Cập nhật mới

Khác Đất Việt Trời Nam - Đan Thành

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
347430634-256-k163916.jpg

Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Tác giả: LingZangg
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Dâng tặng cho những ai biết rơi nước mắt

Khi đọc những trang sử đau thương mà oai hùng của dân tộc...

Tác giả: Đan Thành

Tên thật: Phạm Tiến Thành

Sinh năm 1950 tại thôn Cao Duệ, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

Là bộ đội kỹ thuật F-308 trong những năm chống Mỹ, tốt nghiệp ngành Chế Tạo Máy ĐH Bách Khoa Hà Nội.

Tác phẩm đã công bố:
-Những đứa trẻ làng Đồng Bảng - Truyện dã sử cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng.

-Đồ đệ của Đơn Tử - Tập truyện ngắn cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng.

-Tìm Ma - Tập truyện ngắn, NXB Thanh Niên.

-Rượu đắng thung mơ - Tập thơ in chung 5 tác giả, NXB Hội Nhà Văn.

-Có nhiều truyện ngắn, truyện kí, tản văn, bình thơ đăng trên các báo Trung ương, địa phương và đọc trên đài Tiếng nói Việt Nam.

-Giải thưởng bình thơ 1997 - 1998 đài Tiếng nói Việt Nam.
***
Mình thấy rất hay nên muốn đăng lên cho mọi người biết tới rộng rãi!



đất-việt-trời-nam​
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Đôi lời cùng bạn đọc


Đất Việt Trời Nam là tác phẩm phản ánh một giai đoạn lịch sử có thật và hào hùng nhất của dân tộc ta.

Rất nhiều nhà văn, nghiên cứu và các bạn bè khi đọc bản thảo đã hỏi tác giả: "Quan điểm lịch sử của ông?"

Thực ra đây là một câu hỏi mà bất cứ ai viết về những vấn đề dính dáng đến lịch sử đều dễ gặp.

Về phần mình, tác giả cho rằng nếu có một tấm gương được tạo nên bằng máu và mồ hôi để nhân loại nhìn vào đó thấy được mình là ai và từ đâu tới đấy chính là lịch sử.

"Từ thời họ Hồng Bàng lập quốc gọi tên là nước Văn Lang đến nay, trải hơn ba nghìn năm, dân tộc ta không ngừng đấu tranh với thiên nhiên, đấu tranh với hoạ xâm lăng từ bên ngoài để tồn tại và tự hoàn thiện mình.

Có thể nói lịch sử Việt Nam là một chuỗi dài những giông bão.

Trong đó giai đoạn chống đế quốc Nguyên Mông thế kỷ XIII, chống một đế quốc mạnh nhất thiên hạ lúc bấy giờ, là một trong những điểm xoáy lớn nhất của lịch sử.

Toàn bộ tác phẩm "Đất Việt Trời Nam" có tới ngót một trăm trận đánh với sự tham gia của hàng trăm tướng soái của hai bên, gần năm trăm nhân vật đủ hạng từ gã lưu manh đến cô gái điếm, từ binh lính đến vương công, vua chúa hai bên.

Những nhân vật ấy đã vẽ nên toàn cảnh xã hội Đại Việt thế kỷ XIII.

Có những sự hy sinh đầy tính anh hùng ca ngoài chiến địa của các tướng soái và binh sĩ, cũng có những lối ăn chơi thác loạn, những cuộc truy hoan triền miên của quan lại nơi gác tía lầu vàng và những chàng công tử phong tình...

Tất cả đều được mô tả rõ ràng và là những nhân tố không thể thiếu để cấu thành tác phẩm.

Tôi đã bỏ ra hơn mười năm tìm đọc. tra cứu tư liệu và đi khảo sát rất nhiều miền đất có liên quan để viết tác phẩm này, tôi xin dâng tặng nó cho những ai còn biết rơi nước mắt khi đọc những trang sử đau thương mà oai hùng của dân tộc này."

Đan Thành

"Tôi có vinh dự là người đầu tiên được đọc bản thảo này.

Nhưng có lẽ tôi không còn đủ thời gian để đọc đến phần cuối của tác phẩm.

Vì tôi viết những dòng này ngay trên giường bệnh hiểm nghèo khó qua khỏi.

Tôi biết Đan Thành từ khi chúng tôi còn là hai tay súng trên mặt trận Quảng Trị 1972.

Một chàng trai mê sách đến quên ăn.

Phải nói Đan Thành đã có ý tưởng viết bộ tiểu thuyết này ngay từ ngày ấy.

Hành quân, đóng quân ở bất kỳ địa phương nào, anh cũng tìm hiểu rất kỹ về lai lịch của địa phương ấy và ghi chép hết sức công phu, tỉ mỉ trên những mảnh giấy một cách hết sức bình tĩnh và sáng suốt...

Đứng ở một góc độ nào đó có thể nói Đất Việt Trời Nam là cuốn tiểu thuyết người lính viết về người lính, chính vì thế mà những cảnh sinh hoạt của binh lính, những trận đánh được Đan Thành mô tả hết sức sinh động.

Đan Thành không chủ trương thần thánh hóa nhân vật lịch sử.

Anh để họ xuất hiện với tất cả những tính cách tốt xấu có của con người.

Vì thế mà nhân vật của anh rất gần gũi với người đọc.

Trần Hưng Đạo cũng có những phút yếu lòng.

Trần Khánh Dư tài ba, trung thành, dũng cảm nhưng cái tham lam thô bỉ cũng được bộc lộ rõ nét.

Trần Nhật Duật mình tiên vóc hạc, học vấn uyên thâm, mưu trí cao sâu...

Đến cả các tướng lĩnh nhà Nguyên cũng mỗi người một vẻ, hiện lên sống động: Thoát Hoan tuổi trẻ bồng bột.

A Lý Hải Nha thâm độc, Trình Bằng Phi hăng hái mà trăng hoa, Bột La Hợp Đáp Nhi bất mãn chán nản, Mãng Cổ Đài ma ranh khôn lỏi...

Đọc văn của Đan Thành tôi thấy tư tưởng xuyên suốt là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì quyền lợi của dân tộc.

Anh cũng lên tiếng bênh vực những người dân nghèo khổ.

Dưới ngòi bút của anh, họ hiện lên như một lực lượng bao trùm toàn bộ xã hội.

Mặc dù dùng hình thức chương hồi nhưng Đất Việt Trời Nam vẫn là một tiểu thuyết rất hiện đại.

Văn của Đan Thành nhanh, linh hoạt và tinh tế, rất lôi cuốn.

Những tình huống truyện được xử lý rất khôn khéo."

(Văn Hải - Họa sĩ và cũng là hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, một người bạn rất thân của Đan Thành, anh mất tháng 5 năm 2002 do di chứng chất độc màu da cam)

Mời các bạn đón đọc bộ tiểu thuyết lịch sử Đất Việt Trời Nam của tác giả Đan Thành.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 1: Trần Cương nằm mộng gặp giao long


Núi rừng Yên Tử còn ngủ yên trong sương sớm.

Chân trời phía đông ửng lên màu hồng phơn phớt.

ánh sáng ban ngày xua dần những làn hơi lạnh còn len lỏi trong các bản làng.

Mấy chú gà trống gáy vang như giục mặt trời thức dậy.

Bà Trần gọi con:

- Này Cương!

Có đi rừng không?

Mẹ nắm cơm cho rồi đấy.

Bố anh chứ!

Ngáy như kéo gỗ.

Mẹ thấy con ngủ ngon quá nên không muốn gọi sớm.

Thôi ăn bát cơm rồi đi.

Trần Cương ăn vội bát cơm, chào mẹ, đeo cung, vác giáo vào rừng nhưng đi mãi vẫn không gặp con thú nào.

Đến trưa, mặt trời lên cao, xua hết mây mù và khí lạnh, chàng thấy đói trong lòng, liền ngồi tựa vào gốc cây cổ thụ lấy cơm nắm ra ăn, lấy lá rải dưới gốc cây nằm nghỉ.

Trong ánh nắng cuối xuân ấm áp, chàng mơ mơ màng màng như thấy mình lạc vào một xứ sở thần tiên xa lạ, phong cảnh kì thú muôn màu.

Bỗng từ trong dòng sông trước mặt, hiện ra một con giao long cực lớn, bay vút lên trời, quấn quít trong đám mây lành.

Trần Cương còn chưa hết kinh ngạc, giao long đã biến thành người đàn ông, khố đỏ áo vàng, đầu đội khăn vành đính ngọc dạ quang giắt nhiều lông chim trĩ, vẻ rất oai linh, từ đám mây hạ xuống, nói với chàng rằng:

- Ta là Long vương ở Bạch Đằng giang.

Ba ngày nữa, nhà ngươi hãy ra bờ sông cứu con ta, sau này ắt được hưởng phúc lớn.

Nói xong, người đàn ông lại biến thành con giao long, lựa theo dòng mà ra sông lớn.

Trần Cương tỉnh dậy, bàng hoàng, lấy làm lạ lùng, về nói lại với mẹ.

Bà Trần là người đôn hậu khoan hoà, ngẫm nghĩ rồi bảo con:

- Giao long là giống rồng, thuộc về tượng đế vương.

Vậy ba ngày nữa con cứ ra bờ sông xem sự thể ra sao.

Nhà mình nghèo, lấy điều tích đức làm trọng, con chớ nên xem thường.

Ba ngày sau Trần Cương dậy sớm, ra bờ sông Cầm đi đi lại lại tìm kiếm nhưng chỉ có vi lô xạc xào heo hắt.

Dưới sông, dòng nước trong xanh mải miết chảy để kịp đem nước đổ ra bể.

Tuyệt nhiên không biết giao long con ở nơi nào mà cứu.

Ngày ấy ở lĩnh Đông Triều còn hoang vu lắm có người con gái tên là Tú Hồng, sắc đẹp lạ lùng.

Các vị công tử con quan nhiều người đến ngỏ ý cầu hôn, nàng đều từ chối.

Một hôm Tú Hồng ra sông giặt lụa, thấy con cá chép vàng giãy giụa trên cỏ.

Nàng đem con cá thả xuống sông.

Đêm về, Tú Hồng mơ thấy có người con trai khôi ngô đẹp đẽ, đến nói rằng:

- Cảm ơn nàng đã cứu mạng ta.

Hai người ân ái với nhau.

Lúc chia tay, người con trai bảo:

- Nhờ nàng giữ gìn giọt máu của ta.

Khi tỉnh dậy, Tú Hồng thấy mình đã mang thai.

Sắp đến ngày sinh nở, quan sở tại cho rằng nàng chửa hoang, bắt buộc vào chiếc bè, đem thả trôi trên sông.

Tú Hồng nằm lả không biết đã mấy ngày, lênh đênh trôi không biết qua những xứ sở nào.

Bấy giờ Trần Cương quanh quẩn bên bờ sông đã lâu, bỗng thấy từ xa có chiếc bè trôi lại, bên trên có người con gái bị trói, liền vớt lên đem về nhà cho sưởi, cho ăn.

Người con gái ấy chính là Tú Hồng.

Ít ngày sau Tú Hồng sinh ra một bé trai rất khoẻ mạnh.

Hôm đó là ngày Tân Thìn, tháng Quí Thìn, năm Đinh Thìn (1027).

Từ đó Tú Hồng ở lại với Trần Cương.

Ngày đầy năm, bà Trần đặt tên cho đứa bé là Trần Kinh.

Khi Trần Kinh lên ba tuổi, một hôm có vị đạo sĩ vân du qua nhà, nói với Trần Cương rằng:

- Đứa bé này có tướng lạ, nó là cái trứng rồng chưa nở, tổ của nó thuộc về Nam phương.

Đời Đế Minh (khoảng năm 2870 TCN) đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh, lấy con gái Vu Tiên, sinh ra Kinh Dương Vương, cho cai quản phương Nam.

Sau Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình quân là Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ.

Bà Âu Cơ sinh ra cái bọc có trăm quả trứng, nở thành trăm người con trai, cho cai quản phương Nam Ngũ Lĩnh mà lập nên đất Bách Việt.

Đứa bé này cũng là hậu bối của giống tiên rồng ấy.

Hai trăm năm sau cõi Nam hưng vượng tất phải chờ trứng rồng nở.

Ta khuyên ông nên bỏ nghề rừng mà làm nghề sông nước để rồng có cơ ra biển.

Trần Cương còn muốn hỏi thêm đôi điều nhưng vị đạo sĩ đã phất tay áo đi hút về phía núi Yên Tử.

Từ hôm ấy Trần Cương không vào rừng nữa.

Bà Trần già mất, Trần Cương bán cơ nghiệp, mua thuyền, sắm chài lưới, đem Trần Kinh và Tú Hồng xuống sông làm nghề đánh cá, vì vậy kiếm được nhiều tiền bạc, đóng được thuyền lớn, thuê nhiều gia nhân, xuôi dần ra cửa biển.

Thời gian thấm thoắt, mấy chục năm qua, Trần Kinh trưởng thành.

Chàng đánh cá giỏi và có sức khoẻ hơn người.

Mấy năm sau, cha mẹ già yếu lần lượt về trời.

Theo lời cha dặn, Trần Kinh xuôi ra biển rồi lần lần tìm xuống phương Nam.

Một ngày nọ, chàng cho thuyền ngược một cửa sông vào đất liền.

Nơi đây phong cảnh thanh bình, mặt đất bằng phẳng, nương dâu bãi mía tốt tươi, thôn ấp trù phú, dân cư đông đúc hiền hoà.

Đàn bà, con gái vừa hái dâu vừa hát; những điệu ca nghe thật êm ái du dương.

Trần Kinh trong lòng xao xuyến, hỏi thăm mấy người nông phu, biết đây là phủ Thiên Trường, mới quyết chí ở lại sinh kế lâu dài, làm nghề đánh cá, lập nghiệp, lấy vợ là Dương Thị, sinh ra Trần Hấp.

Trần Hấp sinh ra Trần Lý.

Vợ Trần Lý là nàng Tô Thị, sinh được hai người con trai là Trần Thừa, Trần Tự Khánh và một người con gái là Trần Thị Dung, về sau nuôi người cháu họ là Trần Thủ Độ làm con nuôi.

Trần Thủ Độ không được học hành mà tính quyết đoán, có sức khoẻ và ý chí hơn người, tuy là em họ Trần Thị Dung nhưng khi lớn lên, hai người quyến luyến nhau lắm, những buổi chiều hè, thường ra bờ sông, chỉ tay lên vầng trăng non thề sẽ sống mãi bên nhau.

***
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 1: Lý Sảm lánh nạn ra Hải ấp (1)


Khi trước, đời vua Lý Thánh Tông, niên hiệu Long Thuỵ (1054-1072) đang thời thịnh trị.

Thánh Tông có một vị ái phi tên là nàng Yến, tức Nguyên phi Ỷ Lan.

Một hôm có ông thầy địa lý nói với Nguyên phi:

- Thiên Trường là nơi có khí tượng phát tích đế vương, nay lại thường thấy mây lành bao phủ.

Nguyên phi nên tâu với hoàng thượng tìm cách mà yểm sớm đi, để khỏi lo di hoạ cho con cháu mai sau.

Nguyên phi đem lời ấy tâu với nhà vua.

Thánh tông nhà Lý ghét những chuyện trù yểm khuất tất, người phán:

- Đức là ở người, mệnh là ở trời.

Ngày xưa Tần Thuỷ Hoàng muốn tìm thuốc tiên để đổi mệnh trời, cuối cùng cũng chỉ là vô ích.

Nói xong, vua không cho trù yểm gì hết.

Chuyện ấy về sau các quan cũng không còn ai dám nhắc lại.

Những ngày rét buốt của mùa đông rồi cũng tới, ánh nắng huy hoàng một thời thịnh trị dần tắt trên mái điện Thiên An.

Đến đời vua Lý Cao Tông (1176-1210), vua ăn chơi xa xỉ, coi thường triều chính, ngày đêm vui thú với bọn cung phi, mĩ nữ.

Dân tình đói khổ, người chết đầy đường.

Bốn phương trộm giặc nổi lên như cỏ dại, vua cũng không để ý.

Vì thế bọn Đàm Dĩ Mông ngày càng lộng hành bóc lột trăm họ, kỉ cương đổ nát, chính sự rối ren.

Bấy giờ là năm Thiên Tư Gia Thuỵ thứ mười (Ất Mão-1195), tháng hai sét đánh vào gác Ly Minh làm sập mái.

Các quan tâu rằng:

- Trong nước dân tình đói khổ mà thánh thượng lại không chăm lo việc triều chính để lòng dân oán vọng thấu tận giời xanh nên mới xảy ra điềm ấy.

Cao Tông phán:

- Các ngươi động tý lại nói đến điềm giời, việc gì cũng bảo là giời phạt nhưng thực ra lại chẳng hiều làm sao như vậy.

Trẫm nói cho mà hay, nước Đại Việt ta kể từ Ngô Vương Quyền đòi lại nền độc lập đến nay đã trên hai trăm năm mươi năm, trải qua nhà Đinh, nhà Lê rồi đến nhà Lý ta, vậy mà lâu đài cung thất vẫn tủn mà tủn mủn, lầu gác lụp xụp chẳng ra thể thống gì, làm cho bộ mặt quốc gia rất là nhếch nhác, không xứng mặt con rồng cháu tiên tý nào.

Đấy!

Giời giận chính là vì lẽ ấy đấy.

Các khanh mau tìm phu thợ kiếm gỗ tốt, nung đủ gạch ngói.

Trẫm sẽ cho dựng ngay trên nền đất ấy một cung điện cực lớn để đón trăng lên.

Lý Kính Tu tâu rằng:

- Nay muôn dân lầm than, của kho cạn kiệt mà thánh thượng xây dựng cung đài, thật không phải lúc.

Xin bệ hạ mở rộng ân đức để bách tính được nhờ.

Đàm Dĩ Mông nói:

- Đế sư nói như vậy hoá ra ngày nay hoàng thượng hẹp đức lắm hay sao?

(Đế sư: Thầy của vua - Năm Nhâm Dần (1182) Lý Kính Tu được phong làm đế sư để dạy nhà vua học, từ đấy ngôi vị của Cao Tông mới được vững vàng.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVsktt).)

Phạm Bỉnh Di cũng nói:

- Hoàng thượng là bậc thánh quân.

Lời của người là thánh ý.

Bề tôi chỉ nên tận tâm mà hoàn thành sứ mệnh, chớ bàn ra tán vào.

Chẳng lẽ đế sư không hiểu điều đó?

(Phạm Bỉnh Di là một hoạn quan nhưng trước khi vào cung thì đã có con).

Trong triều khi ấy phần lớn là phường a dua nịnh hót, thành ra những người trung lương bị cô lập.

Cao Tông giao cho Đàm Dĩ Mông lo việc đốc thúc bộ công dựng cung ấy.

Tháng sáu năm sau xây xong, đặt tên là cung Ngoạn Thiềm.

Dân chúng bị vơ vét đến cùng tận, kẻ ăn mày, người chết đói nhiều lắm.

Tháng giêng năm Thiên Tư Gia Thuỵ thứ mười ba (Mậu Ngọ-1198) Đàm Dĩ Mông lại tâu rằng:

- Trước đây ai cũng coi giời là hơn cả, hoàng đế là con giời.

Từ khi đạo Phật thịnh hành người ta chỉ biết đi kêu cầu cửa phật, coi nhẹ việc thờ phụng giời đất.

Như thế chẳng phải là giảm lòng tôn kính với nhà vua hay sao?

Vả lại phần lớn những thầy tu chẳng qua là lười biếng ngại việc nên trốn tránh ra ở chùa chứ người thành tâm hành đạo ít lắm.

Xin hoàng thượng xuống chỉ đuổi họ về quê tự làm lấy mà ăn, cũng thêm ra được hàng vạn người trồng cấy.

Đế sư Lý Kính Tu tâu rằng:

- Xin hoàng thượng chớ nghe lời nói ấy.

Người ta muốn sống được trước phải có đức tin làm gốc.

Đạo Phật vào nước ta mấy trăm năm nay đã trở thành đức tin của dân chúng, đạt đến sự ngưỡng mộ thiêng liêng, là chỗ dựa tinh thần của trăm họ, nay tự dưng bắt bỏ đi, người ta không khỏi cảm thấy bơ vơ mà sinh ra tác loạn.

Như thế chẳng phải nguy lắm hay sao?

Đàm Dĩ Mông bảo:

- Phật là đức tin thì giời, vua là cái gì?

Chẳng lẽ giời và vua không còn đáng để cho trăm họ tin tưởng nữa hay sao?

Ông là thầy vua mà toàn nói những lời phương hại đến bậc chí tôn.

Cao Tông phán rằng:

- Đàm Dĩ Mông nói có lý lắm.

Việc này trẫm giao cho Phan Lân, Đỗ Quảng, Đỗ Kính Tu lo liệu, nội trong hai tháng phải đuổi hết các tăng đồ về quê làm ruộng.

(Đvsktt chép hai người tên là Kính Tu: Lý Kính Tu là đế sư; Đỗ Kính Tu là võ quan, sau này được thăng đến hàm Thái phó).

Đỗ Kính Tu can rằng:

- Từ khi Thái Tổ dựng nghiệp tới nay, triều ta được sự giúp rập của đạo phật đã nhiều.

Việc đuổi tăng đồ thật chẳng nên làm.

Phạm Bỉnh Di nói:

- Người có đức thì giời ban thiên hạ chứ đâu phải do mấy ông thầy chùa giúp rập mà nên.

Thiên tử đã truyền thánh chỉ, ông là võ quan sao không lo làm tròn chức nhiệm?

Chẳng lẽ muốn kháng chỉ hay sao?

Cao Tông nói:

- Ý trẫm đã quyết.

Từ quan đến đến bách tính, kẻ nào trái lời phải khép vào tội khi quân.

Đỗ Kính Tu không dám nói gì nữa, đành đi ra nói với Phan Lân, Đỗ Quảng:

- Đàm Dĩ Mông ngày càng tác yêu tác quái.

Nhà Lý rồi đến bại hoại về tay nó mà thôi.

Việc này chúng ta không làm thì trái mệnh vua mà làm thì trái lòng dân, biết sao bây giờ?

Phan Lân nói:

- Tôi nghĩ chúng ta cứ làm nhưng làm từ từ cho dân chịu được.

Ba người đồng tình mới đem quân đi đuổi tăng chúng ở các chùa về quê nhưng có kẻ nào chống lại cũng không bắt tội.

Tháng Bảy năm ấy Ngô Công Lý làm phản ở Diễn Châu.

Đinh Khả xưng là hậu duệ của Đinh Tiên Hoàng, làm loạn ở châu Đại Hoàng, có Bùi Đô giúp sức, thanh thế mỗi ngày một to.

Đàm Dĩ Mông tâu vua rằng:

- Bọn Đỗ Kính Tu, Phan Lân, Đỗ Quảng nhận chỉ đi làm việc mà chẳng hết lòng.

Hoàng thượng nên triệu về bắt tội để làm gương cho những kẻ coi thường phép nước.

Phạm Bỉnh Di can rằng:

- Ba người ấy đều là võ quan trụ cột của triều đình.

Hoàng thượng hãy sai họ đi dẹp loạn Đinh Khả ở châu Đại Hoàng, nếu thắng thì yên được nước, còn như bại vong nhân đó mà trị tội, không còn kêu vào đâu được nữa.

Cao Tông nghe theo, cho sứ đến truyền chỉ sai ba người đi đánh Đinh Khả.

Ba tướng thoát được cái việc dẹp Phật đạo, mừng lắm đem quân đánh Đinh Khả.

Quân của Đinh Khả vốn ô hợp, chưa đánh đã tan.

Đinh Khả, Bùi Đô đều bị bắt giải về triều.

Người nhà của hai tướng ấy mang lễ vật biếu Đàm Dĩ Mông rất hậu, nhờ xin với hoàng thượng cho.

Do vậy hai người ấy không những không phải tội mà còn được tin dùng.

***

Năm sau, Thiên Tư Gia Thuỵ thứ mười bốn (Kỷ Mùi-1199), dân tình cơ khổ vì nạn lụt, mất mùa đói kém, mùa Đông lại rét to.

Đàm Dĩ Mông tâu:

- Trời lạnh thế này, hoàng thượng nên vào Ái Châu săn voi, tránh rét thì hơn.

Nhà vua nghe theo, trên đường đi bắt dân phục dịch rất là khổ cực, người chết nhiều lắm, tiếng ta oán của bách tính lan đến tận hang cùng ngõ hẻm.

Vua lại sai sứ thần sang Chiêm Thành sắc phong cho vua nước ấy.

Khi trở về, sứ thần mang theo một khúc nhạc Chiêm nghe rất thê lương, ai oán.

Cao Tông thích nghe khúc nhạc ấy lắm.

Các quan nhiều người khuyên vua nên bỏ đi.

Phạm Bỉnh Di cự lại rằng:

- Ý vua là ý giời.

Vua thích là giời thích, việc gì phải bỏ.

Cao Tông cho là phải, ngày nào cũng sai nhạc công tấu bản nhạc ấy vài lần, ai nghe cũng cảm thấy buồn thảm mà sa lệ.

Tăng phó là Nguyễn Thường than rằng:

- Bài tựa Kinh Thi nói: "Âm thanh của nước loạn nghe như ai oán giận hờn".

Nay dân loạn nước nguy, chúa thượng rong chơi vô độ, triều chính rối ren, lòng dân trái lìa, đó là triệu bại vong.

(Nguyên văn trong ĐVsktt).

Đàm Dĩ Mông lại tâu với nhà vua:

- Bản nhạc này thật là sang trọng, cần có một cung điện hợp với nó, âm thanh mới càng vang động lòng người, lên được tới giời.

Cao Tông cho là phải, liền sai dựng điện Kính Thiên để dâng nhạc lên thiên đình.

Bách tính vì thế mà cùng khổ không còn lời nào tả xiết.

Điện Kính Thiên làm sắp xong, có con chim khách vào làm tổ trên mái, đẻ một đàn chim con.

Đỗ Kính Tu tâu rằng:

- Xưa Nguỵ Minh đế làm gác Lăng Tiêu, có con chim khách đến làm tổ, Cao Đường Long can rằng: "Thần từng nghe câu: Chim khách có tổ, chim cưu đến ở.

Nay chim khách đến ở nơi cung khuyết, theo ngu kiến của thần thì gác ấy có làm xong nữa tất có người họ khác đến ở".

Xin bệ hạ xét lời của Cao Đường Long, trước cốt sửa đức, sau hãy khởi công mới phải.

Phạm Bỉnh Di nói:

- Vua là con giời.

Con chim khách là loài nhỏ bé ti tiểu báo điềm giời thế nào được.

Đó chỉ là chuyện huyễn hoặc.

Thần cho rằng các quan phải dốc hết lòng trung giúp vua lo công việc, làm cho nhanh để chóng hoàn thành mới là đúng vậy.

Cao Tông cho lời ấy là phải, bắt các quan đốc thúc thợ thuyền đêm ngày làm gấp.

Chúng dân vì việc ấy mà không còn đường sống, ly tán rất nhiều.

Quan thượng phẩm phụng ngự là Đỗ Quảng nói với Đỗ Anh Triệt rằng:

- Hoàng thượng việc gì cũng nghe theo Đàm Dĩ Mông, lại được Phạm Bỉnh Di vào hùa.

Tôi e vận số nhà Lý nguy đến nơi rồi.

Đỗ Anh Triệt nói:

- Bỉnh Di là một kẻ ngu trung.

Người này ắt sẽ chết vì điều ấy.

Năm Trị Bình Long Ứng thứ tư (Mậu Thìn-1208), vua lập hoàng tử Lý Sảm làm hoàng thái tử.

Quan coi việc quân ở Hoan, Ái là Phạm Du thu nạp dân lưu tán và bọn trộm cướp, cùng nhau đánh phá các châu huyện.

Người Châu Quốc Oai cũng nổi lên đóng ở Tây Kết.

Các quan tâu lên.

Vua phán:

- Thì các khanh cử người mà dẹp chúng đi, sao việc gì cũng phải hỏi trẫm.

Quan Thượng phẩm phụng ngự Phạm Bỉnh Di xin đem quân châu Đằng đi đánh.

Vua chuẩn cho đi.

***

Mùa xuân, tháng giêng năm Trị Bình Long Ứng thứ năm (Kỉ Tỵ-1209), Phạm Bỉnh Di đem con trai là Phạm Bỉnh Phụ và bọn thuộc tướng Quách Bốc, Lê Khải đi đánh Phạm Du.

Quân Phạm Du tuy đông nhưng là quân ô hợp đói khổ, chưa được rèn luyện chinh chiến bao giờ nên thua luôn mấy trận, quân tướng tan nát.

Phạm Du chạy sang Hồng châu, dựa vào thế sông nước thủ hiểm.

Phạm Bỉnh Di thu hết tài sản của Phạm Du chia cho dân nghèo, khuyên họ về quê cày cấy, không được làm phản.

Dân chúng cảm ơn nhiều lắm.

Những gì không thể chia được, sai quân lính đốt hết.

Bản thân Bỉnh Di không lấy tí gì làm của riêng cho mình.

Nghe tin ấy Phạm Du tức lắm, sai người mang vàng bạc vào kinh đô, đút lót cho bọn nội nhân, nhờ bọn này tâu với vua là Bỉnh Di tàn ác, giết người vô tội và bày tỏ tình cảnh của mình.

Vua Cao Tông hồ đồ giận dữ, lập tức sai sứ đòi Bỉnh Di về kinh.

Tháng bảy năm ấy Phạm Bỉnh Di về đến kinh thành, cho bọn Quách Bốc, Lê Khải đóng quân ở ngoài còn mình và con trai là Phạm Bỉnh Phụ vào triều.

Các quan thấy vậy nói với nhau rằng:

- Phạm Bỉnh Di ngày thường a dua a tòng với Đàm Dĩ Mông, phen này chết là đáng.

- Thật ra Bỉnh Di chỉ là kẻ ngu trung nhưng được cái đức liêm chính, không tham lam, để ông ta bị tội cũng là đáng thương.

Kẻ đáng ghét là Đàm Dĩ Mông kia.

Mọi người cho lời ấy là phải, sai người ra nói với Bỉnh Di rằng:

- Lời của Phạm Du đã đến tai vua trước rồi.

Vua còn chưa nguôi giận.

Ông nên trốn đi thì hơn.

(Nguyên văn trong ĐVsktt)

Bỉnh Di thản nhiên nói:

- Ta thờ vua tận trung mà bị gian tặc gièm pha ư?

Huống chi lại có lệnh vua đòi, ta còn tránh vào đâu?

(ĐVsktt)

Nói xong, Bỉnh Di dắt con đi thẳng vào triều.

Vua Cao Tông thét võ sĩ lôi cha con Bỉnh Di ra chém.

Các quan đều quỳ lạy xin tha cho, Đỗ Kính Tu nói:

- Phạm Bỉnh Di là người thân thiết của hoàng thượng.

Tuy chính kiến không phải lúc nào cũng đúng nhưng có đức liêm chính, được lòng người, nếu đem giết đi thế nào cũng loạn.

Nhà vua không nghe, phẩy tay áo, quay mặt đi vào.

Thương thay, cha con Phạm Bỉnh Di có công mà chịu tội chết chém, phơi thây ngoài nắng.

Ai trông thấy cũng gạt nước mắt xót xa.

Người nhà Lê Khải ra ngoài, báo tin dữ và khuyên Lê Khải, Quách Bốc đem quân trốn đi.

Quách Bốc bàn với Lê Khải:

- Chúng ta chinh chiến có công, đã không được thưởng lại còn phải tội.

Vua chỉ biết chơi bời, nghe lời xiểm nịnh.

Trốn đi sao bằng đánh thốc vào trong thành, giết béng hôn quân, lập vua mới, vừa trả thù cho Phạm tướng quân, vừa cho thiên hạ được nhờ có hơn không ?

Lê Khải bảo:

- Ông nói phải lắm!
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 1: Lý Sảm lánh nạn ra Hải ấp (2)


Hai người liền chia quân đánh thành.

Quân sĩ hăng hái hưởng ứng.

Tiếng reo hò vang trời dậy đất.

Các đội quân tứ sương, quân hổ bôn và quân thánh dực không sao ngăn lại được.

Tình thế rất nguy cấp, các quan vội đỡ nhà vua ra xe, mở cửa thành phía Tây chạy lên miền Quy Hoá giang (Quy Hoá Giang: Tức sông Thao - đoạn sông Hồng từ Việt Trì trở lên (ĐVsktt)).

Thái tử Lý Sảm lúc ấy đang mải chơi thả diều trong vườn ngự uyển, bỗng nghe tiếng ngựa hí, quân reo, bốn mặt thành mịt mù khói bụi, biết là có biến, cuống quýt, không làm thế nào được.

May sao có thị vệ lang là Tô Trung Từ vừa tới.

Tô Trung Từ bảo:

- Việc gấp lắm rồi.

Xin thái tử hãy đi theo thần.

Nói rồi, Tô Trung Từ cầm kiếm lăm lăm, đi trước mở đường.

Mấy người lính hổ bôn theo sau phò tá.

Trời gần tối, Tô Trung Từ đưa thái tử Sảm ra bờ sông, tìm được một chiếc thuyền, xuôi dòng mà đi.

Thái tử nói:

- Không biết tìm hoàng thượng ở đâu?

Trung Từ bảo:

- Hiện nay quê tôi ở Thiên Trường còn đang yên ổn, hãy tạm về đấy, nghe ngóng xem hoàng thượng đến nơi nào rồi sẽ tìm.

Thái tử chẳng biết làm sao, đành nghe theo.

Trung Từ cho thuyền dong buồm thẳng hướng Đông đi suốt đêm.

Trăng sáng vằng vặc, thái tử vừa đói, vừa mệt, ngồi tựa vào mạn thuyền ngắm sông nước.

Hai bên bờ hoa lau phơ phất như cờ trận.

Tiếng gió thổi xạc xào hoà với tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền tạo ra một thứ âm thanh đơn điệu buồn buồn không khác nào tiếng hát ru của người vợ có chồng chinh chiến nơi xa.

Từ trên cao, một con vạc vô tình thả vào không gian mấy tiếng vác...vác...

Thái tử ngửa mặt lên trời, cảm khái nói:

-Thân ta nay bốn bể không nhà, con vạc kia còn hạnh phúc hơn nhiều lắm.

Trần Lý đang cùng các con đánh cá trên sông, bỗng thấy xa xa có chiếc thuyền lạ lướt tới, khi đến gần mới nhìn rõ người đeo kiếm đứng ở mũi thuyền chính là Tô Trung Từ, em vợ mình.

Hai bên chào hỏi xong, Trần Lý sai các con rước thái tử về nhà ở thôn Lưu Gia, trong Hải ấp (Hải ấp: Nay là Lưu Xá, huyện Hưng Hà, Thái Bình (ĐVsktt)), mổ gà, giết lợn thết đãi rất nồng hậu.

Trong khi uống rượu, thái tử thấy con gái của Trần Lý là Trần Thị Dung nhan sắc đậm đà, vừa lòng lắm.

Nhưng nghĩ mình đang gặp bước gian nan, đem thân ra ngoài, không biết mai hậu thế nào nên không dám nói gì.

Hôm sau về nhà Tô Trung Từ - cũng ở Hải ấp - thái tử đem nỗi lòng thổ lộ hết.

Tô Trung Từ nói:

- Chuyện ấy nào có khó gì.

Trần Lý là anh rể tôi.

Việc con Dung, thái tử cứ để tôi lo liệu nhưng trước mắt phải sai người dò xem hoàng thượng ở đâu.

Thái tử khen phải, lập tức phái người đi tìm Cao Tông.

Tô Trung Từ đem chuyện thái tử có tình ý với Trần Thị Dung nói cho Trần Lý biết.

Trần Lý bảo:

- Cao Tông không được lòng dân nên cha con giờ phải lưu vong.

Ta gả con cho thái tử chẳng phải là đưa nó vào chỗ chết ư?

Tô Trung Từ cười, nói:

- Anh rể nói sai rồi.

Nhà Lý có thiên hạ hai trăm năm nay, lấy pháp độ và sự khoan hậu để cai trị nên lòng người quy thuận, nay vì Cao Tông mà loạn.

Nếu bác gả con Dung cho thái tử, xin gia phong quyền tước, rồi dấy binh, mộ tướng, khôi phục triều đình, đó chính là công đầu.

Ngôi công khanh nào có khó gì.

Bác không làm, e rằng cơ hội ngàn năm tuột mất.

Trần Lý bảo:

- Những lời ấy của cậu nghe cũng có lý nhưng tôi chỉ là một kẻ thường dân.

Trong triều còn bao nhiêu là văn quan võ tướng, chẳng lẽ không ai vì lòng ái quốc mà đứng lên bên cạnh nhà vua hay sao?

Tô Trung Từ cười ngất, nói:

- Lòng ái quốc!

Lòng ái quốc!

Thời buổi này mà anh rể lại nói đến cái thứ hàng đắt tiền ấy.

Từ khi nhà Lý được nước tới nay trải bảy đời vua những người lương đống như Lý Thường Kiệt, Lê Phụng Hiểu, Lý Đạo Thành, Đào Cam Mộc chỉ đếm được trên đầu ngón tay, còn những phường a tòng nịnh hót thì không sao kể xiết.

Ví như Lý Du Đô dâng chim sẻ để được thăng quan, Vũ Xưng hiến ngọc châu cầu mong thoát tội, Lê Văn Thịnh hoá hổ mưu hại quân vương, Tử Khắc dâng con hươu mà được giữ binh quyền, Vũ Đới tha Anh Vũ để lưu hại cho triều đình, Đàm Dĩ Mông xui vua làm bậy mà thành tể tướng, Phạm Du làm loạn tố cáo bừa mà được trọng dụng; còn bao nhiêu kẻ bày chuyện thị phi bắt được con voi cũng dâng tấu biểu, vết mai rùa cũng cho là chữ thánh; đưa Ung Minh về nước Miên không xong, chống một mình Quách Bốc không nổi thế thì lòng ái quốc để ở chỗ nào? (Theo Việt sử tiêu án (Vsta).) Cái lũ người mà bác gọi là văn quan võ tướng ấy chẳng qua là những thằng ăn mày đài các mà thôi.

Chúng chỉ muốn chống đỡ cho mái điện Thiên An bằng những cọng rào.

Trần Lý bảo:

- Nếu quả thực như vậy, cậu hãy về nói với thái tử chọn ngày tốt, đem sính lễ sang.

Ta cho đón cô dâu.

Trần Thị Dung là em ruột Trần Thừa và Trần Tự Khánh, là chị họ của Trần Thủ Độ, đang tuổi cập kê, mười phần xinh đẹp, đã cùng Trần Thủ Độ hẹn biển thề trăng, nay nghe cha muốn gả cho thái tử, có ý không bằng lòng, suốt ngày sùi sụt khóc thầm.

Trần Thủ Độ cũng đau lòng lắm, mới bảo Trần Thị Dung:

- Thôi!

Chị cứ về với thái tử đi.

Đời người cũng dài, chỉ cần ta còn sống, thế nào rồi sẽ có ngày gặp nhau.

Món nợ này nếu không trả được, quyết chẳng phải là thằng con trai.

Nói xong rút dao khía vào ngón tay cho máu nhỏ xuống sông.

Trần Thị Dung ôm lấy Trần Thủ Độ, nói:

- Độ ơi!

Hãy mau nghĩ cách cứu chị về.

Mấy hôm sau, thái tử Lý Sảm cho người mang sính lễ đến nhà Trần Lý, đón Trần Thị Dung về với mình ở nhà Tô Trung Từ.

Thị Dung ngồi trong kiệu hoa, nước mắt hai hàng, chốc chốc lại ngoái đầu nhìn về phía Trần Thủ Độ.

Thủ Độ đứng dưới khóm tre, răng cắn bặm môi, nhìn theo chiếc kiệu.

Thái tử Lý Sảm lấy được Trần Thị Dung thì sung sướng không sao tả xiết, liền trao cho Trần Lý tước Minh tự, phong cho Tô Trung Từ chức Điện tiền chỉ huy sứ.

Vừa lúc người đi tìm tin tức vua Cao Tông cũng trở về.

Thái tử liền sai Trần Lý đem các con, tập hợp hương binh dẹp loạn, đón Cao Tông.

Trong khi đi đường xảy ra giao chiến, Trần Lý tử trận.

Trần Thừa bảo các em:

- Hộ giá nhà vua và tang cha, hai việc đều trọng, không thể bỏ việc nào.

Nay một mình ta đem xác cha về quê chịu tang là đủ, các em kíp đem quân hộ giá hoàng thượng.

Anh em ôm nhau khóc lóc, chia tay.

Trần Tự Khánh hộ vệ nhà vua về kinh, dẹp được đảng Lý Thầm, Quách Bốc, vua phong là Thuận Lưu bá.

Kinh thành lúc ấy tạm yên ổn nhưng các châu huyện bên ngoài giặc cướp hoành hành, đường bộ và đường thuỷ đều tắc nghẽn nên thái tử Sảm vẫn ở nhà Tô Trung Từ.

Hôm ấy nhằm tiết thanh minh, tháng ba, thái tử cho mở tiệc ăn tết.

Mọi người đang uống rượu vui vẻ, bỗng lính gác vào báo phía xa có một toán quân đang kéo tới, không biết là quân nào.

Xin thái tử và quan điện tiền kíp cho phòng bị.

Thái tử Sảm sợ hãi, mặt cắt không còn hột máu.

Tô Trung Từ nói:

- Xin thái tử yên lòng, để tôi ra xem sao đã.

Thật là:

Vừa vượt được qua vùng lửa bỏng

Mới ngờ phía trước vạc dầu sôi.

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem đạo quân đang kéo đến là quân nào.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 2: Đàm thái hậu hờn ghen muốn giết nàng dâu (1)


Hãy tạm gác chuyện thái tử Sảm.

Xin lược lại việc Quách Bốc, Lê Khải làm loạn năm trước.

Sau khi vua Cao Tông bỏ chạy, bọn Quách Bốc vào thành, thu nhặt thi hài cha con Phạm Bỉnh Di đưa vào bệ đá ở chỗ mát, lấy chiếu của vua để bọc thây, lấy xe của vua để chở xác, mang đi mai táng. (Theo ĐVsktt) Bỉnh Di tuy là kẻ ngu trung nhưng đối với dân cũng không tàn ác tham lam nên dân chúng trong thành thương xót, theo đi đưa đám đông chật mặt đường.

Xong việc, bọn Quách Bốc, Lê Khải lập Lý Thầm (em ruột Cao Tông) lên làm vua.

Bọn Đàm Dĩ Mông, Nguyễn Chích Lại đều ra nhận chức.

Khi anh em Trần Tự Khánh hộ giá Cao Tông trở về, Lê Khải chết trận, Lý Thầm, Quách Bốc bị bắt.

Mấy hôm sau, vua Cao Tông thiết triều, các quan đều đến sụp lạy, Đàm Dĩ Mông cũng có trong đó.

Đỗ Anh Triệt nhổ vào mặt Đàm Dĩ Mông mà mắng :

- Ngươi thân làm đại thần mà ôm lòng vô quân, nhận tước phong của giặc, nay lại đứng ngang hàng với ta.

Ta tuy bất tài nhưng cũng không thể nhìn mặt ngươi.

Đàm Dĩ Mông vừa sợ vừa thẹn, lui ra ngoài.

Mùa xuân, tháng ba năm Trị Bình Long ứng thứ sáu (Canh Ngọ-1210), vua sai Thượng phẩm phụng ngự là Đỗ Quảng đem quân đến nhà Tô Trung Từ đón thái tử.

Lúc ấy Tô Trung Từ nghe báo, vội ra xem, xe của Đỗ Quảng đã vào tới cổng.

Ngay hôm sau thái tử theo Đỗ Quảng về Thăng Long, lưu Trần Thị Dung ở lại nhà họ Trần với mẹ và anh là Trần Thừa đang chịu tang cha.

Vua Cao Tông từ khi đi chạy nạn Quách Bốc, ở nơi lam sơn chướng khí nên mắc bệnh kiết lị, thường đi ngoài ra nhiều máu tươi.

Quan thái y bốc thuốc, bệnh đã gần khỏi nhưng nhà vua quá ham mê tình ái vì vậy bệnh phát nặng, năm ấy mới ba mươi tám tuổi mà thân hình suy kiệt như người ngoại lục tuần.

Mùa đông, tháng mười vua mệt lắm, truyền gọi Đỗ Kính Tu vào cung.

Vua cầm tay Đỗ Kính Tu, nói:

- Ta xem trong mình không còn bao hơi sức, chắc không sống được mấy ngày nữa.

Những lời khanh nói trước đây, ngẫm kĩ thật chẳng sai câu nào.

Tiếc rằng ta đã không coi làm trọng; rường mối bại hoại cả.

Nay ta sắp về cõi Phật.

Thái tử hãy còn trẻ tuổi, chưa trải việc đời, mong ngươi hết lòng giúp rập, may ra khôi phục được triều chính thì ta ở nơi chín suối cũng ngậm cười.

Đỗ Kính Tu khóc lạy, nhận lời kí thác.

Ngày hai mươi tám tháng mười, vua băng tại cung Thánh Thọ, ở ngôi ba mươi nhăm năm, hưởng thọ ba mươi tám tuổi, táng ở Thọ lăng.

Thái tử Lý Sảm lên ngôi, mới mười sáu tuổi, tôn mẹ là Đàm Thị làm Hoàng thái hậu, cùng dự việc triều chính, sai sứ sang cáo phó với nhà Tống.

Nhà Tống cử sứ giả sang viếng tang.

Mùa xuân, tháng giêng năm Tân Mùi (1211), đổi niên hiệu là Kiến Gia năm thứ nhất.

Sang tháng hai vua sai quan phụng ngự là Phạm Bố đi đón Trần Thị Dung vào cung, phong làm nguyên phi, phong cho Thuận Lưu bá Trần Tự Khánh tước Chương Thành hầu, phong điện tiền chỉ huy sứ Tô Trung Từ làm thái uý phụ chính.

Lúc bấy giờ dân tình đói khổ đã lâu, giặc cướp hoành hành, không ngăn cấm được.

Vua lại dùng Đàm Dĩ Mông làm thái uý, giao cho giữ việc nước.

Đàm Dĩ Mông là kẻ ít học không có mưu lược, chỉ chuyên về xảo thuật và kĩ nghệ, mà tham lam nhu nhược, chẳng dám quyết đoán việc gì nên chính sự ngày thêm đổ nát.

Trần Thị Dung từ khi vào cung được phong làm nguyên phi nhưng trong lòng buồn bực ủ rũ, vì trước kia đã cùng Thủ Độ sớm bước vào đường tình ái nên rất tinh tường trong chuyện gối chăn, được nhà vua vừa lòng lắm.

Có điều Huệ Tông không khoẻ mạnh như Thủ Độ, do vậy chỉ khi nào Trần Thủ Độ lén lút vào thăm mới tươi tỉnh lên được.

Đàm thái hậu biết chuyện, nói với Huệ Tông.

Nhà vua bảo:

- Chị em thăm nhau có gì là lạ.

Đàm thái hậu nói:

- Ai gia chỉ sợ có chuyện nàng Văn Khương nước Tề ngày trước mà thôi.

(Nàng Văn Khương khi còn ở nước Tề thường tư thông với anh trai mình là thế tử Chư Nhi, sau được gả cho vua nước Lỗ.

Đến khi Chư Nhi làm vua nước Tề, thường tìm cách cho Văn Khương về nước để anh em được ân ái với nhau)

Việc này có người nói lại với nguyên phi, thành ra mẹ chồng nàng dâu sinh nhiều điều xích mích.

Lại thêm anh em họ Trần ngày càng được tin dùng, mà người họ Đàm bị khinh bạc, khiến Hoàng thái hậu càng ghét Trần nguyên phi nhiều lắm, thường mắng nhiếc nguyên phi là con gã thuyền chài, xuất thân hèn hạ.

Vào dịp tết nguyên đán năm Kiến Gia thứ ba (Quý Dậu-1213), thái hậu cho đủ tam cung lục viện treo đèn kết hoa nhưng không cấp cho cung nguyên phi.

Nhà vua thấy vậy hỏi, thái hậu bảo:

- Con nhà thuyền chài thì cần gì phải trưng bày cho lắm.

Nhân việc ấy, Trần Thủ Độ nói với Trần Tự Khánh:

- Nhà Lý nhờ họ Trần ta mà giữ được giang sơn, nay lại khinh thường chúng ta quá vậy.

Trần Tự Khánh bảo:

- Đã thế, ta vào cung đón nguyên phi rồi bỏ quan, cùng về quê tất triều đình thành cái thuyền không lái xem sao.

Trần Thủ Độ nói:

- Xin anh chớ làm như vậy, việc nước sẽ hỏng hết, mà công lao nhà ta vất vả bấy nay cũng thành ra uổng phí cả.

Thái hậu tuy ghét chúng ta nhưng thế chưa thể làm gì được.

Tốt nhất ta nên tạm nhẫn nhịn thì hơn.

Khi đại bàng đủ lông đủ cánh, lo gì không bay vút lên chín tầng mây.

Trần Tự Khánh bảo:

- Chú nói rất phải nhưng để cho nguyên phi khổ sở với thái hậu thì ta chẳng cam lòng.

Trần Thủ Độ nói:

- Việc đó em chẳng đau lòng bằng anh sao?

Hay là ngày mai em mở cửa cung.

Anh dẫn quân vào, vờ đón nguyên phi đi, may ra vì thế nhà vua phải ra mặt bênh vực, thái hậu mới nhụt bớt đi được.

Sớm hôm sau, Trần Tự Khánh đem quân xông vào cửa cung, nói là đón xa giá nhà vua.

Lính canh ngăn lại, hai bên xô xát kịch liệt.

Nhà vua phải cùng thái hậu và nguyên phi lánh ra ngoài, hiệu triệu quân các lộ đến hộ giá và đi bắt Tự Khánh.

Thái hậu nói:

- Việc đến nước này mà hoàng nhi còn muốn dựa vào họ Trần mãi ư?

Sao không mau cách chức anh em nhà nó đi cho rồi.

Nhà vua cực chẳng đã, xuống chiếu giáng nguyên phi làm ngự nữ.

Mùa xuân năm sau, quân các lộ đóng trại bên bờ Nhị Hà.

Quân Trần Tự Khánh đóng trên bến Triều Đông (Triều Đông: Bến sông ở phía Đông thành Thăng Long, giáp với Nhị hà (ĐVsktt).

Trần Tự Khánh nói với các tướng:

- Ta thật chẳng có ý làm nhọc sức nhà vua, chỉ vì thái hậu làm khổ nguyên phi quá nên mới bất đắc dĩ phạm vào cửa khuyết, ngờ đâu sự thể lại đến nỗi này.

Các ngươi coi giữ doanh trại, để ta sang tạ tội với hoàng thượng.

Tự Khánh nói xong, một mình, một ngựa, không mang binh khí, không mặc áo giáp, tiến thẳng vào quân doanh của nhà vua.

Hai tướng Đinh Khả và Bùi Đô nghe báo, tưởng Trần Tự Khánh có mưu kế gì, vội cho thúc trống báo động liên hồi.

Quân sĩ bất ngờ, hoảng loạn, xô va vào nhau mà tự tan vỡ.

Nhà vua hốt hoảng, cùng thái hậu và ngự nữ chạy ngược về Trĩ sơn ở châu Lạng.

Trần Tự Khánh thấy tình hình thay đổi theo hướng bất ngờ như vậy, bứt tóc giậm chân, than rằng:

- Không ngờ ta ngày càng đắc tội thế này.

Xa giá long đong mãi mà ngự nữ ngày càng thêm khổ.

Nói xong, Tự Khánh một mặt phái sứ giả đến nói với nhà vua thiện ý của mình và xin đón xa giá về cung, mặt khác cho quân nhổ trại, ngày đêm hành quân để theo cho kịp nhà vua.

Huệ Tông thấy thế lại càng nghi ngờ, vội đem thái hậu và ngự nữ chạy sang huyện Binh Hợp.

Mùa hè năm ấy Tự Khánh đang đem quân kíp theo nhà vua, đi đến cánh đồng thuộc châu Đại Hoàng (Đại Hoàng: Nay thuộc huyện Hoàng Long, tỉnh Ninh Bình (ĐVsktt).), trời vừa tối, liền cho quân dừng lại nấu ăn, cắm trại nghỉ qua đêm.

Canh ba bỗng thấy lửa sáng rực trời, tiếng trống, tù và vang lên inh ỏi, quân bốn mặt không biết từ đâu đến, tràn vào trại.

Trần Tự Khánh vội vã lên ngựa ra xem, quân sĩ đã hoảng loạn cả lên.

Trong ánh lửa, Tự Khánh huơ ngọn giáo nói to với quân sĩ:

- Các ngươi chớ sợ.

Hãy ra xem ta giết giặc đây.

Nói xong, Tự Khánh xông ra cửa trại.

Vừa lúc một tướng bên kia cưỡi ngựa lướt tới.

Tự Khánh chẳng nói chẳng rằng, đâm một giáo.

Tướng kia ngã lăn xuống đất.

Đám quân theo sau tướng ấy cũng bị Tự Khánh đánh dạt ra.

Quân sĩ của Tự Khánh thấy vậy, nhất tề xông lên đánh lui quân giặc.

Khi trời sáng mới biết viên tướng bị Tự Khánh giết lúc đêm chẳng phải ai xa lạ mà chính là Bùi Đô.

Hoá ra Huệ Tông trên đường bỏ chạy, dặn Đinh Khả và Bùi Đô đem quân ngăn Tự Khánh.

Hai tướng vâng mệnh, phục quân nhằm tiêu diệt cánh quân của Khánh, chẳng ngờ Tự Khánh quá kiêu dũng nên Bùi Đô bị giết, còn Đinh Khả quân sĩ tan tác, vội vã rút đi.

Tự Khánh lệnh cho lính nhổ trại, hành quân.

Tướng Vương Lê can:

- Quân kia tuy đã chạy nhưng Đinh Khả là tay vũ dũng, quân lính vẫn còn đông.

Tôi nghĩ thế nào chúng cũng quay lại.

Nếu chúng ta đang đi mà bị chặn đánh thì nguy lắm.

Chi bằng tướng quân cho một nửa quân sĩ nhằm các bụi rậm mai phục, một nửa nấu cơm phân phát cho mọi người.

Quân kia quay lại, ta đổ phục binh ra đánh, chắc thế nào cũng được.

Tự Khánh nghe theo kế ấy, cho Vương Lê và Nguyễn Chi mang quân đi mai phục, lại dặn khi nào thấy lá cờ đỏ ở giữa trại hạ xuống thì đổ quân ra mà đánh, còn mình tự đốc thúc quân lính canh phòng, giữ trại.

Quả nhiên đến gần trưa thấy một đạo quân kéo đến.

Tướng đi đầu chính là Đinh Khả.

Theo sau là bọn Đỗ Kì Hưng, Đàm Bính, Đinh Lâm, ào ạt kéo tới.

Trần Tự Khánh đem quân ra ngoài trại bày trận, đợi Đinh Khả tới.

Tự Khánh cầm ngược ngọn giáo, cúi đầu chào, nói:

- Tôi thật có lòng phò tá hoàng thượng mà bị nghi oan, nay đem quân đến đây cũng chỉ muốn cùng tướng quân đón xa giá về triều để xã tắc yên định mà thôi.

Xin tướng quân hợp binh cùng tôi đi đón nhà vua cho trăm họ được nhờ.

Đinh Khả cầm cái dùi sắt chỉ vào mặt Tự Khánh, mắng:

- Thằng thuyền chài kia, sao dám nói những điều càn rỡ như vậy.

Các ngươi ai ra bắt nó cho ta.

Đàm Bính, cháu Đàm thái hậu, vốn ghét anh em họ Trần, múa cây đại đao xông vào.

Tự Khánh đưa ngọn giáo đón đỡ.

Hai tướng đang đánh nhau quyết liệt.

Bỗng thấy phía sau quân của Tự Khánh bỏ hàng ngũ rút dần về trại.

Tự Khánh cũng vừa đánh vừa lui vào trong, sai quân đóng chặt cửa trại lại.

Lúc ấy đang là tháng năm, trời nắng như lửa cháy.

Quân của Tự Khánh ở trong trại râm mát no đủ.

Quân của Đinh Khả ở ngoài trời phơi nắng mệt mỏi.

Cuối giờ Ngọ là lúc ánh nắng gay gắt nhất.

Quân Đinh Khả nhiều người tản đi tìm nước uống.

Tự Khánh ra lệnh hạ cây cờ đỏ ở giữa trại xuống.

Đinh Khả bảo các tướng:

- Bọn này chắc muốn tháo chạy đây.

Các ngươi bắt sống Trần Tự Khánh cho ta.

Nói rồi Khả cứ việc thúc quân đánh trại, không để ý đến xung quanh.

Đàm Bính thấy Tự Khánh không hơn gì mình, hung hăng xông vào cửa trại.

Vừa lúc Tự Khánh kéo ra, quát to lên rằng:

- Chúng bay không biết mắc mưu ta hay sao?

Sắp về chầu ông bà, ông vải cả mà còn hí hửng thế ư ?

Đinh Khả ngớ người ra, đã thấy quân phục của Tự Khánh rầm rập kéo đến.

Đàm Bính luống cuống, bị Tự Khánh đâm một giáo, ngã ngựa, chết.

Vương Lê, Nguyễn Chi xua quân xông vào chém giết quân Khả ngổn ngang đầy đồng.

Đinh Lâm thấy Nguyễn Chi là tay lợi hại, mới bắn một phát tên, trúng ngay giữa ngực, Nguyễn Chi ngã nhào xuống ngựa, quân sĩ vội đến cứu về trại.

Đỗ Kì Hưng đánh nhau với Vương Lê, bị Lê vụt một roi, vỡ đầu chết.

Đinh Lâm Thu nhặt tàn quân bảo vệ Đinh Khả chạy trốn.

Tự Khánh thu quân về trại mới biết Nguyễn Chi bị thương, vội vã vào thăm.

Nguyễn Chi nói với Tự Khánh:

- Tôi không thể theo hầu tướng quân được nữa, có lời này xin tướng quân minh xét.

Tướng quân cứ theo xa giá mãi; nhà vua lại càng nghi, chi bằng rút quân về Triều Đông, giao kết với các tướng lĩnh quanh vùng để làm phên giậu, rồi sai sứ mang biểu đến tâu với nhà vua thì việc mới có thể xong được.

Đêm ấy, Nguyễn Chi vì vết thương quá nặng, máu ra nhiều, chết trong trại, mới có hai mươi sáu tuổi.

Tự Khánh thương Chi là người trẻ tuổi mà anh dũng, khóc mãi không thôi.

Hôm sau tự Khánh theo kế của Nguyễn Chi, đem quân về đóng bên bờ Nhị Hà, cho người đến giao kết với tướng quân Lê Mịch ở Yên Duyên và tướng lĩnh các vùng lân cận, một mặt viết biểu sai người đến chỗ Huệ Tông, kể rõ sự tình.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 2: Đàm thái hậu hờn ghen muốn giết nàng dâu (2)


Thái hậu cho Trần Tự Khánh là kẻ phản trắc, thường chỉ tay vào mặt ngự nữ Trần Thị Dung mà nói là bè đảng của giặc, bảo vua đuổi đi, lại sai người bắt ngự nữ phải tự sát (Theo ĐVsktt).

Ngự nữ nói với vua rằng:

- Thiếp ơn nhờ được hoàng thượng yêu dấu, dẫu thịt nát, xương mòn cũng chưa báo được ân tri ngộ.

Nay vì anh thiếp mà hoàng thượng gặp bước gian nan.

Thái hậu muốn giết, thiếp xin đành chịu không oán thán gì.

Chỉ thương nỗi trong mình thiếp đang mang giọt máu của hoàng thượng.

Nó có tội tình gì mà cũng phải chết oan.

Huệ Tông lúc ấy mới biết ngự nữ có thai, liền phong làm Thuận Trinh phu nhân.

Thái hậu nghe nói Thuận Trinh phu nhân đang mang thai, càng muốn giết lắm, sai người bỏ thuốc độc vào thức ăn của phu nhân nhưng nhà vua phát hiện ra.

Mỗi bữa nhà vua sẻ nửa phần ăn của mình, cho phu nhân ngồi cùng ăn và giữ luôn phu nhân bên cạnh.

Từ đấy phu nhân dẫu không yêu nhà vua nhưng cũng cảm kích vì sự bao dung che chở đó.

Đầu tháng sáu năm Kiến Gia thứ sáu (Bính Tí-1216), phu nhân sắp sinh, thái hậu sai người đem chén thuốc độc đến, bắt phu nhân phải chết.

Vua lại ngăn không cho, đêm ấy cùng phu nhân trốn theo quân của Trần Tự Khánh.

Đi suốt đêm nên phu nhân mệt, lại bụng mang dạ chửa, đến sáng không thể đi tiếp được nữa, hỏi dân mới biết đất ấy là huyện Yên Duyên.

Vua gọi người đưa đường đến nhà tướng quân Lê Mịch xin ở nhờ.

Tướng quân Lê Mịch nói:

- Thần không biết xa giá hoàng thượng tới, chậm đón tiếp, mong hoàng thượng xá tội.

Huệ Tông bảo:

- Khanh có tội gì đâu mà xá, cho trẫm ở nhờ đây là tốt lắm rồi.

Lê Mịch nói:

- Thần là con dân của hoàng thượng.

Sao hoàng thượng lại nói là ở nhờ ?

Thần thật đắc tội.

Nói rồi Lê Mịch sai gia nhân giết dê, mổ lợn thết đãi nhà vua và những người tuỳ tòng, đồng thời phái người đến trại quân của Trần Tự Khánh thông báo.

Trần Tự Khánh liền cử tướng Vương Lê đem binh thuyền đi đón.

Nhà vua từ giã tướng quân Lê Mịch, đem phu nhân lên thuyền Vương Lê mà đi.

Thuyền đi đến bãi Cửu Liên thì phu nhân kêu đau bụng dữ dội.

Hoá ra phu nhân vì chạy trốn vất vả nên trở dạ đẻ.

Vua liền hạ chỉ cho đỗ thuyền ở bến Cửu Liên, sai người đi tìm bà đỡ và truyền cho Trần Tự Khánh đến chầu.

Đêm ấy phu nhân sinh trưởng nữ, sau này phong là công chúa Thuận Thiên.

Trần Tự Khánh cùng anh là Trần Thừa hộ giá nhà vua về kinh đô.

Tháng mười hai năm ấy vua phong Thuận Trinh phu nhân làm hoàng hậu, phong Trần Tự Khánh làm thái uý phụ chính, phong Trần Thừa làm nội thị phán thủ.

Trần Thủ Độ giữ chức điện tiền chỉ huy sứ.

Trần Tự Khánh cùng với thượng tướng quân Phan Lân, xếp đặt quân ngũ, chế tạo khí giới, rèn luyện binh lính.

Dần dần thế quân phấn chấn lên nhiều.

Trước đây Trần Thừa lấy vợ là Lê Thị, sinh con trai, đặt tên là Trần Liễu (1210).

Lúc đón được vua và phu nhân, anh em họ Trần hộ giá về kinh, được phong quan tước, Trần Thừa cho người về quê đón mẹ và vợ con lên kinh đô để gia đình đoàn tụ.

Mùa hạ năm Kiến Gia thứ Tám (Mậu Dần-1218), Lê Thị - vợ Trần Thừa - sinh con trai thứ hai, đặt tên là Trần Cảnh.

Trần Cảnh mắt sáng, mặt vuông, tai dài, khi mới sinh, có đám trẻ tụ tập trước cổng hát rằng:

Cành liễu leo cột phía Đông

Mận tàn hạt lép còn mong nỗi gì

Câu hát ấy sau này ứng vào điềm Trần Cảnh lên ngôi vua, nhà Trần thay nhà Lý.

Chữ Trần gồm chữ liễu bám sát một nét sổ, bên cạnh là chữ Đông.

Chữ Đông còn có ý nói họ Trần dấy nghiệp từ phía Đông.

Mận chỉ chữ Lý, họ Lý.

Mận tàn hạt lép chỉ nhà Lý đã suy tàn, vua không có con trai.

Năm Trần Cảnh lên ba tuổi, có ông lão ăn mày đi qua, trông thấy Cảnh đang chơi ở sân, liền nói:

- Cậu bé này có tướng cực quí, hẳn trứng rồng đã nở rồi đây.

Cha Cảnh thấy lạ, cho người ra mời nhưng ông lão đã đi đằng nào rồi.

Việc phong Thuận Trinh phu nhân lên ngôi hoàng hậu và anh em họ Trần nắm giữ quyền bính khiến mâu thuẫn giữa thái hậu và hoàng hậu càng thêm gay gắt.

Nhà vua buồn rầu, cùng bọn cung nữ ra chơi vườn ngự uyển.

Lúc ấy đang là mùa đông, tháng chạp, gió lạnh thổi hun hút.

Vì nhà vua ham chuyện ân ái nên cơ thể gầy yếu, không chịu được lạnh, ôm ngực ho một hồi dài.

Bọn thị nữ vội đỡ nhà vua về cung, truyền thái y đến khám thì người vua đã nóng ran, vật vã, khát nước, đổ mồ hôi, mê sảng liên hồi.

Thái y xem mạch, bốc thuốc nhưng bệnh không chuyển.

Qua tết nguyên đán, bệnh tình của nhà vua ngày càng trầm trọng.

Sang tháng Ba vua dần dần phát điên, có khi tự xưng là thiên tướng giáng trần, tay cầm giáo và khiên, cắm cờ nhỏ vào búi tóc, đùa múa từ sớm đến chiều mới nghỉ, đòi uống rượu, ngủ li bì đến hôm sau, quyền hành chính sự giao cả cho Trần Tự Khánh.

Tháng ba năm sau, Kiến Gia thứ tám (Mậu Dần-1218), thành Thăng Long bỗng dưng rung chuyển, vệt động đất lan dài theo hướng Đông Bắc, đến tận châu Cổ Pháp, làm núi Tiên sạt mất một góc.

ít ngày sau lại có sao chổi mọc ở hướng Tây Nam.

Quan chiêm tinh cho là điềm xấu, làm bản tấu dâng lên, nói:

"...Cổ Pháp là quê hương nhà Lý, Tiên sơn là nơi đức Thái Tổ hoài thai, Thăng Long là đất đế đô do Thái Tổ khổ công khởi dựng.

Nay bỗng dưng ba nơi ấy đều rung chuyển, đến nỗi Tiên sơn sạt lở, lại có sao chổi mọc ở hướng Đông Nam.

Thật là điềm chẳng lành cho xã tắc.

Thần lấy làm lo sợ, quỳ tâu, xin hoàng thượng kíp lập đàn tràng, dâng lễ cầu đảo, để nhà Lý được lâu dài, thịnh trị..."

(ĐVsktt chép: Lý Công Uẩn người châu Cổ Pháp-Bắc Giang, mẹ họ Phạm đi chơi chùa Tiên sơn cùng người thần giao hợp có chửa sinh ra vua ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất).

Trần Tự Khánh thay vua xem tấu, nói:

- Nếu đã là ý trời thì cầu đảo cũng chẳng thể làm gì được.

Các quan nghe thế rất bất bình nhưng không ai dám nói gì.

Tháng chín hoàng hậu sinh thứ nữ, sau phong là công chúa Chiêu Thánh.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 2: Đại cư sĩ tham lòng mưu đồ cơ nghiệp (1)


Người thượng ở Quảng Oai vì quá đói khổ, nổi lên làm loạn.

Trần Tự Khánh thân cầm quân đem theo bọn Vương Lê, Phùng Tá Chu đi đánh.

Lúc ấy đang là cuối thu, trời khô hanh, se se lạnh.

Quân sĩ nhằm hướng Tây mà đi, dọc đường chỉ thấy ruộng đồng hoang hoá, làng xóm tiêu điều, dân lưu tán hành khất phiêu dạt khắp nơi, có cả người chết đói.

Binh lính nhiều kẻ gặp người nhà đi ăn xin, ôm nhau khóc, cảnh tượng thật thương tâm.

Mấy ngày sau quân vào đến đất Quảng Oai, trước mặt là rừng núi hoang vu, tuyệt nhiên không thấy bóng thổ dân đâu cả.

Tự Khánh cho quân tìm nơi thoáng đãng, có nguồn nước, cắm trại, đề phòng bị đánh úp, cử thám tử đi dò xét quân man.

Thám tử về báo không thấy tên phiến quân nào.

Tự Khánh cho nhổ trại, tiến sâu vào rừng, các xe lương thảo cũng lục cục theo sau.

Đến một thung lũng nhỏ, thấy có đội quân người thượng mặt mũi tô vẽ hung tợn, cởi trần, đóng khố sui, khố đằng (Khố làm bằng vải chế từ vỏ cây và dây rừng), tay cầm dao quắm, vai đeo tên nỏ, từ đâu hiện ra, Tự Khánh xua quân đuổi bắt.

Chỉ nghe một tiếng hú dài kinh người, đội quân người thượng chạy vào con đường rừng.

Tự Khánh cho quân đuổi gấp.

Phùng Tá Chu nói:

- Nơi này hết sức hiểm trở.

Thái uý nên cẩn trọng kẻo mắc mưu gian của giặc.

Tự Khánh bảo:

- Trời ơi!

Không đuổi mau đi, có vài tên người man què, lấy đâu ra mà mưu với chả mẹo.

Nói xong, vẫy ngọn giáo cho quân cứ việc ào ạt xông lên, bỗng trước mặt hiện ra một vách núi dựng đứng chắn mất lối đi, hai bên rừng dây leo chằng chịt.

Quân thượng biến đâu hết cả.

Vương Lê quay lại nói với Tự Khánh:

- Đây là nơi tuyệt lộ.

Ta bị quân man lừa mất rồi.

Xin thái uý cho lui binh.

Lệnh lui quân chưa kịp phát ra thì thấy trên sườn núi nổi lên một hồi tù và dài, rồi gỗ đá, chuỳ chông ào ào lăn tới.

Quân sĩ sợ hãi, nhốn nháo tháo lui, lại bị dây rừng quấn quýt vướng vào chân, không sao chạy thoát được.

Nhiều người bị gỗ đá, chuỳ chông đè chết hoặc bị thương.

Tiếng kêu khóc vang cả núi rừng.

Khi ra khỏi tầm lăn của gỗ đá, tưởng là thoát nạn, ai ngờ lại một tiếng hú vang lên rồi tên nỏ không biết từ đâu bắn ra như mưa mà chẳng ai nhìn thấy một tên quân người thượng nào.

Quân Tự Khánh chết hại rất nhiều, giẫm đạp lên nhau chạy tháo thân.

Vương Lê cầm mộc che cho Tự Khánh, chạy ra đến cửa rừng mới biết là thoát, trên mình Vương Lê đã bị găm bốn mũi tên.

Lúc ấy quân người thượng ở đâu xông ra đuổi bắt.

May có Phùng Tá Chu đi sau liều chết đánh cản chúng lại, Tự Khánh và Vương Lê cắm cổ chạy.

Quân lương bị người man cướp mất cả.

Đêm ấy trong trại tiếng khóc than như mưa như gió.

Trần Tự Khánh bảo Phùng Tá Chu:

- Ta không nghe lời ông mới có trận thua này.

Bây giờ đã mất hết lương thảo, lòng quân rối loạn.

Chi bằng ngày mai hãy rút quân về.

Phùng Tá Chu nói:

- Vậy ngày mai thái uý cứ từ từ rút đi.

Tôi xin đoạn hậu.

Vương Lê bị bốn mũi tên, vết thương không sâu vì Lê mặc giáp cứng lại dày, nhưng các mũi tên đều tẩm thuốc độc nên khắp mình sưng tấy rất đau đớn.

Đến đêm Vương Lê mê sảng không biết gì.

Tự Khánh thương lắm, sai quân dược điều trị, hôm sau bảo quân lính lấy một chiếc xe, lót thật êm cho Vương Lê nằm chở đi, tự mình cầm giáo đi bên cạnh bảo vệ.

Tướng sĩ thấy vậy, ai cũng bảo Tự Khánh là người có lòng yêu kẻ dưới.

***

Mùa đông năm sau, bệnh tình của Huệ Tông có thuyên giảm.

Trần Tự Khánh tâu xin tha tội cho Nguyễn Nộn, sai đi đánh người man ở Quảng Oai.

Nguyễn Nộn vốn là hậu duệ của Nguyễn Bặc thời vua Đinh Tiên Hoàng, tu hành ở chùa Phù Đổng, sức vóc cường tráng, thường luyện tập võ nghệ, dùng một cây thiết côn dài múa tít, tung lên cao mấy trượng, rồi nhào người theo bắt lấy, kiêu dũng mà mềm mại như một con báo.

Năm trước những người đào ao cho nhà chùa, bắt được một cái hòm bằng đá.

Nguyễn Nộn cậy ra, bên trong đựng toàn vàng ngọc.

Bọn ấy đòi chia phần.

Nguyễn Nộn bảo:

- Để ta đem dâng lên triều đình, thế nào các ngươi cũng được thưởng, nếu tự tiện chia nhau, quan trên biết được, phải tội chặt đầu chứ chả chơi.

Tuy nói vậy nhưng Nguyễn Nộn lại đem giấu đi làm của riêng.

Trong bọn người đào ao có một đứa tên là Hồ Miêu, rất tinh khôn, thấy mãi chả có ai được thưởng gì, mới nghi Nguyễn Nộn đã biển thủ hòm của báu.

Hồ Miêu bàn với bọn người đào ao, cùng nhau đến hỏi.

Nguyễn Nộn nói:

- Ta nghĩ lại rồi.

Chúng bay không biết câu dân gian, quan tham hay sao?

Dẫu ta có đem dâng lên cũng chưa chắc đã đến được triều đình, có khi còn bị họ giết người diệt khẩu, hoá ra chẳng mang vạ cả lũ ư.

Hồ Miêu nói:

- Thế thì đem chia quách cho mỗi người một ít là xong.

Anh em ta đây không ai nói ra, quan trên làm sao mà biết được.

Nguyễn Nộn nhất quyết không chia.

Bọn người đào ao tức giận đến báo với quan tư xã đem tuần đinh đến khám, bị Nguyễn Nộn lấy danh nghĩa bảo vệ chùa, đánh cho một trận, chạy tháo thân, phải báo lên quan phủ.

Quan phủ mang lính về vây chùa, khám xét tìm thấy hòm vàng ngọc, liền bắt Nguyễn Nộn cùng hòm tang vật, làm sớ tâu lên triều đình.

Triều đình giao cho bộ hình bắt Nguyễn Nộn giam vào đại lao tra xét.

Trần Tự Khánh thấy Nộn có sức khoẻ lại giỏi võ nghệ, mà vụ án cũng đã rõ ràng, mới xin tha cho và sai đi đánh người thượng.

Nguyễn Nộn vâng mệnh, điểm binh ra khỏi thành, nhằm hướng Tây đi về đất Quảng Oai.

Trong đám thuộc tướng của Nguyễn Nộn, có Đỗ Nguyên Bá là cháu của thượng phẩm phụng ngự Đỗ Quảng.

Sau Đỗ Quảng làm phản, bị Tô Trung Từ đánh bại.

Đỗ Nguyên Bá muốn trả thù cho chú, đêm ấy vào trướng hỏi Nguyễn Nộn rằng:

- Năm trước, tướng quân có một mình mà dám chống lại cả quan phủ, nay có binh, có tướng, sao lại phải quỳ mọp dưới chân người ta vậy?

Nguyễn Nộn Quắc mắt, hỏi:

- Ngươi nói thế là có ý gì?

Nguyên Bá nói:

Việc bắt hay thả tướng quân đều do một tay anh em họ Trần cả.

Nay tướng quân coi Tự Khánh như ân nhân, chẳng phải mua cười cho thiên hạ sao?

Anh em họ Trần, tuy tiếng là tướng của nhà Lý nhưng thực ra chỉ muốn nuốt chửng nhà Lý mà thôi.

Chúng làm nhiều điều xằng quấy, khiến lòng người không phục.

Nếu tướng quân khởi binh chống lại họ Trần, tôi chắc thiên hạ về với tướng quân cả.

Nguyễn Nộn trợn mắt thét:

- Ta vâng lệnh thái uý, đi tiễu trừ quân giặc.

Sao ngươi dám nói càn như vậy.

Võ sĩ đâu!

Lôi tên này ra chém cho ta.

Võ sĩ xông vào kéo Nguyên Bá đi.

Bá, mặt không đổi sắc, chỉ cười mủm mỉm.

Lúc sắp hành hình, Bá vẫn tươi tỉnh như không, lại còn hát mấy câu:

Trời xanh xanh... hề

Đất xanh xanh

Đất trời nghiêng ngửa... hề

Đâu kẻ hùng anh?

Nguyễn Nộn thấy thế, hỏi:

- Nhà ngươi chết đến nơi mà còn vui vẻ thế ư?

Nguyên Bá nói:

- Tôi biết mình không chết, lại gặp người tri kỉ, sao không vui vẻ?

Nguyễn Nộn liền sai cởi trói, mời Nguyên Bá vào trướng, hỏi:

- Sao ngươi biết ta không giết ngươi?

Đỗ Nguyên Bá nói:

- Lời nói phải, lại đúng chỗ, gây nên cái chết thế nào được?

Nguyễn Nộn vái Nguyên Bá một vái, nói:

- Ông thật hiểu hết gan ruột của tôi.

Vậy có điều gì mong ông hết lòng chỉ giáo cho.

Hiềm một nỗi tôi chưa có công trạng gì, e quân lính không phục.

Đỗ Nguyên Bá nói:

- Đánh xong quân man, ắt thành công trạng chứ gì nữa.

Từ bữa ấy Nguyễn Nộn luôn giữ Đỗ Nguyên Bá bên mình để bàn việc.

Mấy hôm sau đi đến đất Quảng Oai, Nguyễn Nộn cho quân sĩ đốt rừng, tiến đánh.

Nguyên Bá can:

- Quân man nổi loạn, chẳng qua do đói khổ làm càn.

Tướng quân cho đốt rừng, đánh giết, tất họ chống lại hoặc sợ tản đi.

Như thế phỏng có ích gì?

Nguyễn Nộn nói:

- Vậy phải làm sao bây giờ?

Nguyên Bá Nói:

- Tôi chắc quân man thế nào cũng cho người dò xét chúng ta.

Tướng quân cứ đem cơm gạo treo lên các cành cây quanh trại, nếu ngày mai không còn, khắc sẽ có kế hay.

Nguyễn Nộn nghe theo, cho quân nấu cơm, gói làm nhiều gói, treo lên cành cây trong cánh rừng gần đấy.

Sáng hôm sau thấy mất cả.

Nguyễn Nộn hỏi, Nguyên Bá nói:

- Kế này chắc sẽ thành công.

Đêm nay tướng quân lại cho treo cơm nhiều hơn hôm qua, ngày mai tôi xin nói rõ đầu đuôi.

Qua một đêm nữa, số cơm đem treo cũng mất hết.

Nguyên Bá mới ghé sát vào tai Nguyễn Nộn nói:

- Mưu kế của tôi là thế này... này...!

Nguyễn Nộn cười phá lên bảo:

- Mẹo của ông, dẫu Lý Thường Kiệt, Dương Đình Nghệ tái sinh cũng không đoán ra được.

Về phía người thượng, thấy quân lính triều đình kéo tới thì trốn cả vào rừng sâu nhưng vẫn cử một toán bí mật theo dõi, đêm ấy thấy quân triều đình treo nhiều gói trên cây, bảo nhau hạ xuống, thấy toàn là cơm trắng, đang đói sẵn, ăn thử không có độc.

Quân người thượng liền lấy hết các gói cơm mang về động, báo với tù trưởng, chia cho mọi người.

Đêm thứ hai, tù trưởng sai quân đi, lại lấy được nhiều cơm hơn mà chẳng ai việc gì.

Đêm thứ ba, tù trưởng tự cầm đại quân đi lấy cơm, xem xét tình hình.

Nửa đêm đến cánh rừng cạnh trại lính triều đình, thấy trong trại đèn đuốc sáng choang, quân lính canh phòng nghiêm mật.

Trên cây trong rừng chỗ nào cũng treo lủng liểng vô số những gói cơm, tù trưởng cho quân leo lên tháo xuống, chẳng ai còn để ý đến việc đánh nhau nữa.

Vừa lúc ấy một tiếng pháo nổ vang trời, rồi đèn đuốc bốn bên cháy lên, sáng như ban ngày, vây quân người thượng vào giữa.

Quân thượng hoảng hốt, toan tìm đường tháo chạy nhưng không thể nào ra khỏi trùng vây.

Viên tù trưởng đang luống cuống chưa biết chạy vào đâu, bị một chiếc lưới chụp lên đầu, không sao chui ra được, quân triều đình trói nghiến đưa về trại.

Số quân thượng còn lại cũng lần lượt bị bắt hết cả.

Hoá ra Đỗ Nguyên Bá thấy người thượng trốn vào sâu trong rừng, mới dùng kế mồi ngon câu cá đói, nhử ra mà bắt.

Sáng hôm sau Nguyễn Nộn cho dựng pháp trường, đào một cái hố thật to.

Lệnh cho quân sĩ điệu bọn người thượng ra đấy để chém hết, đẩy xuống, lấp đất đi.

Khi sắp hành hình, Đỗ Nguyên Bá đem quân đi tuần núi về, liền bảo bọn đao phủ hãy khoan, đợi lệnh, rồi vào nói với Nguyễn Nộn:

- Tướng quân không nên giết bọn người man mới là đắc sách.

Nguyễn Nộn bảo:

- Ta muốn giết sạch chúng đi để trừ hậu hoạ.

Nguyên Bá nói:

- Chính giết chúng, tướng quân mới gặp ba điều hoạ, tướng quân sẽ mang tiếng là người ác, dân chúng sợ hãi không theo.

Dân chúng đã không theo lấy ai mà sai khiến.

Đó là điều hoạ thứ nhất.

Tướng quân muốn tranh hùng với họ Trần, tất phải mang quân lên phía Bắc.

Phía Tây yên định, họ Trần không lo gì nữa, rảnh tay đối phó với tướng quân.

Đó là điều hoạ thứ hai.

Giả như muốn về với triều đình, mà bốn bề sóng yên gió lặng cả, tướng quân không biết câu Điểu tận cung tàng hay sao.

Đó là điều hoạ thứ ba.

Nguyễn Nộn bảo:

- Chả lẽ bây giờ thả chúng ra à?

Nguyên Bá nói:

- Không những phải thả chúng, mà còn cần thết đãi chúng thật đàng hoàng nữa.

Người man là giống thật thà, khi chúng đã chịu ơn, tướng quân bảo làm gì mà chúng chả nghe.

Kế này gọi là nuôi khỉ dạy làm trò đó.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 2: Đại cư sĩ lòng tham mưu đồ cơ nghiệp (2)


Nguyên Bá còn ghé vào tai Nguyễn Nộn, nói nhỏ vài câu, rồi đi ra.

Nguyễn Nộn bảo quân lính đưa bọn người thượng trở lại, tự tay cởi trói cho tù trưởng, sai lính thả hết quân thượng ra, cho làm tiệc rượu thết đãi rất trọng thể, lại chia cho một nửa lương thực và cấp cho nhiều vàng lụa, dặn:

- Các ngươi ở nơi heo hút, đói rét khổ sở muôn phần.

Ta không nỡ giết.

Từ nay hãy lo trồng cấy, chăn nuôi lấy cái ăn, cái mặc.

Không được làm loạn nữa.

Sau này có việc gì, cử người lên phía Bắc gặp ta.

Người thượng lâu rồi không được hưởng ân huệ của triều đình, nay thấy như vậy răm rắp dạ theo, coi Nguyễn Nộn như thiên thần giáng thế, như cha mẹ tái sinh.

Mấy hôm sau Nguyễn Nộn kéo quân đi.

Dân thượng khóc lóc đưa tiễn, Quân lính của Nộn cũng cho rằng chủ tướng của mình là người nghĩa hiệp.

Nguyễn Nộn theo kế của Đỗ Nguyên Bá, một mặt viết sớ tâu về triều đình báo tin đã bình xong Quảng Oai, đang kéo quân về triều.

Một mặt cho người chuẩn bị thuyền bè để đưa quân về vùng Thiên Đức.

Khi về đến hương Phù Đổng, Nguyễn Nộn cho lính tìm bắt được Hồ Miêu, kẻ trước kia đã phát giác Nguyễn Nộn biển thủ hòm vàng ngọc.

Nộn thét quân nọc Hồ Miêu ra đánh.

Nguyên Bá thấy vậy chỉ cười.

Nguyễn Nộn hỏi vì sao tướng quân lại cười.

Nguyên Bá Nói:

- Chẳng lẽ thượng công không biết trước kia Hàn Tín không chỉ báo ân phiếu mẫu mà còn hậu đãi cả gã bán thịt hay sao?

Vả lại nếu không có Hồ Miêu tố giác, thượng công đâu có ngày nay.

(Hàn Tín nghèo khổ, bị gã hàng thịt bắt chui qua háng.

Bà phiếu mẫu giặt vải bến sông, thương Tín đói, thường cho ăn cơm.

Sau này Tín làm đại tướng của Lưu Bang, được phong tước Tề vương, đem nghìn lạng vàng trả ơn phiếu mẫu, lại trọng đãi cả gã hàng thịt)

Nguyễn Nộn sực tỉnh liền mời Hồ Miêu ngồi cùng uống rượu.

Chuyện đó đồn đi, ai nấy đều cho Nguyễn Nộn là người rộng rãi, không chấp kẻ dưới nên nhiều người tìm đến xin theo.

Ở làng Cao Duệ (Cao Duệ: Thường gọi là làng Rồng, thuộc huyện Trường Tân, Hồng châu - nay là làng Cao Duệ, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, Hải Dương), huyện Trường Tân thuộc Hồng châu có hai chàng trai là Nguyễn Bằng và Phạm Hữu rất thân với nhau.

Cả hai người đều theo học một ông thầy ở làng Đạo Phái (Đạo Phái: Nay thuộc huyện Thanh Miện, Hải Dương ).

Hôm ấy hai người đi học về qua cánh đồng, thấy đám trẻ chăn trâu đùa vui, dừng lại xem.

Một đứa trong đám trẻ nói:

- Con trâu nhà tao cày mỗi ngày được năm sào ruộng.

Một đứa khác bảo :

- Trâu nhà mày khoẻ thế nào bằng trâu nhà tao được!

Đứa kia nói:

- Trâu nhà tao húc mỗi nhát, trâu nhà mày đi đời.

Đứa này sừng sộ:

- Thật chứ ?

Mày có dám cho trâu đánh nhau không ?

Đứa kia:

- Dám chứ sao không.

Chết đừng có trách.

Thế là hai con trâu đang thủng thỉnh ăn cỏ được kéo ra giữa bãi.

Hai đứa trẻ thúc cho chúng tiến lại gần nhau nhưng cả hai con đều ngoảnh đi, tiếp tục hì hục gặm cỏ, dường như chúng chẳng để ý gì đến nhau.

Hai đứa trẻ quất cho chúng xáp lại gần.

Cuối cùng hai con trâu cũng hiểu ra chủ chúng muốn gì.

Chúng nhìn nhau bằng con mắt hằn học rồi xông vào kịch chiến.

Trận đấu ngày càng dữ dội.

Cuối cùng một con dồn được con kia đến bờ khe sâu.

Con đuối sức lăn xuống khe, làm lở một mảng đất lớn, vì thế con thắng cuộc cũng lao theo.

Nguyễn Bằng, Phạm Hữu cùng mấy đứa trẻ chạy lại, hai con trâu đã nằm thở dốc dưới lòng khe, bốn mắt đăm đăm nhìn lũ trẻ như van lơn cầu cứu.

Nguyễn Bằng bảo Phạm Hữu:

- Hai con trâu thật là dại dột, đang yên đang lành lại đánh nhau.

Phạm Hữu bảo:

- Hai con trâu có muốn đánh nhau đâu.

Muốn đánh nhau là lũ trẻ kia đấy chứ!

Mấy đứa trẻ reo lên sung sướng.

- A!

Chúng mày ơi!

Hôm nay nhất định có thịt trâu ăn rồi!

Hai chàng trai về đến đầu làng, thấy quan quân đi lại rầm rập, hỏi ra mới biết Đoàn Thượng đang về bắt đinh tráng vào lính.

Phạm Hữu bàn với Nguyễn Bằng:

- Chúng ta đều đã có tên trong sổ đăng lính cả rồi, trốn cũng chẳng được, mà bây giờ thiên hạ đang loạn, đất nước chia năm xẻ bảy.

Ta theo Đoàn Thượng, nhỡ Nguyễn Nộn thắng, tất anh em mình không khỏi mang hoạ, chi bằng ta làm như Quản Trọng và Bão Thúc Nha ngày trước, anh cứ về đăng lính, tôi trốn sang Kinh Bắc với Nguyễn Nộn.

Sau này ai có lợi thế thì tiến cử người kia.

Đó mới là kế vạn toàn.

Đợi khi thiên hạ thái bình, ta lại cùng nhau đi học.

Nói rồi cả hai nhỏ nước mắt chia tay, Nguyễn Bằng đi theo Đoàn Thượng, còn Phạm Hữu sang Kinh Bắc với Nguyễn Nộn.

Gặp lúc Nguyễn Nộn đang chiêu binh mãi mã, Phạm Hữu vào xin ra mắt.

Nộn thấy Hữu mặt mũi sáng sủa, có chữ nghĩa học hành, lại ăn nói khoát đạt thì quý trọng, liền cho làm chức quản binh hiệu uý, giúp việc ghi chép sổ sách quân lính, lương thảo cho quân sư Đỗ Nguyên Bá.

Chẳng bao lâu, Nộn thấy quân tình đã mạnh, muốn về Thăng Long, đánh anh em họ Trần, mời quân sư Đỗ Nguyên Bá đến bàn.

Nguyên Bá nói:

- Cứ như ý tôi, chưa nên xuất quân vội.

Ngày nay đã hình thành cái thế thiên hạ chia ba.

Anh em họ Trần chiếm được kinh đô, khống chế vua Lý, có thể mượn tiếng triều đình mà sai khiến các lộ.

Nhà Lý tuy suy tàn nhưng lòng người chưa dứt.

Họ Trần dựa vào đó mà chiếm thế thượng phong, xem như được thiên thời.

Đoàn Thượng ở phía Đông cũng ra sức bành trướng thế lực, dựa vào vùng đất rộng, dân giàu, lại có nhiều sông lạch che chắn để thủ hiểm, xem như được địa lợi.

Nếu ta mang quân sang sông, nhất định họ Đoàn sẽ đánh vào sau lưng ta, chả nguy lắm sao.

Thượng công ở phía Bắc, lực lượng mới xây dựng, hãy nắm lấy nhân hoà.

Nguyễn Nộn hỏi:

- Muốn được nhân hoà phải làm thế nào?

Nguyên Bá nói:

- Thượng công mới gây nghiệp.

Lòng người chưa yên định.

Nay thượng công hãy ra sức thi ân, cứu giúp người nghèo, nâng đỡ kẻ khó, chiêu hiền, đãi sĩ, khuyến khích nông tang, giảm bớt tô thuế.

Như vậy lo chi không có được nhân hoà.

Khi thế và lực đã đủ mạnh, muốn đánh đâu mà chả được.

Đây là kế nhà cao cần móng chắc vậy.

Nguyễn Nộn nghe theo kế ấy, chiếm giữ hương Phù Đổng, tự xưng là Hoài Đạo Vương, nuôi quân, rèn sức, gọi anh em họ Trần là giặc, xin nhà vua cho được dẹp loạn để chuộc tội.

Trần Tự Khánh muốn đi đánh Nguyễn Nộn.

Thượng tướng Phan Lân can:

- Ngày nay thế lực của Nguyễn Nộn đã mạnh, không thể đánh thắng ngay được.

Đoàn Thượng ở Hồng châu cũng tác oai, tác quái.

Ta đem quân đi đánh, tất họ sẽ liên kết với nhau, việc chinh chiến không biết bao giờ mới dứt, trăm họ thêm điêu linh.

Chi bằng cứ phong vương cho Nguyễn Nộn để Đoàn Thượng ghen tức mà đánh lẫn nhau.

Bên nào thua cũng bớt cho ta một mối hoạ.

Trong khi đó thái uý có thể ung dung mà lo việc triều chính có hơn không?

Hôm ấy Trần Tự Khánh về phủ, cho mời quan điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ đến bàn việc.

Trần Thủ Độ nói:

- Lời bàn của thượng tướng Phan Lân rất phải.

Bọn Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng dẫu có hung hăng cũng chưa thể làm gì ta nổi, mà lực lượng của ta cũng chưa thể đánh bại bọn chúng nhanh chóng được, chi bằng cứ củng cố triều chính, bồi dưỡng quân lực rồi sau sẽ liệu.

Vì thế Trần Tự Khánh không đi đánh Nguyễn Nộn nữa mà tâu lên Huệ Tông, xin nhà vua cứ hứa phong vương cho Nộn.

Vua tuy chưa phong vương cho Nguyễn Nộn nhưng cũng cử người mang sắc thư đến tuyên dụ.

Từ đấy Nguyễn Nộn càng ra sức chiêu mộ quân lính, phát triển địa bàn về phía Bắc, ráo riết chuẩn bị tiến đánh họ Trần.

Tin ấy bay về kinh đô khiến Trần Tự Khánh mất ăn, mất ngủ.

Thế mới rõ là:

Những tưởng xua ưng đi bắt thỏ

Nào ngờ thả cọp chốn rừng xanh

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem Trần Tự Khánh, Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng tranh giành thiên hạ thế nào.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 3: Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng (1)


Năm Kiến Gia thứ mười ba (Quý Mùi-1223), thế quân của Nguyễn Nộn càng mạnh.

Phía Đông, Đoàn Thượng cũng chiếm hết châu Hồng, châu Đằng.

Trần Tự Khánh biết thế nhưng không làm sao được.

Tháng mười hai, Tự Khánh ốm nặng, cho mời nội thị phán thủ Trần Thừa đến dặn:

- Em không thể cùng anh lo việc thiên hạ nữa.

Nay họ Trần ta đã ở ngôi cao tột đỉnh trong triều.

Đó là phúc lớn của tổ tông, nhưng chốn quan trường đầy những chông gai, không khéo sẽ thành đại hoạ, mong anh cẩn trọng.

Lại dặn Trần Thủ Độ:

- Chú là người vừa có tài, vừa có sức.

Tương lai họ Trần nhà ta ắt phải nhờ tay chú lo liệu cả.

Hiềm cái, chú chẳng được học hành, khi nắm quyền lớn cần phải tìm người kiến thức trợ giúp mới được.

Thủ Độ hỏi:

- Đỗ Kính Tu có là người kiến thức không ?

Tự Khánh bảo:

- Đỗ thái phó tuy tài cao, học rộng, thông kinh, bác sử, nhưng quá gò mình vào lễ nghĩa mà kém quyền biến, như vậy chưa thể coi là người kiến thức.

Thủ Độ lại hỏi:

- Phan Lân, Vương Lê có phải là người kiến thức không ?

Tự Khánh bảo:

- Phan, Vương hai người ấy trung dũng có thừa nhưng chỉ giỏi việc quân tình chứ việc trị nước chăn dân thì hai ông ấy không thể làm được nên cũng không coi là người kiến thức.

Thủ Độ hỏi tiếp:

- Đỗ Nguyên Bá bên Nguyễn Nộn thế nào ?

Tự Khánh thở dài mà rằng:

- Ta có biết Đỗ Nguyên Bá.

Tiếc thay người ấy có tài nhưng đoản mệnh.

Thủ Độ định hỏi nữa nhưng Tự Khánh đã đi rồi.

Vua Lý Huệ Tông truy phong cho Trần Tự Khánh làm Kiến Quốc Đại Vương; phong Trần Thừa làm phụ quốc thái uý, vào chầu không phải xưng tên; phong Phùng Tá Chu làm thái phó.

Một mình chỉ huy sứ Trần Thủ Độ quản lĩnh các quân điện tiền hộ vệ trong ngoài cấm đình.

(Theo ĐVsktt)

Trần Thừa bàn với Trần Thủ Độ:

- Nay nhà vua tuy bệnh có thuyên giảm nhưng vẫn không thể trông coi việc triều chính.

Dân tình đói khổ.

Giặc cướp khắp nơi.

Bọn Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng không chịu quy phục.

Khi lâm chung, chú hai có dặn phải tìm người kiến thức giúp đỡ nhưng không nói rõ là ai.

Vậy chú nghĩ thế nào?

Thủ Độ nói:

- Em nghe nói có ông Kiều Hoàng Minh, hậu duệ đời thứ mười hai của Kiều Tam Chế, là người học rộng, tài cao nhưng không ra làm quan, nay đến ẩn dật ở Sài sơn, hái thuốc, luyện đan, hay cứu người nên được dân vùng đó coi như vị tiên, thường gọi là Kiều chân nhân.

Đỗ Nguyên Bá biết là người tài, mấy tháng trước đã đến mời ra giúp Nguyễn Nộn nhưng bị chối từ.

(Kiều Tam Chế: Tức Kiều Công Hãn, trong thời kì 12 sứ quân cát cứ (966-967), ông chiếm đất Phong châu, sau bị Đinh Bộ Lĩnh đánh bại)

Trần Thừa bảo:

- Vậy ta cũng nên đến xem sự thể thế nào.

Thủ Độ nói:

- Để chọn ngày tốt, em sẽ đi ngay.

Trần Thừa bảo:

- Chú chuẩn bị lễ vật.

Ba ngày nữa là ngày đại cát, nên đi.

Thủ Độ về sắm lễ vật, trai giới ba ngày, bỏ võ phục, mặc áo đại trào, đem theo một tiểu đồng hầu cận và ba người vệ sĩ, sáng sớm mở cửa Tây thành, cưỡi ngựa nhằm hướng Sài Sơn thẳng tiến.

Mặt trời lên khỏi ngọn tre, năm thầy trò vào đến đất Sài Sơn.

Qua một khoảng rừng thưa, thấy hiện ra dãy núi đá cao chất ngất.

Dưới chân núi, thấp thoáng mấy nếp nhà tranh của sơn dân.

Thủ Độ cho người hỏi thăm.

Sơn dân chỉ đường đi tiếp vào trong.

Năm thầy trò dắt ngựa đi sâu vào núi.

Chỉ thấy:

Tầng tầng đá dựng

Lớp lớp cây dày.

Bên trên, lá chen kín lá

Phía dưới, dây quấn khít dây.

Vài chú chim giọng cất véo von

Dăm cô bướm cánh xoè rực rỡ.

Hoa thơm chờ ong tới

Quả ngọt đợi khỉ sang.

Đầu ngọn núi lộ ra một khoảng trời, mây trắng vờn chỏm đá lấp lánh tựa thấy bóng kim ô.

Giữa cánh rừng giấu kín mấy lòng khe, nước xanh xiết bờ rêu nhập nhoà như hiện hình ngọc thỏ.

Càng đi sâu vào rừng, khí trời càng trong lành, yên ả.

Trần Thủ Độ bảo mấy người tuỳ tùng:

- Quang cảnh nơi này đẹp đẽ u tịch, hẳn nào chẳng có bậc thần tiên đến ở.

Ta thường quen việc chinh chiến, không ngờ lại có một nơi thanh bình thế này.

Đi vào một đoạn nữa, rừng mở ra.

Trên khoảng đất vồng lên, rộng đến mấy mẫu, có một trang viên nhỏ, rào giậu sơ sài, đứng từ xa cũng có thể thấy hết được quang cảnh trang viên.

Khi tới gần, trên cổng có một tấm biển lớn bằng gỗ rất chắc chắn nhưng không có chữ.

Cánh cổng to dày không đóng.

Nhìn qua cổng ấy vào trong là một sân đất rộng rồi đến ngôi nhà chính mái lá, vách nứa, cửa chắn bằng tấm liếp có mành mành che.

Trần Thủ Độ cho buộc ngựa vào gốc cây, bảo mọi người đứng đợi.

Lúc sau có một bé gái chừng tám chín tuổi ra mời khách.

Thủ Độ hỏi:

- Đây có phải nhà Kiều chân nhân không cháu?

Bé gái đáp:

- Vâng ạ!

Kiều chân nhân là ông nội cháu.

Thủ Độ hỏi tiếp:

- Hôm nay ông cháu có nhà không?

Bé gái đáp:

- Ông cháu đang ngủ trong nhà ạ.

Mời các bác vào.

Thủ Độ bảo bọn tuỳ tùng ở ngoài, chỉ cho một mình tiểu đồng đem lễ vật cùng theo bé gái vào.

Khi mở bức mành mành, Thủ Độ thấy một ông già nhỏ bé, ngắn ngủn, có lẽ không cao quá bốn thước rưỡi (Thước cổ có độ dài ~0,333 m), tóc bạc trắng búi củ hành, nằm dưới đất, gác hai chân trên chiếc chõng tre, đậy cuốn sách lên mặt mà ngủ, cốt cách nửa như tiên thánh nửa như kì nhân quái dị, chỉ hương thơm của các vị thuốc bay khắp nhà là dễ chịu.

Để tỏ ra tôn trọng chủ nhà, Thủ Độ lui lại vài bước, đứng ngoài hè đợi bé gái vào đánh thức ông.

Một lát bé gái bước ra, bảo:

- Ông cháu dậy rồi, mời bác vào.

Thủ Độ bước vào, trông vẻ mặt ông già, lại càng thất vọng.

Ông già da đen, trán dô, má hóp, răng vổ, chỉ được đôi mắt sáng kéo lại.

Thủ Độ chắp tay, lên tiếng:

- Kẻ phàm tục xin kính chào chân nhân.

Tuy nói vậy nhưng Thủ Độ lại nghĩ "Chẳng biết là chân nhân hay quái nhân đây".

Kiều chân nhân cũng chắp tay cười nói:

- Không dám!

Chẳng biết đại quan đến đây tìm chân nhân hay tìm quái nhân vậy?

Thủ Độ giật nảy mình, không hiểu vì sao ông già lại biết được ý nghĩ của mình, vội quỳ xuống làm lễ, nói:

- Tôi người trần mắt thịt, không được học hành, tính tình thô lỗ, có điều sơ suất, xin tiên lão thứ lỗi cho.

Kiều chân nhân vội đỡ Thủ Độ dậy, nói:

- Xin đại quan chớ đa lễ.

Tôi hủ lậu, ở chốn rừng xanh núi đỏ.

Chẳng hay có việc gì mà đại quan phải nhọc công tìm tới?

Nói rồi gọi người nhà pha trà.

Lát sau có một thiếu niên bưng trà ra mời khách.

Thủ Độ cầm chén trà trên tay, thấy hương thơm thoang thoảng, vừa dịu dàng thanh khiết như được chế ướp hết sức công phu, lại vừa như còn mùi ngai ngái tươi nguyên của những thứ lá cây quen quen là lạ.

Khi nhấp vào môi, vị ngọt êm thấm nơi đầu lưỡi, làm Thủ Độ cảm thấy sảng khoái vô cùng nhưng vị ngọt nhanh chóng chuyển sang vị đắng.

Cái thứ vị đắng cũng mơ hồ y như sự cảm nhận rất mơ hồ của vị ngọt ban đầu nhưng nó tồn tại không lâu đã lại biến thành vị ngọt rất đượm đà, làm Thủ Độ không thể nhận biết ra loại trà gì.

Bất giác, Thủ Độ thốt lên:

- Ngon tuyệt!

Dạ thưa cụ cho kẻ phàm này uống thứ trà gì mà ngon đến như vậy?

Kiều chân nhân nói:

- Chắc đại quan ở chốn kinh kì, không thiếu gì những thứ trà ngon.

Đây chỉ là thứ lá cây thông thường có tên là đinh lăng mà bọn dân nghèo chúng tôi dùng ăn gỏi cá.

Thủ Độ ngồi chết lặng như một võ sĩ bị trúng đòn phủ đầu của đối phương.

Vì thực ra khi còn ở quê đánh cá, Thủ Độ cũng hay dùng thứ lá này, bây giờ lại quên đi mất.

Kiều chân nhân thong thả nói tiếp:

- Đinh lăng là thứ cây có thể làm tăng lực, trị độc, vị của nó tiền cam, hậu khổ, hậu cam cam, đắng mà không chối, ngọt mà không sắc khiến người ta dễ tiếp nhận.

Thủ Độ vái Kiều chân nhân một vái, nói:

- Đa tạ cụ đã có lòng chỉ giáo.

Hôm nay còn chút việc, xin cụ dạy cho.

Thủ Độ bảo người hầu cận dâng mâm lễ vật.

Kiều chân nhân không nhìn mâm lễ, chỉ nói:

- Những gì cần nói với ngài, tôi đã nói hết rồi.

Thủ Độ bối rối nói:

- Bỉ chức ngu muội, không hiểu được hết lý lẽ cao siêu, lại không có chữ nghĩa nên chẳng thể ghi chép, xin cụ chỉ bảo cặn kẽ để bỉ chức có thể nhập tâm ạ.

Kiều chân nhân nhìn thẳng vào mắt Trần Thủ Độ, hỏi:

- Đại quan còn điều chi chưa rõ?

Thủ Độ thấy trong đôi mắt của ông già như có một thứ ánh sáng lạ kỳ soi tỏ mọi ý nghĩ của mình, mới thành thực mở đầu câu chuyện:

- Thưa cụ, hiện nay đất nước ly loạn, dân tình cực khổ, nhà vua đau ốm không khỏi, việc chính sự hết sức rối ren, tôi thân giữ trọng trách mà kiến thức ít ỏi, không biết làm sao, xin cụ rộng lòng chỉ bày kế sách để hưng quốc an dân cho trăm họ được nhờ.

Kiều chân nhân nói chậm rãi:

- Từ thượng cổ đến nay có quốc gia nào trị rồi không loạn, có loạn rồi mới lại trị; có triều đại nào thịnh rồi không suy, suy rồi mới lại thịnh, cũng như cái vị lá này ngọt rồi đắng, đắng xong lại thấy ngọt.

Có điều những bậc tể phụ phải biết điều tiết sao cho vị đắng ngọt ấy vừa phải, đừng gay gắt quá hoặc đừng bất cập là được.

Đó chính là điều hoà âm dương chứ gì nữa.

Nhân thân tiểu vũ trụ, con người có lúc ốm lúc khoẻ thì đất trời cũng phải có khi mưa khi nắng chứ.

Nay nước đang loạn cũng như người đang ốm.

Cái sự ốm ấy đã lâu ngày nên cơ thể suy nhược.

Vậy mà các phe đảng đua nhau nổi lên làm cho muôn dân điêu đứng lầm than; nước nhà có khác nào người đã hư suy lại nhiễm thêm tà khí.

Đợi ông cụ nuốt xong miếng nước, Thủ Độ nói:

- Quốc tình hiện nay đúng là như vậy.

Phía Bắc, Nguyễn Nộn bành trướng; phía Đông, Đoàn Thượng hoành hành, nếu không thống nhất giang sơn về một mối, không biết đất nước sẽ đi về đâu.

Dám xin cụ kê cho toa thuốc.

Kiều chân nhân nói:

- Nguyễn, Đoàn hai người ấy tuy mạnh nhưng không có gì đáng sợ.

Họ là thực chứng của căn bệnh.

Còn sự rối ren của triều đình, sự tham bạo của quan lại, sự cùng cực của muôn dân, sự trống rỗng của quốc khố, sự mất lòng tin của trăm họ, sự nhu nhược của nhà vua cùng với trăm ngàn điều tệ hại khác nữa đó là hư chứng của căn bệnh.

Phép chữa, thực chứng thì tả, hư chứng thì bổ.

Chữa thực chứng tuy có đớn đau nhưng bao giờ cũng nhanh chóng hơn.

Cái khó của ngài là ở phép bổ kia.

Trong những cái khó đó, cái khó nhất là không làm sao trừ bỏ được bọn tham quan ô lại.

Bọn này nếu không là hoàng thân quốc thích cũng con cháu công thần, chúng gian hiểm vô cùng, không những có bề trên che chở mà còn nhiều thủ đoạn xảo quyệt để giấu giếm hành tung, đâu có dễ gì tìm ra manh mối, mà ngay cả khi tìm ra manh mối liệu có xử được chúng hay không?

Vậy là của dân cứ bị vơ vét mà không dám kêu, cơm lính cứ bị cắt xén mà không dám nói.

Bách tính biết trông cậy vào đâu?

Người trung lương bị hãm hại, bỏ rơi.

Hỏi còn ai muốn hết lòng vì nước nữa đây?

Nước có dân làm gốc, dân không tin, sao nước chẳng suy tàn.

Nhà vua tự bịt mắt mình, lúc nào cũng muốn quần thần tung hô là thời thái bình thịnh trị.

Kiều chân nhân dừng lại nhấp một ngụm nước rồi tiếp:

- Nhưng trăm sự đều do ý giời.

Giời làm ra thế!

Muốn chữa khỏi bệnh chỉ có cách đổi giời.

Chính câu nói này của Kiều chân nhân như kéo Trần Thủ Độ ra khỏi cơn mê, ông ta kêu lên:

- Đổi giời!

Tiếng kêu nửa như kinh hãi của một tội đồ, nửa như sung sướng của kẻ tìm ra lối thoát ở cuối đường hầm.

Từ đấy trong đầu Thủ Độ hình thành dần một kế hoạch đổi giời.

Thủ Độ tiếp:

- Tuy nhà Lý đã quá mục ruỗng nhưng trong triều vẫn còn nhiều người trung thành, dẫu có muốn đổi giời phải đâu là dễ.

Kiều chân nhân cười khà khà, nói:

- Trung thành!

Trung thành.

Những kẻ đeo mỹ tự ấy chẳng khác nào một mụ gái goá đang tuổi hồi xuân, nếu có người đàn ông khác chăm lo chu đáo, quên ngay chồng cũ thôi mà.

Vả lại đã mưu cuộc đổi giời trong tay phải cầm chắc cây kiếm thép.

Thủ Độ hơi nhíu đôi lông mày, nói:

- Thế trăm họ lại đổ máu nữa ư?

Kiều chân nhân nói:

- Nhưng nếu không làm vậy máu trăm họ có ngừng chảy hay không?

Từ thượng cổ tới nay có triều đại nào không tô vẽ cho cung điện của mình bằng máu.

Có vị hoàng đế nào không đẽo gọt ngai vàng của mình bằng xương thịt muôn dân, sĩ tốt.

Cái gì khi mới hình thành trong ý nghĩ cũng dịu ngọt, khi thực hiện mới gặp nhiều khổ đắng, công việc xong rồi lại thấy sung sướng ngọt ngào.

Thế chả phải là tiền cam, hậu khổ, hậu cam cam đó sao?

Thủ Độ nói:

- Lão chân nhân dạy rất phải.

Hôm nay bỉ chức đến đây là muốn mời lão chân nhân cùng về triều mưu cuộc đổi giời, mong lão chân nhân hãy vì trăm họ mà xuống núi cho.

Kiều chân nhân cười, nói:

- Ấy là tôi cũng nói chuyện thế thôi, chứ tôi ở nơi sơn dã quen rồi, hơn nữa tuổi già, sức yếu đâu còn kham nổi việc thiên hạ.

Thủ Độ nói:

- Tôi thường được nghe nói ông Khương Tử Nha hơn tám mươi tuổi mới làm tướng nhà Chu, lập nên kì tích, sao lão chân nhân đã vội nhận là già?

Kiều chân nhân bảo:

- Tôi đâu dám so với Khương Tử Nha, nhưng ngài có thể là Chu Công Đáng.

Trần Thủ Độ lại nói:

- Anh hai tôi khi sắp qua đời có dặn phải tìm người kiến thức giúp đỡ, vậy thưa cụ như thế nào mới là người kiến thức?

Kiều chân nhân cười lớn, nói:

- Người kiến thức là người biết dùng kiến thức của cả trăm họ để mưu cái lợi cho trăm họ.

Đại quan đi tìm kiến thức của một người sao bằng đi tìm kiến thức của muôn dân có hơn không?
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 3: Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng (2)


Mùa xuân năm Kiến Gia thứ mười bốn (Giáp Thân-1224), bệnh tình của Huệ Tông đã thuyên giảm nhiều nhưng Trần Thủ Độ lấy cớ nhà vua vẫn còn ốm nên cho dọn vào ở trong một gian hậu cung.

Quan ngự y là Chử Nhiệm Khai can rằng:

- Bệnh tình của hoàng thượng mười phần đã đỡ được bảy tám rồi, nên đi lại ra ngoài cho sảng khoái mới mau hồi phục chứ sao lại bắt hoàng thượng ở trong hậu cung như vậy?

Thủ Độ quắc mắt, quát:

- Nhà ngươi là ngự y mà không thông y lý hay sao?

Trong ngũ ố thì tâm ghét nhiệt.

Ngươi vẫn nói bệnh của hoàng thượng là ở nội tâm, nay đã qua mùa xuân, tiết trời nóng bức, để hoàng thượng ra ngoài được không?

(Ngũ ố: Năm điều ghét là tâm ghét nhiệt, phế ghét hàn, can ghét phong, tỳ ghét thấp, thận ghét táo)

Chử Nhiệm Khai không dám nói gì, lắc đầu đi ra.

Từ đấy Huệ Tông bị giam chặt nơi hậu cung, đêm ngày có lính hổ bôn thân tín của Trần Thủ Độ canh giữ, các triều thần không được bén mảng, chỉ có một thị nữ A Nhi ra vào đưa cơm nước hầu hạ.

Một hôm nhà vua muốn ra vườn chơi.

Bọn lính canh không cho đi, nói:

- Hoàng thượng điên dại thế này, đi ra ngoài nhỡ xảy ra chuyện gì, chúng tôi chết cả.

Huệ Tông rầu rĩ nói với thị nữ:

- Giá như cứ điên thật lại hay, khốn nạn thay bây giờ ta không còn điên nữa mới khổ chứ.

Trần Thủ Độ từ khi giam chặt được nhà vua, thường lấy cớ có việc cơ mật cần bàn với hoàng hậu, ra vào nơi cung cấm mà không ai dám nói gì.

Hoàng hậu Trần Thị Dung tuy yêu Thủ Độ nhưng vẫn cảm cái ơn Huệ Tông có lòng bao dung đối với mình nên bảo với Thủ Độ rằng:

- Chị nay là người của họ Lý, như đoá hoa đã tàn héo mất rồi.

Thiếu gì người đẹp trong thiên hạ.

Cậu quyến luyến tôi làm chi cho uổng một đời trai?

Thủ Độ nói:

- Chị quên lời nguyện ước bên bến sông nơi quê nhà năm xưa rồi hay sao?

Nếu kiếp này không được sống cùng chị mới là uổng một đời trai.

Cuối cùng tình yêu tự nhiên đã thắng lòng biết ơn gượng ép.

Từ đấy hai người thường tư thông với nhau ngay nơi cung cấm.

Một hôm trong khi ân ái, Thủ Độ bảo Trần Thị Dung:

- Bệnh tình của Huệ Tông không thể chữa trị được, chẳng lẽ để triều đình không có vua mãi.

Chi bằng ta nên lập vua mới.

Trần Thị Dung hỏi:

- Hoàng thượng không có con giai, cậu định lập ai đây.

Vả lại lập vua mới tất phải phế truất vua cũ.

Có phải vì tôi mà cậu muốn phế bỏ Huệ Tông hay không?

Câu hỏi bất ngờ của Trần Thị Dung làm Thủ Độ hơi chột dạ nhưng bản lĩnh của một vị tướng can trường đã giúp ông ta bình tĩnh lại ngay.

Thủ Độ trả lời tự nhiên, không hề lúng túng.

- Không có con trai à!

Vô nam tắc dụng nữ, việc chi phải lập người ngoài.

Phế hay không phế, Huệ Tông cũng còn có ý nghĩa gì nữa đâu.

Hoàng hậu thở dài, giây lâu mới nói:

- Quyền bính ở trong tay cậu.

Cậu muốn làm sao thì tuỳ, miễn đừng để đến mức mẹ con tôi không có chỗ dung thân là được.

Thủ Độ nói:

- Ơ kìa!

Con chị làm vua, giang sơn này vẫn là của nhà chị, sao lại bảo không có chỗ dung thân?

Vả nữa tình cảm của tôi đối với chị như thế nào?

Chẳng lẽ tôi lại làm tổn hại chị hay sao?

Thấm thoắt đã đến tháng mười, rét sớm, Huệ Tông ở hậu cung một mình, chăn đệm sơ sài lạnh lắm, lại không có củi sưởi.

Thị nữ A Nhi xin lĩnh thêm chăn cho vua.

Thủ Độ bảo:

- Mới tháng mười, đã rét lắm đâu mà cần nhiều chăn chiếu.

Đêm ấy Huệ Tông bị lạnh, không sao ngủ được, ôm ngực ho rũ rượi.

A Nhi thương vua, ôm ngài vào lòng ủ cho đỡ lạnh.

Huệ Tông ứa hai hàng nước mắt bảo A Nhi:

- Ta có vợ, có con, có cả triều thần văn võ, vậy mà bị giam ở đây đã gần một năm, không ai lai vãng thăm hỏi.

Bây giờ tình cảnh đã đến nước này cũng chỉ có một mình nhà ngươi ở bên cạnh.

Nhà ngươi thật là một bầy tôi trung, tiếc rằng ta không thể làm gì cho ngươi được nữa.

Ôi!

Ta có ngờ đâu anh em thằng thuyền chài lại tàn ác thế này.

A Nhi không nói gì, chỉ ôm vua mà khóc.

Hôm sau A Nhi đi lấy thức ăn sáng cho vua nhưng không được, liền giấu một miếng bánh của mình mang vào nhưng bị bọn lính canh khám lấy mất, cả nước uống cũng không cho.

Huệ Tông phải nhịn đói, nhịn khát đến ngày thứ ba lả đi.

A Nhi phải bế nhà vua vào lòng mà mớm nước bọt, ngài mới tỉnh lại.

Nước mắt A Nhi rơi ướt mặt nhà vua.

Vừa lúc đó Trần Thủ Độ đến, nói:

- Bệnh tình hoàng thượng đã đến nước này, sao không lo việc lập tự?

Huệ Tông bảo:

- Nhà ngươi hãy cho ta uống nước đã rồi muốn nói gì hẵng nói.

Thủ Độ sai lính lấy nước đến nhưng không cho Huệ Tông uống ngay, rút trong tay áo ra hai tấm lụa vàng, nói:

- Thực ra việc lập tự, triều đình đã lo giúp nhà vua cả rồi.

Ngài chỉ việc ký tên vào hai chiếu thư này, xong hẵng uống nước.

Huệ Tông cố lấy chút hơi tàn, nói như thét lên:

- Chiếu thư gì?

Đưa nước đây cho ta đã!

Thủ Độ cười lớn, nói:

- Đây là một chiếu thư nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh và một chiếu thư thoái vị của nhà vua.

Nếu nhà vua không phê cũng chẳng còn nước đâu mà dâng nhà vua nữa.

Huệ Tông gục mặt xuống, miệng lẩm bẩm:

- Chẳng còn nước!

Chẳng còn nước nữa rồi!

Trần Thủ Độ nói:

- Nhà vua dẫu không còn nước nhưng trăm họ còn nước, việc gì mà lo.

Lịch sử ghi rằng: Mùa đông, tháng 10, xuống chiếu lập công chúa Chiêu Thánh làm Hoàng thái tử để truyền ngôi cho.

Vua xuất gia ở chùa Chân Giáo trong đại nội.

Chiêu Thánh lên ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo năm thứ nhất, tôn hiệu là Chiêu Hoàng.

Lý Chiêu Hoàng sinh tháng chín năm Mậu Dần (1218), đến tháng mười năm Giáp Thân (1224) lên ngôi, nếu tính tuổi đã bảy tuổi nhưng tính năm mới được sáu năm một tháng.

Mọi việc trong ngoài đều do Trần Thủ Độ cắt đặt, phong Phùng Tá Chu làm thái phó.

Nữ hoàng từ khi lên ngôi phải chịu nhiều lễ nghi phiền toái, có buổi thiết triều các quan bàn việc lâu quá, làm người tè cả ra long bào, lúc ngơi việc học hành cứ tha thẩn buồn bã một mình như người mất hồn.

Một hôm Trần Thủ Độ vào thăm, nữ hoàng bảo:

- Cậu Độ ơi!

Cháu chẳng muốn làm vua nữa đâu.

Thủ Độ nói:

- Bệ hạ sao lại nói vậy?

Giang sơn này là của bệ hạ.

Bệ hạ không làm vua thì ai giữ gìn xã tắc.

Nữ hoàng cười, nói:

- Xã tắc, xã tắc là cái gì?

Cậu cứ giữ hộ cháu có được không?

Thủ Độ nói:

- Xã tắc của bệ hạ!

Thần không giữ được.

Nữ hoàng hỏi:

- Xã tắc có nặng không mà cậu không giữ được?

Thủ Độ trả lời:

- Nặng lắm!

Nặng lắm!

Nữ hoàng nói:

- Nặng thế cho ai giữ thì giữ!

Cháu chả làm vua nữa, buồn lắm, chẳng ai chơi với cháu.

Cháu còn phải đánh rải gianh.

Những câu nói ngây thơ của Lý Chiêu Hoàng đã gợi ý cho Trần Thủ Độ hoàn thiện bước thứ hai trong kế hoạch đổi giời.

Ngay tối hôm đó Thủ Độ nói với thái hậu Trần Thị Dung:

- Tôi thấy hoàng thượng còn nhỏ tuổi mà phải chịu nhiều nghi lễ phiền hà ở chốn cung đình, thật là quá sức.

Bọn nội nhân toàn là người nhớn, hoàng thượng chẳng có ai mà kết bạn chơi đùa, xem ra buồn bã lắm, sợ lâu ngày sinh bệnh cũng chưa biết chừng.

Thái hậu Trần Thị Dung hỏi:

- Cậu bảo phải làm sao bây giờ?

Thủ Độ nói:

- Có lẽ phải chọn một số nội nhân ít tuổi, con nhà gia thế để hoàng thượng có bạn.

Thái hậu bảo:

- Cậu xem thế nào có lợi thì làm.

Chiêu Thánh bây giờ có khác gì con của cậu.

Trần Thủ Độ liền về chọn một số con em trong tôn tộc họ Trần còn nhỏ tuổi để đưa vào làm sắc dịch trong nội cung như: Lục hoả thị cung ngoại (Lục hoả thị cung ngoại: Sáu đội lính hầu ngoài cung (Theo ĐVsktt)), chi hậu, nội nhân thị nội (Chi hậu, nội nhân thị nội: Các chức hầu ở bên trong (Theo ĐVsktt)).

Trong số đó có Trần Bất Cập là cháu gọi Thủ Độ bằng bác, làm cận thị thự lục cục chi hậu (Cận thị thự lục cục chi hậu: Hầu cận bên cạnh nhà vua (Theo ĐVsktt)), Trần Thiêm làm chi ứng cục, Trần Cảnh làm chính thủ (Theo ĐVsktt).

Trần Cảnh cùng tuổi với nữ hoàng nhưng sinh trước ba tháng, mặt mũi khôi ngô xinh đẹp, thông minh đĩnh ngộ, tuy nhỏ tuổi mà học đâu nhớ đấy, ăn nói mực thước, đi đứng đường hoàng.

Trần Cảnh thường đứng hầu bên ngoài, một hôm bưng nước vào cho nữ hoàng rửa nên được đứng hầu bên cạnh.

Nữ hoàng thấy Trần Cảnh chỉ nhỉnh hơn mình một chút, thích lắm, té nước đùa bỡn, lại truyền cho vào hầu bên trong để được chơi với nhau.

Nữ hoàng thường đùa với Cảnh nhưng Cảnh không dám đùa lại chỉ giữ lễ nhún nhường.

Được ít ngày, nữ hoàng đòi Trần Cảnh buổi đêm cũng phải vào chơi trò đuổi bóng rồi ném khăn trầu cho Cảnh, lại bắt Cảnh ngủ trong cung với mình.

Trần Cảnh về nói lại với Trần Thủ Độ.

Thủ Độ nói:

- Nếu thực như thế thì họ nhà ta thành hoàng tộc hay bị diệt tộc đây?

(Theo ĐVsktt)

Rồi Thủ Độ lại dặn:

- Lần sau hoàng thượng còn làm vậy, cháu cứ thế này... mà nói nhé.

Hoàng thượng bảo sao về nói lại với chú, chớ để ai biết mà mang vạ đó.

Đúng là hôm khác, nữ hoàng lại lấy khăn trầu ném cho Cảnh.

Cảnh lạy rồi nói:

- Bệ hạ có tha tội cho thần không?

Thần xin vâng mệnh.

Nữ hoàng cười, nói:

- Tha tội cho ngươi.

Nay ngươi đã biết nói khôn rồi đó.

Trần Cảnh về nói với Thủ Độ.

Thủ Độ sợ bị lộ chuyện mới đem cả gia quyến vào cung cấm, sai đóng cửa thành và cửa cung, cho người canh giữ, không để các quan vào chầu, loan báo rằng: "Bệ hạ đã có chồng rồi".

Các quan đều vâng lời xin chọn ngày vào chầu.

Trần Thủ Độ không ngờ sự việc diễn ra trót lọt và êm thấm đến thế, liền vào nói với thái hậu Trần Thị Dung:

- Nhà vua phải lòng thằng Cảnh.

Hai đứa đã trao khăn trầu cho nhau.

Tôi công bố việc này với các quan, ai cũng lạy mừng cả rồi.

Chị nghĩ thế nào?

Thái hậu nói:

- Chiêu Hoàng là con tôi, thằng Cảnh là cháu ruột tôi, việc đến như thế mà bây giờ cậu mới cho tôi biết!

Thật tệ quá!

Chúng nó còn bé cả, đã biết gì mà trao khăn mới trao túi.

Thủ Độ cười, bảo:

- Chị không nhớ chuyện của chúng mình ngày trước đó sao?

Bọn trẻ bây giờ được nuôi dưỡng tử tế, chúng chóng khôn lắm, lại chả ranh mãnh bằng mấy chúng mình ấy chứ.

Theo tôi, nên lo cho chúng càng nhanh càng tốt.

Thái hậu nói:

- Chả lo còn biết làm sao nữa!
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 3: Thủ Độ gom thâu quyền binh


Thủ Độ được lời, vui như mở cờ trong bụng, vội vã đi lo liệu cắt đặt công việc cưới hỏi cho nữ hoàng.

Từ khi có chồng, nữ hoàng vui lắm, lại rất ra vẻ người nhớn, đi đâu cũng dắt chồng theo bên cạnh, tình cảm xem ra muôn phần nồng nàn.

Được mấy ngày, Thủ Độ lại bảo Trần Cảnh phải làm thế này... phải nói thế kia...

Một đêm, Trần Cảnh bảo nữ hoàng:

- Chúng mình là vợ chồng, cái gì cũng chơi chung, sao đằng ấy không cho mình làm vua chung với.

Nữ hoàng cười ngất, bảo:

- Làm vua thích cái nỗi gì, chỉ tổ phải nghe các ông già cãi nhau, chán chết.

Đằng ấy thích làm vua thì vua nhường cho đấy.

Hôm sau, Trần Cảnh nói với Trần Thủ Độ.

Buổi chiều, Thủ Độ vào cung tìm thái hậu Trần Thị Dung.

Lúc ấy thái hậu đang xem thị nữ tỉa hoa ở vườn trước.

Thủ Độ trông thấy bảo:

- Cái cây này cỗi mất rồi, hoa lá không còn đẹp nữa.

Chị để tôi chọn giống mới thay vào.

Thái hậu không hiểu ý, vô tình trả lời:

- Mấy cây này trồng đã lâu, nghe nói từ thời Cao Tông đến nay không còn ra hoa được nữa, thay đi cũng phải nhưng tìm đâu ra giống tốt bây giờ.

Thủ Độ nói:

- Chỉ cần chị ưng thuận khắc có giống tốt ngay thôi.

Thái hậu bảo:

- Thế thì cậu cứ thay đi.

Thủ Độ lại đi gặp quan thái phó Phùng Tá Chu, bảo:

- Nhà vua muốn nhường ngôi cho chồng, thái hậu cũng đồng ý rồi, ông soạn chiếu đi.

Phùng Tá Chu tuy là thái phó nhà Lý nhưng thực ra trước nay vẫn làm việc dưới quyền họ Trần, trước đây thường được Trần Tự Khánh tin dùng giao cho nhiều trọng sự.

Chu nói:

- Việc soạn chiếu đâu có khó gì, chỉ sợ các quan phản đối.

Thủ Độ bảo:

- Ông cứ soạn đi, chuyện các quan tôi khắc lo được.

Từ trước đến giờ có việc gì bàn ở triều đình mà không mỗi người mỗi ý.

Phùng Tá Chu sai người mài mực, trải lụa viết thoăn thoắt, một lúc đã xong, đọc lại cho Thủ Độ nghe.

Thủ Độ gật đầu khen, cầm tờ chiếu đi ra.

Những ngày cuối năm, dân kinh thành nhà nào cũng bận, nhà gia thế, quan lại lo mua sắm quà cáp dâng biếu quan trên; kẻ sĩ lo làm sao có được câu đối hay, bài thơ mới để đón xuân cùng bạn hữu; cánh thợ giầy, thợ ô, thợ hàng mã, thợ sơn kiệu lo sao làm gấp để kịp trả hàng.

Các nhà buôn bán bày hàng la liệt, tiếng chào mời ời ợi khắp mọi nơi.

Mấy bác dân cày ở các vùng lân cận cũng bán thóc, bán khoai để đi sắm tết.

Những kẻ cùng đinh không còn mảnh vải che thân kéo về xin ăn.

Đám binh lính tụ tập trong quán rượu toàn nói chuyện về quê ăn tết, không ai biết sắp xảy ra cái việc đổi giời.

Đêm mười một tháng chạp, gió bấc rít ràn rạt trên mái điện Thiên An, vài hạt mưa lất phất càng làm cho tiếng trống cầm canh khục lên như tiếng ho của ông già cảm lạnh.

Dăm chú lính tứ sương co ro đứng gác cổng thành, thỉnh thoảng nghển lên ngóng người đổi phiên.

Đền đài, cung thất như ngâm trong thứ ánh sáng đục lờ lờ của vầng trăng muộn bị mây che phủ.

Đầu trống canh năm, quan điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ cùng quan thái phó Phùng Tá Chu mặc võ phục dẫn hai đạo quân hổ bôn đến, dàn thành hai hàng dọc theo mép sân điện.

Một đội quân thánh dực được đưa vào đứng bên trong, sẵn sàng đợi lệnh.

Lúc sau các quan lục tục kéo đến đông đủ, đứng cả ngoài sân.

Bỗng trong điện vang lên tiếng viên thái giám:

- Hoàng thượng ngự triều.

Truyền các quan vào lạy.

(Lính tứ sương: Quân coi bốn mặt thành.

Quân hổ hôn: Lính bảo vệ trong hoàng cung.

Quân thánh dực: Quân bảo vệ bên cạnh nhà vua)

Các quan lần lượt tiến vào điện, tung hô vạn tuế rồi đứng thành hai ban văn võ.

Nữ hoàng mặc long bào, ngồi trên sập báu gục xuống ngủ, miệng chảy dãi ra ngực áo thêu rồng.

Một thị nữ phải đứng phía sau đỡ cho ngài khỏi lăn xuống đất.

Quan thị độc Giang Định Hoá dõng dạc nói to lên rằng:

- Hoàng thượng có chiếu.

Tất cả các quan lớn nhỏ đều quỳ xuống nghe chiếu.

Thị nữ đứng sau phải vỗ nhẹ vào má nữ hoàng để đánh thức người dậy nhưng người chỉ hét lên:

- Đau bụng!

Đau bụng!

Đi ị, đi ị.

Thị nữ vội bế nữ hoàng ra phía sau.

Thì ra nữ hoàng bị lạnh, người muốn đi ngoài.

Lúc sau, thị nữ ẵm nữ hoàng trở lại, người vẫn ngủ.

Thủ Độ bảo Giang Định Hoá:

- Thôi!

Cứ đọc đi.

Giang Định Hoá cao giọng đọc:

- "Từ xưa nước Nam Việt ta đã có đế vương trị thiên hạ.

Duy triều Lý ta vâng chịu mệnh trời, có cả bốn biển, các tiên thánh truyền nối hơn hai trăm năm, chỉ vì thượng hoàng có bệnh, không người nối dõi, thế nước nghiêng nguy, sai trẫm nhận minh chiếu, cố gượng lên ngôi, từ xưa đến giờ chưa từng có việc ấy.

Khốn nỗi trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, làm sao mà giữ nổi ngôi báu nặng nề?

Trẫm dậy sớm thức khuya, chỉ sợ không cáng đáng nổi, vẫn nghĩ tìm người hiền lương quân tử để cùng giúp chính trị, đêm ngày khẩn khoản đến thế là cùng cực rồi.

Kinh Thi có nói: Quân tử tìm bạn, tìm mãi không được, thức ngủ không nguôi, lâu thay lâu thay.

Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy có Trần Cảnh là người văn chất đủ vẻ, thực thể cách quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng, có tư chất thánh thần văn võ, dù đến Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng không hơn được.

Sớm hôm nghĩ chín từ lâu nghiệm xem nên nhường ngôi báu, để thoả lòng trời, cho xứng lòng trẫm, mong đồng lòng hết sức, cùng giúp vận nước, hưởng phúc thái bình.

Vậy bố cáo thiên hạ để mọi người đều biết".

Thượng tướng Phan Lân định bước ra phản đối, tướng Vương Lê biết ý bấm kéo lại, thành ra quần thần có xôn xao một tí nhưng cuối cùng cũng không ai dám nói gì.

Thủ Độ bảo:

- Làm lễ trao áo ngay đi.

Giang Định Hoá nói to:

- Hoàng thượng trao long bào.

Thị nữ vỗ nhẹ vào vai nữ hoàng, bảo:

- Chúa thượng!

Chúa thượng!

Cởi long bào ra.

Nữ hoàng còn đang ngái ngủ, duỗi tay cho thị nữ cởi long bào, nói:

- Ừ!

Ừ!

Bắt mặc vào, lại bắt cởi ra.

Giang Định Hoá hô lên:

- Tân hoàng đế ngự triều.

Một viên thái giám dắt Trần Cảnh lên điện.

Trần Cảnh vừa đi vừa dụi mắt, ngật ngưỡng bước vào, cùng ngồi lên sập báu, ngáp một cái rõ dài.

Nữ hoàng đã cởi xong áo, cầm khoác lên người Trần Cảnh, bảo:

- Cảnh mặc áo này đẹp hơn vua.

Thị nữ vội kéo nữ hoàng lại, nói khẽ:

- Bây giờ Cảnh mới là vua.

Chiêu Hoàng hỏi:

- Thế từ nay vua không phải làm vua nữa à?

Thị nữ gật đầu.

Chiêu Hoàng bảo:

- Thích nhỉ!

Giang Định Hoá bảo thị nữ bế Chiêu Hoàng vào rồi hô:

- Các quan lạy mừng tân hoàng đế!

Trăm quan đều quỳ lạy tung hô vạn tuế, dâng tôn hiệu là Khải Thiên Lập Cực Chí Nhân Chương Hiếu Hoàng Đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung năm thứ nhất.

Giang Định Hoá đọc chiếu của vua mới, xưng là Thiên Hoàng, sau đổi là Văn Hoàng, đại xá thiên hạ, phong Trần Thủ Độ là quốc thượng phụ, nắm giữ mọi việc cai trị trong nước, toàn dân mở hội ba ngày.

Thế là công cuộc đổi giời của Trần Thủ Độ đã hoàn toàn viên mãn.

Vua bãi triều cho các quan đi xem hội.

Mọi người ra khỏi điện Thiên An, trời đã rạng sáng, mặc dù còn nhiều mây và gió lạnh nhưng ai nấy nhìn tỏ mặt nhau.

Trai gái trong thành Đại La kéo đi xem hội, nói cười ríu rít.

Thái hậu Trần Thị Dung ở trong cung Vĩnh An, đang sai bọn thị nữ sắp kiệu để đi xem hội thì Trần Thủ Độ tới, bảo:

- Giống cây tốt đã được thay rồi đấy.

Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh rồi.

Từ nay nó không phải làm vua nữa.

Thái hậu tái mặt đi, giây lâu mới nói:

- Thế là cậu lừa mẹ con tôi, cậu phế truất con tôi.

Cậu làm cái điều khi quân phản chúa ấy được ư?

Nói xong, thái hậu bưng mặt khóc.

Trần Thủ Độ nói:

- Nhà Lý đã quá suy tàn, có khác nào cái cây kia không thể ra hoa được nữa, không thay đi để trăm họ lầm than mãi hay sao?

Thái hậu nói rít lên trong tiếng nấc:

- Thôi!

Cậu đừng nói dài lời, cậu đi đi.

Tôi không muốn trông thấy cậu nữa.

Thủ Độ biết không thể nói cho thái hậu hiểu ngay được, cúi đầu bỏ ra ngoài cung, gặp Đỗ Kính Tu tóc tai rũ rượi gào khóc chạy đến chỉ vào mặt Thủ Độ mà mắng:

- Thằng giặc Thủ Độ lừa vua dối chúa kia.

Tao không ngờ mày lại gian hùng đến thế.

Tiên đế ơi, hôm nay thần quyết liều cái mạng già này với quân gian tặc đây.

Vừa nói, Đỗ Kính Tu vừa giơ cây gậy trúc nhằm đầu Thủ Độ giáng xuống.

Thủ Độ không né tránh, cứ kệ cho Kính Tu phang mình túi bụi, tung cả khăn, rách cả áo.

Đến khi ông già mệt quá không thể đánh tiếp được nữa, Thủ Độ mới gọi:

- Lính đâu.

Mấy anh lính hổ bôn xúm cả lại.

Đỗ Kính Tu bảo:

- Mày cứ giết tao đi.

Trời sẽ giết mày.

Thủ Độ bảo mấy anh lính:

- Các ngươi tìm cho ta cái kiệu lại đây để đưa lão thái phó về nghỉ.

Nói xong, Thủ Độ quay lại vái Đỗ Kính Tu một vái rồi đi về phía Nam thành xem hội.

Chiều hôm ấy viên quan coi cổng Tây thành đến báo với Trần Thủ Độ là lão tướng Phan Lân đã đem gia quyến bỏ đi rồi.

Một lúc sau lại có người báo thượng thư Đỗ Anh Triệt thắt cổ tự tử ngay lúc ở triều về, không chịu làm tôi nhà Trần.

Thủ Độ bùi ngùi, nói:

- Tiếc thay!

Tiếc thay!

Những người trung nghĩa thế mà ta không giữ được họ.

Từ đó đến sau tết nguyên đán vẫn còn người cáo quan bỏ đi.

Thủ Độ tâu với vua mới:

- Nước không thể hai vua.

Xin hoàng thượng định tước vị cho Chiêu Hoàng.

Vua xuống chiếu phong Chiêu Hoàng làm Hoàng hậu, gọi là Chiêu Thánh.

Phong Trần Thủ Độ làm thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sự.

Thủ Độ gồm thâu được toàn bộ quyền hành vào tay mình, liền đến nói với Huệ Tông nhà Lý:

- Vận nhà Lý đến nay đã hết.

Thể theo lòng mong mỏi của trăm họ, Văn Hoàng đế đã lên ngôi, vậy thượng hoàng nhà Lý cũng nên biết điều mà xử sự cho phải lẽ chứ.

Huệ Tông nói:

- Mấy năm nay ta đã hiểu rõ tấm lòng tử tế của ông.

Nay ông đã là thái sư đương triều, muốn làm gì ta chả được.

Ta chỉ xin đến một ngôi chùa thanh tịnh, xuống tóc quy phật mà thôi.

Thủ Độ đồng ý cho Huệ Tông ra tu ở chùa Chân Giáo trong hoàng thành.

Thị nữ A Nhi cầm tay nhà vua khóc nức nở, nói:

- Hoàng thượng ơi!

Từ nay thiếp không được hầu hạ hoàng thượng nữa rồi.

Huệ Tông chỉ nhìn A Nhi, nước mắt tuôn xuống như mưa, không nói được câu gì, nghẹn ngào đi theo người lính dẫn đường.

Thủ Độ đang lo xếp đặt lại triều chính, có lính thám mã hoả tốc về báo việc Nguyễn Nộn đã mang quân vượt sông Thiên Đức, sắp tiến đánh kinh thành, vội vã vào triều triệu tập các quan bàn kế phá giặc.

Thật là:

Đổi giời chưa kịp xem giời sáng

Được nước còn lo giữ nước yên.

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem Trần Thủ Độ chống nhau với Nguyễn Nộn thế nào.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 4: Nguyên Bá đau bệnh tiến cử Ma Lôi


Đang nói lúc ấy bọn Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng nuôi quân rèn tướng, tích thảo dồn lương đã được hơn năm năm.

Hai nhà lại liên kết với nhau tạo ra thế phên giậu rất vững chắc.

Chiều ngày rằm tháng chạp, Nguyễn Nộn đang cùng các tướng uống rượu vui vẻ, nghe tin Trần Thủ Độ đã phế vua nhà Lý, liền trợn mắt, nghiến răng ken két, nói:

- Thằng thuyền chài này to gan thật.

Ta thề phải moi gan nó ra mới nghe.

Anh em ai có kế gì phá được họ Trần, sẽ thưởng công đầu.

Các tướng bàn định, mỗi người dâng một kế sách nhưng xem ra đều bất khả thi cả.

Đỗ Nguyên Bá vẫn ngồi uống rượu, chẳng nói chẳng rằng.

Nguyễn Nộn thấy thế hỏi:

- Đỗ quân sư mọi khi rất hăng hái tranh đàm, sao hôm nay ngồi yên thế?

Nguyên Bá vẫn không nói gì, cứ ngật ngà ngật ngưỡng uống hết chén này đến chén khác.

Nguyễn Nộn cáu tiết quát:

- Đỗ quân sư sao hôm nay lại gở đời ra thế này?

Nguyên Bá lúc ấy mới ngẩng lên, nói:

- Xin đại vương tha tội.

Tôi đang nghĩ kế cho đại vương nên không để ý.

Nay trong đầu tôi đã có kế hay rồi đây.

Nguyễn Nộn bảo:

- Quân sư đã có kế hay sao không nói cho mọi người cùng nghe?

Nguyên Bá cười tươi tỉnh, nói:

- Quân cơ bất cáo chúng.

Đã gọi là kế hay mà lại nói cho mọi người cùng nghe thì còn gì là kế nữa.

Trương Thái cười ầm lên, nói:

- Quân sư nói đúng lắm, đúng lắm.

Việc ấy để quân sư bàn với đại vương.

Anh em ta cứ chén đã.

Mọi người ai nấy lại uống, say tuý luý cả.

Nguyễn Nộn kéo Nguyên Bá vào một căn mật thất, chỗ này là nơi Nguyễn Nộn chỉ khi nào bàn việc cơ mật hoặc giao trọng sự cho ai đó mới dùng đến, nói:

- Ở đây quân sư đã cho ta nghe kế sách được chưa?

Nguyên Bá hỏi:

- Có phải đại vương muốn đánh phương Đông?

Nguyễn Nộn hỏi lại:

- Sao quân sư biết?

Nguyên Bá nói:

- Xưa nay đại vương là người dùng binh cẩn trọng, lẽ đâu lại bàn việc đại sự hớ hênh như thế nên tôi biết đại vương không có ý đánh họ Trần.

Mà muốn đánh phía Đông?

Nguyễn Nộn nói:

- Quả quân sư xét việc rất tài, đến Tư Mã Trọng Đạt cũng chẳng hơn gì.

Đúng là ta muốn đánh xong phía Đông, gồm thâu binh lực, sau đó mới tính đến họ Trần.

Ý quân sư thế nào?

(Tư Mã Trọng Đạt: Tư Mã Ý, danh tướng nước Nguỵ thời Tam Quốc.

Ông theo đạo Vô Vi nên thường tránh những cuộc giao tranh.

Ông chủ trương và biết kết thúc chiến tranh bằng cách tốn ít xương máu nhất.

Chính vì vậy thừa tướng Thục Hán là Gia Cát Lượng sáu lần đánh Nguỵ đều thất bại, phải rút quân về.

Sau này con cháu Tư Mã Ý lần lượt diệt Nguỵ, Thục, Ngô thống nhất Trung Quốc, lập nên nhà Tấn.

Thời Lý, Trần ở nước ta các tư liệu về nhân vật thời Tam Quốc đều được du nhập qua con đường sử sách bác học của giới trí thức hoặc do những nghệ nhân lang thang kể chuyện.

Bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa như ngày nay chúng ta đang đọc lúc ấy chưa ra đời)

Nguyên Bá nói:

- Xin đại vương đừng làm vậy.

Sở dĩ anh hùng hào kiệt đất Bắc theo về với đại vương là vì ngài biết giữ tín nghĩa.

Lâu nay hai nhà Nguyễn, Đoàn liên thủ tạo ra thế phên giậu, vì thế họ Trần không làm gì được.

Bây giờ đại vương đánh Hồng châu, một khi chiến sự nổ ra, nếu quyết đánh cho kì được thì hao binh tổn tướng mà chắc gì ta đã thủ thắng, lúc ấy không còn liên kết nữa hai bên đều yếu đi, họ Trần sẽ nhân cơ hội đó mà thôn tính từng nhà.

Như thế có phải tự nhiên tạo ra cái thế trai cò đấu nhau, lão ông đắc lợi không?

Còn không đánh cho kì thắng thì chẳng được gì mà lại gây thù chuốc oán, khác nào tự chặt tay mình.

Vả lại Đoàn vương cũng không có lỗi gì với bên ta mà cất quân đến đánh là không chính danh, đã không chính danh tất mang tiếng bất nghĩa, thiên hạ sẽ nghĩ thế nào về đại vương đây?

Nguyễn Nộn hỏi:

- Theo quân sư, nên đánh họ Trần ư?

Nguyên Bá nói:

- Đúng vậy.

Nguyễn Nộn bảo:

- Ta sợ Thủ Độ là bậc anh hùng thời nay, khó mà đánh được.

Nguyên Bá nói:

- Trần Thủ Độ, thực ra y chỉ là một kẻ cơ hội, vũ dũng vô mưu, may mắn nắm được nhà vua, sai khiến thiên hạ chứ đâu có thực tài.

(Ngô Thì Sĩ gọi Trần Thủ Độ là kẻ thậm vô mưu (Vsta).)

Nguyễn Nộn hỏi:

- Muốn đánh họ Trần phải làm thế nào?

Nguyên Bá nói:

- Muốn đánh họ Trần trước hết có bốn việc cần làm: Một là cần cử người sang hẹn với Đoàn vương để cùng tiến binh, bảo Đoàn vương vượt sông đánh vào phía Đông Nam, khoá chặt phía Nam thành Đại La rồi phá luỹ, đánh vào Hồng Mai, Kẻ Mơ.

Hai là cho người mang vàng bạc đến giúp người man ở Quảng Oai, bảo họ đem quân quấy nhiễu phía Tây để Thủ Độ phải chia bớt quân ra chống đỡ.

Ba là ta trương ngọn cờ phù Lý diệt Trần để chiêu mộ thêm binh lính, huấn luyện một đội quân cảm tử.

Vì La thành và Đại La thành đều có luỹ tre gai dày bao bọc nên tôi sẽ huấn luyện một đạo hoả công binh, dùng vào việc đốt phá luỹ.

Bốn là đại vương phải thân đốc thúc việc thu góp thuyền bè để vượt sông.

( thành và Đại La Thành: Vị trí hai toà thành này cho đến nay (2001) vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.

Một số học giả dựa vào di vật khảo cổ và những di tích còn lại xác định thành Đại La chạy từ Vĩnh Tuy dọc theo sông Nhị lên bao lấy Tây Hồ, theo tả ngạn sông Tô Lịch, qua đường Láng, phố Đại La, phố Minh Khai về Vĩnh Tuy, tổng cộng chiều dài khoảng 30km)

Nguyễn Nộn theo kế của Nguyên Bá, lập tức cho quân thi hành.

Nguyên Bá chọn trong đám du binh những người tinh tráng khoẻ mạnh, thành lập đạo hoả công binh đưa ra giữa cánh đồng đắp luỹ giả luyện tập.

Khi ấy đang là tháng giêng, trời mưa phùn và rét lắm.

Nguyên Bá ngày nào cũng đem quân đi tập nên bị cảm lạnh, lúc đầu chỉ ho húng hắng nhưng sau bệnh tăng lên, phát sốt, phải giao việc luyện quân cho viên tuỳ tướng là Phan Ma Lôi.

Ma Lôi nguyên người Chiêm Thành sang buôn bán ở Ai Lao rồi đến Đại Việt (Theo ĐVsktt), nhân gặp lúc Nguyễn Nộn chiêu binh mới tới ra mắt.

Nguyễn Nộn vốn tính hiếu kì, thấy Ma Lôi nói tiếng Việt không sõi, nghe là lạ, nhận vào làm nô.

Đỗ Nguyên Bá thấy Ma Lôi thông minh sắc sảo lại chăm chỉ mới xin Nguyễn Nộn cho mình, làm tuỳ tướng.

Những công việc Nguyên Bá giao, Ma Lôi đều làm rất chu đáo.

Vì vậy Nguyên Bá mới dạy Ma Lôi học chữ và cách dùng binh.

Ma Lôi học đến đâu nhớ đến đấy, được Nguyên Bá khen là người cơ trí.

Qua rằm tháng giêng, Nguyên Bá ốm càng nặng, Nguyễn Nộn đến thăm.

Nguyên Bá hỏi:

- Mọi việc đại vương đã chuẩn bị đến đâu rồi?

Nguyễn Nộn bảo:

- Xong cả rồi, chỉ chờ quân sư khoẻ là khởi binh thôi.

Nguyên Bá nói:

- Nhỡ tôi không khỏi thì sao?

Mai là ngày Hoàng Đạo, đại vương nên cất quân đi ngay thôi, để chậm lại, mấy tháng nữa nước sông lên to lúc ấy có muốn tiến cũng không được.

Nguyễn Nộn bảo:

- Nhưng quân sư ốm thế này nhỡ ra có bề gì thì ta không đành lòng, ba quân biết trông cậy vào ai.

Nguyên Bá nói:

- Mạng tôi là ở giời, cần gì phải lo cho lắm.

Nhỡ tôi có làm sao cũng sẽ có người khác giúp đại vương.

Nguyễn Nộn nghe theo, về lệnh cho các tướng hôm sau lên đường, lại sai người đem gấm che cho xe của Nguyên Bá.

Hai ngày sau, hậu quân do Nguyễn Sĩ Vinh chỉ huy sang hết bờ hữu ngạn sông Thiên Đức, đội tiền quân do Trương Thái làm tiên phong đã đến bến Bồ Đề.

Nguyễn Nộn giữ đạo trung quân, có Vương Thiện Luân và Quách Thanh làm tả hữu đội.

Ma Lôi cầm cây phủ đi hộ vệ xe quân sư Đỗ Nguyên Bá ở ngay chính giữa.

Nguyễn Sĩ Hiển cùng Võ Hàn chỉ huy đại đội binh thuyền.

Buổi chiều lập xong trại trên bến Bồ Đề làm căn cứ vượt Nhị hà.

Lúc đó Đỗ Nguyên Bá thấy trong mình khoan khoái, mới bảo Ma Lôi đưa mình đi xem doanh trại rồi cùng Nguyễn Nộn lên đê ngắm dòng sông Nhị cuồn cuộn chảy.

Từng xoáy nước cồn lên ngụp xuống, màu phù sa nhuốm trong ánh nắng chiều, đỏ như pha máu.

Trên bờ, doanh trại kéo dài dọc theo triền sông liên tiếp mấy dặm, các trại đều có bốn cửa, ra vào thuận tiện che chắn cho nhau.

Dưới sông thuyền bè san sát, chia làm ba đội, tiến lui rất nhịp nhàng, các đội có thể thay nhau chở quân sang rồi quay về thuận tiện.

Hàng vạn tay cung sẵn sàng dội những trận mưa tên về phía quân địch.

Những giàn lệ chi pháo (Giàn lệ chi pháo: Máy bắn ra nhiều viên đạn đá cỡ quả vải) nghễu nghện trên các thuyền lớn, chĩa sang bên hữu ngạn.

Cờ xí tung bay, chiêng trống vang lừng.

Đỗ Nguyên Bá nói với Nguyễn Nộn:

- Ráng chiều đỏ thế này, sáng mai chắc gió Đông Bắc thổi mạnh.

Đêm nay đại vương cho quân canh tư nấu cơm ăn, canh năm bắt đầu sang sông.

Trời sáng, đạo tiền quân phải sang hết bờ bên kia, dọn đường cho đại quân ta kéo sang.

Gió càng mạnh càng thuận lợi cho ta.

Quân Trần ở bờ Tây Nam là mất lợi thế rồi.

Nguyễn Nộn vui vẻ nói:

- Không ngờ hành quân vất vả thế, quân sư lại khoẻ lên.

Thật là trời giúp ta.

Thủ Độ, lần này xem ngươi có còn tác yêu tác quái được nữa không?

Nguyễn Nộn nói xong cười ha hả, dẫn mọi người về trại.

Nửa đêm Đỗ Nguyên Bá đau lắm, thổ ra nhiều máu tươi, gọi Ma Lôi lại bên giường, đưa cho cuốn sách, dặn:

- Ngươi theo ta mấy năm nay, ít nhiều đã học được chút binh pháp.

Đây là cuốn Bát thập nhất kì mưu, ta đã dày công đúc kết trong nhiều năm, áp dụng chưa bao giờ sai sót, nay trao lại cho ngươi.

Ta xem trong người không thể sống thêm được nữa.

Sau khi ta đi rồi, ngươi phải hết lòng phò tá đại vương.

Mong ngươi chớ phụ lòng ta.

(Bát thập nhất kì mưu: Tám mươi mốt mưu lạ)

Ma Lôi khóc lạy, nhận sách rồi cho người đi báo với Nguyễn Nộn.

Lúc Nguyễn Nộn tới, Nguyên Bá đã yếu lắm.

Nộn cầm tay Bá, khóc nói:

- Quân sư ơi!

Chẳng lẽ lại bỏ ta mà đi trong lúc này ư?

Nguyên Bá nói rất khẽ:

- Tôi từ khi theo đại vương, ngoài là nghĩa quân thần mà thực ra bên trong đại vương coi tôi như bè bạn, nói thì nghe, kế thì dùng.

Ơn ấy sâu nặng lắm, tiếc rằng kiếp này chưa thể báo đền.

Nay tôi không theo hầu đại vương được nữa, xin đại vương chớ đau buồn.

Ma Lôi là người có thể thay tôi, xin trả lại đại vương để đại vương sai khiến.

Đại vương nhận một lạy!

Tôi đi!

Quân sư Đỗ Nguyên Bá nói xong thì tắt thở, năm ấy mới hai mươi tám tuổi.

Nguyễn Nộn thương khóc không biết nhường nào.

Trời đang khô tạnh bỗng mưa gió ào ào một lúc.

Người ta nói đó là trời đất khóc Đỗ Nguyên Bá.

Khi còn sống, Nguyên Bá có công nhưng không kiêu ngạo, tuổi trẻ ở ngôi cao mà vẫn chan hoà với mọi người, lại thường khuyên Nguyễn Nộn giữ điều tín nghĩa với kẻ sĩ, làm phúc cho bách tính.

Nghe tin Nguyên Bá mất, từ quan đến dân xứ Bắc ai ai cũng thương khóc như mất người thân trong nhà.

Sau trong dân có bài thơ than Nguyên Bá rằng:

Quân sư Đỗ Nguyên Bá

Tuổi trẻ tài cao

Kiên trung trời đã tỏ

Nhân nghĩa đất cũng hay

Mưu cơ một khối óc

Sức lực hai bàn tay

Giữa đường sao đứt gánh

Thương thay thương thay!

Đỗ Nguyên Bá chết, Nguyễn Nộn không dám tiến binh, cho người phi báo với Đoàn Thượng để Thượng kịp dừng lại.

Trong khi đó bên Hữu ngạn Nhị hà, quân Trần ra sức củng cố phòng tuyến.

Hai tướng Lê Khâm và Vương Lê đóng bản doanh ở bến Triều Đông thủ thế.

Dùng dằng sang tháng hai vẫn chưa bên nào dám vượt sông, trời mưa dầm gió bấc, quân lính khổ cực không biết nhường nào.

Phùng Tá Chu tâu rằng:

- Nay vẫn còn gió Bắc, đánh nhau trên sông tất quân ta thất lợi.

Chi bằng hoàng thượng cứ phong vương cho hai nhà Nguyễn, Đoàn để họ bãi binh.

Đợi sang hè ấm áp hẵng liệu sau.

Lúc ấy nhà vua còn ít tuổi chưa quyết định được.

Thái sư Trần Thủ Độ nói:

- Lời bàn của Phùng thái phó rất phải.

Nhà vua mới cử sứ giả mang chiếu sang phong cho Nguyễn Nộn làm Hoài Đạo vương, chia cho đất Bắc Giang thượng, Bắc Giang hạ và Đông Ngạn.

Nguyễn Nộn quỳ lạy xưng thần rồi lệnh cho rút quân về Bắc.

Phan Ma Lôi can:

- Nay quân ta đang lợi thế.

Họ Trần vì sợ mới phải đem mồi ra nhử.

Đại vương nhân đây đánh ngay tất được, sao lại lui binh.

Nguyễn Nộn nói:

- Điều đó phải đâu ta không biết.

Không phong vương ta vẫn là vương.

Chia đất hay không đất ấy vẫn là của ta.

Chúng đem cái của ta mà cho ta mới thật nực cười.

Nhưng quân sư vừa mất, trong lòng ta trăm sự rối bời, quân tình nao núng, tiến binh chắc không lợi.

Vả lại việc binh cốt thần tốc bất ngờ, điều cốt yếu ấy lỡ mất rồi.

Quân Trần đã phòng bị chu đáo, ta làm sao mà thủ thắng được đây.

Ma Lôi nói:

- Đại vương đã có ý như vậy, việc rút quân phải cẩn trọng.

Lê Khâm và Vương Lê là những tay rất giỏi thuỷ chiến, nếu thấy quân ta rút thế nào cũng đem quân chặn ngả về Thiên Đức giang thì quân ta khốn ngay.

Nguyễn Nộn nói:

- Ngươi nói phải lắm.

Vậy làm sao?

Ma Lôi nói:

- Đêm nay trời mưa bụi, cách xa trăm bước không nhìn thấy nhau, ta cho một đội thuyền nhẹ đánh trống hò reo, giả vờ tấn công, còn đại đội binh thuyền của Nguyễn Sĩ Hiển mau chóng rút ngay về sông Thiên Đức để đưa bộ binh sang sông.

Trên bờ nên giữ nguyên cờ quạt, lều trại để nghi binh.

Nguyễn Nộn nghe theo, sai người đi thực hiện.

Bên hữu ngạn, Vương Lâm là con trai của Vương Lê nói với bố:

- Con nghĩ Nguyễn Nộn đã thụ phong, chắc lơi lỏng phòng bị.

Đêm nay ta cho quân tập kích, thế nào cũng thắng.

Vương Lê nói:

- Nguyễn Nộn là tay dùng binh lão luyện, chớ khinh thường mà mắc mưu hắn.

Vừa trống canh một, thấy bên tả ngạn trống đánh vang lừng, đèn đuốc sáng trưng.

Trong ánh đuốc sáng mờ mờ, bóng tinh kì phấp phới suốt một dải dài đến mười mấy dặm.

Mấy lớp thuyền địch xông sang, tên bay, pháo nổ vang cả mặt sông.

Lúc ấy Lê Khâm về thành bàn việc với Trần Thừa.

Vương Lê không biết quân địch nhiều hay ít nên chỉ ra lệnh các đạo binh thuyền phải giữ vững cửa trận không được ra đánh, lại cử mấy tốp lính bơi thuyền nhẹ đi thám thính.

Quá canh ba thấy thuyền địch không ham đánh nữa mà kéo dần về phía thượng lưu.

Quân thám thính cũng về báo quân địch chỉ có chưa đến năm mươi chiếc thuyền nhỏ do Võ Hàn chỉ huy nghi binh thế thôi, còn đại đội binh thuyền của Nguyễn Sĩ Hiển đã rút cả về phía sông Thiên Đức rồi.

Vương Lê liền cho thuyền chiến đuổi theo nhưng đoàn thuyền của Võ Hàn đã đi xa.

Đoàn Thượng thấy Nguyễn Nộn nhận phong lui binh, cũng rút quân về Hồng châu.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 4: Trần Thừa xót con công nhận Bà Liệt


Mùa hạ, tháng năm, Văn hoàng đế Trần Cảnh phong em là Trần Nhật Hiệu lúc ấy mới hai tuổi làm Khâm Thiên đại vương, phong phẩm hàm cho các quan văn võ, lấy ngày sinh mười sáu tháng sáu làm tiết Càn Ninh.

Mùa đông tháng mười tôn phụ quốc thái uý Trần Thừa làm thượng hoàng.

Thượng hoàng Trần Thừa lúc còn ở nhà, vẫn thường đánh cá ngoài sông.

Vào năm Thiên Gia Bảo Hựu thứ Ba (1204), đời Lý Cao Tông, Trần Thừa đã hai mốt tuổi, một hôm quăng chài nhưng mãi đến chiều vẫn không được con cá nào, cứ xuôi dòng đi mãi xuống hạ lưu, không ngờ gần tối trời nổi cơn dông hất tung thuyền lên bãi ngô bên bờ.

Có người con gái họ Mai đi hái bắp về, trông thấy Thừa nằm sóng soài trên cát mới lấy áo tơi che cho rồi đưa về nhà ở thôn Bà Liệt (Thôn Bà Lệt, huyện Tây Chân: Thuộc huyện Nam Ninh tỉnh Nam Định ngày nay (Theo ĐVsktt).).

Nhà Mai Thị rất nghèo, chỉ có hai mẹ con mà Trần Thừa lại ốm sốt.

Bà mẹ Mai Thị đem con gà mái đang ấp ra chợ bán lấy tiền mua thuốc cho Thừa.

Còn những quả trứng sắp nở phải ủ trong trấu ấm, ít hôm sau nở ra một lũ gà con không mẹ, không cha.

Trần Thừa ở đó mấy ngày, thấy Mai Thị xinh đẹp mà nghèo quá, có ý thương.

Mai Thị thấy Thừa khoẻ mạnh cũng mến lắm.

Hai người tình ý với nhau.

Đến khi Mai Thị có mang, Trần Thừa bảo:

- Tôi ở đây đã lâu, sợ cha mẹ mong đợi.

Vả lại tôi phải về nói với cha mẹ đem cơi trầu đến cưới hỏi để cô khỏi mang tiếng là người lang chạ.

Mai Thị cầm tay Thừa, khóc nói:

- Anh về quê, tôi ở đây đợi anh, một ngày dài tựa một năm.

Mong anh mau quay lại.

Thừa bảo:

- Cô tưởng tôi sung sướng lắm hay sao?

Phải xa nhau, đẩy mỗi mái chèo là đứt từng khúc ruột, nhớ nhung khổ lắm chứ.

Cứ yên lòng, chỉ độ mươi mười lăm ngày là tôi quay lại thôi mà.

Mai Thị bảo:

- Mong anh nhớ lấy lời.

Trần Thừa nói:

- Tôi có là vua là chúa gì mà quên lời cho được.

Hai người gạt nước mắt chia tay, kể bao tình lưu luyến.

Nhà chỉ còn một đấu gạo, Mai mẫu thổi cơm nắm cho Trần Thừa mang đi ăn đường, còn hai mẹ con nấu cám với ngô non ăn trừ bữa.

Trần Thừa đi thấm thoắt đã được mươi ngày.

Mai Thị tựa cửa trông chờ, cầu trời khấn phật cho người đi mỗi bước sông nước là mỗi bước may mắn.

Mười lăm ngày rồi một tháng, hai tháng Trần Thừa không trở lại, hai mẹ con Mai Thị chỉ biết sùi sụt khóc thầm.

Đến lúc năm tháng, Mai Thị không thể giấu cái bụng được nữa.

Lý trưởng làng Bà Liệt sai trương tuần mang đinh tráng đến bắt Mai Thị ra đình cho làng phạt ăn khoán nhưng nhà Mai Thị không có thứ gì có thể bán đi để làng ăn.

Lý trưởng bắt nọc Mai Thị ra giữa sân đình, đánh đến rách cả da thịt, truy hỏi xem kẻ nào là cha của cái thai để báo lên cho quan huyện Tây Chân bắt vạ.

Mai Thị nhất quyết không khai.

Mai mẫu thương con, đành điểm chỉ vào tờ văn tự bán mảnh đất đang ở lấy tiền nộp cho lý trưởng, hai mẹ con dắt díu nhau đi tha phương cầu thực.

Mai mẫu phần vì thương con, phần vì già yếu không chịu được đói rét.

Một chiều đông mưa gió, hai mẹ con nhịn đã mấy ngày, Mai mẫu mệt lả trong quán chợ, thều thào dặn Mai Thị:

- Mẹ không sống được nữa, thế nào con cũng phải tìm cho được anh Thừa, xem ra có điều uẩn khúc gì đây.

Mẹ quyết không tin anh ấy là người phụ bạc.

Mai mẫu nói xong, tắt thở.

Mai Thị khóc đến khản cả tiếng, thân gái quê người không biết làm cách nào chôn cất cho mẹ.

Mãi chiều hôm sau có người người đàn ông cầm cái tròng bắt lợn đi qua, thấy tình cảnh như vậy, bảo:

- Này nhà cô kia, có muốn tôi chôn cất mẹ cô không?

Mai thị vừa khóc vừa lạy người đàn ông:

- Con cắn rơm cắn cỏ lạy ông.

Ông làm ơn làm phúc chôn cất cho mẹ con, con thề làm trâu làm ngựa đền ơn ông.

Gã hoạn lợn cười hề hề, nói:

- Tôi không cần cô làm trâu làm ngựa, chỉ cần cô làm vợ là được.

Mai thị nói:

- Trăm lạy ông, ngàn lạy ông, con là gái đã có chồng lại bụng mang dạ chửa, mong ông thương cho.

Gã hoạn lợn nói:

- Có chồng à?

Sao không bảo cái thằng chồng cô nó chôn mẹ cho.

Tôi cũng chỉ cần cô làm vợ một đêm là được...

Bụng chửa à?

Bụng chửa càng sướng chứ sao!

Tôi vừa thiến mấy con lợn cho nhà cụ chánh có tiền đây.

Nếu cô ưng lòng, tôi thuê người đào huyệt ngay, còn không cứ để mẹ cô nằm đấy đến có bọ ra cũng chẳng ai chôn đâu.

Bây giờ đói kém, người chết đầy ra kia kìa.

Mai thị rùng mình ghê sợ nhưng quá thương mẹ, đành nhắm mắt nói:

- Vâng!

Con xin vâng theo ý ông.

Ở nhà gã hoạn lợn ra, Mai Thị như người mất hồn, tuy không được học hành nhưng cô cũng hiểu chữ trinh đáng giá ngàn vàng, chỉ có thể dành cho người mình yêu.

Vậy mà bây giờ chữ trinh ấy đã bị gã hoạn lợn bôi nhọ lên rồi.

Tủi thân, cô đứng khóc bên bờ sông, mặc cho gió lạnh luồn qua manh áo rách bỡn cợt cái thân xác tả tơi khốn khổ của mình.

Cô biết đi đâu về đâu giữa nơi đất khách.

Trời cao đất dày nào có hiểu thấu nỗi thống khổ của cô, chỉ có dưới kia dòng sông đỏ quạch phù sa chảy cồn cào như khuyến khích cô về với nó.

Mai Thị đã toan gửi thân vào dòng nước nhưng cô cảm thấy đứa bé trong bụng đang cựa quậy.

Cô không có quyền cướp đi mạng sống của nó.

Nó không chỉ thuộc riêng cô.

Nó là con anh ấy.

Cô chết đi nghĩa là cô giết hại nó, tội đó dẫu có xuống đến mười tám tầng địa ngục cũng không sao chuộc hết.

Cô phải sống vì nó, vì anh ấy.

Nghĩ vậy, Mai Thị thất thểu bước đi, bóng cô dật dờ giữa khoảng đồng không, dưới bầu trời đầy mây đen và gió lạnh.

Đến một ngã ba đường, cô gục xuống bãi cỏ.

Trong bóng tối huyền hoặc của trạng thái nửa mê nửa tỉnh, cô nghe tiếng ai đang hú hồn gọi cô về.

Tiếng hú sao mà thê lương thảm thiết quá, nó như xiết vào không gian, hút trong từng cơn gió lạnh, làm cô thấy toàn thân nổi da gà, rùng mình mở mắt.

Có tiếng người cười nói:

- A!

Tỉnh rồi đây.

- Không chết được đâu.

Hôm trước có mấy người cũng lả đi thế này, cho húp vài miếng cháo là tỉnh ngay thôi mà.

- Mấy người hẵng dãn ra một tí.

Người đói lả thì có gì lạ mà cũng xúm lại xem, bỏ cái váy này ra được rồi đấy.

(Thời trước dân ta thường lấy chiếc váy cũ của bà già quạt cho người bị ngất để cấp cứu)

Người cứu Mai Thị là bà lão bán bánh đa nướng.

Hôm ấy bà đi chợ về, thấy Mai Thị nằm bên vệ cỏ nhưng chưa chết, cái thai trong bụng có lẽ sắp đến ngày sinh.

Bà liền nhờ người khiêng về nhà cứu chữa.

Có người nói:

- Sinh dữ, tử lành.

Bà mang người sắp đẻ về nhà làm gì?

Bà lão bảo:

- Ôi dào!

Tôi ngần này tuổi đầu rồi còn sợ gì lành mới chả dữ.

Phật dạy cứu một người phúc đẳng hà sa.

Các bác cứ mang cô ấy về cho tôi.

Lành dữ đâu tôi chịu.

Hôm sau, Mai Thị khoẻ hẳn, sợ làm phiền bà lão nên có ý muốn đi.

Bà lão bảo:

- Nếu con không có nơi nào nương tựa, cứ ở đây với già.

Đời già cũng nhiều cay đắng lắm.

Bây giờ chỉ có một mình, có con bầu bạn cũng tốt.

Mẹ con ta giúp nhau khi tắt lửa tối đèn.

Từ hôm ấy Mai Thị ở lại nhà bà lão, ngày ngày xay bột, tráng bánh cho bà mang đi chợ bán.

Được hơn một tháng, Mai Thị sinh ra đứa con trai khôi ngô, khoẻ mạnh.

Bà lão bán bánh đa bảo:

- Đặt tên là Bà Liệt để ngày sau nó biết lối mà tìm về quê.

Năm sau bà lão bán bánh đa ốm mất.

Mai Thị nối nghiệp, vẫn làm bánh đa đem ra chợ bán nuôi con.

Bánh đa Mai Thị làm ngon, lại dày dặn nên bán được giá mà đắt khách, vì thế sung túc dần lên.

Một hôm Mai Thị ra chợ bán bánh, thấy Trần Thừa đang mặc cả mua tấm lưới, liền chạy lại ôm lấy Thừa, khóc nói:

- Ôi anh Thừa ơi!

Thế là tôi đã tìm được anh.

Con anh hai tuổi rồi đây.

Nói xong, Mai Thị chỉ đứa bé ngồi bên sọt bánh đa.

Cô sung sướng trào nước mắt, nghĩ thế nào Thừa cũng chạy lại ôm con nhưng Trần Thừa nói:

- Ô!

Cô này nói gì lạ vậy, tôi làm sao có con với cô được.

Nói xong Trần Thừa bỏ đi, mặc cho Mai Thị đứng khóc ngay giữa chợ.

Có người biết nhà ông Trần Lý ở Lưu Gia, mách đường cho Mai Thị tìm đến nhưng Trần Thừa nhất định không nhận Bà Liệt là con mình.

Ông Trần Lý không biết làm thế nào, đành cho đứa bé một số tiền, bảo mẹ con bế nhau về.

Mai Thị không nhận tiền, nói:

- Anh Thừa đã có con với tôi, nay dù anh quên lời nói cũ mà không nhận con, tôi cũng không biết làm thế nào nhưng trước sau gì thằng bé này cũng vẫn là con của anh.

Từ nay dù anh có đi đến đâu, tôi cũng mang nó đi theo.

Tôi không cần anh nuôi nó, chỉ cần đừng để nó không có bố là được.

Sau này Trần Thừa lấy vợ họ Lê, có con, có công hộ giá được phong làm nội thị phán thủ, mang gia quyến lên kinh thành ở.

Mai Thị cũng đem Bà Liệt lên thành Đại La, hai mẹ con vẫn sinh sống bằng nghề bán bánh đa.

Bà Liệt càng lớn càng khoẻ mạnh, vạm vỡ, thường cùng bạn bè rủ nhau đi học võ, đánh vật, bắn cung môn nào cũng tỏ ra xuất sắc.

Khi Trần Tự Khánh chết, Trần Thừa được phong làm phụ quốc thái uý, tiếng tăm lừng lẫy.

Thừa cho tuyển trong dân những trai tráng có sức khoẻ, giỏi võ nghệ, lập một đội võ vật.

Bà Liệt về nói với mẹ xin được đi tòng quân.

Mai Thị nói:

- Con muốn đầu quân, mẹ không giữ nhưng phải gắng sức lập công đừng để mang tiếng xấu cho cha đấy nhé.

Bà Liệt nói với viên hiệu uý, xin vào đội võ vật.

Viên hiệu uý thấy Bà Liệt rất giống Trần Thừa, buột miệng hỏi:

- Nhà ngươi có họ hàng gì với quan thái uý hay không?

Bà Liệt nói:

- Thái uý là cha tôi.

Viên hiệu uý đem lời ấy về bẩm lại với Trần Thừa.

Thừa bảo:

- Chỉ nói tào lao.

Chẳng lẽ thằng Liễu nhà ta lại xin vào đội võ vật.

Viên hiệu uý bẩm:

- Bẩm thái uý!

Không phải là công tử Liễu đâu ạ.

Người này nói tên là Bà Liệt, quê ở Hải ấp lại rất giống thái uý nên hạ chức mới dám vào bẩm ạ.

Trần Thừa biết đích xác là con mình đã đến nhưng mẹ Bà Liệt chỉ là một hạ dân làm nghề quạt bánh đa hèn mọn nên quyết không nhận, nói:

- Sao ngươi nói lẩn thẩn mãi thế?

Ta làm gì có con nào như vậy nhưng nó muốn vào đội thì cứ cho nó vào, cấm được nói năng quàng bậy, ăn đòn đấy.

Hôm sau, viên hiệu uý nói với Bà Liệt:

- Mẹ ngươi là người quạt bánh đa, sao ngươi là con của thái uý được.

Sau buổi tập hôm ấy, đám tân binh nhao nhao chế giễu Bà Liệt:

- Ê cái đồ thấy người sang bắt quàng làm họ kìa.

Mẹ quạt bánh đa mà đòi là con thái uý.

- Anh em xem thằng nhận vơ xấu chưa kìa.

- Tớ cứ tưởng đằng ấy vào phủ thái uý ở rồi cơ đấy.

Bà Liệt tủi thân nhưng không dám nói gì, chỉ lủi thủi tìm chỗ ngồi một mình.

Viên hiệu uý là người đã đứng tuổi, tính điềm đạm, có ý thương, hỏi:

- Ngươi nói là con thái uý, có gì làm bằng không?

Bà Liệt mới đem hết chuyện nhà tâm sự với viên hiệu uý.

Viên hiệu uý hiểu rõ sự tình càng thương Bà Liệt, an ủi:

- Thôi cháu ạ!

Ta chưa rõ chuyện của cháu thực giả đến đâu nhưng cuộc đời lắm nỗi éo le, không biết thế nào mà lường.

Cháu cứ chịu khó tập tành, sau này có dịp lập công chẳng sợ gì không giàu sang phú quí.

Bị cha ruồng bỏ như vậy nhưng Bà Liệt vẫn giữ lòng trung trinh, gắng công rèn tập, võ nghệ làu thông, không hề tỏ ra một lời trách oán.

Một hôm Trần Thừa dẫn lính đi săn trong rừng bỗng có một con hổ vằn xông ra định vồ.

Con ngựa sợ hãi chồm lên, hất Trần Thừa xuống đất.

Các tướng ai cũng hoảng cả lên.

Bà Liệt cầm cây roi sắt tiến đến vụt con hổ một nhát thật mạnh, làm nó đau quá rống lên chạy biến vào rừng.

Bà Liệt vội đỡ Trần Thừa dậy.

Lúc về thành, Trần Thừa cũng chỉ thưởng cho Bà Liệt một chiếc áo.

Hôm sau được nghỉ, Bà Liệt về khoe với mẹ.

Mai Thị bảo:

- Con cứu được cha, thật không phụ công mẹ nuôi con bấy nay.

Đến khi Trần Thừa được tôn làm Thượng hoàng, càng ra sức luyện tập quân lính, chú trọng việc võ bị.

Một hôm đội lính vật đá cầu.

Bà Liệt mải tranh quả cầu với người trong đội, hai bên xô xát.

Người kia khoẻ hơn, vật ngã Bà Liệt, bóp cổ Liệt suýt nghẹt thở (Theo ĐVsktt).

Thượng hoàng Trần Thừa lúc ấy đang xem, quên mất phải giữ danh giá của đấng thượng hoàng chí tôn chí kính, ngài thét lên:

- Con ta đấy!

(Câu này lấy nguyên văn trong ĐVsktt)

Người lính vừa vật ngã Bà Liệt sợ hãi lạy tạ.

Còn Bà Liệt đứng ngây ra.

Trước đây bị hắt hủi ruồng bỏ, chưa bao giờ chàng khóc.

Hôm nay nghe câu nói đó phát ra một cách tự nhiên từ miệng thượng hoàng, chàng thấy như tim mình thắt lại.

Niềm sung sướng hạnh phúc tột đỉnh hoà với nỗi tủi cực ê chề làm những giọt nước mắt trào ra lăn dài trên hai gò má của chàng.

Ngay hôm sau, thượng hoàng sai mang kiệu, cùng với Bà Liệt đến đón Mai Thị vào cung để phong làm hoàng phi.

Mai Thị nói:

- Tôi có bao giờ mong được làm hoàng phi đâu.

Với tôi, ông cũng chả là thượng hoàng gì cả.

Tôi phải lòng là phải lòng anh Trần Thừa đánh cá năm xưa.

Trải bao năm tháng sóng gió dập vùi, tôi không còn trong sạch để thờ ông; đó là lỗi ở tôi.

Tôi còn sống đến ngày hôm nay là mong có lúc trả lại đứa con của ông cho ông.

Giờ ông đã nhận nó rồi, con tôi đã có cha rồi, tôi không còn gì phải ân hận nữa, cũng không mong muốn gì nữa.

Tôi giao nó lại cho ông từ đây đấy.

Nói xong, Mai Thị bỏ vào nhà trong, lúc lâu cũng chẳng thấy ra.

Trần Thừa cho thị nữ vào mời.

Người thị nữ chạy ra kêu lên:

- Hoàng phi treo cổ tự vẫn rồi.

Bà Liệt thét lên:

- Mẹ ơi!

Mẹ chết rồi, con sống làm gì nữa đây.

Nói xong, rút gươm ra tự sát.

Thế mới là:

Nhận cha chưa kịp vui sum họp

Mất mẹ đã mang hận chia lìa

Mời bạn đọc tiếp chương sau xem tính mạng Bà Liệt ra sao.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 5: Nguyễn Nộn phản bạn đánh chiếm Hồng châu (1)


Trên kia đang nói Bà Liệt thấy mẹ chết, đau buồn quá liền rút gươm tự sát.

Viên hiệu uý đứng cạnh vội giật lấy thanh gươm.

Thượng hoàng cũng ôm con an ủi, truyền dùng lễ hoàng phi an táng Mai Thị, sai Bà Liệt mang lính về quê lập đền thờ mẹ.

Thượng hoàng nhà Lý lúc bấy giờ đã gọi là Huệ Quang đại sư, từ khi ra ở chùa Chân Giáo, trong lòng buồn phiền, khí sắc hao gầy.

Các vị tăng chúng thấy vậy thương lắm, thường chuyện trò để người khuây khoả.

Hôm ấy ngày rằm tháng bảy, nhà chùa cúng cháo thí cho các vong hồn.

Huệ Quang bảo:

- Các cô hồn còn được nhà chùa cúng tế, hồn phách cha mẹ ta chẳng biết giờ đây phiêu bạt nơi nào, có ai cúng lễ cho không.

Nói xong ôm mặt khóc rưng rức.

Sư cụ trụ trì biết Huệ Quang chưa dứt được lòng phàm mới sai hai chú tiểu mang tiền đưa Huệ Quang ra chợ chọn mua lễ vật về đặt ban thờ riêng cúng cha mẹ.

Người phủ thái sư biết, về báo với Trần Thủ Độ

- Thượng hoàng nhà Lý ra chợ chơi, dân chúng tranh nhau chạy đến xem, nhiều người thương khóc.

Xin thái sư định liệu, để lâu tất không hay.

Thủ Độ nói:

- Dù sao Huệ Quang cũng từng là một vị hoàng đế, ngươi truyền lệnh ta cho các sư tăng ở chùa Chân Giáo không được để ông ấy đi đâu, nhỡ bệnh cũ tái phát nguy đến tính mạng đó, bảo họ phải phụng sự cẩn thận.

Lệnh ấy của Thủ Độ làm ra vẻ quan tâm giữ gìn cho Huệ Quang nhưng thực tình chỉ muốn giam chặt lại, không cho đi đâu sợ mọi người trông thấy sinh lòng nhớ vua cũ.

Mấy hôm sau Thủ Độ cho mời Phùng Tá Chu và Lê Khâm đến bàn.

Phùng Tá Chu nói:

- Thượng hoàng nhà Lý bây giờ đã như cái hạt luộc chín, thái sư cần gì phải lo.

Thực ra Phùng Tá Chu tuy thờ nhà Trần nhưng trong lòng vẫn còn chút tình thương vua nhà Lý mới nói như vậy để Trần Thủ Độ tha cho Huệ Quang.

Lê Khâm thì khác, với tinh thần Bất cộng Lý gia, ông ta nói:

- Cây khế đã chặt đi, còn sót có cái rễ mà sau mọc lớn hơn cây mẹ.

(Vì Lê Khâm là dòng dõi nhà tiền Lê.

Nhà tiền Lê bị nhà Lý đoạt ngôi nên hậu duệ thề không cộng tác với nhà Lý)

Thủ Độ là người sáng dạ, chỉ cần được người khác gợi ý một, lập tức có thể hiểu mà thực hiện gấp năm gấp mười.

Lời của Lê Khâm chỉ muốn nhằm vào một mình Huệ Quang, chẳng ngờ làm Thủ Độ nảy ra ý phải diệt cả họ hàng nhà Lý.

Sang tháng Tám, Thủ Độ ra chơi chùa Chân Giáo, lúc ấy Huệ Quang đang ngồi xổm nhổ cỏ.

Thủ Độ nói:

- Nhổ cỏ thì phải nhổ cả rễ sâu*.

Huệ Quang đứng dậy phủi tay nói:

- Điều ngươi nói ta hiểu rồi*.

Mấy hôm sau, Thủ Độ sai người bày biện hương hoa đến bảo Huệ Quang:

- Thượng phụ sai thần đến mời*.

Huệ Quang nói:

- Ta tụng kinh xong sẽ tự tử*.

Huệ Quang vào trong phòng khấn rằng:

- Thiên hạ nhà ta về tay ngươi, ngươi lại còn giết ta, ngày nay ta chết, đến khi khác con cháu nhà ngươi cũng bị như thế*.

(*: Những câu thoại này lấy nguyên văn trong ĐVsktt)

Khấn xong ra vườn sau thắt cổ tự tử, năm ấy Huệ Quang mới ba mươi ba tuổi.

Các nhà sư thấy vậy thương khóc thảm thiết.

Các quan đại thần trong triều cũng đến khóc lạy chịu tang.

Trần Thủ Độ không cho đưa tang ra lối cửa chính mà bắt khoét tường thành phía Nam làm cửa, gọi là cửa khoét, đem linh cữu ra phường Yên Hoa thiêu, chứa xương vào tháp chùa Bảo Quang.

Dân chúng đi đưa khóc như mưa gió.

Chiều hôm ấy lính canh bắt mấy người dân thường đến trình với Trần Thủ Độ rằng bọn người này trong khi đi đưa tang đã nói những lời xúc phạm hoàng thượng và đức ông thái sư thống quốc, xin thái sư trị tội.

Thủ Độ bảo:

- Xét cho cùng chúng cũng chỉ vì lòng trung mà nói như vậy.

Ta không nỡ trách phạt.

Thôi!

Thả hết chúng đi.

Đám dân thường ấy mới biết Trần Thủ Độ cũng là người nghĩa khí, cùng nhau thụp lạy tạ ơn.

Huệ Quang chết rồi, Trần Thủ Độ tâu với vua Trần giáng thái hậu Trần Thị Dung làm Thiên Cực công chúa, gả cho mình làm vợ, lại ban cho châu Lạng làm ấp thang mộc.

Việc này khiến người đời sau hết lời chê trách.

Mùa thu tháng tám năm Kiến Trung thứ tư (1228), vua Trần phong anh là Trần Liễu làm thái uý.

Phùng Tá Chu tâu:

- Nay trong triều đã yên định, quân thế đủ mạnh, lương thảo dồi dào xin hoàng thượng lo mặt tả ngạn để thiên hạ thu về một mối.

Trần Thái Tông hỏi:

- Muốn sang tả ngạn phải làm thế nào?

Phùng Tá Chu tâu:

- Nhà Tống vẫn muốn đánh Đại Việt ta, nhưng hiện nay họ đang cùng người Thát đánh nước Kim.

Quân Kim tuy mạnh nhưng không thể cùng một lúc chống với hai kẻ địch hung bạo như Mông và Tống, trước sau gì cũng phải tan vỡ.

Người Thát là giống sài lang hiện đã đánh chiếm hết cả miền Tây Hạ, khi nước Kim đã diệt rồi, ắt sẽ đến lượt nước Tống.

Tống, Mông nước nào thắng cũng không thể bỏ qua Đại Việt, nếu nước ta cứ trong tình trạng chia năm xẻ bảy thế này sao đủ sức chống được giặc mạnh.

Còn việc nên làm thế nào, thần chắc quan thái sư đã có kế sách.

Thái Tông quay nhìn thái sư Trần Thủ Độ.

Thủ Độ tâu:

- Thần xin đem quân sang sông, trước chiếm đất Tế Giang, Gia Lâm làm bàn đạp, sau đánh chiếm Đằng châu, chiếm được hai nơi ấy thì Hồng châu thượng hạ như trong lòng bàn tay rồi.

Mặt khác, xin hoàng thượng gia phong thêm cho Nguyễn Nộn để y không đi cứu Đoàn Thượng, việc ta chắc xong.

Lê Khâm nói:

- Tôi xin hiến một kế để Nguyễn, Đoàn hai nhà đánh nhau; ta ở giữa thu lợi, như vậy chẳng đỡ mệt cho thái sư sao.

Thái Tông truyền:

- Nhà ngươi cứ nói.

Lê Khâm tâu:

- Nguyễn Nộn không phải là người tín nghĩa.

Xưa kia nhiều kẻ theo hắn là nhờ có Đỗ Nguyên Bá sắp đặt.

Nay Nguyên Bá đã chết, Nguyễn Nộn lộ nguyên hình là một gã tham tàn.

Chúa thượng nên nhân việc Đoàn Thượng không nhận phong vương, đem đất thượng Hồng mà gia phong cho Nguyễn Nộn.

Tôi chắc thế nào hai nhà ấy cũng hại lẫn nhau.

Đây chính là kế Tào Tháo phong đất Kinh Tương cho Công Cẩn vậy.

Trần Thái Tông nghe theo kế ấy, phái sứ giả sang phong đất thượng Hồng cho Nguyễn Nộn.

Nộn họp các tướng bàn:

- Ta có ý lấy đất Hồng châu đã lâu, nay vua Trần lại phong đất ấy cho ta nhưng sợ Đoàn Thượng không chịu, nên làm thế nào bây giờ?

Đại tướng thuỷ quân Võ Hàn nói:

- Từ cổ đến nay chưa ai tự dưng đem đất cho người khác.

Đại vương muốn được đất ấy chỉ có cách nhân dịp này cử sứ sang đòi.

Thế nào Đoàn Thượng cũng gây khó dễ.

Ta mượn cớ tiến binh sang đánh mới được.

Đại tướng tiền quân Trương Thái nói:

- Họ Trần rất là ma giáo, đây chính là kế khích Chu Du đòi đất Lưu Bị, ai có lạ gì.

Nếu ta tham một mảnh đất thượng Hồng, nhất định mắc mưu ngay.

Nguyễn Nộn nói:

- Ta cũng biết là như thế nhưng không lấy đất Hồng, chịu kẹp giữa hai nhà Trần, Đoàn mãi hay sao.

Ma Lôi, ngươi có ý gì không?

Phan Ma Lôi nói:

- Tôi có một kế không những có thể lấy được đất thượng Hồng mà ngay hạ Hồng cũng về tay ta cả.

Đoàn Thượng tuy ngang tàng nhưng lại dễ tin người, chỉ cần một mẹo lừa nhỏ là cơ nghiệp của hắn thành tro tàn.

Nguyễn Nộn cười bảo:

- Mưu kế của ngươi thế nào, cứ nói.

Ma Lôi thưa:

- Đại vương nên viết thư sai sứ đến nói rõ với Đoàn Thượng việc nhà Trần phong đất là kế li gián hai nhà Nguyễn, Đoàn, rồi hẹn với Đoàn Thượng cùng đem quân đánh nhà Trần.

Đoàn Thượng đang hận nhà Trần, tất mang quân đi.

Hạ Hồng bỏ ngỏ, ta đem quân đánh úp, hai đầu ép lại, chắc là toàn thắng.

Trương Thái nói:

- Kế ấy tuy hay nhưng là việc lừa người, không phải hành động của bậc quân tử.

Ma Lôi nói:

- Phàm đã là việc dụng binh, tranh thành cướp đất không lừa người tất bị người lừa, vậy đằng nào hơn?

Võ Hàn nói:

- Lời quân sư Ma Lôi rất phải, không nên vì tiểu tiết mà bỏ cơ hội lớn.

Đại vương nên quyết ngay đi thôi.

Nguyễn Nộn phán:

- Lời Võ tướng quân rất hợp ý ta.

Nói xong liền sai lấy bút mực viết thư cho Đoàn Thượng, mặt khác lệnh cho các tướng điểm binh sẵn sàng chờ lệnh.

Cử Ma Lôi làm quân sư, toàn quyền điều vát tướng lĩnh.

Từ khi Đỗ Nguyên Bá chết, truyền lại cuốn Bát thập nhất kì mưu cho Ma Lôi.

Ma Lôi đêm ngày nghiền ngẫm, chẳng bao lâu đã thuộc hết các mưu mẹo như: Mồi ngon câu cá đói, Thóc tốt nhử gà tồ, Nhà cao cần chắc móng, Vững giậu thì bền tường, Giấu vuốt chờ mồi, Tách trâu khỏi cỏ..., nay muốn đem ra thi thố, đêm ngày vạch kế hoạch cho Nguyễn Nộn.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 5: Nguyễn Nộn phản bạn đánh chiếm Hồng châu (2)


Đây nói về Đoàn Thượng, từ khi không đến nhận phong của nhà Trần, rút về Hồng châu xưng là Đông Hải vương, xây thành đắp luỹ tính kế lâu dài, tự mình luyện tập quân sĩ ở Thị Đức thành, cho con là Đoàn Văn giữ thành Yên Nhân khống chế cả một dải Gia Lâm, Tế Giang cho đến Đằng châu.

Hôm ấy nhận được thư của Nguyễn Nộn, Thượng cho họp chư tướng, nói:

- Ta dẫu là tội nhân của nhà Lý nhưng không bao giờ có dạ phản chủ, ngày đêm chỉ mong diệt được bè lũ nhà Trần để chấn hưng triều Lý.

Nay có thư của Hoài Đạo vương hẹn cùng khởi binh, các tướng nghĩ thế nào?

Đại tướng là Phạm Đình Khanh thưa:

- Hoài Đạo vương tuy lâu nay kết thân với ta nhưng lòng dạ hiểm ác khó lường.

Nếu ta tin ngay, cất quân đi e có điều gian dối gì chăng.

Vả lại họ Nguyễn đã nhận phong của họ Trần, thường thông sứ qua lại, một khi họ hợp mưu với nhau thì ta nguy mất.

Tả quân Mai Đức Long nói:

- Hoài Đạo vương đã kết tình huynh đệ với đại vương ta, xưa nay chưa có điều gì khiếm khuyết.

Bỗng dưng ta đem lòng nghi kị, như thế chẳng phải mang lỗi lớn lắm sao?

Đoàn Thượng bảo:

- Mai tướng quân nói có lý lắm.

Ta dựng cờ cốt lấy chữ tín làm trọng mà lại đi nghi ngờ anh em còn ai tin ta nữa.

Nói rồi truyền lệnh chuẩn bị, phân công Phạm Đình Khanh lĩnh tiền đội đi trước.

Mai Đức Long, Trịnh Dực lĩnh tả hữu đội.

Đoàn Thượng giữ trung quân đi ở giữa, sai Nguyễn Ưng đốc thúc thuyền bè theo đường sông lên bãi Cửu Liên, chọn ngày mùng hai tháng chạp tiến binh, để hai nghìn quân cho Nguyễn Hoa giữ thành Thị Đức, lại báo cho Đoàn Văn chuẩn bị quân lương vận chuyển trước đến Tế Giang.

Nguyễn Nộn, sau khi đưa thư cho Đoàn Thượng, liền sai Nguyễn Sĩ Vinh đem năm nghìn quân đến Gia Lâm chia lẻ ra đóng làm mười trại dọc bờ sông Phú Lương, nói phao lên là hai vạn quân, cho người đưa thư giục Đoàn Thượng tiến gấp.

Khi biết Thượng đã cất quân đi rồi, Ma Lôi liền cùng bọn Nguyễn Sĩ Hiển, Võ Hàn đem quân đánh úp thành Thị Đức để chẹn đường về của Đoàn Thượng, còn Nguyễn Nộn cùng Quách Thanh phục binh đánh Thượng ngang đường.

Thị Đức là ngôi thành đắp bằng đất, bên ngoài và phía trên trồng luỹ tre gai rất dày, Nguyễn Hoa lệnh cho quân sĩ canh phòng cẩn mật chẹn ngang con đường từ huyện Thanh Miện đến bến sông Thưa.

Ma Lôi trước đây theo kế của Đỗ Nguyên Bá đã huấn luyện sẵn một đội hoả công binh.

Lúc ấy là cuối mùa đông cây cỏ héo tàn, thời tiết khô hanh lại có gió hây hẩy rất thuận lợi.

Canh ba, Ma Lôi cho đội hoả công binh tiến sát chân thành phía Bắc, cứ cách ba mươi bước đặt một bó rơm tẩm dầu, đồng loạt đốt lên.

Lửa được gió cháy như Hoả Diệm Sơn, các thân tre nổ như pháo tết.

Nguyễn Hoa vừa đi tuần về, thấy bên ngoài xôn xao, chạy ra, bốn bề đã rực trời lửa sáng.

Phó tướng Vũ Bình bảo:

- Tướng quân nên chạy ra cửa Nam.

Nguyễn Hoa nói:

- Ta là tướng giữ thành tất phải sống chết với thành chứ có đâu lại bỏ chạy bao giờ.

Nhưng ta sẽ đưa ngươi ra khỏi trùng vây, mau tìm đến cấp báo với đại vương để tránh mắc lừa quân giặc.

Nói xong, Nguyễn Hoa múa cây côn bịt sắt dẫn Vũ Bình cùng năm tráng sĩ ra cửa Nam, ở đây lửa cháy to quá không thể ra được, lại vòng sang cửa Tây.

Quân Bắc thấy có người ra thành, liền xúm lại đánh.

Nguyễn Hoa không hề nao núng, rút trong người ra bốn ngọn phi tiêu, vung tay ném không sai phát nào.

Quân Bắc kinh sợ dạt ra.

Nguyễn Hoa bảo Vũ Bình và mấy tráng sĩ:

- Các ngươi cứ việc đi mau, để ta chặn chúng cho.

Vũ Bình đi rồi, Nguyễn Hoa múa tít cây côn, đánh quay lại cứu quân sĩ.

Lúc ấy quân Bắc đã tràn vào thành, hai bên đánh nhau dữ dội, xác chết nằm ngổn ngang.

Hoa đang xông xáo đánh lui mấy toán Bắc quân, gặp ngay Nguyễn Sĩ Hiển chặn lại nói:

- Nguyễn Hoa!

Ngươi chết đến nơi rồi mà còn hung hăng thế sao?

Mau hàng ngay đi, đại vương ta cũng không bạc đãi đâu.

Ta lấy tình quen biết mà đảm bảo như thế đấy.

Nguyễn Hoa cười nói:

- Ta biết bụng dạ đại vương nhà ngươi thế nào rồi, muốn hàng lắm nhưng cây côn này nó không cho hàng.

Hoa nói xong, vung côn xông vào.

Hai người đánh nhau đang hăng, Ma Lôi từ xa trông thấy, xem ra Sĩ Hiển không thể một mình hạ được Nguyễn Hoa, liền vác cây đại phủ xông vào đánh giúp.

Nguyễn Hoa một mình qua lại đánh với hai tướng, vẻ mặt vẫn bình tĩnh như không.

Võ Hàn thấy thế cũng lao tới, vây Nguyễn Hoa vào giữa.

Nguyễn Hoa thấy đuối sức, vờ vụt Ma Lôi một côn rồi nhảy ra khỏi vòng, chạy đến gần ngôi nhà đang cháy, rút một cây phi tiêu dài, đợi ba tướng đuổi tới, vung tay ném.

Cây phi tiêu cắm trúng giữa mặt Sĩ Hiển.

Hiển chỉ kịp rú lên một tiếng, ngã lăn xuống đất chết.

Hoa định quay lại đánh chẳng ngờ cây xà đang cháy rơi trúng người, lảo đảo ngã xuống, bị Võ Hàn xông đến chém chết.

Quân Đông Hải thấy mất chủ tướng, chạy tan cả.

Ngay ngày hôm sau, Ma Lôi cử người ở lại giữ thành Thị Đức còn bao nhiêu quân sĩ và các tướng đều đi sang Đường An, chặn lối về của Đoàn Thượng.

(Đường An: Nay là huyện Bình Giang, Hải Dương)

Chiều hôm ấy Đoàn Thượng dẫn quân đến địa phận Tế Giang, hai bên đường lau sậy rậm rạp, đây đó những bạt rừng thưa rải rác.

Mặt trời ngả bóng tà tà, Thượng cho quân dừng lại nấu cơm ăn bỗng đâu nổi lên một tiếng pháo lệnh, quân Bắc ba mặt ào ào xông đến chém giết.

Quân Thượng không kịp trở tay bị chết hại rất nhiều.

Mai Đức Long nói:

- Có lẽ quân ta bị Nguyễn Nộn lừa thật rồi.

Đây gần thành Yên Nhân, đai vương mau rút về đó ngay cho.

Tôi xin đi sau cản giặc.

Nói rồi giục Phạm Đình Khanh và Trịnh Dực bảo vệ Đoàn Thượng chạy sang thành Yên Nhân, không ngờ Nguyễn Nộn dùng kế của Ma Lôi lấy mất thành Yên Nhân rồi.

Đoàn Thượng phải quay ngược trở lại, rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch, không biết chạy vào đâu.

Đang lúc cùng đường bỗng thấy một đạo quân mấy trăm người đánh thốc từ hướng Tây Nam đến, tướng đi đầu chính là Nguyễn Ưng.

Bốn tướng hợp sức đánh giết một hồi, cứu được Đoàn Thượng ra ngoài vòng vây.

Đoàn Thượng hỏi Nguyễn Ưng:

- Sao nhà ngươi đến kịp đây tiếp ứng cho ta?

Nguyễn Ưng thưa:

- Tôi xin đến đây chịu tội với đại vương.

Thuyền bè bị Vương Thiện Luân lừa cướp hết mất rồi.

Tôi chưa chết là muốn về đây báo để đại vương khỏi mắc vào gian kế của Nguyễn Nộn.

Xin đại vương nhận một lạy.

Nguyễn Ưng nói xong vái Đoàn Thượng một vái, rút gươm định tự sát.

Mai Đức Long ngăn lại nói:

- Lỗi này không riêng của mình bác, chính tôi có tội đầu tiên.

Tôi đã khuyên đại vương tin lời Nguyễn Nộn nên mới ra cơ sự này.

Bác hãy đợi tôi đi cùng.

Nói rồi cũng định tự vẫn.

Đoàn Thượng nói:

- Nói về lỗi, chính ta mới là kẻ có tội.

Nhưng bây giờ không phải là lúc trách lỗi ai cả, hãy quay về Thị Đức củng cố lại lực lượng có hơn không?

Vua tôi đang tìm đường đi tắt qua rừng thì thấy Vũ Bình cùng mấy tráng sĩ quần áo tơi tả chạy đến quỳ thưa:

- Đại vương ôi!

Thị Đức bị Ma Lôi Đánh chiếm mất rồi.

Tướng quân Nguyễn Hoa cản giặc cho tôi đến đây báo tin, không biết bây giờ sống chết thế nào.

Nghe tin mất Thị Đức, Đoàn Thượng rất lo lắng.

Lúc sau lại có đám tàn binh từ Thị Đức chạy đến báo tin Nguyễn Hoa đã giết Sĩ Hiển và chết thế nào.

Đoàn Thượng nghe tin Nguyễn Hoa chết, đau xót vô cùng.

Phạm Đình Khanh nói:

- Bây giờ trước sau đều có giặc, đại vương không nên nấn ná ở đây.

Ta mau tìm đường về Bàng châu.

Đất ấy xuôi về Tam Trĩ Nguyên còn mấy trăm dặm, có thể tính kế lâu dài được.

(Bàng châu: Từ thuộc Minh trở lại đây gọi làhuyện Chí Linh (Theo Phương Đình dư địa chí).)

Đoàn Thượng nghe theo, đi tắt đường sang châu Nam Sách, đến Hàn giang, nước chảy xiết lại không có thuyền bè, chưa biết tính thế nào.

Trống mõ ở đâu nổi lên, quân Bắc từ các bãi ngô bãi mía xông ra đuổi đánh, tướng đi đầu chính là Trương Thái.

Quân Đông Hải hết vía rụng rời, xô nhau bỏ chạy.

Mai Đức Long bảo bọn Phạm Đình Khanh, Nguyễn Ưng và Trịnh Dực:

- Các bác bảo vệ đại vương, để tôi cản giặc cho - quay lại nói với mấy viên tuỳ tướng - Chúng ta ngày thường ăn lộc của đại vương, hôm nay xin hãy đem thân báo đền ân chủ.

Các tướng đều nói:

- Chúng tôi chẳng dám tiếc thân.

Mai Đức Long cầm ngang ngọn giáo, dẫn tám dũng sĩ cản đường Trương Thái.

Trương Thái chỉ tay bảo:

- Đức Long!

Ta biết ngươi là dũng tướng đời nay, cùng đường rồi sao không hàng đi, mua lấy cái chết làm chi cho uổng.

Đức Long nói:

- Chủ ta là người quân tử, nhất thời lỡ nhầm gian kế của lũ ngươi.

Ta là đại tướng, chết thì được chứ có đâu lại theo hàng một lũ tiểu nhân.

Trương Thái cười lớn nói:

- Liệu ngươi có dám đỡ lưỡi đao của ta không?

Đức Long cũng cười, nói:

- Không giết được ngươi đâu dám nhận là dũng sĩ Hồng châu.

Hai người lao vào đánh nhau.

Quân Bắc nhất loạt tiến lên.

Tám dũng sĩ Hồng châu liều chết đánh cản nhưng làm sao chặn được mấy nghìn quân Bắc, tất cả lần lượt tử thương chỉ còn mình Đức Long đánh với Trương Thái.

Đức Long sợ đơn thương độc mã không làm gì nổi, mới nghĩ ra một kế, vờ kéo lê ngọn giáo chạy ra phía bờ sông Hàn.

Trương Thái đuổi theo bén gót, reo lên giễu cợt:

- Dũng sĩ Hồng châu chạy nhanh quá, đợi ta với chứ.

Đức Long chẳng nói gì, cứ cắm đầu chạy đến sát mép nước, dừng lại nói:

- Ta với ngươi đánh nhau bằng binh khí chán rồi, ngươi có dám cởi trần đánh nhau tay không với ta mới là giỏi.

Trương Thái nói:

- Việc đó có gì là khó.

Ta đang bức đây, cởi trần thì cởi trần.

Nói xong bỏ đao, cởi tuột giáp trụ.

Đức Long cũng trần trùi trụi xông vào nhưng lại nghĩ: "Đánh nhau ở chỗ cạn nhỡ mình không kéo được nó xuống chỗ sâu thì hỏng mất", liền giả vờ kêu "Ối" lên một tiếng, ngã ùm xuống nước chìm nghỉm.

Trương Thái không biết là mẹo liền lao theo quyết bắt sống.

Đức Long chỉ chờ có thế, giơ tay túm ngay lấy búi tóc của Trương Thái, lôi ra xa dìm cho chết.

Trương Thái chỉ quen đánh nhau trên bộ, chống sao được Đức Long là người sinh ra và lớn lên bằng nghề chài lưới vùng ven biển, bị dìm cho một trận, uống nước ừng ực nhưng nhờ có sức khoẻ hơn người nên cứ túm chặt lấy Đức Long.

Hai ngươi cùng chìm dần trong dòng nước cuồn cuộn chảy.

Bắc quân chạy theo trên bờ kêu gào nhưng không ai dám xuống cứu.

Việc này về sau có bài thơ chứng rằng:

Sông Hàn cuồn cuộn chảy về Đông

Lưu mãi đời sau dấu anh hùng

Ngàn năm sóng dội không rửa sạch

Phù sa hay máu để nước hồng.

Phạm Đình Khanh cùng Nguyễn Ưng và Trịnh Dực bảo vệ Đoàn Thượng chạy về huyện Trường Tân (Trường Tân: Huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ngày nay (theo Phương Đình dư địa chí).), chỗ này đến thành Thị Đức đi bộ mất nửa ngày đường.

Quân Bắc đằng sau đuổi gấp, trên mặt sông Đĩnh Đào la liệt thuyền chiến của Võ Hàn.

Đoàn Thượng cùng đường, bảo các tướng:

- Các ngươi theo ta đến đây cũng tỏ được lòng trung rồi.

Trời chẳng thương, mình ta chịu là đủ, các ngươi phải cùng chết làm chi, hãy mau tìm đường trốn cả đi.

Bọn Phạm Đình Khanh, Nguyễn Ưng và Trịnh Dực cùng các tướng sụp lạy, khóc nói:

- Chúng tôi thà chết cả chứ nhất định không chịu bỏ đại vương lúc này.

Nói xong, Khanh, Ưng dẫn hơn trăm tàn binh xông ra cản giặc, chết cả trong đám loạn quân.

Đoàn Thượng biết không thể thoát, trèo lên gò đất cao nguyền rằng:

- Ta là Đông Hải vương cùng ngươi thề khôi phục nhà Lý, coi ngươi như anh em, hết lòng tin tưởng, vậy mà ngươi nhẫn tâm lừa ta.

Ta chết rồi cũng kiện nhà ngươi tới tận Diêm la địa phủ.

Nói xong rút gươm tự sát.

Trịnh Dực và các tướng tuỳ tùng cũng đâm cổ chết theo.

Nguyễn Nộn trước kia vốn ở nhà chùa, xem nhiều tranh tượng tả cảnh cực hình chốn âm ty, nay nghe quân lính kể lại lời nguyền của Đoàn Thượng, sợ hãi sinh ra bệnh hoảng hốt mất ngủ, truyền cho quân lính lấy gỗ tốt làm quan tài mai táng Đoàn Thượng tại nơi tự sát.

Dân Hồng châu gọi nơi ấy là Mả Vua.

(Mả Vua: Cách thị trấn Gia Lộc 7km về phía Nam,sát mép đường 38, thuộc xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, đến những năm 1963-1964 vẫn còn nhiều ngôi mộ đá lớn, về sau mất dần, nay nhiều nhà dân làm lên trên)
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 5: Phạm Hữu gặp thầy học nghề Đại ấp


Đoàn Văn con trai Đoàn Thượng, khi trước ở thành Yên Nhân, nhận lệnh cha đem lương thảo đến Tế Giang, giao thành cho phó tướng Vương Hà giữ.

Mấy hôm sau Nguyễn Nộn cho đội quân của Quách Thanh mặc giả quân Hồng châu gọi mở cổng cho công tử về.

Vương Hà không nghi ngờ gì, mở cổng ra đón, bị Quách Thanh chém một nhát chết.

Quân Bắc ùa cả vào thành bắt hết gia quyến Đoàn Văn.

Khi Đoàn Thượng chết rồi, Nguyễn Nộn cho người đến bảo Đoàn Văn nếu không chịu hàng sẽ giết sạch cả họ.

Đoàn Văn không biết làm thế nào đành đến xin hàng.

Nguyễn Nộn thắng lớn nhưng mất hai viên đại tướng Trương Thái và Nguyễn Sĩ Hiển, tiếc lắm, lệnh cho bắt hết gái đẹp, trai tráng, trâu ngựa, của cải đất Hồng châu đem về Kinh Bắc.

Kẻ nào không tuân, giết không tha.

Nguyễn Sĩ Vinh nhân lệnh ấy làm quá lên, ra tay chém giết binh lính cũ của Hồng châu, trả thù cho em trai là Nguyễn Sĩ Hiển.

Phạm Hữu, từ khi chia tay Nguyễn Bằng sang với Nguyễn Nộn, được tin dùng làm quản binh hiệu uý dưới trướng Đỗ Nguyên Bá, chuyên lo sổ sách, nay theo đi đánh trận, trong khi giao chiến ở Tế Giang, bị một mũi tên vào vai phải ngã lăn bên gốc cây, đến đêm tỉnh lại, chiến trận đã im lìm.

Chàng nghiến răng rút mũi tên, nhai cỏ rịt vào vết thương, gượng đau đứng dậy đi về phía bìa rừng.

Đây đó xác quân lính hai bên còn ngổn ngang chưa có người thu táng, bỗng nghe văng vẳng có tiếng ai kêu rên cầu cứu lúc càng rõ.

Phạm Hữu tiến lại phía ấy thấy bốn năm xác lính Hồng châu lẫn với mấy xác lính Bắc quân đè lên nhau, trong đó có một người còn động đậy.

Chàng nâng người đó lên, dưới ánh trăng lờ mờ nhận ra đó chính là Nguyễn Bằng, liền kéo ra nhưng Nguyễn Bằng bị thương cả hai chân không thể đi được.

Phạm Hữu liền xé áo của mấy xác lính làm băng buộc vết thương cho bạn, lại lấy một bộ đồ lính Bắc quân cho Nguyễn Bằng mặc, bảo:

- Bây giờ Sĩ Vinh đang truy giết quân Hồng châu.

Anh thay bộ này nhỡ sáng ra có gặp Bắc quân cũng không lo bị sát hại.

Nguyễn Bằng nói:

- Từ ngày chúng ta xa nhau đến nay đã mấy năm, không ngờ gặp lại trong tình huống trớ trêu thế này.

Phạm Hữu bảo:

- Anh còn nhớ chuyện hai con trâu bị ép đánh nhau năm xưa không?

Có điều chúng ta nhất định phải sống.

Chúng ta khác loài trâu chính là ở chỗ ấy đấy.

Thôi!

Chuyện thì dài, sau này còn dịp nói, để tôi dìu anh đi, tìm nơi trú tạm đã.

Xa xa có ánh lửa lập loè, Nguyễn Bằng bảo:

- Ta đến chỗ ánh lửa kia xem có phải nhà dân, xin cái gì ăn tạm.

Hai người đỡ nhau lê đi, lúc lâu đến một làng nhỏ ven sông.

Nơi phát ra ánh lửa là một ngôi nhà gỗ năm gian, có vẻ là gia đình khá giả, đêm khuya lắm nhưng ở tiền sảnh vẫn còn ánh đèn, phía sau là hai ngôi nhà nhỏ hơn tối im ỉm.

Phạm Hữu ngó qua giậu râm bụt thấy có bóng người, cất tiếng gọi.

- Trong nhà có ai còn thức, giúp chúng tôi với.

Có tiếng kẹt cửa, một ông già cầm đèn ra hỏi:

- Ai mà đến khuya thế này?

Phạm Hữu nói:

- Chúng cháu là lính bị thương ở rừng, mong cụ giúp đỡ.

Bạn cháu yếu lắm.

Ông lão mở cổng cho hai người vào.

Trong nhà sực nức mùi thơm của các loại thuốc quý.

Ông lão cởi mở nói:

- Nhà tôi đêm khuya có người gọi cổng lấy thuốc là chuyện thường.

Chắc các bác chưa ăn gì.

Tôi bảo trẻ nó làm cơm ngay.

Bác này trông mệt quá.

Để tôi xem vết thương thế nào nào.

Nói xong, ông cụ gọi người nhà nấu cơm còn tự mình rửa vết thương cho hai chàng trai, lấy thuốc dấu rịt lại kĩ càng.

Phạm Hữu nói:

- Thật phúc đức chúng con gặp được cụ, xin cho chúng con được biết cao danh ạ.

Ông lão vuốt chòm râu bạc, nói:

- Tôi họ Chử, tên là Nhiệm Khai.

Nhà tôi đời đời làm thuốc ở ấp Đại này.

(Đến nay trong nhân dân còn cho rằng những ngườihọ Chử theo nghề làm thuốc ở đất Văn Giang thuộc dòng dõi Chử Đồng Tử)

Phạm Hữu ồ lên một tiếng, hỏi tiếp:

- Dạ!

Có phải cụ là Chử thái y của Lý triều không ạ?

Ông lão vui vẻ bảo:

- Bác cũng biết có Chử thái y này ư ?

Nhưng từ khi nhà Lý mất, tôi về quê làm thuốc cứu giúp dân lành, tránh xa chốn quan trường rồi.

Cũng may vết thương của các bác đều không chạm tới xương nên mau lành thôi.

Phạm Hữu rút trong người ra một nén bạc, hai tay dâng lên, nói:

- Chúng con có lẽ còn phiền cụ ít ngày, gọi có chút lễ mọn trong lúc khó khăn, mong cụ nhận giúp.

Chúng con biết ơn nhiều lắm.

Chử thái y nói:

- Tôi đã giúp được gì cho các bác đâu.

Hãy cất bạc đi, sau này còn nhiều dịp dùng đến đấy.

Hai người ở lại nhà Chử công qua tết nguyên đán.

Đầy tháng, các vết thương lành lặn cả.

Chử công thấy hai chàng nói năng lễ độ, lại là người có học thì mến, coi như con cái trong nhà.

Nguyễn Bằng bảo Phạm Hữu:

- Chúng ta làm phiền Chử công đã lâu, có lẽ đã đến lúc xin phép về quê được rồi.

Phạm Hữu hỏi:

- Về quê rồi anh định làm gì?

Nguyễn Bằng nói:

- Thì chúng mình lại đi học?

Phạm Hữu bảo:

- Học rồi đi thi, nhao vào chốn quan trường.

Con đường đó thật là ghê sợ.

Tôi muốn bái Chử tiên sinh làm thầy, ở đây học lấy nghề làm thuốc cứu người.

Một mai về quê có thể giúp giùm làng nước.

Nguyễn Bằng nói:

- Anh có ý như thế thì hai chúng ta cùng ở lại.

Hai chàng mới vào bái lạy Chử công, nói rõ ý nguyện của mình.

Chử công bảo:

- Các con biết mưu việc cứu người thật là đáng quý.

Nhưng nghề làm thuốc vất vả lắm.

Ai muốn làm giàu chớ chọn nghề này.

Vả lại y thuật cũng phải có duyên mới làm được.

Bây giờ mỗi anh lấy một con dao lạng, lạng lấy hai cân xuyên quy tôi xem đã.

Nguyễn Bằng nhanh nhẹn, lạng thoăn thoắt, một lúc đã làm xong, lại làm giúp cho Phạm Hữu.

Chử công cầm tay từng người xem xong, nói:

- Tiếc rằng trong hai người chỉ có Phạm Hữu học làm thuốc được thôi.

Nguyễn Bằng tay nhiều mồ hôi quá.

Con còn nhiều vất vả với đời, nhưng đừng buồn, cứu người cũng có dăm bảy đường, làm ông quan tốt còn có thể cứu được nhiều người hơn cơ đấy.

Xem ra con có duyên với văn chương, hãy gắng công học hành, mai này ra giúp dân.

Nguyễn Bằng nói:

- Dạ thưa thầy!

Ngày nay nhà Lý đã mất.

Trần Thủ Độ chuyên quyền, vô học, vậy còn trông mong gì về đường khoa cử nữa ạ?

Chử công bảo:

- Không phải hoàn toàn như thế đâu.

Đúng!

Trần Thủ Độ là người chuyên quyền và tàn nhẫn vô học thật đấy nhưng ông ta có tài và quyết đoán mà liêm chính, biết trọng người hiền lại hướng về trăm họ.

Ta chắc nhà Trần rồi sẽ khá.

Phạm Hữu hỏi:

- Thầy nhận định như vậy sao không giúp nhà Trần mà lại bỏ về ạ?

Chử công nói:

- Không phải chỉ riêng mình ta như thế, nhiều người cũng bỏ đi chỉ vì chữ "trung".

Người quân tử có lẽ đâu lại thờ hai chúa.

Há các con chẳng hiểu đạo tam cương sao?

(Tam cương: Ba nguyên tắc rường mối của kẻ sĩ là trung với vua, hiếu với cha mẹ, tiết hạnh trong tình vợ chồng.

Trong đó chữ "trung" được đặt ở vị trí hàng đầu)

Hôm sau Nguyễn Bằng bái biệt Chử công và chia tay Phạm Hữu, hẹn ba năm sau gặp lại ở chốn quê nhà.

Phạm Hữu ở lại nhà Chử công ra sức tu nghiệp, vốn tính thông minh học đâu nhớ đấy.

Chử công quý mến lắm mới đem hết những điều tinh diệu của y thuật truyền cho, lại đưa những bộ sách quý của Biển Thước, Trương Cơ bảo chép ra hai bản dùng về sau.

Các phép chẩn mạch đoán bệnh, lôi công bào chế, xuyên lâm tầm dược cũng chỉ bảo cặn kẽ.

Người con gái út của Chử công là Chử Thị Ngọc, tuổi vừa đôi tám xinh đẹp nết na, thấy Hữu thông minh nho nhã lại chịu học chịu làm, đem lòng yêu.

Chử công biết ý mới bảo Phạm Hữu:

- Ta xem con là người tư chất, em Ngọc cũng có ý thương yêu.

Ta muốn tác thành cho hai con.

Vậy ý con thế nào?

Phạm Hữu thưa:

- Con đội ơn thầy đã dày công dạy dỗ, còn chưa có dịp báo đền nay lại được thầy thương như vậy thật nhà con có phúc lớn, con đâu dám không vâng nhưng việc nhân duyên là ở mẹ cha sắp đặt.

Xin thầy cho con về Trường Tân thưa lại với cha mẹ để có cơi trầu gọi là sính lễ và con cũng được tròn hiếu đạo.

Chử công thấy Hữu nói như vậy mừng lắm, liền sắp sửa hành trang để hôm sau Phạm Hữu về quê, lại cho một gia nhân theo hầu sớm tối.

Nói sao hết tình lưu luyến của đôi trẻ khi chia tay, Phạm Hữu bảo:

- Ta về quê chuyến này nhiều nhất là nửa tuần trăng, xin nàng chớ nên lo buồn làm chi.

Chử Thị nói:

- Đường đất xa xôi, mong anh cẩn trọng rồi mau trở lại.

Đừng để tôi mòn mỏi mong chờ.

Nói xong đưa cho Hữu một chiếc khăn trầu.

Phạm Hữu và người gia nhân đi rồi, Thị Ngọc buồn lắm, chỉ mong sao cho chóng đến ngày người yêu trở lại.

Nhưng mới được ba ngày thấy tên gia nhân hớt hải chạy về báo:

- Giữa đường cậu Hữu bị quan binh bắt trói đưa đi rồi, không biết lành dữ thế nào.

Cả nhà nghe tin đều rụng rời hết vía.

Thật là:

Chỉ muốn ẩn thân tìm an lạc

Biết đâu kiếp nạn lại đang chờ.

Chưa biết Phạm Hữu vì sao bị bắt, xin nói rõ ở chương sau.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 6: Thái sư giết tôn tộc nhà Lý ở thái đường Hoa Lâm (1)


Hãy nói Nguyễn Nộn từ khi đánh tan Đoàn Thượng, nghĩ mình là vô địch trong thiên hạ, tự xưng là Đại Thắng vương, bắt nhiều con gái đẹp của đất Hồng châu về hầu hạ, đã bị bệnh tâm thần hoảng loạn lại quá ham mê tửu sắc, sức lực mỗi ngày một giảm, hơn nữa lúc nào cũng bị lời thề của Đoàn Thượng ám ảnh nên trong lòng luôn không được yên.

Nộn sợ Trần Thủ Độ biết, mới cho quân nói phao lên rằng quân số của mình ngày nay đã lên tới mười lăm vạn, chỉ qua tết nguyên đán là tiến sang bờ Nam, bao vây kinh thành.

Tin ấy bay về Thăng Long, nhà Trần lo lắm.

Trần Thủ Độ xin cử Phạm Kính Ân đem quân sang sông tuần thám còn mình tự điều vát quân sĩ sẵn sàng đánh giặc.

Lê Khâm tâu:

- Trong phép thủ thắng không đánh mà giặc tự tan là thượng sách, cùng bất đắc dĩ phải giao chiến thì giữ cho ít tốn xương máu là trung sách, thắng mà hao binh tổn tướng là hạ sách.

Cứ như ý tôi, thái sư không nên cất quân vội, cần có bước chuẩn bị kĩ trước đã.

Trần Thái Tông lúc ấy mới chín tuổi, ngồi thiết triều, hỏi:

- Khanh bảo chuẩn bị thế nào?

Lê Khâm tâu:

- Binh thư nói biết mình biết người trăm đánh trăm thắng.

Muốn biết được người tất phải dụng gián, dụng thám.

Việc cho Phạm Kính Ân sang sông là cần thiết nhưng như vậy cũng mới chỉ biết được bên ngoài của quân địch, muốn biết nội tình, cần có người vào tận hang ổ của chúng.

Thái Tông nhìn Thủ Độ, hỏi:

- Thượng phụ bảo thế có đúng không?

Thủ Độ tâu:

- Khuông quốc thượng tướng quân nói rất có lí, nhưng ai sẽ là người vào được hang ổ của chúng bây giờ.

(Khuông quốc thượng tướng quân: Là tước vị của Lê Khâm, Trần Thủ Độ xưng hô như vậy để tỏ ý tôn trọng ông ta)

Phùng Tá Chu nói:

- Thần nghĩ việc này cũng không khó, nhưng cần có người dám liều thân cho xã tắc.

Thái Tông bảo:

- Liều thân thì liều thân, các khanh cứ bàn đi, nhanh nhanh lên trẫm còn đi đào dế đây.

Phùng Tá Chu tiếp:

- Nguyễn Nộn là kẻ tham của, hám danh mà háo sắc.

Nay nhân việc y vừa đánh thắng Đoàn Thượng, nhà vua nên gia phong cho hắn lại đem con gái hoàng tộc gả cho để dò tin tức từ trong, như vậy lo gì không biết được nội tình của chúng.

Thái tông nghe theo kế ấy, liền sai sứ sang phong cho Nguyễn Nộn làm Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương.

Thượng hoàng phong cho cháu vợ là Ngoạn Thiềm làm công chúa gả cho Nộn.

Nguyễn Nộn được gia phong tước lộc, lại lấy được công chúa Ngoạn Thiềm, mãn nguyện lắm, tự thấy mình đau ốm, quân lực cũng không bằng họ Trần mới sai sứ về kinh tạ ơn, xưng thần và hẹn đến tháng mười vào chầu.

Ma Lôi và các tướng thấy Nộn suốt ngày quấn quýt bên công chúa Ngoạn Thiềm và bọn cung nữ, không còn tưởng gì đến việc binh nhung, mới cùng nhau đến thưa:

- Đại vương nay bệnh tình chưa khỏi, tửu sắc là cái họa chết người, vả lại họ Trần kết thân với ta chưa chắc đã có ý tốt.

Chuyện nàng Tây Thi ngày trước còn như tấm gương, xin đại vương minh xét.

Nguyễn Nộn tỉnh ra, liền sai lập cung riêng cho công chúa Ngoạn Thiềm ở.

Công chúa Ngoạn Thiềm phái người báo tin cho Trần Thủ Độ biết Nguyễn Nộn đang ốm, bệnh tình ngày càng trầm trọng.

Thủ Độ tâu với vua Trần.

Thái Tông bảo:

- Vua không thích đánh nhau.

Thượng phụ muốn làm thế nào thì làm, sao cứ phải hỏi?

Các tướng đều xin nhân cơ hội này phát binh đi đánh.

Thủ Độ nói:

- Việc đánh bây giờ thật không khó gì nhưng nhà vua không muốn trăm họ phải đau thương.

Ta cũng thấy xương máu đổ nhiều rồi, chẳng lẽ nồi da xáo thịt mãi sao?

Cứ như trong thư của Ngoạn Thiềm thì Nguyễn Nộn chẳng còn sống được bao lâu, nếu có người sang bên ấy lấy lời phải trái khuyên bảo các tướng lĩnh, quân sĩ về với triều đình há chả hơn sao?

Thái Tông nói:

- Thượng phụ nói hay đấy.

Ai dám đi sứ, ta thưởng cho con dế to nhất.

Thêm hai con bọ ngựa.

Lê Khâm bước ra tâu:

- Thần xin đi nhưng không dám nhận phần thưởng của hoàng thượng đâu ạ.

Trăm quan bấm bụng không dám cười.

Lại nói Nguyễn Nộn ngày càng ốm nặng, đau đầu hoa mắt, nóng sốt li bì, ăn không tiêu, mới vài tháng mà người gầy rộc, tóc rụng mấy phần, thân hình tiều tuỵ, đi không vững.

Hôm ấy nghe báo có sứ của triều đình đến, Nộn gượng dậy tiếp, ăn cơm rồi sai quân lấy ngựa cưỡi, phi thẳng lên đồi nhưng mới được vài trăm bước, choáng váng mặt mày ngã nhào xuống đất, mê man bất tỉnh.

Quân lính vội vàng xúm lại cứu về.

Thầy thuốc xem mạch xong, lắc đầu nói:

- Mạch trầm mà sác, không có lực, đây là tử mạch.

Bệnh ở lý rồi không còn cách chữa.

(Trong bát cương - Hàn nhiệt, biểu lý, âm dương,hư thực.

Bệnh ở lý tức là đã nhập sâu đến nội tạng rất khó chữa)

Chừng nửa canh giờ sau, Nguyễn Nộn thổ ra mấy đấu máu, miệng nói lảm nhảm:

- Thằng thầy chùa bất tín kia.

Ta là Đoàn Thượng đây.

Ta đã kiện mày đến tận diêm la địa phủ rồi.

Bây giờ Diêm vương bắt mày xuống đây xem mày có đắc chí được nữa không?

Đến đêm Nguyễn Nộn chết ở cung Thưởng Nguyệt.

Tính từ khi Nộn đánh giết được Đoàn Thượng đến lúc ấy chưa đầy ba tháng.

Quân sĩ phần bỏ đi, phần nghe lời khuyên của Lê Khâm theo về với triều đình.

Ma Lôi thấy quân tình không thể cứu vãn được, đang đêm cùng với người nhà lẻn trốn đi.

Thiên hạ từ đấy thu về một mối.

Nhà Trần gồm thâu được thiên hạ, ra sức xây dựng kỉ cương, chỉnh đốn triều chính, chăm lo nông tang, qua mấy năm dân giàu nước thịnh nhưng Trần Thủ Độ vẫn canh cánh bên lòng về sự lưu luyến của trăm họ đối với nhà Lý.

Theo ý ông ta, những người thuộc tôn tộc nhà Lý luôn là mối đe doạ đối với nền thống nhất của đất nước.

Một hôm Thủ Độ có việc ra ngoại thành phía Tây, xa xa thấy năm sáu người vai mang cung tên, tay cầm giáo dài phi ngựa như bay băng qua mấy cánh rừng thưa đuổi săn muông thú.

Người đi đầu mặc võ phục, bên ngoài khoác một tấm da beo, ngồi trên lưng con ngựa ô truy trông rất kiêu dũng, khi đến gần hoá ra là Hoài Đức vương Trần Bà Liệt.

Thủ Độ nói:

- Hoài Đức vương kiêu dũng thế này, thật đáng là trang nam tử.

Chiều hôm ấy, Trần Thủ Độ cho người mời Bà Liệt đến phủ bàn việc.

Thủ Độ nói:

- Cháu thân mang tước vương, đó là ân sủng lớn của hoàng thượng, sao không nghĩ cách báo đền mà suốt ngày chỉ đi săn bắn vậy?

Bà Liệt khoanh tay, cúi đầu nói:

- Trình quốc công!

Cháu từ khi được ơn thượng hoàng không bỏ, lại được hoàng thượng gia phong, cũng chỉ muốn có dịp báo đáp ân dày nhưng chưa biết làm thế nào, sợ tháng ngày nhàn rỗi sinh lười biếng mới lấy việc đi săn để rèn luyện và làm vui.

Quốc công có việc gì cần, xin cứ sai bảo.

Cháu nguyện hết lòng, dù gian nguy cũng chẳng dám từ nan.

Thủ Độ nói:

- Nhà Trần ta vừa mới thống nhất giang sơn được vài năm, tuy muôn dân đã thoát được vòng binh lửa, không còn cảnh chết đói đầy đường như trước nữa nhưng cũng còn nhiều người luyến tiếc nhà Lý.

Người họ Lý cũng oán hận họ Trần ta lắm, nếu có người nổi dậy làm phản e rằng trăm họ khó tránh khỏi một cuộc chiến xương thịt tương tàn.

Hoài Đức vương có cách gì ngăn chặn được việc đó không?

Bà Liệt nói:

- Việc đó có khó gì, cứ diệt hết mầm mống nhà Lý đi, dẫu có người muốn làm phản cũng không thể dựa vào đâu mà nổi lên được.

Thủ Độ bảo:

- Người nhà Lý thì nhiều, làm sao mà diệt hết cho được.

Bà Liệt hăng hái nói:

- Thượng công cứ bắt hết giam lại, bố cáo là họ mưu phản, đem chém đi là xong.

Thủ độ xua tay, nói:

- Không được, làm như vậy sẽ loạn ngay.

Ta có một kế này nếu cháu chịu giúp chắc hẳn sẽ thành công.

Bà Liệt nói:

- Xin thượng công cứ dạy.

Vì cơ nghiệp họ Trần, cháu thề muôn chết không từ.

Thủ Độ cười, nói:

- Tốt!

Nhưng không ai cần cháu chết.

Việc là như vầy... như vầy... cháu cứ thế mà làm.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 6: Thái sư giết tôn tộc nhà Lý ở thái đường Hoa Lâm (2)


Bà Liệt nhận kế, lui ra tìm cách nhanh chóng thi hành, hôm ấy đang dẫn quân lính đến đất Đường Hào để tìm thợ giỏi, bỗng thấy một thanh niên khôi ngô cùng một gia nhân từ xa tiến lại.

Trong quân có người trước kia là lính của Nguyễn Nộn, biết thanh niên đó, nói:

- Người kia chính là Phạm Hữu, quản binh hiệu uý của Nguyễn Nộn ngày xưa.

Xin đại vương bắt lấy.

Bọn lính liền xúm lại bắt Phạm Hữu.

Tên gia nhân may mắn chạy thoát.

Bà Liệt sai người giải Phạm Hữu về nộp cho Trần Thủ Độ.

Thủ Độ hỏi:

- Nhà ngươi là một quản binh hiệu uý, chức tuy nhỏ nhưng việc lại trọng.

Triều đình đã thống nhất giang sơn được mấy năm rồi, cớ sao không ra trình diện mà lại trốn tránh.

Phạm Hữu nói:

- Trình thái sư!

Tôi vốn con nhà lương dân, không thích sự binh đao, không màng danh lợi, chỉ mong sao được sống yên nơi thôn dã, đem chút tài mọn cứu giúp dân lành, tích âm đức cho con cháu là mãn nguyện rồi.

Trước đây tôi tòng chinh cũng chỉ là chuyện bất đắc dĩ thôi, ba năm nay may gặp được ân sư chỉ bày phương lược dụng dược cứu người, mải mê học tập nên không biết Nguyễn Nộn đã chết, xin thái sư lượng thứ.

Thủ Độ xét hỏi một lúc, biết Phạm Hữu là học trò của Chử Nhiệm Khai, có ý nể trọng, hỏi:

- Nay non sông đã thu về một mối, trăm họ thoát cảnh đói nghèo, thiên hạ đang lúc thái bình nhưng không thể không lo binh bị phòng khi hữu sự.

Ta muốn phong ngươi làm quân dược hiệu uý, cho làm việc ở quân dược ty, chăm lo sức khoẻ cho quân đội.

Ngươi nghĩ thế nào?

Phạm Hữu nói:

- Cảm ơn thái sư đã có lòng bao dung nhưng xin cho tôi một tháng về lo việc nhà rồi đến để thái sư sai khiến.

Tướng Vương Lâm đang đứng hộ vệ bên cạnh Thủ Độ, thấy Phạm Hữu nói vậy liền quát:

- Ngươi thật to gan, không biết có trời cao đất dày chi hết, đã được thái sư tha tội, không biết tạ ân lại còn mặc cả đòi về một tháng.

Việc quân đâu có trì độn như thế được.

Hẳn là ngươi muốn chết.

Phạm Hữu nói:

- Tướng quân nhầm.

Bởi tôi sợ chết mới phải nhận quay lại.

Mấy lời vừa rồi của tướng quân làm cho cái ý sợ chết của tôi nó bay đi mất.

Tướng quân muốn giết, xin cứ việc ra tay.

Thủ Độ nói:

- Phạm Hữu mải học đến nỗi không biết cả những sự thay đổi như sấm sét ở bên ngoài, vậy cũng là người có trí.

Người ta ai chả có cha mẹ quê hương, Phạm Hữu xin về một tháng là muốn làm tròn đạo hiếu, giữ trọn nghĩa thầy trò, đó là điều chính đáng.

Vậy ta cho ngươi ba tháng lo liệu việc nhà, mùa xuân sang năm phải tới nhận việc.

Phạm Hữu lạy tạ, lui ra.

Thủ Độ bảo bọn Vương Lâm:

- Phạm Hữu là người có học.

Đối với hạng người này phải lấy ân đức mà thu phục, không thể dùng quyền uy và sự sống chết dọa nạt họ được đâu.

Hơn nữa đang lúc ta cần nhân tài, thêm được một người là quý một người, chớ nên bỏ lỡ.

Phạm Kính Ân nói:

- Ngày thường thái sư tự coi mình là người ít học, nhưng chỉ xem trong việc này cũng đủ biết ngài hành sự mẫn tuệ như bậc trí giả rồi.

Thủ Độ nói:

- Ta học hành lỗ mỗ, hành sự theo cảm tính, có đâu dám coi là trí giả.

Các ngươi chớ khen như vậy mà làm ta hư.

Phạm Kính Ân nói.

- Thái sư không cần đọc sách mà làm được như trong sách, há chẳng phải là bậc trí giả sao?

Thủ Độ hỏi:

- Ngươi nói đến sách nào vậy?

Kính Ân nói:

- Bẩm thái sư!

Trong sách Tam Lược của Hoàng Thạch công, có viết như sau: "Vốn đạo trị nước cậy ở người hiền và nhân tâm...

Trọng lễ thì chí sĩ quy tụ, trọng lộc thì nghĩa sĩ coi thường cái chết".

Quyển hạ lại nói rằng: "Ban ân xuống tới đâu thì người hiền theo về, ban ân xuống tới đâu thì thánh nhân theo về".

Việc thái sư ban ân cho Phạm Hữu chẳng nằm trong sách cả đó sao?

(Hoàng Thạch công: Người nước Hàn, sống vào cuối thời Chiến Quốc đầu thời Tần.

Ông là một trong những lãnh tụ của phái chống Tần.

Truyền thuyết cho rằng ông là thầy của Trương Lương thời Hán)

Trần Bà Liệt đem quân đến Hoa Lâm ở huyện Đông Ngàn, xây thái đường cho họ Lý, tập trung mấy nghìn binh lính và thợ giỏi làm ròng rã hết mùa hè, qua mùa thu sang mùa đông mới xong, cho người về báo với Trần Thủ Độ.

Thủ độ nói:

- Nhà Lý trị vì trên hai trăm năm, công đức tưới nhuần thiên hạ, mở mang văn trị, có nhiều đời vua sáng, Bắc đánh tan quân Tống, Nam chinh phục Chiêm Thành, võ công thật hiển hách.

Chỉ vì Cao tông vô đạo, Huệ tông ươn hèn đến nỗi muôn dân phải chịu lầm than.

Ta dựng thái đường ở quê hương nhà Lý để người họ Lý có chỗ phụng thờ tổ tông mà kéo dài hương hoả dòng dõi mãi mãi về sau.

Thủ độ nói rồi cho người mời tôn tộc nhà Lý đến Hoa Lâm tế tổ.

Chỉ có Lý Bảo Long là cháu nội Lý Du Đô (Lý Du Đô: Thái sư dưới thời Lý Anh Tông) nói là không lễ ở thái đường do họ Trần làm, trốn đi mất.

Hôm ấy mấy trăm người trong tôn tộc nhà Lý kéo đến thái đường khóc lóc làm lễ.

Từ sáng, Thủ Độ lệnh cho Vương Lâm và Phạm Kính Ân mang giáp binh bảo vệ, không cho thường dân quấy nhiễu.

Đến trưa họ Lý ăn cỗ uống rượu, già trẻ lớn bé say cả.

Thủ Độ gọi Bà Liệt đến bảo:

- Cho chúng đi gặp tổ tiên được rồi đấy.

Bà Liệt nhận lệnh đi ra.

Lát sau nghe một tiếng ầm long trời lở đất.

Cả ngôi thái đường đồ sộ đổ sụp xuống hầm sâu (Sự việc này vẫn còn được coi là một nghi án).

Trong đám khói bụi cuồn cuộn bốc lên có tiếng kêu la gào khóc của mấy trăm người, cả những đứa bé mới sinh được vài ngày cũng chung số phận.

Bà Liệt sai lính đào đất lấp hầm chôn sống tất cả.

Những ai định leo lên liền bị lính của Vương Lâm chém chết đẩy xuống.

Mấy hôm sau Vương Lâm hỏi Thủ Độ:

- Thái sư sợ mất lòng thiên hạ, phải nhường một anh học trò như Phạm Hữu mà lại có thể giết cả tôn tộc họ Lý là sao?

Thủ Độ nói:

- Sự quyền biến của việc trị nước phải như vậy, khi không cần giết thì một người cũng không giết; khi cần giết, mấy trăm người cũng phải giết có gì là lạ.

Vả lại Phạm Hữu tuy có cái ương ngạnh của kẻ sĩ nhưng xem ra lời nói chân thành, đó là người có cái tâm tốt, có thể dùng được.

Trời ấm dần lên, ánh nắng buổi sớm mùa xuân làm cho cây cỏ cùng muôn loài hồi sinh sau những ngày đông tái tê rét buốt.

Nền trời lộ ra những mảng màu xanh trong vắt.

Vầng thái dương gắng sức đẩy khối mây đen về phía cuối trời.

Nơi tiếp biên giữa ánh sáng và mây đen hừng lên một đường viền đỏ như máu.

Hoàng hậu Chiêu Thánh không nói năng gì.

Nàng ngồi thu mình trong góc phòng.

Dường như mùa đông nghiệt ngã vẫn chưa buông tha nàng.

Từ khi Hoàng thái tử Trịnh, đứa con mà nàng đặt bao niềm hy vọng không còn sống, Chiêu Thánh như người vừa điên vừa lãnh cảm.

Bốn năm qua rồi mà nàng không sao cải thiện được tình trạng ấy, tự giam mình trong phòng kín nơi cung cấm, chỉ ngày rằm, mùng một mới cùng thị nữ đến chùa Bảo Quang thắp hương trong bảo tháp, nơi cất giữ di hài cha nàng.

Những khi mẹ đến thăm, nàng càng cảm thấy buồn.

Những lời khuyên giải, những câu chuyện mẹ nói, sao nó nhạt nhẽo quá chừng, không thể nào nhớ được.

Gần đây nàng chỉ mơ hồ nhận thấy hình như mẹ nàng và ông chồng bà ta vị thái sư thống quốc đang có mưu đồ toan tính gì ghê gớm lắm nhưng nàng cũng không hỏi.

Thực tình họ làm gì nàng cũng đâu có để ý.

Nhà vua lâu lắm không bước tới căn phòng này, ngài đã mười chín tuổi, một thanh niên thực thụ, khoẻ mạnh với bao công việc và mĩ nữ vây quanh.

Làm sao nhà vua còn thì giờ đến căn phòng của người vợ lãnh cảm như nàng.

Hôm qua mẹ nàng nói chuyện gì đó về chị Thuận Thiên, không biết bây giờ chị ấy thế nào?

Hiển hoàng Trần Liễu chồng chị ấy sau vụ cưỡng dâm cung phi cũ của nhà Lý ở cung Lệ Thiên đã bị giáng xuống làm Hoài vương; chắc chị ấy buồn lắm.

Từ nhỏ mình đã không thích cuộc sống cung đình, lớn lên càng thấy chán ghét, nó bẩn thỉu nhơ nhớp độc địa quá, toàn thủ đoạn mưu mô và những trò dâm loạn.

Buồn thay, người đầu têu ra những trò dâm bôn loạn luân ấy lại chính mẹ mình cùng ông chồng và là em họ bà ta.

Rồi đến mình và chị Thuận Thiên cũng không thoát khỏi cái xoáy nước đục ngầu tanh tưởi ấy.

Ôi!

Hoàng cung vàng son lộng lẫy nhớp nhúa ê chề.

Trời ơi!

Sao lại bắt tôi sinh ra ở một nơi như vậy?

Muôn kiếp trước có thế không và muôn đời sau liệu có còn như vậy?

Chiêu Thánh đang miên man với những dòng suy nghĩ thì Thiên Cực công chúa mẹ nàng đến.

Thiên Cực công chúa Trần Thị Dung ngồi xuống bên con, ôn tồn nói:

- Hôm nay con thấy trong người thế nào?

Chiêu Thánh miễn cưỡng trả lời:

- Dạ!

Con khoẻ ạ!

- Những lời mẹ nói với con hôm qua, con đã nghĩ kĩ chưa?

- Dạ!

Hôm qua mẹ nói gì ạ?

Thiên Cực công chúa nhìn con, thở dài nói:

- Thế ra con chả để ý gì đến lời của mẹ cả.

Hoàng thượng nay đã lớn tuổi rồi mà con không sinh đẻ.

Cậu và mẹ định đón chị Thuận Thiên về bên này để cùng con hầu hạ đức vua cho có chị có em.

Chiêu Thánh choáng váng nhìn mẹ, kinh hãi nói:

- Hả?!

Mẹ nói cái gì?

Đón chị Thuận Thiên về bên này hầu hạ đức vua?

Còn Hoài vương?

Chị ấy đang mang thai của Hoài vương cơ mà?

- Chính vì đang có thai nên cậu con và mẹ mới muốn đón nó về bên này không sợ mai sau ngôi vua rơi vào tay ngoại tộc.

Chiêu Thánh lắc đầu, nói:

- À ra thế!

Để bảo vệ cái ngai vàng của nhà các người, không còn điều nhơ bẩn nào mà các người không làm.

Các người còn hỏi tôi làm gì nữa.

Ngôi vua!

Ngôi vua!

Tôi nhổ toẹt vào cái ngôi vua ấy từ lâu rồi.

Thái sư thống quốc Trần Thủ Độ ngồi trầm ngâm một mình, mọi công việc do vợ chồng ông sắp đặt diễn ra một cách trôi chảy.

Đám gia binh của Hoài vương Liễu đã giải tán về quê cả, công chúa Thuận Thiên cũng đón vào cung rồi, thế mà hoàng thượng lại biến mất.

Ông cho người đi tìm từ chiều qua đến giờ vẫn không thấy đâu.

Thiên Cực công chúa Trần Thị Dung thấy chồng suy tư nung nấu như vậy, không dám lại gần.

Bà biết những thời khắc trầm mặc của ông, đó là lúc ông vật vã để đi đến một quyết định nhằm giành lấy sự thành công.

Bỗng thái sư vỗ mạnh vào đùi, nói:

- Thôi đúng rồi!

Nhất định là như vậy.

Trần Thị Dung vội đến bên chồng, hỏi:

- Sao?

Ông biết hoàng thượng ở đâu rồi à!

- Đúng vậy.

Thằng này gớm thật.

Mình khổ sở để lo cho nó mà nó cứ giở chứng ra.

Nói không nghe, ông lột xác ra.

Nói rồi thái sư cho mời tướng quân Trần Khuê Kình đến, dặn:

- Nhà ngươi đem theo năm người đến chỗ quốc sư Phù Vân ở Yên Tử.

Ta chắc hoàng thượng ở đấy.

Nếu đúng như vậy, cử người về báo gấp cho ta.

Trần Khuê Kình nhận lệnh đi ngay, hai hôm sau cho người phi ngựa hoả tốc về báo quả là nhà vua đang ở Yên Tử.

Thủ Độ cho mời các tướng Phùng Tá Chu, Phạm Kính Ân, Vương Lâm đến dặn dò công việc, lại mời lão tướng Lê Khâm đến bảo:

- Việc phòng thủ kinh thành nhờ lão tướng đảm nhiệm cho.

Nói rồi cùng đoàn tuỳ tùng lập tức đem trăm quan đến núi Yên Tử.
 
Đất Việt Trời Nam - Đan Thành
Chương 6: Hoàng thượng hỏi đạo đời Phù Vân trong thảo am Yên Tử (1)


Thái Tông Trần Cảnh là người khoan nhân hiếu hữu, lúc ấy đã mười chín tuổi mà chưa có con trai.

Vợ chồng thái sư Trần Thủ Độ mưu việc cướp công chúa Thuận Thiên đang có chửa của Hoài vương Liễu về làm hoàng hậu.

Thái Tông nhất định không nghe nhưng vì Thủ Độ chuyên quyền o ép quá, ngài liền bỏ hoàng cung, mang Trần Thiêm trốn lên Yên Tử với quốc sư Phù Vân, quyết không cướp vợ của anh.

Quốc sư Phù Vân là người xuất gia từ nhỏ, khi xưa ở kinh thành thường được Thái Tông mời giảng kinh, vì vậy hai người gặp nhau mừng lắm.

Phù Vân biết được lý do Thái Tông lên núi lại càng kính trọng nhà vua hơn, nhưng ông cũng khuyên nhà vua nên quay về nắm giữ triều chính để trăm họ được yên định.

Thái Tông nói:

- Tôi lên đến đây là đã quyết vất bỏ ngai vàng, dứt đời phàm tục rồi, cũng không còn là vua nữa, xin quốc sư nhận làm đồ đệ mà chỉ bảo cho tôi thoát ra khỏi chỗ tối tăm.

Phù Vân nói:

- Chẳng lẽ hoàng thượng cho triều đình là nơi tối tăm ư?

Nhưng người đã quyết như vậy cứ tạm ở lại đây, ta cùng nói chuyện việc đạo việc đời cũng không có hại gì.

Đêm ấy tụng kinh xong, hai người ngồi trong am cỏ nói chuyện.

Bấy giờ đang là mùa xuân, mưa rừng rơi tí tách, thỉnh thoảng vọng một tiếng beo gầm vang trong khe núi; lại có tiếng con nai tác lên, chạy ràn rạt rất gần.

Gió thổi vi vút qua rừng thông như muốn liên kết các âm thanh rời rạc thành một xâu chuỗi trong cái vũ trụ thâm u riêng biệt của rừng già.

Phù Vân hỏi:

- Hoàng thượng nghĩ gì vậy?

Người có nhớ kinh thành không?

Thái Tông nói:

- Thưa sư phụ!

Tôi đang nghĩ về việc đạo.

Như nước Đại Việt ta từ lâu đã có ba giáo phái truyền từ Trung Nguyên và Thiên Trúc tới.

Phật, Lão, Nho ai có lý của người ấy, vậy đâu là chính đạo đây?

- Thưa hoàng thượng!

Chính không ở đạo mà ở người tu.

Chính không ở người tu mà ở người hành đạo.

- Thưa sư phụ!

Sao lại mơ hồ như vậy?

- Đạo nào cũng mưu cầu hạnh phúc cho con người nhưng người tu mượn nó để truyền điều lành đạo sẽ chính, truyền điều ác đạo sẽ tà.

Người được truyền điều lành làm điều lành càng chính nữa, được truyền điều ác làm điều ác càng tà nữa, được truyền điều ác mà vẫn làm điều lành chính thêm một bậc, được truyền điều lành mà làm điều ác tà thêm một bậc.

- Thưa sư phụ!

Vậy khi áp dụng vào việc đời nghĩa là kẻ được nuôi dạy tử tế mà không nên người thì có tội nặng hơn kẻ không được nuôi dạy phải không?

- Hoàng thượng thật thánh minh.

Người đã nắm được cái điều cốt lõi rồi đấy.

- Thưa sư phụ!

Ngày nay có người cho rằng tam giáo đồng nguyên, điều đó là đúng hay sai?

- Tâu hoàng thượng!

Đúng mà cũng sai.

- Xin sư phụ giảng cho.

Quốc sư Phù Vân im lặng một lúc mới nói:

- Tam giáo có nhiều chỗ không thống nhất được với nhau đến nỗi khác đạo không thể cùng bàn nên những người trung dung mới đưa ra thuyết tam giáo đồng nguyên nói rằng: Già Diệp bồ tát giáng sinh làm Lão tử, Tĩnh Quang bồ tát giáng sinh làm Khổng tử, Hộ Minh bồ tát giáng sinh làm Thích Ca Mầu Ni phật.

Thực ra thuyết ấy cũng chỉ nhằm mê hoặc người đời mà thôi.

Hoàng thượng có nghe những tiếng động ngoài rừng kia không?

Chúng cùng là những âm thanh nhưng tiếng gió mưa khác xa tiếng beo gầm và càng khác với tiếng tác của con nai.

Tam giáo tuy cùng có cái nguồn chung là lòng nhân, muốn dẫn con người đến thế giới toàn gồm những sự tốt lành nhưng mỗi giáo phái có cách nhìn về sự tốt lành khác nhau nên đường tu không giống nhau.

Đạo Phật hướng con người đến một chữ thiện.

Mọi người cùng hành thiện lo gì không có thế giới tốt đẹp.

Lão Tử hướng con người đến một chữ phác.

Phác nghĩa là giản dị thực thà thuần khiết.

Mọi người đều giản dị thực thà thuần khiết cả, không có ai mưu mô lừa dối, tội lỗi cũng không có chỗ để sinh ra, thế giới không có tội lỗi chẳng phải là thiên đường sao?

Đạo Khổng hướng người ta đến chữ dụng, có nghĩa là khuyến khích mọi người học tập để làm việc và biết làm việc có ích nhất.

Khi mọi người đều làm việc và trở thành hữu dụng cả, lo gì không giàu có sung sướng.

Nhưng nói cho cùng ba đạo đều nhầm lẫn cả.

Thái Tông kinh ngạc kêu lên:

- À ra vậy!

Xin sư phụ chỉ cho những điều nhầm lẫn ấy.

Quốc sư Phù Vân sôi nổi hẳn lên, dường như ông không còn là một nhà tu hành, nói:

- Tâu hoàng thượng!

Thiện ác, phác phức, hữu dụng vô dụng bao giờ cũng cùng tồn tại như lưỡng nghi âm dương.

Con nai con thỏ thiện quá tất bị con beo làm hại.

Nếu chỉ cần thiện mà không cần ác, nhà chùa đắp tượng các vị kim cương hộ pháp làm gì.

Còn phác ư?

Nếu chỉ phác để cho con người được vô vi sống theo bản năng tự nhiên, loài người chẳng giống như cầm thú hay sao!?

Hữu dụng ư?

Ai ai cũng cố rèn cho mình ngày càng trở nên tinh xảo để mong hữu dụng, đấu tranh với nhau mà nhoi mãi lên đó chính là khởi nguồn của sự ghét ghen đố kị, mầm loạn lạc tội lỗi ở đấy mà ra chứ đâu.

- Thưa sư phụ!

Như vậy bỏ hết đạo đi chăng.

- Tâu hoàng thượng!

Làm như vậy lại càng không thể được.

- Vậy xin sư phụ chỉ cho cần phải làm sao?

- Không phải bỏ đi mà cần kết hợp, điều hoà sao cho âm dương có sự cân bằng.

- Thưa sư phụ!

Như vậy là tuỳ hoàn cảnh mà hành đạo cho hợp lẽ có phải không ạ?

Quốc sư Phù Vân vui vẻ nói:

- Hoàng thượng lại nắm được một điều cốt lõi nữa rồi đấy.

Thái Tông ngẫm nghĩ một lúc, đột nhiên hỏi:

- Thưa sư phụ!

Thường ngày các vị tiên thánh ở đâu?

Thế giới tiên phật có khác gì với thế giới con người?

Phù Vân nói:

- Tiên phật làm gì có thế giới riêng đâu.

Các vị ấy vốn cũng là người, khi chết đi cũng nát tan cùng cây cỏ.

Phật tiên, ma quỷ thực sự tồn tại trong mỗi con người chúng ta.

Khi ta cứu kẻ hoạn nạn, giúp người đói khổ, nâng đỡ người yếu ớt tức là phật đã hiện ra trong cử chỉ của ta.

Khi hồn ta thư thái, thân ta an định sau những công việc mới làm xong, trên gương mặt thoáng một nét cười tươi tức là tiên thánh đã hiện ra trong nụ cười ấy rồi đấy.

Người đời tốn công vô ích đi cầu cúng nơi chùa nọ miếu kia mà không biết rằng cầu đạo hành thiện ngay chính trong tâm mình mới là điều căn bản nhất, mau chóng gặp tiên gặp phật nhất ở ngay chính nơi ta.

Thứ nhất là tu tại gia chính là như vậy.

Còn như ta manh tâm làm điều ác, hại người khác vì vọng lợi cho riêng mình thì ma quỷ cũng hiện ra trong mỗi hành động của ta vậy.

Thái Tông cúi đầu nghe và lẩm bẩm trong miệng:

- Đúng vậy!

Đơn giản thế mà sao lâu nay ta chẳng nghĩ ra.
 
Back
Top Bottom