传说黄巢围困陈州的时候,杀人磨碎之后当军粮,公开吃人肉。眼前的石盘,莫非就是当年的肉磨子?
Xưa có chuyện Hoàng Sào vây khốn Trần Châu, đã giết người băm nhỏ làm quân lương, công khai ăn thịt người.
Như vậy chẳng lẽ cái bàn đá trước mặt này chính là thứ băm thịt năm đó?
不记得黄巢和银川有没有什么特殊的关系,而且石磨子应该有上下两层才能转动,这里只有一个石盘,怎么能称为磨子呢?
Cũng không rõ Hoàng Sào và Ngân Xuyên liệu có quan hệ đặc thù gì, hơn nữa cái thứ gọi là Thạch Ma kia hẳn phải có hai tầng trên dưới mới chuyển động được, nơi này lại chỉ có một cái bàn đá, sao có thể băm thịt đây?
我对龙套说是不是他胡扯,龙套就道,两层的石磨效率太低了,这个石盘是把人肉放到上面,然后用锤子敲打,把肉敲碎之后,肉会嵌入到这些细小的孔中,一直敲打,就会把肉泥敲成肉糜,这石盘下方一定是空的,肉糜被挤压,从石盘表面的孔洞挤压下去,再从下面的口子挤出来,血水也不会浪费。
Tôi hỏi Long Sáo xem hắn có nói bậy bạ không, Long Sáo bảo, hiệu suất của Thạch Ma có hai tầng quá thấp, cách dùng của cái bàn đá này là trực tiếp đặt thịt người lên trên, sau đó dùng búa gõ, sau khi đập nát hết thịt, thịt sẽ hõm vào những cái lỗ nhỏ, tiếp tục gõ nữa, thì liền có thịt băm, dưới cái bàn đá này chắc chắn là rỗng tuếch, thịt băm bị ép, nương theo lỗ thủng trên bàn đá rơi xuống, tiếp tục từ dưới lỗ thủng ấy ra ngoài, đến máu cũng không lãng phí một giọt nào.
我看了看脚下,心说这脚下的水泥大楼,难道是一个储存仓,用来存储肉糜的。
Tôi nhìn dưới chân mình, thầm nghĩ bên dưới của cái tòa kiến trúc xi măng này, chẳng lẽ lại là một kho lương dùng để tồn trữ thịt băm.
喂的是什么东西,肉糜一般都是用来饲养幼兽的。难道喂的是那种狐狸人的小狐狸。
Việc này chẳng rõ là thế nào đây nhỉ, thịt băm thông thường đều được dùng để nuôi ấu thú.
Lẽ nào chính là dùng để nuôi con hồ ly kia.
我看龙套好像会的挺多,就问他是从哪儿得来的这些知识,他道他参加过四次非常著名的喇嘛,平日里和老一辈也混的比较好,他玩的比较拽的圈子里,有人喜欢吃这一套,他们不再以一个朝代,或者说一种物品作为收藏的对象,而以一个人作为收藏的对象。
Tôi thấy Long Sáo có vẻ biết nhiều việc, bèn hỏi gã từ đâu biết được những việc này, gã nói gã đã từng tham gia bốn lần gắp Lạt Ma nổi tiếng, bình thường cũng cùng vài người thuộc thế hệ trước lăn lộn khá tốt, trong giới gã quen cũng khá nhiều người, có những kẻ thích sưu tầm vật phẩm đủ cả bộ, cái mà họn họ muốn không phải là vật phẩm của cùng một triều đại, nói cách khác, bọn họ không sưu tầm theo vật phẩm, mà lấy theo vật phẩm liên quan đến một cá nhân nào đó để sưu tầm.
其中就有人喜欢收藏和黄巢有关的器物,不仅仅是实物,还有各种各样的典故和故事,他在他们家里闲聊的时候,听说过这种人肉磨子。
Trong đó, có một kẻ thích sưu tầm đồ vật có quan hệ với Hoàng Sào, không chỉ là vật dụng thực tế, mà còn có đủ loại điển cố về ông ta, gã trong lúc nghe người ta nói chuyện phiếm, tình cờ biết được chuyện băm thịt người đến chết.
这事情有点出乎我的意料,我去问车总,师爷却还没有龙套对这方面了解,他只是摸着那些小孔,说琢磨"这东西是什么?"没意义。
Chuyện này có hơi ngoài dự liệu của tôi, tôi bèn quay sang hỏi Xa Tổng, không ngờ một trợ tá cũng không có những hiểu biết về phương diện kia như Long Sáo, gã ta chỉ vuốt những lỗ nhỏ kia, suy xét xem "thứ này là cái gì?" rồi thôi.
这个车总价格非常高,在这一行做师爷的,分三个种类,有些就是现场鉴定的,有些是帮你定位和探穴的,有些是帮你解决疑难杂症的。
Giá cả của cái tên Xa Tổng này cao cực kỳ.
Phải biết rằng, trong lộ trình, trợ tá được phân ra làm ba loại, có người thì xem xét hiện trường, có người giúp anh xác định vị trí mộ huyệt, có người lại giúp anh giải quyết mọi nghi vấn hỗn tạp.
前两种都是知识和经验型的,靠的是经验,后一种则是靠自己的脑子的。这种师爷对于这是什么,为什么会这样往往没有兴趣,他们只会问你,你的目的是什么,然后告诉你,如果要达到目的,可以这么做。
Hai loại người đầu tiên đều đã có tri thức và kinh nghiệm, dựa trên kinh nghiệm mà làm việc, tuy nhiên loại cuối cùng lại phải dựa vào đầu óc của chính mình.
Dạng trợ lý đó thường không có hứng thú với những vấn đề như "đây là gì", "vì sao lại phải như vậy", bọn họ chỉ hỏi anh, mục đích của anh là gì, sau đó nói cho anh biết, nếu muốn đạt được mục đích thì có thể làm như thế này.
车总就是这一种师爷,但是他在道上名声非常臭,因为他喜欢睡东家的老婆,而且价格非常高,我反正没这个顾虑,钱我现在没工夫在乎了。
Xa Tổng chính là dạng trợ tá như thế, nhưng trong nghề này thanh danh gã cũng chẳng tốt đẹp gì.
Nguyên nhân là vì gã là một kẻ có thú vui với việc ngủ với vợ ông chủ, lại còn ra giá cực cao, tôi dù sao cũng không băn khoăn lắm, vấn đề tiền nong lúc này tôi cũng không có rảnh mà để ý nữa.
他和龙套一合计,就对我道:"那个水泥铁皮门是防爆的,咱们走不了,在县里买的炸药配起来威力不够,我们从这个石盘下工夫,先让龙套试炸一次。"
Gã và Long Sáo thống nhất kế sách, rồi quay sang nói với tôi: "Cái cửa xi măng bọc sắt kia chịu được lửa, chúng ta không đi qua được, lực nổ của thuốc nổ trong huyệt không mạnh, chúng ta cứ thử sức từ cái bàn đá này trước đã, hãy cứ để cho Long Sáo thử nổ một lần xem sao"
我点头,龙套就开始调配炸药,他的目的是在这些小孔上找出几个关键的位置,从这几个位置引爆。把石盘炸碎。其中石盘已经被这些小孔蛀的非常松动,只要爆破点选的好,可以一次性把它炸成非常小的碎片。
Tôi gật đầu, Long Sáo bắt đầu chế thuốc nổ, mục đích của gã là tìm ra mấy vị trí mấu chốt trong cái đống lỗ chi chít này, từ chỗ đó đặt kíp nổ.
Nổ bàn đá vỡ ra.
Bàn đá này vốn đã có vô số những lổ nhỏ đục khắp trên mặt, chỉ cần nổ đúng điểm, là có thể khiến nó nổ thành những mảnh vụn nát li ti.
车总拉着我的肩膀,就把我拉到一边,对我道:"你得给我加钱,加两倍。"
Xa Tổng kéo tay tôi sang một bên, nói với tôi: "Cậu phải cho tôi thêm tiền, gấp hai lần."
为什么?我就怒了,心说难怪人家说你人品不好,有这样临阵涨价的吗。
Vì sao?
Tôi nổi giận, thầm nghĩ khó trách người ta nói mày nhân phẩm tệ hại, vừa lâm trận đã lập tức tăng giá là sao.
车总道:"这地方和你说的不一样,我要是把这地方的真相说出来,这两个人不管你给多少钱都不会下去,现在你给我涨了,我就帮你守着。对你来说还是合算的,否则你就准备回去吧!"
Xa Tổng nói: "Nơi này khác với những gì cậu kể, nếu tôi đem sự thực nói ra, thì mặc kệ cậu cho hai người kia bao nhiêu tiền thì họ cũng sẽ không xuống dưới đó, hiện tại cậu tăng giá cho tôi, tôi sẽ giúp cậu trông chừng.
Đối với cậu mà nói vẫn có lợi, nếu không cậu chuẩn bị quay về đi thôi!"
我皱起眉头,问道:"什么真相?"
Tôi nhíu mày, hỏi: "Sự thật về cái gì?"
"你别装了。"车总道:"你会不知道这儿是怎么回事?小三爷你也算半个三爷的嫡传,咱们在这里就别假模假式,这地方就块假揭皮。"
"Cậu đừng giả vờ."
Xa Tổng nói: "Cậu lí nào lại không biết ở đây xảy ra chuyện gì sao?
Tiểu Tam gia cậu cũng coi như một nửa truyền nhân của Tam gia, chúng ta ở trong này cũng đừng bày trò lễ nghĩa khách sáo làm chi nữa, chỗ này rõ ràng là có một khối giả yết bì."
假揭皮,这说法我倒是真听说过,这是隐藏一个古墓最好的方法,按照一般原则来说,古墓只要存在,被人发现的几率就会随着岁月的流逝越来越高,而古墓对于我们这种人来说,基本上是不设防的。假设我发现了一个古墓,但是我暂时不想开这个斗,那保存这个古墓为我私有是一件非常麻烦,几乎不可能的事情。
Giả yết bì, cách nói này bản thân tôi đã từng nghe qua, đây là phương pháp tốt nhất để che chắn một cổ mộ, dựa theo nguyên tắc thông thường mà nói, chỉ cần có cổ mộ tồn tại, xác xuất bị người khác phát hiện theo năm tháng trôi đi càng ngày càng cao, mà những cổ mộ đó đối với chúng ta mà nói, trên căn bản không bố trí phòng vệ gì được.
Giả như tôi phát hiện một cái cổ mộ, nhưng tạm thời lại không muốn mở cái đấu này, việc bảo tồn cái cổ mộ ấy khiến tối vô cùng phiền toái, gần như là không thể nào.
所以在倒斗的体系里,大部分的原则都是快准狠,古墓的破坏和文物在盗掘时候的损失都是因为盗掘一个古墓的机会往往只有一次。所以在这段固定的时间内,往往能拿多少是多少,能进去几趟算几趟。
Cho nên trong hệ thống đảo đấu mà nói, phần lớn quy tắc đều là nhanh chuẩn mạnh, mọi tổn thất do phá hư cổ mộ và văn vật cũng đều bởi vì cơ hội của kẻ đi trộm mộ chỉ có một lần duy nhất.
Cho nên trong một khoảng thời gian cố định, thường có thể lấy bao nhiêu thì lấy, có thể vào được mấy lần thì vào.
但是也有人背道而驰,说白了就是洗白了的手艺人,既不愿意开这个斗,也不愿意白送给别人,他们就会在古墓上做一层假揭皮。
Nhưng mà cũng có nhiều người đi ngược lại với đạo lí đó, nói trắng ra là tẩy trắng tay nghề, không muốn mở cái đấu này, nhưng cũng không muốn tặng không cho kẻ khác, bọn họ liền làm một lớp giả yết bì trên cổ mộ.
假揭皮分很多种,最常见的办法是把这块地买下来,高墙大院的盖起房子,庙宇,俗话叫做压斗。但是这也有个弊端,就是手艺人在圈里往往名声在外,一有人听说谁谁在哪儿做了什么事情,立即就会想到那方面去,那这一行手艺里各种奇怪的人都有,你就算把斗的四周全部用桩子封起来,也有人有办法从各种地方打洞进去。
Qiả yết bì phân ra thành nhiều loại, cách thường thấy nhất là mua luôn mảnh đất này, đắp thành tường cao sân rộng che khuất nhà ở, miếu thờ, tục gọi là áp đấu.
Nhưng mà việc đó cũng có tác hại, chính là người trong nghề danh tiếng thường rất lớn, vừa có người nghe được ai ở chỗ đó làm cái gì, lập tức sẽ nghĩ đến phương diện kia, trong cái nghề này, loại người kỳ quái gì cũng có, dù cho anh có dùng cọc phong bế bốn phía của đấu, cũng sẽ có người dùng cách nào đó vào bằng nơi khác.
而且说实话,这种古墓是否真的有价值,里面有没有好东西,也没有什么定论,所以这种假揭皮成本太高也不实用。
Hơn nữa thực lòng mà nói, loại cổ mộ kiểu này cũng không thật sự có giá trị, bên trong có thứ đồ gì tốt hay không, cũng không có gì có thể chắc chắn, cho nên việc dùng giả yết bì tốn kém này cũng ít khi được dùng tới.
于是后来有人发明出了一种办法,就是在发现古墓的地表挖一个水塘出来,往里面灌水,把四周的地表结构全部破坏掉,或者就是在本来低洼的地表再加一层土,把原来的土层盖起来。
Vì thế về sau có người phát minh ra một loại phương pháp khác, có lẽ là phát hiện trên bề mặt cổ mộ có một con đường thủy để đi ra ngoài, rót nước vào con đường ấy, đem cấu kết ở bốn phía trên bề mặt đấy phá hủy, hoặc giả lấp vào chỗ trũng trên bề mặt đất một lớp đất khác, đem lớp đất thật che lại.
后者的工程非常浩大,往往用于古墓群,这一层土会被盖一到两年左右,在泥土里裹入碎石,使得这块区域看上去不适宜作为墓葬使用。同时四周土层的变化也会使得四周的风水格局发生变化,所以个人的盗墓贼是很难做到的。
Sau có nhiều công trình cực kỳ lớn, thường thì đều là quần thể cổ mộ, một lớp đất sẽ phải đắp gần hai năm, lấp đá vụn dưới bùn đất, khiến những khu vực này nhìn qua thích hợp làm chỗ đặt mồ mã.
Đồng thời lớp đất bốn phía thay đổi cũng khiến cho phong thủy vận mệnh nảy sinh biến hóa, cho nên bản thân kẻ trộm mộ thật sự khó mà làm đến cùng.
车总就告诉我,银川这一代古墓很多,贺兰山附近是西夏的皇陵,除去被保护起来的这一些,还有很多的皇陵级别的古墓,没有被发现。
Xa Tổng nói cho tôi biết, Ngân Xuyên này có rất nhiều cổ mộ, gần Hạ Lan Sơn là lăng hoàng đế Tây Hạ, những chỗ được bảo vệ ngày một ít, còn có rất nhiều lăng mộ cổ của hoàng đế, chưa hề bị phát hiện.
这块假揭皮有水泥结构,是现代人做的,但是应该不是军队,否则我们现在已经被打成窟窿窝了,而且如果是军方的话,直接修个军事基地,傻逼才会去挖军事基地下面的斗。
Khối giả yết bì có giàn khung bằng bùn, là do người hiện đại làm, nhưng hẳn là không phải quân đội, nếu không hiện tại chúng tôi đã bị bắn thủng lỗ chỗ rồi, hơn nữa nếu như là quân đội, thì hẳn là cứ trực tiếp xây một cái căn cứ quân sự đàng hoàng cho xong, có ngu mới đi đào một cái căn cứ quân sự dưới đấu thế này.
但是这块假揭皮规模太大,修建得十分专业,显然建筑实力是正规的,不是小毛贼做的。
Nhưng đống giả yết bì này quy mô quá lớn, thi công lại cực kỳ chuyên nghiệp, chắc chắn là trình độ kiến trúc chính quy, vài tên trộm vặt không thể làm được.
"水泥发黄,是老水泥,水泥的质地很奇怪。这里基本上不沾水,这种水泥的质地,应该是解放前的。"车总说道:"小三爷,这块假揭皮一定是军队做的,但是不是这个时代的军队,是上一个政府的军队。这个工程应该是在他们去台湾之前做的。当时那个战乱的败退时期,能够让他们花心思隐藏的,一定不是一个小型的古墓,甚至不会是一个普通的皇陵,一定是极其极其不一般的东西。"
"Xi măng biến thành màu vàng, là loại xi măng xưa lắm rồi, tính chất xi măng rất kỳ quái.
Loại xi măng này cơ bản không thấm nước, dựa vào tính chất này, hẳn là xi măng trước giải phóng."
Xa Tổng nói: "Tiểu Tam gia, cái đống giả yết bì này nhất định là do quân đội làm, nhưng có phải là quân đội hiện giờ hay không, hay là quân đội của một chính phủ khác.
Công trình này hẳn là được bọn họ xây trước khi đi Đài Loan.
Lúc ấy là thời kỳ loạn lạc, có thể khiến bọn họ phí tâm tư che che dấu dấu, nhất định không phải cổ mộ nhỏ gì, thậm chí cũng không phải là một hoàng lăng bình thường, nhất định là một ngôi mộ cực kỳ cực kỳ không tầm thường."
我不确定下面是否真的是古墓,但是我忽悠他们来的就靠这个,所以我没有否认,我只是问他道:"可是解放后,显然有人知道这个地方的存在。"
Tôi không chắc chắn bên dưới có phải cổ mộ hay không, nhưng tôi phải dựa vào việc này để lừa được bọn họ nên cũng không phủ nhận mà chỉ hỏi gã: "Có thể là sau khi giải phóng, rõ ràng đã có kẻ phát hiện ra sự tồn tại của nơi này."