Cập nhật mới

Khác Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện

Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 12: Kéo cá


老头不起线,我们没法离开,三个人坐在山崖上,云在天上飘过,我们一句话也不说,看着夕阳落下,在山岩上镀上了金色。

Ông lão không kéo dây câu, chúng tôi cũng không thể bỏ đi, cả ba đứa bèn ngồi xổm trên vách núi, nhìn mây trôi ngang bầu trời, không ai nói câu nào, chỉ nhìn mặt trời dần lặn, mạ một lớp ánh vàng kim lên vách núi.

风不大,空气冰凉,三个人挤在一起,让我想起了很多很多一样的时候,那个时候,我们每个人的心中,都有着不得不去做的事情,如今,心中空空如也,什么都没有。

Gió không lớn, khí trời lạnh lẽo, cả ba người cùng chui rúc một chỗ, làm tôi nhớ lại rất nhiều lúc giống y như thế này trước đây.

Khi ấy, trong lòng mỗi chúng tôi đều có việc không thể không làm, mà bây giờ, trong lòng trống huếch trống hoác, chẳng có gì cả.

"真美啊,之前看过那么多山川大河,怎么就没有停下来好好看看呢?"胖子说道。

"Đẹp quá đi, ngày trước từng đi qua bao nhiêu là núi cao sông dài đến thế mà sao chưa từng dừng lại ngắm kỹ một tí nhỉ?"

Bàn Tử nói.

是啊,真美啊。夕阳慢慢降到天的边际,我打开手机,这里没有信号,所以还有很充足的电,我放出一首没有歌词的歌,然后靠着胖子沉沉的睡去。他身上有一股胖子特有的混合着烟草的油脂味。在野外三个月,所有人身上都是这种味道吧。

Đúng vậy, thực sự rất đẹp.

Vầng tịch dương dần dần lặn xuống sát mép đường chân trời.

Tôi bật di động, ở đây không có sóng, nhưng pin vẫn còn nhiều, tôi bật một bài nhạc không lời, sau đó tựa vào Bàn Tử mà ngủ.

Người Bàn Tử có mùi thuốc lá trộn với mùi dầu mỡ đặc trưng.

Ở nơi thôn quê dã ngoại khoảng ba tháng, trên người ai cũng ám cái mùi này.

从长白山回来之后,再也没有在野外睡去,以前每次睡觉之前,我都会希望不要发生任何的事情,不要做梦。这一次,不会再发生任何事情了吧。

Sau khi trở về từ Trường Bạch, không còn ngủ ngoài rừng núi nữa, chứ ngày xưa hễ mỗi lần đi ngủ tôi lại thầm cầu khấn đừng xảy ra chuyện gì, đừng nằm mơ cái gì.

Nhưng lần này, hẳn sẽ không còn cái gì xảy ra nữa.

下午8点,降温之后,我被冻醒了,胖子张着嘴大睡,闷油瓶不在我们身边,我揉了揉脸,点上一只烟把胖子推开,站起来,就看到深潭边上的两盏渔灯,其实就是防水矿灯,闷油瓶提着帮老头照着潭面。老头踩在水里,正在转动滚轴,把线拉上来。

Tám giờ tối, nhiệt độ hạ thấp, tôi tỉnh giấc vì lạnh.

Bàn Tử vẫn há mồm ngủ say như chết, Muộn Du Bình không ở bên cạnh chúng tôi nữa.

Tôi day day mặt, châm một điếu thuốc, đẩy Bàn Tử ra, đứng lên, liền thấy bên đầm sâu có hai ngọn đèn cá, thực ra đó là một loại đèn mỏ không thấm nước.

Muộn Du Bình đang xách đèn, giúp ông lão chiếu xuống mặt đầm.

Ông lão lội nước, đang xoay trục quay, kéo dây câu lên.

"怎么了?"我走下去,老头说道:"中鱼了。"

"Sao thế?"

Tôi trèo xuống.

Ông lão nói: "Cắn câu rồi."

鱼线崩的笔直,每一次转动一圈,老头几乎都用出了吃奶的劲道,他用力转动两三圈,然后忽然放掉,滚轴便非常的转动十几圈,然后老头再死死锁住。

Dây câu căng ra thẳng tắp, mỗi lần xoay một vòng dây, ông lão cứ như thể phải dùng hết sức bình sinh từ khi còn bú mẹ vậy.

Ông ta dùng sức xoay hai ba vòng, sau đó đột nhiên lại thả ra, trục quay lại quay vun vút ngược lại hơn mười vòng, sau đó ông lão khóa chặt cái trục lại.

"是那条鱼么?"我心说龙棺菌这么有用么?这么多年没重,竟然中了么?

"Là con cá kia à?"

Tôi nghĩ bụng, lẽ nào thứ Long quan khuẩn kia hữu dụng đến thế cơ à?

Bao nhiêu năm thế mà không cắn câu, giờ lại cắn câu ư?

老头叹了口气:"不是,应该是其他鱼,力气很大,大概有一米多长,我以前也钓到过,不是它,否则——"

Ông lão thở dài: "Không phải, là cá khác, sức rất lớn, dài chừng hơn một mét, hồi trước tôi cũng câu được rồi, nhưng mà không phải nó, chứ không..."

我不知道老头否则什么,也许是:否则他根本拉不起来。我看着他开始逐渐加大了收线的频率和力度,慢慢的,鱼线那边的拉力和爆发力慢慢减弱,老头开始不停的收线,此时,我们就可以帮忙了。

Tôi không biết "chứ không" cái gì, có lẽ là: chứ không ông ta căn bản không thể kéo dây nổi.

Tôi nhìn ông ta bắt đầu dần dần tăng lực và tần suất xoay trục kéo dây câu, dần dần, sức kéo và lực quẫy đạp từ đầu bên kia của dây câu yếu dần yếu dần, ông lão bắt đầu không ngừng thu dây, lúc này, chúng tôi có thể giúp ông ta được rồi.

一个人收一个小时,轮到我的时候,我还兴奋了一下,鱼线虽然没有抵抗了,但是手感仍旧非常沉重,几分钟手就没力气了,得休息一下才能继续。胖子醒的时候,我们正好把那条鱼从深潭里拉了上来。出水的刹那,我就看到矿灯逛下,一个黑影带着白鳞出现在水面下。水面有放大效应,那个影子像个怪物一样。

Mỗi người kéo dây câu một tiếng, đến phiên tôi, tôi vẫn còn hưng phấn, con cá dưới kia mặc dù không còn quẫy nữa, nhưng cảm giác vẫn nặng trịch như cũ.

Kéo được mấy phút đã hết cả sức rồi, phải nghỉ một lúc mới làm tiếp được.

Lúc Bàn Tử tỉnh dậy cũng là lúc chúng tôi dần lôi được con cá kia lên từ dưới đầm nước sâu.

Khoảnh khắc khi nó nổi lên trên mặt nước, tôi liền nhìn thấy, dưới ánh đèn loang loáng là một bóng đen có vảy trắng lấp ló dưới mặt nước.

Mặt nước có tác dụng phóng to, nom cái bóng kia cứ như con quái vật.

那是一条大青鱼,有一米六长,眼睛已经退化了,不知道是什么品种。

Đó là một con cá trắm đen cỡ bự, dài chừng hơn một mét sáu, hai mắt đã thoái hóa, không biết là giống gì.

"吃过潭鱼么?"老头问我,我并不知道我吃的那些鱼从哪儿来,但鱼的味道不是差不多么。"放回去吧,长那么大不容易。"我对老头道:"我们四个人吃不了多少。"

"Ăn cá đầm bao giờ chưa?"

Ông lão hỏi tôi, tôi cũng không biết lũ cá tôi ăn là từ đâu, nhưng mà cá, không phải là mùi vị cũng na ná nhau thôi à?

"Thả nó về đi, to như thế cũng không dễ dàng gì."

Tôi nói với ông lão: "Bốn người chúng ta cũng không ăn được bao nhiêu."

老头拉着鱼线把鱼拖到旱地,摇头,我此时才看到,这条大鱼的肚子上,有一个巨大的缺口,几乎将整条鱼咬断。

Ông lão kéo dây câu, kéo con cá tới chỗ nước cạn, lắc đầu.

Lúc này tôi mới nhìn thấy trên bụng con cá lớn này có một lỗ thủng to tướng, gần như cắn đứt toàn bộ con cá.

"刚才不是我把它的力气消耗掉的,它忽然不动了,是因为被一条更大的鱼咬了一口,立即就死了。"

"Mới nãy nó đột nhiên bất động, không phải là do kiệt sức, mà là vì bị một con cá khác lớn hơn cắn một cái, chết ngay tức khắc."

我用巴掌丈量了一下鱼身上的缺口,吸了口凉气。嘴倒是不大,但是这一口的力道和准度,这是条猛兽。几乎被咬到一口就会致命,连同内脏一口就会被扯掉。

Tôi dùng gang bàn tay đo cái lỗ to tướng trên mình cá, rùng mình.

Miệng không phải là to, nhưng một phát cắn này, xét về lực và độ chuẩn xác, thì đúng là loài mãnh thú.

Gần như bị cắn một cái là trí mạng ngay, thậm chí cắn một cái cũng kéo hết cả nội tạng ra được.

"我说的是真的,对吧。"老头看着我:"它就在下面。"

"Là sự thật, thấy chưa."

Ông lão nhìn tôi: "Nó ở ngay dưới ấy."

他的表情炯炯有神,眼中的浑浊消失了,看着水面,就像能直接看到深处去。

Khuôn mặt ông ta sáng rực, hai mắt không còn đục ngầu.

Ông ta nhìn chằm chằm mặt nước, cứ như thể nhìn xuyên được sâu dưới đáy đầm.

也许在这么多年里,他也无数次的怀疑过,这条鱼是不是真的存在吧。我心说,老头默默的站起来,将鱼找了一刻树枝挂起来,开始挂鳞片,处理内脏。

Có lẽ trong suốt nhiều năm đến vậy, ông ta cũng vô số lần từng hoài nghi, con cá này không biết có thật hay không.

Tôi thầm nghĩ vậy.

Ông lão lẳng lặng đứng lên, treo con cá lên chạc cây, bắt đầu đánh vảy, lọc nội tạng.

我再一次用手电自己看这个水潭,重新审视它,来到水潭的四周,看这里的最高水位能到多少,这可以帮我还原当时那些人丧命的真实原因。

Tôi lấy đèn pin soi đầm nước này nhìn lại một lần nữa cho kỹ, đi khắp bốn phía quanh đầm, xem mực nước cao nhất ở đây là chừng nào, những dữ liệu này có thể giúp tôi phỏng dựng lại nguyên nhân thực sự của cái chết những người đi câu năm xưa.

按照老头的说法,当时那些人在死前,看到了水面下有水草在动,水草是长在那条鱼上的。

Dựa theo lời kể của ông lão, những người đó trước khi chết đều nhìn thấy dưới mặt nước có thủy thảo dập dềnh, thủy thảo là mọc trên thân con cá vua kia.

当时福建大旱,水位比现在肯定还低,水面本身就不宽,如果在低水位,狭窄的水面下看到了一条长满水草的鱼在活动,鱼不可能太大。

Lúc đó Phúc Kiến gặp hạn hán lớn, mực nước chắc chắn thấp hơn bây giờ nhiều, mặt nước cũng không rộng.

Nếu ở nơi mực nước thấp, mà dưới mặt nước chật hẹp lại nhìn thấy một con cá trên mình mọc đầy thủy thảo đang bơi, thì con cá này không thể quá to được.

看刚才青鱼的伤口,鱼嘴也不大。是不是可以这么推断,这是一条一米以下的鱼,但一米以下的鱼,有没有这么大的力气,可以直接一口咬死一条青鱼?

Dựa vào vết thương trên mình con trắm đen lúc này, miệng cá cũng không lớn.

Vậy có thể suy đoán như thế này được không, đây là một con cá có chiều dài dưới một mét, nhưng cá dài dưới một mét liệu có khỏe đến vậy không, có thể đớp một cái liền cắn chết ngay một con trắm đen được?

我心中产生了疑问,这个水面,似乎和所有听到的线索,有冲突。但我对于鱼类确实不了解。

Trong lòng tôi có chút ngờ vực, mặt nước này, dường như mâu thuẫn với tất cả những đầu mối có được.

Nhưng tôi quả thực không am hiểu về các loại cá.

我抽了一口烟,地下湖里是绝对黑暗,为什么鱼身上会长着水草,或者不是水草,而是水草样的东西?

Tôi rít một hơi thuốc, hồ ngầm dưới lòng đất chắc chắn là tối om, vì sao trên mình cá lại mọc thủy thảo?

Hoặc giả không phải thủy thảo, mà là một thứ gì đó trông giống thủy thảo?

把疑点罗列一下:小哥有兴趣,地下湖呈现太极的形状,湖中有人工修建的石头墙,湖中有怪鱼在大旱的时候浮上水面捕食,怪鱼出现的水潭很小,怪鱼身上有水草一样的东西。

Tôi liệt kê những điểm đáng ngờ ra: sự hứng thú của Tiểu Ca, hồ nước ngầm hình Thái Cực, trong hồ lại có một bức tường đá do con người xây dựng, lại còn có quái ngư đến mùa hạn thì nổi lên mặt nước vồ người ăn thịt, đầm nước nơi quái ngư xuất hiện lại quá nhỏ, trên mình quái ngư có thứ gì trông như thủy thảo.

雷本昌是给盗墓贼掌灯的。

Lôi Bản Xương là kẻ cầm đèn cho lũ trộm mộ.

我停止了思考。我们现在还是为了钓鱼,不要让这件事情,变成另外一件事情。保持这种简单的内心,除非我真切的看到谎言,那个时候我会把雷本昌在任何地方丢下。

Tôi dừng suy luận.

Hiện giờ chúng tôi vẫn là vì câu cá, đừng biến chuyện này sang chuyện khác.

Giữ vững nội tâm đơn giản, trừ phi tôi nhìn thấy một lời nói dối rõ rành rành, lúc đó, tôi sẽ mặc xác Lôi Bản Xương.

雷本昌把鱼处理完,切成条,用作鱼饵,他根据伤口的大小,把鱼切成了大概半截手臂大小的块,泡在龙棺菌液里

Lôi Bản Xương xử lý xong con cá, cắt thành từng miếng nhỏ, dùng làm mồi câu.

Ông ta căn cứ vào kích cỡ vết thương trên mình cá, cắt cá thành từng miếng to cỡ nửa cánh tay, ngâm trong dung dịch Long quan khuẩn.

在潭水中把手洗干净,他来到正在研究鱼头的我们边上,开始处理鱼头,胖子秒懂:"鱼头豆腐汤!他娘的,我还没见过那么大的鱼头。咱们的锅子够不够大。"

Rửa sạch tay bằng nước đầm, ông ta đi tới bên cạnh đám tụi tôi vẫn đang nghiên cứu đầu cá, bắt đầu xử lý đầu cá.

Bàn Tử reo lên: "Canh đầu cá nấu đậu phụ!

Mẹ, tôi chưa từng thấy đầu cá nào mà bự dữ vậy.

Nồi của tụi mình có đủ to không thế."

雷本昌说道:"鱼饵里有棺材菇,这鱼头没法吃,洗不干净的。但是鱼脑可以挖出来吃。我们明天再往里走,到那个我说的,两个潭很近,但是鱼下去要几个月的地方。接下就就要靠你们了。"

Lôi Bản Xương nói: "Trong mồi câu có nấm quan tài, đầu cá này không ăn được, rửa thế nào cũng không sạch.

Nhưng não cá thì ăn được.

Ngày mai ta lại đi vào sâu hơn, đến cái đầm cá bơi sang mất mấy tháng ấy, hai đầm rất gần nhau.

Sau đó phải nhờ vào các cậu rồi."

"你为什么不试试,这个潭不是中鱼了么?"

"Sao ông không thử chút, đầm này không phải có cá cắn câu à?"

"过去那么多年,潭鱼钓上来很正常,但是那条鱼一次都没有上钩过。下面是个大湖,要钓一条特定的鱼,太难了。"老头道:"如果你们可以陪我半年,我可以碰运气,但这显然不可能,我也不想耽误你们。"

"Qua nhiều năm như thế, đầm có cá cắn câu cũng rất bình thường.

Nhưng mà con cá kia thì chưa từng một lần mắc câu.

Bên dưới là một cái hồ lớn, muốn câu riêng một con cá, quá khó khăn."

Ông lão nói:"Nếu mấy cậu có thể theo tôi nửa năm, tôi có thể đi thử vận may, nhưng đương nhiên chuyện này không thể, tôi cũng không muốn làm lỡ dở các cậu."

老头咳嗽了几声,眼神重归浑浊,转身缩回了帐篷里。我们面面相觑,胖子说道:"这是个死士。"

Ông lão ho khan vài tiếng, hai mặt đục ngầu như cũ, quay người trở về lều.

Chúng tôi nhìn nhau, Bàn Tử bảo: "Đó là một tử sĩ."

"什么意思?"

"Ý gì?"

"他知道自己的结局是什么样子的,已经心无旁骛。你见过这种人么?"

"Ông ta biết kết cục của mình là gì, cho nên đã không còn để ý đến nó nữa.

Cậu gặp loại người như thế bao giờ chưa?"

我的脑中闪现出潘子最后的表情。心中抽了一下。

Trong đầu tôi dần dần hiện lên vẻ mặt cuối cùng của Phan Tử.

Trong lòng như bị bóp nghẹt một cái.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 13: Mật cá


第二天早上启程,我浑身处在一种舒缓和紧张错乱的状态里,因为这半年下来,我的身体已经完全舒缓了下来,但这种环境,让我本能开始调动我舒缓下来的神经,想重新活跃起来。

Sáng hôm sau bắt đầu lên đường, toàn thân tôi rơi vào một loại trạng thái vừa thư giãn vừa căng thẳng, bởi trong suốt nửa năm qua, cơ thể tôi đã dần quen với thư giãn, nhưng trong hoàn cảnh bây giờ, theo bản năng tôi lại bắt đầu lên dây cót thần kinh để lại có thể hoạt động mạnh lần nữa.

在路上,胖子翻着手机上昨晚拍的鱼,就一直眯着眼睛,鱼已经变成鱼片了,昨晚唯一有这条鱼存在的证据,就是这张照片。不知道胖子为何一直看着。

Trên đường đi, Bàn Tử giở di động nhìn ngắm mãi tấm ảnh chụp con cá hôm qua.

Cá đã biến thành cá miêng, chứng cứ duy nhất cho thấy sự tồn tại của con cá này tối hôm qua chỉ còn lại bức hình này.

Không hiểu sao Bàn Tử cứ nhìn nó mãi.

"你是没吃上鱼头心有不甘呢,还是已经变态,连鱼都不放过了?"我问他道。

"Anh không ăn được đầu cá thì không cam lòng à?

Biến thái thật, ngay cả cá cũng không tha luôn?"

Tôi hỏi anh ta.

"你懂个屁,要学会从细节发现线索。"胖子说到:"一看天真你丫就不知道生产知识,也难怪,你这种生活在城市里的小少爷,能分得清楚猪羊就不错了。"

"Chú thì biết cái gì, phải học cách tìm đầu mối từ những chi tiết nhỏ nhất chứ."

Bàn Tử nói: "Vừa nhìn là biết Thiên Chân cậu không biết học tập tri thức mới, cũng khó trách, cái loại cậu ấm ở thành phố như cậu, biết phân biệt đâu lợn đâu dê đã là tốt lắm rồi."

在胖子眼里我可能永远都是小少爷,我凑过去,看着他把图片放大了,在看那条鱼的伤口。

Trong mắt Bàn Tử, có lẽ tôi vĩnh viễn là một cậu ấm.

Tôi lại gần, nhìn hình ảnh anh ta đã zoom to lên, xem vết thương trên mình con cá.

"到底怎么了?"我勾住他:"少他么给我装蒜,立即,马上,即刻,right now告诉我。"

"Rốt cuộc là làm sao?"

Tôi níu lấy anh ta: "Bớt giả vờ giả vịt, nói cho tôi biết, ngay bây giờ, ngay lập tức, right now."

"你他么不会自己看,这咬的地方是哪里?"

"Sao cậu không tự đi mà nhìn ấy, xem vết cắn ở chỗ nào?"

我看了看伤口的部位,心说我对鱼的生理结构又不熟悉,怎么知道是哪里,仔细看了看部位,是肚子往下一点的地方,心中倒吸一口冷气,说到:"难道是鸡巴被咬走了?"

Tôi xem vị trí vết thương, nghĩ thầm tôi đâu có biết gì về cấu tạo sinh lý của loài cá cơ chứ, làm sao mà biết là chỗ nào.

Cẩn thận quan sát vị trí, đó là ở phía dưới bụng cá một chút, tôi bèn âm thầm rùng mình, nói: "Chả lẽ dương vật của nó bị cắn đứt mất tiêu rồi?"

"你什么时候看过鱼长鸡巴?你家吃过鱼鞭啊。"胖子道:"这个部位对于青鱼来说很特殊,你如果搞过生产一定知道,青鱼有二宝,青鱼石和青鱼胆,青鱼胆有剧毒,可以入药,吃多就会挂。"

"Cái nhà chú mày nhìn thấy dương vật cá lúc nào?

Đã từng ăn rồi à?"

Bàn Tử nói: "Đây là vị trí khá đặc biệt với cá trắm đen, nếu cậu đi làm sản xuất rồi là biết ngay, cá trắm đen có hai thứ quý, đó là sỏi và mật.

Mật cá trăm có kịch độc, có thể làm thuốc, ăn nhiều là đi đời nhà ma."

"你他么这些冷门的知识都是从哪儿学来的?"我道,看着图片上青鱼的伤口:"你的意思是,这个部位,是青鱼胆的部位。"

"Trời, mấy kiến thức chuyên môn này anh lấy từ đâu ra?"

Tôi nói, nhìn vết thương con cá trong ảnh: "Ý anh là, vị trí vết thương, là chỗ mật của con cá."

胖子点头,我就问道:"你的意思是,这条鱼这个部位被咬不是偶然。青鱼胆有什么用?"

Bàn Tử gật đầu.

Tôi lại hỏi: "Ý anh là, con cá bị cắn ở đó không phải là ngẫu nhiên?

Mật cá trắm đen có tác dụng gì?"

胖子沉默不语,啧了一声才道:"老子又没中过,怎么知道。问老头,老头肯定知道。"

Bàn Tử im lặng không nói, chậc một tiếng rồi mới đáp: "Ông đây chưa từng gặp phải, sao biết.

Hỏi lão già kia, ông ta chắc chắn biết."

雷本昌在我们前面走着,眼睛一直看着前面,我知道他什么都没有想,但也没有走神,他走路就是走路,他现在这个时候,天地间没有东西可以再烦扰他,除了我。我上去就把胖子的问题问给他。

Lôi Bản Xương vẫn đi phía trước chúng tôi, mắt nhìn thẳng về phía trước.

Tôi biết ông ta không suy nghĩ gì cả, cũng không thất thần, ông ta cứ thế bước đi, lúc này, trời đất không một cái gì có thể làm quầy rầy ông ta, ngoại trừ tôi.

Tôi bèn đi tới chỗ ông ta, hỏi vấn đề mà Bàn Tử vừa đặt ra.

雷本昌看了一眼手机的图片,也皱了皱眉头:"哦,啧,这有点意思。"老头告诉我,青鱼胆是重要,清火明目,青鱼胆吃多了上吐下泻,很容易就会麻痹休克,或者就死了。我回到胖子身边,胖子就道:"咱们假设,暂时假设哈,这一口是看准了咬的,老头要钓的那条怪鱼,会不会爱吃鱼胆。"

Lôi Bản Xương thoáng nhìn tấm hình trên di động, cũng nhíu mày một cái: "Ừ, chậc, cũng có lý."

Ông lão nói tôi biết, mật cá trắm đen rất quan trọng, thanh nhiệt sáng mắt, nhưng ăn nhiều sẽ nôn mửa và tiêu chảy, dễ bị choáng, sốc, thậm chí có thể chết.

Tôi quay lại bên Bàn Tử, Bàn Tử bảo: "Chúng mình giả thiết, tạm thời giả thiết thôi, một phát cắn này là cắn đúng chỗ, tức là con quái ngư ông lão muốn câu kia có khi nào lại thích ăn mật cá hay chăng?"

此时无法验证,只能说是一种臆想。但不知道为什么,我总觉得胖子说的是有可能的。为什么有这种直觉,我无法思索清楚,总觉得其实有所根据,又不知道从何处连接。

Lúc này không thể nghiệm chứng được, chỉ có thể nói là một phán đoán mà thôi.

Nhưng không biết vì sao, tôi cứ luôn cảm thấy lời Bàn Tử nói rất có khả năng.

Vì sao lại có trực giác này, tôi không thể nói rõ ràng ra được, vừa cảm thấy rất có căn cứ, nhưng lại không biết căn cứ từ đâu ra.

很快我们便到达了那个泉眼所在,老头非常熟悉,所以他有一条便于行走的路线,虽然没有路,但是碎石和落脚的地方他都知道。我们到了谭边,便知道不一般。

Chả mấy chốc, chúng tôi đã tới con đầm bên kia.

Ông lão quen đường nơi này, cho nên ông ta có thể vạch ra một tuyến đường đi lại dễ dàng, mặc dù không có đường mòn, nhưng đá vụn chỗ nào đặt chân vào đâu ông ta đều biết hết.

Chúng tôi đến bên bờ đầm, liền biết không bình thường.

这个水潭处在一个小天坑之下,天坑四周的乱石缝隙里全是榕树,榕树密密麻麻几乎挤在一起,根须布满了天坑壁,榕树的树枝犹如很多巨手,在天坑的上方互相纠缠,把整个天坑都盖了起来,只有斑驳的阳光可以照进了一些,在这些树枝上也都有无数的气生根垂下,落到天坑下面的水潭里

Đầm nước này nằm dưới đáy một thung lũng nhỏ tròn vành như cái giếng thiên nhiên, khắp tứ phía là những tảng đá khổng lồ lổn ngổn, các cây đa mọc lên từ những khe hở giữa các tảng đá đó.

Cây đa rậm rạp hầu như chen chúc cùng một chỗ, rễ khí phủ đầy vách đá thung lũng, cành cây như vô vàn những cánh tay khổng lồ quấn quýt ngay trên đầu, phủ kín hết phía trên thung lũng, chỉ còn có một ít tia nắng len lỏi vào chiếu xuống được dưới đáy.

Trên những cành cây lại có vô số rễ khí khác rủ xuống mặt nước đầm dưới đáy thung lũng.

整个天坑的口子有两个篮球场大,是一个大潭,往下看水碧黑,显然非常的深。我们靠近的时候,无数的小鸟飞了起来,从缝隙中飞了出去。

Toàn bộ thung lũng rộng cỡ hai cái sân bóng rổ, là một đầm nước lớn, nhìn xuống mặt nước đen thẫm ánh biếc, chứng tỏ sâu vô cùng.

Khi chúng tôi đến gần, vô số chim chóc ríu rít bay vọt ra ngoài từ các kẽ hở.

"有点意思。"胖子说到:"小哥,这要是夏天,咱们肯定游个痛快。"

"Thú vị thật."

Bàn Tử nói: "Tiểu Ca, giá mà giờ mùa hè là tụi mình phải nhảy xuống bơi một chuyến cho thống khoái."

闷油瓶没有说话,看了看周围的乱石,我已经明白,这里就是之前一直想找到的采石场,榕树在石头缝隙里发芽,长成了大树,都有四五人的怀抱,从这个就能推断这边的采石场最晚都有大几百年的历史。

Muộn Du Bình không nói gì, nhìn đá tảng lổn ngổn xung quanh.

Tôi liền hiểu ra, trước kia nơi đây là một mỏ khai thác đá, cây đa nảy mầm từ trong các khe hở giữa các tảng đá, lớn lên, trở thành đại thụ, to đến cỡ bốn năm người ôm, chứng tỏ mỏ đá này ít nhất cũng phải có mấy trăm năm lịch sử rồi.

闷油瓶头稍微一转,如今我已经能够知道他的一些习惯,这是在看石头之间的距离,接着他猛一发力,两步凌空踩着一块石头侧面突起的裂缝,再次翻身跳起,单手一撑就上到了榕树的树梢上,丝毫没有停留,往上踩跳,几个几乎人类不可能做到的动作,上了榕树的树冠。

Muộn Du Bình hơi quay đầu.

Bây giờ tôi đã có thể biết một số thói quen của hắn rồi, đây là hắn đang đo khoảng cách giữa các tảng đá đây mà.

Sau đó, hắn đột ngột dùng lực, bước hai bước nhảy vụt lên không, đạp vào một khe nứt bên sườn tảng đá, lại mượn lực nhảy lên lần nữa, một tay bám liền thoăn thoắt leo tới ngọn cây đa.

Không dừng lại, hắn lại trèo lên trên cao nữa, sau mấy động tác mà người thường gần như không thể nào làm nổi, hắn đã chễm chệ trên tán cây.

我和胖子已经习惯,就像放了个窜天猴一样看都不看,从目瞪口呆的雷本昌边上经过,开始两个互相帮助的缓慢攀爬。

Tôi và Bàn Tử đã quen, như thể đốt một quả pháo bông ấy, không thèm nhìn, cứ thế đi qua Lôi Bản Xương đang trợn mắt há mồm, hai đứa bắt đầu thong thả giúp nhau trèo lên.

"小心腰啊。"胖子道,把我托上闷油瓶跳上去的石头,我转身把他拉上来,然后慢慢的抱住树杆,胖子把我顶上去。

"Coi chừng thắt lưng đó."

Bàn Tử nói, đỡ tôi trèo lên tảng đá Muộn Du Bình vừa nhảy vèo cái lên, sau đó tôi quay lại kéo anh ta trèo lên, xong từ từ ôm lấy thân cây, Bàn Tử đẩy tôi lên cao.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 14: Đường cá


我爬的时候心说我不是没有能力翻上去,虽然弹跳力不是那么强,但我的韧带仍旧是松的,黑瞎子当年的速成训练到现在仍旧可以让我掌控自己的身体,我只是没有必要这么做了。

Trong lúc trèo lên tôi đã nghĩ bụng, không phải là tôi không có khả năng nhảy lộn lên như thế, mặc dù lực nhảy không được mạnh bằng, nhưng dây chằng của tôi vẫn lỏng lẻo như cũ, khóa huấn luyện cấp tốc của Hắc Hạt Tử năm đó giúp tôi có thể khống chế được cơ thể của mình cho đến tận bây giờ.

Chẳng qua là tôi không cần thiết phải làm thế mà thôi.

我明明可以爬上去,我为什么要跳上去。

Tôi rõ ràng có thể trèo lên, thì việc quái gì phải nhảy.

我抓住树干,胖子用力一顶我翻了上去,雷本昌在下面问:"你们都上树干什么啊?"

Tôi bám lấy thân cây, Bàn Tử dồn sức đẩy tôi lên.

Lôi Bản Xương ở dưới hỏi với lên: "Mấy người trèo hết lên cây để làm gì vậy?"

胖子道:"你不懂就闭嘴,这是给你找路呢,别破坏了我们灵感,识趣的你弄条鱼上给我们庆功。"

Bàn Tử nói: "Ông không hiểu thì câm cái miệng lại, đây là đang tìm đường cho ông đấy, đừng có phá hỏng hết cả linh cảm của tụi này, thức thời thì làm con cá mang lên đây cho cả đám ăn mừng."

老头听了似懂非懂的点头,忙自己的去了,我把胖子拉上来,两个人继续爬出树冠,就看到闷油瓶靠着一根树枝,在看四周的山势。

Ông lão cái hiểu cái không, cứ lơ ngơ gật đầu, rồi đi chỗ khác bận bịu.

Tôi kéo Bàn Tử lên, hai người tiếp tục trèo lên tán cây, liền thấy Muộn Du Bình đang tựa vào một cành cây, ngắm nhìn thế núi khắp xung quanh.

我装作气不喘的样子,爬上去轻松的靠到另外一根树枝上,胖子看了看树枝的粗细,就在下面的树桠上坐下来,我刚摆好pose准备观山定位,闷油瓶忽然看到了什么,他走到一根横长的树枝上,往树梢走去,树枝被压弯的瞬间,他蹲下拽住树枝,挂落到潭边的石头上,顺手抓了一把叶子,往深潭丢了下去。

Tôi làm bộ như không thở gấp, leo lên ung dung tựa vào một cành cây chĩa ra ngoài, Bàn Tử nhìn độ lớn của cành cây, rồi mới đặt mông ngồi xuống một cành cây ở bên dưới.

Tôi vừa mới bày xong pose đẹp, chuẩn bị quan sát thế núi, thì Muộn Du Bình như bất chợt nhìn thấy cái gì, hắn trèo sang một cành cây vắt ngang, leo tít lên tận ngọn cây.

Khoảnh khắc khi cành cây vừa bị đè cong, hắn lập tức ngồi xuống níu cành cây lại, móc đúng vào một tảng đá bên bờ đầm, hắn tiện tay bứt một cái lá, ném xuống hồ sâu.

树叶飘落,缓缓飘向潭面,我和胖子对视了一眼,心说我还观不观了,爬上爬下的要我老命是吧。

Cái lá nhẹ nhàng bay xuống, từ tốn thả mình xuống mặt hồ, tôi với Bàn Tử liếc nhìn nhau một cái, tôi nghĩ thầm: thế là có muốn quan sát hay không đây, trèo lên trèo xuống như thế là muốn cái mạng già này của tôi đúng không.

看雷本昌看着我们,我决定先做作样子,否则很容易被看出我们没跟上节奏,于是做出眺望的样子,另外在思索闷油瓶看到了什么。

Thấy Lôi Bản Xương đang nhìn chúng tôi, tôi quyết định cứ ra vẻ trước đã, nếu không rất dễ bị nhìn ra sự thật là bọn tôi đang không theo kịp tên kia mất.

Thế là tôi cứ làm bộ như đang nhìn ra xa, đồng thời suy nghĩ xem Muộn Du Bình đã nhìn thấy cái gì.

看了一圈四周都是榕树,这里附近的山很矮,都看不到什么巨大的石头,这种地方就没什么吗可看了,潜龙脉要去高处猜,这棵树这里最高,显然还不够高,真不知道古人是怎么看的。

Nhìn khắp xung quanh một lượt, chỉ thấy toàn là cây đa, núi ở vùng quanh đây rất thấp, không thấy được đá tảng gì to lớn, ở nơi này chẳng có gì đáng xem cả, tìm long mạch ẩn cũng phải lên chỗ cao mà đoán, chứ ở đây, cái cây này là cao nhất chỗ này rồi, đương nhiên là chưa đủ độ cao, thật không biết cổ nhân xem xét địa thế như thế nào.

翻身下树,稳稳落地,留胖子一个人在那边蹉跎,我来到闷油瓶身边,也蹲在石头上,看下面的水潭。他就道:"有洞口。"说着指着被榕树蛇一样的树根包住的天坑壁的某处,我是看不清楚树根之后有什么,但他指的方向靠近水面。

Tôi quay người trèo xuống, vững vàng nhảy xuống đất, mặc xác một mình Bàn Tử giết thời gian ở chỗ đó.

Tôi đi đến bên cạnh Muộn Du Bình, cũng đứng trên tảng đá, nhìn xuống đầm nước phía dưới.

Hắn nói: "Có cửa hang."

Nói đoạn, hắn chỉ về phía một nơi nào đó trên vách đá bị rễ đa ngoằn ngoèo như rắn bám đầy, tôi không nhìn rõ đằng sau rễ cây có gì, nhưng phương hướng hắn chỉ lại khá sát mặt nước.

"怎么知道的?"我问,闷油瓶指了指潭面漂浮的树叶,我立即明白,刚才撒树叶下去,是看看下面是否有微风拂过。看来是有,说明下面有风口,这种封闭空间有风口必然有洞穴或者缝隙。

"Làm sao anh biết?"

Tôi hỏi, Muộn Du Bình chỉ cái lá cây đang lửng lơ trôi trên mặt nước.

Tôi liền biết ngay, mới vừa rồi hắn thả lá cây xuống, là để xem ở dưới đó có gió thổi lên hay không.

Xem ra là có, chứng tỏ, phía dưới có nơi thông gió, trong không gian khép kín như thế này, có nơi thông gió thì đương nhiên chỉ có thể là có hang động hoặc khe hở nào đó.

我回头看了看树冠,以前这些举动我就算看几十遍我也看不懂,但是这段时间,我努力的向他讨教了几次,大概理解了逻辑。他上去看山,一看风水龙脉,这里看不到,就看地下水位。这里的山势状态和深潭的水位不吻合,怀疑深潭本身有问题。不知道是不是这样。

Tôi quay đầu lại nhìn tán cây, trước kia, những hành động này của hắn, dù tôi có chứng kiến đến hàng chục lần cũng vẫn không tài nào hiểu nổi.

Nhưng trong khoảng thời gian gần đây, tôi cố gắng xin hắn chỉ giáo mấy lần liền, mới đại khái hiểu được logic của hắn.

Hắn trèo lên cao để xem núi, xem long mạch phong thủy, ở nơi này thì không xem được, vậy thì xem vị trí nước bên dưới lòng đất.

Trạng thái thế núi ở đây và vị trí đầm nước không ăn khớp nhau, nghi ngờ dưới đâm nước này có vấn đề.

Không biết có phải là hắn nghĩ thế hay không nữa.

努力仔细观察,用望远镜,靠近了仔细看,果然看到了榕树根须后面,有一个小洞,一个人蹲着应该进去,如今全部都被根须掩住了。

Tôi cố gắng quan sát kỹ lưỡng, dùng ống nhòm nhìn, lại gần nhìn cho thật kỹ, quả nhiên thấy đằng sau những rễ đa kia có một cái lỗ nhỏ, chắc là đủ cho một người ngồi xổm chui vào, bây giờ đã bị rễ đa bịt kín lại.

闷油瓶拿出斧头爬下去,砍掉了挡住洞口的根须,看到树根还深入洞口很深,我们用绳索滑下装备背包,又在树上盘了绳子,一个一个下到洞里。榕树的树根非常好攀爬,只是靠近水面的树根表明长满了青苔,经常打滑。

Muộn Du Bình lấy rìu ra, trèo xuống, chém đứt hết các rễ đa che kín cửa hang, mới thấy rễ đa còn ăn vào rất sâu trong hang.

Chúng tôi dùng dây thừng thả ba lô trang bị xuống, rồi lại buộc một đầu thừng vào thân cây, từng người một chui xuống hang.

Rễ đa rất dễ trèo, chẳng qua phần rễ gần mặt nước mọc đầy rêu xanh, nên khá trơn trượt.

钻入洞内,光线就一暗,洞口全是树根盘绕表面,所以落脚也很不舒服,潮湿的青苔一踩都是绿水,看样子这里有的时候会被水淹没,洞往里就立即往下斜着下去,很快极速变黑,洞壁是片层岩没有修整过,一楞一楞的,从里吹出来潮湿的空气。

Chui vào trong hang, ánh sáng liền tối sầm lại.

Ngoài cửa hang toàn là rễ đa bao bọc, cho nên đặt chân xuống cũng không thoải mái lắm, giẫm lên rêu xanh ẩm ướt là rịn ra toàn là thứ nước xanh lè, có vẻ như nơi này từng bị ngập dưới nước trong một khoảng thời gian.

Vào trong hang, đường hang lập tức nghiêng dốc xuống, chẳng mấy chốc đã tối mịt, vách hang là đá núi xù xì chưa từng tu sửa đục đẽo gì, ngẩn người một lúc, từ trong hang có làn hơi ẩm thốc qua.

我和胖子局促的蹲着,雷本昌最后,闷油瓶最前,我的脚竟然有点抽筋,胖子就道:"看仔细点各位,这可难碰到,这不是走人的通道。"

Tôi với Bàn Tử bứt rứt ngồi xuống, Lôi Bản Xương đi sau cùng, Muộn Du Bình đi đầu tiên, chân tôi hơi chuột rút, Bàn Tử liền nói: "Xem xét cẩn thận chút nhé các vị, chỗ này rất khó gặp đấy, đây không phải lối cho người đi đâu."

"这不是走人走什么?"我警惕道,不知道他又要说出什么惊世骇俗但是往往是对的结论来。

"Đây là không phải cái gì cho người đi cơ?"

Tôi cảnh giác nói, không biết anh ta lại đi phát ngôn điều gì kinh thế hãi tục đây, nhưng thường thì anh ta hay kết luận đúng.

"这是走鱼的。"胖子道,眼睛冒光,显然他自己都感觉到很惊奇:"这是条鱼道。"

"Đây là lối cho cá đi."

Bàn Tử nói, ánh mắt sáng bừng, đương nhiên ngay cả chính anh ta cũng thấy ngạc nhiên: "Đây là đường cá."

"鱼道?"我摸了四周的石头,胖子就道:"我只听说过,没想到还真的有。这地下的地下湖泊,如果有任何的建筑,这些建筑所需要的石头砖块,都不是人运下去的,而是鱼运下去的。你看这个石头道的大小,如果有一条鱼的大小和这个石道的大小差不多直径,那么它只能不停的往下游去,它身上拖着的石块,就会由鱼道拖入到深处去。在下面被人拦截取下。"

"Đường cá?"

Tôi lần sờ vách đá xung quanh, Bàn Tử nói: "Tôi chỉ nghe nói thôi, không ngờ lại có thật.

Trong hồ ngầm dưới đất này, nếu có bất kỳ công trình kiến trúc nào, thì những gạch đá cần thiết để xây dựng công trình đó không phải là do người vận chuyển xuống, mà là do cá vận chuyển xuống.

Cậu xem kích cỡ của con đường đá này đi, nếu có con cá ở đây, thì đường kính của nó với con đường đá này cũng không chênh nhau nhiều lắm.

Như vậy, nó chỉ có thể không ngừng bơi xuống, trên người nó còn kéo thêm một phiến đá nữa, phiến đá đó được chuyển xuống sâu bên dưới theo con đường này.

Ở phía dưới sẽ có người chặn lại, lấy đá ra."

我摸了摸下巴,心说还能有这事呢?但这鱼怎么上来了,而且如果是水道,为何现在没有水,难道洞的深处有水,那我们不就下不去了么?

Tôi sờ cằm, nghĩ thầm, còn có chuyện như thế này nữa hả?

Nhưng cá này làm sao mà đi lên được, hơn nữa, nếu đã là đường nước, thì vì sao bây giờ nó lại không ngập nước nữa?

Chẳng lẽ ở sâu dưới hang này còn có nước, vậy thì chẳng phải là chúng tôi không xuống được dưới đó hay sao?

闷油瓶打起了一个火折子,往鱼道的深处甩去,在我的位置,看不到深浅,他看了几眼,就开始往下挪去。说道:"千万别说话。"

Muộn Du Bình đánh một ống lửa, thả vào sâu trong đường cá, ở vị trí của tôi, không nhìn rõ được nông sâu thế nào.

Hắn cứ nhìn mấy lần liền, rồi bắt đầu nhích xuống bên dưới.

Còn nói: "Tuyệt đối đừng nói chuyện."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 15: Muối


我带着头灯带子,这是我用过所有照明器械中,我认为最适合洞穴探险的。虽然它照的不远,但是它和我的头是同步的。唯一的问题两个人面对面说话的时候,都容易瞎。

Tôi mang theo đèn pin gắn dây nịt để đội đầu, đây là loại dụng cụ chiếu sáng mà tôi thấy thích hợp để thám hiểm trong hang động nhất trong tất cả các loại dụng cụ chiếu sáng.

Mặc dù nó không chiếu được ra xa, nhưng nó vẫn đồng bộ với đầu của tôi.

Vấn đề duy nhất là khi hai người mặt đối mặt nói chuyện với nhau, rất dễ bị chiếu mù mắt.

"不要看着我。"往往会变成我们的口头禅。

"Đừng có nhìn tôi."

Vẫn thường là câu cửa miệng của hai đứa.

闷油瓶往下之后,我们把所有的装备都系到绳子上,做了一个滑轮挂上。我们抓着一头绳子下去,等落到底之后,就可以用滑轮把装备放下来。这样就不用负重往下,节约体力。

Sau khi Muộn Du Bình đi xuống, chúng tôi buộc tất cả trang bị vào một sợi thừng, làm thành một cái ròng rọc.

Chúng tôi bám lấy một đầu sợi thừng mà trèo xuống, cho đến khi trèo xuống đến tận đáy, mới dùng ròng rọc để kéo túi trang bị xuống.

Làm như thế, không cần phải mang vác nặng mà trèo xuống, tiết kiệm được thể lực.

胖子第二个往下,往下的石道不是笔直,有坡度,像个滑梯一样,一看就是人工开凿的,只是这个滑梯非常的长,而且上面有很多尖锐的石头突起,一旦滑下去失去速度控制,就可以会被拉成人条,挂满一路。所以他很小心的用脚踩着这些突起,宁可像攀岩一样往下。

Bàn Tử là người thứ hai đi xuống, đoạn đường đá dẫn xuống dưới không thẳng tắp, có một độ dốc nhất định, giống như một cái cầu trượt vậy, nhìn qua là biết do sức người đào bới mà nên.

Chẳng qua, cái cầu trượt này dài quá, hơn nữa, bề mặt lại xù xì có nhiều đá gồ lên, nếu cứ thế trượt xuống, mất khống chế tốc độ, ắt sẽ bị chúng cào tróc thành miếng thịt người, vụn thịt rải đầy đường.

Cho nên, anh ta cẩn thận đạp chân lên những cục đá gồ lên này, thà rằng cứ từ từ mà leo xuống như leo mỏm đá.

下去十多分钟,鱼道里面一片漆黑,所有的探险中,我最讨厌在黑暗的狭窄空间中摸索,不能畅快·活动让人内心非常焦虑。这里的石道我前后左右最有一只前臂的距离,这种一定站不起来的感觉让我心情变得很差。雷本昌第一次经历这个过程,所以我看他喘的更厉害,手脚不停的发抖。

Leo xuống suốt hơn mười phút, cả con đường cá liền tối om, trong tất cả các loại thám hiểm, tôi ghét nhất là phải mò mẫn trong không gian tối tăm chật hẹp, không thể cử động một cách thoải mái khiến trong lòng cảm giác vô cùng lo âu khó chịu.

Trong con đường đá này, trước sau trái phải chỉ cách tôi có một khoảng bằng cái cẳng tay, cái cảm giác không thể đứng thẳng nổi này khiến tâm trạng tôi rất phiền muộn.

Lôi Bản Xương lần đầu tiên trải nghiệm cảm giác này, cho nên tôi thấy ông ta còn thở phì phò khổ sở hơn nhiều, tay chân cứ run lẩy bẩy.

进来之后,就知道为什么闷油瓶让我们不要说话,他在听里面的风声。石道中的气流微弱但是紊乱。他的头发被吹动,风声吹过石道之后发出各种各样轻微的呼啸声。

Sau khi vào trong, mới biết vì sao Muộn Du Bình nhắc cả bọn không được nói chuyện, té ra là để hắn nghe tiếng gió thổi bên trong.

Không khí lưu chuyển trong đường đá vừa yếu ớt lại vừa rối loạn.

Tóc hắn bị thổi phơ phất, tiếng gió thổi qua đường đá phát ra đủ các loại âm thanh rít gào khe khẽ.

我仔细去听风声,想从里面获得一些信息出来,仔细去听,也能听到风声里面有一些不是风声的小动静。实在不知道那是什么,但是闷油瓶全神贯注。

Tôi chú ý lắng nghe tiếng gió, để xem có thể thu hoạch được một ít thông tin gì không.

Lắng nghe kỹ, cũng có thể nghe thấy trong tiếng gió còn có một số tiếng động nhỏ nào đó không phải tiếng gió.

Quả thực không biết là cái gì, nhưng thấy Muộn Du Bình đã tập trung toàn bộ tinh thần rồi.

一路无声的往下爬,到了一个地方休息,闷油瓶才开始自己发出动静,不再蹑手蹑脚。我们吃着腊肉条开始说话。

Một đường đi xuống không chút tiếng động, đến một đoạn nghỉ ngơi, Muộn Du Bình mới bắt đầu phát ra tiếng động trước tiên, không còn rón ra rón rén nữa.

Chúng tôi vừa ăn thịt muối vừa bắt đầu nói chuyện.

"你们有没有想过等下怎么上来。"胖子说道:"咱们元宵看样子是得在下面过了。这不是好兆头知道不,这不是好兆头。"

"Mấy người có nghĩ lát nữa làm sao để leo lên trở lại không?"

Bàn Tử nói: "Chứ xem ra, tụi mình phải trải qua đêm rằm tháng giêng ở dưới này rồi.

Đây không phải điềm tốt đâu, biết không, không phải điềm tốt gì đâu."

"他娘的你接活的时候怎么没这么说。"我骂道。我的头灯光照出了岩壁,能看到出大量被水冲刷的痕迹。岩壁的颜色是各种不同程度的灰色,心说水呢?这条鱼道里面的水到哪儿去了?按照我们的位置,我们已经在外面深潭的水位以下了,如果水系是相通的,为什么这里没有水?

"Mẹ kiếp, thế sao lúc anh tiếp lời thì không chịu nói câu này ấy."

Tôi mắng.

Ánh đèn trên đầu tôi chiếu vào vách đá, có thể nhìn thấy rất nhiều dấu vết bị nước mài mòn trên vách.

Màu sắc vách đá là đủ các loại sắc độ xám khác nhau, thầm nghĩ không biết nước đâu rồi?

Nước vốn ngập trong cái đường cá này rốt cuộc đã đi đâu rồi?

Dựa vào vị trí của chúng tôi bây giờ, thì chúng tôi chắc hẳn đã nằm ở dưới mực nước ngoài hồ kia rồi, nếu như đầm nước ngoài kia thông với hang này, vì sao trong đây lại không có nước?

我摸着岩石,想在石头的表面找到一丝水汽,但是除了潮湿的空气,石道表面的岩石,都是干燥的。

Tôi sờ sờ mặt đá, để xem mặt đá có chút hơi nước nào không, nhưng ngoài không khí ẩm ướt ra, thì bề mặt vách đá trong đường cá này đều hoàn toàn khô ráo.

胖子抬头看着我,露出了欣慰的表情:"你知道么,胖爷我看到你在注意细节,就有安全感。"

Bàn Tử ngẩng đầu nhìn tôi, vẻ mặt mừng rỡ: "Cậu biết không, ông Béo đây thấy cậu đang chú ý đến các chi tiết nhỏ, liền có cảm giác an toàn rồi."

我摩擦手指,发现石壁上的粉末非常干燥,无论如何,也不应该是这么干燥的:"为什么?"我问胖子。

Tôi di di ngón tay, phát hiện bột dính trên vách đá rất khô ráo, dù thế nào đi chăng nữa, cũng không thể khô như vậy được.

"Tại sao?"

Tôi hỏi Bàn Tử.

"因为你毕竟上过大学,不同的角度观察事情会更加安全。"胖子喘气道,已经浑身是汗。

"Bởi vì dù sao cậu cũng từng học đại học rồi, cùng một sự việc, quan sát ở góc độ khác sẽ càng an toàn hơn."

Bàn Tử thở phì phò nói, toàn thân đã ướt đẫm mồ hôi.

大学,我脑子里闪过一丝跑题的灵感,最近一直在琢磨,到底应该做什么,但从来没有想过上学。

Đại học, trong đầu tôi thoáng xẹt qua một tia linh cảm lạc đề.

Dạo này tôi cứ đau đầu suy nghĩ mãi, không biết mình nên làm cái gì, nhưng từ trước đến nay chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đi học.

我经历过让我非常不舒服的求学经历,离开大学之后就从来没有想过要回去,现在想来,带他们两个去读个大学倒也不失是一个好想法。至少有些事情做,而且也可以给他们更多的选择了解世界。至少至少不用消停了半年之后又往地下爬。而且胖子这种性格,让他去女学生多的地方,他肯定是愿意的。

Tôi đã trải qua cả một trải nghiệm học hành rất rất rất không thoải mái, sau khi rời khỏi đại học, từ đó đến nay tôi chưa bao giờ nghĩ muốn quay về nơi đó, bây giờ nghĩ lại, dẫn hai tên này đi học đại học cũng không phải là ý tồi.

Ít nhất thì cũng có chút việc để làm, hơn nữa, cũng có thể cho bọn họ nhiều lựa chọn hơn để nắm bắt được thế giới này.

Ít nhất, ít nhất thì cũng không cần ổn định được nửa năm là lại bày trò chui xuống đất.

Hơn nữa, với tính cách của Bàn Tử, cho anh ta đến chỗ đông nữ sinh, anh ta lại chẳng thích mê.

但是,这条通道实在是太干了,真的不像山里的石道。真的是通向地下湖泊的鱼道么?

Nhưng mà, cái lối đi này thật sự là quá mức khô ráo, không giống đường đá trong lòng núi.

Đây thật sự là một đường cá thông xuống hồ ngầm dưới lòng đất ư?

我们放下装备,在休息的位置再次放置滑轮,以防绳子用完,我看着手指,忽然突发奇想,趴到石头上,舔了一口。

Chúng tôi thả trang bị xuống, lại lắp đặt ròng rọc ở vị trí đang nghỉ ngơi, sắp xếp xong dây thừng, tôi nhìn ngón tay mình, bỗng nhiên nảy ra một ý, nhoài người lên vách đá, liếm một cái.

"哇,天真你这个变态,你干什么?"胖子怒道。

"Úi cha, Thiên Chân cái đồ biến thái, cậu là cái gì vậy?"

Bàn Tử cả giận kêu lên.

我砸吧砸吧嘴,发现石头非常的咸。

Tôi chẹp chẹp miệng, nhận thấy đá này rất mặn.

"盐。"我说道,石头里含盐。

"Muối."

Tôi nói, trong đá này chứa muối.

福建的海盐非常发达,山中的小盐矿无人问津,难道这里的岩层中有盐层么?

Muối biển ở Phúc Kiến phát triển rất thịnh vượng, không ai thèm ngó ngàng đến những mỏ muối nhỏ trong núi, chẳng lẽ trong đá ở đây lại có một tầng muối sao?

想着我又舔了一口,雷本昌看我的动作,也觉得奇怪,也舔了一口。胖子也舔了一口,吐掉。

Nghĩ đoạn, tôi lại liếm thêm cái nữa.

Lôi Bản Xương nhìn động tác của tôi, cũng cảm thấy quái lạ, bèn liếm thử một cái theo.

Bàn Tử cũng bày đặt liếm một cái, rồi phun phì phì.

"有意思。"我心中暗暗说道,我大概有一些推断,以前都会失控如青蛙一样蹦出来,我无法控制,扰乱心智,如今我把这些想法压在心底,我知道只要再有一个线索,我就能确实很多信息。现在不急着琢磨。

"Thú vị đây."

Tôi nghĩ thầm, tôi đã có một số suy đoán rồi.

Trước kia, lúc nào tôi cũng mất khống chế như con ếch cứ phải nhảy bắn lên, không cách nào kìm lại được, tâm trí nhiễu loạn cả lên, bây giờ, tôi dằn những suy nghĩ này xuống tận đáy lòng, tôi biết giờ mình chỉ cần thêm một đầu mối nữa là có thể xác định được rất nhiều thông tin.

Bây giờ không vội suy nghĩ nhiều làm gì.

继续往下,三个小时之后,石头上开始大面积的出现岩花,掰下来就是盐巴,黑暗中在头灯的照射下,这些盐花犹如宝石花一样璀璨发光。

Tiếp tục đi xuống, ba giờ sau, trên vách đá bắt đầu xuất hiện vô số vết cặn loang lổ, cạy xuống một ít xem thử thì thấy đó chính là muối ăn.

Trong bóng tối, dưới ánh đèn trên đầu chiếu xuống, số hoa muối này cứ lóng la lóng lánh như những viên đá quý.

这是一个盐矿,如果地下是这种地质状态,下面的湖,有可能不是一个淡水湖。但山中的潭水都是淡水。

Đây là một mỏ muối, nếu như dưới đất kia cũng có tình trạng địa chất như thế này, vậy thì hồ ngầm bên dưới rất có thể không phải là hồ nước ngọt.

Nhưng các đầm nước trong núi lại toàn là hồ nước ngọt.

我心中的推断呼之欲出,却同时觉得有些不对劲,我的肚子开始疼起来,这些盐里面有不好的杂质。

Các suy đoán trong đầu tôi bắt đầu hiện lên vô cùng sinh động, nhưng đồng thời, tôi lại cảm thấy có điều gì không đúng, bụng tôi bắt đầu đau đau, chắc là trong muối này có lẫn tạp chất gì đó không tốt lắm.

我捂着肚子忍了十几分钟,绞肠痧疼的我脸色发白,在这斜坡之上,难道要就地解决么,万一滚落下去,下面的胖子和闷油瓶糊一脸,过去十年我就白那么辛苦了。大概是我表情可怖,雷本昌问我怎么了。

Tôi ôm bụng nhịn suốt mười mấy phút, cơn đau do co thắt ruột làm sắc mặt tôi trắng bệch, ở ngay giữa bờ dốc thế này, chẳng lẽ lại giải quyết ngay tại chỗ hay sao, ngộ nhỡ nó trượt xuống dưới, văng hết vào mặt Bàn Tử với Muộn Du Bình ở dưới kia, thế thì mười năm khổ sở kia của tôi thành công cốc.

Chắc là vì vẻ mặt của tôi khủng bố quá, nên Lôi Bản Xương vội hỏi tôi làm sao rồi.

我摆手,作为一个高手和扛把子,我必须自己解决这问题,而且要解决的非常老练才行。

Tôi khoát tay.

Là một cao thủ kiêm đại ca giang hồ thứ thiệt, tôi nhất định phải tự mình giải quyết vấn đề này, hơn nữa, còn phải giải quyết một cách vô cùng lão luyện mới được.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 16: Thác nước


肚疼难忍,绞肠痧的痛苦在于会打断一切思考,除非有更加巨大的精神压力,否则在心境平和的时候,忍受这种痛苦真是折磨。

Bụng đau khó nhịn, nỗi khốn khổ do dạ dày co thắt phá vỡ tất cả mọi suy tính trong đầu, trừ phi có áp lực tinh thần gì khủng bố hơn, chứ không, trong lúc tâm bình khí hòa mà phải chịu đựng nỗi khốn khổ này thì đúng là một loại giày vò.

我以前一定不在意,但是如今,那根弦松了之后,所有的病痛的体感就好像报复过去十年一样提升了十倍。这也从侧面印证了我的推断,我是一个在精神压力下才会变强的人。

Chắc chắn là do trước kia tôi không quá để ý đến cơ thể mình, bây giờ, dây cót đã chùng, bao nhiêu cảm giác đau đớn của bệnh tật tăng lên gấp mười lần, cứ như là để trả thù cho mười năm đã qua của tôi vậy.

Điều này cũng đã xác minh được một mặt suy đoán của tôi, tôi là dạng người phải chịu áp lực về tinh thần thì mới trở nên mạnh mẽ được.

我停了下来,让他们先下去,我稍后赶上来。雷本昌和我擦身而过,我的脸色惨白他看着就知道肯定哪里不对,但是胖子已经麻溜的下去了。估计他知道我要干嘛。

Tôi dừng lại, bảo bọn họ đi xuống trước, rồi tôi đuổi theo sau.

Lôi Bản Xương đi lách qua tôi, sắc mặt tôi trắng bệch, vừa nhìn là biết chắc có điều gì không đúng, nhưng Bàn Tử đã lanh lẹ trèo tuột xuống rồi.

Chắc là anh ta cũng biết tôi định làm gì.

等他们的头灯光消失在通道的下方,我内心的面子压力减轻,开始四处观察。我需要一个天然的凹陷,或者我需要两个。然后我把墙壁上的盐花全部掰下来,完事后撒在凹陷上。风干之后,应该不会有破绽。

Chờ đến khi ánh đèn pin đeo trên đầu bọn họ mất hút ở bên dưới, áp lực thể diện của tôi cuối cùng cũng được giảm bớt, tôi bắt đầu quan sát khắp nơi.

Tôi cần một cái hố lõm thiên nhiên, hoặc là, hai cái đi.

Sau đó, tôi lột hết hoa muối trên vách đá xuống, đại sự xong xuôi mới phủ muối lên trên hố lõm.

Sau khi hong gió, chắc là không còn sơ hở gì nữa đâu.

有了解决方案心中很安定,用头灯一寸一寸的找了一圈,石壁上并没有足够大的凹陷。就算有,却在我头顶,我没有办法反重力完成这件事情。

Đã có phương án giải quyết, lòng tôi rất thanh thản.

Tôi dùng đèn đội đầu tìm kiếm khắp xung quanh từng tấc từng tấc một, nhưng nền đá chẳng có cái hố lõm nào đủ lớn cả.

Cho dù có, cũng trái khoáy nằm tít trên đỉnh đầu tôi, tôi không thể hoàn thành nhiệm vụ phản trọng lực này được.

我深吸一口气,拔出腰部的地质锤,开始敲击我身体下方的盐花,这里的石头上这一层厚厚的盐花,我不知道这一出盐有多厚,如果足够厚,我可以在上面挖出一个盐坑来。

Tôi hít sâu một hơi, rút cái búa địa chất giắt bên hông ra, bắt đầu gõ gõ đống cặn muối bên dưới thân mình.

Đá ở nơi này có dày cộm từng tầng từng tầng muối, tôi không biết muối này dày bao nhiêu nữa, nếu như đủ dày, tôi có thể đào ra được một cái hố muối.

心情不好下手就稍微快了一点,敲了几下,很快整片盐花被我敲了下来,滚落下去。胖子在下面骂:"小心点,胖爷我的发型一千八块做的。"

Tâm trạng không tốt, tôi hạ thủ cũng nhanh tay hơn một chút, gõ gõ đập đập mấy cái, chẳng mấy mà bao nhiêu muối đã bị tôi đập rụng lả tả, rơi cả xuống dưới.

Bàn Tử mắng vống lên: "Cẩn thận một chút, kiểu tóc của ông Béo đây tốn những một ngàn tám đấy."

我扒开捣碎的盐花,发现盐层非常厚,足有一个巴掌,扒掉盐花之后,我以为下面是之前的石头,但立即发现不是。盐花下面出现了一个明显的人造的东西,有一个完美的直角板子,我拨开更多之后,竟然是一块生锈的老青铜板。

Tôi gỡ mấy tảng hoa muối đã bị giã nát ra, phát hiện tầng muối rất dày, cũng phải bằng một gan bàn tay.

Sau khi gạt hết muối ra, tôi cứ nghĩ bên dưới là đá như trước, nhưng ngay sau đó liền nhận ra là không phải.

Bên dưới lớp hoa muối xuất hiện một đồ vật rõ ràng là do con người chế tạo ra, có một phần góc vuông vừa đúng 90 độ vô cùng hoàn mỹ, tôi gạt nhiều muối hơn ra, mới phát hiện đó là một tấm bảng bằng đồng xanh cũ rích đã rỉ sét xanh lét.

我环顾了一下四周,用地质锤把四周的盐花都敲掉,我惊讶的发现,这个石道的表面,到处嵌着了一块一块的铜板,铜板和石头共同组成了洞壁,这些铜板就和补丁一样。一块一块的贴在洞壁表面。

Tôi nhìn khắp xung quanh một lượt, dùng búa địa chất giã vỡ hết các hoa muối xung quanh ra, tôi mới kinh ngạc phát hiện ra trên bề mặt con đường đá này đâu đâu cũng khảm những tấm bảng đồng như thế, bảng đồng và đá núi cùng tổ hợp thành vách hang, những tấm bảng đồng này cứ như là những miếng vá vậy.

Cứ từng tấm từng tấm, dán sát trên vách hang động.

我用锤子敲了敲铜版,就立即知道下面是空的,贴到铜版上一听,立即就明白闷油瓶刚才听风到底听到了什么。那风鸣中的奇怪声音,就来自于铜板之下。似乎是水声,似乎是更加凌烈的风声。

Tôi dùng búa gõ xuống tấm bảng đồng xem sao, liền biết ngay bên dưới rỗng không.

Tôi áp tai sát vào tấm bảng để lắng nghe, liền hiểu ra ngay vừa rồi Muộn Du Bình đã nghe thấy cái gì trong tiếng gió.

Tiếng động kỳ quái lẫn trong tiếng gió kia vang lên từ bên dưới những tấm bảng đồng này.

Nghe như là tiếng nước chảy, hoặc như là tiếng gió rít mãnh liệt.

铜板表面已经坑坑洼洼,因为腐烂起了很多锈泡,其他地方全是绿色的铜花,有些地方还带着蓝色和奇怪的红色,铜起锈和铁不一样,铁是起鳞片,铜是起疙瘩。看锈看千层,这块铜板锈下起锈,好几层都可以用指甲摸出来。直觉估计,这些青铜板应该是唐宋两朝期间的产物。

Bề mặt tấm bảng đồng đã sần sùi, nổi lên nhiều đốm rỉ mục nát, những phần còn lại toàn là những đốm đồng xanh lè, có vài chỗ còn có những đốm kỳ quái màu xanh lam và màu đỏ.

Đồng rỉ khác với sắt, sắt rỉ sẽ tróc ra những đốm hình vảy cá, còn đồng rỉ sẽ nổi lên những hạt nhỏ như hạt mụn.

Tôi thấy lớp đồng đã rỉ ra cả ngàn tầng, tấm đồng này đã rỉ lại còn sinh thêm rỉ, cả mấy tầng rỉ chồng nhau có thể dùng móng tay nạy lên được.

Trực giác suy đoán, có lẽ những tấm bảng đồng này là sản phẩm của thời kỳ khoảng giữa hai triều Đường – Tống.

铜片上都是密密麻麻如蝌蚪一样的花纹,每隔一臂的距离,有两条并排的抽象鱼的图形,鳞片都是云纹,鱼头的前方有一个似乎是太阳的圆型,看不出用意,应该是青铜片磨具上默认的图案,铜片大小不一,有些还有裁剪。摸上铜片,竟然还有些暖和。

Trên các tấm bảng đồng chi chít những hoa văn nhiều như nòng nọc vậy, cứ cách chừng một cánh tay lại có hai tấm đối xứng khắc hình cá trừu tượng, vây cá được diễn tả bằng hoa văn mây, phía trước đầu cá lại có hình tròn dường như là mặt trời.

Không hiểu là ý nghĩa gì, chắc là hoa văn mặc định chung trên tấm bảng đồng.

Các tấm đồng kích cỡ không đồng nhất, một số tấm còn có vết cắt.

Sờ lên tấm đồng, không ngờ vẫn còn chút hơi ấm.

肚子疼硬生生被逼了回去,我对着下面喊别走了。急赶着下去,让他们也拨开四周的盐花看看。

Cơn đau bụng bị tôi gắng gượng nén lại, tôi gào xuống phía dưới, bảo đừng đi vội.

Rồi tôi vội vàng đuổi xuống, bảo bọn họ giã các cặn muối ra xem thử.

胖子和闷油瓶一听就知道我发现了什么,几番敲击,胖子一千八的发型上沾满了雪花盐粒,很快在他们的位置,一块巨大的青铜板露了出来,这块铜板做成了管道的样子,有一个曲度,比我刚看才看到的那些小的,大了很多。

Bàn Tử và Muộn Du Bình vừa nghe là biết tôi đã phát hiện ra cái gì, bèn gõ thử mấy lần, quả đầu một ngàn tám đồng của Bàn Tử dính đầy hạt muối như hoa tuyết, ở vị trí của bọn họ, loáng cái đã lộ ra một tấm bảng đồng xanh to tướng.

Tấm bảng đồng này tạo thành hình đường ống, có một góc cong, lớn hơn nhiều so với mấy tấm lẻ tẻ tôi vừa tìm thấy lúc nãy.

我下去,用头灯仔细观察了铜板和岩石的接缝口,我就意识到铜板不是补丁。

Tôi đi xuống, dùng đèn đội đầu cẩn thận quan sát kẽ tiếp giáp giữa đá và bảng đồng, bấy giờ, tôi mới nhận ra thì ra các tấm đồng này không phải là miếng vá.

这些岩石是粘在铜管的内壁的,这根铜管是一个整体。

Số đá vụn này vốn là đóng cặn bên trong ống đồng này mới đúng, đây là cả một chỉnh thể ống đồng.

我们用力敲击石头,把洞壁上的石头敲下来,发现石头下面是完整的铜质管壁。这些石头似乎是这条管子里还有水的时候,水中各种沉淀物附着在管壁内,千年积垢把管子内壁包裹了起来,就像脑梗病人的血管内壁一样。

Chúng tôi ra sức đập đá, giã hết đá dính trên vách hang xuống, phát hiện bên dưới lớp đá đúng là vách ống bằng đồng thật.

Có lẽ số đá muối này là các chất cặn lắng đọng trong nước trong thời điểm ống đồng này còn chứa đầy nước, sau hàng ngàn năm tích tụ mới đóng kín đầy cả ống đồng này, giống như thành mạch máu của một bệnh nhân bị xơ vữa động mạch vậy.

难怪那么干燥,我心说,整个山体的水汽根本透不进来。但是唐宋时期崇上红铜,青铜逐渐没落,为何这里的铜管是青铜的。难道我的朝代估计错误?

Chẳng trách lại khô như thế, tôi nghĩ thầm, hơi nước của cả quả núi này căn bản không thể thấm vào bên trong được.

Nhưng thời Đường Tống lại tôn sùng đồng đỏ, đồng xanh dần sa sút, vì sao ống đồng ở đây lại được chế tạo bằng đồng xanh.

Chẳng lẽ tôi đã phỏng đoán lầm triều đại?

不过,唐开始红铜逐渐受人青睐,但产量和工艺最成熟的还是青铜,这种大铜管,肯定还是用青铜容易施工。

Có điều, vào thời Đường, người ta mới bắt đầu xem trọng đồng đỏ, nhưng có sản lượng khai thái nhiều nhất và công nghệ chế tác tinh thuần nhất thì vẫn là đồng xanh.

Loại ống đồng khổng lồ này, nhất định là dùng đồng xanh thì dễ thi công hơn nhiều.

胖子敲了敲铜管,我们都十分肯定,管壁外面是空的,这条铜管通道并不是插入岩层中,管壁的外面,有可能是一个巨大的悬空的悬崖,或者是深水之下。

Bàn Tử gõ gõ lên ống đồng, chúng tôi đều khẳng định chắc chắn bên ngoài ống đồng này là không gian trống không, như vậy, ống đồng này không phải đâm xuyên vào trong núi.

Bên ngoài vách tường này có thể là một vực sâu hoặc vách đá khổng lồ, hoặc là, ở tít sâu dưới nước.

闷油瓶把耳朵贴到铜管上,胖子立即学样,听了半天,我问他们到底听出什么来,胖子摇头:"瀑布?"

Muộn Du Bình ghé sát tai vào vách ống đồng, Bàn Tử lập tức học theo, nghe ngóng cả nửa ngày, tôi hỏi bọn họ đã nghe ra được gì chưa, Bàn Tử lắc đầu nói: "Thác nước à?"

我爬到他的位置听下去,听到外面的声音,声音非常轻微,不知道这些铜管多厚。铜管的外壁可能还有厚厚的一层盐和石垢,所以听不清楚,但能听到的细微的声音,声音很复杂,如果是瀑布的话,绝对不是一个,应该是无数个巨大的瀑布,正在奔流之下。

Tôi bèn trèo xuống chỗ anh ta, lắng nghe âm thanh bên ngoài.

Tiếng động truyền ra rất khẽ, không biết vách đồng này dày đến mức nào nữa.

Bên ngoài vách đồng này có lẽ còn đóng cả mấy lớp đá vụn và muối ăn rất rất dày nữa, cho nên không nghe rõ cho lắm.

Nhưng vẫn nghe thấy được tiếng động rất nhỏ, tiếng động này lại rất phức tạp, nếu là thác nước, thì chắc chắn là không chỉ có một thác nước, mà phải là vô số thác nước khổng lồ đang cuồn cuộn chảy băng băng.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Ngừng Đăng Một Ngày


hi,钓王连载到现在,已经15篇了,今天我暂停一下,用以振奋精神。

Xin chào.

Phần truyện Điếu Vương (Vua Câu Cá) đã được đăng tải đến bài thứ 15 rồi.

Hôm nay, tôi xin tạm dừng một chút để lấy lại tinh thần.

钓王连载的过程中,我秉承的原则是不挖坑,少做悬念,不要起伏。

Trong quá trình đăng tải Điếu Vương, nguyên tắc tôi giữ vững là không đào hố, hạn chế tạo kịch tính, và không có quá nhiều thăng trầm.

所以作为一篇小说,它是淡的,是需要细细品味才能感觉出味道的。

Vì vậy, xét như một tiểu thuyết, nó khá nhạt, cần phải từ từ thưởng thức mới có thể cảm nhận được hương vị.

我其实想到了卫斯理系列的最后一篇,只限老友。

Thực ra, tôi đã nghĩ đến chương cuối cùng của series Vệ Tư Lý (Wesly), Chỉ Dành Cho Bạn Già.

倪匡写卫斯理写到最后几篇,主人公已经从最初的小伙子,变成了老人,我不知道他的心态如何,但最后一篇只限老友。

Nghê Khuông (Ni Kuang) viết Vệ Tư Lý đến những chương cuối cùng, nhân vật chính đã từ một chàng trai trẻ trở thành một ông lão.

Tôi không biết tâm trạng của ông ấy thế nào, nhưng chương cuối cùng là Chỉ Dành Cho Bạn Già.

其实是要带书名号的《只限老友》,是因为新的读者,必然看不懂这一篇的内容,非是卫斯理的老读者,才能欣然看懂。

Sở dĩ phải thêm dấu ngoặc kép, là vì những độc giả mới chắc chắn sẽ không thể hiểu được nội dung của chương đó.

Chỉ những độc giả cũ của Vệ Tư Lý mới có thể vui vẻ thấu hiểu.

作为盗墓笔记的故事,钓王显然也是只限老友,其中一些语句,非得看完全篇对故事非常了解的人,才能领会。

Đối với câu chuyện Đạo Mộ Bút Ký, Điếu Vương rõ ràng cũng là Chỉ Dành Cho Bạn Già.

Một số câu chữ trong đó, chỉ những người đã xem toàn bộ và hiểu rất rõ câu chuyện mới có thể lĩnh hội.

然而钓王仍旧会是一个好看的故事,因为我还想写他们参加钓鱼竞标赛的故事。

Tuy nhiên, Điếu Vương vẫn sẽ là một câu chuyện hay, bởi vì tôi còn muốn viết về việc họ tham gia giải đấu câu cá nữa.

不知道为什么,就是对钓鱼痴迷了,在写作钓王的过程中,没错,我一直在钓鱼。

Không hiểu vì sao, tôi lại bị ám ảnh bởi việc câu cá.

Trong quá trình viết Điếu Vương, đúng vậy, tôi đã luôn đi câu cá.

既然是写钓鱼,那么最好看的应该是钓鱼的过程,我尚未想明白如何将钓鱼写的好看,但我会尝试的。

Vì viết về câu cá, nên phần hấp dẫn nhất phải là quá trình câu cá.

Tôi vẫn chưa nghĩ ra làm thế nào để viết về câu cá cho thật hay, nhưng tôi sẽ cố gắng.

元宵快乐。

Chúc mừng Tết Nguyên Tiêu.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 17: Cánh đồng muối


所有人都不说话,确实也没什么好说的,外面的情况无法判断,只能凭借想象。我总想窥探全貌,但也深知窥探全貌的代价,如果砸破这块铜壁,有可能外面的激流就会冲进来。四个人激流勇进冲下去几百米。然后十年都小心谨慎,生怕自己会死掉的我,就这么莫名其妙的挂在一条鱼上。

Tất cả mọi người không ai nói câu nào, vì quả thật cũng chẳng có gì đáng nói.

Không thể phán đoán được tình hình bên ngoài, chỉ có thể dựa vào tưởng tượng thôi.

Tôi vẫn luôn muốn được chứng kiến toàn cảnh, nhưng cũng hiểu rõ cái giá phải trả cho việc nhòm ngó toàn cảnh đó là gì.

Nếu đập vỡ vách đồng này, rất có thể, dòng nước xiết ở bên ngoài sẽ chảy ào ào vào trong.

Cả bốn người theo dòng nước xiết trôi thẳng vào trong đến mấy trăm mét.

Sau đó, tôi – một kẻ luôn nơm nớp lo sợ mình sẽ chết mất tiêu trong suốt mười năm qua – cứ thế tiêu đời một cách ngớ ngẩn chỉ vì một con cá.

我忽然有点不知道自己在干什么?就好像受了什么蛊惑一样,又来到了这样的境地,我以前绝对不会犯这样的错误。我保持了十年的绝对冷静,是因为什么原因失去的。

Tự dưng tôi có cảm giác hoang mang chẳng hiểu mình đang làm gì?

Cứ như bị trúng một loại bùa ngải nào đó vậy, tôi lại đi đến những vùng đất kiểu này, trước kia tôi tuyệt đối không phạm phải sai lầm như thế.

Tôi giữ được sự tỉnh táo tuyệt đối trong suốt mười năm qua, đó là vì nguyên nhân nào đã mất.

我们继续往下走,我看着在前头继续往下的闷油瓶,忽然意识到了为什么。

Chúng tôi tiếp tục đi xuống, tôi nhìn Muộn Du Bình đi đầu tiên, bỗng dưng hiểu được lý do vì sao.

我在这十年里,一直在听自己的意见行事,我本来就是一个谨慎的人,我家里的小铺子,给我运营的半死不活就是一个例子,当然当时的能力是一个局限,但性格也是保持这个现状的巨大因素,那十年里,我的能力得到了很大的提升,但是我也终于回到了:我做主的语境里。我的性格仍旧是谨慎的。

Trong mười năm vừa qua, tôi vẫn luôn luôn tự lắng nghe ý kiến của chính mình mà làm việc, tôi vốn chính là một người cẩn thận, cửa tiệm nhỏ của gia đình giao cho tôi quản lý, công việc kinh doanh cứ ngoắc ngoải dở sống dở chết, đó là một ví dụ.

Đương nhiên, hồi đó năng lực của tôi có giới hạn, nhưng tính cách cũng là một yếu tố lớn góp phần duy trì được trạng thái của nó bây giờ.

Trong mười năm này, năng lực của tôi đã thăng tiến một bước rất lớn, nhưng cuối cùng tôi vẫn quay trở về cái ngữ cảnh mà tôi đóng vai trò làm chủ ngữ trong đó.

Tính cách của tôi, vẫn thận trọng như xưa.

但是我们三个人在一起的时候,我天然就放弃了我做主的习惯,虽然我仍旧保持着独立判断的能力,也开始出面直面所有的问题,但我并不是这个小团体的发动机。

Khi ba người bọn tôi ở chung với nhau, tôi cứ thế nghiễm nhiên vứt bỏ cái thói quen làm chủ của mình, mặc dù tôi vẫn giữ được khả năng phán đoán độc lập, cũng bắt đầu đối mặt trực diện với tất cả mọi vấn đề, nhưng tôi không hề đóng vai trò làm động cơ thúc đẩy trong cái đoàn thể nhỏ bé này.

在雨村的时候是,但现在肯定不是,这个小团体的发动机,现在正在前面探路。

Khi ở Vũ Thôn thì đúng, tôi là cái động cơ, nhưng bây giờ thì chắc chắn là không phải.

Hiện giờ cái động cơ của đoàn thể nhỏ này đang cặm cụi dò đường ở phía trước kia.

想到这里,我反而心安了,之前就感觉闷油瓶参与这件事情,是想告诉我什么,这件事情一定是他用语言讲不清楚的,如果他那么努力的想要传达什么信息给我,说明他有足够的让这件事情顺利发展的信心。

Nghĩ đến đây, trái lại, tôi thấy rất yên tâm.

Ngày trước, tôi cứ có cảm giác Muộn Du Bình tham dự vào chuyện này là muốn nói cho tôi biết điều gì, mà điều đó không thể nói rõ ràng được bằng lời nói của hắn, nếu hắn nỗ lực truyền đạt tin tức gì đó cho tôi đến thế, chứng tỏ hắn có đủ tự tin để khiến chuyện này phát triển một cách thuận lợi.

以往的经历中,闷油瓶给我的指示大部分都是对的,几乎所有的危险都是我自作主张的来了,如今我跟着他,只要他说什么,我就遵守,我相信比我走在前面,要靠谱很多。

Theo những trải nghiệm trong quá khứ, phần lớn những chỉ thị mà Muộn Du Bình gửi cho tôi đều đúng, hầu như tất cả các nguy hiểm đều là do tôi tự tung tự tác mà ra.

Còn bây giờ, tôi đi theo hắn, chỉ cần hắn nói cái gì, tôi đều nhất mực tuân thủ, tôi tin là kẻ đi ở phía trước tôi phải đáng tin cậy hơn tôi nhiều.

我正了正头灯,舒缓了一下,决定认真的赶路,不在这里冒充大尾巴狼了。

Tôi chỉnh lại cái đèn trên đầu, thư giãn một chút, rồi quyết định đi đường một cách nghiêm túc, không ở đây đội lốt con sói đuôi bự nữa.

雷本昌看我们表情惊恐的敲开盐花,发现蹊跷,然后三个人脸色沉重的沉默之后,忽然什么事情也没有做,继续往下走,表示很不理解。更不理解的是,胖子开始扑腾头发,抱怨刚才不小心。

Lôi Bản Xương chứng kiến chúng tôi hoảng sợ đập hết hoa muối xuống, phát hiện ra điểm kỳ lạ, cả ba người cùng trầm lặng một cách nặng nề, rồi bỗng nhiên chẳng làm gì nữa, tiếp tục đi xuống, ông ta rất chi là khó hiểu.

Mà càng khó hiểu hơn nữa, là Bàn Tử bắt đầu vò tung mớ tóc, cằn nhằn lúc nãy sao mà bất cẩn quá.

雷本昌一定觉得我们刚才发现了什么,但是不愿意告诉他,他变的很窘迫起来。隐隐担心其实情况很糟糕。

Lôi Bản Xương chắc chắn là cảm thấy chúng tôi vừa phát hiện ra điều gì, nhưng lại không nói cho ông ta biết, ông ta có vẻ cuống lắm.

Cứ lo lo chỉ sợ tình hình thực tế tệ hại lắm.

往下爬了7个小时,盐花已经开始厚到开始让我们通行困难,很多时候要敲掉障碍才能通过,我们的脖子里,袖口里全是盐花,我又肚子疼了好几次,但是都比之前有所减轻。终于我们听到了水声和巨大的风声,管道里的风越来越大。再往下走了十几分钟,闷油瓶轻声说了一声:"到了。"

Trèo xuống dưới suốt 7 tiếng đồng hồ, các tảng muối bắt đầu dày đến mức khiến chúng tôi đi lại rất khó khăn, nhiều khi phải đập hết các chướng ngại vật thì mới chui qua được.

Trong cổ họng, trong tay áo chúng tôi toàn là muối, cái bụng tôi lại đau quặn lên mấy lần, nhưng có phần đỡ hơn lần trước.

Cuối cùng, chúng tôi cũng nghe thấy tiếng nước chảy cũng tiếng gió rất lớn.

Gió thổi vào trong đường ống càng ngày càng mạnh.

Đi xuống thêm mười mấy phút nữa, Muộn Du Bình mới nhẹ giọng nói một tiếng: "Đến rồi."

一个一个爬出去,到我,我就看到前面头灯光出去空气中飘着无数的盐屑,像下雪一样,能看到出口外面是一片盐覆盖的地面。似乎非常空旷。头灯光看不到尽头。

Từng người một chui ra ngoài, đến phiên tôi, tôi nhìn theo ánh đèn trên đầu chiếu ra ngoài, thấy trong không khí có vô số hạt muối vụn lơ lửng, bay bay trông như tuyết vậy.

Có thể thấy, bên ngoài lối ra là mặt đất bao phủ đầy muối.

Hình như rất trống trải, rộng mênh mông.

Ánh đèn trên đầu không chiếu đến được điểm cuối.

我也爬了出去,才探出头来,头发立即就被吹乱,盐粒灌入我的嘴巴里,都是苦涩的咸味。

Tôi cũng chui ra ngoài, vừa mới thò đầu ra, liền bị gió thổi tung cả tóc, bao nhiêu muối lọt vào trong miệng, toàn vị đắng chát.

巨大的横风吹的我脸上的肉都开始抖动起来,这条鱼道的出口在一个干涸的水潭一样盐坑的坑壁上,坑深度半人高,里面全是盐花。

Gió lớn tạt ngang, làm thịt trên mặt tôi cứ rung rung, lối ra của con đường cá này nằm trên một vách một cái hố muối to tướng nom như cái đầm cạn khô nước.

Cái hố này cao chừng nửa thân người, bên trong toàn là muối.

我们爬上坑的边,面前一片漆黑,除了眼前满天飞舞的盐花,什么都看不到。胖子翻出狼眼手电,打到最大。瞬间照出去几百米,我们发现我们在一片盐原上,四周什么都没有,全是白色的盐形成的平地。非常平整。

Chúng tôi trèo lên thành hố, trước mặt tối thui một khoảng, trừ hoa muối bay đầy trời như mưa phùn ra thì chẳng nhìn thấy gì khác nữa.

Bàn Tử lôi ra một cái đèn pin mắt sói, bật nấc to nhất.

Trong nháy mắt, ánh sáng chiếu ra cả mấy trăm mét, chúng tôi phát hiện mình đang đứng trên một cánh đồng muối, bốn phía không có gì hết, chỉ thấy tất cả toàn là mặt đất bằng phẳng do muối trắng tạo thành.

Rất bằng phẳng.

手电光滑来滑去,光线不能到达的地方,皆为虚无的盐雪花飘舞。而风也不知道从哪儿来的。吹的耳朵发麻,盐花打在脸上犹如砂纸。而在某些极远的边缘处,却能隐约看到很多似乎盐花覆盖的洞壁,这是一个巨大的地下盐洞。

Ánh đèn quét tới quét lui, vẫn không thể chiếu đến được cái gì, tất cả toàn là muối trắng tung bay trong gió như hoa tuyết.

Mà cũng không biết gió từ đâu tới nữa.

Gió thổi đến mức lỗ tai tê dại, muối hoa đập vào mặt cứ như bị cọ giấy nhám.

Mà ở nơi ranh giới xa tít mù tắp kia, có thể loáng thoáng nhìn thấy hình như là rất nhiều hoa muối bao trùm lên cả vách hang, đây là một hang động muối khổng lồ dưới lòng đất.

胖子把手电往上打去,我们看到了压抑的盐顶,就在我们头顶十几米处。盐面多结晶反射,流光溢彩。

Bàn Tử chiếu đèn pin lên trên, chúng tôi mới nhìn thấy đỉnh muối nén ở phía trên, cách đỉnh đầu chúng tôi chừng mười mấy mét.

Muối kết tinh phản xạ lại ánh sáng, lóng la lóng lánh, đẹp tuyệt trần.

回头看,看到犹如怪兽一样的盐壁,盐花都结的和很多触手一样,各种扭曲的在岩壁上盘绕。我们往前走了几百米,再回头看,就发现这块岩壁这并不是这个巨大洞穴的边缘,只是一块巨大扁长石柱的一面,石柱连接上面的盐顶处盐花疯长,犹如一个巨大的华盖,

Quay đầu nhìn, thấy vách muối trông như con quái thú, muối hoa kết lại thành những cái vòi nom như xúc tu, uốn lượn đủ hình dáng quanh vách đá khúc khuỷu.

Chúng tôi đi về phía trước khoảng mấy trăm mét, lại tiếp tục quay đầu nhìn, mới phát hiện thì ra vách đá này không phải bên mép một hang động khổng lồ nào đó, mà chỉ là một mặt của một cây cột đá vừa dẹp vừa dài cực khổng lồ thôi.

Ở phần tiếp giáp giữa đỉnh cột đá và đỉnh muối, muối hoa phát triển một cách điên cuồng, nom như một cái mui xe khổng lồ.

我们出来的坑在石柱的下缘,坑的边缘堆积了很多的石头,这些应该就是经过这条道运下来的建材,仰头看石柱之巨大,犹如一艘万吨巨轮。

Cái hố nơi chúng tôi chui lên nằm ở mép bên dưới cột đá, quanh rìa hố chất đống rất nhiều đá tảng, chắc hẳn đó là vật liệu xây dựng được vận chuyển xuống dưới bằng con đường cá kia, ngẩng đầu nhìn cây cột đá kia, trông như chiếc bánh xe khổng lồ nặng hàng vạn tấn.

"这是什么地方?"胖子大声喊道。

"Đây là đâu?"

Bàn Tử gào tướng lên.

我也拿出狼眼,拧亮对准脚下的盐原,犹如雪地一样,这是一块地下的由盐形成的平原,前面一定有更多巨大的犹如航空母舰一样巨大的石柱支撑这里的盐顶。

Tôi cũng lấy đèn mắt sói ra soi, điều chỉnh tiêu cự ánh sáng rồi chiếu xuống cánh đồng muối dưới chân, nom cứ như đang ở vùng băng tuyết, đây là cả một vùng bình nguyên ở dưới lòng đất, do muối hình thành mà nên, phía trước chắc chắn là còn nhiều cột đá to cỡ hàng không mẫu hạm nữa, để chống đỡ cho trần muối phía trên của nơi này.

"到底有多大?"我内心在问自己,"这么巨大的洞,要是腌白菜我就垄断全国了。"

"Rốt cuộc là có bao nhiêu nhỉ?"

Tôi tự hỏi, "Hang động khổng lồ như thế, nếu đem đi ướp cải trắng, chắc mình làm lũng đoạn cả thị trường dưa muối trong nước luôn."

"湖呢?"雷本昌竟然没有被眼前的景象吓到,而是问我们。

"Hồ đâu?"

Không ngờ, Lôi Bản Xương không bị cảnh tượng trước mắt hù dọa, mà hỏi chúng tôi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 18: Mặn


我们在入口处插上一个无线电信号机,作为入口的记号,四个人打开无线电对讲机,测试了噪声的强度。然后开始在狂风中往前找湖。

Chúng tôi cắm một cái đèn tín hiệu vô tuyến điện ở ngay cửa vào, coi như làm ký hiệu.

Chúng tôi mở bộ đàm vô tuyến điện, thử xem cường độ của tạp âm.

Sau đó, bắt đầu lần mò về phía trước tìm kiếm cái hồ trong cơn gió mạnh.

我现在仍旧无法明白这个巨大的地下山洞中,到底发生过什么,刚才由青铜管下来,这里的地质结构我就无法复原,从老头的叙述来看,这地下应该是一个巨大的地下湖,地下湖的中心有一条人工建造的石墙把湖隔成了两边,但我们下来之后,发现了建造石墙的材料,但却没有看到湖。

Đến bây giờ tôi vẫn không biết trong cái hang động khổng lồ dưới lòng đất ấy đã từng xảy ra chuyện gì, lúc nãy khi vừa xuống đây bằng đường ống đồng, tôi đã không thể nào mường tượng được kết cấu địa chất ban đầu của nơi này.

Theo lời kể của ông già, dưới đất này chắc hẳn phải có một cái hồ ngầm rất lớn, trung tâm hồ ngầm có một bức tường đá do con người xây dựng, chia đôi cái hồ ra làm hai bên, thế mà sau khi chúng tôi xuống đấy, lại chỉ phát hiện ra nguyên vật liệu để xây tường đá, chứ không thấy hồ đâu cả.

难道这块盐源就是原来地下湖泊的湖底么?我心说,湖水已经干涸了?刚才出来的时候,还觉得自己听到了水声,后来发现水声都是盐粒刮过盐原的摩擦声。

Chẳng lẽ cánh đồng muối này vốn là đáy cái hồ ngầm đó ư?

Tôi nghĩ thầm, nước hồ đã khô cạn rồi?

Vừa nãy khi mới chui ra, tôi còn cảm thấy như nghe thấy tiếng nước chảy, sau đó mới phát hiện ra tiếng nước chảy đó là tiếng va chạm mỗi khi gió thổi hạt muối cọ xát với nền muối.

雷本昌一脸迷茫,走几步就会茫然的看着四周。胖子拍了拍他,让他淡定一点。

Vẻ mặt Lôi Bản Xương đầy ngơ ngác, đi được vài bước lại lơ ngơ nhìn khắp bốn phía.

Bàn Tử vỗ ông ta một cái, để ông ta bình tĩnh một chút.

"我们现在在哪个位置?"我问胖子,他对于这种爬上爬下的,脑子清醒一点。胖子就和我,咱们现在应该是在山里,这条青铜管进入岩层之后,往下的趋势就放缓,但是横向的趋势加大,所以我们预期说一直在往山的底部走,不如说一直在往山的山体内部走。

"Bây giờ chúng ta đang ở vị trí nào?"

Tôi hỏi Bàn Tử.

Đầu óc anh ta khá là tỉnh táo với cái kiểu trèo lên trèo xuống này.

Bàn Tử liền nói, "Bây giờ chúng ta chắc là đang ở trong lòng núi, sau khi ống đồng xanh kia tiến vào tầng đá, độ dốc xuống mới thoai thoải hơn một chút, nhưng càng ngày càng có khuynh hướng đi ngang, cho nên tôi đoán, nói là đi xuống đáy quả núi, chi bằng nói là đang đi trong lòng núi thì đúng hơn."

这是符合推论的,胖子道:"咱们盘算一算,别瞎走来。"他用脚把我们脚下的浮盐抹掉,露出了坚硬的盐面,拔出锤子,在盐地上画图。

Đây là một suy đoán rất hợp lý, Bàn Tử nói: "Chúng ta phải tính toán cái đã, chớ có đi loạn."

Anh ta dùng chân gạt hết muối dưới chân chúng ta ra, để lộ lớp nền muối cứng chắc, đoạn rút búa ra, vẽ xuống nền muối.

"普通的地下水系是怎么样的?首先,山中有很多水潭,水来自于四面八方的高山流水,水这种东西,他么就是一个道理,高处往低处走。武夷山顶上的水四处往下流,其中有一支就积在这个水潭里了,但这个水潭里的水,还得往地下走,怎么办呢?它就往岩石的缝隙里渗入,这些渗水缓缓的往下渗透,遇到地下的洞穴,就开始滴落,汇聚,无数个水潭同时这样,就形成地下的小溪,小溪再汇集就会变成地下河或者地下湖泊。"

"Hệ thống nước ngầm thường như thế nào?

Đầu tiên, trong núi có rất nhiều đầm nước, nước đến từ nguồn nước trên núi cao từ khắp bốn phương tám hướng, nước có một nguyên lý thế này, đó là chảy từ cao xuống thấp.

Nước trên đỉnh Vũ Di Sơn chảy xuống khắp nơi, trong đó có một nhánh tích tụ vào đầm nước này, nhưng nước trong đầm này vẫn còn thông xuống dưới lòng đất nữa kia, tức là làm sao?

Nó thấm qua các khe nứt trên đá, nước cứ dần dần, dần dần thấm xuống dưới, gặp hang động dưới đất, liền bắt đầu nhỏ xuống, tụ lại dần dần, vô số các đầm nước khác cũng như thế, liền hình thành một con suối nhỏ dưới lòng đất, con suối nhỏ lại tụ thêm nhiều nước hơn, biến thành sông ngầm hoặc là hồ ngầm dưới lòng đất."

我点头,他继续道:"但是按照这个道理,这深潭里的鱼,总有一天会被捞光的,事实上,很多深潭里的鱼源源不绝,鱼从哪儿来?古人就开始传说了,什么连着海眼啊,连着龙宫啊,到了近代,有人更科学的解释:这种深潭,连着地下河,对吧。但问题是怎么连?你要在潭底打个大洞,地下河在水潭的下方,潭里的水全流地下河里去了,所以,大部分人认为这种地下水系是潭在上,地下河在下是不对的。大部分时候,地下河不是在水潭的下方,而是在水潭侧方的大山内部,两者水位是一样的,这样水下有洞连着就很合理了。"

Tôi gật đầu, anh ta nói tiếp: "Nhưng theo lý này thì cá trong đầm sâu đến một lúc nào đó rồi cũng sẽ bị vơ vét hết, thế mà trong thực tế, cá trong đầm sâu cứ cuồn cuộn không hết, cá từ đâu mà ra đây?

Cổ nhân mới đồn thổi với nhau, cái gì mà liền với mắt biển, liền với Long Cung, đến thời cận đại, có người lại dùng khoa học giải thích: loại đầm sâu này thông với hồ ngầm dưới đất, đúng không?

Nhưng vấn đề là, thông như thế nào?

Anh phải đục một cái hang to tướng dưới đáy đầm, sông ngầm nằm bên dưới đầm nước, nước trong đầm chảy hết xuống sông ngầm, cho nên, đa số mọi người đều cho rằng cái kiểu hệ thống nước đầm phía trên sông ngầm phía dưới là không chính xác.

Đa phần thì, sông ngầm không nằm bên dưới đầm nước, mà là nằm trong lòng quả núi lớn bên cạnh đầm nước, mực nước của cả hai bên đều giống nhau, như thế, cách nói 'dưới nước có hang động nối liền' mới hợp lý được."

我继续点头,我家里有一套62年的橘黄色封面的十万个为什么,里面也是这么说的。里面只要得出什么结论,就一定会有毛泽东语录写在边上。

Tôi tiếp tục gật đầu, trong nhà tôi có một quyển Mười vạn câu hỏi vì sao bìa màu da cam xuất bản năm 62, trong sách cũng có viết như thế.

Trong sách, cứ mỗi lần cho ra được kết luận gì, là y như rằng lại có trích dẫn một câu nào đấy của Mao Trạch Đông ở bên cạnh.

"还有一种可能性,是子母湖。"胖子说道,"我们看到的深潭,是一个子湖,在山的内部有一个高度一模一样的母湖,我们看不见,在水位以下有通道相连。在母湖的水平面以上,有旱洞联通地下河的旱洞,这些洞穴都在水位以上,只有在地下湖潮汐的时候,地下河的水位上涨,就会涨过平时的水位线,把这些旱洞淹没,鱼和水就会从地下河灌入到母湖里。再从母湖游到子湖。"

"Còn có một khả năng khác, đó là hồ mẹ con."

Bàn Tử nói, "Cái đầm sâu mà chúng ta nhìn thấy, đó là hồ con, trong lòng núi còn có một cái hồ khác có độ cao giống y hệt, là hồ mẹ.

Chúng ta không nhìn thấy hồ mẹ, dưới nước có con đường nào đó thông nhau.

Trên mặt nước của hồ mẹ còn có một hang động khô thông với một hang động khô khác, rồi thông với sông ngầm dưới lòng đất, số hang động này đều nằm trên mực nước, chỉ khi nào nước triều lên xuống, mực nước dưới sông ngầm tăng lên, vượt quá mực nước bình thường, làm ngập toàn bộ các hang khô kia, cá và nước từ sông ngầm chảy vào trong hồ mẹ.

Rồi từ hồ mẹ, chảy vào trong hồ con."

从逻辑上这两种情况其实是一种情况,把地下河换成地下湖泊也是一样成立。这条古青铜鱼道往山内延伸是正确的,按照趋势和逻辑,我们确实已经到了地下湖盆的所在。之前我们看到深潭的位置,应该是在这个山洞的侧面某处。

Về mặt logic thì hai trường hợp này kỳ thực chỉ là một trường hợp thôi, đổi cái sông ngầm thành cái hồ ngầm thì cũng giống y hệt nhau.

Như vậy, con đường cá bằng đồng xanh kia kéo dài vào trong lòng núi là chính xác, dựa vào hướng đi và suy luận logic thì chúng tôi quả thực đã đến vị trí nơi cái hồ ngầm tồn tại rồi.

Vị trí cái đầm sâu mà chúng tôi nhìn thấy lúc trước chắc hẳn nằm ở một phía nào đó bên cạnh cái hang động này.

如果地下湖泊干涸了,那么肯定是出现了什么地质巨变,老头要钓的那条鱼肯定早就死了。或者变成了巨型的咸鱼。

Nếu hồ ngầm đã cạn khô, như vậy, chắc chắn là đã xuất hiện một sự biến đổi lớn nào đó về mặt địa chất, con cá mà ông lão kia muốn câu chắc chắn là chết toi từ lâu rồi.

Hoặc là biến thành một con cá nước mặn khổng lồ.

"他娘的就在这儿,湖呢?"胖子挠头,挠了一手盐粒子,

"Ở cái chỗ chết mẹ này hử, hồ ấy?"

Bàn Tử gãi đầu, nạo một vốc muối lên.

我抽了一口烟,烟都是咸味的,看着胖子画的图,皱起眉头:"等等,风从哪儿来的?"

Tôi hút một hơi thuốc, khói cũng toàn vị mặn cả, thấy hình vẽ mà Bàn Tử vừa vẽ ra, tôi nhíu mày: "Khoan đã, thế gió là từ đâu tới?"

封闭的山洞里是没有风的,山洞肯定通着很多地方,气流涌动。这很符合胖子说的第二种情况,子母湖。在这个巨大盐洞的上方可能有很多的旱洞,和整个山体的洞穴相连。风是从这些洞里进来的,这里风非常紊乱。非常符合推断。

Trong hang động kín mít thì làm gì có gió, hang động này chắc chắn còn thông với rất nhiều nơi khác nữa, không khí mới lưu thông được.

Cái này rất phù hợp với tình huống thứ hai mà Bàn Tử nói, hồ mẹ con.

Trên cái hang động muối khổng lồ này rất có thể còn nhiều hang khô khác nữa, hang động trong lòng cả quả núi này đều thông nhau.

Gió thổi vào từ trong những hang động này, gió ở đây rất rối loạn, phù hợp với suy đoán trên.

继续往前探索,走了好几圈,我已经吹的蒙逼了,嘴唇被咸的开裂。眼睛鼻孔全是盐花,用胖子的话说,再走下去肺就腌熟了。但仍旧看不到任何水的迹象。

Tiếp tục đi về phía trước thăm dò, đi được mấy vòng rồi, tôi bị gió thổi đến choáng váng, môi thì rạn nứt cả ra vì mặn.

Mắt tôi, mũi tôi chỉ toàn là muối, dùng lời của Bàn Tử mà nói, thì đi tiếp nữa, phổi cũng bị ướp chín luôn.

Nhưng vẫn không tìm thấy được bất kỳ dấu hiệu nào của nước.

我们坐在地上休息,我看着盐原,听着像水声一般的盐粒声,心说简直就是盐的海洋,如果这里曾经有湖,这么咸的水,有鱼能活下来么?

Chúng tôi ngồi xuống đất nghỉ ngơi, tôi nhìn cánh đồng muối này, nghe tiếng hạt muối ma sát giống như tiếng nước chảy, nghĩ thầm đây chính là một đại dương muối rồi, nếu nơi này từng tồn tại một cái hồ, nước mặn như thế, làm sao mà cá sống được?

想到这里,我忽然灵光一闪,盐海盐海,那个湖,会不会在我们脚下的盐壳下面?我听了听盐原,听不到下面的声音。我的动作让胖子也醒悟了过来,他拿地质锤敲了敲盐面,盐面很厚,纹丝不动。

Nghĩ tới đây, bỗng một ánh sáng lóe lên trong đầu tôi.

Biển muối biển muối, cái hồ đó, phải chăng nằm ở ngay bên dưới lớp muối cứng dưới chân chúng tôi đây?

Tôi áp tai xuống lắng nghe cánh đồng muối, nhưng không nghe thấy âm thanh bên dưới.

Động tác này của tôi khiến Bàn Tử cũng giật mình tỉnh ngộ, anh ta cầm cây búa địa chất đập một cú xuống nền muối, nhưng nền muối rất dày, vẫn không nhúc nhích tí gì.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 19: Cần tre và cốt thép


胖子和闷油瓶翻出装备,取出洛阳铲,我们每个人带了五截螺纹管,这年头都是特制的碳纤维杆子,找鱼竿厂定做的。特别轻便。胖子立起铲头,开始往盐地里敲。盐面开裂,里面很结实,比我们想的结实很多。因为盐结块之后其实是晶体,铲头没有办法像进入泥土一样刺下去,每一次敲击,盐面就各种开裂。整块整块的碎掉。

Bàn Tử và Muộn Du Bình lục lọi ba lô trang bị, lấy xẻng Lạc Dương ra, chúng tôi mỗi người lại lắp năm đoạn ống xoắn.

Gần đây thị trường toàn loại gậy chế tạo bằng sợi các-bon, chúng tôi phải đặc biệt tìm đến công xưởng sản xuất cần câu để đặt hàng.

Đặc biệt nhẹ luôn.

Bàn Tử dựng thẳng đầu xẻng, bắt đầu gõ xuống nền muối.

Nền muối rạn nứt, nhưng bên trong rất cứng chắc, cứng hơn tưởng tượng của chúng tôi rất nhiều.

Bởi vì sau khi muối kết thành khối, thành phần bên trong toàn là tinh thể cả, đầu xẻng không thể đâm sâu vào trong được như đâm vào bùn đất.

Cứ mỗi lần đập xuống, bề mặt nền muối lại nứt ra.

Cứ bể vỡ từng khối từng khối một.

我张着变成腌香肠的嘴唇问胖子:"还记得咱们在雪山上用炉子融化挖冰洞么?"

Tôi mấp máy đôi môi đã biến thành hai miếng lạp xưởng ướp muối, hỏi Bàn Tử: "Còn nhớ hồi trên núi tuyết, tụi mình từng dùng lò làm tan hang động băng không?"

胖子长叹了一口气,年纪大了之后容易气短,在大风中呼吸越发困难,他搬出酒精炉子,"盐能融化么?他娘的,咱们可千万别死这儿,分分钟成火腿了。"

Bàn Tử thở hắt ra một cái, tuổi lớn rồi, rất dễ bị hụt hơi, trong gió lớn lại càng khó thở hơn.

Anh ta bày bếp rượu cồn ra, "Hòa tan được muối không?

Mẹ kiếp, đừng có để tụi mình chết ngắc ở đây đấy nhé, vài phút sau lại biến thành chân giò hun khói."

正说着,边上的老头也摊开了自己的装备,从他的装备包里,拔出了两根和洛阳铲很像的钢管,一根头上是钻头,另一根是一个摇杆,这是冰钓时候用的手摇冰钻。老头孤零零的在我们三四米外,一个人开始在地上钻洞。

Đang nói, ông lão bên cạnh cũng bày biện trang bị của mình ra, ông ta rút từ trong ba lô trang bị ra hai cái ống thép nom rất giống xẻng Lạc Dương, một đầu có gắn mũi khoan, một đầu gắn với cần gạt, đây là dùi băng cầm tay dùng để câu cá trên băng.

Một mình ông lão ngồi thu lu cách chúng tôi ba bốn mét, bắt đầu đào lỗ trên nền đất.

胖子做了个表情,意识是你瞧瞧人家,那叫一个专业。

Bàn Tử ra hiệu với tôi, ý là bảo tôi nhìn người ta mà xem, kia mới gọi là chuyên nghiệp đấy.

我知道盐的硬度,我们踩着地面很稳说明如果下面是空的,盐层肯定很厚,老头的钻头不够长。就看老头慢悠悠的开始打钻,一根钻头打下去之后,他也拿出一根螺纹钢管接上。转动了十几分钟,他站起来歇息了一下继续。我们在边上蹲着抽烟看着,烟越抽越咸,我拿自己的围巾围住自己的嘴巴,看着一片漆黑的四周,盐花吹入到我们有限的照明灯光的范围内才会出现一下,然后迅速消失进黑暗中。转头看闷油瓶,看着他的灯光往黑暗中远去,显然是去探路了。

Tôi biết độ cứng của muối, chúng tôi giẫm lên mặt đất rất ổn định, chứng tỏ, nếu bên dưới trống rỗng, thì tầng muối này phải rất dày, mà mũi khoan của ông lão lại không đủ dài.

Thế là tôi nhìn thấy ông lão bắt đầu ung dung khoan xuống, sau khi cắm một mũi khoan xuống, ông ta lại lấy một đoạn ống thép ra gắn vào.

Khoan được khoảng mười mấy phút, ông ta đứng lên nghỉ ngơi một chút, rồi lại tiếp tục công việc.

Chúng tôi ngồi bên cạnh, cứ thế ngồi xổm vừa hút thuốc vừa nhìn.

Càng hút khói lại càng mặn, tôi lấy khăn quàng cổ của mình che lên miệng, nhìn khắp bốn phía tối đen như mực, hoa muối thổi vào trong phạm vi chiếu sáng có hạn của đèn pin chúng tôi, rồi loáng cái lại mất hút vào bóng tối.

Tôi quay đầu nhìn Muộn Du Bình, thấy ánh đèn của hắn đã đi rõ xa trong bóng tối, hẳn là đi dò đường.

他对于一个区域的探索范围比我远的多,我大概检查周围几百米的范围就放心了,闷油瓶到雨村之后,几乎走遍了村子四周的所有山脉。有段时间我一个礼拜都看不到他一两次。不过他每次都会带点奇怪的土特产回来倒是让人很期待。我记得有一次,他带回来一条很奇怪的鱼头,胖子努力吃了三天才吃完。

Ở mỗi một khu vực, phạm vi thăm dò của hắn rộng hơn tôi rất nhiều, tôi chỉ cần kiểm tra xung quanh trong phạm vi chừng mấy trăm mét là an tâm rồi, còn Muộn Du Bình, kể từ khi đến Vũ Thôn, hắn gần như đã đi khắp tất cả các rặng núi xung quanh làng đến vài lần rồi.

Chẳng qua, lần nào hắn đi cũng mang theo đặc sản kỳ lạ ở vùng đấy về, thực ra cũng rất mong chờ.

Tôi nhớ có lần, hắn xách về một cái đầu cá rất quái đản, Bàn Tử phải ra sức ăn suốt ba ngày liền mới hết.

"你知道少数民族有盐葬的习俗吧。"胖子捧起地上的盐,堆砌雪人,一边问我道。

"Cậu biết tập tục muối táng của người dân tộc thiểu số không."

Bàn Tử vốc một nắm muối dưới đất lên, đắp người tuyết, vừa hỏi tôi.

"我知道你要说什么,千万别,老子这种得过功勋,淌过大难的人,怎么着也得捞个胡椒面葬吧。"我默默道,心说别逗贫了,实在不想张开嘴,再吃盐下去,高血压都要犯了。

"Tôi biết anh định nói cái gì, tuyệt đối không được, cái loại người từng đạt chiến công, vượt đại nạn như ông đây, thế nào cũng phải moi được cái mộ táng bằng mỳ hạt tiêu cơ."

Tôi ậm ừ nói, nghĩ thầm đừng có huyên thuyên nữa, tôi chẳng muốn há miệng ra nữa, ăn thêm muối nữa chắc cao huyết áp luôn quá.

"瞧你那出息。"胖子说道:"咱们辛苦那么多年,起码得咖喱葬。不过你说嘿,这次下来挺顺利的,要是以前,咱肯定遇到破事了,这一次连个毛都没遇上,还真有点不习惯。"

"Coi tiền đồ của cậu kìa."

Bàn Tử nói: "Tụi mình cực khổ nhiều năm như thế, ít nhất cũng phải táng bằng cà-ri.

Nhưng mà cậu nói xem, lần này xuống đây thật là thuận lợi, nếu là trước kia á, nhất định là tụi mình phải gặp vấn đề gì rồi, thế mà lần này chẳng gặp được cái lông gì, quả thực có hơi không quen."

我眯起眼睛,心情颇为无聊,这盐原的奇景,算是普通人根本无法遇到的奇观了,但对于我来说,这样的景色真的只能让我兴奋不过几分钟。我的身体和神经都绷紧着,等待着一定会出现的危险,我已经忘记了,这不是别人设计好等待我们进入的诡异墓穴,只是一个山洞而已。

Tôi nheo mắt lại, tâm trạng rất chi là nhàm chán, kỳ cảnh cánh đồng muối này cũng coi như là kỳ quan mà người bình thường không thể nào gặp được rồi, nhưng đối với tôi mà nói, cảnh sắc như thế thật sự chỉ làm tôi hưng phấn được mấy phút.

Cả cơ thể lẫn thần kinh tôi chỉ căng hết lên như dây đàn, chỉ chờ lát nữa thế nào cũng có gì nguy hiểm xuất hiện.

Tôi đã quên mất, nơi này không phải là mộ huyệt quỷ quái mà người khác đã bố trí sẵn, chỉ chờ chúng tôi chui đầu vào, mà nó chỉ là một hang núi mà thôi.

我在过去的十年,确实应该是在不知不觉当中,对危险上瘾了。

Mười năm trôi qua, quả thực trong lúc bất tri bất giác, tôi đã nghiện cái cảm giác gặp nguy hiểm rồi.

我批评了一下自己,闭眼在盐地上挠。此时看到老头的那些鱼竿和装备,就过去看。

Tôi tự phê bình kiểm điểm một chút, rồi nhắm mắt cào cào nền muối.

Bấy giờ mới nhìn thấy mấy cái cần câu và đống trang bị của ông lão kia, bèn quan đó nhìn xem.

钓鱼的器具乍一看都差不多,其实差别极大,鲫鱼杆,鲤鱼杆,罗非杆,溪流杆,矶杆,路亚竿,中通竿,筏竿,船竿,在鱼竿不同部位的不同材料上都有讲究。对于我这种只懂点皮毛的人来说,只要有钩就能用。但高手用起来就有非常大的不同,举个例子,有些鱼吃饵的时候非常轻,你需要通过鱼线传导到杆子上面的轻微手感,确定何时提竿,这个时候鱼竿就需要非常细非常灵敏的小竿,如果用六米长的大粗杆,发力从手握的地方传达到竿头鱼早就跑了。

Dụng cụ câu cá mới nhìn qua thì cũng không khác nhau là mấy, nhưng thực ra, khác biệt lại rất lớn.

Cần câu cá diếc, cần câu cá chép, cá rô phi, cần để câu ở khe suối, cần để câu ở ghềnh đá, cần để câu lure, cần câu luồn dây trong, cần để câu trên bè, cần để câu trên thuyền, các chất liệu khác nhau ở những vị trí khác nhau trên cần câu đều được chú trọng kỹ lưỡng.

Đối với những người chỉ biết tí chút sơ sơ như tôi, miễn là cần câu thì đều được tất.

Nhưng đối với cao thủ thì lại khác biệt rất lớn, ví dụ, có những loại cá khi đớp mồi động tĩnh rất nhẹ, anh cần phải cảm nhận được độ rung rất nhẹ truyền từ mồi câu qua dây câu đến tận cần câu, từ đó mới biết được lúc nào nên thu cần, việc đó đòi hỏi loại cần câu cỡ nhỏ rất mỏng nhẹ rất nhạy bén, chứ nếu dùng loại cần to tướng dài sáu mét, khi lực từ chỗ tay nắm truyền đến được đầu cần thì cá cũng đã chạy mất tiêu rồi.

我熟悉钓竿是因为和竿的买卖,当年十年长白之前,有一次去日本海淘文物,帮一个买家寻找唐代的古琴,没有找到,却收到了十几杆和竿,日本人制作钓鱼竿非常讲究,和日本文化里其他部分相同,也分家族和名师,因为使用真竹,里高野,矢高野的竹子制作,所以每一根钓竿都不一样,各自有各自的脾气。里面师光一派还出过一个鬼才,制作出来所谓可以钓水龙的鱼竿。传说用那根杆子能钓上来很多从来没有见过的东西。

Tôi quen thuộc các loại cần câu như thế là bởi tôi từng buôn bán cần tre Nhật.

Hồi xưa, trước cả vụ Trường Bạch mười năm, có một lần tôi từng đến biển Nhật Bản tìm văn vật, giúp một tay khách hàng tìm cây cổ cầm thời Đường, đàn thì không tìm thấy, nhưng lại thu được mười mấy cây cần tre Nhật.

Người Nhật chế tác cần câu nghiên cứu rất kỹ, cũng giống như những thứ khác trong văn hóa Nhật Bản thôi, họ cũng chia ra thành các gia tộc và các danh sư nổi tiếng.

Vì cần làm bằng tre Madake, tre Yadake và Rikouya, cho nên mỗi cần câu lại khác nhau, mỗi cái lại tự có tánh khí của mình.

Trong phái Moromitsu còn từng xuất hiện một thiên tài xuất chúng, chế tạo ra được một loại cần câu có thể câu được cả Thủy long.

Nghe nói, dùng cái cần đó mà câu, có thể câu được rất nhiều thứ xưa nay chưa từng thấy bao giờ.

我当时非常喜欢鱼竿尾部的"握力",就是手握的地方,各个大师有自己的握力标识,那一批握力是浮草家的枫叶,尤为喜欢。回来在国内出售了七杆,其他的再也卖不掉,于是便自己尝试使用,却不得要领,但放在家里,确实漂亮。

Hồi đó, tôi rất thích phần "sức nắm" ở đuôi cần câu, chính là phần tay cầm, mỗi bậc đại sư lại có một dấu hiệu về sức nắm của riêng mình.

Loạt cần câu kia phần tay nắm có hình lá phong của nhà Ukigusa, nên tôi rất thích.

Lúc về nước, tôi bán được bảy cây, số còn lại không bán được, đành tự mình thử dùng, tuy không nắm được cái hay của nó, nhưng ít ra bày trong nhà trông rất đẹp.

老头有一根和竿,握力是锁链图案的,但是往前看明显前头被他自己改良过了。不知道他是有什么自己的想法。

Ông lão có một cây cần tre Nhật như thế, phần tay nắm có hình vẽ xiềng xích, nhưng nhìn mặt trước xem thì thấy rõ ràng là đã được ông ta sửa sang lại rồi, không biết ông ta có ý tưởng gì của riêng mình nữa.

我此时又看到了那一根绑着黄布的钢筋杆子,放在鱼竿当中。我想伸手举一下看看,想了想还是作罢。

Đúng lúc này, tôi lại nhìn thấy cây cần câu cốt thép bọc vải vàng, nằm ở ngay chính giữa đống cần câu.

Tôi muốn thò tay ra nhắc thử lên xem sao, nghĩ một hồi lại thôi.

胖子拍了我肩膀:"天真,老头不往下钻了。"我转头看到老头那边忽然开始提杆子,正在把钻头反向旋转拔出来,但钻空四周并没有水冲出来。

Bàn Tử vỗ vai tôi nói: "Thiên Chân, ông già không khoan xuống nữa rồi."

Tôi quay đầu lại, thấy bên kia, ông lão đột nhiên nhấc cây gậy lên, bắt đầu quay ngược mũi khoan rồi rút ra, nhưng không có tí nước nào bắn lên quanh lỗ khoan.

"没水?"我问老头,老头摇头:"没有,下不去了。"钻头拔出来,地面上出现了一个碗口大的洞。我们用手电照着。看不到下面,用耳朵贴上去,什么声音都没有,看了看钻头的顶部,有石头的碎屑,是石头。判断失误。

"Không có nước à?"

Tôi hỏi ông lão.

Ông lão lắc đầu: "Không có, không xuống được nữa."

Lưỡi khoan rút ra, trên mặt đất xuất hiện một cái lỗ to cỡ miệng chén.

Chúng tôi lấy đèn pin soi xuống.

Không nhìn thấy phía dưới, thử dán lỗ tai vào nghe, cũng không có âm thanh gì, rồi lại nhìn đầu mũi khoan, thấy chỉ toàn vụn đá.

Là đá.

Phán đoán sai lầm.

我们提起装备和矿灯,如果不在盐层下面,那么在哪里呢?我正想开头劝老头回去,一路下来想钓鱼,掉上那条鱼已经是几率极低的事情了,没有想到连湖都找不到,这里可能就是当年的湖底,湖早就干涸了。却看到一边闷油瓶的矿灯光离我们非常非常远的地方,开始打起了信号。似乎发现了什么。

Chúng tôi xách trang bị và đèn mỏ lên, nếu nước hồ không nằm bên dưới tầng muối này, vậy thì nó ở đâu?

Tôi vừa định mở lời khuyên ông lão quay về, suốt chặng đường xuống đây chỉ muốn câu cá, nhưng giờ xác suất câu được con cá đó đã tụt xuống quá thấp, không ngờ ngay cả hồ nước cũng không tìm thấy nữa, nơi này rất có thể chính là đáy hồ năm xưa, giờ hồ đã khô cạn từ lâu rồi.

Nhưng tôi nhìn thấy ánh đèn mỏ của Muộn Du Bình ở một phía cách chúng tôi rất rất rất xa, đang nhấp nháy ra tín hiệu.

Hình như là phát hiện ra điều gì.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 20


闷油瓶的灯语是闪三下,再闪两下,再闪三下。这是我发明的村子灯语,意思是快点快点快点。

Tín hiệu đèn của Muộn Du Bình là nháy ba phát liền, thêm hai phát, rồi lại ba phát liền.

Đây là quy ước tín hiệu đèn do tôi phát minh ra hồi ở trong thôn, có nghĩa là nhanh lên, nhanh lên, mau nhanh lên.

村里房子隔音不好,我有一个储藏间在山坡的上面,是问刘刻在买的,他有两间,卖给我一间,这老刘神经衰弱,打雷,下雨,瀑布的声音都听不见,唯独我讲话他听起来刺耳。储藏间的边上是一个大榕树,我在上面整了一个大台子晒咸菜。城里人没有农村里那么利索,在家里打ps4打晚了,把晒的荠菜忘记收进来了,就得晚上爬上去,踩着房顶收咸菜。

Nhà trong thôn cách âm không tốt, tôi có một gian nhà kho để dự trữ nằm trên sườn đồi, là hồi đó mua lại của lão Lưu Khắc, lão có hai gian, thì bán lại cho tôi một gian.

Lão Lưu thần kinh yếu rồi, tiếng sấm, tiếng mưa, tiếng thác đều không nghe được, duy chỉ có tiếng tôi nói chuyện là lão lại nghe thấy rõ là chói tai.

Bên cạnh gian nhà kho là một cái cây đa rất to, tôi toàn phơi dưa muối ở trên ấy.

Người thành phố không nhanh nhẹn bằng người nhà quê, hôm nào ở lỳ trong nhà đánh PS4 đến tận chiều tối, quên béng mất không thu cỏ tề thái đang phơi vào nhà, thế là buổi tối đành phải trèo lên mái nhà thu dưa muối.

这晚上就不能叫唤,老刘睡的早,我一出声就醒,所以我就拿灯给胖子他们打灯语,收够了一筐子就打灯语让他们上来搬回去。刚来的时候天气暖和,我对于瀑布还有兴趣,也老在房顶上半夜拍月光下的瀑布。也得需要胖子他们帮我接设备。

Buổi tối không được lớn tiếng kêu, lão Lưu đi ngủ rất sớm, tôi mà hó hé một cái là lão tỉnh ngay, thế là tôi đành phải dùng đèn đánh tín hiệu cho đám Bàn Tử, thu đủ một rổ rau rồi thì đánh tín hiệu cho bọn họ trèo lên vác rau về.

Khi tôi vừa mới đến đây, thời tiết rất ấm áp, tôi vẫn còn có hứng thú với thác nước, toàn nhè giữa lúc đêm hôm mà trèo lên nóc nhà chụp ảnh thác nước dưới ánh trăng.

Cũng cần đám Bàn Tử mang vác đồ đạc dụng cụ giúp chứ.

久而久之,这灯语就成体系了,我觉得所有的语言都应该是这样来的,我可以用灯语和胖子隔着半个村子骂隔壁大妈骂半宿。

Lâu dần, quy ước tín hiệu đèn này trở nên có hệ thống hẳn hoi, tôi cảm thấy dường như tất cả các loại ngôn ngữ cũng đều được phát triển bằng cách này.

Tôi có thể dùng tín hiệu đèn cùng Bàn Tử ở cách đó cả nửa thôn, chửi con mụ hàng xóm suốt cả đêm cũng được.

我们收起装备,朝张起灵的灯光走过去,但走了很久很久,这灯光还是在那么远的地方。

Chúng tôi thu dọn trang bị, đi về phía ánh đèn của Trương Khởi Linh, đi mãi đi mãi đi mãi, ánh đèn này vẫn ở rất xa.

不对劲,胖子停了下来,说这他妈的不对劲。这他么是个海市蜃楼。

"Không ổn rồi," Bàn Tử ngừng lại, nói "Mẹ kiếp có gì không ổn rồi, sao lại cứ như là ảo ảnh giữa sa mạc thế không biết."

我仔细辨别了,那确实是我自己编写的信号,仅仅有骂街和叫人上来接咸菜的作用,这种信号不会在其他地方出现,持灯的是闷油瓶,而且我也熟悉他打灯的频率,他的手速很稳定,所以每一次节奏都是一样的。

Tôi cẩn thận nhìn cho thật kỹ, kia đúng là tín hiệu đèn do tôi biên soạn ra, chỉ có mỗi tác dụng chửi đổng và gọi người lên mái nhà thu dưa muối, loại tín hiệu đèn đó sẽ không xuất hiện ở những nơi khác đâu.

Người cầm đèn chính là Muộn Du Bình, hơn nữa tôi cũng quen với tiết tấu nháy đèn của hắn rồi, tốc độ tay của hắn rất ổn định, cho nên cứ tiết tấu mỗi lần nháy đèn đều nhau tăm tắp.

走吧,我说道,这一次也许不是什么可怕的意外或者机关,也许只是真的很远。

Đi thôi, tôi nói, lần này chắc không phải điều gì bất trắc hay cơ quan đáng sợ gì đâu, có lẽ thực sự chỉ là cách quá xa mà thôi.

我们三个继续往前走,老头一路都沉默寡言,此时脚步比谁都急切,胖子就让他放松下来。

Ba người chúng tôi tiếp tục tiến bước, suốt dọc đường ông lão kia cứ im thin thít, thế mà lúc này bước chân lại cuống quít hơn cả bọn tôi, Bàn Tử bảo ông ta cứ bình tĩnh lại.

很快我也开始怀疑出了问题,因为怎么走,那灯光都在那个地方,似乎完全没有靠近的样子。甚至有的时候还更远了,胖子和我对视了一眼,我忽然意识到,唯一一个可能性,就是闷油瓶仍旧在前进。我们走近一些,他走远一些。

Rất nhanh sau đó, tôi cũng bắt đầu hoài nghi có vấn đề nào đó xảy ra rồi, bởi vì cho dù đi thế nào đi nữa, ánh đèn kia vẫn cứ chỉ ở đúng chỗ đó, chẳng có vẻ gì là gần lại cả.

Thậm chí có lúc còn có cảm giác như nó còn ở xa hơn nữa, Bàn Tử với tôi liếc nhìn nhau một cái, tôi bỗng nhận ra, chỉ có một khả năng duy nhất, đó là Muộn Du Bình vẫn luôn tiến về phía trước.

Chúng tôi đến gần một chút, thì hắn lại đi xa thêm một chút.

"小哥在勾引我们?"胖子纳闷道:"有什么事情不能停下来等等我们,他都跑了几十年了,我们追了十几年,多少应该等等我们了。"

"Tiểu Ca đang lôi kéo tụi mình đấy à?"

Bàn Tử buồn bực nói: "Có gì mà không thể dừng lại chờ tụi mình một tí được à.

Cái tên này chạy suốt mười mấy năm rồi, tụi mình cũng đuổi theo nó nhõn mười mấy năm rồi, ít nhiều gì cũng phải chờ tụi mình một chút chứ."

胖子的话触动了我一下,我之前一直有想到他的目的问题,他想要告诉我什么,这一次历险,我总会有所感悟,我已经到了能够随便感悟的年纪了,这跟着走,是意味着他的生命永远迸流,而我们会逐渐缓慢停留下来?

Lời của Bàn Tử làm tôi hơi bị xúc động một chút, lúc trước tôi cứ luôn luôn nghĩ đến mục đích của hắn, hắn định nói cho tôi biết điều gì, lần mạo hiểm này, tôi cứ có cảm giác ngộ ra điều gì, tôi cũng đã đến cái tuổi có thể thường xuyên cảm ngộ cuộc sống rồi, lần này đuổi theo như thế, phải chăng ý nghĩa chính là: sinh mệnh của hắn vẫn sẽ mãi mãi chảy trôi như thế, nhưng còn chúng tôi, sẽ dần dần chậm lại rồi dừng hẳn?

我胡思乱想,但觉得他绝对没有那么哲学,闷油瓶是个实用主义者,他这种情况,只能说明,他在追什么东西。他打灯通知我们赶紧赶上去。

Tôi cứ nghĩ quàng nghĩ xiên, nhưng cảm giác tên này chắc chắn không có triết học như vậy đâu, Muộn Du Bình là một kẻ chủ nghĩa thực dụng, tình huống này chỉ có thể cho thấy, hắn đang truy đuổi thứ gì đó.

Hắn đánh đèn tín hiệu là để báo bọn tôi mau đuổi theo.

如果走追不上的话,就跑吧,如果我会老去,我也无计可施,但至少我现在不会输给他的。

Nếu đi bộ mà không đuổi kịp, thì chạy vậy, nếu tôi già đi, tôi cũng bó tay, nhưng ít nhất bây giờ tôi sẽ không thua hắn.

"跑!"我对胖子说了一声:"你看着老头,追的上就追,追不上就慢慢来。"

"Chạy!"

Tôi kêu một tiếng với Bàn Tử: "Anh trông chừng ông cụ, đuổi theo kịp thì cứ đuổi, còn không được thì cứ từ từ mà đi nhé."

"凭什么我看着他!"胖子怒道,我已经不由分说,狂奔起来。

"Dựa vào đâu mà tôi phải trông coi ông ta chứ!"

Bàn Tử nổi giận gắt lên, nhưng tôi đã không nói lời nào, cắm đầu chạy như điên.

在盐风里我朝着灯光跑去,按照黑瞎子教我的跑步的方式,调整呼吸。我知道匀速是到达的最快速度,但我仍旧放开了节奏。我已经很久没有全力冲刺了,在长白山的时候,我转身射击的速度,冲刺跳跃的顺畅性,每做一次我都能感觉到自信。那种掌控自己身体的快·感。我忽然很想重新获得这种感觉。

Trong gió muối, tôi chạy về phía ánh đèn, điều chỉnh hơi thở theo phương pháp chạy bộ mà Hắc Hạt Tử đã dạy.

Tôi biết chạy đều mới giữ được tốc độ nhanh nhất, nhưng tôi vẫn cứ mặc kệ hết mọi tiết tấu.

Đã rất lâu rồi tôi không dùng hết sức mà chạy nước rút, hồi ở núi Trường Bạch, cái tốc độ xoay người nhanh như tên bắn, cái cảm giác trôi chảy thuận lợi mỗi khi chạy nước rút hay nhảy nhót đó, mỗi lần thực hiện tôi đều cảm thấy tự tin tràn đầy.

Cái cảm giác sảng khoái khi kiểm soát được toàn bộ cơ thể mình ấy.

Tự dưng, tôi rất muốn đạt được cái cảm giác ấy một lần nữa.

跑了二十分钟,胖子已经被我甩下很远很远,眼前的灯光,却只是变大了一些,我大口大口的喘气,汗水在内衣里渗透出来,浑身冒着水汽。

Chạy suốt hai mươi phút, Bàn Tử đã bị tôi bỏ rơi một quãng rất xa, nhưng ánh đèn trước mắt chỉ lớn hơn được một ít mà thôi.

Tôi thở phì phò từng hơi lớn, mồ hôi thấm ra lớp áo trong, cả người như bốc hơi nước.

脸上的汗水和脖子上的汗水浸湿盐粒,开始腐蚀我的皮肤,我的眼膜也开始疼起来,用力闭上疼出泪水来洗一下。

Mồ hôi trên mặt và trên cổ bắt đầu ngấm muối, dần ăn mòn da tôi, mắt tôi cũng bắt đầu đau xót, tôi chớp mắt một cái thật mạnh cho nước mắt chảy ra để rửa mắt một chút.

我继续追了上去,心中已经知道,我赶上他的时候将会精疲力尽。

Tôi tiếp tục đuổi theo, nhưng trong lòng đã biết, khi tôi đuổi kịp hắn thì cũng là lúc tôi sức cùng lực kiệt luôn rồi.

也不知道跑了多久,灯光终于开始持续的变大,我已经跑到虚脱,手脚甩动只是靠本能了。缓缓我就听到了巨大的水声。

Cũng không biết chạy suốt bao lâu nữa, cuối cùng, ánh đèn cũng dần lớn hơn, tôi đã chạy đến nỗi lả cả đi, vung tay vung chân chẳng qua chỉ còn dựa vào bản năn gthooi.

Dần dần, tôi nghe thấy tiếng nước chảy ầm ầm.

我根本不知道四周的环境,也不用咬牙,双腿继续甩动往前跑去,终于看到闷油瓶单腿跪在地上,反手拿着矿灯,正在有规律的打着信号。自己看着自己的面前。那是一片漆黑。

Tôi căn bản không biết xung quanh mình như thế nào nữa rồi, cũng không cần cắn răng, hai chân tôi tiếp tục chạy về phía trước, cuối cùng cũng nhìn thấy Muộn Du Bình đang quỳ một chân dưới đất, một tay cầm đèn mỏ, đánh tín hiệu đúng quy luật.

Nhìn về phía trước.

Đó là bóng tối đen đặc.

水声越来越大,我的矿灯光照上去,抵消掉他灯光的刺眼,同时我也看到了他正在凝视的黑暗中,是一个巨大的湖面。湖面的水流正在流动,形成巨大的水声。他离这个湖面只有十几步远,脚下的盐源犹如沙滩一样滑入水面之下。

Tiếng nước chảy ngày càng lớn, đèn mỏ của tôi bật sát, trung hòa bớt ánh đèn chói mắt của hắn, đồng thời, tôi cũng nhìn thấy hắn đang nhìn chằm chằm vào trong bóng tối, đó là một mặt hồ khổng lồ.

Dòng nước trên mặt hồ đang lưu động, tạo nên tiếng nước chảy rất lớn.

Hắn cách mặt hồ chỉ có mười mấy bước chân, cánh đồng muối dưới chân trượt dần xuống mặt nước như bãi cát.

我站定,让自己狂跳的心脏和想呕吐的感觉尽快消失,我蹲下来,平复痉挛的肺部,然后缓慢的走过去,来到他的身边。

Tôi đứng im một lúc, để nhịp tim đang đập dữ dội cùng cảm giác buồn nôn dần dần lặng xuống, tôi ngồi xổm xuống, để hai lá phổi dần ổn định trở lại, sau đó mới chậm rãi bước đến bên cạnh hắn.

"这就是那个湖?"我几乎用尽全身的力气,让这句话听起来非常的淡定。

"Đây là cái hồ đó à?"

Tôi gần như dùng hết sức lực của mình để câu nói này nghe thật bình tĩnh.

闷油瓶站起来,"小心一点,这湖里的东西不寻常。"他指了指面前的盐沙滩,上面有一条巨大的印子,通入到湖中。有什么蛇形的东西,从沙滩上刚刚爬进湖里。

Muộn Du Bình đứng lên, "Cẩn thận một chút, thứ trong hồ này không tầm thường."

Hắn chỉ vào bờ muối trước mặt, trên đó có một dấu vết rất lớn, nối xuống hồ nước.

Có con gì đó hình dạng như con rắn, vừa mới trườn từ bờ muối xuống mặt hồ.

_______________

开始一年一度的春季反省,反省自己。

Bắt đầu cuộc kiểm điểm thường niên mùa xuân, kiểm điểm bản thân.

两颗达喜就能睡到天亮,愉快。

Uống hai viên Tamsun (Daxi) là có thể ngủ đến sáng, thật vui vẻ.

看了十二公民,其实任何事情中,真的需要有人站出来,说一句,有没有可能他是无罪的呢?今夜也要问自己一句,有没有可能,你,我,他,是无罪的。

Đã xem bộ phim 12 Citizens (Mười hai công dân).

Thật ra, trong bất cứ chuyện gì, thực sự cần có người đứng ra và nói một câu: "Có khả năng nào anh ta vô tội không?"

Đêm nay tôi cũng phải tự hỏi bản thân một câu: "Có khả năng nào, bạn, tôi, anh ta, là vô tội không?"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 21: Vũ Thôn Điếu Vương


我被惊的一口气卡在喉咙里,差点就背过气去。往前走了几步,蹲下来看地上的痕迹,那痕迹的宽度和汽车轮胎差不多。

Tôi khiếp hãi đến nỗi nghẹn một hơi trong cổ họng, tí nữa từ tắc thở.

Tiến về phía trước mấy bước, tôi ngồi xổm xuống nhìn dấu vết kia, thấy chiều rộng của vết này cỡ tương đương với lốp xe ô tô.

"这他么是蛇么?"我道:"你刚刚是不是看到它了。"

"Ôi mẹ ơi đây là rắn à?"

Tôi nói: "Không phải vừa nãy anh đã nhìn thấy nó rồi ư."

"我没有靠近,不是蛇,是鱼。"闷油瓶看着湖面说:"速度快。"

"Tôi không đến gần, không phải rắn, mà là cá."

Muộn Du Bình như mặt hồ nói: "Tốc độ rất nhanh."

闷油瓶说话的时候,手扶在腰上,他没有刀,显然有些不习惯。我拔出我的宝贝大白狗腿递给他,他接过去反手把鞘按照他的习惯卡在自己后腰上。我自己也拔出了我的另一把,按照他的样子卡好。

Trong lúc nói chuyện, tay Muộn Du Bình chống lên hông, hắn không có đao, hiển nhiên là có chút không quen.

Tôi rút con Đại Bạch Cẩu Thối bảo bối nhà mình ra, thảy cho hắn, hắn chộp lấy, trở tay đem giắt sau thắt lưng theo thói quen.

Tôi cũng rút ra một cây khác, học theo hắn, giắt ra sau.

用矿灯继续去照湖面,就看到在我们左边很远的地方,似乎有一道石墙。我们沿着河滩走过去,果然看到一道结满了盐花的石墙,从岸边犹如防洪堤一样延伸到湖面上。一路延伸过去,犹如一条水上的道路,横穿过湖面。

Tiếp tục cầm đèn mỏ chiếu xuống mặt hồ, thì mới thấy, ở phía bên trái chúng tôi, cách đây rất xa, dường như có một bức tường đá.

Chúng tôi đi dọc theo bờ để đến gần phía đó, quả nhiên thấy một bức tường đá kết đầy hoa muối, đứng bên bờ nhìn trông như một con đê chống lũ kéo dài suốt mặt hồ.

Nó cứ kéo dài ra mãi, trông như một con đường nổi trên mặt nước, vắt ngang qua mặt hồ.

"这他么是苏堤啊。"我道,就差两边杨柳飘飘和几座断桥了。

"Đây là đê Tô đấy à."

Tôi kêu lên, chỉ còn thiếu hai hàng dương liễu đung đưa trong gió với cầu Đoạn Kiều thôi.

矿灯扫过去,能看到另一面的湖面,明显比这一面要小一些,这不是我们认为的一个完美的太极,我们还是想的太多了。但这石墙,确实是人造的。不知道是哪朝的高人所谓,意欲为何。

Ánh đèn mỏ lướt qua, có thể nhìn thấy được mặt hồ bên kia, rõ ràng nhỏ hơn bên này một chút, đây rõ ràng không phải là hình Thái Cực hoàn mỹ như chúng tôi đã suy đoán, chắc là chúng tôi đã nghĩ quá nhiều.

Nhưng bức tường đá này, đúng là do con người xây nên.

Không biết là do cao nhân triều đại nào xây nên, với ý muốn gì.

水面上的水流混乱,能看到很多凭空起的大浪,说明水面以下水系混乱冲撞。我来到水边,想掬水,被闷油瓶拉住,他拔出刀沾了一点皮肤。然后甩掉。

Dòng nước lưu động trên mặt hồ rất hỗn loạn, có thể nhìn thấy nhiều cơn sóng lớn cứ tự dưng ùa lên, chứng tỏ, hệ thống các dòng chảy bên dưới mặt nước va đập vào nhau rất hỗn loạn.

Tôi đi đến mé nước, định vốc một vốc nước lên, thì bị Muộn Du Bình kéo giựt lại.

Hắn rút đao ra, nhúng tí nước, thấm ướt tí da, rồi sau đó vẩy đi.

"咸水。"他轻声道。

"Nước mặn."

Hắn khẽ nói.

我受过大学教育,知道盐矿伴生很少有有毒的矿物,刚才肚子疼可能是盐里有其他矿物,但不至于死掉,让他放心,舔了一下,吐掉。水确实是咸水,但是没有那么咸,肯定水下有淡水水系冲进来中和盐度。

Tôi đã tốt nghiệp đại học, biết muối mỏ thường có lẫn một số ít những khoáng vật có độc, cơn đau bụng vừa rồi chứng tỏ trong muối có thể có lẫn một số khoáng vật nào đó, nhưng không đủ để chết ngay.

Để hắn an tâm, tôi liếm thử một ít, rồi nhổ ra.

Nước đúng là nước mặn, nhưng không quá mặn, chắc chắn là bên dưới còn dòng chảy nước ngọt đổ vào, hòa bớt độ mặn trong nước.

我回身给胖子的方向也打了灯语,告诉他没事,催促他快点,隔了很久,才看到胖子和老头筋疲力尽的赶过来,胖子指着我就骂:"天真你个兔崽子,你就不应该叫吴邪,你他么就是个臭邪。你跑什么?这老头要是出事,还得我一个人背过来,的亏他还挺硬朗。"

Tôi quay lại, nháy tín hiệu đèn về phía Bàn Tử, thông báo với anh ta là không có vấn đề gì, giục anh ta nhanh chân một chút.

Mãi một lúc rõ lâu sau, mới thấy Bàn Tử và ông cụ kia chạy tới, có vẻ mệt rã rời, Bàn Tử liền chỉ tôi mắng: "Thiên Chân cái thằng ranh con này, cậu không phải tên là Ngô Tà, mà là Tà-chết-dẫm mới đúng.

Cậu chạy cái gì?

Ngộ nhỡ lão già này bị làm sao, thì tôi phải một mình vác lão đi à, cũng may lão vẫn còn cứng cỏi lắm."

我看着雷本昌,他已经筋疲力尽,但是看到那湖,他还是颤抖的走了过去,我想他从来没有想到过真的有朝一日,自己会真的看到这个湖面。

Tôi nhìn Lôi Bản Xương, ông ta đã kiệt sức, nhưng khi nhìn thấy hồ kia, ông ta vẫn run rẩy bước tới.

Tôi nghĩ, có lẽ xưa nay ông ta chưa bao giờ nghĩ sẽ có ngày này, được nhìn thấy cái hồ này thực sự.

他站在湖边,蹲了下来,老泪纵横,低头默默的哭起来。

Ông ta đứng ở ven hồ, ngổi xổm xuống, nước mắt rơm rớm, cúi đầu lặng lẽ khóc.

胖子上来就要找我算账,我忙赔不是,胖子就轻声对我说道:"这老头这样下去不行了,太激动了,刚才都要抽过去了,不能让他再这么跑着,在这儿出事,咱们麻烦大了。"

Bàn Tử sấn sổ xông lên định tính sổ với tôi, tôi vội vã nhận lỗi, Bàn Tử mới nhẹ giọng nói với tôi: "Cứ để lão già này tiếp tục như thế thì không ổn đâu, quá kích động, ban nãy tí thì lăn ra xỉu rồi, không được để ông ta chạy thêm nữa, nếu ông ta bị làm sao ở đây, thì tụi mình rắc rối to."

我点头,打开水让老头喝几口,此时我们已经连续运动了十几个小时,身体的疲倦因为奔跑终于开始袭来,我觉得也到了时候给致命一击了。

Tôi gật đầu, mở bình nước cho ông lão uống mấy ngụm.

Lúc này, chúng tôi đã vận động liên tục suốt mười mấy tiếng đồng hồ, sự mệt nhọc rã rời do chạy nhanh cuối cùng cũng bắt đầu ập tới, tôi cảm thấy cũng đã đến lúc cho một kích chí mạng rồi.

我面对老头坐下来,背对着湖面,就对老头说道:"够意思吧,说到这儿来就到这儿来了。"

Tôi ngồi xuống trước mặt ông lão, quay lưng về phía mặt hồ, nói: "Đủ thành ý chưa, đã nói đến đây là cuối cùng cũng đến rồi đấy."

他点头:"谢谢谢谢。"

Ông ta gật đầu: "Cám ơn, cám ơn."

"能说实话了吧?"我看着老头道:"你到底为什么要到这里来?"

"Bây giờ nói thật được chưa?"

Tôi nhìn ông lão nói: "Rốt cuộc vì sao ông cứ khăng khăng muốn tới nơi này?"

老头愣了一下,抬头看着我。我拍了拍他:"没人骗的了我,我觉得你不算骗我,只是有事情没说,没事,你说出来吧。"

Ông lão sửng sốt ngẩn ra, ngẩng đầu nhìn tôi.

Tôi cầm tay ông ta nói: "Ôi cụ ơi, tôi có thể chấp nhận việc người khác không nói cho tôi biết, nhưng chỉ cần lừa gạt tôi một lần, tôi sẽ không để ông ngồi đây câu cá đâu."

他张嘴刚想说话,我握住他的手:"老人家,我可以接受别人不告诉我,但是只要骗我一次,我不会让你在这里钓鱼的。"

Anh ấy vừa mở miệng định nói, tôi đã nắm lấy tay anh ấy: "Ông ơi, tôi có thể chấp nhận việc người khác không nói cho tôi biết, nhưng chỉ cần lừa dối tôi một lần, tôi sẽ không để ông câu cá ở đây nữa đâu."

我看着他,眼神中是不允许反驳的光泽,我握紧他的手,用了足够的力气让他无法抽回去,我在用整个状态告诉他,其实我没有外表看上去那么柔弱。

Tôi nhìn ông ta, ánh mắt lóe lên sự kiên định, không cho phép phản bác.

Tôi siết chặt tay ông ta, ghìm đủ sức để ông ta không làm sao rút tay về được.

Tôi dùng toàn bộ trạng thái để thông báo cho ông ta biết, kỳ thực, tôi không hề yếu đuối như bề ngoài.

他的肩膀从紧张缓缓的松了下来,"我——"他顿了顿,说道:"我来找我的儿子。"

Bả vai căng cứng của ông ta dần dần buông lỏng xuống: "Tôi..."

ông ta dừng lại một chút, nói: "Tôi tới tìm con trai."

我回头看了看胖子,胖子朝我点头。

Tôi quay đầu nhìn Bàn Tử, Bàn Tử gật đầu với tôi.

"我儿子在这个湖底。"老头说道:"我要把杀死他的那条鱼掉上来,我也要把他钓上来。"

"Con trai tôi ở dưới đáy hồ này."

Ông lão nói: "Tôi phải câu con cá đã giết chết nó lên, tôi cũng phải câu cả thằng bé lên nữa."

我之前的违和感是对的,老头缓缓的告诉,当年在上面深潭钓鱼,被拖入探底的人中,有一个是他的儿子。他儿子是因为他喜欢钓鱼而喜欢上钓鱼的,他和儿子有共同的爱好,也是他觉得面子有光的地方,但是,没有想到,因为这个爱好,他的儿子竟然丧命在一条鱼的手里。

Cái cảm giác quái đản lúc trước của tôi là đúng, ông lão dần dần kể mọi chuyện.

Năm đó, trong số những người câu cá ở đầm sâu rồi bị kéo xuống đáy đầm có một người là con trai ông ta.

Vì ông ta thích câu cá, nên con trai ông ta cũng thích câu cá luôn, ông ta và con trai có cùng chung sở thích, đây là điểm mà ông ta cảm thấy tự hào nhất, thế nhưng, không thể ngờ rằng, chính bởi vì niềm yêu thích này mà con trai ông ta lại bỏ mạng trong tay một con cá.

这让老头无比的内疚,他无法接受这个现实,经过了很长时间,老头也无法释怀,他最终选择了面对。他要钓上那条杀死他儿子的鱼。这才是他在这里生活了那么久的原因。

Điều này khiến ông lão vô cùng day dứt, ông ta không thể nào chấp nhận được sự thực này.

Một thời gian rất lâu sau trôi qua, ông lão vẫn không tài nào quên được việc này, cuối cùng, ông ta lực chọn cách đối mặt với nó.

Ông ta muốn câu được con cá đã giết chết con trai mình kia.

Đây mới chính là nguyên nhân ông ta ở lại đây lâu đến thế.

"老人家,生死有命,这么多年了,你也应该放下了,为何这么执着呢?"胖子道:"也许那条鱼早就死了——我操,当心!"

"Cụ à, sống chết có số cả, đã nhiều năm như vậy trôi qua, chắc ông cũng buông xuôi rồi, sao còn cố chấp thế?"

Bàn Tử nói: "Có khi con cá kia đã chết từ lâu rồi cũng nên...

Đ. mẹ, coi chừng!"

话音刚落,忽然闷油瓶一下跳过来,抓住我的领子,胖子同时慢一步上来,抓住老头的后脖子,两个人一起发力,把我们拽起来往岸边狂拉,几乎是同时我们身后巨大的水声炸开,巨大的水花扑满我们全身。

Vừa dứt lời, đột nhiên Muộn Du Bình nhảy bổ tới, túm lấy cổ áo tôi, Bàn Tử tuy chậm một bước nhưng cũng đồng thời nhào lên, túm lấy sau cổ ông lão, cả hai người đó cùng dồn sức kéo chúng tôi ra chỗ khác.

Gần như cùng lúc đó, từ phía sau chúng tôi nước bắn tung ra, bọt nước văng tung tóe ướt đẫm toàn thân chúng tôi.

"草你妈!"胖子看着我们刚才坐的岸边,我回头看,巨大的水花中,一个影子迅速退回水里。

"Mẹ kiếp!"

Bàn Tử nhìn mép nước nơi chúng tôi vừa ngồi, tôi quay đầu lại nhìn, mới thấy trong đống bọt nước kia, có một cái bóng thoắt cái đã rụt ngay về trong nước.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 22


说是迟那是快,胖子骂声刚落,闷油瓶已经猛冲了上去,反手出刀,直接扑进水里,朝那个影子冲去。

Nói thì chậm mà xảy ra thì nhanh, Bàn Tử vừa chửi xong, Muộn Du Bình đã xông lên, trở tay rút dao ra, nhào thẳng vào trong nước, bổ về phía cái bóng kia.

我只比他慢了半秒,翻身滚起,单脚用力同时左手出刀,也冲进水里,刀刃朝下就往水里一捅。水中一片漆黑,岸上的照明完全照不到水里,只感觉到刀刺入了水底的盐沙中,胖子在我身后大吼:"放着那个妖孽让我来!"直撞在我的后背上,把我直撞进漆黑一片的水里。

Tôi chỉ chậm hơn hắn nửa giây, lộn người một cái, một chân dồn sức đồng thời tay trái rút dao ra, cũng nhào vào trong nước, lưỡi dao xọc xuống nước một cái.

Trong nước tối đen, ánh sáng từ trên bờ chiếu xuống không chiếu được vào trong nước, chỉ cảm thấy lưỡi dao xiên vào cát muối dưới nước.

Bàn Tử sau lưng gào lên với tôi: "Để con yêu nghiệt ấy cho tôi!" nói rồi xông lên húc tôi một cái, làm tôi rơi tùm thẳng xuống nước đen ngòm.

爬起来就看到岸上的矿灯光已经照向水面,应该是那个老头干的,我撸掉脸上的水,水摸到我的腰部,直看到水中一条奇长的巨大黑影,几乎就在我的胯前游过。迅速离去。

Đến khi tôi ngoi lên liền nhìn thấy ánh đèn mỏ trên bờ đã chiếu xuống nước, chắc là do ông lão kia làm.

Tôi ngoi đầu lên khỏi mặt nước, nước ngập đến eo tôi, ngay lập tức tôi nhìn thấy một cái bóng đen vừa dài vừa to tướng gần như lướt sượt qua trước đũng quần tôi.

Loáng cái đã bơi đi mất.

胖子大喝一声:"小哥!"自己把身子一缩,闷油瓶在我身边回身撑住我的肩膀,翻出水面,脚踩到胖子的肩膀上,胖子一抬身子:"起!"

Bàn Tử gào lên: "Tiểu Ca!"

Tôi co rúm mình lại một cái, Muộn Du Bình ở ngay bên cạnh tôi quay ngoắt lại chộp lấy bả vai tôi, ngoi lên khỏi mặt nước, rồi đạp chân lên vai Bàn Tử, Bàn Tử đẩy mạnh lên một cái: "Lên!"

两个人的力气叠加,闷油瓶从我头顶掠过,直扑到前面的水中,水花四溅,我们都被震飞了三四部,好不容易站稳。就看到前面小哥站在齐胸深的水中,甩了甩头发。水花慢慢的平息了下来。

Có sức của cả hai người dồn lên, Muộn Du Bình vọt qua đỉnh đầu tôi, lao thẳng xuống mặt nước trước mặt.

Nước văng tung tóe, chúng tôi đều bị văng dạt ra ba bốn bước, vất vả lắm mới đứng vững được.

Mới thấy Tiểu Ca đứng phía trước, nước ngập đến tận ngực, vẩy vẩy mái tóc sũng nước.

Bọt nước dần dần lắng xuống.

我知道失手了,立即招呼,三个人往回退回到岸边,

Tôi biết là đã thất thủ rồi, lập tức vẫy gọi, cả ba người cùng quay về bên bờ hồ.

闷油瓶收刀入鞘,默默的看着水面,我看到他的手臂在流血,老头惊魂未定,拿着两个矿灯照着水面。

Muộn Du Bình tra con dao vào vỏ, yên lặng nhìn mặt nước.

Tôi thấy cánh tay hắn đang chảy máu, ông lão kia vẫn chưa hoàn hồn, cầm hai cái đèn mỏ chiếu xuống mặt nước.

"什么东西?"他问道。

"Thứ gì thế?"

Ông ta hỏi.

我摇头,从背包里翻找绷带,我刚才一刀都没有刺中,只看到水中的影子,这条鱼非常的长,似乎不是普通的鱼,更像是鳗鱼之类的生物。体型巨大,我内心怀疑会不会是一条蛇。但刚才在水下游动的动作,不像是大蛇。

Tôi lắc đầu, lục lọi ba lô tìm băng vải.

Một nhát dao vừa rồi của tôi cũng không đâm trúng, chỉ kịp thấy cái bóng dưới nước, con cá này rất dài, hình như không phải cá thông thường, mà giống cái loại như cá chình hơn.

Hình thể nó rất lớn, trong lòng tôi hoài nghi liệu nó có phải rắn hay không.

Nhưng với động tác bơi vừa rồi, thì không giống mãng xà lắm.

胖子呸了一口盐水,就端起装备,继续往岸上更远的地方挪,我问他干什么,他说:"胖爷我识相,这东西在水里,我可不敢睡在水边。"拉出去十几米远,拿出各种炉子,开始布置。现在是年关,气温寒冷,我们很快就会被冻病,要把衣服换了。

Bàn Tử nhổ toẹt một ngụm nước muối, xách trang bị lên, dịch sâu vào trong bờ hơn.

Tôi hỏi anh ta làm cái gì thế, anh ta nói: "Ông Béo đây thức thời, vật này ở dưới nước, tôi không dám ngủ bên mé nước nữa."

Kéo đồ đạc ra xa chừng mười mấy mét, anh ta lôi đủ thứ lò ra, bắt đầu bày biện.

Bây giờ đương là cuối năm, thời tiết rét lạnh, chẳng mấy mà chúng tôi sẽ cảm lạnh mất, nên phải thay quần áo ra thôi.

我给闷油瓶打了个眼色,刚才他两次出击,肯定都够到那东西,我想问他到底摸起来是什么。闷油瓶忽然甩手,丢给我一个东西。

Tôi nháy mắt ra hiệu cho Muộn Du Bình, vừa nãy hắn ta tấn công liên tiếp hai lần liền, chắc chắn là đủ để chạm đến thứ kia rồi, tôi muốn hỏi hắn rốt cuộc đã sờ thấy cái gì.

Muộn Du Bình đột ngột vung tay lên, ném cho tôi một vật.

我接住在矿灯下一看,那是一枚大概金桔大小的铜钱,上面全是都绿锈了,看不清字了。

Tôi chụp lấy, đem ra soi dưới ánh đèn mỏ, nhận ra đó là một đồng tiền to cỡ bằng quả quất.

Đồng tiền đã rỉ sét xanh lè, không nhìn thấy rõ chữ khắc trên đó nữa.

"这是什么?"我问闷油瓶,他道:"鳞片。"

"Đây là cái gì?"

Tôi hỏi Muộn Du Bình, hắn đáp: "Vảy."

我明白了,这是他从刚才那条鱼的身上扯下来的东西,竟然是一枚铜钱,难道这条鱼的身体表面,全部覆盖了铜钱组成了鳞片?

Tôi hiểu rồi, đây là thứ mà hắn giật ra được từ trên người con cá kia, thế mà lại là một đồng tiền, chẳng lên bên ngoài cơ thể con cá này bao phủ toàn là đồng tiền, trở thành vảy cá?

这是什么情况,这条鱼不是天然在这里的,这么看来这条鱼是养殖的。

Thế này là thế nào?

Con cá này không phải tự nhiên mà thành, nếu thế thì, xem ra, con cá này là cá nuôi rồi.

我们趟着水来到胖子边上,胖子已经脱光了,开始组装自己的火器,"操他妈的,傻逼水产还想称大王,这他么就不是鱼,是妖精。咱们这一趟算为民除害了,看胖爷我崩了他。"

Chúng tôi lội nước đến chỗ Bàn Tử, Bàn Tử đã cởi phăng hết quần áo ra rồi, bắt đầu lắp ráp mớ súng đạn của mình.

"Đ. con mẹ nhà nó, cái thứ thủy sản ngu đần mà dám xưng vương à, con này thì cá cái quái gì, là yêu tinh mới đúng.

Tụi mình đi chuyến này coi như là vì dân trừ hại, xem ông Béo xử lý nó đây."

我把铜钱给他看,他愣了一下,看了看老头,老头还在那边看着水面发愣。他就轻声道:"我靠,水产还穿着铠甲呢,这真是妖精,咱们该不是碰见奔波儿霸了?"

Tôi đưa đồng tiền cho anh ta xem, anh ta sửng sốt, nhìn ông lão, ông lão vẫn còn ngơ ngẩn ở nhìn mặt nước ở bên kia.

Anh ta mới khẽ giọng nói: "Cái đệt, thủy sản mà còn mặc khôi giáp à, đây đúng là yêu tinh rồi, có phải tụi mình đụng trúng Bôn Ba Nhi Bá rồi không?"

我道:"湖里肯定不简单,你看这铜钱上是什么。"

Tôi nói: "Thứ trong hồ chắc chắn không đơn giản, anh xem trên đồng tiền này có cái gì này."

铜钱上有一些绿色的毛,是水草中的某种藻类,和老头说的传言一模一样。我说鱼鳞上长水草怎么那么奇怪,肯定是铜钱和鳞片经过多年已经生在了一起,这些水草就长在铜钱上。

Trên đồng tiền có dính một ít lông màu xanh lục, là một loại rong rêu nào đó trong các loại thủy thảo sống dưới nước, giống y hệt như lời ông lão kia đã nói.

Tôi nói, trên vảy cá sao lại có thể mọc thủy thảo được, thật là kỳ quái, nhất định là do đồng tiền và vảy cá dính vào nhau qua nhiều năm, cuối cùng số thủy thảo đó mới mọc từ đồng tiền mà ra.

胖子看了看老头,示意我别说,别刺激老头。然后轻声道:"看来这老头说的是真的,他娘的,水中的妖孽伤害了无辜的小昌头不说,还想对我们下手,绝对不能姑息,必须鱼头豆腐汤伺候。"

Bàn Tử nhìn thoáng qua ông lão kia, bảo tôi đừng nói ra, đừng kích thích ông ta.

Sau đó khẽ nói: "Xem ra ông ta nói sự thực, mẹ kiếp, thứ yêu nghiệt trong nước làm hại đến người vô tội thì thôi, lại còn định ra tay với tụi mình, tuyệt đối không thể nhân nhượng, phải vặt đầu nó ra làm canh đầu cá nấu đậu phụ mới được."

我也想不到居然真有这种鱼,只觉得满腹的疑问。刚才问老头到一半,我还得继续去问问。

Tôi cũng không ngờ là lại có loại cá như thế, chỉ cảm thấy đầy bụng nghi hoặc.

Vừa rồi mới chỉ gặng hỏi ông lão kia được có một nửa, tôi phải đi hỏi tiếp mới được.

我和闷油瓶也除去衣服,换了太空毯裹着,我去看闷油瓶的伤口,伤口在他的手腕处,非常整齐。我下意识的担心了一下,以为是我跟着他冲出去,出刀的时候黑暗中伤到了他。不过想像不可能,我是左手出刀,因为黑瞎子训练过我,如果前面一个人在你右边出击,我必须左手出刀,这样不容易在混乱中误伤。

Tôi với Muộn Du Bình cũng bắt đầu cởi quần áo, quấn chăn giữ nhiệt.

Tôi xem vết thương của Muộn Du Bình, vết thương của hắn quá ngay ngắn.

Tôi vô thức lo lắng, cứ tưởng là trong lúc tôi xông ra theo hắn, vung dao trong bóng tối vô tình làm tổn thương đến hắn.

Nhưng mà khi tưởng tượng lại thì chuyện đó là không thể nào, tôi vung dao bằng tay trái, vì Hắc Hạt Tử đã huấn luyện tôi, nếu như trước mặt có một người ra đòn ở phía bên phải mình, thì tôi phải vung dao bằng tay trái, như thế mới không dễ ngộ thương đồng đội trong lúc hỗn loạn.

我把老头拽回来,让他别蒙,继续告诉我发生的事情,老头有点发抖,他以前可能觉得,儿子死在一条鱼手里无法接受,等真的看到这条鱼的时候,他意识到这不是一条鱼那么简单。

Tôi lôi ông lão quay trở lại, bảo ông ta đừng có ngẩn ra nữa, tiếp tục kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra.

Ông ta hơi run rẩy, có lẽ trước kia ông ta đã nghĩ mình không thể nào chấp nhận được sự thật rằng con trai đã chết dưới tay một con cá, nhưng đến khi nhìn thấy con cá này thực sự, ông ta mới nhận ra đó không phải là một con cá đơn giản.

"几位,这一定就是害死我儿子的东西。"他默默的把矿灯放下,"我总算看到这东西了。"

"Mấy vị à, đó chính là thứ đã hại chết con tôi đó."

Ông ta lẳng lặng đặt chiếc đèn mỏ xuống, "Cuối cùng tôi đã nhìn thấy thứ này rồi."

我问老头道:"你之前,为什么不直接告诉我们?"

Tôi hỏi ông lão: "Vì sao lúc trước ông không nói thẳng cho chúng tôi biết?"

老头仍旧是在发抖,完全没有在听我说话,而是发着抖开始摸自己的钓竿,我看到他首先组装的,是一把渔叉。

Ông lão vẫn run lập cập như cũ, hoàn toàn không nghe lọt tai lời tôi nói, mà bắt đầu run rẩy sờ vào cây cần câu của mình.

Tôi thấy ông ta lắp ráp cây cần, là một cây gậy xiên cá.

我还想逼问,胖子阻止了我,让我先给闷油瓶处理伤口的时候。闷油瓶自己已经处理消毒的差不多了,我给他包上,我就问胖子,以前有没有碰到过这种情况。我不害怕自然环境,但是这里的水墙和水中鱼身上的铜钱,说明这里确实是人工建造的,但这里又不像有古墓的样子,到底这个地方是做什么用的,是谁建造的呢?

Tôi vẫn còn muốn gặng hỏi thêm, Bàn Tử lại cản tôi, bảo tôi đi xử lý vết thương cho Muộn Du Bình trước đã.

Bản thân Muộn Du Bình đã tự khử trùng vết thương kha khá rồi, tôi băng bó cho hắn, rồi hỏi Bàn Tử, ngày trước anh ta có từng gặp phải trường hợp nào như này hay không.

Tôi không sợ môi trường tự nhiên, nhưng bức tường nước và đồng tiền trên mình con cá ở nơi này đã cho thấy nơi này quả thực do con người xây dựng, nhưng nơi đây lại không giống dáng vẻ của một ngôi mộ cổ cho lắm.

Rốt cuộc nơi này vốn dùng để làm gì?

Là ai xây dựng nên?

胖子装好了火器,装上了子弹,就对我道:"先别问那么多,来,老规矩,全副武装,答案我认为就在石墙之上,我们上去走走,看湖中心有什么。老头现在状态不好,你放心,晚上我灌几瓶酒,他肯定全说出来。"

Bàn Tử lắp súng xong, ráp băng đạn vào, rồi nói với tôi: "Trước tiên đừng hỏi nhiều như thế, nào, quy tắc cũ, võ trang đầy đủ đã, tôi nghĩ đáp án nằm ở ngay trên bức tường đá kia thôi, chúng ta trèo lên đó đi thử xem, xem trung tâm hồ có cái gì.

Bây giờ ông lão kia có vẻ không ổn lắm, cậu yên tâm, buổi tối tôi rót mấy chai rượu, chắc chắn ông ta sẽ phun hết ra cho mà xem."

_______

在颠簸的汽车上写完了,完全没法回头检查,太晕了。

Viết xong (đoạn này) trên chiếc xe ô tô xóc nảy, hoàn toàn không thể quay lại kiểm tra, chóng mặt quá.

藏海花的话剧开始了,暂定7.22日首场,今天参加了发布会,和主创们聊天,很开心。

Vở kịch Tàng Hải Hoa đã bắt đầu.

Buổi diễn đầu tiên tạm định vào ngày 22 tháng 7.

Hôm nay đã tham gia buổi họp báo, trò chuyện với các thành viên chính của đoàn làm phim, rất vui.

希望最近不需要再奔波了,到一个地方呆着可以时间长一点。

Hy vọng gần đây không cần phải chạy đôn chạy đáo nữa, có thể ở lại một chỗ lâu hơn một chút.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 23: Long Vương trong ao tù


我翻出自己的装备,这些武器长久都不用了,我收起来之后,从来也没有想过要再打开。那些日子,我蒙蔽自己的内心,做出的所有我无法接受的事情,都和这些东西有关,如今却又搬了出来。

Tôi lục lọi trang bị của mình, số vũ khí này đã lâu không sử dụng, từ khi cất đi đến giờ, tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ phải mở nó ra lần nữa.

Những ngày tháng ấy, tôi tự dối gạt lòng mình, tất cả những chuyện tôi không thể nào chấp nhận nổi mà tôi đã làm đều có liên quan đến những thứ này, bây giờ, tôi lại mở nó ra.

不过,也没有那么多纠结了,这个世界上没有那么多谁欠谁的,斗里见过那么多古尸,谁在乎他们的生平。任何恩恩怨怨,过个一百年都失去的感情的因素,毕竟汪藏海这种设计一千年以后的人的行为,还是太难做到了。

Có điều, tôi cũng không xoắn xuýt nhiều đến thế.

Trên thế giới này, không có nhiều chuyện ai nợ ai như thế, bao nhiêu xác cổ tôi từng gặp dưới đấu, liệu có ai quan tâm đến cuộc đời trước kia của họ.

Bất kỳ ân ân oán oán nào, trải qua một trăm năm thì cũng chẳng còn đọng lại tí yếu tố tình cảm nào nữa, dù sao thì hành vi tính toán đến cả ngàn năm sau của Uông Tàng Hải quá khó để thực hiện.

重新穿上以前下斗的衣服,我们三个人迎着风走上石墙,风中盐花乱舞,感觉像是走上了大雪中的苏堤。

Tôi mặc lại bộ quần áo xuống đấu ngày trước, ba người chúng tôi đi đầu đón gió, bước lên tường đá.

Muối hoa tung bay trong gió, cảm giác giống như đang đi trên đê Tô giữa một ngày tuyết lớn.

胖子道:"这几年来杭州,总想咱们三个人在下雪的时候,有机会到处走走,没想到在这里实现了。天真你看这景色,有西湖好么?"

Bàn Tử nói: "Mấy năm này mỗi lần đến Hàng Châu là lại nghĩ, bao giờ tuyết rơi, ba đứa tụi mình kiếm cơ hội đi loanh quanh khắp nơi, không ngờ bây giờ lại thực hiện ở nơi này.

Thiên Chân, cậu coi cảnh sắc xung quanh đi, có đẹp bằng Tây Hồ hay không?"

我用矿灯的光照着湖面,这里常年是绝对的黑暗,刚才我们忽然被水中的东西袭击,有可能是因为这忽然出现了光源,如果这条鱼是趋光的鱼种,那就好办了,我们三只矿灯可以玩瘫它。

Tôi cầm đèn mỏ chiếu sáng mặt hồ, nơi này quanh năm bị bao phủ bởi bóng tối tuyệt đối, thứ vừa đột ngột tấn công chúng tôi ban nãy, có lẽ cũng là bởi sự xuất hiện đột ngột của ánh sáng.

Nếu con cá này là loài ưa sáng, thế thì dễ rồi, ba đứa bọn tôi cầm ba cái đèn mỏ, vờn nó đến chết luôn.

往前,离开岸边越远,风越加大,我裹紧围巾,这里乏善可陈,没有什么好形容的,盐结在石墙的表面,非常的结实。整条墙顶部的石道大概三人宽,我们排成一字长蛇,以免有东西忽然从水里出来。不过水面离墙的有四米多高,想必跳不到那么高的状态。

Tiến về phía trước, càng cách xa bờ, gió càng lớn.

Tôi quấn khăn kín mít, nơi này chẳng có gì hay ho hết, muối kết cả lớp dài bên ngoài tường đá, vô cùng cứng chắc.

Bờ tường đá này rộng cỡ ba người, chúng tôi đi dàn hàng ngang trên đó, để tránh cho thứ gì đó lại vọt lên khỏi mặt nước.

Có điều bờ tường này cao hơn mặt nước chừng bốn mét, chắc hẳn nó không nhảy lên cao được đến vậy đâu.

想到那鱼的样子,好像蛇一样,白色的堤坝,盐雪花加水里的蛇,感觉是另一种形式的白蛇传,要是写小说的话,我会把这条堤坝石墙写成一条被盐冻结的巨蛇,水中生活的都是她的子孙。不过胖子说的更加精辟。

Nghĩ đến hình dạng con cá kia, trông nó cứ như con rắn, con đê màu trắng, muối hoa như tuyết, lại cộng thêm rắn trong nước, cảm giác đây cứ như thể là một phiên bản khác của Bạch xà truyện vậy.

Nếu phải viết tiểu thuyết, tôi sẽ viết con đê bằng đá này là một con rắn khổng lồ bị đông cứng trong muối, những con rắn sinh sống dưới nước là con cháu của nó.

Nhưng mà, lời Bàn Tử nói mới gọi là thâm sâu hơn nhiều.

"哎,你说,咱们这像不像唐僧过流沙河啊。一个老头心怀虔诚,一个窜天猴,一个——"他指了指自己,忽然觉得不合适:"不对,不像西游记,胖爷我这个比喻自己不合算。"

"Ối chà, cậu nsoi xem, tụi mình thế này cứ như Đường Tăng vượt sông Lưu Sa ấy nhỉ.

Một ông lão lòng đầy thành kính, một con Soán Thiên Hầu, một..."

Anh ta chỉ vào chính mình, đột nhiên cảm thấy không ổn: "Không đúng, không giống Tây Du Ký, ông Béo đây không hợp với cái ví von này."

我乐道:"我觉得你比喻得挺好的,爱吃,爱妞,你本色出演啊。我做沙和尚我都不委屈。"

Tôi vui vẻ nói: "Tôi thấy anh ví von quá chuẩn, mê ăn mê gái, đích thị là bản sắc của anh luôn rồi.

Tôi làm Sa hòa thượng không tủi thân tí nào đâu."

胖子呸了一口:"沙和尚在流沙河里,你他妈最多算是白龙马。"

Bàn Tử xí một tiếng: "Sa hòa thượng ở trong lòng sông Lưu Sa, mẹ, cậu cùng lắm chỉ là Bạch Long Mã thôi."

闷油瓶忽然停住,我以为他有意见,不想当猴子,他用矿灯照了照前面,我们看到前面的石墙上,忽然出现了一个建筑物。

Muộn Du Bình bỗng nhiên dừng lại.

Tôi tưởng là hắn ý kiến ý cò rằng hắn không muốn làm con khỉ.

Hắn cầm đèn mỏ chiếu về phía trước, chúng tôi mới thấy hóa ra trên bờ tường đá này bỗng xuất hiện một tòa kiến trúc.

建筑物造在石墙上,两边延伸到湖里的部分,有石柱支撑,也结满了烟花。整个建筑物是一个三层的楼阁,已经被覆盖成了白色。能看得出有柱子塌了,整个建筑物的外形有些变形。

Tòa kiến trúc này được xây trên bờ tường đá, hai bên vách nhà kéo dài ra tận hai bên hồ, có cột chống, cũng kết đầy hoa muối.

Đây là một tòa lầu các cao ba tầng, đã bị muối bao phủ thành một màu trắng toát.

Có thể nhìn thấy có cây cột đã sụp, khiến bề ngoài tòa kiến trúc hơi biến dạng.

我远远的看着有些觉得这个古楼阁有些奇怪,反应过来才发现这楼阁不是正常的比例,它非常小,大概只有两三个人高,是一个模型,或者是路边土地庙一样的神龛。

Tôi đứng từ xa nhìn, cảm thấy tòa lầu cổ này có phần kỳ quái.

Khi định thần lại, mới phát hiện tỷ lệ của tòa lầu này không bình thường chút nào, nó quá nhỏ, đại khái chỉ cao cỡ hai, ba người là cùng.

Đó là một mô hình, hoặc là một bàn thờ giống như miếu Thổ địa hay đặt ở ven đường ấy.

我们面面相觑,果然如胖子所说,这石墙是做什么用的,答案就在石墙上。

Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, quả nhiên đúng như lời Bàn Tử nói, tường đá này dùng để làm gì, đáp án nằm ở ngay trên tường đá đó.

我们走了过去,我有些胡思乱想,也许是这半年的好日子让我有点怕死起来,我想如果古代人能做地雷,我们盗墓的成功率会下降很多,当然,大部分人不会在自己坟里埋炸弹。

Chúng tôi lại gần, tôi bắt đầu suy nghĩ linh tinh, có lẽ những ngày tháng tốt đẹp suốt nửa năm vừa qua đã khiến tôi bắt đầu có chút sợ chết.

Tôi nghĩ, nếu người cổ đại có thể chế tạo ra địa lôi, xác suất thành công của lũ trộm mộ chúng tôi chắc chắn sẽ giảm đi rất nhiều, đương nhiên, đa phần người ta chẳng ai lại chôn bom mìn trong mộ của chính mình cả.

来到古阁楼边上,有一个已经快被盐封闭起来的门,胖子几脚踹开,弯腰走进去,就看到两边延伸到湖上的平台上,有两尊雕像。

Đi đến bên cạnh tòa lầu cổ này, tôi nhìn thấy một cánh cửa sắp bị muối đóng kín mít.

Bàn Tử đạp mấy cú tung cả cửa, rồi khom lưng chui vào, mới nhìn thấy ở hai bên vách chìa ra hai bên hồ có hai bày hai pho tượng.

雕像弯曲已经变成了奶油糯米滋,看不出是佛像还是三清像。胖子走到面向外湖的雕像边,用地质锤敲了几下盐皮,露出了里面的石头。

Pho tượng cong queo đã biến thành bánh dẻo nhân bơ từ lâu rồi, không nhìn ra là tượng Phật hay tượng Tam Thanh nữa.

Bàn Tử đi đến bên cạnh bức tượng quay về hướng mặt hồ, cầm búa địa chất gõ rụng lớp muối phủ bên ngoài ra, để lộ lớp đá bên trong.

我们上去帮忙,一通乱敲,我们看到了一尊从来没有见过的石像。这座石像的身体是人的身体,但是头部,是一个巨大的鱼的头部。

Chúng tôi cũng lại gần giúp đỡ.

Gõ tứ tung một hồi, chúng tôi mới nhìn thấy một bức tượng đá chưa từng thấy ở đâu bao giờ.

Bức tượng này có thân là thân người, nhưng phần đầu, lại là một cái đầu cá to tướng.

雕工粗糙,不像是熟练的工匠所谓。

Nét điêu khắc rất thô, cẩu thả, không giống tác phẩm của một người thợ lành nghề.

我们呆立在雕像边上,久久没有评论,胖子喃喃道:"兄弟们,这是鱼头豆腐汤之神啊。"

Chúng tôi đứng ngẩn ra bên cạnh pho tượng, mãi hồi lâu sau vẫn không nhận xét được gì.

Bàn Tử lẩm bẩm nói: "Hỡi các anh em, đây là vị Thần canh đầu cá đậu phụ đó."

我们看向整个湖面,胖子走到边缘用矿灯扫过湖面三下:"难道,这个湖,这就是整整一锅巨大的鱼头豆腐汤。"

Chúng tôi nhìn bao quát cả mặt hồ, Bàn Tử đi đến mép nước, cầm đèn mỏ quét qua mặt nước vài ba lần: "Chẳng lẽ, cái hồ này, chính là một nồi canh đầu cá đậu phụ khổng lồ."

"少臭贫。"我心说这要是锅汤还不咸死。就听闷油瓶继续剥掉石像背后的盐皮,说道:"这是一种龙王。"

"Bớt nói vớ vẩn."

Tôi nghĩ thầm, nếu đây là một nồi canh, thế thì có mà mặn chết.

Muộn Du Bình vẫn tiếp tục đập rụng lớp muối phủ ngoài, tôi nghe thấy hắn nói: "Đây là một loại Long Vương."

"龙王?"胖子问道:"那就不是鱼头豆腐汤之神了,必须是佛跳墙之神。"

"Long Vương?"

Bàn Tử hỏi: "Thế thì không phải là Thần canh đầu cá nấu đậu phụ nữa rồi, mà là Thần Phật nhảy tường."

我让他别闹,问闷油瓶,这是什么龙王,为何会修像在这里。闷油瓶看着水面,忽然转头去看另外一边的石像。我们上前帮他把另一面的也清理出来,那一边也是一个鱼头的石像,只不过是女性体态的。

Tôi bảo anh ta đừng phá thối nữa, rồi hỏi Muộn Du Bình, đây là Long Vương gì, tại sao lại xây tượng ở đây.

Muộn Du Bình nhìn xuống mặt nước, bỗng nhiên quay đầu nhìn sang pho tượng ở phía bên cạnh.

Chúng tôi lại tiến đến giúp hắn dọn dẹp hết lớp muối phủ ngoài pho tượng đó, hóa ra phía bên này cũng là một pho tượng thân người đầu cá, chẳng qua lại là thân người phụ nữ.

闷油瓶两边看了看,蹲下来看石像的屁股,我们发现两尊石像的屁股连着地面,是相连在一起的,这不是两尊石像,是尾部相连的一座石像。

Muộn Du Bình nhìn cả hai bên một lúc, rồi ngồi xổm xuống nhìn phần mông pho tượng.

Chúng tôi phát hiện phần mông của hai pho tượng này đều dính liền với mặt đất, là nối liền vào với nhau, đây vốn không phải là hai pho tượng, mà là một pho tượng có phần đuôi nối liền với nhau.

"这是。"闷油瓶道:"死水——"

"Đây là."

Muộn Du Bình nói: "Nước ..."

他没有说下去,我觉得他也没有什么把握,胖子摸着下巴抬头看了看:"各位,你们看这里是什么。"说着指了指头顶。

Hắn không nói tiếp, tôi cảm thấy hắn cũng không chắc chắn được điều gì.

Bàn Tử sờ cằm, ngẩng đầu nhìn lên trên: "Mọi người, xem chỗ này là cái gì."

Nói rồi, anh ta chỉ lên phía trên đầu.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 24: Người câu xác trên sông Hoàng Hà


我们抬头,看到我们的头顶上,挂着很多圆形的镂空香炉,比核桃大个一倍,可能因为在屋檐下,盐花结的没有那么多,能看到盐花中间露出了银黑色的金属光泽。我抬手用刀拍了其中一个,里面掉出来很多的碎屑。我们都往后退避过,发现好像是中药的药渣。

Chúng tôi ngẩng đầu lên, thấy phía trên đỉnh đầu chúng tôi treo rất nhiều lư hương chạm rỗng hình tròn, to gấp đôi một trái hạch đào.

Có lẽ là bởi chúng được treo bên dưới mái hiên, nên không bị kết nhiều muối lắm, có thể nhìn thấy xen kẽ những mảng muối là kim loại đen sì sáng bóng.

Tôi giơ tay lên, dùng dao gõ gõ vào một trong số đó, thấy từ bên trong rơi ra lả tả nhiều mảnh vụn.

Chúng tôi đều lùi lại né tránh, phát hiện dường như đó là cặn thuốc bắc.

闷油瓶蹲下来看了看,站起身来摘下来一个,发现这个神龛顶上有很多的钩子,勾住香炉上头的圆环。他闻了闻,颠了颠,也不知道是什么。

Muộn Du Bình ngồi xổm xuống xem xét một lúc, rồi đứng dậy gỡ một cái lư hương xuống.

Thì ra trên trần trang thờ này có treo rất nhiều lưỡi câu, móc lấy cái vòng tròn gắn trên đỉnh lư hương.

Hắn ngửi thử một cái, rồi lắc lắc, cũng không biết là cái gì.

胖子也摘了一个,掰掉上面的盐花,里面是银质发黑的老镂空物件,原本应该可以拧开,现在已经腐蚀粘在了一起。他把里面的药渣倒干净,确定里面没虫子,就往包里放。

Bàn Tử cũng tháo một cái xuống, gạt hết muối dính bên trên.

Đó là một món đồ được chạm rỗng, làm bằng bạc, đã biến màu đen sì, vốn là có thể vặn mở nắp ra, nhưng bây giờ chúng đã bị ăn mòn rồi dính chặt vào nhau rồi.

Anh ta dốc hết cặn thuốc bên trong ra, xác định chắc chắn bên trong không có sâu bọ gì, mới bỏ nó vào ba lô.

"你干嘛呢?"我怒道,胖子道:"这破烂玩意从来没见过,兴许很值钱呢?"

"Anh làm gì thế?"

Tôi nổi giận hỏi.

Bàn Tử nói: "Chưa bao giờ thấy cái của nợ nào như thế, chắc là đáng tiền nhỉ?"

"咱们现在还缺钱么?一辈子能用多少钱。"我道,胖子啧了一声:"你瞧你那样,谁稀罕你那几个臭钱。咱要的是这感觉。"

"Bây giờ chúng ta còn thiếu tiền sao?

Cả đời có thể tiêu được bao nhiêu tiền chứ."

Tôi nói.

Bàn Tử chậc một tiếng: "Cậu xem cậu đi, ai hiếm lạ gì mấy đồng tiền thúi của cậu chứ.

Cái người ta muốn là cảm giác này cơ."

我不去理他,环视了一下四周,通过这个神龛,还可以继续往前走,这个神龛似乎也不是在湖的中心,前面也许还有其他东西。

Tôi không để ý đến anh ta nữa, nhìn xung quanh một lượt.

Đi qua trang thờ này, còn có thể tiến vào trong nữa, bàn thờ thần này hình như vẫn chưa phải trung tâm hồ, phía trước có lẽ vẫn còn những thứ khác.

再仔细检查了一遍,毫无所获,便继续往前走,我就想着闷油瓶说的死水龙王的事情。

Kiểm tra kỹ lưỡng lại một lần nữa, vẫn không có thu hoạch thêm gì, tiền tiếp tục đi về phía trước.

Tôi liền nghĩ đến câu chuyện Long Vương trong ao tù mà Muộn Du Bình đã nói đến.

我并不知道任何死水龙王的传说,但死水龙王,听名字,有几种解释,一种是死水中的龙王,死水往往指的是不流通的水,水在封闭的水潭内,逐渐发臭,发腥。一般有龙的水在古代志怪小说中都需要很高的标准,不是边上洞天福地,就是潭深万尺,直通大海,或者九江汇聚的水眼。死水之中的龙王,不知道是什么设置,难道因为穷。

Tôi không biết bất kỳ truyền thuyết nào về "tử thủy Long Vương", nhưng "tử thủy Long Vươn", nghe tên, thì có mấy cách giải thích.

Một là, Long Vương ở trong ao tù, "tử thủy" thường để chỉ những vùng ao tù nước đọng không được lưu thông, trong đầm nước khép kín, nước sẽ dần dần bốc mùi tanh hôi.

Bởi thế, trong các tiểu thuyết chí quái ngày xưa, những vùng nước nơi rồng sinh sống thường đòi hỏi yêu cầu rất cao, không phải là vùng nước ở gần động tiên đất lành, thì cũng là đầm sâu vạn trượng, nối thẳng đến biển khơi, hoặc là điểm hội tụ của chín con sông lớn.

Long Vương gì mà lại ở trong ao tù, đây là cái thiết lập gì không biết, chẳng lẽ là vì nghèo quá.

想想也是,长一个鱼头的龙王,肯定没什么说服力。另外一种死水的解释,就是这个水碰到就会死。无非是毒水,沉水或者是开水。我觉得在开水当龙王,那真的就是鱼头豆腐汤了。其他两种,现在看不出端倪来。

Suy nghĩ một chút thì thấy cũng phải, ông Long Vương nào mà lại mọc một cái đầu cá, chắc chắn là không có sức thuyết phục gì cả.

Còn một cách giải thích khác, "tử thủy" là loại nước đụng vào là chết, có thể là nước độc, nước ngập, hay nước sôi.

Tôi nghĩ, nếu là Long Vương trong nước sôi, thế thì đúng là canh đầu cá nấu đậu phụ rồi.

Còn hai loại nước kia, bây giờ còn chưa nắm được manh mối gì.

闷油瓶不会和我解释的,我也不会问他。他不会传授任何的知识给别人,似乎是一种传统必须要遵守。

Muộn Du Bình sẽ không giải thích với tôi, tôi cũng không hỏi hắn.

Hắn không truyền thụ bất kỳ kiến thức gì của hắn cho người khác, cứ như thể đây là một loại truyền thống mà hắn buộc lòng phải tuân thủ vậy.

我们继续往前走,又走了大概十几分钟,风忽然大了起来,明显感觉到风从横风,变成了从头顶吹过来的风。胖子用矿灯照向我们头顶,在湖面的穹顶上,我们看到了无数个大洞,非常骇人,风正从大洞中吹出来。

Chúng tôi tiếp tục đi về phía trước, đi được khoảng mười mấy phút, gió bỗng nhiên nổi lớn, tôi rõ ràng cảm nhận được gió vốn đang tạt ngang, bỗng đổi hướng thành gió từ trên đỉnh đầu.

Bàn Tử cầm đèn mỏ chiếu là trên đỉnh đầu, trên vòm trần hang của mặt hồ, chúng tôi nhìn thấy vô số lỗ hổng lớn, vô cùng đáng sợ, gió đều từ trong đó thổi ra.

这是难得一见的奇景,我们打起所有的矿灯和狼眼手电,扫射这个区域的湖顶,就看到很多洞里还有瀑布流下。瀑布的水流不大,水声被风声掩盖。

Đây là cảnh tượng rất hiếm gặp, chúng tôi bật hết tất cả các đèn mỏ và đèn pin mắt sói lên, quét qua khu vực trần hang ở vùng hồ này, liền nhìn thấy trong nhiều hang động trên trần còn có các thác nước đổ xuống.

Thác nước không lớn, tiếng nước chảy bị lấn át bởi tiếng gió.

"这地下湖里的水,有一部分应该来自于这些山洞,丰水期山上的水都会冲到这里来。这些洞口上面应该都是溶蚀山洞,还有一部分应该是湖水底部的孔洞联通地下河。"我说道。

"Nước trong hồ ngầm dưới lòng đất này, có một phần là đến từ những hang động trên kia đây, vào mùa nước lớn, nước từ trên núi đổ xuống đây.

Các cửa hang trên kia chắc là những hang động do bị ăn mòn mà thành, còn có một phần nữa là các hang động dưới đáy nước, thông xuống con sông ngầm bên dưới."

Tôi nói.

"这湖里的鱼,怎么样才能到地表去呢?"胖子问道。

"Cá trong hồ này, làm sao mà đi được trên mặt đất chứ?"

Bàn Tử hỏi.

我道:"兴许当年的时候,这里的水位非常高,我们刚才走过来的盐原,都是湖底。"

Tôi nói: "Chắc là vào thời điểm năm đó, mực nước ở đây rất cao, cánh đồng muối mà chúng ta vừa đi qua vốn cũng là đáy hồ."

这其实仍旧有点不符合逻辑,当年那条怪鱼出现的时候,是枯水期,福建罕见大旱,水位很可能比现在还要低。不过那条鱼似乎可以上陆地,难道是因为水位干涸,导致湖里的鱼上岸寻找新的水源。才来到陆地上?

Thực ra điều này vẫn không hợp logic cho lắm, thời điểm con quái ngư kia xuất hiện vào năm đó vốn là vào mùa nước cạn, Phúc Kiến hiếm khi gặp hạn hán lớn, có khi mực nước hồi đó còn thấp hơn cả bây giờ.

Thế nhưng con cá kia dường như vẫn có thể lên được mặt đất, chẳng lẽ là vì mực nước cạn quá, nên mới khiến cá trong hồ phải ngoi lên bờ tìm nguồn nước mới.

Nên mới lên trên mặt đất?

胖子拿出手机自拍,这里没有信号,幸存的电量还能闪光,他拉着闷油瓶拍了好几张。还让闷油瓶帮忙我和他合影。

Bàn Tử lôi di động ra selfie vài tấm, ở đây không có sóng, may mà số pin còn lại vẫn đủ để bật flash, anh ta kéo Muộn Du Bình lại chụp mấy tấm liền.

Còn bắt Muộn Du Bình chụp một kiểu ảnh cho tôi với anh ta nữa chứ.

"你说当年手机要那么先进,咱们早成网红了。"胖子说道:"真是可惜,青铜门前咱们必须来一张,天真,要么咱们回去补一下。"

"Cậu nói xem, hồi đó mà điện thoại tiên tiến như bây giờ, chắc tụi mình đã nổi như cồn trên mạng từ lâu rồi."

Bàn Tử nsoi: "Tiếc thật, trước cửa Thanh Đồng tụi mình phải chụp một tấm mới phải, Thiên Chân, hay là chúng mình quay lại đấy chụp bù đi."

我心中呵呵,催他们继续往前,再往起走了将近半个小时,我已经开始惊叹于这个湖的巨大。在这个部分,手电照向水中,我们能发现这里的水底非常浅,似乎湖底有一座高原,没有露出水面,但是能从这个位置看到白色的湖底,最多到我们的腰间。

Tôi thầm cười hề hề, giục bọn họ đi tiếp.

Đi thêm khoảng nửa giờ nữa, tôi bắt đầu thán phục trước sự mênh mông của cái hồ này.

Đến chỗ này, đèn pin chiếu xuống nước, chúng tôi phát hiện mực nước ở đây đã cạn lắm rồi, hình như là do đáy hồ có một quả đồi, nhưng không nhô lên khỏi mặt nước.

Nhưng đứng từ vị trí này có thể nhìn thấy đáy hồ trắng xóa, thế thì mực nước chỉ đến thắt lưng chúng tôi là cùng.

没有看到任何的鱼,有点似海边看到珊瑚浅礁的感觉。手电继续往前照,我们照出了一个巨大的建筑物,就在前方的堤坝上。形状和之前的神龛非常像。矿灯和手电力量都不够,无法看清那东西的全貌。还能看到,通往这个建筑的石墙路段上,开始出现一个一个的死水龙王雕像,这一次不是面对着水面,而是面对着我们。

Không nhìn thấy bất kỳ con cá nào, hơi có cảm giác như đang ở bên bờ biển ngắm bãi san hô cạn vậy.

Tiếp tục chiếu đèn pin về phía trước, chúng tôi lại chiếu đến một tòa kiến trúc to lớn, nằm ở ngay trên đoạn đê phía trước.

Về hình dáng, tòa kiến trúc này giống hệt như ngôi miếu thờ vừa nãy.

Đèn pin và đèn mỏ sắp hết pin, không thể chiếu rõ được toàn cảnh của thứ đó được.

Còn có thể nhìn thấy, trên con đường bờ tường đá mà chúng tôi đang đi thông thẳng vào trong tòa kiến trúc kia bắt đầu xuất hiện những pho tượng tử thủy Long Vương.

Nhưng lần này, các pho tượng không quay về phía mặt nước nữa, mà quay về phía chúng tôi.

我们都停住了脚步,心说果然内有乾坤,这是什么鬼地方。

Chúng tôi đều dừng bước, nghĩ thầm quả nhiên trong này có Càn Khôn, không biết đây là cái nơi quái quỷ gì đây.

那个黑影起码有十几层楼那么高,整个轮廓,似乎也是一个雕像的样子。胖子看了一眼我,我也看了一眼胖子,我们两个都看向小哥。我们三个勾住互相的肩膀,胖子用剩余的电量用那个黑影做背景,拍了合影。胖子手机自动关机。然后我们义无反顾的转头离开了。

Cái bóng đen kia ít nhất cũng phải cao cỡ một tòa nhà mười mấy tầng, nhìn toàn bộ đường nét cái bóng thì trông cũng giống như một pho tượng Long Vương kia vậy.

Bàn Tử nhìn tôi, tôi cũng nhìn Bàn tử, rồi cả hai chúng tôi cùng nhìn Tiểu Ca.

Cả ba đứa ôm bả vai nhau, Bàn Tử lấy cái bóng đen kia làm bối cảnh, dựa vào số pin còn lại, chụp một tấm tập thể.

Di động Bàn Tử tự động sập nguồn.

Sau đó, chúng tôi quay gót bỏ đi thẳng.

已经不关我的事了。

Đã không còn liên quan gì đến tôi nữa rồi.

一路往回走,走到神龛处的时候,看到雷本昌也跟了上来,所有的钓具都已经排开,但是他手里执着那根绑着黄帆的钢筋,也就是钓尸杆,用锤子敲进石墙的缝隙里,在杆头上帮上鱼线和飞轮,接着,他从自己的包里掏出一只装满了沙子的饭盒来,上面也贴了黄纸。

Dọc đường trở về, đến khi quay lại chỗ trang thờ nọ, mới thấy Lôi Bản Xương cũng đi theo sau.

Bao nhiêu đồ nghề câu cá ông ta đã bày ra hết, nhưng tay vẫn khư khư cầm cây cần cốt thép gói bằng cánh buồm màu vàng kia, cũng chính là cây cần câu xác.

Ông ta dùng búa đập vào một vết nứt trên tường đá, lắp ổ trục và buộc dây câu vào một đầu cần, sau đó, ông ta rút từ trong ba lô ra một cái hộp cơm đựng đầy cát, bên trên cũng dán giấy vàng.

雷本昌努力点了三只香,跪在饭盒面前,磕了三个头,然后从饭盒湿沙里,抓出来一只螃蟹,贴上黄纸。绑到鱼线的头上。抛入水中。

Lôi Bản Xương cố gắng thắp ba nén nhang, quỳ xuống trước hộp cơm, dập đầu ba cái, sau đó mới bắt lấy một con cua từ trong hộp cát ướt, dán giấy vàng lên, rồi buộc vào một đầu dây câu.

Ném xuống nước.

"您这是什么钓法?没见过啊?"我问道。

"Đây là kỹ thuật câu gì vậy?

Sao tôi chưa thấy bao giờ?"

Tôi hỏi.

雷本昌道:"这是一个黄河钓尸人送我的螃蟹,它会帮我找到儿子。"

Lôi Bản Xương nói: "Đây là con cua do một người câu xác trên sông Hoàng Hà tặng tôi, nó sẽ giúp tôi tìm được con trai mình."

胖子叹了口气,拍了拍老头,去拨弄那饭盒,沙子里还有好多螃蟹,都是不大不小的。胖子嫌弃的摇头。我心说你吖是连钓尸人的螃蟹都要吃么。

Bàn Tử thở dài, vỗ ông lão một cái, rồi đi nghịch hộp cơm kia.

Trong cát vẫn còn nhiều con cua khác, không quá lớn không quá nhỏ.

Bàn Tử lắc đầu chê bôi.

Tôi thầm nghĩ, má nó ngay cả cua của người câu xác mà ông anh cũng muốn xơi à.

当天晚上——其实快天亮了,我们在岸边搭了帐篷,胖子在边上做了几个陷阱,划了警戒钢丝,我们煮水准备吃完好好睡一觉,等睡踏实了,雷本昌要开始钓那条怪鱼。二十年前他想做的事情,终于要实现了。

Buổi tối hôm đó, thực ra thì trời sắp sáng rồi, chúng tôi dựng lều ở bên bờ, Bàn Tử ngồi một bên đặt mấy cái bẫy, vạch dây thép cảnh giới.

Chúng tôi đun nước nấu cơm, ăn xong thì đánh một giấc, ngủ đẫy rồi, Lôi Bản Xương mới bắt đầu câu con quái ngư kia.

Chuyện mà ông ta muốn làm từ hai mươi năm trước, cuối cùng cũng sắp thực hiện rồi.

胖子拿出了酒,雷本昌微醺之后,打开了话匣子,开始和我们说,当年他儿子发生的详细经过。

Bàn Tử lôi rượu ra, sau khi Lôi Bản Xương ngà ngà say, mới bắt đầu chịu mở lời, kể cho chúng tôi nghe cặn kẽ những gì mà con trai ông ta đã trải qua vào năm đó.

________________

每次到了结尾部分都有很多话想说,但调好字体就忘记的差不多。

Lần nào đến phần kết cũng có rất nhiều điều muốn nói, nhưng vừa chỉnh xong phông chữ là quên gần hết.

今天本来想更两章的,但是,拖延症犯了,还是明天更两章吧。

Hôm nay vốn dĩ định cập nhật hai chương, nhưng bệnh trì hoãn lại tái phát, thôi thì để mai cập nhật hai chương vậy.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 25: Khoảng cách một bước


雷本昌讲诉事情的能力一般,他儿子从5岁开始和他一起钓鱼,他以前是一个很热情沉稳的人,自己喜欢的东西,他也希望儿子喜欢,整天带着儿子到处去钓,小小年纪,就晒成一个黑猴一样。

Khả năng kể chuyện của Lôi Bản Xương chỉ thường thường.

Con trai ông ta từ khi 5 tuổi đã bắt đầu cùng ông ta đi câu cá, trước kia, ông ta là một người rất nhiệt tình lại chín chắn, thứ mình thích, ông ta hy vọng con trai mình cũng thích vậy.

Bởi vậy, ông ta thường dẫn con trai đi khắp nơi câu cá suốt cả ngày trời.

Đứa bé mới tí tuổi đầu, đã phơi nắng đen sì như con khỉ.

他儿子很有天赋,钓鱼粗了看,一根棍子一根绳子就能钓,细了各种讲究,但都不是核心,所谓钓鱼的天赋,是说不清楚的。很多时候,钓鱼的人自己也说不清,雷本昌说,就是有些时候,他似乎能和水里的鱼沟通似的,能知道鱼在想什么。

Con trai ông ta rất có năng khiếu.

Việc câu cá, nhìn qua tưởng chỉ cần một cây gậy một sợi dây là câu được, nhưng thực ra phải nghiên cứu rất kỹ lưỡng.

Nhưng điều đó không quan trọng, cái gọi là năng khiếu câu cá vốn không thể nói rõ ràng ra được.

Nhiều khi, ngay cả bản thân người câu cá cũng không rõ nữa, Lôi Bản Xương nói, có những lúc ông ta gần như có một sự tương thông nào đó với con cá dưới nước, như thể, có thể hiểu được lũ cá đang suy nghĩ cái gì.

这种感觉莫名其妙,但往往就是在那个水域,没有任何征兆的,就能上鱼。

Cái cảm giác này, không thể giải thích được, thường thì ở một vùng nước nào đó, dù không có bất kỳ dấu hiệu nào, nhưng vẫn có thể câu được cá.

还有一种高手,与其说他熟悉钓鱼,不如说他熟悉整个水域的情况,哪里水深,那么水浅,哪里有洄流,哪里有浅坡。这种高手也是一钓一个准,在同样的条件下,他总是能比其他人钓到更多。

Còn có một loại cao thủ nữa, nói loại người này hiểu rõ việc câu cá, chi bằng nói là loại người này hiểu rõ toàn bộ đặc điểm và tình hình của toàn bộ vùng nước mà anh ta câu thì đúng hơn.

Nơi nào nước sâu, nơi nào nước cạn, nơi nào có dòng nước xoáy, nơi nào có dốc nông.

Loại cao thủ này, cứ hễ thả câu là bắt được cá, trong cùng một điều kiện giống nhau, anh ta có thể câu được nhiều cá hơn người bình thường.

两种高手,前者能钓到大鱼,后者能钓到很多鱼,雷本昌的儿子属于前者。

Hai loại cao thủ này, loại đầu tiên có thể câu được cá lớn, loại thứ hai có thể câu được nhiều cá.

Con trai Lôi Bản Xương thuộc về loại đầu tiên.

他的儿子掉大鱼上瘾,长大之后,参加了很多比赛,都拿了奖杯,开始到处山川大河去找大鱼钓,大江大河都钓过了,雷本昌最引以为傲的是,不知道为什么,他的儿子能感觉到水系里有没有大鱼,问他为什么,他也说不上来。他往往看一眼,就能下一个结论。

Con trai ông ta câu cá lớn đến ghiền, sau này lớn lên, tham gia rất nhiều cuộc thi câu cá, đoạt về được nhiều giải thưởng, bắt đầu đi khắp núi cao sông lớn để tìm câu cá lớn.

Sông suối lớn đều đã từng câu hết rồi, điều mà Lôi Bản Xương rất lấy làm tự hào nhất, đó là, không biết tại sao, con trai ông ta có thể cảm nhận được trong một vùng nước có cá lớn hay không, hỏi anh ta vì sao, anh ta cũng không biết nữa.

Thường thường anh ta chỉ cần liếc mắt nhìn, là có thể đưa ra được kết luận rồi.

他儿子到福建来钓鱼,其实是带着几个学生来钓的,很多有钱人喜欢上钓鱼之后,都听说他儿子厉害,所以让他上课。有的时候他们外出游玩钓鱼,会请他儿子当教练。野钓非常锻炼身体,也能领略风土人情,上世纪有一段时间非常盛行,和现在有钱人玩檀香这些差不多的状态。

Con trai ông ta đến Phúc Kiến câu cá, thực ra là đưa mấy học sinh đi câu.

Nhiều người giàu có thích câu cá đều nghe nói con trai ông ta lợi hại lắm, nên mới thuê anh ta dạy câu cá.

Có những lúc bọn họ ra ngoài du ngoạn câu cá, thường sẽ mời con trai ông ta đến làm huấn luyện viên.

Thú vui câu cá ngoài tự nhiên có thể rèn luyện cơ thể, cũng có thể tìm hiểu thêm về phong tục tập quán các nơi, ở thế kỷ trước, có một thời gian rất thịnh hành thú vui này, cũng tốn kém chẳng khác gì thú chơi đàn hương của người giàu có bây giờ.

他儿子到了那个潭口,不知怎么的,忽然就停了下来,和他的学生说,这口深潭里有大鱼。

Con trai ông ta đến bên bờ đầm đó, không biết thế nào, bỗng nhiên dừng lại, nói với học sinh của mình rằng, trong đầm sâu này có cá lớn.

于是他们纷纷下钩,其实四杆钓竿都是他儿子下的,其他几个人只是帮他持杆而已,他儿子有点故意想让他的学生,尝尝大鱼中钩的感觉。结果下去一个小时不到,就有东西咬钩了。

Thế là bọn họ lục tục thả câu.

Thực ra thì, có đến bốn cây cần là do con trai ông ta thả, mấy người kia chẳng qua là giúp anh ta cầm cần mà thôi.

Anh con trai cố ý muốn cho các học sinh của mình thử trải nghiệm cảm giác câu được cá lớn.

Kết quả chưa đến một tiếng sau, đã có thứ cắn câu rồi.

那杆鱼竿直接被拉成了一个非常夸张的半圆,都拉成了一根回形针,接着线断了,鱼竿甩回来,持杆的人没经验,打到了他儿子的眼睛。眼睛就被打肿了。他儿子还没反应过来,自己的杆也中钩了。

Cây cần câu đó liền bị kéo cong thành một nửa vòng tròn vô cùng cường điệu, sắp kéo gập lại thành hình cái ghim kẹp giấy rồi, sau đó, dây đứt, cần câu văng ra, người cầm cần không có kinh nghiệm, cây cần bật lại văng trúng vào mắt anh con trai.

Mắt anh ta liền sưng húp lên.

Nhưng anh con trai còn chưa kịp phản ứng, cây cần của anh ta cũng bị cắn câu rồi.

当时他儿子的第一反应非常准备,他喊了一声:"这么凶?"

Lúc ấy, phản ứng đầu tiên của anh ta là chuẩn bị, rồi kêu lên một tiếng: "Dữ như thế cơ à?"

这是一条鱼吞钩了之后,不犹豫害怕,直接把线拉断,然后继续咬了边上的另外一个钩子,他儿子凭借直觉,意识到下面只有一条鱼,而这条鱼完全不惧怕鱼钩和鱼线。

Đây là một con cá sau khi cắn câu liền không chút do dự sợ hãi nào, trực tiếp kéo đứt dây câu, sau đó lại cắn mồi của một cần câu khác bên cạnh.

Dựa vào trực giác, anh con trai liền nhận ra con cá bên dưới này hoàn toàn không e ngại dây câu và lưỡi câu chút nào.

除了海钓鲨鱼,很少会碰到这样的情况。

Trừ phi câu phải cá mập ở biển, ngoài ra, rất hiếm khi gặp phải tình huống như thế này.

他儿子的经验丰富,和鱼搏斗了两三个小时。更加离奇的事情发生了,边上的人继续放钩下去,都陆续中钩,这条鱼在和鱼线搏斗的时候,竟然还在吃钩子,不知道是饿疯了,还是过于凶猛。然后四个杆子都被拉住之后,线开始缠绕打结。忽然,他们的鱼线同时松了。

Anh con trai kinh nghiệm phong phú, vật lộn với con cá suốt hai ba giờ đồng hồ.

Một chuyện còn ly kỳ hơn nữa liền xảy ra, người bên cạnh tiếp tục thả câu, cũng lần lượt đều cắn câu cả, khi con cá này đang vật lộn với dây câu, thế mà còn ăn luôn cả móc câu nữa, không biết là đói đến phát điên rồi hay là quá hung dữ nữa.

Sau đó, cả bốn cây cần đều bị kéo căng cả, dây câu bắt đầu xoắn bện vào nhau.

Rồi bỗng nhiên, dây câu của bọn họ đều đồng loạt chùng xuống.

他儿子以为线终于断了,泄了气,因为深潭钓鱼线非常容易摩擦到岩壁,这种线很难拉断,但一磨就会崩开。

Anh con trai cứ tưởng dây câu cuối cùng cũng đứt rồi, thở hắt ra, bởi vì khi câu ở vùng đầm nước, dây câu rất dễ bị mài vào vách đá.

Loại dây câu này rất khó đứt, nhưng nếu bị mài thì sẽ bung ra.

四个人经历这么一场大战,其他三个都酣畅淋漓,经历了从来没有经历过的感觉。他们开怀大笑,背对着潭面和岸上的人说话,告诉他们自己有多爽。却没有想到,绳子并没有断,那条大鱼顺着绳子游了上来。

Cả bốn người trải qua một trận đại chiến, ba người kia thích chí vô cùng, xưa nay họ chưa bao giờ trải qua cảm giác như thế.

Bọn họ vui vẻ cười lớn, quay lưng về phía đầm nước, nói chuyện với người trên bờ, rằng bọn họ đã được một phen đã đời biết bao nhiêu.

Nhưng không ngờ, mấy sợi dây câu kia không hề đứt, con cá lớn đó men theo dây câu bơi lên bờ.

岸上的人只看到一个巨大的长满水草的影子一下浮现在深潭表面,然后水花一炸,他儿子第一个被拖入水中,其他人以为他儿子落水,立即上去救,一片混乱之后,四个人都不见了,水面上只看到四根鱼竿漂浮着,大概几分钟后,四根鱼竿猛的被拖入水中,消失在潭中。

Người trên bờ chỉ nhìn thấy một cái bóng to tướng mọc đầy thủy thảo nổi lên trên mặt đầm nước, sau đó, bọt nước tung tóe bùng lên, anh con trai bị kéo xuống đầm đầu tiên, những người còn lại tưởng là anh ta bị rơi xuống nước, lập tức nhào vào cứu.

Sau một trận hỗn loạn, cả bốn người đều biến mất, trên mặt nước chỉ còn bốn chiếc cần câu nổi bồng bềnh, rồi khoảng vài phút sau, cả bốn cây cần đều bị kéo tọt xuống nước, biến mất trong đầm.

后来人们去打捞,只捞起了三根鱼竿,那四个人和最后一根鱼竿,都消失不见了。

Những người tới sau đi trục vớt, thì chỉ mò được ba cây cần câu, còn bốn người kia cũng cây cần cuối cùng đều biến mất không tăm tích.

老头听到噩耗之后,还蒙了很久,等他到出事的地方看,就知道儿子绝无生还的可能性。有可能已经被拖入地下河中了。他是在无法接受这个现实,于是开始在那个深潭,开始钓鱼。

Sau khi ông lão nghe được tin dữ, hẵng còn sững sờ hồi lâu, cho đến khi ông ta đến tận nơi xem xét sự việc, cũng biết là con trai mình chắc chắn không còn hy vọng sống sót nữa.

Có thể anh ta đã bị kéo vào trong con sông ngầm dưới lòng đất rồi.

Ông ta không thể chấp nhận được sự thực này, vì vậy, mới bắt đầu câu cá ở cái đầm nước đó.

老头说到这里的时候,闭眼,我知道他想哭出来,心中的巨大悲痛和20年的等待,在这一刻应该汇聚成眼泪,但是他没有眼泪,只是无声无泪的哭泣。他最后的眼泪,应该就在刚才看到湖的刹那,流光了。

Khi kể đến đây, ông lão nhắm mắt lại, tôi biết, ông ta muốn khóc nấc lên, nỗi đau đớn khốn khổ khủng khiếp trong lòng cũng hai mươi năm chờ đợi, vào giờ phút này, chắc hẳn tất cả đã tụ lại thành nước mắt.

Nhưng ông ta không rơi được giọt nước mặt nào, chỉ là khô khan khóc nấc lên, không thành tiếng.

Những giọt nước mắt cuối cùng của ông ta chắc hẳn đã cạn khô vào khoảnh khắc ấy, khi ông ta vừa nhìn thấy được cái hồ.

我能懂那一刻他的状态,那是他看到了自己的尽头,这条路对于雷本昌非常孤独,非常漫长,他看到了尽头的时候,他唯能有哭泣一种举动。

Tôi có thể hiểu được cảm giác của ông ta vào khoảnh khắc đó.

Đó là lúc ông ta nhìn thấy điểm cuối của mình, con đường này đối với Lôi Bản Xương thật quá cô độc, quá đằng đẵng, nên khi ông ta nhìn thấy được điểm cuối của mình, điều duy nhất ông ta có thể làm, đó là bật khóc.

我只经历了十年,唯有佩服他,多让他喝点热水。我懂得寻找一个人的感觉,以前觉得自己的执着天下第一,如今看到了花二十年寻找尸体的人,才明白这种执着,是人之使然,没有什么了不起的。

Tôi mới chỉ trải qua có mười năm, cũng khâm phục ông ta, bảo ông ta uống nước ấm nhiều thêm một chút.

Tôi biết cái cảm giác khi tìm kiếm một người, trước kia, tôi cảm thấy sự cố chấp của mình đã là đệ nhất thiên hạ rồi, nhưng hôm nay, khi gặp một người mất đến hai mươi năm chỉ để tìm kiếm một thi thể, tôi mới hiểu được, sự cố chấp này vốn là nhân chi thường tình, chẳng có gì là tài giỏi hơn người cả.

睡下之后,胖子很兴奋,根本睡不着,我却心思连篇,又困顿非常,胖子就问我那巨大的建筑,有可能是什么?

Ngủ dậy, Bàn Tử rất hưng phấn, căn bản không ngủ được, còn tôi thì cứ suy nghĩ miên man, nên mệt mỏi vô cùng.

Bàn Tử liền hỏi tôi, tòa kiến trúc to lớn kia liệu có thể là cái gì nhỉ?

我看着帐篷的顶端,那巨大的黑影,按照外面神龛的设置,死水龙王的雕像,如果非要按照逻辑推理,当时的古人可能发现了这个地下的水潭,毕竟当年效仿徐霞客深入各种洞穴的游侠很多,他们发现了地下湖中的怪鱼,以为是死水龙王栖息其中,必然会修建庙宇。这巨大的建筑,最大的可能性就是死水龙王宫。用来镇住龙王,将食物抛入深潭祭祀,保一方水土。

Tôi nhìn đỉnh căn lều vải, bóng đen to lớn kia, dựa vào bố trí trong trang thờ ở bên ngoài, rồi các pho tượng tử thủy Long Vương, nếu không suy luận theo logic, thì có thể là năm xưa người cổ đại đã phát hiện ra cái đầm nước dưới lòng đất này (dù sao thì hồi xưa cũng có rất nhiều hiệp khách noi theo Từ Hà Khách thám hiểm vào trong các hang động), bọn họ phát hiện ra con quái ngư trong hồ nước dưới lòng đất, cho rằng tử thủy Long Vương ngụ ở nơi đó, thế là bèn xây dựng miếu thờ.

Tòa kiến trúc to lớn đó, khả năng lớn nhất chính là cung điện của tử thủy Long Vương, dùng để trấn áp Long Vương, ném thức ăn xuống đầm nước để cúng tế, khiến Long Vương bảo vệ thủy thổ cả một vùng.

这种怪鱼,袭击老头的儿子的时候,是在他们背对水面的时候,袭击我们的时候也是,想来鱼能主动攻击,而且机会是选择的,可能有很高的智力。这种鱼暂且称呼为死水龙王,老头也许能钓住,但我们是否有能力将其制服,是个疑问。

Thời điểm loài quái ngư này tập kích anh con trai của ông lão là khi bọn họ quay lưng về phía đầm nước, thời điểm nó tập kích chúng tôi cũng y hệt như thế.

Loài cá này có thể chủ động tấn công, hơn nữa, có thể lựa chọn cơ hội, rất có thể nó có trí thông minh rất cao.

Loài cá này cứ tạm thời gọi là tử thủy Long Vương, có thể ông lão này sẽ câu được nó, nhưng liệu chúng tôi có khả năng chế ngự được nó hay không, thì còn là một câu hỏi lớn.

胖子一直罗里吧嗦,我沉沉的睡去,第二天早上,我是被胖子摇醒的,醒过来之后,听到胖子的话都是糊涂的,他不停的重复,似乎很急的样子,我努力清醒,才听到他说:"雷本昌死了。"

Bàn Tử cứ luôn miệng lải nhải, tôi thì dần dần thiếp đi.

Đến sáng ngày hôm sau, tôi bị Bàn Tử lay tỉnh, sau khi tỉnh lại, tôi nghe Bàn Tử nói mà cứ lơ ma lơ mơ.

Anh ta không ngừng lặp đi lặp lại, dáng vẻ dường như là rất gấp.

Tôi cố gắng tỉnh táo lại, mới nghe thấy anh ta nói: "Lôi Bản Xương chết rồi."

我皱了皱眉头,没弄清他什么意思,走出帐篷来到老头的帐篷,撩开一看,看到老头保持着拼接鱼竿的动作,头靠在鱼竿上,鱼竿撑在地上,一动不动。

Tôi nhíu mày, không hiểu anh ta có ý gì nữa, bèn chui ra khỏi lều, vén lều vải của ông lão lên.

Vừa mới vén lên nhìn, tôi thấy ông ta vẫn duy trì động tác lắp cần, đầu tựa vào cần câu, cần câu chống xuống mặt đất, không nhúc nhích.

我上去摸了一把,他已经凉了,身体僵硬,眼睛还睁着。我看了看瞳孔,已经放大浑浊。

Tôi lại gần sờ thử một cái.

Ông ta đã lạnh ngắt, cơ thể cứng ngắc, hai mắt còn mở trừng trừng.

Tôi xem con mắt , đồng tử đã dãn, đục ngầu.

老头死了。我看了看边上的闷油瓶,他替老头合上眼睛。对我道:"他有重病。"

Ông lão đã chết thực.

Tôi nhìn thấy Muộn Du Bình bên cạnh, hắn đang vuốt mắt cho ông lão.

Rồi hắn nói với tôi: "Ông ta có bệnh nặng."

"你早就知道?"我惊讶道,忽然意识到他当时为何会答应老头。他早就知道了。

"Anh đã biết từ lâu rồi?"

Tôi kinh ngạc kêu lên, bỗng nhiên hiểu ra vì sao lúc ấy hắn lại đồng ý với ông lão này.

Thì ra, hắn đã biết rồi.

闷油瓶看着老头,拍了拍老头的肩膀,将老头慢慢放下,我看着他的动作,忽然意识到,闷油瓶认识这个老头,他的动作,并不是对待一个陌生人,而是在对待一个他熟悉很久的故人。我的汗毛倒竖,抓住闷油瓶的手:"他是谁?"

Muộn Du Bình nhìn ông lão, hắn vỗ vỗ bả vai ông lão, để ông ta từ từ nằm xuống.

Tôi nhìn động tác của hắn, bỗng nhận ra một điều, Muộn Du Bình quen biết ông lão này, động tác của hắn không phải là hành động đối đãi với một người xa lạ, mà là đối đãi với một người cố nhân mà hắn quen biết từ rất lâu.

Tôi dựng hết cả tóc gáy, chộp lấy tay Muộn Du Bình: "Ông ta là ai?"

"一个很久以前熟悉,但已经忘记了我的人。"闷油瓶说道。

"Một người quen từ cách đây rất lâu, nhưng đã quên mất tôi rồi."

Muộn Du Bình nói.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 26


闷油瓶撸开雷本昌手臂上的袖子,我看到在雷本昌的手上,有一道苗族图案的伤疤,是烫伤的。"这是陈皮阿四在苗疆时候用的记号。"

Muộn Du Bình vén tay áo Lôi Bản Xương lên, tôi nhìn thấy trên cánh tay Lôi Bản Xương có một vết sẹo hình hoa văn của dân tộc Mèo, đó là một vết phỏng.

"Đây là ký hiệu mà Trần Bì A Tứ từng sử dụng khi ở Miêu Cương."

我仔细看了看,伤疤已经褪色很久了,只能看出一个大概的形状,看不出是什么图案。

Tôi nhìn kỹ, do đã quá lâu, vết sẹo đã bạc màu rồi, chỉ nhìn ra được hình dáng đại khái, chứ không nhìn ra được cụ thể là hình gì.

"你记得他?是四阿公的人?"

"Anh nhớ ông ta?

Là người của ông Tư?"

"只有在苗疆的人用这样的记号,我当时也在。"他道。"我记不得他是谁,也许为我掌过灯。"

"Chỉ có người ở Miêu Cương mới dùng ký hiệu như thế, lúc ấy tôi cũng ở đó."

Hắn nói.

"Tôi không nhớ ông ta là ai, có lẽ từng là người cầm đèn cho tôi."

我知道闷油瓶很久以前自己瞎混的时候,在四阿公手下地位还是非常高的。叹了口气,问他雷本昌有什么重病,是不是胖子的酒把他喝死的。

Tôi biết rất lâu về trước khi Muộn Du Bình vẫn còn lơ ngơ, trong số thủ hạ của ông Tư, hắn đã ở một vị trí rất cao rồi.

Thở dài, tôi hỏi hắn, Lôi Bản Xương mắc bệnh nặng gì, có phải rượu của Bàn Tử làm ông ta chết hay không.

胖子大怒:"天真,酒是隔壁大妈的,你别往我身上赖,喝酒喝死这种事情,属于在胖爷这儿属于喜丧,死得其所,我没心理负担。"

Bàn Tử giận dữ kêu lên: "Thiên Chân, rượu này của bà thím hàng xóm đấy nhé, cậu đừng có đổ tội lên đầu tôi, uống rượu đến chết á, đối với Bàn Tử đây chính là hỉ tang đó, chết rất có ý nghĩa, tôi không mang gánh nặng gì trong lòng đâu."

闷油瓶没有回答我,只是说了一句:"他能到这里已经不错了。"

Muộn Du Bình không trả lời tôi, chỉ nói một câu: "Ông ta có thể đến được đây đã là tốt lắm rồi."

我大概已经确定了,闷油瓶在看到这个老头的时候,已经知道他命不久矣,在这段时间里,村中也有老人去世,闷油瓶在那个老人去世之前,也曾经表现出一种注目。他看着那个老人在太阳底下昏昏欲睡,往往会停下来看一看。

Tôi đại khái xác định được rồi, khi Muộn Du Bình nhìn thấy ông lão này, hắn đã biết mạng ông ta chẳng còn bao lâu nữa.

Trong khoảng thời gian này, trong thôn cũng có một ông cụ qua đời, trước khi ông cụ mất, Muộn Du Bình cũng từng nhìn ông cụ chăm chú như thế.

Hắn nhìn ông cụ mơ màng buồn ngủ dưới ánh mặt trời, thỉnh thoảng lại quay ra nhìn chăm chú một hồi.

胖子说,对于老死这件事情,除了敬老院的工作人员,所有人都不会有太多经验,在小哥的生命中,他也许经历了很多人的自然死亡,不管是病死还是老死,所以,他能看懂人最后几天的样子。

Bàn Tử nói, ngoại trừ những người làm việc trong viện dưỡng lão ra, thì tất cả mọi người chẳng ai có kinh nghiệm đối với chuyện chết già này cả.

Trong cuộc đời Tiểu Ca, có lẽ hắn đã chứng kiến rất nhiều những cái chết tự nhiên như thế, cả chết bệnh cả chết già, cho nên, hắn có thể nhìn ra được dáng vẻ của những người khi đã đến những ngày cuối cùng của cuộc đời.

他看到雷本昌已经油尽灯枯了,才会在那个时候帮胖子说话。带这个老头到这里来,让他至少还有一步之遥,而不是在无尽的遗憾中死去。

Hắn thấy Lôi Bản Xương đã là ngọn đèn sắp tắt, nên lúc đó mới nói đỡ cho Bàn Tử.

Đưa ông lão đến nơi này, chí ít cũng để ông ta chết đi khi chỉ còn cách một bước nữa thôi, chứ không phải ra đi trong sự nuối tiếc vô hạn.

我们按照西藏的利益为雷本昌做了法事,在西藏呆久了很熟练,然后将他埋入了盐地里。他这样的人没有墓碑也许是好事,胖子用老头的和杆做了一个十字架,当作记号。

Chúng tôi làm lễ cúng bái cho Lôi Bản Xương theo cách thức của Tây Tạng, ở Tây Tạng lâu quá rồi nên quen.

Sau đó, chôn ông ta xuống lòng đất muối.

Loại người như ông ta, có lẽ, không có mộ bia mới là chuyện tốt, Bàn Tử dùng mấy cây cần câu của ông ta làm thành một thập tự giá, làm ký hiệu.

"他又不信天主教,你这强买强卖好么?"我喝着酒问胖子。胖子说道:"总得有个归属,否则变成粽子爬出来我们很尴尬。对了,如果忽然有一天小哥对我特别好,你得提醒我,那说明老子可能快挂了,我得最后再去找个花姑娘,绝对不能自己一个人死在床上。"

"Ông ta có theo đạo Cơ Đốc đâu, sao anh ép mua ép bán quá vậy?"

Tôi uống rượu, hỏi Bàn Tử.

Bàn Tử nói: "Dù gì cũng phải có chỗ quay về chứ, chứ không lại biến thành bánh tông bò ra ngoài, thì tụi mình lúng túng lắm đó.

Đúng rồi, nếu có một ngày tự dưng Tiểu Ca đối đãi với tôi đặc biệt tốt, thì cậu phải nhắc nhở tôi đấy nhé, như thế chứng tỏ là ông đây sắp đi đời nhà ma rồi, tôi phải đi tìm một cô em bán hoa làm chuyến cuối, không thể một mình chết trên giường được."

我白了他一眼,继续做法事,处理妥当之后,我内心比较压抑,看着湖面,心里想到的是自己。

Tôi liếc xéo anh ta một cái, tiếp tục làm lễ.

Sau khi xử lý mọi việc thỏa đáng, trong lòng tôi khá nặng nề, nhìn mặt hồ kia, tôi lại nghĩ đến chính mình.

我花了那么多时间找人,一心要找到自己的三叔,却找到了身边的这两个人,又因为他们折腾了十年时间。如果我在青铜门前死掉,和这个老头就没有什么两样。之所以结局不同,是因为我身边的人为我牺牲了太多。

Tôi mất từng ấy thời gian để tìm người, một lòng muốn tìm chú Ba của mình, nhưng lại tìm được hai người bên cạnh tôi đây, rồi lại vì họ mà giày vò suốt mười năm.

Nếu như tôi bỏ mạng lại trước cánh cửa Thanh Đồng, thế thì, cũng có gì khác biệt với ông lão này đâu.

Nhưng kết cục của tôi lại khác, đó là bởi những người bên cạnh tôi đã hy sinh quá nhiều.

人生中有太多这样的事情了。我宁可老头在鱼上钩的瞬间心肌梗塞,也好过在这个时候。

Trong cuộc đời có quá nhiều chuyện như vậy.

Tôi thà rằng ông lão kia lên cơn nhồi máu cơ tim, chết ngay khi cá vừa cắn câu, còn hơn là như thế này.

想着,就看到闷油瓶收拾起老头的鱼竿,接驳好,抗到肩膀上,提起鱼篓就缓缓往堤坝墙上走去。

Suy nghĩ một lúc, liền thấy Muộn Du Bình đi thu dọn cần câu của ông lão, lắp cần xong, hắn vác lên bả vai, xách cái giỏ cá, chậm rãi bước về phía bức tường đê kia.

我看了一眼胖子,胖子耸了耸肩膀:"我翻译一下,小哥的意思是,咱收了定金了,得把事办了。"

Tôi nhìn Bàn Tử, Bàn Tử nhún vai: "Để tôi phiên dịch, ý Tiểu Ca là, chúng ta nhận tiền cọc rồi, giờ phải hoàn thành công việc thôi."

我们两个跟了上去,来到了那个神龛处,我接好鱼竿鱼线,拿起一块块青鱼的肉,搅上龙棺菌,一杆一杆的抛竿入水中。把手电光打向那个位置。

Hai người chúng tôi đi theo, đến chỗ trang thờ kia.

Tôi lắp dây câu vào cần xong, lấy hai miếng thịt cá trắm đen, nhúng vào Long quan khuẩn, quăng từng cần xuống nước.

Cầm đèn pin chiếu về vị trí kia.

远处一片黑暗,我知道黑暗中,是那座死水龙王宫,胖子时不时会看一眼,心中仍旧放不下。大风中鱼竿颤抖。我们三个人都站着没有坐下。保持着手插在口袋里的统一动作。

Xa xa bóng tối đen kịt.

Tôi biết trong bóng tối kia chính là tòa cung điện tử thủy Long Vương, Bàn Tử cứ chầu chực để nhìn mãi, không thả lỏng được.

Cây cần hơi rung rung trong gió lớn.

Ba người bọn tôi cứ đứng mãi chứ không ngồi.

Thống nhất duy trì động tác đút tay vào túi.

还没等我集中精神,忽然我就看到我们抛竿落钩的区域,炸起了一个水花。

Tôi còn chưa kịp tập trung tinh thần, bỗng nhiên, tôi nhìn thấy khu vực chúng tôi vừa ném cần xuống nổi lên một đống bọt nước.

我立即蹲下,随时准备提杆,就看到一条水波纹在那边的水面上划过。

Tôi lập tức ngồi xuống, chuẩn bị nhấc cần lên bất cứ lúc nào, liền nhìn thấy ở phía đó, một đường sóng nước vọt qua.

这么鲁莽的鱼?我心中有些难过,也许老头再活一天,就能自己钓到这条龙王。就听甩杆的铃声大作,一根鱼竿立即弯成了一个弧形。

Con cá thô lỗ như vậy hả?

Trong lòng tôi có hơi buồn rầu, có lẽ nếu ông lão cố sống thêm được một ngày nữa, thì đã câu được con Long Vương này rồi.

Liền nghe tiếng chuông vung cần vang lên inh ỏi, một cây cần đã bị kéo cong thành hình cung.

我上去抓住,开始往后拉,感觉到一股非常霸道的力量开始和我角力。两秒不到,我的鱼线就断了。

Tôi tiến lên chộp lấy cần, bắt đầu kéo về phía sau, cảm nhận được một luồng sức mạnh vô cùng thô bạo bắt đầu giằng co với tôi.

Chưa đến hai giây, dây câu của tôi đã đứt.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương 27. Gậy đánh phân


鱼线断了。我大概太全情投入,所以转头看到胖子的时候,看到他目瞪口呆的看着我。显然还没明白发生了什么事。我刚骂了声娘,一下另外一根鱼竿又响了。

Dây câu đứt.

Tôi lại nhập tâm quá, đến khi quay đầu nhìn Bàn Tử, thấy anh ta đang trợn mắt há hốc mồm nhìn tôi, hiển nhiên vẫn còn chưa hiểu chuyện gì vừa xảy ra.

Tôi mới chửi thề một tiếng, ngay lập tức, chuông trên một cây cần khác lại vang lên.

我连忙上去,一把抓住鱼竿,鱼竿弯曲成非常夸张的弧度,胖子喊道:"放线!"我才想起来线轮锁了,立即放线鱼线被狂扯出去,我站稳了再次上锁,一下力量更大,鱼竿再次被拉成弓形。我想抓住把手,开始收线,发现一点用都没有。就看线瞬间拉紧,又要断了。

Tôi cuống quít nào tới chộp lấy cây cần, cần câu bị uốn cong thành một đường cung cực khoa trượng, Bàn Tử kêu lên: "Thả dây!"

Bấy giờ tôi mới nhớ ra là ống cuộn dây vẫn đang khóa.

Dây câu vừa thả ra, ngay lập tức lại bị kéo giựt đi, tôi đứng vững rồi lại khóa cuộn dây lại, bắt dầu cuốn dây, ngay lập tức sức kéo lại lớn hơn nữa, cây cần lại bị kéo cong vút thành hình cung.

Tôi định siết chặt lấy cây cần, bắt đầu cuốn dây, nhưng nhận ra chẳng có chút lực nào.

Thì ra trong lúc dây bị kéo căng sít, đã lại đứt dây rồi.

"继续放线!"胖子再叫。我再放线,线又狂走,再锁,心知这已经不是办法。线收收放放是为了逗鱼,他妈的放了收不回来,线没了怎么办?

"Tiếp tục thả dây!"

Bàn Tử lại kêu lên.

Tôi lại thả dây, dây cứ bị kéo đi điên cuồng, rồi lại khóa, trong lòng tôi cũng biết đây không phải cách.

Dây cứ thu rồi lại thả là để chọc tức con cá, nhưng mẹ kiếp thả dây rồi lại không thu về được, kéo hết cả cuộn dây rồi thì làm thế nào nữa?

"帮忙啊!"我对胖子叫道。胖子挠头:"怎么帮啊?"

"Hỗ trợ đi!"

Tôi gào lên với Bàn Tử.

Bàn Tử gãi đầu: "Hỗ trợ thế nào?"

"老头肯定有准备!"我被鱼扯来扯去,胖子就去翻老头的装备,"我操!"他忽然惊喝了一声,翻出一把铁钩来。这是海钓用来勾大鱼上岸的长柄钩子,非常锋利。

"Ông lão kia chắc chắn là có chuẩn bị!"

Tôi bị con cá giằng đi giằng lại, Bàn Tử lập tức đi lục lọi trang bị của ông lão.

"Úi mẹ kiếp!"

Bỗng nhiên anh ta kêu ầm lên, lôi ra được một cái móc sắt.

Đây là lưỡi câu dài dùng để câu những con cá lớn ở biển, vô cùng sắc bén.

淡水大鱼,很多时候都是用小杆钓起来的,只要把鱼的体力耗尽,鱼线是足够强韧拉鱼上来的。老头看来没有准备其他方式,就是用钓鱼的方式,把鱼钓上来。

Cá lớn nước ngọt, thường chỉ cần dùng cần nhỏ là được rồi, chỉ cần khiến tụi cá hao hết sức lực, dây câu đủ bền, là thế nào cũng kéo cá lên được.

Xem ra ông lão không chuẩn bị các phương thức khác, mà chỉ muốn dùng đúng cách câu cá, để bắt con cá này lên.

"我下去吧。"胖子对我道:"老子和它拼了。"

"Tôi xuống."

Bàn Tử nói, "Ông đây liều mạng với nó."

闷油瓶忽然抓起我的饵料袋,我问他想干嘛,他指了指死水龙王宫的地方,然后抓起一根备用鱼竿的第二节,拿出一块鱼饵,就用鱼竿打高尔夫一样打了出去。

Muộn Du Bình đột nhiên chộp lấy túi mồi câu của tôi, tôi hỏi hắn định làm gì, hắn chỉ về phía cung điện con tử thủy Long Vương, sau đó cầm lấy một đốt cần dùng để dự phòng, lấy một miếng mồi, rồi cầm cần câu đánh viu miếng mồi ra ngoài như đánh golf vậy.

鱼饵一下落到前方的湖中,我鱼线入水被拉着水痕的边上,立即我的鱼线就开始往那边牵引,这鱼应该是饿极了。闷油瓶提着鱼饵让我跟着鱼走,一边跑,一边用鱼竿把鱼饵打飞,落在鱼的前面的水面上,一步一步,把鱼往死水龙王宫前面勾引。

Miếng mồi lập tức rơi xuống hồ nước, ngay bên cạnh vết nước nơi dây câu của tôi bị kéo.

Ngay lập tức, dây câu của tôi liền bị kéo về hướng ấy, con cá này chắc là đói ngấu rồi.

Muộn Du Bình xách mồi câu, bảo tôi đi theo con cá, còn hắn vừa chạy vừa cầm cần đánh bay mồi câu, dẫn dụ con cá về phía cung điện tử thủy Long Vương.

他的用力非常巧妙,鱼竿在空中划出各种曲线,崩出呼啸声,但是打在鱼饵上鱼饵完全被拍出去而不是拍碎。

Cách hắn dùng sức rất khéo, chiếc cần câu vạch ra đủ mọi đường cong trên không trung, phát ra những tiếng vun vút, nhưng khi đánh vào mồi câu, miếng mồi hoàn toàn văng đi chứ không bị đập nát.

一路冲到死水龙王宫前,我再次看到了水面下那块巨大的浅滩,明白了闷油瓶的想法,他是要把鱼引到浅水区。可此时鱼饵就已经打光了。

Xông thẳng đến trước cung điện tử thủy Long Vương, tôi lại nhìn thấy bãi cạn rộng lớn dưới mặt nước kia, bấy giờ tôi mới hiểu ý tưởng của Muộn Du Bình.

Hắn muốn dẫn con cá này đến chỗ nước cạn.

"干粮!"我对胖子吼道。

"Lương khô!"

Tôi gào lên với Bàn Tử.

胖子道:"只有腊肉和老头的螃蟹了。"

Bàn Tử nói: "Chỉ có thịt muối với cua của ông lão kia thôi."

"不要了!"我道,胖子从后背拔出腊肉棍,举着,我用白狗腿狂砍成一块一块,每砍下一块,闷油瓶就打棒球一样直接没落地就打出去。胖子就看着自己手里的腊肉越来越短,两个人对着他的手一个用刀狂劈,一个用棍子狂打,眼珠都转疯了。

"Khỏi cần!"

Tôi nói, Bàn Tử rút từ sau lưng ra một cây thịt muối ra, giơ lên, tôi cầm con Bạch Câu Thối liên tục chặt thành từng miếng từng miếng, mỗi miếng chặt ra còn chưa kịp rơi xuống đất đã bị Muộn Du Bình đánh văng ra như đánh bóng chày vậy.

Bàn Tử nhìn cây thịt muối trong tay mình ngày càng ngắn dần, hai người kia một thằng thì cầm dao bổ về phía tay anh ta lia lịa, một thằng thì cầm gậy đánh lia lịa, hai con mắt anh ta cũng đảo lia lịa đến phát điên rồi.

一根腊肉瞬间打完,胖子手里还有一截直接抛给闷油瓶,闷油瓶打了出去,接着是老头哪些可怜的螃蟹,全部打完。我们用手电去照浅滩,看到一连串涟漪都还没有消失,每一块腊肉都落在应该的位置上,完美的一条涟漪的珠链。

Nguyên cây thịt muối loáng cái đã đánh xong, trong tay Bàn Tử vẫn còn một đoạn nữa, liền vứt thẳng cho Muộn Du Bình, Muộn Du Bình đánh viu ra ngoài, tiếp đến là mấy con cua đáng thương của ông lão, cũng đánh cho bằng sạch.

Chúng tôi cầm đèn pin ra bãi cạn, thấy những chuỗi sóng gợn liên tiếp vẫn còn chưa lắng xuống, từng miếng thịt khô miếng nào miếng nấy rơi đúng vị trí, tạo thành một chuỗi sóng gợi hoàn mỹ.

同时我们也看到了,一个巨大的黑影子,正在迅速划过了这些涟漪,距离太远,完全就是一个影子,却十分的长,就像一条龙一样。

Cùng lúc đó, chúng tôi nhìn thấy một cái bóng to tướng xẹt vù qua những chuỗi sóng này, cách quá xa, hoàn toàn chỉ thấy một cái bóng, nhưng lại rất dài, nom như một con rồng vậy.

"上来了!"我大喜,继续!胖子就道:"没啦!"

"Lên rồi!"

Tôi mừng rỡ kêu lên, "Tiếp tục!"

Bàn Tử nói: "Hết rồi!"

"你就带一条!"

"Anh còn mang một cây thịt nữa mà!"

"我带一条就不错了,你他妈出发的时候一条不让我带!"

"Tôi mà mang một cây nữa thì đã tốt, lúc mới lên đường cậu còn đếch cho tôi mang theo cây nào kia!"

我不信去摸胖子的腰,胖子大怒:"滚蛋,我是这种夹带私货的人么?"

Tôi không tin bèn thò tay ra sờ eo Bàn Tử, Bàn Tử giận dữ kêu lên: "Cút đi, tôi là loại người lén lút giắt hàng lậu lên người à?"

"还有什么?"

"Còn gì nữa không?"

"就剩几把了,要不割了给你!"胖子大怒。

"Chỉ còn cây hàng bằng thịt này thôi, hay là cắt ra trả cậu nhé!"

Bàn Tử nổi cáu.

我咬牙回头看湖面,黑影的位置离我们还是太远,还需要勾引过来一点。

Tôi nghiến răng quay đầu nhìn mặt hồ, vị trí bóng đen cách chúng tôi vẫn quá xa, vẫn còn phải dụ nó tới gần thêm chút nữa.

胖子掏出他的酒,丢给闷油瓶,闷油瓶一下抓住我的肩膀翻起来,凌空踢了酒瓶出去。这就是最后的东西。

Bàn Tử móc rượu của anh ta ra, ném cho Muộn Du Bình.

Muộn Du Bình tỳ lên bả vai tôi, rồi loáng cái đã nhảy vút lên, vô lê một cú đá bay chai rượu ra ngoài.

Đấy là thứ cuối cùng rồi.

我脑子狂转,四处去找东西,瞬间空前焦虑,忽然腹部一阵剧痛,立即捂住,心说来的真不是时候。胖子却看着我,露出了疯魔的表情,问道:"小哥,打过屎么?"

Đầu óc tôi điên cuồng suy nghĩ, chạy khắp nơi tìm đồ, chưa bao giờ cuống quít như thế, bỗng nhiên, bụng tôi sôi quặn lên.

Tôi lập tức ôm bụng, nghĩ thầm thật là không đúng lúc.

Nhưng lại Bàn Tử nhìn tôi, vẻ mặt rất quái đản, hỏi: "Tiểu Ca, đã đánh cứt bao giờ chưa?"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2016: Điếu Vương - Chương cuối cùng Điếu Vương


我怒目看向胖子,知道他想干嘛,单手持着鱼竿,一手把刀刺地上,抬手揪住他的衣领:"为什么要打我的屎?屎他妈招你惹你了?你有问过它的感受吗?"

Tôi phẫn nộ nhìn Bàn Tử, biết anh ta định làm gì, thế là tôi một tay cầm cần câu, một tay cầm dao xọc xuống mặt đất, rồi giơ tay lên túm lấy cổ áo anh ta: "Tại sao phải đánh cứt của tôi?

Mẹ kiếp cứt của tôi đã trêu chọc anh cái gì?

Anh đã hỏi xem cảm nghĩ của nó như thế nào chưa?"

胖子拍掉我的手,指了指湖面,"少废话,没时间了!你拉不拉。

Bàn Tử hất tay tôi ra, chỉ xuống mặt hồ: "Bớt nói nhảm, không có thời gian đâu!

Cậu có ị không hả."

我心说去你妈的,捂着肚子四处找东西,恨不得从地上抓出任何点东西来,但是什么都没有。胖子魔怔的看着我,指了指地上。"你要不拉,我只能把雷本昌挖出来切碎了才可能完成任务!"

Tôi chửi thầm, ị cái con mẹ nhà anh ý, rồi ôm bụng đi khắp nơi tìm đồ, chỉ hận không cào được thứ gì từ dưới đất lên, nhưng mà thực sự chẳng còn nữa.

Bàn Tử nhìn tôi chằm chằm như phát rồ, chỉ xuống đất.

"Cậu mà không ị, tôi chỉ đành đào xác Lôi Bản Xương lên cắt nát ra mới hoàn thành được nhiệm vụ!"

我转头看了看闷油瓶,闷油瓶丝毫没有看我,反手拔出了我的大白狗腿,划破手心,然后猛的跳入了湖中。

Tôi quay đầu nhìn Muộn Du Bình, Muộn Du Bình hoàn toàn không thèm liếc tôi một cái, trở tay rút con kukri Đại Bạch của tôi ra, rạch một đường vào gan bàn tay, rồi nhảy tùm xuống hồ.

湖水只到他的胸口,他手上的伤口颇深,立即就看到血从伤口流出来。他一边拍打水面,一边往鱼线拉扯的地方走去。我手上的鱼线立即就往闷油瓶靠了过去。

Nước hồ ngập đến lồng ngực hắn, vết thương trên tay hắn khá sâu, tôi thấy máu từ đó chảy ra lênh láng.

Hắn vừa đập nước, vừa đi về phía dây câu bị kéo căng kia.

Dây câu trên tay tôi lập tức xáp lại gần Muộn Du Bình.

"来了!当心!"我对闷油瓶大喊,鱼线却一下又反转了方向。退了回去。鱼线在半空滑动,在闷油瓶头顶划来划去。

"Tới rồi!

Coi chừng đấy!"

Tôi gào lên với Muộn Du Bình, nhưng dây câu lại ngay lập tức đổi hướng, lùi về.

Dây câu bỗng trượt qua không trung, vòng qua đầu Muộn Du Bình.

胖子一看,忽然醒悟,"这鱼通人性。"

Bàn Tử vừa nhìn, liền tỉnh ngộ: "Con cá này hiểu tính người."

从之前这条鱼攻击岸上面的我们的举动来看,它是属于偷袭型的食肉鱼,非常警惕,这不禁让我有些恐惧。

Từ hành động tấn công chúng tôi trên bờ lần trước là đã thấy, con cá này thuộc loại cá ăn thịt đánh lén bất ngờ, vô cùng cảnh giác, điều này không khỏi làm tôi có chút sợ hãi.

我看过鳄鱼偷袭的记录片,鳄鱼偷袭之后,如果偷袭失败,它不会立即逃跑,而是会停留在原地。猛兽偷袭是为了获得猎物,而不是害怕自己有什么危险。

Tôi từng xem phim tài liệu về cá sấu đánh lén rồi, cá sấu sau khi bất ngờ tập kích, nếu thất bại, nó sẽ không chạy trốn ngay, mà dừng lại ở nguyên chỗ đó.

Thú dữ đánh lén là để bắt được con mồi, chứ không phải vì sợ bản thân gặp bất cứ nguy hiểm gì.

但这条鱼现在的举动似乎是在试探闷油瓶,这不像是食物链最高层的动物的举动。更像是狼这类群猎动物的举动。

Nhưng hành động lúc này của con cá dường như là đang thử thăm dò Muộn Du Bình, không giống hành động của loài động vật đứng đầu chuỗi thức ăn.

Mà lại giống hành động của loài động vật đi săn theo bầy như loài sói hơn.

胖子也跳下水去,拿鱼耙也划破自己的手,就往小哥追去。

Bàn Tử cũng nhảy xuống nước, cầm cây gậy xiên cá, cũng tự rạch tay mình, rồi đuổi về hướng Tiểu Ca.

我犹豫了一下是自己先解决了,还是下水解决了算了,心一横,我也跳下湖,整个人往水中一沉,冰冷的湖水立即冻的我全身的毛孔都收缩了起来,一下精神涣散,再上来的时候,已经是一身轻松,拔刀也划破自己的手,满手血抓着鱼竿往胖子追去,同时回收鱼线,让鱼线绷直之后,就看到鱼线入水的位置就在前方不停划出大的水痕,一会儿松一会儿紧,鱼我们四周不停的游动。

Tôi hơi do dự, không biết mình nên giải quyết trước, hay là xuống nước giải quyết, suy nghĩ một cái, tôi cũng nhảy tùm xuống hồ.

Cả người chìm xuống nước, nước hồ lạnh như băng lập tức khiến lỗ chân lông toàn thân tôi co rụt lại, tức khắc tiêu tan hết cả tinh thần.

Đến khi lên bờ lại, cả người đã nhẹ nhõm, tôi cũng rút dao ra tự rạch tay, bàn tay đầy máu nắm lấy cần câu, đuổi theo hướng Bàn Tử, vừa đi vừa thu dây.

Đến khi dây câu bị kéo căng, liền thấy vị trí dây câu thả xuống nước có những gợn sóng lớn không ngừng nổi lên, chốc chốc lại lỏng, chốc chốc lại căng, con cá không ngừng bơi xung quanh bọn tôi.

"千万别放手。"胖子的手电追着鱼线,在水里手电的照明效果不佳,我们追不到鱼的影子,每次都只能看到一个黑影就划走了。如果没有鱼线,我们会非常被动。

"Tuyệt đối đừng có buông tay đấy."

Ánh đèn pin của Bàn Tử không ngừng đuổi theo dây câu, hiệu quả chiếu sáng dưới nước của đèn pin không tốt, chúng tôi không theo kịp cái bóng của con cá, lần nào cũng chỉ kịp nhìn thấy một cái bóng đen lao vút đi.

Nếu không có dây câu, chúng tôi sẽ vô cùng bị động.

"更近一点!"我喊道,三个人继续离开堤坝石墙,往这块浅滩的边缘走去。我的手电扫过浅滩的边缘区域,忽然看到了更多的东西,脑子立即就嗡了一声,喊到:"胖子,中计了!"

"Gần hơn một chút!"

Tôi kêu lên.

Cả ba người tiếp túc rời khỏi con đê tường đá, đi về phía sát mép bãi cạn.

Tôi chiếu đèn pin lướt qua khu vực bên mép bãi cạn, chợt nhiều thấy nhiều thứ hơn nữa, trong đầu lập tức vang lên một tiếng ầm, tôi gào lên: "Bàn Tử, trúng kế rồi!"

胖子也打过去,在这块水下浅滩的边缘,我们看到了无数的黑影,都在浅滩边缘水色深的水域潜伏着。

Bàn Tử cũng chiếu đèn pin xem, chúng tôi nhìn thấy bên mép bãi cạn này còn vô số bóng đen khác nữa, đều ẩn nấp ở vùng nước có màu tối bên mép bãi cạn.

"我操,小哥,这是它们在钓我们!"胖子吼道,"快回去。"

"Úi cái đệt, Tiểu Ca, bọn nó đang câu tụi mình đấy!"

Bàn Tử hét, "Mau quay về."

胖子拉住闷油瓶,闷油瓶轻声道:"假的。"

Bàn Tử kéo Muộn Du Bình, Muộn Du Bình nhẹ giọng nói: "Giả đấy."

我用手电仔细去照,果然发现这些影子似乎都是静止不动的石雕,低头看了看脚下的浅滩,忽然意识到,这不是天然的水底,好像是某个水下古建筑的顶部。只是被盐覆盖了。这些水影子,是飞檐上的石雕么?

Tôi lấy đèn pin cẩn thận chiếu xem, mới phát hiện quả nhiên những cái bóng này hình như là những tượng đá bất động.

Cúi đầu nhìn bãi cạn dưới chân, bỗng nhiên nhận ra, đây không phải là đáy nước tự nhiên, mà hình như là nóc của một kiến trúc cổ dưới nước.

Chẳng qua là bị muối bao phủ mà thôi.

Những cái bóng dưới nước này, chẳng lẽ lại là những tượng đá trên mái cong ư?

正想着,他撑住我的肩膀,翻身出水,一边踩着胖子的肩膀,一边踩着我的肩膀,蹲了下来。"线给我。"

Đang suy nghĩ, bỗng hắn tì tay lên bả vai tôi, nhô hẳn lên khỏi mặt nước, một chân đạp lên bả vai Bàn Tử, một chân đạp lên bả vai tôi, ngồi xổm xuống.

"Đưa dây cho tôi."

我转动鱼竿,闷油瓶用他两根长手指夹住鱼线,"关手电!"

Tôi đưa cần qua.

Muộn Du Bình dùng hai ngón tay dài của hắn kẹp lấy dây câu, "Tắt đèn pin!"

"看不见!"胖子道。

"Không nhìn thấy!"

Bàn Tử nói.

"我能感觉到,关手电。"闷油瓶非常冷静的说道:"我一跳起来,鱼竿放线,再开手电。"

"Tôi có thể cảm nhận được, tắt đèn pin."

Muộn Du Bình vô cùng bình tĩnh nói: "Tôi nhảy lên một cái, thả dây câu, rồi bật đèn pin lên."

我和胖子对视一眼,闷油瓶这么说还有什么办法,听呗,立即关了手电。我在水下不停的收放鱼线,从鱼竿头部牵拉的感觉,这条鱼瞬间朝我们游了过来。

Tôi với Bàn Tử liếc nhìn nhau một cái, Muộn Du Bình nói như thế thì chắc là còn có cách gì đó, thì nghe lời vậy, bèn tắt đèn pin ngay.

Tôi không ngừng vừa thu vừa thả dây câu ở dưới nước, theo cảm giác từ đầu cần câu, thì con cá này đang bơi về phía chúng tôi.

水里非常寒冷,20秒之后我就开始打寒战,就感觉鱼越来越近,它是打着螺旋在靠近,又过了十秒,我在水下冻麻的身体,已经感觉到鱼游动的水流开始打在我的身上。

Nước rất lạnh, 20 giây sau tôi bắt đầu rùng mình, cũng cảm giác con cá này ngày càng gần, nó đang đến gần theo hình xoắn ốc, lại 10 giây nữa trôi qua, phần cơ thể dưới nước của tôi đã tê cóng, thì cảm nhận được dòng nước lưu động do con cá bơi đi tạo ra bắt đầu đập vào người mình.

胖子"嗯嗯"暗示我来了,我抓紧鱼竿,全身的注意力都集中了起来。接着,我感觉到肩膀上的小哥调整了一下动作,整个人绷紧了。

Bàn Tử "ưm ưm" ám chỉ với tôi là tới rồi, tôi nắm chắc cần câu, tập trung toàn bộ sự chú ý.

Sau đó, tôi cảm thấy Tiểu Ca trên bả vai tôi bắt đầu điểu chỉnh động tác một chút, cả người căng lên.

我一下再也没有感觉到冷,所有的感官都开始搜索水里的动静,几乎就在小哥蹦紧身体的一秒后,小哥跳了起来。

Loáng cái tôi cũng không cảm nhận được cái rét lạnh nữa, tất cả các giác quan bắt đầu căng lên để lục soát từng động tĩnh trong nước, gần như chỉ một giây sau khi Tiểu Ca căng người lên, hắn liền nhảy vút lên.

肩膀一松,我从水中扯出鱼竿,打开线轮锁,胖子瞬间打开手电,我就看到闷油瓶一手夹着鱼线,几乎是贴着水面扑向一米外的巨大鱼影。

Bả vai vừa được bung lỏng, tôi lập tức kéo cần câu trong nước, mở khóa cuộn dây, Bàn Tử lập tức bật đèn pin, tôi liền nhìn thấy Muộn Du Bình một tay kẹp dây câu, nhảy bổ về phía cái bóng con cá to đùng cách đó một mét, gần như là dán sát mặt nước.

瞬间入水,因为是整个身体入水,炸起了巨大的水花。接着一条巨大的鱼尾从水里翻了出来,打在胖子身上,胖子直接被拍进水里。

Trong nháy mắt khi hắn rơi xuống nước, vì cả người đập vào mặt nước, nên bọt nước bắn ra tung tóe.

Sau đó, một cái đuôi cá to tướng vung lên khỏi mặt nước, đập vào người Bàn Tử, Bàn Tử bị hất chìm xuống nước luôn.

这是我第一次直接看到这条鱼,鱼尾上都是细鳞,翻着土黄色,上面都是黑色的纹路,竟然好像是一种鳝。鱼尾有电线杆那么粗细。

Đây là lần đâu tiên tôi tận mắt nhìn thấy con cá này, trên đuôi cá toàn là vảy li ti, màu vàng đất, bên trên toàn là những đường vân màu đen, hóa ra trông như một loại lươn vậy.

Đuôi cá to như cái cột điện vậy.

胖子从水里翻出来:"我操,千年黄鳝!"

Bàn Tử chồm lên khỏi mặt nước: "Úi mẹ ơi, lươn vàng ngàn năm nhé!"

我手里的鱼线轮不停的扯出线来,就看那黑影不停的翻滚,上上下下,我看到了它身上生入肉中的铜钱甲,胖子想用鱼耙攻击,我立即阻止怕他误伤,见鱼又是一抬身子,闷油瓶被撞出了水面,落到我身边,身上缠满了鱼线,和鱼捆在一起,瞬间又被拽入水下。

Cuộn dây câu trong tay tôi không ngừng thả ra, tôi nhìn thấy bóng đen kia không ngừng lăn lộn, trên trên dưới dưới, tôi còn nhìn thấy những mảnh giáp bằng tiền đồng mọc ra từ thịt trên mình nó, Bàn Tử định tấn công bằng gậy xiên cá, nhưng tôi liền ngăn anh ta lại, sợ anh ta ngộ thương Muộn Du Bình.

Lại thấy con cá vươn người lên, Muộn Du Bình bị hất văng ra khỏi mặt nước, rơi xuống bên cạnh tôi, trên người cuốn đầy dây câu, bó chặt cùng với con cá, rồi trong nháy mắt lại bị kéo tụt xuống nước.

我一下明白了闷油瓶的用意。

Tôi liền hiểu ngay ra dụng ý của Muộn Du Bình.

他要用鱼线把这条鱼绑起来。这种大鱼在水中非常难以搏斗,只有让它身上所有的地方都缠绕上鱼线了,它才会惊慌失措,越挣扎,线越乱,它越无法挣脱。

Hắn muốn dùng dây câu trói chặt con cá này lại.

Rất khó vật lộn với loại cá lớn này dưới nước, chỉ có thể cuốn dây câu lên khắp mình mẩy nó, nó mới kinh hoàng lo sợ, càng giãy dụa, dây lại càng rối, nó không thể vùng thoát ra được.

此时闷油瓶好像已经得逞,鱼线已经在那条鱼身上绕了好几百圈,但是他自己也和鱼被缠在了一起,要溺死了。

Lúc này, hình như Muộn Du Bình đã thực hiện được ý định này, dây câu cuốn đến mấy trăm vòng trên mình cá, nhưng chính bản thân hắn cũng bị cuốn vào cùng với con cá, sắp chết đuối rồi.

鱼剧烈的挣扎,我抛掉鱼竿,单手拔出手电,和胖子上去,抓住鱼线,鱼线根本拉不动。它只要一挣扎,手指全部拉破。胖子大怒,上去拳打脚踢,我大喊:"把线割了!小哥要挂了!"

Con cá giãy giụa kịch liệt, tôi ném cần câu đi, một tay rút đèn pin ra, cùng Bàn Tử xông lên, bắt lấy dây câu, nhưng căn bản không kéo được dây câu.

Chỉ cần nó vùng vẫy một cái, là ngón tay bị dây câu cọ rách cả da ngay.

Bàn Tử nổi giận, xông vào đấm đá túi bụi, tôi gào lên: "Cắt dây đi!

Tiểu Ca sắp tạch rồi!"

胖子拿鱼耙要去割线,忽然我脚下一空,原来已经到了浅滩的边缘,一下摔了下去。

Bàn Tử cầm gậy xiên cá định cắt dây, bỗng nhiên dưới chân tôi hẫng một cái, hóa ra đã đến mép bãi cạn rồi, tôi liền ngã xuống.

那鱼和闷油瓶一起也摔出浅滩,我手脚乱抓,被鱼线缠住,心中大怒。

Con cá kia cùng Muộn Du Bình cũng ngã ra khỏi bãi cạn, tay chân tôi cứ quơ loạn xạ, rồi bị dây câu cuốn lấy, trong lòng tôi nổi giận đùng đùng.

三个东西一起沉入漆黑一片的水底。

Cả ba đứa cùng chìm vào đáy nước tối đen như mực.

水底的温度更低,而且有巨大的水流,瞬间我们开始打转,我回身抓住大白狗,就要切断鱼线。我知道鱼线一断,这鱼也可能挣脱,但如果鱼线不断,我们就要死在这里了。

Nhiệt độ dưới đáy nước thấp hơn, hơn nữa, có dòng nước lớn vẫn chảy, tức thì, chúng tôi bắt đầu xoay mòng mòng.

Tôi quay lại túm lấy con Đại Bạch, phải cắt đứt dây câu thôi.

Tôi biết khi dây câu vừa đứt, con cá kia cũng có thể vùng thoát ra ngay, nhưng nếu dây câu không đứt, chúng tôi sẽ chết ở chỗ này.

黑暗中看到头顶有光,是胖子举着手电潜水下来救我们,但是他离我们太远了。水流把我们狂带出去几百米远,水下有地下河的暗流,要是带入到地下河里,我们就死定了。

Trong bóng tối, nhìn lên đỉnh đầu thấy có ánh sáng, là Bàn Tử cầm đèn pin lặn xuống cứu chúng tôi, nhưng anh ta cách chúng tôi quá xa.

Dòng nước cuốn chúng tôi ra xa đến mấy trăm mét, dưới nước còn có dòng sông ngầm chảy ngầm nữa, nếu tôi bị cuốn vào dòng sông ngầm đó, thì thôi chết chắc.

我咬住手电,拔出刀,却被黑暗中的一只手按住了,我看到闷油瓶漂浮在水中,他平静的缠在鱼线中,目光并没有看着鱼,而是看着另外一个方向。

Tôi cắn đèn pin, rút dao ra, lại bị một bàn tay từ trong bóng tối vươn ra túm chặt lại.

Tôi thấy Muộn Du Bình trôi trong nước, hắn bị trói trong đống dây câu mà vẫn hết sức bình tĩnh, ánh mắt cũng không nhìn cá, mà nhìn về một hướng khác.

我的手电光滑过一遍黑暗的湖底中的虚空,我看到了一座巨大的被盐花覆盖古楼宇在湖水中若隐若现,横面两边看不到尽头,无数的雕花窗户冻结腐朽,盐花斑驳覆盖着无数的飞檐廊柱。最令人惊讶的是,在盐花中,还能看到无比清晰鲜艳的雕花彩绘梁木和红色大柱。完全没有褪色。

Ánh đèn pin tôi loang loáng chiếu qua hư không dưới đáy hồ tối tăm, tôi bỗng nhìn thấy một tòa lầu gác cổ kính bị muối bao phủ như ẩn như hiện trong lòng nước, hai bên mặt ngang không thấy đâu là điểm cuối, vô số ô cửa sổ chạm trổ hoa văn mục nát, hoa muối loang lổ bám đầy trên vô số những mái cong, cột trụ.

Nhưng điều khiến người ta kinh ngạc nhất là, giữa biết bao nhiêu muối ấy, vẫn còn nhìn thấy được những cây xà chạm hoa tô vẽ đủ màu sắc cực kỳ tươi đẹp rõ nét và những cây cột lớn đỏ rực.

Hoàn toàn không hề bị bạc màu.

我们漂浮在侧,就像飞在半空看着悬崖上的悬空寺庙。手电射去,不知道激发了什么,楼内竟然开始出现红色如灯笼一样的晕光。哪些灯笼的红光一会亮,一会暗,好似楼中栖息了什么怪物一般。

Chúng tôi trôi lơ lửng ở chếch bên cạnh, giống như bay giữa không trung ngắm nhìn Huyền Không Tự chơi vơi giữa vách đá.

Đèn pin chiếu qua, không biết đã kích hoạt phải cái gì, từ trong tòa lầu gác bắt đầu xuất hiện những ánh sáng loang loáng đỏ hồng như đèn lồng.

Ánh sáng đỏ hồng của đèn lồng không biết ở đâu, nhưng cứ chốc chốc lại sáng, chốc chốc lại tối, cứ như thể có con quái vật nào nghỉ lại trong tòa lầu này.

水流急转,我发现所有的水流,都是围绕着这座巨大的水下建筑在转动,越往下沉,水流越急。

Dòng nước chảy xiết, tôi phát hiện tất cả các dòng nước đều chảy quanh tòa kiến trúc khổng lồ này, mà càng chìm xuống, nước càng chảy xiết.

我气马上就要憋不住了,抽烟之后气短了很多,抓住闷油瓶的手,他才割断鱼线,我们两个挣脱出来,那条巨大的鳝鱼也挣脱了出来,迅速往楼中游去。我看到了它的全貌,不知道是什么品种,也不知道为何它的身上长满了铜钱甲片。在水下看,真如一条小龙一般。

Tôi sắp không nín thở nổi nữa, sau khi hút thuốc, hơi thở của tôi ngắn hơn nhiều, bèn túm lấy tay Muộn Du Bình, bấy giờ hắn mới chịu cắt dây câu, hai chúng tôi vùng thoát ra, con cá to tướng kia cũng vùng ra, tức tốc bơi vào trong tòa lầu.

Tôi nhìn thấy được toàn bộ dáng vẻ của nó rồi, không biết là loại cá gì, cũng không biết vì sao trên người nó mọc đầy phiến giáp bằng tiền đồng như thế.

Ở dưới nước mà nhìn, trông nó thực giống một con rồng nhỏ.

慌乱中抬头,我看到一条鱼线从水面联通下来,直刺入楼内,闷油瓶一手抓住我,一手抓住鱼线,在激流中把我们固定下来,鱼线绷紧,他把我提上来,一点一点,顺着鱼线往水面爬去。

Trong lúc hoảng loạn, tôi ngẩng đầu, nhìn thấy một sợi dây câu thả từ trên mặt nước xuống, đâm thẳng vào bên trong tòa lầu.

Muộn Du Bình một tay túm lấy tôi, một tay bắt dây câu, cố định chúng tôi lại trong dòng nước xiết, dây câu kéo căng, hắn kéo tôi lên, từng chút từng chút một, cứ bám theo sợi dây câu mà trèo lên.

露出水面的时候,我才发现这条鱼线是雷本昌钓尸的线,鱼线用的是几乎是海钓大鱼的鱼线,非常结实,钢筋也死死的打在堤坝石墙上,我们爬上岸去,给胖子打手电,一边还在浅滩的胖子跑了过来,看到我们没事,才长出了一口气。

Đến khi nhô lên khỏi mặt nước, tôi mới phát hiện thì ra sợi dây câu này là sợi dây câu xác của Lôi Bản Xương, hình như là dùng loại dây để câu cá lớn ngoài biển, rất bền chắc, cái cần cốt sắt được lèn chặt vào tường đá.

Chúng tôi trèo lên bờ, bật đèn pin ra hiệu với Bàn Tử, Bàn Tử vẫn còn ở bãi cạn ban nãy liền chạy tới, thấy chúng tôi không sao, mới thở phào một cái.

浑身湿透,手掌受伤。我们回到营地换了衣服,合计了一下,胖子就说:"这些鱼肯定是修建这里的人放养的,人说千年的黄鳝万年的鳖,也许还不止一条,他妈看来不弄清这是什么地方,咱们这鱼肯定是钓不上来了。"

Toàn thân ướt sũng, bàn tay thì bị thương.

Chúng tôi quay lại nơi cắm trại, thay quần áo, bàn luận một chút, Bàn Tử nói: "Lũ cá này chắc chắn là do người xây nên nơi này nuôi, người ta nói lươn ngàn năm, ba ba vạn năm, có lẽ không chỉ có một con đâu, mẹ kiếp, xem ra nếu không làm rõ được nơi đây là nơi nào, thì chúng ta chắc chắn không câu được con cá này rồi."

我回忆着水下,那水下的宫殿楼阁,应该是如悬空寺一样的方式建造在水下的悬崖上的,那些鲜艳的颜色,可能整个是由宝石雕刻而成。水面上的龙王神龛非常普通,看来是两批人所建。那死水龙王,估计是一种古代的鳝。平日里居住在那水下建筑内部。只不过不知道水下建筑中的那些灯笼光,到底是什么?

Tôi nhớ lại cảnh tượng dưới nước, tòa cung điện lầu các dưới nước đó chắc là được xây dựng trên vách đá dưới nước giống như là tòa Huyền Không Tự vậy.

Những màu sắc rực rỡ kia, có lẽ là do toàn bộ những chạm trổ đó đều làm bằng đá quý.

Miếu thờ Long Vương trên mặt nước rất bình thường, xem ra là do hai nhóm người xây dựng mà nên.

Tử thủy Long Vương đó, có lẽ là một loại lươn thời cổ đại.

Bình thường nó cư ngụ bên trong tòa kiến trúc dưới nước kia.

Chỉ là không biết những ánh đèn lòng trong tòa kiến trúc dưới nước đó rốt cuộc là cái gì?

不过没有鱼饵,也确实不知道怎么再钓上鱼来,而且看到这条鱼的真面目之后,我反而不知道把鱼钓上来能怎么样?

Có điều, không có mồi câu, cũng không biết làm sao để câu được cá lên nữa.

Hơn nữa, sau khi nhìn thấy bộ mặt thực của con cá này, tôi không biết kể cả có câu được nó lên rồi, thì có thể làm gì nó được?

杀了这条鱼么?似乎没有必要,和之前的过程不同,这一次确实我们自己在招惹人家,为何一定要杀掉这条活了那么久的鱼类呢?

Giết con cá này ư?

Hình như không cần thiết.

Khác với lần trước, lần này, quả thực là chúng tôi cà khịa nó trước, vì sao cứ phải giết chết loài cá đã sống lâu như thế cơ chứ?

就算钓上来,难道还真能做鳝爆面吃么?

Cho dù có câu được lên rồi, chẳng lẽ thật sự có thể làm mỳ lươn ăn à?

但,我已经感觉到,我心中的好奇心,在死去那么多年之后,开始猛烈的膨胀起来。我看着水面发呆,我能离开这里么,这种熟悉的欲罢不能的感觉,让我非常恐惧。我不停的问自己,我能离开这里么,我已经证明了多次,我可以放弃,如果我可以放弃,为什么不在我觉得危险的时候放弃,而不在什么都没有做的时候放弃。

Nhưng mà, tôi đã cảm nhận được sự hiếu kỳ trong tôi, sau nhiều năm chết đi, đã lại bắt đầu sống lại một cách mãnh liệt.

Tôi ngẩn ra nhìn mặt nước, tôi có thể rời khỏi đây ư, cái cảm giác muốn ngừng mà không được hết sức quen thuộc này khiến tôi cực kỳ sợ hãi.

Tôi không ngừng tự hỏi bản thân, tôi có thể rời khỏi nơi này hay không, tôi đã chứng minh rất nhiều lần rằng tôi hoàn toàn có thể buông bỏ được, nếu như tôi có thể buông bỏ được, vì sao tôi lại không buông bỏ khi tôi cảm nhận được nguy hiểm, mà phải buông bỏ ngay từ khi tôi chưa làm gì hết.

我能在进入死水龙宫后,任何一个我觉得应该放弃的时候放弃么?我之所以没有进去,是知道自己进去了就不可能退出吧。

Tôi có thể tiến vào tử thủy Long Cung, rồi buông tay vào bất kỳ lúc nào mà tôi nghĩ là nên buông tay, được chăng?

Sở dĩ tôi không vào, là bởi tôi biết rằng, một khi mình tiến vào thì không thể lùi ra được nữa.

这不是豁达,这是自己骗自己?

Đây không phải là rộng lòng, đây là tự mình lừa mình?

我忽然有些明白了什么,在这些时间,我所有屏蔽自己的好奇心和想法之后,连一步都不愿意走进去任何的谜团之后。我忽然意识到有些错误。

Đột nhiên tôi như hiểu ra điều gì đó, vào những lúc như thế này, tôi che giấu hết toàn bộ lòng hiếu kỳ và suy nghĩ của mình, sau đó, không muốn bước một bước vào bất kỳ câu đố bí ẩn nào nữa.

Tôi bỗng nhận ra mình có chút sai lầm.

"走吧。"我咬牙拍了拍胖子,看了看雷本昌的墓,背起自己的装备。闷油瓶也背了起来。胖子"哎哎"了两声。

"Đi thôi."

Tôi nghiến răng, vỗ vỗ Bàn Tử, nhìn ngôi mộ Lôi Bản Xương, rồi vác trang bị lên vai.

Muộn Du Bình cũng khoác trang bị lên.

Bàn Tử kêu "ấy ấy" hai tiếng.

"就这么走了?"他道。"龙宫可以不探,但鱼不可以不钓。"

"Cứ thế mà đi à?"

Anh ta nói.

"Long Cung không dò cũng được, nhưng cá không thể không câu."

我点上烟说道:"谁说不钓。这条鱼肯定要钓起来,而且,龙宫,我们也要进去看看。"

Tôi châm điếu thuốc nói: "Ai bảo không câu.

Con cá này nhất định phải câu, hơn nữa, Long Cung, chúng ta cũng phải vào xem một chút."

"那你现在走什么呀,没事,我们等你再肚子疼,肯定能生产出足够的鱼饵。"胖子说道。

"Thế thì bây giờ cậu đi cái gì thế, không sao, chúng tôi chờ cậu đau bụng thêm lần nữa, chắc chắn có thể sản xuất đủ mồi câu."

Bàn Tử nói.

我没有回答胖子,而是拉着他继续往回走。

Tôi không trả lời anh ta, mà kéo anh ta đi về.

我的脑子竟然想通了一些事情,我还是不知道,闷油瓶想告诉我什么。但至少有一点我明白了。

Đầu óc tôi đã nghĩ thông suốt ra vài chuyện rồi.

Tôi vẫn chưa biết, chuyện mà Muộn Du Bình muốn nói cho tôi là cái gì.

Nhưng ít nhất, có một số chuyện tôi đã hiểu rồi.

这条鱼我是肯定要钓起来的,只是不是现在,终有一天,也许是几天后,也许是几年后,我们三个人还会来钓这条鱼,完成雷本昌的这次委托。人生中这一次的冒险,是一次遗憾,我们没有完成,没有知道一切,没有酣畅淋漓。

Con cá này tôi nhất định phải câu lên, chỉ có điều, không phải là bây giờ.

Rồi cũng có một ngày, có lẽ là mấy ngày sau, cũng có thể là mấy năm sau, ba người chúng tôi sẽ câu được con cá này, hoàn thành sự ủy thác mà Lôi Bản Xương đã nhờ cậy.

Lần mạo hiểm này trong đời là một lần tiếc nuối, chúng tôi chưa hoàn thành, chưa biết hết mọi thứ, chưa có được sự sảng khoái đủ đầy.

回去之后每一个午夜梦回,我都会想起这水下的建筑,就像我当年都会想起那座巨门。那十年时间,我所能坚持下来的所有,都因为有一个心中的念想,我的好奇心,我的好胜心,我的承诺。这会让我的生命更有意思。

Sau khi quay về, mỗi buổi đêm tôi tỉnh giấc, đều nhớ lại tòa kiến trúc dưới nước kia, giống như năm xưa tôi vẫn luôn nhớ về cánh cửa khổng lồ đó.

Mười năm ấy, sở dĩ tôi có thể kiên trì được như vậy, đó là bởi trong lòng tôi luôn luôn có một tâm niệm.

Lòng hiếu kỳ của tôi, sự háo thắng của tôi, lời hứa hẹn của tôi.

Tất cả những điều đó mới khiến cuộc đời tôi càng có ý nghĩa.

我不是在村里逃避什么,就如胖子在消化一切的痛苦,我必须学会消化我过去的一切,而不是对一切无感。所以,在村子是我的选择,就算不是在村子里,我也可以自己决定我的进退。

Tôi ở trong ngôi làng này không phải là để trốn tránh điều gì, như tất cả những đau khổ mà Bàn Tử đã tiêu hóa, tôi phải học cách tiêu hóa tất cả những gì tôi đã trải qua, chứ không phải trở nên vô cảm với tất cả mọi thứ.

Cho nên, ở lại ngôi làng này là lựa chọn của tôi.

Cho dù không phải ở trong ngôi làng này, tự tôi cũng có thể quyết định sự tiến lùi của mình.

我走完了一个轮回,从毛头小子,变成了现在这个样子,接下来的一步是什么,当我什么都懂的了,什么都了解了之后,我会重新变回当年的那个天真无邪么?有可能么?

Tôi đã đi hết một vòng luân hồi rồi.

Từ một thằng ranh vắt mũi chưa sạch, biến thành bộ dạng bây giờ, tiếp theo sẽ là cái gì đây.

Đến khi tôi biết tất cả rồi, đến khi tôi thấu hiểu tất cả rồi, phải chăng tôi sẽ quay trở lại một anh chàng "thiên chân vô tà" năm ấy?

Liệu có thể chăng?

是可以的,因为人是螺旋上升的动物,当我意识到自己回到了原地,只是在横向坐标上,纵向上,我的高度已经发生了变化。我已经可以用当年的态度去对待所有人,而不会受到伤害。我可以信任别人,同时保护自己。

Có thể.

Bởi con người là loài động vật luôn phát triển lên cao theo hình xoắn ốc.

Khi tôi ý thức được mình đã quay về điểm ban đầu, thì trên trục tung trục hoành, tọa độ của tôi đã thay đổi.

Tôi đã có thể đối đãi với tất cả mọi người bằng cái thái độ của năm ấy, mà không phải chịu tổn thương.

Tôi có thể tin tưởng người khác, đồng thời, có thể bảo vệ mình.

我们回到了村子里,有一件事情,我一直没有告诉胖子和闷油瓶,也一直在烦恼着我。如今我忽然知道了应该怎么做。

Chúng tôi về làng.

Còn có một việc, tôi vẫn chưa nói cho Bàn Tử và Muộn Du Bình biết, chuyện này làm tôi cứ phiền não mãi.

Hôm nay, bỗng nhiên tôi đã biết mình phải làm thế nào rồi.

我把我的老装备包拿出来,里面有我当年用的老手机和老号码,我在胖子面前给手机充上电,然后打开了短信。里面有一条最新的短信,是在大年三十发给我的,来自于一个无法识别的号码。

Tôi lôi ba lô trang bị cũ của mình ra, bên trong có chiếc di động và sim cũ mà năm xưa tôi dùng, tôi sạc di động trước mặt Bàn Tử, rồi mở một thư mục tin nhắn ra.

Bên trong là một tin nhắn mới nhất vừa nhận được, gửi cho tôi vào hôm ba mươi Tết, đến từ một số điện thoại xa lạ không sao phân biệt được.

短信就一句话:南京鼓楼东,北极阁气象博物馆221号储物柜,新年快乐。

Tin nhắn đó chỉ có một câu: Phía Đông quận Cổ Lâu thành phố Nam Kinh, bảo tàng khí tượng Bắc Cực Các, tủ chứa đồ số 221, chúc mừng năm mới.

我有一股强烈的预感,这条短信,来自于我的三叔。

Tôi có một dự cảm mãnh liệt, rằng tin nhắn này, đến từ chú Ba tôi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2017: Mộ Mù - Mẫu Chuyện Ngắn: Cột Bê Tông


"水泥墩子?"我看着黑瞎子,心说挖个水泥墩子做啥,偷钢筋么?这一行现在没落成这样了,开快车的开快车,偷钢筋的偷钢筋。胖子也一头雾水,骂道:"你是盲肠压迫了你的神经了吧,水泥墩子有什么可挖的?搬回家压咸菜缸子么?你还在这儿围观。"

"Cột xi măng?"

Tôi nhìn Hắc Hạt Tử, thầm nghĩ đào một cột xi măng làm gì chứ, trộm cốt thép à?

Cái nghề này bây giờ suy bại đến mức này rồi sao, kẻ thì chạy xe tốc độ cao, kẻ thì đi trộm cốt thép.

Bàn Tử cũng mù tịt, mắng: "Mù ruột thừa nó đè dây thần kinh cậu rồi à, cột xi măng có gì mà đào?

Mang về nhà đè hũ dưa muối à?

Cậu còn đứng đây mà hóng hớt."

黑瞎子就是笑,一副不想和胖子对话的样子。胖子就怒了,开门就想下车:"天真,走,咱们去视察工作去。"被我一把拉住,我不想在北京的地头抛头露面,我一出来特别是这种有争议的场合,很容易在行内传风言风语,到时候我很多事情解释不清楚。

Hắc Hạt Tử chỉ cười, ra vẻ không muốn đối thoại với Bàn Tử.

Bàn Tử liền tức giận, mở cửa định bước xuống xe: "Thiên Chân, đi, chúng ta đi thị sát công việc."

Tôi vội vàng kéo anh ta lại, tôi không muốn xuất đầu lộ diện ở cái đất Bắc Kinh này.

Tôi vừa xuất hiện, đặc biệt ở những nơi gây tranh cãi như thế này, rất dễ bị đồn thổi trong giới, đến lúc đó có nhiều chuyện tôi không giải thích rõ được.

黑瞎子这才道:"这水泥墩子,不值钱。值钱的是,是怎么埋到这下面去的,谁也弄不清楚。"

Hắc Hạt Tử lúc này mới nói: "Cột xi măng này, không đáng tiền.

Cái đáng tiền là, nó đã được chôn xuống đây bằng cách nào, không ai biết được."

"那你们怎么知道,这地方埋着东西呢?"我问道,黑瞎子这才启动车,往北开去,一边道:"前段时间,道上来了一个神人,在夹喇嘛,据见过的人说,这人身怀绝技。非常不一般,能把东西送到几里之外,有五鬼搬运之法。这水泥墩子,本来是在潘家园门口,你还记得那挡车的石墩么?据说他施法把东西传到这儿,只要有人能把水泥墩子运回去,他就带那批人去夹个大喇嘛。"

"Thế làm sao các cậu biết, chỗ này có chôn đồ?"

Tôi hỏi.

Hắc Hạt Tử lúc này mới khởi động xe, chạy về phía bắc, vừa đi vừa nói: "Cách đây một thời gian, trong giới xuất hiện một vị thần nhân, đang Gắp Lạt Ma.

Những người đã gặp ông ta nói rằng, người này thân mang tuyệt kỹ.

Phi thường không tầm thường, có thể đưa đồ vật đi xa vài dặm, có thuật Ngũ Quỷ Vận Chuyển.

Cột xi măng này vốn dĩ nằm ở cổng Phan Gia Viên.

Cậu còn nhớ cái cột đá chắn xe ở đó không?

Nghe nói ông ta đã dùng phép đưa nó đến đây.

Chỉ cần có người vận chuyển được cột xi măng này về, ông ta sẽ dẫn nhóm người đó đi gắp một Lạt Ma lớn."

"这么神?"胖子两眼放光:"你亲眼见的?"

"Thần kỳ đến vậy sao?"

Bàn Tử hai mắt sáng rực: "Cậu tận mắt thấy à?"

我心说这种骗人的把戏,都被戳穿多少遍了,五鬼搬运,这还是当年我看走进科学听到的词。不过想到黑瞎子在这里晃来晃去,说明他肯定是有些相信的。这哥们家族传统里有很大这一块的学问。

Tôi thầm nghĩ cái trò lừa đảo này đã bị vạch trần biết bao nhiêu lần rồi, Ngũ Quỷ Vận Chuyển, đây là từ mà tôi nghe thấy từ chương trình Khám Phá Khoa Học ngày xưa.

Nhưng nghĩ đến việc Hắc Hạt Tử cứ lảng vảng ở đây, điều đó chứng tỏ anh ta chắc chắn có phần tin tưởng.

Gia tộc của anh bạn này có một phần học thức rất lớn về lĩnh vực này.

果然黑瞎子点头:"真不巧,还真亲眼看到了。"

Quả nhiên Hắc Hạt Tử gật đầu: "Thật không may, tôi lại tận mắt thấy thật."

"说说,说说。"胖子催促道,黑瞎子看了一眼我:"不用说,他现在就在我那儿,你亲眼去看看。"

"Nói đi, nói đi."

Bàn Tử thúc giục.

Hắc Hạt Tử liếc nhìn tôi: "Không cần nói.

Ông ta đang ở chỗ tôi đây, cậu tự mình đến xem."

我和胖子对视了一眼,我幽幽道:"瞎子。"

Tôi và Bàn Tử nhìn nhau.

Tôi khẽ nói: "Hạt Tử."

"叫师傅,咱们约好的,初一十五你得叫师傅。"黑瞎子摸了摸我的头:"你这没良心的。"

"Gọi Sư phụ.

Chúng ta đã hẹn rồi, mùng một và rằm cậu phải gọi Sư phụ."

Hắc Hạt Tử xoa đầu tôi: "Cái đồ vô lương tâm nhà cậu."

我脸皮现在超级厚,毫不在意:"师傅,你他妈的,该不是已经被这个人夹了喇嘛了,你在这儿晃来晃去,是替这个人选人吧。"

Mặt tôi bây giờ siêu dày, chẳng hề bận tâm: "Sư phụ, mẹ kiếp, chẳng lẽ ông đã bị người này Gắp Lạt Ma rồi, ông cứ lảng vảng ở đây là để chọn người thay cho ông ta à."

黑瞎子打开收音机,开始听广播,不回答我,但是也毫不在意,我就知道自己说对了。我道:"你和他一伙的吧?这水泥墩子是你搬走的吧。你有活我就不来献殷勤了啊,找个地方我和胖子洗脚去了,你自己继续转去。"

Hắc Hạt Tử mở đài radio, bắt đầu nghe chương trình phát thanh, không trả lời tôi, nhưng cũng chẳng hề quan tâm.

Tôi biết mình đã nói đúng.

Tôi nói: "Ông ta và cậu chung phe phải không?

Cái cột xi măng này là cậu chuyển đi phải không.

Ông có việc làm rồi thì tôi không đến bày tỏ sự sốt sắng nữa đâu.

Tìm chỗ tôi và Bàn Tử đi rửa chân đây, ông tự đi loanh quanh tiếp đi."

黑瞎子转头看着我:"你别急着走,这个人姓张。"

Hắc Hạt Tử quay đầu nhìn tôi: "Cậu đừng vội đi.

Người này họ Trương."

我愣了一下,继而一笑:"姓张的我有的是,这玩意现在不稀奇,前几天我村里还来了一坨。"

Tôi sững lại một chút, rồi cười: "Người họ Trương thì tôi gặp đầy.

Cái thứ này bây giờ không hiếm, mấy hôm trước làng tôi còn đến một cục."

黑瞎子继续道:"但是并不是每一个姓张的,都叫特能说。我告诉你,你既然来了,应该去听听他说的那个斗,我从来没有听到过这个斗,另外,他确实有一手绝活。"

Hắc Hạt Tử tiếp tục nói: "Nhưng không phải người họ Trương nào cũng gọi là Đặc Biệt Biết Nói.

Tôi nói cho cậu biết, cậu đã đến rồi thì nên nghe ông ta nói về cái đấu (mộ) đó.

Tôi chưa bao giờ nghe thấy cái đấu này.

Hơn nữa, ông ta thực sự có một tay nghề độc đáo."

我心里烦透了,刚想叫停车,胖子拍了拍我,给我打了个眼色,我知道他的意思,他要当面戳穿这个骗局。他最喜欢当面打脸。

Trong lòng tôi bực bội muốn chết, vừa định gọi dừng xe thì Bàn Tử vỗ vai tôi, nháy mắt với tôi.

Tôi hiểu ý anh ta, anh ta muốn vạch trần trò lừa đảo này ngay trước mặt.

Anh ta thích nhất là vả mặt trực tiếp.

我只好不说话,一路过去到了瞎子的院子,上面写了大大的拆字,我一看就乐了,"瞎子你是要发大财啊,你这四合院拆了够买下我村子了。"

Tôi đành im lặng, đi thẳng đến sân của Hắc Tử.

Trên tường có viết một chữ Phá (拆) thật lớn.

Tôi nhìn thấy liền cười: "Hắc Tử, cậu sắp phát tài rồi.

Cái tứ hợp viện này mà bị phá dỡ thì đủ tiền mua cả làng tôi rồi."

黑瞎子笑道:"这院子又不是我的。"说着一行人进了院子,就看到苏万在院子里晒衣服,人长高了非常多,已经是一个眉宇间有英气的小伙子了。看到我们进来,立即上来抱住了胖子:"胖爷,我可想死你了。"黑瞎子指了指物子里,屋子里黑漆漆的,坐着一个人,正在玩手机。

Hắc Hạt Tử cười nói: "Cái sân này đâu phải của tôi."

Nói rồi cả nhóm bước vào sân, liền thấy Tô Vạn đang phơi quần áo trong sân.

Người cậu ta đã cao lớn hơn rất nhiều, đã là một chàng trai trẻ có vẻ anh khí giữa hai hàng lông mày.

Thấy chúng tôi bước vào, cậu ta lập tức chạy đến ôm lấy Bàn Tử: "Bàn Gia, cháu nhớ bác chết đi được."

Hắc Hạt Tử chỉ vào trong nhà, bên trong tối om om, có một người đang ngồi chơi điện thoại.

待续。

Còn tiếp.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ tuế thiên 2017: Mộ Mù - Mẫu Chuyện Ngắn: 700 Chữ Tự Giới Thiệu Bản Thân


我径直进到房子里,看着低着头的那个人,穿着一件大袍子。他穿的看起来是藏袍,又不像是藏袍,手上戴着一个巨大的珠子串,在看一只老牌子的手机。看到我进来,抬头惊讶的看了我一眼。又看黑瞎子:"水泥墩子你们挖出来了?"

Tôi đi thẳng vào trong nhà, nhìn người đang cúi đầu, mặc một chiếc áo choàng lớn.

Cái anh ta mặc trông giống Tạng bào nhưng lại không phải, trên tay đeo một chuỗi hạt lớn, đang xem một chiếc điện thoại kiểu cũ.

Thấy tôi bước vào, anh ta ngẩng đầu nhìn tôi vẻ ngạc nhiên.

Rồi anh ta nhìn Hắc Hạt Tử: "Cột xi măng các người đào lên rồi à?"

胖子嘿嘿一笑,看了看我,我朝那个人点了点头,让黑瞎子给我引荐。黑瞎子道:"这是高人,这是胖爷,潘家园的肥天王,这是——"

Bàn Tử "hề hề" cười, nhìn tôi.

Tôi gật đầu với người đó, bảo Hắc Hạt Tử giới thiệu.

Hắc Hạt Tử nói: "Đây là cao nhân, đây là Bàn Gia, Thiên Vương béo của Phan Gia Viên, còn đây là—"

"吴小三爷。"胖子抢先说道,坐到那人对面:"你不会不知道吧。"

"Ngô Tiểu Tam Gia."

Bàn Tử nói chen vào trước, ngồi xuống đối diện người đó: "Ngươi sẽ không nói là không biết đâu chứ."

那穿大袍子的人一下按了手机,抬头看着我,我看到他一脸的胡子拉碴,能看脸色很白但是很脏。

Người mặc áo choàng lớn lập tức ấn điện thoại xuống, ngẩng đầu nhìn tôi.

Tôi thấy mặt anh ta râu ria xồm xoàm, có thể thấy sắc mặt rất trắng nhưng lại rất bẩn.

显然我的名字还是让他有些惊讶的。但是我没有看到以往经常看到的人直接跳起来,打开手机让我扫二维码。他的眼睛亮了一下,但是没有马上相信。

Rõ ràng tên tuổi của tôi vẫn khiến anh ta khá kinh ngạc.

Nhưng tôi không thấy phản ứng nhảy dựng lên, hay mở điện thoại ra bảo tôi quét mã QR như những người tôi thường gặp.

Mắt anh ta sáng lên, nhưng không tin ngay.

"不信?"胖子看他的反应不满意,补充道:"吴邪,吴家的三爷,当年西湖边——"

"Không tin à?"

Bàn Tử thấy phản ứng của anh ta không vừa ý, bồi thêm: "Ngô Tà, Tam Gia nhà họ Ngô, năm xưa bên hồ Tây—"

那大袍子对我微微点了一下头,黑瞎子说道:"高人,我的几个朋友,听说你的事情,特意来拜访一下,你那个斗的情况,可以说一下,这都是老手,没有比他们更好的了。"

Người mặc áo choàng đó khẽ gật đầu với tôi.

Hắc Hạt Tử nói: "Cao nhân, mấy người bạn của tôi nghe chuyện của ông, đặc biệt đến bái kiến.

Tình hình cái đấu của ông, có thể nói ra.

Đây đều là những tay lão luyện, không có ai tốt hơn họ đâu."

"吴邪,不是洗手不干了么?"大袍子缓缓的说道:"你还有什么想要的么?你不是没有什么需要的了?"

"Ngô Tà, chẳng phải đã rửa tay gác kiếm rồi sao?"

Người mặc áo choàng từ từ nói: "Ngươi còn muốn gì nữa?

Ngươi chẳng phải đã không còn cần gì rồi sao?"

我仔细的观察他,他的手指握着,看不出长短,看不出太多张家人的痕迹。不知道是不是骗子,自从我的传说传开之后,这一行姓张的身价都涨了。

Tôi quan sát kỹ anh ta.

Các ngón tay anh ta nắm lại, không thể nhìn rõ độ dài, không thấy quá nhiều dấu vết của người nhà họ Trương.

Không biết có phải là kẻ lừa đảo không, từ khi truyền thuyết về tôi lan rộng, những người họ Trương trong giới này đều lên giá.

"我说了,你们就得去,否则我就不说。"大袍子看着黑瞎子,显然有些不高兴。黑瞎子丝毫不在意,坐到一边,苏万递上来泡好的明目茶,他喝了一口:"你们都别装逼啊,高人,你先说你是谁,大家先认个亲戚。"

"Tôi nói ra thì các người phải đi, nếu không tôi sẽ không nói."

Người mặc áo choàng nhìn Hắc Hạt Tử, rõ ràng có chút không vui.

Hắc Hạt Tử chẳng hề bận tâm, ngồi sang một bên.

Tô Vạn đưa đến trà sáng mắt đã pha sẵn, anh ta uống một ngụm: "Các ông đừng có ra vẻ nữa.

Cao nhân, ông nói trước ông là ai đi, mọi người nhận họ hàng trước đã."

大袍子看着我,点头道:"你没有见过我,我姓张,别人都叫我小张哥。"

Người mặc áo choàng nhìn tôi, gật đầu nói: "Ngươi chưa từng gặp ta, ta họ Trương, người khác đều gọi ta là Tiểu Trương Ca."

我一个激灵,看着这个人,仔细去辨别他的脸,我的举动让他也吓了一跳。他退了一下,"你认识我?"

Tôi rùng mình, nhìn người này, cố gắng nhận dạng khuôn mặt anh ta.

Hành động của tôi cũng khiến anh ta giật mình.

Anh ta lùi lại một chút: "Ngươi quen ta?"

我看着他,试图看破他的胡子,看他的脸。我忽然发现,真的有几分相识的感觉。

Tôi nhìn anh ta, cố gắng xuyên qua lớp râu của anh ta để nhìn rõ khuôn mặt.

Tôi chợt nhận ra, thật sự có vài phần cảm giác quen thuộc.

"你是不是去找过一个毕摩?"我问道,他的脸色一下大变:"你!"

"Ngươi có phải đã từng đi tìm một Bimo (Thầy cúng Bi Mạt) không?"

Tôi hỏi.

Sắc mặt anh ta lập tức đại biến: "Ngươi!"

【待续】
 
Back
Top Bottom