Đoàn người Địch Chấn xuôi Nam vào Trung Nguyên, vốn định theo lệ cũ sẽ kiến giá Ung Đế trong cung, chẳng ngờ lại được dẫn đến bãi săn Vị Nam.
Địch Chấn và Mạnh Hiếu Lương nhìn nhau, đều không rõ đối phương đang định giở trò gì.
Trong bãi săn e là có nhiều tai mắt mai phục, Địch Chấn để mấy ảnh vệ đi theo ở lại bên ngoài, chỉ cùng vài tùy hành sứ giả và hạ nhân dâng lễ vật tiến vào trong.
Bước vào bên trong, đập vào mắt là một đài cao hình chữ nhật xây bằng gạch vàng cao chừng bốn năm thước.
Quanh đài cứ cách vài bước lại cắm một lá cờ đỏ, mặt cờ phất phơ trong gió, dưới ánh mặt trời rực rỡ tựa như rạng đông đang cuộn trào.
Trên đài, hàng chục văn võ quan viên người Hán ngồi chia làm hai dãy, vây quanh hai chiếc quạt chưởng chạm vàng khổng lồ ở chính giữa.
Ngồi trang nghiêm phía trước đó là một người, xem ra chính là Ung Đế.
Sau khi thông báo, Địch Chấn được dẫn dắt bước lên những bậc thềm của đài cao, tiến về phía vị trí trung tâm.
Gã tuân theo lễ tiết đã tìm hiểu từ trước, cúi đầu rảo bước ngắn tiến lên để tỏ lòng cung kính, nhưng đôi mắt vẫn bất động thanh sắc mà ngước lên, lén quan sát dung mạo của Ung Đế.
Gã thấy Ung Đế vóc người cao lớn, tuy sống trong nhung lụa nhưng không hề có dáng vẻ phát tướng, khoác trên mình bộ thợ săn trông cũng có vài phần tương đồng với người bộ tộc của gã.
Người ta nói Ung Đế tuy là Hoàng đế người Hán nhưng trong người lại mang dòng máu Hung Nô, nay xem ra lời ấy không hẳn là giả.
Gã lại nhướng mày lên thêm vài phân, tầm mắt dịch lên phía trên, thấy dưới cằm Ung Đế là một chòm râu ngắn, đại thể vẫn còn đen nhánh, chỉ xen kẽ vài sợi râu trắng.
Địch Chấn thầm tính toán trong lòng, Ung Đế năm nay chừng 53 tuổi, so với phụ hãn thì trẻ hơn cả mười tuổi.
Kẻ nào trước đó nói ông già nua vô dụng, xem ra là có chút oan uổng cho ông rồi.
Gã tiến lên vài bước, tầm mắt lại dời lên trên, chẳng ngờ chạm ngay phải đôi mắt của Ung Đế.
Biết mình bị phát hiện, gã vội né tránh, nhìn chằm chằm xuống mặt đất.
Hồi tưởng lại đôi mắt nghiêm nghị nhuốm màu sương gió nhưng không chút đục ngầu vừa thấy, trong lòng gã không hề sợ hãi, nhưng chẳng rõ vì sao lại dâng lên chút bất an mơ hồ.
Phía sau vang lên tiếng ho khẽ của Mạnh Hiếu Lương, Địch Chấn sực tỉnh, quỳ một gối xuống hành lễ với Ung Đế, "Địch Chấn phụng mệnh phụ hãn, nguyện cùng Bệ hạ cắt máu ăn thề, kết thành quốc gia huynh đệ, từ nay hai nước Hạ Ung không xâm phạm lẫn nhau, vĩnh kết đồng tâm.
Đặc biệt dâng lên lễ mọn để biểu lộ lòng thành, đây là danh mục lễ vật, xin Bệ hạ xem qua."
Đại Hạ của gã vốn không phải phiên thuộc của Ung Quốc, hai nước giao bang bình đẳng, huống hồ phụ hãn của gã uy chấn thảo nguyên, binh thế cường thịnh, gã lại là Đại Thái tử của Hạ Quốc, thân phận tôn quý độc nhất vô nhị.
Chuyến đi này tuy là để giao hảo nhưng cũng không cần quá khép nép, bởi vậy sau khi hành lễ, chẳng đợi Ung Đế hồi đáp, gã đã tự thân đứng dậy.
Các sứ giả phía sau thấy gã đứng lên cũng liền dậy theo, hai tay dâng lên lễ đơn, được nội thị Ung Quốc đón lấy dâng lên cho Ung Đế.
"Trên thảo nguyên không có dị bảo quý hiếm, mong Bệ hạ thứ lỗi.
Đặc biệt dâng tặng áo lạc đà, áo lông chồn mỗi loại mười chiếc, yên ngựa chạm trổ hai mươi bộ, ngựa hai mươi con, còn có một con Hải Đông Thanh móng ngọc."
Gã nói đến câu cuối thì cố ý nhấn mạnh một chút, quả nhiên thấy thần sắc Ung Đế khẽ động.
Hải Đông Thanh là thần điểu của thảo nguyên, là vua của bách cầm, dũng mãnh thần tuấn, cực kỳ khó tìm, có thể coi là quốc bảo.
Huống hồ Hải Đông Thanh móng ngọc lại là vua trong các loài vua, vài năm mới gặp được một con, ngay cả ở Đại Hạ Hãn Quốc của gã cũng chẳng có mấy con.
Ung Đế lớn lên ở Trung Nguyên, liệu rằng cũng chỉ nghe danh chứ chưa từng thấy mặt.
Ung Đế nhận lấy danh mục lễ vật, chỉ lướt qua một cái rồi đặt lên bàn, lên tiếng: "Những năm qua, biên cảnh hai nước Ung Hạ thường có hiềm khích, dân biên thùy đều bị quấy nhiễu không yên.
Binh đao nếu có thể tạm gác, thành lập mối quan hệ láng giềng hòa thuận, thông thương qua lại, quả thực là phúc của hai nhà.
Cát La Lộc Hãn cử Thái tử đến đây, lại chuẩn bị hậu lễ thế này, đủ thấy thành ý.
Đợi sau khi sửa đổi minh ước, trẫm cũng có lễ vật tiễn chân, lại thêm một phong quốc thư, còn phải phiền Thái tử mang về."
Địch Chấn nghe ông nói một tràng dài những lời khách sáo, quả nhiên ngay sau đó ông hỏi tiếp: "Con chim hải thanh mà Thái tử vừa nói, không biết hôm nay có mang đến không?"
Địch Chấn mỉm cười: "Hôm nay Bệ hạ săn bắn, sao có thể thiếu loài chim này trợ hứng? hải thanh đã ở dưới đài, không biết có cần truyền lên không?"
Ung Đế gật đầu, Địch Chấn vỗ tay hai cái "bộp, bộp", hai hạ nhân đi cùng liền kẻ trước người sau khênh một thanh gỗ bước lên đài.
Mọi người nhìn qua, chỉ thấy dưới thanh gỗ treo một cái lồng rộng chừng ba bốn thước, cao gần bằng đài cao dưới chân mọi người.
Trong lồng, một con chim cắt cao cỡ nửa người, toàn thân trắng muốt như tuyết đang mở to đôi mắt đen tròn nhìn quanh hai bên, lông đuôi thỉnh thoảng lại nôn nóng mà run lên một chút.
Trên cái mỏ màu xanh xám, chỉ phần chóp mỏ mang chút sắc đen, trông sắc lẹm như lưỡi đao, uy phong lẫm liệt nhưng lại mang một vẻ ung dung đặc biệt.
"Quả thật là thần điểu."
Địch Chấn nghe thấy có người cảm thán như vậy, trong lòng càng thêm đắc ý, mở lồng đưa con Hải Đông Thanh ra.
"Loài chim này sau khi bắt được phải thức canh qua nhiều ngày để rũ bỏ tính kiêu ngạo, hoang dã của nó.
Sau khi thuần xong, mới có thể cho nó đậu trên người."
Địch Chấn vừa nói vừa phô diễn cho mọi người xem, "Nếu thả con mồi ra, chỉ cần phất cánh tay, con chim này nhận lệnh sẽ lập tức tung cánh lao đi, nhanh như sấm sét.
Chim bay, thú chạy, cá tôm đều có thể bắt về.
Bệ hạ có muốn thử một phen không?"
"Được, thả mấy con thỏ ra, thử cho trẫm xem."
Ung Đế quả nhiên đồng ý.
Thị vệ nhận lệnh mở một chiếc lồng sắt, thả những con thỏ rừng vốn được chuẩn bị sẵn cho các vương công quý tộc săn bắn tiêu khiển ra.
Thỏ rừng vừa được thả liền tung chân chạy thục mạng, chỉ nghe thấy tiếng sột soạt mấy cái, chẳng đợi mọi người nhìn kỹ, thỏ đã rúc vào trong đám cỏ dại.
Lớp lông màu nâu lẫn vào với màu cỏ úa, trong tích tắc đã không còn thấy rõ.
Địch Chấn giơ cánh tay lên, hất con Hải Đông Thanh lên trời.
Con chim đó quả nhiên tung đôi cánh khổng lồ lao vút đi, cánh một nửa duỗi thẳng, một nửa gập về sau, uốn thành hình một cánh cung.
Mọi người ngước mắt nhìn lên, chỉ thấy một tia chớp màu trắng đột ngột bổ xuống, đánh trúng một bụi cỏ dại.
Trong cỏ vang lên những tiếng động xào xạc, con chim từ trong bụi cỏ bay lên, rít lên một tiếng rồi lại lao xuống.
Sau đó chỉ thấy cỏ dại rung chuyển hỗn loạn, đôi cánh vỗ loạn xạ, vệt đen sắc lẹm trên mỏ thoắt ẩn thoắt hiện giữa đám cỏ.
Bất chợt, con chim tung cánh bay lên, bộ móng sắc nhọn quắp lấy một con thỏ béo bay về phía đài cao, ném con thỏ đẫm máu xuống chân Địch Chấn, rồi thu cánh đậu lại trên vai gã.
"Giỏi!"
Ung Đế là người đầu tiên lên tiếng khen ngợi, quần thần cũng nhao nhao trầm trồ tán thưởng.
Địch Chấn nhướng mày, khẽ vuốt ve lưng Hải Đông Thanh, con chim rũ lông, bay đến đậu trên thanh gỗ lồng, hơi nghiêng đầu, dùng đôi mắt đen nhìn gã.
"Cát La Lộc Hãn gửi đến thần điểu thế này, trẫm ngược lại chẳng biết lấy gì đáp lễ."
Ung Đế vuốt râu mỉm cười, vẻ mặt vô cùng hài lòng, "Trẫm đã chuẩn bị rượu nhạt, mời Thái tử nhập tiệc.
Hôm nay tại bãi săn, trẫm vừa vặn muốn duyệt tam quân, Thái tử đã ở đây, chi bằng cùng xem?"
Cung nhân dẫn Địch Chấn ngồi xuống cạnh Ung Đế.
Chỗ ngồi này tuy là vị trí phụ nhưng lại đứng trên cả quần thần, đủ thấy sự ưu ái đặc biệt.
Địch Chấn vén áo ngồi xuống, nghe Ung Đế nói vậy liền sảng khoái đáp: "Đội quân tinh nhuệ này của Bệ hạ nam chinh bắc chiến, đánh đâu thắng đó, danh tiếng lẫy lừng, Địch Chấn tuy ở phương Bắc nhưng cũng sớm nghe danh, chỉ tiếc chưa được tận mắt thấy.
Nay có thể chiêm ngưỡng quân dung của quý quốc, thật là việc khoái ý."
Gã mỉm cười, miệng thì nói vậy nhưng lòng lại thầm nghĩ: Làm gì có đạo lý duyệt tam quân ở bãi săn?
Chẳng qua là muốn thị uy với ta về binh thế hùng mạnh của ông ta mà thôi.
Xem ra chuyện kết minh, ta vốn là giả vờ, ông ta cũng chưa chắc đã có mấy phần chân tâm.
Bang giao hai nước quan trọng là có đi có lại, ông ta đã vậy, lát nữa ta cũng phải dằn mặt ông ta một chút, nếu không e là ông ta lại tưởng Đại Hạ ta không có người mất.
Ung Đế nghiêng đầu ra hiệu, một tướng lĩnh bên cạnh liền phất một lá hồng kỳ, lắc lư vài cái.
Tiếng vó ngựa dồn dập từ phía không xa vang lên như tiếng trống trận, trong rừng rậm bốc lên vài luồng bụi vàng nhạt, sau đó từ bốn phương Đông Tây Nam Bắc hiện ra bốn đội nhân mã.
Từng tốp kỵ binh từ trong rừng tuôn ra như nước chảy, hội tụ thành vài dòng rồi lại tản ra, dường như đang biến đổi trận pháp gì đó.
Địch Chấn vốn không hiểu nhiều về sự biến hóa quân trận của người phương Nam, chỉ thấy khi biến trận, các doanh trại không hề hỗn loạn, chuẩn mực nghiêm minh.
Gã vừa thầm gật đầu vừa kinh hãi trong lòng: Ông ta bố trí số nhân mã này ở đâu vậy?
Ta vừa mới nói chuyện với ông ta lâu như thế mà chẳng hề hay biết.
Ông ta muốn thị uy, hay là định lật lọng, muốn ra tay với ta tại đây?
Dù vậy, mặt gã vẫn không lộ chút khác thường, vẫn uống rượu ăn thịt như thường, lại còn tỏ ra vẻ đầy hứng thú.
Ánh mắt Ung Đế dường như đổ dồn vào gã, gã lờ mờ nhận ra, nhìn lại rồi nâng chén mỉm cười kính rượu.
Ngay khi ánh mắt hai người chạm nhau, bất chợt binh sĩ bốn phía đồng thanh hô vang.
Tiếng hô ấy thực sự như sấm sét nổ ngang trời, tiếng động rung chuyển cả khu vực, khiến người nghe mà lồng ngực chấn động.
May mà Địch Chấn đã có chuẩn bị, rượu trong chén chỉ hơi sóng sánh hai cái, gã nâng chén kính Ung Đế từ xa rồi một hơi uống cạn.
Ung Đế cũng không tỏ vẻ bực bội, ngược lại còn lộ vẻ tán thưởng, nâng chén đáp lại từ xa, cũng uống cạn một chén.
Địch Chấn nhìn thần sắc ông, thầm nghĩ: Xem ra là ta đa tâm rồi, ông ta sao dám ra tay với ta ở chỗ này được?
Diễn tập đã xong, nhân mã các doanh đứng yên nghe lệnh, Địch Chấn chỉ thản nhiên uống rượu, không nói một lời.
Thấy vậy, từ phía tay phải Ung Đế có một người đứng dậy, rót cho Địch Chấn một chén rượu rồi hỏi: "Không biết đội quân này so với tráng sĩ quý quốc thì thế nào?"
Địch Chấn ngước mắt nhìn, thấy người tới chừng 30 tuổi, mắt phượng mày ngài, diện mạo không tồi, nếu thêm một chòm râu thì có đến sáu bảy phần giống Ung Đế.
Gã trước khi đến đã tìm hiểu kỹ, liếc mắt liền nhận ra người này chính là đứa con thứ hai của Ung Đế Lưu Chương, năm nay 29 tuổi, được phong Tần Vương nhưng không về đất phong mà cùng các Hoàng tử khác cư ngụ tại Trường An.
Theo gã được biết, Ung Đế thời trẻ sinh được hai con trai, sau đó chẳng rõ vì sao trong suốt mười mấy năm con cái thưa thớt, chỉ có một trai một gái ra đời nhưng đều chết yểu.
Đến những năm gần đây lại bất ngờ sinh thêm được vài đôi con cái, cũng coi như gừng càng già càng cay.
Nhưng trong số các Hoàng tử này, người đã trưởng thành chỉ có Đại Hoàng tử Lưu Chiêm và Lưu Chương trước mặt đây, các Hoàng tử khác đều còn thơ ấu.
Nghe nói Đại Hoàng tử Lưu Chiêm ốm yếu bệnh tật, sống được đến tuổi này đã là hiếm thấy, chưa biết được y và Ung Đế ai đi trước ai.
Trừ phi Ung Đế già lú lẫn, bằng không ngôi Hoàng đế tuyệt đối không truyền cho người này.
Nay Ung Quốc tuy chưa lập Thái tử, nhưng người kế vị sau này xem ra mười phần thì đến tám chín là người trước mặt đây.
Địch Chấn quan sát Lưu Chương một hồi, đón lấy chén rượu từ tay hắn, cười nói: "Tệ quốc so với quý triều, quân dung hùng hậu thì xa không bằng, nhưng quân uy thì có phần nhỉnh hơn một chút."
Lưu Chương ngẩn người, cười như không cười hỏi: "Ồ?
Vậy không biết quân uy quý quốc thế nào?"
Địch Chấn mỉm cười, sau đó thần sắc nghiêm lại, trịnh trọng đáp: "Dũng sĩ thảo nguyên ta, xuống ngựa chăn thả, lên ngựa giết địch.
Mỗi khi chinh phạt, chiến mã đầy đồng, che kín bầu trời, tiếng vó động đất, tiếng hí vang trời.
Mỗi khi giáp địch, nơi nào loan đao lướt qua nơi đó như cắt cỏ, kẻ đối địch không ai không trông gió mà tan."
Đúng như gã dự liệu, vị Hoàng tử Ung Quốc trước mặt sắc mặt lạnh căm, "Thái tử nói vậy e là có phần quá mức tự phụ rồi."
Địch Chấn uống cạn rượu, đặt chén xuống bàn: "Điện hạ không tin, sau này có lẽ sẽ có một ngày, có thể đích thân lĩnh giáo."
Nghe gã có ý khiêu khích, sắc mặt Lưu Chương âm u như bão sắp tới, đang định nói gì đó thì nghe Ung Đế bên cạnh lên tiếng: "Được rồi, tiệc hôm nay chỉ vì tình hữu nghị láng giềng, không bàn chuyện binh đao."
Lưu Chương nén giận, vái Ung Đế và Địch Chấn mỗi người một cái, rồi phất tay áo lui về chỗ ngồi.
Địch Chấn đứng dậy cáo lỗi: "Người thảo nguyên không thông lễ tiết, vừa rồi lỡ lời mạo phạm, mong Bệ hạ thứ lỗi.
Địch Chấn bất tài, nguyện đem chút kỹ năng cưỡi ngựa bắn cung phô diễn trước Bệ hạ, một là để tạ lỗi, hai là để trợ hứng buổi tiệc, không biết Bệ hạ có đồng ý không?"
Ung Đế gật đầu: "Khó được Thái tử có nhã hứng như vậy, người đâu, lấy cung tên tới!"
Địch Chấn cởi bỏ áo bào lễ phục nặng nề giao cho hạ nhân, vén vạt áo dắt vào thắt lưng, đón lấy cây cung từ tay cung nhân.
Gã đưa tay kéo nhẹ hai cái rồi lắc đầu: "Không đủ, phiền đổi cho ta một cây cung cứng hơn."
"Được, lấy Thiết Thai Cung của trẫm tới."
Ung Đế dặn dò xong không lâu, cung nhân dâng cung mới lên.
Địch Chấn thử lại thấy vừa tay, lại nói: "Không biết Bệ hạ có thể cho mượn một con ngựa không?"
Ung Đế tự nhiên đáp ứng.
Địch Chấn một tay cầm cung, không giẫm bàn đạp mà chỉ nhấn nhẹ lên yên ngựa, liền xoay người nhảy lên.
Gã còn chưa phô diễn kỹ năng bắn cung, chỉ dựa vào động tác lên ngựa đã nhận được vài tiếng vỗ tay khen ngợi.
Gã mỉm cười, thúc giày vào bụng ngựa, con ngựa liền chạy đi, dọc theo đài cao càng chạy càng nhanh.
Thị vệ đặt tổng cộng mười tấm bia từ xa đến gần, Địch Chấn giương cung cài tên, một tiếng "vút" vang lên, bắn đổ tấm bia gần nhất.
Cái này không tính là quá khó, trên đài nhất thời không ai lên tiếng.
Địch Chấn thúc ngựa chạy thêm một vòng quanh đài cao, tay vòng ra sau rút liền ba mũi tên, gần như không nhìn rõ động tác tay của gã, chỉ thấy dây cung rung lên bần bật, ánh bạc trên dây cung loang loáng.
Sau ba tiếng "đùng đùng đùng" trầm đục, ba tấm bia từ trước ra sau lần lượt đổ rạp.
"Hay!"
Màn liên châu tiễn (bắn tên liên tiếp) này thực sự đẹp mắt.
Địch Chấn nghe thấy Ung Đế khen hay, nhếch môi cười một tiếng, thúc ngựa chạy nhanh hơn chút nữa.
Đợi khi chạy thêm một vòng, gã đột nhiên xoay người lại, đưa cung lên quá đầu bắn ra một mũi tên, sau đó hai chân móc vào bàn đạp ngựa, thân người gập xuống gần như treo dưới bụng ngựa, giương cung bắn thêm một mũi nữa, quát khẽ một tiếng "Trúng!"
Quả nhiên hai mũi tên đều không lệch một phân, trúng ngay hồng tâm.
Lúc này con ngựa dưới chân gã đã chạy đến một góc đài cao, đang định rẽ ngoặt, gã lại đột ngột đứng thẳng dậy trên lưng ngựa, kéo căng dây cung, rồi chuyển cung sang tay trái, bắn thêm một mũi nữa.
Con ngựa không người thúc giục mà vẫn rẽ ngoặt như thường.
Gã đứng chân trên yên ngựa, hoàn toàn không có điểm tựa mà chân không rung, thân không nghiêng, hệt như đi trên đất bằng, hai mũi tên đều trúng, khiến mọi người đồng loạt reo hò.
Gã chạy hết góc cua, ngồi lại trên lưng ngựa, xé một đoạn vải từ vạt áo buộc lên đầu che kín mắt, thúc ngựa chạy thêm một vòng nữa.
Gã giơ cung ước lượng một hồi, bất chợt lại bắn thêm một tên.
Nghe thấy tiếng trúng bia, gã mỉm cười giật dải vải ra, nâng cánh tay ưỡn ngực, kéo căng cây Thiết Thai Cung như hình trăng rằm rồi đột ngột buông tay.
Chỉ thấy mũi tên như sao băng vút đi, chỉ nghe rắc một tiếng, tấm bia cuối cùng vỡ làm đôi văng trên mặt đất, thế tiễn không giảm, vẫn bay thẳng về phía sau.
Phải một lúc lâu sau, trên đài cao mới bùng nổ một trận vỗ tay khen ngợi.
Địch Chấn cười lớn một tiếng, ghì cương ngựa quay lại đài, giao cung cho cung nhân, hành lễ với Ung Đế, "Địch Chấn múa rìu qua mắt thợ, mong chư công chỉ giáo."
Ung Đế vỗ tay nói: "Kỹ năng cưỡi ngựa bắn cung của Thái tử có thể coi là xuất thần nhập hóa, thực khiến người ta tán thưởng không thôi."
Địch Chấn có ý phô diễn màn này, vốn nghĩ Ung Đế phải mở mang tầm mắt, khen ngợi hết lời, chẳng ngờ chỉ nhận được một câu nhẹ hẫng thế này, trong lòng có chút không vui nhưng cũng không tiện lộ ra.
Một bên Lưu Chương đứng dậy nói: "Phụ hoàng, sứ giả Hạ Quốc kỹ năng bắn cung hơn người, làm người vô cùng ngưỡng mộ.
Nhi thần kỹ nghệ tuy còn non nớt nhưng cũng muốn thử bắn một phen, mong phụ hoàng đáp ứng."
"Khoan đã," Ung Đế còn chưa kịp trả lời, Địch Chấn đã giơ tay ngắt lời trước: "Hôm nay ta thử chút tài cưỡi ngựa bắn cung vốn là để trợ hứng cho yến tiệc.
Điện hạ đã muốn xuất trận, vậy là có ý so tài rồi.
Đã so tài thì phải có quy tắc, ta có một thỉnh cầu quá đáng thế này."
"Ta là con trưởng, theo lý mà nói, quý quốc cũng nên cử con trưởng ra so tài cao thấp mới phải."
Ánh mắt gã hơi dời sang bên trái, bốn mắt nhìn nhau với vị Đại Hoàng tử Ung Quốc có thân hình gầy gò, da dẻ tái nhợt, giữa buổi tiệc thỉnh thoảng lại dùng tay che miệng ho khụ khụ kia, nở nụ cười với đối phương: "Không biết có được không?"