Cập nhật mới

Khác Đông A Nông Sự

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
279077212-256-k154790.jpg

Đông A Nông Sự
Tác giả: ChinghiaPhan
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Một kỹ sư nông nghiệp lưu lạc đến đời Trần, làm thế nào để giấc mộng Đông A trở thành sự thật?



xuyênkhông​
 
Đông A Nông Sự
Chương 1: Long nhãn trì


Đền Hùng năm 2018, một nhóm bạn trẻ đang hồ hởi leo núi Nghĩa Lĩnh.

Trong khí sắc tươi đẹp của mùa xuân, cảnh núi non thật tráng lệ.

Đứng trên núi Nghĩa Lĩnh nhìn ra bốn bề, có thể thấy phía xa xa là Ngã ba Bạch Hạc, nơi sông Lô nhập dòng với sông Hồng.

Phía bên trái là dãy Tam Đảo hùng vĩ.

Phía bên phải là ngọn Ba Vì mờ mờ xanh ẩn hiện ...

Đồng ruộng, đồi cọ, vườn chè, làng xóm trù phú, cảnh đẹp như tranh, vùng trung du trải rộng ra trước mắt.

Đây đó rải rác những đầm hồ lớn lấp loáng như gương.

Nhóm bạn trẻ này chừng 20 tuổi, tràn đầy khí tức thành xuân.

Người dẫn đầu là một nam nhân chừng 35 tuổi, mắt sáng, dáng người cao gầy, vai đeo một balo to.

Tuy không tính là đẹp trai nhưng có phong phạm của người tri thức, miệng luôn nở nụ cười, liên tục nhắc nhở:

- Các em đi cẩn thận.

Luôn nhớ câu "lên núi dễ, xuống núi khó, đừng tưởng lên đền Thượng rồi đi xuống sẽ dễ hơn, rất nhiều người đã bị ngã ở đoạn đường này.

Người này tên Hoàng Bách, là một Giảng viên đại học.

Hắn 22 tuổi tốt nghiệp đại học, 25 tuổi học xong cao học sau đó du học Trung Quốc lấy bằng Tiến sĩ, 30 tuổi thì đại công cáo thành về nước, một bụng muốn phát triển quê hương.

Cha Hoàng Bách là một thầy thuốc còn mẹ là giáo viên, sinh hắn ở một vùng quê nghèo nên quyết chí học làm kỹ sư nông nghiệp để phát triển kinh tế địa phương.

Đến nay cũng làm giảng viên được 5 năm, có một vài khoá học sinh ra trường.

Hôm nay, hắn dẫn một nhóm sinh viên đi thực tế về Phân loại thực vật.

Đây là một nhóm sinh viên nông nghiệp năm thứ 3, đã có hiểu cơ bản về ngành này, chuẩn bị bước vào quá trình đào tạo chuyên sâu.

Chuyến đi thực tế bắt đầu từ sáng sớm ...

Bách cho các em thu thập rất nhiều mẫu cây trồng ở những cánh đồng xung quanh khu vực.

Nhưng muốn học sinh tiếp cận thêm kiến thức nên đưa các em lên núi Nghĩa Lĩnh, vừa là khu di tích lại vừa là một khu rừng quốc gia với hệ thực vật phong phú.

Cô bé lớp trưởng vừa đi vừa hỏi Bách:

- Thầy ơi lúc lên đền Hùng, ở cổng vào có 4 chữ Nho, những chữ đấy có nghĩa gì thưa thầy?"

Bách trầm ngâm:

- Đấy là bốn chữ "Cao sơn cảnh hành" có nghĩa là "Lên núi cao, nhìn được xa"

Cô bé ra chiều thắc mắc:

- Em chưa hiểu, tại sao cổng đền mà lại đề những chữ này?

Em chả thấy có gì liên quan cả?

Bách cười đáp:

- Bốn chữ ấy vốn được lấy trong Kinh Thi.

Đầy đủ là "Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ" nghĩa là: Núi cao để ngưỡng trông, đường lớn dùng để đi"

Hắn chậm chân lại, nháy mắt nhìn cô bé:

- Rõ ràng lên núi cao nhìn ngắm, lên núi thì phải có đường, mà con đường lớn để đồng bào và nhân dân cùng đi, cùng theo, tạo nên sự đoàn kết một lòng của toàn dân tộc.

Em có thấy quang cảnh đền Hùng mỗi dịp lễ hội mùng mười tháng ba không?

Rồi không để cô bé trả lời, hắn lại chậm rãi:

- Thế nên mới khắc bốn chữ này ở con đường từ chân núi lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh ...

Ai đã lên đền Hùng đều biết, lộ tuyến tham quan đền là đi từ cổng đền ở chân núi Nghĩa Lĩnh.

Từ đó đi lên Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng.

Rồi lại từ đền Thượng theo một lối đi khác để xuống đền Giếng.

Mỗi một đền đều mang ý nghĩa thiêng liêng.

Như cái giếng Mắt rồng trước mắt, nằm phía sau đền Hạ, tương truyền chính là nơi khi xưa Tổ mẫu Âu Cơ hạ sinh bọc trăm trứng.

Nghĩ đến truyền thuyết này rlà thấy ly kỳ: Tổ mẫu Âu Cơ mang thai, trải ba năm, ba tháng, mười ngày.

Đến khi thấy trên núi Nghĩa Lĩnh có mây lành ngũ sắc xán lạn.

Đến giờ Ngọ, ngày 25 tháng 12 năm Giáp Tý, mẹ Âu Cơ thấy bào thai chuyển động.

Ngày 28, hương lạ đầy nhà, hào quang khắp phòng.

Khi ấy, bà sinh một bọc trăm trứng.

Đến ngày rằm 15 tháng Giêng, trăm trứng vỡ ra đều thành trăm người con trai.

Suốt một tháng, không phải bú mớm mà tự trưởng thành.

Tất cả các con đều có hình dáng đẹp lạ, tướng mạo phương phi.

Bách chép miệng "Truyền thuyết về nguồn gốc người Việt ta hình thành như thế đấy". chân vẫn chầm chậm bước xuống các bậc đá cao theo đám sinh viên.

Bách dự định nghỉ chân tại giếng Mắt rồng.

Tuy xung quanh giếng đã được kè đá nhưng vẫn thường có kẻ mê tín vứt tiền xuống giếng.

Đây cũng là một dị đoan của người Việt, đi đến đền chùa miếu mạo là rắc tiền lẻ khắp nơi, mong được thần linh chiếu cố.

Trong đoàn có mấy sinh viên nam rất nghịch ngợm, nhanh chân đi trước đến bên miệng giếng.

Bách đang cúi người buộc lại dây giày thì nghe có tiếng kêu, sau đó cô bé lớp trưởng quay lại hoảng hốt:

- Thầy ơi bạn Tân bị ngã xuống giếng rồi ...!

Bách giật mình chạy lại, thấy cậu sinh viên tên Tân đã rơi vào miệng giếng ...

Hắn lại gần quan sát, thấy vẫn còn may mắn khi phía dưới miệng giếng chừng 5 mét người ta có đan tấm lưới để tránh người dân vứt tiền xuống.

Cậu sinh viên tên Tân khi rơi xuống bị tấm lưới cản lại, tay bám vào gờ tảng đá bên thành giếng, chân dường như đã bị thương.

Có lẽ tấm lưới không được thiết kế để chịu sức nặng của một người, cũng sắp bung ra khỏi thành giếng.

Bách nhìn quanh, phía đình nghỉ chân có một cái thang và một sợi dây thừng.

Đây là loại thang chuyên thiết kế để leo giếng, có một đầu quặt vào hình chữ U để bám vào miệng giếng, có lẽ là ban quản lý khi thiết kế tấm lưới để lại.

Bách cởi ba-lô nói với đám sinh viên đang nháo nhác:

- Giờ thầy sẽ dùng thang xuống dưới đấy.

Buộc bạn Tân vào sợi dây rồi các em gắng sức kéo lên.

Còn lớp trưởng, chạy ngay đi tìm người giúp đỡ nhé.

Nói đoạn Bách bắc thang rồi leo xuống.

Đến nơi, hắn một tay đỡ sinh viên rồi nhận dây thừng để buộc.

Bách chợt nhớ ra trong ba-lô có móc khoá và một con dao nên gọi sinh viên ném balo xuống.

Khi hắn bận rộn ở dưới xong xuôi thì bên Ban quản lý cũng có người chạy đến.

Bách ở dưới giếng nói với lên:

- Giờ tôi hô thì các anh kéo lên, còn tôi sẽ đẩy người bị nạn từ dưới, mọi người chú ý nhé.

Một, hai, ba ...

Dưới lực kéo của nhiều người bên trên, chỉ chốc lát Tân đã tới gần miệng giếng.

Bách ở dưới trông lên yên tâm phần nào.

Đúng lúc này, hắn cảm thấy dưới chân hụt một cái.

Tấm lưới dường như đã không còn chịu được sức nặng.

Một đầu đinh bắt vào kè đá ở tang giếng rơi ra.

Bách chới với bám tay vào tang giếng nhưng không kịp.

Hắn rơi tự do xuống giếng.

Lúc này đầu óc hắn đột nhiên mơ màng.

Một luồng sáng ập vào mắt rồi lại tối đen.

Hắn đã không còn nhận thức được gì nữa.

............

Bách mở mắt vì bị liếm vào mặt.

Hắn lờ mờ thấy một chú chó nhỏ.

Xung quanh là một vùng cây cối u tĩnh, bên phía trái có một ngôi đền.

Hắn định thần một lúc thì nhận ra trên người khác lạ, bộ quần áo thể thao của hắn trở nên rộng ra thì phải, đặc biệt là cái quần.

Hắn nhìn thấy cái giếng bên cạnh, ghé mắt vào giếng, bóng người phản chiếu mờ quá hắn không nhìn rõ.

Đang thắc mắc thì chú chó vẫy đuôi chạy về ngôi đền.

Hắn lết bước đi theo, tiến dần đến ngôi đền.

Đền có kiến trúc kiểu chữ "nhị" gồm hai toà nhà, mỗi toà ba gian, cách nhau vài mét.

Ngay chân đền có một nhà bia với kiến trúc hình lục giác, có sáu mái.

Trên đỉnh có đắp hình nậm rượu, sáu mái được lợp bằng gạch bìa bên trong, có sáu cột bằng gạch xây tròn, dưới chân có lan can.

Khi Bách đi vào sân đền thì thấy bên trái đền lại có một kiến trúc khác được xây theo kiểu cổ, gồm một nhà năm gian, một nhà hai gian và một tam bảo (ba gian) nối liền bởi một dãy hành lang.

Bách nhìn quanh chưa thấy có ai, lại nhác thấy trong các kiến trúc này nhang khói lượn lờ, nên đoán sẽ có người.

Bèn gọi to:

- Có ai không?

Có ai không ạ ...

Gọi vài tiếng thì từ phía bên cạnh đền, bên trong một lán nhỏ, một ông lão vén mành nứa đi ra.

Ông lão trạc lục tuần, thân hình quắc thước.

Trên người lão mặc loại áo dài cổ tròn bốn vạt, phía dưới thì mặc quần đen, trên đầu quấn khăn nhìn rất lạ.

Bách tự hỏi sao lại có người ăn mặc như vậy ở cái thời đại này?

Hắn bỏ qua thắc mắc, cúi đầu khiêm tốn nói:

- Bác ơi!

Cháu không may trượt chân ngã xuống giếng, giờ đầu óc mơ màng quá.

Bác cho cháu xin miếng nước định thần lại.

Di tích Giếng Mắt rồng hiện nay được các nhà khảo cổ khai quật tại vị trí phía sau Đền Hạ - Khu DTLS Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ
 
Đông A Nông Sự
Chương 2: Thiệu Long nguyên niên


Ông lão quan sát Bách một hồi.

Vẫy tay hiền từ đáp:

- Sao lại để ngã xuống giếng?

Cứ vào đây ngồi với ta xơi miếng trầu, rồi ta đun nước cho.

Bách theo ông lão vào lán thì thấy bên trong rất đơn sơ, chỉ có một giường trúc, một chõng tre, ngoài ra thì có một tủ đựng kinh sách, còn lại chẳng có gì khác.

Khi hắn còn đang quan sát xung quanh thì con chó nhỏ chạy từ đâu về, lại lăng xăng liếm vào chân Bách.

Ông lão từ dưới bếp củi phía sau nói với lên:

- Con chó này ta đặt tên là Đại hoàng, mẹ nó đẻ sai quá dẫn đến chết non cả đàn, chỉ giữ được mình nó.

Mẹ nó yếu quá hôm rồi cũng chết, thật là thương tâm.

Bách hỏi dò ông lão:

- Bác ơi đây là đâu hả bác?

- Đây là núi Nghĩa Lĩnh, là Đền Quốc tổ Hùng Vương, cậu không biết chăng?

Bách thầm kêu may mắn vì vẫn ở Đền Hùng, nhưng chợt giật mình vì sao cảnh vật lại thế này.

Hắn là người Phú Thọ, một năm lên Đền Hùng ít thì cũng hai, ba lần, làm sao có thể có chỗ mà hắn không biết?

Lại hỏi:

- Bác ơi, thế đây là chỗ nào ở Đền Hùng hả bác?

- Đây là Đền Hạ ở chân núi thôi, muốn leo lên Đền Trung, Đền Thượng thì cậu đi theo lối sau đền sẽ đến.

Bách nghe đến đây thì kinh hãi, đứng phắt dậy chạy vọt ra ngoài.

Hắn ngắm nghía một hồi ...

Đây chẳng phải phong cảnh Đền Hạ đó sao?

Bên này là Đền, gác chuông, bên kia là Thiên quang thiền tự, nhưng sao lại cũ nát thế này?

Chợt nhớ đến Đền Hạ mà mình thấy ngày nay là được trùng tu một lần vào thế kỷ XVII thời nhà Lê.

Như vậy, có phải hắn đã xuyên không trở về quá khứ?

Bách sinh ra vào thời kỳ bùng nổ mạng internet thế kỷ XXI, du học Trung Quốc 5 năm, hắn không lạ gì các tiểu thuyết xuyên không nhưng không.

Ai mà ngờ được truyện này có lúc sẽ vận vào mình.

Bách chả màng tới ông lão nữa, nhắm hướng cái giếng chạy tới.

Đến nơi, hắn định thần nhìn lại.

Cái giếng thì vẫn ở đây, chỉ có điều bên trên đắp đất thô sơ.

Sao so với cái giếng Mắt rồng kè đá xanh ở thời của hắn.

Hắn thất thần lại gần ghé mắt nhìn xuống ...

Miệng giếng nước đen như mực, há mồm cười vào mặt hắn.

Bách ngây người nửa tiếng rồi chán nản ngồi phịch xuống bên cạnh.

Hắn ôm đầu suy tư, trong lòng trào lên bi ai ...

Bách sinh ra trong một gia đình bình thường, được giáo dục tốt.

Bố hắn là một người kinh qua hai cuộc chiến bảo vệ tổ quốc, sau chiến tranh thì về quê làm thầy thuốc.

Mẹ Bách là giáo viên dạy lịch sử, tuy không nói là vất vả nhưng hắn được nuôi dưỡng từ nhỏ ở một miền quê nghèo, chứng kiến cảnh nông thôn của miền quê trung du chó ăn đá gà ăn sỏi.

Hắn thấm thía được một điều là cuộc sống không giống trên tivi hay xem.

Trên tivi hằng ngày của đài truyền hình quốc gia, thường chiếu những bộ phim truyền hình mà quang cảnh là các khu đô thị, các chung cư cao tầng ...

đàn ông trong phim là doanh nhân, phụ nữ là hoa hậu.

Nhưng hơn ai hết hắn hiểu 70% dân số nước Việt Nam vẫn làm nông nghiệp.

Ngoài các thành phố lớn thì người dân miền quê hàng ngày vẫn phải lo ngày mai ra đồng cấy cho kịp thời vụ?

Hắn ứa nước mắt khi nghe kể về khoản vay ưu đãi 5 triệu đồng của một người dân quê qua 20 năm không trả được.

Chính vì vậy, Bách đi học làm kỹ sư nông nghiệp.

Hắn hiểu, chỉ giúp một hộ gia đình nông thôn có thêm 1 triệu đồng một tháng là hắn đã giúp thêm một đứa trẻ có miếng thịt trong đĩa thức ăn.

Vậy mà bây giờ, bao nhiêu hoài bão ấy bỗng chốc trở nên xa vời ...

"Mình đang ở đâu thế này?

Liệu có bao giờ được gặp lại bố mẹ hay không?"

Hai hàng lệ nóng bỗng chốc rơi trên khuôn mặt Bách.

Hắn thất thần một lúc thì ở phía sau, ông lão bỗng đi đến bên hắn.

Ông lão thấy hắn như vậy quan tâm hỏi :

- Cháu sao thế?

Bách nhìn ông lão, lại nhìn về phía miệng giếng.

Rút cục hỏi:

- Bác có thể cho cháu biết bây giờ là thời đại nào không?

Ông lão từ tốn:

- Giờ là năm Thiệu Long thứ 3, Thái thượng hoàng vừa nhường ngôi cho đức Hoàng thượng hai năm trước.

Bách có mẹ là giáo viên dạy lịch sử nên thường được nghe bà giảng giải từ bé.

Tuy nhiên, như bao nhiêu người Việt cùng thời đại, Bách tự thấy mình hiểu biết khá ít ỏi về lịch sử nước nhà.

Điều này đến từ nhiều nguyên nhân.

Đầu tiên, phải kể đến nguồn tư liệu lịch sử của nước ta rất ít.

Sau khi tiêu diệt được nhà Hồ (năm 1407), hoàng đế Trung Quốc là Minh Thành Tổ đã ra lệnh cho quân Minh thu thập, tiêu hủy hoặc chở về Trung Quốc hầu hết các ghi chép lịch sử của Việt Nam.

Thứ hai, là về bất đồng trong chữ viết.

Để thoát ly sự Bắc thuộc các tác giả như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ 18 và sau đó thế kỷ 19 như Lê Quý Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát ...

đã cố gắng sử dụng chữ Nôm vào các ghi chép để thay thế chữ Nho (chữ Hán).

Nhưng về bản chất, chữ Nôm vẫn chỉ là một cải biên của chữ Hán.

Đỉnh cao của văn bản chữ Nôm là Truyện Kiều nhưng có thể thấy nếu bất kỳ người Việt nào đọc Truyện Kiều mà không có chú giải thì cũng chỉ hiểu được 70% ý nghĩa.

Đến khi người người phương Tây vào Việt Nam, để phục vụ cho việc truyền giáo họ sáng tạo ra chữ quốc ngữ mà chúng ta dùng ngày nay.

Do tính khoa học, tiện dụng và cũng để tiếp cận văn minh thế giới dễ dàng hơn, nhà nước Việt Nam đã sử dụng chữ quốc ngữ làm tiêu chuẩn.

Điều này theo lời các lãnh đạo là trăm lợi không hại nhưng suy cho cùng cũng để lại một di chứng: 99% người Việt không hiểu được tổ tiên mình viết cái gì?

Bách đang thấm thía điều này.

Trong lòng hắn vọng lên câu hỏi: "Năm Thiệu Long thứ 3 là cái quái gì vậy?".

Rốt cuộc đành hỏi tiếp:

- Đức Hoàng thượng hiện nay tên là gì hả bác?

Ông lão thảng thốt nhìn xung quanh:

- Sao cháu lại hỏi vậy, tên huý của ngài há phải chuyện chúng ta bàn luận.

Nếu chỗ đông người mà hỏi vậy là phải tội chém đấy cháu ạ?

Bách lè lưỡi, có ý giải thích:

- Cháu là đứa từ miền xa lạc tới đây, quả thật với thế sự không được hiểu biết.

Xin bác tha thứ.

Ông lão tỏ vẻ thông cảm, cúi đầu xuống thấp:

- Thôi chỉ có hai hai người.

Ta nói cho cháu nghe thế này: Đức Hoàng thượng Tên húy là Hoảng, con trưởng dòng đích của Thái Tông.

Năm Nguyên Phong thứ 6 nước ta đại thắng Quân Nguyên, Thái thượng hoàng truyền ngôi cho ngài và cải niên hiệu là Thiệu Long, cháu phải nhớ cho kỹ.

Nói đến đây là dù là không tinh tường lịch sử, Bách cũng hiểu mình có lẽ đã lạc về triều Trần.

Đại khái là vào khoảng đầu đời Trần, thời vua Trần Thánh Tông, lúc vừa Đại thắng quân Nguyên Mông lần đầu tiên.

Hắn chợt nhớ trong điện thoại có bản điện tử của sách Đại việt sử ký toàn thư mà mẹ hắn nhờ gửi tài liệu cho một người bạn.

Lơ mơ nghĩ đến điện thoại, hắn nhớ ngay ra lúc rơi xuống giếng, chẳng phải mình có mang cả ba-lô và theo hay sao?

Toàn bộ đồ đạc của hắn trong đang ở đâu?

Bách dáo dác nhìn quanh nhưng không thấy.

Hắn cũng không muốn lão nhân biết bí mật của mình, vì thế không hỏi nữa, định lúc sau sẽ quay lại tìm kiếm.

Lão nhân nhìn bộ dạng hắn đã bình tĩnh lại.

Lúc này mới nói:

- Thôi bác cháu ta lên nhà uống nước đã.

Có gì thì nói chuyện sau nhé.

Ta thấy cháu không được khoẻ.

Bách cúi đầu đồng ý.

Lững thững theo ông lão về lại cái lán.

Hai người vào lán rồi ngồi lên chõng tre bên trong.

Bách áy náy:

- Cháu xin lỗi vì đường đột quá, từ nãy giờ chưa biết tên bác để tiện xưng hô.

Ông lão cười mỉm, đáp lại:

- Ta là là Đinh Bản, là thủ từ của đền này.

Coi sóc việc hương khói của đền đã được nhiều năm.

Còn cháu?

- Cháu là Hoàng Bách, người ở miền xa đến.

Cháu năm nay 35 tuổi.

Lão hán nhìn Bách nghi hoặc, lắc đầu rồi nói:

- 35 tuổi sao?

Lão không tin đâu.

Bách tỏ vẻ hơi giận.

"Sao lại thể nhỉ?

Hình như lão ngờ ta nói dối".

Ông lão thấy thái độ này thì tiếp lời:

- Trẻ con trốn nhà đi chơi là chuyện thường, sao phải khổ sở nói dối làm gì?

Cháu ra sau nhà múc chậu nước, rửa mặt cho tỉnh táo, ta không làm gì cháu đâu mà sợ.

Niên hiệu thời Trần Thánh Tông tức năm 1258
 
Đông A Nông Sự
Chương 3: Toán học vấn đáp


Bách nghe ông lão nói thế, cũng ra sau nhà, múc nước từ chum vào chậu gỗ để rửa mặt.

Trong lòng hắn cũng thấy ngày hôm này có quá nhiều truyện, cần thanh tỉnh lại đầu óc.

Bách chợt nhìn vào chậu nước, bóng nước long lanh phản chiếu một khuôn mặt.

Khuôn mặt này làm sao hắn quên được, chính là hắn khi còn niên thiếu.

"Sao lạ vậy?".

Bách tự hỏi.

Có lẽ khi xuyên qua cái giếng hắn đã bị tác động nào đó làm cho trẻ lại.

Hắn chán nản vốc nước lên mặt.

Nước lạnh mùa mới ra xuân làm cho hắn tỉnh táo.

Bách quyết định phải bịa ra thân thế mới cho mình.

Bước ra gian phòng, Bách đổi cách xưng hô và xin lỗi ông lão:

- Xin lỗi ông, cháu năm nay 15 tuổi nhưng không phải trốn nhà đi, cha mẹ cháu đã mất từ lâu rồi.

Cháu được sư phụ nhặt nuôi từ bé, mang lên miền sơn cước dạy dỗ.

Năm nay lão nhân gia nói sắp vân du tứ hải, đuổi cháu xuất sơn, tìm hiểu truyện thiện hạ.

Ông lão hài lóng, vuốt vuôt chòm râu:

- Vậy sư phụ cháu là ai?

Bách tỏ vẻ ái ngại, hồi lâu mới đáp:

- Xin ông thứ lỗi, chuyện của sư phụ, khi có dịp cháu sẽ xin thưa lại!

Ông lão hiền từ, tỏ vẻ quan tâm:

- Vậy ta cũng không ép, từ sáng cháu đã ăn uống gì chưa?

- Thưa ông, cháu cũng chưa ăn uống gì.

Bách trả lời rồi cũng mới nhớ, mình đã cồn cào ruột gan, chỉ là sau khi tỉnh lại, chuyện quái sự liên tiếp diễn ra làm Bách quên đi cơn đói.

- Vậy chờ một chút, cháu gái ta lên đây sẽ mang theo cơm, chúng ta cùng ăn nhé.

Bách cùng ông lão ngồi trên chõng chờ đợi khoảng nửa tiếng thì một cô bé ước chừng 12, 13 tuổi xách giỏ cơm từ chân núi đi lên.

Chưa thấy người mà đã thấy tiếng hát líu lo:

"Tám người chân kiệu bước vào

Tay lót khăn đào, rước lấy vua lên

Vua lên thánh đức trị vì

Vua về nghe hát mừng làng sống lâu"

Cô bé lên đến nơi thấy nhà có khách, rất lễ phép khoanh tay chào Bách, sau đó quay sang chào ông rồi dọn cơm trong giỏ ra.

Lúc này Bách mới quan sát kỹ cô bé thì thấy cô bé gầy nhỏ, đôi mắt rất sáng, loé lên nét tinh nghịch, hai tay đeo hai cái chuông bạc.

Lão nhân giới thiệu:

- Con bé tên Đinh Đang, cái tên quê kệch, xin cậu đừng cười, là cháu nội của ta.

Nhà lão ở dưới chân núi nhưng các hương thân giao cho làm thủ từ nên ở trên lán này coi sóc việc hương khói cho các Vua.

Cháu gái thường phải mang cơm lên cho ta.

- Hôm nay không có chuẩn bị trước nên chắc sẽ thiếu cơm, nhưng cậu cứ ăn tự nhiên, lão người già sức yếu, ăn uống không được như thanh niên.

Bách xua tay:

- Không sao ông ạ! cháu cũng không biết làm khách.

Bữa cơm rất đơn giản, chỉ có canh rau, cà muối và một bát cá kho tương.

Cũng may Đinh Đang mang khá nhiều cơm.

Bách ăn liền ba bát mới ngửng đầu lên thì thấy hai ông cháu Đinh lão nhìn nhau cười.

Đinh Đang thỏ thẻ:

- Anh ăn có ngon không?

Cơm canh đạm bạc anh đừng chê nhé.

Bách theo thói trả treo của thanh niên hiện đại, đáp một câu nịnh đầm.

- Không nói ngoa thì đây là bữa cơm ngon nhất mà anh từng ăn đấy!

Cô gái thôn quê đã bao giờ nghe những lời như thế, đôi má ửng đỏ, cúi mặt lí nhí:

- Em đi hãm một siêu nước vối, để ông và anh uống?

Nói rồi đi ra sau lán.

Cơm nước xong thì Đinh Đang cũng mang lên một siêu nước.

Lão Đinh rót cho Bách một chén rồi tiếp chuyện:

- Lão thấy cậu có dáng thư sinh, tay chân mảnh khảnh, nhất định không phải con nhà nông rồi.

Hơn nữa câu tóc tai, ăn mặc kỳ lạ, ta chưa thấy bao giờ.

Chả hay cậu có biết chữ hay không?

Bách nhanh nhảu:

- Cháu biết chứ ...

Lời chưa đến miệng thì chợt nhận ra khi học ở Trung Quốc mình chỉ học giao tiếp tiếng Trung, chữ viết thì học chữ Giản Thể.

Không biết người thời này dùng kiểu chữ gì.

Vội sửa lại:

- Nhưng cháu học ký hiệu của sự phụ dạy, không phải văn tự thường ông ạ.

Ông lão với tay lên tủ sách nhỏ, lấy ra một quyển, đưa cho Bách:

- Cháu có hiểu được sách này ghi chép những gì không.

Bách cầm quyền sách, lật giở vài trang thì chịu chết.

Đành nói với lão:

- Cháu biết một số chữ nhưng không đọc được toàn văn.

- Vậy cháu theo sự phụ học được những gì?

- Sư phụ cháu nói văn tự trên đời chẳng qua là quy định của một nhóm người với nhau, thực chất là các ký hiệu.

Lão nhân gia dặn: văn tự thì đến đâu học đấy là được, chỉ có thuật tính toán, thuật nông nghiệp, phép làm cho cây trồng gia súc sinh trưởng ... gọi chung là Bác vật học thì mới là những thuật cần thiết cho dân sinh, hơn trăm lần thú tầm chương trích cú của bọn nho sinh.

Ông lão nghe xong, trong lòng cũng sửng sốt, không tin một đứa trẻ 15 tuổi lại nói ra những lời như thế này.

Lại định thử thách hắn một phen, bèn nhíu mày hỏi:

- Nếu cháu đã được sư phụ dạy về thuật tính toán.

Ta có một vấn đề muốn hỏi cháu.

Nghe cho kỹ: Nay có 5 quan 5 tiền, chia cho 110 người thì mỗi người nhận được bao nhiêu văn?

Bách đáp:

- Ông cho hỏi 1 quan bằng bao nhiêu tiền.

1 tiền bằng bao nhiêu văn?

- 1 Quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 70 văn.

- Vậy mỗi người được 35 văn tiền ông ạ.

Ông lão sửng sốt, bài toán này không khó nhưng ở thời đại này, một đứa trẻ 15 có thể trong nửa khắc tính ra đáp số là điều không dễ.

Lão Đinh tiếp tục thử:

- Ta lại có 1 đề toán, nó cũng làm khó ta bấy lâu nay.

Nếu cháu giải đáp được thì lão sẽ dạy chữ cho cháu.

Bách nghe thế thì mặt mày rạng rỡ.

Đồng ý với ông lão.

Lão Đinh bắt đầu ngâm:

"Vừa gà vừa chó

Bó lại cho tròn

Ba mươi sáu con

Một trăm chân chẵn

Hỏi mấy gà, mấy chó?"

Bách nghe xong thì ngẩn người, đây là một bài toán hắn giải từ khi còn tiểu học, đố cái này không phải sỉ nhục trí tuệ một tiễn sĩ như hắn đấy chứ?

Bách lại chợt nhớ ra, trình độ toán học của người xưa rất thô sơ, tuy nói từ xa xưa đã có những nghi vấn về nền văn minh cổ đại có trình độ toán học cao siêu nhưng vẫn chưa ái chứng minh được.

Hoạ hoằn chăng những kiến thứct toán học này lưu truyền trong một bộ phận tầng lớp quý tộc, còn đa số người dân thì biết chữ cũng đã là lông phượng sừng lân rồi.

Bách nhẹ nhàng tiếp:

- Bài này gà 22 con, chó 14 con.

Lão Đinh như chết lặng, đây là nan đề lão gặp phải trong quá trình học toán để buôn bán và làm thủ tử trong Đền.

Nghề thủ từ của lão thật lắm gian truân, cần biết chữ viết sớ, cũng cần tinh thông sổ sách để tính toán các khoản ra vào cửa Đền.

Đôi khi lên đến hàng trăm mục.

Lão Đinh là người uyên bác nhất vùng, khi xưa có duyên được một cao nhân dạy bảo, lão vốn cũng là người thông minh đĩnh ngộ, học một hiểu mười nên mới học được tám chín phần kiến thức của thầy.

Nhưng lão là người không may mắn, thời niên thiếu ốm đau liên miên, đỗ tú tài rồi nhưng không đi thi được, đấy là ân hận lớn nhất đời lão.

Lão chuyển sang nghề buôn bán, nhờ tài toán học mà đạt được thành công, xây dựng gia nghiệp lớn tại vùng này.

Lão Đinh vốn biết đáp số bài này, nhưng làm thế nào để tính ra thì không sao hiểu được.

Lão cũng ngờ Bách biết trước đáp số nên truy vấn tiếp?

- Làm sao tính ra được như thế.

Bách cười dài:

- Cháu có cách tính tổng quát có thể giải tất cả bài toán dạng này, nhưng để giải cho dễ hiểu thì cháu xin hỏi Đinh Đang thế này.

Hắn quay sang chỗ Đinh Đang đang tò mò nhìn hai người:

- Nếu em bắt tất cả con chó đặt hai chân trước lên trên ghế thì tổng số chân dưới đất sẽ là bao nhiêu?

Đinh Đang suy nghĩ một chút rồi nói:

- Nếu bắt tất cả con chó đặt hai chân trước lên trên ghế thì tổng số chân dưới đất sẽ là 36 nhân 2 bằng 72 chân.

- Vậy số chân đặt trên ghế bằng bao nhiêu?

- Bằng 100 trừ 72 chân tức là 28 chân.

Đến đây cô bé như reo lên:

- Em hiểu rồi!

Số chân trên ghế là của bọn chó.

Vậy bọn chó sẽ là 14 con, còn bọn gà là 22 con.

Lão Đinh thấy vậy, ngẫm nghĩ một lúc rồi thở dài:

- Có lẽ sư phụ cháu là một cao nhân lánh đời, trình độ hơn ta nhiều lắm.

Ta và cháu coi như có duyên, gặp cháu khi cháu vừa mới xuất sơn, vậy thì ở lại cùng ta trông đền.

Ta sẽ dốc lòng truyền thụ chữ nghĩa cho.

Bách thầm kêu may mắn, hắn mới đến thế giới này, vạn sự chưa thông.

Tuy tự tin là có chân có tay, không thể chết đói được, nhưng quả thật nếu bơ vơ mà nhập thế thì khéo cũng phải cùng cực một thời gian.

Bách nhìn ông cụ và Đinh Đang, bụng nghĩ: "Lòng hiếu khách của dân tộc Việt, từ ngàn xưa vẫn thế, quả không hề thay đổi"

Bách cúi đầu chắp tay trước Đinh lão:

- Bách này không biết nói gì hơn, chỉ xin ghi tạc vào lòng ơn nghĩa của ngài.

Mai này nếu làm nên công nghiệp, xin được đãi ngài như bậc á phụ của Bách.

Lời bài hát Xoan: Mời Vua
 
Đông A Nông Sự
Chương 4: Học chữ


Chiều xuống, Bách nhân lúc Đinh lão vào đền.

Chạy xuống chỗ cái giếng tìm kiếm, nhưng tuyệt nhiên không thấy cái ba-lô đâu.

Lòng thầm lo lắng rồi thất vọng.

Có lẽ khi xuyên qua cái giếng, ba-lô đã thất lạc mà không đến cùng với hắn.

Đang thất thần thì con chó Đại hoàng đi tới, cắn vào chân hắn rồi kéo đi, ra chiều bảo hắn đi theo.

Con chó dắt Bách theo một lối quanh co, đi vòng xuống dưới khoảng 2 chục mét thì thấy cái ba-lô trong một khe đá.

Bách mừng rỡ kiểm tra ba-lô thì thấy vẫn còn nguyên vẹn, cũng không có dấu hiệu ngấm nước, y như hắn khi nãy, quần áo vẫn không hề ẩm ướt.

Bách xoa đầu Đại hoàng, cù vào nách nó cảm ơn.

Con chó nhỏ vui mừng ngoáy tít đuôi, lăng xăng chạy xung quanh người hắn.

Trong ba-lô còn đầy đủ bộ đồ nghề sinh tồn mà hắn hay mang theo: cái xẻng công binh, con dao, đánh lửa ... ngoài ra là số mẫu cây trồng mà sinh viên thu thập được.

Hắn thầm kêu may mắn vì điện thoại của hắn còn chạy tốt, chỉ là không có tín hiệu sóng, quả pin dự phòng sạc bằng năng lượng mặt trời vẫn còn đây, có lẽ hắn cũng sẽ dùng được cái điện thoại trong vòng một hai năm tới.

Bách tháo đồng hồ thể thao trên tay, cất vào ba-lô.

Cái đồng hồ này hiện nay chạy không còn đúng nữa, báo giờ là nửa đêm.

Hắn lại giấu lại cái ba-lô vào khe đá, chỉ cầm theo con dao nhỏ của mình.

Bách về lại lán thì thấy ông cụ đã xong việc, đang ngồi trên chõng tre têm trầu.

Ăn trầu là phong tục cổ của người Việt.

Cả nam cả nữ ai cũng ăn.

Người Việt xưa ngoài ăn trầu vì yêu thích thì còn để phòng bệnh.

Các sách cổ cho rằng ăn trầu là để chống cái khí lạnh của thời tiết nồm ẩm.

Từ đó mà thành lệ, đến nhà mời trà mời trầu là việc không thể thiếu được.

Lão Đinh sắp xếp cho Bách ở ngoài lán tre, còn ông cụ thì vào gian ngoài của Đền để ngủ.

Bách từ nhỏ đã sống ở quê nên vốn cũng không phải người có yêu cầu cao trong sinh hoạt nhưng hắn cũng thầm cảm thán.

Điều kiện vệ sinh con người thời nay quá sức kém, không bằng một phần nhỏ khi so sánh với vùng sâu vùng xa trong thời hiện đại.

Hơn nữa những thói quen vệ sinh tốt chưa phổ biến, con người tuỳ tiện với thiên nhiên.

Lão Đinh và Bách ngồi trong ánh đèn dầu tù mù, Bách cũng không biết đèn thắp bằng thứ dầu gì.

Đinh lão nói:

- Người thôn quê, sáng giờ Dần 4 khắc là dậy, ra đồng làm đến giờ Thìn, chiều giờ Mùi ra đồng làm đến giờ Thân.

Về nhà nghỉ ngơi rồi đi ngủ.

Cháu ở cùng ông cũng nên làm như thế.

Sáng dậy từ giờ Dần, quét tước Đền miếu cho chỉn chu, Giờ Mão bắt đầu học bài, học đến giờ Tỵ thì nghỉ, chiều bắt đầu từ giờ Thân rồi coi sóc một lượt trong ngoài, chuyện cơm nước thì không cần lo, Đinh Đang sẽ quán xuyến việc ấy.

Bách ngô nghê hỏi:

- Sao cần ra đồng sơm thế hả ông?

Lão Đinh cười:

- Điều này từ hai lý do.

Một là do xứ ta nóng bức, ra đồng sớm thì không bị nắng gắt.

- Hai là do điều kiện, nông dân nghèo phải mua chung trâu, thường là họ chỉ có một móng trâu, thậm chí là nửa móng.

Trâu có bốn chân tám móng, có nửa móng trâu nghĩa là 16 nhà chung một con, có một móng trâu tức là tám nhà chung một con.

- Như vậy phải sau tám ngày, hay 16 ngày mới tới lượt nhà mình cày, nên người ta dậy rất sớm và cày cả ngày mới xong phần ruộng của mình.

- Cháu không hiểu, tiền triều thời Cao Tông, Huệ Tông dân khổ không sao kể xiết.

Chỉ sang đời Thái tông nhà Trần, chính lệnh được lập lại nên dân mới có trâu mà đi cày đấy cháu ạ.

Nghe vậy, Bách chắp tay xin thụ giáo.

Đêm xuân thời cổ đại thật không gì đẹp bằng.

Đền Hùng lại là đỉnh núi cao nhất cả vùng trung du, tầm nhìn rộng rãi.

Trăng 14 sáng vằng vặc, không có ô nhiễm ánh sáng như thời của hắn.

Đầu xuân, thời tiết về đêm vẫn còn lành lạnh.

Bầu trời vô vàn ánh sao sáng.

Bách như say trong cảnh đẹp, lại nhìn quanh thì thấy sân đền lát gạch có một bộ bàn ghế đá, gọi là bàn ghế thực chất là một Hòn đá to ở giữa, 8 hòn đá nhỏ xung quanh, nhưng dùng trà nước ngắm trăng thì không gì bằng.

Hai ông cháu chuyển ra ngồi ngoài bộ bàn ghế, đạm đạo kim cổ.

Con chó nhỏ Đại hoàng lăng xăng chạy quanh, nó đã bắt đầu thân thiết với Bách, cả ngày bám theo cậu không rời.

Bách là người học rộng hiểu nhiều, lại từng du học ở bên Trung Quốc, chuyện trò thiên biến vạn hoá.

Mẹ hắn dạy lịch sử, ở nhà cũng là người hay chuyện, kể đủ chuyện cho hắn nghe nên kiến thức cũng đủ dùng.

Lão Đinh nghe lấy làm đắc ý lắm, càng kiên định với việc dạy chữ cho hắn.

Duy chỉ thấy người này kiêu ngạo, nhắc đến các bậc tiền nhân thường không hay dùng kính ngữ, cần uốn nắn lại nếu không sẽ là hậu hoạn về sau.

Hai người trò truyện một hồi rồi đi ngủ, Bách nằm trên chõng tre trằn trọc rồi cũng thiếp đi, Đại hoàng mon men lại gần, rúc vào nách hắn.

Sáng hôm sau, lão Đinh đánh thức hắn dậy từ tờ mờ sáng.

Hướng dẫn hắn lau chùi quét tước trong ngoài Đền.

Xong xuôi thì bảo hắn rửa mặt chuẩn bị học.

Lúc này Bách đã đói lắm, từ bữa cơm trưa hôm qua hắn chưa ăn gì.

Bách không dám nói với ông cụ, chỉ đành ngồi nghe cụ dạy bảo.

Thế là hắn bước vào quãng đời học hành với cái bụng cồn cào ...

Lão Đinh ngồi trên chõng, Bách ngồi ghế bên cạnh.

Lão bắt đầu nói:

- Theo phong tục ngày xưa, cha mẹ cho con đi học là học chữ Thánh Hiền, học lễ nghĩa, và đạo đức làm người.

Trước khi cho con đi học với Thầy, người học trò cúng lễ trước bàn thờ tổ tiên, cha mẹ cầu nguyện tổ tiên phù hộ cho con thông minh, học giỏi.

- Phụ huynh cần đem lễ vật, cau, trầu, rượu, hương, đèn, xôi, gà, đến nhà thầy để thầy làm lễ trước bàn thờ Đức Khổng Tử, cáo lạy từ nay ngài có thêm môn sinh mới.

- Nhưng cháu thì đã có cao nhân chỉ dạy, chưa chắc đã theo Nho học, không có ngài đồng ý ta cũng không dám nhận bừa là thầy cháu.

Nay chỉ coi cháu như người thân trong nhà, dạy chữ cho cháu để nhằm đọc được văn tự, không hơn.

Cháu đã hiểu chưa?

Bách cũng đồng ý với cách này:

- Cháu xin vâng lời ông.

- Vậy cháu không cần theo khuôn phép thầy trò, học nhanh biết nhanh.

Có gì nghi vấn có thể hỏi thẳng, biết gì ta sẽ giải đáp.

Những sách Tứ thư, ngũ kinh đều có trong giá sách của ta.

Khi biết chữ cháu có thể tự đọc, ta không dạy.

Chúng ta bắt đầu bằng nhận mặt chữ: Đầu tiên là các nét chữ ....

Bách nghe lão Đinh giảng một hồi thì toát mồ hôi hột, chữ Hán quả là khó học.

Lão Đinh dùng cây tre viết trên nền đất, vừa viết vừa giảng giải cho Bách.

Thật ra chữ Hán có 8 nét cơ bản: ngang, sổ, chấm, hất, phẩy, mác, gập, móc.

Những chữ này có 7 quy tắc viết: Ngang trước sổ sau, Phẩy trước mác sau, Trên trước dưới sau, Trái trước phải sau, Ngoài trước trong sau, Vào trước đóng sau, Giữa trước hai bên sau.

Nhưng từ 8 nét, 7 quy tắc này viết ra vô số chữ.

Chữ đơn giản thì 1, 2 nét.

Chữ phức tạp nhất đến 3, 4 chục nét.

Để học được là điều không dễ.

Song song với dạy chữ, lão Đinh cũng dạy nghĩa của các từ tiếng Hán, may mà Bách đã biết tiếng Trung, những điều lão dạy cũng cơ bản nắm được cả.

Hắn chủ yếu học cách viết các chữ và chuyển thể từ chữ Giản thể sang Phồn thể.

Tuy vậy, sức học của hắn cũng làm cho lão Đinh kinh ngạc.

Cuối buổi sáng, hắn nghỉ ngơi một lúc thì Đinh Đang lại đến.

Hôm qua mới gặp lần đầu, hắn chưa có dịp trò truyện cùng cô bé.

Hôm nay, hai người lân la nói chuyện.

Hắn là người có khiếu ăn nói.

Chả mấy chốc mà làm cho cô bé thân thiết với hắn.

Hôm nay, cô bé mang đến nhiều cơm hơn hôm qua, ngoài cơm canh, cá kho còn mang thêm một nải chuối.

Bách cũng bất chấp thể diện, ăn 5 bát cơm, nửa nải chuối.

Đến trưa nay Đinh Đang mới nói cho hắn biết, người thời nay chỉ ăn một bữa cơm vào buổi trưa.

Nếu có người đi xa mới ăn sớm và nắm cơm nắm mang theo để ăn khi đói.

Bách thấy cuộc sống này thật tệ, nền sản xuất của xã hội này không đủ đáp ứng cho toàn bộ người dân, dinh dưỡng thiếu hụt nghiêm trọng.

Hắn muốn đề xuất với lão Đinh cho xuống núi cùng Đinh Đang để quan sát dân tình, xem có cách nào trợ giúp được không nhưng nghĩ kỹ lại thôi.

Chiều đến hắn lại học bài cùng lão Đinh rồi dọn dẹp quanh Đền.

Cuộc sống cứ thế diễn ra được nửa tháng.

Sách An Nam Chí Lược trích: Khí lam chướng rất độc, nhân dân xứ Lĩnh Nam tìm ra thuốc có ba vị: vôi hàu là vỏ con hàu nấu thành vôi, quét vào lá trầu rồi nhập với miếng cau mà ăn thì trừ hết khí độc, khỏi sốt rét, khi nào có khách tới nhà thì đãi ăn cau trầu.

Theo cách tính cổ, 1 ngày có 12 giờ; 1 giờ = 2 tiếng ngày này = 8 khắc; 1 khắc = 15 phút.
 
Đông A Nông Sự
Chương 5: Đinh gia (1)


Dạo gần đây, lác đác có người lên núi thắp hương, mỗi lúc như vậy.

Lão Đinh lại tất bật trong đền.

Có những nhà phú hộ, lễ lên Đền cũng khá.

Đặc biệt còn nhờ lão Đinh viết sớ thỉnh Đền.

Bách cũng dần nhận ra sự cung kính của mọi người với Lão.

Hắn ở cùng Lão Đinh cũng được thơm lây, thời gian này Đinh Đang cũng mang cho hắn thêm một bộ quần áo.

Tuy mặc vào khá buồn cười nhưng hắn ra dáng một tiểu đồng sai vặt cho lão Đinh.

Chả biết lão Đinh nói gì mà mọi người gọi hắn là Tiểu Bách, nhìn hắn cũng có vẻ khách khí lắm.

Hắn cũng hỏi lão Đinh về các tính ngày giờ hiện tại, từ đó hắn dùng điện thoại di động tính toán chuyển thành lịch dương, rồi chuyển sang 24 tiết khí trong năm.

Là một nhà nông nghiệp, kỹ năng này hắn đã thuần thục từ khi học Đại học.

Hắn thầm cảm ơn thầy dạy khí tượng nông nghiệp của mình, môn này ông dạy hắn rất kỹ, lúc đầu cũng rất bực bội vì ở thời đại của hắn, nông lịch được tính toán sẵn trên máy tính, học kỹ năng này cũng chả giúp được gì.

Bây giờ mới thấy quan trọng.

Thời gian này bố của Đinh Đang là Đinh Bình cũng lên thăm lão Đinh mấy lần.

Đinh Bình là chính là xã trưởng của làng Hy Cương, tuy chỉ là xã trưởng, nhưng trong làng có Đền Hùng nên hắn thường hay tiếp xúc với các quan lớn về việc Đền nên vai vế rất cao.

Lão Đinh cũng cho Bách biết, toàn bộ tỉnh Phú Thọ của hắn thuộc huyện Sơn Vi, Châu Thao Giang, Phủ Tam Giang.

Nhà Trần cướp ngôi nhà Lý, dẹp loạn bọn Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn và Trần Tự Khanh.

Kiểm soát toàn bộ lãnh thổ nhà Lý cũ.

Nhà Trần chia nước thành 12 phủ lộ.

Một phủ lộ có An phủ sư và An phủ phó sứ.

Hiện nay vùng này có thể gọi là biên cương tổ quốc vì lãnh thổ phía Tây nhà Trần chỉ đến Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La trước đây là nước Đại Lý.

Tuy nhiên năm 1253 đã mất về tay người Nguyên.

Phía Nam chỉ đến Hà Tĩnh, còn phía Bắc thì tỉnh Hà Giang vẫn còn thuộc Đại Tống.

Hôm nay, hắn xin phép lão Đinh cho xuống núi cùng Đinh Đang.

Hắn cũng muốn tham quan thế giới này.

Qua nửa tháng, hắn cũng dần chấp nhận thực tế rằng sẽ khó có cơ hội để được trở lại thế giới cũ.

Vậy thì chi bằng cứ sống một cuộc đời mới, vui vẻ mà sống.

Đại hoàng vui lắm, con chó chạy lăng xăng phía trước Đinh Đang, gầm gừ đuổi theo một con bướm, lại doạ mấy con sóc nhỏ nhảy lên cây.

Đi được một lúc thì cặp theo một con rắn chạy lại làm Bách hết hồn.

Đinh Đang cười vang khen nó giỏi nhưng bắt nó nhả con rắn và vứt xuống sườn đồi.

Nhà Đinh Đang cách chân núi không xa, chính là xóm Thậm Thình dưới chân Đền Hùng.

Theo tương truyền thì nơi đây đất đai bằng phẳng Vua Hùng lập Tổng Minh Nông chuyên ruộng đồng.

Vua dạy dân trồng cấy lúa, trồng dâu dệt vải tại đây.

Xóm nhỏ ven núi được giao nhiệm vụ xay giã gạo, lập kho cất giữ lương thực để nuôi quân.

Tiếng chày vang vọng thậm thình ấy trở thành tên gọi của vùng đất cổ.

Thời Văn Lang, Thậm Thình còn là nơi nghỉ ngơi của các quân tướng, tộc trưởng khắp nơi về chờ chầu Vua.

Từ ấy nơi đây đã trở thành trung tâm nhộn nhịp mua bán, trao đổi lương thực, thực phẩm và nông cụ của cả vùng.

Đến đời Trần, Thậm Thình vẫn giữ được vị thế của nó.

Nhà Đinh Đang là gia đình có vai vế trong làng, lại mở một thương đội lớn nên gia tộc bề thế.

Bách đi đến cổng làng đã thấy cô bé như chú chim nhỏ, ai cũng yêu quý, chào hỏi.

Đi một lúc thì thấy một ngôi nhà lớn, nằm trên lộ chính của Làng.

Cổng nhà theo lối cổng gỗ kẻ truyền, trước cổng có một đôi chó đá.

Bước qua cổng lớn của nhà là một khoảng sân rộng.

Lúc này khoảng sân tấp nập khoảng 2, 3 chục người đang trao đổi hàng hoá.

Bách thấy lạ nhưng chưa dám hỏi Linh Đang.

Cô bé dẫn Bách vào sảnh lớn của nhà, chỗ này dùng để gia đình tiếp khách, khí thế rất lớn.

Giữa gian phòng có một tấm hoành phi đề ba chữ Phúc Thịnh Đường.

Lúc này Đinh Bình đang ngồi ghế chủ nhà, tiếp một số bạn hàng phương xa ăn trầu uống trà.

Thấy Đinh Đang dẫn Bách đi vào.

Đinh Bình cười giới thiệu với nam nhân bên phải mình:

- Mã huynh, đây là Hoàng Bách, vừa rồi cha ta nhận làm đệ tử, giữ lại bên mình để dạy bảo.

Rồi quay sang bảo Bách:

- Tiểu đệ mau chào anh Mã.

Anh Mã là bạn hàng của nhà ta.

Nguyên do khi lên núi, Đinh Bản có nói về việc nhận dạy học cho Bách.

Đinh Bình thấy cha yêu quý đứa trẻ, tuy trong lòng cũng có thắc mắc nhưng cũng đối xử với Bách như hậu bối trong nhà.

Vì Đinh Bản không nói rõ khúc chiết trong việc dạy học cho Bách nên Đinh Bình coi đây là đệ tử của cha.

Theo lệ cũ thì coi như cùng bối phận với mình.

Bách thấy nam nhân kia trạc 40 tuổi, hình dáng bệ vệ, mắt như diều hầu.

Hắn lúc này hình dáng thì như đứa trẻ 15 tuổi, nhưng tâm trí thì cũng là người đã 35, nên xưng hô cũng không ngượng nghịu, chắp tay nói:

- Gặp qua Mã huynh.

Mã Quốc An nhìn qua đứa trẻ chỉ trạc 15 mà ăn nói đĩnh đạc, gặp người lạ không mất bình tĩnh, thái độ hờ hững, cũng cười nói:

- Cao đồ của Đinh lão quả khác người.

Sau này sẽ là bậc tuấn kiệt.

Hai người chào hỏi xong thì Bách cũng xin phép vào trong, hắn chưa hiểu chuyện xã hội này nên cũng không muốn dây dưa, để từ từ tìm hiểu.

Đinh Đang dẫn hắn ra sau nhà, vốn đây mới là khu sinh hoạt chính của gia đình, được ngăn cách bởi một tường viện.

Khu ngoại gia kia dành cho gia đình buôn bán, giao tiếp.

Nội viện của gia đình cũng có một sân rộng, xây theo lối tứ hợp viện của người Trung Quốc.

Giữa sân có một cây khế lớn, các gian phòng nối tiếp nhau bằng các hành lang.

Ở đây không chỉ có một gia đình, vợ lão Đinh sinh cho lão ba con trai, 2 con gái thì mất.

Con gái đã đi lấy chồng, con gái nhỏ thì đang ở Kinh Thành.

Các con trai của lão thì đều ở trong nhà này.

Đinh Bình là xã trưởng, tuy chỉ là chức tước nhỏ, chuyên vác tù và hàng tổng nhưng cũng bận bịu.

Lão nhị Đinh Sức lo toan việc buôn bán của thương đội còn lão tam Đinh Hạo thường theo thương đoàn đi khắp nơi rất ít ở nhà.

Một nhà hơn chục người và một lũ nhóc.

Đinh Đang chính là Đại tiểu thư của nhà này, trên cô bé còn có một anh cả lớn hơn, các em thì có đến chục người.

Đinh Đang dẫn Bách đi giới thiệu với mẹ và các thím một lượt, lại đưa Bách đến chỗ anh trai và các em.

Do đã được Đinh Bình nói trước, người trong nhà cũng biết gia chủ có nhận một đệ tử.

Tuy chỉ là nhà buôn bán, nhưng họ Đinh lập nghiệp được là do tài năng của Đinh Lão.

Vị thế trong nhà của lão là không phải bàn cãi.

Tuy lão không quản việc nhà đã lâu nhưng lời lão nói không ai được có ý kiến.

Mọi người thấy Bách được lão nhận làm đệ tử thì cũng coi hắn như chú út, cùng hàng với Đinh Bình.

Mẹ và các thím của Đinh Đang đều gọi hắn là em.

Các cháu thì có vẻ lạ lẫm với ông chú chỉ trạc tuổi mình mà lại tự dưng xuất hiện này.

Đinh Đang thu dọn cho hắn một phòng riêng bên cạnh phòng anh trai cô bé.

Thanh niên này tên là Đinh Nhu, là cháu đích tôn của Đinh lão.

Nhiều hơn Bách 5 tuổi.

Cậu bé đã 20 tuổi nhìn thúc thúc từ đâu xuất hiện này cũng có vẻ không vui lắm, chỉ chào một tiếng rồi đi.

Bách cũng hiểu tâm lý thanh niên, nhìn hắn người không như tên, cao khoảng mét tám, hình như cũng là người luyện võ, thân hình vạm vỡ.

Trong nhà thì ngoài cha chú ra, hắn chính là đại thiếu gia.

Làng cổ từ đời Hùng Vương

Một kiểu cồng nhà cổ Việt Nam
 
Đông A Nông Sự
Chương 6: Đinh gia (2)


Sắp xếp xong thì hắn đề nghị Đinh Đang cứ làm việc của mình.

Hắn muốn tự đi tìm hiểu trong ngoài ngôi làng.

Vừa bước ra ngoại viện thì thấy có tiếng xôn xao.

Lúc này mấy chục người vẫn tập trung ở sân trước nhà, nhưng công việc bốc xếp đã dừng lại, thay vào đó là tiếng cãi cọ nhau.

Bách lắng nghe một hồi thì mới vỡ lẽ, việc cãi cọ này là do không thống nhất trong phương thức thanh toán.

Nhà họ Đinh kinh doanh nhiều thứ, nhưng có một mặt hàng là dược liệu đã làm được mấy chục năm.

Nguyên dược liệu của nước ta có một số loại, nhưng vẫn phải nhập rất nhiều từ nhà Tống.

Các thương nhân nhà Tống mang dược liệu sang ta, trao đổi ở biên giới rồi mới nhập về các vùng miền.

Bên nhà Tống 1 lạng bạc đổi được 1000 văn tiền, chúng ta cũng theo lệ ấy, dùng tiền nhà Tống để giao dịch.

Tuy nhiên, dạo gần đây có tin đồn Triều đình sắp đổi tiền và định giá hối đoái theo kiểu mới.

Quan gia có ý định đổi 1 quan sẽ có giá trị khoảng 700 văn.

Tin này đã truyền khắp dân gian.

Nếu thành sự thực dẫn đến tiền của ta sẽ có giá trị cao hơn tiền của nhà Tống.

Hai nhà Đinh – Mã đã giao dịch lâu đời, công nợ rất nhiều, nếu đổi tỷ giá giao dịch thế này rõ ràng bên mua là nhà họ Đinh chịu thiệt ở những khoản nợ tiền hàng trước đây.

Nhà họ Mã đang đôi co về việc này.

Lão nhị Đinh Sức đang cùng chưởng quầy dược liệu nhà họ Đinh đối chứng hàng hoá.

Bên kia nhà họ Mã cũng có một người đang đỏ mặt tía tai:

- Đinh huynh, chúng ta không biết Quan gia có đổi tiền hay không.

Nhưng đã quy định rõ, khoản nợ từ năm ngoái khi nhà huynh nhập dược liệu còn thiếu là 1732 quan.

Bây giờ huynh cứ theo phép hiện nay, đổi cho ta thành tiền đồng để giao dịch.

Tổng cộng là 1732000 văn tiền.

Đinh Sức cũng nói:

- Không được.

Không có lệ nào yêu cầu ta phải trả huynh tiền đồng.

Chúng ta sẽ cố gắng xoay sở nhưng cùng làm chỉ trả 1 thành tiền đồng, hai thành còn lại sẽ trả bằng bạc.

Hai bên cự cãi nhau hồi lâu nhưng không có kết quả.

Trong nhà, Đinh Bình và Mã Quốc An như lường trước được việc này.

Cả hai nhìn nhau, ánh mắt thâm thuý.

Mã Quốc An nói:

- Theo ý Đinh huynh thì nên xử lý việc này thế nào?

Hai nhà chúng ta là bạn hàng lâu năm.

Cũng không thế vì việc này mà không làm ăn với nhau nữa.

Chúng ta cốt là phải tìm ra biện pháp để cùng nhau có lợi.

- Ta cũng nghĩ như huynh.

Nhưng nếu trả tất cả bằng tiền đồng thì một là nhà ta không có đủ.

Hai là, phần lợi chẳng phải về cả Mã gia sao?

Thôi ta lùi một bước, một nửa trả bằng bạc, 1 nửa trả bằng tiền đồng.

Lại chậm rãi nói tiếp:

- Tuy nhiên, khoản nợ 1732 quan kia cũng phải xem lại.

Ta được chưởng quầy báo cáo, công nợ của nhà ta năm ngoái có hai khoản là Bạch truật và Thục địa là lớn nhất, hình như có nhầm lẫn ở đây.

Chưởng quầy tính toán thì chỉ còn nợ 1485 quan.

Chúng ta cần đối chiếu cho rõ.

Mã Quốc An cười mỉm:

- Vậy ta cũng đồng ý với huynh, tuy nhiên về việc đối chiếu, ta rất tự tin.

Chưởng quầy bên ta mới mới về ta cao đồ của danh sĩ bên nhà Tống.

Thuật toán rất cao, không thể nhầm lẫn được.

Năm ngoái ta đã cho hắn tra soát một lượt các khoản công nợ.

Con số 1732 kia chính là hắn báo.

- Vậy cứ theo ý Mã huynh.

Cho chưởng quầy hai nhà làm việc với nhau.

Khi soát ra vấn đề thì không ai được nuốt lời.

Nhầm 1 lạng bạc phải đền 2.

Đinh Bình nói xong thì đi ra ngoài, nhìn đám lộn xộn phía dưới cao giọng:

- Các ngươi yên lặng hết cho ta ...

Đợi phía dưới yên ắng mới tiếp tục:

- Ta và Mã đại gia đã thống nhất được với nhau.

Mời chưởng quầy của Mã huynh và Tiền chưởng quầy vào nhà trên nói chuyện.

Nhị đệ giúp ta kiểm kê và bốc dỡ hàng hoá như thường, tránh trễ nải công việc.

Bách nghe lão nói thế cũng đi lên nhà trên cùng.

Mọi người thấy hắn lên theo gia chủ, thấy thằng nhóc này thất lễ nhưng không dám có ý kiến.

Vào nhà trên, Mã Quốc An nói với người bên cạnh:

- Lão Dương, ngươi cùng với Tiền chưởng quầy nhà họ Đinh cùng nhau tra soát, đối chiếu công nợ hai nhà đến hết năm vừa rồi.

Con số báo lên phải chính xác, nếu có mâu thuẫn mà thống nhất được với nhau thì thôi, không thế thống nhất được thì báo cáo lại.

Công việc này các ngươi làm khoảng hết bao nhiêu thời gian?

Lão chường quầy họ Dương hé mắt với Lão Mã.

Cười khẩy trả lời.

- Thưa lão gia, tại hạ thì không có vấn đề gì.

Các khoản đã tính toán chính xác, chỉ e Tiền lão huynh đây thôi.

Tiền lão bàn nghe vậy thì thầm tức giận.

Hắn cũng làm chưởng quầy dược liệu cho nhà họ Đinh bao năm.

Cũng đã tra soát những khoản này vài lần.

Tự tin là không thể sai sót.

Nếu có nhẫm cũng chỉ vài quan, sao lại có con số sai sót lớn như Đinh Bình nói.

- Vậy ta cùng Dương huynh vào phòng sổ sách, tranh thủ làm sớm xong sớm cho gia chủ hai nhà còn nghỉ ngơi.

Bách cũng thấy hứng thú với công việc này, nói với Đinh Bình:

- Đệ đi theo xem có được không?

- Nếu có hứng thú thì thì cứ vào xem, nhưng phải yên lặng để hai chưởng quầy làm việc.

Vào đến nơi, Bách thấy một gian phòng với bàn và nhiều giấy tờ, văn phòng tứ bảo đầy đủ cả.

Tuy thời này còn khó khăn, nhưng giấy viết cũng được phát minh từ lâu.

Tuy đắt đỏ nhưng những nhà thư hương lớn vẫn đủ dùng.

Hắn thấy trên bàn còn có bàn tính Trung Quốc kiểu cổ.

Thầm đoán việc sai sót có thể đến từ đây.

Cách tính bằng bàn tính tương đối thủ công, các kết quả được ghi nhớ sau mỗi phép tính rất có hạn.

Ngoài ra, người xưa để ghi được một số là cả một hàng chữ dài.

Giấy viết và bút viết lại đắt đỏ nên họ ghi chép rất hạn chế.

Chỉ những tổng lớn quan trọng thì mới ghi chép, còn lại thì chỉ nhớ trên bàn tính.

Bách đã hiểu ra cuộc cá cược của lão Mã và Lão Đinh.

Người xưa làm buôn bán mà không có chưởng quầy giỏi thì đúng là một thiệt thòi lớn.

Chính vì vậy phải lấy khoản đền bù lớn để làm cá cược.

Thực chất đây là so năng lực tính toán của hai thương đoàn.

Cũng từ đấy mà lấy cái tư thái bề trên đi buôn bán.

Bách xem hai người tính toán một hồi.

Lấy bút ngồi ra một góc tính toán trên mảnh giấy nhỏ.

Hai người kia tính xong khoản nào, vứt chứng từ sang một bên thì hắn lấy đối chiếu lại.

Cứ thoáng chốc lại thấy hai người to tiếng.

Nhưng xem chừng tiếng tranh luận của lão Tiền ngày càng bé.

Dương lão bản như nắm được từng khoản, biện luận đâu ra đấy, miệng cười ruồi tranh luận cùng lão Tiền.

Được hồi lâu, hắn nói:

- Sao hả lão Tiền, như vậy tính ra có phải công nợ năm ngoái của nhà các người là 1732 quan hay không?

Ta tính không sai chứ?

Nhà các ngươi tính ra 1485 quan như vậy làm thiệt của đối tác 247 quan, theo lý ở trên thì cần bù 494 quan, tổng cộng 2226 quan.

Nhà các ngươi trả 1113 lượng bạc và 1113000 văn tiền đồng là chúng ta kết toán.

Lão Tiền nghe vậy thì choáng váng.

Buôn bán cả năm trời, lời lãi bao nhiêu không biết nhưng hắn làm gia chủ thiệt hại một lúc gần 500 quan.

Phải biết bổng lộc của quan nhất phẩm đương triều hiện nay cũng chỉ là 600 quan, hắn có ý nghĩ muốn tự sát ngay tại chỗ.

Các vua nhà Trần từ 1250 – 1277 định thiên hạ phải gọi vua là Quốc gia, nhưng nghe ngang quá nên xin đổi là Quan gia theo cách gọi sau năm 1277

Ví dụ: số 1732 ký hiệu la mã thì phải viết: một ngàn bảy trăm hai mươi ba
 
Đông A Nông Sự
Chương 7: Kế toán (1)


Lúc này tiếng nói của Dương chưởng quầy đã bay ra nhà ngoài.

Nhà họ Đinh mặt ai cũng biến sắc.

Lão nhị Đinh Sức mặt đã nhăn như quả táo tàu.

Hắn là người thực thà, tuy lo việc buôn bán nhưng chỉ như tay sai chỉ đâu đánh đấy, việc lớn đều do Đinh Bình quyết đoán cả.

Thấy sự việc như vậy thì bối rối quay sang nhìn đại huynh.

Đinh Bình tỏ ra bình tĩnh hỏi lão Tiền:

- Có đúng như lời Dương chưởng quầy nói không?

Lão Tiền bối rối:

- Thưa lão gia, lão nô tính giá trị 3 quan 2 một cân Sinh địa.

Nhưng nhầm lẫn vì Mã gia giao cho chúng ta lại là Thục địa, giá trị cao hơn.

Khi đối chiếu bảng giá thì quả thật nhầm lẫn 1 quan 8 một cân.

Ngoài ra, lão nô còn tính nhầm một số khoản khác.

Lão nô đáng chết, xin Đinh gia trách phạt.

Lão nói xong thì dập đầu như bổ củi.

Đinh Sức nghe thế thì như suy sụp:

- Lão Tiền, sao ngươi lại tắc trách như thế.

Giờ lấy gì ra đền cho Mã gia đây?

Mã Quốc An ngửa mặt cười to:

- Không sao, ta có thể tiếp tục cho nợ, nhưng phải trả theo giá trị tiền đồng nợ năm ngoái thì mới được.

Lại quay sang chỗ Dương chưởng quầy đang đắc ý:

- Lão Dương, làm tốt lắm!

Khoản thưởng năm nay lão sẽ có hai phần.

Lão Dương chắp tay:

- Tạ ơn lão gia ban thưởng.

Đinh Bình yên lặng không nói gì.

Trầm ngâm một lúc không có cách giải quyết nào?

Đang định nhận thua thì Bách đứng ra nói:

- Dương chưởng quầy, tuy đúng là có nhầm lẫn trong việc giao vị Thục địa kia.

Nhưng con số không lớn thế đâu.

Tổng các khoản công nợ này ta tính ra là 1635 quan thôi.

Mọi người bất ngờ nhìn Bách.

Không ai bảo ai đều khì mũi.

"Thằng nhóc này có ý gì?".

Lão Dương tỏ rõ vẻ coi thường:

- Đứa trẻ này sao lại dám vào đây bàn việc người lớn, mau đi ra ngoài chơi.

Bách từ tốn nói:

- Đạo học làm sao so trẻ già, người đi trước là thầy ta, ngài chưa nghe nói thế sao?

Lão Dương phất cái quạt, định bụng làm cho hắn biết khó mà lui:

- Đối đáp khá đấy, đã học qua phép cộng chưa?

26+82 bằng bao nhiêu?

Bách không biến sắc, chỉ chậm rãi:

- Là 108.

Vậy ta cũng đố ông về phép cộng nhé: 1 + 2 + 3 + ...+ 100 bằng bao nhiêu?

Lão Dương á khẩu.

Suy nghĩ hồi lâu nhưng lại cảm thấy mình bị một đứa trẻ lỡm.

Bèn chữa thẹn:

- Phép tính dài như vậy, ta ngồi tính chắc chắn ra được kết quả, chỉ là việc này vô nghĩa, mất thời gian.

Bách cười lém lỉnh:

- Người ngu dốt thì luôn phức tạp hoá vấn đề, phép tính như vậy thì chỉ nửa khắc là tính ra, sao lại bảo là mất thời gian.

- Vậy ngươi nói cho ta làm sao nửa khắc tính được ra.

Nếu tính được thì tiền thưởng một năm của ta sẽ thuộc về ngươi.

Bách vui vẻ liếc sang Đinh Bình, thấy lão nhìn mình gật đầu.

Bèn nói:

- Ông chỉ cần lấy số đầu cộng số cuối, số thứ hai cộng số liền kề số cuối.

Tổng số cặp như vậy có 50 cặp với tổng bằng 101.

Như vậy đáp số là phép nhân 101 và 50 bằng 5050.

Việc gì phải cộng từ đầu đến cuối.

Ông nói có phải không?

Lão Dương và mọi người trầm ngâm một hồi.

Thấy cách tư duy này quả thực rất thông minh.

Từ phép cộng phức tạp chuyển sang thành phép nhân đơn giản.

Kết quả chính xác không có lỗ hổng.

Lão Dương không còn cách nào khác phải nhận thua:

- Đúng là theo cách tính này thì nhanh hơn, kết quả lại chính xác.

Coi như lão phu thua cuộc, thưởng của lão phu sẽ thuộc về ngươi.

Lão lại vẫy tay:

- Nhưng chuyện nào ra chuyện đó, việc của gia chủ ta không dám bê trễ.

Người nói ta tính sai sổ sách, thì cần đối chiếu lại.

Bách thấy lão nói thế thì cũng có thêm phần thiện cảm:

- Chúng ta so về thuật tính toán, sai lầm là bình thường.

Mỗi lần sai sẽ có thêm kinh nghiêm.

Bây giờ chúng ta tra soát lại.

Lão đã tự tin như thế thì chúng ta làm thế này: Lào đọc khoản mục, ta nói kết quả.

Nếu trùng thì thôi, nếu không khớp thì chúng ta biện luận.

Có được không?

- Chính hợp ý ta.

Phiền Tiền lão bản mang sổ sách ra đây.

Chúng ta bắt đầu.

Sổ sách của ngươi đâu.

Bách lấy trong tay ra tờ giấy ghi chú của hắn, bên trên là chi chít ký hiệu số la mã.

Nói với lão Dương:

- Của ta ở đây, lão cứ đọc đi.

Chúng ta đối chiếu.

Lão Dưỡng tỏ rõ bực mình, không nói nhiều nữa.

Bèn đọc luôn:

- Bắt đầu bằng khoản 1: ngày 23 tháng giêng năm ngoái.

Nhà ta mang đến bàn giao 2 cân nhân sâm, giá 110 quan một cân, Xuyên khung ....

- Khoản này 530 quan 7 tiền 30 văn.

Đã trả 470 quan 7 tiền 30 văn, nợ 70 quan.

- Khoản 2: Bạch truật 100 kg ....

- Khoản này 843 quan 8 tiền.

Đã trả 560 quan 8 tiền, nợ 283 quan.

Đúng chưa?

- Không đúng!

Khoản này ta tính ra giá bạch truật 2 quan 7 tiền 1 cân, làm sao ra giá đấy.

- Đấy là ngươi chưa đối chiếu bảng giá ngươi gửi ngày hôm ấy cho nhà ta.

Cả ngươi và lão Tiền khi tính đã áp giá của lần giao dịch tháng giêng.

Giá tiền này cao hơn, không tin có thể tra lại chứng từ.

Lão dương bực tức tra lại báo giá.

Quả thật do nhiều khoản mục, cách ghi chép lại rất thô sơ, cứ tuần tự ghi theo thứ tự trước sau mà không có chia thu chi rõ ràng nên rất dễ nhầm lẫn.

Hắn mất một lúc mới tìm được báo giá này, nhưng lại lạc xuống tận các khoản của tháng 5.

Nhưng rõ ràng đề báo giá tháng 2.

Hắn đành chịu là nhầm lẫn.

Lão Tiền như cởi tấm lòng.

Nói xen vào:

- Đúng là khi tra đến khoản này, lão cứ thấy không đúng?

Sao giá lại chênh lên.

Đinh Sức bực tức nói:

- Ngươi im miệng, làm việc tắc trách bây giờ lại vuốt đuôi.

Sau một hồi đối chiếu, gương mặt anh em nhà họ Đinh như giãn ra.

Mã Quốc An thì có vẻ mất bình tĩnh.

Còn mồ hôi bằng hạt đậu bắt đầu xuất hiện trên mặt lão Dương.

Bách kết luận:

- Như vậy ta tính ra là 1635 quan là không sai chứ?

Lão Dương ngậm ngùi quay sang Mã Quốc An nói:

- Lão vô dụng, quả thật tính sai nhiều khoản.

Nhưng quả thật trình độ tính toán của tiểu huynh đệ này hơn lão nhiều lắm.

Thua là xứng đáng.

Đinh Bình lúc này quay sang bảo Mã Quốc An:

- Mã huynh, theo lệ cũ thì hai bên đều tính toán sai nên không cần đền bù, chỉ chỉnh lý lại công nợ.

Vậy thống nhất 1635 quan là công nợ, một nửa ta trả bạc, một nửa trả tiền đồng.

Chúng ta là người làm ăn lâu dài, có lẽ không nên nhắc lại việc này nữa.

Mã Quốc An cũng chỉ thất thần đôi chút, nhưng lão là cáo già nghề buôn, hiểu được việc buôn có bạn, bán có phường.

Vốn hôm nay không phải muốn kiếm lợi từ nhà họ Đinh.

Vì nhà họ Đinh buôn bán lâu đời không thể để mất mối làm ăn này.

Nhưng lão mời được lão Dương là cao thủ tính toán, định tranh thủ lập uy với Đinh gia.

Nếu việc này thành công thì trong các cuộc giao dịch hắn sẽ ở thế thượng phong.

Việc đã không thành chỉ đành cười lớn:

- Đinh huynh nói đúng lắm.

Chỉ là ta cũng thấy việc sổ sách rất quan trọng, cần chỉnh lý gấp.

Nhà họ Đinh của huynh có được tiểu đệ kia, quả thật là như hổ thêm cánh.

Ta chỉ biết ước ao.

Rồi quay sang lão Dương:

- Ngươi cũng không nên buồn, lần sau cẩn thận hơn là được.

Nên biết núi cao còn có núi cao hơn.

Chớ nên kiêu ngạo, sao này ta còn nhiều việc nhờ đến lão.

Lão Dượng thẹn thùng chắp tay:

- Lão xin ghi nhớ.

Lại ngập ngừng quay sang Bách:

- Lão có một yêu cầu mạo muội với tiểu huynh đệ.

Không biết huynh đệ có đồng ý không?

- Lão cứ nói.

Vị thuốc tươi gọi là Địa hoàng, sấy khô gọi là Sinh địa, chưng cất 9 lần thì gọi là Thục địa.

Dùng rất nhiều trong đông y.
 
Đông A Nông Sự
Chương 8: Kế toán (2)


- Lão muốn xem tờ giấy trên tay tiểu huynh đệ.

Lão không sao hiểu nổi chứng từ của hai nhà dày hàng quyển, mà sao tiểu huynh đệ chỉ ghi ra một tờ giấy là đầy đủ.

Bách cười đáp:

- Ta đâu phải người giấu nghề.

Lão muốn thì cứ xem, nhưng e là muốn hiểu được thì không dễ.

Bách nói đoạn rồi đưa tờ ghi chú cho lão Dương.

Lão Dương cầm tờ giấy, thất thần nửa ngày, chỉ thấy nét chữ nhỏ mà mảnh, ký hiệu kỳ lạ.

Lại có chia bảng, hàng cột rõ ràng.

Chỉ là những chữ trên đấy thì lão không sao hiểu được.

Bách nói với lão:

- Cái này là ký hiệu của riêng ta, tuy không có gì thâm ảo ở đây, nhưng cần phải có người chỉ dạy mới biết được, lão không cần cả nghĩ.

Lão Dương lưu luyến đưa lại tờ giấy cho Bách.

Quay sang bảo với Đinh Bình:

- Thầy ta là công bộ thượng thư của Đại Tống, tinh thông các sách: Cửu chương toán thuật, toán Tôn Tử, ngũ kinh giải toán ...

- Ta học với thầy cũng được 5 phần kiến thức, thế mà chưa thấy những ký hiệu này bao giờ.

Với tuổi của người thiếu niên này thì không thể bịa ra được kiến thức như vậy.

Trên đời quả là nhiều cao nhân.

- Ta đã thua cuộc, nợ cậu tiền thưởng của ta.

Khi mời ta về Mã gia có trả công cho ta 30 lạng một tháng, cùng với hai phần lợi nhuận của kinh doanh dược liệu.

Nay ta sẽ trả cậu hai thành kinh doanh này, năm ngoái lợi nhuận kinh doanh là 1000 quan, ta gửi cậu 200 quan tiền.

Bách nhận một túi bạc của lão Dương, lại thấy người này tiền bạc phân minh, thua nhưng rất quang minh chính đại.

Vốn hắn đến thế giới này, cũng coi là cơ duyên, chỉ muốn đem hết những gì mình học truyền bá ra ngoài.

Mong những kiến thức này có thể giúp ích cho nhiều người nhất có thể.

Bèn nghĩ ra một chuyện:

- Ta đã nhận của lão 200 quan, nhưng cũng có một yêu cầu nhỏ.

Muốn cùng lão trao đổi về toán thuật, có được hay chăng?

Lão Dương nghe vậy thì rất bất ngờ.

Người thời nay mang nặng tư tưởng Nho gia.

Truyền đạt kiến thức là một cái gì đó rất thiêng liêng.

Thường thì thầy thử thách trò, phải ưu ái lắm thì mới truyền cho 5 phần kiến thức.

Thực sự coi như con cháu thì truyền cho 8, 9 phần.

Còn như con ruột, phải là đứa ưng ý nhất nhà mới dốc lòng truyền cho ngón nghề gia truyền.

Lão nghe Bách nói vậy thì cũng hiểu ý trao đổi toán thuật là Bách muốn truyền cho lão những ký hiệu kia.

Bèn đáp:

- Ta nhận tiền của người thì phải làm cho tốt.

Nay vẫn cần cùng Mã gia đi theo thương đội về Kinh Thành làm một vụ buôn bán lớn.

Xong việc sẽ xin với Mã gia cho được ở lại vài ngày để trao đổi cùng tiểu huynh đệ.

Huynh đệ thấy có được không?

Bách quay sang nhìn Mã Quốc An.

Lão híp mắt, lộ nét cười gian:

- Được như vậy thì không có gì tốt hơn.

Lão Dương có lẽ chuyến đi này cũng có kỳ ngộ.

Bây giờ công việc xong xuôi, hàng hoá cũng bốc dỡ xong.

Có lẽ cũng nên cáo từ Đinh huynh.

Ta có việc gấp ở Kinh Thành nên cần đi ngay cho sớm.

Hai anh em nhà họ Đinh tiễn Mã Quốc An và thương đội đi rồi quay lại sảnh chính.

Đinh Bình đuổi hết gia nhân rồi nói với Bách:

- Cha nhận tiểu đệ làm đệ tử quả là có nguyên do.

Hai huynh không ngờ toán thuật của đệ lại kỳ diệu như vậy.

Hôm nay không có đệ thì nhà ta thiệt tiền là một chuyện nhưng vị thế trong thương đoàn sẽ giảm đi một bậc.

- Đã là người một nhà thì ta không khách sáo nữa.

Đệ ở trên Đền cùng cha, có gì thì cứ nói với Đinh Đang để hai huynh được biết.

Có thời gian thì xuống núi ở vài ngày, khi có việc liên quan đến sổ sách cần giúp, ta sẽ chuyển lời.

Lão ngừng một chút rồi nói tiếp:

- Đệ là đệ tử của cha thì cũng coi như lão Tứ trong nhà.

Mọi việc sinh hoạt cứ tuỳ nghi nhưng phải tiết chế.

Nhà ta là nhà gia giáo, cha ta xử việc rất nghiêm.

Kể cả là chúng ta mà phạm vào những việc tiểu nhân bỉ ổi thì cũng bị đuổi khỏi nhà, đệ nên nhớ lấy.

Bách cúi đầu xin vâng.

Để chào mừng hắn, tối đó Đinh Bình có tổ chức một bữa tiệc nhỏ, gọi tất cả mọi người trong gia đình tới ăn cơm.

Không khí của Đinh gia rất tốt, bàn lớn bày ở sân giữa nhà, người lớn ăn cơm cười nói vui vẻ, trẻ con chạy xung quanh sân.

Bách cũng cảm thấy được tình cảm gia đình nồng đậm.

Duy chỉ có một điều là Đinh Nhu, vẫn lạnh nhạt với hắn.

Cố gắng bắt chuyện một lúc thì Bách cũng không nghĩ ngợi nhiều nữa, quay sang người khác.

Vốn là người hiểu nhiều biết rộng, cái gì nên nói, cái gì không nên nói hắn đều thông thạo.

Trái khen nhị tẩu tẩu xinh đẹp, năm nay như cô gái 18, phải lại nói nhị huynh phong thái tuyệt vời, xứng đôi vừa lứa.

Ai nghe nói cũng nở nụ cười, trong lòng biết hắn nịnh đầm nhưng không thể nói là không mừng thầm trong bụng được.

Món ăn bưng lên cũng không có gì đặc sắc, thời này phương pháp chế biến còn thô sơ.

Đinh gia là nhà giàu có trong vùng, bữa cơm phong phú nhưng cũng rất thuần Việt.

Gà nướng, cá nấu canh và một số món xào, rau dưa thì đa dạng, rượu thì dùng thứ rượu gạo rất nhạt, nồng độ không cao, chắc chỉ tầm hơn chục độ.

Bách cũng không dám uống nhiều, rượu được vài tuần thì hắn thấy Đinh Nhu cáo lui xin cha cho về phòng.

Đinh Bình đồng ý rồi quay sang bảo:

- Ta chỉ có một nhi tử này nhưng nó là đứa nhỏ nhen, chỉ mê luyện võ, đệ đừng cười.

Hai đứa ở với nhau nếu có gì không vừa ý thì đệ cứ nói.

- Đệ không dám, đệ là đứa côi cút.

Được sư phụ nhận nuôi, các huynh coi trọng như người trong nhà đã lấy làm tốt lắm rồi.

Nếu Đinh Nhu là người ít nói, đệ cũng sẽ tự điều chỉnh hành vi, tránh làm cho nó khó chịu.

- Không sao.

Đệ cứ kệ nó là được.

- Xin nghe lời đại ca.

Rồi quay sang hỏi Đinh Sức:

- Nhị ca, đệ muốn xin một mảnh vườn nhỏ để trồng cây, khi xuống núi, sư phụ đệ có cho đệ mấy hạt giống.

Nếu không trồng thì e hạt sẽ hỏng mất.

Nhà ta có khu đất nào thích hợp không?

- Nhà ta thứ không thiếu nhất là đất đai.

Toàn bộ đất đai gộp lại cũng mấy ngàn mẫu.

Tiếc là vùng này là vùng biên viễn, giặc dã nhiều nên dân cứ thưa thớt, không có đủ người trồng cấy.

Đệ cứ bảo Đinh Đang đưa đi, tìm một tá điền thạo nông canh bảo hắn hướng dẫn trồng là được.

- Vậy cảm ơn nhị huynh.

Mai sẽ nhờ Đinh Đang đưa đệ đi.

Ăn xong cả nhà lại cùng nhau dọn dẹp rồi bày bàn trà ngắm trăng.

Người đời xưa hoạt động giải trí không nhiều.

Buổi tối ngoài nghỉ ngơi thì cũng không có việc gì.

Đinh gia vì có nhiều dược liệu nên buổi tối phải hong sấy, đôi khi chế biến một ít dược liệu thô.

Chính vì vậy trong nhà giờ Dậu mà vẫn còn tất bật.

Nhưng nhà khác đã đi ngủ từ lâu.

Bách về phòng sửa soạn rồi đi ngủ, lúc xuống núi hắn có mang theo một số dụng cụ trong ba lô, trong đó số hạt giống mà sinh viên thu thập được.

Hắn định bụng sẽ đem trồng ngay để bảo quản.

Số hạt này được Đại hoàng bảo vệ rất kỹ.

Con chó nhỏ như có thông linh với hắn, không cho ai lại gần túi đồ này.

Sáng hôm sau, hắn dậy sớm, ngoài sân đã thấy Đinh Nhu đang luyện võ, hắn mới đến đây, định bụng cũng muốn học vài chiêu phòng thân.

Ở cái thời đại này, người như hắn đúng là yếu đuối.

Chỉ có cái vẻ sức dài vai rộng nhưng đụng việc thì không thể bằng bọn Đinh Nhu được.

Hăn lân la lại gần xem thì thấy Đinh Nhu đang múa quyền, bàn tay to đấm vào bao cát huỳnh huỵch.

Chân như thiết giáp đá bay cả cây gỗ.

Bách kinh hãi nghĩ thầm, mình luyện bao giờ mới được đây?
 
Đông A Nông Sự
Chương 9: Canh nông (1)


Bách tặc lưỡi, "Dù sao cũng phải ở với nhau lâu dài, vẫn nên làm thân với hắn"

Bách là người trải hai đời, biết phải làm thân với bọn thanh niên như thế nào?

Tay sờ vào túi rồi chợt xấu hổ, không có thuốc lá!

Đời sau chỉ cần mời điếu thuốc, bắt chuyện là sẽ kéo gần quan hệ ngay.

"Bây giờ biết lấy gì ra đây?"

Chợt nhớ ra trong túi để ở phòng có một hộp Sing-gum, hắn về phòng, lấy cái hộp rồi ra chỗ Đinh Nhu.

- Đinh Nhu, ta có loại linh đan, ăn vào sẽ tăng thêm trăm năm công lực, tuy nhiên thứ này khó nuốt lắm, nhai một cái là cào xé tâm can.

Có muốn ăn không?

- Bố láo!

Làm gì có thứ gì ăn một cái là tăng thêm trăm năm công lực.

- Vậy có dám thử không!

Nói đoạn Bách mở póc cái hộp nhựa, lấy ra một viên kẹo, cho vào miệng ngon lành.

Đinh Nhu thấy hắn ăn như vậy, lại bị hấp dẫn bời cái hộp kỳ lạ nên tiến lại gần, Bách đưa cho hắn hai viên kẹo.

- Cái này ăn thế nào?

- Cứ cho cả vào, ngậm một lúc cũng được, rồi nhai, nhưng đừng nuốt.

Bách chưa nói xong thì Đinh Nhu đã cho vào miệng rồi, cơn sốc ập đến, hắn vừa cảm nhận cơn the mát từ vòm miệng ập lên mũi, sướng khoái chưa từng có.

Lại dùng răng nhai hai viên kẹo, cảm giác sảng khoái tăng gấp đôi.

Mắt lờ đờ không nói nên lời, nhai bỏm bẻm trong miệng.

Quay lại Bách rồi nói:

- Thứ này sướng hơn nhai trầu nhiều.

- Đương nhiên, tiên đan mà.

Lúc này mặt Đinh Nhu xun xoe ngay.

- Tứ thúc có thể cho vài viên nữa được không?

Bách nhếch miệng cười, thầm nghĩ "Còn có nhiều thứ hay lắm ..."

...............

Bách vào nhà mang túi hạt rồi rồi cùng Đinh Đang và Đại hoàng ra đồng.

Cánh đồng hình như vừa mới cấy xong, lúa lên xanh mướt, cảnh vật y như thời hiện đại.

Bách trộm nghĩ, nước Việt Nam nếu hỏi cảnh quan nào đẹp nhất thì không gì ngoài cảnh này, muôn đời nay vẫn thế.

Đinh Đang đưa hắn đến một lán nhỏ.

Bên trong có một trung niên, tướng tá bần khổ.

Đinh Đang chỉ tay:

- Lão Tuất là người quản lý các tá điền nhà ta, là người chăm chỉ lắm, anh có việc gì cứ giao cho chú làm.

Rồi quay lại nói với nam nhân, giọng nói trở nên nghiêm trang:

- Lão Tuất, đây là anh Bách, là đồ đệ của ông ta.

Chú phải gọi là Tứ gia nghe chưa.

Tứ gia có gì phân phó, chú phải theo lời mà làm, không được biếng nhác.

Bách nghe cô bé 12 tuổi nói với nam nhân 3, 4 chục tuổi mà cảm thán.

Thời đại này vai vế sâm nghiêm, làm tá điền cho nhà người ta không khác gì nô lệ.

Chỉ ra sức vì chủ, nếu không vừa ý có thể bị đánh chết.

Ở thời này, chỉ những nông hộ bình thường, có trong hộ tịch, được cấp ruộng đất mới có quyền công dân.

Quả thật đúng với câu: mạng người như cỏ rác.

Đinh Đang được cha dạy bảo, đã gọi Bách là tứ thúc.

Tuy nhiên cô bế vẫn rất không vui.

"Chả phải ông chỉ nhận anh Bách là đồ đệ thôi sao?

Tự nhiên lại thành tứ thúc"

Bách biết cô bé không thích lắm nhưng mặc kệ.

Dù gì hắn cũng mang tâm lý của nam tử trung niên.

Nhìn thấy cô bé đáng yêu mỗi lần nhìn mình lại cau đôi mày liễu, giữa trán nhăn lại thì sinh tính nghịch ngợm, lại càng trêu tợn:

- Cháu Đinh Đang thật là oai phong quá nha?

Cô bé hì mũi quay đi, ra vẻ không thèm nói chuyện với hắn.

Bách cũng chỉ biết đắc ý, quay sang hỏi chuyện lão Tuất:

- Lão Tuất làm cho nhà họ Đinh được bao nhiêu năm rồi?

Lão Tuất chắp tay nói:

- Thưa Tứ gia, cũng mấy chục năm rồi.

Tôi cũng không còn nhớ được nữa.

Chỉ nghe Cụ nói gặp được tôi lúc ba bốn tuổi, cha mẹ tôi chạy giặc rồi chết ở trên đường.

Cụ nhặt tôi đem về nuối nấng.

Tôi ngu dốt, không học được việc buôn bán, chỉ thích cầy cấy nên cụ giao cho tôi trông coi việc ruộng vườn.

- Nhà ta trồng những cây gì?

- Thưa Tứ gia.

Nhà ta trồng lúa là chủ yếu.

Ngoài ra cũng có trồng các loại cây khác như: kê, đậu xanh, đậu đen, vừng, lạc, khoai, mía ... mỗi thứ một ít.

- Vậy nhà ta trồng loại lúa gì?

- Nhà ta trồng hai loại lúa, đó là lúa cánh (lúa tẻ) và lúa noả (lúa nếp)?

- Một năm nhà ta trồng mấy vụ lúa?

- Đất không bị ngập nước thì nhà ta trồng hai vụ chiêm và vụ mùa.

Đất ngập nước thì chỉ được một vụ thôi.

Vụ chiêm nhà ta hay trồng giống Chiêm di và Sài đường.

Vụ mùa thì chỉ trồng lúa Tám Xoan.

- Lúa nếp nhà ta hay trồng giống Nếp cái và Nàng hai đều có hạt tròn đục, mùi rất thơm.

Các cô trong nhà thường dùng để gói bánh chưng, giã bánh dày và thổi xôi.

Bách nghe thế thì đã có dự tính.

Các giống lúa mà lão Tuất vừa kể đều là giống lúa bản địa của Việt Nam.

Các giống này tiến hoá từ những cây lúa hoang dại được mang về thuần hoá.

Các giống này ít đẻ nhánh, thân nhỏ, lá dài màu xanh lợt cong rũ, và hạt dễ rụng khi chín.

Tuy có nhiều đặc tính quý, chất lượng gạo cao nhưng thường có thời gian sinh trưởng dài hoặc năng suất thấp.

Ở thời đại của hắn, bằng các phương pháp khác nhau đã lai tạo ra rất nhiều giống lúa mới.

Hắn nhớ sinh viên của hắn đã thu thập được trên cánh đồng giống lúa Khang Dân.

Giống này đã trồng ở miền Bắc Việt Nam từ trước năm 2000 nhưng có vùng vẫn rất ưa chuộng.

Gạo không ngon lắm nhưng cây sinh trưởng khoẻ mạnh, kháng bệnh, năng suất không tính là cao nhưng so với những giống lúa thời này có thể nói là vượt trội.

Đặc biệt giống này có thể trồng cả hai vụ.

Hắn dự kiến sẽ bắt đầu gieo giống này.

Đến đây Bách nói tiếp:

- Ta hiểu rồi.

Xin nhờ lão Tuất dẫn ta đi một vòng.

Ta muốn vừa đi vừa thỉnh giáo chú về kỹ thuật canh tác các cây trồng chính của nhà ta nữa.

- Không dám, mời Tứ gia đi thăm ruộng lúa trước.

Lão Tuất đưa Bách đi theo bờ ruộng.

Vừa đi vừa trò chuyện.

Đại hoàng theo sau Đinh Đang.

Nói cũng lạ, con chó này có Bách thì theo rịt, nhưng khi có Đinh Đang, nó tuyệt đối chỉ lẽo đẽo bên cô bé.

Nó thấy cô bé thỉnh thoảng ngắt hoa bên đường, cũng lao vào bụi hoa, dùng mõm ủi lên một đống rồi vẫy đuôi nhìn Đinh Đang, chờ được khen ngợi.

Đinh Đang cười vui vẻ thì xoay tròn thân mình rồi lại lao đi tìm bụi hoa khác.

Bách hỏi thăm một hồi thì cũng nắm được đại khái quy trình kỹ thuật trồng lúa của người thời nay.

Thực chất cũng chẳng khác với thời hiện đại, duy chỉ có ba điểm mấu chốt làm cho năng suất lúa không cao: đấy là vấn đề giống, thời vụ và phân bón.

Vấn đề giống hắn có thể nghĩ cách giải quyết được.

Kể cả nếu giống Khang Dân không hợp với đất đai khí hậu thời nay.

Hắn tự tin bằng kiến thức của mình qua một vài vụ là có thể lai tạo ra một giống lúa mới tốt hơn hầu hết các giống bây giờ.

Thời vụ theo hắn thấy chủ yếu là người thời nay cấy muộn hơn, để cây mạ quá già, lại mất công cấy tỉ mỉ làm mất thời gian dẫn đến thời điểm tốt nhất để cây bén rễ hồi xanh qua đi, nhưng cũng có thể giải quyết.

Duy chỉ có phân bón là nan giải, thời nay lấy đâu ra phân bón đa lượng cho hắn.

Là một tiến sĩ nông nghiệp hắn hiểu rõ, cây lấy của đất bao nhiêu thì nguyên tắc bất di bất dịch là phải trả lại đất bấy nhiêu.

Nếu không về lâu về dài đất canh tác một loại cây nào đó sẽ thiếu hụt một loại dinh dưỡng trong nhiều năm mà không được bù đắp.

Hắn chỉ đành nghĩ cách khắc phục bằng các loại phân hữu cơ xem thế nào?

Hắn hỏi dò:

- Lão Tuất có biết cây Điền Thanh không?

- Thưa Tứ gia có biết, cây này mọc hoang ở bờ ruộng, thường bị chặt đi vì vướng víu.

- Như vậy tốt rồi.

Mai chú kiếm cho ta hạt giống của cây này, càng nhiều càng tốt.

Hạt cây này thường chín khô trên thân, chú có thể lấy được dễ dàng.

- Vâng thưa Tứ gia.

- Hôm nay lần đầu gặp mọi người, muốn mời chú và các tá điền xung quanh đây tới ăn cơm.

Chú giúp ta sắp xếp nhé.

Chú trong sách Vân Đài loại ngữ.

Để dễ hiều thì từ nay dùng lua nếp và lúa tẻ.
 
Đông A Nông Sự
Chương 10: Canh nông (2)


Hắn đưa cho lão Tuất 5 lượng bạc trong túi gấm.

Hôm qua hắn vốn vừa thắng cược 200 quan.

Hiện nay cũng là một tiểu phú ông.

Tuy nhiên hắn cũng không biết giá trị tiền bạc của thời này như thế nào nên tiện tay nhặt một nén bạc vụn.

Lão Tuất thấy thế thì tròn xoe mắt.

Một bữa cơm thì làm gì đến từng này tiền.

Mời mấy chục người cùng ăn thì cũng chỉ hết 1 quan tiền, 5 lượng bạc này là 5 quan tiền.

Với mức độ tự cung tự cấp của thời này, 5 quan tiền có thể đủ cho một nhà tá điền ăn vài tháng.

Vội nói:

- Ta sẽ gọi người sắp sếp, còn tiền Tứ gia cứ cất đi.

Các tá điền xung quanh đây đều là người làm công cho nhà ta, sao dám lấy tiền của gia chủ.

Chẳng hay Tứ gia muốn ăn gì?

- Không được, chú cứ liệu mang tiền đi mua, thừa thì mang trả ta.

Nhớ mua đồ của nhà nào thì trả tiền cho đàng hoàng.

Ta lần đầu gặp mọi người không muốn mang tiếng.

- Còn cơm nước thì cốt sao cho mọi người vừa ý là được.

Ta không có yêu cầu nào.

Nhưng nhớ đầy đủ để Đinh Đang nhà ta ăn nhiều nhanh lớn.

Nói xong hắn lại quay sang nhìn Đinh Đang rồi lè lưỡi trêu.

Đinh Đang tức lắm nhưng cô bé vẫn phải giữ uy nghiêm của tiểu thư.

Chắp tay quay mặt đi chỗ khác.

Lão Tuất đi rồi Đinh Đang mới hỏi Bách:

- Tứ thúc chỉ trồng vài cái cây, sai người làm là được.

Sao phải nghiêm trọng thế?

Bách xoa đầu Đại hoàng, miệng nói:

- Đinh Đang sinh ở nhà phú hộ, chưa hiểu được hết cái khổ của bá tánh thường dân.

Ta mới xuất sơn nhưng đã từng thấy cảnh người ta bị chết đói.

- Những cây giống định trồng là sư phụ cho ta.

Ngài dặn dò đây là các giống cây rất quý, có thể cứu được nhiều người khỏi chết đói cho nên ta rất trân trọng.

- Khi ta còn nhỏ đã từng thấy người chạy nạn từ bên Đại Lý sang, chết đói rất nhiều.

Thúc đừng khinh ta không biết gì?

Nhưng cảnh tượng ấy quả thật thê thảm, ta thật không muốn nhớ lại nữa.

Bách không nghĩ cô bé mới hơn chục tuổi đầu đã có những trải nghiệm như vậy.

Nhưng nghĩ lại thì mình sống trong thời thái bình quá lâu, đâu biết thời xưa loạn lạc thế nào.

"Những thứ mình trải qua cả đời trước có khi không sánh bằng một thiếu niên thời này"

Hắn đối với thời đại này quả thật có quá nhiều xa cách, dung nhập được hay không còn cần một thời gian dài.

Được một lúc thì thấy tá điền xung quanh lục tục kéo đến, độ hơn chục người, chỉ có nguyên nam nhân.

Hắn thấy lão Tuất phân công mọi người làm cơm, mỗi người một việc.

Thời này thứ gì cũng thiếu thốn, đến cái bát con dao cũng không đủ hết.

Hắn sống nửa đời mới thấy được con người nhiều khi lại sáng tạo như thế.

Bát ăn không có, không sao chặt lá chuối rửa sạch là được.

Chén uống rượu không có, không sao, chặt cây nứa làm là được ...

Quả thật chỉ có lao động mới làm cho con người sáng tạo.

Chỉ một lúc là bốn mẹt lót lá chuối được bày lên.

Một mẹt đặt trịnh trọng trên chõng tre.

Còn ba mẹt đặt dưới nền đất.

Mỗi mẹt kê lên một kệ cao, mọi người ngồi xung quanh.

Trên chõng tre chỉ có hắn và Đinh Đang ngồi, Đại hoàng không lễ phép cũng trèo lên ngồi bên hắn.

Hắn cũng hiểu vai vế thời này không phải là thứ mà hắn có thể bỏ qua, tuy khó chịu nhưng hắn cũng đành nói với mọi người:

- Hôm nay ta và Tiểu thư mời mọi người ăn cơm, cảm ơn mọi người đã vất vả.

Ta là đồ đệ của Lão gia nhà các người mới nhận về.

Ta muốn ở lại đây với mọi người vài ngày để tìm hiểu về việc canh nông.

- Ta ở trên núi xuống, không quen chuyện khách sáo, mời mọi người ăn cơm thứ nhất để làm quen, thứ hai là muốn hỏi mọi người kinh nghiệm trồng trọt.

Mọi người có kinh nghiệm gì hay thì cứ nói, áp dụng hiệu quả thì có thưởng, sai cũng không sao.

- Bây giờ nhờ lão Tuất giới thiệu từng người cho ta.

Lão Tuất đứng dậy, giới thiệu gần hai chục tá điền cho Bách.

Những người này đa số đã vào tuổi trung niên, là những người nghèo khổ không có hoặc đã bán ruộng đất.

Cả nhà đi làm thuê cho địa chủ dưới sự quản lý của lão Tuất.

Những người này ở rải rác quanh khu vực.

Vài dặm quanh đây là đất đai nhà họ Đinh cả.

Những người này chỉ biết lao động cho gia chủ để đổi lấy cơm ăn nên ai cũng ít nói.

Họ thấy Bách còn nhỏ nhưng nói năng khúc chiết, lại có vài phần thân thiện.

Mọi người bắt đầu ăn, Đinh Đang chốc chốc lại gắp cho Đại hoàng một miếng.

Khi nàng quên, nó còn tỏ ra giận dỗi, chuyển sang phía Bách, hai cái chân trước cào vào tay hắn.

Bọn tá điền thấy cảnh này ai cũng cười trộm, nuôi chó đến mức này, phải là nhà có của ăn của để.

Ăn cơm một hồi thì cũng dần trở nên mạnh dạn.

Một tá điền tên Cửu đứng dậy nói:

- Hôm nay, lần đầu Tứ gia đến đây, lại mời anh em chúng tôi ăn cơm?

Chúng tôi là tá điền của nhà họ Đinh, quanh năm chỉ biết cầy cấy.

Tứ gia có việc gì xin cứ sai bảo?

Tôi xin mời Tứ gia chén rượu để tỏ lòng tôn kính.

Bách cười đáp lại:

- Ta sẽ uống cạn.

Chỉ mong tới đây mọi người giúp ta một số việc.

Việc này không khó với mọi người nhưng ngặt nỗi cần có quy củ.

- Ta có mấy hạt giống sư phụ cho.

Muốn trồng để giữ gìn nhưng số lượng ít lắm.

Nếu trồng hỏng thì coi như mất, không tìm lại được.

Chính vì thế mọi người giúp ta trông coi nó.

Ta bận học trên núi cùng Đinh lão, không thể thường xuyên chăm bón được.

Mọi người nhao nhao lên:

- Chẳng hay Tứ gia trồng những cây gì vậy?

- Những cây này có cây mọi người biết, có cây lần đầu mới thấy.

Có một ít hạt Lúa, hạt Ngọc Mễ, Lạc, Đậu và một loại cây trái có thể gieo trồng ngay.

- Ngoài ra có một giống khoai và cây rau nhưng phải trồng vào cuối năm.

Những loại này ta sẽ có cách bảo quản.

Một số loại đã hơi muộn thời vụ, nhưng không sao.

- Lúa, lạc đậu thì chúng tôi biết.

Nhưng Ngọc Mễ là cây gì thưa Tứ gia?

Bách giải thích:

- Đây là một loại cây lương thực có nguồn gốc từ nơi xa xôi bên kia đại dương.

Cây cao từ 4 đến 6 thước, trên thân có các đốt như cây tre.

Lá hình mũi mác rộng bản, ôm sát thân cây.

- Khi chín thì ra các quả bắp.

Từ quả này ta tách được các hạt.

Hạt có thể dùng ăn trực tiếp, làm bánh ...

Các ngươi sẽ rất thích.

- Thế thì quả thật chưa thấy bao giờ.

- Ta sẽ dặn dò lão Tuất về cách thức trồng, mọi người cứ làm theo là được.

Nhưng tuyệt đối không được để ai lại gần số cây trồng này.

Đây là bí mật của Đinh gia chúng ta.

- Tứ gia yên tâm, người ngoài không vào đất trồng cấy nhà ta làm gì, nếu có thì chỉ có thể là tá điền táy máy.

Nhưng ta dám chắc tá điền nhà ta không ai dám làm thế đâu.

- Vậy chú chuẩn bị cho ta hai mảnh ruộng.

Gần lán của chủ nhất có thể.

Nếu cần chú có thể phá bỏ bớt một sào ruộng mới cấy.

- Tứ gia cần chân đất thế nào?

- Một nửa ruộng trũng, một nửa lên luống cao, cứ lấy ruộng tốt nhất.

Hơn nữa chú vào làng, thu thập tất cả phân gia súc gia cầm, càng nhiều càng tốt, ta sẽ mua hết.

- Những việc này cứ giao cho ta?

- Chúng ta trồng không để thu ngay mà cốt là lấy hạt giống.

Vì thế chú chỉ cần làm theo lời ta cho cây sinh trưởng tốt là được.

Xem bài thơ Một quan tiền tốt
 
Đông A Nông Sự
Chương 11: Canh nông (3)


Hắn nhẩm tính từ hôm trăng rằm mười sáu đến giờ, có lẽ được hơn chục ngày.

Bây giờ chắc là khoảng đầu tháng hai âm lịch, rơi vào tiết Xuân phân.

Nếu trồng lúa thì đã muộn thời vụ một chút rồi.

Nhưng không sao, trồng với diện tích nhỏ có thể quản lý được.

Cây ngô, lạc đậu thì trồng trên đất cao, chủ động được nước tưới sẽ không sao cả.

Còn khoai tây và cà chua có lẽ cần đến cuối năm.

Trong ba lô còn vài quả ớt, cây này hắn định mang lên núi trồng, không cần thiết phải trồng trong ruộng.

Ăn uống xong, hắn lại tiếp tục trò chuyện cùng các tá điền một lúc để hiểu thêm hoàn cảnh của họ.

Hắn dò hỏi tại sao ở đây không có phụ nữ và trẻ con.

Một tá điền trả lời:

- Thưa Tứ gia, lũ bọn tôi đi làm tá điền.

Ruộng đất không có, nên đa số không dám lấy vợ, có lấy cũng không nộp được tiền "nạp cheo".

- Ở đây chỉ có lũ thanh niên là còn hy vọng.

Chứ chúng tôi già rồi, nếu có cô gái nào lưu lạc đến đây, chịu ở cùng thì ở.

Nhưng cũng là do hai bên tình nguyện, không được công nhận.

Con cái sinh ra cũng sẽ làm tá điền.

- Mấy người chúng tôi chỉ có lão Tuất, lão Sửu, lão Hà là có vợ.

Còn lại là ở chui thôi.

Hôm nay Tứ gia gọi đến, sao dám dắt theo cả bọn chúng ăn chực Tứ gia nữa.

Bách sững người lại, mắt hơi đỏ lên.

Cuộc sống của người dân thời đại này quá khổ cực.

Chiến tranh loạn lạc liên miên.

Từ cuối đời Lý đến nay, không kể Lý Chiêu Hoàng là một cô gái.

Hai vua cuối cùng là Lý Cao Tông và Lý Thần Tông thật là cực phẩm trong các loại đế vương.

Cao Tông mê mải rong chơi, say đắm thanh sắc, ham tiền của, thích xây dựng.

Khi hắn còn tại vị, vì để dân phu hoàn thành nhanh cung thất, bắt một đinh có khi phục vụ triều đình đến 6 tháng.

Thói ăn chơi đến mức đã thành giai thoại.

Bậc đế vương mà nghe thấy con dân kêu cứu cũng mặc nhiên bỏ ngoài tai, tiếp tục nghe hát thì quả xưa này chưa từng có.

Kế nghiệp nhà Lý là Thần Tông thì ngu dốt, yếu đuối, bệnh tật.

Quyền lực đã về tay bọn quyền thần Tô Trung Từ, Trần Tự Khánh.

Sau đó nhà Trần nhân lúc đó mà cướp ngôi.

Những năm đầu nhà Trần, chính sự lặp lại, đời sống nhân dân có vẻ tốt hơn nhưng quả thật tầng lớn dân chúng dưới đáy xã hội thì không có nhiều cải thiện.

Việc dân mất ruộng đi làm tá điền, nô lệ là phổ biến.

Việc ngày ăn một bữa cơm rau đối với Bách đã là không chịu được nhưng hắn cũng thấy mình đã quá may mắn.

Nhiều người ở đây còn không có gạo ăn.

Hết gạo chỉ đành lên núi kiếm thực vật, có gì ăn nấy.

Chuyện trong bữa cơm có thịt chỉ xảy ra ở cao môn đại hộ thời này.

Bách cảm thán hồi lâu, thầm nhìn những người nông dân kia.

Khuôn mặc khắc khổ, làn da đen nhẻm, trời vẫn còn lạnh mà trên người quần áo mỏng manh.

Tại sao lao động như vậy vẫn không đủ ăn?

Hắn thầm hạ quyết tâm, đến được thời đại này lá cái duyên.

Hắn sẽ dùng hết năng lực, làm cho những người này chí ít là ăn no mặc ấm.

Nếu không làm được vậy thì quả có lỗi với lời hứa khi xưa theo học ngành nông nghiệp.

Hắn định thần rồi quay lại bảo họ:

- Lần sau ta mời, là mang tất cả vợ lớn vợ bé đến đây, cả con rơi con vãi của các người nữa.

Ai nhiều vợ nhất, đẻ lắm con nhất ta sẽ thưởng 3 bát rượu!

Các tá điền cười ồ, vui vẻ đáp ứng, cũng có thiện cảm với Tứ gia trẻ người vui tính này.

Cơm nước xong xuôi, tá điền dọn dẹp rồi về nhà.

Bách bảo lão Tuất đưa Đinh Đang về rồi chuẩn bị hạt giống.

Hắn bắt đầu trộn hỗn hợp để gieo hạt.

Bách tìm những chỗ đất tơi xốp, có kết cấu nhẹ lấy về.

Khi lão Tuất quay lại, hắn sai lão Tuất đi hun trấu.

Đại hoàng thấy đống lửa trấu hun lên, nó có vẻ rất vui, không rời đống trấu mà còn nằm ngửa, cọ lưng vào đống trấu.

Lão Tuất mấy lần sợ nó bỉ lửa bỏng phải gạt ra.

Hình như nó rất thích sự ấm áp của đống trấu này.

Lão Tuất cũng sai lão Sửu đi vào các nông hộ trong làng xin phân trâu hoai mục.

Chuẩn bị xong xuôi thì cũng đến chiều muộn.

Hắn bắt lão Tuất và lão Sửu đun sôi nước rồi pha nước ba sôi hai lạnh để ngâm ủ hạt giống.

Không quên hướng dẫn hai người cách làm.

Cuối chiều thì Lão Sửu bắt được một ít cá quả ở cái chuôm bên cạnh ngòi nước, Bách thấy thú lắm, ướp muối rồi đem nướng, không quen ba hoa với hai lão kia kỹ thuật nướng cá.

Hai lão cười trộm Tứ gia này trẻ con, nếu nói về nướng cá thì làm sao có ai so được với hai lão.

Người Việt Nam thích ăn nhất là các món cá.

Người đời sau khi nói đến ẩm thực Việt Nam hay ấn tượng với một số nguyên liệu kỳ dị như rắn, chuột ...

Tuy nhiên, nếu đi khắp ba miền sau này.

Món ưa thích nhất trong các bữa cơm hằng ngày của gia đình Việt là cơm với cá.

Miền Bắc thì cá được chế biến thành cá kho trám, kho riềng, kho sung.

Miền trung miền nam thì kho sả, nước dừa hoặc làm mắm cá.

Nói về chế biến cá thành món ngon thì không có dân tộc nào có kỹ thuật như người Việt.

Chỉ đôi ba con cá trê đồng hay cá quả cùng đống rơm là có thể thành món nướng trui. nhưng nướng thế nào để con cá ra được cái vị ngọt nguyên bản từ thịt cá thì lão Tuất và lão Sửu chính là hành gia trong việc này.

Hai lão kệ Tứ gia ba hoa, tay thoăn thoát chuẩn bị mọi việc.

Không quên nấu một nồi lòng cá cho Đại hoàng.

Hai lão biết con chó nhỏ này sắp lên hàng Ngũ gia đến nơi, kênh kiệu không sao kể xiết.

Lúc chiều lão Sửu chỉ với lấy cái túi hạt giống của Bách để chuẩn bị đem ngâm hạt đã bị nó cắn vào cổ tay.

Bách không thấy kịp thì có lẽ nó đã sống chết với lão Sửu.

Hắn ăn cá nướng cùng lão Tuất và lão Sửu, lại làm ba chén rượu nếp.

Sau đó lão Sửu chuẩn bị cho hắn một ổ rơm lót trên chõng.

Hắn mệt mỏi rúc vào ổ rơm ngủ thiếp đi.

Hôm sau hắn dậy sớm, trộn bầu đất rồi chuẩn bị đất trên khoảnh sân gần lều.

Hắn ở lại lán hai ngày để quan sát các loại hạt đến khi nảy mầm mới thở phào, không có loại nào mất sức nảy mầm cả.

Hắn đem những hạt lúa Khang Dân, hạt Ngô, lạc và đậu tương gieo xuống rồi tưới đủ ẩm.

Hắn còn cẩn thận đánh dấu từng loại.

Dặn dò lão Tuất và lão Sửu cách thức trồng từng loại và trông coi cẩn thận rồi mới đi về nhà họ Đinh.

Hắn xin phép Đinh Bình để lên núi thì Đinh Nhu cũng đòi đi theo.

Hai người theo con đường cái quan để lên đền gặp Đinh lão.

Lên đến nơi thì trời đã về chiều.

Đinh lão đang quét sân Đền.

Đinh Nhu thấy ông thì lao đến, cầm cây chổi quét thay ông, miệng xin xỏ:

- Ông cho cháu lên đây hầu hạ ông.

Lão Đinh xoa đầu đứa cháu đích tôn, âu yếm mắng:

- Phá chưa đủ sao, lần trước ngươi lên đây đã làm hỏng chân của giá treo chuông, ta đã phải đến làng rồi đấy.

Lại quay lại chỗ Bách nheo mắt:

- Tiểu tử giúp Đinh gia ta một việc, muốn ta thưởng gì đây?

Bách cả cười:

- Chỉ là việc nhỏ thôi ạ.

Huống hồ cháu cùng được lợi 200 quan tiền.

- Ta biết thuật tính toán của cháu giỏi, không muốn nói đến chuyện sổ sách và 200 quan kia.

Nhưng cháu đồng ý dạy thuật ấy cho Dương chưởng quầy làm ta suy nghĩ.

Sư phụ cháu không dặn dò cháu gìn giữ kiến thức của sư môn hay sao?
 
Đông A Nông Sự
Chương 12: 10 thạch một mẫu


Bách thấy lão nói thể thì ngạc nhiên, cuối cùng nhỏ nhẹ đáp:

- Ông cả nghĩ rồi, sư phụ cháu không bao giờ cấm cháu truyền đạt kiến thức này.

Lão nhân gia ghét nhất là kẻ bo bo giữ mình.

Ngài nói ở phương Tây xa xôi có người còn mở trường, truyền bá kiến thức cho mọi tầng lớp nhân dân.

- Chính vì ở ta bị lão hủ nho Khổng Khâu ảnh hưởng, cái gì mà "thuật nhi bất tác", thật là người mơ nói càn.

Kiến thức là phải được người người chiêm nghiệm, nơi chốn bàn bạc, phản biện thì mới đơm hoa kết trái được.

- Nho giáo là lối tư duy trọng cổ, thích đem những điều tốt đẹp của người xưa ra làm chuẩn mực.

Nhưng sư phụ thường nói với cháu một câu mà đến giờ cháu vẫn nhớ: "Công thức cho sự ngu dốt chung thân là: Thỏa mãn với quan điểm của mình và hài lòng với tri thức của mình".

Lão Đinh đỏ mặt tức giận, lão là người được hệ thống giáo dục phong kiến đào tạo.

Sao chấp nhận được có người phê bình Khổng Tử.

Nhưng nghĩ lại thì đúng là tư tưởng Nho giáo có nhiều khuyết điểm.

Người xưa có những thành tựu rất vĩ đại, cả trong tư tưởng văn hoá và kỹ thuật.

Nhưng việc giữ kiến thức riêng cho mình, bo bo trong phạm vi gia đình, môn phái đã nhiều lần làm thui chột những kiến thức đó.

Lão không phản biện được Bách nhưng cũng nẹt hắn:

- Cháu và sư phụ ở trên núi lâu, nói năng không kiêng dè.

Ta không luận đúng sai nhưng nếu cháu muốn ở lại đây thì điều đầu tiên là phải học cách kính nhi viễn chi.

Lời nói không kiêng dè sớm muộn sẽ hại cháu thôi.

Bách giật mình biết đã thất thố, hắn chắp tay với Đinh lão:

- Lời ông nói cháu xin ghi nhớ, xem ra tâm tính của cháu còn phải rèn luyện nhiều.

Lần này cháu lại nói lời không phải rồi, mong ông bỏ qua.

Lão Đinh dịu giọng:

- Gặp chuyện cần tuỳ cơ ứng biến.

Đây không phải thế giới mà một đứa trẻ 15 tuổi như cháu trình bày quan điểm cá nhân.

- Cháu là đứa bé thông minh nhất mà ta từng gặp, lại được cao nhân chỉ dạy thủa nhỏ, trí tuệ có lẽ chỉ sau Quan Trạng Nguyên Nguyễn Hiền.

- Khi xưa ngài Thượng thư đỗ Trạng Nguyên năm 13 tuổi, khí khái còn lớn hơn cháu nhiều.

Nhưng không phải chỉ vì câu nói "Thần không phải là người sinh ra đã biết, nhưng khi có một đôi chữ không biết thì hỏi thầy chùa" mà Thái thượng hoàng cũng cho về học lễ nghĩa 3 năm đấy sao?

Lại đưa mắt nhìn hắn:

- Cháu thấy mình và ngài Thượng thư thì ai thông minh hơn?

- Cho nên phàm là người thông minh.

Phải dùng cái thông minh này từ từ tạo nên uy vọng cá nhân.

Đợi khi cháu thành công, khai môn lập phái, được người đời công nhận cả về kiến thức và tâm tính mới có thể tuỳ ý phát ngôn.

Bách một lần nữa chắp tay:

- Xin nghe lời ông!

Lão Đinh lại ôn tồn:

- Cháu nói ta nghe, cháu sai bon lão Tuất, lão Sửu làm gì dưới núi?

- Không dấu gì ông.

Sư phụ cho cháu một số hạt cây trồng.

Nói là những cây này có thể cứu dân ta khỏi đói khổ.

Những hạt này khi ở cùng sư phụ cháu đã thấy được tác dụng, cứu đói không nói làm gì, còn mở ra con đường phát triển cho Đại Việt, đây con hơn ngọc trời ban xuống.

Đinh lão nghi hoặc, suy nghĩ một lát thì khuôn mặt giãn ra:

- Những cây này là cây gì?

- Đây là một giống lúa, một giống lương thực là Ngọc mễ và một số loại lạc, đậu.

- Lúa, lạc, đậu thì là cây trồng bình thường.

Còn Ngọc mễ thì có chút kỳ lạ.

Những cây này có gì là mà cứu được đói cho dân ta.

Bách mỉm cười hỏi Đinh lão:

- Một mẫu ruộng tốt có thể đạt sản lượng bao nhiêu thưa ông?

Đinh Nhu ở bên cạnh nãy giờ, nhìn ông đang trầm ngâm, lại quay sang Bách nhanh nhảu:

- Việc này ta biết, ruộng tốt nhất nhà ta vào vụ xuân trồng giống Chiêm di thì thu được 5 thạch một mẫu.

Hắn nói có vẻ tự hào.

Bách thầm tính toán.

Một thạch lương thực tương ứng cới 72 kg gạo, một mẫu đất là 10 sào tương ứng 3600 m2.

Vậy 5 thạch một mẫu tương đương với năng suất 1 tấn lúa/ha.

Như Đinh Nhu nói, đây là ruộng tốt nhất của nhà họ Đinh, cũng là kỷ lục canh tác của người xưa trên một đơn vị diện tích rồi.

- Vậy nếu ta nói giống lúa mới này có thể đạt được 10 thạch trên một mẫu thì sao?

Đinh Nhu đánh cho hắn một ánh mắt khinh thường:

- Bốc phét!

Cây lúa cũng chỉ có hạn, chăm bón kiểu gì mà có thể đạt đến từng ấy được.

Đinh Nhu có vẻ không tin.

Bách chỉ cười quay sang Đinh lão:

- Vậy cháu đánh cược với lão.

Nếu giống lúa kia có thể đạt được 10 thạch trên một mẫu lão phải đồng ý với cháu một điều kiện.

Lúc này Đinh lão đã thôi trầm tư, nheo mắt cười:

- Nhóc con lém lỉnh lắm.

Nhưng quả thật giống lúa kia có thể đạt 10 thạch một mẫu ư?

Bách khẳng định, không quên giơ lòng bàn tay hướng lên trời:

- Chắc chắn!

Không những giống lúa kia, mà cây Ngọc Mễ của cháu cũng có thể đạt được như thế.

Nhưng ông thử nghĩ xem.

Một loại cây mà không cần chủ động nước tưới, trên chân đất cao mà vẫn đạt được 10 thạch một mẫu thì có ý nghĩa gì?

Lão Đinh lại thừ người.

Lão đã sống một đời người, trải bao biến loạn nên là người hiểu nhất tầm quan trọng của lương thực với đời sống người xưa.

Nói không ngoa thì đúng với câu Dân dĩ thực vi tiên.

Vua gọi là thiên tử, là con trời nhưng với người dân, thì cái ăn bỏ vào mồm vẫn là điều thực tế nhất.

Ai làm cho họ ăn no, thì đấy mới là thiên tử.

Nhà Trần cũng mới ở ngôi được 30, 40 năm.

Ai biết được sau này còn thay đổi thế nào.

Lương thực quan trọng nhất của người Việt là lúa nước.

Để canh tác lúa nước tất nhiên quan trọng nhất là nước.

Cần phải có sự phối hợp của một số lượng người lớn, cùng nhau quản lý hệ thống kênh mương trong một khu vực.

Lý tưởng nhất là với đơn vị hành chính cấp làng xã.

Không ai có thể một mình canh tác lúa nước được.

Trong một cộng đồng nhỏ, người Việt cùng sinh sống, canh tác, đóng góp vào các dịch vụ công cộng trong làng như: đắp đê, nạo vét kênh mương và sinh hoạt văn hoá trong đó.

Chính điều này làm nên bản sắc văn hoá làng xã của người Việt, có khi phép vua còn thua cả lệ làng.

Năng suất lúa của các giống lúa địa phương đã đến ngưỡng, dù có cố gắng chăm bón cũng không thể tăng thêm được nữa.

Nay Bách lại cam đoan sẽ có một giống lúa năng suất cao gấp đôi, lại còn có một loại lương thực không cần canh tác trên chân ruộng chủ động nước.

Thú thật là lão Đinh không tin lắm.

Nhưng nghĩ đến viễn cảnh những lời người thanh niên nói là sự thật.

Lão Đinh hạ quyết tâm:

- Khoan nói chuyện đánh cược.

Nếu theo lời cháu, thì đây là đại sự, không thể hời hợt.

Ta sẽ đi cùng cháu xem thế nào?

Bách đã tính toán, với cách canh tác của hắn.

01 mẫu ruộng tốt có thể đạt 20 thạch, đời sau tính ra cũng chỉ 4 tấn/ha, trong điều kiện lý tưởng có phân đa lượng hoá học hắn có thể làm cho năng suất lúa lên 15 – 20 tấn, nhưng hắn cũng đề phòng không dám ngoa ngôn.

Nên chỉ nói là 10 thạch.

Lão Đinh sốt ruột đã muốn xuống núi rồi.

- Cụ không cần vội, cháu đã chuẩn bị tốt mọi thứ.

Mạ đã gieo rồi nhưng phải nửa tháng nữa mới nên cấy.

Ta cứ ở trên Đền.

Đến lúc nào cấy cháu sẽ đưa cụ đi.

- Vậy cứ làm theo ý cháu, nhưng mai ta sẽ bảo Đinh Đang bắt lão Tuất và lão Sửu trông coi và canh phòng cẩn mật hơn.

Thuật nhi bất tác: chỉ thuật lại mà không sáng tác gì thêm

The recipe for perpetual ignorance is: Be satisfied with your opinions and content with your knowledge - Elbert Hubbard

Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247) thời vua Trần Thái Tông.

Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên năm 13 tuổi.
 
Đông A Nông Sự
Chương 13: 10 thạch một mẫu (2)


Thấm thoát đã được nửa tháng, thời gian này hắn ở cùng Đinh Nhu rất hợp ý.

Hai người gần tuổi, đều là thanh niên.

Từ lúc Đinh Nhu thấy được cái xẻng công binh và cái kính râm của Bách thì giữ rịt lấy.

Chỉ chờ trời nắng là đeo lên nhìn mặt trời.

Cái xẻng thì hắn xem như báu vật, chưa bao giờ hắn thấy có thứ công vụ nào kỳ diệu như thế.

Vừa đào, vừa cuốc, lại có thể làm dao chặt, dài ngắn tuỳ thích.

Hắn mấy ngày nay định bụng sẽ sáng tạo ra một võ kỹ sử dụng cái xẻng này, ngày ngày múa may làm Bách cười rớt cả hàm.

Đại hoàng thấy hắn độc chiếm hai thứ kia, nó tức lắm nhưng không làm gì được.

Giờ đã sang tiết Thanh Minh.

Bách bấm tay tính toán rồi mời lão Đinh xuống núi.

Ba ông cháu đi từ sáng sớm, không qua nhà mà ra thẳng lán của lão Tuất.

Mạ đã lên đều, xanh ngăn ngắt.

Bách kiểm tra thì mạ đã lên 2 – 3 lá.

Hai khu đất Bách chọn cũng đã được tá điền dọn dẹp sạch sẽ, bón phân trâu bò hoai mục được lão Sửu đi thu thập.

Khu đất đầu tiên trên chân đất cao hơn đã trồng lên những cây ngô, đậu tương và lạc đầu tiên.

Tuy chỉ là một khoảnh nhỏ nhưng mang theo bao hy vọng của Bách.

Đại hoàng nhìn thấy lão Sửu lại ra chiều nạt nộ, sủa gâu gâu khiến lão chỉ muốn đá cho nó một cái.

Nhưng lão biết, đá con chó này là chết dở, lão sẽ không được yên ổn đâu.

Lão Sửu bẽn lẽn nói:

- Tứ gia, ta có điều này góp ý, mong Tứ gia bỏ qua.

- Lão cứ nói.

- Mạ này e còn yếu, ta nên để thêm mấy ngày cho mạ được 5 đến 6 lá mới cấy.

Trước nay nông hộ đều làm thế cả.

Bách cười nói:

- Nông hộ canh tác bao đời tất nhiên là có kinh nghiệm, ta xin cảm ơn mọi người nhắc nhở.

Nhưng mọi người nghe ta một lần, mạ nền thì 2 - 3 lá, mạ dược 4 - 5 lá là cấy.

Đừng để lâu hơn.

Nhà ta sau này cứ thế mà làm.

Mà lão đi gọi tất cả tá điền đến đây, ta sẽ dạy cấy lúa.

Lão Sửu nghe thế thì băn khoăn lắm, nhưng tá điền là làm công cho chủ nhà, nghe lời là trên hết, hắn quay sang nhìn thì Đinh lão bên cạnh nói:

- Tứ gia đã căn dặn thì lão cứ làm, tổn thất thì là do nhà họ Đinh tổn thất, mọi người cứ nghe hắn là được.

Lão Sửu dạ ran rồi nhanh chân đi gọi tá điền.

Khi mọi người đã đông đủ bên bờ ruộng thì Bách bắt đầu:

- Nhờ một người xuống cấy cho ta thấy.

Đây đều là người sống bằng nghề làm ruộng, việc cày cấy ai cũng thạo.

Một người xuống ruộng cầm nắm mạ cắm xuống ruộng, được một khoảnh thì Bách bảo dừng lại.

Bách xuống ruộng, cầm một nắm mạ rồi nói:

- Vừa rồi ta quan sát mọi người cấy.

Có một số điểm ta thấy cần điều chỉnh.

Đó là khoảng cách giữa các cây và độ sâu khi cấy.

Ta hướng dẫn mọi người cách cây mới.

- Mọi người so cách này với cách cấy cũ, nếu năng suất cao hơn với ruộng đã trồng thì từ sau nhà ta cứ thế mà làm.

Tá điền nghe thế thì cũng tập trung quan sát hắn hướng dẫn:

- Khi cấy cây mạ xuống đất, hai ngón tay cái và trỏ cầm sát gốc cây mạ, 3 ngón tay còn lại của bàn tay thuận co lên để giữ cây mạ.

- Khi cắm mạ xuống chỉ nên cắm độ sâu vừa phải chừng 2 đốt ngón không được cắm sâu như vừa rồi.

- Khoảng cách giữa các cây cũng cần chú ý.

Không để khoảng cách quá mau.

Giống lúa này khoảng cách giữa hai cây vào khoảng hơn một gang rưỡi là vừa.

Hắn miệng nói, tay nhanh thoăn thoắt, chẳng mấy chốc đã làm xong.

Tá điền thấy hắn cấy rất nhanh, nhưng cây nghiêng ngả mà không đứng thẳng.

Trộm nghĩ cấy kiểu này chắc cây chết hết.

Nhưng không dám nói ra miệng.

Hắn gọi một người xuống, cầm tay chỉ việc cho hắn.

Chỉ một lúc là tá điền nắm được.

Hắn lại quay lên bảo:

- Ta biết mọi người có thể chưa tin cách cấy này.

Nhưng chúng ta cùng chờ kết quả sẽ thấy.

Kết thúc vụ này sẽ thống kê xem lúa của ta hay lúa của mọi người cấy năng suất cao hơn.

Nếu thua ta sẽ bù cho mỗi nhà một thạch lúa.

Tá điền nghe thế thì vững dạ hơn nhiều.

Số lượng mạ có ít, mọi người không phải ai cũng được cấy.

Chỉ một lúc thì hết nên hắn cho mọi người giải tán.

Quay lại lán thì Đinh lão nói với hắn:

- Cháu nói năng suất tăng cao có lẽ cũng không phải là do giống lúa mới phải không?

Bách cười nói:

- Đúng vậy, giống lúa rất quan trọng nhưng mỗi giống cũng có một tiềm năng năng suất nhất định.

Muốn phát huy hết tiềm năng này cần áp dụng đúng kỹ thuật.

Dân ta có câu "Mạ già, ruộng ngấu", nhưng câu này không chính xác.

- Khi cấy mạ già, cây lúa đẻ nhánh kém, có khi còn không đẻ nhánh.

Nhiều khi chỉ sau một tháng, lúa đã có đòng, bông bé như bông may, hạt lép.

- Cháu hướng dẫn kỹ thuật này chủ yếu là để thay đổi tập quán cũ, chuyển sang cấy mạ non, khoảng cách lớn và cấy nông để cây lúa bén rễ nhanh hơn.

Những điều này cháu giải thích bây giờ thì mọi người không chịu hiểu đâu.

Cứ chờ đợi kết quả rồi thì mới có người tâm phục.

- Vậy ta cứ chờ xem sao.

Bách quay lại hỏi lão Tuất:

- Ruộng ngọc mễ và cây đậu chú cứ theo lời ta nói mà chăm sóc.

Ta dặn chú tìm cây điền thanh.

Chú đã lấy được hạt chưa.

- Ta đã lấy được rồi, theo lời tứ gia cũng đã trồng một khoảnh ở gần lán lão Sửu.

- Vậy ta cũng yên tâm.

Đinh lão quay sang bảo lão Tuất:

- Việc này tạm thời đừng nói với người trong làng, nếu có ai hỏi thì cứ nói đệ tử của ta thích trồng cấy, nghịch ngợm vài khoảnh ruộng.

Các tá điền ngươi cũng phải dặn dò cho kỹ.

Giờ ta và Tứ gia đi về, có việc gì cần báo lại ngay.

Lão Đinh nói xong thì cùng Bách đi về Đinh gia.

Lão lâu lâu mới về nhà một lần.

Con cái trong nhà thấy lão về thì chờ sẵn ở cửa, ai cũng mặt mày hớn hở.

Lão Đinh vào từ đường thắp hương rồi ra đại sảnh.

Con cháu đứng đầy xung quanh vấn an lão.

Lão Đinh nói chuyện với họ một hồi rồi ra hậu viện nghỉ.

Nhà họ Đinh tối đó lại bày tiệc sum vầy dưới gốc cây khế.

Đại hoàng lúc này đã quen thuộc với Đinh gia, nó cũng bị lũ trẻ trêu đùa.

Cứ được một lúc là lại dồn theo chúng.

Lũ trẻ thích chí cười vang sân.

Đinh Nhu lấy một ít kẹo Singum của Bách, cho mỗi đứa một viên, bọn trẻ con như thấy của báu, liên mồm chạy theo đại ca.

Mọi người ăn uống vui vẻ một hồi, bày bàn trà uống nước, thì lão đại Đinh Bình đưa cho cha một phong thư:

- Thưa cha, có hai bức thư của tiểu muội và Lê gia gửi cho cha.

Lão Đinh nhận hai phong thư, vội vã bóc ra xem.

Hồi lâu thì chép miệng:

- Nó ở Kinh thành vẫn tốt, vẫn nhớ đến người cha già này.

Đinh Sức lại chen vào:

- Cha đựng giận muội muội nữa.

Muội ý đi một thời gian rồi sẽ về bên cha thôi.

- Nó là con gái bảo bối của ta, giận nó thì cũng chỉ giận ra miệng thôi.

Chỉ trách bản thân ta nuông chiều nó quá, dạy nó học vấn cả đời ta.

- Mẹ nó thì mất sớm, không ở bên cạnh dạy nó đạo phụ nhân.

Trở nên ương bướng như thế.

Thân nhi nữ mà lại có ước mơ trở thành hành gia toán thuật.

Lại còn dám trước từ đường nói với ta đời này không lấy chồng.

Thực làm ta muốn thổ huyết.

Đinh Bình thấy cha trách mắng, tìm cách nói đỡ cho muội muội:

- Bản tính kiêu ngạo như thế, vào kinh sẽ sớm có người dạy dỗ nó.

Núi cao còn có núi cao hơn mà cha.

Đinh lão giơ phong thư, tỏ vẻ bất đắc dĩ:

- Nhưng khốn nỗi, Đỗ lão thái thái nhà họ Lê viết thư nói nó được Bảng nhãn Lê Văn Hưu yêu quý, dẫn đi làm quen với văn nhân nhã sĩ kinh thành khắp nơi.

- Mấy lượt đấu toán học với người ta đều thắng, danh tiếng lên cao.

Bây giờ người kinh thành bắt đầu gọi nó là "Thần toán tiên tử".

E rằng càng ngày càng kiêu ngạo, ta thật hối hận khi trước nó bám riết ta bắt dạy toán.

Lại vì yêu chiều nó mà sinh chuyện.
 
Đông A Nông Sự
Chương 14: Mạ già, ruộng ngấu


Đinh Sức điển hình của gió chiều nào che chiều ấy, chép miệng:

- Nhưng con bé giỏi giang như thế.

Cũng làm cha nở mày nở mặt, nhà họ Đinh từ nay cũng coi như có chút danh tiếng trong kinh thành.

- Vẫn biết như thế.

Nhưng phụ nhân quan trọng nhất là gì?

Kiếm cho mình một phu quân tốt, bảo vệ nó cả đời là được.

Ta chỉ sợ nó mải mê với canh danh hão ấy rồi lỡ dở cuộc đời thôi.

Bách nghe cha con nhà họ Đinh vừa nhai trầu vừa nói chuyện, thế mà lại gặp được danh nhân.

Lê Văn Hưu là sử gia đáng tôn kính, chính là người chủ biên bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, tuy bộ sử này đã không còn nhưng là tiền đề cho nhiều bộ sử sau này của Việt Nam.

Hắn cũng mong muốn sau này được gặp những danh nhân này nhưng hiện nay cha con Đinh lão đang bàn việc nhà, cũng không tiện chen miệng vào.

Bách nhấp một ngụm trà, hắn chưa được gặp Đinh nhị tiểu thư này.

Nhưng nghe người trong nhà nói nàng tên là Đinh Tú, năm nay 17 tuổi.

Nàng học được chân truyền của Đinh lão, tinh thông cầm kỳ thi hoạ nhưng giỏi nhất là toán thuật.

Năm ngoái vì Đinh lão định hứa gả nàng cho con trai Đình trưởng nhà họ Phạm bên Ba Vì.

Nàng tức giận trốn đi lên kinh, ở nhà Bảng nhãn Lê Văn Hưu.

Lão thái thái nhà họ Lê là Đỗ Thị Hoà, con gái của cụ Đỗ Tất Bình.

Chính là thầy học của Đinh lão.

Cụ Đỗ Tất Bình là bậc đại nho, tinh tường thuật phong thủy.

Đinh Tú được lão thái thái yêu lắm, từ nhỏ mẹ mất sớm nên hay ở với bà.

Được bà coi như bảo bối.

Anh em Lê Văn Hưu cũng coi nàng như tiểu muội, yêu chiều hết mực.

Đinh lão đã mấy bận viết thư cho Đỗ lão thái thái dò đón nàng về.

Nhưng lão thái thái chỉ buông một câu "muốn đón Tú nhi thì lên kinh gặp ta" làm Đinh lão chỉ biết xin lỗi nhà họ Phạm, không dám nói đến việc cưới gả nữa.

Bách thấy thời đại này, có một cô gái độc lập như thế đúng là hiếm gặp.

Nói chuyện một lúc thì Đinh lão quay sang dặn dò:

- Sắp tới ngày tế tổ vua Hùng, năm nay ta đã nhận được lệnh của Triều đình.

Chiêu Minh Vương sẽ thay vua lên Đền tế tổ.

Chiêu Minh Vương là bậc hiển quý nhất hiện nay, thân đệ đệ của Quan gia, nhưng lại là học trò của Quốc sử viện giám.

Có lẽ lần này Lê Văn Hưu cũng đi cùng Chiêu Minh Vương lên đây.

- Xong việc tế tổ lần này, ta cũng sẽ tiến kinh cùng Quốc sử viện giám để vấn an lão thái thái.

Đồng thời cũng xem con bé Tú nhi làm cái gì trên kinh, ta thật không yên tâm chút nào về nó.

Ngươi là xã trưởng, cần họp phụ lão trong xã lại, bàn bạc việc tiếp đón cho tốt.

- Xin vâng lời cha.

Bách lại cùng Đinh lão lên Đền học tập, thời gian này hắn học rất chú tâm.

Hắn lấy bản Đại Việt sử ký của mẹ mình trong điện thoại, đọc lại về giai đoạn này.

Ghi chép một số mốc thời gian quan trọng.

Ngoài việc này ra thì thỉnh thoảng xuống núi thăm mảnh ruộng, kiểm tra cây giống.

Lúa đã lên xanh, đẻ nhành tốt.

Ngô thì cũng được 5, 7 lá rồi, các cây lạc đậu thì được lão Tuất và lão Sửu chăm như con mọn, không để sâu bọ tới gần.

Những lúc xuống núi, hắn đều tập trung tá điền, nói cho họ một vài kiến thức canh nông.

Không biết có vào tai họ không nhưng hắn nghĩ bụng cứ làm thôi.

Kết quả được đến đâu hay đến đấy.

Càng gần đến tháng 3 thì trên đền càng nhộn nhịp.

Quan địa phương cũng lên đền mấy lượt để chuẩn bị cho ngày tế tổ.

Theo lệ thì ngày 11 tháng 3 âm lịch hàng năm, các làng xung quanh đền Hùng sẽ tổ chức cúng tế vua Hùng Vương thứ 18.

Các làng xung quanh như Tiên Cương, Hy Cương, Thậm Thình, Phượng Giao, Cổ Tích đều tổ chức các đoàn rước lên đền rất rôm rả.

Năm nay, do vua mới lên ngôi cử Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải thay mặt Trần Thánh Tông lên tế quốc tổ Hùng Vương, đây cũng là nhà Trần tỏ cái ân đức của Vua Hùng mà làm vậy.

Nhằm ngày mùng một, khi hương thân mấy làng đang tập trung chuẩn bị làm lễ cúng.

Giờ Tỵ mà trời bỗng tối đen như mực, mọi người ngây ra hoảng sợ.

Lão Đinh là thủ từ, là người đứng ra quán xuyến mọi mặt cũng vô cùng kinh hãi.

Lão biết đế vương chính là mặt trời, nhật thực xảy ra ứng với điềm phạm vào đế vương.

Vua mới vừa đăng cơ đã có điềm này quả thật là đại kỵ.

Riêng Bách và Đinh Nhu thì biết trước điều này rồi, hắn đã bảo tên kia chuẩn bị.

Hai tên chỉ chờ Nhật thực là trèo tận trên cây cao, đeo kính râm ngắm nghía.

Đinh Nhu xem một hồi thì thấy rõ một hình cầu màu đen tiến gần đến mặt trời, một lúc thì che khuất rồi lại sáng trở lại.

Hắn quay ra nói:

- Khi xưa nghe Thiên cẩu thực nhật thì ra chỉ là láo toét, ta thấy rõ ràng có một khối cầu chắn ánh sáng mặt trời.

- Khối cầu đấy là mặt trăng đấy.

Hai đứa trèo xuống, quay lại chính điện.

Bách thầy các bô lão mặt đầy lo lắng, đứng ngồi không yên.

Viên An Phủ Sử Tam Giang lộ là Trần Quốc Lặc cũng cấp tốc lên đền.

Mặt mày ủ rũ, hắn là quan phụ mẫu phụ trách vùng này, theo lệ hàng năm chính là chủ tế.

Thay mặt Quan gia làm tế lễ với vua Hùng, cầu cho quốc thái dân an.

Năm nay vì có Chiêu Minh Vương đến nên hắn càng phải cẩn thận.

Xảy ra nhật thực làm hắn hoảng hốt, tuy cũng không tội vạ gì đến mình nhưng ai biết được có xảy ra chuyện giận chó chửi mèo hay không?

Vừa lên đến Đền đã gọi lão Đinh ra nói:

- Lão Đinh, xảy ra nhật thực như vậy mọi người càng cần gắng sức chuẩn bị.

Ngày 10 Chiêu Minh Vương sẽ lên đến đây, lão bố trí chỗ nghỉ ngơi cho Vương gia và bộ hạ thật chu đáo.

Ta dự định sẽ đón ngài nghỉ trong trang viên ở Kim Đức.

Đừng để ngài có gì phật ý.

Đoạn quay sang mấy hương thân của các làng:

- Các ông cũng về bàn với lý trưởng các làng Tiên Cương, Hy Cương, Thậm Thình, Phượng Giao, Cổ Tích ... nghĩ cách tổ chức thêm các trò vui, đu dây, cưỡi ngựa, kéo xe ... cốt làm cho náo nhiệt lên.

- Nếu cần thì ra bãi Bạch Hạc tổ chức bơi chải và đua thuyền.

Tuyền chọn cho ta tú nữ các làng, tập hát cho tốt mấy điệu hát xoan, hát ghẹo.

Vương gia đến thì cho hát hầu trong Đình làng.

Tối đó sẽ làm thật huyên náo, mong Vương gia vui lòng mà quên đi điềm xấu.

Các hương thân dạ ran rồi quay đi chuẩn bị.

Trần Quốc Lặc cũng lên đền, kiểm tra trong ngoài một lượt, khi đi xuống thì sai dân binh canh phòng nghiêm ngặt rồi mới hồi phủ.

Hắn hạ cấm lệnh tất cả quan khách chỉ vãn cảnh xung quanh đền.

Không ai được vào bên trong.

"Năm Khải Định thứ hai, tức năm 1917 lịch dương, Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ Lễ ấn định lấy ngày mồng 10 tháng 3 hàng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ Hùng Vương thứ 18 một ngày, ngày 11 tháng 3, do dân sở tại cúng tế".

Đây cũng là cứ liệu xác tín nhất để xác định rõ ràng ngày lễ chính thức Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng Ba âm lịch chỉ được ban hành từ hoàng triều Khải Định.

Tương đương quan Tri phủ đời sau, quan hàm chánh thất phẩm, quản lý một tỉnh.

Kinh trạng nguyên khoa Bính Thìn niên hiệu Nguyên Phong thứ 6, đời Trần Thái Tông.

Thời Trần chia Thanh Hoá, Nghệ An gọi là trại, những vùng khác gọi là kinh.
 
Đông A Nông Sự
Chương 15: Thiên cẩu thực nhật


Quan trên đi rồi, Bách nói với Đinh lão đang thất thần:

- Nhật thực này có gì ghê gớm mà quan viên và hương thân hốt hoảng thế cụ?

- Với chúng ta thì nhật thực cũng không nhiều ảnh hưởng, nhưng theo thuyết nhân thần cảm ứng.

Bậc đế vương làm vua thiên hạ.

Mọi hành đông suy nghĩ đều được cảm ứng bởi người và trời.

- Thế cho nên dị tượng xảy ra là có liên quan đến bậc đế vương.

Những hiện tượng như nhật thực, nguyệt thực, sao sa, động đất, đều là do cái đức của Đế Vương cả.

Đinh Nhu cười to:

- Không phải đâu ông ơi, chỉ là Mặt trăng chạy cắt ngang Mặt trời nên che lấp nó một lúc thôi.

Làm gì có nhiều chuyện như thế.

Lão Đinh tím mặt nạt:

- Im miệng, ai cho ngươi xen miệng vào đây.

- Cháu vừa ...

Hắn nói được nửa câu thì sợ ông cụ cũng không nói nữa.

Bách cười giải vây cho hắn:

- Sao có chuyện ấy được, những hiện tượng tự nhiên này đều có quy luật, có thể tính toán được.

Hoàng triều nhà Trần sẽ còn tồn tại, suy vi làm sao được chỉ vì cái mấy cái hiện tượng này.

- Cháu còn nhỏ, sao nói kiêu ngạo thế.

Nhật thực là do thiên cẩu thực nhật, làm sao tính toán được.

- Cháu biết ngày hôm nay có nhật thực từ lâu rồi.

Cháu còn biết ngày 25 tháng này, mặt trời xuất hiện hai quầng, quầng bên trong mầu vàng.

Lão Đinh nhìn Bách kinh hãi.

Khi xưa lão học với sư phụ Đỗ Tất Bình ở thôn Phúc Chữ (nay là làng Phủ Lý Trung).

Đỗ lão là đại nho đương thời, tinh tường toán học và thuật phong thủy.

Đỗ lão có nói về việc bên nhà Tống có người tính toán được nhật thực, nhưng thuật ấy đã thất truyền từ lâu.

Bây giờ có người nói làm được việc này, lão hồ nghi lắm.

Nhưng biết Bách được cao nhân dạy bảo, nếu lời hắn là đúng thì quả thật là việc tốt cho đất nước.

Lão đang suy nghĩ thì Đinh Nhu chen vào:

- Tứ thúc nói đúng đây, thúc nói với cháu mấy hôm trước rồi.

Cháu và Tứ thúc vừa đi xem xong.

Mặt lão Đinh trở nên ngưng trọng:

- Việc nhật thực này đã vô cùng hệ trọng, lại xảy ra không đúng lúc.

Triều đình chắc cũng đang xôn xao, lúc này Quan gia hẳn là đang tìm cách đối phó với việc này.

Nhưng nếu đúng như cháu nói, ngày 25 tháng này, mặt trời có dị tượng thì là điềm đại cát.

Nếu báo việc này lên Chiêu Minh Vương thì sẽ là công to.

- Cháu chắc chắn, việc này là do sư phụ cháu tính toán rồi nói cho cháu mấy năm trước.

Không thể sai được!

Bách lại tỏ ra hào hứng vưới danh tự Chiêu Minh Vương kia, hỏi tiếp:

- Cụ đã từng gặp Chiêu Minh Vương chưa?

Ngài là người thế nào?

- Ta chưa được gặp ngài.

Nhưng trong ngoài triều đánh giá người này cao lắm.

Chiêu Minh Vương sinh năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 10, năm nay mới 20 tuổi.

Là con thứ ba của vua Trần Thái Tông, mẹ là Thuận Thiên hoàng hậu Lý thị.

- Ông là em cùng mẹ với Quan gia.

Khi Vương gia mới sinh, phát chứng kinh suýt chết, Thái Tông lấy áo của Thượng hoàng và thanh gươm báu truyền quốc để bên cạnh rồi bảo ông: "Nếu sống lại, sẽ ban cho những thứ này".

- Đến khi sống lại, Thái Tông nói: "Gươm báu truyền quốc, không thể trao bừa, chỉ ban cho áo của Thượng hoàng thôi".

Có thể thấy địa vị Vương gia cực cao.

Trong triều chỉ có Hưng đạo vương mới có thể so sánh.

Bách tỏ ra băn khoăn:

- Như vậy mà Quan gia không có tỵ hiềm gì với Chiêu Minh Vương sao?

Đinh lão vuốt chòm râu:

- Quan gia là người rộng lượng, nhà Trần lại vốn có lệ thân cận với anh em.

Đối với người trong hoàng tộc, quan gia luôn coi là thân thiết.

- Ngài còn xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình, cùng ăn uống với họ.

Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau.

- Còn như trong các lễ lớn như triều hạ, tiếp tân, yến tiệc thì phân biệt rõ ngôi thứ, cấp bậc cao thấp.

Vì thế, các vương không ai là không hòa thuận.

Bách giờ mới nghe thấy lệ này, tấm tắc:

- Quả đúng là chuyện lạ.

Các triều vua thường có lòng nghi kỵ, truyện tranh quyền đoạt lợi là không thể tránh khỏi.

Nồi da xáo thịt, đun đậu làm canh, đến nhà Trần chẳng phải là không có sao?

- Tất nhiên là vẫn có.

Như truyện năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 6.

Thái Thượng hoàng lập công chúa Thuận Thiên họ Lý, là vợ của An Sinh Vương, làm hoàng hậu đã gây ra sóng gió rất lớn.

- Nhưng rồi do anh em họ cuối cùng vẫn có lòng yêu thương nhau nên cũng yên ổn.

Chỉ có điều đã tạo thành ngăn cách hai dòng chính của Thái tông.

Bách trầm ngâm nghĩ lại chuyện này, đây là một câu truyện nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.

Trần Thái Tông lúc ấy chưa có con trai.

Trần Thủ Độ xúi với vua lập vợ của An Sinh Vương Trần Liễu làm hoàng hậu vì bà này đang có mang.

Trần Liễu tức tối vì bị cướp vợ, họp quân ra sông Cái làm loạn.

Trần Thái Tông trong lòng áy náy, ban đêm trốn lên núi Yên Tử rồi ở lại đó.

Trần Thủ Độ dẫn các quan đến mời vua trở về kinh thành.

Vua nói:

- Vì trẫm non trẻ, chưa cáng đáng nổi sứ mạng nặng nề, phụ hoàng lại vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, nên không dám giữ ngôi vua mà làm nhục xã tắc.

Trần Thủ Độ mới bảo mọi người rằng:

- Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó.

Thế rồi cắm nêu trong núi, chỗ này là điện Thiên An, chỗ kia là các Đoan Minh, sai người xây dựng.

Vua sợ phải trở về kinh đô.

Ít lâu sau, Liễu tự lượng thế cô, khó lòng đối lâp được, ngầm đi thuyền độc mộc giả làm người đánh cá, đến chỗ vua xin hàng.

Lúc ấy vua đang ở trong thuyền, vội vàng bảo Thủ Đô:

- Phụng Càn Vương (Phụng Càn là tên hiệu cũ của Liễu hồi còn nhà Lý) đến hàng đấy!

Rồi lấy thân mình che đỡ cho Liễu.

Thủ Độ tức lắm, ném gương xuống sông nói:

- Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các người thuận nghịch thế nào?

Vua nói giải hòa, rồi bảo Thủ Độ rút quân về.

Lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (Đông Triều, Quảng Ninh) cho Liễu làm ấp thang mộc.

Xét truyện này thì thấy anh em nhà vua vẫn yêu thương nhau.

Nhưng tam cương ngũ thường là luân lý lớn của loài người.

Thái Tông là ông vua khai sáng cơ nghiệp, đáng lẽ phải dựng phép tắc để truyền lại cho đời sau, lại nghe mưu gian của Thủ Độ, cướp vợ của anh làm hoàng hậu, chẳng phải là bỏ cả luân thường, mở mối dâm loạn hay sao?

Từ đó mở ra lệ xấu cho nhà Trần là quan hệ hôn nhân cận huyết hay hôn nhân nội tộc.

Tuy là triều đại được được lưu danh bởi những võ công hiển hách nhất trong lịch sử Việt Nam nhưng ở triều Trần, cảnh em chồng lấy chị dâu, con cô con cậu, cô cháu lấy nhau rất nhiều ...

Bách chỉ biết cảm thán vì cái triều đại loạn luân này.

Từ nhỏ hắn đã quan tâm đến môn sinh học nên rất rõ về nguy hại của hôn nhân cận huyết.

Các bệnh di truyền trên gene lặn thì nếu bố mẹ cùng mang gen này mới có khả năng biểu hiện gen.

Nhưng nếu là anh em cận huyết thì chắc chắn cả bố mẹ đều đã mang gen này.

Nếu sinh con thì sẽ có 25% khả năng mắc bệnh di truyền này.

Đây là tỷ lệ cực cao, cứ tưởng tượng đời sau của hoàng tộc nhà Trần có ¼ số người mang bệnh di truyền là Bách thấy sự suy vọng là không thể tránh khỏi.

Lời bình của Phan Phu Tiên
 
Đông A Nông Sự
Chương 16: Đua thuyền


Thấm thoát đã đến ngày 10 tháng 3, từ sáng sớm Viên An Phủ Sử Tam Giang là Trần Quốc Lặc đã dẫn bộ thuộc đến bến Bến Tam giang đợi sẵn.

Bến này ở nơi hợp lưu của ba con sông: Sông Thao - sông Đà - sông Lô.

Bạch Hạc được Vua Hùng chọn làm kinh đô đầu tiên của Nhà nước Văn Lang xưa với tên gọi: Tam Giang, Bạch Hạc Từ hay Bạch Hạc Phong Châu.

Là vùng đất "địa linh nhân kiệt".

Chờ tới giờ mão thì thấy xa xa có một đoàn thuyền lớn, dẫn đầu là một lâu thuyền, trên có hai tầng, khí thế hùng tráng.

Theo sau là ba bốn chục thuyền mông đồng sơn son láng bóng.

Hai mạn thuyền tả hữu đều có lỗ để xỏ mái chèo.

Đoàn thuyền từ từ đến gần, Trần Quốc Lặc ra hiệu cho bộ hạ tấu nhạc.

Tức thì, tiếng kèn loa hùng tráng phát ra.

Khi thuyền đến nơi, mới thấy cửa khoang thuyền chạm long vân, sơn đỏ, trên che đệm có đằng văn, dưới trải chiếu lác mịn màu xanh lục, lò đốt kỳ nam, hộp vàng bày cau trầu, có đủ các thứ gối tựa, ống nhổ.

Từ trên thuyền bước ra hai người, theo sau là tả hữu hộ vệ hơn hai chục người.

Người đi đầu là một thanh niên dáng người cao lớn, mắt sáng mày rậm, đẹp tựa như Phan An, Tống Ngọc, lại mang cái khí thế vương hầu.

Người này đầu đội tử kim quan màu tía pha biếc làm thành sáu tua, đính vào đai ngang sau mũ, hoàn làm bằng vàng, quần áo cũng màu tím đính sợi vàng.

Người còn lại trạc 30, mặc mặc bào phục trơn, đội phốc đầu cánh chuồn dài màu xanh.

Dáng người thư sinh, mặt mày hiền hoà lễ độ.

Lúc bước xuống thì trán người thanh niên nhăn lại, nhưng càng như vậy càng đẹp.

Đám phụ nhân đón rước xung quanh bến, tuy ở cách một đoạn xa nhưng ai nấy tim đập loạn xạ.

Thiếu nữ đôi mươi thì hồn vía đã lên mây hết cả.

Trần Quốc Lặc bước đến, vái chào:

- Lặc cùng phụ lão phủ Tam Giang cung nghênh Chiêu Minh Đại Vương, Quốc sử viện giám.

Chúc vương gia hồng phúc tề thiên, quốc sử viện giám thân thể an khang.

Thanh niên đã bỏ vẻ ưu phiền trên trán, lại tươi cười, dang tay đỡ Trần Quốc Lặc:

- An Phủ Sứ không cần đa lễ.

- Mời vương gia lên đài quan sát.

Nhân dân Bạch Hạc có tổ chức bơi chải, đây là truyền thống trong các dịp Hội đền Hùng.

Mong Vương gia đừng chê.

- Rất hay!

Dân ta chuộng võ, giỏi việc thuỷ quân hay không là nhờ các hội thi thế này.

Năm nay ta có thưởng thêm: đội nhất năm mươi lượng bạc.

Nhờ An Phủ Sứ thông tri.

- Hạ quan thay mặt các đội thi, tạ ơn Vương gia.

Rồi quay sang quân hầu sai loan báo ngay tin này.

Lúc này, một hầu cận trong đám người lên đài cao, dùng loa phóng thanh nói vọng xuống:

- Vương gia có chỉ: Thưởng thêm, đội nhất năm mươi lượng bạc.

Hai bên bờ sông vang lên tiếng hò hét, vỗ tay:

- Vương gia thiên tuế, thiên tuế ...

Cùng với đó không khí như nóng lên, các đội thi sắp sẵn thuyền đua.

Đây là loại thuyền nhỏ, thân dài, chứa được 22 người.

Khi đua sẽ có 01 người chèo lái, 01 người chỉ huy, 20 người chèo.

Các đội thi sẽ bơi thuyền một vòng rồi quay trở lại điểm xuất phát.

Cự ly nếu tính theo độ dài thời nay vào khoảng 3km.

Đa số các làng đều chọn những thanh niên trai tráng khoẻ mạnh nhất làng.

Bách nhìn những thanh niên cởi trần tất cả đều xăm mình.

Các hình xăm này lấy chủ đề rồng, rắn, thuỷ quái rất ghê rợn, tính thẩm mỹ không cao nhưng trên tay và trên lưng người nào cũng có những chữ "nghĩa dĩ quyên khu" và "hình vu báo quốc".

Bách hỏi thì Đinh lão nói những chữ này là để tỏ lòng yêu nước.

Khi quân Nguyên sang đánh nước ta, ai cũng xăm những chữ này để tỏ cái lòng trung với triều đình.

Từ đấy thành lệ trong dân gian.

Các đội thi lúc này đã vào vị trí, cờ hiệu phất lên.

Đinh Nhu là Đội trưởng cầm lái của làng Thậm Thình.

Người chỉ huy ra sức đánh trống theo nhịp để đội viên đội mình chèo đúng nhịp.

Tinh tuý của môn này là nhịn điệu chứ không hẳn là sức khoẻ.

Lúc đầu đội làng Cổ tích dẫn đầu.

Đinh Đang tức điên lên, cô bé la hét rồi quay lại nói:

- Đại ca làm gì vậy, ta mà được lên thuyền thì làm gì có lý đó.

Bách cười thầm, "Thân hình cô bé thế kia, lên thuyền thì làm gì được chứ?"

Đến cột hiệu vòng lại, do phối hợp không tốt mà đội Thậm Thình dành được lợi thế, từ đó băng băng về đích.

Nhân dân Thậm Thình hò hét khản cổ.

Đại hoàng thì như điên rồi, ư ử cắn vào chân vì không nhìn thấy gì.

Đinh Đang phải bế Đại hoàng lên cho nó nhìn.

Bách thấy thế thay cô bế con chó.

Cô bé chạy ngay ra chỗ anh trai nhảy nhót ăn mừng, đôi má hồng lên.

Các thanh niên trong đội đua của làng Thậm Thình thì như phát rồ, nhảy hết cả xuống sông.

Bách quay sang nhìn thì Đinh Bình đang cười không ngậm được mồm, trong đội đua này năm thanh niên từ nhà họ Đinh ra.

Hai ba năm rồi đều bị thua bởi các làng khác, năm nay Vương gia tới xem lại giành được ngôi đầu, Lý trưởng các làng khác đang nhìn lão đỏ cả mắt.

Trần Quang Khải trao giải cho các làng, động viên một hồi xong.

Trần Quốc Lặc chỉ chờ có thế nói:

- Giờ mời vương gia xa giá đến trang viên ở Kim Đức, hạ quan có chuẩn bị tiệc tẩy trần cho ngài.

- An Phủ Sứ chu đáo rồi.

Ta vâng lệnh Quan gia đến đây làm lễ tế quốc tổ Hùng Vương.

Nhưng cũng muốn bàn bạc với An Phủ Sứ vài truyện.

- An Phủ Sứ cứ làm sao cho đơn giản, đừng sách nhiễu nhân dân địa phương, ta không phải là người quá cầu kỳ chuyện ăn uống, nghỉ ngơi.

- Vâng lệnh vương gia, mọi thứ chuẩn bị cho tế lễ ngày mai hạ quan đã làm xong.

Tuy nhiên nhân dân quanh vùng trước giờ chưa có dịp được diện kiến dung nhan của Vương gia, nên các hương thân phụ lão tổ chức tiệc tẩy trần là muốn tỏ lòng hiếu kính với ngài.

Mong Vương gia đừng từ chối, sẽ làm hương thân phụ lão thất vọng.

- Vậy được! ta sẽ tham gia cùng các ngươi.

Sư phụ đi cùng ta chứ?

Trần Quang Khải quay sang hỏi người bên cạnh.

- Xin Vương gia cho phép! ta có người họ hàng, vốn là học trò của ngoại công ta.

Nay đang làm Thủ từ trên đền Hùng.

Qua thư ta cũng đã hứa sẽ về nhà lão thăm hỏi.

- Nếu là học trò của Đỗ lão thì phải là người tài năng rồi?

Người này tên gì?

Ta cũng muốn gặp.

- Người này tên Đinh Bản.

Đinh lão học với ngoại công ta từ nhỏ.

Nhưng sức khoẻ yếu quá không tham gia khoa cử được, đành ẩn thân về đây, Đinh lão cũng đã hơn sáu mươi, sợ không còn phục vụ triều đình được nữa.

- Thật đáng tiếc!

Vậy sư phụ đi đi để cố nhân khỏi chờ mong.

Ngày mai hẹn nhau trên đền vậy?

Trần Quang Khải nói rồi lên ngựa, đoàn người lục đục kéo về trang viên Kim Đức ở chân đền.

Lão Đinh chỉ chờ có thế đi lại chỗ Lê Văn Hưu chào hỏi:

- Hiền điệt! lão thái thái có được mạnh khoẻ không?

- Cảm ơn Đinh lão!

Mẫu thân sức khoẻ vẫn an khang.

Thường nhắc đến Đinh lão, đôi khi còn kể chuyện khi xưa ở ở quê, bắt nạt Đinh lão học toán Tôn Tử, Ngũ kinh giải toán như thế nào.

- Xấu hổ quá, sư muội vẫn còn nhớ đến chuyện xưa.

Đúng là con người càng ngày càng trẻ ra.

Bách ở bên cạnh Đinh lão, quan sát kỹ hơn về một danh nhân mà hắn đã nghe rất nhiều vào đời sau.

Thấy người này là điển hình của văn sĩ, tướng mạo rất thanh tao.

Đặc biệt, đôi bàn tay rất đẹp.

Là nam nhân mà tay như búp sen.

Bách thầm thở dài, Văn Hưu đúng là Văn Hưu.

Làm sử gia thì được, đôi bàn tay kia quả không phải tướng của người cầm binh ra trận.

Đinh lão lúc này mới quay sang Bách:

- Đây là Hoàng Bách, cũng coi như một nửa lại học trò của ta.

Lê Văn Hưu có vẻ thắc mắc:

- Sao gọi là một nửa học trò, chả phải Nhất tự vi sư, bán tự vi sư sao?

- Trong chuyện này có nhiều khúc chiết, chúng ta cứ về nhà đi rồi nói.

Mời hiền điệt lên ngựa.

- Vậy chúng ta cứ về nhà đã.

Mông đồng hay Mông đồng thuyền (chữ Hán 艨艟船) là một loại thuyền chiến phổ biến và lâu đời của thủy quân phong kiến Việt Nam.

Đây là loại thuyền chiến nhỏ, nhanh nhẹn nhưng trang bị đầy đủ, đóng góp lớn lao vào những chiến thắng của Việt Nam thời phong kiến.
 
Đông A Nông Sự
Chương 17: Chu vi hình tròn


Bách cùng Đinh lão đưa Văn Hưu về nhà họ Đinh.

Đoàn người đến nhà lúc đã quá giờ Ngọ.

Già trẻ nhà họ Đinh đều ra đón Lê Văn Hưu, sau khi sắp xếp chỗ cho hắn nghỉ ngơi thì tiệc rượu tẩy trần buổi chiều cũng được bày lên.

Tiệc này để gia chủ tiếp khách nên bày ngay ngắn ở sảnh đường, chỉ có nam nhân tham gia, Đinh Nhu là hàng cháu cũng không được ngồi.

Món ăn cũng toàn đồ đặc sản cao quý.

Món chính là cá anh vũ hấp.

Đây là loại cá chỉ có ở vùng ngã ba Bạch Hạc.

Loài cá này có bộ vảy óng ánh, sặc sỡ rất đẹp.

Đầu cá rất đặc biệt, nhất là cái môi cá bằng sụn rất to và dày như mõm lợn.

Sau khi an vị, lão Đinh mời rượu Lê Văn Hưu rồi giới thiệu món cá:

- Hiền điệt thử món cá này xem, đây là cá Anh vũ.

Loài cá chỉ ăn rêu tảo và sống ở nước trong, trong những hang đá sâu và khi nước lạnh mới mò ra tìm mồi.

- Khi bắt về phải làm sạch cá, sau đó ướp gừng và một vài loại gia vị vào bụng, thêm chút nước mắm ngon.

Cuối cùng cuốn cả con cá vào một tấm lá gừng và hấp cách thuỷ.

Thịt cá thơm ngon vô cùng nhưng nếu chỉ mang đi ra khỏi vùng này là biến vị.

Lê Văn Hưu thử một miếng cá, nhắm mắt cảm nhận mội hồi rồi quay sang nói với Lão Đinh:

- Bình sinh Hưu chưa được ăn mỹ thực nào thế này, thịt cá ngọt mà không tanh, nếu được dùng một từ để đánh giá thì chỉ có thể là từ "tươi".

- Ăn một miếng mà sảng khoái tâm can, như tinh tuý của ba sông hợp lại, xứng với kỳ danh "Văn Lang đệ nhất ngư".

Xin cảm tạ Đinh gia đã hậu đãi, Kính mời Đinh lão một chén để tỏ lòng thành.

Cả nhà họ Đinh cười thoải mái, chủ vui vì khách hài lòng, rượu nâng hết chén này đến chén khác.

Hai nhà vốn có quan hệ sâu xa nên sau khi phá đi lớp màng ngăn cách vì nhiều năm không gặp mặt, không khí vui vẻ thân mật đã được đẩy lên.

Lúc này, Đinh lão mới quay sang dò hỏi:

- Tiểu nữ nhà ta cũng đã ở trong nhà hiền điệt được hơn năm, nó có làm phiền gì hiền điệt không?

- Đinh lão khách sáo quá rồi, gia mẫu tuổi già có Tú nhi làm bạn, yêu quý không để đâu cho hết.

Tiểu muội lại thông tuệ, ta thường đưa nàng đến bên cạnh Quốc học viện để cùng làm bạn với văn nhân nhã sĩ kinh thành.

Không ai là không khen ngợi.

Lại cùng bọn thái học sinh trong Quốc học viện thi tài mấy bận, ta cũng được thơm lấy cái danh tiếng của nàng.

- Hiền điệt quá lời, nó tài giỏi đến đâu mà so sánh được với tam khôi của năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16.

- Đinh lão chưa nghe câu Trường giang sóng sau xô sóng trước.

Ta cùng bọn Nguyễn Hiền, Đặng La Ma còn vênh vang khi nho học triều ta mới được khôi phục.

Sau này đi khắp đại giang mới biết, người tài vô số, cỡ tài năng như ta nhiều như sao trên trời, thế hệ trẻ bây giờ cũng nhiều người khiến ta kinh ngạc.

- Lão nghe nói khi xưa hiền điệt lấy được Bảng nhãn khi mới 17, Thám hoa Đặng Ma La thì mới 14, còn Nguyễn Hiền thì thật không có gì để nói, 13 tuổi là Trạng Nguyên.

Xưa nay chưa từng có, bọn trẻ bây giờ làm sao so sánh được?

- Đúng là ta so với Nguyễn Hiền và Đặng Ma La thì còn kém lắm, hai người kia trong trăm vạn mới có một người.

Lại cùng xuất hiện trong một khoa thi, làm cho Hưu này cảm thán,

Nói đoạn đặt chén rượu xuống, than:

- Ôi!

Nguyễn Hiền sao lại mất sớm như vậy, từ khi hắn mất đi ta cũng không còn cái hào khí tranh đấu trong văn đàn nữa.

Rồi lại như hào hứng trở lại:

- Nhưng Đinh lão có biết tiểu nữ của ngài vừa rồi đấu toán thuật với người ta, liên tiếp thắng được 8 thái học sinh, còn một người duy nhất không phục, hai người đấu nhau đo chu vi của hồ Giám bên cạnh Quốc học viện.

Ai tính ra nhanh, kết quả sai lệch ít hơn thì thắng.

- Thái học sinh kia mới kéo dây đo được nửa hổ thì tiểu nữ của ngài đã đo xong, lại chỉ lệch vài thước so với số liệu của công bộ.

Kết quả này khiến cả kinh thành và công bộ hoang mang.

Chiêu Minh Vương đang bắt ta gặng hỏi nàng thuật tính này?

Bách nghe vậy thì phì cười, hồ Giám vốn có hình gần tròn, chắc chắn cô nàng căng dây từ gò Kim Châu ra bờ hồ để tính được bán kính.

Rồi chỉ việc nhân với 2 pi là xong, nhưng người thời này có thể biết đến số pi và áp dụng như vậy.

Quả là không dễ.

Hành động phì cười của hắn làm mọi người ngạc nhiên, quay lại nhìn hắn.

Lê Văn Hưu có vẻ không vui:

- Chẳng hay lời ta nói có gì buồn cười.

- Không dám!

Xin Bảng nhãn thứ lỗi, ta chỉ đang nghĩ đến một chuyện vui mà thất lễ.

Xin hỏi Bảng nhãn có phải Đinh Tú cô nương đo dây từ gò Kim châu ra phía bờ hồ không?

- Hôm đó ngươi cũng ở đó xem à?

- Không có!

Ta đoán thôi, nhưng chắc có lẽ nàng đo hai ba lần gì đó về các phía khác nhau để lấy một số trung bình cho tăng thêm độ chính xác.

- Quả có thế.

Nàng đo ba lần về ba hướng.

Một lần 120, một lần 110 và một lần chỉ được 90 thước.

- Vậy chu vi hồ Giám có lẽ vào khoảng 670 thước đúng không?

Im lặng, không khí bỗng như trầm xuống, cả nhà họ Đinh thì không nói lời nào vì muốn nghe kết quả.

Lê Văn Hưu thì không kịp phản ứng.

Đinh Tú tính ra chu vi hồ Giám 640 thước nhưng số liệu công bộ tính toán là 665 thước Người này tính còn chính xác hơn.

Hắn nhìn Bách một lúc lâu rồi quay sang hỏi Đinh lão:

- Công thức tính đó lão truyền cho đệ tử, lão học lại từ ngoại công của ta mà sao ngoại công ta lại không truyền cho ta.

- Hiền điệt cả nghĩ rồi.

Công thức này ta không hề biết?

Nhưng chẳng nhẽ Hoàng Bách nói đúng?

- Sao thế được? cả tiểu nữ và đệ tử của lão đều biết.

Sao lão lại dám chối là không biết!

Bách lúc này cũng hơi bực, cao giọng:

- Lê Văn Hưu, ông không tính ra được, không có nghĩa là mọi người đều không tính ra được.

Đinh lão nói là không biết, tức là không biết!

Ông có bao giờ nghĩ người thợ mộc, uốn cái bánh xe gỗ, làm thế nào để làm vành bánh xe không thừa không thiếu một ly?

Lê Văn Hưu không thấy thái độ của hắn mà cho là vô lễ, hỏi lại:

- Có phải ý ngươi là cũng phải đo bán kính vành bánh xe.

- Tất nhiên là như thế, dựa vào bán kính vành bánh xe to hay bé mà chuẩn bị nguyên liệu là kỹ năng cơ bản.

- Bảng nhãn cứ đi hỏi những người thợ mộc chuyên làm xe ngựa, sẽ có người nói cho ngài biết cách tính chu vi dựa vào bán kính hình tròn.

Đinh Tú chỉ là xác định lại con số bán kính đấy để nó có độ chính xác cao nhất mà thôi.

Lê Văn Hưu thất thần một lúc, hắn là người cựu kỳ thông minh.

Trên lịch sử ghi lại rất nhiều truyền kỳ.

Khi còn bé một lần chơi cùng chúng bạn quanh lò rèn.

Thấy cái dùi vở đẹp, Lê Văn Hưu tần ngần lấy xem.

Người thợ rèn biết hắn thích nhưng chắc không có tiền mua nên nói nếu đối được vế đối của ông sẽ cho hắn cái dùi vở.

Lê Văn Hưu ưng thuận.

Người thợ rèn ra vế đối: "Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi vở".

Lê Văn Hưu đối liền: "Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên".

Nói vậy để thấy tài ứng đối của Lê Văn Hưu.

Nhưng hắn lên kinh ứng thí.

Gặp ngay hai tên quái thai Nguyễn Hiền, Đặng Ma La.

Tuy hắn dốc sức cố gắng giành được Bảng Nhãn, nhưng hào quang mãi mãi ở trên hai kẻ 13, 14 tuổi đã giành Tam Khôi kia.

Nhiều lúc hắn cũng nghĩ: Nếu mình sinh sớm hay muộn một chút, thì cái danh vị Quan Trạng kia có phải là của hắn hay không?

Hồ Văn (hoặc hồ Giám) trên phố Quốc Tử Giám (quận Đống Đa) đối diện khu di tích Văn Miếu.

Giữa hồ có gò Kim Châu, trên gò dựng Phán Thuỷ đường (là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩ kinh thành xưa).

Đây vốn là một bộ phận trong công trình kiến trúc chung của Văn Miếu - Quốc tử Giám.
 
Đông A Nông Sự
Chương 18: Tâm sự của Giám tu quốc sử


Đến khi ra làm quan, Nguyễn Hiền nắm công bộ, Đặng Ma La nắm Thẩm hình viện.

Hai người họ mặc sức thi triển tài năng, việc trong triều ngoài triều đều có phần.

Quan gia khen ngợi không ngớt, giao cho những trọng trách to lớn.

Còn hắn thì Quan gia chỉ nói một câu: "".

Hắn quả thật không hiểu, mình có gì thua kém hai tên kia.

Cái chức Hàn lâm học sĩ, biên soạn quốc sử này danh hào thì hiển hách, nhưng không có thực quyền, muốn thi triển tài năng thì khó hơn lên trời.

Nhưng hắn không nản chí, tận trung chức trách.

Ngày ngày cố gắng chỉ mong có lúc cho Quan gia thấy, hắn cũng có thể nắm Lục bộ, chấn ngoại xâm, thi thố với hai tên kia oanh oanh liệt liệt.

Nhưng rốt cục 4 năm trước tên khốn Nguyễn Hiền chết.

Hắn chẳng khóc chẳng rằng, cũng chẳng đến viếng.

Nhất là sau khi nhìn thấy Lễ bộ tham tấu truy phong cho Nguyễn Hiền là "Đại vương thành hoàng".

Trên thánh chỉ viết:

"Thập nhị tuế khôi khai lưỡng quốc

Vạn niên thiên tuế lập tam tài"

(Dịch: Mười hai tuổi khai khoa hai nước

Nghìn năm ghi mãi chữ tam tài)

Hắn biết: đời này hắn mãi mãi không còn được so tài với tên đáng ghét kia nữa.

Từ đó ngọn lửa nung nấu cũng không còn như xưa.

Hắn chỉ còn đặt tâm huyết vào việc bày mưu tính kế cho Chiêu Minh Vương, người thanh niên mà hắn nghĩ còn giỏi hơn tất cả Tam khôi bọn hắn.

Mấy tháng nay, liên tiếp gặp những thanh niên kỳ tài, ai ai cũng như rồng ẩn mình.

Ngọn lửa năm xưa như nhen nhóm lại.

Tên tiểu tử kia nói đúng, trăm sự trong thiên hạ, cái gì cũng đáng học hỏi.

Nếu không mang trong lòng tâm lý cầu đạo, cầu từ bậc đại sư khai quốc, cầu đến bá tánh bình dân.

Chỉ cần ai giỏi hơn ta là thầy ta, thì làm sao tìm được chân lý.

Khổng Tử chả phải vì cầu đạo mà thỉnh cả Lão tử và bái đứa trẻ làm thầy hay sao?

Nghĩ đến đây, mặt Lê Văn Hưu như sáng lên:

- Ngươi nói không sai.

Có lẽ dạo gần đây ta tu dưỡng đã kém đi.

Ngay cả chuyện công nhận tài năng của một người cũng không còn trong sáng như xưa.

- Nguyễn Hiền năm xưa dùng con kiến xâu sợi dây qua con ốc, ta nghe chuyện mà thẹn không bằng, thế mà nay một đứa trẻ tính được chu vi hình tròn thì lại nghi ngờ.

Cái đức khiêm cung đã không còn giữ được.

Thật hổ thẹn thay.

- Thầy ta thường nói kiến thức con người có lượng và chất.

Lượng là quá trình thu nạp để tăng lên về mặt số lượng.

Có người cả đời kiến thức chỉ tăng thêm về lượng mà không thể thay đổi về chất.

Cho nên bậc tông sư sau khi thu nạp trăm nhà, một ngày phá kén thành bướm, ngộ ra đại đạo của riêng mình mới có thể khai môn lập phái.

- Chẳng hay sư phụ vị tiểu đệ nay là ai?

- Sư phụ ta xuất thân nho học thế gia nhưng thấy vận nước suy vi, nguyện đi khắp năm châu bốn biển, lập chí cứu quốc.

Đi 30 năm mới quay trở về đất nước, cứu dân khỏi cơn nước lửa rồi cuối đời ẩn dật nơi thôn dã.

- Cả đời sư phụ ta chỉ có một mong ước, một mong ước tột bậc là làm sao cho quốc gia được hoàn toàn độc lập, nhân dân được hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

Lê Văn Hưu ngẩn ra một lúc:

- Trên đời lại có người yêu nước như vậy, không tư lợi riêng cho mình, cả đời sống vì dân tộc hay sao?

Ai là dân nước đó thì quả là cái phúc ngàn đời.

- Quê của sư phụ ta ở phía bên kia đại dương.

Có một dải đất thuôn dài như hình con rồng.

Từ Bắc chí nam độ 6000 dặm.

Khí hậu ôn hoà, biển xanh đảo xa, đẹp không sao kể xiết.

- Trước kia cũng bị chèn ép bởi các nước lớn, trong nước quân chủ hủ bại.

Nhân dân một cổ hai tròng, lầm than cơ cực.

Sư phụ ta dẫn dắt người dân phá bỏ chế độ cũ, chống lại ngoại xâm.

Ngài yêu quê hương nên bỏ danh tính, xưng là Ái Quốc.

Dân nước ấy ai cũng gọi ngài là Cha.

- Quả là kỳ sự trong thiên hạ!

Cảm ơn câu chuyện của tiểu huynh đệ.

Hôm nay đến nhà Đinh lão, ta được lợi không ít.

Đinh lão cười dài rồi nói:

- Chuyện của Hoàng Bách ta sẽ nói riêng với hiền điệt.

Nhưng có chuyện này cần thương lượng ngay.

Chuyện về nhật thực đầu tháng chẳng hay Quốc sử viện giám nghĩ gì?

- Chuyện này đang làm triều đình đau đầu.

Triều ta dựng nước chưa lâu, tuy chính sự được chỉnh đốn nhưng ngoại xâm luôn lăm le xâm phạm.

- Cái hại nhất là người trong nước còn tưởng nhớ Lý triều.

Nay xảy ra chuyện nhật thực, đã bắt đầu có lời ong tiếng ve.

Chủ yếu phê phán chuyện thông dâm trong hoàng tộc.

Nói Quan gia bỏ cả luân thường, mở mối dâm loạn nên trời quở phạt.

Một số cựu thần đang rục rịch liên hệ với một hoàng tử triều Lý để mộng phục quốc.

- Chẳng phải Thái sư đã tru diệt hoàng tộc nhà Lý rồi hay sao?

- Ta nghe nói năm Kiến Trung thứ 2, Hoàng tử Lý Long Tường, con của Lý Anh Tông trước khi Thái sư hành động đã bí mật về thái miếu nhà họ Lý thu gom bài vị, các đồ tế khí, rồi cùng 6000 gia thuộc qua cửa Thần Phù, Thanh Hóa chạy ra biển Đông trên 3 hạm đội rời Đại Việt.

Nay Hoàng tử này đang ở hải ngoại, người trong nước ủng hộ họ Lý vẫn có ý hướng về người này.

- Thế thì quả là mối hoạ ngầm trong nước.

Vậy nếu có cách loại bỏ được mối hoạ này, chẳng hay Quốc sử viện giám có bằng lòng ra sức?

- Đinh lão nếu có cách hay thì xin cứ nói.

Đây là việc lớn của triều ta, Chiêu Minh Vương ắt sẽ bẩm lên Quan gia để có trọng thưởng.

- Cách hay không phải ở chỗ ta mà là chỗ Hoàng Bách.

- Vị tiểu huynh đệ có cách gì xin cứ nói.

- Không có gì cả, chỉ là chuyện nhật thực này có thể tính toán được, ta đã biết nhật thực sẽ xảy ra vào đầu tháng này.

- Như vậy quả là thần toán, xưa nay hiếm có người biết được thuật này.

Chỉ hiềm một điều là sự việc đã xảy ra rồi, nay nói ra thì có mấy ai tin.

Dân chúng chẳng phải vẫn nghĩ Thiên cẩu thực nhật là điềm cực xấu, phạm vào Đế vương hay sao?

- Đúng là như vậy, nhưng nếu ta nói cho ngài biết, vài ngày nữa còn có một hiện tượng kỳ thú hơn, hiện tượng này là điềm lành nghìn năm có một, còn ứng vào hai vua ta.

Thiên cẩu thực nhật kia chỉ xem như trò đùa thôi thì sao?

- Quả thật có thể tính được?

Dị tượng này xảy ra lúc nào?

Mặt Lê Văn Hưu có vẻ đã giãn ra.

Giọng nói cũng trở nên gấp gáp:

- Chuyện này thì cần gặp được Chiêu Minh Vương để ta bày tỏ!

Lê Văn Hưu gãi cằm tỏ vẻ tán thưởng:

- Chàng trai!

Thích ra vẻ thần thần bí bí.

- Như vậy đi, ta thấy toán thuật của ngươi cao siêu, nhưng chủ yếu là tin Đinh lão không nhìn nhầm người, đánh cược một lần.

Dẫn ngươi đi gặp Chiêu Minh Vương.

- Nếu dị tượng ngươi nói là thật, lại ứng vào điềm lành hai vua, thì sẽ làm đất nước bớt một phen binh lửa.

Nhưng ngươi nên nhớ, nếu có sai sót, không chỉ mình ngươi, cả ta và nhà họ Đinh cũng sẽ chịu tội khi quân.

Trách nhiệm đến đâu hẳn không cần phải nói cho ngươi nữa chứ?

- Ta có thể chết, lão có thể chết nhưng ta không thể để Đinh Đang bị hại được.

Ngài bảng nhãn cứ yên lòng.

- Được! như vậy mai ngươi cùng ta lên đền.

Việc tế lễ xong xuôi ta sẽ bẩm việc này lên Chiêu Minh Vương.

Thái thượng hoàng và hoàng thượng nhà Trần, gọi chung là hai vua
 
Đông A Nông Sự
Chương 19: Hội đền


Sáng hôm sau, tờ mờ sáng đoàn người đã lục tục lên đền Hùng.

Buổi sớm cuối xuân không khí thật trong lành.

Sương lạnh còn mờ trên lá.

Mùa này đã chuẩn bị sang mùa hạ, chỉ mấy canh giờ nữa mặt trời lên sẽ xua đi cái khí trời mát mẻ khiến lòng người khoan khoái này.

Công việc chuẩn bị tế lễ đã chu toàn.

An Phủ Sử Trần Quốc Lặc thay mặt triều đình đọc chúc văn tưởng nhớ về tổ tông, các Vua Hùng đã khơi mạch nguồn dân tộc, lập nên Nhà nước Văn Lang, đặt nền móng cho sự phát triển trường tồn của quốc gia, dân tộc.

Bài chúc văn thống thiết, lời văn bay bổng, không hổ là Trạng nguyên đương triều.

Tế lễ dâng hương xong, Chiêu Minh Vương cùng đoàn người dạo một vòng quanh các đền rồi nghỉ chân tại bãi đất trước cổng đền.

Lúc này các hoạt động vui chơi của Hội đền Hùng đang diễn ra rất sôi nổi.

Bên này là cuộc thi nấu bánh chưng bánh dày, bên kia là trai gái đang chơi hát đối, bọn trẻ con thì đu dây, ném còn ...

Bách thấy không khí tươi vui này sao mà quen thuộc quá.

Tuy lượng người không thể so sánh với thời của hắn nhưng văn hoá dân tộc trải nghìn năm vẫn không phai nhạt.

Khi hắn đi học, một giáo sư người Nhật đã nói cho hắn biết, trên thế giới chỉ có hai dân tộc bị đô hộ trên 1 ngàn năm nhưng không mất đi tiếng nói của mình.

Đấy là người Việt và người Do Thái.

Có lẽ tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chính là sợi dây liên kết người Việt ở mọi thời đại.

Lễ hội diễn ra từ sáng đến chiều tối, nhân dân quanh vùng dần tản đi, sau hôm nay theo truyền thống người Việt thì các lễ hội đầu năm đã kết thúc.

Người dân bắt tay vào vụ canh tác mới.

Câu "tháng giêng là tháng ăn chơi, tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè ..."

đến hôm nay vẫn còn văng vẳng.

Chiêu Minh Vương về trang viên Kim Đức nghỉ ngơi.

Trang viên này ở gần nhà Đinh lão, được quan lại vận động xây dựng để dùng vào việc tiếp khách của chính quyền cả vùng.

Trang viên xây dựng rất đẹp, bài trí thơ mộng, có đình viện, có sân vườn, hồ nước trong xanh, còn có sân rộng lát gạch đỏ chuyên dùng cho ca cơ biểu diễn.

Chiêu Minh Vương cùng bộ thuộc ở đây được Trần Quốc Lặc tiếp đãi chu đáo, nhưng mặt vẫn âu lo.

Trần Quốc Lặc khéo đoán ý người, nhìn Vương gia mà lòng lo nơm nớp, lại càng ra sức hầu hạ.

Nhưng Chiêu Minh Vương vẫn có vẻ không vui.

Hôm nay, tế lễ xong xuôi.

Về đến nơi thì Lê Văn Hưu mời Chiêu Minh Vương vào sảnh đường bắt đầu nói chuyện:

- Ta có chuyện muốn bàn bạc với Đại vương.

Trước hết bàn về chuyện ngài nói với ta về công thức tính chu vi hồ Giám với Đinh Tú.

Ngài có việc cần dùng công thức này?

- Đúng là thế, công thức này rất hay, ứng dụng vào nhiều việc.

Ta là con nhà binh, nhìn ra tiềm năng của nó trong việc diễn biến các trận đồ quân sự.

Ngoài ra bên công bộ nếu có công thức này thì việc tính toán nhanh hơn nhiều.

Chính vì vậy ta nhờ ngài nói với Đinh Tú.

Cô ấy không đồng ý chăng?

- Sao có chuyện đó được.

Từ đó đến nay ta còn chưa có dịp nói lại với nàng thì đi cùng ngài luôn.

- Chuyện này không vội, về kinh thành thì hỏi nàng.

Sư phụ sao lại nói chuyện này?

- Hôm nay có một người, chỉ ngồi ở đây mà tính được chu vi hồ Giám, kết quả giống với Đinh Tú nên ta mới bẩm lại với ngài?

Trần Quang Khải tỏ vẻ ngạc nhiên:

- Có chuyện này sao?

- Hắn nghe ta kể lại chuyện này, đoán được cách đo của Đinh Tú, rồi hỏi kết quả đo, từ đó tính ra được kết quả.

- Hắn là ai?

- Một học trò của Đinh Bản, là người họ hàng ta nói với ngài.

Nghe đến đây là Trần Quang Khải lại càng mông lung:

- Thế thì do nhà họ Đinh họ có ngón gia truyền, tính được có gì lạ!

Lê Văn Hưu tiếp lời:

- Nếu thế thì có gì để nói.

- Đinh lão khẳng định hắn không biết công thức này, tên kia cũng chưa bao giờ gặp Đinh Tú.

- Đêm qua ta đã điều tra thân thế của hắn.

Hắn là đệ tử cao nhân vừa mới xuất sơn.

Ăn mặc, nói năng kỳ lạ, toán thuật rất cao nhưng lại không biết chữ.

- Đinh lão tiếc cái tài của hắn, mang về chỉ dạy chữ chứ không dạy thuật, nên mới xưng là một nửa học trò của lão.

- Thế thì lạ thật, có lẽ hắn được chân truyền của cao nhân.

Cũng có thể là một nhân tài.

- Ta sẽ lưu ý, có thể mời hắn về làm môn khách.

Sư phụ muốn bàn chuyện, không phải chỉ có chuyện này đấy chứ?

- Chuyện quan trọng là chuyện thứ hai.

Tên kia nói hắn đã tính trước được nhật thực, sau đó còn nói thời gian tới có một dị tượng, mang lại điềm lành cho hai vua ta.

Chiêu Minh Vương đứng dậy khỏi ghế, bộ dạng ngẫm nghĩ, đi lại hai ba vòng rồi quay sang Lê Văn Hưu.

- Chuyện này đang làm ta và hoàng huynh âu lo.

Thiên cẩu thực nhật chó mà gì chứ, toàn là lời đồn bậy.

Chỉ là bọn cựu thần kia tối ngày tắt mắt.

Cha ta có sai cũng là sai với bác cả.

Liên quan gì đến bọn chúng.

Lại quay lại hỏi:

- Lời người này nói sư phụ tin mấy phần?

- Hắn ta mới là một đứa trẻ, nghênh ngang nói quá lên là chuyện thường.

Nhưng khi hắn nói về lão sư của hắn thì làm ta cảm động, nên lão phu muốn đánh cược lần này.

- Lão sư của hắn?

- Hắn nói lão sư hắn ở hải ngoại, vì yêu nước mà tự đặt tên là Ái Quốc.

Bình sinh chỉ có một mong ước, một mong ước tột bậc là làm sao cho quốc gia được hoàn toàn độc lập, nhân dân được hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.

- Người nói lời như vậy thì không thể là người thường được! vậy sư phụ gọi hắn vào gặp.

Ta muốn xem người này thế nào?

Lê Văn Hưu chắp tay:

- Vậy xin Đại vương chờ một lát.

Rồi sai người ra mời Hoàng Bách vào.

Bách cùng Đinh lão đã đứng đợi sẵn ở bên ngoài.

Lúc này mới theo người vào sảnh đường.

Bách tiến vào, lúc này mới quan sát được Chiêu Minh Vương rõ hơn.

Người này cao hơn 1m8, so với thời hắn thì cũng không có gì lạ, nhưng vào thời này thì quả thật nổi bật.

Hai lông mày như kiếm lộ rõ vẻ trí tuệ, ấn đường hơi tối.

Còn lại không có gì để chê.

Vừa vào đến nơi thì Chiêu Minh Vương tươi cười đón Đinh lão không cho thủ lễ:

- Ta nghe lão sư kể chuyện Đinh lão bấy lâu, tiếc là cao đồ của Đỗ tiên sinh mà triều đình lại không biết để trọng dụng.

Thật là đáng tiếc.

Để Đinh lão phải uất ức làm cái thủ từ trông đền này.

- Đại vương quá khen rồi, lão tài hèn sức mọn.

Thật xấu hổ với sư phụ của mình.

Không được ra sức vì triều Trần ta là hổ thẹn của lão.

Lại quay sang chỗ Bác nhíu mày:

- Đây chắc là cao đồ của Đinh lão?

Đinh lão mỉm cười:

- Gần như vậy, lão với Hoàng Bách chỉ có một nửa duyên sư đồ.

Bách bình tĩnh nói với Chiêu Minh Vương:

- Ơn nghĩa của Đinh lão ta không dám quên, hiềm một nỗi ta chưa hỏi ý kiến sư phụ, không dám quyết bừa.

- Ta nghe sư phụ nói.

Ngươi có điều muốn trình bày?

- Ta ở phương xa đã nghe tiếng Chiêu Minh Đại Vương như sấm rền bên tai.

Ngài là người văn võ song toàn, lại thân thế hiển quý nhất triều ta.

Ta muốn cùng ngài trao đổi một chuyện.

Chiêu Minh Vương thấy Bách nhỏ tuổi, phong thái đường hoàng, lúc nói chuyện thì lưng thẳng, mắt nhìn vào người đối diện.

Giọng nói có âm điệu lạ, nhưng rõ ràng rành mạch, đã có cảm tình.

Nhưng nghe lời vậy thì hơi giận:

- Ngươi có gì muốn trao đổi với ta?

- Trao đổi chuyện quốc vận những năm tới!

Chiêu Minh Vương cười mỉa:

- Xem ra còn có người kiêu ngạo hơn Nguyễn Hiền năm xưa.

- Không kiêu ngạo! ta là người nói được làm được, chuyện quốc vận sao có thể nói đùa.

Huống hồ ta đâu cần tự đưa đầu vào miệng cọp.
 
Back
Top Bottom