Cập nhật mới

Khác Đất Việt Trời Nam - Đan Thành

Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 6: Hoàng thượng hỏi đạo đời Phù Vân trong thảo am Yên Tử (2)


Ánh nắng sớm mùa xuân vàng như lụa làm cho phong cảnh núi rừng Yên Tử đẹp như bức tranh thuỷ mặc.

Những giọt mưa đêm còn treo trên ngọn lá, phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh như muôn ngàn châu ngọc.

Hơi ấm quét dần màn mây, để lộ ra lớp lớp núi non xanh mướt trải dài mãi về phía biển Đông.

Trần Khuê Kình dẫn thái sư cùng các quan đến thảo am diện kiến nhà vua.

Thái Tông nói:

- Vì trẫm non trẻ, chưa cáng đáng nổi sứ mệnh nặng nề, phụ hoàng lại vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, không dám giữ ngôi vua mà nhục xã tắc.

Thủ Độ cùng trăm quan nài nỉ mãi, vua cũng không chịu xuống núi.

Con trai của Lê Khâm là Lê Tần tuy còn trẻ tuổi nhưng văn võ kiêm toàn đang đứng hầu bên cạnh, ghé sát vào tai Thủ Độ nói nhỏ mấy câu.

Thủ Độ gật đầu.

Lê Tần liền xin phép lui ra.

Lúc sau nghe trong rừng vang lên tiếng chặt cây, đục đá ầm ầm.

Có chú tiểu đồng vào báo quân lính triều đình đang phá rừng làm tổn hại đến cảnh quan nơi đất phật.

Vua hỏi thái sư sao lại như vậy.

Thủ Độ nói:

- Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó.

Nhà vua không chịu về kinh đô, thần xin phá rừng để xây cung điện ở đây vậy.

Trước hết cất ngay điện Thiên An cùng Đoan Minh các để vua thiết triều và nghỉ ngơi ở chỗ cắm lều kia.

Thần đã cho người xuống núi ngày mai sẽ đưa thêm dân phu và thợ thuyền lên.

Quốc sư Phù Vân thấy tình thế không thể chần chừ, nói:

- Bệ hạ nên gấp quay xa giá trở về, chớ để làm hại núi rừng của đệ tử.

(Theo ĐVsktt)

Nhà vua cầm tay Phù Vân lưu luyến mãi chẳng muốn rời.

Quốc sư Phù Vân nói:

- Nhà vua nên mau trở về kinh.

Bần đạo không thể tiễn xa.

Chỉ xin nhà vua nhớ cho phàm người làm vua, nên lấy điều muốn của thiên hạ làm điều muốn của mình, lấy lòng của thiên hạ làm lòng mình.

Đó chính là bí quyết của sự vững bền vậy.

Trên đường đi Phạm Ứng Thần bảo Thủ Độ:

- Riêng thỉnh được hoàng thượng về triều cũng đủ biết thái sư lo việc thật không ai bì kịp.

Thủ Độ bảo:

- Tôi có làm được gì đâu.

Đó là mưu của tướng quân Lê Tần đấy chứ.

Người ấy mai sau hẳn là cây cột của triều đình.

(

Sau này Lê Tần trở thành một trong những tướng lĩnh chủ chốt của cuộc kháng chiến chống quân Mông Thát lần thứ nhất)

Trời đang tạnh ráo bỗng nổi cơn dông, mây kéo mịt mù, gió thổi vun vút, xoáy từ vương phủ xoáy ra nhưng không tổn hại gì đến dinh thự lầu gác, chỉ làm đổ mấy khóm chuối và hất tung những mái tranh của các nhà nông phu.

Đám tá điền sợ hãi trước những tia chớp sét loằng nhoằng, chui rúc trong các đống rơm rạ tránh cơn thịnh nộ của thiên đình.

Nhưng cơn mưa gió diễn ra không lâu, chốc lát bầu trời đã sáng trong trở lại.

Hoài vương Trần Liễu ngồi trong vương thất nóng lòng chờ công chúa Thuận Thiên, lẩm bẩm nói:

- Lạ thật!

Đang là tiết xuân mà giời nổi cơn dông.

Thiên Cực công chúa cho đón Thuận Thiên vào triều để thăm Chiêu Thánh mà sao đã năm hôm không thấy trở về?

Ngoài cổng có tiếng xôn xao, một tên gia nhân vào báo người của công chúa Thuận Thiên đã về.

Hoài vương hỏi dồn:

- Người của công chúa đã về à?

Thế công chúa đâu?

Có chuyện gì vậy?

Đưa nó vào đây.

Tên gia nhân đưa người thị nữ vào.

Người thị nữ run run quỳ nói:

- Trình đức ông!

Con đã về.

Hoài vương hỏi:

- Công chúa đâu?

Đã xảy ra chuyện gì rồi?

- Trình đức ông!

Công chúa không trở về được nữa ạ.

- Sao lại như vậy?

Hả?

- Trình đức ông!

Thực ra Thiên Cực người cho gọi công chúa vào triều không phải để thăm Chiêu Thánh đâu ạ.

Mà theo lệnh của thái sư để thay Chiêu Thánh hầu hạ hoàng thượng.

Hoài vương Liễu đấm mạnh xuống mặt bàn thất bảo làm bộ ấm trà run lên bần bật, nói như gầm lên:

- Hả?

Ngươi nói cái gì?

Thay Chiêu Thánh hầu hạ hoàng thượng?

Mẹ kiếp không còn ra cái giống người nữa rồi!

Chó má thật!

Chó má thật!

Ngươi làm thế nào mà về được đây?

- Dạ!

Trình đức ông!

Hoàng thượng cũng không đồng ý việc ấy nhưng thái sư ép buộc quá nên người đã trốn đi đâu không biết.

Hiện nay thái sư cùng các quan đang đi tìm chưa thấy về.

Con trốn ra được về báo để đức ông biết.

Hình như Hoài vương vừa nắm bắt được điều gì, ông ngẩng lên với đôi mắt sáng rực, gọi:

- Bay đâu!

Mời cho ta Thôi Thạch lang và Mã Thiết đến đây ngay.

Khi Thôi Thạch lang và Mã Thiết đến, Hoài vương Liễu nói:

- Nay nhà vua ươn hèn nhu nhược, thái sư chuyên quyền làm nhiều điều xằng bậy quá lắm.

Vợ ta đang có chửa, là chị dâu nhà vua mà thái sư cũng bắt về ép nhà vua làm trò thương luân bại lý, còn chuyện gì mà ông ấy không làm?

Hoàng thượng vì thế phải bỏ đi.

Nay thái sư và các quan đi tìm nhà vua cả, ta muốn họp binh chiếm lấy kinh thành, giành lại ngai vàng về cho dòng trưởng đích, mong các ông hết lòng phò giúp.

Ta thề chẳng quên công.

Thôi Thạch lang là người Tống, vốn tên là Vương Uyên, võ nghệ cao cường, làu thông binh pháp lại có sức địch muôn người, được Hoài vương Liễu mời về dạy dỗ các con.

Một hôm Hoài vương muốn chuyển một tấm đá ra chỗ khác để làm sân tập nhưng bốn năm người không khiêng nổi.

Vương Uyên thấy vậy liền lấy chão buộc tấm đá lại, cõng lên nhẹ nhàng như người cõng con trẻ mà đi.

Ai trông thấy cũng rùng mình bái phục.

Hoài vương liền đặt cho biệt danh là Thôi Thạch lang.

Mã Thiết là người Trại rất giỏi côn quyền, đặc biệt là cưỡi ngựa, bắn cung.

Có lần người lái buôn Hồi Hột biếu Hoài vương một con tuấn mã rất đẹp nhưng ai cưỡi lên cũng bị nó hất ngã.

Riêng một mình chàng trai người Trại chinh phục được nó.

Hoài vương liền tặng con ngựa cho chàng và đặt tên chàng là Mã Thiết.

(Trại: Còn gọi là dân tộc Sán Dìu, sống nhiềutrong vùng núi Chí Linh - Hải Dương và Đông Triều, Quảng Ninh ngày nay)

Thôi Thạch lang và Mã Thiết cùng thưa:

- Chúng tôi xin dốc hết sức để đền ơn tri ngộ của đại vương.

Hoài vương cho hai người mang tay chân xuống các ấp tập trung đám thân binh mới bị Trần Thủ Độ giải tán, trong năm hôm đã có được hơn vạn người và mấy chục chiến thuyền.

Hoài vương sắp xếp đội ngũ, phát hịch chia hai đường thuỷ bộ xuất quân, mấy hôm sau cả hai cánh quân đã hội nhau trên bến Triều Đông.

Mã Thiết nói:

- Sĩ khí đang hăng, ta nên tấn công ngay.

Thôi Thạch lang bàn:

- Quân ta đi đường dài mấy ngày rất mệt, tấn công ngay e không có lợi.

Hiện nay trong thành bỏ trống, chẳng nên vội gì cứ để quân sĩ nghỉ một đêm mai vào thành khí thế mới hùng dũng có hơn không?

Hoài vương nghe theo, để quân nghỉ ngơi ngoài bãi, canh ba bỗng thấy nổi lên một tiếng pháo lệnh rồi trống thúc liên hồi.

Quân triều đình bốn mặt kéo đến bủa vây chém giết tơi bời.

Quân Hoài vương hoảng loạn bỏ chạy, trốn mất quá nửa.

Thôi Thạch lang xông ra đốc chiến, bị quân của Vương Lâm vây chặt, đành xuống ngựa đầu hàng.

Mã Thiết ra sức đánh đỡ, bảo vệ Hoài vương xuống thuyền, rút quân về ngả Thiên Đức, chẳng ngờ Lê Khâm biết trước, cứ để Hoài vương tiến binh rồi chiếm các cửa sông chặn đường về.

Hoài vương đành quay lại sông Cái, bị binh thuyền của Phạm Kính Ân xông vào đánh cho một trận tan nát.

Mã Thiết chỉ còn năm trăm quân và mấy chiếc thuyền, hộ vệ Hoài vương định xuôi xuống miền Đông nhưng đến bãi Cửu Liên thấy cơ man thuyền chiến chặn mất lối, trên chiếc lâu thuyền đi đầu phấp phới lá cờ hiệu của thái sư Trần Thủ Độ.

Thì ra thái sư và bách quan đã đón nhà vua về kinh từ hai hôm trước rồi.

Mã Thiết liền đưa Hoài vương cùng quân sĩ trốn vào bãi lau, được mấy hôm hết lương thực rất khổ sở.

Thái Tông nghe tin Hoài vương Liễu thua trận cùng quẫn lắm, sợ Thủ Độ giết mất anh, liền đi thuyền long phụng ra sông, bảo thị vệ treo cao cờ lên cốt để Hoài vương trông thấy.

Mã Thiết thấy vậy bảo:

- Bây giờ chỉ còn một cách, đức ông sang hàng nhà vua mới toàn được mạng.

Tôi chắc hòang thượng không xử tệ với đức ông.

Hoài vương nói:

- Vẫn biết hoàng thượng không nỡ hại ta nhưng còn thái sư thì sao?

- Đức ông đừng lo, tôi xin liều chết đem quân chặn thuyền của thái sư để đức ông đi thoát.

Cứ lên được thuyền nhà vua là sống rồi.

Nói xong, Mã Thiết quay lại đám quân sĩ thân tín, nói:

- Anh em ta theo Hoài vương mưu việc lớn.

Nay việc không thành là do lòng giời.

Tình thế đến nước này, đành phải quyết một trận báo đền ơn chủ.

Hoài vương thoát được sẽ không bạc đãi cha mẹ, vợ con chúng ta.

Ai muốn theo, cùng ta ra sông.

Ai không muốn theo tự tìm đường trốn đi, chớ để quân lính triều đình bắt được.

Mọi người tuy đã rã rời nhưng đều xin theo cả.

Mã Thiết cải trang cho Hoài vương thành người thuyền chài, chọn một chiếc thuyền nhỏ cùng hai lực sĩ đưa Hoài vương đi còn mình dẫn mọi người đem thuyền chặn ở giữa sông.

Quân của Trần Thủ Độ vào báo.

Thủ Độ lệnh cho Phạm Kính Ân vây đánh.

Mã Thiết cùng mấy trăm thuỷ thủ không chống nổi, bị bắt cả.

Thủ Độ không thấy Hoài vương, xa xa lại có chiếc thuyền nhỏ chèo hối hả về phía thuyền vua, biết đích thị là Hoài vương Liễu, liền cho thuyền nhẹ đuổi gấp, hô to lên:

- Bắt lấy thằng giặc Liễu đem bêu đầu cho ta.

Quân sĩ cùng đồng thanh hô vang mặt sông.

Hoài vương giục chèo cuống quýt nhưng thuyền của thái sư cũng đuổi theo bén gót.

Thật là:

Mất vợ còn đang cơn hậm hực

Ra quân lại mắc tội bêu đầu

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem Hoài vương Liễu có trốn thoát được không.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 7: Thủ Độ đeo ấn về quê tuyển câu đương


Thái Tông ngồi trong lâu thuyền bỗng nghe trên mặt sông vang dậy tiếng reo hò đuổi bắt, vội ra xem, thấy Trần Liễu cùng hai tráng sĩ đang vội vã khua chèo trốn chạy.

Đằng sau, Thủ Độ thúc quân đuổi riết.

Nhà vua liền gọi:

- Hoài vương mau lại đây.

Hoài vương cho thuyền áp vào thuyền vua nhưng thuyền vua cao, thuyền Hoài vương thấp quá, không trèo lên được.

Thái Tông phải cầm tay anh kéo lên, đưa vào trong khoang.

Anh em nhìn nhau khóc.

Thuyền thái sư đuổi tới.

Thủ Độ cầm kiếm nhảy sang thuyền nhà vua, xông vào khoang, thét:

- Giết thằng giặc Liễu*!

Nhà vua đứng chắn ở cửa che cho anh, nói:

- Phụng Càn vương đến hàng đấy*!

(Phụng Càn là tên cũ của Trần Liễu)

Thủ Độ bực tức, quăng gươm, nói:

- Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các người thuận nghịch thế nào*?

(*: Những lời thoại này lấy nguyên văn trong ĐVsktt)

Thái Tông nói:

- Anh em con đã biết lỗi rồi, xin thượng phụ rút quân về tha cho Phụng Càn.

Thủ Độ hầm hầm bỏ về thuyền mình, ra lệnh lui binh.

Thái Tông bảo Hoài vương:

- Anh ơi!

Tình thế đã đến nước này, anh em mình dẫu không nghe cũng không được đâu.

Hôm sau thiết triều, nhà vua hạ chiếu tha cho Hoài vương, lại lấy đất Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Phụ, Yên Hưng, Yên Bang phong cho làm thực ấp.

Vì thế Trần Liễu còn gọi là An Sinh vương.

Nhân việc Thái Tông tha cho Hoài vương, về sau Trần Dụ Tông làm bài thơ Đường Thái Tông dữ bản triều Thái Tông như sau:

Vua Thái Tông nhà Đường

Vua Thái Tông triều ta

Đường, Việt hai vua hiệu Thái Tông

Đường xưng Trinh Quán, Việt Nguyên Phong

Kiến Thành bị giết, An Sinh sống

Miếu hiệu tuy đồng, đức chẳng đồng.

(Bài thơ vốn chữ Hán, Lời dịch của Đào Phương Bình, nói rằng vua khởi thuỷ nhà Đường là Lý Thế Dân lấy hiệu Thái Tông phải giết anh là Kiến Thành để tranh ngôi.

Vua khởi thuỷ nhà Trần cũng lấy hiệu Thái Tông nhưng lại cứu sống anh là An Sinh vương, đức của vua Trần lớn hơn vua Đường nhiều lắm)

Trần Thủ Độ bực lắm, ra lệnh chém hết binh sĩ của Hoài vương.

Mấy trăm thủ cấp bêu trên cọc tre.

Dân thành Đại La vừa thương vừa sợ.

Ai cũng oán Trần Thủ Độ là tàn bạo.

Mấy nghìn nam phụ lão ấu các gia đình tội binh đến nhận xác, tiếng khóc gào vang cả đất trời.

Nhiều phụ nữ tay xách nách mang, bế địu con thơ đi tìm chồng nhưng không thể nhận ra ai vào mấy ai giữa những cái thây không đầu bê bết máu, chỉ còn biết lăn lộn kêu giời.

Không ai trông thấy là không rơi nước mắt.

Bấy giờ thông thị đại phu Trần Phụng Công thấy Thủ Độ giết người nhiều quá quyền lấn thiên tử, vào gặp nhà vua, khóc nói:

- Bệ hạ còn thơ ấu mà Thủ Độ thì quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?

(ĐVsktt)

Thái Tông nói:

- Thôi được!

Khanh hãy cùng đi gặp thái sư với trẫm.

Nói xong nhà vua sai đóng xe, cùng Phụng Công đến gặp thái sư.

Nhà vua nói:

- Bây giờ khanh nói lại những lời lúc nãy để trẫm và thái sư cùng nghe.

Phụng Công không hề lúng túng, nói lại y nguyên ý kiến của mình.

Thủ Độ nói:

- Tâu hoàng thượng!

Lời thông thị đại phu nói rất đúng.

Thần cũng chỉ mong trao trả bớt quyền bính cho hoàng thượng để có chút thời gian nghỉ ngơi.

Ta thật cảm kích trước lời nói thẳng thắn của thông thị đại phu.

Nói xong Thủ Độ lấy vàng lụa thưởng cho Phụng Công.

Nhà vua nói:

- Nếu vậy trẫm sẽ phong cho An Quốc làm tể tướng để cùng lo việc triều chính với thái sư.

Thủ Độ tâu:

- An Quốc là anh thần, nếu cho là giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc.

Nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra làm sao?

(Theo ĐVsktt)

Nhà vua nghe lời ấy, không dùng An Quốc làm tể tướng.

Trời vào hè nắng đẹp, trên tấm màn xanh thi thoảng còn lởn vởn vài gợn mây.

Chàng tân binh Thân Văn Khoai xúng xính trong bộ đồ lính tứ sương, cầm giáo đứng gác cổng hoàng thành, có vẻ mãn nguyện lắm.

Bên kia cổng là anh lính cũ Thái Công Bình, đã đứng gác ở đây mấy năm rồi, từ thời hiệu uý Trịnh Quang Minh còn là một anh tốt hoẻn.

Bỗng Văn Khoai giật nảy mình vì tiếng quát của Thái Công Bình:

- Mụ kia đi đâu?

Muốn chết à?

Vào đây.

Người đàn bà quẩy gánh lá cây vội quay đầu trở lại.

Công Bình quát tiếp:

- Đứng lại!

Không được chạy!

Theo sau tiếng quát là tiếng tuốt kiếm nghe đánh roẹt, lạnh cả gáy.

Người đàn bà quẳng gánh, lạy van rối rít.

- Lạy cậu lính.

Cậu tha... tha...tha cho em.

Em trót dại.

- Trót dại cái gì?

Cố tình coi thường luật pháp, tội chẳng thể tha.

Vào đồn!

- Lạy cậu tha cho, em không biết ạ.

Em trót dại.

Nhà em ông ấy là thợ tỉa cây trong hoàng thành nên em mới dám vào đây xin nắm lá về cho bò chứ em có dám làm gì đâu.

- Trong hoàng thành có biết bao nhiêu là thợ tỉa cây, ai cũng như mụ thì loạn hết à?

Ai không biết cửa này chỉ dành riêng cho hoàng thượng thế mà mụ dám xông ra.

Tội mất đầu đâu có nói chuyện chơi.

- Dạ!

Em có dám xông ra đâu?

Cậu quát một cái là em quay lại ngay đấy chứ?

- Còn già mồm hả?

Mụ có biết giẫm lên vạch vôi kia đã phải tính là mắc tội rồi không?

Thôi!

Vào đồn.

Người đàn bà thấy tình thế rất nguy mới thò tay vào ruột tượng lấy ra năm hào bạc, dúi vào tay Công Bình, nói:

- Cậu tha cho em.

Có mấy hào bạc để cậu uống rượu.

Công Bình trợn mắt quát:

- A!

Mụ dám hối lộ hả?

Riêng tội hối lộ đã phải phạt một trăm roi rồi.

Vào đây.

Người đàn bà không biết làm sao đành theo Công Bình đi.

Khi đã vào khuất trong cổng, Công Bình hất hàm bảo:

- Bảo có mấy hào bạc thì đâu?

Đưa đây.

Người đàn bà biết ý, đưa đồng tiền cho Bình rồi đi ra.

Văn Khoai thấy vậy hỏi Bình:

- Anh làm thế nhỡ họ tố cáo thì sao.

Công Bình ung dung trả lời:

- Luật pháp quy định kẻ nào hối lộ phải phạt nặng.

Bố nó cũng chẳng dám tố cáo.

Với lại chả làm thế lấy tiền đâu mà nộp cho cấp trên.

Mỗi tháng phải nộp cho các bố ấy tám đồng bạc đấy.

Không bóp nặn của bọn này thì biết làm thế nào.

Cái vạch vôi vẽ rộng mãi ra ngoài kia là để cho nhiều kẻ giẫm vào.

Hiểu chửa?

- Sao tôi nghe nói hiệu uý Trịnh Quang Minh là người nghiêm khắc, trong sạch lắm, đã được đích thân thái sư ban thưởng cơ mà?

Thái Công Bình bịt mũi cười không ra tiếng, nói:

- Thái sư bận trăm công ngàn việc, hiểu thấu sao những trò ma mị này.

Mà nói chung các bố quan to nhìn xa trông rộng đâu đâu không biết, nhưng những việc ở ngay trước mắt lại mù tịt.

Hiệu uý nhà mình bíp thái sư đấy.

- Bíp thái sư?

- Chứ sao nữa.

Hồi ấy ông ta cũng chỉ là anh lính quân hiệu như tao với chú mày, suốt ngày đứng gác.

Từ lính đến dân, anh nào mắc lỗi đều xì tiền ra là xong nhưng vô phúc vị quan nào dù to đến đâu, vi phạm quân lệnh là bị ông ta tóm ngay, xin xỏ đút lót mấy cũng không được.

Các quan đều cho ông ấy là vừa nghiêm, vừa thẳng, vừa trong sạch, xem như tấm gương về sự liêm chính.

Vì vậy hôm hoàng thượng ngự triều, ông ấy được vào gác trước thềm cấm.

Thiên Cực công chúa không biết lớ ngớ thế nào ngồi kiệu đi vào, bị ông ấy bắt quay ra.

Đôi bên hoá to tiếng.

Bà Thiên Cực cậy là vợ thái sư, về nỉ non gì đó với chồng.

Thái sư đùng đùng nổi giận cho đòi Trịnh Quang Minh vào hỏi tội.

Ai cũng nghĩ Quang Minh lần này được một phen nhừ tử.

Bà Thiên Cực cũng hỉ hả lắm.

Lúc được thái sư hỏi, Quang Minh cứ tình thực kể lại.

Thái sư sướng quá khen: "Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa" (Theo ĐVsktt), rồi thưởng cho vô khối vàng lụa, lại thăng ngay lên hàm hiệu uý.

Thái sư có biết đâu Quang Minh nhà ta coi vương pháp ra cái đếch gì.

Văn Khoai lắc đầu ngán ngẩm nói:

- Chết thật!

Thế mà tôi cứ tưởng được ở đây gần đèn cho nó rạng.

Ai ngờ...!

- Chú mày ấm ớ thật, sao không biết sát chân đèn là nơi tối nhất!

Hải ấp đã là chốn khởi nguồn của Trần triều, là quê hương của nhà vua.

Thôn xóm thay đổi, nhà cửa toà ngang dãy dọc mọc lên, đường xá thênh thang, lăng tẩm, hành cung được xây dựng huy hoàng tráng lệ.

Năm nay lại được mùa, lúa chín đầy đồng.

Trai gái vừa gặt hái vừa ca hát vui vẻ.

Buổi chiều, Tô Đại Cơ say mèm từ quán bà hai Nhách, lảo đảo kéo đôi chân xiên xẹo về nhà.

Lúc qua sân đình, hắn thấy mấy cô gái trẻ đang đẩy trục lúa trông cũng hay hay, liền giơ tay phát độp vào mông một cô, nói:

- Ừ hừ!

Mẩy quá nhỉ!

Cô gái cũng chẳng vừa, cầm cây gậy đẩy trục, quay lại phang bốp vào lưng Tô Đại Cơ, chửi:

- Cha bố tổ cái thằng mất dạy.

Tô Đại Cơ chỉ tay nói:

- A!

Con ôn kia!

Mày chửi ông mày nhé.

Mày không biết ông mày là cháu quan thái uý à?

Cô họ ông mày là công chúa nhé, đương kim phu nhân thái sư nhé.

Ông mà lên kinh ông trình thì chúng mày bỏ con mẹ chúng mày ngay.

Không biết ông là con vua cháu chúa à?

Khôn hồn thì gọi ông bằng cậu công tử, không thì chết con mẹ chúng mày cả lũ.

Thực ra "cậu công tử" chỉ nói thế thôi chứ "cậu" cũng chưa lên kinh bao giờ.

Cô gái điên tiết, văng tục:

- Con vua cháu chúa bà cũng có sợ cái bề hê bà đây này.

Rõ cái đồ chó mượn oai hùm.

"Cậu công tử" tức lắm nhưng không làm gì được, đành dệnh dạng bỏ đi, cái đầu còn nghênh nghênh lắc đi lắc lại ra điệu ta đây kẻ dờ.

Tô Đại Cơ quê ở Hải ấp, là con ông Tô Nhuận Điền.

Ông Tô Nhuận Điền là cháu họ quan thái uý Tô Trung Từ, là anh họ ngoại Thiên Cực công chúa Trần Thị Dung.

Thủa nhỏ ông Nhuận Điền học rất thông minh nhưng không muốn làm quan, không đi thi, ở quê chăm lo vườn ruộng giữ đạo nhà.

Ông chỉ sinh được một mình Tô Đại Cơ.

Đại Cơ lớn lên không chịu học hành, suốt ngày lêu lổng rượu chè, cờ bạc.

Ông Nhuận Điền không nói được con, buồn bã mà chết.

Từ đó không còn ai kiềm chế, Đại Cơ càng ngông cuồng lắm.

Đại Cơ cứ khụng khiệng vừa đi vừa chửi mấy con nặc nô không coi công tử ra cái chó gì, bỗng nghe tiếng mõ rao:

- Loa loa!

Loa lo...a!

Lệnh quan truyền xuống.

Ngày mai thống quốc thái sư đương triều về ấp ta.

Quan viên phụ lão, sĩ tử nho sinh, dân chúng bách tính ăn mặc chỉnh tề, trống cờ đi đón.

Loa loa!

Loa lo...a!

Tô Đại Cơ quay ngay lại sân đình, chỉ tay vào mấy cô gái nói:

- Đấy!

Chúng mày đã nghe thấy chửa?

Ông đã bảo mà.

Ngày mai quan thái sư chồng cô ông về, rồi chúng mày biết tay.

Ông mà xin được một chân quan thì thì...thì...

Chúng mày liệu mà run trước đi thì vừa.

Hôm sau Trần Thủ Độ ngồi trong đình tra xét sổ đinh.

Mấy vị đại tư xã, tiểu tư xã, lý trưởng, tiên thứ chỉ đều có mặt đứng hầu.

Quân lính cầm giáo đứng hai hàng hộ vệ.

Dân chúng bách tính xúm xít đầy sân đình để xem quan thái sư thống quốc.

Những trai tráng trong ấp cứ theo tên gọi đến trình diện, được phát một tấm thẻ đại hoàng nam do chính tay thái sư đóng dấu ấn.

Xong việc, thái sư ngẩng lên hỏi lý trưởng:

- Làng ta có ai tên là Tô Đại Cơ không hả?

Lý trưởng đã biết Tô Đại Cơ có họ dây mơ rễ má với thái sư mới khúm núm thưa:

- Dạ!

Trình thái sư!

Có đấy ạ.

Cậu Tô chính là nhân tài kiệt xuất của làng con đấy ạ!

Cậu ấy thông minh, học hành giỏi giang lắm ạ!

- Thế nó đâu mà không thấy có mặt?

- Dạ!

Cậu ấy còn đứng chờ ở ngoài kia ạ!

Lý trưởng liền bảo anh tuần đinh gọi Đại Cơ vào.

Đại Cơ nghe gọi, hí hửng lắm nhưng không quên giơ nắm đấm dứ dứ về phía mấy cô gái hôm qua, ý muốn nói chúng mày biết tay ông, rồi khuệnh khoạng đi vào, nhưng đến hè đình, hắn dừng lại sửa khăn áo, lom khom đi đến trước bàn thái sư, quì xuống vái, nói lý nhí:

- Con là Tô Đại Cơ kính chào quan thái sư cùng các quan ạ!

Trần Thủ Độ hỏi:

- Kẻ đang quỳ kia tên là gì, con nhà ai, mau nói!

Giọng quan thái sư âm vang nghiêm nghị quá làm Đại Cơ tự nhiên run rẩy, nói lắp bắp:

- Dạ!

Dạ!...Dạ!

Con là Tô Đại Cơ Xin!

Xin!

Xin... kính chào các quạn ạ!

- Cha mẹ ngươi là ai, làm gì.

- Dạ!

Dạ!...

Bác con là thái uý Tô Trung Từ, cô con là Thiên!

Thiên!

Thiên...

Cược công chúa ạ!

Thái sư giận dữ đập bàn, quát:

- Ta hỏi cha mẹ ngươi là ai chứ có hỏi cô bác ngươi đâu?

Tô Đại Cơ sợ quá giật bắn người lên.

Dân chúng đứng xem được mẻ cười thoả thích.

Ai đó nói:

- Đúng là cái đồ mả cha không khóc, khóc đống mối; mả mẹ không khóc, khóc bối thòng bong.

Đi đâu cũng khoe là cháu thái uý, cháu công chúa.

Chẳng ai biết cha mẹ nó là ai.

Tô Đại Cơ lúng búng:

- Dạ!

Cha con là Tô Nhuận Điền ạ!

Thái sư bảo:

- À ra vậy!

Sao ngươi không nói ngay ra mà cứ loanh quanh mãi?

- Dạ!

Nhưng cha con chỉ là dân thường thôi ạ.

Dân chúng lại khúc khích cười.

Thái sư nói:

- Dân thường thì sao mà không dám nói.

Thôi được!

Bây giờ ta cho ngươi chức câu đương, ngươi có làm được không?

- Dạ!

Dạ!

Thế thì nhà con thật có phúc ba đời ạ!

Con làm được đấy ạ.

Thái sư nghiêm mặt nói:

- Ngươi vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không thể ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để khác với người khác.

(Câu này nguyên văn trong ĐVsktt)

Tô Đại Cơ vội cầm lấy hai bàn chân, kêu:

- Ối!

Ối!

Thế thì con không làm câu đương nữa.

Xin thái sư tha cho.

Thái sư quát:

- Việc nước không phải chuyện đùa, muốn làm thì làm, muốn chơi thì chơi à?

Lính đâu!

Đem vị câu đương này ra chặt ngón chân cái cho ta.

Đại Cơ giẫy giẫy hai ống quần ướt sũng, nước chảy cả ra sàn đình khai mù, lạy van rối rít mãi thái sư mới tha cho.

Dân chúng thích quá, cười vang cả lên.

Một người nói:

- Thái sư nghiêm thế này, bố thằng nào có việc riêng cũng không dám đến nhờ.

Người khác bảo:

- Các quan ai cũng được như vậy làm gì còn có bọn tham nhũng, đất nước rồi chả mấy mà khá.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 7: Nguyễn Bằng mang gươm vượt rừng sang đất giặc (1)


Cuối thu, bầu trời vần vũ, từng đám mây đen chen chúc nhau tràn xuống phương Nam.

Những cơn gió lạnh đầu tiên báo hiệu mùa đông khắc nghiệt sắp về.

Cả kinh đô Thăng Long xôn xao vì cái tin thành Đại Lý thất thủ (Đại Lý: Một quốc gia cổ, ở Vân Nam, có biên giới chung với Đại Việt, nay là vùng Vân Nam-Trung Quốc, bị Hốt Tất Liệt và Cốt Đãi Ngột Lang đánh chiếm năm 1254), vua Đại Lý chạy trốn.

Chỗ nào người ta cũng bàn chuyện chiến tranh, y như giặc Thát đã đánh đến bờ sông Cái.

Hai anh lính Thân Văn Khoai và Thái Công Bình ngồi uống rượu trong một tửu quán ở cuối phố.

Khi đã ngà ngà, Văn Khoai hỏi Công Bình:

- Dạo này em thấy bác ít phạt người thì phải.

Công Bình nhấp một ngụm rượu, khà một tiếng, gắp miếng cổ hũ đưa lên miệng, vừa nhai vừa nói:

- Chiến tranh đến nơi, mọi người đều lo đánh giặc, ai còn nghĩ đến chuyện kiếm tiền làm gì.

Mà thực ra tao cũng có muốn lấy tiền của ai đâu.

Hồi trước còn ông hiệu uý Trịnh Quang Minh được đô uý nâng đỡ mới cần tiền để dâng lên, đô uý lại được ông gì gì ấy che chở nên cũng cần cống lễ vì thế họ bắt anh em mình phải nghĩ cách phạt vạ lấy tiền.

Từ khi thái sư khui ra vụ ấy, ông hiệu uý bị đuổi ra ngoài làm lính, ông đô uý bị giáng cấp, còn ông gì gì nghe đâu bị cách tuột cả quan tước.

- Thái sư nghiêm thế không trách tướng sĩ răm rắp một lượt nhưng bây giờ giặc đã kề biên, không biết các bố ấy nghĩ thế nào.

- Giặc đến thì đánh chứ lo gì, bao giờ bảo mình ra trận thì ra trận, biết thế đếch nào mà tính trước việc của các thầy ấy!

Uống đi chứ chú mày.

Mà tao nghe mấy ông ở trên nói hoàng thượng nhà mình anh dũng, mưu lược lắm, lúc mới hai mươi ba tuổi đã cầm quân đánh sang đất Tống, trừ diệt bọn thảo khấu trên vùng biên đấy.

- Thật thế á?

- Thật chứ lại.

Năm ấy bọn giặc cướp trên đất Tống hoành hành ngang ngược, sang tận Lạng Giang bên ta, cướp của giết người, bắt đàn bà con gái đem về.

Nhà vua sai ông Bùi Khâm đem quân lên, đánh cho một trận rồi báo cho quan quân bên Tống biết nhưng quan quân bên Tống không dẹp được.

Năm sau vua ta lại sai đốc tướng Phạm Kính Ân (Phạm Kính Ân là tướng cũ của nhà Lý) đem quân sang triệt hết các ổ cướp, đốt phá hết doanh trại của chúng nhưng bọn thảo khấu ở các trại Vĩnh An, Vĩnh Bình thuộc châu Khâm lại nổi lên.

Hoàng thượng đi thuyền nhỏ đem quân sang.

Bọn giặc sợ hãi bỏ chạy đến châu Liêm.

Vua giả làm người thường, xưng là Trai Lang cùng các tướng tuỳ tùng đi thuyền Kim Phượng, Nhật Quang, Nguyệt Quang vào sâu trong đất Tống.

Về sau bọn thổ dân biết là vua, chúng đem xích sắt chặn sông hòng đánh lại nhưng đánh không được.

Vua sai quân nhổ mấy chục neo sắt đem lên thuyền, xuôi ra biển ung dung trở về.

Năm sau nữa vua lại sai Thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình đánh sang Bằng Tường để thảo phạt bọn giặc cướp cho đến khi nhà Tống cử tướng giỏi xuống giữ gìn được biên giới, vua mới ban chiếu cho tướng quân Trần Khuê Kình giao lại thành Bằng Tường cho người Tống, mang quân về.

Thân Văn Khoai há mồm nghe Thái Công Bình nói chuyện.

Khi Công Bình ngừng lời, Văn Khoai kêu lên thán phục:

- Giỏi quá nhỉ!

- Giỏi chứ chả giỏi, giặc Thát mà sang á!

Vua ta lại chả đánh bỏ mẹ nó đi ấy chứ.

Hai anh em chừng đã ngà ngà say, đứng dậy đi vào giữa phố, mua mỗi người một thanh kiếm thép.

Thái sư Trần Thủ Độ bặm môi, nắm chặt tay, khuôn mặt vuông vức của ông đanh lại đầy vẻ can trường, đôi quai hàm bạnh ra như được đúc bằng đồng thanh.

Ông nói:

- Việc tuyển thêm quân ta giao cho Bùi Khâm, hẹn đến rằm tháng chạp phải làm xong.

Bùi Khâm bước ra, chắp tay nói:

- Xin tuân lệnh.

Thái sư tiếp:

- Lê Tần nhận lệnh!

Ngươi lo việc huấn luyện thuỷ quân, tu sửa thuyền bè, cung nỏ sẵn sàng đánh giặc.

Lê Tần tuân lệnh bước ra.

Thái sư gọi tiếp:

- Trần Khuê Kình!

Nhà ngươi huấn luyện bộ binh, tân binh, mùa hè sang năm sẽ tổng duyệt.

Khuê Kình dạ một tiếng rồi bước đi.

Tiếp theo, thái sư phân công các tướng chỉ huy kị binh, tượng binh, quân lương, quân dược, chế tác binh khí, tất cả đâu vào đấy nhưng dường như ông vẫn còn điều gì băn khoăn.

Trần Quốc Tuấn đứng bên hỏi:

- Mọi việc đều đã được định liệu, sao thượng công vẫn có ý lo phiền ạ?

Thái sư nói:

- Ta muốn đưa người sang Đại Lý để dò tin tức giặc nhưng chưa tìm được ai phù hợp với việc này.

Vương Lâm bước ra thưa:

- Trình thái sư!

Tôi xin tiến cử một người có thể đảm đương việc ấy.

- Ngươi định cử ai vậy?

- Trình thái sư!

Người này tên là Nguyễn Bằng, quê ở Trường Tân, đỗ thái học khoa Kỷ Hợi, văn võ song toàn, tính tình lanh lợi, hiện đang làm huyện lệnh ở Đường Hào.

(Năm Kỷ Hợi (1239) có khoa thi thái học sinh.

Lưu Miễn, Vương Giát đỗ đầu-Theo ĐVsktt)

- Sao ngươi biết được người đó?

- Dạ!

Người này là em rể quân dược hiệu uý Phạm Hữu.

Năm ngoái tôi lên nhọt độc ở lưng, được Phạm Hữu chữa cho.

Một hôm tôi đến nhà Phạm Hữu để tạ ân, vừa gặp Nguyễn Bằng từ Đường Hào cũng lên chơi vì vậy quen biết nhau.

- Người ấy võ nghệ thế nào?

- Ông ta võ nghệ chẳng kém gì tôi nhưng văn chương, mưu lược thì hơn tôi nhiều lắm.

Để tôi mời đến thái sư xem.

- Thôi được!

Ta không cần gặp.

Phép dụng gián ai cũng chỉ biết người trực tiếp giao việc cho mình, không lộ ra ngoài.

Việc này ta giao cho ngươi lo liệu, mau chóng thu xếp cho đi ngay, càng vào sâu đất giặc càng tốt.

Tin tức chuyển về theo mật tuyến.

Nguyễn Bằng đang xem lại cuốn sổ đinh tráng trong huyện thì nhận được lệnh bàn giao công việc cho quan huyện mới, trong ba ngày phải về tới kinh thành gặp tướng Vương Lâm để nhận trọng sự.

Chiều hôm sau, mọi công việc bàn giao đã xong, Nguyễn Bằng nói với vợ:

- Giặc Thát đang lăm le xâm lấn, có lẽ triều đình điều ta sang việc quân, nàng hãy đem con về quê nương tựa xóm làng, ngày mai ta lên kinh, sự thể thế nào sẽ tin về cho.

Phạm Thị nghe lời, đưa các con về làng Cao Duệ ở huyện Trường Tân nương nhờ bên ngoại, ngày đêm mong ngóng tin chồng.

Nguyễn Bằng lên kinh tìm đến phủ tướng quân Vương Lâm nhưng Vương Lâm đang ở bên dinh thái sư.

Nguyễn Bằng đành ra nghỉ ở nhà công quán đến chiều mới trở lại, gặp ngay lúc Vương Lâm vừa về.

Một gia nhân đưa Nguyễn Bằng vào ngôi đại sảnh.

Vương Lâm đã chờ sẵn ở đó.

Trông thấy Vương Lâm, Nguyễn Bằng vội làm lễ, nói:

- Hạ chức là Nguyễn Bằng xin có mặt để tướng quân sai bảo.

Vương Lâm vội đỡ Nguyễn Bằng dậy, nói:

- Đây là nhà tôi, không phải là chốn quân doanh.

Hơn nữa tôi với ông là bạn, không cần đa lễ.

Hai người chia ngôi chủ khách ngồi bàn việc.

Sau khi nói cho Nguyễn Bằng biết nhiệm vụ, Vương Lâm hỏi:

- Việc nặng nề thế đấy, ông có vướng mắc gì không?

- Việc quân, việc nước, tôi dẫu phải bước lên chông, lăn vào lửa cũng chẳng dám từ.

Xin tướng quân cho biết bao giờ khởi hành?

Vương Lâm cười thân mật, hỏi:

- Có cần về thăm nhà không?

Hay là ngày mai ông về thăm nhà vài bữa rồi lên đây ta liệu.

- Tôi đã chịu mệnh đâu còn dám nghĩ chuyện nhà!

- Tôi thật cảm kích trước tấm lòng vì nước của ông.

Công việc như thế tạm ổn, bây giờ ta có thể cùng nhau làm vài chén; từ hôm nay ông đã là người lính rồi.

Bay đâu!

Sắp bàn rượu bên gốc tùng kia để ta tiếp khách.

Bóng trăng trên cao soi rõ hai người lính ngồi đối ẩm bên gốc tùng già.

Chừng đã ngà ngà, Vương Lâm bảo:

- Nào cạn chén!

Uống đi ông.

Ngày mai ông đi, tôi chờ ra trận, sau cuộc chiến này dù không còn được ngồi uống với nhau thì cũng thoả lòng.

Nguyễn Bằng đã say nên thoải mái hơn, nói:

- Uống chứ!

Uống chứ!

Tửu phùng tri kỉ.

Bác cứ đợi tôi về.

Hai người cười váng lên, gõ bàn làm nhịp, cùng hát: Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu hề.

Cổ lai ư...hư hư...chinh chiến kỉ nhân i i i...hi hi... hồi.

(Thơ của Vương Hàn đời Đường.

Tạmdịch: Say nằm bãi cát đừng cười nhé.

Xưa nay ra trận mấy ai về)

Tiếng hát về đêm nghe vang xa, bay cao như chạm lanh canh vào các vì tinh tú.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 7: Nguyễn Bằng mang gươm vượt rừng sang đất giặc (2)


Sáu con tuấn mã phi như bay về phía biên thuỳ.

Trước mặt đã là ải Quy Hoá, nơi ấy có chúa động Hà Khuất trấn giữ.

Nguyễn Bằng ra hiệu cho mọi người đi chậm lại.

Đường núi khúc khuỷu trập trùng.

Hai bên đường, vô số cây đại thụ gốc rễ xù xì đứng nghiêm nghị bên nhau như những tráng sĩ rừng xanh canh miền biên ải.

Hết sườn núi này sang sườn núi khác kéo dài vun vút về đỉnh Chim Ưng, bao nhiêu chóp đá của dãy Tây Côn Lĩnh quanh năm mây phủ tưởng như chạm tới trời.

Sáu con ngựa cùng chạy nước kiệu vào trước quân doanh.

Mọi người xuống ngựa.

Hai anh lính cầm giáo đứng gác, chặn lại hỏi.

Nguyễn Bằng đưa trình tấm thẻ.

Một anh lính gác bảo mọi người chờ, cầm tấm thẻ chạy vào, lát sau quay lại cùng với người đàn ông chừng gần năm mươi tuổi ăn vận theo kiểu dân man động, đó chính là tướng quân Hà Khuất ra đón.

Khi tất cả đã vào trong trại, Hà Khuất nói:

- Tao đã nhận được cái lệnh đưa các cái mày sang phía bên kia nớ.

Người của tao ở bên ấy sẽ đón à.

Cửa Mã Quan có quân Mông Thát nó chiếm rồi nớ, tao cho người đưa các cái mày đi tắt rừng qua khe Độc Long rồi vượt lên đỉnh Chim Ưng mà sang nớ.

Hôm nay các cái mày cứ nghỉ, sớm mai sẽ đi à.

Hàng hoá tao cho đóng gói sẵn cả rồi à.

Sớm hôm sau, Hà Khuất cho mang đến sáu bộ quần áo man, bảo mọi người thay vào, mỗi người đeo một thanh kiếm có ngạnh khoằm ở gần mũi và một chiếc gùi đựng hàng buôn cùng lương thực, theo anh lính dẫn đường, nhằm hướng đỉnh Chim Ưng mà đi.

Càng đi sâu vào rừng càng âm u ẩm ướt.

Hai chiếc dây đeo gùi thít chặt vào hai bên nách làm Nguyễn Bằng cảm thấy đôi tay tê dại.

Dưới chân rêu đá lầy nhầy, chỉ cần sơ ý trượt chân là lao ngay xuống vực thẳm.

Tiếng chim bắt cô trói cột gọi nhau xé rách vẻ uy nghiêm tĩnh lặng của rừng già.

Đôi lúc có những đàn khỉ, thấy người, kéo nhau đến xem, kêu chí choé.

Anh lính dẫn đường im lặng, đi phăm phăm phía trước, thỉnh thoảng dừng bước chờ mọi người, tay cầm cây kiếm mũi khoằm chốc chốc lại giật đứt những dây leo chăng cản ngang đường.

Rất nhiều khe nước nhỏ rót xuống vực, có vòi nước không chạm được xuống phía dưới mà rơi đến lưng chừng tan ra tạo thành một màn hơi mỏng trắng đục bay lượn lờ trên thảm rừng xanh.

Bất giác Nguyễn Bằng ngâm:

Vạn trượng hồng tuyền lạc

Thiều thiều bán tử phân

Bôn lưu há tạp thụ

Sái lạc xuất trùng vân

Nhật chiếu hồng nghê tự

Thiên thanh phong vũ văn

Linh sơn đa tú sắc

Không thuỷ công nhân uân.

(Thơ của Trương Cửu Linh đời Đường.

Xin tạm dịch:

Mạch tuôn muôn trượng suối hồng

Chập chờn hơi tím lưng chừng núi cao

Dội trên cây lá ào ào

Tung lên đến tận trời cao mây vờn

Nắng soi hiện mống chiều hôm

Trời xanh mà ngỡ mưa tuôn bời bời

Linh sơn cảnh đẹp trên đời

Lẫnmàu sơn thuỷ như thời hỗn mang)

Trời về chiều, sương xuống lạnh.

Đoàn người đi đến một thung lũng hẹp.

Người lính dẫn đường dừng lại nói:

- Các cái mày dừng lại, lên chòi ăn cơm, đi ngủ nớ, không được xuống đất, ông khái mang đi đấy à.

Lúc này Nguyễn Bằng mới để ý nhận ra cái chòi làm chông chênh giữa lưng chừng bốn cây gỗ lớn.

Các gốc cây đầy những vết cào của loài thú dữ.

Người lính dẫn đường bám thân cây trèo lên chòi, vứt xuống một chiếc thang dây, bảo mọi người leo lên.

Ở rừng thời gian đi nhanh.

Loáng cái, màn đêm đã trùm kín khắp mọi nơi nhưng hình như bây giờ chúa rừng mới đánh thức muôn loài trong cái thế giới hoang dã đầy bí mật này.

Mở đầu là tiếng tru dài của một con chó sói, tiếp theo là hàng loạt tiếng hú trả lời của bầy đàn.

Cánh rừng rộn rã hẳn lên bởi tiếng sói, tiếng vượn, tiếng tác của hươu nai, tiếng chim khảm khắc gọi bạn, tiếng ve rừng ra rả suốt đêm...

Anh lính dẫn đường vừa đặt lưng đã ngáy ngon lành.

Mấy anh lính miền xuôi nói chuyện nhí nháu.

Nguyễn Bằng bảo:

- Các chú ngủ đi cho lại sức, ngày mai đường xa lắm đấy.

Tuy nói vậy nhưng chính Nguyễn Bằng cũng đâu có ngủ được, âm thanh của rừng hoang làm cho chàng trằn trọc không yên.

Về khuya rừng càng lạnh, những tiếng i...i...i...on...on...on không biết từ đâu vọng đến khiến chàng liên tưởng tới bao nhiêu câu chuyện ma rừng đã từng được nghe người già kể lại từ thời thơ bé.

Bỗng mấy tiếng iái...gừm...iái...gừm rất to ở ngay dưới chân chòi làm sáu anh lính miền xuôi ngồi bật cả dậy.

Có anh hoảng hốt nói:

- Cái gì mà nghe ghê thế hả?

Anh lính dẫn đường ầm ừ, trở mình, nói:

- Ừ ...ừ!

Ông khái đấy nớ!

Ngủ đi à.

Dứt lời, anh ta lại ngáy ngay được, mặc mấy anh lính miền xuôi rúm rít vì sợ, một thứ sợ hãi xen lẫn thích thú vì sự lạ.

Lát sau có tiếng cào sồn sột vào gốc cây.

Anh nào đó vừa cười vừa nói:

- Bỏ mẹ!

Nó trèo lên đấy, có thằng thì mất ấy!

Nguyễn Bằng bảo mọi người:

- Thôi!

Không nói nhảm nữa.

Tất cả ngủ đi.

Nó không lên được đâu.

Sáng hôm sau, khi đôi chim khảm khắc ngừng hót thì rừng già cũng lấy lại được cái vẻ trầm tư huyền bí ban ngày.

Một anh nói:

- Đêm hôm qua thích thật đấy, tớ nằm mãi mới ngủ được.

Anh khác cười, bảo:

- Sợ bỏ mẹ lại còn thích.

Anh khác nữa:

- Chả trách người ta bảo rừng già cũng như vị quan lớn vậy, ban ngày trầm tư đạo mạo, đến đêm nghịch như ma như mãnh.

- Chẳng thế lại có câu Ban ngày quan lớn như thần, ban đêm quan lớn tần mần như ma.

Đoàn người cứ đi nhưng bây giờ không phải là trèo lên, mà lao xuống dốc.

Con đường đi xuống vừa âm u vừa trơn như ai bôi mỡ.

Thỉnh thoảng lại có một người ngã bệt đít làm ai nấy cười như nắc nẻ, càng xuống sâu càng hun hút như tới tận âm ty địa phủ, trước mặt sau lưng toàn dốc đá dựng đứng, cây cối khoằm khoèo kì quái.

Nguyễn Bằng hỏi người lính dẫn đường:

- Đây là đâu mà có vẻ ác địa thế này?

Người lính dẫn đường trả lời:

- Các cái mày không biết à?

Chỗ này gọi là khe Độc Long nớ, chưa ác đâu, xuống dưới kia rồi mới biết à.

Một lúc sau xuống đến đáy khe.

Nơi đây dường như quanh năm không có gió, một mảng trời nho nhỏ bị cầm tù giữa bốn bề vách đá.

Nước chảy róc rách qua những lớp lá mục ẩm ướt.

Chướng khí bốc lên mờ mờ khiến mọi người ngột ngạt tức thở.

Lối lên ở phía bên kia không có đường, phải bám vào dây leo mà đu mình lên từng nấc một, vách lên cao gấp hai lần vách xuống.

Người lính dẫn đường nói:

- Tao lên trước nớ, các cái mày bám dây cho chắc, tuột tay rơi xuống là tan thây à.

Một anh lính vừa nắm lấy thân dây leo vừa nói:

- Để tôi thử xem nào.

Người lính dẫn đường vội thét lên:

- Dừng à!

Ay à!!!

Chết rồi à.

Không kịp rồi!

Theo tiếng nói của anh lính dẫn đường, anh lính vừa định thử leo lên ngã vật xuống, mặt xám ngắt trong giây lát nổi lên những vết tím lịm.

Những người lính miền xuôi hốt hoảng không biết chuyện gì đã xảy ra.

Anh lính dẫn đường nói:

- Nó chết rồi!

Con rắn lục nâu cắn nó nớ.

- Rắn lục xanh chứ sao lại rắn lục nâu.

- Lục xanh cắn may ra còn kịp cứu nớ, lục nâu cắn thì chết ngay thôi.

Nó đây à.

Anh lính dẫn đường chém một nhát kiếm vào thân dây leo.

Một con rắn màu nâu nhạt, hơi có sắc xanh bóng chỉ nhỏ như ống sậy, đứt đầu rơi xuống quằn quại.

Anh lính dẫn đường nói tiếp:

- Các cái mày phải tinh mắt nớ, cẩn thận à.

Ai nấy mặt buồn rười rượi.

Trong lòng khe toàn là đá khối không đào được huyệt, họ phải xếp cho người bạn xấu số một ngôi mộ đá.

Trời gần tối lên đến lưng chừng núi, ở đây có lối hơi bằng phẳng để leo lên.

Anh lính dẫn đường nói:

- Từ đây lên dễ hơn rồi nớ.

Giờ các cái mày mệt rồi, nghỉ à, mai đi tiếp à.

Nguyễn Bằng hỏi người lính dẫn đường:

- Hôm sau chú quay về một mình có buồn không?

- Cái đại nhân không biết à.

Tao lên ở lại đó thay cho người khác về nớ.

Khi nào có người lên thay tao mới về à.

Trưa hôm sau lên đến đỉnh Chim Ưng, lởm chởm đá tai mèo sắc như gươm giáo.

Nhìn sang bên Tây, vách đá dựng thành, phía xa là thảo nguyên mênh mông một màu xanh nhàn nhạt rồi lại núi trùm lên núi, rừng ken vào rừng tầng tầng lớp lớp không biết đâu là điểm tận cùng.

Quay lại bên Đông bát ngát một màu mây bạc, loáng thoáng lộ ra những bạt rừng xanh thẫm.

In trên nền trời xanh là những cánh chim đại bàng bay lượn một cách kiêu dũng.

Gió thổi phần phật làm tung khăn áo mọi người.

Mấy anh lính miền xuôi lần đầu lên núi rất phấn khích, một niềm phấn khích thật là bồng bột.

Họ muốn gào lên, mặc dù tất cả đã mệt rã rời.

Nguyễn Bằng đứng ngắm mãi về Đại Việt, chưa bao giờ chàng có cảm giác đất nước đẹp đến thế này, nhất là giờ đây sắp phải rời xa để đi sâu vào đất giặc.

Chàng cất tiếng hát:

Tay vịn lên mây trắng

Đầu cụng vào trời xanh

Giang sơn tình muôn dặm

Nâng bước chân lữ hành.

Tất cả mấy anh em đều đồng thanh hát:

Giang sơn tình muôn dặm

Nâng bước chân lữ hành.

Giang sơn tình muôn dặm

Nâng bước chân lữ hành...

Tiếng hát ngân xa, kéo dài mãi ra như muốn gửi bao tình lưu luyến của những anh lính về chốn quê nhà.

Hứng khởi cảm động, họ khoác chặt tay nhau, hát vang lên mãi...

Anh lính dẫn đường đưa mọi người vào một hang đá.

ở đó đã có ba người chờ sẵn, một người mặc kiểu dân man động còn hai người kia vận y phục Đại Lý.

Một người mặc y phục Đại Lý chạy ra đón, nói:

- Xin chào mọi người!

Chúng tôi chờ các vị ở đây đã lâu rồi.

Hoá ra ông ta là người Kinh ở miền xuôi lên.

Người lính dẫn đường nói:

- Tao dẫn các cái mày đến đây là xong nớ.

Từ đây hai cái người kinh này nó dẫn các cái mày đi à.

Hôm sau, anh lính dẫn đường ở lại thay cho người mặc y phục man động trở về.

Nguyễn Bằng và bốn anh lính miền xuôi thay quần áo Đại Lý, bỏ kiếm, đeo gùi hàng theo hai người dẫn đường mới đi tiếp xuống sườn phía tây.

Con đường này dốc đá dựng đứng, phải dùng dây cột chặt phía trên, thả các gùi hàng xuống trước, người tụt xuống sau, cứ như thế nhiều nấc, nhiều nhịp mới tới chân núi.

Người dẫn đường chỉ tay nói:

- Xuống chân núi này là đất Đại Lý rồi.

Từ đó có hai đường, xuôi về hướng Nam bốn mươi dặm là đến ải Mã Quan, đi tiếp ba mươi dặm nữa đến địa phận ải Quy Hoá của ta, ngọn núi này thuộc về châu Thuỷ Vĩ.

Còn một lối hướng thẳng phía Tây hai trăm dặm đến thành Thiện Xiển rồi ngược lên hướng Bắc ba trăm dặm nữa là tới thành Đại Lý.

Ta đi nhanh cũng phải mất sáu ngày mới tới được thành Thiện Xiển.

(Thuỷ Vĩ: Tỉnh Lào Cai ngày nay (Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi - chú thích 13 chương 27).

Thiện Xiển: Một thành phố và căn cứ quân sự quan trọng của Đại Lý. (Theo nghiên cứu của Nguyễn Lương Bích).)

Chỉ còn nhịp cuối cùng này nữa là đến chân núi, đã có bốn người xuống tới nơi.

Nguyễn Bằng đang treo mình trên lưng chừng vách đá, cũng đã gần mặt đất, bỗng có những chuyển động lạ truyền từ sợi dây đến tay chàng.

Sợi dây đứt chăng?

Từ sáng đến giờ nó đã bị cạnh đá cứa xước nhiều lắm rồi.

Nguyễn Bằng chỉ kịp nghĩ vậy, cái điều tồi tệ nhất đã xảy ra.

Sợi dây leo bị cạnh đá cứa đứt.

Một anh lính ở dưới kêu lên:

- Chết rồi!

Đại nhân đứt dây rơi xuống rồi!

Mấy người xuống trước cùng chạy xúm lại, chỉ thấy Nguyễn Bằng dang chân tay nằm bất động.

Một người nói:

- Nguyễn đại nhân mà làm sao thì hỏng hết công việc.

Thật là:

Tráng sĩ trên đường vừa hiến mạng

Chủ quân cơ sự cũng khôn lường

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem số phận Nguyễn Bằng ra sao.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 8: Doạ Đại Việt, ba đoàn sứ Thát vào giam (1)


Nguyễn Bằng đang theo dây leo thả mình xuống, gần tới nơi thì dây đứt, nằm ngất lịm.

Mọi người xúm lại cứu chữa.

May gặp chỗ đất mềm nên Nguyễn Bằng chỉ bị choáng, một lúc sau tỉnh lại.

Bảy người lại đeo gùi hàng đi sâu vào đất Đại Lý.

Trời chưa sáng mà khắp làng nhà nào cũng đỏ lửa.

Mấy chú gà trống choai gáy éc e như hãy còn ngái ngủ, tiếng gáy tuy non nớt nhưng các chú muốn báo rằng đã có ta sống ở trên đời.

Bà Vũ nấu xong nồi cơm nếp, xới ra mâm cho nguội, nắm cho con mang đi ăn đường rồi đến bên giường con trai định gọi nhưng thấy Vũ Tuấn còn đang ngủ say nên lại thôi, lẩm bẩm một mình:

- Mẹ bố nó, ngủ thế này không biết đi có làm được việc gì không?

Mấy chú gà gáy dồn, ngoài đường vang lên tiếng mõ:

- Loa loa!

Loa loa!

Dân làng nghe báo.

Hôm nay làm lễ tiễn binh.

Trai tráng trong làng đã trúng tuyển, sáng sớm ra đình để về doanh trại.

Loa loa!

Loa loa.

Vũ Tuấn choàng dậy bảo mẹ:

- Con đã bảo bu gọi dậy sớm mà không gọi, khéo không người ta đi hết còn gì!

- Bố anh!

Làm gì mà rối cả lên, ngủ như trâu ấy.

Vào lính liệu mà ăn mà ngủ không giặc nó đến đít chưa biết thì vừa.

Vũ Tuấn ra đến sân đình, nhiều người đã đứng lố nhố khắp cả.

Đám trai làng chuẩn bị đầu quân túm tụm một góc chuyện trò.

Nguyễn Văn Điền, Mai Văn Tự, Đoàn Sĩ Hiệp, Phạm Anh cùng mấy người nữa đều đã có mặt, họ vừa trông thấy Vũ Tuấn đến liền gọi to:

- Tuấn!

Lại đây.

Vũ Tuấn chạy lại phía các bạn, nói:

- À!

Đông đủ cả rồi nhỉ!

Thằng Thử đâu?

Một người nói:

- Chắc cũng sắp ra đấy.

- Có khi chưa ngủ dậy cũng nên, thằng này chúa dậy muộn.

Trời sáng rõ, cha mẹ đám tráng đinh đăng lính lần này cũng đứng cả hai bên sân đình.

Có người cười, có người khóc nhưng phần nhiều nghiêm trang nhìn về phía cửa đình, ở đó treo một lá cờ đại.

Lúc sau, quan đô uý cùng mấy viên hiệu uý đi vào, theo sau là Nguyễn Vĩ Thố lý trưởng làng Cao Duệ, trương tuần và các vị chức sắc trong làng.

Mấy anh lính tốt chạy lăng xăng bảo dân làng đứng lui xuống phía cuối sân đình, một anh cầm chiếc loa đứng lên bục cao cạnh lá cờ đại, hướng về đám trai đinh, nói:

- Nghe đây!

Nghe đây!

Hôm nay làm lễ tiễn binh, trai tráng trúng tuyển lặng yên nghe lệnh, khi gọi đến tên ai người ấy thưa "có" rồi vào trong đình đứng thành hàng để chờ làm lễ.

Cha mẹ đinh tráng đứng ở ngoài sân không được ồn ào để các quan làm việc.

Mọi người yên lặng trước cảnh tượng long trọng của buổi lễ.

Anh lính cầm loa dõng dạc gọi:

- Đoàn Sĩ Hiệp.

- Có!

Sĩ Hiệp thưa xong, bước những bước dài mạnh dạn về phía cửa đình.

Trong đám cha mẹ, ai đó nói:

- Oai quá nhỉ.

Cậu này nhất định rồi sẽ khá.

Người lính cầm loa gọi tiếp:

- Phạm Anh.

- Có!

Phạm Anh khoan thai bước lên bậc tam cấp.

Mấy cô gái làng xì xào:

- Đẹp trai quá!

- Trông thư sinh thế!

- Trắng như con gái ấy!

Anh lính cầm loa gọi đến Nguyễn Văn Điền, Mai Văn Tự.

Văn Điền, Văn Tự thưa, đi vào.

Gọi đến Nguyễn Vĩ Thử, không có người trả lời.

Trong đình, lý trưởng Nguyễn Vĩ Thố chắp tay nói với quan đô uý:

- Dạ!

Thưa quan đô uý!

Nguyễn Vĩ Thử là con trai của hạ cấp ạ.

Mấy ngày hôm nay cháu nóng sốt li bì, đau bụng quằn quại.

Dạ!

Có giấy xác nhận của đại tư xã đây ạ.

Xin quan đô úy hoãn cho cháu đến lượt tuyển lính sau ạ.

Viên đô uý cầm tờ giấy đưa lên xem, nói:

- Thôi được!

ốm thì để lần sau chứ biết sao.

Trong đám tân binh, Sĩ Hiệp bảo Phạm Anh:

- Quái!

Cái thằng Thử này!

Hôm qua tao vẫn thấy nó đi chơi, còn ghẹo con Điệp nữa, sao bố nó lại bảo ốm mấy ngày rồi là thế nào?

Văn Tự bảo:

- Thôi!

Cứ im đi đã.

Ai còn lạ gì bố con nhà ông ấy nữa.

Khi đi gọi người khác đăng lính, ông ấy nói hay lắm nhưng con ông ấy năm lần bảy lượt trốn không chịu đi.

Sĩ Hiệp bảo:

- Nhưng có giấy của đại tư xã cơ mà?

Phạm Anh nói:

- Chú ông ấy làm đại tư xã chứ ai, xin giấy gì chả được.

Anh lính cầm loa gọi tiếp Vũ Tuấn và những người khác.

Gần trưa, mọi nghi lễ đã xong.

Mấy chục gã tân binh xếp thành hàng, ngước trông bóng cờ bước theo nhịp trống rập rình.

Dân làng tiễn đưa vẫy khăn, vẫy nón đến khi đoàn quân khuất dần sau luỹ tre phía xa mọi người mới tản dần về, chỉ còn các bà mẹ đứng nhìn theo mãi.

Bà Nguyễn lấy vạt áo chấm nước mắt, bảo bà Phạm:

- Khổ!

Nuôi con đến lúc nhớn đỡ đần được một chút lại phải vào lính, thằng Điền nhà tôi hiền lành như thế có biết đánh nhau bao giờ, chiều hôm qua vẫn còn giúp bố cày nốt hai sào ruộng ở cánh đồng Bến.

Bà Phạm bảo:

- Ai đẻ con ra lại muốn cho đi đánh nhau.

Cũng là tại cái thằng giặc cả, nó không sang ăn cướp nước mình thì đâu nên chuyện.

Thằng Phạm Anh nhà tôi yếu ớt quá, suốt ngày chỉ biết vùi đầu vào kinh vào sách.

Bà Đoàn nói:

- Yếu ớt cũng chẳng lo, theo anh theo em luyện tập vài tháng là lớn phổng lên ngay ấy mà.

Trai thời loạn chẳng ra giúp nước thì sao.

Biết đâu mà lo.

Chúng nó đi rồi mình cứ chịu khó việc nông tang để anh em chúng có cái ăn mà đánh giặc là được.

Tuy nói vậy nhưng bà Đoàn cũng lấy tay áo quệt vội những giọt nước mắt chỉ chực rơi xuống.

Mấy bà cùng nói:

- Bà Đoàn nói thế cũng phải.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 8: Doạ Đại Việt, ba đoàn sứ Thát vào giam (2)


Cốt Đãi Ngột Lang gầm lên làm những cây kiếm cong treo trên giá run bần bật, nói:

- Vua đại Việt khinh ta quá lắm, đã không nghe lời lại còn giam sứ.

Phen này ta quyết làm cỏ nước Nam.

Triệt Triệt Đô, Đoàn Hưng Trí kiểm điểm binh mã đợi lệnh.

(Cốt Đãi Ngột Lang (Iu-ri-ang-kha-đai): Nhiều tài liệu phiên âm là Ngột Lương Hợp Thai, ở đây phiên theo lời hịch của Hưng Đạo vương trong lần đánh Nguyên thứ hai)

A Truật lúc bấy giờ mới mười tám tuổi nhưng đã là một dũng tướng, bước ra thưa:

- Thưa cha!

Con thường nghe nói người Nam là giống quật cường không thể lấy lời đe doạ đè nén họ được.

Chi bằng ta cứ ngon ngọt mà dụ thì hơn chứ chưa nên tiến binh vội.

Ngột Lang gầm lên:

- Vó ngựa của ta in dấu từ Tây sang Đông.

Kẻ nào cũng mới chỉ nghe tên ta đã phải bỏ thành mà chạy.

Ta đâu có phải ngon ngọt với ai bao giờ.

Cứ nhùng nhằng mãi, khi nào mới đến được đất Nam Tống đây.

Tín Thư Phúc bước ra thưa:

- Trình nguyên soái!

Công tử nói rất đúng.

Ta nên cho sứ sang Đại Việt nói rõ là mượn đường vào đất Tống.

Chỉ cần người Nam cho quân ta vượt qua cửa ải, Đại Việt đã nằm trong tay ta rồi mà đường sang Nam Tống cũng không còn gì ngăn trở, ta có thể đến Ngạc châu trước kì hạn.

Như thế có phải đỡ vất vả vì giao tranh dọc đường không, lại dễ dàng lấy được Đại Việt.

(Năm 1275 Mông Kha mở đại chiến dịch tấn công quân Tống từ nhiều hướng: Hốt Tất Liệt cùng Trương Nhu Đem quân vượt Trường Giang đánh Ngạc châu.

Tháp Tề Nhĩ đánh Kinh châu.

Mông Kha thân cầm quân đánh Tứ Xuyên.

Cốt Đãi Ngột Lang đánh chiếm Đại Việt rồi tiến sang đánh Ung châu, Quế Lâm.

Tất cả các cánh quân đều lấy điểm hội quân cùng Hốt tất Liệt tại Ngạc châu)

Cốt Đãi Ngột Lang nghe theo mới nuốt giận viết thư, cử sứ giả đi lần nữa.

Một mặt sai A Truật, Hoài Đô, Triệt Triệt Đô, Đoàn Hưng Trí chuẩn bị binh mã, lương thảo vận chuyển trước đến ải Mã Quan.

Chừng một tháng sau có mấy tên quân hộ vệ đoàn sứ về báo:

- Đoàn sứ của ta không dụ được vua Đại Việt liền đe là nguyên soái sẽ mang đại binh sang, không ngờ chúng nổi giận, bắt giam hết cả lại.

Chúng còn bảo: "Để nguyên soái của các ngươi sang đây sẽ giam chung một thể".

Mấy chúng tôi liều chết trốn ra mới về thoát được.

Mong nguyên soái mau phát binh đi đánh báo thù rửa cái nhục này.

Cốt Đãi Ngột Lang lông mày dựng ngược, vểnh râu, trợn mắt thét:

- Vua tôi nhà Trần giỏi thật.

Ta xem các ngươi có mấy lá gan mà dám chống lại thiên triều!

Nói xong liền lệnh cho các tướng: Triệt Triệt Đô cùng Bố Nhĩ Hải, A Nhĩ Hải mỗi người đem một nghìn quân đi tiên phong, ngay ngày hôm ấy phải ra khỏi thành Thiện Xiển.

A Truật, Hoài Đô đem mười viên lực sĩ cùng một vạn quân đi tiếp ứng cho ba mũi tiên phong và do thám những nơi bố phòng của quân Đại Việt.

Đoàn Hưng Trí giao lại công việc trong nước cho em trai là Tín Thư Nhật nhiếp chính, cùng người em khác là Tín Thư Phúc, mang một vạn hai nghìn quân bộ Bắc Thoán và tám nghìn quân kị đi thứ ba vừa làm nhiệm vụ dẫn đường vừa hỗ trợ cho hai đạo quân trước.

Cốt Đãi Ngột Lang thân đem một vạn năm nghìn quân đi sau.

Tổng số nhân mã là bốn vạn tám ngàn lính.

Bắt chín vạn ba ngàn dân phu người Đại Lý, Bạch Man, Lô Lô đi phục dịch, hẹn trong mười ngày phải ra khỏi Mã Quan.

Lúc ấy Nguyễn Bằng đang vờ buôn bán ở Thiện Xiển, dò biết được tình hình, bảo người đưa tin qua lối đỉnh Chim Ưng về cho Hà Khuất.

Hà Khuất liền cử ngựa trạm chạy suốt ngày đêm về kinh cấp báo.

Bấy giờ đang là mùa đông, mấy vạn dân phu, trâu bò Đại Lý đi phục vụ quân binh rất khổ sở.

Người chết vì rét, ngã núi, chết vì mệt nhọc... nhiều lắm.

Thỉnh thoảng lại có mưa tuyết, quân lính vô cùng vất vả.

Khi tiền quân đã áp sát ải Quy Hoá của Đại Việt thì hậu quân của Cốt Đãi Ngột Lang chưa ra hết cửa Mã Quan.

Đạo quân của A Nhĩ Hải được lệnh đánh Quy Hoá, tấn công liền ba ngày mà không sao chiếm được ải.

Quân của Hà Khuất dùng cung nỏ, gỗ đá đánh lại làm quân Mông Thát chết hại rất nhiều.

Tín Thư Phúc bẩm với Cốt Đãi Ngột Lang:

- Trước đây nguyên soái cho sứ sang Đại Việt nhưng chưa xuất binh nên vua của chúng mới khinh lờn.

Nay quân ta tiến đánh, cái cơ một sớm một chiều lấy được Đại Việt đã rõ.

Vua tôi chúng tất phải sợ hãi.

Xin nguyên soái phái sứ đi một lần nữa chắc bọn chúng không còn dám hỗn.

Cốt Đãi Ngột Lang nói:

- Ngươi nói cũng có lí, nhưng bây giờ cử ai đi sứ đây?

Triệt Triệt Đô nói:

- Lần này phải cử một dũng sĩ biết ăn nói đi, cho chúng thấy quân ta hùng mạnh thế nào.

Tôi xin tiến cử một người là Ngạch Vu Tháp.

Người này tướng mạo đường đường, oai phong lẫm lẫm lại ăn nói hào hùng, nhất định không phụ lòng thống tướng.

Hôm sau Ngạch Vu Tháp đến ải Quy Hoá, cho quân lính giương biển miễn chiến, gọi mở cửa thành cho sứ vào.

Hà Khuất bắt phải cho quân lính lui lại, chỉ để Ngạch Vu Tháp và mươi tên quân theo hầu đi vào, ngay hôm ấy cho người áp giải về kinh thành Thăng Long.

Cốt Đãi Ngột Lang ém quân lại đợi sứ về nhưng gần một tháng chẳng thấy sứ đâu mới tiếp tục xua quân đánh vào Quy Hoá.

Triệt Triệt Đô đứng dưới cửa quan gọi to lên rằng:

- Này Hà Khuất!

Ta giao sứ cho ngươi đến nay đã gần một tháng, vua tôi nhà ngươi cớ sao không cho sứ trở về?

Hà Khuất ở trên thành nói xuống:

- Đại Việt ta là nước văn hiến.

Sứ của các ngươi đến chầu lại không biết giữ lễ, buông lời ngạo mạn, khinh thị quân vương, tội đáng phơi thây nhưng vua ta nhân từ mở đức hiếu sinh không giết, chỉ mời vào nghỉ trong nhà lao thôi.

Bây giờ muốn nói chuyện gì phải hỏi cây nỏ của ta trước đã.

Triệt Triệt Đô căm tức bầm gan, múa cây búa Nguyệt Lãng thúc quân vào đánh.

Trên thành tên đạn dội xuống như mưa.

Quân Thát xông lên mấy lần đều phải lùi trở lại.

Kinh thành Thăng Long sôi lên vì tin quân Mông Thát đã đánh vào ải Quy Hoá.

Các lò rèn đúc trong thành Đại La đỏ lửa suốt ngày đêm.

Trường thương, đoản kiếm, hoạ kích, đại đao được làm ra vô số.

Trai tráng trong lính ngoài dân ai ai cũng muốn sắm cho mình một thứ binh khí vừa tay cầm.

Từ tướng quân đến sĩ tốt chỗ nào cũng chỉ nói chuyện chinh chiến.

Các tướng Vương Lâm, Trần Khuê Kình, Chu Bác Lãm đến nói với Bùi Khâm và Lê Tần rằng:

- Nay quân Thát đã đến cửa ngõ, không biết hoàng thượng giao quyền tiết chế cho ai?

Nếu để thái sư cầm quân e rằng hỏng việc.

Chúng ta đều là trọng thần phải nên gắng sức khuyên nhà vua chọn người hiền tài mà giao binh quyền mới có thể giữ yên đất nước.

Mọi người cùng nói phải đấy, riêng Lê Tần bảo:

- Các ông không phải lo.

Dẫu hoàng thượng có giao ấn nguyên nhung thái sư cũng không nhận đâu.

Việc cầm quân ắt có người tài đảm trách.

Trong điện Thiên An, Thái Tông ngồi thiết triều.

Văn võ bách quan đứng hai hàng.

Thái Tông phán:

- Nay quân giặc đã xâm phạm biên cương, trẫm giao toàn quyền điều vát quân sĩ cho thống quốc thái sư.

Khanh hãy vì muôn dân trăm họ mà nâng lấy gánh nặng giang sơn.

Thái sư Trần Thủ Độ bước ra tâu:

- Muôn tâu hoàng thượng!

Việc hoàng thượng uỷ thác, thần muôn chết chẳng dám từ.

Nhưng xét nghĩ nước ta nay phía Bắc sát biên giới với hai nước lớn là Tống và Thát, việc binh bị chắc phải lâu dài mà thần tuổi đã sáu tư, không biết còn hầu hạ hoàng thượng được bao lâu, nên trộm nghĩ cần phải chọn trong các tướng trẻ lấy người tài giỏi để giao trọng trách, đặng gây dựng rường cột lâu dài cho xã tắc.

Quần thần đều cho là thái sư nói phải.

Thái tông truyền:

- Các khanh đã nói vậy hãy cử cho trẫm một người có thể gánh vác được công việc nặng nhọc lâu dài này.

Lê Tần đứng ra tâu:

- Thần xin tiến cử Trần Quốc Tuấn.

Người ấy trẻ tuổi, tài đức vẹn toàn, thông hiểu binh pháp, tài hoa văn chương, sâu sắc kinh sử lại có lòng thương yêu bách tính, đó là tướng muôn đời hiếm thấy.

Các quan đều nói sự tiến cử của Lê Tần là sáng suốt nhưng Nhân Đạo vương nói:

- Thần thiết nghĩ cử tướng là phải dùng người tài đức vẹn toàn, thông đạo, hiểu lễ.

Cứ xét việc tháng giêng năm Nguyên Phong thứ nhất thì thấy Quốc Tuấn là kẻ ngông cuồng không có đức, không biết giữ lễ, e khó mà hiệu lệnh được ba quân.

Đầu đuôi sự việc tháng giêng năm Nguyên Phong thứ nhất (Tân Hợi-1251) thế này: Trần Quốc Tuấn là con thứ của An Sinh vương Trần Liễu, vốn vẫn sống ở ấp An Sinh (Nay thuộc đất huyện Kinh Môn - Hải Dương).

Công chúa Thuỵ Bà (em ruột của An Sinh vương, chị ruột của Thái Tông) một hôm đến chơi, thấy Quốc Tuấn thông minh đĩnh ngộ mới nhận làm con nuôi, mang về Thăng Long cho ăn học.

ở đây Quốc Tuấn gặp công chúa Thiên Thành lúc ấy mới hơn mười tuổi (Có tài liệu cho rằng công chúa Thiên Thanh là con út của thượng hoàng Trần Thừa là nhầm lẫn vì ĐVsktt có chép: Gả trưởng công chúa Thiên Thành cho Trung Thành vương...

Thiên Thành là trưởng công chúa thì chỉ có thể là con gái cả của Trần Thái Tông mà thôi).

Hai người thường chơi với nhau, lâu ngày tình cảm quyến luyến.

Tháng Giêng năm Tân Hợi, Thái Tông gả Thiên Thành cho con trai Nhân Đạo vương là Trung Thành vương (Năm ấy Thiên Thành khoảng mười bốn, mười lăm tuổi).

Vua cho mở hội bảy ngày để mừng lễ cưới.

Quốc Tuấn lúc ấy đã hai mươi tuổi, không biết làm thế nào, mới nhân ban đêm lẻn vào chỗ ở của công chúa thông dâm với nàng.

(ĐVsktt)

Công chúa Thuỵ Bà sợ Nhân Đạo vương bắt làm tội Quốc Tuấn, liền đến cáo cấp với nhà vua, nhà vua vội sai nội nhân đến dinh Nhân Đạo vương nhưng thấy yên lặng, vào phòng ngủ của Thiên Thành thì Quốc Tuấn đang ở đấy.

Lúc bấy giờ Nhân Đạo vương mới biết chuyện.

Hôm sau, công chúa Thuỵ Bà vội dâng mười mâm vàng lên nhà vua để làm lễ hỏi Thiên Thành cho Quốc Tuấn.

Vua bất đắc dĩ phải gả, mặt khác lấy hai nghìn khoảnh ruộng ở phủ Ứng Thiên để hoàn lại sính lễ cho Trung Thành vương.

Việc này bị đời sau rất là chê trách.

(Sử thần Ngô Sĩ Liên gọi là hôn nhân bất chính, trái lễ (ĐVsktt).

Ngô Thì Sĩ viết:... do gia phong bất chính của nhà Trần, ai ai cũng thế cả nên không biết dâm loạn là đáng hổ thẹn nữa (Vsta).)

Từ đấy Nhân Đạo vương vẫn ấm ức nên buổi chầu hôm đó mới bác ý kiến chọn Quốc Tuấn làm tướng.

Trung Thành vương tính tình khoan hậu, lại biết Quốc Tuấn là người tài mới bước ra tâu:

- Quốc Tuấn tuy làm chuyện không hay nhưng là người tài ba lỗi lạc, hiếm có trên đời.

Thần nghĩ cử người ấy làm tướng là rất xứng đáng.

Xin hoàng thượng minh xét, đừng vì việc người ta mắc lỗi mà bỏ, để hỏng đại sự quốc gia.

Thái Tông tươi cười nói:

- Đáng khen Trung Thành vương là người đại lượng.

Vậy theo sự đồng tiến cử của triều thần, trẫm phong Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn quyền tiết chế ba quân điều binh phá giặc.

Các vương hầu tướng lĩnh nhất nhất tuân theo.

Ai trái lệnh xử theo quân pháp.

Quốc Tuấn bước lên nhận kiếm lệnh và soái ấn, năm ấy ông mới hai mươi bảy tuổi.

Thái Tông nói:

- Nay khanh đã nhận quyền tiết chế, trong việc quân trẫm cũng phải tuân theo.

Khanh cứ điều động.

Quốc Tuấn nói:

- Thần trộm nghĩ việc dùng binh muốn thủ thắng phải tạo cho mình cái thế có thể điều được giặc.

Nay nếu ta mang hết quân lên biên ải để chống nhau với quân Thát, đường sá xa xôi, núi rừng hiểm trở lại đang vào mùa rét mướt, dân phu vận chuyển lương thảo rất cực nhọc.

Như vậy quân Thát nhàn nhã chờ ta đến mà đánh, hại cho ta lắm.

Chi bằng nhử cho chúng vào sâu phải hành quân xa, người ngựa mỏi mệt lúc ấy ta lấy quân nhàn nhã mà đánh ắt toàn thắng.

Đó chính là kế dĩ dật đãi lao vậy.

Phú Lương hầu Vương Lâm nói:

- Thần nghĩ rằng từ Đại Lý sang ta chỉ có một đường đi qua Quy Hoá, vừa nhỏ hẹp vừa hiểm trở rất tiện cho việc bố phòng, một người trấn giữ trăm người khó qua.

Ta nên chặn giặc ngay từ ngoài thì hơn, để chúng vào sâu tất tàn hại sinh linh bách tính.

Đại tướng Lê Tần bước ra tâu:

- Lời Phú Lương hầu nói cũng có lý nhưng theo kế sách của Hưng Đạo vương vẫn hơn, vì giặc chỉ ỷ vào kị binh, khi vào sâu trong đất ta sông ngòi chằng chịt chúng không thể tỏ rõ được sở trường.

Đó chính là chỗ chết của chúng.

Hưng Đạo vương nói:

- Thần xin cử một đạo binh lên tăng viện cho các cửa ải để làm chậm bước tiến quân của giặc, mặt khác thông báo cho những vùng có thể giặc đi qua, đưa dân tạm lánh đi nơi khác, cất giấu hết thóc lúa trâu bò gà lợn để giặc không thể cướp bóc được.

Khi chúng đã vào sâu, ta cho quân chặn đường tiếp lương thì mấy vạn quân binh của chúng sẽ thành ma đói cả.

Thái Tông nghe theo kế ấy, lệnh cho Hưng Đạo vương tiến binh.

Lúc tan triều, các tướng hỏi Lê Tần vì sao biết thái sư không nhận quyền tiết chế.

Tần nói:

- Các ông chỉ biết chỗ dở của thái sư là không biết dàn binh phá trận mà không thấy chỗ hay của thái sư không tham quyền cố vị, việc không cáng đáng được, thành thực không nhận, thế lại chả hơn lắm kẻ chẳng hiểu cái mù tịt gì nhưng cứ tranh giành làm hỏng việc hay sao?

Vả lại thái sư đánh thành cướp đất thì kém nhưng việc đắp móng xây nền, cất nhắc hiền tài đã ai sánh kịp.

Triều Trần ta không có ông ấy liệu được như ngày nay?

Người cẩn trọng như thế không thể mạo hiểm mà nhận quyền tiết chế.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 8: Giữ Yên Khâu, một tướng nhà Trần bị hại


Mọi người đều cho lời của Lê Tần là rất chí lý.

Hôm sau Hưng Đạo vương phân công các tướng: Đội thứ nhất, Trần Khánh Dư lĩnh một nghìn quân lên tăng viện cho ải Yên Khâu chỉ cần giữ chân giặc trong năm ngày rồi tản vào rừng, khi đại quân của chúng đã qua thì chẹn đường không cho vận chuyển lương thảo.

Đội thứ nhì, Lê Tần mang thuỷ binh lên trấn giữ bờ Nam ngã ba Bạch Hạc, khi giặc đến lập tức chặn đánh tiêu hao chúng rồi xuôi theo sông Lô đưa quân về Bình Lệ nguyên tăng cường cho trận tuyến của nhà vua và thái tử.

Đội thứ ba, Hoàng thượng, thái tử Hoảng, Trần Khuê Kình, Bùi Khâm, Trung Thành vương đem ba vạn quân bày trận ở cánh đồng Bình Lệ đợi giặc.

Đội thứ tư, Vương Lâm mang một vạn quân, năm trăm thuyền chiến chờ sẵn trên sông Nguyệt Đức, phòng tình huống bất trắc.

Đội thứ năm, Thái sư Trần Thủ Độ, Nhân Đạo vương thống lĩnh toàn bộ hậu quân, tuỳ cơ tiếp ứng cho các đạo khi cần.

Hưng Đạo vương đặt soái phủ tại Bình Lệ nguyên, bên
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 9: Úp trại giặc Khánh Dư lập công đầu


Trên kia đang nói Triệt Triệt Đô dẫn quân tiến xuống, bỗng gặp một tướng trẻ đứng chặn đường.

Triệt Triệt Đô quay lại hỏi các tướng:

- Có ai ra bắt thằng nhãi kia không?

Cổ Hà Cáp Hoa vỗ ngựa tiến lên.

Cổ Hà Cáp Hoa là dũng sĩ đã từng đánh Đông dẹp Bắc, thường dùng cặp song chuỳ thiết xích, đánh như gió bão, ít người địch nổi, lại có tài ném sợi báo trường càn khôn tuyến bắt địch thủ như trở bàn tay.

Tướng trẻ kia cũng cho ngựa tiến lên đón đánh.

Hai ngựa giao nhau hơn hai mươi hiệp, Cổ Hà Cáp Hoa không hạ nổi tướng ấy mới lùi ngựa lại rút báo trường càn khôn tuyến tung về phía địch thủ.

Tướng trẻ kia thấy Cổ Hà Cáp Hoa đang đánh tự nhiên lùi lại, đã đề phòng, sợi dây ruột báo vừa tung tới, liền quay đốc thương gạt một nhát rơi xuống đất.

Cổ Hà Cáp Hoa thấy tướng kia phá mất bảo bối của mình, hoảng hốt, bị tướng ấy sấn tới đâm cho một thương, may né người tránh được, mũi thương xuyên trúng vào đùi, máu chảy toé ra, vội chạy vào trận.

Tướng kia phi ngựa đuổi theo bén gót.

Triệt Triệt Đô thấy nguy, liền ra lệnh cho cung thủ bắn chặn tướng kia lại.

Tướng ấy múa thương gạt tên rơi lả tả rồi quay ngựa cho thu quân về giữ ải.

Suốt ngày hôm ấy không ra đánh nhau nữa.

(Báo trường càn khôn tuyến: Dây ruột báo trói cả trời đất)

Triệt Triệt Đô báo tin ấy cho Cốt Đãi Ngột Lang biết.

Cốt Đãi Ngột Lang thở dài, nói:

- Cổ Hà Cáp Hoa theo ta đi đánh trận nhiều năm, chưa có ai địch nổi ông ta mà nay chịu bại với một tên tướng vô danh.

Không ngờ ở cái xó rừng nước Nam này mà cũng có người tài như thế.

A Truật nghe vậy, khí tức bốc lên, bước ra nói:

- Sao cha lại đề cao quân giặc như vậy, làm giảm nhuệ khí quân ta.

Mai con xin bắt sống tên tướng ấy.

- Việc của con không phải ở đấy.

Đây là đất Nam, hãy lo giữ cho chắc phía sau.

Còn việc kia ta đã có chủ định.

Hôm sau Cốt Đãi Ngột Lang lên xem địa thế, thấy hai bên sườn núi cao vút, đường vào cửa ải hẹp tới mức không thể đi hai ngựa song hàng, cửa ải và tường ngăn toàn bằng gỗ tươi, xem ra mới được xây dựng, quay lại bảo các tướng:

- Ta xem ải này tuy hiểm nhưng không chắc chắn, có thể phá được.

Tín Thư Phúc!

Ngươi mau cho quân đi tìm xem có còn con đường nào khác nữa không.

Triệt Triệt Đô cứ việc đánh ải.

Triệt Triệt Đô liền lên ngựa đến trước ải khiêu chiến, trông thấy tướng trẻ kia trên mặt thành mới gọi hỏi:

- Bớ tướng kia!

Hôm qua đánh nhau kiểu gì mà ta chưa kịp hỏi họ tên ngươi đã chạy mất thế hả?

Tướng kia trên mặt thành nói vọng xuống:

- Ta chỉ ngại nói tên ra ngươi lại sợ hết hồn thôi!

Ta họ Trần tên là Khánh Dư ở núi Chí Linh đây.

Nhà ngươi là quỷ phong Triệt Triệt Đô phải không?

Đã có vợ con chưa?

Cha mẹ ngươi có còn không?

- Ta là tiên phong sao ngươi lại gọi là quỷ phong?

Ngươi hỏi cha mẹ, vợ con ta làm gì?

Có đánh nhau thì xuống đây, nói chuyện quả cà ra dây muống sốt ruột lắm.

- À!

Ta hỏi để biết.

Nếu nhà ngươi có vợ dại con thơ, cha già mẹ yếu, chưa chắc ta đã giết.

Triệt Triệt Đô nghe nói vậy, gầm lên vì tức mà không biết đó là mẹo của Khánh Dư.

Số là khi Khánh Dư mang quân đi, Quốc Tuấn có dặn chỉ cần giữ chân giặc năm ngày là được, đi gần tới Yên Khâu, nghe tin Yên Khâu đã thất thủ, Khánh Dư mới lui binh lại, chọn nơi hiểm đạo, cho quân chặt gỗ xây ải chắn ngang đường.

Lúc quân Thát tới, Khánh Dư chỉ đánh lấy lệ, mỗi lần giao tranh toàn nói chuyện con cà con kê giết thời gian để quân Thát không tiến lên được.

Đến ngày thứ tư, quân Thát vẫn không phá được ải mà Khánh Dư hôm nào cũng ra đánh vài hiệp rồi lại lên thành.

Triệt Triệt Đô tức quá, cầm giáo chỉ lên, nói:

- Thằng nhãi kia hèn thế, hôm nào cũng chưa đánh đã chạy, nếu sợ quá thì hàng đi.

Ta tha chết cho.

Khánh Dư đắc chí cũng chỉ xuống, nói:

- Ta đã bảo rồi.

Ta chỉ muốn chỗ lương thảo của các ngươi thôi.

Cứ để lương thảo lại, ta mở cửa ải cho muốn đi đâu thì đi.

- Ngươi chỉ nói phách.

Thực ra ngươi sợ ta nên không dám ra đánh.

Khánh Dư cười lớn, nói:

- Ta mà lại sợ ngươi sao xứng là tráng sĩ dưới trời Nam.

Đã là tướng, được đánh nhau thì sướng như được ăn ngon vậy.

Nhưng ăn phải bình tĩnh đàng hoàng chứ đâu có hùng hục như cái đồ cuốc mướn nhà ngươi.

Mỗi ngày đánh một trận cho nó tiêu cơm là đủ rồi.

Triệt Triệt Đô cáu tiết xua quân vào đào gỗ dưới chân ải.

Khánh Dư cho quân ném gỗ đá xuống làm quân Thát chết hại vô số.

Sang ngày thứ năm, Hoài Đô hiến kế:

- Quân do thám không tìm được đường nào khác.

Chẳng lẽ quân ta nằm mãi ở đây.

Bọn người man lại thường ra bắn lén gây sợ hãi cho binh lính.

Theo tôi, Nguyên soái nên làm thế này... mới có thể vào được ải.

Cốt Đãi Ngột Lang Bảo:

- Ngươi nói phải lắm.

Liền truyền cho Triệt Triệt Đô, Đoàn Hưng Trí, Tín Thư Phúc y kế thi hành.

Tín Thư Phúc chọn trong đám mấy vạn quân được hai trăm tên rất thạo nghề trèo núi, đêm hôm ấy cho mỗi tên đeo một bó cỏ tẩm dầu, leo qua vách đá lên ải, nhất loạt phóng hoả.

Triệt Triệt Đô thấy lửa cháy trên ải, biết mưu kế đã thành, xua quân ào ạt xông lên nhưng đến khi vào được ải, hoá ra là ải không người, chẳng thấy Trần Khánh Dư đâu.

Thì ra hôm ấy Khánh Dư hết hạn năm ngày nên từ chiều đã mang quân vào rừng rồi.

Trên thành chỉ còn mấy lá cờ cắm nghi binh.

Hôm sau Cốt Đãi Ngột Lang hành quân cấp tốc ba ngày liền cũng chẳng thấy bóng dáng quân Đại Việt ở chỗ nào, đến tối cho quân đóng trại lại nghỉ.

Hoài Đô nói:

- Chỗ này có nhiều rừng thưa mà quân ta lại dàn ra quá dài, nếu quân Nam dùng xung binh mà đánh tất quân ta bị cắt ra nhiều đoạn khó ứng cứu được nhau.

A Truật nói:

- Tôi đang muốn quân Nam đến xem chúng nó thế nào đây.

Ta đi suốt ba ngày hôm nay có thấy gì đâu.

Hoài Đô nói:

- Xin chớ nên khinh địch.

Phía trước ta chưa rõ chúng bố phòng thế nào, đằng sau lại không biết Trần Khánh Dư ở đâu.

Nếu hai đầu chúng đánh ập lại, quân ta nguy mất.

Cốt Đãi Ngột Lang bảo:

- Hoài Đô nói phải đấy.

Liền cho các trại dồn cả lên phía trước.

Riêng các xe lương phía sau tránh đoạn rừng thưa, dựa vào sườn núi đá đóng trại đề phòng quân Đại Việt đánh hoả công.

Trần Khánh Dư từ khi cho quân vào rừng lập trại, ngày nào cũng cử thám mã đi dò xét địch tình, hôm ấy biết chắc quân Thát nghỉ lại quãng rừng thưa mới lệnh cho quân sĩ mỗi người mang theo năm bó đuốc, đầu canh hai khởi hành.

Cuối canh ba là lúc quân Thát đang ngủ mệt, Khánh Dư cho quân lính đốt đuốc cắm khắp rừng rồi nổi trống hò reo đánh thốc vào trại giặc.

Quân Thát bàng hoàng tỉnh dậy thì hỡi ôi khắp rừng chỗ nào cũng có đuốc sáng, không biết quân Đại Việt nhiều hay ít, hoảng loạn xô nhau bỏ chạy, thành ra tự gây hại rất nhiều.

Khánh Dư cho đánh cướp hết các xe lương cùng trâu bò phía sau kéo vào rừng, cái gì không mang đi được phóng hoả đốt hết.

Cốt Đãi Ngột Lang thấy đằng sau lửa cháy rực trời, thúc quân chạy miết.

A Truật cầm cây trường thương đi đoạn hậu, gặp ngay Khánh Dư đuổi đến.

Hai bên đánh nhau mấy chục hiệp không phân thắng bại.

Quân sĩ reo hò vang trời dậy đất.

Hoài Đô thấy A Truật ham đánh sợ có điều sơ suất mới đem quân cung thủ quay lại nhất loạt bắn chặn quân Đại Việt.

Khánh Dư ít quân không dám đuổi xa, lại đã lấy được nhiều lương thực của quân Thát, bèn thu quân về trại trong rừng.

Cốt Đãi Ngột Lang cho quân chạy đến sáng mới dám dừng, kiểm điểm quân sĩ người ngựa không thiệt hại bao nhiêu nhưng mất toi mấy vạn thạch lương cùng rất nhiều trâu bò, quân dụng.

Quân do thám của Đoàn Hưng Trí về báo:

- Khánh Dư chỉ có một nghìn du binh nhưng cho đốt đến năm nghìn ngọn đuốc để quân ta tưởng là chúng đông.

(Thời Trần chia quân đội làm ba loại như sau: Du binh là quân chính quy có khả năng cơ động cao, triều đình tổ chức và huấn luyện trang bị, do các tướng lĩnh của triều đình chỉ huy.

Thân binh là quân do các vương hầu tự tổ chức và chỉ huy.

Hương binh là do các hào trưởng ở các làng xã tổ chức)

Cốt Đãi Ngột Lang biết vậy phàn nàn mãi:

- Không ngờ thằng nhãi ranh này lại nhiều mưu mô đến thế, dám lừa cả ta.

Nói xong cho đòi A Truật vào, mắng:

- Ngươi đoạn hậu để mất quân lương, tội chẳng thể tha.

Quân đâu!

Lôi ra chém.

A Nhĩ Hải, Bố Nhĩ Hải, Triệt Triệt Đô, Đoàn Hưng Trí, Tín Thư Phúc năm tướng cùng quỳ xuống xin tha mạng cho A Truật.

Nhưng Cốt Đãi Ngột Lang vẫn hầm hầm nổi giận, nói:

- Nó là con ta.

Cha giết con há chẳng xót sao nhưng để mất quân lương làm quân ta lâm vào thế nguy khốn, không giết thì tướng sĩ có phục nữa không?

Hoài Đô quì xuống, nói:

- Tội của A Truật quả đáng phạt nặng nhưng từ khi thống tướng xuất binh đến giờ chưa có trận đánh nào lớn mà đã chém đại tướng của nhà, e rằng đó không phải là điều hay.

Vậy xin thống tướng hãy cho nợ lại để A Truật đới công chuộc tội.

Xưa nay Cốt Dãi Ngột Lang thường hay nghe lời Hoài Đô nên mới nói:

- Nếu các tướng đã nói như vậy, ta tạm tha cho nó.

Nhưng đổi Bố Nhĩ Hải xuống đoạn hậu.

Trong đám lính Bắc Thoán nhiều kẻ nhớ nhà túm tụm nhau bên bờ sông than thở.

Lại có người vỗ kiếm làm nhịp hát:

Ô kìa đôi én giữa trời

Song song bay lượn khiến người ngẩn ngơ

Gác son lầu ngọc giờ vui thoả

Cửa vàng đây màn gấm êm đềm

Bách Lương lửa bỗng cháy trùm

Cùng nhau lánh nạn bên thềm vua Ngô

Lầu vua Ngô - Cô Tô cũng cháy

Tổ rụng tàn lại hại con thơ

Một thân còn những xác xơ

Cánh run nhớ bạn bơ vơ góc trời

Bay đôi thôi đã hết rồi

Cõi lòng thương nhớ bùi ngùi xót xa.

(Bài Song yến ly của Lý Bạch đời Đường nguyên văn như sau:

Song yến phục song yến

Song phi linh nhân tiện

Ngọc lâu châu các bất độc thê

Kim song tú hộ trường tương kiến

Bách Lương thất hoả khứ

Nhân nhập Ngô vương cung

Ngô cung hựu phần đãng

Sồ tận sào diệc không

Tiều tuỵ nhất thân tại

Sương thư tư cố hùng

Song phi nan phục đắc

Thương ngã thốn tâm trung)

Hát xong lại cùng nhau nhìn về ải Bắc mà khóc.

Có người đến báo việc ấy.

Cốt Đãi bảo với các tướng:

- Ta cần tiến quân cho nhanh, đánh lấy kinh thành của Đại Việt, cướp lương thảo để yên lòng quân sĩ.

Nói xong, Cốt Đãi Ngột Lang cùng các tướng dẫn quân xuôi theo bờ sông Cái, đi mấy ngày nữa ra khỏi rừng đến miền đồng bằng.

Trên các cánh ruộng vừa mới gặt chỉ còn trơ lại gốc rạ.

Đó đây đã có ruộng được cày vỡ.

Tiền quân đi nhanh quá, bỏ hậu quân rớt lại một đoạn khá xa.

Cốt Đãi Ngột Lang nói với các tướng:

- Ta nên đóng trại lại để chờ hậu quân của Bố Nhĩ Hải và Tín Thư Phúc.

Nay xem dân Nam mới thu hoạch vụ mùa.

Các ngươi đem quân vào làng bản cướp lấy lúa gạo, trâu bò bù cho chỗ đã mất.

Hoài Đô nói:

- Nơi đây sâu trong đất giặc, ta đưa quân đi cướp phá phải đề phòng, không nên ham quá nhỡ mắc mưu chúng.

Cốt Đãi Ngột Lang nói:

- Đoàn Hưng Trí, Hoài Đô trông coi các trại, cho quân tuần tra rộng ra vùng xung quanh, thấy có quân Nam phải về báo ngay.

Triệt Triệt Đô, A Truật, A Nhĩ Hải mỗi người mang một nghìn quân vào các làng, bất kì cái gì ăn được đều phải lấy về.

Trai tráng kẻ nào muốn theo, cho theo để chúng dẫn đường, kẻ nào không theo, giết hết.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 9: Mải lùng ăn A Truật suýt toi mạng


- Hư!

Hư!...Hư!

Người ta đã bảo không đi, lại cứ bắt đi.

Người ta có phải là đàn bà, trẻ con đâu..ư..ư...

Thằng cu Quý vừa khóc vừa kể lể.

Nó đang tức các anh bắt theo đám đàn bà con gái đi chạy giặc.

Nhâm cũng bực lắm, dỗ mãi mà cu Quý vẫn nhất định đòi ở lại theo các anh đánh giặc.

Nhâm gắt:

- Mày ở lại chỉ làm vướng chân người ta ra thôi.

Ông bác đã bảo tất cả trẻ nhỏ đều phải đi hết.

Mày không nghe thấy à?

- Tôi mười ba tuổi rồi, đâu có còn là trẻ nhỏ.

Các anh chỉ biết đánh giặc lấy một mình.

Tôi ứ đi!

Tôi cứ ở lại đấy, các anh đánh được, tôi cũng đánh được.

Cu Quý vênh mặt nói.

Cái bàm tóc múi bưởi trên thóp nó toẽ ra rất ngang ngạnh.

Nhâm bực bội vứt con dao đang vót tên xuống chiếc chõng tre, nói:

- Thôi!

Mặc xác mày.

Tao sang nhà ông bác, gọi anh cả về để anh ấy tai cho mày một trận.

Nhâm vừa đi, cu Quý thấy ai đó ném miếng mấu tre vào chân mình.

Nó quay lại, sửng sốt kêu lên:

- Ơ!

Na! mày chưa đi à?

Ai cho mày ở nhà thế.

Thôi!

Đi đi, đàn bà con gái không được ở nhà.

Na là con bé hàng xóm, kém Quý một tuổi, hai nhà ở gần nhau nên nó thường sang chơi với Quý.

Na thấy Quý lên mặt đàn anh, cười hí hí, nói:

- Anh Quý ra đây em bảo này.

Quý chạy ra.

Na bảo:

- Không được đuổi em đi, em cho xem cái này.

- Tao chả xem cái gì hết.

Tao đợi anh cả về còn theo đi đánh Thát.

- Đợi anh cả về lại chả bị tống đi sớm.

Em có cái này đánh được Thát, ra đây em cho xem.

Na kéo Quý ra góc vườn, rút trong bụi chuối ra một cây nỏ hun bồ hóng đen kít, dây vẫn còn chắc nguyên.

Mắt cu Quý sáng lên, hỏi:

- Ở đâu ra thứ này thế?

- Của thầy em đấy.

Khi trước thầy em chưa vào lính vẫn dùng nó đi săn mà.

Cu Quý lên dây nỏ nhưng cánh nỏ cứng quá hí hoáy mãi vẫn không sao kéo được sợi dây lên đến mỏ lẫy.

Na chỉ vào cái cần gỗ gạt dây, bảo:

- Thầy em vẫn cầm cái này kéo một cái là lên được.

Cu Quý làm theo, nó đỏ mặt kéo cần gạt, sật một cái:

- A!

Được rồi!

Quý giơ nỏ nhắm vào cây chuối kéo lẫy.

Phựt!

Cái Na há mồm nhìn, reo lên:

- Trúng rồi!

Trúng rồi!

Hai trái đào của nó bồng lên xẹp xuống theo nhịp nhảy.

Quý đưa ngón tay trỏ lên miệng suỵt một tiếng, ra hiệu im lặng, nói:

- Có tên đâu mà đòi trúng rồi!

- Ừ nhỉ!

Hì hì...

- Mày ở đây đợi, tao đi kiếm tên.

Nói xong, cu Quý chạy vào nhà, thuổng luôn ba mũi tên của Nhâm, chạy ra vườn.

Hai đứa trẻ biến mất vào những ngôi nhà bỏ trống.

Làng Đồng Bảng vắng teo vắng ngắt (Làng Đồng Bảng huyện Tùng Thiện - nay là huyện Ba Vì).

Dân làng đã đi lánh giặc từ khi nhận được bố cáo của triều đình, chỉ còn mấy chục tráng đinh ở lại giữ làng.

Họ tập trung trong đình vây quanh lý trưởng Phùng Lộc Hộ bàn kế đánh giặc.

Phùng Lộc Hộ ngồi ngay ngắn giữa chiếu, ông hỏi cả Bính:

- Thằng cu Quý nhà anh đã chịu đi chưa?

- Thưa bác.

Hôm qua cháu về nhà không thấy nó.

Đến bây giờ cũng không ai biết nó ở đâu.

Chắc con Na rủ nó đi rồi.

Cái con Na cũng ương lắm, bé tí mà cứ đòi ở lại đánh Thát.

Phùng Lộc Hộ cả cười, nói:

- Trẻ con cũng ham đánh giặc, thật phúc cho đất nước.

Tôi mới nhận được tin bên Tam Dương anh em Lỗ Định Sơn vừa thắng lớn.

Họ dùng bẫy sập làm cho giặc chết hại rất nhiều.

Làng ta phải nghĩ cách đánh cho chúng biết mặt dân Nam.

Một người nói:

- Làng ta không ở cạnh đường, chưa chắc chúng đã đánh vào, hay là ta đem quân tập kích chúng.

Phùng Bính nói:

- Quân ta có mấy chục người mà đi tập kích, e bất lợi.

Giặc thế nào cũng dừng lại chờ nhau.

Bọn tiền đội nhất định phải đi cướp phá kiếm cái ăn.

Ta nhân đó mà đánh.

- Thế chúng không đi cướp thì sao?

- Làm gì có giặc nào là giặc không đi cướp bao giờ.

Phùng Lộc Hộ nói:

- Anh Bính nói đúng lắm.

Các chú cứ vót nhiều tên nhiều chông vào.

Nhất định giặc sẽ đến, lúc đó tha hồ mà đánh.

Mà chúng không đến, ta kéo chúng đến chứ lo gì.

Một người nói:

- Ta cũng nên học anh em bên Tam Dương làm nhiều bẫy sập mới được.

Phùng Lộc Hộ lắc đầu nói:

- Địa thế làng ta khác, không thể làm bẫy sập được.

Vả lại giặc đã đề phòng cách ấy của ta rồi, không dễ gì chúng mắc lại.

Ta nên có cách đánh khác.

Bây giờ các chú về tranh thủ nghỉ ngơi, ai vót thêm tên thì vót.

Các đô trưởng Bính, Giáp, Dũng, Long, Hào ở lại nhận kế.

Khi chỉ còn lại năm vị đô trưởng, Phùng Lộc Hộ mới dặn nhỏ mỗi người mấy câu.

Ai nấy vui vẻ đi lo phần việc của mình, không biết trong hậu đình có hai đứa bé ngồi nghe mọi người bàn cách đánh giặc.

Trời tối gió rét, cái Na bảo:

- Rét ghê!

Anh Quý ơi em đói quá!

- Ừ!

Tao cũng thế.

Bây giờ có cái gì ăn thì hay thật.

Hay mày ở đây để tao về xem có cái gì ăn được mang ra cho!

- Ứ!

ở đây một mình em sợ lắm.

Ông tượng kia cứ nhìn trừng trừng.

Có cả chuột nữa.

- Nhưng mày theo về nhỡ các anh bắt được, tống đi luôn đó.

Chịu khó đợi anh một lúc đi, cứ cầm chặt cây nỏ này là hết sợ đấy.

Quý nói xong, dúi cây nỏ với mấy mũi tên cho cái Na, nó chạy biến ra ngoài.

Cái Na ôm cây nỏ ngồi lại một mình, thỉnh thoảng lấm lét nhìn trộm ông tượng.

Trong ánh sáng lờ mờ của đĩa đèn dầu lạc với mấy nén nhang, ông tượng nhìn nó không chớp mắt.

Lúc lúc có ít gió lọt qua khe cửa làm ngọn đèn lung lay, cái Na thấy ông tượng như cười với nó, lúc sau không còn sợ nhưng đói đau cả bụng, nó mong cu Quý nên mon men ra cửa ngóng.

Mãi cu Quý không quay lại, cái Na ôm chặt cây nỏ, ngồi ngủ gật ngay dưới chân bệ ông tượng.

Gần canh hai cu Quý mới mò về, không biết nó kiếm đâu được ít cơm nguội với mấy củ khoai luộc còn nóng, lay vai cái Na, gọi:

- Na ơi!

Có cơm có khoai đây, dậy ăn đi này.

- Ứ!

Buồn ngủ lắm, chẳng ăn đâu.

- Dậy ăn đi chứ, đói ngủ sao được.

Ăn đi mai mới có sức mà đánh Thát.

Nghe nói mai đánh Thát, cái Na tỉnh như sáo hỏi:

- Mai đánh Thát thật hả anh Quý?

- Thật.

Triệt Triệt Đô bảo A Truật:

- A Nhĩ Hải không cướp được lương lại thiệt hại quân mã.

Nếu chúng ta không kiếm thêm được lương thảo e rằng chẳng mấy ngày nữa mà nguy khốn.

A Truật bảo:

- Ông nói phải lắm.

Ngày mai chúng ta nhất định phải tìm bằng được nơi cất giấu lương thực của người Nam.

- Muốn vậy ta đi xa ra một chút.

Các làng phía ngoài kia thế nào cũng có nhiều.

Dân ven đường này mang lương thực đến cất ở đó chứ đâu.

Sáng sớm hôm sau, A Truật và Triệt Triệt Đô chia quân làm hai đường đến các làng xa nhưng tuyệt nhiên không thấy một tiếng gà kêu chó cắn, cũng không hề thấy một hạt lúa củ khoai nào cả.

Đến gần trưa hai cánh quân gặp lại nhau trên một cánh đồng rộng, bỗng xa xa thấy có đoàn người quẩy gánh hối hả chạy, ra vẻ nặng nề lắm.

A Truật bảo:

- Lương thực kia chứ đâu.

Không đuổi gấp bắt lấy, để làm gì.

Hai tướng thúc quân đuổi theo.

Đoàn người quẩy gánh chạy dần về phía cánh rừng nhỏ phía xa rồi toẽ ra làm hai đi vào một làng lớn, đó là làng Đồng Bảng.

Quanh làng có luỹ tre gai dày bao bọc.

Cánh rừng nhỏ chắn ngay phía đầu làng như một tấm bình phong.

Chia con đường thành hai lối tả hữu đi vào.

A Truật bảo Triệt Triệt Đô:

- Ông đi vào cánh tả, tôi vào cánh hữu, làng này lớn, ta hội quân ở giữa đình làng.

Trời đã ngả về chiều, nắng yếu nhưng mà hanh.

Cánh quân của Triệt Triệt Đô theo phía tả đi vào khỏi cổng làng, thấy đường ngang ngõ tắt phơi đầy rơm rạ.

Triệt Triệt Đô bảo đám lính:

- Làng này xem ra trù phú lắm.

Các ngươi gắng tìm kĩ nhất định có lương thực.

Một tốp lính đã vào đến khu vườn chùa, thấy các khóm chuối ở đây vẫn còn nguyên buồng nặng trĩu, liền xúm nhau lại lấy kiếm chặt đem ra.

Phựt!

Một mũi tên cắm trúng ngực tên lính Thát, nó đổ kềnh giãy giãy.

Bọn lính Thát ngơ ngơ ngác ngác không biết tên từ đâu bắn tới, một đứa nữa bị mũi tên thứ hai xuyên trúng đùi.

Nó kêu thét lên, ngồi bệt xuống đất.

Bọn còn lại đã nhìn thấy Quý, một đứa tuốt kiếm xông tới chém.

Dòng máu đỏ tươi ứa ra dưới lưỡi kiếm.

Quý nằm gục trong mảnh đất vườn chùa, tay ghì chặt cây nỏ còn mũi tên chưa bắn.

Cái Na từ bụi chuối phía sau xông ra ôm lấy xác Quý, khóc nấc lên:

- Anh Quý ơi!

Anh Quý ơi!

Đừng chết anh ơi...

Một tên lính Thát quát:

- Bắt lấy con nhãi.

Tên lính khác túm lấy Na kéo đi.

Na giằng lại, ghé miệng cắn một miếng thật mạnh vào tay tên lính Thát làm bật ra miếng thịt đỏ lòm.

Tên lính Thát kêu ré lên vì đau đớn, nó đâm thẳng mũi kiếm vào ngực cô bé.

Na từ từ lả người ôm lên xác Quý.

Sau sự kháng cự yếu ớt đó, cả làng lại im lặng.

Một sự im lặng dồn nén ngột ngạt oi nồng như trước cơn bão táp.

Cánh quân của A Truật từ phía hữu đi vào đến giữa làng, thấy trên bãi đất rộng có năm sáu cây bồn trát bằng rơm trộn bùn vừa cao vừa to, bên trên lợp rạ chống mưa.

A Truật reo lên bảo:

- Lương thực đây rồi.

Các ngươi cứ tìm nữa đi, nhất định còn nhiều đấy.

Bọn lính xúm xít phá các cây bồn tìm lương thực nhưng bồn nào bới ra cũng toàn rơm khô củi nỏ tẩm dầu.

A Truật nói:

- Chết rồi!

Có lẽ chúng ta đã mắc mưu quân Nam.

Lui binh mau.

Nhưng không kịp.

Vô số những mũi tên quấn giẻ ở đầu có lửa từ khắp mọi nơi bắn tới.

Rơm cỏ khắp làng cháy lên ngùn ngụt.

Quân Thát rối loạn, xô nhau chạy ra phía cổng nhưng các lối đều có xe chở rơm rạ cháy tơi bời chắn mất.

Trời hanh lại gió hây hẩy, khói bụi bốc lên mù mịt.

Lửa cháy bên tả.

Lửa cháy bên hữu.

Khắp đất trời chỗ nào cũng toàn là lửa.

Tiếng tù và, tiếng trống ngũ liên nổi lên liên hồi rồi tên nỏ không biết từ đâu bắn ra như châu chấu.

Quân Thát sợ hãi giày xéo lên nhau mà chạy, nhiều đứa nhảy cả xuống ao tránh lửa, không biết dưới ao đầy những rào tre gai và chông nhọn đang chờ.

Triệt Triệt Đô cầm búa Nguyệt Lãng gạt lửa, xông pha đi tìm A Truật.

Quân Thát đang hoảng loạn không biết chạy đường nào, A Truật bảo các tướng:

- Không liều đánh ra, chịu chết cả ở đây sao?

Chúng tướng liều chết xông vào lửa đạn đánh thốc sang con đường bên tả.

May gặp Triệt Triệt Đô tới đón, cầm mộc che tên đưa A Truật và quân lính theo lối vườn chùa ra ngoài, mặt mũi chân tay A Truật đã đầy vết bỏng.

Phùng Lộc Hộ hô anh em xông ra đuổi đánh.

Tiếng trống, tiếng thanh la rầm trời.

Gần tối, quân Thát cắm đầu cắm cổ chạy cho mau.

Triệt Triệt Đô thấy Phùng Lộc Hộ đuổi gần đến nơi mới lén rút mũi tên bắn một phát trúng ngực trái Phùng Lộc Hộ.

Ông thét lên một tiếng thấu trời rồi ngã xuống, máu trong tim tuôn ra thấm đỏ luống đất còn cày dở.

A Truật và Triệt Triệt Đô đang chạy bỗng phía trước có một toán quân hò reo xốc tới.

A Truật bảo:

- Phen này ta chết thật mất rồi.

Thật là:

Lửa đạn phía sau chưa chuồn thoát

Quân vây mặt trước lại đến gần.

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem A Truật có thoát được không.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 10: Trái quân lệnh tiên phong bị giết (1)


Bọn A Truật, Triệt Triệt Đô bị dân binh đuổi, đang chạy không kịp thở lại thấy phía trước có quân xông đến mà trời tối đến nơi.

A Truật bảo:

- Ta chết ở đây mất.

Triệt Triệt Đô nói:

- Xin công tử chớ lo, để tôi ra đánh chúng.

Triệt Triệt Đô nói xong múa cây đại phủ xông lên, khi tới gần thấy tướng đi đầu cánh quân kia chính là A Nhĩ Hải.

Số là Cốt Đãi Ngột Lang thấy A Truật cùng Triệt Triệt Đô mang quân đi từ sáng chưa về mới bảo A Nhĩ Hải đem một nghìn lính đi tìm, nếu thu được nhiều lương thảo thì cùng nhau chuyên chở, nếu bị đánh phải tiếp ứng ngay.

Bọn Triệt Triệt Đô, A Truật gặp được A Nhĩ Hải mừng quá, cùng đưa quân về trại.

Tối hôm ấy có quân do thám về báo thấy quân Nam đóng rất nhiều ở ngã ba Bạch Hạc.

A Truật báo cho Cốt Đãi Ngột Lang.

Ngột Lang thúc các tướng đem quân đi ngay trong đêm, hai hôm sau đến gần ngã ba Bạch Hạc, chọn cánh đồng bằng phẳng cách bờ sông năm dặm hạ trại.

Gần trưa Cốt Đãi Ngột Lang cùng các tướng ra bờ sông xem, bên kia cờ xí rợp trời, thuyền bè san sát.

Cốt Đãi Ngột Lang nói:

- Có thể đánh một trận lớn diệt sạch quân Nam được rồi đây.

Ngã ba Bạch Hạc mùa cạn, lòng sông hẹp, ngầu đục phù sa, hai bên bờ ngô non bát ngát như tấm thảm màu lục trải dài đến tận chân trời.

Trên mặt sông những chiếc thuyền mông đồng đi đi lại lại thoăn thoắt, tiếng dô dô của binh lính vang xa đến mấy dặm.

Lê Tần đứng trên lâu thuyền quan sát quân sĩ dàn trận.

Các thuyền cắm cờ chỉ huy đều hướng về phía bên kia sông.

Mỗi thuyền chỉ huy có hai thuyền châu kiều đi phía trước.

Trên mỗi thuyền châu kiều có hai giàn lệ chi pháo, một trăm cây nỏ mạnh, năm mươi mái chèo, mỗi mái chèo có hai người đẩy.

Theo sau mỗi thuyền chỉ huy là tám thuyền mông đồng.

Mỗi thuyền mông đồng có ba mươi hai mái chèo, mỗi mái chèo có một người đẩy, hai mươi nhăm chiến binh vai đeo túi tên, tay cầm nỏ cứng sẵn sàng tiến đánh.

Lê Tần truyền lệnh:

- Tất cả tướng sĩ trên bộ, dưới thuyền không được làm tổn hại các ruộng ngô non của dân.

Ai sơ ý làm gãy hoặc để trâu ngựa ăn một cây nào, phải đánh mười trượng.

Ai cố ý trái lệnh phải xử theo quân pháp.

Lệnh ban ra, quân sĩ các đội, các thuyền đều làm đường riêng để đi từ trên bờ xuống sông, không tổn hại một cây ngô nào của dân.

Trời gần sáng có thám mã về báo giặc đã đến bên kia sông.

Lê Tần lên bờ, vừa gặp lúc Trần Quốc Tuấn đến kiểm tra phòng tuyến.

Hai người lên đài cao nhìn sang bên kia sông xem thế giặc, thấy doanh trại Mông Thát đóng liên tiếp nhau mấy chục dặm, toàn một thứ lều hình tròn theo kiểu dân du mục.

Trại nào cũng có rào làm bằng tre hoặc gỗ rất chắc chắn.

Các cửa tiền hậu, tả hữu thông thoáng, ra vào rất tiện lợi.

Đường trên ngõ dưới có phép tắc.

Trần Quốc Tuấn nói:

- Ta thường nghe nói Cốt Đãi Ngột Lang là người giỏi cầm quân, nay xem y cắm trại mới thấy quả là danh bất hư truyền.

Lê Tần hỏi:

- Tôi xem thế giặc đang hăng.

Tiết chế định phương lược thế nào?

Quốc Tuấn nói:

- Nên tránh khí hăng buổi sáng, dồn sức đè bẹp cái khí nản ban chiều thì chắc thắng.

Ông cứ thế này... thế này... mà làm.

Lê Tần mỉm cười có vẻ tâm đắc lắm, nói:

- Xin tuân lệnh.

Quốc Tuấn xuống đài trở về đại bản doanh ở Bình Lệ.

Bên kia sông Hoài Đô nói với Cốt Đãi Ngột Lang:

- Quân ta đã hội đủ, sĩ khí đang hăng.

Xin thống tướng cho quân tiến đánh ngay ắt quân Nam không kịp trở tay.

- Ta đâu phải không biết điều ấy nhưng các bè tre nứa còn thiếu nhiều.

Chỉ cần ta bắc được cầu phao sang bên kia coi như quân Nam đã nằm trong rọ cả rồi.

Ngươi hãy cùng bọn A Nhĩ Hải, Tín Thư Phúc cho quân làm suốt đêm nay, đầu giờ Mão ngày mai phải có cho ta hai nghìn bè tre để bắc cầu phao, năm trăm mảng nứa có thể chở được quân sang sông và đuổi đánh thuyền quân Nam.

Hoài Đô nhận lệnh đi ra.

Đoàn Hưng Trí đến nói:

- Trên bãi sông có rất nhiều cây ngô non, xin thống tướng điều quân cắt về cho ngựa ăn, giữ lại lương cỏ khô để đến những ngày sau cũng tốt.

Ngột Lang cười ha hả, nói:

- Thế là người Nam bắt đầu cấp quân lương cho ta rồi đấy.

Nói xong sai Bố Nhĩ Hải đem mấy nghìn quân đi cắt sạch cánh đồng ngô đem về cho ngựa ăn.

Những con ngựa chiến to khoẻ lâu nay trên đường hành quân phải ăn toàn cỏ khô thóc cũ kham khổ, nay được cây ngô non ngốn lấy ngốn để.

Con nào cũng bạnh cổ ra nuốt cái thứ cây phương Nam ngon ngọt.

Đầu giờ Mão hôm sau, Cốt Đãi Ngột Lang họp các tướng, truyền lệnh:

- A Truật, A Nhĩ Hải đem một vạn quân lên năm trăm chiếc bè, đánh nhau với binh thuyền quân Nam bảo vệ cho đội quân bắc cầu phao.

Đoàn Hưng Trí, Tín Thư Phúc đem một vạn quân Bắc Thoán đưa hai nghìn bè tre xuống sông bắc ba hàng cầu phao.

Triệt Triệt Đô cùng ta khi nào xong cầu phao, cho kị binh sang sông đánh vào trại quân Nam.

Hoài Đô, Bố Nhĩ Hải trông coi hậu quân, lương thảo cho sang sông, khi sang đến bên kia điều lính cắt hết cây ngô ở bờ bên ấy mang đi làm thức ăn dự trữ vài ngày cho ngựa.

Các tướng nhận lệnh ra quân.

Cứ mười người một bè tre hoặc bè nứa khiêng ra sông, quân nào theo tướng ấy ào ào kéo đi như thác đổ, chỉ trong chốc lát đã kín đặc mặt nước.

Bên kia Lê Tần trên đài cao đã nhìn thấy mới cầm cây cờ lệnh phất một cái, mười bốn chiếc thuyền châu kiều tiến về phía quân Thát đang xúm xít bắc cầu phao; gần đến nơi hai mươi tám giàn lệ chi pháo cùng phóng đạn.

Đạn đá rơi như mưa xuống đám quân Bắc Thoán nhiều đứa vỡ đầu chết trôi ngay trên sông, máu loang đỏ cả nước, tiếng kêu gào váng cả trời đất.

A Truật, A Nhĩ Hải đem năm trăm chiếc mảng nứa xông ra, cho cung thủ nhất tề bắn trả, tên bay như mưa rào, tiếng reo hò sôi cả mặt sông.

Lúc ấy một nghìn bốn trăm cây nỏ mạnh trên các thuyền châu kiều mới theo hiệu lệnh bắn ra.

Quân A Truật, A Nhĩ Hải không sao chống đỡ nổi, lăn xuống nước chết vô số.

Vả lại quân Thát không thạo nghề chèo chống trên mặt nước, làm bè mảng nhiều cái xoay tít va vào nhau mà vỡ.

Quân sĩ rơi xuống sông chết đuối không có người vớt, kêu la inh ỏi.

Lê Tần cho nổ một tiếng pháo, năm mươi sáu chiếc thuyền mông đồng cùng tiến sang.

Quân Thát liệu thế không địch nổi dạt cả lên bờ, bỏ lại cơ man bè mảng trôi phập phều trên sông.

Bên kia Lê Tần cho nổi chiêng thu quân về hữu ngạn.

Cốt Đãi Ngột Lang kiểm điểm quân mã, thiệt mất một nghìn rưởi quân Bắc Thoán và gần một nghìn quân Mông Cổ, ngồi buồn rầu chưa biết nên tìm cách gì để sang sông thì Hoài Đô đến, nói:

- Quân ta không có thuỷ binh mà người Nam lại rất giỏi thuỷ chiến, nếu không dùng kì binh ắt không thắng được chúng.

Cốt Đãi ngột Lang bảo:

- Nay ta mới biết thế nào là Miền Bắc cưỡi ngựa, phương Nam chèo thuyền.

Ngươi có mẹo gì không?

(Tục ngữ Trung Quốc)

- Trình nguyên soái!

Muốn sang được sông nhất định phải làm thế này... mong nguyên soái minh xét.

Cốt Đãi Ngột Lang cười ha hả, nói:

- Phải lắm!

Phải lắm!

Quả là trời đã cử ngươi giúp ta.

Nói xong liền cho gọi bọn A Truật, Triệt Triệt Đô, A Nhĩ Hải, Đoàn Hưng Trí vào nhận mật lệnh.

Đến đêm, trời trở rét mưa bay mù mịt trên sông, tối như bưng, giáp mặt không nhìn thấy nhau.

Canh ba, A Truật, A Nhĩ Hải cho quân khiêng bè nứa ra sông reo hò thách đánh làm nghi binh thu hút sự chú ý của quân Đại Việt nhưng không dám tiến sang mà cũng chỉ thấy quân Đại Việt reo hò chứ không có thuyền tiếp chiến.

Trong khi đó bọn Đoàn Hưng Trí, Tín Thư Phúc đem số quân Bắc Thoán lên phía thượng nguồn bắc cầu phao, đến gần sáng thì xong.

Tín Thư Phúc cho đốt hàng trăm hoả bè thả xuôi cho trôi vào thuỷ trại quân Đại Việt.

Lửa bốc lên soi sáng cả một dải sông nhưng chẳng thấy thuyền bè của quân Việt đâu.

Mờ sáng, Cốt Đãi Ngột Lang cùng Triệt Triệt Đô mang kị binh sang sông đánh thẳng vào trại quân Việt cũng không có ai chống đỡ, dưới sông không thấy thuyền bè nào cả.

Bọn A Truật, A Nhĩ Hải cho quân đẩy bè sang sông.

Cốt Đãi ngột Lang đang bối rối không biết Lê Tần đem quân biến đi đằng nào thì thấy một đám lính khinh kị của Đại Việt thấp thoáng phía cánh rừng xa, liền bảo Triệt Triệt Đô:

- Ngươi đem một nghìn quân kị đuổi bọn kia, bắt cho được vài tên.

Ta sẽ đem quân tiếp ứng cho.

Triệt Triệt Đô đem bọn dũng sĩ Cổ Hà Cáp Hoa, Ngạc Cáp Đan cùng một nghìn kị binh đuổi miết suốt hai ngày nhưng quân Việt toàn kị binh nhẹ chạy nhanh, không sao đuổi kịp được.

Chiều ngày thứ ba tới một cánh đồng rộng, phía trước có sông chắn ngang, mà đám kị binh Đại Việt lên thuyền sang bên kia sông mất rồi, Triệt Triệt Đô bảo các tướng:

- Ở đây trống trải, không biết là nơi nào?

Có tên lính trinh thám người Bạch Man nói:

- Trình tướng quân!

Cánh đồng này gọi là Bình Lệ nguyên, dòng sông kia là Bình Lệ.

Triệt Triệt Đô nói:

- Ta nên đóng trại lại đợi nguyên soái đến rồi sẽ liệu.

Nói xong lệnh cho quân sĩ xuống ngựa cắm trại giữa đồng nghỉ.

Cuối canh một, bọn A Truật, A Nhĩ Hải, Đoàn Hưng Trí, Tín Thư Phúc cũng lần lượt lục tục kéo đến, lúc ấy là đêm mười một tháng chạp năm Nguyên Phong thứ bảy (Đinh Tỵ-1257).

Cốt Đãi Ngột Lang dẫn các tướng ra sông ngắm sang bên kia, chỉ thấy trời tối đen như mực, không biết quân tình Đại Việt thế nào, dưới sông cũng không có ánh đèn lửa thuyền bè gì cả mới bảo Tín Thư Phúc:

- Ngươi cử ngay mấy đội do thám sang sông xem quân Nam ở bên ấy nhiều hay ít.

Mấy đội do thám về đều báo bờ bên kia không có quân Nam.

Cốt Đãi Ngột Lang chắc mẩm quân Đại Việt sợ hãi đã bỏ đi hết.

Số là hôm trước ở ngã ba Bạch Hạc, Quốc Tuấn đã dặn Lê Tần chỉ cần đánh một trận cho chúng nhụt nhuệ khí đi rồi rút quân về Bình Lệ hợp với quân của nhà vua, phục sẵn chờ quân giặc tới, để một đội khinh kị nhử cho quân Thát đi đúng vào nơi đã mai phục.

Tại Bình Lệ, Trần Khuê Kình nói:

- Quân Thát đến nhất định không dám sang sông ngay.

Ta nên nhân lúc giặc chưa lập xong trại, tung quân vào đánh chắc thắng to.

Trần Quốc Tuấn nói:

- Quân giặc mới đến, nếu ta đánh ngay chắc chỉ có số quân đi trước không đáng kể, có thắng thì thắng nhỏ mà lại phô mất lực lượng của mình, phí công mai phục, đợi chúng đến đông mới đánh, khó cho ta vì bên kia toàn đồng trống rất thuận tiện cho kị binh của chúng.

Chi bằng ta đem quân phục sẵn trong các cánh rừng bên này, các thuyền chiến tạm lánh vào khe lạch và bãi lau, lập thành Điểu Vân trận.

Giặc không thấy quân ta, ắt khinh suất mà tiến.

Khi chúng sang sông, quân thuỷ bộ của ta đổ ra đánh mới có thể toàn thắng được.

Trong thiên Thiểu chúng, Thái công có nói: Đánh vào lúc địch chưa kịp vượt sông.

Hậu quân địch còn chưa xuất quân nhưng Tôn tử, Ngô tử cũng có nói địch đến giữa sông thì đánh.

Ý của ta là như vậy.

(Thiểu chúng: Lấy ít đánh nhiều - Thiên Thiểu chúng trong sách Lục Thao của Hoàng Thạch công)

Các tướng nghe theo, ai mang quân ấy đi mai phục.

Lê Tần cũng mang thuỷ quân lánh vào các bờ lau sậy.

Sáng sớm hôm sau mười hai tháng chạp, Cốt Đãi Ngột Lang đổ quân ra sông, bắc cầu phao vượt sang.

Khi quân sĩ đã xuống sông quá nửa, nghe thấy bên hữu ngạn nổ một tiếng pháo, cơ man là thuyền chiến trong các ngách sông, bãi lau kéo ra.

Tiếng binh lính hô: Giết!

Giết! vang ầm trời đất.

Quân Thát hốt hoảng định thoát lên bờ nhưng không kịp, bị tên đạn bắn chết rất nhiều, xác nổi trên sông như cá ruộng cạn nắng tháng sáu.

A Nhĩ Hải bị một viên đá lệ chi đập vào mặt, máu chảy ướt đẫm ngực.

Hoài Đô nói với Cốt Đãi Ngột Lang:

- Nguyên soái tạm cho lui binh.

Tôi xin hiến kế khác có thể sang sông được.

Cốt Đãi Ngột Lang vội vã cho khua chiêng thu quân.

Quân Thát nghe tiếng chiêng, chen nhau lên bờ chạy như vịt, bị tên đạn của quân Việt bắn đuổi theo, chết đầy bãi sông.

Hoài Đô nói với Cốt Đãi Ngột Lang:

- Tôi nghe nói vua Nam mới dùng một viên tướng trẻ làm nguyên soái, tên là Trần Quốc Tuấn.

Người này trí dũng song toàn, tinh thông thao lược.

Cứ xem cách phục binh thì rõ ràng y đã dùng thế trận Điểu Vân để đánh ta.

Ta phải tương kế tựu kế mà đánh lại mới có cơ thắng được.

Cốt Đãi Ngột Lang hỏi:

- Vậy bây giờ ta phải làm thế nào?

Hoài Đô ghé vào tai Ngột Lang nói thầm mấy câu.

Ngột Lang gật gật lia lịa, nói:

- Ừ!

Được!

Được!
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 10: Trái quân lệnh tiên phong bị giết (2)


Nói xong gọi Triệt Triệt Đô vào, dặn:

- Ta cho ngươi năm nghìn quân, lấy Tín Thư Phúc cùng đi.

Ngươi đem xuống hạ lưu vượt sông sang bên kia.

Không được đánh nhau.

Khi nào thấy quân Nam sang bờ bên này đuổi quân ta, ngươi đánh vào phía sau chúng, cướp hết thuyền bè, không cho chúng có đường rút.

Ta đem quân đánh quay lại nhất định bắt được vua Nam.

Lại dặn Cổ Hà Cáp Hoa và Ngạc Cáp Đan:

- Ta cho hai ngươi mang một nghìn quân ra bờ sông khiêu chiến, vừa đánh vừa lui, nhử cho quân Nam đuổi lên bờ, cứ việc chạy.

Quân Nam đuổi xa bờ sông là chui vào bẫy của ta rồi.

Nói xong gọi bọn A Truật, Bố Nhĩ Hải, Hoài Đô, Đoàn Hưng Trí nhổ trại rút đi.

Cổ Hà Cáp Hoa, Ngạc Cáp Đan đem một nghìn quân ra sông dàn hàng bắn tên xuống thuyền Đại Việt, reo hò thách đánh.

Trung Thành vương và Bùi Khâm cho thuyền tiến sát vào bờ, hô quân xông lên đuổi đánh.

Trần Quốc Tuấn trên đài trận trông thấy vội hạ lệnh khua chiêng thu quân.

Nhà vua đứng cạnh, hỏi:

- Quân ta đang đuổi giặc sao tiết chế lại cho khua chiêng lui binh?

Quốc Tuấn nói:

- Tâu hoàng thượng!

Binh thư có nói giặc chạy thật thì cờ xí nghiêng ngả, quân ngũ lộn xộn.

Nay quân Thát chạy mà cờ quạt nghiêm chỉnh, hàng ngũ không loạn, ắt muốn nhử quân ta sang sông để chúng dễ bề dùng kị binh mà đánh rồi cho một mũi bọc hậu cướp thuyền bè, quân ta nguy ngay.

Lê Tần nói:

- Tiết chế nói rất đúng.

Dưới hạ lưu có một chỗ sông rộng nhưng nước nông.

Tôi e quân Thát đã theo đó mà sang rồi cũng nên.

Quốc Tuấn nói:

- Điều đó tôi cũng đã tính đến, cho người chặn giữ rồi.

Giặc sang tất có ngựa về báo.

Còn đang nói, có phi mã về báo quân Thát đã theo phía hạ lưu sang sông rồi.

Nhà vua nói:

- Quả không ngoài dự đoán của tiết chế.

Quốc Tuấn bảo Trần Khuê Kình:

- Ông đem quân tiếp ứng cho cánh ấy.

Phải đánh tan đội quân đó, đại quân của chúng mới hết hi vọng sang sông.

Lại cho Trung Thành vương cấp tốc đưa binh thuyền xuống đánh ngang vào đội hình quân giặc.

Khi thuyền của Trung Thành vương tới nơi, quân Thát cũng sang sông gần hết.

Đạo quân của Trần Khuê Kình vây bọc quân Thát, buộc lòng Triệt Triệt Đô phải giao chiến.

Triệt Triệt Đô, Tín Thư Phúc dẫn đầu đám kị binh xông lên.

Trần Khuê Kình cho lệ chi pháo, Hồi Hồi pháo và các giàn nỏ cùng bắn chặn lại.

Người ngựa quân Thát chết chồng chéo lên nhau.

Hai bên đang kịch chiến, bên kia sông có đạo quân kỵ của A Truật tiến đến, ào cả xuống sông lội sang.

Thì ra Cốt Đãi Ngột Lang thấy quân Đại Việt không đuổi, biết là mưu kế của mình đã hỏng, lại thấy bọn Triệt Triệt Đô, Tín Thư Phúc không quay lại, mới bảo A Truật đem kỵ binh đi tiếp ứng.

Lúc ấy A Nhĩ Hải bị thương, đau lắm, đang nằm trong xe, bảo Cốt Đãi Ngột Lang:

- Tôi chắc Triệt Triệt Đô sang được sông rồi.

Nếu nguyên soái cho A Truật sang hãy đánh dọc theo bờ sông ngược lên để chia cắt thủy binh với bộ binh của chúng không cho liên hệ với nhau.

Nhất định quân chúng rối loạn.

Ta nhân đấy mới sang sông được.

Cốt Đãi Ngột Lang nghe theo, cho A Truật cứ y kế thi hành.

Triệt Triệt Đô, Tín Thư Phúc thấy có quân tiếp viện càng đốc quân đánh dấn vào.

Trần Khuê Kình cho nổi một hồi tù và.

Quân Đại Việt lui dần về phía bìa rừng.

Quân Thát đuổi theo.

Bỗng một tiếng pháo nổ.

Hơn năm mươi thớt voi chiến trong rừng xông ra, tiếng gầm rống kinh thiên động địa làm cho ngựa chiến của quân Thát sợ hãi quay đầu ù té chạy.

Trần Khuê Kình thúc quân vây đánh.

Đến khi A Truật sang được sông thì năm nghìn quân của Triệt Triệt Đô đã chết gần hết, Triệt Triệt Đô, Tín Thư Phúc đem quân nhập với quân của A Truật theo bờ sông cố chết đánh lên.

Trần Quốc Tuấn cho đội khinh kỵ ra chặn nhưng kị binh Đại Việt đánh không lại với kỵ binh Mông Thát, bị chết hại nhiều lắm.

Trần Thái tông thấy thế, rút cây bảo kiếm vẫy một cái, dẫn đầu đội long kỵ, cùng thái tử Hoảng xông vào đám quân Thát, đánh rát một hồi, làm quân Thát chùn hẳn lại nhưng quân long kỵ cũng tổn thất nhiều.

Trong lúc ấy Cốt Đãi Ngột Lang xua quân xuống sông bắc cầu vượt sang.

Hoài Đô nói với binh lính:

- Thắng bại chỉ có lúc này, không gắng sức xông lên thì chịu chết cả dưới sông hay sao?

Nói xong tự đẩy bè xông vào đánh nhau với thuyền Đại Việt.

Thuỷ binh Đại Việt tuy mạnh nhưng đã mất tuyến chi viện trên bờ mà mấy vạn quân Thát tràn cả xuống sông, không sao cản nổi nữa.

Bọn Đoàn Hưng Trí, Cổ Hà Cáp Hoa, Ngạc Cáp Đan đã sang được bờ liền đánh thốc lên hợp với bọn A Truật tấn công quân Đại Việt.

Trần Thái Tông vẫn đang xông pha đánh giết trong đám quân Mông Thát.

Tên đạn loạn xạ.

Đội quân long kỵ đã núng thế, không chặn được đám kỵ binh Mông Thát.

Vua ngoảnh lại trông tả hữu, chỉ có Lê Phụ Trần (Lê Tần) một mình một ngựa, ra vào trận giặc, sắc mặt bình thản như không (Câu này lấy nguyên văn trong ĐVsktt).

Lê Tần ra sức đánh đỡ che chắn bảo vệ Thái Tông cùng thái tử.

Đang khi nguy cấp bỗng thấy phía sau quân Thát rối loạn, bỏ chạy tứ tung.

Hoá ra Trần Khuê Kình đã kịp mang đội tượng binh đến cứu giá.

Trần Quốc Tuấn cũng thúc quân đánh dốc xuống, tạm đẩy lui quân Thát.

Bùi Khâm nói:

- Xin hoàng thượng dừng lại ở binh trạm, chỉnh đốn quân ngũ để tiếp tục chiến đấu.

Nhà vua nói:

- Được!

Ta quyết sống mái với quân Thát phen này.

Lát sau nhà vua đem ý ấy nói với Lê Tần.

Tần quỳ xuống tâu:

- Nếu bệ hạ làm như vậy chẳng qua chỉ là dốc túi đánh một ván thôi, hãy tạm lánh chúng rồi liệu sau thì hơn.

(Câu này nguyên văn trong ĐVsktt viết: "Nay thì bệ hạ chỉ đánh một ván dốc túi thôi!

Hãy nên tạm lánh chúng, sao lại có thể dễ dàng tin lời người ta thế.")

Trần Quốc Tuấn cũng nói:

- Quân Thát tuy thiệt hại rất nhiều nhưng chúng đã sang được sông.

Kỵ binh của chúng còn mạnh.

Nếu ở lại quyết chiến thì quân ta phải chịu tổn thương nặng.

Lời bàn của Lê tướng quân là rất sáng suốt.

Xin hoàng thượng xét cho.

Nhà vua nói:

- Tiết chế cũng nói như vậy, ta nên lui binh.

Quốc Tuấn nói:

- Tướng quân Lê Tần và tướng quân Trần Khuê Kình hộ giá nhà vua rút theo đường bộ đi trước về bến Lãnh Canh.

Trung Thành vương, lão tướng Bùi Khâm cùng tôi sẽ đi đường thuỷ, đem binh thuyền về Lãnh Canh đón hoàng thượng.

Lúc ấy quân Thát lại ồ ạt xông đến.

Trần Khuê Kình đi trước mở đường cho nhà vua, gặp ngay Cổ Hà Cáp Hoa.

Hai bên đánh nhau ba bốn hiệp.

Khuê Kình giả vờ thua chạy.

Cổ Hà Cáp Hoa đuổi sát tới tung quả truỳ sắt đập sang.

Khuê Kình né người tránh được, quay ngoắt lại, tay trái đẩy vào vai Cáp Hoa, tay phải chém một nhát kiếm cực mạnh.

Cáp Hoa bật cả mũ trụ, đứt nửa mặt lăn xuống chết.

Quân Thát thấy Khuê Kình dũng mãnh như một vị thần, lùi cả lại.

Đoàn quân của Thái Tông vì thế đi thoát.

Trần Quốc Tuấn thấy nhà vua đã đi xa, cho quân vừa đánh vừa rút xuống thuyền, nhổ neo xuôi dòng mà đi.

Cốt Đãi Ngột Lang hô quân cung tên bắn xuống nhưng không làm gì được.

Bọn Triệt Triệt Đô, Tín Thư Phúc, A Truật đến ra mắt Cốt Đãi Ngột Lang, trình lại mọi việc.

Ngột Lang đang lúc cáu tiết vì mưu kế hỏng bét, không bắt được vua Đại Việt lại thiệt gần vạn nhân mã, mắng Triệt Triệt Đô:

- Ta cho ngươi Năm nghìn quân, bây giờ đâu cả?

Ta dặn ngươi sang sông không được giao chiến chỉ cốt cướp thuyền, vậy thuyền ngươi cướp được đâu?

Triệt Triệt Đô không biết nói sao, cúi đầu chịu trận.

Cốt Đãi Ngột Lang gọi quân mang thuốc độc đến bắt Triệt Triệt Đô tự xử.

Các tướng đều quỳ xuống khóc như mưa xin cho Triệt Triệt Đô.

Tín Thư Phúc nói:

- Tôi là phó tướng, nếu tiên phong có tội thì tôi há không có tội hay sao?

Tôi nguyện cùng chịu tội với tiên phong.

Ngột Lang nói:

- Nhà ngươi cũng có tội, nhưng xưa nay việc quân trách nhiệm ở người chánh tướng.

Ta để đường cho ngươi đới công chuộc tội, còn Triệt Triệt Đô tội đã rõ ràng chẳng thể tha.

Cốt Đãi Ngột Lang nói xong bỏ ra ngoài, lệnh cho các tướng mang quân đuổi theo vua Đại Việt.

Triệt Triệt Đô nói:

- Ta một đời thanh gươm yên ngựa, lẽ nào lại chết bằng thuốc độc như bọn đàn bà.

Nói xong quay về Bắc, lạy ba lạy, rút kiếm đâm cổ chết.

Bọn Hoài Đô, Bố Nhĩ Hải, Đoàn Hưng Trí cùng các tướng thấy Triệt Triệt Đô chết thê thảm như vậy, ai cũng thương xót.

Trong trận này dũng tướng Ngạc Cáp Đan xông pha lập nhiều công trạng được Ngột Lang lấy làm tiên phong thay Triệt Triệt Đô.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 10: Ngăn binh thù viện tướng hi sinh


Lê Tần cùng Trần Khuê Kình bảo vệ Thái Tông đi chưa lâu thì quân Thát đuổi tới.

Chỗ này đồi thấp lúp xúp, cây cối rậm rạp, cỏ lau chằng chịt.

Mấy viên thị vệ xin Thái Tông dừng lại lập trại đánh giặc.

Lê Tần gạt đi, nói:

- Nơi này thế đất thiên la không thể trú quân.

Tướng quân Khuê Kình hộ giá đi cho nhanh để tôi cản giặc.

(Binh pháp của Tôn Tử trong thiên Hành binh có nói: Gặp thế đất thiên la cây cối rậm rạp, cỏ lau chằng chịt như mây khói thì phải tránh xa)

Nói xong, Lê Tần lấy một trăm kị sĩ mang cung nỏ nấp trong các lùm cây hai bên, một mình hoành giáo đứng cản giữa đường, đợi tiền quân giặc vừa tới, chẳng nói chẳng rằng xông thẳng lên đâm chết mấy tên.

Lính Thát lùi cả lại.

Lê Tần quay ngựa lững thững bỏ đi.

Quân Thát liền đuổi theo.

Lê Tần vẫy ngọn giáo một cái, một trăm cây nỏ cùng bắn ra.

Mấy chục lính Thát trúng tên.

Tiên phong Ngạc Cáp Đan cũng bị một mũi tên xuyên vào cánh tay hữu.

Quân Thát tưởng có đông phục binh, không dám đuổi.

Lê Tần mang một trăm kị sĩ theo kịp Thái Tông, không mất người nào.

Nhà vua bảo:

- Khanh đúng là Triệu Tử Long của trẫm.

Cốt Đãi Ngột Lang đến nơi, nghe Ngạc Cáp Đan báo có phục binh liền lên chỗ cao đứng ngắm, nói:

- Các ngươi chỉ thần hồn nát thần tính, làm gì có phục binh.

Chỗ này là đất thiên la, ai dám cho quân vào đấy mà ẩn bao giờ.

Mau đuổi gấp đi.

Ngạc Cáp Đan bị thương không đánh nhau được.

Cốt Đãi Ngột Lang gọi A Truật lên làm tiên phong.

Vua Trần về gần đến sách Cụ Bạn, quân Thát cũng sắp đuổi tới.

Phía trước lại thấy bụi bay mù mịt, một đội quân đang tiến đến nhanh như gió lốc.

Thái Tông bảo:

- Phía sau có giặc đuổi, phía trước có quân đến, ta phải cố mà đánh không chết cả.

Trần Khuê Kình nói:

- Bệ hạ cứ yên lòng, để thần ra xem phía trước là quân nào.

Nói xong, Khuê Kình phi ngựa lên.

Tướng kia đến gần hoá ra là Phạm Cụ Chích.

Số là Trần Quốc Tuấn đã cho thuyền chiến về đến bến Lãnh Canh nhưng chưa thấy Thái Tông, mới bảo các tướng:

- Hoàng Thượng đi đường bộ, ta e giặc có thể đuổi kịp, Lê Tần và Khuê Kình tuy khoẻ nhưng ít quân lại mệt cả, sợ không cản nổi giặc.

Ai có thể đem quân đi tiếp viện?

Phạm Cụ Chích bước ra, nói

- Tôi là người vùng này, thông hiểu đường lối.

Xin để tôi đi.

Quốc Tuấn liền cho Phạm Cụ Chích năm trăm kị binh tức tốc đi ngay.

Lúc ấy gặp Trần Khuê Kình, Phạm Cụ Chích hỏi:

- Hoàng thượng đâu?

- Bệ hạ còn ở phía sau kia.

Cụ Chích đến bái kiến nhà vua, nói:

- Xin hoàng thượng cứ đi, bến Lãnh Canh không còn xa.

Tiết chế đang đợi bệ hạ ở đó.

Để thần chặn giặc lại.

Nói xong đem năm trăm tráng sĩ chặn ngang đường chờ quân Thát đến.

A Truật đi tiên phong.

Được một lúc gặp Phạm Cụ Chích chặn mất đường.

A Truật quát:

- Ngươi là tên nào?

Tài đảm được bao nhiêu mà dám cản đường ta?

Biết điều xuống ngựa hàng đi.

Phụ thân ta sẽ dùng làm quan hướng đạo.

Cụ Chích biết đó là A Truật, con của Cốt Đãi Ngột Lang, bảo:

- Hướng đạo hử?

Ta sẽ hướng cho cha con nhà ngươi vào đường địa phủ.

A Truật tức quá xông vào đánh Cụ Chích.

Đoàn Hưng Trí đánh trống thúc đội kị binh Bắc Thoán ào cả lên vây bọc năm trăm chiến binh Đại Việt.

Hai bên xô vào nhau hỗn chiến.

Phạm Cụ Chích đang đánh với A Truật, bị Tín Thư Phúc chém một nhát, không kịp đỡ, lăn xuống chết.

Mấy chục tráng sĩ Đại Việt xông đến cướp xác đưa lên ngựa chạy vào rừng.

(Bắc Thoán có nhiều đồng cỏ nên cũng rất đông kị binh)

Trần Thái Tông về đến bến Lãnh Canh, đoàn thuyền của Trần Quốc Tuấn đã chờ sẵn ở đấy, liền đón tất cả quân sĩ lên thuyền, đang nhổ neo, quân Thát đuổi tới.

Cốt Đãi Ngột Lang cho quân cung thủ nhắm cả vào thuyền long phụng của nhà vua mà bắn.

Tên bay như vãi trấu.

Lê Tần đứng cạnh cầm mộc che cho vua từ từ rút về sông Cà Lồ để đến Phủ Lỗ là nơi có trận địa của hầu tướng Vương Lâm.

Đường bộ dần dần tách xa đường sông nên quân Thát không theo được nữa.

Khi đến sông Cà Lồ, Vương Lâm mang thuyền nhẹ ra đón lên quân doanh.

Lê Tần sai quân Phá cầu Phù Lỗ để quân giặc không sang được.

Trung Thành Vương nói:

- Ngày xưa Dực Đức phá cầu Tràng Bản mà Tào Tháo dám sang sông.

Huyền Đức chê Dực Đức là kém mưu.

Sao tướng quân còn phá cầu đi?

Lê Tần nói:

- Ngày xưa ở trận Tràng Bản, Lưu bị dùng kì binh để chống Tào Tháo nên mới làm như vậy.

Ngày nay ta lấy chính binh mà đánh không thể áp dụng như thế được.

Trần Quốc Tuấn nói:

- Lê tướng quân nói rất phải.

Nơi đây cũng không thể giữ lâu dài được.

Xin hoàng thượng lui về Thiên Mạc hội quân với thái sư.

Cho dân trong thành Đại La lánh ra ngoài, chôn giấu hết lương thực.

Hoàng gia cũng lánh cả về Thiên Trường.

Bỏ thành không cho giặc vào.

Đấy chính là tử địa của chúng.

Lúc ấy thần khắc có kế hay, chỉ cần đánh một trận là quét sạch bọn chúng.

(Thiên Mạc: Khúc sông Hồng chảy qua xã Tân Châu, huyện Văn Giang, Hưng Yên ngày nay)

Bỗng có một tướng bước ra nói lớn:

- Việc ấy quyết không thể được.

Kinh thành là nơi tôn miếu xã tắc, trăm họ trông về, không thể để giặc Thát vào giày xéo.

Tôi thà chết chứ không dám tuân lệnh ấy.

Thế mới là:

Muốn giăng lưới rộng lừa cá lớn

Còn ngại kình ngao cắn dây rường.

Chưa biết tướng ấy là ai, chương sau xin nói rõ.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 11: Quyết tử chiến, hầu tướng Vương Lâm cản giặc mạnh


Đang nói Trần Quốc Tuấn xin nhà vua bỏ Thăng Long cho dân tạm lánh về Thiên Trường thì có người đứng ra phản đối.

Các tướng nhìn xem hoá ra là Phú Lương hầu Vương Lâm.

Trần Quốc Tuấn nói:

- Tấm lòng của Phú Lương hầu thật đáng quý nhưng nếu giặc vào sâu, việc đánh chúng sẽ dễ dàng hơn.

Vì quân giặc hết lương thực, hết cỏ rơm.

Ta chôn giấu thóc lúa, chúng chẳng biết đâu mà cướp bóc.

Trời gần sang tiết Xuân sẽ có mây mưa, người ngựa của chúng không hợp thuỷ thổ tất sinh ra bệnh tật, quân số cũng ngày càng hao mòn lại không có viện binh, lòng quân hoang mang.

Đó toàn là những điều đại kị trong phép dùng binh.

Tôn tử nói gặp trường hợp như vậy cứ đánh không nghi ngại.

Thái Tông nói:

- Tiết chế lý giải rất minh xác nhưng quân ta rút đi ngay, chỉ một sớm một chiều giặc Thát vào tới Thăng Long vậy làm sao đưa dân lánh đi cho kịp?

Lê Tần nói:

- Xin quan gia hãy chọn một tướng đảm lược có thể giữ chân giặc lại, việc ấy chắc xong.

(Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 19 (Canh Tuất 1250) vua Trần ban chiếu cho thiên hạ gọi vua là quan gia - ĐVsktt)

Quốc Tuấn nói:

- Việc này quan gia cùng chư tướng không phải lo nữa.

Thái sư và Thiên Cực công chúa phu nhân đã sắp đặt đâu vào đấy cả rồi.

Vả lại ta có rút đi, giặc Thát cũng còn phải dồn quân, chưa thể mang toàn binh vào thành ngay được.

Nếu có một tướng dám ở lại giữ chân chúng, đại quân ta rút đi càng nhàn.

Vương Lâm hăng hái bước ra nói:

- Sao lại không có tướng nào dám giữ chân giặc?

Tôi tuy tài hèn cũng xin ở lại ngăn binh giặc để quan gia cùng chư tướng đem quân đi.

Quốc Tuấn thấy Vương Lâm nói vậy, bảo:

- Binh thư có nói tướng vì hờn giận mà ra quân thì thất lợi.

Tôi e tướng quân có điều còn chưa hài lòng chăng?

Vương Lâm nói:

- Tôi không có hờn giận gì, chỉ muốn dốc lòng báo quốc.

Tôi còn sống, quyết không để giặc Thát qua được bến sông này.

Thái Tông nói:

- Vậy ta cử Phú Lương hầu ở lại ngăn giặc.

Còn toàn quân cấp tốc đi ngay.

Quốc Tuấn cho bộ binh lên thuyền đi đường thuỷ do Lê Tần thống lĩnh bảo vệ nhà vua theo sông Cán Khê ra sông Nhị, quân kỵ theo đường bộ vượt sông Thiên Đức về Tế Giang do Trần Khuê Kình chỉ huy, hai đường hẹn ngày hôm sau sẽ hội quân trên sông Thiên Mạc, một mặt cho phi mã hoả tốc về Thăng Long đốc thúc việc đưa dân và hoàng tộc lánh đi, còn mình đi thuyền nhẹ về gặp thái sư Trần Thủ Độ ở Đông Bộ Đầu bàn kế phá giặc và chuyển toàn bộ căn cứ này đến Thiên Mạc.

Cốt Đãi Ngột Lang dẫn kị binh đuổi theo vua trần suốt ngày không kịp, đến sông Cà Lồ trời đã tối, cầu Phù Lỗ lại bị phá mất, nhìn sang bên kia thấy đèn đuốc sáng như sao sa, chăng suốt một tuyến dài bên bờ sông, liền cho quân dừng lại nghỉ qua đêm.

Hoài Đô thấy vậy nói:

- Người Nam ít quân nên đốt nhiều đèn đuốc để nghi binh thôi.

Sao thống tướng không cho đánh ngay đi?

Ngột Lang bảo:

- Phép tranh thắng không ngoài hai chữ thực hư.

Quốc Tuấn còn trẻ tuổi nhưng là con mọt sách ranh mãnh lắm.

Sáng nay nó đã dùng kế hư thực làm ta mắc bẫy, bây giờ lại đem kế thực thực để nhử ta đây.

Vả lại quân ta đánh nhau từ sáng đến giờ người ngựa mỏi mệt cả.

Binh thư có nói trời tối đường xa, thà để người mệt còn hơn ngựa mệt.

Cứ nghỉ đi, đợi hậu quân dồn cả lên, ngày mai cùng tiến đánh.

Bên kia Vương Lâm đốc thúc quân lính canh phòng nghiêm mật, nửa đêm đi tuần qua các trại lính thấy có một chỗ năm sáu người xúm lại, mới ghé vào.

Đó là đội binh làng Cao Duệ.

Anh lính tốt Mai Văn Tự đang lên cơn sốt rét người nóng như than.

Vương Lâm nói:

- Các ngươi cử hai người đưa anh này về phía sau kẻo ngày mai đánh nhau mà ốm thế này làm gì được.

Mai Văn Tự ngồi nhỏm dậy, nói:

- Xin tướng quân đừng bắt tôi phải lui đi.

Tôi chỉ sốt qua loa, đã có thuốc của anh Phạm Anh cho đây rồi, chắc chỉ một lúc là khỏi.

Tôi còn sức giết Thát mà.

Vương Lâm nhìn người lính tên Phạm Anh, thấy có nét quen quen nhưng không nhận ra đã gặp ở đâu, hỏi:

- Ngươi có thuốc gì mà thần hiệu đến vậy?

Phạm Anh thưa:

- Trình tướng quân!

ở đây rừng suối âm u, lam sơn chướng khí, quân ta sốt rét rất nhiều.

Tôi thường lấy cây Mã Liên An đun nước cho anh em uống ạ.

(Mã Liên An (Ngựa liền yên): Một tên khác của cây Hà Thủ Ô trắng, có tác dụng chữa sốt rét.

Truyền thuyết kể rằng ngày xưa có một vị tướng đi đến bến sông, bị sốt, có người lấy cây ấy sắc nước cho uống, liền khỏi bệnh.

Vị tướng tặng người ấy con ngựa cùng với yên cương để tạ ơn.

Vì vậy thành tên Mã Liên An cho cây ấy (xin xem thêm cuốn Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của giáo sư Đỗ Tất Lợi).)

Vương Lâm vui vẻ hỏi:

- Tốt!

Tốt!

Ngươi học ở đâu được bài thuốc này vậy?

- Dạ!

Trình tướng quân!

Đó là thầy tôi dặn làm như vậy đấy ạ.

- Thầy ngươi là thầy lang ư?

Vũ Tuấn láu táu nói thay:

- Trình chủ tướng!

Thầy anh ấy là quân dược hiệu uý Phạm Hữu đấy ạ.

Vương Lâm mừng rỡ kêu lên:

- Trời!

Thảo nào ta thấy ngươi rất giống cha ngươi.

Cha ngươi cũng đã từng chữa bệnh cho ta.

Vậy ta giao cho ngươi lấy thêm hai người đưa hết số anh em ốm đau về phía sau.

Đi ngay đêm nay.

Phạm Anh thất sắc, quỳ xuống nói:

- Sắp được giết quân Thát, chúng tôi chờ mãi ngày này rồi.

Xin tướng quân đừng bắt chúng tôi đi.

Vương Lâm nghiêm mặt nói:

- Giám binh đâu?

Giặc đã kề bên.

Kỷ luật không nghiêm đánh sao được.

Lời ta nói là quân lệnh.

Binh sĩ không nghe lời tướng, phải xử thế nào?

Viên giám binh đứng cạnh nói:

- Quân không nghe lệnh tướng là loạn binh phải chém.

Vương Lâm hỏi:

- Phạm Anh!

Ngươi có nhận lệnh không?

Phạm Anh không biết làm sao đành quỳ xuống xin tuân lệnh.

Trước khi đi còn dặn bọn Văn Điền, Sĩ Hiệp:

- Các cậu giết thêm cho chúng mình mỗi người một thằng lính Thát nhé.

Vương Lâm gặp Phạm Anh lại nhớ đến Phạm Hữu và Nguyễn Bằng.

Ông liền quay về lều chỉ huy viết một bức thư và một tờ mật lệnh, gọi người lính truyền tin, nói:

- Ngươi đem bức thư này theo mật tuyến đến trao cho tướng quân Hà Bổng ở Quy Hoá, bảo chuyển ngay sang Đại Lý cho hiệu uý Nguyễn Bằng.

Đêm ấy trong trại quân Thát có nhiều người tự sát.

Đó là những tên lính bị thương vì trúng tên nỏ của quân Đại Việt.

Người Thát bắn bằng cung, mũi tên dài mà to, thoạt trông dễ sợ nhưng mũi tên không trúng chỗ hiểm thì không giết được đối thủ.

Quân Việt bắn bằng nỏ, mũi tên nhỏ, ngắn, đều có tẩm thuốc độc.

Kẻ nào bị tên bắn phải, lúc đầu tưởng không có gì ghê gớm nhưng chỉ sau mấy canh giờ chất độc phát tác, đau nhức không thể chịu nổi, qua một đêm độc tố chạy vào tim là chết, không tài nào cứu được.

Nhiều người đã rút gươm kết liễu cuộc đời để giải thoát khỏi những cơn nhức buốt và khát nước.

Ngạc Cáp Đan không ngoài số ấy.

Những con ngựa trúng tên cũng không sống quá hai ngày.

Cốt Đãi Ngột Lang sai quân dược chữa trị đều vô hiệu.

Mờ sáng hôm sau, Cốt Đãi Ngột Lang cho nổ pháo, xua quân tiến sang.

Lòng sông Cà Lồ mùa cạn hẹp như khe suối.

Cốt Đãi Ngột Lang sai lính đi dọc bờ bắn lên trời, chỗ nào tên rơi xuống không nổi lên là chỗ nông, cho lính lội qua (Theo tài liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Lương Bích).

Vương Lâm chờ quân Thát sang đến nửa sông mới lệnh cho lính nhất loạt bắn tên, bắn đá ra.

Quân Thát chết, xác người xác ngựa lấp đầy lòng sông làm ứ cả nước.

Cốt Đãi Ngột Lang múa cây đại đao xông lên trước, hô:

- Trèo qua xác chết mà sang.

Kẻ nào lui lại, chém!

Nói xong thúc ngựa sang sông.

Quân sĩ ào ạt kéo theo.

Quân Vương Lâm ít không cản được.

A Truật, Tín Thư Phúc, Hoài Đô đã sang được cả, đánh dồn quân Vương Lâm lên cánh đồng.

Vương Lâm nói với quân sĩ.

- Ngày thường chúng ta ăn cơm vua nhận lộc nước, nay không liều thân báo quốc còn đợi lúc nào?

Nói xong dẫn quân sĩ nhất loạt xông lên xáp chiến.

Vương Lâm gặp ngay A Truật.

Hai người đâm chém nhau một lúc, không ai sơ hở miếng nào.

Hoài Đô trông thấy nhảy lại đánh giúp, rồi Tín Thư Phúc cũng đến.

Ba tướng vây Vương Lâm vào giữa trận.

Vương Lâm cố sức đánh nhưng không chống được với ba tướng Thát, bị Tín Thư Phúc chém một nhát gãy tay trái.

Lâm ngửa mặt lên trời kêu:

- Hoàng thượng ôi!

Thần nguyện chết ở đây.

Nói xong, tay phải cầm giáo nhằm Hoài Đô xốc đến.

Hoài Đô hoảng quá bỏ chạy.

Tín Thư Phúc thấy vậy đuổi theo, định chém một nhát quyết định.

Vương Lâm biết có người đuổi sát, quay ngoắt lại dồn sức đâm một nhát cực mạnh.

Tín Thư Phúc trở tay không kịp, bị ngọn giáo xuyên qua miếng hộ tâm vào ngực, chết lăn xuống ngựa.

Vương Lâm mất nhiều máu cũng kiệt sức ngã theo.

Năm ấy ông bốn mươi chín tuổi.

Về sau có người lính tốt làm bài thơ rằng:

Mấy đời thờ Trần chúa

Sống chết chẳng sờn lòng

Giữa trời vầng nguyệt tỏ

Vương Lâm tấm gương trung.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 11: Sơ tán dân, công chúa Thiên Cực đốt trang viên (1)


Vương Lâm chết rồi, quân Thát lớp lớp vây bọc quân Việt.

Anh lính Vũ Tuấn làng Cao Duệ sau khi giết được hai lính Thát, bị đâm một nhát giáo vào vai, ngã lăn trong đám cỏ.

Nguyễn Văn Điền mất một cánh tay.

Đoàn Sĩ Hiệp chiếm được một gò cao có đặt giàn lệ chi pháo, các pháo binh đã tử thương cả.

Hiệp một mình hì hục xúc đá cho vào máy, bắn chặn quân Thát.

Mấy tên lính Thát xông lên định bắt.

Hiệp bỏ pháo, cầm thương chống lại, bị đập một chuỳ vào lưng, rơi từ trên gò cao xuống, nằm chết lịm, miệng ứa máu.

Đến gần trưa, quân Việt thương vong cả.

Những người lính khác của làng Cao Duệ như Mai Văn Lương, Nguyễn Văn Ngô, Vũ Mậu đều trong số ấy.

Cốt Đãi Ngột Lang lệnh cho bọn A Truật, Hoài Đô, Đoàn Hưng Trí đem kỵ binh đuổi gấp, còn mình chỉ huy trung quân.

Bố Nhĩ Hải đoạn hậu bảo vệ lương thảo dần dần theo sau, chiều tối đến bến Bồ Đề hạ trại.

Lại nói Phạm Anh cùng hai đồng đội đưa được số bệnh binh về tuyến sau, vội vàng quay lại.

Trận địa vắng lặng, chỉ còn la liệt xác lính của hai bên chết và bị thương nằm chồng chéo lên nhau.

Phạm Anh tìm được Nguyễn Văn Điền, Vũ Tuấn và Đoàn Sĩ Hiệp, đưa đến chỗ anh em thương binh đang được băng bó.

Đến chiều có dân binh ở các làng bên đến chuyển thương binh về tuyến điều trị và chôn cất những người đã chết.

Có tên lính Thát bị thương nặng, trông thấy người dân binh, nó nắm tay đưa lên miệng tu ra hiệu xin nước uống.

Một anh dân binh cầm cây tre vót nhọn giơ lên định đâm.

Tên lính Thát khiếp sợ nhắm mắt chờ chết.

Một dân binh khác ngăn lại, nói:

- Đừng giết!

Thằng này còn trẻ.

Hãy tha cho nó.

Nói xong, anh dân binh rút ống nước đưa vào miệng cho tên lính Thát uống.

Tên lính Thát uống một hơi, môi mấp máy như muốn cảm ơn rồi thở dài, nhắm mắt lại.

Nó không bao giờ còn được nhìn thấy màu xanh mênh mông của thảo nguyên nữa.

Anh dân binh nói:

- Chắc mẹ nó ở nhà cũng mỏi mòn mong, khóc hết nước mắt đấy.

Thành Đại La ồn ã suốt mấy hôm nay.

Người ta chôn giấu thóc lúa, mâm, chậu, nồi đồng, lư hương, chân đèn, bát đĩa.

Đây đó lổng chổng những chiếc nồi đất vỡ, mảnh văng cả ra ngoài đường.

Chị cả Thìn loay hoay xếp đồ đạc vào hai chiếc thúng đã đầy ự, vừa ngó nghiêng gọi con:

- Long ơi!

Chạy bố nó đi đâu rồi không biết?

Long ơi, về đi thôi không người ta đi hết cả rồi.

Chị nhìn ra sân sau, thấy cu Long tay cầm chiếc đòn gánh vung lên vừa múa võ vừa hô:

- Trung thiên đề đao trảm phản nghinh.

Lôi phong tá tẩu quỷ thần kinh.

Đề đầu tiền thụ lai quảng tiến.

Trảm phạt trung bình mã thiên thanh...

Mẹ ơi!

Xem con múa bài Mai hoa thần kiếm đây này.

- Giời ơi!

Võ mới vẽ gì như bọ chó múa bấc ấy.

Về đi đi không các bác ấy đợi.

- Ứ!

Mẹ lại nói thế rồi.

Hôm nào bố về lại dạy võ cho con.

Con theo bố đi đánh Thát cơ.

- Muốn đánh Thát thì bây giờ phải đi nhanh lên đã.

- Ứ!

Con đánh thằng Thát một đòn Lão ông thám thuỷ là nó lăn quay.

- Ừ!

Ừ!

Nó lăn quay, nó lăn quay.

Đi đi!

Chị cả Thìn quẩy gánh, dắt con ra đến hồ Lục Thuỷ, có người gọi:

- Này mẹ Thìn!

Đưa thằng bé lại đây.

(Hồ Lục Thuỷ: Từ triều hậu Lê gọi là hồ Hoàn Kiếm)

Chị Thìn nhìn lên, hoá ra là bà cụ Hải trong ngõ cùng với mọi người đã đứng cả bên bờ hồ.

Chị tư Phúc gánh hai đứa con trong hai chiếc thúng, mỗi đứa ôm một đùm quần áo.

Chị Thìn hỏi:

- Ơ!

Nhà chị sao bảo có mấy anh lính ở Đông Bộ Đầu vào giúp cơ mà?

- Quan thái sư có cho lính đến giúp những nhà neo đơn chạy giặc nhưng tôi chỉ nhờ các anh ấy chôn hộ ít lương thực, đồ đạc thôi.

Mình cố đi được thì tự đi để các anh ấy còn phải ra trận chứ.

Bà cụ Hải bảo:

- Cô nói phải đấy.

Nước có giặc, mỗi người cố lên một tí, cứ đuổi được nó ra rồi muốn làm gì thì làm.

Thời thái bình có ăn bát cháo cũng sướng.

Một người nói:

- Chẳng biết quan gia nhà ta nghĩ thế nào mà bỏ kinh thành cho giặc vào cơ chứ?

Chị tư Phúc bảo:

- Mấy anh lính nói chuyện, quân ta nhử cho giặc vào trọng địa rồi mới vây chặt.

Giặc hết lương thực tất chết đói cả.

Nghe đâu tướng quân Trần Khánh Dư đã lấy mất nửa lương thực của chúng rồi.

Một người nói:

- Đánh nhau mà hết lương thì chỉ có nước hàng.

Ông chủ hiệu thịt cầy bảo:

- Không phải!

Quốc công tiết chế muốn nhử chúng vào sâu rồi mới chặn đứt phía sau, bao vây mà diệt.

Phép đó gọi là nhử chó vào nhà đóng cửa đánh.

Mọi người cùng cười, nói:

- Đắc sách!

Đắc sách.

Quan thái sư Trần Thủ Độ bận ở Đông Bộ Đầu nên việc lo cho hoàng gia trong thành Thăng Long và dân thành Đại La tạm lánh giặc phải nhờ Thiên Cực công chúa.

Mấy hôm nay phu nhân lúc đi xuống các phố xóm xem dân chúng làm vườn không nhà trống đến đâu, lúc lại vào hoàng thành đôn đốc các gia đình vương hầu chuyển đi.

Phủ thái sư bà giao cho đám gia nhân dọn về Thiên Trường.

Suốt ngày hôm nay phải lăn lộn cùng các tướng, chỉ huy mấy nghìn lính vận chuyển nốt kho lương thực cuối cùng, từ sáng đến giờ bà mới chỉ kịp ăn một bữa qua loa lúc ban trưa.

Đêm mười ba tháng chạp, người lính truyền tin phi ngựa như bay đến báo cho phu nhân biết tiền quân của giặc đã áp đến bến Bồ Đề, Thái sư lệnh cho phu nhân cùng những người còn lại phải ra khỏi thành ngay.

Phu nhân khoác áo cùng mấy thị nữ lên lầu thành nhìn ra sông Nhị.

Mưa bay mù mịt mặt sông, nơi đó trên bến Đông Bộ Đầu không biết thái sư đã dời đi chưa?

Bà ngoảnh lại phía hoàng thành, Thăng Long chìm trong bụi mưa cùng những cơn gió lạnh từ phương Bắc tràn về.

Trước lúc ra đi trong lòng vị phu nhân thống quốc thái sư rộn lên bao nỗi xốn xang lo lắng; ngày mai Thăng Long sẽ ra sao?

Cung điện, dinh thự sẽ ra sao?

Bao giờ quan gia cùng triều đình mới trở lại nơi này?

Bà bước xuống lầu, một luồng cảm xúc dâng trào, rưng rưng nghèn nghẹn.

Bỗng phu nhân ngẩng lên bước những bước dài, nói với người thị nữ:

- Ta đi thôi.

Cỗ xe song mã vượt màn mưa ra khỏi hoàng thành tiến về phía trang viên bên hồ Lục Thuỷ.

Ông lão bộc mở cổng.

Người xung quanh đã đi hết nhưng lão vẫn đợi Thiên Cực công chúa.

Những ngày bận rộn thái sư và phu nhân ở trong phủ lo việc quân việc nước, hoặc về thái ấp trông nom việc canh điền, còn hầu hết thời gian ngài đến nghỉ ở đây, tự mình chăm sóc những cây cảnh quý và cây ăn quả hiếm lạ.

Những hòn giả sơn đều do chính tay thái sư xếp đá tạo nên.

Mấy trăm lồng chim, mỗi cái một kiểu cũng do lão bộc cùng thái sư vót nan làm lấy.

Phu nhân thì trồng hoa, tỉa lá, chăm chút lũ chim non.

Trang viên tuy nhỏ nhưng mấy năm nay thái sư và phu nhân đã dồn bao tâm sức làm cho nó trở nên đẹp đẽ, khó có khu vườn nào sánh kịp.

Từ hôm nhận được lệnh lánh đi, phu nhân không có thời gian đến đây.

Bữa trước thái sư có ghé qua bảo mấy anh lính canh theo ngài giúp dân cất giấu tài sản rồi đi luôn.

Thái sư dặn lão bộc ở lại cho chim ăn, khi nào phu nhân đến thì cùng đi.

Phu nhân xem hết các phòng một lượt, lát sau quay lại bảo lão bộc:

- Lão mở tất cả cửa lồng thả hết chim ra.

Ông lão bộc đã hiểu, làm theo.

Những con chim đang ngủ yên bị đuổi ra khỏi lồng, ngoài trời tối đen, vừa mưa vừa rét, chúng không biết bay đi đâu, cứ xáo xác gọi nhau tìm chỗ trú.

Thiên Cực công chúa sai mấy thị nữ giúp lão bộc rút rơm khô đưa vào các phòng cùng nhà kho chứa thóc, châm lửa đốt.

Trong phút chốc mấy dãy nhà cùng cháy lên.

Ngọn lửa mỗi lúc một bốc cao át cả bụi mưa và gió lạnh.

ánh lửa soi rõ từng nếp nhăn trên khuôn mặt già nua người lão bộc.

Hai giọt nước mắt óng ánh như hai giọt sương lăn trên đôi gò má màu đất nâu của lão.

Thiên Cực công chúa bảo:

- Đi thôi!

Ngày mai ta còn nhiều việc lắm.

Cỗ xe xuyên màn đêm ra khỏi thành Đại La xuôi về phương Nam.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 11: Sơ tán dân, công chúa Thiên Cực đốt trang viên (2)


Bà Tô mấy hôm nay chốc chốc lại ngóng ra đầu làng, mong gặp cô em họ về để được chuyện trò.

Mới đấy mà đã mấy mươi năm, nhớ khi còn nhỏ, ba bốn chị em thường rủ nhau sang sông cắt cỏ, lúc đói lòng chia nhau từ quả sung chát đến múi khế chua.

Lớn lên cô ấy theo vua Lý vào cung, trở thành hoàng hậu rồi lại thành Thiên Cực công chúa thái sư thống quốc phu nhân, nếm đủ vị cay đắng ngọt bùi ở chốn kinh thành, thi thoảng có việc giỗ chạp lễ tiết về được một lúc, chị em gặp nhau chưa nói câu gì đã vội vã đi rồi.

Bà Tô còn đang thả hồn trong những kỉ niệm xa xưa thì bà Na hớt hải chạy sang bảo:

- Này chị Tô ơi!

Cô Dung cô ấy về đêm qua rồi đấy.

Bà Tô hỏi:

- Thế cô ấy đâu?

- Tôi cũng đã gặp đâu.

Bọn trẻ nó bảo cô ấy đang cùng các quan cho đám dân binh kiểm điểm gươm giáo ở ngoài kho để chuyển lên phía trên cho quan quân đánh giặc.

- Cái số cô ấy thế mà khổ, lúc nào cũng tất bật công kia việc nọ, chẳng bao giờ có được chút thư thả như chị em mình.

- Ừ thì sắc tài làm khổ tấm thân thôi mà.

Nhưng cũng chịu thật đấy, đàn bà như cô ấy thật là giỏi.

Hai bà bạn đang nói chuyện, Tô Đại Cơ say bét nhè ở đâu về, nói:

- Bu!

- Cái gì thế?

Mày lại đi uống rượu rồi phải không?

Thế này bao giờ ra được cái hồn người.

- Uống rượu thì làm sao mà không ra được hồn người?

Chẳng qua là người ta cố ý vùi dập tài năng của tôi đấy chứ.

Mẹ kiếp!

Chúng nó sợ nhà mình phát lên thì chúng nó ra bã.

Mà cái bố thái sư nhà mình cũng gà mờ thật.

Mấy thằng không đọc nổi một cái văn tự mà bố ấy cũng cho làm ông lý ông chánh.

Còn tôi học gần hết Tam tự kinh, xin một chân câu đương cũng không được.

Lại doạ chặt ngón chân cái, bố thằng nào chịu nổi.

(Tam tự kinh: Bộ sách vỡ lòng của Nho giáo)

Bà Tô bảo con:

- Mày nói thế mà nghe được ư?

Cùng học với anh em, người ta đọc hết kinh nọ sách kia, mày có quyển Tam tự kinh không xong còn nói gì nữa.

Chỉ tài uống rượu thôi.

- Thế ông thái sư ông ấy có biết chữ nào đâu mà làm quan to thế?

Lần này bu cứ bảo Thiên Cực công chúa, cô Dung ấy có muốn cho tôi cái chức câu đương, cứ lẳng lặng mà phong thẳng đi.

Khỏi phải trình thái sư lôi thôi lắm.

Chẳng gì tôi cũng là con dòng cháu giống.

- Thôi con ơi!

Lần trước chưa phong đã suýt mất chân, lần này đến xin có khi mất mạng luôn đấy con ạ.

Đại Cơ nhăn nhó nói:

- Nhưng mà mấy đứa con gái nó cứ cười tôi, không chịu được.

Bà Na bảo:

- Thì chị cứ nói thử với cô Dung một tiếng xem sao.

Tối hôm ấy bà Tô đang dệt đũi, Thiên Cực công chúa Trần Thị Dung mặc áo dân thường đến chơi.

Chị em gặp nhau cười cười nói nói.

Bà Tô bảo:

- Rõ khổ!

Sao ban ngày không vào chơi, tối tăm rét mướt thế này mới lần vào!

Này!

Nhai miếng trầu đi cho nó đỡ lạnh.

- Em về từ hôm qua nhưng đã đi được đến đâu, cứ tíu tít lên về công việc.

- Chết!

Nghe nói quân Thát vào kinh rồi phải không?

Liệu nó có đánh đến đây được không?

- Cái đấy chưa biết thế nào nhưng chị em mình cứ lo cho quân đội có cái ăn cái mặc, nhất định sẽ đánh thắng.

À mà thằng cháu Cơ đi đâu rồi?

- Ôi!

Khổ lắm cô ạ.

Con cái nghĩ đến lại buồn lòng, suốt ngày lêu lổng, bây giờ vẫn còn ở ngoài quán rượu cũng chưa biết chừng.

Từ ngày dân kinh thành lánh về đây, nó càng đua đòi lắm.

Học thì lười mà chỉ mộng làm quan thôi.

Bà Dung bảo:

- Hay tại không được làm câu đương mà nó sinh ra như vậy.

- Không phải đâu cô ạ!

Con tôi, tôi biết chứ, không được làm câu đương là phúc đấy.

Thằng này làm quan thế nào cũng mang vạ vào thân mà khổ dân.

Lúc nào cũng ra vẻ công tử phú gia, bây giờ không uống rượu ta nấu đâu.

Thấy đám con cái các vương hầu ở kinh về uống rượu ngoại, nó cũng uống rượu ngoại.

Toàn là rượu Hồi Hồi, Cao Ly, Bạch Man gì gì ấy, mấy lạng bạc một cốc, hôm nọ bán béng của tôi năm sào ruộng ở cánh đồng chùa rồi đấy.

Hai chị em đang nói chuyện thì Tô Đại Cơ từ ngoài chuệnh choạng bước vào, trông thấy bà Dung, y vội quỳ xuống chào theo kiểu một công tử gặp một mệnh phụ bề trên:

- Con xin kính chào công chúa ạ!

Chúc công chúa thiên thiên tuế - Hắn quay sang bà Tô, nói - Bu!?

Bà Dung hỏi bà Tô:

- Cháu nó có việc gì thế chị?

- Ối giời ơi!

Nói làm gì cho nó đau ruột.

Nó bảo cô có cho nó làm câu đương thì cứ lẳng lặng mà phong, đừng nói gì với chú ấy nữa.

Thế có dở không?

Việc nước việc dân mà cứ làm như đi ăn cỗ ấy.

Thiên Cực công chúa cười, nói:

- À ra vậy!

Cháu muốn làm quan cũng đâu có khó, chỉ cần thoả mãn một trong hai điều sau thì không chỉ làm câu đương mà ngay đến chức huyện lệnh ta cũng lo cho được.

Tô Đại Cơ mừng quá nói hút cả hơi:

- Dạ dạ!

Hai điều chứ hai mươi điều, hai trăm điều con cũng làm được ạ!

Xin công chúa cứ dạy.

- Không cần nhiều đến thế.

Ta chỉ cần cháu làm được một trong hai điều thôi.

Một là phải có tài, hai là phải có công.

Tài cháu không thuộc hết cuốn Tam tự kinh.

Bây giờ đang là thời loạn, cháu hãy ra lập công giúp nước lo gì không có công danh.

Bằng lòng vậy không?

- Cháu bằng lòng ạ!

Thiên Cực công chúa nghiêm nét mặt nói:

- Tốt!

Thị nữ đâu?

Hãy ghi tên Tô Đại Cơ vào thập vận binh thứ chín, sáng mai cho chuyên chở vũ khí ra mặt trận.

Người thị nữ đứng bên cạnh dạ một tiếng, rút cuốn sổ ghi tên Tô Đại Cơ.

Thiên Cực công chúa nhìn Tô Đại Cơ ra lệnh:

- Tô Đại Cơ!

Từ hôm nay ngươi đã là người lính, phải tuân theo quân luật.

Ta hẹn giờ Dần ngày mai ngươi phải có mặt trước trại lính để thừa hành công vụ.

Trễ nải sẽ xử theo quân pháp.

Ngươi còn nói gì không?

Tô Đại Cơ thấy thái độ của công chúa nghiêm như vậy, cũng chột dạ nhưng vì cái nhu cầu phải làm quan nó lớn quá nên y vui vẻ nói:

- Dạ!

Được công chúa nâng đỡ là phúc cho con lắm rồi, còn nói gì nữa ạ!

Vì Tô Đại Cơ say rượu lại lười quen nên sáng hôm sau mãi cuối giờ Mão mới thất thểu ra gặp Thiên Cực công chúa.

Công chúa quát:

- Ta dặn ngươi giờ nào tới đây?

Bây giờ là giờ nào rồi?

Đội ngũ đã đi hết, ngươi định làm gì đây.

Giám binh đâu?

Binh lính không

chấp hành giờ giấc, không theo kịp đội ngũ phải xử thế nào?

Viên giám binh bước ra thưa:

- Trình công chúa!

Binh lính ngủ sớm dậy muộn, không chấp hành giờ giấc, trễ nải công việc, không theo đội ngũ, nhận lệnh không thi hành là lãn binh, phải chém.

Thiên Cực công chúa hô:

- Võ sĩ đâu?

Lôi tên lính này ra chém cho ta.

Tô Đại Cơ gào lên:

- Ối làng nước ơi!

Công chúa toàn lừa tôi vào chỗ chết.

Thật là:

Nhờ chỗ quan ông, suýt mất cẳng còn đương tiếc

Cậy cửa quan bà, gần cụt cổ lại không thương.

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem tính mạng Tô Đại Cơ thế nào.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 12: Đánh Đông Bộ Đầu, Quốc Tuấn thu toàn thắng (1)


Đang nói chuyện Tô Đại Cơ trái lệnh bị Thiên Cực công chúa thét võ sĩ lôi ra chém, hoảng quá hoá liều hét toáng lên rồi lại đập trán xuống thềm xin tha chết.

Người thị nữ đứng cạnh thương tình nói với Thiên Cực công chúa:

- Anh này ngày đầu vào lính chưa được rèn luyện nên mới mắc tội lớn, mong công chúa ra ân cho lập công chuộc tội.

Mấy viên vệ uý cũng thương là tân binh nên cùng xin cho.

Công chúa nói:

- Đã vào lính phải theo phép nhà binh, không được như ở nhà với mẹ.

Nể lời mọi người ta tha cho tội chết nhưng phải đánh hai mươi roi để nhớ lấy, lần sau không được lười nhác.

Tô Đại Cơ mếu máo đập đầu lạy tạ nhận đòn.

Thiên Cực công chúa cho xếp vào thập vận binh thứ mười lăm, chiều hôm ấy theo thuyền chuyển lương ra trận.

Cốt Đãi Ngột Lang dừng quân trên bến Bồ Đề một đêm, cho thám binh sang sông dò xem quân Đại Việt phòng thủ kinh thành thế nào.

Gần trưa các đội thám binh về đều báo Thăng Long bỏ ngỏ, không có quân sĩ canh giữ.

A Truật nói:

- Phụ thân để con mang quân sang trước, nếu gặp quân Nam sẽ đánh mở đường.

Phụ thân cùng Đoàn tướng quân đem quân tiếp ứng.

Cốt Đãi Ngột Lang nói:

- Hôm trước Trần Quốc Tuấn đã dùng trận Điểu Vân đánh ta, hôm nay lại bỏ trống thành trì.

E có quỷ kế gì đây.

Hoài Đô nói:

- Tôi cho rằng quân Nam đã thiệt hại nặng, không đủ binh lực để giao tranh với ta nữa nên bỏ đi chứ không có mưu kế gì đâu.

Xin nguyên soái cứ sang sông.

Cốt Đãi Ngột Lang bảo:

- Nếu vậy, các tướng nghe lệnh.

A Truật, Hoài Đô mang ba nghìn quân sang trước, đánh chiếm bờ sông.

Ta đem đại binh tiếp ứng.

Bố Nhĩ Hải cho quân lương đi thứ ba.

Đoàn Hưng Trí sang sau để giúp Bố Nhĩ Hải bảo vệ quân lương.

Đội nào đến bờ gặp quân Nam phải đánh ngay.

Các tướng tuân lệnh lần lượt tiến binh, sẵn sàng tác chiến nhưng quân sang hết bên hữu ngạn vẫn chả thấy lính Đại Việt ở chỗ nào mà đánh.

Đến chiều Cốt Đãi Ngột Lang đóng bản doanh trên bến Đông Bộ Đầu, vào nghỉ trong điện Phong Thuỷ, sai lính đi thám sát (Điện Phong Thuỷ trước đó là điện Linh Quang, tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình thứ sáu sửa chữa đổi tên lại là điện Phong Thuỷ).

Trời tối, lính thám sát về báo trong thành Đại La không một tiếng gà kêu chó cắn.

Thăng Long không có lính giữ cửa.

Cốt Đãi Ngột Lang sai A Truật tức tốc điểm năm nghìn binh vào thành.

Hoài Đô, Đoàn Hưng Trí đem năm nghìn quân tiếp ứng, tự mình giữ một vạn quân làm ngoại viện.

Bố Nhĩ Hải bảo vệ quân lương, quân dược đóng tại Đông Bộ Đầu.

Sáng hôm sau quân tướng vào cả trong thành mà chẳng thấy dân chúng, triều đình Đại Việt đâu cả.

Cốt Đãi Ngột Lang lệnh cho Bố Nhĩ Hải tải hết lương thực vào thành Thăng Long.

Hoài Đô can:

- Quân ta tuy đã chiếm được thành nhưng không biết quân Nam ở đâu, nếu vào cả trong thành, quân Nam vây bốn mặt, quân ta khốn ngay.

Lương thực còn không đáng bao nhiêu, làm sao giữ vững được.

Xin thống tướng chia quân, đóng ở bên ngoài, chỉ để số ít trong thành, khi hữu sự còn ứng cứu cho nhau.

Mặt khác, phải kiểm điểm kho tàng của quân Nam lấy thêm lương thực cho ta.

Cốt Đãi Ngột Lang nghe theo, giữ Hoài Đô cùng năm nghìn quân ở lại trong thành tìm lương thực.

A Truật đem một vạn quân trở về Đông Bộ Đầu cùng Bố Nhĩ Hải.

Đoàn Hưng Trí đem năm nghìn quân đóng ở Mi Động giữ phía Nam thành Đại La.

Ba nơi tạo thành thế chân vạc ứng cứu cho nhau.

Một nơi bị đánh, hai nơi đến cứu ứng.

Năm nghìn quân của Cốt Đãi Ngột Lang sục tìm suốt ngày chẳng được chút lương thực nào, khi vào đến nhà ngục chỉ thấy bọn sứ giả Ngạch Vu Tháp bị trói nằm khò khoeo ở đó, một tên đã chết từ đời nào, mới đưa ra gặp Cốt Đãi Ngột Lang.

Ngột Lang thấy vậy uất quá nói:

- Phen này ta quyết bắt vua tôi nhà Trần mà băm vằm ra mới được.

Nói xong sai Nghạch Vu Tháp ra Đông Bộ Đầu lĩnh binh, ngày mai dẫn đường đuổi bắt vua Nam.

Hoài Đô nói:

- Quân ta nay còn không được ba vạn, lương thực dè xẻn chỉ đủ bốn năm ngày.

Thống tướng mang quân đi, nhỡ quân Nam úp phía sau thì quân ta tan nát hết.

Xin thống tướng hãy cứ ngưng binh, chỉ đánh các vùng lân cận để cướp lương, cướp người, bắt trai tráng bổ sung vào lính cho ta tăng quân số đã.

Khi đã vững chân rồi, có thể lấy người Nam đánh người Nam, có phải quân ta đỡ đổ máu không.

Nếu không, phải ngược lên phía Bắc sang đất Tống ngay.

Cốt Đãi Ngột Lang nói:

- Ta mà đem quân lên phía Bắc nhất định bị quân Nam đuổi theo.

Vả lại đường lên phía Bắc có nhiều đồn ải không dễ vượt qua nhanh chóng được, như vậy lấy gì ăn mà đi.

Trước hết hãy ở lại đây, cho quân nghỉ ngơi, tìm lương thảo bổ sung cái đã.

Nếu biết vua Nam trốn ở đâu, ta sai sứ đến doạ cho chúng quy phục là hơn.

Hoài Đô nói:

- Việc dụ vua Nam quy thuận không phải là dễ.

Xin thống tướng lo việc kiếm lương ngay.

Cốt Đãi Ngột Lang nói:

- Ta có bảy viên đại tướng, nay đã chết mất hai, A Nhĩ Hải bị thương chưa khỏi, còn bốn người chia ra lo giữ các nơi, biết dùng ai vào việc này bây giờ?

Hoài Đô thưa:

- Trong mười đại dũng sĩ, đã tử trận mất bảy viên, nay còn Nghạch Vu Tháp, Lâm Tằng Cơ, Đa Xích Nãn cũng đều là những người đã lập được công; sao thống tướng không dùng họ vào việc chỉ huy ba quân.

Cốt Đãi Ngột Lang nghe theo, phong Nghạch Vu Tháp, Lâm Tằng Cơ, Đa Xích Nãn làm tướng, sai đến Đông Bộ Đầu bảo A Truật chia cho mỗi người một nghìn quân ra các vùng phía Tây, phía Nam tìm lương và bắt người.

Trong khi Cốt Đãi Ngột Lang đang lúng túng tìm đối sách ở Thăng Long, Trần Thái Tông đóng đại bản doanh trên sông Thiên Mạc cùng Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Lê Tần ngày đêm bàn kế phá giặc.

Hôm ấy là chiều ngày rằm tháng chạp, Thái Tông cùng mấy vệ sĩ đi thuyền nhỏ kiểm tra thuỷ trại, được tin Cốt Đãi Ngột Lang đã vào Thăng Long, nhà vua liền đến chỗ quân Tinh Cương do Trần Nhật Hiệu chỉ huy nhưng không thấy quân sĩ đâu cả, chỉ mỗi mình Nhật Hiệu ngồi trong thuyền.

Nhà vua hỏi:

- Nay quân Thát đã vào Thăng Long, ngự đệ có kế gì phá giặc không?

Nhật Hiệu sợ hãi, không nói được, cũng không đứng lên nổi, lấy tay chấm vào nước viết lên mạn thuyền hai chữ nhập Tống, ý bảo nhà vua nên chạy vào đất Tống.

Nhà vua bảo:

- Nhà Tống tự lo giữ lấy thân còn chẳng nổi, ta bỏ dân bỏ nước sang nhờ họ sao được.

Quân Tinh Cương đâu cả?

Nhật Hiệu đáp:

- Không gọi được chúng đến*.

Thái Tông lắc đầu bỏ đi.

Thực ra không phải quân Tinh Cương không đến.

Số là Thái Tông nhiều lần đem việc quân bàn với Trần Nhật Hiệu nhưng Nhật Hiệu toàn bàn chùn, nhà vua biết là người không làm nên việc, chỉ giao cho một toán quân nhỏ, chủ yếu để hầu hạ và bảo vệ Nhật Hiệu, nhưng người xã Tinh Cương biết Nhật Hiệu hèn nhát nên không theo mà gia nhập các đội quân khác để được đi đánh giặc.

Nhà vua lúc ấy dời thuyền Nhật Hiệu đến thuyền Trần Thủ Độ, có cả Trần Quốc Tuấn và Lê Tần ở đấy.

Nhà vua kể lại lời Trần Nhật Hiệu.

Mọi người cười ầm cả lên.

Nhà vua bảo:

- Em ta còn sợ giặc như vậy, biết liệu thế nào?

Trần Thủ Độ nói:

- Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác*.

(*: Những câu này trích nguyên văn trong ĐVsktt)

Nhà vua hỏi:

- Các khanh đã trù hoạch mọi việc đến đâu rồi?

Trần Quốc Tuấn đứng ra tâu:

- Quân giặc vào thành Thăng Long không khác gì cá vào lưới.

Ta vây chặt không cho chúng ra các làng mạc cướp phá, chỉ mấy ngày quân chúng hết lương tất có biến, lúc ấy thần sẽ có kế đánh tan bọn chúng.

Nhà vua nói:

- Phải lắm!
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 12: Đánh Đông Bộ Đầu, Quốc Tuấn thu toàn thắng (2)


Hôm sau Trần Quốc Tuấn phân công lão tướng Bùi Khâm đem năm nghìn quân vây cánh Bắc, Hoài Đức vương Trần Bà Liệt lĩnh một vạn quân chặn suốt dải phía Tây.

Đại tướng Trần Khuê Kình chỉ huy đại đội binh mã chặn mọi con đường xuống hướng Nam.

Hẹn đêm hai ba tháng chạp táo quân lên chầu giời, gió Đông Bấc thổi mạnh, thấy lửa cháy ở Đông Bộ Đầu tất cả cùng tiến đánh.

Các tướng lĩnh quân đi ngay.

Quốc Tuấn lại gọi Trung Thành vương đến giao cho một trăm năm mươi thuyền nhẹ dặn cứ như thế như thế mà làm.

Trung Thành vương lĩnh kế bước ra.

Quốc Tuấn nói với Lê Tần:

- Phiền tướng quân trông coi cho đại đội binh thuyền, trong vòng mười ngày ắt phải dùng đến.

Lúc ấy xin mời Quan gia cùng thái sư lên đài cao xem phá giặc.

A Truật cùng Bố Nhĩ Hải đóng quân trên bến Đông Bộ Đầu, ngày nào cũng bị binh thuyền quân Đại Việt tiến đánh nhưng khi đem quân ra nghênh địch, thuyền Đại Việt lại rút đi, ban đêm quân lính định ngủ, quân Việt đốt lửa hò reo tiến vào, đem binh ra, quân Việt đã đi đâu mất.

Cứ như thế mấy ngày liền, quân Thát mất ăn mất ngủ sinh ra trễ nải việc canh phòng.

Bọn Đa Xích Nãn, Lâm Tằng Cơ, Ngạch Vu Tháp không phá nổi vòng vây để đi tìm lương.

Quân lính đào cả cây chuối, mò cá ốc ở hồ Lục Thuỷ lên ăn nhưng những thứ ấy cũng chẳng có nhiều nên ngựa bị thương hoặc ốm yếu phải đem ra làm thịt.

Cốt Đãi Ngột Lang muốn điều quân của A Truật đi giúp bọn Nghạch Vu Tháp nhưng lại sợ mất Đông Bộ Đầu.

Hoài Đô nói:

- Tình cảnh quân ta hiện nay muôn phần bi đát.

Xin thống tướng hãy cử ngay sứ giả đến chỗ vua Nam, một là dụ chúng, hai là xem binh tình chúng thế nào.

Nếu binh lực của chúng yếu, ta có thể dốc toàn lực đánh một trận mà diệt đi.

Nếu quân lực của chúng mạnh mẽ, ta chiêu an cho chúng giảng hoà hoàn quốc.

Như vậy ta có thể an toàn mang quân về nước hoặc sang Ngạc châu.

Cốt Đãi Ngột Lang đã chọn sứ giả nhưng còn dùng dằng chưa đi.

Cánh quân bảo vệ phía Nam của Đoàn Hưng Trí hết sạch lương ăn, mò đi kiếm, bị dân binh Đại Việt đánh rát một trận, không dám thò đầu ra nữa.

Ngày hai mươi tháng chạp, Trần Khuê Kình cho quân áp sát Mi Động, chia nhiều đội nhỏ, theo phép luân xa chiến thay nhau đêm nào cũng vào quấy phá nên quân Đoàn Hưng Trí vừa đói khổ, vừa lo chống cự không lúc nào được yên.

Sau ba ngày căng thẳng không chịu nổi, Đoàn Hưng Trí dẫn quân chạy dồn cả về Đông Bộ Đầu làm tình hình trở nên rối loạn.

Cốt Đãi Ngột Lang thấy vậy mới vội cho sứ đi thuyền nhỏ đến gặp quân Đại Việt.

Trung Thành vương liền cho giải về Thiên Mạc gặp nhà vua.

Lúc ấy Thái Tông đang họp bàn cùng Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn, thấy báo có sứ của Cốt Đãi Ngột Lang đến.

Nhà vua hỏi:

- Có nên gặp sứ của chúng hay không?

Trần Quốc Tuấn nói:

- Quan gia cứ nên cho gặp xem ý tứ bọn chúng thế nào.

Nhà vua truyền cho sứ giả vào gặp.

Hai sứ giả quân Thát thấy thuyền bè Đại Việt san sát liên tiếp mấy mươi dặm, hàng nào đội ấy rất tề chỉnh, có ý sợ nhưng vẫn nghênh ngang bước vào thuyền của nhà vua, không quỳ lạy mà chỉ cúi chào.

Trần Quốc Tuấn quát:

- Quỳ xuống.

Sứ Thát vênh vang nói:

- Ta là sứ nước lớn không phải quỳ trước vua nước nhỏ.

Thái Tông nói:

- Các ngươi là đám quân ma đói mà vẫn còn hống hách thế ư?

Võ sĩ đâu!

Lôi hai tên này lên bờ chém cho ta.

Sứ Thát lúc ấy mới hoảng lên vội quỳ lạy xin tha mạng.

Thái sư Trần Thủ Độ nói:

- Hai bên đang giao tranh cũng không nên chém sứ.

Xin hoàng thượng tha tội chết cho chúng, xem chúng nói gì.

Thái Tông nói:

- Các ngươi đã biết tội thì ta tha chết cho, vậy có chuyện gì hãy nói đi.

Sứ Thát lắp bắp nói:

- Muôn tâu quốc vương!

Thống tướng chúng tôi không muốn kéo dài việc chinh chiến nên muốn cùng quốc vương nghị hoà, xin hoàn quốc cho ngài.

Hai bên bãi binh để quân sĩ đỡ hao tổn xương máu, chỉ xin quốc vương cho mượn đường lên phía Bắc thôi.

Thái Tông cười lớn nói:

- Thống tướng nhà ngươi nhân đức thế còn mang quân cố chết đến đây làm gì?

Ai hoà với các ngươi mà nghị.

Quân đâu!

Lôi ra đánh mỗi tên hai mươi roi, trói đưa trả về, dạy cho Cốt Đãi Ngột Lang một bài học.

Chu Bác Lãm bảo hai sứ Thát:

- Đến nước này mà còn đòi nghị hoà, thống tướng nhà các ngươi hoá dại mất rồi.

Hai sứ Thát bị đánh đau quá, lại bị trói chặt vất nằm co quắp trong khoang thuyền, nhịn đói suốt cả ngày đưa về trả cho quân Thát ở Đông Bộ Đầu.

A Truật cho cởi trói, dẫn vào Thăng Long gặp Cốt Đãi Ngột Lang.

Sứ giả kể lại tình hình binh thế của Đại Việt rất lớn.

Vua Đại Việt không chịu nghị hoà.

Cốt Đãi Ngột Lang nghiến răng thét:

- Không nghị hoà ta cho chúng biết thế nào là chiến!

Trần Quốc Tuấn sau khi cho sứ Thát về, liền ra lệnh tiến binh.

Đó là đêm hai mươi ba tháng chạp năm Nguyên Phong thứ bảy (Đinh Tỵ-28/01/1258).

Lệnh cho lão tướng Bùi Khâm bỏ cửa phía Bắc không vây, đem quân lên phục trong cánh rừng phía Bắc hồ Dâm Đàm, khi nào giặc thua chạy về đấy đổ quân ra đánh.

Lệnh cho Hoài Đức vương canh ba đem quân đánh vào cửa Tây thành.

Đại tướng Trần Khuê Kình chia ba nghìn quân cũng canh ba đánh vào phía Nam Thăng Long, còn đại binh theo ven sông lên phục ở phía Nam Đông Bộ Đầu khi nào thấy phía Bắc đốt lửa xông vào đánh.

Thuỷ binh do Lê Tần, Trung Thành vương, Chu Bác Lãm tiến lên Nhị hà ngăn không cho quân Thát vượt sông sang tả ngạn, canh ba đốt lửa từ phía bắc thuận theo chiều gió đánh xuống.

Thái Tông cùng Quốc Tuấn đem quân thánh dực đến bến Triều Đông dựng đài cao bên bờ sông quan sát.

Thái sư Trần Thủ Độ tiếp ứng phía sau.

Hôm ấy Cốt Đãi Ngột Lang cho lính ở Đông Bộ Đầu đặt lưới bắt cá chép cúng ông Công ông Táo mong phù hộ kiếm được quân lương để bếp lính lúc nào cũng đỏ lửa.

Lính tráng bảo nhau tết nhất đến nơi rồi, chả kiếm được cái gì mà ăn, không khéo chết đói hết.

Tất cả các ao hồ trong thành Đại La đều bị khoắng đi khoắng lại đục ngầu để tìm cá, ốc.

Cây chuối, rau lang cũng cắt sạch, cái gì người không thể nuốt được thì cho ngựa, cho trâu.

Tình cảnh thật muôn phần ngao ngán.

Hoài Đô lên lầu cao quan sát rồi xuống, nói:

- Tôi xem các cánh rừng bên tả ngạn yên tĩnh, không có khói bụi, chắc quân Nam không chặn ngả ấy.

Ngày mai nguyên soái nên dồn quân đánh sang mới có thể tìm được đường về.

Cốt Đãi Ngột Lang nói:

- Ta nghĩ khác.

Đã đem quân đến đây, thiệt hại mấy vạn nhân mã lẽ nào lại về không.

Ngày mai ngươi ở lại giữ thành.

Ta sẽ đem quân đi phá vây, đánh xuống hướng Tây Nam thế nào cũng tìm được lương thực.

Nói xong cho lính đến Đông Bộ Đầu bảo A Truật sáng hôm sau đem năm nghìn quân vào thành cùng đi phá vây.

A Truật bảo Bố Nhĩ Hải:

- Ngày mai tôi theo nguyên soái đi kiếm lương thực, ông ở nhà phải cẩn thận, không cho binh thuyền quân Nam đến gần thuỷ trại của ta.

Nếu chúng tấn công hãy đốt lửa to lên, tôi sẽ đem binh về cứu.

Bố Nhĩ Hải nói:

- Tướng quân cứ yên lòng mà đi, cốt sao mau chóng tìm được quân lương, nếu không lòng quân sinh biến mất.

Đêm ấy A Truật cho quân ngủ yên để sáng mai đi sớm.

Canh ba lính gác vào báo có quân Nam từ hướng Bắc đốt lửa tiến vào.

A Truật bảo:

- Kệ chúng, đêm nào mà chả thế, chỉ có vài tên quấy rối vậy thôi, đại quân của chúng ở phía Nam cơ.

Nói chưa dứt lời lại có quân vào báo quân Nam đã phá cổng Bắc tràn vào trại rồi.

A Truật, Bố Nhĩ Hải vội vã ra xem, thấy lửa từ phía Bắc theo gió bốc lên cuồn cuộn sáng rực trời đất.

Lửa cháy vào tàu ngựa, những con ngựa chiến rứt cương chạy bổ tứ tung, giẫm đạp lên quân sĩ.

Nhiều con không chạy được, chết cháy khét lẹt.

Lính Thát nhốn nháo chạy quàng chạy xiên như ong vỡ tổ, dạt cả về hướng Nam.

Bỗng pháo nổ liên thanh, một đạo quân Đại Việt từ hướng Nam đánh vào.

Thấp thoáng trong ánh lửa, quân Thát nhận ra tướng Việt đi đầu là Trần Khuê Kình, vội vã chạy té cả ra phía bờ sông.

Bố Nhĩ Hải xông ra ngăn Trần Khuê Kình.

Đánh nhau mới được bốn năm hiệp, Bố Nhĩ Hải không địch nổi, quất ngựa bỏ chạy.

Khuê Kình thúc quân xốc vào đánh phá, chém giết quân Thát không biết bao nhiêu mà kể.

Thuỷ binh của Lê Tần, Trung Thành vương, Chu Bác Lãm giăng kín mặt sông, đánh vào thuỷ trại quân Thát, đốt hết thuyền bè rồi thúc quân đánh lên bờ.

Quân Thát không biết chạy đường nào, giày xéo lên nhau mà chết.

Bố Nhĩ Hải đang chỉ huy một đám lính mở đường máu đánh về phía Bắc, gặp ngay Lê Tần chặn lại.

Hải luống cuống bị Lê Tần chém một nhát rơi đầu, quân sĩ chạy tan cả.

Hai bên đánh nhau đến sáng.

Hơn hai vạn quân Thát đóng ở Đông Bộ Đầu chết gần hết, chỉ có A Truật dẫn mấy trăm kị binh cố sống cố chết chạy lên phía hồ Dâm Đàm.

Mấy nghìn quân của Đoàn Hưng Trí mới từ Mi Động rút về, đóng ở bên trong mở cửa trại chạy vào Thăng Long, bị quân Việt đuổi đánh, xác chết đầy đường.

Đoàn Hưng Trí không dám ngoảnh lại, cắm đầu cắm cổ chạy, may thoát được.

Trong khi ở Đông Bộ Đầu đang xảy ra giao tranh, lính Thát trong thành Thăng Long vẫn ngủ yên, lại than thở kêu khổ vì đói, quá canh ba bỗng thấy phía Tây và phía Nam thành lửa bốc lên ngùn ngụt, trống đánh, pháo nổ, quân sĩ reo hò vang trời dậy đất xông vào.

Phía Đông, ánh lửa từ Đông Bộ Đầu chiếu đến, sáng rực cả một vùng.

Cốt Đãi Ngột Lang, Hoài Đô chạy ra, quân sĩ khắp nơi đã náo loạn cả, liền thét bọn Nghạch Vu Tháp, Lâm Tằng Cơ trấn an quân sĩ giữ thành, lát sau thấy bọn Đoàn Hưng Trí chạy về gọi mở cửa.

Cốt Đãi Ngột Lang cho vào.

Đoàn Hưng Trí quỳ khóc, nói:

- Nguyên soái ôi!

Đông Bộ Đầu mất rồi, quân lính tan nát hết cả.

Thành này cũng không thể giữ được đâu.

Xin nguyên soái lo liệu sớm đi.

Cốt Đãi Ngột Lang cau mày, hỏi:

- A Truật, Bố Nhĩ Hải đâu?

- Bố Nhĩ Hải chết rồi.

Công tử A Truật không biết chạy đi đâu.

Hoài Đô nói:

- Tình thế không thể ở lại được nữa.

Nay chỉ có cửa Bắc không có quân vây, xin nguyên soái cho chạy ra phía ấy.

Cốt Đãi Ngột Lang hạ lệnh cho bọn Nghạch Vu Tháp, Đa Xích Nãn đem lính đi đốt phá cung điện dinh thự nhưng bọn này mải lo chạy nên chưa phá phách được nhiều.

Cốt Đãi Ngột Lang cầm đại đao đi trước, dặn Hoài Đô cùng Lâm Tằng Cơ đi đoạn hậu, Đoàn Hưng Trí, Đa Xích Nãn, Nghạch Vu Tháp đi tả hữu.

A Nhĩ Hải vết thương ở đầu chưa khỏi cũng nai nịt lên ngựa.

Trời sáng rõ, quân Thát mở cửa Bắc chạy về hướng hồ Dâm Đàm định theo bờ sông mà đi.

Quân Đại Việt thấy quân Thát đã ra khỏi thành mới hò nhau đuổi đánh.

Quân Thát cứ bặm môi chạy không dám quay lại, qua khỏi hồ Dâm Đàm có một con đường theo bờ sông ngược lên phía Bắc, một bên là rừng, một bên là bãi sông.

Cốt Đãi Ngột Lang thúc quân đi cho nhanh bỗng một tướng Việt trong rừng xông ra cản đường, quát:

- Ta là Bùi Khâm đợi ở đây đã lâu.

Tướng Thát không xuống hàng còn định chạy đi đâu.

Quân Thát bủn rủn cả chân tay, nhiều đứa ngã quỵ không đứng lên được.

Cốt Đãi Ngột Lang lao vào đánh nhau với Bùi Khâm để mở đường.

Đằng sau, Trần Khuê Kình đem quân khinh kỵ xốc tới.

Phía Tây, Hoài Đức vương Trần Bà Liệt đánh áp vào.

Dưới sông, thuỷ binh của Trung Thành vương hò reo đánh lên.

Quân Thát bỏ đội ngũ, mạnh ai nấy chạy tứ tung.

Cốt Đãi Ngột Lang thấy nguy đến nơi, không dám ham đánh, dẫn đám kỵ binh co giò chạy tháo thân.

A Nhĩ Hải, Lâm Tằng Cơ bị vây không chạy được, đâm cổ tự tử.

Hoài Đô, Đoàn Hưng Trí, Nghạch Vu Tháp, Đa Xích Nãn mỗi người chạy tán loạn một nơi.

Quân sĩ bị chết rất nhiều, một số bị bắt hoặc buông vũ khí đầu hàng xin được sống.

Hoài Đô chạy đến trưa tới bến Cổ Sở trên sông Đáy gặp Nghạch Vu Tháp dẫn một đội quân thất thểu đi tới.

Tự nhiên con ngựa của Hoài Đô khuỵu chân không đi được nữa.

Trong đám lính có đứa nói đây là điềm chẳng lành.

Nghạch Vu Tháp bảo:

- Đã đến nông nỗi này còn có điềm gì xấu hơn được nữa, chẳng qua là nó đói quá không đi được.

Chúng bay xẻ thịt ra nướng ăn cho đỡ đói, đưa con khác cho tướng quân đi.

Nghạch Vu Tháp quay về phía Hoài Đô, nói:

- Ở đây có nhiều làng mạc, để quân lính ăn xong, ta hợp binh lại đánh vào kiếm lấy ít lương thảo cho quân sĩ mang đi ăn đường.

Hoài Đô bảo:

- Chính tôi cũng đang nghĩ như vậy.

Quân sĩ lấy kiếm xẻ thịt ngựa nướng nhếu nháo, dâng lên cho Hoài Đô và Nghạch Vu Tháp.

Ai nấy nhai trệu trạo nuốt vội nuốt vàng lấy mấy miếng cho tỉnh lại.

Hoài Đô kiểm điểm quân số thấy có gần năm trăm người mới hò hét xông vào làng cướp phá, không ngờ dân ở đây đã biết trước, đặt rất nhiều hầm chông, bẫy đá.

Lính Thát thụt xuống không lên được, kêu khóc như ri, lại bị dân binh bắn tên nỏ, nhiều kẻ đeo tên mà chạy.

Mấy làng bên cạnh đem cơm gạo ra nhử nhưng quân Thát sợ mắc bẫy không dám cướp, cứ cắm đầu chạy miết.

Một cô dân binh bảo:

- Đang đói mà chê cơm.

Có lẽ bọn này là giặc phật!

Từ đấy người Việt có từ giặc phật để mỉa mai chỉ đám tàn quân Mông Thát bại trận mải chạy không dám cướp phá.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 12: Chặn Quy Hóa giang, Hà Bổng lập đại công


Đám quân của Hoài Đô và Nghạch Vu Tháp chạy đến chiều, gặp bọn Cốt Đãi Ngột Lang ở gần ngã ba Bạch Hạc mới tựa vào rừng cây để nghỉ và bàn tính chuyện vượt sông.

Được một lúc Đoàn Hưng Trí cũng tìm đến.

Ngột Lang nói:

- Người ngựa đã mệt mỏi lắm rồi, ta cho lính cụm lại trong cánh rừng này, xem còn cái gì ăn được thì ăn, lấy sức sáng mai vượt sông sớm.

Hoài Đô nói:

- Như thế thật là nguy hiểm, nhỡ quân Nam đuổi kịp, ta biết chạy vào đâu.

Vùng này dân Nam cũng có thể bắt ưng thành lính, chúng lợi dụng ban đêm tiến đánh, quân ta rệu rã chống sao nổi.

Xin nguyên soái cho lính cứ năm người cử một người đi chăn ngựa, một người nấu ăn, còn ba người đi đẵn tre nứa đóng bè, cơm chín, ngựa no, quân sĩ ăn xong sang sông ngay.

Về được bờ bên kia là sống rồi.

Đoàn Hưng Trí nói:

- Tướng quân Hoài Đô nói phải lắm.

Cốt Đãi Ngột Lang nghe theo, cho các đội y kế thi hành.

Cuối canh hai đêm ấy bè mảng mới đóng xong mà ngựa lại nhiều con lăn ra chết.

Cốt Đãi Ngột Lang lệnh cho lính giết hết những con ngựa đã yếu, lóc lấy thịt gói đem đi làm cái ăn, thành ra đến canh tư mới sang sông được.

May!

Thuỷ quân của Trung Thành vương ngược nước nên không đuổi kịp.

Quân Thát sang sông gần hết, trời vừa sáng.

Cốt Đãi Ngột Lang nói:

- Thôi thế là thoát rồi.

Bỗng đâu nổi lên một hồi tù và, trống thúc liên hồi, một đạo quân trong rừng kéo ra, tướng đi đầu là Trần Khánh Dư.

Quân Thát hồn bay phách lạc, bảo nhau:

- Gặp Trần Khánh Dư khó mà hòng trông thấy quê hương.

Trần Khánh Dư xốc tới, quát:

- Cốt Đãi Ngột Lang không lại hàng mau, còn muốn ta ra tay hay sao?

Nghạch Vu Tháp nói:

- Tôi còn có thể ra giao chiến được.

Xin thống tướng yên lòng.

Nói xong quất ngựa xông ra.

Trần Khánh Dư bảo:

- Các ngươi là một lũ ma đói, không biết điều hàng mau còn thích đánh nhau đến thế ư ?

Nghạch Vu Tháp xông vào đánh mới được mấy hiệp, con ngựa không chịu được quỵ xuống, hất Nghạch Vu Tháp ngã quay ra đất.

Khánh Dư chỉ ngọn giáo vào mặt bảo:

- Rõ cái đồ trẻ con, không đáng để ta giết.

Nói xong hô quân xông lên bắt Cốt Đãi Ngột Lang.

Hoài Đô, Đoàn Hưng Trí liều chết cùng xông ra cản Trần Khánh Dư nhưng quân sĩ người ngựa mỏi mệt đánh không lại, Nghạch Vu Tháp bị ngựa xéo chết trong đám loạn quân.

Đang lúc khốn quẫn thấy hậu quân của Trần Khánh Dư rối loạn.

Hoá ra Đa Xích Nãn đã sang được sông từ trước, dẫn gần một nghìn quân đến cứu.

Trần Khánh Dư rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch vội cho quân lui cả vào rừng.

Cốt Đãi Ngột Lang thừa cơ chạy miết về Quy Hoá.

Khi chạy đã xa, Cốt Đãi Ngột Lang hỏi Đa Xích Nãn:

- Làm sao ngươi biết ta ở đây mà đến cứu?

Đa Xích Nãn thưa:

- Trình nguyên soái!

Hôm qua lúc quân sĩ chạy tan nát, không biết thống tướng đi về hướng nào.

Tôi thu thập được gần nghìn anh em đợi trời tối sang sông, nhổ sắn nhổ khoai ăn tạm, đêm ngủ trong rừng, bỗng dưng tôi thấy có người đến bên nói: "Ngươi mau đến cứu thống tướng ở bến sông".

Tôi nhìn kĩ hoá ra tiên phong Triệt Triệt Đô.

Tôi hỏi: "Tiên phong sao vẫn còn ở đây?".

Ngài nói: "Ta đã thành quỷ, bị giam ở nơi này, không về được.

Ngươi nói với thống tướng Đại Việt là đất địa linh, đừng bao giờ dại dột mà xâm phạm tới nữa".

Tiên phong nói xong chỉ cho tôi mấy người đứng cạnh đấy, bảo: "Các anh em này cũng bị giam hết cả rồi".

Tôi nhận ra mấy người ấy là Tín Thư Phúc, Bố Nhĩ Hải, A Nhĩ Hải và tám anh em dũng sĩ.

Tất cả đều bị trói, có quân Nam áp giải không biết đi đâu.

Tôi giật mình tỉnh dậy, dẫn quân ra bờ sông may cứu được nguyên soái.

Cốt Đãi Ngột Lang than:

- Triệt Triệt Đô thật là trung thành.

Tiếc rằng ta một lúc nóng giận giết mất ông ấy.

Quân Thát chạy xa rồi, Trần Khánh Dư đem quân về xuôi.

Mấy viên tỳ tướng hỏi:

- Sao tướng quân không đuổi đánh mà lại rút về?

Khánh Dư nói:

- Ta muốn đám tàn quân này làm mồi cho Hà Bổng ăn tết.

Lại nói A Truật từ khi đem mấy chục lính kị chạy trốn khỏi Đông Bộ Đầu, men theo bờ sông mà đi.

Về đến Yên Khâu, dừng lại nghỉ, cho quân đi tìm măng, tìm củ rừng ăn tạm.

Chiều hôm ấy Cốt Đãi Ngột Lang dẫn tàn quân chạy đến.

Cha con gặp nhau tủi cực không biết nhường nào, khóc như mưa như gió.

Hoài Đô nói:

- Xin thống tướng bớt bi thương.

Nơi này vẫn trong đất giặc, nhỡ bị đánh úp thì nguy to.

Cốt Đãi Ngột Lang nói:

- Ta mang đi bảy viên đại tướng chết mất bốn, mười viên đại lực sĩ chết chín, gần năm vạn quân nay còn không nổi một vạn không đau lòng sao được.

Cả đời chinh chiến chưa bao giờ cay đắng thế này.

Rừng già ban đêm như đứa trẻ đỏng đảnh, đầy những trò tinh nghịch oái oăm.

Sau tấm màn đen bí mật ngập tràn tiếng i...i...on...on, ái ái...

ừm ừm, quân Thát không biết thần chết vẫn lần theo từng bước, nhất cử nhất động không thoát khỏi những đôi mắt của thám binh Hà Bổng.

Nửa đêm về sáng, trời lạnh thấu xương, quân Thát vừa đói vừa mệt, ngủ say như chết.

Mấy tốp lính gác, áo quần tơi tả, đi lại dật dờ trong ánh đuốc như những hồn ma, không còn sót lại chút gì vẻ kiêu dũng của những chiến binh đồng cỏ đã từng làm sụp đổ bao nhiêu lâu đài thành quách dưới gầm giời.

Cuối canh tư, phía sau trại có tiếng pháo nổ, tiếng tù và nổi lên, tiếng trống đồng hoà với tiếng quân reo vang ầm rừng núi.

Quân Thát nháo nhác gọi nhau:

- Quân Nam đánh đến, chạy thôi!

A Truật bảo:

- Cha chạy trước để con chặn hậu cho.

Cốt Đãi Ngột Lang, Hoài Đô cùng mấy nghìn binh lính người không kịp mặc giáp, ngựa không kịp đóng yên cứ trần trùi trụi mà chạy.

Đến sáng Cốt Đãi Ngột Lang dừng lại thở hổn hển bảo:

- Chạy cũng xa rồi, đây gần ải Quy Hoá có lẽ quân Nam không đuổi nữa.

Ta đi từ từ đợi A Truật.

Hoài Đô nói:

- Chỗ này đường hẹp, hai bên vách núi dựng như thành, thật là mạt địa.

Thống tướng nên đi mau, quân Nam đặt bẫy đá thì quân ta chết hết.

Hoài Đô nói chưa dứt lời, trên đỉnh núi nổ một tiếng pháo, gỗ đá rơi xuống như mưa.

Quân Thát tranh nhau chạy, chết hại vô số.

Cốt Đãi Ngột Lang chạy đến gần ải Quy Hoá lại có một cánh quân dựng thành gỗ chặn mất đường, quân sĩ ùn cả lại, tên nỏ từ trong rừng bắn ra.

Lính Thát mải chạy mất hết khiên mộc lẫn áo giáp, đứng làm mồi cho tên thuốc độc.

Cốt Đãi Ngột Lang than:

- Thôi!

Uy danh mấy mươi năm của ta chôn vùi ở đây mất rồi.

Nói xong rút gươm ra tự sát.

Thật là:

Biết trước đất Nam đầy linh khí

Thì đâu đến nỗi phải ngậm ngùi

Xin mời bạn đọc tiếp chương sau, xem Cốt Đãi Ngột Lang sống chết thế nào.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 13: Nhà vua xét công thưởng tướng sĩ


Đang nói Cốt Đãi Ngột Lang sa vào nơi mạt địa, không có đường tiến, chẳng có đất lui, trong cơn cùng quẫn định rút gươm tự sát.

Đoàn Hưng Trí bước lên giữ lấy thanh gươm, nói:

- Thống tướng chớ vội lo, tôi có cách này may ra thoát - quay lại bảo đám binh lính - Đây đã gần đất ta rồi, đằng nào cũng khốn, không liều mà đánh, chịu chết hết cả hay sao?

Nói xong đem bọn quân Bắc Thoán lên đầu, dẫn Cốt Đãi Ngột Lang và Hoài Đô vượt núi chạy suốt hai hôm thoát được về bên kia biên giới.

Binh lính theo sau bị quân của Hà Bổng bắn chết đầy rừng.

Đám quân đoạn hậu chết gần hết, chỉ có A Truật cùng vài chục lính Bạch Man tắt rừng chạy thoát.

Mấy ngày sau Cốt Đãi Ngột Lang về đến Mã Quan, kiểm điểm sĩ tốt còn không đầy năm nghìn người mà phần lớn đều bị thương cả, mới thề rằng:

- Đời ta không bao giờ trở lại đất phương Nam này nữa.

Về sau Cốt Đãi Ngột Lang làm đến tể tướng nhà Nguyên, đánh cướp nhiều nơi nhưng suốt gần ba mươi năm không dám đem quân sang Đại Việt.

Mỗi lần Hốt Tất Liệt nói đến đánh Giao Chỉ, Cốt Đãi Ngột Lang đều lấy cớ trong nước còn chưa ổn định gàn đi.

Trong khi các cánh quân Đại Việt tiến đánh Đông Bộ Đầu, Trần Quốc Tuấn mời Thái Tông lên đài cao ở bến Triều Đông quan sát mặt trận.

Khi thấy kinh thành bốc cháy, quân Thát bỏ chạy, Thái Tông liền truyền khẩu dụ cho thái sư Trần Thủ Độ đem quân vào thành dập lửa, cứu các cung điện, lầu gác, chữa cháy giúp dân.

Ngay chiều hôm ấy nhà vua đem trăm quan về Thăng Long lo việc sửa sang cung thất.

Mấy trăm thợ giỏi được triệu đến cùng quan binh làm gấp ngày đêm để kịp đón tết.

Ngày hôm sau dân thành Đại La bồng bế nhau về, tiếng cười tiếng nói tíu tít khắp phường to ngõ nhỏ.

Thóc lúa, của cải đào lên, đâu đâu cũng rộn rã chuẩn bị đón xuân.

Chị cả Thìn đặt gánh xuống sân, bảo cu Long:

- Chạy bố chúng nó hết rồi con ạ.

Từ nay mẹ con mình lại được ở nhà.

Mai mẹ mua cá nấu bún cho con ăn.

Cu Long hỏi:

- Giặc chạy hết sao bố chưa về hả mẹ.

- Con ngoan đi, vài ngày nữa tết thế nào bố cũng về.

- A!

Tết bố về, lại dạy con tập võ.

Bên kia bờ rào, bà cụ Hải bảo cô con út:

- Con xem gạo, đỗ đã đủ chưa.

Tết này anh mày nó về, làm nhiều nhiều bánh chưng một chút.

Thằng ấy là chúa ăn của nếp.

Chị tư Phúc lấy cái nơm úp con gà trống hoa, bảo hai đứa con:

- Úp con gà vào đây, vài hôm nữa bố về làm thịt cúng giao thừa.

Vừa nói, chị vừa nhìn ra cổng, biết đâu nhỡ anh về!

Tự nhiên má chị đỏ lên.

Tuy đã hai con nhưng chị còn trẻ và đẹp, một vẻ đẹp tự nhiên hơi hớ hênh, dư tràn sức sống và sự khát khao ham muốn rất người.

Ngoài đường có tiếng chào hỏi xôn xao.

Ai đó nói:

- Gớm!

Trên Nhật Tân năm nay hoa đẹp ơi là đẹp!

Những ngày giáp tết, trời ấm dần lên.

Tiết xuân như thổi vào cỏ cây vạn vật một luồng sinh khí.

Hôm nay là mùng một tết, khắp các ngả đường dẫn vào hoàng cung rực rỡ vô số những ngọn minh đăng nối tiếp nhau đủ các màu.

Từ canh năm, anh lính tốt Thân Văn Khoai đã trở về nơi gác cũ bên cổng hoàng thành.

Cạnh đấy có gốc đào già cháy dở trồi lên mấy chiếc mầm rất mập với vài cái nụ nhỏ xíu xinh xinh.

Những hạt mưa li ti nhảy múa tung tăng, tranh nhau hôn lên mấy nụ đào be bé.

Chân cổng phía bên kia không phải là Thái Công Bình, người lính tinh nhanh ấy nằm lại trên chiến trường Bình Lệ, anh đã hoà đời mình vào những giọt mưa xuân làm xanh tươi lá cành của quê hương xứ sở, thay vào đó là anh lính tốt Nguyễn Văn Lai mới được tuyển từ đội lính của phủ Thiên Trường lên.

Trong trận Đông Bộ Đầu, Nguyễn Văn Lai có công giết được ba lính Thát, dường như đứng lâu anh ta không chịu nổi, cứ ngọ ngà ngọ nguậy có vẻ khó chịu lắm, lúc sau quay sang hỏi Văn Khoai.

- Ngày nào cũng phải đứng gác thế này hả anh?

- Là lính giữ hoàng thành chỉ có đứng gác chứ làm gì nữa.

- Ôi!

Thế thì chán quá.

Tính tôi thích bơi lội chạy nhảy, bây giờ đứng như tượng suốt ngày chịu sao nổi anh ơi, giờ giấc nghiêm ngặt không cựa vào đâu được, hơi tí là bị phạt ngay.

Thế mới biết người ta bảo gần lửa rát mặt, biết vậy cứ ở đội thuyền cho xong.

Văn Khoai cười bảo:

- Nhưng về đây đã được ăn ngon, mặc đẹp, lâu dần sẽ quen.

Cậu không thấy làm lính hoàng cung là danh giá à?

Khối người mơ chẳng được đấy.

- Danh giá thì có nhưng bó buộc lắm.

Chả trách con chim trong lồng ăn uống đầy đủ ngon lành thế nhưng hở cửa là bay đi, chẳng cần ngoảnh cổ nhìn lại.

Giặc chạy hết rồi, có lẽ ăn tết xong tôi xin về quê cày ruộng giúp thầy tôi.

Binh đâu phải là nghiệp hả anh.

Hai anh em đang nói chuyện, từ điện Kính Thiên nổi lên một hồi trống dài, tiếp theo là tiếng pháo nổ.

Cả hoàng cung như được nâng lên trong tiếng pháo.

Trời sáng dần ra, đằng Đông rực lên màu hồng phơn phớt của ánh tảo minh, bóng đêm và mưa bụi lùi về phía cuối trời.

Tiếng pháo ran lên trên các phố La thành rồi lan ra khắp nơi trong Đại La thành.

(Kinh đô Đại Việt gồm nhiều lớp thành: Ngoài cùng là Đại La thành, tiếp đến La thành, Thăng Long thành, trong cùng là Tử Cấm thành)

Trăm quan đã tề tựu trước sân điện Kính Thiên.

Đúng giờ Mão, nhà vua mặt rồng tươi tốt bước lên điện.

Triều thần quỳ lạy tung hô vạn tuế.

Thái Tông giơ tay vẫy, miễn lễ cho mọi người.

Ngài nói:

- Ơn nhờ linh khí giang sơn, hồng phúc của tổ tiên cùng sự chung sức đồng lòng của muôn dân trăm họ, đã đánh đuổi được giặc Thát ra khỏi biên thuỳ.

Nhân dịp tân xuân, trẫm có lời chúc trăm quan cùng bách tính người người an khang, nhà nhà thịnh vượng, đặng làm cho Đại Việt ta thành một nước phú cường.

Nhà vua vừa dứt lời, từ quan đến lính cùng tung hô:

- Vạn tuế!

Vạn tuế!

Vạn tuế.

Hoàng thành vang ầm trong nhịp trống, tiếng người.

Dân Đại La nhất loạt hô theo:

- Vạn tuế!

Vạn tuế!

Vạn tuế...

Tiếng hô lan qua bãi ngô, theo dòng Nhị Hà mang niềm phấn khích đến tận ngõ ngách của các xóm làng.

Đợi cho bầu không khí lắng lại, nhà vua nói tiếp:

- Trẫm xin tỏ lòng tri ân tới các gia đình quan lại, sĩ phu, tướng lĩnh, binh lính cùng muôn dân có người thân đã anh dũng xả thân trong cuộc chiến vừa qua vì sự trường tồn của giang sơn xã tắc.

Sự cống hiến đó thật là lớn lao, dẫu đem núi Yên Tử mà so cũng không thể nào sánh được.

Giọng nhà vua nghẹn lại, người xúc động nghĩ đến các chiến binh đã vì núi sông, vì người mà ngã xuống.

Các triều thần cùng tướng lĩnh, binh sĩ cũng im lặng, một sự im lặng thành kính trang nghiêm trong đau thương mất mát.

Bầu không khí như chìm hẳn xuống.

Giây lâu nhà vua mới nói tiếp:

- Cho dù tổn thất đó thật lớn lao nhưng người Đại Việt đã chiến thắng vinh quang.

Trẫm mong các khanh, tất cả thần dân Đại Việt của trẫm hãy cùng trẫm chung sức chung lòng xây dựng lại cơ đồ, làm oai linh dòng giống Lạc Hồng ngày càng rạng tỏ.

Nhà vua vừa ngừng lời, trăm quan cùng binh lính lại đồng thanh tung hô:

- Vạn tuế!

Vạn tuế!

Vạn tuế!

Nhà vua tiếp:

- Có được chiến thắng đó là nhờ các khanh từ quan lại đến nông phu đã cùng trẫm lo mối lo của xã tắc, gánh gánh nặng của giang sơn, thật đáng khen lắm lắm.

Ai cũng có công, ai cũng đáng thưởng, người đầu tiên phải kể đến là Thiên Cực công chúa Trần Thị Dung.

Viên quan thị độc hô to:

- Thiên Cực công chúa Trần Thị Dung lĩnh chỉ.

Bà Dung quỳ trước sân rồng.

Nhà vua nói:

- Trong khi trẫm cùng triều thần đem quân chống giặc ở ngoài, Thiên Cực công chúa đã lo cho hoàng tộc và trăm họ lánh về Thiên Trường, không để quân Thát bắt người cướp của, đó là công lớn thứ nhất.

Khi tạm lánh ở Hoàng giang khanh đã giữ gìn hoàng thái tử, các cung phi, các công chúa cùng vợ con tướng lĩnh có được cuộc sống bình ổn không bị giặc cướp, vì thế hậu phương ta yên định, đó là công lớn thứ hai.

Trong khi ta đang cần quân dụng để đánh giặc, khanh đã chiêu mộ dân binh, quyên góp đồ binh bị gửi ra mặt trận, đó là công lớn thứ ba.

Đàn bà làm được như thế thật chẳng hổ danh con cháu Trưng vương.

Do những công lao to lớn đó, trẫm phong khanh danh hiệu Linh Từ quốc mẫu; xe kiệu, mũ áo, quân hầu đều ngang với hoàng hậu.

Linh Từ bái lạy tạ ơn lĩnh chỉ.

Ai cũng bảo:

- Thật là xứng đáng.

Viên thị độc gọi:

- Tướng Trần Khánh Dư lĩnh chỉ.

Trần Khánh Dư bước ra quỳ trước sân rồng.

Nhà vua phán:

- Trần Khánh Dư tuổi trẻ mà anh dũng mưu cơ, thừa lúc quân giặc sơ hở, đánh úp cướp được nhiều lương thảo làm cho quân Thát sớm lâm vào tình cảnh khốn đốn.

Công ấy không phải nhỏ.

Trẫm phong cho tước hầu.

Trần Khánh Dư bái tạ nhận chỉ đứng dậy.

Thái Tông nói tiếp:

- Trẫm muốn nhận khanh làm thiên tử nghĩa nam.

Ý khanh thế nào?

Khánh Dư vội quỳ lạy tạ ơn rằng:

- Đội ơn hoàng thượng ưu ái.

Nhi thần thật cảm kích, đâu dám không tuân.

Từ đấy Trần Khánh Dư được đối xử như một hoàng tử.

Quan thị độc hô tiếp:

- Quan đại phu Lê Tần nhận chỉ.

Lê Tần quì lạy.

Thái tông phán:

- Lê Phụ Trần đánh giặc có công, nguy nan không rối trí, mưu lược anh hùng, biết lấy nhàn chờ đánh nhọc.

"Trẫm không có khanh thì đâu có ngày nay.

Khanh hãy cố gắng để cùng được trọn vẹn về sau".

Nay trẫm phong khanh làm ngự sử đại phu, tước Bảo Văn hầu, cho kết duyên cùng công chúa Chiêu Thánh.

Hẹn ngày nguyên tiêu mở hội thành hôn.

(Lê Phụ Trần: Là biệt danh Trần Thái Tông phong cho Lê Tần

Phần trong ngoặc kép trích nguyên văn trong ĐVsktt)

Lê Tần cùng các quan ngơ ngác không hiểu nhà vua nói gì nhưng cũng không ai dám hỏi (Chiêu Thánh vốn là vợ vua.

Nay vua đem vợ mình gả cho người khác thật là chuyện lạ.

Vì thế đời sau Ngô Sĩ Liên cho rằng vua tôi nhà Trần coi thường đạo vợ chồng).

Thái Tông tiếp lời:

- Có những người được phong khen, hôm nay vắng mặt ở đây, bộ lễ có trách nhiệm chuyển sắc chỉ của trẫm đến bản thân hoặc gia đình họ.

Đó là Hà Bổng chủ trại Quy Hoá có công tập kích đánh tan tàn quân giặc.

Hôm nay là ngày tết, dân ta được yên vui nhưng ông ấy vẫn còn đuổi quân Thát ở miền biên giới.

Công lớn ấy thật đáng ghi cho muôn đời mai hậu noi theo.

Trẫm phong cho tước hầu, cử làm tướng trông coi động Quy Hoá.

Đó là Phùng Lộc Hộ, đánh giặc từ khi chúng mới vừa đặt chân tới Bạch Hạc, không cho chúng bắt người cướp của, bảo vệ được bách tính, chẳng may lâm trận tử vong.

Trẫm truy phong là Lân Hồ Đô Thống đại vương, xây miếu thờ ở quê làng Đồng Bảng, huyện Tùng Thiện.

Trẫm lại ban tám chữ lớn "Nam thiên tráng khí, Bắc khấu hàn tâm", khắc vào bức hoành đặt thờ trong miếu.

Những người mệnh vong trong lúc cùng đánh giặc được phối hưởng, quanh năm khói hương thờ phụng.

Đó là bảy anh em họ Lỗ, đứng đầu là Lỗ Định Sơn ở Tam Dương, toàn gia địch chiến, đánh giặc cả khi chúng đến lẫn lúc chúng rút chạy, gây cho quân Thát nhiều tổn thất.

Cùng rất nhiều tướng sĩ có công, sau này sẽ được lần lượt ban thưởng.

Những gia đình binh lính trận vong, thương tật được cấp tiền bạc.

Những người tham gia đánh giặc đều được ban thưởng, cho về thăm nhà.

Tuyên bố đại xá thiên hạ, chỉ riêng những kẻ hàng giặc thì không được tha.

(Nam thiên tráng khí, Bắc khấu hàn tâm: Trời Nam khí mạnh, giặc Bắc lạnh hồn

Tam Dương: Nay thuộc Vĩnh Phú

Toàn gia địch chiến: Cả nhà đánh giặc)

Nhà vua vừa dứt lời, tiếng tung tung hô vạn tuế ầm vang như sóng dậy khắp trong ngoài kinh thành.

Tan buổi triều, người ta ôm nhau mà khóc mà cười.

Ai nấy hoan hỉ bảo rằng:

- Vua ta thật là đấng minh quân.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 13: Chiêu Thánh gạt lệ lên xe hoa (1)


Cái tết này không ai sung sướng hơn chị cả Thìn.

Đúng tối giao thừa, anh cả Thìn về đến nhà, vừa đặt khăn gói xuống đã ôm lấy cu Long hôn lấy hôn để.

Chị cả Thìn bảo chồng:

- Em đã đun nước nóng, nhà đi tắm đi.

Thay áo thay khố ra để em giặt rồi vào ăn cơm.

Anh cả Thìn âu yếm nhìn vợ.

Đêm ấy hai người trò chuyện, nói sao hết tình ái ân của đôi vợ chồng lâu ngày mới được gặp nhau.

Chị sờ lên mặt anh, bảo:

- Mình đen quá, mà chân tay cứng như gỗ lim vậy.

- Không thế thì sao đánh được giặc.

- À!

Em chưa hỏi.

Chú Sơn con bà Hải mấy chú tư Phúc có về không?

Anh cả Thìn không trả lời, chỉ buông một tiếng thở dài.

Dưới ánh sáng lờ mờ của đĩa đèn dầu lạc, chị thấy anh nhìn trân trân vào một điểm nào đó trong khoảng tối trên mái nhà.

Chị lay người anh, hỏi:

- Hay có chuyện gì rồi hả thầy em.

Anh cả Thìn như tỉnh lại, nói:

- À à!

Không có gì!

Mai anh sang bên ấy chúc tết.

Các chú ấy chưa về được.

Khuya rồi, ngủ đi.

Chị cả Thìn thấy anh nói vậy, không dám hỏi nữa, kéo chăn đắp cho con rồi ôm lấy tấm ngực lực lưỡng của chồng, nằm yên.

Anh Thìn trằn trọc không ngủ, đầu óc căng căng.

Ngày mai gặp mọi người, nói chuyện thế nào, dịp đầu xuân anh không thể là con chim mang về tin dữ.

Sáng mùng một, chị cả Thìn dậy sớm, lẳng lặng làm thịt gà sắp mâm cỗ cúng, chị không muốn đánh thức anh, sợ anh mệt.

May thay, sáng ra ai nấy đều hướng về những tấm cáo thị dán khắp nơi trong thành, người ta còn mải kéo nhau đi xem đốt pháo và tung hô vạn tuế.

Những nhà có người thân chưa về lại càng hăng hái đi để nghe tin tức con em nên dù anh cả Thìn có không đến chúc tết cũng không ai trách cứ.

Buổi chiều, nỗi mong chờ hi vọng đã biến dần thành đám mây u ám ngày càng nặng trĩu treo lơ lửng trên những mái nhà có người đi lính chưa về.

Họ tìm đến những người trở về từ mặt trận để hỏi thăm.

Gần tối, chị tư Phúc rủ bà cụ Hải sang chơi chúc tết nhà anh cả Thìn.

Chị cả Thìn đon đả ra chào khách.

Cụ Hải vui vẻ nói:

- Năm mới sang mừng tuổi anh chị năm nay giàu bằng ba bằng bốn năm ngoái.

Bố cháu về đâu rồi, xem có khoẻ không nào.

Anh Thìn trong nhà chạy ra:

- Cháu chào bà, chào cô Phúc.

Mời bà, mời cô vào trong nhà xơi nước.

Cháu chúc bà năm nay khoẻ bằng ba bằng bốn năm ngoái, chúc cô Phúc ăn ra làm nên bằng ba bằng bốn năm ngoái.

Những lời chúc tụng như một công thức đã cũ nhưng không thể thay đổi.

Bà cụ Hải thắp mấy nén nhang cắm lên ban thờ.

Chị tư Phúc thở dài, nói:

- Không hiểu nhà em thế nào mà hôm nay chưa được về.

Bác có gặp nhà em không?

Anh cả Thìn bảo:

- Cứ vui vẻ cho con ăn tết đi đã, lính tráng trận mạc biết đâu mà đợi.

Chắc cũng chỉ mấy ngày nữa...

Cả Thìn dừng giữa câu nhưng anh cảm thấy hài lòng vì đã nói được tự nhiên và rành rẽ đến thế.

Bà cụ Hải cũng họa vào:

- Phải đấy!

Cứ vui vẻ ăn tết cái đã, biết thế nào mà đợi.

Chị tư Phúc bảo:

- Tết nhất, nhà người ta vui vẻ; nhà con, chòng chọc ba mẹ con, chán chả muốn ăn uống gì bà ạ.

Bà cụ Hải bảo:

- Thằng Sơn nhà tôi cũng chả có tin tức gì - Bà quay đi, lấy khăn chấm lên mắt, đổi giọng, nói tiếp - Nhưng thôi!

Biết thế nào mà lo, mà có lo cũng chả được việc gì, cứ đợi ít ngày nữa thế nào rồi cũng lần lượt được về.

Chị tư Phúc bảo:

- Thôi!

Năm sớm sang mừng tuổi hai bác.

Bà con mình về đi.

Biết đâu nhà con mấy chú Sơn chả ở nhà rồi.

Hai người ra về, đường phố đã tối, rẽ vào ngõ, chỉ có cây duối già đứng đợi trong mưa bụi.

Từ tối hôm qua, các chùa trong thành Đại La như hấp thu được nhịp thở của mùa xuân, tất cả cùng sống dậy.

Chùa Bảo Quang đông nghịt người đến lễ.

Tiếng chuông ngân như xoa dịu nỗi đau nhân thế và mở lối cho muôn vạn linh hồn thoát khỏi đường mê.

Khói hương nghi ngút bay ra ngoài tam bảo, trùm lên những cây đại già trầm mặc suy tư.

Chiêu Thánh từ hôm lánh giặc trở về, chưa ra khỏi tam quan.

Nàng cùng tăng ni thu dọn gạch ngói vỡ, dựng lại những bức tượng đổ, chiều chiều thắp hương trong bảo tháp nơi cất giữ di cốt phụ hoàng.

Từ khi thái sư Trần Thủ Độ và mẹ nàng đón chị Thuận Thiên vào cung, nàng dọn ra ở hẳn chùa này thấm thoắt đã hai mươi năm, chỉ có một mình A Nhi đi theo bầu bạn sớm chiều.

Mấy năm trước, Chiêu Thánh định gả A Nhi cho một anh lính tứ sương nhưng A Nhi không chịu, nguyện ở vậy hầu hạ Chiêu Thánh đến trọn đời.

Dễ có đến hơn mười năm Thái Tông Trần Cảnh không gặp lại Chiêu Thánh.

Chị Thuận Thiên bây giờ đã thành người thiên cổ nhưng ngọn lửa yêu thương trong lòng Chiêu Thánh đối với hoàng thượng đã tắt từ lâu (Hoàng hậu Thuận Thiên sinh tháng 6 năm Bính Tý (1216), mất tháng 6 năm Mậu Thìn (1248), thọ 33 tuổi).

Thời gian đầu đôi lần hoàng thượng đến thăm nhưng nàng lánh mặt, lâu sau hoàng thượng không tới nữa.

Chiêu Thánh yên trí rằng hình ảnh của nàng cũng đã phai mờ trong trí nhớ quân vương.

Nàng có thể dùng quãng đời còn lại toàn tâm lo việc thờ phụng người cha đáng thương và xấu số của mình.

Tuy không chính thức xuống tóc nhưng trái tim nàng đã ưu du cõi tam muội từ lâu (Tam muội (Samdhi): Tập trung tư tưởng cao độ, lìa dứt mọi tạp niệm tà đoan, tâm linh không xao động, đạt được sự thiền định).

Có lẽ vì vậy mà tâm hồn nàng trở nên thảnh thơi thư thái, những vết thương nơi cõi lòng theo tháng năm dần kín miệng.

Tết năm nay, giặc Thát bị đánh tan, trăm họ nao nức vui cười, Chiêu Thánh cũng như thấy mình trẻ lại, nàng lao vào công việc hàn gắn thương tích trên mặt đất, không biết điều đó cũng làm cho khuôn mặt nàng bớt đi dấu vết bi thương.

Mặt đất, mặt người sắc xuân đang trở lại.

Ai biết trong lòng vị công chúa bốn mươi tuổi đời đang nghĩ những gì.

Hôm nay là mùng một tết, mùa xuân tô lên những cành bưởi, cành hồng một màu xanh mới.

Chiêu Thánh mặc áo đại lễ đang đứng đốt giấy tiền trước bảo tháp Huệ Quang, A Nhi từ ngoài chạy về kéo nàng vào trong phòng, nói nhỏ:

- Có tin này không biết có nên nói để công chúa biết hay không!

- Ồ!

A Nhi, em làm sao vậy?

Có chuyện gì mà phải ngập ngừng.

Năm mới như vậy là không may mắn rồi.

- Công chúa ơi!

Chuyện này chưa biết là may hay không đây - ghé sát vào tai Chiêu Thánh - Hoàng thượng nói gả công chúa cho Bảo Văn hầu Lê Tần.

Chiêu Thánh lãnh đạm nói:

- Hoàng thượng gả ai cho ai có việc gì đến ta.

A Nhi ngơ ngác:

- Ơ!

Nhưng gả chính công chúa cơ mà.

- Ô kìa!

Năm mới mà sao A Nhi lẩn thẩn thế?

Chính công chúa hay phụ công chúa cũng đã sao?

A Nhi lắc đầu quầy quậy hỏi:

- Thế công chúa đồng ý lấy Lê hầu hay sao.

- Công chúa nào?

Sao lại hỏi ta?

- Chính công chúa Chiêu Thánh chứ còn công chúa nào nữa!

Chiêu Thánh dường như đã hiểu ra, trợn mắt hỏi:

- Ta?

Chính ta?

Gả ta cho Lê Tần?

Em làm sao thế, có ốm không mà nói bậy bạ vậy?

Chiêu Thánh vừa nói vừa sờ tay lê đầu A Nhi.

A Nhi thanh minh:

- Em không có nói bậy bạ.

Dân khắp thành Đại La đều biết vậy.

Đâu đâu người ta cũng kháo nhau nguyên tiêu này ăn mừng công chúa Chiêu Thánh thành thân với tướng quân Lê Tần.

Có lẽ chỉ chốc nữa Linh Từ quốc mẫu sẽ đến đây.

Chiêu Thánh lặng im giây lâu mới nói:

- Dù sao ta vẫn còn là vợ của hoàng thượng, có lẽ nào lại như thế.

Chiêu Thánh đang nghi hoặc, ngoài cổng chùa có tiếng ồn ào.

Ai đó nói:

- Linh Từ quốc mẫu giá lâm.

Lời nói của A Nhi đã được xác nhận.

Chiêu Thánh bưng mặt khóc:

- Ôi thân ta sao quá gian truân!

Trời ơi!

Nhà vua sao có thể làm những chuyện thương phong bại tục như vậy được.

Mà cũng đúng thôi, anh chị em lấy nhau không kể luân thường, vua cướp vợ thần, em cướp vợ anh, chẳng kiêng đạo lý, đã dám cướp vợ người thì cũng có thể đem vợ mình ra làm phần thưởng cho kẻ khác lắm chứ.

Không việc hủ bại nào không xảy ra ở chốn cung đình.
 
Back
Top Bottom