Cập nhật mới

Ngôn Tình Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh

Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 80: Thích chàng là việc của riêng ta


A Sử Na Gia bước vào Thôi phủ, khi ấy Thôi Tuần đang ngồi trong phòng, khoanh chân khoanh chân bên cửa sổ gỗ chạm khắc. Hắn khoác trên mình chiếc áo tù màu trắng mỏng manh, cổ tay và cổ chân đều bị xiềng xích đen nặng nề trói buộc. Một tia nắng xuyên qua tấm lưới trên cửa sổ, rọi xuống nền nhà. Hắn cúi đầu nhìn tia sáng ấy, chẳng rõ đang nghĩ gì.

Những ngày qua, sân viện ngập tràn ánh nắng ấm áp, hoa hải đường đã nở rộ, thế nhưng hắn hầu như không bước ra ngoài. Một phần vì xiềng xích nặng nề làm hắn khó lòng di chuyển, phần khác là hắn không muốn mình mặc áo tù, đeo cùm và xuất hiện trước mặt người khác. Hắn cố chấp giữ lại chút tôn nghiêm đã sứt mẻ của mình, dù rằng lòng kiêu hãnh và phẩm giá của thiếu niên thế gia năm nào đã vỡ nát ở vương đình Đột Quyết kể từ sáu năm trước. Dẫu vậy, hắn vẫn muốn nhặt nhạnh chút gì còn sót lại, như thể điều đó sẽ giúp hắn một lần nữa trở về làm Thập Thất lang của Thiên Uy quân, cưỡi bạch mã, mang yên bạc.

Ngoài cửa sổ, A Sử Na Gia nhìn chăm chú vào Thôi Tuần qua lớp màn lưới. Ánh mắt nàng đong đầy nỗi xót xa, cay đắng. Lý Doanh lên tiếng: “Ta vào trước nói với ngài ấy một tiếng, cô đợi ta một lát.”

A Sử Na Gia lặng lẽ gật đầu, ánh mắt vẫn xuyên qua lớp màn cửa, không rời khỏi bóng dáng gầy guộc bên trong. Nàng khát khao được nhìn hắn thêm một lần nữa, chỉ một lần nữa thôi.

Khi Lý Doanh bước vào, Thôi Tuần nghe thấy tiếng động, khẽ ngẩng đầu lên. Trong đôi mắt u tịch thoáng hiện chút ấm áp: “Cô về rồi sao?”

Hắn vốn quen bước đi cô độc, chẳng rõ từ lúc nào, hắn đã dần quen với sự hiện diện của nàng. Hắn quen với bóng dáng dịu dàng ấy, quen với việc chờ đợi nàng trở về trong Thôi phủ tĩnh lặng này.

Lý Doanh gật đầu nhẹ, nhìn ra cửa sổ, rồi ngồi xuống đối diện hắn, cất lời: “A Sử Na Gia đang chờ ngài ở bên ngoài.”

Thôi Tuần thoáng ngạc nhiên: “A Sử Na Gia?”

“Ừm.” Lý Doanh không nhắc đến việc nàng và A Sử Na Gia sắp phải xuống Địa phủ. Nàng không muốn Thôi Tuần, trong hoàn cảnh này, lại phải lo lắng cho sự an nguy của mình. Nàng chỉ nói lấp lửng: “Chấp niệm của nàng ấy tụ thành hình, đến Thôi phủ, muốn gặp ngài một lần.”

Ánh mắt Thôi Tuần dời về phía khung cửa sổ, qua khe hở thấp thoáng nhìn thấy một góc áo Hồ phục thêu họa tiết sói xanh đen. Hoa văn ấy từng là cơn ác mộng dai dẳng suốt hai năm trời không cách nào xóa nhòa trong tâm trí hắn. Hắn thu lại vẻ u uất trong mắt, quay sang nhìn Lý Doanh: “Cô muốn ta gặp nàng ấy sao?”

Lý Doanh cắn môi, nàng biết Thôi Tuần không muốn nhớ lại bất kỳ điều gì liên quan đến vương đình Đột Quyết. Nếu là trước đây, nàng sẽ để hắn tự quyết định có gặp A Sử Na Gia hay không, vì nàng chưa bao giờ muốn ép buộc hắn. Nhưng hôm nay, nàng do dự.

Một khi tiến vào Địa phủ, sau khi dùng thân mình vượt qua dòng Minh Tuyền, chấp niệm của A Sử Na Gia sẽ tan biến. Hồn niệm chính thức đang bị giam cầm ở Vong Tử Thành cũng sẽ không tránh khỏi bị liên lụy, vĩnh viễn tiêu tan. Và kể cả nàng, Lý Doanh, một ý niệm nhỏ nhoi ẩn giấu trong ký ức A Sử Na Gia, dù không bị nước Minh Tuyền làm tổn thương cũng thế. Nàng biết, hồn phách của mình ở dương gian chắc chắn cũng chịu ảnh hưởng, nhưng nghĩ đến kết cục đang chờ A Sử Na Gia, nàng không nỡ, cũng như không đủ lý trí để nói với Thôi Tuần rằng hãy tự mình quyết định có nên gặp hay không.

Có lẽ nhìn ra sự chần chừ trong mắt nàng, Thôi Tuần không chờ câu trả lời. Hắn nói: “Gặp một lần thì cũng có sao.”



Bên trong căn phòng, một đóa Mạn Châu Sa đang cháy sáng.

Ngoài Mạn Châu Sa, trong căn phòng chật hẹp, bởi Thôi Tuần mặc áo tù mỏng manh, nên giữa tiết trời tháng tư, trong phòng ngủ vẫn đốt than thượng phẩm, khiến không gian gần như oi bức. May thay, thân thể A Sử Na Gia là do chấp niệm hóa thành, đối với nàng, nóng lạnh vốn không còn cảm nhận. Và thế là, bát canh dê còn bốc khói trên bàn gỗ tử đàn dường như không hợp người hợp cảnh cho lắm.

Thôi Tuần liếc mắt nhìn bát canh dê trắng ngà. A Sử Na Gia, lần này đến gặp hắn, đã gom đủ dũng khí. Nhưng khi thật sự ngồi trước mặt hắn, nàng lại không dám ngẩng đầu lên. Sau cùng, nàng mới rụt rè hỏi: “Chàng vẫn ổn chứ?”

Hắn đáp: “Vẫn ổn.”

Không khí chìm trong sự tĩnh lặng khó xử. Một lúc sau, A Sử Na Gia ngước lên, giọng nói mang theo một chút run rẩy: “Xin lỗi.”

Nàng hạ giọng, cuối cùng cũng nói ra nỗi day dứt đã chôn giấu nhiều năm: “Đêm tuyết lớn năm đó, ta thực sự có lỗi với chàng.”

Thôi Tuần vẫn giữ vẻ bình thản, như thể sóng gió chẳng thể lay động: “Vậy sao? Ta không còn nhớ nữa.”

A Sử Na Gia nhìn khuôn mặt tái nhợt tựa tuyết của hắn. Nàng khẽ cười, một nụ cười chua xót: “Không nhớ nữa… cũng tốt.”

Trên án kỷ tử đàn vẫn còn vương hương thơm thanh nhã khi Lý Doanh rời đi. Ngón tay Thôi Tuần vô thức chạm vào mảnh lụa trắng buộc bên xiềng xích, A Sử Na Gia cũng nhìn thấy. Nàng lại hỏi: “Chàng… có phải chàng thích nàng ấy không?”

Thôi Tuần nghe ra “nàng ấy” mà nàng nhắc tới là ai. Hắn khựng lại một chút. A Sử Na Gia cười cay đắng: “Nếu sáu năm trước, ở vương đình Đột Quyết, ta đủ dũng cảm chống lại Ngột Đóa tỷ tỷ, cứu chàng thoát khỏi tay tỷ ấy, thì liệu chàng có thích ta… giống như thích nàng ấy không?”

Thôi Tuần nhìn nàng. Hắn không thừa nhận cũng không phủ nhận việc có thích Lý Doanh, chỉ chậm rãi lắc đầu: “Không có nếu như.”

A Sử Na Gia nghe vậy, không kìm được bật cười đau khổ: “Chàng nói đúng, không có nếu như. Dù thời gian có quay ngược, ta vẫn không đủ dũng khí chống lại Ngột Đóa tỷ tỷ, vẫn không dám nói một lời bảo vệ chàng.”

Như Lý Doanh từng nói, tính cách mỗi người được định hình bởi hoàn cảnh trưởng thành. Lý Doanh lớn lên trong tình yêu thương, nên nàng biết cách yêu và bảo vệ người khác. A Sử Na Gia thì không. Nàng lớn lên trong sự áp bức nghiêm khắc của cha, tính cách nhút nhát và yếu đuối, không dám phản kháng Ngột Đóa, không dám đứng ra cứu hắn, ngay cả đưa thuốc cho hắn cũng không dám. Hắn trải qua hai năm địa ngục không sống được mà chết cũng không xong, mỗi ngày mở mắt đều là một vòng tra tấn. Hai năm, bảy trăm hai mươi ngày, khoảng thời gian đen tối đẩy hắn lao vào vực sâu tuyệt vọng, nàng vẫn chỉ biết đứng nhìn trong im lặng.

Đôi khi, sự im lặng chính là sự đồng lõa lớn nhất.

Một bát canh dê, đã là toàn bộ dũng khí nàng có thể gom góp trong hai năm ấy. Nhưng dù là bát canh dê đó, Thôi Tuần cũng không được uống, thậm chí còn dẫn đến một trận đòn roi còn khốc liệt hơn.

Nàng bật cười, tròng mắt ánh lệ: “Nhờ thần Bột Đăng Ngưng Lê phù hộ, để giờ đây chàng đã có thể gặp được nàng ấy.”

Một người không giống như nàng, không nhu nhược, không lặng im. Người ấy sẽ kiên định ở bên chàng dù cả thế gian có quay lưng, sẽ dốc lòng tìm cách giải thoát cho chàng ra khỏi xiềng xích. Nàng đau đớn nói: “Đúng là ta không bằng nàng ấy.”

Thôi Tuần không nói gì, ánh mắt chỉ lướt qua bát canh dê đặt trên án kỷ tử đàn. Hắn trầm ngâm cầm bát lên, dùng muỗng vàng múc một ngụm uống, rồi nói: “Công chúa A Sử Na Gia, mong chấp niệm của cô sớm tiêu tan.”

A Sử Na Gia dõi mắt nhìn dây xiềng đen lạnh đang khóa chặt cổ tay tái nhợt của hắn, lòng nàng trào dâng nỗi xót xa. Nàng gật đầu, chọn mở lời: “Ừm, ta sắp phải đi đến Vọng Tử Thành rồi. Đợi khi kẻ thù chết đi, ta có thể đầu thai chuyển kiếp.”

Thôi Tuần đặt chiếc bát vàng đựng canh dê xuống, thản nhiên đáp: “Chúc mừng cô. Mong rằng kiếp sau, cô sẽ không gặp lại ta nữa.”



Trong phủ Ngư Phù Nguy, một lá cờ chiêu hồn khổng lồ đã được dựng lên, bao quanh là hàng chục nhà sư đồng thanh tụng Kinh Kim Cương. Ngư Phù Nguy bước vào nội trạch, hướng về phía Lý Doanh và A Sử Na Gia nói: “Mọi thứ đã chuẩn bị xong. Lá cờ chiêu hồn có thể triệu hồi ý niệm của công chúa Vĩnh An từ Địa phủ trở về. Kinh Kim Cương sẽ giúp công chúa giảm bớt tổn hại. Nhưng nhớ kỹ, tuyệt đối không được chạm mặt Tần Quảng Vương, nếu không, e rằng ý niệm của công chúa sẽ vĩnh viễn lưu lại nơi Địa phủ, không thể quay về được nữa.”

Lý Doanh gật đầu, lòng bàn tay nàng đặt lên tay A Sử Na Gia. Một tia sáng trắng lóe lên, một phần ý niệm của nàng đã nhập vào thân thể A Sử Na Gia. Bóng dáng của A Sử Na Gia dần biến mất, trong khi Lý Doanh ở lại căn phòng, tâm trí dần xuất hiện một con đường nhỏ âm u, đá núi lởm chởm, dẫn đến núi Bàn Chủng.

Ý niệm của Lý Doanh ẩn trong ký ức của A Sử Na Gia. Nàng không giống A Sử Na Gia, không mang chấp niệm quá sâu, ba năm không không tan cuối cùng tụ lại thành người. Ý niệm của nàng chỉ có thể nương vào người khác, không thể tự mình ngưng tụ. Trước mặt nàng, bóng dáng A Sử Na Gia dần hiện ra từ ký ức, A Sử Na Gia lên tiếng: “Hẳn chúng ta sắp tới U Đô rồi.”

Lý Doanh gật đầu, cả hai đều mang vẻ mặt trĩu nặng tâm tư. Lý Doanh lo lắng cho sự hy sinh của A Sử Na Gia, còn A Sử Na Gia thì chỉ nghĩ đến khuôn mặt thanh tú như hoa sen của Thôi Tuần, cùng mảnh lụa mềm đệm trong cùm sắt của hắn. Một lát sau, nàng mím môi, nói với Lý Doanh: “Công chúa Vĩnh An, cảm ơn người.”

Lý Doanh ngẩn ra, khó hiểu hỏi: “Cô cảm ơn ta vì điều gì?”

“Cảm ơn người đã chăm sóc chàng thật tốt.” A Sử Na Gia mỉm cười: “Như vậy, cho dù có hồn phi phách tán, thì ta cũng yên lòng.”

Lý Doanh không kìm được thốt lên: “Cô… cần gì phải làm như vậy?”

Nàng thở dài: “Cô gặp hắn rồi mà, hẳn cũng biết, hắn chưa từng thích cô. Hà cớ gì phải vì hắn mà hy sinh cả tính mạng?”

Lời nói thẳng thắn của nàng khiến A Sử Na Gia im lặng hồi lâu, rồi chậm rãi đáp: “Ta biết, chàng chưa từng thích ta. Vừa rồi, ngay cả một lời hứa hẹn kiếp sau, chàng cũng không cho ta.”

“Vậy tại sao còn cố chấp?”

A Sử Na Gia đáp: “Ta cho rằng, người cũng hy vọng ta sẽ cứu chàng.”

“Đúng là ta muốn cứu hắn, nhưng điều đó không có nghĩa là ta muốn cô phải trả giá bằng việc hồn phi phách tán.” Ánh mắt Lý Doanh thoáng chút mờ mịt: “Cô vô tội. Ta không thể làm vậy. Hiện giờ cô hối hận, vẫn còn kịp quay đầu.”

A Sử Na Gia cười, lắc đầu: “Ta không hối hận.”

Giọng nàng nhỏ nhẹ mà kiên định: “Thích chàng là việc của riêng ta. Ta sẽ không vì chàng không hứa hẹn kiếp sau mà từ bỏ mối tương tư này.”

Lý Doanh muốn nói rất nhiều, nhưng cuối cùng, ngàn lời vạn ý chỉ hóa thành một tiếng thở dài.



Núi Bàn Chủng là cửa ngõ dẫn vào Quỷ Môn Quan, trước mắt Lý Doanh vẫn là cõi hư vô dựng lên giữa lằn ranh sinh tử. Đi qua mảnh hư vô ấy, men theo con đường về phía tây, Lý Doanh bước vào ký ức của A Sử Na Gia, chạm mắt với dòng Minh Tuyền xanh biếc.

So với sự u ám ghê rợn của Nại Hà, Minh Tuyền lại giống như dòng suối trong ở nhân gian, yên tĩnh và mỹ lệ. Dòng nước Minh Tuyền không ẩn chứa những quái thú mặt xanh nanh vàng như Ba Tượng dưới sông Nại Hà, mà trong suốt nhìn thấu đáy. Giữ lúc Lý Doanh kinh ngạc tột độ trước sự khác biệt của Minh Tuyền, nàng bỗng cảm thấy một luồng khí lạnh thấu xương ngấm dần vào cơ thể. Loại lạnh giá này nàng chưa từng trải qua, tựa như có vạn lưỡi đao băng sắc bén đang cào xé trên xương cốt. Lý Doanh run rẩy không ngừng. Đối diện nàng, tình trạng của A Sử Na Gia còn tồi tệ hơn. Nàng ấy quỳ rạp xuống đất, hàm răng va vào nhau lập cập, thân ảnh càng lúc càng nhạt nhòa. Lý Doanh bước tới đỡ nàng: “Cô sao rồi?”

A Sử Na Gia lắc đầu: “Không sao, đã vào Minh Tuyền rồi, ta chịu được.”

Lý Doanh đưa mắt nhìn quanh, quả nhiên, Minh Tuyền là dòng suối sâu không thấy đáy. Nàng còn trông thấy vài hồn phách đã đông cứng thành tượng băng, có hồn phách thậm chí vỡ nát thành mảnh vụn, rải rác hỗn loạn dưới đáy Minh Tuyền. Đúng như Ngư Phù Nguy từng nói, nếu là quỷ hồn, căn bản không cách nào vượt qua Minh Tuyền.

Nhưng thân ảnh hóa thân từ chấp niệm, chẳng phải người, cũng chẳng phải quỷ, vốn là một vật vô hình. Thứ ấy không thuộc về nhân gian, cũng không thuộc về âm gian. Nước Minh Tuyền không phải thứ được dùng để đối phó với loại vật chất vô hình này, nên A Sử Na Gia cố gắng chịu đựng, vượt qua được Minh Tuyền.

Nàng bò lên bờ, thân ảnh lại tụ thành hình người, y phục trên người không lưu lại chút dấu tích nào từ nước suối. Mặc dù vậy, Lý Doanh vẫn cảm nhận rõ luồng hàn khí đâm vào xương cốt vẫn chưa hề tan biến.

Trước Minh Tuyền, Quỷ Phán Điện hiện lên, sừng sững nguy nga. Thân ảnh A Sử Na Gia một lần nữa hóa thành một luồng vô hình, tan vào trong Quỷ Phán Điện.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 81: Quỷ Phán Điện


Vừa bước vào Quỷ Phán Điện, lọt vào tai là tiếng khóc ai oán vang vọng khắp nơi khiến người nghe không khỏi rùng mình. Tiếng khóc thê lương đầy vẻ u ám, làm những kẻ yếu gan không khỏi run rẩy. Lý Doanh bịt chặt hai tai, cố ngăn âm thanh ấy không thể xâm nhập. Chỉ trong nháy mắt, A Sử Na Gia đã hóa thành một thực thể vô hình, nhanh chóng lao xuống địa ngục, nơi có Quỷ Phán Điện.

So với ngục thất nhân gian, địa ngục âm ty lại càng rợn ngợp hơn nhiều. Trong bóng tối đen kịt, đưa tay không nhìn thấy ngón ngón tay, rải rác những đốm quỷ hỏa lập lòe chiếu sáng.

Đi qua vùng tăm tối, cảnh tượng phía trước đột nhiên mở ra rõ ràng. Một ngọn đồi đao rộng lớn đứng sừng sững, bên cạnh là một vạc dầu sôi khổng lồ. Trên đồi, vô số lưỡi đao sắc bén cắm tua tủa; trong vạc, dầu nóng sôi trào, từng ác hồn bị quỷ sai dùng đinh ba đẩy vào trong đó. Trên đồi đao cũng treo đầy những oan hồn ruột gan lộ hết cả ra ngoài. Chúng r.ên rỉ, gào thét, tiếng kêu thảm thiết như xé nát bầu không gian u ám lan toả khắp Quỷ Phán Điện.

Lý Doanh sợ hãi đến toàn thân run rẩy. Nàng siết chặt lấy túi gấm bên hông. Trong túi gấm ấy là đoá tường vi khô mà Thôi Tuần từng trao cho nàng.

Run run lấy bông hoa tường vi ra, nàng nắm chặt trong lòng bàn tay, cảm giác sợ hãi đến tê dại bỗng dần lắng xuống. A Sử Na Gia liếc nhìn đóa hoa khô, nàng nói: “Đi thôi, chúng ta đi tìm Quách Cần Uy.”



Theo lời của Ngư Phù Nguy, Quách Cần Uy là người tự vẫn, nên bị giam ở tầng địa ngục thứ nhất. Bước vào ngục thất, khác với cảnh tượng dao đồi dầu vạc ngoài kia, trong đây lại chìm trong một màn im lặng đến nghẹt thở. Bốn bề tường ngục treo vô số ngọn quỷ hỏa mờ nhạt. Dường như chúng có con mắt, khi bóng dáng A Sử Na Gia lướt qua, ngọn lửa bất chợt bừng sáng hơn hẳn.

A Sử Na Gia thất kinh, sợ rằng sẽ bị Tần Quảng Vương phát giác, bèn vội vàng tiến sâu vào trong tìm kiếm. May thay, trước mỗi gian ngục đều treo tấm biển ghi tên họ cùng năm sinh năm mất của những kẻ bị giam. Vào đến gian phòng sâu nhất, cuối cùng A Sử Na Gia cũng tìm được Quách Cần Uy.

Đây là lần đầu tiên Lý Doanh gặp mặt Quách Cần Uy. Người mà Đột Quyết từng coi là ngọn cờ đầu của Đại Chu, nay đã ngoài tứ tuần, khí chất vẫn uy nghiêm lẫm liệt. Dù đang bị giam cầm nơi địa ngục tăm tối nhưng ông không hề có dáng vẻ suy sụp. Thần thái ấy như thể ông không phải kẻ bị nhốt chốn này, mà vẫn là vị đại tướng quân từng dẫn dắt năm vạn Thiên Uy quân, một mũi tên hạ gục thủ lĩnh Đột Quyết – Diệp Hộ.

Chấp niệm của A Sử Na Gia tụ lại thành người, xuất hiện trước mặt Quách Cần Uy.

Ban đầu Quách Cần Uy ngồi xếp bằng, mắt khép hờ. Nghe tiếng động, ông mở mắt, thấy trước mặt mình là một thiếu nữ Đột Quyết với hai bím tóc dài đen nhánh, vận Hồ phục thêu hình sói xanh đen. Ông nghi hoặc hỏi: “Ngươi là ai?”

A Sử Na Gia đáp: “Ta là A Sử Na Gia, đến đây vì Thôi Tuần.”

Nàng đưa tay ra, ý niệm của Lý Doanh được rút ra khỏi ký ức nàng, hóa thành một đốm lửa ma trơi xanh biếc, lượn lờ trong lòng bàn tay: “Nàng ấy là Vĩnh An công chúa Lý Doanh, cũng vì Thôi Tuần mà đến.”



A Sử Na Gia nhanh chóng giới thiệu bản thân, cùng đốm lửa xanh biếc trong lòng tay và mục đích của chuyến đi này. Quách Cần Uy lặng lẽ nhìn đốm lửa ấy, dường như ông có thể nhìn xuyên qua đó, thấy được dáng vẻ vị công chúa được sủng ái của Đế Hậu ngày nào. Nàng búi tóc kiểu song hoàn vọng tiên, và là viên minh châu chói lọi nhất của Đại Chu, người từng được Tiên đế thân phong là Vĩnh An công chúa. Dù giờ đây ông chỉ là một hồn ma bị đày dưới địa ngục, còn Lý Doanh cũng chỉ là một đốm lửa ma không thể hóa hình người, Quách Cần Uy vẫn quỳ xuống, cúi đầu cung kính hành lễ: “Thần Quách Cần Uy, tham kiến Vĩnh An công chúa.”

Lý Doanh không thể hiện hình, chỉ có đốm lửa xanh biếc lóe sáng lên. Từ trong đó vang lên một giọng nói như suối mát đầu nguồn, thanh khiết mà nhu hòa: “Quách soái, miễn lễ.”

Quách Cần Uy đứng dậy, Lý Doanh lại nói: “Quách soái, Kim Di và Bùi Quan Nhạc vu oan Thôi Tuần giết ngài. Chúng bảo hắn đã chặt đầu ngài mang sang Đột Quyết đầu hàng, thậm chí còn định tạo ra một chiếc đầu lâu giả để hãm hại hắn. Ta cần phá tan âm mưu này. Ngài có biết thủ cấp của mình hiện ở đâu không?”

Lời vừa dứt, sắc mặt Quách Cần Uy lộ rõ vẻ kinh ngạc: “Sao lại nghi ngờ Thập Thất lang? Thần đã rơi vào mai phục tại Lạc Nhạn Lĩnh, tự vẫn mà chết. Sau đó, thủ cấp của thần bị truyền khắp quân doanh Đột Quyết, rồi được đặt tại thạch tháp trong vương đình.”

“Rồi sao nữa?” Lý Doanh hỏi.

“Sau đó, thủ cấp của thần bị Đột Quyết Diệp Hộ trộm mất, hiện giờ vẫn nằm trong phủ hắn.”

“Đột Quyết Diệp Hộ?”

A Sử Na Gia bừng tỉnh: “Chả trách thủ cấp của Quách soái không cánh mà bay, thì ra là thế… Hai mươi năm trước, Diệp Hộ Đốn Mạc bị Quách soái bắn chết, con trai ông ta là La Cát kế thừa vị trí Diệp Hộ, hẳn là vì báo thù cho cha, mới lấy cắp thủ cấp của Quách soái.”

Lý Doanh vui mừng khôn xiết: “Đã biết được ở đâu, vậy thì dễ rồi.”

Nàng mừng rỡ đến mức đốm lửa xanh biếc trong lòng tay A Sử Na Gia cũng bừng sáng như minh châu trong đêm, chói lọi lạ thường. A Sử Na Gia cũng hiện vẻ vui mừng trên gương mặt. Quách Cần Uy thấy hai thiếu nữ phản ứng như vậy, trong lòng thầm hiểu hai người hẳn đều dành tình cảm sâu sắc cho Thôi Tuần. Nhưng vì sao và bằng cách nào hai người lại quen biết Thôi Tuần, ông còn chưa kịp hỏi, đã buột miệng thốt lên vấn đề mà mình băn khoăn nhất: “Công chúa, Thập Thất lang… nó vẫn khỏe chứ?”

Câu hỏi ấy khiến Lý Doanh khựng lại. Hiện Thôi Tuần đang lâm vào cảnh lao ngục, bệnh tật bủa vây, sao nàng có thể nói rằng hắn “khỏe mạnh” được đây? Nhưng khi thấy nét mặt mong mỏi của Quách Cần Uy, nàng bỗng nhớ lại lời Thôi Tuần từng nói: “Ta xem Quách soái như phụ thân.”

Ánh lửa ma trơi vốn đang lấp lánh bỗng chợt yên lặng, sắc mặt A Sử Na Gia trầm xuống khi nghĩ về hai năm Thôi Tuần ở Đột Quyết, nàng cũng cúi đầu, không dám thốt lên nửa lời. Sau một hồi cân nhắc cẩn thận, Lý Doanh khẽ nói: “Hiện tại, hắn đang là Thiếu khanh Sát Sự Thính tứ phẩm của Đại Chu, quyền thế không nhỏ. Tuy nhiên, Bùi Quan Nhạc và những kẻ khác luôn gây khó dễ, lần này còn mượn cớ vu cáo hắn mưu phản, hòng đẩy hắn vào chỗ chết.”

Nghe đến nửa câu đầu, vẻ mặt của Quách Cần Uy như nhẹ nhõm đi, nhưng khi lời kế tiếp thốt ra, ông lập tức cau mày: “Thập Thất Lang mà phản quốc sao? Chính thần đã từng dặn nó, dù bị Đột Quyết bắt cũng tuyệt đối không được đầu hàng, phải học theo Tô Vũ, nằm gai nếm mật. Nó là người nghe lời thần nhất, tuyệt đối không thể phản quốc.”

Lời nhắc đến chuyện cũ khiến Lý Doanh thoáng chấn động. Nàng hỏi: “Quách soái, vì sao Thiên Uy quân lại bị diệt toàn quân? Sáu năm trước, tại Lạc Nhạn Lĩnh, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”

Nghe vậy, Quách Cần Uy thở dài, ánh mắt hiện lên một tia đau đớn. Ông từ tốn kể: “Sáu năm trước, Đột Quyết dẫn ba mươi vạn đại quân bất ngờ nam hạ, tấn công sáu châu Quan Nội. Trong đó, Khả hãn Ni Đô đích thân chỉ huy hai mươi vạn quân xâm phạm Phong Châu. Phong Châu là cửa ngõ của sáu châu, nếu Phong Châu mất, sáu châu sẽ không thể giữ được. Thứ sử Phong Châu là Bùi Quan Nhạc cầu viện, thần liền dẫn năm vạn Thiên Uy quân tới Phong Châu chống giặc.“

Lý Doanh thốt lên: “Bùi Quan Nhạc?“

Quách Cần Uy gật đầu: “Bùi Quan Nhạc là đồng hương của thần, lớn lên cùng nhau từ nhỏ. Cả hai xuất thân nghèo khó, nhưng cùng nuôi chí lớn báo quốc. Vì muốn thực hiện hoài bão, hắn lên đường đến Trường An, còn thần thì trấn giữ biên ải. Tuy xa cách nhưng vẫn thư từ qua lại, tình nghĩa chưa từng phai nhạt. Sau này, hắn cưới con gái họ Vương ở Thái Nguyên, quan lộ rộng mở, cuối cùng làm đến chức Thứ sử Phong Châu. Thần nhờ được Thái hậu trọng dụng, trở thành Phó đô hộ phủ An Tây. Vì mấy mươi năm giao tình ấy, thần không chút do dự mà tới Phong Châu.“

“Lúc tới Phong Châu, Khả hãn Ni Đô đã phá được hai huyện Vĩnh Phong và Cửu Nguyên, khí thế hùng mạnh, áp sát thành Phong Châu. Lúc ấy quân Đột Quyết sĩ khí đang dâng cao, lực lượng lại đông đảo hơn quân thần rất nhiều. Khi đó đã là đầu đông, thần đề nghị Bùi Quan Nhạc cố thủ thành Phong Châu, chờ đến khi quân địch cạn lương thực, vòng vây tự khắc được phá giải.”

“Thành Phong Châu vốn có địa thế hẹp ở mặt trước, hai bên là quan ải vách đá hiểm trở, dễ thủ khó công. Bùi Quan Nhạc từng dẫn binh nhiều năm, hắn cũng đồng tình với ý kiến của thần. Khi thần và Thiên Uy quân chuẩn bị cố thủ trong thành, bất ngờ Thánh nhân ban xuống một đạo chỉ dụ, trách thần sợ chết không dám đánh, buộc thần lập tức xuất quân, đẩy lui Đột Quyết.“

Nghe xong, Lý Doanh sững người: “Sao a đệ lại hạ đạo chỉ này?“

Quách Cần Uy cười khổ: “Lúc đó thần cho rằng Thánh nhân ở sâu trong cung cấm, bị kẻ tiểu nhân che mắt, mới thúc giục thần xuất binh. Nhưng giờ nghĩ lại, chỉ dụ ấy hẳn là giả.”

“Giả?”

Quách Cần Uy khẽ gật đầu. Khi nhận được chỉ dụ, dù vô cùng bất đắc dĩ, nhưng mệnh vua khó trái. Ông đành dẫn năm vạn Thiên Uy quân đối đầu với hai mươi vạn kỵ binh Đột Quyết đang khí thế ngút trời. Để gia tăng cơ hội chiến thắng, ông và Bùi Quan Nhạc bàn bạc nhiều ngày, quyết định để ông dẫn Thiên Uy quân vòng ra sau lưng quân Đột Quyết tấn công bất ngờ, còn Bùi Quan Nhạc thì dẫn binh tiến công từ chính diện, tạo thế gọng kìm.

Nhưng sự việc sau đó đã vượt ngoài dự liệu của Quách Cần Uy.

Lý Doanh tiếp lời: “Nhưng khi Quách soái dẫn quân Thiên Uy đi ngang qua Lạc Nhạn Lĩnh, lại bị Đột Quyết phục kích, toàn quân bị tiêu diệt.”

Quách Cần Uy sắc mặt trầm lặng: “Kế hoạch này, chỉ có thần và Bùi Quan Nhạc biết, ngoài ra không ai khác hay tin. Khi ấy, Thiên Uy quân hành quân liền năm ngày, vượt qua ba ngọn núi, người ngựa kiệt sức. Khi đến Lạc Nhạn Lĩnh, thần nhận thấy nơi này đường hẹp, xung quanh toàn là rừng núi rậm rạp, trong lòng lập tức sinh nghi. Đúng lúc thúc giục quân lính tiến bước, thì Nhi Đô Khả Hãn dẫn kỵ binh bất ngờ lao ra, khiến chúng thần không kịp trở tay.”

Lý Doanh nghe xong, nàng không khỏi kinh tâm: “Sao Đột Quyết lại biết được lộ tuyến hành quân của các ngài? Chẳng lẽ…”

Quách Cần Uy gật đầu: “Chỉ có đúng một cách giải thích duy nhất.”

Lộ tuyến hành quân của Thiên Uy quân, chỉ có Quách Cần Uy và Bùi Quan Nhạc biết rõ. Quách Cần Uy đang ở đây, vậy thì người duy nhất có khả năng tiết lộ chính là Bùi Quan Nhạc.

Quách Cần Uy nói: “Trong trận phục kích ấy, năm vạn Thiên Uy quân chết và bị thương hơn phân nửa. Thần dẫn theo số quân còn lại, vừa đánh vừa rút, nhưng Lạc Nhạn Lĩnh đã bị quân Đột Quyết bao vây kín kẽ. Thần thử phá vây nhiều lần, nhưng đều thất bại. Lúc đó, thần đã nghi ngờ Bùi Quan Nhạc bán đứng mình, nhưng nghĩ đến tình nghĩa nhiều năm, vẫn cảm thấy khó mà tin nổi.”

Thật ra không chỉ Quách Cần Uy không thể tin, nếu không phải Lý Doanh đã sớm biết trước về con người thật của Bùi Quan Nhạc, nàng cũng chẳng dám tin. Một người bạn thân từ nhỏ, kết giao hơn bốn mươi năm như Quách Cần Uy và Bùi Quan Nhạc, sao có thể nói phản bội là phản bội được? Chuyện này xảy ra với bất kỳ ai cũng đều khó lòng tin nổi.

Thần sắc của Quách Cần Uy ngày càng lộ vẻ đau đớn, đó là nỗi đau của một người đặt niềm tin sai chỗ, khiến năm vạn tướng sĩ phải chết oan. Nỗi đau ấy, dù đã sáu năm trôi qua, vẫn chưa hề phai nhạt, ngược lại còn khắc sâu từng ngày.

Ông lẩm bẩm: “Dù thần nghi ngờ Bùi Quan Nhạc, nhưng vẫn cử người phá vây đến tìm hắn cầu cứu. Tuy nhiên, lúc đó thần cũng không hoàn toàn tin hắn, nên đã phái người khác đi Trường An cầu viện.”

Lý Doanh đã biết người Quách Cần Uy nhắc đến là ai. Đó chính là Ngu hầu Thiên Uy quân Thịnh Vân Đình, người chưa kịp đến Trường An đã bị loạn đao chém chết, thi thể chôn vùi bên ngoài cửa Thông Hóa suốt sáu năm trời.

Ngọn quỷ hỏa chập chờn càng thêm mờ mịt, giống như chính lòng dạ Lý Doanh lúc này. Trong lời kể của Quách Cần Uy, cuối cùng hình bóng của chàng trai trẻ cưỡi bạch mã, đeo yên bạc cũng dần hiện ra.

Nếu có thể quay về sáu năm trước, nàng có lẽ vẫn được thấy chàng thiếu niên ấy kéo cung bắn tên, liên tục tiễn hạ vài kỵ binh Đột Quyết. Cũng có thể thấy chàng phi ngựa lao đi, dẫn quân xông pha chiến trận. Nhưng giờ đây, thiếu niên trên bạch mã với yên cương bằng bạc ấy đã mãi tan biến vào cát bụi sa mạc.

Chỉ còn lại một Thôi Tuần trong thành Trường An, thân thể tiều tụy, ngay cả chiếc cung cũ cũng chẳng thể kéo nổi.

Nàng biết, đời này mình sẽ không bao giờ được nhìn thấy nữa.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 82: Lạc Nhạn Lĩnh


Trong ngục thất u ám, thảm cảnh xảy ra sáu năm trước dần hiện rõ trước mắt Lý Doanh và A Sử Na Gia.

Tại Lạc Nhạn Lĩnh, lác đác vài binh lính bị thương của Thiên Uy quân ngồi nghỉ ngơi trên mặt đất. Một thiếu niên gương mặt bầu bĩnh khoảng mười bảy tuổi đang rút mũi tên khỏi cánh tay, phun ra ngụm máu tanh rồi nghiến răng nói: “Hà Cửu đã đi tìm Bùi Quan Nhạc suốt hai mươi ngày nay, nhưng đến giờ vẫn chưa thấy viện quân. Bùi Quan Nhạc đó, đừng nói là cố tình hại chúng ta đấy nhé?”

Một binh lính khác nhét mẩu vỏ cây vào miệng nhai. Hai mươi ngày bị vây khốn, bọn họ đã ăn hết sạch những vỏ cây quanh đây. Người lính nuốt xuống vị đắng chát, cất giọng trách mắng: “Đừng ăn nói bừa bãi. Tình giao hảo giữa Bùi tướng quân và Quách soái kéo dài mấy chục năm, sao lại hại chúng ta được?”

“Ta nói bừa? Phong Châu có ba vạn quân giữ thành, cộng thêm một vạn từ Vĩnh Phong và Cửu Nguyên chạy tới, chẳng lẽ không đủ điều động bốn vạn người? Nếu không thì gửi năm ngàn người tới cứu viện cũng được. Cùng lắm thì đến Du Châu hoặc Thanh Châu cầu cứu binh lực. Thế mà đến giờ, đến cả một bóng người cũng chẳng thấy đâu!”

“Tào Ngũ, im miệng!”

Tào Ngũ lang hậm hực: “Ta cứ không im đấy! Ban đầu, chúng ta nhẹ nhàng xuất phát, bí mật hành quân, định đánh Đột Quyết một trận bất ngờ. Vậy mà chẳng hiểu sao Đột Quyết lại biết trước lộ tuyến hành quân của chúng ta? Chẳng lẽ chúng có thiên lý nhãn, thuận phong nhĩ? Theo ta thấy, tám phần là do Bùi Quan Nhạc giở trò quỷ!”

“Tào Ngũ, sự tình chưa sáng tỏ, ngươi chớ nói bừa kẻo khiến Quách soái đau lòng!”

“Ai khiến Quách soái đau lòng thì không biết, chứ chắc chắn không phải ta, Tào Ngũ lang này!”

Hai người họ suýt nữa thì cãi nhau to tiếng, nhưng bất chợt, tiếng vó ngựa dồn dập vang lên. Một thiếu niên vận giáp minh quang ánh vàng lao nhanh đến. Thiếu niên ấy gương mặt tuấn tú, đôi mắt đào hoa lấp lánh, thoạt nhìn chẳng khác nào công tử quyền quý xuất thân thế gia. Nhưng trên bộ giáp vàng sáng rực kia vẫn còn vương máu địch, lông mày sắc lạnh toát lên sát khí hừng hực. Chính sát khí ấy đã xóa nhòa nét mỹ lệ trên gương mặt cậu, để lại dáng vẻ của một vị thiếu tướng đầy oai hùng giữa ánh nắng mùa đông, bộ giáp vàng tựa như được dát thêm một lớp hào quang chói lọi.

Thiếu niên xoay người xuống ngựa, tay cầm một cây cung sắt, bước thẳng đến trước mặt hai người bọn họ.

Đó là Thôi Tuần năm mười bảy tuổi.

Ánh mắt lạnh như băng của Thôi Tuần nhìn thẳng vào Tào Ngũ lang: “Lúc nào rồi mà còn cãi nhau?”

Tào Ngũ lang gân cổ cãi: “Không phải ta muốn cãi, mà tại Lục Nhị cứ khăng khăng bênh vực cho Bùi Quan Nhạc.”

“Im ngay!”

Rõ ràng Tào Ngũ lang rất nể lời Thôi Tuần, đành hậm hực im lặng. Lục Nhị liền hỏi: “Thập Thất lang, có tin gì của Vân Đình không?”

Thôi Tuần lắc đầu. Lục Nhị sốt ruột: “Đã hơn nửa tháng rồi, lẽ ra đã phải đến Trường An từ lâu? Sao vẫn không thấy viện quân?”

Thôi Tuần không đáp, chỉ lấy từ trong người ra nửa cái bánh hồ rồi ném cho Lục Nhị: “Đừng ăn vỏ cây nữa, ăn cái này đi.”

Lục Nhị bắt lấy, ngạc nhiên hỏi: “Ở đâu ra đó?”

“Giết một thám tử Đột Quyết, mò được trong người hắn.”

Lục Nhị nhìn chiếc bánh, thấy trên đó vẫn còn dính vệt máu, bèn hỏi: “Huynh ăn chưa?”

“Ăn rồi, nếu không sao chỉ còn mỗi nửa cái?”

Lục Nhị mỉm cười, cắn từng miếng ngấu nghiến. Thôi Tuần lại bước đến bên Tào Ngũ lang, nhìn cánh tay đang chảy máu của y rồi mím môi. Sau đó, hắn lấy ra từ ngực áo một chiếc khăn gấm được gấp cẩn thận, mở ra và băng bó vết thương cho Tào Ngũ lang. Tào Ngũ lang giật mình, vội nói: “Đây chẳng phải di vật của mẫu thân huynh sao?”

Thôi Tuần cụp mắt, khẽ nói: “Lúc này đừng bận tâm đến di vật nữa.”

Tào Ngũ lang không nói thêm gì, chỉ liếc nhìn Lục Nhị đang ngồi xổm dưới đất, ăn uống hệt như quỷ đói đầu thai, rồi lén hỏi nhỏ bên tai Thôi Tuần: “Này, huynh ăn rồi thật không đó?”

Thôi Tuần không đáp, Tào Ngũ lang tặc lưỡi: “Chắc chắn là huynh chưa ăn, Lục Nhị thì vô tâm, còn ta thì để ý.”

Thôi Tuần nhíu mày, bàn tay đang buộc vết thương bỗng siết chặt, khiến Tào Ngũ lang phải r.ên rỉ: “Ui, đau quá!”

Buộc xong, Thôi Tuần vỗ nhẹ lên vết thương của Tào Ngũ lang, làm y lại gào lên một tiếng thảm thiết. Thôi Tuần điềm nhiên hỏi: “Quách soái đâu rồi?”

“Trong… trong Trung Nghĩa Từ.”



Trung Nghĩa Từ nằm ở trung tâm Lạc Nhạn Lĩnh, bên trong thờ tượng của Tô Vũ và Trương Khiên triều Hán. Tô Vũ chăn dê mười chín năm không đổi lòng son, Trương Khiên bị bắt mười năm vẫn không quên sứ mệnh. Người Hán cảm niệm lòng trung nghĩa ấy mà lập đền tại đây. Nhưng qua năm tháng, Trung Nghĩa Từ đã hoang phế, điêu tàn.

Trong từ đường cũ kỹ ấy, Quách Cần Uy thần sắc tiều tụy, trên người đầy vết thương do tên bay, thất thần ngẩng nhìn hai pho tượng Tô Vũ và Trương Khiên trước mặt.

Thôi Tuần bước vào Trung Nghĩa Từ, cố giảm nhẹ bước chân nhưng vẫn không qua được tai Quách Cần Uy: “Là Thập Thất lang phải không?”

Thôi Tuần mím môi, chắp tay nói: “Quách soái, vẫn chưa có tin tức gì từ Vân Đình.”

Quách Cần Uy xoay người, chậm rãi lắc đầu, ánh mắt ngập tràn bi ai: “Chỉ sợ lành ít dữ nhiều.”

Từ trước tới nay, Thôi Tuần chưa từng thấy Quách Cần Uy để lộ thần sắc như vậy. Ba năm theo quân, hắn luôn phục tùng dưới trướng Quách Cần Uy, người mà dù ở nơi hiểm nguy thế nào cũng vẫn điềm tĩnh, vững vàng. Chủ soái như vậy, tướng sĩ mới yên lòng. Thế nhưng giờ đây, Quách Cần Uy lại mang dáng vẻ của một anh hùng tận số, tựa hồ đang rơi dần vào tuyệt vọng.

Trong lòng Thôi Tuần chấn động, hắn nghe Quách Cần Uy thì thào: “Hà Cửu đến chỗ Bùi Quan Nhạc, có khi cũng không lành lặn mà về.”

Ông đã mấy ngày không chợp mắt, lại bị thương, nay còn mất đi hai tướng tài yêu quý. Trước mắt chợt tối sầm, may nhờ Thôi Tuần kịp thời đỡ lấy, ông mới không ngã xuống.

Thôi Tuần dìu ông ngồi xuống, Quách Cần Uy dựa vào cột gỗ sơn đỏ, thở d.ốc vài hơi, cơn choáng váng mới qua đi. Ông chậm rãi nhìn Thôi Tuần, ánh mắt dừng trên thiếu niên có dung mạo như ngọc trước mặt.

Dưới tay chàng, ngoài những vết chai mỏng do luyện kiếm kéo cung, chẳng có dấu vết nào của lao nhọc. Đó chính là dáng vẻ mà chỉ dòng dõi danh gia vọng tộc như Bác Lăng Thôi thị mới bồi dưỡng ra được.

Quách Cần Uy khẽ nói: “Thập Thất lang, năm đó Thôi tướng công đích thân viết thư tiến cử cháu đến Thiên Uy quân, ta từng rất lo lắng. Sợ rằng một thế gia công tử như cháu không quen được với nơi này.”

Đột nhiên nhắc lại chuyện cũ ba năm trước, lời ông càng toát lên vẻ bi ai của một kẻ cùng đường mạt lộ. Hốc mắt Thôi Tuần chợt nóng lên, hắn cúi đầu đáp: “Không đâu, cháu quen rồi.”

Quách Cần Uy cười nhẹ: “Khi mới đến, cháu ít nói, ai gọi cũng không buồn đáp. Hà Cửu còn đến mách ta rằng cháu coi thường bọn họ. Nhưng ta quan sát lại thấy không phải cháu khinh họ, mà là chối từ tất cả mọi người. Thế nên ta bảo Tào Ngũ và Vân Đình chú ý chăm sóc cháu. Vân Đình lớn hơn vài tuổi, Tào Ngũ thì bằng tuổi, một người điềm đạm, một người nhiệt tình. Hai đứa nó đều không sợ phiền toái. Chẳng bao lâu sau, cháu bắt đầu đáp lại bọn họ. Một thời gian sau, chẳng ai còn đến phàn nàn với ta nữa.”

Thôi Tuần cắn răng, những giọt lệ lặng lẽ rơi xuống đất: “Mọi người… đều đối tốt với cháu.”

Quách Cần Uy gật đầu: “Nhưng những người tốt với cháu, e rằng hôm nay đều phải bỏ mạng tại Lạc Nhạn Lĩnh này.”

Thôi Tuần biến sắc, ngẩng đầu lên, ánh mắt đỏ hoe: “Quách soái, chúng ta vẫn còn cơ hội!”

Quách Cần Uy cười thảm: “Năm vạn Thiên Uy quân, giờ chỉ còn lại hai trăm người. Bên ngoài lại bị hơn mười vạn binh Đột Quyết bao vây, không còn cơ hội nào nữa.”

Nước mắt Thôi Tuần lăn dài, dù miệng nói vẫn còn cơ hội, nhưng trong lòng hắn đã thừa nhận: Không còn cơ hội nào nữa. Hai trăm người đối đầu với hơn mười vạn đại quân, cơ hội thắng hoàn toàn không có. Một khi Khả hãn Ni Đô phát động tấn công, hai trăm người còn lại này, tuyệt không ai sống sót.

Quách Cần Uy ngừng lại một chút, rồi nói tiếp: “Thiên Uy quân chúng ta dù hôm nay táng mạng tại đây, nhưng cũng đã giết được sáu vạn tinh binh Đột Quyết. Năm vạn đổi sáu vạn, đáng giá.”

Thôi Tuần chỉ biết cắn răng, nước mắt không ngừng tuôn rơi. Quách Cần Uy nhìn hắn, như thể không muốn mở miệng, nhưng cuối cùng vẫn thở dài một tiếng, khó nhọc nói: “Thập Thất lang, cháu có sợ chết không?”

Thôi Tuần chẳng cần suy nghĩ, hắn đáp: “Không sợ.”

Hắn nói rõ, từng chữ từng lời: “Được chết cùng Quách Soái và Thiên Uy quân, là vinh hạnh của Thôi Tuần ta.”

Quách Cần Uy mỉm cười, vỗ vỗ vai hắn: “Tốt, cháu đúng là hảo hán của Thiên Uy quân ta.”

Thôi Tuần không nói nên lời. Bỗng nhiên, Quách Cần Uy vùng vẫy đứng lên, quỳ sụp xuống trước mặt hắn, tiếng động vang dội. Thôi Tuần kinh hãi, vốn định nâng ông dậy, nhưng Quách Cần Uy lại nghiêm giọng quát: “Không được đỡ!”

Thôi Tuần sững sờ, ngay cả Tào Ngũ lang vừa xông vào nghe động tĩnh cũng đứng lặng tại chỗ.

Quách Cần Uy nhìn Thôi Tuần, chậm rãi nói: “Thập Thất lang, cháu không sợ chết, nhưng ta lại muốn cháu sống.”

Thôi Tuần hoàn toàn ngây ra, Quách Cần Uy tiếp lời: “Rõ ràng chỉ có ta và Bùi Quan Nhạc biết đường hành quân của Thiên Uy quân. Tại sao Đột Quyết lại biết được? Chúng ta cầm cự suốt hai mươi ngày, mũi tên lương thảo đều cạn, phải ăn cả vỏ cây mà sống. Tại sao viện binh vẫn không tới? Thập Thất lang, toàn quân Thiên Uy quân bị diệt lần này là vì có ẩn khuất! Cháu không thể chết, cháu phải sống, phải tìm ra kẻ hại chết chúng ta!”

Thôi Tuần ngây ngốc nhìn Quách Cần Uy. Nước mắt ông đã rơi thành dòng: “Bác Lăng Thôi thị là danh môn cao nhất thiên hạ, đứng đầu sĩ tộc. Thập Thất lang, cháu là hậu duệ của họ Thôi ở Bác Lăng, không giống mấy đứa Tào Ngũ lang. Cho dù cháu bị bắt, Đột Quyết cũng sẽ không giết cháu. Chỉ có cháu mới có thể đòi lại công bằng cho Thiên Uy quân chúng ta!”

Nói xong, Quách Cần Uy dập đầu ba lần trước mặt Thôi Tuần. Tào Ngũ lang và những người khác cũng quỳ xuống, nước mắt như mưa.

Thôi Tuần không thể nào chịu đựng thêm nữa, hai đầu gối quỳ sụp xuống trước mặt Quách Cần Uy, nghẹn ngào thốt: “Quách soái…”

Quách Cần Uy ngẩng đầu lên, giọng đầy thê lương: “Thập Thất lang, ta biết cháu luôn tâm cao khí ngạo, thà chết chứ không chịu bị bắt. Nhưng khắp núi đồi Lạc Nhạn Lĩnh đều là thi thể của Thiên Uy quân, năm vạn oan hồn ấy, dù xuống hoàng tuyền, cũng chẳng thể nhắm mắt!”

Thôi Tuần đôi mắt đỏ hoe, bị bắt làm tù binh đối với hắn thực sự là một nỗi nhục không gì sánh bằng. Hắn thà chết chứ quyết không chịu để bị bắt giữ. Nhưng nơi này, từng tấc đất trên Lạc Nhạn Lĩnh, đều thấm đẫm máu của Thiên Uy quân. Đó là những người đã cùng hắn kề vai chiến đấu suốt ba năm qua, là những người thân thiết như huynh đệ. Họ không hề chê bai tính cách lạnh nhạt của hắn, ngược lại còn đối đãi chân tình. Sao hắn có thể vì chút kiêu hãnh của bản thân mà khiến năm vạn oan hồn ấy chết không nhắm mắt?

Thôi Tuần nghẹn ngào, không thể thốt nên lời. Hắn trịnh trọng cúi đầu trước Quách Cần Uy, dập mạnh đầu: “Quách soái, cháu đồng ý với ngài.”

Quách Cần Uy nghe hắn nhận lời, trong lòng càng thêm bi thương. Muốn nói rất nhiều, nhưng cuối cùng chỉ khổ sở thốt lên: “Thập Thất lang, ta… ta đã phụ cháu.”

Thôi Tuần đau xót: “Không, Quách soái chưa từng phụ cháu. Nếu không có Quách soái, đã không có Thập Thất lang ngày hôm nay. Quách soái cứ yên lòng, bất luận cháu gặp bao nhiêu gian khó ở Đột Quyết, cháu cũng sẽ sống, sống để trở về Đại Chu, sống để đòi lại công lý cho các huynh đệ!”

Quách Cần Uy nén nỗi bi thương, gật đầu: “Thập Thất lang, còn một việc cuối cùng ta phải dặn dò cháu.”

“Quách soái cứ nói.”

Quách Cần Uy chỉ về phía tượng Tô Vũ và Trương Khiên trong Trung Nghĩa Từ: “Ngươi phải học Tô Vũ, học Trương Khiên. Dẫu bị bắt làm tù binh, cháu tuyệt đối không được đầu hàng. Một khi đầu hàng, cháu sẽ như Lý Lăng, mãi mãi không thể trở về Đại Chu!”

Thôi Tuần nhìn tượng Tô Vũ và Trương Khiên uy nghiêm, nước mắt hắn trào ra, nghiêm túc gật đầu. Quách Cần Uy cuối cùng cũng yên lòng. Ông rút ra thanh bảo đao bên hông, cười lớn: “Ta, Quách Cần Uy, ba mươi năm chinh chiến, làm đến chức Phó đô hộ phủ An Tây, còn sáng lập Thiên Uy quân, danh chấn Tây Vực. Nay Đột Quyết muốn bắt ta, làm nhục Đại Chu, lẽ nào ta có thể để chúng được toại nguyện? Hôm nay ta lấy cái chết báo quốc, thật sảng khoái! Thật sảng khoái!”

Dứt lời, ông cầm đao ngang cổ, tự sát ngay tại chỗ. Máu từ cổ phun ra, bắn lên mặt Thôi Tuần. Biến cố xảy ra quá nhanh, những người có mặt đều không kịp ngăn cản. Đến khi họ kịp phản ứng, Quách Cần Uy đã trợn tròn đôi mắt, ngã xuống đất. Cả Trung Nghĩa Từ phút chốc trở nên tĩnh lặng. Thật lâu sau, Thôi Tuần mới run rẩy đưa tay, từ từ vuốt mắt cho ông.

Bên ngoài, tiếng kèn xung trận của kỵ binh Đột Quyết đã vang lên. Tào Ngũ lang cùng những người khác nhìn ra ngoài, đồng loạt nhìn nhau, rồi quỳ xuống trước mặt Thôi Tuần, đập đầu ba cái thật mạnh. Tào Ngũ lang rưng rưng nói: “Thập Thất lang, chúng ta đi đây. Đường phía trước khó khăn trùng trùng, huynh, bảo trọng.”

Thôi Tuần quỳ bên thi thể Quách Cần Uy, ánh mắt mờ mịt, tai nghe loáng thoáng tiếng Tào Ngũ lang và những người khác rút kiếm xông ra, cùng quân Đột Quyết kịch chiến. Tiếng chém giết không ngừng vang vọng. Hắn vô thức đưa tay chạm lấy cây cung sắt trên mặt đất, ngón tay hắn siết chặt lấy chuôi cung. Nhưng mãi đến khi tiếng kêu la bên ngoài hoàn toàn ngưng bặt, hắn cũng không bước ra. Hai dòng lệ nóng từ mắt hắn trào xuống, hòa lẫn với máu tươi của Quách Cần Uy trên mặt hắn, nhỏ giọt xuống đất.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 83: Tấm lòng son


Một vệt nắng chiều yếu ớt nhuốm màu chân trời.

Vài tên lính Đột Quyết đang thu dọn chiến trường, bỗng có một người hét lớn khi nhìn thấy thi thể cuối cùng của Thiên Uy quân nằm dưới đất. Kẻ này tuy đã gục ngã nhưng ngay trước khi chết, hắn vẫn bộc phát sức lực, dùng dao găm đâm chết một tên đồng bọn của chúng. Đám lính Đột Quyết chưa hết bàng hoàng, bèn nhìn quanh chờ đợi chỉ thị.

Một đội kỵ binh của Khả hãn từ xa thúc ngựa tiến đến, người dẫn đầu là Phụ Ly Vệ, tay ghìm chặt dây cương. Gã liếc qua thi thể đầy máu trước mặt, rồi hỏi: “Tìm thấy Quách Cần Uy chưa?”

“Vẫn chưa.”

Phụ Ly Vệ nhìn thi thể Thiên Uy quân nằm co quắp trên đất, máu nóng sủi lên, dù biết rằng kẻ này không thể sống sót, nhưng ánh mắt mở to đầy căm hận vẫn khiến gã cảm thấy khó chịu. Gã bĩu môi, lẩm bẩm: “Mấy tên người Hán này, chết cũng không biết sợ là gì.”

Một tên lính bên cạnh đáp lại, giọng không giấu nổi oán hận: “Còn phải nói! Một mình hắn trước khi chết đã gi.ết ch.ết ba người trong số mười người.”

Phụ Ly Vệ siết chặt dây cương, hậm hực nói: “Đó vẫn còn nhẹ! Các ngươi biết hai trăm tàn quân Thiên Uy của chúng gi.ết ch.ết bao nhiêu người của ta không? Những một ngàn mạng! Thiên Uy quân không hổ danh dũng mãnh không sợ chết, quả nhiên danh bất hư truyền.”

Gã giơ cao roi ngựa, lớn tiếng ra lệnh: “Nghe lệnh Khả hãn, bắt sống Quách Cần Uy bằng mọi giá! Ai bắt được hắn, sẽ được trọng thưởng!”

Nói xong, Phụ Ly Vệ thúc ngựa rời đi. Đám lính Đột Quyết nghe lệnh đều phấn khích, nhanh chóng leo lên ngựa, chia nhau truy tìm. Một kẻ trong nhóm quay lại nhìn thi thể Thiên Uy quân vừa ngã xuống, thấy trên cánh tay hắn quấn một chiếc khăn lụa tinh xảo, giờ đã thấm đẫm máu. Hắn liền cúi xuống, giật mạnh chiếc khăn, nhét vào ngực áo, rồi nhanh chóng cưỡi ngựa đuổi theo đồng đội.



Bên trong Trung Nghĩa Từ, thi thể của Quách Cần Uy đã dần lạnh đi. Thôi Tuần quỳ bên cạnh, mắt hắn khô cạn, chỉ còn lại sự trống rỗng vô hồn.

Đây là người chủ soái đã quan tâm chăm sóc hắn suốt ba năm, giờ lại nằm bất động trước mặt hắn. Bên tai Thôi Tuần vang lên tiếng bước chân nặng nề, hắn bất giác siết chặt bàn tay đặt trên cây thiết thai cung trước gối.

Một toán lính Đột Quyết xông vào, người đi đầu chính là Phụ Ly Vệ. Gã bước đến, đôi mắt thoáng lộ vẻ vui mừng: “Quách Cần Uy ở đây!” Nhưng khi nhìn rõ hơn, gã lập tức gầm lên giận dữ: “Quách Cần Uy chết rồi!”

Khả hãn đã dặn đi dặn lại rằng phải bắt sống Quách Cần Uy để hạ nhục Đại Chu, để quân uy thiên triều sụp đổ. Không ngờ Quách Cần Uy lại tự sát ngay tại nơi hoang phế này!

Ánh mắt Phụ Ly Vệ chuyển qua Thôi Tuần, nhìn thấy một thiếu niên Thiên Uy quân toàn thân nhuộm máu, gã híp mắt, lạnh lùng ra lệnh: “Bắt sống hắn!”

Những tên lính lập tức xông tới. Thôi Tuần siết chặt cây cung, trong đầu hắn chỉ lặp đi lặp lại lời Quách Cần Uy nói trước khi tự vẫn: “Cháu không được chết, nhất định phải sống!”

Bàn tay hắn run lên, nhưng cuối cùng vẫn không phản kháng.

Thấy vậy, Phụ Ly Vệ cười lạnh, khinh miệt thốt: “Không ngờ Thiên Uy quân lại có kẻ ham sống sợ chết thế đấy.”

Một tên lính Đột Quyết đá ngã Thôi Tuần, những kẻ khác vội lao vào trói hắn lại. Thôi Tuần để mặc cho chúng hành động, nhưng ánh mắt hắn dừng lại khi nhìn thấy trong ngực áo của một tên lính lộ ra góc khăn lụa trắng, dính đầy máu tươi.

Thôi Tuần toàn thân chấn động, còn chưa đợi tên binh lính Đột Quyết kia kịp phản ứng, thiếu niên người Hán trông giống như một con cừu non không chút kháng cự, bất thình lình trở nên nhanh nhẹn như báo săn. Hắn nắm chặt thiết thai cung, dùng dây cung sắt vòng ngược siết chặt cổ tên lính Đột Quyết. Cánh tay hắn dồn hết sức lực, dây cung bằng tơ trắc cứa đứt đầu tên lính, máu tươi ấm nóng phun đầy lên khuôn mặt và mái tóc thiếu niên.

Mọi người kinh hãi thốt lên. Trên gương mặt và trong ánh mắt của Thôi Tuần đều là máu tươi, đỏ ngầu như máu đọng. Hắn giữ chặt chiếc cung sắt, thân cung làm từ huyền thiết nặng nề vô cùng. Chiếc cung giáng mạnh lên đầu những kẻ còn lại, khiến xương sọ vài người lập tức nứt toác, gục chết ngay tại chỗ.

Biến cố này làm đội trưởng của đám quân Đột Quyết có tên là Phụ Ly Vệ, trợn mắt cứng họng. Ngày càng nhiều lính Đột Quyết tràn vào Trung Nghĩa Từ, Phụ Ly Vệ lấy lại tinh thần, lớn tiếng hét: “Bắt sống hắn!”

Thôi Tuần nắm chặt cung sắt, toàn thân đẫm máu. Dưới chân hắn, những thi thể lính Đột Quyết nằm ngổn ngang chồng chất. Đôi mắt đen láy của hắn bừng bừng lửa giận, không rõ bản thân đã giết bao nhiêu người, chỉ biết lại có vài chiếc đầu rơi xuống đất, máu đỏ thẫm ngấm vào huyền thiết lạnh lẽo, khiến cây cung cũng trở nên nóng rực.

Bất chợt, đầu gối hắn bị chém trúng bởi một thanh trường đao. Thân hình Thôi Tuần khựng lại, tay hắn lập tức bị lưỡi đao của Phụ Ly Vệ cứa qua. Cung sắt rơi xuống đất, bụng hắn bị một cước đạp mạnh, cả người lăn xuống, miệng trào ra một ngụm máu tươi. Phụ Ly Vệ giẫm mạnh lên lưng hắn, khiến hắn không thể nhúc nhích.

Thôi Tuần kiệt sức, không còn sức phản kháng. Cảm giác bị người ta mặc sức hành hạ dâng tràn trong lòng, ngón tay hắn bất chợt chạm đến một thanh bội đao—đó là bội đao mà Quách Cần Uy dùng để tự vẫn.

Nếu hắn cầm lấy thanh bội đao này, vẫn có thể vùng vẫy một phen. Ít nhất, hắn có thể tự kết liễu chính mình.

Nhưng ngón tay hắn chỉ khẽ động, cuối cùng lại không cầm bội đao, mặc kệ đám Đột Quyết dùng sức vặn ngược tay hắn, trói chặt bằng dây thừng thô cứng. Đến khi dây thừng siết chặt vào cổ tay, hắn ngẩn ngơ nhìn Quách Cần Uy nằm chết trên mặt đất, lệ từ trong mắt cuối cùng cũng lăn dài, lã chã rơi xuống.



Trường An, Thôi phủ.

Thôi Tuần vốn đang chợp mắt trên giường, đột nhiên giật mình tỉnh giấc. Hắn bật dậy, vài sợi tóc đen bóng bết mồ hôi lạnh, dính sát vào trán và cổ. Loạng choạng bước xuống giường, trong tiếng leng keng của xiềng xích, hắn đi tới chiếc án bằng gỗ tử đàn, ngồi xếp bằng, rót một chén trà lạnh rồi uống cạn chỉ trong một hơi.

Vì sao… lại mơ thấy Lạc Nhạn Lĩnh lần nữa?

Từ khi Lý Doanh đốt hương an thần cho hắn, những giấc mộng về Lạc Nhạn Lĩnh đã thưa dần. Nhưng hôm nay, cảnh tượng thảm khốc ấy lại tái hiện trong mơ, khiến lòng hắn không cách nào yên ổn.

Hắn khép đôi mi đen dài như cánh quạ, những ký ức nhục nhã khi bị Đột Quyết bắt giữ tại Lạc Nhạn Lĩnh vẫn còn mới nguyên. Điều hắn không ngờ là, trong những năm tháng sau này, thứ từng là nỗi nhục nhã ấy, cuối cùng lại chẳng đáng để gọi là nhục nhã, thậm chí, so với những gì hắn phải chịu sau đó, còn có thể coi là một sự may mắn.

Hắn lại rót một chén trà lạnh. Nước trà lạnh buốt đến tận xương, chén trước vừa uống xong thì đã khiến dạ dày hắn đau âm ỉ. Nhưng hắn tựa như không hề cảm nhận được, chuẩn bị uống tiếp thì bất chợt nhìn thấy dải lụa trắng mềm, bọc quanh cổ tay nơi cùm sắt chạm vào.

Thôi Tuần khựng lại, ngây người trong giây lát.

Hắn mím môi, cuối cùng chậm rãi đặt chén trà lạnh xuống, ngón tay lạnh lẽo từ từ chạm vào dải lụa trắng, cảm giác bất an trong lòng cũng dần tan biến.

Dải lụa trắng được dệt từ loại tơ tằm thượng hạng nhất. Khi chạm vào, hắn cảm thấy đôi tay băng giá của mình cũng được sưởi ấm. Đúng lúc ấy, một bóng hình dịu dàng, thanh tao bỗng hiện lên trong tâm trí Thôi Tuần.

Hắn mấp máy môi, lặng lẽ gọi lên ba chữ: “Minh Nguyệt Châu.”

Nhưng một trận tiếng bước chân lộn xộn đã cắt đứt mạch suy nghĩ. Thôi Tuần hơi nhíu mày.

Hắn cúi đầu, lấy tấm lụa trắng đang lót dưới xích sắt nơi cổ tay, rồi cẩn thận gấp lại ngay ngắn. Khi Lư Hoài, Thiếu khanh Đại Lý Tự, đẩy cửa bước vào, liền thấy tên tội đồ sắp phải đối mặt với cái chết đang chăm chú gấp tấm lụa trắng một cách nghiêm túc.

Lư Hoài cười lạnh: “Thôi Thiếu khanh thật biết cách hưởng thụ.”

Thôi Tuần không để ý đến hắn, vẫn tiếp tục gấp mảnh lụa trắng. Bị Thôi Tuần coi như không tồn tại, Lư Hoài nhất thời cảm thấy mất mặt, lạnh lùng nói: “Thôi Tuần, ta tới đây báo cho ngươi biết, chỉ còn hai mươi ngày nữa, đầu của Quách Cần Uy sẽ được đưa về Trường An.”

Thôi Tuần vẫn không để ý đến hắn, gương mặt cũng không lộ ra vẻ kinh hoàng như Lư Hoài mong đợi mà chỉ bình thản tiếp tục gấp lụa. Lư Hoài nhìn hắn, nghĩ bụng: Một là hắn không giết Quách Cần Uy. Hai là hắn quá xảo quyệt, đến mức khiến người khác không thể nhìn thấu.

Lư Hoài cho rằng, khả năng thứ hai lớn hơn.

Hắn hừ lạnh: “Thôi Tuần, ngươi không nói cũng không sao. Dù sao thì hai mươi ngày nữa, sự thật sẽ rõ như ban ngày!”

Nói rồi, hắn phất tay áo rời đi, nhưng vừa bước ra đến sân, liền nghe thấy tiếng ồn ào náo loạn từ bên ngoài.

Ngay sau đó, mười mấy thiếu niên lao vào, đều mặc áo vải thô, vừa nhìn đã biết xuất thân thường dân. Lư Hoài lập tức quát lớn: “Các ngươi là ai?”

Ngục tốt theo sau vội bẩm: “Thiếu khanh, chúng tự xưng là thân quyến của Thiên Uy quân, muốn vào báo thù cho Cố soái.”

Thiếu niên cầm đầu ưỡn cao đầu, nói: “Ta tên Hà Thập Tam, Hà Cửu của quân Thiên Uy là anh ruột ta. Thôi Tuần giết Quách soái, Thái hậu còn bao che hắn. Chúng ta phải báo thù cho Quách soái!”

Lư Hoài giận dữ quát: “Vô lễ! Không bàn đến chuyện vụ án còn chưa làm rõ, nhưng các ngươi dám bất kính với Thái hậu tôn quý, đúng là không biết trời cao đất dày!”

Thiếu niên chỉ chừng mười ba, mười bốn tuổi, nhưng không hề tỏ ra nao núng: “Ngươi cũng định bao che cho Thôi Tuần sao?”

Hai chữ “bao che” khiến Lư Hoài tức đến run người, đó là sự sỉ nhục lớn nhất đối với hắn. Hắn thét lên: “Tiểu tử vô tri! Còn không mau đuổi bọn chúng ra ngoài!”

Ngục tốt liền xông đến đẩy đám thiếu niên ra ngoài. Nhưng những thiếu niên ấy, lòng đầy nhiệt huyết, không những không chùn bước mà còn giằng co, xô đẩy với đám ngục tốt.

Thôi Tuần nghe thấy động tĩnh, từ từ bước ra khỏi phòng giam. Hắn khoác áo tù, trên người quấn đầy xiềng xích, vốn nên là một kẻ thất thế nhếch nhác, nhưng thần sắc lại vô cùng bình thản, đôi mắt không lộ chút buồn vui nào, trầm tĩnh nhìn nhóm thiếu niên kia.

Không biết ai hô lên một tiếng: “Giặc phản quốc ra rồi!”

Những thiếu niên bị ngục tốt ngăn lại đồng loạt ngẩng đầu, ánh mắt trừng trừng nhìn về phía Thôi Tuần.



Trong ngục thất của Quỷ Phán Điện, Quách Cần Uy kể lại tất cả những gì đã xảy ra ở Lạc Nhạn Lĩnh, rồi thở dài một tiếng, hỏi Lý Doanh và A Sử Na Gia: “Dám hỏi hai vị công chúa, sau khi Thập Thất lang bị bắt, không biết có bị người Đột Quyết gây khó dễ gì không?”

Nếu Lý Doanh có thể hóa thành hình người, Quách Cần Uy ắt sẽ nhìn thấy nàng lúc này đã khóc đến mức không thành tiếng. A Sử Na Gia cắn môi, cúi đầu, nước mắt lăn dài nơi khóe mắt. Nàng không biết phải trả lời thế nào.

Quách Cần Uy lòng đầy hoài nghi, vừa định nói gì đó, thì từ trong ánh lửa ma trơi phát ra giọng nói trong trẻo tựa dòng suối: “Không. Dù gì đi nữa Thôi Tuần vẫn là con cháu Thôi thị ở Bác Lăng, thân phận cao quý. Người Đột Quyết không làm khó hắn, ngược lại còn đối xử rất khách khí. Hắn ở Đột Quyết hai năm, sau đó tìm được cơ hội liền trốn về Đại Chu.”

Lời này của Lý Doanh khiến Quách Cần Uy hơi yên tâm. Ông lại hỏi: “Vậy sau khi Thập Thất lang trở về, dân chúng Đại Chu và thân quyến của quân Thiên Uy có lời ra tiếng vào gì về nó không?”

Ở Thôi phủ, Hà Thập Tam bị ngục tốt đẩy tới trước, đột nhiên cúi xuống nhặt một viên đá cuội, ném thẳng về phía Thôi Tuần.

Viên đá cuội đập vào trán Thôi Tuần, một chuỗi máu đỏ tươi từ đuôi mắt hắn chảy xuống, lăn dài trên gương mặt tái nhợt, để lại một vệt dài đỏ thẫm.

Giống như huyết lệ.

Trong ánh lửa ma trơi, Lý Doanh cắn chặt mu bàn tay mình, cố gắng khiến giọng nói thốt ra có phần vui vẻ. Nàng trả lời câu hỏi của Quách Cần Uy: “Không. Dân chúng Đại Chu và thân quyến Thiên Uy quân đều hiểu rõ Thôi Tuần bị bắt là vạn bất đắc dĩ. Hơn nữa, hắn chưa từng quy phục Đột Quyết, ai có thể oán trách hắn chứ? Mọi người đều thông cảm cho hắn.”

A Sử Na Gia không thể kìm nén thêm, nước mắt như mưa. Trước khi Quách Cần Uy kịp nghi ngờ, nàng ngẩng đầu, vừa cười vừa nói qua làn nước mắt: “Những gì công chúa Vĩnh An nói đều là thật. Ta khóc, là bởi nhớ lại những ngày ở Đột Quyết, ta không có đủ dũng khí bày tỏ tâm ý của mình với chàng. Giờ đây, tất cả đã muộn, nên ta mới khóc.”

Lý Doanh và A Sử Na Gia đều nói như vậy, khiến Quách Cần Uy cuối cùng cũng yên tâm. Ông thở dài: “Người Đột Quyết không làm khó nó, người Đại Chu cũng hiểu cho nó, vậy thì tốt, vậy thì tốt…”



Những giọt máu rơi xuống nền đá xanh, tựa như những đóa hoa ma mị nở rộ. Bị Hà Thập Tam kích động, nhóm thiếu niên đồng loạt lao lên nhặt đá cuội dưới đất, không ngừng ném về phía Thôi Tuần.

Lư Hoài bước nhanh lên trước, chắn trước người Thôi Tuần. Hắn giơ tay áo che mặt, những viên đá cuội va vào người hắn, đau nhói đến tận xương. Lư Hoài giận tím mặt, hạ tay áo, quát lớn với đám ngục tốt: “Các ngươi chết cả rồi sao?”

Đám ngục tốt giật mình, vội vàng tuốt đao khỏi vỏ: “Đây là Thiếu khanh Đại Lý Tự của chúng ta! Mau dừng tay!”

Nhìn thấy ánh đao sáng loáng, đám thiếu niên cuối cùng cũng im lặng. Lư Hoài cười gằn: “Sợ rồi sao? Muộn rồi! Bắt hết về Đại Lý Tự, đánh mỗi đứa hai mươi trượng! Đánh thật mạnh! Để xem chúng còn dám tái phạm nữa không!”

Như sực nhớ ra điều gì, hắn lại nói: “Đánh xong, tiếp tục tra hỏi! Tra xem là ai cho bọn chúng lá gan dám xông vào phủ của quan viên triều đình!”

Ngục tốt nhận lệnh, liền áp giải đám thiếu niên đi. Thôi Tuần vẫn không nói lời nào từ đầu tới cuối, giờ bỗng cất giọng: “Thôi đi.”

Lư Hoài kinh ngạc: “Ngươi nói gì?”

Thôi Tuần lặp lại: “Thôi đi.”

Lư Hoài nhìn giọt máu lăn dài trên trán hắn, trong lòng không khỏi kinh ngạc, đây thật sự là Thôi Tuần, kẻ luôn nhỏ nhen, mắt đền mắt, răng trả răng sao? Hắn nhíu mày hỏi. Hắn buột miệng hỏi: “Sao lại thôi?”

Thôi Tuần điềm nhiên đáp: “Việc này cũng cần lý do sao?”

Lư Hoài sững người, sau một lúc lại bật cười lạnh: “Ngươi nói thôi là thôi à?”

Lần này đến lượt Thôi Tuần sững sờ. Hắn đáp: “Ta là khổ chủ còn không muốn truy cứu thì ngươi muốn truy cứu cái gì?”

“Khổ chủ?” Lư Hoài hừ lạnh một tiếng: “Khổ chủ gì? Thôi Tuần, ta nói cho ngươi biết, ngươi bị giam ở đây, Đại Lý Tự phụng mệnh trông coi. Đây là ngục Đại Lý Tự, kẻ nào dám xông vào ngục, thì phải chịu hậu quả tương xứng! Nào đến lượt ngươi quyết định truy cứu hay là không truy cứu?”

Thôi Tuần ngẩn ra một hồi, môi mím chặt, trông như đã rất mệt mỏi. Hắn thở dài: “Tùy ngươi thôi.”

Nói rồi, hắn kéo xích tùy tiện trở về phòng giam, chẳng buồn nhìn đến Lư Hoài. Tiếng xích sắt va vào nhau leng keng, bóng dáng trong bộ áo tù nhạt nhòa dưới ánh đèn mờ. Lư Hoài nhìn theo, trong lòng dâng lên nỗi giận không tên, chỉ muốn bùng nổ ngay tức khắc.

Đúng lúc này, một ngục tốt mang hộp cơm gỗ đến. Từ xa, Lư Hoài đã ngửi thấy mùi thiu nồng nặc, hắn lập tức quát: “Đứng lại!”

Ngục tốt dừng bước, cung kính hành lễ. Lư Hoài hỏi: “Đây là thứ gì?”

Ngục tốt đáp: “Thưa Thiếu khanh, đây là phần cơm dành cho phạm nhân.”

Lư Hoài bước tới gần, mắt liếc nhìn hộp gỗ: “Mở ra.”

Ngục tốt có phần khó xử, nhưng vẫn phải làm theo. Trong hộp, một bát cơm với vài cọng rau xanh héo rũ hiện ra, mùi cơm thiu xộc lên khiến người ta chỉ muốn nôn.

Lư Hoài nổi giận, hất tung chén cơm xuống đất: “Đây là cơm sao? Đến chó cũng không ăn nổi!”

Ngục tốt sợ hãi quỳ rạp xuống, cả người run rẩy. Lư Hoài phóng mắt nhìn quanh, thấy những ngục tốt khác đều cúi đầu, run như cầy sấy. Hắn nghiến răng, hừ lạnh: “Trước kia Thái hậu từng nói, nếu để Thôi Tuần bị giam ở Đại Lý Tự, chỉ e chưa thấy đầu Quách Cần Uy thì hắn đã bỏ mạng. Lúc đó ta còn cảm thấy oan ức. Nhưng xem ra, Thái hậu quả là biết nhìn xa trông rộng.”

Đám ngục tốt đồng loạt quỳ xuống: “Xin Thiếu khanh tha tội!”

Lư Hoài siết chặt nắm tay, từng chữ rõ ràng: “Nghe đây, Lư Hoài ta làm quan, chỉ cầu hai chữ công chính. Dù Thôi Tuần đã là phạm nhân, ta vẫn sẽ đối xử công bằng với hắn. Từ hôm nay, nếu hắn chịu tổn hại dù chỉ một sợi tóc, ta sẽ lấy các ngươi ra hỏi tội!”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 84: Nàng không thể mềm lòng


Trong ngục tối, từng tiếng bước chân loẹt xoẹt vang lên. Quách Cần Uy vội nói: “Hai vị công chúa, quỷ sai tới rồi, mau rời đi thôi.”

Lý Doanh ngạc nhiên. Quách Cần Uy lại nói: “Người tự vẫn, mỗi khi đến ngày Tuất, ngày Hợi, đều phải tái hiện lại nỗi đau trước khi chết. Cho đến ngày tận số, mới có thể giải thoát. Giờ quỷ sai tới bắt thần rồi, thỉnh công chúa hãy nhanh chóng rời đi.”

Lý Doanh không ngờ Địa phủ lại có quy định như vậy. Nhìn tiếng bước chân càng lúc càng gần, nàng gật đầu: “Được, Quách soái bảo trọng.”

Nói rồi, nàng và A Sử Na Gia lập tức biến mất khỏi gian ngục.



Từ tầng địa ngục thứ nhất đến Quỷ Phán Điện, A Sử Na Gia đã không thể gắng gượng được nữa. Tứ chi nàng lạnh lẽo như băng, cảm giác hàn ý lan tràn khắp xương cốt, khiến nàng gục ngã xuống đất.

Bên trong nàng, Lý Doanh cũng cảm nhận được sự kiệt quệ đó. Ngọn quỷ hỏa xanh biếc lơ lửng giữa không trung, sốt ruột hỏi: “Công chúa A Sử Na Gia, cô không sao chứ?”

A Sử Na Gia lạnh đến mức cả răng cũng va lập cập, thân hình mờ dần, nàng hướng về đốm lửa xanh biếc, nụ cười nhợt nhạt: “Ta sợ là… không trụ nổi nữa.”

Dưới sự xâm thực của nước Minh Tuyền, nàng sắp hồn phi phách tán. Lý Doanh dù đã lường trước kết cục này, nhưng vẫn cảm thấy đau đớn đến không thốt nên lời. Dường như A Sử Na Gia nhìn thấu tâm tư của nàng, dịu dàng nói: “Công chúa Vĩnh An, đừng đau lòng. Ta không hối hận, ngược lại ta cảm thấy vô cùng mãn nguyện. Cả đời này, cuối cùng ta cũng có thể dũng cảm một lần.”

Nàng nhoẻn cười, thân ảnh gần như tan biến: “Cô đi đi, trở lại bên Thôi Tuần. Chàng cần cô.”

Lý Doanh biết rằng lý trí mách bảo nàng phải rời đi ngay, nếu không, chờ đến lúc Tần Quảng Vương xuất hiện, e rằng nàng muốn đi cũng không còn cơ hội nữa. Nhưng nhìn A Sử Na Gia sắp hồn phi phách tán, cảm xúc lại khiến nàng không đành lòng. Nàng không muốn bỏ lại nữ tử đáng thương này, một mình đối mặt với cái chết.

Ngọn quỷ hỏa xanh biếc thoáng dao động, Lý Doanh nghe thấy một giọng nói vang lên: “Kẻ nào to gan? Dám xông vào Quỷ Phán Điện?”

Nàng và A Sử Na Gia quay đầu nhìn về hướng phát ra giọng nói, chỉ thấy một nam nhân uy nghiêm, vận quan bào màu xanh lục, đầu đội bảo quan nạm ngọc, mắt báo mũi sư, râu dài chấm ngực, phía sau là hàng chục quỷ sai áo lục, ánh mắt như muốn nuốt chửng hai người.

A Sử Na Gia là người lấy lại tinh thần trước tiên: “Hỏng rồi! Là Tần Quảng Vương!”

Nàng không màng đến việc thân thể mình sắp tan biến, lao thẳng về phía Tần Quảng Vương để cản trở: “Công chúa Vĩnh An, mau đi đi!”

Nhưng nàng chỉ là một tia chấp niệm hóa hình, sao có thể là đối thủ của một trong thập điện Diêm Vương. Nàng còn chưa kịp chạm đến Tần Quảng Vương, đã thấy ông ta mở nhẹ lòng bàn tay, một sợi xích vàng lóe sáng lao ra, trói chặt nàng lại.

Tần Quảng Vương cau mày nhìn thân hình sắp tan biến của nàng, quát lớn: “Đồ ngốc, mau trở về Vọng Tử Thành của ngươi đi!”

Sợi xích vàng từ từ gom lại những mảnh hồn vỡ vụn của A Sử Na Gia, hợp lại thành hình, rồi kéo nàng bay về hướng Vọng Tử Thành. Lý Doanh ngơ ngác nhìn bóng dáng nàng ấy bị kéo đi, chưa kịp phản ứng thì chợt nghe một tràng thanh âm thuần tịnh như tiếng kinh truyền đến.

Cơ thể hóa thành đốm quỷ hỏa của nàng bị một lực mạnh mẽ kéo ra phía ngoài Địa phủ.

Là Ngư Phù Nguy. Hắn đã dựng cờ chiêu hồn, để các tăng nhân tụng kinh Kim Cương, hòng đưa nàng về nhân gian từ cửa Địa phủ.

Ánh mắt Tần Quảng Vương hiện rõ vẻ giận dữ. Ông ta siết chặt nắm tay, ngọn quỷ hỏa lập tức bị hút lại, nằm gọn trong lòng bàn tay ông ta.

Lý Doanh gần như ngạt thở, nhưng cờ chiêu hồn và tiếng tụng kinh Kim Cương lại kéo mạnh nàng ra ngoài. Cảm giác như thân thể nàng sắp bị xé toạc làm đôi. Tần Quảng Vương quát: “Ngươi xem Quỷ Phán Điện là đâu chứ? Muốn đến thì đến, muốn đi thì đi?”

Ngón tay ông ta càng siết chặt hơn, ngọn lửa yếu ớt chỉ còn lại chút ánh sáng mờ nhạt. Thuật triệu hồn cùng kinh Kim Cương từ nhân gian không thể chống lại sức mạnh của Tần Quảng Vương. Lý Doanh cảm nhận được rằng nếu còn tiếp tục như vậy, một phần ý niệm của nàng sẽ kẹt mãi ở Địa phủ, linh hồn trên nhân gian cũng sẽ có một nửa ngây dại, mơ hồ.

Nhưng đúng lúc đó, Tần Quảng Vương ngừng tay. Ông nhìn đốm lửa chập chờn trong lòng bàn tay mình, chau mày rất lâu, rồi trầm giọng nói: “Ngươi nên cảm thấy may mắn vì ngươi có một người cha tốt!”

Nói rồi, ông buông tay: “Đi đi!”

Tần Quảng Vương vừa dứt lời, ý thức của Lý Doanh lập tức bị thuật chiêu hồn và tiếng kinh kéo ra khỏi Địa phủ.



Nhân gian, Ngư phủ.

Lý Doanh bừng tỉnh, đôi mắt hoảng loạn mở ra, mồ hôi lạnh trên trán nàng túa ra thành dòng. Chỉ chút nữa thôi, nàng đã vĩnh viễn lưu lại nơi đó.

Ngư Phù Nguy vốn đang sốt ruột đi qua đi lại trong phòng, thấy nàng tỉnh lại, liền mừng rỡ: “Công chúa, tỉnh rồi sao?”

Lý Doanh gật đầu, mơ hồ đáp: “Ta cùng A Sử Na Gia chạm mặt Tần Quảng Vương… Tần Quảng Vương đã cứu nàng ấy… và cũng không giết ta…”

Ngư Phù Nguy ngạc nhiên: “Tần Quảng Vương cứu A Sử Na Gia, lại còn tha cho công chúa? Tần Quảng Vương vốn luôn công bằng chính trực, sao lần này lại bỏ qua cho hai người?”

Lý Doanh hồi tưởng lại khoảnh khắc kinh hoàng khi đối diện Tần Quảng Vương, trong lòng không khỏi run sợ. Nàng gật đầu, nhỏ giọng đáp: “Ông ta còn nói, ta có một người cha tốt… Đây là ý gì?”

Ngư Phù Nguy suy nghĩ một lát rồi nói: “Dựa vào công đức của Tiên đế, có lẽ người đã được phong làm tán tiên. Và có khi người đã nhờ Tần Quảng Vương chiếu cố công chúa cũng nên.”

Lý Doanh cũng chỉ có thể lý giải như vậy. Ngư Phù Nguy rót cho nàng một chén trà Tử Duẩn, nàng cầm lấy chiếc chén lưu ly màu xanh biếc, lòng dần bình ổn trở lại. Lý Doanh kể lại toàn bộ những chuyện đã xảy ra ở Địa phủ, nhưng cố tình lược bỏ chân tướng về sự diệt vong của Thiên Uy quân. Dẫu sao, Ngư Phù Nguy chỉ là một thương nhân, còn Bùi Quan Nhạc lại là Thượng thư Bộ binh chánh tam phẩm, nàng không muốn kéo hắn vào dòng nước đục này.

Ngư Phù Nguy tuy đoán được nàng đã giấu đi vài phần sự thật, cũng đoán được điều đó có liên quan đến Thôi Tuần, nhưng hôm nay nàng vừa thoát khỏi cõi chết, hắn cũng không nỡ ép hỏi. Đợi nàng nói xong, hắn chợt nhớ ra, bèn nói: “Phải rồi, Ngư tiên sinh, khi ta xuống Địa phủ, Thôi Tuần không xảy ra chuyện gì chứ?”

Ngư Phù Nguy nhìn vẻ quan tâm hiện rõ trong mắt nàng, lòng không khỏi chua xót. Nàng suýt nữa đã mất mạng ở Địa phủ, vậy mà điều nàng quan tâm vẫn là Thôi Tuần có bình an hay không. Theo lẽ thường, hắn đáng lẽ phải mỉa mai vài câu, nhưng từ khi biết Thôi Tuần không hề đầu hàng Đột Quyết, hắn lại không còn tâm trạng để chế giễu. Hắn cúi mắt, trầm giọng kể: “Hôm qua, có mấy gia quyến Thiên Uy quân chạy tới Thôi phủ làm loạn, nói muốn báo thù cho Quách Cần Uy, nhưng đã bị Đại Lý Tự đuổi ra ngoài.”

Lý Doanh sững sờ: “Báo thù? Báo thù gì? Quách soái đâu phải bị Thôi Tuần giết!”

“Đúng vậy, cô biết, ta biết, nhưng người đời không biết. Khi Thôi Tuần bị giam giữ, có kẻ cố tình tung tin đồn thất thiệt, lời đồn đã lan khắp Trường An. Giờ đây, mọi người ở Trường An đều căm hận hắn thấu xương, hận không thể ăn thịt uống máu hắn, huống hồ là những gia quyến của Thiên Uy quân vốn có mối thù sâu sắc.”

Tay cầm chén trà lưu ly của Lý Doanh bắt đầu run rẩy. Nàng nhớ lại hình ảnh chàng thiếu niên ngạo nghễ, bạc giáp sáng ngời mà Quách Cần Uy đã kể dưới Địa phủ. Hắn, chịu nhục vì Thiên Uy quân, nỗi nhục ấy kéo dài suốt sáu năm. Hắn có thể không bận tâm đến lời dè bỉu của thế nhân, nhưng không thể nào không để ý đến sự khinh miệt của những người hắn coi trọng nhất – gia quyến của Thiên Uy quân.

Lòng hắn, một lần nữa tả tơi rách nát.

Lý Doanh cắn chặt môi, giọng nói cũng bắt đầu run rẩy: “Sau đó thì sao?”

Ngư Phù Nguy thở dài, đáp: “Những gia quyến đó đều chỉ khoảng mười ba, mười bốn tuổi, nhiệt huyết bốc đồng. Gia cảnh họ nghèo túng, bình thường đến cả phủ đệ Thôi Tuần nằm ở đâu cũng không biết, hiển nhiên lần này là bị kẻ khác xúi giục. Lư Hoài đã phạt mỗi đứa hai mươi trượng, giờ vẫn bị giam trong Đại Lý Tự chờ xét xử.”

Lý Doanh im lặng một lát, rồi nghiến răng nhả ra vài chữ: “Đáng đời chúng!”

Tuổi nhỏ, không thể trở thành cái cớ để tổn thương người khác.

Ngư Phù Nguy cũng nói: “Cũng không hiểu bọn chúng lấy đâu ra can đảm mà dám xông vào phủ đệ của một quan viên tứ phẩm. Sau chuyện này, chắc chúng cũng không dám làm càn nữa.”

Lý Doanh không muốn quan tâm đến những thiếu niên bị xúi giục ấy. Nàng có thể từ bi, cũng có thể thiện lương, nhưng khi nghĩ đến những khổ ải mà Thôi Tuần phải chịu đựng suốt mấy năm qua, nàng thực sự không thể nào mềm lòng. Nàng hỏi Ngư Phù Nguy: “Thôi Tuần thì sao? Hắn không sao chứ?”

Ngư Phù Nguy lắc đầu: “Không sao. Chỉ là… nghe nói bị một thiếu niên tên Hà Thập Tam dùng vật gì đó đập trúng, nên trán bị rách.”

Chén trà trong tay Lý Doanh suýt rơi xuống đất. Đến khi hoàn hồn, nàng vội đặt chiếc chén lưu ly xuống, rồi như một cơn gió lao ra ngoài.

Ngư Phù Nguy đứng ngẩn ra, nhìn theo hướng nàng rời đi, buột miệng nói: “Công chúa, trà Tử Duẩn còn chưa uống mà.”

Nhưng, bóng dáng Lý Doanh đâu còn ở đó để nghe lời hắn nữa.

Ngư Phù Nguy thất vọng quay lại, nhìn chén trà Tử Duẩn vẫn còn bốc khói nghi ngút, cuối cùng chỉ cười khổ một tiếng.



Khi Lý Doanh bước vào Thôi phủ, Thôi Tuần đang ngồi trước án thư gỗ tử đàn, tay đan một con châu chấu bằng cỏ. Thấy nàng đến, hắn dường như rất vui, khóe môi cong lên: “Cô đến rồi?”

Hắn nói: “Ta vừa bện xong một con châu chấu bằng cỏ, tặng cô đấy.”

Lý Doanh đón lấy, nhưng gương mặt nàng chẳng hề có chút vui mừng, chỉ đờ đẫn nhìn vào vết sẹo đỏ nhạt trên trán hắn, nàng hỏi: “Trán của ngài bị sao thế?”

Thôi Tuần đưa tay chạm lên vết thương, bình thản đáp: “Không sao, hôm qua ta lỡ va vào cạnh bàn thôi.”

“Vậy à…” Lý Doanh không vạch trần lời nói dối của hắn, nhưng lòng nàng lại càng thêm đau xót. Nàng cụp mắt xuống, nhỏ giọng đáp: “Hôm qua, ta và Ngư Phù Nguy đã dò ra tung tích thủ cấp của Quách soái. Thủ cấp bị Diệp Hộ của Đột Quyết cướp đi, hiện đang ở trong phủ Diệp Hộ. Có lẽ… chúng ta có thể nghĩ cách.”

Thôi Tuần hơi ngẩn ra, một lúc sau mới hỏi: “Sao cô dò ra được?”

Ba năm sau khi trở về Đại Chu, hắn đã cử vô số ám thám của Sát Sự Thính đến Đột Quyết tìm kiếm thủ cấp của Quách soái, nhưng không thu được kết quả nào. Một Quỷ thương như Ngư Phù Nguy, lại có thể làm được điều mà Sát Sự Thính không làm nổi sao?

Lý Doanh ậm ừ: “Ngư Phù Nguy quen biết rộng, tình cờ nên tìm được mà thôi.”

Nàng thật sự không biết nói dối. Mỗi khi nói dối, ánh mắt nàng sẽ trốn tránh, không dám nhìn thẳng hắn. Thôi Tuần im lặng giây lát, rồi nhẹ nhàng đáp: “Ừ.”

Trông nàng có vẻ rất buồn. Nàng không muốn nói, hắn cũng không muốn ép.

Lý Doanh không nói gì thêm, chỉ lặng lẽ nhìn vết sẹo trên trán hắn. Lòng nàng tràn ngập nỗi đau đớn khó tả, những ký ức về Lạc Nhạn Lĩnh, những ngày tháng nơi Đột Quyết, từng hình ảnh liên tiếp ùa về. Nàng thật sự không hiểu, vì sao hắn phải chịu những bất công này? Rõ ràng hắn không hề đầu hàng Đột Quyết, nhưng lại bị cả thiên hạ mắng nhiếc là tham sống sợ chết, phản quốc. Hắn tận tâm tận lực chăm lo cho gia quyến Thiên Uy quân, nhưng lại bị họ ném đá, châm chọc và nhục mạ.

Trong lòng nàng chỉ cảm thấy một nỗi tuyệt vọng trĩu nặng, đó là cảm giác bất lực khi nhìn thấy người mình quan tâm bị đối xử bất công hết lần này đến lần khác. Nỗi tuyệt vọng ấy khiến nàng nghẹn thở, khiến nàng không thể tiếp tục ở lại đây thêm nữa, bởi nàng sợ mình sẽ khóc.

Nàng siết chặt con châu chấu bằng cỏ trong tay, cúi đầu nói khẽ: “Ta hơi mệt, về phòng trước đây.”

Nói xong, nàng vội vàng rời đi như chạy trốn. Nàng chưa từng như vậy bao giờ. Thôi Tuần nhìn theo bóng nàng, trong ánh mắt hiện lên vẻ bối rối.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 85: Ta thích chàng


Lý Doanh trở về phòng, liền úp mặt vào chăn, khóc nức nở.

Nàng không biết phải diễn tả cảm giác trong lòng mình lúc này như thế nào. Nàng đã từng gặp Thôi Tuần ở Lạc Nhạn Lĩnh, lại từng gặp hắn ở Đột Quyết, nàng đã biết hết thảy những giãy giụa và thống khổ hắn phải chịu đựng sáu năm trước. Nhưng khi thời gian trôi qua, đến sáu năm sau, hắn cuối cùng cũng trở về Đại Chu, vậy mà nàng nhận ra cuộc sống của hắn chẳng tốt đẹp hơn bao nhiêu, thậm chí còn thêm phần khắc nghiệt. Ở nơi này, ác ý khắp chốn và những lời mắng nhiếc tràn ngập như sóng dữ, nhấn chìm cả con người hắn. Điều đáng sợ hơn, những ác ý và mắng nhiếc ấy dường như không có hồi kết, mỗi ngày hắn sống đều giống như bị dao cùn cứa thịt, đau đớn khôn nguôi.

Bách tính Đại Chu mỗi ngày đều cầu nguyện hắn sớm bị giải lên pháp trường, chịu hình phạt lăng trì cho đến hết. Nhưng có ai biết rằng, mỗi ngày trôi qua, hắn đều đang sống trong tình cảnh ấy.

Hắn không phát điên, thật sự là một kỳ tích.

Nhưng Lý Doanh sắp phát điên rồi. Nàng không biết từ khi nào, mỗi lần thấy hắn bị người khác sỉ nhục, trong lòng nàng lại nhói đau. Lư Hoài dùng hai chữ “sắc đẹp” để hình dung hắn, xem hắn như nữ nhân mà làm nhục, nàng đau lòng. A Sử Na Ngột Đóa cố ý gọi hắn là “Liên Hoa Nô,” nhắc nhở hắn về quá khứ nhục nhã ở Đột Quyết, nàng đau lòng. Hà Thập Tam cùng những gia quyến Thiên Uy quân dùng đá ném hắn, mắng hắn là hung thủ giết người, là phản tặc b*n n**c, nàng lại càng đau lòng hơn. Nhất là khi nhìn vết sẹo trên trán hắn, vết thương do một viên đá cuội để lại, nàng lại nhớ tới cảnh tượng hắn cúi người từng chút một nhặt đồng tiền cúng tế trước mộ phần Thịnh Vân Đình, dâng lên gia quyến Thiên Uy quân. Nghĩ đến đây, lòng nàng như bị dao cắt.

Nàng vẫn luôn nói muốn cứu hắn, nhưng đến tận bây giờ, nàng nhận ra bản thân mình không mạnh mẽ như tưởng tượng. Nàng chỉ là một cô hồn dã quỷ mà thế nhân không hề nhìn thấy. Rốt cuộc nàng phải làm thế nào mới cứu được hắn đây?

Cuộc sống thế này, đến bao giờ mới kết thúc?

Lòng nàng tràn ngập cảm giác bất lực, như một con sóng lớn cuốn phăng tất cả. Nàng không biết phải diễn tả nỗi bất lực này thế nào. Nàng chỉ biết, từ khi nàng bước ra khỏi Địa phủ, biết được tất cả những gì đã xảy ra tại Lạc Nhạn Lĩnh, biết được câu nói của Quách Cần Uy với Thôi Tuần: “Cháu không được chết, cháu phải sống, tìm ra kẻ đã hại chết chúng ta,” rồi nghĩ đến hình ảnh Hà Thập Tam và đám thiếu niên kia ném đá vào hắn, miệng cười nói cợt nhả, lòng nàng đau đến mức không chịu nổi.

Lý Doanh đau lòng, nàng buồn bã bởi người mà nàng thích lại lần nữa bị chính người hắn xem trọng nhất làm tổn thương.

Đúng vậy, người nàng thích.

Nàng thích Thôi Tuần.

Không phải sự tò mò ban đầu, cũng không phải lòng trắc ẩn ban sơ, mà là thích. Là sự rung động khi đã thấy hết thảy quá khứ của hắn, thấu hiểu tất cả những bất cam và nhẫn nhịn của hắn, rồi đau lòng đến tột cùng mà nảy sinh tình cảm.

Rõ ràng hắn mang một trái tim thuần khiết, rõ ràng hắn xứng đáng có một cuộc đời tốt đẹp hơn. Tại sao thế gian lại đối xử với hắn như vậy?

Lý Doanh trùm kín đầu trong chăn, khóc đến trời đất mịt mù, chẳng biết đã qua bao lâu.



Hai ngày sau, Lý Doanh vẫn ở lì trong phòng, ôm chăn nhưng khó lòng yên giấc. Trong hai ngày ấy, nàng chưa từng đến tìm Thôi Tuần. Không phải nàng không muốn gặp hắn, mà là nàng không dám. Nàng sợ, mỗi lần thấy hắn, nhìn đến vết thương trên trán hắn, nàng lại không kiềm được mà khóc.

Nhưng Thôi Tuần không hiểu được lòng nàng. Hắn chỉ biết trước đây, khi ở Thôi phủ, nàng luôn chủ động đến tìm hắn, chưa từng có chuyện hai ngày liền không thấy mặt nàng. Cuối cùng, Thôi Tuần không nhịn được nữa. Cho dù hắn không muốn bước chân ra khỏi phòng, bởi tiếng xích kêu loảng xoảng trên cổ chân làm hắn thấy hổ thẹn khi đối diện với nàng, thì hôm nay, hắn vẫn hạ quyết tâm, bước ra khỏi cửa.

Tiếng xích dưới chân kéo lê trên nền đất, âm thanh vang dội chẳng thể tránh khỏi. Vì muốn giảm bớt tiếng động, hắn bước rất chậm. Khi đến trước cửa phòng Lý Doanh, hắn chần chừ rất lâu nhưng vẫn không đủ dũng khí để gõ cửa.

Khi hắn lấy hết can đảm gõ cửa, cánh cửa gỗ lại tự động mở ra, phát ra tiếng “cạch” rất nhỏ. Lý Doanh đứng đó, trên người là bộ váy trắng lưu tiên, đôi mắt đỏ hoe sưng húp, ngẩng lên nhìn hắn.

Ban đầu, Thôi Tuần hơi ngượng ngùng, nhưng khi thấy đôi mắt sưng đỏ của nàng, hắn bất giác hỏi: “Cô… làm sao vậy?”

Lý Doanh không trả lời. Nàng chỉ nhìn thân hình gầy gò của hắn trong bộ áo tù, mím môi nói: “Bên ngoài lạnh lắm, ngài vào trong đi.”

Thực ra tiết trời tháng Tư vốn không hề lạnh. Nhưng Thôi Tuần đã bị đọa đày suốt ba năm, cơ thể tổn hao nghiêm trọng. Dù giữa ngày hè nóng bức, hắn vẫn cảm thấy cái lạnh như xuyên thấu tận xương. Thôi Tuần khẽ gật đầu, rồi theo nàng bước vào trong phòng.



Lý Doanh đóng kín hết cửa nẻo, chỉ chừa một khe nhỏ ở cửa sổ song gỗ để thông khí. Nàng đốt lò than hương, khiến cả phòng dần ấm áp đến ngột ngạt. Nhưng cũng may nàng là hồn ma, thân thể vốn lạnh hơn người thường nên chẳng cảm thấy nóng nực. Nàng đặt cây kẹp bằng đồng thau xuống sau khi đảo nhẹ lò than, hỏi: “Không lạnh chứ?”

Thôi Tuần lắc đầu: “Không lạnh.”

Cả hai lại rơi vào một khoảng lặng, cuối cùng vẫn là Thôi Tuần mở lời trước: “Mấy ngày nay công chúa khép kín cửa phòng không ra, cô có tâm sự gì sao?”

Trên án thư của Lý Doanh, đặt một con châu chấu bằng cỏ mà Thôi Tuần đã tặng nàng. Nàng nhìn nó, nhẹ giọng đáp: “Coi như là có đi.”

Thôi Tuần hơi ngập ngừng: “Không biết… là tâm sự gì?”

Lý Doanh cắn môi, không đáp. Nàng ngước lên, ánh mắt dừng lại ở vết thương trên trán Thôi Tuần. Hiển nhiên vết thương chưa được xử lý đàng hoàng, đã qua hai ngày nhưng vẫn còn sưng đỏ. Nàng thở dài. So với việc quan tâm đến tâm sự của nàng, sao hắn không nghĩ đến bản thân mình trước đi?

Nàng đứng dậy, từ trong tay áo lấy ra một lọ thuốc bằng sứ trắng: “Ta đã bảo tỳ nữ bằng giấy mang đến ít thuốc trị thương. Để ta bôi thuốc cho ngài.”

Thôi Tuần thoáng ngẩn người, theo bản năng định đưa tay nhận lấy lọ thuốc: “Để ta tự làm.”

Lý Doanh không đưa cho hắn: “Ta sẽ bôi thuốc cho ngài.”

Hắn vẫn nói: “Chỉ là vết thương nhỏ, không cần phiền đến công chúa.”

Lý Doanh đã quỳ ngồi xuống trước mặt hắn, tháo nắp gỗ của lọ thuốc, đổ ra chút cao màu trắng. Nàng dịu dàng nói: “Đối với ngài là vết thương nhỏ, nhưng với ta, ta không muốn thấy ngài chịu bất kỳ tổn thương nào.”

Lời nàng nói thẳng thắn đến mức Thôi Tuần lập tức ngây người. Lý Doanh dùng ngón tay trộn đều thuốc, rồi hơi nhổm người lên, chậm rãi thoa lên vết thương trên trán hắn.

Khi đầu ngón tay nàng vừa chạm vào vết thương, Lý Doanh nhận thấy hàng mi của Thôi Tuần run run, nhưng trên gương mặt hắn không lộ vẻ đau đớn nào. Hắn xưa nay vốn giỏi chịu đau. Khi chịu một trăm trượng phạt kia, dù đau thấu xương, hắn vẫn không phát ra tiếng r.ên rỉ. Nhưng rốt cuộc, trên đời này có ai là không sợ đau? Có ai thật sự là mình đồng da sắt?

Chẳng qua cũng chỉ là thân xác phàm tục.

Sợ làm hắn đau, động tác của Lý Doanh vô cùng nhẹ nhàng. Khoảng cách giữa hai người rất gần, đến mức Thôi Tuần có thể thấy bóng mình phản chiếu trong đôi mắt trong trẻo của nàng. Ánh mắt ấy chuyên chú, như chứa đựng cả thế giới chỉ vì một mình hắn.

Khoảnh khắc đó, Thôi Tuần bỗng ngẩn ngơ. Hóa ra, trên đời này vẫn còn một người, quan tâm đến hắn, lo lắng cho hắn, không muốn hắn chịu bất kỳ thương tổn nào.

Có lẽ, bởi hắn từng gặp quá nhiều ác ý, nên khi đối mặt với tình cảm thuần khiết như vậy, lòng hắn lại sinh ra cảm giác bất an. Hắn tự hỏi, liệu tất cả những điều này có phải chỉ là một giấc mộng? Phải chăng, ngay cả Lý Doanh cũng chỉ là giấc mơ của hắn? Có lẽ trên đời này chẳng hề tồn tại ma quỷ, cũng không tồn tại một linh hồn trong sáng như nàng. Có lẽ chỉ vì hắn quá mỏi mệt, nên mới mơ tưởng có một người ở bên cạnh, cùng hắn đi nốt quãng đời ngắn ngủi còn lại. Nghĩ đến đây, hắn bắt đầu cảm thấy mọi thứ không chân thực.

Lý Doanh đã bôi thuốc xong. Nàng đặt lọ thuốc sứ trắng sang một bên, lấy khăn tay lau sạch thuốc còn dính trên ngón tay. Nhưng Thôi Tuần vẫn bần thần, sắc diện như trôi lạc nơi nào. Lý Doanh dịu giọng hỏi: “Sao thế? Có phải ta vừa làm ngài đau không?”

Thôi Tuần lúc này mới hoàn hồn. Hắn cười khổ lắc đầu: “Không phải.”

“Vậy ngài đang mải nghĩ gì thế?”

Thôi Tuần nhìn khuôn mặt như ngọc quý của nàng, những suy nghĩ mông lung vừa rồi khiến hắn cảm thấy thật khó để nói ra. Lý Doanh thở dài: “Thật không công bằng. Ta bôi thuốc cho ngài, mà ngay cả đang nghĩ gì, ngài cũng không chịu nói cho ta biết.”

Thôi Tuần có chút không phục: “Ta đã hỏi cô, hai ngày nay cô đóng cửa không ra ngoài là có tâm sự gì, cô cũng đâu chịu nói với ta.”

Lý Doanh nhướng mày: “Được, ngài nói trước, rồi ta sẽ nói sau.”

Câu nói của nàng như xoay chuyển tình thế, khiến Thôi Tuần cứng đờ người. Liệu hắn có thể thổ lộ những suy nghĩ lộn xộn trong đầu hắn? Ánh mắt hắn lảng tránh, đầu hơi cúi xuống, đến cả đôi tai cũng đỏ lên. Lý Doanh thấy vậy, nhướng nhẹ khóe môi: “Nếu ngài không nói, thì ta cũng không nói nữa.”

Nghe nàng nói vậy, Thôi Tuần lại càng muốn biết lý do vì sao suốt hai ngày nay nàng đóng cửa không ra khỏi phòng. Hắn trầm mặc một lát, cuối cùng khó nhọc mở miệng: “Ta… vừa rồi ta đang nghĩ… cô có thật hay không?”

“Ừm?”

“Ta sợ rằng ngày mai khi mở mắt ra, tất cả chỉ là một giấc mộng. Cô vốn chưa từng tồn tại, và ta cũng chưa từng gặp cô.” Thôi Tuần đáp, giọng đầy vẻ trầm ngâm.

Lý Doanh khẽ cười: “Thì ra ngài đang nghĩ đến điều đó.”

Nàng bất ngờ đưa tay vòng qua eo hắn, tựa đầu vào ngực hắn: “Vậy bây giờ, ta có thật không?”

Thôi Tuần không ngờ nàng lại đột ngột ôm lấy mình, cả người cứng đờ, bàn tay lóng ngóng không biết nên đặt vào đâu. Thân thể Lý Doanh so với hắn ấm áp hơn nhiều, nàng ôm hắn, trong khi lửa than trong phòng vẫn đang cháy rực, khiến hắn cảm thấy sau lưng dường như lấm tấm mồ hôi, chẳng rõ là vì nóng hay là do căng thẳng.

Lý Doanh vẫn ôm chặt hắn, thì thầm bên tai: “Thôi Tuần, ta chỉ là một giấc mộng thôi sao?”

Thôi Tuần bối rối đến nỗi lời nói cũng lắp bắp: “Không… không phải…”

Hắn lại nói: “Nàng là thật.”

Lý Doanh từ từ di chuyển đôi tay từ eo hắn lên tới lưng, chạm nhẹ qua những đốt xương gầy guộc, hai bả vai nhô lên tựa như đôi cánh bướm mỏng manh. Nàng khựng lại, không chạm lên nữa mà buông hắn ra. Giọng nàng thoáng nghẹn ngào: “Thôi Tuần, sao chàng lại gầy đến thế này?”

Thôi Tuần nhìn vào đôi mắt long lanh ngấn lệ của nàng, ngây người.

Nàng đang khóc vì hắn.

Những giọt lệ nhỏ đọng trên hàng mi dài, rung rinh như chực rơi xuống. Nàng vừa cười vừa khóc, nói: “Thôi Tuần, chẳng phải chàng muốn biết hai ngày nay ta có tâm sự gì sao? Tâm sự của ta, chính là đau lòng vì chàng.”

Nàng ngước nhìn hắn, ánh mắt dừng trên những vết thương sưng đỏ dù đã được bôi thuốc: “Ta đã khóc vì chàng suốt hai ngày nay.”

Một giọt lệ lăn xuống gò má trắng ngần như ngọc của nàng. Thôi Tuần ngây ngẩn nhìn, theo bản năng nhấc tay định lau đi, nhưng tiếng xích sắt leng keng nhanh chóng kéo hắn về thực tại. Hắn thở dài: “Cần gì phải vậy?”

Lý Doanh cúi đầu, mắt chăm chú nhìn chiếc cùm đen trên cổ tay hắn. Ánh nhìn ấy khiến Thôi Tuần không khỏi lúng túng. Hắn kéo tay áo tù che đi xiềng xích, nhưng nàng đã đưa tay ra, nhẹ nhàng chạm vào chiếc cùm. Nàng nói: “Có phải chàng luôn nghĩ rằng thân chàng mang đầy ô danh, cả đời khổ nhục, nên không xứng để ta khóc vì chàng? Nhưng ta lại cho rằng, trên đời này, không ai xứng hơn chàng cả.”

Nàng nói: “Thôi Tuần, ta không muốn điều tra vụ án của mình nữa, cũng không muốn luân hồi chuyển kiếp. Ta chỉ muốn mãi mãi được ở bên chàng.”

Thôi Tuần lặng người.

Nàng vừa nói, nàng không muốn chuyển kiếp nữa sao? Nhưng chẳng phải đầu thai vẫn luôn là ước mơ lớn nhất của nàng ư? Ban đầu nàng đến tìm hắn, chẳng phải chính vì điều này sao? Nhưng giờ đây, nàng lại không muốn nữa?

Vì sao nàng không muốn? Thôi Tuần không dám nghĩ.

Lý Doanh như còn điều gì muốn nói, nhưng Thôi Tuần lại không dám nghe. Hắn lên tiếng trước: “Đừng nói nữa…”

Hắn biết, chỉ cần nàng không nói ra, giấc mộng này sẽ kéo dài được thêm chút nữa.

Lý Doanh cố chấp: “Không, ta phải nói!”

Thôi Tuần không muốn nghe, định gượng dậy, định rời khỏi nơi này, nhưng chiếc cùm trên tay đã bị Lý Doanh giữ chặt, khiến hắn không thể trốn đi đâu.

Lý Doanh nói từng chữ, từng lời rành rọt: “Ta biết chàng đang nghĩ gì. Chàng đang nghĩ vì sao ta không muốn đầu thai chuyển kiếp, đúng không? Có lẽ chàng đã đoán được, nhưng không dám thừa nhận. Vậy thì để ta nói ra thay chàng: Là vì ta thích chàng. Ta ngưỡng mộ chàng. Ta không muốn rời xa chàng thêm lần nào nữa!”

Nàng nói trong một hơi, đôi mắt đã đong đầy ánh lệ, rồi cười tiếp: “Thôi Tuần, chàng nghe rõ chưa? Ta, Lý Doanh, mến mộ chàng, Thôi Vọng Thư. Dẫu nhân quỷ cách biệt, lòng ta vẫn không đổi.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 86: Chàng có điểm gì không đáng để ta thích?


Ngắn ngủi vài câu, nhưng lại khiến Thôi Tuần mặt mày tái nhợt như tờ giấy.

Hắn đang sợ hãi.

Lý Doanh chưa từng thấy Thôi Tuần sợ hãi như vậy. Trước mặt nàng, dù cảnh ngộ gian nan đến đâu, hắn cũng chưa từng lộ ra vẻ sợ hãi này. Đôi mắt đen láy như được điểm mực, giờ đây lại mất đi ánh sáng, chỉ còn lại sự mờ mịt, trống rỗng, yếu đuối đến mức khiến người khác bất an.

Hắn không trả lời Lý Doanh, chỉ dùng tay chống người ngồi dậy.

Lý Doanh lúc này đang nắm chặt sợi xích giữa hai chiếc cùm, không để hắn đi, nhưng hắn dường như không hề hay biết, động tác dứt khoát khiến sợi xích căng đến mức thẳng tắp. Lý Doanh sợ làm hắn đau, liền buông tay. Trong tiếng leng keng của xích sắt, Thôi Tuần loạng choạng đứng dậy, như thể đang vội vã chạy trốn, bước chân hướng thẳng ra bên ngoài. Lý Doanh mím môi, cũng đứng dậy, chạy nhanh đến trước cánh cửa gỗ chạm trổ, dang rộng hai tay, chắn đường hắn.

Nàng nói: “Không được đi.”

Nàng lại nói: “Thôi Tuần, chàng sợ cái gì?”

Nàng cứ đứng đó, hai tay dang rộng, cương quyết không để hắn rời đi. Thôi Tuần nhìn nàng, sắc mặt càng lúc càng trắng bệch. Một lúc lâu sau, hắn mới nhẹ nhàng nói: “Tại sao… nàng lại nói ra chứ?”

“Vì sao ta không thể nói ra?” Lý Doanh nhấn mạnh từng chữ, từng chữ một: “Ta thích một người, vì sao lại không thể nói ra? Ta cứ phải nói đấy. Ta thích chàng, ta yêu chàng, ta say đắm chàng. Chàng nghe rõ chưa? Nếu chàng chưa nghe rõ, ta có thể lặp lại một trăm lần!”

“Đừng nói nữa.” Thôi Tuần thở hổn hển, ngắt lời nàng.

Lý Doanh bỗng nhiên cười, hàng mi của nàng vương vài giọt lệ nhỏ, lấp lánh như pha lê, nàng nói tiếp: “Thôi Tuần, chẳng lẽ chàng không thích ta sao? Ta hiểu rõ lòng mình, ta nhìn ra được, chàng cũng thích ta.”

“Đừng nói nữa.” Ngữ điệu của Thôi Tuần mang theo một chút cầu xin, dường như hắn vô cùng đau khổ: “Nếu nàng không nói ra, ta và nàng đều có thể giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra, cứ như vậy mãi cũng được. Nhưng tại sao nàng lại phải nói ra chứ?”

Hắn xòe tay, nhìn mười ngón tay mình. Đó là một đôi tay vô cùng đẹp, ngón tay trắng trẻo, thon dài, móng tay được cắt tỉa sạch sẽ, tròn trịa. Hắn lẩm bẩm: “Nàng có thấy đôi tay này không? Ba năm làm Thiếu khanh ở Sát Sự Thính, đôi tay này không biết đã nhuốm bao nhiêu máu, ta chắc chắn sẽ xuống địa ngục, thần Phật cũng không thể tha thứ cho ta. Ta không xứng nhận được bất kỳ tình yêu nào, càng không xứng với tình yêu của nàng.”

Lý Doanh im lặng nhìn đôi tay hắn, rồi bất ngờ đưa tay ra, nắm lấy mười ngón tay hắn: “Đôi tay này tuy đã nhuốm máu, nhưng cũng chính là hy vọng của năm vạn quân Thiên Uy, là niềm tin mang lại công lý cho họ, là trụ cột nuôi sống bao nhiêu gia đình. Thôi Tuần, chàng đã làm việc thiện, cũng đã từng làm chuyện ác. Thiện là xuất phát từ tấm lòng, ác lại chẳng phải là chàng mong muốn. Ta không thể nói chàng là người tốt, nhưng thật sự chàng không phải là một kẻ ác tồi tệ. Vì sao chàng lại không xứng đáng được yêu? Chàng xứng đáng hơn bất cứ ai khác!”

Thôi Tuần ngơ ngẩn lắng nghe, vô thức muốn rút ngón tay khỏi lòng bàn tay nàng, nhưng nàng lại nắm rất chặt, khiến hắn không thể rút ra. Sắc mặt Thôi Tuần càng thêm đau khổ, giọng khàn khàn: “Ta… sẽ xuống địa ngục.”

“Không sao cả.” Lý Doanh nhẹ nhàng nói: “Nếu chàng xuống địa ngục, ta sẽ đến Vong Tử Thành. Kẻ giết ta, dù thọ đến đâu, cũng không thể sống thêm năm mươi năm. Giờ đây đã ba mươi năm trôi qua, ta chỉ cần đợi thêm hai mươi năm nữa. Khi hắn chết, ta sẽ rời Vong Tử Thành, xuống địa ngục tìm chàng. Nếu chàng chịu hình phạt ở đó, ta sẽ giúp chàng trị thương. Chàng chịu phạt bao lâu, ta sẽ ở cạnh bấy lâu, cho đến khi mọi tội nghiệt của chàng được rửa sạch.”

Đôi mắt Thôi Tuần phủ một lớp sương mờ, hắn chớp mắt, vài giọt lệ trong suốt rơi xuống từ hàng mi dài. Hắn nghẹn ngào, cúi đầu nói: “Rốt cuộc… ta có gì đáng để nàng thích?”

Lý Doanh nhìn hắn, không trả lời trực tiếp mà chỉ khẽ bảo: “Thôi Tuần, trước đây ta từng bảo chàng rằng ta và Ngư Phù Nguy cùng tìm ra nơi cất giấu thủ cấp của Quách soái. Thực ra, ta đã lừa chàng.”

Nàng tiếp lời: “Ta đã cùng A Sử Na Gia xuống Địa phủ, tìm được linh hồn của Quách soái, mới biết được chỗ giấu thủ cấp. Nhưng chàng đừng lo, ta không sao, A Sử Na Gia cũng vậy. Chỉ là, ngoài việc nói cho ta biết nơi giấu thủ cấp, Quách soái còn kể về sự sụp đổ của Thiên Uy quân sáu năm trước. Ông ấy nói rằng chính ông đã nhờ chàng, bảo chàng không được chết, phải sống thật tốt để thay họ rửa oan. Khi ông nói điều đó, ta bỗng nhớ đến những gì chàng đã chịu đựng ở Đột Quyết. Chàng sống, nhưng sống không bằng chết. Có lẽ chính Quách soái cũng không ngờ rằng, lời khẩn cầu của ông lại đẩy chàng rơi vào vực thẳm. Nhưng dù chàng rơi vào đó, chàng vẫn giữ trọn lời hứa, hết lòng minh oan cho họ.”

Đôi mắt nàng rưng rưng: “Quách soái còn hỏi ta rằng người Đột Quyết có làm khó chàng không, người Đại Chu có làm khó chàng không. Ta trả lời rằng không, nhưng trong lòng thật sự khó chịu lắm. Dẫu vậy, ta tự nhủ mình không được lộ ra, không thể để Quách soái đau lòng. Vì ông là người mà chàng kính trọng nhất, ta không thể khiến người chàng tôn kính buồn bã. Thôi Tuần, từ khoảnh khắc đó, ta biết rõ, ta xong rồi. Ta đã hoàn toàn không thể thoát khỏi chàng.”

Nàng vẫn nắm chặt lấy đôi tay hắn, kiên quyết không buông: “Thôi Tuần, chàng hỏi ta rằng, rốt cuộc chàng có gì đáng để ta thích? Câu này, chàng không nên hỏi ta, thay vào đó, chàng nên tự hỏi chính mình. Và thay vì hỏi rằng mình có đáng không, chàng hãy tự hỏi rằng, chàng có gì không đáng để ta thích?”

Từng lời từng chữ của nàng, chân thành tha thiết. Sắc mặt Thôi Tuần hiện lên vẻ mơ màng chưa từng thấy, hắn từ từ rút tay khỏi tay nàng, vẫn nói: “Ta… chẳng có gì đáng giá cả.”

Hắn cúi đầu, thấp giọng: “Công chúa là ánh trăng trên trời, còn ta, ở Đột Quyết là một con súc vật, ở Đại Chu là một con chó dữ. Sáu năm qua, ta không xứng được gọi là người. Một kẻ dơ bẩn như ta, sao dám mơ tưởng đến ánh trăng cao quý ấy? Công chúa nên chuyển kiếp, sống một cuộc đời rực rỡ, chứ không phải mắc kẹt nơi đây, cùng ta chìm trong bùn lầy.”

Nước mắt Lý Doanh không kiềm được mà lăn dài: “Súc vật gì? Chó dữ gì? Dơ bẩn gì? Vì sao chàng phải tự khinh mình đến thế? Dù là chàng, ta cũng không cho phép chàng nói về mình như vậy!”

Thôi Tuần tự giễu: “Đó vốn là sự thật. Công chúa có thể ngăn được miệng ta, nhưng không thể ngăn được miệng đời.”

Lý Doanh nghiến răng: “Ta sẽ chặn miệng đời! Chàng cứ đợi mà xem!”

Nàng ngưng lại, như vẫn không cam lòng với lời tự mỉa của hắn. Lý Doanh cắn môi, nước mắt không ngừng tuôn rơi: “Nhưng trước hết, ta sẽ chặn miệng chàng!”

Bất chợt, nàng nhón chân, vòng tay qua cổ hắn, môi nàng áp lên đôi môi lạnh lẽo của hắn. Động tác quá nhanh, đến mức Thôi Tuần còn chưa kịp phản ứng, chờ đến khi hắn nhận ra thì theo bản năng đã ngả người ra sau, miệng buột ra một chữ: “Bẩn.”

Lý Doanh ôm chặt cổ hắn: “Không bẩn.”

Thôi Tuần định đẩy nàng ra, nhưng phát hiện cơ thể không thể nhúc nhích, hoàn toàn bị nàng dùng niệm lực giam giữ, không sao động đậy.

Lý Doanh kiễng chân, phiến môi nàng đặt lên cánh môi hắn, nhẹ nhàng như đang nâng niu một báu vật quý giá nhất thế gian. Nụ hôn của nàng tràn ngập vẻ thành kính, thuần khiết và không hề mang chút ý niệm chiếm hữu nào. Hắn không còn là Thôi Tuần, vị Thiếu khanh Sát Sự Thính thân đầy ô danh, mà là lang quân hoàn mỹ nhất đời này trong mắt nàng, đáng để nàng yêu, đáng để nàng dâng trọn trái tim mình. Nụ hôn ấy như muốn xoa dịu những vết thương chằng chịt trong lòng hắn.

Thôi Tuần ngẩn người nhìn gương mặt nàng gần trong gang tấc. Những giọt lệ của nàng rơi xuống, lăn dài trên má, tựa hồ thấm vào môi hắn, mang theo vị mằn mặn, âm ấm. Đó là những giọt nước mắt nàng dành cho hắn. Một lúc sau, nàng mới rời khỏi môi hắn, ngước lên nhìn đôi mắt mờ sương của hắn, nhẹ giọng cầu khẩn: “Thôi Tuần, nếu ta là ánh trăng trên trời, thì chàng chính là Vọng Thư Sứ của ta. Chàng không phải súc vật, không phải chó dữ, chàng cũng không hề bẩn. Từ nay về sau, chàng đừng bao giờ nói những lời đó về bản thân nữa, được không?”

Thôi Tuần lặng đi nhìn nàng, đôi mắt thoáng đỏ hoe. Giọng hắn khàn khàn: “Ta sẽ không nói nữa.”

Hắn nói tiếp: “Nàng thả ta ra đi. Đừng tùy tiện sử dụng niệm lực, không tốt cho nàng đâu.”

Vừa dứt lời, hắn liền nhận ra mình đã có thể cử động. Hắn cúi đầu, giấu đi ánh lệ trong mắt, trầm mặc một lát rồi nói: “Chuyện hôm nay, giữa ta và nàng, hãy xem như chưa từng xảy ra.”

Dứt lời, hắn mở cửa phòng, lần này Lý Doanh không ngăn lại. Hắn kéo lê xiềng xích, dáng đi lảo đảo, thảm hại rời khỏi. Lý Doanh cắn chặt môi, bước ra bậc cửa, nhìn theo bóng lưng hắn. Một cơn gió thoảng qua, làm chiếc áo tù bạc màu của hắn lay động, để lộ thân hình gầy gò, khắc khổ bên trong. Lý Doanh chỉ cảm thấy mắt mình cay xè, nàng đứng đó, trong tiếng xiềng xích khua vang, nhìn hắn từng bước đi vào phòng riêng, rồi khép lại cánh cửa gỗ chạm trổ tinh xảo.



Sau khi đóng cửa, Thôi Tuần tựa người vào cửa, cảm giác như sức lực toàn thân đã bị rút cạn. Hắn chậm rãi ngồi xuống, tựa lưng vào cánh cửa, cứ thế ngồi thật lâu. Bỗng dưng, như thể nghĩ đến điều gì, bàn tay hắn đưa lên, chạm vào môi mình. Trên môi vẫn còn lưu lại hơi ấm của nàng, hắn nhận ra mình đã luyến tiếc cái cảm giác ấm áp ấy, đến mức ngón tay đặt lên môi, thật lâu cũng không muốn rời đi.

Khi hắn chợt bừng tỉnh, chính khoảnh khắc ấy, Thôi Tuần bỗng cảm thấy ghê tởm bản thân đến cực điểm.

Hắn làm sao có thể vấy bẩn ánh trăng sáng trên cao?

Hắn làm sao có thể dụ dỗ ánh trăng kia để nàng đem lòng yêu hắn?

Hắn làm sao có thể để ánh trăng cam nguyện vì hắn mà ở lại cõi trần?

Đúng, hắn đáng bị đày xuống địa ngục.

Một giọt lệ lặng lẽ lăn qua gò má, rơi xuống chiếc xiềng xích đen tuyền. Nàng tốt đẹp đến nhường ấy, còn hắn, nào có đủ tư cách?

Nàng càng đối xử tốt với hắn, hắn càng cảm thấy mình không xứng.

Đúng vậy, hắn không xứng.

Hãy để tất cả những chuyện hôm nay chỉ là một giấc mộng. Đợi đến khi mộng tỉnh, hắn vẫn là một Thôi Tuần cô độc, một mình.



Thôi Tuần ngồi trên nền đất suốt một đêm, đến khi than trong phòng cháy hết cũng chẳng hay. Áo tù quá mỏng manh, sáng hôm sau, hắn liền sốt cao. Ngục tốt của Đại Lý Tự mang cơm đến thấy thì giật mình, bởi Lư Hoài nghiêm lệnh không được ngược đãi Thôi Tuần. Gã không dám chậm trễ, vội mời đại phu, kê đơn thuốc, rồi cẩn thận sắc thuốc, bưng vào trong phòng.

Thôi Tuần ho vài tiếng, mệt mỏi nói: “Để đó đi.”

Ngục tốt không dám nhiều lời, đặt chén thuốc men xanh lục cạnh giường, rồi cung kính lui ra. Trước khi rời đi, gã còn nhớ tới lời dặn của đại phu: lâu ngày gan khí uất kết, thân thể yếu nhược, không chịu được lạnh, cần phải cẩn thận bồi dưỡng.

Ngục tốt nghe xong không khỏi hoài nghi. Lâu ngày gan khí uất kết? Thôi Tuần ngày thường ngạo mạn hung hăng, luôn là kẻ hành hạ người khác, làm gì có ai dám hành hạ hắn? Một người như vậy, cũng có thể gan khí uất kết? Chưa kể còn là lâu ngày?

Còn nữa, thân thể yếu nhược? Ngục tốt thực sự không thể gắn bốn chữ này với Thiếu khanh của Sát Sự Thính, người luôn kiêu ngạo, ỷ thế, nằm quyền trong tay.

Ngục tốt quay đầu, liếc nhìn cánh cửa gỗ chạm trổ đã đóng chặt, chỉ biết lắc đầu khó hiểu. Có điều, gã không hề thấy, một bóng dáng trong bộ lưu tiên váy trắng đang nhẹ nhàng bước qua cánh cửa đó mà vào.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 87: Ta lấy danh nghĩa công chúa Đại Chu ra thề


Thôi Tuần tựa lưng trên chiếc giường gỗ hoàng hoa lê, tấm chăn gấm quấn chặt lấy thân hình gầy yếu. Hắn vẫn chưa hạ sốt, gương mặt tái nhợt hiện lên sắc đỏ bất thường, liên tục ho khan. Thân thể mỏi mệt là vậy, nhưng trong đôi mắt trống rỗng kia, chẳng gợn lấy một tia cảm xúc.

Hồi lâu, hắn mới nhớ đến chén thuốc đặt bên cạnh. Một ánh nhìn đầy chán ghét lướt qua thứ thuốc đen sánh, nhưng tay hắn vẫn run rẩy chạm lên. Hắn không thể chết, ít nhất, không phải là lúc này.

Hắn dùng chiếc muỗng bạch ngọc múc một thìa thuốc, định đưa lên miệng. Nhưng cổ tay yếu ớt, lại thêm xiềng xích nặng nề khóa chặt, khiến hắn không thể giữ nổi. Chiếc chén men xanh nghiêng ngả, rơi xuống chăn gấm. Nhưng ngay khoảnh khắc đó, một ngọn quỷ hỏa xanh lục lặng lẽ xuất hiện, nâng chén thuốc lên. Một giọt cũng không đổ ra ngoài.

Lý Doanh bước đến, nhấc chén thuốc ra khỏi ngọn quỷ hỏa, lặng lẽ ngồi xuống mép giường. Nàng thả một viên đường phấn vào chén, chờ nó tan hẳn rồi múc một thìa, cẩn thận thổi nguội, sau đó mới đưa đến bên môi hắn.

Thôi Tuần không uống, chỉ khẽ nói: “Ta tự mình làm được.”

Lý Doanh cười nhạt: “Nếu chàng tự làm được, thì chén thuốc kia đã chẳng rơi xuống.”

Thôi Tuần vốn không quen để người khác đút thuốc, nhất quyết không chịu uống. Lý Doanh liền thở dài: “Được thôi, chàng không uống cũng được. Nhưng nếu chàng bệnh chết, ta sẽ đợi xem, xuống cửu tuyền rồi, chàng định giải thích thế nào với Quách soái.”

Nghe vậy, ngón tay đặt trên chăn gấm của Thôi Tuần bỗng run lên. Không thể phủ nhận, lời nàng nói quả thực đâm trúng tâm can hắn. Những năm qua hắn cam chịu mọi nhục nhã cũng chỉ vì lời hứa với Quách soái. Hắn cúi đầu, cuối cùng cũng chịu hé môi, đón nhận thìa thuốc nàng đưa đến.

Lý Doanh lắc đầu, cảm thán: lòng tự tôn của người này quả thật chẳng đúng lúc chút nào. Nàng tiếp tục múc một thìa khác, thổi nguội, rồi đưa đến bên môi hắn.

Nửa chén thuốc nhanh chóng vơi đi. Hương thuốc nhè nhẹ hòa cùng đường phấn khiến cổ họng đắng chát trở nên dễ chịu hơn đôi chút. Thôi Tuần uống thêm một ngụm, ánh mắt bất giác ngẩng lên nhìn nàng. Lý Doanh cúi đầu, chăm chú thổi nguội từng thìa thuốc nóng, hàng mi dài rũ xuống, vẻ mặt nghiêm túc và dịu dàng.

Ký ức thời thơ ấu bất chợt ùa về. Cũng từng có tỳ nữ ngồi bên giường, chăm sóc lúc hắn bệnh tật, nhưng không một ai từng thật lòng với hắn như thế. Không vì hắn là chủ nhân, cũng chẳng vì hắn là người có thể đem đến lợi ích. Nàng trông nom hắn, chỉ vì hắn là Thôi Vọng Thư.

Một cảm giác ấm áp len lỏi trong lòng hắn. Thôi Tuần ngẩn ngơ nhìn gương mặt thanh khiết của nàng, đến mức quên cả việc nuốt ngụm thuốc vừa đưa tới sát môi.

Lý Doanh nghi hoặc: “Sao vậy?”

Lúc này Thôi Tuần mới hoàn hồn, hé miệng uống thìa thuốc, nhưng đôi mắt vẫn ngây dại nhìn chằm chằm vào Lý Doanh.

Hắn đang bệnh, tóc đen chỉ được vấn hờ bằng một cây trâm ngọc đơn giản, vài lọn tóc buông lơi rũ xuống gương mặt. Hai gò má vì cơn sốt cao mà hồng lên như được phủ một lớp phấn mỏng, tựa như men rượu làm say lòng người, vừa như ngọn núi ngọc đổ nát, lại như ánh mây chiều rực rỡ. Thế nhưng, trong sự mỹ lệ ấy lại vương vấn nét tiều tụy và yếu ớt của kẻ ốm bệnh. Lý Doanh nhìn hắn, bất giác nín thở, tim cũng loạn đi nửa nhịp.

Nàng chợt nhớ đến câu cổ văn từng đọc: “Tây Tử ôm ngực, càng thêm kiều diễm.” Khi ấy, nàng vẫn không tin, thầm nghĩ làm gì có người nào bệnh tật mà lại càng khiến người khác động lòng. Giờ phút này nhìn Thôi Tuần thì mới hay cổ nhân không dối gạt nàng.

Ý nghĩ này khiến nàng bỗng chột dạ. Nàng tự trách mình, hắn bệnh đã khổ sở thế kia, vậy mà nàng toàn nghĩ chuyện hoang đường thế đấy.

Cảm giác hổ thẹn khiến nàng không dám nhìn thẳng vào hắn nữa. Nàng cúi đầu, tiếp tục thổi nguội chén thuốc, mỗi khi đưa thìa đến gần môi hắn mới dám liếc nhìn, nhưng vừa nhớ đến những suy nghĩ vẩn vơ ban nãy, nàng lại vội vàng cúi xuống. Động tác vụng về, mang theo vẻ thẹn thùng e ấp, khiến dung mạo vốn đã thanh tú của nàng càng thêm phần đáng yêu.

Nhìn nàng như vậy, lòng Thôi Tuần cũng không khỏi rung động.

Hai người đều sinh lòng xao động, khiến việc bón nốt phần thuốc còn lại bỗng trở nên lúng túng, tràn ngập bầu không khí mơ hồ ám muội. Mỗi lần Lý Doanh đưa thìa thuốc đến, Thôi Tuần đều ngậm chiếc thìa bạch ngọc, chăm chú nhìn nàng, ánh mắt đen láy, sâu thẳm như màn đêm. Lý Doanh lại chẳng dám đối diện với hắn, thỉnh thoảng lấy hết can đảm ngước lên một lần, nhưng ánh mắt vừa đan vào nhau thì hắn lại ngượng ngùng cúi đầu, lảng tránh rất nhanh.

Nửa chén thuốc ấy, đến thìa cuối cùng, hai người đều đỏ cả vành tai.

Nhìn đáy chén thuốc thuốc men xanh giờ đã chạm đáy, Lý Doanh nhỏ nhẹ nói: “Thuốc này gây buồn ngủ, chàng nghỉ ngơi một lát đi.”

Thôi Tuần gật đầu, nhẹ giọng: “Nàng cũng về nghỉ trước đi.”

Lý Doanh suy nghĩ một lát, rồi nói: “Ta vẫn nên ở lại đây, đề phòng bất trắc.”

Thôi Tuần đáp: “Ta không sao đâu.”

“Nhưng mà…” Lý Doanh nói: “Thôi Tuần, khi chàng bệnh, chàng không muốn có người ở bên cạnh sao?”

Nàng nhớ khi xưa, mỗi lần nàng lâm bệnh, a nương luôn túc trực bên giường, đôi lúc cả a gia cũng đến thăm. Có người thân yêu ở bên, bệnh tình của nàng bao giờ cũng sẽ khỏi nhanh hơn.

Nghe nàng nói, Thôi Tuần thoáng ngẩn người, một lát sau mới khó nhọc đáp: “Chưa từng có ai ở cạnh.”

Thuở nhỏ, hắn thường xuyên đau ốm, nhưng giường bệnh trước sau đều trống trải. Lớn lên, sức khỏe tốt hơn, ít bệnh tật, cũng chẳng cần ai lo lắng. Từ khi trở về từ Đột Quyết, thân thể suy nhược, bệnh tật thường xuyên, nhưng lại chỉ có một mình.

Thành ra, không phải là không muốn, mà là không có ai cả.

Lý Doanh mỉm cười: “Vậy ta sẽ ở bên chàng.”

Ngón tay Thôi Tuần chầm chậm siết chặt chăn gấm, hàng mi đen tựa cánh quạ run run, hắn lẩm bẩm: “Nàng… không trách ta sao?”

“Trách chàng?”

“Chuyện hôm qua…” Thôi Tuần lựa lời, cân nhắc hồi lâu nhưng không biết nên mở miệng thế nào, cuối cùng chỉ có thể nói: “Ta tưởng nàng sẽ trách ta.”

Trách hắn phụ lòng nàng.

Lý Doanh lắc đầu: “Thôi Tuần, ta sẽ không bao giờ trách chàng.”

Nàng ngừng lại một chút, rồi nói tiếp: “Ta đang đợi chàng, đợi chàng đủ can đảm đón nhận tình ý của ta, đợi chàng cho phép ta gọi chàng một tiếng Thập Thất lang.”

Hàng mi dài của Thôi Tuần như nhuốm một chút ánh lệ lấp lánh. Hắn cụp mắt, khẽ hỏi: “Nếu như… không đợi được thì sao?”

“Nếu không đợi, thì sao biết sẽ không đợi được?”

Thôi Tuần im lặng, chỉ lặng lẽ đưa tay lên. Trong tiếng xiềng xích vang lên, hắn như vô tình chạm nhẹ vào khóe mắt, rồi buông tay xuống, thì thầm một tiếng: “Được.”



Sau khi đốt hương an thần, Lý Doanh đỡ Thôi Tuần nằm xuống.

Trong phương thuốc có thêm ma hoàng và cát căn, dễ khiến người ta buồn ngủ. Kết hợp với tác dụng của hương an thần, chẳng mấy chốc, Thôi Tuần đã chìm vào giấc ngủ sâu. Ma hoàng và cát căn lại có tác dụng hạ nhiệt, vì thế chỉ một lát sau, trên trán Thôi Tuần đã lấm tấm mồ hôi.

Lý Doanh chuẩn bị một chậu nước, làm ướt khăn, vắt khô rồi cẩn thận lau đi lớp mồ hôi trên trán và gương mặt hắn.

Mồ hôi lạnh được lau sạch, sắc mặt Thôi Tuần rõ ràng thoải mái hơn, đôi mày nhíu chặt cũng dần giãn ra. Tuy nhiên, hắn toát mồ hôi quá nhiều, khăn lau nhanh chóng ướt sũng như ngâm nước, phải giặt và vắt lại liên tục.

Dù là vậy, Lý Doanh vẫn không hề oán thán, nàng kiên nhẫn giặt khăn, vắt khô rồi tiếp tục lau mồ hôi cho hắn. Tới khi mặt trời lặn sau núi, cơn sốt của Thôi Tuần cuối cùng cũng dịu đi. Lý Doanh đưa tay thử nhiệt độ trên trán hắn, cảm giác nóng hầm hập đã rút đi đáng kể.

Nàng thở phào nhẹ nhõm, xoa bóp thắt lưng đang mỏi nhừ, rồi cầm chậu nước chuẩn bị mang đi đổ. Vừa đứng dậy, nàng bất ngờ bị một bàn tay nắm lấy.

Thôi Tuần nhắm nghiền hai mắt, dường như vẫn đang say ngủ. Hàng mày lại hơi chau lại, miệng mấp máy, khẽ gọi: “Minh Nguyệt Châu…”

Lý Doanh sững người. Nàng không bước nữa mà chậm rãi ngồi xuống sàn gỗ mun, tựa bên cạnh chiếc sạp thấp bằng gỗ hoàng hoa lê. Một lúc lâu, nàng bỗng thở dài: “Thật không công bằng. Ta còn chưa gọi chàng một tiếng Thập Thất lang, chàng đã gọi ta Minh Nguyệt Châu rồi.”

Nàng chợt bật cười, rồi lại nói: “Thôi bỏ đi, không chấp với chàng nữa. Mau khỏe lại đi nhé. Tuy rằng dáng vẻ chàng lúc bệnh giống như Tây Thi ôm ngực trong sách, thật sự rất đẹp mắt, nhưng ta vẫn không muốn chàng bị bệnh. Ta chỉ hy vọng chàng khỏe mạnh, suốt đời không bệnh, không tai, cũng chẳng đau đớn.”

Thôi Tuần đang ngủ sâu, chẳng biết là mơ thấy gì, hay vừa nghe được những lời nàng nói, khóe mắt trào ra một giọt lệ, lặng lẽ thấm vào lọn tóc đen như lông quạ.

Lý Doanh hoảng hốt, vội đưa ngón tay lau đi vệt nước: “Sao lại khóc? Chàng yên tâm, ta không đi đâu. Ta sẽ luôn ở đây với chàng.”

Nàng dừng lại, thoáng chau mày, rồi bướng bỉnh nói: “Vừa rồi chàng gọi ta là Minh Nguyệt Châu. Để công bằng, ta cũng phải gọi chàng một tiếng Thập Thất lang.”

Nàng tựa sát vào bên giường, nhìn hàng mi dày như cánh quạt của hắn, thủ thỉ: “Thập Thất lang này, từ nay, mỗi khi chàng đau khổ, sẽ không còn phải cô độc nữa. Ta lấy danh nghĩa công chúa Đại Chu thề rằng, ta sẽ luôn bên chàng, mãi mãi không rời.”

Bàn tay nàng vẫn bị Thôi Tuần nắm chặt. Nàng cứ để mặc như vậy, bản thân thì an tĩnh tựa bên giường, ngắm nhìn hắn ngủ say không hề nhúc nhích, cũng chẳng động đậy.



Khi Thôi Tuần đang lâm bệnh, thủ cấp của Quách Cần Uy cũng được đưa đến Túc Châu.

Đội binh áp tải thủ cấp đã hành quân hơn mười ngày, người nào người nấy mệt mỏi rã rời. Khi đến trạm dịch Phi Vân, họ khiêng chiếc rương đựng thủ cấp vào phòng, cử hai binh sĩ canh giữ bên ngoài, còn lại đều tranh thủ nghỉ ngơi.

Đến nửa đêm, dịch thừa của trạm dịch Phi Vân ôm một hộp gỗ bước đến cửa nhà kho. Hai binh sĩ canh gác liếc nhìn nhau, phối hợp rất ăn ý, lập tức mở cửa phòng. Một lát sau, dịch thừa lại ôm chiếc hộp gỗ đi ra, hai người lính cũng lặng lẽ đóng cửa lại, tựa như chẳng có chuyện gì xảy ra.

Một ám thám của Sát Sự Thính đã ẩn nấp từ trước, chứng kiến toàn bộ sự việc. Trong lòng thầm nghĩ: Đúng như Thiếu khanh dự liệu. Trạm dịch Đại Chu do Binh bộ trực tiếp quản lý, mà Bùi Quan Nhạc lại là Thượng thư Binh bộ. Việc ông ta cho đổi thủ cấp ở trạm dịch quả nhiên không ngoài dự đoán.

Nay thủ cấp đã bị tráo, bước tiếp theo chỉ cần hành động theo kế hoạch.

Vào nửa đêm, một làn mê hương theo gió thổi qua, khiến hai binh sĩ đứng gác mơ màng ngã gục. Ngay lúc ấy, từ trên mái nhà, một ám thám cầm theo một chiếc hộp gấm lặng lẽ dỡ một viên ngói, lẻn vào trong kho. Hắn nhanh chóng tráo đổi bộ hài cốt trong hộp với hài cốt trong rương, động tác vô cùng gọn gàng, không một tiếng động.

Chỉ trong chớp mắt, hắn đã hoàn tất việc tráo đổi, sau đó trở lại mái nhà, cẩn thận đặt lại mảnh ngói như cũ. Khi xong việc, hắn cùng ám thám đang phụ trách giám sát rời khỏi trạm dịch Phi Vân trong yên lặng.

Ngoài trạm dịch Phi Vân, một nam nhân trẻ tuổi mặc áo vải đen, dáng vẻ tuấn mỹ, đã đứng chờ từ lâu. Hai ám thám từ Sát Sự Thính bước đến, chắp tay bẩm báo: “Ngư lang quân, mọi chuyện đã được thu xếp ổn thỏa.”

Ngư Phù Nguy gật đầu. Hai ám thám trong lòng đều thầm kính phục hắn. Kế sách này do Thôi Tuần vạch định, nhưng lại do Ngư Phù Nguy phụ trách thi hành. Phải biết rằng, việc thi hành chẳng hề dễ dàng như lập kế. Chỉ cần một mắt xích xảy ra sơ suất, toàn bộ kế hoạch sẽ sụp đổ.

Ban đầu, những ám thám của Sát Sự Thính đều hoài nghi Ngư Phù Nguy, nghĩ rằng một thương nhân như hắn thì có thể làm được gì. Chỉ vì Thôi Tuần ra nghiêm lệnh, buộc họ phải nghe theo chỉ đạo của hắn, họ mới miễn cưỡng tuân theo. Không ngờ, Ngư Phù Nguy hành sự chu toàn, tính toán kỹ lưỡng đến mức không sót một giọt nước. Thậm chí cả hướng gió tại trạm Phi Vân cũng được cân nhắc, mọi việc được bố trí chặt chẽ, không hề có chút sai sót nào.

Hai ám thám thành tâm nói: “Đa tạ Ngư lang quân, vì cứu giúp Thiếu khanh mà không tiếc thân gia tính mạng.”

Ngư Phù Nguy nhíu mày: “Ta cam lòng bỏ hết thân gia tính mạng, nhưng không phải vì cứu hắn, mà là vì người khác.”

Nói ra lời ấy, hắn chợt nhớ tới câu của A Sử Na Gia: “Chàng chưa từng đầu hàng Đột Quyết.” và câu nói của Lý Doanh: “Hắn đem toàn bộ bổng lộc ba năm qua ban tặng cho gia quyến của những đồng đội tử trận.” Ngư Phù Nguy thoáng lưỡng lự, rồi thở dài: “Thôi được, coi như lần này là vì cứu hắn đi.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 88: Chàng là một anh hùng


“Bọ ngựa bắt ve, chim sẻ rình sau.”

Bùi Quan Nhạc không thể ngờ, chiếc thủ cấp mà ông ta cẩn thận tráo đổi lại bị thuộc hạ của Thôi Tuần đổi thêm lần nữa. Việc này, kỳ thực cũng không thể trách Bùi Quan Nhạc, bởi ông ta đâu hay biết rằng, trong Thôi phủ vốn được canh giữ nghiêm ngặt như thùng sắt kín nút, lại có một “hồn ma” âm thầm giúp Thôi Tuần truyền tin tức ra ngoài.

Trong thư phòng của Thôi phủ, Thôi Tuần chăm chú đọc lá thư Ngư Phù Nguy vừa gửi. Đọc xong, hắn đặt thư lên ngọn nến, đốt thành tro bụi. Lý Doanh khẽ nói: “Ngư Phù Nguy bảo rằng mọi việc đã sắp xếp ổn thỏa, chỉ là thủ cấp của Quách soái được Đột Quyết Diệp Hộ canh giữ nghiêm ngặt, ám thám tạm thời chưa thể ra tay.”

“Không sao.” Khuôn mặt Thôi Tuần vẫn còn mang vẻ xanh xao của người mới khỏi bệnh. Hắn ho nhẹ mấy tiếng, nhưng cơn ho không dừng lại, ngược lại càng trở nên dữ dội hơn. Lý Doanh lo lắng nhìn hắn. Thôi Tuần cố gắng đè nén cơn ho từ trong lồng ngực, miễn cưỡng mỉm cười, né tránh ánh mắt quan tâm của nàng, nói: “Chỉ cần biết được thủ cấp Quách soái hiện đang ở đâu thì sẽ còn cách khác.”

Tuy vậy, Lý Doanh vẫn không chịu từ bỏ, nhẹ giọng hỏi: “Thôi Tuần, chàng thực sự không sao chứ?”

Hắn lắc đầu: “Không đáng ngại.”

Nàng cắn môi, thấp giọng nói: “Lúc ở trong ký ức của A Sử Na Gia, ta đã thấy vào những ngày đông lạnh giá, A Sử Na Ngột Đóa thường treo chàng bên ngoài hãn trướng, mỗi lần kéo dài mấy ngày liền. Chàng sợ lạnh, chắc cũng vì thế mà sinh ra chứng bệnh này, đúng không?”

Thôi Tuần ngẩn ra, quãng thời gian ấy, thật ra hắn chẳng muốn nhắc lại. Lý Doanh cũng biết nỗi đau trong lòng hắn, nên nàng thường tránh đề cập. Nhưng không hiểu sao hôm nay lại cố tình nói đến.

Như thể nhìn thấu được khúc mắc trong lòng hắn, Lý Doanh nhìn hắn, ánh mắt dịu dàng mà kiên định: “Thôi Vọng Thư, chàng là người kiên cường nhất mà ta từng gặp.” Nàng cười khổ: “Ta thường tự hỏi, nếu đổi lại là ta, liệu ta có thể chịu được bao lâu? Ta nghĩ, chắc không quá mười ngày.”

Nàng tiếp lời, giọng điệu càng thêm phần quả quyết: “Không chỉ mình ta, cả thiên hạ này, thử nghĩ xem họ có thể chịu được mấy ngày? Thôi Vọng Thư, chàng luôn cho rằng quãng thời gian đó là nỗi nhục, chàng nói ở Đột Quyết, chàng không phải người, mà chỉ là một con súc vật. Ta hiểu, lễ hiến tù binh, và còn…” Nàng ngừng lại một chút, rồi nói tiếp: “Tất cả những điều đó đã để lại tổn thương lớn cho chàng. Chàng là thế gia công tử, kẻ sĩ chịu chết chứ không chịu nhục. Nhưng ta không nghĩ đó là nỗi nhục. Ngược lại, ta cho rằng, đó là niềm tự hào sánh ngang với Tô Vũ chăn dê.” [1]

<i>[1] Tô Vũ (chữ Hán: 蘇武, bính âm: Su Wŭ) là một nhà ngoại giao đời vua Hán Vũ Đế (140 TCN-87 TCN), nổi tiếng qua điển tích Tô Vũ chăn dê.</i>

Đất Bắc giá lạnh hoang vu, không có người. Tô Vũ ở nơi đi đày, ngày chăn dê, tối ngủ hang đá, thiếu thốn, cực khổ và tuyệt vọng. Gặp mùa chim nhạn thiên di về phương Nam, Tô Vũ viết một lá thư nhờ chim nhạn mang về nhà cho đỡ nỗi nhớ nhung. Hán Vũ Đế tình cờ nhặt được thư mới biết Tô Vũ đang phải chăn dê khổ cực ở phương Bắc. Ở nơi đi đày, Tô Vũ chỉ còn biết làm bạn với cỏ cây, cầm thú và đã kết bạn tình với một nàng vượn người. Mặc dù cuộc sống của “họ” là hoang dã nhưng họ luôn âu yếm nhau và đã có với nhau một đứa con. Sau 19 năm, nhờ sự can thiệp của Hán Vũ Đế, Tô Vũ chia tay người vợ vượn người trở về Hán. Điển tích Tô Vũ chăn dê trở thành một đề tài đặc sắc trong thi ca. Nguồn
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 89: Công chúa, thích ta đến vậy sao?


Trong phủ Thôi, Lý Doanh cũng đã trở về phòng. Chỉ là sau khi trở về, nàng không lập tức nghỉ ngơi lấy ra sợi tóc đen vừa được quấn trên răng lược ban nãy.

Nàng đặt sợi tóc lên lòng bàn tay, mím môi ngắm nhìn thật lâu. Sau đó, nàng chợt tháo búi tóc, suối tóc mượt mà như mây chảy xuống bờ vai. Lý Doanh cầm kéo, cắt lấy vài sợi tóc của mình, rồi dùng dây đỏ quấn tóc của mình cùng tóc của Thôi Tuần lại với nhau, thắt thành một nút. Cuối cùng, nàng đặt cả nút tóc ấy cùng bông hoa tường vi khô mà Thôi Tuần từng tặng trước đó vào túi gấm ngũ sắc.

Sau khi làm xong mọi thứ, gương mặt Lý Doanh đỏ bừng như quả hồng chín, trái tim đập loạn như nai nhỏ nhảy nhót trong lòng ngực. Tâm tư thiếu nữ vừa ngượng ngùng vừa rạo rực, nàng v**t v* túi gấm, nghĩ ngợi miên man. “Nếu một ngày chàng biết ta vụng trộm kết tóc với chàng, liệu chàng có tức giận không?”

Nghĩ đến cảnh Thôi Tuần nổi giận, nàng lại mở túi gấm, cầm nút tóc định ném đi nhưng rồi không nỡ. Sau mấy lần do dự, cuối cùng nàng vẫn trân trọng đặt lại nút tóc vào túi gấm. Nàng tự nhủ: “Chỉ cần ta giấu thật kỹ, chàng sẽ không phát hiện đâu.”

Vậy thì… cứ giữ lại thôi.



Sáng hôm sau, trước phủ của Lư Dụ Dân tại phường Tuyên Dương, Lư Hoài, Thiếu khanh Đại Lý Tự, đã đứng đợi rất lâu. Lư Dụ Dân vô cùng giản dị, chỉ là một tiểu viện đơn sơ, chẳng hề tương xứng với thân phận Thượng thư Tả bộc xạ của ông ta.

Lư Hoài đi qua đi lại trước phủ, nhớ lại hôm trước bắt được gia quyến Thiên Uy quân tự ý xông vào phủ Thôi Tuần. Mỗi người đều bị phạt nặng hai mươi trượng. Nhưng đám thiếu niên ấy, đặc biệt là tên cầm đầu Hà Thập Tam, dù đau đến nghiến răng nhăn mặt, vẫn ương ngạnh gào lên: “Ta không sai! Thôi Tuần là giặc phản quốc, người người phải tru diệt!”

Lư Hoài vốn không kiên nhẫn nghe cậu ta chửi đi chửi lại Thôi Tuần, chỉ muốn biết kẻ nào xúi giục cậu ta xông vào phủ.

Ban đầu, Hà Thập Tam không chịu khai. Cậu nói: “A huynh của ta chết trận nhưng không đầu hàng Đột Quyết. Huynh ấy là đại anh hùng. Ta là a đệ của huynh ấy, cũng phải làm một người anh hùng!”

Lư Hoài khẽ “ồ” một tiếng: “Hà Cửu, a huynh của ngươi chẳng phải là tướng bại trận, để mất thành, để mất đất hay sao?”

Hà Thập Tam nghe vậy thì giận tím mặt, nếu không phải bị đánh hai mươi trượng, cậu đã nhảy dựng lên phản bác. Cậu lớn tiếng cãi: “Đó là vì Thôi Tuần giết Quách soái mới khiến Thiên Uy Quân tan tác! A huynh ta không hề bại trận! Huynh ấy không phải tướng bại quân!”

Lũ thiếu niên nhiệt huyết và ngay thẳng, đúng là dễ bị người ta xúi giục nhất. Những gia quyến này ngày thường chịu đủ điều khinh miệt, chỉ cần có người khơi mào rằng nếu không phải Thôi Tuần giết Quách Cần Uy, họ đã chẳng chịu nhục nhã như vậy, thì tất nhiên họ sẽ dồn hết mọi phẫn nộ trong sáu năm qua lên người Thôi Tuần. Nếu không nhờ Lư Hoài đúng lúc ngăn lại, e rằng bọn chúng đã dùng đá ném chết Thôi Tuần ngay tại chỗ.

Hành vi bạo ngược, một khi khoác lên vỏ bọc chính nghĩa, liền hóa thành cuộc cuồng hoan đầy điên loạn.

Lư Hoài cau mày, nhận ra đây rõ ràng là một kế hoạch sát hại Thôi Tuần được sắp đặt kỹ lưỡng. Kẻ đứng sau thậm chí còn không coi trọng sự hiện diện hắn, vốn là Đại Lý Tự Thiếu khanh.

Lư Hoài quyết tâm tra rõ ngọn nguồn.

Đám thiếu niên dù cứng miệng nhưng xét cho cùng vẫn chỉ là bọn trẻ mười ba, mười bốn tuổi, dễ dụ dỗ, dễ lừa gạt. Không cần phải tra tấn, chỉ cần tách ra thẩm vấn từng người một, tự nhiên sẽ có kẻ khai ra.

Một khi đã có lời khai, theo dấu mà lần đến gốc rễ, chân tướng sẽ hiện rõ mồn một.



Lư Hoài đứng trước phủ Lư thị, ánh mắt phức tạp. Hắn không ngờ điều tra mãi lại dẫn tới Binh bộ Thượng thư Bùi Quan Nhạc.

Hắn muốn lập tức dâng tấu, nhưng chí thân Vương Huyên lại khuyên rằng: “Bùi Thượng thư và thúc phụ ngài lâu nay có giao tình sâu đậm. Nếu ngài đột ngột dâng tấu vạch tội Bùi Thượng thư, e rằng sẽ khiến thúc phụ ngài khó xử. Hoài Tín, ta khuyên ngài, trước khi dâng sớ, hãy đến hỏi ý kiến thúc phụ trước đã.”

Khi Lư Hoài mới nhậm chức Thiếu khanh Đại Lý Tự, hắn từng viết một đôi câu đối: “Tận trung ích thời giả, tuy cừu tất thưởng; Phạm pháp đãi mạn giả, tuy thân tất phạt.”

<i>(Người tận trung, làm lợi cho thời thế, dù là kẻ thù cũng phải thưởng; Kẻ phạm pháp, lười nhác chểnh mảng, dù là thân thích cũng phải phạt.)</i>

Đó là nguyên tắc làm quan của hắn. Nhưng giờ đây, đứng trước cánh cửa đỏ son của phủ Lư Dụ Dân, Lư Hoài bỗng cảm thấy rằng, chỉ cần bước vào, nguyên tắc ấy sẽ dần dần sụp đổ.

Hắn ngần ngừ, rồi xoay người định quay về soạn bản tấu chương buộc tội Bùi Quan Nhạc. Đúng lúc ấy, cánh cửa sơn đỏ ngẫu nhiên mở ra. Lư Dụ Dân vừa định ra ngoài thì nhìn thấy hắn, liền gọi: “Hoài Tín, đã đến rồi, sao còn chưa vào?”

Lư Hoài ngoảnh lại. Lư Dụ Dân năm nay tuy chỉ ngoài năm mươi, nhưng vì lao tâm quốc sự nên tóc bạc sớm, thoạt trông như một lão nhân sáu mươi. Lư Hoài cay cay sống mũi. Hắn mồ côi từ nhỏ, chính Lư Dụ Dân đã nuôi dưỡng, chăm sóc hắn như con ruột. Trong mắt hắn, vị thúc phụ này chính là phụ thân.

Hắn cúi đầu: “Thúc phụ, Hoài Tín vốn định đến thăm thúc.”



Tại nội phủ Lư Dụ Dân, bài trí vô cùng giản dị. Sau khi uống một ngụm trà, Lư Hoài cúi đầu, thuật lại ý định dâng tấu buộc tội Bùi Quan Nhạc.

Lư Dụ Dân chỉ đáp ngắn gọn hai chữ: “Không được.”

Lư Hoài sửng sốt: “Nhưng Bùi Thượng thư xúi giục gia quyến Thiên Uy quân xông vào phủ của của triều thần tứ phẩm, ý đồ mưu hại. Đó là hành vi phạm pháp, vì sao thúc phụ lại không cho cháu buộc tội ông ta?”

Lư Dụ Dân nhìn hắn với ánh mắt trách móc, rồi hỏi ngược lại: “Hôm ấy, vì sao cháu lại phải xen vào chuyện người khác?”

Lư Hoài cảm thấy đầu óc choáng váng: “Thúc phụ, dù cháu có khinh thường Thôi Tuần thế nào đi nữa, cũng không thể khoanh tay nhìn hắn bị đám loai choai giận dữ sát hại. Sao có thể gọi đó là chuyện người khác? Cháu nghĩ mình không làm gì sai.”

Lư Dụ Dân thở dài: “Chuyện thiên hạ, không phải chuyện gì cũng chỉ có đúng và sai.”

Lời nói mơ hồ nhưng Lư Hoài lại hiểu rõ. Hắn nghiêm nghị đáp: “Thúc phụ, đúng là đúng, sai là sai. Nhất là cháu, thân là Thiếu khanh Đại Lý Tự, chưởng quản hình ngục, càng phải kiên trì phân rõ phải trái. Nếu không, chẳng phải sẽ trở thành một Thôi Tuần khác hay sao?”

Lư Dụ Dân trầm mặc một lúc rồi chậm rãi nói: “Khi bằng tuổi cháu, ta cũng từng cho rằng đúng là đúng, sai là sai. Nhưng đổi lại, chính là cảnh nữ chủ lâm triều, gà mái gáy sớm.”

Ánh mắt ông ta thoáng hiện vẻ chán ghét khi nhắc đến: “Một nữ nhân mà cũng có thể chấp chính suốt hai mươi năm, chẳng phải điên đảo âm dương, lẫn lộn càn khôn hay sao? Những cải cách mới mà bà ta thi hành đều làm đảo lộn cương thường. Thế gia lấy đức, lấy lễ để giáo hóa con cháu, coi trọng ôn hòa, khiêm nhường. Nay khoa cử mở rộng, con cháu hàn môn bước vào triều chính, không có nền tảng, liền lập bè kết phái, kéo bè kéo cánh, khiến triều đình u ám. Cứ kéo dài như vậy, Đại Chu tất bại trong đấu đá bè phái. Lư Hoài Tín, trong hoàn cảnh này, cháu còn muốn phân biệt đúng sai, chẳng phải quá ngu muội hay sao?”

Lư Hoài lặng lẽ nghe, trong lòng có vô số điều muốn phản bác, nhưng cuối cùng chỉ cúi đầu như thuở bé, mặc cho Lư Dụ Dân răn dạy.

Lư Dụ Dân nói tiếp: “Cháu có nguyên tắc, đó là chuyện tốt. Nhưng cháu giữ nguyên tắc, còn những người khác thì sao? Thôi Tuần làm Thiếu khanh Sát Sự Thính ba năm, giúp Thái hậu bài trừ dị kỷ, hắn có giữ nguyên tắc không? Cứ bắt người vào Sát Sự Thính, dùng hình bức cung, rồi chụp lên cái tội mưu phản. Cháu giữ nguyên tắc với loại người này, chẳng khác nào bàn chuyện hợp tác với hổ đói.”

Lư Hoài mím chặt môi, không nói một lời. Lư Dụ Dân thấy vậy cũng không muốn quá nặng lời. Dẫu sao, Lư Hoài là người xuất sắc nhất trong thế hệ hiện tại của Lư thị ở Phạm Dương, cũng là niềm hy vọng lớn nhất của gia tộc. Ông dịu giọng: “Bùi Quan Nhạc không thể xảy ra chuyện gì. Nếu ông ta có chuyện, cục diện khó khăn lắm mới giành được sẽ tan biến chỉ trong chớp mắt. Nhưng cháu đã là tứ phẩm Thiếu khanh Đại Lý Tự, bản tấu này, dâng hay không, tự cháu quyết định.”

Gương mặt tuấn tú của Lư Hoài lộ rõ vẻ đấu tranh. Hắn ngơ ngác nhìn người thúc phụ đã nuôi nấng mình từ nhỏ, một lúc sau mới cúi đầu, thống khổ nói: “Tấu chương này, cháu sẽ không dâng nữa.”

Lư Dụ Dân hài lòng gật đầu: “Còn nữa, trông chừng Kim Di, đừng để ông ta ăn nói bừa bãi.”

Đây là lần đầu tiên Lư Hoài phản bội nguyên tắc của chính mình, Nỗi đau này chưa tan, hắn vẫn chưa nhận ra điều bất thường. Chẳng hạn như, vì sao thúc phụ lại đột nhiên quan tâm đến Kim Di? Hay Kim Di sẽ nói những lời bừa bãi gì?

Hắn thẫn thờ đáp: “Vâng.”



Lư Hoài từng thề thốt sẽ tra rõ vụ việc gia quyến Thiên Uy quân xông vào phủ Thôi Tuần. Nhưng cuối cùng, mọi chuyện cứ thế rơi vào quên lãng. Tuy nhiên, Thôi Tuần chưa từng trông mong gì vào hắn. Lư Hoài là cháu của Lư Dụ Dân, chẳng lẽ hắn lại phản bội người chú ruột đã nuôi dưỡng mình trưởng thành?

Điều đó là không thể.

Vậy nên Thôi Tuần không hề bận tâm đến việc này. Điều hắn để ý hơn chính là chuyện khác.

Hắn gõ cửa phòng Lý Doanh. Qua một lúc lâu, nàng mới mở cửa, dáng vẻ rõ ràng có chút hoang mang. Thôi Tuần mím môi: “Có chuyện này, muốn nhờ công chúa giúp đỡ.”

Chuyện mà Thôi Tuần muốn nhờ, là mong Lý Doanh mang một hộp bạc ra khỏi phủ, phân phát cho nhóm Hà Thập Tam. Đã nhờ nàng làm việc này, hắn buộc phải nói rõ sự thật về vết thương trên trán mình hôm ấy. Dù Lý Doanh đã nghe Ngư Phù Nguy thuật lại từ trước, nhưng nàng vẫn lặng lẽ nghe hắn cúi đầu kể lại.

Thôi Tuần nói rất khó nhọc, chỉ thuật lại vài lời ngắn gọn, tuyệt nhiên không nhắc đến những khốn đốn và đau đớn khi đó. Song, khi nghe hết, Lý Doanh chỉ đáp: “Ta không đi.”

Thôi Tuần thoáng sững người, hỏi: “Gia đình Hà Thập Tam đã bị tịch biên tài sản, cuộc sống khốn khó vô cùng. Nay nó lại bị đánh hai mươi trượng, chắc chắn không có tiền mua thuốc. Nếu không chữa trị kịp thời, e rằng sẽ để lại di chứng.”

“Liên quan gì đến ta?” Lý Doanh bỗng nổi giận, giọng nàng gay gắt: “Chúng đã làm chàng bị thương, ta tuyệt đối không đưa bạc cho chúng!”

Thôi Tuần thở dài: “Ta không để bụng.”

“Nhưng ta để bụng.” Lý Doanh đáp: “Nếu hôm đó không có Lư Hoài, chàng tính sao? Chẳng lẽ để bọn chúng ném đá đến chết? Thôi Tuần, ta không thích người khác làm tổn thương chàng, dù đó là gia quyến của Thiên Uy quân mà chàng coi trọng.”

Nàng thực sự không muốn đi. Thôi Tuần bất đắc dĩ, đành đứng dậy, tiếng xích vang lên lanh lảnh. Hắn chắp tay hành lễ với nàng: “Chúng còn trẻ, chưa hiểu chuyện, dễ dàng bị người khác xúi giục, tuy có lỗi nhưng nể mặt huynh trưởng của chúng, ta cũng không thể khoanh tay đứng nhìn. Xin công chúa hãy giúp ta lần này.”

Khi hắn khẩn cầu nàng, ánh mắt Lý Doanh lại rơi vào vết sẹo chưa kịp mờ trên trán hắn, lòng nàng đau xót khôn nguôi: “Chàng đối xử tốt với bọn họ như vậy, nhưng họ lại không biết, còn xem chàng như kẻ thù… Thôi Tuần, ta… ta chỉ thấy không đáng thay chàng.”

Thôi Tuần nhàn nhạt đáp: “Đáng hay không, tất cả đều do ta tình nguyện.”

Lý Doanh ngẩn người, rồi cười khổ: “Thôi vậy, chàng lúc nào chẳng thế.”

Nàng vẫn không chịu giúp hắn. Thôi Tuần vừa định lên tiếng thuyết phục thêm, thì Lý Doanh nói: “Thụy than sắp cháy hết rồi, để ta đi lấy thêm.”

Nói rồi, nàng định rời đi lấy than. Trong lúc vội vã, nàng không để ý một chiếc túi gấm từ tay áo mình rơi xuống.

Chính Thôi Tuần phát hiện ra. Hắn cúi xuống nhặt, vừa cầm chiếc túi lên, Lý Doanh lập tức nhận ra, mặt nàng đỏ bừng như ánh mây chiều. Nàng nhanh chóng bước đến trước mặt hắn, định giành lại chiếc túi, nhưng Thôi Tuần đã lấy ra một vật từ bên trong.

Đó là hai sợi tóc quấn lấy nhau, buộc lại bằng một sợi dây đỏ.

Một sợi tóc rõ ràng là của hắn, phần còn lại, khi nằm trong túi gấm của nàng, hẳn là của Lý Doanh.

Sắc mặt Lý Doanh càng đỏ hơn, nàng luống cuống đoạt lại từ tay hắn, giấu ra sau lưng, lắp bắp: “Cái này… cái này…”

Nàng ấp úng hồi lâu nhưng vẫn không biết phải giải thích ra sao. Thấy vẻ mặt đỏ tới tận mang tai của nàng, Thôi Tuần khẽ thở dài, hắn nói: “Công chúa, nàng thích ta đến vậy sao?”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 90: Chàng đang dùng mỹ nam kế đấy à?


Lý Doanh giấu bàn tay phía sau lưng, ngón tay đỏ ửng vì xấu hổ.

Nàng cắn môi, ánh mắt ngập ngừng nhìn Thôi Tuần, rồi cuối cùng, gật đầu thật mạnh.

“Phải, ta rất thích chàng.”

“Rất, rất thích.”

Nàng chưa từng nghĩ rằng việc chủ động thừa nhận tình cảm là điều đáng xấu hổ. Tình và yêu vốn là bản năng con người, ngay cả công chúa cao quý nhất của Đại Chu cũng không ngoại lệ. Đã nảy sinh tình ý, đã có yêu thương, vậy thì hà cớ gì phải vì những định kiến thế tục mà không dám thừa nhận?

Thái độ thẳng thắn của nàng khiến Thôi Tuần chỉ biết thở dài lần nữa: “Nhưng mà…”

“Đừng nói nhưng nữa.” Lý Doanh bất ngờ cất lời: “Đừng nhắc lại rằng chàng không xứng với ta, ta không muốn nghe.”

Nàng dừng lại, sau đó tiếp tục: “Thôi Tuần, rốt cuộc chàng có điểm nào không xứng? Với tài năng của chàng, thi khoa cử tất làm Trạng nguyên, ra trận tất thành tướng lĩnh thống soái một quân. Nếu không có chuyện xảy ra sáu năm trước, hiện tại, chàng đã là rể hiền mà các thế gia trong thành Trường An tranh nhau tìm kiếm, sao có thể nói không xứng được?”

Nói đến đây, Lý Doanh cảm thấy lòng nhói đau. Biến cố sáu năm trước đã hủy hoại cuộc đời hắn. Không còn Trạng nguyên lang, cũng chẳng còn tướng lĩnh một quân, chỉ còn lại một Thiếu khanh của Sát Sự Thính mang đầy ô danh, bệnh tật triền miên, tên là Thôi Tuần.

Lý Doanh cố trấn an bản thân, nói tiếp: “Cho nên, đừng nhắc lại những lời “nhưng mà” nữa, ta không muốn nghe.”

Nàng nói rất nhiều, thế nhưng Thôi Tuần chỉ lặng thinh. Một lúc sau, hắn khẽ nói: “Ta không định nói những lời mà công chúa nghĩ.”

Câu nói này khiến Lý Doanh không khỏi kinh ngạc. Thôi Tuần tiếp lời: “Lần trước công chúa nói rằng, nghe những lời tự ti của ta khiến mấy ngày liền không ngủ được. Khi ấy, ta đã hứa với công chúa rằng từ nay sẽ không nói nữa, lần này cũng vậy, đương nhiên ta sẽ giữ lời.”

Lý Doanh ngơ ngác: “Vậy chàng định nói gì?”

Thôi Tuần đáp: “Ta chỉ muốn nói rằng, công chúa thích ta đến vậy, nhưng ta lại nảy sinh một ý nghĩ thấp hèn.”

“Ý nghĩ thấp hèn gì?”

“Ta lại muốn lợi dụng tình cảm của công chúa để thuyết phục nàng đáp ứng lời thỉnh cầu của ta, đem tiền bạc giúp đỡ bọn họ.”

Lý Doanh cuối cùng cũng hiểu ra. Nàng vừa thẹn vừa giận. Thẹn vì hóa ra Thôi Tuần không hề tự ti, vậy mà nàng lại nói một tràng những lời không liên quan. Giận vì chàng, vì đám người kia mà dám nghĩ đến việc lợi dụng tình cảm của nàng.

Nàng quay đầu, giọng giận dỗi: “Vì sao ta phải đồng ý với chàng?”

Thôi Tuần thở dài, hắn bước chậm rãi lại gần. Dù trên người mang xiềng xích, mỗi bước chân vẫn ung dung tựa ngọc thụ chi lan, không mất đi phong thái của một thế gia công tử phong lưu.

Hắn từng bước tiến về phía Lý Doanh, đôi mày như họa, ánh mắt tựa x.uân thủy ngàn năm, bỗng có vạn đóa hoa đào từ mặt nước bừng nở. Lý Doanh chỉ cảm thấy tim mình đập dồn dập, bất giác lùi lại vài bước, cho đến khi phía sau đã là bức tường, không còn đường nào để thoái lui nữa.

Thôi Tuần đến gần nàng, đưa tay ra, cúi người lấy nút tóc được kết bằng dây đỏ giấu sau lưng nàng. Khoảnh khắc đó, khoảng cách giữa hắn và nàng thật gần, đến mức Lý Doanh có thể cảm nhận hơi thở hắn lướt qua bên tai mình, mang theo cảm giác ngưa ngứa khiến nàng đỏ cả mặt. Mãi đến khi nút tóc đã nằm gọn trong tay Thôi Tuần, nàng mới giật mình nhận ra.

Thôi Tuần giữ lấy sợi dây buộc hai sợi tóc làm một, chăm chú nhìn nàng rồi nói: “Xin công chúa hãy đồng ý với ta.”

Ánh mắt của hắn như mặt nước thu trong vắt, phản chiếu bóng hình nàng. Đôi đồng tử đen thẳm, mặt nước gợn sóng lăn tăn. Tim Lý Doanh càng lúc càng loạn nhịp, nàng ngập ngừng: “Thôi… Thôi Tuần, có phải chàng đang dùng mỹ nam kế với ta không?”

Bị nàng vạch trần, sắc mặt tái nhợt của Thôi Tuần cũng đỏ bừng, mỹ lệ như hoàng hôn buông xuống. Hắn nhẹ giọng đáp: “Không còn cách nào khác, cũng chẳng phải kế sách gì, chỉ có thể trông cậy vào chút mềm lòng của công chúa mà thôi.”

Lý Doanh hắng giọng, nói với vẻ cứng rắn: “Ta… ta sẽ không mềm lòng đâu.”

Những lời nàng nói ra, chính nàng cũng thấy không đủ thuyết phục. Trong phút chốc, nàng vừa thẹn vừa giận, buột miệng trách móc: “Chàng đúng là người chẳng ra gì, vừa cự tuyệt ta, vừa dùng mỹ nam kế với ta. Chẳng lẽ trong mắt chàng, Lý Doanh ta là người dễ mềm lòng thế sao?”

Thôi Tuần chỉ “Ừm” nhẹ một tiếng, chậm rãi nói: “Ta biết rõ, thiên hạ này, cầu ai cũng vô ích, chỉ cầu nàng mới có tác dụng.”

Lý Doanh sững người, rồi hờn dỗi đáp: “Cái gì mà chỉ cầu ta mới có tác dụng? Chẳng qua là chàng biết chắc ta thích chàng nên mới làm vậy thôi.”

Thôi Tuần lại thở dài: “Ta cũng chỉ làm vậy với mỗi mình công chúa thôi.”

Lời hắn nói, khóe mắt đôi mày thoáng chút ngượng ngùng, nhưng từng chữ từng câu lại khiến lòng nàng xao động. Tựa hồ trong mắt hắn, nàng là duy nhất, là ngoại lệ. Lý Doanh là nữ tử, trái tim nàng cũng không khỏi bồi hồi. Nhưng rất nhanh sau đó, nàng lấy lại tinh thần, bực bội nói: “Chàng đừng lừa ta.”

“Ta không lừa công chúa.” Giọng Thôi Tuần có chút khó xử, thấp giọng đáp: “Ta sẽ không làm vậy với người thứ hai.”

Khoảng cách giữa hắn và Lý Doanh thật sự quá gần, hắn lại cứ chăm chú nhìn nàng mà nói. Lý Doanh chỉ cảm thấy nếu cứ tiếp tục thế này, nàng sẽ bị nhấn chìm trong đôi mắt sâu thẳm của hắn. Nàng buộc phải thừa nhận rằng, kế mỹ nam của hắn đã phát huy hiệu quả.

Bất thình lình, nàng giật lấy sợi dây đỏ từ tay hắn, nói: “Thôi được, ta đồng ý với chàng.”

Nàng thấy đôi mắt sáng rực của hắn dần ngập tràn niềm vui. Hắn nói: “Đa tạ công chúa.”

Lý Doanh lại thấy có chút không cam lòng, chẳng phải nàng đã mềm lòng quá nhanh? Nhưng lời đã nói ra, không thể rút lại. Nghĩ ngợi một lúc, nàng nắm nút tóc được kết bằng dây đỏ, nói: “Vậy sợi tóc này của chàng, coi như là thù lao. Không được đòi lại đâu đấy.”

Thôi Tuần nhếch môi cười, vốn dĩ hắn cũng chưa từng nghĩ đến chuyện đòi lại. Hắn đáp: “Được.”



Lý Doanh đem hộp bạc ấy giao cho Ngư Phù Nguy. Hắn vừa phi ngựa nhanh từ Túc Châu trở về Trường An. Chuyến đi Túc Châu lần này, mặc dù hiểm nguy trùng trùng nhưng lại mang tới cảm giác vô cùng thỏa chí. Đặc biệt là khi bố trí ám thám tráo đổi thủ cấp ở dịch trạm Phi Vân, càng mang lại một cảm giác thành tựu. Cảm giác thành tựu ấy, là nhờ sự phối hợp ăn ý giữa hắn và Thôi Tuần.

Thôi Tuần tín nhiệm hắn như vậy, quả khiến Ngư Phù Nguy vô cùng bất ngờ. Hắn từng nhiều lần chọc giận Thôi Tuần, cũng tự biết rằng Thôi Tuần hẳn rất chán ghét mình. Thế nhưng, y vẫn nguyện ý giao cả tính mạng của mình cho hắn, chỉ bởi y tin rằng Ngư Phù Nguy có thể đảm đương nhiệm vụ. Cách hành xử ấy, thực không giống với những lời đồn đại về một kẻ nhỏ mọn, thù dai.

Khi nghe được thỉnh cầu của Lý Doanh, Ngư Phù Nguy càng thêm kinh ngạc: “Đám loai choai ấy đã làm Thôi Tuần bị thương, vậy mà hắn vẫn muốn đưa bạc cho chúng?”

Lý Doanh nhìn chiếc hộp đã được mở ra, đó là toàn bộ bổng lộc tháng trước của Thôi Tuần, hắn không giữ lại chút nào. Nàng nói: “Sự tồn tại của Thiên Uy quân trong lòng chàng luôn đặc biệt hơn cả. Chàng có thể phụ thiên hạ, nhưng tuyệt không phụ Thiên Uy quân.”

Ngư Phù Nguy cảm thấy khó tin: “Hắn chỉ ở Thiên Uy quân ba năm, tình cảm lại sâu sắc đến vậy sao?”

Lý Doanh khẽ đáp: “Có lẽ ba năm chỉ là một con số thoáng qua, nhưng đối với chàng, đó lại là sự ấm áp chàng chưa từng được cảm nhận. Con người chàng ấy mà, chỉ cần đối xử tốt với chàng một chút, chàng liền sẵn sàng đáp đền bằng cả tâm can, huống hồ, huynh đệ Thiên Uy quân lại hết lòng đối xử tốt với chàng mà chẳng cầu hồi báo. Sao chàng có thể không cảm động? Dù chàng không nói ra, nhưng những việc cần làm, chàng chưa từng bỏ sót một điều gì.”

Ngư Phù Nguy nghe xong, bất giác cảm thấy chua xót, hắn lại hỏi: “Công chúa hiểu rõ Thôi Tuần đến thế sao?”

Lý Doanh hơi sững lại, rồi cúi mắt: “Thật ra, chỉ cần ở cạnh chàng lâu một chút, quan sát kỹ một chút, sẽ biết chàng không phải loại người như lời đồn. Nhưng trên đời này, nào có ai đủ kiên nhẫn để gạt bỏ thành kiến, đi tìm hiểu một kẻ mang tiếng xấu đồn xa?”

Ngư Phù Nguy hắn, chẳng phải cũng là kẻ bị thành kiến che mờ như lời nàng vừa nhắc tới.

Nghĩ đến đây, chút chua xót trong lòng Ngư Phù Nguy cũng bị hắn nén lại. Hắn không phải kẻ ngốc, hoàn toàn nhìn ra được tình ý của Lý Doanh đối với Thôi Tuần. Theo lẽ thường, vì lựa chọn của nàng, hắn đáng ra phải càng căm ghét Thôi Tuần. Nhưng dù là thương nhân, từ nhỏ hắn đã được dạy theo đạo làm quân tử. Sự được mất trong tình cảm, không thể khiến hắn thay đổi chuẩn mực xử thế. Hắn gật đầu: “Số bạc này, muốn đưa bằng cách nào?”

Lý Doanh đáp: “Thôi Tuần hy vọng giống như trước đây, nói là họ hàng xa đưa cho họ. Nhưng ta không muốn làm vậy.” Nàng ngẩng lên, ánh mắt sáng trong như nước: “Bọn họ, nhất là Hà Thập Tam, phải biết rõ ai mới là người đã trao số bạc này. Dù hiện tại chưa rõ, thì sau này nhất định phải biết. Ngư tiên sinh, ta mong ngài ra mặt, hoàn thành giúp ta việc này.”

Ngư Phù Nguy mỉm cười, đáp: “Ta hiểu rồi.”



Ngư Phù Nguy lấy danh nghĩa của mình mua thuốc, sau đó phân phát cho những thiếu niên giống như Hà Thập Tam. Hà Thập Tam nằm bò trên giường, vẻ mặt nghi hoặc nhìn hắn: “Ngư Phù Nguy? Ta chưa từng quen biết ngươi, tại sao ngươi lại mua thuốc cho ta?”

Ngư Phù Nguy đáp: “Ta không bỏ tiền ra để mua số thuốc này.”

“Vậy là ai?”

Ngư Phù Nguy không trả lời, chỉ nói: “Ngươi hãy nhớ, ngươi nợ hắn một ân tình.”

Và cả một câu xin lỗi.



Vào ngày mùng năm tháng năm, đúng dịp Đoan Ngọ, đoàn xe áp giải thủ cấp của Quách Cần Uy tiến vào thành Trường An.

Đoan Ngọ, chính là ngày Sở quốc đại phu Khuất Nguyên bị gian thần hãm hại, tự trầm mình ở sông Mịch La, lấy thân tuẫn quốc. Cũng vào chính ngày này, Quách Cần Uy tự vẫn, đầu ông được đưa về Trường An. Mọi thứ như được số mệnh sắp đặt từ trước.

Bùi Quan Nhạc ngồi trong một quán rượu tại Tây thị, dõi mắt nhìn dòng người trên phố Chu Tước. Dân chúng hiếu kỳ vây quanh đoàn xe áp giải, chỉ trỏ bàn tán. Ông ta nghe rõ những lời như “bại tướng”, “nỗi nhục”, “tự vẫn”, “không mất khí tiết” nhưng nét mặt vẫn không chút biểu cảm, chỉ lặng lẽ uống cạn một chén rượu thiêu xuân.

Trước mắt ông ta dường như hiện lên cảnh tượng năm nào, hai thiếu niên chia tay nhau, cùng đập tay kết ước:

“Ta đi Trường An, nhất định sẽ phong hầu bái tướng!”

“Ta đi đến biên cương, nhất định phải lên đàn làm tướng!”

“Dù có tung hoành ngang dọc, cũng không quên nghĩa huynh đệ!”

Hai lời đầu, đều thành sự thật: một người trở thành Thượng thư tam phẩm, một người là thống soái Thiên Uy quân. Nhưng lời cuối cùng, chỉ còn là hư ảnh.

Bùi Quan Nhạc siết chặt chén kim bôi trong tay. Trước khi tới Trường An, ông ta chưa từng nghĩ Trường An lại rộng lớn đến thế, lớn đến mức chẳng có chỗ cho một kẻ xuất thân hàn môn như ông ta đặt chân. Những công tử thế gia ở đây, ai ai cũng đều khoác gấm lụa vàng, thân phận cao quý vô ngần. Rõ ràng chẳng hề có chút công lao gì, vậy mà chỉ dựa vào bóng che của gia tộc mà chiếm lấy địa vị cao sang. Đây, rốt cuộc là vì lẽ gì?

Phong sương nơi Trường An dần dần mài mòn ý chí hào sảng của thiếu niên năm nào, chỉ để lại tham vọng mãnh liệt và dã tâm cuồn cuộn.

Cùng là con người, tại sao những gì bọn họ có, ông ta lại không?

Nếu không thể thay đổi thế đạo dơ bẩn này, vậy thì nhập vào nó, nhơ nhớp hơn cả nó, thấp kém hơn cả nó. Lương tâm, đạo nghĩa, tất cả đều bị gạt bỏ. Chỉ cần có thể giành lấy quyền lực trong tay, mọi thứ không còn quan trọng nữa.

Bùi Quan Nhạc nhìn đoàn xe chậm rãi lăn bánh trên phố Chu Tước. Ông ta thốt lên, từng chữ, từng chữ một: “Cần Uy, ngươi đừng trách ta. Nếu trách, thì hãy trách vì sao ngươi chọn Thái hậu, chứ không phải Thánh nhân.”

Ông ta rót một chén rượu, chậm rãi rưới xuống theo hướng đoàn xe. Mặc dù ông ta rõ hơn ai hết, trong hòm xe kia chỉ chứa một chiếc đầu lâu giả.

Cuối cùng, ông ta nói bằng giọng trầm thấp: “Về phần người mà ngươi coi trọng nhất, Thôi Vọng Thư, ta sắp sửa đưa hắn xuống dưới để bầu bạn với ngươi rồi.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 91: Ra trước công đường


Trong cung Bồng Lai, ánh đèn cung đình lay động, hương trầm lan tỏa khắp không gian. Sau bức rèm châu, Thái hậu tựa người trên trường kỷ, lắng nghe Hoàng môn thị lang bẩm báo: “Thủ cấp của Quách Cần Uy đã được mang về Trường An.”

Thái hậu chậm rãi nhắm mắt: “Biết rồi.”

Hoàng môn thị lang dò hỏi: “Thủ cấp của ông ta hiện đang ở Đại Lý Tự. Thái hậu có muốn để Lư Hoài trình lên hay không?”

Ai cũng biết, Quách Cần Uy là vị tướng do Thái hậu một tay nâng đỡ. Nếu không có sự hỗ trợ từ bà, ông ta sẽ chẳng thể nào lập nên Thiên Uy quân, càng không thể ngồi vào vị trí Phó đô hộ phủ An Tây. Có thể nói, Quách Cần Uy là một biểu tượng lẫy lừng của Đại Chu, đồng thời cũng là minh chứng rõ nét cho công trạng của Thái hậu.

Thời Quách Cần Uy còn trấn giữ Quan Nội Đạo, Thái hậu hết mực tín nhiệm ông ta, cần tiền có tiền, cần binh có binh. Nay Quách Cần Uy chết thảm, thân đầu lìa nhau suốt sáu năm. Vì thế, Hoàng môn thị lang cho rằng Thái hậu hẳn sẽ đau buồn, sẽ nể tình cũ và muốn nhìn lại hài cốt của Quách Cần Uy.

Nhưng Thái hậu thậm chí còn không buồn mở mắt, chỉ lạnh nhạt nói: “Hạng vô dụng đó, có gì đáng để xem?”

Hoàng môn thị lang giật mình sợ hãi. Bỗng nhiên hắn nhớ lại, ngoài việc là tâm phúc của Thái hậu, Quách Cần Uy còn là nguyên nhân chính buộc bà phải trả lại quyền lực. Nếu không có trận Lạc Nhạn Lĩnh vào sáu năm trước, triều đình hiện tại vẫn sẽ nằm gọn trong tay bà, chứ không phải là nơi để Lư Dụ Dân và bè phái của ông ta hô gió gọi mưa.

Chợt nhận ra bản thân đã đoán sai ý Thái hậu, Hoàng môn thị lang run rẩy nói: “Thần không nên nhắc đến viên bại tướng Quách Cần Uy này. Thần có tội.”

Câu nói này lại chọc giận Thái hậu. Bà lạnh giọng: “Có phải ngươi cho rằng ngô rất căm ghét Quách Cần Uy?”

Hoàng môn thị lang ngẩn người, nhỏ giọng đáp: “Chẳng lẽ không phải sao ạ?”

Nếu không, thì sao lại mắng Quách Cần Uy là hạng vô dụng?

Thái hậu chẳng buồn giải thích, nhắm mắt không nói thêm lời nào. Từ ngày bà rời khỏi Phật đường, tính tình càng trở nên tệ hơn. Hoàng môn thị lang thấy Thái hậu không vui, trong lòng càng thêm hoảng hốt.

Bất chợt, hắn nghĩ tới việc thủ cấp của Quách Cần Uy được đưa về Trường An nghĩa là án phản quốc của Thôi Tuần sắp được thẩm xét lại. Mấy ngày trước, một sủng nô của Thái hậu từng kích động bà xử tử Thôi Tuần, nhưng lại bị bà nổi giận đánh chết. Hoàng môn thị lang nghĩ, có lẽ Thái hậu đang bận tâm về Thôi Tuần, nên mấy ngày nay tâm trạng bà mới sa sút đến vậy.

Hắn liền nói: “Thái hậu, Thôi Thiếu khanh vẫn bị giam lỏng tại phủ, Lư đảng rõ ràng muốn dồn hắn vào chỗ chết. Mong Thái hậu cho phép thần đến phủ Thôi tướng công để bàn cách giải cứu.”

“Giải cứu?” Thái hậu bật cười chế nhạo: “Nếu ngay cả bản thân hắn cũng không tự cứu nổi, thì loại phế vật đó, giữ làm gì?”

Hoàng môn thị lang nghe xong, đầu óc càng thêm rối rắm. Xem ra Thái hậu không hề muốn cứu Thôi Tuần. Nhưng chẳng phải nói Thôi Tuần là sủng thần được Thái hậu yêu mến nhất sao? Rốt cuộc là chuyện gì đây?

Như đoán được thắc mắc trong lòng hắn, Thái hậu chậm rãi mở mắt, ánh nhìn lạnh lẽo xuyên qua bức rèm châu. Nhìn Hoàng môn thị lang tuổi trẻ thật thà, bà bất giác thở dài: “Lương Bình, ngươi làm việc cẩn thận, chu đáo, nhưng việc đoán ý trên dưới, không phải sở trường của ngươi. Chức Hoàng môn thị lang này không hợp với ngươi. Ngươi đến bộ Hộ làm việc đi, nơi đó mới thích hợp với ngươi.”

Lương Bình sững người một thoáng, hai mắt lập tức đỏ hoe, nước mắt như chực trào ra. Quả thực, hắn không giỏi đoán ý bề trên. Dù hắn phải khó khăn lắm mới giành được chức Hoàng môn thị lang này nhưng từ ngày nhậm chức đã luôn cảm thấy khổ sở. Bộ Hộ tuy không thường xuyên diện kiến thánh nhan nhưng dường như lại hợp với hắn hơn. Hắn xúc động nói: “Tạ ơn Thái hậu.”

Thái hậu vừa thưởng vừa phạt khiến Lương Bình cảm kích vô cùng. Sau khi hắn cảm tạ, Thái hậu lại nói: “Án phản quốc của Thôi Tuần định thẩm vấn thế nào?”

Lương Bình đáp: “Nghe nói đang chuẩn bị gông cùm áp giải vào xe tù, đưa đến Đại Lý Tự để thẩm tra. Nhưng Lư Hoài không đồng ý, cho rằng bị cáo chưa định tội, không thể làm như vậy.”

Thái hậu mỉm cười: “Lư Hoài này, quả là một chính thần ngay thẳng.”

Lương Bình nói: “Lư Hoài tính tình cương trực, công tư phân minh, nhưng một mình hắn, cũng khó chống lại đảng phái Lư gia.”

Hắn còn một câu, nhưng không dám nói.

Một mình Lư Hoài, càng không lay chuyển được Thánh nhân.

Thái hậu lại khép hờ đôi mắt, trầm mặc hồi lâu, mãi sau mới chậm rãi nói: “Trút giận một tháng cũng đủ rồi, còn muốn làm nhục hắn tới chết mới thỏa mãn hay sao?”

Câu nói ấy, thoạt nghe như mang ý muốn bảo vệ Thôi Tuần, nhưng người mà bà ám chỉ là ai, Lương Bình ngay cả nghĩ cũng không dám nghĩ đến.

Giờ hắn chỉ mong được lập tức rời khỏi đây, chuyển sang nhận chức ở Hộ Bộ.

Hương thơm thanh nhã từ túi hương chạm trổ trong tay Thái hậu phảng phất trong không khí, quyện cùng mùi đàn hương trong điện, khiến tâm trí bà cũng dần bình ổn. Sau một hồi trầm ngâm, cuối cùng bà mới lên tiếng: “Lương Bình, ngươi hãy truyền lệnh của ngô, để Thôi Tuần mặc quan phục lên công đường. Trước khi vụ án sáng tỏ, bất kỳ ai cũng không được phép sỉ nhục hắn thêm nữa.”

Lương Bình thoáng ngạc nhiên, Thái hậu không cứu Thôi Tuần, nhưng cũng không để ai xúc phạm hắn. Thật sự hắn không đoán nổi ý bà, chỉ có thể cúi đầu đáp: “Tuân lệnh.”

Sau khi Lương Bình lui ra, hương thơm thảo mộc trong túi hương hòa cùng hương đàn trở nên nồng nàn hơn, mang lại cảm giác dễ chịu trong không gian tĩnh lặng. Thái hậu khẽ thở dài, ánh mắt xa xăm.

Lương Bình cho rằng bà ghét bỏ Quách Cần Uy, nhưng kỳ thực không phải vậy. Bà chỉ tiếc cho ông ta, vì tin nhầm người mà dẫn đến kết cục bi thảm này.

Thiên Uy quân tan rã, oan khuất chất chồng, lẽ nào bà không biết? Suốt ba năm qua, Thôi Tuần dốc sức tìm cách lật lại vụ án, bà cũng thấu tỏ. Nhưng cục diện đã định, sáu châu Quan Nội Đạo vẫn nằm trong tay Đột Quyết. Bà không thể bất chấp cơn giận dữ của dân chúng để minh oan cho Thiên Uy quân.

Không chỉ mình bà, mà cả Thôi Tụng Thanh – kẻ mang danh “Bạch Y Khanh Tướng” – cũng chọn cách làm ngơ trước danh tiết và sinh mạng của năm vạn binh sĩ, dồn toàn bộ tâm huyết vào những lý tưởng cao xa hơn.

Không ai ngoái nhìn quá khứ.

Chỉ có Thôi Tuần.

Cho dù bà không ưa hắn, không ưa một người là con cháu họ Thôi ở Bác Lăng, không ưa bản tính hèn mọn, không ưa cách hắn xu nịnh, không ưa thủ đoạn của hắn, nhưng đôi lúc, chính bà cũng phải thừa nhận rằng, hắn không thiếu sự can đảm và lòng trung nghĩa.

Ít nhất, hắn không phụ lòng Quách Cần Uy.



Tại phủ riêng của Thôi Tuần ở phường Tuyên Dương, ngục tốt của Đại Lý Tự đang tháo bỏ xiềng xích trên tay chân Thôi Tuần, đó là những gông cùm đã hành hạ hắn suốt một tháng qua. Ngục tốt nói: “Thái hậu có chỉ, lệnh cho Thôi Thiếu khanh mặc quan phục lên công đường.”

Thôi Tuần lặng lẽ gật đầu, trong lòng dâng lên chút nghi hoặc. Hắn biết, bởi vì những lời đồn đại liên quan đến mình và Thái hậu, Thánh nhân rất chán ghét hắn. Cảnh xiềng xích trói buộc cả tháng nay chắc hẳn là ý của Thánh nhân. Hắn đã đoán trước, ngày lên công đường, hắn sẽ phải chịu nhục nhã, ngồi trong cỗ xe tù.

Nhưng kể cả là vậy, hắn cũng không có thể diện để đánh mất. Thái hậu cũng cho là vậy. Nhưng lần này, bà lại rủ lòng từ bi, không ngại mâu thuẫn với Thánh nhân, chỉ để bảo toàn chút thể diện cho hắn.

Ba năm qua, hắn vốn quen với việc suy đoán thánh ý, tâm tư của Thái hậu, hắn luôn có thể đoán ra bảy tám phần. Nhưng riêng thái độ của Thái hậu đối với mình, hắn thật sự không thể nào đoán nổi.

Nếu đã không thể đoán, thì không đoán nữa. Trước mắt, còn việc quan trọng hơn phải làm.

Thôi Tuần thay bộ áo tù bằng áo vải thô cứng, khoác lên mình quan phục màu đỏ tía, buộc thêm đai lưng, chuẩn bị rời phủ lên công đường ở Đại Lý Tự.

Nhưng bước chân hắn bỗng khựng lại, vì Lý Doanh đã bước qua cánh cửa gỗ khép chặt, lặng lẽ đứng trước mặt hắn.

Trên gương mặt Lý Doanh ngập tràn lo lắng, nhưng nàng vẫn cố giữ bình tĩnh. Nàng nói: “Vẫn là bộ quan phục này hợp với chàng nhất.”

Thôi Tuần không khỏi bật cười, Lý Doanh nói tiếp: “Ta sẽ đem đốt áo tù ngay, không muốn nhìn thấy nó thêm lần nào nữa.”

Thôi Tuần khẽ “Ừm” một tiếng. Trên cổ tay và mắt cá chân hắn không hề để lại dấu vết của xiềng xích. Thời gian qua, đồ ăn thiu hỏng mà ngục tốt mang đến đều bị Lý Doanh lặng lẽ thay bằng những món điểm tâm thanh đạm, tinh tế. Bởi vậy, ngoài việc bị hạn chế tự do, hắn thực sự không phải chịu quá nhiều khổ cực. Hắn nói: “Cảm ơn công chúa đã chăm sóc cả tháng qua.”

Lý Doanh khẽ thở dài: “Ta thà không có cơ hội để chăm sóc chàng.”

Nàng nói những lời ấy, thẳng thắn đến đáng yêu, khiến Thôi Tuần lòng hắn bất giác ấm lại. Hắn nhìn khuôn mặt tươi sáng của nàng, bỗng ngẩn người tự hỏi, rốt cuộc hắn có tài đức gì mà lại được nàng ưu ái đến vậy.

Sau những băn khoăn ấy, hắn lại thấy hổ thẹn. Nàng đẹp đẽ và trong sáng như vậy, vốn không nên chịu cảnh làm cô hồn phiêu dạt. Hắn làm sao có thể vì tham luyến sự dịu dàng của nàng mà dẫn dụ nàng ở lại nhân gian?

Thôi Tuần khẽ mím môi, sau một thoáng do dự, vẫn quyết định nói: “Sau khi qua được phiên thẩm vấn này, ta sẽ tìm cách điều tra chân tướng về cái chết của công chúa từ Kim Di.”

Nghe vậy, Lý Doanh lại chau mày: “Ta không muốn điều tra, chàng không cần phí tâm nữa.”

Thôi Tuần thoáng ngỡ ngàng, Lý Doanh tiếp lời: “Điều tra rồi, ta sẽ phải đầu thai. Ta không muốn đầu thai.”

Vì sao nàng không muốn đầu thai, nàng không nói, nhưng Thôi Tuần cũng tự hiểu.

Hắn nuốt khan, có rất nhiều điều muốn nói, nhưng cuối cùng chỉ hóa thành một tiếng thở dài: “Hà tất phải vậy?”

Lý Doanh chăm chú nhìn hắn: “Chàng đừng bận tâm đến chuyện ta có đầu thai hay không. Bây giờ, chẳng phải chàng sắp phải ra công đường sao?”

“Phải.”

“Ai sẽ chủ thẩm?”

“Lư Hoài.”

“Lư Hoài là người cương trực không thiên vị, nhưng sau lưng hắn là thúc phụ. Liệu hắn có thực sự công bằng không?” Lý Doanh tỏ vẻ không tin tưởng.

Nếu thực sự công minh, thì kẻ sai khiến đám thiếu niên quấy phá phủ đệ của Thôi Tuần, vì sao Lư Hoài không xử lý?

Ngư Phù Nguy đã kể hết với nàng. Hắn nói rằng Hà Thập Tam từng thừa nhận với Lư Hoài về kẻ chủ mưu đứng đằng sau nhưng đến nay vẫn không có động tĩnh gì. Lư Hoài vì nể thúc phụ nên chắc rằng đã bỏ qua mọi chuyện.

Vậy nên, Lý Doanh không dám tin tưởng Lư Hoài.

Thôi Tuần lại bình thản nói: “Không sao đâu.”

Dù hắn đã chuẩn bị đâu vào đó thì nàng vẫn lo lắng khôn cùng. Chuyến đi lần này nguy hiểm khôn lường. Nếu thất bại, hắn sẽ chẳng bao giờ trở về được nữa.

Nàng cắn nhẹ môi, bất chợt tháo xuống túi gấm ngũ sắc thêu hoa sen đang treo bên hông, nhét vào tay Thôi Tuần: “Trong này có nút tóc của ta, chàng hãy mang theo khi ra công đường.”

Nàng nói: “Cho dù chàng luôn từ chối ta, vừa rồi còn mong ta chuyển kiếp, nhưng ta vẫn không thay đổi ý định của mình. Ta từng nói, ta sẽ luôn ở bên chàng. Lần này chàng ra công đường, ta không thể đi cùng, chỉ có thể dùng nút tóc này thay ta. Nút tóc còn, cũng như ta còn.”

Thôi Tuần lặng người nhìn túi gấm trong tay. Túi thêu hoa mẫu đơn bằng chỉ ngũ sắc, từng mũi chỉ tinh tế, hoa văn tỉ mỉ. Lý Doanh lại mỉm cười nhẹ nhàng, như thể chẳng có gì phải bận tâm: “Nút tóc này là vật mà ta trân quý nhất. Chàng nhất định phải sống trở về trả lại cho ta, nếu không, ta sẽ buồn lắm đấy.”

Thôi Tuần ngẩng đầu, ánh mắt thiếu nữ ngập tràn nỗi lưu luyến sâu đậm, là tâm trạng lo lắng cho sự an nguy của hắn. Hắn chậm rãi nắm chặt túi gấm trong tay, nhẹ giọng đáp: “Được.”



Thôi Tuần rời khỏi phủ, lên xe ngựa, hướng về Đại Lý Tự.

Đại Lý Tự cùng Sát Sự Thính đều nằm tại phường Nghĩa Ninh, thành Trường An. Xe ngựa lao đi rất nhanh, người điều khiển là ngục tốt của Đại Lý Tự. Hai bên xe ngựa có đội ngục tốt cưỡi ngựa hộ tống. Nói là hộ tống, nhưng chỉ là giữ thể diện trên danh nghĩa, còn thực chất, chính là áp giải.

Túi gấm trong lòng bàn tay tựa như vẫn còn vương hơi ấm của Lý Doanh. Suốt quãng đường, Thôi Tuần không rời tay khỏi túi gấm, ánh mắt đăm chiêu, không rõ trong lòng đang nghĩ những gì. Chỉ đến khi xe ngựa dừng lại trước Đại Lý Tự, hắn mới cúi đầu, cẩn thận đặt túi gấm vào tay áo.

Xuống xe, hắn theo ngục tốt bước vào đại đường. Vừa vào, hắn đã sững người.

Bởi trên đại đường, ngoài chủ thẩm là Lư Hoài ra thì còn có cả Thái hậu cùng Long Hưng Đế.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 92: Công thẩm


Ngoài ra, trong công đường còn có Tả Hữu bộc xạ và lục bộ Thượng thư. Chư vị trọng thần đều tề tựu đông đủ, chẳng khác nào một buổi công thẩm trước bá quan văn võ.

Thôi Tuần cụp mắt, trên công đường, Kim Di đang quỳ với đôi tay đeo xiềng xích nặng nề. Hắn thoáng liếc nhìn ông ta, rồi tiến lên hành lễ với Long Hưng Đế và Thái hậu. Thái hậu bảo hắn đứng lên, hắn liền chỉnh lại tư thế, đứng thẳng người bên cạnh Kim Di đang quỳ. Bộ triều phục sắc đỏ tía trên thân không một nếp gấp, sống lưng thẳng thắp như trúc xanh.

Sắc mặt Long Hưng Đế thoáng hiện vẻ không vui. Bùi Quan Nhạc vốn giỏi nhìn sắc mặt đoán ý, liền quát lớn: “Phạm nhân đã lên công đường, vì sao không quỳ?”

Thôi Tuần không hề tỏ ra nhún nhường, đáp lại: “Ta chưa định tội, sao lại phải quỳ?”

Bùi Quan Nhạc nghẹn lời, mặt tối sầm lại. Lúc này, chủ thẩm Lư Hoài mới lên tiếng: “Thôi Tuần vẫn còn giữ quan tước, theo luật Đại Chu, nếu chưa định tội, thì sẽ không phải quỳ.”

Câu nói này khiến Bùi Quan Nhạc mặt mày tái xanh. Trong khi đó, Lư Dụ Dân thần sắc nghiêm nghị. Bùi Quan Nhạc thầm rủa trong lòng, thấy Lư Dụ Dân chẳng những không trách cứ cháu mình mà còn ngầm ủng hộ, ông ta đành nuốt cơn giận xuống, không tiếp tục tranh biện.

Lư Hoài hành lễ với Thái hậu và Long Hưng Đế, sau đó bắt đầu thẩm vấn.

Hắn hỏi Kim Di trước: “Kim Di, ngươi cáo buộc Thôi Tuần gi.ết ch.ết Quách Cần Uy, chuyện đó có thực hay không?”

Kim Di tự tin đáp: “Đúng vậy. Năm Long Hưng thứ mười bốn, khi Khả hãn Đột Quyết Ni Đô vây khốn Thiên Uy quân tại Lạc Nhạn Lĩnh, Thôi Tuần khi đó làm cận vệ của Quách Cần Uy. Hắn tham sống sợ chết, thừa lúc Quách Cần Uy không đề phòng, dùng dây cung sắt của thiết thai cung cắt đầu của ông ta, sau đó mang thủ cấp đến đầu hàng Ni Đô.”

Lư Hoài hỏi: “Việc này trọng đại, ngươi có bằng chứng gì không?”

Kim Di đáp: “Thủ cấp của Quách Cần Uy chính là bằng chứng. Thủ cấp đã được đưa về Trường An. Chỉ cần so vết cắt ở cổ với dây cung sắt của Thôi Tuần, sẽ rõ thật giả.”

Lư Hoài gật đầu, chuẩn bị lệnh cho tiểu lại dâng thủ cấp lên. Ngay khi ấy, Thôi Tuần – người từ đầu vẫn giữ im lặng – bỗng cất tiếng: “Khoan đã. Ta có điều muốn hỏi Kim Di.”

Mọi người trong công đường đều kinh ngạc, chỉ riêng Thái hậu tỏ vẻ hứng thú nhìn Thôi Tuần.

Lư Hoài trầm ngâm một lúc, rồi nói: “Ngươi cứ hỏi.”

Thôi Tuần hỏi: “Kim Di, ta với ngươi có thù oán gì không?”

Kim Di thoáng sững người, lúng túng không đáp. Thực ra, giữa hai người vốn không có mối thâm thù nào. Lúc còn ở Đột Quyết, Thôi Tuần lo thân mình còn không xong, làm gì có cơ hội đối địch với ông ta.

Trái lại, chính ông ta mới là kẻ giật dây A Sử Na Ngột Đóa bôi nhọ danh dự của Thôi Tuần, thậm chí nhiều lần thả cú đêm giúp A Sử Na Ngột Đóa bắt hắn trở về. Nếu nói thù oán, thì chỉ có ông ta gieo thù với Thôi Tuần.

Kim Di ngây ra không nói nổi lời nào. Thôi Tuần lại dồn ép hỏi tiếp: “Trong hai năm ta ở Đột Quyết, ta đã hại gì ngươi, hay đắc tội gì ngươi chưa?”

Kim Di càng không đáp nổi. Một lời dối trá cần hàng ngàn lời dối trá khác để che đậy. Huống hồ, trước mắt có Thái hậu, Long Hưng Đế và lục bộ Thượng thư, những con người tinh tường. Chỉ cần ông ta lỡ lời một câu, lập tức sẽ bị bắt bẻ. Vì thế, dù ông ta nhanh trí đến đâu, lúc này cũng chỉ có thể câm lặng.

Nhìn ông ta như vậy, Thôi Tuần cười nhạt: “Nếu ta không đắc tội gì với ngươi, vậy động cơ nào khiến ngươi cáo buộc ta?”

Trên công đường, Lư Hoài cũng nhíu mày. Kim Di thoáng hoảng sợ, nhưng nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, bắt đầu biện bạch: “Ngươi là kẻ tội đồ khiến Thiên Uy quân bị tiêu diệt. Ai ai cũng muốn trừng phạt ngươi, cớ gì ta không thể buộc tội ngươi?”

Thôi Tuần nhếch môi cười: “Ta thật không ngờ, một kẻ làm “Tả Hiền vương” của Đột Quyết suốt hai mươi sáu năm, dẫn quân đánh Đại Chu bốn lần, lại có lòng chính nghĩa đến vậy. Vì chính nghĩa, vì Đại Chu mà ngươi muốn trừ gian diệt bạo?”

Thôi Tuần nhấn mạnh từng chữ “Tả Hiền vương Đột Quyết”, khiến sắc mặt Kim Di tái nhợt. Trong khi đó, các trọng thần ngồi trên đường triều đều lộ ý cười chế nhạo. Kim Di vội đổi lý do: “Dù sao ta cũng là kẻ sắp chết, trước khi chết kéo theo một người chôn cùng, chẳng nhẽ không được hay sao?”

Thôi Tuần hờ hững nói: “Nếu Tả Hiền vương thật sự cam tâm chịu chết, thì sao phải đông trốn tây ở Trường An? Dựa vào khao khát cầu sinh của Tả Hiền vương, dùng nhược điểm của ta để uy h**p ta cứu ngươi thì mới hợp với bản tính của ngươi, chứ không phải kéo ta làm đệm lưng.”

Từng lời từng chữ của hắn khiến Kim Di á khẩu, trán bắt đầu rịn mồ hôi lạnh. Ông ta run rẩy ngước nhìn Thôi Tuần. Vị Thiếu khanh của Sát Sự Thính trong bộ quan phục đỏ thẫm như lửa, nhưng ánh mắt lại lạnh như băng. Bóng dáng hắn chồng lên hình ảnh của một thiếu niên sáu năm trước, mình đầy thương tích, nghiến răng chịu đựng vô số cực hình và nhục nhã. Lúc này, Kim Di mới sực nhận ra rằng, ngay từ đầu ông ta đã đánh giá thấp đối thủ.

Và sai lầm này sẽ khiến ông ta trả giá bằng cái giá vô cùng đắt.

Trong lúc Kim Di run rẩy, Bùi Quan Nhạc đã lên tiếng trước: “Lằng nhằng cái gì nữa, mau đưa chứng cứ ra!”

Lư Hoài nhíu mày nhưng không phản bác. Hắn ra lệnh: “Người đâu, mang chứng cứ lên.”



Khi chiếc hộp gỗ được mở ra, tất cả những người có mặt đều đồng loạt hít sâu một hơi lạnh.

Đó là một chiếc đầu lâu đã hóa thành xương trắng, hình dạng ghê rợn, vẫn còn dính một đoạn đốt sống cổ. Nhớ đến công thần Quách Cần Uy từng trải qua trăm trận, một mũi tên bắn chết Diệp Hộ Đột Quyết, vang danh khắp Tây Vực, nay lại phải chết thảm, đầu lìa khỏi xác, đầu lâu lưu lạc tại Đột Quyết suốt sáu năm trời không được hồi hương, thật khiến người ta không khỏi chua xót.

Chỉ có Bùi Quan Nhạc là nhìn đầu lâu với vẻ mặt bình tĩnh.

Ông ta biết rõ đây căn bản không phải đầu lâu của Quách Cần Uy. Đây chỉ là đầu của một tù nhân có hình dáng tương tự, bị chém bằng dây cung của chiếc cung sắt, rồi được ngỗ tác xử lý thành bạch cốt, đặt vào thùng xe. Màn tráo đổi này chính là chiêu bài ông ta dùng để hãm hại Thôi Tuần.

Do đó, ông ta chẳng hề xúc động, chỉ nheo mắt nhìn ngỗ tác <i>(pháp y)</i> dày dạn kinh nghiệm nhất của Đại Lý Tự kiểm tra. Dù sao, ngỗ tác này ông ta cũng đã mua chuộc từ trước. Chỉ cần ngỗ tác nói đúng những lời đã sắp xếp, Thôi Tuần chắc chắn sẽ không thoát được kiếp nạn.

Thế nhưng, sắc mặt của ngỗ tác bỗng nhiên biến đổi. Gã nhìn về phía Bùi Quan Nhạc với vẻ mặt đầy kinh hãi, thậm chí môi cũng run rẩy. Bùi Quan Nhạc cảm thấy bất an, trong lòng thầm nghĩ không ổn. Lẽ nào ngỗ tác phát hiện ra đầu lâu này không phải đã chết từ sáu năm trước? Lại thêm Thái hậu và Thánh nhân đích thân đến đây, khiến gã kinh hãi muốn thay đổi lời khai vào phút chót?

Nhưng trong tình thế này, sao có thể đổi ý được?

Bùi Quan Nhạc ngẩng đầu, ánh mắt lạnh lẽo như băng, quét một cái khiến ngỗ tác đang run rẩy phải giật mình. Gã hiểu ý của Bùi Quan Nhạc, bèn lắp bắp bẩm báo: “Bẩm Thái hậu, bẩm Thánh nhân, thủ cấp này quả thực đã tồn tại từ sáu năm trước. Vết cắt trên đốt sống cổ khớp hoàn toàn với dây cung sắt trên thiết thai cung của Thôi Thiếu khanh.”

Lời vừa dứt, Thôi Tụng Thanh trên công đường nổi giận đùng đùng, ánh mắt nhìn Thôi Tuần thêm phần chán ghét. Lư Hoài cũng không kìm được mà lộ vẻ khinh thường, nói: “Thôi Tuần, thủ cấp của Quách Cần Uy ở Đột Quyết, còn cung tên lại ở Trường An. Nếu không phải sáu năm trước ngươi dùng dây cung sát hại Quách Cần Uy, thì vì sao vết cắt trên thủ cấp lưu lạc ở Đột Quyết lại trùng khớp với dây cung của ngươi? Đến nước này, ngươi vẫn không nhận tội sao?”

Thôi Tuần thản nhiên đáp hai chữ: “Không nhận.”

“Chứng cứ rành rành, ngươi còn không chịu nhận tội?”

Hắn chỉ liếc qua đầu lâu trắng đặt trên bàn xử án, nhàn nhạt nói: “Đây không phải thủ cấp của Quách soái.”

Lư Hoài thoáng ngẩn người: “Ngươi dựa vào đâu mà nói đây không phải là thủ cấp của Quách Cần Uy?”

“Đây là thủ cấp của một nữ nhân.” Thôi Tuần nhếch môi cười nhạt: “Ngỗ tác, chẳng lẽ ngươi không nhận ra?”

Hắn nói tiếp: “Xương sọ của nam nhân dày và nặng, còn nữ nhân thì mỏng và nhẹ hơn. Xương trán của nam nhân thường có độ nghiêng, trong khi nữ nhân lại thẳng đứng. Đây là kiến thức cơ bản nhất. Ngỗ tác, chẳng lẽ ngươi không nhìn ra sao?”

Mọi ánh mắt đều dồn về phía ngỗ tác của Đại Lý Tự. Lư Hoài giận dữ gầm lên: “Lâm Tam! Hắn nói thật hay giả?”

Ngỗ tác hoảng sợ đến mức hai chân run lẩy bẩy, cuối cùng quỳ sụp xuống, vừa khóc vừa van xin: “Thiếu khanh tha mạng! Thiếu khanh tha mạng!”

Lư Hoài nghiến răng: “Gọi Trương Nhị lang tới, kiểm tra lại!”



Kết quả kiểm tra cho thấy, quả thật đây là đầu của một nữ nhân.

Vậy nên, chiếc đầu lâu này, bất kể vết cắt có khớp thế nào, cũng tuyệt đối không thể là của Quách Cần Uy.

Bùi Quan Nhạc mặt mày tái nhợt, lòng như tro tàn. Ông ta không sao hiểu nổi, rõ ràng đã lấy đầu của một nam nhân bị cắt bằng dây cung đặt vào thùng, tại sao giờ lại biến thành đầu của nữ nhân?

Nhưng hoàn cảnh hiện tại không cho phép ông ta suy nghĩ thêm.

Ông ta lập tức nói: “Làm sao đầu của Quách Cần Uy lại biến thành đầu của nữ nhân? Thôi Tuần, chắc chắn là ngươi đã sai người đánh tráo!”

Thôi Tuần nhìn ông ta, ánh mắt chế giễu khiến lòng Bùi Quan Nhạc lạnh đi vài phần. Hắn chậm rãi nói: “Bùi Thượng thư, có phải ông đã quên rằng suốt một tháng qua ta luôn bị giam trong phủ, dưới sự giám sát của Đại Lý Tự. Thử hỏi ta làm sao có thể sai người tráo đổi? Ngược lại, e rằng có kẻ muốn hãm hại ta, giữa đường đã âm thầm tráo đổi, nhưng lại để lộ sơ hở, đổi thành đầu của một nữ nhân.”

Bùi Quan Nhạc nghiến răng: “Thôi Tuần, ngươi có bản lĩnh thông thiên, dưới trướng lại có đến ngàn ám thám. Muốn đổi một cái thủ cấp, chẳng phải dễ như trở bàn tay?”

Thôi Tuần khẽ cười: “Đúng là thuộc hạ của ta luôn lo lắng cho an nguy của ta. Khi đội áp giải xuất phát từ Đột Quyết, ám thám quả thực đã bí mật theo dõi. Nhưng khi đến trạm dịch Phi Vân, họ mới phát hiện ra một âm mưu.”

Hắn nhìn sắc mặt tái mét của Bùi Quan Nhạc, từng chữ từng lời rõ ràng: “Đêm hai mươi tháng tư, giờ Dần, dịch thừa Âu Dương Ngạn của trạm dịch Phi Vân ôm một chiếc hộp gỗ, bước vào kho chứa thủ cấp. Hai người canh giữ là Phùng Hổ và Hàn Lâm lại không ngăn cản. Thử hỏi, trong hộp gỗ của Âu Dương Ngạn có gì? Vì sao Phùng Hổ và Hàn Lâm lại làm ngơ? Sau trạm Phi Vân, thủ cấp đưa đến Trường An vì sao lại biến thành đầu của một nữ nhân?”

Hắn thong dong cúi mình hành lễ với Thái hậu và Thánh nhân, chậm rãi nói: “Thần xin Thái hậu và Thánh nhân bắt giữ Âu Dương Ngạn, Phùng Hổ, Hàn Lâm, điều tra sự việc đến cùng.”

Bùi Quan Nhạc như chết lặng. Lúc này ông ta mới nhận ra, dường như mình đã rơi vào bẫy, một cái bẫy mà Thôi Tuần đã sắp đặt từ lâu.

Ông ta ngỡ mình là con bọ ngựa bắt ve, nào ngờ, phía sau đã có chim sẻ rình mồi.

Cơn lạnh lẽo như băng tràn ngập khắp người. Bùi Quan Nhạc biết rằng nếu Âu Dương Ngạn và ba người kia bị bắt, chắc chắn ông ta sẽ bị liên lụy. Trong phút giây vùng vẫy cuối cùng, ông ta lớn tiếng: “Thôi Tuần! Ám thám của ngươi theo dõi đội áp giải, vậy tất nhiên cũng có thể tráo đổi đầu lâu! Đầu lâu này, chính là do ngươi đổi!”

Lư Hoài đã sớm nổi giận: “Bùi thượng thư, ngài không phải là chủ thẩm, xin chớ nhiều lời!”

Thôi Tuần chỉ nhếch môi: “Ta căn bản không có động cơ để tráo đổi đầu lâu.”

Bùi Quan Nhạc thốt lên: “Tại sao?”

Thôi Tuần thản nhiên đáp: “Bởi vì ngay từ đầu, ta đã biết rõ thủ cấp mà Đột Quyết đưa tới là giả.”

Lời vừa dứt, ai nấy đều kinh ngạc. Thôi Tuần đưa tay vào trong tay áo, nắm lấy túi gấm ngũ sắc, thong thả nói: “Đầu lâu của Quách soái hiện đang được giấu trong phủ của Diệp Hộ La Cát ở Đột Quyết. Ngay cả Khả hãn Tô Thái cũng không hay biết. Vậy nên, thứ Khả hãn Tô Thái gửi tới, nhất định chỉ có thể là giả. Đã là giả, sao có thể khớp với dây cung của ta? Thử hỏi, ta tráo đổi để làm gì?”

Thái hậu bật cười khẽ, nhìn sang Long Hưng Đế, nói: “Thánh nhân, chuyện này thật thú vị.”

Long Hưng Đế mặt không đổi sắc, gật đầu, giọng có chút không cam lòng: “Nghe ra, Thôi khanh quả thực vô tội.”

Thôi Tuần quỳ xuống dập đầu, giọng điềm tĩnh nhưng mang theo uất ức: “Từ khi Kim Di đứng ra tố cáo, việc này đã là âm mưu nhằm hãm hại thần. Người đó bụng dạ khó lường, cố tình tráo đầu lâu tại trạm dịch Phi Vân, đổi sang chiếc đầu bị dây cung cắt đứt. Nếu không phải hắn đổi thành đầu của một nữ nhân, hôm nay thần e rằng đã chết oan tại Đại Lý Tự. Hành động độc ác như thế, nếu không điều tra rõ, e rằng sẽ khiến bách quan lạnh lòng? Thần khẩn cầu Thái hậu và Thánh nhân minh xét, trả lại công lý cho thần.”

Thái hậu gật đầu, nét mặt nhu hòa: “Thôi khanh, khanh nói rất đúng.”

Bà quay sang hỏi Long Hưng Đế: “Thánh nhân, ý người thế nào?”

Long Hưng Đế gượng gạo đáp: “Tất cả nghe theo Thái hậu định đoạt.”

Thái hậu lại hỏi Thôi Tụng Thanh và Lư Dụ Dân cùng các đại thần: “Các vị nghĩ thế nào?”

Thôi Tụng Thanh liếc nhìn Thôi Tuần, vẻ mặt phức tạp. Ông ta chắp tay nói: “Dám vu cáo trọng thần triều đình, cần phải điều tra minh bạch.”

Sắc mặt của Lư Dụ Dân đã khó coi đến cực điểm, dù trong lòng không muốn nhưng tình thế không cho phép ông ta bảo vệ Bùi Quan Nhạc và Kim Di, đành phải thuận theo ý mọi người, nói: “Mọi việc xin nghe theo Thái hậu và Thánh nhân định đoạt.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 93: Phải đòi cả lãi chứ


Khi bách quan đều đồng ý để Thái hậu và Thánh nhân xử lý, Thái hậu liền đưa ra phán quyết: “Thôi khanh, khanh đừng thất vọng. Ngô và Thánh nhân nhất định sẽ trả lại công đạo cho khanh.”

Câu nói ấy, rõ ràng ám chỉ rằng Thôi Tuần vô tội, người khác mới chính là kẻ đã vu oan cho hắn.

Thấy cục diện xoay chuyển, Thôi Tuần không vì thế mà dừng lại, trái lại còn dập đầu lần nữa: “Cây cung cũ của thần đã bị thu giữ tại Đại Lý Tự, vốn dĩ phải được bảo quản nghiêm ngặt, vậy mà lại bị lợi dụng để hãm hại thần. Huống chi, ngay cả ngỗ tác cũng bị mua chuộc, cố tình biến đầu lâu nữ nhân thành đầu lâu nam nhân. Từng chuyện, từng việc, Thái hậu và thánh nhân đều đã tận mắt chứng kiến. Nếu vụ án này vẫn để Đại Lý Tự xử lý, làm sao có thể trả lại công bằng cho thần? Thần khẩn cầu, giao vụ án này cho Sát Sự Thính thụ lý. Thần nhất định sẽ xử lý công minh, không thiên vị, không tư lợi.”

Kim Di cùng Bùi Quan Nhạc, Lư Dụ Dân đồng thanh thốt lên: “Không được!”

Mọi người đưa ánh mắt nghi hoặc nhìn về phía ba người họ. Lư Dụ Dân sắc mặt cứng ngắc, vội vàng chữa lời: “Giả như Thôi Thiếu khanh mang tư tâm trả thù, thì phải làm sao?”

Thôi Tuần khẽ cười, ánh mắt sáng ngời: “Triều đình bách quan đều có thể giám sát. Nếu phát hiện thần lợi dụng vụ án này để trả thù riêng, thần nguyện chịu chết, không hề oán thán.”

Lời này của Thôi Tuần, chính là lấy tính mạng mình để lập quân lệnh trạng. Thôi Tụng Thanh cúi mắt, giọng trầm xuống: “Thái hậu, Thánh nhân, đội áp tải do Đại Lý Tự phụ trách, cây cung cũng do Đại Lý Tự bảo quản, ngỗ tác cũng thuộc quyền Đại Lý Tự, cả ba nhiệm vụ trọng yếu đều xảy ra vấn đề. Việc này đủ để chứng minh Đại Lý Tự đã không còn đáng tin. Chi bằng giao vụ án cho Sát Sự Thính xử lý.”

Thái hậu nhìn sang Lư Hoài. Vị Thiếu khanh Đại Lý Tự nhậm chức chưa đầy mấy tháng này, giờ đây chẳng còn mặt mũi nào. Thái hậu từ tốn hỏi: “Lư khanh, khanh có dị nghị gì chăng?”

Lư Hoài liếc nhìn Lư Dụ Dân, vẻ mặt bi ai, trong lòng mang theo nỗi nhục nhã và bất lực. Cuối cùng, hắn đáp: “Thần nhận lỗi vì không làm tròn chức trách, không dám có ý kiến gì thêm.”

Thái hậu gật đầu, rồi quay sang Long Hưng Đế: “Thánh nhân, nếu Thôi Tuần đã đảm bảo không vì tư thù mà trả đũa, vậy vụ án này cùng với Kim Di, cứ giao cả cho Thôi Tuần xử lý.”

Trong lòng Long Hưng Đế đầy bất mãn, không chỉ bởi hắn căm ghét Thôi Tuần, mà còn bởi thân phận của Huệ phi, sợ rằng Kim Di sẽ tiết lộ nhiều điều gây bất lợi. Nhưng lần này Đại Lý Tự đã làm mất mặt triều đình, hắn không thể tìm được lý do để phản bác. Cuối cùng, hắn đành gượng gạo đáp: “Thái hậu nói rất đúng, cứ giao cho Thôi khanh xử lý đi.”



Trước cửa Thôi phủ, tất cả lính canh đã bị rút lui, ngay cả lão bộc câm cũng trở về.

Lý Doanh thấy vậy, liền biết Thôi Tuần đã bình an vượt qua cửa ải này, nàng lập tức thở phào nhẹ nhõm. Chỉ là, Thôi Tuần không quay về Thôi phủ, thay vào đó, Ngư Phù Nguy lại đến tìm nàng.

Ngư Phù Nguy trèo lên tường, gọi nàng ra, sau đó thuật lại cảnh tượng tại công đường Đại Lý Tự: “Lư Hoài mất hết nhuệ khí, chịu nhục như vậy, vừa rời khỏi Đại Lý Tự đã đổ bệnh.”

Lý Doanh trầm ngâm giây lát, rồi nói: “Người này bản chất không tệ, tính tình lại thẳng thắn, chắc khó lòng chấp nhận sự thật rằng Đại Lý Tự dưới quyền cai quản của hắn sớm đã trở thành nhà lao riêng của Bùi Quan Nhạc.”

Ngư Phù Nguy tiếp lời: “Sát Sự Thính đã xuất phát để bắt Âu Dương Ngạn, Phùng Hổ, và Hàn Lâm. Chỉ cần tóm gọn trong tay, Bùi Quan Nhạc cũng không thể thoát được.”

Lý Doanh gật đầu: “Bùi Quan Nhạc làm việc quá tuyệt tình. Nếu không phải ông ta muốn hại Thôi Tuần, thì Thôi Tuần cũng chẳng thể nhân cơ hội này phản đòn.”

Ngư Phù Nguy nói: “Nghe nói Thái hậu và Thánh nhân đã triệu Thôi Tuần vào cung Đại Minh, ban thưởng không ít tiền bạc, an ủi oan khuất một tháng qua. Ngoài ra, còn giao cho hắn toàn quyền xử lý vụ án hãm hại mình. Kim Di cũng bị chuyển đến Sát Sự Thính giam giữ.”

Lý Doanh gật đầu: “Vậy mới đúng.”

Trong lúc trò chuyện, hai người đã đến bên ngoài cửa Chu Tước. Chợt thấy một cỗ xe tứ mã từ trong cung từ từ chạy ra. Cỗ xe được chế tác vô cùng xa hoa, được làm từ gỗ tử đàn, thân xe khảm ngọc quý, ngay cả bánh xe cũng vẽ hoa văn tinh xảo. Lý Doanh cùng Ngư Phù Nguy hòa vào dòng người đứng bên con đường lát đá xanh, chăm chú quan sát. Trong lúc đó, nàng nghe được tiếng bàn tán xôn xao: “Đó là xe ngựa Thái hậu và Thánh nhân ban thưởng cho Thôi Tuần. Vốn dĩ hắn là quan tứ phẩm, chỉ được dùng xe tam mã, nhưng lần này Thái hậu và Thánh nhân đặc cách, ân chuẩn cho hắn dùng xe tứ mã.”

Lại có người tặc lưỡi nói: “Sau này e rằng khí thế của hắn sẽ càng thêm phô trương.”

Bên trong cỗ xe rộng lớn, bên tai Thôi Tuần liên tục vang lên những lời đàm tiếu, nhưng hắn hoàn toàn làm ngơ, chỉ thong thả bện một con châu chấu xanh bằng lá cọ. Đôi tay khéo léo thoăn thoắt, chẳng mấy chốc con châu chấu đã hoàn thành. Hắn lặng lẽ nhìn ngắm con châu chấu nằm gọn trong lòng bàn tay, rồi hơi siết lại, ngón tay vén nhẹ rèm cửa sổ xe.

Đám dân đang bàn tán bỗng thấy rèm xe chậm rãi được vén lên. Sau rèm, một vị lang quân nửa ẩn nửa hiện, mày đen như tranh vẽ, da dẻ như ngọc lạnh, đôi mắt đào hoa lấp lánh tựa sóng nước nhìn thẳng về phía đám đông. Ai nấy đều bất giác im bặt, không dám nói thêm lời nào. Cũng có vài tiểu nương tử lần đầu tiên nhìn thấy vị gian thần nổi tiếng nhưng dung mạo rực rỡ như ánh bình minh này, trong lòng như nai con chạy loạn, mặt đỏ bừng bừng. Khi họ ngại ngùng nhìn lại, chợt thấy lang quân áo đỏ ấy nở nụ cười nhạt về một hướng nào đó giữa đám đông. Nụ cười ấy, đẹp đến mức khiến trăm hoa xuân sắc cũng phải lu mờ. Tim của vài tiểu nương tử cũng đập nhanh mấy nhịp, nhưng lang quân ấy chỉ mỉm cười, nhẹ nhàng vươn cổ tay ra ngoài cửa sổ, mở bàn tay ra, để cơn gió cuốn đi vật nhỏ màu xanh trong lòng tay chàng.

Vật màu xanh ấy bị cơn gió nam cuốn bay lên không trung, lượn lờ một hồi lâu. Đợi gió ngừng, nó mới nhẹ nhàng rơi xuống.

Ngư Phù Nguy đứng ngay phía dưới, theo bản năng đưa tay đón lấy thay Lý Doanh. Khi mở lòng bàn tay ra, hắn phát hiện đó là một con châu chấu cỏ được tết từ lá cọ.

Xe ngựa của Thôi Tuần đã khuất xa, đám đông cũng dần tản đi. Ngư Phù Nguy nghi hoặc nhìn về phía Lý Doanh: “Châu chấu cỏ?”

Lý Doanh ngắm nhìn con châu chấu sống động như thật, nàng mỉm cười, ánh mắt hướng về phía cỗ xe đã khuất: “Mấy ngày tới chàng sẽ không về đâu.”

“Hả?”

“Chàng phải xử lý vụ án của Bùi Quan Nhạc và Kim Di. Việc này không thể có sơ suất, chắc chắn chàng sẽ ở lại Sát Sự Thính, vì vậy, những ngày tới chàng sẽ không về.”

Ngư Phù Nguy tỏ vẻ bất bình thay nàng: “Công chúa đã giúp hắn một việc lớn như vậy, chẳng lẽ không đáng để hắn tới cảm tạ công chúa một tiếng hay sao?”

“Ai nói chàng không cảm tạ ta?” Lý Doanh cầm lấy con châu chấu cỏ trong tay Ngư Phù Nguy, nhoẻn cười đáp: “Đây chính là lời cảm tạ của chàng.”



Thôi Tuần rời khỏi cung Đại Minh, lập tức đến Sát Sự Thính. Hắn đã sắp xếp ám thám ở Túc Châu truy bắt ba kẻ Âu Dương Ngạn, Phùng Hổ và Hàn Lâm. Thôi Tuần căn dặn Lưu Cửu: “Bùi Quan Nhạc như chó cùng rứt giậu, nhất định sẽ phái người sát hại ba người đó để diệt khẩu. Ngươi đích thân tới Túc Châu, bằng mọi giá phải áp giải bọn họ an toàn trở về.”

“Tuân lệnh.”

Lưu Cửu cung tay rồi vội vã rời đi. Thôi Tuần quay sang dặn dò các vũ hầu khác: “Phải giám sát cẩn thận người nhà của ngỗ tác Lâm Tam, không được để Bùi Quan Nhạc có cơ hội uy h**p gã.”

“Tuân lệnh.”

“Hãy điều tra kỹ các ngục tốt canh giữ Kim Di. Không được để tái diễn chuyện của Vương Nhiên Tê, nếu không, ta sẽ hỏi tội các ngươi.”

“Tuân lệnh.”

Mọi việc lớn nhỏ, Thôi Tuần đều sắp xếp chu toàn. Cuối cùng, một vũ hầu hỏi: “Thiếu khanh, Kim Di đã bị áp giải vào ngục, ngài có muốn đích thân thẩm vấn không?”

Thôi Tuần đáp: “Không vội.”

“Vậy đợi khi nào Thiếu khanh rảnh rỗi, thuộc hạ sẽ đưa Kim Di đến thẩm vấn?”

“Cũng không cần đợi ta rảnh.” Thôi Tuần nhàn nhã nói: “Sát Sự Thính có tám mươi mốt hình cụ, cứ tùy ý áp dụng lên người ông ta. Chỉ cần giữ lại mạng sống là đủ.”

Vũ hầu ngẩn ra, thử dò hỏi: “Thiếu khanh, vậy khi dùng hình, có cần phải thẩm vấn gì không?”

Thôi Tuần lắc đầu. Vũ hầu càng mơ hồ, tra tấn Kim Di nhưng không thẩm vấn? Dường như nhìn thấu nghi hoặc trong lòng người này, khóe môi Thôi Tuần cong lên đầy giễu cợt, song ánh mắt lại lạnh lẽo như sương tuyết. Một lúc sau, hắn mới chậm rãi nói: “Phải đòi cả lãi nữa chứ?”



Người đầu tiên khai nhận là Lâm Tam, ngỗ tác của Đại Lý Tự.

Lâm Tam thú nhận đã nhận một trăm lượng vàng từ Bùi Quan Nhạc. Gã bị sai khiến rằng bất kể kết quả giám định thế nào, cũng phải khăng khăng khẳng định đó là đầu của Quách Cần Uy, bị giết bởi dây cung của thiết thai cung mà Thôi Tuần sử dụng.

Người thứ hai khai nhận là một tiểu lại phụ trách trông giữ cung sắt. Hắn cũng thú nhận đã bị Bùi Quan Nhạc dùng quyền thế ép buộc, phải lén chuyển chiếc cung sắt vốn thuộc Đại Lý Tự đến phủ của Bùi Quan Nhạc, sau đó chờ ông ta xử lý xong việc sẽ đưa trả. Song hắn khẳng định mình không biết Bùi Quan Nhạc dùng nó để làm gì.

Nhưng không sao, có lời khai này đã là đủ.

Trong suốt quá trình điều tra, Thôi Tuần không ít lần bị nhắc nhở phải chú ý “chừng mực.” Đầu tiên, Thái hậu căn dặn hắn chỉ cần điều tra vụ vu cáo của Kim Di, không cần dây dưa đến những chuyện khác, phải biết giữ “chừng mực”. Thôi Tuần vốn rất giỏi đoán ý, hắn biết Thái hậu ám chỉ việc không được khơi lại chuyện Thiên Uy quân bị tiêu diệt. Chuyện đó đã xảy ra sáu năm trước, trong mắt bách tính, Thiên Uy quân là tội đồ làm mất đất mất thành. Thái hậu không muốn mạo hiểm chọc giận dân chúng để điều tra lại vụ án mờ mịt này.

Ngoài Thái hậu, còn có Thôi Tụng Thanh, bá phụ của hắn, cũng khuyên hắn phải chú ý chừng mực. Lời của Thôi Tụng Thanh rõ ràng hơn: “Kim Di từng là Đô úy Bách Kỵ Tư dưới triều Tiên đế, trong tay ông ta nắm giữ không ít bí mật của các quan viên. Nhưng có những bí mật, nên để chúng chôn vùi theo ông ta, không nên làm dấy lên sóng gió.”

Thôi Tuần cười nhạt: “Bá phụ nói vậy, khiến ta không khỏi nghi ngờ rằng Kim Di còn nắm giữ cả bí mật của bá phụ.”

Thôi Tụng Thanh sững người, sau đó giận tím mặt, nghiêm giọng quát: “Thôi Tuần, Đại Chu lấy hiếu làm đầu, đây là thái độ của ngươi đối với trưởng bối sao?”

Thôi Tuần chăm chú quan sát vẻ mặt của ông. Sắc mặt Thôi Tụng Thanh lúc này rõ ràng lộ ra vẻ thẹn quá hóa giận.

Một lúc sau, Thôi Tuần cụp mắt, nhàn nhạt đáp: “Không dám. Ta nhất định sẽ chú ý chừng mực.”

Tuy nhiên, dù hắn đã hứa với Thái hậu và Thôi Tụng Thanh sẽ cẩn trọng, nhưng lời của cả hai, hắn không có ý định làm theo.

Nếu vì quyền lực hay đạo hiếu mà từ bỏ sự thật mình hằng truy cầu, thì hắn không còn là Thôi Tuần nữa.

Dù là nhẫn tâm độc ác, hay âm trầm gian trá, hắn đều làm được. Giả vờ tuân phục bên ngoài, hắn cũng không ngại thử.

Mười ngày sau, Thôi Tuần mới đến ngục thẩm vấn Kim Di.

Hắn lạnh lùng dõi mắt nhìn vũ hầu thi hành hình phạt rửa mặt chải đầu [1] lên người Kim Di. Sau khi chịu đòn, thân thể Kim Di trên giá hình đã trở thành một kẻ máu me đầm đìa. Kim Di r.ên rỉ trong đau đớn, lòng hối hận vô cùng. Ông ta hối hận vì ở Đột Quyết đã ngăn cản A Sử Na Ngột Đóa giết Thôi Tuần, hối hận vì đã nghe theo kế sách của Bùi Quan Nhạc, và hối hận vì không sớm tự kết liễu, để bây giờ rơi vào cảnh muốn sống không được, muốn chết cũng không xong.

<i>[1] hình phạt rửa mặt chải đầu: “rửa mặt” là dùng nước lạnh hoặc nước muối để dội liên tục lên mặt nạn nhân, đôi khi kết hợp với việc đánh đập, khiến nạn nhân đau đớn và khó thở; “chải đầu” dùng lược sắt hoặc dụng cụ nhọn kéo lê, cào cấu lên da đầu, thậm chí làm rách da, chảy máu. </i>

Ông ta kinh hãi ngước nhìn Thôi Tuần đang ngồi ngay ngắn ở trung tâm, khoác áo choàng đen tuyền lông hạc, run rẩy cầu xin: “Cầu xin ngươi… giết ta đi… giết ta đi…”

“Chỉ như vậy mà đã không chịu nổi?” Thôi Tuần nép trong áo choàng, thân hình gầy gò gần như xương xẩu. Hắn mân mê chén trà đoàn hoa trong tay, ngón tay thon dài trắng tựa bạch ngọc, nhưng cổ tay lại chằng chịt những vết sẹo sâu hoắm. Hắn khẽ cười: “Kim Di, ngươi năm lần bảy lượt thả cú đêm, truy bắt ta năm lần. Hình phạt ta chịu, gấp trăm ngàn lần những gì ngươi đang nếm trải. Ngươi nghĩ, ta sẽ cho ngươi được chết một cách dễ dàng sao?”

Kim Di sợ hãi đến mức toàn thân run rẩy. Ông ta đã truy bắt Thôi Tuần năm lần, Thôi Tuần liền cố ý hành hạ ông ta suốt mười ngày, trả lại gấp bội. Con người này thâm hiểm đến đáng sợ, huống hồ ông ta còn bôi nhọ thanh danh của Thôi Tuần, liên thủ với Bùi Quan Nhạc vu oan hắn phản quốc. Làm sao Thôi Tuần có thể bỏ qua?

Kim Di hoảng loạn đến mức nước mắt nước mũi giàn giụa: “Là ta mê muội, là ta có lỗi với Thôi Thiếu khanh. Ta chỉ cầu được chết thật nhanh…”

Thôi Tuần nhấp một ngụm trà xanh trong chén đoàn hoa, rồi đặt xuống, thái độ thảnh thơi: “Muốn chết? Chưa dễ vậy đâu.”

Kim Di tuyệt vọng tột cùng. Mười ngày bị tra tấn liên tiếp đã khiến phòng tuyến tâm lý hoàn toàn sụp đổ. Trong những ngày ấy, ông ta thậm chí còn mong Thôi Tuần đến thẩm vấn mình, vì ít nhất điều đó cũng mang lại một tia hy vọng. Nhưng giờ đây, ông ta đã nhận ra, Thôi Tuần không hề có ý định moi bất cứ thông tin gì từ ông ta, mà chỉ đơn thuần muốn báo thù. Hết lần này đến lần khác chịu cảnh tra tấn khốc liệt, sống không được, chết không xong, làm sao ông ta có thể không suy sụp?

Ông ta òa khóc, liên tục cầu xin: “Không, ta biết rất nhiều chuyện, chuyện gì ta cũng nói, chuyện gì ta cũng khai. Chỉ xin Thôi Thiếu khanh rộng lượng, tha cho ta… tha cho ta…”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 94: Công chúa Vĩnh An, nàng đã chết thế nào?


Kim Di nhanh chóng cúi đầu nhận tội, thừa nhận chính Bùi Quan Nhạc sai khiến mình, vu cáo Thôi Tuần đã gi.ết ch.ết Quách Cần Uy. Ông ta khai rằng kế hoạch ban đầu của Bùi Quan Nhạc là phối hợp cùng Huệ phi để vu oan Thôi Tuần. Với lời chứng của Huệ phi, ái nữ mà Khả hãn yêu thương nhất, Thôi Tuần chắc chắn sẽ bị tống giam. Chỉ cần Thôi Tuần vào ngục, Bùi Quan Nhạc sẽ bố trí ngục tốt bí mật thủ tiêu Thôi Tuần.

Chỉ là kế hoạch này đã xảy ra chút trục trặc. Không biết vì lý do gì, Huệ phi đột nhiên từ chối làm chứng. Kim Di không còn cách nào khác, đành nghĩ ra kế đưa đầu lâu Quách Cần Uy từ Đột Quyết về, nhằm tranh thủ một tháng chuẩn bị chứng cứ giả cho mình và Bùi Quan Nhạc. Nhưng không ngờ, hành động này cũng đồng thời giúp Thôi Tuần kéo dài thêm một tháng.

Thôi Tuần điềm nhiên nhìn Kim Di cẩn thận viết từng câu từng chữ lên tờ giấy gai trắng. Sau đó, hắn hờ hững hỏi: “Huệ phi, có phải là A Sử Na Gia không?”

Kim Di thở hổn hển, đáp: “Phải hay không, chẳng phải Thôi Thiếu khanh càng rõ hơn ta sao?”

Thôi Tuần chẳng buồn ngẩng mắt: “Ta muốn ngươi viết ra.”

Kim Di thoáng chần chừ. Hoàng đế vô cùng sủng ái Huệ phi là chuyện ai ai cũng biết, chẳng lẽ Thôi Tuần định trở mặt với Hoàng đế? Nhưng giờ đây, sống chết của ông ta đều nằm trong tay Thôi Tuần, ông ta nào dám không viết.

Vậy là Kim Di tiếp tục viết bản cung trạng, chỉ rõ Huệ phi không phải là A Sử Na Gia, ái nữ của Tô Thái, mà chính là A Sử Na Ngột Đoá – người từng được đồn rằng có quan hệ mập mờ với Thôi Tuần.

Sau khi Kim Di run rẩy viết xong, tiểu lại lập tức trình bản cung trạng lên. Thôi Tuần chỉ liếc qua, rồi lập tức ra lệnh trải một tờ giấy gai mới trước mặt Kim Di. Hắn phất tay, bảo tiểu lại lui ra ngoài, ánh mắt lạnh lẽo nhìn Kim Di: “Viết tiếp!”

Kim Di kinh hãi: “Thôi Thiếu khanh, những gì nên khai ta đều đã khai, còn phải viết gì nữa?”

Thôi Tuần nhấn từng chữ, giọng nói lạnh buốt: “Lạc Nhạn Lĩnh, Thiên Uy quân, viết!”



Toàn thân Kim Di trọng thương, không ngừng run rẩy, giọng nói khản đặc: “Ngươi muốn lật lại bản án của Thiên Uy quân?”

Thôi Tuần thản nhiên đáp: “Phải.”

“Thái hậu có đồng ý không? Thánh nhân có đồng ý không? Hai vị tướng quốc Thôi, Lư có đồng ý không?” Kim Di kinh ngạc, trong lòng thêm chút hả hê. Mặc cho Thôi Tuần tài hoa, quỷ thần khó lường, thì cũng phải làm chuyện bất khả thi. Thế nên, Kim Di mở lời châm biếm: “Ngoài ngươi ra, chẳng ai đồng ý cả.”

Thôi Tuần chỉ nhàn nhạt nói: “Ta muốn lật án, nào đến lượt kẻ khác phải đồng ý?”

Hắn cất giọng lạnh lùng: “Ngươi không viết cũng được. Sát Sự Thính có tám mươi mốt loại hình cụ, ngươi mới nếm qua mười loại thôi, những cái còn lại, cứ từ từ mà thử.”

Kim Di nghiến răng, cơn đau khủng khiếp liên tục ập đến khiến ông ta không chịu nổi. Ông ta thừa nhận, bản thân không phải kẻ có ý chí cứng cỏi. Trong thiên hạ này, người có xương cốt cứng rắn như Thôi Tuần chỉ đếm trên đầu ngón tay, và ông ta không thuộc số ít đó.

Trong cơn hoảng hốt, ông ta buộc phải thú nhận: “Người Đột Quyết căn bản không tín nhiệm ta, ta cũng không biết rõ tình hình tại Lạc Nhạn Lĩnh. Chỉ biết rằng, hôm ấy khi đi cùng Khả hãn Ni Đô tiến đánh Phong Châu, Khả hãn Ni Đô không hề tấn công thành, mà dẫn hai mươi vạn đại quân mai phục cách đó vài trăm dặm ở Lạc Nhạn Lĩnh. Ta cảm thấy khó hiểu, muốn dò hỏi ý đồ của Khả hãn Ni Đô nhưng bị ông ta quát mắng. Vì vậy, ta chỉ có thể dò la từ người mà ông ta tin tưởng nhất, chính là Phụ Ly Vệ Hồ Lộc.”

“Hồ Lộc nói, Khả hãn Ni Đô phục sẵn để chờ bắt một đàn sư tử. Ta hỏi gã, sư tử gì? Hồ Lộc chỉ cười mà không nói rõ. Ta lại thử dò hỏi làm sao có thể chắc chắn bắt được đàn sư tử ấy, gã đáp: “Bằng hữu của sư tử đã tự tay đẩy sư tử vào bẫy của thợ săn, đương nhiên sẽ bắt được.” Về sau, khi Thiên Uy quân hành quân đến Lạc Nhạn Lĩnh, bị Khả hãn Ni Đô tiêu diệt hoàn toàn, ta mới bừng tỉnh, thì ra sư tử mà Hồ Lộc nói đến chính là Thiên Uy quân. Mà bằng hữu đẩy sư tử vào bẫy thợ săn, ta nghĩ mãi, ngoài Bùi Quan Nhạc, lúc đó là Thứ sử Phong Châu, thì không thể là bất kỳ ai khác.”

“Khi ta còn làm Đô úy Bách Kỵ Tư, Bùi Quan Nhạc chỉ là một vị đội chính Huân Dực Vệ cửu phẩm xuất thân hàn môn. Điều ta biết về ông ta chỉ gói gọn trong việc ông ta cưới được nữ nhi của họ Vương ở Thái Nguyên, từ đó đường quan lộ thuận lợi vô cùng. Chỉ với việc này đã đủ thấy ông ta không phải hạng đơn giản. Huống chi, tại thành Phong Châu, ông ta là người đứng đầu cao nhất, Quách Cần Uy cũng hết mực tín nhiệm ông ta. Ngoài ông ta ra, còn có thể là ai. Lần này thoát khỏi Đột Quyết, để bảo toàn mạng sống, ta thử lấy chuyện này dò xét Bùi Quan Nhạc, không ngờ ông ta cho rằng ta biết nội tình, vậy mà không hề phủ nhận. Chỉ là, sau vài lần ta tìm đến ông ta, có lẽ ông ta cũng phát giác ta không nắm được chứng cứ gì trong tay. Vì vậy, ông ta yêu cầu ta vu cáo Thôi Thiếu khanh, rồi mới giúp ta thoát thân.”

Ánh mắt Thôi Tuần nghe xong càng thêm lạnh lẽo. Hồi lâu sau, hắn chỉ nói một chữ: “Viết.”



Một tờ giấy gai trắng lại được viết kín, Thôi Tuần đưa tay vào trong tay áo, chạm nhẹ vào túi gấm ngũ sắc. Hắn hỏi: “Kim Di, chuyện cuối cùng, công chúa Vĩnh An đã chết như thế nào?”

Kim Di sửng sốt, Thôi Tuần nói tiếp: “Ba mươi năm trước, ngươi là Đô úy của Bách Kỵ Tư, mọi chuyện nhơ bẩn đều phải qua tay ngươi. Đừng nói với ta là ngươi không biết gì.”

“Ta…” Kim Di lưỡng lự. Ông ta thực sự biết, nhưng không dám nói. Ông ta sợ rằng, nếu nói ra, kết cục của ông ta sẽ thảm khốc hơn hiện tại.

Thôi Tuần chậm rãi nói: “Ngươi tìm đến bá phụ ta, ông ấy đã đưa cho ngươi một tấm thông hành để giữ mạng. Ông ấy trước giờ chính trực không màng lợi danh, tại sao lại giúp một kẻ phản quốc như ngươi? Lời giải thích duy nhất là ngươi đang nắm giữ nhược điểm của ông ấy. Nhưng nhược điểm đó rốt cuộc là gì, có thể khiến ông ấy phản bội nguyên tắc, chọn cách giúp ngươi?”

Hắn ngừng một chút, rồi nói tiếp: “Trừ phi nhược điểm đó liên quan đến người ông ấy muốn bảo vệ. Cả đời ông ấy kính trọng và trung thành với ai, không cần ta nói, ngươi cũng tự hiểu.”

Kim Di mở miệng, nhưng không dám nói ra. Dù vậy, cả ông ta lẫn Thôi Tuần đều biết rõ hai chữ kia là gì.

Cuối cùng, Kim Di thở d.ốc, nói: “Thôi Thiếu khanh, ngươi muốn lật lại vụ án của Thiên Uy quân cũng được. Nhưng ngươi còn muốn điều tra cái chết của công chúa Vĩnh An? Thứ lỗi cho ta nói thẳng, dù ngươi có chín cái mạng, thù cũng không đủ để chết đâu.”

Thôi Tuần khẽ cười: “Thì sao chứ?”

Kim Di lẩm bẩm: “Ngươi điên thật rồi.”

Thôi Tuần siết chặt túi gấm trong tay áo, thản nhiên nói: “Vậy ngươi khai hay không khai?”

“Cho dù ta khai, ngươi cũng làm được gì? Chẳng lẽ muốn dùng chuyện này để uy h**p Thái hậu, uy h**p Thôi Tụng Thanh?” Nghĩ đến sự tàn nhẫn của Thái hậu, Kim Di bất giác cười lạnh: “Nếu ngươi làm vậy, ta e rằng kết cục của Thôi Thiếu khanh sẽ còn thảm hơn ta.”

Thôi Tuần chỉ nói: “Nếu ngươi không khai, ta sẽ cho ngươi thấy thế nào là thảm không nỡ nhìn.”

Kim Di run lên một trận, không cam lòng nói: “Nếu Thôi Thiếu khanh đã đoán được, cớ gì còn bắt ta khai?”

Thôi Tuần ngước mắt, ánh mắt quét qua một cái. Kim Di lập tức dựng tóc gáy, không dám chần chừ thêm, đành nói: “Mọi thứ đúng như Thôi Thiếu khanh đã đoán.”

Ông ta nghiến răng, thốt ra ba chữ: “Là… Tiên đế.”



Ba mươi năm trước, Kim Di là đô úy của Bách Kỵ Tư Đại Chu – một cơ quan do Thái Xương Đế lập ra chuyên giám sát bách quan. Khi ấy, Kim Di chỉ hơn hai mươi tuổi, xuất thân thấp kém nhưng được Thái Xương Đế trọng dụng, hiển nhiên không ngừng muốn lập công, không phụ sự kỳ vọng của Hoàng đế.

Thuộc hạ của ông ta ngày đêm ngấm ngầm nghe ngóng bách quan, từng bản tình báo được trình lên án thư của Thái Xương Đế. Từ những bản tình báo đó, ông ta cũng biết Thái Xương Đế kiên quyết tiến hành cải cách, nhưng phần lớn bách quan xuất thân thế gia lại vô cùng bất mãn. Có kẻ còn cấu kết với chư vương, âm mưu phế truất Thái Xương Đế.

Nhưng may thay, Thượng thư Hữu bộc xạ Thôi Tụng Thanh, tuy xuất thân từ họ Thôi ở Bác Lăng, lại luôn kiên định ủng hộ Tân chính và Thái Xương Đế. Thôi Tụng Thanh từng nói: “Thiên hạ là thiên hạ của bách tính, không phải của thế gia. Nay thế gia nắm quyền, bảo thủ cố chấp, lại thêm Đột Quyết dòm ngó như hổ báo. Nếu cứ khăng khăng phân biệt sĩ thứ, sớm muộn gì bi kịch Ngũ Hồ loạn Hoa cũng tái diễn. Đến lúc đó, người Hán chúng ta chẳng khác nào trâu dê, hối hận cũng đã muộn màng.”

Thế nhưng, lời kêu gọi thống thiết của Thôi Tụng Thanh chỉ đổi lấy sự thờ ơ của bá quan văn võ, khiến Tân chính bước đi vô cùng gian nan. Thấy vậy, Kim Di liền đề xuất với Thái Xương Đế: “Thánh nhân, nay thập lục vệ đều trung thành với người, binh quyền nằm trong tay. Kẻ nào không nghe lời, giết đi là xong, cần gì phải khổ sở dây dưa với những kẻ không biết phải trái?”

Thôi Tụng Thanh bèn lườm ông ta một cái. Khi ấy, Thôi Tụng Thanh cũng chỉ hơn hai mươi tuổi, đúng độ tuổi trẻ khí thịnh. Ông ta vốn xem thường Kim Di, liền mỉa mai: “Giết một người thì dễ, giết mười người cũng không khó. Nhưng liệu có thể giết hết quan viên thiên hạ này không? Hơn nữa, giết họ thì lấy cớ gì? Nói rằng họ phản đối Tân chính sao? Tân chính thành bại còn chưa rõ, tùy tiện giết gián thần chỉ khiến Thánh nhân mang danh bạo ngược vô đạo. Thế gia cần phải trừ, nhưng không thể trừ bằng cách này.”

Thôi Tụng Thanh coi thường Kim Di, mà Kim Di cũng chẳng ưa gì ông ta. Trong mắt ông ta, Thôi Tụng Thanh chẳng qua chỉ là hủ nho nặng tính sách vở, suy nghĩ quá nhiều. Kim Di cười khẩy: “Lòng dạ đàn bà.”

Thôi Tụng Thanh mất kiên nhẫn, nói: “Kim Đô úy, ngài đã nghĩ đến chưa? Giết người đương nhiên là cách dễ nhất, nhưng sau khi giết rồi thì sao? Nếu thế gia lấy đó làm cớ, liên hợp chư vương làm phản, ngài nghĩ bách tính sẽ đứng về phía ai? Họ sẽ ủng hộ Tân chính mờ mịt hay một Hoàng đế thích giết gián thần? Cả hai đều không. Trên đời này, ai được lòng người thì mới được thiên hạ, chứ không thể chỉ dựa vào giết chóc để giải quyết vấn đề.”

Kim Di định phản bác, nhưng Thái Xương Đế đã ngăn cản cuộc tranh luận giữa hai người. Rõ ràng, Thái Xương Đế ủng hộ Thôi Tụng Thanh. Người quát lui Kim Di, ông ta đành hậm hực rời đi. Trước khi khuất bóng, Kim Di nghe thấy Thôi Tụng Thanh nói với Thái Xương Đế: “Cần một cơ hội.”



Cơ hội này, rất nhanh đã xuất hiện.

Bách Kỵ Tư của Kim Di phát hiện, Phò mã Trịnh Quân khi say rượu từng nhắc đến Vĩnh An công chúa Lý Doanh, thần sắc đầy vẻ u sầu, trong lời nói ẩn ý như muốn gây bất lợi cho công chúa.

Kim Di mật báo chuyện này lên Thái Xương Đế, người giận dữ vô cùng. Kim Di chưa từng chứng kiến Thái Xương Đế nổi trận lôi đình như lần này. Người triệu Thôi Tụng Thanh vào, bàn bạc cách xử trí Trịnh Quân. Hôm đó, gân xanh nổi khắp trán Hoàng đế, tay siết chặt thanh kiếm đế vương, nghiến răng nghiến lợi: “Trịnh Quân! Thằng nhãi đó! Trẫm muốn giết hắn!”

Ai cũng biết, Vĩnh An công chúa Lý Doanh dung mạo như tiên nữ, phong thái rực rỡ khiến thiên hạ khuynh đảo. Nàng là ái nữ mà Hoàng đế yêu thương nhất trong số các hoàng tử, công chúa. Kim Di nhân cơ hội nói: “Thánh nhân, thần nghĩ Trịnh Quân vì kinh thường nhà mẹ đẻ của công chúa, cảm thấy không xứng với dòng họ Trịnh ở Huỳnh Dương, nên mới có ý làm hại công chúa.”

Thái Xương Đế nghiến răng gằn từng chữ: “Trẫm là thiên tử! Công chúa là con gái thiên tử! Hắn không muốn sống nữa sao?”

“Thần nghe nói, từ khi sửa lại Tông Tộc Chí, Lễ Bộ đã xếp họ Thôi ở Bác Lăng cao hơn hoàng tộc họ Lý…” Kim Di liếc nhìn sắc mặt lạnh như băng của Thôi Tụng Thanh, nhân lúc này không quên đổ thêm dầu vào lửa, tiếp tục nói: “Thánh nhân, có thể thấy những thế gia vọng tộc đã hoành hành quá lâu, không diệt trừ thì không đủ để răn đe. Giờ đây ngay cả một kẻ như Trịnh Quân cũng dám mạo phạm đến công chúa Vĩnh An. Thần khẩn cầu Thánh nhân cho phép thần bắt Trịnh Quân về Bách Kỵ Tư, nghiêm trị hắn, để làm gương cho kẻ khác.”

Kim Di vừa dứt lời, Thôi Tụng Thanh đã cất tiếng: “Thánh nhân, Trịnh Quân là cháu ruột của Hoàng hậu Trịnh thị.”

Thái Xương Đế trong cơn thịnh nộ đã mất hết lý trí, lớn tiếng quát: “Cháu của Hoàng hậu thì sao? Kim Di, cả huynh đệ của Hoàng hậu, ngươi cũng bắt luôn cho trẫm!”

Kim Di vui mừng, vừa định cúi đầu nhận lệnh thì Thôi Tụng Thanh lại lên tiếng ngăn cản: “Thánh nhân, thần cho rằng lúc này không nên bắt Trịnh Quân.”

Thái Xương Đế giận dữ: “Thôi Tụng Thanh, ngươi định bao che cho hắn sao?”

Cơn giận của thiên tử có thể khiến xác trôi đầy sông, máu chảy ngàn dặm, nhưng Thôi Tụng Thanh không hề sợ hãi. Ông ta lắc đầu, trầm giọng: “Thần không dám bao che Trịnh Quân. Trịnh Quân nên chết, nhưng hắn có thể chết theo cách hữu dụng hơn.”

Câu nói mơ hồ, Kim Di không hiểu, nhưng Thái Xương Đế thì lĩnh hội. Bàn tay đang siết chặt kiếm đế vương từ từ thả lỏng. Thôi Tụng Thanh lại cúi người, điềm tĩnh nói: “Thánh nhân, cơ hội đã đến.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 95: Quân phụ


Trong phòng giam, Thôi Tuần lắng nghe lời thú nhận của Kim Di. Túi hương trong tay áo hắn dường như lạnh buốt, hàn ý thấu xương len lỏi đến tận tim. Hắn siết chặt túi hương, lạnh lùng nói: “Vậy, bá phụ của ta định làm thế nào?”

Kim Di đáp: “Thôi tướng công nói, đây là cơ hội ngàn năm có một. Nếu Trịnh Quân muốn ra tay với công chúa Vĩnh An, thì đừng ngăn cản hắn. Chỉ cần hắn thật sự giết được công chúa Vĩnh An, Tiên đế liền có thể danh chính ngôn thuận đối phó với thế gia. Bách tính sẽ không thể hiểu được tại sao Hoàng đế lại giết người vì một chính sách hư vô mờ mịt. Nhưng họ nhất định sẽ hiểu việc Hoàng đế trả thù cho ái nữ bị sát hại. Bởi thử hỏi, ai mà không có con cái? Nếu con cái bị giết, ai lại không muốn báo thù kia chứ?”

Nhớ lại hôm đó, Thôi Tụng Thanh với giọng điệu bình thản nhất đã thốt ra những lời tàn nhẫn nhất, Kim Di vẫn cảm thấy rùng mình. Ông ta tự nhận bản thân, một đầu lĩnh mật thám đã đủ vô nhân tính. Thế nhưng, Thôi Tụng Thanh, đích tử được bồi dưỡng từ một thế gia đỉnh cao, lại càng độc ác hơn nhiều.

Thôi Tuần cất giọng lạnh lùng: “Tiên đế đã đồng ý sao?”

Kim Di lắc đầu: “Không những không đồng ý, mà còn nổi trận lôi đình, đuổi Thôi tướng công ra ngoài. Tiên đế còn nói, nếu ông ta còn dám ăn nói hàm hồ, sẽ bị đem ra lăng trì xử tử.”

“Hậu quả thế nào?”

“Hậu quả ư? Thôi tướng công không sợ chết, mỗi ngày đều cầu kiến Tiên đế, liên tục khuyên nhủ suốt bảy ngày. Đến ngày thứ bảy, ông ta hỏi: “Thánh nhân là phụ thân của thiên hạ, hay chỉ là phụ thân của một mình công chúa?”

Thôi Tuần nhíu mày.

Kim Di tiếp lời: “Nghe thấy câu nói ấy, Thánh nhân trầm mặc hồi lâu. Thôi tướng công nhân cơ hội thuyết phục thêm: “Vừa qua, Thánh nhân đã lệnh cho các châu phủ mở học viện, cho phép con em hàn môn cũng được nhập học. Nhưng thần nghe nói, không có một ai trong số đó thực sự xuất thân từ hàn môn. Đây vốn là chính sách ôn hòa nhất trong Tân chính, vậy mà còn không thể vượt qua Trường An, huống hồ là cải cách quân chế hay khai mở khoa cử, những điều ảnh hưởng sâu đến gốc rễ. Hiện nay, Đột Quyết binh cường mã tráng, các con trai của Khả hãn là Ni Đô và Tô Thái lại đầy tham vọng. Nếu bất kỳ kẻ nào trong số họ kế vị, biên cương tất sẽ lại dậy lên chiến loạn. Đến lúc đó, thiên hạ ắt sẽ lâm vào cảnh sinh linh đồ thán.”

Kim Di nhớ rõ ràng, lúc bấy giờ Thái Xương Đế thần sắc vô cùng đau khổ, Thôi Tụng Thanh còn nói: “Thánh nhân thương yêu con gái của mình, nhưng bách tính cũng yêu thương con gái của họ. Thánh nhân là quân phụ, lẽ nào nhẫn tâm để con gái của bách tính chịu cảnh nghèo đói rét mướt, sau này phải làm nô làm tỳ dưới gối người Hồ sao?”

Thôi Tụng Thanh cuối cùng quỳ xuống khấu đầu mà thưa rằng: “Đột Quyết Khả Hãn tuổi già sức yếu, Tân chính không thể chậm trễ thêm nữa, e rằng sẽ không còn cơ hội nào tốt hơn. Bách tính đều coi Thánh nhân là phụ thân, mong Thánh nhân hy sinh một cốt nhục chí thân, cứu lấy hàng ngàn hàng vạn người khác.”

Thái Xương Đế nhắm mắt lại, hai dòng lệ lặng lẽ rơi xuống. Rất lâu sau, người mới chậm rãi mở mắt, khó nhọc nói: “Trẫm… là quân phụ, cũng là phụ thân của muôn dân thiên hạ.”

Câu nói đó chính là đã ngầm đồng ý với đề nghị của Thôi Tụng Thanh.



Kim Di kể xong, khớp ngón tay của Thôi Tuần đã nắm chặt đến mức trắng bệch. Hắn nghiến răng hỏi: “Vậy nên, sau khi Tiên đế chấp thuận, ông ta và ngươi hợp mưu, sát hại công chúa Vĩnh An?”

“Sau khi Tiên đế đáp ứng, long thể đã kiệt quệ đến lâm bệnh. Người giao toàn bộ việc này cho Thôi tướng công xử lý, còn dặn ta nghe theo mọi mệnh lệnh của Thôi tướng công. Tuy ta không phục, nhưng lệnh vua khó trái, không dám làm khác. Về phần Trịnh Quân, hóa ra hắn đã tư định chung thân với biểu muội Vương Nhiên Tê, còn mua chuộc một cung tỳ tên là Vương Đoàn Nhi, dự định đêm mùng sáu tháng mười sẽ để Trịnh Quân dụ công chúa Vĩnh An đến hồ sen trong cung, sau đó Vương Đoàn Nhi sẽ đẩy công chúa xuống hồ dìm chết. Ta đem việc này bẩm báo Thôi tướng công, ông ta nói rằng, Tiên đế hiện giờ ngũ tạng thiêu đốt, không muốn tự mình sắp đặt chuyện sát hại con gái, nên không cần bẩm báo kế hoạch của Trịnh Quân cho Tiên đế, cứ để hai chúng ta cùng xử lý là được.”

“Vậy các ngươi đã xử lý thế nào?”

“Thôi tướng công bảo ta khoanh tay đứng nhìn, đợi Vương Đoàn Nhi giết công chúa là xong. Nhưng kế hoạch của Trịnh Quân đầy ắp sơ hở, huống chi Vương Đoàn Nhi chỉ là một cung tỳ mười mấy tuổi, có dám ra tay giết người hay không còn chưa rõ, có khi đến lúc đó lại bỏ chạy cũng nên. Vì vậy, Thôi tướng công nói, nếu cần thiết, chúng ta sẽ giúp Vương Đoàn Nhi một tay.”

“Ngươi nói giúp, chẳng lẽ chính ngươi đã tự tay sát hại công chúa?”

“Tất nhiên là không.” Kim Di đáp: “Ta không ngu. Nếu tự tay ta giết công chúa, Tiên đế tất sẽ hận ta thấu xương, ta há còn mạng mà sống? Ta đã tìm một tâm phúc, bảo hắn đêm mùng sáu tháng mười theo dõi công chúa. Khi công chúa đến hồ sen, nếu Vương Đoàn Nhi không ra tay, thì hắn sẽ thay nàng ta hạ thủ.”

Thôi Tuần cười lạnh: “Ngươi đối với tên tâm phúc đó quả là dụng tâm.”

Kim Di không hề tỏ vẻ hổ thẹn, điềm nhiên đáp: “Tuy đã bị cuốn vào chuyện này, nhưng vẫn muốn mình sạch sẽ đôi chút.”

Thôi Tuần vốn đã biết rõ Vương Đoàn Nhi bỏ trốn vào phút chót. Hắn hỏi: “Vậy tâm phúc của ngươi đã giết công chúa Vĩnh An?”

Kim Di gật đầu: “Vương Đoàn Nhi không dám ra tay, nên tâm phúc của ta đã thay nàng ta, đẩy công chúa Vĩnh An xuống nước. Xong việc, ta giết hắn, xem như báo thù cho công chúa.”

Thôi Tuần nhìn Kim Di với vẻ chán ghét: “Hắn cùng lắm cũng chỉ là công cụ, nếu luận tội, thì chưa đến lượt hắn.”

Kim Di cười khẩy: “Đúng vậy, xét tội thì chưa đến lượt hắn. Nhưng nếu bàn xem ai là kẻ đáng tội nhất, Thôi Thiếu khanh, ngươi dám nói không?”

Thôi Tuần nghiến chặt hàm răng, Kim Di lại nói: “Ngươi không dám nói, bởi nếu không có sự cho phép của người ấy, dù ta và Thôi Tụng Thanh có mười vạn lá gan, cũng không dám tự ý ra tay!”

Ông ta nhìn Thôi Tuần trầm mặc, càng cảm thấy khoái trá, đến mức những vết thương rợn người trên thân thể cũng không còn đau đớn nữa. Ông ta cười lạnh: “Thôi Thiếu khanh, giờ này chẳng phải ngươi đang rất hối hận? Cho dù ngươi biết kẻ chủ mưu chính là Tiên đế thì đã sao? Thái hậu là thê tử của Tiên đế, Thánh nhân là con trai của Tiên đế. Thê tử liệu có vạch tội của trượng phu mình không? Con trai liệu có tố giác phụ thân hắn không? Huống chi, cái chết của công chúa Vĩnh An lại là chuyện tốt cho tất cả mọi người. Tiên đế thuận lợi thi hành Tân chính, Thái hậu thuận lợi trở thành Hoàng hậu, Thánh nhân thuận lợi trở thành đích tử của Đế Hậu, chính danh thừa kế ngôi vị Hoàng đế. Từ đó Đại Chu thay da đổi thịt, hàn môn nghèo khổ cũng có cơ hội đổi đời. Ngươi xem, cái chết của một công chúa Vĩnh An đã đổi lấy hạnh phúc cho hàng ngàn hàng vạn người. Nay ngươi lật lại vụ án của công chúa, nói rằng cha không nên giết con, ngươi nghĩ mình có thể uy h**p được ai? Ha, ngươi chẳng uy h**p nổi ai cả. Ngươi có tin không, cho dù ngươi công khai việc này ra thiên hạ, cũng chẳng nhận được lợi lộc gì. Nếu chuyện này đặt lên đầu Thái hậu, thiên hạ có thể mắng bà ta một câu “độc phụ”, nhưng nếu là Tiên đế, người trong thiên hạ sẽ ca ngợi rằng Tiên đế vì đại nghĩa mà rơi lệ giết con, quả không hổ danh là quân phụ của thiên hạ!”

Thôi Tuần đột ngột quát: “Ngươi câm miệng!”

Hắn hiếm khi tức giận như thế, khuôn mặt đã đỏ bừng lên, ánh lên tầng sắc hồng mỏng. Kim Di sững người, lúc này mới nhớ ra rằng sinh mạng ông ta đang nằm trong tay Thôi Tuần, vì thế lập tức thu lại vẻ hung hăng, câm nín. Cơn giận của Thôi Tuần bùng lên trong lồng ngực, ngực hắn phập phồng mấy nhịp, rồi nghiến răng hỏi: “Các ngươi hại chết công chúa xong, liền đổ toàn bộ chuyện này lên đầu Trịnh Quân phải không?”

Giọng nói của Kim Di không còn chút hào hứng nào, cúi đầu ủ rũ đáp: “Phải. Trịnh Quân vốn là kẻ yếu hèn vô dụng, bị bắt vào Đại Lý Tự thì nhận tội ngay. Tiên đế biết rõ hắn không phải hung thủ, nhưng vẫn lợi dụng việc này để diệt trừ Trịnh gia, phế truất Trịnh Hoàng hậu, tạo nên huyết án Thái Xương, khiến những sĩ tộc chống đối người chịu cảnh khốn đốn không ngóc đầu lên được. Đa phần bách tính đều đồng cảm với Tiên đế, cho rằng một người cha vì yêu thương con gái mà mất trí tạm thời cũng là điều dễ hiểu. Còn về hai kẻ đồng mưu với Trịnh Quân là Vương Đoàn Nhi và Vương Nhiên Tê, Vương Đoàn Nhi đã biến mất không dấu vết. Vương Nhiên Tê là con gái Vương thị Thái Nguyên, mà Vương thị Thái Nguyên lại là một trong số ít sĩ tộc giữ thái độ trung lập. Thôi tướng công đã bí mật bàn bạc với phụ thân nàng ta, tiết lộ chuyện nàng ta cùng Trịnh Quân âm mưu sát hại công chúa. Phụ thân nàng sợ hãi đến mềm nhũn cả chân, lập tức tỏ ý ủng hộ Tiên đế. Nhờ đó, Vương thị Thái Nguyên trở thành môn phiệt đầu tiên ủng hộ Tân chính. Đổi lại, Thôi tướng công đồng ý bảo toàn cho Vương Nhiên Tê cùng Vương thị Thái Nguyên, còn chuyện của Vương Nhiên Tê thì giấu nhẹm đi trước Tiên đế, tránh để họ Vương quay lưng. Nhờ vậy, Vương Nhiên Tê đã thoát tội suốt ba mươi năm qua.”

Thực ra, cho dù không che giấu Tiên đế, Tiên đế sẽ chọn diệt trừ Vương thị Thái Nguyên để trút giận, hay chọn giữ lại môn phiệt ủng hộ mình? Kim Di nghĩ, đáp án vốn đã quá rõ ràng.

Thôi Tuần nhắm mắt lại, từ từ nhắm mắt lại, trong lòng hắn vang lên những lời Lý Doanh từng nói.

Nàng từng nói: “A gia là một người cha rất tốt.”

Nàng cũng từng nói: “Nguyện vọng cả đời ta chỉ là mong a gia và a nương có thể ở bên ta dài lâu, cả nhà ta một đời bình an thuận hòa.”

Nhưng người cha mà nàng khen là rất tốt ấy, lại vì thiên hạ mà gi.ết ch.ết nàng. Nàng mong muốn được ở bên phụ thân dài lâu, vậy mà chính phụ thân lại tự tay đẩy nàng xuống vực thẳm.

Thôi Tuần cảm thấy vị máu tanh đã xộc lên đầu lưỡi vì hàm răng nghiến chặt. Hắn mở mắt, trong lòng còn vương lại một tia hy vọng cuối cùng, mở miệng hỏi: “Sau cái chết của công chúa, có phải vì Tiên đế trút giận lên đầu ngươi, khiến ngươi không thể không phản bội triều đình, chạy sang Đột Quyết?”

Kim Di đáp: “Không phải.”

Ông ta cười nhạt, nói: “Bách Kỵ Tư, chẳng qua chỉ là một con chó săn mà Tiên đế nuôi dưỡng, cũng giống như Sát Sự Thính của Thái hậu. Chủ nhân muốn chó săn cắn ai, chó săn sẽ cắn người đó. Nhưng khi chó săn cắn quá nhiều người, dẫn đến oán giận khắp nơi, chủ nhân liền lột da, róc thịt chó săn để tỏ ra mình anh minh thần võ. Ta không cam lòng chịu cảnh bị lột da róc thịt, cũng không muốn tiếp tục làm chó săn nữa. Nhưng Tiên đế sớm đã đề phòng ta, ta thất bại, không còn cách nào khác ngoài việc bỏ trốn sang Đột Quyết. Chuyện này không liên quan gì đến công chúa Vĩnh An.”

Nói đến đây, Kim Di bỗng bật cười: “Nếu thực sự có liên quan, thì sao Thôi Tụng Thanh vẫn còn sống yên ổn đến bây giờ?”

Hy vọng cuối cùng trong lòng Thôi Tuần hoàn toàn sụp đổ. Hắn cắn răng không nói gì thêm, chỉ ném một tờ giấy trắng tinh xuống trước mặt Kim Di: “Viết đi!”

Kim Di sững sờ, kinh ngạc hỏi: “Thôi Thiếu khanh, ngươi còn muốn ta viết ra? Ngươi không sợ chết sao?”

Thôi Tuần lạnh lùng đáp: “Ngươi viết hay không viết?”

Kim Di ngẩn người hồi lâu, rồi đột nhiên bật cười lớn: “Viết! Tất nhiên là viết!”

Ông ta vung bút, soàn soạt ghi lại lời khai của mình, sau đó đặt bút xuống. Với dáng vẻ đầu tóc rối bù, thân đầy vết thương, ông ta ngẩng đầu nhìn Thôi Tuần đang mặc quan bào sắc đỏ rực rỡ, cười nói: “Ta, Kim Di, năm xưa đảm nhiệm chức Đô úy Bách Kỵ Tư, giám sát bách quan, ai ai cũng phải khiếp sợ. Uy phong lẫm liệt là thế, nhưng nào ngờ sau ánh hào quang ấy, đã sớm định sẵn kết cục “thỏ chết chó bị mổ”. Dù có vùng vẫy thế nào cũng chẳng thể thay đổi. Thôi Thiếu khanh, giờ ngươi đang làm chức Thiếu khanh Sát Sự Thính, việc bẩn thỉu ngươi làm ắt hẳn cũng chẳng kém gì ta. Ta khuyên ngươi, biết hưởng lạc kịp thời, đừng để đến ngày hối hận cũng không kịp. Coi như đây là lời khuyên chân thành cuối cùng từ một cựu Đô úy Bách Kỵ Tư dành cho một Thiếu khanh Sát Sự Thính đương nhiệm!”



Kim Di cười lớn và viết xong bản cung trạng, bỗng như đã thông suốt điều gì đó. Vốn dĩ ngươi cực kỳ sợ chết, bởi vì ông ta đã làm quá nhiều chuyện ác, sợ sau khi chết sẽ bị đày xuống địa ngục. Nhưng nằm trong tay Thôi Tuần, với ông ta chẳng khác nào sống trong địa ngục, chi bằng sớm giải thoát, còn hơn chịu cảnh giày vò. Bản cung trạng ấy, ông ta viết cực kỳ chi tiết, chẳng khác nào một đạo bùa đòi mạng, mang theo ác ý dâng lên cho Thôi Tuần.

Thế nhưng, Thôi Tuần lại không đem toàn bộ cung trạng ấy vào cung, hắn chỉ mang phần liên quan đến Bùi Quan Nhạc, phối hợp với lời khai của ngỗ tác Lâm Tam, dịch thừa trạm dịch Phi Vân là Âu Dương Ngạn, trình hết lên cho Thái hậu. Thái hậu xem xong, liền nói: “Nhân chứng, vật chứng đầy đủ, lần này Bùi Quan Nhạc không thể chối cãi.”

Bà lại hỏi Thôi Tuần: “Vọng Thư, ngươi muốn xử trí thế nào?”

Thôi Tuần đáp: “Theo luật lệ Đại Chu, vu cáo sẽ bị xử phản tọa. Bùi Quan Nhạc lấy tội chết vu hại thần, tự nhiên cũng phải dùng tội chết mà luận xử.”

Thái hậu gật đầu: “Ngô sẽ thương nghị với Thánh nhân và quần thần. Ngươi lui xuống trước đi.”

Thôi Tuần cúi đầu lĩnh mệnh, sau đó rời khỏi cung Bồng Lai. Thái hậu nhìn bóng lưng gầy guộc của hắn, thần sắc phức tạp.

Công tâm mà nói, bà đối xử với hắn không tốt. Chức Thiếu khanh Sát Sự Thính, nắm giữ hình ngục, giám sát bách quan, việc bẩn thỉu, nặng nhọc nào cũng phải làm. Từ xưa đến nay, những người đảm nhiệm vị trí này, không ai có kết cục tốt đẹp. Hắn hiểu rõ điều đó, nhưng dù biết vậy, hắn vẫn cam tâm làm thanh đao sắc bén nhất trong tay bà.

Nếu như, hắn không phải là cháu ruột của Thôi Tụng Thanh, không phải là đệ tử xuất sắc nhất của gia tộc Bác Lăng Thôi thị…

Nghĩ đến đây, bà không kìm được siết chặt chiếc túi hương mạ vàng chạm trổ tinh xảo trong tay, một cơn thù hận trào lên trong lòng.

Trong cơn mơ hồ, bà dường như trở lại năm Thái Xương thứ ba mươi, ngày Thái Xương Đế băng hà.

Hôm đó, bà ôm Bồ Tát Bảo, ngồi bên giường bệnh của Thái Xương Đế, lặng lẽ nghe từng đợt đại thần được triệu vào. Họ đến, nhận những lời trăn trối cuối cùng từ đế vương. Cho đến khi tất cả trọng thần đều đã gặp Thái Xương Đế, bà mới sai nhũ mẫu bế Bồ Tát Bảo ra ngoài, còn bản thân ở lại, tiễn ông bước qua những giây phút cuối cùng của cuộc đời.

Trước mặt tất cả các trọng thần, Thái Xương Đế đã để lại chiếu chỉ, Bồ Tát Bảo kế vị, để bà buông rèm nhiếp chính, giao phó mọi việc quốc gia đại sự cho bà. Sau khi mọi sắp đặt đã ổn thỏa, Thái Xương Đế đang hấp hối yên lặng nhìn bà, khẽ nói: “Hoàng hậu, nàng hận ta.”

Không biết từ khi nào, ông đã không còn gọi bà là Linh Diệp, bà cũng không còn gọi ông là Tam lang, mà chỉ dùng danh xưng Hoàng hậu và Thánh nhân để đối đáp. Bà đè nén oán hận trong lòng, thờ ơ đáp: “Không dám.”

Thái Xương Đế nhìn gương mặt bà không chút bi ai, khẽ lẩm bẩm: “Trẫm biết vì sao nàng hận trẫm. Nhưng… trẫm là phụ thân của muôn dân thiên hạ.”

Bà bất giác ngẩng đầu. Đây là lần đầu tiên Thái Xương Đế ngầm thừa nhận sự thật mà bà luôn nghi ngờ. Bà trừng mắt nhìn ông, nhưng lại cắn răng không nói. Bà đã nhẫn nhịn suốt nhiều năm, sắp sửa giành được quyền lực cao nhất thiên hạ, cũng sắp sửa báo thù cho con gái. Bà không thể thất bại vào lúc này.

Thế nhưng, Thái Xương Đế lại nói: “Trẫm muốn nàng hứa với trẫm một điều cuối cùng.”

Trực giác mách bảo bà rằng điều này sẽ không hay ho gì. Bà không muốn đồng ý, nhưng Thái Xương Đế vẫn chậm rãi nói từng chữ một: “Sau khi trẫm băng hà, nhất định nàng sẽ giết Thôi Tụng Thanh. Nhưng Thôi Tụng Thanh là người có tài trị quốc an dân, ở triều đình, ông ta có thể hết lòng vì quốc sự. Nếu về nơi thôn dã, ông ta vẫn có thể là một Bạch y Khanh tướng. Trẫm không thể để nàng vì tư thù mà sát hại một kẻ tài đức hữu ích cho tân chính. Trẫm muốn nàng thề rằng, suốt đời này không được giết Thôi Tụng Thanh. Nếu nàng làm trái lời thề, hồn phách của Minh Nguyệt Châu sẽ vĩnh viễn không được yên nghỉ!”

Nghe lời ông, bà kinh hãi đến mức trừng lớn đôi mắt. Ông dám bắt bà lấy Minh Nguyệt Châu ra thề? Bà im lặng hồi lâu, bỗng gào khóc thảm thiết: “Vì sao ngươi lại lại làm thế với ta?”

Đây là lần đầu tiên bà bộc phát oán hận trước mặt Thái Xương Đế. Bà trừng mắt nhìn ông, vừa khóc vừa gào thét: “Chẳng phải Minh Nguyệt Châu là đứa con mà ngươi yêu thương nhất sao? Vì sao ngươi lại đối xử với nó như vậy?”

Thái Xương Đế ho dữ dội, khóe miệng trào ra dòng máu đỏ tươi, thế nhưng giọng nói vẫn chậm rãi vang lên: “Trẫm… không hối hận.”

Ông nói không hối hận. Khoảnh khắc ấy, bà hận ông đến tận xương tủy. Vậy mà, ông vẫn ép bà phải lập lời thề. Bà khóc đến cạn kiệt sức lực, nức nở: “Vì sao ngươi phải ép ta? Vì sao…?”

Thái Xương Đế chỉ lặng lẽ nhìn bà, trong mắt ngập tràn nỗi bi thương: “Nếu có một ngày, nàng ở vị trí của trẫm, nàng sẽ hiểu.”

Hiểu sao? Không. Bà mãi mãi không bao giờ hiểu.

Dưới sự ép buộc của Thái Xương Đế, bà vẫn phải lập lời thề ấy. Mỗi lần nghĩ đến, lòng bà lại đau như cắt.

Vậy thì, làm sao bà có thể không hận Thôi Tụng Thanh? Làm sao có thể không ghét lây sang cả nhà họ Thôi được?
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 96: Định tình dưới rừng mai


Dù Thái hậu rất căm ghét Thôi Tụng Thanh, kéo theo Thôi Tuần cũng không vừa mắt, nhưng công và tư phải rạch ròi. Nhân vụ án Thôi Tuần bị vu cáo, bà triệu quần thần bàn bạc, ý muốn xử tử Bùi Quan Nhạc. Thế nhưng Hoàng đế lại muốn bảo vệ Bùi Quan Nhạc. Lư Dụ Dân liền viện dẫn công lao sáu năm trước, khi Đột Quyết nam hạ, chính Bùi Quan Nhạc đã đánh bại kỵ binh Đột Quyết tại Ninh Sóc, ngăn chặn Đột Quyết tiến vào Trường An.

Lư Dụ Dân nói: “Khi ấy, nếu không có Bùi Thượng thư, hậu quả khó lường. Bùi Thượng thư vì bất mãn mà phạm sai lầm vu cáo, đây là lỗi của ông ta. Nhưng mong Thái hậu và Thánh nhân xét đến công lao cự địch Đột Quyết, tha cho ông ta một mạng.”

Lời này vừa dứt, quần thần đồng loạt hưởng ứng. Có Ngự sử còn gay gắt tấu trình: “Thôi Tuần từng đầu hàng Đột Quyết, dù hắn một mực chối bỏ, nhưng sự thật đã rõ rành rành. Nếu vì một kẻ phản quốc mà xử tử công thần từng cứu vãn đại cục, chẳng phải sẽ khiến toàn thiên hạ nguội lạnh sao?”

“Hơn nữa, Thái hậu và Thánh nhân nên lắng nghe ý dân. Dân chúng đều nói, hành động của Bùi Thượng thư là bất đắc dĩ, chỉ vì muốn trừ gian, có thể thông cảm.”

Lại có thanh lưu lớn tiếng: “Nếu Bùi Thượng thư đáng tội chết, vậy tội danh phản quốc của Thôi Tuần chẳng phải cũng cần xét lại sao?”

Những lời này mang hàm ý chỉ trích chuyện Thái hậu từng đưa Thôi Tuần ra khỏi ngục Đại Lý Tự một cách ngang ngược.

Thanh lưu tuy không ưa Bùi Quan Nhạc, nhưng càng không ưa Thôi Tuần. Lần này, họ đồng loạt đứng về phía Bùi Quan Nhạc. Cuối cùng, dù tội chết được miễn, nhưng Thái hậu và Thánh nhân đã bàn bạc, quyết định cách chức Bùi Quan Nhạc, giáng ông ta làm thường dân, vĩnh viễn không được bổ nhiệm lại.

Đây chính là lý do tại sao Thái hậu không đồng ý ngay khi Thôi Tuần yêu cầu xử tử ông ta.

Nhưng Thôi Tuần đã sớm đoán được kết cục này. Hắn hiểu rõ danh tiếng của mình. Ba năm qua, hắn là thanh kiếm trong tay Thái hậu, đắc tội không biết bao nhiêu người, sớm đã trở thành một kẻ cô độc trong triều. Ai sẽ đứng ra nói giúp cho hắn? Không ai cả.

Hắn không thất vọng, cũng không trông mong Thái hậu sẽ lên tiếng bất bình vì mình. Vốn dĩ, hắn chưa từng hy vọng chuyện lần này có thể đẩy Bùi Quan Nhạc vào chỗ chết.

Giờ đây, điều hắn lo lắng chỉ còn một chuyện.

Đó là làm thế nào để nói rõ chân tướng với Lý Doanh.



Lý Doanh vẫn chưa hay biết về bản cung trạng. Nàng đã đến pháp trường, chứng kiến cảnh hành hình Kim Di.

Kim Di phản bội Đại Chu, đầu hàng Đột Quyết rồi mang binh tấn công Đại Chu, nên bị kết án lăng trì xử tử. Hôm ấy, cả thành Trường An người xe tấp nập, bách tính kéo cả gia đình đến xem kết cục của Kim Di. Giữa biển người, Lý Doanh thấy Kim Di bị bịt kín miệng, mỗi nhát dao cắt xuống, dân chúng đều hò reo vui sướng. Đến khi hành hình kết thúc, đám đông lại tranh nhau chia máu thịt của ông ta, giẫm đạp lên thi thể đến nát bươm, cảnh tượng thê thảm đến không nỡ nhìn.

Đại tiệc chính nghĩa ấy khiến Lý Doanh kinh hồn bạt vía, nhiều lần buồn nôn. Lúc rời đi, bước chân nàng nhẹ bẫng, suýt nữa thì khuỵu ngã.

Nàng không về Thôi phủ mà thất thần bước đi trên đại lộ Trường An. Người qua lại vẫn đang rôm rả bàn tán về cái chết của Kim Di, nhưng nàng không muốn nghe nữa. Không muốn chen chân giữa đám đông, nàng rẽ về nơi vắng vẻ.

Không biết từ khi nào, nàng đã đi đến bờ sông Khúc Giang, rồi lạc vào một rừng cây. Nàng ngẩng đầu nhìn quanh, thì ra đây là rừng mai.

Đêm Thôi Tuần dẫn nàng đi dự hội đèn Thượng Nguyên, hắn đã nhảy xuống dòng Khúc Giang lạnh buốt, cứu sống Thịnh A Man. Khi ấy hắn kiệt sức đến mức không chịu nổi, nhưng vẫn gắng gượng, ngất lịm ở một góc hoang vắng, nằm sâu trong rừng mai này.

Nàng từng nghĩ, một kẻ bị người đời khinh rẻ như hắn nhưng lại lòng tự tôn mạnh mẽ đến như vậy. Có lẽ ngay từ lúc đó, nàng bắt đầu từng bước tò mò về hắn, rồi để tình cảm ăn sâu bén rễ tự lúc nào chẳng hay.

Trong rừng mai, hoa mai đã rụng sạch. Cành mai giờ đâm chồi lộc biếc, tràn trề sức sống, nhưng dẫu sao vẫn chẳng thể sánh được vẻ kiều diễm của mai đỏ trong tuyết. Vì thế, nơi đây càng vắng bóng người lui tới. Huống chi đã đến giờ giới nghiêm, Lý Doanh ngồi bó gối dưới tán mai hồi lâu nhưng vẫn không thấy một ai xuất hiện.

Mãi đến khi tà áo choàng đen tuyền hiện ra trước mặt, nàng mới chậm rãi ngẩng đầu.

Nàng hé môi, khẽ gọi: “Thôi Tuần?”

Thôi Tuần gật đầu, hắn ngồi xuống đối diện nàng. Lý Doanh hỏi: “Sao chàng biết ta ở đây?”

Hắn đáp: “Ở thành Trường An, nàng không có nhiều nơi để đi. Ta đi tìm dọc theo những chỗ chúng ta từng đến, liền tìm được thôi.”

Lý Doanh kéo nhẹ khóe môi, gượng gạo nở một nụ cười. Thôi Tuần lặng lẽ nhìn nàng, hỏi: “Sao lại trốn ra đây một mình?”

“Ta…” Lý Doanh mím môi, cuối cùng vẫn nói: “Ta hơi sợ.”

“Sợ gì chứ?”

Lý Doanh không trả lời, nàng chỉ hỏi: “Dù gì Kim Di cũng chết, tại sao chàng không để ông ta làm rõ rằng chàng chưa từng đầu hàng Đột Quyết?”

Thôi Tuần đáp: “Không cần.”

Lý Doanh cười khổ: “Không cần, hay là chàng không muốn gây thêm chuyện?”

Nếu để Kim Di làm rõ thì không tránh được việc khiến Ngự sử nghi ngờ Thôi Tuần có tâm tư riêng. Nàng lại nói: “Khi chàng thẩm vấn Kim Di, hẳn là đã không để ông ta viết lời khai minh oan cho chàng, đúng không?”

Thôi Tuần trầm mặc. Hắn đã buộc Kim Di viết lời khai về Thiên Uy quân, viết về Lý Doanh, nhưng duy chỉ không yêu cầu ông ta viết về mình.

Nhìn thần sắc của hắn, lòng Lý Doanh dường như đã hiểu rõ bảy tám phần. Nàng thở dài, nói: “Chàng muốn mang tiếng xấu đến lúc chết hay sao?”

Ánh mắt Thôi Tuần tĩnh lặng như đầm sâu: “Ta không để tâm đến thanh danh của mình.”

Đáp án này vốn không nằm ngoài dự liệu của nàng.

Lý Doanh cay đắng nói: “Chàng chỉ để tâm đến năm vạn huynh đệ bị oan khuất.”

Thôi Tuần không nói, hắn chỉ hơi cụp mắt, hàng mi dài tựa cánh quạ che khuất đôi mắt, khiến Lý Doanh không nhìn rõ biểu tình của hắn. Nàng ngừng một lúc, rồi lại hỏi: “Thôi Tuần, ngoài năm vạn huynh đệ đó, trên đời này, chẳng lẽ không còn điều gì đáng để chàng bận tâm sao?”

Hàng mi hắn run run, im lặng hồi lâu, cuối cùng mới thấp giọng đáp: “Có.”

Lý Doanh ngước nhìn hắn, đôi mắt nàng mang theo chút hi vọng mơ hồ. Thôi Tuần nắm chặt tay, nhưng lại không nói thêm, chỉ chậm rãi chuyển chủ đề: “Ta tìm đến rừng mai này là để nói với nàng một việc.”

Hắn vẫn cúi đầu, không dám nhìn nàng, bởi hắn sợ, chỉ cần chạm vào đôi mắt trong veo như nước ấy, hắn sẽ không đủ can đảm nữa.

Hắn khó khăn mở lời: “Khi thẩm vấn Kim Di, ta đã biết được một số sự thật từ ba mươi năm trước.”

Hắn nói: “Sự thật ấy, có phần tàn khốc. Ta nghĩ, có lẽ nàng sẽ không chịu nổi. Vì vậy, những ngày qua, ta không trở về Thôi phủ. Nhưng rồi ta lại nghĩ, ta không thể vì cảm thấy nàng không chịu nổi mà tước đi quyền được biết của nàng. Ta nên tôn trọng nàng, chứ không phải tự ý quyết định thay nàng.”

Hắn lấy từ trong tay áo một cuộn giấy trắng. Ngón tay nắm chặt cuộn giấy, rồi lại thả lỏng. Cuối cùng, hắn đưa nó về phía nàng: “Xem hay không, nàng tự quyết định.”



Lý Doanh mơ hồ đón lấy cuộn giấy. Tuy cầm trong tay nhưng nàng không dám mở ra: “Chàng nói tàn khốc… là ý gì?”

Thôi Tuần không trả lời ngay, hắn chỉ hỏi: “Khi nàng còn ở hồ sen, nghe cung tỳ nói rằng là mẫu thân đã hại chết nàng, lúc đó, nàng cảm thấy thế nào?”

Lý Doanh không hiểu tại sao hắn lại nhắc đến chuyện này. A nương đâu có hại nàng, chẳng phải chính hắn đã nói như vậy sao? Dù không hiểu, nàng vẫn cố hồi tưởng lại cảm giác khi đó, đôi mày hơi nhíu, dung nhan tuyệt mỹ tràn ngập nỗi đau: “Ta không tin.”

“Nếu không phải cung nữ nhắc tới, nàng có từng nghi ngờ mẫu thân mình không?”

“Không.” Lý Doanh lập tức phủ nhận: “Ta vĩnh viễn không nghi ngờ a nương.”

Thôi Tuần gật đầu, trầm mặc một hồi, rồi bất ngờ hỏi: “Mẫu thân đối với nàng rất tốt, vì thế nàng không nghi ngờ bà ấy. Vậy còn phụ thân nàng thì sao?”

Lý Doanh kinh ngạc nhìn hắn: “A gia đối với ta còn tốt hơn. Ta càng không thể nghi ngờ người.”

Thôi Tuần cười khổ: “Phải. Tiên đế có rất nhiều hoàng tử, công chúa, nhưng đặc biệt sủng ái nàng. Thậm chí, sự yêu chiều dành cho các vị hoàng tử được còn không bằng một nửa sự quan tâm dành cho nàng.”

Hắn bất chợt nhắc đến Tiên đế khiến lòng Lý Doanh dâng lên một dự cảm chẳng lành. Nàng run giọng: “Thôi Tuần, rốt cuộc chàng muốn nói điều gì?”

Thôi Tuần chậm rãi ngước mắt lên. Trong đôi mắt hắn, vốn luôn trầm tĩnh, giờ đây tràn ngập sự giằng xé và bi thương: “Nếu nàng không mở tờ cung trạng này, ký ức trong lòng nàng vẫn sẽ là cảnh gia đình hòa thuận, phụ từ tử hiếu. Nhưng nếu nàng mở ra, tất cả sẽ chỉ là hư ảo. Ta hy vọng nàng đừng mở, nhưng quyền lựa chọn không thuộc về ta.”

Nghe hắn nói vậy, tay Lý Doanh cầm cuộn giấy run rẩy không thôi. Nàng mơ màng nhìn hắn, ngón tay siết chặt cung trạng. Chỉ cần nàng xé đi, nàng vẫn có thể là vị công chúa nhỏ được yêu thương nhất. Nhưng, con người không thể sống như vậy, không thể cứ tự lừa mình mà sống.

Sự thật đang ở ngay trước mắt, dù có tàn khốc, nàng cũng muốn vén lên.



Những ngón tay run rẩy của Lý Doanh cuối cùng cũng mở ra cuộn cung trạng. Nàng nhìn những nét chữ xiêu vẹo trên giấy, sắc mặt càng thêm tái nhợt, ánh mắt càng lúc càng trở nên trống rỗng. Chưa đọc hết một nửa, nàng đã vò nát tờ cung trạng, ném mạnh ra xa: “Giả dối! Đây là giả dối!”

Nhưng không đợi Thôi Tuần nói lời nào, nàng lại loạng choạng bò tới, nhặt lấy cung trạng, một lần nữa mở ra xem. Lần này, nàng nhìn rất kỹ, xem đi xem lại nhiều lần, dường như muốn tìm ra sơ hở nào đó. Nhưng cho đến khi đọc xong lần cuối, mỗi câu chữ đều đã thuộc nằm lòng, nàng vẫn không tìm được một chút sơ hở nào.

Những giọt nước mắt to như hạt đậu cuối cùng cũng tràn ra khỏi mắt nàng. Nàng cắn răng, chậm rãi đứng dậy, thần sắc hoang mang bước ra khỏi rừng mai. Thôi Tuần lo lắng đuổi theo. Đi được vài bước, thân thể nàng mềm nhũn, sắp ngã xuống thì được hắn kịp thời đỡ lấy. Hắn khẽ gọi: “Công chúa…”

Sắc mặt Lý Doanh trắng bệch như tờ giấy: “Người là phụ thân của thiên hạ, vậy ta thì sao… Chẳng lẽ ta không phải là con gái của người?”

Nàng lẩm bẩm: “Người yêu thương ta suốt mười sáu năm, chẳng lẽ đều là giả dối sao?”

Thôi Tuần không biết phải an ủi nàng thế nào. Hắn chỉ cảm thấy trái tim mình đau đớn như bị xé nát. Hắn nói: “Tình yêu mà Tiên đế dành cho công chúa không phải là giả. Chỉ là… người đã không chọn công chúa…”

Lý Doanh bật cười thê lương: “Đúng vậy. Ai cũng nói, cái chết của ta là phúc lớn cho thiên hạ. Người làm đế vương, chọn thiên hạ, người không sai. Nhưng người là cha ruột của ta, là người cha mà ta tôn kính nhất. Ta làm sao có thể chấp nhận được, rằng cha của ta… lại muốn giết ta?”

Nàng cười khổ, lắc đầu: “Ta thật sự không thể chấp nhận được…”

Thôi Tuần chỉ cảm thấy cơ thể nàng lạnh buốt đến đáng sợ. Hắn nhìn thấy những giọt nước mắt không ngừng rơi trên gương mặt nàng. Hắn hiểu được cảm giác của nàng. Nếu nàng giống như hắn, chưa từng nhận được sự yêu thương của phụ thân, thì ngay khi bị phụ thân từ bỏ, nàng sẽ không đau lòng đến thế. Nhưng nàng lại khác. Tiên đế để nàng trở thành vị công chúa được sủng ái nhất mười sáu năm, để nàng trở thành vị công chúa được ngưỡng mộ nhất Đại Chu, rồi lại tàn nhẫn ra tay sát hại nàng. Điều này sao lại không khiến nàng đau đớn?

Thân thể Lý Doanh đã nghiêng ngả như sắp gục ngã. Nàng ngơ ngác nhìn Thôi Tuần, ánh mắt trống rỗng như đã mất hết hy vọng: “Thôi Tuần, rốt cuộc điều gì mới là thật đây?”

Thôi Tuần cảm thấy lòng mình như bị ngàn lưỡi dao cứa qua, đau đến khó thở. Đột nhiên, hắn ôm chặt lấy nàng, thốt ra cái tên đã vang vọng trong lòng hắn hàng ngàn, hàng vạn lần: “Minh Nguyệt Châu…”

Hắn siết chặt nàng trong vòng tay, không biết cách an ủi, chỉ vụng về lặp lại những lời nàng từng nói để an ủi hắn: “Ta sẽ ở bên nàng, ta sẽ mãi mãi ở bên nàng…”

Hai cánh tay hắn siết chặt, như muốn đem nàng hòa vào máu thịt mình. Trong vòng tay hắn, Lý Doanh rõ ràng nghe được nhịp tim mạnh mẽ của hắn, từng nhịp, từng nhịp, vô cùng chân thành.

Có thật là vậy chăng?

Lý Doanh nhắm mắt lại, những giọt lệ đau đớn không ngừng rơi xuống, thấm ướt cả ống tay áo của Thôi Tuần.

Giữa rừng mai vắng lặng, Thôi Tuần thì thầm bên tai nàng, từng chữ từng câu nhẹ nhàng: “Ta sẽ ở bên nàng.” Cuối cùng, nàng chậm rãi đưa tay, ôm lấy thắt lưng hắn. Giữa màn đêm mênh mông, hai người tựa vào nhau, lặng lẽ ôm chặt.
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 97: Không ai có tư cách quyết định sinh tử của nàng


Trở về Thôi phủ, Lý Doanh vẫn không thể chấp nhận sự thật nghiệt ngã rằng cha nàng đã ra tay sát hại con gái. Nỗi đau xé lòng như vạn mũi tên xuyên tim, đến nỗi ánh đèn trường minh từ bốn vạn ngôi chùa trên khắp thiên hạ bỗng trở nên yếu ớt chỉ trong chớp mắt. Các trụ trì kinh ngạc không thôi, đồng loạt dâng sớ báo lên Thái hậu.

Thái hậu kinh hãi, lòng đau như cắt vì thương nhớ con gái, liền trai giới suốt bảy ngày, lệnh cho tăng lữ toàn quốc tụng kinh Địa Tạng, cầu phúc cho hồn phách của Lý Doanh.

Nhưng Thái hậu đâu hay biết, hồn phách của Lý Doanh lúc này vẫn đang ở Trường An, cũng như đang ở trong phủ của Thôi Tuần.

Nàng cuộn mình trong lớp chăn gấm, tựa lưng vào tường. Lò sưởi đốt đầy than quý, nhưng dù có quấn bao nhiêu chăn, đốt bao nhiêu than cũng không thể xua đi lạnh giá trong tim nàng. Nước mắt lặng lẽ rơi, thấm ướt cả góc chăn.

Cánh cửa gỗ kẽo kẹt mở ra, người bước vào chính là Thôi Tuần.

Những ngày qua, Thôi Tuần cáo bệnh không vào triều, chỉ ở lại bên cạnh Lý Doanh. Hắn mang theo một gói đường phấn của Phúc Mãn Đường, rồi lặng lẽ ngồi xuống bên giường, mở gói đường ra, lấy một viên đưa cho nàng: “Ta vừa mua đấy, nàng nếm thử xem.”

Lý Doanh nhận lấy, bỏ vào miệng. Đường ngọt lịm, nhưng nỗi đắng cay trong lòng nàng, viên đường ấy nào có thể xoa dịu. Nhìn vẻ thẫn thờ của nàng, lòng hắn càng thêm quặn thắt. Hắn nói: “Nếu không ngon, ta sẽ đi mua loại khác.”

Hắn đứng dậy định rời đi, nhưng Lý Doanh bất chợt nắm lấy tay hắn. Giọng nàng khẽ khàng, mang theo sự nghẹn ngào vì đã khóc quá nhiều: “Thập Thất lang…”

Thôi Tuần mím môi, đáp: “Ta không đi.”

Hắn chậm rãi ngồi lại bên cạnh nàng, lòng giằng xé hồi lâu, cuối cùng mới nhẹ nhàng nắm lấy tay nàng. Đôi tay hắn phảng phất mùi hương lan và bạch chỉ, đó là mùi nước thơm mà hắn đã tự tay chuẩn bị trước khi vào phòng nàng. Hắn rửa tay không dưới trăm lần, dùng nước thanh tẩy được chế từ tro hương, lan thảo và bạch chỉ – những thứ biểu trưng cho sự thanh cao thuần khiết.

Dẫu tự biết đôi tay mình vẫn vấy máu, hắn vẫn cố tự lừa dối bản thân, rằng ít nhất sẽ không làm vấy bẩn nàng. Nấp sau sự dối trá ấy, hắn mới đủ dũng khí dùng đôi tay còn vương mùi hương thanh khiết, nhẹ nhàng nắm lấy tay nàng khi nàng buồn khổ.

Lòng bàn tay nàng lạnh buốt, nhưng không còn băng giá như khi vừa mới nhận tin. Có lẽ lời cầu nguyện của Thái hậu đã linh nghiệm. Thôi Tuần khẽ nói: “Ít nhất, mẫu thân nàng thật sự thương yêu nàng.”

Lý Doanh lặng lẽ rơi lệ, bất chợt hỏi: “Nếu phải chọn giữa thiên hạ và ta, a nương sẽ chọn ai?”

“Là nàng.” Thôi Tuần không chút do dự đáp: “Mẫu thân nàng không giống Tiên đế.”

So với sự tàn nhẫn của Tiên đế, Thái hậu coi trọng tình thân hơn. Có lẽ vì Thái hậu từ nhỏ đã cảm nhận được tình yêu thương của gia đình. Phụ mẫu yêu bà, các tỷ tỷ cũng yêu bà. Không giống Tiên đế, từ nhỏ đã phải chịu cảnh mẹ ruột bị sát hại, sống trong cuộc đấu trí với Tiết Thái hậu, nên mới trở nên cứng rắn và lạnh lùng như vậy.

Bởi thế, nếu đối mặt với cùng một tình cảnh, Tiên đế sẽ không mảy may dao động, nhưng Thái hậu thì có.

Lý Doanh không hỏi nữa, chỉ cảm thấy lòng mình nghẹn lại. Nàng chậm rãi nhắm mắt, thầm thì: “Ta không muốn tha thứ cho a gia… cũng không muốn gặp lại người…”

Nhưng nàng vốn không thể gặp lại người. Tiên đế đã băng hà cách đây hai mươi năm, từ lâu đã rời bỏ nhân thế. Hồn phách người, có lẽ đã phiêu dạt thành tán tiên. Thậm chí nàng còn chẳng có cơ hội để chất vấn người.

Thôi Tuần trầm mặc hồi lâu, bỗng nói: “Bá phụ của ta cũng là đồng lõa. Nàng không thể luân hồi, hẳn là vì ông ấy vẫn còn sống. Nếu như…”

Hắn khựng lại, nhưng vẫn nói tiếp: “Nếu nàng muốn báo thù, ta sẽ không ngăn cản.”

Lý Doanh im lặng rất lâu, sau cùng mới mơ hồ nói: “Không cần nữa.”

“Nàng… không cần bận tâm đến ta… giết người, vốn dĩ phải đền mạng.”

Lý Doanh cười khổ: “Ta không bận tâm đến chàng. Giết người đúng là phải đền mạng, nhưng đầu sỏ có phải là Thôi Tụng Thanh không?”

Thôi Tuần im lặng, đúng như lời khai của Kim Di, nếu không có sự đồng thuận của Tiên đế, dù Kim Di và Thôi Tụng Thanh có gan lớn bằng trời cũng không dám ra tay với Lý Doanh.

Lý Doanh mệt mỏi nói: “Nếu không phải ông ta, vậy giết ông ta thì có ích gì?”

Chủ mưu đã không còn, tìm đến đồng lõa để báo thù, liệu có còn cần thiết?

Thôi Tuần trầm mặc. Trời tháng năm, trong phòng lò than vẫn cháy rực, nhưng bàn tay Lý Doanh lại lạnh buốt như dòng nước, giống hệt như lòng nàng. Thôi Tuần cúi mắt, tựa hồ dồn hết sức lực để đấu tranh, mới dám chậm rãi siết chặt lấy tay nàng, trầm giọng nói: “Trong lời khai của Kim Di, ông ta nói cái chết của nàng là đại phúc cho thiên hạ. Nhưng ta muốn nói rằng, trên đời này, ngoài nàng ra, không ai có tư cách định đoạt sinh tử của nàng, càng không có tư cách bình phẩm về sinh tử của nàng.”

Trong phòng ngủ, yên lặng như tờ. Hương an thần từ lò bạch hạc tỏa khói nhàn nhạt. Tay Lý Doanh được Thôi Tuần nắm nhẹ trong lòng bàn tay hắn, hơi ấm truyền qua, lòng nàng rốt cuộc cũng dần ấm lại. Nàng cắn môi, giọng khàn đặc, đáp: “Ừm.”



Thôi Tuần ở lại trong phủ cùng Lý Doanh vài ngày, nỗi tuyệt vọng của nàng cũng dần nguôi ngoai. Hắn bèn đưa nàng ra ngoài thành Trường An dạo chơi. Hôm ấy đã là đầu hạ, hoa nở rực rỡ, đào mận đua nhau khoe sắc. Hắn buộc ngựa bên cạnh, cùng nàng ngồi bên dòng suối nhỏ trong veo róc rách, gió nhẹ thoảng qua, mặt nước lấp lánh.

Ngón tay Lý Doanh vuốt qua dòng nước mát, nàng nói: “Chàng đã ở bên ta đủ lâu rồi. Ngày mai vẫn nên vào triều đi.”

Thôi Tuần chỉ cười nhạt: “Vào triều hay không, cũng chẳng quan trọng.”

Dù sao Long Hưng Đế cũng chẳng muốn thấy mặt hắn.

Lý Doanh thở dài. Thực ra, nàng chưa từng gặp qua Long Hưng Đế, chỉ nghe mọi người nói rằng y là bậc minh quân chí nhân chí hiếu. Nhưng, dù sao đi nữa, y và a nương là người thân cuối cùng của nàng. Nàng vẫn hy vọng bọn họ có thể đối xử tốt hơn với Thôi Tuần dù chỉ một chút.

Nàng nhíu mày, nói: “Trên người a đệ có long khí, ta không thể gặp được, nếu không thì…”

Nàng dừng lại. Nếu không thì sao? Nàng chỉ là một hồn ma, ngay cả xuất hiện cũng không thể, huống chi là khuyên bảo.

Lý Doanh chau mày, ánh mắt thoáng qua một nét u buồn. Thôi Tuần bất chợt cười nhạt, nói: “Ta cũng đâu muốn gặp Thánh nhân.”

Nàng ngạc nhiên, hỏi: “Vì sao?”

Hắn không đáp, chỉ tự cười mỉa: “Mưa móc lôi đình đều là thiên ân.”

Lý Doanh không hiểu, nàng nghĩ ngợi một hồi, lại cho rằng lời hắn nói có lẽ là vì lúc bị giam cầm trong phủ, a đệ từng đối đãi như phạm nhân với hắn. Một tháng chịu đựng như thế, e rằng hắn khó lòng vui vẻ. Từ lúc quen biết hắn, nàng biết Thôi Tuần không phải hạng ngu trung mù quáng. Câu nói vừa rồi “mưa móc lôi đình đều là thiên ân”, nàng hiểu hắn không thật tâm chấp nhận.

Nhưng ngẫm lại, a đệ làm vậy cũng không phải vô cớ. Bên ngoài lan truyền không ít lời đồn bậy bạ về a nương và Thôi Tuần. A đệ ghét hắn, cũng là điều dễ hiểu.

Nàng suy nghĩ, lúc thì thấy lời Thôi Tuần có lý, lúc lại cảm thấy a đệ không sai, cứ mâu thuẫn mãi, đến mức quên béng đi nỗi buồn của mình. Nghĩ mãi đến đau đầu, nàng quyết định không nghĩ nữa, liền quay sang đòi hắn một vật: “Đúng rồi, trước đây ta đưa chàng chiếc túi gấm ngũ sắc thêu hoa mẫu đơn, giờ hãy trả lại ta đi.”

Chiếc túi gấm ấy, bên trong đựng một nút tóc nàng tự tay kết thành, là vật nàng vô cùng trân trọng.

Đến lượt Thôi Tuần sững sờ, hắn gượng gạo đáp: “Làm mất rồi.”

“Mất rồi?” Lý Doanh trợn tròn mắt.

Hắn gật đầu, có chút lúng túng: “Lúc ở Sát Sự Thính xử lý công vụ, sơ ý làm mất. Tìm đâu cũng không thấy.”

Lý Doanh không dám tin. Hắn vốn luôn cẩn thận, sao lại vô cớ làm mất chiếc túi ấy? Nghĩ đi nghĩ lại, nàng đâm ra nghi ngờ, chẳng lẽ bị kẻ thù chính trị của hắn lấy mất? Nàng không khỏi lo lắng: “Cái túi ấy nhìn qua đã biết là vật của nữ nhân, nếu rơi vào tay người có ý đồ, chỉ e sẽ gây nên sóng gió.”

Thôi Tuần lại chẳng để tâm: “Chỉ là một cái túi hương thôi, không khuấy nổi phong ba gì đâu.”

Hắn đứng dậy, nói: “Trời sắp tối rồi, chúng ta về thôi.”



Trên đường trở về, hai người cùng cưỡi một ngựa. Lý Doanh vẫn không ngừng lo lắng về túi hương: “Cái túi hương ấy mất thật rồi à?”

Thôi Tuần đáp ngắn gọn: “Ừ, mất rồi.”

Lý Doanh thở dài. Nếu đã mất thì cũng đành chịu, chỉ mong người nhặt được không nhận ra đó là sản phẩm thêu của cục Thượng phục trong cung cách đây ba mươi năm.

Khi đến gần cửa thành, Thôi Tuần bỗng kéo cương, khiến ngựa chậm lại. Lý Doanh nghi hoặc ngước nhìn phía trước, nàng chợt nhận ra nơi này chính là cửa Thông Hóa.

Chính là nơi chôn thân của Thịnh Vân Đình.

Nàng không cần ngoảnh lại cũng biết chắc ánh mắt Thôi Tuần giờ đây đang đượm vẻ đau thương. Lý Doanh mím môi, chậm rãi đặt tay lên bàn tay hắn đang giữ dây cương, khẽ nói: “Rồi sẽ có một ngày mọi chuyện sáng tỏ.”

Phía sau lặng yên rất lâu, cuối cùng chỉ nghe thấy một tiếng “Ừm” nhẹ. Thôi Tuần nói: “Đi thôi.”

Tiếng vó ngựa lộc cộc vang lên, hướng về phía cửa Thông Hóa.

Nhưng ánh mắt của Thôi Tuần đột nhiên khựng lại.



Bên ngoài cửa Thông Hóa, một người ăn mày toàn thân dơ dáy đang theo dòng người tiến về phía cửa.

Những người phía trước đều xuất trình giấy thông hành, thủ vệ cửa thành lần lượt kiểm tra. Đến lượt người ăn mày, binh sĩ bịt mũi tỏ vẻ khó chịu: “Sao hôi thế này?”

Người ăn mày cúi đầu, không nói lời nào, định tiến vào cửa nhưng bị binh sĩ chặn lại: “Ngươi có giấy thông hành không?”

“Không… không có.”

Giọng nói phát ra là của một nữ nhân.

Binh sĩ không khỏi nhìn kỹ thêm vài lần, nhưng gương mặt người ăn mày đầy bùn đất, hoàn toàn không nhìn ra dung mạo. Binh sĩ lớn tiếng: “Không có giấy thông hành thì vào thành Trường An làm gì?”

Người ăn mày cầu xin: “Rời huyện mới cần giấy thông hành. Ta vốn là người Trường An, nhà ở phường Đại An, trở về nhà mình thì không cần giấy thông hành.”

Binh sĩ nhìn nàng từ trên xuống dưới: “Ngươi nói ngươi là người Trường An thì ta phải tin sao? Gọi người nhà ngươi ra đón đi!”

Kẻ ăn mày vẫn tha thiết khẩn cầu: “Ta không có người thân… xin ngài, cho ta vào đi…”

Binh sĩ mất kiên nhẫn, đẩy mạnh nàng: “Cút!”

Kẻ ăn mày bị xô ngã xuống đất, nhưng vẫn gắng gượng bò dậy, định tiếp tục bước vào cửa Thông Hóa. Nhưng chưa kịp đứng lên, nàng đã bị vài đại hán to lớn bịt chặt miệng mũi, tay chân cũng bị khống chế.

Binh sĩ canh cổng ngẩng đầu nhìn, đại hán cầm đầu nhoẻn miệng cười: “Đây là nô tỳ bỏ trốn của chủ nhân chúng ta, suýt nữa thì ả trà trộn được vào thành Trường An.”

Ở Đại Chu, nô bộc bị coi như gia súc, nếu nô tỳ bỏ trốn bị bắt lại, có thể xử tử ngay tại chỗ. Vì vậy, binh sĩ chỉ liếc qua một cái rồi chẳng buồn để tâm thêm.

Đại hán cầm đầu đã lấy bao tải ra, định trói người ăn mày lại. Trong cơn sợ hãi, nàng cắn mạnh vào tay gã. Đại hán đau quá phải buông tay, người ăn mày nhân cơ hội thoát thân, lập tức chạy ngược về phía đối diện cửa Thông Hóa.

Nàng chạy rất nhanh, trong đầu chỉ có một ý niệm duy nhất.

Không thể để bị bắt lại!

Sau lưng nàng, tiếng quát tháo vang lên ngăn cản, nhưng nàng như thể không nghe thấy, chỉ biết cắm đầu chạy về phía trước. Dẫu vậy, sức lực của một nữ nhân sao có thể sánh với nam nhân? Chạy được vài bước, nàng đã bị người đuổi kịp, cả thân mình ngã nhào xuống đất. Đôi cánh tay mảnh dẻ bị đá sỏi thô ráp cào rách, nóng rát đau đớn, nhưng nàng vẫn gắng gượng bò đi, từng chút, từng chút một.

Nàng tuyệt vọng nghĩ: A huynh, đây chính là nơi huynh chôn thây. Nếu huynh có linh thiêng, xin hãy giúp muội.

Giúp muội…

Nhưng mấy đại hán đã nhanh chóng đuổi đến, thân nàng bị người giữ chặt không cách nào thoát ra. Trong chớp mắt, nỗi bi phẫn trào dâng trong lòng, nàng tự hỏi liệu mình thật sự không thể báo thù cho a huynh hay sao? Hy vọng tan biến, nàng chỉ biết gào khóc: “A huynh! A huynh!”

Ngay khi nàng nghĩ rằng mình sẽ bị bắt đi, đôi mắt nàng lóe sáng. Một tà áo màu đỏ sẫm xuất hiện trước mặt nàng.

Màu đỏ sẫm… đó là phục sức của quan viên tứ phẩm.

Nàng không biết lấy đâu ra sức mạnh, cố vùng thoát khỏi bàn tay thô bạo của những tên đại hán. Nàng ngước nhìn với tràn đầy hy vọng, để rồi ngây người khi thấy gương mặt tuấn mỹ tựa đóa sen kia. Một khắc sau, mọi căm ghét và khinh thường trước đây đều bị nàng gạt bỏ. Nàng túm lấy vạt áo của hắn, bấu chặt không chịu buông, khẩn cầu: “Cứu ta, cứu ta…”

Tính nàng quả thực quá mạnh mẽ, trong lúc giằng co vừa rồi, mấy đại hán đều bị nàng cào cấu đến trầy trụa. Tên cầm đầu lau vết máu nơi cổ, trong lòng không khỏi tức tối. Nhưng khi nhìn thấy người trong y phục đỏ sẫm, gã đành kìm nén lửa giận, cúi đầu chắp tay, cung kính nói: “Vị lang quân này, thực khiến ngài chê cười rồi. Nữ nhân này là nô lệ bỏ trốn của chủ nhân mỗ. Xin ngài rộng lượng, đừng nhúng tay vào.”

Nhưng vị lang quân áo đỏ thẫm này tuy có dung mạo mỹ lệ, nhưng toàn thân tỏa ra khí chất lạnh lùng như băng tuyết, khiến vừa nhìn liền cảm thấy khiếp sợ. Hắn thản nhiên đáp: “Nếu ta cứ muốn xen vào thì sao?”

Tên đại hán cầm đầu ngớ ra, buột miệng nói: “Ngài dám? Ngài có biết chủ nhân của mỗ là ai không?”

“Ai?”

Tên đại hán khựng lại, không tiện tiết lộ danh tính chủ nhân, chỉ lạnh lùng đáp: “Chủ nhân bắt giữ nô lệ chạy trốn là lẽ thường tình, ngài lấy tư cách gì để xen vào?”

Lang quân áo đỏ thẫm chỉ cười nhạt một tiếng. Đại hán cũng biết quan bào đỏ sẫm là chức quan tứ phẩm, thân phận tuyệt đối không thấp hơn chủ nhân của gã. Nghĩ vậy, gã có phần lưỡng lự, dè dặt hỏi: “Ngài là ai?”

“Thiếu khanh của Sát Sự Thính, Thôi Tuần.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 98: A Man


Trong Thôi phủ, Thịnh A Man đã được tắm rửa sạch sẽ, thay bộ y phục mới do lão bộc câm mua về. Nhưng từ đầu đến cuối, nàng không thốt lấy một lời. Chỉ đến khi sắp rời đi, nàng mới nhìn Thôi Tuần, nói: “Tiền mua y phục này, ta sẽ trả lại cho ngươi.”

Thôi Tuần lắc đầu, hắn không để tâm đến số tiền đó, điều hắn muốn biết là tại sao Thịnh A Man lại xuất hiện ở Trường An.

Thế nhưng nàng không nói. Ánh mắt lãnh đạm, nàng chỉ nói ra: “Tuy ngươi cứu ta, nhưng điều đó không có nghĩa ta sẽ tha thứ cho ngươi. Ngươi vĩnh viễn không xứng làm bạn của a huynh ta.”

Lời nói ấy, Thôi Tuần không phải lần đầu nghe thấy, nhưng khi nghe hai chữ “không xứng”, trái tim hắn như bị kim đâm, nỗi đau thấm tận xương tủy. Thịnh A Man không hề quay lại nhìn, chỉ lạnh lùng rời khỏi Thôi phủ.

Sau khi Thịnh A Man đi, Lý Doanh đứng bên cạnh, lòng dạ rối bời. Nàng có thể đoán được phần nào suy nghĩ của Thịnh A Man.

Ngày trước, Thịnh A Man từng thích Thôi Tuần, nhưng khi ấy, Thôi Tuần là chàng thiếu niên anh tuấn trong Thiên Uy quân, khí phách bừng bừng. Nào ngờ, nàng lại phải tận mắt chứng kiến thiếu niên cao quý mà mình ngưỡng mộ trở thành kẻ phản quốc đầu hàng Đột Quyết. Để giữ mạng, hắn luân chuyển giữa giường công chúa Đột Quyết và Thái hậu Đại Chu. Sau này, lại đắm chìm trong quyền lực, hóa thành tay sai tàn ác. Tất cả mộng tưởng đẹp đẽ thời thiếu nữ của nàng đều sụp đổ.

Cảm giác ấy giống như phát hiện ra ánh trăng sáng ngời mà mình từng ngước nhìn, thật ra lại chỉ là bùn đất dơ dáy dưới chân. Ngay từ đầu, nàng đã nhìn nhầm người.

Đả kích này đối với Thịnh A Man hẳn là vô cùng lớn, nên nàng mới oán hận Thôi Tuần đến vậy. Sau đó, mỗi khi gặp Thôi Tuần, nàng đều không kìm nén được mà buông lời cay nghiệt, thậm chí cố ý xé toạc vết thương lòng của hắn.

Nhưng, Thôi Tuần có tội tình gì?

Điều làm tổn thương hắn nhất không phải là những lời trách móc của dân chúng, mà chính là sự khinh miệt từ gia quyến Thiên Uy quân, những người hắn coi trọng nhất.

Lý Doanh không biết làm sao an ủi Thôi Tuần. Nàng chỉ đứng nhìn hắn sai người đến Sát Sự Thính, nhờ đám vũ hầu bảo vệ sự an toàn của Thịnh A Man. Sau khi mọi việc sắp xếp ổn thỏa, hắn quay sang Lý Doanh, môi mím chặt, nhẹ giọng nói: “Dù sao đi nữa nàng ấy cũng là muội muội của Vân Đình. Ta không thể bỏ mặc nàng ấy.”

Lý Doanh khẽ thở dài. Nàng không tranh luận thêm với hắn về vấn đề này. Dù nàng có nói rằng A Man sai, Thôi Tuần cũng chẳng vui vẻ gì. Vì thế, nàng chuyển sang hỏi: “Vì sao lại Thịnh A Man lại thành nô lệ bỏ trốn? Không phải nàng ấy đã theo Thẩm Khuyết lưu đày đến Lĩnh Nam rồi sao?”

“Ta không biết.” Thôi Tuần đáp, ánh mắt xa xăm: “Nhưng, ta nghĩ chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ rõ thôi.”



Quả nhiên, Thôi Tuần nói không sai. Bởi lẽ, ngay sau khi rời khỏi Thôi phủ, Thịnh A Man đã đi thẳng đến cung Đại Minh. Trước cổng Huyền Vũ được đặt một tảng phế thạch màu đỏ thẫm, bên cạnh là trống Đăng Văn.

Đứng trên phế thạch, gõ ba tiếng trống Đăng Văn, thì có thể kêu oan trực tiếp lên tai thiên tử thông qua sự truyền đạt của tả hữu Giám Môn Vệ.

Đêm ấy tại Đại Minh cung, khi Thái hậu và Thánh nhân đã nghỉ ngơi, tiếng trống Đăng Văn lại vang lên dồn dập. Mỗi tiếng trống là sự dồn nén của phẫn uất và tuyệt vọng, khiến người nghe không khỏi động lòng.

Quan viên từ ngũ phẩm trở lên, bất kể đang ở đâu, đều được đội Kim Ngô Vệ gấp rút mời tới cung Đại Minh. Người thì cưỡi ngựa, kẻ thì ngồi xe, vội vã tiến vào trong đêm.



Trong điện Tử Thần uy nghiêm, giá nến hình rồng làm bằng đồng thau soi rõ gian điện rực sáng như ban ngày. Thái hậu ngồi sau rèm châu, còn Thôi Tuần đứng dưới điện, chăm chú lắng nghe lời trình báo từ tả hữu Giám Môn Vệ: “Nữ tử ấy là Thịnh A Man, là thiếp của Thẩm quốc công Thẩm Khuyết. Nàng ta từng theo từng cùng Thẩm Khuyết lưu đày đến Lĩnh Nam, nhưng lần này đã vượt ngàn dặm từ Lĩnh Nam trở về Trường An, đánh trống Đăng Văn để tố cáo chính phu quân của mình, Thẩm Khuyết. Nàng ta cáo buộc Thẩm Khuyết đã sát hại huynh trưởng của nàng ta, Thịnh Vân Đình, trước đây là Ngu hầu trong Thiên Uy quân.”

Lời vừa dứt, cả điện đều chấn động. Không chỉ vì câu chuyện kỳ lạ “thiếp tố chồng,” mà còn bởi đối tượng bị cáo buộc lại chính là Thẩm quốc công Thẩm Khuyết.

Thẩm Khuyết bị lưu đày đến Lĩnh Nam, ban đầu sống rất khốn khổ. Thế nhưng, từ một tháng trước, khi Thánh nhân phái đặc sứ đến Lĩnh Nam thăm hỏi Thẩm Khuyết, các quan viên nơi đó lập tức nhận ra rằng Thẩm Khuyết chưa hoàn toàn thất sủng. Suy cho cùng, vị quốc công này là ngoại tôn của Thái hậu, biểu huynh của Thánh nhân, mang huyết thống hoàng gia. Vì vậy, thái độ của họ thay đổi, từ lạnh nhạt trở nên cung kính, đồ đạc, gia nhân, vàng bạc như nước chảy vào phủ của Thẩm Khuyết, khiến cuộc sống của hắn dần dễ thở hơn.

Những điều này, các quan viên trong điện Tử Thần đều biết rõ, nhưng tất cả đều giả như không hay. Dù sao Thẩm Khuyết đã là chó rơi xuống nước, còn ai muốn đánh thêm làm gì. Chưa kể, đánh chó còn phải ngó mặt chủ.

Mọi người vốn cho rằng, Thẩm Khuyết chỉ cần lưu đày bảy tám năm rồi sẽ được triệu về Trường An. Không ai ngờ, thiếp thất của hắn lại liều mình, vượt nghìn dặm trở về tố cáo chồng.

Tả bộc xạ Lư Dụ Dân nhíu mày trước tiên: “Thịnh A Man này, trước đây chẳng phải là một nhạc cơ ở giáo phường sao?”

Giám Môn Vệ đáp: “Đúng vậy.”

“Đồi phong bại tục.” Lư Dụ Dân nói: “Trước khi gõ trống Đăng Văn, nàng ta đã tố cáo lên huyện, châu, hoặc Đại Lý Tự chưa? Chỉ khi những nơi đó không nhận đơn, thì mới được phép gõ trống vượt cấp. Nếu chưa, theo luật, đáng bị phạt tám mươi trượng.”

“Đúng là phải phạt mươi trượng.” Giám Môn Vệ khó xử đáp: “Nhưng hình phạt này, nhất thời không tiện thi hành.”

“Vì?”

Giám Môn Vệ ngập ngừng: “Thịnh A Man… nàng ta đang có thai.”

Vượt cấp thượng tấu, phạt tám mươi trượng; thiếp cáo chồng, lưu đày hai năm. những điều này đều đã được đội Giám Môn Vệ nói rõ với Thịnh A Man ngay trước khi nàng đánh trống Đăng Văn. Nhưng A Man vẫn nghiến răng chịu đựng, bất chấp sinh mệnh của mình để gõ trống. Nhớ lại ánh mắt kiên quyết khi ấy của nàng, Giám Môn Vệ cũng không khỏi bái phục nữ tử cứng cỏi, mạnh mẽ như lửa này.

Bách quan trong điện rì rầm bàn luận. Thịnh A Man đang mang thai, đứa trẻ trong bụng nàng đương nhiên là cốt nhục của Thẩm Khuyết, về vai vế còn phải gọi Thánh nhân một tiếng biểu thúc. Một đứa trẻ cao quý như vậy, Giám Môn Vệ nào dám thi hành hình phạt, lỡ xảy ra chuyện gì, họ đâu gánh nổi trách nhiệm.

Có Ngự sử vào tấu: “Bẩm Thái hậu, Thánh nhân, Thịnh A Man là thiếp thất của Thẩm quốc công, nay lấy thân phận thiếp cáo chồng. Thần cho rằng nếu truyền ra ngoài, e rằng sẽ tổn hại thuần phong, nên đưa Thịnh A Man trở về Lĩnh Nam, giao cho Thẩm quốc công nghiêm khắc quản giáo.”

Quần thần đồng loạt tán đồng. Thôi Tụng Thanh hơi nhíu mày. Thẩm Khuyết vốn thuộc phe Lư Dụ Dân, lẽ ra ông ta nên nhân cơ hội này khiến Thẩm Khuyết thân bại danh liệt. Nhưng khi ánh mắt dừng lại ở Thái hậu ẩn hiện sau lớp rèm châu, ông ta lặng lẽ cân nhắc. Quần thần nghị luận không ngớt, song Thái hậu vẫn im lặng. Thẩm Khuyết bị liên lụy trong án miêu quỷ, vốn dĩ phải xử tử, nhưng nhờ đôi giày Thẩm quốc phu nhân tự tay làm trước lúc qua đời, hắn đã bảo toàn được tính mạng. Rõ ràng Thái hậu vẫn nể tình tỷ muội, nên lưu lại cho hắn một con đường sống.

Thôi Tụng Thanh ngẫm nghĩ hồi lâu, Thẩm Khuyết hiện đã bị lưu đày, hơn nữa nghe nói chí khí cũng đã tan biến, chẳng khác gì quân cờ bỏ đi của phe Lư Dụ Dân. Nếu vì Thịnh A Man mà chọc giận cả Thái hậu lẫn Thánh nhân, quả thật không đáng.

Sau khi tính toán kỹ càng, ông ta quyết định giữ im lặng, không phát biểu thêm. Thôi đảng thấy vậy cũng đồng tình việc đưa Thịnh A Man về Lĩnh Nam. Chỉ có vài Ngự sử trong hàng thanh lưu bất bình, cho rằng cần bắt giữ Thẩm Khuyết giải về Trường An xét xử, nhưng tiếng nói nhỏ nhoi của họ đã bị Long Hưng Đế phớt lờ.

Long Hưng Đế ho nhẹ một tiếng, định ra chỉ dụ đưa Thịnh A Man về Lĩnh Nam. Nhưng ngay lúc đó, Thôi Tuần cầm hốt bản bằng ngà voi từ trong hàng bước ra, khom mình, thần thái không kiêu ngạo, cũng không siểm nịnh, hắn nói: “Bẩm Thái hậu, Thánh nhân, thần cho rằng không nên đưa Thịnh A Man trở về Lĩnh Nam.”

Lời vừa dứt, quần thần đồng loạt quay nhìn Thôi Tuần. Hắn đứng thẳng người, dung mạo như bảo ngọc minh châu, nhưng khi mở miệng, lời nào cũng như dao nhọn: “Thời Nghiêu Thuấn đã đặt ra trống Cảm Giá để dân chúng có oan tình được phép gõ trống kêu oan. Từ Nghiêu Thuấn đến nay, đã trải qua mấy nghìn năm, các triều đại đều duy trì trống Đăng Văn trước cổng hoàng cung. Chẳng lẽ ở Đại Chu ta, chiếc trống này lại trở thành vật trang trí vô dụng?”

Lời hắn vừa dứt, một đại thần Lư đảng lập tức phản bác: “Thôi Thiếu khanh, ngài có mối thù riêng với Thẩm Khuyết, nên mới nói như vậy. Nhưng ở chốn triều đình, mọi người đều là thần tử, cần đặt lợi ích chung lên trên, đừng vì tư thù mà mượn cớ gây chuyện.”

Thôi Tuần cười lạnh, ánh mắt đảo qua quần thần. Những khuôn mặt nghiêm nghị, đạo mạo lại hiện lên đầy vẻ giả dối. Trong lòng hắn chỉ cảm thấy nực cười. Ngoài mấy Ngự sử thanh lưu vừa rồi, có ai một lòng vì công? Hay đều đang ngấm ngầm toan tính, tư lợi cho riêng mình?

Ai cũng lớn tiếng nói rằng thiếp không được phép tố cáo chồng, nhưng thử hỏi, có ai thật sự để tâm đến chuyện Thịnh Vân Đình, huynh trưởng của Thịnh A Man, đã bị loạn đao chém chết?

Hắn chậm rãi nhìn viên đại thần vừa ra mặt phản bác, thản nhiên nói: “Giang Tư nghiệp, chính bởi một lòng vì công, nên ta mới kiến nghị không đưa Thịnh A Man về Lĩnh Nam. Nếu làm như vậy, khắp thiên hạ đều sẽ biết rằng trống Đăng Văn của Đại Chu chỉ là vật vô dụng. Xin hỏi Giang Tư nghiệp, ngài muốn khiến bách tính lạnh lòng hay muốn để phiên bang cười nhạo rằng Thánh nhân chẳng những thua kém Nghiêu Thuấn, mà còn không bằng Tiên đế các triều trước?”

Tội danh này vừa được nêu ra, Giang Tư nghiệp lập tức á khẩu, sắc mặt xanh mét. Hắn vội vàng hướng về phía Long Hưng Đế, chắp tay nói: “Thánh nhân, thần tuyệt đối không có ý đó.”

Lư Dụ Dân nổi giận không thôi, bước ra khỏi hàng, nói: “Thôi Thiếu khanh, Thịnh A Man lấy thân phận thiếp thất kiện phu quân, đây chính là đại nghịch bất đạo. Loại nữ nhân xảo trá này, đưa nàng về nhà chồng để nghiêm khắc quản giáo thì có gì là không đúng?”

Thôi Tuần cười lạnh: “Lư tướng công, xin hỏi một câu luật lệ Đại Chu có điều khoản nào quy định thiếp không được phép kiện phu? Nếu thiếp kiện phu là nữ nhân xảo trá, vậy nếu phu quân mưu phản, thiếp cáo giác, thì thiếp đó nên được coi là liệt nữ hay là điêu phụ đây?”

Lư Dụ Dân thoáng sửng sốt. Thôi Tuần nói tiếp: “Nếu luật Đại Chu không quy định rằng thiếp không được kiện phu, dĩ nhiên Thịnh A Man có quyền gõ trống Đăng Văn. Còn về tội danh vượt cấp tố cáo hay thiếp kiện phu, đợi nàng hạ sinh xong hãy chiếu theo luật, phạt roi và hình phạt lao dịch. Làm vậy, bá tính sẽ ca tụng Thánh nhân rộng lượng, Thịnh A Man cũng sẽ biết ơn triều đình. Nhưng nếu vì cái tội danh vô căn cứ rằng “thiếp không nên cáo chồng” rồi áp giải nàng ta về, không chỉ khiến Thịnh A Man không phục mà dân chúng cũng sẽ không phục. Lư tướng công, thứ cho mỗ nói thẳng, ngài làm vậy chẳng khác gì đẩy Thánh nhân vào thế bất nghĩa.”

Từng câu từng chữ của hắn, như thể đều đang cân nhắc về lợi ích của Thánh nhân, khiến Lư Dụ Dân nhất thời không nói được câu nào. Sau khi ông ta im lặng, những kẻ khác thuộc Lư đảng lại đứng ra tranh biện với Thôi Tuần, thậm chí có kẻ còn ám chỉ Thôi Tuần và Thịnh A Man có tư tình, vì thế mới bênh vực nàng ta. Nhưng những lời này đều bị Thôi Tuần chế giễu là “mượn chuyện phong lưu để khuấy đục triều đường”. Hắn tiếp tục dẫn chứng từng điều một trong luật lệ Đại Chu, rõ ràng rành mạch, khiến ai nấy cũng đều phải câm nín.

Cuối cùng, Thôi Tuần nói: “Pháp luật là thứ thiên tử chia sẻ cùng thiên hạ. Đại Chu đặt trống Đăng Văn vốn là để bách tính kêu oan. Dù người gõ trống là nhạc kỹ giáo phường hay là một thiếp thất thấp hèn, nàng ta đều có quyền đó. Thần khẩn cầu Thái hậu và Thánh nhân đừng vì một mình Thẩm Khuyết mà khiến trống Đăng Văn từ nay im bặt.”

Sắc mặt của Long Hưng Đế đã khó coi đến cực điểm. Hắn nhìn quanh quần thần bên dưới bậc thềm, ai nấy đều vẻ mặt áy náy, lời cạn lý cùn. Long Hưng Đế nghiến răng, nói: “Thôi khanh đúng là có tài hùng biện.”

Thôi Tuần thu ánh mắt, ung dung đáp:“Thần chỉ một lòng nghĩ cho Thái hậu và Thánh nhân mà thôi.”

Ngón tay của Long Hưng Đế siết chặt đến trắng bệch, hắn không cam lòng nói: “Được, trước mắt cứ giam Thịnh A Man lại, rồi hẵng bàn tiếp.”
 
Đêm Trăng Năm Thứ Ba Mươi - Vân Hương Thanh Nịnh
Chương 99: Lấy gậy ông đập lưng ông


Sau buổi triều nghị, A Man bị giam vào ngục Đại Lý Tự. Nàng không bị áp giải về Lĩnh Nam, nhưng Long Hưng Đế cũng không triệu kiến, dường như vẫn đang cân nhắc cách xử lý vụ án này.

Thôi Tuần hiểu rõ, Long Hưng Đế vẫn không nỡ trừng phạt biểu huynh của mình vì Thịnh Vân Đình. Với Long Hưng Đế, Thịnh Vân Đình nhỏ nhoi như con sâu cái kiến, sao có thể so bì được với Thẩm Khuyết, người có chung huyết thống với mình?

Không chỉ Hoàng đế, mà ngay cả Thái hậu cũng không triệu kiến A Man. Hẳn Thái hậu vẫn nể tình Thẩm quốc phu nhân. Giống như Long Hưng Đế, bà cũng chẳng muốn xử lý Thẩm Khuyết.

Thái hậu và Thánh nhân đều không muốn xử lý Thẩm Khuyết, vậy trận cục này phải phá thế nào đây?

Vì vậy, sau khi trở về phủ, hắn vẫn luôn nhíu chặt mày, trầm tư suy nghĩ. Đến mức Lý Doanh múc một chén canh gừng cam thảo, đẩy đến trước mặt hắn, mà hắn vẫn không hề hay biết.

Lý Doanh ho nhẹ một tiếng: “Uống thuốc đi.”

Lúc này Thôi Tuần mới bừng tỉnh, hắn cầm chén thuốc bằng sứ trắng, dùng thìa bạc múc một ngụm, nuốt xuống, nhưng rõ ràng vẫn đang thất thần.

Lý Doanh hỏi: “Vẫn đang nghĩ về chuyện của A Man sao?”

Thôi Tuần gật đầu: “A Man đơn độc một thân một mình từ Lĩnh Nam trốn về đây, cáo buộc Thẩm Khuyết. Hẳn là nàng đã nắm trong tay một vài chứng cứ, thế nhưng lại không có cơ hội để lên tiếng.”

Lý Doanh nghĩ đến chuyện Thịnh A Man bôn ba ngàn dặm, trong lòng nàng không khỏi khâm phục. Từ Lĩnh Nam đến Trường An, quãng đường dài đến một ngàn bảy trăm dặm. A Man, một nữ tử yếu đuối lại đang mang thai, vừa phải trốn tránh truy binh, vừa chịu đủ gian khổ đường trường. Nhưng dù vậy, nàng vẫn không bỏ cuộc, liều mạng vượt ngàn dặm đến Trường An. Không hề sợ hãi trước tám mươi trượng roi hay hai năm lao dịch, nàng quyết tâm gõ vào trống Đăng Văn, chỉ để rửa oan cho huynh trưởng.

Lý Doanh thở dài: “A Man quả không hổ danh là em gái của Thịnh Vân Đình.”

Thôi Tuần tay cầm chiếc thìa bạc, đảo nhẹ canh gừng cam thảo trong chén sứ màu ngọc bích. Ánh mắt hắn trầm tư, giọng nói nặng nề: “Các ám thám của Sát Sự Thính nghe ngóng được rằng, khi Thẩm Khuyết bị đày đến Lĩnh Nam, vì hoàn cảnh khắc nghiệt nên phu nhân của hắn đã lâm bệnh và qua đời. Chính A Man đã tận tình chăm sóc hắn. Thẩm Khuyết chịu đả kích nặng nề về cả tinh thần lẫn thể xác, từ nhỏ đến lớn lại chưa từng phải chịu khổ sở, nay có một người không quản khó nhọc, quan tâm săn sóc khiến Thẩm Khuyết cũng không khỏi động lòng. Hắn không còn đối xử tệ bạc với A Man như lúc ở Trường An, mà ngược lại càng thêm phần yêu thương. Thậm chí hắn còn chuẩn bị dâng tấu lên Thánh nhân, muốn lập A Man làm chính thất của phủ Thẩm quốc công.”

Một nhạc cơ lưu lạc giáo phường, nay lại có cơ hội trở thành chính thất của Quốc công phủ. Đối với phần lớn nữ nhân, đây là ân sủng lớn lao. Có lẽ ngay cả Thẩm Khuyết cũng nghĩ như vậy.

Thế nhưng, A Man lại không phải nữ tử tầm thường.

Lý Doanh nói với Thôi Tuần: “Khi Thẩm Khuyết bị lưu đày, chàng từng xin a nương ban ân, để A Man hòa ly với hắn, không phải cùng hắn đi Lĩnh Nam. Nhưng A Man lại từ chối, còn nói không ít lời làm tổn thương chàng. Nay ngẫm lại, có lẽ khi ấy nàng đã ôm ý định truy tìm chứng cứ rồi. Bằng tính cách như lửa như nàng, không đời nào nàng chịu khuất phục trước kẻ đã đoạt đi sự trong sạch của mình.”

Thôi Tuần gật đầu, thần sắc có vẻ ảm đạm. Hắn đặt chén thuốc men xanh lên chiếc bàn làm bằng gỗ tử đàn, thìa bạc trong tay cũng quên không múc thêm một ngụm canh, chậm rãi nói: “Lúc đó ta đã trách nhầm nàng ấy.”

Lý Doanh nhìn chén thuốc nguội dần, hơi nóng tỏa ra cũng không còn rõ nữa. Nàng thở dài một tiếng, đứng dậy, ngồi xuống bên cạnh hắn, dịu dàng nói: “Chén thuốc này sắp nguội cả rồi, chàng có uống nữa không đây?”

Lúc này Thôi Tuần mới cúi xuống, nhìn chén thuốc màu nâu sẫm trong tay. Hắn vốn rất ghét uống thuốc, vừa rồi uống một ngụm đã thấy khó nuốt, bèn khó xử nói: “Ta không muốn uống…”

Đầu hạ, nam nhân bên ngoài phần lớn chỉ mặc áo vải mỏng nhẹ, nhưng Thôi Tuần lại quấn chặt trong áo lông chồn trắng, trong phòng còn đốt lò than đỏ rực. Lão bộc câm khi ra vào đều đổ mồ hôi nhễ nhại, vậy mà sắc mặt Thôi Tuần vẫn trắng bệch như tuyết. Lý Doanh có chút tức giận, nàng nói: “Hàn khí đã xâm nhập tận xương, nếu chàng còn không điều dưỡng cẩn thận, chỉ e đến một người chàng cũng không cứu nổi.”

Thôi Tuần ngập ngừng nhìn chén thuốc, không khỏi lưỡng lự. Lý Doanh liền nói: “Nếu chàng không uống, ta sẽ đút cho chàng.”

Dứt lời, nàng thực sự cầm lấy chén thuốc men xanh. Thôi Tuần giật mình, vội giành lại, nói: “Không cần.”

Ánh mắt Lý Doanh trong trẻo như dòng suối đầu xuân, ánh lên những tia sáng ấm áp. Thôi Tuần hơi đỏ mặt, vội múc một thìa thuốc, đưa lên miệng: “Ta tự uống.”



Một muỗng, hai muỗng, Thôi Tuần nhăn mày uống cạn chén thuốc. Lý Doanh vẫn ngồi đó, mỉm cười nhìn hắn không rời mắt. Đợi đến khi thuốc đã cạn đáy, hắn đặt chén xuống, nhỏ giọng: “Ta uống xong rồi.”

Lý Doanh mỉm cười, ánh mắt thoáng chút trêu ghẹo: “Chàng muốn ta khen chàng giỏi lắm đúng không?”

Thôi Tuần bỗng đỏ mặt, vội đáp: “Không… không có.”

Nàng chỉ im lặng, cười nhìn hắn. Đến khi thấy hắn đã lúng túng đến mức không biết làm sao, nàng mới tha cho hắn, ngả người nằm lên đùi hắn.

Khoảnh khắc đùa nghịch ấy, dường như là lúc tâm trạng nàng thoải mái nhất trong suốt mấy ngày qua. Những phiền muộn dường như được vơi đi quá nửa. Nằm trên chân hắn, nàng đưa tay nghịch ngợm những ngón tay của hắn. Thôi Tuần bất lực, khẽ nói: “Ngón tay thì có gì mà nghịch?”

Lý Doanh nghiêm túc đáp: “Tay chàng rất đẹp.”

Nàng nói thật lòng, ngón tay Thôi Tuần thon dài, sạch sẽ, khớp xương rõ ràng, trắng ngần như ngọc, đẹp đến mê mẩn lòng người. Nhưng lời khen chân thành này vẫn khiến vành tai của Thôi Tuần đỏ ửng, hắn hơi hắng giọng, cố giấu sự ngượng ngùng: “Đừng nghịch nữa.”

Thế nhưng, Lý Doanh vẫn nghịch ngợm chơi đùa với ngón tay hắn, chẳng chịu buông ra. Thôi Tuần hết cách, đành mặc nàng muốn làm gì thì làm. Một lát sau, Lý Doanh chợt nghĩ ra điều gì, nói: “À phải rồi, A Man bị giam trong Đại Lý Tự, không xét xử cũng không được phóng thích, ta vừa nghĩ ra một cách giúp nàng ấy.”

“Hửm?”

“Chẳng phải bọn họ giỏi nhất là lợi dụng dư luận hay sao? Vì sao chúng ta không thử “gậy ông dập lưng ông” một lần?”

Lý Doanh nhắc đến “họ,” rõ ràng ám chỉ phe cánh của Lư Dụ Dân. Sau khi rời khỏi hồ sen, nàng thường xuyên lui tới phố chợ, nghe ngóng ý dân, nàng biết rõ dân chúng đơn thuần, nhưng cũng dễ dàng bị thao túng. Danh tiếng của Thôi Tuần từng bị Lư đảng phá hoại đến không còn nước non gì, ngay cả những gia quyến của Thiên Uy quân như Hà Thập Tam cũng hận hắn thấu xương. Lòng người là lưỡi dao sắc bén, bây giờ, đã đến lúc để họ nếm thử tư vị ấy.

Thôi Tuần ngẫm nghĩ một lúc, gật đầu: “Nàng nói đúng. Dùng cách của họ, đối phó lại chính họ.”



Hôm sau, khắp các ngõ ngách trong thành Trường An đều râm ran lời đồn. Hóa ra, nữ tử gõ trống Đăng Văn trước cổng Huyền Vũ ngày hôm qua chính là thiếp thất của Thẩm quốc công Thẩm Khuyết. Nàng gõ trống Đăng Văn chỉ vì Thẩm Khuyết đã giết hại anh trai nàng, khiến nàng phải kêu oan.

Chuyện càng thêm chấn động khi nữ tử tên Thịnh A Man ấy còn đang mang thai. Vì mối thù giết huynh, nàng bỏ qua phú quý vinh hoa, không màng côn bổng roi vọt, từ đất Lĩnh Nam vượt ngàn dặm xin ăn đến Trường An. Một hành trình máu và nước mắt dài hơn một nghìn bảy trăm dặm chỉ để giành lại công bằng cho huynh trưởng.

Dân chúng không khỏi khâm phục trước sự kiên cường của Thịnh A Man, vỗ tay tán thưởng hết lời. Các tửu lâu bắt đầu kể về câu chuyện của nàng, những bài đồng dao dễ thuộc dễ nhớ được sáng tác, nhanh chóng lan truyền khắp Trường An. Nhưng cũng chính người con gái nghĩa khí ấy, vì kẻ nàng tố cáo là anh họ của Thánh nhân, cháu ngoại của Thái hậu, một vị Quốc công đương triều, nên dù đã gõ trống Đăng Văn, nàng vẫn không thể đòi được công đạo, thậm chí còn bị giam vào Đại Lý Tự, mạng sống bấp bênh.

Bách tính căm phẫn, dư luận dậy sóng. Những bài đồng dao truyền tới Quốc Tử Giám, khiến các học sĩ trẻ tuổi phẫn nộ. Họ một lòng chính trực, mang theo nhiệt huyết thanh xuân, hàng trăm người trong số đó đã tình nguyện tập hợp lại, tự nguyện ngồi yên trước cổng Đan Phượng, yêu cầu Thánh nhân trả tự do cho Thịnh A Man đang bị giam trong ngục thất Đại Lý Tự, đồng thời đích thân tái thẩm vụ án của Thẩm Khuyết.

Sự việc càng lúc càng lan rộng, khiến cho Thái hậu cùng Thánh nhân trong cung Đại Minh không thể tiếp tục làm ngơ. Lư đảng và Thôi đảng cũng chẳng thể bỏ qua cơn phẫn nộ của dân chúng. Cuối cùng, sau bảy ngày bị giam giữ, rốt cuộc Thịnh A Man cũng được phép diện kiến Thánh nhân.



Thịnh A Man được thả ra khỏi Đại Lý Tự. Dẫu tóc tai rối bời, dung nhan tiều tụy, nhưng đôi mắt nàng vẫn ánh lên vẻ cứng cỏi và bất khuất. Khi bị các vệ binh Kim Ngô áp giải đến điện Tử Thần, tình cờ nàng gặp Thôi Tuần.

Hắn cố ý chờ nàng ở bên ngoài điện Tử Thần, nói với đám Kim Ngô Vệ: “Ta muốn nói vài lời với Thịnh nương tử, mong các vị châm chước cho.”

Tuy nói là “châm chước”, nhưng giọng điệu lại dứt khoát như đang ra lệnh. Vài tên Kim Ngô vệ liếc nhìn nhau. Thôi Tuần vừa xử xong vụ án của Kim Di, thậm chí ngay cả Binh bộ Thượng thư Bùi Quan Nhạc cũng bị hắn đuổi khỏi triều đình. Nghe đồn, khi Kim Di bị áp giải ra pháp trường, toàn thân đã bị tra tấn đến mức không còn một tấc da lành lặn. Hiện giờ, Thôi Tuần đang ở vào thời kỳ quyền thế ngút trời, hung hăng ngang ngược. Cân nhắc kỹ, đám Kim Ngô Vệ đành chắp tay thi lễ, lùi sang một bên.

Thịnh A Man vẫn mặc bộ váy áo mà Thôi Tuần từng mua cho nàng. Nét mặt nàng bình thản: “Ta vừa nghe bọn họ nói, chuyện của ta đã truyền khắp thành Trường An. Đây hẳn là công lao của ngươi, đa tạ.”

Nàng ngừng lại một chút, rồi nói tiếp: “Còn cả việc ở Quế Châu, Đô đốc Trương Hoằng Nghị bảo rằng ngươi đã gửi thư cho ông ấy, nhờ ông ấy chiếu cố ta. Ông ấy bảo rất ghét ngươi, nhưng vì trong thư ngươi hạ mình khẩn cầu, ông ấy cảm thấy hả hê nên mới đồng ý. Khi ta ở Quế Châu, quả thực ông ấy đã giúp đỡ rất nhiều. Trương Đô đốc là người tốt. Khi ta trốn khỏi Quế Châu, đã kể với ông ấy về nỗi oan của a huynh. Nhờ sự bảo vệ của ông ấy, ta mới thuận lợi rời khỏi Quế Châu. Tuy nhiên, ra khỏi Quế Châu, ông ấy không thể can thiệp thêm. Nhưng dù vậy, ta vẫn rất cảm kích. Đây cũng là công lao của ngươi, ta phải cảm tạ ngươi.”

Nói xong, nàng bất ngờ cười giễu: “Ngoài hai lời cảm tạ này, những lời khác đều rất khó nghe, ta cũng chẳng muốn nói thêm.”

Thôi Tuần mím chặt môi mỏng, không hề để tâm đến sự dè bỉu của nàng, chỉ nói: “Sau khi bước vào điện Tử Thần, cô sẽ chỉ có một cơ hội duy nhất.”

Thịnh A Man ngẩn ra. Hắn nói tiếp: “Thẩm Khuyết là cháu ruột của Thái hậu, là anh họ của Thánh nhân. Cả hai người đều không muốn trừng phạt hắn. Hiện nay vì cơn phẫn nộ của dân chúng nên mới buộc phải triệu kiến cô. Nhưng trong điện Tử Thần, ngoài Thái hậu và Thánh nhân còn có các quan viên từ ngũ phẩm trở lên, cùng mười học sĩ Quốc Tử Giám tham dự. Cô chỉ có một cơ hội để thuyết phục những người ấy.”

Thịnh A Man nhìn hắn, trong mắt hiện lên vẻ kinh ngạc: “Ngươi đến gặp ta, chỉ để nói những điều này sao?”

Thôi Tuần gật đầu. Nàng càng thêm khó hiểu: “Nếu Thái hậu và Thánh nhân đều không muốn trừng phạt Thẩm Khuyết, vậy tại sao ngươi còn mạo hiểm để giúp ta?”

Ánh mắt Thôi Tuần thâm trầm như đầm nước, không lộ cảm xúc: “Cô đang kêu oan cho Vân Đình, ta không thể làm ngơ.”

Nghe hắn nhắc đến tên huynh trưởng, Thịnh A Man nghiến chặt răng, hỏi: “Ngươi đã phản bội a huynh và những người khác, sao lại phải chạy đôn chạy đáo vì vụ án này?”

Thôi Tuần không trả lời, chỉ nói: “Cô hãy theo Kim Ngô Vệ vào đi.” Hắn ngừng lại giây lát, rồi nói thêm: “Đừng sợ.”

Thịnh A Man nhìn hắn với nét mặt phức tạp. Trong đầu nàng không ngừng hồi tưởng lại những lời chế nhạo và sỉ nhục dành cho hắn suốt ba năm qua. Mỗi lần nàng nghĩ rằng hắn sẽ không chịu nổi, thì hắn lại âm thầm chịu đựng. Chẳng phải hắn là ác quan tàn bạo như lời đồn sao? Tại sao hắn lại nhường nhịn nàng đến mức độ này?

Hắn đã phản bội Thiên Uy quân, lựa chọn trở thành một kẻ gian nịnh, chỉ biết cầu an. Nhưng tại sao lại dám đắc tội với Thái hậu và Thánh nhân, chỉ để giúp nàng kêu oan cho người huynh trưởng đã khuất?

Hắn không sợ Thái hậu nổi giận, đoạt lấy tính mạng hắn sao?

Vậy, hắn có thật sự sợ chết đến mức ấy?

Có thật là hắn đã chọn cách sống tạm bợ, không màng danh dự?

Có thật là hắn đã phản bội a huynh nàng và cả Thiên Uy quân?

Lần đầu tiên, Thịnh A Man bắt đầu nghi ngờ về những điều mà nàng luôn tin là đúng.
 
Back
Top Bottom