Cập nhật mới

Ngôn Tình Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh

Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 100: Đừng để trung hồn nơi cửu tuyền lạnh giá!


Trong điện Tử Thần, ngự tọa được chế tác từ gỗ tử đàn kim diệp, hoa văn chạm khắc tinh xảo, phía trên lót đệm mềm êm ái. Thịnh A Man lóng ngóng quỳ xuống trước Thánh nhân đang ngồi trên ngự tọa, hành lễ ba quỳ chín lạy không mấy chuẩn mực. Đến khi ngẩng đầu lên, nàng mới được tận mắt nhìn thấy dung nhan Thánh nhân.

Chỉ thấy dung mạo Thánh nhân tú nhã, khí chất trong trẻo như ngọc, quả nhiên giống như lời truyền tụng trong dân gian, người là một mỹ nam tử hiếm có. Thái hậu ẩn mình sau rèm châu, nàng không thể nhìn rõ mặt bà. Thái hậu thoái vị từ lâu, bình thường chỉ ẩn cư tại cung Bồng Lai, không phải đại sự thì sẽ không xuất hiện. Có lẽ vì bị cáo lần này là cháu ngoại của mình, nên Thái hậu mới phá lệ, ngồi sau màn che trấn giữ điện Tử Thần.

Hai người này chính là đấng chí tôn của Đại Chu, là những người cả đời này nàng chưa từng nghĩ sẽ có ngày được gặp mặt. Thịnh A Man quỳ trên mặt đất, đầu ngón tay căng thẳng đến mức như muốn khứa vào sàn gỗ mun. Trong tai nàng vang vọng lời nhắn của Thôi Tuần: “Đừng sợ.”

Lời nói ấy giúp nàng dần bình ổn lại. Phải, nàng đến để kêu oan cho a huynh, nàng không sai, nàng không cần phải sợ.

Thịnh A Man cúi đầu, dõng dạc nói: “Dân phụ Thịnh A Man, khấu kiến Thái hậu, khấu kiến Thánh nhân.”

Long Hưng Đế gật đầu, thanh âm nhẹ nhàng, thanh tao như vẻ bề ngoài: “Thịnh A Man, ngươi gõ trống Đăng Văn, muốn tố cáo ai?”

“Dân phụ muốn tố cáo Thẩm quốc công Thẩm Khuyết.” Thịnh A Man nghẹn ngào, từng chữ rõ ràng: “Tố cáo hắn gi.ết ch.ết a huynh của dân phụ, Ngu hầu Thiên Uy quân, Thịnh Vân Đình!”

“Ngươi hãy kể rõ ra xem.”

“Năm nay vào tiết Hàn Thực, tại tiệc thưởng xuân, đó là lần đầu dân phụ gặp Thẩm quốc công Thẩm Khuyết. Tại yến tiệc, hắn không tiếc lời nhục mạ dân phụ, còn nói rằng hắn làm vậy là vì a huynh của dân phụ, Thịnh Vân Đình.”

Nghe đến đây, Đại Lý Tự Thiếu khanh Lư Hoài vốn đang sa sút tinh thần bỗng ngẩng đầu lên. Hắn nhớ ra rồi, người đang quỳ giữa đại điện, chẳng phải chính là tỳ bà cơ từng bị Thẩm Khuyết sỉ nhục hôm đó sao?

Hôm ấy, khi thấy cảnh Thẩm Khuyết nhục mạ nàng, hắn không đành lòng, muốn lên tiếng can thiệp, nhưng bị bằng hữu Vương Huyên ngăn lại. Cuối cùng, vì nể mặt thúc phụ, hắn đành kìm nén, giận dữ rời đi, không can dự thêm.

Về sau, hắn nghe nói Thôi Tuần vì nàng mà xung đột với Thẩm Khuyết trong yến tiệc. Thẩm Khuyết chịu thiệt thòi không nhỏ. Nghĩ đến đây, Lư Hoài cúi đầu, sắc mặt u sầu, vẻ mặt hối hận.

Hắn tự vấn: Thôi Tuần còn dám đứng ra, tại sao ta lại thua kém một kẻ tiểu nhân như Thôi Tuần? Nguyên tắc làm người của ta đâu? Những cuốn sách Thánh hiền ta đọc đâu? Câu đối “kẻ phạm pháp, dù thân thích cũng phải phạt” mà ta từng viết đâu? Ta, Lư Hoài, liệu có xứng mặc quan phục này, làm một vị Thiếu khanh tứ phẩm của Đại Lý Tự không?

Lư Hoài còn đang đau khổ giằng xé, Thịnh A Man đã tiếp tục kể lại: “Khi đó, dân phụ đã cảm thấy rất kỳ lạ. Lúc sinh thời, a huynh của dân phụ chẳng qua cũng chỉ là một Ngu hầu nhỏ nhoi, còn Thẩm Khuyết lại là Quốc công, sao phải căm hận a huynh của dân phụ đến như thế? Về sau, Thẩm Khuyết bôi nhọ danh tiết của dân phụ, lại nạp dân phụ làm thiếp. Ở phủ Quốc công, hắn không ít lần buông lời nhục mạ a huynh của dân phụ. Vì nghi ngờ nên dân phụ quyết định theo hắn đi đày đến Lĩnh Nam, mượn cơ hội tìm kiếm chứng cứ.”

Nghe đến đây, mười học sĩ Quốc Tử Giám đều ánh lên vẻ kính phục. Phải biết rằng, Lĩnh Nam đường sá hiểm trở, Thịnh A Man chỉ là một nữ tử yếu ớt, vì báo thù cho anh trai mà nàng dám liều mình, đúng là hết sức đáng kính.

Thịnh A Man nói tiếp: “Sau khi dân phụ và Thẩm Khuyết đến Lĩnh Nam, dân phụ giả vờ thuận theo để lấy lòng tin của hắn. Cuối cùng, một ngày nọ, dân phụ chuốc cho hắn say mèm. Trong cơn say, hắn nghẹn ngào bảo rằng mình có lỗi với dân phụ. Dân phụ hỏi hắn có lỗi gì, hắn đáp, hắn đã giết a huynh của dân phụ.”

Nhớ lại lời thú tội của Thẩm Khuyết trong cơn say, nước mắt Thịnh A Man lã chã tuôn rơi. Nàng nức nở nói: “Thẩm Khuyết bảo rằng sáu năm trước, a huynh của dân phụ bị vây khốn cùng với Thiên Uy quân, phải đến Trường An cầu viện. Khi đi ngang trạm dịch Trường Lạc, huynh ấy đã bị Thẩm Khuyết và phu nhân của Bùi Quan Nhạc là Vương Nhiên Tê lừa vào trong, rồi bị loạn đao chém chết. Thi thể bị chôn dưới cửa Thông Hóa, mãi đến sáu năm sau mới được phơi bày…”

Thịnh A Man đã khóc không thành tiếng, nàng dập mạnh đầu: “A huynh của dân phụ chết quá oan uổng! Cầu xin Thái hậu và Thánh nhân tra xét, bắt Thẩm Khuyết, trả lại công đạo cho a huynh của dân phụ!”

Trán nàng đập xuống nền gỗ đến đỏ bầm. Chư thần và các học sĩ Quốc Tử Giám đều xì xào bàn tán. Trên ngự tọa, Thánh nhân mặt không đổi sắc, sau rèm châu, biểu cảm của Thái hậu càng không rõ là vui hay giận. Một lát sau, Thánh nhân chậm rãi lên tiếng: “Thịnh A Man, đây chỉ là lời nói từ một phía của ngươi. Ngươi có chứng cứ nào không?”

“Có!” Thịnh A Man lau nước mắt: “Khi Thẩm Khuyết giết a huynh của dân phụ, trường kiếm và giáp trụ của hắn đều thấm đầy máu a huynh. Hắn nói, hắn ghê tởm máu của a huynh dân phụ thấp hèn, nên đã vứt kiếm, cởi giáp, ra lệnh cho thuộc hạ tên Dương Hành đem chôn. Chỉ cần bắt được Dương Hành tra khảo, ắt sẽ tìm ra kiếm và giáp trụ, mọi chuyện sẽ dần có manh mối.”

Nghe xong, Thánh nhân liếc sang Lư Dụ Dân. Ông ta bước ra khỏi hàng, nói: “Bẩm Thái hậu, Thánh nhân, cho dù đào được thanh kiếm và giáp trụ, cũng không thể chứng minh điều gì. Biết đâu được, có kẻ cố tình mua chuộc Dương Hành, bảo hắn chôn những thứ này nhằm ngụy tạo bằng chứng. Chỉ dựa vào lời nói phiến diện của một nữ nhân mà bắt giam Quốc công thế tập, thần cho rằng không thỏa đáng.”

Thịnh A Man nghe vậy, liền phẫn nộ: “Các người còn chưa bắt được Dương Hành mà đã nghi có người mua chuộc hắn? Hơn nữa, ta là nữ nhân thì sao? Nữ nhân nói thật lại bị coi là phiến diện? Nếu đã vậy, chi bằng sửa luật Đại Chu, cấm toàn bộ nữ nhân không được phép cáo trạng cho xong!”

Lư Dụ Dân chưa bao giờ bị người khác mắng thẳng mặt như vậy. Ông ta đỏ mặt tía tai, môi run lên, mãi mới nghẹn ra hai chữ: “Điêu phụ!”

Thánh nhân buộc phải lên tiếng: “Thịnh A Man, không được vô lễ!”

Thịnh A Man nghiến chặt răng, không thốt một lời. Lại có một người thuộc Lư đảng bước ra, cao giọng nói: “Thịnh A Man vốn là nhạc cơ giáo phường, loại đàn bà này ham phú phụ bần, bạc tình vô nghĩa. Chắc vì cuộc sống ở Lĩnh Nam quá khổ cực nên nàng ta muốn hòa ly với Thẩm quốc công, bịa ra câu chuyện hoang đường này. Nếu chỉ dựa vào lời vu khống của một kỹ nữ mà bắt bớ hoàng thân quốc thích, chẳng phải sẽ khiến thiên hạ chê cười sao?”

Nếu như lời của Lư Dụ Dân vừa rồi vẫn chừa cho chút đường lui, thì lời nói của viên đại thần kia chính là sự miệt thị tr.ần trụi. Sắc mặt Thôi Tuần và Lư Hoài đều biến đổi, ngay cả mười học tử Quốc Tử Giám cũng lộ rõ vẻ bất bình. Thịnh A Man giận đến mức toàn thân run rẩy, nàng hét lớn: “Ngươi nói bậy!”

Viên đại thần bị mắng đến ngây người. Thịnh A Man nói tiếp: “Ta là kỹ nữ, vậy Thẩm Khuyết từng trói ta vào giường, bất chấp ý nguyện của ta hãm h**p ta là thứ gì? Là cầm thú sao? Kỹ nữ không xứng kiện cáo, nhưng cầm thú lại xứng làm hoàng thân quốc thích?”

Lời nàng thốt ra quá thẳng thừng, khiến sắc mặt của Long Hưng Đế lập tức đổi khác. Sau rèm châu, Thái hậu ho khan thành tiếng. Vị lão thần ngoài sáu mươi tuổi kia mặt mũi đỏ gay, run run chỉ vào Thịnh A Man, mãi sau mới mắng được một câu: “Ngươi… ngươi thật… vô liêm sỉ!”

Thịnh A Man cười lạnh: “Thẩm Khuyết làm được, tại sao ta lại không nói được? Sao ngài không mắng Thẩm Khuyết làm chuyện vô sỉ đi?”

Vị đại thần ấy vừa xấu hổ vừa giận dữ, ấp úng hồi lâu không nói nổi lời nào. Long Hưng Đế đành lên tiếng hòa giải: “Thịnh A Man, hôm nay triệu ngươi đến là để làm rõ chuyện Thẩm Khuyết giết huynh trưởng ngươi, không được lạm bàn chuyện khác.”

Nhưng lần này, Thịnh A Man không chịu im lặng. Nàng bỗng bật cười, giọng chua xót: “Ta hiểu rồi. Nào là nói Dương Hành bị mua chuộc, nào là nói ta là kỹ nữ. Ta là nguyên cáo, lại một đám người tụ lại soi mói bắt bẻ đủ điều, trong khi Thẩm Khuyết là bị cáo, ngay cả một lời hỏi cung cũng không buồn hỏi tới. Chẳng phải chỉ vì Thẩm Khuyết là anh họ của Thánh nhân thôi sao? Thánh nhân không muốn trừng phạt anh họ của mình, Thái hậu không muốn trách phạt cháu trai của mình. Nhưng mạng của a huynh ta thì sao? Huynh ấy chỉ là một Ngu hầu nho nhỏ, còn chưa làm đến chức cửu phẩm, thế nên ai thèm để ý chứ?”

Lời này như sấm nổ ngang tai, khiến Long Hưng Đế trợn mắt không thốt được câu nào, văn võ bá quan cùng chết lặng. Lư Dụ Dân là người phản ứng trước tiên, lớn tiếng: “Điêu phụ! Láo xược!”

Kim Ngô vệ lập tức rút gươm, quát: “Láo xược!”

Ánh thép lạnh lẽo lóe sáng phản chiếu vào đôi mắt Thịnh A Man. Nàng nhấc nhẹ ống tay áo che đi ánh mắt. Trong điện Tử Thần rộng lớn, sau rèm châu là Thái hậu đang ngồi uy nghi, trên ngự tọa là Thánh nhân cao cao tại thượng, dưới đại điện là quần thần đông nghịt như mây cùng nhưng học sĩ của Quốc Tử Giám. Ở đây, bất kỳ ai cũng có thân phận và địa vị cao quý hơn nàng. Mỗi mình nàng đang quỳ là thấp hèn, yếu ớt, như một con kiến nhỏ bé bị họ mặc sức chà đạp. Dù có bị giẫm chết, nàng cũng không đủ sức kêu lên.

Bỗng nhiên, Thịnh A Man bật cười lớn. Lư Dụ Dân nhíu mày, tức tối quát: “Nữ nhân ngông cuồng! Ngươi cười cái gì?”

Thịnh A Man không trả lời, chỉ chậm rãi đứng dậy. Trước sự kinh ngạc của Lư Dụ Dân, nàng bước tới đối diện ông ta: “Lư tướng công phải không? Dân gian ca tụng ngài thanh liêm chính trực, một lòng vì bách tính. Nhưng chẳng lẽ ta không phải bách tính? Chẳng lẽ a huynh của ta không phải bách tính? Thanh liêm chính trực của ngài đâu rồi? Một lòng vì dân của ngài đâu rồi? Hay ngài nên nói thẳng với thiên hạ rằng ngài chỉ là một kẻ giả tạo, hám danh, chỉ những kẻ như Thẩm Khuyết, là hoàng thân quốc thích, mới xứng đáng làm bách tính, mới xứng đáng để được ngài bảo vệ?”

Lư Dụ Dân giận đến mức mặt xanh mét. Thịnh A Man lại bước đến trước mặt Thôi Tụng Thanh, người từ đầu đến cuối vẫn im lặng: “Thôi tướng công, danh tiếng của ngài lớn lắm, đến ta cũng nhận ra ngài. Ngài là Bạch y Khanh tướng, đã mở đường cho biết bao học trò nghèo vươn lên làm quan. Nhưng a huynh của ta, Thịnh Vân Đình, cũng xuất thân hàn vi. Tuy huynh ấy không phải người đọc sách, lại là một người thô thiển, nhưng đã có mười năm trấn giữ biên cương, mang bao thương tích lớn nhỏ. Chính nhờ những người như huynh ấy nên ngài mới có thể an nhàn ngồi ở nhà, nghĩ cách giúp học sĩ hàn môn nhập vào quan trường. Huynh ấy giúp ngài thực hiện mộng tưởng, còn ngài thì sao? Ngay cả lấy lại công bằng cho huynh ấy, ngài cũng không muốn. Vậy, ngài xứng đáng được gọi là Bạch y Khanh tướng sao?”

Thôi Tụng Thanh bàng hoàng, còn chưa kịp phản ứng thì Thịnh A Man đã bước lên trước mặt Lư Hoài: “Vị tướng công này, ta không quen biết ngài. Ngài không nói gì, phải chăng cũng cảm thấy ta không nên tố cáo? Nhưng, ngài không có huynh đệ của mình ư? Ngài không có tỷ muội nào sao? Nếu người thân chí cốt của ngài bị sát hại tàn nhẫn, ngài vẫn không muốn báo thù? Đừng nghĩ rằng chuyện này không liên quan đến ngài. Ngài là đại quan, nhưng vẫn còn những kẻ quyền thế hơn ngài. Hôm nay, người chịu oan ức không thể giãi bày là ta – Thịnh A Man, nhưng một ngày nào đó, đó có thể sẽ là bất kỳ ai trong số các vị đang ngồi trong điện này.”

Nàng lại bước đến trước mặt đám học trò của Quốc Tử Giám: “Chư vị đều là người đọc sách Thánh hiền, cao quý hơn ta. Ta tuy thấp hèn, nhưng cũng biết câu nói: “Vương tử phạm pháp, đồng tội với thứ dân.” Các vị dùi mài kinh sử, cũng là để một ngày có thể tận tâm cống hiến cho quốc gia. Nhưng nếu quốc gia này, vì che chở cho một kẻ ăn chơi trác táng không chuyện ác nào không làm, mà nhắm mắt làm ngơ trước nỗi oan của một tướng sĩ bảo vệ bờ cõi, thử hỏi, các vị đọc sách vì cái gì? Cống hiến vì cái gì?”

Mười học sĩ đồng loạt đứng hình. Trán Long Hưng Đế đã nổi gân xanh. Lư Hoài giận dữ, chỉ vào Thịnh A Man, tay run rẩy, định mắng nàng đại nghịch bất đạo, lập tức ra lệnh áp giải nàng khỏi điện. Nhưng ông ta còn chưa mở lời, đã thấy Thôi Tuần trong bộ quan phục đỏ thẫm bỗng nhíu mày.

Thôi Tuần bước ra, tay cầm hốt bản bằng ngà voi, giọng điệu lạnh lùng: “Câm miệng!”

Thịnh A Man sửng sốt. Thôi Tuần quát: “Quỳ xuống!”

Nàng bất động, hắn lặp lại, giọng càng nghiêm khắc: “Quỳ xuống!”

Giọng nói ấy khiến nàng ngơ ngẩn. Hắn gần như chưa từng nói chuyện với nàng bằng ngữ điệu này. Thế nhưng, chính giọng điệu ấy khiến nàng bất giác nhớ lại người anh đã khuất. Thuở nhỏ, mỗi lần nàng gây họa, người ấy sẽ trách mắng nàng như vậy, rồi sau đó âm thầm thu dọn rắc rối, thay nàng nhận lỗi.

Ký ức ùa về, nàng lại nhớ trước khi vào điện Tử Thần, hắn đã mạo hiểm nhắc nhở nàng rằng chỉ có một cơ hội duy nhất để thuyết phục những người trong điện. Nhưng có lẽ nàng… đã làm hỏng tất cả.

Mũi A Man cay xè, nàng cúi đầu, ngơ ngác quỳ xuống. Khoảnh khắc ấy, trái tim nàng như trút bỏ gánh nặng. Nàng biết mình đã nói những lời khi quân phạm thượng, nhưng không sao, cùng lắm là chịu cảnh tru di. Nàng không sợ. Chết rồi, xuống đến Địa phủ gặp lại a huynh, nàng vẫn sẽ ngẩng cao đầu mà không phải hổ thẹn.

Thôi Tuần hành lễ với Thái hậu và Long Hưng Đế, nói: “Điêu phụ này vì cái chết của huynh trưởng mà đau lòng quá độ, ăn nói điên rồ. Xin Thái hậu và Thánh nhân giáng tội.”

Thái hậu và Long Hưng Đế chưa kịp lên tiếng thì Lư Dụ Dân đã không kìm được mà gầm lên: “Thôi Tuần! Ngài bớt làm bộ làm tịch đi! Ai chẳng biết ngài từng vì ả đàn bà này mà động thủ với Thẩm Khuyết? Ngài định lấy cái cớ đau lòng quá độ để ả sẽ được miễn tội hay sao?”

Thôi Tuần thản nhiên đáp: “Điêu phụ này tất nhiên đáng tội chết. Nhưng thưa Lư tướng công, các người vừa mắng nàng vu cáo, vừa nhục mạ nàng là kỹ nữ, cả một đám nho sĩ đọc sách Thánh hiền, lại dùng những lời cay nghiệt để ức h**p một nữ tử yếu đuối đã mất đi huynh trưởng, làm vậy mới phải đạo hay sao?”

Lư Dụ Dân tức đến bật cười, nói: “Thôi Thiếu khanh, hôm nay ngài định che chở ả đàn bà này đến cùng đúng không?”

Thôi Tuần chỉ nhếch môi, nụ cười đầy vẻ giễu cợt, rồi quay người quỳ xuống trước mặt Long Hưng đế. Hắn gỡ chiếc mũ quan trên đầu, đặt sang một bên, sau đó dập đầu nói: “Thịnh Vân Đình trấn thủ biên cương mười năm, tận trung báo quốc. Nay y chết không rõ ràng, máu chảy nhuộm đỏ hung khí, vậy mà vẫn bị hung thủ khinh miệt là huyết mạch hèn kém. Thật là bi ai! Thật là đáng hận! Hạ thần xin lấy chức vụ Thiếu khanh của Sát Sự Thính và tính mạng của mình, khẩn cầu Thái hậu và Thánh nhân điều tra đến cùng vụ án này, đừng để trung hồn nơi cửu tuyền phải lạnh giá!”

Nói xong, Thịnh A Man ngẩng đầu, ngỡ ngàng nhìn hắn. Nàng không dám tin, hắn lại vì a huynh mà lấy cả chức vị và tính mạng ra cầu xin. Không phải hắn rất thích quyền lực sao? Không phải hắn rất sợ chết sao? Vậy tại sao hắn lại làm như vậy?

Trong hàng ngũ bá quan, Lư Hoài nắm chặt tay. Chỉ một ý nghĩ vang vọng trong đầu hắn: Ngay cả Thôi Tuần cũng đứng ra vì chính nghĩa, chẳng lẽ ta còn thua kẻ mà ta khinh thường nhất? Nếu hôm nay ta không đứng lên, liệu ta còn mặt mũi gì để coi thường hắn? Liệu ta còn xứng đáng làm người không?

Hắn nghiến răng, không nhìn sắc mặt tái xanh của Lư Dụ Dân, nhanh chóng bước ra khỏi hàng, quỳ xuống dập đầu: “Hạ thần Lư Hoài cũng nguyện lấy chức vị và tính mạng của mình, khẩn cầu Thái hậu và Thánh nhân điều tra đến cùng vụ án này.”

Mười học sĩ Quốc Tử Giám liếc nhìn nhau. Lư Hoài từng là Quốc Tử Tư nghiệp, họ rất kính trọng hắn. Huống hồ, những lời A Man nói ban nãy vẫn khiến lòng họ dậy sóng. Một quốc gia, nếu chỉ biết chăm lo cho hoàng thân quốc thích mà bỏ mặc những tướng sĩ đã đổ máu hy sinh, để gia quyến của những trung hồn phải chịu nhục nhã và oan khuất, vậy quốc gia ấy còn đáng để họ bảo vệ? Những tháng ngày gian khổ học hành của họ, còn có ý nghĩa gì không?

Cả mười người đồng loạt quỳ xuống thưa: “Chúng thần đại diện ba nghìn hai trăm học sĩ sáu học phái Quốc Tử Giám, khẩn cầu Thái hậu và Thánh nhân điều tra đến cùng vụ án này.”

Theo sau họ, ngày càng có nhiều đại thần bước ra quỳ lạy. Những đại thần này, có người thuộc thanh lưu, cũng có người thuộc Thôi đảng hoặc Lư đảng. Dù sao, lòng họ vẫn còn một chút lương tri, không thể nào nhắm mắt làm ngơ trước cảnh tướng sĩ tắm máu trên sa trường lại bị đối xử bất công như vậy.

Sau rèm châu, Thái hậu cuối cùng cũng lên tiếng, bà thở dài, rồi nói với Long Hưng Đế: “Thánh nhân, người quyết định đi.”

Ý Thái hậu rõ ràng là không muốn che chở cho Thẩm Khuyết thêm nữa. Long Hưng Đế nhìn đám đông quỳ chật dưới điện, im lặng hồi lâu, cuối cùng mới gượng gạo phán: “Trung hồn không thể chịu oan. Truyền chỉ của trẫm, lập tức bắt giữ Thẩm Khuyết, áp giải đến Trường An, điều tra kỹ lưỡng vụ án của Thịnh Vân Đình!”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 101: Ánh trăng không bỏ qua, độ hắn trọn kiếp tàn


Thánh nhân hạ chỉ, truy nã Thẩm Khuyết, đồng thời miễn tội đại bất kính với Thịnh A Man. Quần thần cảm động đến rơi nước mắt, đồng thanh cúi xuống dập đầu, ca ngợi Thánh nhân quả là minh chủ nhân từ.

Sau buổi triều nghị, Thịnh A Man được ân chuẩn về nhà. Thánh nhân lại phái thêm hai mươi Kim Ngô Vệ để bảo vệ nàng, phòng ngừa Thẩm Khuyết cùng đường sinh liều, gây nguy hại đến tính mạng của nàng. Trong sự hộ tống nghiêm ngặt của Kim Ngô Vệ, Thịnh A Man bước khỏi điện Tử Thần.

Nàng vừa bước qua ngưỡng cửa, ánh mắt bỗng chăm chú dõi theo bóng dáng gầy gò phía trước. Quan bào đỏ thẫm mặc trên người ấy cũng toát lên vẻ trống trải, thắt lưng đai ngọc càng tôn thêm thân hình thanh mảnh tựa trúc xanh. Các quan viên xung quanh đều kết thành nhóm ba người, năm người, trò chuyện rôm rả, ngay cả Lư Hoài cũng bị mười học sĩ vây quanh. Duy chỉ có Thôi Tuần, trong phạm vi vài bước quanh người lại chẳng thấy bóng dáng một ai.

Thịnh A Man cắn chặt môi, bất chợt sải bước chạy tới.

Nàng thở hổn hển, dừng ngay trước mặt hắn, chắn ngang đường đi. Đôi môi khẽ động, cuối cùng vẫn khó khăn nói ra: “Hôm nay, ta cảm ơn ngươi.”

Thôi Tuần ánh mắt bình thản như nước hồ sâu, chỉ đáp: “Cô không cần cảm tạ ta. Công lao lớn nhất hôm nay thuộc về cô.”

“Không phải ta.” Thịnh A Man ngượng ngùng nói: “Nếu không nhờ ngươi dùng chức quan và tính mạng bảo vệ ta, e rằng ta đã bị Kim Ngô Vệ xử tử ngay tại chỗ.”

Nàng cúi thấp đầu, bàn tay xoắn vào nhau đầy lúng túng: “Trước khi vào điện Tử Thần, ngươi còn dặn ta hãy cố gắng thuyết phục bọn họ. Nhưng ta lại bị cơn giận làm mờ mắt, khiến mọi việc rối tung hết lên… Ta lúc nào cũng vậy, quá mức bốc đồng…”

Thôi Tuần thở dài: “Cô không làm rối mọi chuyện. Ngược lại, cô đã làm rất tốt.”

Thịnh A Man ngẩng đầu, ngơ ngẩn nhìn hắn. Thôi Tuần lại nói: “Từng lời cô nói đều rất thuyết phục. Nếu không, đám học sĩ Quốc Tử Giám kia sao có thể kêu oan giúp cô? Họ ghét ta sẵn, sẽ không vì ta giúp cô mà dễ dàng thay đổi thái độ đâu.”

“Thật vậy sao…” Nàng ngập ngừng.

“Thật.” Thôi Tuần gật đầu: “Từ khi cô đến Lĩnh Nam cho đến lúc đứng trước điện Tử Thần cáo trạng, cô đều làm rất tốt. Cái chết của Vân Đình được điều tra kỹ lưỡng, tất cả đều nhờ vào cô.”

Đôi mắt Thịnh A Man đỏ hoe. Thôi Tuần tiếp lời: “Chờ khi Thẩm Khuyết bị bắt, Hình bộ, Đại Lý Tự và Ngự Sử Đài sẽ lần lượt thẩm vấn cô. Đó đều là những kẻ thâm sâu khó lường, nhưng cô không cần sợ hãi, chỉ cần khai thật là được. Trong thời gian này, cô nhất định phải giữ gìn sức khỏe, phải thế thì mới đủ sức chịu đựng những ngày dài thẩm tra phía trước.”

Thịnh A Man gật đầu. Thôi Tuần nhìn về phía sau nàng, nơi Kim Ngô Vệ đang chờ, dịu dàng nói: “Mau trở về đi.”

Thịnh A Man khẽ đáp: “Ừm.” Nàng xoay người bước đi cùng Kim Ngô Vệ. Nhưng vừa đi được vài bước, nàng lại không nhịn được mà quay đầu nhìn hắn lần nữa. Ánh mắt nàng thoáng ảm đạm, mím chặt môi, rồi lặng lẽ quay người, tiếp tục bước về phía cổng cung.



Đêm ấy, một cỗ xe ngựa mui đen lặng lẽ tiến vào phủ Bùi Quan Nhạc.

Bùi Quan Nhạc có bốn con trai, hai con gái. Từ khi ông ta bị cách chức về nhà, mấy đứa con trai đều thu liễm không ít. Trưởng tử Bùi Chương cũng không dám đến phường Bình Khang chơi bời nữa. Cả gia đình co đầu rụt cổ sống qua ngày. Sau khi trách mắng mấy đứa con xong, Bùi Quan Nhạc mới ung dung bước vào thư phòng, nơi Lư Dụ Dân đã thay trà đến ba lần.

Thấy Bùi Quan Nhạc bước vào, nét mặt Lư Dụ Dân không tỏ vẻ khó chịu. Ông ta nhấc chén trà sứ trắng, nhấp một ngụm, rồi đặt xuống, hời hợt nói: “Bùi Thượng thư quả là bận rộn.”

Bùi Quan Nhạc ngồi xuống, nở nụ cười nhạt nhẽo: “Cả đời Bùi Quan Nhạc ta, tâm nguyện lớn nhất là làm quan cao lộc hậu, rạng danh tổ tông. Có lẽ trong mắt Lư tướng công một lòng vì nước vì dân, nguyện vọng này quá tầm thường, nhưng đối với người không có phúc ấm tổ tiên như ta, những vất vả ấy, Lư tướng công liệu có thấu hiểu hay chăng? Tâm nguyện ấy đã hoàn thành được một nửa, tiếc thay bốn đứa con trai đều bất tài, lúc nào cũng phải dạy dỗ, đâu được tài giỏi như cháu trai của Lư tướng công.”

Lời lẽ xiên xẹo ấy rõ ràng là có ý chỉ trích Lư Hoài. Lư Dụ Dân điềm nhiên đáp trả: “Hoài Tín nhà ta quả thực xuất sắc. Mười bảy tuổi đã đỗ tiến sĩ, giữ chức Quốc Tử Tư nghiệp. Lần nào thi cử cũng đứng đầu, tuy tính tình có phần cương trực, nhưng nếu rèn giũa thêm, sau này nhất định là nhân tài trợ quốc.”

Bùi Quan Nhạc hừ lạnh: “Nếu Thái hậu nắm quyền, e rằng thiên lý mã nhà Lư tướng công chẳng những không thành tài, mà ngay tính mạng cũng khó bảo toàn.”

Sắc mặt Lư Dụ Dân trầm xuống. Bùi Quan Nhạc lại nói: “Hẳn Lư tướng công cũng lo lắng điều này, nên hôm nay mới đặt chân đến phủ của ta. Nếu không, suốt sáu năm qua, chẳng phải ông luôn khinh miệt, không buồn ghé qua lấy một lần sao?”

Lư Dụ Dân nhíu mày: “Bùi Thượng thư, giờ không phải lúc nhắc chuyện cũ. Chuyện hôm nay hẳn Bùi Thượng thư cũng đã nghe qua. Đợi đến khi Thẩm Khuyết bị giải về Trường An, những ân oán cũ sáu năm trước kiểu gì cũng sẽ bị khơi lại. Ít nhất, những lời Thịnh A Man tố cáo cũng có liên quan đến thê tử của ngài, Vương nương tử. Dù bà ta đã qua đời, nhưng nếu điều tra rõ ngọn ngành, Bùi Thượng thư cũng không tránh khỏi có liên can.”

Nghe vậy, Bùi Quan Nhạc cũng thu lại ý cười, lạnh lùng nói: “Nếu không phải Thôi Tuần đứng sau thúc đẩy, Thịnh A Man cũng đâu thể thành công.”

Nhắc đến Thôi Tuần, cả hai đều lộ vẻ khó chịu. Bùi Quan Nhạc nghiến răng, hằn học nói: “Đúng là một con chó điên, cắn mãi không buông.”

Ông ta đặt chén trà sứ trắng xuống, đột nhiên cất giọng: “Lư tướng công, có một việc ông không thấy kỳ lạ sao?”

“Việc gì?”

“Thôi Tuần gần đây bị giam lỏng trong phủ, do Đại Lý Tự canh giữ, gia nhân cũng đều bị đuổi đi hết. Theo lý mà nói, hắn đã đoạn tuyệt liên hệ với bên ngoài, vậy làm sao hắn có thể nhìn thấu kế sách của ta để làm chim sẻ chờ sau?”

Lư Dụ Dân cũng nghĩ mãi không thông: “Ai mà biết được? Cứ như gặp phải quỷ ấy.”

Bùi Quan Nhạc đập bàn: “Đúng, ta cũng thấy giống như gặp phải quỷ vậy.”

Lư Dụ Dân nghi hoặc, Bùi Quan Nhạc tiếp lời: “Người không ra được, nhưng quỷ thì chắc chắn có thể ra ngoài đúng không? Chưa kể còn một chuyện nữa. Trước khi Thẩm Khuyết bị lưu đày, chẳng phải từng có xung đột với Thôi Tuần trong tiệc thưởng xuân hay sao? Lúc đó, Thẩm Khuyết có hét lên với ta rằng hắn gặp phải quỷ. Khi ấy, ta chỉ nghĩ rằng tên vô dụng đó không đánh lại Thôi Tuần nên bịa cớ, đối đáp qua quýt cho xong. Giờ nghĩ lại, có lẽ hắn không nói dối.”

Lư Dụ Dân lộ vẻ trầm ngâm, nhưng ông ta vốn không tin vào chuyện quỷ thần, càng không giống Bùi Quan Nhạc thích nuôi dưỡng đạo sĩ hay tăng nhân, bèn nói: “Những chuyện quái lực loạn thần như thế này chưa chắc đã đáng tin.”

Bùi Quan Nhạc không tranh cãi, chỉ nhấc chén trà lên, nhấp một ngụm: “Quái lực loạn thần hay không, cứ điều tra thử là biết.”



Trong thư phòng của Thôi phủ, đèn sứ trắng Cảnh Diêu tỏa ánh sáng đỏ nhạt. Lý Doanh đang mài mực, vừa mài vừa ngáp. Thôi Tuần mỉm cười, đặt bút lông đầu sẻ xuống: “Nếu nàng mệt, cứ đi nghỉ trước đi.”

Lý Doanh dụi dụi mắt, không cam lòng: “Không được, ta đã hứa mài mực cho chàng thì không thể thất hứa.”

“Trước đây nàng từng mài mực chưa?”

“Cho a gia…” Lý Doanh đột ngột ngừng lời. Cả đời này, nàng không muốn nhắc đến a gia nữa.

Thôi Tuần mím môi, nhận lấy nghiên mực từ tay nàng: “Để ta tự làm.”

Hắn cầm lấy thỏi mực tùng yên, nhỏ vào nghiên mực một ít nước trong, động tác tao nhã, chậm rãi vừa phải. Lý Doanh chống cằm nhìn, chợt hỏi: “Nếu lần này tố cáo Thẩm Khuyết thành công thì vụ án Thiên Uy quân có được tái thẩm hay không?”

Động tác mài mực của Thôi Tuần thoáng khựng lại, hắn cụp mắt xuống, rồi tiếp tục mài mực: “Vụ án Thiên Uy quân liên lụy quá nhiều, không phải cứ muốn là được.”

“Liên lụy điều gì?”

Thôi Tuần trầm ngâm, bởi việc này liên quan đến hai người thân cận nhất với Lý Doanh, hắn cẩn thận cân nhắc lời nói, cố gắng dùng ngữ điệu ôn hòa nhất có thể: “Nhờ vụ án của Thiên Uy quân nên Thánh nhân mới giành được quyền bính, chắc chắn người sẽ không muốn tái thẩm. Về phần Thái hậu, vì vụ án này mà bà buộc phải ẩn cư tại cung Bồng Lai. Nếu bà yêu cầu tái thẩm, bách tính sẽ cho rằng bà muốn khơi lại chuyện cũ để tranh đoạt quyền lực với Thánh nhân, vì vậy bà sẽ không đời nào chủ động đề xuất.”

Lý Doanh nghe xong, có chút bùi ngùi. Nói cho cùng thì tất cả cũng chỉ xoay quanh hai chữ “quyền lực”. Thứ quyền lực ấy có ma lực gì mà khiến mẹ con nghi kỵ đến mức này?

Nàng nhớ đến lời Thôi Tuần từng nói về a đệ: “Lôi đình mưa móc, đều là thiên ân”. Có lẽ hắn đã có bất mãn với a đệ. Nhưng, a đệ là hoàng đế, nếu quan hệ giữa hai người quá căng thẳng, người chịu thiệt thòi nhất chắc chắn vẫn là Thôi Tuần. Nàng muốn hòa giải mối quan hệ giữa họ, bèn hỏi: “Vì vụ án của Thiên Uy quân nên a đệ thuận lời chấp chính, chàng nghĩ thử xem, liệu nó có biết sự thật đằng sau vụ án này không?”

Thôi Tuần hơi nhíu mày. Hắn không trả lời ngay mà hỏi ngược lại nàng: “Nàng nghĩ thế nào?”

Lý Doanh đang chờ đợi chính câu hỏi này. Nàng lập tức đáp: “Ta nghĩ a đệ không biết.”

Nàng giải thích: “Thiên Uy quân là đội quân tinh nhuệ nhất của Đại Chu. Sáu châu vùng Quan Nội Đạo là lãnh thổ của Đại Chu, dân chúng sáu châu đều là bách tính của a đệ. Nếu a đệ biết sự thật, sao có thể cam lòng hủy hoại đội quân tinh nhuệ nhất? Lại càng không thể dâng lãnh thổ và bách tính cho Đột Quyết giày xéo. Hơn nữa, dưới Địa phủ, Quách soái cũng nói rằng chiếu lệnh ép ông ấy xuất binh là giả. Lư Dụ Dân là thái phó của a đệ, a đệ tin ông ta nhất. Hẳn ông ta đã giả mạo chiếu lệnh.”

Thôi Tuần nghe xong, không tỏ thái độ gì, nhưng khi bắt gặp ánh mắt đầy mong đợi của Lý Doanh, hắn vẫn cúi mắt, đáp: “Ừ, nàng nói đúng. Có lẽ Thánh nhân không biết gì đâu.”

Lý Doanh thở phào một hơi. Nàng chợt nghĩ đến điều gì, liền hỏi: “Vậy vì sao dù biết rõ cả a nương lẫn a đệ đều không muốn truy xét lại vụ án Thiên Uy quân thì chàng vẫn kiên trì suốt đến cùng?”

Thôi Tuần đã mài xong mực, trong nghiên đá thạch cừ, mực đậm nhạt vừa phải, hương mực nhè nhẹ lan tỏa khắp thư phòng. Hắn cầm lấy bút đầu chim sẻ, trên cổ tay là vết thương sâu đến lộ xương. Trên tờ giấy gai trắng, từng nét bút đang hướng về những điểm liên quan đến vụ án của Thẩm Khuyết: “Phải có ai đó kiên trì.”

Hàng mi dài như cánh bướm của Lý Doanh hơi run. Nàng chăm chú nhìn vào vết thương trên cổ tay hắn, trong lòng dâng lên cảm giác chua xót. Nàng nói: “Trước đây, chàng đều kiên trì một mình. Hiện tại, sẽ có ta đi cùng chàng.”

Thôi Tuần dừng bút, quay đầu nhìn nàng, mỉm cười: “Được.”



Một bản tấu dài ngàn chữ, phải qua hai lần thêm dầu thì mới hoàn thành.

Lý Doanh nâng niu tờ giấy gai trắng còn mùi mực chưa khô, khẽ hỏi: “Chàng định tự mình áp giải Thẩm Khuyết?”

Thôi Tuần gật đầu: “Thẩm Khuyết biết quá nhiều chuyện. Nếu giữa đường có kẻ ám sát hắn, thì tất cả những gì chúng ta nỗ lực bấy lâu đều sẽ đổ sông đổ bể.”

Lý Doanh ngẫm nghĩ một lát rồi đáp: “Cũng phải.”

Nàng lại hỏi: “Khi nào chàng đi?”

“Càng sớm càng tốt.”

Nghe vậy, lòng nàng không khỏi buồn bã: “Vậy sao…”

Nếu thế, họ sẽ không gặp nhau suốt gần hai mươi ngày.

Thôi Tuần nhìn nàng, thấy rõ nỗi buồn nơi đáy mắt. Hắn mím môi, rồi vẫn lên tiếng: “Ta sẽ đi cùng vũ hầu của Sát Sự Thính. Nàng nên ở lại Trường An thì hơn.”

Hắn không giải thích lý do vì sao không thể dẫn nàng đi cùng đến Lĩnh Nam. Có lẽ bởi chuyến đi này quá hệ trọng, mà những năm tháng qua, hắn đã cô độc chống đỡ, mang đầy thương tích, gánh chịu tiếng xấu nửa đời. Giờ đây, khi ánh sáng hy vọng cuối cùng ló dạng, hắn không muốn bất kỳ sai lầm nào xảy ra.

Lý Doanh dù hiểu nhưng vẫn không ngăn được sự lưu luyến. Nhìn nàng ủ dột, Thôi Tuần rút từ trong tay áo ra một chiếc hộp nhỏ bằng bạch ngọc: “Ta có thứ muốn tặng nàng.”

Lý Doanh nhận lấy, không khỏi tò mò. Hộp bạch ngọc chưa mở mà đã phảng phất mùi đàn hương thanh nhã. Nàng mỉm cười: “Kiểu dáng này, lại thêm mùi hương này, chắc hẳn là son môi rồi.”

Thôi Tuần gật đầu: “Lúc hạ triều, ta đã mua cho nàng.”

Lý Doanh chưa từng dùng qua loại son môi của ba mươi năm sau, cũng không biết nó khác gì so với ba mươi năm trước. Nàng vui vẻ mở nắp hộp ra, nhưng khi nhìn thấy bên trong liền lập tức tròn mắt kinh ngạc: “Đây là màu gì vậy?”

Son trong hộp bạch ngọc lại có màu tím…

Thôi Tuần nói: “Hồ thương bán cho ta bảo đây là màu thịnh hành nhất hiện nay.”

Lý Doanh nghẹn lời: “Chắc là màu ế nhất thì có!”

“Thật sao?”

“Ai lại dùng son môi màu tím chứ?” Lý Doanh xoa trán, như cảm thấy đau đầu: “Tên người Hồ nào to gan dám lừa cả Diêm Vương sống như chàng?”

Thôi Tuần chợt im lặng, giờ mới ý thức được mình đã bị lừa: “Chắc hắn mới đến Trường An, chưa nhận ra ta…”

“Chàng đúng là… Chàng chỉ cần nhìn kỹ vài tiểu nương tử ngoài phố là biết ngay, có ai thoa màu son tím này đâu…”

Lần này, vẻ mặt Thôi Tuần càng thêm bối rối. Nhưng dáng vẻ bấn loạn của hắn lại khiến Lý Doanh nảy sinh ý muốn trêu chọc. Kẻ từng khiến người đời kính sợ, Thiếu khanh Sát Sự Thính luôn lạnh lùng tàn nhẫn với thế nhân, nhưng lại đỏ bừng vành tai khi đứng trước mặt nàng. Nàng cười nói: “Thôi Thiếu khanh, Thôi lang quân, chàng ngây thơ thế này, chuyến đi Lĩnh Nam lần này, đừng để tiểu nương tử nào bắt cóc mất đấy nhé!”

Câu nói đùa của nàng khiến hai má Thôi Tuần càng thêm ửng đỏ, tựa như vệt mây hồng lững thững trôi lúc cuối ngày. Hắn cúi đầu, nhỏ giọng nói: “Sẽ không có tiểu nương tử nào khác bắt cóc ta đâu.”

Lý Doanh chưa nghe rõ: “Gì cơ?”

Thôi Tuần lắc đầu, không nói thêm gì nữa.

Cả đời này, dù bị đọa xuống A Tu La đạo, thân vấy đầy ô uế, trong những năm tháng chìm trong bóng tối vô tận, may thay có ánh sáng của nàng soi rọi. Ánh sáng ấy chưa từng rời bỏ hắn, dẫn hắn qua tàn tro của kiếp người. Dù thế gian này có bao nhiêu giai nhân mỹ lệ, cũng chẳng bì được dù chỉ một phần nhỏ với ánh trăng ấy.

Hắn thề rằng cả đời này, cả kiếp sau, trái tim hắn chỉ trao trọn cho mỗi một mình nàng mà thôi.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 102: Ta cũng rất thích Minh Nguyệt Châu


Sáng hôm sau, Lý Doanh tỉnh dậy trên chiếc sạp thấp bằng gỗ hoa nam. Nàng dụi dụi đôi mắt mơ màng chưa tỉnh hẳn, khoác thêm y phục rồi bước ra mở cửa. Ngoài kia, bầu trời trong xanh, không một gợn mây, gió mát, nắng ấm chan hòa.

Ánh sáng rực rỡ ấy cho thấy giờ cũng đã đến tầm giờ Tỵ.

Nàng lờ mờ nhớ lại, đêm qua vì luyến tiếc sắp chia xa, nàng không nỡ rời Thôi Tuần, liền cầm bản tấu hắn vừa viết, kiếm chuyện để nói: “Chữ của chàng đẹp quá, là học từ ai vậy?”

Thôi Tuần nhắc đến một cái tên. Lý Doanh nghe xong liền bảo: “Ba mươi năm trước, người đó vẫn chưa mấy nổi danh, không ngờ ba mươi năm sau lại được làm thầy cho công tử họ Thôi ở Bác Lăng. Nhưng ta nhớ người ấy nổi tiếng về hành thảo mà?”

Bản tấu trên tay Thôi Tuần được viết bằng tiểu khải.

Tiểu khải nghiêm cẩn, vuông vắn, trong khi hành thảo thì phóng khoáng, tự do. Thôi Tuần thoáng chần chừ, dường như không muốn trả lời, nhưng khi thấy Lý Doanh nâng bản tấu, ánh mắt tràn ngập mong đợi, hắn vẫn đáp: “Đúng thầy ấy là giỏi về hành thảo, ta cũng từng học qua, nhưng tâm cảnh không còn như trước, không thể viết được nữa.”

Lý Doanh “à” một tiếng, liền nói: “Nhưng tiểu khải của chàng cũng rất đẹp.”

Khi xưa Tiên đế nổi danh với thể Phi Bạch, [1] không thua kém danh gia, trong khi Lý Doanh vốn giỏi bắt chước nét bút của Tiên đế, nên cũng hiểu biết chút ít về thư pháp. Tay cầm bản tấu, nàng say sưa bàn luận cùng Thôi Tuần. Dẫu trong lòng muốn khuyên hắn sớm nghỉ ngơi, nhưng vì mải nói chuyện, nàng quên cả thời gian. Cuối cùng, chính nàng lại gục xuống bàn, ngủ thiếp đi.

[1] Chữ Phi Bạch là một thể thư pháp chữ Hán với đặc điểm chủ yếu là không để đầu bút lông chấm hết mực lên mặt phôi thai của món đồ Sứ cũng như trên giấy,, nét chữ từ đậm đi tới nhạt sẽ mờ dần về cuối nét, tạo cảm giác đầu bút đã khô mực. Nguồn
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 103: Ta muốn bên chàng lâu dài


Chiều hôm ấy, một cỗ xe tứ mã xa hoa xuất phát từ Sát Sự Thính, phía sau xe là hàng trăm vũ hầu hộ tống. Xe ngựa chậm rãi lăn bánh, lặng lẽ rời khỏi thành Trường An.

Đến tối, lúc lệnh giới nghiêm bắt đầu có hiệu lực, các phố phường Trường An vắng tanh không một bóng người. Trong màn đêm đen như mực, một con ngựa Khang Cư lao ra khỏi phủ Thôi Tuần, phóng nhanh vào màn đêm tĩnh mịch.



Thôi Tuần và Lý Doanh cưỡi chung một con ngựa, cả hai đội trời đạp trăng, mãi đến sáng hôm sau mới dừng lại nghỉ ngơi.

Thôi Tuần buộc ngựa bên gốc cây, sau đó tự mình đi lấy nước ở khe suối. Hắn có vẻ nặng trĩu tâm tư, đặt túi da xuống dòng suối để lấy nước. Đúng lúc đó một đóa sơn trà thả hồn trôi theo dòng nước, chạm nhẹ vào cổ tay hắn. Lúc này hắn mới giật mình nhận ra, vội vàng nhấc túi nước đầy lên khỏi mặt nước.

Rốt cuộc… vẫn mang nàng theo…

Nhưng… nếu nàng biết được, chắc chắn sẽ giận hắn lắm…

Nàng sẽ không tha thứ cho hắn…

Mang theo tâm trạng lo lắng, hắn xách túi nước trở lại chỗ Lý Doanh đang ngồi dưới gốc cây sơn trà. Hắn đã đổi sang thường phục, một thân áo vải trắng, bên ngoài khoác áo lông hồ dày nặng, bên trong là áo bào màu trắng thanh thuần. So với thường phục đỏ sẫm thường ngày, bộ y phục trắng này làm giảm đi vẻ đẹp rực rỡ mê hoặc của hắn, thay vào đó tăng thêm vài phần trầm tĩnh, lãnh đạm.

Khi Thôi Tuần đưa túi da đựng nước đã lấy sẵn cho Lý Doanh đang ngồi dưới tán cây sơn trà, nàng ngẩng đầu nhìn hắn. Trước dung nhan trắng ngần như tuyết, khuôn mặt nàng bất giác ửng đỏ.

Đúng như nàng từng nói với Ngư Phù Nguy, nàng thích vẻ ngoài của Thôi Tuần, thích đến mức dù nhìn bao lâu cũng không thấy chán.

Tim nàng đập rộn ràng như nai nhỏ hoảng loạn, vội vã mở túi da, cúi đầu uống nước để che giấu những suy nghĩ mơ mộng đang trỗi dậy.

Thế nhưng, mọi tâm tư của nàng đều không qua nổi ánh mắt của Thôi Tuần. Hắn khẽ thở dài. Nàng thích gương mặt này, còn hắn thì rất ghét. Nếu không phải vì gương mặt này, hắn đã chẳng phải chịu cảnh hai năm tăm tối ở Đột Quyết. Nhưng giờ đây, hắn lại sinh ra một ý niệm hèn mọn, muốn lợi dụng dung nhan mà hắn khinh ghét này để đổi lấy một lời hứa.

Thôi Tuần ngồi xuống đất bên cạnh Lý Doanh, ánh mắt chăm chú dõi theo nàng đang cúi đầu uống nước. Đột nhiên, hắn thốt lên: “Ồ.”

Lý Doanh lập tức ngẩng đầu: “Sao thế?”

Thôi Tuần hơi nhíu mày, ánh mắt rơi trên người nàng. Hắn chậm rãi nghiêng về phía nàng, đưa tay lên gần tóc mai.

Hơi thở hắn càng lúc càng gần, đường nét dung mạo tựa như tranh vẽ càng lúc càng hiện rõ, đôi mắt đen láy hơi xếch như chứa vạn đóa đào hoa rực rỡ trong đầm biếc, hút hồn người đối diện. Tim Lý Doanh đập loạn nhịp. Hắn định làm gì? Là chạm vào tóc nàng, hay là… hôn nàng sao?

Nhưng Thôi Tuần, sao có thể chủ động hôn nàng được chứ?

Nàng căng thẳng đến mức không dám cử động. Đúng lúc ấy, một cánh hoa sơn trà từ trên cây rơi xuống, nhẹ nhàng bay lượn trước mặt nàng.

Lý Doanh chợt hiểu ra. Nàng đang ngồi dưới gốc sơn trà, hẳn là cánh hoa đã rơi xuống tóc nàng, vì vậy hắn mới đưa tay phủi đi.

Nghĩ đến đây, nàng không còn quá hồi hộp nữa, chỉ lặng lẽ đợi hắn gỡ cánh hoa khỏi tóc mình.

Thôi Tuần lại nhặt một cánh hoa từ trên vai áo nàng, nhưng đồng thời dùng cánh hoa đó chạm nhẹ vào vành tai đang nóng bừng của nàng: “Sao tai nàng đỏ thế?”

Lý Doanh ngẩn người.

Ngay sau đó, nàng lập tức nhận ra, lòng nàng vừa thẹn vừa giận.

Hóa ra hắn đang trêu chọc nàng.

Nàng liền quay lưng lại, nhặt đóa sơn trà rơi trên nền đất, bứt từng cánh như muốn xả giận. Sau lưng, tiếng cười trầm thấp của Thôi Tuần vang lên khiến nàng càng thêm xấu hổ, vừa bứt hoa vừa nói: “Ta không đi Lĩnh Nam với chàng nữa! Chàng tự đi đi, trên đường nếu bị…”

Nàng định nói “bị người ta giết”, nhưng lời đến cổ họng lại nuốt xuống, toan sửa thành “bị người ta bắt” nhưng cũng không nỡ. Rốt cuộc, giọng nàng yếu ớt, sửa thành: “Bị người ta chặn lại, ta cũng mặc kệ.”

Thôi Tuần không cười nữa. Một lúc lâu sau, hắn cũng không dỗ nàng.

Lý Doanh không khỏi hoài nghi, hay là vừa nãy nàng đã quá nặng lời?

Cũng không đến mức ấy mà?

Khi nàng còn đang hoài nghi, một con châu chấu bằng cỏ được đưa từ sau lưng đến trước mặt nàng.

Con châu chấu cỏ được bện tỉ mỉ, sống động như thật, đặc biệt đôi cánh như chỉ chực bay đi, còn tinh xảo hơn cả con nàng từng dạy hắn làm.

Lý Doanh sững lại, ngay sau đó liền tức giận nói: “Dù chàng có bện trăm con, ta cũng không đi Lĩnh Nam với chàng đâu.”

Thôi Tuần hạ giọng: “Vậy nếu ta bện nghìn con thì sao?”

Lý Doanh lập tức quay lại, không thể tin nổi: “Chàng bện nổi một nghìn con sao?”

Thôi Tuần mỉm cười nhè nhẹ: “Nếu ta bện nghìn con, nàng có hết giận ta không?”

Lý Doanh hừ một tiếng: “Chờ đến khi chàng bện đủ nghìn con rồi hãy nói!”

Thôi Tuần thở dài: “Được, vậy ta sẽ bện đủ nghìn con.”

Vừa nói xong, hắn thực sự nhổ cỏ lên, định tiếp tục bện châu chấu. Lý Doanh vội vàng lên tiếng: “Này, ta chỉ nói vu vơ thế thôi.”

Thôi Tuần lại nghiêm túc nói: “Nhưng ta thì xem là thật. Minh Nguyệt Châu, nếu lần sau ta khiến nàng tức giận, chỉ cần bện một nghìn con châu chấu thì nàng sẽ tha thứ cho ta, đúng không?”

Nhìn thấy sự nghiêm túc ấy, Lý Doanh không khỏi cảm thấy lúng túng: “Ta chỉ thuận miệng nói thế thôi, hơn nữa, chàng cũng đâu khiến ta giận.”

Thôi Tuần điềm nhiên đáp: “Nàng là công chúa, lời vàng ý ngọc, không thể tùy tiện thế được. Dù sao đi nữa ta cũng xem đó là thật rồi.”

Lý Doanh vừa buồn cười vừa bất đắc dĩ: “Nếu chàng muốn xem là thật, thì cứ xem là thật đi.”

Nàng thực sự không hiểu, tại sao Thôi Tuần lại cố chấp đến vậy chỉ vì chuyện này.

Lời vừa dứt, khóe môi Thôi Tuần hơi nhếch lên. Hắn liếc nhìn con ngựa Khang Cư buộc dưới gốc cây, đang nằm nghỉ ngơi, rồi nói: “Chúng ta đã đi cả đêm, ngựa cũng mệt rồi. Hay là nghỉ thôi, lát nữa hẵng đi tiếp?”

Lý Doanh gật đầu. Thực tình nàng đã mỏi mệt, sức lực cũng hao hụt nhiều, nên nằm xuống dưới gốc cây sơn trà, thiếp đi ngay.

Gió thoảng qua, hoa sơn trà rụng như mưa, cánh hoa nhẹ nhàng phủ lên mái tóc và y phục của thiếu nữ đang say ngủ. Một cánh hoa năm cánh phớt hồng chầm chậm xoay tròn trong không trung rồi rơi xuống trán nàng. Thôi Tuần theo bản năng định đưa tay phủi đi, nhưng khi tay gần chạm đến vầng trán mịn màng như ngọc, hắn lại rụt về, tựa hồ cảm thấy mình không xứng.

Mục đích đã đạt được, hắn không còn lý do gì để chạm vào nàng thêm nữa.

Không thể làm nàng bị vấy bẩn thêm…

Thiếu nữ làn da trắng hơn tuyết, nét đẹp dịu dàng như mây. Cánh hoa rơi trên trán nàng tựa như một nét trang điểm diễm lệ, mộng ảo như tiên, khiến người ta nín thở ngắm nhìn.

Thôi Tuần không thể rời mắt. Khoảnh khắc này, trong lòng hắn dường như mọi oán khí đều tan biến, chỉ còn lại sự tĩnh lặng và thanh thản. Hắn mơ hồ nghĩ, nếu có thể như thế này mãi, thì tốt biết bao…

Hắn chăm chú nhìn Lý Doanh, thân mình không dám động đậy, sợ làm nàng thức giấc. Nhưng bất chợt, cổ họng hắn ngứa rát, hắn vội đưa tay đè trước ngực, cố nén cơn ho trào lên, sau đó mới lấy từ trong tay áo ra một vật.

Đó là một bình sứ trắng ngà bằng ngọc.

Hắn nhìn Lý Doanh đang say ngủ, ánh mắt thoáng dao động, rồi cúi đầu, mở nắp bình, đổ ra một viên đan dược màu đỏ, đưa vào miệng nuốt.

Đan dược vừa vào, hàn khí chèn ép nơi lồng ng.ực tựa như tan đi phần nào, chiếc áo choàng hồ ly trắng khoác trên người bỗng trở nên oi bức. Sắc mặt hắn bình tĩnh, đưa tay nhét bình sứ trở lại trong tay áo, sau đó tháo chiếc áo choàng trắng muốt xuống, nhẹ nhàng phủ lên người Lý Doanh.

Ánh mắt hắn chăm chú dừng lại nơi nàng, rồi tựa lưng vào thân cây sơn trà. Chỉ đến khi chắc chắn nàng yên giấc, hắn mới khép hờ mắt lại, giấc ngủ của hắn cũng chẳng an ổn, miên man bất định.



Sau khi nghỉ ngơi, hai người lại tiếp tục thúc ngựa chạy thêm một quãng đường dài. Mãi đến khi hoàng hôn buông xuống, họ mới tìm được một khách xá để nghỉ tạm.

Chủ khách xá tròn mắt nhìn một thanh niên dung mạo tựa minh châu mỹ ngọc bước vào, nói: “Ta muốn thuê trọ.”

Vẻ ngoài như vậy khiến chủ quán không khỏi liếc nhìn thêm vài lần. Nhưng khi thấy y vận trang phục vải trắng thường dân, ông ta đoán chắc y chỉ là hạng áo vải, bèn nói: “Phòng số hai ở dãy Địa vẫn còn trống, khách quan có muốn không?”

Thanh niên lắc đầu: “Ta không muốn một phòng, ta muốn cả một tầng.”

Chủ quán thoáng sửng sốt, ánh mắt đảo qua y từ trên xuống dưới. Thanh niên khí độ bất phàm, cử chỉ ung dung, toát lên phong thái cao quý của một công tử thế gia. Nhưng nghĩ lại, sau huyết án Thái Xương, biết bao gia tộc lớn sa cơ thất thế, dù thế gia suy tàn vẫn còn hơn kẻ thường. Những công tử thế gia như vậy, tay vẫn thoáng, lại thường kén chọn, không muốn ở chung với hạng dân nghèo, thuê cả tầng hay thậm chí cả khách xá cũng chẳng có gì là lạ. Chủ quán từng gặp không ít hạng người này, nên chẳng hỏi thêm, chỉ đáp: “Toàn bộ dãy Thiên vẫn còn trống, khách quan thấy thế nào?”

Thanh niên liền gật đầu: “Được.”



Khi đến trước phòng số một dãy Thiên, Thôi Tuần bảo người hầu dẫn đường lui xuống, dặn không cần quấy rầy vào ban đêm, sau đó khép cửa lại.

Toàn bộ dãy Thiên đã bị hắn bao trọn, không gian tĩnh lặng đến lạ thường. Lúc cánh cửa gỗ khép lại, Lý Doanh đã đứng trong phòng, đưa mắt quan sát xung quanh, nhẹ nhàng nói: “Nơi này cũng xem như sạch sẽ.”

Thôi Tuần đáp: “Dãy Thiên là hạng phòng tốt nhất của khách xá, tất nhiên phải sạch sẽ rồi.”

Lý Doanh gật đầu, ánh mắt dừng trên bộ y phục màu trắng giản dị của Thôi Tuần, lo lắng nói: “Hôm nay chàng đi đường lại cố không mặc áo choàng lông, đừng để ngã bệnh ra đấy.”

Thôi Tuần nhàn nhạt nói: “Thời tiết này, mặc áo lông dễ khiến người ta nghi ngờ, không mặc vẫn tốt hơn.”

“Nhưng chứng hàn của chàng đã nhập cốt, không mặc chẳng lẽ không lạnh sao?”

Hắn khẽ lắc đầu: “Mỗi ngày nàng đều sắc cho ta một chén nước gừng cam thảo, hiện giờ chứng hàn đã giảm đi rất nhiều.”

“Thật vậy sao?” Lý Doanh nửa tin nửa ngờ, liền kéo tay Thôi Tuần. Hắn vốn đã quen với hành động này của nàng, nhưng vẫn không khỏi khựng lại một chút. Lý Doanh rất thích nghịch tay hắn, nói rằng tay hắn đẹp vô cùng, nàng chưa từng thấy ai có bàn tay nào đẹp hơn. Cũng bởi thói quen này, mỗi sáng sớm, Thôi Tuần đều rửa tay sạch sẽ bằng lan chỉ, chỉ sợ làm nàng vấy bẩn. Nhưng kể từ khi rời khỏi Trường An, điều kiện liền không cho phép.

Sáng nay, hắn chưa dùng lan chỉ…

Lý Doanh giả vờ không để ý sự ngượng ngập của hắn, chạm vào lòng bàn tay kiểm tra nhiệt độ. Quả nhiên, không còn lạnh lẽo như trước, thậm chí còn ấm áp hơn cả thân thể vốn đã lạnh giá của một linh hồn như nàng. Lý Doanh nói: “Nước gừng cam thảo thực sự hữu hiệu đến vậy sao? Trước khi rời Trường An, đâu thấy chứng hàn của chàng thuyên giảm chút nào.”

Thôi Tuần mỉm cười nhạt: “Tích tiểu thành đại, ngày nào cũng uống, uống mấy tháng trời, hẳn đã có tác dụng.”

Lý Doanh nghĩ ngợi, cảm thấy cũng có lý, ánh mắt lại liếc qua chiếc bàn gỗ trong phòng, thấy trên đó đặt một chiếc bình gốm, liền nói: “Vậy tối nay chàng cũng phải uống đấy.”

Lý Doanh thu dọn hành trang, nàng đặc biệt mang theo mấy vị dược liệu trong đơn thuốc. Nhưng nàng dường như vẫn còn chút bực bội với sự cứng nhắc của Thôi Tuần khi nãy, nên dù đang sắc thuốc, nàng vẫn nắm lấy tay hắn không buông. Vừa nghịch ngợm mấy ngón tay hắn, nàng vừa ngẩng đầu, chăm chú nhìn nồi thuốc trên lò than đang sôi sùng sục. Nàng nói: “Lần này đi xa đến Lĩnh Nam, ta còn lo chàng vất vả dọc đường, sợ không chịu nổi. Nhưng xem ra, cũng không tệ lắm.”

Thôi Tuần thở dài một hơi: “Nàng ngày ngày trông chừng ta uống thuốc, ngoài nước gừng cam thảo, còn sắc thêm đủ loại thuốc bổ cho ta. Nếu ta chẳng khỏe hơn chút nào so với trước đây, chẳng phải sẽ phụ công bao nhiêu thứ thuốc đã uống sao?”

Lý Doanh bật cười khúc khích, nói: “Chàng trách ta sắc nhiều thuốc quá đúng không?”

Thôi Tuần lắc đầu: “Không dám trách công chúa.”

Nghe vậy, Lý Doanh càng cười tươi, nụ cười như hoa nở đầu xuân: “Ta cũng chỉ muốn bên chàng dài lâu, nên mới cố công sưu tầm đủ loại phương thuốc.”

Nàng cúi đầu, tiếp tục nghịch ngón tay hắn, giọng nói dần trở nên mềm mại: “Thập Thất lang, trước đây ta luôn nghĩ người và quỷ khác đường, nhưng giờ lại cảm thấy, một người một quỷ như chúng ta, ngược lại có thể bên nhau lâu hơn. Nếu ta thành người, thì sẽ phải đầu thai chuyển thế. Nhưng sau khi chuyển thế, liệu ta còn là ta không? Không còn ký ức về Minh Nguyệt Châu bên chàng, thì ta cũng chẳng còn là Minh Nguyệt Châu nữa. Còn nếu chàng thành quỷ, xuống địa ngục, ta vẫn có thể cầu xin Tần Quảng Vương cho ta theo cùng. Nhưng nếu Tần Quảng Vương phán chàng chuyển thế, vậy chàng cũng chẳng còn là chàng. Trời cao đất rộng, ta còn biết tìm Thập Thất lang của ta ở đâu? Ta không muốn như vậy, nên ta chỉ hy vọng chàng sống lâu một chút, ở bên ta lâu một chút.”

Lời nàng chân thành, khiến mắt Thôi Tuần nóng lên. Hắn vội cúi đầu, điều chỉnh lại tâm trạng, rồi thì thầm: “Ta… cũng mong có thể bên nàng lâu một chút…”

Không nhất thiết là ở bên nhau, chỉ cần ở gần nàng, vậy là đủ rồi.

Nhưng, thế sự vốn không chiều lòng người.

Hắn cúi đầu, trên hàng mi đen như lông quạ đã đọng lại vài giọt trong suốt. Hắn chớp mắt, bật cười khổ: “Mệnh số trời định, chỉ có thể làm hết sức mình mà thôi.”

Lý Doanh còn chưa kịp suy ngẫm lời hắn, Thôi Tuần đã nói: “Thuốc sắc xong rồi.”

Hắn cúi mắt xuống, Lý Doanh vẫn nắm chặt tay hắn không chịu buông. Hắn nhẹ giọng: “Cứ thế này sao ta uống được thuốc?”

Hắn chủ động muốn uống thuốc, Lý Doanh đúng là cầu còn không được. Nàng buông tay, thấy hắn đã mở nắp nồi, múc ra một chén. Hương cay nồng của gừng lan tỏa, nếu là ngày thường, Thôi Tuần sẽ chờ nguội bớt rồi mới miễn cưỡng uống, nhưng hôm nay, hắn lại uống từng muỗng, rất nhanh đã cạn chén.

Chờ hắn uống xong, Lý Doanh mới an tâm trở về phòng. Sau khi nàng rời đi, Thôi Tuần ngồi thẫn thờ rất lâu, rồi bất chợt đứng dậy, bước đến bên cửa sổ.

Cánh cửa gỗ vốn đã hé mở một khe nhỏ. Hắn đẩy rộng ra, ánh trăng ngoài kia cũng ùa vào.

Trăng tròn như chiếc đĩa ngọc, treo lơ lửng giữa màn đêm thăm thẳm. Ánh trăng sáng trong như nước, êm dịu rải khắp nhân gian. Thôi Tuần nhìn đến ngây dại.

Tay hắn thò vào tay áo, lấy ra một bình sứ màu ngọc bích. Hắn nắm chặt nó, từ từ đưa ra ngoài cửa sổ. Chỉ cần buông tay, bình sứ sẽ rơi xuống, vỡ tan tành.

Thôi Tuần nhìn ánh trăng, ngón tay dần nới lỏng. Nhưng ngay lúc ấy, màn máu đỏ ngầu và những thi thể chất chồng khắp đồi núi chợt hiện lên trước mắt hắn.

Hắn giật mình, ngón tay lập tức siết chặt lại, rồi từ từ buông xuống cánh tay tái nhợt.

Cuối cùng, hắn khép lại cánh cửa gỗ.



Sáng hôm sau, khi canh năm vừa điểm, Thôi Tuần cùng Lý Doanh đã lên đường tiếp tục hành trình. Nàng lén nhìn hắn vài lần, thấy thần sắc hắn vẫn còn tỉnh táo, không hề có dấu hiệu mệt mỏi, trong lòng liền yên tâm phần nào.

Thôi Tuần thanh toán tiền trọ với chủ khách xá, sau đó hỏi: “Từ đây đến thành Củng Châu có đường tắt nào không?”

Chủ khách xá ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp: “Có, nếu đi đường tắt, có thể tiết kiệm được năm sáu ngày. Nhưng khách quan này, tốt hơn hết đừng chọn lối đi ấy.”

“Vì sao?”

“Vì con đường đó phải băng qua một nơi gọi là Quỷ thôn.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 104: Bách quỷ dạ hành


Cách đây ba mươi năm, “Quỷ thôn” mà chủ khách xá vừa nhắc đến vốn là một thôn làng tên là thôn Ngưu Gia. Vào tháng ba năm Thái Xương thứ hai mươi, cả thôn gồm hai trăm hai mươi nhân khẩu bỗng chết thảm chỉ sau một đêm, máu chảy ra từ thất khiếu. Quan phủ điều tra nhưng không tìm ra nguyên nhân, chỉ có thể vội vàng chôn cất toàn bộ thi thể. Đến ngày thất tuần, vài người phụ nữ lấy chồng xa trở về cúng bái đã hớt hải đến trình báo với huyện úy, nói rằng trong lúc canh giữ đã gặp phải một nữ quỷ.

Nữ quỷ ấy bảo rằng nàng vốn là một thai phụ, trên đường đi qua thôn Ngưu Gia thì bị tổ tiên trong thôn nổi cơn háo sắc, hãm hại đến chết, thi thể còn bị vứt xuống sông. Dẫu đã trăm năm trôi qua, oan khí vẫn không tiêu tan, nàng ta hóa thành lệ quỷ quay lại báo thù. Hai trăm hai mươi mạng người trong thôn đều bị nàng ta giết. Nữ quỷ còn cảnh báo rằng thôn Ngưu Gia là nơi ô uế, về sau bất kỳ ai đặt chân đến đây hay cúng bái đều sẽ chịu lời nguyền chết bất đắc kỳ tử.

Huyện úy không tin, dẫn theo đám lại dịch đến điều tra. Nào ngờ, chính ông ta cũng gặp phải nữ quỷ. Kinh hãi trở về, chưa được bao lâu đã đột tử. Từ đó, lời đồn về việc cả thôn Ngưu Gia bị lệ quỷ tàn sát lan rộng, không ai dám bén mảng đến nơi này. Thôn Ngưu Gia vì thế mà trở thành Quỷ thôn nổi tiếng khắp vùng.

Trên lưng ngựa, Thôi Tuần chau mày suy nghĩ về những lời của chủ khách xá. Lý Doanh ngồi trước hắn, bất giác ngoảnh lại hỏi: “Chàng định đến Quỷ thôn sao?”

Hắn gật đầu: “Nếu đi đường tắt qua đó để đến thành Củng Châu thì sẽ nhanh hơn bảy, tám ngày.”

“Chàng không sợ bị nữ quỷ nguyền rủa à?”

Thôi Tuần khẽ cười: “Thế đạo này, người còn đáng sợ hơn quỷ.”

Lý Doanh nghĩ đến Vương Nhiên Tê vì ghen ghét mà muốn hại nàng, biểu tỷ Thẩm Dung vì dã tâm mà muốn giết nàng, và cả… cha ruột của nàng. Nàng cười cay đắng: “Chàng nói đúng, người còn đáng sợ hơn quỷ.”

Hắn không khuyên nhủ thêm, chỉ quất roi thúc ngựa. Gió hè mát rượi phả lên mặt nàng, những con đường cổ, núi xanh, nước biếc trải dài trước mắt. Tiếng vó ngựa lộc cộc như hòa vào không gian rộng lớn, tâm trạng u sầu ban nãy cũng dần tan biến. Trời đất mênh mông, con người như hạt cát, chuyện cũ đã theo gió bay xa, chỉ có thể trân trọng người trước mắt.

Thôi Tuần thấy nàng đã bớt ủ rũ, liền ghìm cương ngựa: “Chúng ta đến Quỷ thôn nào.”



Lý Doanh cùng Thôi Tuần theo hướng mà chủ nhân khách xá chỉ dẫn, ngựa phi nhanh trên quan đạo hoang phế, cuối cùng dừng lại trước một tấm bia đá khắc dòng chữ “thôn Ngưu Gia.”

Thôi Tuần nhảy xuống ngựa trước, sau đó mới vòng qua đỡ Lý Doanh xuống. Hai người đứng trước tấm bia, phóng tầm mắt nhìn về phía trước, chỉ thấy những ngôi nhà tồi tàn, xiêu vẹo mọc rải rác trên mảnh đất khô cằn. Ngay cả cây cối cũng trơ trụi, lá vàng úa, hoàn toàn không có lấy chút xanh tươi, um tùm thường thấy vào đầu hạ. Thỉnh thoảng, từ trong thôn lại vang lên vài tiếng gào hú của dã thú, càng khiến nơi đây thêm phần quỷ dị, đáng sợ.

Thôi Tuần và Lý Doanh trao nhau một ánh mắt, sau đó Thôi Tuần dắt ngựa, định tiến vào thôn. Nhưng con ngựa Khang Cư bỗng tỏ ra bồn chồn, bất luận Thôi Tuần thúc giục thế nào cũng không chịu tiến thêm một bước. Lý Doanh khẽ nói: “Người ta thường bảo ngựa có linh tính, cảm nhận được nguy hiểm xung quanh. Xem ra thôn làng ma quái này quả thật không đơn giản.”

Thấy Khang Cư như vậy, nét mặt Thôi Tuần thoáng vẻ do dự. Nhìn ra tâm tư của hắn, Lý Doanh nhẹ giọng bảo: “Thập Thất lang, chàng không cần vì lo lắng cho an nguy của ta mà từ bỏ ý định vào thôn. Ta vốn đã là hồn ma, còn sợ gì ma quỷ nữa?”

Nghe vậy, Thôi Tuần bật cười, rồi buộc ngựa Khang Cư vào một gốc cây lớn gần đó. Hắn nói: “Vậy thì chúng ta vào xem thử, rốt cuộc là người làm loạn, hay là ma tác quái.”



Thôn làng ma quái này đã bị bỏ hoang ba mươi năm, đến nỗi không khí cũng nồng nặc mùi ẩm mốc, mục nát. Vừa bước chân vào thôn, hiện ra trước mắt họ là hai trăm hai mươi tấm bia mộ bằng gỗ, kèm theo từng ụ đất nhấp nhô. Những tấm bia dày đặc, xiêu vẹo, trên đó ghi chi chít tên người.

Thôi Tuần giẫm lên dây leo khô héo dưới chân, đi tới trước một tấm bia. Ngón tay hắn phủi qua, lớp bụi dày lập tức bay tung tóe, lộ ra bề mặt bia mộ đã lâu không được ai hương khói. Hắn đứng thẳng người, nhìn bao quát những bia mộ xung quanh. Linh cảm mách bảo rằng có điều gì đó bất thường ở đây, nhưng rốt cuộc bất thường ở đâu, nhất thời hắn vẫn chưa thể nói rõ.

Không rõ vì lý do gì, vừa đến gần những tấm bia, Lý Doanh liền cảm thấy đầu óc choáng váng, cả thân thể như cạn kiệt sức lực. Nàng níu lấy vạt áo của Thôi Tuần, sắc mặt tái nhợt: “Những phần mộ này có điểm bất thường, chúng ta nên tránh xa ra một chút thì hơn.”

Vừa dứt lời, cảm giác chóng mặt càng thêm nghiêm trọng, đến mức nàng không đứng vững. Thôi Tuần thấy thế, lập tức bế nàng lên, bước nhanh ra xa vài trượng. Đến khi nàng đã khá hơn, hắn mới đặt xuống, lo lắng hỏi: “Nàng không sao chứ?”

Lạ kỳ thay, rời khỏi khu mộ vài trượng, Lý Doanh liền cảm thấy tinh thần tốt hơn nhiều, cảm giác choáng váng cũng biến mất. Nàng cau mày nhìn những ụ đất nhô lên, lắc đầu nói: “Không sao.”

Nàng lại tiếp: “Chúng ta qua chỗ khác xem thử.”



Hai người cùng đi tìm khắp nơi trong thôn làng, nhưng ngoài những bức tường đổ nát, họ không phát hiện ra điều gì bất thường. Một lát sau, trời cũng dần tối, Thôi Tuần thắp sáng hỏa thạch, chậm rãi quan sát những căn nhà hoang tàn xung quanh, suy nghĩ một hồi rồi nói: “Những căn nhà này, có điểm gì đó rất lạ.”

Lý Doanh ngạc nhiên: “Lạ ở chỗ nào?”

“Những ngôi nhà bình thường đều phải xây theo hướng Bắc Nam, nhưng ở đây, tất cả các ngôi nhà đều xây theo hướng Đông Tây, và vị trí bên phải, hướng Bạch Hổ, lại cao hơn hẳn so với bên trái, hướng Thanh Long. Cảnh tượng này tựa như lời mà các thầy phong thủy hay nói, “Bạch Hổ Sát”.”

Lý Doanh nghe đến đây liền rùng mình. “Bạch Hổ Sát” là hung sát đứng đầu trong thuật phong thủy, phạm phải nó sẽ dễ gặp tai họa đổ máu. Nàng nhìn kỹ những căn nhà này, bên ngoài vẫn còn để những nông cụ han gỉ. Lý Doanh nói: “Người trong thôn Ngưu Gia hẳn đều là dân thường, họ đâu biết gì về Bạch Hổ Sát. Dù có biết, cũng không thể tự tay sắp xếp nhà cửa mình theo cách này.”

Trừ phi… có kẻ trong bóng tối đã cố ý dẫn dắt họ tạo nên cục diện Bạch Hổ Sát.

Thôi Tuần đã đẩy cánh cửa gỗ khép hờ ra: “Có lẽ trong nhà sẽ có gì đó để khám phá.”



Vừa bước vào, một luồng hơi lạnh thấu xương ập tới. Nhìn cách bày biện bên trong, có thể nhận ra đây là một căn nhà nông dân vô cùng đơn sơ. Hầu như không có đồ đạc gì, chỉ có một chiếc bàn gỗ thô sơ, xem ra đây là gian chính của căn nhà. Từ đây nhìn vào, có thể thấy một chiếc giường gỗ mục nát, còn bên trái là một căn bếp nhỏ hẹp, trong đó chất đầy cỏ dại ẩm mốc. Có lẽ chúng được dùng để đốt lửa, nhưng gia đình bình thường không phải dùng củi hoặc than sao?

Phía sau vang lên giọng nói trầm thấp của Thôi Tuần: “Củi đã bị tiều phu đốn rồi đem bán, những hộ nông dân nghèo như thế này không mua nổi củi, chứ đừng nói đến than. Họ chỉ có thể dùng cỏ dại để nhóm lửa.”

Lý Doanh lúc này mới hiểu ra. Những gì nàng tưởng là gia đình bình thường, thực ra lại dựa trên tiêu chuẩn của một quan viên tứ phẩm như Thôi Tuần hoặc một phú thương như Ngư Phù Nguy, chứ không phải là những hộ nông dân khốn khó nhất Đại Chu.

Nàng thoáng cảm thấy hổ thẹn, lẩm bẩm: “Tích xưa có chuyện Tấn Huệ Đế nói “Sao không ăn thịt?” [1] Hôm nay, ta và ông ấy cũng chẳng khác gì nhau.”

[1] “Dân không có gạo ăn, sao không ăn thịt?” Trên là câu nói nổi tiếng của Tấn Huệ Đế – Tư Mã Trung. Huệ đế là Hoàng đế thứ hai của triều Tấn, được cho là ngây ngô, ngớ ngẩn. Câu nói trên được phát ngôn khi Hoàng đế nghe tấu trình về nạn đói. Cũng bởi sự ngây ngô của Hoàng đế nên thời kì trị vì của Tấn Huệ Đế chỉ có thể tóm gọn trong một từ “lũng đoạn”. Sự lũng đoạn mở đầu từ Giả hậu Giả Nam Phong – con gái đại thần Giả Sung. Sau đó là thế cục “Bát vương chi tranh – Loạn bát vương” – sự kiện đánh dấu sự suy yếu của triều Tấn và mở ra thời kì “Ngũ Hồ thập lục quốc”. Nguồn
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 105: Quỷ thôn


Lý Nhi nói rằng cha mẹ của cậu đang làm việc ngoài đồng.

Cậu bé dường như rất mến Thôi Tuần và Lý Doanh. Cậu nói chưa từng thấy ai đẹp như hai người, giống như thần tiên hạ phàm.

Thôi Tuần thoáng nghiêng đầu, hỏi: “Em có biết thần tiên trông thế nào không?”

Lý Nhi cắn một miếng bánh hồ to, nhồm nhoàm đáp: “Biết chứ, tiên trưởng từng vẽ cho chúng em xem.”

“Tiên trưởng?”

“Đó cũng là một vị thần tiên, chuyên xuống trần gian để giúp đỡ người phàm như chúng em. Ngài thường kể cho chúng em nghe về thiên cung. Ngài bảo ở đó có bánh hồ ăn mãi không hết, y phục mặc mãi không sờn, nhà cửa rộng lớn, ai nấy đều trẻ mãi không già, cũng không chết đi. Nhưng chỉ những ai hay làm việc thiện, sau khi chết mới lên được thiên cung.”

Thôi Tuần trầm tư một lúc rồi hỏi: “Mọi người hay gặp vị tiên trưởng đó lắm à?”

Lý Nhi gật đầu: “Vâng, ngài hay đến thôn này lắm.”

Nghe vậy, đôi mày của Thôi Tuần hơi nhíu lại. Lý Doanh cũng cảm nhận được điều bất thường từ lời nói của Lý Nhi. Nàng liếc mắt nhìn Thôi Tuần, thấy sắc mặt hắn không có gì thay đổi, chỉ lẳng lặng theo chân Lý Nhi tìm cha mẹ nó.

Trên đường, họ gặp không ít phụ nữ đang bế trẻ con. Lý Nhi vui vẻ chào hỏi từng người. Một trong số đó cười, hỏi: “Lý Nhi, họ là ai vậy?”

Lý Nhi hồn nhiên đáp: “Là a huynh và a tỷ đến nhà con xin nước.”

Khi Lý Nhi dừng lại trò chuyện cùng các phụ nhân, Lý Doanh cũng dừng bước. Ánh mắt nàng lướt qua những phụ nữ này, nhận ra trên người họ không hề toát ra chút sinh khí. Đứa trẻ mà họ ôm trong lòng cũng không khóc không cười, chỉ nhìn chằm chằm vào nàng với đôi mắt vô hồn.

Lý Doanh cố nén nỗi sợ, khẽ cười với một phụ nhân: “Đứa bé này ngoan quá, cho ta bế thử có được không?”

Người mẹ vui vẻ trao đứa trẻ cho Lý Doanh. Nàng đón lấy đứa trẻ, nhân cơ hội chạm vào bàn tay nhỏ bé của nó, liền cảm nhận rõ ràng cái lạnh buốt như băng giá. Đứa trẻ này, rõ ràng chính là một quỷ nhi.

Người mẹ tiếp tục trò chuyện với Lý Nhi. Lý Doanh chăm chú quan sát đứa trẻ trong lòng mình. Đột nhiên, nó nhe răng cười, nụ cười ghê rợn khiến nàng giật mình suýt nữa thì buông tay. Nhưng Thôi Tuần đã kịp đón lấy, ôm quỷ nhi vào lòng.

Quỷ nhi tiếp tục nở nụ cười ma quái, dường như muốn hù dọa Thôi Tuần. Nhưng hắn chỉ cười nhạt, tay chậm rãi siết lấy cổ của nó. Đôi mắt của quỷ nhi hiện lên vẻ kinh hãi, nó quơ quào tay chân van xin, nhưng hình như nó nhận ra không thể cầu xin Thôi Tuần, liền quay sang nhìn Lý Doanh, ánh mắt đầy vẻ van nài.

Thấy vậy, Thôi Tuần liền buông tay, trả quỷ nhi lại cho người mẹ.

Lý Doanh: … Quả nhiên, quỷ sợ ác nhân.

Quỷ nhi không dám gây sự nữa, thậm chí không dám nhìn Thôi Tuần lấy một lần.

Lý Nhi ngoan ngoãn nói với mẹ của quỷ nhi: “Thẩm nương ơi, con dẫn a huynh và a tỷ đi trước nhé.”

Cậu bé lại vẫy tay về phía Thôi Tuần và Lý Doanh, ra hiệu cho họ theo mình, tung tăng đi trước dẫn đường.

Lý Doanh nói nhỏ với Thôi Tuần: “Đứa trẻ đó chắc chắn là một quỷ thai.”

Quỷ thai chính là những đứa trẻ chưa sinh ra đã chết trong bụng mẹ, âm khí nặng nề và vô cùng hung dữ.

Thôi Tuần gật đầu: “Thẩm nương của Lý Nhi có lẽ đã chết khi đang mang thai, vì thế đứa trẻ này vừa sinh ra đã hóa thành quỷ.”

Lý Doanh chau mày: “Họ bị giết sao?”

Bằng không, khó mà tưởng tượng được một phụ nữ mang thai lại từ bỏ sinh mạng của mình, từ bỏ cả bỏ đứa con trong bụng, cam nguyện chết đi.

Thôi Tuần không trả lời câu hỏi của nàng, chỉ nói: “Chúng ta đến gặp cha mẹ của Lý Nhi, có lẽ sẽ biết rõ hơn.”



Thôi Tuần châm lửa vào hỏa thạch, men theo bước chân nhảy nhót của Lý Nhi để tìm đến cha mẹ của cậu bé. Dọc đường, hắn cũng thử dò hỏi Lý Nhi về chuyện xảy ra vào cậu bé qua đời, nhưng Lý Nhi còn quá nhỏ, hoàn toàn không nhớ rõ chuyện gì đã xảy ra, thậm chí, cậu còn chẳng ý thức được rằng mình đã chết.

Vì vậy, ánh mắt của hắn đành phải hướng về phía cha mẹ Lý Nhi, những người đang cặm cụi làm việc ngoài ruộng.

Lúc này, thôn Ngưu Gia chỉ còn là một mảnh đất hoang vu. Cả lớp đất cũng bốc lên mùi hôi thối của sự mục rữa. Đồng ruộng thì cỏ dại mọc tràn, nơi nơi toàn cành khô lá úa. Ấy vậy mà cha mẹ của Lý Nhi vẫn mướt mồ hôi, dùng cuốc cày xới mặt đất. Điều kỳ lạ là lưỡi cuốc của họ chẳng thể chạm vào lòng đất, chỉ lặng lẽ nện xuống từng nhát, nhưng dáng vẻ của họ lại vô cùng nghiêm túc, như thể trong mắt họ, họ đang thực sự làm đồng.

Giống hệt như trong mắt Lý Nhi, đống cỏ ấy đang bốc cháy ngùn ngụt.

Cha mẹ Lý Nhi lau mồ hôi, bước khỏi ruộng nghỉ ngơi. Khi trông thấy Lý Doanh và hắn, họ thoáng sững sờ. Đợi Lý Nhi vui vẻ giới thiệu hai người xong, đôi vợ chồng chất phác mới cười nói: “Hóa ra là khách qua đường ghé xin nước uống.”

Thôi Tuần nói: “Vừa nãy Lý Nhi đã cho chúng ta uống một ngụm nước, nên chúng ta đến để cảm tạ hai vị, cũng là để cảm ơn hai vị đã dạy dỗ được một đứa trẻ hiểu chuyện như vậy.”

Cha của Lý Nhi gãi đầu: “Chỉ là một ngụm nước, không cần phải khách sáo như vậy.”

“Đó là điều nên làm.” Lý Doanh cũng phụ họa theo.

Thôi Tuần liếc nhìn cánh đồng cằn cỗi: “Lúa mạch này lên tốt thật đấy.”

“Lúa mạch?” Cha của Lý Nhi bật cười: “Đây là lúa nước mà.”

Thôi Tuần như chợt tỉnh ngộ: “Thì ra là lúa nước.”

“Có lẽ lang quân xuất thân từ nhà quyền quý, nên mới không phân biệt được lúa nước với lúa mạch.”

Hắn mỉm cười: “Ta thấy nay là tháng ba, nên mới nghĩ là lúa mạch.”

“Tháng ba?” Mẹ của Lý Nhi cũng lấy làm lạ: “Rõ ràng là tháng tám mà.”

Thôi Tuần giả vờ không hiểu: “Tháng tám? Hôm nay chẳng phải ngày mùng hai tháng ba năm Thái Xương thứ hai mươi sao?”

Mẹ của Lý Nhi liền sửa lại: “Hôm nay là mùng sáu tháng tám năm Thái Xương thứ hai mươi mốt.”

Lý Doanh vội vàng làm dịu bầu không khí: “Xin lỗi, lang quân của ta tối qua uống chút rượu, còn chưa hết say nên mới nhầm lẫn ngày tháng.”

Cha mẹ Lý Nhi nghe vậy liền không nghi ngờ thêm, vui vẻ nói với nàng: “Chút nữa để Lý Nhi nấu ít giá đỗ cho lang quân, giải rượu sẽ rất hiệu quả.”

Cặp vợ chồng này tuy nghèo rớt mồng tơi, nhà cửa trống hoác, nhưng vẫn nhiệt tình mời mọc người lạ, khiến lòng Lý Doanh cảm thấy khó chịu. Nàng nghĩ, những con người tốt như họ lại qua đời một cách kỳ lạ cách đây ba mươi năm, quả thật khiến người ta không khỏi chua xót. Nàng bèn hỏi thêm: “À, vừa nãy Lý Nhi có nói rằng có một vị tiên trưởng thường ghé qua thôn của hai vị. Ta và lang quân cũng muốn gặp người ấy, không biết gần đây tiên trưởng có ghé qua không?”

“Lâu lắm rồi không thấy.”

Lý Doanh cố ý tỏ vẻ thất vọng: “Lần cuối tiên trưởng ghé qua là khi nào vậy?”

“Năm ngoái, ngày mười bốn tháng ba.”

Ánh mắt Lý Doanh và Thôi Tuần chạm nhau. Ngày mười bốn tháng Ba? Ngày mười lăm tháng ba chính là ngày cả thôn Ngưu Gia đột ngột qua đời. Tiên trưởng ấy đến vào ngày mười bốn tháng ba, trùng hợp đến mức đáng ngờ.

Thôi Tuần tiếp lời: “Ồ, vậy không biết lúc đến đây tiên trưởng có để lại lời giáo huấn nào không?”

“Có chứ.”

Cha mẹ Lý Nhi lập tức thao thao bất tuyệt kể về những lời dạy bảo của vị tiên trưởng. Lý Doanh và Thôi Tuần lắng nghe, chỉ toàn là những lời khuyên làm việc thiện, tích đức, chết rồi sẽ được đầu thai vào gia đình giàu có. Người làm nhiều việc thiện, linh hồn còn có thể lên thiên cung hưởng phúc. Những điều đó nghe qua chẳng có gì bất thường.

Lý Nhi A Gia mỉm cười: “Tiên trưởng nói, chỉ cần chúng ta làm nhiều việc thiện, kiếp sau của Lý Nhi còn có thể làm quan nữa đấy.”

Lý Doanh không khỏi ngạc nhiên: “Làm quan?”

Lý Nhi và tôn tử của Nghiêm Tam nương, Hổ Nô, tuổi tác xấp xỉ, đều có dáng vẻ hoạt bát, tinh nghịch. Hổ Nô được Thôi Tuần viết một phong bái thiếp gửi đến Thôi Tụng Thanh để theo học. Nghe nói Hổ Nô rất thông minh, được Thôi Tụng Thanh vô cùng yêu mến. Nếu không có gì bất trắc, Hổ Nô chắc chắn có thể thi đỗ từ khi còn trẻ, bước vào triều đình làm quan.

Lý Doanh vô thức liên hệ giữa Hổ Nô và Lý Nhi, nàng lẩm bẩm: “Chẳng phải Lý Nhi mới có sáu tuổi sao? Tại sao lại phải đợi đến kiếp sau mới làm quan, chẳng lẽ kiếp này là không thể?”

Cha của Lý Nhi bật cười: “Chúng ta là nhà nông, nó cũng sẽ làm nông cả đời, sao có thể làm quan được chứ?”

Lúc này Lý Doanh mới bừng tỉnh. Nơi này thật quá đỗi kỳ quái, đến mức nàng quên rằng những người này đã qua đời vào tháng ba, năm Thái Xương thứ hai mươi. Khi ấy, tân chính vẫn chưa được thực thi, chế độ khoa cử chưa được thiết lập. Không thể nào có chuyện “chiều làm ruộng, sáng lên triều” như về sau.

Dù Lý Nhi có thông minh đến đâu thì xuất thân ban đầu cũng đã định sẵn vận mệnh của nó.

Nếu Lý Nhi có thể sống đến năm sau, đợi tân chính được thi hành, nó sẽ có hy vọng thay đổi vận mệnh. Đáng tiếc, sinh mệnh của nó đã mãi mãi dừng lại ở tuổi lên sáu.

Thôi Tuần lại hỏi: “Vậy mỗi lần tiên trưởng đến đây, có để lại thánh vật gì không?”

Cha của Lý Nhi đáp: “Có. Mỗi lần đều cho chúng tôi một bát thánh thủy, uống vào bệnh gì cũng khỏi, linh nghiệm lắm.”

Thôi Tuần chưởng quản hình ngục suốt ba năm, nghe đến đây trong lòng đã lờ mờ hiểu rõ. Hắn chắp tay với cha mẹ Lý Nhi: “Nếu gần đây tiên nhân không đến, vậy chúng ta cũng không đợi nữa. Trời đã không còn sớm, chúng ta phải lên đường đây, hẹn ngày tái ngộ.”

Cha mẹ Lý Nhi cười ha hả gật đầu. Lý Nhi đang chơi đùa dưới ruộng, thấy Thôi Tuần và Lý Doanh sắp đi liền vội vàng chạy tới: “A huynh, a tỷ sắp đi rồi sao?”

Dù đã hóa thành quỷ, nhưng Lý Nhi vẫn giữ được bản tính thơ ngây. Vì không nỡ chia tay, nó bĩu môi, vẻ mặt buồn bã. Thôi Tuần nhìn nó, mỉm cười: “Ừ, lần sau gặp lại nhé.”



Thôi Tuần cùng Lý Doanh rời khỏi cánh đồng, nhưng trong lòng hắn vẫn lưu tâm đến lời của chủ khách xá sáng nay. Chủ khách xá nói rằng từ trấn Đào Viên đến thành Củng Châu mất khoảng bảy tám ngày, nhưng nếu vượt qua núi Vạn Hác, thời gian sẽ được rút ngắn chỉ còn một ngày. Thôn Ngưu Gia chính là con đường duy nhất dẫn lên núi Vạn Hác, vì vậy, hắn quyết định đi theo hướng núi. Thế nhưng, càng đến gần núi Vạn Hác, sương mù càng dày đặc, đến mức không thể thấy rõ bàn tay trước mặt. May mắn nhờ có Lý Doanh nhóm quỷ hỏa để dẫn đường, cả hai mới thoát ra khỏi làn sương dày.

Vừa ra khỏi màn sương, hai người mới phát hiện họ đã quay lại điểm xuất phát ban đầu. Hiển nhiên, lớp sương mù này là một trận pháp, hơn nữa còn không dễ phá giải.

Không còn cách nào khác, Thôi Tuần đành cùng Lý Doanh quay lại con đường cũ, trở về đầu thôn rồi mới tính tiếp. Trên đường quay lại, hai người lại gặp không ít thôn dân, không có ngoại lệ, tất cả đều là hồn ma xác quỷ. Khi bước qua cổng thôn, Thôi Tuần quay đầu nhìn lại những nấm mồ dày đặc, sau đó mím môi, rời đi mà không nói một lời.

Con ngựa Khang Cư buộc trên cây trước đó đã nằm ngủ say trên bãi cỏ. Thôi Tuần và Lý Doanh ngồi xuống đất nghỉ ngơi. Tuy đang là mùa hạ, nhưng gió đêm vẫn mang theo cái lạnh cắt da, nhất là ở Quỷ thôn tà khí dày đặc này, gió từ trong thôn thổi ra mang theo cái lạnh âm u đến rợn người. Lý Doanh muốn tìm áo choàng hồ ly trong hành lý, đặt trên lưng ngựa để khoác cho Thôi Tuần, nhưng hắn ngăn lại: “Không cần đâu.”

Nàng lo lắng hỏi: “Chàng không lạnh sao?”

Rõ ràng chứng hàn của hắn rất nặng cơ mà.

Thôi Tuần lắc đầu, nhưng Lý Doanh không tin. Nàng vươn tay nắm lấy tay hắn, quả nhiên thấy cơ thể hắn cứng lại. Nàng ngước mắt, có chút hờn dỗi siết tay hắn chặt hơn. Hắn không dám nhúc nhích, toàn thân cứng đờ. May mà hôm nay nàng không muốn so đo với hắn, chỉ hơi siết tay. Đôi tay của hắn rõ ràng vô cùng ấm áp, nàng lên tiếng hỏi: “Tối nay chàng chưa uống thuốc mà? Sao tay lại ấm thế này?”

Ngược lại, đôi tay nàng lạnh ngắt như băng.

Thôi Tuần mơ hồ đáp: “Không có gì đáng lo đâu.”

Lý Doanh thầm nghĩ, vì sao vừa ra khỏi Trường An thì chứng hàn của hắn liền đỡ hơn hẳn so với trước? Nhưng nghĩ lại, nàng cũng cảm thấy có lẽ như hắn nói, tích tiểu thành đại, uống thuốc mấy tháng nên giờ đã có hiệu quả. Nàng nở nụ cười rạng rỡ: “Ừ, không sao là tốt rồi.”

Nụ cười của nàng tự nhiên, chân thành, khiến hắn thoáng cúi đầu, không dám nhìn thẳng. Hắn trầm ngâm một lúc rồi chuyển chủ đề: “Ta đã đoán ra nguyên nhân cái chết của Lý Nhi và những người khác rồi.”

“Nguyên nhân gì?”

Trong đầu Thôi Tuần dần xâu chuỗi mọi manh mối, từ những ngôi mộ hắn nhìn thấy đến lời kể của cha mẹ Lý Nhi. Hắn trầm ngâm một lúc, rồi chậm rãi nói: “Chắc là tiên trưởng mà Lý Nhi nhắc đến, ba mươi năm trước đã dụ họ uống thánh thủy có chứa kịch độc, khiến hai trăm hai mươi thôn dân của thôn Ngưu Gia chết bất đắc kỳ tử chỉ trong một đêm. Sau đó, vị tiên trưởng ấy lại dùng trận pháp vô cùng độc ác đặt lên những ngôi mộ, giam giữ hồn phách của họ, khiến họ nghĩ rằng mình vẫn còn sống.”

Lý Doanh kinh hãi: “Vậy nên họ mới tưởng ban đêm là ban ngày, đêm ngủ, ngày đi lại?”

Thôi Tuần gật đầu. Lý Doanh hỏi tiếp: “Vì sao tiên trưởng đó phải làm vậy? Vì sao lão phải giết hai trăm người nông dân? Làm vậy có ích lợi gì cho lão?”

Thôi Tuần cân nhắc một lúc mới đáp: “Nếu ta đoán không sai, chắc là để kéo dài tuổi thọ.”

“Kéo dài tuổi thọ?”

Thôi Tuần gật đầu: “Trước đây ta từng điều tra một vụ án, dân chúng ở đất phong của Tề vương tố cáo Tề vương xem thường tính mạng người khác. Sau khi điều tra, phát hiện cáo trạng là thật. Tề vương mắc bệnh hiểm nghèo, để kéo dài mạng sống, đã nghe lời yêu đạo, bắt dân lành vô tội về giết hại, hòng chuyển dương thọ của họ sang mình. Sự việc ở thôn Ngưu Gia rất giống với vụ án năm đó của Tề vương. Nông dân ở thôn Ngưu Gia cơm không đủ ăn, áo chẳng đủ mặc, giết họ thì có lợi gì? Trừ phi họ sở hữu một thứ gì đó quý giá. Nhưng thứ quý giá này là gì, đủ để khiến tiên trưởng kia sinh lòng tà ác? Ngoài dương thọ ra, ta không nghĩ ra được lý do nào khác.”

Lý Doanh nghe mà tim đập thình thịch: “Đúng vậy, chẳng trách ta vừa đến gần những nấm mồ kia liền cảm thấy khó chịu khắp người, thì ra nơi đó đã bị đặt cấm chế đối với hồn phách. Hơn nữa, hồn phách của họ bị phong tỏa, sổ sinh tử ở âm phủ chắc chắn không ghi chép năm họ mất. Số dương thọ còn lại rất có thể đã bị tiên trưởng kia làm phép chuyển đi.”

Trong lòng nàng bỗng dâng lên niềm cảm thương sâu sắc với Lý Nhi và những người khác. Họ không chỉ chết một cách oan uổng mà hồn phách còn bị giam cầm vĩnh viễn ở thôn Ngưu Gia. Họ từng nghĩ làm việc thiện sẽ đổi được một kiếp sau đầu thai làm người tốt, nào ngờ ngay cả cơ hội đầu thai cũng chẳng còn.

Lý Doanh xót xa, nàng hỏi Thôi Tuần: “Thập Thất lang, có cách nào cứu họ không?”

Thôi Tuần đáp: “Nếu tiên trưởng kia muốn mượn mạng sống của người dân thôn Ngưu Gia thì hẳn lão sẽ không đi xa. Chỉ cần tìm được lão thì sẽ cứu được Lý Nhi cùng mọi người.”

“Vậy chúng ta mau đi tìm…”

Lời nói của Lý Doanh đến miệng bỗng nhiên nghẹn lại, nàng cúi đầu nhìn chằm chằm mũi chân, ngón tay chậm rãi siết lấy vạt váy: “Thập Thất lang, ta biết chàng đang gấp rút đến Lĩnh Nam, bởi hy vọng giải oan cho Thiên Uy quân đều nằm ở lần này. Nếu chúng ta đi tìm tiên trưởng đó, có lẽ… sẽ làm chậm trễ hành trình của chàng đến Lĩnh Nam…”

Nàng nói đến đây, cũng chẳng biết làm sao để tiếp tục. Nàng hiểu rõ, vì muốn Thiên Uy quân được giải oan, Thôi Tuần đã phải chịu biết bao đau khổ. Trên con đường này, hắn dần trở thành một ác quỷ bước đi trong cõi Tu La. Trái tim hắn cũng từ đó mà ngày càng băng lạnh. Nếu lần này hắn lựa chọn đến Lĩnh Nam thay vì cứu nhóm Lý Nhi, nàng cũng chẳng ngạc nhiên.

Nhưng Thôi Tuần bất ngờ lên tiếng: “Đi tìm tiên trưởng kia thôi.”

Lý Doanh kinh ngạc ngẩng đầu, Thôi Tuần điềm nhiên nói: “Sẽ không trì hoãn gì đâu.”

Nàng lặng lẽ nhìn hắn, rồi bất chợt nở nụ cười rạng rỡ tựa hoa xuân, gật đầu thật mạnh: “Được.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 106: Ta là công chúa Đại Chu


Để tìm ra vị tiên trưởng kia kỳ thực cũng không phải khó.

Vừa bước chân vào trấn, Thôi Tuần đã hỏi thăm về các đạo sĩ hoặc tăng nhân lợi hại quanh vùng, rồi theo độ tuổi và thói quen để loại trừ dần. Ba mươi năm trước, tiên trưởng kia đã hại chết cả thôn Ngưu Gia, vậy nên tuổi tác ắt hẳn phải trên năm mươi. Hơn nữa, thuật nối mệnh độc ác này nếu không có đạo hạnh thâm sâu thì không thể nào thực hiện được. Nhìn vào mức độ thuần thục khi thi triển thuật phép của tiên trưởng, e rằng tuổi lão ta còn vượt xa con số năm mươi.

Về phần thói quen, người dân trong thôn kể rằng tiên trưởng kia luôn miệng rao giảng nhân nghĩa đạo đức, thường khuyên người khác tích đức hành thiện. Lần theo thói quen này, cũng không khó để dò la.

Cuối cùng, Thôi Tuần tìm được một vị đạo sĩ sống ở đạo quán Tử Vân, được mệnh danh là Linh Hư Sơn Nhân. Nghe nói, vị Linh Hư Sơn Nhân này phong thái tiên phong đạo cốt, dù đã hơn trăm tuổi nhưng vẫn tóc bạc da hồng. Nhiều người ở trấn Đào Viên đều tín phụng lão ta. Sau khi Thôi Tuần tra hỏi thêm, phát hiện tín đồ của Linh Hư Sơn Nhân không chỉ ở trấn Đào Viên, mà còn trải rộng khắp Đại Chu, không ít quan lại quyền quý ở Trường An cũng một lòng sùng bái lão ta. Nhờ vậy, hương khói ở đạo quán Tử Vân vô cùng thịnh vượng, thiện nam tín nữ lui tới không ngớt.

Hằng năm, Linh Hư Sơn Nhân đều ra ngoài du ngoạn vài lần. Lần này Thôi Tuần đến đúng dịp, vị tiên trưởng hiện vẫn đang tọa trấn ở đạo quán Tử Vân.

Chủ quán trà kể lại những điều này với vẻ rất hào hứng. Ông cũng là tín đồ của Linh Hư Sơn Nhân, thậm chí còn tự hào lấy ra một tấm linh phù: “Đây là linh phù <i>(lá bùa)</i> tiên trưởng viết cho ta. Chỉ cần đốt thành tro, hòa vào nước uống, có thể kéo dài tuổi thọ, phúc đức vẹn tròn.”

Thôi Tuần liếc nhìn tấm linh phù, thấy trên đó ghi rõ ngày sinh tháng đẻ của chủ quán trà, còn dùng máu vẽ nên những đồ hình quái lạ không hiểu nổi. Đứng bên cạnh, Lý Doanh cũng chăm chú quan sát linh phù. Vì chủ quán không nhìn thấy nàng, nên nàng đưa tay chạm thử vào lá bùa. Nhưng vừa chạm đến, nàng cảm giác cả người như bị hút vào trong, giật mình kinh hãi, vội vàng rụt tay lại, lui về sau hai bước.

Thôi Tuần cũng giật mình, lo lắng nhìn về phía Lý Doanh. May thay, chủ quán trà không nhận ra điều bất thường, chỉ thấy tấm linh phù bỗng nhiên rời khỏi tay, nhẹ nhàng đáp xuống đất. Chủ quán trà nhặt lên, kinh ngạc hỏi: “Sao linh phù lại rơi thế nhỉ?”

Thôi Tuần nhíu mày. Tấm linh phù này, có điểm gì đó khác lạ.

Sau khi cảm tạ chủ quán, Thôi Tuần cùng Lý Doanh rời đi, trở về khách xá nơi họ trú chân.



Vừa bước vào phòng, Lý Doanh đã vội vã lên tiếng: “Đó không phải là linh phù trường thọ.”

Thôi Tuần hỏi: “Vậy là thứ gì?”

“Là phù chú giam giữ sinh hồn.”

Vốn là hồn phách, vừa rồi khi chạm vào linh phù, suýt nữa nàng đã bị hút cả hồn phách vào trong. Vì vậy, nàng dám khẳng định, một khi chủ quán trà uống tàn tro của tấm linh phù, chú văn sẽ thấm vào máu thịt, khiến linh hồn của ông ấy rơi vào tay Linh Hư Sơn Nhân. Đợi khi lão ta muốn lấy đi hồn phách, thì hồn phách sẽ lập tức rời khỏi thân xác.

Thôi Tuần trầm giọng: “Vậy chẳng phải muốn ông ta chết lúc canh ba, ông ta sẽ chết lúc canh ba?”

Lý Doanh gật đầu: “Hơn nữa, nghe nói không chỉ có mỗi mình ông ta nhận được tấm linh phù này. Không biết đã có bao nhiêu người từng nhận linh phù của Linh Hư Sơn Nhân và bao nhiêu người đã đốt linh phù, từ đó giao sinh mệnh của mình vào tay lão ta.”

“Lão giam giữ hồn phách của nhiều người thế này, xem ra dã tâm không nhỏ.”

Lý Doanh cũng nghĩ vậy. Nàng nhíu mày, nói: “Nếu không sớm tiêu diệt Linh Hư Sơn Nhân, e rằng sẽ còn nhiều người bị hại hơn nữa.”

Nàng cắn nhẹ môi, dường như có điều phân vân, nhưng cuối cùng vẫn lên tiếng: “Thập Thất lang, hay là chàng đến Lĩnh Nam trước đi?”

Thôi Tuần hỏi: “Vậy còn nàng?”

Lý Doanh có vẻ hơi ngượng ngùng: “Ta đã hứa với chàng sẽ cùng chàng đi Lĩnh Nam, nhưng có khi ta phải thất hứa rồi.”

Nàng từ từ cúi đầu: “Cũng như chàng không thể bỏ mặc Thiên Uy quân, ta cũng không thể làm ngơ trước những bách tính này. Ta… ta là công chúa Đại Chu.”

Công chúa nhận bổng lộc từ vạn dân, thì cũng phải trả lại cho vạn dân, làm tròn trách nhiệm của một công chúa – đó là điều mà Lý Doanh được dạy bảo từ thuở bé.

Dù nay nàng chỉ là một hồn phách, dù nàng từng là một công chúa bị phụ thân hy sinh, thì nàng vẫn là công chúa Đại Chu.

Giọng nàng dần trở nên nhỏ nhẹ, đôi mắt hoe đỏ, hiển nhiên trong lòng đầy áy náy, không dám ngẩng đầu lên nhìn Thôi Tuần: “Nếu ta theo chàng đến Lĩnh Nam mà bách tính gặp nạn, ta nghĩ… cả đời này ta sẽ không thể an lòng.”

Thôi Tuần điềm tĩnh nói: “Nàng muốn ở lại cứu họ.”

Lý Doanh cúi đầu, khẽ gật nhẹ: “Ta vốn dĩ chẳng phải người có chí lớn. Ngày xưa nguyện vọng của ta chỉ là mãi mãi được ở bên a gia và a nương. Giờ đây, nguyện vọng của ta là mãi mãi được ở bên chàng. Ta không muốn làm nữ trung hào kiệt như công chúa Khánh Dương, cũng chẳng muốn được lưu danh sử sách như công chúa Bình Nguyên. Ta chỉ muốn cùng người ta yêu sống bên nhau mãi mãi. Ta chỉ là một công chúa Đại Chu tầm thường, nhưng ta không thể dùng sự tầm thường ấy làm cái cớ để thờ ơ với nỗi khổ của bách tính. Ta cũng không thể chỉ chăm lo cho tình cảm cá nhân mà để mặc hàng vạn sinh linh rơi vào bàn tay tà đạo. Nếu làm vậy, ta sẽ thẹn với danh phận công chúa, thẹn với mười sáu năm được nuôi dưỡng.”

Nàng càng nói, đầu càng cúi thấp, cuối cùng vẫn không thể giữ lời hứa của mình, không thể đi Lĩnh Nam cùng Thôi Tuần.

Hai tay nàng vô thức siết chặt lại, trong lòng đầy đau khổ vì thất hứa. Nhưng bên tai bỗng vang lên giọng nói trầm thấp của Thôi Tuần: “Minh Nguyệt Châu, nàng ngẩng đầu lên, nhìn ta đi.”

Lý Doanh ngây người, từ từ ngẩng lên, nhìn thấy bóng hình mình phản chiếu trong đôi mắt sâu thẳm như mực của hắn. Nàng nhìn hắn, hắn cũng nhìn nàng. Giọng hắn dịu dàng vô cùng: “Minh Nguyệt Châu, công chúa Khánh Dương giúp phụ hoàng khởi binh, ngang dọc chiến trường, quả là nữ trung hào kiệt. Công chúa Bình Nguyên vào triều nghị chính, ba triều tể tướng đều xuất thân từ tay nàng, đáng để lưu danh sử xanh. Nhưng ai nói nữ trung hào kiệt hay lưu danh sử xanh mới là có chí lớn? Nàng vì bách tính mà vẫn luôn canh cánh trong lòng, trong mắt ta, nàng chính là công chúa Đại Chu xứng danh.”

Lý Doanh lẩm bẩm: “Ta… xứng đáng thật sao?”

Thôi Tuần gật đầu: “Nàng hoàn toàn xứng đáng.”

“Nhưng ta… không thể cùng chàng đi Lĩnh Nam được…”

Thôi Tuần mỉm cười nhè nhẹ: “Không, nàng vẫn có thể đi Lĩnh Nam với ta.”

Lý Doanh ngẩn người, Thôi Tuần nói: “Bởi vì ta cũng định ở lại, giúp nàng cứu những bách tính này.”

Lý Doanh kinh ngạc: “Nhưng chàng gấp rút đến Lĩnh Nam, giúp ta chẳng phải sẽ làm mất thời gian lắm sao?”

“Không giúp mới là mất thời gian.” Thôi Tuần đáp: “Thôn Ngưu Gia nằm trên đường đi qua núi Vạn Hác, Linh Hư Sơn Nhân đã bày trận pháp ở thôn Ngưu Gia, khiến ta không thể lên núi. Nếu không phá được tà thuật, ta chỉ có thể vòng qua đường khác đến Củng Châu, tốn công tốn sức. Nhưng nếu phá được tà thuật, ta có thể đến nơi chỉ trong một ngày. Nên không giúp mới là làm mất thời gian.”

Lý Doanh do dự giây lát: “Thật sự không làm mất thời gian chứ?”

Thôi Tuần lắc đầu: “Không.”

Thấy hắn chắc chắn, Lý Doanh mới hơi yên lòng, nàng mỉm cười: “Được, vậy đến lúc giải cứu xong bách tính, chúng ta lại cùng đi Lĩnh Nam.”

Thôi Tuần nhìn nàng, khóe môi cong lên: “Ừ.”



Khi Thôi Tuần và Lý Doanh đang bàn bạc, tại đạo quán Tử Vân, Linh Hư Sơn Nhân đang nhập thiền bỗng chậm rãi mở mắt.

Linh Hư Sơn Nhân, râu tóc bạc trắng, dung mạo hiền từ, phong thái tiên phong đạo cốt. Lão lầm bầm: “Linh phù của Trương Tứ lang bị động vào sao?”

Một đệ tử đứng hầu bên cạnh cẩn trọng hỏi: “Sư phụ, có người động đến linh phù ạ?”

Linh Hư Sơn Nhân lắc đầu: “Không phải người, là hồn.”

“Hồn ư?”

Linh Hư Sơn Nhân lại nhắm mắt, tập trung cảm nhận khí tức từ linh phù. Một lát sau, lão đột nhiên mở bừng mắt, vẻ mặt không giấu nổi kinh ngạc: “Hóa ra là nàng.”

Đệ tử hỏi: “Sư phụ, đó là ai?”

Nhưng Linh Hư Sơn Nhân chỉ lặp lại bốn chữ: “Hóa ra là nàng.” Hồi lâu sau, thần sắc lão thay đổi, miệng lẩm bẩm: “Nếu là nàng, hẳn là ý trời giúp ta.”

Đệ tử không hiểu: “Sư phụ, rốt cuộc hồn ma đó là ai?”

Gương mặt Linh Hư Sơn Nhân ánh lên niềm vui: “Ngươi không cần biết nàng là ai, chỉ cần hiểu rằng nàng là một hồn ma có thể giúp ta thoát khỏi vòng sinh tử.”

Đệ tử bối rối, Linh Hư Sơn Nhân mỉm cười nói: “Ngươi từng thấy hồn ma nào được bốn vạn ngôi chùa thờ Phật khắp cả nước cung phụng chưa? Lại từng thấy hồn ma nào khiến toàn bộ tăng lữ trong thiên hạ đồng loạt niệm chú vãng sinh chưa? Lợi ích từ hồn ma này, so với một vạn Trương Tứ lang còn đáng giá hơn nhiều.”

Đệ tử thốt lên: “Sư phụ, rốt cuộc là loại hồn ma gì mà có năng lực lớn như vậy?”

Linh Hư Sơn Nhân hồi tưởng lại tiết Hàn Thực cách đây ba mươi năm, khi nàng đứng trên xích đu, dung quang chói lọi chiếu khắp nhân gian. Dù lão đã sớm đoạn tình tuyệt dục, nhưng mỗi khi nghĩ đến, trái tim vẫn không khỏi xao xuyến. Lão nói: “Đó là viên minh châu rực rỡ nhất của Đại Chu.”

Đệ tử sững người, Linh Hư Sơn Nhân lại thở dài, dường như nhớ đến điều gì: “Đệ tử xuất sắc nhất của ta cũng đã thất bại trước viên minh châu ấy. Nếu không, có hắn, làm gì đến lượt những kẻ ngốc nghếch như các ngươi đứng vững ở đây.”

Đệ tử bị mắng đến bối rối: “Sư phụ, đệ tử sẽ lập tức đi bắt hồn ma đó, giúp sư phụ siêu thoát sinh tử.”

“Chỉ dựa vào ngươi?” Linh Hư Sơn Nhân bật cười lắc đầu: “Để ta, đích thân gặp nàng một lần.”



Nhưng chưa kịp để Linh Hư Sơn Nhân gặp Lý Doanh, Thôi Tuần đã đến đạo quán Tử Vân thăm dò thực hư.

Đạo quán Tử Vân tọa lạc giữa núi non trùng điệp, bao quanh bởi tùng bách xanh rì. Khắp nơi đều được chạm khắc họa tiết mây trời và tiên hạc, biểu thị ý nghĩa thiên nhân hợp nhất. Từ xa trông vào, nơi này tựa như một đạo quán hương khói thịnh vượng, thiện nam tín nữ quỳ gối thành kính trước điện Tam Thanh.

Thôi Tuần cũng bước vào điện Tam Thanh, quỳ xuống bái lạy. Hắn ra tay hào phóng, tiền hương dầu vừa dâng lên là một thỏi vàng, khiến tiểu đạo sĩ không khỏi líu lưỡi. Nhân lúc đó, Thôi Tuần đề nghị muốn gặp Linh Hư Sơn Nhân. Tiểu đạo sĩ đáp: “Hôm nay sư phụ đang giảng đạo tại đàn Vân Trạch. Nếu cư sĩ muốn nghe, ta có thể dẫn đường.”

Thôi Tuần đương nhiên đáp rằng muốn nghe. Tiểu đạo sĩ liền đưa hắn đến đàn Vân Trạch. Đàn Vân Trạch nằm phía sau đạo quán Tử Vân, không gian rộng lớn, có thể chứa đến vạn người. Khi Thôi Tuần đến, đã có không ít tín đồ ngồi xếp bằng dưới đất lắng nghe giảng đạo. Hắn còn thấy chủ quán trà cũng đang đắm chìm trong buổi thuyết pháp của Linh Hư Sơn Nhân.

Thôi Tuần bèn tìm một chỗ giữa nhóm tín đồ để ngồi xuống. Hắn ngẩng đầu quan sát Linh Hư Sơn Nhân. Vị này mặc đạo bào xám thêu họa tiết tiên hạc mây lành, trông như người trung niên ngoài bốn mươi, hiền từ nhân hậu.

Buổi thuyết giảng chỉ xoay quanh chuyện khuyên người tích cực hành thiện, nên chẳng khiến Thôi Tuần mảy may hứng thú. Hắn đảo mắt nhìn quanh, chợt phát hiện ở góc đàn có treo một chiếc đèn lồng.

Chiếc đèn ấy không phải kiểu lồng đèn thường thấy ngày nay, mà là một chiếc đèn bằng đồng xanh, trên thân đèn khắc những phù văn và hoa văn kỳ dị. Những đường nét này thoạt nhìn có chút quen thuộc…

Trên đàn, Linh Hư Sơn Nhân đã giảng đến “tam chướng”. Theo Đạo giáo, tam chướng gồm: ma chướng, nghiệp chướng và tai chướng. Từ tam chướng mà sinh ra mười điều ác, đây chính là cội nguồn của mọi khổ đau. Chỉ khi phá bỏ được tam chướng, con người mới có thể đắc đạo.

Nhưng thế nhân phàm tục, có mấy ai vượt qua được tam chướng?

Khi Linh Hư Sơn Nhân nói đến đây, Thôi Tuần bỗng nhớ ra vì sao những phù văn và hoa văn trên chiếc đèn đồng ấy lại quen thuộc đến vậy. Những đường nét đó giống hệt tấm “bùa khóa hồn” mà Linh Hư Sơn Nhân đưa cho chủ quán trà.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 107: Thọ mệnh còn lại, e rằng chỉ còn mười năm


Buổi giảng đạo còn chưa kết thúc, Thôi Tuần đã rời khỏi đạo đàn, quay trở về khách xá. Như đêm trước, hắn vẫn bao trọn một tầng lầu trong khách xá. Nếu thuê hai gian phòng, ắt sẽ làm người ta sinh nghi, nhưng bao trọn cả tầng, cùng lắm chỉ bị chủ khách xá nghĩ rằng hắn là một công tử phú quý không muốn ở chung với những gia tộc hàn vi. Tính ra lại an toàn hơn.

Thôi Tuần biết rõ, dù đã giết mười đạo sĩ lén lút dò la phủ đệ của mình, nhưng Bùi Quan Nhạc tuyệt đối sẽ không bỏ qua. Ông ta nhất định sẽ phái người bám theo hắn, đợi đến khi phát hiện kẻ ngồi trong xe ngựa giả mạo hắn, Bùi Quan Nhạc chắc chắn sẽ lùng sục khắp nơi. Vì vậy, hắn cần phải giải quyết Bùi Quan Nhạc trước khi ông ta tìm thấy Lý Doanh.

Lúc này, chỉ còn cách nhanh chóng trừ khử Linh Hư Sơn Nhân, sau đó phi ngựa không nghỉ từ Quỷ thôn đến thành Củng Châu. Nếu chậm trễ, ắt sẽ sinh biến.

Nếu là trước đây, Thôi Tuần đã có nhiều cách thỏa đáng hơn để loại bỏ Linh Hư Sơn Nhân. Nhưng giờ, để sớm diệt trừ lão, hắn chỉ có thể đánh cược một phen.

Hắn nói với Lý Doanh: “Hoa văn khắc trên chiếc đèn bằng đồng xanh treo ở đạo đàn giống hệt tấm bùa khóa hồn. Ta từng nghe nói trong Đạo môn có một tà thuật, gọi là “đèn mượn mệnh”. Ý nghĩa của cái tên này là mượn tuổi thọ của người khác về cho mình. Nhưng nếu đèn mượn mệnh tắt, kẻ mượn mệnh sẽ phải hoàn trả toàn bộ thọ số đã mượn được. Ngọn đèn bằng đồng xanh ấy, rất có khả năng chính là đèn mượn mệnh.”

Lý Doanh trầm tư một lúc, đáp: “Những tín đồ nghe giảng đạo phần lớn đều đã nuốt bùa khóa hồn. Đèn mượn mệnh treo trên đạo đàn, hẳn là để khắc sâu chú tỏa hồn trong máu thịt họ, khiến sinh hồn của họ dễ dàng bị Linh Hư Sơn Nhân điều khiển hơn.”

Thôi Tuần nói: “Bao nhiêu năm qua, số tuổi lão mượn chắc chắn không ít. Nếu chúng ta tìm cách dập tắt đèn mượn mệnh, số tuổi lão mượn được sẽ bị trả về, lão sẽ quay lại với số tuổi vốn có. Đến lúc ấy, lão chỉ còn là một cái xác không hồn.”

Nghe xong, Lý Doanh lại có chút do dự: “Nhưng nếu lời đồn về đèn mượn mệnh là giả, hoặc chiếc đèn bằng đồng xanh ấy không phải đèn mượn mệnh thì tùy tiện dập đèn liệu có làm kinh động đến lão không?”

Thôi Tuần lắc đầu, đáp: “Đời người vốn là một canh bạc. Thắng thì được như ý nguyện, thua thì mất mạng nơi hoàng tuyền. Ta đã đánh cược rất nhiều lần, cũng chẳng ngại cược thêm lần nữa.”

Lý Doanh hé môi định nói, nàng nghĩ đến rất nhiều điều. Đúng vậy, cả đời Thôi Tuần chính là một ván cược được ăn cả ngã về không. Từ khi Quách Cần Uy giao phó hắn phải bảo toàn tính mạng và bị Đột Quyết bắt đi, đó đã là một canh bạc. Quách Cần Uy cược rằng Đột Quyết sẽ không giết hắn, nhưng không ngờ những gì hắn phải chịu trên đất Đột Quyết còn thê thảm hơn cả cái chết. Sau đó, trở về Trường An, hắn cam nguyện làm thanh đao trong tay a nương, đặt cược rằng quyền thế sẽ giúp hắn rửa sạch oan khuất cho Thiên Uy quân. Nhưng trong quá trình ấy, đổi lại là tiếng xấu đầy mình, thân đầy thương tích.

Nàng không đành lòng. Nàng rất muốn khuyên hắn, nhưng nàng biết mình chẳng thể lay chuyển được hắn. Điều duy nhất nàng có thể làm là cố hết sức để những lá bài trong tay hắn thêm phần nặng ký, để hắn có thể giành lấy thắng lợi cuối cùng.

Vì thế, nàng gật đầu, nói: “Ừ, vậy chúng ta cùng nghĩ cách để đoạt được chiếc đèn mượn mệnh đó.”

Khi nàng và Thôi Tuần đang bàn bạc, bỗng nghe tiếng ồn ào từ lầu dưới vọng lên.



Là Linh Hư Sơn Nhân.

Trước đó, Lý Doanh đã vô tình chạm vào linh phù của chủ quán trà, nhờ vậy Linh Hư Sơn Nhân lần theo khí tức linh phù đến tận khách xá. Dấu vết khí tức dừng lại ở khách xá, chủ nhân của khách xá dường như cũng nhận ra lão: “Sao hôm nay tiên trưởng lại ghé qua đây?”

Đi cùng Linh Hư Sơn Nhân còn có chủ quán trà, Trương Tứ lang. Linh Hư Sơn Nhân mỉm cười đáp: “Bần đạo cảm thấy có người hữu duyên đạo pháp trọ tại quý xá, đặc biệt đến đây để gặp mặt.”

“Người hữu duyên với đạo pháp sao?” Chủ khách xá suy nghĩ một hồi, người đầu tiên mà ông nghĩ tới là vị lang quân trẻ tuổi trông đẹp đến mức như không phải người phàm đang bao trọn lầu hai. Nhưng rồi ông lập tức phủ nhận. Vị lang quân kia quả đúng là đẹp, nhưng đôi mắt thì lạnh lẽo như sương tuyết, khí chất quanh thân lại lạnh nhạt đến mức như muốn chặn người ta cách xa ngàn dặm. Nhìn thế nào cũng không giống người có duyên đạo.

Nhưng Trương Tứ lang lại nói với ông: “Tiên trưởng nói, có lẽ là vị lang quân trọ tại khách xá của ngài đêm qua.”

“Lang quân ấy là người có duyên đạo sao?” Chủ khách xá thoáng kinh ngạc, nhưng vẫn chỉ tay dẫn đường: “Hắn ở phòng khách trên lầu hai.”

Linh Hư Sơn Nhân và Trương Tứ lang liền lên lầu, đến trước cửa phòng. Trương Tứ lang gõ cửa vài cái. Thôi Tuần và Lý Doanh trao đổi ánh mắt, Lý Doanh lập tức lui về sau tấm bình phong, lòng bàn tay nàng bùng lên một ngọn quỷ hỏa màu xanh biếc. Quỷ hỏa nhảy vọt lên không trung, hóa thành ánh sáng nhạt bao phủ toàn thân nàng. Dù đạo hạnh của Linh Hư Sơn Nhân thâm sâu, trong chốc lát cũng không thể phát hiện ra tung tích của nàng.

Nàng ẩn thân xong, Thôi Tuần mới chậm rãi bước đến mở cửa. Hắn chắn ngay ở lối vào, không định để Linh Hư Sơn Nhân và Trương Tứ lang bước vào phòng, định ứng phó qua loa vài câu rồi đuổi khéo đi. Nhưng còn chưa kịp mở lời, Linh Hư Sơn Nhân đã quan sát hắn từ đầu đến chân, cười nói: “Vị cư sĩ này, bần đạo xem tướng ngài, thấy rõ là người hữu duyên với đạo pháp. Có thể để bần đạo vào trong, cùng luận bàn đôi lời chăng?”

Thôi Tuần thẳng thừng đáp: “Không thể.”

Dứt lời, hắn định đóng cửa ngay. Nhưng Linh Hư Sơn Nhân đã chống tay lên cửa, cười bảo: “Cư sĩ hà tất cự tuyệt dứt khoát như vậy. Không bằng nghe bần đạo giảng đạo xong rồi hãy quyết định cũng chưa muộn.”

Lão ta không chút khách khí tiến thẳng vào phòng. Thôi Tuần bị Trương Tứ lang kéo lại, người này ríu rít nói: “Lang quân à, tiên trưởng xem trọng ngài, muốn chỉ điểm ngài tu hành. Đây là cơ duyên mà bao nhiêu người cầu cũng không được đó.”

Thôi Tuần nhìn thấy Linh Hư Sơn Nhân đã vào trong phòng, đảo mắt nhìn quanh khắp nơi. Ánh mắt lão ta còn quét qua chỗ bình phong. Hắn chột dạ, vội vùng khỏi tay Trương Tứ lang, bước nhanh đến chặn trước mặt Linh Hư Sơn Nhân, nhíu mày nói: “Tiên trưởng, ta không có hứng thú với tu đạo. Phiền ông tìm người hữu duyên khác.”

Linh Hư Sơn Nhân chăm chú nhìn hắn một hồi, chợt bật cười ha hả. Lão ta ngang nhiên ngồi xuống trước án thư, không có chút ý định rời đi. Trương Tứ lang cũng theo vào, cung kính đứng hầu bên cạnh Linh Hư Sơn Nhân.

Linh Hư Sơn Nhân đưa tay ra hiệu cho Thôi Tuần ngồi xuống đối diện, dường như có điều gì muốn nói. Thôi Tuần mím môi, chẳng mấy kiên nhẫn mà ngồi xuống. Linh Hư Sơn Nhân chậm rãi nói: “Dáng vẻ của cư sĩ làm bần đạo nhớ đến đệ tử đắc ý nhất của mình.”

Thôi Tuần đang nghĩ cách để đuổi lão ta đi, nên không đáp lời. Linh Hư Sơn Nhân lại tiếp tục: “Đệ tử ấy của ta, thiên tính thông minh, tinh anh tài giỏi, nếu vẫn theo ta tu tập, có khi đã đắc đạo rồi.”

Thôi Tuần nào đủ kiên nhẫn nghe lão kể lể chuyện đệ tử của mình, không vui nói: “Ta muốn nghỉ ngơi, phiền tiên trưởng nhanh chóng rời đi.”

Linh Hư Sơn Nhân mỉm cười: “Cư sĩ hà tất cự tuyệt người khác đến ngàn dặm. Như người tâm sáng mắt tinh thế này, sao phải khổ sở vấn vương chốn hồng trần? Không bằng theo bần đạo nhập đạo quán tu hành, siêu thoát sinh tử, một ngày nào đó tất đạt trường sinh bất lão.”

Thôi Tuần lạnh giọng: “Ta không muốn trường sinh bất lão, ta chỉ muốn vướng vào chốn hồng trần.”

Linh Hư Sơn Nhân ngẩn ra một lúc. Truyền đạo nhiều năm, đây là lần đầu tiên lão nghe có người nói không muốn trường sinh bất lão. Lão nghĩ bụng có lẽ đây chỉ là cái cớ để Thôi Tuần đuổi lão đi. Nhưng lão lại không muốn rời khỏi đây quá sớm. Khí tức của linh phù rõ ràng ngưng tụ ngay trước cửa, nhưng từ khi bước vào lại chẳng thu được gì. Nếu cứ thế mà đi thì thật không cam lòng.

Lão quan sát kỹ Thôi Tuần. Thanh niên trước mắt dung nhan tái nhợt, nhưng gương mặt lại như ngọc như ngà, tuấn tú vô cùng, đúng kiểu công tử phong lưu. Một mỹ nam tuấn tú ở cùng một nữ quỷ mỹ lệ, trai đơn gái chiếc… chẳng lẽ…

Linh Hư Sơn Nhân chợt nghĩ ra cách thử tìm tung tích của nữ quỷ, bèn nói với Thôi Tuần: “Bần đạo thấy khí sắc của cư sĩ không tốt, chi bằng để bần đạo bắt mạch xem sao.”

Thôi Tuần lập tức từ chối, nhưng Trương Tứ lang lại xen vào: “Lang quân, y thuật của tiên trưởng ở trấn Đào Viên nổi danh lắm, không biết bao nhiêu người sắp chết đã được ông ấy cứu sống. Ngài cứ để tiên trưởng bắt mạch thử đi.”

Thôi Tuần chẳng buồn bận tâm, nhưng Trương Tứ lang cứ lải nhải không dứt. Thấy thế, nếu hôm nay không để Linh Hư Sơn Nhân bắt mạch, hai người này chắc chắn sẽ không chịu đi. Hắn đành đặt cổ tay lên bàn. Linh Hư Sơn Nhân vuốt chòm râu bạc, đưa tay bắt mạch cho hắn. Một lát sau, sắc mặt lão bỗng nghiêm trọng, nói: “Thân thể cư sĩ tổn hao quá nhiều, quả thật không ổn. Thọ mệnh còn lại có khi chỉ khoảng mười năm mà thôi.”

Nghe đến bốn chữ “mười năm thọ mệnh,” sắc mặt Thôi Tuần vẫn không hề thay đổi, đôi mắt đen láy chẳng lộ chút kinh ngạc nào. Ngược lại, Lý Doanh đang dùng niệm lực ẩn mình sau bình phong, nghe câu này liền không khỏi chấn động, đến nỗi ánh sáng xanh biếc bảo vệ thân hình nàng cũng run rẩy hẳn lên.

Linh Hư Sơn Nhân nhạy bén nhận ra trong phòng có khí tức của người mà lão đang tìm kiếm. Lão không biểu lộ gì, lại nói với Thôi Tuần: “Có phải gần đây cư sĩ đang dùng dược hổ lang không? Bần đạo khuyên cư sĩ nên sớm ngừng lại thì hơn. Dược hổ lang tuy hiệu quả nhanh, nhưng cực kỳ tổn hại thân thể. Nếu không dừng, mười năm thọ mệnh còn lại e rằng chỉ còn không quá năm năm.”

Sau tấm bình phong, lòng Lý Doanh càng thêm rối bời. Ánh sáng xanh biếc hộ thân nàng liên tục chập chờn, phản chiếu rõ cơn sóng lớn đang khuấy đảo nội tâm. Nhìn qua, chỉ sợ nàng sắp bị Linh Hư Sơn Nhân phát hiện. Thôi Tuần nhanh chóng rút cổ tay ra khỏi tay của lão đạo sĩ, thản nhiên nói: “Tiên trưởng là đạo sĩ, chẳng phải thần y, sao lại đoán được tuổi thọ con người?”

Linh Hư Sơn Nhân mỉm cười: “Y thuật của bần đạo, e rằng còn cao minh hơn cả một số thần y.”

Trương Tứ lang cũng góp lời: “Đúng vậy, tiên trưởng đã chữa khỏi cho không ít người, ngay cả con gái của ta cũng nhờ tiên trưởng cứu giúp.”

Thôi Tuần đứng dậy, lời nói không còn vẻ khách khí: “Ngay cả thần y cũng nhiều kẻ lừa bịp, huống hồ chỉ là một đạo sĩ. Thọ số của ta, ta tự biết, không cần người khác giả thần giả quỷ. Hai vị, mời đi cho.”

Những lời này của hắn không hề chừa mặt mũi cho Linh Hư Sơn Nhân. Xuất thân thế gia, hắn luôn giữ lễ độ, dù tranh luận cũng chưa từng thô lỗ như vậy. Lẽ ra Lý Doanh nên nhận ra điểm khác thường của hắn, nhưng lúc này nàng đang bàng hoàng, lòng rối như tơ vò, căn bản không nghĩ đến điều đó. Linh Hư Sơn Nhân bị mất mặt nhưng không hề tức giận. Lão đã cảm nhận được hơi thở của người trong phòng, biết chắc nàng thực sự ở đây, biết rõ mục đích đã đạt được, bèn đứng dậy, dẫn theo Trương Tứ lang đang hậm hực rời đi, miệng vẫn cười ha hả.



Linh Hư Sơn Nhân vừa đi khỏi, Lý Doanh lập tức bước ra từ sau bình phong, không chờ được liền hỏi Thôi Tuần: “Yêu đạo kia nói thế có đúng không?”

Sắc mặt Thôi Tuần đã trở lại bình tĩnh, hắn đáp: “Nói gì cơ?”

“Nói chàng chỉ còn mười năm thọ mệnh, có thật không?”

Thôi Tuần đáp: “Đó là lời yêu đạo cố ý bịa đặt để quấy rối tâm trí nàng. Đến cả ngự y trong cung cũng chưa từng nói ta chỉ còn mười năm, thì làm sao lão dám khẳng định được.”

Câu nói này của hắn không hẳn là giả. Ngự y trong cung chỉ bóng gió rằng hắn không còn nhiều thời gian, chứ chưa bao giờ khẳng định là chỉ có mười năm. Nhưng chính hắn biết rõ cơ thể mình, mỗi khi trái gió trở trời, cả người đau nhức vì thương tích cũ. Cộng thêm bệnh hàn ngấm vào xương tủy, hắn luôn sống trong sự giày vò của bệnh tật. Thân xác tàn tạ thế này, nếu vẫn thêm được mười năm thì đã là điều đáng mừng.

Lý Doanh lại hỏi: “Vậy lão nói chàng đang dùng dược hổ lang, điều đó có đúng không?”

Câu hỏi này khiến Thôi Tuần không dám trả lời. Hắn né tránh ánh mắt nàng, bởi đã từng hứa với nàng sẽ không nói dối nữa. Giờ đây, hắn chẳng thể nói thật, nhưng cũng không dám chối quanh.

Thái độ đó càng khiến Lý Doanh thêm nghi ngờ. Nàng nghiến răng, tiến lên một bước, hai tay lục soát người hắn. Đầu tiên, nàng tìm kiếm chiếc túi bên hông, không phát hiện điều gì khả nghi, liền tiếp tục tìm trong tay áo. Khi sờ đến ống tay áo bên phải, nàng cảm nhận được một vật giống như bình sứ. Nàng ngẩng đầu nhìn hắn một cái, rồi giật lấy chiếc bình ngọc trắng, rút nắp ra xem. Trong bình toàn là đan dược màu đỏ, lớp trên cùng đã vơi đi, rõ ràng thuốc đã được sử dụng. Nàng ngửi thử, hương vị cay nồng xộc thẳng vào mũi, nàng kinh ngạc giơ chiếc bình lên: “Đây là thứ gì?”

Thôi Tuần cúi đầu, không dám trả lời.

Lý Doanh nói: “Thôi Tuần, chàng nhìn vào mắt ta, nói đi, đây là thuốc gì?”

Thôi Tuần chậm rãi ngẩng đầu, ánh mắt nhìn nàng sâu thẳm như một hồ nước đen, không thấy chút gợn sóng. Hắn hé miệng định nói, thì Lý Doanh đã lên tiếng: “Thôi Tuần, chàng nghĩ kỹ rồi hẵng nói. Chàng còn nhớ không, lần chịu phạt một trăm trượng kia, khi chàng cầu ta ở lại, chàng đã nói gì? Chàng nói chàng sẽ không lừa ta nữa, sẽ không có lần thứ hai. Vậy bây giờ, ta hỏi chàng, rốt cuộc đây là thuốc gì?”

Nàng nhắc đến lần bị phạt trượng ấy khiến Thôi Tuần lập tức á khẩu, nửa câu cũng không thốt ra được. Lý Doanh sáng tỏ trong lòng, nàng cười cay đắng: “Ta nghĩ mãi vì sao lúc ở Trường An chứng hàn của chàng mãi không khá lên được, đến đây lại tốt lên. Thì ra, chỉ có mình ta là kẻ ngốc.”

Nàng nắm chặt chiếc bình sứ trắng như ngọc, ném mạnh xuống đất. Chiếc bình vỡ tan thành từng mảnh, những viên đan dược đỏ thẫm lăn đầy trên sàn.

Thôi Tuần đờ đẫn nhìn những mảnh vỡ dưới chân, rất lâu sau mới ngẩng đầu lên, khó khăn mở miệng: “Minh Nguyệt Châu…”

“Chàng đừng gọi ta là Minh Nguyệt Châu.” Lý Doanh chế giễu: “Ta không muốn nghe.”

Nhưng Thôi Tuần vẫn khẩn thiết: “Minh Nguyệt Châu… nàng nghe ta nói…”

Trong giọng nói của hắn đã mang theo chút van nài. Lý Doanh đưa tay bịt chặt hai tai: “Ta không muốn nghe!”

Nàng giận dữ trừng mắt nhìn Thôi Tuần: “Chàng biết rõ ta khao khát được bên chàng dài lâu đến nhường nào, nhưng chàng đã làm gì? Thôi Tuần, ta hận chàng, ta sẽ không tha thứ cho chàng!”

Những lời này của nàng khiến sắc mặt Thôi Tuần tái nhợt. Nàng nói, nàng hận hắn, nàng sẽ không tha thứ cho hắn. Trái tim hắn đau nhói, như bị dao cứa từng nhát, cả thế gian chợt trở nên tăm tối, hắn lại một lần nữa chìm vào địa ngục Tu La, không còn cơ hội ngẩng đầu ngắm ánh trăng.

Hắn lặng người, không bào chữa nổi một câu. Lý Doanh dùng đôi mắt ngấn lệ trừng hắn một cái, rồi nàng nghiến răng, xoay người định rời khỏi căn phòng. Nàng không muốn gặp lại Thôi Tuần thêm một lần nào nữa!

Nhưng Thôi Tuần nhanh chân chắn trước mặt nàng, hắn kéo khóe môi, cố nói một cách khó khăn: “Nàng hận ta cũng được, nhưng đừng để lỡ chính sự.”

Hắn nói: “Bách tính còn đang đợi nàng cứu giúp. Nàng là công chúa Đại Chu, đừng vì ta mà từ bỏ trách nhiệm của một công chúa. Ta không đáng.”

Hắn cúi đầu: “Cứu xong bọn họ rồi, hận ta cũng không muộn.”

Lý Doanh cắn môi, ánh mắt giận dữ trừng Thôi Tuần. Nàng thực sự rất hận hắn, hận đến mức chỉ muốn hỏi hắn ngay lúc này, hỏi rằng trong lòng hắn nàng rốt cuộc là gì, hỏi liệu hắn có chút nào nghĩ đến nàng hay không. Nhưng những lời đó đến bên môi, cuối cùng nàng lại nuốt xuống.

Đúng như hắn nói, bách tính kia vẫn đang chờ nàng cứu giúp.

Nàng quay người, ngồi xuống bàn, giọng nói bình thản: “Chàng nói đúng. Ta không thể vì chàng mà từ bỏ trách nhiệm của một công chúa Đại Chu.”

Nàng nói: “Chàng không đáng.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 108: Lòng người sinh ra tam chướng


Tranh cãi thì cứ tranh cãi, chính sự vẫn phải làm.

Ngọn đèn mượn mệnh đặt trong đạo quán Tử Vân. Lý Doanh nói: “Ta đã xem qua, đêm nay, vào giờ Hợi, là năm âm, tháng âm, ngày âm, giờ âm. Thời khắc này, trải qua lục thập hoa giáp [1] mới xuất hiện một lần. Linh Hư Sơn Nhân lại dùng nhiều bùa khóa hồn như vậy, có lẽ, dã tâm của lão đặt vào đêm nay.”

<i>[1] Lục thập hoa giáp là sự kết hợp 6 chu kỳ hàng can với 5 chu kỳ hàng chi thành hệ 60, tương ứng với 60 năm. Đây là cách tính thời gian dựa trên việc kết hợp 10 thiên can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và 12 địa chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Sau mỗi 60 năm, chu kỳ này lặp lại. Vì vậy, một vòng sáu mươi Giáp Tý được xem là một “hoa giáp” trọn vẹn.</i>

Vì chuyện dược hổ lang, đến cả nhìn nàng Thôi Tuần cũng không dám. Hắn cúi đầu nói: “Miệng Linh Hư Sơn Nhân không rời hai chữ trường sinh, điều lão mưu cầu hẳn có liên quan đến trường sinh bất tử.”

Lý Doanh đáp: “Nếu đêm nay quan trọng như vậy, lão còn phí thời gian đến khách xá, ta không nghĩ lão đến đây chỉ để nhận chàng làm đệ tử. Việc lão vừa nấn ná không rời là vì muốn truy tìm tung tích của ta.”

Thôi Tuần nghe nàng nói đến đây, trực giác mách bảo có điều chẳng lành. Quả nhiên, Lý Doanh tiếp lời: “Ta được bốn vạn ngôi chùa thời Phật trên cả nước thờ cúng suốt ba mươi năm. Là một hồn ma, ta còn có thể đi lại giữa ban ngày. Một hồn ma như ta, đối với Linh Hư Sơn Nhân hẳn rất hữu ích, vì vậy lão mới rời đạo quán tìm ta.”

Thôi Tuần sững sờ: “Nàng định làm gì?”

Lý Doanh bình tĩnh nói: “Ở trấn Đào Viên này, chắc cũng có ám thám của Sát Sự Thính, đúng không? Ta muốn lấy thân làm mồi, dụ Linh Hư Sơn Nhân xuất hiện, chàng dẫn ám thám đi dập tắt đèn mượn mệnh của lão.”

Thôi Tuần không cần nghĩ cũng lập tức phản đối: “Không được, chuyện này quá nguy hiểm!”

Lý Doanh nhìn hắn. Khi còn ở Trường An, sắc mặt hắn tái nhợt như tuyết, thân thể lạnh đến mức không thể rời khỏi áo hạc dày cộm, trong phòng lúc nào cũng phải đốt than hồng. Vậy mà ở khách xá hẻo lánh này, sau những ngày mệt mỏi đường xa, sắc mặt hắn lại khá hơn nhiều, không còn vẻ nhợt nhạt khi trước. Than hồng không cần đốt, áo hạc cũng chẳng phải mặc. Lý Doanh khẽ cười, nhìn hắn, nói: “Thôi Tuần, ta không xin ý kiến của chàng, mà chỉ đang thông báo với chàng.”

Từ khi Linh Hư Sơn Nhân rời đi, cách nàng gọi hắn cũng thay đổi. Nàng không còn ngọt ngào gọi hắn “Thập Thất lang” nữa, mà gọi thẳng tên hắn, trong giọng nói còn mang chút xa cách. Thôi Tuần nghiến răng, nói: “Nàng… nàng không cần phải làm vậy.”

Lý Doanh đáp: “Mỗi lần chàng quyết định, cũng chưa từng hỏi ý kiến ta.”

Nàng ngừng lại, rồi nói tiếp: “Chàng có thể, tại sao ta lại không?”

Rõ ràng, nàng vẫn còn giận hắn. Thôi Tuần nhìn nàng, ánh mắt thoáng vẻ mơ hồ. Cuối cùng, hắn mím môi, nói: “Minh Nguyệt Châu… đừng lấy tính mạng của mình ra để giận dỗi với ta.”

“Tính mạng của ta…” Lý Doanh cười nhạt, khóe môi cong lên đầy chế giễu: “Vậy còn tính mạng của chàng thì sao?”

Thôi Tuần ngẩn người. Lý Doanh lắc đầu, nói: “Ta nghĩ chàng không có tư cách để nói câu này.”

“Minh Nguyệt Châu…”

“Người ngay đến sinh mệnh của bản thân cũng chẳng trân quý, lấy tư cách gì để yêu cầu người khác trân trọng sinh mệnh?” Lý Doanh bình thản nói: “Thôi Tuần, kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân.” [2]

<i>[2] “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” trên thực tế có nghĩa là biết coi trọng tình người, tự đặt mình vào hoàn cảnh người khác, tự bụng mình mà suy ra bụng người, lúc nào cũng lấy cái tâm đức trong sáng để nghĩ về sự việc đã xảy ra, sự việc liên quan đến người khác mà có cách xử sự đầy tình người. Đây là câu nói của Khổng Tử. Nguồn chú thích. Fanpage Thư Pháp Quang Lĩnh.</i>

Thôi Tuần ngơ ngẩn nhìn nàng, hắn mấp máy môi, muốn nói gì đó để giải thích. Hắn nghĩ, có lẽ mình nên kể cho nàng nghe về nỗi khổ trong lòng. Thân thể hắn quá mức yếu nhược, không chịu nổi hành trình dài một nghìn bảy trăm dặm, nên bắt buộc phải dùng đến dược hổ lang. Hoặc giả, có lẽ hắn nên nói cho nàng biết lý do hắn phải làm như vậy. Sáu năm dài dằng dặc, hắn đã khổ sở chờ đợi, cuối cùng cũng sắp đến ngày mây mù tan đi, ánh sáng bừng lên, hắn nhất định phải đảm bảo rằng không xảy ra bất kỳ sai sót nào trong quá trình này. Năm vạn đồng liêu của hắn, đã phải chờ đợi quá lâu tại Vong Tử Thành. Hắn không muốn họ phải chờ thêm nữa.

Nhưng cuối cùng, hắn chẳng nói gì cả. Chỉ tuyệt vọng cúi thấp đầu. Cổ hắn trắng nõn như ngọc, bả vai mảnh khảnh, đường xương b.ướm nhô lên rõ ràng bên dưới lớp áo lam trắng đơn bạc. Từ xương b.ướm xuống, lưng hắn như chỉ được phủ một lớp da mỏng ôm sát khung xương, nhìn chẳng khác gì một con hạc bệnh gầy guộc bị bỏ rơi, khiến người ta không khỏi thương xót.

Thế nhưng, Lý Doanh chỉ liếc nhìn hắn một cái, không hề động lòng, ánh mắt cũng chẳng hề mảy may dao động. Nàng cúi mắt xuống, không nhìn hắn thêm lần nào nữa.

Thôi Tuần càng lúc càng tuyệt vọng. Hắn biết, chính hắn đã phụ nàng. Rõ ràng hắn biết nàng mong mỏi được cùng hắn bên nhau dài lâu biết bao, vậy mà hắn vẫn giấu nàng, nuốt từng viên dược hổ lang, tự đẩy thân thể mình vào thế suy kiệt, khiến mong ước dài lâu ấy của nàng tan thành mây khói. Hắn phụ bạc tấm lòng nàng, dù có nghìn lời biện giải, vạn nỗi khổ tâm, thì phụ bạc vẫn là phụ bạc, dối lừa cũng vẫn là dối lừa.

Trừ phi nàng chịu tha thứ, bằng không, bao nhiêu lời giải thích cũng chỉ là tự lừa dối mình.



Giờ Tuất, trời đã tối đen.

Đại Chu thi hành nghiêm ngặt lệnh giới nghiêm vào ban đêm, ngay cả các huyện trấn cũng không ngoại lệ. Vì thế, trấn Đào Viên đã sớm giới nghiêm, phố xá vắng tanh không một bóng người. Lý Doanh bước đi trên con đường lát đá xanh, quả nhiên chưa đi được bao lâu, Linh Hư Sơn Nhân mặc đạo bào vân mây đã xuất hiện trước mặt nàng.

Linh Hư Sơn Nhân cầm trong tay một cây phất trần, mỉm cười nói: “Công chúa Vĩnh An.”

Lý Doanh cố tỏ ra kinh ngạc: “Ngươi nhận ra ta?”

Linh Hư Sơn Nhân gật đầu: “Bần đạo từng vào cung Đại Minh, nên nhận ra công chúa.”

“Ngươi từng vào cung Đại Minh?”

Linh Hư Sơn Nhân đáp: “Ba mươi năm trước, bần đạo được Đô úy Bách Kỵ Tư Kim Di khi đó tiến cử với Tiên đế. Tiếc rằng Tiên đế không hứng thú với tu đạo trường sinh, chỉ hỏi qua loa mấy câu rồi đuổi bần đạo ra khỏi cung.”

Lý Doanh không ngờ Linh Hư Sơn Nhân từng vào cung, lại còn gặp a gia nàng. Nàng buột miệng hỏi: “A gia ta đã nói gì với ngươi?”

“Tiên đế nói, Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế đều truy cầu trường sinh, nhưng cuối cùng cũng bụi về bụi, đất về đất. Nhưng dù họ thất bại trong việc trường sinh, vẫn không ảnh hưởng đến việc lưu danh sử sách. Một đời đế vương, chỉ cần làm tốt một chuyện lớn là đã viên mãn, cần gì phải truy cầu bất tử?”

Làm tốt một chuyện lớn… ắt hẳn là tân chính. Lý Doanh chợt buồn bã. A gia nàng đã làm được, tương lai chắc chắn sẽ lưu danh muôn đời.

Một đời người của a gia, đúng như người nói, đã đủ viên mãn, không còn tiếc nuối gì nữa.

Nhưng Linh Hư Sơn Nhân lại nói: “Thật ra, Tiên đế chưa hẳn đã viên mãn. Ít nhất vào lúc lâm chung, hẳn Tiên đế rất hối hận vì đã đuổi bần đạo ra khỏi Đại Minh cung.”

Lý Doanh ngẩng đầu: “Sao lại nói vậy?”

Linh Hư Sơn Nhân khẽ cười: “Khi bần đạo gặp Tiên đế, quan sát mệnh số, thấy người còn thọ hơn ba mươi năm nữa. Nhưng chỉ mười năm sau, Tiên đế đã băng hà. Công chúa có biết nguyên do ở đâu không?”

Lý Doanh lắc đầu. Linh Hư Sơn Nhân chậm rãi nói từng lời: “Đó là bởi Tiên đế vì một chuyện mà hối hận không nguôi, tự trách không yên, rồi tự dày vò bản thân đến chết.”

Lý Doanh sững sờ. A gia tự dày vò đến chết vì một chuyện… Nàng hỏi ngay: “Là chuyện gì?”

Linh Hư Sơn Nhân mỉm cười: “Chuyện đó, tất nhiên có liên quan đến công chúa.”

Liên quan đến nàng… Chẳng lẽ cái chết của nàng đã khiến a gia qua đời sớm hơn thọ mệnh?

Ý nghĩ ấy vừa lóe lên, Lý Doanh liền lập tức lắc đầu: “Không thể nào.”

A gia đã nhẫn tâm hạ lệnh giết nàng, người lạnh lùng như thế, trong lòng chỉ có thiên hạ, sao có thể vì ân hận mà tự trách đến chết?

Điều đó không thể xảy ra.

Như để chứng minh suy nghĩ của nàng là đúng, Lý Doanh nhấn mạnh với Linh Hư Sơn Nhân: “Ngươi đừng nói bừa! Ngươi chỉ là một đạo sĩ bị a gia ta trục xuất khỏi cung, ngươi thì biết gì chứ?”

Linh Hư Sơn Nhân mỉm cười nhàn nhã: “Bần đạo biết rất nhiều.” Lão đưa mắt nhìn quanh rồi nói tiếp: “Nơi này không tiện nói chuyện, chi bằng công chúa theo bần đạo về đạo quán Tử Vân, bần đạo sẽ kể rõ mọi chuyện.”

Lý Doanh vốn đã định tới đạo quán Tử Vân. Ban đầu, nàng nghĩ Linh Hư Sơn Nhân sẽ cưỡng ép đưa nàng đi, nào ngờ lại nghe được những điều này từ miệng lão. Trong lòng nàng suy tính, đã định đến đó rồi thì chi bằng nghe thử xem tên yêu đạo này còn nói gì. Nàng gật đầu: “Được, ta sẽ theo ngươi đến đạo quán Tử Vân.”



Lúc Linh Hư Sơn Nhân tìm Lý Doanh, Thôi Tuần cũng dẫn theo ám thám của Sát Sự Thính, toàn thân vận hắc y, âm thầm đột nhập vào đạo quán Tử Vân. Sát Sự Thính chỉ cài cắm năm mật thám ở trấn Đào Viên, nhưng chỉ bấy nhiêu cũng đủ.

Bên trong đạo quán Tử Vân vắng lặng không một bóng người, tất cả đạo sĩ đều biến mất. Nhưng phía sau đạo quán, đàn Vân Trạch vẫn đang bập bùng ánh lửa. Thôi Tuần từng đến đàn Vân Trạch vào ban ngày, hắn hồi tưởng lại kết cấu nơi này. Đàn Vân Trạch là một khoảng đất rộng có thể chứa vạn người nghe giảng đạo, xung quanh rợp bóng tùng bách, giữa sân là tế đàn bằng gỗ. Trên tế đàn dựng ba ngọn cờ, tượng trưng cho Thiên, Địa, Nhân, đốt chín ngọn đèn biểu thị cho ánh sáng chiếu lên chín tầng trời phúc điện và soi xuống chín tầng địa giới vô cực. Ngoài chín ngọn đèn ấy, còn có một chiếc đèn bằng đồng xanh khắc họa tiết kỳ lạ, chính là chiếc “đèn mượn mệnh”.

Thôi Tuần ra hiệu cho năm ám thám ẩn mình trong rừng tùng bách. Từ sau tán lá rậm rạp, hắn nhìn về phía đạo trường. Chỉ một cái liếc mắt, hắn lập tức sững sờ.

Trong đạo trường, không ngờ lại có vô số người ngồi xếp bằng, nhưng đây là đêm khuya, làm gì có nhiều người đến nghe giảng đạo? Nhìn kỹ lại, hắn mới phát hiện đó không phải là người sống mà là những sinh hồn.

Hắn còn trông thấy sinh hồn của Trương Tứ lang, chủ quán trà. Sinh hồn đã lìa khỏi thân xác, vậy Trương Tứ lang ở nhà hẳn đang hôn mê bất tỉnh, chẳng khác nào người sống không hồn.

Hơn chục đạo sĩ đạo quán Tử Vân đều tụ tập quanh tế đàn. Bọn họ không đứng gần ba lá cờ hay chín ngọn đèn, mà dồn hết về chiếc đèn bằng đồng xanh, canh giữ cẩn mật. Đến gần giờ Tuất, ánh sáng từ đèn đồng xanh càng rực rỡ, còn thân ảnh của vô số sinh hồn trong đạo trường dần trở nên mờ nhạt. Có thể đoán, khi giờ Tuất đến, những hồn phách này sẽ bị tế sống cho đèn mượn mệnh, Trương Tứ lang cùng đám người kia chắc chắn không thể sống sót.

Thôi Tuần ra hiệu bằng ánh mắt, năm ám thám lập tức tản ra. Hắn men theo một cây bách cổ thụ rậm rạp, lấy ra một mũi tên tẩm độc, đặt lên nỏ gỗ* trong tay, nhắm thẳng vào một tên đạo sĩ rồi bóp cò.

<i>*Mình tra raw thấy nỏ mà Lý Doanh cải tạo cho Thôi Tuần là nỏ tre (Chương 44), còn đây là nỏ gỗ. Không biết tác giả viết nhầm hay Thôi Tuần dùng nỏ khác nữa, sợ mỗi chuyện dịch sai.</i>

Mũi tên xé gió lao đi, ngay sau đó, năm ám thám đồng loạt bắn tên. Sáu đạo sĩ trúng tên ngã xuống tức khắc. Đám đạo sĩ còn lại kinh hãi nhìn quanh, chưa kịp xác định phương hướng kẻ địch thì từng mũi tên tẩm độc tiếp tục xuyên thẳng qua tim, từng người gục xuống, không kịp kêu lên một tiếng.

Thấy đại biến xảy ra, những sinh hồn kia vẫn mang vẻ mặt dửng dưng. Thôi Tuần bước nhanh ra khỏi rừng tùng bách, đi qua những sinh hồn dày đặc, tiến đến lễ đàn. Năm tên ám thám cúi xuống, từng người một kiểm tra sinh tử của các đạo sĩ, còn hắn đi đến bên cạnh chiếc đèn mượn mệnh, rồi gỡ nó xuống.

Chiếc đèn ấy đúc bằng đồng xanh, phần thân đèn là một đài sen tinh xảo. Bên trong bát đèn lõm xuống, chính giữa đặt một sợi bấc dài, ngọn lửa đỏ sẫm chập chờn. Thôi Tuần đưa tay, chụm ngón kẹp lấy bấc đèn, định nhổ ra.

Nhưng vừa chạm vào, hắn bỗng thấy trời đất quay cuồng. Trước mắt, vạn ngàn sinh hồn và lễ đàn bằng gỗ biến mất, ám thám xung quanh cũng không còn. Thay vào đó là một màn sương trắng mịt mờ.

Đèn mượn mệnh trên tay cũng biến mất. Hắn giơ tay che mắt, chậm rãi đứng dậy. Trước mắt sương mù tràn ngập, bao phủ toàn bộ trời đất. Bên tai không chút âm thanh, tưởng chừng thiên địa rộng lớn chỉ còn lại mình hắn.

Hắn nhíu mày trầm tư, chợt hiểu ra, khẽ nói: “Tà thuật.”

Hẳn là Linh Hư Sơn Nhân đã bày ra yêu pháp trên bấc đèn để bảo vệ chiếc đèn mượn mệnh.

Nhìn màn sương trắng xung quanh, hắn cười lạnh: “Ta còn đang ở lễ đàn Vân Trạch, sao có thể xuất hiện ở đây? Phàm là đạo pháp tà thuật, tin thì có, không tin thì không. Trương Tứ lang và những người khác tin ngươi, nên mới nuốt lời nguyền khóa hồn, để sinh hồn bị tà thuật của ngươi thao túng. Ta không tin ngươi, ngươi làm gì được ta? Đây chẳng qua chỉ là trò lừa bịp, cảnh thấy trong sương đều là hư ảo.”

Từ trong màn sương, tiếng cười quái dị của Linh Hư Sơn Nhân vọng ra: “Đừng mạnh mồm như vậy. Lòng người sinh tam chướng, tam chướng sinh thập ác. Đợi ngươi vượt qua ma nghiệp ba chướng, rồi hãy nói tất cả đều là hư ảo.”

Tiếng của lão dần xa, màn sương trắng cũng từ từ tan biến. Trước mắt Thôi Tuần, một bóng hình mềm mại, xinh đẹp chậm rãi bước đến.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 109: Tai chướng


Lý Doanh bước từng bước đến trước mặt hắn. Nàng búi tóc theo kiểu giao tâm kế đang thịnh hành, vận áo tròn cổ màu xanh biếc phối cùng váy nhuộm vàng từ thảo mộc úc kim hương, hương thơm thanh nhã tỏa ra từ làn váy. Trên búi tóc cài một chiếc trâm vàng đính minh châu, mỗi bước đi đều uyển chuyển nhẹ nhàng. Giữa trán điểm một đóa hoa điền hình mai năm cánh, da tuyết trắng mịn như ngọc, hoa điền đỏ rực như lửa, tôn lên vẻ đẹp yêu kiều rực rỡ. Thôi Tuần bất giác nói: “Sao lại ăn vận thế này?”

Lý Doanh thường phục sức theo kiểu quý nữ ba mươi năm trước, không cài trâm, không điểm hoa điền. Nhưng giờ đây, phong cách quý nữ đã xa hoa hơn xưa nhiều. Nàng chạm nhẹ vào minh châu trên trâm vàng, đôi mắt ánh lên ý cười: “Ta mặc thế này không đẹp sao?”

Hắn lắc đầu, vành tai hơi đỏ: “Không, rất đẹp.”

Bỗng nhiên nghĩ đến điều gì, hắn nghi hoặc: “Sao nàng lại ở đây?”

Nàng tiến lại gần, nhón chân, vòng tay qua cổ hắn, hơi thở phảng phất hương lan: “Ta đến gặp chàng, chẳng lẽ chàng không muốn gặp ta sao?”

Gương mặt nàng bóng loáng như ngọc, đôi mắt sáng rỡ như vì tinh tú. Lòng Thôi Tuần bỗng dao động, bao căng thẳng khi đối mặt Linh Hư Sơn Nhân dần tan biến, thay vào đó là tình ý quấn quýt và rung động trước nàng. Hắn nhìn sâu vào đôi mắt lấp lánh của nàng, khóe môi từ từ nhếch lên nụ cười ôn hòa, nhưng ngay khoảnh khắc ấy, hắn giật mình bừng tỉnh.

Không đúng.

Hôm nay Lý Doanh còn đang giận dỗi hắn. Vì chuyện dược hổ lang, nàng đã giận đến mức như thể cả đời sẽ không tha thứ cho hắn. Thôi Tuần nhìn chằm chằm “Lý Doanh” trước mặt, bỗng đẩy nàng ra: “Không, ngươi không phải Minh Nguyệt Châu.”

Hắn đưa mắt nhìn xung quanh, lạnh giọng nói: “Linh Hư Sơn Nhân, ngươi nghĩ bày ra một Minh Nguyệt Châu giả thì ta sẽ không vượt được tam chướng sao? Đây chỉ là huyễn tượng tà thuật, ngọn đèn mượn mệnh kia, ta nhất định phải diệt!”

“Lý Doanh” bị hắn đẩy ra, vẻ mặt uất ức, nàng chu môi, mềm mại gọi: “Thập Thất lang.”

Nàng áp sát vào hắn, thân hình mềm mại như không xương, giọng thủ thỉ: “Thập Thất lang, chàng đang nói gì vậy? Sao ta lại là giả được?”

Hắn nhíu mày định đẩy nàng ra lần nữa, nhưng nàng lại ôm chặt lấy hắn, cơ thể nàng ấm áp, thậm chí hắn còn cảm nhận được nhiệt độ nóng bỏng từ nàng. Lý Doanh thì thầm: “Thập Thất lang, vậy bây giờ, ta có thật không?”

Câu nói này, chính là lời nàng thổ lộ tâm ý với hắn ngày đó, chỉ có hai người mới biết. Lý Doanh ngẩng đầu, ánh mắt sâu thẳm: “Ta chỉ là một giấc mộng thôi sao?”

Thôi Tuần sững người, ký ức ùa về như cơn gió lạnh. Hắn vẫn nhớ như in ngày ấy, khi nàng nói câu này, ngay sau đó nàng đã bảo với hắn rằng nàng đem lòng yêu hắn. Những lời ấy là lời tỏ tình đầu tiên, cũng là duy nhất nàng dành riêng cho hắn. Vậy, nàng thật sự là Lý Doanh sao?

Trong khoảnh khắc đó, một nỗi hổ thẹn sâu sắc dâng trào, Thôi Tuần cảm thấy hối hận vì chính sự nghi ngờ vừa rồi của mình. Hắn hạ giọng xin lỗi: “Minh Nguyệt Châu, ta sai rồi, ta không nên hoài nghi nàng.”

Lý Doanh mỉm cười, rõ ràng không hề để bụng, nàng ngẩng đầu, ánh mắt đắm đuối nhìn hắn. Rồi bất ngờ, nàng vòng tay qua cổ hắn, nhón chân lên, áp môi mình vào môi hắn.

Đầu lưỡi nàng tinh nghịch, khéo léo tách đôi hàm răng hắn, xâm chiếm khoang miệng, khiến hai phiến môi hòa quyện chẳng rời.

Cả người Thôi Tuần phút chốc như sấm nổ giữa trời quang, mọi cảnh giác, phòng bị trong hắn vụn vỡ tan tành. Trí óc hắn trống rỗng, ngay cả hình bóng Linh Hư Sơn Nhân và đèn mượn mệnh cũng bị quét sạch. Chỉ có một ý nghĩ duy nhất quanh quẩn: Sao nàng có thể… hôn hắn chứ?

Nhưng chỉ ngay sau đó, một ý nghĩ khác lóe lên trong đầu: Không, nàng không thể hôn hắn. Hắn bẩn thỉu thế này, sẽ làm vấy bẩn nàng mất!

Bàn tay hắn vô thức muốn đẩy nàng ra, nhưng cơ thể mềm mại của nàng lại quấn chặt lấy hắn như một con rắn uốn lượn. Hắn không thể nhúc nhích, chỉ biết cứng đờ để mặc nàng dẫn dắt. Cho dù cố gắng kìm chế, hắn cũng không thể chống lại mùi hương ngọt ngào tỏa ra từ nàng. Bởi suy cho cùng, hắn vẫn là một nam nhân, làm sao hắn có thể chống lại khi nàng là người con gái hắn yêu nhất trên đời?

Hơi thở của hắn dần trở nên hỗn loạn, ý thức được kiềm chế chặt chẽ cũng dần trở nên mơ hồ. Hắn chẳng biết nụ hôn này kéo dài bao lâu, cũng chẳng hay từ khi nào cả hai đã ngã xuống nền đất. Hắn chỉ nhớ nàng đặt lên mắt hắn một nụ hôn nhẹ, rồi hôn lên mũi, xuống đến phần cổ, nơi có vết sẹo xấu xí do dây xích để lại.

Trong cơn mê loạn, đến khi Lý Doanh định c.ởi th.ắt l.ưng của hắn, Thôi Tuần bỗng tỉnh táo lại, vội vàng nắm lấy tay nàng, giữ chặt.

Lý Doanh tựa đầu lên ngực hắn, đôi môi nở một nụ cười khẽ. Nàng làm nũng: “Thập Thất lang, chẳng lẽ chàng không muốn ta sinh cho chàng một đứa con sao?”

“Đứa con…” Thôi Tuần lắp bắp, hắn thật sự chưa từng nghĩ tới.

Hoặc phải nói rằng, hắn chưa từng nghĩ có một ngày, hắn cũng sẽ có đứa con của riêng mình.

“Hồn ma cũng có thể sinh con mà.” Lý Doanh mỉm cười: “Huống hồ, ta là hồn ma được bốn vạn ngôi chùa thờ phụng, ta càng có thể sinh con.”

Nàng tựa vào ngực hắn, giọng nói phảng phất như từ xa vọng lại: “Thập Thất lang, mẫu thân chàng mất sớm, phụ thân đối xử tệ bạc với chàng, vì thế chàng chưa từng được hưởng tình thương của cha mẹ. Nhưng con của chúng ta sẽ khác, chàng sẽ thương yêu nó, ta cũng sẽ hết mực yêu thương nó. Nó sẽ không phải trải qua cuộc đời giống như chàng từng chịu đựng.”

Không thể phủ nhận, lời nàng nói như một sự hấp dẫn vô cùng lớn đối với Thôi Tuần. Trong thoáng chốc, hắn thật sự bắt đầu nghĩ, nếu hắn và Lý Doanh có con, hắn sẽ yêu thương đứa trẻ ấy thế nào. Nếu đó là một bé trai, hắn sẽ dạy nó cưỡi ngựa, bắn cung, dạy binh pháp, hành thảo, cả cách chơi đàn. Hắn sẽ truyền lại tất cả những gì hắn biết, dành trọn yêu thương cho nó, để nó không trở thành kẻ âm trầm, tàn nhẫn, khó gần giống như hắn. Còn nếu đó là một bé gái, hắn càng sẽ yêu thương gấp bội. Hắn sẽ nâng niu nó trong lòng bàn tay, mua thật nhiều đường phấn cho nó, để nó lớn lên trở thành người con gái thông minh, dịu dàng như mẫu thân nó. Hắn sẽ dùng cả tính mạng để bảo vệ nó, để cả đời nó không phải chịu bất kỳ khổ đau nào.

Lý Doanh hơi hé răng, cắn nhẹ lên xương quai xanh lộ ra sau lớp áo đã xộc xệch của Thôi Tuần. Giọng nàng miên man nhưng đầy mê hoặc: “Thập Thất lang, ta muốn sinh một đứa trẻ cùng chàng, chẳng lẽ chàng không muốn sao?”

Nàng nhích lên, nhẹ nhàng cắn vào yết hầu của hắn. Cả người Thôi Tuần run rẩy. Hắn bị nàng làm cho thần hồn điên đảo, lý trí tan biến. Tựa như hắn quên đi mọi thứ trên đời, chỉ còn muốn ở bên nàng mãi mãi, không bao giờ rời xa. Hắn khẽ nói: “Ta muốn. Ta muốn cùng nàng sinh con, muốn cùng nàng dài lâu mãi mãi.”

Nhưng thiếu nữ đang nằm trên người hắn bỗng nhiên thở dài: “Thế nhưng, chàng chỉ còn thọ mệnh mười năm, lại còn uống bừa dược hổ lang. Linh Hư Sơn Nhân nói, nếu chàng không dừng lại, thời gian còn lại sẽ chẳng quá năm năm. Chàng định sống dài lâu với ta thế nào? Hay chàng muốn con của chúng ta từ nhỏ đã không có cha?”

“Ta…” Chưa bao giờ Thôi Tuần cảm thấy hối hận về việc uống dược hổ lang như lúc này. Hắn nghẹn ngào: “Ta sai rồi, ta không nên giấu nàng, không nên uống loại thuốc ấy…”

“Thập Thất lang, chàng muốn sống tiếp không? Muốn thọ mệnh không chỉ ở con số mười năm, muốn cùng ta bên nhau dài lâu không?”

“Ta muốn.” Thôi Tuần vội đáp: “Ta không muốn chết, không muốn chỉ có mười năm thọ mệnh. Ta không muốn con của chúng ta chưa kịp lớn đã không còn cha. Minh Nguyệt Châu, ta không muốn chết. Ta muốn mãi mãi ở bên nàng.”

“Linh Hư Sơn Nhân nói ông ấy có cách. Ông ấy bảo đã sống tới hai trăm năm mươi tuổi, tất cả nhờ công lao của đèn mượn mệnh. Ông ấy bảo, đèn mượn mệnh có thể mượn được tuổi thọ của người khác. Chàng xem, ở đàn Vân Trạch có hàng vạn sinh hồn, chỉ cần chuyển số thọ của ai đó sang cho chàng, chàng sẽ không chỉ sống thêm mười năm. Chàng có thể nhờ Linh Hư Sơn Nhân làm phép kéo dài tuổi thọ, như thế, chàng có thể sống rất lâu, thoát khỏi sinh tử luân hồi, mãi mãi ở bên ta.”

Lý Doanh nằm rạp trên người hắn, ngón tay chạm nhẹ vào hàng mi dài rủ xuống của Thôi Tuần. Hàng mi ấy tựa cánh quạ đen nhánh, dày và rậm, đang khẽ run rẩy vì chủ nhân đang tình mê ý loạn. Lý Doanh nhẹ nhàng vuốt lên hàng mi mềm mại, chỉ cảm thấy như có lông vũ mềm nhẹ lướt qua đầu ngón tay, khiến nàng tê dại, ngưa ngứa. Nàng bật cười khúc khích: “Đến khi đó, chúng ta sẽ sinh rất nhiều đứa trẻ. Con trai sẽ tuấn tú như chàng, con gái sẽ xinh đẹp như ta. Một nhà chúng ta, mãi mãi bên nhau.”

Khi nàng đang tinh nghịch vuốt lên hàng mi của Thôi Tuần, hắn đột nhiên chậm rãi mở mắt. Đôi mắt vốn lấp lánh như mặt nước hồ mùa thu khi nãy, giờ đây lại lạnh giá như bị đóng băng. Lý Doanh khựng lại, chưa kịp phản ứng thì đã bị hắn thô bạo đẩy mạnh ra khỏi người. Thôi Tuần đứng dậy, phẩy mạnh tay áo như thể xua đi bụi bẩn, giọng nói sắc lạnh sương tuyết: “Ngươi không phải Minh Nguyệt Châu.”



Lý Doanh sững sờ, rồi chậm rãi đứng dậy. Nàng bước lên một bước, nhưng hắn lại lùi ra sau, thốt lên: “Cút đi.”

Bước chân của nàng dừng lại giữa không trung. Nàng dịu dàng nói: “Thập Thất lang, chàng làm sao vậy? Chàng nhìn khuôn mặt ta, nhìn dung mạo ta xem, ta biết những bí mật chỉ thuộc về chúng ta, ta có thể nói những lời tình tứ chỉ dành cho hai chúng ta. Vậy tại sao ta không phải là Minh Nguyệt Châu?”

Thôi Tuần chỉ lạnh giọng đáp: “Ngươi không phải.”

Hắn nói: “Minh Nguyệt Châu sẽ không khuyên ta dùng sinh hồn bách tính để nối dài tính mạng, càng không đồng lõa với Linh Hư Sơn Nhân. Cho nên, ngươi không phải Minh Nguyệt Châu, ngươi chỉ là một ảo ảnh.”

“Nhưng Minh Nguyệt Châu, nàng ấy cũng là một nữ tử, cũng là một nữ tử sợ mất đi tình lang của mình,” Lý Doanh buồn bã nói: “Chẳng lẽ Minh Nguyệt Châu nhất định phải lấy thiên hạ làm trọng? Chẳng lẽ nàng ấy không thể ích kỷ một lần vì người mình yêu sao?”

Thôi Tuần nhìn nàng, chậm rãi lắc đầu.

Nước mắt lấp đầy đôi mắt Lý Doanh, những giọt lệ long lanh, trong suốt như những hạt châu đứt chuỗi, rơi xuống tí tách: “Thập Thất lang, Minh Nguyệt Châu không phải Thánh nhân, nàng ấy chẳng có chí hướng lớn lao gì. Cả đời nàng ấy chỉ mong được ở bên người mình yêu mãi mãi. Nàng ấy chưa từng, chưa từng thích bất kỳ người đàn ông nào như thích chàng. Nàng ấy không muốn nhìn thấy chàng rời xa, càng không muốn thời gian bên nhau chỉ vỏn vẹn mười năm ngắn ngủi. Như vậy, cũng là sai sao? Nói cho cùng, Quỷ thôn và nàng ấy đâu có liên quan gì đâu? Bách tính trấn Đào Viên cũng chẳng có quan hệ gì với nàng ấy. Nàng ấy chỉ là một hồn ma đã chết ba mươi năm, còn là một hồn ma bị chính cha ruột của mình sát hại. Sau khi nàng ấy chết đi, bách tính đều vui mừng trước cái chết của nàng ấy. Vậy tại sao nàng ấy phải vì bách tính mà từ bỏ tình yêu cả đời mình? Tại sao, ngay cả chàng cũng không thể hiểu cho nàng ấy?”

Thôi Tuần lặng lẽ lắng nghe, hắn nhìn “Lý Doanh” trước mặt đang khóc nức nở, ánh mắt không chút thương tiếc. Đôi môi nhếch lên đầy giễu cợt: “Chính vì ta hiểu nàng ấy, nên ta mới khẳng định, ngươi không phải là Minh Nguyệt Châu.”

Hắn chậm rãi cất lời: “Minh Nguyệt Châu là người có trái tim thuần khiết nhất mà ta từng gặp. Nàng là chân ái của ta, nàng muốn cùng ta thiên trường địa cửu. Nhưng nếu cái giá phải trả cho sự thiên trường địa cửu ấy là hy sinh mạng sống của những người vô tội, nàng sẽ không làm. Nàng tuyệt đối sẽ vì d.ục v.ọng của bản thân mà tước đoạt quyền được sống của người khác.”

“Lý Doanh” không thể tin nổi, nàng nhìn Thôi Tuần chằm chằm: “Chàng tin nàng ấy đến vậy sao?”

Thôi Tuần gật đầu.

“Dựa vào đâu?”

“Dựa vào việc nàng là Minh Nguyệt Châu.” Ánh mắt của Thôi Tuần dần trở nên dịu dàng: “Thân như lưu ly, trong suốt từ ngoài vào trong, không chút tỳ vết, đó chính là Minh Nguyệt Châu.”

Lý Doanh bật cười chua chát, thở dài một tiếng: “Được, bỏ qua d.ục v.ọng của Minh Nguyệt Châu, vậy còn chàng? D.ục v.ọng của chàng thì sao? Chàng không muốn ở bên nàng ấy sao? Chàng không muốn cùng nàng ấy bách niên giai lão, sinh con đẻ cái sao? Thân thể chàng, ngay cả mười năm cũng không trụ được, chàng nhẫn tâm nhìn nàng ấy đau lòng khổ sở sau khi chàng ra đi ư? Chàng tàn nhẫn như thế, có xứng với những gì nàng ấy đã hy sinh vì chàng không?”

Thôi Tuần khựng lại. Giọng nói của Lý Doanh bỗng trở nên mềm mại, như có ma lực lôi cuốn: “Minh Nguyệt Châu giống như lưu ly, trong suốt vô tỳ, nhưng chàng thì khác. Chàng mang đầy tỳ vết, chàng không còn là người tốt nữa. Nếu đã vậy, sao chàng phải sinh mạng của con sâu cái kiến mà từ bỏ cơ hội kéo dài mạng sống của chính mình? Chỉ cần chàng muốn, chàng có thể siêu thoát luân hồi, trường thọ cùng trời đất, ở bên Minh Nguyệt Châu, sinh con đẻ cái, vĩnh viễn không rời.”

“Siêu thoát luân hồi, trường thọ cùng trời đất, ở bên Minh Nguyệt Châu, sinh con đẻ cái, vĩnh viễn không rời…” Thôi Tuần lặp lại, như đang cân nhắc.

Gương mặt “Lý Doanh” như ánh lên niềm vui: “Phải, chẳng lẽ chàng không muốn sao?”

“Nghe cũng rất mê hoặc, suýt chút nữa là ta đã động lòng.”

Khóe môi “Lý Doanh” dần cong lên, nhưng ngay khoảnh khắc sau, Thôi Tuần lại thở dài: “Tiếc thay, ta không muốn.”

“Lý Doanh” ngây người. Thôi Tuần nghiêm túc nói: “Đúng, ta mang đầy tỳ vết, không phải người tốt, ngay cả ta cũng cảm thấy ghê tởm bản thân mình. Nhưng nếu ta vì kéo dài mạng sống mà không màng đến sinh tử của những người này, Minh Nguyệt Châu… nàng ấy sẽ giận.”

“Lý Doanh” lặng người, không thốt nên lời. Thôi Tuần mỉm cười: “Ta từng nói với Minh Nguyệt Châu rằng, ta muốn làm người, không muốn làm quỷ. Nếu có thể làm người, dù chỉ sống thêm mười năm, thì đã sao?”

Thôi Tuần chăm chú nhìn thiếu nữ trước mặt, dung mạo giống hệt Lý Doanh. Hắn trầm giọng nói: “Ngươi là d.ục v.ọng của ta, là cái ác của ta, ngươi không phải Minh Nguyệt Châu.”

Hắn khép mắt lại: “Kiếm đâu!”

Khi mở mắt, trong lòng bàn tay đã hiện ra một thanh kiếm bạc, ánh kiếm lạnh lẽo lóe lên. Thôi Tuần v.uốt ve thanh kiếm, ngẩng đầu nhìn thiếu nữ trước mắt. Nàng mang dáng vẻ giống hệt người hắn yêu thương, người mà hắn đã thề dùng sinh mệnh bảo vệ. Nếu hắn phán đoán sai, nếu người trước mặt thực sự là nàng, nếu nàng thật sự có tư tâm, thì hắn sẽ phạm phải một sai lầm không thể tha thứ.

Nhưng Thôi Tuần chỉ chậm rãi nói từng chữ một: “Ngươi, không phải, Minh Nguyệt Châu.”

Nói dứt lời, hắn dứt khoát vung kiếm, thanh kiếm bạc xuyên thẳng qua lồng ng.ực thiếu nữ. Máu đỏ thẫm theo mũi kiếm chảy xuống. Thiếu nữ kinh ngạc nhìn hắn, đôi mắt tràn đầy khó tin, nhưng trong mắt hắn lại lạnh lùng đến mức không hề lộ ra chút dao động nào. Thiếu nữ cười chua chát, dang rộng hai tay, ngả người về phía sau. Thân hình nàng chạm đất trong giây khắc, hóa thành khói bụi bay biến.

Thôi Tuần nhàn nhạt nhìn hết thảy, làn sương trắng đậm đặc lại một lần nữa xuất hiện, bao phủ toàn bộ mặt đất.

Hồi lâu, hắn bật ra một tiếng cười nhạt: “Tai chướng.”

Vì tai kiếp mà gặp chướng ngại.

Hắn từng trải qua bao khổ nạn, bị cực hình giày vò, thân thể tổn hại đến mức chỉ còn mười năm thọ mệnh. Đó chính là tai của hắn. Nếu hắn chấp nhận phương pháp kéo dài sinh mệnh của Linh Hư Sơn Nhân, hy sinh mạng sống của những người vô tội, thì chướng ngại này, hắn vĩnh viễn không thể vượt qua.

Điều hắn sợ nhất trong mười năm còn lại, chính là không thể ở bên Lý Doanh. Hắn khát khao có thể sống trọn đời cùng nàng, sinh con dưỡng cái. Ảo cảnh do đèn mượn mệnh tạo nên lại khuếch đại nỗi sợ ấy, khiến d.ục v.ọng trong lòng hắn càng thêm mãnh liệt. Dùng Lý Doanh để làm hắn không vượt qua được chướng ngại, nhưng nào ngờ, chính nhờ có nàng mà hắn mới có thể vượt qua.

Hắn vẫn luôn nghĩ rằng, chỉ cần bản thân có thể trở nên tốt hơn, xứng đáng với nàng hơn.

Như vậy, một ngày nào đó, hắn cũng có thể dũng cảm đưa tay ra, ôm lấy nàng.

Ý niệm thiện lương ẩn sâu này cuối cùng đã lấn át tà niệm trong hắn, trở thành cọng rơm cứu mạng của hắn.

Sương trắng quẩn quanh, che lấp bóng dáng Thôi Tuần. Sau tai chướng, vẫn còn ma chướng, nghiệp chướng.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 110: Nghiệp chướng


Khi màn sương trắng tan dần, trước mắt Thôi Tuần hiện ra một tòa thành khổng lồ được xây từ đá tảng. Thành trì bốn phía được bao quanh bởi những bức tường cao ngất chạm đến mây, khiến nơi đây càng giống một ngục giam không lối thoát. Hắn dừng mắt trên tấm bảng gỗ treo trước cổng thành. Ba chữ lớn viết bằng máu đỏ rực, nét bút rồng bay phượng múa: “Vong Tử Thành.”

Đây… chính là Vong Tử Thành sao?

Năm vạn đồng liêu của hắn, đang ở trong Vong Tử Thành này sao…

Thôi Tuần bất giác tiến về phía cổng thành. Khi hắn đến gần, từng cánh cửa đá nặng nề lần lượt mở ra. Lúc bước qua cánh cửa cuối cùng, trước mắt hắn là một hàng dài những lao ngục hẹp lạnh, được xây bằng những khối đá dày cộp. Mỗi lao ngục chỉ có một cánh cửa sắt ra vào, trên cửa sắt là một ô cửa sổ song sắt hẹp. Tiếng khóc than ai oán của vô số oan hồn vọng ra từ sau những song sắt ấy, khiến người ta dựng cả tóc gáy.

Bỗng nhiên, cánh cửa sắt bên trái hắn phát ra tiếng “kẽo kẹt” mở ra. Hắn theo hướng mở cửa mà nhìn vào, ánh mắt lập tức chấn động, nhanh chóng bước vào bên trong.

Ngay khoảnh khắc hắn bước qua, cánh cửa sắt khép lại sau lưng, hoàn toàn cách ly hắn với thế giới bên ngoài.

Nhưng Thôi Tuần chẳng hề hay biết, hắn chỉ nhanh chân đi đến bên thiếu niên bị xiềng xích trói chặt toàn thân. Ánh sáng yếu ớt từ kẽ hở khung sắt rọi vào, khiến dung mạo thiếu niên lờ mờ hiện lên trong bóng tối. Thôi Tuần run giọng: “Tào Ngũ!”

Trong quân Thiên Uy, Tào Ngũ tuổi tác xấp xỉ hắn, quan hệ giữa hai người vô cùng thân thiết. Cơ thể Tào Ngũ vẫn còn đầy những vết thương ngang dọc do đao kiếm của quân Đột Quyết gây ra. Tứ chi cậu bị xích sắt dày như miệng bát khóa chặt, xích sắt ngoằn ngoèo ghim sâu vào vách đá, khiến cậu không thể cử động. Tào Ngũ quỳ gối trên mặt đất, đầu cúi thấp, không rõ sống chết.

Thôi Tuần quỳ một gối xuống, lập tức dùng kiếm chém vào sợi xích sắt giam giữ trước mặt. Xích sắt rung chuyển, khiến Tào Ngũ ngẩng đầu, ánh mắt mờ mịt. Cậu lẩm bẩm: “Thập Thất lang…”

Mắt Thôi Tuần đã đỏ hoe, hắn gật đầu đáp: “Thập Thất lang đây. Thập Thất lang tới cứu huynh đây.”

Hắn giơ kiếm chém mạnh vào xiềng xích đang trói buộc Tào Ngũ. Nhưng dù hắn dốc toàn lực, lưỡi kiếm đã mẻ đến cuốn lên, thì sợi xích vẫn không hề có lấy một vết nứt. Tào Ngũ lắc đầu: “Thập Thất lang… vô ích thôi…”

“Không, chắc chắn được! “Thôi Tuần vung thanh kiếm bạc, dồn hết sức chém xuống. Kiếm bật trở lại, lực phản chấn làm lòng bàn tay hắn tê rần, vết thương cũ ở cổ tay nhói lên như kim đâm. Cơn đau buốt khiến hắn không cầm chắc được kiếm, lưỡi kiếm rơi xuống đất.

Thôi Tuần ngây người nhìn thanh kiếm bạc rơi xuống. Phải rồi, hắn đâu còn là Thập Thất lang của Thiên Uy quân, người từng kéo được cung ba thạch ngày nào nữa. Giờ đây, hắn chỉ là một kẻ bệnh tật yếu nhược, ngay cả xích sắt cũng không chém đứt nổi.

Nhưng dù là vậy, hắn vẫn phải cứu Tào Ngũ.

Hắn cắn răng, cúi xuống nhặt thanh kiếm bạc. Tào Ngũ bỗng gọi: “Thập Thất lang!”

Hắn ngẩng đầu, thấy Tào Ngũ cười khổ: “Thập Thất lang, dù huynh có chém thế nào cũng vô ích thôi.”

Tào Ngũ nói: “Đây là xích sắt giam hãm oán khí, binh khí thường không thể chém đứt được.”

“Oán khí sao…”

Tào Ngũ gật đầu: “Chúng ta bị giết oan, chết thảm ở Lạc Nhạn Lĩnh, ai nấy đều oán khí ngút trời, muốn hóa thành lệ quỷ để báo thù kẻ đã hại mình. Cố Thành Vương sợ chúng ta gây họa nhân gian nên đã giam giữ chúng ta ở Vong Tử thành, xiềng xích trói buộc, trấn áp oán khí. Không chỉ mình ta, mà năm vạn binh sĩ Thiên Uy quân đều chịu cảnh này.”

Nói cách khác, năm vạn tướng sĩ Thiên Uy quân đều bị giam cầm trong Vong Tử Thành theo cách này.

Thôi Tuần quỳ trước mặt Tào Ngũ, hai tay chống đất, đầu cúi thấp, nỗi thống khổ dâng tràn nhấn chìm hắn: “Vì ta vô dụng, ta không thể giúp các huynh được rửa oan, khiến các huynh phải chịu cảnh giam cầm ở Vong Tử Thành tận sáu năm. Các huynh đã đối xử với ta tốt như thế, ta thật có lỗi với các huynh…”

Tào Ngũ nói: “Không đâu, Thập Thất lang, huynh đã cố gắng hết sức rồi, huynh làm rất tốt. Chỉ là trời không đứng về phía chúng ta. Nhưng, giờ đây chúng ta đã có cơ hội.”

Thôi Tuần ngẩng đầu, vẻ mặt mờ mịt. Tào Ngũ nói: “Thập Thất lang, chỉ cần huynh muốn, đèn mượn mệnh sẽ là của huynh. Hỏi xem thiên hạ này, ai không sợ chết? Ai không muốn trường sinh bất lão? Chỉ cần huynh có đèn mượn mệnh, huynh sẽ có tất cả. Đến cả những đế vương quyền quý cũng phải quỳ xuống cầu xin huynh. Khi đó, muốn rửa oan cho chúng ta, chẳng phải chỉ là một câu nói của huynh thôi sao?”

Thôi Tuần lẩm bẩm: “Đèn mượn mệnh…”

Tào Ngũ gật đầu: “Đúng vậy, đèn mượn mệnh. Thập Thất lang, chúng ta đã chờ sáu năm rồi, cuối cùng cũng không phải chờ nữa. Huynh không vui sao?”

Thôi Tuần ngây ngốc nhìn hắn, bỗng lắc đầu: “Không, ngươi không phải là Tào Ngũ.”

Hắn thì thầm: “Ngươi là… ma chướng, là tâm ma của ta.”

Cả đời này, tâm ma lớn nhất của hắn chính là thảm án ở Lạc Nhạn Lĩnh. Hắn mãi không thể vượt qua được tâm ma ấy, vì thế đã biến mình thành một La Sát đầy máu tanh của địa ngục, một kẻ ngay cả bản thân hắn cũng căm ghét.

Thôi Tuần siết chặt hai tay, nắm lấy những cọng rơm rơi vãi dưới đất: “Ta sẽ vượt qua tâm ma này… sẽ vượt qua được…”

Tào Ngũ bỗng nổi cơn thịnh nộ. Cậu muốn túm lấy vai Thôi Tuần nhưng tứ chi bị xích sắt khóa chặt, không thể nhúc nhích dù chỉ một chút. Chuỗi xích phát ra âm thanh loảng xoảng chát chúa, Tào Ngũ gào lên: “Sao ta lại là tâm ma của huynh được? Chuyện ta bị nhốt ở Vong Tử Thành không phải thật sao? Chuyện bọn Hà Cửu bị nhốt ở Vong Tử Thành này chẳng nhẽ cũng không phải là thật sao? Năm vạn người! Những năm vạn người! Tất cả đều bị giam trong tòa thành tối tăm không thấy ánh mặt trời này, bị giam suốt sáu năm trời! Dù Bùi Quan Nhạc và những người khác đã chết, chúng ta vẫn không thoát ra được! Vì sao chứ? Chỉ vì oán khí của chúng ta quá nặng, đến mức Cố Thành Vương cũng khó lòng trấn áp nổi! Thập Thất lang, đời đời kiếp kiếp chúng ta đều không thể siêu sinh! Chúng ta sẽ vĩnh viễn bị kẹt lại nơi đây!”

Thôi Tuần lặng người, trong khi giọng của Tào Ngũ càng thêm phẫn nộ: “Chúng ta đối xử tệ với huynh lắm sao? Hay huynh không muốn giúp chúng ta báo thù? Huynh vẫn sống, nhưng chúng ta đã chết cả rồi! Ngay cả mẹ ta, cũng đã chết! Nhà họ Tào diệt môn! Mười bốn tuổi ta nhập ngũ, tận trung báo quốc, đây là kết cục mà ta đáng nhận được sao? Thập Thất lang, huynh nói cho ta biết, nói cho ta biết đi!”

Nước mắt không kìm được, trào ra từ hốc mắt Thôi Tuần: “Không phải, đây không phải là kết cục mà huynh đáng phải chịu, đây không phải là điều các huynh đáng phải nhận!”

“Đã biết vậy, tại sao huynh vẫn quan tâm sống chết của những bách tính kia? Bọn họ đã làm gì cho huynh? Đã làm gì cho ta? Bọn họ chỉ biết mắng chửi người khác một cách vô căn cứ. Bọn họ mắng huynh là kẻ đầu hàng Đột Quyết, mắng chúng ta là đám tướng lĩnh thất bại tham công danh, đem tội lỗi mất sáu châu Quan Nội Đạo đổ hết lên đầu chúng ta. Nhưng chúng ta sai ở đâu? Chúng ta bị oan cơ mà! Chúng ta chiến đấu đến phút cuối cùng cũng không đầu hàng, ngay cả trước khi chết, ta còn giết ba tên binh lính Đột Quyết! Chúng ta vì bảo vệ những bách tính này mà đổ giọt máu cuối cùng, nhưng bọn họ thì sao? Sau khi ta chết, bọn họ chà đạp mẫu thân ta, chà đạp muội muội của Vân Đình là A Man, chà đạp cha mẹ, thân nhân mà tất cả chúng ta đều vương vấn. Thập Thất lang, huynh biết vì sao oán khí của chúng ta trong Vong Tử Thành lại ngày một nặng không? Chính vì thế đó! Huynh bảo chúng ta làm sao không hận? Huynh thật sự muốn vì đám người đó mà không màng đến nỗi oan khuất của chúng ta sao?”

Thôi Tuần sững người, không thốt nên lời, nước mắt tí tách rơi xuống nền đá cứng lạnh. Tào Ngũ dịu giọng: “Thập Thất lang, huynh đừng quản chuyện của bọn họ nữa. Trước kia huynh đâu có bận tâm đến bọn họ, tại sao bây giờ lại phải bận tâm?”

Thôi Tuần quỳ trên mặt đất, nỗi đau trong lòng hắn như hàng vạn lưỡi dao sắc nhọn từng nhát từng nhát xuyên thấu tim, đau đớn đến mức hắn gần như không thể thở nổi. Hắn siết chặt tay, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay. Lâu sau, hắn mới ngẩng đầu lên, nhìn chăm chú vào khuôn mặt trẻ trung của Tào Ngũ. Tào Ngũ mãi mãi dừng lại ở năm mười bảy tuổi.

Người bạn tốt nhất của hắn, người huynh đệ mà hắn từng hết lòng tin tưởng, sẽ không bao giờ trở về được nữa.

Tâm ma trong lòng Thôi Tuần ngày càng lớn mạnh, như màn sương đen đặc nuốt chửng lấy trái tim hắn.

Khi hắn sắp rơi vào vòng xoáy của tâm ma, trước mắt bỗng hiện lên bóng dáng thiếu nữ dịu dàng. Nàng mang theo nét mặt vừa bi thương vừa xót xa, như thể đang nói: “Thôi Tuần, chàng đừng nhập ma.”

Nàng nói: “Chàng hãy làm người, đừng làm quỷ, càng không được nhập ma.”

Thôi Tuần bỗng nhiên rùng mình, như có dòng nước lạnh lẽo tạt qua, hắn lập tức bừng tỉnh.

Ngẩng đầu lên, hắn nhìn về phía Tào Ngũ, ánh mắt mờ mịt, giọng khẽ khàng: “Tào Ngũ, trước kia ta đã sai… Ta đã làm quá nhiều chuyện sai lầm, ta không muốn tiếp tục sai lầm nữa… Ta không thể vì hận thù của riêng mình mà chôn vùi sinh mạng của hàng vạn dân chúng vô tội… Kẻ đầu sỏ chính là đám Bùi Quan Nhạc, không phải những người dân này. Dù họ có từng mắng ta, mắng huynh, họ cũng không đáng chết. Tào Ngũ, ta hứa với huynh, hứa với tất cả huynh đệ của Thiên Uy quân, ta sẽ giúp các huynh rửa sạch nỗi oan, sẽ đưa các huynh thoát khỏi Vong Tử Thành, để các huynh không còn mang oán khí và được đầu thai. Một ngày nào đó, thiên hạ sẽ biết rằng Thiên Uy quân không phải là bại tướng hèn nhát, mà là những người con anh dũng nhất của Đại Chu. Tất cả dân chúng Đại Chu đều sẽ tự hào về các huynh.”

Hắn chậm rãi nhặt thanh kiếm bạc dưới đất: “Còn ta, sẽ không để tâm ma chi phối mình nữa. Ta cũng không muốn trở thành La Sát của địa ngục.”

Kiếm bạc dứt khoát xuyên qua lồng ng.ực Tào Ngũ. Dù bị kiếm bạc xuyên tim nhưng Tào Ngũ lại nở một nụ cười quỷ dị. Tiếng cười của cậu không còn là giọng của Tào Ngũ mà trở nên the thé, sắc lạnh: “Đừng vội, còn nghiệp chướng, đang đợi ngươi đấy.”



Nghiệp chướng, vì ngũ nghịch thập ác mà thành.

Nghiệp chướng, chính là quả của ác nghiệp.

Tào Ngũ và Vong Tử Thành đã biến mất, Thôi Tuần ngơ ngác nhìn quanh. Ba năm hắn đảm nhận chức Thiếu khanh Sát Sự Thính, làm chó săn cho hoàng gia, những tội ác hắn đã gây ra, hắn không thể chối cãi, cũng không thể biện bạch.

Hắn không biết sẽ phải đối mặt với ai, chỉ mơ hồ đoán rằng nghiệp chướng lần này chính là thử thách khó vượt qua nhất trong ba cửa ải của hắn.

Trước mắt Thôi Tuần hiện ra một dòng sông u tối ngoằn ngoèo, mặt sông mờ mịt khói sương, hai bờ cỏ cây không mọc nổi, bên sông có một con đò nhỏ neo lại, trên đò là một người lái đò đang cầm sào đứng đó. Thôi Tuần bước đến gần, cất tiếng hỏi: “Nhà đò, đây là sông gì?”

Người lái đò ngẩng đầu, đáp nhẹ nhàng: “Nại Hà.”

“Nại Hà?” Thôi Tuần kinh ngạc. Qua sông Nại Hà, chính là nơi đầu thai chuyển thế. Vì sao lại đưa hắn tới đây?

Giữa màn sương, một bóng dáng yểu điệu trong bộ váy đỏ trắng đan xen chầm chậm tiến tới, đó là Lý Doanh.

Nàng bước thẳng về phía chiếc đò, thần sắc trên mặt vô cùng nhẹ nhõm, như thể sắp hoàn thành một việc mà nàng mong ước từ lâu. Người lái đò lẩm bẩm: “Nàng tới để qua sông.”

“Qua sông?”

Nhưng bá phụ của hắn vẫn còn sống, sao nàng có thể qua sông?

Người lái đò đáp: “Nàng đã tra ra hung thủ giết nàng là Vương Nhiên Tê, Vương Nhiên Tê đã chết, vì vậy nàng đến để qua sông.”

Thôi Tuần bừng tỉnh, thì ra đây không phải là hiện tại, mà là thời điểm hắn và Lý Doanh vừa mới quen biết. Khi ấy, hắn đã lừa nàng vào Địa phủ.

Lúc ấy, hắn không muốn giúp nàng, cũng chẳng dám đắc tội với Thái hậu. Hắn biết rõ Vương Nhiên Tê không phải hung thủ giết nàng, nhưng vẫn lừa nàng, để nàng vui vẻ bước vào Địa phủ đầu thai.

Dưới Địa phủ hẳn nàng đã chịu không ít khổ ải, nhưng cuối cùng vẫn tha thứ cho hắn. Nàng nói, hắn đã giúp nàng tra án, chịu trăm trượng phạt, suýt mất nửa cái mạng, nên nàng và hắn coi như xong nợ. Nàng thật sự chưa từng nhắc lại chuyện xảy ra ở Địa phủ, cũng chưa từng nói làm cách nào nàng thoát khỏi nơi đó. Nhưng nàng không nhắc, còn lòng hắn thì không ngày nào nguôi nỗi hổ thẹn. Trong những đêm mộng mị, hắn đều tự hỏi mình: Thật sự đã xong nợ hay chưa?

Nàng khiến hắn chịu trăm trượng phạt, nhưng chỉ là vô tình, chứ chưa từng cố ý. Còn hắn đẩy nàng vào thế vạn kiếp bất phục dưới Địa phủ lại là chủ ý của hắn, là ý muốn thực sự của hắn. Hắn không thể chỉ vì lòng nhân hậu, vì sự rộng lượng của nàng, mà làm như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Thôi Tuần cảm thấy mơ hồ, Lý Doanh đã tiến lại bên đò nhỏ. Nàng tựa như không nhìn thấy hắn, cất tiếng chào hỏi với người lái đò: “Nhà đò, ta muốn qua sông.”

Thôi Tuần kinh hãi, hắn muốn níu lấy tay áo nàng, ngăn nàng vượt sông, nhưng đầu ngón tay lại xuyên qua lớp vải. Hắn không thể chạm vào nàng, trước mặt nàng, hắn chỉ là một bóng dáng hư ảo.

Thôi Tuần như bừng tỉnh khỏi cơn mê. Để hắn tận mắt chứng kiến hậu quả từ tội lỗi của mình, đây chính là nghiệp chướng của hắn.

Hắn sợ hãi đến mức thân thể khẽ run rẩy, chặn trước mặt Lý Doanh: “Minh Nguyệt Châu, nàng đừng qua sông. Ta lừa nàng đấy, nàng không thể nào vượt qua Nại Hà.”

Nhưng Lý Doanh hoàn toàn không hay biết, nàng nhẹ nhàng bước lên đò, nói: “Nhà đò, ta đã đợi ba mươi năm, cuối cùng cũng có thể đầu thai. Kiếp trước ta chưa từng làm điều gì xấu, ngài nói xem, ta có thể đầu thai vào một gia đình tốt không?”

Người lái đò im lặng, chỉ cầm sào chuẩn bị đẩy đò. Thôi Tuần hoảng loạn, muốn ngăn cản nàng, nhưng cơ thể hắn như bị giữ chặt tại chỗ, không thể tiến thêm một bước. Hắn hướng về người lái đò khẩn cầu: “Nhà đò, xin đừng để nàng qua sông. Nàng sẽ chết mất!”

Người lái đò chỉ nhàn nhạt đáp: “Nếu nàng chết, chẳng phải chính là nghiệp của ngươi sao?”

Thôi Tuần sững sờ, người lái đò cười khẽ, đẩy nhẹ sào, con đò nhỏ bắt đầu lững lờ trôi về phía bờ bên kia của Nại Hà.

Giữa dòng sông, mặt nước đột nhiên nổi sóng lớn, đẩy thuyền chao đảo dữ dội. Sắc mặt Lý Doanh tái nhợt: “Chuyện gì thế này?”

Người lái đò đáp: “Bởi vì Thôi Tuần lừa cô. Người giết cô không phải Vương Nhiên Tê, nên cô không thể đầu thai, càng không thể qua sông.”

Đôi mắt Lý Doanh mở to: “Thôi Tuần… lừa ta? Vì sao chàng lại lừa ta? Vì sao?”

Những câu hỏi vang lên dồn dập, cuối cùng biến thành lời chất vấn đẫm máu lệ.

Giữa dòng Nại Hà, nỗi uất hận tràn ngập trong lòng Lý Doanh, còn bên bờ sông, Thôi Tuần chỉ biết chìm trong niềm ân hận.

Sóng dữ cuồn cuộn, con đò bất ngờ lật úp. Lý Doanh chìm xuống lòng Nại Hà. Hồn phách nàng bị quái thú Ba Nhân Tượng nuốt chửng, máu tươi từ cơ thể nàng chầm chậm loang ra, nhuộm đỏ cả dòng sông, thậm chí tràn lên bờ, thấm đến chân Thôi Tuần.

Hàm răng hắn nghiến chặt, đôi gối khuỵu xuống, bất lực quỳ gục trên mặt đất đỏ như máu. Ngón tay hắn bấu sâu vào lớp đất ướt, để lại từng vệt hằn sắc đỏ ghê rợn.

Hắn thừa biết đây chỉ là ảo ảnh do đèn mượn mệnh tạo ra, là chướng ngại cuối cùng trong tam chướng – nghiệp chướng. Chướng ngại này không giống hai chướng ngại trước, không dùng đủ cách mê hoặc hắn khiến hắn lầm tưởng đây là thực. Nó trực tiếp chỉ rõ đây là chuyện đã xảy ra, là hư ảo. Thế nhưng, hắn vẫn không thể vượt qua được chướng ngại này.

Nàng suýt chút nữa đã chết ở Địa phủ, suýt chút nữa bị quái thú Ba Nhân Tượng nuốt chửng, chỉ vì lời nói dối của hắn.

Hắn suýt nữa đã giết nàng.

Tội lỗi của hắn, cả đời này cũng không thể trả hết.

Khói trắng dần tan biến, Thôi Tuần bừng tỉnh nhận ra, hắn lại quay về đạo đàn, ngón tay vẫn còn kẹp chặt lấy bấc đèn của đèn mượn mệnh.

Nhưng hắn không dập tắt ngọn đèn, ngược lại, ngón tay buông lỏng, đèn mượn mệnh trượt khỏi tay hắn, rơi xuống dưới đạo đàn, ngọn lửa ma quái, lại càng thêm sáng rõ.

Thôi Tuần đã quỳ một gối, một ngụm máu tươi từ cổ họng phun ra, văng xuống đạo đàn bằng gỗ.

Nhờ có Lý Doanh nên hắn vượt qua được tai chướng và ma chướng, nhưng cũng chính vì Lý Doanh mà cả đời hắn đều không thể vượt qua nghiệp chướng.

Hắn không thể dập tắt được đèn mượn mệnh.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 111: Lựa chọn


Thôi Tuần bị đèn mượn mệnh làm trọng thương, máu tươi trào ra miệng, quỳ rạp dưới đất. Đám ám thám của Sát Sự Thính kinh hãi, vội vàng lao tới trước mặt hắn: “Thiếu khanh!”

Đúng lúc này, Linh Hư Sơn Nhân và Lý Doanh cũng vừa đến đàn Vân Trạch. Thấy cảnh tượng trước mắt, Linh Hư Sơn Nhân khựng lại một thoáng rồi lập tức phản ứng, một lá bùa vàng óng từ trong tay áo lão trượt ra, bùa vừa chạm vào đầu ngón tay đã bốc cháy, một làn hương kỳ dị lập tức lan tỏa trên lễ đàn.

Thôi Tuần biết ngay không ổn, nhưng hắn chưa vượt qua nghiệp chướng, lại bị tà thuật đả thương, yếu ớt đến mức ngón tay cũng không nhấc lên nổi. Hắn cố chống đỡ, dặn dò ám thám đỡ mình: “Nhanh! Giết lão!”

Những năm viên ám thám chưa kịp giương cung, thì dây leo bỗng mọc lên từ đàn tế gỗ, trói chặt đôi chân họ. Bọn họ hoảng sợ, rút dao găm bên hông chém loạn xạ, nhưng dây leo lại quấn lên cả đôi tay, khiến họ không thể động đậy.

Thôi Tuần nghiến răng, nhìn những ám thám vùng vẫy trong không trung liền biết họ đã trúng tà thuật của Linh Hư Sơn Nhân. Linh Hư Sơn Nhân bật cười lạnh, định cúi người nhặt đèn mượn mệnh rơi dưới đất. Nhưng ngay lúc lão mải dùng tà thuật đối phó ám thám, thì Lý Doanh đã tiến lại từ đằng sau. Ngọn quỷ hỏa trong tay nàng hóa thành một dải lụa xanh biếc, nhân lúc lão sơ hở, đã cuốn lấy ngọn đèn mượn mệnh rơi trên mặt đất.

Linh Hư Sơn Nhân thất kinh thất sắc, định đoạt lại, nhưng tà váy của Lý Doanh lướt nhẹ, nàng đã tránh sang bên, khiến lão không chạm nổi tới gấu váy. Lý Doanh không nhiều lời, nắm chặt đèn mượn mệnh, đầu ngón tay kẹp lấy bấc đèn, chuẩn bị nhổ bật gốc. Linh Hư Sơn Nhân vốn không hề lo lắng, bởi lão đã bố trí ba chướng ngại trên bấc đèn: tai chướng, ma chướng, nghiệp chướng. Lòng người sinh ra tam chướng, ba chướng tạo thành mười điều ác. Thế gian này, ai là kẻ không có ác niệm trong lòng? Ai là kẻ có thể vượt qua tam chướng?

Lão tự tin nhìn Lý Doanh sẽ rơi vào tam chướng, giống như Thôi Tuần bị tà thuật đánh trọng thương. Nhưng Lý Doanh không hề có phản ứng gì, thậm chí đã sắp rút được bấc đèn. Linh Hư Sơn Nhân kinh hãi tột cùng, song điều này lại nằm trong dự liệu của Thôi Tuần. Bởi trong lòng Lý Doanh không vương chút ác niệm nào, không có ác niệm thì sao có thể sinh ra tam chướng? Thế nên, phù chú của đèn mượn mệnh hoàn toàn vô dụng với nàng.

Khóe môi hắn nhếch lên, ánh mắt thoáng hiện ý cười dịu dàng. Thân như lưu ly, trong sáng ngoài sạch, không chút tì vết, đó chính là Minh Nguyệt Châu. Minh Nguyệt Châu và hắn, quả nhiên không giống nhau.

Linh Hư Sơn Nhân đã sợ hãi đến cực độ. Lão liếc nhìn Thôi Tuần bị thương nặng, tay áo phất nhẹ, cây phất trần trong tay đột nhiên bật mở, lộ ra một thanh trường kiếm giấu bên trong. Lão cầm kiếm uy h**p Thôi Tuần, quát lớn với Lý Doanh: “Dừng tay!”

Lý Doanh ngẩng đầu, ngây người tại chỗ. Linh Hư Sơn Nhân lạnh giọng: “Công chúa Vĩnh An, ngươi và vị lang quân này tình sâu ý đậm, chắc ngươi cũng không muốn nhìn thấy hắn chết đâu, đúng không?”

Trường kiếm kề sát yết hầu của Thôi Tuần, tạo ra một vết cắt, máu đỏ nhỏ giọt từ mũi kiếm. Bàn tay đang nắm lấy bấc đèn của Lý Doanh không khỏi khựng lại, sắc mặt nàng lập tức tái nhợt. Nàng buột miệng kêu lên: “Đừng động vào chàng!”

Linh Hư Sơn Nhân cười lớn: “Công chúa Vĩnh An, khi nãy ngươi còn bảo với bần đạo rằng ngươi giận lang quân, không muốn tha thứ nữa. Nhưng vừa thấy hắn bị thương, ngươi đã hoảng hốt thế này, cơn giận ấy hẳn đã bay tới chín tầng mây rồi. Vậy ngươi đủ nhẫn tâm, không màng đến tính mạng của lang quân hay không?”

Ngón tay Lý Doanh suýt nữa không giữ nổi đèn mượn mệnh, ánh mắt nàng tràn đầy hoảng loạn và bất lực. Linh Hư Sơn Nhân lại nói: “Trả đèn mượn mệnh cho bần đạo, bần đạo sẽ thả lang quân của ngươi, thậm chí còn có thể chữa lành bệnh cho hắn, giúp hắn có thêm mười năm tuổi thọ, khi đó hai người các ngươi có thể sớm tối bên nhau, bạch đầu giai lão.”

Sớm tối bên nhau… bạch đầu giai lão…

Lý Doanh rúng động. Trước khi gặp Thôi Tuần, điều nàng khát khao nhất là sớm đầu thai, trở lại làm người. Nhưng sau khi gặp hắn, nàng không còn muốn chuyển thế nữa, chỉ mong được ở cạnh hắn đến trọn đời. Những lời của Linh Hư Sơn Nhân đã đánh trúng tâm tư nàng, thật sự quá mức cám dỗ.

Một làn hương lạ len lỏi vào chóp mũi, khơi dậy khát vọng ấy trong lòng nàng càng lúc càng mãnh liệt. Thần sắc Lý Doanh dần trở nên mơ hồ, bàn tay đang giữ chặt bấc đèn cũng dần buông lỏng. Linh Hư Sơn Nhân thấy thế, mừng rỡ reo lên: “Phải rồi, chính là như vậy, mau giao lại đèn mượn mệnh cho bần đạo…”

Nhưng ngay lúc ấy, Thôi Tuần đang bị Linh Hư Sơn Nhân khống chế đã gọi tên nàng: “Minh Nguyệt Châu.”

Lý Doanh giật mình, ngơ ngác nhìn sang. Thôi Tuần bị trọng thương, sắc mặt trắng bệch như tuyết, khóe môi còn vương chút máu đỏ tươi, càng làm làn da hắn thêm tái nhợt. Dù giọng nói hắn rất khẽ, nhưng lọt vào tai nàng lại vô cùng rõ ràng. Hắn cười, ôn tồn nói: “Minh Nguyệt Châu, nàng là người có trái tim lưu ly. Đừng để tà thuật che mờ bản chất.”

Trái tim lưu ly…

Trước kia, khi Thôi Tuần hỏi nàng là người thế nào, nàng chỉ cười đáp mình chẳng có chí hướng gì lớn lao. Nhưng hắn lại lắc đầu, bảo nàng là người có trái tim như lưu ly.

Trái tim lưu ly, trong sáng thuần khiết, không vướng bụi trần.

Lý Doanh rùng mình, cảm giác mê man chợt tan biến, làn hương kỳ dị cũng theo đó mà nhạt dần. Ngón tay vừa buông lỏng lại siết chặt lấy bấc đèn.

Linh Hư Sơn Nhân tức giận, mũi kiếm nơi cổ Thôi Tuần lại ấn sâu hơn, máu đỏ từ làn da trắng ngần tuôn ra không ngớt. Lão lạnh giọng đe dọa: “Câm miệng!”

Lý Doanh hoảng hốt kêu lên: “Ngươi mau dừng tay! Nếu còn làm chàng bị thương, ta sẽ đập nát ngọn đèn này!”

Linh Hư Sơn Nhân cười nhạt, không hề nao núng: “Nếu ngươi dám phá đèn mượn mệnh, bần đạo lập tức lấy mạng hắn!”

Cả hai đều kiêng dè lẫn nhau, một người không dám phá, một người không dám giết. Trong khi đôi bên căng thẳng đối đầu, thời gian cứ thế trôi qua, chớp mắt đã gần sang giờ Hợi. Linh Hư Sơn Nhân bắt đầu sốt ruột. Canh giờ âm nhất của năm âm, tháng âm, ngày âm, giờ âm là một thời khắc hiếm hoi mà mỗi sáu mươi hoa giáp mới xuất hiện một lần.

Dù lão có sống thêm sáu mươi hoa giáp nữa, cũng chưa chắc có thể gom đủ một vạn sinh hồn như đêm nay.

Lão đã chờ đợi hôm nay đủ lâu rồi. Thôn dân Ngưu Gia chỉ có thể kéo dài mạng sống cho lão thêm vài trăm năm, nhưng một vạn sinh hồn, tế sống đèn mượn mệnh vào năm âm, tháng âm, ngày âm, giờ âm sẽ khiến lão trường sinh bất tử, từ đó thọ cùng trời đất. Lão sẽ không còn phải hao tâm tổn sức dụ dỗ thôn dân, bày hồn trận, giam cầm hồn phách của họ, cũng không cần giả làm nữ quỷ để dọa dẫm quan phủ. Rõ ràng chỉ cần qua hôm nay, lão có thể hoàn thành mọi thứ chỉ trong một lần, an tâm tu luyện.

Linh Hư Sơn Nhân nóng nảy, lạnh giọng đe dọa: “Công chúa Vĩnh An, nếu ngươi còn không giao đèn mượn mệnh cho bần đạo, bần đạo sẽ giết lang quân của ngươi thật đấy!”

Lý Doanh nghiến chặt răng, sắc mặt trắng bệch. Nàng bàng hoàng nhìn những sinh hồn dày đặc quanh mình, nhưng trong lòng lại dần hạ quyết tâm, ngón tay bóp chặt bấc đèn hơn nữa.

Linh Hư Sơn Nhân biến sắc: “Công chúa Vĩnh An, ngươi định vì những kẻ ngu muội không quen biết này mà từ bỏ lang quân của mình thật sao? Đừng quên, khi ngươi chết đi, đám dân đen kia đâu có đau buồn, trái lại còn âm thầm mừng rỡ vì cái chết của ngươi giúp chúng thay đổi vận mệnh. Con cháu chúng cuối cùng cũng có cơ hội vào triều làm quan, đỗ đạt vinh hiển! Ngươi muốn vì đám người ích kỷ ấy mà từ bỏ người ngươi yêu thật sao?”

Lý Doanh ngây ngẩn nhìn Thôi Tuần đang cận kề cái chết. Sắc mặt hắn bình thản, kiếm sắc kề cổ khiến hắn không thể nói lời nào, nhưng ánh mắt lại vô cùng điềm tĩnh. Nàng hiểu rõ tâm ý của hắn, nhưng bảo nàng buông tay, sao nàng có thể nhẫn tâm đây?

Nước mắt nàng lặng lẽ rơi, suy cho cùng, nàng không phải Thánh nhân. Nàng chỉ là một tiểu công chúa mong được trọn đời bên người mình yêu. Mười sáu năm cuộc đời chưa từng trải qua sóng gió, tâm trí cũng không kiên cường được đến thế. Nàng không thể thản nhiên lựa chọn giữa bách tính và người thương mà không chút do dự. Nàng sẽ phân vân, sợ hãi. Cắn chặt môi, nàng tuyệt vọng bật khóc: “Vì sao? Vì sao cứ bắt ta phải chọn?”

Vì sao cứ bắt nàng phải chọn?

Vì sao cứ phải buông bỏ một trong hai?

Năm xưa a gia vì thiên hạ mà từ bỏ nàng, cũng từng đau khổ thế sao?

Nước mắt nàng rơi như chuỗi ngọc đứt đoạn. Linh Hư Sơn Nhân lại lớn tiếng: “Công chúa Vĩnh An, không, ngươi đã không còn là công chúa nữa. Ngươi chỉ là một hồn ma! Ngươi không có nghĩa vụ bảo vệ bách tính. Ngươi chỉ là một cô hồn bị mọi người ruồng bỏ mà thôi. Hãy quên đi thân phận công chúa, lựa chọn tình yêu của ngươi đi. Chẳng phải ngươi chỉ còn mỗi tình yêu thôi sao?”

Ngón tay Lý Doanh run rẩy. Đúng vậy, giờ đây nàng chỉ còn mỗi tình yêu, và cũng chỉ là một hồn ma. Nhưng nàng, vẫn là công chúa Đại Chu!

Nước mắt nàng càng rơi nhiều, tim như bị xé nát. Nàng không thèm để ý đến Linh Hư Sơn Nhân nữa, chỉ quay sang nhìn Thôi Tuần, khóe môi nhếch nhẹ lên, nụ cười có phần thê lương: “Thập Thất lang, hôm nay ta nổi giận với chàng, nói rằng sẽ không tha thứ cho chàng. Nhưng thật ra, ta chỉ giận chàng không chịu bàn bạc với ta… Cuối cùng, ta vẫn sẽ tha thứ cho chàng thôi. Chàng yên tâm, nếu chàng chết, ta sẽ giết tên yêu đạo này báo thù cho chàng. Nếu lão hủy diệt hồn phách của chàng, ta sẽ đi cùng chàng, chúng ta cùng hóa thành hư vô, quyện vào trăng thanh gió mát, từ nay sạch sẽ thanh thản, chàng chỉ có ta, ta chỉ có chàng, được không?”

Thanh kiếm kề cổ Thôi Tuần đã rạch sâu vào da thịt, hắn không thể nói, cũng chẳng thể gật đầu. Hắn chỉ lặng lẽ nhìn nàng, hàng mi đen nhánh vương từng giọt sương long lanh. Hắn chớp mắt, môi nhếch nhẹ, khẩu hình tạo thành một chữ: “Được.”

Linh Hư Sơn Nhân chấn động tâm can, điên rồi! Hai kẻ điên!

Lão không ngờ Lý Doanh lại sẵn sàng buông bỏ người yêu để cứu một vạn bách tính không quen biết. Nàng chỉ là một hồn ma, rốt cuộc nàng mong cầu điều gì?

Mồ hôi lạnh chảy ròng ròng, ngay cả mạng sống của Thôi Tuần không trở nên vô dụng. Lão không còn quân bài nào nữa, đành phải liều mạng lần cuối, quát lớn: “Công chúa Vĩnh An, đừng xúc động! Lẽ nào ngươi không muốn biết sự thật về ba mươi năm trước sao?”

Lúc trước, lão dùng chuyện ba mươi năm trước để dụ Lý Doanh đến đàn Vân Trạch, nàng luôn dò hỏi nhưng lão không chịu nói, chỉ muốn dẫn nàng đến đây để tế hồn. Giờ đây, lão lại vội vàng tiết lộ tất cả.

Nghe thế, Lý Doanh hỏi dồn: “Sự thật gì? Chẳng phải a gia đã giết ta sao?”

“Ngươi tưởng a gia ngươi giết ngươi?” Linh Hư Sơn Nhân giãy giụa: “Không phải! Ngươi buông đèn mượn mệnh ra, ta sẽ nói cho ngươi biết sự thật!”

“Dựa vào đâu mà ta phải tin ngươi?”

“Dựa vào ta từng là thượng khách của Kim Di, Đô úy Bách Kỵ Tư, và dựa vào việc đồ đệ của ta, Kế Thanh Dương, chính là kẻ nhận lệnh đi giết ngươi!”

Lý Doanh khựng lại, ánh mắt lóe lên vẻ ngạc nhiên. Linh Hư Sơn Nhân lạnh lùng nói: “Ngươi giao đèn mượn mệnh cho ta, ta sẽ nói cho ngươi biết tất cả.”

Linh Hư Sơn Nhân đã hoảng loạn đến mức mặt mày xám ngoét như tro tàn. Lý Doanh nhìn khuôn mặt méo mó của lão, nàng bỗng bật cười: “Yêu đạo! Người ta yêu ta còn không màng đến, chẳng nhẽ ta còn để tâm đến chính mình ư? Nghe cho rõ, ta, Lý Doanh, là công chúa Vĩnh An của Đại Chu!”

Dứt lời, nàng không hề chần chừ, một tay giữ chặt đế đèn bằng đồng xanh, tay còn lại rút phăng bấc đèn ra khỏi đế. Ngọn lửa trắng bùng cháy trên bấc đèn cũng lập tức tắt ngấm.

Một tiếng gào thét thảm thiết vang lên từ cuống họng Linh Hư Sơn Nhân, da mặt lão nhăn nheo như vỏ cây khô cằn, từng mảng da lột ra, chỉ còn trơ lại hộp sọ trắng xóa. Từ đầu, sự mục rữa lan xuống cổ rồi cả thân thể, những ngón tay cầm kiếm cũng hóa thành xương khô. Dù vậy, lão vẫn gom hết chút sức lực cuối cùng, lưỡi kiếm lạnh băng chém thẳng vào yết hầu Thôi Tuần ngay trước mặt Lý Doanh.

Lý Doanh kinh hãi đến nghẹn thở. Đúng lúc ấy, nơi ngực Thôi Tuần đột nhiên phát ra ánh sáng xanh lục mờ ảo, lớp sáng ấy chắn đứng mũi kiếm, bảo vệ tính mạng hắn.

Linh Hư Sơn Nhân mở to mắt không tin nổi nhìn luồng sáng ấy. Nhưng chỉ chớp mắt sau, toàn thân lão hóa thành bộ xương trắng, ngã xuống đất, rồi vụn vỡ tan tành.

Linh Hư Sơn Nhân đã sống hai trăm năm mươi tuổi, tuổi thọ của lão hoàn toàn phụ thuộc vào ngọn đèn. Nay đèn tắt, mạng sống vay mượn của lão cũng bị thu hồi, chẳng để lại gì ngoài một bộ xương khô.

Khi Linh Hư Sơn Nhân hóa thành bộ xương khô, một vạn sinh hồn bị giam giữ trên đàn Vân Trạch cũng tan biến, hồn phách trở về nơi vốn thuộc về mình. Trương Tứ Lang, người vừa được gia quyến vây quanh khóc than, ngơ ngác mở mắt. Ông không biết chuyện gì đã xảy ra, chỉ cảm thấy dường như mình vừa được sống lại.

Ngoài ông ra, người làm ở cửa hàng quan tài, thợ rèn ở tiệm sắt, quan lại thất phẩm ở Trường An, bà lão bán bột hồ ở chợ… tổng cộng hơn vạn người cũng lần lượt tỉnh lại, mở mắt nhìn thế gian.

Cả đài Vân Trạch bỗng trở nên trống trải. Trên đài tế gỗ chỉ còn lại thi thể các đạo sĩ của đạo quán Tử Vân đã chết cùng năm ám thám đang bất tỉnh.

Thôi Tuần không còn trụ vững, hắn ôm lấy yết hầu, quỳ một gối xuống đất. Lý Doanh lập tức lao đến, chẳng thèm để ý đến đống xương trắng vỡ vụn dưới chân, nàng loạng choạng quỳ xuống bên hắn, đôi tay run rẩy đỡ lấy thân hình Thôi Tuần. Gương mặt nàng trắng ngần như ngọc, nay lại điểm thêm vài vệt nước mắt. Nàng nghẹn ngào: “Thập thất lang, chàng không sao chứ?”

Máu tươi không ngừng tràn ra từ kẽ tay Thôi Tuần. Hắn lắc đầu, ý bảo mình không sao.

Một chiếc túi gấm ngũ sắc vẫn tỏa ra ánh sáng mờ ảo rơi khỏi ngực Thôi Tuần, lộ ra hai sợi tóc được kết lại bằng dây tơ đỏ.

Lý Doanh ngây người nhìn chiếc túi ấy. Thì ra, chính sợi tóc của nàng đã chặn lại nhát kiếm chí mạng cho Thôi Tuần.

Nhưng… chẳng phải Thôi Tuần từng nói đã làm mất sợi kết tóc ấy rồi sao?

Thôi Tuần cụp mắt xuống, dùng bàn tay không dính máu lau vào vạt áo, rồi nhặt lấy túi gấm. Hắn không nói lời nào, chỉ cất nó vào lòng. Sau đó, hắn mấp máy môi, không phát ra âm thanh nhưng nàng nhận ra đó chính là ba chữ: “Thôn Ngưu Gia.”

Lý Doanh lập tức hiểu ý. Linh Hư Sơn Nhân đã chết, trận pháp mượn hồn lão bày tại thôn Ngưu Gia đã bị phá giải. Hai trăm hai mươi hồn phách bị giam cầm sẽ phải đối mặt với cái chết của mình. Nếu họ không chấp nhận, oán khí dâng cao, tất sẽ hóa thành lệ quỷ. Nàng phải đến Ngưu gia thôn ngăn cản điều đó xảy ra.

Lý Doanh cắn chặt môi, đưa mắt nhìn những xác người nằm la liệt sau lưng Thôi Tuần, nói: “Thập Thất lang, ta không thể ở lại chăm sóc chàng, phải đi thôn Ngưu Gia. Chuyện ở đây nhờ chàng xử lý, ta đợi chàng ở thôn Ngưu Gia. ”

Thôi Tuần chịu đựng cơn đau ở yết hầu, hắn gật đầu. Lý Doanh lập tức đứng dậy, nhanh chóng chạy ra khỏi đàn Vân Trạch.

Nhưng đi được vài bước, nàng lại không kìm lòng quay đầu nhìn Thôi Tuần. Vừa rồi, vì tính mạng bá tánh, nàng đành buông tay hắn. Liệu hắn có trách nàng không?

Trong lòng là trăm mối ngổn ngang, vừa day dứt vừa bất an. Nhưng cuối cùng, nàng vẫn nghiến răng quay đi. Những linh hồn ở thôn Ngưu Gia đang đợi nàng cứu giúp, nàng không thể chần chừ.

Lý Doanh mím môi, không dám quay đầu lần nữa, nhanh chóng bước ra ngoài.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 112: Thần nữ


Đêm khuya tối đen như mực, giơ tay không thấy năm ngón.

Ngọn đèn mượn mệnh vụt tắt, thôn Ngưu Gia vốn yên ả bỗng dưng chuyển mình. Những người dân đang cặm cụi làm lụng ngẩng đầu lên, chỉ thấy cảnh vật trước mắt biến đổi kỳ lạ. Mặt trời gay gắt phút chốc hóa thành mảnh trăng tàn lẩn khuất giữa mây đen, bầu trời trong xanh bỗng trở thành tấm màn đen kín mít. Thôn làng vốn bình yên, đẹp đẽ giờ đây chỉ còn lại những bức tường đổ nát, cỏ dại chen chúc mọc lên giữa khung cảnh hoang tàn.

Người dân bàng hoàng, chưa kịp nhận ra mình đã hóa thành hồn ma. Hai trăm hai mươi người đứng chết trân, kinh hãi nhìn nhau, mãi đến khi bước tới mộ phần nơi đầu thôn, trông thấy bia đá khắc chính tên mình, họ mới bừng tỉnh như kẻ vừa thoát ra khỏi cơn mộng mị.

Thì ra, họ đã chết.

Nhưng… tại sao họ lại chết?

Mọi người chợt nhớ tới bát thánh thủy mà Linh Hư Sơn Nhân đưa.

Họ cũng dần hồi tưởng lại đêm hôm đó khi uống thánh thủy.

Bọn họ chết vào ngày mười bốn tháng ba năm Thái Xương thứ hai mươi. Đêm hôm ấy, họ cam tâm tình nguyện uống cạn bát thánh thủy vì Linh Hư Sơn Nhân nói: chỉ cần uống vào, họ sẽ được lên thiên cung.

Cuộc sống của họ quá đỗi khốn khó, dẫu cày sâu cuốc bẫm quanh năm, thu nhập cũng chỉ loanh quanh vài trăm văn tiền. Số bạc ít ỏi ấy lại phải nộp thuế ruộng, thuế hộ, thuế khẩu cùng vô số sưu cao thuế nặng. Cuối cùng, đến tay họ chẳng còn nổi mười văn, trẻ con không có áo mặc, người lớn chẳng đủ cơm ăn, sống không ra sống, nhưng cũng chẳng dám tạo phản, ngày này qua tháng nọ họ đều nhẫn nhục chịu đựng.

Đáng sợ hơn, cái vòng luẩn quẩn này không có hồi kết. Họ đói khổ, con cháu họ cũng đói khổ. Họ nghèo đói, con cháu họ cũng nghèo đói. Bởi vì họ là nông dân, con cháu họ cũng chỉ có thể làm nông. Nếu có trách, thì chỉ trách họ không biết chọn nhà để đầu thai, con cháu họ không biết chọn nhà để đầu thai, đời đời kiếp kiếp sống cuộc đời không lối thoát.

Thế rồi một ngày, Linh Hư Sơn Nhân xuất hiện. Lão mang đến cho họ niềm hy vọng về tương lai, chỉ cần làm theo lời lão, cuộc sống sẽ đổi thay. Sau khi chết, họ có thể lên thiên cung, bánh hồ ăn mãi không hết, áo gấm mặc mãi không rách, sống trong nhà cao cửa rộng, không già cũng không chết, hưởng phúc của thần tiên.

Họ tin tưởng tuyệt đối vào Linh Hư Sơn Nhân, làm biết bao việc thiện, thậm chí dốc hết tiền bạc sửa sang nhà cửa, thế nhưng cuộc sống vẫn cùng cực. Họ bắt đầu hoang mang. Đúng lúc ấy, Linh Hư Sơn Nhân lại đến, bảo rằng phúc báo của họ đã đủ, Thiên Đế đã cho phép họ lên Thiên cung, chỉ cần uống thánh thủy là có thể hưởng phúc.

Mỗi người, từ phụ nữ mang thai đến trẻ nhỏ, ai nấy đều vui mừng khôn xiết, không chút do dự uống cạn bát thánh thủy. Nhưng kết quả lại là đau đớn quằn quại, máu chảy từ thất khiếu, rồi chết tức tưởi.

Hồn phách của họ không vào Địa phủ mà bị giam cầm nơi đây, lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm, dùng tuổi thọ của mình để kéo dài mạng sống cho Linh Hư Sơn Nhân.

Sau một hồi im lặng, tiếng khóc than, tiếng chửi rủa, tiếng oán trách vang vọng khắp nơi. Họ khóc cho số phận bất hạnh, chửi rủa sự độc ác của Linh Hư Sơn Nhân, trách móc vợ chồng đã nhẹ dạ cả tin.

Sau những tiếng khóc than oán hận, cơn giận dữ lan khắp đám đông. Họ hận, hận Linh Hư Sơn Nhân, hận quan lại qua loa xử án, hận thế đạo khiến họ áo không đủ mặc, cơm không đủ ăn, hận cả thế gian.

Oán khí đen kịt cuộn trào trên không trung, gương mặt mỗi người trở nên dữ tợn đáng sợ. Cả đám người hướng ra khỏi thôn Ngưu Gia, chẳng biết đi đâu, chỉ biết phải báo thù, trả thù những kẻ còn sống trên đời này.

Vì sao chúng được sống, còn họ lại phải chết?

Khi hai trăm hai mươi oan hồn sắp lao thẳng về trấn Đào Nguyên, bỗng một con ngựa giấy lao tới như bay, trên lưng là thiếu nữ vận áo lục la xanh biếc.

Thiếu nữ giơ roi quất ngựa, phi nhanh như gió. Đến cổng thôn, nàng kéo cương, nhảy phắt xuống khỏi con ngựa giấy, đứng chắn trước đoàn oan hồn.

Lý Doanh rùng mình khi nhận ra khuôn mặt quen thuộc giữa những linh hồn đầy oán khí.

Lý Nhi là người đầu tiên nhận ra thiếu nữ, cậu cất tiếng gọi: “A tỷ, sao tỷ lại ở đây?”

Lý Doanh nhìn hai trăm hai mươi linh hồn đầy oán hận, hít sâu một hơi. Nàng đến muộn, nhưng may thay vẫn chưa quá trễ. Nàng bình thản nói: “Ta đến để siêu độ các vị.”

Một người dân hét lớn: “Ngươi là ai? Dựa vào đâu mà nói muốn siêu độ cho chúng ta?”

“Ta chính là công chúa Vĩnh An của Đại Chu.”

“Công chúa Vĩnh An?” Đám đông đưa mắt nhìn nhau, ánh mắt đầy nghi hoặc.

Dẫu sống nơi thôn làng nghèo khó nhất này, họ vẫn từng nghe danh công chúa Vĩnh An. Công chúa Vĩnh An, dung nhan tuyệt thế, phong thái rạng ngời khắp thiên hạ, nàng là nữ nhi được Thánh nhân sủng ái nhất. Tương truyền nàng ăn sơn hào hải vị, mặc gấm vóc lụa là, nước rửa mặt cũng là bột ngọc trai nghiền nhuyễn. Ai nấy đều ngưỡng mộ số mệnh tốt đẹp của nàng. Mỗi khi nghe chuyện về công chúa Vĩnh An, họ chỉ biết thở dài, nghĩ rằng kiếp này không thể nào, nếu có kiếp sau được đầu thai làm người như nàng, thì tốt biết mấy.

Nhưng tại sao vị công chúa được Thánh nhân sủng ái nhất ấy lại xuất hiện ở thôn làng ma quái này?

Như nhìn thấu sự nghi hoặc trong mắt họ, Lý Doanh khẽ nói: “Ta đến đây bởi vì, giống như các vị, ta cũng là hồn ma.”

Mọi người sững sờ, mặt mày tái nhợt. Công chúa Vĩnh An cũng trở thành quỷ hồn sao? Phò mã của nàng chẳng phải là người xuất thân từ thế gia vọng tộc sao? Chẳng phải nàng nên sống một đời hạnh phúc bên phu quân, con cháu đầy nhà, được Thánh nhân và Khương Quý phi che chở, sao lại ra đi khi tuổi đời còn trẻ như vậy?

Lý Doanh gật đầu: “Ta chết vào ngày mùng sáu tháng mười năm Thái Xương hai mươi. Còn các ngươi chết vào ngày mười bốn tháng ba cùng năm. Tính đến nay, đã ba mươi năm trôi qua.”

“Ba mươi năm?” Đám đông lẩm bẩm, không ngờ họ đã bị giam cầm trong thôn làng quỷ dị này những ba mươi năm.

Nỗi bi thương tràn ngập trên khuôn mặt từng người, oán khí trên đỉnh đầu càng thêm nặng nề. Lý Doanh bất giác kinh hãi, nàng không biết cách thuyết phục người khác, càng không biết làm sao để xoa dịu oán hận trong lòng họ. Nàng chỉ biết đem hết tấm lòng chân thành ra nói, mong rằng có thể ngăn họ trở thành lệ quỷ. Nàng lớn tiếng: “Các vị, các vị chết oan khuất, hồn phách bị giam cầm trong trận pháp mượn hồn suốt ba mươi năm. Đây là tội lỗi của Linh Hư Sơn Nhân, nhưng cũng là lỗi của Đại Chu.”

Giọng nàng trầm lắng: “Các vị đột ngột chết bất đắc kỳ tử, vậy mà quan lại từ Thiếu doãn, Thứ sử đến Đại Lý Tự khanh đều không phát hiện ra manh mối, không tìm ra hung thủ. Đó là lỗi thứ nhất. Suốt ba mươi năm qua, Linh Hư Sơn Nhân làm điều ác, giả thần giả quỷ, mà không ai vạch trần, khiến các vị bị nhốt nơi đây, không thể siêu thoát. Đó là lỗi thứ hai. Các vị nhẹ dạ tin lời Linh Hư Sơn Nhân, là vì Đại Chu không cho các vị hy vọng. Các vị chăm chỉ lao động vẫn không đủ ăn đủ mặc, gặp nạn đói thì con trai làm nô, con gái làm tỳ, đời đời kiếp kiếp không có chút hy vọng. Vậy nên khi lão ta hứa hẹn cho các vị một kiếp sau tốt đẹp, các vị mới dễ dàng tin tưởng, dẫn đến cái chết oan khuất. Đây là lỗi thứ ba. Cái chết của các vị là do Đại Chu, là do hoàng tộc Lý gia của ta đã phụ lòng các vị!”

“Chúng ta giành được thiên hạ này thì phải có trách nhiệm với bách tính trong thiên hạ. Thế nhưng chúng ta đã không làm tròn bổn phận, để các vị chết trong hy vọng hão huyền. Ta thay mặt hoàng thất Lý gia, thay mặt Đại Chu, cúi đầu nhận lỗi với các vị!”

Lý Doanh chắp tay trước ngực, mười ngón tay khép lại, từ từ cúi người, nghiêm trang hành lễ với hai trăm hai mươi linh hồn.

Đám đông chết lặng, không ai ngờ vị công chúa cao quý nhất Đại Chu lại cúi đầu xin lỗi những người dân thấp hèn như họ.

Sau giây phút sững sờ, tiếng nức nở vang lên. Đó là thai phụ mà Lý Doanh từng gặp trước đây, người đã sinh ra một quỷ thai. Khi phát hiện đứa trẻ trên tay mình không phải con người mà là quỷ thai, thai phụ sợ hãi ném xuống. Quỷ thai bật cười khanh khách, hóa thành làn khói đen tan biến. Lúc ấy, thai phụ mới nhận ra lòng tin mù quáng của mình không chỉ hại chính bản thân mà còn hại đứa con còn chưa kịp chào đời.

Trong cơn đau đớn tột cùng, thai phụ bật khóc, nói với Lý Doanh: “Giờ người xin lỗi thì có ích gì? Chúng ta đều đã chết rồi! Đứa con ta chưa kịp chào đời cũng chết rồi! Lời xin lỗi của người có thể trả lại mạng sống cho chúng ta không?”

Ánh mắt Lý Doanh hiện lên vẻ bi thương. Nàng khẽ lắc đầu: “Ta không thể.”

Đám đông xôn xao không ngớt, Lý Doanh cắn nhẹ môi, rồi cất giọng kiên định: “Dù ta không thể trả lại mạng sống cho các vị, nhưng ta khẩn cầu các vị đừng để oán khí nuốt chửng bản thân, đừng gây hại đến người dân trấn Đào Viên. Họ vô tội.”

Thai phụ nức nở: “Thế chúng ta không vô tội sao? Chúng ta chết oan uổng thế này mà được sao?”

Lời than khóc của thai phụ khiến đám đông xao động. Từng người đồng loạt hô vang: “Đúng vậy! Chúng ta chết oan như vậy mà được sao?”

“Chúng ta đã làm biết bao việc tốt, tại sao lại phải chết thế này?”

“Chúng ta không cam tâm!”

“Tại sao chúng ta chết, còn bọn họ lại sống? Nếu phải chết thì tất cả cùng chết!”

Loạn thế như mồi lửa sắp bùng cháy, đám đông phẫn nộ chuẩn bị xông đến trấn Đào Viên. Lý Doanh hoảng hốt, vội biến quỷ hỏa trong tay thành một màn lửa mỏng manh, chắn trước mặt đám đông. Nàng lớn tiếng: “Xin hãy nghe ta nói!”

Bị quỷ hỏa ngăn lại, đám đông không thể tiến thêm bước nào, không khí lập tức lắng xuống. Lý Doanh khẩn thiết: “Nếu các vị hóa thành lệ quỷ, gây hại nhân gian, thập điện Diêm Vương tuyệt đối không dung tha. Đến lúc đó, hình phạt chính là hồn phi phách tán! Chi bằng các vị hãy buông bỏ oán hận, sớm siêu thoát đầu thai, để có cơ hội làm người lần nữa.”

Trong đám đông có người hét lên: “Làm người? Làm người để làm gì? Lại trở về kiếp nghèo khổ, ăn chẳng đủ no sao? Sinh con, sinh cháu rồi cũng vẫn đói khát, vậy là đầu thai làm người hay là tiếp tục chịu khổ? Thà làm lệ quỷ, hồn phi phách tán cũng còn hơn sống kiếp hèn mọn!”

“Không phải vậy!” Lý Doanh vội vàng giải thích: “Nếu các vị có thể đầu thai làm người, các vị sẽ thấy Đại Chu bây giờ đã không còn như ba mươi năm trước. A gia ta đã thi hành tân chính…”

Nói đến đây, nàng bỗng khựng lại, cắn chặt môi, nỗi chua xót dâng đầy trong lòng. A gia muốn giết nàng, suốt đời nàng không muốn tha thứ cho người, càng không muốn nhắc đến tên người. Còn tân chính… chính vì điều đó mà nàng phải bỏ mạng, nàng càng không muốn nhắc đến hai chữ này. Nhưng lúc này không phải lúc để vướng bận tư thù. Nàng nhất định phải thuyết phục họ chịu buông bỏ.

Thanh âm của Lý Doanh càng thêm vang dội, giọng nói trong trẻo như kim thạch lan rộng khắp khoảng không gian: “A gia của ta đã thực thi tân chính, bãi bỏ nhiều khoản thuế hà khắc. Người còn mở ra khoa cử, chỉ cần thi đỗ, dù là nông hộ cũng có thể nhập triều làm quan, thậm chí có thể thăng đến chức Tể tướng. Khoa cử không chỉ có Minh Kinh, Tiến sĩ mà còn có Võ cử, Minh Toán, Minh Y. Những người học vấn không cao nhưng võ nghệ xuất chúng, tinh thông toán học hay giỏi y thuật đều có thể tìm thấy con đường riêng cho mình. A gia ta đẩy mạnh tân chính suốt mười năm, tuyển chọn vô số nhân tài xuất thân bần hàn. Sau khi người băng hà, a nương ta tiếp tục củng cố tân chính. Tân chính kéo dài suốt ba mươi năm, nay triều đình Đại Chu đã có quá nửa là quan viên có xuất thân hàn vi. Trong số đó, nhiều người còn nghèo khổ hơn các vị, nhưng nhờ vào nỗ lực của bản thân, họ đã thay đổi vận mệnh. Vậy nên, nếu các vị muốn, các vị cũng có thể làm được!”

Mọi người nhìn nhau sửng sốt, trong lòng không khỏi chấn động. Bao năm nay họ chịu thương chịu khó, làm lụng quần quật nhưng vẫn nghèo khó không lối thoát. Thế mà hôm nay, có người nói với họ rằng những kẻ giống như họ cũng có thể đổi đời bằng chính sự cố gắng của chính mình? Làm sao họ không sửng sốt, làm sao họ có thể không dao động?

Lý Doanh lại nói: “Chư vị, chính vì không có hy vọng nên các vị mới nghe theo lời yêu đạo. Nhưng giờ đã khác rồi. Dù các vị có đầu thai làm nông hộ, cũng có thể thực hiện ước nguyện. Có thể sáng bước lên triều đường, chiều về nhà cày ruộng. Không còn phải sống những tháng ngày bế tắc, đời đời kiếp kiếp chịu khổ. Chỉ cần các vị nguyện buông bỏ oán hận, quay về Địa phủ chuyển thế, kiếp sau của các vị vẫn sẽ là hy vọng.”

“Sáng bước lên triều đường, chiều về nhà cày ruộng…” – Đám đông thì thầm nhắc lại, trong mắt dần bừng lên ánh sáng, oán khí cũng vơi đi phần nào. Thấy vậy, Lý Doanh lập tức nói: “Nếu các vị hóa thành lệ quỷ, gây hại người đời, thì thật sự không còn chút hy vọng nào nữa. Nhưng nếu các vị chịu xuống Địa phủ ngay bây giờ, vẫn còn cơ hội thay đổi số phận.”

Vẻ mặt của đám đông dần dịu lại, Lý Doanh chân thành nói: “Kiếp này, Đại Chu đã phụ các vị. Kiếp sau, mong các vị vẫn nguyện làm con dân Đại Chu. Lý Doanh xin cúi đầu cảm tạ.”

Dứt lời, nàng chắp tay trước ngực, cúi người hành lễ thật sâu, lòng thành khẩn thiết. Mọi người lặng thinh, họ chết vì tuyệt vọng, nhưng giờ đây có người nói với họ rằng, mọi thứ đã khác. Nếu đi đầu thai, họ sẽ không phải sống kiếp sống vô vọng như hiện tại. Đã như vậy, cớ gì phải làm quỷ? Cớ gì không làm người?

Một đứa trẻ kéo nhẹ vạt áo cha mẹ, giọng non nớt: “A nương, a cha, con không muốn đi giết người. Con muốn đi đầu thai, con muốn thi khoa cử, con muốn sống những ngày tốt đẹp.”

Lời ngây thơ của trẻ nhỏ tác động mạnh mẽ đến lòng người. Người muốn đi đầu thai ngày một đông hơn. Thai phụ đang nức nở cũng òa khóc: “Ta… ta không muốn hồn phi phách tán. Ta muốn được đầu thai. Kiếp sau, ta sẽ yêu thương con ta thật nhiều.”

”Ta… ta cũng muốn.”

Tiếng đồng ý vang lên không ngớt giữa đám đông, oán khí đen kịt dần dần tan biến, cuối cùng hoàn toàn tiêu tán. Lý Doanh thấy vậy, trong lòng thầm thở phào nhẹ nhõm. Trong màn đêm đen kịt, ánh trăng sáng vằng vặc trên cao, soi tỏ dung nhan nàng thanh khiết như vầng nguyệt, đôi mắt trong suốt như lưu ly. Cơn gió nhẹ thổi qua, tà áo xanh nhạt và dải lụa trắng của nàng bay lượn, tựa như tiên nữ hạ phàm. Lý Nhi không khỏi thốt lên: “A tỷ, tỷ là thần nữ sao?”

Lý Doanh mỉm cười dịu dàng, lắc đầu: “Ta không phải.”

Nàng dừng lại giây lát rồi khẽ nói: “Ta là công chúa Vĩnh An của Đại Chu.”

Ánh mắt nàng đảo qua khắp nơi, ánh trăng rải khắp mặt đất, khiến toàn thân nàng tỏa ra thứ ánh sáng dịu dàng mà yên bình như ánh nguyệt. Nàng nói: “Con dân Đại Chu, hãy đi đầu thai đi. Mong kiếp sau các vị đều đạt được điều mình mong ước.”

Mọi người đưa mắt nhìn nhau, rồi đồng loạt quỳ xuống, dập đầu đầy thành kính trước công chúa Đại Chu đã giải cứu họ khỏi oan khí nặng nề. Chính nàng đã giúp họ không phải trở thành lệ quỷ, không phải hồn phi phách tán. Trong tâm trí của họ, nàng chính là thần nữ giáng trần, thiêng liêng không gì sánh kịp.

Khi Thôi Tuần phi ngựa đến, trước mắt hắn chính là cảnh tượng ấy. Trước đó, hắn vừa đánh thức ám thám, lệnh cho họ điều tra xem trong đạo quán Tử Vân có còn sót lại tàn dư nào không. Sau đó, hắn cấp tốc soạn một bản tấu chương, giao cho ám thám dâng lên Thái hậu. Trong tấu, ngoài việc đề nghị bêu xác Linh Hư Sơn Nhân và các đạo sĩ Tử Vân Quán ba ngày để răn đe, hắn còn kiến nghị cách chức và điều tra quan huyện vì tội thất trách. Hắn cũng đưa ra vài kế sách giáo hóa dân chúng, để phòng ngừa về sau không còn những tà đạo như Linh Hư Sơn Nhân gây họa. Mọi việc an bài ổn thỏa, hắn băng bó vết thương qua loa, dặn ám thám tuyệt đối không tiết lộ chuyện liên quan đến hắn ở nơi này, rồi nhảy lên lưng ngựa Khang Cư, phi như bay đến thôn Ngưu Gia.

Khi đến thôn Ngưu Gia, hắn trông thấy Lý Doanh đã hóa giải oan khí, thôn dân quỳ xuống dập đầu cảm tạ. Lý Doanh đứng giữa vòng vây của mọi người, tà áo nhẹ tung bay, thần thái như thần nữ chốn thiên cung, trong sáng mỹ lệ.

Hắn đứng đó, lặng lẽ nhìn nàng, đôi mắt đen láy ngập tràn sự dịu dàng khó tả.

Nàng không chỉ siêu độ cho người dân thôn Ngưu Gia, mà còn siêu độ cho cả hắn.

Nàng là thần nữ trong lòng họ, cũng là thần nữ trong lòng hắn.

Và hơn thế nữa, nàng là sự cứu rỗi duy nhất trong đời hắn.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 113: Ta không cần dài lâu


Sau khi dập đầu tạ ơn, người dân thôn Ngưu Gia hóa thành từng tia sáng trắng, thuần khiết không chút vướng bận, tựa những ngôi sao băng lượn quanh người Lý Doanh, như phủ lên nàng một lớp lụa mỏng thanh khiết. Trong đó, có một tia sáng nhảy đến lòng bàn tay nàng, lưu luyến chạm vào đầu ngón tay. Lý Doanh biết, đó nhất định là Lý Nhi.

Nàng khẽ nói: “Lý Nhi, hãy đi đầu thai đi, kiếp sau hãy làm một trạng nguyên lang nhé.”

Tia sáng trắng lại chạm nhẹ vào đầu ngón tay nàng, tựa hồ như đang gật đầu, sau đó tung mình lên không trung, biến mất không còn dấu vết.

Những tia sáng khác cũng lần lượt biến mất, màn đêm dần trở lại tĩnh lặng. Lý Doanh ngẩng đầu, ánh mắt hướng về Thôi Tuần đang lặng yên trước mặt.

Bên cổ Thôi Tuần, vết thương đã được rắc thuốc, máu tạm thời ngừng chảy, nhưng mỗi khi nói chuyện vẫn còn nhói đau. Hắng nắm dây cương ngựa Khang Cư, giọng khàn khàn: “Lên ngựa chứ?”

Lý Doanh mím môi, cúi đầu nhỏ giọng đáp: “Ta vẫn nên cưỡi ngựa giấy thì hơn.”

Hai người, ai nấy đều mang tâm sự, chẳng ai dám mở lời. Cả hai chỉ lặng lẽ cưỡi ngựa đi qua con đường mòn, bóng đêm bao trùm lấy từng bước chân trầm mặc.

Sương mù dày đặc bao phủ thôn Ngưu Gia đã hoàn toàn tan biến. Con đường dẫn lên núi Vạn Hác giờ đây thông thoáng, không chút trở ngại. Dãy núi Vạn Hác hiểm trở đến cùng cực, chỉ có đoạn đường ở thôn Ngưu Gia là miễn cưỡng có thể đi qua. Qua khỏi núi Vạn Hác, chính là thành Củng Châu.

Khi hai người đặt chân đến chân núi Củng Châu, hai người đã leo núi suốt một ngày một đêm. Dù có ngựa làm phương tiện, cơ thể vẫn mỏi mệt rã rời. Thôi Tuần có chứng hàn thâm sâu, lại bị gió đêm lạnh lẽo quét qua, toàn thân như bị đâm nhói, đau đớn đến mức tứ chi như bị nghiền nát, sức lực cạn kiệt, ngay cả việc dắt ngựa cũng trở nên khó nhọc.

Hắn lần tay vào trong tay áo, nơi cất giữ bình thuốc nhỏ bằng bạch ngọc, đựng những viên thuốc đỏ như máu.

Nhưng ngay khi đầu ngón tay vừa siết chặt lấy bình thuốc, ánh mắt Lý Doanh đã lướt tới. Thôi Tuần lập tức thả lỏng tay, vờ như không có chuyện gì. Lý Doanh mím môi, không nói thêm lời nào, nhẹ giọng nói: “Thập Thất lang, chúng ta nghỉ ngơi một chút đi.”



Trong khu rừng hoang, một cỗ kiệu được che kín bởi vải lụa dày nặng đang dừng lại trên thảm lá khô. Bên trong bộ liễn, lư hương chạm họa tiết phượng hoàng đang cháy âm ỉ, tỏa ra hơi ấm dễ chịu. Thôi Tuần nằm đó, thần trí mơ hồ, hơi thở yếu ớt. Lý Doanh cúi người, chạm tay lên trán hắn kiểm tra, quả nhiên nóng rẫy như lửa. Nàng nhíu mày, sắc một chén thuốc giải hàn, từng thìa từng thìa cẩn thận đút cho hắn uống.

Thôi Tuần tuy mơ màng, nhưng vẫn vô thức phối hợp. Uống hết một chén thuốc, ý thức hắn vẫn còn đang mơ màng. Hắn định mở miệng nói, nhưng vết thương ở cổ bị kéo ra, cơn đau thắt khiến hàng mày hắn hơi chau lại. Thấy thế, Lý Doanh lập tức ngăn cản: “Đừng nói gì cả.”

Nàng nói tiếp, giọng nói trầm lắng nhưng không kém phần kiên định: “Ta biết chàng muốn nói gì, nhưng ta không muốn nghe.”

Thôi Tuần nghe xong, chầm chậm nhắm mắt lại, không nói thêm lời nào. Lý Doanh cũng im lặng, chỉ chăm chú dùng khăn lau từng giọt mồ hôi lấm tấm trên trán hắn. Lặp đi lặp lại nhiều lần, đến khi nhiệt độ giảm dần, nàng mới thở phào nhẹ nhõm. Thôi Tuần dường như đã chìm sâu vào giấc ngủ, nàng kéo tấm áo hồ ly trắng phủ lên người hắn, rồi cũng nằm xuống bên cạnh, nghiêng người lặng lẽ nhìn hắn.

Trong khoảnh khắc mơ hồ ấy, nàng nhớ lại lần đầu gặp hắn tại hồ sen bỏ hoang trong cung. Khi đó, nàng ở dưới đáy hồ, còn hắn đứng trên bờ.

Nàng vẫn không hiểu, rõ ràng hắn rất ghét sen, cớ sao lại đến hồ sen một mình uống rượu? Có lẽ, vì hồ sen đã bỏ hoang, không còn đóa sen nào nở rộ, chỉ còn lại những cành khô mục nát. Hoặc, cũng có thể bởi đêm trừ tịch, khắp hoàng cung đều ồn ào náo nhiệt, chỉ có nơi ấy là yên tĩnh. Hoặc giả, hắn đang trốn tránh chính mình, không muốn thấy những đóa sen rực rỡ, mà chỉ muốn đối diện với những cành sen khô héo. Tất cả những điều này, nàng không rõ, chỉ có thể suy đoán.

Nhưng dù nguyên do là gì, điều quan trọng nhất chính là, nàng đã gặp được hắn.

Lần đầu nhìn thấy hắn, hình bóng ấy vẫn còn khắc sâu trong tâm trí nàng: đôi mày thanh thoát, ánh mắt thâm trầm, dung mạo đẹp đến mức khiến ráng chiều đỏ rực cũng phải lu mờ, làm người đối diện không khỏi ngẩn ngơ kinh ngạc. Nhưng dung mạo rực rỡ ấy lại đi cùng một sắc mặt tái nhợt và biểu cảm lạnh lùng, băng giá. Khoác trên người chiếc áo choàng hồ ly trắng, hắn ngồi bên hồ uống rượu, cả thân hình tựa như ảo ảnh, chỉ sợ chạm nhẹ vào là sẽ tan biến ngay.

Ngón tay Lý Doanh chạm nhẹ lên gương mặt Thôi Tuần. Sau khi ngừng dược hổ lang, sắc mặt hắn càng trở nên tái nhợt. Nàng cảm thấy như đang quay trở về hồ sen ngày ấy, nỗi sợ hắn đột ngột biến mất lại trỗi dậy trong lòng.

Nàng thất thần, ngón tay lần theo vết thương trên cổ hắn. Vết thương khá sâu, nếu Linh Hư Sơn Nhân cứa thêm một phân nữa, có lẽ hắn đã thật sự biến mất khỏi thế gian.

Lý Doanh sợ hãi. Sau sự sợ hãi là cảm giác hối hận và lo lắng đan xen. Nàng nhìn hắn, ánh mắt không chút buồn ngủ. Thôi Tuần vẫn nhắm nghiền mắt, miệng lẩm bẩm: “Minh Nguyệt Châu…”

Lý Doanh cúi đầu, nói nhỏ: “Đừng nói gì cả.”

Nàng chạm nhẹ vào vết thương nơi cổ hắn, giọng nói pha chút tức giận: “Chàng không đau sao?”

Thôi Tuần không trả lời câu hỏi ấy. Hắn chỉ khàn khàn nói: “Minh Nguyệt Châu, nàng biết mà, ta không gượng nổi đến tận Lĩnh Nam.”

Lý Doanh cắn môi, hỏi: “Đi Lĩnh Nam, đối với chàng quan trọng đến vậy sao?”

Thôi Tuần im lặng một lúc, rồi khẽ đáp: “Ừm, rất quan trọng.”

“Vì sao chàng không để người khác đi thay? Trong triều chẳng phải có rất nhiều quan viên, dưới trướng chàng cũng có không ít ám thám. Sao chàng cứ phải mang theo một thân bệnh tật mà đi?”

“Ta không thể tin tưởng người khác.” Mỗi lời Thôi Tuần thốt ra đều làm vết thương trên cổ bị động. Hắn nhíu mày vì đau, nhưng vẫn nghiêm túc giải thích với Lý Doanh, giọng hắn khàn đặc, từng chữ như mắc lại trong cổ: “Ngoài ta ra, còn ai sẽ để tâm đến oan khuất của năm vạn người ấy?”

Lý Doanh lặng người. Đúng vậy, ngoài hắn, ai sẽ để tâm đây?

Mọi người đều chỉ biết nhìn về phía trước, duy chỉ có hắn vẫn cố chấp với quá khứ.

Vẻ ngoài hắn như ngọc rạng nước biếc, đủ sức mê hoặc lòng người. Nhưng thực ra, hắn chỉ là một kẻ bị trói buộc bởi cố chấp, mắc kẹt trong quá khứ, một kẻ si tình không hợp thời mà thôi.

Thôi Tuần nói tiếp: “Minh Nguyệt Châu, trong lòng nàng và ta, đều có những thứ còn quan trọng hơn cả tình yêu.”

Bàn tay Lý Doanh đặt lên ngực hắn. Cơ thể bệnh tật khiến nhịp tim của hắn yếu ớt hơn người thường, nhưng vẫn từng nhịp, từng nhịp, không ngừng nghỉ. “Vì sao, nhất định phải như vậy?”

Chưa kịp để hắn trả lời, nàng đã tự giễu: “Nhưng, ta cũng không có tư cách trách chàng.”

Đêm qua, nàng cũng không chọn tình yêu.

”Minh Nguyệt Châu.” Thôi Tuần cất giọng nhẹ nhàng: “Giữa ta và dân chúng, nàng đã chọn dân chúng. Nàng không cần phải áy náy, vì ta chưa từng trách nàng, dù chỉ một lần.”

Lý Doanh ngẩn người, muốn hỏi hắn, liệu có thật là không trách nàng, hay chỉ nói vậy để an ủi nàng?

Trên đời này, có ai bị từ bỏ mà không cảm thấy đau lòng?

Ví như nàng, đã từng bị phụ thân từ bỏ.

Thôi Tuần định mở lời, nhưng đột nhiên lồng n.gực nhói đau. Đó là vết thương do đèn mượn mệnh gây ra, dù Linh Hư Sơn Nhân đã chết, nhưng thương tổn ấy không dễ mà lành. Hắn ho kịch liệt, khiến Lý Doanh hoảng hốt, vội vàng đặt tay lên ngực hắn xoa dịu: “Đêm qua ở đàn tế Vân Trạch, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Vì sao khi ta và Linh Hư Sơn Nhân đến nơi, chàng đã bị thương rồi? Có phải đạo sĩ của đạo quán Tử Vân đã làm chàng bị thương không?”

Thôi Tuần cố gắng ngừng ho, lắc đầu: “Không phải.”

“Vậy ai đã làm chàng bị thương?”

“Đèn mượn mệnh.”

“Đèn mượn mệnh?”

“Linh Hư Sơn Nhân đã đặt ba chướng ngại trên đèn mượn mệnh: tai chướng, ma chướng, nghiệp chướng. Chỉ khi vượt qua cả ba chướng ngại này mới có thể rút được bấc đèn, nhưng ta không vượt qua được.”

“Ba chướng ngại sao?” Lý Doanh nghi hoặc: “Vậy tại sao ta lại không gặp phải?”

Thôi Tuần mỉm cười nhạt: “Bởi vì nàng là người có trái tim lưu ly. Trái tim lưu ly, trong ngoài sáng tỏ, thuần khiết không tì vết. Nên ba chướng ngại ấy, vốn dĩ vô dụng với nàng.”

Lý Doanh thì thầm: “Thật vậy sao?”

Thôi Tuần gật đầu: “Thật vậy.”

Hắn dừng lại giây lát, rồi mới nói tiếp: “Minh Nguyệt Châu, không phải vì muốn an ủi nàng nên ta nói rằng ta không trách nàng vì đã từ bỏ ta. Cả đời này, ta có được sự ưu ái của trái tim lưu ly đã là may mắn vô cùng. Làm sao ta có thể trách nàng được? Dù nàng lựa chọn thế nào, ta cũng không oán trách.”

Hốc mắt Lý Doanh đỏ hoe: “Nhưng, ta lại trách chàng.”

Nàng quay người đi: “Trách chàng không bàn bạc với ta, tùy tiện uống thứ thuốc đó. Dù nó có thể giúp chàng tạm thời khỏe mạnh, nhưng lâu dài sẽ tổn thương căn nguyên. Đến lúc đó, đúng như Linh Hư Sơn Nhân nói, mười năm sẽ hóa thành năm năm.”

Thôi Tuần trầm mặc một lúc, rồi đáp: “Sau khi từ Lĩnh Nam trở về Trường An, ta sẽ không uống nữa.”

”Chàng còn định uống sao?” Lý Doanh bật ngồi dậy, vừa tức giận vừa lo lắng: “Chàng thật sự không muốn sống nữa sao?”

Thôi Tuần đưa tay lên cổ họng, gắng sức ngồi dậy, tựa vào cột cỗ kiệu. Mỗi động tác nhỏ như rút hết sức lực trong người. Hắn thở d.ốc mấy hơi, cười khổ: “Nàng cũng thấy rồi, với dáng vẻ này, ta vốn không thể đến Lĩnh Nam.”

Sắc mặt hắn phờ phạc như tờ giấy, mấy ngày liền bôn ba thuyền xe, thân thể này đã không chịu đựng nổi. Với tình trạng hiện tại, làm sao hắn vượt qua được hành trình ngàn dặm. Nhưng, như hắn đã nói, giữa hắn và nàng, còn có những việc quan trọng hơn cả tình yêu.

Lý Doanh hiểu nàng không thể ngăn cản hắn, lòng xót xa, chỉ đành im lặng cắn môi. Thấy bộ dạng ấy, Thôi Tuần cố gắng lục tìm trong đầu những lời vụng về để trấn an nàng: “Minh Nguyệt Châu, sau khi về Trường An, ta sẽ mời khắp danh y để điều dưỡng cơ thể. Dù chỉ còn năm năm, thì quãng thời gian ấy cũng đủ dài. Biết đâu trong năm năm đó, ta sẽ tìm được một danh y như dược thần Tôn Tư Mạc, có thể chữa khỏi bệnh của ta… Minh Nguyệt Châu, ta sẽ bên nàng dài lâu.”

Lý Doanh cúi đầu, im lặng thật lâu. Khi Thôi Tuần nghĩ rằng nàng vẫn chưa tha thứ, nàng bỗng nói: “Ta không cần dài lâu.”

Thôi Tuần ngẩn người.

Nàng không muốn tiếp tục bên hắn nữa sao?

Hắn đã làm tổn thương trái tim nàng rồi sao?

Trong nỗi u sầu, hắn chợt thấy nàng ngẩng đầu, ánh mắt dịu dàng: “Thập Thất lang, ta đã thay đổi ý định. So với dài lâu, ta càng muốn trân trọng hiện tại. Bất kể chàng còn sống được mười năm hay năm năm, ta đều trân trọng những ngày tháng tới đây. Ta sẽ giúp chàng lật lại bản án, cùng chàng chữa bệnh. Mỗi ngày còn lại, ta đều sẽ ở bên chàng.”

Nàng dừng lại một chút, rồi tiếp lời: “Thập Thất lang, chàng nói rằng, được trái tim lưu ly chiếu cố là may mắn lớn nhất của đời chàng. Còn ta, được gặp người kiên cường nhất thế gian, nhìn người ấy giữa đêm đen mịt mù, thân mang đầy thương tích, từng bước vượt qua, cũng là may mắn lớn nhất của ta.”

Nàng chầm chậm tựa vào lòng hắn: “Ta mong sao trời xanh có mắt, để thời gian chúng ta bên nhau có thể dài hơn.”

Trong khoang kiệu phủ lụa sa, ánh lửa từ bếp than bập bùng le lói, hương thơm nhè nhẹ lan tỏa. Từng lời của Lý Doanh đều chân thành, khiến cõi lòng Thôi Tuần như có dòng nước ấm chảy xuôi. Hắn muốn đưa tay ôm lấy nàng, nhưng hình ảnh về nghiệp chướng cứ lởn vởn trong đầu, trong nội tâm là cuộc chiến giằng co giữa lý trí và cảm xúc. Có lẽ do tác dụng của thuốc trị phong hàn, đầu óc hắn dần trở nên mơ hồ, và cuối cùng, cảm xúc đã lấn át lý trí. Hắn khát khao vươn tay, vòng qua thân hình nhỏ nhắn của Lý Doanh, dịu dàng ôm nàng vào lòng như báu vật.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 114: Chàng và ta, đều là lần đầu tiên biết thích một người


Thôi Tuần lại bắt đầu dùng thứ thuốc ấy.

Nhưng lần này, hắn không giấu giếm Lý Doanh.

Dẫu vậy, mỗi khi uống thuốc, hắn vẫn lặng lẽ tránh mặt nàng, không để nàng nhìn thấy. Cũng chính vì điều này, lòng nàng càng thêm nặng trĩu. Nhìn sắc diện Thôi Tuần dần có chuyển biến, nàng chỉ quay đi, ánh mắt dừng trên đám cỏ xanh mướt dưới chân, giả vờ như không để tâm mà khẽ nói: “Hôm rời Trường An, chàng bảo rằng, nếu làm ta giận, chàng sẽ bện một nghìn con châu chấu bằng cỏ để chuộc lỗi. Thế mà giờ, chàng chưa bện nổi một con, ta đã tha lỗi cho chàng rồi. Nghĩ lại, thấy chàng được hời ghê quá.”

Thôi Tuần nghe vậy, rũ mắt, nhổ một nhành cỏ dại trên đất, tỉ mỉ gấp thành một con châu chấu nhỏ tinh xảo, rồi đưa đến trước mặt nàng. Lý Doanh lắc đầu: “Không cần.”

Nàng ngừng một lát rồi nói: “Đã bảo là tha lỗi cho chàng rồi, không cần bện nữa.”

Thôi Tuần nắm chặt con châu chấu trong lòng bàn tay. Hắn cúi đầu, câu nói đã quanh quẩn trong lòng hắn bấy lâu nay, cuối cùng cũng bật ra khỏi miệng: “Minh Nguyệt Châu, ta luôn cảm thấy, ông trời vẫn còn thương xót ta.”

“Hửm?”

“Bởi vì chính điều đó đã khiến ta gặp được nàng.” Giọng Thôi Tuần trầm thấp: “Trên thế gian này, không ai đối tốt với ta hơn nàng cả.”

Thế gian bao la, có người căm ghét hắn, có người ghê tởm hắn, có người h.am m.uốn hắn, có người muốn giết hắn, có người muốn lợi dụng hắn, cũng có người muốn chiếm đoạt hắn. Chỉ có mình nàng, dám mạnh mẽ đến gần hắn, khám phá con người hắn, cứu vớt hắn. Sự tử tế của nàng dành cho hắn, không vướng chút tư lợi hay d.ục v.ọng chiếm hữu nào. Tình yêu nàng dành cho hắn, thuần khiết và trong sáng nhất.

Hắn phải may mắn đến cỡ nào mới có thể gặp được nàng?

Hắn cúi đầu, nói: “Nhưng nàng càng tốt với ta, ta lại càng cảm thấy mình không xứng đáng. Ta còn lừa dối nàng, làm nàng tổn thương…”

Nghe vậy, Lý Doanh mỉm cười. Nàng tách tay hắn ra, lấy con châu chấu cỏ trong lòng bàn tay hắn. Sau đó, nàng lay nhẹ đôi cánh cỏ của con châu chấu, ánh mắt sáng ngời, nét tinh nghịch của thiếu nữ mười sáu tuổi hiện rõ trên khuôn mặt. Nhìn con châu chấu lay động, nàng bỗng nhiên nói: “Thập Thất lang, trước ngày rời Trường An, ta vốn định nói với chàng rằng, nếu lần này chàng giúp Thiên Uy quân được rửa oan, liệu chàng có thể từ chức Thiếu khanh của Sát Sự Thính, cùng ta đi khắp non sông Đại Chu hay không? Nhưng giờ nghĩ lại, ta thấy mình không nên nói như vậy. Chàng từ chức hay không, nên do chàng tự quyết định. Chàng là một cá nhân độc lập, ta không thể vì chàng yêu ta mà đem tình yêu ấy ra làm áp lực ép buộc chàng.”

Nàng ngừng lại đôi chút, rồi thở dài: “Thập Thất lang, chàng và ta, đều là lần đầu tiên biết thích một người. Trong lúc ở bên nhau, khó tránh khỏi những lúc sai sót. Nhưng, thời gian quý giá nhường này, hà tất phải phí hoài vào việc phân định đúng sai?”

Thôi Tuần nghe xong, từ từ ngẩng đầu lên, ngơ ngẩn nhìn nàng. Lý Doanh nhoẻn cười: “Ta chẳng còn lòng dạ đâu để so đo, chẳng nhẽ chàng còn muốn so đo tiếp nữa? Ta khuyên chàng một câu: đừng nghĩ nhiều kẻo tổn hại tinh thần.”

Đôi mắt đen láy của Thôi Tuần cuối cùng cũng hiện lên những tia sáng dịu dàng, hắn khẽ gật đầu, nhưng ánh mắt bất giác dừng lại ở chiếc trâm phượng cài trên mái tóc đen óng của Lý Doanh. Đầu trâm được chế tác tinh xảo, chính giữa khảm một viên minh châu sáng rực. Hắn nhìn chằm chằm vào viên châu, như chìm vào cõi mộng.

Lý Doanh đưa tay sờ lên tóc theo ánh mắt của hắn, nàng thuận miệng hỏi: “Chàng nhìn đầu trâm làm gì?”

Thôi Tuần lắc đầu: “Không nhìn đầu trâm.”

“Thế chàng nhìn gì?”

“Nhìn… minh châu.” Hắn dừng một chút, rồi nói: “Vừa rồi, ta chợt nhớ đến một đoạn trong Sưu Thần Ký, miêu tả về minh châu.”

Đoạn văn đó viết rằng: Minh nguyệt châu, viên tròn đầy một tấc, trắng tinh thuần khiết, ban đêm tỏa sáng rực rỡ, tựa như ánh trăng, là bảo vật vô giá trên đời.

Mỗi một chữ, đều tựa như nói về nàng.

Mà hắn, lại có thể sở hữu viên bảo châu quý giá ấy. Điều này làm sao không khiến hắn vừa kinh sợ vừa cảm kích, phúc đức như tích tận ba đời.

Lý Doanh cũng từng đọc Sưu Thần Ký, nghe hắn nói, nàng dần hiểu ra ý tứ, rồi bất giác đỏ mặt. Nàng không nghĩ bản thân mình tốt đẹp đến vậy, những lời nàng nói với hắn, chẳng qua đều xuất phát từ tận đáy lòng mà thôi.

Nàng cảm thấy tai mình nóng ran, để che giấu nỗi thẹn thùng, nàng liền chuyển chủ đề: “Phải rồi, hôm ở đàn Vân Trạch, rõ ràng ta thấy túi hương của ta rơi xuống từ người chàng. Chẳng phải chàng nói túi hương đó chàng làm mất rồi sao?”

Thôi Tuần vốn đã lường trước nàng sẽ chất vấn hắn, nhưng khi nàng thực sự hỏi đến, hắn vẫn ấp úng, không biết phải trả lời sao. Lý Doanh bừng tỉnh: “Chẳng lẽ, chàng không muốn trả túi hương cho ta, nên mới bảo là mất rồi?”

Thôi Tuần cúi đầu, không nói một lời, hiển nhiên ngấm ngầm thừa nhận. Lý Doanh đưa tay lên trán: “Chàng đúng là… thật khiến người ta bó tay mà.”

Nếu muốn giữ lại túi hương, chỉ cần nói thẳng với nàng là được. Chắc vì ngại không dám nói, nhưng lại muốn giữ, nên đành viện cớ là đã làm mất.

Cứ phải vòng vo khó đoán như vậy…

Rồi nàng chợt nghĩ, chẳng lẽ khi ở trong Thiên Uy quân, hắn cũng khó đoán thế này?

Thôi Tuần rõ ràng có chút căng thẳng, hắn lắp bắp hỏi: “Chuyện này… có tính là lừa gạt không?”

Hắn sợ Lý Doanh xem việc này ngang với việc hắn giấu chuyện uống dược hổ lang, làm nàng đau lòng. Lý Doanh thấy dáng vẻ bồn chồn của hắn, không nhịn được bật cười: “Ta không xem chuyện này là lừa gạt.”

Thôi Tuần vội ngẩng đầu lên, ánh mắt loé lên mong đợi. Lý Doanh cười khúc khích, nói: “Cứ xem như đây là một chút mưu mẹo nhỏ trong tình yêu của Thôi Thiếu khanh đi.”

Mặt Thôi Tuần ửng đỏ, nhưng đồng thời, hắn cũng thở phào nhẹ nhõm. Lý Doanh nghịch ngợm chìa tay ra, đòi lại túi hương: “Nhưng chàng vẫn phải trả lại túi hương cho ta.”

Thôi Tuần ngẩn người, sau đó lắc đầu. Lý Doanh nói: “Lúc trước ta cho chàng mượn là để chàng dùng trong buổi thẩm vấn. Giờ thẩm vấn xong cả rồi, mà chàng còn cố tình giở trò, không chịu trả lại cho ta, chàng xem có hợp lý không?”

Thôi Tuần nghe thấy hai chữ ”giở trò”, gò má càng thêm ửng đỏ. Hắn lúng túng đáp: “Không muốn trả lại cho công chúa.”

Nàng bật cười, ánh mắt thoáng tia trêu chọc: “Chàng giữ lại cũng có ích gì đâu.”

“Có ích mà.” Thôi Tuần bất ngờ sửa lời nàng: “Công chúa từng nói, nút tóc đại diện cho công chúa, nút tóc còn đó, cũng như công chúa còn đó.”

Lý Doanh mỉm cười hỏi: “Vậy thì sao?”

Thôi Tuần cúi đầu, cố giấu đi vẻ ngượng ngùng. Lớp đỏ nhạt trên gương mặt hắn như lan rộng ra. Sau một hồi chần chừ, cuối cùng hắn khẽ nói: “Vậy nên ta… muốn công chúa luôn ở bên ta…”

Câu trả lời này giống hệt với điều nàng nghĩ trong lòng. Nhưng nàng lại muốn chính miệng hắn nói ra. Đôi mắt nàng cong cong, nét cười nơi khóe môi dịu dàng tựa như trăm hoa đua nở giữa mùa hạ. Nàng hắng giọng, không trêu chọc hắn nữa, mà mỉm cười đáp: “Được thôi, vậy thì cho chàng.”



Vượt qua vạn khe núi, đến được thành Củng Châu, sau đó, hai người lại tiếp tục thúc ngựa không ngừng nghỉ, hướng về phía Lĩnh Nam.

Khi đến Hoành Châu, khoảng cách đến Lĩnh Nam chỉ còn rất gần. Thôi Tuần ước tính chỉ cần vài ngày nữa là có thể tới nơi.

Nhưng càng gần Lĩnh Nam, trong lòng hắn lại càng căng thẳng. Đến Lĩnh Nam chưa hẳn đã là thử thách lớn nhất. Làm thế nào để áp giải Thẩm Khuyết an toàn về Trường An, mới thật sự là thử thách.

Dọc đường, hắn luôn suy tính cách sắp xếp kế hoạch sau đó, đến mức thất thần. Khi múc nước bên suối, hắn suýt để túi nước trôi mất.

Đến khi bừng tỉnh, hắn mới vội vớt lấy túi nước, đậy kín nắp, rồi bước về phía Lý Doanh.

Liên tục thúc ngựa suốt mấy ngày trời, nàng mệt mỏi đến mức tựa lưng dưới bóng cây lớn mà ngủ đi lúc nào không hay. Nhìn dáng vẻ say ngủ của nàng, Thôi Tuần bất giác mỉm cười. Hắn định bước nhanh hơn đến bên nàng, nhưng đột nhiên, một tràng âm thanh dồn dập của vó ngựa vang lên.

Ngoài tiếng vó ngựa, còn có tiếng quát tháo và âm thanh của mũi tên xé gió. Thôi Tuần nhíu mày, lần theo âm thanh mà đi. Tiếng động phát ra từ một quan đạo hoang phế. Hắn vạch đám cỏ dại cao đến ngang người, chỉ thấy trên quan đạo có một người đang cưỡi ngựa tháo chạy, phía sau là một nhóm người đuổi theo.

Người đang chạy trốn mang trên lưng một chiếc hộp gỗ. Rõ ràng chiếc hộp có thể giúp y cản mũi tên, nhưng y lại bất chấp, giật tung dây buộc chiếc hộp, ôm chặt vào lòng. Trong lúc đó, kẻ đuổi theo đã tìm được cơ hội, một mũi tên trúng vào cánh tay y. Vì đau đớn, y ngã khỏi lưng ngựa, nhưng khi chạm đất, y vẫn nhất quyết không buông chiếc hộp trong tay.

Những kẻ truy đuổi cũng lập tức nhảy khỏi ngựa, từng người rút đao bên hông, lao đến tấn công người vừa ngã.

Lấy đông h**p ít, lại thêm cánh tay đã bị thương, chỉ trong chốc lát người kia đã lãnh thêm mấy vết đao chằng chịt.

Đám người đánh nhau thành một mớ hỗn độn.

Nếu là trước đây, chắc chắn Thôi Tuần sẽ chẳng bận tâm sống chết của người kia mà chỉ lạnh nhạt quay đầu rời đi. Bởi thiên hạ này, người đáng thương vốn dĩ nhiều vô kể, hắn sao có thể cứu giúp hết?

Thế nhưng, từ khi gặp Lý Doanh, hắn luôn mong bản thân có thể trở thành một người tốt hơn, để xứng đáng với nàng hơn.

Vì vậy, lần này, vị Thiếu khanh của Sát Sự Thính không quay đầu bỏ đi mà quyết định làm một việc tốt: ra tay cứu người.

Hắn quan sát kỹ lưỡng cuộc ẩu đả, cố gắng phân biệt nguyên nhân tranh chấp giữa hai bên. Nhưng trong phút chốc, ánh mắt hắn bỗng khựng lại.

Những lưỡi đao đeo bên hông kia không giống binh khí của Đại Chu, mà lại rất giống đao của người Đột Quyết.

Thôi Tuần từng bị giam trong vương đình Đột Quyết suốt hai năm, không ai hiểu rõ về đao Đột Quyết hơn hắn. Chỉ liếc mắt một cái, hắn đã nhận ra ngay.

Hóa ra, những kẻ truy đuổi kia chính là người Đột Quyết. Hơn nữa, nhìn vào kiểu dáng của những lưỡi đao, địa vị của bọn chúng không hề thấp, chí ít cũng thuộc hàng cận vệ vương công.

Cận vệ của Đột Quyết xuất hiện trên đất Đại Chu sao?

Thôi Tuần mím môi trầm ngâm. Hắn nhanh chóng bước đến kiện hành lý, lấy ra cây nỏ gỗ. Sau khi kiểm tra, hắn quay lại bên quan đạo hoang phế, vạch đám cỏ cao ngang người, giương nỏ lắp tên. Tay hắn siết lấy phần đuôi cong của nỏ, xoay mạnh để kéo căng dây cung, rồi nhắm thẳng vào đám người Đột Quyết. Ngay khi ngón tay bóp cò, mũi tên lao đi với tốc độ kinh hồn.

Mũi tên xuyên thẳng qua cổ họng một tên Đột Quyết. Đám còn lại sững người. Ở đây lại có mai phục sao?

Khi bọn chúng dáo dác nhìn quanh, Thôi Tuần lại điềm nhiên lắp tên, kéo cò, mũi tên thứ hai tiếp tục đoạt mạng một tên khác.

Những kẻ còn lại hoang mang nhìn quanh. Đám cỏ cao rậm rạp đã che khuất hoàn toàn người bắn nỏ, chúng không thể nào phát hiện được mũi tên xuất phát từ đâu.

Đúng lúc này, mũi tên thứ ba xé gió lao ra, đâm xuyên qua trái tim một tên khác.

Năm người ngã gục hết ba, người đang bị truy sát liền nắm lấy cơ hội. Thanh kiếm trong tay y vung lên dứt khoát, mạnh mẽ như cuồng phong, trong chốc lát đã kết liễu hai tên Đột Quyết còn lại.

Thoát chết trong gang tấc, người kia dùng một tay bảo vệ chiếc hộp gỗ, miệng thở d.ốc từng hơi nặng nề. Tay còn lại thì chống kiếm để đứng vững. Y đảo mắt nhìn khắp bãi cỏ dày đặc, lớn tiếng gọi: “Ân nhân nào đã cứu mỗ? Xin hãy hiện thân, mỗ nhất định sẽ cảm tạ xứng đáng!”

Thôi Tuần hoàn toàn không để tâm đến lời hứa hẹn hậu tạ của y. Hắn xoay người định rời đi, nhưng không biết từ khi nào, Lý Doanh đã tỉnh lại, nàng lần theo dấu vết từ gốc cây đến nơi này.

Qua những đám cỏ lay động, nàng nhìn thấy người đàn ông đang đứng trên quan đạo hoang phế. Đó là một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi, đôi mắt sáng ngời, như chưa từng bị những bụi bặm của thế tục vấy bẩn.

Lý Doanh nghiêng đầu hỏi Thôi Tuần bên cạnh: “Sao chàng không ra nhận lời cảm tạ của y?”

Thôi Tuần lắc đầu: “Không cần thiết.”

“Sao lại không chứ?” Nàng đẩy nhẹ hắn một cái, “Đi đi, chàng xứng đáng nhận được sự cảm ơn của người khác.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 115: So với việc bảo vệ một người, việc bảo vệ cả thiên hạ càng có ý nghĩa hơn


Người đàn ông đeo hòm gỗ trên lưng, khi nhìn thấy Thôi Tuần và Lý Doanh bước ra, rõ ràng thoáng sững sờ.

Nhưng ánh mắt y không dừng trên Thôi Tuần, người đã cứu y, mà lại chăm chú nhìn về phía Lý Doanh đứng bên cạnh.

Lý Doanh bị ánh mắt đó làm giật mình. Lẽ nào người đàn ông này có thể nhìn thấy nàng?

Nàng không biết đây là phúc hay họa, bất giác lùi lại, nấp sau lưng Thôi Tuần. Hai tay nàng hơi căng thẳng, níu nhẹ lấy vạt áo hắn. Thôi Tuần cũng không tỏ ra bất ngờ, ung dung đứng chắn trước mặt nàng. Lúc này, người đàn ông mới hoàn hồn, hành lễ với Thôi Tuần: “Hóa ra là Thôi Thiếu khanh đã cứu mỗ.”

Thôi Tuần nhíu mày: “Ngươi nhận ra ta?”

Ở một nơi hẻo lánh như Hành Châu này, lại có người nhận ra hắn sao? Xem ra, thân phận của người này cũng không hề tầm thường.

Người đàn ông khẽ gật đầu: “Mỗ từng gặp Thôi Thiếu khanh tại Quỷ thị Trường An.”

“Quỷ thị Trường An?” Thôi Tuần chăm chú quan sát gương mặt y. Hắn từ từ ghép ánh mắt sáng ngời kia với một đôi mắt đục ngầu, xám xịt trong ký ức. Cuối cùng, hắn lên tiếng, vẻ như đã nhận ra: “Ngươi là tiểu thương đã bán cho ta cây cung cũ ở Quỷ thị?”

Người đàn ông gật đầu: “Chính là mỗ. Khi đó, để tránh phiền phức, mỗ đã hóa trang.”

Khi ấy, tiểu thương đó còn kịp thời nhắc nhở Lý Doanh rằng nàng sẽ bị miêu quỷ tấn công, giúp nàng thoát khỏi một kiếp nạn. Khi đó, Lý Doanh từng nghi ngờ người này có thể nhìn thấy nàng nên mới đưa ra lời cảnh báo, nhưng rất nhanh sau đó nàng đã bị miêu quỷ làm phân tâm, quên bẵng đi tiểu thương kỳ lạ ấy.

Nghĩ đến chuyện cũ, Lý Doanh cảm thấy người đàn ông này không phải kẻ xấu. Nàng len lén ló đầu ra từ sau lưng Thôi Tuần, tò mò nhìn y. Người đàn ông mỉm cười, hơi nghiêng đầu chào nàng, nhưng trước khi nói chuyện với nàng, y đã quay sang tạ lỗi với Thôi Tuần: “Hôm đó, vì kế sinh nhai mà mỗ mới mang thiết thai cung của Thôi Thiếu khanh ra mua bán. Nếu biết ngài không hề đầu hàng Đột Quyết, mỗ nhất định sẽ không lấy một đồng, mà dâng trả tận tay.”

Đây là lần đầu tiên có một người xa lạ, lại là người Đại Chu, bày tỏ thiện ý với Thôi Tuần. Hắn thoáng ngạc nhiên, còn Lý Doanh thì ngẩn người. Nàng đã từng vô số lần tự hỏi, nếu dân chúng Đại Chu biết rằng Thôi Tuần không hề đầu hàng Đột Quyết, ngược lại còn chịu đủ khổ sở dưới tay chúng, liệu họ có thôi căm ghét hắn hay không? Nhưng ảo tưởng mãi chỉ là ảo tưởng. Trên thực tế, Thôi Tuần vẫn là viên hàng tướng bị người đời khinh bỉ, oan khuất của hắn, không biết đến bao giờ mới có thể rửa sạch.

Vì thế, khi người đàn ông nói những lời này, Lý Doanh không khỏi xúc động, khóe mắt nàng nóng lên. Thậm chí nàng còn nghĩ, nếu không chỉ có một mình người này biết được sự thật, mà cả thiên hạ đều biết, thì tốt biết bao.

Nàng lén ngẩng đầu nhìn Thôi Tuần, phát hiện sắc mặt hắn vẫn không chút thay đổi, trong đôi mắt đen thẳm của hắn, không hề có chút sóng gợn nào. Lý Doanh thầm thở dài. Con người này ấy mà, so với những điều hắn muốn kiên trì đến cùng, thì vinh nhục cá nhân chưa bao giờ là điều hắn đặt nặng. Dù sao thì hắn cũng đâu biết cách để tự đối xử tốt với chính bản thân mình.

Nhưng nàng thì khác. Điều hắn đã làm, nàng công nhận. Điều hắn chưa từng làm, nàng cũng không muốn ai khác vu oan cho hắn.

Vì vậy, nàng bước ra từ phía sau Thôi Tuần, cất tiếng trong trẻo hỏi người đàn ông kia: “Xin hỏi, làm sao mà ngài biết được Thập Thất lang không đầu hàng Đột Quyết?”

Người đàn ông rõ ràng sững sờ. “Thập Thất lang” sao… nàng gọi thân thiết đến vậy?

Nhưng rất nhanh, y trấn tĩnh lại, đáp: “Sau đêm ở Quỷ thị, mỗ đã tìm đến Hồ thương đã bán cây thiết thai cung cho mỗ. Qua đó, mỗ biết cây cung ấy đã qua tay không ít người. Ban đầu, nó thuộc về Phụ Ly Vệ – một vệ sĩ thân cận của Khả hãn Ni Đô, sau đó đến tay tình nhân của gã. Qua nhiều lần đổi chủ tại Quỷ thị Đột Quyết, cuối cùng đến tay tên thương nhân đã bán nó cho mỗ. Mỗ lần theo dấu vết, tìm đến tình nhân của Phụ Ly Vệ, từ miệng nàng ta, mỗ mới biết rằng Thôi Thiếu khanh bị bắt tại Lạc Nhạn Lĩnh, bị áp giải đến vương đình Đột Quyết, chịu khổ sở suốt hai năm nhưng chưa từng đầu hàng.”

Người đàn ông hồi tưởng lại những lời kể của tình nhân của Phụ Ly Vệ, ánh mắt hiện lên sự kính trọng. Những cực hình tàn bạo ấy, không phải ai cũng chịu đựng nổi, nhưng Thôi Tuần đã làm được, và vẫn không khuất phục, cũng không phản bội cố quốc. Y tiếp tục nói: “Mỗ cũng biết, lời đồn ngài đầu hàng chỉ là do công chúa Đột Quyết A Sử Na Ngột Đoá cố tình tung ra mà thôi.”

Y hơi khom người, thành tâm nói: “Trước đây tin vào lời đồn, hiểu lầm Thôi Thiếu khanh phản quốc, đây là lỗi của mỗ. Sau việc này, mỗ mới hiểu ra rằng, lời thiên hạ không thể tin tưởng hoàn toàn. Người đời đồn rằng ngài là kẻ đầu hàng nhu nhược, nhưng thực ra lại là bậc nam nhi cốt cách. Thôi Thiếu khanh, quả thực đã bị người đời hiểu lầm sâu đậm.”

Lời nói của y tràn đầy thành ý, nhưng Thôi Tuần lại nhạy bén phát hiện có điều bất thường, hắn cau mày hỏi: “Ngươi vừa gặp ta ở Quỷ thị liền đi tìm Hồ thương để điều tra chân tướng? Nhưng khi ở đó, ta tự nhận cũng không làm gì khác thường. Vậy tại sao ngươi lại nghĩ đến chuyện điều tra?”

Bàn tay cảnh giác siết chặt thân cung nỏ gỗ, ánh mắt lạnh lùng nhìn về phía người đàn ông. Nhưng y chỉ mỉm cười, rồi nói: “Không phải vì gặp Thôi Thiếu khanh nên mỗ muốn điều tra chân tướng, mà là…” Y chuyển ánh nhìn sang phía Lý Doanh: “Gặp được công chúa Vĩnh An, nên mới muốn tra rõ chân tướng.”

“Ta ư?” Lý Doanh ngạc nhiên, ngơ ngác hỏi: “Hình như, ta không quen biết ngài.”

Nghe nàng nói vậy, ánh mắt người đàn ông thoáng qua một tia kinh ngạc. Tuy nhiên, y vẫn giữ vẻ cung kính, chắp tay thưa: “Bách Kỵ Tư, Kế Thanh Dương, bái kiến công chúa Vĩnh An.”



Mặt trời gần lặn, ánh hoàng hôn đỏ rực chiếu xuống mặt nước tĩnh lặng, từng gợn sóng lấp lánh tựa như được dát một tầng hoàng kim, đẹp đẽ vô ngần. Bên bờ suối trong xanh, một đống lửa trại đã được đốt lên. Thôi Tuần dùng cành cây xuyên qua hai con cá, đặt trên lửa nướng chín rồi gỡ xuống, bày trên lá chuối đã rửa sạch. Lớp da cá cháy xém, vàng giòn, hương thơm toả ra ngào ngạt. Hắn cúi đầu, kiên nhẫn gỡ từng chiếc xương cá.

Khi Thôi Tuần chăm chú gỡ xương, Lý Doanh lại tò mò nhìn Kế Thanh Dương, người đang băng bó vết thương của mình. Trong lòng nàng đầy thắc mắc, liền hỏi: “Ngài tên là Kế Thanh Dương?”

Kế Thanh Dương gật đầu. Lý Doanh lại nói: “Ta từng gặp một yêu đạo ở trấn Đào Viên, tự xưng là Linh Hư Sơn Nhân. Lão có một đệ tử cũng tên là Kế Thanh Dương. Ngài và lão có quan hệ gì?”

Nghe đến cái tên Linh Hư Sơn Nhân, Kế Thanh Dương rõ ràng ngây người, sau đó đáp: “Linh Hư Sơn Nhân chính là sư phụ của mỗ. Ông ta đã làm chuyện gì sao?”

“Lão đã làm đủ mọi chuyện.” Lý Doanh bực tức kể lại việc Linh Hư Sơn Nhân giết người để kéo dài tuổi thọ. Kế Thanh Dương lặng người kinh hãi, hồi lâu mới thở dài: “Sư phụ chấp niệm với trường sinh đã đến mức tẩu hỏa nhập ma. Ông ta làm ra những chuyện tàn ác như vậy, chết cũng chưa đền hết tội.”

Ban đầu, Lý Doanh còn lo rằng Kế Thanh Dương sẽ báo thù cho Linh Hư Sơn Nhân, nhưng nghe y nói vậy, nàng mới thở phào nhẹ nhõm, cười nói: “Ngài không định tìm chúng ta báo thù là tốt rồi.”

Kế Thanh Dương lắc đầu: “Tuy mỗ mồ côi thì nhỏ, được sư phụ nuôi lớn, nhưng giữa mỗ và ông ta “đạo bất đồng bất tương vi mưu”. [1] Mỗ đã sớm đoạn tuyệt quan hệ sư đồ với ông ta. Ông ta hại biết bao sinh mạng vô tội, nếu mỗ biết được nhất định sẽ không bỏ qua.”

<i>[1] “Đạo bất đồng bất tương vi mưu” tiếng Trung được viết là: “道不同,不相为谋”. Tạm dịch: Không cùng một trình độ tu Đạo thì tâm cảnh cũng khác nhau xa.</i>

Lý Doanh không ngờ rằng người được Linh Hư Sơn Nhân nuôi dưỡng như Kế Thanh Dương lại là một kẻ chính trực. Nàng không khỏi thốt lên: “May mắn là ngài không bị sư phụ dẫn lạc vào con đường lầm lạc.”

Kế Thanh Dương nghe vậy, lại thở dài một tiếng, vẻ mặt đầy sự hổ thẹn: “Thật ra, lúc ban đầu, quả thật mỗ không phân biệt rõ thiện ác. Sư phụ kết giao với Bách Kỵ Tư Đô úy Kim Di, rồi đưa mỗ đến dưới trướng Kim Di làm việc. Vì tiền đồ, mỗ đã giúp Kim Di làm không ít việc ác. Nhưng sau đó…”

Y dừng lại, như thể đang nhớ về một chuyện gì đó. Ánh mắt y dần dịu xuống: “Sau này, mỗ quyết tâm trở thành một người tốt. Vì vậy, mỗ hành hiệp trượng nghĩa, trừng trị kẻ ác, bảo vệ bình yên cho bá tánh.”

Lý Doanh hiếu kỳ hỏi: “Vậy, động lực nào đã khiến ngài thay đổi vậy?”

Kế Thanh Dương không trả lời, chỉ nhìn nàng một cách thâm trầm, mỉm cười: “Công chúa có còn nhớ không, năm Thái Xương thứ mười tám, trong đêm hội đèn Thượng Nguyên, một nhóm thiếu niên chạy tới xem đèn, vô tình va phải xa giá của công chúa Lang Gia. Công chúa Lang Gia giận dữ, ra lệnh cho nô bộc đánh chết nhóm thiếu niên ấy ngay giữa phố. Khi đó công chúa ngang qua, người đã vén rèm kiệu lên, nói vài lời để cứu nhóm thiếu niên đó, nên công chúa Lang Nha mới chịu bỏ qua.”

Kế Thanh Dương vẫn còn nhớ rõ đêm hôm đó, y bị đánh đến thảm hại. Khi tới Bách Kỵ Tư, y luôn tỏ ra oai phong, nhưng đến lúc này, y mới ngộ ra một điều: Bách Kỵ Tư chỉ là chó săn của hoàng gia. Những vũ hầu mà ai nấy đều lấy làm sợ hãi như y, cũng không đáng gì trong mắt công chúa Đại Chu kiêu ngạo cao quý, Lang Gia công chúa muốn đánh thì đánh, muốn giết thì giết, còn không bằng cả gia nô; mà ngay cả bị gi.ết ch.ết, Đô úy Kim Di cũng chẳng dám lên tiếng.

Một bàn chân đạp lên đầu y, gần như muốn nghiền nát y vào bùn. Khi y tưởng mình sẽ bỏ mạng trong đêm ấy, nhưng rồi, một cỗ kiệu xa hoa nạm đầy minh châu chậm rãi dừng lại.

Xung quanh cỗ kiệu được che bằng những tấm lụa mỏng in hoa bảo tướng, bên trong khói trầm lan tỏa ngát hương. Khi bàn chân đang đạp lên đầu mình dời đi, y cố gắng ngẩng đầu, lọt vào mắt là một bàn tay trắng nõn yểu điệu vén rèm. Một gương mặt thanh tú, đẹp đẽ và đoan trang hiện ra trước mắt y. Giọng nói của thiếu nữ tựa dòng suối trong vắt, dịu dàng và thuần hậu: “Lang Nha tỷ tỷ, bọn họ đâu phải cố ý, tỷ hà tất phải dựa thế rồi ức h**p người ta như vậy?”

Trong ánh mắt thiếu nữ, còn mang theo chút giận dữ và bất bình. Nàng không quen biết đám thiếu niên kia, cũng không biết bọn họ là người của Bách Kỵ Tư. Nàng chỉ không thể nhẫn nhịn khi thấy công chúa Lang Gia đánh người ngay giữa phố. Công chúa Lang Nha hiển nhiên không dám gây hấn với nàng, đành bực bội cười xòa rồi nhanh chóng rời đi, dẫn theo nô bộc.

Thiếu nữ gật nhẹ đầu với đám thiếu niên vẫn đang đờ đẫn như tượng gỗ, mỉm cười nói: “Các ngươi mau đi xem hội hoa đăng đi, chậm nữa là tàn hội đấy.”

Tấm rèm lại được kéo xuống, che khuất gương mặt xinh đẹp của nàng. Sáu người khiêng kiệu tiếp tục tiến về cung Đại Minh, theo sau là mấy chục cung nữ. Kế Thanh Dương phải một lúc lâu mới hồi phục lại tinh thần, y quay sang hỏi những người bên cạnh: “Người đó là ai vậy?”

“Công chúa Vĩnh An.”



Sự kiện ấy khiến Kế Thanh Dương ghi nhớ cả một đời, trong khi Lý Doanh lại không hề có chút ấn tượng nào. Nàng cố gắng hồi tưởng, nhưng vẫn không thể nhớ được gì, đành lên tiếng xin lỗi: “Xin lỗi, ta thật sự không nhớ gì cả.”

Kế Thanh Dương có chút lạc lõng và thất vọng, nhưng y nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, miễn cưỡng cười nói: “Với công chúa, có lẽ chỉ là một việc nhỏ nhặt, nhưng với mỗ, đó là ân cứu mạng, cả đời không quên.”

Kế Thanh Dương nhìn Lý Doanh một cách chăm chú, ánh mắt đã pha lẫn chút tình ý. Y mở miệng định nói gì đó, nhưng đúng lúc ấy, Thôi Tuần đã ném cho y một con cá nướng, sau đó đưa cho Lý Doanh một con cá đã được gỡ xương. Lý Doanh vui vẻ nhận lấy, Thôi Tuần liếc nhìn Kế Thanh Dương, vẻ mặt lạnh nhạt nói: “Cẩn thận hóc xương.”

Kế Thanh Dương ngẩn người một lát, mùi cá nướng thơm lừng lan tỏa. Lý Doanh không kiềm được, vội vàng gỡ một miếng thịt cá, đưa vào miệng, quả nhiên ngoài giòn trong mềm, tươi ngon mọng nước. Nàng thấy Thôi Tuần đang xiên thêm một con cá để nướng, bận rộn đến mức không có thời gian để ăn, liền xé một miếng ở phần bụng cá, đưa tới bên miệng Thôi Tuần một cách tự nhiên: “Chàng cũng thử đi?”

Cảnh tượng này quả thật quá đỗi thân mật. Hắn gỡ xương cho nàng, nàng lại đút cá cho hắn, dù là người không tinh ý đến mấy rồi cũng phải nhận ra mối quan hệ giữa hai người. Kế Thanh Dương mím môi, ánh mắt sáng lên, y nuốt lời định nói vừa rồi, chuyển sang chuyện khác: “Công chúa đã cứu mạng mỗ, vì thế khi mỗ thấy công chúa đi cùng Thôi Thiếu khanh ở Quỷ thị, mỗ đã rất ngạc nhiên. Bởi vì danh tiếng của Thôi Thiếu khanh… thật sự không tốt cho lắm…”

Lý Doanh nghe xong, nàng ngẩn người nhìn Kế Thanh Dương. Kế Thanh Dương mỉm cười, tiếp tục nói: “Tuy mỗ không tin Thôi Thiếu khanh, nhưng mỗ tin công chúa. Nếu Thôi Thiếu khanh thực sự đã đầu hàng Đột Quyết, công chúa tuyệt đối sẽ không để ý đến ngài ấy. Vì vậy, mỗ mới tìm đến Hồ thương để điều tra rõ sự tình.”

Chính nhờ điều tra rõ ngọn ngành, y mới yên tâm để Lý Doanh ở lại bên Thôi Tuần.

Mặc dù y vẫn còn nhiều câu hỏi trong lòng, như là tại sao nàng lại còn ở lại nhân gian, tại sao nàng lại xuất hiện ở Quỷ thị, tại sao nàng lại ở bên cạnh Thôi Tuần, thì trên hết, y luôn lo lắng cho sự an nguy của nàng. Nàng là nữ thần thuần khiết trong lòng y, ba mươi năm gặp lại khiến y vui mừng khôn xiết. Y muốn ở bên, bảo vệ nàng mọi lúc mọi nơi, nhưng khi bình tĩnh lại, y nhận ra nàng đã có Thôi Tuần bảo vệ, còn y, nhân sinh hữu hạn, tình si tuy đáng ca ngợi, nhưng so với việc bảo vệ một người, việc bảo vệ cả thiên hạ lại càng có ý nghĩa hơn.

Vì thế, y cầm kiếm, vung ngựa, rời khỏi Trường An, tiếp tục làm kẻ hành hiệp trượng nghĩa, trừ gian diệt ác, phù trợ kẻ yếu. Còn vị công chúa cao quý của Đại Chu, nàng sẽ mãi mãi ở trong trái tim y.

Kế Thanh Dương giải thích rõ vì sao y điều tra việc Thôi Tuần có đầu hàng hay không, khiến Lý Doanh phải thở dài trong lòng. Thì ra, Kế Thanh Dương làm tất cả là vì nàng, chứ không phải vì Thôi Tuần.

Xem ra những lời đồn do A Sử Na Ngột Đóa và Bùi Quan Nhạc tung ra đã khiến danh tiếng Thôi Tuần bị bôi nhọ trầm trọng, khó lòng gột rửa. Từ quan lại quyền quý, văn nhân mặc khách, đến bách tính thường dân, chẳng ai muốn gạt bỏ thành kiến, đi tìm hiểu sự thật đằng sau những ô danh ấy. Thực ra, nếu họ chịu làm như Kế Thanh Dương, chỉ cần tìm hiểu đôi chút, họ sẽ biết người bị gọi là “hàng tướng” ấy lại chính là người có khí tiết kiên cường nhất trần đời.

Lòng Lý Doanh rối như tơ vò. Nhưng Thôi Tuần dường như không mấy bận tâm đến điều này. Trái lại, hắn thản nhiên hỏi Kế Thanh Dương: “Trước khi chết, sư phụ ngươi, Linh Hư Sơn Nhân có nói rằng ba mươi năm trước, ngươi bị Kim Di phái đi, nhiệm vụ là gi.ết ch.ết công chúa. Ta muốn biết, đêm đó, ngươi có thực sự giết công chúa hay chưa?”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 116: Y muốn cứu Lý Doanh


Câu hỏi này khiến Kế Thanh Dương nhất thời ngây ngẩn.

Y nhìn về phía Lý Doanh, đôi mắt nàng cũng hiện lên vẻ căng thẳng. Ánh mắt Kế Thanh Dương dừng lại trên gương mặt nàng hồi lâu, rồi mới dời đi, lắc đầu.

Câu trả lời của y vốn nằm trong dự liệu của Thôi Tuần. Rõ ràng Kế Thanh Dương có tình cảm với Lý Doanh, thì làm sao có thể ra tay với nàng được?

Thôi Tuần tiếp tục hỏi: “Vậy đêm đó, đã xảy ra chuyện gì?”

Chuyện gì đã khiến y không thể ra tay?

Kế Thanh Dương mím chặt môi, ký ức mà y không muốn nhớ lại nhất cuối cùng cũng tuôn dần ra khỏi miệng.



Kế Thanh Dương đúng là đã yêu thầm Lý Doanh. Sau buổi hội đèn Thượng Nguyên, y đã đem lòng yêu nàng. Nhưng y cũng hiểu rõ thân phận mình thấp kém đến nhường nào, làm sao xứng với nàng công chúa cao quý của Đại Chu?

Cho nên, y chỉ có thể giấu kín tình cảm này trong lòng, không để ai hay biết.

Trước mặt người khác, y là một vũ hầu của Bách Kỵ Tư, thông minh tháo vát, nhưng sau lưng, y chỉ là một thiếu niên hèn mọn, đem lòng thầm mến Lý Doanh. Y sẽ cống hiến hết mình trong Bách Kỵ Tư, chỉ vì muốn có nhiều cơ hội vào cung hơn, y cũng sẽ kiên nhẫn đứng đợi ở những nơi nàng đi qua, chỉ để trộm nhìn dáng hình thanh thoát từ xa của nàng. Tình yêu của y, dịu dàng, khắc chế, đầy sự cẩn trọng.

Chẳng bao lâu sau, Lý Doanh đã có vị hôn phu, đó là Trịnh Quân, đích tử của gia tộc họ Trịnh ở Huỳnh Dương, cháu trai của Trịnh Hoàng hậu. Trịnh Quân là người nho nhã, lễ độ, quả thực rất xứng đôi với Lý Doanh. Dù thấy chua xót trong lòng, nhưng Kế Thanh Dương vẫn vui mừng vì nàng tìm được mối nhân duyên tốt đẹp.

Tuy vậy, y vẫn không thôi cảnh giác. Trên đời này có quá nhiều người phản bội, ít ai có tình cảm chân thành, vì vậy y đã âm thầm theo dõi Trịnh Quân. Không theo dõi thì thôi, vừa theo dõi, y phát hiện ra Trịnh Quân có ý đồ gây bất lợi với Lý Doanh.

Y vô cùng phẫn nộ, lập tức bẩm báo việc này với Đô úy Kim Di. Kim Di giao cho y toàn quyền điều tra. Y dốc hết sức lực, kết quả phát hiện Trịnh Quân vốn có tình ý với biểu muội của mình, Vương Nhiên Tê, vì không muốn cưới Lý Doanh nên mới tìm cách ám hại nàng.

Sau khi biết chuyện, y chỉ muốn băm vằm Trịnh Quân ra thành trăm mảnh. Trịnh Quân may mắn được sở hữu nữ tử thuần khiết, trong sáng bậc nhất thế gian, cớ gì lại không biết trân trọng? Y kỳ vọng Thánh nhân nổi giận lôi đình, đòi lại công bằng cho nữ nhi yêu quý nhất của mình. Nhưng y chờ đợi mãi, không thấy Trịnh Quân bị trị tội, mà chỉ nhận được một đạo mệnh lệnh từ cấp trên Kim Di, bảo y đi giết Lý Doanh.

Khi ấy, y trợn tròn mắt, không dám tin vào tai mình. Kim Di chỉ mỉm cười, nói một câu đầy ẩn ý: “Thanh Dương, Bách Kỵ Tư chúng ta nhìn thì vẻ vang, nhưng khác với lục bộ, chúng ta chỉ là đám chó săn của Thánh nhân mà thôi. Nếu Thánh nhân vui, chúng ta vinh hiển phú quý, nếu Thánh nhân không vui, chúng ta sẽ mất mạng. Ngươi là người thông minh, chắc ngươi hiểu nên phải chọn thế nào.”

Y đau khổ đến tột cùng, nhưng cuối cùng vẫn nhận nhiệm vụ, bởi y biết, nếu y không nhận, Kim Di sẽ giao việc này cho người khác, đến lúc đó, Lý Doanh sẽ không còn đường sống.

Phải, đường sống.

Y nhận nhiệm vụ, không phải để giết Lý Doanh, mà là để cứu nàng.



Khi Kế Thanh Dương chậm rãi kể lại mọi chuyện, cố tình lược bỏ chi tiết bản thân từng si mê Lý Doanh, chỉ nói rằng muốn cứu nàng vì trả ơn cứu mạng. Lý Doanh không nhận ra điều gì bất thường, chỉ lẩm bẩm: “Nếu ngài đã quyết ý cứu ta, vì sao ta vẫn phải chết?”

Nàng ngây ngẩn hỏi: “Có phải vì ngay cả khi ngài không giết ta, thì a gia cũng muốn ta chết, nên ông ấy đã để người khác ra tay?”

Kế Thanh Dương nghe xong, buột miệng hỏi: “Công chúa rất hận Tiên đế sao?”

Lý Doanh ngẩn người, thoáng chốc muốn nói “hận,” nhưng rồi lại im lặng. Nàng vốn là một tiểu công chúa sống lâu ngày trong thâm cung, chưa từng biết đến nỗi khổ của nhân gian. Chuyến xuất cung lần này, đặt chân ra khỏi Trường An, nàng mới chứng kiến một thế giới khác. Khi tận mắt nhìn thấy hai trăm hai mươi người ở thôn Ngưu Gia vì mất hết hy vọng về tương lai phía trước mà chọn tin lời Linh Hư Sơn Nhân, uống thánh thủy để tìm đến cái chết, nàng dường như đã hiểu phần nào nỗi lòng của a gia. Chế độ tuyển quan của Đại Chu đã mục nát đến tột cùng, nếu không cải cách thì vong quốc diệt chủng chỉ là chuyện sớm muộn.

Tuy rằng mơ hồ hiểu được, nhưng điều đó không có nghĩa nàng có thể buông bỏ mọi oán hận. Lý Doanh cắn môi, khẽ nói: “Ta… ta vẫn hận người…”

Kế Thanh Dương thở dài một tiếng: “Kỳ thực, công chúa không cần phải oán hận Tiên đế.”

Lý Doanh khó hiểu nhìn y. Kế Thanh Dương nói: “Tuy Tiên đế từng muốn giết công chúa, nhưng vào khoảnh khắc cuối cùng, người lại dừng tay.”



Năm Thái Xương thứ hai mươi, đêm ngày mùng sáu tháng mười.

Trong điện Thần Long, hương thuốc nồng đậm. Thái Xương Đế đóng cửa tĩnh dưỡng, ngay cả Khương Quý phi được sủng ái nhất cũng không được triệu kiến.

Tấu chương từ khắp nơi như dòng nước chuyển đến điện Thần Long, vô số quốc sự chờ Thái Xương Đế phê chuẩn để quyết định. Nhưng vị đế vương nắm trong tay sinh mệnh của hàng vạn người lúc này lại héo hon trên giường bệnh, ngay cả một trang tấu chương cũng không thể xem hết. Cho đến khi chiếc đài sứ trắng khắc hình rồng cháy hết, nội thị thay dầu lần nữa, người mới giật mình tỉnh lại.

Thái Xương Đế nhìn ánh nến lúc sáng lúc tối, bất chợt gập người, trong cổ họng phun ra một ngụm máu tươi.

Máu tươi thấm lên sàn gỗ mun, đỏ đến ghê người.

Cung nhân trong điện sợ đến mất hồn, kẻ thì chạy đi gọi thái y, người thì quỳ dưới chân Thái Xương Đế run rẩy, khóc lóc thảm thiết. Một nội thị đỡ lấy Thái Xương Đế sắp ngã khỏi giường, nhưng lại bị bàn tay gầy guộc của người nắm chặt. Từ kẽ răng, Thái Xương Đế nghiến ra bốn chữ: “Gọi Kim Di đến!”



Kim Di vừa lăn vừa bò vào trong điện. Thái Xương Đế vì bệnh lâu ngày mà hai gò má hóp lại đến đáng sợ, không còn chút phong thái uy nghiêm nào. Kim Di quỳ rạp dưới đất, không dám thở mạnh. Thái Xương Đế lại bảo ông ta tiến lại gần. Kim Di rón rén bò đến cạnh giường, liền bị hoàng đế nắm chặt cổ áo: “Người ngươi phái đi giết Minh Nguyệt Châu đâu rồi?”

Kim Di đánh bạo trả lời, giọng run rẩy: “Hắn… hắn đang theo sát công chúa…”

“Bảo hắn quay về!” Ánh mắt Thái Xương Đế đỏ ngầu như người điên: “Nếu Minh Nguyệt Châu có mệnh hệ gì, trẫm sẽ lột da ngươi!”

Kim Di sợ đến hồn bay phách tán, vội vàng dập đầu, đáp: “Tuân chỉ.”

Nhìn bóng lưng Kim Di cuống cuồng chạy đi, Thái Xương Đế ngã phịch xuống giường bệnh. Người nhìn trần điện vẽ rồng vàng năm móng, từ từ nhắm mắt lại, miệng vẫn lầm bầm: “Nhất định còn cách khác, nhất định còn cách khác…”

Người là phụ thân của thiên hạ, nhưng đồng thời cũng là một người cha hết mực yêu thương con gái mình. Nỗi đau tự tay giết con gái như lưỡi dao xoáy vào tim, thực sự người không thể làm được.



Vào thời khắc cuối cùng Thái Xương Đế đã đột nhiên thay đổi quyết định. Kim Di lập tức ra lệnh cho người đi báo tin cho Kế Thanh Dương. Nhưng lúc này, Kế Thanh Dương đã cùng Lý Doanh đến hồ sen. Y nhận được thư truyền tin bằng bồ câu, biết rằng Vương Đoàn Nhi đã bỏ trốn giữa chừng. Theo kế hoạch, lẽ ra y phải đẩy Lý Doanh xuống hồ sen dìm chết, sau đó đổ tội cho phò mã Trịnh Quân.

Nhưng y tuyệt đối sẽ không làm theo kế hoạch.

Y muốn đưa Lý Doanh đi.

Tuy thân phận thấp kém, nhưng lòng y đối với nàng lại chân thành tha thiết. Y không giống những kẻ cao cao tại thượng, ngoài mặt tỏ vẻ yêu thương, kính trọng nàng, nhưng lại vì mục đích của mình mà đẩy nàng vào tuyệt cảnh.

Y muốn đưa nàng rời cung, muốn bảo vệ nàng, quyết không để nàng chịu bất kỳ tổn thương nào.

Thế nhưng, cuối cùng y vẫn không thể đưa nàng đi.

Thôi Tuần trầm ngâm suy nghĩ, hắn hỏi Kế Thanh Dương: “Nếu ngươi không đẩy công chúa, lại muốn đưa công chúa đi, vậy công chúa làm sao lại rơi xuống hồ sen?”

Kế Thanh Dương nhìn Lý Doanh với vẻ mặt cũng đầy hoang mang, thở dài lắc đầu: “Ta không biết. Kim Di truyền tin khẩn, bảo ta mau trở về, nên ta đã rời hồ sen để đi gặp ông ta. Về phần ai đã hại công chúa, ta cũng không rõ.”

Ngừng một chút, y nói tiếp: “Có lẽ là Thôi tướng công. Ông ta là người không muốn kế hoạch này thất bại nhất. Để đề phòng Tiên đế mềm lòng, có thể ông ta đã chuẩn bị sẵn hậu chiêu.”

Thôi Tuần và Lý Doanh cũng nghĩ như vậy, đây chính là cách giải thích hợp lý nhất.

Trong lòng Lý Doanh ngổn ngang trăm mối. A gia vì thiên hạ mà muốn giết nàng, nhưng vào phút cuối cùng lại vì tình phụ tử mà không thể xuống tay. Nàng thực sự không biết nên tiếp tục oán hận người, hay như lời của Kế Thanh Dương, bớt hận người đôi chút.

Nàng thẫn thờ, như thể đang lạc mất chính mình. Thôi Tuần đột nhiên lên tiếng: “Cháy rồi.”

Lý Doanh cùng Kế Thanh Dương đồng loạt hướng ánh mắt về phía hắn. Thôi Tuần bình thản nhìn con cá chép bị nướng đen như than: “Cháy rồi.”

Kế Thanh Dương không nhịn được nói: “Sao lại để cháy đến mức này?”

Thôi Tuần đáp: “Vừa nãy khi nướng, để quá gần đống lửa, đến lúc nhận ra, muốn kéo ra xa thì đã không kịp nữa.”

Hắn nói như đang bàn về cá nướng, lại như không chỉ nói về cá nướng. Lý Doanh mù mờ, nửa hiểu nửa không. Nhưng ánh mắt Thôi Tuần nghiêm túc, tựa hồ chỉ nói về con cá. Hắn tiếp tục: “Con người phải chịu trách nhiệm cho lỗi lầm của mình. Ta không ăn nữa, hai người cứ ăn đi.”

Ánh mắt Kế Thanh Dương sáng lên, y bật cười: “Đời người còn dài, một con cá cháy, chẳng phải có thể bắt thêm một con khác để nướng sao? Thôi Thiếu khanh, thứ đã cháy, đừng bận lòng nữa, hãy nhìn về phía trước. Có lẽ, vài năm sau, ngài sẽ quên mất con cá cháy đen như than này thôi.”

Lý Doanh cúi mắt, nở một nụ cười nhè nhẹ. Nàng xé một mẩu thịt cá từ tay mình, đưa đến bên môi Thôi Tuần: “Sao lại không ăn được chứ? Còn có ta mà.”

Khóe môi Thôi Tuần cong lên. Hắn cúi đầu cắn miếng cá từ tay nàng, chậm rãi nhấm nháp, rồi gật đầu: “Ngon lắm.”

Kế Thanh Dương bỗng bật cười. Y nhìn hai người trước mắt, một người như châu ngọc lấp lánh, một người như minh nguyệt sáng trong, quả là xứng đôi vừa lứa. Dẫu mai này nhân quỷ khác biệt, kết cục có thể âm dương chia cách, nhưng chỉ cần có được khoảnh khắc vui vẻ này, đã là đủ đầy.

Y tin rằng, công chúa cũng nghĩ như vậy.

Người phàm không phải thần tiên, chẳng thể đoán trước ngày mai. Chỉ có thể quý trọng những gì trước mắt.

Tuy nhiên, nhìn họ hạnh phúc như thế, có một điều y thực lòng không nỡ nói ra.



Kế Thanh Dương vừa ăn cá nướng vừa cúi đầu cẩn thận nhặt từng chiếc xương nhỏ. Bởi không ai giúp y gỡ xương, nên mỗi miếng y ăn đều tỏ vẻ hết sức thận trọng. Bên cạnh y là chiếc hộp gỗ được y xem như sinh mệnh.

Lý Doanh hơi hiếu kỳ, ánh mắt dừng trên chiếc hộp ấy, nàng hỏi: “Trong này đựng gì thế? Đám người Đột Quyết truy sát ngài, có phải là vì nó không?”

Kế Thanh Dương không vội trả lời. Ba người, hai con cá, rõ ràng không đủ ăn. Thôi Tuần liền ra suối bắt thêm. Hắn cầm theo kiếm của Kế Thanh Dương, kiên nhẫn chờ cá bơi tới gần, rồi nhanh nhẹn đâm kiếm xuống. Kế Thanh Dương nhìn bóng lưng hắn, nói: “Hình như Thôi Thiếu khanh rất giỏi dùng kiếm.”

Lý Doanh nhẹ giọng: “Chàng ấy bắn cung cũng rất giỏi.”

Kế Thanh Dương liếc nhìn chiếc cung sắt đã được cải thành nỏ gỗ, lắc đầu thở dài: “Đáng tiếc thật.”

Nhưng dù là kiếm, lực đâm hay tốc độ của hắn cũng đã không bằng người thường. Kế Thanh Dương tinh thông võ nghệ, chỉ nhìn thoáng qua đã nhận ra.

Thiếu niên Thiên Uy quân năm nào, kiếm vừa rút rồng đã đứt, cung vừa giương chim đã rơi, giờ đây lại bị bệnh tật dày vò đến mức chỉ còn đủ sức để giết cá.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 117: Thật ra ngài cũng rất thú vị


Trong lúc trò chuyện, Thôi Tuần đã bắt được hai con cá. Hắn ngoảnh lại, thấy Lý Doanh và Kế Thanh Dương đang nói cười vui vẻ. Kế Thanh Dương tính tình hào sảng, lại quen bôn ba giang hồ, hành sự chẳng câu nệ tiểu tiết. Tuy tuổi tác lớn hơn Thôi Tuần rất nhiều, nhưng ánh mắt vẫn sáng như vì tinh tú, chạy bỏng nhiệt huyết của một thiếu niên.

Có lẽ trên đời thực sự có những người dù thời gian vội vã trôi qua nhưng họ vẫn giữ được lòng nhiệt thành và dũng khí thuần khiết.

Ánh dương chiếu rọi lên thân người Kế Thanh Dương, làm y càng thêm phần rực rỡ. Không biết y vừa kể thêm điều gì, chỉ thấy Lý Doanh mỉm cười vui vẻ. Thôi Tuần mím môi, xách cá, sải bước quay về.

Hắn không định nướng cá giúp Kế Thanh Dương, mà ném thẳng một con cá còn sống quẫy đuôi tới trước mặt y, lạnh nhạt nói: “Cánh tay trái của Kế đại hiệp bị trúng tên, dùng tay còn lại nướng cá chắc không thành vấn đề chứ?”

Kế Thanh Dương ngẩn ra, rồi gật đầu: “Không vấn đề gì.”

Nhưng nướng cá bằng một tay rõ ràng chẳng dễ dàng gì. Lý Doanh chọc chọc vào tay Thôi Tuần: “Chàng giúp Kế đại hiệp nướng cá thì đã làm sao?”

Thôi Tuần không đáp, chỉ tập trung nướng cá của mình và Lý Doanh. Thấy vậy, Kế Thanh Dương bật cười ha hả: “Công chúa, người không nhận ra sao? Thôi Thiếu khanh đang ngầm hơn thua với mỗ đấy!”

Lý Doanh khó hiểu: “Hơn thua? Hơn thua chuyện gì?”

Thôi Tuần không ngờ Kế Thanh Dương lại trắng trợn nói thẳng ra như vậy. Hắn sững người, rồi sắc mặt thoáng ửng đỏ, vẻ bối rối thoáng qua trên khuôn mặt trắng ngần như ngọc. Lý Doanh ngẫm lại, lập tức hiểu ra, nàng cười khúc khích: “Chàng đúng là…”

Ai lại đi hơn thua với một người mới gặp lần đầu như Kế Thanh Dương.

Kế Thanh Dương cũng cười lớn: “Thôi Thiếu khanh, người đời mắng ngài thế nào nhỉ? Âm hiểm xảo quyệt, hèn hạ vô sỉ. Nhưng ta lại thấy thực rap ngài rất thú vị.”

Tên gian thần bị thiên hạ căm ghét hóa ra lại như một thiếu niên vừa mới biết yêu, ghen tuông vì người thương, ngấm ngầm giận dỗi.

Thật khiến người ta buồn cười.

Thôi Tuần bị hai người trêu chọc đến mức vừa thẹn vừa giận. Hắn nghiến răng: “Đa tạ Kế đại hiệp đã không ngại nhắc lại những lời mắng chửi của thiên hạ cho ta nghe.”

Kế Thanh Dương cười: “Thôi Thiếu khanh, không cần phải vậy. Mỗ vốn lang bạt bốn bể, hành hiệp trượng nghĩa, chữ “tình” đã ném ra khỏi đầu từ lâu rồi.”

Thôi Tuần không tin. Ném ra khỏi đầu? Hắn vừa thấy bộ dạng của Kế Thanh Dương khi nói chuyện với Lý Doanh, hoàn toàn không giống như vậy.

Hắn hừ lạnh một tiếng, nói: “Nếu Kế đại hiệp không còn chuyện gì khác, ta và Minh Nguyệt Châu xin cáo từ.”

Lý Doanh còn định nói gì đó, nhưng Kế Thanh Dương đã lên tiếng: “Thôi Thiếu khanh, chậm đã.” Y thở dài. “Thực ra, nếu Thôi Thiếu khanh không vội như vậy, có một chuyện, mỗ thật lòng không muốn nói ra sớm.”

Lý Doanh vội hỏi: “Chuyện gì?”

Kế Thanh Dương cung kính đặt chiếc hộp gỗ bên cạnh lên đầu gối, rồi chậm rãi hỏi: “Thôi Thiếu khanh, mỗ nghe nói ngài được phái tới Lĩnh Nam để áp giải Thẩm Khuyết. Nhưng sao lại xuất hiện ở Hành Châu thế này?”

Thôi Tuần vốn không có thiện cảm với Kế Thanh Dương. Từ khi hắn nhận ra sự ái mộ mà y dành cho Lý Doanh lộ rõ qua từng câu chữ, hắn đã chẳng thể ưa nổi. Thôi Tuần tự biết mình lòng dạ hẹp hòi, không thể hoan hỉ trò chuyện với người cũng thầm yêu nàng. Vì vậy, hắn lãnh đạm đáp: “Chuyện này không liên quan đến Kế đại hiệp.”

Kế Thanh Dương không lấy làm giận, ngược lại còn mỉm cười: “Mỗ đoán rằng, có lẽ vì Thôi Thiếu khanh lo sợ giữa đường có kẻ chặn bắt nên mới gấp rút cùng công chúa đơn độc thúc ngựa đến Lĩnh Nam, đúng không?”

Thôi Tuần không phủ nhận cũng chẳng thừa nhận, chỉ giữ vẻ mặt lạnh nhạt. Kế Thanh Dương lại nói: “Nghe đâu vụ án của Thẩm Khuyết có liên quan đến cái chết của một vị Ngu hầu trong quân Thiên Uy. Nhưng thân phận của Ngu hầu đó thấp kém, Thái hậu và Thánh nhân đều không muốn vì chuyện này mà trị tội Thẩm Khuyết. Việc Thẩm Khuyết bị trị tội, nghe nói Thôi Thiếu khanh đã dốc không ít công sức.”

Thôi Tuần vẫn giữ vẻ mặt lạnh lùng, giọng nói đầy vẻ mỉa mai: “Kế đại hiệp quả là thông tỏ tin tức.”

Kế Thanh Dương chẳng hề khiêm nhường, đáp lại một cách tự hào: “Cũng thường thôi, mỗ kết giao bằng hữu khắp thiên hạ, dĩ nhiên nắm bắt tin tức một cách nhanh nhạy.”

Thôi Tuần không buồn để ý tới. Kế Thanh Dương thoáng ngừng lời, ánh mắt sắc bén rồi tiếp tục: “Tuy nhiên, Thôi Thiếu khanh dám vì một vị Ngu hầu mà mạo phạm Thái hậu lẫn Thánh nhân, vượt ngàn dặm đến Lĩnh Nam, quan hệ giữa ngài và người đó hẳn không tầm thường.”

Lý Doanh nhanh miệng nói: “Thập Thất lang và vị Ngu hầu đó tình như thủ túc.”

Kế Thanh Dương gật đầu: “Vậy quan hệ giữa Thôi Thiếu khanh và vị Chủ soái Thiên Uy quân, Quách Cần Uy, thì thế nào?”

Thôi Tuần dường như nhận ra điều gì, cuối cùng ngẩng đầu, nhìn thẳng vào Kế Thanh Dương, từng chữ rõ ràng: “Ta xem Quách soái như phụ thân.”

Nghe câu ấy, Kế Thanh Dương như trút được gánh nặng trong lòng, y thở ra: “Nếu là vậy, thì thật tốt.”

Lý Doanh quay sang nhìn chiếc hộp gỗ đặt trên đầu gối của Kế Thanh Dương, thần sắc nàng thoáng đanh lại như đã hiểu ra điều gì. Còn Kế Thanh Dương chậm rãi cất lời: “Thiên hạ đều bảo Quách soái là kẻ bại trận, nhưng mỗ lại nghĩ khác. Quách soái thân kinh bách chiến, nhiều lần đại phá Đột Quyết. Khi bị vây tại Lạc Nhạn Lĩnh, ông thà chết chứ không chịu khuất phục, tự vẫn chứ không chịu nhục. Một người như thế, thật đáng để kính trọng. Sau khi Quách soái mất, thủ cấp bị đưa về quân Đột Quyết, gia sản bị tịch thu, thi thể không được mai táng. Than ôi, một danh tướng lừng lẫy một thời, lại rơi vào kết cục như vậy, thực khiến người ta phải thổn thức.”

Y ngừng một chút, rồi nói tiếp: “Mấy tháng trước, Đột Quyết sau sáu năm im ắng cuối cùng cũng gửi trả thủ cấp của Quách soái về Đại Chu. Mỗ cảm thấy an ủi, nhưng từ một người bạn được biết, thủ cấp Đột Quyết gửi tới thực ra là giả. Thủ cấp thật vẫn được giữ tại phủ Diệp Hộ của Đột Quyết, thế nhưng Đại Chu không công khai việc này, cũng không hạ quốc thư đòi lại từ Đột Quyết.”

Thôi Tuần đáp lời, giọng đầy sự căm phẫn:“Diệp Hộ của Đột Quyết và Quách soái có thù giết cha. Sở dĩ không hạ quốc thư, là sợ Diệp Hộ tức giận làm liều, hủy hoại thủ cấp của Quách soái.”

Kế Thanh Dương gật đầu: “Mỗ cũng đoán như vậy. Nhưng đường đường là thủ cấp chủ soái Đại Chu, sao có thể để mãi trong tay địch quốc? Vì phẫn nộ, mỗ đã lẻn vào phủ Diệp Hộ Đột Quyết. Trong lúc đó, gặp được vài ám thám của Sát Sự Thính hỗ trợ…” Y quay sang hỏi Thôi Tuần: “Những ám thám này là do Thôi Thiếu khanh phái đi phải không?”

Ánh mắt Thôi Tuần hướng về chiếc hộp gỗ, thần trí hắn dường như đã không còn ở đây, chỉ lặng lẽ đáp: “Đúng, là ta phái đi.”

Từ ngày biết tin, hắn đã cử ám thám đến Đột Quyết, nhưng Diệp Hộ canh giữ thủ cấp của Quách soái vô cùng nghiêm ngặt, ám thám nhất thời chưa thể ra tay.

Kế Thanh Dương tiếp lời: “Nhờ có bọn họ giúp sức, mỗ mới may mắn lấy được thủ cấp ra ngoài.”

Nói rồi, y cẩn thận đặt chiếc hộp gỗ xuống đất, đẩy tới trước mặt Thôi Tuần: “Thủ cấp của Quách soái, hiện đang ở trong chiếc hộp này.”

Ánh mắt Thôi Tuần mờ mịt, toàn thân hắn run rẩy, ngay cả đôi bàn tay cũng không ngừng run lên. Hắn vươn tay định mở chiếc hộp, nhưng Kế Thanh Dương ngăn lại: “Thôi Thiếu khanh, hãy khoan.”

Thôi Tuần ngẩng đầu nhìn hắn. Kế Thanh Dương không đành lòng, chậm rãi nói: “Tốt hơn là không nên nhìn.”

Thôi Tuần bần thần, giọng nói nhẹ bẫng, như vọng về từ một nơi xa xôi: “Tại sao không nên nhìn?”

Kế Thanh Dương cắn răng, sau một lúc lâu mới khàn giọng đáp: “Thủ cấp của Quách soái… đã bị chế thành một chén đựng rượu.”

Lý Doanh đứng bên, nghe mà kinh hãi, không thốt nên lời.

Chế thành chén rượu? Đây chẳng phải là sự sỉ nhục lớn nhất đối với Quách Cần Uy sao?

Cũng là sự sỉ nhục đối với Đại Chu!

Sắc mặt Thôi Tuần thoáng chốc trắng bệch như tờ giấy, tựa như máu trong người hắn bị rút cạn. Vai hắn run lên từng hồi, cơn choáng váng ùa tới, ngón tay hắn cắm sâu vào mặt đất. Lý Doanh không dám lên tiếng gọi, chỉ biết nín thở nhìn hắn. Một hồi lâu sau, hắn mới run rẩy đưa tay mở chiếc hộp. Kế Thanh Dương vội ngăn lại, nhưng bị hắn gạt phắt đi.

Hai tay Thôi Tuần đặt lên mép hộp, như thể chiếc hộp nặng tựa ngàn cân. Bàn tay hắn run rẩy dữ dội, mở thử vài lần đều không thành công. Đến lần cuối cùng, hắn nắm chặt tay lại, móng tay đâm sâu vào lòng bàn tay, nhờ cơn đau mà giữ vững được thần trí. Nắp hộp từ từ mở ra.

Bên trong, là một chiếc chén rượu được chế từ hộp sọ, phần giữa bị khoét rỗng, hai bên đính vàng khảm bạc. Trong lòng chén còn vương vết rượu, có lẽ đã được sử dụng không ít lần. Lý Doanh chỉ liếc mắt một cái liền không thể chịu nổi, vội quay đầu tránh đi, không dám nhìn thêm.

Nhưng chỉ chốc lát, nàng lại nhìn về phía Thôi Tuần, lo lắng không yên. Hắn cúi đầu, không rõ biểu cảm. Xung quanh chỉ còn lại một mảnh tĩnh lặng chết chóc, ngay cả tiếng chim cũng im bặt. Lý Doanh và Kế Thanh Dương không ai dám nói gì. Một lúc sau, nàng chợt thấy từng giọt máu đỏ tươi chảy ra từ miệng Thôi Tuần, nhỏ xuống nền đất đen thẫm.

Lý Doanh kinh hãi: “Thập Thất lang…”

Nàng vội vàng đỡ lấy hắn. Cả người Thôi Tuần đã lung lay sắp ngã. Hắn chỉ chăm chăm nhìn chiếc chén rượu làm từ hộp sọ kia, tựa như muốn khắc sâu hình ảnh đó vào tận cốt tủy. Lý Doanh đỏ hoe mắt, nghẹn ngào nói: “Thập Thất lang, đừng nhìn nữa…”

Nàng cắn răng, liền đóng chiếc hộp lại, không để hắn tiếp tục nhìn. Máu bên môi hắn ngày càng nhiều. Trong cơn hoảng loạn, nàng dùng tay áo lau đi, nước mắt rơi lã chã: “Thập Thất lang, đừng như vậy… Quách soái dưới cửu tuyền, nhất định cũng không muốn thấy chàng như thế này…”

Nhưng Thôi Tuần vẫn chăm chăm nhìn vào chiếc hộp gỗ đã khép kín, sắc mặt trắng bệch không chút huyết sắc, ánh mắt trống rỗng đến mức khiến người khác rợn lòng. Lý Doanh nhớ lại biểu cảm của hắn khi nghe di ngôn của Thịnh Vân Đình, cũng chính là dáng vẻ này. Nàng sợ hãi, lòng nàng rối rắm, không biết phải khuyên nhủ thế nào, chỉ nghẹn ngào nói: “Thập Thất lang, chàng nói với ta một câu, được không?”

Thôi Tuần cuối cùng cũng mở lời, nhưng trong nỗi đau xé lòng, giọng hắn nhỏ nhẹ tựa muỗi kêu, từng chữ, từng câu lại mang nặng niềm đau và phẫn hận khôn cùng. Máu từ khóe miệng hắn nhỏ xuống từng giọt: “Ta, Thôi Tuần… đời này không giết được Đột Quyết Diệp Hộ… thề không làm người!”

Kế Thanh Dương dù đã đoán trước phản ứng của hắn, nhưng vẫn kinh ngạc đến nghẹn lời. Hồi lâu sau, y mới lên tiếng khuyên nhủ: “Thôi Thiếu khanh, Đột Quyết Diệp Hộ cả gan nhục mạ Quách soái như vậy, trời cao sẽ tru diệt hắn.”

Thôi Tuần nghe vậy, chỉ lẩm bẩm, từng lời từng chữ trầm đục tựa như thì thầm: “Không, trời cao chẳng thể tru diệt hắn… bởi lẽ, ta sẽ là kẻ phải tru diệt hắn.”

Hắn bỗng ngước nhìn Kế Thanh Dương. Đang lúc Kế Thanh Dương ngỡ rằng hắn sẽ thốt lên lời gì cay nghiệt, thì hắn lại lảo đảo đứng dậy. Rồi trịnh trọng quỳ xuống trước mặt Kế Thanh Dương, dập đầu lạy một cách nặng nề. Kế Thanh Dương giật mình kinh ngạc, định đỡ lấy hắn: “Thôi Thiếu khanh, không thể thế này được.”

Thôi Tuần lắc đầu, đáp: “Ngài là ân nhân của ta.”

Sắc mặt hắn nhợt nhạt như tờ giấy: “Cũng là ân nhân của Thiên Uy quân chúng ta.”

Kế Thanh Dương cũng quỳ xuống đối diện hắn, y giáng một quyền xuống đất, hơi thở khó nhọc: “Hận vì đến quá muộn!”

Y nhìn Thôi Tuần, nói: “Thôi Thiếu khanh, nếu ngài tín nhiệm mỗ, mỗ nguyện đem theo thủ cấp của Quách soái, toàn vẹn đưa về Trường An.”

Thôi Tuần gật đầu, từ trong tay áo rút ra một chiếc ấn tín: “Kế đại hiệp hãy cầm ấn tín này đến Hành Châu, tìm Tư mã Hành Châu, Lưu Nhược Du. Ông ấy là người của Sát Sự Thính, sẽ bảo vệ ngài trở về Trường An. Tuy nhiên, Thánh nhân đã có chỉ, thi thể Quách soái sẽ không được chôn cất. Kính mong đại hiệp chuyển thủ cấp của Quách soái đến chùa Tây Minh, đặt trước Phật đài phụng dưỡng.”

Kế Thanh Dương nhận lấy ấn tín, đôi mắt y nóng bừng: “Thôi Thiếu khanh, xin yên tâm! Dẫu phải liều mạng, mỗ quyết không để hài cốt trung nghĩa lưu lạc nơi đất khách chịu nhục!”

Thôi Tuần chậm rãi gật đầu, Lý Doanh đỡ hắn đứng dậy. Hắn dường như đã cạn kiệt sức lực, dựa vào sự nâng đỡ của nàng mới miễn cưỡng trụ vững. Ánh mắt hắn dừng lại ở chiếc hộp gỗ trong tay Kế Thanh Dương, giọng nói khẽ khàng nhưng từng câu từng chữ đều rõ ràng đến lạ thường: “Rồi sẽ có một ngày… tất cả bọn họ… đều được yên nghỉ.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 118: Bích huyết đan tâm chiếu hãn xanh!


Kế Thanh Dương mang theo ấn tín, tiến về Hành Châu.

Thôi Tuần và Lý Doanh thì tiếp tục hành trình đi đến Lĩnh Nam.

Vì chuyện thủ cấp của Quách Cần Uy, Thôi Tuần chịu đả kích quá lớn, dù đã dùng dược liệu mạnh như dược hổ lang, nhưng cơn phẫn nộ bộc phát vẫn khiến hắn ngay lập tức đổ bệnh. Hắn không còn sức cưỡi ngựa, đành thuê một cỗ xe ngựa, ngày đêm không ngừng tiến về Lĩnh Nam.

Bánh xe lăn đều, cuốn theo lớp bụi mờ dày đặc. Xa phu lớn tuổi, lỗ tai gần như điếc hẳn, một mực vung roi, điều khiển xe ngựa chạy hết tốc lực. Lão biết vị lang quân tuấn mỹ trong xe không phải người thường, nhưng bản tính thật thà, biết điều gì nên hỏi, điều gì không. Lang quân trả đủ bạc, lão liền im lặng làm kẻ điếc người mù, chỉ chuyên chú đưa khách an toàn đến Lĩnh Nam.

Ngựa phi quá nhanh khiến xe xóc nảy không ngừng. Trong khoang xe, Thôi Tuần nằm trên gối Lý Doanh, hành trình gian nan khiến bệnh tình hắn càng thêm trầm trọng. Lý Doanh vuốt nhẹ gương mặt gầy guộc của hắn. Những ngày qua, hắn chẳng thể ăn nổi thứ gì, uống thuốc cũng toàn nôn ra. Nàng dịu dàng khuyên hắn đừng vội quá, nghỉ ngơi vài ngày, dưỡng sức rồi đi tiếp cũng chưa muộn. Nhưng hắn lắc đầu, không nghe. Một ngày chậm trễ, biến số lại thêm một phần, hắn không đợi được nữa.

Nhất là sau khi tận mắt thấy thi thể Quách soái, người hắn xem như phụ thân bị sỉ nhục, nỗi bi phẫn trong lòng hắn dâng cao đến tột cùng.

Lý Doanh chỉ khuyên một lần, sau đó im lặng. Nàng hiểu, nàng chẳng thể lay chuyển được hắn.

Nàng ôm lấy hắn, chợt nhớ đến đêm Nguyên Nhật năm ấy, hình ảnh hắn khi ở Thôi phủ. Đêm ấy, nàng nhìn thấy một gian thần bị người đời phỉ nhổ, khoác lan sam màu trắng, mở khung cửa sổ, đôi mày lạnh lùng, phóng sinh một con sâu bướm nhỏ nhoi.

Hắn đã chìm trong bóng tối quá lâu, nhưng khi bốn bề vắng lặng cũng là lúc hắn vô thức trở về với dáng vẻ của chàng thiếu niên Thiên Uy quân năm xưa, một chàng Thập Thất lang kiên cường, có trái tim thuần khiết.

Đó là khoảnh khắc vô thức, mà ngay chính hắn có khi cũng không thể nhận ra.

Hắn luôn tự khinh ghét bản thân, cho rằng mình không xứng đáng được yêu. Nhưng hắn không biết, với nàng, hắn xứng đáng hơn bất kỳ ai khác.

Lý Doanh chậm rãi cúi xuống, áp má vào gương mặt lạnh băng của hắn. Từ ngày nàng và hắn định tình, những khoảnh khắc nặng nề nhiều hơn ngọt ngào. Hắn từng lừa dối nàng, khiến nàng nổi giận, hắn không phải một tình lang hoàn hảo, nhưng nàng chưa từng hối hận.

Nàng thấy mình thật may mắn, được gặp gỡ một linh hồn cứng cỏi, bất khuất như hắn, được cùng hắn đi trên con đường đưa năm vạn trung cốt trở về cố hương.

Con đường ấy đầy rẫy gai góc, gập ghềnh hiểm trở, nhưng nàng nhất định sẽ đồng hành bên hắn đến tận cùng.

Tiếng vó ngựa vang đều, trong khoang xe đóng chặt, Lý Doanh ôm chặt Thôi Tuần đang mê man, áp má vào mặt hắn. Nàng khép mắt, siết chặt vòng tay, cảm nhận hơi ấm thực tại trên người hắn. Dù tương lai ra sao, ít nhất, giờ phút này, bọn họ vẫn đang được bên nhau.



Xe ngựa ngày đêm không ngừng lăn bánh, cuối cùng, sau bốn ngày, cũng đến được trạm dịch Quế Châu ở Lĩnh Nam.

Thôi Tuần gắng gượng đứng dậy, cho xa phu lui về, sau đó lấy ra chiếu chỉ của Thái hậu, trình bày thân phận với dịch thừa ở Quế Châu, nhờ hắn mời Đô đốc Quế Châu – Trương Hoằng Nghị – đến gặp mặt.

Về lý, Đô đốc Quế Châu là quan viên tam phẩm, chức quan của Trương Hoằng Nghị cao hơn Thôi Tuần, lẽ ra Thôi Tuần phải đến bái kiến ông ta. Nhưng Thôi Tuần là quan kinh kỳ, mà quan kinh kỳ vốn được trọng vọng hơn quan viên địa phương ở những vùng xa xôi, trong tay hắn lại đang giữ chiếu chỉ của Thái hậu nên được xem như một viên khâm sai. Dù Trương Hoằng Nghị nổi tiếng là bậc thanh lưu trong triều, không dựa vào phe phái nào, ông ta cũng không dám thất lễ với khâm sai. Vì vậy, không bao lâu sau, Trương Hoằng Nghị đã vội vàng đến trạm dịch Quế Châu.

Vừa bước vào phòng, Trương Hoằng Nghị đã ngửi thấy mùi thuốc sắc nồng nặc. Người được đồn là vị Thiếu khanh ngang ngược, ngông cuồng của Sát Sự Thính lúc này đang tựa vào giường bệnh, sắc mặt trắng bệch, liên tục ho khan. Khi trông thấy Trương Hoằng Nghị, hắn gắng sức chống đỡ thân thể yếu nhược, từ trên giường bệnh đứng lên, chắp tay hành lễ: “Đa tạ Trương Đô đốc đã giúp A Man thoát khỏi Quế Châu.”

Trương Hoằng Nghị khó tránh khỏi cảm giác khó xử. Trước đây, ông vốn rất chán ghét Thôi Tuần. Khi Thôi Tuần nhờ ông chăm sóc Thịnh A Man, ông còn cười nhạo, cho rằng đây chỉ là trò tranh đoạt tình cảm giữa hai kẻ quý tộc ph*ng đ*ng. Nhưng về sau, khi A Man đội mưa đêm chạy đến Đô đốc phủ, khóc lóc cầu xin ông giúp anh trai nàng rửa oan, ông mới nhận ra việc này trọng đại. A Man chỉ có lời nói, không chứng cứ, ông không thể hành động khinh suất. Việc duy nhất ông có thể làm là giúp nàng thoát khỏi Quế Châu, nhưng vẫn không ngừng dõi theo tiến triển của vụ việc.

A Man vốn là một nữ tử cứng cỏi, việc nàng gõ trống Đăng Văn để tố cáo Thẩm Khuyết không khiến ông ngạc nhiên. Điều ông không ngờ chính là, giữa lúc các đại thần trong triều không một ai dám đứng ra vì Thịnh Vân Đình, thì Thôi Tuần lại là người đầu tiên làm vậy. Hắn không chỉ dùng chức vị mà còn đặt cả tính mạng của mình ra để khẩn cầu Thánh nhân tra xét kỹ lưỡng vụ án này. Khi Trương Hoằng Nghị nghe được tin tức ấy qua thư của một người bạn thanh liêm trong triều, ông đã hoàn toàn sững sờ.

Sao lại là Thôi Tuần?

Sao lại là hạng xu nịnh, tham sống sợ chết, vô sỉ hèn hạ như hắn?

Ý nghĩ đầu tiên trong đầu ông là Thôi Tuần chắc hẳn có thù oán với Thẩm Khuyết, nên mới lợi dụng việc kêu oan cho Thịnh Vân Đình để trả thù riêng. Nhưng ngay lập tức, ông phủ nhận suy đoán này. Tất cả vinh hoa phú quý của Thôi Tuần đều do Thái hậu ban cho. Ai cũng nhìn ra Thái hậu niệm cốt nhục tình thân, căn bản không muốn lấy mạng Thẩm Khuyết. Làm vậy chẳng khác nào đắc tội với Thái hậu, Thôi Tuần cũng đâu được lợi gì.

Vậy, rốt cuộc Thôi Tuần có toan tính gì đây?

Ông nghĩ mãi, nhưng vẫn không tài nào lý giải được.

Trương Hoằng Nghị liền hỏi thẳng nghi vấn trong lòng: “Thôi Thiếu khanh, sao ngài lại để tâm đến vụ án này như thế?”

Thôi Tuần vốn còn có chuyện cần nhờ vả Trương Hoằng Nghị, nên không như thường lệ phớt lờ loại câu hỏi này. Hắn đáp một cách bình thản: “Thịnh Vân Đình, là bạn của ta.”

“Thôi Thiếu khanh, kết giao với một viên Ngu hầu có xuất thân hàn môn?”

“May mắn gặp được tri kỷ, không phân sang hèn.”

Trương Hoằng Nghị ngẩn ra. Những lời này dường như chẳng ăn nhập gì với kẻ luôn bị khinh miệt là luyến mộ vinh hoa phú quý.

Ông trầm ngâm một lát, tiếp tục hỏi về điều khiến mình thắc mắc. Thôi Tuần cầm chiếu chỉ của Thái hậu, đích thân đến Lĩnh Nam áp giải Thẩm Khuyết. Nghe nói xe ngựa của Sát Sự Thính đã mấy lần bị phục kích. Khi ông đang suy đoán liệu Thôi Tuần có thể toàn mạng đến được Lĩnh Nam hay không, thì Thôi Tuần đã đổi sang một chiếc xe ngựa đơn giản, một mình đến nơi. Rõ ràng Thôi Tuần đã dùng kế nghi binh để đánh lừa đám thích khách. Nhưng câu hỏi đặt ra là: rốt cuộc là ai, là ai dám ngăn cản Thôi Tuần đến Lĩnh Nam?

Ông nghiêm giọng: “Thôi Thiếu khanh, xe ngựa của ngài đã mấy lần bị phục kích, có phải có người không muốn ngài đến Lĩnh Nam?”

Thôi Tuần không tỏ rõ ý kiến, chỉ nhàn nhạt đáp: “Chẳng phải trong lòng Trương Đô đốc đã có đáp án rồi sao?”

Trương Hoằng Nghị “hừ” nhẹ một tiếng, tiếp tục truy hỏi về vấn đề canh cánh trong lòng bấy lâu nay: “Thiên Uy quân bị vây khốn nên Thịnh Vân Đình đã đến Trường An cầu viện. Trên đường đi, y bị Thẩm Khuyết sát hại. Nhưng Thẩm Khuyết và Thịnh Vân Đình vốn không thù không oán, vì sao Thẩm Khuyết phải ra tay giết người?” Ông dừng lại giây lát, trực tiếp nêu nghi vấn: “Vậy nên, phải chăng sự sụp đổ của Thiên Uy quân còn có ẩn tình khác?”

Đây là lần đầu tiên có một vị quan trong triều công khai đặt câu hỏi về ẩn tình đằng sau sự sụp đổ của Thiên Uy quân. Thôi Tuần sững người, lòng dấy lên một cảm xúc khó tả, như người lạc trong đêm tối mịt mùng chợt nhìn thấy ánh sáng đầu tiên loé lên ở chân trời. Hắn mím môi, đè nén những cảm xúc phức tạp trong lòng, lên tiếng hỏi: “Dám hỏi Trương Đô đốc, nếu thực sự có ẩn tình, ngài định làm thế nào?”

Trương Hoằng Nghị ngẫm nghĩ giây lát, đoạn đáp: “Ta, Trương Hoằng Nghị, vì tính khí quá cứng rắn, không biết luồn cúi mà bị biếm chức đến nơi này. Nhưng đã là bề tôi thì phải trung quân ái quốc, giữ vững cương thường. Trong phái thanh lưu, ta vẫn còn chút ảnh hưởng. Nếu quả thực có uẩn khúc, chẳng thể không triệu tập mọi người, dâng tấu lên Thánh nhân, quyết điều tra đến cùng.”

Thôi Tuần nghe vậy, đôi mắt bỗng ấm lại. Hắn nhìn Trương Hoằng Nghị, thành khẩn nói: “Xin Trương Đô đốc hãy ghi nhớ lời nói hôm nay.”

Trương Hoằng Nghị đáp: “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy.”

Lời ấy khiến lòng Thôi Tuần nhẹ nhõm, hắn khẽ gật đầu: “Ta còn một việc muốn thỉnh cầu Trương Đô đốc. Hiện tại, đại đội của Sát Sự Thính vẫn chưa đến, nhưng việc áp giải Thẩm Khuyết không thể trì hoãn. Kính mong Đô đốc cho ta mượn năm trăm tinh binh để trợ giúp ta về Trường An.”

Nếu là trước đây, bằng sự ghét bỏ dành cho Thôi Tuần, Trương Hoằng Nghị nhất định sẽ tìm cớ từ chối. Nhưng hôm nay, ông lại gật đầu đồng ý.

Sau khi Thôi Tuần cảm tạ, cuộc trò chuyện giữa hai người cũng dần khép lại. Tuy vậy, qua một hồi đối đáp, Trương Hoằng Nghị vẫn không sao hiểu nổi Thôi Tuần. Nếu vì bạn bè mà hắn sẵn sàng hy sinh cả tính mạng, lẽ ra hắn phải là hạng người không sợ chết. Nhưng nếu không sợ chết, tại sao lại đầu hàng Đột Quyết?

Trong lòng ông ta, sự chán ghét đối với Thôi Tuần vẫn còn đó, nhưng dường như ông mơ hồ nhận ra, viên nịnh thần này, có lẽ không hoàn toàn giống với những gì thiên hạ từng đồn đại.

Trương Hoằng Nghị ngẫm nghĩ hồi lâu, gõ nhẹ cây quạt gấp lên góc bàn, rồi bất ngờ hỏi: “Thôi Thiếu khanh, có phải năm xưa ngài từng là học trò của Lưu Tùng Bách?”

Thôi Tuần khựng lại, không hiểu vì sao Trương Hoằng Nghị đột nhiên hỏi điều này, nhưng vẫn gật đầu đáp: “Phải.”

“Lưu Tùng Bách là bằng hữu chí cốt của ta.”

Thôi Tuần sững lại. Trương Hoằng Nghị mở chiếc quạt trong tay, để lộ bức họa Thanh Sơn Đồ, ông nói: “Y am tường thư họa, giỏi nhất về hành thảo. Năm xưa từng nói, Thôi Thiếu khanh là học trò xuất sắc nhất mà y từng chỉ dạy. Tiếc rằng…”

Phần sau, Trương Hoằng Nghị bỏ lửng, nhưng Thôi Tuần đã đoán được ông muốn nói gì. Hắn cúi đầu, không đáp. Trương Hoằng Nghị nhìn vào dãy núi xanh vẽ trên quạt, khẽ nói: “Bức Thanh Sơn Đồ này do Tùng Bách vẽ, chỉ tiếc rằng chưa kịp đề chữ thì y đã qua đời. Nếu Thôi Thiếu khanh thật sự là học trò xuất sắc nhất của y, không bằng để ngài viết một câu lên đây?”

Trước kia Thôi Tuần vốn rất giỏi về hành thảo, nhưng hiện tại tâm trạng hắn đã thay đổi, không thể viết nổi nữa. Hắn từ chối: “Giờ ta không giỏi viết hành thảo, huống chi vật này lại quá quý giá, mong Trương Đô đốc tìm cao minh khác.”

Trương Hoằng Nghị đáp lại: “Tùng Bách đã từng nói, hành thảo của y chỉ có Thôi Thiếu khanh kế thừa được. Nếu đến cả Thôi Thiếu khanh cũng không viết được, vậy trên đời này đâu còn ai có thể làm được nữa.”

Thôi Tuần bất đắc dĩ, hắn hiểu ý Trương Hoằng Nghị. Ông là một nho thần <i>(quan văn)</i>, lại đề cao thư họa, muốn từ chữ viết mà nhìn thấu tâm tính con người. Nhưng hắn vừa mượn năm trăm tinh binh của ông, không thể từ chối lần nữa, đành nhận lấy chiếc quạt. Trên bàn đã chuẩn bị sẵn mực và bút, bức Thanh Sơn Đồ vẽ trên quạt đã được mở ra. Thôi Tuần cầm bút, cảm thấy khó khăn trong việc bắt tay vào viết, trong khi Trương Hoằng Nghị lại cho rằng hắn không biết viết chữ gì, ông bèn nói: “Chữ nào cũng được.”

Lý Doanh không biết từ lúc nào đã lặng lẽ đứng bên cạnh Thôi Tuần, nàng nhìn vào bức tranh rồi bất chợt lên tiếng: “Thập Thất lang, chàng xem, ngọn núi này có phải rất giống với Lạc Nhạn Lĩnh không?”

Thôi Tuần ngẩn người, hắn cúi đầu nhìn bức tranh núi xanh, núi xanh tươi tốt, đúng như cảnh tượng của Lạc Yến Lĩnh năm đó, cỏ cây um tùm. Nhưng trong mắt hắn, cảnh tượng ấy nhanh chóng bị những bộ xương trắng xóa che lấp. Hắn ngẩn ngơ, ngón tay cũng vô thức siết chặt cây bút lông sói. Lý Doanh nhẹ nhàng ngỏ lời: “Ngọn núi này, mỗi tấc đất đều chôn cất những hài cốt trung liệt.”

Nàng nói: “Thập Thất lang, đây không phải là ác mộng, họ đã dùng máu tươi vẽ lên từng trang sử trung thành.”

“Trương Hoằng Nghị ngay thẳng, ông ấy đã nhận ra có điều khuất tất trong chuyện Lạc Nhạn Lĩnh, sau này sẽ nếu điều tra lại, cần phải có sự giúp đỡ của ông ấy. Nhưng hiện giờ, ông ấy không tin chàng, dù không thể nói rõ, nhưng chàng có thể dùng câu chữ để bày tỏ tâm ý.”

Phải rồi, hắn có thể dùng câu chữ để bày tỏ tâm ý.

Thôi Tuần nắm chặt bút lông, những gương mặt trẻ trung, đầy nhiệt huyết của năm xưa vụt qua trong đầu hắn. Hắn hít một hơi thật sâu, như thể muốn gom hết tất cả nỗi oán hận và bất mãn trong sáu năm qua vào những nét chữ này. Hắn cúi đầu, nhìn vào bức tranh núi xanh trên chiếc quạt, rồi nhúng mực, tay vẽ như bay. Những chữ viết mạnh mẽ, đầy cảm xúc từ từ hiện ra trước mắt Trương Hoằng Nghị, ông đọc lên từng chữ: “Thanh sơn xử xử mai trung cốt”.

Thôi Tuần viết nhanh trên chiếc quạt, từng nét chữ dường như có linh hồn, mỗi chữ như bộc lộ tấm lòng của năm vạn người, tay hắn xoay chuyển, bảy chữ “Bích huyết đan tâm chiếu hãn thanh!” hiện lên rõ nét bên cạnh bức tranh núi xanh.

<i>(Phỏng dịch: Núi xanh, nơi nào cũng chôn vùi chí trung liệt/ Máu xanh, lòng son chiếu sáng trời xanh)</i>
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 119: Thuyền đêm thổi sáo mưa rì rào


Quế Châu, sông nước xanh biếc như dải lụa, núi non tựa phỉ thúy ngọc ngà.

Lý Doanh chưa từng ghé thăm Quế Châu, nhưng nàng cũng nghe danh núi sông nơi này. Tuy trong lòng không ngừng mơ mộng, nhưng vì Thôi Tuần có việc quan trọng, thân thể lại yếu ớt, nên dù rất muốn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Quế Châu, nàng cũng không hề nhắc đến nửa câu.

Vậy mà, Thôi Tuần lại chủ động nói trước: “Trương Đô đốc đã quay về điểm binh rồi, sáng mai ta sẽ dẫn Thẩm Khuyết về Trường An. Tranh thủ chút thời gian rảnh, chúng ta đi ngắm Quế Giang đi.”

Lý Doanh nhìn khuôn mặt tái nhợt, bệnh tật của hắn, trực tiếp từ chối: “Chàng bệnh nặng thế này, còn muốn ngắm Quế Giang nữa sao?”

Thôi Tuần cầm lấy chiếc áo choàng lông trắng trên giường bệnh, quấn quanh người. Hắn cố gượng dậy, khóe miệng nở nụ cười nhu hòa: “Sau này chẳng thể đến Quế Châu nữa, nếu hôm nay không đi, e rằng sẽ nuối tiếc cả đời.”

Hắn rời khỏi giường bệnh, bước chân hư nhược, nếu không có Lý Doanh dìu lấy, e rằng đã loạng choạng mà ngã nhào. Nàng hiểu hắn muốn giúp nàng toại nguyện, nhưng trông thấy dáng vẻ này của hắn, trong lòng lại vừa tức giận vừa xót xa: “Nuối tiếc thì nuối tiếc, có gì quan trọng đâu?”

Thôi Tuần khẽ lắc đầu: “Minh Nguyệt Châu, nàng đã nói, muốn trân trọng hiện tại, ta cũng rất trân trọng từng ngày bên nàng, ta không muốn để lại nuối tiếc.”

Lý Doanh nghe vậy, sống mũi cay cay: “Ta chỉ thuận miệng nói thôi, chàng lại nhớ kỹ như thế.”

“Những lời nàng nói, ta đều nhớ kỹ.” Hắn khép chặt chiếc áo hồ ly, không còn vẻ lãnh đạm và sắc bén như mới gặp mà thay vào đó là ánh mắt tràn ngập yêu thương, hắn điềm tĩnh nói: “Đi thôi, chúng ta ra ngắm sông Quế Giang.”



Từ trạm dịch Quế Châu đến Quế Giang, trăng đã lên cao. Thôi Tuần dứt khoát thuê một chiếc thuyền ô nhỏ, không để thuyền phu quấy rầy, chỉ có hắn và Lý Doanh cùng du ngoạn trên dòng Quế Giang vào ban đêm.

Nước sông Quế Giang xanh biếc như ngọc, trong suốt tận đáy, Lý Doanh chưa từng thấy làn nước nào xanh trong đến vậy. Nàng và Thôi Tuần ngồi ở mũi thuyền, ngắm nhìn sông núi Quế Giang, cảnh sắc thần tiên khiến nàng ngẩn ngơ, không dứt mắt nổi.

Ánh trăng như dải lụa bạc rải khắp mặt sông, làn nước dập dềnh lấp lánh, như mộng như ảo. Hai bên bờ, núi non trùng trùng điệp điệp, vách đá dựng đứng cheo leo. Chiếc thuyền ô nhỏ lững lờ trôi giữa cảnh non xanh nước biếc, vẽ nên một bức tranh thủy mặc.

Ở mũi thuyền, tiểu nương tử kiều diễm nghiêng người tựa vào lòng lang quân yếu nhược, khoác áo choàng lông trắng như tuyết. Người trong tranh, tranh trong người, hòa hợp không phân biệt ranh giới.

Tiếng nước chảy róc rách, dãy núi trong bóng đêm như ẩn như hiện, gió đêm bồng bột thổi qua. Lý Doanh ngồi thẳng dậy từ vòng tay của Thôi Tuần, chỉnh lại áo lông hồ cho hắn: “Chàng có lạnh không?”

Thôi Tuần lắc đầu, Lý Doanh lo lắng nhìn vầng trăng: “Hình như trời sắp mưa, chúng ta về thôi.”

Thôi Tuần lại không muốn rời đi, hắn khẽ đáp: “Minh Nguyệt Châu, ta muốn ở bên nàng thêm một lúc nữa.”

“Về trạm dịch rồi, chàng vẫn luôn ở bên ta mà.”

“Không giống.” Hắn nói.

Lý Doanh khó hiểu: “Tại sao lại không giống?”

Ban đầu Thôi Tuần không đáp, chỉ ngồi khoanh chân giữa khoang thuyền, ngước mắt nhìn dãy núi trùng điệp hùng vĩ. Hồi lâu sau, hắn thở dài: “Rất mệt.”

Đây là lần đầu tiên hắn nói hai chữ này trước mặt nàng. Có lẽ khung cảnh tráng lệ này đã làm dịu đi trái tim mang nặng u sầu sáu năm trời, khiến hắn nguyện ý bộc lộ một phần yếu đuối trước người con gái hắn đem lòng yêu mến. Lý Doanh nghe xong, chỉ mỉm cười, nhẹ giọng đáp: “Sau này, khi cảm thấy mệt mỏi hay đau đớn, chàng phải nói với ta, đừng tự chịu đựng một mình.”

Thôi Tuần im lặng gật đầu, những giọt mưa nhẹ nhàng rơi trên gương mặt hắn. Ngẩng nhìn trời, hắn nói: “Trời mưa rồi, chúng ta vào khoang thuyền thôi.”



Ngoài thuyền, sương mù phủ khắp dòng sông. Trong thuyền, tiếng mưa tí tách vang đều. Lý Doanh nhìn mưa rơi, từng giọt nhỏ xuống mặt nước, khơi lên những vòng sóng lăn tăn. Nàng chống tay lên má, cười khẽ: “Du ngoạn Quế Giang dưới mưa, quả nhiên có điểm khác lạ.”

Thôi Tuần nở một nụ cười: “Có mưa, có sương, có gió, lại càng phải có thêm tiếng nhạc nữa.”

Đôi mắt Lý Doanh sáng lên: “Dạ thuyền xuy địch vũ tiêu tiêu. [1] Nếu lúc này có thêm một cây sáo trúc thì tốt biết bao.”

<i>[1] Câu thơ trích từ bài: Ức Giang Nam (憶江南) – “Nhớ Giang Nam” của tác giả Hoàng Phủ Tùng. </i>

<i>Bản dịch của tài khoản Thien Thanh (thivien. net): Thuyền đêm thổi sáo mưa rì rào.</i>

Thôi Tuần không nói gì, chỉ lặng lẽ lấy ra một cây sáo trúc từ trong ngực áo. Lý Doanh vui mừng reo lên: “Chàng có sáo trúc sao?”

Nhưng ngay sau đó, nàng ngạc nhiên hỏi: “Chàng lấy từ khi nào vậy?”

“Lúc rời khỏi trạm Quế Châu,” Thôi Tuần đáp. “Có cảnh đẹp nhưng không có nhạc hay thì sao mà coi được?”

Lý Doanh mỉm cười, đưa tay nhận lấy cây sáo: “Đây là bất ngờ nho nhỏ mà chàng dành cho ta, đúng không?”

Thôi Tuần gật đầu: “Đúng.”

Một chữ “đúng” mà hắn vừa thốt ra khiến trái tim Lý Doanh ngọt ngào như tẩm mật. Lúc này, nàng chẳng khác gì một thiếu nữ bình thường, cảm động vì sự quan tâm của tình lang. Thực ra, nàng và Thôi Tuần có chung xuất thân, chí hướng tương hợp. Nếu hắn sinh sớm ba mươi năm, hoặc nàng sinh muộn ba mươi năm, hoặc nàng gặp được Thôi Tuần của sáu năm trước, hai người đã có thể trở thành đôi uyên ương thần tiên, chẳng phải gánh trên vai những nỗi đau của quá khứ. Khi đó, họ chỉ cần sống bên nhau, lúc rảnh rỗi cùng nhau gảy đàn, đánh cờ, thưởng trà, trồng hoa, không lo lắng, không quan tâm đến thế sự, chỉ cần có nhau là đủ.

Nhưng đáng tiếc, điều ấy không thể xảy ra.

Nhưng, dù kiếp này chẳng thể gạt bỏ hết vướng bận, thì ít nhất, nàng có thể trân trọng những khoảnh khắc vui vẻ bên nhau suốt kiếp này.

Lý Doanh ném cây sáo trúc trả lại cho Thôi Tuần, mỉm cười tinh nghịch: “Thôi Thiếu khanh, chàng biết thổi sáo không?”

Thôi Tuần gật đầu. Lý Doanh hỏi: “Thủy điệu khúc, chàng biết thổi không?”

Thôi Tuần khẽ cười, hắn cầm lấy cây sáo trúc, đặt lên môi, những âm điệu du dương lập tức cất lên. Thân thể hắn bị bệnh tật hành hạ, ngón tay không còn linh hoạt như trước, nhưng từng nốt nhạc vẫn vang lên chuẩn xác, không sai một nhịp. Lý Doanh chăm chú lắng nghe, tiếng sáo như dòng suối chảy xuôi, còn tiếng mưa rơi lộp độp trên mái thuyền như làm nên một bản đệm hoàn hảo. Hai âm thanh đan xen, hài hòa đến mê người. Lý Doanh chống tay, lặng thinh thưởng thức, ngoài khoang thuyền, ánh lửa từ những chiếc thuyền chài nhấp nháy trên bến sông, bóng núi soi mình dưới mặt nước. Giây phút này, nàng cảm thấy mọi phiền muộn trong lòng như được gột rửa, chỉ còn lại khung cảnh thuyền đêm, tiếng sáo và cơn mưa bụi lác đác, miên man.

Thủy điệu khúc kết thúc, Lý Doanh cũng thấy lòng ngứa ngáy. Nàng nhận lấy cây sáo, cười nói: “Ta cũng biết thổi sáo, nhưng sở trường vẫn là đánh đàn. Chờ về Trường An, ta sẽ cùng chàng hòa tấu một khúc nhạc.”

Thôi Tuần mỉm cười, định nói gì đó thì đột nhiên, một tiếng sấm rền vang, xé toạc bầu trời. Lý Doanh giật mình, đánh rơi cây sáo trong tay. Thôi Tuần khựng lại, đôi tay hơi nắm chặt, như phải hạ quyết tâm rất lớn, hắn mới dám ôm gọn nàng vào lòng, dùng hai tay bịt kín tai nàng. Hắn thì thầm: “Minh Nguyệt Châu, đừng sợ.”

Hắn biết nàng sợ tiếng sấm. Hôm ấy, khi hắn giúp nàng tra xét Xuất nhập lục trong cung, đó cũng là một đêm giông bão. Dù Lý Doanh không nói rõ ra nhưng gương mặt tái nhợt và cơ thể run rẩy của nàng đã nói lên tất cả. Vì áy náy với nàng, hắn bỏ lỡ triều hội, ở lại bên nàng cả đêm, đưa nút tai bằng ngọc để nàng nhét vào tai, giúp nàng vượt qua sợ hãi.

Hiện tại, dù không có nút ngọc, dù hắn vẫn tự ti, không dám làm gì quá gần gũi với nàng thì hắn vẫn không muốn nhìn nàng phải cảm thấy sợ hãi. Hắn chủ động ôm nàng, bàn tay hơi lạnh của hắn áp lên tai nàng, cách ly nàng với tiếng sấm đinh tai.

Lý Doanh vùi mặt vào lồng ng.ực hắn, dù hắn mang bệnh lâu ngày, dù v*m ng*c hắn không vạm vỡ như những nam nhân cường tráng khác, nhưng đối với nàng, nơi đó vô cùng an toàn. Lồng ng.ực hắn ấm nóng, tựa như câu thơ mà hắn từng viết: “Bích huyết đan tâm chiếu hãn thanh.” Hắn luôn cho rằng chỉ có năm vạn đồng liêu của mình mới xứng đáng với bốn chữ “bích huyết đan tâm,” nhưng hắn thì sao? Chẳng phải hắn cũng mang một bầu nhiệt huyết, một tấm lòng son đó sao?

Lý Doanh lặng lẽ tựa vào lòng hắn. Nàng chỉ cảm thấy tiếng sấm như nhỏ dần, ngược lại, nhịp tim hắn vang lên rõ mồn một.

Thân mình nàng đã thôi run rẩy, bên tai nàng, thanh âm của hắn vọng đến không ngừng: “Ta ở đây.” Hắn muốn dùng câu nói ấy để lấn át âm thanh rền vang của sấm sét. Qua mỗi lần lặp lại, nỗi sợ cuối cùng trong lòng nàng cũng tan biến. Nàng đưa tay ôm lấy eo hắn, nhẹ giọng nói: “Ta biết, chàng ở đây.”

Ta cũng ở đây.



Tiếng sấm vang lên thêm một hồi rồi cũng lắng dần.

Khi sấm ngừng, Thôi Tuần buông Lý Doanh ra. Lúc này, hắn lại trở về dáng vẻ không dám chủ động ôm lấy nàng. Lý Doanh không hề để tâm. Nàng chỉnh lại lớp áo choàng lông trắng như tuyết cho hắn, ngước nhìn đôi mắt đen láy, nhoẻn cười: “Một ngày nào đó, chàng sẽ có đủ dũng khí để ôm ta, hôn ta.”

Câu nói ấy khiến gò má hắn đỏ bừng.

Song, những khoảnh khắc vui vẻ luôn qua đi quá nhanh. Dẫu cảnh núi sông Quế Giang có đẹp đến đâu, thì đó cũng không phải nơi Thôi Tuần thuộc về. Cuối cùng, hắn vẫn phải trở lại trạm dịch, lên đường về Trường An, tiếp tục hành trình đầy chông gai của mình.

Sáng hôm sau, vừa tờ mờ sáng, Trương Hoằng Nghĩa đã điểm năm trăm tinh binh, áp giải Thẩm Khuyết từ ngục ra, nhốt vào xe tù, đưa tới bên ngoài trạm dịch Quế Châu.

Thôi Tuần kéo tấm vải đen che cỗ xe tù xuống, ánh mắt đầy căm hận của Thẩm Khuyết liền hiện ra trước mặt. Qua bao tháng ngày, vị trung lang tướng tuấn mỹ, ngông cuồng từng tung hoành Trường An giờ đây đã không còn nữa. Thay vào đó là một tù nhân gầy gò, gông xiềng quấn thân.

Vừa thấy Thôi Tuần, Thẩm Khuyết liền lao đến mép xe tù, đôi tay bấu chặt lấy song gỗ, giọng ngập tràn oán độc: “Thôi Tuần! Ngươi, đồ hèn hạ! Đáng lẽ ta phải giết ngươi từ lâu rồi!”

Binh sĩ bên cạnh Thôi Tuần mặt mày biến sắc, lo sợ vị Thiếu khanh Sát Sự Thính nổi tiếng kiêu ngạo này sẽ bừng bừng lửa giận, xung đột với phạm nhân. Nhưng thanh niên tuấn tú tựa đóa sen kia chỉ nhìn Thẩm Khuyết, cười nhạt: “Đáng tiếc, người sắp chết không phải là ta.”

“Ta biết ngươi tới Quế Châu vì điều gì.” Thẩm Khuyết cười lạnh: “Ngươi muốn biết chân tướng ư? Một chữ ta cũng không hé lộ! Dù ngươi có dùng hết tám mươi mốt cực hình của Sát Sự Thính, ta, Thẩm Khuyết, cũng không nói một chữ!”

Thôi Tuần châm chọc: “Ồ? Dương Hành đã bị bắt, huyết kiếm và huyết y cũng đã bị đào ra, ngươi nghĩ không nói là có thể thoát sao?”

Thẩm Khuyết ngẩn ra, giây tiếp theo, hắn gần như muốn bóp nát song gỗ xe tù: “Thôi Tuần! Nhất định là ngươi, chính ngươi đã phái A Man trà trộn bên cạnh ta! Đồ hèn! Ngươi chỉ biết lợi dụng đàn bà thôi sao?”

Nghe đến cái tên A Man, ánh mắt Thôi Tuần dần trở nên lạnh lẽo: “Vì sao A Man chịu ở bên ngươi, chính ngươi rõ hơn ai hết. Thẩm Khuyết, ngươi là thứ cặn bã không bằng cầm thú, người còn mặt mũi để nhắc đến nàng sao?”

“Nàng nằm trong lòng ta, nhưng trong đầu nàng nghĩ đến ai?” Thẩm Khuyết hai mắt đỏ rực như muốn phun lửa, hắn nghiến răng đến mức phát ra tiếng ken két. Nỗi nhục nhã và căm phẫn của khi đặt hết lòng tin vào người thương nhưng bị phản bội khiến hắn phẫn uất đến run rẩy: “Thôi Tuần! Ta nói cho ngươi biết, cho dù ta có chết, ngươi cũng đừng hòng moi được nửa câu!”
 
Back
Top Bottom