Cập nhật mới

Khác Đông A Tái Khởi.

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
404274720-256-k491978.jpg

Đông A Tái Khởi.
Tác giả: phantoanxd9
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Nhà Trần, một triều đại nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.

Nổi tiếng với chiến tích 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông huy hoàng, nhưng cũng là triều đại để lại vô vàn tiếc nuối với sự sụp đổ nhanh chóng và thảm hại của nó.

Xuyên suốt lịch sử nhà Trần, có vô số kỳ tài nổi lên trở thành huyền thoại và sống mãi cùng lịch sử dân tộc như: Hưng Đạo Đại Vương, vua Trần Nhân Tông, Chiêu Minh Đại Vương, Chiêu Văn Vương, Phạm Ngũ Lão, Chu Văn An,.....

Ngoài những huyền thoại được biết đến rộng rãi trên thì cuộc chiến tàn khốc với quân Nguyên cũng chôn vùi vô số tài năng mới chớm nở khác của Đại Việt bấy giờ.

Trần Quốc Toản là một trong những tài năng sớm nở chóng tàn đấy.

Lấy cảm hứng từ Trần Quốc Toản, qua bộ truyện Đông A Tái Khởi, tác giả muốn xây dựng một thế giới nơi Trần Quốc Toản có cơ hội gặp lại gia đình và tiếp tục thực hiện hoàn bão của mình.

Vực dậy Đại Việt đang xuống dốc, một lần nữa trở lại với thời thịnh thế hùng mạnh.

Giúp Đại Việt chống lại cuộc xâm lược và tránh cho dân tộc một thời kỳ đen tối dưới ách đô hộ của nhà Minh như lịch sử.



đấu-trí​
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 1: Phá Cường Địch, Báo Hoàng Ân


Tháng 12 năm Thiệu Bảo thứ 6 (1284) sau một thời gian dài chuẩn bị, cùng vô số những va chạm ban đầu từ ngoại giao, tình báo đến quân sự thì cuối cùng, nhà Nguyên huy động 50 vạn quân và dân phu, chia ba đường chính thức tấn công vào đất của Đại Việt.

Sau sáu tháng, với vô số trận chiến lớn nhỏ, những cuộc rượt đuổi không ngừng nghỉ của hai bên.

Trước sức mạnh áp đảo của quân Nguyên, Quân đội nhà Trần buộc phải căng mình phòng ngự, rút lui ở khắp các mặt trận, phải bỏ cả kinh thành Thăng Long để chạy.

Tới tháng 5 năm Thiệu Bảo thứ 7 (1285) nhận thấy quân Nguyên bắt đầu thiếu thốn lương thực, quân đội mệt mỏi, quân đội nhà Trần bắt đầu tổ chức tổng phản công trên khắp mặt trận.

Liên tiếp là những chiến thắng của quân Đại Việt ở khắp miền bắc khiến quân Nguyên buộc phải dần co cụm về phía Thăng Long.

Đến khi Đại Việt giành chiến thắng ở bến Chương Dương thì hi vọng chiến thắng cuối cùng cho quân Nguyên hoàn toàn tan vỡ.

Quân Nguyên từ khắp mọi nơi bắt đầu bỏ Thăng Long rút lui khỏi Đại Việt theo con đường núi phía bắc.

Phía Đại Việt xác định đây chưa phải là cuộc chiến cuối cùng với quân Nguyên nên bắt đầu tổ chức chặn đánh khắp nơi trên đường rút lui của quân Nguyên, nhằm gây thiệt hại lớn nhất có thể cho đối phương.

Muốn giành một chút lợi thế cho Đại Việt trước cuộc chiến trong tương lai.

Tháng 6 ở Đại Việt, dù mới là canh ba, còn chưa có tia nắng nào nhưng không khí đã rất oi nóng.

Cái nóng mùa hè của miền bắc Đại Việt rất khó chịu, nhiệt độ cao, đổ ẩm lớn, trời lại không có tý gió nào, vận động một chút là mồ hôi đầm đìa, quần áo thì dính bết vào người khó chịu vô cùng.

Thế mà dưới cái thời tiết chết tiệt nằm im thôi cũng thấy mệt, ngày phải tắm 18 lần mới thấy dễ chịu hơn chút ít này, hàng chục hàng trăm vạn người vẫn phải liên tục hành quân đánh trận, chưa từng được nghỉ ngơi.

Dưới ánh trăng lờ mờ, một đội quân Đại Việt đông nghịt người ngựa lặng lẽ hành quân, dù rất mệt do phải liên miên hành quân đánh trận nhưng không một tiếng than vãn, duy trì đội hình không vì mệt nhọc mà loạn.

Vị tướng trẻ anh tuấn đi đầu, tay cầm trường thương quay đầu nhìn đội quân của mình, gật đầu hài lòng nói với phó tướng bên cạnh:

- Truyền lệnh, duy trì tốc độ, trời sáng phải tới sông Như Nguyệt.

Chúng ta không còn nhiều thời gian, phải tới sông Như Nguyệt trước quân Nguyên, đến càng sớm chúng ta càng có nhiều thời gian nghỉ ngơi.

- Vâng.

Phó tướng Nguyễn Hoài Bộc có chòm râu ngắn, da sạm đen vì nắng nóng không nhìn ra tuổi tác chắp tay vâng lệnh thúc ngựa đi truyền đạt lại mệnh lệnh của vị chủ tướng.

Chỉ một tuần hương sau, Nguyễn Hoài Bộc quay về tiền quân, nhìn chủ tướng của mình đang trầm tư ngắm Đại kỳ thêu sáu chữ vàng rất đẹp "Phá cường địch, báo hoàng ân" tới thất thần.

Hắn lặng lẽ về hàng đi phía sau vị chủ tướng cũng là cậu chủ trẻ tuổi của mình, ánh mắt hắn hơi nheo lại như đang nhìn về một nơi xa xôi nào đấy.

Nguyễn Hoài Bộc nhẽ ra đã chết từ lâu, Nguyễn Hoài Bộc cũng không phải tên thật của hắn, hắn còn chả nhớ họ tên của mình là gì, không biết mình bao nhiêu tuổi, không nhớ bố mẹ mình là ai, hắn chỉ nhớ được hắn là đứa trẻ mồ côi được Vũ Uy Vương cứu khi bản thân đang ngấp nghé bên bờ vực chết đói.

Được Vũ Uy Vương cưu mang rồi giữ lại bên mình để làm tiểu đồng, Vũ Uy Vương luôn dạy lại hắn những gì vương học được từ thầy của mình.

Nguyễn Thọ là tên Vũ Uy Vương đặt cho hắn, hắn như được tái sinh, được sống cuộc sống có mơ hắn cũng không ngờ tới.

Ngày tháng bên Vũ Uy Vương là những ngày tháng vui vẻ nhất cuộc đời của hắn.

Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, trong một trận chiến ở phía bắc, Vũ Uy Vương đã mất khi còn rất trẻ.

Sau khi Vũ Uy Vương mất, bầu trời như sụp đổ trong mắt Nguyễn Thọ, cuộc sống như không còn ý nghĩa, hắn đã muốn tự vẫn để tiếp tục theo hầu chủ tử của mình.

Đợi khi lễ tang hoàn tất, Nguyễn Thọ quỳ trước mộ của Vũ Uy Vương, hắn đưa đao lên kề vào cổ, ngay khi định tự vẫn thì vương phi Trần Ý Ninh cho biết bà đã mang thai cốt nhục duy nhất của Vũ Uy Vương.

Nguyễn Thọ cắn môi bật máu òa khóc, trước giờ, ngay cả khi sắp chết đói hắn cũng chưa bao giờ khóc, bây giờ hắn khóc như đứa trẻ.

Hắn ngồi dậy, quỳ dập đầu lạy tạ vương phi đến trán loang lổ máu mà không biết.

Hắn thề trong lòng, thề sẽ dùng mạng mình để bảo vệ phu nhân và tiểu chủ nhân.

Quay lại khấu đầu trước mộ Vũ Uy Vương hắn cố nói tròn tiếng: "cậu chủ, người đợi tiểu Thọ một thời gian nữa, tiểu Thọ chưa đi được, đợi khi tiểu chủ nhân trưởng thành tiểu Thọ sẽ tiếp tục theo hầu người".

Ngày Vương phi Trần Ý Ninh hạ sinh tiểu công tử, hắn lại tới mộ Vũ Uy Vương mếu máo suốt một đêm vì chủ tử của hắn đã có người nối dõi.

Cảm ân công lao của Vương, công tử được Hoàng Thượng ban tước Hoài Văn Hầu, từ đấy hắn lấy tên Nguyễn Hoài Bộc, tự coi mình là nô bộc của Hoài Văn Hầu phủ dù khế ước đã bị Vũ Uy Vương xé bỏ từ rất lâu.

Được vương phi tin tưởng giao phó, hắn theo cậu chủ từng bước, hàng ngày nhìn cậu chủ dần lớn lên từ tập đi, tập nói rồi đến giờ đã là một tướng quân trẻ vô cùng anh tuấn.

Mới chỉ một thời gian ngắn kể từ trận chiến đầu tiên, cái tên Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản đã vang danh khắp quân, dần được Hoàng Thượng, Hưng Đạo Vương tin tưởng giao cho những trọng trách lớn hơn.

Hắn thầm mừng vì sau cuộc chiến này, đợi cậu chủ lấy vợ, sinh con nữa thôi là hắn nghĩ bản thân có thể theo hầu Vũ Uy Vương được rồi.

Trần Quốc Toản thấy Nguyễn Hoài Bộc trầm tư suy nghĩ, còn tựa như đang cười rất vui vẻ.

Trần Quốc Toản tò mò quay lại hỏi:

- Chú Bộc, chú đang nghĩ gì thế.

Tiếng chú Bộc quen thuộc làm Nguyễn Hoài Bộc tỉnh lại từ cơ mê, lão mỉm cười rất hiền từ đáp:

- Bẩm cậu chủ, nhìn cậu chủ đi đầu đội quân hùng hậu như thế này, lão Bộc bỗng nghĩ tới một số chuyện cũ.

Bất giác lòng rất vui vẻ....

Không để Nguyễn Hoài Bộc vẻ mặt đang vui vẻ nói hết câu, Trần Quốc Toản đã ngắt lời:

- Chưa được đâu chú Bộc, cháu luôn biết ước muốn của chú là theo về với cha cháu.

Nhưng cháu chưa cho chú đi đâu, trước giờ cháu không có cha nên cháu không rõ phải làm cha thế nào.

Mọi thứ cháu học phần nhiều đều do chú dạy, nên sau này việc dạy con của cháu, cháu giao hết cho chú.

Tin rằng cha cháu cũng không phản đối.

Còn chuyện chú muốn theo hầu cha cháu thì kệ chú hahaha.

Nói xong Trần Quốc Toản liền cười lớn.

Không muốn nói quá sâu vào chuyện này, nói một chút để thoải mái trước đại chiến là được rồi.

Trần Quốc Toản liền chuyển sang việc chính:

- Chú Bộc, trận chiến sắp tới vô cùng quan trọng.

Trước khi đi, Hưng Đạo Vương đã dặn cháu, bằng mọi giá phải chặn không cho địch vượt sông Như Nguyệt, phải ép quân Nguyên rút theo hướng Vạn Kiếp.

Ở đấy Hưng Đạo Vương đang sắp xếp mai phục đợi quân Nguyên tới bắt một mẻ lớn.

Lần này phải đánh cho chúng một trận thật đau để chúng từ bỏ việc xâm lược Đại Việt.

- Chú Bộc, nhiệm vụ này vô cùng nặng nề.

Trước đây, quân của chúng ta đều là huynh đệ trong đất phong, quân số chỉ có 5000 quân nên việc chỉ huy không có vấn đề gì.

Lần này, cháu được hoàng thượng tin tưởng giao trọng trách, được cấp thêm 10.000 cấm quân, cộng thêm 5000 quân của Hưng Đạo Vương.

Cháu rất phấn khích, lần đầu tiên cháu được chỉ huy đội quân đông đảo mà tinh nhuệ thế này nhưng cũng rất lo lắng.

Chú Bộc, theo chú cháu có làm được không?

Nguyễn Hoài Bộc biết cậu chủ đang muốn nói chuyện để giải tỏa căng thẳng trong lòng, nên cũng lên tiếng khích lệ:

- Cậu chủ, người không cần lo lắng.

Ở Đại Việt, số người được Hưng Đạo Vương khen ngợi, giao trọng trách chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong thế hệ của người cũng chỉ có ngài được Hưng Đạo Vương gọi là "Thiếu niên anh tài".

Cũng chỉ có cậu chủ được Hưng Đạo Vương đánh giá tương lai có thể sánh ngang tướng quân Phạm Ngũ Lão mà thôi.

Cậu chủ lo lắng là đương nhiên nhưng không cần nghi ngờ bản thân, con mắt nhìn người của Hưng Đạo Vương chưa bao giờ sai.

Nhiệm vụ này, lão Bộc thấy có một số vị vương khác đảm đương được nhưng họ đều đang chỉ huy các cánh quân khác rồi.

Hiện tại chỉ còn cậu chủ có thể gánh vác trọng trách này thôi.

Dù biết là lão Bộc đang khích lệ mình, nhưng lời dễ nghe kể cũng khoái.

Trần Quốc Toản cười ha hả nói:

- Chú Bộc, chú không cần tâng bốc cháu, dù nghe vẫn rất sướng.

Nhưng thời gian qua, cháu biết đều nhờ có chú luôn ở bên nhắc nhở cháu mới có thể đánh trận thuận lợi như thế, nói Hưng Đạo Vương khen cháu không bằng nói Hưng Đạo Vương khen chú.

Chú Bộc, cháu nghe mẹ cháu kể rồi, năm xưa cha cháu xóa bỏ khế ước của chú là muốn tiến cử chú vào triều hiển lộ tài năng.

Tiếc rằng việc chưa thành cha cháu đã đi.

Nhiều khi cháu cũng thắc mắc, nếu không phải vì chăm lo, dạy bảo cho cháu mà chú một lòng hướng đến công danh thì giờ chú sẽ thế nào?

Cháu nghĩ, có khi Phạm Ngũ Lão tướng quân cũng có đối thủ đáng gờm rồi.

Dơ tay ngăn lão Bộc định nói.

Trần Quốc Toản nói tiếp:

- Cháu biết, cháu còn trẻ và thiếu kinh nghiệm, nếu không ở sông Hồng, Lưu Thế Anh và Lý Hằng đã chẳng chạy thoát được.

Haha thế nên, chú Bộc à, chú nhất định phải sống lâu trăm tuổi, cháu bây giờ và con của cháu sau này còn cần chú dạy bảo nhiều.

Cha cháu cũng không muốn chú nữa đâu.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 2: Chiến lược


Nguyễn Hoài Bộc biết tình cảm Trần Quốc Toản dành cho mình.

Định tiếp lời cậu chủ, nhưng thấy Trần Quốc Toản nói xong liền thúc ngựa tiến lên hắn mới nhận ra, trời bắt đầu sáng rõ rồi nên đành gác lại câu chuyện dang dở:

- Tăng tốc độ hành quân, khi mặt trời lên, chúng ta phải tới được bờ sông Như Nguyệt.

Trần Quốc Toản ra lệnh, bắt đầu thúc ngựa dẫn đầu đội quân tăng tốc tiến về phía bờ sông Như Nguyệt.

Thêm nửa canh giờ hành quân, cuối cùng đội quân hai vạn người đã tới bờ sông Như Nguyệt.

Sông Như Nguyệt mùa này lượng mưa chưa lớn lắm, mực nước còn thấp, sông không chảy siết chỉ rộng tầm ba mươi trượng, là nơi tốt nhất để vượt sông.

Mọi con đường đến Thăng Long từ phía Bắc đều bị con sông này cắt ngang.

Nhìn dọc bờ sông vẫn còn nhiều bến đò ngang cỏ mọc um tùm, không thấy chiếc thuyền nào xung quanh.

Xem ra đều đã bị người dân đánh chìm hết, đây là kết quả của chiến thuật vườn không nhà trống.

Đại Việt thực hiện kế vườn không nhà trống rất triệt để, kế hoạch này gây rất nhiều khó khăn cho quân Nguyên nhưng ngược lại cũng tự hại mình rất lớn.

Sông Như Nguyệt chính là nơi năm xưa từng diễn ra trận chiến vô cùng nổi tiếng, là nơi Thái úy Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến chống lại quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy.

Năm xưa Thái úy Lý Thường Kiệt ngăn quân Tống xuôi nam, còn nay Trần Quốc Toản phải ngăn giặc ngược bắc.

Ngôi làng phía nam còn lưa thưa vài nóc nhà kia là làng Đoài, nơi có đền thờ Thái Úy Lý Thường Kiệt.

Trần Quốc Toản nhẩm ngâm lại bài thơ của Thái Úy năm xưa làm cũng tại chính con sông Như Nguyệt này:

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."

- Mong Thái Úy phù hộ cho con cháu Đại Việt có thể chống lại đội quân hùng mạnh khác từ phương Bắc.

Quan sát địa thế bên bờ sông, Chiếm toàn bộ tầm mắt gần như chỉ là đồng bằng, chỉ có một vài cánh rừng thưa, ven bờ chỉ có một ngọn đồi thấp nho nhỏ.

Trần Quốc Toản thầm nhủ may mắn khi tới đây sớm hơn quân Nguyên, có thời gian để xây dựng hệ thống phòng ngự.

Với địa thế này nếu không có công sự để phòng ngự thì dù có đông quân tới đâu cũng không thể là đối thủ của kỵ binh Mông Cổ.

Nếu để quân Nguyên tới trước, Đại Việt chỉ có thể đứng nhìn quân Nguyên từ từ rút về nước mà thôi.

Xem xong địa thế, Trần Quốc Toản liền triệu tập các tướng hiệu tới liên tục truyền lệnh:

- Lệnh các quân nghỉ ngơi ăn uống tại chỗ, nửa canh giờ sau bắt đầu hạ trại.

Phái thám mã do thám xung quanh, phạm vi tối thiểu năm mươi dặm, thấy động tĩnh quân Nguyên lập tức báo cáo, nếu gặp đội quân lớn thì dùng khói bảo hiệu.

- Lệnh các công tượng và dân binh bắt đầu lập cầu phao chúng ta cần nhanh chóng nhận đồ tiếp tế từ bên kia sông, đồng thời tiến hành dọn các bãi lau sậy xung quanh doanh trại để phòng địch phóng hỏa, lấy chu vi năm mươi trượng quanh doanh trại.

Cố gắng huy động người dân xung quanh tới hỗ trợ lập doanh trại, chúng ta cần cố gắng lập một đại doanh thật vững chắc ở đây nhanh nhất có thể.

Một loạt mệnh lệnh được đưa ra, lần lượt các tướng vâng dạ chắp tay nhận lệnh rời đi.

Sau khi các tướng rời đi, bộ máy quân sự nhà Trần bắt đầu thể hiện sự bá đạo của nó.

Không phải tự nhiên nhà Trần có thể đánh bại quân Nguyên Mông, một đế quốc thực sự tới ba lần.

Sau khi hoàn tất nghỉ ngơi, không ai bảo ai, từng người từ dân phu, binh lính tới tướng hiệu đều biết nhiệm vụ của mình, việc mình cần làm.

Bên kia sông, vật tư lương thực được chất đống chỉ đợi cầu phao để vận chuyển qua.

Người dân xung quanh rất nhanh từ nơi ẩn nấp lần lượt kéo tới mang theo rất nhiều vật liệu cần thiết đã chuẩn bị sẵn giúp đại quân lập doanh trại.

Lòng dân chính là vũ khí sắc bén nhất giúp Đại Việt có thể đối chọi với quân Nguyên hùng mạnh tới tận bây giờ, thậm chí với tình hình hiện tại thì có vẻ chiến thắng đã nằm trong tầm tay của Đại Việt.

Mọi người đều gắng sức, nên chỉ sau hai canh giờ doanh trại đã bắt đầu thành hình.

Lều chính đã được dựng lên trước tiên, Trần Quốc Toản liền gọi riêng các tướng Nguyễn Hoài Bộc, Trần Văn Phúc, Đặng văn Thiết, Trần Văn Bách đến bàn bạc đối sách sắp cho trận chiến sắp tới.

Đợi các tường tới đầy đủ, Trần Quốc Toản chắp tay lên cao mở lời:

- Như các vị đã biết, Hoàng Thượng, Hưng Đạo Vương giao cho chúng ta nhiệm vụ phòng thủ bờ sông Như Nguyệt, không được để quân Nguyên vượt sông, ép chúng phải rút lui theo hướng Vạn Kiếp.

Tin rằng, thời gian vừa rồi các vị tướng quân cũng đã quan sát địa thế khu vực sông Như Nguyệt rồi, tại hạ muốn nghe ý kiến của các vị tướng quân về chiến thuật cho trận đánh quan trọng sắp tới.

Trần Quốc Toản nói xong, ngừng lại đưa mắt chờ những vị tướng khác nêu ý kiến của mình nhưng mất một lúc lâu các tướng đều ngần ngừ chưa có ai dám mở lời.

Có lẽ là do còn e ngại vị chủ tướng mới hoặc muốn đợi để thăm dò suy nghĩ của Trần Quốc Toản.

Thấy không khí quá im ắng, Nguyễn Hoài Bộc chủ động đứng lên mở lời trước.

- Bẩm chủ tướng, mọi người ở đây có thể chưa rõ ràng được chi tiết nhiệm vụ nên chưa có thời gian để suy nghĩ về sách lược đối phó với quân Nguyên.

Mạt tướng tin rằng chủ tướng đã có chủ ý của mình về trận chiến lần này, chi bằng người nói chủ ý của mình trước.

Bọn thuộc hạ xin rửa tai lắng nghe, sau đó bọn thuộc hạ nêu ý kiến của mình cũng chưa muộn.

Có người mở lời phá vỡ không khí gượng gạo, các tướng khác liền gật đầu đồng ý nói phải.

Trần Quốc Toản mỉm cười đáp ứng, rồi dẫn mọi người tới bản đồ nói:

- Mọi người xem, ta vừa quan sát thấy sông Như Nguyệt mùa này mực nước chưa cao, nước không siết, rộng chỉ ba mươi trượng.

Nếu địch muốn vượt sông thì rất dễ dàng làm được cầu phao, kết bè để vượt sông.

Dù không rõ số lượng quân địch rút chạy qua đây cụ thể bao nhiêu, nhưng theo tình báo chỗ Hưng Đạo Vương nhắc nhở thì quân số của địch rất lớn, có thể lên tới mười lăm đến hai mươi vạn.

Dù rằng chúng ta đang đánh địch khắp nơi, khiến chúng thua chạy liểng xiểng, sĩ khí bọn chúng đang rất thấp nhưng chỉ huy cánh quân này là Lý Hằng, một lão tướng trải qua hàng trăm trận của quân Nguyên, chúng ta không thể chủ quan.

Hơi ngừng lại một nhịp, Quốc Toản nói tiếp:

- Ngược lại, chúng ta chỉ có hai vạn quân, ít hơn rất nhiều.

Nếu chúng ta chia ra phòng ngự trải dài dọc theo bờ sông thì quân ta sẽ bị xé nhỏ, rất dễ bị quân địch dùng số lượng áp đảo tiêu diệt từng vị trí một.

Ngọn núi này theo ta quan sát là vị trí cao nhất trong khu vực, ở đó chúng ta có thể kiểm soát được phạm vi rất rộng.

Nên chủ trương của ta là chúng ta sẽ lập trại đóng quân án ngữ giữa các con đường này và ngọn núi bên trái làm thành thế ỷ dốc, ép chúng phải dồn lực đánh bại chúng ta trước nếu chúng muốn vượt sông an toàn.

Khi đó, quân số của ta dù ít nhưng với hai vạn quân, ta tin rằng ta vẫn đủ sức phòng ngự hoặc ít nhất là cầm cự được tới khi các cánh quân khác của ta tới chi viện.

Các vị thấy việc bố trí doanh trại như thế có vấn đề gì không?

Trần Quốc Toản nói xong liền ngừng lại, đưa mắt nhìn xung quanh để mọi người cho ý kiến.

Trần Văn Phúc khoảng ba mươi tuổi, mặt đen nhẻm nhưng khá ưa nhìn, dáng người cao lớn, chân hơi vòng kiềng có thể do bẩm sinh hoặc do học cưỡi ngựa từ nhỏ mà tạo thành.

Trần Văn Phúc là Đô chỉ huy sứ quân thánh dực, đội quân tinh nhuệ bậc nhất của Đại Việt, gánh trọng trách bảo vệ kinh đô và nhà vua.

Lần này, Trần Văn Phúc được hoàng thượng Trần Nhân Tông phái đi trợ giúp Trần Quốc Toản trong nhiệm vụ quan trọng này.

Bước lên trước, Trần Văn Phúc chắp tay khẽ cúi đầu nói:

- Bẩm chủ soái, mạt tướng có điều muốn hỏi.

Sao chúng ta không phòng thủ bờ bắc mà lại phòng thủ bờ nam sông Như Nguyệt.

Nếu phòng thủ bờ bắc, chúng ta có thể lựa khi địch đang vượt sông liền tiến hành đón đánh chẳng phải sẽ dễ dàng hơn là phòng thủ bờ nam hay sao?

Chưa kể, dù chúng ta có tập trung phòng thủ tại một điểm sẽ giảm bớt áp lực về quân số, nhưng nếu địch cắt một lượng quân đủ lớn để bao vây chúng ta thì chẳng phải lượng quân còn lại của địch có thể dễ dàng vượt sông ư?

Đợi Trần Văn Phúc hỏi xong.

Trần Quốc Toản mỉm cười đáp:

- Tướng quân quân nói phải lắm, nhưng có điều tướng quân chưa biết.

Bên phía bờ Bắc sông Như Nguyệt, quân Nguyên vẫn còn khoảng năm đến mười vạn quân rải rác tại các đồn bốt để bảo vệ con đường vận lương và rút quân của chúng từ biên giới tới đây.

Mặc dù chúng ta có quấy phá ác liệt dọc theo tuyến đường này nhưng nhìn chung quân địch không bị thiệt hại lớn, chúng ta chỉ miễn cưỡng hạn chế hoạt động của địch buộc chúng phải dồn vào các đồn lũy.

Nếu chúng ta phòng thủ phía bờ Bắc, lượng quân Nguyên này có thể sẽ hợp quân, phối hợp cùng quân Lý Hằng đang rút về vây kín chúng ta, lúc đấy ta khó lòng có thể đánh được.

Hơn nữa, quân số của ta rất ít chỉ có hai vạn, không thể trải dài phòng thủ, quân Nguyên chỉ cần lợi dụng quân số áp đảo chia làm nhiều điểm vượt sông thì ta không thể kiểm soát hết được.

Ngừng lại một nhịp, Quốc Toản nói tiếp:

- Nhưng nếu ta đóng chốt ở bờ nam thì khác, chỉ cần quân ta còn, địch sẽ không dám mạo hiểm vượt sông vì vậy chúng buộc phải nhổ bỏ chúng ta trước.

Khi đấy quân Nguyên bên bờ bắc sẽ không có uy hiếp với ta vì chúng không có thuyền, muốn vượt sông chỉ có thể dùng bè hoặc lắp cầu phao.

Với phương tiện như thế, tin rằng thủy quân của ta có thể dễ dàng ngăn cản chúng vượt sông.

Quốc Toản hơi vỗ vỗ cây roi vào lòng bàn tay, bình tĩnh tiếp tục nói rõ hơn ý tưởng của mình:

- Còn nếu chúng muốn vây quân ta để một bộ phận khác rút lui thì càng không thể vì muốn vây ta, địch nhất định phải dùng lượng lớn quân tinh nhuệ chính là Mông Cổ quân và Tham mã xích quân để cản ta.

Sẽ không có chuyện quân Nguyên dùng người Mông Cổ chặn hậu để người Hán rút về.

Còn Hán quân và Tân phụ quân chủ yếu là người Hán, sức chiến đấu không cao, trang bị lại nghèo nàn rất khó để vây được hai vạn quân tinh nhuệ của ta.

Mà nếu địch dùng xác người Hán để lót đường cho người Mông Cổ thì sẽ khơi lên mâu thuẫn trong quân đội vốn đã phân chia đẳng cấp rất nặng.

Lý Hằng là người thông minh, hắn sẽ không làm thế đâu, có làm cũng sẽ làm lén lút sao cho hợp lý nhất nên hắn sẽ không chọn cách này.

Hơn nữa, chúng đang bị quân ta liên tục truy quét phía sau, chưa kể lương thực của chúng cũng đang thiếu trầm trọng.

Thời gian không cho phép nên chúng không còn phương án nào khác ngoài việc phải giải quyết thật nhanh chúng ta để tiết kiệm thời gian và lương thực.

Thậm chí, theo ta tính toán, chúng ta chỉ cần cầm cự nhiều hơn bốn tới năm ngày là địch sẽ buộc phải từ bỏ còn đường này để đi đường khác thôi.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 3: Khói hiệu


Đều là các tướng kinh qua trận mạc, nhìn địa hình là đã nghĩ tới cách bày binh bố trận, chiến thuật rồi.

Chiếm địa lợi luôn là ưu tiên hàng đầu của bất kỳ vị tướng quân nào, đội quân nào.

Việc chiếm được địa lợi là giành thêm một phần chiến thắng cho quân của mình.

Trần Văn Phúc là chỉ huy quân Thánh Dực, một đơn vị cấm quân tinh nhuệ.

Trần Văn Bách là gia tướng trong quân Vạn Kiếp do Hưng Đạo Vương phái sang.

Nhìn địa hình sông Như Nguyệt cả hai đều đã biết cần phải bố trí binh lực, chiến thuật ứng phó với quân Nguyên thế nào trong trận chiến này.

Chưa kể, trước khi đi có thể cả hai đều đã được Hoàng Thượng và Hưng Đạo Vương dặn dò nhiều điều.

Những câu hỏi trong màn trướng cho Trần Quốc Toản chẳng qua là do hai người Trần Văn Phúc và Trần Văn Bách còn có chút nghi ngại, chưa rõ năng lực chỉ huy của vị tướng quân trẻ tuổi, nên có ý thăm dò một chút trước khi hoàn toàn giao quyền chỉ huy quân đội ra mà thôi.

Trần Quốc Toản biết rõ điều ấy, nên giải thích tường tận suy nghĩ của mình cho hai người không một chút giấu diếm.

Còn không, nếu là thuộc tướng quen thuộc như Nguyễn Hoài Bộc hay Đặng Văn Thiết thì Trần Quốc Toản chỉ cần phân phó nhiệm vụ là xong, chẳng cần nhiều lời làm gì cho mất thời gian.

Cả cuộc họp giống như cuộc thi hỏi đáp giữa các tướng quân, nhưng sau mỗi câu hỏi và câu trả lời là một nút buộc trong lòng mỗi người được cởi bỏ.

Khi mọi thứ xong xuôi, tất cả đạt thành ý kiến chung, quyết sách sẽ được đưa ra.

Thì từ lúc đấy, hai vạn quân tinh nhuệ này mới thật sự do Trần Quốc Toản tùy ý điều động bao gồm cả Trần Văn Phúc, Trần Văn Bách.

Cuối cuộc họp Trần Văn Phúc lĩnh mệnh dẫn 2000 kỵ binh và 3000 bộ binh quân Thánh Dực rời đi đóng trong ngọn núi bên trái.

Trần Văn Bách đóng 5000 quân lo phòng thủ hậu doanh và phòng vệ mặt sông, vì quân Vạn Kiếp đều là thủy quân đánh bộ.

Về mặt này Trần Quốc Toản rất cảm kích Hưng Đạo Vương, vì nếu không có 5000 quân này thì đội quân của Trần Quốc Toản là đội quân vịt cạn.

Giữ làm sao được mặt sông.

Nguyễn Hoài Bộc được giao giữ trung quân với 3000 quân bộ binh Thánh Dực sẵn sàng chi viện các đội quân khác khi cần.

Còn lại 4000 bộ binh và 3000 quân kỵ binh, toàn bộ đóng ở tiền doanh sẽ do Trần Quốc Toản chỉ huy.

Còn Đặng Văn Thiết, về cơ bản thì Trần Quốc Toản đi đâu hắn sẽ đi theo đó, Nguyễn Hoài Bộc giao hắn nhiệm vụ này, chả cần làm gì khác, có địch tới gần Trần Quốc Toản thì cứ chém chết là được.

Sau cuộc họp, Trần Quốc Toản dẫn theo Nguyễn Hoài Bộc và Đặng Văn Thiết đi kiểm tra tình hình doanh trại.

Doanh trại đã sơ bộ thành hình, xung quanh doanh trại cỏ sậy, cây cối đã được dọn sạch.

Cầu phao cần thêm một canh giờ nữa là có thể sang bên kia sông.

Vì phải ưu tiên tốc độ hành quân để chiếm địa lợi, đội quân mang theo được rất ít vật tư, lương thực cũng chỉ đủ dùng ba ngày.

Cầu phao là để nhận vật tư từ bờ Tây sông Như Nguyệt cấp sang.

Nhanh chóng xây dựng cầu phao để chuyển vật tư là nhiệm vụ sống còn của Trần Văn Bách, nếu không, chỉ ba ngày sau là đội quân hai vạn người sẽ bốc hơi hết không có khả năng thứ hai.

Từ phía sau, Nguyễn Hoài Bộc khá lo lắng nhìn Trần Quốc Toản, sau một hồi ngập ngừng lão cũng quyết định lên tiếng:

- Vừa rồi cậu chủ làm tốt lắm, có vẻ Trần Văn Phúc và Trần Văn Bách đã hoàn toàn tự nguyện giao ra binh quyền rồi.

Việc điều động họ sắp tới xem ra không còn trở ngại gì.

Trần Quốc Toản vẫn tiếp tục bước về phía trước, không cần nhìn lại vừa đi kiểm tra doanh trại vừa trả lời lão Bộc:

- Chú Bộc, điều chú từng nhắc nhở cháu luôn ghi nhớ, chú không cần lo lắng cho cháu.

Cháu không hề có bất mãn gì với hai vị tướng quân Phúc Bách.

Nếu cháu là hai vị ấy thì cũng chả điên mà cứ vô tư giao tính mạng hai vạn binh sĩ cho tên tướng quân mười sáu mười bảy tuổi đầu đâu.

Đi đánh mấy tên giặc cỏ còn có thể miễn cưỡng chứ đối thủ là quân Nguyên hùng mạnh, còn có tên cáo già Lý Hằng làm chủ soái nữa, nếu cứ thế vô tư giao ra quân quyền thì đấy mới là loại tướng quân vô trách nhiệm, coi thường tính mạng của binh sĩ.

Gặp loại tướng đấy là cháu thì cháu chém ngay.

Rất may, hai tướng Phúc Bách đều không làm cháu thất vọng, cả hai vị ấy đều là những người rất coi trọng tính mạng binh sĩ, cẩn thận như thế không bao giờ là thừa.

Haha, Hoàng Thượng và Hưng Đạo Vương đều cho cháu những người rất tốt.

Nguyễn Hoài Bộc nghe thế thì cười lớn thầm thở phào trong lòng, khoan khoái vô cùng, đầu tấm tắc nghĩ: "cậu chủ trưởng thành thật rồi, suy nghĩ rất chu đáo, cũng rất khôn khéo.

Giờ chỉ cần cậu chủ đừng phi ngựa vào giữa quân địch chém giết nữa là hắn có thể yên tâm hoàn toàn rồi, nhưng việc này cũng phải từ từ".

Trần Quốc Toản thấy Đặng Văn Thiết vẫn đang kè kè đi theo mình.

Đặng Văn Thiết mới có mười tám tuổi, mặt mũi sáng sủa còn có chút nét hiền lành trong ánh mắt, nhưng dáng người cao lớn, còn hơn Trần Quốc Toản nửa cái đầu.

Đúng chuẩn lưng hùm vai gấu mà các sử gia hay miêu tả các vị chiến tướng trong lịch sử.

Đặng Văn Thiết có sức lực hơn người nên sử dụng thiết chùy bốn mươi cân làm vũ khí chính.

Là gia tướng trong trang, Đặng Văn Thiết và Trần Quốc Toản đều được lão Bộc dạy võ từ nhỏ, ăn tập với nhau mười ba, mười bốn năm nay nên Trần Quốc Toản biết.

Nếu so về kỹ thuật thì Trần Quốc Toản còn đánh được chứ so về sức mạnh thì hắn giỏi lắm bằng bảy đến tám phần Đặng Văn Thiết mà thôi.

Tai trái của Đặng Văn Thiết còn bị sứt một miếng hình tam giác là do lúc đấu tập với Trần Quốc Toản để lại.

Hắn áy náy chuyện này mãi.

Nhìn Đặng Văn Thiết, Trần Quốc Toản quay lại nói với lão Bộc.

- À chú Bộc, chú đừng bắt Đặng Văn Thiết phải kè kè theo cháu nữa, tính ra Đặng Văn Thiết cũng là tướng tài đủ sức lãnh quân.

Cứ kè kè theo sau bảo vệ cháu thế này thì hắn lỡ cơ hội dựng công lập nghiệp mất.

Hắn còn em gái Tiểu Thúy phải nuôi ở nhà nữa mà, có ít công danh kiếm được tước vị sau này tương lai của Tiểu Thúy sẽ dễ dàng hơn.

Trần Quốc Toản nói xong hơi háy mắt với Đặng Văn Thiết đang đi bên cạnh.

Nghe Trần Quốc Toản nói thế hắn cũng phải giật mình quay sang liếc nhìn lão Bộc đang nhìn mình chằm chằm một cái rồi rụt rè nói với Trần Quốc Toản:

- Cậu chủ, con không cần công danh lập nghiệp gì đâu, chỉ muốn đánh xong trận về nhà chăm sóc mấy mẫu ruộng, nuôi em gái khỏe mạnh là được rồi.

Chỉ cần cậu chủ bình an là được.

Nghe Đặng Văn Thiết nói xong, Trần Quốc Toản cũng phải thở dài ngao ngán lắc đầu.

Tên này bị lão Bộc át vía hoàn toàn rồi, trước mặt lão Bộc, hắn không dám nói trái một lời.

Ngay cả xưng hô bình thường nói chuyện với Trần Quốc Toản cũng không dám dùng, có lão Bộc ở đây hắn gọi cậu xưng con rất chuẩn mực.

Nguyễn Hoài Bộc ở phía sau, hài lòng với câu trả lời của Đặng Văn Thiết khẽ hắng giọng nói:

- Cậu chủ, trước kia chẳng phải người đồng ý với lão Bộc để Đặng Văn Thiết đi theo khi lên trận sao?

Giờ chỉ cần người đứng yên ở đại doanh chỉ huy, không trực tiếp lên trận nữa thì Đặng Văn Thiết có thể tự do theo điều động của người.

Còn về Tiểu Thúy thì nó cũng khác gì em gái của cậu chủ đâu, tương lai có cậu chủ thì sợ gì Tiểu Thúy bị thiệt thòi.

Hơn nữa, chuyện cưới vợ của cậu chủ, vương phi đã mấy lần.....

Nguyễn Hoài Bộc đang nhân cơ hội nói chuyện nhà để thúc giục Trần Quốc Toản về chuyện cưới vợ.

Trần Quốc Toản luôn tránh né chuyện này mãi, lời chưa nói xong thì một tiểu binh chạy thục mạng đến.

Gặp Trần Quốc Toản, hắn quỳ một gối chắp tay không kịp thở nói:

- Cấp báo, bẩm chủ soái, ở phía nam phát hiện cột khói.

Trần Quốc Toản vội hối thúc:

- Đi, chúng ta tới tiền doanh xem xét.

Trần Quốc Toản như được phao cứu mạng, liền theo thân binh nhanh chóng đến tiền doanh để quan sát, bỏ mặc câu nói lấp lửng của lão Bộc phía sau.

Nguyễn Hoài Bộc đành thở dài bước theo lẩm bẩm:

- Xem ra phải chờ cơ hội khác để nói thôi.

Đến tiền doanh, Trần Quốc Toản nheo mắt nhìn về phía nam, nhìn không phải một mà là ba cột khói bốc lên.

Đều xác định trước rồi nên không ai hoảng hốt cả, có chăng là bất ngờ địch tới hơi nhanh mà thôi.

Có vẻ quân Nguyên vội vã rút quân hơn tính toán của phía Đại Việt.

Trần Quốc Toản quay sang nói với các tướng hiệu xung quanh:

- Xem ra quân địch tới sớm hơn dự định, nhưng chúng ta cũng không cần quá gấp gáp.

Mọi công tác xây dựng công sự phòng thủ vẫn tiếp tục tiến hành.

Đặng Văn Thiết dẫn một trăm thiết kỵ theo ta đi do thám địch.

Nguyễn Hoài Bộc thay ta quản lý đại doanh, tăng thêm lượng quân túc trực sẵn sàng chiến đấu, còn lại ưu tiên hỗ trợ xây dựng công sự.

- Rõ!

Các tướng lần lượt chắp tay, răm rắp vâng lệnh rời đi.

Chỉ một lúc sau, cổng đại doanh cọt kẹt mở ra, Trần Quốc Toản cùng một trăm thiết kỵ khải giáp đen sì tiến ra phi nhanh về phía nam.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 4: Cuộc chiến của thám mã


Bên lũy tre làng cháy sém, những ngôi nhà chỉ còn lại đống đổ nát kèm vài cây cột cháy dở.

Cánh đồng bao la nhưng thay vì là màu xanh xanh vàng vàng của lúa gạo mùa thu hoạch như mọi năm thì toàn bộ đều là cỏ hoang.

Cả làng vắng tanh, không còn một bóng người, đến mèo hoang chó dại cũng chả thấy con nào, chỉ rắn rết là nhiều.

Đây chính là hình ảnh chung của vô số làng mạc Đại Việt sau khi quân Nguyên kéo tới.

Một phần là do quân Nguyên tức tối đốt phá vì không cướp phá được gì.

Một phần do người dân tự đốt bỏ nhà cửa đồng ruộng của mình để thực hiện kế hoạch vườn không nhà trống.

Để chống lại kẻ thù xâm lược, người dân Đại Việt có thể tàn nhẫn tới mức thà tự diệt chính nguồn sống của mình chứ không muốn nó rơi vào tay quân xâm lược.

Cũng chính nhờ tinh thần này mà hàng trăm, hàng ngàn năm qua Đại Việt có thể sống cạnh gã khổng lồ phương bắc với vô số cuộc chiến lớn nhỏ, bất chấp cả thời gian dài bị đô hộ mà vẫn có thể giữ được sự độc lập và văn hóa của riêng mình.

Cạnh một gốc cây đa cháy mất nửa thân bên chiếc giếng đầu làng, một tiểu binh mặt mũi nhem nhuốc đang ép sát người vào gốc đa gặm lương khô khô khốc ngon lành, mắt láo liêng quan sát xung quanh.

Từ trên mái đình bên cạnh một lão binh nhìn không ra tuổi tác nhảy xuống, dúi bình nước cho tiểu binh rồi nói.

- Tiểu Ngưu, uống đi rồi nhanh làm cho xong việc.

Chúng ta phải rút thôi.

- Chú Đại, quân Thát Đát tới à?

Mấy tên?

Đưa bình nước xong, lão binh Lê Đại giật lấy bánh lương khô đang gặm dở của tiểu binh cho lên miệng cắn cái cốp rồi nhai rôm rốp.

Quay lại nhìn xác năm tên quân Nguyên mới bị họ phục kích nằm vất vưởng trên mặt đất, máu vẫn còn đang chảy lênh láng nói:

- Không thấy nhưng bọn này nếm quả đắng nhiều, học khôn rồi.

Không thấy đám này về kiểu gì chúng cũng phái người đi tìm mấy cái xác kia thôi.

Rất nhanh, chúng sẽ tới như ruồi cho xem.

Tiêu Ngưu tu nước ừng ực để nuốt bánh lương khô đang nhai xuống.

Vừa chống tay đứng lên chuẩn bị đi dọn dẹp mấy cái xác, vừa quay đầu tán gẫu với Lê Đại.

- Chú Đại, quân Nguyên đang rút chạy tán loạn, có vẻ cuộc chiến này sắp kết thúc rồi.

Đánh quân Nguyên xong chú muốn làm gì?

- Còn làm gì nữa, về nhà lo việc đồng áng, trồng rau nuôi gà.

Rảnh thì ra đình hóng mát, uống cốc nước chè với hàng xóm, về nhà thì nằm khểnh đợi bà vợ với con gái nấu cơm, buồn chán thì đá đít thằng Tý cũng không tệ.

Thằng Tý được ông đồ khen thông minh sáng dạ, hứa lên tám tuổi sẽ dạy chữ cho nó. haha.

Còn ngươi, a Ngưu, ngươi muốn làm gì?

Lê Đại vừa nhâm nhi bánh vừa tán gẫu với a Ngưu đang lúi húi lục xác quân Nguyên.

Nhắc đến gia đình bất giác trong lòng Lê Đại rất vui vẻ, ánh mắt như đang nhìn thấy cuộc sống thanh bình với vợ con đầy hạnh phúc.

Thấy Lê Đại có vẻ đang rất vui, a Ngưu không cần ngẩng lên vẫn vô tư kể:

- Cháu chỉ còn có một mình, bố mẹ bị quân Nguyên giết cả rồi, sau trận này có ít quân công cháu sẽ mua nhà mua ruộng ở gần nhà chú, làng cháu khi quân Nguyên tràn tới không kịp sơ tán, giờ chả còn mấy người nên cháu không muốn về quê nữa, về chỉ tổ buồn thêm.

Lê Đại nghi hoặc quay đầu lại hỏi a Ngưu:

- Sao lại mua gần nhà ta?

a Ngưu ngẩng mặt lộ ra vẻ mặt khổ sở nhăn nhó với Lê Đại nói:

- Chú Đại, câu chuyện của cháu bao nhiêu chuyện buồn như thế, sao chú chỉ chú ý tới chuyện cháu muốn mua nhà mua ruộng gần nhà chú thế?

Lê Đại bực bội, tay vân vê cục đất nói:

- Đừng luyên thuyên nữa?

Trả lời câu hỏi của ta.

a Ngưu rất nhanh đang từ vẻ mặt bất mãn liền nở nụ cười hèn mọn xoa tay nói:

- Chú Đại, chú xem, cháu dù nhà không giàu lại chỉ có một thân một mình, nhưng cũng được tính là thông minh lanh lợi, lại có tình có nghĩa.

Cái này do chính chú từng khen cháu, chú không được chối.

Trong người lại có chút quân công, sau chiến tranh muốn mua chục mẫu đất tốt và căn nhà không thành vấn đề.

Con gái chú....

Chưa kịp nói hết lời, một cục đất bay thẳng tới mặt a Ngưu.

Khó khăn lắm a Ngưu mới né được.

Lão Đại làm vẻ giận dữ quát:

- Cài thằng chó đẻ này.

Con gái ngọc ngà của ta như bông hoa nhài lẽ nào lại để cho thằng như bãi cứt trâu là ngươi chiếm lợi à.

Đừng có hòng, lo mà giữ mạng đi đã, mơ mộng ít thôi....

Dù chửi rủa a Ngưu thậm tệ nhưng Lê Đại lại vui vẻ quay mặt đi tiếp tục ăn bánh làm như không thèm để ý lời nói nhảm của a Ngưu, cảnh giác nhìn bốn phía.

A Ngưu đến nhà hắn một lần, từ lần thấy con gái hắn là a Ngưu lải nhải chuyện này mãi rồi.

Dù Lê Đại có chửi rủa, đuổi xéo bao nhiêu cũng không ngăn được tên dai như đỉa này.

a Ngưu thì cười hề hề tiếp tục công việc, mặc kệ tiếng chửi của Lê Đại có thế nào đi nữa cũng không làm hắn tức giận được, hắn quen rồi.

Huống hồ lần này phản ứng của Lê Đại lại thuyên giảm so với lần trước, xem ra hắn chỉ cần kiên trì thêm vài lần nữa là thành công thôi.

Nghĩ tới đây lòng liền vô cùng vui vẻ, cảm giác năm cái xác quân Nguyên này chỉ như bao trấu mà thôi.

A Ngưu và Lê Đại là hai thám mã của Đại Việt.

Ngoài việc dò xét địa hình, do thám vị trí quân địch thì thám mã còn nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

Chính là phản thám báo.

Nói đơn giản là phục kích, giết thám mã của kẻ địch.

Chiến trường rộng lớn, thám mã là tai, là mắt của quân đội, các tướng quân phải dựa rất nhiều vào tin báo của các thám mã báo lại để đưa ra sách lược chiến đấu.

Việc giết được thám mã của kẻ địch giống như việc bịt tai, bịt mắt kẻ địch lại mà đánh vậy.

Kỵ binh Mông Cổ vốn nổi tiếng với tài kỵ xạ, nơi khác muốn đạo tạo được kỵ binh biết bắn cung phải mất ba tới năm năm, để được gọi là mã cung thủ hợp cách thì chả biết tới khi nào.

Còn Mông Cổ thì mã cung thủ nhiều như lông trâu, cưỡi ngựa bắn cung chỉ là trò chơi của bọn trẻ con.

Thế nên, thám mã quân Nguyên gần như vô địch trong cả trăm năm đánh khắp đông tây nam bắc.

Vì là nước nhỏ, một nước đi sai lầm có thể là thảm họa với đất nước nên tình báo luôn là thứ được Đại Việt coi trọng.

Đối phó với đội thám mã đông đảo và có tài kỵ xạ như quân Nguyên, quân đội Đại Việt đề ra các quy tắc, luôn yêu cầu các thám mã của mình tuân theo nghiêm ngặt đó là: Không hành động một mình, không đối đầu trực diện chỉ được tìm cơ hội phục kích, chỉ hành động khi chắc chắn, nếu bị thám mã của địch phát hiện thì chỉ được "chạy".

Tài cưỡi ngựa không bằng, ngựa không chạy nhanh bằng, tại kỵ xạ cũng thua nốt nhưng Đại Việt lại có rất nhiều rừng, nhiều sông suối, đầm lầy nên Thám mã Đại Việt rất trú trọng đào tạo cách ngụy trang, bố trí phục kích để đánh thám mã quân Nguyên.

Chiến thuật tỏ ra khá hiệu quả khi giúp Đại Việt tránh sở trường tốc độ và khả năng kỵ xạ điêu luyện của quân Nguyên.

Nhờ đó mà một số trận chiến quân ta đánh tới nơi địch mới biết, hoặc địch đuổi tới thì quân ta đã biến mất tăm mất tích... tất cả đều nhờ công sức của những thám mã như đám a Ngưu, Lê Đại mang lại.

Vậy nên, trước khi hai quân thực sự chạm mặt quyết chiến thì cuộc chiến của các thám mã đã bắt đầu từ trước.

Dù diễn ra âm thầm nhưng vô cùng quan trọng và khốc liệt.

Quân Nguyên ăn nhiều quả đắng, nên luôn tìm cách đối phó.

Gần đây thám mã quân Nguyên luôn đi theo cặp, mỗi tổ ngũ (năm người) phụ trách riêng một khu vực luôn giữ liên lạc thậm chí luôn hoạt động trong tầm nhìn của nhau.

Ngoài ra còn bố trí nhiều tốp thám mã khác đi gần nhau để kịp thời hỗ trợ hoặc tăng cơ hội mang tin tức tình báo trở về.

Nên nhiều khi, từ những chiến thuật ám sát mục tiêu đơn lẻ thành những cuộc chiến nhỏ của các tổ năm người.

Tính chất lại càng ác liệt hơn, thời gian xóa dấu vết càng gấp gáp hơn.

Nhóm Lê Đại và a Ngưu vừa tiến hành một cuộc chiến nhỏ như thế, thành công giết được năm tên quân Nguyên nhưng cũng mất một huynh đệ, hai huynh đệ khác bị thương.

- Thu dọn xong chưa?

Lê Đại ăn xong lương khô quay lại sốt ruột hỏi a Ngưu.

- Còn một tên nữa.

Lê Đại quay lại, thấy a Ngưu đang lệch xệch kéo xác tên quân Nguyên nặng nề về phía giếng khô.

Uống miếng nước cho xuôi, Lê Đại tiến tới giúp a Ngưu khiêng cái xác quăng xuống giếng.

Thu dọn chiến trường xong, a Ngưu đưa tay lên miệng huýt sáo, từ bụi tre phía đầu làng, hai huynh đệ khác eo quấng băng vải còn có chút máu kéo theo ngựa lò dò tiến về phía hai người.

Lê Đại tung mình lên một con ngựa rồi ra lệnh cho đồng đội.

- Đi thôi.

Năm người, bốn ngựa cứ thế hướng về đại doanh phía bắc nhanh chóng rút lui.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 5: Sát Thát


Trần Quốc Toản và đội ngũ kỵ binh cố gắng men theo con đê ven sông tiếp cận tới gần vị trí cột khói bốc lên từ trước đấy.

Tới gần, Trần Quốc Toản dẫn theo Đặng Văn Thiết và mười kỵ binh khác xuống ngựa, cố gắng trườn bò lẫn trong bụi cỏ cao lên mặt đê, ngẩng đầu quan sát ra xa.

Từ xa, Trần Quốc Toản thấy một đội khoảng trăm du kỵ Mông Cổ đang cảnh giác di chuyển ở đồng bằng phía trước.

Quân Nguyên thường cho một vài nhóm quân du kỵ như thế này di chuyển phía trước đại quân để do thám các vị trí có thể mai phục hoặc hỗ trợ thám báo khi cần thiết.

Đôi khi, nhóm quân như thế này cũng sẽ được tự do tổ chức đánh phá những đoàn vận chuyển lương thực, dân phu hay đánh sâu vào hậu phương của Đại Việt nếu chúng thấy thích hợp.

Nói chung những nhóm du kỵ như thế này của quân Nguyên thường đi trước đại quân từ hai mươi tới ba mươi dặm, đảm đương rất nhiều nhiệm vụ giống như một cánh quân độc lập.

Nên dù quân số của chúng có ít ỏi nhưng lại vô cùng lợi hại, rất linh hoạt kèm theo khả năng phá hoại hậu phương lại rất lớn.

Với Đại Việt, chúng như đám sói hoang chạy xung quanh, thi thoảng lao vào cắn một miếng thịt.

Nếu để mặc chúng thì khó chịu vô cùng, dần dần bị chúng quấy phá mà chết nhưng để đối phó với những nhóm quân như thế này thì phải tốn rất nhiều công sức.

Hậu phương Nam Tống ngày trước bị chính những nhóm quân như thế này quấy phá cho tanh bành, không thể chi viện cho tiền tuyến nên càng đánh lại càng thua.

Trần Quốc Toản không muốn đối đầu với đám này bây giờ, giết bọn này cũng không thay đổi được gì nhiều cho cuộc chiến sắp tới trong khi phải đánh đổi tính mạng của hàng chục kỵ binh Đại Việt thì không đáng.

Miệng lẩm bẩm, Trần Quốc Toản quay lại ra lệnh:

- Nhanh thật.

Cỏ vẻ chúng đang đẩy nhanh tốc độ rút quân, thế này thì trưa mai quân tiên phong của địch sẽ tới sông Như Nguyệt.

Rút thôi, chúng ta phải về chuẩn bị chiến đấu.

Trần Quốc Toản vừa ra lệnh rút lui, Đặng Văn Thiết lại vẫn đang chăm chú nhìn nhóm du kỵ Mông Cổ nói:

- Cậu chủ, nhìn kìa.

Đám kỵ binh Mông Cổ hình như định đi đâu đó.

Nheo mắt nhìn về hướng đám kỵ binh Mông Công, thấy chúng đang hối hả đi về phía Bắc, Trần Quốc Toản cau mày suy nghĩ một lúc liền quay lại ra lệnh cho nhóm quân của mình.

- Có vẻ chúng đang muốn vây bắt nhóm quân nào đấy của ta.

Rất có thể là đội thám báo.

Không thể để tin tức tình báo lọt vào tay chúng được.

Đi thôi, theo sau bọn chúng.

------------------------------------------

Trên con đường đất ven sông nhỏ, nhóm thám mã Lê Đại đang phi nhanh rất nhanh như đang bị ai đó truy đuổi.

Tiếng vó ngựa rầm rập liên hồi, con đường đất bị vó ngựa xới tung.

Chạy phía trước là hai thương binh, a Ngưu và Lê Đại chạy phía sau cùng.

Trên lưng Lê Đại còn cắm một mũi lang nha tiễn, nhưng nhờ có khải giáp, có vẻ tên cắm không sâu nên máu không chảy nhiều lắm. a Ngưu quay lại hét lớn:

- Chú Đại nhanh lên.

Chú chạy lên trước đi, để cháu bọc hậu.

Lê Đại nghiến răng quát lớn:

- Câm mồm, ôm lấy cổ ngựa, cúi sát người xuống.

Ngẩng đầu lên nó bắn chết cha mày giờ.

Vừa nói xong, sau lưng có tiếng xé gió lao tới.

Vút vút, phập phập.

Hai mũi lang nha tiễn bay vèo qua đầu a Ngưu, cắm vào thân cây ven đường.

Sau lưng nhóm Lê Đại, năm kỵ binh Mông Cổ đang đuổi rất gấp.

Khoảng cách chỉ gần một trăm bước, khi thấy cơ hội, nhóm quân Nguyên liền không do dự giương cung lên bắn.

- Chết tiệt, lũ chó này kỵ xạ tài quá.

Nhanh lên, chạy tới cây cầu phía trước là ta thoát rồi.

Trước đó, sau khi ra khỏi ngôi làng không lâu, nhóm Lê Đại bị thám báo Mông Cổ phát hiện, truy đuổi gắt gao.

Thua thiệt về quân số, lại bị quân địch phát giác trước nhóm Lê Đại chỉ có thể cắm đầu bỏ chạy.

Ngựa phi nước đại chạy rất nhanh, gió vù vù thổi qua tai, Lê Đại hi vọng vượt qua cây cầu phía trước có thể cắt đuôi được đám kỵ binh quân Nguyên hoặc ít ra là hi vọng bọn chúng không dám qua cầu vì đã gần tới phạm vi hoạt động của quân Đại Việt.

Hi vọng chưa nhen nhóm được bao lâu, phía trước xuất hiện tiếng vó ngựa dồn dập cùng bùi mù cuộn lên.

Một nhóm kỵ binh Mông Cổ đông nghịt đang phi về phía cây cầu nhằm cản đường rút của nhóm Lê Đại.

Tốc độ ngựa Mông Cổ rất nhanh, dù khoảng cách xa hơn có thể không kịp chặn trước cây cầu nhưng cây cầu lại trong tầm tên bắn của chúng.

Với lượng tên như thế kia, nếu cố phi tới cây cầu thì có thể cả nhóm Lê Đại sẽ bị bắn thành nhím trước khi lên được cầu.

Chưa đến bước đường cùng, Lê Đại không muốn liều lĩnh nên quát lớn:

- Chó chết, chúng nhanh quá, ta không kịp rồi, mau rẽ lên gò đất bên trái.

Nhanh lên.

Phía trước, sau lưng đều có kỵ binh Mông Cổ, Lê Đại giục đội mình chạy lên gò đất, hi vọng tìm được đường rút lui.

Lên đến gò đất, trước mặt nhóm Lê Đại một hồ hoa sen đẹp đẽ, từng bông sen nở như cái bát, ai mà ngờ được sau cái gò đất này lại là cái hồ sen chứ?

Trên gò đất còn có một cái đình nhỏ, một vài cây bàng, cây đa xung quanh.

Đúng là nơi hóng mát lý tưởng, mùa hè được nằm đây nghỉ ngơi tán gẫu cùng làng xóm thì còn gì bằng.

Nhưng Lê Đại không có thời gian thưởng thức, hắn giật cương ngựa định quay đi tìm đường khác nhưng không kịp.

Phía dưới, kỵ binh Mông Cổ đã nhanh chóng vây quanh gò đất.

Thám báo luôn có rất nhiều thông tin hữu ích, nên dù là địch hay ta thì khi có cơ hội đều muốn bắt sống hoặc gọi hàng thám báo đối phương để khai thác thông tin.

Nếu đầu hàng, cơ hội sống sót sẽ cao hơn nhiều.

Lê Đại biết điều đó, nhưng hắn không cho phép bản thân đầu hàng quân Nguyên.

Con trai hắn, Lê Tý luôn coi hắn là anh hùng vì cha nó giết được nhiều quân Mông Cổ, hắn không muốn làm con trai phải thất vọng.

Nhìn hành động của quân Nguyên, Lê Đại có thể đoán được ý định của bọn chúng.

Ánh mắt đỏ hoe vì gió và bụi nhìn một lượt đồng đội, Lê Đại đầy áy náy nói:

- Các huynh đệ, chúng ta đã hết đường, nhìn quân Nguyên thì có vẻ chúng muốn bắt sống hoặc chiêu hàng chúng ta.

Các huynh đệ, tính mạng là của riêng mỗi người, ta không thể thay mọi người quyết định.

Hàng hay chiến, đều tùy ý mọi người quyết định, ta sẽ không phản đối.

Xin lỗi vì đưa mọi người vào bước đường này.

Mấy huynh đệ đưa mắt ngơ ngác nhìn Lê Đại rồi bỗng chốc nhìn nhau cười ha hả.

Tiểu Thái còn ôm vết thương cười nói:

- Phi, có chó mới thèm hàng giặc phương Bắc.

Đại Việt không có kẻ hèn nhát.

Đệ mà hàng lũ giặc này để được sống thì cha mẹ tổ tiên đệ cũng băm vằm đệ ra.

Đệ nhổ vào.

Mấy huynh đệ thi nhau nhổ bọt cổ vũ tinh thần của a Thái, liền theo sau là đủ thứ văng ra từ miệng mấy huynh đệ để xỉ vả đám quân Nguyên bên dưới, kệ chúng có hiểu hay không.

- Haha, nhìn kìa, chúng cử người ra chiêu hàng ta đấy.

A Ngưu chỉ tay về phía một kỵ binh quân Nguyên bước lên trước, có vẻ là hàng quân người Hán theo quân để làm phiên dịch.

Tên người Hán vừa bước ra chưa kịp mở mồm nói từ nào thì một cái giày đã bay tới đập thẳng vào mặt hắn.

A Ngưu giọng lớn hét lên:

- Trong quân Đại Việt vẫn có nhiều huy đệ người Tống đang chiến đấu với quân Mông Cổ.

Đấy mới là những hảo hán chân chính mà ta biết, loại chó như người đừng mở mồm ra sủa làm bẩn tai ông mày.

Ông mày nhổ vào mà thèm làm loại bán nước như mày.

Nhục mặt tổ tiên.

Nói hết câu, a Ngưu rướn cổ nhổ bọt về phía tên kỵ binh người Hán.

Theo sau a Ngưu, đám a Thái, a Bình cũng rống lên chửi theo mặc kệ vết thương vẫn đang rỉ máu.

Chửi luôn là việc người Việt làm rất thạo và cũng rất thích làm.

Tên kỵ binh người Hán mặt hết đỏ lại đen, tức giận vô cùng, mình chưa kịp mở lời đã bị chửi tối tăm mặt mày nhưng không thể làm được gì.

Kỵ binh Mông Cổ đứng xung quanh thấy tên người Hán bị xỉ nhục không những cả đám không tức giận, lại còn cười ha hả đứng xem trò vui.

Trong quân Nguyên vốn phân chia đẳng cấp rất nặng Mông Cổ Quân và Tham mã xích quân chủ yếu là người Mông Cổ luôn coi thường người Hán.

Nên dù Hán quân và Tân Phụ quân có số lượng rất lớn nhưng trang bị sơ sài nhất cũng có rất ít có tiếng nói, phải chịu đủ các loại khinh thường, miệt thị, xỉ nhục từ quân Mông Cổ.

Người Mông Cổ có truyền thống luôn coi trọng dũng sĩ, khinh bỉ kẻ hèn nhát.

Nên khi thấy nhóm quân Đại Việt bị vây nhưng dũng cảm, không sợ hãi còn dám đối đầu với họ thì họ có chút tôn trọng cho dù là kẻ địch.

Còn tên người Hán dù là quân mình nhưng là kẻ đầu hàng nên luôn bị coi thường, luôn bị họ khinh bỉ.

Nhưng trò vui thế nào cũng có giới hạn, cười cợt một lúc thấy tên người Hán không còn hi vọng có thể chiêu hàng được nhóm quân Đại Việt được nữa.

Quân Nguyên liền lục tục xuống ngựa theo lệnh, dàn thành hàng ngang dần dần tiến lên đồi đất.

Thấy hành động kỳ quái của quân Nguyên.

Dù đang rất căng thẳng nhưng a Ngưu lấy làm lạ vẫn hỏi Lê Đại:

- Chú Đại, sao bọn chúng lại xuống ngựa, cưỡi ngựa đánh với chúng ta chả phải lợi thế hơn à?

- Chúng muốn bắt sống chúng ta nên mới xuống ngựa đấy.

Nếu không chúng đứng đó dùng tên cũng đủ giết ta rồi, cần gì phải leo lên đây.

Cũng tốt, chúng làm thế xem ra chúng ta vẫn còn cơ hội vùng vẫy trước khi chết, nếu tốt số có khi chúng ta sẽ kéo theo được một hai tên Mông Cổ theo hầu.

Mọi người có sợ không?

Lê Đại quay lại động viên các huynh đệ đang lăm lăm đao trong tay.

- Không sợ!

Mấy huynh đệ đồng thanh đáp lời, muốn dựng lên chút sĩ khí xua đi cảm giác lo lắng trong lòng.

- Tốt lắm, các huynh đệ chúng xuống ngựa thì ta lên ngựa.

Chúng ta chuẩn bị đánh xuống dưới!

Lê Đại và các huynh lên ngựa, tay nắm chặt đao lấy tinh thần chuẩn bị thúc ngựa đánh xuống đồi đất.

Tất cả đều căng thẳng chờ lệnh xuất phát từ Lê Đại, dưới cái nóng mùa hè mồ hôi túa ra như tắm cũng không thể xua đi cái lạnh trong lòng mỗi người.

Đứng trước cái chết, chẳng ai có thể vô cảm không sợ hãi được cả.

Chỉ là có chấp nhận được nó hay không mà thôi.

Khi tất cả đã sẵn sàng thì tiếng hô quen thuộc mỗi khi xung phong của Đại Việt lại rền vang:

- Sát Thát!
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 6: Va chạm đầu tiên.


Tiếng Sát Thát bất ngờ từ xa xa phía trước truyền tới, tiếng xung phong quen thuộc của quân đội Đại Việt như áo phao cứu mạng.

Nhóm Lê Đại giật mình, quân Nguyên cũng giật mình nhìn về phía có tiếng hô.

Tiếng rầm rập của kỵ binh xung phong ngày càng rõ ràng.

Đám a Ngưu lắc vai nhau hò hét vui mừng:

- Quân ta .... là quân ta.

Kỵ binh tới rồi ...

Kỵ binh Đại Việt tới rồi.

Những giọt nước mắt vui sướng của đám a Thái a Bình tự động chảy ra, họ như từ cửa tử trở về.

Nếu có thể được sống thì ai lại chọn cái chết?

Nghe tiếng kỵ binh xung phong, Trát Hộ Nhi bách phu trưởng chỉ huy nhóm kỵ binh Mông Cổ giật mình quát lớn:

- Nhanh chóng rút về lên ngựa, chuẩn bị chiến đấu.

Nhanh.

Đội phó, dẫn hai mươi người còn trên ngựa xung phong lên trước, ta và số còn lại sẽ tới tiếp viện sau.

Cố gắng cầm chân địch đợi ta tới.

Cả đời chiến đấu trên ngựa giúp Trát Hộ Nhi đưa ra quyết định nhanh chóng, hắn biết khoảng cách hai ba trăm bước với kỵ binh xung phong chỉ trong nháy mắt mà thôi.

Hắn vô cùng hối hận vì tham công, muốn bắt sống nhóm thám báo kia mà để quân của mình xuống ngựa.

Hiện giờ quân của hắn còn đang ở lưng chừng gò đất, cần thời gian quay lại để tổ chức lại đội ngũ.

Hết cách, hắn đành cắn răng lệnh hai mươi kỵ binh xung phong đi chết, dùng mạng những kỵ binh này giúp hắn câu chút thời gian để tổ chức lại đội hình.

Phía bên kia, Trần Quốc Toản cùng quân của mình phát hiện thấy kỵ binh Mông Cổ đang vây một nhóm quân Đại Việt, liền quyết đoán xung phong.

Dù còn khá xa nhưng Trần Quốc Toản muốn thu hút sự chú ý của quân Nguyên, hi vọng có thể cứu sống nhóm quân Đại Việt đang bị vây khốn.

Kéo mặt nạ quỷ xuống, ánh mắt trở lên lạnh lẽo, hắn giật mạnh cương ngựa, chiến mã như hiểu ý chủ nhân dựng hai vó trước hí dài.

Trần Quốc Toản còn trẻ nên rất thích làm động tác này trước khi xung phong ví nó khá oai phong.

Quốc Toản Hét lớn:

- Các huynh đệ, vì những huynh đệ đang bị vây, vì Đại Việt.

Xung phong!

- Sát Thát !

Một trăm kỵ binh nhất tề xung phong theo Trần Quốc Toản, dù ít nhưng là kỵ binh đều mang đến khí thế khác biệt.

Trần Quốc Toản đi đầu, Đặng Văn Thiết theo sau, chiến mã nhanh chóng tăng tốc, một trăm mặt nạ quỷ hạ xuống tất cả đều giáp trụ đen xì không phân biệt được ai là tướng ai là quân.

Ra trận, Trần Quốc Toản luôn mặc giống các binh sĩ khác để tránh thu hút sự chú ý của kẻ địch, tạo cơ hội để bản thân có thể dễ dàng luồn sâu xuyên phá thế trận của kẻ địch.

Hơn nữa, trên chiến trường, ăn mặc càng nổi bật thì càng nhanh chết.

Thấy địch chỉ có khoảng hai mươi kỵ binh bắt đầu xung phong, Trần Quốc Toản biết, địch muốn dùng hai mươi kỵ binh cản đường mình để số còn lại kịp lên ngựa xếp đội hình chiến đấu hoặc bỏ chạy.

Quốc Toản quay sang nhìn Đặng Văn Thiết đang chạy ngay bên cạnh và chỉ tay sang bên trái hô to:

- Đặng Văn Thiết, bên trái, bọc hậu.

Hiệu lệnh đơn giản, nhưng ai cũng biết phải làm gì.

Từ sau mặt nạ, Đặng Văn Thiết lầm bẩm "Chú Bộc sẽ giết mình mất" nhưng là quân lệnh nên dù miễn cưỡng hắn vẫn giật cương ngựa rẽ trái.

Ba mươi kỵ binh khác cũng lập tức rẽ theo muốn vòng ra sau bọc hậu cánh quân phía sau quân Mông Cổ, ngăn chúng rút lui.

Dù xưng bá nhờ tài kỵ xạ nhưng hai mươi quân Mông cổ xung phong không dùng tên như bình thường chúng hay làm, đơn giản chúng không đủ thời gian để thực hiện do khoảng cách quá gần.

Ngựa hai bên phi vào rất nhanh sẽ va chạm.

Nếu còn dùng cung thì sẽ không kịp đổi sang đao kiếm thì khi va chạm sẽ chả khác gì bao thịt cho người ta tập chém.

Đại Việt thì khác, các kỵ binh đều được trang bị nỏ đã lên tên cài sẵn sau yên ngựa, khi khoảng cách còn một bước, Trần Quốc Toản phất tay về phía trước ra hiệu.

Sau cái phất tay đơn giản, loạt tiếng bật giây đanh thép vang lên, hàng chục mũi tên bắn ra đồng loạt, nhắm thẳng quân Mông Cổ phía đối diện.

Ở khoảng cách này, thêm tốc độ của ngựa phi nước đại, nỏ bắn thẳng là vô địch, áo giáp với nó chẳng là gì.

Gần như ngay lập tức, phía đối diện, bảy, tám kỵ binh Mông Cổ ngã gục, bụi tung mù mịt, máu thịt tứ tung lập tức bắn lên theo bước chân vó ngựa.

Với tốc độ của ngựa phi nước đại, việc ngựa bị trúng tên hay kỵ binh bị trúng tên kết cục đều như nhau.

Đấy là chết.

Ngã ngựa đồng nghĩa với chết, không chết vì bị trúng tên thì cũng gãy hết xương cốt mà chết, nếu vẫn may mắn không chết thì vó ngựa của đồng đội phía sau cũng dẫm nát không còn hình dạng gì.

Chết rất khó coi.

Sau loạt tên, toàn bộ kỵ binh Đại Việt vứt nỏ ra phía sau chẳng thèm để ý đến, tý quay lại nhặt là được.

Bảy mươi kỵ binh nhanh chóng rút đao chuẩn bị giáp chiến, khi chuẩn bị va chạm kỵ binh Đại Việt lại lần nữa hô to: "Sát Thát" lấy khí thế.

Trần Quốc Toản lợi dụng chiều dài của thương đâm tới, động tác rất nhanh, nhắm rất chuẩn không cho tên quân Mông Cổ phía đối diện chút cơ hội nào.

Mũi thương sắc bén xuyên qua cổ, quán tính của ngựa làm cổ tên Mông Cổ đứt lìa, thủ cấp bay lên kèm theo máu từ cổ bắn lên như suối chảy ngược lên trời.

Chiến mã vẫn mang theo xác tên Mông Cổ không đầu trên lưng chạy thêm một đoạn trước khi cái xác đổ gục xuống đất.

Chỉ hơn chục kỵ binh Mông Cổ, đội hình quá thưa, ngựa lại chưa kịp tăng tốc nên tác dụng không nhiều, hai mươi kỵ binh Mông Cổ đều bị kỵ binh Đại Việt giết sạch sau một lượt va chạm.

Tuy vậy, kỵ binh Mông Cổ không phải danh bất hư truyền, kỹ thuật chiến đấu trên ngựa xưng bá chiến trường từ lâu nên dù trong tình huống bị áp đảo như thế mà vẫn có thể kéo theo hai kỵ binh Đại Việt ngã ngựa.

Vượt qua hàng ngũ quân Nguyên, bỏ lại sau lưng hai mươi xác kẻ đich, Trần Quốc Toản liền thúc ngựa tiếp tục phi về phía quân Mông Cổ phía trước.

Cần phải nhanh chóng cùng Đặng Văn Thiết hợp vây đội quân này.

Nếu để bọn chúng kịp lên ngựa bỏ chạy thì việc đuổi theo bọn chúng gần như là không thể.

Lê Đại là lão binh, nhìn động tĩnh quân Mông Cổ, bằng vào kinh nhiệm của mình Lê Đại có thể đoán ra tám phần là quân Mông Cổ muốn dùng mạng hai mươi kỵ binh kia cản đường để số còn lại cắt đuôi rút chạy.

Quân ta có một nhóm kỵ binh tách ra, Lê Đại biết nhóm kỵ binh Đại Việt kia muốn chặn đầu cản đường lui đội quân Mông Cổ này.

Nhưng nắm tay Lê Đại lại bất giác siết chặt đau đớn nói:

- Chết tiệt, vẫn không kịp, người Mông Cổ giỏi kỵ thuật, ngựa lại là ngựa tốt.

Quân ta tới không kịp.

Cả Đặng Văn Thiết và Lê Đại đều bất giác nói ra suy nghĩ trong lòng.

Quay lại nhìn đội ngũ của mình, Lê Đại biết mình cần phải làm gì nếu muốn tiêu diệt nhóm quân Mông Cổ này, diệt được nhóm quân này đồng nghĩa với việc chặn được một lượng lớn tin tình báo tới tay quân Nguyên.

Việc này rất quan trọng, nhưng nhìn các huynh đệ đang vui vẻ mới từ cõi chết trở về Lê Đại chần chừ không quyết định được.

- Chú Đại, có chuyện gì người cứ nói đi.

A Ngưu tinh tế để ý thấy lão Đại đang có điều suy nghĩ không nói ra nên chủ động mở lời.

Hai huynh đệ bị thương a Thái, a Bình thấy thế quay lại nhìn lão Đại muốn biết có chuyện gì.

Lê Đại mắt hơi đỏ không dám nhìn thẳng vào đồng đội nói:

- Các huynh đệ, ta cần giữ chân đám quân Nguyên này, chờ cánh quân kia tới.

Nói xong, Lê Đại chỉ tay về phía nhóm quân Đặng Văn Thiết đang vòng sang bên phải quân Nguyên.

Nhìn theo cánh tay của lão Đại, bọn họ biết nếu không có thứ gì níu chân, đội kỵ binh Đại Việt kia sẽ không kịp chặn đường rút của quân Mông Cổ.

"Chó chết thật" trong lòng mọi người đều không muốn nói ra, nước mắt chảy dài vì họ biết, lao vào quân Mông cổ lúc này đồng nghĩ với cái chết nhưng miệng lại cười, nhìn nhau cùng gật đầu với lão Đại. a Ngưu hỏi lão Đại:

- Lời lúc nãy của chú còn tính không?

Lão Đại chỉ mỉm cười gật đầu chẳng quan tâm a Ngưu hỏi tới chuyện hứa hẹn sau khi chết hay chuyện hắn muốn cưới con gái mình.

Hẹn kiếp sau thì cứ chết đã rồi tính, chả mất gì.

Còn chuyện a Ngưu muốn cưới con gái thì Lê Đại chửi thế thôi chứ cũng không phản đối từ lâu rồi, chỉ cần con gái mình đồng ý là được.

Đặt huynh đệ Trần Phúc đã chiến tử xuống dưới đình.

Lấy nỏ ở eo Trần Phúc.

A Ngưu hí hửng nói:

- a Phúc, ta sẽ bắt một tên Mông Cổ xuống làm người hầu cho ngươi, ở dưới đó bày rượu chờ bọn ta.

Nói cho ngươi biết, nếu sau trận này ta mà còn sống, ta sẽ làm rể lão Đại cho ngươi xem.

Thu xếp xong, bốn người Lê Đại dứt khoát nhảy lên ngựa, nhìn nhau một lượt chia nhau bình rượu của lão Đại.

Lời phải nói cũng đã nói hết.

Thấy quân Nguyên đã tới chân đồi đất, không thể chần chừ thêm nữa, Lê Đại liền hô to:

- Các huynh đệ, giết bọn chó Thát Đát, Xung Phong!

Sát Thát.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 8: Lòng dân.


Chiến đấu rất nhanh kết thúc, chưa tới một tuần hương.

Hơn ba mươi quân Nguyên bị bắt, phía Đại Việt chỉ mất mười người và một số bị thương nhẹ.

Trần Quốc Toản nghe Đặng Văn Thiết báo cáo lại thì cảm khái nói:

- Đây mới chính là những anh hùng của chúng ta.

Nhờ có họ, chúng ta tổn thất rất ít.

Truyền lệnh, dọn dẹp chiến trường, thu niệm các huynh đệ chiến tử.

Trời sắp tối rồi, chúng ta phải về đại doanh.

- Còn tù binh thì sao ạ.

Trần Quốc Toản liếc nhìn đám tù binh đang quỳ dưới đất rồi lạnh lùng hạ lệnh:

- Trận này chúng ta không thu tù binh.

Toàn bộ tù binh lập tức đều bị kéo đi chém đầu.

Trận này quá quan trọng với Đại Việt, tính mạng hai vạn binh sĩ trong tay khiến Trần Quốc Toản không muốn có bất kỳ biến số gì xảy ra.

- Tướng quân, phát hiện có huynh đệ còn sống, nhưng bị thương rất nặng.

Một tiểu bình rất nhanh chạy tới, quỳ một chân bẩm báo.

Trần Quốc Toản vội khoát tay ra hiệu dẫn đường rồi nhanh chóng bước theo tiểu binh.

Trên gò đất, các binh lính đều đang quây xung quanh đứng xem y sư trong quân khám cho thương binh.

Thấy Trần Quốc Toản tới, binh lính tự động giãn ra tránh đường cho Trần Quốc Toản.

Trên cáng ở chính giữa là một binh sĩ dáng người nhỏ bé nhưng rất rắn rỏi.

Bùn đất trên người đã được binh sĩ khác lau sạch.

Nhìn qua Trần Quốc Toản đoán ra đây là binh sĩ thuộc đội thám báo.

Đại Việt luôn lựa chọn những người thân hình nhỏ bé nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn, nhanh trí để làm thám báo.

Hơn nữa nhìn trang phục là bì giáp, áo lót áo choàng bên ngoài đều là vải bố màu nâu nhạt là đặc trưng của thám báo trong quân để dễ dàng ẩn nấp.

Trang phục của các quân khác hay chính người dân Đại Việt đều chuộng màu đen hơn.

Trên người binh sĩ nhìn thấy sáu bảy mũi tên, y sư đang dùng dao nhỏ hơ hơ trên lửa xem ra chuẩn bị giúp binh sĩ rút các mũi tên ra.

Trần Quốc Toản khẽ đưa mắt nhìn y sư trong quân, y sư hiểu ý liền bẩm báo tình hình thương binh:

- Bẩm tướng quân, trừ mũi tên bên trên ngực trái hơi gần tim thì các mũi tên khác chỉ trúng phần mềm không có gì nguy hại.

Chủ yếu do mất sức, mất máu quá nhiều, ngoài ra có một số xương sườn bị gãy do va đập nên tạm thời ngất đi.

Sẽ không nguy hiểm tới tính mạng.

Trần Quốc Toản gật đầu, ra hiệu y sư tiếp tục công việc, không cần để ý đến mình:

- Cố hết sức cứu chữa cho hắn.

Họ đã chiến đấu rất anh dũng vì Đại Việt.

Khi định quay đi, thấy tay thương binh cựa quậy như có điều muốn nói.

Trần Quốc Toản tiến tới gần thương binh nhìn kỹ thấy thương binh cố gắng chỉ ngón tay về phía đỉnh gò đất, miệng mấp máy không ra hơi.

Trần Quốc Toản hiểu ý, nắm lấy tay thương binh gật đầu nói:

- Ta hiểu rồi.

Ngươi cứ yên tâm chữa trị, mọi việc còn lại có ta lo, cố gắng hồi phục để kịp đưa tiễn đồng đội của ngươi.

Thương binh nghe xong liền nhắm mắt lại, mặt hơi giãn ra, hơi thở trở lên nhẹ nhàng hơn.

Có vẻ chuyển được lời cần nói, trút được gánh nặng trong lòng nên hắn đã yên tâm mà thiếp đi.

Để y sư tiếp tục chữa trị cho thương binh, Trần Quốc Toản đứng dậy đi lên phía đồi đất theo hướng chỉ của a Ngưu.

Giữa gò đất có mười bốn cái cáng được xếp ngay ngắn trên mặt đất.

Những binh sĩ Đại Việt tử trận đều được đồng đội cố gắng thu hồi thi hài, tập hợp tại đây.

Trần Quốc Toản hạ mũ trụ dùng tay kẹp ở hông, nhắm mắt hơi cúi đầu để thể hiện lòng tôn trọng với các binh sĩ đã tử trận.

Trần Quốc Toản đi xung quanh gò đất quan sát, nhìn các binh sĩ nằm trên mặt đất.

Có người bị chém cụt chân, cụt tay, có người mất đầu, có người chi chít vết đâm,... trên chiến trường có muôn vàn cách chết khác nhau, được các đồng đội tìm đủ các mảnh thi thể về cũng có thể coi là một điều may mắn.

Vẫn được tính là chết toàn thây, người Việt hay người Hán luôn coi trọng tính toàn thây sau khi chết.

Nhìn khắp một lượt, Trần Quốc Toản dứt khoát đi tới ngồi xuống bên thi thể của Trần Phúc.

Tất cả các binh sĩ tử trận khác vết thương đều rất mới, chỉ có Trần Phúc các vết thương đều đã khô máu, thi thể lại rất ngay ngắn.

Các tướng sĩ tò mò nhìn Trần Quốc Toản đang lục tìm áo giáp của Trần Phúc, được một lúc thì hắn khẽ mỉm cười, rút từ trong áo giáp Trần Phúc ra một cuộn da dê.

Thì ra, trước khi xung phong vào quân Mông Cổ, đám Lê Đại, a Ngưu đặt thi thể Trần Phúc ở dưới đình kèm theo thông tin tình báo đội ngũ mình do thám được.

Lê Đại biết, những thông tin này rất quý giá với trận chiến sắp tới.

Hi vọng quân ta có thể lấy được các thông tin tình báo quan trọng này.

Mở cuộn da dê ra xem, Trần Quốc Toản hài lòng gật đầu nói:

- Thật cơ trí, trong hoàn cảnh như thế mã vẫn tính toán, sắp xếp mọi việc thật chu toàn.

Có những binh sĩ như thế là phúc của con dân Đại Việt.

Thay mặt Đại Việt, đa tạ các ngươi.

Nói xong, Trần Quốc Toản chắp hai tay khom người thật sâu làm đại lễ trước thi thể các binh sĩ.

Các binh sĩ khác thấy tướng quân hành lễ, dù không hiểu vì sao nhưng đều lập tức quỳ một gối, cúi đầu, một tay đấm đất một tay chống gối hành lễ trước các binh sĩ tử trận.

Có được tin tức tình báo, Trần Quốc Toản lệnh Đặng Văn Thiết ở lại cùng bảy mươi kỵ binh thu dọn chiến trường, chờ y sư băng bó xong cho a Ngưu thì hộ tống các huynh đệ chiến tử và a Ngưu về đại doanh.

Bản thân Trần Quốc Toản chỉ dẫn theo hai mươi kỵ binh tiến về đại doanh trước.

Dù không muốn nhưng trên chiến trường lời Trần Quốc Toản chính là quân lệnh, Đặng Văn Thiết chỉ có thể nghe theo.

Nhìn Trần Quốc Toản dần khuất bóng, Đặng Văn Thiết lắc đầu ngao ngán nói thầm:

- Quả này mình chết chắc rồi.

Trên tường đại doanh, nhìn đội hình kỵ binh thưa thớt phi về, Nguyễn Hoài Bộc vô cùng lo lắng.

Chỉ tới khi thấy Trần Quốc Toản cưỡi ngựa trên cùng lão mới thở phào một hơi.

Chả thèm để ý Đặng Văn Thiết còn sống hay đã chết, tay lão lại bất giắc nắm chặt, nghiến răng ken két lẩm bẩm:

- Đặng Văn Thiết, có vẻ dạo này lão Bộc này quá dễ dãi với ngươi rồi?

Nói xong Nguyễn Hoài Bộc liền tiến xuống phía dưới chờ Trần Quốc Toản vào doanh.

Về gần đến đại doanh, Trần Quốc Toản nhìn doanh trại đã thành hình khá hài lòng.

Không vội vào doanh, hắn cưỡi ngựa dạo quanh một vòng để quan sát đại công trường nhộn nhịp dân và quân bên ngoài.

Nhờ có dân quân xung quanh giúp đỡ, tốc độ xây dựng doanh trại rất nhanh.

Với quân Nguyên, có lẽ tòa lũy này như từ trên trời rơi xuống vậy.

Dưới thời tiết nóng nực, hàng nghìn dân quân Đại Việt vẫn rất hăng hái làm việc, người xúc đất người vác đất đắp chân tường lũy.

Thậm chí đám trẻ con cũng được người lớn dẫn theo vừa để phụ việc vừa để giữ trong tầm mắt dễ trông coi đảm bảo an toàn hơn là ở nơi trú ẩn.

Đám trẻ con cũng rất được việc, đứa lớn chút thì vác tre cắm vào chân lũy, dưới hào.

Đứa nhỏ thì xách ấm nước vối nhỏ nhỏ đi mời người lớn uống.

Binh sĩ được người dân giúp đỡ thì rất phấn khởi làm không thấy mệt, đặc biệt là những binh sĩ chưa vợ thì làm càng hăng, vì trong đội ngũ người dân có rất nhiều cô gái trẻ đang nhìn bọn hắn.

Ở Đại Việt, nho giáo không thịnh, lại có truyền thống thờ thánh mẫu từ xưa nên vị trí và vai trò người phụ nữ trong xã hội Đại Việt còn rất bình đẳng, không bị kìm kẹp quá nhiều như nhà Tống.

Phụ nữ Đại Việt thậm chí có thể tự do ra ngoài buôn bán làm ăn.

Thế nên, phụ nữ Đại Việt rất bạo dạn, chuyện thi thoảng có tên lính nhát gan bị các cô nương trêu ghẹo làm mặt đỏ như gấc chỉ biết cúi gằm mặt xuống xúc đất không hiếm trên công trường.

Trước đại chiến hình ảnh trẻ con nghịch ngợm, tiếng cười khanh khách vang lên làm tâm tình binh lính đỡ căng thẳng hơn phần nào, cũng giúp cho binh lính thêm quyết tâm chống giặc để bảo vệ những người dân đáng mến này.

Đây chính là lòng dân Hưng Đạo Vương đã từng nói tới.

Lòng dân chính là vũ khí sắc bén nhất, tấm thuẫn cứng rắn nhất giúp triều đình đối chọi với kẻ thù ngoại xâm hùng mạnh.

Không có lòng dân thì còn lâu hai vạn quân Đại Việt trong tay Trần Quốc Toản mới có được hệ thống công sự phòng ngự chắc chắn như thế này để dựa vào.

Có công sự thế này, mọi người sẽ tự tin hơn nhiều vào cuộc chiến sắp tới.

Hiện tại, tường lũy phía Nam đã khá cao, dưới chân lũy được đắp đất cao hơn ba thước, bên trên là lũy gỗ cao gần một trượng.

Tổng chiều cao lũy tới một trượng có dư.

Cách lũy gần chục bước là một con hào chạy dọc theo lũy, sâu chừng năm thước, rộng bảy thước.

Đất đắp tường trại kia chính là từ con hào này.

Đại Việt có một loại đặc sản, có ở khắp mọi nơi đấy chính là tre.

Tường lũy và con hào phía dưới cắm chi chít tre đã vót nhọn, những cây tre có rất nhiều móc ngược, cạnh cắm trong bùn.

Đợi bùn khô đi, muốn nhổ được những cây chông này ra là chuyện lên trời.

Chính những chông tre do đám trẻ con đang lúi húi cắm vào chân lũy này sẽ là vũ khí gây sát thương và cản trở rất lớn tới quân Nguyên.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 9: Tiên phát chế nhân


Trước đấy, sau khi họp cùng các tướng, mọi người đều thống nhất ý kiến, trận chiến này sẽ không kéo dài, thời gian chuẩn bị rất ngắn nên không thể dựng một doanh trại hoàn chỉnh cả bốn mặt được.

Thay vào đó, lợi dụng đầm lầy hai bên, chỉ cần dựng lũy phòng thủ mặt nam là chủ yếu, nên thay vì nói là doanh trại thì coi nó là trường lũy thì chính xác hơn.

Còn về mặt phía bắc, về cơ bản phía bắc sông Như Nguyệt quân Nguyên chủ yếu là bộ binh có vai trò phòng thủ đồn bảo bảo vệ tuyến đường rút quân, vận lương nên gần như không phương tiện vượt sông.

Với 5000 thủy quân của Trần Văn Bách thừa sức để cản quân Nguyên vượt sông, hơn nữa dân quân Đại Việt phía bắc hoạt động rất mạnh, không lo quân Nguyên có thể dồn lực lượng quá lớn về phía sông Như Nguyệt.

Thấy mọi việc đều thuận lợi, Trần Quốc Toản hài lòng về đại doanh.

Vừa bước qua cổng doanh trại, hắn đã thấy Nguyễn Hoài Bộc đang đứng đợi mình.

Trần Quốc Toản xuống ngựa, đưa dây cương cho mã phu tới dắt ngựa đi chăm sóc rồi hắn mở lời trước:

- Chú Bộc, vào lều đã rồi nói.

Chú cho người triệu tất cả các tướng đến lều chính họp bàn kế hoạch.

Cháu có một số chủ ý mới.

Tất cả từ các tướng hiệu, binh lính, dân phu,....đều nhìn ra đội kỵ binh vừa trải qua một trận chiến đấu, vết máu trên giáp vẫn còn rất mới.

Tất cả đều tò mò về chuyện đã xảy ra, rốt cuộc có chuyện gì mà khiến một trăm kỵ binh xuất phát, quay về chỉ còn hai mươi người.

Thấy Trần Quốc Toản đã đi trước, Nguyễn Hoài Bộc dù lòng có nhiều câu hỏi nhưng đành gác lại để theo sau đi về phía lều chính.

Lần lượt từng kỵ binh trở về đều được từng nhóm, từng nhóm quân lính kéo đi hỏi chuyện, dù sao sắp tới giờ cơm rồi mọi người đều được nghỉ ngơi, có chuyện tất nhiên phải hóng.

Hóng chuyện luôn là bản tính của con dân Đại Việt từ trước tới nay đặc biệt trong cái thời đại chả có mấy loại hình giải trí thế này.

Trong lều chính, Trần Quốc Toản cầm bình trà do lão Bộc đưa cho tu ừng ực.

Giải tỏa được cơn khát, Trần Quốc Toản ngồi xuống ghế, bắt đầu kể lại đầu đuôi cuộc chạm trán nhỏ vừa rồi với quân Nguyên.

Nguyễn Hoài Bộc cũng rất khâm phục sự dũng cảm và đa mưu của nhóm Lê Đại.

Nhưng chi tiết mà lão Bộc nhớ nhất là chuyện Đặng Văn Thiết dám tách khỏi Trần Quốc Toản.

Bàn tay lão nắm chặt kêu răng rắc, Trần Quốc Toản là độc đinh của Vũ Uy Vương, chưa có tiểu chủ nhân hắn không muốn Trần Quốc Toản gặp phải bất kỳ nguy hiểm gì.

Trần Quốc Toản xung phong giết địch đã là nhân nhượng lớn nhất của hắn rồi.

Hiểu rõ suy nghĩ của lão Bộc, Trần Quốc Toản mỉm cười nói:

- Chú Bộc, chú đừng trách Đặng Văn Thiết, là cháu bắt hắn làm thế.

Trên trận cháu là tướng quân, lời cháu nói là quân lệnh, hắn không dám không nghe.

Lão Bộc định nói vài lời, thấy các tướng hiệu lần lượt báo danh đi vào nên đành thôi.

Đợi mọi người ngồi xuống, Trần Quốc Toản mở lời nói trước:

- Vừa rồi ta có nhận được một số tin tức từ một số thám mã quân ta do thám được.

Nói tới đây, Trần Quốc Toản gật đầu để Nguyễn Hoài Bộc chuyển quấn da dê cho từng người đọc rồi tiếp tục giải thích.

- Theo thám mã báo về.

Tiên phong của địch đã vượt sông Hồng, còn cách chúng ta khoảng bốn mươi dặm.

Chỉ huy là Lưu Thế Anh quân số khoảng bốn tới năm vạn, chủ yếu là Hán quân và Tân phụ quân, phần lớn là bộ binh.

Trung Quân địch còn khoảng tám tới mười vạn quân là lực lượng mạnh nhất gồm phần lớn kỵ binh Mông Cổ, chỉ huy chính là lão hồ ly Lý Hằng.

Hậu quân địch còn ở quá xa bên kia sông nên thám mã quân ta không nắm được tin tức gì.

Điều bất ngờ là quân của địch dù đang rút chạy khỏi Thăng Long, địch cũng đoán được ta sẽ chặn đánh chúng ở đây nhưng toán quân tiên phong của Lưu Thế Anh lại chỉ có thang mây, dù số lượng khá lớn nhưng không thấy các vũ khí công thành loại lớn khác.

Trần Quốc Toản hơi ngừng lại, đợi các tướng xem tin tình báo rồi tiếp tục nói:

- Vừa nãy, ta có ra ngoài doanh khoảng ba mươi dặm, gặp một toán du kỵ Mông Cổ nên hẳn thông tin mọi người vừa đọc là chính xác.

Địch tiến nhanh hơn dự định của chúng ta, lại mang theo sẵn thang mây để công thành, quân số rất đông nhưng không có mấy kỵ binh.

Theo ta phán đoán, địch muốn ngay ngày mai khi cánh quân tiên phong của chúng tới đây sẽ lập tức tổ chức tấn công, không muốn mất thời gian chờ trung quân và vận chuyển vũ khí công thành lớn tới.

Có thể chúng cũng biết ta đi vội sẽ mang theo ít vật tư lương thực nên Lý Hằng muốn dùng lượng lớn quân Hán có sức chiến đấu yếu bào mỏng lực lượng, vật tư thủ thành của ta.

Quốc Toản khẽ thở ra kèm theo chút khó chịu nói:

- Có xác người Hán lót đường, đợi đến lúc ta mỏi mệt, hết vật tư thủ doanh địch sẽ tung lực lượng tinh nhuệ nhất ở trung quân vào.

Khi đó công thành đoạt trại sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều cho chúng.

Xem ra Lý Hằng vừa muốn cắt bỏ cái đuôi chậm chạp là Hán quân, vừa muốn tiết kiệm lương thực nuôi đội quân này lại có thể bào mỏng sức chiến đấu của ta.

Xong việc, hắn chỉ cần đổ mọi tội lỗi thất bại cho kẻ cầm quân là Lưu Thế Anh, một tướng quân người Hán là có thể phủi sạch mọi trách nhiệm, lượng quân Hán còn lại sẽ không có lý do để trách móc Lý Hằng.

Quả không hổ danh, trong tình thế này Lý Hằng có thể xử ra một kế độc, rất độc như thế.

Mọi người có cao kiến gì để phá nước cờ này của địch không?

Các tướng nghe Trần Quốc Toản phân tích đều thoáng lạnh sống lưng, ai cũng đều nhăn mày trước sự tàn nhẫn của quân Nguyên.

Sẵn sàng thí mạng hàng vạn binh sĩ để đạt được mục đích nhưng kế hoạch này thật sự rất lợi hại, có thể cùng lúc giải quyết được rất nhiều vấn đề của quân Nguyên, trong đó vấn đề lớn nhất là quân lương.

Trần Văn Bách, mặt đen nhẻm với chòm râu lưa thưa khoảng bốn mươi tuổi, tay dài dáng người cân đối vai rộng eo thon đặc trưng của thủy binh, đứng dậy chắp tay trầm tư nói:

- Bẩm chủ soái, theo mạt tướng với kế sách của địch như thế, chúng ta cần phải tiên phát chế nhân.

Chủ động xuất kích đánh địch, đẩy chiến tuyến ra xa đại doanh quân ta.

Tốt nhất nên dùng kỳ binh, cố gắng hạn chế sử dụng tới vật tư thủ thành.

Nếu có thể đánh tan đội được quân tiên phong này là tốt nhất, tuyệt đối không thể để chúng lành lặn tiến tới đây.

Ngoài ra, nếu làm thế chúng ta có thể câu thêm thời gian để gia cố thêm cho công sự phòng ngự.

Trần Quốc Toản mỉm cười, vẻ mặt tán đồng với Trần Văn Bách dơ tay nói:

- Tướng quân nói rất có lý, ta cũng có ý đấy.

Tường lũy của chúng ta dù đã thành hình, nhưng chưa đủ sức phòng ngự trước đội quân đông đảo như thế.

Đặc biệt, chúng định dùng xác quân Hán lấp hào, nếu co cụm phòng ngự chúng ta chắc chắn không thể cầm chân quân Nguyên quá lâu.

Tuy nhiên, quân Nguyên nếu đã đoán ra ý đồ của ta ngăn chúng vượt sông Như Nguyệt, thì chắc chắn Lý Hằng sẽ còn có thêm bố trí khác.

Ta đồ rằng, có thể là đội quân phía Bắc sông Như Nguyệt sẽ đồng thời vượt sông tiến công chúng ta, đem chúng ta vào thế hai đầu thọ địch.

Vì thế ta tính toán thế này.

Thấy Trần Quốc Toản đã nghiêm măt, bắt đầu muốn hạ mệnh lệnh, các tướng đều đứng dậy chờ sắp xếp.

Trong quân không nói hai lời, dù Trần Quốc Toản còn trẻ, song là chủ soái.

Một khi chủ soái đã ra lệnh thì tất cả đều phải tuân thủ nghiêm ngặt sắp xếp của chủ soái, không được nghi ngờ dù có phải chết.

- Lệnh Trần Văn Bách, giữ 5000 thủy quân phòng thủ hậu doanh, bằng mọi giá không cho kẻ địch bên bờ bắc vượt được sông.

Cố gắng giữ cầu phao lâu nhất có thể để vận chuyển vật tư.

Khi có địch tới phải lập tức hủy cầu phao và lượng vật tư còn lại nếu không kịp chuyển sang sông.

- Lệnh Trần Văn Phúc giữ 3000 quân bộ, tiếp tục đồn trú, đóng giữ ngọn núi bên trái.

2000 kỵ binh giao Trần Văn Cảo (phó tướng của Trần Văn Phúc) chỉ huy theo ta đón đánh quân tiên phong của địch.

Ngay tối nay, toàn bộ 2000 kỵ binh này phải rút về đại doanh để chuẩn bị.

- Lệnh Nguyễn Hoài Bộc, giữ 7000 bộ binh còn lại phòng thủ đại doanh, sẵn sàng chi viện các đội quân khác khi cần thiết.

Trong thời gian ta không có mặt trong đại doanh, toàn bộ mọi việc sẽ do Nguyễn Hoài Bộc chỉ huy.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống phòng ngự, chia binh canh gác và bảo vệ người dân, dân phu.

Nếu có địch xuất hiện trong phạm vi hai mươi dặm thì lập tức sơ tán toàn bộ người dân.

- Đặng Văn Thiết, Trần Văn Cảo theo ta cùng 5000 kỵ binh ra ngoài đại doanh đánh địch.

Toàn quân canh ba nấu cơm, canh năm xuất phát.

- Mạt tướng tuân lệnh!

Giọng của Quốc Toản rất cương quyết, các tướng cũng đồng thanh đáp lại nhận lệnh rồi rời đi, không ai có ý kiến nào khác.

Đợi mọi người đi hết, phân phó xong công việc Nguyễn Hoài Bộc quay trở lại lều chính với vẻ nặng nề.

Lão nhẹ nhàng bê lên bình trà mới cho Trần Quốc Toản đang chăm chú đọc chiến báo từ các nơi gửi tới, thi thoảng lại cắm thêm một cây cờ nhỏ lên bản đồ.

Đặt bình trà lên bàn, Nguyễn Hoài Bộc khẽ nói:

- Cậu chủ, cuộc chiến ngày mai hay là để lão Bộc thay người dẫn quân ra ngoài, người ở lại đại doanh được không? dù sao quân Nguyên cũng có tới năm vạn quân....

Trần Quốc Toản hơi ngẩng mặt lên, khẽ lắc cổ cho đỡ mỏi, cầm bình trà lên tu rồi mới nói với lão Bộc:

- Chú Bộc, người không cần lo lắng.

Quân Nguyên tuy đông nhưng chủ yếu là Tân Phụ quân, rất thiếu huấn luyện, sức chiến đấu không cao.

Có 5000 kỵ binh tinh nhuệ này chúng ta hoàn toàn có thế phá tan được chúng, mà nếu không được cũng có thể dễ dàng rút lui.

Nguyễn Hoài Bộc hơi ngần ngừ rồi nói:

- Nếu không, hay là người mang thêm bộ binh theo để phối hợp sẽ an toàn hơn.

- Mang theo bộ binh nữa thì khá rắc rối.

Cuộc chiến ngày mai cháu muốn đánh nhanh thắng nhanh, không thể dây dưa với chúng được.

Nếu bị kỵ binh quân Nguyên từ phía sau tới tiếp viện thì sẽ rất khó thoát ra, đây là lý do cháu chỉ huy động 5000 kỵ binh.

Thấy Nguyễn Hoài Bộc vẫn còn đang lo lắng, Trần Quốc Toản đứng dậy vươn vai đi ra, vừa đi vừa nói:

- Chú Bộc, cháu và a Thiết rèn giũa võ nghệ từ lúc lọt lòng đến nay dưới bàn tay của chú chưa hề ngơi nghỉ.

Chú biết mà, bọn cháu cần kinh nghiệm và thực chiến để trưởng thành hơn, không thể sống dưới vây cánh và sự bao bọc của người mãi được.

Đến lúc bọn cháu phải học cách tự mình gánh vác trọng trách rồi.

Chú nên tin tưởng vào đồ đệ của mình chứ.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 7: Hào khí Đông A


Quân Nguyên đang từ lưng chừng gò đất quay lại ngựa của mình.

Trát Hộ Nhi chú tâm nhìn toán kỵ binh Đại Việt phía trước, hắn gần như quên mất nhóm quân Đại Việt trên đồi đất, tất cả quân Nguyên đều quên.

Hoặc trong thâm tâm chúng nghĩ họ vô hại, không là mối uy hiếp nên không thèm để ý tới nữa.

Tiếng "Sát Thát" thình lình vang lên sau lưng làm Trát Hộ Nhi giật mình quay lại, quân Nguyên đang chạy xuống tìm ngựa cũng ngoái đầu lại nhìn, chúng chôn chân ngạc nhiên nhìn bốn người bị chúng vây trên đỉnh gò đất không ngờ đang xung phong về phía chúng, chẳng khác nào lao vào chỗ chết.

Từ chỗ chết trở về lại quay lại tìm cái chết, trường hợp như vậy chúng rất hiếm khi gặp phải, đánh khắp đất Tống bọn hắn cũng chẳng thấy lần nào.

Tình huống bất ngờ khiến quân Nguyên bất giác lúng túng không biết phải ứng phó thế nào.

Đám lão Đại là thám báo, chuyên được huấn luyện dùng nỏ, bắn rất chuẩn lại chủ đích nhắm vào đám đã lên ngựa, bọn chúng nguy hiểm hơn.

Không để quân Nguyên kịp phản ứng, tiếng bật dây của nỏ cứng vang lên, bốn mũi tên rồi thêm một mũi tên nữa xé gió lao tới, ngay lập tức bốn tên quân Mông Cổ trúng tên ngã ngựa, một tên không ngã nhưng chỉ kịp ôm cổ, máu tuôn ra như suối qua kẽ hở ngón tay rồi dần dần ngã gục xuống đất.

Trát Hộ Nhi biết không thể dây dưa thêm nữa liền lập tức quát lớn:

- Mau giết chúng, không có thời gian cho chúng ta dây dưa ở đây đâu.

Nhưng mọi thứ đã muộn, từ trên gò đất lao xuống khiến ngựa tăng tốc rất nhanh, khoảng cách lại rất ngắn, quân Nguyên còn chưa kịp giương cung, rút đao khỏi vỏ, đám lão Đại đã phi tới trước mặt chúng rồi.

- Các huynh đệ, theo sát ta.

Sát Thát.

Lê Đại biết, muốn giết nhiều quân Nguyên nhất thì cứ nhắm mắt lao bừa vào đám kỵ binh đi bộ này, chẳng cần chém nhiều, riêng ngựa húc đã đủ khiến vài tên nát thịt rồi.

Nhưng cái hắn cần là thời gian để cánh quân của Đặng Văn Thiết kịp tới.

Vì thế Lê Đại không thể lao bừa vào bọn chúng được, nếu ngựa mất đà sẽ bị bộ binh vây lại, cái chết sẽ tới rất nhanh.

Lê Đại dẫn đầu nhắm thẳng vào bên trái toán quân Nguyên, khi tới sát kẻ địch, tay trái Lê Đại giật mạnh cương ngựa cua một đường cong rất mượt, tay phải thuận tay vung trảm mã đao.

Chẳng cần dùng lực nhiều, chỉ cần điều hướng lưỡi đao cho chuẩn, tốc độ của chiến mã sẽ làm tất cả.

Đao cắt rất ngọt, theo đà cua của ngựa thủ cấp ba bốn tên Mông Cổ bay lên trời kèm theo dòng máu nóng hổi.

Cố gắng giữ ngựa không giảm tốc độ, nhóm Lê Đại lại vòng lên gò đất định quay lại đánh vu hồi lần nữa.

Tuy nhiên, bên trái quân Nguyên bị đánh, thì bên phải có thời gian rảnh tay, quân Nguyên liền lấy cung lắp tên.

Đám Lê Đại vòng lên đỉnh gò đất vẫn cố gắng duy trì đà chạy của chiến mã đang định quay lại đánh lần nữa.

Thấy địch chuẩn bị bắn tên, đám lão Đại cố gắng cúi gập người ôm lấy cổ ngựa mong tránh được loạt tên tới.

Nhóm Lê Đại mắt không dám ngước lên trên, chỉ nghe thấy một loạt tiếng bật dây vang dội, kèm theo tiếng xé gió lao tới liền sau là loạt tiếng mũi tên đâm vào da thịt truyền đến.

"Phập phập"

A Ngưu không biết từ bao giờ đã phi lên phía trước ngựa của lão Đại chắn toàn bộ tên. lão Đại ngẩng mặt chỉ thấy nụ cười với hàm răng đen bóng ngốc nghếch của a Ngưu đang cười với mình.

Trên cả người ngựa của a Ngưu bị trúng vô số mũi tên, miệng hắn rỉ máu nhưng vẫn cố cười dùng chút hơi tàn giật cổ ngựa sang bên phải để tránh đường, hắn không muốn mình và ngựa sẽ cản đường đồng đội xung phong.

Ngựa trúng chi chít tên nhưng vẫn còn đà chạy, kéo cả nó và a Ngưu vọt ra khỏi gò đất rơi xuống hồ sen bên dưới.

- A Ngưu.

Chó chết, giết bọn chó Thát Đát.

Sát Thát!

Đám lão Đại gào khản cổ, mắt đỏ ngầu lao vào đám quân Mông Cổ, mất đi yếu tố bất ngờ nên lần này không thể vu hồi được nữa, chỉ có thể liều chết đâm thẳng thôi, giết càng nhiều càng tốt.

Khoảng cách rất ngắn, quân Mông Cổ không kịp bắn loạt tên thứ hai, đám lão Đại đã tới rồi.

Dù chỉ có ba kỵ binh nhưng kỵ binh từ trên cao đánh xuống, tốc độ ngựa lại rất lớn, không phải là thứ xương cốt con người có thể cản được.

Ngay lập tức, bốn tên quân Nguyên hàng đầu bị húc bay, không có khiên hay thương để ngăn cản, quân Nguyên chỉ có thể dùng chính cơ thế của mình để cản đà tiến của chiến mã.

Liên tục có quân Nguyên bị ngựa húc ngã rồi bị vó ngựa giẫm thủng bụng, lõm ngực, nát mặt.

Trên mình ngựa, đám Lê Đại chém như điên, dốc hết sức lực của mình vung loạn đao trong tay, cố gắng chém được nhiều tên quân Nguyên nhất có thể.

Theo đà tiến của chiến mã, máu huyết bắn lên kèm theo thân thể đổ rạp của quân Nguyên.

Chẳng mấy chốc, khắp người Lê Đại đã loang lổ máu, đám quân Mông Cổ nhất thời bị khí thế đám lão Đại làm rối loạn, bản năng sợ hãi làm một số tên trong bọn chúng muốn lùi lại.

Nhưng số lượng kỵ binh quá ít, chỉ có ba kỵ binh không đủ sức để phá vỡ đội hình của quân Mông Cổ.

Rất nhanh, sau khi xuyên qua vài tên Mông cổ, ngựa đã hết đà bị đám quân còn lại vây lấy.

Chiến đấu điên cuồng, Lê Đại quay đầu nhìn lại không thấy a Thái, a Bình đâu nữa, chỉ thấy chiến mã nằm trên mặt đất, bên cạnh là cái xác không trọn vẹn mặc quân phục của Đại Việt xung quanh là xác của gần chục tên quân Nguyên khác trên nền máu đỏ loang lổ mặt đất.

Một số tên quân Nguyên vây lại Lê Đại vào giữa, chúng không vội tấn công mà lảm nhảm nói gì đó, lão chả hiểu, nhưng nhìn vào thái độ của chúng, lão biết chúng không sỉ nhục mình.

Lê Đại bị quân Nguyên vây tròn lấy, có vẻ như bọn chúng vẫn muốn cho Lê Đại một cơ hội để đầu hàng.

Nhưng Lê Đại không cho chúng cơ hội đứng chiêu hàng mình, quay lại nhìn đồng đội của mình trên mặt đất lần cuối, hắn ngửa mặt lên trời rồi hít một hơi thật sâu.

Lê Đại lấy sức hét to:

- Vì Đại Việt, sát...

Vừa dứt lời, chưa kịp thúc ngựa phi tới, tiếng bật giây khô khốc xung quanh đã vang lên, Lê Đại thấy mình như bị kiến cắn khắp nơi, theo đó sức sống rút ra khỏi cơ thể như thủy triều.

Nhưng Lê Đại lại cười, lão biết, mình đã thành công.

Từ sau mặt nạ quỷ, mắt Đặng Văn Thiết cay xè, ba mươi kỵ binh theo sau cũng thế.

Họ thừa hiểu phía trước xảy ra chuyện gì, nhẽ ra quân Nguyên phải rút chạy rồi mới đúng nhưng hiện tại họ lại thấy chúng có chút rồi loạn.

Đáp án chỉ có thể là đồng đội đang bị vây của họ đang liều chết giữ chân quân Nguyên, đợi họ tới, Đặng Văn Thiết gân cổ rống lớn:

- Các huynh đệ, đừng để công sức của những huynh đệ phía trước uổng phí.

Nhanh nữa lên, vì các huynh đệ, vì Đại Việt, Xung phong.

- Sát Thát.

Mông ngựa bị kỵ binh Đại Việt quất nát.

Đặng Văn Thiết còn rút chủy thủ ở giày đâm vào mông ngựa, điều mà hắn rất hiếm khi làm trừ những tình huống quá cấp bách.

Chiến mã bị đau vọt lên trước lao đi như bay.

Lê Đại đã tính toán rất kỹ, quân Đặng Văn Thiết bên phía cánh phải nên hắn sẽ đánh cánh trái trước để thu hút quân Nguyên chú ý sang bên trái rồi vu hồi đánh mạnh vào cánh phải để làm ra một chút rối loạn bên cánh phải.

Tạo khe hở cho quân Đại Việt đánh vào, hy vọng giảm thêm chút thương vong cho đồng đội đang tới.

Công sức của đám Lê Đại không hề uổng phí, đám Đặng Văn Thiết tới kịp thời, cánh phải quân Nguyên cũng có chút rối loạn chưa kịp điều chỉnh, dù một ít nhưng như thế là quá đủ.

Tới gần quân Nguyên, tất cả Kỵ binh Đại Việt đều thấy cả, trên mặt đất chỉ có vài huynh đệ mà thôi.

Gần trăm quân Nguyên bị bốn huynh đệ không rõ tên kia cầm chân, làm rối loạn đội hình, tạo cơ hội rất tốt cho họ xung phong.

Nếu không có chút rối loạn này, thì trước khi đến được chỗ quân Nguyên sẽ có kha khá huynh đệ khác hoặc chính họ phải ngã xuống dọc đường xung phong.

Chưa kể còn phải đối chiến với kỵ binh Mông Cổ thì tử thương sẽ rất lớn.

Những huynh đệ kia dùng chính mạng của mình để giảm thương vong cho bọn họ.

Đều là binh sỹ tinh nhuệ, họ luôn kiêu hãnh vì nằm trong lực lượng kỵ binh ít ỏi của Đại Việt.

Như để phát tiết sự khó chịu trong lòng hay để báo đáp công sức của các huynh đệ nằm dưới đất kia, kỵ binh Đại Việt không coi đao thương phía trước ra gì.

Không chớp mắt, không sợ hãi, không một chút nhân nhượng lao thẳng vào quân Nguyên phía trước mặc kệ chúng đang co cụm đội hình để phòng thủ.

- Giết!

Cùng với tiếng hô, máu thịt hòa cùng đất cát bắn tung lên trời.

Đặng Văn Thiết tay cầm thiết chùy đi đầu dựa vào võ lực của bản thân mở đường cho kỵ binh phía sau.

Đặng Văn Thiết vung thiết chùy vù vù, quân Nguyên không một ai có thể đón đỡ, không phải vì quân Nguyên quá yếu gà mà vì vũ khí mang theo không tương xứng.

Không thể dùng thanh kiếm cong nặng bốn tới năm cân để chặn thiết chùy ba bốn mươi cân đang quay tít mù được.

Liên tục là những thanh đao bị đánh bật, những tên quân Nguyên bị thiết chùy đập nát, đầu vỡ không khác gì quả dưa hấu.

Khắp người Đặng Văn Thiết như được tắm trong máu, trên giáp còn dính lại vài miếng thịt vụn của quân Nguyên.

Quân Đại Việt theo sau thừa thế tràn vào, dùng tốc độ của kỵ binh xô ngã tất cả những kẻ ngáng đường rồi để vó ngựa thỏa sức đạp nát những kẻ ngã xuống.

Trên lưng ngựa, quân đội Đại Việt như hung thần ác sát chém giết, tiếng đao kiếm va chạm, tiếng xương cốt vỡ vụn cùng tiếng hét thảm thiết vang lên khắp nơi.

Cả khu vực như biến thành ao bùn của máu và thịt tạo lên.

Dù quân Nguyên gắng sức chống đỡ nhưng Trát Hộ Nhi biết không thể chống đỡ nổi, dù không muốn nhưng vì tin tức tình báo trong người hắn quay đầu ngựa dẫn theo hơn chục kỵ binh Mông Cổ định tìm đường bỏ chạy, hi vọng có thể mang tin tức trở về.

Nhưng mọi thứ đều đã muộn, ở phía trước Trần Quốc Toản và bảy mươi kỵ binh dàn hàng ngang như giăng lưới để vây bắt đám quân Nguyên định bỏ chạy.

Không muốn bị lọt vào tay quân Đại Việt, Trát Hộ Nhi nhắm mắt ngửa cổ dùng tay phải đưa đao lên cổ cứa một đường rất ngọt, tức thì máu từ cổ hắn ào ào chảy ra.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 10: Anh hùng vô danh


Nguyễn Hoài Bộc biết cậu chủ đã trưởng thành, không thể bao bọc mãi, cũng có chủ ý của riêng mình chưa kể mọi suy đoán và sắp xếp của cậu chủ đều rất hợp lý.

Nguyễn Hoài Bộc đành gác lại lo lắng trong lòng theo Trần Quốc Toản bước ra khỏi lều, lựa chọn dần lui lại theo ý của Trần Quốc Toản.

Ngoài trại, Đặng Văn Thiết đi đầu dẫn theo bảy mươi kỵ binh và một đoàn dài ngựa cùng xe kéo khác về đại doanh.

Về gần đến doanh trại, Đặng Văn Thiết cảm thấy rất lạ, mọi hôm giờ này là giờ ăn cơm cả doanh sẽ vô cùng ồn ào, huyên láo, nhưng hôm nay thì khác, dù đèn đuốc vẫn sáng choang nhưng cả doanh im lìm như thóc nấu.

Về đến cổng đại doanh, thấy hai bên cổng đại doanh, binh sĩ xếp hàng nghiêm chỉnh, tay cầm khiên, tay cầm đao mắt nhìn thẳng, chỉ thấy ngực hơi phập phù theo hơi thở cùng tiếng gió thổi cờ kêu phần phật.

Đặng Văn Thiết ngờ ngợ không biết vì sao không khí doanh trại trở lên căng thẳng như thế này nhưng vẫn bình tĩnh dẫn đầu các binh sĩ dần tiến vào doanh trại.

Có tên nhát gan không hiểu gì, trước không khí quá nghiêm trang bên trong hắn chần chừ mãi rồi cũng nhắm mắt đưa chân bước qua cổng doanh trại.

Cả đoàn ngơ ngác quay lại nhìn nhau không hiểu có chuyện gì.

Tới khi nhìn thấy hàng xe ngựa phía sau thì họ hiểu, các đồng đội đang đón những huynh đệ chiến tử, những anh hùng trở về.

Bất giác tất cả đều trở lên tự tin hơn, ưỡn thẳng lưng, ngẩng mặt hiên ngang bước vào cổng doanh trại.

Khi chiếc xe ngựa đầu tiên đi qua cổng doanh trại, tất cả binh sĩ hai bên doanh đồng loạt quỳ một chân, đầu hơi cúi thấp.

Một tay chống giáo, đao kiếm, một tay chống đầu gối.

Tất cả vẫn không nói một lời, chỉ có tiếng rầm rập đồng điệu, cùng tiếng cờ bay phần phật.

Với quân nhân than khóc, thương tiếc là xỉ nhục họ.

Vì thế, trong doanh trại không có tiếng than khóc, thương tiếc.

Đón họ về là không khí vô cùng trang nghiêm của quân đội, đây là điều họ muốn nhất.

Chưa có lệnh của chủ soái, đây là điều tốt nhất họ có thể làm để tỏ lòng tôn trọng với những huynh đệ kia.

Từ xa, Trần Quốc Toản đang đứng đợi đám người Đặng Văn Thiết trở về báo cáo hoàn thành nhiệm vụ, nhìn binh lính trong doanh hắn rất hài lòng.

Xem ra, câu chuyện về đội ngũ của Lê Đại đã lan truyền khắp toàn doanh, hai mươi kỵ binh theo mình trở về buổi chiều đều làm rất tốt.

Trần Quốc Toản cố tình để hai mươi kỵ binh cùng mình theo về phát tán câu chuyện của Lê Đại và đồng đội, muốn khơi lên thêm một chút ý chí cho các binh sĩ khác.

Hơn nữa, nếu sử sách không ghi nhớ thì Trần Quốc Toản muốn ít nhất sẽ có thêm nhiều người nhớ tới những hành động dũng cảm, đa mưu túc trí của họ.

Trần Quốc Toản phân phó Đặng Văn Thiết và số kỵ binh mới về đi nghỉ ngơi, nói lại về nhiệm vụ sắp tới cho Đặng Văn Thiết.

Cuối cùng, hỏi thăm y sư tình hình của a Ngưu xong Trần Quốc Toản trở về lều nghỉ ngơi, ngày mai còn một trận chiến dài phía trước.

Trong doanh trại, dù đã tới giờ nghỉ nhưng câu chuyện của nhóm Lê Đại vẫn âm thầm truyền đi không ngừng.

Canh ba, các binh sĩ lục ục thức dậy, các hỏa đầu bắt đầu nổi lửa nấu cơm, binh sĩ chia thành từng tốp hai mươi binh sĩ quây thành vòng tròn quanh nồi cơm.

Hôm nay cơm rất nhiều, còn có cả thịt khô, Trần Quốc Toản muốn mọi binh sĩ được ăn no để có sức khỏe tốt nhất để đối mặt với những ngày chiến đấu liên miên sắp tới.

Sẽ có rất nhiều người có thể đây là bữa ăn cuối cùng của họ, nên Trần Quốc Toản không muốn tiết kiệm lương thực, cũng không cần tiết kiệm khi lương thực được người dân tiếp tế tới rất nhiều, chưa kể còn có lương khô do triều đình cấp mang theo.

Sau một canh giờ chuẩn bị tới canh tư khi mọi binh sĩ đã ăn xong, từ giáo trường trống điểm quân bắt đầu vang lên.

Từng binh sĩ theo đội ngũ của mình dần đi về phía giáo trường xếp hàng.

Các nhóm quân di chuyển rất nhanh, đều là quân chính quy nên đều rõ, trống điểm quân dừng mà chưa vào vị trí tập trung thì chỉ có một kết cục, đấy là chém đầu.

Đây là quân luật nên không có ngoại lệ, cho dù chủ soái có nhân từ tới đâu cũng sẽ không tha thứ cho người tới muộn.

Từ trên đài cao khoảng ba thước phía trước giáo trường, Trần Quốc Toản toàn thân giáp trụ chỉnh tề, đang đứng nghiêm nhìn đội quân đang dần tập hợp phía dưới.

Có lẽ đây là đội quân được trang bị tinh lương nhất của Đại Việt, trừ cấm quân đang đi theo Hoàng Thượng thì có lẽ không có đội quân nào khác được trang bị đầy đủ thế này.

Kể cả quân Nguyên cũng không có.

Tính riêng 5000 kỵ binh đã là con số khổng lồ với bất kỳ cánh quân nào của Đại Việt.

Chưa cần nói đến tiền bạc để tạo nên và duy trì đội quân này, chỉ tính riêng lượng chiến mã để lập nên đội quân này đã là con số không tưởng với Đại Việt.

Đại Việt không nhiều chỗ thích hợp làm mục trường nuôi ngựa, nguồn ngựa cũng vô cùng khan hiếm.

Nhờ bắt được vô số ngựa Mông Cổ trong thời gian chiến tranh vừa rồi, Đại Việt mới có đủ ngựa để duy trì số lượng kỵ binh đông đảo này.

Còn về bộ binh, các đội quân khác phần lớn bộ binh chỉ có bì giáp đã là may mắn rồi, thế mà Trần Quốc Toản thậm chí còn có tới một ty trọng giáp bộ binh, đây là hàng hiếm của bộ binh.

Được nắm đội quân như thế này, Trần Quốc Toản biết phần lớn do nhiệm vụ này quá quan trọng, quá khó khăn.

Hưng Đạo Vương và Hoàng Thượng giao cho hắn đội quân tốt thế này có lẽ vì muốn tăng thêm phần thắng cho Đại Việt.

Cũng phải, dù có vài trận thắng nhưng Trần Quốc Toản vẫn còn rất trẻ, nếu các vương hay Phạm Ngũ Lão tướng quân không có nhiệm vụ khác thì có lẽ trận này không đến lượt Trần Quốc Toản đứng ra múa máy.

Lắc đầu loại bỏ những suy nghĩ vẩn vơ.

Trống điểm binh đã dừng, Trần Quốc Toản rất hài lòng khi các binh sĩ đều đã có mặt đầy đủ, hàng ngũ chỉnh tề.

Phía dưới đài, đứng hàng đầu là các tướng quân chỉ huy các quân, tiếp đến là các phó tướng, hiệu úy.

Tiếng trống vừa dừng, Nguyễn Hoài Bộc bước lên trước, quỳ một gối chắp tay nói:

- Bẩm chủ soái, hai vạn tướng sĩ đã tập hợp đầy đủ theo hiệu lệnh.

Mời chủ soái phân phó.

Trần Quốc Toản, gật đầu ra hiệu đã biết.

Chờ Nguyễn Hoài Bộc về hàng, hài lòng nhìn đội quân đứng nghiêm trang bên dưới, Trần Quốc Toản không vội giao phó nhiệm vụ mà đi vòng quanh đài bắt đầu lớn giọng nói:

- Các huynh đệ, hôm nay chúng ta tập trung ở đây, trước tiên là để đưa tiễn những anh hùng, những đồng đội dũng cảm của chúng ta đã hy sinh ngày hôm qua.

Mọi người chắc hẳn đều đã nghe câu chuyện của họ, về sự dũng cảm, đa mưu túc trí của họ.

Những chiến công của họ sẽ làm nên những thắng lợi to lớn cho dân tộc.

Với ta, họ mới là những anh hùng thực sự, những anh hùng vô danh của Đại Việt.

Giống như tổ tiên chúng ta, tên tuổi của họ dù không được ghi trong sử sách, nhưng họ có tồn tại, hàng trăm năm qua chính tổ tiên của chúng ta đã liên tục hy sinh tính mạng của mình để bảo vệ cho con dân Đại Việt, bảo vệ chúng ta.

Sử sách không chép về họ nhưng mảnh đất nơi chúng ta đang đứng đây đã chứng kiến tất cả, máu của họ đã hòa cùng với mảnh đất này.

Các binh sĩ bên dưới đều đã nghe về câu chuyện của Lê Đại mọi người đều khâm phục những hành động của họ, nhất là nhóm kỵ binh đã tận mắt chứng kiến.

Bị câu chuyện cảm nhiễm, các binh sĩ như có trống đánh trong lồng ngực, mặt nóng bừng cố gắng nắm tay, nghiến răng thật chặt để kìm nén cảm xúc trong lòng.

Khắp giáo trường chỉ còn giọng nói của Trần Quốc Toản và tiếng thở dồn dập của các binh sĩ.

Trần Quốc Toản càng nói giọng càng lớn, càng nói càng gay gắt:

- Những huynh đệ của chúng ta đang nằm đây cũng thế, họ đã tiếp nối tổ tiên hàng trăm năm qua hi sinh thân mình để hoàn thành nhiệm vụ.

Bốn người bọn họ sẵn sàng lao vào hàng trăm quân Nguyên không chút sợ hãi, nhờ có hành động của họ hàng chục kỵ binh, hàng ngàn binh sĩ của chúng ta đã được cứu sống.

Họ dùng mạng mình để bảo vệ cho con dân Đại Việt, trong đó có gia đình của ta, của các ngươi, của tất cả chúng ta.

Giờ họ không còn nữa, thân xác của họ đã nằm xuống ở đây nhưng phía sau còn vợ con gia đình của họ đang cần người đứng lên bảo vệ.

Các huynh đệ, trả lời ta, các ngươi có dám đứng lên bảo vệ con cháu của chúng ta và gia đình của những huynh đệ đã hi sinh này không?

Các ngươi có dám không?

- Sát Thát!

Sát Thát!

Sát Thát!

Các binh sĩ đồng thanh hô to ba lần Sát Thát như để phát tiết cảm xúc.

Chưa ai từng nói cho họ những việc này, rằng họ là những anh hùng thật sự đang bảo vệ Đại Việt, những anh hùng thật sự không được sử sách ghi tới.

Trước giờ, họ chỉ đơn giản nghĩ đi lính là nghĩa vụ của họ với hoàng gia, để kiếm đồng lương ít ỏi nuôi gia đình, chết trận được tiền tử tuất là đủ.

Họ chưa hề nghĩ rằng những huynh đệ đã hy sinh đang nằm ở kia một phần vì muốn bảo vệ gia đình, con cháu của chính họ.

Giống như tổ tiên họ trước đây từng làm để bảo vệ họ.

Bỗng nhiên các binh sĩ thấy việc mình đang làm có ý nghĩa lớn hơn nhiều, họ cần cố gắng nhiều hơn vừa để hoàn thành trách nhiệm vừa là để trả ơn những huynh đệ đã mất.

Cả giáo trường như sôi sục bởi tinh thần của các binh sĩ, Trần Quốc Toản để các binh sĩ phát tiết cảm xúc trong lòng rồi bình tĩnh nói:

- Tốt lắm, một chút nữa thôi, ta sẽ cùng các ngươi chiến đấu với quân Nguyên, những kẻ đã dày xéo mảnh đất này, những kẻ muốn hủy hoại tương lai của con cháu chúng ta.

Chúng ta sẽ dùng máu của chúng để trả ơn tổ tiên và những huynh đệ đã ngã xuống để bảo vệ đất nước này.

Cho chúng biết hậu quả khi muốn động đến quê hương của chúng ta.

Còn bây giờ, Ngưu, bước lên đây.

Ở dưới, a Ngưu quấn băng kín người, cố gắng lê từng bước lên đài cao.

Có binh sĩ bên cạnh định tới đỡ liền bị hắn đẩy ra.

Dù có chết thì hắn cũng phải tự mình đi tới để tiễn huynh đệ của mình.

Cố gắng bước lên từng bậc thang, khi a Ngưu bước tới gần bên cạnh.

Trần Quốc Toản bước tới vỗ vai hắn nói.

- A Ngưu, sử sách có thể không ghi tên họ, việc họ làm.

Nhưng là người sống sót, ngươi có trách nhiệm phải kể lại cho con cháu họ và các thế hệ mai sau của chúng ta về những chiến công anh hùng của họ.

Giờ ngươi hãy thay ta, tiễn các huynh đệ lên đường đi.

A Ngưu quỳ xuống nhận cây đuốc, nam tử mạnh mẽ trúng chi trít tên cũng không kêu một tiếng giờ đây nước mắt nước mũi tèm nhem, dãi dớt lòng thòng.

Lê bước lại gần hỏa đài, a Ngưu nhìn lần lượt Lê Đại, a Phúc, a Bình, a Thái được lau sạch bùn đất và máu, tóc được chải chuốt buộc gọn gàng, được thay giáp mới tinh rất đẹp, nhỏ giọng nói:

- Chú Đại, a Phúc, a Bình, a Thái yên tâm yên nghỉ nhé, Ngưu sẽ chăm sóc gia đình mọi người.

Hi vọng kiếp sau được gặp lại mọi người, các huynh đệ.

Nói xong, a Ngưu quăng cây đuốc vào hỏa đài, lửa bốc ngùn ngụt.

Các binh sĩ nhìn ngọn lửa cháy hừng hực như nhìn ngọt lửa trong lòng bình đang chờ để được phát tác ra ngoài, lên đầu quân Nguyên.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 11: Nỗi khổ của Lưu Thế Anh


Tới canh năm (khoảng hơn ba giờ sáng) Sau khi, a Ngưu xuống đài, lửa cũng đã dần tắt.

Trần Quốc Toản giọng nghiêm nghị lần lượt hạ lệnh cho các tướng ở lại như đã phân phó từ trước.

Lần lượt các tướng Trần Văn Bách, Trần Văn Phúc điểm quân rời đi.

Đợi Đặng Văn Thiết dắt ngựa tới, Trần Quốc Toản tung người lên chiến mã, tay cầm trường thương dặn dò một số gia tướng ở lại:

- Chú Bộc, đại doanh giao cho lại cho chú.

- Cậu chủ yên tâm, chúc người mã đáo thành công.

Đặng Văn Thiết, chú ý an toàn của cậu chủ là quan trọng nhất.

Chuyện hôm qua ta tạm tha, hôm nay còn như thế, cẩn thận ta lột da ngươi.

Lão Bộc nghe Trần Quốc Toản phân phó cũng không quên quay ra "nhắc nhở" nhẹ Đặng Văn Thiết.

Đặng Văn Thiết mồ hôi chảy ra như tắm, gian nan nuốt nước bọt, chỉ gật đầu ra hiệu đã rõ với lão Bộc.

Trần Quốc Toản thấy thế chỉ mỉm cười, lão Bộc quá bao bọc hắn.

Tính ra Đặng Văn Thiết cũng là nhân tài có thể cầm một quân, nhưng vì Trần Quốc Toản nhất nhất đòi lên trận nên Đặng Văn Thiết bị buộc phải theo hắn mọi lúc mọi nơi.

Đây chính là điều kiện của lão Bộc.

Hắn luôn thấy nợ Đặng Văn Thiết việc này.

Trần Quốc Toản quay sang dặn nhóm quân bên cạnh:

- Lưu Bá Nham, nhiệm vụ lần này của ngươi và các huynh đệ rất quan trọng, vô cùng khó khăn nhưng trong quân chỉ có các ngươi mới thi hành được kế này.

Tuy nhiên, cũng không cần nóng vội, tùy tình hình để phối hợp với đại quân của ta mới mang lại hiệu quả tốt nhất.

Nhớ kỹ, trong trận chiến rất khó để ta có thể kịp thời tiếp ứng cho các ngươi nên trong trường hợp xấu nhất hoặc không nhận được tín hiệu thì các ngươi có thể không cần hành động.

Ngươi nhớ kỹ, không nhất định phải là lần này, cứ rút đi theo quân Nguyên, chỉ cần các ngươi còn sống rồi cơ hội báo thù của các ngươi sẽ lại tới.

Trần Quốc Toản vừa nói xong, Lưu Bá Nham và gần 200 binh lính phía sau quỳ rạp xuống đất.

Có thể dễ dàng nhận ra họ không phải người Việt, tất cả người Việt đều có răng đen bóng loáng do tập quán ăn trầu nhuộm răng, còn bọn họ không có ai răng đen cả.

Bọn họ đều là người Tống chạy nạn sang Đại Việt sau khi nhà Tống bị nhà Nguyên tiêu diệt.

Đều thấm đẫm tư tưởng trung quân ái quốc của nho giáo, Lưu Bá Nham và gần 200 binh lính kia vì muốn trả mối thù diệt quốc với quân Nguyên nên họ đã xin gia nhập vào đội quân Đại Việt.

Vốn dĩ họ được Đại Việt cho phép mặc quân phục giống quân Tống ngày trước để chiến đấu với quân Nguyên, nhưng hiện giờ họ mặc giống hệt Hán quân trong quân Nguyên.

Lưu Bá Nham là thủ lĩnh của nhóm quân đặc biệt này đứng ra chắp tay, giọng cương quyết nói:

- Tướng quân, chúng thuộc hạ đều mang món nợ nước thù nhà trên người, hận không thể lập tức cùng quân Nguyên sống mái một phen.

Nay tướng quân cho cơ hội, chúng thuộc hạ nguyện đem tính mạng ra báo đáp, quyết không làm phụ lòng tướng quân.

Thề giết sạch quân Nguyên.

- Thề giết sạch quân Nguyên.

Lưu Bá Nham và 200 binh lính phía sau đồng thanh hô to.

Họ biểu đạt ý tứ rất rõ, họ căm ghét không chỉ riêng quân Mông Cổ mà là quân Nguyên, chính là bao gồm cả đám người Hán phục vụ quân Nguyên.

Muốn ngầm nói với Trần Quốc Toản có thể yên tâm giao phó cho họ, họ sẽ không vì phần quân người Hán có trong quân Nguyên mà lơ là nhiệm vụ.

Hơn nữa, họ còn chiến đấu vì gia đình họ đang sống ở Đại Việt.

Trần Quốc Toản hài lòng gật đầu, rồi quay lại nhìn đội ngũ kỵ binh phía sau hô to:

- Xuất phát.

Trần Quốc Toản cùng Đặng Văn Thiết đi đầu, theo sau là 5000 kỵ binh giáp trụ đen xì nhằm hướng nam đi đến.

Trên cổng trại, Nguyễn Hoài Bộc đăm chiêu nhìn đội quân dần đi vào bóng tối, theo sau đó là Lưu Bá Nham và 200 binh lính quần sáo xộc xệch, mặt mũi nhem nhuốc chạy theo sau.

Trở về chiều hôm trước, sau khi quân Nguyên vượt sông Hồng khoảng ba mươi dặm, còn cách phòng tuyến sông Như Nguyệt khoảng hai mươi lăm dặm thì trời đã bắt đầu tối.

Lưu Thế Anh hạ lệnh toàn quân hạ trại nghỉ ngơi.

Tuy nói là hạ trại, nhưng Lưu Thế Anh biết mình không có đủ thời gian và vật tư để thiết lập doanh trại đang hoàng đủ sức đề phòng quân Đại Việt tập kích.

Hắn chỉ còn cách phái thật nhiều du kỵ tỏa ra xung quanh để do thám tình hình quân Đại Việt, càng rộng càng tốt.

Tin thám mã báo về từ chiều: quân Đại Việt cũng đang lập doanh trại gần sông Như Nguyệt, quân số chỉ chừng hai vạn, chủ yếu là bộ binh.

Tin tức này làm Lưu Thế Anh tạm thời yên tâm vì hai mươi lăm dặm này chủ yếu là đồng ruộng bằng phẳng, muốn dùng bộ binh tập kích hắn là điều không thể.

Lưu Thế Anh nhìn trời đã dần tối liền quyết định cho quân lính nổi lửa nấu cơm, nghỉ ngơi tại chỗ mà không cần dựng lũy phòng thủ nhiều.

Đợi lều chính được dựng lên, dưới ánh nến lập lòe, Lưu Thế Anh ngồi trong lều chăm chú nhìn vào bản đồ, chiến báo mà mày nhíu chặt.

Thấy phó tướng Lưu Nguyên bê cơm vào cho hắn nhưng không có ý rời đi, ngập ngừng mấy lần muốn nói nhưng lại không nói ra được.

Lưu Thế Anh sốt ruột nên chủ động hỏi hắn:

- Lưu Nguyên, có gì thắc mắc thì cứ hỏi, nhấp nhổm làm cái gì?

Lưu Nguyên hơi ngập ngừng nhìn xung quanh rồi cũng nói ra:

- Tướng quân, lần hành quân này có phải chúng ta quá vội vàng rồi không?

Quân nhu quá ít, lều bạt cũng không có, khí cụ công thành thì quá sơ sài, chỉ có thang mây.

Thậm chí chúng ta còn không có thời gian và vật tư để lập doanh trại đóng quân nghỉ ngơi, đến trưa mai đã phải tiến đánh doanh trại quân An Nam.

Quân dù đông nhưng chủ yếu là Tân Phụ quân, phòng thủ còn miễn cưỡng đủ dùng, còn đem đi công thành đoạt trại mạt tướng chỉ e...

Không đợi Lưu Nguyên nói hết, Lưu Thế Anh đập bàn quát lớn.

- Im mồm, Đại Tướng Quân ra lệnh, chúng ta cố hết sức thi hành là được.

Từ khi nào người có gan nghi ngờ mệnh lệnh của đại tướng quân như thế hả?

Nếu hôm nay không phải là ta thì đầu của ngươi đã rơi xuống đất rồi.

Chúng ta đang trên đường rút quân, phải nhanh chóng đả thông đường rút lui cho đại quân.

Nếu không, quân An Nam đuổi tới, ngươi nghĩ chúng ta đủ lương thực cho mấy chục vạn đại quân dây dưa với quân An Nam kéo tới ngày càng đông phía sau à?

Tính toán của Đại Tướng quân là thứ ngươi hiểu được à?

Cút ra ngoài tuần tra, phái thêm du kỵ do thám bốn phía bất kể ngày đêm đừng để đại doanh bị tập kích.

Lưu Nguyên cúi đầu chắp tay thụ mệnh, miễn cưỡng bước ra ngoài lều, còn rất nhiều công việc cần hắn thu xếp.

Dù hắn biết, Lưu Thế Anh có điều đang rất khó xử nhưng trong quân nhiều tai mắt, có lẽ Lưu Thế Anh không thể làm khác.

Cả Lưu Thế Anh và Lưu Nguyên đều là người Hán, dù là tướng lĩnh nhưng tiếng nói trong quân rất ít, bị giám quân người Mông Cổ để ý nhất cử nhất động.

Chỉ cần hắn và Lưu Thế Anh có gì bất mãn sẽ bị lôi đi hỏi tội như chơi.

Nhưng việc cả trăm du kỵ chiều nay không thấy quay về làm Lưu Nguyên không có tâm tư để ý những nghi ngờ của mình quá lâu, chỉ có thể bỏ lại mọi thắc mắc, chuyên tâm phái thêm thật nhiều du kỵ tỏa ra bốn hướng do thám quân Đại Việt.

Không lập doanh mà để quân Đại Việt bất ngờ tập kích sẽ là tai họa.

Lưu Nguyên rời lều, Lưu Thế Anh lại rơi vào trầm tư.

Hắn có thể đoán được mục đích của Lý Hằng.

Đại quân rút lui quá đông sẽ làm tốc độ rút quân rất chậm, hơn nữa quân nhu mang theo không đủ cho mấy chục vạn người dùng.

Để quân chủ lực có thể rút lui an toàn, chỉ có thể đem phụ quân ra thí mạng, hòng dùng xác người để mở đường rút lui hoặc cản đường truy kích của quân Đại Việt.

Chính bản thân những binh lính này là vũ khí công thành đoạt trại tốt nhất, chỉ cần quân Đại Việt tiêu hao hết vật tư thủ thành thì đại quân tới có thể dễ dàng vượt qua.

Tận dụng tối đa hiệu quả của phụ quân.

Đây là mưu kế tàn nhẫn nhưng vô cùng lợi hại của Lý Hằng, có thể cùng lúc đạt được rất nhiều mục đích: vừa mở được đường cho quân chủ lực rút lui, bảo toàn được sức chiến đấu của lực lượng chủ lực, đẩy nhanh được tốc độ rút lui vì cắt được đám quân chậm chạp Tân Phụ Quân, lại cắt đi được mấy vạn cái miệng ăn thì không cần lo vấn đề thiếu lương thực cho đại quân.

Nghĩ đến đây, Lưu Thế Anh đấm mạnh bàn đến mức tay bật máu.

Dù cùng trong quân Nguyên nhưng Lý Hằng vốn là người Tây Hạ theo quân Nguyên từ lâu, là công thần hạng ba nên tiếng nói trong quân rất lớn, cũng sẽ không có áp lực tâm lý nào khi ra quyết sách này.

Vì quân bị đem ra thí mạng chủ yếu là người Hán, trong quân Nguyên người Hán có địa vị vô cùng thấp kém, không có tiếng nói, rất hay phải lên tuyến đầu.

Lưu Thế Anh thì khác, vốn là người Hán nên dù sao hắn cũng có chút không đành lòng nhìn năm vạn người đi vào chỗ chết không có một chút hi vọng nào.

Nhưng hắn không dám trái lệnh của Lý Hằng, gia đình của hắn đều đang ở Đại Đô (kinh đô nhà Nguyên) chỉ cần hắn bất cẩn tỏ ra bất mãn thì tư mã trong quân đã đem hắn ra chém rồi, tiếp theo sẽ là cả gia đình hắn bị đem ra chém theo.

Nghĩ tới đây, Lưu Thế Anh vô cùng đau khổ nhưng lực bất tòng tâm, chỉ còn cách cố hết sức cho trận chiến ngày mai mà thôi.

Hi vọng, có thể sớm xuyên phá phòng tuyến này để giảm thiểu thương vong cho quân người Hán.

Lưu Thế Anh nghĩ có lẽ đó là điều tốt nhất hắn có thể làm cho dân tộc mình.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 12: Lại là ngươi?


Mùa hè trời rất nóng, phải tranh thủ hành quân khi mặt trời chưa lên quá cao để tiết kiệm thể lực.

Nên canh tư, toàn doanh quân Nguyên cũng thức dậy, các hỏa đầu bắt đầu nổi lửa nấu cơm.

Hỏa đầu trong quân nấu cơm cũng rất đơn giản, cứ cho gạo vào nồi, có thịt khô thì cũng cho tất vào rồi nấu lên, nhiều gạo thì thành cơm, ít gạo thì thành cháo.

Mỗi binh lính cầm một cái bát, hai mươi người quây quanh một nồi tự múc tự ăn.

Hôm nay phải đánh trận, Lưu Thế Anh cho phép hỏa đầu nấu nhiều lương thực hơn mọi ngày khiến các binh sĩ được ăn no hơn.

Chỉ cần được ăn no, tâm trạng các binh sĩ đều trở lên vui vẻ hơn ít nhiều.

Đang xì xụp ăn cơm vui vẻ, nghe tiếng lọc cọc của chiến mã từ xa khiến binh sĩ dần nghển cổ chú ý về phía tiếng vó ngựa.

Chỉ thấy hai kỵ binh quân Nguyên phi như ma đuổi từ xa về phía đại doanh, về gần đến doanh trại, chúng gân cổ hét to hết sức:

- Quân địch tập kích, quân địch tập kích.

Nghe tiếng quân địch tập kích, quân Nguyên đang ăn vội vã bỏ bát bỏ đũa nháo nhào tìm vũ khí.

Tiếng tù và vang lên, lập tức cả doanh trại quân Nguyên nhốn nháo, các tướng hiệu trong quân ra sức tập hợp quân lính dưới quyền lập đội hình.

Lưu Thế Anh giáp trụ đã đầy đủ từ lều chính bước ra, theo sau là Lưu Nguyên.

Hai kỵ binh thấy tướng quân tới, lập tức không đợi ngựa dừng hẳn mà nhảy xuống quỳ một gối nói:

- Bẩm tướng quân, phía bắc phát hiện quân An Nam, quân số khoảng 5000 kỵ binh, còn cách đại doanh của ta mười dặm.

- Kỵ binh?

Địch có tận 5000 kỵ binh mà giờ ta mới biết?

Chết tiệt, báo động toàn doanh, lập tức vào đội hình chiến đấu, lập cự mã trận.

Cho người về xin Đại Tướng Quân cử kỵ binh tới cứu viện.

Lưu Thế Anh và Lưu Nguyên vô cùng kinh ngạc quát lớn.

Đại Việt có tận 5000 kỵ binh, trong khi tin tức do thám từ hôm qua báo về Đại Việt chỉ có hơn 2000 kỵ binh mà thôi.

Còn may quân Nguyên từ hôm qua đã liên tục phái du kỵ đi do thám xung quanh dù là buổi tối cũng không ngừng nên mới có thể sớm phát hiện ra quân Đại Việt tập kích.

Nếu không kịp chuẩn bị, 5000 kỵ binh này hoàn toàn có thể làm cỏ mấy vạn bộ binh không mấy khó khăn.

Cũng không thể trách quân thám báo của quân Nguyên, ngay từ đầu Trần Quốc Toản đã chủ định giấu quân, kỵ binh một phần đóng trong rừng theo Trần Văn Phúc, một phần đóng ở hậu doanh của Trần Văn Bách.

Ngoài ra, cuộc chiến với thám báo Đại Việt diễn ra không ngừng, hơn 100 du kỵ hôm qua lại bị Trần Quốc Toản tiêu diệt toàn bộ, rất nhiều tin tình báo bị bắt lại nên quân Nguyên không có đủ thông tin về quân Đại Việt là điều dễ hiểu.

Dưới sự thúc giục của các tướng hiệu, quân Nguyên cũng nhanh chóng lập được đội hình từng phương trận dày đặc để chống lại kỵ binh.

Trước trận là một số hàng cự mã ít ỏi được dựng lên.

Nhìn trang bị của bộ binh, Lưu Thế Anh không khỏi lắc đầu ngao ngán.

Trang bị quá nghèo nàn, phần lớn bộ binh chỉ có giáp da, một phần không nhỏ thậm chí còn không có giáp.

Quá thiếu thuẫn binh và thương binh, cung thủ cũng quá ít không thể đủ sức phòng ngự trước kỵ binh.

Chưa nói tới kỷ luật, chỉ riêng trang bị thế này, nếu để kỵ binh Đại Việt xuyên vào trong trận thì quân Nguyên sẽ cầm chắc cái chết.

Số cung thủ quá ít, Lưu Thế Anh đành xếp phần lớn cung thủ ở trung quân, để bộ binh, thuẫn binh và thương binh ít ỏi lên tiền quân.

Chỉ hi vọng có thể cầm chân quân Đại Việt tới khi viện binh đến.

Chỉ cần kỵ binh Mông Cổ xuất hiện, quân Đại Việt chắc chắn sẽ phải rút lui nếu không muốn bị tiêu diệt toàn bộ.

Cả chiến trường đang huyên náo của quân Nguyên, bỗng chốc dần im bặt khi nghe thấy tiếng tiếng vó ngựa đang dần tiến tới.

Mặt đất như rung chuyển ngày càng rõ ràng, toàn bộ quân Nguyên như đều nín thở căng thẳng nhìn về phía tiếng vó ngựa phát ra.

Dần dần xuất hiện trước mặt quân Nguyên là hàng ngàn kỵ sĩ đen xì đang dần tập kết ở phía trước.

Trước áp lực quá lớn từ hàng nghìn kỵ binh mang lại khiến quân Nguyên bất tri bất giác đều khó khăn nuốt khan một cái.

Một số tên vì quá căng thẳng còn gục xuống nôn thốc nôn tháo bữa sáng vừa mới ăn.

Không ai muốn đứng hàng trên khi đối mặt với đội quân tử thần kia cả, nhưng phía sau lưng là giám quân đang lăm lăm đao trong tay, không tên nào dám lùi lại nên miễn cưỡng lắm quân Nguyên vẫn duy trì được đội hình.

Nếu là quân Mông Cổ đã quen chiến đấu với kỵ binh thì không sao, nhưng đây phần lớn là quân Hán, trong tâm khảm người Hán luôn âm ủ một nỗi sợ hãi với kỵ binh.

Đơn giản vì hàng ngàn năm qua người Hán luôn bị ám ảnh bởi kỵ binh của người du mục thi thoảng lại làm cỏ cả Trung Nguyên, ngay như hiện tại họ cũng đang bị chính kỵ binh Mông Cổ đô hộ.

Sát khí từ kỵ binh quá nặng, chỉ với sự xuất hiện của họ đã khiến cả chiến trường bị bao phủ bởi bầu không khí căng thẳng cực độ, khiến việc thở cũng trở lên khó khăn với rất nhiều binh sĩ.

Nhìn đội quân kỵ binh đen xì phía trước, nhìn lá cở đỏ thắm thêu sáu chữ vàng "PHÁ CƯỜNG ĐỊCH BÁO HOÀNG ÂN" rất bắt mắt đi đầu, Lưu Thế Anh nghiến răng ken két:

- Trần Quốc Toản, lại là ngươi!

Từng nếm trận đại bại ở bên bờ Sông Hồng, Lưu Thế Anh đã thấy tấm đại kỳ này dẫn đầu một mũi tấn công, dù quân số ít ỏi nhưng lại là mỗi tấn công sắc bén nhất phá tan mọi phòng tuyến, đội hình quân Nguyên của Lưu Thế Anh.

Chính trận đại bại này làm vị trí của Lưu Thế Anh trong quân trở nên thê thảm vô cùng, khiến hắn phải cầm đội quân cảm tử này để mong có thể tìm được đường sống trong chỗ chết.

Dẫn đầu đội kỵ binh, dừng trước trận quân Nguyên khoảng bốn trăm bước, nhìn trời mới có chút ánh sáng mà quân Nguyên có thể nhanh chóng lập đội hình.

Trần Quốc Toản thầm nhủ:

- Quả không hổ danh là Lưu Thế Anh, muốn tập kích bất ngờ hắn quả không dễ chút nào.

Nhìn sang Đặng Văn Thiết định nói, nhưng thấy ánh mắt van nài của vị huynh đệ này, tý nữa thì Trần Quốc Toản phải phì cười.

Quay về phía Trần Văn Cảo, Trần Quốc Toản giao phó:

- Trần Văn Cảo, tướng quân dẫn 1000 kỵ binh cánh phải tiến hành quấy nhiễu cánh trái của địch, nhớ chỉ gây chú ý của địch, không được mạo hiểm xung trận, tới phạm vi một trăm bước lập tức quay đầu.

Thực hiện liên tục vài lượt, giúp quân Nguyên thư giãn một tý.

Đến khi ta xung trận phá địch, thì tướng quân dẫn quân truy quét bên cánh trái của địch, mục tiêu là lùa bọn chúng chạy vào giữa.

- Mạt tướng tuân lệnh.

Trần Văn Cảo tuân lệnh rời đi điểm quân, Trần Quốc Toản quay sang nói với Trần Lực, một đại hán cao lớn, cơ bắp cuồn cuộn, cả người như được đúc bằng thép.

Vốn đã cao hơn Trần Quốc Toản một cái đầu, cưỡi con ngựa đại uyển lại càng cao lớn như hộ pháp.

Đây chính là đội quân đặc biệt mà Hoàng Thượng ưu ái giao cho Trần Quốc Toản.

- Trần Lực tướng quân, thấy con đê sông Ngũ Huyện Khuê bên trái không?

Tướng quân dẫn huynh đệ trong ty tới đó, lợi dụng con dốc để lấy đà.

Nhân lúc Trần Văn Cảo thu hút sự chú ý của quân Nguyên, đợi khi có tín hiệu của ta thì xung phong đánh vào cánh phải của địch.

Nhớ kỹ, chỉ cần làm loạn trận hình tiền quân của địch là đủ, khi xuyên qua đội hình địch lập tức dừng tham chiến, nhiệm vụ còn lại có ta hoàn thành.

- Mạt tướng tuân lệnh.

Trần Lực giọng ồm ồm chắp tay nhận lệnh rời đi, từ hậu đội dẫn theo gần 500 kỵ binh lặng lẽ tách khỏi đội hình.

Trần Quốc Toản quay lại nói với Đặng Văn Thiết:

- Truyền lệnh xuống, toàn quân chuẩn bị sẵn sàng theo ta xuất chiến.

Mục tiêu, chủ soái địch.

Đợi mọi tướng vào vị trí sẵn sàng, Trần Quốc Toản lệnh thân binh bên cạnh, cờ hiệu bên phải vẫy lên.

Lập tức, giọng Trần Văn Cảo oang oang vang vọng cả chiến trường:

- Các huynh đệ, giờ khắc đuổi quân thủ khỏi bờ cõi đã tới, vì Đại Việt, Sát Thát!

Tiếng hô sát thát vang dội chiến trường, 1000 kỵ binh giáp trụ đen xì, mặt nạ quỷ được hạ xuống nhất tề theo Trần Văn Cảo xung phong.

Quân Nguyên trải qua trăm ngàn trận chiến lớn nhỏ gần như chưa từng phải dùng bộ binh để chống lại kỵ binh như hoàn cảnh bây giờ.

Là đội quân vốn lấy kỵ binh xưng bá thiên hạ, dám dùng kỵ binh với quân Nguyên sẽ bị kỵ binh quân Nguyên đè bẹp cả về số lượng lẫn chất lượng.

Người Mông Cổ vốn đã là những kỵ binh bẩm sinh.

Trong hoàn cảnh lạ lẫm này, lồng ngực binh sĩ quân Nguyên như bị bóp nghẹt, thần kinh vốn đã căng thẳng cực độ, chứng kiến đội quân giáp trụ đen xì cùng mặt nạ quỷ đáng sợ đang từ từ tăng tốc tới, quân Nguyên cảm giác như tử thần đòi mạng đang đến tìm mình.

Phía sau thuẫn binh và trường thương binh ít ỏi là vài hàng cung thủ tên đã lên dây sẵn.

Nhờ có thuẫn binh, thương binh đứng phía trước nên cung thủ quân Nguyên ít nhiều cũng có cảm giác được bảo vệ, vẫn giữ được sự tỉnh táo nhất định chăm chú đợi hiệu lệnh của tướng hiệu phía trước.

Tiếng vó ngựa ngày càng dồn dập, nhẩm đếm khoảng cách đợi kỵ binh Đại Việt tiến vào phạm vi một trăm bước, Lưu Nguyên phất tay, các tướng hiệu phía trước lập tức hạ lệnh.

Hàng ngàn cung thủ quân Nguyên đồng loạt buông tay.

Tên bắn chếch 45 độ để có tầm bắn xa nhất, tên bay vòng cung như châu chấu, kín cả bầu trời.

Loạt đầu bắt xong, lập tức loạt thứ hai bắn tới.

Đã đến phạm vi một trăm bước, ngay khi nghe tiếng bật dây cung cùng tiếng xé gió lao tới, trong ánh mắt bất ngờ của quân Nguyên, Trần Văn Cảo lập tức kéo cương ngựa rẽ phải, 1000 kỵ binh Đại Việt cũng đồng loạt rẽ theo.

"Vút vút, phập, phập".

Tiếng tên xé gió tới, nhưng tất cả đều trượt, tên cắm đầy mặt đất.

Một loạt rồi hai loạt tên cắm xuống đất, Lưu Nguyên mới kịp thời hạ lệnh ngừng bắn, nheo mắt nhìn quân Đại Việt lại vòng ra ngoài phạm vi ba trăm bước.

Khi Lưu Nguyên còn đang không hiểu quân Đại Việt định làm gì thì Trần Văn Cảo lại dẫn đội hình vòng lại, tiếp tục xung phong.

Chuyện cũ lại lặp lại, cung thủ quân Nguyên vẫn như máy móc tiếp tục bắn tên khi kỵ binh vào phạm vi một trăm bước.

Chúng không dám không bắn, do sợ nếu không bắn để quân Đại Việt thực sự tiếp cận lại gần thì bọn chúng sẽ chết rất nhanh.

Chuyện cứ thế lặp đi lặp lại, một bên cứ tới phạm vi một bước là quay đầu "bỏ chạy" một bên thì cứ thấy địch tới là bắn tên.

Đến lượt thứ tư, mặt đất phía trước đã cắm chi chít tên rồi mà quân Đại Việt vẫn chưa chính thức tấn công.

Từ trung quân, Lưu Thế Anh nhíu mày nhìn về phía đội kỵ binh vẫn đang đứng im bất động, phía trước có tấm đại kỳ tung bay lẩm bẩm:

- Trần Quốc Toản, rốt cuộc ngươi định làm gì?

Khi Trần Văn Cảo chuẩn bị cuộc xung phong tiếp theo, Trần Quốc Toản nhìn về phía đông đã có tia hồng thì khẽ mỉm cười nói:

- Tới lúc rồi!

Trần Quốc Toản gật đầu với thân binh bên cạnh, lập tức cờ lệnh bên trái được phất lên.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 13: Trọng giáp kỵ binh?


Suốt nửa canh giờ, quân Đại Việt nhiều lần xung phong nhưng không tiến vào phạm vi dưới một trăm bước, áp lực dần được giảm bớt giúp tinh thần quân Nguyên được thả lỏng hơn rất nhiều.

Một số binh lính thậm chí cả tướng hiệu trong quân Nguyên cũng bắt đầu có suy nghĩ: "có lẽ do quân mình quá đông nên quân An Nam e dè không dám xông vào".

Dần dần từ trạng thái căng thẳng cực độ, nín thở chờ thời khắc chiến đấu thì Quân Nguyên dần dần buông lỏng hơn.

Binh sĩ trong hàng ngũ quân Nguyên đều muốn ngóc đầu nhìn xem quân Đại Việt định làm gì.

Bắt đầu xuất hiện một số tiếng cười cợt nhả trong trận quân Nguyên khi quân Đại Việt lại lần nữa quay đầu rút lui.

Chỉ có Lưu Thế Anh vẫn đang đăm chiêu suy nghĩ tìm ý định của Trần Quốc Toản, nhưng hắn không hiểu.

Càng nghĩ hắn càng thấy không ổn, hắn biết Trần Quốc Toản không phải hạng tướng quân tầm thường.

Chắc chắn phải biết chỉ cần trời sáng rõ, cơ hội cho Đại Việt tập kích sẽ càng ít, chưa kể viện binh từ trung quân rất nhanh sẽ tới, khi đấy Trần Quốc Toản có muốn thoát cũng khó.

Không có chuyện Trần Quốc Toản không biết sự lợi hại của kỵ binh Mông Cổ.

Suy nghĩ mãi, hắn vẫn không hiểu mưu tính của Trần Quốc Toản là gì, vô tình làm chính hắn lơ là chú ý tới hai bên cánh.

Trần Văn Cảo cho quân nghỉ ngơi hoàn tất lại tiếp tục tiến hành xung phong đợt mới.

Giữa tiếng rầm rập xung phong của 1000 kỵ binh của Trần Văn Cảo, trong trận quân Nguyên dần đáp lại bằng những cái chỉ chỏ và tiếng cười, không ai nghĩ quân Đại Việt lần này sẽ đánh vào.

Trần Văn Cảo không làm chúng thất vọng, tiến vào phạm vi một trăm bước, không cần quân Nguyên bắn tên Trần Văn Cảo vẫn lập tức lại quay đầu.

Thấy quân Đại Việt nhát chết, quân Nguyên trong trận lần này không kìm chế được, cười càng tợn, một số còn bạo dạn hò hét khiêu khích quân Đại Việt tiến vào.

Hoàn toàn át đi tiếng vó ngựa của số ít kỵ binh đang dần tăng tốc bên cánh phải quân Nguyên.

Thấy thế trận quân Nguyên được thả lỏng, Trần Lực đã thuận lợi tổ chức xung phong, chiến mã đã dần tăng tốc mà quân Nguyên vẫn chưa phát giác.

Trần Quốc Toản xem tình thế khẽ mỉm cười, hắn vẫn muốn đánh lạc hướng bọn chúng thêm một chút tạo điều kiện cho Trần Lực thuận lợi xung phong hơn.

Trần Quốc Toản liền quay lại nhìn Đặng Văn Thiết khẽ gật đầu.

Hắn chỉ thương về phía quân Nguyên và nói to hơn với binh sĩ phía sau:

- Các huynh đệ, thấy quân Nguyên đang cười nhạo chúng ta không?

Còn nhớ những huynh đệ anh hùng của chúng ta đã hi sinh không?

Giờ tới lượt chúng ta rồi.

Các ngươi, nói cho bọn chúng biết đi?

"Ô Ô Ô" quân Đại Việt phía sau Trần Quốc Toản nãy giờ ngứa mắt với tiếng cợt nhả của quân Nguyên liền gân cổ gào lớn.

Tiếng gầm thét của 4000 kỵ binh Đại Việt đánh bật tiếng cợt nhả của quân Nguyên và tiếng vó ngựa của Trần Lực, làm quân Nguyên giật mình, một số tên còn bất giác làm rơi cả vũ khí trên tay.

Tiếng hô của Đại Việt làm Lưu Thế Anh như tỉnh lại từ những suy đoán mông lung trong đầu, Lưu Thế Anh càng nhíu chặt mày nhìn chằm chằm về phía Trần Quốc Toản thăm dò mọi động tĩnh có thể.

Tất cả đều chú ý phía trước xem quân Đại Việt định làm gì nhưng vẫn chỉ thấy kỵ binh Đại Việt ngoài gân cổ hét lớn thì không làm gì cả, vẫn đứng yên tại chỗ không tiến thêm một bước.

Toán kỵ binh bên trái thì vẫn như thường lệ lại vòng ra ngoài phạm vi ba trăm bước, không có gì đặc biệt cả.

Chiến trường rộng lớn, năm vạn bộ binh xếp thành từng khối phương trận bề ngang cũng tới cả dặm.

Không ai để ý thấy Trần Lực và hơn 150 kỵ binh nhằm cánh phải quân Nguyên để đánh tạt sườn đã tới rồi.

Trời mới có vài tia sáng yếu ớt, Trần Lực lại từ phía đông đánh tới làm cản trở tầm nhìn của bọn chúng.

Lưu Thế Anh chăm chú nghe thấy tiếng vó ngựa nhè nhẹ ngày càng rõ hơn, bỗng như tỉnh ra Lưu Thế Anh giật mình hô to:

- Dương Đông kích Tây.

Chết tiệt, trúng kế rồi, địch đánh từ bên phải.

Lưu Thế Anh nhanh chóng di chuyển tầm nhìn quan sát bên phải, tới khi lờ mờ nhìn thấy một hàng kỵ binh đơn lẻ dàn hàng ngang đang phi nước đại đánh tới, nhìn địa hình bằng phẳng là đồng ruộng bỏ hoang này thì dù Lưu Thế Anh ngu thế nào cũng nhận ra đối diện mình là gì, hắn liền hô to:

- Chết tiệt, là trọng giáp kỵ binh.

Nhanh, điều thương binh và trọng giáp bộ binh sang cánh trái, liều chết cản quân địch.

Nhanh Lên.

Do Trần Quốc Toản chỉ dàn trận phía trước để thu hút quân Nguyên, để đối kháng lại quân Nguyên cũng tập trung gia cố phía trước đội hình của mình.

Bên sườn có rất ít thương binh và bộ binh chống đỡ.

Nãy giờ quân Nguyên được thả lỏng tinh thần, lại thêm lệnh điều động bất ngờ và cộng thêm ít huấn luyện làm đội hình quân Nguyên lập tức có chút rối loạn.

Thấy đội hình quân Nguyên giờ mới rục rịch xoay đội hình để đối phó, phạm vi chỉ còn hai trăm bước, ngựa thì đã tăng tốc rồi.

Trần Lực liếm cánh môi khô khốc, mỉm cười thầm hô:

- Các ngươi nhận ra thì đã muộn rồi.

Mang trên mình giáp nặng tới bảy tám mươi cân, chưa kể giáp của chiến mã nên bình thường khi di chuyển, một trọng giáp kỵ binh cần thêm hai ngựa khác để chở giáp, lại cần thêm hai phụ binh để hỗ trợ mặc giáp trước khi xung phong.

Giáp dày, ngựa khỏe, Trọng giáp kỵ binh là đội quân cảm tử vô cùng lợi hại dùng để phá trận địch, mở đường cho đại quân xung phong.

Vốn dĩ, trọng giáp kỵ binh của Mông Cổ mới là đội quân lợi hại nhất.

Với Đại Việt thì phải dốc hết sức cũng chỉ miễn cưỡng lập được vài trăm trọng giáp kỵ binh, còn Mông Cổ nhờ có nguồn chiến mã dồi dào nên có thể dễ dàng lập đội quân tới hàng nghìn trọng giáp kỵ binh.

Nhưng từ khi tới Đại Việt, Trọng giáp kỵ binh của quân Nguyên gần như không có cơ hội được ra trận chỉ vì địa hình không cho phép.

Trọng giáp kỵ binh vì chở rất nặng nên muốn xung phong phải chọn chiến trường bằng phẳng, nền đất rắn chắc.

Tới Đại Việt rừng núi thì nhiều, đầm lầy thì lắm, chả có mấy trận chiến được đánh trên đồng bằng nên đội quân này của quân Nguyên gần như trở nên vô dụng.

Không ngờ, tới đây quân Nguyên lại phải đối mặt với đội kỵ binh khủng bố này.

Vào phạm vi một trăm bước, tên trong trận quân Nguyên bắn ra như mưa với hi vọng mong manh có thể cản đội kỵ binh đen sì phía trước, nhưng đáp lại chỉ là những tiếng leng keng khô khốc của kim loại va chạm.

Trọng giáp kỵ binh mặc giáp rất dày, ngựa cũng đeo giáp nên những mũi tên bình thường là vô dụng trước chúng, nếu có số lượng lớn trọng tiễn hay nỏ tám trâu thì mới có thể gây sát thương với đội quân này.

Trần Quốc Toản dựa vào tin tình báo biết đội quân Nguyên này không có những vũ khí đó nên quyết đoán tung luôn con át chủ bài ra từ đầu để có thể nhanh chóng phá tan trận địch.

Muốn sớm kết thúc chiến đấu và giảm thiểu thương vong cho Đại Việt.

Cung tiễn trở lên vô dụng, quân Nguyên càng trở lên hoang mang thêm rối loạn chỉ còn có thể hy vọng vào trường thương và thuẫn binh có thể cản được bước tiến của trọng giáp kỵ binh mà thôi.

Dưới áp lực cường đại của trọng giáp kỵ binh đang đến, các tướng hiệu dù biết tử thần tới rồi nhưng vẫn cố gắng bắt các binh sĩ giữ đội hình, dựng khiên hi vọng có thể dùng xác người để cản đà tiến của kỵ binh, tránh vỡ trận hình.

Một khi trận hình rối loạn để kỵ binh thuận lợi tiến sâu vào đội hình thì bộ binh sẽ chỉ là con mồi chờ kỵ binh làm thịt mà thôi.

Cùng theo tiếng rầm rập ngày càng gần, hình ảnh các trọng giáp kỵ binh ngày càng hiện rõ trước mắt quân Nguyên.

Quân Nguyên trợn mắt kinh hãi tột độ khi thấy đối diện là những kỵ binh cao lớn, cùng giáp trụ kín mít và mặt nạ quỷ hung dữ đang hung hãn lao về phía mình.

Cả người và ngựa đều như được bọc thép.

Cảm giác cái chết ngày càng rõ ràng với quân Nguyên.

Dù các tướng hiệu quân Nguyên đã rất cố gắng, trận hình quân Nguyên vẫn miễn cưỡng duy trì được nhưng tất cả đều vô ích.

Trần Quốc Toản đã canh giờ phát lệnh rất chuẩn, mặt trời tháng sáu dù là mới bình minh thì cũng vô cùng gay gắt.

Ngoài áp lực về tinh thần, khi mặt trời vừa ló rạng, ánh sáng mặt trời bất ngờ làm cho quân Nguyên chói mắt, bất giác theo phản xạ đều quay đầu hoặc lấy tay che đi ánh mặt trời.

Chỉ cần khoảnh khắc đấy là đủ với Trần Lực và đội quân trọng giáp kỵ binh.

"Sát" kèm theo tiếng hô của Trọng giáp kỵ binh là hàng loạt tiếng va chạm ghê rợn vang lên, thuẫn binh bị hất văng vỡ nát, giáo mác gãy vụn.

Vô số những tiếng hét đau đớn vang lên cùng lúc.

Cũng có những trọng giáp kỵ binh bị giáo đâm xuyên qua người nhưng ngựa vẫn còn đà, vẫn tiếp tục tiến lên phía trước đủ sức dẫm chết thêm vài tên quân Nguyên.

Dưới võ ngựa, thân thể con người chỉ như bùn nhão, máu huyết và tàn chi cơ thể bị hất tung cùng theo bước tiến của chiến mã.

Chiến mã lướt qua, đao trên tay của kỵ binh, đao dưới yên ngựa nhẹ nhàng cắt đứt cơ thể của quân Nguyên như chặt chuối.

Bỏ lại phía sau vô số các mảnh cơ thể đứt lìa, máu me cùng nội tạng con người chỉ trong chớp mắt đã trải đầy mặt đất.

- Các huynh đệ, nhanh nữa lên.

Giết!!!!

Trong chiến trường huyên náo, chẳng biết đồng đội có nghe được không nhưng Trần Lực vẫn liên tục cố gắng gân cổ gào thét thúc giục huynh đệ tiến lên.

Hắn biết phải giữ tốc độ xung kích cho chiến mã, chỉ cần dừng lại sẽ bị bộ binh vây lấy dùng loạn đao chém chết.

Xung quanh bắt đầu có từng trọng giáp kỵ binh mất đà, bị số đông bộ binh quấn lấy kéo xuống ngựa băm thành thịt vụn rồi.

Khi đà chiến mã giảm dần, đao trong tay các trọng giáp kỵ binh bắt đầu hoạt động hết công suất, liên tục là quân Nguyên bị kỵ binh chém đổ rạp.

Đội hình thương binh quá mỏng, thiếu vũ khí dài nghiêm trọng khiến quân Nguyên như cá nằm trên thớt chờ đồ đao của kỵ binh tới chặt.

Những binh sĩ quân Nguyên tuyệt vọng đối đầu với trọng giáp kỵ binh đang lao tới, số ít sống sót sau khi trọng giáp kỵ binh chạy qua nhìn cảnh tượng xung quanh như chốn địa ngục, cảnh tượng quá kinh khủng khiến chúng bần thần vô hồn, đầu óc không còn có thể phán đoán được gì.

Mặt đất mới vài khắc trước còn khói bụi mù mịt thì giờ nhớp nhác như bùn do máu và thịt tạo nên, những đồng đội vừa nãy còn đứng dày đặc giờ chỉ còn lại ánh mắt vô hồn hoặc đống thịt nhão nhoét trên mặt đất.

Nhưng binh lính sống sót thất thần đứng giữa mặt đất đầy xác chết, tai ù đặc, nỗi sợ chiếm hữu toàn bộ tâm trí bọn chúng, không còn nghe thấy hiệu lệnh gì nữa.

Mặc kệ tên tướng hiệu bị cụt một tay máu me còn chảy ròng ròng đang gân cổ hò hét, những binh lính quân Nguyên cứ đứng ngẩn đó như đã chết.

Chỉ có một số rất ít đủ tỉnh táo bắt đầu cố gắng tập hợp lại theo lệnh của tướng hiệu trong quân.

Nhưng Trần Quốc Toản không cho bọn chúng cơ hội đó.

Ngay khi trọng giáp kỵ binh phá trận, Trần Quốc Toản đã dẫn theo 4000 thiết kỵ đánh thốc vào cánh quân bên trái của quân Nguyên.

Chỉ thấy mặt đất như rung chuyển còn mạnh hơn, tiếng động mạnh hơn, áp lực lớn hơn.

Khiến những binh sĩ quân Nguyên vừa mới cố gắng tập hợp lại trong đội hình rách nát trở lên tuyệt vọng, vũ khí trong tay bất giác rơi xuống, ánh mắt đờ đẫn nhìn lưỡi đao sắc bén đang lướt tới cổ mình.

Có trọng giáp kỵ binh mở đường phá trận, thiết kỵ Đại Việt dễ dàng tràn tới, đập tan chút cố gắng còn lại của quân Nguyên.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 14: Vỡ trận!


Ở phía sau, quân Nguyên nhìn cảnh tượng phía trước thì không dám tin vào mắt mình.

Chỉ thấy cùng với bầu trời bình minh đỏ rực là những trọng giáp kỵ binh mang mặt mạ quỷ kinh khủng đang tràn tới, kèm theo là máu và các mảnh cơ thể bắn lên vương vãi khắp nơi.

Thậm chí, quân Nguyên có thể cảm giác được, cơn mưa máu đã lan tới chỗ mình.

Bất giác sự sợ hãi dần lấn át toàn bộ tâm trí, bản năng muốn sống làm chân của binh sĩ quân Nguyên cứ từ từ lùi về sau.

- Không được lùi, không được lùi.

Giữ vững đội hình.

Kẻ nào lùi, Chém!

Các giám quân trong quân Nguyên liên tục hò hét và chém những binh sĩ quay đầu bỏ chạy với hy vọng có thể ổn định được đội hình.

Nhưng mọi cố gắng đều vô ích, trong mắt quân Nguyên bây giờ chỉ còn hình ảnh những kỵ binh như hung thần ác sát đang lao tới phía mình đòi mạng, không thấy các tướng hiệu đang ra sức hò hét.

Nếu là một đội quân thiện chiến, trang bị đầy đủ kinh qua nhiều trận mạc thì còn có thể bình tĩnh, gan lì chống đỡ với tình thế trước mắt.

Thậm chí là liều chết để cản đường kỵ binh, bảo vệ đội hình cho đồng đội phía sau.

Trong lịch sử hàng ngàn năm của Trung Quốc không thiếu những đội quân như thế.

Nhưng đội quân Nguyên này không phải là một trong số đó.

Trang bị nghèo nàn, tinh thần chiến đấu thấp, thiếu huấn luyện, thiếu thực chiến.

Khi bản năng trỗi dậy thì điều gì phải đến rồi cũng đến.

Có một người, hai người mở đầu rồi như một cơn sóng lan đi, quân Nguyên dần quay đầu bỏ chạy, mặc kệ tướng hiệu nói gì, mặc kệ có bị giám quân chém hay không.

Ai bị đẩy ngã sẽ lập tức bị nhấn chìm bởi hàng trăm bàn chân khác rồi chỉ còn lại tấm thân mềm oặt.

Trong chốc lát quân Nguyên như ong vỡ tổ, bỏ chạy tán loạn không còn ra hình dạng gì.

Trần Lực đang giết đến đỏ máu, máu qua khe hở mặt nạ bắn vào mắt khiến hắn không thấy gì nữa, cả thế giới chỉ còn một màu đỏ.

Nhưng chả cần nhìn, chỉ dựa vào sự va đập, cộng thêm ngựa càng chạy lại càng nhanh thì Trần Lực có thể đoán được, quân Nguyên loạn rồi.

Trần Lực thúc ngựa càng hăng, thế rồi bỗng dưng mọi tiếng va chạm đều biến mất, không gian như trở nên vô cùng tĩnh lặng, tiếng gào thét va đập xung quanh cũng biến mất, hắn liền biết mình xuyên qua trận địch rồi.

Đợi ngựa từ từ dừng lại, tháo mũ trụ lau máu trên mặt, Trần Lực bình tĩnh nhặt một số miếng thịt còn dính trên giáp và chiến mã vứt đi rồi quay lại nhìn cảnh tượng phía sau.

Khắp nơi là thi thể quân Nguyên, số còn sống thì bỏ chạy tán loạn, quân Đại Việt thì đang lùa chúng vào giữa như lùa vịt.

Nhìn lại xung quanh chỉ còn chưa tới 80 huynh đệ đột phá ra ngoài, dù quân Nguyên có yếu gà nhưng vì quân số khiêm tốn cũng khiến trọng giáp kỵ binh gặp tổn thất không hề nhỏ.

Từ trung quân, Lưu Thế Anh nhìn tiền quân bị tàn sát cũng không dám lên cứu viện, đổ thêm quân vào đám loạn quân đấy là việc làm vô dụng.

Nếu có kỵ binh, hắn có thể cho kỵ binh vòng ra sau tập hậu quân Đại Việt để giúp tiền quân có thể thuận lợi rút lui.

Nhưng trong tay Lưu Thế Anh không có đủ kỵ binh để làm điều đó, Lưu Thế Anh chỉ có thể nỗ lực hết sức giữ đội hình trung quân, hy vọng có thể ổn định được đội hình để đối phó với Trần Quốc Toản đang đến.

Lưu Thế Anh hận mình không thể sớm nhìn ra quỷ kế của Trần Quốc Toản.

Nhìn tiền quân đang chạy loạn về phía mình, hắn buộc phải lạnh lùng hạ lệnh:

- Ra hiệu cho tiền quân đang rút chạy, chạy sang hai bên cánh, không được chạy thẳng vào trung quân.

Kẻ nào tới gần dùng loạn tiễn bắn chết.

Lưu Nguyên vâng lệnh rời đi, dù không muốn nhưng tình thế không còn cách nào khác.

Các tướng hiệu hàng đầu của trung quân ra sức vẫy cờ ra hiệu cho tàn quân chạy sang hai bên giữ chút hi vọng bản thân không phải ra tay bắn hạ đồng đội đang chạy loạn cào cào phía trước.

Trần Quốc Toản nhìn động tĩnh của trung quân quân Nguyên, thương trong tay vẫn không ngừng gặt hái tính mạng quân Nguyên bị rớt lại phía sau.

Hắn mỉm cười khô khan nói:

- Quá muộn rồi.

4000 kỵ binh của Trần Quốc Toản đánh cánh phải và chính diện, 1000 kỵ binh của Trần Văn Cảo bên cánh trái.

Bộ binh quân Nguyên giờ như chim sợ cành cong, thấy kỵ binh Đại Việt ở đâu là quay đầu bỏ chạy về phía ngược lại, không hề có một chút phản kháng.

Bất giác bọn chúng bị dồn hết vào giữa chỉ có thể nháo nhào chạy thẳng về phía trung quân.

Mặc kệ cảnh báo của trung quân phát ra, quân Nguyên chỉ có thể nhắm mắt chạy bừa về phía trước.

Thà trái quân lệnh chứ không muốn lao về phía đám kỵ binh đen xì đang tha hồ chém giết kia.

Nhìn tàn quân chạy tứ tán không nghe hiệu lệnh, Lưu Nguyên nóng ruột bảo Lưu Thế Anh:

- Tướng quân, binh sĩ tiền quân không còn nghe hiệu lệnh, trung quân e rằng khó giữ, ngài dẫn binh rút lui đi, để thuộc hạ chặn hậu.

Lưu Thế Anh khuôn mặt như mới giác ngộ điều gì đó, hắn dơ tay ngắt lời Lưu Nguyên nói:

- Muộn rồi, giờ chúng ta rút lui kết cục chỉ có chết, lâm trận bỏ chạy là tội chém cả nhà, ta chết trận thì còn đường sống cho người nhà.

Chi bằng chúng ta quyết tử ở đây, nếu có thể giết được Trần Quốc Toản sẽ lập được đại công mới mong có đường sống.

Trước kia loay hoay giữa sống chết hắn nhìn không ra, giờ chỉ dựa vào việc viện binh chưa tới thì hắn đã hiểu ra kế hoạch thật sự của Lý Hằng.

Hắn biết trong kế hoạch của Lý Hằng, hắn chỉ là con dê thế tội, không thể không chết.

Ít nhất chết trận còn giữ được chút vinh dự, triều đình ít nhiều cũng sẽ nể mặt mà cho người nhà một con đường sống.

Loạn quân rút chạy không nghe hiệu lệnh, từng loạt tên trong quân bắn ra, quân Nguyên đang rút chạy về trúng tên liên tục ngã ra cả mảng.

Nhưng dù thế cũng không cản nổi hàng nghìn người đang tháo chạy mong tìm đường sống.

Hàng nghìn người trực tiếp lao vào giữa đội hình trung quân, trung quân dù cố chống đỡ nhưng không nổi, đội hình lập tức bị xô đẩy xộc xệch không còn ra đội hình gì.

Trần Quốc Toản, Đặng Văn Thiết và Trần Văn Cảo thấy tàn quân đã làm loạn đội hình của trung quân của Lưu Thế Anh liền không cần nhân nhượng nữa mà dẫn quân đánh thẳng vào đội hình quân Nguyên.

Không thể thiết lập đội hình thì việc chống lại kỵ binh là chuyện nằm mơ nói mộng.

Không bị cung thủ bắn áp chế, không bị đội hình dày đặc của bộ binh cản trở, kỵ binh Đại Việt với ba mũi tấn công đi đầu bởi Trần Quốc Toản, Trần Văn Cảo, Đặng Văn Thiết dễ dàng xuyên phá sâu vào đội hình quân Nguyên.

Nếu lúc trước, kỵ binh Đại Việt chỉ chủ động dồn tàn quân quân Nguyên về phía trung quân của Lưu Thế Anh thì bây giờ, khi đã nhập trận, kỵ binh thể hiện đúng vai trò của mình, là những cỗ máy gặt hái tính mạng thượng hạng.

Nhìn cảnh tan hoang ở phía trước, thế trận đã không thể cứu vãn làm binh sĩ đội hình phía sau quân Nguyên cũng tán loạn bỏ chạy tìm đường sống.

Mặc cho các tướng hiệu trong quân Nguyên có cố ổn định đội hình thế nào cũng vô ích, mặc cho dưới chân mình là đất hay là đồng đội đang kêu gào quân Nguyên chỉ còn biết nhằm hướng nam cắm đầu chạy nhanh hết sức mong tìm được đường sống.

Đối phương vỡ trận, binh sĩ bỏ chạy loạn cào cào là thế trận kỵ binh thích nhất, chỉ cần đuổi theo đao trong tay vung nhẹ là thủ cấp địch rơi xuống.

Khắp cánh đồng trải dài cả chục dặm là cảnh tượng như thế, kỵ binh Đại Việt tản ra tiến hành truy đổi quân Nguyên khiến xác chết ngổn ngang khắp nơi.

Thế trận đã an bài, Trần Quốc Toản dừng trên một gò đất để thuận tiện quan sát cả trận chiến, chứ không đích thân dẫn quân truy đuổi quân Nguyên nữa.

Trần Quốc Toản cố gắng nheo mắt nhìn đi thật xa, cho đến khi nhìn về cánh rừng thưa xa xa phía nam có một cánh quân nhỏ chạy ra nhập vào đội ngũ loạn quân mới mỉm cười hài lòng.

Chợt có tiếng xé gió lao từ bên trái tới, Trần Quốc Toản theo phản xạ nghiêng người né tránh.

Một mũi lang nha tiễn sượt qua vai Trần Quốc Toản, trúng vai thân binh đứng sau.

Bị tập kích bất ngờ, ngay lập tức Đặng Văn Thiết và đội thân binh lập hình tròn vây lấy Trần Quốc Toản vào giữa để che chắn.

Nhìn theo hướng tên bắn, Trần Quốc Toản thấy một nhóm khoảng hơn 100 kỵ binh đang tiếp cận mình, khoảng cách vậy mà chỉ còn 100 bước.

Trong thế trận loạn chiến tới vài vạn quân, trận địa trải dài có thể tới cả chục dặm thì một nhóm quân nhỏ một hai trăm người chỉ như con kiến mà thôi, rất ít người để ý tới nhóm quân nhỏ như thế trên chiến trường rộng lớn.

Thế trận vỡ không thể thu thập, Lưu Thế Anh bỏ mặc quân Nguyên tháo chạy sống chết ra sao, quyết đoán lợi dụng chiến trường rộng lớn và hỗn loạn, Lưu Thế Anh dẫn nhóm thân binh tinh nhuệ nhất tìm cơ hội lấy đầu Trần Quốc Toản.

Việc làm của Lưu Thế Anh khiến cho quân Nguyên càng nhanh chóng vỡ trận hơn.

Lưu Thế Anh biết điều đó nhưng dù sao cũng là tốt thí trong kế hoạch của Lý Hằng thì trước sau gì cũng chết.

Nếu có thể lợi dụng cơ hội này giết được Trần Quốc Toản thì biết đâu hắn sẽ có thời cơ chuyển mình.

Nhìn nhóm quân phía trước, từ trang bị hơn hẳn những quân Nguyên khác, Trần Quốc Toản có thể đoán được đây là đội thân binh của Lưu Thế Anh.

Trần Quốc Toản chủ động bước lên trước, dùng tiếng Hán nói chuyện với Lưu Thế Anh.

Sau vài năm tiếp xúc với các vương đặc biệt là Chiêu Văn Vương thì Trần Quốc Toản có thể nói được khơ khớ ngôn ngữ, kể cả tiếng của các dân tộc vùng cao.

- Lưu Thế Anh, sao ngươi còn ở đây?

Ta nghĩ ngươi phải sớm chạy như ở bên bờ Sông Hồng rồi chứ?

Lần này ngươi chán chạy rồi à?

Ngươi nghĩ một chiêu dùng kỳ binh tập kích thế này có thể thành công lấy mạng ta?

Lưu Thế Anh bị chọc vào lỗi nhục trận thua trước nổi giận quát:

- Trần Quốc Toản, thằng nhãi con.

Đừng tưởng thắng một hai trận mà có thể vênh váo, hôm nay thù mới nợ cũ, ta sẽ tính sổ một lượt với ngươi.

Lưu Thế Anh vừa dứt lời, Lưu Nguyên đứng bên cạnh liền hét lớn vung đại đao phi lên trước:

- Thằng nhãi Quốc Toản, chịu chết đi.

Toán thân binh theo sau Lưu Nguyên liền ùa theo muốn đánh thẳng tới vị trí của Trần Quốc Toản.

Trần Quốc Toản định thúc ngựa đánh tới thì Đặng Văn Thiết đã vọt lên trước lao về phía Lưu Nguyên.

Hắn gân cổ gầm lớn:

- Đồ ngông cuồng.

Từ trên gò đất đánh xuống, Đặng Văn Thiết vung thiết chùy nhằm đầu Lưu Nguyên, nghiến răng mà bổ xuống.

Lưu Nguyên dùng đại đao, thấy khí thế đối phương quá lớn, hắn không dám đón đỡ mà dùng đại đao chém ngang để làm chệch hướng của thiết chùy.

Quân hai bên lập tức quấn lấy nhau quyết chiến, đều là thân binh hai bên có vẻ ngang tài ngang sức.

Thiết chùy bị gạt chệch hướng, Đặng Văn Thiết thuận tay gạt ngang, lập tức một tên quân Nguyên đầu vỡ như dưa hấu.

Không để Lưu Nguyên có cơ hộ rảnh tay, Đặng Văn Thiết đảo tay, xoay người thiết chùy vòng một vòng hướng lại tới trước mặt Lưu Nguyên.

Lưu Nguyên gân xanh nổi lên chằng chịt cố gắng vận hết sức, vung đao chém tới.

Vũ khí va chạm, phát ra tiếng đinh tai nhức óc kèm theo tia lửa bắn ra.

Sức va chạm quá lớn, cả hai bất giác đều bị đẩy lùi, miễn cưỡng lắm mới khống chế để mình không bị ngã ngựa.

Đặng Văn Thiết chiếm lợi thế trên dốc, Lưu Nguyên ở thế yếu hổ khẩu tê rần, cố khống chế tay khỏi run tiếp tục vung đao chém tới.

Hai bên trao đổi chiêu thức, đánh qua đánh lại có vẻ bất phân thắng bại nhưng Trần Quốc Toản và Lưu Thế Anh đều biết Lưu Nguyên đang dần rơi vào thế yếu, thất bại là chuyện sớm muộn.

Trong vòng loạn chiến, một tên kỵ binh quân Nguyên đâm gục kỵ binh Đại Việt phía trước thoát ra ngoài, nhắm Trần Quốc Toản lao tới nhưng chưa được nửa đường Trần Quốc Toản thuận tay cầm cây giáo người hơi ngả về phía sau vận sức ném tới.

Mũi giáo vụt lao đi, lập tức xiên tên quân Nguyên như xiên thịt ghim ngược hắn xuống đất.

Dù tên lính quân Nguyên mang giáp sắt nhưng trong khoảng cách gần thế này giáp cũng trở lên vô dụng.

Xong việc Trần Quốc Toản nhàn nhã phủi tay rồi đưa sang ngang, lập tức có thân binh đặt trường thương bằng thép bách luyện vào tay, đây là món quà mẹ đặt làm riêng cho hắn.

Trần Quốc Toản tiến lên phía trước ba bước dùng vẻ mặt rất "lấc cấc" thêm vào động tác xua tay xùy xùy như đuổi gà rất "gợi đòn" đồng thời hét lớn khiêu khích Lưu Thế Anh.

Nếu để hắn thấy hết cơ hội thắng lợi, quay đầu bỏ chạy mất thì nguy:

- Lưu Thế Anh, ngươi định cứ đứng nhìn thuộc hạ của mình chết dần chết mòn thế à?

Cơ hội không còn nhiều đâu?

Nếu muốn lui thì lui đi, ta sẽ bảo quân ta thả cho các ngươi về.

Người Hán được quân Nguyên trọng dụng thì không phải đơn giản, Lưu Thế Anh cũng là mãnh tướng có tiếng trong quân, không chịu được kẻ đáng tuổi con mình sỉ nhục liền lớn tiếng:

- Trần Quốc Toản, tên ngông cuồng này.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 15: Kế hoạch khác?


Lưu Thế Anh biết Trần Quốc Toản đang khiêu khích mình, nhưng nhìn cái mặt lấc cấc của Trần Quốc Toản hắn không nhịn được, không giết được Trần Quốc Toản thì có thoát về hắn cũng chết, nên hắn hét hớn lấy tinh thần thúc ngựa phi tới.

Trần Quốc Toản thấy thế cũng thúc ngựa phi lên tham chiến, cơ hội lấy đầu tướng địch tới tay không thể để vụt mất.

Đặng Văn Thiết thấy Trần Quốc Toản xung trận, càng nóng ruột muốn nhanh kết thúc nhưng khổ nỗi Lưu Nguyên dù thế yếu nhưng dai như đỉa, hắn chưa thể dứt ra được.

Đặng Văn Thiết càng nóng vội, Lưu Nguyên lại càng liều chết cản chân, tạo cơ hội cho Lưu Thế Anh tiếp cận Trần Quốc Toản.

Lưu Nguyên cũng khá khéo léo, biết sức lực đọ không lại nên chỉ cố gắng làm chệch hướng các đòn tấn công của Đặng Văn Thiết chứ không dám đón đỡ trực diện nên miễn cưỡng vẫn có thể cầm cự được cho tới giờ.

Trần Quốc Toản cầm thương nhắm thẳng loạn quân trước mặt phi tới, nhóm thân binh còn lại tiếp tục theo sát phía sau.

Trần Quốc Toản sức lực không yếu lại rất nhanh, hắn vung thương đánh bay một tên quân Nguyên bên phải, không cần thu thế mà thuận tay dùng tay sau đẩy mạnh, tay trước kéo ngang điều chỉnh mũi thương, một tên quân Nguyên đối diện bị đâm xuyên người.

Trần Quốc Toản buông thương, đợi ngựa chạy ngang qua tên quân Nguyên đã gục trên lưng ngựa thuận tay rút thương tiếp tục phi tới.

Mọi chuyện xảy ra rất nhanh, tức thì lỗ hổng loạn quân được mở toang cho đội thân binh phía sau tràn lên, tiếp tục hướng về phía Lưu Thế Anh.

Nhìn đã quen, quân Đại Việt biết bản lĩnh của tướng quân nhà mình nên không hề ngạc nhiên.

Lưu Thế Anh lần đầu tận mắt thấy thương thuật của Trần Quốc Toản, hắn cũng là cao thủ dùng thương trong quân Nguyên, chứng kiến cảnh kia Lưu Thế Anh cũng phải thầm khen ngợi Trần Quốc Toản trong đầu "thật lợi hại".

Nhưng không vì thế mà chùn bước, Lưu Thế Anh không do dự tiếp tục lao tới đón đỡ.

Lưu Thế Anh thương pháp cũng rất nhanh, vừa vào phạm vi tấn công hắn đã liên tục tung ra một loạt những đòn đâm nhằm vào vị trí yếu hại của Trần Quốc Toản.

Những đòn đâm đều rất nhanh, mạnh và hiểm.

Biết đối phương cũng không phải dạng vừa, Trần Quốc Toản chủ động bình tĩnh đón đỡ.

Thoạt nhìn, trình độ hai bên không chênh lệch là bao.

Trần Quốc Toản không vội tấn công, nhớ lại lời lão Bộc từng nói với hắn lúc tập luyện: "Cậu chủ nhớ, khi gặp đối thủ cũng dùng thương có trình độ ngang mình, cậu chủ không nên vội nhắm vào những vị trí hiểm yếu để tấn công như những đối thủ khác.

Như thế rất nguy hiểm.

Thay vào đấy ngài hãy bình tĩnh thủ thế đợi cơ hội, chỉ cần ngài lừa đối phương có cơ hội để hắn rướn người đâm tới.

Khi đó cổ tay của địch sẽ nằm trong phạm vi tấn công của cậu chủ, khoảnh khắc này cậu chủ chỉ cần né tránh và nhắm vào cổ tay của đối phương tấn công là được.

Làm được điều này, ngài tất thắng".

Lưu Thế Anh bất ngờ khi thấy Trần Quốc Toản chỉ thủ không tấn công, không rõ ý đồ của Trần Quốc Toản nên dù tấn công điên cuồng nhưng hắn vẫn chủ động giữ khoảng cách, đặt mình ở phạm vi an toàn tránh bị Trần Quốc Toản phản đòn.

Chỉ cần Trần Quốc Toản có ý lại gần, Lưu Thế Anh sẽ lập tức tung một đòn đâm hiểm nhắm tới, buộc Trần Quốc Toản lần nữa lại vào thế thủ.

Trong loạn quân, thấy chủ tướng tấn công mãi chưa có kết quả, một tên quân Nguyên nhân cơ hội thoát được khỏi loạn chiến, lao về phía Trần Quốc Toản từ phía sau vung đao chém tới.

Trực giác cho Trần Quốc Toản biết phía sau có nguy hiểm, hắn theo phản xạ, lập tức gập người cúi đầu sát cổ ngựa.

"Xoẹt" đao của tên quân Nguyên chém vụt qua đầu Trần Quốc Toản trong tích tắc.

Dù đang ở tư thế bất lợi nhưng Trần Quốc Toản vẫn tiện tay gạt ngang trường thương, mũi thương sắc bén vừa vặn chém ngang vào sườn tên quân Nguyên.

Cả mảng sườn bị xé rách, máu tuôn ra xối xả, ruột theo vết rách tràn cả ra ngoài, tên quân Nguyên đau đớn ôm lấy eo rồi cùng ngựa ngã dúi dụi.

Tình huống bất ngờ làm Trần Quốc Toản mất thế phòng thủ, người đã cúi rạp không có khả năng né tránh trừ khi phải bỏ ngựa.

Có cơ hội trời cho Lưu Thế Anh liền thúc ngựa cố sức đâm tới.

Trần Quốc Toản trong tình thế nguy hiểm lại khẽ nở nụ cười, hai chân hắn gồng hết sức kẹp chặt bụng ngựa.

Chiến mã bị kẹp đau mới khẽ muốn dựng vó hí thì Trần Quốc Toản lập tức cả người nghiêng hẳn sang bên phải.

Chiến mã bị mất trọng tâm khiến cả người cả ngựa của cùng ngã ra phía bên phải.

Né tránh được mũi thương của Lưu Thế Anh trong tích tắc.

Mũi thương đâm sượt qua mũ trụ của Trần Quốc Toản khiến Lưu Thế Anh cả người bị trượt mất đà, biết không hay định thu tay lại thì đã muộn.

Trần Quốc Toản trước khi ngã đã kịp vận sức tay nâng thương phải đâm tới.

"Xoẹt" một chiêu trả đòn rất đẹp được tung ra, mũi thương từ dưới đâm lên dễ dàng xé toạc cổ tay phải của Lưu Thế Anh.

Đợi ngựa Lưu Thế Anh vọt qua, Trần Quốc Toản giật cương ngựa, con ngựa lại đứng dậy như chưa có chuyện gì xảy ra.

Lưu Thế Anh ôm cổ tay phải đã đầm đìa máu vào lòng, tay trái cố gắng cầm thương, dường như đã chấp nhận số phận, hắn thở hắt ra quay đầu lại nói:

- Lợi hại lắm, không ngờ ta lại bị ngươi dụ vào bẫy.

Sao ngươi còn chưa ra tay?

Muốn chờ ta cầu xin tha mạng à?

Trần Quốc Toản chưa muốn kết thúc nhanh Lưu Thế Anh, muốn thông qua đối phương để tìm hiểu thêm một chút thông tin về kế hoạch của quân Nguyên nên hắn lắc đầu chủ động nói:

- Không phải, ta vốn không có ý định để ngươi sống.

Ta chỉ không muốn đâm sau lưng người khác mà thôi.

Hơn nữa ngươi là một đối thủ đáng kính, không chỉ võ thuật mà cả về tài trí.

Trong tình huống tan đàn xẻ nghé mà vẫn có thể tìm được cơ hội tập kích ta.

Trận này ta có thể thắng dễ dàng là vì quân Nguyên trong tay ngươi quá vô dụng, thiếu thốn đủ thứ.

Nếu là đội quân được huấn luyện đầy đủ khác, khả năng ta sẽ phải đánh đổi rất nhiều thứ cho chiến thắng này.

Lưu Thế Anh đã xác định số phận, dù biết đấy chỉ là lời ngon ngọt của Trần Quốc Toản nhưng cũng phần nào đánh vào lỗi lòng của hắn.

Lưu Thế Anh khẽ thở dài nói:

- Cảm ơn ngươi đã đánh giá cao ta.

Đúng là đội quân này thiếu thốn đủ thứ, nhưng nghĩ lại trận này ta thua không oan.

Ngươi đã sắp xếp mọi việc rất chu toàn, từ từ đưa ta vào bẫy.

Từ việc ngươi chủ động giấu quân khiến ta không biết ngươi có tới 5000 kỵ binh, tới việc tung hỏa mù làm quân ta từ căng thẳng, cao độ cảnh giác biến thành lơ là thả lỏng.

Cố ý thu hút sự chú ý của ta vào ngươi và cánh trái mà bỏ quên cánh phải tạo điều kiện cho Trọng giáp kỵ binh dễ dàng đột phá.

Không chỉ địa hình, hướng tấn công mà đến ngay cả thời điểm mặt trời mọc cũng bị ngươi lợi dụng để hạn chế tầm nhìn của quân ta thì trận thua này ta thua không oan chút nào.

Dù sao ta cũng sắp chết trong tay ngươi, thẳng thắn nói cho ta biết.

Ngươi vẫn còn sát chiêu nữa mà ta chưa biết đúng không?

Có thể không phải là cho trận này mà là cho cả trận chiến tiếp theo?

Đối diện với câu hỏi của Lưu Thế Anh, Trần Quốc Toản chỉ bình thản mỉm cười, không nhận cũng không phản bác suy nghĩ của hắn.

Dù vậy cũng đủ khiến Lưu Thế Anh phải rùng mình với đối thủ trước mặt dù còn rất trẻ nhưng đã kín kẽ, thâm sâu khó dò như thế này.

Không biết tương lai sẽ phát triển tới mức nào?

Trần Quốc Toản chủ động chuyển hướng câu chuyện, tận dụng tối đa cơ hội để thu thập thêm tin tức để chuẩn bị cho cuộc chiến sắp tới:

- Lưu Thế Anh, ta không nói ngoa, ngươi cũng xứng đáng là một tướng tài.

Ta vẫn đang thắc mắc một điều, hẳn ngươi đã phái người đi cầu viện Lý Hằng ngay từ đầu trận chiến rồi đúng không?

Nhẽ ra với tài kỵ thuật của Mông Cổ thì giờ chúng phải tới từ lâu rồi mới phải.

Chỉ cần kỵ binh Mông Cổ xuất hiện ta sẽ lập tức phải rút lui, nếu không kẻ phải chết sẽ là bọn ta.

Nhưng kỳ lạ là đến giờ vẫn không thấy tăm hơi của chúng đâu?

Chẳng nhẽ chỉ vì các ngươi là người Hán mà bị Lý Hằng bỏ rơi, mặc sống chết rồi? hay các ngươi còn tính toán khác?

Trần Quốc Toản cố ý khoét vào mâu thuẫn trong quân Nguyên, mong có thể lợi dụng điều này để làm Lưu Thế Anh mất bình tĩnh mà nói ra điều gì đấy.

Nhưng có vẻ mọi việc đều vô ích.

Lưu Thế Anh là kẻ lão luyện, hắn liền ngẩng mặt cười dài hô lớn:

- Hahaha hay lắm, ngươi quả là tên gian xảo.

Muốn thông qua ta để dò la tin tức à?

Đừng có nằm mơ?

Dù là bại tướng, ta cũng có niềm kiêu hãnh của mình.

Đừng nhiều lời nữa, tới đây?

Dứt lời Lưu Thế Anh liền thúc ngựa phi tới, hắn không muốn dài dòng hơn nữa với Trần Quốc Toản.

Tránh việc có tai mắt quân Nguyên ở gần đây sẽ gây họa tới người nhà của hắn.

Lưu Thế Anh buộc dây cương vào cánh tay tay phải đầm đìa máu cố gắng điều khiển ngựa.

Tay trái vung thương đánh tới như cố tìm kiếm một tư thế hiên ngang nhất để kết thúc cuộc đời võ tướng của mình.

Trần Quốc Toản dù muốn khai thác thêm thông tin nhưng Lưu Thế Anh đã quyết ý thì không làm gì được nữa, chỉ đành vung thương đón đỡ.

Không cần dùng gì nhiều, về cơ bản Lưu Thế Anh dù chưa chết nhưng cũng không khác gì người đã chết nên chiêu số rất đơn giản.

Trần Quốc Toản khẽ dùng thương hơi tỳ lên cán thương của Lưu Thế Anh làm chệch hướng mũi thương là đủ, thuận thế đâm tới, mũi thương lạnh lùng đâm xuyên cổ của Lưu Thế Anh.

Trần Quốc Toản lựa thế xoay ngang cán thương rồi hất mạnh.

Lập tức thủ cấp của Lưu Thế Anh bay ngược lên trời.

Phía bên kia, toàn bộ kỵ binh quân Nguyên đều đã bị tiêu diệt, khi đột kích chủ tướng địch mà không thể giải quyết trong thời gian ngắn, đợi quân xung quanh kéo về cứu viện thì cầm chắc cái chết.

Một thân binh chạy tới nhặt đầu Lưu Thế Anh dơ nên, lập tức cả chiến trường hô vang truyền tin chiến thắng.

Quay lại nhìn Đặng Văn Thiết, ngoài một vài vết xước thì không có vấn đề gì, Trần Quốc Toản yên tâm bảo với thân binh bên cạnh:

- Nổi hiệu thu quân, chúng ta ngừng truy kích quân Nguyên!

Cố gắng thu niệm các huynh đệ chiến tử.

Nhanh lên, viện quân địch có thể tới bất kỳ lúc nào.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 16: Dấu hiệu bất thường.


Tiếng tủ và, hiệu lệnh thu quân vang lên, từ khắp nơi kỵ binh Đại Việt dần tập hợp về đội ngũ.

Quân Đại Việt đi khắp chiến trường dọn dẹp, gặp xác quân Nguyên bất kể còn sống hay đã chết đều bồi thêm một đao.

Trên chiến trường cẩn thận không bao giờ là thừa.

Rất nhiều tên tân binh khôn lỏi muốn giả chết để thoát thân nhưng không biết rằng những tên giả chết thường là những tên cầm chắc cái chết.

Một số quân Nguyên giả chết thấy tình hình không ổn vùng dậy định bỏ trốn, chưa chạy được mấy bước đều bị kỵ binh Đại Việt hoặc dùng cung bắn gục hoặc đuổi theo chém rơi đầu.

Quá trình dọn dẹp chiến trường rất lâu từ cuối giờ Mão tới giờ Tỵ vẫn chưa xong, Trần Quốc Toản phái rất nhiều thám mã ra xung quanh nhưng vẫn không thấy viện quân địch tới.

Nhẽ ra quân Nguyên phải sớm cho kỵ binh tinh nhuệ của mình truy bắt đội kỵ binh của Trần Quốc Toản mới đúng, đây cũng có thể coi là cơ hội rất tốt để tiêu diệt một phần quân chủ lực của Đại Việt ở phòng tuyến sông Như Nguyệt.

Nhưng quân Nguyên lại không có động tĩnh gì.

Việc quân Nguyên không phái kỵ binh truy đuổi làm Trần Quốc Toản dấy lên rất nhiều nghi ngờ trong lòng.

Trần Quốc Toản cố tình kéo dài thời gian quân của mình dọn dẹp chiến trường để chờ xem rốt cuộc quân Nguyên có phải quân chi viện tới không.

Đến cuối giờ Tỵ, công việc thu dọn chiến trường coi như đã xong nhưng vẫn không thấy bóng dáng quân Nguyên tới truy đuổi.

Trần Quốc Toản đành hạ lệnh hồi doanh mang theo vô số nghi vấn trong lòng.

Trên đường trở về, nghe Đặng Văn Thiết báo cáo Đại Việt tử trận tổng cộng 311 kỵ binh, trong đó có 81 trọng giáp kỵ binh, trọng thương không thể tiếp tục chiến đấu là 512 người.

Phía quân Nguyên không thống kê nổi, nhưng con số tử thương phải tới hai vạn.

Tổn thất thấp hơn dự tính ban đầu của Trần Quốc Toản rất nhiều, có lẽ do nhánh quân này của quân Nguyên sức chiến đấu và trang bị quá yếu.

Hoặc một phần do Lưu Thế Anh bỏ mặc quân Nguyên tháo chạy tán loạn, tự mình dẫn một nhóm kỳ binh đi tập kích Trần Quốc Toản.

Đây là điều làm hắn càng khó hiểu về quyết định của Lưu Thế Anh.

Vốn dĩ còn rất nhiều lựa chọn tốt hơn, nhưng Lưu Thế Anh lại chọn điều tồi tệ nhất.

Từ những gì Trần Quốc Toản biết thì Lưu Thế Anh không phải là người thiếu sáng suốt như thế, trừ khi Lưu Thế Anh cảm thấy giết Trần Quốc Toản là đường sống duy nhất nên mới phải làm liều.

Không khí thắng trận xung quanh không làm Trần Quốc Toản vơi đi cảm giác bất an mơ hồ trong lòng, nhưng không thể lý giải được vấn đề ở đâu.

Tình hình hiện tại quân Nguyên đang bị quân Đại Việt chặn đánh ở khắp nơi, gần như toàn bộ quân Nguyên đều đang dần rút chạy khỏi Đại Việt.

Các vương đều đang bài binh bố trận chặn đánh quân địch khắp nơi như Hưng Đạo Vương và Phạm Ngũ Lão tướng quân ở Vạn Kiếp, Chiêu Văn Vương thì mới đánh tan địch ở Hàm Tử quan, Nhân Huệ Vương thì ở Vân Đồn đón đánh thủy quân địch, Chiêu Minh vương và Hoàng Thượng đang dần tiếp quản lại Thăng Long từ phía nam và phía tây.... khắp nơi đều là những tin tức chiến thắng, kế hoạch đang rất thuận lợi, không thấy không ổn chỗ nào.

Thấy Trần Quốc Toản đăm chiêu suy nghĩ, Đặng Văn Thiết thúc ngựa lại gần hỏi:

- Cậu chủ, có chuyện gì khiến người phải lo lắng sao?

Trần Quốc Toản khẽ chép miệng nghiêng đầu nói:

- Ta cũng không rõ.

Hành động của quân Nguyên làm ta có vài điều khó hiểu, chưa thể giải được nghi ngờ trong lòng.

Mọi thứ còn rất mơ hồ.

Ngươi đi gọi Trần Văn Cảo tới đây.

Thấy Trần Quốc Toản không nói rõ ràng, lại rơi vào trầm tư, Đặng Văn Thiết vâng lệnh rời đi tìm Trần Văn Cảo.

Tới khi Trần Văn Cảo và Đặng Văn Thiết quay về bẩm báo, Trần Quốc Toản mới tỉnh từ suy nghĩ miên man nói:

- Trần Văn Cảo, cho người truyền lệnh của ta tới tướng quân Trần Văn Phúc: Rút toàn bộ cánh quân trong ngọn núi bên trái về đại doanh, trước khi rút hủy toàn bộ công sự đã làm.

Tốt nhất là đốt cả khu rừng đi, ta muốn địch không có đủ gỗ để làm công sự.

- Đặng Văn thiết, cho người về đại doanh báo với Nguyễn Hoài Bộc: Nhanh chóng tìm trong quân những bộ binh có khả năng tác chiến trên ngựa để thay thế vị trí của những kỵ binh đã hy sinh.

Ta muốn đổ đầy quân số 5000 kỵ binh, nếu có thể thì căn cứ theo số ngựa dự bị và mới thu được, ta muốn có thêm 2000 kỵ binh nữa để ứng phó với tình huống khẩn cấp.

Triệu các tướng tới lều chính, đợi ta về.

Ngoài ra, gửi tin báo tới Thăng Long và Vạn Kiếp.

Dù không hiểu lý do làm Trần Quốc Toản thay đổi kể sách phòng thủ ban đầu nhưng quân lệnh đã ra, Trần Văn Cảo và Đặng Văn Thiết chỉ có thể chắp tay vâng lệnh rời đi.

Thêm nửa canh giờ hành quân, về đến đại doanh đã quá giờ ngọ, từ ngoài nhìn có vẻ tường lũy đã được hoàn thiện, càng thêm chắc chắn.

Bên ngoài lũy gỗ được đắp thêm bùn để phòng hỏa công.

Rất hài lòng, Trần Quốc Toản cưỡi ngựa đi đầu vào đại doanh trong tiếng hoan hô của binh sĩ.

Hạ lệnh cho binh sĩ cởi giáp nghỉ ngơi, phân phó việc chôn cất thi thể tướng sĩ tử trận, chăm sóc binh sĩ bị thương xong Trần Quốc Toản đi về lều chính, theo sau là Nguyễn Hoài Bộc cùng Đặng Văn Thiết mặt đầy lo lắng.

Trần Quốc Toản bước vào lều chính, các tướng hiệu đã tập hợp đầy đủ đồng loạt đứng lên chắp tay chào Trần Quốc Toản.

Hắn đi về phía soái vị ngồi xuống, ra hiệu cho mọi người có thể ngồi, đợi tất cả các tướng ngồi xuống hắn mở lời để các tướng báo cáo lại tình hình trong quân.

Đầu tiên là Trần Văn Bách báo cáo, bên bờ bắc có đội quân Nguyên khoảng ba vạn quân đang tập hợp, hôm nay đã có ba toán quân Nguyên định vượt sông, tất cả đều bị thủy quân của ta đánh lui.

Tiếp đến là Trần Văn Phúc báo cáo đã dẫn toàn bộ 3000 bộ binh đóng trong ngọn núi bên trái về doanh chờ phân phó và đã thiêu hủy toàn bộ cây cối, công sự theo lệnh.

Cuối cùng là Nguyễn Hoài Bộc báo cáo, đã hoàn thành công sự phòng ngự, hiện đang tìm bộ binh có khả năng tác chiến trên ngựa để bổ đầy quân số 7000 kỵ binh theo lệnh.

Đến cuối ngày công việc sẽ hoàn thành.

Trần Quốc Toản gật đầu tỏ vẻ hài lòng với báo cáo của các quân.

Mọi công tác chuẩn bị coi như đã hoàn thành, cánh quân Nguyên phía bắc cũng như dự đoán.

Vẫn đan hai tay trước cằm, Trần Quốc Toản trầm tư nói tiếp:

- Chắc hẳn mọi người đều nghi hoặc vì sao ta lại thay đổi kế hoạch phòng thủ ban đầu mà triệu quân của tướng quân Trần Văn Phúc về đại doanh.

Trận chiến vừa rồi ta thấy địch có rất nhiều hành động đáng ngờ, nhất thời chưa thể đoán được ý định của địch.

Trần Quốc Toản giọng đều đều kể lại diễn biến cuộc chiến sáng nay, các tướng đều đăm chiêu nghe hắn thuật lại tình hình trận chiến sáng nay và những quyết định bất thường của quân Nguyên.

Nghe đến đây, gần như các tướng đều rơi vào trầm tư như Trần Quốc Toản.

Không khí trở nên nặng nề, cả gian lều như rơi vào im lặng chỉ tới khi Trần Quốc Toản mở lời:

- Đối thủ của ta vốn là Lý Hằng, theo tin tức tra khảo được từ tù binh thì trung quân địch có cả cấm binh.

Nếu chúng ở đó thì khả năng cao Thoát Hoan đã theo trong quân của Lý Hằng.

Có Thoát Hoan thì có thể chắc chắn sẽ có tên gian hùng tàn ác A Lý Hải Nha bên cạnh, nên chắc chắn đây là đội quân tinh nhuệ nhất của chúng ở Đại Việt.

Hai con cáo già tập trung một chỗ thật không dễ đoán được ý đồ của chúng nên ta đã quyết định rút toàn bộ quân ta vào đại doanh, dựa vào công sự để phòng ngự.

Dùng tĩnh chế động, đợi bước tiếp theo của địch tới ta sẽ tìm cách ứng phó theo.

Mặc kệ chúng có mưu kế gì, ta chỉ cần đóng giữ thật chắc bờ sông Như Nguyệt này là được.

Cái tên A Lý Hải Nha khét tiếng nổi tiếng với sự tàn bạo, man rợ của mình làm các tướng trở lên căng thẳng hơn rất nhiều.

Quá ít thông tin, tất cả đều nhất trí trong lúc đợi hành động tiếp theo của địch thì rút gọn phạm vi phòng thủ như thế này là tốt nhất, sẽ có thêm binh lực cho các tình huống phát sinh hơn.

Trần Quốc Toản nói tiếp.

- Trần Văn Bách tướng quân, có thể tìm trong thủy binh một số binh sỹ nhanh nhẹn để làm thám báo được không?

Ta muốn theo dõi thật chặt tình hình trung quân của Lý Hằng, thông báo cho ta mọi động tĩnh dù là nhỏ nhất của chúng.

Ta đồ rằng ngày mai địch sẽ vây kín đại doanh của ta, nên lúc quay về khả năng sẽ phải đi theo đường sông.

Thế nên thủy binh chỗ ngài là thích hợp nhất.

Ngoài ra, nếu cắt đi 1000 quân từ chỗ ngài bổ sung cho tiền doanh thì với quân số còn lại của ngải liệu có đủ khả năng phòng thủ mặt sông không?

Trần Văn Bách trầm ngâm một chút rồi trả lời:

- Bẩm chủ soái, với 4000 quân mạt tướng vẫn có thể thủ được mặt sông.

Còn về thám báo thì thủy quân vẫn có sẵn, chủ soái yên tâm mạt tướng trở về sẽ lập tức bố trí.

- Tốt lắm, vậy giao tướng Trần Văn Phúc 1000 quân từ chỗ tướng quân Trần Văn Bách.

7000 kỵ binh phải nhanh chóng tập hợp, toàn bộ sẽ nghỉ ngơi ở trung quân đợi tình hình để ứng phó với diễn biến mới, số này sẽ do ta trực tiếp điều động.

Còn lại, toàn bộ 4000 quân của Nguyễn Hoài Bộc tướng quân phòng thủ hữu doanh và 4000 quân của Trần Văn Phúc tướng quân phòng thủ tả doanh.

Hậu doanh tiếp tục do 4000 thủy binh Trần Văn Bách tướng quân phòng thủ.

Đợi Trần Quốc Toản phân phó xong nhiệm vụ, các tướng lần lượt chắp tay nhận lệnh rời lều.

Chẳng bao lâu sau, hàng chục thám mã bắt đầu rời đại doanh tỏa ra khắp nơi.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 17: Dấu hiệu bất thường 2.


Thăng Long, tại một doanh trại quân đội ven bờ sông, lá hoàng kỳ có chữ Trần bay phần phật trong gió.

Dưới cái nắng gay gắt, cấm quân vẫn canh gác đại doanh vô cùng nghiêm ngặt, mắt nhìn bốn phía không ngơi nghỉ.

Từ cánh rừng xa xa, thấy chim chóc bay lên tán loạn, dần dần có bụi mù bay lên khiến binh sĩ cấm quân phải chú ý.

Cố gắng nheo mắt để nhìn thật xa theo dõi động thái bất thường phía trước, tay để sẵn vào tù và báo động.

Cho tới khi thấy một nhóm kỵ binh trên lưng cắm lá cờ đỏ rực đang phi như bay về doanh trại thì vội gọi với xuống đồng đội:

- Là hồng lĩnh cấp sứ, mau mở cổng!

Thấy hồng lĩnh cấp sứ tới thì từ quan tới dân đều phải tự giác tránh đường, mọi cánh cổng đều phải mở để hồng lĩnh cấp sứ chạy qua.

Nếu cản đường hồng lĩnh cấp sứ thì có mười cái đầu cũng không đủ để chém.

Cánh cổng nặng nề dần dần mở ra, không cần để ý trên đường có ai, một kỵ sĩ vẫn phóng như bay vào doanh trại, số còn lại dừng lại bên cổng.

Vừa qua cổng đại doanh, hồng lĩnh cấp sứ lập tức lấy hơi gân cổ hô lớn, vó ngựa vẫn không ngừng hướng thẳng tới soái trướng có treo hoàng kỳ chính giữa doanh trại:

- Tin báo 800 dặm: Như Nguyệt đại thắng, chém đầu Lưu Thế Anh giết địch hai vạn.

Nghe tiếng hô lớn, cả doanh trại liên mừng rỡ tung hô, lại thêm một chiến thắng nữa cho Đại Việt.

Tất cả binh sĩ đều vui mừng cảm thấy Đại Việt đã sắp giành được toàn thắng rồi.

Nghe tiếng huyên náo bên ngoài, từ lều chính Hoàng Thượng Trần Nhân Tông khoảng ba mươi tuổi bước ra, dáng vẻ anh tuấn, uy nghiêm có chút hiền từ hiếm có, râu ria được cắt tỉa gọn gàng, trên người mặc bộ giáp sáng bóng màu trắng các họa tiết trên giáp đều được trang trí bằng vàng vô cùng tỉ mỉ, đẹp đẽ.

Trước ngực là hình ảnh kim long ngũ trảo vô cùng uy mãnh, thắt lưng đeo thiên tử kiếm.

Đi theo sau là thừa tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, khoảng bốn mươi tuổi, dáng người nhỏ hơn Trần Nhân Tông một chút, vẻ mặt vô cùng nghiêm nghị, tỏa ra khí chất cao quý khó ai sánh bằng.

Thấy Hoàng Thượng và Thừa tướng đích thân rời lều chờ đợi, hồng lĩnh cấp sứ dừng ngựa, vội vàng quỳ rạp xuống hành lễ, chắp tay tâu:

- Khởi bẩm hoàng thượng, khởi bẩm thừa tướng, có tin báo từ chiến trường sông Như Nguyệt.

Hoài Văn Hầu tướng quân dẫn 5000 kỵ binh ra ngoài doanh đón đánh quân tiên phong của quân Nguyên giành được thắng lợi.

Chém đầu tướng địch là Lưu Thế Anh cùng phó tướng Lưu Nguyên, giết địch hai vạn.

(Trần Quang Khải là thừa tướng ba đời vua gồm Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông)

Nói xong, vị hồng lĩnh cấp sứ hai tay nâng hộp gỗ lên cao quá đầu dâng lên, lập tức có thái giám tiến tới đỡ lấy mở ra.

Liền thấy trong hộp gỗ là đầu của Lưu Thế Anh cùng Lưu Nguyên bị ướp bằng vôi bột.

Trần Nhân Tông vô cùng vui mừng, khen ngợi:

- Hay lắm, Hoài Văn Hầu đánh hay lắm, tuổi trẻ tài cao đúng là phúc khí của Đại Việt.

Người đâu ban cho hồng lĩnh cấp sứ ngự tửu và năm lượng vàng.

Ngươi vất vả rồi, lui xuống nghỉ ngơi đi.

Hồng lĩnh cấp sứ dập đầu như giã tỏi, luôn mồm tạ ơn Hoàng Thượng.

Được uống ngự tửu là phúc khí ba đời của hắn, chuyện này hắn có thể đem ra khoe khoang với hàng xóm láng giềng tới chết.

Cho hồng lĩnh cấp sứ lui xuống, Hoàng thượng Trần Nhân Tông cùng thừa tướng Trần Quang Khải quay vào lều, nhìn lên bản đồ giữa phòng, Trần Nhân Tông hỏi Trần Quang Khải:

- Chú Khải, tình hình quân Nguyên ở Thăng Long thế nào rồi? liệu chúng ta sắp hoàn toàn chiếm lại Thăng Long được chưa?

(Trần Quang Khải là chú ruột của Trần Nhân Tông)

Trần Quang Khải chắp tay đáp:

- Bẩm Hoàng Thượng, theo tình báo các quân, quân Nguyên đang tập trung rút qua sông Hồng, nếu không có gì bất ngờ, khoảng ba ngày nữa chúng ta có thể tiếp quản toàn bộ Thăng Long.

Trần Nhân Tông gật đầu hài lòng! nói tiếp:

- Chú Khải, báo hộ bộ chuẩn bị vật tư chuyển về Thăng Long.

Chúng ta cần nhanh chóng khôi phục lại Thăng Long, lấy Thăng Long làm cơ sở tiếp tế các khu vực xung quanh để người dân có thể sớm quay lại ổn định cuộc sống và khắc phục hậu quả hậu chiến.

- Thần tuân chỉ.

--------------------------------

Vạn Kiếp!

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tuy đã gần sáu mươi tuổi nhưng dáng người vẫn cường tráng, tóc mai và râu đã điểm sợi bạc nhưng khí chất ngời ngời, mắt sáng như sao.

Đan hai tay trước cằm, Hưng Đạo Vương nhìn chằm chằm vào sa bàn đã cắm chi chít cờ ở giữa gian phòng.

- Cha, có chiến báo từ chiến trường sông Như Nguyệt gửi tới, Hoài Văn Hầu lĩnh quân đánh tan quân tiên phong của địch, chém đầu tướng địch Lưu Thế Anh và phó tướng Lưu Nguyên, giết địch hai vạn.

Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn hơn ba mươi tuổi, là con trai cả của Hưng Đạo Vương, được kế thừa bộ gen và được chính Hưng Đạo Vương dạy dỗ nên Hưng Vũ Vương cũng là một trong những đại tướng tài năng nổi bật của Đại Việt đương thời.

Hưng Vũ Vương vén lều tiến vào báo cáo và dâng chiến báo lên cho Hưng Đạo Vương.

Hưng Đạo Vương nhận chiến báo, mở ra xem rất kỹ những ghi chép của Trần Quốc Toản về cuộc chiến vừa rồi và động thái của quân Nguyên.

Mày hơi nhíu lại, mất một lúc lâu sau Hưng Đạo Vương ngẩng đầu lên nhìn Hưng Vũ Vương đang đứng chờ đợi bên cạnh nói:

- Trận này Hoài Văn Hầu đánh rất tốt.

Quốc Nghiễn, con cho người đi gọi Phạm Ngũ Lão tướng quân tới đây.

Chỉ một lúc sau, một vị tướng quân khoảng ba mươi tuổi nai nịt gọn gàng, dáng người khỏe khoắn, khuôn mặt tuy hơi đen nhưng không dấu được vẻ anh tuấn còn có chút thư sinh.

Phạm Ngũ Lão tiến tới, chắp tay bái Hưng Đạo Vương nói:

- Bái kiến cha, anh vợ.

Cha cho gọi con ạ.

Phạm Ngũ Lão là con rể của Hưng Đạo vương.

Hưng Đạo Vương là người nhận ra tài năng và đã cất nhắc Phạm Ngũ Lão từ một anh nông dân đan sọt lên làm tướng quân cai quản cấm vệ.

Hưng Đạo Vương yêu quý Phạm Ngũ Lão đến mức Hưng Đạo Vương bắt con gái mình là quận chúa Anh Nguyên phải giả làm con gái nuôi để có thể gả cho Phạm Ngũ Lão.

(Nhà Trần có lệ chỉ gả con gái trong dòng họ)

Thấy Phạm Ngũ Lão đã tới, Hưng Đạo Vương ra hiệu cho Hưng Vũ Vương đưa chiến báo cho Phạm Ngũ Lão xem và nói:

- Hai con ngồi đi, ta vừa xem chiến báo của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, hai con xem chắc cũng đã nhận ra những dấu hiệu bất thường của quân Nguyên trong thư của Hoài Văn Hầu.

Ta đã suy nghĩ rất nhiều về những điều này, dù chưa rõ ràng nhưng ta mơ hồ nhận ra có điều gì đó không ổn.

Nhưng cần có thêm thời gian, thông tin để đoán định nghi vấn này.

Hiện tại, các cánh quân đều đang thuận lợi tiến hành theo kế hoạch, lúc này chúng ta không thể mạo hiểm thay đổi bố trí làm xáo trộn kế hoạch đã đề ra.

Quốc Nghiễn, trong tay con hiện tại có bao nhiêu kỵ binh có thể điều động?

Hưng Vũ Vương không cần suy nghĩ nhiều lập tức nói.

- Thưa cha, hiện chúng ta có 3000 kỵ binh có thể điều động bất cứ lúc nào.

Còn muốn nhiều hơn thì cần thêm một hai ngày để bố trí.

Hưng Đạo Vương nhẩm nhẩm gõ tay lên bàn suy nghĩ rồi nói với Hưng Vũ Vương và Phạm Ngũ Lão đang ngồi bên dưới:

- Tốt lắm, Quốc Nghiễn, con lập tức dẫn 3000 kỵ binh này tới phạm vi phòng tuyến sông Như Nguyệt, chỉ cần đứng ngoài quan sát chiến trường.

Tùy tình hình trận chiến con phải sẵn sàng chi viện hoặc chủ động phối hợp với quân của Hoài Văn hầu nếu cần.

Nhớ kỹ, phải giữ được tính bí mật cho cánh quân này.

Tuyệt đối đừng để lộ hành tung cho quân Nguyên biết.

- Ngũ Lão, đại doanh Vạn Kiếp ta giao lại cho con cùng ba vạn binh sĩ.

Con thay ta tiếp tục sắp xếp mai phục đón đánh quân Nguyên rút lui.

Khi ta vắng mặt, mọi việc ở đây do con toàn quyền quyết định, không cần bẩm báo với ta.

- Số quân còn lại, toàn bộ theo ta lập tức tiến về Thăng Long, hai con đi thu xếp đi.

Dù không hiểu rõ lo lắng khiến Hưng Đạo Vương phải thay đổi một chút sắp xếp binh lực nhưng cả Hưng Vũ vương và Phạm Ngũ Lão đều nhất nhất tuân lệnh rời đi sắp xếp theo căn dặn không một chút do dự.

Bọn họ tuyệt đối tin tưởng vào trí tuệ và phán đoán của Hưng Đạo Vương.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 18: Đối thủ tiếp theo.


Sáng sớm, ngay sau khi Trần Quốc Toản đánh bại Lưu Thế Anh, Phía bắc sông Hồng, một kỵ binh Mông Cổ đang phi ngược hướng hành quân của đội quân Nguyên đông như kiến cỏ, chỉ thấy đội ngũ đen xì như dài vô tận không thấy điểm cuối ở đâu.

Đến giữa đội quân, gặp một lão tướng quân cưỡi hãn huyết bảo mã, đầu đội mũ da cừu, thắt lưng đeo thanh kiếm cong được chạm khắc tinh xảo, chuôi đao còn có viên lục bảo bằng ngón cái trong suốt, nhìn qua là biết giá trị không nhỏ.

Kỵ binh lập tức xuống ngựa quỳ một chân chắp tay báo:

- Bẩm báo đại tướng quân, quân tiên phong của ta đã bị quân An Nam do Trần Quốc Toản lĩnh binh đánh bại, Lưu Thế Anh và Lưu Nguyên đều tử trận, tàn quân đang chạy về đại quân của ta.

Lý Hằng trầm ngâm có chút ngạc nhiên nghe kỵ binh báo cáo lại.

Lý Hằng là vị tướng đánh đông dẹp bắc hàng trăm trận chiến lớn nhỏ của nhà Nguyên, trong đó có những trận đại chiến như Tương Dương, Phàn Thành với quân Tống.

Lý Hằng cũng là người đánh bại Văn Thiên Trường vị thừa tướng hiển hách cuối cùng của nhà Tống, là người đã kết liễu triều đại Nam Tống qua trận hải chiến ở Nhai Môn, là công thần được xếp hàng thứ ba của nhà Nguyên cùng với A Lý Hải Nha.

Trong chiến dịch này, dù trên danh nghĩa là phó tướng của Thoát Hoan nhưng thực chất, Lý Hằng và A Lý Hải Nha là hai người điều hành chính cuộc chiến này, mọi kế hoạch đều qua tay họ trước khi được Thoát Hoan đồng ý.

Lý Hằng là lão tướng đã năm mươi tuổi, nhưng thân hình cao lớn vô cùng cường tráng, ánh mắt nấp sau hàng lông mày rậm rạp mang thêm một chút âm hiểm khó lường.

Khẽ gật đầu và cho tên kỵ binh truyền tin lui xuống.

Lý Hằng bình tĩnh quay sang nói với thân binh bên cạnh:

- Bảo với Khác Bột Hải thu nhận tàn binh của Lưu Thế Anh vào quân của hắn, toàn quân tiến nhanh hướng tới sông Như Nguyệt.

Bảo Khác Bật Hải vẫn theo kế hoạch cũ, không cần phái kỵ binh truy kích quân Đại Việt làm gì.

Gây áp lực buộc chúng dồn lại một chỗ để bao vây là được.

Thân binh vâng lệnh rời đi, Lý Hằng liền thúc ngựa đi về phía giữa đoàn quân, tới một chiếc xe ngựa to lớn dài đến bốn trượng, rộng ba trượng vô cùng xa hoa được kéo bởi mười hai con ngựa Đại Uyển phía trước.

Lý Hằng chắp tay khom người nói:

- Bẩm Trấn Nam Vương, mạt tướng Lý Hằng xin cầu kiến.

Bẩm báo xong, một lúc sau hoạn quan vén rèm bước ra dùng giọng the thé báo:

- Trấn Nam Vương có lệnh, mời tướng quân vào lều nói chuyện.

Lý Hằng cúi người vâng lệnh, xuống ngựa cởi mũ, kiếm giao cho cấm binh bên ngoài giữ trước khi bước lên xe ngựa.

Bên trong xe ngựa vô cùng xa hoa tỏa mùi thơm nhè nhẹ, nền được trải thảm lông cừu lún tới mắt cá chân, bên ngoài dù thời tiết nóng bức nhưng trong xe ngựa vẫn vô cùng mát mẻ.

Hướng về phía chủ vị, Lý Hằng khom người hành lễ:

- Bái kiến Trấn Nam Vương, bái kiến Tả thừa đại nhân.

Ngồi trên chủ vị là Thoát Hoan - Trấn Nam Vương, con trai thứ chín của Hốt Tất Liệt, Hoàng tử của Đại Nguyên.

Thoát Hoan thân hình vạm vỡ, to béo, khuôn mặt tròn tròn đặc trưng của người Mông Cổ.

Phía sau có thái giám đang phe phẩy quạt cho hắn.

Trong quân cấm mang theo nữ nhân, Thoát Hoan là Hoàng Tử của Đại Nguyên nếu muốn hắn có thể mang thị nữ theo hầu mình.

Nhưng Thoát Hoan vẫn tuân thủ quy định trong quân.

Đây là điều rất tốt, được các lão tướng như Lý Hằng vô cùng hài lòng.

Bên trái Thoát Hoan là lão tướng A Lý Hải Nha, đã sáu mươi tuổi, tóc của hắn bạc đi rất nhiều, vài năm gần đây thế lực của A Lý Hải Nha trong triều rất lớn.

Dù bị nhiều quan viên đàn hặc vì việc này nhưng hắn vẫn rất được Hốt Tất Liệt - Hoàng Đế Đại Nguyên trọng dụng.

Hốt Tất Liệt phong hắn là Tả Thừa của hành tỉnh Hồ Quảng kiêm Tả Thừa hành tỉnh An Nam - Chiêm Thành.

A Lý Hải Nha là người chịu trách nhiệm lớn nhất trước Hốt Tất Liệt trong việc thành lập Tả thừa hành tỉnh An Nam-Chiêm Thành, cũng chính là cuộc xâm lược Đại Việt và Chiêm Thành mà quân Nguyên đang tiến hành.

Ngoài ra, hắn cũng là người phụ trách công việc hải ngoại của Hốt Tất Liệt.

Có thể nói hắn là ông vua không ngai của Đại Nguyên cũng không sai.

A Lý Hải Nha nổi tiếng với sự tàn bạo trong các chiến dịch trước đây của mình, qua vài năm trong chính trường thì hắn không còn trực tiếp lên trận như Lý Hằng, Toa Đô, Ô Mã Nhi thay vào đó hắn đóng vai trò như tham mưu thứ nhất của Thoát Hoan kiêm tổng quản hậu cần trong chiến dịch xâm lược Đại Việt lần này.

- Đại tướng quân bình thân, trong quân không cần nhiều lễ nghi như vậy.

Đại tướng quân ngồi xuống rồi chúng ta cùng bàn.

Thoát Hoan rất khiêm tốn trước các lão tướng, việc trong quân hắn cũng không dám quyết bừa, tất cả đều tham khảo theo ý kiến của các vị lão tướng này.

Tài năng của các tướng như Lý Hằng, A Lý Hải Nha, Toa Đô,...

được chính cha hắn Hốt Tất Liệt công nhận, bọn họ đều là những chiến thần của nhà Nguyên, trước mặt họ không tới lượt Thoát Hoan múa rìu qua mắt thợ.

Hắn chỉ cần ngoan ngoãn làm Trấn Nam Vương là được.

Lý Hằng đi về phía chiếc bàn trống bên phải Thoát Hoan ngồi xuống, lập tức có thái giám bê rượu sữa ngựa và bánh lên mời Lý Hằng.

Đợi thái giám rời đi, Lý Hằng chắp tay báo:

- Bẩm Trấn Nam Vương, Tả Thừa đại nhân, tin tức vừa báo về quân tiên phong của Lưu Thế Anh đã bị quân An Nam do Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản đánh bại, bản thân Lưu Thế Anh cũng bị chém đầu.

Trước khi tới đây bẩm báo, mạt tướng đã tạm thời điều Khác Bột Hải đứng ra thu nhận tàn quân của Lưu Thế Anh, tiếp tục tiến tới bờ sông Như Nguyệt theo kế hoạch.

Quân An Nam đã rút về tập trung phòng thủ sông Như Nguyệt như dự liệu của ta.

A Lý Hải Nha tiếp lời:

- Lưu Thế Anh bại trận là điều có thể đoán trước, quân của hắn chỉ là Tân Phụ quân, sức chiến đấu không cao.

Có chăng chỉ là chết sai địa điểm chúng ta tính toán một chút thôi, xem ra tướng cầm quân của An Nam cũng có chút tài năng.

Lý Hằng tướng quân, ngài nên lưu ý thêm cho Khắc Bột Hải chủ trương chỉ cần vây hãm cánh quân này của địch ở sông Như Nguyệt là được.

Ngoài ra, thư trả lời của Toa Đô đã tới, mời tướng quân xem.

Lý Hằng lấy cuộn da dê do hoạn quan đưa cho mở ra xem.

Xem xong, Lý Hằng trầm ngâm tính toán một chút nói:

- Tốt rồi, mọi chuyện đang tiến triển theo đúng kế hoạch của chúng ta.

Thoát Hoan, nâng chén rượu sữa ngựa lên nói:

- Có hai vị tướng quân đi cùng đúng là phúc khí của quân ta.

Nào, chúng ta cùng chúc cho kế hoạch của chúng ta tiến hành thuận lợi, sớm thu phục được cái đất An Nam cứng đầu này.

Lý Hằng, A Lý Hải Nha đưa mắt nhìn nhau rồi cùng nâng chén lên nói vài lời "vô mông" Thoát Hoan.

Canh năm, doanh trại Đại Việt, trong lều chính Trần Quốc Toản đã giáp trụ chỉnh tề, đang ngồi trước bản đồ xem xét lại tin tình báo các quân đưa tới.

Hắn vẫn còn đầy lo lắng về hành động bất thường của quân Nguyên ngày hôm qua.

Vén rèm bước vào, trên tay Nguyễn Hoài Bộc là bữa sáng được lão làm riêng cho Trần Quốc Toản, thấy Trần Quốc Toản vẫn chăm chú xem tin báo, lão Bộc mở lời nói:

- Mời cậu chủ dùng bữa.

Cậu chủ vẫn còn lo lắng về hành động bất thường của quân Nguyên ngày hôm qua sao?

Nguyễn Hoài Bộc vừa nói, vừa đặt khay thức ăn xuống chiếc bàn thấp vừa hỏi.

Trần Quốc Toản ngồi xuống bàn, nhận khay đồ ăn từ lão Bộc bắt đầu vừa ăn vừa nói:

- Chú Bộc, đúng là cháu vẫn còn lo lắng về hành động của quân Nguyên.

Từ hôm qua cháu đã xem lại các chiến báo từ các nơi gửi đến nhưng vẫn không thể phán đoán ra vấn đề ở đâu, các cánh quân đều đang hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Mọi việc đều quá thuận lợi.

Chú biết không, trước khi tới đây Hưng Đạo Vương đã nhắc cháu tuyệt đối không được chủ quan.

Dù quá trình có thuận lợi thế nào thì khi chúng ta tới gần chiến thắng nhất cũng chính là lúc nguy hiểm nhất.

Vì rất có thể tất cả những thành công trước đó chỉ là kế của địch bày ra để dụ chúng ta vào cái bẫy của chúng.

Một cái bẫy lớn.

Lão Bộc khom người, tìm lời trấn an Quốc Toản:

- Hưng Đạo Vương dạy phải lắm.

Cậu chủ cũng không cần lo lắng quá, tất cả những gì có thể làm chúng ta đều đã làm.

Lão Bộc tin rằng những gì cậu chủ sắp xếp ngày hôm qua là những gì tốt nhất ta có thể làm bây giờ.

Giờ chúng ta chỉ cần bình tĩnh quan sát động tĩnh của kẻ địch để phán đoán bước tiếp theo là được.

Lo lắng nhiều có khi sẽ làm loạn bố trí của ta, lúc đấy có thể sẽ rơi vào kế nhiễu địch của chúng.

Trần Quốc Toản hơi dừng đũa nghĩ một lúc rồi nói:

- Chú nói cũng phải, đúng là từ qua tới nay cháu không thể để ý tới việc gì khác.

Xem ra giờ chỉ có thể ngồi đợi diễn biến tiếp theo thôi.
 
Đông A Tái Khởi.
Chương 19: Đông như quân Nguyên!


Trời vừa tờ mờ sáng, từ trên tường lũy, binh sĩ Đại Việt nhìn vệt đen ở phía nam ngày một hiện lên rõ ràng.

Binh sĩ bình tĩnh nâng tù và lên thổi báo hiệu, trong doanh trại các binh sĩ bình tĩnh về hàng ngũ chờ sắp xếp, trên tường lũy các binh sĩ phụ trách phòng thủ đã vào vị trí từ lâu.

Dưới lũy, một binh lính Đại Việt chạy tới chỗ Trần Quốc Toản quỳ một gối chắp tay báo cáo:

- Bẩm chủ soái, có tin tức thám mã báo về: tiên phong quân Nguyên khoảng năm vạn bộ binh và một vạn kỵ binh, lĩnh quân là Khác Bột Hải.

Trung quân địch cách đại doanh của ta khoảng hai mươi lăm dặm, quân số ước chừng mười vạn quân.

Phía bắc sông Như Nguyệt có khoảng ba vạn quân Nguyên đang có dấu hiệu muốn vượt sông.

Nghe xong chiến báo, Trần Quốc Toản không tỏ ra bất ngờ, quân số địch đông đảo là điều đã được dự báo trước.

Phía sông có thủy quân của Trần Văn Bách tướng quân thì không cần lo đám vịt cạn phương bắc có thể vượt sông chỉ với vài cái bè gỗ thô sơ.

Chiến trường chủ yếu sẽ ở mặt nam này.

- Quay về báo với Trần Văn Bách tướng quân, mặt sông trông cậy vào ngài ấy, khi tình thế không ổn thì lập tức báo về, ta sẽ gửi quân tiếp viện.

Trận chiến này là điều đã được dự đoán từ trước nên toàn bộ vật tư cần thiết để thủ thành đều đã được chuẩn bị sẵn từ hôm qua, chất đầy trên mặt và dưới chân lũy.

Các tướng phụ trách đợt phòng thủ đầu tiên là Nguyễn Hoài Bộc và Trần Văn Phúc đều đã lên mặt tường lũy để trực tiếp chỉ huy phòng ngự.

Từ phía Nam quân Nguyên dừng trước thành lũy của Đại Việt hơn 500 bước.

Từng khối phương trận, mỗi phương trận 1000 quân trải kín mặt đất.

Năm vạn quân Nguyên tạo thành một vòng cung lớn vây hoàn toàn quân Đại Việt vào bên trong.

Khác Bột Hải không vội cho quân tấn công mà cưỡi ngựa bước tới cẩn thận quan sát tường lũy quân Đại Việt.

Trên lũy, cờ hiệu nghiêm chỉnh bay phần phật, tấm đại kỳ đỏ rực thêu sáu chữ màu vàng chính giữa rất bắt mắt "Phá Cường Địch Báo Hoàng ân".

Binh lính trên lũy dù không quá đông nhưng trang bị vô cùng đầy đủ, trước tình thế bị đại quân vây hãm không thấy một chút rối loạn nào, hàng ngũ vẫn rất nghiêm chỉnh.

Khác Bột Hải thầm đánh giá:

- Xem ra đều là tinh binh, Lưu Thế Anh thua cũng không oan.

Trang bị trong quân của hắn còn thua quân Đại Việt vài phần.

Nhìn tường lũy cắm chi chít tre vót nhọn, Khác Bột Hải hơi cau mày, từ lúc tới Đại Việt, đây là thứ làm quân Nguyên khó chịu nhất.

Vô số bẫy rập, chướng ngại đều được làm bằng thứ này, quân Nguyên đã nếm vô số các loại đau đớn do chúng mang lại.

Chỉ về phía tường lũy, Khác Bột Hải nói với tham quân người Tống bên cạnh.

- Khá lắm, trong thời gian ngắn mà lập được một lũy phòng thủ kiên cố đến vậy.

Xem ra nếu muốn công hạ doanh trại này sẽ phải bỏ ra số nhân mạng không nhỏ.

- Tướng quân đánh giá rất phải.

Thật may chúng ta không cần phải dốc sức lấy tòa doanh này trong thời gian ngắn.

Nếu không, con số tử thương sẽ vô cùng khủng khiếp.

Tham quân chịu trách nhiệm tham mưu, góp ý cho tướng quân lĩnh quân.

Ngoài ra, còn có nhiệm vụ giám sát nhắc nhở các tướng quân thực hiện theo kế hoạch đã đề ra.

Tham quân khéo léo nhắc nhở Khắc Bột Hải nhiệm vụ chính lần này, tránh việc hắn máu chó dồn lên đầu dồn sức đánh tòa lũy này để hỏng việc thì nguy.

Khắc Bột Hải chỉ gật đầu tỏ ý đã hiểu.

Dù Khác Bột Hải rất muốn dùng đám tàn quân của Lưu Thế Anh để lót đường nhưng đội quân này khi về tới tay Khác Bột Hải thì gần như vô dụng rồi, chưa kể vũ khí trang bị rơi hết trên đường bỏ chạy mà tinh thần của bọn chúng bị sụp đổ luôn.

Giờ chỉ có thể miễn cưỡng đứng vào đội hình cho đủ quân số, tạo uy hiếp về quân số cho Đại Việt thôi.

Nếu bắt chúng lên tuyến đầu thì khả năng thay vì tấn công chúng lại trở giáo bỏ chạy còn lớn hơn, nếu chuyện đấy xảy ra thì hắn sẽ lại đi vào vết xe đổ của Lưu Thế Anh.

Hắn không muốn mạo hiểm nên đành dùng quân của mình đánh trận đầu.

Khác Bột Hải quay lại ra lệnh cho tướng hiệu bên cạnh:

- Truyền lệnh, thê đội một tấn công, các đội khác nghỉ ngơi tại chỗ.

Tàn quân của Lưu Thế Anh sắp xếp ở hậu quân.

Đợi chúng ổn định lại tinh thần hãy để chúng lên tuyến trên.

Do địa hình bằng phẳng nên quân Nguyên có thể tổ chức được lượng quân rất lớn để công thành.

Cờ hiệu, trống trận trong quân Nguyên nổi lên, lần lượt bốn khối phương trận đầu tiên của quân Nguyên chậm rãi bước lên trước.

Thuẫn thủ vác theo những tấm thuẫn bằng gỗ lớn bên ngoài được bọc da trâu đi trước, nép phía dưới là hàng trăm cung thủ.

Đội hình từ từ áp sát tường lũy của Đại Việt, khi khoảng cách còn bảy mươi bước hàng thuẫn dừng lại chống thuẫn xuống đất.

Cung thủ từ phía sau hàng thuẫn của quân Nguyên bắt đầu lắp tên, chờ tín hiệu tấn công.

Cờ hiệu vẫy xuống lập tức hàng ngàn mũi tên từ quân Nguyên nhằm đầu lũy bay tới.

Trên đầu lũy Đại Việt, các tướng hiệu từ sau các lỗ châu mai hô to cảnh báo đồng đội phía dưới:

- Địch bắn tên, địch bắn tên.

Phía Đại Việt đều là tinh binh nên đều đã biết cách ứng phó, ngay lập tức tất cả nép sát người vào tường lũy hoặc khiên, cúi thật thấp hạn chế tối đa bộ phận cơ thể hở ra ngoài.

Tên rơi xuống thế trận phòng thủ của Đại Việt như mưa, tiếng lục tục của mũi tên cắm vào lũy gỗ, khiên vang lên liên tục.

Dù đã ẩn nấp những vẫn có vài binh sĩ đen đủi bị tên bắn trúng phần mềm.

Bắn tên vòng cung như thế chủ yếu để áp chế hoạt động của quân thủ thành là chính chứ sức sát thương rất thấp.

Với đội quân trang bị giáp trụ đầy đủ như quân Đại Việt thì gần như không gây được sát thương nào.

Thấy cung thủ địch nấp sau những tấm khiên gỗ lớn, các tướng hiệu Đại Việt bình tĩnh không hạ lệnh cho binh sĩ bắn trả vì hiệu quả sẽ không cao.

Binh sĩ Đại Việt mặc kệ quân Nguyên bắn tên như mưa rào xuống đầu lũy, có bắn nhiều nữa cũng chẳng sập lũy được nên chẳng thèm quan tâm.

Thấy quân Đại Việt trên lũy không bắn trả, Khác Bột Hải gật đầu cho bộ binh dần tiến lên.

Cờ, kèn hiệu nổi lên lập tức bộ binh quân Nguyên chờ sẵn ở phía sau một tay dơ thuẫn gỗ, một tay khiêng thang mây gào thét xông lên.

- Xung phong!

Cung thủ quân Nguyên vẫn tiếp tục bắn áp chế lên đầu lũy của Đại Việt, tạo cơ hội cho bộ binh có thể thuận lợi tiến tới chân lũy phòng ngự.

Phía trên lũy của Đại Việt, các binh lính đã cầm sẵn cung tên nép mình sát tường lũy.

Nguyễn Hoài Bộc, Trần Văn Phúc cẩn thận quan sát động tĩnh quân Nguyên qua lỗ châu mai, tới khi thấy bộ binh địch kéo đến như kiến tiến vào phạm vi năm mươi bước, cả hai cùng ra phất tay hô lớn.

- Bắn tên!

Ngay lập tức, hàng nghìn cung thủ Đại Việt trên lũy đứng dậy bắn thẳng xuống dưới, bắn xong lại lập tức cúi mình nép sát tường lũy, hàng hai lại đứng lên bắn, cứ thế luôn phiên nhau.

Quân Đại Việt chiếm lợi thế trên cao, nên toàn bộ đều bắn thẳng.

Ở khoảng cách năm mươi bước, sức sát thương của cung tên bắn thẳng rất cao, đặc biệt bộ binh quân Nguyên chủ yếu trang bị bì giáp nên khả năng chống tên rất kém.

Dù có thuẫn bảo hộ nhưng chỉ che chắn được một phần không thể che chắn toàn bộ cơ thể.

Ngay loạt tên đầu tiên đã có hơn trăm tên quân Nguyên trúng tên ngã xuống, đội hình như bị đổ rạp đi một mảng.

Nhưng chả ăn thua gì với hàng ngàn quân Nguyên bên dưới, kẻ trước ngã xuống lập tức có tên từ phía sau lao lên tiếp tục khiêng thang mây tiến lên.

Do phải đứng lên khỏi vị trí ẩn nấp để bắn tên nên phía Đại Việt dần dần có nhiều binh lính trúng tên hơn, bắt đầu có thương vong cho Đại Việt do trúng tên phải vị trí yếu hại.

Bỏ lại hàng trăm tên ngã gục dưới đất, chẳng mấy chốc quân Nguyên cũng chạy tới bên mép con hào chông.

Những tấm ván gỗ dài cả trượng được quân Nguyên lần lượt bắc qua con hào làm cầu để vượt qua.

Con hào chỉ rộng hơn vài thước nhưng lại là chỗ khiến quân Nguyên chịu thương vong khủng khiếp nhất.

Vô số tên quân Nguyên mải để ý trên đầu mà trượt chân ngã xuống, hoặc bị đồng đội phía sau dồn tới xô ngã xuống con hào chông cắm chi chít.

Nhiều tên bị xiên như xiên thịt, có tên thì bị chông xuyên qua chân đau đớn gào thét chưa được mấy câu thì bị những mũi tên trên lũy bắn xuống giết chết đứng như trời trồng dưới hào.

Những tên quân Nguyên vượt qua được con hào, liền ép sát người tường lũy dơ thuẫn lên che đỉnh đầu.

Quân Nguyên ép sát tường lũy ngày càng nhiều, thuẫn gỗ được quân Nguyên dựng lên che chắn như mai rùa.

Nhưng những tên tới chân lũy sớm nhất lại là những tên chết thảm nhất.

Quân Đại Việt không chỉ cắm chông tre dưới hào mà còn cắm cả ở chân tường lũy, nhưng tên đứng sát tường lũy vô tình bị chính đồng đội tới sau dồn ép, đẩy bản thân dần ép vào những cây chông tre nhọn hoắt.

Mặc chúng có gào hét, chống đỡ thế nào thì cái chết vẫn tới rất từ từ, đau đớn đầy bất lực.

Có được cơ sở đứng chân dưới lũy, từng chiếc thang mây bắt đầu được quân Nguyên dựng lên, đỉnh thang mây có móc sắt, khi thang dựng vào đầu lũy móc sắt sẽ bấu chặt vào tường lũy tránh bị quân phòng thủ đẩy đổ thang.

Thang được dựng lên ngày càng nhiều, bộ binh quân Nguyên mồm ngậm đao, một tay dơ thuẫn che đầu, một tay bám thang bắt đầu leo lên như kiến.

Thấy bộ binh đã bắt đầu leo thang, cung thủ quân Nguyên chuyển mục tiêu nhắm bắn vào phía sau lũy của Đại Việt để tránh bắn vào bộ binh trên thang, chỉ còn một số ít tên rơi trên đầu lũy nhưng vẫn không tránh khỏi thi thoảng có tên bộ binh quân Nguyên xui xẻo bị trúng tên sau lưng ngã trở lại mặt đất mà chết.
 
Back
Top Bottom