Cập nhật mới

Khác Đất Việt Trời Nam - Đan Thành

Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 13: Chiêu Thánh gạt lệ lên xe hoa (2)


Lê Tần từ lúc ở triều về, ngồi đứng không yên, không hiểu sao hoàng thượng lại ban cho cái ân trạch oái oăm như vậy, chưa biết nên xử trí thế nào bỗng gia nhân vào báo có quan trung minh tự Lưu Miễn đến thăm.

Lưu Miễn vốn xuất thân khoa bảng, cùng Vương Giát đỗ đầu trong khoa thi thái học sinh năm Thiên Ứng Chính Bình thứ tám (Kỷ Hợi-1239), được phong tước minh tự bổ làm an phủ sứ lộ Thanh Hoá, lúc ấy đang có việc ở kinh thành.

Miễn học sâu biết rộng lại thích giao du hào kiệt, được Lê Tần quý trọng, hai người thường qua lại với nhau, tình bạn bè rất là tương đắc.

Hôm ấy ngày đầu năm, biết chuyện của Lê Tần, Miễn đến mừng.

Lê Tần vội mời vào.

Miễn nói:

- Nhân tiết tân xuân, tôi xin có lời mừng Lê huynh đắc sự công danh, lại yên bề gia thất.

Lê Tần nói:

- Chính vì cái sự yên bề gia thất ấy mà tôi đang sầu khổ muôn phần chứ có gì đáng mừng đâu!

- Hà cớ chi mà Lê huynh phải sầu khổ?

- Từ khi phu nhân của tôi lâm trọng bệnh về với tổ tiên, đã hơn hai mươi năm chưa khi nào tôi vương nghĩ tới chuyện tục huyền, nguyện ở vậy một đời làm kẻ chung tình.

Nay hoàng thượng ban cho cái sự lạ này, một là lỗi đạo quân thần, hai là không còn thủ tiết được với người vợ quá cố, ba là họ Lê nhà tôi đã có lời nguyền bất cộng đới thiên cùng họ Lý, tôi đâu dám chung thân với công chúa họ Lý bao giờ, vì thế mà trong lòng sầu muộn.

Lưu Miễn cười lớn, nói:

- Tôi vẫn kính trọng Lê huynh là người tài cao học rộng, sao vẫn giữ những chính kiến hẹp hòi quá như vậy.

Ba nỗi khổ của huynh giải có khó gì.

- Xin Lưu huynh chỉ rõ cho.

Lưu Miễn nói chậm rãi:

- Thứ nhất về đạo quân thần huynh không có lỗi.

Chiêu Thánh ra khỏi hoàng cung hai mươi năm nay, tình nghĩa với hoàng thượng không khác gì người dưng nước lã.

Từ khi hoàng thượng giáng Chiêu Thánh xuống làm công chúa, đã coi nàng không còn là vợ nữa rồi.

Hôm mới về kinh, tình cờ nhà vua đi qua chùa Bảo Quang, trông thấy Chiêu Thánh trong sân có phần khoẻ mạnh xinh đẹp hơn xưa, người nói: "Ta phải trả lại tuổi xuân hạnh phúc cho nàng".

Kết duyên cùng Chiêu Thánh, huynh đã giúp vua trả được món nợ đó vậy.

Thứ hai, huynh muốn làm kẻ chung tình, vậy chữ hiếu huynh để vào đâu?

Trong tất cả các tội bất hiếu, tội không chịu sinh con cái để dòng giống tuyệt tự tuyệt tôn là nặng nhất, mà nay huynh vẫn chưa có con.

Vả lại huynh là đấng nam nhi đại trượng phu, khư khư ôm mối chung tình với người đã khuất há chẳng phải thói thường của đám quần thoa, không sợ thiên hạ người ta cười ư?

Ba là lời nguyền của họ Lê với họ Lý, thánh nhân dạy oán cừu nên cởi không nên buộc.

Thiên hạ nay đã về nhà Trần, huynh còn oán thù ai.

Triều đại nào có thịnh lại chả có suy, vượng như Chu, cường như Tần, thịnh như Hán, minh như Đường rồi cũng đều có ngày chung cục.

Khi cái cũ đã suy tàn cái mới cường mỹ ắt phải thay thế, âu cũng là thuận tự nhiên.

Chẳng lẽ cứ để cho một triều đại suy đồi với ông vua bạo ngược trị vì mãi, muôn dân bách tính sẽ ra sao?

Sứ mạng của huynh là phải giải lời nguyền.

Cuộc hôn nhân này chính là sự hoá giải lời nguyền ấy.

Tôi nghĩ không phải ngẫu nhiên mà thánh thượng lại sắp đặt như vậy.

Chắc là người đã hao tâm tổn lực lắm.

Kẻ nông cạn sao hiểu chỗ khuất khúc ấy.

- Thôi!

Nghe mẹ đi con, hãy về trong phủ để còn sắm sửa, vài ngày nữa nhà trai người ta có cơi trầu đưa sang.

Nhà vua làm thế này cũng là vì lòng tốt, muốn chăm lo cho hạnh phúc của con.

Linh Từ quốc mẫu cố ngọt nhạt dỗ dành nhưng điều đó chỉ làm cho Chiêu Thánh càng thêm bực bội, tủi cực.

Nàng nói trong nước mắt:

- Thôi!

Bà đừng nói nữa.

Bà hãy về với ông chồng thái sư của bà đi.

Tôi biết tỏng cái sự chăm lo của họ Trần nhà bà đối với tôi rồi.

Vâng!

Chính vì cái sự chăm lo quá chu đáo ấy đã biến tôi từ một hoàng đế thành hoàng hậu, rồi từ hoàng hậu thành công chúa, đến nay cái phận công chúa cũng không còn.

Các người muốn tôi phải làm thê thiếp cho một tên đầy tớ của họ Trần nhà các người.

Lòng tốt của nhà vua, thật là phát buồn nôn lên được.

Bà về đi!

Mang luôn cả cái lòng tốt của họ Trần nhà bà về cho tôi được yên.

Linh Từ vẫn dịu dàng, một vẻ dịu dàng đầy sự nhẫn nại và tình thương của mẹ đối với con gái.

Bà nói:

- Ừ thì mẹ hẵng về nhưng con cũng cần nghĩ lại.

Việc này chỉ mang đến điều tốt đẹp cho con đấy thôi.

Chiêu Thánh không nói.

Linh Từ đứng dậy đi ra, lên kiệu về phủ.

Chiêu Thánh bảo A Nhi:

- Em lau sạch chỗ bà ấy vừa ngồi cho ta.

A Nhi ân cần đến ngồi bên Chiêu Thánh, nói:

- Em nghĩ quốc mẫu nói cũng phải.

Tình duyên với nhà vua coi như đã dứt, công chúa nên lo cho bản thân, chẳng nên suy nghĩ nặng nề quá làm gì.

Nàng Ly Cơ xưa chẳng đã từng hối hận đó sao.

Còn tiết hạnh ư?

Người đời chỉ lấy mỹ tự mà doạ nhau chứ có tiết hạnh thật thì nàng Tuyên Khương nước Vệ, nàng Chân Thị nhà họ Viên, nàng Dương Vân Nga nhà Đinh và cả Linh Từ quốc mẫu nhà ta nữa biết trốn vào đâu.

Thế mà họ vẫn được thiên hạ tôn kính đó thôi.

(Tấn Hiến công đánh nước Ly nhung, vua Ly nhung phải đem dâng nàng Ly Cơ.

Ly Cơ sầu khổ vô cùng, về sau sống trong cung nước Tấn rất sung sướng vui vẻ, lại hối hận trước đây đã khóc lóc không muốn đi.

Tuyên Khương là con gái nước Tề gả cho Cấp tử con vua nước Vệ.

Vua nước Vệ là Tuyên công thấy nàng xinh đẹp liền chiếm làm vợ mình.

Sau Tuyên công chết, Tuyên Khương lại theo làm vợ công tử Ngoan.

Chân thị: Vợ Viên Hi - Thời Tam Quốc, Tào Tháo diệt họ Viên, Chân thị theo làm vợ Tào Phi (con Tào Tháo).)

Chiêu Thánh nhăn mặt nói:

- A Nhi ơi!

Chồng ta vẫn sống sờ sờ ra kia.

Ta vẫn là vợ đương kim hoàng thượng.

A Nhi than:

- Trời ơi!

Thật khổ thân công chúa.

Em cứ nghĩ làm vợ hờ của một ông vua thà làm vợ thật của anh đốn củi còn không đến nỗi mất phần chăn gối.

Rằm tháng giêng, dân thành Đại La ăn tết nguyên tiêu cũng là lẽ thường nhưng năm nay nhà vua cho mở hội hoa đăng mừng công chúa Chiêu Thánh cải giá mới là chuyện lạ.

Suốt từ tối, hồ Lục Thuỷ san sát những đèn.

Nào dân, nào lính, nam thanh nữ tú áo khăn rực rỡ kéo nhau đi nườm nượp, cười nói ồn ào.

Trên trời cao chị Hằng bẽn lẽn nhìn trộm thế gian rồi lại kéo chiếc khăn mây mỏng che vội khuôn mặt ủ dột còn hoen vệt ướt của những ngày mưa gió.

Một chàng trai đi bên cô gái, cao hứng nói:

- Hôm nay trời còn nhiều mây nhưng trăng đẹp quá.

Lâu lắm mới lại thấy trăng, suốt cả mùa đông bị mây che khuất.

Cô gái bảo:

- Trăng đẹp thật nhưng cứ lẩn vào mây như người xấu hổ ấy.

Người ta bảo còn biết xấu hổ là vẫn còn nhân cách phải không anh?

- Ai mà biết được lòng dạ trăng già.

Tiếng nói của đôi trai gái chìm giữa những âm thanh ồn ào của đám người đang hò hét xem trò tạp kĩ.

Trong quán rượu, bàn nào cũng đầy những lính, nhà hàng phải bày bàn ghế ra cả ngoài hè cho khách ngồi.

Một bàn trong góc có ba anh lính, một anh mặt trắng, một anh có râu và một anh mắt xếch.

Anh mắt xếch hỏi anh mặt trắng.

- Nghe nói hôm nay trong dinh quan ngự sử bận lắm cơ mà?

Sao cậu đi chơi được.

Anh mặt trắng thở dài nói:

- Cưới vợ thì ai chả bận.

Anh có biết suốt mười ngày hôm nay mấy anh em chúng tôi khổ sở thế nào không?

Từ sáng đến tối chỉ khiêng kiệu ra lại khiêng kiệu vào, tập mỗi cái việc khiêng kiệu cô dâu mà không nổi.

Hôm nay xong việc mới được đi chơi đấy chứ.

Anh có râu bảo.

- Khiêng kiệu cô dâu thì làm gì khó khăn đến thế...

Ừ!

Mẹ kiếp, chai rượu này như có mùi khê.

Anh mặt trắng tiếp:

- Khê đâu mà khê.

Rượu cũ nó thế...

Người bảo kiệu công chúa phải khiêng bốn đòn, người lại nói cải giá chỉ khiêng hai đòn thôi.

Tập đi tập lại cho đến sáng nay vẫn còn nửa hai nửa bốn.

Các anh không biết chứ, khổ nhất là ngày hôm nay, lúc đi đón dâu mà mặt chú rể buồn như đưa đám.

Anh mắt xếch bảo:

- Quái!

Cái bố Lê Tần nhà ta quá nửa đời người còn ngấm ngố đến thế.

Đánh giặc rõ hăng mà lấy vợ lại ra chiều e ấp.

Đúng là người cổ.

Anh có râu dằn cạch cái chén vại xuống bàn, nói:

- Mẹ kiếp không vớ được tay ông!

Mấy anh em cùng cười.

Anh mặt trắng nói tiếp:

- Ối giời ơi!

Đến cái đận đón cô dâu ra kiệu mới khốn nạn chứ.

Khóc khóc, mếu mếu nước mắt nước mũi đầm đìa, làm cứ như ăn vạ.

Lại còn chết ngất mấy lần.

Đành phải cho cả một thị nữ vào kiệu ngồi để giữ.

Đáng lẽ chỉ khiêng một người hoá khiêng hai.

Cái con thị nữ nó béo như nặc nô, nặng bỏ cha bỏ mẹ đi được.

Anh có râu bảo:

- Cái đám cưới này kể ra trái lễ, nhưng chắc rồi chẳng ai hạnh phúc bằng họ cho mà xem.

Anh mắt xếch nói:

- Lễ mấy chả nghĩa.

Thời nay ai còn hơi đâu nghĩ đến cái thứ xa xỉ phẩm ấy nữa.

Biết thế nào mà chắc hạnh phúc mới không hạnh phúc.

Anh có râu quả quyết:

- Chắc chứ.

Tôi cứ đánh cuộc với các cậu mười ăn một đấy.

- Cuộc thì cuộc, mấy khi vua gả chồng cho vợ.

Uống nhanh lên xong rồi còn đi hát cô đầu.

Chưa bao giờ nhiều ả đào xinh tươi đến thế.

- Ố ồ!

Bọn con hát bây giờ có giá ra phết.

Một cô đào non còn hơn mười vị tiến sĩ...

Rượu khê thật lại cứ bảo không.

- Không khê đâu...

Đúng là đánh giặc xong tha hồ lắm chuyện hay ho.

Thật là:

Kẻ trong tiệc cưới đang buồn khổ

Người ngoài quán rượu lại hân hoan

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem đôi vợ chồng ấy có hạnh phúc hay không.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 14: Vua thánh, tôi hiền cùng xuống trần gian


Mặt trời xuống dần sau lũy tre phía đầu ô, còn chút nắng vàng hắt hiu rớt lại trên các ngọn cây gợi một nỗi buồn thê thiết.

Cứ nghĩ như trong tay ta đang nắm một vật gì đó thật thiêng liêng quý báu mà bắt buộc phải lìa bỏ.

Nuối tiếc, day dứt đè nặng trong lòng khiến ta rơi vào trạng thái của một kẻ tội đồ đang giằng xé tim gan trong những giờ sám hối.

Anh cả Thìn ngồi một mình đã lâu trong quán rượu vắng khách, chén rượu rót ra chưa đụng đến.

Người chủ quán đứng tuổi thấy lạ, hỏi:

- Ơ kìa!

Quan bác không uống đi.

Hình như quan bác có điều gì phiền muộn?

Hay quan bác đánh mất vật gì?

- Vâng!

Tôi đang sắp đánh mất cái điều mà tôi không muốn mất tí nào.

- Sắp đánh mất?

- Vâng!

Sắp đánh mất!

Nhưng thôi!

Bác hỏi làm chi.

- Vậy ra bác đang ăn năn hối hận vì việc đã làm?

- Không ăn năn gì cả cũng không hối tiếc gì cả, chỉ đau xót và ngại ngần thôi.

Tôi sắp phải báo tin buồn cho gia đình những bạn bè.

Giặc Thát đã giết chết bạn bè tôi, còn tôi sắp giết chết tia hi vọng cuối cùng nơi con mắt người thân của họ.

Anh bảo phải làm một việc như vậy không đau lòng sao được, nhưng không thể không làm.

- À ra vậy!

Thế thì bác uống đi.

Cứ uống đi để lấy dũng khí.

Tôi hiểu lòng bác.

Thật là khó!

- Vâng!

Khó lắm bác ạ.

Khó hơn cả việc cầm giáo xông vào trận giặc.

Tôi đã phải nén chặt trong lòng từ hôm được về nhà tới nay để đợi cho qua cái tết.

Nhưng mỗi lần nhìn thấy những khuôn mặt đang khắc khoải chờ mong, hi vọng, ruột gan tôi quặn thắt, như có bàn tay tàn nhẫn của người khổng lồ bóp ngang lồng ngực.

Bác chủ quán mang thêm ra một đĩa thức ăn, ngồi rót rượu cùng uống với cả Thìn, nói:

- Nào!

Kính bác một chén.

Tôi sẽ cùng uống với bác.

Những người ở mặt trận về như bác thế này đều đáng gọi là anh hùng cả.

- Không!

Chính những người tôi sắp đến gặp mới thật sự là những vị anh hùng.

Tôi không có quyền để họ phải chờ đợi lâu hơn nữa.

- Bác nói đúng.

Họ cần phải biết rõ sự thật, dù cho đó là sự bất hạnh phũ phàng.

Hàng phố đã lên đèn, cả Thìn đứng dậy lấy ít bạc vụn đưa cho người chủ quán.

Bác chủ quán gạt đi, nói:

- Hôm nay tôi đãi bác.

Mong có lần khác được hầu chuyện.

Xin chúc cho những người anh hùng vượt qua được cửa ải của thời thiên hạ thái bình.

Cả Thìn bước ra ngoài, vầng trăng gần tròn mờ mờ sau màn mây mỏng.

Từng cơn gió dư tàn của mùa Đông vẫn đem về khí lạnh.

Anh vượt qua khoảng tối cuối phố, rẽ vào ngõ nhà bà cụ Hải và chị tư Phúc.

Người chủ quán nhìn theo, ái ngại nói:

- Thật tội nghiệp cho anh lính, giặc chạy hết rồi mà đâu đã cười được.

Lát sau tiếng gào khóc váng lên trong nhà chị tư Phúc.

Mây kéo dày thêm che khuất hẳn phần còn lại của vầng trăng.

Thành Đại La chìm trong thứ ánh sáng trắng đục u hoài.

Mưa bay lất phất làm ướt lạnh tiếng kêu gào của người goá phụ.

Những cây duối già cũng run lên theo tiếng khóc than thảm thiết não nùng.

Thái tử Hoảng lúc ấy đã mười chín tuổi, các quan mới bàn lập con gái thứ năm của Yên Sinh vương Trần Liễu làm Thiên Cảm phu nhân.

Ngày hai mươi bốn tháng hai, Thái Tông nhường ngôi cho thái tử còn mình làm thượng hoàng.

Nhà vua tôn thượng hoàng là Hiển Nghiêu Thánh Thọ thái thượng hoàng đế.

Thượng hoàng khi còn ít tuổi thích chuyện tà dâm đều do Trần Thủ Độ bày vẽ cho cả (Theo ĐVsktt), đến khi lớn lên do thiên tính thông minh lại được dạy dỗ cẩn thận, bỏ tật xấu trở nên mộ đạo, nghiên cứu điển cố, kinh thư, làm ra sách Khoá hư lục, lại thích cảnh lâm tuyền, coi chuyện sống chết chẳng có gì đáng kể, tư tưởng hướng về đạo Phật nhưng khoáng đạt hơn nhiều, khi ấy bỏ ngôi báu như trút cái giày cũ mà thôi.

Sau này thượng hoàng thường vui thú tiêu dao khi thì Quỳnh Lâm, lúc tới Hoa Yên, lấy mây núi làm nhà, cỏ cây làm bạn lại thường đàm đạo với các bậc cao sĩ trong thiên hạ, được mọi người vô cùng tôn kính.

Thiên Cảm phu nhân được lập làm hoàng hậu.

Hoàng hậu tính tình khoan hoà đại độ, tư chất thông minh, rất sùng kính tam bảo, một hôm giữa ban ngày, đứng tựa lan can nhìn ra vườn sau ngắm đôi chim khuyên trên cành ngọc lan, bỗng thấy phật Quan Âm Bồ Tát dắt hai đứa bé.

Một đứa như tạc bằng vàng, toả ánh hào quang lấp lánh.

Một đứa thân hình rắn chắc tựa đúc bằng thép quý.

Cả hai cùng khôi ngô đẹp đẽ.

Hoàng hậu chắp tay bái chào Quan Âm.

Bồ Tát nói:

- Ta đem Kim Tiên đồng tử cho hoàng hậu đây.

Nói rồi đẩy đứa bé màu vàng vào lòng hoàng hậu, dắt đứa kia về phía dinh quan ngự sử họ Lê.

Cung nhân thấy hoàng hậu đứng yên một cách lạ thường mới lay gọi.

Hoàng hậu giật mình tỉnh lại, biết là vừa trải qua giấc mơ lạ.

Từ bữa ấy hoàng hậu mang thai.

Công chúa Chiêu Thánh ở nhà họ Lê, suốt ngày khóc than sầu muộn, nghĩ rằng thế nào cũng bị hành hạ giày vò nhưng Lê Tần tuyệt nhiên không có cử chỉ nào gây khó cho nàng.

Ngay đêm tân hôn, Tần cũng không chạm tới công chúa, trước sau một niềm quý trọng không dám phạm, lại sai gia nhân hầu hạ chu đáo tỉ mỉ không để thiếu thứ gì.

Mọi việc ăn uống có A Nhi lo toan vẫn như khi ở chùa Bảo Quang.

Ngày ngày Lê Tần vào chầu hoàng thượng về lại đến thăm hỏi an ủi.

Ít ngày sau Chiêu Thánh nhận ra họ Lê cũng là đấng nam nhi quân tử, có ý thương nên không còn sầu khổ như trước nữa.

Một hôm Lê Tần từ trong cung về bảo công chúa rằng:

- Nay người Thát đã đại bại nhưng họ cậy thế nước lớn chèn ép vua ta, đòi tăng lễ vật cống tiến hằng năm, tham lam vô hạn.

Triều đình cử tôi cùng Chu Bác Lãm sang Vân Nam thương lượng với họ, chỉ ít ngày nữa lên đường.

Trong khi tôi đi vắng, công chúa nên giữ gìn sức khoẻ.

Đời này kiếp này xin hết lòng phụng sự công chúa.

Mong công chúa chớ lo phiền.

Chiêu Thánh nói:

- Tôi đã tuân mệnh hoàng thượng mà về với chàng, là vợ chàng rồi, là người nhà họ Lê rồi.

Chàng cũng không nên câu nệ làm gì nữa.

Từ hôm ấy hai người mới có sự ái ân chồng vợ.

Chính hôm trong cung xảy ra giấc mộng của hoàng hậu, Chiêu Thánh cũng mơ thấy phật Quan Âm dắt đứa bé đến bảo:

- Cương Thiết tiên đồng của công chúa đây.

Nói xong đặt đứa bé vào vòng tay Chiêu Thánh.

Chiêu Thánh tỉnh dậy khắp phòng thoang thoảng hương thơm, liền cùng thị nữ ra chùa thắp hương lễ phật.

Hôm Lê Tần lên đường, Chiêu Thánh báo cho chàng biết nàng đã mang thai.

Lê Tần ra đi trong lòng sướng vui không giấy mực nào tả xiết.

Mùa Đông năm ấy, ngày mười một tháng mười một hoàng hậu Thiên Cảm sinh hoàng trưởng tử, đặt tên là Khâm.

Hoàng tử do tinh anh thánh thần sinh ra, thuần tuý đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng.

Hai cung cùng cho là lạ đều gọi là Kim Tiên đồng tử*.

Ít ngày sau, bên phủ quan ngự sử, Chiêu Thánh cũng sinh trưởng nam.

Đứa bé mới sinh đã vạm vỡ khôi ngô đường đường là một trang tuấn kiệt, giống hệt đứa bé Chiêu Thánh nhìn thấy trong mơ.

Lê Tần đặt tên con là Bình Trọng.

(Hai cung: Cung vua và cung thượng hoàng

*: Theo ĐVsktt)
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 14: Phạm Hữu, Nguyễn Bằng trở về quê cũ (1)


Không biết bao nhiêu trai tráng Đại Việt đã bỏ mình vì nước, trong đó có rất nhiều con em những người dân ở Hải ấp.

Hoàng thượng đã ban chỉ dụ cấp cho mỗi binh lính chết trận một đạo sắc phong dũng binh cùng tấm hoành phi với ba chữ đại Tử vị quốc sơn son thếp vàng để người thân khói hương thờ phụng, lại cấp cho cha mẹ những người lính ấy mỗi người một suất bổng hàng tháng, hưởng đến trọn đời, con cái được nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.

Những vợ lính chết trận, nếu không tái giá được cấp bổng như cha mẹ chồng để lo phần hương hoả.

Từ lúc ở đình về, bà Tô như người điên loạn, bà khóc con.

Bà khóc cái thằng Tô Đại Cơ mất dạy của bà.

Cái thằng bố phải tức đến chết vì không thể nào nói được.

Cái thằng chỉ biết có uống rượu cùng ghẹo gái, ai ngờ đâu lại có hành động anh hùng đến vậy.

Người ta bảo rằng thập vận binh số mười lăm chở quân lương bất ngờ bị lính Thát xông ra đánh cướp ở bãi sông, mười anh em quyết đánh trả bọn giặc, chín người kia lần lượt tử thương chỉ còn một mình Tô Đại Cơ chống sào đẩy thuyền ra xa bờ.

Bọn Thát bắn theo như mưa.

Trên người Cơ trúng mấy mũi tên.

Biết mình không thể sống, chàng lấy gươm chọc thủng thuyền, dìm lương thực xuống sông để quân Thát không cướp mất.

Khi quan quân đánh lui toán quân Thát, không ai tìm thấy xác Tô Đại Cơ đâu.

- Ôi con ơi!

Con vì nước vì dân mà chết.

Từ nay mẹ biết sống thế nào đây?

Linh Từ quốc mẫu về quê dưỡng bệnh, sang thăm an ủi.

- Thôi chị ơi!

Bây giờ dẫu có khóc than vật vã cũng không thể làm người đã chết sống lại được, mà chỉ tổn hao sức khoẻ.

Cháu nó đã vì nước vì dân mà hiến thân mình, cũng nên lấy đó làm điều vinh hạnh.

Nhà vua, triều đình cùng muôn dân bách tính đâu có quên công ơn ấy.

- Ới cô ơi!

Ai cũng biết là như vậy.

Nó sống chỉ là thằng ăn tàn phá hại.

Nó chết, tôi còn có phận nhờ, còn được mát mặt, nhưng đẻ con ra ai lại mong con chết để mà hưởng cái sự hiển vinh bổng lộc bao giờ.

Cả Hải ấp ai cũng bảo.

- Cái thằng Tô Đại Cơ ở nhà hư thế, mới vào lính rèn dũa được mấy ngày đã trở thành người can trường đến vậy.

Thế mới biết ngọc bất trác bất thành khí.

Bây giờ nói đến nó ai chả thương.

(Ngọc không mài giũa không thể thành bảo vật)

- Chết vì nước như thế cũng đáng là cái chết.

Chị tư Phúc không còn có thể khóc thêm được nữa.

Sau cái buổi tối anh cả Thìn báo tin anh tư Phúc đã nằm lại ở chiến trường Bình Lệ, chị như kẻ rơi xuống vực sâu không đáy, vùng vẫy gào khóc nhưng không làm sao thoát ra khỏi cảm giác chơi vơi, hụt hẫng.

Hai đứa con còn bé, chúng chưa ý thức được cái điều quan trọng đang xảy ra với gia đình chúng, chỉ lờ mờ hiểu rằng từ nay bố chúng không về và thấy mẹ khóc gào, thằng anh dắt thằng em lùi lũi tìm chỗ ngồi yên.

ít ngày sau vị lý tể đến đưa giấy của triều đình báo việc anh tư Phúc tử trận và cho người treo lên gian chính giữa nhà bức hoành phi có ba chữ đại Tử vị quốc cùng mấy quan tiền tỉnh bách do nhà nước cấp (Năm Khiến Trung thứ 2 (1226) nhà Trần phát hành hai loại tiền: Tiền tỉnh bách có 69 đồng một quan, dùng tiêu trong dân chúng.

Tiền thượng cung có 70 đồng để nộp cho công khố (ĐVsktt).).

Thôi chẳng phải nói chị tư Phúc vật mình khóc than thảm thiết thế nào nhưng dù nỗi đau buồn có lớn lao đến đâu cũng không thể giết chết được vẻ đẹp căng thừa sức sống của người đàn bà chưa vượt qua tuổi hăm nhăm.

Điều đó làm cho lý tể Vũ Tình thấy lúng túng, lúc lúc lại đưa mắt nhìn trộm bộ ngực phồng đẫy của nàng goá phụ rung lên theo tiếng nấc nghẹn ngào.

Trong đầu óc giàu sức tưởng tượng của Vũ Tình hiện ra toàn những trò tục tĩu.

Nhưng ngày ấy nền văn minh nhân loại chưa "chế tạo" được nhiều kiểu tình ái như dăm bảy thế kỉ sau này mà "kĩ thuật" hôn nhau cũng mới chỉ truyền tới tầng lớp quan trên của đất Đại Việt nên dù có thèm thuồng đến đâu, Vũ Tình cũng chỉ quanh quẩn trong ý nghĩ muốn chị tư Phúc sinh cho mình một đứa con trai.

Bên nhà bà cụ Hải vẫn im ắng, kể cả khi lý tể Vũ Tình đến báo tin con bà tử trận.

Bà cụ không khóc, bà ngồi im, một sự im lặng đanh rắn như được vón kết bằng mọi nỗi khổ đau trên thế gian dồn lại.

Cô con gái bà thắp mấy nén nhang cắm lên ban thờ, khấn vái người anh trai, hai dòng nước mắt lăn dài trên má.

Cô bé khóc tức tưởi không bật lên thành tiếng.

Trời nắng như lửa cháy những người lính bị thương tản vào các gốc cây đợi gọi tên mình đến nhận tấm thẻ thương tích.

Ai có thẻ thương tích khi về quê được miễn lao dịch và được cấp một khoản tiền hàng tháng.

Đám lính làng Cao Duệ có mấy người như Nguyễn Văn Điền, Vũ Tuấn đã lĩnh được thẻ.

Người ta gọi đến Đoàn Sĩ Hiệp.

Viên giám binh hỏi:

- Anh bị thương ở đâu?

Sĩ Hiệp trả lời.

- Tôi bị đập một chuỳ vào lưng rơi từ gò cao xuống, từ ấy như người bị ép ngang ngực, thỉnh thoảng ho ra máu chứ không có vết thương nào cả.

Viên thư lại nói:

- Thế này làm sao mà cấp thẻ cho anh được?

Thẻ thương tích là phải có thương tích rõ ràng chứ.

Ai ép anh ở ngực thì ai biết cái sức ép ấy nó thế nào.

Quân dược hiệu uý, ý ngài thế nào?

Quân dược hiệu uý Phạm Hữu nói:

- Để tôi khám cho cậu ấy xem đã.

Nói xong ông bắt mạch khám cho Sĩ Hiệp, nói:

- Anh này bị nội thương chưa khỏi, rõ ràng bị đánh rất mạnh, có thể cấp thẻ thương tích được.

Viên thư lại viết tên Sĩ Hiệp vào tấm thẻ xương.

Vị giám binh cầm tờ thân sử của Sĩ Hiệp lên xem, cười nói:

- A!

Anh này là người cùng làng với quân dược hiệu uý đây mà.

Có phải vì tình thân thuộc mà quân dược hiệu uý nói như vậy không?

Phạm Hữu nói:

- Tôi quả thực không biết anh ta, chỉ đúng hiện tình mà làm thôi.

Viên giám binh nói:

- Ông nói lạ.

Người cùng làng mà không biết nhau được ư?

Phạm Hữu nói:

- Tôi đi khỏi làng đã hơn ba mươi năm nay, năm chừng mười họa mới về, làm sao biết được những người mới hai mươi tuổi?

- A!

Ông dám bẻ lại tôi à.

Bay đâu!

Đuổi tên lính này ra ngoài.

Quân dược hiệu uý, ông nên dâng lá đơn mà về an dưỡng tuổi già được rồi đấy.

Phạm Hữu đứng lên chắp tay nói:

- Cám ơn ngài!

Đó là điều tôi vẫn mong mỏi từ lâu.

Nói xong, Phạm Hữu đứng dậy đi ra.

Viên giám binh bảo viên phó hiệu uý quân dược:

- Hắn đi rồi!

Từ nay ông không phải dè chừng ai nữa cứ tuỳ ý mà làm, miễn sao chúng ta cùng có lợi là được.

- Tôi sợ ông ta bẩm lên cấp trên, chúng ta khó mà thoát tội.

- Ông lo xa quá làm chi.

Tôi chỉ việc cho hắn mấy chữ tư vị cá nhân, coi thường vương pháp, báo man thương tích cho người thân thuộc, dẫu hắn có muốn yên thân về quê cũng không được nói chi đến chuyện làm hại ai.

- Nhưng ông ta là người có công cứu chữa nhiều tướng sĩ, lại rất liêm chính từ trước tới nay, dễ gì mà hại được.

- Ông thật quá khờ dại.

Đấy chính là tội của hắn chứ đâu phải là công.

Công lao ấy, tư chất ấy có khác nào cái gai trước mắt bao nhiêu người kể cả chánh ty quân dược.

Những ai có tư túi ít nhiều đều ghét hắn.

Ta chỉ việc hô lên một tiếng khối kẻ làm theo.

- Như thế chẳng hoá ra loạn lắm sao?

Viên giám binh cười hề hề, nói:

- Chứ sao nữa.

Hết giặc ngoại bang mới bắt đầu loạn!

Đây nói chuyện Nguyễn Bằng giả vờ buôn bán ở thành Thiện Xiển bên Đại Lý đã hơn ba năm, mọi tin tức thu lượm được đều gửi theo mật tuyến về cho hầu tướng Vương Lâm.

Hôm ấy trời rét, tuyết rơi nhiều nhưng vì là tháng cuối năm nên cửa hàng vẫn mở.

Khách mua hàng ra vào tấp nập.

Đâu đâu cũng nói chuyện chiến sự ở ích châu, ở Ngạc châu và ở Đại Việt.

Nhiều kẻ nói rằng thống tướng Cốt Đãi Ngột Lang đánh tan mấy đạo quân Đại Việt, sắp bắt được vua Đại Việt rồi.

Lại có người bảo thống tướng bị thua mấy trận liền, hết cả quân lương mà vẫn chưa đến được thành Đại La.

Rất nhiều dân phu bị bắt đi phục dịch quân đội quay về nói:

- Chưa biết được thua thế nào nhưng đường sang An Nam khó khăn lắm.

Tất cả dân binh chúng tôi không theo kịp được quân đội, đều tụt lại phía sau.

Nghe nói phía trước đang giao tranh dữ dội.

Quân ta thiệt hại cũng nhiều.

(Chỉ quân Mông Thát và Bắc Thoán)

Chiều hôm ấy có người lính truyền tin đưa đến cho Nguyễn Bằng bức thư triệu hồi.

Nguyễn Bằng bàn giao công việc cho người ở lại, theo anh lính mật tuyến trở về, đi đến ải Quy Hoá gặp quân của Hà Bổng đang truy đuổi tàn quân Mông Thát.

Nguyễn Bằng liền nhập vào đội quân của Hà Bổng cùng đánh giặc cho đến khi bọn Cốt Đãi Ngột Lang chạy hết về bên kia biên giới.

Xong việc, Hà Bổng cho người đưa Nguyễn Bằng về đến thành Đại La.

Nguyễn Bằng đến phủ họ Vương mới hay tin tướng Vương Lâm đã tử trận, thành ra không biết liên hệ với ai, đành đến binh trạm báo việc mình trở về.

ở binh trạm người ta yêu cầu Nguyễn Bằng trình bức thư của Vương Lâm nhưng bức thư đã thất lạc trong khi cùng Hà Bổng truy đuổi quân Thát.

Viên đô uý ở binh trạm nói:

- Như vậy là chưa có lệnh của thượng cấp ông đã bỏ vị trí thừa hành công vụ.

Tội ấy chẳng nhỏ chút nào.

Lính đâu!

Giam người này vào nhà lao chờ điều tra rõ đã.

Thế là Nguyễn Bằng bị tống vào thiên lao, chẳng biết kêu với ai.

Mùa thu tháng bảy, ngày rằm, dân Đại La cúng cháo thí cầu siêu cho những oan hồn.

Các gia đình có người nhà chết trận đốt vàng mã mong cho người cõi âm có được cuộc sống đủ đầy.

Bà cụ Hải chia nắm giấy tiền ra làm hai, phần ít đốt trước, phần nhiều đốt sau.

Bà vừa đốt vừa khấn.

Những tàn tro theo gió bay tản mát như vãi bạc, phân phát cho các cô hồn.

Cô con gái hỏi mẹ:

- Sao bu không đốt luôn một lượt lại chia ra làm gì?

- Dương sao âm vậy con ạ.

Muốn gửi được tiền vàng quần áo cho anh mày phải đốt cúng các quan trước đã.

Đi làm việc gì không có tiền biếu các quan liệu có được không?

Hôm sau, mẹ con bà cụ Hải cùng chị Tư Phúc theo anh cả Thìn dẫn đi Bình Lệ tìm mộ chồng con.

Hai đứa trẻ nhà chị tư Phúc gửi cả sang cho chị cả Thìn trông.

Bốn người ra đến đầu ô, lý tể Vũ Tình chạy theo gọi bảo:

- Bà với cô Phúc đi Bình Lệ sao không đợi tôi.

Khổ!

Dù sao các chú ấy cũng là người phường này.

Tôi là lý tể phải để tôi có trách nhiệm lo liệu với chứ.

Đây!

Tôi cũng đem theo cơm nắm, thức ăn, gạo nước cùng đi với mọi người đây.

Có lẽ cũng phải ba bốn ngày mới tới nơi được.

Bà cụ Hải bảo:

- Gớm!

Hôm nay thầy lý tốt quá nhỉ, giá mọi việc trong phường phố thầy lý đều chu đáo thế này thì dân cũng được nhờ.

Nhưng thôi, thầy lý cứ về không nhỡ ai muốn mua lợn con nuôi lại không có người đóng triện.

Mỗi con triện thu hai chinh, lại còn bao nhiêu thứ khác nữa.

Thầy lý đi với chúng tôi, mỗi ngày thất thu đến hào bạc chứ chả chơi.

Bà con tôi đã có anh Thìn đây đưa đi là được rồi.

Vũ Tình nói:

- Chết!

Bà dạy thế!

Con đã đi với mọi người đâu có quản gì hơn thiệt, cô Phúc nhỉ?

Chị tư Phúc không trả lời.

Vũ Tình quay sang anh cả Thìn, nói tiếp:

- À chú Thìn này!

Mấy hôm nữa về mang giấy sang nhà, tôi đóng triện cho.

Anh cả Thìn nói:

- Cám ơn thầy lý nhưng những hào rưỡi tiền triện, nhà tôi chưa kiếm đủ đâu.

Bà cụ Hải bảo:

- Chết!

Sao bảo mỗi con triện triều đình quy định chỉ thu có năm đồng cắc, thu đến hai chinh là quá lắm rồi.

Nhà anh làm gì mà mất những hào rưỡi?

Cả Thìn nói:

- Dạ nhà con định xin cái giấy mở cửa hàng bán giày guốc ạ, nhưng thầy lý đây nhất định bắt nộp hào rưỡi mới đóng dấu cho.

Cụ Hải nói:

- Thảo nào cô lý sắm toàn váy đẹp.

Vũ Tình cười làm lành, nói:

- Ấy cũng là luật lệ nhà nước cả, nhưng thôi hôm nào về, chú cứ sang tôi triện cho không phải tiền nong gì cả.

Nói xong câu ấy, Vũ Tình đánh mắt nhìn chị tư Phúc.

Bà cụ Hải cười bảo:

- Thế hoá ra luật lệ nhà nước ở trong tay, các thầy còn kiếm bằng mấy những đứa đi buôn lậu rượu ngoại ấy nhỉ!

Vũ Tình đánh trống lảng:

- Thôi!

Bà con mình đi nhanh kẻo nhỡ đò.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 14: Phạm Hữu, Nguyễn Bằng trở về quê cũ (2)


Nguyễn Bằng từ hôm bị giam, trong lòng buồn bực, nghĩ mình tận trung, không làm gì nên tội mà phải giam cầm, mới đưa ít bạc lẻ cho người lính coi ngục nhờ mua chút rượu về cùng uống.

Cũng may được anh lính coi ngục mới vào nghề nên hiền lành tử tế, biết Nguyễn Bằng là người đàng hoàng có học thì coi trọng.

Nguyễn Bằng xin giấy mực viết bức thư cho Phạm Hữu.

Phạm Hữu biết chuyện liền đến nhà ngục đút tiền cho lính canh để vào thăm.

Hai người ôm nhau khóc, kể lể sự tình.

Nguyễn Bằng nói:

- Anh em mình hết lòng vì nước từ lúc tóc còn xanh, luôn tự nhủ phải lo tròn phận sự, đã hơn ba mươi năm, tuổi ngoại ngũ tuần, tóc bạc trắng cả, ngờ đâu bây giờ đều mắc vào vòng oan nghiệt thế này mà chẳng biết kêu ai!

Phạm Hữu bảo:

- Thôi!

Chú cứ yên tâm.

Tôi sẽ tìm mọi cách cứu chú ra rồi ta cùng về quê mà di dưỡng tuổi già.

Phạm Hữu về bán đồ đạc trong nhà đem tiền bạc đến đút cho viên đô úy ở binh trạm xin cho Nguyễn Bằng ra.

Viên đô uý nói:

- Cũng may mà tôi chưa đưa lên thượng cấp.

Ông cứ về đi, ngày Canh Dần đến mà đón ông ấy.

Phạm Hữu nghe nói vậy khấp khởi mừng, đến ngày Canh Dần tới cổng nhà lao chầu chực sớm, không ngờ mãi lúc mặt trời đứng bóng, nắng như thiêu như đốt vẫn chưa thấy Nguyễn Bằng được tha ra.

Bọn lính gác ngục đã thay phiên ra ngoài ăn cơm trưa.

Phạm Hữu đến gần một người hỏi:

- Chú lính ơi!

Làm ơn cho tôi hỏi thăm ông Nguyễn Bằng đã được ra chưa?

Người ngục tốt mặt lạnh như thoi bạc, nói:

- Ai được tha hôm nay đã tha hết rồi còn gì.

- Tôi ở đây từ sáng sớm đã thấy ai ra đâu?

- Thế thì cũng sắp ra đấy.

Phạm Hữu vừa đói vừa khát nhưng không dám đi ăn uống gì vì sợ Nguyễn Bằng ra lại không gặp nhau, đành đứng chờ đến khi mặt trời xuống sát luỹ tre.

Năm sáu thân nhân những kẻ có "tội" hôm nay được tha cũng đứng chầu chực nhưng chẳng ai đón được người nhà.

Quá đói khát mệt mỏi, Phạm Hữu đành ra một ngôi quán gần đấy uống nước, ăn bánh.

Bà chủ quán hỏi:

- Ông đi đón người nhà trong lao hay sao?

- Vâng!

Tôi đi đón suốt từ sáng đến giờ vẫn chưa thấy đâu.

- Trời ơi!

Ông cứ đứng đấy mà đón thì phải đến cuối giờ Hợi mới được tha.

(Cuối giờ Hợi là vào khoảng sát nửa đêm)

Phạm Hữu ngạc nhiên hỏi:

- Sao vậy bà?

Trong giấy nói rõ ràng tha vào ngày Canh Dần mà?

- Thì giờ Hợi cũng còn là ngày Canh Dần chứ đã sang ngày Tân Mão đâu.

Ông muốn người nhà ra sớm phải đút cho lính gác cổng kia một ít, nếu không, thuê tôi làm cho.

Phạm Hữu cám ơn người chủ quán, rồi đi về phía cổng nhà lao.

Người chủ quán dặn với:

- Này ông!

Nó có bảo xin chai rượu đừng có thực thà mua rượu vào mà hỏng việc đấy.

Phạm Hữu hiểu ý, bước đi.

Anh lính gác cổng còn trẻ, tươi cười hỏi:

- Bác có chuyện gì?

Phạm Hữu nói:

- Này chú lính.

Tớ cũng là lính có việc này chú mày giúp cho được không?

Tớ có ông em bị giam trong đó, hôm nay được tha mà sao giờ chưa thấy ra?

Anh lính gác cổng cười nói:

- Việc này nó tế nhị lắm bác ạ

- Lính tráng cả với nhau; cái tế nhị lắm ấy nó thế nào cứ nói cho tớ biết.

- Bác cho chai rượu để cháu bảo các anh ấy kí giấy cho là ra ngay không đợi đến đêm.

Phạm Hữu đã được bà chủ quán mách nước mới đưa cho anh lính bốn đồng tiền hào, bảo:

- Tớ không biết các vị uống rượu gì, trăm sự nhờ cậu giúp cho.

Tuy số tiền có thể mua được năm chai rượu ngon cùng với đồ nhắm nhưng người lính vẫn có vẻ ngần ngừ.

Phạm Hữu hỏi:

- Như thế liệu đã đủ chưa?

Anh lính cười, nói:

- Kể ra hơi ít.

Phạm Hữu dúi thêm cho một hào nữa, hỏi:

- Thế đã được chưa?

Anh lính tươi cười nói:

- Tốt quá rồi.

Bác cứ ra ngoài ấy đứng đợi, một tí là ra ngay đấy.

Phạm Hữu ra gốc cây gần đấy đứng đợi, chừng nhai giập miếng trầu, thấy người lính gác cổng gọi:

- Này người nhà bác ra rồi đây này.

Mấy người đi đón thân nhân ồn lên hỏi:

- Ơ!

Sao người nhà chúng tôi chẳng thấy đâu cả nhỉ?

- Sao bây giờ mới có một người ra là thế nào?

- Quái!

Sao đến tối mới tha người ta thì làm sao mà lần mò về nhà được.

Anh lính gác bảo mọi người:

- Tất cả đứng ra ngoài kia đợi, biết điều sẽ được ra sớm không đến đêm, nghe chửa.

Phạm Hữu nói nhỏ với đám người nhà phạm nhân câu gì đó.

Tất cả chạy dồn lại phía anh lính gác.

Trên đường về Phạm Hữu hỏi Nguyễn Bằng:

- Tôi đã xin nghỉ việc, định ngày mai đem cả nhà về quê, chú có về một thể không?

Nguyễn Bằng nói:

- Em muốn về lắm nhưng nghĩ cũng tức.

Mình công khó công nhọc bao nhiêu năm chả lẽ bây giờ về tay trắng.

Có lẽ em phải tìm đến phủ thái sư.

- Thôi chú ơi!

Thái sư bây giờ già về Thiên Trường nghỉ rồi.

Chú tìm đến thì thái sư biết chú là ai.

Có khi còn mang vạ.

Tôi cũng có hơn gì đâu, suýt nữa bị nó hại cho mất mạng ấy chứ.

Qua cơn binh lửa được nguyên tuyền về với vợ con là may rồi.

Nguyễn Bằng buột mồm chửi:

- Mẹ cha những thằng quan đểu, không biết lúc chống giặc chúng ở đâu mà bây giờ chui ra lắm thế.

Thôi về quách nhà quê vậy.

Phạm Hữu cười bảo:

- Này!

Nhưng đừng tưởng về quê mà không có quan đểu đâu nhé.

Tháng bảy mưa ngâu, từng đợt mưa sùi sụt lê thê như nỗi buồn chia li, tưởng không bao giờ dứt.

Người ta bảo đó là nước mắt của đôi vợ chồng phải xa nhau, mỗi năm chỉ được gặp một lần.

Đôi vợ chồng ấy thật là bất hạnh, nhưng dù sao họ cũng còn có hạn có kì để mà hẹn gặp.

Còn những người vợ có chồng nằm lại nơi này...

Trời về chiều mưa tầm tã, từng đoàn người đi tìm mộ thân nhân ngày càng kéo đến đông, vợ mọn con thơ, ông già bà lão đội mưa lội lóp bóp trong bùn, tiếng than khóc kêu gào ướt nhoè trong hơi gió, vô cùng thảm đạm thê lương.

Chị tư Phúc tìm thấy mộ chồng ngay từ hôm vừa đến, khóc lăn khóc lộn làm lý tể Vũ Tình vất vả lắm mới đỡ cho đứng lên được.

Sự tận tâm của Vũ Tình với chị tư Phúc làm mẹ con bà cụ Hải và anh cả Thìn yên lòng đi tìm mộ chú Sơn.

Mấy nghìn ngôi mộ lính được chia làm hai khu vực.

Một khu có ghi tên tuổi quê quán từng người, khu kia là những ngôi mộ vô danh.

Tất cả các bia mộ đã được đọc kĩ càng, nhẩm đi nhẩm lại nhưng vẫn không tìm thấy mộ chú Sơn.

Bà cụ Hải hỏi anh cả Thìn:

- Có còn ở đâu nữa không anh?

Cả Thìn trả lời:

- Sát bìa rừng đằng kia còn một khu nữa.

Bà con mình lại đằng ấy xem sao.

Ba người đi lại phía bìa rừng.

Vũ Tình vẫn đỡ cho tư Phúc khỏi lăn xuống đám nước bùn, trong khi nâng đỡ ấy thầy lý đã nhỡ tay đụng phải cái chỗ nhạy cảm nhất của người đàn bà.

Không ngờ cái nhỡ tay được tính toán chu đáo và chờ đúng thời điểm ấy lại có tác dụng như một liều linh đơn thần dược.

Chị tư Phúc không gào khóc nữa chỉ còn ấm ức trong cổ, nhẹ nhàng nép mình nhận sức nóng từ khuôn ngực thầy lý.

Những nén hương trên mộ anh tư Phúc đã tắt hết, bột hương cũng rã ra trôi theo nước, trơ lại những cọng xương tăm run rẩy trong sự dập vùi thô bạo của gió mưa.

Lý tể Vũ Tình vuốt mặt, mỉm cười, sau khuôn mặt bảnh bao dễ coi của y là bao nhiêu ý nghĩ bậy bạ đang đú đởn quay cuồng.

Anh cả Thìn cùng mẹ con bà cụ Hải tìm hết các bia mộ bên bìa rừng nhưng cũng không có tấm nào đề tên chú Sơn.

Cả Thìn bảo:

- Thế này nhất định chú Sơn nằm trong khu mộ vô danh kia rồi.

Không thể nào tìm được nữa.

Ba bà con tần ngần đến trước khu mộ vô danh nhưng chỉ có bạt ngàn nấm đất.

Không hi vọng tìm ra ngôi mộ của Sơn.

Bà cụ Hải bảo cả Thìn và cô con gái che áo tơi lá, châm lên một bó hương lớn, bà cầm nắm hương nói:

- Sơn ơi!

Mẹ không tìm thấy con nhưng tất cả các con nằm đây đều là con của mẹ.

Tất cả các con đều là con của mẹ!

Nói xong, bà cụ cắm nắm hương nơi đầu gió, mưa ngớt dần, khói hương lan toả khắp khu mộ những người lính chiến vô danh.

Dáng người mẹ cao vời giữa khoảng đồng không đầy gió mây vần vũ.

Con ngựa già gõ móng kéo chiếc xe trên mặt đường lầm bụi.

Vầng kim ô xuống dần, hoàng hôn thu lại chút nắng vàng cuối cùng còn rơi rớt trên những ruộng mạ non.

Không gian vắng lặng.

Tít phía xa có bóng vài người nông phu cùng mấy chú mục đồng thong thả dắt trâu về làng, đôi ba cánh cò lấp lánh trên khoảng trời trong veo.

Những chú dơi nhào lộn trên không như nghệ nhân biểu diễn trò tạp kỹ.

Đã gần năm năm Nguyễn Bằng mới được trở về, ông say sưa ngắm nhìn phong cảnh quê hương, bỗng tiếng chuông vọng lại từ một ngôi chùa cổ phía xa làm Nguyễn Bằng dứt ra khỏi trạng thái nửa mơ nửa tỉnh, ông nói:

- Bác Hữu ạ!

Em chưa bao giờ thấy quê mình đẹp đến thế này.

Hồi ở bên Đại Lý, có những lúc nhớ nhà đến cồn cào gan ruột.

Giờ gần về đến làng rồi cứ nghĩ như ngày còn trẻ chúng mình vẫn đi học qua cánh đồng này.

Phạm Hữu bảo:

- Chú thật là người đa cảm...

Đường về làng không còn xa nhưng cũng chẳng ít ổ gà đâu.

Đúng là ngôn ngữ của anh chàng tha hương, ai đi xa trở về mà chả yêu quý gốc vối nhà mình.

Nguyễn Bằng nói:

- Vẫn biết là thế nhưng nghĩ đến lúc đặt chân trên mảnh vườn nhà sao em thấy nao nao trong lòng thế nào ấy.

Chử thị vợ Phạm Hữu bảo:

- Cũng phải coi chừng khối bọ nẹt đấy, nó lại chả đốt cho sưng mặt lên ấy.

Nguyễn Bằng nói:

- Sâu bọ ở đâu chả có hả chị, cứ sợ nó làm sao mà sống được.

Phạm Hữu cười lớn, khen:

- Khá lắm!

Thế mới đáng là trang nam tử.

Hết giặc rồi ta về dọn sạch vườn nhà, có lẽ đâu lại sợ loài sâu bọ.

Chử thị thấy chồng hào hứng quá, cũng cười bảo:

- Thôi!

Lạy các ngài.

Các ngài cứ liệu mà sống yên cho chị em tôi nhờ, bắt sâu bắt bọ ở đâu chẳng thấy nó lại cho mỗi thầy một miếng có mà kêu giời cũng xa.

Mải vui chuyện, giời đã sập tối.

Người đánh xe cho ngựa ngoặt vào cổng làng.

Bỗng phía trước có người thét:

- Nó đây rồi!

Bắt lấy nó.

Theo tiếng thét, mấy người tuần đinh cầm mồi lửa, tay thước xồng xộc kéo đến.

Con ngựa già sợ hãi chùn lại.

Nguyễn Bằng, Phạm Hữu cùng nhảy xuống xe.

Tiếng la hét dội lên càng dữ dằn hơn trước, có cả tiếng xích sắt loảng xoảng.

Một người nói:

- Xích cổ nó lại cho ông chứ chúng mày sợ à?

Thật là:

Vừa qua nạn nước cơn binh lửa

Lại thấy quê hương cảnh xích xiềng

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem tráng đinh đang đuổi người nào.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 15: Nguyễn trạng nguyên bẻ sứ phương Bắc


Trên kia đang nói Nguyễn Bằng cùng gia đình Phạm Hữu về đến đầu làng, trời đã tối lại thấy đinh tráng gậy gộc săn đuổi ai đó.

Hai chàng vừa nhảy xuống xe, có người quát hỏi:

- Xe nào đây?

Nguyễn Bằng nói:

- Chúng tôi đây.

Trong ánh đuốc có người nhận ra, reo lên:

- A!

Quan quân dược hiệu uý Phạm Hữu!

Ơ lại cả quan huyện lệnh Nguyễn Bằng nữa.

Mọi người đều chắp tay bái chào.

Phạm Hữu nói:

- Không dám!

Không dám!

Chúng tôi bây giờ không phải là quan nữa rồi, về nhà sống cùng dân làng, mong bà con giúp đỡ.

Chẳng hay làng ta có chuyện gì mà ồn ã vậy?

Một thanh niên tiến lên nói:

- Tôi là Nguyễn Vĩ Thử, lý tể làng này, xin các vị cho xem tín thẻ.

Nguyễn Bằng, Phạm Hữu cùng rút tín thẻ đưa ra.

Vĩ Thử xem xong cho đi.

Đám tráng đinh vẫn nhao nhao đuổi bắt ai đó.

Nguyễn Bằng nói với Phạm Hữu:

- Quái!

Cái thằng này là con xã quan Nguyễn Vĩ Thố đây mà, nó lạ gì mình mà còn đòi xem thẻ, nghe nói nó trốn lính năm lần bảy lượt, chẳng hiểu sao lại làm lý tể làng này thế nhỉ?

Phạm Hữu cười nói:

- Thì tôi đã bảo đừng tưởng về quê là thoát cái nạn quan đểu mà lại.

Lúc về đến nhà, Nguyễn Bằng hỏi vợ xem trong làng xảy ra việc gì.

Phạm Thị nói:

- Hai bác với thầy em không biết chứ ở nhà bây giờ nhiễu nhương lắm.

Lý Thử lùng bắt con Điệp đấy.

- Cô Điệp làm sao mà bị lùng bắt.

- Ôi dào!

Thật khổ.

Lý Thử phải lòng con Điệp nhưng con Điệp nó chê lý Thử là hèn nhát trốn lính, làm quan thì hách dịch thất đức.

Dạo đánh Thát, lý Thố mang dân làng đi phu dịch phục vụ quan binh lên tận Nguyệt Đức, chẳng may bố con Điệp ngã nước phải vay của của lý Thố năm đồng bạc mua thuốc nhưng khi về làng được ít lâu thì cũng chết.

Sau giặc Thát thua chạy, quan trên mang sắc chỉ khen thưởng những người có công.

Nguyễn Vĩ Thố vì có công đưa dân phu đi phục vụ quan binh, được điều lên làm việc ở huyện.

Nguyễn Vĩ Thử được làm lý tể vì khi đi dân phu đã làm tốt việc nấu ăn cấp dưỡng cho mọi người.

Đến nay con Điệp vẫn chưa trả được món nợ, định gán mảnh vườn nhưng lý Thử không chịu, muốn bắt con Điệp về làm vợ bé, nó phải trốn đi.

Phạm Hữu bảo:

- Thế mà dân làng không ai bênh con bé à?

Phạm Thị bảo:

- Bác bảo ai dám động đến lý Thử bây giờ, bố nó chả mang lính trên huyện về bắt đi sớm.

Nguyễn Bằng bảo:

- Huyện cũng còn huyện lệnh và các cai kí khác nữa chứ, phải đâu chỉ có bố con nó.

Phạm Thị nói:

- Thầy em cứ như trên giời rơi xuống ấy.

Các quan trên huyện có về nhà nó đánh chén, chơi tổ tôm, ôm đào hát thì có, chứ những việc như thế ai bõ làm.

Bênh một con bé mồ côi, chẳng được cái gì lại mất lòng đồng liêu, họ ngại.

Nguyễn Bằng lắc đầu nói:

- Cứ tưởng mùa Đông qua là mùa xuân toàn cỏ cây tươi đẹp.

Phạm Hữu bảo:

- Thì ai bảo mùa xuân cỏ cây không tươi đẹp?

Càng tươi đẹp càng lắm sâu bọ nhoi ra có gì là lạ.

Bấy giờ là năm Thiệu Long thứ tư (Tân Dậu-1261) quan thái sư Trần Thủ Độ tuổi cao sức yếu thường nghỉ ở thái ấp Quắc Hương, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đóng binh ở Vạn Kiếp, đại tướng quân Lê Tần nắm giữ thuỷ quân.

Các việc trong triều do quan đại hành khiển Nguyễn Giới Huân sắp đặt.

Mùa Hè, nhà Nguyên cho sứ thần là lễ bộ lang trung Mạnh Giáp, viên ngoại lang Lý Văn Tuấn mang thư của vua Nguyên Hốt Tất Liệt sang dụ.

Trong thư có đoạn đại lược như sau:

"Quan liêu sĩ thứ An Nam, phàm việc mũ áo, lễ nhạc, phong tục đều căn cứ theo lệ cũ nước mình, không phải thay đổi.

Huống chi, nước Cao Ly mới rồi sai sứ sang xem, đã xuống chiếu cho hết thảy đều theo lệ ấy.

Ngoài ra đã răn bảo các biên tướng ở Vân Nam không được tự tiện đem quân lấn cướp các nơi cương giới, quấy nhiễu nhân dân.

Quan liêu sĩ thứ nước ngươi yên ổn làm ăn như cũ..."

(ĐVsktt)

Nhà vua mở tiệc đãi yến bọn Mạnh Giáp ở cung Thánh Từ.

Hôm sau lên điện, nhà vua nói:

- Ngày nay nhà Nguyên cho sứ thần đến.

Trẫm muốn cử sứ bộ sang Nguyên thông hiếu.

Các khanh bàn xem nên cử người nào đi cho lợi.

Quan đại hành khiển Nguyễn Giới Huân tâu:

- Thần cho rằng quan hàn lâm viện học sĩ kiêm quốc tử viện giám tu là Lê Văn Hưu có thể cử đi được.

Người này học rộng tài cao, thông kinh bác sử, làm việc cẩn trọng, ứng đối mau lẹ chắc không làm hổ thẹn quốc uy.

Quan hàn lâm viện thị độc là Trần Chu Hinh bước ra tâu:

- Thần cho rằng việc bang giao với nhà Nguyên không ai hơn Lê Phụ Trần, ông ấy đã quen đi lại với người Nguyên.

Hoàng thượng nên cử ông ấy đi thì hơn.

(Trần Chu Hinh: Người làng Đan Nhiếm, huyện Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên ngày nay), đỗ bảng nhãn khoa thi năm Bính Thìn (1256), làm quan đến hàn lâm viện thị độc)

Quan thị lang Trương Xán nói:

- Quân tình là việc trọng không thể mỗi lúc thay người thống suất.

Lê đại tướng quân là cột trụ của quân đội không thể để đi sứ.

(Trương Xán: Người xã Hoành Bồ, huyện Hoành Sơn (Bố Chính, Quảng Bình), đỗ trại trạng nguyên khoa thi năm Bính Thìn (1256), làm quan đến thị lang, hàm tự khanh)

Các quan người nói này người nói kia rốt cuộc vẫn không chọn được ai đi sứ.

Quan thái phó Trình Quốc công Phạm Văn Tuấn tâu:

- Thần nghĩ nên hỏi Nguyễn thượng thư hẳn có ý kiến hay.

(Phạm Văn Tuấn: Người thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, Cẩm Giàng, Hải Dương đỗ bảng nhãn khoa thi năm Bính Ngọ (1246), làm quan đến hành khiển bình chương quân quốc sự, tước Trình quốc công, khi mất được truy tặng hàm Tư đồ)

Thánh Tông nhớ ra, ồ lên một tiếng nói:

- Khanh không nhắc thì trẫm quên mất cuốn bách khoa toàn thư này.

Nguyễn thượng thư là ai mà Thánh Tông đề cao đến như vậy?

Người ấy họ Nguyễn tên Hiền quê quán ở xã Dương A, huyện Thượng Hiền, đỗ trạng nguyên khoa thi năm Đinh Mùi (1247), lúc ấy mới mười ba tuổi.

Khi vào bái yết nhà vua, Thái Tông thấy chú bé loắt choắt, mang mũ áo trạng nguyên rộng thùng thình, vua hỏi:

- Trạng học với ai?

Nguyễn Hiền đáp ngay:

- Tôi học ở chùa, thỉnh thoảng mới hỏi sư cụ vài chữ .

Vua thấy trạng nói cụt ngun ngủn, liền phán:

- Nhà ngươi tuy đã đỗ trạng nguyên nhưng tính khí còn con trẻ, về nhà học lễ phép trong ba năm rồi hãy ra làm quan.

Ít lâu sau có sứ thần phương Bắc sang, muốn thử xem triều đình Đại Việt có người tài không, liền đưa ra một câu đố như sau:

Lưỡng nhật bình đầu nhật

Tứ sơn điên đảo sơn

Lưỡng vương tranh nhất quốc

Tứ khẩu tung hoành gian.

Cả triều đình không ai giải được.

Nguyễn Quang Quan xin nhà vua cho mời tân quan trạng Nguyễn Hiền (Nguyễn Quang Quan: Người thôn Tam Sơn, xã Tam Sơn, Bắc Ninh, đỗ trạng nguyên khoa thi năm Bính Ngọ (1246), làm quan đến bộc xạ, khi mất được truy phong hàm Đại tư không).

Thái Tông liền cử Ngô Khắc (Ngô Khắc: Đỗ đệ nhị giáp khoa thi thái học sinh năm Kỷ Hợi (1239).) tức tốc phi ngựa về quê tìm Nguyễn Hiền.

Khi tìm đến nhà chỉ thấy một chú bé đang lúi húi đun bếp lại lấy que cời tro vẽ mày râu lên ông bồi rau, Ngô Khắc liền thử đọc một câu đối:

- Ngã văn quân tử viễn bào trù, hà sự tu mi táo (Tôi nghe nói người quân tử nên tránh chỗ bếp núc, việc gì phải sửa râu mày cho ông táo thế).

Chú bé ứng khẩu đối ngay:

- Ngộ bản hữu quan cư đỉnh nại, khả dĩ tạm điều canh (Ta vốn làm quan ở hàm khanh tướng, bây giờ tạm nấu canh thôi).

Ngô Khắc biết rõ là Nguyễn Hiền đây rồi, liền đưa chiếu chỉ của vua gọi.

Hiền nói:

- Nhà vua bảo ta không biết lễ, thực ra vua cũng chẳng hơn gì.

Đây dẫu không có Ngoạ Long cương nhưng lẽ nào không có sông Vị Thuỷ.

(Lưu Bị nhà Thục Hán cầu Gia Cát ở Ngoạ Long cương, Văn Vương nhà Chu cầu Khương Tử Nha ở sông Vị Thuỷ đều rất cung kính.

Ý Nguyễn Hiền muốn chê vua Trần không biết coi trọng người hiền tài)

Hiền nói rồi nhất định không tuân chỉ.

Ngô Khắc vội trở về tâu lại.

Triều thần có người nói Nguyễn Hiền ngông cuồng, không tuân chỉ là khi quân phạm thượng xin nhà vua giáng tội.

Nguyễn Quang Quan nói:

- Nguyễn Hiền không tuân chỉ là có tội nhưng lời nói không phải không có lý, điều đó càng chứng tỏ tân trạng nguyên tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã có khí tiết khác người.

Xin hoàng thượng lấy lễ cầu hiền mà đón, sau này nếu không có tài thì trị tội cũng chưa muộn.

Thái Tông nghe theo, cho Ngô Khắc mang quân lính võng lọng đến đón, Hiền mới chịu đi.

Dọc đường Ngô Khắc sợ Nguyễn Hiền không giải được câu đố mới nói trước cho biết.

Hiền cười bảo:

- Điều đó có khó gì.

Ông ra mua cho tôi một cái bánh chưng.

Hôm sau nhà vua thiết triều.

Sứ giả phương Bắc nghêng ngang tự đắc cho rằng Đại Việt không thể giải được câu đố.

Nhà vua phán:

- Những trò chơi chữ kiểu học trò con nít này đâu cần bận tâm đến các đại thần, để ta bảo một chú bé giải câu đố ấy - Quay sang bảo thị thần gọi Nguyễn Hiền vào, lại bảo sứ giả - Nhà ngươi nói lại câu đố với chú bé này đi.

Sứ giả nhìn chú bé cười khinh mạn, đọc lại câu đố.

Nguyễn Hiền cười ngất, bảo:

- Tưởng câu đố khó thế nào.

Ông đã có công sang nước tôi mà lại lấy sản vật nước tôi ra đố thì ai chả biết.

Thứ này người Đại Việt có từ thời Hùng vương cơ.

Người ta ăn chán ra rồi.

Nó là cái bánh chưng này này.

Nói xong, Nguyễn Hiền móc cái bánh chưng đặt toạch lên bàn.

Sứ thần cười ồ lên bảo:

- Không đúng rồi!

Không đúng rồi.

Cả triều đình mặt tái mét.

Riêng Nguyễn Hiền bình tĩnh vặn lại sứ thần:

- Đúng chứ sao không đúng?

Sứ Bắc bảo:

- Nhà ngươi hãy giải cho rõ, nếu không có lý thì phải đánh đòn.

Nguyễn Hiền ung dung nói:

- Nếu tôi nói có lý thì sao?

Sứ Bắc nghĩ nắm chắc phần thắng trong tay mới nói quyết rằng:

- Ngươi nói có lý thì ta đi chân đất mà về, quyết không đòi cống phẩm gì hết.

Nguyễn Hiền nói:

- Xin cả triều đình làm chứng cho.

Xin hoàng thượng ban cho giấy mực.

Thái Tông truyền lấy giấy mực.

Nguyễn Hiền bảo sứ thần:

- Xin ngài hãy vẽ cái bánh chưng này đi rồi sẽ biết, nó chỉ là một hình vuông với hai cái lạt buộc chữ thập ở giữa thôi.

Cả triều đình cười ồ lên ai cũng hiểu ra đó là chữ điền.

Chữ điền gồm hai chữ nhật ghép sát nhau, hoặc bốn chữ sơn châu đầu vào nhau, hoặc hai chữ vương đặt vuông góc tại điểm giữa nhau, hoặc bốn chữ khẩu dồn khít lại.

Sứ thần phương Bắc không thể nói gì được nữa, đành tháo giày đi chân đất lủi thủi ra về.

Thái Tông tươi cười phán:

- Tân trạng nguyên tuổi trẻ tài cao.

Trẫm phong hàm thượng thư.

Nhà vua nói xong, lại ban thưởng rất hậu.

Trên kia đang nói việc Phạm Văn Tuấn khuyên vua Trần Thánh Tông hỏi ý kiến Nguyễn Hiền xem nên cử ai đi sứ sang thông hiếu với nhà Nguyên.

Lúc ấy Nguyễn Hiền đang đi kinh lý miền ven biển, nhận được chỉ dụ liền về triều ngay.

Được nhà vua hỏi, Nguyễn Hiền tâu:

- Thần nghĩ việc này nên giao cho thông thị đại phu Trần Phụng Công, chư vệ kí ban Nguyễn Thám làm phó sứ thì không phải lo gì nữa.

Khi bọn Mạnh Giáp, Lý Văn Tuấn trở về Nguyên, Thánh Tông cho Trần Phụng Công làm chánh sứ, Nguyễn Thám làm phó sứ, lại cử thêm viên ngoại lang Nguyễn Diễn cùng theo đoàn sứ Nguyên sang kinh đô Khai Bình của nhà Nguyên.

Quả nhiên như lời Nguyễn Hiền dự đoán, đoàn sứ bộ do Trần Phụng Công dẫn đầu đã hoàn thành sứ mệnh bang giao.

Vua Nguyên phong Trần Thánh Tông làm An Nam quốc vương, lại gửi tặng ba tấm gấm Tây Thục, sáu tấm gấm Kim Thục.

(Theo ĐVsktt)
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 15: Lê bảng nhãn chép sử cõi Nam (1)


Lúc bấy giờ dân nước làm ăn yên ổn trong ba bốn năm không có nạn binh đao, nhưng khắp nơi bọn tham quan ô lại gây sự phiền hà sách nhiễu bách tính.

Quan thượng thư Nguyễn Hiền tâu rằng:

- Nay thống quốc thái sư già yếu, xã tắc thiếu người gánh vác.

Bọn tham quan nhân cơ đục nước hà hiếp muôn dân.

Xin hoàng thượng cất nhắc người lương đống để trông coi việc triều chính.

Nhà vua nói:

- Trong hai người Quốc Khang và Quang Khải ta muốn phong một người làm thái uý, các khanh hãy chọn cho ta.

Nói xong, nhà vua nhìn quan học sĩ Lê Văn Hưu có ý dò hỏi.

Nhưng vì Lê Văn Hưu là thầy của Trần Quang Khải nên giữ ý không nói.

Quan thẩm hình viện Đặng Ma La tâu:

- Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải là người kiêm văn toàn võ, bác sử thông kinh, nghiêm trang mực thước nên chọn.

(Đặng Ma La: Người làng Tốt Động, huyện Chương Mỹ, Hà Tây, đỗ thám hoa đồng khoa với Nguyễn Hiền và Lê Văn Hưu)

Các quan đều cho là phải.

Nhà vua liền phong cho Trần Quang Khải làm thái uý.

Ngô Tần bước ra tâu:

- Hưng Đạo vương nay nắm binh quyền đóng ở Vạn Kiếp.

Thần nghe khi xưa An Sinh vương sắp qua đời có dặn lại những lời phản nghịch.

Xin hoàng thượng lưu tâm minh xét.

(Ngô Tần: Người Trà thi năm Đinh Lộ, đỗ Giáp khoa, khoa Mùi - 1247)

Phạm Văn Tuấn nói:

- Tôi không tin Hưng Đạo đại vương lại phản trắc.

Nay người Nguyên đang dồn người Tống đến bước đường cùng.

Nếu nước Tống mất, ắt đến lượt nước ta.

Mong hoàng thượng chăm lo hơn nữa việc binh bị.

Đại phu Trần Phụng Công nói:

- Trình quốc công nói đúng lắm.

Thần cũng cho rằng người Nguyên hoà mục với ta chỉ là kế hoãn binh chờ thời mà thôi.

Xin hoàng thượng tăng cường binh lực hơn nữa.

Quan hàn lâm học sĩ Lê Văn Hưu tâu:

- Từ xưa tới nay các bậc thánh đế đều lấy việc sửa mình, chăm lo cho dân được an lạc âu ca làm điều cội rễ.

Xin quan gia trừ bỏ bọn tham quan ô lại để muôn dân bách tính được thấm nhuần ơn mưa móc.

Thánh Tông khen phải.

Tháng hai năm sau (1262), thượng hoàng ngự ở hành cung Tức Mặc, ban tiệc lớn.

Các hương lão từ sáu mươi tuổi trở lên, mỗi người được ban tước hai tư, đàn bà được hai tấm lụa.

(ĐVsktt)

Tháng ba cho chế tạo vũ khí, chiến thuyền.

Quân thuỷ lục tập trận trên chín bãi phù sa sông Bạch Hạc.

Mùa Thu, tháng chín soát lại số tù, kẻ nào khi quân Nguyên sang mà đầu hàng thì không tha.

Một hôm Thánh Tông ngự thuyền rồng trên sông, nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy, nhà vua hỏi:

- Sông này chảy vào nước ta từ địa phận Quy Hoá, vậy nguồn cội nó ở nơi nào?

Lê Văn Hưu bước ra tâu:

- Sông này bắt nguồn từ hồ nước trên miền núi cao của người Tạng, chảy qua đất Đại Lý hai nghìn sáu trăm dặm rồi đổ vào nước ta từ địa phận Quy Hoá ra đến cửa bể Đại Bàng một nghìn tám trăm dặm nữa, cả thảy là bốn nghìn bốn trăm dặm.

Nhà vua nói:

- Sông có ngọn nguồn người có tổ tông, vậy nước Đại Việt ta có từ bao giờ?

Hưu tâu:

- Muôn tâu hoàng thượng!

Giống người Việt Thường ta có từ thuở hồng hoang mờ tối nhưng đến họ Hồng Bàng mới lập quốc, tới nay đã mấy nghìn năm, trải nhiều quốc hiệu, thời vua Hùng tên nước là Văn Lang, vua An Dương vương tên nước là Âu Lạc, đến nhà Tiền Lý đặt tên nước là Vạn Xuân, Vua Đinh Tiên Hoàng lấy tên nước là Đại Cồ Việt, đến vua Thánh tông nhà Hậu Lý (1054) mới lấy tên là Đại Việt.

Vua khen:

- Ai cũng nói khanh là người học sâu biết rộng, quả không sai.

Nhưng các khanh hãy nói họ Hồng Bàng lập quốc thế nào?

Quan ngự sử trung tướng Trần Chu Phổ tâu:

- Lê học sĩ nói như thế cũng còn chưa đủ.

Nước ta có thể xem như bắt đầu lập quốc từ thời Kinh Dương vương Lộc Tục.

Con Lộc Tục là Sùng Lãm nối ngôi cha gọi là Lạc Long Quân đặt quốc hiệu là Xích Quỷ.

Lạc Long Quân lấy con gái đế Lai là bà Âu Cơ...

Nhà vua ngắt lời:

- Chuyện bà Âu Cơ sinh ra một trăm trứng thì ta biết rồi nhưng Xích Quỷ là cái gì mà lại lấy làm tên lập quốc.

Ta chỉ thấy nói giống chim cá rắn rùa đẻ trứng chứ chưa thấy nói giống người, giống tiên đẻ trứng bao giờ, những chuyện hoang đản như thế liệu có nên tin chăng?

Tân trạng nguyên phò mã Trần Quốc Lặc tâu:

- Những chuyện truyền thuyết trong dân gian đương nhiên được người đời thêu dệt nên, nước nào chả có.

Nước Tàu có văn tự đã lâu nhưng những chuyện Nữ Oa, Bàn Cổ cũng chỉ là hoang truyền mà thôi, huống chi nước ta thời ấy lại không có văn tự.

(Trần Quốc Lặc: Người Nam Sách, Hải Dương, đỗ trạng nguyên năm Bính Thìn (1256), vua gả con cho)

Nhà vua hỏi:

- Vậy thì sự thật về Lạc Long Quân và Âu Cơ là thế nào?

Lê Văn Hưu tâu:

- Tân trạng nguyên nói rất có lí.

Xin quan gia tha tội, thần trình bày một giả thuyết về thời ấy.

Thánh Tông nói:

- Khanh cứ trình bày, càng sát thực bao nhiêu càng tốt.

Lê Văn Hưu chậm rãi kể:

- Vâng!

Có thể Lạc Long Quân chính là Sùng Lãm con trai Kinh Dương vương Lộc Tục.

Ngày ấy núi rừng còn hoang vu lắm, đời sống thiếu thốn nhiều; vải, lụa cũng chưa có như bây giờ.

Vua dùng ống tre uống nước, lá cây để đóng khố, tuy nhiên tình yêu và tính ghen tuông đã có lâu rồi.

Lạc Long Quân sau khi lên ngôi vua, lấy bà Âu Cơ, hai người cũng chỉ sinh đẻ bình thường thôi chứ không đến một trăm con trai hay một trăm quả trứng.

Khốn nỗi tính đàn ông ai còn lạ gì, vì Lạc Long Quân phải đi tuần thú trong địa phận của mình luôn luôn nên cũng có quan hệ với nhiều người đàn bà khác nữa, đẻ ra một số con trai.

Đương nhiên hồi ấy chưa có cái gọi là cô đầu đào hát như bây giờ.

Việc ấy khiến bà Âu Cơ đau lòng lắm nhưng vì bà là người nhân hậu đoan chính nên mới bảo Lạc Long Quân mang những người con trai ấy về để bà nuôi dạy, cho cùng ăn cùng ngủ chung với con mình, đêm lạnh cùng chui vào một tấm chăn vỏ cây lớn mà giãy đạp lùng nhùng như một chiếc bọc.

Vì thế người thời ấy mới nói đùa là bà Âu Cơ sinh ra cái bọc có trăm trứng.

Về sau người ta tưởng thật.

Lê Văn Hưu ngừng lời.

Thánh Tông đang chăm chú lắng nghe, hỏi:

- Thế làm sao mỗi người lại phải mang năm mươi con đi một nơi?

Lê Văn Hưu đáp:

- Tâu hoàng thượng!

Bà Âu Cơ nghĩ rằng đưa các con chồng về nuôi để Lạc Long Quân yên lòng ở nhà tu chí làm ăn, chăm lo triều chính nhưng không ngờ cái trò quan hệ nam nữ nó như anh nghiện rượu, không mắc vào thì thôi, đã mắc các quan đều biết đấy, đố gỡ ra được.

Thỉnh thoảng bố Lạc Long Quân nhà ta vẫn chuồn ra ngoài cải thiện.

Sự chịu đựng của ai cũng chỉ có hạn nên mẹ Âu Cơ mới tỏ ý không bằng lòng.

Thế là hai ông bà hoá ra xích mích.

Một viên quan bảo:

- Có lẽ đâu lại thế.

Vua đi ra ngoài dễ gì để vợ biết bao giờ.

- Biết chứ sao!

Ngày ấy làm gì có quán rượu, quán hát.

Bố nào mò ra ngoài là vợ con biết ngay chứ chả như các thầy bây giờ lấy lý do công kia việc nọ đi thâu đêm tối ngày chẳng ai biết đấy là đâu.

Vua Thánh Tông gật gù nói:

- Ừ!

Cũng có lí, cũng có lí.

Xong rồi thế nào nữa?

Lê học sĩ kể tiếp đi.

Lê Văn Hưu tiếp:

- Tâu hoàng thượng!

Sự xích mích mỗi ngày một thêm gay gắt, về sau mẹ Âu Cơ sinh ra lạnh lùng.

Những lần Lạc Long Quân đi đánh rồng tinh ở vịnh Hạ Long, mộc tinh ở Bạch Hạc về, Âu Cơ cũng chẳng cho là thật.

Lạc Long Quân nghĩ mình oan, tức quá mới bảo: "Tôi với bà sống chẳng hợp nhau, thôi thì tôi phải đi khỏi cái nhà này để bà hài lòng", thế là đùng đùng đem năm mươi người con xuống vùng đồng bằng ven biển lập nghiệp, trải bao gian khó mới dựng nên được nước Văn Lang.

Một viên quan hỏi:

- Ơ!

Chẳng lẽ vợ chồng bỏ nhau dễ thế à?

- Hồi ấy có giá thú văn tự gì đâu mà chả dễ.

Bây giờ đủ cả giấy nọ tờ kia còn bỏ nhau xoành xoạch nữa là.

Vua Thánh Tông bảo:

- Có lẽ vậy!

Có lẽ vậy.

Trẫm giao cho Lê học sĩ cùng ngự sử Trần Chu Phổ hãy hợp nhau biên chép lại mọi việc chính sự từ trước tới nay để truyền cho muôn đời mai sau.

Trời tối đen như người bịt mắt, Điệp chạy đã xa làng, xem chừng bọn tráng đinh nhà lý Thử không đuổi đến nữa, cô ngồi thụp xuống bờ ruộng bưng mặt khóc.

Cô không dám oán trách ai.

Cha con Vĩ Thố, Vĩ Thử là người có công với nước, oán trách người có công với nước là có tội, triều đình đã bảo thế, nhà vua đã bảo thế.

Điệp chỉ còn biết tự trách mình đã sinh ra trong cảnh đói nghèo và tủi cho cái nhan sắc của mình bây giờ không biết để cho ai.

Bằng lòng lý Thử ư?

Người ta bảo hắn có công, không biết hắn lập công ở đâu nhưng cô chỉ thấy hắn nhiều lần trốn lính.

Điệp đã từng hò hẹn với Mai Văn Lương, hai đứa trẻ con nhà nghèo phải lòng nhau còn chưa có lời nói cùng cha mẹ.

Giặc Thát sang, Mai Văn Lương vào lính, anh nằm lại bên bờ sông Nguyệt Đức.

Điệp chờ đến cái ngày người ta treo vào giữa túp lều rách nát của mẹ anh tấm đại tự với ba chữ vàng chói Tử vị quốc.

Cô khóc đến cạn nước mắt vì cái chết của cha và cái tin Mai Văn Lương tử trận.

Cô không biết chữ, không hiểu nhiều về ý nghĩa cuộc đời, chỉ lờ mờ nhận thấy mình sống không còn để làm gì.

Giờ đây cô không thể trở về ngôi nhà của mình nữa.

Khóc chán, Điệp đứng dậy dò dẫm bước đi giữa khoảng đồng không tăm tối mịt mùng.

Thế là hết, cha mẹ, tình nhân, nhà cửa và cả quê hương, tất thảy đã trôi vào dĩ vãng.

Điệp cắm đầu đi trong đêm, chẳng biết đi đâu, bước thấp bước cao, ngã lên ngã xuống, càng đi càng xa làng Cao Duệ thuộc huyện Trường Tân nơi quê hương gốc gác của cô, đến sáng thì tới một khu chợ nhỏ ven đường, hỏi thăm mới biết đây đã thuộc về phủ Đường An (Đường An: Nay thuộc huyện Bình Giang, Hải Dương).

Điệp vào chợ xin ăn.

Có người đàn bà mặc chải chuốt, đánh mắt nhìn Điệp một lượt từ đầu đến chân, bảo:

- Con gái xinh xẻo thế này sao phải đi xin ăn.

Trốn chồng phải không?

Có muốn làm việc với mợ thì mợ đưa về.

Hừ!

Cũng được đây.

- Dạ!

Mợ muốn việc gì cháu cũng làm được ạ.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 15: Lê bảng nhãn chép sử cõi Nam (2)


- Việc thì thiếu gì, chỉ sợ các cô cao giá không chịu làm thôi.

- Dạ!

Được mợ cứu giúp, dẫu có làm trâu làm ngựa cháu cũng không ngại.

- Làm trâu, làm ngựa!

Sao không nghĩ phải làm người cho nó ra con người có hơn không.

Ăn ngon mặc đẹp, múa hát lại chả sướng hơn cửi trần đi cày, kéo xe à?

Nói xong người đàn bà nắm tay Điệp dắt đi.

Đến một khu dinh thự cổng cao, trụ cổng tạc hình hoa lá cong lượn như cổng đình.

Phía trên cổng có ba chữ đại.

Điệp không hiểu là chữ gì cứ mơ mơ hồ hồ ngoan ngoãn đi theo người đàn bà như con chó con theo chủ.

Vào đến thềm có hai cô gái chạy ra chào:

- Mợ Hồng đã về!

Chúng con chào mợ ạ.

Mợ Hồng đảo con mắt sắc như dao cạo, nói với hai cô gái:

- Đây là em Mộng Điệp.

Nó còn dại, các con lo cho em ăn mặc tươm tất nghe chưa?

Mợ Hồng quay sang bảo Điệp:

- Đây là chị Mơ, chị này là Huệ.

Hai chị ấy sẽ lo ăn mặc cho con.

Hôm nay, ngày mai cứ nghỉ ngơi cho lại sức chưa phải làm gì vội.

- Thưa mợ!

Con tên là Điệp chứ không phải là Mộng Điệp đâu ạ.

- Thì từ hôm nay đổi đời, tên là Mộng Điệp có sao.

Thôi con Mơ đưa em xuống nhà ăn uống rồi tắm rửa thay áo xống đi.

Điệp theo Mơ xuống nhà ngang ăn cơm trắng với cá rán, thịt đông, rau canh cải.

Đó là những món ở nhà dẫu nằm mơ Điệp cũng không dám nghĩ tới.

Mợ Hồng thấy Điệp ăn uống ngon lành, có vẻ bằng lòng lắm.

Ăn xong Mơ dẫn Điệp ra vườn sau tắm trong một chiếc hồ hình bán nguyệt xây gạch xung quanh.

Mơ đưa cho Điệp một bộ váy áo mới tinh bằng thứ lụa hồng thêu kim tuyến óng ánh bảo không được mặc váy áo cũ nữa.

Điệp ngại ngần không dám mặc.

Mơ bảo:

- Thôi cứ mặc vào em ạ!

Đã trót nuốt miếng cơm của nhà này khó nhả ra lắm đấy.

- Sao chị không bảo em trước?

Mợ Hồng biết chị nói với em thế này thì chị chết đòn ngay.

Có chị vì hở lời đã bị đánh đến gần chết đấy.

Chị em mình đành vậy, biết làm sao.

- Thế ở đây chị em mình phải làm việc gì hả chị?

- Điều đó chị không thể nói với em.

Sau rồi em sẽ biết.

Điệp đã lờ mờ hiểu ra điều gì, cô không mặc bộ đồ mới, chạy thẳng vào nhà tìm mợ Hồng.

Lúc ấy mợ Hồng đang ngồi cùng một người đàn ông trẻ tuổi, ăn mặc bảnh bao có cốt cách của một quan nhân hay một công tử con nhà thế phiệt.

Phía sau người ấy là một gã đàn ông mặt mũi dữ dằn, râu quai nón đứng hầu.

Mới trông thấy y, Điệp đã hết cả hồn vía.

Mợ Hồng vừa thoáng thấy Điệp, quát:

- Con Điệp phải không?

Sao không thay áo xống đi rồi ở dưới ấy.

Ai cho mày lên đây?

- Dạ thưa mợ!

Bộ váy áo ấy đẹp quá, những kẻ bần hàn như con sao dám mặc ạ.

Mợ đã cứu con, cho ăn uống thế là con biết ơn lắm rồi.

Sau này có dịp xin đền đáp.

Mợ Hồng trừng mắt, nói:

- A!

Con này muốn giở quẻ.

Thế mà xoen xoét cái mồm làm trâu làm ngựa cũng làm.

Đứa nào nói gì với mày hả?

Con Mơ đâu rồi?

Lên đây!

Mày nói gì với nó?

Cô Mơ mặt mũi tái nhợt, lên quỳ giữa nhà.

Điệp vội nói:

- Chị Mơ không nói gì với con đâu ạ.

Chỉ vì con nhớ bố mẹ nên muốn về thôi.

- Sao mày bảo bố mẹ chết hết cả rồi?

Con này ghê thật, dám lừa bịp kiếm ăn à?

Này bà nói cho mà biết, cơm nhà bà ngon thật đấy nhưng không dễ nuốt đâu nhé.

Tử tế thì bà đùm bọc chứ còn lừa đảo, bà cũng không cần nghe chửa.

Thôi giả tiền cơm cho bà rồi xéo đi đâu thì xéo khuất mắt.

Bữa cơm bà chỉ lấy bốn xu rưỡi thôi.

- Lạy mợ con...

Chị Mơ kéo áo Điệp bảo:

- Thôi!

Xin lỗi mợ đi rồi xuống đây.

Người đàn ông râu quai nón nhìn trừng trừng làm Điệp chết khiếp, cô nói như một con rối:

- Con xin lỗi mợ!

Con xin lỗi mợ.

Rồi lùi lũi theo chị Mơ xuống nhà ngang.

Sáng nay nắng nhẹ trời mát, anh lính Thân Văn Khoai vui vẻ sắp đi nhận phiên gác bỗng ngoài doanh có người hô:

- Quan hàn lâm viện thị độc tới.

Quan hàn lâm viện thị độc Trần Chu Hinh hô to:

- Hoàng thượng có chỉ.

Mọi người nhất loạt quỳ xuống bái mệnh.

Quan thị độc dõng dạc đọc:

- Lính tốt Thân Văn Khoai khi trước theo thượng hoàng đánh giặc, có công hộ giá ở Bình Lệ nguyên, chưa được khen thưởng.

Nay trẫm đặc cách phong làm đô trưởng.

Khanh hãy hết lòng phục vụ triều đình, lập công hơn nữa.

(Đô trưởng: Chức quan trong quân đội chỉ huy 80 binh sĩ)

Thân Văn Khoai vui mừng khôn xiết, bái lạy tạ ơn lĩnh chỉ.

Quan thị độc lại gọi quân hầu mang vàng lụa của thượng hoàng ban cho Thân Văn Khoai, trước khi về còn dặn dò:

Ta đã được nghe chính thượng hoàng nói về công lao của nhà ngươi.

Bây giờ trong tay ngươi nắm mạng sống của một trăm binh lính.

Hãy cố gắng làm cho tốt chức nhiệm.

Khi quan thị độc về rồi, đám lính mới nhao nhao đòi Văn Khoai kể chuyện chiến công.

Văn Khoai nói:

- Có gì đáng gọi là chiến công đâu.

Hôm thượng hoàng rút từ Bình Lệ về Lãnh Canh, con ngựa của người bị trúng một mũi tên ngã quỵ.

Tôi liền nhường ngựa của tôi cho người, chạy bộ theo.

Về sau không theo kịp nữa, tôi nấp trong rừng bắn chết một thằng Thát, cướp lấy ngựa chạy kịp về Lãnh Canh cùng quan binh xuống thuyền.

Đám tân binh cùng reo lên:

- Đô trưởng của chúng ta giỏi quá.

Lúc ấy Trịnh Quang Minh đã được ân xá trở về làm thập trưởng.

Văn Khoai khoác tay Quang Minh, nói với mọi người.

- Tôi chỉ có chút công thừa, không thể nói là giỏi.

Các chú mới về không biết, bác Quang Minh đây mới thật là người giỏi.

Bác ấy đã được đích thân thống quốc thái sư tiếp chuyện và ban thưởng.

Tôi chỉ đáng là học trò của bác ấy thôi.

Tất cả anh em chúng ta còn phải nhờ bác ấy chỉ bảo nhiều đấy.

Trịnh Quang Minh đang buồn vì phải làm cấp dưới của Thân Văn Khoai nhưng được lời giới thiệu ấy cũng hởi lòng hởi dạ.

Vì thế từ quan đến lính trong đô vệ binh thân thiết nhau lắm.

Chiều hôm ấy Văn Khoai bỏ ra mấy lạng bạc bảo nhà bếp làm bữa nhắm đãi anh em trong cả đô, lại mời đô trưởng của mấy đô tứ sương, hổ bôn bên cạnh nữa.

Trong bữa tiệc, Văn Khoai nhường Quang Minh ngồi ghế trên, tôn như bậc thầy.

Quang Minh lấy làm vinh hạnh lắm, ai nấy đều cho Văn Khoai là người nghĩa khí.

Mấy hôm sau nhân được ngày nghỉ, Quang Minh rủ Văn Khoai:

- Nghe nói ở La thành có quán rượu Phúc Tình nhiều món ngon lắm, tôi với chú ta ra làm vài chén đi.

Văn Khoai đang cao hứng nên nhận lời ngay.

Quán rượu Phúc Tình trên mặt phố gần hồ Lục Thuỷ, quả khang trang sạch sẽ, phía trước là hai dãy đại sảnh có gác dành cho khách uống rượu, phía sau là mấy dãy nhà có phòng kín để khách quá chén nghỉ ngơi, lại có cả phòng ngũ cung để tao nhân mặc khách cùng đào nương đàn hát.

Trên lầu, dưới nhà chỗ nào cũng treo đèn lồng rực rỡ.

Trên vách phòng rượu trưng nhiều bức tranh thuỷ mặc khổ lớn, phòng nghỉ của khách dán tranh vũ nữ, có cô hở cả đùi cả rốn.

Cơ ngơi này mấy năm nay phát đạt là nhờ sự liên kết giữa mợ Tư Phúc với thầy lý tể Vũ Tình.

Sau cái đận đi tìm mộ anh Tư Phúc về, thầy lý Vũ Tình tỏ ra quan tâm đến gia đình có công với nước hơn, đến thăm vợ con anh Tư Phúc luôn.

Cái thân hình mềm mại của người đàn bà còn đang độ căng đầy sự ham muốn thể xác được che giấu dưới lần áo vải sồi lam lũ như xui khiến mời gọi thầy lý làm điều tội lỗi (Vải sồi: Một loại vải thô dệt bằng tơ tằm).

Khi đã đạt được cái mình muốn, thầy lý phát hiện ra một điều, sự vụng trộm tội lỗi đó chính là niềm hạnh phúc sâu sắc của cuộc đời.

Thầy lý đã giúp mẹ con chị Tư Phúc dựng được một quán rượu nhỏ ở đầu phố, có một khoản thu đủ để ba mẹ con chị sống yên ổn.

Nhưng chẳng ai muốn được cái gì một cách dở dang, một bữa thầy lý bảo:

- Tôi với mợ đã đến nước này, để tôi kiếm cơi trầu đón mợ về đằng ấy.

Mợ nghĩ thế nào?

- Về đằng ấy với thầy lý để mợ lý xé xác em ra ư?

Lại còn hai đứa con của em nữa, thầy lý cũng đã có một đàn con rồi, việc xử sự càng thêm khó.

Chi bằng ta cứ thế này mà hưởng lộc trời có hơn không.

Vả lại ở đằng này mỗi tháng triều đình còn cấp cho em mấy quan tiền tuất, được tiếng là vợ người tử vị quốc giữ gìn tiết hạnh chứ về đằng ấy đã chịu cảnh lẽ mọn lại mất hết quyền lợi.

Em chả vào.

- Mợ nghĩ thế cũng là hết nhẽ, nhưng tôi đi lại đây mãi sao tiện.

Vả lại, gần gũi nhau luôn nhỡ có con thì mợ còn giữ làm sao được chữ tiết hạnh nữa.

Tư Phúc dí ngón tay vào mũi Vũ Tình, mắng yêu:

- Sao mà ngớ ngẩn thế.

Đã sợ không tiện thì đừng đến nữa.

Có con ư?

Thuốc Bắc, thuốc ta đầy ra đấy, lại còn cả...

Ai dại gì mà để có thai.

Dạo này đắt khách, em tính mở rộng quán ra để làm ăn đây.

Thầy lý phải giúp em đấy.

- Thế cũng được, nhưng đừng đến mức đào nương kỹ nữ mà lính kiểm thành họ không tha đâu.

Tư Phúc bĩu môi nói:

- Lính kiểm thành!

Chẳng lẽ lính kiểm thành thì không mê gái chắc?

Việc này chính một viên hiệu uý kiểm thành xui em đấy.

Này nhé nhà em là nhà có công với nước, trên đã có vương pháp che, ở phố thì thầy lý nâng đỡ.

Trên che dưới đỡ, bố đứa nào cũng không dám làm gì.

Khối quán đầy đào hát, đầy kỹ nữ có làm sao đâu.

Hay là thầy lý không muốn giúp em thì thôi.

Em đi nhờ người khác vậy.

- Ơ kìa!

Chưa chi đã dỗi.

Mở rộng thì mở rộng.

Quán rượu Phúc Tình đặt đúng vị trí thuận lợi.

Nó như cái cây được bón bằng ân sủng của triều đình và che chắn bởi tình thương của các vị quan viên đối với mẹ con người gái goá, lớn lên như có phép nhiệm màu, mới qua vài năm đã trở thành tửu quán có tiếng nhất nhì nơi đô hội.

Thân Văn Khoai và Trịnh Quang Minh tới nơi, trời vừa tối.

Trong quán đèn nến sáng như ban ngày.

Phía nhà sau đèn màu lờ mờ, thấp thoáng vài bóng giai nhân thướt tha qua lại.

Khách trong phòng rượu đủ cả văn nhân, binh lính.

Một bàn có mấy người ăn mặc kiểu võ quan nói chuyện bô bô:

- Hoàng thượng đã xuống chỉ cho soạn bộ quốc sử rồi.

- Món này cay quá...

Nước mình văn hiến lâu đời phải có sử chứ.

Hoàng thượng thật anh minh.

- Này!

Mới có mấy ả phốp pháp ra phết.

Tí nữa chứ!

Hả? ...

- Chính chúng ta là những người làm nên lịch sử.

Từ gian lầu phía sau vọng ra giọng hát của một cô đào:

- Non non nước nước i i i...

Lại nói Lê Văn Hưu tuân chỉ chép sử, ngày đêm miệt mài tra cứu soạn thảo đến tháng chạp năm Quý Hợi (1-1264) thì hoàn thành, sao làm ba bản, dâng lên thượng hoàng, nhà vua và thống quốc thái sư Trần Thủ Độ.

Sang tháng giêng năm Giáp Tý (1264), quan thái sư Trần Thủ Độ bảy mươi mốt tuổi, dưỡng bệnh ở Quắc Hương; nhà vua cho Ngô Tần mang một bản đến trình.

Thái sư hỏi:

- Lê Văn Hưu là người thế nào?

Ngô Tần thưa:

- Trình thái sư!

Lê Văn Hưu người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn, ái châu, từ nhỏ đã nổi tiếng là tài giỏi, một hôm đi học qua quán thợ rèn dừng lại hỏi: "Bác ơi!

Ông tổ nghề rèn là ai vậy?".

Thấy cậu bé có vẻ thông minh dĩnh ngộ, bác thợ rèn cười bảo: "Cháu là học trò phải không?

Ta có câu đối này, cháu đối được thì có thưởng nếu không phải ở đây quai búa cho ta".

Lê Văn Hưu bảo: "Vâng!

Bác cứ đọc đi".

Bác thợ rèn đọc: Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò, rèn nên dùi sắt.

Lê Văn Hưu bảo: "Thế thì có gì là khó đâu ạ?

Cháu đối nhé: Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi, giật lấy khôi nguyên."

Bác thợ rèn cười lớn, khen: "Giỏi!

Giỏi!

Ta thua cháu đó", nói xong thưởng cho Lê Văn Hưu ba mươi đồng tiền để mua giấy bút nhưng Hưu không lấy, chỉ muốn bác thợ rèn nói cho biết ai là ông tổ nghề rèn.

Năm Đinh Mùi, Hưu đỗ bảng nhãn, nổi tiếng học sâu biết rộng.

Làm quan cho đến nay, mọi việc đều cẩn trọng, không sai sót bao giờ.

Vì thái sư Trần Thủ Độ không biết chữ lại đang ốm nên bảo Ngô Tần:

- Ngươi đọc cho ta nghe.

Ngô Tần ở bên thái sư, đọc mới hết kỷ Hồng Bàng.

Thái sư nhăn mặt nói:

- Sử thế này thì đem người viết mà chém đi.

Ngươi về triều trước, tâu với nhà vua bắt Lê Văn Hưu bỏ vào ngục.

Đợi ta khoẻ sẽ vào định liệu.

Thái sư nói xong, thở dốc lên, ngất đi.

Mọi người vội gọi thầy thuốc trong phủ đến cấp cứu.

Thật là:

Bia đá sử xanh thành hay bại

Ai đi ai ở vẫn chưa tường

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem Ngô Tần về tâu với nhà vua thế nào.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 16: Nhật Hiệu xấu hổ gượng nhận chức quan


Thái sư Trần Thủ Độ đang ốm, mới nghe đoạn đầu cuốn Đại Việt sử ký đã uất lên ngất xỉu.

Thầy thuốc trong phủ xúm vào cứu chữa.

Hồi lâu thái sư tỉnh lại nói:

- Ta tuy không biết chữ nghĩa sử sách chi cả nhưng cũng hiểu Lạc Long Quân và Âu Cơ là quốc tổ của người Đại Việt, tượng trưng cho giống nòi, là tiên là thần vạn thuở.

Thế mà các ngươi dám xúc phạm, coi như người thường được ư?

Ai nói với các ngươi là người không đẻ được ra trứng.

Gà vịt còn đẻ được trứng, chẳng lẽ người không bằng gà vịt à?

Rõ là một lũ mất gốc dốt nát.

Thái sư nói xong rên khừ khừ, đêm ấy qua đời ở phủ đệ, lúc gần đi vẫn lẩm bẩm chửi bọn dốt nát.

Ngô Tần vội về triều báo tin thái sư mất.

Thượng hoàng và nhà vua cùng đến chịu tang.

Thái sư Trần Thủ Độ khi còn sống ít được học hành, làm nhiều điều dâm loạn, tàn ác nhưng chính ông là người khổ công đắp nền xây móng dựng nên triều đại nhà Trần thịnh vượng, kéo muôn dân cùng đất nước ra khỏi cảnh lầm than.

Cũng chính ông là người nhen nhóm từng người lính, mũi tên tạo nên quân đội Đại Việt đủ mạnh làm tròn sứ mệnh đánh thắng cuộc xâm lược đầu tiên của quân Mông Thát vào Đại Việt.

Các sử gia đời sau rất nhiều người chỉ trích ông một cách nặng nề nhưng cũng không thể không công nhận: Thủ Độ tuy làm tể tướng, nhưng mọi việc không việc gì không để ý.

Vì thế đã giúp nên vương nghiệp và giữ được tiếng tốt đến lúc mất. (Nguyên văn ĐVsktt) Có bài thơ ca ngợi Trần Thủ Độ rằng:

Một đời vất vả dựng cơ đồ

Tấc lòng đâu quản chuyện nắng mưa

Đem thân gánh đỡ ngàn công việc

Dang tay chèo chống vạn mối lo

Trinh liêm ghi tạc lòng quân sĩ

Uy vũ dẹp tan dạ cường Hồ

Đầu bạc chưa rơi, xin đừng sợ

Nam thiên tráng khí bụi không mờ

Bấy giờ ngự đệ Trần ích Tắc mới mười mấy tuổi nhưng đã rất nổi tiếng văn chương, sau này trong nhà nuôi nhiều môn khách tài hoa như Mạc Đĩnh Chi, Bùi Phóng đến vài chục người, thường cùng nhau xướng hoạ thơ văn, đá cầu, đánh cờ môn nào cũng tỏ ra tinh thạo.

Ích Tắc theo về chịu tang, thượng hoàng Thái Tông sai Ích Tắc làm một bài văn điếu.

Ích Tắc bảo người lấy giấy mực, vén tay áo viết một mạch đến lúc buông bút mới ngẩng lên, nói:

- Tâu Thượng hoàng!

Con đã viết xong rồi ạ.

Thượng hoàng cùng nhà vua xem đều khen.

Đến khi mang đọc, lời văn lưu loát như nước chảy mà hết sức bi tráng, ai nghe cũng không cầm được nước mắt.

Mọi người đều cho Ích Tắc có văn chất thánh thần.

Từ đấy Ích Tắc hoá kiêu kì cho rằng mình xứng đáng làm vua hơn, ngầm cử tay chân sang tư thông với người Nguyên, cầu vua Nguyên phong mình làm vua xứ An Nam.

Ngô Tần tâu với nhà vua ý kiến của thái sư Trần Thủ Độ về bộ Đại Việt sử ký nhưng ông nói thêm:

- Thần cho rằng những lời nói của thái sư trong lúc không còn tỉnh táo chưa hẳn đã sáng suốt.

Mong quan gia minh xét.

Thánh Tông phán:

- Việc này ta đã thỉnh ý thượng hoàng.

Người nói: "Truyền thuyết trong dân gian tuy nhiều điều không có căn cứ nhưng nó là sự chung đúc lâu đời của muôn dân bách tính, là niềm ngưỡng vọng của trăm họ, là bảo ngọc tâm linh của non sông.

ý dân như vậy, chớ làm khác đi.

Vả lại văn tự không có, lấy gì làm bằng cho việc đúng sai?

Nếu các học giả ai cũng cứ theo suy luận riêng của mình mà viết thành sách thì sau này hậu thế tránh sao khỏi tình trạng đa thư loạn mục, biết tin vào đâu?

Vậy sách viết ra còn có ích lợi gì?"

Lê học sĩ!

Nhà ngươi hãy khảo cứu viết lại thật kĩ sao cho được bộ sách làm sáng tỏ nền chính trị nước nhà.

Lê Văn Hưu nhận chỉ, tra cứu sử sách, biên chép kĩ càng suốt tám năm trời mới hoàn thành bộ Đại Việt sử ký gồm ba mươi quyển, mùa Xuân năm Thiệu Long thứ Mười lăm (Nhâm Thân-1272) dâng lên nhà vua.

Thánh Tông xem xong, xuống chiếu khen ngợi.

(Theo ĐVsktt)

Một hôm nhà vua đãi yến các quan ở ngự hoa viên, mới hỏi quan ngự sử Trần Chu Phổ rằng:

- Vì sao người Việt ta khi xưa không có chữ?

Trần Chu Phổ tâu:

- Cũng chưa ai nói chắc người việt ta xưa không có chữ.

Biết đâu từ đời Triệu Vũ đế muốn triệt hẳn cái gốc của dân ta mới bắt bỏ đi chăng?!

(Chỉ Triệu Đà, người đã xâm lược Âu Lạc, đánh bại vua An Dương Vương, mở đầu giai đoạn một nghìn năm Bắc thuộc ở nước ta)

Thượng thư Nguyễn Hiền tâu:

- Đồ đồng đồ đá từ xưa đến nay còn lại rất nhiều, ngoài hình chạm khắc cũng không có văn tự gì.

Thần cho là người Việt mình trước kia đúng là chưa có chữ.

Trần Chu Hinh nói:

- Người Việt ta vốn có lòng tự tôn dân tộc, sao lại không có chữ?

Thần cho là có nhưng đã bị người Bắc đồng hoá đi rồi.

Cần phải tìm cho ra mới được.

Lê Văn Hưu nói:

- Chính vì có lòng tự tôn dân tộc nên thần dám khẳng định người Việt ta xưa kia chưa có chữ.

Bởi vì chữ là tài sản quý báu của quốc gia, dân ta vì lòng tự tôn dân tộc nhất định cất giấu không cho người Bắc phá bỏ, đánh mất một tài sản quý giá như thế là một tội lớn.

Cha ông ta không thể mắc một tội lớn như vậy được.

Thánh Tông vui vẻ nói:

- Không ngờ điều trẫm nêu ra lại được mọi người tranh đàm hào hứng đến vậy, nhưng bây giờ nói gì vẫn còn là quá sớm.

Biết đâu năm bảy thế kỷ sau con cháu chúng ta tìm được câu trả lời minh xác.

Khi thái sư Trần Thủ Độ mất, ngôi tể tướng bỏ trống.

Thánh Tông thiết triều, phán:

- Nay thống quốc thượng phụ về trời, chức thái sư phải có người gánh vác.

Trẫm xét trong các vương hầu, duy có Khâm Thiên đại vương Nhật Hiệu đảm trách được.

Vậy trẫm phong Trần Nhật Hiệu chức thái sư tướng quốc.

Nhật Hiệu bước ra tâu:

- Thần không dám nhận chức ấy.

Xin hoàng thượng chọn người có thực tài mới đảm trách được.

Thánh Tông hỏi:

- Hoàng thúc hãy nói cho rõ vì sao vậy?

- Muôn tâu hoàng thượng!

Khi xưa quân Thát đánh sang, thần không ra sức đánh giặc.

Khi thượng hoàng hỏi kế sách, thần sợ hãi không nói thành lời chỉ lấy tay chấm nước viết lên mạn thuyền hai chữ nhập Tống, từ bấy đến nay mỗi lần nghĩ lại muôn phần hổ thẹn.

Thượng hoàng nhân từ không trách phạt cũng để thần phải đội ơn trời bể lắm rồi, còn mặt mũi nào dám nhận quyền cao chức trọng.

Thánh Tông khen:

- Hoàng thúc thật là có nhân cách.

Như vậy lại chả hơn nhiều kẻ tội lỗi đầy mình mà không biết xấu hổ là gì ư?

Hoàng thúc không nhận chức thái sư thì thôi.

Trẫm phong hoàng thúc làm tướng quốc thái uý vậy.

Như vậy Thánh tông cho Nhật Hiệu không nhận chức "thái sư" nhưng lại ban thêm hai chữ "tướng quốc" thành "tướng quốc thái uý" nắm quyền trong nước.

Nhật Hiệu cố từ chối nhưng không được, đành gắng gượng nhận chức.

(ĐVsktt)

- Cứ đánh tuốt xác nó ra.

Không thể thương được những loài bướng bỉnh như vậy.

Cơm không ăn, cho mày ăn roi.

- Mụ Hồng thét lên.

Út Mãi vung chiếc roi gân bò vun vút, nghe mà nổi hết gai gà.

Điệp lăn lộn dưới đất, van xin:

- Con lạy mợ!

Mợ bắt con làm gì cũng được nhưng đừng bắt con bán thân.

- Tao chỉ có mỗi việc ấy thôi.

Không bán thân sao trả được nợ.

- Con chỉ ăn một tháng cơm của mợ, con về bán mảnh vườn, xin hoàn trả mợ đầy đủ ạ.

- Vườn ở đâu mà bán?

Cái bọn lừa đảo chúng mày nói mười không tin được một.

Bà theo chân mày về quê à?

Mỗi bữa bốn xu rưỡi, hai bữa là chín với một xu nước non tắm rửa, vị chi mỗi ngày là một hào.

Mày ở đây một tháng tức là ba đồng.

Điệp thét lên:

- Trời ơi!

Nhiều thế làm sao con trả được?

Con có muốn ở đây đâu, bà bắt con phải ở đấy chứ.

- A!

Nỏ mồm lý sự.

Đánh!

Chiếc roi trong tay út Mãi lại lồng lên cắn xé làn da mịn màng của Điệp.

- Bà vẫn biết mày là đứa vô ơn, giỏi cãi lắm.

Nhiều à?

Chính tay mày điểm chỉ vào giấy nợ đây chứ ai.

Tiền của bà nó còn biết đẻ chứ đâu phải chỉ có thế.

Một tháng một đồng thành hai, vị chi cứ chồng đủ cho bà sáu đồng bạc ra đây rồi mày muốn đi đâu thì đi.

Điệp gào lên:

- Thì ra tôi không biết chữ, các người lừa tôi.

- Lừa này!

Lừa này!

Ai lừa mày.

Ông thì dận cổ - Út Mãi vừa nói vừa quất roi veo véo vào người Điệp.

Chị Mơ chạy vào van xin mụ Hồng:

- Thôi mợ ơi con xin mợ.

Để con khuyên em nó dần dần chứ đánh thế này cả tháng sau cũng chưa hết vết lằn, có muốn tiếp khách cũng không được.

- Thôi được!

Ta tạm tha cho nhưng chị em phải bảo nhau, đừng để ta phải cho động tay chân.

Mơ kéo Điệp xuống nhà dưới, nói:

- Dại quá em ơi!

Chị đã nói rồi, không thể chống lại với họ được đâu.

Ngày mới đến đây chị cũng chống đối như em, còn định treo cổ chết nữa nhưng chết cũng chẳng được còn bị đánh đến rách da rách thịt.

Điệp đau quá vừa rên vừa nói:

- Em chết mất thôi chị ạ.

- Chết cũng khó lắm chứ đâu có dễ.

Chết được thì chị đã chết rồi.

Chẳng ai người ta để cho em chết.

Họ nuôi mình như nhà nông chăm chút con lợn.

Ai muốn cho lợn chết bao giờ.

Tốt nhất là được ăn cứ ăn, được chơi cứ chơi, chiều thằng đàn ông một tí, mình yên thân.

- Đàn bà chúng ta sao ai cũng chỉ muốn yên thân nhưng càng muốn yên, họ càng nhận chúng ta xuống bùn.

Em chưa chịu đâu, không thể nào chịu được.

Em sẽ trốn đi báo quan.

- Á à, giỏi!

Giỏi!

Đi báo quan!

Có thật muốn đi báo quan tao cho người dẫn đi hẳn hoi, không phải trốn - Mụ Hồng đột ngột xuất hiện khiến Mơ và Điệp co rúm lại - Báo quan này, báo quan này.

Mỗi một câu "báo quan này" mụ Hồng véo một cái vào phía dưới cánh tay của Điệp.

Những vết véo tụ máu tím lịm.

Mơ sợ hãi van xin.

- Con xin mợ.

Em nó còn dại, để con bảo nó dần dần.

- Còn cái thân mày nữa đấy, không bảo được nhau, sống cũng chẳng được, chết cũng không xong với bà.

Nào!

Con kia có muốn đi báo quan không?

- Điệp không trả lời.

Mụ Hồng bỏ lên nhà trên.

Mơ bảo:

- Em hồ đồ quá!

Mợ Hồng chính là bà hai của quan huyện chứ ai.

Mợ ấy là con nhà danh gia vọng tộc lại được quan châu về thăm luôn.

Chính vì để quan châu đi lại tự nhiên với vợ mình nên quan huyện mới được nâng đỡ.

Mợ Hồng có nhiều nghề ngón làm mê mẩn lòng người nên quan châu không thể rứt ra được.

Quan huyện đã có bà ba, bà tư, mỗi bà một cơ ngơi, thỉnh thoảng mới về đây xem công việc làm ăn buôn bán thế nào thôi.

Điệp ngơ ngác hỏi:

- Buôn bán?

Em có thấy buôn bán hàng họ gì đâu.

- Em khờ quá!

Chính chị em mình là hàng chứ còn gì nữa?

Chị Huệ đấy, bán về Đại La rồi.

Khách đến chơi ở đây chỉ là phụ thôi, toàn các thầy phán thầy đề trong huyện ấy mà, thu được bao nhiêu đâu.

Họ đãi nhau là chính.

Chị xấu xí thuộc loại hàng ế chứ không cũng bán đi rồi.

Đấy!

Thế thì quan nào xử kiện cho em?

- Điệp kêu lên ngao ngán.

- Trời ơi!

Thế này ra quan chỉ biết kiếm lợi thôi.

Dân chúng mình kêu ai?

- Thì thế đấy.

Quan to có lợi to, quan nhỏ có lợi nhỏ.

Không có lợi, ai ngu gì mà làm quan.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 16: Khánh Dư ngang tàng tha tù ăn lễ (1)


Người thượng ở Quảng Oai từ khi được Nguyễn Nộn xúi giục vẫn có ý không thần phục nhà Trần.

Khi quân Thát vào xâm lấn, họ lập quân ngũ riêng đánh chặn bọn lính Thát đi cướp lúa gạo, giết lính Thát, thu nhiều binh khí, trong đợt truy sát đám tàn quân Hoài Đô và Nghạch Vu Tháp, còn lấy được mấy xe vàng lụa do lính Thát cướp trong kinh thành mang đi.

Tù trưởng người thượng khi ấy là Phùng Hà nói với các đầu lĩnh:

- Người man ta từ khi được Hoài Đạo vương (Chỉ Nguyễn Nộn) thương yêu, ơn trọng như núi.

Công lao ấy đối với chúng ta chưa có triều đại nào sánh được.

Nay người nhà Trần không có công ơn gì.

Bọn quan châu quan huyện chỉ biết hối thúc việc đi tìm mật gấu, xương hổ, da báo, nhung hươu khiến dân ta vô cùng khổ sở.

Của rừng có hạn, lòng tham vô bờ.

Lần này quan huyện lại đòi mười bộ xương hổ, mười con gấu ngựa, năm sừng tê giác, mười cặp nhung hươu thì lấy đâu ra?

Chi bằng ta đánh đuổi bọn huyện quan rồi tự hùng cứ đất đai của mình là hơn.

Các đầu lĩnh mặt mũi tô vẽ dữ dằn cùng nói:

- Chúng tôi xin vâng lệnh.

Phùng Hà chia quân đánh úp huyện đường.

Quan huyện đang đêm phải mang gia quyến chạy đến báo với quan châu.

Quan châu vội làm sớ dâng lên cáo cấp với triều đình.

Trần Thánh Tông liền họp các đại thần bàn kế đánh dẹp.

Quan đại hành khiển Nguyễn Giới Huân hiến kế:

- Người man xứ Quảng Oai từ xưa tới nay chưa bao giờ thật lòng thần phục là vì họ ở nơi hẻo lánh không được giáo hoá, không biết đến vương pháp, ân đức của triều đình cũng chưa thấm nhuần, trước kia lại nghe Nguyễn Nộn xui bẩy nên mới đem lòng phản trắc.

Ta nên sai sứ thần đến khuyên giải lẽ thiệt hơn, ban ân điển của triều đình thì chắc họ theo.

Thông thị đại phu Trần Phụng Công nói:

- Điều quan hành khiển nói cũng mới chỉ đúng một phần.

Cái cớ để người man nổi dậy còn vì bọn quan châu quan huyện ở đó quá nhiễu nhương bách tính, tham tàn vô độ.

Xin hoàng thượng giáng chỉ bắt tội bọn chúng để yên lòng trăm họ thì hoạ mới được trị tận gốc.

Thánh Tông nhìn tướng quốc thái uý Trần Nhật Hiệu, hỏi:

- Hoàng thúc có kế sách gì không?

Nhật Hiệu nói:

- Đại hành khiển cùng Thông thị đại phu bàn rất phải.

Một mặt nên cho người đến nói rõ với Phùng Hà, mặt khác đòi quan tri châu tri huyện xứ ấy về triều trị tội, cử người liêm chính đến thay.

Nếu Phùng Hà không nghe, ta dùng binh cũng chưa muộn.

Thánh Tông nghe theo nhưng bọn Phùng Hà dựa vào miền sơn dã thủ hiểm, không chịu hàng phục.

Thánh Tông phán:

- Nay ta muốn chọn một tướng đi đánh quân man, hiềm nỗi Hưng Đạo Vương và Lê Phụ Trần đều bận việc cả, có lẽ phải cho người đi gọi đại tướng Trần Khuê Kình về thì việc này mới xong được.

Nhà vua nói xong liếc nhìn hầu tướng Trần Khánh Dư, thấy cái yết hầu chạy lên chạy xuống có vẻ phải nhẫn nhịn lắm.

Nhà vua tiếp:

- Ta nghe nói Phùng Hà là người nhiều mưu trí lại có bọn Lương Mi, Phùng Sơn đều là mãnh tướng, phi Lê Tần và Khuê Kình chắc không ai địch được.

Trần Khánh Dư nghe nói vậy, máu uất bốc lên không chịu được nữa, bước ra tâu:

- Thần tuy bất tài nhưng xin quyết đem binh đi bắt sống Phùng Hà về dâng trước điện.

Thực ra Thánh Tông biết Khánh Dư là người có tài nên nói khích vậy.

Lúc ấy Khánh Dư ngỡ nhà vua coi thường mình mới quyết xin ra trận.

Nhưng nhà vua nói:

- Ta cũng biết nhà ngươi có tài nhưng sợ còn trẻ tuổi không phải là đối thủ của Phùng Hà.

Vì thế không muốn cử ngươi đi chuyến này.

Khánh Dư quỳ tâu:

- Xin hoàng thượng cứ để thần đi.

Không thắng lợi quyết không sống trên đời làm chi.

Nhà vua nói:

- Khanh đã quyết như vậy, trẫm giao cho hai vạn quân, hẹn trong năm ngày phải lên đường.

Khánh Dư nói

- Trời ơi!

Có phải buôn bán lớn đâu mà xuất nhiều vốn thế.

Thần chỉ xin năm nghìn quân cũng quá đủ rồi, sau hai ngày lập tức lên đường.

Nhà vua nói:

- Ngươi chớ coi thường.

Người man không phải dễ đánh đâu.

Ta nghe nói khi xưa Kiến Quốc đại vương giao tranh với chúng còn thất lợi đấy.

(Chỉ Trần Tự Khánh)

- Tâu hoàng thượng!

Quảng Oai là nơi đất hẹp, núi hiểm, đem nhiều quân cũng không ích gì, cần dùng mẹo mà thắng mới được chứ dùng sức thì dẫu có mười vạn quân mà họ chạy cả vào núi cũng chẳng làm gì được.

- Ngươi đã nói vậy, trẫm giao cho năm nghìn bộ binh, năm trăm kị binh, mong sớm đến ngày thắng trận ban sư.

Trần Khánh Dư hồ hởi nói:

- Thần xin hết sức để chóng đến ngày hoàn trả quan gia cả vốn lẫn lời.

Phùng Hà từ khi đánh đuổi huyện quan, chiếm cứ trị sở làm nơi đóng quân, nghe nói quan binh của triều đình kéo đến, liền cử người đi do thám.

Mưu tướng Lương Mi bàn:

- Quân ta ít, quân triều đình đông, nên lui vào núi mai phục chuỳ chông, bẫy đá, tên nỏ cho nhiều, chỉ để lại đây một ít quân khi chúng đến thì bỏ chạy, nhử vào nơi phục binh ắt là phá được.

Phùng Hà khen phải, rồi ra lệnh cứ thế thi hành, dặn Phùng Sơn chọn một trăm người khoẻ mạnh ở lại phủ huyện.

Trần Khánh Dư chia quân làm năm đội, tiền quân một nghìn người do Vũ Quảng làm tiên phong, tả quân là Ninh Cát Đại, hữu quân là Phan Hoành.

Khúc Bá Lợi chỉ huy kị binh, bản thân mình giữ trung quân.

Vào đúng ngày trung thu đến đất Quảng Oai.

Đêm ấy trăng sáng vằng vặc, Khánh Dư cho quân đóng trại nghỉ ngơi, cử thám binh đi dò la tình hình quân man, hôm sau cũng chưa tiến đánh.

Ninh Cát Đại nói:

- Việc quân cốt thần tốc.

Sao tướng quân không tiến đánh ngay đi?

Đang bàn bạc, thám binh về báo:

- Quân man chỉ có một trăm đứa đóng giữ huyện đường.

Khánh Dư nói:

- Bọn này sợ ta vét nhẵn túi nên làm phép giấu binh đây.

Vũ Quảng!

Ta cho ngươi mang quân tiên phong đánh thẳng vào huyện đường, người man chạy chớ đuổi, cử vài tên quân nhanh nhẹn bám theo xem chúng chạy về đâu.

Vũ Quảng đem quân đánh vào huyện đường, gặp ngay Phùng Sơn.

Hai người đánh nhau được vài hiệp, quân lính của Phùng Sơn hò hét rút chạy.

Nghe veo một cái, Phùng Sơn cũng nhào lên cây truyền đi mất dạng, bỏ Vũ Quảng đứng trơ không địch thủ.

Vũ Quảng đóng quân lại huyện đường, không đuổi.

Phùng Sơn thấy thế quay lại thách đánh.

Vũ Quảng cầm đao xông ra.

Sơn cứ từ từ vừa đánh vừa chạy về chỗ phục binh.

Vũ Quảng quay lại bảo quân lính:

- Đuổi dấn lên bắt lấy vài đứa cho ta.

Quân sĩ hò reo ào lên, không biết đang đi vào miền đất chết.

Vũ Quảng đuổi đến khe núi Bạch Trĩ, không thấy Phùng Sơn đâu nữa.

Bỗng nghe có tiếng tù và rúc vang từ bốn phía rồi gỗ đá theo sườn núi lăn xuống.

Vũ Quảng vội cho quân lui lại nhưng đường đã bị nghẽn.

Người thượng hò reo bắn tên, lăn đá xuống như mưa.

Phùng Sơn đứng trên núi chỉ tay nói:

- Người mặc giáp màu nâu, cầm đao kia chính là tướng giặc.

Mấy trăm cây nỏ cùng châu vào bắn.

Vũ Quảng chết, tên cắm trên người như một con nhím.

Quân sĩ tháo chạy, thiệt hại mấy trăm người.

Trần Khánh Dư nghe tin Vũ Quảng chết trận liền gọi Phan Hoành đến dặn:

- Người man là giống thật thà mà hám lợi.

Ngươi mang lương thực đóng làm năm trại suốt từ gò Bạch Trĩ đến núi Trâu Đen, cứ trại sau chứa nhiều lương hơn trại trước, mỗi trại cách nhau mười dặm, nếu quân man ra đánh chỉ việc bỏ lương thực mà chạy.

Hẹn trong ba ngày phải nhử cho quân man ra đến núi Trâu Đen.

Lại gọi Ngô Kế Trung đến dặn dò mẹo mực cho đi giúp Phan Hoành.

Ngô Kế Trung nhận mật kế đi ngay.

Khánh Dư gọi Ninh Cát Đại đến, bảo:

- Phía trước núi Trâu Đen có một cái hồ, bên kia hồ là một khoảng rừng thưa.

Ngươi mang quân ra đấy mai phục, cứ thế này... thế này mà làm, nhất định bắt được Phùng Sơn.

Phía người thượng thấy quân lính triều đình áp sát chân núi đóng trại, họp nhau bàn.

Phùng Hà nói:

- Quan quân đóng trại áp sát là muốn tiến đánh.

Ta nên rút sâu vào núi, bên kia lâu ngày chán tất phải bỏ đi.

Lương Mi nói:

- Quan quân đóng liên tiếp mấy trại là muốn tiếp ứng cho nhau để vây hãm lâu dài, nếu không đánh cho nhụt nhuệ khí của chúng đi, bất lợi cho ta lắm.

Phùng Sơn nói:

- Lương Mi nói rất phải, cha để con mang quân ra đánh thử với chúng một trận xem sao.

Phùng Hà nói:

- Quan quân là những kẻ gian dối, hay dùng mẹo lừa người.

Con mang quân đi phải cẩn thận lắm mới được.

Phùng Sơn mang quân xuống núi, đến trước trại lính triều đình thách đánh.

Một tướng trong trại cầm giáo xông ra.

Đánh nhau mới được vài hiệp, bị Phùng Sơn bắt sống, quân sĩ bỏ chạy về trại hai.

Phùng Sơn vào trại thu được rất nhiều lương thực, cho quân lính khuân cả lên núi, báo tin thắng trận, dẫn tướng bị bắt vào sơn động.

Phùng Hà hỏi:

- Nhà ngươi tên chi?

Quân lính triều đình có bao nhiêu?

Đóng những nơi nào?

Mau khai cho thật nếu không ta nướng ngươi lên đó.

Tướng ấy nói:

- Tôi là hữu quân Phan Hoành giữ một vạn quân chở lương thực đến trước, đợi đại quân đến sau.

Phùng Hà thét:

- Ngươi nói dối!

Quân đâu!

Đốt lửa lên, nướng tên này cho ta.

Triều đình thiếu gì tướng giỏi mà cử một kẻ chưa đánh đã bị bắt như ngươi làm hữu quân?

Phan Hoành cười ngất nói:

- Ta vì bị lên cái nhọt ở vai, không đánh nhau được mới bị bắt chứ đâu có bắt ta dễ thế.

Không tin ta thì cứ nướng đi để rồi đến lúc quân triều đình sẽ nướng các ngươi.

Phùng Hà sai lột áo Phan Hoành ra xem, quả nhiên thấy có cái nhọt lớn ở vai sưng tấy rất đau đớn mới sai cởi trói, nói:

- Nay đã bị ta bắt được, ngươi có theo không?

- Tướng bại trận được tha chết, còn gì không theo.

Phùng Hà sai lấy thuốc cao dán vào nhọt cho Phan Hoành, mở tiệc khoản đãi, nhưng vẫn nghi có điều gian dối, cử lính giám sát chặt chẽ.

Phùng Hà lại hỏi:

- Các chiến tướng triều đình thế nào.

Hoành nói:

- Tôi là kẻ kém nhất nên mới bị bắt chứ còn nhiều người khác xem ra ở đây không ai địch nổi.

Phùng Sơn quát:

- Ngươi dám khinh người thế ư?

Để ta mang quân xuống lấy luôn trại thứ hai cho ngươi xem.

Lương Mi nói:

- Tiểu chủ đã lấy được một trại rồi.

Trại này hãy nhường cho tôi.

Phùng Hà cho Lương Mi đem quân xuống núi.

Quân triều đình thấy quân người thượng đến, kêu to:

- Phan tướng quân đã bị bắt rồi, chúng ta đánh sao được, chạy đi thôi.

Quân triều đình chạy hết.

Lương Mi không phải đánh mà lấy được lương thực còn nhiều hơn Phùng Sơn.

Phùng Sơn tức quá, hôm sau lại xin đi đánh.

Quân triều đình trong trại bắn tên ra.

Sơn cho lấy phên tre đỡ tên, tiến vào.

Quân triều đình lại tháo chạy.

Sơn thu toàn thắng quay về kể chuyện giao chiến rất hào hứng, không ngờ Phan Hoành bảo:

- Quân triều đình chỉ sợ Lương Mi thôi nên nghe ông ấy xuống là bỏ chạy ngay.

Phùng Sơn uất quá gầm lên:

- Không sợ ta à?

Để ta xuống lần này đuổi cùng đường xem chúng có sợ không.

Phùng Hà bảo:

- Để lần này Lương Mi đi xem chúng có dám đánh không.

Lương Mi kéo quân xuống, quả nhiên quân triều đình không dám giao chiến rút chạy hết bỏ lại vô số lương thảo, quân dụng.

Lương Mi đại thắng trở về không phải đánh nhau gì cả.

Phùng Sơn cáu tiết bảo:

- Ngày mai ta đem quân xuống, nếu đứa nào dám đánh lại sẽ giết hết.

Đang nói chuyện, có thám binh về báo:

- Quân triều đình nhổ trại lui hết đi rồi.

Lương Mi lúc ấy đang đắc chí, nói:

- Bọn chúng hết sạch lương thực, không về mau ở đây mà chờ chết hay sao.

Xin động chủ cho đuổi đánh, thế nào cũng bắt được Trần Khánh Dư.

Phùng Sơn hăng máu nói:

- Để con xuống đánh cho chúng tan tành một mẻ.

Phùng Hà bảo:

- Khánh Dư là tay chuyên buôn bán kiếm lời, toàn nhằm cướp lương thảo của người khác, có đâu lại dễ dàng để mất của không thế.

Phan Hoành nói:

- Động chủ phán đoán như thần.

Tiểu chủ và Lương đầu lĩnh có đem quân xuống cũng rất khó xoay sở vì Khánh Dư còn rất nhiều tướng kiệt hiệt.

Hai vị địch làm sao được.

Phùng Sơn tức quá, quát:

- Để tao xuống bắt Khánh Dư lên đây rồi sẽ sửa đến cái tội của mày.

Phan Hoành cười bảo:

- Tôi chỉ sợ tiểu chủ xuống núi lần này không có cơ hội quay về xử phạt tôi thôi.

Phùng Sơn bị khích, hục hặc muốn xuống đánh lắm.

Lương Mi nói:

- Xin động chủ cho tôi cùng tiểu chủ xuống núi, có gì trợ giúp lẫn nhau.

Phùng Hà nói:

- Nếu đã vậy, hai ngươi đem quân xuống trước, ta đi sau tiếp ứng cho.

Cha con Phùng Hà, Phùng Sơn cùng Lương Mi mang quân xuống núi, chỉ để lại mấy chục người canh giữ Phan Hoành và trông coi sơn động.

Đi qua gò Bạch Trĩ trời đã tối, chẳng thấy quân triều đình đâu.

Phùng Sơn thúc quân đến thẳng núi Trâu Đen cũng không có ai ngăn cản, đến trước trại quân triều đình, chỉ thấy quân lính đốt đuốc nhốn nháo gói buộc để rút.

Phùng Sơn hô quân đánh thốc vào trại.

Quân triều đình sợ hãi ù té chạy mất.

Quân người thượng thấy nhiều của cải, tranh nhau cướp lấy, không còn nghĩ gì đến đánh nhau nữa.

Bỗng một tiếng pháo nổ, đèn đuốc cháy lên sáng như ban ngày.

Quân triều đình lớp lớp vây bọc quân thượng vào giữa.

Lương Mi, Phùng Sơn hai tướng xông xáo nhưng không sao ra khỏi trùng vây, đang khi lúng túng lại có một tướng cưỡi ngựa múa giáo sấn đến quát:

- Ta là hữu quân Phan Hoành đây!

Hai thằng kia không cúi đầu chịu trói còn đợi đến khi nào.

Lương Mi, Phùng Sơn hoảng sợ nhào lên cây truyền ra ngoài, chạy sang cánh rừng bên kia hồ, chẳng ngờ gặp ngay phục binh của Ninh Cát Đại vây chặt lấy.

Hai người định dùng thuật phi thân truyền cây thoát đi nhưng Phùng Sơn vừa tung người lên liền vướng ngay vào lưới, đành chịu trói.

Lương Mi may thoát được chạy đến sáng về sơn động, trên núi đã bạt ngàn cờ quạt của quan binh.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 16: Khánh Dư ngang tàng tha tù ăn lễ (2)


Khi đêm, Phùng Hà thấy phía trước bọn Sơn, Mi đánh nhau với quân triều đình liền thúc quân tiến tên tiếp ứng.

Đi chưa được bao xa đã bị đội kị binh của Khúc Bá Lợi đánh tạt ngang, quân sĩ chết nằm la liệt, số còn lại bị bắt sống cả.

Phùng Hà được mấy thân tín bảo vệ mở đường máu ra khỏi vòng vây, chạy về động nhưng động đã bị Trần Khánh Dư cướp mất rồi, đành trốn vào rừng, may sao gặp Lương Mi, mới cùng nhau chạy vào động trong.

Tới nơi, bọn lính Trong sơn động ra đón, chúng nói:

- Quân Khánh Dư nhiều quá, chúng tôi không giữ nổi động ngoài, phải đem Phan Hoành giải về đây.

Lương Mi nói:

- Thằng này không phải là Phan Hoành.

Nó chỉ giả vờ đến lừa chúng ta thôi.

Phùng Hà quát:

- Mày là thằng nào mà dám lại đây lừa ta?

Người kia đáp:

- Ta đích thực không phải Phan Hoành mà là Ngô Kế Trung, gia tướng của của Trần hầu.

Các ngươi biết điều thì sớm hàng đi, cố kháng cự tránh sao khỏi tội chết.

(Chỉ Trần Khánh Dư)

Phùng Hà quát võ sĩ:

- Các ngươi moi gan nó ra xem to bằng nào mà dám múa mép với ta.

Ngô Kế Trung cười, nói:

- Ta thường được Trần hầu yêu quý.

Ngươi giết ta, không sợ Trần hầu trả thù ư?

Con trai ngươi đang ở trong tay Trần hầu đó.

Lương Mi nói:

- Thế lực của ta bây giờ không thể làm gì được nữa, chi bằng hàng triều đình, xin tha tù binh để đỡ tốn xương máu thì hơn.

Phùng Hà nghe theo, thả Ngô Kế Trung về, xin Khánh Dư tha Phùng Sơn và tù binh người thượng ra.

Khánh Dư nói:

- Ta đã khó nhọc mang quân vào đến đây lẽ nào nói suông một câu hàng mà xong.

Hàng nghìn tù binh thế này, ta mang về triều lĩnh không ít tiền thưởng.

Phải bắt được Phùng Hà nữa ta mới rút quân về.

Phùng Hà nghe được tin ấy sợ hãi nói:

- Nếu bị giải về triều đình, tính mạng con ta nguy mất.

Lương Mi nói:

- Tôi nghe Khánh Dư chỉ thích tiền bạc cùng gái đẹp.

Động chủ nên thân mang lễ vật thật hậu đến, tiếng nói mới được coi trọng.

Phùng Hà nghe theo, liền cùng bọn gia thuộc mang nhiều vàng bạc đến đại bản doanh Khánh Dư để khao quân lại biếu riêng Khánh Dư một hòm vàng lá, ba cặp nhung hươu, năm tấm da hổ, mười cân độc dược để tẩm mũi tên, bao nhiêu châu ngọc cướp được của quân Thát ngày trước đem trả lại triều đình hết.

Khánh Dư cười ha hả bảo:

- Có thế chứ.

Lẽ đâu ta chịu lỗ vốn.

Lại quay sang bảo Phùng Hà:

- Các ngươi cũng là người Đại Việt cả, ta không có ý giết hại.

Lương thực các ngươi lấy được trong năm trại vừa rồi ta cho hết.

Từ nay phải thần phục triều đình không được làm phản nữa.

Phùng Hà cùng bọn quân lính dập đầu lạy tạ.

Khánh Dư lại trao cho Phùng Hà tấm thẻ bài của triều đình phong làm quan lang.

Phùng Hà dâng sớ lên triều đình xin đến tháng chạp vào chầu thiên tử.

Từ đấy đất Quảng Oai được yên định.

Khánh Dư đem quân về triều, Ngô Kế Trung nói:

- Quân hầu bình man đại thắng sao không bắt bọn Phùng Hà, Lương Mi về triều để hoàng thượng định tội.

Nếu có kẻ biết chuyện người man biếu quà đem phát giác, e triều đình có người đàn hặc chăng.

Khánh Dư bảo:

- Chẳng lẽ ngươi không biết câu tướng ở ngoài dẫu lệnh vua cũng có thể không tuân đó sao.

Người man cũng vì bọn quan lại ức hiếp quá mới phải làm phản.

Ta đã có lợi rồi, sinh phúc cho chúng chứ bức bách đến cùng khác gì xui người ta cưỡng lại.

Vả lại ta là con của thượng hoàng, kẻ nào dám đàn hặc ta đây?

Mấy hôm sau Khánh Dư về đến kinh thành, vào triều kiến nhà vua.

Thánh Tông xuống tận bậc thềm cầm tay nói:

- Ngự đệ đi bình man chuyến này vất vả quá.

(Vì Thượng hoàng Trần Thái Tông nhận Khánh Dư là con nuôi nên Thánh Tông coi Khánh Dư như em mình mới gọi là ngự đệ)

Khánh Dư nói:

- Công việc bình man nay đã hoàn thành.

Thần xin trả lại quân lính cho hoàng thượng.

Nói xong dâng trả ấn nguyên nhung và trình tờ sớ của Phùng Hà, lại gọi bọn lính hầu khiêng những hòm châu báu do người thượng trả lại đặt trước điện, chỉ giữ lại phần quà riêng của mình.

Thánh Tông cười, nói:

- Hôm nay quả là khanh đã trả cả vốn lẫn lãi cho trẫm rồi đây.

Nhà vua nói xong, xuống chiếu phong Trần Khánh Dư chức Phiêu kỵ đại tướng quân.

Nguyên chức này chỉ dành riêng phong cho các hoàng tử, vì thượng hoàng nhận Khánh Dư là con nên mới được phong, rồi từ tước hầu phong lên tử phục thượng vị hầu, quyền chức phán thủ.

Lúc ấy thái tử Khâm đã tám chín tuổi, Thánh tông giao cho Khánh Dư rèn luyện võ nghệ, binh pháp.

Vì thế Khánh Dư được thường xuyên ra vào nơi cung cấm.

Một hôm Khánh Dư ở trong cung về, người nhà đến báo Ngô Kế Trung đã mang vợ con bỏ đi rồi.

Khánh Dư đến xem, chỉ thấy một tờ giấy biên chép những thứ vàng bạc Khánh Dư cho mà Ngô Kế Trung đã mang đi.

Khánh Dư lắc đầu than:

- Ngô Kế Trung sống cùng ta từ khi còn nhỏ tuổi, bao phen hoạn nạn vào sinh ra tử có nhau, bây giờ được giàu sang sung sướng sao lại bỏ đi không lời từ biệt thế này?

Nói rồi cho người đi tìm nhưng suốt mấy trăm dặm không thấy tin tức gì.

Khánh Dư ngày càng được triều đình trọng vọng, bữa ấy cùng thái tử ra chơi vườn ngự uyển, phía bên kia thuỷ đình thấy thấp thoáng bóng giai nhân bên rặng liễu, liền rủ thái tử sang bên ấy, hoá ra là Thiên Thuỵ công chúa đang cùng thị nữ ngắm hoa.

Thiên Thuỵ năm đó đang ở tuổi trăng tròn, xinh đẹp đoan trang, rực rỡ hơn thược dược, tươi thắm tựa mẫu đơn.

Khánh Dư mắt nhìn đăm đăm chẳng khác kẻ đang khát trông thấy trái cam ngọt, khiến công chúa xấu hổ quay đi nhưng sắp đến chỗ rẽ, ngoảnh lại ném cho Khánh Dư một nụ cười duyên.

Thế thôi cũng đủ lao đao một đời nam tử.

Từ lúc gặp công chúa Thiên Thuỵ, Khánh Dư không lúc nào không tưởng nhớ tới nàng.

Hôm sau cũng giờ ấy, chàng lại vào vườn hoa nhưng không gặp công chúa.

Hôm sau nữa, hôm sau nữa cũng vậy.

Khánh Dư buồn khổ vô cùng, ra ra vào vào, chán ăn chán ngủ, ốm lử khử lừ khừ rồi ốm thật, nóng sốt, hôn mê, luôn mồm kêu:

- Con quỷ!

Con quỷ con xinh đẹp, ai bảo ngươi nhìn ta.

Ngươi giết ta rồi.

Thầy thuốc đến khám không tìm rõ được nguyên cớ, chỉ nói bệnh ở tâm, sốt cao quá nên phát chứng kinh phong.

Cho uống thuốc mấy ngày, đỡ sốt nhưng Khánh Dư vẫn buồn phiền không nói năng gì.

Người nhà cho mời thầy bói đến.

Thầy bói xem, gieo quẻ đoán:

- Tướng quân đi bình man bị thần núi Bạch Trĩ quở phạt.

Phải lập đàn chay cầu cúng bảy ngày bệnh ắt khỏi.

Người nhà nghe theo, cúng bái suốt bảy ngày đêm, bệnh vẫn y nguyên.

Khánh Dư ngày càng lầm lì, thân hình võ vàng gầy rộc, thỉnh thoảng kêu:

- Trời ơi!

Khổ quá trời ơi.

Ta chết mất thôi.

Thầy thuốc nói:

- Không ăn không ngủ thế này, ngày một suy kiệt đi, khó chữa lắm.

Thật là:

Một cái liếc tình không gươm giáo

Cũng làm tan nát dạ anh hùng

Chưa biết Trần Khánh Dư có khỏi được bệnh không?

Chương sau xin nói rõ.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 17: Hà Bổng minh oan cho Nguyễn Bằng


Đang nói chuyện Trần Khánh Dư đêm ngày tơ tưởng hình bóng Thiên Thụy công chúa mà không sao gặp được, sinh ốm tương tư chẳng thuốc thang nào chữa khỏi, hình vóc hao gầy tiều tụy.

Thầy thuốc trong phủ bảo cần phải ra ngoài tìm nơi thoáng mát chơi cho khuây khoả.

Gia nhân mới đóng kiệu đưa chàng lên chơi Tây Hồ.

ở đây phong cảnh đẹp đẽ, cây cối tốt tươi, mặt nước mênh mông, sóng vỗ lô xô, gió hiu hiu thổi mang theo hơi nước mát rượi, xa xa rất nhiều phượng thuyền của các vương hầu, công chúa, ưng thuyền của các tướng lĩnh dạo chơi và vô số nhạn thuyền của binh lính hộ vệ.

Khánh Dư không xuống thuyền, chàng đi lững thững trên bờ, ngắm cảnh.

Bỗng thấy phía trước có đám thị nữ hộ tống một vị công nương, nói cười huyên náo.

Khánh Dư bước lên xem ai, chàng không tin ở mắt mình nữa; người đang bước tới trước mặt chính là công chúa Thiên Thuỵ.

Nàng không mang bộ đồ của một công chúa mà chỉ khoác trên mình tấm áo lụa mỏng bất cứ con gái nhà bình dân nào cũng có thể có.

Chính vì vậy mà nàng trở nên huy hoàng trác tuyệt như một giọt sương mai phản chiếu những tia nắng hồng trong buổi bình minh.

Khánh Dư đứng lặng im, dường như không dám thở, chàng sợ mỗi cử động nhẹ của mình có thể làm tổn thương đến cái kì quan tuyệt vời của tạo hoá kia và nó sẽ biến tan đi mất.

- Ừ ừ!

Thịt cầy không có món dồi, ra cái chó gì.

Ông nói cho mà biết nhé!

Các anh trai trẻ được cái mạnh ăn mạnh nói chứ nghề chơi ở đời cứ gọi là còn non nước lắm.

Đã là thịt cầy phải đủ bảy món tiết canh, thôn bộ, chả, hầm, rang chứ lại.

Một anh trai đinh nói:

- Cụ ơi!

Như thế mới có năm món.

Cụ bảo bảy món cơ mà?

Vĩ Thố cười hề hề, bảo:

- Thì bảy chứ sao.

Dồi, xáo nữa chả là bảy à.

Mà dồi chính là đầu bảng đấy.

Sống trên đời ăn miếng dồi chó, Chết xuống âm phủ biết có hay không!

Thế mà có món dồi các anh làm hỏng cha nó hết.

Mấy tay đàn em cười cầu tài.

Trương tuần Vũ Văn Dư bảo:

- Dồi ngon nhưng mà ít.

Cậu cứ thịt mông cậu chén có sướng hơn không?

Vĩ Thố lắc đầu bảo:

- Hỏng!

Hỏng bét.

Các anh nghĩ thế làm việc dân sao được.

Ít nhưng nó quý.

Ví như cả châu Hồng này mới có một vị tri châu, cả huyện Trường Tân này có một mình ta là huyện lệnh thế mới là quý nhân.

Một cô đào hát gõ dùi vào tang trống cắc cắc, nói:

- Quan anh say rồi!

Đang nói chuyện thịt chó chứ có nói chuyện châu chuyện huyện đâu?

Vĩ Thố véo vào đùi cô đào, nói:

- Say à!

Chưa say!

Cứ ví cái huyện này như mâm cỗ, các quan trên huyện phải có được những miếng dồi.

Bốn tổng là bốn cái đùi bày ra bốn đĩa lớn, việc ban phát cho các hào mục là quyền ở quan, xương xẩu nấu nhừ, ninh kĩ gặm hết thịt, quẳng ra ngoài cho đám lính tráng.

Hừ béo đây!

Mông thế này mới là mông.

Tao đã say đâu.

Say để con đào Tuyết nó nỡm à!

Hì hì.

Tuyết!

Ngồi nhích lại đây anh bảo.

- Gâu gâu!

Gâu gâu...gâu.

Tiệc rượu ngoài đình đã tàn, cô đào Tuyết cùng mấy trai đinh dìu quan huyện Vĩ Thố về nghỉ nơi tư thất.

Đàn chó cứ chẫu ra sủa váng lên như làng có cướp.

Buổi chiều, Vĩ Thố hỏi Vĩ Thử:

- Mảnh vườn nhà con Điệp anh làm xong chửa?

Vĩ Thử thưa:

- Con đã làm như thầy dặn nhưng tay Nguyễn Bằng nó chống lại.

Nó bảo vườn nhà vắng chủ không được động tới, phải đợi chủ về, nợ nần thanh toán đâu có đó.

Dân làng xem ra nhiều người theo nó.

Vĩ Thố cau mày, nói:

- Tưởng ai chứ Nguyễn Bằng mà anh lý cũng sợ à?

Như thế thì làm việc dân việc nước thế nào được.

Hắn là kẻ có tội, ta còn chưa sờ đến đấy.

Anh cho tuần đinh gọi nó đến đây.

Vĩ Thố ngồi chĩnh chệ trên kỉ, có bốn người lính đứng hộ vệ.

Lát sau Nguyễn Bằng đến, không quỳ lạy mà chỉ khoanh tay chào.

Vĩ Thố mặt lạnh như tiền, vuốt râu hỏi:

- Người vừa đến kia là kẻ nào.

Nguyễn Bằng biết Vĩ Thố giở trò với mình, không nói gì.

Một người lính quát:

- Ông già kia!

Quan lớn hỏi, sao không nói?

Nguyễn Bằng vẫn không nói.

Vĩ Thố quát:

- Tên dân đen kia, gặp quan sao không quỳ?

Nguyễn Bằng cười khinh bỉ, nói:

- Ta tưởng vì tình bạn cũ, chỗ đồng môn mà ông mời ta đến đây, hoá ra là quan lớn gọi Bằng này đến hầu ư?

Vĩ Thố đập bàn, quát:

- Ai bạn bè với ngươi.

Ngươi là kẻ có tội, được triều đình tạm tha, từ ngày về quê không chịu đi phu dịch lại còn có hành vi chống đối.

Ngươi thì coi thường pháp luật rồi.

Nhưng coi thường vương pháp chỉ có thiệt vào thân.

Lính đâu!

Nọc cổ nó ra đánh cho ta.

- Ta có tội gì mà đánh.

- Tội gì ư?

Ta nói có tội là có tội.

Ngươi thiếu gì tội.

Một là trốn tránh phu dịch, hai là kết bè kết đảng xúi giục dân chúng làm loạn, chống lại nhà chức trách, ba là bênh vực kẻ tiện dân hòng quỵt nợ của người cho vay làm phúc, bốn là vô lễ với quan trên không tuân vương pháp, năm là...ừ...ừ...nhà ngươi còn nhiều tội lắm, tội nào cũng có thể chém cả, không tha được.

Lính!

Đánh!

Bốn người lính xúm lại vật Nguyễn Bằng ra đánh.

Vợ con Nguyễn Bằng biết tin chạy đến kêu khóc xin quan huyện tha cho.

Cha con Phạm Hữu, Phạm Anh cũng kéo đến.

Lũ chó trong làng sủa rống lên như loạn.

Vĩ Thố sai gia nhân cài cổng không cho ai vào, lại bảo lính đóng gông giải Nguyễn Bằng lên huyện tống vào nhà lao.

Lý Thử gọi trương tuần cho thêm trai đinh giúp mấy người lính.

Đám người nhà Nguyễn Bằng không biết làm sao, đành về làm giấy trình lên quan phủ.

Lý Thử bảo:

- Thầy thế mà ghê thật.

Con nghĩ mãi chưa ra cách gì.

Thầy chỉ ho một tiếng là có đứa mọt gông.

Vĩ Thố vuốt râu bảo:

- Chẳng thế làm quan sao được.

- Nhưng thầy làm thế nào mà nghĩ ra lắm tội của hắn thế?

Vĩ Thố bảo:

- Thế mới gọi là có năng lực.

Các anh chỉ có cái máu hăng nhưng xem ra độ tinh nhạy còn kém lắm.

Muốn trị đứa nào; nó không có tội phải nghĩ tội ra cho nó chứ.

Đã là dân mấy thằng tránh khỏi tội.

Đấy!

Xem bây giờ đứa nào dám lên huyện mà kêu?

Vĩ Thử hỏi:

- Như thế là dựng chuyện lên à?

Vĩ Thố bảo:

- Chứ còn sao nữa.

Anh khờ bỏ mẹ.

Không thế sao có câu muốn nói gian làm quan mà nói.

Đang lúc thái bình thịnh trị, làm ăn như các anh chả trách dân nó khinh.

Bấy giờ nhà Nguyên đang có nội loạn.

Vua Nguyên phong cho Nậu Lạt Đinh chức đạt lỗ hoa xích (Chức quan coi việc hành chính ở các địa phương), cử đi sứ sang Đại Việt để duy trì mối bang giao hai nước.

Nhà Trần cử đoàn sứ bộ gồm viên ngoại lang Dương An Dưỡng, nội lệnh Vũ Phục Hoàn, thư xá Nguyễn Cầu, trung thư lang Nguyễn Cử đi cùng Nậu Lạt Đinh theo đường Vân Nam sang Nguyên đáp lễ.

Khi đi qua ải Quy Hoá, Hà Bổng nhân nói chuyện hỏi thăm Nguyễn Bằng mới biết Bằng bị oan, liền viết sớ dâng lên triều đình minh oan cho Nguyễn Bằng, lại gửi theo cả bức thư của Vương Lâm mà Nguyễn Bằng bỏ quên ở Quy Hoá.

Quan đại hành khiển Nguyễn Giới Huân nhận được sớ liền vào triều tâu với Thánh Tông.

Nhà vua nói:

- Chiến tranh qua lâu rồi, người có công như vậy lại không được trọng thưởng.

Trẫm e trong thiên hạ còn nhiều người như Giới Tử Thôi.

(Giới Tử Thôi người nước Tấn, theo phò công tử Trùng Nhĩ đi lánh nạn suốt 19 năm.

Có những lúc không kiếm được cái ăn, Giới Tử Thôu cắt thịt đùi mình nấu canh dâng Trùng Nhĩ.

Khi về nước, Trùng Nhĩ lên ngôi vua (Tấn Văn Công), quên không phong thưởng cho Giới Tử Thôi.

Sau có người nhắc, Tấn Văn Công nhớ ra cho người đi tìm.

Hai mẹ con Giới Tử Thôi thà chết cháy trong rừng chứ không chịu về)

Nói xong cho sứ giả mang sắc chỉ về huyện Trường Tân tìm Nguyễn Bằng thì Bằng đã bị đưa đến nhà lao của quan phủ.

Huyện lệnh Nguyễn Vĩ Thố sợ tội, muốn hại Nguyễn Bằng, mới nói với sứ giả:

- Nguyễn Bằng từ khi về quê, oán trách triều đình, không tuân vương pháp, xui dân làm loạn nên bị quan phủ bắt giam rồi.

Sứ giả nói:

- Sự việc nghiêm trọng đến thế ư?

Vậy bắt được đồng đảng của nó có bao nhiêu đứa?

- Bẩm thưa quan lớn, hiện nay mới bắt một mình Nguyễn Bằng thôi.

- Đã gọi là làm loạn phải có nhiều người, lẽ nào một mình Nguyễn Bằng mà làm loạn được?

Ngươi có bằng chứng gì không?

- Dạ!

Bằng chứng và đồng đảng của nó là con Thị Điệp mười tám tuổi đã trốn đi rồi.

Sứ giả nói:

- Nghĩa là hiện nay trong tay các ngươi không có bằng chứng gì?

Hừ!

Đồng đảng của kẻ làm loạn là một cô gái ư?

Sự thật về việc này thế nào ngươi phải khai rõ ra.

Vĩ Thố xun xoe nói:

- Việc này phức tạp lắm.

Bây giờ trưa rồi, xin quan lớn hãy đi dùng bữa.

Chiều nay hạ chức cho đòi các nhân chứng, sáng mai xin tường trình tại công đường để thượng quan được rõ ạ.

Chiều hôm ấy sứ giả nghỉ lại ở huyện đường, có lính bảo vệ và đào hát hầu hạ.

Vĩ Thố sai thắng xe ruổi thẳng lên bàn với quan tri châu.

Quan tri châu vuốt bộ ria rất đẹp, điềm đạm nói:

- Thường nhật ta nghe nói quan huyện Trường Tân là người đa mưu túc trí, giảo hoạt lắm cơ mà, sao hôm nay việc mới có vậy đã cuống lên thế?

Vĩ Thố khẩn khoản:

- Thưa đại nhân!

Nhưng vị sứ giả đại nhân này...

Tri châu cướp lời:

- Sứ giả nào mà chả thế!

Cái luật chung ở đời là nén bạc đâm toạc tờ giấy.

Ông không biết à?

- Thưa!

Nhưng vị này có vẻ sắc sảo liêm chính lắm, chưa chắc đã mua được đâu ạ.

Quan châu gõ gõ cái quạt ngà vào lòng bàn tay, nói:

- Phải nặng nặng vào.

Tiền thập vạn quan khả dĩ thông thần hiểu chửa?

(Tiền thập vạn quan khả dĩ thông thần: Có mười vạn quan tiền thì có thể đi lại với thần thánh.

Lấy tích Trương Diên Thưởng xử án.

Trương Diễn Thưởng nổi tiếng là quan thanh liêm, được mọi người coi như thần thánh.

Một bận trên công đường, Diển Thưởng sai đánh tội nhân.

Kẻ ấy đưa biếu một nghìn quan tiền.

Diễn Thưởng càng sai đánh mạnh.

Kẻ tội nhân đau quá, dâng lên một vạn quan.

Diễn Thưởng quát lính đánh mạnh hơn.

Kẻ kia vội dâng lên mười vạn quan.

Diễn Thưởng bảo thôi không đánh nữa)

Vĩ Thố vững dạ về mang rất nhiều vàng bạc biếu quan sứ giả.

Sứ giả cảm ơn lòng ưu hậu của huyện quan, về tâu lại với triều đình việc Nguyễn Bằng phản loạn.

Quan thẩm hình viện Đặng Ma La bước ra tâu:

- Phản loạn là một tội đại hình vậy sao quan tri châu không báo lên triều đình.

Đây là việc có quan hệ đến mạng người, không thể không xét kĩ xem có bằng chứng gì không?

Thánh Tông phán:

- Đặng thám hoa nói rất đúng.

Trẫm giao cho khanh đặc trách tra xét vụ này.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 17: Phạm Hữu làm thơ cười Vĩ Thố (1)


Mộng Điệp mặc một bộ đồ váy áo lụa hồng, đi lại thướt tha như một tiên nữ, dường như đôi gót chân thon nhỏ của nàng không chạm tới mặt đất.

Con ngựa bất kham khi đã được thuần phục bao giờ cũng trở thành tuấn mã.

Mộng Điệp sau bao lần giật cương cắn thiếc, đến một ngày nàng để tuột mất sự trinh trắng vào tay một gã chủ bạ ngay tại huyện này.

Thôi thế là đã lỡ.

Còn gì để gìn giữ nữa đây?

Nàng muốn trả thù cuộc đời bằng những cuộc truy hoan suốt sáng tối ngày dường như bất tận.

Chẳng mấy lúc nàng đã quen và hoà được cuộc đời mình vào cuộc sống giang hồ.

Tuổi trẻ và sắc đẹp cho phép nàng làm chóng mặt hoa mắt bất kì một huyện uý, chủ bạ, thư lại hoặc thầy đề thầy lý nào.

Những thằng đàn ông đứng trước dân như thần như thánh ấy rốt cuộc cũng lần lượt úp mặt làm nô lệ cho đôi bầu vú của người con gái chân tay còn dính mùi bùn.

Và các vị quan nhân mang bộ mặt công luân, ai cũng hể hả nghĩ rằng mình được giai nhân cưng chiều hơn cả.

Trời không nắng không mưa nhưng là một thứ bóng râm đểu giả, không những không mát mẻ gì mà còn làm cho không gian trở nên oi nồng ngột ngạt như muốn ép ra nước mấy bà quạt bánh đa ngoài chợ cùng bác nông phu cuốc mướn trên đồng.

Quan tri châu Hà Phương ngồi giữa chiếc sập chân quỳ dạ cá bằng gỗ gụ bóng loáng.

Mợ Hồng ngồi bên hầu quạt, mắt mợ nhìn quan cười díp lại kéo thành cái đuôi dài như muốn làm cồn lên những đợt sóng tình.

Quan phụ mẫu đáng kính cũng cười, ngài muốn ban phát cho vị tình nương bao điều trìu mến nhưng chưa tìm được ngôn từ phù hợp nên đôi môi ngài cứ mấp máy không thốt thành lời.

Có đến hai tháng quan mới qua chơi nên tình cảm chủ khách hết sức nồng nàn.

Mợ Hồng gọi:

- Mộng Điệp đâu?

Sao chưa mang trà lên hả?

Mộng Điệp hiện ra như nữ thần sắc đẹp trong bộ đồ lụa màu thanh thiên.

Mặt quan lớn ngây đờ như vừa bị trúng tên thuốc độc.

Mộng Điệp e lệ nâng chén trà mời quan.

Mặc dù đó chỉ là sự e lệ giả vờ do được rèn dũa kì công nhiều lần mà có cũng đủ làm đại quan quên hẳn vị tình nương đang ngồi bên cạnh.

Mộng Điệp bước đi rồi, ba hồn bảy vía quan lớn vẫn chưa tìm về đúng chỗ.

Trạng thái tâm lý ấy của quan lớn không thoát khỏi đôi mắt trải đời của người đàn bà vừa mới vào tuổi bốn mươi, đã từng làm đảo điên bao đấng mày râu, mợ Hồng bảo:

- Quan lớn làm sao thế?

Hà Phương lúng túng:

- Ờ!

Ờ!

Không có gì!...Không có gì.

- Thôi!

Không phải giấu em nữa.

Quan lớn muốn thế cũng được thôi.

Cứ cắt cho em năm mẫu bên đường cái quan, em cho nó hầu quan lớn.

- Thật thế hử?

Cái đó có khó gì.

Ai chứ mợ năm mẫu thì năm mẫu.

Mợ Hồng cười hi hí bảo:

- Quan lớn thế mới là quan lớn chứ, đúng là người có tấm lòng vì nước vì dân mà làm việc.

Quan viết giấy cho em đi.

- Gớm chửa!

Mợ cứ làm như quan quỵt mất không bằng.

Viết giấy thì viết giấy.

Mợ cứ cho gọi con bé lên đây.

Mợ Hồng gọi:

- Mộng Điệp!

Dẫn quan vào phòng trong, hầu quan nghỉ nghe chưa?

Mộng Điệp dạ một tiếng, bước vào, đảo mắt liếc quan một cái.

Ánh mắt như một đường kiếm loáng qua, khiến trái tim quan lớn muốn nhảy ra ngoài lồng ngực, ngài run run tụt khỏi mặt chiếc sập gụ, lúng túng giấu những ngón chân vào đôi hài chi long.

Vì chỉ là một kỹ viện cấp huyện nên căn phòng tiếp khách làng chơi đã hẹp lại không lấy gì làm sạch sẽ lắm, nhưng trên bức tường chính giữa cũng có bàn hương và bức tranh vẽ hình Quản Trọng (Từ thời Nguyên về trước, kĩ nữ ở Trung Quốc và một số nước phương Đông thờ Quản Trọng làm Tổ sư, từ thời Minh, Thanh mới thờ thần Bạch Mi, Câu Lan nữ thần hoặc Lã Đồng Tân.

Quản Trọng là nhà chính trị kiệt xuất của Trung Quốc thời Xuân Thu.

Ông đề ra rất nhiều chính sách cải cách làm cho nước Tề trở nên hùng mạnh, giúp Tề Hoàn Công dựng nên nghiệp bá, trong đó có chính sách đánh thuế khách ngủ đêm ở kĩ viện, lấy tiền giúp cho quân đội.

Sau này các kĩ viện còn thờ nhiều vị thần khác trong đó có Quan Âm Bồ Tát, Phật Tổ Như Lai và cả Quan Công nữa).

Quan tri châu không để ý đến điều đó.

Tất cả tâm trí ngài còn mải hút vào cái tác phẩm tuyệt mỹ bằng da bằng thịt chỉ che hờ một làn lụa mỏng kia.

Quan lớn là người có học, xuất thân khoa bảng nên mặc dù trong hoàn cảnh thân hình loã thể, ngài vẫn dùng thứ ngôn ngữ có đủ áo quần tươm tất để trò chuyện cùng mĩ nhân khác hẳn với những quân phàm phu tục tử.

Mọi hành vi của ngài đều từ tốn dần dần theo phong cách nho sinh.

Sự hưởng thụ niềm hoan lạc cũng theo lối tao nhân mặc khách.

Quan lớn nói:

- Thần nữ sao mà xinh đẹp, gom âm dương mà điểm trang.

Ôi!

Bông hoa hồng của nàng sao trắng đến vậy.

Thế này mà không được chạm vào cành lá thì còn chi là đời quân tử.

Tri chi giả, bất như hảo chi giả; hảo chi giả, bất như lạc chi giả.

(Nguyên văn câu này: "Phù hà thần nữ chi giao lệ hề, hàm âm dương chi ác sức", trích trong thần nữ phú của Tống Ngọc nước Sở thời Chiến Quốc.

Câu này trong sách Luận Ngữ của Khổng tử)

Mộng Điệp cười rúc rích bảo:

- Quan lớn nói cái gì chi chi giả giả, em chẳng hiểu ra sao.

Hà Phương giảng giải:

- À!

Nàng không hiểu cũng phải thôi.

Câu này Khổng tử nói rằng biết cái gì không bằng ưa thích nó, ưa thích nó không bằng vui sướng với nó.

Ví như ta biết nàng sao bằng được vui thú với nàng.

- Ôi!

Quan lớn thật là hay chữ.

Chơi trò này mà cũng viện được lời thánh nhân thì ngài quả là thánh thật!

***

- Việc dân việc nước đâu phải trò đùa.

Các anh làm thế này có mà bỏ mẹ.

Đứa nào không chịu đóng góp thì quy cho là đồng đảng của Nguyễn Bằng, lôi cổ nó lên huyện - Vĩ Thố vừa đi đi lại lại vừa nói.

Lý Thử im lặng.

Trương Dư nói:

- Con đã dùng hết cách rồi nhưng bọn thằng Hiệp, thằng Tự lại bảo đóng góp để xây trường mời thầy về dạy học cho bọn trẻ thì chúng nó đóng chứ còn xây chùa thì không.

Vĩ Thố cười hề hề, nói:

- Tốt!

Tốt!

Xây chùa, xây trường, xây miếu, tu sửa đình làng càng làm nhiều càng tốt.

Như thế càng có cơ hội cho các anh kiếm ăn.

Còn xây giếng, lát đường nữa chứ.

Chúng nó đã nói thế, cứ bổ đầu cho chúng nó đóng góp luôn thể.

Thằng Hiệp, thằng Tự là thằng nào mà dám láo, có muốn mọt gông như thằng Nguyễn Bằng không?

Dạ thưa cậu!

Thằng Đoàn Sĩ Hiệp cùng thằng Mai Văn Tự đều là lính cũ, chúng nó lại được bọn thằng Nguyễn Văn Điền, Vũ Tuấn có thẻ thương tích bênh vực, hung hăng lắm ạ.

- Hung hăng thì chúng nó định làm trò gì, không tuân vương pháp, bắt tất.

Nên nhớ rằng pháp luật chính là cái cột vững chắc để các anh dựa vào đấy mà kiếm cơm đấy, nó cũng là cái vồ tạ để các anh đập bẹp những thằng chống đối, rõ chửa?

Việc dân việc nước mà các anh lơ mơ hỏng mẹ nó hết.

Anh Dư!

Anh mang tuần đinh bắt bọn chúng lên đây.

Trương tuần Vũ Văn Dư đi ra.

Vĩ Thố bảo Lý Thử:

- Anh ngu lắm!

Làm lý tể có mỗi một cái làng này mà không xong.

Thế mà tôi đang định xin với quan trên cho anh một chân xã quan thì anh làm thế nào?

Lý Thử gãi đầu, nói:

- Thầy nói thế nào chứ, tôi có biết cái gì đâu mà làm quan.

- Không biết cái gì mới phải làm quan, chứ giỏi giang ra thì cần gì.

Anh là cái thằng chọc cứt không nên lỗ, phải chịu khó làm quan mà sống.

Xem như bố anh đây, đâu có mấy hột chữ nhưng vì có mưu mẹo, biết che chắn đấu đá mà từ một lý tể như anh, trở thành một huyện quan có tiếng trong cái châu này.

Từ nay các công việc trong làng, anh phải xắn tay áo mà lao vào.

Tiền đấy, đồ đấy, tiền đồ đấy khéo thì hưởng, không khéo thì nhịn.

Bây giờ tôi còn đương chức, còn che chắn được cho anh.

Vài năm nữa tôi già cũng phải về nghỉ chứ, lúc ấy anh không có lễ biếu lên, quan trên nào để ý đến, cái ghế của anh dám gãy lắm hả?!

Chúng nó thích xây trường học, cho nó xây mà kiếm chác.

Xây xong liệu chúng nó có tiền cho con đi học không hay chính con các anh mới được đến trường?

Trương tuần Vũ Văn Dư mang mấy tráng đinh xông vào.

Sĩ Hiệp ôm ngực ho rũ.

Phạm Anh cầm bát thuốc trên tay, hỏi:

- Ông trương mang tráng đinh đến có việc gì vậy?

Trương tuần Vũ Văn Dư nhếch mép cười, nói:

- Thằng Đoàn Sĩ Hiệp coi thường luật pháp, trốn tránh phu dịch, không chịu đóng góp lệ làng.

Cụ huyện sai bắt lên công đường.

Phạm Anh nói:

- Không được!

Anh Hiệp đánh Thát mới sinh ra ốm đau thế này đi phu dịch làm sao, không làm ăn gì được lấy tiền đâu mà đóng lệ làng.

Trương Dư nói:

- Việc đánh Thát không phải trách nhiệm của tôi.

Không có tiền nộp lệ làng sao có tiền mua thuốc.

- Này anh Dư!

Khi xưa ở chiến địa, tôi chữa bệnh cho anh đâu có lấy tiền.

Bây giờ tôi cũng chỉ giúp anh Hiệp thôi.

Chẳng lẽ anh quên hết tình chiến hữu rồi ư?

- Chuyện xưa là chuyện xưa, ngày nay là ngày nay.

Tôi chỉ biết tuân thượng lệnh làm theo luật pháp, không dám nghĩ đến chuyện tư tình.

Tuần đinh!

Lôi thằng Hiệp lên quan.

Phạm Anh trừng mắt:

- A!

Quân sấp mặt.

Mày dám bắt anh Hiệp ư?

Đang lúc căng thẳng thì Văn Điền, Vũ Tuấn ở ngoài bước vào.

- Phạm Anh!

Không phải nói với nó nữa.

Cái thằng trương tuần mặt người lòng chó này.

ở nơi trận mạc mày bỏ trốn không dám đối mặt với quân thù, về làng cậy là cháu huyện quan, lên gân vênh mặt.

Mày muốn bắt ai?

Một điều mày nói đến luật pháp, hai điều mày nói đến luật pháp.

Nếu có pháp luật thật thì cậu cháu mày đã khốn nạn lâu rồi.

Vừa nói, Vũ Tuấn vừa tiến sát về phía trương Dư.

Dư lùi lại há mồm lắp bắp:

- Loạn!

Loạn!

Chúng mày làm loạn thật rồi.

***

Con người ta nhiều khi chỉ vì lòng tự ái mà làm đảo lộn những kế hoạch lớn đã được kì công sắp đặt.

Đó là việc mợ Hồng nhất quyết bán Mộng Điệp về thành Đại La.

Mợ phải mất rất nhiều công rèn dũa mới biến được một cô gái chân lấm tay bùn thành một kỹ đệ thạo nghề (Thời Tống, Nguyên thường gọi gái lầu xanh là kỹ đệ với ý khinh bỉ).

Mộng Điệp thực sự là cái cây ra nhiều quả vàng cho mợ.

Nhưng con người ta đâu chỉ cần có vàng!

Ở cái tuổi nắng xiên khoai còn đang gay gắt, mợ sợ nhất phải sống cô đơn, quan huyện thì ít khi về, trước đây lâu lâu quan châu đến thăm nên mợ còn có người bầu bạn.

Giờ đây quan châu ghé qua luôn nhưng không phải vì mợ mà vì Mộng Điệp.

Điều đó có khác nào mợ đã tuyên chiếu thoái vị cho cái dung nhan kiều mị của mình.

Lâu nay người ta cứ tưởng tiền bạc đã làm khô cằn trái tim mợ.

Nhưng không!

Ngoài tiền bạc ra, con tim ấy còn đập rộn ràng cho những niềm hoan lạc cùng các công tử trong đám con cái bạn bè của người cha đáng kính từ khi mợ mới bước vào tuổi mười ba.

Giống như việc uống nước, khi gia thế phong lưu, người ta thường kén chọn những thứ chè ngon hảo hạng, đến khi sa sút có thể uống nước vối nước sôi, khi thực sự cơ hàn mà bị cơn khát thôi thúc cũng đành uống nước lã chứ biết làm sao.

Xưa kia có bao giờ mợ thèm để ý đến cánh làng chơi thầy đề, huyện uý thế mà gần đây mợ đã hạ cố đắp chăn chung với một gã trương tuần, không phải là để lấy tiền mà mợ còn phải cho thêm gã hai đồng bạc.

Thế rồi cái đám đàn ông đốn mạt ấy cứ thò đến là đòi Mộng Điệp.

Mợ thành kẻ chết khô giữa trời mưa.

Không!

Mợ chưa thể dễ dàng bó giáo lai hàng một đứa học trò vô danh tiểu tốt như Mộng Điệp.

Nhất định mợ sẽ giành lại những thành trì đất đai bị tuột khỏi tay.

Mợ nhất quyết bán Mộng Điệp dù cho điều đó có làm cho mợ xót xa vì sự lên án của cái hầu bao.

Con ngựa cái còn đang cơn hăng sức, chạy tốc tác làm chiếc xe lắc lư phát ra những tiếng cọt kẹt nhè nhẹ, bỏ lại phía sau một màn bụi mỏng trên con đường đất mới hanh vàng.

Mộng Điệp ngồi trong xe, vén tấm rèm ngó ra.

Hai bên đồng lúa, làng mạc lùi dần, tiếng nhạc ngựa leng keng đưa cô về phía kinh thành.

Rải rác trên đồng có những khu mả lùm tùm bên những bờ dứa dại.

Vô số những nén hương tắt giữa chừng run rẩy trong ánh tảo minh còn non yểu.

Vài áng mây mong manh hồng rực lên như muốn vội vã nhuộm đỏ bầu trời nhưng chúng nhanh chóng bị xua tan bởi những luồng gió ác thượng tầng.

Mộng Điệp bỗng nhớ ra cô đã xa nhà được mấy năm rồi, chưa một lần về thăm nấm mồ cha mẹ.

Một niềm xót xa tủi hận dâng trào, Điệp khóc!

Xe chạy một chặng khá xa thì mây đen ùn ùn kéo tới.

Mặt trời bị che khuất chỉ còn để lại trên cánh đồng thứ ánh sáng giả hiệu đùng đục nhờ nhờ.

Vài ba chú cò khờ khạo nghiêng nghiêng ngó ngó như muốn hỏi trời xem sắp có chuyện gì.

Người mã phu cho xe dạt vào một làng nhỏ ven đường để tránh cơn dông.

Đường hẹp, những thân cỏ may mỏng manh đổ rạp theo vệt bánh xe lăn.

Buổi chiều trời vẫn mưa tầm tã, không có dấu hiệu nào của sự tạnh ráo.

Không thể dừng được nữa, chiếc xe chở Mộng Điệp đi hút vào miền mờ mịt gió mưa.

***
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 17: Phạm Hữu làm thơ cười Vĩ Thố (2)


Ngôi chùa Rồng rồi cũng được toạ lạc ngay giữa làng Cao Duệ, ba phía là ao, chỉ có một con đường độc đạo đi vào cửa tam quan.

Trước sân có một bệ cao, bên trên là đài sen nâng tượng phật Quan Âm Bồ Tát bằng đá cực lớn, tay cầm cành dương vẩy nước cam lồ cứu khổ cứu nạn.

Phía dưới tạc hình con quỷ đội đài sen đưa Quan Âm vượt qua biển cả.

Chuyện này có tích hẳn hoi nhưng dân trong làng ra xem có người bảo:

- Thế này chẳng hoá ra phật phải nhờ vào quỷ mới sống được à?

Người khác bảo:

- Phật nuôi quỷ để sai việc.

Một ông chừng ngoại lục tuần hóm hỉnh nói:

- Phật nuôi quỷ hay quỷ nuôi phật cũng nên.

Một ông khác nói:

- Ôi chà!

Cái đó chỉ có ma mới biết được.

Một bà chép miệng bảo:

- Quái!

Ở nơi cửa phật mà các ông toàn nói chuyện ma với quỷ.

Một bà than vãn:

- Chẳng biết có Phật thật không, năm nay mất mùa mà cứ đóng góp xây cất mãi rồi khéo ra ma cả ấy chứ.

Buổi trưa các vị chức sắc trong làng ra làm lễ dâng hương thờ phật rồi tụ họp ngoài đình ăn cỗ hoàn công thợ, có quan huyện Nguyễn Vĩ Thố về dự.

Phạm Hữu là quan hưu chức có công nên cũng được mời.

Khi rượu đã ngà ngà, Vĩ Thố bảo Phạm Hữu:

- Thật tiếc cho cha con ông, khi chiến tranh loạn lạc thì xông pha nơi trận mạc, lúc thái bình có cơ hội thăng quan tiến chức, làm ăn được lại bỏ về.

Tiếc quá!

Tiếc quá.

Giá ông ở lại...

Phạm Hữu lúc ấy còn tỉnh táo nhưng vờ say, gật gù nói:

- Quan lớn nói phải lắm.

Nhưng làm quan đâu có dễ, cần phải có tài, phải không ạ?

Vĩ Thố đắc ý gật gù:

- Đúng rồi!

- Phải có khả năng che chắn đấu đá phải không ạ?

- Đúng!

- Phải biết dò đoán được ý quan trên mà chiều, phải biết kín đáo ăn chặn của dân, phải biết vu tội cho người ngay thẳng, phải có nhiều mưu mô để vơ vét cướp đoạt mà dân chúng vẫn phải coi mình là phụ mẫu chi quan công minh liêm chính, tóm lại là phải cực gian thâm có phải không?

Những tố chất quý báu ấy cha con tôi không có thì làm quan sao được.

Vĩ Thố biết Phạm Hữu xỏ xiên mình nhưng không có cớ đàn hặc, cười méo mó, nói:

- Ông Hữu say rồi!

Ông Hữu say rồi.

Phạm Hữu cầm chén đứng dậy bước ra giữa đình nói:

- Tôi say hay tôi chưa say không can hệ.

Cái điều can hệ là tôi nói có đúng hay không kia.

Anh mõ cùng đám thợ làm thuê và mấy người nấu bếp nói:

- Đúng lắm!

Đúng lắm!

Trương tuần Vũ Văn Dư thấy chạm nọc, buông đũa bát cầm tay thước chỉ đám người ồn ào, quát:

- Bọn kia!

Biết gì mà nói leo?

Phạm Hữu bảo:

- Anh trương!

Không phải nổi nóng.

Tôi say rồi đang muốn về đây.

Nhưng dù sao cũng mang tiếng có ít nhiều chữ nghĩa; làng có hội lớn lại có quan huyện về dự thế này là trịnh trọng lắm, tôi xin đọc mừng một bài thơ.

Mọi người cười khen tốt tốt.

Vĩ Thố sợ Phạm Hữu làm thơ chửi mình, bảo:

- Hôm nay hoàn thành ngôi chùa nên chỉ làm thơ nói về nhà chùa thôi đấy nhé.

Phạm Hữu cười bảo:

- Tôi hiểu ý quan huyện rồi.

Tôi đọc đây:

Hừ hừ!..

Tượng nhỏ tượng to đủ chỗ ngồi

Riêng người nằm khểnh dưới đất chơi

Tượng giả bộ nghiêm, thèm không dám

Người cứ tự nhiên tuý luý hoài

Ai bảo phật tiên người hay tượng

Cực lạc nhân gian hay bảo đài

Ật ưỡng trên cao giời khó giữ

Kềnh luôn ra đất mới lâu dài.

Phạm Hữu đọc xong, đám cử toạ vỗ tay tán thưởng.

Vĩ Thố biết Phạm Hữu chơi ác mình, cáu lắm nhưng chẳng làm thế nào được cũng gượng cười khen hay.

Phạm Hữu mủm mỉm cầm cây quạt, giơ tay chào mọi người, bảo:

- Thôi các vị cứ ăn uống vui vẻ.

Tôi xin phép về còn phải bảo các cháu nó sao nốt mấy mẻ thuốc.

Phạm Hữu về rồi, Vĩ Thố mới bảo:

- Hừ!

Mẹ kiếp!

Ật ưỡng trên cao giời khó giữ.

Hoá ra là nó rủa mình à!

***

Lại nói quan thẩm hình viện Đặng Ma La vâng chỉ làm khâm sai đi điều tra vụ Nguyễn Bằng phản loạn.

Đặng Ma La vốn biết Nguyễn Bằng là người chính trực có công đánh giặc, chắc có chỗ uẩn khúc chi đây, nhưng sợ quan lại địa phương bưng bít mới nghĩ ra một kế, cùng mấy vệ sĩ mặc áo thường dân đi thẳng về làng Cao Duệ giả làm người buôn rau ở chợ, gánh một gánh rau úa ra bán.

Có bác nông phu cười bảo:

- Gớm cái nhà bác này!

Rau úa chết đi được còn mang bán thì ai mua.

Đặng Ma La nói:

- Tôi nghe nói đây là quê hương quan huyện Vĩ Thố, mà huyện quan lại chỉ thích ăn rau úa nên mới đem bán.

Bác nông phu giơ ngón tay trỏ lên miệng suỵt một tiếng, liếc mắt nhìn quanh, bảo:

- Chết!

Sao bác nói dại thế, lại dám gọi cả tên cúng cơm của quan huyện ra nữa chứ.

Lý tể làng này là con trai quan huyện, trương tuần gọi quan huyện là cậu ruột.

Tay chân của họ nghe thấy thì bác chết đấy.

Hẳn bác không phải là người vùng này?

- Sao tôi nghe nói quan huyện ở đây thanh liêm minh bạch, yêu dân như con, thương người nghèo lắm cơ mà.

- Ôi dào ôi!

Thương cái xương chẳng còn.

Bao nhiêu người bị vây cánh của ông ấy cướp sạch ruộng vườn, bồng bế nhau đi ăn mày cả lũ kia kìa.

Đặng Ma La gặng:

- Bác nói thế nào chứ chẳng lẽ không có ai lên tiếng bênh người nghèo à?

- Bác này đúng là ở nơi khác đến, coi giời bằng vung.

Ai muốn bênh cứ trông gương ông Nguyễn Bằng đấy, tù mọt gông mấy năm nay, vợ con nheo nhóc, may nhờ ông Phạm Hữu cưu mang mới chưa đến nỗi chết đói.

- Ơ!

Sao bảo Nguyễn Bằng phản loạn nên bị quan châu bắt?

Bác nông phu cười ngất, bảo:

- Ông Nguyễn Bằng mà coi là làm loạn thì cả nước này làm loạn hết.

- Thế thì đầu đuôi ra sao bác kể cho tôi nghe được không?

Người nông phu kể hết đầu tình sự việc cho Đặng Ma La nghe.

Nghe xong, Đặng Ma La bảo:

- Không có ai làm giấy kiện lên quan châu à?

Bác nông phu ngán ngẩm thất vọng nói:

- Ôi giời ơi!

Quan châu, quan huyện cũng cùng một giuộc cả.

Chính vì có người làm đơn lên quan tri châu mới khốn khổ thế đấy.

- Bây giờ tôi đứng tên kiện, bác có dám ra làm chứng không?

- Chẳng ăn thua gì đâu bác ơi, tôi chịu thôi.

Người dám làm chứng ở làng này may ra chỉ có ông Phạm Hữu.

Sau khi nói chuyện với người nông phu, Đặng Ma La giả làm người hàn nồi, la cà vào trong xóm gặp nhiều người khác nữa, biết dân ở đấy ai cũng căm ghét cha con huyện quan Vĩ Thố đến tận xương tuỷ mà không biết kêu vào đâu và cũng hiểu được nỗi oan ức của Nguyễn Bằng.

Hôm sau Đặng Ma La tìm gặp Phạm Hữu nói chuyện.

Phạm Hữu hăng hái xin làm nhân chứng.

Đặng Ma La liền đến phủ đệ quan tri châu cho đòi cha con quan huyện Nguyễn Vĩ Thố, Nguyễn Vĩ Thử và trương tuần Vũ Văn Dư đến hầu.

Bọn này kêu oan, nhất định không chịu nhận tội.

Đặng Ma La cho mời Phạm Hữu, vợ con Nguyễn Bằng cùng những người bị cướp ruộng vườn đến đối chất.

Cha con Nguyễn Vĩ Thố không thể chối cãi nhưng vẫn không chịu nhận tội.

Đặng Ma La sai lính nọc bọn Thố ra đánh mỗi người bốn mươi côn.

Vĩ Thử, Văn Dư không chịu được đau đành khai ra hết.

Đặng Ma La tuyên án:

- Cha con, cậu cháu bọn Nguyễn Vĩ Thố, Nguyễn Vĩ Thử, Vũ Văn Dư coi thường vương pháp, lạm dụng phép công mưu việc tư lợi, câu kết ngụy đảng hãm hại người lành, hà lạm công khố, đè nén dân chúng, khiến cho nhiều gia đình phải tan nhà nát cửa, làm rối loạn kỉ cương phép nước, tội ác tày trời chẳng thể dung tha.

Nay ta thừa lệnh hoàng thượng tuyên bố tịch thu toàn bộ tài sản, tước bỏ mọi phẩm hàm của Nguyễn Vĩ Thố đày đi Hoan châu làm sai dịch.

Tịch thu tài sản Nguyễn Vĩ Thử, Vũ Văn Dư, tước bỏ mọi phẩm hàm đuổi về làm dân thường.

Tất cả vườn ruộng bọn chúng cướp của thứ dân được trả về chủ cũ.

Đốt bỏ văn tự xoá nợ cho dân.

Quan tri châu Hà Phương không làm tròn phận sự, bao che dung túng cho hạ cấp làm càn, nay bãi chức quan, bắt về triều đình nghị tội.

Dân chúng đến xem xử án nhất loạt tung hô:

- Hoàng thượng vạn tuế!

Hoàng thượng vạn tuế!

Vạn tuế, vạn tuế, vạn tuế!

Đợi cho bầu không khí lắng xuống, Đặng Ma La nói tiếp:

- Nguyễn Bằng có công đánh giặc mà phải chịu hàm oan, hai lần vào lao ngục vẫn giữ được khí tiết, hết lòng vì nước vì dân, thật là trung lương, thật là quân tử.

Nay đưa về triều đình đợi nhà vua ban thưởng.

Lính đâu!

Đưa Nguyễn đại nhân lên đây.

Quân lính mở cửa nhà ngục.

Vợ con Nguyễn Bằng cùng Phạm Hữu vào theo.

Chỉ thấy Nguyễn Bằng tóc tai quần áo tả tơi, người gầy đét, ghẻ lở đầy mình, chân tay bị cùm kẹp tím bầm sưng tấy, nằm thở thoi thóp như sắp tắt hơi, không còn biết gì nữa.

Phạm Thị vợ Nguyễn Bằng oà khóc:

- Quân giết người!

Quân giết người...

Thật là:

Đất khách coi khinh ngàn gươm giáo

Quê hương hấp hối một thân tù

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem Nguyễn Bằng sống chết ra sao.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 18: Cuộc tình éo le trong vườn Yên Hoa (1)


Đang nói Đặng Ma La xử án cứu được Nguyễn Bằng ra thì đã gần chết.

Vợ con Nguyễn Bằng kêu khóc om sòm.

Phạm Hữu bảo:

- Mẹ con cô hãy ra ngoài kia để tôi còn chữa cho chú ấy.

Phạm Hữu nói xong, cầm tay Nguyễn Bằng, thấy mạch trầm hoãn không có lực, người lạnh, thở gấp như hụt hơi, nói:

- Khổ thân chú ấy.

Bị bỏ đói đây mà.

Chú lính cho tôi ít nước nóng rồi chạy đi mua hộ tí cháo, bảo họ múc cho chỗ loãng loãng thôi.

Người lính vội mang nước đến.

Phạm Hữu cho Nguyễn Bằng uống mấy giọt thuốc hồi dương cứu nghịch làm người ấm lên, lại bón cho mấy thìa cháo.

Lát sau Nguyễn Bằng tỉnh lại, ai nấy đều mừng rỡ.

Nguyễn Bằng thấy Phạm Hữu cùng vợ con quây quần cả bên mình, mừng quá nói:

- Tôi có chết cũng đã gặp được mọi người thế này là...

Hai hàng nước mắt ứa ra, không nói hết được câu.

Những người xung quanh cũng rưng rưng cảm động.

Phạm Hữu bảo:

- Tôi đến đây, chú muốn chết cũng đâu có được.

Bọn quan huyện, quan châu bị bắt cả rồi.

Đặng Ma La đợi mấy ngày cho Nguyễn Bằng khoẻ hẳn mới đưa về kinh yết kiến hoàng thượng.

Thánh Tông khen Nguyễn Bằng là người dũng nghĩa, xét công lao phong cho làm tri châu châu Hạ Hồng, thay quan chi châu cũ Hà Phương.

Nguyễn Bằng lạy tạ nhưng không nhận chức, chỉ xin được về quê an dưỡng tuổi già.

Thánh Tông ban cho năm trăm lạng bạc, hai tấm lụa, chuẩn cho về quê sum họp gia đình.

Xin trở lại với vị tướng trẻ tài ba mà si tình Trần Khánh Dư cùng nàng công chúa xinh đẹp yêu kiều Thiên Thụy.

Từ hôm Khánh Dư gặp lại Thiên Thụy bên bờ Tây hồ, chàng như được uống một liều thuốc cải tử hoàn sinh, xua tan mọi nỗi ưu phiền cùng bệnh tật, bởi vì công chúa đã hẹn đúng tối hôm rằm chàng đến vườn Yên Hoa trong khu ngự uyển gặp nàng.

Hôm nay chính là ngày hẹn.

Từ lúc mặt trời còn cao, Khánh Dư đã ăn mặc rất chải chuốt, đi ra đi vào chỉ mong sao xua được bóng ác vàng bay nhanh qua núi cho giời chóng tối.

(Xưa kia cả Việt Nam lẫn Trung Quốc hai chữ Yên Hoađể chỉ nơi có nhiều kỹ nữ sinh sống và hành nghề)

Vườn Yên Hoa thuộc ngự hoa viên, có từ thời Lý Anh Tông.

Lai lịch của nó gắn liền với thú ăn chơi của các vương hầu công tử cùng tao nhân mặc khách chốn kinh kỳ.

Trong kinh thành Đại La có xóm Yên Hoa rất nhiều ca kỹ múa giỏi đàn hay lại biết ươm trồng nhiều giống kì hoa dị thảo hương thơm sắc thắm (Ngày xưa kỹ nữ phân theo nghề nghiệp có tới hơn bốn mươi loại như: Vũ kỹ chuyên múa, cổ kỹ chuyên đánh trống, nhạc kỹ chuyên chơi đàn thổi sáo, ca kỹ chuyên hát hầu khách, kỳ nương chuyên đánh cờ với khách... chỉ có dâm kỹ mới có quan hệ chăn gối với khách mà thôi).

Các vương tôn, công tử, quan lại thường lui tới ngắm hoa nghe nhạc, nhiều khi thâu đêm suốt sáng.

Có người biết nhà vua hay chơi hoa mới xin về dâng lên.

Nhà vua thích lắm, thưởng cho rất hậu, lại sai đem cây hoa lạ trồng trong vườn.Về sau người ta đua nhau tìm những loài cây quý dâng cho nhà vua.

Tất cả các cây ấy đều được trồng trong khu vườn riêng, cử người chăm sóc cẩn thận, gọi là vườn Yên Hoa với ý là những cây ở đây đều được lấy giống từ xóm Yên Hoa.

Đến thời Lý Cao Tông không những chỉ có các giống hoa lạ mà các loại cây hiếm có hình dáng đẹp ở khắp nơi cũng được mang về trồng.

Nhà vua lại cho đào một chiếc hồ bán nguyệt rộng mười mẫu, xây thuỷ đình cực kì lộng lẫy.

Chung quanh hồ trồng rất nhiều cây liễu, có đường lát gạch phương điều để người của hoàng gia đi dạo ngắm hoa.

Đến đời Lý Huệ Tông, Trần Tự Khánh nắm giữ quyền bính cho xây một hòn giả sơn cao bảy trượng giữa hồ.

Trong lòng giả sơn có nhiều hang động thông qua một đường ngầm nối liền với những hang động của dãy non bộ trên bờ.

Khi Trần Thái Tông lên ngôi cho xây thêm năm ngôi hoa đình tượng trưng ngũ hành và đường đi lối lại liên kết thành hệ thống rất đẹp đẽ.

Những cây được trồng từ thời nhà Lý đã thành cổ thụ, nhiều cây cao hơn mười trượng, cành lá sum xuê toả bóng xuống một sân chơi lát gạch men xanh ngọc nhạt.

Khu vườn luôn râm mát yên tĩnh, những chiều Hè nắng nóng hoặc đêm trăng thanh gió mát, các công chúa, hoàng tử thường đến đây chơi dạo vui đùa, khi chọi dế đá cầu, lúc kéo co đánh vật, hoặc giả chơi trò trốn tìm đuổi nhau rất vui vẻ.

Mới đầu giờ Dậu, Trần Khánh Dư đã tới hoa viên.

Cả khu vườn vắng lặng vì giờ này trong hoàng cung đang là bữa ăn chiều.

Khánh Dư đi dạo một mình, lúc lâu sau chàng ngồi xuống ghế đá ven hồ, ngắm trăng lên.

Trăng rằm chưa tròn hẳn nhưng trong sáng, từ từ nâng chiếc khuôn vàng vào giữa màn xanh, toả ra một thứ ánh sáng mềm mại dịu dàng (Dân ta cho rằng đêm 16 hàng tháng trăng mới thực tròn.

Ca dao có câu: Trăng đến mười sáu trăng tròn; em đến mười sáu em còn đợi ai).

Đội minh đăng quân đã thắp xong các dãy đèn trong khắp hoàng cung.

Ngự uyển lung linh dưới ánh sáng của hàng trăm ngọn đèn nhiều màu.

Khánh Dư có vẻ sốt ruột, chốc chốc lại nhìn về phía con đường từ ngự hoa viên dẫn vào hoàng cung mong kiếm tìm hình bóng giai nhân.

Công chúa Thiên Thụy không đi lối ấy, nàng theo cửa nhỏ đi qua phía sau hòn giả sơn, chỉ có một thị nữ theo cùng.

Khánh Dư ngoảnh lại đã thấy người đẹp kề bên.

Nàng đi giày thêu, áo lửng không tay màu mỡ gà dài gần tới gối bó gọn trong chiếc thắt lưng màu vàng kim tuyến, khuôn mặt rạng rỡ như bức tranh vẽ hình Lạc Thần gặp Hậu Nghệ (Lạc Thần: Nhân vật thần thoại của Trung Quốc, là tình nhân của Hậu Nghệ, bị Ngọc hoàng đày xuống hạ giới ở sông Lạc Thuỷ).

Nói sao hết nỗi vui sướng của Khánh Dư.

Thiên Thụy hỏi:

- Chú Dư đợi Thiên Thụy đã lâu chưa?

- Gần một trăm năm rồi.

Thiên Thụy vừa đấm nhẹ vào lưng Khánh Dư vừa nũng nịu nói:

- Chú Dư chỉ nói đùa!

Chú Dư chỉ nói đùa!

Khánh Dư định nắm lấy tay Thiên Thụy nhưng nàng đã bỏ chạy, nói:

- Đố chú Dư đuổi được Thiên Thụy.

- Đuổi được thì sao?

- Sao cũng được.

Khánh Dư đuổi theo.

Thiên Thụy chạy vòng ra sau hòn giả sơn rồi chui tọt vào một cửa hang.

Trong hang thắp những ngọn đèn màu rất nhỏ, chiếu ánh sáng mờ mờ lên các vách đá lóng lánh như được gắn muôn ngàn viên ngọc dạ quang bé xíu, rất nhiều nhũ đá thiên hình vạn dạng ghép nối một cách khéo léo rủ xuống chẳng khác gì ở nơi tiên động.

Phía trước thấp thoáng bóng Thiên Thụy đang chạy.

Đến một ngách ít ánh đèn, nàng chạy chậm lại, bị Khánh Dư tóm được.

Chàng ôm nàng trong vòng tay.

Thiên Thụy đẩy ra, bảo:

- Đừng!

Kìa!

Nhỡ ai nhìn thấy.

- Làm gì có ai ở đây!

Ta đợi cơ hội này đã lâu lắm rồi.

Nói xong, Khánh Dư hôn tới tấp lên mặt lên môi Thiên Thụy.

Nàng yên lặng trong vòng tay chàng.

Đôi trai gái như quên hết những gì có thể xảy ra ở xung quanh và trong cái khung cảnh mơ hồ huyền ảo như chuyện thần tiên, họ đã đưa nhau đến miền thần tiên nhất của những người tình.

Từ đấy hai người thường hẹn nhau đến đây để được thoả thích làm chuyện mây mưa.

***

Quan tri châu Hà Phương bị điệu về kinh thành chờ xét xử.

Khi dẫn tới nhà ngục, có người cháu làm cai ngục là Hà Bình trông thấy gọi nhưng Hà Phương không trả lời.

Chiều hôm ấy, cai ngục Hà Bình đuổi hết lính ra, một mình vào thăm Hà Phương.

Hà Bình hỏi:

- Chú không nhận ra cháu ư?

Hà Phương bảo:

- Không phải!

Chỉ sợ có người làm khó dễ còn gặp nhau thường xuyên sao được.

Bây giờ chú phạm tội bị giam ở đây, cháu có cách gì giúp chú không?

- Lần trước cũng có người mắc tội, họ nhờ quan chi hậu cục Đỗ Khắc Chung tâu xin với nhà vua thế nào đó nên được giảm án.

Các quan ở bộ hình cũng có vẻ kiêng nể ông ấy lắm nhưng chắc phải mất rất nhiều tiền bạc.

(Đỗ Khắc Chung về sau có công, được đặc cách đổi sang họ vua, tức là Trần Khắc Chung.

Trần Khắc Chung nổi tiếng là giảo hoạt, vu hãm quốc phụ thượng tể Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn vào tội phản nghịch.

Trong vụ án này, cùng với Quốc Chẩn, hàng trăm người vô tội phải chết oan.

Đời sau, Lễ bộ thượng thư Lê Tung trong Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận coi Trần Khắc Chung và Trần Khánh Dư là những kẻ gian tà, tham bỉ)

- Tiền bạc thì không lo.

Chú có thể chi đủ nhưng làm thế nào mà gặp được ngài chi hậu cục đây.

Bây giờ từ châu huyện đến kinh kì chỗ nào cũng nhan nhản cò mồi, không khéo mất tiền mà chả được việc gì.

- Đúng đấy chú ạ.

Có tiền mà không biết đường biết lối cũng không thể thành việc, có khi còn mang vạ thêm.

Cháu có một người bạn là Hiếu Ngân làm ở dinh quan phiêu kị tướng quân Trần Khánh Dư.

Ông Trần Khánh Dư được hoàng thượng quý mến, cũng hay đi lại với quan chi hậu cục Đỗ Khắc Chung.

Để hết giờ làm việc cháu nhờ thử xem.

Hà Phương như người chết đuối vớ được cọc, bảo:

- Cũng may gặp được cháu ở đây; thôi thì trăm sự nhờ cháu.

Chỗ này chú chỉ có ít bạc lẻ, cháu cầm đi mời người ta chén rượu.

Tình hình thế nào mau cho chú biết để còn lo liệu.

Hết giờ làm việc, Hà Bình phi ngựa đến dinh quan phiêu kị tướng quân Trần Khánh Dư, may sao Hiếu Ngân cũng vừa lúc được nghỉ đang định về nhà.

Hai người gặp nhau.

Hà Bình bảo:

- Này!

Có vụ làm ăn đấy.

Ông giúp tôi một tay chứ?

Hiếu Ngân nói:

- Giúp thì giúp!

Miễn là nặng tay vào.

Vịt gầy hay béo?

- Gầy béo gì!

Quan tri châu ở châu Hạ Hồng là chú họ tôi chứ ai.

- Chú họ chú ruột gì cũng phải có ăn mới làm được chứ, uống nước lã đi nói hộ à?

- Ai đã để ông uống nước lã.

Ta đến tửu quán nào đó nói chuyện đi.

- Đến phường Yên Hoa hay ra hồ Lục Thuỷ?

- Xóm Yên Hoa hát toàn hành vân với lưu thuỷ chán bỏ mẹ.

Ta ra hồ Lục Thuỷ, các kỹ nữ hát nhạc ngoại Hồi Kê, Đại Lý rồi cả nhạc Chiêm, nhạc Thiên Chúc nữa, miệng hát chân nhảy, rốn lúc lắc thế mới thích.

(Những dân Tống chạy quân Nguyên, sang Đại Việt, tự nhận là người Hồi Kê để tránh sự lùng bắt của quân Nguyên)

- Ôi giời!

Bây giờ đâu phải hát nhạc ngoại nó mới phơi rốn ra.

Ông thích thì không mặc gì đứng hát nhạc cổ nó cũng chiều.

Nhiều đứa đầu óc tóc tai cắt cum cúm như đồ ăn cắp.

Hôm sau Hà Bình vào nói với Hà Phương:

- Bạn cháu nó nhận lời giúp cho rồi đấy.

Nhưng qua cửa phiêu kị tướng quân không có lễ hậu thì không xong được.

Hà Phương liền viết một lá thư giao cho Hà Bình về nhà ở huyện Bàng Hà lấy vàng bạc để lo việc.

(Chí Linh, Hải Dương ngày nay.

Sách Phương Đình dư địa chí viết: "Huyện Chí Linh: Xưa là Bàng Châu (cũng gọi là Bàng Hà) thuộc nhà Minh đổi là Chí Linh."

- Trang 393, bản dịch của NXB Văn Hoá Thông Tin.

ĐVsktt, bản dịch của NXB Khoa Học Xã Hội 1998 ghi: "Bàng Hà: đất huyện Thanh Hà cũ nay thuộc huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Hưng và huyện Tiên Lãng, Hải Phòng"- Chú thích số 5, tr 51, tập II)

Buổi chiều, Trần Khánh Dư đang chải đầu, định tối đi gặp công chúa Thiên Thụy trong ngự hoa viên, nàng đã hẹn đợi chàng bên hồ bán nguyệt.

Hiếu Ngân chạy vào báo:

- Trình tướng quân!

Bạn của hạ chức đã đến rồi, đang đợi ở cổng sau.

Khánh Dư tươi cười nói:

- Tốt!

Tốt.

Ngươi bảo chúng đem cả vào đây.

Để ý xem có ai nhìn ngó gì không đấy.

Hiếu Ngân đi ra, lát sau dẫn Hà Bình cùng một tên đầy tớ vác chiếc hòm nặng vào.

Hà Bình quỳ xuống nói:

- Quan tri châu Hà Phương có chút lễ mọn dâng lên.

Xin đại nhân che chở cho.

Khánh Dư bảo mở ra.

Chiếc nắp hòm được nâng lên.

Bên trong đầy ắp mấy chục thoi vàng ròng lấp lánh.

Khánh Dư cười mỉm bảo:

- Ngươi cứ về đi, mọi việc để ta lo.

Tối hôm ấy Khánh Dư vào hoàng thành nhưng không đến gặp Thiên Thụy mà tìm gặp Đỗ Khắc Chung.

Khắc Chung nể Khánh Dư nên nhận lời nói giúp.

Khánh Dư đưa cho Khắc Chung một cái túi gấm, nói:

- Đây là lễ của quan tri phủ Hà Phương gửi biếu.

Khắc Chung mở ra thấy có hai thoi vàng, gật gù bảo:

- Cũng biết điều đấy.

Lộc bất tận hưởng.

Ông hãy nhận lấy một thoi.

Khánh Dư xua tay, nói:

- Không không!

Người ta biếu ông.

Còn tôi là chỗ đồng hương chỉ giúp vô tư thôi.

- Tướng quân chối từ thì tôi đâu dám nhận một mình.

- Có gì mà không dám?

Ông cứ cho Dư này mấy chén rượu là được rồi.

Hai người cùng cười.

Khánh Dư theo Khắc Chung đến kỹ viện Phúc Tình bên hồ Lục Thuỷ, chẳng còn nhớ gì đến lời hẹn hò với công chúa Thiên Thụy.

Quan tri châu Hà Phương vì được Đỗ Khắc Chung và Trần Khánh Dư nói đỡ nên thoát tội chết, chỉ bị giáng xuống làm huyện lệnh huyện Đông Triều.

Các quan trong triều tuy không đồng tình với cách luận tội của bộ hình nhưng e dè thế lực của Khánh Dư và sợ Khắc Chung là cận thần của nhà vua, lại không có bằng chứng về việc ăn hối lộ của hai người ấy nên đành nhẫn nhịn.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 18: Cuộc tình éo le trong vườn Yên Hoa (2)


Công chúa Thiên Thụy từ buổi Khánh Dư bỏ lỡ hẹn, buồn bã sầu khổ không biết chừng nào, bữa ấy mát trời, cùng thị nữ đến giảng võ đường xem luyện tập cho khuây khoả.

Từ trên đài cao nhìn xuống thấy một thiếu niên tuổi chừng mười tám đôi mươi, tóc búi cao giắt một cây cài vàng, môi như son tô, mặt tựa phấn rắc muôn phần đẹp đẽ.

Thiếu niên ấy mặc võ phục nhẹ, vai đeo cây cung màu mã não, túi tên buộc chặt sau lưng, tay cầm trường thương, cưỡi ngựa bạch câu phi như bay trên sân tập.

Công chúa nghe một vị lão quan nói:

- Công Tôn Át cũng chẳng thể hơn.

(Công Tôn Át: Tướng nước Trịnh thời Xuân Thu, là người nổi tiếng đẹp trai.

Mạnh Tư có nói: "Ai không cho Công Tôn Át là đẹp trai thì người ấy không có mắt.")

Thiếu niên kia múa một bài thương.

Ngọn thương bay vun vút vẽ thành những vòng sáng lấp lánh bao trước, chặn sau mười phần kín đáo.

Bài võ vừa dứt, chàng hoành ngọn thương ngang lưng ngựa, phi một vòng quanh sân tập, rút cây cung mã não bắn liền ba phát đều trúng hồng tâm.

Cả võ trường vỗ tay vang trời dậy đất.

Thiếu niên ấy tiến đến trước tướng đài chào các vị lão quan.

Một vị quan nói:

- Thật không hổ danh con nhà tướng.

Thiên Thụy hỏi vị quan vừa nói:

- Viên tướng ấy là ai vậy?

- Thưa công chúa!

Người ấy là công tử Nghiễn, con trai cả của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, năm nay mới mười chín tuổi.

Hai năm trước đã từng theo đi tuần biên giới, gặp bọn thảo khấu bên kia sang quấy nhiễu biên dân, công tử đã dẫn quân đánh tan chúng, bắt được nhiều tên vì thế dân miền biên mới được yên.

Hôm nay công tử về kinh, các tướng mời ra cùng thao luyện.

Công chúa nghe nói vậy hài lòng lắm, khi ấy Quốc Nghiễn đã nhìn thấy nàng.

Bốn mắt gặp nhau, Quốc Nghiễn ngây ra không nói được lời nào.

Mọi người lại nghĩ là chàng say nắng!

Lúc ở võ trường về, Quốc Nghiễn hỏi một lão gia tướng:

- Hôm nay ta thấy trên tướng đài có một vị công nương; chẳng hay lão có biết đó là ai không?

Người gia tướng ấy thưa:

- Tôi nghe nói hoàng thượng có người con gái lớn là công chúa Thiên Thụy rất xinh đẹp.

Hẳn là người ấy.

Công tử Nghiễn ngay ngày hôm sau về Vạn Kiếp nói với cha xin hỏi công chúa Thiên Thụy cho mình.

Trần Hưng Đạo cũng ưng ý nhưng lại nói:

- Ta cũng biết Thiên Thụy là cô gái xinh đẹp đoan trang, hiếm có trên đời.

Có điều biết lấy ai mối manh bây giờ?

Công tử Nghiễn nói:

- Tĩnh Quốc đại vương là người được hoàng thượng rất quý trọng.

Việc này phi chú ấy ra thì khó có ai kham nổi.

Hưng Đạo vương gật gù, nói:

- Con nói phải đó.

Hưng Đạo vương liền sai sắm sửa sính lễ, chọn ngày lành tháng tốt đến nhờ Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang vào cung hỏi công chúa Thiên Thuỵ cho công tử Nghiễn.

Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang về danh nghĩa là anh ruột của Trần Thánh Tông nhưng thực chất là con của công chúa Thuận Thiên nhà Lý với An Sinh vương Trần Liễu, là em cùng cha khác mẹ với Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

Ông là người hiền lành, đức độ lại có lòng hiếu thuận nên được thượng hoàng Thái tông và nhà vua cùng anh em trong hoàng tộc rất quý trọng.

Chuyện kể rằng: Mùa Đông năm Thiệu Long thứ mười một, Thánh Tông cùng Quốc Khang vui đùa trước mặt thượng hoàng.

Quốc Khang múa điệu múa của người Hồ; thượng hoàng vui vẻ cởi áo đang mặc thưởng cho.

Thánh Tông cũng múa điệu Hồ để xin chiếc áo ấy.

Quốc Khang nói: "Cái quý nhất là ngôi hoàng đế, thần còn không tranh với chú hai.

Nay đức chí tôn ban cho thần vật nhỏ mọn này mà chú hai cũng định cướp lấy chăng?".

Thượng hoàng cả cười nói: "Thế ra mày coi ngôi vua với cái áo xoàng này chẳng hơn kém gì nhau".

Thượng hoàng cho Khang chiếc áo ấy.(Theo ĐVsktt) Từ đó Thượng hoàng và nhà vua càng yêu quý Quốc Khang hơn.

Tháng chín năm sau vua phong Quốc Khang làm Vọng Giang phiêu kị đô thượng tướng quân.

Khi ấy Quốc Khang được Hưng Đạo vương nhờ việc thì vui vẻ nhận lời, vào nói với nhà vua.

Nhà vua cũng ưng cho, hẹn đến mùa Đông tiến hành hôn lễ.

Công chúa Thiên Thụy từ hôm ở giáo trường về, không lúc nào không tơ tưởng đến công tử Nghiễn, tuy vậy cũng không sao quên được những cuộc ái ân với Trần Khánh Dư.

Nàng vẫn mong được gặp lại chàng nhưng đến hơn một tháng Khánh Dư không trở lại.

Sự mong ngóng đã trở thành hờn giận, nàng cho rằng Khánh Dư là kẻ vong tình, đã quên đứt mình rồi.

Vả lại kinh thành bây giờ nhiều chỗ ăn chơi, biết đâu chàng đã gặp một tuyệt thế giai nhân mà quên tình cũ.

Đến khi nghe tin công tử Nghiễn nhờ người tới hỏi và nhà vua cũng đồng ý thì Thiên Thụy mừng như mở cờ trong bụng.

Lòng tự ái khiến nàng quyết trả thù Khánh Dư bằng cách cho người báo với chàng cái tin nàng sắp đi lấy chồng.

Quả nhiên nhận được cái tin quái ác ấy, Khánh Dư cuồng lên như bị ong đốt, quyết cướp lại người tình cho bằng được.

***

Thời cuộc thay đổi như trên bàn cờ.

Quán rượu Phúc Tình phát triển mãi lên và nghiễm nhiên trở thành một kỹ viện có tiếng ở nơi đô hội về nhiều cách chơi tân kì, khiến các vị quan nhân, tướng tá mê mệt biết thế nào là chốn Bồng Lai ở nơi trần thế.

Chủ quán tư Phúc có hai con đã lớn nhưng xem ra vẫn còn xuân sắc lắm.

ả không biết đọc nhưng ông chủ Vũ Tình là người có ít nhiều chữ nghĩa lại có chức sắc trong phường phố.

Các cung cách làm ăn là do ông chủ đọc sách Tàu, đem áp dụng theo lối kỹ viện Bắc quốc.

Họ tuy không phải là vợ chồng nhưng hợp ý nhau lắm.

Mộng Điệp được bán về kỹ viện Phúc Tình đã năm ngày nhưng chưa được tiếp khách.

Những kiến thức nghề nghiệp mợ Hồng dày công rèn luyện cho nàng không đáp ứng được yêu cầu của quan khách chốn đế đô.

ở đây cái gì nàng cũng thấy bỡ ngỡ, từ quần áo, nhà cửa, đường đi lối lại, trông vào đâu cũng rực lên vẻ sang trọng của đất kinh thành.

Ngay đến câu chửi và những trận đòn trừng phạt, mợ Hồng ở huyện Đường An chỉ là người dọa trẻ.

Các kỹ nữ muốn tiếp khách phải khổ công học hỏi để khỏi làm mất tiếng tăm của kỹ viện.

Quả là ông bà chủ có tư tưởng làm ăn nhớn.

Các kỹ nữ mới đến, nội trong mười ngày phải học hết những bài bí quyết của chuyện gió trăng do chị cả giảng giải.

Năm ngày qua, Mộng Điệp đã học được những bài tiếp khách phòng trà và thuật chuốc rượu, phải làm ra vẻ kiều mỵ, phải tạo được hương sen vàng thơm ngát... cùng những thủ đoạn lừa lọc nhiếp phách câu hồn để lấy tiền của khách.

Hôm nay chị cả sẽ giảng bài bí quyết trong phòng.

Từ sớm, Mộng Điệp cùng hai cô mới đến đã bị gọi dậy sang phòng học.

Chị cả Tâm Băng ngồi chờ sẵn.

Ba người vừa bước vào, Tâm Băng bảo:

- Hôm nay là bài học chính, các cô phải nhớ cho kĩ mới giữ được khách, nếu không thông thạo nghề ngón để khách bỏ đi thì chỉ có cách ra đứng đường làm gà lẻ thôi đấy.

(Gà lẻ: Gái điếm cấp thấp, phải tự ra đứng ngoài đường để tìm khách làng chơi trong đám hạ lưu)

Chị cả Tâm Băng đẹp, chừng hai bốn hai nhăm tuổi, nói năng lưu loát nhưng đôi mắt lạnh lùng không ra kênh kiệu cũng không phải u buồn mà đầy sức quyến rũ.

Mấy chị em ngồi yên chỗ, Tâm Băng bắt đầu giảng:

- Các bí quyết trong phòng có nhiều nhưng chung quy là phải làm sao cho khách chơi vui thú sung sướng đến mê cuồng.

Để làm được điều đó, các cô đừng cho là dễ nhé, chúng ta phải lao động cật lực đấy, dù có chán ngán rã rời vẫn phải làm như vui vẻ ham hố để khách khỏi phật lòng.

Những thủ thuật cơ bản đã được đúc kết trong một câu là mặt ngoài bảy chữ, bên trong tám nghề.

Phàm đã vào phòng với khách phải tuỳ cơ mà thực hiện cho tốt.

- Chị cả Tâm Băng ngụm một ngụm nước nhấm giọng, nói tiếp - Bảy chữ ấy là khốc, tiễn, thích, thiêu, giá, tẩu, tử.

Khốc là khóc.

Khách đến chơi thường là loại đa tình mà sĩ diện, dễ mủi lòng; khi đã vào phòng phải làm ra vẻ bi lụy sầu khổ mong sự chở che của đấng trượng phu.

Khách nổi máu anh hùng hoặc động lòng trắc ẩn tất phải nghe ta.

Khi khách đã nghe mà gắn bó với ta rồi thì cắt tóc thề bồi đó là tiễn.

Thấy khách có vẻ nhiều tiền thì...

Chị cả Tâm Băng đang giảng bỗng thấy ấu Lang con trai bà chủ lôi xềnh xệch một cô gái đẩy vào học đường, nói:

- Chị cho con này nó nghe lại với!

Ngu đần quá, khách nào người ta chơi với, chỉ tổ cơm toi.

Cô gái vừa bị đẩy vào là Năm Hà, chưa đầy mười sáu tuổi, đã ra nhận việc mấy ngày nhưng không chịu chiều theo ý khách.

Ấu Lang trước khi bỏ đi còn chỉ mặt Năm Hà, bảo:

- Ngồi đấy mà nghe giảng, ngày mai khách còn kêu, tao cho mày biết thế nào là đòn mèo.

Chị cả Tâm Băng lạnh lùng nói:

- Trông mày cũng không đến nỗi nào mà sao vô duyên thế?

Năm Hà gạt nước mắt nói:

- Em đang có kinh không làm gì được chứ đâu dám không chiều khách.

- Sao không uống thuốc chỉ kinh.

- Em uống rồi nhưng không sạch.

- Phải uống nhiều giấm vào.

- Ăn đói, uống nhiều giấm cồn ruột lắm, em không chịu được.

- Thế có chịu được roi gai, đòn mèo không?

- Chị ơi!

Chị thương em với, xin cho em với.

- Tao xin cho mày, ai xin cho tao đây?

Hãy vào ngồi mà nghe đây đã.

Tâm Băng nói tiếp từng chữ thích, thiêu, giá, tẩu, tử rồi hắng giọng bảo:

- Bây giờ các cô phải biết thế nào là tám nghề, không thạo tám nghề, đừng hòng giữ khách.

Khi đã lên giường nếu khách là hạng lục lâm thảo khấu, thường hùng hục lấy được nhưng là hạng quan sang quyền quý hay tao nhân mặc khách, còn sờ mó mơn trớn chán, khi ấy phải tuỳ theo mà thực hành một trong tám nghề sau: Kích cổ thôi hoa, kim liên song toả, đại triển kì cổ, mạn đả khinh xao, khẩn thuyên tam điệt, tả chi hữu trì, toản tâm truy hồn, nhiếp thần nột toạ.

Đó là tám phép nghề có thể nói là muôn vạn gã phong tình dù cao thủ đến đâu cũng không ra ngoài lưới ấy, nhưng phải tuỳ từng khách chơi mà ứng dụng chớ để nhầm lẫn.

(Đánh trống giục hoa, sen vàng khoá xiết, mở cờ gióng trống, đánh chậm gõ nhẹ, xiết dây ba đợt, bên níu bên giữ, châm tim bắt hồn, thôi miên cởi áo)

Chị cả Băng Tâm ngừng lời.

Các đệ tử vẫn há mồm nghe như chưa hiểu đầu đuôi gì cả.

Tâm Băng phải diễn nôm lại tường tận rồi bảo chị em đi kiến tập.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 18: Thú chơi phiêu bồng bên hồ Lục Thủy


Đô trưởng Thân Văn Khoai vừa mới lĩnh lương, đi tìm thập trưởng Trịnh Quang Minh, bảo:

- Này!

Bác Minh, hôm nay anh em mình đi hồ Lục Thuỷ chứ?

Em có tiền đây rồi.

Ta lại đến hiệu Phúc Tình đi.

- Ôi!

Đi với cậu chán bỏ mẹ.

Bảo cát hoa thì không dám.

Vác mặt đến nó cười cho như thằng thộn ấy à?

Có dám thì đi, không thì thôi.

(Cát hoa: Tiếng lóng của khách chơi chỉ việc vào phòng riêng mây mưa với kỹ nữ)

Văn Khoai gãi đầu nói:

- Cát hoa thì cát hoa, nhưng mà ngượng chết.

- Để nó cười vào mũi cho còn ngượng hơn.

Hai anh em dẫn nhau đến kỹ viện Phúc Tình, lên gác hai chọn một bàn nhìn ra bờ hồ, uống rượu.

Từ đây ngắm được các nhà hàng bên cạnh, đâu đâu cũng lấp lánh ánh đèn màu, khách chơi qua lại dập dìu, khăn tía áo hồng tài tử giai nhân đón đưa không ngớt.

Tửu bảo vừa bưng rượu ra, có hai ca kỹ ôm đàn tì bà theo đến hầu rượu.

Văn Khoai không biết nói thế nào, nhìn Quang Minh.

Quang Minh cười chỉ ghế mời hai cô gái bằng một câu kiểu cách như người Tàu:

- Anh em tôi xin mời nhị vị thư thư cùng chung vui.

Một trong hai cô gái nói:

- Để em rót rượu mời nhị vị tráng sĩ.

Chẳng hay nhị vị tráng sĩ ưng nghe khúc đàn nào đây?

Văn Khoai lại nhìn Quang Minh.

Quang Minh biết ý bảo:

- Xin cho nghe khúc Quá Quan có được không?

(Vương Chiêu Quân (Vương Tường) đời Hán, phải đi cống Hồ, đến biên ải đã làm ra khúc hát Quá Quan)

- Hai tráng sĩ cạn ly đi, tiện nữ xin hầu đàn.

Cả bốn người cùng nâng chén.

Cô gái rót một tuần rượu nữa rồi lên dây đàn dạo khúc Quá Quan, cô gái kia gõ phách cầm nhịp, cả hai cùng cất giọng hát.

Tiếng đàn, tiếng hát khi bổng khi trầm, lúc dồn dập như mưa bay gió cuốn nơi biên ải, lúc tha thiết nỗi niềm sầu nhớ của người con gái xa quê.

Tiếng đàn vừa ngừng, mấy người khách ở bàn phía trong bảo:

- Hay lắm!

Hay lắm!

Nhưng mà buồn quá.

Có cái gì nhảy nhót một tí nhỉ?

Quang Minh bảo:

- Phải đấy!

Phải đấy.

Cô gái cầm cây đàn tì bà bảo:

- Xin chiều ý quý khách, có ngay ạ.

Hai cô gái cùng đi vào, lát sau đi ra với ba người nữa.

Tất cả cùng mặc áo bó chẽn lấy thân, vạt áo ngắn hếch lên, cạp quần ngắn trễ xuống để hở một khoang bụng trắng với cái rốn sâu hom hỏm.

Mỗi cô cầm một thứ nhạc cụ rất lạ mắt.

Tất cả cùng vừa tấu nhạc vừa nhảy, tài nghệ sánh ngang với các diễn viên tạp kỹ.

Nhạc mỗi lúc một sôi động, điệu nhảy mỗi lúc một quay cuồng.

Tất cả các khách trong tửu lầu đều vỗ tay tán thưởng.

Văn Khoai hỏi Quang Minh:

- Nhạc kiểu gì mà nghe lạ thế?

- Tớ cũng không biết nhưng chắc là của ngoại, nghe chẳng hiểu gì nhưng họ khen, mình cũng cứ khen không lại mang tiếng là không biết thưởng thức.

Rượu đã ngà ngà, hai cô gái ban đầu trở lại bảo:

- Nhị vị quan anh vào phòng đấm lưng chứ ạ?

Văn Khoai vẫn im thin thít.

Quang Minh hỏi:

- Đấm lưng kiểu gì đấy?

- Kiểu gì cũng chiều ạ.

- Đấm thì đấm.

Tôi thế nào cũng được nhưng chú em tôi đây còn mới mẻ, e dè lắm.

Các vị thư thư đừng có làm chú ấy chết đấy nhé.

Cả bọn cùng cười.

Quang Minh ngật ngưỡng theo cô gái vào phía trong, bỏ Văn Khoai ngồi lại cùng cô kia.

Cô gái bảo:

- Huynh đi cùng em chứ?

Đi với em đi.

Huynh không đi với em chắc là em chết mất.

Cô gái nói xong cầm tay Văn Khoai kéo đi.

Văn Khoai vốn vụng đường ăn nói, chẳng biết từ chối ra sao, đành để cô gái lôi vào phòng.

Trong phòng màn trướng, giường đệm đẹp đẽ lại có cái bàn nhỏ với hai chiếc ghế cũng nhỏ để hai người ngồi nói chuyện.

Văn Khoai đỏ mặt, ngồi cúi gằm không dám động cựa.

Cô gái thấy vậy, cầm tay hỏi:

- Huynh không đến đây bao giờ hay sao mà run thế.

Văn Khoai thực thà trả lời:

- Tôi có đến vài lần rồi nhưng chỉ để uống rượu chứ chưa dám vào phòng này bao giờ.

- Huynh là võ quan mà nhút nhát thế, đánh giặc sao được.

Văn Khoai đã lấy lại được bình tĩnh, lại thấy cô gái cũng có vẻ hiền lành mới bảo:

- Đánh giặc tôi cũng không ngại bằng nói chuyện với các cô.

Cô gái cười tinh quái, bảo:

- U à!

Nói lém rồi phải không?

Chắc ghê ra phết chẳng phải vừa.

- Tôi thấy cô cũng có vẻ con nhà lành, sao lại chọn làm nghề này.

Câu hỏi của Văn Khoai dường như đã chạm đến một nỗi niềm thầm kín nào đó.

Cô gái không trả lời, quay đi giấu một giọt nước mắt.

Điều đó không qua được mắt chàng vệ binh đã nhiều năm làm cái công việc quan sát và nhận xét.

Văn Khoai thấy lạ hỏi:

- Cô sao vậy?

- Không!

Em không làm sao cả.

Sự giấu giếm của cô gái càng gợi trí tò mò của Văn Khoai, chàng hỏi:

- Cô không phải giấu tôi.

Ban nãy cô nói nếu tôi không đi với cô chắc cô chết mất, thế là thế nào?

Cô gái thấy anh lính là người thật thà, thở dài bảo:

- Huynh hỏi những điều ấy làm chi?

Em nói ra càng không sống được.

Văn Khoai mạnh dạn hẳn lên:

- Cô cứ nói đi.

Có tôi đây, kẻ nào dám làm gì cô!

Cô gái nghĩ: Chết thật!

Mình chưa đi hết chữ đầu tiên trong bảy chữ mà anh chàng đã nổi máu yêng hùng lên rồi.

Văn Khoai thấy cô gái ngồi thừ ra và bây giờ chàng mới nhận thấy cô là người rất đẹp với đôi chân thon và trắng ẩn dưới làn váy bằng lụa mỏng, chàng hỏi tiếp:

- Em tên là gì?

Liệu anh có giúp gì cho em được không?

Sự thay đổi cách xưng hô của chàng lính làm cô gái thấy con người này có thể tin tưởng được.

Nàng nói:

- Dạ!

Tên em là Mộng Điệp, quê ở Trường Tân, châu Hạ Hồng.

- Trời!

Anh cũng là người châu Hạ Hồng.

Vì sao em phải lưu lạc đến đây.

Mộng Điệp đem hết chuyện của mình kể với Văn Khoai.

Càng nói, nỗi tủi cực càng dâng lên, cô khóc, khóc nức nở làm Văn Khoai thấy cồn cào trong dạ.

Chàng ôm lấy vai nàng mà an ủi, như muốn chia bớt nỗi thống khổ của nàng, quên mất rằng mình chưa bao giờ gần gũi một cô gái thế này.

Điệp vẫn khóc, không phải nàng thực hiện âm mưu chữ thứ nhất trong bảy chữ mà là những giọt nước mắt thực sự đang chảy từ con tim khốn khổ của nàng.

Đôi vai tròn xinh đẹp rung lên theo tiếng nức nở trong vòng tay chàng lính.

Văn Khoai bảo:

- Anh sẽ tìm cách chuộc em ra.

Em có ưng lòng không.

Mộng Điệp vái Văn Khoai một vái, nói:

- Đa tạ chàng đã có ý thương em.

Nếu được như vậy xin thề kết cỏ ngậm vành, còn chi mà không ưng lòng nhưng những điều em nói với chàng hôm nay chớ có hở lời kẻo thân em xương tan thịt nát.

- Sao vậy?

- Chàng cứ biết thế thôi.

Thân phận chúng em ở chốn hồng trần cũng chỉ như hạt cát, ai muốn giẫm lên cũng được chứ có sung sướng gì.

Đã đến nước này cũng không dám giấu gì chàng, hôm nay trong người em không được sạch sẽ nhưng vẫn không dám nghỉ tiếp khách, nếu chủ biết được bắt uống thuốc chỉ kinh với giấm thì tệ hại lắm.

ở đây có cô bé Năm Hà bị uống nhiều quá, kinh nguyệt không ra nhưng tháng nào cũng hộc máu mồm máu mũi, chết tháng trước rồi.

Khổ thân con bé mới mười sáu tuổi đầu.

Mộng Điệp nói xong lại khóc tấm tức.

Văn Khoai bảo:

- Không uống thì thôi, sao phải khổ thế?

- Thôi thế nào được, không uống thì ăn roi gai.

- Roi gai!

Roi gai là thế nào?

- Roi gai là cắm hàng trăm cái gai bưởi vào sợi roi da.

Cô nào có lỗi thì lột hết áo quần, trói úp vào cây cọc rồi dùng roi ấy quất vào lưng vào mông, chỉ vài nhát là bật máu ra.

Thế mà có người bị đánh mấy chục roi thì sống sao nổi, nhưng cũng chưa đáng sợ bằng đòn mèo.

- Đòn mèo!

- Vâng đòn mèo!

Người ta cho con mèo rất to vào quần cô nào có tội, buộc túm lại rồi quất cho con mèo kêu gào cào cắn lung tung làm "tội nhân" đau đớn sợ hãi đến chết ngất.

Nghe nói các kiểu trừng phạt này đều do ông chủ được người Tàu truyền cho.

Hai thằng con bà chủ là Mạnh Hùng và Ấu Lang thi hành.

Văn Khoai Đập tay xuống bàn, nói:

- Được!

để ta xem chúng nó gan to bằng đâu mà độc ác thế.

- Thôi chàng ơi!

Nếu chàng thật dạ thương em thì chuộc em ra chứ không làm gì được người ta đâu.

Đây là nơi được nhiều quan lớn che chở.

Bọn Mạnh Hùng, Ấu Lang lại là nhà có công với nước, bố chúng nó chết ở trận Bình Lệ đấy.

Chàng không trông thấy tấm hoành phi có ba chữ Tử Vị Quốc to tướng treo ngay giữa gian đại sảnh đấy ư?

Văn Khoai cảm thấy bất lực, uất ức bặm môi đấm mạnh tay xuống mặt bàn, lát sau nói:

- Trời ơi!

Nếu người bỏ mình ngoài mặt trận biết được chuyện này hẳn đau lòng lắm!

Hai người trò chuyện đến tận canh khuya, không nỡ rời nhau.

Văn Khoai vốn là người lính có lòng tận tụy với công việc mới bảo Mộng Điệp:

- Bây giờ tôi phải về trại.

Nàng hãy yên lòng tạm chờ ở đây ít lâu.

Tôi kiếm đủ tiền sẽ chuộc nàng ra.

Văn Khoai nói xong bảo người gọi Quang Minh cùng về.

Quang Minh mắt nhắm mắt mở bảo:

- Mới vừa chợp mắt...

Bây giờ là giờ Tý, về làm gì?

Văn Khoai bảo:

- Về thôi anh ạ.

Tôi ở đây không quen.

Vả lại nhỡ các quan đi kiểm tra, mình không có nhà sau này khó ăn khó nói lắm.

- Ôi giời ôi!

Làm gì có quan nào đi kiểm tra.

Các bố ấy ngủ đầy trong các phòng kia kìa.

ở đây hết phòng các bố sang ngủ cả ở các nhà hàng bên cạnh.

- Anh cứ nói thế chứ, các quan ai lại ngủ ở kỹ viện.

Quang Minh cười ngất bảo:

- Quan mà không ra đây á?!

Chú mày chỉ được cái quá thật thà.

Chẳng thế lại có câu Ban ngày quan lớn như thần, ban đêm quan lớn tần mần như ma.

(Ca dao Việt Nam)

***

Lúc bấy giờ nhà Tống bị quân Nguyên dồn xuống phía Nam.

Người Nguyên lại có ý đồ nhòm ngó biên giới Đại Việt.

Các động tĩnh của quân Nguyên ở miền biên viễn đều được thám binh của Đào Thế Quang báo về kinh thành Thăng Long.

Lại có đoàn sứ giả do Lê Khắc Phục dẫn đầu sang Nguyên trở về tấu trình hiện tình nhà Nguyên, nhà Tống.

Thánh tông thiết triều, các quan đều nói:

- Người Nguyên tuy dồn sức đánh Tống nhưng vẫn nhìn nước ta như cú rình mồi.

Xin nhà vua cử tướng giỏi đi tuần thám biên giới và cửa biển để đôn đốc việc binh bị, phòng khi có chuyện bất trắc.

Nhà vua nghe theo liền cử Trần Nhật Duật đi tuần tra các miền biên ải, Trần Khánh Dư đi tuần tra các cửa biển suốt từ Hoan, ái lên tới An Bang, Vân Đồn, sau đó theo đường sông qua Đông Triều, Vạn Kiếp rồi về kinh thành.

(An Bang, Vân Đồn: Những địa danh này thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay)

Khánh Dư lúc ấy nhận được tin công chúa Thiên Thụy sắp lấy chồng, lòng như lửa đốt chưa biết tính thế nào, lại nhận được lệnh đi kinh lý vùng biển mới định giả vờ ốm, viết bản tấu nói là bệnh cũ tái phát xin hoàng thượng giao việc ấy cho người khác, đang định cử người chuyển đến cho quan đại hành khiển thì Hiếu Ngân xin ra mắt.

Hiếu Ngân thấy sắc mặt Khánh Dư khác thường, hỏi:

- Không biết hầu tướng lo nghĩ chuyện gì mà khí sắc suy hao đến vậy?

Khánh Dư vốn vẫn tin dùng Hiếu Ngân nên mới đem chuyện nói hết cho nghe, lại hỏi:

- Ngươi có cách gì giúp được ta không?

Hiếu Ngân mủm mỉm cười, bảo:

- Tôi có một kế khiến tướng quân đôi đường lưỡng lợi.

Xin tướng quân chớ từ chối việc đi tuần biển.

Đây chính là dịp làm ăn nhất bản vạn lợi đấy.

Thật là:

Chủ tướng đang trong cơn bí nước

Gia thần cao kiến lại dâng mưu

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem mưu kế của Hiếu Ngân thế nào.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 19: Nịnh Quan trên, Hà Phương chịu cắm sừng


Đang nói chuyện Khánh Dư vì sợ mất công chúa Thiên Thụy, định dâng bản tấu không đi tuần biển, có gia thần là Hiếu Ngân đến xin hiến kế.

Khánh Dư mừng lắm bảo:

- Ngươi nói rõ mưu kế ta nghe.

Hiếu Ngân nói:

- Đi tuần biển là việc hệ trọng của quốc gia.

Hoàng thượng giao cho tướng quân là người rất đề cao ngài.

Đó là cơ hội lập công danh, nếu tướng quân không nhận không những làm cho hoàng thượng thất vọng mà còn bỏ mất trách nhiệm của người làm tướng, sao gọi là quân tử.

Vả lại tướng quân đã cáo ốm, đâu còn đi gặp công chúa được nữa, có phải hai việc đều nhỡ nhàng không?

- Vậy làm sao bây giờ?

- Hôn lễ của công chúa mãi mùa Đông mới tiến hành, còn năm sáu tháng nữa.

Tướng quân đi tuần biển nhanh thì mất ba tháng, chậm cũng chỉ ba tháng rưỡi, bốn tháng là cùng.

Lúc bấy giờ về thế nào hoàng thượng chả ban khen, tướng quân nhân đấy tìm công chúa mà tỏ bày tấc dạ, việc sao không thành.

Như thế chẳng phải đôi đường lưỡng lợi ư?

- Ta e ít thời gian quá, sợ khó xoay chuyển được tình thế.

Hiếu Ngân cười, nói:

- Tướng quân không nhớ chuyện Hưng Đạo vương với công chúa Thiên Thành khi xưa hay sao.

Chỉ trong có một đêm mà Hưng Đạo vương giành lại được người mình yêu.

Tướng quân và công chúa Thiên Thụy đã nặng tình như thế còn lo gì nữa.

Vả lại đi chuyến này kiểm tra các cửa biển, quan sở tại những nơi ấy thường buôn bán với người nước ngoài rất giàu có, nhiều san hô ngọc trai, hổ phách và bao nhiêu của quý khác, thấy người của triều đình đến sao không mang ra biếu.

Khánh Dư như tỉnh ra, bảo:

- Ừ nhỉ!

Nói rồi vào triều lĩnh binh đi thừa hành công vụ, mang Hiếu Ngân theo làm mưu sĩ.

Trần Khánh Dư vốn có tài quân sự nên chưa đầy ba tháng đã tuần du khắp các vùng cửa biển, cho củng cố lại những nơi bố phòng còn lỏng lẻo, lại dặn tướng sĩ phải canh giữ nghiêm mật không để kẻ gian ngoại bang vào do thám.

Quan lại các nơi ấy muốn lấy lòng Khánh Dư, mang vàng bạc châu ngọc đến biếu rất nhiều đúng như lời dự đoán của Hiếu Ngân nhưng Khánh Dư lòng tham không đáy bắt phải tìm nhiều san hô, mã não, ngọc trai để mang về kinh thành.

Dân chúng phải kiếm tìm cực khổ oán giận lắm, về sau nhiều người làm sớ dâng lên triều đình kể tội Khánh Dư tham lam.

Tháng tám đến châu Vĩnh Yên (Thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh ngày nay.

Tên châu Vĩnh Yên có từ thời Lý - Theo Phương Đình dư địa chí), bấy giờ thương khách các nước Qua Oa, Lộc Lạc, Tiêm La và xứ Bắc đến buôn bán ở Vân Đồn đông lắm.

Quan tri châu Vĩnh Yên đánh thuế rất nặng các mặt hàng ngoại nhập.

Những thứ như xe, rượu ngoại, thuốc Bắc, tơ lụa và nhiều thứ khác tiền thuế nhiều hơn tiền mua.

Một chiếc xe đơn mã nhập vào chỉ hết tám quan tiền tỉnh bách nhưng phải nộp thuế tới mười quan tiền thượng cung.

Khách buôn phải bán ra với giá trên hai mươi quan tỉnh bách mới có lãi.

Một chai rượu hồng mao hay Khổng Phủ nhập vào hai đồng phải đóng thuế hai đồng sáu, vị chi là bốn đồng sáu cộng thêm công vận chuyển, khi đến tay người tiêu dùng lên đến sáu bảy đồng, đại loại là như vậy.

Khách buôn không chịu được, tìm trăm phương ngàn kế trốn thuế hoặc đút lót cho bọn lính hải khẩu để đi thoát hàng lậu.

Nhiều khách buôn cất cả hàng cũ đến bán.

Quan tri châu ra lệnh những hàng chất lượng còn được tám phần thì cho nhập, dưới tám phần tịch thu huỷ bỏ.

Bọn lính hải khẩu và lính kiểm hàng nhân đấy bắt chẹt khách buôn, nộp tiền cho chúng hàng có xấu đến đâu cũng đánh cho trên tám phần.

Ai không chịu, dù hàng còn tốt như mới chúng vẫn đánh giá chỉ có bảy phần chín trở xuống, thế là phải tịch thu, mất cả vốn lẫn lời.

Vì thế bọn lính hải khẩu và kiểm hàng làm giàu nhanh chóng không biết chừng nào, xây nhà cao cửa rộng toà ngang dãy dọc, chiều chiều rủ nhau lũ lượt đến các tửu điếm, kỹ viện thượng hạng để hưởng niềm hoan lạc Bồng Lai nơi trần thế hoặc túm tụm đánh bạc thâu đêm suốt sáng.

Khách buôn ai có ý kêu ca hoặc nói năng sơ hở là bị chúng chụp luôn cho cái mũ coi thường pháp luật, gian lận thương mại, hoặc một tội danh rất cha vơ chú váo nào đó.

Lúc ấy trời có muốn cứu cũng đành bó tay.

Nếu chỉ riêng có thế thì thói quan vơ lính vét cũng là chuyện dễ hiểu, lính hải khẩu còn móc nối với bọn lưu manh vô lại trong chợ và các cảng thuyền, nửa ăn trộm, nửa ăn cướp của khách hàng, rồi tệ cò mồi gây bao điều phiền phức khiến khách buôn đứng đắn tử tế nhiều người ngán ngẩm, làm ăn thua lỗ phải bỏ nghề.

Chỉ còn hạng anh chị biết móc nối chặt chẽ với lính hải khẩu để đi hàng lậu mới sống được.

Khánh Dư thấy dân tình làm ăn tấp nập, mức thuế đóng cao mà sổ thuế dâng lên triều đình chẳng đáng bao nhiêu, mới hỏi quan tri châu làm sao lại như vậy.

Quan tri châu nói:

- Dân ở đây từ cổ đến giờ rất khó kiềm toả.

Họ toàn buôn bán trốn chui trốn lủi không sao thu được thuế.

Họ sống dưới thuyền là chính chứ có nhà cửa như người trên cạn đâu mà tróc nã được.

Khánh Dư cười gằn bảo:

- Ông ngu lắm!

Đánh thuế cao thế này thì cướp của người ta không bằng, họ không trốn mới là lạ.

Ông tưởng làm thế mà thu được nhiều tiền à?

Tôi tính thử thế này, ông đánh mười đồng cho một người buôn thì một trăm người chỉ có mười người đóng thuế còn chín mươi người trốn.

Vị chi ông thu được một trăm đồng.

Nếu ông đánh có hai đồng thôi, ai người ta dại gì chả đóng thuế để bán hàng công khai cho nó được giá, vị chi ông thu được hai trăm đồng, như thế có phải gấp đôi không, mà vẫn được tiếng là nhẹ thuế.

Giá hàng giảm xuống đỡ khổ cho người tiêu dùng.

Ông thu được nhiều tiền.

Người buôn dễ chịu, họ không lẩn lủi buôn lậu nữa.

Quan binh đỡ phải nhọc sức lùng bắt, dồn tâm trí vào việc canh phòng giặc cướp chẳng lợi hơn ư?

Quan tri châu bị mắng không dám ngẩng mặt lên, khấu đầu nói:

- Dạ!

Dạ!

Đại quan dạy rất phải.

Lúc sau Hiếu Ngân nói riêng với Khánh Dư:

- Tướng quân thật thà quá.

Làm như tướng quân quan binh còn ăn vào chỗ nào.

Người ta muốn cho có nhiều người buôn lậu trốn thuế để còn săn bắt.

Tên nào bị bắt tất phải cởi hầu bao xì tiền ra mà hối lộ quan binh mới có thu nhập.

Quan tri châu mới có phần quà biếu chứ.

Vụ nào bị phanh phui lanh tanh bành ra rồi không thể giấu giếm được nữa mới bắt thật, báo cáo lên trên lấy công chống gian thương.

Ai cũng làm việc ngay thẳng như tướng quân cả thì làm sao mỗi chân lính hải khẩu phải mua đến một trăm hai mươi quan tiền?

Khánh Dư bặm môi bảo:

- Thế ư?

Bọn này ăn lộc vua mà chẳng chịu nghĩ gì cho dân cho nước.

- Ở đây mà nói đến dân đến nước người ta cho là bị thần kinh đấy tướng quân ạ.

Phải nghe trong hầu bao xủng xoảng thật nhiều tiền đồng mới là khôn ngoan.

Khánh Dư tức quá chém tay vào không khí, quát:

- Rõ thật là quá nhiều kẻ lưu manh vô sỉ.

Ngươi mang lính bắt hết những tên đó về đây.

Hiếu Ngân gãi đầu, nói:

- Nhưng thưa tướng quân!

Xưa nay lưu manh làm quan, quan là lưu manh nhiều không kể xiết, bắt thế nào hết được đây?

Lại nói Hà Phương được Trần Khánh Dư và Đỗ Khắc Chung giúp cho, không những thoát tội chết mà còn được làm quan huyện Đông Triều, cảm ơn lắm, vội mang vợ con đi nhậm chức.

Đông Triều bấy giờ là một huyện thuộc phủ Kinh Môn (Theo Phương Đình dư địa chí), núi non trùng điệp, rừng già âm u xen lẫn với sông nước chằng chịt, dân tình không thuần phác lại thường có bọn lục lâm thảo khấu và thuỷ tặc tụ tập chẹn đường chắn sông cướp bóc đánh giết các thuyền buôn.

Huyện quan nhiều lần phải thân cầm quân đi tiễu trừ rất vất vả mà vẫn chưa yên.

Nhân biết có Trần Khánh Dư đi tuần biển về qua, Hà Phương ra tận bến sông đón mời lên phủ huyện nghỉ ngơi và nhờ Khánh Dư xin cho mình đổi về huyện Trường Tân.

Trong bữa tiệc, Hà Phương gọi vợ bé là Bùi Thị ra chào khách.

Khánh Dư bản tính hiếu sắc, thấy Bùi Thị còn trẻ lại xinh đẹp, vừa ý lắm mới cầm tay nàng kéo xuống ngồi cạnh mình, ép uống rượu.

Hà Phương thấy vậy cũng không dám nói sao.

Bùi Thị cố giãy ra không uống.

Khánh Dư phật ý bỏ đứng dậy đi ra, nói:

- Các ngươi coi thường ta cũng không sao.

Nói xong cười nhạt bỏ về thuyền, định nhổ neo đi ngay.

Hiếu Ngân bảo:

- Tướng quân quả thích Bùi Thị thì đừng đi vội.

Tôi chắc chiều nay Hà Phương thế nào cũng mang vợ tới mời tướng quân.

Khánh Dư hỏi:

- Sao ngươi biết?

- Nói trước không hay.

Tướng quân cứ ở lại đây đến sáng mai, nếu không đúng như lời, tôi xin chịu tội.

Khánh Dư nghe lời, cho thuyền đỗ lại.

Quả nhiên buổi chiều thấy vợ chồng quan huyện Hà Phương đi kiệu đến.

Hà Phương xin lỗi về việc vợ mình đã thất lễ với quan trên.

Khánh Dư vẫn còn làm ra vẻ mặt giận.

Hà Phương nói:

- Hôm nay xin để nàng lại đây đại nhân sai bảo, mong đại nhân chiếu cố.

Nói xong, để vợ ở lại, lủi thủi ra về.

Đêm ấy Khánh Dư ái ân với Bùi Thị.

Trong khi làm chuyện mây mưa, Khánh Dư hỏi:

- Ta so với Hà Phương thế nào?

Bùi Thị thưa:

- Phu quân thiếp là bạch diện thư sinh yếu ớt sao so được với quan lớn là một hổ tướng.

Đời thiếp được một lần hầu hạ tướng quân thật là diễm phúc.

Khánh Dư cười ha hả bảo:

- Biết ăn nói lắm!

Biết ăn nói lắm.

Nếu nàng ưng lòng thì ta đưa về kinh thành, như thế sẽ luôn được ở gần ta.

- Tướng quân đã có lòng thương thì còn gì thiếp không ưng.

Hôm sau Khánh Dư nói với Hiếu Ngân.

Hiếu Ngân xua tay nói:

- Không nên!

Không nên!

Nơi kinh thành thiếu gì gái đẹp.

Tướng quân định ăn đời ở kiếp với ả này hay sao.

Vả lại mang ả về vừa chịu tiếng là ép người đoạt vợ vừa phải nuôi thêm một miệng ăn mà sau này chắc gì đã dùng đến nữa.

Tốt nhất tướng quân cứ cắm thuyền lại đây chơi mấy ngày, bao giờ chán mang trả lại cho vợ chồng họ đoàn tụ với nhau.

Khi nào buồn buồn có thể quay lại đây mượn chơi, như vậy có đỡ rắc rối không?

Khánh Dư nghe theo, dừng thuyền mấy ngày, cho quân lính chơi bời ăn uống, còn mình hú hí với Bùi Thị.

Mấy hôm sau no xôi chán chè, Khánh Dư bảo Bùi Thị:

- Hôm nay ta phải về kinh thành, nàng hãy ở lại đây với huyện quan.

Có dịp thuận lợi ta lại về thăm nàng.

Bùi Thị chẳng biết làm sao, đôi hàng lệ nhỏ, chào từ biệt bước lên bờ.

Khánh Dư sai Hiếu Ngân cùng mấy anh lính tốt đưa Bùi Thị về phủ huyện, lại dặn Hiếu Ngân bảo Hà Phương cứ yên lòng, việc đổi về Trường Tân không có gì khó cả.

Giữa tháng chín, Khánh Dư về tới kinh thành Thăng Long, vào triều tấu trình công việc.

Nhà vua khen Khánh Dư là người chu đáo.

Khánh Dư nhân đấy xin cho Hà Phương được đổi về huyện Trường Tân.

Nhà vua cũng chuẩn cho.

Khánh Dư đi chuyến này, về việc công hoàn thành tốt đẹp, về việc riêng thì gom được vô số vàng bạc, châu ngọc, san hô, mã não, hổ phách, đồi mồi, thật là món lời lớn, ban thưởng rất hậu cho Hiếu Ngân.

Khi qua Vân Đồn, Hiếu Ngân lại tiến cử một người tên là Quây Xẻn.

Quây Xẻn người Tống, thạo nghề buôn bán nhưng mắc tội buôn hàng lậu, bị bắt nên mất sạch vốn liếng, đành đi làm thuê ở bến thuyền, Hiếu Ngân biết là người có nghề đem về nuôi cho ăn trong thuyền rồi tiến cử lên.

Khánh Dư nói chuyện thấy rất hợp ý mới giữ làm gia thần.

Khánh Dư tuy được lợi lớn nhưng khi nghĩ đến công chúa Thiên Thụy lại buồn, không biết tìm cách nào để gặp mặt nàng, đang suy nghĩ nung nấu, có chỉ của nhà vua đòi vào gặp trong buổi chầu sớm ngày mai.

Hôm sau trên điện, nhà vua hỏi:

- Khanh đi chuyến vừa rồi thu được nhiều bạc vàng châu báu lắm phải không?

Khánh Dư cãi:

- Muôn tâu hoàng thượng!

Thần không dám ạ.

Thánh tông nghiêm nét mặt, ném những tấu biểu các nơi vừa gửi lên cho Dư xem, phán:

- Khanh còn cãi ư?

Xem đây là những cái gì?

Khắp nơi từ dân đến lính người ta gọi khanh là con cọp đói mồi.

Khánh Dư không chối cãi được nữa mới nói liều rằng:

- Tâu hoàng thượng!

Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ.

(Câu này lấy nguyên văn trong ĐVsktt nhưng ghi ở thời Trần Anh Tông)

Nhà vua rất không hài lòng nhưng tiếc Dư là người có tài không nỡ trách phạt, chỉ đuổi ra.

Dư sợ vua trị tội, vội bái tạ lui ra rồi chuồn luôn về hương ấp ở huyện Bàng Hà, không dám ở lại kinh thành.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 19: Tranh mĩ nhân, Khánh Dư mang trọng tội (1)


Trời thu, nắng như rắc vàng trên đường phố.

Gió heo may đã về khiến khách bộ hành cùng một lúc có hai cảm giác, nửa người quay về phía nắng thì nóng ấm còn nửa kia thì se se lạnh.

Xóm Cây Duối bên hồ Lục Thuỷ xưa vốn chỉ có mươi nóc nhà sơ sài, nay đã thành một dãy phố sầm uất với nhiều lầu gác dinh thự tân kì đua nhau mọc lên.

Giá đất tăng vùn vụt.

Có chỗ trước kia cho không ai lấy, nay bỏ cả đống tiền mua chẳng nổi.

Dân ở đây cũng không thuần nhất như xưa, nhiều nhà giàu có, xe ngựa tấp nập đi về hối hả với những vụ làm ăn bạc vạn.

Các vị quan có tiền cũng mua đất dựng nhà quay ra mặt hồ nghỉ ngơi trong lúc thư nhàn.

Đám ăn mày, trộm cắp cùng những kẻ lưu manh vô lại theo nhau tập trung về từng đàn kiếm ăn.

Bà cụ Hải đã chết ít lâu sau cái lần đi tìm mộ con ở Bình Lệ về, cô con gái bán gia tài cho kỹ viện Phúc Tình lấy tiền về quê tậu ruộng.

Ông hàng thịt chó nay già lắm, tóc trắng như sợi gai, ngày ngày vẫn đều hai bữa rượu làm da mặt lúc nào cũng đỏ như trái táo chín, mọi công việc giao cả cho anh con giai nhớn.

Cửa hàng được sửa chữa lại rộng rãi lịch sự lên rất nhiều.

Khách đến ăn toàn những tay kiệt hiệt, miệng nói bô bô, tiêu tiền như vãi trấu.

Chỉ có nhà anh cả Thìn - nay đã là bác cả Thìn - là chưa thay đổi mấy.

Bác cả Thìn vốn không thạo nghề buôn bán lại lúc nào cũng giữ cái ý nghĩ mình đã từng một thời là lính hoàng gia cần phải mẫu mực, không được làm những sự sai quấy.

Dạo bác Thìn dẫn mấy người đi Bình Lệ tìm mộ chồng con, lý tể Vũ Tình có hứa khi nào về sẽ cho cái giấy để bác mở hiệu bán giày guốc nhưng vì ghét cái thói trăng hoa đĩ bợm vô liêm sỉ của Vũ Tình, bác không đến.

Ở nhà mãi cũng chán, bác kiếm bộ tràng đục cùng vài hộp sơn ra đầu phố làm nghề sửa chữa xe, kiệu mỗi ngày kiếm vài ba xu cùng với số tiền bác gái thu được từ gánh bún riêu bán rong, thế cũng đủ sống được qua ngày.

Nhưng rồi bác gái sinh thêm bé Phượng và bé Quy.

Nhà năm miệng ăn, hai bác phải chật vật lắm mới giữ được cho lũ con khỏi đói.

Vũ Tình thấy bác cả Thìn khoẻ mạnh lại tinh thông võ nghệ, sang mời làm tương bang cho nhà hàng nhưng bác từ chối.

Cũng từ đó bác cả Thìn không muốn gặp mặt Tư Phúc và Vũ Tình nữa.

Ngôi nhà cũ của vợ chồng bác ngoi ngóp giữa những toà ngang dãy dọc dồn dập mọc lên, như một thầy tu khổ hạnh thủ tâm giữ đạo giữa đám quần hùng, mãi cách đây vài năm nhờ một người bà con làm ăn buôn bán tận Qua Oa về chơi cho một ít tiền mới được sửa chữa rộng ra như ngày nay nhưng so với những nhà kế bên nó vẫn chỉ là chú em rách rưới còi cọc.

(Tương bang: Người được thuê để bảo vệ kỹ viện và trừng phạt những kỹ nữ có lỗi)

Cu Long đã lớn, đi học xa chuẩn bị cho khoa thi tới, lâu lâu mới về thăm nhà.

Chị em cái Phượng, cái Quy cũng mười bốn mười lăm cả, có thể giúp mẹ được nhiều việc.

Nhưng cũng giống như tất cả những đứa trẻ khác, lúc còn bé chúng luôn vòi vĩnh bắt bố kể chuyện đánh Thát, khi đến tuổi trăng tròn, chẳng đứa nào còn muốn nghe chuyện của bố nữa.

Chúng thích ăn diện và đi chơi phố.

Chiều nay bác cả Thìn đợi cậu con trai, chốc chốc lại trông ra cổng, bảo:

- Thằng Long dặn hôm nay về mà sao vẫn chưa thấy đâu.

Bây giờ đi lại sẵn xe ngựa đường trường, cũng đỡ khổ hơn bố ngày trước.

Dạo hành quân lên Bình Lệ...

Cái Phượng ngắt lời bố:

- Bố lại kể chuyện cổ tích chiến trường của bố đấy, nghe mệt lắm.

Bây giờ người ta làm ăn ầm ầm, phố phường đầy rẫy thứ chơi, ai lại cứ kể chuyện đánh nhau mãi.

Bác Thìn gái sợ chồng phật ý, mắng con:

- Tiên nhân con này, nói thế à?

Bác cả Thìn bảo vợ.

- Thôi!

Kệ chúng nó.

Mỗi thời mỗi khác.

Mình cũng chẳng bắt chúng nó sống như mình ngày trước được.

Cái Quy thấy bố nói vậy, bảo:

- Mẹ thì thế nào cũng nói được, hôm nọ mưa nhà dột, kêu khổ.

Con thấy khối người chẳng đi lính bây giờ giàu hú hụ, nhà cửa, xe ngựa đàng hoàng chứ đâu có như nhà mình.

Chẳng phải đâu xa, ông lý Tình cạnh đây làm ăn như sấm như sét, năm sáu cơ ngơi.

Nhà mình, chúng con bàn làm gì bố cũng sợ phạm pháp, sợ ảnh hưởng thanh danh người lính.

Nhà cửa lúp xúp thế này chẳng biết cái thanh danh ấy có bị tổn thương không?

Bác Thìn gái mắng cái Quy:

- Con ranh kia!

Biết gì mà cũng nói.

Không có người ở nơi chiến trận ngã xuống thì liệu bây giờ chúng mày có tí tởn được như thế không?

Ăn lắm vào cho nó rửng mỡ.

Rõ cái đồ vô phúc.

Bác cả Thìn không nói gì chỉ ngồi trầm tư, nhìn hút vào không gian.

***

Dãy cây bàng cổ thụ trước cổng hoàng thành rụng hết lá, trơ lại vô số những chiếc cành khẳng khiu như cánh tay ông già gầy guộc chới với giữa tầng không hứng gió may.

Trời mùa Đông lạnh và xám như gio.

Quang cảnh thiên nhiên ấy dẫu có giấu kín phía sau bóng dáng của mùa xuân xem ra cũng chẳng ăn nhập gì với tâm trạng của những đôi trai gái đang liếc mắt đưa tình trao gửi cho nhau.

Tình yêu!

Vâng tình yêu, cái nguồn mạch của hạnh phúc sướng vui và bao nỗi sầu đau buồn khổ, như hai nửa đục trong tuôn chảy với dòng đời.

Nhân loại đã có bao kẻ bị cái dòng sông cháy bỏng ấy cuốn đi và nhận chìm một cách vô tình.

Một khi vướng vào sợi dây oan nghiệt ấy nghĩa là tự mình đem mũi gai nhọn găm vào giữa trái tim để được hưởng niềm khoái lạc của sự nhức nhối.

Đã ba tháng nay, từ khi gặp Mộng Điệp, đô trưởng Thân Văn Khoai không sao ngủ được, hình bóng nàng không khi nào rời khỏi tâm trí chàng.

Làm thế nào để có được bốn trăm quan tiền chuộc Mộng Điệp ra?

Văn Khoai vốn là người tự tin nhưng chưa bao giờ chàng thấy bất lực đến thế.

Mỗi lần hình dung ra khuôn mặt xinh đẹp sầu khổ của Mộng Điệp, chàng có cảm giác như ai đang dùng móng sắc cào cấu trái tim mình.

Thập trưởng Trịnh Quang Minh thấy bạn buồn bã như vậy, tìm lời an ủi hỏi chuyện.

Văn Khoai thực thà kể hết sự tình.

Quang Minh bảo:

- Bốn trăm quan tiền quả không phải là nhỏ.

Bao nhiêu năm nay làm lính, tôi cũng chỉ mới dành dụm được năm mươi quan.

Cậu đã có lòng muốn chuộc người ta, tôi xin giúp cả cho cậu.

Tấm lòng của bác em rất hiểu nhưng em không thể để liên lụy đến bác như thế được.

- Không sao!

Không sao.

Chúng ta là anh em.

Xin chú đừng ngại.

Sau khi phải đày đi làm lính chèo thuyền tôi đã nghiệm ra một điều ở đời tiền bạc không phải là thứ quý nhất.

Đã ở lính thì chiến hữu chính là xương thịt của mình.

Chú buồn, tôi vui sao được.

Vả lại số tiền tôi cũng không dùng đến.

- Xin đa tạ bác.

Như vậy là đã có được ba trăm quan.

Em về quê bảo đẻ em bán đi mấy sào ruộng nữa là có thể đủ.

***
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 19: Tranh mĩ nhân, Khánh Dư mang trọng tội (2)


Công chúa Thiên Thụy đang trong những ngày đợi chờ hôn lễ nhưng nàng không sao xua đuổi được hình ảnh Khánh Dư ra khỏi đầu óc.

Đành rằng Quốc Nghiễn là một chàng trai trẻ đẹp tài hoa, hoàn mĩ về mọi mặt song dường như sự đạt được con người ấy quá dễ dàng khiến Thiên Thụy giảm cảm giác hào hứng.

Chính những ngày Đông lạnh lẽo này càng gợi cho nàng nhớ tới Khánh Dư.

Khánh Dư, chàng không có cái vẻ mĩ miều của con nhà quyền quý, con người ấy thô mộc cứng cáp làm sao.

Hơi thở của chàng ấm và gấp.

Vòng tay chàng chắc khoẻ.

Đã bao lần nàng nằm gọn trong vòng tay ấy, nó như vòm mái đủ vững chắc che chở cho nàng.

Càng về khuya, nỗi nhớ nhung càng cồn lên, Thiên Thụy không sao ngủ được, nàng ra đứng bên khung cửa sổ.

Bầu trời vắng tanh không một ngôi sao.

Một tiếng vạc cô đơn lạnh buốt bay giữa tầng không.

Tội nghiệp con chim, nó đang lẻ bạn.

Thiên Thụy rùng mình, nàng quay vào lấy giấy bút viết cho Khánh Dư một bức thư tình với trăm ngàn lời trách móc nhưng lại hàm chứa một niềm nhớ thương da diết khôn nguôi.

Khánh Dư từ buổi trở về hương ấp, ruột gan như có lửa đốt, không biết làm cách nào để liên lạc được với Thiên Thụy.

Suốt ngày chàng uống rượu rồi thở ngắn than dài, mọi công việc tô thuế cũng không màng tới, giao cả cho Hiếu Ngân và Quây Xẻn lo liệu với tá điền.

Chiều nay Khánh Dư cũng đang trong cơn buồn khổ, bỗng gia nhân vào báo có người từ kinh thành tới.

Khánh Dư bảo:

- Nói là ta không khoẻ, không muốn tiếp ai.

Gia nhân chạy ra một lúc, quay vào nói:

- Trình tướng quân!

Người ấy mang thư của công chúa Thiên Thụy.

Mắt Khánh Dư sáng lên, vội vàng nói:

- Ngươi mau ra đưa họ vào đây.

Người thị nữ cúi chào Khánh Dư rồi dâng bức thư của công chúa Thiên Thụy.

Khánh Dư xem thư xong, trong lòng phấn khởi bội phần, liền sai người mài mực, viết thư trả lời.

Thôi rồi khỏi phải nói, bức thư Khánh Dư viết thật là dài, vừa bộc bạch tâm trạng nhớ nhung khao khát được gặp lại công chúa, rồi đến bể cạn non mòn cũng không sao quên nhau được.

Tình cảm xem ra "lâm li thống thiết" lắm nhưng vì Khánh Dư là võ quan, ít khi cầm bút nên chữ nhầm chữ lỗi be bét cả, chữ đường là con đường chàng viết thành chữ đường là cục đường để nấu chè, chữ chung là cái chuông viết thành chữ trung là ở giữa, chữ thương là yêu thương hoá ra chữ thương là cái cót vựa đựng thóc.

Ấy thế mà khi đọc lại có vẻ đắc ý lắm, xong xuôi phong kín đưa cho người thị nữ mang về còn mình thì ngong ngóng đợi đến ngày hẹn.

Công chúa Thiên Thụy nhận được bức thư tình, mừng hơn vớ được của, chẳng còn lòng dạ nào mà nghĩ đến việc Khánh Dư viết sai hay đúng.

Nàng múa!

Nàng hát.

Nàng nhảy lò cò như đứa trẻ chơi nhảy bàn ô.

Nàng nhìn cái gì cũng thấy sáng tươi đẹp đẽ, con chim trong vườn hót cũng hay hơn.

Đến ngày hẹn, nàng định làm mặt giận để chọc khổ Khánh Dư.

Nhưng vừa trông thấy chàng ngồi đợi trên phiến đá phẳng mà hai người thường hẹn hò nhau trong thạch động, Thiên Thụy không kìm được lòng mình, chạy vội về phía chàng.

Cả hai quên hết những điều hờn dỗi.

Bao nhiêu nỗi nhớ nhung buồn khổ đều biến thành những cử chỉ âu yếm.

Cặp trai gái đang say mê trong cơn hoan lạc thì có tiếng xôn xao rồi ba bốn người hiện ra sau lối ngoặt.

Cặp uyên ương chưa kịp rời nhau ra, mấy người kia đã đến ngay trước mặt.

Điều tệ hại nhất là người dẫn đầu chính là công tử Nghiễn.

Thì ra hôm nay công tử mới vừa từ Vạn Kiếp lên, chàng đến thăm công chúa, vị hôn thê mà bao ngày mong đợi.

Thị nữ nói là công chúa chơi trong ngự hoa viên nên chàng đến đây tìm nàng, không ngờ lại bắt gặp cảnh tượng trớ trêu này.

Trong giây lát Quốc Nghiễn đã hiểu ra tất cả, lòng tự ái và khí uất tưởng bốc tận trời xanh, chàng rút kiếm lao về phía Khánh Dư nhưng may thay người tuỳ tướng đứng bên kịp ngăn chàng lại.

Quốc Nghiễn bỏ đi.

Công chúa Thiên Thụy bưng mặt khóc như đứa trẻ vừa đánh vỡ thứ đồ chơi quý.

Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang vừa ở triều về đã nhận ngay được thư từ hôn của Hưng Đạo vương và Quốc Nghiễn gửi hoàng Thượng cùng bức thư nhờ ông bày tỏ việc công chúa Thiên Thụy thông dâm với Trần Khánh Dư.

Quốc Khang vò đầu bứt tóc không biết vì đâu cơ sự lại trở nên như vậy.

Vốn là người trung thực và tận tụy, ông lật đật trở lại hoàng cung, tâu trình mọi việc cùng Thánh tông.

Thánh tông nghe xong, sai người tức tốc đi gọi Trần Khánh Dư, Hưng Đạo vương và Quốc Nghiễn về triều để đối chất.

Mặt khác sai thái giám khám xét nơi ở của công chúa Thiên Thụy, bắt được bức thư của Trần Khánh Dư.

Hôm sau triều thần phân xử.

Quốc Nghiễn cứ những điều mắt thấy tai nghe kể lại làm các quan không nhịn được cười.

Khánh Dư và công chúa Thiên Thụy cũng không chối cãi.

Thánh Tông vì sợ mất lòng Hưng Đạo vương, phán:

- Trần Khánh Dư ngông nghênh ngạo mạn, coi thường phép nước, quyến rũ công chúa làm điều càn quấy, xúc phạm bề trên, khi quân phạm thượng, nhân chứng vật chứng đã rõ ràng.

Truyền tước bỏ mọi phẩm hàm, tước bỏ mọi chức quan, tịch thu gia sản rồi đem lên Tây hồ đánh chết làm gương cho những kẻ coi nhẹ kỷ cương.

Khánh Dư không lạy, cũng không kêu xin, chỉ gào lên:

- Quốc Tuấn ngày xưa cũng thế, sao bây giờ không gả Thiên Thụy cho tôi?

Bọn vũ sĩ xông vào lột mũ áo, trói Khánh Dư lại, dẫn đi.

Lúc bãi triều, quan thẩm hình viện Đặng Ma La xin gặp riêng hoàng thượng, nói:

- Trần Khánh Dư có tài làm tướng, thật là hiếm có, xin hoàng thượng gia ân đừng giết ông ta.

Thánh Tông bảo:

- Khanh cứ yên tâm, ta nói thế để vừa lòng Hưng Đạo vương thôi.

Đã sai người đi bảo đừng đánh chết rồi.

Thương thay Khánh Dư bị bọn võ sĩ lôi lên bờ hồ Tây đánh một trận nhừ tử, lại dìm xuồng hồ cho uống ước ừng ực nhưng chàng không hề kêu một tiếng.

Ai trông thấy cũng cũng chết khiếp vì sự gan dạ.

Viên ngũ trưởng (Ngũ trưởng: Chỉ huy năm người) thấy vậy ghé vào tai Khánh Dư, bảo:

- Tướng quân hãy giả vờ chết, chúng tôi thả tướng quân ra.

Khánh Dư quát:

- Nhà vua bảo các ngươi đánh chết thì cứ đánh.

Có thế thôi làm sao phải giả vờ.

Nói xong nằm yên chịu đòn, lúc sau khắp mình bê bết máu, chàng mê man không biết gì nữa.

Bọn lính dừng đánh.

Viên ngũ trưởng nói:

- Tội nhân đã chết.

Ai là người nhà thì đưa thi hài về mà mai táng.

Lúc ấy người nhà Khánh Dư chưa hay tin nên không có ai tới.

Chỉ có một người ăn mặc rách rưới, nón mê tuột cạp đến ôm xác Khánh Dư khóc:

- Hầu tướng ôi!

Tôi biết rồi thế nào cũng có ngày này mà.

Bọn võ sĩ thấy có người đến khóc mới bỏ về.

Người khách áo rách kia thấy Khánh Dư còn thở khò khè liền thuê một chiếc xe, đặt lên chở ra ngoài thành Đại La tìm thầy thuốc cứu chữa.

May mắn gặp được thầy thuốc còn trẻ tuổi nhưng thông hiểu y thuật, khám xét vết thương xong, nói:

- Vết thương tuy đau đớn nhưng không phạm vào trong.

Chỉ bôi thuốc ít ngày cho liền những chỗ rách da, cũng khỏi.

Người khách áo rách đưa cho thầy thuốc hai lạng bạc, bảo:

- Nhờ thầy chạy chữa giúp cho.

Thầy thuốc cười, nói:

- Tôi được chữa bệnh cho hầu gia là vinh hạnh rồi.

Xin đừng kể chi công lao tiền bạc.

Ngày hôm sau Khánh Dư từ từ mở mắt, trông thấy người khách áo rách, nhận ra người gia thần cũ, chàng khẽ gọi:

- Ngô Kế Trung, có phải ngươi đấy không?

- Vâng!

Tôi đây thưa hầu tướng.

- Sao ngươi lại ở đây?

- Hầu tướng hãy cứ nghỉ ngơi đi.

Chuyện dài lắm, sau này hẵng nói.

Mấy hôm sau, các vết thương trên mình Khánh Dư đã lành miệng.

Chàng bảo Ngô Kế Trung đưa mình về huyện Bàng Hà.

Kế Trung liền thuê thuyền, chủ tớ từ giã người thầy thuốc tốt bụng, ra đi.

Hôm ấy là ngày hai mươi tháng chạp, trời rét lắm mà trên mình Ngô Kế Trung chỉ khoác có một manh áo, lại thủng nhiều chỗ.

Khánh Dư hỏi:

- Sao ngươi mua quần áo mới lại không mặc, nhường hết cả cho ta, còn mình chịu rét thế kia.

- Thưa hầu tướng!

Những thứ tôi mua từ hôm trước tới nay đều là tiền của hầu tướng cả, chứ tôi có gì đâu.

- Sao lại như vậy được?

Hôm nay nhân đi thuyền nhàn rỗi, ngươi kể chuyện cho ta nghe.

Từ khi bỏ đi, ngươi làm gì, ở đâu, vợ con ra sao?

- Tôi biết bỏ đi mà không xin phép là đắc tội lắm, nhưng không làm thế thì sao hầu tướng cho đi.

- Nhưng vì sao phải đi mới được chứ?

Ngô Kế Trung thở dài, nói:

- Vận nước lúc thịnh lúc suy, đời người khi lên khi xuống.

Tôi thấy hầu tướng khi ấy tuổi còn trẻ mà công danh đã lẫy lừng, nên sợ có lúc phải đi xuống, mới gói ghém chỗ bạc vàng hầu tướng đã ban cho rồi đưa vợ con trốn đi nhưng vẫn thường nghe ngóng đường đi nước bước của hầu tướng.

Chẳng ngờ vợ tôi là con đàn bà đê tiện, chỉ thích ăn chơi cùng ngồi lê đánh bạc.

Gia tư dần khánh kiệt, thị muốn tôi bán vàng bạc để tiêu sài.

Tôi không nghe vì biết số bạc vàng ấy sau này còn phải dùng cho hầu tướng.

Thế là thị chửi bới om sòm, giễu tôi là đồ đàn ông ăn hại không biết làm ra tiền, mài chữ ra mà ăn.

Ít lâu sau không chịu sống cuộc đời khổ cực, thị tếch theo một gã buôn trâu lên mạn ngược, bỏ lại hai cha con tôi.

Bố con bồng bế nhau đi, vừa xin ăn, vừa viết chữ thuê.

Đến một ngày cháu bị nóng sốt, ra mới.

Không đủ tiền mua thuốc, nó đã bỏ tôi.

(Triệu chứng sốt cao, co giật của trẻ nhỏ)

Nói đến đây Ngô Kế Trung không cầm được nước mắt.

Khánh Dư cũng lặng người đi, lúc lâu sau mới trách:

- Nhà ngươi thật là cố chấp.

Có vàng bạc trong tay mà để con chết thảm thế được ư?

- Xin hầu tướng hiểu cho.

Tôi không thể lạm dùng số của cải ấy được.

Khánh Dư phàn nàn mãi rồi hỏi:

- Hôm ở hồ Tây sao ngươi biết ta bị nạn mà đến cứu?

- Tôi thường bí mật theo hầu tướng.

Hôm ấy thấy bọn lính giải ngài đi nên tôi theo.

Mấy hôm sau đến Lục Đầu giang, hai người lên bộ về hương ấp.

Gia tư của cải bị bọn lính về vét sạch sành sanh, nhà cửa hơ hoác, vườn tược tiêu điều, cỏ gấu chớm mọc đến bên thềm.

Hiếu Ngân, Quây Xẻn đã bỏ đi.

Vợ con Khánh Dư cũng không biết phiêu dạt nơi nào.

Chàng đứng ngắm quang cảnh mà lòng đau xót.

Hai người vòng ra phía sau, gặp mỗi mình người lão bộc ngồi đun nồi cháo sắn.

Thấy có người, lão dụi mắt nhìn lên.

Nhận ra chủ, người hầu già ôm chầm lấy chàng, khóc không thành tiếng.

Khánh Dư cố trấn tĩnh, an ủi người lão bộc, hỏi:

- Phu nhân cùng các con tôi đâu?

Lão Bộc thưa:

- Trình chủ tướng!

Phu nhân nghe tin ngài thọ hình ở kinh thành nên đã gửi các công tử sang quê ngoại, lên kinh tìm rồi.

Khánh Dư bảo:

- Thế này thì ta phải quay lại Đại La tìm nàng thôi.

Ngô Kế Trung can:

- Hầu tướng không nên đi.

Phu nhân biết hầu tướng đã thoát nạn, thế nào cũng về ngay.

Tốt nhất ta cứ nghỉ ngơi rồi báo sang quê ngoại để các công tử khỏi lo đã.

Lão bộc bảo:

- Ngô tướng quân nói đúng đấy.

Xin chủ tướng đừng lên kinh.

Cũng còn ít gạo, để tôi nấu cơm cho hai người ăn.

Ngô Kế Trung hạ cái bọc vải trên lưng xuống mở ra, nói:

- Đây là tất cả số của cải tôi mang đi, bây giờ xin giao lại để hầu tướng chi dùng.

Khánh Dư bảo:

- Ngươi vì ta mà mất cả vợ con.

Ta sao dám dùng chỗ vàng bạc này.

Kế Trung nói:

- Xin hầu tướng hãy quên những chuyện đã qua.

Mọi việc còn đang chờ ở phía trước kia.

Đây nói công chúa Thiên Thụy được tin Khánh Dư bị xử tội chết, thương xót lắm mới cùng thị nữ lên hồ Tây tìm cách cứu chàng nhưng khi đến nơi, không còn ai ở đấy.

Tìm mãi thấy một ông lão câu cá, Thiên Thụy hỏi thăm, ông già bảo:

- Ông ấy bị đánh đau quá, lính bảo là đã chết, người nhà mang đi mai táng rồi.

Thiên Thụy nghe vậy, rụng rời chân tay, thét lên một tiếng, nhao xuống hồ tự vẫn.

Thật là:

Chàng vừa thoát nạn về quê cũ

Nàng lại quyên sinh xuống đáy hồ

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem công chúa Thiên Thụy sống chết thế nào.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 20: Trần Bình Trọng đẹp duyên cùng công chúa Thụy Bảo


Trên kia đang nói công chúa Thiên Thụy được tin Trần Khánh Dư đã chết, vô cùng đau đớn, nhảy xuống hồ tự vẫn.

Bọn thị nữ theo hầu sợ hãi kêu ầm lên.

Mấy chiếc thuyền đang bơi cùng xúm lại cứu, may vớt được nàng lên bờ.

Các vương hầu công tử đang du chơi cũng đến an ủi, bọn thị nữ khóc nhễ nhại lúc lâu công chúa mới chịu về cung.

Khi nhỏ, công chúa Thiên Thụy rất được thượng hoàng Trần Cảnh cưng chiều, ông cháu thường tỉ tê trò chuyện, công chúa nói những câu ngộ nghĩnh, thượng hoàng thích lắm.

Lúc ấy được tin công chúa quyên sinh nhưng không chết, thượng hoàng bảo người hầu đưa đến thăm.

Thiên Thụy ôm lấy ông, khóc nói:

- Thượng hoàng ơi!

Chú Dư chết rồi, cháu cũng chẳng muốn sống nữa.

Thượng hoàng bảo:

- Chỉ nói nhảm thôi nào.

Khánh Dư chưa chết đâu, chỉ có tháng tư sang năm ông chết.

Thiên Thụy cho là thượng hoàng nói đùa, nũng nịu nói:

- Ứ!

Cháu không cho ông chết!

Cháu không cho ông chết.

Tháng hai năm Bảo Phù thứ năm (Đinh Sửu-1277) tin từ phương Nam báo về, người nam ở động Nẫm Ba La làm loạn, Thánh Tông thân chinh mang quân đi đánh.

Ngự sử trung tướng Trần Chu Phổ tâu:

- Phương Nam là nơi xa xôi, dân chúng ít được sự giáo hoá của triều đình, hoàng thượng đi chuyến này xin lấy ân trạch mà thu phục dân man để họ theo về, làm phên giậu cõi Nam, đó chính là cái phúc dài lâu của nhà Trần ta.

Nhà vua nói:

- Khanh nói rất phải, ta cũng chỉ mong có như vậy.

Nhưng nơi ấy là miền tân thổ, dân man hung bạo nếu không đánh nhụt nhuệ khí của chúng đi, khó mà dẫn dụ được.

Thông thị đại phu Trần Phụng Công tâu:

- Thần nghe nói quân man chỉ dựa vào một viên tướng là Trương Xích Hoa, nếu dụ được người này, chúng ắt theo cả.

Nhà vua nói:

- Trương Xích Hoa sức khoẻ muôn người khó địch, nếu không có người tài đâu dễ dụ hắn.

Các tướng ai dám lĩnh ấn tiên phong.

Thánh tông vừa nói xong, có một tướng đứng ở cuối võ ban bước ra nói:

- Thần tuy bất tài nhưng xin làm tiên phong.

Quyết bắt sống Trương Xích Hoa dâng hoàng thượng.

Các quan nhìn ra, thấy tướng ấy tuổi còn trẻ, mặt mũi đẹp đẽ, đầu đội mũ bịt bạc, khôi giáp gọn ghẽ, phong thái đường hoàng như một vị thiên sứ.

Trong đám các quan có người nói:

- Tiểu tướng này kiêu dũng chẳng kém gì Trần Khuê Kình ngày trước.

- Con trai Lê Đại tướng quân chứ ai.

- Đúng là hổ phụ sinh hổ tử chẳng có sai.

Thánh Tông cười, nói:

- Ta biết Bình Trọng tài giỏi hơn người nhưng chỉ e ngươi chưa phải là đối thủ của Trương Xích Hoa.

Bình Trọng tâu:

- Nếu không bắt được tướng giặc, thần xin chịu tội theo quân luật.

Nhà vua thấy Bình Trọng quyết chí như vậy mới chuẩn cho đi tiên phong, chọn ngày hoàng đạo xuất quân.

Bình Trọng là con trai Bảo Văn hầu Lê Tần và công chúa Chiêu Thánh nhà Lý, sinh ra đã khoẻ mạnh khôi ngô, lớn lên được cha truyền dạy võ nghệ, phàm các môn bắn cung cưỡi ngựa đánh giáo đi quyền không môn nào không xuất sắc.

Mọi người đều gọi là Cương Thiết tiên đồng.

Lúc bấy giờ đang là mùa Xuân còn gió mùa Đông Bắc nên thuyền đi nhanh, không đầy mười ngày đã vào đến đất phương nam nhưng mưa gió dầm dề, quân nam dựa vào các hang động trên núi thủ thế không đánh.

Bình Trọng nghĩ ra một kế, gọi Nguyễn Trình và Phạm Sĩ Viêm đến bàn:

- Trời mưa thế này quân man cố thủ trong động không ra, ta là tướng tiên phong mà không đánh được giặc, còn dám nhìn mặt hoàng thượng nữa ư?

Ta đã có mẹo hay, các ngươi phải gắng sức giúp vào mới được.

Hai tướng Nguyễn, Phạm cùng nói:

- Chúng tôi xin nghe lời sai bảo của tướng quân, dẫu nát thịt tan xương nơi sa trường cũng không quản ngại.

- Tốt!

Quân man đóng làm hai động, động trước là chính chống với quân ta, động sau tích chứa lương thảo.

Nguyễn Trình mang ba trăm quân, giờ Dậu tối nay đốt cho nhiều đuốc tiến đánh.

Quân man ra thì lui, khi chúng trở vào lại tiến.

Phạm Sĩ Viêm đem năm trăm quân vòng qua con đường phía Bắc vào động sau đánh chiếm lương thảo của chúng nhưng không được đốt phá chỉ giữ lấy hang, không cho quân man có đường quay về là được.

Nói về Trương Xích Hoa suốt đêm phải chống nhau với quan binh, không ngủ được, gần sáng lại có tin động trong đã mất, lương thực hết cả, liền gọi các tướng đến bàn.

Người nói phải quyết một trận tử chiến, người bảo nên bỏ động chạy sâu vào rừng, cũng có người nói nên hàng triều đình.

Đang chưa biết theo ai, có quân do thám về báo quan quân chở rất nhiều lương thảo lên bờ đóng ở phía Bắc núi Mẫu Hầu.

Trương Xích Hoa vỗ tay nói:

- Tốt rồi, tốt rồi.

Phía Bắc núi Mẫu Hầu là nơi tận địa, trên là núi cao dưới là đầm lầy chỉ có một lối vào, chúng đem lương thảo đến đấy chẳng phải để biếu không cho ta ư.

Bây giờ ta đem quân vượt qua núi Bạch Tượng chặn ngang đường của chúng.

Khi nào thấy lửa cháy, khói bốc lên dưới núi, tù và thổi vang các ngươi tràn xuống cướp hết lúa gạo đưa về động, không còn lo gì thiếu lương thực nữa.

Trương Xích Hoa nói xong chia quân cho các tướng theo kế thi hành, còn mình đem quân vượt núi Bạch Tượng, đến trưa sang hết bên kia núi chặn ngang con đường độc đạo dẫn vào nơi chứa lương thảo của quân triều đình, cho quân đốt lửa, thổi tù và làm hiệu.

Quân nam thấy có hiệu lệnh liền theo đường núi tràn xuống cướp xe lương.

Lính triều đình bỏ chạy.

Quân nam kẻ vác người bưng chuyển hết lương thực về động chính nhưng vừa về tới nơi đã thấy khắp trong ngoài động toàn là quan binh, lúc ấy mới biết bị lừa.

Người nào người nấy rụng rời hết vía vứt cả gạo nước tìm đường tháo chạy.

Bỗng một tiếng pháo nổ, cờ quạt gươm giáo dựng lên sáng khắp rừng.

Quân nam hết đường đành quỳ xuống xin hàng cả.

Nguyễn Trình ra lệnh thu hết binh khí nhưng không được giết hại ai.

Trương Xích Hoa đang hí hửng cho rằng diệu kế đã thành bỗng có tên tiểu tốt chạy về báo động chính đã bị cướp mất rồi, nam phụ lão ấu trăm nhà đều bị bắt cả, vội vã truyền lệnh rút đi.

Bỗng trong rừng trống thúc liên hồi rồi quan binh đổ ra chặn mất đường về.

Trương Xích Hoa xông lên trước, trông thấy một tướng cưỡi ngựa kim sa, tay cầm ngọn giáo tam lăng chặn mất đường, liền bảo:

- Tiểu tướng kia tên họ là chi?

Mau tránh đường cho ta đi kẻo lại sơi một búa bây giờ.

Tướng kia cười lớn, nói:

- Ta là tiên phong Lê Bình Trọng đây.

Nếu ngươi đánh với ta được mười hiệp thì ta tránh đường cho mà đi.

- Triều đình hết người rồi hay sao mà đem cái đồ nhãi ranh ra làm tiên phong.

Cho mày nếm thử một búa này.

Nói xong, vung búa xông vào đánh Bình Trọng.

Bình Trọng đưa giáo đón đỡ, mới được ba hiệp quay ngựa chạy.

Trương Xích Hoa đuổi theo.

Hai ngựa sát nhau, Xích Hoa giơ búa chém xuống.

Bình Trọng nâng đốc thương gạt một nhát, cây búa văng ra.

Xích Hoa chới với, vừa kịp định thần, mũi giáo của Bình Trọng đã tì vào cằm.

Xích Hoa vội kêu lớn:

- Tướng quân tha mạng.

Tôi xin theo hàng triều đình.

Bình Trọng nói với đám quân man:

- Chủ tướng các ngươi đã theo hàng, các ngươi chớ sợ.

Ai muốn theo ta thì theo, ai không muốn hàng cũng về cả động, ta cấp cơm gạo cho rồi muốn đi đâu hẵng đi.

Quân nam thấy tướng triều đình là người có đức liền quỳ mọp xin theo cả.

Bình Trọng liền cho đánh chiêng thu quân về thuyền, vừa lúc đoàn thuyền của nhà vua cũng tới.

Bình Trọng đến yết kiến Thánh Tông, tâu trình mọi việc, dâng nộp hơn nghìn tù binh.

Thánh Tông tươi cười phán:

- Bình Trọng còn trẻ mà đã tỏ ra là tướng chí nhân chí dũng chí mưu.

Các tướng ai cũng như khanh, trẫm chỉ việc kê cao gối mà ngủ chứ còn lo gì.

Nhà vua nói xong liền truyền chỉ cho mở tiệc khao quân, hôm sau phủ dụ dân nam rồi rút quân về kinh thành, để lại toàn bộ lương thực cho dân chúng, chỉ đem một số tù binh về thưởng cho các vương hầu làm nô bộc còn tha hết.

Trương Xích Hoa được theo Bình Trọng làm gia tướng.

Từ đấy dân nam ở đất Nẫm Bà La yên định.

Mấy hôm sau về đến Thăng Long, nhà vua thiết triều, phán:

- Việc bình man lần này công lao đều thuộc về tướng quân Lê Bình Trọng, trẫm không phải khó nhọc gì.

Nay xét thấy họ Lê đã ba đời tận trung báo quốc, trẫm đặc cách ban cho Bình Trọng được mang quốc tính, kể từ hôm nay gọi là Trần Bình Trọng xem như người trong hoàng tộc, phong tước Bảo Nghĩa hầu, cho kết duyên cùng công chúa Thụy Bảo.

Công chúa Thụy Bảo là em cùng cha khác mẹ với công chúa Thiên Thụy, hai năm trước đã gả cho Uy Văn vương Trần Toại.

Trần Toại thông minh có tiếng, thường làm thơ lấy bút danh là Sầm Lâu, khi còn ít tuổi đã cho ra đời Sầm Lâu tập được lưu hành, người thời bấy giờ rất ái mộ.

Tuy vậy ông không có chí hướng làm quan, chỉ thích giao du sơn thuỷ, trong thơ từng viết:

Pha lạp ngũ hồ vinh bội ấn

Tang ma tế dã thắng phong hầu

Tức là:

Đội nón lá, khoác áo tơi dạo chơi năm hồ còn hơn giữ ấn làm quan

Mặc áo dâu gai dong duổi ngoài đồng nội còn hơn được phong hầu

Hoặc là:

Cổ lai hà vật bất thành thổ

Tử hậu duy thi khả thắng kim

Xin tạm dịch:

Muôn vật trước giờ ra đất cả

Duy chỉ có thơ mới hơn vàng

Có lần nhà vua hỏi ông hai chữ Quan gia.

Ông đáp:

- Năm đời đế lấy thiên hạ làm của công (quan), ba đời vương lấy thiên hạ làm của nhà (gia) nên gọi là quan gia.

Vua khen kiến thức ông rộng (Đoạn này lấy nguyên văn trong ĐVsktt).

Kết duyên cùng Thụy Bảo chưa đầy một năm thì Trần Toại mất.

Thật đáng tiếc cho con người tài hoa mà bạc mệnh.

Thụy Bảo mới mười sáu tuổi đã thành goá phụ nên nhà vua mới đem gả cho Bình Trọng, hẹn đến tháng năm làm lễ thành hôn.

Thượng hoàng Trần Cảnh nghe tin ấy, sai người đến nói với nhà vua: "Hãy cho Thụy Bảo cưới ngay đi, sang tháng tư ta chết".

Hôm sau Thượng hoàng thấy con rết bò trên áo ngự, lấy tay phủi xuống, nghe đánh keng, hoá ra là cái đinh sắt, liền sai minh tự Nguyễn Mặc Lão dùng phép nội quan nghiệm xem điềm lành hay dữ.

Mặc Lão tính toán một hồi, tâu:

- Thần thấy một chiếc hòm vuông, bốn mặt đều viết chữ nguyệt, trên hòm có cái kim và chiếc lược.

Thượng hoàng đoán:

- Cái đinh là năm Đinh, chiếc hòm là cái quan tài, bốn chữ nguyệt là tháng tư, cái kim là chui vào, chiếc lược là chữ sơ cũng đọc là xa tức là chia tay với các ngươi.

Bây giờ là cuối tháng ba, cứ theo điềm này thì ta không còn sống được mấy ngày nữa.

Nói xong sai nội nhân gọi phường múa rối vào diễn.

Phường múa rối có câu hát: "Mau đến ngày mùng một thay phiên".

Thượng hoàng bảo:

- Thế này thì đúng ngày mùng một ta chết đây.

Quả nhiên đúng ngày mùng một tháng tư, thượng hoàng kêu nhức đầu đi nằm, chừng một canh giờ sau đòi ăn cháo.

Nội nhân dâng cháo.

Thượng hoàng ăn xong thì băng ở cung Vạn Thọ, hưởng dương sáu mươi tuổi.

Lúc ấy công chúa Thiều Dương (con gái thứ của thượng hoàng), vợ của Văn Hưng thượng vị hầu đang ở cữ, nghe tiếng chuông liên hồi, bảo:

- Có thể nào không phải là tin dữ chăng?

Người hầu nói dối là thượng hoàng đã bình phục nhưng công chúa không nghe, cứ vật vã khóc rồi mất.

Người trong nước biết chuyện, ai cũng thương công chúa có hiếu.

Ngày mùng bốn tháng mười, táng thượng hoàng ở Chiêu Lăng, miếu hiệu là Thái Tông, tên thụy là Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiền Hoà Hựu Thuận Thần Văn Thánh Võ Nguyên Hiếu hoàng đế.

Tháng ba năm sau công chúa Chiêu Thánh nhà Lý mất, thọ sáu mươi mốt tuổi.

Thánh Tông hoàng đế đến viếng, cảm khái nói:

- Đúng là đời người như bóng ngựa qua song.

Thái Tông và Chiêu Thánh là đôi bạn từ hồi thơ ấu thế mà nay cả hai đã ra người thiên cổ rồi.
 
Back
Top Bottom