Cập nhật mới

Ngôn Tình Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh

Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 120: Cô có thể thuyết phục được mấy người?


Trên đường áp giải Thẩm Khuyết từ Lĩnh Nam về Trường An, Thôi Tuần cố ý tránh quan đạo, chỉ chọn những con đường nhỏ mà đi. Nhưng dù trận trọng là thế, đoàn vẫn không thoát khỏi hai lần bị tập kích công khai, ba lần bị ám sát. Nguy hiểm nhất là khi đội ngũ chưa kịp hội quân với đại đội của Sát Sự Thính, đi qua cổ đạo Tây Kinh thì bất ngờ gặp phải hàng trăm thích khách áo đen giữa khu rừng rậm trong đêm.

Thế nhưng, ngay khi đám thích khách ập đến, Thôi Tuần lại giống như đã có sự chuẩn bị từ trước. Hắn bình tĩnh chỉ huy binh sĩ lập trận phòng ngự, khiến thích khách nhiều lần xông trận đều không thành. Đúng lúc chuẩn bị tổ chức đợt tấn công mới, bọn chúng phát hiện phía sau đã có một đoàn binh mã đông nghịt áp sát, thế trận lập tức đảo ngược. Kẻ mai phục biến thành kẻ bị bao vây, một trận đánh úp liền trở thành bẫy rập.

Thì ra, từ lúc khởi hành ở Trường An, Thôi Tuần đã luôn quan sát địa thế xung quanh. Vốn có trí nhớ cực tốt, sau khi đến trạm dịch Quế Châu, hắn đã vẽ lại toàn bộ bản đồ từ Quế Châu đến Trường An, đồng thời dự đoán mọi khả năng có thể xảy ra. Hắn sớm đoán được sẽ bị tập kích trong rừng rậm nên cố ý chia binh làm hai, một nửa chậm rãi hành quân. Đợi đến khi sát thủ hiện thân thì dễ dàng biến chúng thành cá trong rọ.

Hắn chỉ huy đâu ra đấy, toát lên phong thái của một người bày mưu tính kế trong màn trướng. Lý Doanh đứng bên, từ đây mơ hồ thấy lại dáng vẻ năm xưa của hắn. Nếu không có sự kiện sáu năm trước, giờ đây hắn đã là vị tướng quân trẻ tuổi đầy chí khí, chứ không phải một Thiếu khanh của Sát Sự Thính mắc kẹt trong vòng xoáy quyền lực ở Trường An.

Bị bao vây, đám thích khách biết không thể trốn thoát, đồng loạt cắn nát độc dược trong răng, không để lại một ai sống sót. Hành động dứt khoát này cho thấy bọn chúng được huấn luyện vô cùng bài bản.

Đối diện cảnh tượng đó, Thôi Tuần không tỏ ra bất ngờ. Hắn chỉ thản nhiên kéo tấm vải đen phủ trên xe tù ra, đối diện với Thẩm Khuyết, lạnh nhạt nói: “Đồng bọn của ngươi không từ thủ đoạn nào để giết ngươi. Ngươi vẫn quyết giữ bí mật cho chúng sao?”

Thẩm Khuyết chẳng buồn liếc nhìn những xác chết trên mặt đất, chỉ cười lạnh: “Bọn chúng đúng là cặn bã, nhưng so với chúng, ta vẫn ghét ngươi hơn. Những chuyện khiến ngươi dễ chịu, ta tuyệt đối không làm; nhưng những chuyện khiến ngươi khó chịu, ta nhất định phải làm.”

Lời nói của Thẩm Khuyết tràn đầy oán hận, như thể sắp trào cả ra ngoài. Nếu khi ở Trường An, hắn căm ghét Thôi Tuần chỉ vì vụ án Thiên Uy quân, thì giờ đây đã pha thêm nhiều tầng phức tạp hơn. Hắn bật cười, giọng điệu chế giễu: “Ngươi muốn ta mở miệng? Được thôi. Bảo Thịnh A Man đến cầu xin ta đi!”

Hắn liếc xéo Thôi Tuần, giọng trào phúng: “Dù sao Thôi Tuần ngươi cũng là kẻ không từ thủ đoạn. Hi sinh một nữ nhân, thì có gì to tát?”

Thẩm Khuyết ăn nói ngông cuồng, nhưng Thôi Tuần không giận mà lại bật cười. Hắn dường như phát hiện ra điều gì thú vị, khóe môi cong lên, lộ ra nụ cười khinh miệt: “Thì ra, Thẩm Quốc công phải lòng A Man thật rồi.”

Sắc mặt Thẩm Khuyết lập tức cứng đờ, rõ ràng bị Thôi Tuần nói trúng tâm sự. Nhìn vẻ mặt ấy, Thôi Tuần càng cảm thấy buồn cười, hắn lắc đầu nói: “Ngươi giết huynh trưởng của A Man, còn làm nhục nàng. Giờ lại tỏ ra mình bị nàng phụ bạc, không thấy nực cười lắm sao?”

Thẩm Khuyết bị hắn nói toạc, nhất thời ngẩn người, hồi lâu sau mới nghiến răng đáp: “Thịnh A Man và lời khai, ngươi chọn một.”

Thôi Tuần nghe vậy bỗng bật cười: “Ngươi có tư cách gì bắt ta phải chọn? Thẩm Khuyết, dù ngươi tỏ ra tình thâm nghĩa trọng đến đâu, A Man cũng sẽ không tha thứ cho ngươi. Sau khi ngươi chết, không đời nào nàng lại thủ tiết vì ngươi. Ngươi yên tâm, nàng sẽ sống tốt.”

Đôi mắt Thẩm Khuyết đã đỏ ngầu. Thôi Tuần thả tấm vải đen xuống, bên tai hắn vang lên tiếng gào thét điên cuồng của Thẩm Khuyết, cùng tiếng song gỗ lồng giam khi bị hắn lắc mạnh: “Ngươi nói láo! Nàng đang mang cốt nhục của ta! Sao nàng có thể tuyệt tình với ta được? Thôi Tuần! Ngươi nói láo! Nói láo!”



Nhưng lúc này, Thôi Tuần đã bước lên xe ngựa. Tiếng bánh xe lăn đều kèm tiếng vó ngựa gõ lộc cộc đã che lấp mọi lời mắng chửi của Thẩm Khuyết. Thôi Tuần nhắm mắt, cảm thấy mệt mỏi vô cùng. Ngay cả khi Lý Doanh nắm lấy tay hắn, hắn cũng không cảm nhận được.

Nàng nắm hờ những ngón tay của hắn, điềm đạm hỏi: “Tới Trường An rồi, có khi nào Thẩm Khuyết vẫn không chịu khai không?”

Thôi Tuần chậm rãi mở mắt. Những ngày đề phòng truy sát khiến hắn kiệt quệ về cả tinh thần lẫn thể xác, thêm trận kịch chiến đêm nay càng khiến thân thể hắn trở nên suy nhược. Vừa đặt chân lên xe ngựa, toàn thân hắn như bị rút cạn sức lực. Hắn gật đầu: “Thẩm Khuyết tính tình cố chấp, hắn căm hận Thái hậu đã hai mươi chín năm, tìm đủ trăm phương ngàn kế để lấy mạng bà. Hắn yêu A Man, nên xem ta như kẻ địch, thà chết cũng không chịu tha thứ cho sự phản bội của nàng. Dù có dùng hình, cũng khó lòng khiến hắn mở miệng.”

Lý Doanh cẩn thận ngắm nhìn bàn tay Thôi Tuần, nhiệt độ trong lòng bàn tay hắn ngày một lạnh hơn, những mạch máu xanh trên mu bàn tay cũng theo đó hiện rõ. Nàng thở dài thành tiếng: “Chàng không màng tới sức khỏe, đích thân đến Lĩnh Nam áp giải Thẩm Khuyết, nếu hắn nhất quyết không khai, vậy phải làm sao?”

Thực ra, nàng cũng nghe thấy lời vừa rồi của Thẩm Khuyết. Hắn bảo Thôi Tuần chọn giữa A Man và lời khai, ý là chỉ cần A Man đến cầu xin hắn, hắn sẽ khai nhận. Nhưng đừng nói là Thôi Tuần tuyệt đối không bao giờ dùng cách này, dù là nàng cũng sẽ không bao giờ chủ động nhắc lại trước mặt hắn.

Cả đời A Man đã chịu quá nhiều khổ đau. Nếu cái giá để đổi lấy lời khai là sự hy sinh của A Man, thì từng câu từng chữ trong lời khai ấy cũng sẽ tràn ngập hai chữ ”sỉ nhục.” Dù là năm vạn tướng sĩ đã chết oan ở Vong Tử Thành, những người trông mong được rửa sạch nỗi oan, nhất định họ cũng không muốn gánh chịu sự sỉ nhục này.

Thôi Tuần nhất thời cũng chưa nghĩ ra cách nào để ép Thẩm Khuyết khai nhận, chỉ hơi mím đôi môi mỏng, nói: “Đợi đến Trường An rồi tính tiếp.”



Rời khỏi cổ đạo Tây Kinh vài ngày, đại đội của Sát Sự Thính cũng đến hội quân với Thôi Tuần. Cộng thêm năm trăm tinh binh mượn từ Quế Châu, hành trình kế tiếp có thể nói là an toàn không lo ngại. Dẫu vậy, Thôi Tuần vẫn hết sức cẩn thận. Để đề phòng có người hạ độc, thức ăn của Thẩm Khuyết đều phải cho thỏ thử trước. Tuy rằng Thẩm Khuyết luôn miệng từ chối khai nhận, nhưng đây đã là lần mà Thôi Tuần tiến gần nhất với việc lật lại bản án trong sáu năm qua, hắn tuyệt đối không để vuột mất cơ hội này.

Sau mười mấy ngày vất vả đường trường, xe tù áp giải Thẩm Khuyết cuối cùng cũng đến Trường An. Trên đại lộ Chu Tước, bách tính tụ tập, dõi mắt mong chờ, ai cũng muốn xem bộ dạng chật vật nhếch nhác của vị hoàng thân quốc thích từng ngang ngược hống hách. Nhưng điều khiến họ thất vọng chính là, xe tù được phủ kín bằng vải đen, căn bản không nhìn thấy chút gì.

Phía trước xe tù là một cỗ xe tứ mã xa hoa. Trong đám đông, mấy thiếu niên như Hà Thập Tam chen chúc, không ngừng chỉ trỏ: “Nghe nói trong xe tù là Thẩm Khuyết, kẻ đã hại chết Thịnh a huynh, đúng không?”

“Có vẻ vậy.”

“Sao lại là tên phản quốc kia đến Lĩnh Nam áp giải hắn nhỉ?”

“Ai mà biết được? Nghe nói quan hệ giữa hai người họ không tốt.”

“Tên phản quốc kia nhận việc này, chẳng phải là để trả thù riêng sao?”

“Chắc chắn rồi.”

Mấy thiếu niên đang nói say sưa thì bất chợt bị cây quạt xếp đập mạnh lên đầu. Hà Thập Tam ôm đầu tức tối quay lại nhìn, nhưng khi nhìn rõ người vừa đến, cậu lập tức đổi sắc mặt, cười nói: “Ngư a huynh, sao huynh lại ở đây?”

Kể từ lần trước, khi Ngư Phù Nguy đưa thuốc cho Hà Thập Tam, cậu không muốn mắc nợ ân tình, bèn thường xuyên mang cá hoặc thú rừng săn được đến phủ của Ngư Phù Nguy biếu tặng. Lâu dần, hai người trở nên thân quen, Hà Thập Tam cũng đổi cách gọi thành “Ngư a huynh”, thể hiện sự kính trọng như đối với huynh trưởng. Ngư Phù Nguy nghiêm mặt hỏi: “Vừa rồi các ngươi nói ai trả thù riêng?”

“Tên phản quốc kia chứ ai.” Hà Thập Tam cười hì hì: “Chẳng trách hắn chạy đến Lĩnh Nam, hóa ra hắn với Thẩm Khuyết không hợp, nhân cơ hội này trả đũa.”

Ngư Phù Nguy nghiêm túc nói: “Các ngươi sai rồi. Nếu hắn thực sự vì tư thù mà đến Lĩnh Nam, vậy tại sao xe tù lại phủ vải đen? Chẳng phải hắn nên gỡ bỏ tấm vải, bêu rếu Thẩm Khuyết trước mặt bá tánh sao?”

Hà Thập Tam sững sờ: “Chuyện này… nói không chừng là do Thái hậu và Thánh nhân bảo hắn làm thế.”

Ngư Phù Nguy đáp: “Thái hậu và Thánh nhân đã lệnh để Thẩm Khuyết ngồi trong xe tù, sao còn quan tâm đến một tấm vải đen kia chứ?”

Hà Thập Tam lúng túng: “Vậy hắn che vải đen để làm gì?”

Ngư Phù Nguy đáp: “Vì hắn muốn điều tra lại vụ án của Thịnh Vân Đình, nên không muốn dính vào những chuyện nhỏ nhặt này, tránh để phát sinh rắc rối không cần thiết. Có thể nói, so với công vụ hắn đang lo liệu, thù hằn cá nhân chưa từng là điều hắn bận tâm.”

Hà Thập Tam nghe mà nửa hiểu nửa không, nhưng cậu vẫn nói: “Được rồi, Ngư a huynh, vậy lần này, chúng ta xem như đã trách lầm hắn.”

Ngư Phù Nguy khẽ gật đầu, bảo bọn trẻ tiếp tục xem náo nhiệt, còn mình lại bước vào một nơi hẻo lánh. Ở đó, Lý Doanh đã chờ sẵn từ trước. Ngư Phù Nguy thở dài: “Ta chỉ là một thương nhân, không lo làm ăn mà lại chạy đến đây biện hộ cho Thôi Tuần, chuyện này nếu truyền ra ngoài, thực khiến người ta cười rụng răng.”

Lý Doanh mỉm cười: “Đa tạ Ngư tiên sinh.”

Nàng không vào thành Trường An cùng Thôi Tuần mà đi trước một mình. Đã lâu không gặp, Ngư Phù Nguy không kìm được, đứng đợi nàng tại cổng thành. Trong lúc hai người trò chuyện, họ cùng nhìn đoàn xe tù chầm chậm tiến vào thành. Khi nghe Hà Thập Tam và những người khác buông lời chế nhạo Thôi Tuần, trong lòng Lý Doanh cảm thấy không thoải mái, bèn nhờ Ngư Phù Nguy đính chính đôi lời. Đoạn cuối mà Ngư Phù Nguy vừa thốt ra chính là lời nàng nhờ hắn truyền tải.

Ngư Phù Nguy thở dài: “Thiên hạ này người hiểu lầm hắn đâu phải ít, cô có thể thuyết phục được mấy người?”

“Thuyết phục được người nào hay người đó.” Lý Doanh đáp.

Nghe lời này, Ngư Phù Nguy bất giác ngẩng lên nhìn nàng. Chuyến đi Lĩnh Nam lần này, chắc hẳn nàng và Thôi Tuần đã trải qua những chuyện khó quên, nên mới khiến nàng không chịu nổi khi nghe những lời ác ý từ Hà Thập Tam và đám bạn của nó. Ngư Phù Nguy chỉ biết cười khổ, ánh mắt dịch chuyển, nhìn về cỗ xe tứ mã xa hoa trên đường Chu Tước đang chầm chậm rời đi, hồi lâu sau, hắn mới thở dài một hơi.



Xe tù đi thẳng một mạch tới Sát Sự Thính.

Thôi Tuần gắng gượng thân thể bệnh tật, trực tiếp vào cung. Thánh nhân triệu tập bá quan để bàn bạc về vụ án của Thẩm Khuyết. Nhưng bất kể giao vụ này cho Sát Sự Thính hay Đại Lý Tự, đối phương đều không thỏa mãn. Sau khi thương nghị, quyết định cuối cùng là để ba cơ quan Sát Sự Thính, Đại Lý Tự và Ngự Sử Đài cùng thẩm tra. Còn Thẩm Khuyết bị giam tại nhà lao của Ngự Sử Đài, do Sát Sự Thính và Đại Lý Tự phối hợp trông giữa.

Vụ án của Thẩm Khuyết đã lan truyền khắp từng ngõ ngách Trường An, trở thành tâm điểm của mọi ánh nhìn. Dân chúng luôn thích xem những vở kịch về báo thù rửa hận. Một lang quân tuấn mỹ cao quý gi.ết ch.ết huynh trưởng của một tiểu nương tử xinh đẹp. Tiểu nương tử ấy cam chịu làm thiếp cho kẻ thù, âm thầm chịu đựng bên cạnh hắn mấy tháng trời, cuối cùng lấy được chứng cứ, vượt ngàn dặm quay về Trường An, gõ trống Đăng Văn để tố cáo trước mặt Thánh nhân. Câu chuyện này, chẳng cần thêm mắm dặm muối thì đã đủ ly kỳ và hấp dẫn.

Dư luận càng lúc càng sôi sục, ba cơ quan không dám lơ là, định hai ngày sau sẽ mở phiên xét xử Thẩm Khuyết.



Hai ngày sau, tại Ngự Sử Đài, ba cơ quan đồng thẩm.

Trên đại đường, Thẩm Khuyết đã tháo hết gông xiềng. Hắn đứng thẳng người, khí thế hiên ngang, bên chân là Dương Hành quỳ gối. Trên bàn đặt thanh trường kiếm mà hắn đã dùng để giết Thịnh Vân Đình vào đêm đó, cùng bộ khôi giáp vấy máu của hắn.

Dương Hành đã khai nhận toàn bộ. Gã thừa nhận sáu năm trước, Thẩm Khuyết dẫn họ g.iết ch.ết Thịnh Vân Đình, thậm chí còn ra lệnh cho gã chôn thanh trường kiếm và bộ khôi giáp. Hiện tại, cả nhân chứng lẫn vật chứng đều đủ, Thẩm Khuyết không thể chối cãi.

Thế nhưng Thẩm Khuyết chỉ giữ vẻ mặt ngạo mạn, thốt ra ba chữ: “Ta không nhận!”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 121: Ta đã giết Thịnh Vân Đình


Đại Lý Tự Thiếu khanh Lư Hoài đã mất sạch kiên nhẫn. Hắn vốn căm ghét sẵn hạng công tử bột, ăn chơi phóng túng như Thẩm Khuyết. Vì vậy, hắn lạnh lùng nói: “Ngươi nghĩ rằng không nhận tội thì sẽ không có cách nào trị ngươi sao? Luật Đại Chu đã quy định, ba người trở lên, minh chứng tường tận, là có thể định tội. Trong vụ án của ngươi, ngoài Dương Hành thì còn có Triệu Lục, Lục Dực và những kẻ khác cùng tham gia hãm hại Thịnh Vân Đình. Tất cả bọn chúng đều đã nhận tội. Hiện giờ đã có hơn ba nhân chứng, lại thêm y phục vấy máu và các vật chứng khác. Dù không có khẩu cung của ngươi, Tam Ty vẫn đủ sức định tội ngươi.”

Thẩm Khuyết chỉ cười lạnh: “Nhân chứng, vật chứng có nhiều đến đâu, ta cũng không nhận.”

Ngữ khí của hắn không giống một kẻ đang giãy chết cầu sinh, mà như một kẻ bất mãn, liều lĩnh phá hủy tất cả.

Lư Hoài rốt cuộc cũng không nhịn được nữa: “Dùng hình!”

Chủ thẩm của Ngự Sử Đài, Hàn Văn Mặc vội ngăn lại: “Lư Thiếu khanh, dù sao đi nữa Thẩm Khuyết cũng là biểu huynh của Thánh nhân, chi bằng giữ cho hắn chút thể diện.”

Lư Hoài hừ lạnh: “Lúc hắn giết người, c.ưỡ.ng b.ức phụ nữ, hắn có nghĩ đến việc giữ thể diện cho Thánh nhân không?”

Hàn Văn Mặc á khẩu, không biết đáp thế nào, còn Thẩm Khuyết chẳng những không sợ hãi, mà ngược lại, hắn nhìn Lư Hoài cười lớn: “Lư Thiếu khanh, ta, Thẩm Khuyết, quả thực chẳng phải người tử tế. Nhưng dưới lớp vỏ chính nhân quân tử của các ngươi, có ai sạch sẽ hơn ta đâu?”

Những lời khiêu khích ấy khiến Lư Hoài giận đến mức gân xanh trên trán nổi lên, hắn quát về phía đám sai dịch dưới đường: “Còn đứng đó làm gì? Dụng hình!”

“Khoan đã.”

Người lên tiếng là Thôi Tuần. Hắn chậm rãi nói: “Khoan dụng hình.”

Lư Hoài quay đầu nhìn hắn. Thôi Tuần từ khi trở về từ Lĩnh Nam, cả người như vừa trải qua một trận bệnh nặng. Sắc mặt hắn trắng bệch như tờ giấy, khiến Lư Hoài giật mình. Trước đây, dù Thôi Tuần vẫn luôn mang dáng vẻ yếu ớt, nhưng chưa bao giờ gầy gò, tiều tụy đến mức này. Từ đầu phiên thẩm tra đến giờ, hắn vẫn lặng im không nói, giống như ngay cả sức mở miệng cũng không có. Lư Hoài không khỏi thắc mắc: trước khi đến Lĩnh Nam, Thôi Tuần có biết sức khỏe mình không chịu nổi hay không? Nếu biết, tại sao vẫn nhất quyết phải đi?

Tuy nhiên vì luôn đối đầu với Thôi Tuần nên những nghi vấn ấy hắn chỉ giữ trong lòng, không hạ mình hỏi. Riêng lần này, hắn lại buột miệng: “Vì sao không được dụng hình?”

Thôi Tuần và Thẩm Khuyết là địch thủ một mất một còn, việc Thôi Tuần gây cản trở, không cho tra tấn Thẩm Khuyết thật khiến người ta khó hiểu.

Thôi Tuần không đáp, chỉ nhìn thẳng vào Thẩm Khuyết, lạnh nhạt nói: “Thẩm Khuyết, đến nước này mà ngươi vẫn cứng miệng sao?”

Thẩm Khuyết cười khẩy: “Sao? Ngươi cũng muốn ép ta nhận tội? Dựa vào ngươi?”

Dù thân mang tù phục, dáng vẻ thê thảm, nhưng trên mặt hắn vẫn hiện rõ sự kiêu ngạo: “Ta là Quốc công thế tập của Đại Chu, một luyến sủng thấp hèn như ngươi cũng xứng để thẩm vấn ta sao?”

Bị sỉ nhục thẳng mặt như vậy, nhưng Thôi Tuần không hề nổi giận. Hắn chỉ nhếch môi cười mỉa: “Ồ? Vậy ai mới xứng để thẩm vấn ngươi?”

Thẩm Khuyết không đáp, ánh mắt đảo khắp đại đường: “Hôm nay xét xử, nguyên cáo đâu? Thịnh A Man đâu?”

“E rằng không tiện đến.”

Thẩm Khuyết hỏi: “Vì sao?”

Thôi Tuần cố nén cơn ho đang cuộn trào trong lồng ng.ực, chậm rãi nói: “Thịnh A Man vượt cấp thượng cáo, gõ trống Đăng Văn. Theo luật, đáng lẽ phải chịu tám mươi trượng, nhưng bởi trước đó nàng mang thai, Thánh nhân ân chuẩn, để nàng sinh con xong mới thi hành án. Thế nhưng, đứa trẻ này là cốt nhục của ngươi. Nàng hận ngươi sâu như biển, không muốn nhận lấy một chút ân huệ nào từ ngươi, vậy nên… nàng đã uống một bát hồng hoa, bỏ đi đứa trẻ, chịu đủ tám mươi trượng hình phạt. Hôm nay, nàng không thể có mặt ở đây được.”

Thẩm Khuyết sững sờ, mắt trợn lớn, gầm lên: “Ngươi nói gì?”

Thôi Tuần nhấn mạnh từng chữ: “Ta nói, Thịnh A Man đã uống một bát hồng hoa, tự mình bỏ đi đứa trẻ.”

Trong đại đường bỗng chốc im lặng như tờ. Một lát sau, Thẩm Khuyết đột nhiên nổi cơn thịnh nộ, nếu không nhờ mấy tên sai dịch ghì chặt hắn quỳ xuống, hắn đã lao thẳng đến chỗ Thôi Tuần: “Ngươi nói bậy!”

Thôi Tuần hừ lạnh, liếc sang Lư Hoài: “Lư Thiếu khanh, ta có nói bậy không?”

Lư Hoài sững lại, không ngờ Thôi Tuần lại quay sang hỏi mình, theo bản năng lên tiếng phối hợp: “Không sai.”

Lư Hoài vốn nổi tiếng là người ngay thẳng, chưa từng nói sai một lời. Điều này Thẩm Khuyết cũng hiểu rõ. Nghe lời xác nhận từ Lư Hoài, lòng hắn như bị dội một gáo nước lạnh, hơi ấm cuối cùng trên thế gian cũng tan biến.

Hắn đã sống hai mươi chín năm, bị mắc kẹt trong mối thù giết mẹ ruột và chị cả. Chính vì mối thù đó, hắn đã dành cả đời để tìm cách giết Thái hậu trả thù. Nhưng sau vụ án miêu quỷ, Thái hậu lại nói với hắn rằng, cái chết của mẹ ruột hắn chỉ là một tai nạn, còn cái chết của chị hắn là do nàng ta tự chuốc lấy.

Hóa ra, hắn đã trả thù nhầm người, đã căm hận nhầm đối tượng. Hắn làm sao có thể chấp nhận sự thật này?

Tựa như mục tiêu sống của hắn đã tan biến, mọi khí lực rời khỏi thân thể, những ngày tháng còn lại chẳng khác nào xác không hồn.

Mãi đến khi bị đày đến Lĩnh Nam, trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, Thịnh A Man vẫn đối xử với hắn dịu dàng hết mực, chăm sóc hắn đủ đường. Trái tim tưởng chừng đã chết của hắn dần sống lại.

Hắn từng hỏi Thịnh A Man nàng không trách hắn đã nhục mạ nàng sao. Nhưng Thịnh A Man chỉ nhẹ nhàng đáp, chuyện đã qua thì cho qua, hiện tại nàng chỉ muốn sống những ngày yên bình bên hắn, những thứ khác nàng không muốn nghĩ tới.

Hắn vừa cảm động, vừa hổ thẹn. Phu nhân đã khuất, hắn liền nghĩ sẽ nâng A Man lên làm chính thất. Dù trước kia có lỗi với nàng, nhưng giờ hắn sẽ trao nàng danh phận chính thê và thân phận Quốc công phu nhân. Hắn sẽ gột rửa tâm can, đối xử thật tốt với nàng. Nhưng ai ngờ, sự dịu dàng của nàng là giả, sự bao dung của nàng cũng là giả. Nàng lợi dụng hắn, đến khi đạt được sự thật, nàng liền hóa thành con dao sắc bén nhất, nhắm thẳng vào hắn, đâm đến máu chảy đầm đìa.

Giờ đây, ngay cả đứa trẻ trong bụng, mối ràng buộc duy nhất giữa hai người, nàng cũng nhẫn tâm bỏ đi.

Nàng thực sự hận hắn, hận đến mức chỉ muốn hắn chết cho khuất mắt.

Thẩm Khuyết bỗng nhiên bật cười lớn, tiếng cười đầy bi ai, đầy cô độc. Ngự sử Hàn Văn Mặc sợ hãi, trong lòng nghĩ, chẳng lẽ phạm nhân này phát điên rồi? Lư Hoài không hiểu chuyện gì, hắn không vì sao vừa nghe tin A Man mất thai, Thẩm Khuyết lại có phản ứng như vậy. Người nhục mạ A Man là hắn, mà người phát cuồng khi nàng mất thai cũng là hắn. Thật khó hiểu!

Chỉ có Thôi Tuần là hiểu rõ tất cả nguyên do. Từ sau vụ án miêu quỷ, Thẩm Khuyết đã như người chết. Chính A Man là người kéo hắn khỏi vực thẳm, cho hắn một tia hy vọng để tiếp tục sống. Nay hy vọng ấy vụt tắt, làm sao hắn không phát điên cho được?

Động lực để hận không có, động lực để yêu cũng không có, thử hỏi, sống trên đời này còn có nghĩa lý gì?

Thẩm Khuyết ngừng cười, quét mắt nhìn Tam Ty trên công đường, những người đang thẩm vấn hắn: “Chẳng phải các ngươi muốn ta nhận tội sao? Đúng vậy, Thịnh Vân Đình là do ta giết!”

Hắn đột nhiên thẳng thắn nhận tội, khiến Lư Hoài và Hàn Văn Mặc đều kinh ngạc. Chỉ có Thôi Tuần không mấy ngạc nhiên. Tuy nhiên, câu hỏi vừa rồi khiến hắn hao tổn không ít thể lực, hắn dùng khăn gấm che miệng, ho khan hai tiếng, sau đó liếc nhìn Lư Hoài, như muốn nói rằng tiếp theo giao cho y thẩm vấn.

Lư Hoài nghĩ thầm, người này bệnh đến mức thế này rồi sao? Hắn không có sức lực để thẩm vấn, nhưng hắn thì có. Lư Hoài chống tay lên bàn xử án, thân mình nghiêng về phía trước, ép hỏi Thẩm Khuyết: “Vậy ngươi thừa nhận rồi?”

“Đúng vậy.”

“Tại sao ngươi phải giết Thịnh Vân Đình?”

“Nhìn hắn ngứa mắt.”

Lư Hoài lại hỏi: “Ngươi là Trung lang tướng, là Quốc công, Thịnh Vân Đình chỉ là một Ngu hầu. Hắn đã làm gì đắc tội với ngươi?”

“Chẳng làm gì cả. Vì ta thấy ghét toàn bộ Thiên Uy quân.” Thẩm Khuyết nói: “Quách Cần Uy xuất thân hàn môn, dám tỏ thái độ coi thường ta. Ta ghét ông ta, nên ghét lây sang cả Thiên Uy quân. Không được sao?”

Lư Hoài hơi nhíu mày. Đúng là Thẩm Khuyết và Quách Cần Uy trước nay vốn không ưa gì nhau. Nguyên nhân là vì Thẩm Khuyết dựa vào thân phận hoàng thân quốc thích, kiêu căng ngạo mạn, trong khi Quách Cần Uy không phải hạng thích nịnh bợ. Khi về Trường An thuật chức, hai người từng chạm mặt, không tránh khỏi xung đột. Việc Thẩm Khuyết hận Quách Cần Uy, rồi ghét luôn Thịnh Vân Đình, nghe sao cũng thật hợp lý.

Chỉ là, chuyện này vẫn còn nhiều điểm đáng ngờ. Ví như, vì sao hôm ấy phu nhân của Bùi Quan Nhạc, Vương thị, cũng tham gia vào việc sát hại Thịnh Vân Đình? Ví như, làm thế nào Thẩm Khuyết biết được Thịnh Vân Đình sẽ xuất hiện ở trạm dịch Trường Lạc? Hay liệu Thẩm Khuyết có biết mục đích Thịnh Vân Đình hồi kinh là để cầu viện hay không? Từng chi tiết một, không thể chỉ đơn giản lấy lý do “nhìn ngứa mắt” mà giải thích được.

Lư Hoài bèn đem toàn bộ nghi vấn trong lòng nói ra, nhưng Thẩm Khuyết lại ngậm miệng không đáp, chỉ mệt mỏi đáp: “Ta đã nhận tội rồi, chính ta giết Thịnh Vân Đình. Còn về Vương Nhiên Tê, vì sao bà ta tham gia, ngươi muốn biết thì xuống Địa phủ mà hỏi, chứ ta làm sao biết được?”

Lư Hoài giận dữ quát: “Khốn kiếp!”

Thẩm Khuyết chỉ nhàn nhạt nói: “Những gì nên nói ta đã nói rồi. Muốn giết muốn chém, tùy các ngươi.”

Nói xong, hắn không buồn nói thêm câu nào nữa, dáng vẻ như chỉ cầu chết cho nhanh.

Lư Hoài định sai người tra khảo, nhưng bị Thôi Tuần ngăn lại. Thôi Tuần ho hai tiếng, nói: “Dù sao phạm nhân cũng đã nhận tội, chúng ta cứ bẩm báo lên Thánh nhân, đợi Thánh nhân định đoạt.”



Thẩm Khuyết bị áp giải trở lại ngục của Ngự Sử Đài. Thôi Tuần, Lư Hoài và Hàn Văn Mặc cùng lên đường đến đại điện cung Đại Minh để báo cáo. Khi rời Ngự Sử Đài, Thôi Tuần bệnh tình nặng nề, tự tôn lại quá cao, không muốn người khác dìu đỡ, vì thế phải gắng gượng mà đi, bước chân chậm chạp. Hàn Văn Mặc không kiên nhẫn, bóng dáng đã mất hút từ lâu, chỉ có Lư Hoài chờ sẵn ngoài Ngự Sử Đài.

Hắn hỏi Thôi Tuần: “Vì sao không thể dùng hình với Thẩm Khuyết? Không phải ngươi rất ghét hắn sao?”

Xét hỏi đã xong, Thôi Tuần vốn dĩ không muốn trả lời Lư Hoài thêm nữa. Nhưng nghĩ đến hôm ấy, nếu trên triều không có hắn dám đứng ra, vụ án của Vân Đình chưa chắc đã được thụ lý, tính ra, Lư Hoài cũng xem như ân nhân của Thiên Uy quân. Vì thế đôi mày lãnh đạm của Thôi Tuần dãn ra, giọng điệu cũng không còn lạnh lẽo: “Thẩm Khuyết là kẻ nếu không muốn khai thì dù ngài tra khảo thế nào cũng vô ích. Chỉ khi chạm đúng nỗi đau của hắn, hắn mới tuyệt vọng, chịu khai nhận hết.”

Lư Hoài trầm ngâm: “Cho nên, vừa rồi ngươi cố ý nhắc đến chuyện Thịnh A Man sẩy thai? Sao ngươi biết đó là nỗi đau của hắn?”

Vấn đề này liên quan đến bí mật về cái chết của Thẩm quốc phu nhân, Thôi Tuần không định trả lời. Hắn không đáp, Lư Hoài cũng không để bụng, chỉ chăm chú nhìn sắc mặt tái nhợt của Thôi Tuần. Đây là lần đầu tiên hắn bình tâm đứng cạnh Thôi Tuần, hòa nhã nói chuyện. Lư Hoài cất lời: “Dường như ngươi biết rất nhiều điều mà ta không biết.”

Thôi Tuần không tiếp lời, chỉ kịch liệt ho mấy tiếng, sắc mặt trắng như tuyết thoáng hiện nét đỏ bừng của cơn bệnh. Hắn nói: “Lư Hoài, ngươi làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám năm năm, chính tích hiển hách, học trò trong thiên hạ đều kính trọng và ngưỡng mộ ngươi. Nhưng Đại Lý Tự không phải Quốc Tử Giám, có những chuyện, không biết thì tốt hơn.”

Lư Hoài không phục: “Vì sao ta không thể biết?”

Thôi Tuần chỉ khẽ cười: “Biết rồi thì làm được gì? Ngay cả kẻ đứng sau sai khiến Hà Thập Tam mà ngươi cũng không xử lý được, thì ngươi có thể xử lý ai?”

Lư Hoài nghẹn họng, không nói thêm gì nữa.

Thôi Tuần cũng không để ý đến hắn, chỉ bước ra khỏi Ngự Sử Đài với dáng vẻ mỏi mệt, lên xe tứ mã, thẳng hướng cung Đại Minh mà đi.



Đợi đến khi Lư Hoài điều chỉnh xong tâm trạng, nối gót bước vào cung Đại Minh, ba người cùng dâng cung trạng của Thẩm Khuyết lên trước mặt Long Hưng Đế. Long Hưng Đế chỉ lướt mắt nhìn qua, liền phán: “Án của Thẩm Khuyết đã gây ra nhiều lời bàn tán trong dân gian, bách tính đều hy vọng trẫm làm minh quân, lấy nghĩa diệt thân. Nay Thẩm Khuyết đã khai nhận, lại có nhân chứng, vật chứng đầy đủ, ba ngày sau xử trảm thị chúng, dẹp yên dư luận.”

Ba ngày? Sao nhanh vậy?

Lư Hoài và Hàn Văn Mặc nhìn nhau, Lư Hoài nói: “Thánh nhân, nhưng vụ án này vẫn còn một số nghi ngờ chưa được làm rõ.”

“Để làm rõ cần bao nhiêu ngày?”

Lư Hoài khựng lại, vẻ mặt khổ sở: “Thần không thể ước tính được.”

“Để hắn sống thêm một ngày, dân chúng sẽ cho rằng trẫm dung túng.” Long Hưng Đế lắc đầu: “Giết đi, càng nhanh càng tốt.”

Nghe xong, Lư Hoài và Hàn Văn Mặc cũng cảm thấy có vài phần hợp lý, bèn cúi đầu lĩnh mệnh. Thôi Tuần mím môi, ánh mắt trầm lặng như nước giếng cổ không gợn sóng, cũng quỳ xuống, dập đầu thưa: “Thần lĩnh mệnh.”



Khi Lý Doanh nghe tin, nàng kinh ngạc không thôi: “Ba ngày sau?”

Thôi Tuần khẽ gật đầu: “Ừ, ba ngày.”

Lý Doanh ngẫm nghĩ hồi lâu, nhưng chỉ chỉ một lúc sau, sự chú ý của nàng đã bị chén thuốc vừa nấu xong hấp dẫn. Từ khi Thôi Tuần trở về Trường An, nàng đã lập tức ném hết loại dược mạnh mà hắn từng dùng. Nhưng sau hơn một tháng uống thuốc, cơ thể hắn đã phụ thuộc vào dược tính, đột ngột ngưng lại khiến sức khỏe hắn còn yếu hơn trước. Sắc mặt hắn tái nhợt như tờ giấy, làm Lý Doanh giận đến mức chỉ muốn bắt hắn nằm trên giường dưỡng bệnh mười hai canh giờ mỗi ngày. Nhưng Thôi Tuần còn quá nhiều việc phải làm, chẳng thể lúc nào cũng nằm trên giường dưỡng bệnh được. Trong tay hắn còn án của Thẩm Khuyết cần xử lý, nên nàng đành chấp nhận nhượng bộ, miễn là hắn về phủ, nàng tuyệt đối không cho hắn rời khỏi giường, đến thuốc cũng phải đích thân bón cho hắn uống.

Nàng múc một chén thuốc đen đặc, thoạt nhìn đã thấy khó nuốt. Lý Doanh dùng chiếc thìa ngọc trắng múc một muỗng, thổi nguội rồi đút cho hắn. Thôi Tuần cúi đầu uống, ngay tức khắc cau mày, sắc mặt thay đổi. Hắn thở dài, cười khổ: “Minh Nguyệt Châu, nàng giận ta đúng không?”

Lý Doanh vờ như không hiểu: “Hửm?”

Thôi Tuần bất đắc dĩ, giọng điệu oán trách: “Sao… đến một chút đường phấn nàng cũng không chịu cho ta?”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 122: Đừng dùng nữ tử khác để chứng tỏ bản lĩnh của mình


Lý Doanh nghiêm mặt đáp: “Không có đường phấn.”

“Hôm qua ta vừa mua cho nàng mà…”

“Có sao?” Lý Doanh nói dối không chớp mắt: “Chàng không định nhắc tới gói đồ chàng mang về lúc nửa đêm đó chứ? Ta vứt đi rồi.”

Thôi Tuần: “…”

Lý Doanh lại múc một muỗng thuốc, nói: “Không có đường phấn, thuốc đắng này, chàng uống hay không?”

Thôi Tuần nào dám không uống, chỉ có thể cắn răng nuốt xuống. Nhìn vẻ mặt hắn nhíu mày, Lý Doanh liếc mắt, lạnh nhạt nói: “Đến chết chàng còn không sợ, vậy mà lại sợ đắng?”

Thôi Tuần thở dài: “Hôm qua phải chuẩn bị cho vụ án của Thẩm Khuyết, nên ta mới ở lại Sát Sự Thính đến khuya. Đợi xử xong chuyện của Thẩm Khuyết, ta sẽ cáo bệnh, không đến Sát Sự Thính nữa.”

Nghe hắn nói vậy, mặt Lý Doanh cuối cùng cũng lộ chút vui vẻ. Nàng đáp: “Đây là chàng nói đấy nhé.”

Thôi Tuần gật đầu: “Là ta nói.”

Lý Doanh cười rạng rỡ, thổi nguội muỗng thuốc trong tay, đưa tới trước miệng hắn: “Để chàng không quên, hôm nay thuốc của chàng sẽ không thêm đường phấn nữa.”

Thôi Tuần: “…”



Thôi Tuần bất lực uống hết cả chén thuốc, chỉ cảm thấy vị đắng trong miệng còn hơn cả hoàng liên. Đang định xuống giường rót chén trà, thì bị Lý Doanh liếc mắt cảnh cáo, hắn không dám động. Lý Doanh quay lưng thu dọn chén thuốc bằng sứ Thanh Hoa, sau đó bất ngờ xoay người, đưa tay ra: “Này.”

Trong lòng bàn tay trắng mịn của nàng, có một viên đường phấn màu hổ phách.

Mắt Thôi Tuần sáng lên, hắn cầm viên đường bỏ vào miệng, vị ngọt thanh mát lập tức át đi cảm giác đắng ngắt. Hắn nói: “Đây chẳng phải là đánh một cái rồi cho ăn một trái sao?”

“Đúng vậy.” Lý Doanh gật đầu: “Để chàng nhớ rằng, chàng là người có tiểu nương tử quản rồi.”

Câu nói này khiến Thôi Tuần ngẩn người. Hắn chưa từng nghĩ tới một ngày nào đó, hắn cũng có tiểu nương tử quản hắn, mong chờ hắn. Thôi Tuần nhìn nàng, thanh âm nhẹ bẫng, không mấy tự tin: “Vậy nàng… quản ta cả đời có được không?”

Giọng hắn tuy nhẹ, nhưng Lý Doanh vẫn nghe rất rõ. Nàng cong khóe môi, nụ cười rạng rỡ như hoa nở, không chút do dự gật đầu: “Đương nhiên là được.”

Thôi Tuần cúi đầu, nở nụ cười nhè nhẹ. Hắn ngậm viên đường trong miệng, má hơi phồng lên. Hình tượng thường ngày của hắn trước mặt người ngoài luôn là lạnh lùng tàn nhẫn nên dáng vẻ này đúng là hiếm thấy. Lý Doanh cảm thấy thú vị, đưa tay chọc nhẹ má hắn.

Thôi Tuần hơi khựng lại, sau đó vừa bất đắc dĩ vừa cưng chiều nói: “Đừng nghịch nữa.”

Lý Doanh mỉm cười rạng rỡ, tiếp tục chọc má hắn: “Ta cứ muốn nghịch đấy.”

Nàng cười rộ lên, đôi mắt như chứa đầy muôn vàn tinh tú lấp lánh, khóe môi hơi cong, trên gương mặt tựa ngọc hiện lên hai lúm đồng tiền nhạt. Thôi Tuần chỉ cảm thấy cả thế gian bỗng chốc sáng bừng lên, lòng hắn không khỏi rung động. Hắn ngẩn người nhìn nàng, cố kìm nén xúc động muốn cúi xuống hôn nàng, chỉ đưa tay giữ lấy cổ tay trắng ngần của nàng: “Đừng nghịch nữa…”

Lý Doanh nhìn bàn tay đang giữ lấy cổ tay mình, cười bảo: “Ơ? Hôm nay chàng dùng lan chỉ rửa tay cả trăm lần rồi à?”

Thôi Tuần sững lại: “Sao nàng…”

“Sao ta biết được?” Lý Doanh tiếp lời: “Muốn người không biết, trừ khi mình đừng làm.”

“Ta…”

“Đừng giải thích.” Lý Doanh oán trách: “Cả ngày suy tính nhiều như thế, chàng chưa nghe câu “quá thông minh sẽ tự chuốc khổ” à?”

Thôi Tuần bị nàng nói trúng tim đen đến mức cạn lời, chỉ biết bất lực lắc đầu, cười nói: “Giờ ta đã hiểu, vì sao bao nhiêu nam tử trên đời đều không muốn cưới công chúa Đại Chu nữa.”

Lý Doanh hỏi lại: “Chàng chắc không? Chàng không muốn cưới ta nữa đúng không?”

Thôi Tuần cũng không hiểu vì sao lời nói chung chung của mình lại biến thành chỉ đích danh nàng, hắn vội sửa ngay: “Không, ta muốn.”

Lý Doanh mỉm cười, không tiếp tục trêu chọc hắn nữa. Nàng đưa tay kia nắm lấy tay hắn đang giữ cổ tay mình, khiến hắn muốn buông ra cũng không buông được. Nàng thản nhiên nói: “Ta cũng muốn gả cho chàng mà.”

Nàng ngừng một chút, rồi thêm vào: “Rất thích chàng, rất muốn gả cho chàng.”

Lý Doanh lớn lên trong tình yêu thương, tính tình ngay thẳng và thuần khiết. Thái hậu đã dạy nàng cách đối nhân xử thế, ôn hòa khéo léo, nhưng cũng nhấn mạnh rằng ôn hòa không đồng nghĩa với nhu nhược, khéo léo không có nghĩa là không biết tranh giành. Thái hậu từng nói, một nữ tử, không nên ngần ngại theo đuổi điều mình muốn. Nếu muốn quyền thế, có thể tranh giành; muốn địa vị, có thể tranh giành; muốn một lang quân, cũng có thể tranh giành.

Vậy nên, nàng chưa bao giờ né tránh việc thổ lộ tình yêu của mình dành cho Thôi Tuần, lặp đi lặp lại không chút che giấu. Thôi Tuần lặng lẽ nhìn nàng, trong lòng cảm thấy một luồng ấm áp chảy qua. Nhưng hắn không phải là Lý Doanh, không lớn lên trong yêu thương mà lại chìm trong khinh ghét. Ngoài ba năm ngắn ngủi đầy ánh sáng kia, cả đời hắn bị bao vây bởi những ác ý. Điều này đã định sẵn hắn không bao giờ có thể bộc bạch tình cảm một cách thẳng thắn như Lý Doanh.

Hắn chăm chú nhìn nàng, muốn nói gì đó, nhưng cuối cùng chỉ nuốt xuống, không thốt lên lời. Sau một tiếng ho khan nhẹ, hắn chuyển đề tài: “Ba ngày nữa, Thẩm Khuyết sẽ bị hành hình.”

“Nhưng chẳng phải hắn vẫn không chịu khai ra kẻ chủ mưu ở trạm dịch Trường Lạc?”

“Thật ra, giờ đây hắn đã không còn gì để kiêng dè nữa.” Thôi Tuần phân tích: “Hắn chỉ một lòng muốn chết. Việc không chịu khai ra, có lẽ là để cản trở ta đạt được điều ta mong muốn.”

Lý Doanh hỏi: “Vì sao hắn lại ghét chàng thế nhỉ?”

Đáp án của câu hỏi này, cả hai đều ngầm hiểu – chẳng qua là vì A Man.

Lý Doanh chưa từng đề cập với Thôi Tuần về tình cảm của A Man hay A Sử Na Gia dành cho hắn. Đối với nàng, những nữ tử ấy yêu thương Thôi Tuần không phải là lỗi của hắn, cũng chẳng phải lỗi của các nàng. Huống hồ, nàng đã có được toàn bộ trái tim hắn. Nếu nhắc đến tình cảm của A Sử Na Gia hay A Man, nàng mong đợi gì từ câu trả lời của hắn? Muốn nghe hắn nói gì đây? Thương hại? Lạnh nhạt? Xin lỗi? Bất kể câu trả lời nào cũng đều là sự thiếu tôn trọng đối với những nữ tử đáng thương đó.

Trước đây, nàng từng thấy tỷ tỷ của nàng, công chúa Vinh Gia sau khi xuất giá đã đưa phò mã hồi cung. Trong buổi trò chuyện cùng mọi người, Vinh Gia tỷ tỷ nhắc đến một nữ tử si tình, vì phò mã mà cả đời không gả. Vinh Gia thở dài nói với phò mã: “Nàng ấy cần gì phải khổ sở như vậy? Cứ giữ mãi một mối tình vô vọng trong lòng, ôi chao, hy vọng kiếp sau nàng ấy sẽ không còn cố chấp thế nữa.”

Những lời của Vinh Gia tỷ tỷ không hề sai, cũng chẳng có ý châm chọc. Vì vậy, phò mã phong nhã đa tình kia cũng cúi đầu thở dài thương tiếc cho nữ tử ấy. Các phi tần công chúa có mặt đều cảm thán và tiếc nuối cho số phận của nàng ta. Chỉ riêng Lý Doanh cảm thấy khó chịu trong lòng, mơ hồ nghĩ rằng, mối tình đơn phương của người ấy không nên trở thành đề tài bàn tán nơi trà dư tửu hậu.

Phò mã của Vinh Gia tỷ tỷ là mỹ nam nổi danh thời bấy giờ. Ngoài người con gái si tình kia, hắn còn có vô số người ngưỡng mộ hắn. Sau này, mỗi khi hồi cung, tỷ tỷ lại nhắc đến vài người, ngay trước mặt phò mã. Có người nàng nhắc với giọng đùa cợt, có người lại dùng giọng tiếc nuối, khoan dung. Thậm chí, có lần tỷ ấy còn mở miệng, oán trách phò mã: “Chàng nói xem, chàng sinh ra đẹp thế làm gì để rồi khiến bao nữ tử phải chết mê chết mệt?”

Phò mã chỉ mỉm cười, đôi khi còn thuận miệng thảo luận vài câu. Về sau, mỗi khi Vinh Gia tỷ tỷ hồi cung, nàng cũng chẳng muốn đến thăm nữa. Nàng từng nói với a nương: “Con không thích nghe Vinh Gia tỷ tỷ nhắc mấy chuyện đó.”

A nương hỏi nàng vì sao, nàng suy nghĩ giây lát, rồi đáp: “Có lẽ Vinh Gia tỷ tỷ không cố ý, nhưng con luôn cảm thấy tỷ ấy như muốn khoe rằng, phò mã của tỷ ấy xuất chúng nhường nào, tuấn tú ra sao, được biết bao nữ tử ngưỡng mộ, nhưng chàng chỉ yêu mỗi tỷ ấy.”

Nàng nói tiếp: “Những tình cảm thuần khiết của những nữ tử ấy trong những năm tháng thanh xuân là điều quý giá nhất trên đời. Đáng lẽ phải được trân trọng cất giữ, chứ không nên trở thành vật để Vinh Gia tỷ tỷ khoe mẽ, càng không nên là một phần tình tứ giữa tỷ ấy và phò mã.”

A nương gật đầu, mỉm cười đáp: “Minh Nguyệt Châu, sau này nếu con chiếm được trái tim của một người đàn ông, đừng lấy những nữ tử khác ra để chứng tỏ năng lực của mình. Một người phụ nữ chinh phục được một người đàn ông thì có gì đáng kể? Con có rực rỡ chói sáng hay không không nằm ở việc đánh bại những người phụ nữ khác trong cuộc chiến tranh giành tình cảm, càng không cần lấy họ để làm nền cho sự nổi bật của riêng mình.”

Lời của a nương, nàng luôn ghi nhớ trong lòng. Vì thế, nàng chưa bao giờ nhắc đến tình cảm của A Sử Na Gia hay Thịnh A Man dành cho Thôi Tuần. Nàng cho rằng, dù nói gì đi nữa, cũng đều là sự xúc phạm đến tình cảm thuần khiết ấy. Nàng tôn trọng con người họ, cũng như tôn trọng tình yêu của họ.

Nàng không nhắc đến, Thôi Tuần lại càng không. Thực tế, Lý Doanh hiểu rõ, nữ tử yêu thầm hắn chắc chắn không chỉ có mỗi A Sử Na Gia hay Thịnh A Man. Dung mạo của hắn xuất chúng, là Liên Hoa Lang, đẹp như một đóa sen. Ba năm ở Thiên Uy quân, hẳn là cũng có không ít tiểu nương tử ngưỡng mộ hắn. Thế nhưng, Thôi Tuần chưa bao giờ hé môi nhắc đến, không chỉ vì tính cách lạnh nhạt của hắn, mà còn bởi hắn không giống phò mã của công chúa Vinh Gia. Hắn sẽ không mượn tình cảm của những tiểu nương tử khác để khoe khoang với người trong lòng mình.

Thế nhân thường mắng hắn là hèn hạ, vô sỉ, kẻ tiểu nhân bụng dạ hẹp hòi. Nhưng thử hỏi, có kẻ tiểu nhân hèn hạ nào lại luôn đối diện với tình cảm theo một cách chân thành, dù đối phương cao quý hay thấp hèn, mỹ miều hay thô kệch, kể cả khi không thể đáp lại thì hắn vẫn luôn dành cho họ một thái độ trân trọng hết mức.



Lý Doanh và Thôi Tuần “phối hợp” ăn ý, lướt qua đề tài tại sao Thẩm Khuyết lại căm hận Thôi Tuần thế này. Nàng hỏi: “Thẩm Khuyết ghét chàng lắm, ta nghĩ dù chàng dùng hình, hắn cũng không chịu khai đâu.”

Thôi Tuần cũng có chung suy nghĩ: “Thẩm Khuyết và Kim Di không giống nhau. Kim Di sợ chết, còn Thẩm Khuyết thì không. Bất kể là hình phạt gì, hắn cũng sẽ không khai. Hơn nữa, có Đại Lý Tự và Ngự Sử Đài cùng giám sát, họ cũng sẽ không để ta dùng đến tư hình.”

“Nhưng chàng phí bao công sức mới áp giải được hắn từ Lĩnh Nam về đây, không lẽ chỉ để nhìn hắn bị diệt khẩu chỉ sau ba ngày?”

“Cũng không hẳn vậy.” Thôi Tuần cân nhắc đôi chút, rồi diễn giải lời của Long Hưng Đế: “Họ luôn viện cớ rằng nếu không sớm giết Thẩm Khuyết, bách tính sẽ cho rằng Thánh nhân bao che. Nhưng dân chúng đâu có ngu. Nếu bọn họ biết cái chết của Thịnh Vân Đình có liên quan đến phu nhân của Bùi Quan Nhạc, hoặc nếu họ phát hiện Thịnh Vân Đình tới Trường An là vì muốn cầu viện cho Thiên Uy quân, trong khi Thẩm Khuyết lại trùng hợp phục kích ở ngoài thành, chẳng lẽ họ không sinh nghi?”

Lý Doanh hỏi: “Chàng đã cho lan truyền lời khai của Dương Hằng và những người khác khắp thành Trường An rồi chứ gì?”

Thôi Tuần gật đầu. Lý Doanh trầm ngâm giây lát, rồi nói: “Như vậy, nếu vội vã giết Thẩm Khuyết, dân chúng ngược lại sẽ nghĩ rằng triều đình đang che giấu sự thật.”

Nàng tiếp lời: “Án của Thiên Uy quân đã bị chôn vùi suốt sáu năm, nay lại một lần nữa khiến Trường An dấy lên sóng gió. Chỉ cần nghi ngờ lan rộng thêm, ba ngày sau, chưa chắc Thẩm Khuyết đã bị giết.”

Giả như không thể giết được Thẩm Khuyết, thì nhất định vẫn có cách khiến hắn phải khai ra.

Dù phải tính đến tình huống xấu nhất, Thẩm Khuyết chết đi, thì lớp băng dày cũng đã tan được một góc. Hắn có thể mượn lời bàn tán của thiên hạ, đẩy Bùi Quan Nhạc vào ngục, chưa biết chừng chân tướng sự việc sẽ sáng tỏ.

Suy nghĩ đến đây, Lý Doanh cảm thấy lòng nhẹ nhõm đôi phần. Nàng bắt đầu tính toán, phải làm thế nào để khiến Thẩm Khuyết mở miệng.

Thế nhưng ngay ngày hôm sau, A Man mang một thân thương tích chưa lành, nhờ người đến tìm Thôi Tuần.

Nàng nói, nàng muốn gặp Thẩm Khuyết.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 123: Nếu đây là cách nàng báo thù, thì nàng đã thành công rồi


Thôi Tuần từ chối.

Thịnh A Man không hiểu, nàng vừa mất đứa con, lại bị đánh tám mươi trượng. Thân thể nàng yếu ớt đến cực điểm, nếu không nhờ vị quan hành hình thương hại, cho phép nàng dưỡng thương xong mới chịu hai năm lao dịch, thì giờ nàng chỉ có thể nằm trong gian nhà đổ nát, được mấy tỷ muội từng làm việc chung ở giáo phường chăm sóc. Dù là thế, nàng vẫn cố chống người dậy, yếu ớt hỏi:

“Vì sao không để ta gặp Thẩm Khuyết?”

“Thẩm Khuyết hận cô.” Thôi Tuần nói. “Cô hà tất phải tự tìm phiền phức?”

“Ta biết hắn hận ta, nhưng ta vẫn còn nhiều chuyện chưa rõ ràng.” A Man kiên quyết. “Khi a huynh ta bị giết ở trạm dịch Trường Lạc, chẳng phải còn có sự tham gia của Vương nương tử, phu nhân Bùi Quan Nhạc sao? Và rốt cuộc, vì sao hắn lại muốn giết a huynh? Ta không tin chỉ vì nhìn a huynh ta không thuận mắt. Nếu là vậy, hắn càng chướng mắt Quách soái, sao khi Quách soái về Trường An nhậm chức, hắn lại không giết ông ấy?”

Thịnh A Man dồn dập chất vấn. Nàng không ngu. Từ lúc hài cốt của Thịnh Vân Đình bị chôn ngoài cửa Thông Hóa, quan phủ kết luận là sơn tặc giết người, nàng đã không tin. Khi ấy, nàng từng nói: sơn tặc nào dám giết một viên Ngu hầu của Thiên Uy quân? Sơn tặc nào to gan đến mức dám chôn người ngoài cửa Thông Hóa? Kết quả đúng như nàng đoán, kẻ giết Thịnh Vân Đình không phải sơn tặc, mà chính là Thẩm quốc công Thẩm Khuyết, một kẻ quyền cao chức trọng.

Thôi Tuần tránh không trả lời. Hắn chỉ nói: “Hiện giờ cô nên dưỡng thương, nếu không, làm sao chịu nổi hai năm lao dịch?”

“Đó là a huynh của ta!” A Man gào lên. “Ta mất cha mẹ từ nhỏ, là a huynh đã nuôi ta khôn lớn! Cho dù ngươi có là bằng hữu của a huynh, ngươi cũng không có quyền ngăn cản ta tìm ra sự thật!”

“Tam Ty sẽ tra rõ chân tướng, không cần cô kéo tấm thân bệnh tật đi cầu Thẩm Khuyết.”

A Man cắn răng trừng mắt nhìn hắn, nhưng hắn vẫn không hề dao động. Nàng vịn vào chiếc bàn ọp ẹp, từng bước khó nhọc tiến lại gần hắn. Gương mặt nàng tái nhợt, đôi mắt đỏ hoe: “Rốt cuộc ngươi ngăn cản ta là vì lý do gì? Có phải trong chuyện này có điều ta không nên biết? Hay ngươi cho rằng, một thường dân như ta, không đủ khả năng gánh vác sự thật?”

Thôi Tuần im lặng hồi lâu, rồi đáp: “Ngày trước a huynh cô từng đối xử rất chu đáo với ta. Y chỉ có mình cô là em gái, ta hy vọng cô có thể sống thật tốt.”

A Man chỉ cười, lắc đầu nói: “Sống thật tốt là nguyện vọng của ngươi, liên quan gì đến ta? Ngươi đã hỏi ta chưa? Nếu chưa, dựa vào đâu mà ngươi quyết định thay ta?”

Thôi Tuần ngẩn người. Vết thương trên lưng A Man đau buốt đến tận xương, nhưng vẻ mặt nàng lại hết sức bình thản: “Con người ai cũng sẽ chết. Cho dù sống đến trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết. Thay vì mơ hồ sống tiếp, ta thà làm rõ chân tướng rồi chết ngay lập tức.”

Thôi Tuần không đáp. Hắn vẫn còn do dự, lo lắng cho sự an nguy của nàng. Hắn nói: “Có cách khác để làm sáng tỏ sự thật.”

“Có lẽ ngươi có cách khác, nhưng cách nhanh nhất, tuyệt đối là ta.” A Man nói từng chữ rành mạch: “Thôi Tuần, a huynh ta đã chịu oan sáu năm. Nếu ngươi thực sự biết ơn tình nghĩa huynh ấy dành cho ngươi, sao ngươi đành lòng để huynh ấy tiếp tục chịu oan khuất?”

Đôi mắt đen thẳm của Thôi Tuần rốt cuộc cũng hiện lên sự dao động, nhưng hắn vẫn không nói lời đồng ý. A Man cắn môi, bất chợt quỳ sụp xuống. Vết thương trên lưng nàng rách ra thêm, máu bắt đầu rỉ ra. Nàng chịu đựng đau đớn, nước mắt lưng tròng khẩn cầu: “Ngày trước, a huynh luôn là người che chở cho ta. Nay ta muốn bảo vệ huynh ấy dù chỉ một lần. Cầu xin ngươi, thành toàn cho ta.”

Thôi Tuần trầm mặc một hồi, cuối cùng nói: “Đứng dậy đi.”

Thịnh A Man vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ: “Ngươi đồng ý với ta rồi sao?”

Thôi Tuần đáp: “Trước tiên đứng dậy đi đã.”

Thịnh A Man chần chừ, chống tay lên ghế nguyệt nha, chậm rãi đứng dậy. Thôi Tuần lặng nhìn khuôn mặt gầy gò nhưng bướng bỉnh của nàng, bỗng lên tiếng: “Lúc ở trong quân ngũ, a huynh của cô vẫn thường hay nhắc đến cô?”

“Huynh ấy nhắc gì về ta?”

“Huynh ấy nói, tính khí của cô không được tốt lắm.”

Thịnh A Man sững sờ, Thôi Tuần khẽ cười, không nói gì thêm, chỉ nói: “Trước tiên, hãy dưỡng thương cho tốt. Ta sẽ thu xếp để cô gặp Thẩm Khuyết.”

Thịnh A Man mừng rỡ như điên, nhìn người đàn ông mà suốt sáu năm qua nàng xem như kẻ thù không đội trời chung, do dự một chút rồi gượng gạo nói: “Đa tạ.”

Thôi Tuần gật đầu: “Ta đi trước.”

Hắn quay người bước ra khỏi căn nhà lụp xụp. Mấy nhạc kỹ ở giáo phường đang chờ bên ngoài, khi thấy hắn đều hoảng sợ cúi đầu, thân mình run rẩy. Thôi Tuần liếc nhìn bọn họ, nói: “Chăm sóc nàng cho tốt.”

Nhóm nhạc kỹ vội vã gật đầu. Đợi hắn đi khỏi, họ như bay vào trong nhà, dìu Thịnh A Man nằm xuống giường.

Vết thương trên lưng nàng lại rỉ máu. Một vài nhạc kỹ trách móc: “Sao cô cứ không nghe lời thế, vết thương lại toạc ra nữa rồi!”

Người đi lấy nước, người vắt khăn, người bôi thuốc. Thịnh A Man nằm úp sấp trên giường, không than đau dù chỉ một tiếng. Ánh mắt nàng chợt dừng lại trên chiếc bình ngọc trắng trong tay một nhạc kỹ, khẽ nói: “Thuốc này chắc đắt lắm nhỉ.”

Nhạc kỹ cầm bình thuốc ngẩn người. Thịnh A Man nói tiếp: “Mọi người làm sao mua nổi?”

Bọn họ nhìn nhau lúng túng, người đang bôi thuốc cho nàng nhỏ giọng đáp: “A Man, thuốc này rất tốt cho việc phục hồi của cô…”

Sắc mặt Thịnh A Man tái nhợt vì đau đớn, nàng nói: “Mọi người sợ ta bắt vứt đi, đúng không?”

Không ai dám đáp lại. Nàng gối đầu lên cánh tay, nhắm mắt lại, vẻ mệt mỏi: “Sẽ không nữa đâu…”

Giọng nàng thì thầm, tựa như nói với chính mình: “Sẽ không vứt đi nữa đâu…”



Thôi Tuần giữ đúng lời hứa, sắp xếp để Thịnh A Man gặp Thẩm Khuyết ngay ngày hôm sau.

Dưới sự dìu đỡ của vài nhạc kỹ, Thịnh A Man tiến vào ngục thất của Ngự Sử Đài. Thẩm Khuyết bị giam giữ dưới sự giám sát chặt chẽ của ba cơ quan: Sát Sự Thính, Ngự Sử Đài và Đại Lý Tự, nhằm đảm bảo không bên nào cưỡng ép cung khai. Theo lý, Thịnh A Man đến gặp Thẩm Khuyết thì ba cơ quan đều phải cử người đi cùng. Thế nhưng, Hàn Văn Mặc – chủ thẩm của Ngự Sử Đài – lại là kẻ nhát gan, sợ dính líu đến chuyện không nên nghe, bèn lấy cớ bận công vụ mà rời đi trước.

Thôi Tuần liếc nhìn Lư Hoài vẫn đứng đó, lạnh nhạt nói: “Lư Thiếu khanh cũng nên đi trước thì hơn.”

Lư Hoài kinh ngạc: “Ta rời đi làm gì? Thẩm Khuyết dám nói, ta dám nghe.”

Hắn đâu phải hạng sợ chết như Hàn Văn Mặc.

Huống hồ, vụ án của Thịnh Vân Đình vốn đầy rẫy nghi vấn. Nhưng vì nể mặt Long Hưng Đế cũng như không muốn gây ảnh hưởng đại cục, hắn mới đồng ý xử tử Thẩm Khuyết sớm cho yên chuyện. Nay có cơ hội tìm ra chân tướng, sao hắn lại chịu bỏ qua?

Thế là, hắn cùng Thôi Tuần ngồi ngay ngắn trong căn phòng sát vách của Thẩm Khuyết, lặng lẽ nghe cuộc đối thoại giữa Thẩm Khuyết và Thịnh A Man.



Trong buồng giam tối tăm, Thẩm Khuyết mang xiềng xích nặng trĩu, dáng vẻ tiều tụy đến cùng cực. Lúc này, hắn không còn chút phong thái kiêu căng, ngạo mạn như khi dự tiệc thưởng xuân, chỉ còn lại hơi thở ảm đạm của kẻ tuyệt vọng muốn tìm đến đường chết.

Khi thấy Thịnh A Man với mái tóc đen buông xõa, y phục đơn giản đứng ngoài song sắt, mắt hắn trợn to, yết hầu rung lên. Ngay sau đó, hắn lao tới, đưa cổ tay luồn qua song sắt, như thể muốn b.óp ch.ết nàng ngay tức khắc.

Thịnh A Man lùi lại một bước, khẽ cười: “Sao thế? Muốn giết ta à?”

“Ngươi là đồ tiện nhân!” Thẩm Khuyết giận dữ rít lên, mắt đỏ ngầu: “Ta đối xử tốt với ngươi như vậy, ngươi lại dám phản bội ta!”

Nghe vậy, Thịnh A Man bật cười khanh khách, như thể vừa nghe được chuyện nực cười nhất trần đời. Sau một hồi cười chán chê, nàng nhìn Thẩm Khuyết, nhìn gương mặt dù suy sụp nhưng vẫn anh tuấn của hắn, cất giọng chậm rãi: “Thẩm Khuyết, chẳng lẽ ngươi nghĩ rằng, chỉ vì ngươi trẻ tuổi tuấn tú, lại là thế tập Quốc công, nên dù ngươi từng cưỡng đoạt một nữ nhân, gi.ết ch.ết huynh trưởng của nàng ấy, nhưng chỉ cần ngươi thật lòng hối cải thì nàng ấy sẽ quên hết mọi thứ, tha thứ cho ngươi, rồi yêu ngươi sao?”

Thẩm Khuyết sững người.

Thịnh A Man nhếch môi: “Có lẽ trên đời này thật sự có những nữ nhân như vậy. Dù bị sỉ nhục, bị hành hạ, chỉ cần nam nhân kia nhỏ vài giọt lệ, nhận sai một câu, hứa sẽ đối xử tốt với nàng, thì sẽ mềm lòng tha thứ. Nếu người đó lại là kẻ bạc tình, chưa từng trao tình cảm cho bất kỳ ai, nhưng chỉ riêng nàng được thấy trái tim hắn, thì đó lại càng là thứ tình yêu hiếm có. Cái gì mà mối thù giết cha giết huynh, so với tình yêu này, đều không đáng nhắc đến.”

Thẩm Khuyết sững sờ, Thịnh A Man chậm rãi nói: “Đáng tiếc thay, ta – Thịnh A Man – không phải hạng nữ nhân đó. Dẫu ta và a huynh chỉ là dân thường ở kinh thành Trường An, nhưng huynh ấy đã dạy ta thế nào là tự trọng, thế nào là tự ái.”

“Huynh ấy là người huynh tốt nhất trên đời này, vậy mà ngươi đã giết huynh ấy. Ngươi khiến ta mãi mãi mất đi a huynh. Vậy mà ngươi nghĩ ta có thể quên đi mối thù giết huynh để sống yên ổn cùng ngươi sao?”

Thẩm Khuyết cuối cùng cũng lên tiếng, giọng hắn khàn đặc: “Cho nên từ đầu đến cuối ngươi đều lừa dối ta?”

“Đương nhiên.” A Mạn gật đầu: “Nếu không, ngươi nghĩ ta sẽ theo ngươi đến Lĩnh Nam? Sẽ nấu cơm, giặt giũ cho ngươi? Sẽ gấp chăn, dọn giường cho ngươi? Thẩm Khuyết, ta có thể nói cho ngươi biết, mỗi khoảnh khắc bên ngươi, ta đều nghĩ cách giết ngươi.”

Thẩm Khuyết giận đến mức siết chặt song sắt, nhưng Thịnh A Man không chút sợ hãi, chỉ nhìn hắn đầy giễu cợt. Một lúc sau, lửa giận trong mắt Thẩm Khuyết dần tan biến, hắn gục ngã xuống đất, giọng nói uể oải như tro tàn: “Phải rồi, đây mới là Thịnh A Man mà ta quen biết.”

Lần đầu gặp nàng là tại yến tiệc thưởng xuân, nàng khi ấy nóng nảy, quật cường. Lần thứ hai, là khi hắn c.ưỡ.ng b.ức nàng. Dù thân thể tả tơi, ánh mắt nàng vẫn trừng trừng nhìn hắn không chút sợ hãi. Lẽ ra phải hiểu rõ bản tính của nàng, không nên bị sự dịu dàng giả tạo ở Lĩnh Nam mê hoặc. Cũng chỉ vì khi ấy hắn sa sút, thiếp thất bỏ đi hết, chỉ còn nàng không rời không bỏ, dần dần khiến hắn động tâm, cuối cùng đánh mất cả mạng sống.

Thẩm Khuyết ngẩng đầu nhìn nàng, giọng đầy chua chát: “Nếu đây là cách nàng báo thù, thì nàng đã thành công rồi.”

Ánh mắt hắn trượt xuống vùng bụng phẳng lì của nàng: “Nhưng ta không ngờ, ngay cả con của mình nàng cũng có thể ra tay. Thịnh A Man, nàng thật độc ác.”

“Con ta? Độc ác?” A Man bật cười: “Ta vượt cấp cáo trạng, chịu tám mươi trượng, với tội thiếp cáo phu, chịu thêm hai năm lao dịch. Các tỷ muội của ta đều nói ta ngu ngốc, bảo ta không nên phá thai. Nếu không phá, còn có thể kéo dài thêm mấy tháng, chờ mọi chuyện lắng xuống, để Thôi Tuần cầu xin Thánh nhân và Thái hậu, biết đâu họ sẽ khoan hồng, miễn cho ta cả trượng hình lẫn lao dịch. Nhưng ta không muốn. Ngươi biết vì sao không?”

Thẩm Khuyết ngây người nhìn nàng, A Man lạnh lùng từng chữ: “Bởi vì đứa trẻ này, chỉ cần nó còn tồn tại trong bụng ta, thì mỗi ngày đều khiến ta ghê tởm.”

“Cả đời này, ta, Thịnh A Man, không bao giờ muốn có bất kỳ mối liên hệ nào với ngươi nữa. Con ngươi không xứng để ta dùng máu thịt mình nuôi dưỡng.”

Mỗi lời nàng nói đều như đâm thẳng vào tim Thẩm Khuyết, không chút nương tình. Sắc mặt hắn tái nhợt, cả người bơ phờ, như một kẻ mất hồn. Một lúc lâu sau, hắn dường như nhớ ra điều gì, bám lấy song sắt, nói: “Thịnh A Man, hôm nay nàng đến đây, chẳng lẽ không phải để cầu ta khai ra sự thật sao? Đây là thái độ cầu xin người khác của nàng à?”

“Ta cầu ngươi, ngươi sẽ nói sao?” A Man đáp: “Ta chưa từng nghĩ đến chuyện cầu xin ngươi. Ngươi muốn nói thì nói, không muốn nói thì thôi, đừng mơ ta hạ mình.”

Nghe vậy, Thẩm Khuyết bỗng bật cười lớn. Hắn biết, cả đời này, hắn không bao giờ khuất phục được người phụ nữ này. Nhưng cả đời này, có thể thua trong tay nàng, cũng không phải là điều đáng tiếc.

Cười xong, hắn nói: “Được! Nàng đã nói hết những lời thật lòng, vậy ta cũng chẳng ngại nói vài câu. Thịnh A Man, là ta giết a huynh của nàng. Nhưng nàng nhớ kỹ, nếu không phải nhờ ta, Thẩm Khuyết, thì oan khuất của a huynh nàng sẽ không được rửa sạch. Chuyện này, cả đời nàng phải ghi nhớ thật kỹ!”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 124: Thánh nhân có biết chuyện này không?


Thẩm Khuyết làm chứng, từng lời từng chữ đều từ từ hé lộ âm mưu đã chôn vùi năm vạn trung hồn sáu năm về trước.

Năm ấy, Thẩm Khuyết vừa tròn hai mươi ba tuổi, dù kế thừa tước vị Quốc công, nhưng trong lòng hắn luôn ngập tràn phẫn uất. Hắn hiểu rõ ngọn nguồn của cơn phẫn hận này là Thái hậu, người nắm quyền thực sự trong triều Đại Chu, cũng chính là hung thủ đã sát hại mẫu thân hắn.

Mỗi phần thưởng Thái hậu ban cho, hắn đều xem là nỗi sỉ nhục. Mỗi lần dập đầu tạ ơn trước mặt bà, lòng hắn lại đau đớn khôn nguôi. Đường đường là một người con, không chỉ bất lực trong việc báo thù cho mẹ mà còn phải cúi đầu trước kẻ thù. Thiên hạ này liệu có đứa con nào nhu nhược đến thế không?

Chính nỗi đau tột cùng ấy đã vặn vẹo tính cách của hắn. Hắn bắt đầu ngang ngược, vơ vét của cải, mua quan bán chức. Hắn đang đánh cược, đánh cược xem người dì ruột giả nhân giả nghĩa ấy có thể dung túng hắn đến khi nào. Hắn chờ đợi, chờ đến khi nào bà ta xé bỏ lớp mặt nạ giả tạo, đối xử với hắn như đã từng đối xử với mẫu thân và a tỷ của hắn.

Nhưng bà ta vẫn không ra tay. Có lẽ, bà ta không có thời gian để đối phó với hắn, bởi còn bận đối phó với tông thất họ Lý, với quần thần khắp thiên hạ. Bà vẫn tiếp tục thâu tóm quyền lực, bởi con trai bà đã mười bảy tuổi, không còn lý do để tiếp tục nhiếp chính. Bề ngoài bà trả lại quyền hành, ban cho hoàng đế một chút quyền tự quyết, nhưng thực quyền vẫn nằm gọn trong tay bà. Đến việc bổ nhiệm quan lại, hoàng đế cũng phải hỏi ý bà trước khi đóng dấu ngọc tỷ.

Một vị hoàng đế bạc nhược thế này, thật là chuyện lạ giữa trời đất!

Hắn vừa căm hận dì ruột mình, vừa khinh thường biểu đệ, vừa tiếp tục sống buông thả ở Trường An. Thế nhưng, ngọn lửa hận thù trong lòng hắn không hề nguội lạnh mà ngày càng bùng cháy dữ dội.

Và rồi, cơ hội cũng đến.

Khi Thứ sử Phong châu Bùi Quan Nhạc hồi kinh bẩm báo, đã tìm gặp hắn.

Đi cùng còn có Hộ Bộ Thượng thư Lư Dụ Dân.

Hắn hơi bất ngờ. Bùi Quan Nhạc tìm hắn không phải chuyện lạ – người này vốn khéo léo luồn lách, xuất thân hàn môn nhưng lại cưới được đích nữ của họ Vương ở Thái Nguyên, duy trì quan hệ tốt cả với thế gia lẫn hàn môn, trên quan trường như cá gặp nước. Nhưng Lư Dụ Dân thì khác, người này cứng nhắc, căm ghét cái ác, từng nhiều lần dâng sớ luận tội hắn. Hôm nay lại cùng nhau tìm tới, thật khiến người ta phải khó hiểu.

Bùi Quan Nhạc làm như không thấy vẻ ngạc nhiên của hắn, thẳng thừng hỏi: “Thẩm tướng quân, ta biết ngài căm hận Thái hậu. Nay có cách khiến Thái hậu thất thế, ngài có dám làm không?”

Hắn lạnh giọng: “Cách gì?”

Bùi Quan Nhạc mỉm cười: “Quách Cần Uy là tâm phúc Thái hậu, trấn giữ sáu châu Quan Nội. Dân chúng ca tụng rằng có Quách Cần Uy, Đột Quyết không thể xâm phạm Đại Chu. Nhưng nếu Đột Quyết đạp lên đất Đại Chu, Quách Cần Uy thất bại, để mất sáu châu Quan Nội, tất sẽ trở thành tội nhân. Khi đó, Thái hậu dùng người không đúng, cũng phải gánh hậu quả. Một nữ nhân đánh mất giang sơn, lấy tư cách gì tiếp tục nắm quyền triều chính?”

Lời nói của Bùi Quan Nhạc khiến Thẩm Khuyết rúng động. Hắn tự nhận mình không phải hạng lương thiện, nhưng Bùi Quan Nhạc còn độc hơn hắn hàng trăm lần.

Hắn nhíu mày: “Như vậy quá ác độc. Dân chúng sáu châu thì sao? Đất đai sáu châu cũng chắp tay, dâng lên cho Đột Quyết sao?”

Bùi Quan Nhạc điềm nhiên: “Làm việc lớn, ắt phải có hy sinh. Đại Chu quốc thổ ngàn vạn, mất sáu châu nho nhỏ thì đã sao?”

Thẩm Khuyết bật cười lạnh, ánh mắt xoáy sâu vào Lư Dụ Dân: “Lư Thượng thư cũng nghĩ vậy sao?”

Lư Dụ Dân chậm rãi cất lời: “Kế này là do ta lập ra.”

Hắn không dám tin nhìn chằm chằm Lư Dụ Dân, chỉ thấy ông ta lạnh nhạt: “Để một nữ nhân nhiếp chính là lỗi của bọn ta. Vì xã tắc Đại Chu, vì thiên hạ thái bình, ta đành làm vậy.”

Ông ta nhìn thẳng vào Thẩm Khuyết, giọng nghiêm nghị: “Thẩm tướng quân, kế này thành thì tất cả đều toại nguyện. Nếu thất bại, tất cả sẽ chết không toàn thây. Làm hay không, chỉ cần ngươi quyết định.”

Trong lòng Thẩm Khuyết vốn chẳng có gì phải do dự. Hắn chưa từng là kẻ trung quân ái quốc, sinh tử của bách tính sáu châu có liên quan gì đến hắn? Giang sơn Đại Chu mất đi, lại càng chẳng can hệ gì tới hắn. Điều duy nhất hắn mong muốn là báo thù cho mẫu thân, bất cứ việc gì có thể khiến Thái hậu không yên lòng, hắn đều sẵn sàng làm.

Ba người bọn họ – một kẻ vì thù nhà, một kẻ vì quyền thế, một kẻ vì công lý – ý hợp tâm đầu, cùng nhau bàn bạc kỹ lưỡng từng chi tiết trong âm mưu tại phủ Bùi Quan Nhạc, quyết không để kế hoạch sơ suất.



Trong nhà lao ẩm thấp, Thẩm Khuyết chậm rãi nói: “Sau đó, Lư Dụ Dân đã viết một phong thư gửi đến Khả hãn Ni Đô của Đột Quyết, hứa sẽ dâng sáu châu Quan Nội Đạo cho Đột Quyết. Đổi lại, Đột Quyết phải tiêu diệt Thiên Uy quân, đồng thời dừng vó ngựa tại Ninh Sóc, không được xâm phạm Trường An.”

Rõ ràng rồi, Khả hãn Ni Đô nhận được thư, vui mừng khôn xiết. Với Đột Quyết, lần giao dịch này thể nào cũng có lợi. Vừa tiêu diệt được đại họa tâm phúc, vừa thu về đất đai và dân chúng sáu châu, đúng là chuyện tốt từ trên trời rơi xuống.

Khả hãn Ni Đô lập tức đồng ý, theo đúng kế hoạch, ông ta tập kết binh lực, khí thế ồ ạt tiến thẳng về thành Phong Châu. Bùi Quan Nhạc vờ như không địch lại, dẫn dụ Thiên Uy quân tới cứu viện, lại lợi dụng lòng tin của Quách Cần Uy đối với ông ta, tiết lộ kế hoạch hành quân của Thiên Uy quân cho Đột Quyết, cuối cùng tạo nên thảm án Lạc Nhạn Lĩnh.

Đây chính là toàn bộ chân tướng của vụ án Thiên Uy quân.

Thôi Tuần đã bước ra từ gian phòng bên cạnh. Dù hắn sớm đã chắp nối được sự thật, nhưng khi nghe tận miệng kẻ chủ mưu kể lại, vẫn không khỏi huyết khí dâng trào. Thịnh A Man và Lư Hoài cũng sững sờ, không thốt nên lời, nhất là Lư Hoài, sắc mặt tái nhợt không chút huyết sắc, cả người như hồn bay phách lạc.

Thôi Tuần siết chặt tay đến mức móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay, cố gắng kiềm chế cảm xúc. Cuối cùng, hắn hỏi Thẩm Khuyết một câu: “Việc này, Thánh nhân có biết không?”

“Dĩ nhiên.” Thẩm Khuyết đáp: “Lư Dụ Dân là thầy dạy của Thánh nhân, ông ta nói gì cũng tin, lời nào cũng nghe. Chuyện này chẳng nhẽ Thánh nhân lại không biết? Huống hồ, nếu không có cái gật đầu của Thánh nhân, Bùi Quan Nhạc dám làm chuyện tru diệt cả gia tộc sao? Nếu không có ấn tín của Thánh nhân, Khả hãn Ni Đô có tin một phong thư không? Thánh nhân tất nhiên là biết rõ.”

Thôi Tuần chỉ cảm thấy đầu óc choáng váng. Quân phụ… đây chính là quân phụ của hắn!

Hắn bấu chặt song sắt nhà lao, cố gắng đứng vững, lòng đau đớn không cách nào tả xiết. Trong đầu hắn không ngừng vang vọng những lời dạy dỗ của Quách Cần Uy khi còn ở Thiên Uy quân: “Thập Thất lang, cháu văn thao võ lược, mọi thứ đều xuất sắc, tuy tính cách có phần cực đoan nhưng không làm ảnh hưởng đến đại cục, chưa kể cháu còn là người trọng tình trọng nghĩa. Chỉ có điều, có một điểm, cháu làm chưa đúng.”

Khi ấy, hắn vô cùng kính trọng Quách Cần Uy, liền cung kính đáp: “Xin Quách soái chỉ dạy.”

Quách Cần Uy khẽ thở dài, ôn tồn nói: “Có lẽ vì cha cháu đối xử với cháu không đủ tốt, nên cháu mới thiếu đi sự kính trọng đối với năm chữ “thiên, địa, quân, thân, sư”. Nhưng phụ thân là người sinh ra cháu, sư phụ là người dạy bảo cháu nên người, còn quân vương là người ban bổng lộc, cho cháu cái ăn cái mặc. Dù không thể thân cận nhưng vẫn phải giữ lòng tôn kính. Đặc biệt là với “quân”. “Quân” chính là phụ thân của thiên hạ, cháu càng phải tôn kính gấp bội, trung thành gấp bội.”

Những lời của Quách Cần Uy như còn văng vẳng bên tai, và quả thực, ông vẫn luôn hành xử như vậy. Rất nhiều tướng lĩnh do Thái hậu đề bạt vào thời điểm Thánh nhân còn nhỏ đều chẳng mấy xem trọng Thánh nhân. Nhưng Quách Cần Uy thì khác, ông kính cẩn với Thánh nhân chẳng khác gì với Thái hậu. Ông không cho phép binh sĩ Thiên Uy quân nói xấu Thánh nhân nửa lời, hễ phát hiện liền trục xuất khỏi quân ngũ. Vì vậy, tuy Thiên Uy quân bị xem là thân tín của Thái hậu, nhưng thực chất từng người trong bọn họ đều khắc sâu hai chữ “quân phụ” vào tận xương tủy.

Thế nhưng, ai có thể ngờ rằng vị quân phụ kia lại chính là đồng lõa, ngầm chấp thuận đưa họ vào cõi chết?

Thôi Tuần bi phẫn đến cực độ, các ngón tay siết chặt lòng bàn tay đến mức hằn sâu dấu móng. Hồi lâu, hắn mới lạnh lùng hỏi Thẩm Khuyết: “Ngươi có dám điểm chỉ vào lời khai này không?”

“Có gì mà không dám.” Thẩm Khuyết đối diện với Thôi Tuần, khôi phục vẻ ngạo mạn thường thấy. Hắn liếc nhìn A Man, cười nhạt: “Dù sao ta cũng sắp chết rồi, coi như trước khi chết làm được một việc tốt.”

Thẩm Khuyết nói xong liền viết lời khai, điểm chỉ nhận tội.

Sinh mệnh của hắn sắp chấm dứt. Ngẫm lại cả đời đầy tội ác, giấy mực cũng khó ghi hết, chỉ thoáng chốc mềm lòng trước lúc chết lại hóa thành lưỡi dao sắc nhọn đâm ngược vào tim hắn, đau đớn khôn cùng. Suy cho cùng, đó cũng là báo ứng của hắn.



Sau khi Thẩm Khuyết viết xong tờ khai, Thôi Tuần cuộn lại cẩn thận. Hắn hiểu rõ hôm nay A Man đến đây, tin tức này chắc chắn sẽ nhanh chóng truyền tới phủ Bùi Quan Nhạc và Lư Dụ Dân, thậm chí có thể đến tai Đại Minh cung. Thời gian dành cho hắn đã không còn nhiều.

Hắn xoay người định rời khỏi ngục thất, nhưng bỗng khựng lại, quay đầu nhìn vào gian phòng giam nơi Lư Hoài đang quỳ. Lư Hoài mặt xám như tro tàn, bất động như một pho tượng đất không hồn. Thôi Tuần mím môi, trầm giọng nói: “Lư Hoài, khi ngươi còn là Thiếu khanh Đại Lý Tự, từng viết câu “Kẻ phạm pháp, dù thân thích cũng phải phạt”, không biết nay còn giữ lời chăng?”

Lư Hoài chỉ ngơ ngác, ánh mắt trống rỗng không chút thần sắc. Vẻ ngông cuồng, tài hoa ngày trước của hắn dường như tan biến chỉ sau một đêm. Thôi Tuần lại nói: “Làm người hay làm quỷ, tự ngươi lựa chọn.”

Không đợi Lư Hoài hồi đáp, hắn cùng A Man rời khỏi ngục của Ngự Sử Đài.

Mãi đến khi Thôi Tuần chuẩn bị bước lên xe ngựa rời đi, A Man mới sực tỉnh, hỏi: “Huynh cầm tờ khai của Thẩm Khuyết đi đâu?”

Thôi Tuần đáp: “Đi làm điều nên làm.”

Thịnh A Man hít sâu một hơi khí lạnh: “Một người là Thượng thư Bộ Binh với căn cơ vững chắc, một người là thầy dạy của Thánh nhân, giữ chức Tể phụ đương triều, còn một người nữa…” Nàng ngập ngừng, ánh mắt thoáng vẻ hoang mang: “Thật sự có thể sao?”

Thôi Tuần chỉ nhàn nhạt đáp: “Cô không nên hỏi câu này?”

A Man cụp mắt xuống, lại hỏi: “Có phải suốt sáu năm nay huynh chưa từng quên mối thù a huynh ta và những người khác? Có phải huynh vẫn luôn chờ đợi ngày này?”

Nhưng Thôi Tuần không còn thời gian để đáp lại nàng, hắn chỉ nói: “Cô về đi, ta sẽ phái người bảo vệ cô.”

Dứt lời, hắn bước lên bục xe, định lên ngựa. A Man nhìn bóng lưng gầy gò tựa trúc của hắn, khẽ cắn môi, bỗng gọi lớn: “Vọng Thư a huynh!”

Thôi Tuần khựng lại, quay đầu.

A Man chợt nghẹn ngào. Tiếng gọi ấy là lần đầu nàng gặp Thôi Tuần khi đến thăm huynh trưởng ở Thiên Uy quân. Khi ấy, má nàng ửng hồng, ngại ngùng nói: “Huynh là bằng hữu của a huynh muội, vậy cũng là a huynh của muội. Muội sẽ gọi huynh là Vọng Thư a huynh nhé.”

Cảnh cũ còn đây, nhưng người xưa đã khác.

A Man cố gượng cười, không nói thêm gì, chỉ chân thành thốt lên: “Đa tạ.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 125: Ta là thân nhân của anh hùng!


Sau khi Thôi Tuần rời đi, Lư Hoài như kẻ mất hồn mới chậm rãi đứng dậy. Hắn lảo đảo bước ra khỏi ngục thất, mạnh tay đẩy tên tiểu lại Đại Lý Tự đang định hỏi chuyện, rồi xiêu vẹo bước từng bước, đi thẳng đến phủ Lư Dụ Dân.

Hắn ngẩng đầu nhìn lên tòa phủ đệ giản dị, trời dần bị mây mù che khuất, từng hạt mưa thưa thớt rơi xuống, chẳng mấy chốc đã biến thành màn mưa dày đặc. Y phục Lư Hoài bị ướt sũng, nhưng hắn chẳng hề để ý, chỉ lặng lẽ nhìn lên hai chữ lớn đề trên cổng: “Lư phủ.”

Lời dạy bảo ân cần của thúc phụ thuở nhỏ như còn vang bên tai. Chữ đầu tiên hắn viết là thúc phụ dạy, bài thơ đầu tiên hắn học là thúc phụ làm. Hắn từng tự hào về thúc phụ biết bao. Hắn rất muốn xông vào, chất vấn thúc phụ về lời Thẩm Khuyết nói, xem đó là thật hay giả. Nhưng hắn đứng ngoài phủ rất lâu mà không dám bước vào.

Hắn sợ. Sợ nghe thấy câu trả lời đó, sợ rằng chỉ cần bước vào, hình tượng đạo mạo mẫu mực trong lòng hắn sẽ sụp đổ hoàn toàn. Hắn không dám.

Lư Hoài nhắm chặt mắt, mặc cho mưa rơi xối xả lên mặt. Thật lâu sau, hắn mới mở mắt, quay người, lê từng bước chân nặng nề rời đi.



Lư Hoài vừa rời đi, tin tức về việc A Man tiến vào ngục thất của Ngự Sử Đài, nói chuyện riêng với Thẩm Khuyết đã nhanh chóng truyền đến tai Lư Dụ Dân và Bùi Quan Nhạc.

Lư Dụ Dân vô cùng kinh hãi, suy nghĩ đầu tiên là tìm Lư Hoài để hỏi cho rõ, nhưng Lư Hoài đã bặt vô âm tín. Ý nghĩ tiếp theo của ông ta là phải truy tìm tung tích Thôi Tuần cho bằng được.

Thế nhưng, Thôi Tuần cũng không rõ tung tích.

Hắn không vào cung Đại Minh để cáo trạng, cũng không trở về Sát Sự Thính, càng không quay lại phủ đệ của mình. Cứ như thể hắn đã bốc hơi khỏi nhân gian. Dù Lư Dụ Dân có lật tung cả thành Trường An, cũng không thể tìm thấy dấu vết của hắn.

Lúc Lư Dụ Dân nóng ruột như lửa đốt thì Thôi Tuần lại đang ở trong một thư quán <i>(tiệm sách)</i> nhỏ tại hậu viện giữa lòng Trường An.

Hắn cẩn thận sao chép lại lời khai của Thẩm Khuyết, lật ngược lại và dán lên một tấm ván gỗ hoa lê mỏng, sau đó dùng dao khắc, khắc từng nét lên tấm ván ấy. Đó chính là phương pháp khắc in.

Từ khi Thôi Tụng Thanh đảm nhiệm chức Tể phụ, ông đã ra sức thúc đẩy việc khắc in ở Đại Chu. Sách in từ phương pháp này có giá rẻ hơn sách chép tay đến mười lần. Mục đích của ông là để giúp dân nghèo và tầng lớp hàn môn cũng có thể mua sách, học chữ. Để khuyến khích phương pháp khắc in, ông đã ra lệnh giảm một nửa thuế thương nghiệp cho các thư quán sử dụng phương pháp này. Vì vậy, khắp Trường An, thư quán nào cũng sở hữu bản khắc gỗ và sử dụng kỹ thuật khắc in để xuất bản sách.

Thôi Tuần nắm chặt dao khắc, môi mím chặt, từng nét chữ nổi được khắc tỉ mỉ trên tấm ván gỗ lê. Tuy cổ tay hắn đã mất sức, nhưng mỗi nhát dao hạ xuống đều ổn định và chuẩn xác, tựa như mỗi đường khắc trên ván gỗ này thấm đẫm máu và nước mắt của năm vạn người. Dù phải thiêu rụi sinh mạng mình, hắn cũng không cho phép sự sai sót dù chỉ một chút.

Lý Doanh vẫn lặng lẽ ở bên, chăm chú nhìn hắn. Thỉnh thoảng, nàng sẽ chỉnh lại áo khoác lông hạc đen tuyền phủ trên người hắn, giúp hắn không bị hàn khí xâm nhập trong lúc tâm tình phẫn nộ. Thế nhưng, khi Thôi Tuần khắc đến phần lời khai liên quan đến Long Hưng Đế trong lời khai của Thẩm Khuyết, nàng hơi ngập ngừng rồi khẽ nói: “Ta khuyên chàng đừng khắc đoạn này.”

Dao khắc trong tay Thôi Tuần khựng lại. Lý Doanh tiếp lời: “Không phải vì nó là a đệ của ta nên ta thiên vị. Nếu nó thật sự dính líu đến vụ án Thiên Uy quân, từ nay về sau, nó sẽ không còn là a đệ của ta nữa. Ta không có người thân nào lại bỏ mặc bách tính như vậy. Nhưng chàng đã nghĩ đến hậu quả nếu khắc đoạn này chưa?”

Nàng chậm rãi nói tiếp: “Hiện giờ a đệ vẫn là hoàng đế Đại Chu. Dù lời khai của Thẩm Khuyết là thật hay giả, chỉ cần chàng khắc đoạn này lên, chính là tội vọng nghị quân thượng, chẳng khác nào tạo phản. Đừng nói đến chuyện đòi lại công bằng cho Thiên Uy quân, ngay cả tính mạng chàng cũng khó giữ. Chi bằng tạm thời đừng kéo nó vào, hãy tập trung vào Lư Dụ Dân và Bùi Quan Nhạc trước đã.”

Lời nàng nói từng câu đều thấu tình đạt lý. Thế nhưng, dù lý lẽ rõ ràng, lửa căm phẫn trong lòng Thôi Tuần vẫn chưa nguôi. Lý Doanh không khuyên thêm, chỉ lặng lẽ ở bên cạnh hắn. Hắn không phải người nóng nảy, rồi sẽ suy nghĩ thấu đáo.

Quả nhiên, sau một lúc lâu, Thôi Tuần cụp mắt, hắn nói: “Không khắc nữa.”

Lý Doanh thở phào nhẹ nhõm, dịu dàng khuyên bảo: “Trước tiên hãy trừ gian thần, rửa oan cho Thiên Uy quân. Những chuyện khác, sau này hẵng điều tra.”

Thôi Tuần lẳng lặng gật đầu, bỏ qua phần liên quan đến Long Hưng Đế, dồn hết tâm sức khắc trọn vẹn phần còn lại lên tấm ván gỗ lê. Đợi đến khi trời lặn trăng lên, lời khai cuối cùng cũng đã được khắc xong.

Sau khi khắc xong, tiếp theo chính là in ấn. Sáng sớm mai, khắp các con đường trọng yếu trong thành Trường An sẽ dán kín những bản in của lời khai này.



Đại sự đã quyết, ngày mai Trường An ắt sẽ dậy sóng. Nếu là người thường, hẳn đã lo lắng đến mức mất ngủ. Thế nhưng, một người vẫn luôn mất ngủ như Thôi Tuần, sau khi uống thuốc xong lại ngủ rất say.

Lý Doanh tựa bên giường hắn. Nàng đưa tay, vuốt nhẹ hàng lông mi đen nhánh của hắn. Lông mi phất qua đầu ngón tay, êm dịu như cánh ve. Nàng biết, hắn đã quá mệt mỏi rồi.

Hắn đã chờ đợi ngày này suốt sáu năm. Sáu năm, hắn gánh trên vai mối thù khắc cốt ghi tâm, cùng bao tiếng xấu đeo bám, không một ngày nào hắn được yên giấc. Giờ đây, khi ánh hừng đông lóe lên ở cuối trời, cuối cùng hắn đã được trút bỏ gánh nặng, yên gối, ngủ một giấc trọn vẹn suốt đêm.

Ngón tay nàng nắm lấy bàn tay lạnh giá của hắn, ngón tay đan xen như lần đầu gặp gỡ bên hồ sen, chỉ là so với khi đó, giờ đây lại thêm phần dây dưa tình ý. Lý Doanh ngắm nhìn gương mặt yên bình trong giấc ngủ của hắn, khẽ thì thầm: “Ta thật sự hy vọng, a đệ không liên quan đến chuyện này…”

Đó là em trai của nàng, đó là người thân nhất của nàng trên cõi đời, ngoại trừ Thái hậu. Tuy nàng nói rằng nếu y thật sự dính líu đến chuyện này, nàng sẽ không nhận y nữa. Thế nhưng, sâu trong lòng, nàng vẫn không muốn tin. Nàng không muốn tin rằng em trai ruột của mình lại có thể nhẫn tâm, giao cả vạn dân cho dị tộc giày xéo.

Nàng ngẩng đầu nhìn Thôi Tuần đang say ngủ, trong lòng tràn đầy nỗi áy náy và xót xa. Lý Doanh nắm nhẹ lấy tay hắn. Hắn và a đệ nàng đều ở cùng đội tuổi hai mươi ba. Sáu năm trước, cả hai đều mười bảy tuổi, đang ở độ tuổi thanh xuân rực rỡ nhất. Thế nhưng sau đó, một người sống cuộc đời vinh hoa quyền thế, trở thành vị hoàng đế anh minh nhân đức trong mắt muôn dân; một người lại rơi vào đại mạc hoang vu, thanh danh tan nát, chịu đựng biết bao khổ nhục. Nhớ lại quãng thời gian từ mười bảy đến hai mươi tuổi, Thôi Tuần sống trong ngục tối, chịu đủ khổ hình; từ hai mươi đến hai mươi ba tuổi, lại bị đàm tiếu bủa vây. Mỗi ngày trong sáu năm ấy đều là cơn ác mộng không dứt. Và rất có thể, kẻ đã khiến hắn rơi vào cơn ác mộng ấy lại chính là a đệ của nàng.

Nàng nằm gục bên giường hắn, ánh mắt trở nên mơ hồ. Một lúc lâu sau, nàng bỗng mím môi, nhẹ giọng nói: “Thập Thất lang, trước khi sự thật được phơi bày, ta muốn tin tưởng thêm đệ ấy một lần nữa, được không?”

Thôi Tuần vẫn chìm vào giấc ngủ sâu, tất nhiên không thể đáp lại. Lý Doanh mỉm cười: “Chàng không trả lời nên ta xem như chàng đồng ý rồi nhé.”

Bàn tay nàng áp chặt lên tay hắn, lẩm bẩm: “Chỉ mong, không phải là đệ ấy.”



Ngày hôm sau, cả thành Trường An chìm trong cơn sóng gió.

Toàn bộ Kim Ngô Vệ xuất quân, lục soát và xé bỏ toàn bộ những bản in dán trên các cung đường trọng yếu. Thế nhưng tin tức đã sớm lan truyền khắp ngõ ngách, chẳng thể nào ngăn cản.

Long Hưng Đế giận dữ đến nỗi đập bàn, hạ lệnh khẩn cấp điều tra xem kẻ nào to gan lớn mật dám tung tin đồn thất thiệt giữa thành Trường An. Tả hữu Kim Ngô Vệ nhận lệnh chuẩn bị xuất phát, nhưng Long Hưng Đế đột nhiên nghĩ đến điều gì đó, quát lớn: “Thôi Tuần đâu? Sao hôm nay không thấy hắn đến triều?”

“Bẩm Thánh nhân, Thôi Thiếu khanh đã dâng tấu xin cáo bệnh.”

“Cáo bệnh?” Long Hưng Đế cười lạnh: “Hắn không dám đến thì có.”

Hắn nghiến răng: “Đi! Truyền hắn tới đây, dù có chết cũng phải lôi hắn đến gặp trẫm!”

Tả hữu Kim Ngô Vệ nhìn nhau, nhưng vẫn cúi đầu đáp: “Vâng.”

Trong lúc Long Hưng Đế đang nổi trận lôi đình, A Sử Na Ngột Đóa đứng ngoài điện Thần Long. Nàng lắng nghe một lúc, sau đó quay người, nói: “Đi thôi.”

Cung tỳ khó hiểu hỏi: “Huệ phi không vào diện kiến Thánh nhân sao?”

A Sử Na Ngột Đoá lắc đầu. Nàng ngước nhìn bầu trời mây đen dày kịt, dùng giọng quan thoại không mấy thông thạo đáp: “Sắp mưa rồi.”

Nàng nói: “Hồi cung thôi.”

Dứt lời, nàng ngồi vào bộ liễn, hướng về tẩm cung của mình. Chỉ là khi ngang qua một hồ cá, nàng bỗng yêu cầu dừng kiệu, bước xuống ngắm cá vàng trong hồ.

Tuy nói là ngắm cá, ánh mắt nàng lại chăm chú dừng ở một đóa sen giữa hồ. Từng hạt mưa lất phất rơi xuống, cung tỳ nhanh nhẹn giương ô, che cho A Sử Na Ngột Đoá. Mưa càng lúc càng nặng hạt, cánh sen lay động không ngừng giữa gió mưa, nhưng cánh hoa cũng được rửa sạch đến mức rực rỡ dị thường. A Sử Na Ngột Đóa giương mắt, chợt hỏi cung tỳ: “Ngươi nói xem, sau cơn mưa này, đóa sen ấy sẽ trở nên đẹp hơn, hay sẽ héo tàn?”

Cung tỳ không có tài tiên tri, sao biết được đóa sen yếu ớt này sẽ bị gió mưa tàn phá hay sẽ lại hồi sinh sau mưa. Nàng chỉ có thể đáp: “Nô tỳ không biết.”

A Sử Na Ngột Đoá cũng không truy hỏi thêm, chỉ nhìn đóa sen bị nước mưa làm rũ xuống. Nàng nói: “Bông sen này thật đẹp. Trước khi nó chết đi, ta muốn hái nó xuống.”

Cung tỳ lập tức đáp: “Đợi mưa tạnh, nô tỳ sẽ đi hái ngay.”

Nhưng A Sử Na Ngột Đóa chỉ lắc đầu từ chối: “Không, để ta tự hái.”



Khi Long Minh Cung của đế vương đang chìm trong chướng khí mù mịt, thì căn nhà tạm của A Man cũng đón thêm một nhóm người mới.

Đó chính là những thân nhân của Thiên Uy quân ở Trường An.

Những người này, có già có trẻ, có phụ nữ có trẻ thơ, nhưng trải qua sáu năm sóng gió, số người còn lại đã không còn nhiều. A Man được các tỷ muội trong giáo phường đỡ ra ngoài. Người đầu tiên bước ra từ đám đông là Hà Thập Tam, cầm theo một tờ lời khai bị xé trộm, hỏi A Man: “Thịnh a tỷ, bọn ta biết tỷ là thiếp của Thẩm Khuyết, muốn hỏi tỷ, những lời viết trên này, có đúng không?”

A Man nhìn quanh, thấy những gương mặt hốc hác, đã già nua hơn tuổi thật. Sáu năm qua, họ phải mang danh gia quyến của bại quân, chịu bao nỗi nhục nhã và miệt thị. Như mẹ của Tào Ngũ Lang, vì không chịu nổi nhục nhã nên đã treo cổ tự vẫn. Những người còn lại chỉ có thể sống trong sự tê liệt và bi thương. Nhưng hôm nay, họ bất ngờ biết được rằng, hóa ra con trai của họ, anh em của họ, hay chồng của họ không phải là bại tướng, mà là bị người hãm hại đến mức toàn quân tan nát. Làm sao họ có thể không hận?

Sống mũi A Man xộc lên, nàng đáp: “Từng chữ trên này, đều là những gì Thẩm Khuyết đã từng nói với ta. Tất cả đều là thật.”

Đám đông lặng yên một lúc, rồi bỗng dưng bùng lên tiếng khóc thống thiết. Họ khóc vì những người thân đã mất, khóc cho những người anh em, người chồng người con, và cũng khóc cho chính bản thân họ.

Hà Thập Tam cố nén nước mắt, hỏi A Man: “Vậy thì những a huynh của ta, họ bại trận không phải vì chủ quan, mà là bị hại đến mức toàn quân bị diệt. Họ không phải bại quân, họ là anh hùng, đúng không?”

A Man cắn môi, gật đầu: “Mỗi người trong số họ đều là anh hùng.”

Hà Thập Tam ngẩng cao đầu, ưỡn ngực cười lớn: “Tốt! Ta, Hà Thập Tam, là thân nhân của anh hùng!”

Hắn lại nói: “Thịnh a tỷ, bọn ta phải đi kiện, tỷ có muốn đi không?”

Vết thương của A Man còn chưa lành, nhóm tỷ muội trong giáo phường lo lắng nói: “A Man…”

Nhưng A Man lập tức đáp: “Ta đi.”

Nàng kiên quyết nói từng chữ: “Ta cũng là thân nhân của anh hùng, ta nhất định phải đi!”



Trên đường đến huyện nha, A Man cũng kể cho Hà Thập Tam nghe về a huynh cậu, Hạ Cửu, người đã bị giết khi đi cầu viện tại Phong Châu. Thật đáng thương, Hà Cửu không chết trong tay người Đột Quyết, mà lại bị chính đồng bào mình bắn hạ ngay tại cổng thành Phong Châu. Y bị bắn tổng cộng một trăm linh tám mũi tên, sống sờ sờ bị biến thành con nhím, rồi ngã xuống ngay trên mảnh đất Đại Chu mà y thề suốt đời bảo vệ.

A Man còn nói với Hà Thập Tam: “Lần này đến huyện nha, sống chết khó lường. Đệ chưa đầy mười bốn tuổi, cuộc đời mới chỉ vừa bắt đầu, đệ có thể không đi. Nỗi oan của a huynh đệ, cứ để chúng ta lo liệu.”

Hà Thập Tam lau khô nước mắt, đáp: “Thịnh a tỷ, a huynh của đệ trúng một trăm linh tám mũi tên, vẫn không lùi bước. Đệ cũng sẽ không lùi.”

Ánh mắt cậu kiên định vô cùng. A Man cảm động trong lòng, nói: “Đệ giống với anh trai, đều là những bậc anh hùng.”

Hà Thập Tam đỡ nàng, cùng nàng chậm rãi bước đi. Bỗng nhiên hắn cậu ra điều gì, hỏi: “Đúng rồi, Thịnh a tỷ, tỷ có biết người đã dán lời khai là ai không?”

A Man đáp: “Ta không biết, nhưng ta có thể đoán được.”

“Là ai?”

“Là… Thôi Tuần.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 126: Giải oan cho Thiên Uy quân


Bên ngoài huyện nha Trường An, dân chúng tụ tập đông đúc, đợi xem náo nhiệt. Nhưng cánh cửa nghi môn màu đen vốn rộng mở ngày thường, cho phép bách tính vào nghe xử án, giờ đây lại đóng chặt, nên chẳng ai nghe được động tĩnh gì từ chính đường.

Mọi người dài cổ ngóng trông, chỉ một lúc sau, nghi môn bất ngờ mở ra. A Man cùng những người khác bị loạn côn đuổi đánh ra ngoài. Vì bảo vệ A Man nên Hà Thập Tam chịu không ít roi vọt, thân thể đau rát như lửa đốt. Cậu bị mấy nha sai kéo xềnh xệch, quăng ra khỏi nghi môn, ngã sóng soài trên mặt đất. Mặc kệ cơn đau, Hà Thập Tam vẫn lồm cồm bò dậy, lớn tiếng chất vấn: “Tại sao không nhận đơn kiện của chúng ta? Các người sợ cái gì chứ?”

Nha sai quát lớn: “Câm miệng! Nếu không phải minh phủ thấy các người già có, trẻ có, thì đã trói lại, đánh mỗi người một trăm trượng rồi!”

Trong đám đông có một sĩ tử thông hiểu luật pháp, nghe vậy không nhịn được nói: “Một trăm trượng là hình phạt dành cho kẻ vu cáo. Các người còn chưa điều tra mà dám khẳng định đây là vu cáo sao?”

Nha sai ngớ người, sau đó nổi giận, chỉ vào sĩ tử mà mắng: “Đừng tưởng biết đọc vài quyển luật đã là giỏi giang lắm! Dựa vào cái gì bắt huyện nha chúng ta điều tra quan viên triều đình chỉ vì mấy tờ khai khắc in? Nếu cứ thế này, ai muốn hại vị đại nhân nào, chỉ cần in vài tờ khai, dán khắp thành Trường An, chúng ta đều phải điều tra à? Rồi ai dám làm huyện lệnh Trường An này nữa? Hay ngươi tới làm thử xem sao?”

Sĩ tử bị mắng đến co rúm người, vội lẩn vào đám đông, không dám lên tiếng nữa. A Man giận dữ, mặc kệ chân tay vừa bị loạn côn quét trúng, lảo đảo tiến lên đối diện nha sai, nàng cao giọng hỏi: “Bọn ta muốn hại bọn họ sao? Được, vậy ngươi giải thích đi, vì sao Thẩm Khuyết lại biết rõ a huynh ta về Trường An cầu viện? Hắn là Trung lang tướng phụ trách trấn thủ các cửa ngõ Trường An, nếu không phải có âm mưu từ sớm, thì sao hắn biết trước tin tức chiến sự cách đây cả nghìn dặm? Rõ ràng chuyện này đầy rẫy nghi vấn, các người không thèm thẩm tra, đã vội bảo chúng ta vu cáo. Lương tâm các người đâu rồi? Bị chó ăn hết rồi sao?”

Nàng nói đến đây, giọng nghẹn ngào, nước mắt rơi lã chã: “Đây là cách các người đối xử với những tướng sĩ vùng biên, bảo vệ an nguy cho các người sao?”

A Man bật khóc nức nở, gia quyến Thiên Uy quân vì thương tâm nên cũng nức nở theo, tiếng khóc ai oán thấu trời. Dân chúng xung quanh không khỏi xúc động. Phải rồi, không bàn đến chuyện lời khai thật giả, chỉ riêng những điểm đáng ngờ mà A Man nêu ra, cũng đã đủ khiến người ta cảm thấy lạ thường. Những nha sai am tường việc xử án kia, chẳng lẽ không ai nhìn ra được sao?

Tên nha sai không trả lời được, tức giận đẩy mạnh A Man ngã chúi về trước, mắng: “Tiện phụ dám tố cáo chồng mình, còn dám nói thêm câu nào, ta sẽ lột quần đánh ngươi ngay!”

Hà Thập Tam kịp thời đỡ lấy A Man, thiếu niên huyết khí phương cương, hoàn toàn không màng hậu quả, lớn tiếng quát vào mặt nha sai: “Các ngươi dựa vào đâu mà ức h**p người khác? A huynh ta liều mình giữ gìn biên cương Đại Chu, chẳng lẽ là để các ngươi mặc sức bắt nạt chúng ta sao?”

Lời hắn vừa dứt, những thiếu niên khác cũng phẫn nộ xông lên, xô đẩy nha sai. Vài tên nha sai giận dữ, vung gậy quật chúng tới tấp. Có thiếu niên bị đánh vỡ đầu, máu chảy đầm đìa. Dân chúng đứng xem không nỡ nhìn, có người hô lớn: “Đừng đánh nữa!”

“Chúng chỉ là những đứa trẻ mười hai, mười ba tuổi, sao các người có thể ra tay tàn nhẫn như vậy!”

“Đừng đánh nữa, đánh tiếp sẽ chết người đấy!”

Một số dân chúng bất bình ùa tới kéo giữ đám nha sai, không cho bọn chúng tiếp tục động thủ. Thấy lòng dân phẫn nộ, mấy tên nha sai mới chịu dừng tay, khinh khỉnh nhổ một bãi nước bọt về phía A Man và những người đi cùng nàng: “Còn dám đến huyện nha vu cáo nữa thì sẽ không chỉ là một trận đòn như hôm nay đâu!”

Cánh cửa nghi môn sơn đen “rầm” một tiếng đóng sầm lại, chỉ còn lại gia quyến Thiên Uy quân thân thể thương tích, nhếch nhác ê chề.

Dân chúng thở dài ngao ngán, lần lượt tản đi. Cũng có người khâm phục dũng khí của A Man và những người khác, chần chừ chưa nỡ rời đi. Vị sĩ tử áo trắng vừa lên tiếng bênh vực họ, tiến lại gần nói: “Thịnh nương tử, cánh tay sao bẻ gãy được đùi? Người các vị muốn kiện là Tể phụ đương triều, là thầy dạy của Thánh nhân, các vị không thể thắng nổi đâu. Đừng kiện nữa, chứ không lại mất cả tính mạng.”

A Man không đáp, chỉ lấy khăn lụa nhẹ nhàng băng bó vết thương cho thiếu niên bị đánh vỡ đầu. Nàng bình thản hỏi mọi người: “Đường phía trước gian nan, mọi người còn muốn kiện nữa không?”

Hà Thập Tam là người lên tiếng đầu tiên: “Kiện!”

Mọi người đồng loạt hô vang: “Kiện!”

“Dù có mất mạng cũng phải kiện!”

A Man gật đầu, sau đó quay sang sĩ tử áo trắng: “Thưa lang quân, cảm ơn ngài đã lo nghĩ cho chúng ta. Nhưng thân nhân của chúng ta không phải chết dưới đao kiếm của người Đột Quyết, họ chết vì âm mưu tính toán của người Đại Chu. Họ đều còn rất trẻ, họ không đáng phải chết. Nếu ngay cả chúng ta cũng không đòi lại công bằng cho họ, thì còn ai sẽ làm điều đó đây?”

Nàng ngừng lại, rồi kiên quyết nói tiếp: “Chúng ta là gia quyến của họ, đã sáu năm sống cảnh chuột chạy qua đường, ai ai cũng khinh ghét. Nhưng dù đau đớn đến đâu, ít nhất chúng ta vẫn còn sống, còn họ đã chết rồi! Chết mà còn phải mang tiếng nhục bại trận, mất đất. Nhưng thử hỏi, việc đánh mất sáu châu Quan Nội, thật sự là lỗi của họ sao? Từ đầu đến cuối, người bỏ rơi bách tính sáu châu chưa từng là họ. Hôm nay, dù có bỏ mạng, chúng ta cũng phải đòi lại danh dự cho họ! Họ không phải là những kẻ thất bại vô dụng, họ là những anh hùng của Đại Chu!”

Những lời của nàng khiến lòng sĩ tử xao động mạnh mẽ. Y nén lệ, gật đầu nói: “Thịnh nương tử, chi bằng các người hãy đến phủ Kinh Triệu Doãn.”

“Phủ Kinh Triệu Doãn?”

“Tân nhiệm Kinh Triệu Doãn là Tiết Vạn Triệt, trước kia làm Thứ sử Dương Châu. Khi ở Dương Châu, dân chúng đều gọi ông ấy là Tạ Thanh Thiên. Ông ấy là một vị quan thanh liêm hiếm có, có lẽ sẽ tiếp nhận vụ án của các vị.”



Nhận được chỉ dẫn từ sĩ tử áo trắng, nhóm gia quyến Thiên Uy quân dìu dắt nhau, từng bước tiến về phủ Kinh Triệu Doãn.

Trên đường đi, họ bị đám đông vây quanh, người xem chật như nêm cối. Có kẻ cười lạnh chế nhạo, bảo rằng bọn họ chỉ dựa vào một tờ khai chẳng rõ thật giả để tố cáo đại thần trong triều, quả là mất trí. Lại có kẻ buông lời mắng chửi, nói rằng vì muốn rũ sạch nỗi nhục của gia quyến thất trận nên họ mới bày chuyện bản khai này ra.

Hà Thập Tam tuổi trẻ khí thịnh, muốn phản bác từng người một, nhưng lại bị A Man ngăn lại. Lúc này họ không nên phí thời gian tranh cãi, điều cần làm là dồn sức thuyết phục Kinh Triệu Doãn, Tiết Vạn Triệt thụ lý vụ án này.

Khi họ bước vào phủ Kinh Triệu Doãn, cánh cửa nghi môn sơn đỏ từ từ khép lại. Trong lòng ai nấy đều thấp thỏm, chẳng biết điều chờ đợi họ lần này sẽ là công lý hay lại là một trận đòn tàn nhẫn nào đó.

Trong chính đường, Kinh Triệu Doãn Tiết Vạn Triệt an tọa trên vị trí chủ vị. Ông khoảng năm mươi tuổi, gương mặt nghiêm nghị. Hà Thập Tam lập tức quỳ sụp xuống, hai tay dâng cao lời khai của Thẩm Khuyết, lớn tiếng kêu oan: “Tiết Triệu Doãn, a huynh ta chết oan, các huynh đệ Thiên Uy quân khác cũng chết oan! Xin Tiết Triệu Doãn làm chủ cho họ!”

Theo sau cậu, toàn bộ gia quyến Thiên Uy quân cũng quỳ xuống, ai nấy nác nghẹn, cầu xin Tiết Vạn Triệt đòi lại công bằng.

Ánh mắt Tiết Vạn Triệt lướt qua đám người dưới điện, có người già, có thiếu nữ, cũng có thiếu niên mới chỉ mười mấy tuổi. Nhưng ai nấy đều mặt mũi bầm tím, thậm chí có người đầu vỡ máu chảy, rõ ràng đã phải chịu một trận bạo hành. Mà kẻ ra tay, bất kể là ai, cũng chỉ có một điểm chung – sợ bị liên lụy đến bản thân.

Nhưng Tiết Vạn Triệt không sợ. Với tài năng của ông, nếu không lo chuyện bao đồng thì đã không chìm nổi trên quan trường suốt bao năm, để đến giờ vẫn chỉ là một Kinh Triệu Doãn tứ phẩm, chưa từng ngồi vào ghế Thượng thư lục bộ, càng không nói tới vị trí Tể phụ.

Ông hiệu cho nha sai nhận lấy lời khai từ tay Hà Thập Tam, đọc qua một lượt, ánh mắt lướt nhanh mười hàng.

Kim Ngô Vệ đã sớm xé bỏ hết các bản in của tờ cung trạng, nên đây là lần đầu tiên Tiết Vạn Triệt đọc được nội dung trong lời khai của Thẩm Khuyết. Càng đọc, ông càng chấn động. Không lạ khi chẳng ai dám đụng tới vụ án này. Chưa bàn tới những kẻ liên quan đều là nhân vật quyền thế, nếu vụ án này được lật lại, hẳn sẽ gây nên chấn động vô cùng lớn.

Ai cũng biết, chính nhờ vụ án Thiên Uy quân nên Thánh nhân mới có thể ngang hàng với Thái hậu. Nếu vụ án này bị lật lại thì chẳng khác nào khẳng định cách xử lý vào sáu năm trước của Thánh nhân là hoàn toàn sai lầm!

Huống chi, Thái hậu đã cao tuổi, còn Thánh nhân mới chỉ hai mươi ba. Tương lai quyền lực Đại Chu sớm muộn gì cũng sẽ rơi vào tay Thánh nhân. Đắc tội với Thánh nhân, nghĩa là từ nay về sau sẽ phải sống trong cảnh nơm nớp lo sợ. Đây chính là lý do huyện lệnh Trường An không dám nhận vụ án này.

Việc này trọng đại. Tạ Vạn Triết trầm ngâm không nói.

Hà Thập Tam thấy ông chỉ chăm chú xem lời khai mà không hề mở miệng, lòng nóng như lửa đốt, vội dập đầu thưa: “Tiết Triệu Doãn, ta biết người mà ta muốn cáo buộc có thế lực rất lớn, nhưng a huynh ta vì trúng một trăm linh tám mũi tên mà chết! Huynh ấy là một nam tử hán kiên cường, sao chịu nỗi cảnh oan khuất suốt sáu năm qua? Xin Tiết Triệu Doãn làm chủ, giải oan cho Thiên Uy quân!”

Tiết Vạn Triệt không đáp, chỉ dùng ngón tay gõ nhẹ lên tờ khai của Thẩm Khuyết nằm trên bàn, chậm rãi ngẩng đầu hỏi: “Ngươi có biết Kim Ngô Vệ đã hủy hết các bản in của tờ cung trạng được rải khắp Trường An rồi không?”

Hà Thập Tam gật đầu đáp: “Biết.”

Tiết Vạn Triệt quát: “Biết mà còn dám giấu riêng? Đây là trọng tội, đủ chém đầu đó!”

Hà Thập Tam khựng lại, rồi ngẩng cao đầu nói: “Chém đầu thì chém đầu! Nếu nỗi oan của a huynh ta không thể giãi bày, thì ta cũng không còn chút hy vọng nào vào thế gian này nữa. Thà bị chém đầu còn hơn, mười tám năm sau, Hà Thập Tam này lại là một hảo hán!”

Những thiếu niên khác cũng đồng loạt hưởng ứng: “Nếu không đòi được công bằng, thì thà bị chém đầu còn hơn!”

Trong khoảnh khắc, chính đường trở nên náo động. Tiết Vạn Triệt nghiêm giọng quát: “Yên lặng!”

Đám thiếu niên lập tức im bặt. Tiết Vạn Triệt lại nhìn Hà Thập Tam, trầm giọng hỏi: “Ngươi chưa tròn mười bốn tuổi mà đã dám làm chuyện mất đầu này. Cha mẹ ngươi đâu? Họ dạy dỗ ngươi thế nào?”

Đôi mắt Hà Thập Tam đỏ hoe, khẽ nói: “Chết rồi.”

Tiết Vạn Triệt sững người. Hà Thập Tam tiếp lời: “Sau trận chiến ở Lạc Nhạn Lĩnh, cha mẹ ta thường xuyên bị người đời chỉ trỏ, lại thêm a huynh chết thảm, họ không chịu nổi cú sốc ấy nên lần lượt qua đời. Giờ đây, ta không còn cha, không còn mẹ, cũng chẳng còn a huynh, chỉ còn lại một mình ta.”

Ánh mắt Tiết Vạn Triệt thoáng hiện vẻ thương cảm, khẽ bảo: “Vậy ngươi càng phải trân trọng mạng sống, để cha và anh ngươi dưới suối vàng cũng yên lòng.”

Hà Thập Tam bật cười, ngẩng cao đầu nói: “Nếu chỉ vì giữ mạng mà làm ngơ trước nỗi oan của a huynh, cúi đầu làm kẻ hèn nhát, thì dù sống đến trăm tuổi, cũng có nghĩa lý gì? Ta thà chết ngay bây giờ, còn hơn làm kẻ hèn nhát sống lay lắt!”

Lời lẽ kiên quyết ấy khiến Tiết Vạn Triệt không khỏi bàng hoàng. Ông không ngờ một thiếu niên chưa tròn mười bốn tuổi lại có thể nói ra những lời đầy khí phách như vậy. Sau đó, ông quay sang A Man, hỏi: “Thịnh A Man, nhà họ Thịnh chỉ còn lại một mình ngươi, ngươi cũng nghĩ như vậy sao?”

A Man bình thản gật đầu: “Thưa Tiết Triệu Doãn, đến vinh hoa của Quốc công phu nhân ta còn không cần thì chẳng nhẽ ta lại cần cái mạng này?”

Tiết Vạn Triệt lại nhìn quanh, trầm giọng hỏi: “Các ngươi đều nghĩ như vậy sao?”

Tất cả không hề do dự, đồng thanh đáp: “Chúng ta thà mất mạng thì cũng phải đòi lại công bằng!”

A Man bỗng nở nụ cười lạnh: “Tiết Triệu Doãn, ngài hỏi chúng ta, chúng ta còn có thể trả lời ngài, nhưng những người khác, đến cả cơ hội trả lời cũng không thể nữa rồi.”

Tiết Vạn Triệt nhíu mày: “Lời ấy là sao?”

A Man chậm rãi đáp: “Ta và Hà Thập Tam, tuy nhà chỉ còn lại một người, nhưng ít ra vẫn còn. Tiết Triệu Doãn có biết, bao nhiêu huynh đệ Thiên Uy quân, nhà cửa đã không còn một ai? Lấy bằng hữu của a huynh ta là Tào Ngũ lang làm ví dụ. Huynh ấy lớn lên trong vòng tay của người mẹ góa, từ nhỏ đã được dạy dỗ phải trung quân ái quốc. Bởi thế, huynh ấy mang trong lòng một trái tim nhiệt huyết, mới mười bốn tuổi đã tòng quân, thề không để quân Hồ dẫm lên bờ cõi Đại Chu. Vậy mà một thiếu niên trung nghĩa như thế, chẳng những bỏ mạng ở Lạc Nhạn Lĩnh, còn phải gánh chịu nỗi nhục là kẻ bại trận, mất đất. Mẹ góa của huynh ấy vì không chịu nổi nỗi nhục, đã treo cổ tự vẫn, cả nhà huynh ấy… đều chết sạch cả rồi.”

A Man nghẹn ngào, nước mắt lăn dài: “Mà trong Thiên Uy quân, còn bao nhiêu người như Tào Ngũ lang? Bao nhiêu thiếu niên trung quân ái quốc, giờ đây toàn gia đã không còn một ai… Họ thậm chí còn không có cơ hộ để trân trọng mạng sống, giống như Tiết Triệu Doãn vừa nói.”

“Bọn họ vốn không phải chết, bọn họ đáng ra phải là những anh hùng, nên nhận được sự tôn kính của bách tính Đại Chu, chứ không phải chịu sự mắng nhiếc. Nếu không phải do gian thần tác oai tác quái, bi kịch của Tào Ngũ lang và những người khác đã chẳng xảy ra. Ngoài Tào Ngũ lang, còn có dân chúng sáu châu, họ có tội tình gì? Họ chỉ mong được sống những ngày yên bình, thế nhưng lại trở thành vật hi sinh cho cuộc chiến tranh đoạt quyền lực. Trong âm mưu đó, biết bao bá tánh sáu châu bị biến thành nô lệ của Đột Quyết, lại có biết bao người bị diệt môn, cả nhà không còn ai sống sót? Tiết Triệu Doãn, ngài đã thấy xương trắng chất đầy ở Lạc Nhạn Lĩnh chưa? Ngài có thấy từng đống xương trắng rải rác khắp sáu châu chưa? Kẻ bày ra âm mưu này, hắn còn xứng là người sao? Hay là, trong mắt bọn chúng, những tướng sĩ bảo vệ biên cương, những bách tính cần cù, đều không được tính là con người?”

Trước lời chất vấn dồn dập của Thịnh A Man, Tiết Vạn Triệt cũng không khỏi động lòng. Thịnh A Man lau nước mắt, kiên quyết nói: “Nếu Tạ đại nhân không nhận đơn kiện của chúng ta, vậy chúng ta sẽ đến Đại Lý Tự, đến Ngự Sử Đài, đến cung Đại Minh. Trừ phi tất cả chúng ta đều chết sạch, bằng không, chúng ta tuyệt không dừng lại.”

Nàng nói xong, chuẩn bị đứng dậy trong thất vọng thì Tiết Vạn Triệt bất ngờ lên tiếng: “Khoan đã.”

Thịnh A Man khựng lại, Tiết Vạn Triệt nói: “Trời đất vô tình, lấy vạn vật làm cỏ rác. Tuy ta thân phận thấp kém, lời nói chẳng có mấy phần trọng lượng, nhưng cũng nguyện vì linh hồn trung nghĩa của các tướng sĩ mà dốc chút sức mọn. Đơn kiện của các ngươi, ta nhận.”

Thịnh A Man mừng rỡ khôn xiết, cùng mọi người quỳ xuống khấu đầu: “Đa tạ Tiết Triệu Doãn!”

Tiết Vạn Triệt gật đầu, ánh mắt dừng lại trên người Thịnh A Man, chợt hỏi: “Ngươi còn nhớ Đô đốc Quế Châu Trương Hoằng Nghị không?”

Thịnh A Man đáp: “Tất nhiên là nhớ.”

“Ông ấy là tâm giao của ta.” Tiết Vạn Triệt nói: “Gần đây ông ấy có gửi thư cho ta, nhắc đến chuyện Thẩm Khuyết bị áp giải về Trường An, trong thư cũng đề cập đến vụ án Thiên Uy quân.”

Tiết Vạn Triệt thoáng ngập ngừng, không nói ra rằng trong thư Trương Hoằng Nghị còn nhắc đến Thôi Tuần. Trương Hoằng Nghị thắc mắc làm sao một viên nịnh thần lại có thể viết ra những nét bút mạnh mẽ, có cốt cách đến vậy, lại càng khó hiểu khi viên nịnh thần đó dám vì nỗi oan của cố nhân mà không tiếc mạng sống, vượt ngàn dặm đến Lĩnh Nam. Tiết Vạn Triệt chợt tỉnh ngộ, nghĩ đến những tờ khai được khắc in và dán khắp Trường An, cũng hiểu ra vì sao Thôi Tuần mang bệnh mà vẫn lao đến nơi này. So với Thôi Tuần, ông và Trương Hoằng Nghị, những người luôn tự xưng là trung thần, lại chẳng bằng một kẻ như hắn.

Trong lòng Tiết Vạn Triệt dần có quyết định. Ông và Trương Hoằng Nghị đỗ đạt cùng năm nhưng đường quan lộ lại không mấy suôn sẻ, nay đã qua tuổi biết mệnh trời, nhiệt huyết cũng nguội lạnh nhiều so với thời niên thiếu. Thế nhưng hôm nay, ngọn lửa ấy dường như bừng cháy trở lại. Ông nhìn Thịnh A Man, trầm giọng nói: “Để bách tính cho rằng trời Đại Chu vĩnh viễn chìm trong tăm tối, đó là lỗi của những người làm quan như chúng ta. Nay các ngươi liều mạng để đêm đen rạng sáng, nếu bọn ta vẫn làm ngơ, thì không xứng làm thần tử Đại Chu. Ngươi yên tâm, vụ án Thiên Uy quân, không chỉ mỗi mình các ngươi cố gắng đâu.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 127: Lấy mạng can gián


Trường An.

Mưa dầm rả rích suốt ba ngày không dứt.

Ba ngày ấy, triều đình tranh cãi không ngừng. Kinh Triệu Doãn Tiết Vạn Triệt tiếp nhận vụ án Thiên Uy quân, ngày ngày dâng sớ, khẩn cầu Long Hưng Đế cho phép điều tra triệt để. Ngoài ông ra, Đô đốc Quế Châu Trương Hoằng Nghị cùng nhiều vị thanh liêm trong triều cũng đồng loạt dâng sớ, khẩn thiết xin Long Hưng Đế xét xử vụ án một cách tận tường. Trên triều, Tiết Vạn Triệt tranh luận kịch liệt với Thượng thư Tả bộc xạ Lư Dụ Dân.

Lư Dụ Dân nói: Kẻ trong sạch tự khắc được minh oan.

Tiết Vạn Triệt phản bác: Thân trong sạch, càng không sợ tra xét.

Lư Dụ Dân á khẩu, sắc mặt tái xanh.

Long Hưng Đế giận dữ quát: “Tiết khanh, khanh nghe dèm pha của nữ nhân, hành xử điên rồ, trong mắt khanh có còn xem trẫm là thiên tử nữa không?”

Tiết Vạn Triệt thẳng thắn đáp: “Chính vì suy nghĩ cho Thánh nhân nên thần mới dám khẩn cầu người xét xử vụ án này. Nay dân chúng bàn tán khắp nơi, cho rằng Thánh nhân thiên vị thầy dạy nên mới không muốn tra xét. Nếu cứ kéo dài như vậy, e rằng sẽ làm tổn hại đến Thánh danh!”

Nói xong, Tiết Vạn Triệt nước mắt giàn giụa, vừa cúi đầu vừa khóc: “Từ khi Thánh nhân đăng cơ đến nay, anh minh quyết đoán, nhân từ với dân, nghĩa khí với bên ngoài, thần là bề tôi mà có được bậc quân vương như vậy thật là đại phúc. Nhưng cũng vì thế, thần không thể khoanh tay đứng nhìn Thánh nhân vì tư tâm mà quên đi pháp luật quốc gia. Nếu sau khi điều tra, phát hiện Thịnh A Man cùng những người khác vu cáo Lư tướng công, thần nhất định sẽ xử họ tội vu cáo, thậm chí thần cũng xin lấy cái chết để tạ lỗi với Lư tướng công.”

Tiết Vạn Triệt nói ra những lời vừa thống thiết vừa chân thành, khiến bao vị thanh liêm trong triều đồng loạt động lòng, tất cả đều quỳ xuống cầu xin Long Hưng Đế điều tra vụ án. Long Hưng Đế tức đến cực độ, dù rất muốn trừng phạt Tiết Vạn Triệt để răn đe kẻ khác, nhưng lại sợ khơi dậy làn sóng giận dữ trong phái thanh lưu. Phải biết rằng, Tiết Vạn Triệt và Trương Hoằng Nghị có uy tín rất cao trong hàng ngũ này. Nếu thật sự giết Tiết Vạn Triệt, e rằng đám mọt sách tự xưng là trung thần kia sẽ lần lượt lấy chết can gián, lúc ấy mọi chuyện sẽ càng khó thu xếp.

Long Hưng Đế hối hận không thôi, sớm biết thế này thì đã không đồng ý để Tiết Vạn Triệt đảm nhiệm Kinh Triệu Doãn. Lư Dụ Dân cũng hối hận khôn nguôi, bởi việc Tiết Vạn Triệt từ chức Thứ sử Dương Châu điều về làm Kinh Triệu Doãn là do ông ta và Thôi Tụng Thanh tranh giành nhau không ngớt. Cả hai đều muốn đưa người của phe mình vào, nhưng ai cũng không chịu nhường ai, cuối cùng đành sắp xếp Tiết Vạn Triệt, một người trung lập đảm nhiệm. Nào ngờ, quyết định này lại trở thành bùa đòi mệnh cho mình.

Long Hưng Đế nghiến răng nghiến lợi, lạnh giọng quát: “Bãi triều!”

Hắn đứng dậy khỏi ngự tọa, muốn thoát khỏi chốn phiền não này. Nào ngờ mãng phu Tiết Vạn Triệt lại nhanh chân bước lên, níu lấy tay áo hoàng đế, khóc lóc thảm thiết: “Khẩn cầu Thánh nhân, điều tra kỹ vụ án Thiên Uy quân!”

Long Hưng Đế giãy giụa không thoát, vừa kinh sợ vừa tức giận: “Tiết Vạn Triệt, ngươi muốn phản sao?”

Tiết Vạn Triệt quỳ rạp xuống khóc lóc cầu xin: “Thần vô lễ với Thánh nhân, xin cam lòng chịu tội, nhưng nếu Thánh nhân không điều tra vụ án Thiên Uy quân, e rằng lòng dân sẽ ly tán, thần không dám không can gián.”

Các thanh lưu trong triều đều quỳ xuống theo Tiết Vạn Triệt, nước mắt đầm đìa. Màn xung đột này được Hoàng môn Thị lang kiêm Khởi cư lang Vương Huyên ghi chép cẩn thận vào Khởi cư chú.



Ngoại ô Trường An, trong một ngôi cổ tự hẻo lánh, Lư Hoài khoác áo vải thô, nhập tọa trong thiền đường. Từ khi nghe được lời khai của Thẩm Khuyết, hắn lấy cớ bệnh không vào triều, lặng lẽ tìm đến ngôi cổ tự xa xôi này, ngày ngày lắng nghe tiếng tụng kinh, lòng dần bình ổn. Thế nhưng, hắn cũng hiểu rõ, hắn không thể cứ lẩn trốn mãi trong chốn rừng rú u tịch này.

Trong tay hắn cầm bức thư của Vương Huyền. Nội dung thư trích dẫn mấy câu trong Khởi cư chú: “Triệt níu vạt long bào của đế, đế giận dữ quát: “Ngươi muốn phản ư?” Triệt rơi lệ thưa: “Thần bất kính thiên tử, đáng chịu tội chết. Nhưng lòng dân dần mất, thần không dám không khuyên can.”

Lư Hoài siết chặt mảnh giấy mỏng tang, ánh mắt mơ hồ vô định. Trong đầu hắn vang vọng lại lời thề khi còn đương nhiệm Thiếu khanh ở Đại Lý Tự:

“Kẻ phạm pháp, dù là thân thích cũng phải phạt!”

Hắn đau đớn nhắm mắt.

Trong thư, Vương Huyên còn viết về tình hình hỗn loạn trong triều, Thái hậu và Thôi đảng giữ im lặng để tránh điều tiếng, chỉ có thanh lưu lên tiếng mạnh mẽ. Trong thư, Vương Huyên tỏ thái độ ngưỡng mộ khí tiết đó, nhưng vì tính cách yếu đuối, không dám liều mạng để can gián.

Vương Huyên là vì tính cách, nhưng còn Lư Hoài hắn thì sao? Không phải hắn vẫn tự xưng mình là người cương trực, không chịu khuất phục đó ư? Cái sự cương trực ấy, cái sự không khuất phục ấy, hiện đang ở đâu?

Vương Huyên dám ghi chép chuyện can gián này vào Khởi cư chú, chẳng lẽ hắn chỉ biết trốn mãi nơi rừng sâu núi thẳm?

Đôi mắt Lư Hoài dần mở ra, ánh mắt mơ hồ tan biến, thay vào đó là sự tỉnh táo đau đớn. Không, hắn không thể như vậy. Thúc phụ đối với hắn, ân trọng như núi. Nhưng ngoài là cháu của thúc phụ, hắn còn là bề tôi của Đại Chu, và hơn hết, hắn… là một con người.



Lư Hoài ẩn mình ở ngôi cổ tự vắng vẻ giữa núi rừng, còn Thôi Tuần thì cùng Lý Doanh lặng lẽ trú tại hậu viện của thư quán. Ba ngày trước, Long Hưng Đế triệu Thôi Tuần nhập cung, nhưng khi Kim Ngô Vệ đến Thôi phủ lại chẳng tìm thấy bóng dáng hắn. Suốt ba ngày sau, hắn bặt vô âm tín, chỉ truyền ra ngoài rằng đã đi tìm thần y chữa bệnh, khiến Long Hưng Đế cũng chẳng thể làm gì được hắn.

Dù ẩn thân trong thư quán, mọi biến động lớn nhỏ trong triều và dân gian đều được Thôi Tuần sai mật thám bẩm báo từng việc một. Khi nghe tin Hà Thập Tam cùng người khác liều chết dâng sớ, ấn đường hắn hơi nhíu lại. Đến lúc hay tin Tiết Vạn Triệt tiếp nhận đơn tố cáo, nơi ấy mới thoáng giãn ra. Nhưng khi nghe chuyện Tiết Vạn Triệt dám kéo áo Long Hưng Đế giữa triều đường, quyết không buông chỉ để thúc ép điều tra vụ án Thiên Uy quân, đôi mắt đen láy của hắn hiện lên sự xúc động sâu sắc.

Đợi mật thám lui xuống, Lý Doanh ngồi xuống cạnh hắn, khẽ nói: “Bọn họ dũng cảm hơn chàng nghĩ.”

Thôi Tuần gật đầu.

Ban đầu, kế sách của hắn chỉ là mượn lời khai được khắc lên mộc bản để khuấy động một vũng nước đục. Hắn không muốn lộ diện, chính là để dòng nước ấy càng thêm cuộn trào. Thế nhưng hắn không ngờ Hà Thập Tam và những người kia lại dám liều mạng dâng sớ, những vị thanh lưu từng khinh thường hắn như Tiết Vạn Triệt lại dám mạo hiểm chọc giận hoàng đế, tiếp nhận đơn kiện. Điều này quả thực vượt ngoài dự liệu của hắn.

Lý Doanh nói: “Thẩm Khuyết cũng được tạm hoãn hành hình, xem ra lòng dân Trường An còn sục sôi hơn chúng ta tưởng.”

Thôi Tuần gật đầu: “Trung thần bị gian thần hãm hại, rồi được rửa oan, gian thần bị trừng trị – đó vốn là vở diễn mà các gánh hát thích diễn nhất. Nay có một câu chuyện sống động như vậy, dân chúng sao lại không quan tâm cho được?”

Lý Doanh mỉm cười, ánh mắt lấp lánh chút yên lòng: “Chuyến đi Lĩnh Nam của chúng ta, cuối cùng cũng không uổng phí.”

Chuyến đi ấy được đánh đổi bằng tuổi thọ của Thôi Tuần. May mắn thay, kết quả còn tốt hơn những gì Lý Doanh mong đợi. Nàng khẽ hỏi: “Vậy bước tiếp theo, chàng định làm gì?”

Thôi Tuần trầm ngâm chốc lát rồi đáp: “Đi tìm bá phụ của ta.”

“Thôi Tụng Thanh?”

“Sở dĩ bá phụ không lên tiếng về vụ án này là vì lo sợ nếu ông tham dự, sẽ bị Lư Dụ Dân xuyên tạc thành tranh chấp giữa hai phe. Nhưng bá phụ ta là người có địa vị quan trọng trong triều. Nếu ông chịu lên tiếng, cơ hội thắng sẽ tăng lên rất nhiều.”

Nghe vậy, Lý Doanh vốn định hỏi vì sao hắn không đi tìm a nương nàng. Nếu a nương lên tiếng, chẳng phải cơ hội thắng sẽ lớn hơn sao? Nhưng nghĩ kỹ lại, nàng cũng dần hiểu ra. Sáu năm trước, người được lợi nhất từ vụ án Thiên Uy quân chính là a đệ nàng. Sáu năm sau, nếu vụ án này được rửa oan, thì người hưởng lợi lớn nhất tất nhiên là a nương nàng. Đến lúc đó, thế lực mà a đệ nàng dày công bồi dưỡng sẽ tan vỡ chỉ sau một đêm, nó cũng không còn sức chống lại a nương nàng nữa.

Vì vậy, a nương nàng không thể tùy tiện xuất hiện. Một mặt là để tránh hiềm nghi, phủ nhận liên quan đến lời cung khắc trên mộc bản. Bằng không, Lư Dụ Dân cùng những người khác nhất định sẽ công kích rằng mọi chuyện đều do bà sắp đặt, nhằm đoạt lại quyền lực từ tay a đệ nàng, khi ấy bà sẽ rơi vào thế bị động.

Mặt khác, có lẽ a nương vẫn còn giữ chút tình mẫu tử với a đệ.

Dẫu rằng trong hoàng thất vốn chẳng có tình thân, chuyện huynh đệ tương tàn, cha con sát hại nhau chẳng phải là hiếm. Nhưng a nương nàng lại là ngoại lệ. Bà là người nặng tình nghĩa, ngay cả khi Thẩm Khuyết muốn giết bà, bà cũng không đoạt mạng hắn. Đối với người cháu từng căm hận mình bà còn khoan dung như thế, huống chi là con trai ruột?

Lý Doanh thở dài trong lòng. Cả đời mẫu thân nàng chỉ có hai người con là nàng và a đệ. Nay nàng không còn ở bên, thì chỉ còn lại a đệ. Khi nhỏ a đệ từng có nhũ danh là Bồ Tát Bảo, mang ý nghĩa cầu mong Bồ Tát từ bi che chở. Chỉ từ cái tên đó cũng đủ thấy a nương nàng kỳ vọng điều gì ở đệ ấy. Không cầu vinh hoa phú quý, chỉ mong bình an.

Tình cảm mà a nương dành cho con ruột hết sức sâu sắc, nhất định không nỡ cắt đứt tình mẫu tử với a đệ. Vì thế, Thôi Tuần mới chọn đi tìm Thôi Tụng Thanh trước, chứ không phải là a nương.

Nghĩ đến đây, Lý Doanh không khỏi khâm phục khả năng thấu hiểu lòng người của Thôi Tuần. Nàng hỏi: “Chàng định khi nào đi tìm Thôi Tụng Thanh?”

“Đợi thêm hai ngày nữa.” Thôi Tuần đáp: “Để lòng dân càng thêm phần sục sôi.”

Vừa dứt lời, một cơn ho từ lồng ng.ực dâng lên khiến hắn không kìm được rồi ho khan. Lý Doanh liếc nhìn hắn, nói: “Muộn hai ngày cũng tốt, chàng tranh thủ tĩnh dưỡng thêm đi.”

Nàng đứng dậy, bưng đến một ấm thuốc làm bằng gốm. Vừa nhìn thấy ấm thuốc, Thôi Tuần lập tức cảm thấy da đầu tê dại: “Còn phải uống nữa sao?”

“Dĩ nhiên rồi.”

Giọng Thôi Tuần thấp hẳn đi, mang theo chút cầu khẩn dịu dàng: “Thật sự phải uống sao…”

Lý Doanh ngước mắt, mỉm cười nhìn hắn: “Đừng giả vờ đáng thương, ta không mắc bẫy đâu.”

Lời nàng vừa dứt, gò má trắng như ngọc của Thôi Tuần thoáng ửng hồng. Hắn vội biện bạch: “Từ lúc trở về Trường An, mỗi ngày ta đều phải uống hơn chục chén thuốc, quá nhiều thật mà…”

Lý Doanh chẳng buồn để tâm, chỉ khẽ cười, từ tốn mở nắp ấm. Không ngờ bên trong không phải là thang thuốc đen kịt, mà là chén cháo bách hợp phục linh màu trắng ngà.

Thôi Tuần ngạc nhiên: “Sao lại là cháo?”

Khóe mắt, đuôi mày Lý Doanh đều ánh lên nét tinh nghịch, tựa như muôn vì tinh tú lấp lánh: “Ta đâu có nói đó là thuốc.”

Lúc này, Thôi Tuần mới nhận ra mình bị nàng trêu chọc. Nghĩ lại chút tâm tư nhỏ bé không muốn phải uống thuốc khi nãy, hắn không khỏi đỏ mặt: “Nhưng nàng cũng đâu có bác bỏ…”

“Chàng sợ uống thuốc đến mức nhìn gì cũng thấy là thuốc.” Lý Doanh đùa giỡn.

Nàng múc một chén cháo bách hợp phục linh, đưa cho Thôi Tuần. Hắn nhỏ giọng hỏi: “Nàng không ăn sao?”

“Ta nấu riêng cho chàng đấy.” Lý Doanh dịu dàng nói: “Bách hợp trị mệt mỏi ho khan, phục linh điều hòa tỳ vị. Nói thế nào thì… cũng coi như thuốc.”

Thôi Tuần bật cười, nhận lấy chén cháo bạch sứ, từ tốn uống từng ngụm. Dáng vẻ hắn ăn cháo chậm rãi, tao nhã vô cùng. Lý Doanh chống cằm nhìn hắn, nàng chợt thở dài: “Ta bỗng nảy ra một ý nghĩ rất ích kỷ.”

“Hửm?”

“Ta lại muốn chàng ở lại thư quán thêm vài ngày, cùng ta quấn quýt thêm ít lâu.” Lý Doanh buồn bã nói: “Ý nghĩ này, có phải rất ích kỷ không?”

Thôi Tuần sững người, rồi ôn tồn đáp: “Minh Nguyệt Châu, ai rồi cũng sẽ có lòng riêng, ta cũng vậy.”

“Thật sao? Vậy lòng riêng của chàng là gì?”

Hắn nhìn nàng, chậm rãi nói: “Cũng chỉ là muốn cùng nàng ở lại thư quán này lâu thêm vài ngày, chỉ có hai chúng ta.”

Lần này đến lượt Lý Doanh ngẩn người, một lúc sau mới bật cười: “Nhưng chúng ta… vẫn sẽ không vì thế mà lưu lại lâu hơn.”

Cái gọi là lòng riêng, cuối cùng cũng chỉ là thoáng qua. Nàng và hắn, vĩnh viễn sẽ không đặt tình ý dây dưa lên trên hết.

Trong đời người, có đại nghĩa, có tiểu tình. Có người chọn đại nghĩa, có người chọn tiểu tình. Nhưng ngay cả người chọn đại nghĩa, suy cho cùng, cũng chỉ là một con người trần thế đa đoan, lẽ nào không thể để họ, nếu không tổn hại đến đại nghĩa thì vẫn được phép lưu luyến chút tình riêng?

Lý Doanh nắm lấy tay Thôi Tuần: “Nếu đã vậy, chúng ta hãy trân trọng những ngày ở thư quán này. Những ngày ấy, ta và chàng không nghĩ gì khác cả, chỉ có đôi ta quấn quýt bên nhau, được không?”

Thôi Tuần lặng lẽ nhìn nàng, khóe môi cong lên, gật đầu nói: “Được.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 128: Ngươi muốn bức vua thoái vị sao!


Những ngày sau đó, Lý Doanh và Thôi Tuần ở lại thư quán, thong dong gảy đàn dưới gió mát, đánh cờ dưới trăng, sống những ngày an yên vui vẻ. Dưới sự chăm sóc tỉ mỉ của nàng, sức khỏe hắn cũng khá hơn nhiều so với khi vừa trở lại Trường An.

Đến ngày thứ bảy, khi ván cờ cuối cùng sắp hạ xong, Thôi Tuần cầm quân đen đặt vào vị trí Thiên Nguyên, [1] khẽ cười nói: “Minh Nguyệt Châu, nàng thua rồi.”

<i>[1] Nếu mình không nhầm thì đôi trẻ đang chơi cờ vây. Bàn cờ vây có hình vuông, có 19 đường ngang dọc giao nhau, tạo thành 361 giao điểm. Trên bàn có 9 chấm đen gọi là sao, giúp người chơi dễ dàng định vị trên bàn cờ. Sao chính giữa bàn cờ thường gọi là Thiên Nguyên hay tengen.</i>

Lý Doanh buồn bực tự gõ đầu: “Vừa rồi ta không nên đi nước đó.”

Nàng thở dài, thản nhiên nói: “Nhưng cờ đã xuống là không hối hận, thua thì thua thôi, nào phải ta chưa từng thắng chàng.”

Sự thẳng thắn, phóng khoáng ấy, quả thật đúng như câu nói: Cờ phẩm như nhân phẩm.

Thôi Tuần chăm chú nhìn gương mặt trắng ngần như ngọc của nàng, nhất thời chẳng nỡ rời mắt. Hồi lâu sau, hắn mới khẽ nói: “Minh Nguyệt Châu, ta phải đi rồi.”

Đào Nguyên có đẹp đến đâu thì hắn vẫn phải quay về nơi trần thế. Lý Doanh nhìn hắn, bỗng mỉm cười: “Được, ta đợi chàng trở về.”

Lần này nếu không thành công thì chính là xả thân.

Nhưng nàng tin rằng, hắn nhất định sẽ thành công.



Quả nhiên, khi Thôi Tuần đặt chân vào phủ Thôi Tụng Thanh, Thôi Tụng Thanh vô cùng kinh ngạc: “Ngươi còn dám tới tìm ta?”

Ông nói: “Ngươi không biết sao, Thánh nhân tìm ngươi đến phát điên rồi.”

Thôi Tuần điềm nhiên đáp: “Nhưng bá phụ vẫn sẵn lòng gặp ta.”

Thôi Tụng Thanh hừ lạnh, không khẳng định cũng chẳng phủ nhận.

Thôi Tuần nói tiếp: “Bá phụ muốn biết rốt cuộc chuyện khắc in lời khai có phải do ta làm không chứ gì?”

Hắn thừa nhận: “Việc này, đúng là do ta làm.”

Thôi Tụng Thanh mặc dù đã đoán trước, nhưng khi Thôi Tuần thẳng thắn thừa nhận, ông vẫn cảm thấy bất ngờ. Nhớ lại việc Thôi Tuần từng đứng ra biện giải cho A Man trên triều hội, rồi lại kiên quyết xin đi Lĩnh Nam áp giải Thẩm Khuyết, bất chấp thân thể suy yếu, Thôi Tụng Thanh bỗng cảm thấy ông thật sự không hiểu rõ đứa cháu trai mà mình từng lấy làm khinh bỉ này.

Sau một hồi cân nhắc, ông hỏi: “Vì sao ngươi lại làm vậy?”

Thôi Tuần trả lời: “Ta muốn rửa oan cho Thiên Uy quân.”

“Ngươi?” Thôi Tụng Thanh đánh giá Thôi Tuần từ trên xuống dưới, ánh mắt lộ vẻ không tin: “Từ khi nào mà ngươi lại trở nên có khí tiết như vậy?”

Nghe lời này, Thôi Tuần không im lặng chịu đựng sự nhục mạ như thường lệ. Hôm nay hắn đến đây là để thuyết phục Thôi Tụng Thanh, mà muốn làm được điều đó, hắn buộc phải dứt bỏ sự kính trọng dành cho vị bá phụ này, phơi bày tất cả những toan tính trong lòng ông.

Vì vậy, Thôi Tuần bình tĩnh đáp: “Con người vốn phức tạp, cũng giống như bá phụ mang dang là Bạch y Khanh tướng, nhưng vì giữ mình mà chọn cách làm ngơ trước nỗi oan khuất của năm vạn Thiên Uy quân cùng máu và nước mắt của trăm họ sáu châu. Bá phụ lạnh lùng đứng nhìn các trung thần thân cô thế mỏng khổ sở kêu oan, bản thân lại giữ im lặng, chẳng hề mở miệng nửa lời.”

Lời của Thôi Tuần đánh trúng tim đen của Thôi Tụng Thanh. Bị hậu bối trực tiếp chỉ trích ngay trước mặt, ông ta không khỏi mất mặt, tức giận quát lớn: “Ngươi thì hiểu gì?”

“Ta hiểu.” Thôi Tuần đáp: “Trong lòng bá phụ có con đường riêng của mình. Con đường ấy chính là thực hiện cải cách, mang lại lợi ích cho muôn dân. Vì để hoàn thành con đường này, bá phụ không thể vì sự việc của Thiên Uy quân mà chịu đổ vạ lên đầu. Nếu Lư Dụ Dân vu cáo là kẻ đầu sỏ đứng sau vụ cung khai, biến vụ việc này thành một âm mưu tranh đấu nội bộ, bá phụ sẽ phải chịu sự giận dữ của thiên hạ, lúc ấy con đường của bá phụ cũng chẳng thể thực hiện nổi. Vì vậy, bá phụ lựa chọn những người đang sống và từ bỏ những người đã chết.”

Thôi Tụng Thanh bị vạch trần hết những tâm tư kín đáo, ông tức giận đến mức nâng tay lên định tát vào mặt Thôi Tuần, nhưng bàn tay ấy dừng lại giữa không trung, cuối cùng buông xuống. Thôi Tụng Thanh quay đi, chắp tay sau lưng, bước qua bước lại trong thính đường, một lúc lâu sau mới dần bình tĩnh lại: “Nếu ngươi đã biết người sống quan trọng hơn thì tại sao cứ phải vì người đã chết mà băn khoăn mãi?”

“Vì ta cũng có con đường của riêng ta.” Thôi Tuần nói rõ từng lời từng chữ một: “Hôm ấy, Thẩm Khuyết muốn giết ta, chính bá phụ đã cứu ta. Bá phụ hỏi ta, khi gặp phải Đột Quyết, sao không tự vẫn. Ta trả lời, vì ta có con đường phải hoàn thành, cho nên ta không thể chết. Lúc đó bá phụ không hiểu ta đang nói gì, hôm nay ta có thể nói với bá phụ rằng: con đường của ta chính là rửa oan cho năm vạn tướng sĩ Thiên Uy quân, để họ được yên nghỉ, để gia quyến còn sống không phải chịu thêm nhục nhã, để từng kẻ sát hại họ đều phải trả giá.”

Lời hắn rõ ràng, rành mạch. Thôi Tụng Thanh không khỏi hít một hơi khí lạnh, ông nhìn Thôi Tuần, như thể đang nhìn thấu hắn. Đây là đứa cháu mà ông từng kỳ vọng, rồi lại khiến ông thất vọng không ngừng, ông nói: “Đừng nói với ta rằng, sáu năm qua, ngươi đã nhẫn nhục chịu đựng. Ngươi học Câu Tiễn nằm gai nếm mật, học Dự Nhượng nuốt than nhuộm mình, sống chỉ để báo thù?”

Thôi Tuần im lặng một lúc, rồi nhẹ nhàng đáp: “Đúng vậy.”

Thôi Tụng Thanh ngẩn người.

Ông nhìn thẳng vào mắt Thôi Tuần, ánh mắt của Thôi Tuần bình thản như mặt hồ, không hề có chút né tránh. Thôi Tụng Thanh đờ đẫn một lúc lâu, rồi mới chậm rãi lên tiếng: “Rất tốt.”

Câu nói “rất tốt” này, không biết là khen câu trả lời của Thôi Tuần, hay đang khen chính con người hắn.

Ông nói: “Nói đi, hôm nay ngươi đến gặp ta, rốt cuộc là muốn ta làm gì?”

Thôi Tuần đáp: “Muốn xin bá phụ, thay Thiên Uy quân đòi lại công lý.”

“Không thể nào.” Thôi Tụng Thanh lập tức từ chối: “Con đường của ngươi và con đường của ta như nước với lửa, không thể dung hòa.”

Những lời này của Thôi Tụng Thanh đồng nghĩa với việc thừa nhận rằng, ông sẽ không để oan tình của Thiên Uy quân trở thành vật cản trên con đường thực thi tân chính. Trong lòng ông, người sống quan trọng hơn người chết, số đông quan trọng hơn số ít. Ba mươi năm trước, ông có thể khuyên Thái Xương Đế vì dân mà bỏ qua Lý Doanh, ba mươi năm sau, ông vẫn có thể vì dân mà bỏ qua việc đòi lại công lý cho Thiên Uy quân.

Thôi Tụng Thanh luôn tự cho mình là một vị quan tài ba, chứ không phải một bậc thánh hiền. Ông có lòng riêng, và lòng riêng ấy chính là tân chính. Vì tân chính, ông sẽ lạnh lùng tính toán sự sống chết của Lý Doanh, ông sẽ tính toán xem nếu nàng chết đi sẽ mang lại lợi ích gì cho thiên hạ, ông cũng sẽ tàn nhẫn coi thường nỗi oan khuất của Thiên Uy quân, và sự hy sinh của con dân sáu châu. Đối với sự tàn nhẫn ấy, ông không hề hối hận, ba mươi năm trước là như vậy, ba mươi năm sau vẫn sẽ như vậy.

Có thể nói, ông chính là ví dụ điển hình cho việc kiên quyết một đường đến tận cùng.

Với Lư Dụ Dân cũng vậy.

Chỉ có điều, Thôi Tụng Thanh và Lư Dụ Dân vẫn có sự khác biệt. Khác biệt là mặc dù Thôi Tụng Thanh có lòng riêng, nhưng ông vẫn giữ được đại tiết, dù một lòng muốn đi theo con đường của mình, ông cũng không thể để đất nước và dân chúng bị ngoại bang xâm lược, vẫn giữ được giới hạn mà người quân tử không thể vượt qua, đó chính là lý do vì sao Thôi Tuần còn muốn đến gặp ông để thuyết phục.



Đối mặt với sự từ chối của Thôi Tụng Thanh, Thôi Tuần không hề nản lòng: “Con đường của ta và con đường của bá phụ không phải là nước với lửa, ngược lại, con đường của ta sẽ giúp ích cho con đường của bá phụ.”

“Ồ?” Thôi Tụng Thanh nhướn mày: “Lời này nghĩa là sao?”

“Bá phụ nghĩ xem, trong việc thực thi tân chính, trở ngại lớn nhất ở triều đình là ai?”

Thôi Tụng Thanh không nghĩ ngợi gì mà đáp ngay: “Lư Dụ Dân.”

“Không phải vậy.” Thôi Tuần nói: “Là Thánh nhân.”

Thôi Tụng Thanh hơi sửng sốt, Thôi Tuần tiếp lời: “Chắc hẳn bá phụ đã nghe qua câu “một triều vua, một triều thần” rồi đúng không? Từ xưa đến nay, những vị hoàng đế muốn có thành tựu, sau khi lên ngôi, phần lớn đều định lại phương châm trị quốc, xa lánh những quan lại mà hoàng đế tiền nhiệm cất nhắc, thay vào đó là phát triển thế lực của riêng mình. Huống chi, vị hoàng đế đương triều còn có một người cha anh minh thần vũ và một người mẹ cường thế còn sống. Nếu muốn chứng minh bản thân, ngài ấy chỉ có thể bắt đầu từ việc phá bỏ tân chính mà cha mẹ để lại. Tân chính sai, tức là ngài ấy đúng. Ngài ấy chính là một vị hoàng đế vượt trội hơn cả cha ruột mình.”

Thôi Tụng Thanh ngẫm kỹ lời này, cũng cảm thấy rằng tâm lý chống đối tân chính của Thánh nhân có lẽ phần lớn là vì lý do này, ông thở dài: “Thánh nhân còn trẻ, lâu nay lại bị Lư Dụ Dân che mắt nên mới có suy nghĩ như vậy. Nếu Lư Dụ Dân bị trừng phạt, lại có các bậc thầy khác chỉ bảo thêm, chưa biết chừng Thánh nhân vẫn có thể trở thành minh quân bảo vệ được những gì đã có.”

Dù thuộc phe Thái hậu, nhưng người Thôi Tụng Thanh trung thành nhất vẫn là Tiên đế. Đương kim Thánh nhân là huyết mạch của Tiên đế, nên ông vẫn còn đặt kỳ vọng vào vị hoàng đế đương nhiệm. Thôi Tuần không bình phẩm gì về lời phát biểu này, hắn đáp: “Thánh nhân đã bị Lư Dụ Dân mê hoặc, cho dù Lư Dụ Dân có thất bại trong cuộc tranh giành đảng phái, thậm chí mất mạng, Thánh nhân vẫn có thể tạo ra một Lư Dụ Dân khác, tiếp tục đối đầu với Thái hậu, khiến tân chính thay đổi như cơm bữa. Nếu một ngày nào đó Thái hậu không còn nữa, tân chính khó tránh khỏi bị Thánh nhân bãi bỏ.”

Thôi Tụng Thanh trầm ngâm một lát, gật đầu đồng ý, rồi nói: “Vậy ngươi định làm gì?”

“Bá phụ, thay vì bo bo giữ mình, chi bằng người hãy liều một phen. Mượn vụ án Thiên Uy quân lần này để nhổ tận gốc thế lực của Thánh nhân, khiến Thánh nhân trở lại như sáu năm trước, chỉ là một quân vương không thực quyền, không thể tái lập một Lư Dụ Dân khác, cũng không thể cản trở việc thực thi tân chính. Như vậy, cho dù sau này Thái hậu không còn, tân chính đã thấm sâu vào lòng dân, Thánh nhân dù muốn hủy bỏ thì cũng sẽ không thể.”

Nghe vậy, Thôi Tụng Thanh vừa kinh ngạc vừa phẫn nộ, cuối cùng vung tay tát mạnh một cái: “Hỗn xược! Ngươi muốn bức vua thoái vị sao? Đây là việc không được phép làm của một thần tử!”

Thôi Tuần bị tát đến loạng choạng, gương mặt tái nhợt như tuyết lập tức sưng đỏ, đau nhói, nhưng hắn dường như không cảm thấy gì, chỉ nhẹ nhàng li.ếm vết máu nơi khóe môi, cười nhẹ nói: “Bá phụ, cái gì là việc không thể làm của thần tử? Ba mươi năm trước, bá phụ đã khuyên Tiên đế dìm chết công chúa Vĩnh An, chẳng lẽ đó mới là việc nên làm của một thần tử?”

Thôi Tụng Thanh kinh ngạc đến mức không nói nên lời: “Ngươi… ngươi làm sao mà biết được chuyện đó?”

“Trước khi chết, Kim Di đã bị giam giữ tại Sát Sự Thính, cho nên, ta đương nhiên có thể biết được.”

Thôi Tụng Thanh sắc mặt tái mét, từ kẽ răng nghiến ra vài chữ: “Ngươi muốn dùng chuyện này để uy h**p ta?”

Thôi Tuần lắc đầu: “Uy h**p? Ta chưa từng nghĩ đến chuyện đó. Việc ba mươi năm trước, ta tuyệt đối sẽ không nói với người thứ hai.”

Thôi Tụng Thanh thở phào, dường như bị hút hết sức lực, ông ngồi phịch xuống bàn gỗ tử đàn, Thôi Tuần lại nói: “Có lẽ trong mắt bá phụ, chỉ thừa nhận Thánh nhân là “quân” chứ không thừa nhận một nữ tử như công chúa là “quân”, nhưng ba mươi năm trước, bá phụ có thể vì con đường của mình, thuyết phục Tiên đế giết con gái bằng một loạt lý lẽ, thì vì sao ba mươi năm sau, người lại trở nên hồ đồ thế này?”

Thôi Tụng Thanh cắn răng, Thôi Tuần vẫn ung dung nói tiêp: “Hơn nữa, công chúa Vĩnh An đã dùng mạng sống của mình, đem đến cho Tiên đế một lý do hoàn hảo để giảm bớt thế lực các gia tộc, thúc đẩy tân chính. Còn việc khôi phục công lý cho Thiên Uy quân, chỉ là để Thánh nhân mất đi quyền lực, để triều đình không còn xuất hiện thêm một Lư Dụ Dân nào nữa, chứ không phải muốn mạng sống của Thánh nhân. So với công chúa Vĩnh An, ít nhất Thánh nhân vẫn được sống, bá phụ đã một lần không màng đến bổn phận thần tử, chẳng lẽ bây giờ vì bốn chữ “bổn phận thần tử” mà mắt nhắm mắt mở, trơ mắt nhìn tâm huyết cả đời mình tan thành mây khói sao?”

Hắn dừng một chút, rồi nói tiếp: “Việc lật lại bản án lần này chính là cơ hội tốt nhất để không ai còn cản trở tân chính. Nếu thất bại, tất nhiên sẽ vạn kiếp bất phục; nếu thành công, một lần vất vả nhưng yên ổn cả đời, từ đó không ai còn lay chuyển được tân chính. Bá phụ nên sớm đưa ra quyết định, nếu chần chừ không dứt khoát, ắt sẽ chuốc lấy tai họa.”

Nói xong, Thôi Tụng Thanh im lặng rất lâu, mãi một lúc sau mới thở dài: “Thôi được, đã làm nghịch thần một lần, thêm một lần nữa thì cũng đã làm sao.”



Hôm sau, Thôi Tuần, người đã mất tích bảy ngày, lần nữa khoác lên mình bộ quan phục đỏ sẫm, đến tham dự triều hội.

Vừa trông thấy hắn, Long Hưng Đế đã nổi cơn thịnh nộ, vừa định mở miệng trách mắng thì Thôi Tuần đã cầm sẵn hốt bản bằng ngà voi trong tay, bước ra khỏi hàng quan thần. Hắn khom người thi lễ rồi đứng dậy, bình tĩnh nói: “Bẩm Thánh nhân, thần có bản tấu xin được trình lên.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 129: Tội danh này, thần vạn lần không thể nhận


Lư Dụ Dân không chịu nổi sự công kích liên tục trong bảy ngày từ phía thanh lưu, đành cáo bệnh không thượng triều. Long Hưng Đế mất đi chỗ dựa vững chắc trong triều, hắn cười nhạo một tiếng, giọng điệu trào phúng: “Thôi khanh, thành Trường An loạn suốt bảy ngày, khanh cũng bệnh suốt bảy ngày, bệnh vừa khỏi, đã có bản tấu muốn dâng. Đúng là lo cho quốc gia dân chúng đến quên mình.”

Đối diện với lời lẽ mỉa mai của Long Hưng Đế, Thôi Tuần không hề biến sắc, hắn chỉ từ trong tay áo lấy ra một cuộn giấy gai trắng, cung kính quỳ xuống, hai tay dâng lên: “Bẩm Thánh nhân, thần có cung trạng của Kim Di, xin được trình lên.”

Long Hưng Đế tức giận đến mức sắc mặt thay đổi, đám quan lại trong triều cũng xôn xao bàn tán, Kinh Triệu Doãn Tiết Vạn Triệt cũng ngẩng cổ lên, chăm chú nhìn vào bản cung trong tay Thôi Tuần. Thôi Tuần tiếp tục: “Mấy ngày trước, khi Kim Di bị giam ở Sát Sự Thính, đã thú nhận một vài việc. Kim Di nói, sáu năm trước khi Khả hãn Ni Đô dẫn quân nam chinh xâm lược Đại Chu, Khả hãn Ni Đô không tấn công Phong Châu mà dẫn hai mươi vạn quân phục sẵn ở Lạc Nhạn Lĩnh, cách Phong Châu vài trăm dặm. Kim Di thấy lạ, liền hỏi thăm Phụ Ly Vệ Hồ Lộc, người được Khả hãn Ni Đô tín nhiệm nhất. Qua miệng Hồ Lộc, ông ta biết rằng Khả hãn Ni Đô có nội ứng ở Đại Chu. Nội ứng đã tiết lộ trước tuyến đường hành quân của Thiên Uy quân, vì vậy nên Ni Đô mới dẫn quân mai phục tại đó, chờ đợi để tiêu diệt Thiên Uy quân. Thiên Uy quân bị diệt toàn quân, không phải là vì khinh địch hay liều lĩnh, mà là bị ai đó cố tình hãm hại!”

Mỗi chữ của Thôi Tuần đều như một đòn đánh, khiến ai nấy đều không khỏi chấn động. Long Hưng Đế vịn chặt tay và ngự tọa, hắn nghiến răng nói: “Thôi khanh! Nếu khanh đã có cung trạng của Kim Di từ mấy tháng trước, vì sao đến nay mới dâng lên? Khanh có ý đồ gì?”

Thôi Tuần nghe vậy, bình tĩnh đáp: “Bẩm Thánh nhân, lời khai của Kim Di còn chưa rõ thực hư, thần không dám vội vàng trình lên, tránh làm rối loạn Thánh thính. Nhưng hiện giờ bản cung của Thẩm Khuyết đã lan tràn khắp Trường An, từng chữ từng câu đều ăn khớp với bản cung của Kim Di. Việc này hết sức trọng đại, để tránh gian thần tiếp tục hãm hại trung lương, thần bất đắc dĩ phải trình lên.”

Thôi Tuần nói như thể bản thân không có lựa chọn nào khác, nhưng Long Hưng Đế thừa hiểu, Thẩm Khuyết là do ai thẩm vấn? Không phải là Thôi Tuần hay sao? Cung trạng là do ai phát tán khắp Trường An? Chẳng phải vẫn là Thôi Tuần sao? Thôi Tuần dám giả bộ ngây thơ, như thể đang coi Long Hưng Đế là tên ngốc.

Long Hưng Đế tức giận đến tột độ: “Hay cho một nghĩa sĩ bất đắc dĩ! Hay cho một trung thần dám đứng lên trừ gian! Trẫm nào biết, Thôi khanh lại là người trung nghĩa đến vậy, nhưng ba năm qua, những quan viên chết thảm tại Sát Sự Thính, đều là đáng tội hay sao?”

Tiếng quở trách của Long Hưng Đế khiến quần thần nhớ đến những việc làm tàn bạo của Thôi Tuần trong ba năm qua, ai nấy đều không khỏi rùng mình. Phái thanh lưu vốn bị lời khai của Kim Di làm kinh hãi nay bỗng thấy dao động, nghe Long Hưng Đế nói vậy, họ liền chuyển từ thái độ khinh miệt đối với Thôi Tuần sang nghi ngờ về tính xác thực của bản cung khai được hắn trình lên.

Long Hưng Đế lại quát: “Từ khi khanh làm Thiếu Khanh ở Sát Sự Thính, bịa đặt tội danh, vu khống trung thần, dùng hình phạt tàn bạo để ép cung, từng việc từng việc vẫn còn rõ ràng, việc nào, việc nào đã làm tổn hại đến khanh, Thôi Tuần? Giờ khanh còn dám lợi dụng bản cung trạng này để tô vẽ mình thành trung thần nghĩa sĩ, khanh lấy đâu ra can đảm, lấy đâu ra mặt mũi?”

Đây là lần đầu tiên Long Hưng Đế công khai quở trách Thôi Tuần giữa triều đường. Lời lẽ của Long Hưng Đế vang dội, mỗi câu như dao sắc, khéo léo biến lời trình bày của Thôi Tuần thành sự xúc phạm nhân phẩm, khiến hắn từ người kêu oan trở lại thân phận thấp hèn. Mà lời của hạng thấp hèn, há lại có điểm đáng tin?

Triều đình lặng ngắt như tờ, các đại thần đưa mắt nhìn nhau. Không ít thanh lưu cũng dần tỏ ra tán đồng với những lời của Long Hưng Đế, thậm chí âm thầm khen ngợi sự nghiêm khắc đúng nơi đúng chỗ của người. Long Hưng Đế thừa cơ nói: “Thôi Tuần, Kim Di và Thẩm Khuyết, đều do khanh phụ trách giám sát. Thủ đoạn của khanh vốn nổi danh gần xa. Dưới sự bức ép của cực hình, muốn làm giả lời khai thì có gì là khó? Hừ! Việc Thẩm Khuyết tự khai tội trạng, dán khắp thành Trường An, chắc chắn không tránh khỏi có liên quan đến khanh. Nay khanh còn cầm cả lời khai của Kim Di đến đây, rốt cuộc là có ý gì? Hay phải chăng vu oan giá họa một bề tôi trung thành chưa đủ thỏa mãn khanh? Khanh còn muốn bức hại đến cả đế sư của trẫm? Hoặc có khi, khanh không chỉ muốn vu hại đế sư, mà còn muốn dồn trẫm vào bước đường cùng?”

Lời vừa dứt, bách quan trong điện sững sờ, kế đó đồng loạt quỳ xuống, đau đớn khôn cùng, nước mắt giàn giụa: “Thánh nhân thứ tội, thần vô cùng sợ hãi!”

Ngay cả Kinh Triệu Doãn Tiết Vạn Triệt cũng vội vàng quỳ xuống, nghẹn ngào thưa: “Thánh nhân vạn lần không thể như vậy! Thần… sợ hãi vô cùng!”

Long Hưng Đế đôi mắt đỏ hoe, hướng về phía Thôi Tuần, nói: “Thôi khanh, nếu khánh thấy trẫm không xứng làm hoàng đế, muốn bức trẫm thoái vị, trẫm đáp ứng khanh cũng được. Nhưng khanh không cần dùng loại thủ đoạn này, lợi dụng quốc nhục cách đây sáu năm, bịa đặt gian trá, kích động đám phụ lão yếu nhược đứng ra tố cáo kêu oan, khiến thành Trường An gà bay chó sủa, khiến các đại thần chủ chốt sống trong cảnh nơm nớp không yên. Nếu thiên hạ có thể thái bình trở lại, ngai vị này, trẫm nhường cho khanh, thì đã làm sao?”

Lệ nóng rơi xuống gò má Long Hưng Đế, quần thần trong điện càng khóc lóc dữ dội, cúi xuống dập đầu liên hồi. Một số thanh lưu tính tình ngay thẳng thậm chí bật khóc nức nở, chửi mắng Thôi Tuần: “Thân làm bề tôi sao có thể ép Thánh nhân đi đến nước này? Dù chúng ta có tan xương nát thịt, cũng quyết không để hạng gian thần như ngươi toại nguyện!”

Thôi Tụng Thanh cũng theo đó quỳ xuống, trong lòng khẽ thở dài. Ông không muốn nhúng tay vào việc lật án chính vì lo sợ cục diện ngày hôm nay xảy ra. Hiện tại, ông chỉ có thể cảm thấy may mắn vì mình chưa mở miệng, nếu không chỉ e đã bị Long Hưng Đế coi là đồng đảng của Thôi Tuần. Khi ấy, e rằng tân chính thật khó để cứu vãn nổi.

Một vài lão thần thanh lưu vì bất bình thay Long Hưng Đế, càng nói càng phẫn nộ, khóc lóc đến mức gào thét. Lư đảng cũng nhân đó công kích Thôi Tuần, cho rằng hắn bất kính với quân vương, đúng là đại nghịch bất đạo, đáng bị xử lăng trì để làm gương. Sự việc liên quan đến lời khai cũng đã bị xuyên tạc thành âm mưu bức vua thoái vị của Thôi Tuần.

Long Hưng Đế đang định sai Tả Hữu Kim Ngô Vệ áp giải Thôi Tuần xuống, thì giữa tiếng mắng mỏ sôi trào khắp đại điện, Thôi Tuần bỗng nhiên mỉm cười nhàn nhạt, buông một câu: “Thú vị thật.”



Mọi người trong điện đều sững sờ.

Ngay cả Long Hưng Đế cũng lộ vẻ kinh ngạc.

Một vị đại thần thuộc phái thanh lưu lớn tiếng trách mắng: “Chết đến nơi rồi còn không biết hối cải!”

Thôi Tuần chẳng buồn tranh luận, chỉ nâng mắt, nhìn lên Long Hưng Đế tọa trấn ở trên cao: “Thần quả thực phẩm hạnh thấp kém, chết chẳng đáng tiếc, nhưng như Đậu Hiến triều Hán, dù ngang ngược hống hách, là kẻ gian nịnh khét tiếng, vẫn có thể một trận đánh bại Bắc Hung Nô, lập nên công lao hiển hách. Hoặc như Hoa Hâm, liêm khiết ít d.ục v.ọng, phong thái cao vời, làm quan làm người đều không chê vào đâu được, lại để lại tiếng xấu vì phò tá Tào Ngụy đoạt triều nhà Hán. Người ta vẫn nói: “Nhân vô thập toàn, kim vô túc xích.” Thần không dám tranh luận về những gì mình đã làm, nhưng nếu Thánh nhân chỉ vì thần phẩm hạnh không trọn vẹn mà kết luận rằng thần ép buộc Thẩm Khuyết và Kim Di viết lời khai, rồi biến việc Thịnh A Man và những người khác kêu oan thành âm mưu bức vua thoái vị, thì tội danh này, thần vạn lần không phục.”

Lời nói của hắn càng lúc càng rõ ràng, âm thanh tựa chuông vàng ngọc thạch, vang vọng khắp đại điện: “Vụ án Thiên Uy quân vốn dĩ đã tồn tại vô số nghi điểm. Ví như Thẩm Khuyết làm thế nào biết được Thịnh Vân Đình đến Trường An cầu viện? Ví như thê tử của Bùi Quan Nhạc là Vương Nhiên Tê sao lại xuất hiện ở trạm dịch Trường Lạc? Những điều này, lẽ nào đều là thần bày vẽ mà thành? Chẳng lẽ thần có tài cán đến mức, sáu năm trước đã báo trước cho Thẩm Khuyết rằng Thịnh Vân Đình sẽ một mình cưỡi ngựa đến Trường An cầu viện? Hay là thần cũng điều khiển được Vương Nhiên Tê tham gia hãm hại Thịnh Vân Đình từ tận sáu năm trước?”

Hắn cười khổ một tiếng: “Nhưng thực tế là sáu năm trước, thần theo Quách soái bị vây khốn giữa trùng trùng vòng vây của Đột Quyết. Thần, làm sao có được bản lĩnh này?”

Thôi Tuần bất ngờ chuyển hướng câu chuyện, Long Hưng Đế thoáng khựng lại. Hắn tiếp lời: “Thánh nhân nói thần có ý đồ chiếm đoạt ngôi vị hoàng đế, tội danh này khiến thần kinh hãi không thôi. Thần thật không hiểu, lời này từ đâu mà ra? Thiên hạ hiện nay là thiên hạ của họ Lý, điều này ai ai cũng rõ. Thần không binh không tướng, dựa vào đâu để mưu đoạt hoàng vị? Huống hồ, thần không có hôn phối, lại không có con cái, mưu đồ chiếm ngôi để được gì? Nếu Thánh nhân chỉ vì bảo vệ thầy của mình mà gán tội danh này lên đầu thần, dù chết vạn lần thần cũng không dám nhận.”

Hắn phản bác từng tội danh Long Hưng Đế đặt ra, khiến vị đế vương trong chốc lát cũng không nói nên lời, mãi lâu sau mới lại lên tiếng: “Ngươi đừng khua môi múa mép. Một kẻ gian tà xảo trá như ngươi, nếu không có mưu đồ khác, vì sao lại đứng ra kêu oan cho Thiên Uy quân?”

Thôi Tuần nghe vậy, chỉ chậm rãi mở lời khai của Kim Di trên mặt đất. Trên tờ khai, nét mực đen xấu xí tương phản gay gắt với màu giấy trắng tinh. Hắn nói: “Thần quả thực gian tà, nhưng kẻ gian tà cũng có thể cảm phục trước máu đỏ tim hồng của các tướng sĩ Đại Chu. Mỗi tấc sơn hà đều thấm đẫm máu xương trung liệt. Năm vạn binh sĩ Thiên Uy quân không ngại hiểm nguy, dốc sức đánh Đột Quyết, nhưng lại bỏ mình tại Lạc Nhạn Lĩnh. Nếu họ chết bởi gươm đao rõ ràng thì đã không oán trách, nhưng nếu họ chết vì âm mưu thâm độc, thì làm sao họ nhắm mắt cho nổi?”

Hồi ức hiện lên trong tâm trí hắn: chiếc khăn lụa vấy máu trong ngực quân Đột Quyết bị hắn giết, hình ảnh Lục Nhị đói khát đến nỗi ăn cả vỏ cây, nhai ngấu nghiến nửa cái bánh bột mì. Mắt hắn nóng lên, giọng nói trầm xuống: “Nếu các vị có thể đến Lạc Nhạn Lĩnh, sẽ thấy mỗi tấc đất nơi ấy đều rải rác những mảnh xương trắng cùng tứ chi tàn khuyết của Thiên Uy quân, mỗi cơn gió nhẹ thoảng qua đều mang theo máu và nỗi oan khuất của họ. Thần kính trọng sự trung dũng của họ, mong muốn làm rõ oan tình này. Thử hỏi thần sai ở đâu? Lẽ nào Thánh nhân, cùng các vị đại nhân tại đây, chỉ vì tờ cung trạng này do thần trình lên mà nhất quyết quay lưng với sự thật, bỏ mặc oan khuất của Thiên Uy quân? Ha! Nếu các vị thật sự căm ghét thần đến vậy, thần sẵn sàng tự kết liễu, chỉ cầu xin các vị đừng để những tướng sĩ bảo vệ giang sơn xã tắc phải ôm mối hận nơi cửu tuyền, vĩnh viễn không thể an nghỉ!”

Hắn nói xong, liền cúi đầu thật mạnh, những triều thần vừa rồi còn lớn tiếng quở trách hắn cũng dần im bặt không nói. Long Hưng đế siết chặt nắm tay, ánh mắt căm giận đến đáng sợ. Kinh Triệu Doãn Tiết Vạn Triệt bặm môi, bước ra khỏi hàng, quỳ xuống và dập đầu thưa: “Bẩm Thánh nhân, thần với Thôi Thiếu Khanh vốn chẳng hề quen biết, thậm chí thần từng nhiều lần dâng tấu luận tội hắn. Thần lấy mạng sống của mình để đảm bảo rằng giữa thần và hắn chưa từng có qua lại. Nhưng hôm nay, thần tán đồng lời hắn nói. Thần từng giữ chức Thứ sử Dương Châu suốt bảy năm, Giang Nam phồn hoa phú quý, phố chợ đầy ắp ngọc ngà, nhà nhà lụa là gấm vóc. Song Giang Nam có được sự phồn vinh ấy, chẳng phải là nhờ máu thịt của biết bao thế hệ tướng sĩ trấn giữ biên cương mang ra để đánh đổi hay sao? Nếu không có những tướng sĩ ấy, cầu khói liễu Giang Nam, màn xanh rèm biếc, sớm đã bị vó sắt Hồ Lỗ giẫm nát, chẳng khác nào thời Ngũ Hồ loạn Hoa. Họ dùng tính mạng của mình để bảo vệ Giang Nam ca múa thơ văn, bảo vệ thời thái bình của Đại Chu. Thế nhưng, chính họ lại phải chịu đựng những ngày vùi thân trong cát vàng gió lớn, màn trời chiếu đất, phải hy sinh bản thân. Những tướng sĩ ấy chính là anh hùng của Đại Chu! Anh hùng, dù chết cũng nên chết trên chiến trường, chứ không phải vì âm mưu, toan tính mà vong mạng. Thần, Tiết Vạn Triệt, khẩn cầu Thánh nhân tra rõ chân tướng vụ án Thiên Uy quân!”

Theo lời Tiết Vạn Triệt, những thanh âm đồng thuận vang lên, những người trong hàng ngũ thanh lưu vốn còn lưỡng lự giờ đây cũng bước ra, lần lượt quỳ xuống, dập đầu: “Thần Văn Ngạn, khẩn cầu Thánh nhân tra rõ vụ án Thiên Uy quân!”

“Thần Triệu Thành Trung, khẩn cầu Thánh nhân tra rõ vụ án Thiên Uy quân!”

“Thần Thượng Quan Cảnh, khẩn cầu Thánh nhân tra rõ vụ án Thiên Uy quân!”

“Thần Phương Tử Lương, khẩn cầu Thánh nhân tra rõ vụ án Thiên Uy quân!”

Hàng ngũ thanh lưu ngày một đông hơn. Thôi Tuần đứng trước khung cảnh ấy không khỏi xúc động. Hắn lại dập đầu mạnh mẽ: “Thần biết Thánh nhân vẫn còn nghi ngờ thần. Thần nguyện vì tránh hiềm nghi mà không tham gia, không can dự hay hỏi han bất cứ điều gì liên quan đến vụ án này. Chỉ mong Thánh nhân tra rõ vụ án Thiên Uy quân!”

Trong số những người im lặng quan sát từ đầu, Thôi Tụng Thanh đứng dậy, vẻ mặt nghiêm trang. Ông cũng bước ra khỏi hàng ngũ, quỳ xuống dập đầu: “Thần Thôi Tụng Thanh, khẩn cầu Thánh nhân tra rõ vụ án Thiên Uy quân!”

Thôi Tụng Thanh vừa bước ra, cục diện đã không còn gì để tranh cãi. Toàn bộ những người thuộc Thôi đảng đã quỳ rạp dưới chính điện, đồng loạt thỉnh cầu Long Hưng Đế tra rõ chân tướng. Thanh lưu và Thôi đảng cộng lại đã chiếm hơn một nửa triều đình, còn chưa kể đến những người thuộc Lư đảng nhưng vẫn còn một chút lương tri cũng quỳ theo. Xưa nay Lư đảng và Thôi đảng không đội trời chung, thường xuyên công kích lẫn nhau vì khác biệt quan điểm, nhưng gạt bỏ mâu thuẫn bè phái, họ vẫn là những con người biết phân biệt đúng sai, thấu tình đạt lý.

Long Hưng Đế vừa kinh hãi vừa phẫn nộ, chỉ tay về đám đông đang quỳ gối chật kín dưới điện: “Các ngươi… các ngươi muốn mưu phản hay sao?”

Hắn gào thét đến khản cả giọng, nhưng một tiếng quát đúng lúc vang lên, chặt đứt mọi niệm tưởng còn sót lại của hắn.

Thái hậu từ bên ngoài chậm rãi bước vào, ánh mắt sắc bén nhìn Long Hưng Đế, giọng điệu lạnh lùng: “Thánh nhân, người làm loạn đủ chưa?”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 130: Lư Dụ Dân ta, không hối hận


Thái hậu vừa bước vào, ngay cả những quần thần thuộc Lư đảng cũng âm thầm thở phào nhẹ nhõm.

Từ khi được phong làm Hoàng hậu, Thái hậu đã tham gia triều chính dưới sự ngầm đồng ý của Thái Xương Đế. Sau khi Thái Xương Đế băng hà, bà buông rèm nhiếp chính gần hai mươi năm, kinh qua biết bao sóng gió lớn nhỏ, vượt xa những gì Long Hưng Đế từng trải. Dù phái thanh lưu từng nhiều lần công kích bà là “gà mái gáy sáng”, nhưng khi Long Hưng Đế cố chấp làm càn, họ lại không khỏi đặt kỳ vọng, mong bà ra tay giữ vững đại cục.

Long Hưng Đế bật dậy khỏi ngự tọa, mặt mày tái mét. Thái hậu chậm rãi bước tới trước mặt hắn, lớn tiếng quở trách: “Thánh nhân, trong tình thế rối ren như vậy mà người vẫn còn muốn bao che cho đế sư của mình sao?”

Từ nhỏ đến lớn, Long Hưng Đế luôn bị uy thế của Thái hậu đè ép. Giờ đây, thấy bà bước tới gần, hắn cũng bất giác lùi lại, ngón tay run lên nhè nhẹ. Thái hậu chỉ tay về phía đám quần thần đang quỳ gối ở đại điện, giọng điệu nghiêm khắc: “Những người đang khẩn cầu dưới điện này đều là trụ cột của Đại Chu, còn bách tính ngoài cung Đại Minh lại chính là nền móng. Người làm mất lòng cả nền móng lẫn trụ cột, há chẳng phải muốn Đại Chu sụp đổ hay sao?”

Trước câu hỏi dồn ép của Thái hậu, Long Hưng Đế cố lấy can đảm, lí nhí đáp: “Đây là vu cáo…”

“Vu cáo hay không đã có Kinh Triệu Doãn điều tra, có Đại Lý Tự tra xét, có Ngự Sử Đài thẩm định. Đâu đến lượt người phán quyết đó có phải là vu cáo hay không?”

Long Hưng Đế há miệng, nhưng chẳng biết phải nói gì, chỉ có thể cúi đầu im lặng, vẻ đau khổ như thuở bé. Thái hậu nhìn khuôn mặt hắn, giống mình như tạc, trong lòng bỗng trào lên một nỗi bi ai sâu sắc. Đây là lỗi của bà. Khi sinh ra Bồ Tát Bảo, bà luôn vô thức so sánh hắn với Minh Nguyệt Châu đã khuất, thấy hắn không ngoan ngoãn, không hiểu ý như đứa con gái đã mất. Nhưng một người sống làm sao sánh được với ký ức về một người đã chết? Bà chìm đắm trong nỗi đau mất đi Minh Nguyệt Châu, chẳng thể dành trọn vẹn tình yêu của một người mẹ cho Bồ Tát Bảo, để hắn lớn lên trở thành kẻ yếu đuối, dễ bị Lư Dụ Dân và bọn gian thần lừa gạt. Cục diện ngày hôm nay, nếu truy cứu, chỉ e người làm mẹ như bà cũng phải gánh phần lớn trách nhiệm.

Giọng Thái hậu đã pha lẫn một chút thê lương: “Làm quân vương, phải lấy tâm ngay chính để trị triều đình, lấy chính triều đình để trị bách quan, lấy chính bách quan để trị lê dân, lấy chính lê dân để trị thiên hạ. Nay người một mực bao che thầy dạy, chính thân mình còn không ngay thẳng, làm sao trị được triều đình, bách quan, lê dân, thiên hạ? Thánh nhân, người thật sự muốn vì tư tâm của mình mà đẩy bản thân vào chốn vạn kiếp bất phục, kéo Đại Chu vào cảnh vạn kiếp bất phục, đúng không?”

Trước những lời trách cứ liên tiếp của Thái hậu, sắc mặt Long Hưng Đế trắng bệch, môi run rẩy: “A nương…”

Nhìn hắn thất thần đến vậy, Thái hậu cố kìm nén sự không đành lòng, tiếp tục thúc ép: “Thánh nhân, người là thiên tử của Đại Chu, người còn phải dẫn dắt Đại Chu đến cảnh quốc thái dân an, vạn bang triều cống. Người không thể tiếp tục để mình bị tư tình ràng buộc, khiến bách quan và lê dân thất vọng. Nếu Lư Dụ Dân thật sự bị vu oan, luật pháp sẽ trả lại công bằng cho ông ta. Những kẻ bịa đặt vu cáo ông ta cũng sẽ phải chịu tội thích đáng. Sẽ không ai xử oan đế sư của người. Vì sự yên ổn của Đại Chu, vì ngai vị được củng cố, người nên sớm đưa ra quyết định đi!”

Long Hưng Đế chậm rãi nắm chặt tay thành quyền, ánh mắt mờ mịt nhìn Thái hậu. Bà chỉ đáp lại bằng ánh nhìn lạnh lẽo. Hắn lại liếc qua đám quần thần đang quỳ dưới điện khẩn cầu, thấy trong ánh mắt bọn họ đều viết lên mong mỏi rằng hắn sẽ trở thành một minh quân. Long Hưng Đế sững sờ, thật lâu sau mới thả lỏng bàn tay đang siết chặt, giọng điệu trống rỗng: “Truyền chỉ dụ của trẫm, tra xét… án Thiên Uy quân.”

Quần thần vui mừng khôn xiết, đồng loạt cúi đầu bái lạy: “Thánh nhân anh minh, Thái hậu anh minh.”

Thôi Tuần trong lòng như trút được tảng đá lớn đè nặng bấy lâu, hắn cùng quần thần cúi lạy, một giọt nước mắt nóng hổi lặng lẽ rơi xuống, mang theo bao nỗi căm phẫn, uất ức tích tụ suốt sáu năm qua.

Trời này, hẳn sắp sáng rồi.



Sau khi Long Hưng Đế hạ lệnh điều tra kỹ càng, chức trách của Kinh Triệu Doãn không còn bị cản trở. Từ đó, Tiết Vạn Triệt bắt đầu điều tra vụ án. Chỉ là, Thái hậu đặc biệt hạ chỉ, yêu cầu Đại Lý Tự cùng tham gia.

Thái hậu triệu kiến Lư Hoài, người đang cáo bệnh ngừng lên triều bấy lâu, giao toàn quyền xử lý việc bắt giữ và thẩm tra Lư Dụ Dân cho hắn. Lư Hoài cười khổ: “Thái hậu còn dám tín nhiệm thần sao?”

“Vì cớ gì lại không dám?” Thái hậu nói: “Từ khi nhậm chức đến nay, khanh luôn công minh liêm chính, tận trung với quốc gia. Nếu ngay cả Lư khanh mà ngô không thể tin tưởng, thì trong triều này, còn ai đáng để tín nhiệm đây?”

Lư Hoài không ngờ mình lại được Thái hậu đánh giá cao đến vậy. Hắn luôn trung thành với Long Hưng Đế, tuy không phản đối việc Thái hậu chấp chính như thúc phụ Lư Dụ Dân, nhưng cũng tán đồng rằng Thái hậu nên sớm trả lại quyền bính cho Long Hưng Đế. Sáu năm trước, khi cùng nhóm đại thần dâng sớ yêu cầu Thái hậu trao trả chính quyền, hắn cũng có phần. Lại thêm quan hệ huyết thống với Lư Dụ Dân, hắn luôn cho rằng Thái hậu hẳn rất chán ghét mình. Vậy mà giờ đây, Thái hậu lại bảo rằng hắn xứng đáng được tín nhiệm. Trong lòng hắn vừa ngỡ ngàng, vừa xúc động, hắn thì thào: “Nhưng thần là cháu ruột của Lư Dụ Dân.”

“Chính vì khanh là cháu ruột của ông ta nên ngô mới giao trọng trách này cho khanh. Nếu thúc phụ khanh thật sự bị oan, khanh có thể minh oan cho ông ấy. Nếu thúc phụ khanh quả thật phạm tội, khanh lấy đại nghĩa diệt thân, ắt không bị ông ấy làm liên lụy. Chỉ như vậy, khanh mới có thể tiếp tục giữ chức Thiếu khanh Đại Lý Tự.”

Thái hậu chẳng những không muốn hắn bị Lư Dụ Dân liên lụy, mà còn để tâm đến tiền đồ của hắn. Trước khi tới cung Bồng Lai, Lư Hoài vốn nghĩ rằng Thái hậu sẽ nhân cơ hội này hạ sát mình. Hắn đã chuẩn bị sẵn tinh thần hy sinh. Nhưng ai ngờ, bà lại muốn bảo vệ hắn? Sau phút kinh ngạc, hắn không kìm được cất tiếng hỏi: “Thần tài hèn đức bạc, sao Thái hậu lại nghĩ nhiều cho thần như vậy?”

Thái hậu thở dài, lời lẽ chân thành: “Lư khanh, khanh là rường cột xã tắc. Trên triều này, có lẽ vẫn có người tài giỏi hơn khanh, nhưng khó ai sánh được với khanh về tấm lòng son sắt. Ngô già rồi, không còn sống được bao lâu nữa. Nhưng khanh thì còn trẻ, Đại Chu về sau không thể thiếu sự phò tá của khanh. Ngô làm sao nỡ vì tội lỗi của thúc phụ khanh mà khiến triều đình mất đi một tài năng tể phụ như khanh?”

Từ “rường cột xã tắc”, “tấm lòng son sắt”, đến “tài năng tể phụ”, đây đều là những lời tôn vinh cao nhất dành cho một viên đại thần. Lư Hoài chưa từng nghe được những lời như vậy từ Long Hưng Đế, nhưng lại nhận được từ Thái hậu. Lòng hắn trào dâng xúc động, nước mắt lưng tròng. Hắn quỳ sụp xuống, nghẹn ngào: “Thần sợ sẽ phụ sự kỳ vọng của Thái hậu.”

Thái hậu không bỏ cuộc, vẫn ôn tồn khuyên giải: “Lư khanh, ngô biết từ nhỏ khanh đã được thúc phụ nuôi dưỡng. Giờ bảo khanh tự tay bắt ông ta, thực sự là đang làm khó khanh. Nhưng nếu khanh không làm, không chỉ khanh, mà cả dòng Lư thị ở Phạm Dương, ngô đều không thể bảo toàn. Huống hồ, nếu vụ án Thiên Uy quân quả thật do thúc phụ khanh chủ mưu nhưng khanh vẫn một mực che giấu, thì khanh không chỉ có lỗi với năm vạn tướng sĩ, với bách tính sáu châu, mà còn phụ lòng một Lư Hoài Tín từng khổ công dùi mài kinh sử, lập chí báo quốc!”

Một câu nói như đánh thức người trong mộng, Lư Hoài ngẩn người. Cảnh tượng Tiết Vạn Triệt kéo áo khẩn cầu được ghi chép trong Khởi cư chú, hay câu đối “Kẻ phạm pháp, dù là thân thích cũng phải phạt!” được viết khi vẫn còn là Thiếu khanh Đại Lý Tự, bỗng chốc hiện rõ trong đầu hắn. Bên tai hắn dường như lại vang lên tiếng chuông ngân nga từ cổ tự nơi thôn dã.

Hắn cúi đầu, trầm mặc. Thái hậu lại nói: “Lư khanh, mấy hôm nay khanh cáo bệnh không dự triều, nhưng trước đó lại trở về Trường An. Ngô tin, trong lòng khanh đã có quyết định, chỉ là dù đã quyết, vẫn khó dứt bỏ tình cảm thúc điệt. Nhưng như cá và tay gấu không thể cùng giữ, nghĩa và tình cũng chẳng thể song toàn. Lư khanh, rốt cuộc khanh chọn đại nghĩa hay chọn tình thân, hãy nói rõ cho ngô hay.”

Nước mắt Lư Hoài lã chã rơi xuống, hắn nghiến răng, hồi lâu mới gật đầu bái lạy, từng chữ cất lên rõ ràng: “Thần, chọn đại nghĩa!”



Lư phủ cũ kỹ, tiêu điều, giờ đây đã chẳng còn ai qua lại, cảnh tượng hoang vắng đến mức có thể giăng lưới bắt chim. Lư Hoài ngẩng đầu nhìn tấm biển gỗ bạc màu khắc hai chữ “Lư phủ”, đôi môi hắn hơi mím lại, rồi dẫn theo một nhóm vũ hầu bước vào.

Lư Dụ Dân sớm đã giải tán toàn bộ gia nhân, ngồi nghiêm chỉnh một mình giữa thính đường. Khi thấy Lư Hoài, ông ta thoáng sững sờ: “Hoài Tín?”

Lư Hoài bảo nhóm vũ hầu đứng đợi ngoài cửa, hắn tiến vào đại sảnh, kéo vạt áo ngồi đối diện với Lư Dụ Dân. Im lặng hồi lâu, hắn trầm giọng nói: “Thúc phụ, là cháu.”

“Là ai phái cháu tới đây?” Lư Dụ Dân thì thầm hỏi: “Thái hậu sao?”

Lư Hoài gật đầu, giọng điệu lẫn vẻ cay đắng: “Ngoài Thái hậu ra, còn có thể là ai nữa?”

Sắc mặt Lư Dụ Dân dần tĩnh lại, sự ngạc nhiên trong mắt cũng tan biến. Ông ta cười lạnh: “Bà ta muốn bảo toàn cháu đúng không? Hừ, thật không ngờ, bà ta cũng là người biết tiếc nhân tài.”

Lư Hoài lặng lẽ không đáp. Lư Dụ Dân bất giác bật cười: “Nhưng lần gặp này, thúc phụ cảm thấy rất an ủi. Cháu là thiên lý mã của nhà họ Lư. Điều thúc phụ đau lòng nhất chính là sợ sẽ làm liên lụy đến cháu. Nay thấy Thái hậu nguyện ý bảo toàn cháu, rốt cuộc thúc phụ cũng được nhẹ lòng rồi.”

Lư Hoài cúi thấp đầu, từng giọt nước mắt rơi xuống sàn nhà mục nát. Hắn đột ngột cắn răng, nghẹn ngào hỏi: “Hoài Tín muốn hỏi thúc phụ một câu. Chuyện liên quan đến Thiên Uy quân, có đúng như Thẩm Khuyết đã khai, rằng thúc phụ cấu kết với Đột Quyết, phản bội Thiên Uy quân, khiến năm vạn tướng sĩ toàn quân bị diệt?”

Lư Dụ Dân không thừa nhận, cũng chẳng phủ nhận, chỉ hờ hững nói: “Trên đời này, không có một mưu tính nào mà không để lại dấu vết. Hiện tại, chắc hẳn Tiết Vạn Triệt đã bắt được Bùi Quan Nhạc. Nếu hắn lục soát Bùi phủ, bắt giữ thuộc hạ tâm phúc của Bùi Quan Nhạc, ắt sẽ tìm ra bằng chứng về sự thông đồng giữa ông ta với Đột Quyết và Kim Di. Chân tướng, chẳng mấy chốc sẽ rõ ràng.”

Lời của Lư Dụ Dân khiến lòng Lư Hoài lập tức rơi vào vực thẳm tuyệt vọng. Hắn ngước lên, giọng run run: “Tính cách của thúc phụ, nếu không phải là sự thật, nhất định sẽ phủ nhận đến cùng. Nhưng thúc phụ không phủ nhận, tức là đã ngầm thừa nhận. Vậy ra… sự sụp đổ của toàn bộ Thiên Uy quân, thật sự là do thúc phụ gây ra.”

Lư Dụ Dân dán mắt nhìn hắn, chậm rãi gật đầu.

Lư Hoài chỉ cảm thấy thật khó để chấp nhận, khớp ngón tay siết chặt đến mức phát ra tiếng vang răng rắc, giọng đầy bi phẫn: “Vì sao? Sáu năm trước, thúc phụ đã là đế sư, được vạn người kính ngưỡng, trong đó có cả tướng sĩ Thiên Uy quân và bách tính sáu châu. Vì sao thúc phụ lại đẩy những người tôn kính mình vào chỗ chết?”

Sắc mặt Lư Dụ Dân bình thản, không chút hối hận: “Cháu biết rõ vì sao mà.”

“Chỉ vì muốn đoạt quyền từ tay Thái hậu thôi sao? Cháu không hiểu!”

“Có gì mà không hiểu?” Lư Dụ Dân nói một cách bình tĩnh: “Một nữ nhân, như gà mái gáy sáng, cầm giữ triều chính, tàn sát chư tử <i>(các con trai/hoàng tử)</i> của Tiên đế, loại yêu phụ ấy, dù là ai cũng phải tru diệt, sao có thể để bà ta tiếp tục hại nước hại dân?”

“Nhưng thúc phụ, yêu phụ mà thúc phụ nói, lại yêu mến người tài, bảo toàn cho “thiên lý mã” trong mắt thúc phụ. Người mà thúc phụ gọi là gà mái gáy sáng, cầm giữ triều chính, lại chính là người được Tiên đế phó thác trước lúc lâm chung. Một vị vua anh minh như Tiên đế, nếu không muốn để Thái hậu nắm quyền, hẳn đã học theo Hán Vũ Đế, giết mẹ giữ con từ lâu rồi. Triều chính này, được chính người tự nguyện giao lại cho Thái hậu!”

Lư Dụ Dân nhìn khuôn mặt trẻ tuổi của Lư Hoài. Nếu là ngày thường, ông hẳn sẽ nghiêm khắc trách mắng hắn, nhưng hôm nay, ông chỉ cảm thấy mệt mỏi, chẳng còn hứng phản bác. Ông nhàn nhạt nói: “Có lẽ vậy. Nhưng Tiên đế có suy tính của người, còn ta, có suy tính của ta. Ta không thể nhẫn nhịn một nữ nhân tiếm quyền làm loạn triều cương, không thể chịu nổi việc thiên tử chỉ là một con rối. Ta đã hy sinh năm vạn Thiên Uy quân và bách tính sáu châu, nhưng để làm nên đại sự, vốn không thể câu nệ tiểu tiết. Ta đã tận trung với Tiên đế, tận trung với Đại Chu. Dù bị thiên hạ phỉ nhổ, Lư Dụ Dân ta, không hối.”

Lư Hoài cúi đầu, cười khổ thành tiếng: “Cháu không thể thuyết phục thúc phụ. Đúng sai công tội, sau này hậu thế tự có phán xét. Nhưng cháu còn một câu cuối muốn hỏi thúc phụ.”

Hắn ngẩng lên, từng chữ như khắc sâu vào lòng: “Thẩm Khuyết đã khai nhận, Thánh nhân cũng biết rõ mưu đồ của thúc phụ. Hắn nói Thánh nhân là đồng phạm. Cháu muốn hỏi, lời của Thẩm Khuyết, là thật hay giả?”

Lư Dụ Dân cười gằn, giọng đầy khinh miệt: “Cháu tin Thẩm Khuyết? Thẩm Khuyết là thứ gì? Một tên ác nhân cậy quyền h**p đáp, nếu không phải hắn c.ưỡ.ng b.ức Thịnh A Man, thì vụ án Thiên Uy quân chưa chắc đã bại lộ. Loại người không việc ác nào không làm như hắn, lời hắn nói mà cháu cũng tin sao? Hắn lôi cả Thánh nhân vào, chẳng qua chỉ để tất cả mọi người đều phải khổ sở!”

Lư Hoài lặng người, còn Lư Dụ Dân càng lúc càng kích động: “Tên ác nhân Thẩm Khuyết, dựa vào đâu mà kéo Thánh nhân vào? Dựa vào đâu mà nói Thánh nhân là đồng phạm? Thánh nhân là học trò mà ta, Lư Dụ Dân, một tay dạy dỗ. Từ khi người năm tuổi, ta đã dạy Mạnh Tử, Luận Ngữ, dạy Lễ ký, Xuân Thu. Mẫu thân của người chỉ lo quyền lực, không màng chăm sóc, là ta dạy người thế nào là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Ta đã dạy dỗ người suốt bao năm, làm sao người có thể làm ra chuyện bất nhân bất nghĩa đó được? Làm sao người có thể cấu kết với Hồ tộc, bỏ mặc tướng sĩ, nhường lại quốc thổ, phụ lòng bách tính của mình? Ta, Lư Dụ Dân, không dạy nổi một học trò như thế, và Thánh nhân cũng tuyệt đối không phải là người như thế!”

Lư Hoài bị sự kích động bất ngờ của Lư Dụ Dân làm cho kinh hãi, trong lòng dâng lên nỗi hổ thẹn vì những nghi ngờ trước đó dành cho Long Hưng Đế, nhưng hắn vẫn muốn xác nhận lại lần cuối: “Thánh nhân, không hề hay biết gì sao?”

“Không hề.” Lư Dụ Dân quả quyết, lời như đinh đóng cột: “Kẻ chủ mưu là ta. Thẩm Khuyết dựa vào hành tỷ của Thánh nhân trên bức thư gửi đến Đột Quyết rồi cho rằng Thánh nhân biết chuyện, thật quá nực cười! Thánh nhân từ năm ba tuổi đã mất cha, người bên cạnh bầu bạn lâu nhất không phải Thái hậu mà là ta. Người luôn nghe lời ta, thậm chí từng nói coi ta như cha. Ta có được hành tỷ của người thì có gì lạ? Thư tín gửi cho Ni Đô Khả Hãn là do chính tay ta viết, hành tỷ là ta đóng, ngay cả chiếu chỉ ép Quách Cần Uy xuất quân cũng là do ta thảo. Thánh nhân hoàn toàn không hay biết gì. Nếu ngươi không tin, có thể đi hỏi Thẩm Khuyết, hỏi Bùi Quan Nhạc xem trong suốt quá trình bàn mưu tính kế, bọn chúng có từng gặp Thánh nhân lần nào chưa? Tất cả đều do ta mượn danh phận đế sư, khiến chúng nhầm tưởng rằng đây là ý chỉ của Thánh nhân! Còn việc Thánh nhân không muốn lật lại vụ án, không phải vì người có tham gia, mà là vì muốn bảo vệ ân sư của mình, bảo vệ người mà người kính trọng như phụ thân!”

Lư Dụ Dân đã trút cạn bí mật trong lòng, Lư Hoài đứng đó hoàn toàn thất thần. Đột nhiên, máu từ mũi và miệng của Lư Dụ Dân chậm rãi trào ra, đó là dấu hiệu của việc đã uống độc dược.

Lư Hoài kinh hãi, quỳ sụp xuống, lảo đảo bò đến bên Lư Dụ Dân, ôm chặt lấy thân hình ông ta. Chỉ khi đó, hắn mới nhận ra vị thúc phụ quyền cao chức trọng này đã gầy guộc đến mức nào. Cả cuộc đời của ông đều cống hiến cho quốc gia, hao tâm tổn lực vì con đường của riêng mình, để rồi thân xác tiều tụy, lưng còng, hai bàn tay trắng, đơn độc một mình. Dẫu rằng con đường ấy hoàn toàn sai lầm, nhưng trong giây phút cuối cùng này, ông vẫn tin rằng mình hành sự vì nước, vì dân, không hề có chút hối hận.

Trong cơn đau buồn tột độ, Lư Hoài bật khóc nức nở: “Thúc phụ, sao người phải ngốc nghếch đến vậy?”

Lư Dụ Dân thì thào: “Ta là đế sư, há chịu nhục dưới tay lũ tiểu lại?”

Ông ta dồn chút sức tàn, nắm chặt lấy tay Lư Hoài, giọng khản đặc: “Hoài Tín, cháu phải nhớ, trung quân! Phụng chủ! Thánh nhân, ta giao lại cho cháu… Cháu tuyệt đối không được để tiểu nhân hãm hại người…”

Máu từ mũi và miệng của ông ta trào ra ngày càng nhiều. Độc tính của hạc đỉnh hồng phát tác, không ai có thể cứu vãn. Thân thể ông co giật trong chốc lát, cuối cùng đôi mắt cũng khép lại, trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của Lư Hoài, người được ông đặt trọn niềm hy vọng và được mệnh danh là “thiên lý mã” của họ Lư ở Phạm Dương.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 131: Trẫm không tham dự!


Đúng như lời Lư Dụ Dân từng nói: “Dưới gầm trời này, không có mưu tính nào không để lại dấu vết.” Bùi Quan Nhạc bị bắt, phủ đệ của ông ta bị lục soát, tìm thấy không ít thư từ qua lại giữa ông ta và Lư Dụ Dân cũng như Thẩm Khuyết lúc còn ở Phong Châu. Những bức thư này, vốn được giữ lại để nhằm tránh trường hợp một ngày nào đó Lư Dụ Dân qua cầu rút ván, ông ta còn có thể dùng chúng làm bằng chứng, uy h**p Lư Dụ Dân, không ngờ cuối cùng lại trở thành sợi dây xiết lấy mạng sống của chính ông ta.

Thấy thế cục đã không thể vãn hồi, Bùi Quan Nhạc cũng dứt khoát nhận tội. Đúng như Lư Dụ Dân nói, trong suốt quá trình lập kế hoạch năm đó, từ đầu chí cuối, ông ta chưa từng tiếp xúc với Long Hưng Đế. Bùi Quan Nhạc tin rằng Lư Dụ Dân đang đại diện cho ý chỉ của Long Hưng Đế, nên ông ta luôn tin tưởng tuyệt đối rằng việc này đã được hoàng đế ngầm đồng thuận. Khi nghe được lời tự thú của Lư Dụ Dân, ông ta kinh ngạc đến ngây người, lẩm bẩm: “Hóa ra ta luôn bị Lư Dụ Dân lừa gạt sao?”

Tiết Vạn Triệt đứng bên, lạnh lùng nhìn cảnh tượng đó: “Cho dù có bị Lư Dụ Dân lừa đi nữa, thì ngươi cũng vì tham quyền dục lực nên mới gây ra tội ác tày trời này!”

Bùi Quan Nhạc nghe xong, ngược lại bật cười phá lên: “Tham quyền lực? Tham phú quý? Cái gì là tham, cái gì là dục? Ta muốn quyền thế, muốn phú quý, đó gọi là tham, là dục. Còn ngươi, Tiết Vạn Triệt, muốn thanh danh và tiếng thơm, chẳng lẽ đó không phải là tham và dục hay sao? Rốt cuộc, chẳng qua là ngươi không thừa nhận đó là tham dục mà thôi, ngươi tô son trát phấn, biến nó thành chính nghĩa! Hừ! Chính nghĩa? Chỉ cần phủ thêm tấm áo chính nghĩa lên h.am m.uốn của mình, thế là nó liền trở thành đúng đắn? Thế nhưng ai quy định rằng mưu cầu quyền thế phú quý là sai, còn truy cầu danh tiếng thiên thu lại là đúng?”

Tiết Vạn Triệt nghe những lời biện bạch đầy thách thức ấy đến sững người, ông thở dài: “Ngươi người đầu tiên dùng lý lẽ để hợp lý hóa hành vi độc ác của mình mà ta từng gặp. Mưu cầu quyền thế phú quý vốn không sai, nhưng vì quyền thế mà phản bội bằng hữu tốt nhất của mình, đem năm vạn tướng sĩ ném vào tay Hồ Lỗ tàn sát, đó chính là sai! Nếu ngươi vẫn không hiểu thế nào là sai, thì ta sẽ nói cho ngươi biết: Người vì sao gọi là người, súc sinh vì sao là súc sinh? Bởi vì người phân biệt được thiện ác, còn súc sinh chỉ biết cá lớn nuốt cá bé. Vì vậy, người làm người, còn súc sinh chỉ có thể là thức ăn trên mâm. Ngươi muốn làm súc sinh, đó là lựa chọn của ngươi, nhưng ta tin rằng đa số quan lại, bách tính trong thiên hạ này vẫn sẽ chọn làm người.”

Bùi Quan Nhạc nghe vậy chỉ nhếch môi cười khinh: “Ngươi đứng đây cao giọng dạy dỗ ta về thế nào là làm người, là bởi vì ngươi xuất thân danh môn, chưa từng nếm trải khổ nhục bấp bênh. Bùi Quan Nhạc ta, cũng từng là một thiếu niên nhiệt huyết như những binh sĩ Thiên Uy quân kia. Nhưng ai đã khiến máu của ta trở nên lạnh lẽo? Là Đại Chu! Chính Đại Chu đã biến ta thành kẻ mà ngươi gọi là súc sinh tham lam quyền lực! Ta trở nên như thế này, là lỗi của ai? Dù sao cũng chẳng phải lỗi của ta.”

Tiết Vạn Triệt thấy ông ta cố chấp không chịu hối cải, chỉ lắc đầu: “Rốt cuộc là lỗi của ai, bách tính sẽ trả lời ngươi, sử xanh cũng sẽ phán xét ngươi. Nhưng ý kiến của ngươi, giờ đã không còn quan trọng, cũng chẳng ai bận tâm.”

Chờ đợi Bùi Quan Nhạc, chỉ còn là cái kết cục tử hình và sự khinh bỉ của hậu thế mãi mãi.



Khi Bùi Quan Nhạc và những kẻ liên quan lần lượt khai báo, từng bản cung trạng cũng được đưa vào trong cung Bồng Lai. Thái hậu triệu Long Hưng Đế đến, đem toàn bộ cung trạng của Bùi Quan Nhạc và những người thân tín của ông ta đưa ra trước mặt. Long Hưng Đế càng nhìn, sắc mặt càng trở nên tái nhợt. Thái hậu bình thản lên tiếng: “Thánh nhân, người nghĩ sao?”

Long Hưng Đế nghiến răng đáp: “Bùi Quan Nhạc và những kẻ đó, dám làm ra những việc này ư, đáng chết!”

Thái hậu quan sát biểu cảm của hắn, chỉ thấy vẻ mặt hắn đầy bàng hoàng, hoàn toàn không có chút dấu hiệu chột dạ. Bà trầm mặc một lúc, cuối cùng hỏi: “Trước khi Lư Dụ Dân qua đời, ông ta nói rằng tất cả mọi chuyện đều do một tay ông ta gây ra, kể cả việc đánh cắp hành tỷ, điều đó có phải sự thật không?”

Long Hưng Đế không thể tin được, ngẩng lên nhìn bà: “A nương, sao người lại hỏi như vậy? Người thật sự nghĩ rằng Lư Dụ Dân vì muốn che chở cho trẫm nên mới một mình gánh hết mọi tội lỗi sao?”

Hắn gằn giọng, mắt đỏ hoe: “A nương, người không tin trẫm!”

Thái hậu tay cầm bản cung trạng của Thẩm Khuyết, những mép giấy trắng của nó đã bị bà nắm chặt đến nhăn nhúm: “Ngô cũng muốn tin người! Ngô cũng không muốn có một đứa con phản bội tướng sĩ và bách tính của mình! Nhưng, mối quan hệ giữa người và Lư Dụ Dân không hề bình thường, ngô không thể không nghi ngờ!”

“Quan hệ giữa trẫm và Lư Dụ Dân sao lại không bình thường?” Long Hưng Đế nghẹn ngào nói: “Vì sao trẫm lại có thể tin tưởng Lư Dụ Dân như vậy? A nương, chẳng lẽ người không hiểu hay sao?”

“Từ nhỏ trẫm đã mất a gia, dáng vẻ của người, trẫm đã chẳng còn nhớ rõ. Còn người, trẫm gọi là a nương, nhưng sau khi a gia băng hà, người chỉ mải mê ban bố chiếu lệnh của mình, bận rộn thực hiện tân chính của người. Người chỉ quan tâm đến quyền lực của mình, chứ có từng quan tâm đến con trai người hay chưa? Chính nhờ Lư Dụ Dân, ông ấy quan tâm trẫm từng ly từng tí, tận tình dạy bảo trẫm, trẫm tin tưởng ông ấy, thì có gì là lạ đâu?”

Các đốt ngón tay của Thái hậu đã siết chặt đến trắng bệch: “Ngô không muốn tranh cãi về ai đúng ai sai, ngô chỉ muốn hỏi người một câu, rốt cuộc người… có tham dự vào vụ Thiên Uy quân hay không?”

“Không!” Long Hưng Đế kiên quyết trả lời: “Trẫm không tham dự!”

Hắn thậm chí còn kích động đến mức giơ ba ngón tay thề: “Nếu trẫm có tham dự, nguyện bị trời tru đất diệt, chết không toàn thây!”

Thấy hắn thề quyết liệt như vậy, Thái hậu cũng dần bình tĩnh lại: “Người thật sự không tham gia?”

“Không!” Long Hưng Đế lại nhấn mạnh một lần nữa: “Dù trẫm có muốn tự mình chấp chính đến đâu đi nữa thì cũng không thể làm ra chuyện điên cuồng này! Trên đời này, có vị hoàng đế nào lại nhẫn tâm đem đất đai và bách tính của mình dâng cho người Hồ? Dù hắn có dâng lên đi nữa, làm sao hắn có thể chắc chắn rằng, Đột Quyết sẽ không tiếp tục xâm lấn sau khi diệt được Thiên Uy quân và chiếm lĩnh sáu châu Quan Nội? Làm sao hắn có thể đảm bảo rằng bọn chúng sẽ không bội tín, đại quân thẳng tiến Trường An? Giả như Bùi Quan Nhạc ngầm cấu kết với Đột Quyết, không kháng cự tại Ninh Sóc, hoàng đế ấy chỉ có thể trở thành một vị vua mất nước! A nương, nếu là người, người có dám đánh cược lớn thế không?”

Lời của Long Hưng Đế cũng có chút lý lẽ, nhưng Thái hậu vẫn chỉ im lặng, không nói gì. Long Hưng Đế thấy thế, lòng càng thêm đau xót: “Trừ khi bị điên, còn không chẳng có ai lại cược lớn như thế. A nương nghi ngờ trẫm, chẳng lẽ chỉ vì trẫm và Lư Dụ Dân có mối quan hệ đặc biệt sao? Bùi Quan Nhạc bị định tội còn cần bằng cứ, sao đến lượt trẫm bị định tội thì lại không cần?”

Long Hưng Đế cảm thấy phẫn uất, quỳ xuống, nói: “Nếu a nương muốn trẫm từ nay làm một hoàng đế bù nhìn, chỉ cần nói một tiếng, không cần đổ mọi tội lỗi lên đầu trẫm. Điều này đối với trẫm là sự sỉ nhục lớn lao!”

Thái hậu vẫn im lặng, nhưng đôi mắt đã đỏ lên, khiến bà không thể giấu được sự đấu tranh trong lòng. Cuối cùng, bà lên tiếng, nhẹ nhàng nói: “Nhưng người là kẻ được hưởng lợi lớn nhất từ chuyện này, ngô không nghi ngờ thì người khác cũng sẽ nghi ngờ.”

Long Hưng Đế ưỡn thẳng sống lưng, cười thảm một tiếng: “Muốn buộc tội thì có gì là không được? Đám Bùi Quan Nhạc muốn lợi dụng vụ án Thiên Uy quân để tranh đoạt quyền lực, thế mà lại biến thành lỗi của trẫm. Nếu trẫm có lỗi, thì lỗi ở chỗ sơ suất, lỗi ở chỗ tin lầm người. Nhưng bàn về sơ suất, bàn về tin lầm người, tam công cửu khanh, vương hầu tướng quốc, ai chẳng sơ suất, ai chẳng có lần tin lầm người, sao chỉ mỗi trẫm phải nhìn nhận rõ ràng? Huống chi sáu năm qua, có quan viên nào dâng sớ nói Thiên Uy quân bị oan không? Không có một ai, vậy thì tại sao giờ đây lại chỉ đổ hết lên đầu trẫm?”

Hắn chất vấn một cách gay gắt, Thái hậu không đáp được. Long Hưng Đế nản lòng: “Nếu a nương vẫn không tin trẫm, thì cứ giết trẫm đi! Nhưng trước khi trẫm chết, vẫn muốn nói với a nương, trẫm không làm gì cả!”

Hắn nói xong, liền không biện giải thêm, chỉ lặng lẽ chờ đợi phán quyết của Thái hậu. Nhưng Thái hậu bỗng thở dài một tiếng, chậm rãi cất lời: “Bồ Tát Bảo, con đứng lên đi.”

Long Hưng Đế kinh ngạc ngẩng đầu, Thái hậu lại tiếp tục: “Con là con trai của a nương, a nương sao nỡ giết con? A nương cũng không muốn tin rằng con sẽ làm ra những chuyện mất nhân tính như thế. Việc đó không chỉ có lỗi với Đại Chu mà còn có lỗi với chính con. Nếu con nói con không làm, a nương sẽ tin con không làm.”

Long Hưng Đế nghe vậy, nghẹn ngào không thốt nên lời, nước mắt không ngừng lăn dài trên gương mặt. Thái hậu đứng dậy, đích thân đỡ hắn, lấy khăn tay lau nước mắt cho hắn: “Đừng khóc nữa. Sao con vẫn như khi còn nhỏ, hễ có chuyện là lại khóc? A nương từng dặn rồi, con là Thánh nhân, Thánh nhân không nên khóc.”

Long Hưng Đế vội vàng dùng tay áo lau nước mắt, gật đầu khẽ nói: “Bọn họ đều lừa gạt con. Về sau, con chỉ tin mỗi a nương.”

Thái hậu nhìn hắn, gật gật đầu: “A nương mệt rồi, con trở về điện Thần Long nghỉ ngơi đi. Đừng khóc nữa, kẻo bị người ta cười chê con không ra dáng một Thánh nhân.”

Long Hưng Đế cúi đầu lĩnh mệnh, quay người rời đi. Thái hậu dõi theo bóng hắn thật lâu, đến khi không còn nhìn thấy mới cất tiếng gọi: “Vọng Thư, ngươi ra đi.”

Thôi Tuần từ sau tấm bình phong sơn thủy lặng lẽ bước ra. Thái hậu nhìn hắn, hỏi: “Những lời Thánh nhân nói, ngươi đều nghe hết rồi chứ?”

Thôi Tuần cúi đầu đáp: “Vâng, đã nghe hết.”

“Vậy, ngươi đã hết nghi ngờ chưa?”

Câu hỏi này, Thôi Tuần không lập tức trả lời mà chỉ im lặng. Thái hậu thở dài, nói: “Thánh nhân nói cũng có vài phần đúng. Nếu quả thật là nó làm, làm sao có thể chắc chắn rằng Đột Quyết sẽ giữ lời? Chẳng lẽ nó không sợ bị biến thành một quân vương mất nước? Vọng Thư, từ nhỏ Thánh nhân đã nhát gan, ngô tin rằng nó không dám làm việc này.”

Thôi Tuần rũ mắt, một lúc sau mới khẽ nói: “Thái hậu tin tưởng con trai mình, thần không còn gì để nói.”

Thái hậu liếc nhìn hắn một cái, chậm rãi nói: “Đừng nói lời giận dỗi. Ngô hỏi ngươi, ngươi có bằng chứng nào chứng minh Thánh nhân có tham gia không?”

Thôi Tuần mím môi, đáp một tiếng: “Không có.”

Lư Dụ Dân đã chết, Bùi Quan Nhạc và Thẩm Khuyết trong quá trình bàn bạc cũng chưa từng tiếp xúc trực tiếp với Long Hưng Đế. Hắn không có chứng cứ.

“Nếu không có chứng cứ, vậy dựa vào đâu mà ngươi nghi ngờ hắn? Dựa vào trực giác sao? Lẽ nào trực giác của Thôi Tuần ngươi luôn luôn đúng?”

Thôi Tuần khựng lại, trên gương mặt hiện chút mờ mịt. Thái hậu tiếp lời: “Nếu ngay cả một quân chủ cũng tham gia b.án n.ước, thì dân chúng của quốc gia này sau này làm sao có thể tin tưởng triều đình nữa? Chuyện này đến đây là hết. Ngô đảm bảo, Thiên Uy quân sẽ được minh oan, Bùi Quan Nhạc và những kẻ khác sẽ bị trừng phạt. Kết cục này, sẽ làm hài lòng tất cả mọi người.”

Thôi Tuần nghe vậy, thu lại thần sắc, cung kính chắp tay nói: “Thần thay mặt Thiên Uy quân, cảm tạ Thái hậu.”



Có được lời hứa từ Thái hậu, dù trong lòng vẫn còn chút nghi hoặc, Thôi Tuần cũng không khỏi nhẹ nhõm hơn khi biết rằng oan khuất của tướng sĩ Thiên Uy quân sẽ được rửa sạch. Nỗi u uất đè nặng suốt sáu năm nay cũng dần tan biến, bước chân hắn đến thư quán càng thêm phần khoan khoái.

Kể từ ngày từ biệt Lý Doanh tại thư quán, Thôi Tuần đã ôm quyết tâm liều chết tiến cung, trình giao lời khai của Kim Di. May mắn thay, hắn đã thuyết phục được phái thanh lưu trong triều, để vụ án Thiên Uy quân cuối cùng cũng được tái thẩm lại. Sau đó, để ngăn ngừa biến cố, hắn gần như túc trực tại Sát Sự Thính, nghe Lưu Cửu và các thuộc hạ báo cáo tiến triển suốt mười hai canh giờ mỗi ngày. Đến hôm nay, mọi chuyện cũng hạ hồi phân giải, hắn nóng lòng muốn chia sẻ tin mừng này với Lý Doanh.

Khi Thôi Tuần đẩy cửa gỗ của thư quán, Lý Doanh đang ngồi tựa má, nhìn chăm chú vào ván cờ hắn để lại trước lúc rời đi. Nghe thấy tiếng động, nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt sáng lên. Nàng vui mừng đứng bật dậy, chạy đến, lao vào vòng tay hắn. Vòng lấy hắn thật chặt, nàng ngẩng mặt lên, nở nụ cười tươi tắn nói: “Ta biết ngay mà, chàng nhất định sẽ thắng!”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 132: Ngài tìm nương tử cho người khác, sao lại quên mất nương tử của mình rồi?


Những gì xảy ra trên triều, Thôi Tuần đều kể lại tường tận cho Lý Doanh, bao gồm cả đoạn đối thoại giữa Long Hưng Đế và Thái hậu.

Lý Doanh thoạt đầu nhíu mày: “A đệ thật hồ đồ. Dẫu Lư Dụ Dân là thầy của nó, nhưng nó là hoàng đế Đại Chu. Lư Dụ Dân lại hại chết biết bao tướng sĩ và bách tính Đại Chu, sao nó có thể vì tình riêng mà che chở cho ông ta được?”

Nói xong, nàng liền thở dài: “May mà cuối cùng nó cũng tỉnh ngộ. Lư Dụ Dân, Bùi Quan Nhạc và những kẻ khác đều đã nhận lấy hình phạt thích đáng. Thiên Uy quân rốt cuộc cũng được rửa sạch oan khuất.”

Nàng đưa tay vuốt lên gương mặt Thôi Tuần, từ xương mày đến sống mũi. So với Thôi Tuần sáu năm trước mà nàng từng thấy qua ký ức của A Sử Na Gia, hắn bây giờ gầy hơn rất nhiều. Một cảm giác chua xót dâng lên trong lòng nàng. Sáu năm qua, hắn sống cảnh người không ra người, quỷ không ra quỷ, kẻ thủ ác cuối cùng cũng bị đưa ra trước công lý. Nàng hỏi Thôi Tuần: “Thập Thất lang, sau này chàng có dự định gì chưa?”

Thôi Tuần lặng im một lúc, đáp: “Ta không muốn làm Thiếu khanh Sát Sự Thính nữa.”

Hắn từng chấp nhận làm chức Thiếu khanh Sát Sự Thính chỉ để có được quyền lực điều tra chân tướng. Nay tâm nguyện đã thành, hắn không còn muốn tiếp tục làm tay sai cho triều đình. Lý Doanh gật đầu, chẳng hề bất ngờ: “Vậy chàng định khi nào sẽ thưa chuyện từ quan với a nương?”

Nghe nàng hỏi, Thôi Tuần lại có chút do dự. Lý Doanh nhìn hắn, hỏi thêm: “Chàng vẫn còn chuyện gì chưa buông được, đúng không?”

Ánh mắt Thôi Tuần thoáng chút hoang mang. Lý Doanh đoán: “Chàng vẫn nghi ngờ a đệ?”

Nàng thật thông minh, lúc nào cũng đoán được tâm tư của hắn. Thôi Tuần mím môi, hàng mi đen dài như cánh quạ cụp xuống, giọng hắn trầm thấp: “Xin lỗi nàng, người là a đệ của nàng, ta không nên nghi ngờ người…”

Lý Doanh lắc đầu: “Chàng có nghi ngờ cũng là điều bình thường thôi. Dẫu sao, việc Thiên Uy quân bị tiêu diệt lại đúng lúc a đệ có cơ hội thân chính. Nhưng lời nó biện giải cũng có phần hợp lý. Nó không có lý do gì để liều mình trở thành một vị vua mất nước chỉ vì muốn thân chính. Cái giá đó quá đắt. Hơn nữa, chàng cũng không có chứng cứ nào chứng minh nó liên quan đến chuyện này, đúng không?”

Thôi Tuần ngẩn người. Ba năm làm Thiếu khanh Sát Sự Thính, hắn chỉ tìm ra được mối liên hệ giữa Lư Dụ Dân, Thẩm Khuyết, Bùi Quan Nhạc với vụ án của Thiên Uy quân, nhưng không hề có bằng chứng nào cho thấy sự tham gia của Long Hưng Đế.

Lý Doanh nói: “Nếu chàng vẫn còn nghi ngờ, thì tạm thời đừng vội từ quan. Hãy tiếp tục quan sát thêm một thời gian. Đợi đến khi chắc chắn a đệ không liên quan đến chuyện này, lúc đó chàng từ quan cũng chưa muộn.”

Thôi Tuần chăm chú nhìn đôi mắt trong sáng của Lý Doanh, lòng hắn như có dòng nước ấm róc rách chảy qua. Hắn khẽ gật đầu, nói: “Ừm.”



Vụ án của Thiên Uy quân được đẩy nhanh tiến độ, chưa đầy một tháng đã kết thúc xét xử. Kẻ chủ mưu là Bùi Quan Nhạc cùng Thẩm Khuyết bị phán hình phạt lăng trì, những đồng lõa khác đều bị xử trảm. Ngày hành hình, Thịnh A Man cùng Hà Thập Tam và những thân nhân khác của Thiên Uy quân ôm bài vị của người thân, đứng dưới pháp trường quan sát, cứ như thể Thiên Uy quân được tận mắt thấy những kẻ hại đã mình phải đền tội. Nhưng dù là vậy, những người đã khuất, chung quy cũng chẳng thể trở về.

Long Hưng Đế hạ tội kỷ chiếu, [1] tự trách bản thân thiếu cẩn trọng, tin lầm gian thần, gây hại trung thần lương dân, làm khổ bách tính sáu châu. Trong chiếu thư, người ra lệnh trả lại tài sản đã bị tịch thu của Thiên Uy quân, cho phép họ mai táng người thân, đồng thời ban phát hậu lễ an ủi. Người cũng hạ lệnh yêu cầu quan phủ các cấp chăm sóc chu đáo cho gia quyến của họ. Cuối chiếu thư, người viết: “Kẻ gian thần làm hại quốc gia, tội ở trẫm. Trẫm không xứng là quân vương, thực cảm thấy hổ thẹn. Chỉ có thể sửa sai, dùng người ngay thẳng, tuyển chọn hiền tài, mở đường ngôn luận, giữ vững cương thổ để chuộc lại tội lỗi của mình. Mong rằng từ nay thiên tai địch họa đều giáng lên người trẫm, đừng làm tổn hại sự an bình của bách tính.”

<i>[1] Tội kỷ chiếu (罪己诏) là một chiếu thư do hoàng đế ban hành, trong đó nhà vua công khai thừa nhận lỗi lầm hoặc trách nhiệm của mình đối với những sai lầm hoặc tai họa xảy ra trong đất nước. Đây là một hành động thể hiện sự tự kiểm điểm, khiêm nhường và trách nhiệm của người đứng đầu quốc gia, thường được thực hiện trong bối cảnh có những biến cố nghiêm trọng, như mất mùa, thiên tai, chính trị rối ren, hoặc sai lầm trong quản lý triều đình.</i>

Đây là tội kỷ chiếu đầu tiên kể từ khi triều Đại Chu thành lập. Đại Chu xây dựng trên nền tảng trung hiếu, tư tưởng trung quân hiếu đễ [2] đã khắc sâu vào xương tủy của mỗi người. Khi quân phụ hạ tội kỷ chiếu, thiên hạ đều kinh ngạc. Người đương thời đã mô tả phản ứng của mọi người lúc ấy là: “Quần thần rơi lệ, bách tính nghẹn ngào, binh sĩ đều khóc.” Lòng người bốn phương đều hướng về cung Đại Minh.

<i>[2] Trung quân hiếu đễ (忠君孝悌) là một khái niệm quan trọng trong hệ tư tưởng Nho giáo, phản ánh các giá trị cốt lõi về đạo đức và trách nhiệm của con người trong xã hội phong kiến. Cụm từ này bao gồm hai phần chính:</i>

<i>1. Trung quân (忠君): Nghĩa là trung thành với quân vương, cống hiến hết lòng cho đất nước và nhà vua. Đây là phẩm chất quan trọng của bề tôi và quan lại dưới chế độ quân chủ. “Trung quân” yêu cầu con người phải đặt lợi ích của triều đình và quốc gia lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng hy sinh vì sự an nguy của đất nước và tôn trọng quyền lực tối cao của vua.</i>

<i>2. Hiếu đễ (孝悌):</i>

<i>– Hiếu (孝): Nghĩa là lòng hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng và phụng dưỡng cha mẹ khi còn sống, giữ gìn danh dự của gia đình và thực hiện nghi lễ chu đáo sau khi cha mẹ qua đời.</i>

<i>– Đễ (悌): Nghĩa là sự kính trọng, nhường nhịn và yêu thương giữa anh chị em trong gia đình.</i>

Mọi chuyện dường như đang chuyển biến theo chiều hướng tốt đẹp. Kế Thanh Dương thông báo với gia quyến của Quách Cần Uy rằng có thể đưa thủ cấp của ông từ chùa Tây Minh về hạ táng. Ngày đón thủ cấp, triều đình đặc biệt phái Kinh Triệu Doãn Tiết Vạn Triệt cùng con trai của Quách Cần Uy là Quách Húc vào chùa. Long Hưng Đế tự nhận mình có tội, không muốn bước vào chùa Tây Minh, chỉ dẫn bá quan đứng chờ bên ngoài. Dân chúng Trường An kéo đến xem rất đông, ai nấy đều xúc động trước sự anh minh của hoàng đế và khí tiết của Quách Cần Uy.

Quách Húc ôm một chiếc hộp gỗ bước ra từ điện Phật, mắt rưng rưng ánh lệ. Từ sau sự kiện ở Lạc Nhạn Lĩnh, vì tội của phụ thân, hắn bị lưu đày đến đất Tịch Tây. Tịch Tây là nơi còn hẻo lánh hơn cả Lĩnh Nam, nghìn dặm cằn cỗi, cỏ cây cũng không mọc nổi. Một người hơn hai mươi tuổi, vì những khắc nghiệt nơi đó mà già nua như người đã ngoài bốn mươi. Nếu không nhờ Thôi Tuần sai người vượt đường xa bí mật chăm sóc, chỉ e hắn đã sớm bỏ mạng ở nơi hoang vu ấy.

Từ khi biết thủ cấp của Quách Cần Uy bị làm thành chén đựng rượu, Tiết Vạn Triệt đã khóc không ngừng. Ông thở dài: “Thánh nhân đã ban mảnh đất trong khu vực hoàng lăng, cho phép Quách soái được an táng tại đế lăng, còn hạ lệnh quan viên từ cửu phẩm trở lên đều đến đưa tiễn. Điều này cũng xem như sự an ủi lớn đối với Quách soái.”

Quách Húc lại ngập ngừng một chút. Dù có phụ thân là mãnh tướng nhưng bản thân hắn lại vô cùng tầm thường. Hắn không thích võ nghệ, học hành cũng nhiều lần thi không đỗ. Quách Cần Uy là người cương trực, không chịu cầu xin Thái hậu ban chức tước, nên hắn vẫn là một kẻ áo vải, ở quê nhà làm nông, phụng dưỡng tổ mẫu và mẹ ruột. Khi Quách Cần Uy làm Phó Đô hộ phủ An Tây, hắn không được chút lợi lộc nào. Sau khi phụ thân bại trận tự vẫn, hắn lại bị liên lụy lưu đày. Dẫu vậy, hắn chưa từng oán trách phụ thân, ngược lại luôn tôn kính sâu sắc. Hắn nói: “Phụ thân ta được chôn cùng đế lăng, quả là hoàng ân mênh mông. Chỉ là, Tiết Triệu Doãn, liệu ngài có thể giúp ta thỉnh cầu Thánh nhân thu hồi mệnh lệnh này không?”

Tiết Vạn Triệt sửng sốt: “Vì sao?”

“Điều phụ thân mong muốn nhất hẳn là được an táng tại Lạc Nhạn Lĩnh.” Quách Húc nói: “Nơi ấy có năm vạn binh sĩ Thiên Uy quân mà ông coi như con ruột. Trong số họ, có những người đã mất hết thân nhân, chỉ có thể an nghỉ tại Lạc Nhạn Lĩnh. Nhất định phụ thân ta sẽ không muốn rời xa bất kỳ binh sĩ nào của mình.”

Khi nghe vậy, Tiết Vạn Triệt không khỏi lên tiếng: “Nhưng được bồi táng ở đế lăng là vinh hạnh chí tôn của văn thần, tướng lĩnh từ xưa đến nay. Hơn nữa, Đại Chu đã quy định, nếu đời cha ông được an táng tại đế lăng, con cháu muốn táng cùng cũng sẽ được chấp thuận. Phụ thân của ngươi được bồi táng tại đế lăng, sau này ngươi và cả con cháu ngươi đều có thể được chôn cất cùng. Đây không chỉ là vinh dự của riêng ngươi, mà còn là vinh quang của cả gia tộc ngươi. Ngươi thật sự không muốn sao?”

Quách Húc lắc đầu, đáp: “Một vị tướng sẽ không bao giờ từ bỏ binh sĩ của mình. Phụ thân ta là một vị tướng tài ba nhất, ta là con của người, sao có thể vì ham danh lợi mà phớt lờ tâm nguyện của người được? Sau khi ta chết, dù chôn cất ở quê nhà hay trong đế lăng thì cũng đều là chôn cất, ta không quan tâm. Ta chỉ mong tâm nguyện của phụ thân có thể được hoàn thành.”

“Nhưng Lạc Nhạn Lĩnh hiện vẫn nằm dưới gót sắt của Đột Quyết. Ngươi không thể đưa linh cữu phụ thân mình về đó an táng.”

“Đại Chu binh cường mã tráng, lại vừa trừ bỏ gian nịnh. Ta tin rằng một ngày nào đó Lạc Nhạn Lĩnh trở về trong tay Đại Chu. Trước mắt, ta sẽ đưa thủ cấp của của phụ thân về an táng trước ở quê nhà. Đợi đến ngày vương sư bình định phương bắc, rồi sẽ cải táng, hợp thổ với di thể phụ thân ở Lạc Nhạn Lĩnh.”

Tiết Vạn Triệt xúc động muôn phần, trong lòng thực sự khâm phục sự trung hậu, chính trực của người thanh niên trước mắt. Ông nói: “Chuyện này, ta sẽ tấu lên Thánh nhân. Tin rằng Thánh nhân sẽ vui lòng chấp thuận.”

“Đa tạ Tiết Triệu Doãn.”

Tiết Vạn Triệt ngừng một chút, lại nói: “Nghe nói hiền chất vẫn chưa thành thân. Người từng đính ước trước đây cũng đã hủy hôn sau khi hiền chất bị lưu đày. Nếu hiền chất không chê, ta có một nữ nhi, năm nay vừa tròn mười tám, có thể gả cho hiền chất.”

Nghe vậy, Quách Húc hơi ngẩn ra, nhưng ngay sau đó, hắn khéo léo từ chối: “Đa tạ Tiết Triệu Doãn coi trọng, nhưng ta đã có người trong lòng.”

“Ồ? Là ai vậy?”

“Là một nữ tử bình dân rất đỗi bình thường. Nếu không có nàng, ta đã chết ở Tịch Tây. Nàng không chê ta ngốc nghếch, cũng không chê thân phận phạm nhân của ta, trái lại luôn ân cần chăm sóc ta. Lần này được đặc xá về Trường An, ta đã dẫn nàng về theo. Sau khi thưa chuyện với mẫu thân, ta sẽ chính thức cưới nàng vào cửa.”

Tiết Vạn Triệt gật đầu, thở dài một hơi: “Hiền chất quả không hổ danh là hậu duệ của Quách Cần Uy!”

Cho dù xuất thân bình thường, vẫn giữ được phẩm hạnh thanh cao, không vì nghèo mà cầu phú, không vì hèn mà nịnh giàu. Chỉ có người như vậy, mới xứng đáng làm con của Quách Cần Uy.



Khi Quách Húc và Tiết Vạn Triệt ôm hộp gỗ bước ra, Long Hưng Đế từ ngự liễn màu vàng sáng bước xuống, đón lấy hộp gỗ, nước mắt tuôn rơi, nghẹn ngào than thở: “Quách soái, là trẫm đã tin nhầm gian thần, để mất một vị lương tướng, khiến thi hài của khanh bị người Đột Quyết nhục nhã như vậy. Là trẫm có lỗi với khanh!”

Quần thần và bách tính đều quỳ rạp trên đất, nước mắt đong đầy. Một phần là vì thương cảm vị trung thần bị gian thần hãm hại, đầu lâu còn bị chế thành vật đựng rượu. Phần khác là vì xúc động trước sự tự trách, biết hối cải của quân phụ.

Chỉ là, Thôi Tuần lại không xuất hiện trong hàng ngũ quần thần, mà đứng trên một triền núi cách đó không xa, lặng lẽ nhìn cảnh tượng long trọng bên ngoài chùa Tây Minh.

Kế Thanh Dương và Lý Doanh đứng bên cạnh hắn. Kế Thanh Dương nhìn thoáng qua chiếc áo khoác hạc màu đen huyền dày sụ mà Thôi Tuần đang khoác trên người. Trời tháng tám, vậy mà hắn còn mặc áo khoác dày như thế, hẳn cơ thể đã suy yếu đến mức khó mà chống đỡ nổi. Sau đó, Kế Thanh Dương nhìn xuống cảnh tượng quân thần hòa hợp dưới chân núi, cất lời: “Nếu không nhờ Thôi Thiếu khanh đến Lĩnh Nam áp giải Thẩm Khuyết, e rằng hắn đã chết dọc đường, Quách soái cũng chẳng thể được rửa oan. Luận công lao, Thôi Thiếu khanh phải là người đứng đầu. Ngài đáng ra nên xuất hiện giữa khung cảnh hoa tươi vây quanh như thế này, đón nhận sự tán dương của bá tánh.”

Thôi Tuần thản nhiên đáp: “Kế đại hiệp cửu tử nhất sinh đưa thủ cấp của Quách soái về Trường An, chẳng phải cũng không lưu lại tên họ đó sao?”

Kế Thanh Dương cười nhạt: “Ta nên dùng thân phận gì? Chỉ là kẻ tội đồ của Bách Kỵ Tư, đương nhiên không thể lưu danh.”

Lý Doanh chen vào: “Ngài là không thể, còn chàng là không muốn.”

Kế Thanh Dương thắc mắc: “Vì sao?”

Lý Doanh nhìn xuống Long Hưng Đế đang ôm hộp gỗ, nước mắt lăn dài: “Chàng vẫn ngờ rằng a đệ ta có liên quan đến vụ án của Thiên Uy quân.”

Kế Thanh Dương ngẩn ra, nói: “Không thể nào.”

Lý Doanh vội hỏi: “Ngay cả ngài cũng thấy không thể nào sao?”

Kế Thanh Dương trầm ngâm một lát, đáp: “Ta chỉ suy luận theo lẽ thường, làm gì có hoàng đế nào lại tự nguyện cắt đất nhường dân, dễ dàng vứt bỏ thần tử của mình? Chẳng lẽ hắn không sợ khi xuống suối vàng sẽ không dám đối mặt với liệt tổ liệt tông? Hơn nữa,Thánh nhân thoạt nhìn không giống một hôn quân mù quáng. Theo ta thấy, chẳng qua lúc đó người còn trẻ, bị Lư Dụ Dân che mắt mà thôi. Dù sao thì thời điểm ấy, thiên hạ đều bị Lư Dụ Dân mê hoặc, ngài không thể yêu cầu một vị đế vương sống nơi thâm cung lập tức nhận ra oan khuất của Thiên Uy quân ngay khi sự việc vừa xảy ra? Điều đó rất không thực tế.”

Lời của Kế Thanh Dương có vài phần đạo lý. Long Hưng Đế sống nơi thâm cung, chưa từng ra khỏi cung cấm, hầu như mọi tin tức đều thông qua lời kể của Lư Dụ Dân. Huống hồ khi đó hắn mới mười bảy tuổi, không thể có hỏa nhãn kim tinh để nhìn thấu mọi âm mưu. Thôi Tuần nghe một người từng trải khắp nơi như Kế Thanh Dương nói vậy, trong lòng cũng thoáng dao động. Lẽ nào, sự nghi ngờ của hắn bấy lâu lại là sai lầm?

Kế Thanh Dương vỗ vai hắn, nói: “Đừng suy nghĩ quá nhiều, giờ mọi chuyện đã được giải quyết, ngài nên trân trọng người trước mắt, đừng lãng phí thời gian vào những nghi ngờ vô nghĩa nữa.”

Thôi Tuần liếc nhìn Lý Doanh, trong lòng không khỏi cảm thấy đôi phần hổ thẹn. Thời gian còn lại của hắn không biết được bao lâu, mà Lý Doanh đã chờ đợi hắn quá lâu rồi. Hắn không nên để nàng phải tiếp tục chờ đợi.

Lý trí lẫn tình cảm đều mách bảo hắn rằng nên nghe theo lời Kế Thanh Dương, không để thời gian trôi qua trong những hoài nghi vô ích. Thế nhưng, hắn vẫn ngập ngừng trong giây lát, rồi miễn cưỡng nói: “Ta sẽ làm vậy.”

Kế Thanh Dương không nhận ra sự khác thường, chỉ cười ha hả: “Nghĩ thông suốt là tốt rồi. Khi ta mang tin đến cho Quách Húc, có thấy một nữ nhân đi cùng hắn trở về. Trông nàng ấy chẳng giống người dân bình thường, mà lại có vẻ như ám thám. Đừng nói là do ngài phái đi đấy nhé?”

Thôi Tuần thừa nhận: “Đúng vậy, là ta phái nàng tới chăm sóc Quách Húc. Không ngờ nàng lại nảy sinh tình cảm với Quách Húc. Ta đã nói với nàng, không cần trở về Sát Sự Thính nữa, sau này hãy sống yên ổn bên Quách Húc.”

Kế Thanh Dương bật cười: “Ngài tìm nương tử cho người khác, sao lại quên mất nương tử của mình rồi?”

Lý Doanh nghe thấy hai chữ “nương tử,” mặt nàng lập tức đỏ bừng. Thôi Tuần ngắm gương mặt đỏ ửng như hoa đào của nàng, trong lòng khẽ xao động. Hắn nở nụ cười, dịu dàng nói: “Sẽ không quên đâu.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 133: Mỗi người đều hài lòng với kết cục này


Ngoài Quách Húc muốn phụ thân được an táng ở Lạc Nhạn Lĩnh, thì Thịnh A Man cũng có ý như vậy. Tộc nhân nhà họ Thịnh trước đây cao ngạo, sáu năm trước, họ ỷ thế h**p đáp một nữ lang mồ côi mất đi huynh trưởng như nàng, mặc nàng rơi vào chốn phong trần mà không hề đoái hoài. Sáu năm sau lại bỗng thay đổi thái độ, hết lời ca tụng a huynh nàng là anh hùng vì nước vì dân, tán dương nàng là nữ tử dám đứng lên kêu oan cho huynh trưởng. Thậm chí còn nói rằng việc a huynh nàng được an táng tại tổ phần của gia tộc sẽ giúp tổ tiên được nở mày nở mặt.

Cứ như thể nửa năm trước, người không chịu nhấc quan tài của a huynh nàng không phải là bọn họ vậy.

Bộ dạng trơ trẽn ấy khiến A Man ghê tởm đến cực điểm.

A Man tin rằng, chắc chắn a huynh nàng cũng không muốn an táng ở nơi này, phải ngày ngày nhìn thấy bộ mặt đáng khinh của những người này. Chẳng thà trở về Lạc Nhạn Lĩnh, nơi có huynh đệ luôn đồng hành bên huynh ấy.

Nhưng hiện tại, Lạc Nhạn Lĩnh vẫn nằm trong tay Đột Quyết. Vì vậy, A Man đành tạm an táng Thịnh Vân Đình ở đây, chờ ngày khôi phục lại Phong Châu rồi sẽ cải táng sau.

Ngày hạ táng, Thôi Tuần cũng đến. Lần này, A Man không đuổi hắn đi, ngược lại rất khách khí mời hắn rót một chén rượu tế cho a huynh. Thôi Tuần rưới rượu xuống trước bia mộ, sau đó lặng lẽ nhìn đống đất vàng mới đắp, suy nghĩ xuất thần. A Man cũng im lặng không nói, mãi lâu sau mới cất lời, hỏi điều đã quanh quẩn trong lòng nàng từ lâu: “Hôm đó Thẩm Khuyết nói, Thánh nhân cũng tham gia vào chuyện này, có thật không?”

Thôi Tuần không lập tức trả lời. Hắn nhìn vào bia mộ của Thịnh Vân Đình, trong khoảnh khắc, dường như thấy được cảnh tượng bi thảm ngày đó, khi Thịnh Vân Đình bị đâm đến mấy nhát vẫn cố gắng chống trả. Hắn mím môi, cúi mắt đáp: “Lư Dụ Dân đã khai nhận, ông ta giả mạo thánh chỉ để cấu kết với Thẩm Khuyết, tự tiện sử dụng hành tỷ của Thánh nhân. Việc này, Thánh nhân hoàn toàn không hay biết.”

“Thì ra là vậy.” A Man thì thầm: “Còn huynh? Huynh có tra ra điều gì không? Có phát hiện Thánh nhân liên quan đến vụ án này không?”

“Không có.”

A Man thở phào nhẹ nhõm: “Vậy nghĩa là, Thánh nhân quả thật không hay biết gì. Thẩm Khuyết cũng bị Lư Dụ Dân lừa gạt.”

Câu trả lời này hiển nhiên khiến nàng nhẹ lòng hơn. Nàng nói: “Lúc đó, khi nghe Thẩm Khuyết cung khai, ta đã không dám tin. Ngày trước ở giáo phường, các tỷ muội vẫn thường bảo rằng Thánh nhân là vị minh quân chí nhân chí thiện, ngay cả khi cung nhân phạm lỗi, người cũng chẳng nỡ trách phạt. Một bậc đế vương mềm lòng như thế, sao có thể lạnh lùng vô tình, bỏ mặc bách tính của mình được? Chỉ e rằng, người không muốn thay chúng ta kêu oan là bởi không nỡ đoạn tuyệt tình thầy trò với Lư Dụ Dân và tình huynh đệ với Thẩm Khuyết. Nhưng khi đã thông suốt, người lại sẵn sàng đứng ra làm chủ cho chúng ta. Vì thế, người vẫn là một vị hoàng đế tốt.”

Thôi Tuần không đáp lại lời nàng. Hắn chỉ nhìn bia mộ của Thịnh Vân Đình, rồi nói: “Hiện giờ cô, Hà Thập Tam và những người khác có lẽ đều đã đạt được điều mình mong muốn rồi, đúng không?”

“Ừm.” A Man liền gật đầu, dịu giọng nói: “Kẻ làm điều ác đã phải nhận báo ứng, người khuất núi cũng được rửa sạch oan khiên, những người còn sống đều được chăm lo chu đáo. Ai nấy đều hài lòng với kết cục này, cũng vô cùng cảm kích Thánh nhân và Thái hậu. Hà Thập Tam còn bảo rằng sau này muốn noi gương a huynh mình, tiếp tục tòng quân, phụng sự triều đình.”

Thôi Tuần gật đầu, hắn hỏi tiếp: “Vậy sau này cô có quay về giáo phường nữa không?”

“Không về nữa.” A Man lắc đầu, trả lời: “Triều đình đã cấp một khoản bồi thường lớn, ta không cần dựa vào giáo phường để mưu sinh nữa. Ta muốn ở lại Trường An, mở một cửa hàng nhỏ, sống những ngày yên ổn.”

“Nếu gặp được ý trung nhân, cũng có thể bàn chuyện hôn nhân, sống một đời an yên, hạnh phúc.”

Nghe vậy, A Man nghiêng đầu nhìn Thôi Tuần. Gương mặt hắn vẫn lạnh lùng, đôi mày xa cách, nhưng trong lòng nàng biết rõ, khi vết thương vì bị phạt trượng của nàng vừa lành, vốn dĩ phải chịu tội “thiếp cáo phu”, bị lưu đày hai năm, nhưng chính Thôi Tuần đã đã dâng sớ cầu xin cho nàng. Nhờ vậy, Thái hậu và Thánh nhân mới phá lệ ân xá, không chỉ phán cho nàng hòa ly với Thẩm Khuyết, mà còn miễn luôn hai năm lao dịch.

Hắn khuyên nàng tìm một ý trung nhân.

A Man bèn mỉm cười, nhẹ nhàng đáp trả, giọng điệu có phần trêu chọc: “Huynh quản nhiều quá, chẳng lẽ thực sự coi mình là anh ruột của ta sao?”

Thôi Tuần khựng lại, rồi cũng mỉm cười, không nói thêm gì nữa.

A Man quay đầu nhìn bia mộ của Thịnh Vân Đình, thầm thì: “Dù sao đi nữa, bất kể sau này ta có lấy chồng hay không, ta vẫn sẽ sống tốt.”

Nàng nhỏ giọng hỏi: “Còn huynh? Sau này huynh cũng sẽ sống tốt thôi, đúng không?”

Thôi Tuần khựng lại, chỉ đáp mơ hồ: “Có lẽ vậy.”

“Chuyện cũ đã qua thì cứ để nó qua.” A Man cúi người, dùng cành cây gẩy nhẹ tro giấy đang cháy dở, rồi đứng dậy nhìn ngọn lửa nhỏ dần, tro bụi hóa thành hư vô, nhẹ giọng nói: “Giống như những tờ vàng mã này, đã cháy rồi thì không thể trở lại hình dạng ban đầu. Nhưng chỉ cần còn sống, chúng ta vẫn có thể mua thêm vàng mã, tiếp tục tưởng nhớ và cúng viếng người đã khuất.”

Trong làn khói xanh cuối cùng từ tờ vàng mã bay lên, A Man khẽ nói: “Vọng Thư a huynh, ta phải đi rồi. Ta muốn cùng các tỷ muội trong giáo phường tìm một cửa tiệm thích hợp, kiếm kế sinh nhai. Dẫu quá khứ khó buông, ngày mai vẫn phải sống tiếp. Ta mong a huynh hãy hướng về phía trước.”

Hàng mi đen dài của Thôi Tuần rũ xuống. Hắn lặng lẽ nhìn những tro tàn nhỏ bé cuốn theo gió, gật đầu, chỉ đáp một tiếng: “Ừm.”



Sau khi Thịnh A Man rời đi, Thôi Tuần vẫn đứng lặng trước mộ của Thịnh Vân Đình một lúc lâu. Chỉ đến khi ánh chiều tà kéo dài bóng dáng của hắn, hắn mới quay người, chậm rãi tìm đến bên Lý Doanh.

Lý Doanh khi ấy đang ngồi ở bờ hồ nơi hai người lần đầu tới. Nghe tiếng bước chân, nàng quay đầu lại, liền trông thấy quả cầu hương mạ vàng vẫn còn treo bên đai lưng của Thôi Tuần. Ngày ấy, hắn từng nói với nàng rằng, quả cầu này sẽ mãi không rời thân. Và quả thật, hắn đã giữ lời, chưa từng tháo nó ra lần nào.

Những lời hắn hứa, từng câu từng chữ, nàng đều cẩn thận cất giữ trong lòng. Chỉ cần điều gì hắn có thể làm, nhất định hắn sẽ làm cho nàng.

Vì thế, Lý Doanh chưa bao giờ hoài nghi tình cảm hắn dành cho mình. Nàng cũng thấy bản thân thật may mắn khi gặp được một người đàn ông như vậy – một người trong mắt, trong tim, đều chỉ có nàng.

Trên tay Lý Doanh là một đóa hoa quế màu vàng ươm. Thôi Tuần chưa kịp đến gần đã ngửi thấy hương thơm thanh khiết đặc trưng của quế hoa. Nàng đứng dậy, nở nụ cười dịu dàng, đưa đóa hoa cho hắn: “Vừa rồi ta rảnh rỗi nên đi dạo một vòng, không ngờ phát hiện ra một rừng đan quế. Chàng có muốn đi xem thử không?”

Thôi Tuần đón lấy đóa hoa, trong mắt ánh lên nét cười dịu dàng. Hắn cài hoa lên tóc mai của nàng. Hoa như ráng chiều rực rỡ, người như mỹ ngọc vô tỳ. Hắn lặng ngắm gương mặt thanh tú của nàng, dịu giọng đáp: “Được, vậy chúng ta cùng đi.”



Cây đan quế trong rừng tỏa bóng sum suê, lá xanh mướt, những chùm hoa nhỏ bé tựa như hạt gạo, ánh vàng óng ánh như những mảnh vụn của hoàng kim, nổi bật giữa sắc xanh ngọc bích.

Lý Doanh đưa tay đón lấy một cánh hoa vừa rơi xuống: “Vậy là, A Man và những người khác đều rất hài lòng với cách triều đình xử lý vụ án Thiên Uy quân.”

“Ừm.” Thôi Tuần chậm rãi đáp: “Họ đã rửa sạch oan khuất cho thân nhân, giành lại sự kính trọng từ bá tánh, lại còn được một khoản bồi thường từ triều đình. Ai nấy đều hài lòng với kết cục này.”

“Không chỉ gia quyến Thiên Uy quân hài lòng, mà còn có cả a nương. Cuối cùng người cũng có thể thuận lợi đẩy mạnh tân chính. Về phần a đệ, dù đã mất quyền lực, nhưng cũng nhân cơ hội này loại bỏ được đám gian thần bên cạnh. Một đạo tội kỷ chiếu đã giúp nó lấy lại lòng dân. Ta tin rằng bài học lần này đủ để nó khắc cốt ghi tâm, không dễ dàng tin tưởng kẻ gian nữa. Chờ đến khi a nương trăm tuổi, lúc ấy a đệ cũng đã trải qua đủ trui rèn, quyền lực của Đại Chu, a nương vẫn sẽ giao lại cho nó.”

Nàng cúi mình ngồi xuống dưới gốc cây đan quế, ánh mắt phảng phất nét trầm tư: “Vụ án Thiên Uy quân, a nương không có ý mượn cớ để thanh trừng phe cánh, chỉ trừng phạt kẻ đầu sỏ và những kẻ tòng phạm. Đám người thuộc Lư đảng cũng không còn phải lo lắng, ngay cả Lư Hoài cũng yên ổn giữ chức Thiếu khanh Đại Lý Tự, tiếp tục thực hiện lý tưởng của mình. Ta nghĩ kết cục này, hẳn đã làm hài lòng tất cả.”

Thôi Tuần cũng cúi người ngồi xuống bên cạnh Lý Doanh. Hắn nhặt một đóa hoa quế rụng trên đất, nắm trong lòng bàn tay, rồi ngẩng đầu, ngước mắt nhìn về phía dãy núi xanh mờ phía xa. Hắn trầm giọng đáp: “Ừm, thiên hạ này, ai nấy đều hài lòng với kết cục ấy.”

Nàng nghiêng đầu, nhìn hắn chăm chú: “Còn chàng? Chàng có hài lòng không?”

Thôi Tuần không trả lời ngay. Trong đầu hắn bất giác hiện lên lời Kế Thanh Dương từng nói: “Bây giờ mọi chuyện đã được giải quyết, ngài nên biết trân trọng người trước mắt, đừng lãng phí thời gian vào những nghi kỵ vô ích.”, và sau đó là những lời nhắc nhở của Thịnh A Man: “Dẫu quá khứ khó buông, ngày mai vẫn phải sống tiếp. Ta mong a huynh hãy hướng về phía trước.”

Hắn siết nhẹ đóa hoa quế trong tay, những giọt nhựa vàng cam từ cánh hoa thấm vào lòng bàn tay, để lại một vệt vàng cam rực rỡ. Hắn cúi đầu, khẽ nói: “Mọi người đều hài lòng, ta… cũng không có gì để không hài lòng cả.”

Có lẽ, đây đã là kết cục tốt nhất dành cho tất cả mọi người.

Lý Doanh không nói gì, chỉ lặng lẽ tựa vào vai hắn. Nàng kéo tay hắn, nhẹ nhàng v.uốt ve những ngón tay thon dài, rồi men theo đó, chạm tới vết sẹo sâu hoắm trên cổ tay hắn.

Hắn rõ ràng cứng người, bàn tay như muốn rụt lại, nhưng vẫn bị nàng giữ chặt. Lý Doanh miết nhẹ những vết hằn, nơi dấu đinh còn rõ nét, rồi nói: “A đệ một lòng muốn hàn gắn quan hệ với a nương. Thêm vào đó, chuyện thủ cấp của Quách soái bị chế thành chén rượu đã khiến dân gian căm hận Đột Quyết đến tột cùng. A Sử Na Ngột Đóa bị a đệ đày đến đạo quán Trường Xuân, buộc phải làm nữ đạo sĩ. Cả đời này, nàng ta chỉ có thể già đi trong đạo quán ấy. Dù hình phạt này có phần nương tay, nhưng cũng xem như ác giả ác báo.”

Nàng thở dài, tiếng thở nhẹ như cánh hoa quế rơi xuống mặt đất: “Thập Thất lang, chàng đã mắc kẹt trong những chấp niệm quá khứ đủ lâu rồi. Đã đến lúc, chàng nên buông bỏ chúng đi thôi.”

Ánh mắt Thôi Tuần thoáng qua nét bàng hoàng, tựa như những lời nàng nói đã chạm đến nơi sâu thẳm trong lòng hắn. Tất cả mọi người đều khuyên hắn buông bỏ chấp niệm, quên đi quá khứ, hướng về phía trước.

Đúng vậy, lần này không giống như trước kia.

Ngày trước, hắn giữ vững chấp niệm của mình là vì hắn có bằng chứng rõ ràng rằng Bùi Quan Nhạc cùng Lư Dụ Dân dính líu đến vụ án Thiên Uy quân. Nhưng lần này lại khác, hắn không có bất kỳ bằng chứng nào để khẳng định Long Hưng Đế có liên quan. Nỗi nghi ngờ của hắn chỉ dựa vào ba năm quan sát.

Nhưng đúng như Thái hậu đã nói, liệu nghi ngờ của hắn có nhất định là đúng hay không?

Nếu để những nghi ngờ này tiếp tục, e rằng cuối cùng hắn sẽ lần đến Long Hưng Đế. Nhưng điều tra hoàng đế là trọng tội, từ khi Đại Chu lập quốc đến nay, chưa từng có thần tử nào lớn gan đến vậy. Nếu hắn sai, chẳng những bản thân rơi vào cảnh vạn kiếp bất phục, mà còn sợ rằng Long Hưng Đế sẽ trút giận lên Thịnh A Man cùng Hà Thập Tam.

Thịnh A Man vẫn đang háo hức với mộng tưởng mở một cửa tiệm nhỏ, Hà Thập Tam thì mong chờ đến ngày được nhập ngũ. Làm sao hắn có thể vì nghi ngờ vô căn cứ của mình mà đẩy họ vào con đường tuyệt vọng?

Rõ ràng, kết cục hiện tại đã khiến tất cả mọi người đều hài lòng. Vậy mà hắn vẫn chấp nhất điều gì?

Hắn làm sao có thể ích kỷ đến như vậy?

Thôi Tuần rũ mắt.

Vì gia quyến của Thiên Uy quân, vì Lý Doanh, và vì chính bản thân mình, có lẽ hắn nên buông bỏ chấp niệm này đi thôi.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 134: Hắn nên từ bỏ chấp niệm rồi


Trăng tròn như đĩa ngọc, chầm chậm nhô lên giữa màn đêm.

Lý Doanh nhìn Thôi Tuần, nhẹ giọng nói: “Thập Thất lang, chàng nhắm mắt lại đi, ta có thứ muốn đưa chàng xem.”

Thôi Tuần nghe theo, khép hờ đôi mắt. Hắn cảm nhận bàn tay nhỏ bé của nàng nhẹ nhàng nắm lấy tay mình, sau đó đặt một vật gì đó vào lòng bàn tay hắn. Khi mở mắt ra, hắn trông thấy trong lòng tay mình là một chiếc bánh hình tròn dập hoa văn bảo tướng.

Hơi ngạc nhiên, hắn liền nhíu mày. Lý Doanh cười nhẹ, nói: “Chàng quên mất hôm nay là ngày gì rồi sao?”

Thôi Tuần ngẩn người, chưa kịp đáp, nàng đã mỉm cười tinh nghịch: “Hôm nay là mười lăm tháng tám, tiết Trung Thu.”

Lúc này hắn mới sực tỉnh, hóa ra hôm nay là Trung Thu.

Từ trước đến nay, Thôi Tuần không mấy để tâm đến các dịp lễ đoàn viên như đêm Giao Thừa, Thượng Nguyên hay Trung Thu. Khi còn ở Thôi phủ, mối quan hệ giữa hắn và kế mẫu cùng các huynh đệ không hề hòa thuận. Những ngày này, họ không muốn thấy hắn, mà hắn cũng chẳng muốn thấy họ. Thế là hắn một mình ngồi trong viện, tránh khỏi sự quấy rầy và ánh mắt khó chịu từ người khác.

Mười bốn tuổi, hắn rời khỏi gia đình. Ngoại trừ ba năm ở Thiên Uy quân, những ngày lễ sau đó, hắn đều sống cô độc. Bên ngoài Thôi phủ là tiếng cười vui của nhân gian, còn bên trong chỉ là sự tĩnh lặng đến lạnh lẽo. Khung cảnh đối lập ấy, hắn sớm đã quen thuộc.

Nhưng năm nay thì khác.

Năm nay, có người cùng hắn đón Thượng Nguyên, có người bên cạnh hắn trong tiết Hàn Thực, và giờ, nàng lại cùng hắn đón Trung Thu.

Hắn, cuối cùng đã không còn cô độc nữa.

Lý Doanh cũng cầm một chiếc bánh hình tròn dập hoa văn bảo tướng, nàng cắn một miếng nhỏ, rồi reo lên: “Ô, là nhân táo đỏ đấy!”

Nàng vốn hảo ngọt, nên bánh nhân táo đỏ khiến nàng cực kỳ hài lòng. Thôi Tuần không thích đồ ngọt, nhưng thấy vẻ mặt mãn nguyện của nàng, khóe môi hắn cũng bất giác cong lên. Hắn cũng cắn thử một miếng.

Lý Doanh nhìn hắn, hỏi: “Thế nào, có ngon không?”

Thôi Tuần gật đầu: “Ngon lắm.”

Hai người vừa ăn bánh, vừa ngắm trăng tròn lặng lẽ vươn cao. Ở Đại Chu, Trung Thu là ngày hoàng cung bái nguyệt, dân gian thưởng trăng. Lý Doanh ngồi xếp bằng dưới gốc cây đan quế, ngước mắt nhìn ánh trăng dịu dàng tỏa sáng giữa màn trời. Hương quế thanh thoát thoảng qua, hòa quyện với vị ngọt mềm của nhân táo đỏ nơi đầu lưỡi, nàng chợt thấy lòng mình an yên lạ thường. Đêm nay, có trăng, có hoa, có cảnh, và có cả lang quân nàng.

Nàng quay đầu, lén ngắm nhìn vị lang quân tuấn tú như ngọc đang ngồi bên cạnh. Dưới ánh trăng, đôi lông mi dài, dày và đen nhánh của hắn tựa như chiếc quạt nhỏ, phủ nhẹ trên bờ mắt khép hờ. Đột nhiên, một ý nghĩ nghịch ngợm nảy lên trong đầu nàng, nàng muốn thử đếm xem hàng mi ấy có bao nhiêu sợi lông mi.

Nàng chăm chú đếm, đếm được một nửa thì lang quân đang mải ngắm trăng bỗng hơi nghiêng đầu, làm nàng giật mình. Lý Doanh vội quay đầu đi, cố giấu sự bối rối.

Trên gương mặt Thôi Tuần thoáng hiện vẻ nghi hoặc. Lý Doanh chột dạ, chẳng dám giải thích, chỉ vùi đầu vào ăn nốt phần bánh còn lại. Đợi nàng ăn xong, Thôi Tuần liền lấy ra một chiếc khăn gấm trắng tinh, trước tiên dùng góc khăn nhẹ nhàng lau vụn bánh nơi khóe môi nàng, sau đó lại cẩn thận lau sạch tay nàng. Mọi việc xong xuôi, hắn mới chậm rãi hỏi: “Vừa rồi, nàng làm sao thế?”

Lý Doanh lúng túng. Nàng đâu dám nói ra rằng ban nãy nàng chẳng phải ngắm trăng, mà là đang ngắm người, chưa kể còn đang chăm chú đếm từng sợi mi của hắn nữa. Đang lúc không biết phải trả lời thế nào, nàng chợt thấy những điểm sáng xanh nhạt lướt qua trước mặt, liền thốt lên đầy ngạc nhiên: “Đom đóm!”

Vào thời điểm cuối hạ đầu thu, vùng ngoại ô thường dễ dàng bắt gặp những đàn đom đóm. Nhưng trong cung đình, cảnh tượng này chưa từng xuất hiện. Đây là lần đầu tiên Lý Doanh được nhìn thấy đom đóm, nàng vừa kinh ngạc vừa vui mừng, bật người đứng dậy. Trước mắt nàng là vô số đom đóm lập lòe, ánh sáng nhấp nháy, bay lượn trong màn đêm. Chúng khi thì tụ lại thành một biển ánh sáng xanh lục, khi lại tản ra thành những đốm sáng lấp lánh giữa không trung. Lý Doanh thốt lên: “Đẹp quá.”

Nàng đưa tay ra, bắt lấy một con đom đóm, sau đó như muốn khoe một báu vật, nàng cẩn thận mở bàn tay, đưa đến trước mặt Thôi Tuần. Từ lòng bàn tay nàng, ánh sáng xanh lục từ từ tỏa ra, nàng nhỏ giọng nói: “Thì ra đom đóm trông thế này đây.”

Thôi Tuần cũng chưa từng nhìn thấy đom đóm bao giờ, hắn gật đầu, nhẹ giọng đáp: “Quả nhiên rất đẹp.”

Hắn nói thêm: “Ta sẽ bắt vài con, để nàng mang về.”

Nhưng Lý Doanh lắc đầu, liền đáp: “Không cần đâu, chúng chỉ thuộc về nơi này, chứ không thuộc về những bức tường cao sâu trong phủ đệ.”

Nàng nhanh chóng bước tới, hòa mình vào giữa đàn đom đóm đang bay lượn khắp trời. Đưa tay ra, nàng để mặc những chú đom đóm đậu trên lòng bàn tay mình. Có con lại đậu trên búi tóc nàng, từ xa nhìn lại, trông chúng như những viên dạ minh châu lấp lánh ánh biếc, rực rỡ tỏa sáng. Một cơn gió thoảng qua, mang theo hương thơm dìu dịu của hoa quế. Tà váy và dải lụa trên vai nàng tung bay trong gió, phiêu diêu như thần nữ hạ phàm. Vô số đom đóm xanh vây quanh nàng, cảnh tượng ấy tựa như một bức tranh thi vị, như một giấc mộng diệu kỳ.

Thôi Tuần đứng yên tại chỗ, lặng lẽ ngắm nhìn, đến cả bước chân cũng quên cả di chuyển. Mãi đến khi lúm đồng tiền bên khóe môi Lý Doanh nở rộ như đóa hoa, dịu dàng gọi hắn, hắn mới giật mình tỉnh lại.

Hắn bước tới bên nàng, cố gắng kìm nén nhịp tim rộn ràng trong lồng ng.ực. Thôi Tuần đưa tay gạt nhẹ đi một cánh hoa quế rơi trên vai nàng, rồi giấu đi nó trong lòng bàn tay.

Năm Long Hưng thứ hai mươi, đêm rằm tháng tám, trăng sáng như gương, có nàng làm bạn, cảnh sắc đêm nay, suốt đời khó quên.

Lý Doanh không hề hay biết tâm tư trong lòng hắn. Nàng nhìn ngắm đốm sáng nơi lòng bàn tay mình, bất chợt mỉm cười rạng rỡ, nhỏ nhẹ nói: “Thập Thất lang, nhân gian này vẫn còn rất nhiều điều đáng để mong chờ, có phải không?”

Thôi Tuần thoáng sững người. Lý Doanh tiếp lời: “Quá khứ dù có khắc cốt ghi tâm đến đâu, khiến người khó lòng quên lãng, nhưng con đường phía trước không phải là trống rỗng, vô vị hay thiếu sinh khí. Biết đâu, có thể dần dần buông bỏ những chuyện xưa cũ, để cảm nhận ánh trăng dịu dàng này, hương quế thơm ngát này, và cả những cánh đom đóm đang lượn bay này nữa.”

Thôi Tuần hiểu rõ ý tứ trong lòng nàng, khẽ hỏi: “Nàng vẫn muốn ta từ bỏ chấp niệm?”

Lý Doanh gật đầu: “Kẻ đầu sỏ đã bị trừng trị, Thiên Uy quân cũng có thể rời khỏi Vong Tử Thành. Chuyện này đã có được kết cục trọn vẹn nhất rồi. Thập Thất lang, chàng không nên mãi trói buộc mình trong quá khứ, chàng nên hướng mắt về tương lai.”

Một chú đom đóm đậu lại giữa chân mày nàng, như thể điểm lên một đóa hoa màu lục biếc, khiến dung nhan nàng càng ôn nhuận như ngọc. Thôi Tuần mải ngắm đến không nỡ rời mắt. Cuối cùng, hắn gật đầu, đáp lại một tiếng: “Được.”



Để Thôi Tuần hoàn toàn yên tâm, Lý Doanh cùng hắn lặng lẽ đến thăm thân quyến của Thiên Uy quân còn ở lại Trường An. Thịnh A Man đang miệt mài tìm kiếm một gian cửa tiệm, Hà Thập Tam dốc sức rèn luyện võ nghệ. Những người còn lại đều đang nỗ lực sống tiếp, họ dần buông bỏ những nỗi đau trong quá khứ, ánh mắt tràn đầy hy vọng cho cuộc sống ngày mai.

Đúng vậy, đây quả là kết cục trọn vẹn nhất.

Thôi Tuần tự nhủ, có lẽ, đã đến lúc hắn nên buông bỏ chấp niệm rồi.



Đêm Trung Thu, nghi lễ tế nguyệt tại hoàng cung đã kết thúc. Long Hưng Đế khoác hoàng bào, đội mũ miện của thiên tử, đích thân lên đàn tế nguyệt. Sau khi nội thị đọc xong bài tế Nguyệt Thần, người hành lễ Tịch Nguyệt, thành kính dâng hương cầu khấn Nguyệt Thần bảo hộ muôn dân trăm họ, ban phúc cho thiên hạ.

Nhưng dịp trọng đại này lại không thấy Thái hậu xuất hiện. Có lẽ bà sợ tức cảnh sinh tình, nhớ về ái nữ Minh Nguyệt Châu đã qua đời từ sớm.

Sau khi tế Nguyệt Thần, Long Hưng Đế đặc biệt tới cung Bồng Lai để an ủi Thái hậu. Hiện tại, dù đã mất đi bè phái, quyền lực chẳng còn, không cách nào đối đầu với Thái hậu, nhưng vì không còn xung đột, mối quan hệ giữa hai người trở nên hòa thuận chưa từng thấy. Cuối cùng, họ thực sự đạt đến cảnh giới “mẫu từ tử hiếu”.

Thái hậu vui mừng không thôi. Cả đời bà chỉ có hai người con, lại là người rất coi trọng tình thân, làm sao có thể không trân trọng Long Hưng Đế? Trước kia, khi Long Hưng Đế bị Lư Dụ Dân xúi giục, ngày càng xa cách bà, khiến bà đau lòng khôn xiết. Nay Lư Dụ Dân đã bị trừ khử, Long Hưng Đế cuối cùng cũng trở lại là vị hoàng tử ngoan ngoãn, nghe lời như xưa.

Long Hưng Đế ở lại cung Bồng Lai rất lâu, mãi đến khi tâm tình của Thái hậu dần bình ổn mới rời đi, tiếp tục đến tẩm cung của Hoàng hậu. Hoàng hậu là người do chính Thái hậu chọn lựa, dịu dàng hiền đức, rất được bà yêu quý. Nhưng kể từ khi thành hôn, số lần Long Hưng Đế bước vào tẩm cung của Hoàng hậu lại không quá mười lần. Sau khi Huệ phi được sủng ái, hắn thậm chí hoàn toàn tuyệt tích tại nơi ở của các phi tần khác. Bởi vì chưa có hoàng tử, các ngự sử thường dâng sớ khuyên bảo hắn “mưa móc đều khắp,” nhưng tất cả đều bị bỏ ngoài tai.

Lần này, sau khi Huệ phi bị phế truất, Long Hưng Đế mới dần bước chân vào tẩm cung của Hoàng hậu và Đức phi. Thái hậu rất hài lòng với sự thay đổi này. Còn Hoàng hậu, sau thời gian dài bị lạnh nhạt, giờ đây cảm giác như bước vào mộng cảnh, nàng nóng lòng muốn giấc mơ này kéo dài mãi, mong người chồng của mình sẽ để tâm đến nàng nhiều hơn.

Sau khoảnh khắc ân ái, Hoàng hậu cẩn thận lấy lòng, dịu dàng nói: “Thánh nhân, Huệ phi cũng không phạm lỗi lớn, cuộc sống tại Trường Xuân Quán quá khổ cực, chi bằng hãy đón nàng ấy trở về, được không?”

Long Hưng Đế hơi biến sắc, nhưng chỉ trong thoáng chốc, hắn lập tức khôi phục dáng vẻ ôn hòa, nhẹ giọng đáp: “Chuyện này, về sau hãy bàn.”

Hoàng hậu không dám nói thêm. Long Hưng Đế xoay người, ánh mắt hướng về bức màn trướng vàng óng, nhưng trong đầu hắn lại không ngừng hiện lên cảnh tượng lúc Huệ phi rời cung.

Không ai biết, Huệ phi không bị phế truất, mà là nàng tự nguyện xin xuất cung.

Ngày đó, khi Bùi Quan Nhạc và các đồng đảng của Lư Dụ Dân bị giải ra pháp trường, thế lực Lư đảng hoàn toàn tan rã, Long Hưng Đế coi như đã thất bại thảm hại. Huệ phi quỳ dưới chân hắn, lời nói của nàng tuy vụng về vì không thạo tiếng Hán, nhưng lại thẳng thắn đến đau lòng: “Thánh nhân vốn không cần phải làm một hoàng đế bù nhìn nữa, nhưng bây giờ lại trở thành con rối. Tất cả đều nhờ một người mà nên. Từ khi vào cung, thiếp chịu ơn Thánh nhân rất nhiều, chẳng thể báo đáp, chỉ mong vì người rửa hận.”

Nàng tiếp tục: “Thiếp ở cung Đại Minh, mọi hành động đều bị Thái hậu giám sát, vô cùng bất tiện. Thỉnh Thánh nhân trục xuất thiếp ra khỏi cung. Thiếp nhất định sẽ thay người báo thù.”

Long Hưng Đế nhìn dung nhan diễm lệ của nàng, khẽ gọi một tiếng: “Ngột Đóa.”

Huệ phi sửng sốt. Nàng biết rõ từ lâu Long Hưng Đế đã nhận ra nàng không phải A Sử Na Gia, mà chính là A Sử Na Ngột Đóa, người từng được đồn rằng có quan hệ không minh bạch với Thôi Tuần. Nhưng hắn chưa từng hỏi, nàng cũng chưa từng nói, hai người cứ thế âm thầm hiểu ý, tiếp tục chung đụng.

Long Hưng Đế đột nhiên hỏi: “Ngột Đóa, nàng đã từng yêu trẫm hay chưa?”

Huệ phi lặng người, chân mày nhíu lại, không biết phải trả lời thế nào. Nhìn dáng vẻ ấy, Long Hưng Đế đã hiểu được bảy tám phần, hắn cười khổ: “Hắn có gì tốt hơn trẫm?”

Huệ phi cắn răng, một lúc lâu mới đáp: “Thiếp cũng chẳng có gì tốt hơn.”

Long Hưng Đế im lặng, một lúc sau, hắn gật đầu, đổi cách xưng hô: “Huệ phi, nàng nói đúng. Vậy thì đi đi, đến Trường Xuân Quán đi.”

Huệ phi mừng rỡ, cúi đầu tạ ơn, rồi đứng dậy bước ra khỏi điện. Long Hưng Đế bỗng gọi lại, nói: “Sau khi xong việc, hãy quay về. Trong lòng trẫm, nàng mãi là Huệ phi của trẫm.”

Huệ phi sững người, không gật đầu cũng không lắc đầu, chỉ quay lưng, không ngoảnh lại, tiếp tục bước nhanh ra khỏi điện.



Trong rừng đan quế, một đôi chân mang ủng da dê dẫm nhẹ lên lớp lá xanh bị gió cuốn rơi. Người ấy cúi xuống, nhặt lên một đóa quế hoa.

Trước khi chết, Bùi Quan Nhạc từng truyền tin, nói rằng bên cạnh Thôi Tuần có quỷ hồn trợ giúp.

Người sống nếu uống máu chó mực liên tục bảy ngày thì có thể nhìn thấy quỷ.

Đóa quế hoa này chính là bông hoa mà Thôi Tuần lấy xuống từ bờ vai Lý Doanh, giấu trong lòng bàn tay, nhưng trong lúc ngắm đom đóm lại vô ý làm rơi mất.

A Sử Na Ngột Đóa chăm chú ngắm nhìn đóa hoa, mười ngón tay dần siết chặt, từng chút một, nghiền nát đóa hoa thành những mảnh vụn.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 135: Thương thay kiếp sống gian nan, mong muôn dân đều ấm no


Sáng hôm sau, Thôi Tuần tiến cung, dâng biểu từ quan.

Thái hậu có phần bất ngờ. Bà biết hắn luôn chấp niệm với vụ án Thiên Uy quân, cũng nhiều lần khuyên hắn buông bỏ. Nhưng suốt ba năm nay, hình tượng của hắn trước mặt bà vẫn luôn là một người nhẫn nhục, khúm núm, chẳng có chút khí tiết. Để giành thêm nhiều quyền lực, bảo hắn quỳ hắn sẽ quỳ, bảo hắn dập đầu hắn liền dập đầu không chút do dự, thậm chí hao tâm tổn tâm trí tìm hiểu sở thích của bà, tìm đủ mọi cách lấy lòng, không có chút dảng vẻ nào của một đệ tử Ngũ tính Thất vọng. Sự nịnh bợ ấy khiến người đời khinh miệt, cười chê hắn là “luyến sủng” của bà. Đối diện lời mỉa mai ấy, hắn chưa từng một lần biện minh.

Vậy mà giờ đây, khi hắn quả quyết xin từ quan, Thái hậu không thể đoán được ý định thực sự của hắn.

Phải nói rằng, dù không ưa thói xu nịnh của hắn nhưng không thể phủ nhận rằng hắn rất giỏi dò đoán Thánh ý, lại có tài năng xuất chúng. Nếu hắn rời đi, bà sẽ mất đi một trợ thủ đắc lực.

Thái hậu thử thăm dò: “Vọng Thư, vụ án Thiên Uy Quân được lật lại, công lao đầu tiên thuộc về ngươi. Ngô muốn thăng ngươi làm Thượng thư bộ Hình, ý ngươi thế nào?”

Chức Thượng thư bộ Hình là chức quan tam phẩm, tốt hơn nhiều so với chức Thiếu khanh Sát Sự Thính chuyên xử lý những việc bí ẩn mờ ám. Nhưng Thôi Tuần lắc đầu: “Bẩm Thái hậu, đại thù đã báo, thần không còn lưu luyến danh lợi quyền thế, cũng chẳng muốn tiếp tục ở lại chốn quan trường.”

Hắn thoáng ngập ngừng, rồi nói tiếp: “Nhưng sáu châu trong Quan Nội Đạo vẫn nằm trong tay Đột Quyết. Nếu sau này triều đình có ý xuất quân thảo phạt, thần nguyện dốc sức cống hiến.”

Không ham quyền thế, chỉ bận lòng vì lãnh thổ đánh mất, hắn và vị Thiếu khanh từng khom lưng uốn gối ở Sát Sự Thính trước kia, quả nhiên cách nhau một trời một vực.

Hoặc giả, đây mới chính là con người thật của Thôi Tuần?

Thái hậu lặng im ngẫm nghĩ.

Bà hỏi tiếp: “Vậy sau khi từ quan, ngươi định đi đâu?”

“Thần chưa nghĩ đến. Có lẽ trước tiên sẽ đến Dương Châu, sau đó là Ngô Quận, những nơi chưa từng đặt chân tới, đều có thể ghé thăm.”

“Ngươi đi một mình ư?”

Thôi Tuần hơi sững lại, rồi đáp: “Không.”

“Ồ?” Ánh mắt Thái hậu đầy hứng thú, nhìn qua rèm châu lay động, ngắm bóng dáng thanh thoát như hoa sen của chàng thanh niên đứng bên dưới. Bà hỏi: “Là nữ tử nhà nào thế?”

Thôi Tuần rũ mi, trên môi thoáng hiện một nụ cười dịu dàng: “Là một nữ tử, tâm tựa lưu ly, người như minh nguyệt.”

“Tâm tựa lưu ly, người như minh nguyệt…” Thái hậu lặp lại tám chữ ấy, thoáng chốc, hình bóng người con gái mà bà yêu thương nhất lại hiện về. Nhưng con gái bà, đã ra đi được ba mươi năm.

Thái hậu bật cười chua chát: “Người có thể nhận được tám chữ này ắt hẳn là nữ tử thuần thiện nhất thế gian. Vọng Thư, người thật may mắn.”

Thôi Tuần cúi đầu: “Thần cũng cảm thấy mình rất may mắn.”

Thái hậu thở dài: “Nếu ngươi đã có giai nhân bầu bạn, vậy thì ngô chuẩn tấu việc từ quan của ngươi. Nhưng nếu một ngày nào đó ngươi muốn quay lại, ngô luôn sẵn lòng đón nhận ngươi.”

Thôi Tuần ngạc nhiên ngẩng lên. Hắn biết Thái hậu không ưa gì mình, nhưng giờ đây dường như bà đã thay đổi cách nhìn. Hắn mím môi, thiên ngôn vạn ngữ cuối cùng hóa thành một cái chắp tay, hành đại lễ: “Tạ ơn Thái hậu.”

Hắn cảm ơn bà, cảm ơn vì dù bị Lư Dụ Dân hãm hại, chịu điều tiếng chỉ trích, bà vẫn kiên quyết giữ vững quyền lực, đối đầu phe cánh Lư thị, giữ lại hy vọng rửa oan cho Thiên Uy quân.

Cảm ơn bà, dù niệm tình mẫu tử, nhưng vào thời khắc quyết định, bà đã sẵn sàng từ bỏ, công khai quở trách Long Hưng Đế, thúc đẩy vụ án được phán xét công bằng.

Bà là nữ tử, nhưng tầm nhìn và thủ đoạn không thua kém gì nam tử. Hắn thực lòng kính trọng bà.

Và… cảm ơn bà đã nuôi dạy được một người con gái tốt như Lý Doanh, để vào thời khắc đen tối nhất đời hắn, hắn vẫn có ánh trăng sáng soi đường, dìu dắt hắn cho đến khi trời hửng sáng.



Thôi Tuần bước ra từ cung Bồng Lai, đúng lúc gặp Long Hưng Đế đến thỉnh an Thái hậu. Khi Long Hưng Đế nhìn thấy hắn, bước chân khựng lại đôi chút. Thôi Tuần cung kính chắp tay hành lễ. Long Hưng Đế nhìn hắn thật lâu, rồi mới lạnh nhạt nói: “Đứng dậy đi.”

Thôi Tuần đứng thẳng dậy, Long Hưng Đế thờ ơ nói thêm một câu: “Thôi khanh hẳn rất được lòng Thái hậu.”

Thôi Tuần bình tĩnh đáp lại: “Thánh nhân quá khen, thần chỉ là người ăn lộc vua, trung quân tận chức mà thôi.”

Long Hưng Đế hừ nhẹ một tiếng, không nói gì thêm. Sau đó, quân thần lặng lẽ đối diện, Long Hưng Đế cảm thấy không còn hứng thú, vẫy tay hiệu cho Thôi Tuần lui xuống. Đợi đến khi Thôi Tuần rời đi, hoàng đế mới ngoảnh đầu, nhìn theo bóng lưng hắn.

Dưới bầu trời quang đãng, gió xuân phơi phới, dáng vẻ Thôi Tuần trong chiếc quan bào đỏ thẫm thêu kim tuyến càng trở nên nổi bật. Bóng lưng hắn thẳng tắp như tùng, thanh mảnh như trúc, đai lưng ngọc buộc chặt quanh eo, lay động theo từng bước chân, dáng đi ưu nhã thong dong. Long Hưng Đế nhìn theo, buột miệng nói: “Trước khi gặp hắn, trẫm còn cho rằng danh xưng “Liên Hoa Lang” này thật khoa trương, nhưng gặp được mới thấy… quả nhiên danh xứng với thực.”

Mặc dù đang khen ngợi Thôi Tuần nhưng giọng điệu hoàng đế lại thấp thoáng vẻ không vui. Trong tâm trí hắn không ngừng hiện lên cảnh tượng lúc Huệ phi bị đuổi ra khỏi cung. Hắn đã hỏi Huệ phi, liệu nàng có từng yêu hắn không? Nhưng Huệ phi chỉ im lặng không đáp.

Bóng lưng như ngọc của Thôi Tuần lại càng khiến lòng hắn nhói lên. Hắn trầm mặc một lát, rồi đột nhiên hỏi Vương Huyên, Hoàng môn Thị lang đi cùng: “Khanh nói xem, so với Thôi Tuần thì trẫm thế nào?”

Vương Huyên trợn mắt há miệng, cân nhắc một lúc lâu mới ấp úng trả lời: “Thánh nhân là quân phụ, Thôi Tuần là thần tử, thần tử sao có thể so sánh với quân phụ được?”

“Nếu trẫm không phải quân phụ, Thôi Tuần cũng không phải thần tử thì sao?” Long Hưng Đế không chịu buông tha, tiếp tục truy vấn: “Nếu Vương Thị lang là nữ tử, khanh sẽ chọn ai?”

Vương Huyên không biết phải làm sao, nên dè dặt đáp: “Thánh nhân nhân từ đức độ, Thôi Tuần âm hiểm tàn nhẫn. Nếu thần là nữ tử, đương nhiên sẽ chọn Thánh nhân.”

Long Hưng Đế lắc đầu: “Không đúng. Nếu Thôi Tuần tệ hại như thế, tại sao vẫn có nữ tử động lòng với hắn?”

Vương Huyên không hiểu vì sao một bậc đế vương vốn trầm ổn như Long Hưng Đế lại đột nhiên hành xử như một thiếu niên, cố chấp muốn phân cao thấp với Thôi Tuần. Hắn cũng không biết nữ tử trong lời Long Hưng Đế là ai, nhưng dáng vẻ lúc này của hoàng đế chẳng khác nào một nam tử vì mất đi giai nhân trong lòng rồi sinh lòng ghen tuông, không cam tâm khi bị người khác đoạt mất.

Vương Huyên không dám nghĩ sâu hơn, cẩn trọng từng từ chữ rồi mới mở miệng nói: “Người đời luôn dễ bị vẻ ngoài mê hoặc, có lẽ, nữ nhân ấy chính là bị vẻ ngoài mỹ lệ như hoa sen của Thôi Tuần mê hoặc.”

Long Hưng Đế chưa vội lên tiếng, chỉ lặng lẽ dõi theo bóng lưng của Thôi Tuần, cho đến khi hắn hoàn toàn khuất khỏi tầm mắt. Từ trước đến nay, hắn vẫn luôn khoan dung nhân hậu, được quần thần ca tụng là vị đế vương mang phong thái quân tử nhất kể từ khi Đại Chu khai quốc. Thế nhưng lúc này, trong lời nói của hắn lại ẩn chứa sự căm phẫn xen lẫn bực dọc. Hắn cười nhạt: “Vương khanh, khanh nói không sai, nữ tử ấy nhất định đã bị vẻ bề ngoài của Thôi Tuần mê hoặc rồi. Hừ, một nam nhân, chỉ dựa vào khuôn mặt mà có thể trốn khỏi Đột Quyết, từ cõi chết trở về, rồi lại thuận buồm xuôi gió, thăng quan tấn chức ở Trường An… Có khác gì hạng nữ nhân lấy sắc thờ người không kia chứ?”



Về những lời đánh giá của Long Hưng Đế, Thôi Tuần đương nhiên không hề hay biết. Hắn mua một gói đường phấn của Phúc Mãn Đường rồi trở về phủ, mang tặng Lý Doanh, nhân tiện báo tin rằng Thái hậu đã đồng ý cho hắn từ quan, hắn không cần làm Thiếu khanh Sát Sự Thính nữa.

Lý Doanh mừng rỡ vô cùng: “Thật sao?”

“Thật.” Thôi Tuần gật đầu: “Đợi bàn giao xong công vụ cho tân Thiếu khanh, đến lúc đó, ta sẽ có thể tiêu dao tự tại, không còn vướng bận gì nữa.”

Lý Doanh ngập tràn hân hoan, trong đầu đã bắt đầu tưởng tượng xem bọn họ nên đi đâu trước: Dương Châu phong cảnh như họa hay Yến Sơn trăng tựa lưỡi câu. Nhưng rất nhanh sau đó, nàng bác bỏ những suy nghĩ ấy rồi nói: “Bệnh của chàng vẫn chưa khỏi hẳn, chưa thể đi xa, cứ tĩnh dưỡng trước đã, rồi hẵng tính sau.”

Thôi Tuần mỉm cười: “Lần đi Lĩnh Nam trước đó là vì thời gian quá gấp, nên ta mới thành ra thế này. Nhưng bây giờ, chúng ta có thể vừa đi vừa dừng, không đến nỗi quá vất vả đâu.”

Lý Doanh vẫn kiên quyết lắc đầu: “Vậy cũng không được. Không sợ nhất vạn, chỉ sợ vạn nhất. Phong cảnh ngoài Trường An đương nhiên rất đẹp, nhưng cũng không cần phải vội.”

Thôi Tuần không tranh luận thêm, chỉ cười khẽ, dịu giọng nói: “Được.”



Tân Thiếu khanh Sát Sự Thính vẫn chưa được bổ nhiệm, bởi vậy Thôi Tuần vẫn chưa thể chính thức từ quan. Nhưng dù còn giữ chức, hắn vẫn giao phó lại phần lớn công việc, vì thế vẫn có nhiều thời gian hơn để dưỡng bệnh trong phủ. Lý Doanh vẫn như cũ, mỗi ngày đều sắc hơn chục chén thuốc, ép hắn phải uống hết. Trong từng chén thuốc, nàng luôn cẩn thận bỏ thêm một miếng đường phấn để dễ uống hơn. Dưới sự chăm sóc chu đáo của Lý Doanh, sắc mặt Thôi Tuần dần khá lên, không còn tiều tụy như lúc mới trở về Trường An, cũng không còn dáng vẻ bệnh tật nguy kịch khiến người khác kinh hãi. Nhìn hắn dần hồi phục, Lý Doanh bắt đầu mơ tưởng về tương lai.

Năm đó, Linh Hư Sơn Nhân từng nói, thân thể Thôi Tuần đã tổn hao quá độ, thọ mệnh còn lại chỉ chừng mười năm. Nhưng sau khi dùng dược hổ lang, e rằng chỉ còn khoảng năm năm nữa. Lời tiên đoán ấy khiến Lý Doanh không dám mong cầu quá xa, chỉ có thể trân trọng từng ngày bên hắn. Nhưng giờ đây, hy vọng về tương lai lại nhen nhóm trong lòng nàng. Nàng lạc quan nghĩ, nếu có thể tìm được những linh đan diệu dược tốt hơn, biết đâu Thôi Tuần có thể sống yên ổn qua năm năm, thậm chí là mười năm? Dù sao đi nữa, khi thời khắc cuối cùng chưa tới, không ai có thể nói trước được điều gì?

Thôi Tuần từ quan, rời bỏ chức Thiếu khanh Sát Sự Thính. Đối với hắn, công danh phú quý chẳng hề lưu luyến, duy một điểm khiến hắn canh cánh đó chính là việc nếu không còn là Thiếu khanh Sát Sự Thính, hắn sẽ không thể tiếp tục điều tra kẻ đã hại chết Lý Doanh.

Khi Lý Doanh biết được suy nghĩ của hắn, nàng thở dài, nhẹ giọng nói: “Từ sau chuyến đi Lĩnh Nam, suy nghĩ của ta đã có đôi phần thay đổi.”

“Thay đổi thế nào?”

“Trước đây, ta chưa từng thực sự thấu hiểu bốn chữ “dân sinh đa nan”, nhưng sau chuyến đi ấy, ta đã tận mắt chứng kiến thế giới bên ngoài Trường An. Ta đã thấy, ba mươi năm qua, những nông hộ tận cùng khốn khổ của Đại Chu sống ra sao. Họ nghèo đến mức không thể đốt nổi một mẩu củi nấu cơm, chỉ có thể đốt cỏ dại cầm chừng. Dù có vất vả làm lụng đến đâu, họ vẫn đói rách, không đủ ăn, không đủ mặc. Không chỉ đời họ như vậy, mà con cháu của họ, dẫu có thông minh thế nào, trong chế độ tuyển quan khi ấy, cũng chỉ có thể lặp lại vận mệnh của tổ tiên. Chính vì thế, họ dễ dàng tin vào những lời dối trá của Linh Hư Sơn Nhân, mù quáng uống thứ gọi là “thánh thủy”. Và rồi, hai trăm hai mươi mạng người, hóa thành hư không.”

Thôi Tuần lắng nghe, Lý Doanh than thở: “Là công chúa Đại Chu, từ nhỏ ta đã được dạy rằng: chúng ta được dân chúng nuôi dưỡng, thì cũng phải hồi đáp lại cho dân chúng. Nhưng khi đến thôn Ngưu Gia, ta mới hiểu, câu nói này nực cười đến nhường nào? Phải, chúng ta được dân chúng nuôi dưỡng, nhưng chúng ta đã từng thực sự hồi đáp họ chưa? Dân thôn Ngưu Gia còng lưng đóng thuế, cung phụng triều đình, để chúng ta có thể cẩm y ngọc thực, sống trong nhung lụa. Nhưng đến khi họ nghèo túng đến cùng cực, tuyệt vọng mà bỏ mạng, chúng ta vẫn chưa từng một lần xuất hiện trước mắt họ.” Nàng dừng lại chốc lát, rồi tiếp lời: “Thập Thất lang, để Đại Chu không còn một thôn Ngưu Gia thứ hai… có lẽ, đó mới chính là ý nghĩa cho cái chết của bản thân ta.”

Thôi Tuần nghe đến đây, không khỏi lên tiếng: “Nàng… đã tha thứ cho kẻ giết mình sao?”

“Không.” Lý Doanh lắc đầu. “Ta vẫn tin rằng, ngoài bản thân ta ra, không ai có tư cách quyết định vận mệnh của ta. Vì vậy, ta sẽ không tha thứ cho kẻ đã giết mình. Nhưng ta cũng sẽ không giống như lúc vừa thoát ra khỏi hồ hoa sen, dùng toàn bộ thời gian và tâm huyết chỉ để tìm ra hung thủ. Ta vẫn có thể tiếp tục điều tra, nhưng đồng thời, ta cũng có thể làm những việc ý nghĩa hơn, ví như theo gót Kế Thanh Dương, đi khắp non sông, làm những điều trong khả năng để giúp đỡ bách tính Đại Chu.”

Thương thay kiếp sống gian nan, mong muôn dân đều ấm no, đó chính là suy nghĩ của Lý Doanh lúc này.

Thôi Tuần đã hiểu. Hắn mỉm cười, dịu dàng nói: “Ta sẽ cùng nàng đi khắp non sông, giúp đỡ bách tính Đại Chu.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 136: Rượu mới tươi xanh, bếp lò nhỏ đỏ rực


Mùa hạ qua đi, thu lại ghé về. Lá phong đỏ rợp trời Trường An, mỗi người đều có một cuộc sống mới. Thịnh A Man mở một cửa tiệm, chuyên bán tỳ bà, dao cầm cùng các loại nhạc cụ. Nàng và những tỷ muội từng ở giáo phường chẳng có tài sản gì trong tay, cũng chẳng am hiểu nghề khác, chỉ biết gảy đàn, bèn lấy đó làm kế sinh nhai. Nàng thường thản nhiên ngồi trước tiệm gảy tỳ bà, thu hút khách nhân. Vốn dĩ nàng đàn rất hay, danh tiếng lại vang xa, nhờ vậy khách khứa tấp nập, việc buôn bán cũng nhờ thế mà chẳng phải lo nghĩ.

Quách Húc trở về quê cũ, đưa thủ cấp của Quách Cần Uy về chôn cất tại phần mộ tổ tiên. Khi hắn hồi hương, cũng mang theo Lục Mai, mật thám từng hoạt động trong Sát Sự Thính. Mẹ già của Quách Cần Uy đã qua đời từ sớm vì đau lòng trước việc Quách Húc bị lưu đày, trong nhà chỉ còn lại thê tử của ông. Bà không hề ghét bỏ xuất thân thấp kém của Lục Mai, tự mình làm chủ, tác thành cho hai người. Chẳng bao lâu sau, Lục Mai hoài thai, Quách Húc liền đưa nàng đến trước mộ phần Quách Cần Uy, vợ chồng cùng nhau quỳ lạy, khóc ròng báo tin vui.

Những thiếu niên như Hà Thập Tam dùng số tiền phúng viếng của huynh trưởng để bái sư học nghệ, ngày ngày rèn luyện võ công. Chỉ chờ khi đủ tuổi, chúng sẽ lên đường, ra biên cương tòng quân, tiếp tục cống hiến vì Đại Chu.

Triều đình cũng có biến chuyển. Tân chính không còn bị kiềm hãm, Thánh nhân hạ lệnh, từ nay khoa cử phải bôi kín tên họ trên bài thi, đồng thời cho phép thương nhân cùng con cháu tham gia ứng thí. Chiếu chỉ này vừa ngăn chặn được gian lận, khiến quan chấm thi không thể tuyển chọn nhân tài dựa trên gia thế hay danh tiếng, lại vừa mở rộng cánh cửa khoa cử cho sĩ tử hàn môn, khởi đầu một thời đại lấy tài làm trọng.

Ngư Phù Nguy nghe tin, mừng rỡ khôn xiết, lập tức từ bỏ việc buôn bán âm dương, đóng cửa không ra ngoài, ngày ngày ôn luyện thi thư, dốc lòng chuẩn bị cho kỳ thi tiến sĩ vào tháng Giêng, giành lấy vị trí đầu bảng.

Chí hướng của hắn xưa nay vẫn là phò nguy trợ thế, trung quân báo quốc. Hai mươi năm chờ đợi, rốt cuộc cơ hội đã đến, hắn tuyệt đối sẽ không bỏ lỡ.

Giữa những biến động lớn trong triều, so ra, việc Hoàng môn Thị lang kiêm Khởi cư lang Vương Huyên bỗng dưng mất tích, khiến Kinh Triệu Doãn tìm kiếm khắp nơi trong vô vọng, cũng chỉ là một chuyện nhỏ chẳng đáng để nhắc đến.



Thu chớm, rượu Lục Nghị [1] mới ủ, lò đất đỏ ấm áp, vốn là một cảnh trí tao nhã, nhưng tiếc rằng Lý Doanh không cho Thôi Tuần uống rượu, thành ra trên lò chỉ đun một ấm trà Bạch Lộ. [2]

<i>[1] rượu Lục Nghị: rượu có màu xanh như cánh kiến, nổi tiếng với hương vị thanh thoát và thường được ủ từ gạo nếp. </i>

<i>[2] trà Bạch Lộ: là một loại trà nổi tiếng ở Trung Quốc, thường được thu hái vào khoảng mùa thu, đặc biệt là trong dịp tiết Bạch Lộ (白露), tức là thời gian giữa tháng 8 và tháng 9 dương lịch. Trà Bạch Lộ mang tên gọi này vì nó được thu hoạch ngay sau khi tiết Bạch Lộ đến, thời điểm có sương mù nhẹ và nhiệt độ bắt đầu mát mẻ hơn. Trà Bạch Lộ thường được sản xuất từ những búp trà non, tươi mới, có màu trắng nhạt và hương thơm rất đặc trưng. Trà này có vị nhẹ nhàng, thanh mát, và thường được đánh giá cao vì có nhiều lợi ích cho sức khỏe, giúp làm dịu cơ thể, giảm căng thẳng, và đặc biệt tốt cho hệ tiêu hóa. Vì vậy, trà Bạch Lộ được ưa chuộng trong các bữa trà của giới quý tộc và những người yêu thích trà Trung Quốc.</i>

Lý Doanh chống cằm, lặng lẽ nhìn Thôi Tuần vung bút viết hàng chữ hành thảo. Kể từ khi được nàng khuyên giải, Thôi Tuần quyết định buông bỏ quá khứ, theo nàng bôn ba khắp sông núi Đại Chu, cùng nàng cứu giúp lê dân. Tâm tư hắn cũng thay đổi ít nhiều, không còn trầm uất căng thẳng như trước, trái lại buông lỏng từ từ, dần dà nhẹ nhõm hơn trước. Lối hành thảo hắn từng không thể viết ra được, giờ cũng có thể viết ra.

Lý Doanh nhấc ấm trà Bạch Lộ khỏi lò than, dùng chiếc muôi bạc cán dài múc một chén trà màu hổ phách, đưa đến trước mặt hắn rồi nói: “Nét chữ này đã có bảy tám phần phong thái của Lưu Tùng Bách rồi, so với bức chàng viết tặng Trương Hoằng Nghị khi trước thì tốt hơn nhiều lắm.”

Thôi Tuần buông bút lông sói, nhận lấy chén trà, nhấp một ngụm rồi chăm chú nhìn nét chữ mình viết, trầm giọng nói: “Trước kia còn đẹp hơn nữa cơ.”

Lý Doanh khẽ cười: “Đợi khi chúng ta đến Dương Châu, đến Ngô Quận, chàng sẽ lại là Thôi Tuần của sáu năm trước.”

Sáu năm trước, Thôi Tuần từng là người thế nào nhỉ? Nàng chưa từng gặp, chỉ nghe Quách Cần Uy kể lại, đại để là dáng vẻ ngựa trắng yên bạc, phong thái tiêu sái như sao băng. Nàng không thể gặp hắn khi ấy, mà lại gặp được hắn trong những tháng ngày u ám nhất cuộc đời. Nhưng nàng chưa từng cảm thấy nuối tiếc, bởi vì đẹp đẽ là hắn, sa sút cũng là hắn. Nàng sẽ không vì ánh hào quang của ngày cũ mà day dứt với hiện tại, bởi điều đó sẽ chỉ làm tổn thương cả hai. Điều đáng để nàng dành tâm sức, chính là ngày hôm nay và mai sau của hắn, chứ không phải dĩ vãng đã qua.

Thôi Tuần mỉm cười, gật đầu: “Ừ.”

Hắn cũng rất mong chờ ngày cùng nàng đặt chân đến Dương Châu, đến Ngô Quận, bắt đầu một cuộc sống mới.



Trong hương Bạch Lộ thanh nhã vấn vương, Lý Doanh ngắm nhìn dòng chữ Thôi Tuần viết: “Nhàn mộng Giang Nam mai thục nhật,”, nàng cất giọng: “Câu tiếp theo chẳng phải là “Dạ thuyền xuy địch vũ tiêu tiêu” sao?” [3]

<i>[3] Hai câu thơ trích từ bài “Ức Giang Nam” (Nhớ Giang Nam) của tác giả Hoàng Phủ Tùng.</i>

<i>Bản dịch của Thien Thanh (thivien.net): Buồn mơ Giang nam ngày mai chín/ Thuyền đêm thổi sáo mưa rì rào,</i>

“Hẳn là vậy.”

Lý Doanh mỉm cười: “Vậy câu sau để ta viết nhé.”

Thôi Tuần mỉm cười, liền cầm thỏi mực Tùng Yên lên giúp nàng mài mực, song, mực chưa kịp mài xong thì ngoài phủ đã có thêm một vị khách không mời.

Là Lư Hoài.

Từ sau khi Lư Dụ Dân qua đời, hắn đã u uất suốt một khoảng thời gian dài. Trong triều, không ít kẻ viện cớ hắn là cháu ruột Lư Dụ Dân, dâng sớ luận tội hắn trước Thái hậu và Long Hưng Đế. Nhưng, những tấu chương ấy đều bị Thái hậu kiên quyết chặn lại. Dưới sự bảo hộ hết lòng của Thái hậu, Lư Hoài dần vực dậy tinh thần. Có minh chủ che chở như vậy, nếu hắn cứ mãi chìm đắm trong quá khứ, chẳng những phụ lòng Thái hậu, phụ chính bản thân mình mà còn phụ cả kỳ vọng của Lư Dụ Dân, người từng xem hắn là toàn bộ hy vọng của họ Lư đất Phạm Dương.

Vậy nên, Lư Hoài trở lại vị trí Thiếu khanh Đại Lý Tự, tiếp tục tuân theo tôn chỉ làm quan của mình: “Kẻ tận trung giúp đời, dù là thù cũng phải thưởng; kẻ phạm pháp chểnh mảng, dù là thân thích cũng phải phạt.” Chỉ có điều, khi nghe tin Thôi Tuần đột ngột từ quan, hắn vẫn không khỏi ngỡ ngàng.

Sau bao ngày đắn đo, rốt cuộc hắn cũng mang theo một vò rượu, đến tìm gặp Thôi Tuần.

Từ ô cửa sổ đang hé mở, Lý Doanh nhìn thấy vò rượu trong tay Lư Hoài. Không chút nghĩ ngợi, nàng liền lên tiếng cảnh cáo Thôi Tuần: “Chàng không được uống.”

Phải vất vả lắm thân thể Thôi Tuần mới dần hồi phục, nàng tuyệt đối không để mọi cố gắng trước đó đổ sông đổ bể.

Thôi Tuần nhếch môi, gật đầu chấp thuận, sau đó đứng dậy nghênh đón Lư Hoài. Hắn chợt nhớ lại lần cuối cùng Lư Hoài bước vào Thôi phủ, khi ấy hắn đã trở thành tù nhân, bị Đại Lý Tự giam giữ. Vậy mà mới chỉ mấy tháng trôi qua, cảnh cũ người xưa, nay đã đổi thay khôn lường.

Vừa bước vào thư phòng, thứ đầu tiên Lư Hoài thấy chính là lò than đất đỏ và ấm trà Bạch Lộ đặt trên đó.

Hắn nâng vò rượu Lục Nghị mới ủ trong tay, nở một nụ cười: “Đã có lò than đất đỏ, sao lại không có một vò Lục Nghị?”

Thôi Tuần lắc đầu: “Thất lễ, thân thể ta không tiện uống rượu.”

Lư Hoài thoáng sững người, rồi lại ngượng ngùng nói: “Lần ta được thăng chức Thiếu khanh Đại Lý Tự, từng tặng Thôi Thiếu khanh một bình rượu hoa sen. Lỗi ở ta, mong Thôi Thiếu khanh rộng lượng.”

Hắn ngỡ rằng Thôi Tuần vẫn còn oán trách chuyện này, nhưng Thôi Tuần chỉ nhàn nhạt đáp: “Có chuyện đó sao? Ta quên rồi.”

Lư Hoài giật mình ngẩng lên, chỉ thấy thần sắc Thôi Tuần bình lặng như nước. Bất giác, hắn bật cười: “Ồ, là ta nhớ lầm rồi, nào có chuyện ấy.”

Ánh mắt hắn chợt dừng trên tờ giấy gai trắng đặt trên án thư, trên đó viết hàng chữ: “Nhàn mộng Giang Nam mai thục nhật”. Hắn buột miệng: “Thôi Thiếu khanh đã có kế hoạch đến Giang Nam rồi sao? Giang Nam quả là đất lành, x.uân th.ủy xanh biếc như trời, thuyền hoa tiếng mưa ru ngủ, rất hợp để quy ẩn.”

Thôi Tuần chỉ thở dài, đáp: “Lư Thiếu khanh, giữa ta và ngài xưa nay chẳng có giao tình gì sâu đậm.”

Lư Hoài sững lại, chỉ nghe giọng Thôi Tuần lãnh đạm tiếp lời: “Thế nên, hôm nay ngài đến đây, rốt cuộc muốn nhờ ta chuyện gì, chi bằng cứ nói thẳng ra đi.”

Lời lẽ thẳng thắn của Thôi Tuần khiến Lư Hoài lập tức đỏ mặt tía tai. Chứng kiến cảnh ấy, Lý Doanh bất giác bật cười. Tính tình Thôi Tuần vốn ít nói, nhưng một khi đã mở miệng thì có thể khiến hạng quân tử da mặt mỏng như Lư Hoài tức đến chết đi sống lại. Có điều, từ khi hắn và nàng định tình, hắn vẫn luôn dịu dàng với nàng, đến nỗi nàng gần như quên mất dáng vẻ sắc bén này của hắn.

Nhìn Lư Hoài mặt đỏ bừng bừng, Lý Doanh lại thấy có phần tội nghiệp. Dẫu sao trong vụ án Thiên Uy quân, hắn cũng dốc sức không ít. Kể cả khi hắn là cháu ruột Lư Dụ Dân, trước đây từng nhiều lần hạ nhục Thôi Tuần, nhưng xét một cách công bằng, công của hắn vẫn lớn hơn tội.

Lý Doanh nâng người, thổi một hơi vào tai Thôi Tuần, thì thầm: “Đừng quá đáng.”

Tai hắn tê dại như có dòng điện chạy qua, mặt cũng bất giác đỏ lên. Nhưng có Lư Hoài ở đây, hắn không thể để lộ bất cứ điều gì, chỉ đành hắng giọng, ý bảo nàng chớ làm loạn.

May mà Lư Hoài đang cúi đầu nhấp từng ngụm trà Bạch Lộ, chìm đắm trong nỗi hổ thẹn của chính mình, hoàn toàn không để ý đến dáng vẻ khác thường của Thôi Tuần. Hắn uống thêm mấy ngụm, cuối cùng đặt chén xuống, hạ quyết tâm: “Đúng vậy, quả thực ta có chuyện muốn nhờ Thôi Thiếu khanh.”

Thôi Tuần thản nhiên đáp: “Chuyện gì?”

“Hoàng môn Thị lang Vương Huyên, từ sau buổi triều hội bảy ngày trước liền bặt vô âm tín. Y chỉ để lại một phong thư, nói rằng muốn bỏ trốn cùng một kỹ nữ. Việc này, Thôi Thiếu khanh có biết hay không?”

“Có nghe phong thanh.”

“Thánh nhân vô cùng giận dữ, đã giao cho Kinh Triệu Doãn điều tra tung tích của Vương Huyên, nhưng suốt bảy ngày qua vẫn không thu hoạch được gì.” Lư Hoài lo lắng: “Ta cũng phái vũ hầu dò xét, nhưng cũng không lần ra manh mối.”

Hắn than nhẹ: “Bác Diễn là bằng hữu tri kỷ của ta, mẹ già vợ con ở nhà khóc lóc thảm thiết, thật lòng ta không đành. Ta biết Sát Sự Thính có tai mắt khắp Trường An, vì vậy mới muốn nhờ Thôi Thiếu khanh giúp ta tìm kiếm tung tích của Bác Diễn.”

Lư Hoài lại tìm đến hắn nhờ vả ư? Mặt trời đúng là mọc từ phía tây rồi.

Nhưng dù Lư Hoài có khẩn khoản thế nào, Thôi Tuần vẫn từ chối: “Ta đã từ quan, người kế nhiệm tuy chưa nhậm chức, nhưng trong triều không phải việc ta có thể nhúng tay. Huống hồ, Kinh Triệu Doãn và Đại Lý Tự đều đang điều tra, ta không thể vượt quyền.”

Lư Hoài có phần sốt ruột: “Tuy có Kinh Triệu Doãn và Đại Lý Tự, nhưng nếu luận về việc dò la tin tức, không ai có thể sánh với Sát Sự Thính.”

Sát Sự Thính vốn được lập ra để theo dõi động tĩnh quan lại, chuyên xử lý những việc quỷ quyệt trong tối. Nói không ngoa, đêm qua quan viên trong triều mở tiệc khoản đãi ai, Sát Sự Thính đều có thể nắm rõ từng chi tiết. Chính vì vậy, Lư Hoài mới gạt bỏ thể diện, đích thân đến cầu xin Thôi Tuần.

Nhưng Thôi Tuần vẫn lắc đầu. Hắn không có hứng thú với việc truy tìm tung tích một quan viên bỏ trốn cùng kỹ nữ. Lư Hoài cắn răng nói: “Thôi Thiếu khanh, ta biết trước đây ta có lỗi với ngài, nhưng sự mất tích của Bác Diễn ắt có uẩn khúc. Y là người nhút nhát sợ phiền phức, sao có thể bỏ vợ bỏ con để chạy theo một nữ tử thanh lâu? Ta dám khẳng định, lời đồn về vụ bỏ trốn này là giả! Mong ngài bỏ qua hiềm khích, giúp ta tìm ra Bác Diễn.”

Nghe vậy, Thôi Tuần hơi nhíu mày. Nếu lời Lư Hoài nói là thật, Vương Huyên không hề bỏ trốn cùng kỹ nữ, thì sự biến mất của một Hoàng môn Thị lang đúng là có điều mờ ám. Nhưng, liệu lời của Lư Hoài có thật sự đáng tin? Hắn chậm rãi hỏi: “Lư Thiếu khanh, đã bao lâu rồi ngài chưa gặp Vương Huyên?”

Lư Hoài sững người, cúi đầu đáp: “Từ sau khi thúc phụ ta qua đời, ta đã không còn tâm trí lên triều, cũng đã hơn một tháng chưa gặp Bác Diễn.”

“Vậy ngài dựa vào đâu để khẳng định, chuyện bỏ trốn nhất định là giả?”

Dù sao thì, ngay đến việc thúc phụ mình là trung thần hay gian thần, Lư Hoài còn chẳng phân biệt nổi. Hắn quá coi trọng tình nghĩa, mà tình nghĩa đôi khi lại khiến con người ta bị che mờ đôi mắt.

Lư Hoài mím môi: “Không, nhất định là giả!”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 137: Đế sát lục châu*


<i>*Hoàng đế huỷ hoại (g**t ch*t) sáu châu.</i>

Hoàng môn Thị lang Vương Huyên, tự Bác Diễn, là dòng thứ của Vương thị vùng Lang Gia. Năm Long Hưng thứ mười lăm, hắn đỗ đầu điện thí, trở thành Trạng nguyên.

Vương Huyên xuất thân danh môn, tuổi trẻ đăng khoa, vốn nên một bước lên mây, nhưng hắn lại quá mức cẩn trọng, làm việc gì cũng sợ trở thành cái gai trong mắt người khác. Bởi vậy, bao năm qua, hắn vẫn chỉ là một Hoàng môn Thị lang, ở triều đình cũng mờ nhạt như người vô hình, chưa từng chủ động kết giao với đại thần.

Vậy mà một con người như thế lại có mối giao tình mật thiết với Lư Hoài, kẻ nổi danh chính trực, không sợ sinh tử.

Lư Hoài nói: “Bác Diễn quả thực hay lưỡng lự, nhát gan sợ chuyện, bị rất nhiều người xem thường. Nhưng ai biết được, ngoài việc là một Hoàng môn thị lang nhu nhược, y còn là một nam nhi kiên cường, hiếu thuận với mẫu thân, yêu thương thê tử? Sinh mẫu của Bác Diễn chỉ là một tỳ nữ trong Vương gia, dù sinh ra y vẫn luôn bị khinh rẻ. Năm y đỗ Trạng nguyên, liền lập tức đón mẫu thân ra khỏi Vương phủ, vì chuyện đó mà bị phụ thân đánh đủ năm mươi roi gia pháp. Thê tử của y, Lưu thị, là thanh mai trúc mã của y, nhưng nhà nàng sa sút đến mức bần cùng. Năm Long Hưng thứ mười lăm, y còn trẻ mà đã đăng khoa, bao nhiêu quyền quý muốn gả nữ nhi cho y, nhưng y vẫn kiên quyết cưới Lưu thị, một người chẳng thể giúp ích gì cho đường công danh của mình. Nhiều kẻ không hiểu sao ta lại xem y như tri kỷ, nhưng một nam nhân như vậy, chẳng lẽ không đáng để ta kết giao sao?”

Lư Hoài chậm rãi kể, Lý Doanh càng nghe càng kinh ngạc, đến cả Thôi Tuần cũng bắt đầu nghiêm túc hơn.

Lư Hoài lại nói: “Bác Diễn để lại thư nói y tranh giành nữ nhân với quyền quý, vì tức giận nên mới mang theo nàng ta bỏ đi, nhưng ta tuyệt đối không tin. Có kẻ muốn hãm hại y, còn muốn vu oan cho y. Nếu vài ngày nữa tìm thấy thi thể Bác Diễn, có khi người ta sẽ nói vì tranh giành tình nhân mà y bị quyền quý sát hại, chết cũng đáng? Ta không thể chấp nhận chuyện đó! Dù cả thiên hạ không tin Bác Diễn thì ta vẫn tin. Ta nhất định phải tìm ra y, dù có phải trả giá bằng tính mạng, ta cũng không màng!”

Nghe xong, Lý Doanh không khỏi xúc động. Nàng chọc nhẹ vào mu bàn tay đang đặt trên đầu gối của Thôi Tuần: “Thập Thất lang, chàng giúp hắn đi.”

Thôi Tuần ngước mắt nhìn Lư Hoài: “Xin hỏi Lư Thiếu khanh, rốt cuộc Vương Huyên mất tích thế nào?”

Nghe vậy, Lư Hoài mừng rỡ. Hắn biết Thôi Tuần đã ngầm đồng ý giúp đỡ, lập tức tường thuật lại quá trình mất tích của Vương Huyên. Hóa ra hôm đó, sau khi bãi triều, theo lý mà nói, Vương Huyên phải theo Long Hưng Đế ghi chép hành vi cử chỉ của người. Nhưng gần đây, hắn còn có nhiệm vụ biên soạn sử sách, liền giao lại việc ghi chép cho các Khởi cư lang khác, còn mình thì cưỡi ngựa đến Sử quán. Nào ngờ, hắn chưa kịp đến nơi thì đã bặt vô âm tín.

Thôi Tuần trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu rồi mới nói: “Ta đã rõ, ta sẽ cố gắng hết sức.”

Lư Hoài vui mừng chắp tay, chân thành nói: “Đa tạ Thôi Thiếu khanh.”



Khi điều tra vụ mất tích của Vương Huyên, Kinh Triệu Doãn bắt đầu từ bức thư hắn để lại, tìm kiếm xem gần đây có kỹ nữ nào ở Trường An cũng biến mất hay không. Đại Lý Tự thì lần theo lộ trình từ cung Đại Minh đến Sử quán để xác định đoạn đường hắn mất tích. Cách làm của Kinh Triệu Doãn có thể sai, nhưng phương pháp của Đại Lý Tự thì không. Riêng với Thôi Tuần, hắn cảm thấy cả hai hướng ấy đều vô dụng.

Vương Huyên mất tích một cách kỳ lạ, khả năng là bị cướp hoặc giết. Hắn vốn thanh liêm, tất nhiên không thể bị cướp. Nhưng nếu là bị giết, thì hắn nhút nhát yếu đuối, không tranh với đời, chưa từng gieo thù kết oán với ai, vậy ai sẽ giết hắn đây?

Thôi Tuần chỉ nghi ngờ một người.

Có lẽ khắp thiên hạ, kẻ dám nghi ngờ người đó, chỉ có một mình Thôi Tuần.



Mật thám của Sát Sự Thính không đi điều tra Vương Huyên, mà lại theo dõi Huệ phi A Sử Na Ngột Đoá, người đã bị phế bỏ và trục xuất khỏi cung.

Theo lời mật thám, A Sử Na Ngột Đoá bị biếm đến Trường Xuân Quán, liền thu mình an phận, cả ngày niệm kinh giữ giới, đốt hương thắp đèn, không vướng tục sự, bộ dáng như thể một lòng hướng đạo. Nhưng Thôi Tuần không tin dù là nửa chữ. Người khác có thể không biết A Sử Na Ngột Đóa hiểm độc đến mức nào, nhưng hắn thì biết rõ. Muốn nàng ta một lòng hướng đạo, trừ phi sông chảy ngược dòng, biển trào nước ngược, bằng không tuyệt đối không thể.

Thế nhưng, sau hai ngày theo dõi, mật thám lại phát hiện một chuyện quái lạ. Đạo quán Trường Xuân chỉ có nữ đạo sĩ, lẽ ra không nên có bóng dáng nam nhân. Vậy mà lượng lương thực đưa đến mỗi ngày lại vượt xa khẩu phần của tất cả nữ đạo sĩ trong quán. Trừ phi, nơi này đang che giấu điều gì đó.

Vậy nên mật thám lẻn vào đạo quán, quả nhiên phát hiện dưới nền đất dường như có một địa lao.

Khi mật thám đem chuyện này bẩm báo với Thôi Tuần, hắn đã mơ hồ đoán ra được bảy tám phần. Lý Doanh hỏi hắn: “Chàng cho rằng Vương Huyên bị giam trong địa lao của Trường Xuân Quán?”

Thôi Tuần gật đầu. Lý Doanh nghi hoặc: “Liệu có khi nào chàng đoán sai không? Huệ phi và Vương Huyên không oán không thù, nàng ta bắt hắn làm gì?”

Lý Doanh không hiểu. Thôi Tuần mím môi, né tránh không nói. Người hắn hoài nghi, lại chính là người thân cận với Lý Doanh nhất, cũng là người nàng tin tưởng không chút nghi ngờ. Khi chưa có chứng cứ xác thực, hắn không thể mở miệng.

Hắn chỉ nói: “Dù bị biếm ra khỏi cung, nhưng Huệ phi vẫn là phi tử của Thánh nhân. Sát Sự Thính không thể tùy tiện khám xét, nếu không sẽ bị phản kích. Đêm nay vào canh ba, ta sẽ sai người phóng hỏa Trường Xuân Quán, nhân lúc hỗn loạn, có lẽ có thể cứu được Vương Huyên.”

Hắn muốn đi cứu Vương Huyên, nhưng Lý Doanh chỉ cần nghĩ đến A Sử Na Ngột Đoá, đã cảm thấy rợn tóc gáy. Người đàn bà này quá cố chấp với Thôi Tuần, có thể nói suốt đời hắn, cơn ác mộng lớn nhất chính là nàng ta. Sao nàng có thể yên tâm để hắn xông vào Trường Xuân Quán cứu người?

Nàng lắc đầu: “Chàng đừng đi, để ta đi. Chàng cũng không cần phóng hỏa, dù sao không ai nhìn thấy ta, ta có thể lẻn vào địa lao xem thử Vương Huyên có thực sự ở đó hay không.”

“Dù sao đó cũng là đạo quán, bên trong chắc chắn đầy rẫy pháp khí trừ tà, nàng không thể đi.”

“Nhưng ta không yên lòng khi chàng đến đó.”

Trong lòng Lý Doanh có một dự cảm chẳng lành. Nàng không biết là vì chuyện này có liên quan đến A Sử Na Ngột Đoá nên mới khiến nàng lo sợ bất an, hay còn nguyên nhân nào khác. Nàng nắm lấy tay Thôi Tuần, khẩn cầu: “Thập Thất lang, ta thật sự rất sợ. Chàng đừng đến Trường Xuân Quán.”

Lòng bàn tay nàng lạnh buốt lạ thường. Thôi Tuần chần chừ một lúc lâu, cuối cùng thở dài một tiếng, ngược lại nắm chặt tay nàng: “Được, ta không đi.”



Hắn lập tức thay đổi kế hoạch. Đến canh ba, hắn vẫn sai người phóng hỏa bên ngoài Trường Xuân Quán, nhưng lần này, kẻ lẻn vào trong không phải là hắn mà là năm viên mật thám.

Hắn cùng Lý Doanh và năm mật thám còn lại ẩn nấp trong khu rừng hoang bên ngoài đạo quán, sẵn sàng tiếp ứng. Đêm lạnh như nước, trong rừng hoang tĩnh mịch, thỉnh thoảng lắm mới có vài con quạ khàn giọng kêu vang. Thôi Tuần đứng trên sườn núi, dõi mắt nhìn ngọn lửa dần bốc lên trong Trường Xuân Quán. Lửa mỗi lúc một lớn, bên trong đạo quán trở nên hỗn loạn, tiếng người hô hào cứu hỏa không dứt. Hắn và Lý Doanh chẳng ai nói gì mà lặng lẽ quan sát. Chẳng bao lâu sau, dưới bóng đêm, năm mật thám cõng theo một người thân xác tàn tạ, hơi thở thoi thóp chạy vội về phía khu rừng.

Là Vương Huyên.

Toàn thân Vương Huyên chẳng còn lấy một tấc da lành lặn. Hai chân hắn bị hàn thiết nung đỏ tra tấn đến mức máu thịt bầy nhầy, đôi mắt bị thiêu cháy, đầu lưỡi bị cắt cụt. Dáng vẻ ôn nhuận như ngọc năm xưa nay chẳng còn sót lại chút gì. Thôi Tuần vốn đã quen chứng kiến những cảnh tra tấn tàn khốc, vậy mà khi thấy tình cảnh này, lòng vẫn không khỏi run lên.

Lý Doanh lại càng kinh hoàng đến mức lùi về sau mấy bước. Nàng chỉ cảm thấy dạ dày cuộn trào, phải cắn chặt răng, siết lấy vạt váy mới miễn cưỡng giữ được bình tĩnh.

Là ai? Là ai đã đối xử như vậy với một người vốn không tranh giành với đời theo cách này?

Mật thám đặt Vương Huyên xuống đất, nhẹ nhàng đỡ lấy thân thể hắn. Máu đen không ngừng rỉ ra từ khóe miệng hắn, hai tay bị thiêu đến cháy xém vẫn yếu ớt vươn lên không trung, giãy giụa vô vọng, miệng phát ra những âm thanh thê lương đứt quãng. Với thương tích này, e rằng hắn không thể sống nổi.

Thôi Tuần nghiến chặt răng, nắm lấy tay Vương Huyên, trầm giọng nói: “Là ta, Thôi Tuần.”

“Lư Hoài nhờ ta đến tìm ngươi, ngươi có thể tin ta.”

Thân thể Vương Huyên run rẩy kịch liệt, khi nghe đến hai chữ “Lư Hoài”, mười ngón tay hắn đột nhiên siết chặt cổ tay Thôi Tuần, lực mạnh đến mức suýt bóp nát xương hắn. Lòng Thôi Tuần chấn động, hắn hỏi: “Là ai? Ai đã hại ngươi thành ra thế này?”

Ngón tay Vương Huyên run run trong lòng bàn tay Thôi Tuần, chậm rãi vạch ra từng nét: “Đế, sát, lục, châu.”

Đế sát lục châu?

Vị hoàng đế nào? Lục châu nào?

Ngoài kẻ đó ra, còn ai vào đây! Liệu còn có thể là sáu châu nào khác!

Hóa ra, thảm cảnh của Thiên uy quân, sự sụp đổ của sáu châu, cái chết của vô số bách tính, quả thực không thoát khỏi sự liên can của Long Hưng Đế!

Chắc chắn Vương Huyên đã phát hiện điều gì đó, hắn muốn truyền tin ra ngoài nhưng chẳng may bị lộ, mới bị bắt vào địa lao của Trường Xuân Quán, bị tra tấn suốt chín ngày trời! Thế nhưng, dù chịu đủ mọi khổ hình, hắn vẫn không hé nửa lời.

Hắn th* d*c, dùng chút sức tàn cuối cùng viết thêm trong lòng bàn tay Thôi Tuần ba chữ: “Tây, Minh, Tự.”

Viết xong, những ngón tay hắn buông lơi, máu đen từ miệng trào ra càng nhiều, sắc mặt cũng dần xám ngắt, thế nhưng đôi mắt bê bết máu kia vẫn không chịu khép lại.

Thôi Tuần siết chặt tay hắn, trầm giọng nói: “Ngươi cứ yên tâm, mẫu thân, thê tử, hài nhi của ngươi, Lư Hoài sẽ chăm sóc, ta, Thôi Tuần, cũng sẽ chăm sóc! Ta lấy mạng mình ra thề!”

Nghe vậy, thân thể Vương Huyên cuối cùng cũng ngừng co giật, sau đó chậm rãi khép mắt.

Người ta vẫn luôn xem hắn là một Trạng nguyên yếu đuối, là một thư sinh vô dụng. Nhưng đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, dù đã chịu đủ mọi cực hình, hắn vẫn gắng sức truyền lại mồi lửa của chân tướng. Hắn không phải kẻ hèn nhát, mà là anh hùng dũng cảm nhất ở Đại Chu!



Thôi Tuần lòng đầy bi phẫn, quỳ bên thi thể Vương Huyên, ánh mắt ghim chặt vào từng nét máu trên lòng bàn tay, miệng không ngừng lẩm bẩm: “Đế sát lục châu… Đế sát lục châu… Tây Minh Tự… Tây Minh Tự…”

Là quân phụ của Đại Chu, lại giết chính con dân Đại Chu!

Là hoàng đế của Đại Chu, lại bán đi giang sơn Đại Chu!

Mười mật thám vây quanh Thôi Tuần đều sững sờ, Lý Doanh cũng chấn động. Một lát sau, nàng đột nhiên rùng mình, trong đầu lóe lên một ý niệm.

Không đúng.

Mọi thứ quá thuận lợi.

Cứu được Vương Huyên… quá mức thuận lợi.

Cứ như thể có người cố tình chờ bọn họ đến cứu!

Nàng vừa định nhắc nhở Thôi Tuần, thì chớp mắt đã thấy mưa tên vần vũ ập đến, mười mật thám không kịp đề phòng liền ngã gục xuống đất.

Ngay sau đó, một thứ gì đó đen kịt văng thẳng về phía nàng!

Thôi Tuần vội hét lên: “Cẩn thận!”

Hắn lập tức dang rộng hai tay, ôm chặt lấy nàng, lao sang một bên né tránh. Cả hai ngã nhào xuống đất, nhưng dù hắn có nhanh đến đâu, thứ chất lỏng ấy vẫn bắn một ít lên người Lý Doanh.

Giây tiếp theo, một cơn đau xuyên thấu tận xương ập đến, tựa hồ nhấn chìm cả thân thể nàng. Toàn thân nàng bắt đầu bốc lên từng làn khói trắng, giống như bị nung đỏ bởi thiết hỏa. Thân thể nàng run rẩy dữ dội, mồ hôi lạnh rịn khắp trên trán, sắc mặt tái nhợt, tầm mắt dần trở nên tan rã.

Thôi Tuần lo lắng gọi: “Minh Nguyệt Châu! Minh Nguyệt Châu…”

“Đừng gọi nữa.”

A Sử Na Ngột Đoá giẫm lên cành khô, tay xách một túi da dê đựng đầy máu chó mực, từng bước từng bước tiến tới. Nàng ta lạnh lùng ném túi da xuống đất, tỏ vẻ chán ghét: “Người ta vẫn nói, máu chó mực vừa mới giết xong là vật chí dương chí cương, trời sinh khắc chế quỷ hồn, quả nhiên là thật.”

Sau lưng nàng ta là mấy chục Kim Ngô Vệ vận y phục đen, trên tay giương sẵn cung tên, bao vây Thôi Tuần kín mít. Chỉ cần hắn có bất kỳ động tĩnh nào, vô số mũi tên ấy sẽ khiến hắn biến thành nhím ngay lập tức.

A Sử Na Ngột Đoá nhìn Thôi Tuần đang ôm chặt Lý Doanh, khóe môi cong lên: “Người Hán các ngươi có câu “bọ ngựa bắt ve, chim sẻ rình sau”. Lần trước ngươi làm chim sẻ, lần này, đến lượt ta làm chim sẻ rồi.”

Dưới ánh trăng, đóa hoa sen đỏ thẫm xăm trên mặt nàng ta bỗng trở nên chói mắt lạ thường. Nàng ta rút trường kiếm, kề sát bên cổ Thôi Tuần, cười nhạt: “Liên Hoa Nô của ta, rốt cuộc, ngươi vẫn rơi vào tay ta.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 138: Ngục giam


Lý Doanh tỉnh lại từ cơn đau nhói như lửa đốt, phát hiện mình nằm trên nền đá xanh lạnh lẽo. Nàng mơ hồ mở mắt, cố nén cảm giác đau rát như bị thiêu sống, chống tay gượng dậy. Nhưng chỉ vừa động thân, cơn đau nhói xộc lên khiến trước mắt nàng tối sầm. Nàng thở gấp hai tiếng, móng tay bấm sâu vào lòng bàn tay, nhờ đó mà đầu óc dần thanh tỉnh.

Bốn phía quanh nàng là một vòng bùa chú màu vàng nhạt được viết bằng máu chó mực, trên đó là những văn tự Đạo gia, từng lá bùa bị ghim chặt xuống kẽ đá bằng dao gỗ đào. Máu tươi đỏ thẫm chảy dọc theo bùa, tụ lại ở mũi dao. Màu đen sẫm của gỗ đào hòa cùng sắc đỏ của máu tươi, tỏa ra một thứ ánh sáng âm u quỷ dị.

Lý Doanh lắc lắc đầu, cố xua đi cảm giác choáng váng, chậm rãi đứng dậy. Nhưng ánh mắt nàng bất giác khựng lại.

Hóa ra đây là một nhà lao lớn. Chính giữa gian phòng, một chiếc lồng sắt to lớn giam chặt lấy Thôi Tuần. Hắn nằm bất động bên trong, mắt nhắm nghiền, hàng mi dài rũ xuống, không rõ sống chết. Cần cổ trắng xanh như hạc của hắn bị một xích sắt đen sì, nặng trĩu khóa chặt. Sợi xích uốn lượn, gắn chặt vào một góc lồng giam, trông hắn chẳng khác nào một con ưng gãy cánh, bị vây nhốt, mặc người tùy ý xử trí.

Lý Doanh kinh hãi, vội vàng kêu lên: “Thập Thất lang!” Nàng vừa gọi vừa lao đến bên lồng sắt, định cứu hắn ra.

Nhưng chỉ vừa bước một bước, nàng lập tức cảm thấy như hàng ngàn ngọn lửa dữ dội thiêu đốt trên thân thể. Cơn đau xuyên thấu tận xương khiến nàng không kìm được tiếng hét, cả người ngã quỵ xuống đất.

Nàng mờ mịt nhìn vòng bùa chú vây quanh mình. Thì ra, đây chính là nhà lao giam giữ nàng. Hễ nàng bước ra, bùa chú kết từ máu chó và gỗ đào sẽ khiến nàng chịu nỗi thống khổ như bị thiêu sống. Nàng không tài nào thoát ra được.

Có lẽ do nghe thấy tiếng nàng kêu gào, Thôi Tuần khó nhọc mở mắt. Những ký ức lờ mờ ùa về. Đêm qua, hắn vốn định cứu Vương Huyên, không ngờ lại rơi vào bẫy của A Sử Na Ngột Đoá. Lý Doanh bị thương bởi máu chó mực, còn hắn bị người ta đánh ngất, sau đó không còn biết gì nữa.

Giờ đây, hắn cảm thấy cổ mình bị khóa chặt bởi thứ gì đó. Mà thứ này, hắn không thể nào quen thuộc hơn được.

Hắn đưa tay sờ thử, quả nhiên chạm phải một đoạn xích sắt lạnh lẽo, thô ráp.

Trong khoảnh khắc mơ hồ, hắn không phân biệt được đây là năm nào tháng nào. Cảnh tượng trước mắt tựa như đưa hắn quay về vương đình Đột Quyết, trở lại ngục thất Đại Lý Tự, nơi hắn từng bị giam cầm, chịu đựng hết ngày này qua tháng khác những cực hình và đày đọa. Ở nơi đó, hắn bắt đầu sợ ánh sáng, rơi dần vào bóng tối bất tận.

Bỗng nhiên, một giọng nói khẩn thiết vang lên: “Thập Thất lang… Thập Thất lang…”

Đó là giọng của một thiếu nữ, trong trẻo như dòng suối. Ý thức của Thôi Tuần bị kéo về thực tại chỉ trong chớp mắt.

Không, đây không phải là vương đình Đột Quyết, cũng không phải ngục thất Đại Lý Tự. Hắn không hề chìm trong bóng tối mãi mãi. Hắn đã được ánh trăng sáng chiếu rọi, từng bước thoát ra khỏi địa ngục vô biên.

Thôi Tuần dồn hết sức lực, gượng dậy tìm kiếm nơi phát ra giọng nói ấy. Khi nhìn thấy Lý Doanh đang bị nhốt trong vòng bùa chú, hắn sững sờ. Hắn lao đến cạnh lồng sắt, cố gắng vươn tay với lấy nàng. Nhưng sợi xích khóa chặt phần cổ hắn, bất kể hắn gắng sức đến mức nào, cho dù bị siết đến nghẹt thở, cũng không thể chạm tới dù chỉ một góc áo của nàng.

Nước mắt Lý Doanh rơi xuống lã chã. Nàng cũng muốn đưa tay chạm vào Thôi Tuần, nhưng dưới tác dụng của bùa chú, tay nàng vừa vươn ra liền như bị lửa nóng thiêu đốt, từng làn khói trắng bốc lên từ mu bàn tay, những mảng bọng nước dần hiện ra trên làn da trắng mịn như ngọc ngà. Nàng đau đến toàn thân run rẩy, nhưng vẫn không thể chạm tới đầu ngón tay hắn. Đúng lúc này, một tràng cười đột ngột vang lên: “Thật thú vị! Quả là thú vị!”

Đó là A Sử Na Ngột Đoá.

A Sử Na Ngột Đoá bước vào ngục thất, dáng vẻ chẳng khác nào lần đầu gặp Thôi Tuần. Đôi ủng da dê, một thân hồng y, mái tóc đen tuyền tết thành hai bím, kiều diễm rạng rỡ, chỉ có một điểm khác biệt duy nhất, đó là trên má phải của nàng ta xuất hiện một ấn ký hoa sen sống động như thật.

Nàng ta xách theo vài cái đầu người đẫm máu, rồi thẳng tay ném xuống đất. Những cái đầu lăn lóc, cuối cùng dừng lại ở giữa Thôi Tuần và Lý Doanh. Lý Doanh kinh hãi mở to mắt, nàng không nhận ra những người này, nhưng Thôi Tuần thì biết rõ. Đó chính là bốn người huynh đệ của hắn.

A Sử Na Ngột Đoá ung dung nói: “Liên Hoa Nô, duyên nợ giữa ta và ngươi, đều bắt nguồn từ ba chữ Liên Hoa Lang. Ta biết ngươi căm ghét ba chữ này, càng căm ghét đám huynh đệ từng đặt biệt danh ấy cho ngươi. Phụ thân ngươi thiên vị, kế mẫu tàn độc, ta liền tiện tay giết hết con cái của chúng, xem như báo thù cho ngươi.” Nàng dừng lại một chút, rồi bật cười: “Ngươi xem, ta đối với ngươi tốt đến nhường nào.”

Nhưng trong mắt Thôi Tuần lại không hề có nửa phần cảm kích, thậm chí hắn chẳng mảy may bận tâm đến cái chết của những huynh đệ kia, càng không để ý đến A Sử Na Ngột Đoá. Hắn chỉ đưa tay, muốn chạm vào Lý Doanh. Trong lòng A Sử Na Ngột Đoá dấy lên một cơn phẫn nộ. Nàng ta vì hắn liều mạng giết người, vậy mà hắn thậm chí không thèm liếc nhìn nàng ta lấy một cái. Ở Đột Quyết cũng thế, hắn đã mấy lần tìm cách bỏ trốn. Phụ hãn nói rằng trong lòng hắn có một ngọn lửa, một ngọn lửa có thể thiêu rụi cả thảo nguyên. Phụ hãn muốn giết hắn để trừ hậu họa, nhưng nàng ta liều chết bảo vệ hắn. Ấy thế mà hắn chẳng hề cảm kích, ngược lại càng thêm oán hận nàng.

Nàng ta vốn cho rằng hắn là người như thế, dù chịu nhục nhã lớn đến đâu, vẫn mãi mãi kiêu ngạo, mãi mãi lãnh đạm, không ai có thể chạm đến trái tim hắn. Nàng ta không thể, A Sử Na Gia cũng không thể.

Nhưng nàng ta đã lầm. Có một người làm được. Không, thậm chí không phải là một người, mà chỉ là một hồn ma, một con quỷ.

Sợi dây leo mang tên “đố kỵ” trong lòng A Sử Na Ngột Đoá vẫn không ngừng bành trướng. Chính sự đố kỵ ấy đã khiến nàng ta giết A Sử Na Gia, cũng khiến nàng ta không thể tha cho Lý Doanh.

Nếu không yêu nàng, vậy thì hãy hận nàng.

Đôi ủng da dê đạp lên ngón tay Thôi Tuần, hắn đau đến nhíu chặt mày. A Sử Na Ngột Đoá cười lạnh: “Đừng phí sức nữa. Khoảng cách này đã được ta tính toán cẩn thận, vừa đủ để các ngươi ở rất gần nhau nhưng vẫn bị nhốt trong lồng giam riêng biệt, vĩnh viễn không thể chạm tới nhau. Hừ, đời này ngươi đừng mong chạm vào nàng ta thêm một lần nào nữa.”

Thôi Tuần nghiến răng, ánh mắt tràn ngập sát ý nhìn A Sử Na Ngột Đoá, như thể muốn lột da, rút gân nàng. A Sử Na Ngột Đoá thở dài: “Ta từng nói rồi, ta ghét nhất là ánh mắt này của ngươi.”

Nàng ta bước đến cạnh nhà lao, tháo xích sắt bên lồng giam, nắm lấy đầu xích rồi giật mạnh một cái. Thôi Tuần bị kéo sang phía nàng, sợi xích càng lúc càng siết chặt. Cổ hắn trắng nhợt, loang lổ những vết máu ghê rợn. Hắn bị bóp nghẹt đến mức gần như không thể thở, vẻ mặt dần trở nên đau đớn. Lý Doanh kinh hoàng, muốn lao tới cứu hắn nhưng cơ thể đau nhức đến nỗi ngay cả ngón tay cũng không nhấc nổi, huống chi là cứu người.

A Sử Na Ngột Đoá tiếp tục căng chặt xích sắt, nhìn thần sắc đau khổ của Thôi Tuần, nàng nhướng mày: “Ngươi còn nhớ không? Ta đã nói, lồng sắt và dây xích, hai thứ này mới là thứ thích hợp với ngươi nhất. Chúng sẽ mài mòn móng vuốt của ngươi, bẻ gãy đôi cánh của ngươi, để ngươi đừng bao giờ mơ tưởng bay về Đại Chu nữa, mà phải ngoan ngoãn ở lại bên ta.”

Nói rồi, nàng ta thả lỏng dây xích, đưa tay vào lồng giam, bóp chặt cằm hắn. Lúc này, Thôi Tuần đã gần như kiệt sức, vừa rồi suýt bị siết đến ngất đi, đến cả việc hất tay nàng ta ra cũng không còn đủ lực. A Sử Na Ngột Đoá ngắm nhìn gương mặt ướt đẫm mồ hôi lạnh của hắn, nở nụ cười: “Liên Hoa Nô, ngươi rơi vào tình cảnh này, tất cả đều do lỗi của ngươi. Ai bảo ngươi sinh ra một gương mặt còn đẹp hơn cả hoa sen, lại mang một tính khí bướng bỉnh hơn cả chim ưng? Đàn ông như ngươi, bất kỳ quý nữ nào trên thảo nguyên cũng đều muốn chinh phục, không phải ta thì cũng là kẻ khác. Ngươi muốn trách, chỉ có thể trách chính mình.”

Nàng dứt lời, bỗng nghe một giọng nói tuy yếu ớt nhưng kiên định của thiếu nữ vang lên: “Không! Chàng không hề có lỗi, đừng đổ trách nhiệm lên đầu chàng!”

A Sử Na Ngột Đoá cau mày, buông Thôi Tuần ra, đứng dậy, quay người nhìn thiếu nữ đang bị phong ấn trong bùa chú. Nàng ta cười khẩy: “Suýt nữa thì quên mất ngươi.”

Lý Doanh gắng gượng ngồi dậy. Vì bị trói buộc bởi bùa chú, toàn thân nàng suy yếu vô lực, cơn đau như sóng lớn vồ vập không ngớt. Dù vậy, nàng vẫn trừng mắt nhìn A Sử Na Ngột Đoá, lạnh lùng nói: “Ngươi đừng đổi trắng thay đen nữa! Ngươi có bản tính độc ác, điều đó thì liên quan gì đến Thập Thất lang?”

“Thập Thất lang?” A Sử Na Ngột Đoá nhướng mày, ánh mắt lóe lên vẻ ghen tức: “Gọi thân thiết thật đấy!”

Nàng ta nghiêng đầu, đưa ánh mắt nhìn về phía Thôi Tuần trong lồng sắt, rồi mạnh tay giật xích: “Ngươi thà để một con quỷ thuần phục mình, cũng không muốn bị ta khuất phục, đúng không?”

Cổ của Thôi Tuần vốn đã bị xích sắt mài đến máu thịt be bét, bị giật mạnh càng khiến vết thương thêm đau đớn. Sắc mặt hắn tái nhợt như tờ giấy. Lý Doanh cắn răng: “Ngươi đừng làm tổn thương chàng nữa!”

Nàng trừng mắt nhìn A Sử Na Ngột Đoá, giọng nói rõ ràng: “Ta nói cho ngươi biết, ta chưa bao giờ thuần phục Thập Thất lang. Ta cũng giống ngươi, thích dung mạo của chàng, thích tính cách của chàng. Nhưng sự yêu thích của ta không phải là chinh phục hay chiếm hữu. Ta thật sự coi chàng là một con người, một con người bình đẳng với ta, chứ không phải một kẻ để ta thu phục. Ta tôn trọng chàng, yêu thương chàng, nên chàng cũng hồi đáp tất cả những điều ấy. Chúng ta yêu thương lẫn nhau. Nếu ngươi gọi tình yêu là thuần phục, vậy thì cả đời này, ngươi đừng hòng thuần phục được chàng!”

A Sử Na Ngột Đoá siết chặt xích trong tay. Bốn chữ “yêu thương lẫn nhau” kia chẳng khác nào một lưỡi dao sắc nhọn, cắm thẳng vào tim nàng ta. Một thoáng kinh hồng trong buổi lễ hiến tù binh năm xưa đã khiến đệ nhất mỹ nhân Tây Vực mắt cao hơn đầu là nàng ta lần đầu tiên biết si mê một người đàn ông. Những thủ đoạn tàn khốc sau đó chỉ nhằm ép hắn như một con chim ưng, cúi đầu thần phục mình. Nếu hắn chịu cúi đầu, nàng ta nhất định sẽ tháo bỏ xiềng xích, để hắn tự do tung cánh.

Nhưng hắn nhất quyết không chịu. Dù nàng ta hành hạ, nhục mạ thế nào, hắn vẫn không chịu.

Vì vậy, chuyện thuần phục hắn trở thành chấp niệm trong lòng nàng ta. Nhưng thử hỏi, điều nàng ta thực sự mong muốn chẳng lẽ chỉ là khuất phục hắn thôi sao?

Chẳng lẽ… không còn gì khác nữa sao?

Lý Doanh dường như nhìn thấu tâm tư của A Sử Na Ngột Đoá. Thấy nàng ta nổi giận vì bốn chữ “yêu thương lẫn nhau,” khóe môi Lý Doanh nhếch lên, nụ cười mỉa mai hiện rõ: “Ngươi thật đáng thương. Rõ ràng là ngươi gặp được chàng trước, nhưng lại không biết cách yêu thương chàng. Cả đời này, ngươi đừng mơ chiếm được chàng.”

“Câm miệng!” A Sử Na Ngột Đoá đột nhiên nổi cơn thịnh nộ: “Ta bảo ngươi câm miệng!”

Nàng ta cười lạnh: “Sao ta lại không chiếm được hắn?” Nàng ta giơ cao xích sắt trong tay: “Hắn đang ở trong tay ta đây!”

“A Sử Na Ngột Đoá……” Thôi Tuần bỗng dưng gắng sức gượng dậy, giọng hắn khàn khàn: “Đây không phải Đột Quyết. Dù ngươi có bắt ta thì cũng không thể thoát khỏi Trường An.”

“Ta vốn không định rời khỏi Trường An.” A Sử Na Ngột Đoá bình thản đáp: “Ta chỉ muốn giam ngươi ở đây, giam đến chết.”

A Sử Na Ngột Đoá nhìn nhà lao được xây bằng những khối đá xanh dày nặng, giữa các khối đá còn được trám kín bằng rêu mềm, khiến âm thanh trong ngục không thể vọng ra ngoài, rồi quay sang Thôi Tuần: “Dù ngươi có kêu cứu thế nào, người ngoài cũng chẳng nghe thấy. Nếu thật có người đến cứu, yên tâm đi, trước đó ta nhất định sẽ một đao g**t ch*t ngươi.”

Lý Doanh chợt cảm thấy sống lưng lạnh toát. Trái lại, Thôi Tuần dường như đã dần lấy lại sự bình tĩnh. Hắn đưa tay đè lên vết thương ở cổ, khó nhọc cất giọng khàn đặc: “Ở Trường An mà tìm được nơi thế này, quả nhiên chẳng dễ dàng gì.”

A Sử Na Ngột Đoá hừ lạnh thành tiếng, Thôi Tuần tiếp tục: “Không phải do ngươi sắp đặt.”

Hắn lại hỏi, giọng nghèn nghẹt: “Kế sách “chim sẻ chờ sau” này là do ai nghĩ ra?”

A Sử Na Ngột Đoá không đáp, ngược lại còn châm chọc: “Sao thế? Chẳng nhẽ chỉ mỗi mình người được sai người điều tra Trường Xuân Quán chứ chúng ta không được phép phát hiện, bày ra cạm bẫy, để ngươi tự bước vào sao?”

Nàng ta vô thức thốt ra hai chữ “chúng ta”, Lý Doanh cũng bất giác hít một hơi lạnh. Câu nói “Đế sát lục châu”, gian mật thất được xây bằng đá xanh cùng hai chữ “chúng ta” A Sử Na Ngột Đoá vừa nói khiến nàng liên tưởng đến một sự thật tàn khốc mà nàng không muốn tin nhất.

Ở Trường An, kẻ nào có thể sai khiến được A Sử Na Ngột Đoá, bắt cả Vương Huyên lẫn Thôi Tuần?

Kẻ nào dám lớn gan như vậy? Kẻ nào có bản lĩnh như thế?

Ngoại trừ người đó.

Rốt cuộc nàng cũng hiểu ra đầu đuôi câu chuyện. Hẳn là Vương Huyên đã phát hiện ra bí mật nào đó, nên mới bị bắt đến Trường Xuân Quán. Nhưng vị thư sinh yếu đuối này, dù trải qua cực hình, vẫn nhất quyết không hé răng nửa lời. Kẻ đứng sau càng lúc càng mất kiên nhẫn, vừa hay phát hiện ra mật thám của của Sát Sự Thính đến điều tra Trường Xuân Quán, thế là hắn bày kế dụ dỗ, để Thôi Tuần cứu lấy Vương Huyên cận kề cái chết, sau đó tương kế tựu kế, bắt luôn Thôi Tuần.

Khoan đã? Bắt Thôi Tuần? Lý Doanh ngẩng đầu, hỏi A Sử Na Ngột Đoá: “Tại sao ngươi phải rời cung? Chẳng lẽ ngay từ đầu, mục tiêu các người nhắm đến chính là Thập Thất lang?”

A Sử Na Ngột Đoá không phủ nhận. Tiếng Hán của nàng ta không trôi chảy, cũng chẳng nhận ra trong câu nói của Lý Doanh cố tình nhấn mạnh hai chữ “các người.” Nàng ta vô thức đáp trả: “Ai bảo hắn cứng đầu? Ai tin được hắn thật sự buông tay? Hừ, dù hắn có từ quan cũng không thể rời khỏi Trường An!”

Lời vừa dứt, trái tim Lý Doanh như rơi vào hầm băng.

A Sử Na Ngột Đoá thấy Lý Doanh thất thần, còn tưởng nàng hoảng hốt vì câu nói “một đao g**t ch*t Thôi Tuần” của mình. Chứng kiến Lý Doanh bận lòng vì hắn như thế, trong lòng A Sử Na Ngột Đoá chợt bừng lên một tia ghen tức. Nhìn vào chiếc lồng sắt chắc chắn, những thanh sắt đen thô ráp đan xen kín mít, khiến người ta dù mọc cánh cũng không thoát ra được, nàng ta cất giọng hỏi Lý Doanh: “Ngươi có biết ta đã chuẩn bị chiếc lồng này bao lâu rồi không?”

Lý Doanh ngây người.

A Sử Na Ngột Đoá lạnh nhạt nói: “Tròn hai tháng. Vốn dĩ không thể làm nhanh như vậy, nhưng ta đã thúc giục thợ rèn gấp rút hoàn thành. Ngươi biết vì sao không?”

“Vì sao?”

Đôi mắt của A Sử Na Ngột Đoá thoáng qua một tia oán hận: “Bởi vì ta đã nhìn thấy.”

“Thấy cái gì?”

“Thấy các ngươi cùng nhau bắt đom đóm, thấy hắn hái hoa tặng ngươi.” A Sử Na Ngột Đoá quay mặt đi, ánh mắt thoáng lướt qua Thôi Tuần đang bị xích trong chiếc lồng sắt, rồi quay lại nhìn Lý Doanh, người bị bùa chú giam cầm trong một không gian chật hẹp, vẻ mặt đầy ý vị: “Kể từ ngày đó, ta đã thúc thợ rèn làm gấp. Ta muốn nhốt hắn vào lồng, để hắn không thể bắt đom đóm hay hái hoa vì ngươi nữa. Còn ngươi, ta muốn nhốt ngươi ngay bên cạnh hắn, để hắn tận mắt chứng kiến ngươi đau đớn đến chết.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 139: Chỉ cần còn một hơi thở, hắn nhất định sẽ phản kháng đến cùng


A Sử Na Ngột Đoá nhấc lên một túi da dê dưới đất, bên trong đầy máu chó mực. Nàng ta mở nắp túi, một mùi tanh nồng nặc xộc thẳng vào mũi. A Sử Na Ngột Đoá cau mày, đưa tay che mũi tỏ vẻ ghê tởm. Nàng ta lắc nhẹ túi da, cất giọng nói với Lý Doanh: “Ngươi biết trong này là gì không? Máu chó mực tươi vừa lấy, người sống uống vào có thể thấy quỷ trong vòng mười hai canh giờ. Ta ngày nào cũng uống, uống đến mức muốn nôn ra, nhưng ta vẫn phải uống, chỉ để nhìn thấy ngươi. Hừ, trước khi thấy ma quỷ, ta nghĩ chúng thật đáng sợ. Nhưng khi đã nhìn thấy, lại chẳng còn sợ nữa. Đến lúc bắt được chúng, ta mới thấy chúng chẳng là gì cả!”

A Sử Na Ngột Đoá tiến lại gần Lý Doanh, từ từ nghiêng túi da, máu chó mực chảy xuống. Lý Doanh theo bản năng giơ tay lên chắn, nhưng máu chó dính lên cánh tay nàng, khói trắng lập tức bốc lên. Nàng cảm giác cánh tay mình như bị lửa thiêu, từng làn khói mỏng tản ra, vạn mũi kim nung đỏ như cùng lúc đâm sâu vào da thịt. Lý Doanh đau đến kịch liệt, nhưng nàng không muốn bật ra tiếng kêu, không muốn để Thôi Tuần lo lắng, cũng không muốn để A Sử Na Ngột Đoá thoả nguyện.

Đôi môi nàng bị cắn đến nát bấy, máu tươi chảy xuống theo khóe miệng. A Sử Na Ngột Đoá cười nhạt thành tiếng. Trong lồng sắt Thôi Tuần đã siết chặt mười ngón tay, hắn nghiến răng, ánh mắt trừng trừng nhìn A Sử Na Ngột Đoá: “Ngươi hận ta thì cứ nhằm vào ta, đừng làm tổn thương nàng ấy!”

A Sử Na Ngột Đoá khựng lại, quay phắt sang, dùng ánh mắt không tin nổi nhìn Thôi Tuần: “Đến tận lúc này? Ngươi vẫn nghĩ rằng ta hận ngươi? Ta vượt ngàn dặm từ Đột Quyết đến Đại Chu, ta gả cho một nam nhân mà ta không yêu, ngươi nghĩ rằng ta làm vậy là vì hận ngươi sao?”

“Chẳng lẽ không phải?” Thôi Tuần cười nhạo: “Ta đã hủy dung mạo của ngươi, thiêu chết phụ thân ngươi, biến ngươi từ đệ nhất mỹ nhân Tây Vực thành một ả đàn bà xấu xí, từ một công chúa Đột Quyết hô phong hoán vũ thành một phi tần hòa thân chịu cảnh nhẫn nhục. Chẳng lẽ không nên hận ta sao? Đừng nói với ta rằng ngươi yêu ta?”

A Sử Na Ngột Đoá giận đến đỏ ngầu hai mắt, lời Thôi Tuần nói rằng nàng ta yêu hắn chẳng khác nào một sự sỉ nhục. Phụ hãn của nàng ta từng đối với nàng ta tốt đến nhường nào, yêu thương biết bao, chỉ cần nàng muốn gì, Phụ hãn đều dâng đến tận tay. Sau khi Phụ hãn chết đi, mỗi ngày nàng ta đều nghĩ cách gi.ết ch.ết hắn. Làm sao nàng ta có thể yêu hắn?

Nhưng nếu không yêu hắn, tại sao nàng ta không muốn giết hắn? Nàng ta đã từng thề rằng sau khi thuần phục hắn, nàng ta sẽ giết hắn. Nhưng nàng ta biết rõ, nàng không thể thuần phục hắn. Hai năm ở Đột Quyết, nàng ta đã không làm được, huống hồ là ở Đại Chu? Nếu nàng ta mãi không thuần phục được hắn, chẳng lẽ nàng ta cũng sẽ mãi không giết hắn, mãi không báo thù cho Phụ hãn hay sao?

Sự việc đến nước này, ngay cả chính nàng ta cũng không rõ, rốt cuộc là hận, hay là yêu.

A Sử Na Ngột Đoá nắm chặt túi da dê trong tay. Không. Nàng ta hận hắn, nàng ta không hề yêu hắn. Nàng ta sẽ thuần phục hắn! Sẽ gi.ết ch.ết hắn!

Nàng ta cười lạnh một tiếng: “Nực cười, sao ta lại yêu ngươi được? Trong mắt ta, ngươi chẳng khác gì một con súc sinh ngang bướng, khó lòng thuần phục. Ngươi là Liên Hoa Nô của ta, là nô lệ của ta, sao ta có thể yêu một nô lệ?”

Chiếc túi da lại nghiêng về phía đỉnh đầu của Lý Doanh. A Sử Na Ngột Đoá liếc nhìn Thôi Tuần trong chiếc lồng sắt, chậm rãi nói: “Liên Hoa Nô, ta cho ngươi một cơ hội. Ngươi quỳ xuống, dập đầu nhận lỗi với ta, nói rằng ngươi đồng ý làm nô lệ của ta, ta sẽ thả nàng ta. Bằng không, một khi máu chó mực đổ xuống, con quỷ này sẽ thế nào, đến ta cũng không dám chắc.”

Tròng mắt Lý Doanh ánh lên lệ quang, nàng nhìn Thôi Tuần, lắc đầu không thốt lên lời.

Ngay từ đầu, nàng đã biết A Sử Na Ngột Đoá không giết nàng, tất nhiên là vì muốn dùng nàng để uy h**p Thôi Tuần.

Nhưng nàng không muốn Thôi Tuần vì nàng mà gập lưng khuất phục, quỳ gối van xin, làm mất đi lòng kiêu hãnh của hắn. Nếu vì nàng mà Thôi Tuần nhẫn nhục, làm nô lệ cho A Sử Na Ngột Đoá, vậy nàng thà chết còn hơn.

Lệ tràn ngập trong đôi mắt nàng, nàng nhìn Thôi Tuần, hắn cũng nhìn nàng. Trong bóng tối mịt mù của ngục thất, một giọt nước mắt lặng lẽ lăn xuống từ khóe mắt Lý Doanh, lướt qua gò má trắng ngần như ngọc, để lại một dấu lệ nhạt nhòa. Ánh mắt Thôi Tuần cũng phủ một tầng sương mờ, hắn cắn chặt răng, đột nhiên dời mắt đi, không nhìn nàng nữa mà bình tĩnh hỏi A Sử Na Ngột Đoá: “Nếu ta đồng ý làm nô lệ của ngươi, ngươi sẽ thả nàng chứ?”

A Sử Na Ngột Đoá ngẩn người, không ngờ Thôi Tuần lại đồng ý chóng vánh như vậy. Sáu năm chấp niệm rốt cuộc cũng đạt thành, nhưng trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, nhất thời lại chẳng rõ trong lòng là tư vị gì. Tim nàng ta đập dữ dội, luống cuống đáp: “Đúng vậy, chỉ cần người đồng ý làm nô lệ của ta, ta sẽ thả nàng ta!”

Sợ mình đáp ứng quá dễ dàng, lại lo lắng người Hán giảo hoạt, nàng ta bổ sung thêm: “Ngươi phải thề! Thề rằng đời này, kiếp này đều phải nghe lời ta, làm nô lệ của ta! Không, không chỉ đời này, mà cả kiếp sau, kiếp sau nữa, mãi mãi muôn đời, ngươi cũng phải là nô lệ của ta! Hãy lấy sinh mạng con quỷ này ra thề, có thế ta mới tin ngươi.”

Nét mặt nàng ta căng thẳng, còn Thôi Tuần thì khẽ cười: “Thề ư? Ngươi đừng vọng tưởng, ta sẽ không bao giờ đồng ý làm nô lệ của ngươi.”

A Sử Na Ngột Đoá hoàn toàn chết lặng.

Thôi Tuần lạnh lùng: “A Sử Na Ngột Đoá, ngươi là người đáng để tin tưởng sao? Làm sao ngươi có thể buông tha cho Minh Nguyệt Châu chứ?”

Ý thức được vừa bị Thôi Tuần lừa, A Sử Na Ngột Đoá lập tức nổi trận lôi đình. Nàng ta siết chặt túi da dê trong tay: “Ngươi không sợ ta giết ả sao?”

Thôi Tuần điềm nhiên: “Ta sợ. Nhưng dù ta có đáp ứng ngươi, ngươi vẫn sẽ giết nàng thôi.”

Thôi Tuần đã nói trúng tâm tư của A Sử Na Ngột Đoá. Nàng ta chưa từng có ý định tha cho Lý Doanh. Nghĩ đến việc bản thân thua một hồn ma, nàng ta chỉ hận không thể ăn tươi nuốt sống Lý Doanh ngay lập tức. Túi da dê nghiêng đi, máu chó mực sắp sửa trào ra, nhưng rồi lại dừng lại. A Sử Na Ngột Đoá do dự: Nếu thực sự gi.ết ch.ết Lý Doanh, nàng ta sẽ không còn nào uy h**p được Thôi Tuần.

Tuy nhiên, không giết thì vẫn có thể tra tấn.

Nàng ta cười lạnh: “Được thôi! Vậy ta sẽ tra tấn ả trước mặt ngươi, xem ngươi chịu được đến khi nào!”

Máu chó mực rơi xuống như mưa, nhuộm ướt bờ vai Lý Doanh. Nàng đau đớn quỵ xuống đất, nhưng lòng bỗng nhẹ nhõm lạ thường. Thậm chí, khóe môi nàng nhếch lên thành nụ cười, ánh mắt nhìn về phía Thôi Tuần.

Trái tim Thôi Tuần quặn đau như bị dao cắt, hắn siết chặt chấn song sắt, ánh mắt mờ mịt như sương, nhưng khóe miệng cũng hiện lên một nụ cười.

A Sử Na Ngột Đoá lặng người. Đây là tình huống quái dị gì thế này? Nàng ta tra tấn nữ nhân mà Thôi Tuần yêu trước mặt hắn, buộc hắn phải khuất phục, vậy mà hai người họ lại đang cười. Da đầu nàng ta tê dại, không kìm được hỏi: “Các ngươi cười gì?”

Lý Doanh nhịn đau, nhếch môi: “Chúng ta cười ngươi.”

“Các ngươi đều là tù nhân trong tay ta, lấy tư cách gì để cười nhạo ta?”

Lý Doanh điềm tĩnh: “Ngươi tưởng rằng ngươi đang tra tấn chúng ta sao? Không, ngươi khiến ta và chàng càng thêm gắn kết. Ta thà chết còn hơn phải nhìn chàng cúi mình van xin ngươi vì mình. Nếu chàng làm vậy, hành động đó chỉ có thể tự làm cảm động chính chàng, chứ chẳng thể lay động được ta. Nhưng chàng không làm thế, chàng không cầu xin ngươi. Điều đó không đáng để ta thấy vui mừng sao? Dù hôm nay ta và chàng có chết, chúng ta cũng chết trong sự thấu hiểu lẫn nhau. Còn ngươi, bận rộn suốt bấy lâu nay, ngươi được gì? Ngay cả một câu cầu xin từ chàng, ngươi cũng không thể có được!”

Thấu hiểu lẫn nhau… Lời của Lý Doanh như từng nhát dao đâm vào nỗi đau của A Sử Na Ngột Đoá. Nàng ta hận không thể đổ toàn bộ máu chó mực trong túi lên người Lý Doanh, nhưng Lý Doanh lại không chút sợ hãi, còn nhìn nàng ta với ánh mắt cảm thông: “Ngươi thật đáng thương. Trái tim chân thành mà ngươi mong muốn, lại đang ở chỗ ta.”

A Sử Na Ngột Đoá tức đến toàn thân lẩy bẩy: “Ta không cần trái tim hắn! Ta chỉ cần hắn thần phục ta! Ta không yêu hắn! Ta không thể nào yêu hắn!”

Bỗng nhiên, Thôi Tuần lên tiếng: “A Sử Na Ngột Đóa.”

Nàng ta nghiêng người nhìn hắn.

Thôi Tuần cười nhạt, cổ bị thương, máu thịt be bét, mỗi lời nói ra đều kéo theo cơn đau nhức nhối, khuôn mặt tái nhợt nhưng vẫn đẹp đẽ như một đóa sen. Hắn nhìn chằm chằm vào hình xăm hình hoa sen trên mặt A Sử Na Ngột Đoá, nhếch môi cười cợt: “Nếu ngươi không giết ta, chẳng phải chứng tỏ ngươi đã yêu kẻ thù gi.ết ch.ết cha ngươi. Hừ, đường đường là công chúa Ngột Đóa kiêu hãnh nhất của Đột Quyết mà lại không nỡ xuống tay với kẻ thù gi.ết ch.ết cha mình… Ngươi có còn xứng làm con cháu họ A Sử Na? Ngươi có còn xứng làm con gái của Đại hãn Đột Quyết?”

A Sử Na Ngột Đóa giận dữ tột cùng, nàng ta rút trường kiếm, sải bước tiến lên, chém đứt khóa sắt trên lồng giam, sau đó vung chân đá tung cửa lồng. Nàng ta lao về phía trước, mũi kiếm lạnh lẽo dí thẳng vào tim Thôi Tuần. Chỉ cần tiến thêm một tấc, nàng ta sẽ lấy được mạng hắn.

Thanh trường kiếm đã cắm sâu vào ngực hắn, một vệt máu nhỏ thấm ra, nhưng mũi kiếm không tiến thêm chút nào nữa. A Sử Na Ngột Đóa nắm chặt chuôi kiếm, ngón tay run rẩy. Đột nhiên, nàng ta chợt ngộ ra. Không, nàng ta không thể mắc mưu hắn, không thể để hắn chết dễ dàng như thế. Nàng ta muốn thuần phục hắn, hành hạ hắn, khiến hắn phải chứng kiến nàng ta gi.ết ch.ết Lý Doanh, để cả đời hắn sống trong đau đớn và tuyệt vọng!

Khi nàng ta định rút kiếm ra, Thôi Tuần đột nhiên giơ tay giữ lấy mũi kiếm. Lòng bàn tay hắn lập tức bị lưỡi kiếm sắc nhọn cứa sâu, máu tươi tuôn ra như suối. Hắn cắn răng chịu đau, đẩy mũi kiếm tiến thêm về phía ngực mình. A Sử Na Ngột Đóa sững người, ngỡ rằng hắn muốn tự sát. Trong cơn hoảng hốt, nàng ta buông chuôi kiếm, định giành lại thanh trường kiếm từ tay hắn. Nhưng đúng lúc ấy, Thôi Tuần bất ngờ phản công, xoay người đè nàng ta xuống đất. Tay kia của hắn giữ chặt chuôi kiếm, lưỡi kiếm hướng thẳng đến cổ họng nàng ta.

Biến cố xảy ra quá nhanh khiến A Sử Na Ngột Đóa không kịp phản ứng. Nàng ta quên mất rằng đây là Đại Chu, không phải Đột Quyết, nơi nàng ta có thể muốn làm gì thì làm. Dù ở Đột Quyết, nàng ta cũng từng bị Thôi Tuần dùng hỏa chiết châm lửa, suýt chút nữa thiêu chết cả nàng ta lẫn Phụ hãn ngay trong vương trướng.

Kẻ mà nàng ta gọi là “Liên Hoa Nô” này, chỉ cần hắn còn một hơi thở, hắn nhất định sẽ phản kháng đến cùng.

A Sử Na Ngột Đóa hối hận vô cùng. Nàng ta hận bản thân vì một phút nóng giận mà dễ dàng rơi vào bẫy của hắn. Nhưng trong nhà lao kín mít này, dù nàng ta có kêu cứu cũng chẳng ai nghe thấy.

Nàng ta dồn hết sức lực giữ chặt cổ tay hắn, cố gắng đẩy lưỡi kiếm ra xa cổ họng mình. Dẫu cổ tay Thôi Tuần từng bị nàng ta hành hạ đến nỗi không còn sức kéo nổi cây cung cũ, hắn vẫn là một nam nhân trưởng thành. Thêm vào đó, hắn biết rõ nếu thất bại, hắn và Lý Doanh sẽ không còn đường sống. Khi con người rơi vào tuyệt vọng, sức mạnh tiềm tàng sẽ bùng phát. A Sử Na Ngột Đóa chỉ có thể trơ mắt nhìn lưỡi kiếm ngày càng gần hơn với cổ mình.

Chỉ cần A Sử Na Ngột Đóa chết, Thôi Tuần sẽ thoát khỏi nhà lao này, tháo bỏ phù trận đang giam giữ Lý Doanh. Khi ấy, chẳng ai có thể ngăn cản được bọn họ, cả hai sẽ được giải cứu.



Nhưng đúng lúc đó, một tên Kim Ngô Vệ đứng canh bên ngoài phòng giam bắt đầu sốt ruột đã lâu không thấy động tĩnh. Gã nhận lệnh Thánh nhân bảo vệ Huệ phi, nếu Huệ phi xảy ra chuyện, gã cũng khó lòng giữ mạng.

Gã định vào phòng giam xem xét thì bị đồng đội ngăn lại: “Huệ phi tính tình kiêu ngạo, chúng ta không nên tự ý vào thì hơn.”

Tên Kim Ngô Vệ quát lớn: “Các ngươi nghe lệnh Huệ phi, hay nghe lệnh Thánh nhân?”

Đám người giật mình tỉnh ngộ. Phải rồi, Huệ phi chẳng qua chỉ là một phi tần được gả sang để hòa thân, bọn họ đương nhiên phải nghe lệnh Thánh nhân.

Vì vậy, một nhóm Kim Ngô Vệ cùng tiến vào. Vừa bước vào, họ nhìn thấy cảnh A Sử Na Ngột Đóa bị đè xuống đất, lưỡi kiếm sắp cắt đứt cổ họng nàng ta. Ai nấy kinh hãi, vội lao tới bắt giữ Thôi Tuần. Lúc này, cổ họng A Sử Na Ngột Đóa đã bị lưỡi kiếm rạch một vết dài, da thịt lật ra trông vô cùng ghê rợn. Một tên Kim Ngô Vệ đỡ nàng ta dậy, định hỏi nàng ta có bị sao không, nhưng liền bị nàng ta đẩy mạnh ra.

A Sử Na Ngột Đóa ôm lấy cổ, nghiến răng ken két, rồi mạnh tay tát thẳng vào mặt Thôi Tuần, lúc này đang bị đám Kim Ngô Vệ trói chặt.

Gò má trái của hắn lập tức sưng đỏ, khóe miệng rỉ ra một dòng máu, nhưng chừng đó vẫn chưa đủ để nàng ta nguôi giận. A Sử Na Ngột Đóa loạng choạng bước tới tháo cây roi treo trên tường. Lửa giận bừng bừng trong ánh mắt, nàng ta đá mạnh khiến Thôi Tuần ngã lăn xuống đất, roi quất tới tấp, không chút nương tay.

Nàng ta hận, hận chính mình lại lần nữa để con chim ưng này mổ mù mắt.

Loại roi treo trong lao thất là thứ chuyên dùng để tra tấn, thân roi đầy những gai móc ngược. Mỗi cú quất xuống, máu thịt b.ắn ra tung tóe. A Sử Na Ngột Đóa như muốn trút xuống sự phẫn nộ của mình, từng roi từng roi, không chút nương tay. Y phục của Thôi Tuần dần bị máu nhuộm đỏ, thế nhưng hắn vẫn cắn răng chịu đựng, tuyệt nhiên không phát ra dù chỉ một tiếng kêu đau.

A Sử Na Ngột Đóa căm hận nhất là bộ dạng này của hắn. Rõ ràng đã đau đến thấu xương, nhưng hắn vẫn cố không hé môi, chỉ có hận ý sâu thẳm trong đôi mắt mới là thứ chứng minh rằng hắn vẫn đang còn sống.

Nàng ta như trở về những ngày ở Đột Quyết, mỗi lần hắn bỏ trốn và bị bắt lại, nàng đều tức tối quất roi lên thân thể hắn. Càng quất càng mạnh, càng quất càng độc ác. Lý Doanh nóng ruột hét lên: “Ngươi dừng tay! Ngươi điên rồi sao?!”

Nhưng A Sử Na Ngột Đóa không thèm để ý đến nàng. Lúc này nàng ta đã chìm sâu vào cơn phẫn nộ của mình, từng roi quất xuống mang theo từng mảng máu thịt, cùng sự run rẩy của thân thể đau đớn. Thế nhưng, điều nàng ta chờ đợi – những lời cầu xin tha mạng – vẫn không xuất hiện.

Cả nhà lao ngập trong mùi tanh của máu. A Sử Na Ngột Đóa giống như kẻ điên, tiếng roi xé gió vang lên bén ngót, tiếp đó là âm thanh nặng nề khi chạm vào da thịt. Các Kim Ngô Vệ đứng bên ngoài không khỏi rùng mình, bất giác lui lại một bước. Không ai nhận ra, trong góc phòng, đôi mắt Lý Doanh đỏ rực, khắp người nàng dần bị một làn khói đen bao phủ…
 
Back
Top Bottom