữa những bệnh vặt hằng ngày.

Chúng ta không cần đến tám loại hóa chất khác nhau để chữa

đau đầu.

Mẹ cháu nói là mẹ cháu muốn ngừng sử dụng thuốc tây, để sử dụng cồn thuốc của chú."

Tôi nhìn ông ta.

Gia đình chúng tôi toàn những người uống thuốc.

Thuốc trị viêm mũi dị ứng, thuốc cảm, thuốc giải rượu, thuốc đau bụng, đau đầu, đau tứ tung.

Mẹ tôi còn có cả những viên thuốc mà bà vẫn gọi là "những cảm xúc buồn".

Cha tôi uống thuốc tim và uống thuốc để tóc ông khỏi rụng.

Thuốc ở khắp mọi nơi.

Nhưng giờ nhà chúng tôi lại đổi sang trồng thảo dược và tự làm thuốc ở nhà.

Đúng là khó tin.

Hè năm ấy cha tôi bị đột quỵ nhẹ.

Nó khiến ông đi khập khiễng, nói lắp, và biến ông thành một người khác, theo kiểu mà tôi khó có thể diễn tả được.

Chứng kiến cha mình ngày một sa sút thế này làm tôi mất đi cảm giác được bảo vệ, như thể vừa có một lỗ hổng nhỏ nhưng quan trọng xuất hiện trong hàng chắn phòng thủ của gia đình tôi.

Bác sĩ của cha tôi, một người đàn ông khô như ngói, không rõ tuổi tác, tên là Broughton, sống và làm việc trong căn nhà sáu tầng đầu phố, đến để thăm khám cho cha tôi khi cha tôi vừa trở về sau một đêm nằm viện.

Ông ấy và cha tôi ngồi trong vườn hút xì gà và ông nói với cha tôi về những chẩn đoán của mình.

"Tôi nói này, Henry, cái ông cần là một người làm vật lý trị liệu và phục hồi chức năng thật giỏi.

Đáng tiếc là tất cả những người làm phục hồi chức năng mà tôi biết đều dở ẹc."

Họ cười phá lên, và cha tôi nói, "Tôi không chắc nữa, giờ tôi không cảm thấy chắc chắn về bất kỳ điều gì nữa.

Nhưng tôi cũng sẵn lòng thử.

Tôi sẽ thử bất cứ thứ gì, để được trở về với con người

tôi của ngày xưa."

Birdie đang chăm sóc vườn thảo mộc của Justin.

Trời nóng, và cô ta mặc chiếc áo vải xô xuyên thấu, lộ rõ hai núm vú.

Cô ta cởi chiếc mũ vải mềm ra, đứng trước cha tôi và bác sĩ của ông.

"Tôi biết một người," cô ta nói, tay chống nạnh.

"Tôi biết một người giỏi lắm.

Anh ấy rất tuyệt.

Anh ấy sử dụng năng lượng.

Anh ấy còn có thể điều khiển khí lực qua cơ thể.

Anh ấy đã chữa khỏi bệnh đau lưng cho mấy người tôi biết.

Cả đau nửa đầu nữa.

Tôi sẽ gọi anh ấy và bảo anh ấy đến đây."

Tôi nghe thấy tiếng cha tôi bắt đầu phản đối.

Nhưng Birdie chỉ nói, "Không.

Thật lòng đấy, Henry.

Đây là điều tối thiểu mà tôi có thể làm được cho anh.

Tối thiểu đấy.

Tôi sẽ gọi anh ấy ngay bây giờ.

Tên anh ấy là David.

David Thomsen."

Sáng hôm ấy khi tôi đang ở trong bếp xem mẹ tôi làm phô mai thì chuông cửa reo.

Mẹ tôi chùi tay vào tạp dề, lo lắng chỉnh lại phần đuôi tóc cắt ngắn, đã được sấy, tạo kiểu và uốn cong, rồi nói.

"À, đấy chắc hẳn là nhà Thomsen."

"Nhà Thomsen," tôi hỏi, quên mất lời giới thiệu của Birdie tuần trước, "là ai vậy ạ?"

"Là bạn," mẹ tôi nói, nét mặt rạng rỡ.

"Của Birdie và Justin.

Ông chồng chuyên làm vật lý trị liệu, ông ấy sẽ làm việc với cha con, giúp cha con lấy lại thể trạng ban đầu.

Còn bà mẹ là một giáo viên đã được đào tạo.

Bác ấy sẽ dạy học cho hai con ở nhà trong thời gian sắp tới.

Như thế chẳng phải là tốt sao?"

Tôi không có bất kỳ cơ hội nào để hỏi thêm mẹ tôi về màn giới thiệu chóng vánh và sự thay đổi đáng kinh ngạc vừa rồi trước khi bà ra mở cửa.

Mồm há hốc, tôi nhìn họ tiến vào.

Đầu tiên là một con bé khoảng chín hay mười tuổi gì đấy.

Con bé có mái tóc màu đen, cắt ngắn ngang cằm, mặc quần yếm ngắn, đầu gối trầy xước, má dính chocolate, mang theo một nguồn năng lượng dồn nén yếu ớt.

Tên con bé, nếu tôi nghe không nhầm, là Clemency.

Sau đó đến một thằng nhóc, trạc tuổi tôi, hoặc hơn tôi một tí, tóc vàng, cao, lông mi sẫm màu, cong dài như lông vũ, chạm lên phần xương gò má sắc nét.

Tay cậu đút trong túi chiếc quần soóc màu xanh lịch lãm, tóc mái hất qua mắt một cách duyên dáng, phong thái có chút gì đó ngông nghênh.

Tên cậu ấy là Phineas.

Gọi tắt là Phin, họ bảo chúng tôi thế.

Tiếp theo là bà mẹ.

Vóc rộng, da dẻ nhợt nhạt, ngực phẳng, tóc dài màu vàng, trông có vẻ lo lắng.

Tên bà, ngay lúc đó tôi cũng vừa mới khám phá ra, là Sally Thomsen.

Đi sau tất cả bọn họ là ông bố dáng cao, hơi gầy, vai rộng, da rám nắng, tóc cắt ngắn màu đen, mắt xanh thẫm, miệng rộng.

David Thomsen.

Một tay ông nắm chặt lấy bàn tay tôi, tay kia ông úp lên trên.

"Rất vui được gặp cậu, chàng trai trẻ," ông nói, giọng trầm ấm, dịu dàng.

Rồi ông thả tay tôi ra và vươn hai tay lên.

Ông mỉm cười với từng thành viên trong gia đình tôi và nói, "Rất hân hạnh được gặp gia đình anh chị."

Hôm đó David cứ khăng khăng mời gia đình tôi ra ngoài ăn tối.

Đó là một buổi tối thứ Năm, ngoài trời vẫn còn nóng.

Tôi dành kha khá thời gian tút tát ngoại hình của mình tối hôm đó, không chỉ đơn giản như cách tôi vẫn làm, đó là chọn quần áo sạch sẽ, là lượt phẳng phiu, mà chưng diện hơn một chút; cái cậu tên Phineas làm tôi thấy thích thú, không chỉ với vẻ ngoài điển trai, mà còn cả phong cách ăn mặc của cậu ta nữa.

Cùng với chiếc quần đùi màu xanh đơn giản, cậu mặc một chiếc áo polo màu đỏ, cổ áo viền sọc trắng, đi đôi giày thể thao Adidas màu trắng và phối với tất đến mắt cá chân cũng trắng nốt.

Tối hôm đó, tôi tìm trong tủ quần áo của mình xem có gì trông thoải mái như thế không.

Tất của tôi đôi nào cũng dài đến bắp chân cả; chỉ em gái tôi mới có tất chạm mắt cá chân.

Quần soóc của tôi đều được làm từ len, và cái áo nào của tôi cũng có cúc.

Trong chốc lát tôi còn định mặc bô quần áo thể dục cũ của tôi, nhưng tôi đã sớm từ bỏ ý định đấy vì tôi nhận ra nó vẫn nằm chất đống trong túi thể dục của tôi từ hôm tôi đi học buổi thể dục cuối cùng.

Cuối cùng tôi chọn một chiếc áo phông trơn màu xanh và một chiếc quần jeans, cùng với một đôi giày vải.

Tôi cố chải phần tóc mọc từ chân tóc xuống lông mày như Phineas, nhưng tóc tôi ngoan cố vẫn nhất quyết không chịu dời đi chỗ khác.

Tôi mất đến hai mươi giây để ngắm mình trong gương trước khi rời khỏi phòng, tự chán ghét khuôn mặt ngu ngốc, xấu xí của mình, cái áo phông đơn điệu, và cả cái quần jeans John Lewis for Boy đáng thương hại của tôi nữa.

Tôi khẽ khè ra một tiếng nghẹt, đá vào tường, và đi xuống nhà.

Phin đã ở đó, ngồi trên một trong hai chiếc ghế gỗ khổng lồ cạnh

cầu thang ở giữa hành lang.

Cậu đang đọc sách.

Tôi lén nhìn cậu qua thành lan can một lúc trước khi tôi bước vào.

Cậu thực sự là thứ đẹp đẽ nhất mà tôi từng được thấy trong đời.

Tôi cảm thấy má tôi bừng đỏ lên khi tôi ngắm những đường nét trên khuôn mặt cậu: khuôn miệng thanh tú nhìn như thể được đúc từ thứ đất sét đỏ nhất, mềm mại nhất, như thể nếu chạm tay lên sẽ để lại dấu vân.

Da cậu mềm như da sơn dương, kéo căng giữa hai gò má sắc sảo, như thể sắp đâm thủng lớp da ấy đến nơi.

Trên gương mặt cậu thậm chí còn thấp thoáng đường nét khêu gợi của một bộ ria mép sắp mọc nữa.

Cậu hất tóc mái một lần nữa và thờ ơ ngước nhìn tôi khi tôi đi xuống, rồi lại chúi mắt ngay vào quyển sách.

Tôi những muốn hỏi cậu đang đọc sách gì nhưng cuối cùng lại thôi.

Tôi cảm thấy lúng túng, tôi không biết phải ngồi ở đâu, hay đứng ở chỗ nào.

Nhưng rồi những người khác cũng nhanh chóng xuất hiện: đầu tiên là cha mẹ tôi, sau đó đến con bé Clemency và em gái tôi, hai đứa giờ đã ríu rít chuyện trò, rồi đến Sally, tiếp theo là Justin và Birdie, và cuối cùng, gần như được bao bọc bởi một vòng tròn ánh sáng trên đỉnh cầu thang, David Thomsen bước xuống.

Trong mắt tôi, dưới góc độ là một cậu bé, tôi có thể kể cho bạn nghe những gì về David Thomsen?

Chà, tôi có thể nói cho bạn biết là ông ta rất đẹp trai.

Không phải kiểu đẹp mềm mại, nữ tính như con trai ông, mà kiểu đẹp truyền thống hơn.

Ông ta có bộ ria mép rậm như thể được ai đó vẽ lên, lông mày đậm, sắc nét, toát ra

nguồn năng lượng mãnh thú, và một sức mạnh tiềm tàng.

Ông ta có cách khiến cho những người đứng cạnh đều có vẻ kém cỏi hơn ông ta, ngay cả khi sự thật không phải thế.

Tôi phải thú nhận là ông ta vừa làm tôi sợ, lại vừa làm tôi thấy thích thú.

Và tôi cũng có thể nói cho bạn biết rằng mẹ tôi cư xử rất kỳ lạ trước mặt David, không phải ra bộ ve vãn hay tán tỉnh, mà có phần thận trọng, dè dặt hơn, như thể bà không tin vào chính bản thân mình mỗi khi ở cạnh ông ta.

David vừa cao ngạo lại vừa dễ gần, vừa lạnh lùng mà có lúc lại rất ấm áp.

Tôi ghét ông ta, nhưng tôi hiểu tại sao những người khác lại yêu quý ông ta đến vậy.

Tuy nhiên tất cả những điều đó vẫn chưa xảy ra.

Trước hết phải kể đến bữa tối đầu tiên trong buổi tối đầu tiên, khi tất cả mọi người đều cư xử đúng mực nhất có thể.

Chúng tôi ngồi dúm dó quanh chiếc bàn dài ở Chelsea Kitchen, trong khi chỗ này chỉ vừa cho tám người mà thôi.

Trẻ con ngồi ở một đầu, và điều đó có nghĩa là tôi chỉ cách Phineas có một cùi chỏ.

Tôi bắt đầu cảm thấy rạo rực trước khoảng cách giữa tôi và cậu ấy, dây thần kinh của tôi lúc ấy còn non nớt, và cơ thể tôi còn quá nguyên sơ, khao khát một thứ gì đó mà tôi còn quá nhỏ để hiểu được, và tôi không có sự lựa chọn nào khác ngoài quay lưng về phía cậu ấy.

Tôi liếc sang đầu bàn bên kia, nơi cha tôi đang ngồi ở ghế chủ tọa.

Khi tôi nhìn thấy ông, tôi cảm thấy trong tôi như có thứ gì đó đang lao xuống, như một cái thang máy không dây rơi xuống trục.

Tôi không hiểu chính cảm giác của mình lúc ấy, nhưng giờ tôi có thể
 
Gia Đình Lầu Trên
15


Sáng thứ Hai, Libby đi làm trễ hai mươi phút.

Dido nhìn cô ngạc nhiên.

Libby chưa bao giờ đi làm muộn.

"Suýt nữa chị định gọi cho em," cô nói.

"Em có ổn không?"

Libby gật đầu, tay lấy điện thoại ra từ trong túi, rồi lấy thêm cây son dưỡng, và chiếc áo khoác mỏng, rồi nhét túi xuống gầm bàn, tháo tóc ra, rồi cột tóc lại, kéo ghế và ngồi phịch xuống.

"Em xin lỗi," cuối cùng cô nói.

"Đêm qua em không ngủ được."

"Chị cũng đang định nói," Dido bảo.

"Nhìn em có vẻ mệt mỏi.

Vì nóng quá à?"

Libby gật đầu.

Nhưng không phải vì nóng.

Mà vì những rối ren trong đầu cô.

"Vậy, để chị pha cho em một cốc cà phê đậm đặc nhé."

Bình thường Libby sẽ nói không, không, không, em tự pha cà phê được.

Nhưng hôm nay cô cảm thấy chân cô nặng trịch, còn tâm trí cô thì đang rối tung lên, nên cô gật đầu và nói cảm ơn.

Cô nhìn Dido pha cà phê, cảm thấy được trấn an phần nào bởi mái tóc nhuộm đen nhánh của Dido, cái cách Dido đứng, một tay đút vào túi chiếc

váy suông dài màu đen, hai bàn chân bé xíu của cô dang rộng trong đôi giày thể thao bằng nhung to đùng màu xanh đậm.

"Của em đây," Dido nói, đặt tách cà phê lên bàn của Libby.

"Mong là nó sẽ giúp em tỉnh táo."

Libby đã quen biết Dido được năm năm rồi.

Cô biết đủ mọi thứ chuyện về Dido.

Cô biết mẹ Dido là một nhà thơ nổi tiếng, cha cô cũng là một biên tập viên tin tức thành danh, biết Dido lớn lên trong căn biệt thự lộng lẫy nhất ở St Albans, và có gia sư dạy riêng ở nhà.

Cô biết em trai Dido qua đời khi cậu ấy mới hai mươi tuổi và suốt mười một năm qua Dido chưa từng chung chạ với ai.

Cô biết Dido sống trong một căn nhà bé xíu cạnh gia sản của cha mẹ cô, và cô vẫn nuôi con ngựa cô đã cưỡi từ thời niên thiếu, con ngựa tên là Spangles.

Cô biết căn biệt thự lộng lẫy của cha mẹ Dido không được ủy thác cho Dido mà cho Quỹ Di sản Anh, và Dido không có vấn đề gì với chuyện ấy cả.

Cô biết Dido thích trà túi lọc PG Tips, nam diễn viên nổi tiếng Benedict Cumberbatch, ngựa, mứt Gianduja, nước dừa, , lót nệm đắt tiền, hương nước hoa Jo Malone Orange Blossom, các món xào, cửa hàng thức ăn nhanh Nando's và đi spa chăm sóc da mặt.

Nhưng cô chưa bao giờ đến nhà Dido, gặp gia đình hay bạn bè của Dido cả.

Cô chưa bao giờ thấy Dido ngoài giờ làm, ngoại trừ những buổi tiệc Giáng sinh hằng năm trong một khách sạn sang trọng ở đầu đường, và thỉnh thoảng cô đi mua đồ uống cùng Libby.

Thực lòng mà nói, cô không biết Dido là ai.

Nhưng khi nhìn Dido lúc này, cô chợt nhận ra Dido chính là người mà cô cần ngay bây giờ.

Tối thứ Bảy tuần trước, cô ngồi trong vườn

sau nhà April, đong đưa với Danny.

Anh ta không thực sự nóng bỏng như lời đồn, mặt non choẹt như mới lên tám, tay bé xíu.

Cô cố nhìn quanh xem có ai để cô có thể tâm sự về những điều điên rồ mà cô đã phải trải qua, về ngôi nhà, về bài báo, về cha mẹ đã khuất của cô và về những tiếng ho bí ẩn trên tầng gác mái.

Nhưng tất cả những gì cô thấy chỉ là những người giống cô, những người bình thường, sống cuộc sống bình thường, những người vẫn sống cùng cha mẹ, hay sống với bạn cùng phòng hoặc người yêu trong những căn hộ chật chội, những người với khoản nợ đại học chưa trả, làm những công việc bình thường, mơ những giấc mơ bình thường, những người với làn da rám nắng giả, và những con chó bé xíu, cho vừa vào cả túi xách, những người với hàm răng trắng và tóc được gội sạch sẽ.

Cô cảm thấy như mình đang bị mắc kẹt giữa hai thế giới tách biệt đến nao lòng, và cô đã rời khỏi bữa tiệc trước mười một giờ, về nhà, bật máy tính và lên mạng để tiếp tục tìm kiếm xem chuyện gì đã xảy ra với Serenity Lamb.

Nhưng cô tìm thấy nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời, nên cuối cùng đến hai giờ sáng thì cô đành tắt máy tính và lên giường đi ngủ, nhưng đêm đó cô ngủ không yên giấc; cô liên tục mơ thấy những chủ đề và những cuộc gặp gỡ kỳ lạ.

"Em cần một lời khuyên," giờ thì cô quay sang nói với Dido.

"Về chuyện ở Chelsea ấy."

"Ừ em nói đi," Dido nói, tay mân mê cái đĩa bạc quá khổ gắn vào sợi dây chuyền ở trên cổ cô.

"Em cần lời khuyên gì nào?"

"Thực ra em chỉ muốn có người để tâm sự thôi.

Chị có vẻ biết nhiều về... nhà cửa."

"Chị chỉ biết nhà của chị thôi.

Còn chung chung thì chị không biết.

Nhưng thôi, không sao.

Qua nhà chị ăn tối nhé."

"Khi nào ạ?"

"Tối nay được không?"

"Vâng," Libby nói, "được, được ạ."

Nhà của Dido rất đẹp.

Nó có hai mặt tiền, cửa sổ bằng chì, trước ngưỡng cửa có chùm hoa hồng bé tí hon đang mọc, và ngoài sân Dido đậu chiếc Fiat Spider mui trần đen bóng, trên có mái che màu da.

Chiếc xe tô điểm cho ngôi nhà, ngôi nhà cũng tô điểm cho chiếc xe, và Libby không thể không lấy ngay điện thoại ra, chụp một tấm ảnh đăng lên Instagram.

Dido đón Libby ở cửa, tối hôm ấy cô mặc quần hoa ống rộng và áo hai dây màu đen.

Tóc Dido được ghim lại bởi cặp kính râm to bản màu đỏ.

Cô đi chân trần.

Libby chỉ từng thấy Dido đi đôi giày công sở lộp cộp, nên cô ngạc nhiên khi thấy đôi bàn chân trắng, nhỏ, cùng bộ móng được cắt tỉa hoàn hảo và sơn màu hồng nhạt của Dido.

"Đáng yêu quá," Libby nói khi cô bước qua khung cửa nhỏ nối vào khu hành lang được sơn màu trắng và lát gạch đất nung.

"Đẹp thật."

Nhà của Dido toàn những thứ mà đối với Libby nom như thể đồ gia truyền hoặc được thừa kế; chẳng có món gì từ TK Maxx cả.

Trên tường treo những bức tranh trừu tượng sáng màu và Libby nhớ đã có lần Dido kể mẹ cô cũng là một họa sĩ.

Dido dẫn Libby qua cánh cửa kiểu Pháp phía sau nhà ra khu vườn nhỏ mang phong cách đồng quê tuyệt hảo, và họ ngồi xuống những chiếc ghế mây hiệu Lloyd

Loom bọc đệm hoa.

Ngắm nhìn phía sau ngôi nhà đẹp tuyệt vời của Dido khiến Libby chợt nhận ra rằng Dido không thực sự cần phải đi làm.

Rằng có khi công việc thiết kế những mẫu nhà bếp sang trọng mà Dido đang làm chỉ là vì đam mê mà thôi.

Dido mang ra một bát salad hạt diêm mạch trộn quả bơ, thêm một bát khoai tây rưới bơ, một ổ bánh mì đen và hai ly rượu sâm-panh để rót chai vang sủi Prosecco mà Libby mang đến.

"Chị sống ở đây được bao lâu rồi?"

Libby hỏi, đoạn phết bơ lên lát bánh mì đen.

"Từ khi chị hai mươi ba, sau khi chị đi Hồng Kông về.

Đây là nhà của mẹ chị.

Bà giữ cho chị.

Còn ngôi biệt thự bên cạnh thì được định sẵn cho em trai chị, tất nhiên rồi, nhưng sau đó, em cũng biết rồi đấy, mọi thứ thay đổi..."

Libby cười vu vơ.

"Nhà".

"Biệt thự".

Đúng là một thế giới khác hoàn toàn.

"Thật đáng tiếc," cô nói.

"Ừ," Dido đồng tình.

"Nhưng căn biệt thự ấy ám toàn điềm gở.

Chị mừng là giờ chị không liên quan gì đến nó nữa."

Libby gật đầu.

Một tuần trước trong đầu cô không hề có khái niệm gì về những ngôi nhà to đẹp mang điềm gở, nhưng giờ thì cô đã hiểu hơn phần nào.

"Vậy, kể cho chị nghe chuyện về ngôi nhà của em đi chứ?

Cứ kể hết ra."

Libby nhấp một ngụm Prosecco, đặt ly lên bàn và ngả lưng vào ghế.

"Em tìm thấy một bài báo," cô bắt đầu, "trên tờ Guardian.

Về ngôi nhà.

Về cha mẹ đẻ của em.

Và về cả em nữa."

"Về em?"

"Vâng," Libby nói, rồi xoa xoa khuỷu tay.

"Tất cả có chút gì đấy kỳ quái.

Chị thấy đấy, em được nhận nuôi từ bé, khi em mới một tuổi.

Căn nhà ở Chelsea thuộc về cha mẹ đẻ của em.

Và bài báo nói rằng em được sinh ra trong một giáo phái."

Cảm giác thốt ra cái từ ấy mới tệ làm sao.

Cô đã cố tránh để không phải nói ra cái từ ấy, tránh để không phải nghĩ đến nó nữa kìa.

Nó mâu thuẫn với những ảo tưởng thảm hại đến đáng thương mà cả đời cô đã đắm chìm.

Cô thấy Dido như sắp nhảy dựng lên vì phấn khích.

"Gì cơ!"

"Một giáo phái ạ.

Theo như bài báo, có vẻ như đã có một giáo phái trú ngụ trong căn nhà ở Chelsea.

Rất nhiều người đã sống ở đó.

Tất cả bọn họ đều sống rất khổ hạnh.

Ngủ trên sàn.

Tự may lấy áo chùng để mặc.

Nhưng mà..."

Cô với tay lấy túi xách và tìm bài báo mà cô đã in ra.

"Chị nhìn này, đây là cha mẹ đẻ của em, sáu năm trước khi em ra đời, tại một vũ hội từ thiện.

Ý em là, chị nhìn họ mà xem."

Dido lấy tờ báo từ tay Libby và bắt đầu đọc.

"Trời ơi," cô nói, "rất lộng lẫy."

"Em biết!

Mẹ em từng là một socialite.

Bà ấy có một công ty PR thời trang riêng.

Có thời mẹ em còn đính hôn với một hoàng tử ở Áo cơ đấy.

Nhìn bà ấy mới đẹp làm sao."

Được nhìn thấy khuôn mặt của mẹ cô là một trải nghiệm phi thường; có điều gì đó ở bà gợi cho cô nhớ về có lẽ vì mái tóc nhuộm đen và đôi mắt màu xanh thẳm.

Mẹ cô giống hệt

như trong tưởng tượng của cô thời thơ ấu, kể cả công việc của bà trong ngành PR.

Cha cô thì... biết nói thế nào nhỉ, ông ấy ăn mặc rất có gu, nhưng dáng người nhỏ hơn cô vẫn tưởng tượng, thấp hơn cả mẹ cô, cằm hơi nghiêng nghiêng, ra vẻ ngạo mạn.

Ông nhìn người thợ ảnh bằng ánh mắt rất lạ, như thể ông đang lường trước có điều gì đó không hay sắp xảy ra, và đang cố gắng phòng thủ.

Tay ông ôm lấy eo của Martina Lamb, nhưng chỉ có đầu ngón tay ông là hiện rõ trong bức ảnh; còn tay bà thì đang nắm lấy một chiếc khăn choàng lụa quấn quanh vai, ngón tay đeo nhẫn, và hai bờ xương hông của bà làm chiếc váy dạ hội hơi lõm lại.

Theo như bài báo viết, đây là bức ảnh cuối cùng của "cặp socialite" trước khi họ biến mất trước công chúng, và họ chỉ được tìm thấy, khi đã chết trên sàn nhà bếp, bảy năm về sau.

"Em có một anh trai và một chị gái," cô nói, tự cảm thấy sốc khi những từ ấy phát ra từ miệng mình quá nhanh, không để lại chút khoảng cách nào.

Dido ngước sang nhìn cô.

"Wow," cô nói.

"Vậy chuyện gì đã xảy ra với họ?"

"Không ai biết cả.

Có vẻ như ông luật sư nghĩ rằng họ đã chết."

Và đây.

Sự thật nặng nề nhất trong tất cả những sự thật đã đè trên vai cô suốt mấy ngày qua.

Nó rơi xuống giữa cô và Dido như một cái búa tạ.

"Trời ơi," Dido nói.

"Điều đó...

Ý chị là, sao lại có thể như vậy được cơ chứ?"

Libby nhún vai.

"Cảnh sát tới sau khi hàng xóm gọi.

Họ tìm thấy xác của cha mẹ em và một người đàn ông khác trên sàn bếp.

Họ tự

tử, như thể có một hiệp ước gì đó.

Và em cũng ở đó, mười tháng tuổi, khỏe mạnh không vấn đề gì, nằm trong một cái cũi ở lầu trên.

Nhưng không có dấu vết nào của anh trai và chị gái em hết."

Dido ngả người ra sau ghế, miệng há hốc.

Trong giây lát cô không nói nổi nên lời.

"Được."

Cô ngồi thẳng dậy, ngón tay ấn vào thái dương.

"Vậy là có một giáo phái ở trong nhà.

Và cha mẹ em đã thực hiện hiệp ước tự tử với một người đàn ông lạ mặt..."

Libby gật đầu.

"Họ tự đầu độc bằng thảo dược họ trồng ở trong vườn."

Miệng Dido lại há hốc ra.

"Ừ," cô nói cộc lốc.

"Tất nhiên là thế rồi.

Mẹ kiếp.

Rồi sao?"

"Có cả những người khác sống ở trong nhà nữa.

Rất có thể là một gia đình khác, với trẻ con.

Nhưng khi cảnh sát đến, không có ai ở đó cả.

Chỉ có những xác chết.

Và em.

Và lũ trẻ đã... biến mất.

Không ai nghe được gì thêm kể từ đó đến giờ."

Dido rùng mình, lấy tay đặt lên ngực.

"Kể cả anh chị em á?"

"Vâng," cô đáp.

"Hầu như không ai thấy họ trong mấy năm liền.

Hàng xóm cứ tưởng họ được gửi đến trường nội trú.

Nhưng không có trường nào đứng ra nói là họ đang được nhận học ở đó.

Và hẳn là một trong hai người họ đã ở lại nhà sau khi cha mẹ em qua đời, vì rõ ràng đã có ai đó chăm sóc cho em trong suốt mấy ngày liền.

Tã của em vẫn còn mới.

Và khi họ bế em ra khỏi cũi, họ tìm thấy cái này."

Cô lấy cái chân thỏ trong túi ra và đưa cho Dido.

"Nó được giấu ở dưới chăn của em."

"Để lấy may," Dido bảo.

"Em cũng đoán thế," Libby đáp lại.

"Và người đàn ông đã chết kia," Dido hỏi, "ông ta là ai vậy?"

"Chẳng ai biết cả.

Trong người ông ta không có giấy tờ gì để nhận dạng, chỉ có tên viết tắt của ông ta ký trên lá thư tuyệt mệnh.

Không ai báo ông ta mất tích, cũng không ai nhận ra ông ta từ bức phác hoạ của cảnh sát.

Giả thuyết cho rằng ông ta là một người lữ hành đến ở nhờ.

Có khi là dân Digan cũng nên.

Nếu như vậy thì cái này cũng phần nào được lý giải."

Cô vừa nói vừa chỉ vào cái bàn chân thỏ trong tay Dido.

"Digan à."

Dido thốt lên thích thú.

"Trời ơi."

"Và căn nhà lạ lắm.

Nó tối om.

Và sáng thứ Bảy lúc em ở đó, em nghe thấy một tiếng động lạ ở trên lầu."

"Tiếng gì cơ?"

"Hình như có ai.

Có ai đó chuyển động.

Em nghe cả tiếng ho nữa."

"Và em chắc đó không phải tiếng hàng xóm chứ?"

"Cũng có thể.

Nhưng thực sự tiếng động ấy nghe như kiểu nó phát ra từ trên nóc nhà.

Giờ thì em không dám quay lại đấy nữa.

Em cảm thấy em nên rao bán nó, thoát khỏi chuyện này để sống tiếp.

Nhưng..."

"Còn anh chị em..."

"Anh chị em.

Sự thật.

Gốc gác của em.

Tất cả đều được chôn chặt trong căn nhà đó, và nếu em bán nó đi, em sẽ không bao giờ biết được chuyện gì đã xảy ra."

Dido nhìn chằm chằm vào tờ báo một lúc.

Và rồi cô ngẩng lên nhìn Libby.

"Đây," Dido nói, tay gõ vào đầu bài báo.

"Anh ta.

Anh phóng viên."

Cô liếc mắt xuống dòng tên tác giả.

"Miller Roe.

Anh ta chính là người mà em cần tìm.

Em phải liên hệ ngay với anh ta.

Thử tưởng tượng xem anh ta sẽ thấy phấn khích như thế nào sau biết bao nhiêu tháng trời điều tra, giờ tự nhiên lại tìm thấy em trong hộp thư của mình.

Serenity Lamb chính hiệu.

Không những thế lại có thêm cả cái chân thỏ nữa."

Trong giây lát cả hai đều im lặng, ánh mắt đổ dồn xuống cái chân thỏ nằm trên bàn, giữa ánh sáng lấp lánh nhè nhẹ của buổi tối.

Libby lấy tờ báo từ tay Dido và tìm lấy hàng tên tác giả.

"Miller Roe".

Một cái tên hơi khác thường.

Google thử xem sao.

Cô lấy điện thoại từ trong túi ra và gõ tên anh ta.

Chỉ chưa đầy một phút cô đã tìm thấy địa chỉ liên hệ của anh ta trên tờ Guardian.

Cô quay điện thoại ra cho Dido xem.

Dido gật đầu điềm tĩnh.

"Tốt đấy," cô nói.

Rồi cô nâng ly Prosecco của mình lên và đưa nó về phía Libby.

"Vì Serenity Lamb," cô nói, "và vì cả Miller Roe nữa.

Mong người này sẽ giúp người kia tìm ra sự thật."
 
Gia Đình Lầu Trên
16


Lucy thức dậy vào năm rưỡi sáng hôm sau.

Cô cẩn thận trượt ra khỏi giường, con chó cũng nhảy xuống theo cô đi ra bếp, móng nó khua lạo xạo trên sàn vải sơn.

Giuseppe đã để sẵn túi trà, cà phê hoà tan và một túi bánh mì que vị chocolate ở trên bàn.

Ngoài ra trong tủ lạnh còn có thêm một chai sữa.

Lucy đặt một cái chảo lên bếp để đun nước sôi, rồi ngồi xuống chiếc ghế nhựa ở trong góc, mắt không rời tấm rèm che trên ô cửa sổ.

Một lúc sau cô đứng dậy và kéo rèm ra, rồi lại ngồi xuống nhìn tòa nhà đối diện, những ô cửa sổ tối phản chiếu ánh sáng màu cam của buổi sớm tinh mơ, những bức tường màu xám trong giây lát chuyển sang màu hồng.

Bầu trời trên cao xanh như màu nước giặt, chim chóc bay lượn thành vòng.

Giao thông lúc này vẫn chưa bắt đầu, và âm thanh duy nhất cô nghe thấy được là tiếng lục bục của nước đang sôi, cùng với tiếng bếp ga âm ỉ bên dưới.

Lucy nhìn điện thoại.

Không có gì cả.

Con chó nhìn cô như ngụ ý điều gì đó.

Cô mở cửa phòng, rồi lặng lẽ mở cửa sau nối ra đường, ra hiệu cho con chó đi ra ngoài.

Nó đi ngang qua cô, nhấc chân

hướng ra phía bên ngoài tòa nhà tầm nửa phút, rồi chạy vào trong.

Trong nhà, Lucy kéo cái ba lô về phía mình và mở khóa ngăn trong ra.

Trong đấy có hộ chiếu của cô.

Cô giở nó ra.

Đúng như cô dự đoán, hộ chiếu của cô đã hết hạn ba năm trước.

Lần cuối cô dùng nó là khi Marco lên hai, và cô cùng Michael đưa Marco sang New York để gặp bố mẹ Michael.

Sau đó ít lâu họ chia tay và cô chưa từng dùng lại hộ chiếu từ hồi ấy đến giờ.

Michael là người đầu tiên giúp cô làm hộ chiếu.

Hắn đã đặt chỗ cho cô và hắn đi nghỉ tuần trăng mật ở Maldives.

"Em yêu, đưa hộ chiếu cho anh," hắn nói.

"Anh cần lấy thông tin."

"Em không có hộ chiếu," cô nói.

"Vậy thì em phải đổi lấy cái mới ngay đi, không là sẽ không có trăng mật trăng mẽo gì đâu."

Cô thở dài và ngước lên nhìn hắn.

"Vấn đề là thế này," cô nói, "em không có hộ chiếu.

Chấm hết.

Em chưa bao giờ có hộ chiếu cả."

Hắn ngưng lại và nhìn cô một hồi lâu, những âm mưu trong đầu hắn có thể được thấy rõ trong khoảng trống giữa môi trên và môi dưới của hắn.

"Nhưng..."

"Em đến Pháp bằng xe ôtô, như một hành khách ấy.

Lúc đấy em còn nhỏ.

Không có ai hỏi xem hộ chiếu của em cả."

"Xe của ai?"

"Em không biết.

Chỉ là một cái xe thôi."

"Vậy là xe của người lạ à?"

"Không hẳn.

Không phải."

"Nhưng em tính thế nào?

Nhỡ người ta hỏi xem hộ chiếu thì em

tính sao?"

"Em không biết."

"Vậy em đã sống như thế nào?

Ý anh là..."

"Ờ thì, như cách mà anh đã tìm thấy em ấy," cô đáp ráo hoảnh, "chơi đàn violin kiếm mấy xu lẻ.

Rồi thuê phòng trọ ngủ qua đêm."

"Từ khi em còn bé á?"

"Từ khi em còn bé."

Hồi đó cô đã đặt trọn lòng tin vào hắn, một gã người Mỹ cao ráo, ân cần, với nụ cười quyến rũ.

Hồi đó hắn là người hùng của cô, người đã đến xem cô chơi mỗi đêm trong suốt một tháng trời, người đã nói với cô rằng cô là nữ nhạc công violin xinh đẹp nhất mà hắn từng thấy, người đã đưa cô đến căn nhà màu hồng trang nhã của hắn, và đưa chiếc khăn mềm mại cho cô lau người sau khi cô dành cả nửa tiếng đồng hồ trong phòng tắm được lát gạch khảm vàng, người đã chải mái tóc còn ướt của cô, và khiến cô rùng mình khi những đầu ngón tay của hắn lướt qua bờ vai trần, người đã đưa bộ quần áo bẩn thỉu của cô cho người giúp việc mang đi giặt là, gấp gọn ghẽ, xếp thành hình quạt, rồi đặt lên giường trong phòng ngủ cho cô.

Hồi ấy hắn luôn đụng chạm rất nhẹ nhàng, e dè và lịch thiệp.

Tất nhiên là cô đã đặt trọn lòng tin vào hắn.

Rồi cô kể cho hắn nghe tất cả mọi thứ, toàn bộ câu chuyện về cuộc đời cô, hắn nhìn cô với đôi mắt màu hạt dẻ lấp lánh, và nói, "Không sao đâu, giờ em đã an toàn rồi.

Giờ em an toàn rồi."

Và hắn kiếm cho cô một cuốn hộ chiếu.

Cô không biết hắn kiếm kiểu gì, hay kiếm từ ai.

Thông tin trong đó không chính xác hoàn toàn: tên của cô không đúng, nơi sinh và ngày tháng năm sinh của cô cũng vậy.

Nhưng đó là một cuốn hộ chiếu tốt, nhờ nó mà cô đã đi được đến Maldives rồi quay trở lại Pháp, đến Barbados rồi quay trở lại Pháp, sau đó là Ý, Tây Ban Nha, và cả New York rồi quay trở lại Pháp mà không bị ai hỏi han gì cả.

Nhưng giờ hộ chiếu của cô đã hết hạn, và cô không biết cách nào để kiếm cái khác, và cô cũng không biết cách nào để quay về Anh.

Chưa kể là giờ cả hai đứa con của cô đều chẳng có hộ chiếu, con chó cũng không có hộ chiếu thú cưng.

Cô đóng cuốn hộ chiếu lại và thở dài.

Có hai cách để giải quyết vấn đề này, một cách thì nguy hiểm và bất hợp pháp, còn cách kia thì nguy hiểm hơn rất nhiều lần.

Cô chỉ còn một sự lựa chọn khác, đó là không đi nữa mà thôi.

Lúc này tâm trí cô tràn ngập những hình ảnh của hai mươi tư năm trước, khi cô rời nước Anh.

Cô cố hồi tưởng lại những khoảnh khắc cuối cùng ấy đến cả nghìn lần: tiếng cánh cửa đóng lại sau lưng cô lần cuối, tiếng cô thì thầm, Mẹ sẽ quay trở lại, mẹ hứa, mẹ hứa với con, lặp đi lặp lại cả chục lần khi cô chạy xuống phố Cheyne giữa đêm, tim đập thình thịch, vừa chạy vừa thở hổn hển, và khi cơn ác mộng này của cô kết thúc, thì cơn ác mộng khác lại bắt đầu.
 
Gia Đình Lầu Trên
17


Phải mất gần hai tuần Phineas Thomsen mới chịu nói chuyện với tôi.

Hoặc có thể là tôi chịu nói chuyện với cậu ấy, ai mà biết được.

Tôi chắc là cậu ấy có ý kiến của riêng mình.

Nhưng theo trí nhớ của tôi (và dĩ nhiên tất cả những gì viết ở đây đều dựa hoàn toàn trên trí nhớ của tôi) thì cậu ấy bắt đầu trước.

Như thường lệ, hôm ấy tôi đang quanh quẩn trong bếp với mẹ tôi, và nghe lỏm cuộc nói chuyện của mẹ tôi với những người phụ nữ hình như đã chuyển sang sống ở nhà chúng tôi.

Tại thời điểm ấy, tôi đã ngầm phát hiện ra cách duy nhất để biết chuyện gì đang xảy ra trên thế giới này, đó là nghe những người phụ nữ buôn chuyện.

Bất cứ ai phớt lờ những câu chuyện tán dóc của phụ nữ đều sẽ nghèo đi, trên mọi góc độ.

Tới giờ Birdie và Justin đã sống với chúng tôi được năm tháng, còn nhà Thomsen thì gần hai tuần.

Cuộc trò chuyện trong bếp hôm đó vận hành theo một chu kỳ luân phiên bốn mươi tám tiếng: vấn đề đáng lo ngại về nơi ăn chốn ở của Sally và David.

Cho đến tận thời điểm này, tôi vẫn mù quáng tin vào lời ngụy biện rằng Sally và

David sẽ chỉ ở tạm đây ít lâu mà thôi.

Cứ vài ngày, khả năng Sally và David chuyển đi lại được đề cập, và được đưa ra bàn bạc kỹ càng, và cảm giác Sally và David sắp không còn ở đây nữa bắt đầu treo lơ lửng trong một thời gian ngắn, như cố ý trêu ngươi tôi, cho đến khi, bốp, bỗng nhiên họ phát hiện ra một lỗ hổng nào đó mà không ai có thể lấp đầy, và thế là mọi ý tưởng lại bắt đầu lại từ đầu.

Cái "khả năng" đang được đề cập đến lúc này là một ngôi nhà thuyền ở Chiswick.

Căn nhà ấy thuộc về một bệnh nhân của David.

Cô ta quyết định đi du lịch bụi một năm, và cần tìm ai đó chăm sóc cho mấy con rồng Úc của cô ta.

"Nhưng nhà ấy chỉ có một phòng ngủ," Sally nói với mẹ tôi và Birdie.

"Mà cái phòng ngủ cũng nhỏ xíu.

Rõ ràng là tôi và David có thể ngủ trong phòng khách, nhưng chỗ đó cũng hơi chật, vì mấy cái bể nuôi thằn lằn."

"Trời ạ," Birdie nói, mải mê cậy da khô ở quanh đầu ngón tay, và những mảnh bong tróc rơi xuống lưng con mèo.

"Có bao nhiêu cái?"

"Bể nuôi thằn lằn á?"

"Ừ.

Gì cũng được."

"Chịu.

Sáu bảy cái gì đấy.

Có lẽ chúng tôi sẽ phải tìm cách để chồng chúng lên nhau."

"Nhưng còn mấy đứa trẻ con thì sao.

Chúng có chịu ở chung phòng không?

Nhất là lại chỉ có giường đôi nữa.

Ý tôi là, Phin cũng sắp thành thiếu niên rồi..."

"Ôi giời, chỉ là ở tạm thôi.

Cho đến khi chúng tôi tìm được chỗ nào lâu dài."

Tôi nhìn lên.

Đây chính là lúc mà mọi kế hoạch bắt đầu đổ bể.

Giây phút ấy trở nên rõ ràng khi ai cũng thấy được những thứ mà họ vạch ra thực sự ngớ ngẩn, và Sally sẽ bình thản nói rằng, "Ôi không sao đâu, chúng tôi cũng không định ở lại đấy lâu dài," và mẹ tôi sẽ nói, "Đừng, chị buồn cười thật, nhà chúng tôi còn đầy chỗ.

Anh chị không phải vội đi đâu cả."

Lúc này Sally sẽ thả lỏng người, miệng nở nụ cười, tay với tay mẹ tôi và nói, "Tôi đâu muốn lạm dụng lòng hiếu khách của anh chị."

Và người mẹ đẹp của tôi sẽ nói, bằng giọng Đức tuyệt đẹp của bà, "Vớ vẩn, Sally.

Vớ vẩn.

Cứ từ từ.

Rồi chị sẽ tìm thấy chỗ nào khác thôi.

Một chỗ nào đấy lý tưởng cho anh chị và các cháu."

Thế là vào một chiều cuối tháng Chín, dự án ấy đi vào ngõ cụt.

Kế hoạch chuyển đến ngôi nhà thuyền của Sally được đưa ra tranh luận và bác bỏ trong vỏn vẹn tám phút, và đây rất có thể là một kỷ lục mới.

Thực tâm tôi cảm thấy bị giằng xé bởi gia đình Thomsen.

Sự có mặt của họ làm xáo trộn cuộc sống của gia đình tôi.

Không chỉ vì những thứ đồ đạc lỉnh kỉnh họ mang theo, mà còn vì chính họ, vì thân hình, vì âm thanh, vì mùi hương, vì sự khác biệt của họ.

Em gái tôi và Clemency giờ hợp lại thành một liên minh đáng bị báng bổ, trước đã ồn, nay còn ồn hơn.

Chúng chạy ầm ầm cả ngày từ sáng sớm đến tối muộn, chơi những trò chơi đóng vai kỳ lạ, và tất cả những gì chúng làm dường như đều có mục đích là làm sao tạo ra nhiều tiếng ồn nhất có thể.

Thế chưa đủ, Birdie còn dạy cả hai đứa chơi đàn violin, và điều này càng làm cuộc sống của tôi thêm khốn khổ.

Và, tất nhiên, không thể không kể tới David Thomsen, một con người với quyền năng hiện diện ở khắp các tầng nhà.

Không chỉ chiếm hữu căn phòng ở tầng trên để làm phòng ngủ, bằng cách nào đó ông ta còn trưng dụng luôn cả phòng khách của chúng tôi, nơi có cái xà của cha tôi, để làm phòng tập cho riêng cho mình.

Có lần lén nhìn qua khe nứt trên cửa tôi đã thấy ông ta nâng toàn bộ cơ thể mình lên chỉ bằng đầu ngón tay.

Nhưng bù lại, tôi được thấy Phin.

Nhưng Phin chẳng bao giờ chịu nhìn mặt tôi, huống chi là nói chuyện với tôi.

Thậm chí Phin cư xử như không thấy tôi ở đấy.

Cậu ấy càng làm vậy, tôi lại càng khát khao được cậu ấy để ý đến.

Và rồi cuối cùng ngày ấy cũng tới.

Lúc ấy tôi vừa bước ra khỏi bếp, ngay sau khi Sally và David quyết định ở lại, tôi suýt chút nữa thì lao vào Phin đang đi tới từ một hướng khác.

Cậu ấy mặc chiếc áo nỉ phai màu, trên có chữ trang trí, cùng quần jeans rách ở đầu gối.

Cậu ấy dừng lại khi thấy tôi, và lần đầu tiên, ánh mắt của chúng tôi chạm nhau.

Tôi nín thở.

Tôi cố tìm trong dòng suy nghĩ rối ren của mình một điều gì đấy để nói, nhưng tôi không thể.

Tôi đi sang trái, cậu di chuyển sang bên phải của cậu.

Tôi xin lỗi rồi di chuyển sang bên phải của tôi.

Tôi tưởng cậu ấy sẽ chỉ im lặng bước qua, nhưng rồi cậu ấy nói, "Cậu biết gia đình tớ đến đây là để ở lại, đúng không?"

"Xin lỗi cậu nói gì cơ?"

"Đừng để ý đến những gì ba mẹ tớ nói về chuyện chuyển ra ngoài.

Nhà tớ sẽ không đi đâu hết.

Cậu biết đấy," Phin tiếp tục, "gia đình tớ sống trong căn nhà cũ ở Bretagne tận hai năm liền.

Đáng lẽ

ra nhà tớ chỉ được ở đấy mấy ngày nghỉ lễ thôi."

Cậu ấy dừng lại và nhướng một bên chân mày.

Rõ ràng là tôi phải tìm cách đáp lại những lời Phin vừa nói, nhưng đầu óc tôi giờ đã bị cậu ấy làm cho mụ mị hết cả.

Tôi chưa bao giờ đứng gần ai đẹp như thế.

Hơi thở của cậu có mùi bạc hà.

Cậu nhìn tôi chằm chằm, và tôi thấy nỗi thất vọng thoáng qua trên gương mặt cậu, cũng không hẳn là thất vọng, mà là cam chịu, như thể sự im lặng của tôi đã chứng thực những gì cậu ấy vẫn nghĩ về tôi, rằng tôi chỉ là một đứa tẻ nhạt và vô vị, không đáng để cậu ấy quan tâm.

"Tại sao gia đình cậu lại không có nhà riêng?" cuối cùng thì tôi cũng hỏi.

Cậu nhún vai.

"Vì ba tớ bủn xỉn, ông ấy không muốn trả tiền thuê nhà."

"Vậy gia đình cậu đã bao giờ sở hữu một cái nhà riêng chưa?"

"Rồi.

Đã từng.

Nhưng ba tớ bán đi để lấy tiền cho cả nhà đi du lịch."

"Thế còn chuyện học hành của cậu thì sao?"

"Liên quan gì đến chuyện học hành của tớ?"

"Cậu đi học vào lúc nào?"

"Tớ thôi đi học từ năm lên sáu rồi.

Mẹ tớ dạy tớ ở nhà."

"Ôi chao," tôi nói.

"Thế còn bạn bè của cậu thì sao?"

Cậu ấy nhìn tôi ngờ vực.

"Cậu không nhớ bạn của cậu à?"

Phin nheo mắt.

"Không," cậu trả lời gọn lỏn.

"Không chút nào."

Cậu ấy nhìn tôi như thể cậu ấy muốn đi ra chỗ khác.

Nhưng tôi không muốn cậu ấy đi.

Tôi vẫn muốn được ngửi mùi bạc hà trong hơi thở của cậu ấy và nghe cậu ấy nói về mình nhiều hơn.

Mắt tôi hướng xuống quyển sách trong tay cậu.

"Cậu đang đọc quyển gì đấy?"

Tôi hỏi.

Cậu nhìn xuống rồi quay quyển sách lên.

Đó là The Dice Man của Luke Rhinehart, một cuốn tiểu thuyết mà lúc đó tôi chưa từng nghe tới, nhưng đến giờ thì chắc tôi cũng phải đọc đi đọc lại được khoảng ba chục lần rồi.

"Có hay không?"

"Sách nào cũng hay cả," cậu ấy đáp.

"Không đúng," tôi nói.

"Tớ từng đọc mấy quyển dở tệ."

Tôi đang nghĩ đến Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh, cuốn tiểu thuyết mà chúng tôi bị ép phải đọc kỳ trước, và đó là cuốn sách khó chịu, ngu ngốc nhất mà tôi từng biết.

"Đó không phải là những quyển sách dở tệ," Phin kiên nhẫn phản đối.

"Chỉ là những quyển sách mà cậu không thích mà thôi.

Hai thứ ấy khác nhau hoàn toàn.

Những quyển sách dở tệ phải là những quyển sách viết dở đến nỗi mà không ai chịu xuất bản kia.

Còn bất cứ cuốn sách nào đã được xuất bản thì sẽ hẳn là một cuốn 'sách hay', ít nhất là trong mắt của một ai đó."

Tôi gật đầu.

Tôi không thể tìm ra lỗi sai nào trong logic của cậu ấy cả.

"Tớ sắp đọc xong rồi," cậu nói, nhìn xuống cuốn sách trong lòng bàn tay.

"Cậu có thể mượn đọc nếu cậu muốn."

Tôi gật đầu thêm lần nữa.

"Ừ," tôi nói.

"Cảm ơn cậu."

Và cậu ấy bỏ đi.

Nhưng tôi đứng ở yên đó, đầu tôi như bị rung

động, lòng bàn tay tôi ướt nhẹp, và tim tôi tràn ngập một điều gì đó phithường và mới mẻ.
 
Gia Đình Lầu Trên
18


Miller Roe đã đứng chờ sẵn ở đó khi Libby tiến lại gần.

Cô nhận ra anh từ tấm hình trên mạng, dù anh đã để râu kể từ khi chụp tấm ảnh tác giả đó, và cũng đã kịp tăng thêm mấy cân.

Anh đang ăn dở một chiếc bánh mì sandwich hổ lốn, trên râu dính chút xốt mù tạt vàng.

Anh lau ngón tay lên khăn giấy trước khi bắt lấy tay Libby và nói, "Libby, wow, gặp được cô tôi rất mừng.

Gặp được cô tôi rất mừng!"

Anh nói giọng London và có đôi mắt màu xanh đậm.

Tay anh to bản.

"Đây, mời cô ngồi xuống.

Để tôi mời cô món gì nhé?

Ở đây có bánh sandwich ngon tuyệt."

Cô thoáng nhìn chiếc bánh nát bét như bị xe cán của anh và nói, "Tôi vừa mới ăn sáng xong."

"Vậy cà phê nhé, hay trà?"

"Một cốc cappuccino là được rồi, cảm ơn anh."

Cô nhìn anh tiến đến quầy pha chế trong quán cà phê thời thượng ở hẻm West End nằm chính giữa đường đi từ St Albans đến Nam Norwood, nơi mà anh đã gợi ý hai người chọn lấy làm điểm gặp mặt.

Anh mặc quần jeans cạp trễ, áo phông bạc màu, bên ngoài

khoác áo bông màu xanh lá cây, chân đeo bốt.

Bụng anh to, đầu cũng to, tóc nâu dày.

Nhìn anh hơi gấu làm cô thấy có chút gì đó choáng ngợp, nhưng không hẳn là không hấp dẫn.

Anh mang tách cappuccino lại và đặt trước mặt cô.

"Tôi rất biết ơn cô đã dành thời gian để đến đây gặp tôi.

Tôi mong trên đường đi đến đây cô không gặp vấn đề gì."

Nói đoạn anh đẩy đĩa sandwich sang một bên như thể anh không muốn ăn tiếp nữa.

"Mọi thứ đều ổn," cô nói, "mười lăm phút, thẳng một mạch."

"Cô đi từ St Albans đến, đúng không?"

"Vâng."

"Chỗ đó đẹp, St Albans ấy."

"Vâng," cô đồng tình.

"Tôi thích ở đấy."

"Vậy," anh nói, đoạn ngừng lại và nhìn cô đầy ngụ ý, "cô chính là em bé đó à."

Cô cười gượng.

"Có vẻ vậy."

"Và giờ cô đã nhận quyển thừa kế lại căn nhà?"

"Vâng, đúng ạ."

"Ồ wow," anh nói.

"Lật ngược ván bài."

"Đúng là như thế," cô đồng tình.

"Cô đã tới đó chưa?"

"Tới ngôi nhà á?"

"Ừ."

"Rồi, một vài lần."

"Chúa ơi."

Anh ta ngã ngửa người ra sau ghế.

"Tôi đã cố thuyết

phục không biết bao nhiêu lần để họ cho tôi vào ngôi nhà đó.

Chắc chỉ thiếu mỗi nước tôi tặng tay luật sư ấy đứa con đầu lòng của tôi nữa thôi.

Có đêm tôi còn định lẻn vào."

"Vậy anh chưa bao giờ vào bên trong ngôi nhà à?"

"Chưa, tôi chưa bao giờ."

Anh cười nhạt.

"Tôi cố nhìn qua cửa sổ; tôi còn đi nịnh bợ mấy người hàng xóm ở phía sau nhà cô để họ cho tôi nhìn qua cửa sổ nhà họ.

Nhưng tôi chưa bao giờ vào trong nhà.

Trong đó trông như thế nào?"

"Tối tăm lắm," cô nói.

"Chỗ nào cũng ốp gỗ.

Có vẻ hơi quái dị."

"Và nếu tôi không nhầm thì cô định bán nó chứ?"

"Vâng, tôi sẽ bán.

Nhưng..."

Cô lướt ngón tay quanh miệng tách cà phê, cố tìm từ ngữ để diễn tả những gì cô muốn nói tiếp theo.

"Nhưng trước tiên tôi muốn biết chuyện đã xảy ra."

Miller Roe làu bàu khe khẽ, tay xoa râu, làm chỗ xốt dính trên râu lúc nãy nhoe nhoét ra chỗ khác.

"Lạy Chúa, cả tôi và cô.

Hai năm cuộc đời tôi, bài báo đó đã tước đoạt của tôi, hai năm ám ảnh, điên cuồng, hai năm chết tiệt của đời tôi.

Huỷ hoại cả cuộc hôn nhân của tôi lúc bấy giờ, và tôi vẫn chưa thấy câu trả lời mà tôi đang tìm kiếm.

Không một manh mối."

Anh cười với cô.

Cô nghĩ anh có khuôn mặt đẹp.

Cô cố đoán tuổi anh, nhưng cô không thể.

Nói anh ta hai lăm tuổi có vẻ đúng, mà nói anh ta bốn mươi tuổi trông cũng không sai.

Cô với lấy túi xách và lôi ra chùm chìa khóa của ngôi nhà trên phố Cheyne, rồi đặt nó lên bàn trước mặt anh.

Anh hướng mắt xuống chùm chìa khóa, và cô thấy một làn sóng

khao khát mãnh liệt lướt qua mắt anh.

Tay anh rướn qua bàn.

"Lạy Chúa tôi.

Cô cho phép tôi chứ?"

"Vâng," cô nói.

"Anh cứ tự nhiên."

Anh chăm chú nhìn từng chiếc chìa một, tay mân mê chiếc móc khóa.

"Jaguar à?" anh hỏi, ngước lên nhìn cô.

"Chắc thế."

"Cô biết không, Henry Lamb, cha cô, cũng từng chơi bời có tiếng đấy.

Ông ấy hay hò hét đi săn vào cuối tuần, rồi trong tuần thì tiệc tùng ở câu lạc bộ đêm Annabel."

"Tôi biết," cô đỏ mặt đáp lại.

"Tôi đã đọc bài báo anh viết rồi."

"Phải," anh nói, "hẳn rồi."

Giữa họ có một khoảng lặng ngắn.

Miller nhón một miếng bánh sandwich bỏ vào miệng.

Libby nhấp một ngụm cà phê.

"Vậy," anh nói, "chúng ta làm gì tiếp theo?"

"Tôi muốn tìm anh chị tôi."

"Họ chưa bao giờ liên lạc với cô ư?"

"Chưa.

Chưa bao giờ.

Anh có giả thuyết gì không?"

"Tôi có cả triệu giả thuyết.

Nhưng câu hỏi quan trọng ở đây là: Họ có biết ngôi nhà được ủy thác cho cô không?

Và nếu họ biết, liệu họ có biết cô đã chấp nhận quyền sở hữu nhà không?"

Libby thở dài.

"Tôi không biết.

Ông luật sư nói rằng quỹ ủy thác này đã được thành lập từ nhiều năm trước rồi, từ khi anh trai tôi ra đời.

Đáng lẽ nó phải thuộc về anh tôi, khi anh tròn hai lăm tuổi.

Nhưng anh chưa bao giờ đứng ra để nhận nó.

Rồi đến chị tôi, nhưng chị tôi cũng không đến nhận... và tất nhiên ông luật sư cũng không

có cách nào liên hệ được với họ.

Nhưng đúng, tôi đoán có khả năng là họ biết nó sẽ được ủy thác lại cho tôi.

Nếu..."

Cô định nói nếu họ vẫn còn sống, nhưng cô ngăn mình lại.

"Và người đàn ông," cô nói, "người đàn ông chết trên sàn với cha mẹ tôi.

Trong bài báo anh viết là anh đã lần theo rất nhiều manh mối.

Nhưng anh chưa bao giờ tìm ra được ông ta là ai à?"

"Không, bực là không."

Miller xoa râu.

"Mặc dù chỉ có một cái tên xuất hiện mà thôi.

Tôi đã phải từ bỏ công cuộc thu thập thêm tin tức về ông ta.

Nhưng nó vẫn làm tôi day dứt mãi.

David Thomsen."

Libby ném cho anh ta cái nhìn khó hiểu.

"Trên lá thư tuyệt mệnh có ba tên họ viết tắt, cô nhớ chứ?

ML, HL, DT.

Thế là tôi hỏi cảnh sát danh sách những người mất tích năm đó có tên viết tắt là DT.

David Thomsen là một trong số ba mươi tám người mà họ phát hiện được.

Ba mươi tám người mất tích có tên viết tắt là DT.

Mười người trong số họ ở độ tuổi của Và tôi loại trừ từng người một.

Nhưng riêng người này lại thu hút tôi.

Tôi không biết tại sao.

Có điều gì đó về người đàn ông này khiến tôi cảm thấy có vẻ ông ta chính là người mà tôi đang tìm.

Một người đàn ông bốn mươi hai tuổi đến từ Hampshire.

Gia cảnh bình thường.

Nhưng không có bất cứ loại sổ sách nào lưu trữ thông tin về ông ta, ở bất cứ đâu, sau khi ông ta từ Pháp quay trở lại Anh vào năm 1988, với vợ tên là Sally, và hai đứa con tên là Phineas và Clemency.

Bốn người bọn họ đi bằng phà từ tới vào..."

Anh lướt qua quyển sổ ghi chép một lúc, "... tháng Chín năm 1988.

Và từ đó trở đi mọi dấu vết của họ đều biến mất: không có trong sổ khám bệnh của bác sĩ,

không thuế má, không giấy nhập học, không đi bệnh viện, không gì cả.

Người nhà của gia đình này gọi họ là 'những kẻ cô đơn', có vẻ như đã có rạn nứt và thù hằn ở đâu đó, vì lý do thừa kế, hay đại loại thế.

Vì thế nên cũng chẳng ai buồn quan tâm xem họ ở đâu.

Trong suốt nhiều năm liền.

Mãi cho đến khi gần đất xa trời, mẹ của David Thomsen muốn hòa giải với con trai trong cơn hấp hối, nên đã báo cảnh sát là David và gia đình của ông ta đã mất tích.

Cảnh sát tìm lấy lệ, nhưng không thấy dấu vết gì, rồi mẹ của David qua đời, và không ai hỏi gì về David hay Sally Thomsen nữa.

Cho đến tôi, ba năm trước."

Miller thở dài.

"Tôi đã cố gắng truy lùng theo tung tích của họ.

Phineas.

Clemency.

Toàn là những cái tên lạ cả.

Nếu họ ở ngoài kia thì đáng lẽ phải dễ tìm ra mới đúng.

Nhưng không có một cái gì cả.

Kể cả một dấu vết.

Và tôi cần nộp bài, tôi cần được trả tiền, và tôi phải từ bỏ."

Anh ta lắc đầu.

"Giờ cô đã thấy chưa?

Cô đã thấy tại sao tôi mất tận hai năm liền, tại sao câu chuyện này suýt nuốt sống tôi chưa?

Tại sao vợ tôi bỏ tôi.

Tôi trở thành một bóng ma, lúc nào cũng tìm tìm kiếm kiếm.

Nó là tất cả những gì tôi nghĩ đến, tất cả những gì tôi nói về."

Anh thở dài và lướt ngón tay qua chùm chìa khóa.

"Nhưng được rồi, hãy làm thôi.

Hãy cùng nhau đi tìm xem chuyện gì đã xảy ra với những con người ấy.

Hãy cùng nhau tìm ra xem chuyện gì đã xảy đến với cô."

Anh với tay ra để bắt tay cô.

"Cô đồng ý chứ, Serenity Lamb?"

"Vâng," Libby nói, bắt lấy tay anh.

"Tôi đồng ý."

Libby đi thẳng đến chỗ làm sau bữa sáng với Miller Roe.

Mới chín rưỡi sáng và Dido cũng chưa kịp nhận ra là hôm nay cô lại đi muộn nữa.

Nhưng khi nhận ra, Dido sững lại sửng sốt, và vội vàng thì thầm với Libby, "Ôi Chúa ơi!

Tay nhà báo!

Thế mọi chuyện sao rồi!"

"Tuyệt vời," Libby đáp lời.

"Bọn em định gặp nhau ở ngôi nhà đó tối nay.

Để bắt đầu cuộc điều tra."

"Chỉ có mình em," Dido nói, mũi hơi nhăn lại, "và anh ta á?"

"Vâng."

"Hừm.

Em có chắc đó là ý kiến hay không?"

"Gì cơ ạ?

Tại sao?"

"Chị không biết.

Nhỡ anh ta không phải là người như em nghĩ thì sao."

Dido nheo mắt lại.

"Chị nghĩ là chị nên đi cùng em."

Libby chớp mắt chậm rãi rồi sau đó mỉm cười.

"Nếu muốn chị chỉ việc hỏi em thôi mà."

"Chị không biết em có ý gì."

Dido quay mặt lại nhìn máy tính xách tay.

"Chị chỉ muốn bảo vệ em thôi."

"Được thôi," Libby nói, miệng vẫn cười.

"Chị có thể 'bảo vệ' em.

Em hẹn anh ta lúc bảy giờ.

Vậy đúng sáu giờ mười một là mình phải lên đường.

Được không?"

"Ừ," Dido nói, mắt vẫn dán vào màn hình.

"Được.

Mà này," đột nhiên cô ngẩng đầu nhìn lên.

"Chị đã đọc hết tất cả những cuốn tiểu thuyết do viết.

Hai lần liền.

Nên biết đâu em lại thấy chị có ích cũng nên."
 
Gia Đình Lầu Trên
19


Lucy ra khỏi nhà khi các con cô còn đang ngủ, để lại một tờ giấy nhắn trên bàn cạnh giường cho Marco: "Mẹ đi giải quyết vụ hộ chiếu.

Mấy tiếng nữa mẹ về.

Cho em ăn cái gì đi nhé.

Con chó ở chỗ Giuseppe."

Cô bước ra khỏi cửa lúc tám giờ sáng và đi bộ sang phía bên kia thị trấn để đến ga tàu Nice.

Cô dừng lại một lúc và ngồi trên ghế nghỉ, để nắng ban mai dịu dàng sưởi ấm làn da cô.

Đúng tám giờ bốn lăm, cô lên tàu đi Antibes.

Chỉ sau chín giờ một chút cô đã có mặt ở trước nhà Michael.

Một đám ruồi nhặng xanh bu lấy bãi phân của Fitz từ sáng hôm trước.

Cô mím môi cười.

Và rồi, vô cùng chậm rãi, cô bấm chuông cửa, ruột gan cô như đang có lửa đốt bên trong.

Bà giúp việc ra mở cửa.

Bà cười khi thấy Lucy và nói, "Chào cô!

Cô là vợ cũ của Michael!

Từ ngày xưa!

Mẹ của con trai Michael!

Tôi không biết là trước đấy Michael lại có con trai đâu đấy."

Hai tay bà ôm lấy ngực, trông bà thực sự vui mừng.

"Cậu bé xinh trai quá đi.

Vào đây, vào đây."

Căn nhà im ắng.

Lucy hỏi, "Michael có nhà không ạ?"

"Có, có.

Cậu ấy đang tắm.

Cô đợi cậu ấy ngoài sân nhé.

Được không?"

Joy dẫn cô ra sân và mời cô ngồi, rồi khăng khăng đòi mang cà phê với bánh quy mềm amaretti ra đặt bên bàn cho cô, ngay cả khi Lucy bảo cô uống nước lọc được rồi.

Michael không xứng đáng có được người phụ nữ này, cô nghĩ.

Michael không xứng đáng có được cái gì hết.

Cô cho tay vào trong túi và lấy ra cuốn hộ chiếu cũ của cô, và một cái ví bé xíu, trong có kẹp ảnh của Stella và Marco.

Cô uống cà phê nhưng không động vào chỗ amaretti vì cô sợ nuốt không trôi.

Một con chim trảu sặc sỡ đậu trên cây nhòm xuống vườn xem có gì ăn không.

Cô bẻ vụn mấy cái bánh amaretti rồi ném ra sân cho nó xuống ăn.

Nó chẳng để ý, bay đi mất.

Bụng Lucy quặn thắt lại.

Giờ đã là chín rưỡi sáng.

Và cuối cùng thì hắn cũng xuất hiện, mặc áo phông trắng chỉn chu và quần đùi màu xanh lá cây, mái tóc thưa thớt dần của hắn vẫn còn ướt, chân đi trần.

"Ôi, lạy Chúa tôi," hắn nói, má hắn chạm hai má cô.

"Hai lần trong hai ngày.

Chắc hẳn hôm nay phải là sinh nhật của anh rồi.

Em không mang con theo sao?"

"Không.

Em để chúng nó ngủ.

Đêm qua chúng nó thức muộn."

"Lần sau vậy."

Hắn nở nụ cười rạng rỡ, ngồi xuống, bắt tréo chân.

"Vậy, anh phải làm gì để xứng đáng với vinh dự này đây?"

"Chà," cô đặt đầu ngón tay lên bìa cuốn hộ chiếu và mắt hắn nhìn xuống theo cô.

"Em phải đi về nhà," cô nói.

"Bạn em đang ốm.



khi không qua khỏi.

Em muốn thăm cô ấy, trước khi cô ấy... nhỡ đâu... anh biết đấy."

Một giọt nước mắt lăn ra từ khóe mắt trái của cô và hạ cánh xuống cuốn hộ chiếu một cách kỳ diệu.

Cô lau nó đi.

Cô không định khóc, nhưng nước mắt cứ chảy ra.

"Ôi, em yêu."

Michael đặt tay lên tay cô.

Cô cười nhẹ, cố gắng ra vẻ biết ơn trước cử chỉ vừa rồi.

"Thật đáng buồn.

Cô ấy bị sao vậy?

Ung thư à?"

Cô gật đầu.

"Ung thư buồng trứng."

Cô rút tay ra khỏi tay hắn rồi đưa lên miệng để che đi một tiếng nấc nhỏ.

"Sang tuần tới em muốn đi," cô nói, "nhưng hộ chiếu của em, nó hết hạn rồi.

Mà em cũng chẳng có hộ chiếu cho các con.

Em rất xấu hổ khi phải hỏi xin anh.

Vả lại, hôm qua anh hào phóng với em quá, lại còn cho em tiền để đi sửa đàn nữa.

Và em cũng sẽ chẳng xin anh đâu nếu em có lựa chọn nào khác.

Nhưng anh còn quen mấy người đó không?

Mấy người làm hộ chiếu cho em ấy?"

Cô lướt tay qua mắt rồi ngước nhìn hắn với ánh mắt đáng thương, và cô mong là nó cũng không kém phần quyến rũ.

"Ôi trời, cũng không hẳn.

Nhưng, nhìn anh này, anh sẽ cố gắng."

Hắn kéo cuốn hộ chiếu lại phía mình.

"Cứ để nó ở lại đây với anh."

"Đây.

Em mang cả ảnh nữa.

Và Chúa ơi, em biết điều này nghe có vẻ điên rồ, nhưng em cần hộ chiếu cho cả con chó nữa.

Nó quá hạn mấy mũi tiêm phòng nên em không thể làm theo cách truyền thống được.

Mà chỉ có Chúa mới biết làm thế mất bao lâu..."

"Em mang chó đi theo à?

Để thăm bạn đang ốm thập tử nhất sinh?"

"Em không còn lựa chọn nào khác."

"Sao không để anh trông cho?"

Cô cố không tỏ ra kinh hãi trước suy nghĩ để con chó yêu quý của cô vào tay tên quái vật này.

"Nhưng anh biết làm gì với con chó cơ chứ?"

"Ơ, Chúa ơi, anh không biết.

Chơi với nó?

Dắt nó đi dạo?

Cho nó ăn?"

"Phức tạp hơn thế nhiều.

Anh sẽ phải dậy mỗi sáng để cho nó đi vệ sinh.

Và anh sẽ phải dọn phân cho nó."

Michael đảo mắt và nói.

"Bà Joy yêu chó lắm.

Chắc bà ấy sẽ thích có con chó ở bên.

Và anh cũng thế."

Tất nhiên rồi, Lucy nghĩ, Michael có người dọn phân chó cho hắn cơ mà.

"Nhưng," cô nói, "Em muốn đưa nó đi cùng với em.

Mấy đứa trẻ con quấn con chó lắm, cả em cũng thế..."

"Để anh xem anh có thể giúp được gì," hắn đáp.

"Anh nghĩ hộ chiếu cho con chó sẽ phức tạp hơn đôi chút thôi.

Nhưng anh sẽ cố."

"Chúa ơi," cô nói, mắt mở to ra vẻ biết ơn.

"Cảm ơn anh rất nhiều, Michael.

Anh không biết lúc này em đang cảm thấy nhẹ nhõm thế nào đâu.

Em vừa mới nhận được tin nhắn về bạn em đêm hôm qua và cả đêm em không ngủ được, vì lo lắng không biết em sẽ đi thăm cô ấy như thế nào.

Cảm ơn anh."

"Đừng, anh đã làm đâu."

"Em biết," cô nói.

"Em biết là anh chưa làm chứ.

Nhưng em vẫn rất biết ơn."

Cô nhìn nét mặt hắn chuyển từ quan tâm ân cần sang biến thái.

"Em thật sự, thật sự thấy biết ơn chứ?"

Cô cố nặn ra một nụ cười.

Cô biết chuyện này sẽ đi tới đâu; cô đã chuẩn bị tinh thần sẵn hết rồi.

"Thật sự rất, rất, rất biết ơn ạ," cô nói.

"À há."

Hắn ngả người ra ghế và mỉm cười.

"Anh thích nghe điều đó."

Cô cười đáp lại và lấy tay vuốt tóc.

Hắn hướng mắt lên những cánh cửa đóng chặt trên đầu họ, bên ngoài phòng ngủ chính, nơi mà hắn đã hãm hiếp cô không biết bao nhiêu lần trong thời gian hai người còn kết hôn.

Sau đó ánh mắt hắn quay lại tìm cô, và cố lắm cô mới che giấu nổi cơn rùng mình.

"Chắc để lần sau," cô nói.

Hắn nhướng mày, một tay vắt qua lưng ghế ở phía bên phải hắn.

"Em đang khuyến khích anh đấy à?"

"Có thể," cô nói.

"Anh thích phong cách của em."

Cô cười.

Rồi cô ngồi thẳng người, kéo lấy dây túi xách và đeo lên vai.

"Nhưng bây giờ," cô nói, "em phải về với mấy đứa con còn đang ngủ."

Cả hai bọn họ cùng đứng dậy.

"Anh nghĩ khi nào thì..." cô ngập ngừng hỏi hắn.

"Anh sẽ xử lý ngay bây giờ," hắn nói.

"Cho anh xin số điện thoại của em, anh sẽ gọi cho em ngay khi anh có tin tức gì."

"Bây giờ em đang không có điện thoại," cô nói.

Hắn chau mày.

"Nhưng em vừa bảo tối qua em nhận được tin

nhắn về bạn em đấy thôi."

Nếu việc phải ngủ một tuần trên bãi biển có dạy được cho con người ta điều gì, thì đó chính là kỹ năng phản ứng nhanh.

"Ồ, cái đó là điện thoại bàn ở nhà nghỉ.

Có ai đó nhắn lại cho em.

Trên một mảnh giấy."

"Được rồi, thế giờ anh liên lạc với em kiểu gì nào?

Anh gọi điện đến nhà nghỉ mà em đang ở được không?"

"Không," cô trả lời lạnh tanh.

"Cho em số điện thoại của anh.

Em sẽ gọi cho anh từ bốt điện thoại công cộng.

Em gọi cho anh vào thứ Sáu này nhé?"

Hắn viết vội số điện thoại vào một tờ giấy và đưa cho cô.

"Ừ, thứ Sáu này gọi cho anh.

Và đây..."

Hắn đút tay vào túi và rút ra một nắm giấy bạc.

Hắn kéo vài tờ hai mươi đồng đưa cho cô.

"Đi mua một cái điện thoại mà dùng.

Vì Chúa."

Cô lấy mấy tờ hai mươi và nói cảm ơn hắn.

Cô chẳng còn gì để mất cả.

Cô vừa ký gửi linh hồn của mình cho một cuốn hộ chiếu
 
Back
Top Bottom