Cập nhật mới

Khác Đông A Nông Sự

Đông A Nông Sự
Chương 20: Vận nước (1)


Chiêu Minh Vương hỏi tiếp:

- Vậy ngươi nói quốc vận trong những năm tới chẳng lẽ có tài tiên tri.

Bách ngửa đầu cười lớn:

- Ngài nói đùa rồi, quốc thế vận động theo lẽ tự nhiên, được quân chủ và nhân dân thúc đẩy, có thể dự báo chứ không thể biết chính xác.

Nếu tiên tri được thì sao người giỏi kinh dịch như Khổng Tử lại để nước Lỗ suy vi như thế?

Chiêu Minh Vương ngẫm nghĩ rồi nói:

- Vậy ngươi nói đi.

Ta cho ngươi một cơ hội.

- Không phải một mình ta nói, ta muốn trao đổi.

Xin được hỏi Chiêu Minh Vương nhận xét thế nào về "Thế" của nước ta hiện nay?

- Triều ta từ khi có được thiên hạ.

Thay ngôi nhà Lý, dẹp bọn Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn để yên nội loạn.

Từ đó lập lại chính sự, mở khoa thi để cầu người tài.

Những năm Nguyên Phong đầu tiên thì đánh Chiêm Thành, sau lại đánh bại Ngột Lương Hợp Thai.

Đến nay quốc lực ổn định, trăm họ an cư lạc nghiệp.

Cái "Thế" của triều ta xét suốt cổ kim chưa tiền triều nào bằng được.

- Vậy xin hỏi Chiêu Minh Vương, tại sao chúng ta vẫn phải sang sứ nhà Tống, nhà Nguyên mà xưng thần.

Để nhận cái phong hiệu An Nam Quốc Vương?

- Điều này thì đứa trẻ như ngươi làm sao biết được.

Triều ta lấy nhân nghĩa làm đầu, nếu cứ xung đột với đại quốc ở Trung Nguyên thì làm sao có được thái bình.

Nhân dân làm sao yên vui để mà phát triển.

- Nói thì là như vậy, chả phải chúng ta đã nhún nhường hết sức, nhưng bọn đại quốc Trung Nguyên kia há chẳng phải vẫn đem quân sang đánh nước ta đấy sao?

- Triều đình có cái lý riêng, trì hoãn ngày nào vẫn phải trì hoãn.

Chỉ một ngày nhân dân yên ổn thì cũng đã hơn trăm ngày binh lửa rồi.

Bách nghe nói thế, miệng cười tay vỗ, giơ ngón tay cái lên trước ngực:

- Chiêu Minh Vương nói lời nhân nghĩa, quả là triều ta toàn là thánh nhân "tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc"

Nói đến đây Trần Quang Khải tức giận lắm, quay sang nhìn thì hai người Lê Văn Hưu và Đinh Bản mặt mày đã tái mét rồi.

Bèn quát:

- Sao lại để đứa hỗn xược này nói lời ngông cuồng thế!

Đinh lão quỳ ngay xuống đất:

- Xin Đại vương bớt giận, hắn trẻ người non dạ, không làm chủ được lời nói.

Bách bình tĩnh đáp lại:

- Chỉ mới thế đã nổi giận, vậy đến khi giặc tràn vào bờ cõi, dày xéo lên trang ấp của ngươi, hiếp đáp em gái ngươi thì còn làm sao nữa?

- Lời khó nghe nhưng chúng ta đều hiểu, những lời nhân nghĩa kia ngươi đem nói với bá tánh thì được.

Còn trách nhiệm của trọng thần quốc gia, vua hỏi đến mà đem lời kia ra tâu.

Có phải là vô trách nhiệm với tông miếu xã tắc hay không?

- Tên khốn khiếp kia!

Bản vương cho ngươi là vô tri, ngươi lại nói toàn lời ngông cuồng.

Vậy theo ngươi "Thế" của Đại Việt ta hiện nay ra sao?

- Như bệnh của ngươi vậy, giữa thanh thiên bạch nhật thì hào quang vạn trượng, giữa đêm lạnh một mình thì ngậm đắng nuốt cay.

Trần Quang Khải nghe vậy thì giật mình.

Hắn từ bé vốn có chứng động kinh, ngự y đã hết lòng cứu được mạng hắn nhưng để lại di chứng là bệnh đau đầu.

Ban ngày thì không sao nhưng cứ đêm đến là hành hạ hắn.

Lắm khi đau quá phải cuốn khăn mát lên đầu, đi lại một hồi rồi mới đỡ.

- Ai nói cho ngươi biết bệnh tình của ta?

- Cần gì phải ai nói.

Nghề y có bốn phép "Vọng, văn, vấn, thiết".

Ta nhìn thấy ngươi ấn đường đen tối, đôi mắt hay nhíu, thái dương có dấu đỏ là đoán được tám phần.

- Coi như cũng có chút bản lãnh, nhưng y thuật khác với quốc gia đại sự.

Ta có thế tha tội hỗn láo cho ngươi nhưng đừng liều nói những điều không biết.

Cái đầu trên cổ chỉ có một thôi.

- Vậy họ Trần nhà ngươi không có tính cầu thị, nghe lời trái ý là bỏ ngoài tai.

Chiêu Minh Vương liếc xéo:

- Vậy theo ngươi triều ta tại sao nói là "ngậm đắng nuốt cay"

- Việc này cũng không phải chỉ riêng nhà Trần, tất cả tiền triều đều như vậy cả.

Xin hỏi đại vương, ý nghĩa của việc "Triều cống" Trung Nguyên là gì?

Có phải chỉ là để yên ổn cho nhân dân hưởng thái bình hay không?

Chiêu Minh Vương thấy hắn nói như vậy, rút cục lại thở dài:

- Xem ra ngươi nhỏ tuổi nhưng cũng là người hiểu biết.

Về việc này, rất nhiều luồng quan điểm, đến tận thời đại ngày nay vẫn rất nhiều người mơ hồ.

Đặc biệt là đồng bào hải ngoại vẫn hay dè bỉu về văn hoá "lệ thuộc" khi nói về mối quan hệ giữa nước ta và Trung Quốc.

Nhưng hầu hết những người này không đặt ra một câu hỏi: Liệu có ai ngu ngốc không muốn được tự do, tự tại không lệ thuộc hay không?

Người Hoa Hạ từ xưa coi mình là "Trung Quốc" là "nước ở trung tâm" và người ở đó được coi là người đã giáo hóa văn minh, còn xung quanh là bốn phương họ gọi là Tứ di.

Người ở phương Đông gọi là Đông Di (東夷), phương Tây gọi là Tây Nhung (西戎), phương Nam gọi là Nam Man (南蠻), và phương Bắc gọi là Bắc Địch (北狄), trong đó các chữ tượng hình chỉ các nhóm này đều có phần biểu thị "sâu bọ thú vật".

Có nghĩa là theo ý họ, những người không phải người Hoa thì đều là những người chưa văn minh.

Nhưng tại sao, sau hằng nghìn năm, ngoài những cuộc viễn chinh tranh đoạt lãnh thổ lớn, có những nước "tự" lệ thuộc vào Trung Nguyên, "triều cống" họ, nguyện ý xưng thần với Đế vương Trung Quốc?

Một việc mất mặt như vậy, đáng buồn thay liên tục xảy ra hằng nghìn năm phải có cái lý của nó.

Nhà Lý chẳng phải đồ thành Ung Châu, quân Đại Việt giết hết dân trong thành, tổng cộng hơn năm vạn người.

Theo Tống sử, cứ 100 thây chất làm một đống, cả thảy 580 đống.

Nhà Tống tuy sau đó sang đánh báo thù, nhưng chẳng phải cũng nghị hoà hai bên rồi sao?

Nhân cơ hội ấy tiền nhân sao không thoát ly, không lệ thuộc.

Lấy cái tư cách của đội quân chiến thắng mà đối thoại.

Người Trung Quốc xưa là nước có dân số đông, lại có văn mình lâu đời.

Người trong nước họ có nhiều tân tiến trong công nghệ.

Sau mỗi lần xâm chiếm lân bang thì đốt sách, huỷ chữ viết, bắt thợ giỏi của nước đó về nước mình.

Chính vì vậy, người Hoa thu nạp được nhiều tri thức, đồng thời ngu dân hoá các nước xung quanh, biến mình thành siêu cường quốc tế.

Trong thời gian hoàng kim của người Trung Quốc, kinh đô Trường An từng là thành phố lớn nhất và đông dân nhất thế giới.

Khoảng năm 750, Trường An đã trở thành "thành phố triệu dân".

Nơi đây trở thành trung tâm văn minh của thế giới.

Người Trung Quốc dùng lụa là, gấm vóc, đồ sứ, giấy ... của mình để có được tất cả mọi thứ: vàng bạc, phụ nữ, tri thức ...

Ít ai biết, những kiến thức thiên văn học được người Trung Quốc được trao đổi trên "con đường tơ lụa".

Những bản vẽ Mặt Trăng, tinh đồ tìm được ở Đôn Hoàng, Cam Túc làm người ta phải ngạc nhiên: toàn bộ 1.500 vì sao mà con người biết đến 8 thế kỷ sau này đều giống với những gì đã được tả trong tấm bản đồ đó.

Và từ đây người Trung Quốc làm chủ rất nhiều tri thức sống còn, chỉ đơn cử một kỹ thuật nhỏ đã có thể thao túng lân bang xung quanh: Lịch âm!

Phạm Trọng Yêm (989 - 1052) lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ
 
Đông A Nông Sự
Chương 21: Vận nước (2)


Ở thời kỳ này, dân không thể sống thiếu nông nghiệp được.

Bởi thế Nho học dù có vênh vang đến đâu, khi sắp xếp thứ tự giai tầng trong xã hội vẫn phải thừa nhận vị thế của nông nghiệp "Sĩ, nông, công, thương" không phải tự dưng mà có.

Gốc rễ của nông nghiệp chính là kế hoạch sản xuất mà nếu không có nông lịch thì không thể thực hiện được.

Ở đây hai tháng, Bách đã hiểu ra một vấn đề, người Việt Nam không nắm được kỹ thuật xây dựng lịch Mặt Trăng (lịch âm).

Chỉ có người Trung Quốc mới có được kỹ thuật này, họ đã dựa vào các tri thức thiên văn thu nạp được để tính toán Lịch mặt trăng.

Đây chính là một "quà tặng" không bao giờ được thiếu trong các chuyến đi sứ phương Bắc.

Người Trung Quốc lập ra một cơ quan riêng là "Khâm Thiên Giám" chuyên tính toán, bảo mật vấn đề này.

Hằng năm chỉ có Thiên tử của họ mới có quyền lợi ban phát lịch này cho các quốc gia khác.

Và như một lẽ tất nhiên, họ không bao giờ cho lịch quá ba năm.

Chính vì vậy, những chuyến đi sứ liên tiếp của các triều đình lân bang ngoài một phần là các lý do chính trị, cũng có một mục đích phải đạt được: "mua" cho được cuốn lịch này để đem về.

Đây chỉ là một ví dụ nhỏ về sự lệ thuộc của các quốc gia lân bang vào Trung Nguyên.

Ngoài ra, quyền lợi rất lớn từ việc thương mại với Trung Quốc cũng là lý do chính.

Nhiều khi, vấn đề triều cống trên danh nghĩa cũng chỉ để "mua" một hạn ngạch kinh doanh mặt hàng nào đó.

Vì những mặt hàng đó không thể có ở đâu khác ngoài Trung Quốc.

Điều này đáng buồn là không có công bằng theo chiều ngược lại.

Các quốc gia lân bang hầu như không có gì khiến Trung Quốc thèm muốn.

Chính vì vậy, cán cân thương mại lệch hẳn về phía Trung Quốc trong hàng ngàn năm.

Có thể hình dung, chúng ta muốn mua máy móc giá rẻ thì phải sang Trung Quốc.

Nhưng nông sản của Việt Nam Trung Quốc thích thì mua, không mua có thể có vô vàn lựa chọn.

Vậy đi đâu đòi công bằng đây?

Trần Quang Khải là quan đầu triều, hắn hiểu rõ nhất sự lệ thuộc này.

Việc này giống y như uống thuốc viên vậy, ngậm vào đắng ngắt mà vẫn phải cố nuốt.

Rõ ràng đánh thắng người ta mà hôm sau lại phải sang xum xoe nịnh bợ.

Thật đúng với câu "ngậm đắng nuốt cay".

Bách cười nhẹ nhìn Trần Quang Khải, thấy người thanh niên này, hai mươi tuổi đầu, ở thời của hắn có lẽ là một sinh viên đại học, đang yêu mối tình đầu, theo đuổi những điều lãng mạn.

Thế mà người này, tuy cố tỏ ra chững chạc, nhưng đôi mày nhíu lại, trên gương mặt non nớt luôn suy tư.

- Theo Chiêu Minh Vương vừa rồi chúng ta chiến thắng quân Nguyên của Ngột Lương Hợp Thai so với việc Thái úy Lý công đánh thành Ung Châu thì như thế nào?

- Cũng không giấu các ngươi, hai việc này như mặt trời với đom đóm vậy.

Ngài Thái uý mang 10 vạn quân tung hoành đất giặc.

Các thành Khâm-Ung đều là thành lớn.

Ngay cả Vương Giới Phủ cũng tự tin là không thể phá được.

- Thế mà chỉ một trận bắt được hàng ngàn người Trung Quốc đem về Đại Việt làm nô lệ cùng với rất nhiều của cải. phá hủy toàn bộ các căn cứ hậu cần của đối phương, đây là quân chủ lực phương Bắc.

- Còn Ngột Lương Hợp Thai, tiếng là 3 vạn quân nhưng có 2 vạn là quân Đại Lý rồi.

Thế mà tại Bình Lệ Nguyên, khi dàn trận đối mặt, quân ta không chịu nổi một kích, phụ hoàng ta suýt bị bắt sống.

- Cũng may có Ngự sử Lê Phụ Trần lấy ván che thuyền cho mà thoát nạn.

Sau dùng cái kế "thanh dã" mà chiến thắng, khi chúng rút lui cũng quyết đoán không cướp phá, dân ta giễu là "giặc Phật" nhưng có biết đâu đấy mới là bản lãnh cầm binh.

- Khi tiến thì như sét đánh bên tai, khi lui thì không một tiếng động, vả đấy là chiến lược của Hốt Tất Liệt muốn hắn qua Vân Nam hội sư công Tống.

- Nay ta cũng lo lắm, vận nước đang ở thế gọng kìm, quân Nguyên, quân Tống lăm le mà trong nước thì còn có bọn phản thần nhà Lý vẫn mưu đồ việc cũ.

Lại nhìn Bách nói tiếp:

- Ta vốn biết những lời ngươi định nói, người quan tâm đến quốc gia như ngươi xét cho cùng cũng là đáng quý rồi.

Nhưng cái lệ phụ thuộc kia há một ngày mà xoá được hay sao?

Bách quay sang Lê Văn Hưu hỏi:

- Ngài biên soạn quốc sử, tất thông hiểu cổ kim.

Có thể nói cho ta biết, người Hoa Hạ làm sao mà trở thành đại quốc hay không?

- Người Trung Quốc vốn là người thông minh, ưa tìm hiểu.

Từ sơ khai đã luôn ghi chép tường tận các sự kiện, sau này phát minh ra giấy lại càng đẩy mạnh tri thức, chính vì vậy xứ họ có nền giáo dục tốt.

- Họ lại khéo léo lồng ghép Nho học vào vấn đề tự tôn dân tộc, tự coi mình là dòng giống ưu việt nên có tính vươn lên rất cao.

Thấy người lân bang hơn mình là luôn cố gắng học hỏi cho đến khi giỏi hơn mới vừa lòng.

- Chính vì thế mới nói, cho dù các bộ tộc du mục cướp phá họ trăm lần thì cuối cùng cũng vẫn tự nhược mà bị đuổi đi.

Họ từ những năm Trinh Quán đời Đường, quốc lực lên đến đỉnh cao, không gì cản nổi nữa.

Bách tán thưởng:

- Ngài Quốc sử viện giám nói đúng lắm!

Có thể thấy, chăm lo giáo dục, thu nạp bách gia, phát triển các ngành sản xuất chính là câu chuyện Quốc Vận mà ta nói ngày hôm nay.

Các ngài thấy nước ta có thể làm được những việc trên hay không?

Lúc này Lão Đinh mới lên tiếng:

- Ngươi nói thì dễ lắm, nhưng có biết, những kiến thức kia chúng giữ khư khư như ôm của báu.

Chỉ một môn toán thuật mà cả nước ta chỉ có Đỗ lão là hành gia, Công bộ thị lạng Trương Xán là cao thủ thì đủ biết những môn khác khó khăn thế nào?

- Biết khó nhưng không làm thì đến bao giờ mới thành nguyện vọng.

Các ngươi có nghe câu "Chỉ có hai thời điểm trồng cây tốt nhât, thứ nhất là mười năm trước và thứ hai là ngay bây giờ".

Việc này bản thân ta không làm thì ai làm đây?

Câu này nói ra, khiến cả ba người còn lại suy nghĩ, đại sảnh im lặng một lúc thì Trần Quang Khải tiếp:

- Đúng là phải làm, chăm lo cho giáo dục, phát triển sản xuất là cái gốc rễ, bên cạnh đó là thu nạp nhân sĩ khắp nơi.

Nhưng nước ta vẫn chỉ là lân bang tiểu quốc, sức hấp dẫn làm sao so sánh được Nguyên, Tống.

Đến đây Bách chỉ tay lên trời:

- Có cơ hội!

Lại tiếp:

- Thầy ta tính ra được.

Vận Tống không còn bao nhiêu, trong vòng hai mươi năm nữa, chắc chắn Tống vong.

Đây chính là vận nước mà ta nói với ngươi.

Nếu nắm được thời cơ này, chiêu nạp người Tống như chó nhà có tang, cho họ chỗ ăn chỗ ở, bắt họ góp sức cho triều đình.

Thì coi như văn minh Hoa Hạ chẳng phải trong túi Đại Việt ta rồi sao.

Trần Quang Khải nghi hoặc:

- Lời ngươi nói là thật?

- Sự thực thắng hùng biện, giờ ta nói thì các ngươi cũng không tin.

Bây giờ bàn đến chuyện thứ hai, ta biết sắp xảy ra dị tượng, chắc Đinh lão đã nói với Đại vương?

- Đã được nghe sư phụ nói qua.

Việc này hệ trọng, nếu lợi dụng tốt thì không những xoá được mầm mống nội loạn của triều ta, mà còn làm tăng uy vọng của Trần tộc.

- Nhưng nếu không thành thì hậu quả quá lớn, ngay cả ta gánh cũng không nổi.

Ta muốn nghe ngươi nói tường tận hơn.

- Thầy ta năm trước tính được tháng 3 năm nay, mùng 1 thì có Thiên cẩu thực nhật, đến ngày 25 thì Mặt trời sẽ có hai quầng.

Ta chỉ nói như vậy, Trần tộc các ngươi chắc biết phải làm thế nào.

Lý Thường Kiệt

Vương An Thạch – tể tướng nhà Tống

Bình Xuyên, Vĩnh Phúc bây giờ
 
Đông A Nông Sự
Chương 22: Hạng Vũ cử đỉnh


Lê Văn Hưu trầm ngâm nãy giờ cùng lên tiếng:

- Việc này quá kỳ lạ, vậy có thể nói cho chúng ta căn cứ vào đâu mà tính được chuyện này hay không?

- Thuật toán này cao siêu, thầy ta tinh thông thiên văn mới tính được, ta tuổi nhỏ lại ham chơi, có nhiều thuật không học được của thầy.

- Nhưng các ngươi có thể hiểu thế này: tinh tú trên trời đều có liên kết với nhau, tinh đồ chính là sơ đồ biểu diễn các liên kết này, người giỏi tính toán có thể tìm được những cách để dự báo trước đường di chuyển của các tinh tú.

Hiện tượng Nhật thực chính là khi Mặt trăng đi qua che lấp Mặt trời ban ngày chứ không có gì lạ.

- Không phải Thiên cẩu cắn nuốt mặt trời sao?

Bách cưới lớn:

- Thiên cẩu gì chứ, các ngươi không nhìn được trực tiếp cảnh đấy vì hào quang mặt trời lúc ấy ghê gớm, nhìn trực tiếp sẽ có thể bị mù.

Nếu lần sau nhật thực, ta có cái kính có thể nhìn được, sẽ cho các ngươi xem thoải mái.

Lão Đinh lúc này chen vào:

- Quả thật như vậy, cháu ta đã cùng hắn xem Nhật thực vào đầu tháng này.

- Vậy chuyện Mặt trời có hai quầng là làm sao?

- Do những đám mây trên trời kết tinh thể băng, làm cho ánh sáng đi qua bị khúc xạ.

Giống như khi chúng ta nhìn ánh sáng phản chiếu trên mặt hồ vậy, sẽ có hiện tượng khúc xạ xảy ra, chính vì vậy sáng sớm hay chiều muộn có thế thấy ánh sáng trở nên óng ánh trên mặt hồ.

- Làm sao ngươi biết được điều này?

- Do quan sát thôi.

Nếu con người không ngừng quan sát thiên nhiên sẽ ngộ ra nhiều điều.

Đây chính là cơ sở của một môn học gọi là Bác vật học.

- Ta đang muốn trao đổi cùng Chiêu Minh Vương về vấn đề này, để đón đầu cơ hội hai mươi năm tới đây, không thể thiếu Bác vật học được.

- Có phải đây là cách ngươi tính được chu vi của hồ Giám hay không?

- Không chỉ hồ Giám, nếu phát triển đến tận cùng Bác vật học thì không gì là không tính toán được.

Như vậy đi, các ngươi nhìn cây cau trước cửa, ai có thể nói cây cau kia chính xác bao nhiêu thước hay không?

Lão Đinh nói:

- Đoán chừng thì dễ nhưng chính xác thì phải hạ cây cau mới biết được.

- Ta tính toán chỉ sai số trong vòng 1 thước.

- Vậy thì quá khó, lão phu không làm được.

Trần Quang Khải cũng hiếu kỳ, bèn sai gia thần đi lấy thước, Bách ngắm nghía rồi đo bóng cây, dùng công thức tính tỷ lệ rồi xác định chiều cao cây cau vào khoảng 21 m.

Theo số đo thời nay thì cao 42 thước.

Tính toán xong hắn quay sang Trần Quang Khải.

- Cây này cao 42 thước, theo sai số ta tính toán thì sẽ vào khoảng từ 41 – 43 thước.

- Được lắm!

Người đâu, chặt cây kia cho ta.

Đo xem nó cao bao nhiêu.

Gia thần dạ ran rồi chỉ phút chốc cây cau bị hạ xuống.

Đo được đúng 43 thước.

Bách cũng không có gì ngạc nhiên, nhưng ba người kia thì kinh ngạc.

Tính toán chính xác được như thế, xưa nay rất hiếm.

Trần Quang Khải quay sang nói với Bách:

- Dựa vào thuật toán này, có phải đỉnh Thái Sơn cũng có thể đo được?

- Về lý thuyết là như vậy, sau này ta sẽ làm ra một vật, cho dù Cửu đỉnh cũng có thể nâng được, để xem mãng phu như Hạng Vũ giỏi hay ta giỏi.

Trần Quang Khái há mồm, "Quá là kiêu ngạo đi! bất quá ta thích".

Khi xưa đọc sử thấy Hạng Vũ nước Sở nâng Cửu đỉnh, ngạo thị quần hùng.

Quang Khải đã tự hỏi nước nam ta Lý Ông Trọng mà còn đến đời Hán Sở, thì thất phu kia có sá gì.

Hắn ngửa mặt cười lớn:

- Được!

Bản vương tin ngươi, ta sẽ tấu việc này lên Phụ vương.

Nhưng ngươi và lão Đinh lần này theo ta về kinh.

Nếu đây là sự thực thì ngươi sẽ được thưởng lớn.

Đời nhà Lý có tục phong quan tước cho kẻ hiến điềm lành.

Nay lời ngươi nói còn hơn cả mấy thứ phù du kia, ta đảm bảo sẽ được phong quan tiến tước.

- Những thứ này kể là gì.

Cái ta muốn hiến cho Quan gia là thứ khác kia.

- Hả!

Thứ khác?

Ngươi còn gì muốn hiến cho hoàng huynh?

- Hiềm nỗi thứ này chưa mang đi được.

Ta có giống lúa, trồng được hai vụ, sản lượng 10 thạch 01 mẫu.

Đây mới là điềm lành đích thực.

- 10 thạch 01 mẫu!

Sư phụ, đã có nơi nào ở nước ta đạt được sản lượng thế này chưa?

Lê Văn Hưu chắp tay nói:

- Bẩm Đại vương, ruộng tốt nhất bây giờ thu được khoảng 5 thạch 01 mẫu.

Còn sử ghi chép lại thì ruộng cao sản nhất chính là quanh Thái Đường Lăng, đã từng đạt 7 thạch 01 mẫu.

Nhưng do vùng này là Hoàng lăng nên điều kiện chăm sóc không đâu sánh bằng mới được như thế.

- Ngươi khẳng định là 10 thạch 01 mẫu!

- Lúa đấy đang trồng trên đất nhà lão Đinh, đến lúc gặt sẽ biết!

- Đưa ta đi xem qua ngay.

- Đại vương nóng vội rồi, chỗ đó gần đây thôi, Đại vương cứ nghỉ ngơi đã.

- Không được!

Người đâu, mang ngựa đến đây.

Bách cười trộm, thanh niên mười chín đôi mươi, đúng là đang ở trong cái tuổi đẹp nhất, chỉ là không giữ được bình tĩnh.

Trần Quang Khải dẫn đầu đoàn người ra ruộng nhà lão Đinh.

Điều này doạ lão Tuất sợ gần chết, bình thường đối mặt với gia chủ đã sợ rồi, gặp phải Đại vương làm hắn trở nên kinh hãi.

Lúc đầu Trần Quang Khải hỏi hai ba lần không nói được câu nào.

Chỉ đến khi lão Đinh ra hiệu, lại động viên là có gì nói nấy.

Hăn mới bình tĩnh lại.

Lúc này, cây lúa đã bén rễ, đang đẻ nhánh mạnh, chỉ bằng mắt thường so sánh với ruộng trồng bên cạnh cũng thấy cây lúa tuy thấp hơn nhưng sinh trưởng mạnh hơn nhiều.

Trần Quang Khải hỏi lão Tuất cách thức hắn trồng.

Lão Tuất nhất nhất nói ra.

Cả cách ngâm ủ hạt giống kiểu mới của Bách, rồi phương pháp cấy mạ non.

Tuy nhiên lão chỉ nói cách làm, hỏi tại sao làm vậy thì mù tịt.

Lại quay sang Bách nhìn.

Bách đứng ra giải thích từng điều tâm đắc khi trồng lúa.

Các vị vua Việt Nam đều là người trọng nông nghiệp, đa phần dạy con rất kỹ.

Các hoàng tử thường được cho tiếp xúc với canh nông để đến khi về đất phong của mình có vốn liếng giáo hoá con dân.

Trần Quang Khải cũng vậy, từ bé đã được vua cha cho ra đồng, tận tình chỉ bảo, nay hắn nghe Bách nói, cùng với những giải thích lý luận mới mẻ của hắn.

Nhanh chóng hiểu được tầm quan trọng của những kỹ thuật này.

Đôi khi còn vặn lại vài câu.

Bách cảm thán không thôi: "Đúng là làm tớ thắng khôn, còn hơn làm thày thằng dại".

Được một hồi thì đoàn người quay lại lán nghỉ.

Trần Quang Khải quay lại bảo gia thần:

- Gọi Trần Quốc Lặc đến đây cho ta!

Chỉ một loáng đã thấy Quốc Lặc xuất hiện, hắn những ngày này có lẽ lúc nào cũng sẵn sàng tư thế.

Gọi là đến ngay!

Trần Quang Khải nói với Trần Quốc Lặc:

- An Phủ Sử điều giúp ta một đội thân binh, canh giữ mảnh ruộng này.

Ta sẽ để lại đây 10 gia thần.

Từ lúc này, quanh đây 5 dặm trở thành vùng quân sự.

Không có lệnh của ta mà có người bén mảng vào đây thì giết chết ngay không tha.

Quanh đây chỉ cho phép các tá điền nhà lão Đinh ở để chăm sóc lúa.

Ngươi có làm được không?

- Hạ quan cam đoan làm được!

- Tốt!

Ba tháng sau ta sẽ quay lại để kiểm tra!

Ngài An Phủ Sử đôn đốc giúp cho việc này.

Lại quay sang lão Tuất:

- Ngươi chăm sóc ruộng lúa này thật tốt, ba tháng sau ta quay lại sẽ có trọng thưởng cho ngươi và các tá điền có công.

Bách cũng nói tiếp:

- Lão cứ yên tâm chăm sóc cho tốt, ta thấy năm nay khí hậu thuận lợi, tiết Kinh Trập (sâu nở) mà không có nhiều sâu bọ, khả năng cao là không có dịch bệnh gì nhiều.

Nếu theo ta tính toán năm nay khi gặt sẽ có bất ngờ lớn đấy.

Trần Quang Khải nói:

- Ý ngươi là sao?

- Ta đoán sản lượng chắc không chỉ dừng lại ở 10 thạch 01 mẫu đâu.

- Thế thì cũng quá khoa trương rồi?

Nếu hơn 10 thạch 01 mẫu.

Ta đảm bảo ngươi phong hầu không có vấn đề gì?

- Không cần!

Quan to tước hậu ta gánh không được.

- Vậy để sau hãy tính.

Các ngươi về Đinh gia chuẩn bị, ngày kia sẽ tiến kinh.

Ngày mai ta còn cùng An Phủ Sử bàn một số chuyện.

- Vậy mời Đại vương khởi giá về trang viên.

Voi trắng, ngựa trắng, ... chép nhiều trong ĐVSK

Đền Trần ở Thái Bình
 
Đông A Nông Sự
Chương 23: Tiến kinh


Bách và Đinh lão về Đinh gia còn Lê Văn Hưu thì theo Trần Quang Khải về trang viên.

Khi về đến Đinh gia, Đinh lão mới thở phảo một cái.

Nói với Bách:

- Đi cùng ngươi cũng là một việc tổn hại tâm thần.

Hôm nay mấy bận ta đã nghĩ đầu ngươi sẽ lìa khỏi cổ.

Lần sau ngươi nghe lời lão, con người ta bước qua mái hiên thấp, sao không phải cúi đầu?

Điều này không có gì ảnh hưởng tới tiết tháo cả.

- Xin nghe lời Đinh lão!

- Ngươi đi nghỉ đi.

Mai ta đi sẽ mang theo vài gia nhân và Đinh Nhu đi cùng, ngươi có cần chuẩn bị gì không?

- Cháu không cần gì đâu ông ạ!

Đinh Nhu nghe lệnh ông sẽ cho mình theo, vui không ngủ được, hắn 20 tuổi nhưng chưa được vào kinh.

Nghe thúc thúc và cô cô nói, kinh thành là chốn xa hoa nhộn nhịp nhất, hắn rất mong chờ được vào kinh.

Đinh Đang thì buồn bực không thôi, cô bé muốn đi lắm nhưng ông không nói gì, mẹ cô bé lại nạt ở nhà.

Cả ngày hôm ấy cứ dấm dứt không thôi.

Bách thấy thế mon men ra chỗ Đinh Bản, nịnh lão:

- Cháu thấy Đinh Đang không vui, hay là cho cô bé đi cùng ông nhé?

- Vớ vẩn! ta đã sai lầm nuông chiều cô cô nó, bây giờ còn chưa đòi được về.

Bây giờ nó tiến kinh mà học được cái thói đấy thì nhà ta thiệt to.

- Không sao đâu, cháu và Đinh Nhu sẽ trông chừng Đinh Đang.

Tuyệt đối không để nó bị ai làm hại.

Đinh lão bĩu môi:

- Thằng nhóc con, tự tin quá nhỉ?

Sao không hỏi thằng tiểu tử kia sợ cái gì nhất?

Ta lo nó vào kinh thì trở thành tai vạ chứ chả chơi.

Cháu có biết nó 6 tuổi đã học võ ở Thiên Ân Thiền Tự, được chân truyền của Lăng Già thiền sư.

Cả vùng này sợ nó chứ cứ gì Đinh Nhu.

Bách ngẩn ra, "Chả nhẽ Đinh Nhu lại sợ Đinh Đang?

Cô bé hiền lành như thế, có làm hại ai đâu?"

- Nó gặp cháu đã yêu mến nên không lộ cái tính tình kia ra.

Với võ công của nó mười thằng tiểu tử kia cũng không làm gì được.

Bách lè lưỡi, hắn không tưởng tưởng được cô bé 12, 13 tuổi đánh nhau với mấy gã lực điền chèo thuyền hôm trước.

- Nhưng chả nhẽ cụ định giữ cô bé trong nhà suốt ngày.

Có khi lịch lãm một phen sẽ làm cô bé thay đổi tính nết.

Đinh lão thở dài nói:

- Nhà ta phạm phải điều gì mà đàn ông sinh ra thì ngu độn mà lũ con gái thì tinh ranh thế?

Có lẽ cũng phải cho chúng ra ngoài, cao nhân tắc hữu cao nhân trị.

- Tốt lắm! cháu sẽ thông báo lại cho cô bé.

Nàng rầu rĩ suốt hôm nay rồi, cháu nhìn mà cũng nát cả ruột.

Bách vui vẻ ra sau nhà, cười cười đến chỗ cây khế.

Đinh Nhu đang ngồi khép nép trên ghế đá.

Còn Đinh Đang thì vắt vẻo trên cành cây, hắn nghe ra thì đang nịnh nọt nàng:

- Tiểu muội, đừng buồn nữa.

Anh lên kinh nhất định thấy cái gì hay sẽ mua về cho em.

Anh nghe nói trên đấy có nhiều mòn bánh trái ngon lắm, toàn là con cái ngự trù trong cung ra ngoài mở hiệu.

Nào là bánh đậu xanh, bánh khảo ... nhất định khi về, mỗi thứ 10 hộp.

Muội thấy thế nào?

Hắn nói rồi xoè hai bàn tay ra làm giá.

Đinh Đang dẩu môi:

- Không thèm!

- Thế thì thế này, muội yêu thích cái gì thì nói cho huynh, huynh sẽ tìm bằng được ...

- Đinh Đang!

Ta thấy cháu lại mắc chứng Đại tiểu thư rồi đấy.

- Không thèm nói với thúc!

- Ông cháu vừa có ý cho cháu đi cùng, hỏi ta có nên cho đi không?

Như thế này e là cháu không muốn đi rồi?

Đinh Đang nhảy từ trên cành khế xuống, thân nhẹ như chim yến, cầm hai tay Bách:

- Thúc nói thật chứ?

- Như vậy đi, nếu cháu làm được một việc, ta sẽ xin ông cho cháu lên kinh.

- Thúc cần làm gì?

Bách ác độc quay sang Đinh Nhu.

Hắn bỗng thấy dự cảm không lành, tóc gáy dựng lên.

Hai chân Đinh Nhu không tự chủ lùi lại, định quay đầu chạy.

- Cháu đánh thằng tiểu tử kia thâm mắt, để nó trả ta cái kính râm thì ta chắc chắn ngày mai cháu được đi.

- Ôi khốn nạn!

Đinh Nhu chưa kịp nói hết câu, bằng một thủ pháp gì đó, hắn bay xa ra hai ba thước, khi đứng lên thì mắt trái đã nhắm tịt.

Đinh Đang thu tay rồi mới lại tỏ ra băn khoăn:

- Cháu quên mất, mắt phải hay mắt trái ạ?

- Mắt phải, người thuận tay phải nheo mắt trái, người thuận tay trái nheo mắt phải mà.

- Ôi tận cùng khốn nạn!!!

Đinh Nhu thề sẽ không bao giờ trả kính cho Bách nữa.

Còn Bách, hắn cảm thấy ê hết hàm răng, chứng kiến cảnh bảo lực như thế.

Hắn mới có dịp đối chiếu sức mạnh thân thể của con người khi đẩy lên cực hạn sẽ thế nào.

Có thể những kỹ thuật cổ xưa kia, khoa học chưa thể giải thích được.

Ở thời đại của hắn, những siêu sao võ thuật có thể khoẻ mạnh, nhanh nhẹn về cơ bắp, nhưng nguyên việc bật nhảy từ dưới đất lên mái nhà 4,5 mét đã không ai làm được rồi.

Sao Đinh Đang nhảng một bước, hắn đã thấy cô bé nhảy từ hậu viện ra tiền viện, nghe xa xa chất vấn ông nội rồi.

Tối hôm đấy, Đinh Nhu mò sang phòng Bách ở dền luôn bên đấy.

Hắn ra chiều bắt đền khiến Bách phải dốc nốt chục viên Singum còn lại cho hắn.

Tên này bây giờ có của không ăn, chót bốc phét với bạn bè nên thỉnh thoảng xin vài viên để sĩ diện.

Đại hoàng ghét lắm, nó bị chiếm chỗ bên cạnh Bách, lại thấy tên này cướp của chủ, nên gầm gừ đuổi đi.

Dạo này Đại hoàng cũng lớn hơn, trổ mã.

Bộ lông hung vàng, đuôi cộc, cụt ngủn dễ thương.

Bách nhìn qua là biết Đại hoàng thuộc giống Mông cộc.

Một trong tứ đại quốc khuyển của Việt Nam.

Loài này là giống chó bản xưa của người đồng bào dân tộc H'Mông, thuộc vùng núi Tây Bắc Việt Nam.

Ngày mai đi, hắn để lại Đại hoàng ở nhà, hắn sợ mình lên Kinh không có thời gian chăm sóc nó.

Sáng hôm sau, đoàn người tập trung trên bến Bạch Hạc.

Đoàn tuỳ tùng của Trần Quang Khải cũng vẫn gồm đội quân thuyền cũ.

Đinh gia cũng có một thuyền riêng nhưng đây là loại thuyền buôn, khoang rộng hơn nhưng di chuyển chậm.

Giờ Mão đã xuất phát sau tiếng kèn lệnh.

Theo lệ, đoàn quân thuyền của Trần Quang Khải đi đến đâu, quan viên địa phương phải ra bến đó xếp hàng chào hỏi.

Tuy nhiên, hắn cũng không rườm rà đến thế, trực tiếp tiến thẳng về kinh đô.

Có đoàn nay thuyền này đi trước, thuyền nhà họ Đinh tuy đi chậm hơn nhưng tiết kiệm rất nhiều thời gian.

Đi một ngày trên thuyền thì cũng đến được bến Đông Bộ Đầu.

Bến Đông Bộ Đầu thời Trần nằm ở bờ Nam sông Hồng, nay thuộc vị trí từ đầu dốc Hàng Than, Hòe Nhai kéo dài đến Vạn Kiếp.

Đây là một hệ thống bến cảng, quân cảng, căn cứ thuỷ quân lớn nhất trong nhiều thế kỷ.

Bên cạnh đó, nó cũng là một bến thuyền dân sinh, thương mại cửa ngõ vào thủ đô Thăng Long.

Quang cảnh bến Đông Bộ Đầu thời này nhộn nhịp hơn thời hiện đại nhiều lắm.

Từng đoàn thương thuyền lớn từ bốn phương tám hướng tụ tập tại đây.

Sản vật miền xuôi miền ngược đều trao đổi nhộn nhịp trên bến.

Nhà họ Đinh thường mang dược liệu, lâm sản, gia vị từ vùng trung du miền núi xuống đây.

Nhận lại họ mang những sản vật của vùng biển và vùng đồng bằng trở về Thao Giang.

Lão tam Đinh Hạo biết cha tới nên đã đến bến đón từ lâu.

Tuy nhiên, hắn không được vào trong vì phải chờ quân thuyền của Chiêu Minh Vương đi qua đã.

Trần Quang Khải xuống đến nơi, chào hỏi quan viên rồi vào điện Phong Thuỷ nghỉ ngơi.

Điện này xưa tên là Linh Quang, năm 1237 được vua Trần cho tu tạo và đổi tên thành Phong Thuỷ, chuyên để đón xa giá của vua và các vương gia.

Vì là chỗ các quan lại đón tiếp vua, dâng trà mời trầu nên còn gọi là điện Hô Trà.

Trần Quang Khải tiếp nhận nghi thức rồi hồi phủ, khi đi không quên dặn Đinh lão và Bách ngày mai vào phủ tiếp kiến.

Lão Đinh xuống thuyền, Đinh Hạo chào cha rồi sai người vận chuyển đồ lên xe ngựa.

Định mời cha về nhà, Đinh gia cũng có nhà tại kinh thành, ở gần bến Đông Bộ Đầu để tiện buôn bán.

Tuy nhiên lần này đến kinh, Lê Văn Hưu đã mời Đinh lão và Bách tới phủ ở, bọn Đinh Nhu và Đinh Đang cũng đi theo luôn.

Trúc Lâm Thiền Viện ngày nay
 
Back
Top Bottom