Cập nhật mới

Khác Đất Việt Trời Nam - Đan Thành

Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 20: Chiêu Văn vương một mình đến sơn động Đà Giang (1)


Tháng mười năm ấy, Thánh Tông họp triều thần, nói:

- Ta năm nay đã gần bốn mươi tuổi, thái tử cũng lớn rồi, cần phải trao quyền bính để khỏi bỡ ngỡ sau này.

Ngày hai mươi hai tháng ấy tuyên chiếu nhường ngôi cho thái tử Khâm tức là Trần Nhân Tông.

Nhân Tông xưng là Hiếu Hoàng, tôn Thánh Tông là Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng hoàng đế, tôn mẹ Thiên Cảm hoàng hậu là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu.

Triều thần dâng tôn hiệu nhà vua là Pháp Thiên Ngự Cực Anh Liệt Vũ Thánh Minh Nhân hoàng đế.

Quần thần có ngươi bàn nên dâng biểu sang nhà Nguyên cầu phong.

Quan thiên chương các đại học sĩ là Trần Cố nói:

- Năm trước Thái Tông băng, nước ta đã cho trung thị đại phu Chu Trọng Ngạn, trung lương đại phu Ngô Đức Thiệu sang báo tang.

Nhà Nguyên đã không sang viếng lại còn giữ sứ không cho về, rõ ràng là họ ỷ thế nước lớn hiếp nước nhỏ, không kể gì lễ đạo.

Vậy thì ta cần gì phải cầu phong.

(Trần Cố: Người xã Phạm Triền, huyện Thanh Miện.

Nay làthôn Phạm Lý, xã Ngô Quyền, huyện Thanh Miện, Hải Dương.

Ông đỗ trạng nguyênkhoa Bính Dần - 1266)

Chư vệ kí ban Nguyễn Thám bàn:

- Họ không giữ lễ, ấy là trái ở họ.

Ta làm căng lên tất tạo cho người Nguyên có cái cớ mà gây chuyện can qua.

Thái uý Trần Quang Khải tâu:

- Nay người Nguyên đã dồn người Tống vào mảnh đất nhỏ như bàn tay, lẽ tồn vong chỉ trong sớm tối.

Nhà Tống mất rồi không lý nào người Nguyên không đánh ta để hả cái giận mấy mươi năm, có cớ hay không cũng chẳng can hệ.

Tốt nhất xin hoàng thượng sửa sang chính trị, tích thảo dồn lương, chiêu binh rèn tướng, tu sửa thành trì phòng khi hữu sự.

Triều thần ngươi bàn đi người bàn lại, cuối cùng nhà vua cũng không cử sứ sang Nguyên nữa.

Nhà Nguyên thấy nhà Trần không cầu phong, mới cho đoàn sứ bộ Đại Việt của Lê Khắc Phục về nước và cử một đoàn sứ do lễ bộ thượng thư Sài Thung dẫn đầu cùng bọn hội đồng quán sứ Cáp Lạt Thoát Nhân, công bộ lang trung Lý Khắc Trung, công bộ viên ngoại lang Đổng Doãn sang hạch nhà Trần về việc vua Trần chưa được phong đã lên ngôi và thúc ép vua Trần vào chầu.

Khi ấy quân Nguyên đã chiếm được Ung châu nên bọn Sài Thung theo đường Giang Lăng qua Ung châu tới ải Vĩnh Bình để vào Đại Việt nhưng vua Trần đưa thư bắt bọn Sài Thung phải quay về đi đường Vân Nam như thông lệ.

Bọn Thung không nghe, đưa điệp sang đòi quan binh nhà Trần lên biên giới đón.

Vua Trần cho quan ngự sử trung tán là Đỗ Quốc Kế lên đón.

Đỗ Quốc Kế không dẫn bọn Sài Thung theo đường lớn mà cứ xuyên rừng đi.

Bọn Thung phải đi xa lại trèo đèo leo núi, bao nhiêu xe kiệu vứt đi hết, vất vả muôn phần.

Sài Thung đến Thăng Long, hống hách nạt nộ, đưa chiếu thư của Hốt Tất Liệt đòi Trần Nhân tông phải thân sang chầu, còn doạ: Nếu trái ý thì hãy sửa thành, chỉnh quân mà đợi đại quân của ta.

Trần Nhân Tông chẳng theo một yêu cầu nào của Hốt Tất Liệt, chỉ cho mở tiệc đãi sứ ở điện Tập Hiền.

Sài Thung bất mãn không dự.

Sau bữa đó nhà vua không tiếp sứ.

Bọn Sài Thung muốn nói gì thêm chỉ giao dịch với thái uý Trần Quang Khải, lâu ngày không được công trạng gì đành xin về nước.

Hôm tiễn sứ về nước, Trần Quang Khải làm bài thơ tặng Sài Thung:

Tiễn ngài mà dạ bâng khuâng

Ngựa xăm xăm bước về đường quê vua

Bắc Nam tình những từ xưa

Cạn ly chủ khách tiễn đưa trường đình

Vừa thôi đã khuất dặm xanh

Tiếc khi đối ẩm chút tình ca ngâm

Bao giờ gặp lại cựu nhân

Cầm tay chuyện nước chuyện dân thái bình.

(Nguyên văn bài thơ này bằng chữ Hán, như sau:

Tống quân quy khứ độc bàng hoàng

Mã thủ xâm xâm chỉ đế vương

Nam Bắc tâmtình huyền phản bái

Chủ tân đạo vị phiếm ly trường

Nhất đàm tiếu khoảnh ta phân duệ

Công xướng thù gian tích đối sàng

Vị thẩm hà thời trùng đổ diện

An cần ác thủ tự huyên lương)

Bọn Sài Thung về nước, Trần Nhân Tông cử Trịnh Đình Toản, Đỗ Quốc Kế làm sứ thần cùng sang theo để khước từ mọi đòi hỏi của nhà Nguyên.

Hốt Tất Liệt giận dữ không cho sứ Đại Việt trở về.

Trong khi cho bọn Sài Thung sang hăm doạ Đại Việt, Hốt Tất Liệt lệnh cho bọn Trương Hoằng Phạm và Lý Hằng tiến đánh miền đất cuối cùng của nhà Tống.

Tháng Mười một năm ấy (1278), Trương Hoằng Phạm cùng Lý Hằng đem quân đánh miền ven biển.

Quân Tống tan vỡ.

Thừa tướng nhà Tống là Văn Thiên Tường bị bắt, quân Nguyên dụ dỗ mua chuộc nhưng ông không chịu quy phục.

Trong thời gian bị giam, ông đã viết nên tác phẩm bất hủ Chính khí ca.

Sau ba năm giam cầm, ông bị quân Nguyên giết hại.

Tháng Sáu năm Kỷ Mão (1279) Trương Hoằng Phạm, Lý Hằng tiến đánh Nhai sơn.

Tướng Tống giữ Nhai sơn là Trương Thế Kiệt chỉ huy quân lính cố thủ nhưng chống không lại.

Tả thừa tướng nhà Tống là Lục Tú Phu cõng vua Tống Triệu Bính lúc ấy mới sáu tuổi, nhảy xuống biển tự tử.

Trương Thế Kiệt và quân lính, quan lại, cung nhân cũng trầm mình theo hơn mười vạn người.

Xác chết trôi đầy mặt biển, dạt vào đất Đại Việt.

Người Đại Việt thương tình chôn cất tử tế.

Từ đấy nhà Nguyên chiếm đóng toàn bộ Trung Quốc.

Nhà Tống mất, Đại Việt đứng trước hoạ xâm lăng không thể tránh khỏi.

Nhà vua cùng triều đình mải lo toan việc binh bị.

Bọn tham quan đục nước béo cò vơ vét của dân khiến nhiều người oán thán.

Chúa động Đà giang là Trịnh Giác Mật lãnh đạo thổ binh đứng lên khởi nghĩa, đánh giết bọn quan châu, quan huyện, thanh thế ngày một lớn.

Quan binh xứ ấy chống không lại, làm sớ tâu về triều đình.

Trần Nhân Tông họp triều thần, bàn kế dẹp loạn.

Quan thẩm hình viện Đặng Ma La tâu:

- Mấy năm nay triều đình mải lo phòng giữ biên thuỳ, lơi lỏng việc giám sát các địa phương.

Bọn quan lại các châu huyện nhiều kẻ nhân đấy tác yêu tác quái, sách nhiễu dân chúng khiến họ cực khổ quá mà nổi lên.

Xin hoàng thượng tìm cách vỗ về để trăm họ được yên chứ không nên chinh phạt.

Các quan đều cho lời bàn ấy là phải.

Nhân Tông hỏi:

- Vậy các khanh hãy chọn cho trẫm một người có thể đảm đương được công việc này.

Trương Xán tâu:

- Thần trộm nghĩ, việc này phi Chiêu Văn vương Nhật Duật ra thì không ai gánh nổi.

Nhân Tông nói:

- Quan thị lang bàn rất hợp ý trẫm.

Nhà vua nói xong, truyền lệnh cho Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đi chiêu hàng.

Trần Nhật Duật vốn tính thông minh từ nhỏ, thích đọc sách, ngao du sơn thuỷ, học tiếng nước ngoài và tiếng các dân tộc.

Ông nói được nhiều thứ tiếng, hiểu tập quán của nhiều dân tộc, lúc ấy nhận lệnh đi chiêu hàng, không lấy quân của triều đình, chỉ mang thuộc hạ của mình đến Đà giang, cho quân cắm trại lại rồi viết một bức thư bằng tiếng Mường gửi cho Trịnh Giác Mật, khuyên ông ta nên về hàng.

Trịnh Giác Mật nhận được thư, họp các đầu lĩnh lại bàn.

Các tướng đều nói:

- Quân của Nhật Duật ít, quân ta đông.

Xin chủ tướng cho đánh một trận diệt sạch chúng đi.

Giác Mật nói:

- Chúng ta vốn không có ý chống lại triều đình, chỉ vì căm giận thói tham ác của bọn quan châu quan huyện nên bất đắc dĩ phải nổi dậy thôi.

Nay trong thư Chiêu Văn vương đã nói rõ nhà Nguyên đang rình rập nước ta.

Nếu muôn dân bách tính không hợp sức đồng lòng sao chống được giặc mạnh.

Liệu anh em ta có chịu làm tôi mọi cho bọn giặc Hồ không?

Mọi người đều nói:

- Bất cộng Hồ binh, không làm tôi mọi cho bọn người Hồ.

Giác Mật nói tiếp:

- Nếu không muốn làm tôi mọi cho người Hồ thì chỉ có về với triều đình để cùng đánh giặc.

Ta nghe nói Chiêu Văn vương là người ân uy tài đảm, nhân chuyến này muốn thử xem có đúng không.

Các đầu lĩnh nói:

- Chủ công nói rất phải.

Nếu quả thật tướng triều đình là người tài giỏi thì ta theo, còn không ta giữ lấy trại, mai sau dẫu phải liều chết với giặc mạnh cũng cam.

(Chỉ giặc Nguyên)

Trịnh Giác Mật liền viết một phong thư, cho người đưa đến quân doanh của Trần Nhật Duật, bày tỏ lòng thành và đại ý nói nếu Nhật Duật dám một mình một ngựa lên sơn trại thì Mật sẽ hàng.

Nhật Duật nhận được thư, hôm sau đem năm sáu tiểu đồng theo hầu, không mặc giáp, không đeo gươm, chỉ cầm cây quạt ngà phe phẩy, ung dung đi lên sơn trại.

Các tướng can:

- Người man không biết lễ nghi, lại hung bạo.

Xin vương công chớ tin lời chúng.

Nhật Duật nói:

- Ta đâu phải không biết câu Binh tắc khả yếm trá, nhưng không mạo hiểm sao chúng chịu phục mà theo về, vả lại nếu nó thất tín giáo giở, triều đình còn có vương khác đến.

(Việc binh tất có sự lừa dối)

Nói xong, bảo quân hầu cứ việc tiến lên.

Khi đến trước trại của Trịnh Giác Mật, quân Mường bủa vây bốn phía.

Người nào người nấy mặt mũi tô vẽ hung tợn, tay lăm lăm gươm sắc giáo dài chĩa cả vào.

Nhật Duật mặt không biến sắc, chỉ mủm mỉm cười đi thẳng đến tướng doanh.

Trịnh Giác Mật ra mời.

Nhật Duật trèo lên nhà sàn nói chuyện với Mật bằng tiếng Mường.

Mật sai quân hầu dọn tiệc.

Nhật Duật điềm nhiên bốc xôi ăn rồi cùng Mật uống rượu bằng mũi, không hề gượng gạo.

Quân Mường thấy thế thích quá cười ầm cả lên.

Trịnh Giác Mật bảo bọn chúng:

- Chiêu Văn vương chính là ân chủ của chúng ta.

Các ngươi không quỳ lạy còn đợi gì nữa.

Quân Mường bỏ hết gươm giáo, quỳ lạy liên hồi.

Nhật Duật bảo thôi không phải lạy nữa, cho mọi người cùng dự tiệc.

Đêm ấy đốt lửa nhảy múa, chủ khách say khướt đến sáng hôm sau.

Khi tỉnh rượu, Giác Mật nói với các đầu lĩnh:

- Ta đã hàng triều đình, hôm nay theo ân chúa về kinh bái kiến thánh thượng.

Các ngươi ở lại lo việc trồng cấy, chăn nuôi, canh cửi đợi ta chầu vua xong sẽ về cùng săn bắn hái lượm, chớ có lơ là.

Quân Mường vâng dạ tuân theo.

Ngay ngày hôm ấy Nhật Duật cho nhổ trại ban sư.

Khi về đến kinh thành, vương đem Trịnh Giác Mật cùng vợ con thân quyến của y vào chầu nhà vua.

Nhân tông vui vẻ nói:

- Khanh đi chuyến này không mất một mũi tên mà bình xong được Đà giang, thật không phụ sự uỷ thác của trẫm.

Nhà vua nói xong truyền ban thưởng cho Nhật Duật, lại bảo Trịnh Giác Mật:

- Trẫm nghe ngươi yêu mến dân chúng, ghét bọn tham quan, thế là tốt nhưng không nên mỗi lúc lại khởi binh làm loạn.

Trịnh Giác Mật xấu hổ lạy tạ xin tha tội.

Vua tiếp:

- Nay ngươi đã thực lòng về với triều đình, thế là biết bỏ đường tối mà theo chính đạo, trẫm đâu nỡ bắt tội.

Trẫm muốn phong cho ngươi chức quan, lưu lại làm việc ở kinh thành, ngươi có ưng lòng không?

Giác Mật tâu:

- Đội ơn hoàng thượng tha tội.

Thần vốn sinh ra ở chốn lâm tuyền, quen với mây ngàn gió núi.

Đô hội không phải là chỗ hợp với những kẻ chân đất như thần.

Xin hoàng thượng cho thần về quê sống đời sơn dã cùng mường động.

Nhà vua thấy Trịnh Giác Mật có bụng thành thật, liền ban thưởng vàng lụa rồi cho về, chỉ lưu con trai của Mật là Trịnh Tú ở lại kinh đô, giao cho Chiêu Văn vương nuôi dạy lại ban cho tước thượng phẩm, bảo vào trông nom ao cá.

Vợ Trịnh Giác Mật tuy là người Mường nhưng đã từng có thời sống chung với người xuôi nên học được tính khôn ranh, lúc ở triều về bảo chồng:

- Ông thật ngớ ngẩn không chê vào đâu được.

Người ta mất tiền để đến kinh thành còn chả được, ông lại xin về rừng.

Đúng là cái đồ dại có đuôi ra.

Trịnh Giác Mật bảo:

- Mẹ mày thật buồn cười.

Ai cũng đòi về kinh thành cả thì ai ở quê đây?

Núi rừng rộng rãi thênh thang chả sướng thì thôi lại muốn kéo nhau về nơi đô hội toàn người với bụi.

Muốn thở cũng không dám thở mạnh nữa.

- Bây giờ nhà đất đắt như vàng, ông hẵng tạm nhận chức quan, được ban nhà, ban đất sau này không ở bán đi cũng khối tiền, làm sao cứ phải chối đây đẩy.

Chỉ được cái sĩ diện, làm ra bộ quân tử lắm chỉ được cái tiếng hão, khố rách áo ôm suốt đời chứ báu gì.

Cứ làm quan đã ai bỏ tù đâu mà sợ.

- Trời ơi!

Chưa làm quan đã tham như mụ rồi cũng tù thật chứ chẳng chơi.

- Ông cứ nói thế chứ.

Quan tham mà phải đi tù có mà nước An Nam này các quan đi tù vợi.

- Mụ tưởng ai cũng như mụ chắc.

- Tôi chẳng biết nhưng nếu quan không tham lấy đâu ra mà ai cũng xây lắm nhà lầu nhà gác thế?

Chỉ vì chuyện ấy mà vợ chồng Trịnh Giác Mật xích mích suýt bỏ nhau.

Chiêu Văn vương nuôi Trịnh Tú chu đáo hết lòng nhưng Trịnh Tú cũng không quen sống ở chốn kinh thành, mấy tháng sau xin về.

Chiêu Văn vương vào triều tâu với nhà vua.

Quan đại hành khiển Nguyễn Giới Huân nói:

- Triều đình giữ Trịnh Tú ở lại là để cha nó không dám làm càn.

Nay tha nó về sao khống chế được nữa.

Chiêu Văn vương nói:

- Tôi tin Trịnh Giác Mật không phải là kẻ tráo trở.

Nhà vua nói:

- Ta cũng cho là như vậy.

Vả lại Trịnh Giác Mật là dân mà biết theo điều phải, lại có lòng ái quốc.

Triều đình không tin dân thì vững sao được.

Thôi!

Cứ cấp tiền bạc cho nó về.

Trịnh Tú được về mường, sướng như chim bằng về núi nhưng lại bị mẹ mắng cho một trận ngập đầu:

- Mày thật giống bố mày, rõ cái đồ dại nó có dòng.

Con ơi là con, ngu ơi là ngu.

Chịu khó làm quan một thời gian lại chẳng giàu to hay sao.

Thật tiếc công tao đẻ ra mày.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 20: Chiêu Văn vương một mình đến sơn động Đà Giang (2)


Lại nói bọn Sài Thung về Nguyên, đi đến Ung châu, Thung nói với đoàn sứ của Trịnh Đình Toản:

- Ngày nay nhà Tống mới bị diệt trừ, dư đảng của chúng còn nhiều, sợ đi đường có điều sơ sảy.

Các ngươi ở lại đây đợi lệnh, để ta về trước tâu với thiên tử đã.

Sài Thung nói xong liền về Đại Đô (Bắc Kinh) tâu trình kết quả đi sứ.

Hốt Tất Liệt giận dữ đập án thét:

- Thế này ra bọn người Nam không coi ta ra gì.

Ta muốn khởi binh chinh phạt An Nam.

Các quan ở khu mật viện đều can:

- An Nam tuy nhỏ nhưng không phải là nơi dễ đánh.

Muốn bình định xứ ấy phải chuẩn bị chu đáo lắm mới được.

Xin hoàng thượng đánh Phù Tang trước.

Khi Phù Tang đã về ta thì Việt, Chiêm hai xứ ấy còn có gì đáng kể.

(Phù Tang: Nhật Bản.

Quan niệm Trung Quốc cổ cho rằng ở phía biển Đông có cây dâu nổi)

Hốt Tất Liệt nghe theo kế ấy, bèn cử A Thích Hãn làm chánh tướng, Phạm Văn Hổ làm phó tướng đem mười vạn quân, hơn một nghìn thuyền chiến đi đánh Phù Tang.

Lại lệnh cho các tướng đóng ở thuộc quốc Cao Ly đem năm vạn quân trợ giúp.

Tháng tám năm ấy (1281) mười vạn quân Thát của A Thích Hãn và Phạm Văn Hổ đổ bộ lên đất Phù Tang, tiến vào Ngũ Long sơn, chưa gặp sự kháng cự của quân địa phương đã bị ngay một trận bão lớn, thuyền bè xô va vào nhau vỡ tan tành.

Bọn tướng lĩnh tranh lấy thuyền còn tốt trốn về đất liền, bỏ mặc mười vạn quân trên đất Phù Tang bị người bản địa tiêu diệt hoàn toàn.

Trong khi cử quân đội đi đánh Phù Tang, Hốt Tất Liệt cho đưa sứ thần Đại Việt là Trịnh Đình Toản và Đỗ Quốc Kế đến Đại Đô quở trách nhưng xem ra cũng chẳng ăn thua gì, liền nổi giận đùng đùng, sai đặt vạc dầu để luộc sứ An Nam.

Trịnh Đình Toản cùng Đỗ Quốc Kế không hề sợ hãi, cởi tuột quần áo, nói:

- Chẳng mấy khi được vua Nguyên tắm cho chúng ta.

Hốt Tất Liệt càng bực tức, thét:

- Người Nam các ngươi là giống mọi rợ, chẳng lẽ không biết sợ chết ư?

Trịnh Đình Toản vẫn điềm nhiên nói:

- Chết là cái tai hoạ lớn nhất đối với con người, ai chả sợ nhưng sợ đến vong gia nhục quốc thì không.

Hốt Tất Liệt gầm lên:

- Đã thế ta cho quân đến san phẳng thành Đại La xem vua tôi nhà ngươi làm thế nào.

Đỗ Quốc Kế nói:

- Đất nước của kẻ ngoại thần này vốn nhỏ, không ưa chuyện chiến chinh nhưng nếu một khi thiên tử đem quân đến thì đâu dám trái ý mà không đưa người ra nghênh tiếp.

Hốt Tất Liệt quát:

- Vua tôi các ngươi dám đem một dúm quân châu chấu chống với đại binh thiên triều sao?

Quốc Kế nói:

- Chống lại thiên triều, người Việt chúng thần đâu dám nhưng vạn bất đắc dĩ thì việc năm Bảo Hựu diễn lại chưa biết thế nào.

Chỉ tiếc những kẻ ngoại thần này không còn sống đến ngày ấy để xem mà thôi.

(Năm Bảo Hựu thứ sáu (Nhà Tống) - 1258, quân Nguyên thua to trên đất Đại Việt)

Hốt Tất Liệt đập án, nói:

- Được!

Ta cho các ngươi sống đến ngày ấy mà xem.

Nói xong truyền cho cất vạc dầu đi, lại lệnh cho quần thần bàn việc đánh phương Nam.

Các quan tâu rằng quân ta đang đánh Phù Tang chưa biết được thua thế nào, không nên chinh phạt phương Nam vội.

Xin hoàng thượng hãy cử một đoàn sứ sang dụ, bắt bằng được vua An Nam sang chầu, nếu nhà Trần kháng chỉ thì sang năm ta chỉnh đốn lại binh mã rồi hẵng ra quân cũng chưa muộn.

Hốt Tất Liệt nghe theo, liền bắt Trịnh Đình Toản ở lại còn Đỗ Quốc Kế cho về, cử một sứ bộ do Lương Tằng dẫn đầu sang Đại Việt.

Mùa Đông năm ấy bọn Lương Tằng sang đến Thăng Long đưa thư của vua Nguyên.

Trong thư toàn những lời đe doạ và vẫn những yêu sách cũ, đòi vua Trần phải vào chầu, cống nộp người và vật phẩm quý.

Có đoạn như sau: Nếu quả không thể tự thân tới được thì phải lấy vàng thay người, hai hạt trân châu thay mắt và lấy thêm hiền sĩ, phương sĩ, con trai, con gái, thợ nghề mỗi loại hai người để thay cho thổ dân.

Nếu không, hãy tu sửa thành trì để đợi phán xét.

Vua Trần Nhân Tông họp triều thần bàn việc bang giao với nhà Nguyên.

Thượng thư Nguyễn Hiền nói:

- Nhà Nguyên xưa nay vẫn ỷ thế nước lớn đòi dâng nộp cống phẩm và buông lời hăm doạ, thủ đoạn không có gì mới.

Chi bằng ta cứ kệ họ rồi cử một đoàn sứ bộ sang chối cả đi là xong.

Quan đại phu Trần Phụng Công nói:

- Nhà Nguyên đòi ta dâng cống phẩm chỉ là cái cớ để gây sự, nếu ta không theo, ắt họ cất quân ngay.

Quần thần còn đang bàn bạc, có tin của Lê Khắc Phục và Đào Thế Quang cùng báo về: "Người Nguyên đang ráo riết tập trung quân ở vùng Kinh Hồ, mượn tiếng đi đánh Chiêm Thành nhưng thực ra là muốn xâm phạm nước ta".

(Kinh Hồ (Hồ Quảng):Gồm các tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông Trung Quốc - Theo ĐVsktt)

Thái phó trình quốc công Phạm Văn Tuấn nói:

- Nhà Nguyên ngày nay vừa đánh Phù Tang thất lợi, muốn đánh ta cũng chưa thể cất quân ngay được.

Các đạo quân Kinh Hồ đều là quân tân phụ của nhà Tống cũ, muốn dùng được cũng phải ổn định mất vài năm.

Xin hoàng thượng kíp cho luyện tập quân mã, đóng thêm thuyền chiến, phòng bị các cửa biển nghiêm ngặt, quân Nguyên há dễ làm gì ta nổi.

(Quân tân phụ: Quân mới được thu phục)

Trần Nhân Tông nghe theo liền viết biểu văn từ chối, sai Trần Di Ái (Trần Ải), Lê Mục, Lê Tuân sang sứ Nguyên.

Bọn Trần Di Ái đến Đại Đô, vào chầu vua Nguyên, khúm núm quỳ lạy xưng thần và dâng biểu văn.

Hốt Tất Liệt sai người đọc xong, đập án thét:

- Vua An Nam năm lần bảy lượt thoái thác chiếu mệnh, thật chẳng thể dung tha.

Ta nay trước chém bọn Trần Di Ái, sau đem binh đánh An Nam, quyết bắt sống vua tôi họ Trần về trị tội mới nghe.

Trần Di Ái nghe vậy sợ hết hồn, lạy van rối rít xin tha mạng.

Bỗng có một người bước ra tâu:

- Nay nước ta vừa mất hơn chục vạn quân ở Phù Tang mà bọn dân Tống cũng nổi lên khắp nơi.

Xin thánh thượng hãy khoan dùng binh.

Thần có một kế này, đất phương Nam dẫu không đánh cũng thuộc về ta.

Vua tôi nhà Trần chỉ còn cách bó tay chịu trói mà thôi.

Thật là:

Quân ngoài biển rộng vừa chết nghỉm

Tướng trong cung cấm lại dâng mưu

Chưa biết người vừa nói là ai, mưu kế ra sao.

Chương sau xin nói rõ.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 21: Đuổi cá sấu, Nguyễn Thuyên làm quốc ngữ văn (1)


Đang nói Hốt Tất Liệt nhận được biểu văn của nhà Trần, bực tức muốn giết Trần Di Ái rồi cất quân đánh phương Nam, có một người bước ra dâng kế.

Các quan nhìn xem ai hoá ra là đạt lỗ hoa xích lộ Bắc Kinh tên là Bột Nhan Thiết Mộc Nhi.

Hốt Tất Liệt nói:

- Khanh có kế gì hay, hãy nói trẫm nghe.

Bột Nhan Thiết Mộc Nhi tâu:

- Nay hữu thừa Toa Đô cùng tả thừa Lưu Thâm và thị lang Điệt Hắc Mê Thất tuy có mấy chục vạn quân ở Kinh Hồ nhưng hầu hết là quân tân phụ chưa thể dùng vào việc viễn chinh.

Nếu tiến binh ngay cũng phải sang Xuân mới đến được đất phương Nam.

Khi ấy trời nắng lên, lam sơn chướng khí, quân sĩ chịu sao nổi.

Người Nam lại dùng kì binh quấy rối, quân ta khó mà thủ thắng.

Chi bằng hoàng thượng dùng kế lấy mèo đuổi hổ có hơn không.

Hốt Tất Liệt hỏi:

- Lấy mèo đuổi hổ là thế nào?

Khanh mau nói trẫm nghe.

- Tâu hoàng thượng!

Nhà Trần ở phương Nam như con hổ ngồi thủ thế.

Di ái ở trong tay hoàng thượng có khác chi con mèo.

Nhân việc Trần Khâm chưa được phong đã lên ngôi, hoàng thượng phong luôn cho Trần Di ái làm An Nam quốc vương rồi cho quân hộ tống đến Đại La, giống như Tần Mục công phò công tử Di Ngô về nước Tấn ngày trước, đuổi Trần Khâm đi, như vậy có phải danh chính ngôn thuận không, mà bọn Trần Di Ái thì nằm gọn trong tay hoàng thượng chẳng chạy đi đâu được.

Đó chính là kế dùng mèo con đuổi hổ lớn vậy.

Hốt Tất Liệt vỗ tay khen hay rồi tự đặt tên cho Đại Việt là An Nam tuyên uý ty, giống như Vân Nam tuyên uý ty là nơi quân Nguyên đã chiếm được từ ba mươi năm trước, phong cho Trần Di Ái làm An Nam quốc vương (ĐVsktt chép: Phong Trần Di Ái làm Lão hầu), Lê Mục làm hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm thượng thư.

Bột Nhan Thiết Mộc Nhi được phong làm An Nam tuyên uý sứ đô nguyên suý, toàn quyền cai trị xứ An Nam, chọn một số quan lại giúp việc.

Tháng mười năm ấy (11-1281) Hốt Tất Liệt xuất một vạn đĩnh tiền, cử Sài Thung đem một nghìn quân hộ tống "An Nam quốc vương" Trần Di Ái về nước.

Di Ái được phong tước, có vẻ đắc chí lắm, Lê Tuân thấy vậy nói:

- Bọn ta nhận mệnh đi sứ, nay chịu tước phong của nhà Nguyên chính là khoác vạ vào thân chứ có gì sung sướng đâu.

Trần Di Ái nói:

- Các ngươi chớ sợ.

Về đến Thăng Long ta lên ngôi vua quyết không bạc đãi các ngươi.

- Tôi chỉ sợ về đến Thăng Long đầu chúng ta chẳng còn ấy chứ, đâu có nghĩ đến chuyện quyền cao chức trọng mai sau, chi bằng trốn đi là hơn.

- Ngươi chớ sợ.

Sài thượng thư không bỏ chúng ta đâu.

Lê Mục nói:

- Chúng ta tin Sài Thung sao được.

Với một nghìn quân chỉ bảo vệ cho mình ông ấy không xong nói gì bảo vệ được chúng ta.

Di Ái nói:

- Sao các ngươi thiển cận thế.

Đằng sau một nghìn quân ấy còn Bột Nhan nguyên suý với cả nước Nguyên hùng mạnh cơ mà.

Trần Khâm muốn làm gì cũng phải trông gương nhà Tống chứ.

Tháng tư năm Thiệu Bảo thứ tư (Nhâm Ngọ-1282), Bột Nhan Thiết Mộc Nhi, Sài Thung và Hồ Kha Nhĩ hộ tống triều đình Trần Di Ái về tới biên giới nhưng tướng Việt là Lương Uất giữ ải không cho quân Nguyên qua, chỉ để Sài Thung đưa bọn Trần Di Ái về.

Khi đoàn sứ đã vào trong ải, Lương Uất liền hô lính bắt bọn Trần Di Ái giải về kinh trị tội.

Sài Thung quắc mắt quát:

- Trần Di Ái là An Nam quốc vương, kẻ nào dám bắt.

Các ngươi muốn làm phản sao?

Lương Uất nói:

- Ta nhận lệnh của nhà vua trấn giữ nơi này bắt kẻ phản quốc.

Trần Di Ái là tên phản thần, không phải là quốc vương gì cả.

Bắt lấy nó cho ta.

Sài Thung không có quân lính hộ vệ nên đành chịu.

Đêm ấy Lê Tuân nói với Trần Di Ái:

- Tôi đã nói rồi mà.

Chúng ta nhận tước phong của nhà Nguyên là tự rước họa cho mình chứ quý hoá gì đâu.

Di Ái khóc nói:

- Bây giờ bị đưa về kinh chắc là phải chết, biết làm thế nào?

Lê Mục nói:

- Đã đến nước này chúng ta nên trốn quay lại nương nhờ nhà Nguyên may ra còn được sống.

Di Ái nói:

- Cũng đành thế vậy chứ biết làm sao.

Nửa đêm quân lính ngủ say, bọn Ái liền kéo nhau trốn đi nhưng bị lính gác phát hiện.

Lê Mục rút kiếm chống lại, liền bị giết chết.

Di Ái và Lê Tuân bị Lương Uất vây chặt, đành quỳ xuống chịu trói.

Sài Thung tức giận lắm, viết thư cho người tâm phúc luồn rừng quay lại bảo bọn Bột Nhan Thiết Mộc Nhi và Hồ Kha Nhĩ nhân khi quân Nam sơ hở đánh cướp lấy ải để cứu bọn Trần Di Ái.

Bột Nhan Thiết Mộc Nhi nhận được thư, liền đem binh cướp ải thì trời đã gần sáng.

Quân Lương Uất không ra đánh, chỉ reo hò, đánh trống, thổi tù và ầm ĩ.

Quân Nguyên nghi hoặc không biết quân Việt nhiều ít thế nào, bảo nhau lùi lại.

Đến khi trời sáng hẳn, Hồ Kha Nhĩ nói:

- Người Nam chỉ hò reo mà không ra đánh, hẳn là chúng ít quân.

Ta nên cho lính nấu cơm ăn xong tiến lên chắc là chúng phải bỏ ải mà chạy.

Bột Nhan Thiết Mộc Nhi nói:

- Tướng quân bàn phải lắm.

Ta cần đánh gấp để cứu Trần Di Ái mới có thể ép Trần Khâm thoái vị.

Hai tướng bàn xong, lệnh cho quân sĩ nấu cơm, vừa định ăn bỗng trong rừng chiêng trống vang trời, tên bay vun vút.

Quân Nguyên bị bất ngờ, bỏ chạy tán loạn.

Lương Uất dẫn quân xông ra chém giết một hồi.

Quân Nguyên chết hại quá nửa.

Bột Nhan Thiết Mộc Nhi cùng Hồ Kha Nhĩ thu nhặt tàn binh chạy trốn về Nguyên, không dám nghĩ đến việc cứu bọn Trần Di Ái nữa.

Sài Thung thấy Bột Nhan Thiết Mộc Nhi thua chạy, đành phải đem đoàn sứ của mình đến Thăng Long nhưng vẫn giữ thói hống hách, ngạo nghễ cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh.

Đô trưởng Thân Văn Khoai ngăn lại, bị Thung dùng roi ngựa quất chảy máu đầu.

Văn Khoai tuốt kiếm, nói:

- Ta phải giết tên hỗn sứ này mới được.

Thập trưởng Trịnh Quang Minh kịp ngăn lại, nói:

- Chưa phải lúc anh em ta ra tay, hãy cứ chịu nhịn chúng đã.

Hôm trước chú không nhớ quan đô uý nói: con hổ trước khi vươn ra vồ mồi nó phải thu mình cho nhỏ lại đó ư.

Văn Khoai nghe ra, tra kiếm vào vỏ nhưng trong lòng còn uất ức lắm.

Sài Thung đến điện Tập Hiền thấy có chăng màn trướng, ngỡ là vua Trần đến tiếp mới chịu xuống ngựa nhưng Trần Nhân tông chỉ cho thái uý Trần Quang Khải đến sứ quán tiếp.

Sài Thung nằm khểnh không ra.

Quang Khải vào trong nhà, Thung cũng không chịu dậy.

Quang Khải về tâu với vua.

Trần Quốc Tuấn nói:

- Xin hoàng thượng để thần đến xem hắn làm gì.

Nhà vua nói:

- Nhưng khanh đến mà y cũng không chịu tiếp thì phải làm sao?

Quan hàn lâm đại học sĩ Lê Văn Hưu ghé vào tai Quốc Tuấn nói nhỏ mấy câu.

Quốc Tuấn tươi cười nói với nhà vua:

- Thần đã có cách rồi.

Nói xong, Quốc Tuấn ra ngoài sai người gọt tóc, thay áo theo kiểu nhà sư phương Bắc rồi đến sứ quán.

Sài Thung thấy vậy đứng dậy vái chào, mời Quốc Tuấn ngồi đối diện nói chuyện uống trà.

Quốc Tuấn nói:

- Bần tăng nghe nói quan thượng thư sang Đại Việt lần này có nhiều trọng sự, cớ sao lại không tiếp quan thái uý tướng quốc.

Sài Thung nói:

- Ta đường đường là quốc công thiên triều, đáng lẽ quốc vương An Nam phải ra đón may ra ta mới chiếu cố mà tiếp, cớ sao lại để một một kẻ bồi thần đến, chẳng hoá ra là coi khinh ta quá hay sao.

Quốc Tuấn nói:

- Quốc công nói vậy sai rồi.

Nam Bắc xưa nay là hai cõi riêng biệt.

Đại Việt chưa bao giờ là thuộc quốc của nhà Nguyên, sao lại coi Quang Khải là bồi thần.

Vả lại quốc công không chịu tiếp người của vua Đại Việt, định bỏ sứ mệnh trọng đại vua trao hay sao.

Đang trò chuyện, tên lính hầu của Sài Thung đứng phía sau cầm mũi tên tự chọc vào đầu đến chảy máu.

Quốc Tuấn vẫn ung dung nói chuyện, sắc mặt không đổi.

Sài Thung thấy vậy thầm cảm phục.

Lúc Quốc Tuấn ra về, Sài Thung tiễn ông ra tận cửa.

Hôm sau Trần Nhân Tông lại sai Quang Khải đến sứ quán, Quốc Tuấn nói:

- Xin hoàng thượng chưa lên cho người đến vội.

Cứ để cho hắn nằm đấy chán đi đã.

Nhà vua nghe theo, bỏ mặc Sài Thung nằm chơi ở sứ quán.

Sài Thung không thấy ai ỏ ê gì đến, lâu ngày sốt ruột nhưng không biết làm thế nào, bỗng dưng thấy Trần Quang Khải tới thì mừng lắm nhưng vẫn ra bộ cành kiêu.

Quang Khải định bỏ về, lúc ấy Sài Thung mới vội sai quân mời lại.

Hôm sau Quang Khải dẫn Sài Thung vào chầu, dâng thư của vua Nguyên.

Trong thư có đoạn nói: "Ngươi cáo bệnh không vào chầu, nay cho ngươi được nghỉ để thuốc thang điều dưỡng.

Ta lập chú ngươi làm An Nam quốc vương, coi quản dân chúng".

Trần Nhân Tông nghe đọc thư xong, đập án, nói:

- Láo xược!

Vua tôi nhà các ngươi là cái gì mà dám nói đến chuyện phế lập ở nước ta.

Võ đao quân!

Đem Sài Thung ra chém, gửi đầu về Nguyên để dạy cho Hốt Tất Liệt một bài học.

Sài Thung sợ ríu cả lưỡi, không nói được câu gì.

Quan thông thị đại phu là Trần Phụng Công can rằng:

- Hai nước bang giao không nên chém sứ.

Xin hoàng thượng cứ đuổi Sài Thung về cũng đủ làm cho vua tôi nhà Nguyên nhục lắm rồi.

Nhân Tông nghe theo, sai quân đuổi Sài Thung về.

Thung đi sứ lần này cũng chẳng được công trạng gì lại suýt mất mạng, đành lủi thủi về nước.

Đây nói chuyện về Thân Văn Khoai mấy năm trước, sau khi được Trịnh Quang Minh cho số tiền năm mươi quan, liền về quê nói với mẹ bán hết vườn ruộng lấy một trăm quan tiền, quay lại Đại La chuộc Mộng Điệp.

Chiều hôm ấy Văn Khoai cùng Trịnh Quang Minh mang bốn trăm quan tiền đến kỹ viện Phúc Tình.

Một vị tương bang dẫn hai người vào gặp Tư Phúc.

Quang Minh nói:

- Chú em tôi đây đã có đủ tiền.

Xin mợ cho chuộc cô Mộng Điệp.

Tư Phúc với tay lấy chiếc ống đồng nhổ quết trầu, cười nheo mắt, nói:

- Có bao nhiêu mà bảo là đủ?

- Thì mợ đã bảo là bốn trăm quan, chúng tôi có đủ đây.

Tư Phúc phủi tay cười, bảo:

- Trời ơi!

Những người anh em sao mà ngây thơ thế.

Bốn trăm quan là đã cách đây mấy tháng rồi.

Bây giờ cái gì cũng đắt đỏ, tháng trước có hai xu một thưng gạo, tháng này đã phải ba xu rưỡi rồi.

Bốn trăm quan lúc này chưa bằng hai trăm quan mấy tháng trước, tôi để cho người anh em làm sao được.

Văn Khoai nghe nói vậy nóng bừng cả mặt, nói:

- Mụ này nói hay thật, đã như vậy sao mụ không nói trước cho chúng tôi biết.

Mụ định giở trò phải không?

Quang Minh kéo Văn Khoai, ý muốn bảo cứ từ từ.

Tư Phúc giọng giễu cợt, nói:

- Nào ai dám giở trò với người anh em.

Nhưng thực tình cầm bốn trăm quan bây giờ, tôi có đi vớt gà lẻ về cũng không được.

Bao nhiêu công chăn dắt, nay nó mới kiếm ra đồng bạc chứ có phải dễ đâu.

Quang Minh ôn tồn nói:

- Thế bây giờ ý mợ định thế nào?

Tư Phúc cười nhạt, nói:

- Bây giờ các người anh em muốn chuộc Mộng Điệp phải không dưới chín trăm quan.

Văn Khoai không chịu được nữa bặm môi nói:

- Mụ tưởng tiền là vỏ hến hay sao.

Mụ đòi bốn trăm quan, tôi chồng đủ bốn trăm quan.

Mụ có giao người không thì bảo?

Tư Phúc chống tay vào nách, nói:

- Này đây bảo cho mà biết nhá, nhà này có công với nước, chưa có đứa nào bắt nạt được đâu.

Đã thế một nghìn quan cũng không bán xem các người làm gì nào.

Bay đâu!

Tiễn khách.

Theo khẩu lệnh của tư Phúc, vị tương bang hất hàm, mấy gã miết đầu cùng tiến lại (Miết đầu: Bọn vệ sĩ trong các kỹ viện).

Văn Khoai định xông ra.

Quang Minh giữ lại, kéo Văn Khoai đi.

Văn Khoai vùng vằng, nói:

- Chẳng lẽ anh em ta sợ bọn chúng nó hay sao?

Quang Minh bảo:

- Chúng ta đâu có sợ gì mấy con chó ấy nhưng chú không trông kia.

Vừa nói, Trịnh Quang Minh đưa chỉ tay lên tấm đại tự có ba chữ Tử Vị Quốc.

Văn Khoai biết ý đành theo Quang Minh về.

Vũ Tình đến nói với Tư Phúc:

- Mợ đưa một cái giá cắt cổ thế ai người ta chịu nổi.

Tư Phúc bảo:

- Cậu mới rõ thật là.

Có cái mỏ tiền, ai lại chả moi.

Gã này xem ra đã quá si mê, thế nào cũng còn vác mặt đến.

Có đòi hai nghìn quan nó cũng phải kiếm bằng được cho mà coi.

- Nhưng cũng nên vừa vừa thôi, vượt quá khả năng nó cũng chẳng biết làm thế nào.

- Thế nào là quá khả năng.

Đã là quan thiếu gì cách kiếm tiền.

- Nhưng mà quan to cơ, chứ một anh đô trưởng lấy đâu ra lắm tiền thế.

- Chính quan choai choai này mới vung tay quá trán chứ quan to toàn những đồ bủn xỉn, kẹt trơ cuống ra, dễ gì moi được tiền của họ.

Phen này nhất định tôi kiếm được hai nghìn quan cho cậu xem.

- Mợ ranh ma lắm, không bù lúc còn bán quán trà dại như...

Vũ Tình chưa nói hết câu, có tiếng kêu thất thanh:

- Có người nhảy lầu!

Có người nhảy lầu!

Thì ra Mộng Điệp ở trong kỹ viện cực khổ quá lại thấy Văn Khoai đã hết lòng vì mình mà việc không thành liền lên lầu cao gieo mình tự vẫn.

Khi Vũ Tình và Tư Phúc tới, Mộng Điệp đã nằm bất động, dang hai tay, máu ứa ra miệng.

Tư Phúc lăn vào khóc:

- Ôi con tiền con bạc của mợ ơi!

Mợ đối với con có đến nỗi nào, sao phải khổ sở thế này.

Mất toi bao nhiêu tiền của tôi rồi.

- Quay ra bảo Vũ Tình - Cậu bảo đứa nào vào báo cho hai cậu lính lúc nãy, may ra vì tình vì nghĩa các cậu ấy cho ít tiền thuê người chôn cất.

Lúc sau hai người lính trở lại.

Văn Khoai nhìn trừng trừng lên tấm hoành phi có ba chữ Tử Vị Quốc.

Quang Minh hỏi bạn:

- Cậu nhìn gì ở đấy?

Văn Khoai đau xót nói:

- Chính những chữ vàng vua ban kia bức chết cô ấy!

Từ đấy Văn Khoai ôm mối tình sầu, không chịu lấy vợ.

Đã bao nhiêu năm chàng vẫn là một đô trưởng hết lòng với công việc bảo vệ triều đình.

Lại đến khi Sài Thung đánh chảy máu đầu, chàng vẫn chịu nhịn.

Trịnh Quang Minh thương bạn mới tìm cách khuyên giải rồi gả em gái mình là Trịnh Thị cho.
 
Back
Top Bottom